📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Y khoa Thường Thức

Vitamin

8 trả lời, 7.011 lượt xem — Trang 1 / 1
Vitamin

Link:

http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=51259&mpage=2&key=
* Post: # 28 - 30

http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=51259&mpage=3&key=
* Post: # 31

>>>>>>>>>>>>>>>

Vitamin (Tiếp theo)

Wednesday, September 21, 2005

Inositol

Inositol đã được biết từ lâu có trong tế bào động vật cũng như thực vật nhưng không được chú ý đến cho tới năm 1941 ông Woolley chứng minh chuột bị chậm lớn khi được nuôi trong đồ ăn thiếu chất Inositol mới được các nhà khoa học gia về dinh dưỡng chú ý. Nhiều thực nghiệm được đưa ra cho rằng Inositol cũng giống như Choline rất cần cho sự biến năng chất béo, cho sự trợ giúp các chất điều tố của màng tế bào, giúp Ca++ trong các hoạt động của tế bào. Nhưng kết quả mọi sự hiểu biết chưa được tường tận (140).

Về phương diện hóa học, người ta đã tìm ra 9 loại Inositol trong những thực vật, động vật khác nhau, mỗi loại đặt một tiếp đầu ngữ trước Inositol để phân biệt. Riêng về phương diện dinh dưỡng chỉ có Myo-Inositol (Còn được gọi là Meso-Inositol) được coi là cần thiết cho các hoạt động trong tế bào.

Phương trình hóa học Myo-inositol như sau:

Myo-Inositol được lấy ra từ thảo mộc do chất Phytic acid mà ra, Phytic acid có nhiều trong ngũ cốc và có đặc tính nối kết với các khoáng chất điện giải có hóa trị hai như Ca++, Zn++, Fe++ không cho thẩm thấu qua bao tử, ruột vào máu, đưa tới việc thiếu khoáng chất trong cơ thể đặc biệt là chất chì (Zn++). Do đó nếu ăn Cereal chung với sữa, chất Plytic của Cereal sẽ nối với calcium trong sữa làm một màng mỏng ngăn sự thẩm thấu các khoáng chất trong ruột vào máu.

Nguồn cung cấp Inositol trong cơ thể gồm có Myo-Inositol được ăn từ các chất thảo mộc, rau đậu ngũ cốc và nguồn thứ hai là cơ thể, cơ phận chính là thận tự sinh chất Inositol ra từ chất D-glucose như sau (141):

Công dụng

Inositol trợ giúp cho biến năng chất béo, biến đổi chất Amino acid Uracil, Uridine, Cytosine cho sự tạo thành RNA, giúp cho biến chất Biotin trong ruột, giúp cho biến chất các chất chuyển mạch thần kinh như Muscarinic, Cholinergic, Histamine, Angiotensin, Vasopressin (142). Ngoài ra còn có thể kiểm soát sự thẩm thấu Ca++ vào trong tế bào. Và số lượng Inositol trong tế bào ngọc hành quá cao hơn các tế bào khác cho khái niệm có thể Inositol giữ vai trò quan trọng trong sự sản xuất tinh trùng.

Thiếu Inositol trong cơ thể được thấy trong các bệnh nhân bị bệnh đái đường, bệnh thận, bệnh Multiple sclerosis là một loại bệnh tại trung tâm thần kinh tế bào bị đóng thành vẩy cứng đưa tới tê liệt, mắt hỏng, tay chân run rẩy, nói năng ấp úng.

Thực phẩm có nhiều Inositol là thảo mộc và chưa có báo cáo nào về sự độc hại của Inositol. Và cũng chưa có sự thực nghiệm ấn định nhu cầu Inositol hàng ngày cho cơ thể, nhưng ủy ban dinh dưỡng cho nhi đồng của Hoa Kỳ đã đề nghị cho Inositol trong công thức sữa của trẻ sơ sanh (143).

Taurine

Taurine đã được tìm thấy trong các sinh vật từ năm 1827 và chỉ được coi như là kết quả của sự biến chất của Sulfur. Mới đây 1968 Taurine mới được coi có đặc tính quan trọng trong các hoạt động biến năng của cơ thể (144) và được coi là thiết yếu cho sự dinh dưỡng trẻ sơ sinh tăng trưởng cơ thể cũng như tăng trưởng giác mô (145).

Taurine chỉ được thấy trong tế bào động vật và hoàn toàn không có trong tế bào thảo mộc. Là một chất không có màu sắc, dễ hòa tan trong nước, nhưng không tan trong rượu và ether. Taunne có tên hóa học là Beta-aminoethanesulfonic acid và phương trình như hình 5-45. Taurine được biến chất trong cơ thể cho Sulfur amino acid, Methionine và Cysteine, sự biến chất này cần có các điều tố và Vitamin B6 làm chất xúc tác và xảy ra tại gan, trong trung tâm thần kinh, trong giác mô.

Mặc dầu công dụng của Taurine chưa được rõ, nhưng mật độ của sự hiện diện của Taurine trong các loại tế bào cho thấy rõ tính chất của Taurine đối với tế bào Taurine có nhiều trong hệ thống thần kinh, bắp thịt và vây huyết cầu, ảnh hưởng tới sự gia tăng Calcium trong tế bào, đặc biệt các cơ của tim. Tại giác mô, Taurine vừa trách nhiệm tạo cơ cấu và điều hòa hoạt động của giác mạc (146).

Tóm lại Taurine có nhiều ảnh hưởng đến các cơ phận:

Ðiều hòa quang thâu của giác mạc.

Ðiều hòa mật trong gan.

Chống lại sự nhiễm độc của bạch huyết cầu.

Làm giảm mạch, cảm giác của trung tâm thần kinh.

Giảm sự tập trung của vây huyết cầu.

Gia tăng sự co thắt của các cơ của tim.

Gia tăng tinh dịch, tinh trùng.

Gia tăng sự tăng trưởng.

Gia tăng hoạt động của Insulin (145), (147), (148).

Sự thiếu Taurine trong cơ thể con người hiện chưa được thống kê và hiểu biết chính xác, chỉ mới dựa vào sự thí nghiệm trong súc vật như mèo và chỉ cho thấy Taurine cần cho sự tăng trưởng, phát triển hệ thống thần kinh, hệ thống miễn nhiễm. Thiếu Taurine không phát triển đều hòa được.

Các thí nghiệm cũng đặt trọng tâm nhiều vào các trẻ sơ sinh, giới hạn Taurine trong công thức sữa, trẻ em chậm lớn. Trong thời kỳ phát triển cơ thể trong bụng mẹ cũng rất cần thiết có Taurine (149), (150).

Vì Taurine không có trong rau cỏ nên những người ăn chay cũng ở trong tình trạng thiếu Taurine. Nhưng vì Taurine chỉ quan trọng trong thời kỳ phát triển nảy nở của trẻ em và cũng chưa có báo cáo nào về tình trạng những người ăn chay đối với Taurine khi những người này đã phát triển cơ thể bình thường.

Hiện giờ chưa có một ấn định nào cho nhu cầu dưỡng sinh của Taurine.

Ðồ ăn có nhiều Taurine là thịt bò, thịt heo, thịt gà, nhiều nhất là sò, ốc.


