Vitamin
Link:
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=51259&mpage=2&key=
* Post: # 28 - 30
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=51259&mpage=3&key=
* Post: # 31
>>>>>>>>>>>>>>>
Vitamin (Tiếp theo)
Wednesday, September 21, 2005
Inositol
Inositol đã được biết từ lâu có trong tế bào động vật cũng như thực vật nhưng không được chú ý đến cho tới năm 1941 ông Woolley chứng minh chuột bị chậm lớn khi được nuôi trong đồ ăn thiếu chất Inositol mới được các nhà khoa học gia về dinh dưỡng chú ý. Nhiều thực nghiệm được đưa ra cho rằng Inositol cũng giống như Choline rất cần cho sự biến năng chất béo, cho sự trợ giúp các chất điều tố của màng tế bào, giúp Ca++ trong các hoạt động của tế bào. Nhưng kết quả mọi sự hiểu biết chưa được tường tận (140).
Về phương diện hóa học, người ta đã tìm ra 9 loại Inositol trong những thực vật, động vật khác nhau, mỗi loại đặt một tiếp đầu ngữ trước Inositol để phân biệt. Riêng về phương diện dinh dưỡng chỉ có Myo-Inositol (Còn được gọi là Meso-Inositol) được coi là cần thiết cho các hoạt động trong tế bào.
Phương trình hóa học Myo-inositol như sau:
Myo-Inositol được lấy ra từ thảo mộc do chất Phytic acid mà ra, Phytic acid có nhiều trong ngũ cốc và có đặc tính nối kết với các khoáng chất điện giải có hóa trị hai như Ca++, Zn++, Fe++ không cho thẩm thấu qua bao tử, ruột vào máu, đưa tới việc thiếu khoáng chất trong cơ thể đặc biệt là chất chì (Zn++). Do đó nếu ăn Cereal chung với sữa, chất Plytic của Cereal sẽ nối với calcium trong sữa làm một màng mỏng ngăn sự thẩm thấu các khoáng chất trong ruột vào máu.
Nguồn cung cấp Inositol trong cơ thể gồm có Myo-Inositol được ăn từ các chất thảo mộc, rau đậu ngũ cốc và nguồn thứ hai là cơ thể, cơ phận chính là thận tự sinh chất Inositol ra từ chất D-glucose như sau (141):
Công dụng
Inositol trợ giúp cho biến năng chất béo, biến đổi chất Amino acid Uracil, Uridine, Cytosine cho sự tạo thành RNA, giúp cho biến chất Biotin trong ruột, giúp cho biến chất các chất chuyển mạch thần kinh như Muscarinic, Cholinergic, Histamine, Angiotensin, Vasopressin (142). Ngoài ra còn có thể kiểm soát sự thẩm thấu Ca++ vào trong tế bào. Và số lượng Inositol trong tế bào ngọc hành quá cao hơn các tế bào khác cho khái niệm có thể Inositol giữ vai trò quan trọng trong sự sản xuất tinh trùng.
Thiếu Inositol trong cơ thể được thấy trong các bệnh nhân bị bệnh đái đường, bệnh thận, bệnh Multiple sclerosis là một loại bệnh tại trung tâm thần kinh tế bào bị đóng thành vẩy cứng đưa tới tê liệt, mắt hỏng, tay chân run rẩy, nói năng ấp úng.
Thực phẩm có nhiều Inositol là thảo mộc và chưa có báo cáo nào về sự độc hại của Inositol. Và cũng chưa có sự thực nghiệm ấn định nhu cầu Inositol hàng ngày cho cơ thể, nhưng ủy ban dinh dưỡng cho nhi đồng của Hoa Kỳ đã đề nghị cho Inositol trong công thức sữa của trẻ sơ sanh (143).
Taurine
Taurine đã được tìm thấy trong các sinh vật từ năm 1827 và chỉ được coi như là kết quả của sự biến chất của Sulfur. Mới đây 1968 Taurine mới được coi có đặc tính quan trọng trong các hoạt động biến năng của cơ thể (144) và được coi là thiết yếu cho sự dinh dưỡng trẻ sơ sinh tăng trưởng cơ thể cũng như tăng trưởng giác mô (145).
