📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đêm dài Nhật Pháp bắn nhau 🔒

9 trả lời, 1.825 lượt xem — Trang 1 / 1
Đêm dài Nhật Pháp bắn nhau
Tác giả Ngô văn Quỹ


Lời giới thiệu


Cách mạng tháng 8-1945 là sự kiện quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX. Nó chia thế kỷ thành hai mảng sáng-tối; một dân tộc bị chìm đắm trong đêm dài nô lệ mất nước và cũng dân tộc ấy đã “rũ bùn đứng dậy” làm chủ vận mạng của mình bằng một cuộc cách mạng lật đổ ách đô hộ phát xít, thực dân, phong kiến và tỏ rõ sức mạnh của ý chí tự chủ bằng những cuộc kháng chiến trường kỳ đánh bại “hai đế quốc lớn” bảo vệ trọn vẹn chủ quyền lãnh thổ của một nước Việt Nam thống nhất.
Cách mạng tháng Tám thành công vừa tròn một năm (1946), một trong những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là một trong những yếu nhân của cuộc cách mạng, tác giả của ban Chỉ thị lịch sử “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Tổng Bí thư Trường Chinh đã là một người đầu tiên tổng kết cuộc cách mạng như một sự kiện lịch sử và kêu gọi những người từng có mặt trong biến cố lịch sử này hãy tham gia tổng kết để rút ra những bài học lịch sử giúp cho dân tộc ta đủ sức đi tiếp trên chặng đường trường chinh chắc chắn còn nhiều gian khổ và thử thách, Cách mạng tháng Tám 1945 đi vào sử sách bắt đầu là như vậy. Và quả thực, những bài học lịch sử rút ra từ cuộc cách mạng này không chỉ cho chúng ta và các thế hệ sau chiếm ngưỡng, mà quan trọng hơn là để tìm thấy những nguồn lực to lớn cho dân tộc hướng tới tương lai.
Những pho lịch sử viết về cuộc Cách mạng tháng Tám được tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau, từ nhiều vị thế khác nhau và của cả những tác giả trong nước và ngoài nước, giờ đây rất phong phú. Nhưng điều chắc chắn là những công trình lịch sử ấy chưa tương xứng với hiện thực phong phú của cuộc cách mạng. Việc viết tiếp và nhận thức về cuộc cách mạng này còn là một hành trình lâu dài, bởi lẽ lịch sử chỉ diễn ra một lần nhưng nhận thức nó là cả một quá trình.
Cuốn sách “Đêm dài Nhật - Pháp bắn nhau” của bác sĩ Ngô văn Quỹ là một đóng góp trên quá trình nhận thức đó. Cuốn sách không tiếp cận cuộc cách mạng từ phía cuộc vận động vô cùng gian khổ và quả cảm cũng như sự lãnh đạo sáng suốt của Bộ tham mưu của những người cách mạng, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, mà lại tiếp cận từ phía những diễn biến trong lòng bộ máy thống trị của phát xít Nhật và đế quốc Pháp trên toàn Đông Dương, mà đỉnh điểm là cuộc đảo chính diễn ra vào đêm 9-3-1945. Đây chính là mảng nhận thức mà số đông bạn đọc Việt Nam, và những sách sử của chúng ta đề cập tới chưa đầy đủ. Cuốn sách như một lớp sơn lót là những đường nét phác thảo cái nền của một bức tranh lịch sử đất nước ta trước cách mạng, một dân tộc đang bị phát xít thực dân dày xéo, đang trải qua một nạn đói mà sức tàn phá chỉ có thể sánh với cơn hồng thủy. Và chính trên cái nền ấy, chúng ta sẽ thấy nổi bật hơn, sáng chói hơn những tia chớp báo hiệu cuộc chuyển mình của dân tộc Việt Nam, mà ban Chỉ thị lịch sử “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” là một hiệu lệnh hành động.
Bác sĩ Ngô văn Quỹ không phải là một người viết sử chuyên nghiệp, ông cũng không chỉ làm công việc chuyển ngữ tư liệu được viết bằng tiếng nước ngoài cho bạn đọc Việt Nam không có điều kiện tiếp xúc với nguồn sử liệu quý này, điều quan trọng hơn là ở độ tuổi 82, ông thuộc thế hệ những “người chứng kiến”, nhờ vậy mà cuốn sách này có hơi thở, nhịp đập của quá khứ. Về tác giả của cuốn sách này, tôi muốn nói rằng, chẳng bao lâu nữa, những người sống cùng thời với cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 sẽ không còn nữa, và một khi sự thực này thực sự chỉ còn là ký ức được lưu truyền lại cho những thế hệ sinh sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thì chúng ta mới ý thức được giá trị của công cuộc “bảo tồn ký ức” về những thời đã qua. Nghĩ vậy nên tôi càng trân trọng những cuốn sách viết về Cách mạng tháng Tám năm 1945 của thế hệ đã từng chứng kiến sự kiện lịch sử này, dù cho đây không phải là một cuốn hồi ký, chỉ là một cuốn sách biên khảo, nhưng lại là của một người thiết tha với những trang sử mà mình đã từng được sống trong thời đại đó. Với tâm cảm đó, xin giới thiệu cùng bạn đọc cuốn “Đêm dài Nhật - Pháp bắn nhau” của bác sĩ Ngô văn Quỹ.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 6 tháng 9 năm 2001
Dương Tung Quốc
Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
0
Phần I Đêm hôm trước