Vitamin B15 - Pangamic acid

Vào năm 1943 ông Ernst Krebs xin cầu chứng được chấp thuận vào năm 1949 một loại thuốc ông tìm ra có công thức là C10H19O8N tên hóa học là Dimethylglycine và Gluconic acid mà ông đặt tên là Pangamic acid hay Vitamin B15. Ông ta nêu lên công dụng của B15 là giúp cho sự miễn nhiễm chống lại những độc tố trong cơ thể con người và súc vật, chống lại các bệnh do dị ứng như suyễn, các bệnh về da, bệnh phong thấp, cáo bệnh về đau thần kinh, đau các khớp xương (151). Ðến năm 1978 ông Stacpoole và các đồng nghiệp của ông chứng minh là Pangamic acid rất độc cho thần kinh, cho mắt, ngọc hành của chó và chuột (152). Năm 1980 tòa án liên bang Hoa Kỳ xử vụ tranh chấp giữa nhà sản xuất thuốc bổ GNC và chính phủ, phán quyết Pangamic acid không được an toàn (151). Năm 1981 chính phủ Hoa Kỳ cấm lưu hành thuốc Pangamic acid hay B15.

Trong khi đó tại các nước Tây Âu như Pháp, Ðức, Nga và Nhật đều coi Vitamin B15 là cần thiết cho cơ thể con người và ấn định nhu cầu dưỡng sinh hàng ngày cho người lớn là từ 25 đến 50 milligram mỗi ngày và theo kết quả mới nhất cho rằng B15 ngăn ngừa các bệnh về đau tim, bệnh già, áp huyết cao, đau gan, đái đường (153).


Vitamin B17 - Laetrile

B17, Laetrile cũng do ông Kreb tìm ra vào đầu thế kỷ thứ 20, có tên hóa học là Cyanogenetic Glycosides là một chất độc gồm có 6% là Cyanide. Nếu cho người uống Cyanide với số lượng từ đến 3 phần triệu của pound cho mỗi pound của cơ thể là đủ để chết ngay (154). Công dụng của Laetrile được công bố là chữa được bệnh ung thư. Nhưng nhiều khoa học gia khác lại cho rằng Laetrile tiêu hủy cả tế bào ung thư lẫn tế bào thông thường. Sinh ra bệnh có biếu ở cổ vì Laetrile ngăn không cho chất Iodine được vào tuyến giáp trạng. Và sinh các bệnh sau: Khó thở, tim đập nhanh, nôn mửa, hỏng mắt, tê liệt, co quắp tay chân, da dẻ sẩn ngứa, xuống cân, ù tai, các bệnh về tâm trí (155), (156) và Laetrile cũng bị chính phủ Hoa Kỳ cấm sử dụng và dùng để chữa trị. Nhưng các nước khác ngoài Hoa Kỳ vẫn ca ngợi công dụng của Laetrile rất hữu ích cho ngành y học (153).

(Còn tiếp)

Bác sĩ Nguyễn Thế Thứ, DC., PhD
(Chuyên chữa trị các bệnh đau lưng, cụp xương sống).

7891 Westminster Blvd.

Westminster, CA-92683

714- 891-7775

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=32736&z=14

Đăng nhập để trả lời
0
Canxi giúp phục hồi nhanh sau đột quỵ


21:29:57, 10/07/2006H.Y


Uống sữa cũng là cách bổ sung canxi cho cơ thể (ảnh: Nichd)

Ăn nhiều thực phẩm chứa canxi có thể giúp giảm nguy cơ bị đột quỵ và nâng cao khả năng phục hồi sau đột quỵ. Các chuyên gia thuộc khoa Thần kinh tại Đại học California (Mỹ) cho biết tỷ lệ canxi liên quan chặt chẽ tới mức độ nặng hay nhẹ của cơn đột quỵ và khả năng phục hồi của bệnh nhân sau khi xuất viện.


Nghiên cứu cho thấy, những bệnh nhân có hàm lượng canxi trong máu cao tại thời điểm bị đột quỵ thì mức độ nguy hiểm của cơn đột quỵ chỉ bằng 1/3 so với những bệnh nhân khi bị đột quỵ có tỷ lệ canxi trong máu thấp. (AFP)

H.Y

http://www.thanhnien.com.vn/Suckhoe/2006/7/10/155200.tno
Đăng nhập để trả lời
0
Canci có tromg thực phẩm:



Đăng nhập để trả lời
0
Thiếu sinh tố D, cơ thể người cao niên bị yếu
Thursday, April 26, 2007
 

NEW YORK (Reuters) - Những người cao niên, thuộc cả hai giới nam và nữ, không tiêu thụ đủ sinh tố D - từ thực phẩm hoặc nhờ phơi nắng - thì có nhiều nguy cơ bị suy yếu bắp thịt và chức năng thể chất, theo một cuộc nghiên cứu mới. Các nhà nghiên cứu nói rằng đây là điều đáng ngại, vì có nhiều người cao niên thiếu sinh tố D trong cơ thể.
Trrong một cuộc khảo sát 976 người từ 65 tuổi trở lên, các nhà nghiên cứu thấy rằng gần 29 phần trăm phụ nữ và 14 phần trăm đàn ông thiếu sinh tố D - được xác định bằng cách đo lường những mức của chất tên là “25-hydroxy-vitamin D,” đây là một phương pháp chính xác thường được dùng để đo lường tình trạng sinh tố D của một người.
Các nhà nghiên cứu đã trắc nghiệm chức năng thể chất của những người tham gia bằng cách đo lường tốc độ đi bộ của họ, cùng với khả năng đứng lên từ một tư thế ngồi, và khả năng giữ cho thân thể thăng bằng trong khi đứng ở những tư thế khó giữ thăng bằng. Họ cũng đo lường sức mạnh của nắm tay (handgrip strenghth) - là một dấu hiệu báo trước sự suy nhược của bắp thịt.
Bác Sĩ Denise K. Houston, thuộc trường đại học y khoa Wake Forest University of Medicine ở Winston-Salem, North Carolina, và các đồng nghiệp nhận thấy rằng khả năng vận động thể chất và sức mạnh của nắm tay ở mức thấp hơn từ 5 tới 10 phần trăm nơi những người nào có những mức sinh tố D thấp trong máu, so với những người có mức sinh tố D bình thường.
Những điều tìm thấy này vẫn còn xác thực sau khi các nhà nghiên cứu đã xét những yếu tố có thể ảnh hưởng tới những kết quả, như sức nặng của thân thể, tầm mức hoạt động thể chất, những khả năng tâm thần, sức khỏe tổng quát, và chứng bần huyết (anemia) (là tình trạng thiếu hồng huyết cầu mang dưỡng khí thường gây ra trạng thái mệt mỏi).
Những cuộc nghiên cứu trước đây cho thấy rằng sinh tố D giữ một vai trò quan trọng không những cho sức khỏe của bộ xương mà còn giúp bảo vệ đối với những bệnh tiểu đường, ung thư, lao và cảm.
Chúng ta hấp thụ sinh tố D từ những tia cực tím (ultraviolet ray) của mặt trời và từ một số loại thức ăn, như sữa, nước cốt trái cây, ngũ cốc, những thứ cá có nhiều dầu. Tuy nhiên, người ta khó tiêu thụ đủ số lượng sinh tố D từ thực phẩm. Những người lớn tuổi thường có những mức sinh tố D thấp trong máu, vì họ ít khi ra nắng hơn và vì da của họ giảm bớt khả năng sản xuất sinh tố D từ ánh nắng so với những người trẻ tuổi.
Các chuyên gia ước tính rằng 1 trong 4 người từ 60 tuổi trở lên có mức sinh tố D thấp.
Những huấn thị y tế hiện thời nói rằng những người từ 50 tới 69 tuổi cần tiêu thụ 400 đơn vị quốc tế (IU) của sinh tố D mỗi ngày, và những người từ 70 tuổi trở lên cần tiêu thụ 600 IU mỗi ngày.
Bác Sĩ Houston nói rằng, “những số lượng sinh tố D cao hơn là cần thiết để duy trì sức mạnh của bắp thịt và chức năng thể chất, cùng với những phúc lợi khác như ngăn ngừa bệnh ung thư.”
Bà nói thêm: “Những huấn thị hiện thời được căn cứ một cách chủ yếu vào những hiệu ứng của sinh tố D đối với bộ xương.” (n.m.)
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=59009&z=14
Đăng nhập để trả lời
0
Có Cần Dùng Thêm Sinh Tố E? 
BÁC SĨ NGUYỄN Ý ĐỨC . Việt Báo Thứ Sáu, 1/25/2008, 12:02:00 AM
 