Taurine chỉ được thấy trong tế bào động vật và hoàn toàn không có trong tế bào thảo mộc. Là một chất không có màu sắc, dễ hòa tan trong nước, nhưng không tan trong rượu và ether. Taunne có tên hóa học là Beta-aminoethanesulfonic acid và phương trình như hình 5-45. Taurine được biến chất trong cơ thể cho Sulfur amino acid, Methionine và Cysteine, sự biến chất này cần có các điều tố và Vitamin B6 làm chất xúc tác và xảy ra tại gan, trong trung tâm thần kinh, trong giác mô.
Mặc dầu công dụng của Taurine chưa được rõ, nhưng mật độ của sự hiện diện của Taurine trong các loại tế bào cho thấy rõ tính chất của Taurine đối với tế bào Taurine có nhiều trong hệ thống thần kinh, bắp thịt và vây huyết cầu, ảnh hưởng tới sự gia tăng Calcium trong tế bào, đặc biệt các cơ của tim. Tại giác mô, Taurine vừa trách nhiệm tạo cơ cấu và điều hòa hoạt động của giác mạc (146).
Tóm lại Taurine có nhiều ảnh hưởng đến các cơ phận:
Ðiều hòa quang thâu của giác mạc.
Ðiều hòa mật trong gan.
Chống lại sự nhiễm độc của bạch huyết cầu.
Làm giảm mạch, cảm giác của trung tâm thần kinh.
Giảm sự tập trung của vây huyết cầu.
Gia tăng sự co thắt của các cơ của tim.
Gia tăng tinh dịch, tinh trùng.
Gia tăng sự tăng trưởng.
Gia tăng hoạt động của Insulin (145), (147), (148).
Sự thiếu Taurine trong cơ thể con người hiện chưa được thống kê và hiểu biết chính xác, chỉ mới dựa vào sự thí nghiệm trong súc vật như mèo và chỉ cho thấy Taurine cần cho sự tăng trưởng, phát triển hệ thống thần kinh, hệ thống miễn nhiễm. Thiếu Taurine không phát triển đều hòa được.
Các thí nghiệm cũng đặt trọng tâm nhiều vào các trẻ sơ sinh, giới hạn Taurine trong công thức sữa, trẻ em chậm lớn. Trong thời kỳ phát triển cơ thể trong bụng mẹ cũng rất cần thiết có Taurine (149), (150).
Vì Taurine không có trong rau cỏ nên những người ăn chay cũng ở trong tình trạng thiếu Taurine. Nhưng vì Taurine chỉ quan trọng trong thời kỳ phát triển nảy nở của trẻ em và cũng chưa có báo cáo nào về tình trạng những người ăn chay đối với Taurine khi những người này đã phát triển cơ thể bình thường.
Hiện giờ chưa có một ấn định nào cho nhu cầu dưỡng sinh của Taurine.
Ðồ ăn có nhiều Taurine là thịt bò, thịt heo, thịt gà, nhiều nhất là sò, ốc.
Vitamin B15 - Pangamic acid
Vào năm 1943 ông Ernst Krebs xin cầu chứng được chấp thuận vào năm 1949 một loại thuốc ông tìm ra có công thức là C10H19O8N tên hóa học là Dimethylglycine và Gluconic acid mà ông đặt tên là Pangamic acid hay Vitamin B15. Ông ta nêu lên công dụng của B15 là giúp cho sự miễn nhiễm chống lại những độc tố trong cơ thể con người và súc vật, chống lại các bệnh do dị ứng như suyễn, các bệnh về da, bệnh phong thấp, cáo bệnh về đau thần kinh, đau các khớp xương (151). Ðến năm 1978 ông Stacpoole và các đồng nghiệp của ông chứng minh là Pangamic acid rất độc cho thần kinh, cho mắt, ngọc hành của chó và chuột (152). Năm 1980 tòa án liên bang Hoa Kỳ xử vụ tranh chấp giữa nhà sản xuất thuốc bổ GNC và chính phủ, phán quyết Pangamic acid không được an toàn (151). Năm 1981 chính phủ Hoa Kỳ cấm lưu hành thuốc Pangamic acid hay B15.