Ngày mùng 3 tháng 9 năm 1939, Anh rồi Pháp, chỉ cách nhau mấy tiếng đồng hồ đã gởi tối hậu thư, chính thức tuyên chiến với Đức quốc xã. Cuộc thế chiến thứ hai bùng nổ, bắt đầu bằng một giai đoạn nhùng nhằng, đầy mâu thuẫn, mà sau này sử sách gọi là một “Cuộc chiến tranh buồn cười” (Une drôle de guerre)!
Nhưng người ta cười không lâu! Chỉ chưa đầy một năm sau thì Hà Lan rồi Bỉ liên tiếp phải đầu hàng, bị phát xít Đức chiếm trọn vẹn. Ngày 14 tháng 6 năm 1940, thủ đô Paris tuyên bố “thành phố bỏ ngõ”, để mặc cho đoàn chiến xa của Hitler đi vào như trong một cuộc diễu binh. Chính phủ Pháp chạy về Bordeaux, rồi xuống Clermont, Ferrand, và cuối cùng đến đóng đô ở Vichy, một thành phố nhỏ, nổi tiếng về thứ nước suối khoáng uống tiêu cơm. Từ ở đó, ngày 20 tháng 6, Pháp tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Ngày 22, hiệp ước đình chiến được ký kết ở Rethondes, cũng chính trên chiếc toa xe lửa lịch sử Pháp đã bắt Đức ký đầu hàng năm 1918 sau cuộc thế chiến thứ nhất. Ngày 25 tháng 6 năm 1940 thì cuộc đình chiến có hiệu lực: Pháp chính thức mất nước.
Tin tức của cuộc thảm bại này nhanh chóng bay sang đến Đông Dương vào cuối tháng 6 năm 1940, như một tiếng sét nổ giữa không trung làm cho chính quyền thuộc địa cực kỳ hoang mang lo sợ. Số phận Đông Dương rồi sẽ ra sao đây? Số phận của chính bản thân bọn họ rồi sẽ ra sao đây? Chấp nhận sự đầu hàng và tuân theo chính phủ Pétain, hay chiến đấu để giữ thuộc địa với hy vọng chính quốc sẽ được giải phóng.
Trong cuộc lựa chọn ghê gớm này, đại đa số nhân viên chính quyền và sĩ quan trong quân đội thuộc địa, không có ý chí chiến đấu, nên ngay từ những ngày đầu đã ngã hẳn về phía đầu hàng. Điển hình nhất là tâm lý trong số sĩ quan hải quân. Khi nhận được lệnh của chính phủ Vichy phải thi hành các điều khoản của hiệp ước đình chiến, tập trung các chiến hạm và tàu chạy biển vào một số cửa bể ở Đông Dương để chờ giải quyết, thì chỉ có một số nhỏ sĩ quan trẻ tuổi, có ý định không tuân theo muốn đem lực lượng sang gia nhập vào đội hải quân Anh ở Viễn Đông, để tiếp tục tham gia chiến đấu. Nhưng toàn thể bộ tư lệnh hải quân, đứng đầu là Đô đốc Decoux, khăng khăng không chịu, cứ quyết định hạ súng, hạ cờ, không chiến đấu, làm cho sau này hơn 15 vạn tấn tàu bể, phần thì bị phát xít Nhật bức bách chiếm hết, rồi bị phá hủy trong chiến tranh ở Thái Bình Dương, phần thì bị không quân Mỹ oanh tạc, đánh chìm ngay trên sông Nhà Bè, kể cả soái hạm mang cờ của Decoux.
Tình hình của lục quân cũng không hơn gì, vì bộ tham mưu đều thống nhất quan điểm cho rằng số phận Đông Dương không phải sẽ được định đoạt ở Đông Nam Á mà là ở trên các chiến trường tại Châu Âu, hay đúng hơn là trên bờ sông Rhin kia. Vì vậy việc phòng thủ Đông Dương, nếu có cũng chỉ là “tượng trưng trên giấy” thôi vì làm sao địch nổi với đội quân hùng mạnh, thiện chiến của phát xít Nhật.
Do đó trong suốt quá trình cuộc thế chiến từ 1939 đến 1945, nếu ở Âu châu, chính quốc Pháp đã nhanh chóng đầu hàng trước phát xít Đức, thì ở Đông Dương cũng diễn ra cuộc đầu hàng từng bước của chính quyền thuộc địa trước phát xít Nhật. Đông Dương là một miếng mồi ngon béo bở, mà trong giấc mộng Đại Đông Á, phát xít Nhật thèm muốn dòm ngó từ lâu rồi, thì nay là một dịp may hiếm có, làm sao bỏ qua được.