Kết quả một cuộc thăm dò mới đây tại Hoa Kỳ cho thấy có tới gần 40 triệu người đang dùng thêm sinh tố E với nhiều mục đích khác nhau. Lý do chính cho đây là chất chống sự oxy hóa, nguyên nhân đưa tới già nua, bệnh tật như ung thư, bệnh tim, bệnh sa sút trí tuệ…và giảm khả năng tình dục.
Oxy hóa là tác dụng của khí oxygen trên vật thể.
 
Sự Oxy hóa- Chất chống oxy hóa 
Oxygen là dưỡng khí cần thiết cho mọi động vật, thảo mộc, ngoại trừ một số rất ít sinh vật kỵ khí. 
 
Đối với loài người, ở một mức độ trung bình, oxygen tham dự vào sự biến hóa căn bản trong cơ thể để tạo ra năng lượng cung ứng cho nhu cầu sinh hoạt của toàn bộ tế bào.
 
Không khí ta thở có 20% dưỡng khí, vừa đủ dùng cho cơ thể và sức chịu đựng của phổi. Khi hít thở oxy nguyên chất khoảng 6 giờ, ta thấy nặng ngực. Nếu tiếp tục thở lâu hơn nữa,  phế nang sẽ bị tổn thương.
 
Oxygen phản ứng trên vật chất và gây nhiều thay đổi cho các phân tử này.
Để ra ngoài không khí trong khoảng thời gian lâu, một miếng thịt tươi đỏ sẽ chuyển sang mầu thâm, miếng táo cắt đôi trở mầu nâu, cây đinh sắt sét rỉ, cục bơ thơm trở mùi ôi khét. Chúng đã bị oxy hóa và công dụng của chúng giảm, đôi khi trở thành có hại.                                                                                                              Trong cơ thể, phản ứng oxy hóa tạo ra những gốc tự do (free radicals) là những chất gây ra tổn thương cho tế bào. Nhưng may mắn là cơ thể tạo ra được nhiều loại enzym có khả năng vô hiệu hóa gốc tự do. Enzym hiện diện trong cơ thể trước khi có phản ứng tạo ra gốc tự do, cho nên kịp thời đối phó với những phân tử không thân thiện này.
 
Các enzym chính là superoxide dismutase (SOD), catalase và glutathione. Mỗi enzym liên hệ vào từng phản ứng hóa học riêng biệt.   
 
Ngoài ra, cơ thể có thể trung hòa gốc tự do bằng cách dùng chất chống oxy hóa (antioxidant). Các chất này chỉ mới được nhắc nhở nhiều trong dân chúng cũng như y giới khoảng vài chục năm gần đây. Đã có nhiều khoa học gia để tâm nghiên cứu về công dụng của chất chống oxy hóa và tây y học cũng đã có thái độ thiện cảm hơn với các chất này.
 
Trong một cuộc hội thảo của các bác sĩ chuyên môn về tim năm 1995 tại Hoa kỳ, 90 % tham dự viên nhận là mình có uống chất chống oxy hoá  nhưng chỉ có 75 % biên toa cho bệnh nhân. Nhiều bác sĩ nói họ chưa có đủ dữ kiện xác đáng để khuyến khích bệnh nhân dùng thêm các chất này.
 
Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ đã khuyến cáo: Một chỉ dẫn thận trọng và khoa học nhất về vấn đề này là dân chúng nên ăn thực phẩm có nhiều chất chống oxy hóa trong rau, trái cây và các loại hạt, thay vì uống thêm chất antioxidant.
 
Nhưng dân chúng “có bệnh thì vái tứ phương”, nên nhiều khi cũng quên các lời khuyên này. Và họ vẫn dùng.
 
Theo kết quả một số nghiên cứu, chất này có khả năng làm mất hoạt tính của gốc tự do tích tụ trong cơ thể, biến chúng thành những phân tử vô hại, đồng thời cũng có khả năng duy trì cấu trúc và chức năng của tế bào.
 
Antioxidant chính yếu, phổ thông nhất là sinh tố C, beta-carotene và sinh tố E.
Sau đây là một số kiến thức về sinh tố E.
 
Sinh tố E
Sinh tố E được các khoa học gia tại Đại học Berkeley, California khám phá ra cách nay hơn 80 năm. Trong những thập niên vừa qua, sinh tố này đã là một trong những ngôi sao sáng trong số các chất dinh dưỡng.
 
Có hai nhóm sinh tố E chính: nhóm tocopherols và tocotrienol với 4 isomers.
Trong hai nhóm này, nhóm alpha-tocopherol isomer có tác dụng mạnh nhất ở trong cơ thể. Cơ thể hấp thụ được cả tocopherol thiên nhiên và nhân tạo nhưng loại thiên nhiên trong thực phẩm có nhiều tác dụng tốt hơn.
 
Sinh tố E (tocopherol) có dạng  dầu sền sệt, mầu vàng nhạt, hòa tan trong chất béo hoặc cồn và không hòa tan trong nước.
 
Sinh tố chịu đựng được sức nóng và acid nhưng bị phân hủy bởi tia tử ngoại hoặc oxygen.
 
Đun nấu với nhiệt độ bình thường không làm mất sinh tố E, nhưng khi chiên rán chìm trong chất béo hoặc đóng hộp, sấy khô thì sinh tố E mất đi khá nhiều.
 
Vai trò của sinh tố E trong cơ thể.
 
Trong cơ thể, vitamin E có vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa của các tế bào, bảo vệ sinh tố A và chất béo khỏi bị oxy hóa, tạo hồng cầu, phòng ngừa sự hư hao của tế bào và giúp cơ thể sử dụng sinh tố K.
 
Công dụng được đề nghị
Sinh tố E đã được đề nghị để phòng ngừa hoặc điều trị một số vấn đề của sức khỏe do tác dụng chống oxy hóa của chúng. Tuy nhiên, cho tới nay kết quả các nghiên cứu đều chưa được thống nhất, chưa có tính cách kết luận hoặc mới có ý kiến trung dung (neutral), đôi khi tiêu cực (negative)
 
 Theo một số tác giả, sinh tố E là một chất chống oxy hóa rất hữu hiệu. Sinh tố bảo vệ các mô, giúp chế tạo và bảo vệ hồng huyết cầu; giúp cơ thể sử dụng sinh tố K.
Vì là chất chống oxy hóa, một số tác giả cho biết sinh tố E có thể tiêu diệt hoặc vô hiệu hóa các gốc tự do (free radicals) do đó có thể giữ một vai trò nào đó trong sự phòng ngừa ung thư và làm chậm tiến trình lão suy. Selenium và sinh tố E có thể thay thế, hỗ trợ cho nhau trong công dụng này.
 