Trong khi đó tại các nước Tây Âu như Pháp, Ðức, Nga và Nhật đều coi Vitamin B15 là cần thiết cho cơ thể con người và ấn định nhu cầu dưỡng sinh hàng ngày cho người lớn là từ 25 đến 50 milligram mỗi ngày và theo kết quả mới nhất cho rằng B15 ngăn ngừa các bệnh về đau tim, bệnh già, áp huyết cao, đau gan, đái đường (153).
Vitamin B17 - Laetrile
B17, Laetrile cũng do ông Kreb tìm ra vào đầu thế kỷ thứ 20, có tên hóa học là Cyanogenetic Glycosides là một chất độc gồm có 6% là Cyanide. Nếu cho người uống Cyanide với số lượng từ đến 3 phần triệu của pound cho mỗi pound của cơ thể là đủ để chết ngay (154). Công dụng của Laetrile được công bố là chữa được bệnh ung thư. Nhưng nhiều khoa học gia khác lại cho rằng Laetrile tiêu hủy cả tế bào ung thư lẫn tế bào thông thường. Sinh ra bệnh có biếu ở cổ vì Laetrile ngăn không cho chất Iodine được vào tuyến giáp trạng. Và sinh các bệnh sau: Khó thở, tim đập nhanh, nôn mửa, hỏng mắt, tê liệt, co quắp tay chân, da dẻ sẩn ngứa, xuống cân, ù tai, các bệnh về tâm trí (155), (156) và Laetrile cũng bị chính phủ Hoa Kỳ cấm sử dụng và dùng để chữa trị. Nhưng các nước khác ngoài Hoa Kỳ vẫn ca ngợi công dụng của Laetrile rất hữu ích cho ngành y học (153).
(Còn tiếp)
Bác sĩ Nguyễn Thế Thứ, DC., PhD
(Chuyên chữa trị các bệnh đau lưng, cụp xương sống).
7891 Westminster Blvd.
Westminster, CA-92683
714- 891-7775
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=32736&z=14
Link:
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=51259&mpage=2&key=
* Post: # 28 - 30
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=51259&mpage=3&key=
* Post: # 31
>>>>>>>>>>>>>>>
Vitamin (Tiếp theo)
Wednesday, September 21, 2005
Inositol
Inositol đã được biết từ lâu có trong tế bào động vật cũng như thực vật nhưng không được chú ý đến cho tới năm 1941 ông Woolley chứng minh chuột bị chậm lớn khi được nuôi trong đồ ăn thiếu chất Inositol mới được các nhà khoa học gia về dinh dưỡng chú ý. Nhiều thực nghiệm được đưa ra cho rằng Inositol cũng giống như Choline rất cần cho sự biến năng chất béo, cho sự trợ giúp các chất điều tố của màng tế bào, giúp Ca++ trong các hoạt động của tế bào. Nhưng kết quả mọi sự hiểu biết chưa được tường tận (140).
Về phương diện hóa học, người ta đã tìm ra 9 loại Inositol trong những thực vật, động vật khác nhau, mỗi loại đặt một tiếp đầu ngữ trước Inositol để phân biệt. Riêng về phương diện dinh dưỡng chỉ có Myo-Inositol (Còn được gọi là Meso-Inositol) được coi là cần thiết cho các hoạt động trong tế bào.
Phương trình hóa học Myo-inositol như sau:
Myo-Inositol được lấy ra từ thảo mộc do chất Phytic acid mà ra, Phytic acid có nhiều trong ngũ cốc và có đặc tính nối kết với các khoáng chất điện giải có hóa trị hai như Ca++, Zn++, Fe++ không cho thẩm thấu qua bao tử, ruột vào máu, đưa tới việc thiếu khoáng chất trong cơ thể đặc biệt là chất chì (Zn++). Do đó nếu ăn Cereal chung với sữa, chất Plytic của Cereal sẽ nối với calcium trong sữa làm một màng mỏng ngăn sự thẩm thấu các khoáng chất trong ruột vào máu.
Nguồn cung cấp Inositol trong cơ thể gồm có Myo-Inositol được ăn từ các chất thảo mộc, rau đậu ngũ cốc và nguồn thứ hai là cơ thể, cơ phận chính là thận tự sinh chất Inositol ra từ chất D-glucose như sau (141):
Công dụng
Inositol trợ giúp cho biến năng chất béo, biến đổi chất Amino acid Uracil, Uridine, Cytosine cho sự tạo thành RNA, giúp cho biến chất Biotin trong ruột, giúp cho biến chất các chất chuyển mạch thần kinh như Muscarinic, Cholinergic, Histamine, Angiotensin, Vasopressin (142). Ngoài ra còn có thể kiểm soát sự thẩm thấu Ca++ vào trong tế bào. Và số lượng Inositol trong tế bào ngọc hành quá cao hơn các tế bào khác cho khái niệm có thể Inositol giữ vai trò quan trọng trong sự sản xuất tinh trùng.
Thiếu Inositol trong cơ thể được thấy trong các bệnh nhân bị bệnh đái đường, bệnh thận, bệnh Multiple sclerosis là một loại bệnh tại trung tâm thần kinh tế bào bị đóng thành vẩy cứng đưa tới tê liệt, mắt hỏng, tay chân run rẩy, nói năng ấp úng.
Thực phẩm có nhiều Inositol là thảo mộc và chưa có báo cáo nào về sự độc hại của Inositol. Và cũng chưa có sự thực nghiệm ấn định nhu cầu Inositol hàng ngày cho cơ thể, nhưng ủy ban dinh dưỡng cho nhi đồng của Hoa Kỳ đã đề nghị cho Inositol trong công thức sữa của trẻ sơ sanh (143).
Taurine
Taurine đã được tìm thấy trong các sinh vật từ năm 1827 và chỉ được coi như là kết quả của sự biến chất của Sulfur. Mới đây 1968 Taurine mới được coi có đặc tính quan trọng trong các hoạt động biến năng của cơ thể (144) và được coi là thiết yếu cho sự dinh dưỡng trẻ sơ sinh tăng trưởng cơ thể cũng như tăng trưởng giác mô (145).
Taurine chỉ được thấy trong tế bào động vật và hoàn toàn không có trong tế bào thảo mộc. Là một chất không có màu sắc, dễ hòa tan trong nước, nhưng không tan trong rượu và ether. Taunne có tên hóa học là Beta-aminoethanesulfonic acid và phương trình như hình 5-45. Taurine được biến chất trong cơ thể cho Sulfur amino acid, Methionine và Cysteine, sự biến chất này cần có các điều tố và Vitamin B6 làm chất xúc tác và xảy ra tại gan, trong trung tâm thần kinh, trong giác mô.
Mặc dầu công dụng của Taurine chưa được rõ, nhưng mật độ của sự hiện diện của Taurine trong các loại tế bào cho thấy rõ tính chất của Taurine đối với tế bào Taurine có nhiều trong hệ thống thần kinh, bắp thịt và vây huyết cầu, ảnh hưởng tới sự gia tăng Calcium trong tế bào, đặc biệt các cơ của tim. Tại giác mô, Taurine vừa trách nhiệm tạo cơ cấu và điều hòa hoạt động của giác mạc (146).
Tóm lại Taurine có nhiều ảnh hưởng đến các cơ phận:
Ðiều hòa quang thâu của giác mạc.
Ðiều hòa mật trong gan.
Chống lại sự nhiễm độc của bạch huyết cầu.
Làm giảm mạch, cảm giác của trung tâm thần kinh.
Giảm sự tập trung của vây huyết cầu.
Gia tăng sự co thắt của các cơ của tim.
Gia tăng tinh dịch, tinh trùng.
Gia tăng sự tăng trưởng.
Gia tăng hoạt động của Insulin (145), (147), (148).
Sự thiếu Taurine trong cơ thể con người hiện chưa được thống kê và hiểu biết chính xác, chỉ mới dựa vào sự thí nghiệm trong súc vật như mèo và chỉ cho thấy Taurine cần cho sự tăng trưởng, phát triển hệ thống thần kinh, hệ thống miễn nhiễm. Thiếu Taurine không phát triển đều hòa được.