Nghiên cứu sơ khởi cho thấy sinh tố E có khả năng ngăn ngừa các chứng bệnh tim mạch, kể cả những chứng nhồi máu cơ tim hay tai biến động mạch não, vì nó làm giảm bớt sự kết tụ của cholesterol xấu LDL (low density lipoprotein) ở trong mạch máu.
 
Một số nghiên cứu khác cho thấy sinh tố E có thể làm tăng tính miễn dịch bằng cách bảo vệ tế bào khỏi bị tổn thương, do đó sức đề kháng của cơ thể với các bệnh nhiễm trùng mạnh hơn. Đặc tính này có lẽ cũng giúp trì hoãn các triệu chứng của bệnh sa sút trí tuệ.  Sinh tố E còn làm giảm nguy cơ bệnh cườm mắt (cataract) nhờ khả năng chống oxy hóa.
 
Các nghiên cứu trước đây cho thấy sự sinh đẻ của chuột khả quan hơn khi cho dùng sinh tố E.
 
Trái với tin tưởng của nhiều người, sinh tố này không có vai trò gì trong việc làm đời sống tình dục người nam mạnh hơn.
 
Nguồn cung cấp
Nguồn cung cấp chính sinh tố E là thực phẩm gốc thực vật như dầu đậu nành, dầu hột bông gòn (cotton seed oil), dầu hướng dương (sunflower oil), dầu bắp, phó sản của các dầu vừa kể như margarine; trong mầm lúa mì (wheat germ); trong bắp, các loại hạt có vỏ cứng, hạt dưa (seed), quả ô liu, măng tây và các loại rau có lá màu lục.
Thực phẩm gốc động vật có rất ít sinh tố E.
Sinh tố E được hấp thụ ở ruột non với sự hỗ trợ của mật và chất béo.
Sinh tố E lưu chuyển trong máu và được dự trữ trong tế bào mỡ, gan, bắp thịt, phần dư thừa được bài tiết qua phân.
 Không giống như sinh tố A và D, sinh tố E không gây ra triệu chứng ngộ độc khi ta dùng một số lượng cao.
 
Tuy nhiên, đang uống thuốc Coumadin chống loãng máu nên cẩn thận, vì sinh tố E cao quá có thể làm xuất huyết nhiều hơn.
 
Nhu cầu
Nhu cầu sinh tố E thay đổi tùy theo tuổi tác, nam hoặc nữ, tình trạng sức khỏe và số lượng chất béo bão hòa mà người đó tiêu thụ. Chất béo bão hòa dễ bị oxy hóa, vì thế cần tăng sinh tố E nếu ăn nhiều chất này.
 
Liều (dose) sinh tố được ghi theo đơn vị milligram hoặc IU (International units). 1mg alpha-tocopherol tương đương với 1.5 IU.
Tại Hoa Kỳ, giới chức y tế dinh dưỡng đề nghị (Recommended Daily Allowance- RDA) là:
-Nam nữ trên 14 tuổi và phụ nữ có thai ở mọi tuổi cần 15mg (hoặc 22.5IU),
- Phụ nữ cho con bú sữa mẹ cần 19mg (hoặc 28.5IU) sinh tố E mỗi ngày.
 Số lượng này đều có trong phần ăn hàng ngày nếu ta tiêu thụ đầy đủ các chất dinh dưỡng trong thực phẩm.
Với trẻ em sơ sinh, không có RDA nhưng có đề nghị:
-Các em khỏe mạnh bú sữa mẹ từ lúc sanh tới 6 tháng cần 4mg/nga`y (6IU/nga`y);
Từ 7-12 tháng cần 5mg/nga`y (7.5 IU/nga`y).
RDA cho trẻ em
-Từ 1-3 tuổi: 6mg/nga`y (7.5 IU);
-Từ 4-8 tuổi: 7mg/nga`y (10.5 IU)
- Trẻ em từ 9-13 tuổi: 11mg/nga`y (16 IU/ngày).
 
Thiếu sinh tố E
Thiếu sinh tố E rất ít khi xảy ra và có thể thấy trong bệnh nhân kém hấp thụ chất béo ở ruột như bệnh Crohn, sau giải phẫu), khi kém dinh dưỡng, khi tiêu thụ rất ít sinh tố E hoặc trong vài bệnh di truyền đặc biệt.
 
Thiếu sinh tố trong thời gian lâu có thể đưa tới không vững trong việc đi đứng và không có phối hợp giữa các cơ bắp, yếu cơ bắp, giảm phản xạ (reflex). Thiếu kinh niên có thể đưa tới mù lòa, sa sút trí tuệ, thay đổi nhịp tim.
 
Điều trị khi thiếu sinh tố E cần được bác sĩ xác định và theo dõi vì có nhiều chứng minh khoa học cho hay, dùng thêm sinh tố E có thể gây hậu quả không tốt cho cơ thể.
 
An toàn của sinh tố E
Cho tới nay, chưa có chứng minh khoa học về sự công hiệu của sinh tố E khi dùng quá liều đã được cơ quan y tế đưa ra (RDA). Do đó, cần cân nhắc lợi hại trước khi quyết định dùng thêm sinh tố E.
 
Dùng thêm trong thời gian ngắn với liều tối đa 1000mg/ ngày (tương đương với 1100 IU) được coi như tương đối an toàn và có thể có ích lợi.
 
Ảnh hưởng lâu dài khi dùng nhiều sinh tố E vẫn chưa được làm rõ, nên các giới chức y tế khuyên không nên dùng quá nhiều sinh tố này.
 
Quá nhiều sinh tố E có thể đưa tới viêm da, đau bụng, tiêu chẩy, ói mửa, tăng rủi ro xuất huyết, chóng mặt, mệt mỏi, nhức đầu, mờ mắt.
 
Kết luận
Nếu tiêu thụ cân bằng và đa dạng các loại thực phẩm, cơ thể đã có đủ số lượng sinh tố E cần thiết cho nhu cầu.
 
Thiếu sinh tố E thường chỉ thấy ở loài vật chứ hiếm khi thấy ở con người. Lý do là thực phẩm dùng hàng ngày có nhiều sinh tố nảy. Hơn nữa, cơ thể có thể dự trữ được sinh tố E, không sợ thiếu hụt.
 
Vì chưa có đủ chứng minh hỗ trợ cho nên chưa có đề nghị nào của các cơ quan khoa học về việc dùng thêm sinh tố E. Không nên dùng liều lớn cao hơn 1000 mg/nga`y vì có rủi ro gây ra xuất huyết.
 
Nếu muốn dùng thêm với một mục đích nào đó, nên hỏi ý kiến bác sĩ điều trị để tránh tương tác với các thuốc khác.
 
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức
Texas-Hoa Kỳ.
[/align]

 BÁC SĨ NGUYỄN Ý ĐỨC
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=117&nid=122376
Đăng nhập để trả lời
0
Nghiên cứu ở Ý: Sinh tố E giúp người cao niên duy trì sinh lực và sự cường tráng
Thursday, January 24, 2008
 
WASHINGTON (Reuters) - Sinh tố E có thể giúp những người lớn tuổi duy trì sinh lực và sự cường tráng, theo một cuộc nghiên cứu mới được công bố hôm 22 Tháng Giêng.
Các chuyên gia đã đo lường những mức của một số loại sinh tố trong máu của 698 người từ 65 tuổi trở lên ở Italy, và sau đó dùng ba cuộc thử sức ố đi bộ một quãng ngắn, giữ thăng bằng thân thể, và đứng lên từ một tư thế ngồi - để đo lường chức năng thể chất của họ.
Toán nghiên cứu nhận thấy những người nào có những mức sinh tố E thấp thì yếu kém hơn trong ba cuộc thử sức này, so với những người có mức sinh tố E cao hơn.
Những mức sinh tố khác (như folic acid, B-6, B-12, và D) có vẻ không ảnh hưởng tới những cuộc thử sức, toán nghiên cứu nói trong phúc trình đã đăng trên đặc san của Hội Y Khoa Mỹ (Journal of the American Medical Association).
“Chúng liên tục nhận thấy mức thấp của sinh tố E trong máu liên quan tới sự giảm sút của chức năng thể chất,” toán nghiên cứu cầm đầu bởi Bác Sĩ Benedetta Bartali của trường y khoa Yale University School of Medicine ở New Haven, Connecticut, viết trong phúc trình.
Chế độ dinh dưỡng thiếu chất bổ có thể khiến cho những người lớn tuổi trở thành tàn phế về thể chất, nhưng cho tới nay ít có bằng chứng để hỗ trợ cho sự tin tưởng này, theo lời các nhà nghiên cứu.
Sinh tố E thuộc vào loại chống oxy-hóa, có nghĩa là nó có thể bảo vệ cho mô tế bào khỏi bị những chất bất ổn định gọi là “free radicals” làm hư hại. Nó cũng đóng góp vào sự cấu tạo của những tế bào máu đỏ.
“Tuy nhiên, cuộc nghiên cứu của chúng tôi không có mục đích truy tìm những nguyên nhân tại sao sự thiếu thốn sinh tố E có thể khiến cho chức năng thể chất trở thành yếu,” Bác Sĩ Bartali nói trong một cuộc phỏng vấn qua điện thư.
Các nhà khoa học đã khảo sát vai trò mà sinh tố E có thể đảm nhiệm để giúp ngăn ngừa hoạc điều trị một số bệnh, như ung thư và tim mạch.
Sinh tố E có nhiều trong những thức ăn như mầm lúa mì (wheat germ), các thứ hột trái cây (nut) và hạt (seed), trái olive, những rau lá xanh, măng tây, các thứ dầu hạt hoa quì, đậu nành, và hạt bông gòn.
Nhưng một số cuộc nghiên cứu nhận thấy sự tiêu thụ sinh tố E ở những số lượng rất cao có thể gây hại cho sức khỏe.
Các chuyên gia trong cuộc nghiên cứu trên đây nói rằng còn cần phải thi hành thêm những cuộc khảo sát để xác định mức tốt nhất của sinh tố E trong công dụng làm chậm sự suy thoái của chức năng thể chất khiến cho những người lớn tuổi trở thành tàn phế. (n.m.)
 
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=72860&z=14
Đăng nhập để trả lời
0
Lại Nói Sinh Tố, Khoáng Chất  
BÁC SĨ NGUYỄN Ý-ĐỨC . Việt Báo Thứ Sáu, 5/9/2008, 12:02:00 AM
 





Hiểu biết căn bản
Tiếng Anh, Pháp gọi sinh tố là Vitamins. Vita là life, là sự sống; amin là tên một hóa chất. Vậy thì vitamins là “hóa chất amin cần thiết cho sự sống.”
 
Từ điển y học Webster định nghĩa vitamins là “một trong những chất hữu cơ, hiện diện với số lượng rất ít trong thực phẩm thiên nhiên và rất cần thiết cho sự chuyển hóa bình thường trong cơ thể”.
 
Theo các nhà y khoa học, số lượng sinh tố cần thiết cho cơ thể rất ít, tính theo phần ngàn của gram (milligram), đôi khi nhỏ hơn nữa, phần triệu của gram. Chẳng hạn như sinh tố C là sinh tố nên cung cấp cho cơ thể nhiều nhất, mà cũng chỉ có 60mg mỗi ngày, sinh tố B12 chỉ cần 6mcg/ ngày. 1mcg bằng 1/triệu gram.
Sinh tố có tự nhiên trong thực phẩm, đôi khi do cơ thể tạo ra và có thể được tổng hợp trong phòng thí nghiệm.
Có 13 loại sinh tố với tên theo mẫu tự A, B, C, D, E, K…Ngoài tên theo mẫu tự, vài sinh tố có tên riêng như B1 còn gọi là thiamine, B6 là pyridoxine.
Sinh tố được chia ra làm hai nhóm:
-Nhóm hòa tan trong dầu mỡ là sinh tố A, D, E, K. Vì tan trong dầu nên nếu tiêu thụ quá nhiều, sinh tố sẽ được dự trữ trong mô bào béo và đôi khi có thể gây độc cho cơ thể.
-Nhóm hòa tan trong nước là các sinh tố B (B1, B2, B3, B5, B6, B12), biotin, folacin,  và sinh tố C. Tiêu thụ quá nhu cầu, các sinh tố này sẽ loại theo nước tiểu ra ngoài do đó tương đối ít gây nguy hại.
Mỗi loại thực phẩm có sinh tố theo tỷ lệ nhiếu ít khác nhau. Có thực phẩm hầu như không có một vài trong số 13 sinh tố cần thiết vừa kể.
Mỗi sinh tố có một nhiệm vụ riêng do đó sinh tố này không thay thế hoặc làm công việc của sinh tố kia.
Khoáng chất cũng có trong thực phẩm với nhiều loại và với tỷ lệ nhiều ít khác nhau. Các khoáng thường được nói tới là calci, iodine, sắt, magnesium, phosphor, selelium, kẽm.
Ngoại trừ calci với nhu cầu hàng ngày từ 1-2 gram, các khoáng khác chỉ cần trên dưới 100mg mỗi ngày.
Để có đủ các loại sinh tố, khoáng chất ta chỉ cần phối hợp, tiêu thụ nhiều loại thực phẩm khác nhau trong mỗi bữa ăn.
 
Dùng thêm
 
Nếu phần ăn đã có đủ các loại sinh tố, khoáng chất cho nhu cầu cơ thể thì có phải uống thêm không? Nếu cần thì trong những trường hợp nào? Sinh tố có gây ra tác dụng nguy hại nếu dùng quá nhiều, quá lâu không? Và liệu có nên dùng thêm để phòng tránh bệnh này, chữa trị bệnh kia.
 
Đây là đề tài được nói tới rất nhiều của cả thường dân cũng như giới y khoa học.
 
Điều này cũng dễ hiểu, vì chúng ta đang sống trong thời kỳ mà mọi người đều có ý thức cao về vấn đề tự bảo vệ sức khỏe và cũng vì khám chữa bệnh bây giờ quá tốn kém, nhiêu khê, mất nhiều thì giờ. Cho nên, ai ai cũng muốn tìm những phương thức sẵn có để bồi dưỡng cơ thể, tránh bệnh tật. Dùng thêm sinh tố, khoáng chất là chuyện rất phổ biến, vì sinh tố khoáng chất sẵn có trên thị trường, mua lúc nào cũng được và cũng được giới thiệu với nhiều lời “khuyến mãi” hấp dẫn.
 