Các thí nghiệm cũng đặt trọng tâm nhiều vào các trẻ sơ sinh, giới hạn Taurine trong công thức sữa, trẻ em chậm lớn. Trong thời kỳ phát triển cơ thể trong bụng mẹ cũng rất cần thiết có Taurine (149), (150).
Vì Taurine không có trong rau cỏ nên những người ăn chay cũng ở trong tình trạng thiếu Taurine. Nhưng vì Taurine chỉ quan trọng trong thời kỳ phát triển nảy nở của trẻ em và cũng chưa có báo cáo nào về tình trạng những người ăn chay đối với Taurine khi những người này đã phát triển cơ thể bình thường.
Hiện giờ chưa có một ấn định nào cho nhu cầu dưỡng sinh của Taurine.
Ðồ ăn có nhiều Taurine là thịt bò, thịt heo, thịt gà, nhiều nhất là sò, ốc.
Vitamin B15 - Pangamic acid
Vào năm 1943 ông Ernst Krebs xin cầu chứng được chấp thuận vào năm 1949 một loại thuốc ông tìm ra có công thức là C10H19O8N tên hóa học là Dimethylglycine và Gluconic acid mà ông đặt tên là Pangamic acid hay Vitamin B15. Ông ta nêu lên công dụng của B15 là giúp cho sự miễn nhiễm chống lại những độc tố trong cơ thể con người và súc vật, chống lại các bệnh do dị ứng như suyễn, các bệnh về da, bệnh phong thấp, cáo bệnh về đau thần kinh, đau các khớp xương (151). Ðến năm 1978 ông Stacpoole và các đồng nghiệp của ông chứng minh là Pangamic acid rất độc cho thần kinh, cho mắt, ngọc hành của chó và chuột (152). Năm 1980 tòa án liên bang Hoa Kỳ xử vụ tranh chấp giữa nhà sản xuất thuốc bổ GNC và chính phủ, phán quyết Pangamic acid không được an toàn (151). Năm 1981 chính phủ Hoa Kỳ cấm lưu hành thuốc Pangamic acid hay B15.
Trong khi đó tại các nước Tây Âu như Pháp, Ðức, Nga và Nhật đều coi Vitamin B15 là cần thiết cho cơ thể con người và ấn định nhu cầu dưỡng sinh hàng ngày cho người lớn là từ 25 đến 50 milligram mỗi ngày và theo kết quả mới nhất cho rằng B15 ngăn ngừa các bệnh về đau tim, bệnh già, áp huyết cao, đau gan, đái đường (153).
Vitamin B17 - Laetrile
B17, Laetrile cũng do ông Kreb tìm ra vào đầu thế kỷ thứ 20, có tên hóa học là Cyanogenetic Glycosides là một chất độc gồm có 6% là Cyanide. Nếu cho người uống Cyanide với số lượng từ đến 3 phần triệu của pound cho mỗi pound của cơ thể là đủ để chết ngay (154). Công dụng của Laetrile được công bố là chữa được bệnh ung thư. Nhưng nhiều khoa học gia khác lại cho rằng Laetrile tiêu hủy cả tế bào ung thư lẫn tế bào thông thường. Sinh ra bệnh có biếu ở cổ vì Laetrile ngăn không cho chất Iodine được vào tuyến giáp trạng. Và sinh các bệnh sau: Khó thở, tim đập nhanh, nôn mửa, hỏng mắt, tê liệt, co quắp tay chân, da dẻ sẩn ngứa, xuống cân, ù tai, các bệnh về tâm trí (155), (156) và Laetrile cũng bị chính phủ Hoa Kỳ cấm sử dụng và dùng để chữa trị. Nhưng các nước khác ngoài Hoa Kỳ vẫn ca ngợi công dụng của Laetrile rất hữu ích cho ngành y học (153).
(Còn tiếp)
Bác sĩ Nguyễn Thế Thứ, DC., PhD
(Chuyên chữa trị các bệnh đau lưng, cụp xương sống).
7891 Westminster Blvd.
Westminster, CA-92683
714- 891-7775
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=32736&z=14