 Nên để ý là các sản phẩm này được xếp vào loại dinh dưỡng phụ thêm, chứ không thay thế cho thực phẩm và cũng không là dược phẩm. Nhà sản xuất không cần xin phép chính quyền trước khi tung ra thị trường, trừ khi gây ra nguy hại cho sức khỏe công chúng. Tới khi đó thì chính quyền mới can thiệp, yêu cầu thu hồi.
 
Một số người nghiêng về việc cần dùng thêm, vì:
-Cho là thực phẩm càng ngày càng kém phẩm chất vì đất trồng trọt kém mầu mỡ, nhiều hóa chất trừ sâu, phân bón hóa học khiến cho sản phẩm nom đẹp chứ ít dinh dưỡng.
-Nhiều người dường như thích ăn thực phẩm tạp nham hơn là thực phẩm nhiều dinh dưỡng, do đó họ sợ là sẽ thiếu sinh tố khoáng chất.
-Mọi người làm việc cực nhọc hơn và ăn uống ít hơn vì không có thì giờ, đưa tới thiếu sinh tố khoáng chất.
-Đọc nghe các lời giới thiệu nói dùng thêm sẽ tăng cường sinh lực, bồi bổ trí óc, ăn ngủ điều hòa, trẻ mãi không già…
Do đó họ cảm thấy yên tâm hơn, nếu uống thêm mấy viên hỗn hợp sinh tố, khoáng chất. Điều này thực ra cũng hợp lý, nếu dùng vừa phải sau khi đã tham khảo ý kiến với bác sĩ gia đình.
 
Giới chức dinh dưỡng, y tế thường dè dặt hơn với các ý kiến như:
-Nên để ý là chưa có sự đồng thuận của các nhà nghiên cứu về việc dùng thêm một số lượng lớn sinh tố khoáng chất có thể phòng tránh được bệnh và đưa tới tuyệt hảo về sức khỏe.
-Khoa Trưởng Danh Dự khoa Dinh Dưỡng Stanley Gerhoff, Đại Học uy tínTufts, tâm sự như sau: “Không gì làm vui lòng chúng tôi hơn là khi có thể thông báo cho công chúng rằng dùng liều lượng lớn một hoặc nhiều chất dinh dưỡng sẽ mang đến phúc lợi cho sức khỏe. Trước khi nói được như vậy, một số tiêu chuẩn cần được xác định: sản phẩm phải hữu hiệu, an toàn với số lượng dùng rõ ràng. Các chất chống oxy hóa chưa hội đủ các tiêu chuẩn này. Kết quả nhiều nghiên cứu đã bị các khoa học gia, truyền thông và các doanh nhân sản xuất antioxidant bóp méo. Công chúng trở nên bối rối, khó mà phân biệt thực, hư.
 
-Tại Hoa Kỳ, trên mỗi sản phẩm phụ thêm, các nhà sản xuất đều phải ghi rõ là “Các điều ghi ở đây chưa được cơ quan Thực Dược Phẩm đánh giá. Sản phẩm này không có mục đích để chẩn đoán, điều trị hoặc chữa lành bệnh”. Các quốc gia khác chắc  cũng có ghi chú tương tự, để lưu ý người dân, tránh bị lừa đảo lợi dụng.
-Chuyên gia dinh dưỡng Karen Miller-Kovach nhận thấy là một số không nhỏ sản phẩm có sinh tố khoáng chất nhiều gấp bội nhu cầu cơ thể và đưa tới mất cân bằng. Một số khác lại có các chất rẻ tiền như sinh tố nhóm B hoặc nhiều sinh tố C mà quần chúng ưa thích. Sản phẩm căn cứ trên thị hiếu của dân chúng nhiều hơn là nhu cầu dinh dưỡng.
-Đối với cơ thể, quá nhiều một vài sinh tố khoáng chất có thể gây nguy hại cho sức khỏe. 
 
Giáo sư Đại học John Hopkins Benjamin Caballero đưa ra một thí dụ: “Nếu đã tiêu thụ thực phẩm có đầy đủ sinh tố A mà lại còn dùng thêm tới 100% nhu cầu thì cơ thể sẽ dễ dàng tích tụ quá nhiều sinh tố này và tăng rủi ro bệnh loãng xương”.
-Ngày 16-4-2008 vừa qua, các khoa học gia tại Bệnh viện Đại học Copenhagen, Đan Mạch, đã công bố kết quả kiểm điểm hơn 70 nghiên cứu về tác dụng của các chất chống oxy hóa vitamins E, A, Beta carotene đối với tuổi thọ. Theo các bác sĩ Goran Bjelakovic và Christian Gluud của nhóm nghiên cứu, “không có bằng chứng nào hỗ trợ cho ý kiến là dùng thêm các antioxidant có thể giảm rủi ro tử vong ở người khỏe mạnh hoặc ở người đang bị nhiều bệnh”. Nhóm đề nghị nên có những điều khoản quy định về việc dùng các chất antioxidant, tương tự như quy định liều lượng tối đa đối với thuốc chống đau paracetamol (Tylenol). Đại diện Hội Dinh Dưỡng Anh quốc Catherine Collins cũng đồng quan điểm về các quy luật này.
 
-Một số khoáng chất cũng vô hiệu hóa lẫn nhau để được hấp thụ. Chẳng hạn kẽm tranh đua với sắt mà sắt lại kèn cựa với sự hấp thụ calcium.
Hội Dinh Dưỡng Hoa Kỳ và các tổ chức y khoa đáng tin cậy đều đồng ý là phương thức hữu hiệu nhất để cung cấp cho cơ thể các vitamins và khoáng chất cần thiết là qua một chế độ dinh dưỡng cân bằng, đa dạng và hợp lý.
 
 
Tuy nhiên, trong mấy trường hợp đặc biệt như sau, đôi khi cũng nên dùng thêm sinh tố, khoáng chất:
-Người cao tuổi thường ăn không đầy đủ các chất dinh dưỡng vì sức khỏe kém. tâm trạng buồn rầu, răng lợi lung lay, tác dụng phụ khi uống nhiều thuốc, khẩu vị giảm, ăn uống ít đi, nhất là nếu lại sống đơn côi, trong nhà dưỡng lão. Ngoài ra, cơ thể họ cũng không hấp thụ được một số chất dinh dưỡng như sinh tố D, B12…Các vị này cần phải dùng thêm các đa sinh tố khoáng chất để bổ sung cũng như để tăng cường hệ miễn nhiễm, bảo vệ cơ thể với rủi ro bệnh tật.
-Với phụ nữ ở tuổi mãn kinh, giảm estrogen đưa calci vào xương, cần hỏi ý kiến bác sĩ để dùng thêm calci và sinh tố D để phòng tránh bệnh loãng xương.
-Phụ nữ có thai và cho con bú, cần được bác sĩ hướng dẫn dùng thêm sắt, calci, folic acid cho nhu cầu của mẹ và con. Con cần calci để tạo xương. Sắt để mẹ có thêm hồng huyết cầu. Folic acid để con tránh được khuyết tật nứt đốt sống (spina bifida) với liệt hạ chi, chậm phát triển tâm trí.
-Hóa chất trong thuốc lá giảm sự hấp thụ các sinh tố C, B6, niacin, folic acid. Quý vị thường xuyên “nhớ nhà châm điếu thuốc” cần dùng thêm các chất này. Tuy nhiên cũng xin thưa là, việc bổ sung sinh tố không tránh cho quý vị khỏi những rủi ro của thuốc lá như ung thư phổi, ho…
-Uống rượu như uống nước suối, cơ thể không tiêu hóa, hấp thụ được nhiều sinh tố khoáng chất như A, D, B12, niacin, folic acid, selenium, magnesium, phosphor, kẽm. Ấy là chưa kể, nếu “lấy rượu thay cơm” thì hậu quả còn tai hại hơn nữa cho sức khỏe.
-Ăn theo chế độ riêng như chỉ ăn rau trái thì cần thêm sinh tố B12 vì sinh tố này chỉ có trong thực phẩm từ động vật.
-Nếu không ăn được vài thực phẩm vì bị dị ứng hoặc bất dung cũng cần dùng thêm các sinh tố khoáng chất mà thực phẩm này có nhiều. Chẳng hạn, nếu không dùng được sữa, phó mát và không tắm nắng mặt trời mươi phút mỗi ngày thì cần dùng thêm calci, sinh tố D để xương vững chắc.
-Nếu đang bị bệnh gan mật, ruột, tụy tạng hoặc sau giải phẫu ống tiêu hóa, cơ thể sẽ không tiêu hóa, hấp thụ được một cách hoàn hảo và ta sẽ thiếu các chất dinh dưỡng. Trong các trường hợp này, bác sĩ sẽ giúp ta lựa chọn các sinh tố, khoáng chất mà cơ thể cần.
-Một vài loại dược phẩm như thuốc lợi tiểu, thuốc chống acid bao tử, thuốc kháng sinh, thuốc nhuận tràng, thuốc viên ngừa thai cũng làm mất một số sinh tố khoáng chất trong cơ thể, và ta phải dùng thêm để bồ sung, sau khi được bác sĩ xác định nhu cầu.
 
 
Lựa chọn
Trước khi quyết định mua dùng thêm sinh tố khoáng chất, nên cân nhắc:
-Có thực là mình cần phải dùng thêm sinh tố khoáng chất để phụ thêm cho chế độ dinh dưỡng.
-Sản phẩm định mua, khi vào cơ thể, liệu có thực hiện đúng điều mà nhà sản xuất giới thiệu.
-Các chất nằm trong sản phẩm có đúng là các chất mà nhà sản xuất ghi trên nhãn hiệu.
-Thành phần sản phẩm có căn cứ vào kết quả các nghiên cứu mới nhất về dinh dưỡng.
-Sản phẩm có được bảo đảm là hữu hiệu và không gây hại cho người tiêu thụ
-Sản phẩm dùng thêm này có tác động qua lại với dược phẩm hoặc các chất phụ thêm mà ta đang dùng.
-Không cần trả thêm tiền cho quảng cáo là sản phẩm hoàn toàn hữu cơ, vì bản chất của sinh tố đã là chất hữu cơ.
-Dù là thiên nhiên nhưng sinh tố khoáng chất cũng có thể gây nguy hại cho cơ thể, nếu dùng thêm quá nhiều.
-Không có sinh tố khoáng chất nào có thể trực tiếp tăng cường sinh lực cho một người không thiếu các chất dinh dưỡng này.
-Sinh tố khoáng chất chỉ là “chất mồi”, cần thiết với số lượng rất ít cho các chức năng cơ thể.
-Các sinh tố khoáng chất phối hợp với nhau để tác động lên cơ thể, vì thế không nên dùng riêng rẽ từng thứ mà tập hợp nhiều thứ để có sự cân bằng với nhau.
-Nên đọc kỹ nhãn hiệu và theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất.
-Dùng khi ăn, để tránh gây khó chịu cho dạ dày
-Cất giữ sinh tố khoáng chất xa tầm với của con trẻ
-Đừng nói với trẻ em rằng sinh tố khoáng chất là “viên kẹo”, kẻo chúng tưởng thật và lấy ăn.
 
Kết luận
Một chế độ ăn uống hợp lý với tuổi tác và hiện trạng cơ thể vẫn là điều cần thiết để có đầy đủ các chất dinh dưỡng, kể cả sinh tố khoáng chất.
Bác sĩ Benjamin Caballero, Giáo sư Đại học Y tế Công Cộng John Hopkins có ý kiến: “Nhiều người có ảo tưởng là sinh tố khoáng chất có thể bù đắp cho việc ăn uống cẩu thả. Nếu ta tiêu thụ thực phẩm táp nham (junk food) mỗi ngày thì sinh tố là vấn đề vô nghĩa đối với mình. Không gì có thể thay thế được một chế độ dinh dưỡng lành mạnh. Chúng ta không biết chất nào trong chế độ này là tác giả của một điều kiện sức khỏe tốt. Nhưng điều mà ta biết rõ là những ai ăn uống hợp lý đều ít bệnh hơn”.
Vì sinh tố khoáng chất dùng thêm không bao giờ có thể thay thế cho sự ăn uống đầy đủ sáu chất dinh dưỡng căn bản: chất đạm, chất béo, tinh bột, sinh tố, khoáng chất và nước.
 
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức
Texas-Hoa Kỳ
(1) Viagra, Cialis là hai thuốc điều trị Rối Loạn Cương Dương
 
 
 
+++
Ngày Viêm Gan Toàn Cầu: Những Điều Quý Vị Cần Biết
 
Ngày 19 tháng Năm năm nay đánh dấu Ngày Viêm Gan Toàn Cầu đầu tiên. Là một người Mỹ gốc Á Châu, hẳn quý vị đã biết phần nào căn bệnh viêm gan B mãn tính - căn bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến cộng đồng của mình. Nhưng các dữ kiện bạn biết có đầy đủ và đúng hay không?
 
Có rất nhiều giả thuyết không đúng về căn bệnh viêm gan B mãn tính, và cách tốt nhất để bảo vệ bản thân và gia đình là có được các thông tin đúng. Đây là một vài điều quý vị nên biết về bệnh viêm gan B, và các hiểu lầm thông thường về căn bệnh này.
 
Ba điều quý vị nên biết về bệnh viêm gan B mãn tính:
 
- Người Mỹ gốc Á Châu có tỉ lệ nhiễm vi khuẩn viêm gan B mãn tính cao gấp 10 lần so với các người Mỹ khác
Mặc dù người Á Châu chỉ chiếm 4% trên tổng dân số, chúng ta lại chiếm đến 40% trường hợp bị nhiễm vi khuẩn viêm gan B mãn tính trong toàn Hoa Kỳ. Sự thật, hiện trên 800,000 người Mỹ gốc Á Châu đang sống với căn bệnh viêm gan B mãn tính.
 
- Gần 2 phần 3 người Mỹ gốc Á Châu bị nhiễm vi khuẩn viêm gan B mãn tính mà không biết họ hiện đang bị nhiễm
Vì nhiều người trong chúng ta không thử máu khám nghiệm bệnh viêm gan B, chúng ta không biết mình đang bị nhiễm vi khuẩn. Điều này chứng tỏ chúng ta không quan tâm đến việc bảo vệ sức khỏe cho chính bản thân và gia đình.
 
- Bệnh viêm gan B mãn tính được gọi là "kẻ giết người thầm lặng" vì cứ trong 3 người thì có 1 người bị nhiễm bệnh không hề có dấu hiệu hoặc triệu chứng bệnh
Ngay cả khi quý vị không có triệu chứng bệnh, quý vị vẫn có nguy cơ cao bị bệnh gan, ngay cả bị ung thư. Trên thực tế, người Mỹ gốc Á Châu có tỉ lệ bị ung thư cao gấp 3 lần người Mỹ da trắng gây ra do bệnh viêm gan B.
 
Các hiểu lầm thông thường về bệnh viêm gan B mãn tính
- Bệnh viêm gan B chỉ lây qua đường tình dục
 
Sự thật, phần lớn người bị nhiễm bệnh viêm gan B từ khi được Mẹ sinh ra - điều này đặc biệt đúng nếu bạn sanh đẻ tại các nước Á Châu. Vì thế, cho dù quý vị có sinh hoạt tình dục một cách an toàn, quý vị vẫn có nguy cơ bị nhiễm bệnh viêm gan B. Hơn nữa, thông thường nếu trong nhà có người bị nhiễm bệnh, quý vị và gia đình nên đi khám nghiệm truy tầm viêm gan B.
 
- Quý vị có thể vẫn là "người mang bệnh khỏe mạnh" của căn bệnh viêm gan B mãn tính.
Nhiều người tin vào điều này, nhưng đây không phải là sự thật. Một khi quý vị đã bị nhiễm bệnh viêm gan B mãn tính, quý vị nên xt nghiệm thường xuyên về bệnh gan và các biến chứng tiềm tàng. Tham khảo với bác sĩ của quý vị về các xt nghiệm này, và những phương thức ngăn ngừa tránh bị tổn thương gan nghiêm trọng.
- Quý vị có thể đã được tim chủng miễn nhiễm bệnh viêm gan B mãn tính
Điều này có thể không đúng. Một nghiên cứu gần đây cho biết 20% người Mỹ gốc Á Châu tin rằng họ đã được chích ngừa miễn nhiễm vi khuẩn viêm gan B nhưng thật ra họ thiếu ngăn ngừa chống bệnh.
- Quý vị có thể lây bệnh viêm gan qua đường ăn uống
Quý vị không thể lây viêm gan qua đường ăn uống hoặc dùng chung muỗng nĩa với gia đình và người khác.
 
Bây giờ quý vị đã biết một số dữ kiện, hãy tham khảo cùng bác sĩ để xét nghiệm bệnh viêm gan B mãn tính- và đừng quên khuyến khích cả khích gia đình của mình. Chỉ đơn giản một cuộc thử máu xét nghiệm mà phần lớn thường được miễn phí tại nhiều nơi.
 
Nếu quý vị không bị bệnh viêm gan B, hãy chích ngừa để phòng ngừa. Trong trường hợp xét nghiệm viêm gan B dương tính, quý vị cũng đừng quá hoang mang. Vẫn có những cách chữa trị để giúp bạn sống khỏe mạnh, và có khi chỉ là việc uống một viên thuốc mỗi ngày.
 
Vậy quý vị đừng sợ hãi và đừng để những thông tin sai lạc ngăn chặn việc chăm sóc sức khỏe của mình. Thay vào đó, hãy chủ động thử nghiệm bệnh viêm gan B nhân Ngày Viêm Gan Toàn Cầu (World Hepatitis Day), để bảo vệ sức khỏe của bản thân cũng như của cộng đồng.
 
Để có các chỉ dẫn kín đáo và các thông tin về bệnh viêm gan B mãn tính, hoặc để tìm dịch vụ xét nghiệm HBV gần nơi quý vị cư ngụ, gọi số 1-888-311-3331 hoặc truy cập mạng www.ThinkB.org.


 BÁC SĨ NGUYỄN Ý-ĐỨC
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=117&nid=127980
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-05-26 18:25:56HongYen>
Lạm dụng vitamin mà không lao động thì rất có hại
26-05-2008 10:19:05 GMT +7

 
Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học cho hay, uống vitamine mà không lao động thì có hại hơn có lợi.

Tại Anh, có hàng triệu liều vitamine được sử dụng mỗi ngày, cho dù nhiều người không ốm yếu nhưng họ vẫn lạm dụng. Việc mọi người lạm dụng vitamine thường xuyên là bắt nguồn từ việc cho rằng, vitamine E và C chống lại quá trình ô xi hoá. Ít ai biết được rằng chúng lại là nguyên nhân gây ốm yếu ở người.

Thực tế cho thấy, nhiều người lạm dụng quá nhiều vitamine C dưới dạng viên sủi được chế biến từ quả việt quất, quả lựu và vitamine E được chế biến từ các loại hạt. Khi sử dụng, chúng ta hi vọng gặt hái nhiều lợi ích cho sức khoẻ. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây trên tờ New Scientist cho thấy, ngoài lợi ích chống lại quá trình ô xi hoá thì hai loại vitamine được dùng phổ biến trên chẳng có lợi gì về sức khoẻ nhiều. Tạp chí này cũng nhấn mạnh, sự thực khi vào cơ thể con người, chúng chẳng làm thay đổi nhiều về sức khoẻ. Nội dung tờ tạp chí cũng nhấn mạnh, thật là lãng phí thời gian và tiền bạc để nghiên cứu tác dụng các chất trên. Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Mỹ còn cho hay, multivitamins (thuốc bổ) rất nguy hiểm khi chúng ta dùng quá liều. Khi lạm dụng chúng để chống ô xi hoá xảy ra, nó sẽ càn quét các tế bào gốc tự do, gây đầu độc thân thể do sự phá huỷ các tế bào, tăng nguy cơ gây ốm ở người.

Thực ra, vitamine cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hệ thống sức khoẻ thần kinh, ngăn chặn ung thư cũng như giảm nguy cơ bị bệnh mất trí. Về tác dụng của vitamine C cũng có nhiều điều trái ngược nhau. Một cuộc nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Mỹ cho hay, vitamine C làm tăng nguy cơ xơ cứng và xơ vữa động mạch trong người tiểu đường. Barry Halliwell, nhà sinh hoá học, chuyên gia nghiên cứu chất chống oxy hoá tại trường ĐH quốc gia Singapore cho hay, thay vì lạm dụng các viên thuốc vitamine, chúng ta nên ăn những loại rau quả nhiều viatmine trong rượu vang đỏ, trà, trái cây và rau xanh. “Đừng lạm dụng nhiều vitamine, chúng ta hãy bắt đầu bằng nguồn vitamine trong rau quả”- Barry Halliwell nhấn mạnh.

(Theo Nông nghiệp VN / AP)
Đăng nhập để trả lời
0



Sự cần thiết của vitamin D
01:43:00, 01/06/2008
H.G




Các bác sĩ Anh đã cung cấp bằng chứng rõ ràng nhất từ trước đến nay cho thấy trẻ sơ sinh được cung cấp đủ vitamin D có thể tránh được bệnh tiểu đường type 1 khi trưởng thành.
 


Theo Hãng tin Reuters, các nhà khoa học thuộc Bệnh viện Nhi Booth Hall và Tổ chức Dịch vụ y tế quốc gia (Anh) đã phân tích dữ liệu toàn bộ các cuộc nghiên cứu về mối liên hệ giữa vitamin D và trẻ nhỏ. Họ nhận thấy rằng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 1 khi lớn lên ở trẻ được cung cấp đủ vitamin D giảm đến 29% so với trẻ thiếu loại vitamin này. Có thể bổ sung vitamin D thông qua ăn uống (thịt, cá, trứng, sữa, ngũ cốc, rau quả...) hoặc cho trẻ tắm nắng từ 10 - 15 phút vào mỗi buổi sáng.
H.G
http://www6.thanhnien.com.vn/Suckhoe/2008/6/1/242004.tno
..........Sáu Tỷ
...
Đăng nhập để trả lời
0