1. Catroux, viên Toàn quyền đầu hàng đến quá mức yêu cầu của phát xít Nhật
Lúc đó, vào cái năm sôi động 1940 này, cuộc chiến tranh Hoa-Nhật cũng đang ở vào một giai đoạn sa lầy. Quân Nhật bị cầm chân ở khắp nơi, không tiến lên được. Súng ống đạn dược của Mỹ bán cho Tưởng Giới Thạch, qua nhiều đường cứ ùn ùn đổ vào Trung Quốc. Một đường quan trọng là chuyên chở qua miền Bắc nước ta. Hàng hóa từ tàu bể được bốc dỡ xuống cảng Hải Phòng, rồi chở bằng xe lửa qua Hà Nội, sang Vân Nam đến Côn Minh. Từ Côn Minh bốc sang các xe vận tải đi Trùng Khánh. Như vậy con đường ngắn nhất, tiện lợi nhất trực tiếp đến Trùng Khánh là con đường qua Bắc Kỳ trên lãnh thổ Việt Nam.
Tháng 2 năm 1939 Nhật đã chiếm được đảo Hải Nam, nhưng cũng không cắt đứt được con đường này. Tháng Giêng năm 1940, tướng Nhật Tsushihasi đến Hà Nội “thăm xã giao” viên Toàn quyền Đông Dương lúc đó là tướng lục quân Catroux mới nhậm chức chưa được một năm. Cuộc thăm xã giao biến thành cuộc thăm đầy hăm dọa. Tsushihasi lớn tiếng đòi chính quyền Pháp phải đình chỉ ngày việc chuyên chở vũ khí cho Tưởng Giới Thạch. Nhưng việc chuyên chở này là một “áp phe” béo bở, mang lại những nguồn thu nhập rất lớn, nên Catroux từ chối không chịu ngừng, làm cho Tsushihasi tức giận bỏ về. Định mệnh trớ trêu, năm năm sau, lại chính viên tướng này là người chỉ huy cuộc chính biến 9 tháng 3 năm 1945, lật nhào chủ quyền Pháp ở Đông Dương.
Ngày 19 tháng 6 năm 1940, một ngày trước khi chính phủ Pháp tuyên bố đầu hàng phát xít Đức, thông qua viên đại sứ Pháp Arsène Henry ở Tokyo Nhật gởi tối hậu thư cho viên Toàn quyền Catroux đòi phải lập tức đóng cửa biên giới Hoa-Việt, đình chỉ không được chở xăng dầu, các xe vận tải và các trang thiết bị chiến tranh khác. Quan trọng hơn nữa là đòi phải để cho một phái đoàn kiểm tra Nhật sang đóng ngay tại chỗ để giám sát việc thi hành các điều khoản. Hạn cuối cùng để trả lời là vào tối hôm sau, ngày 20 tháng 6.
Arsène Henry nhận thấy quyết tâm của Nhật nên điện cho Catroux khuyên nên “mềm dẻo” để tránh những sự kiện nghiêm trọng có thể xảy ra nếu từ chối một cách quá cứng rắn.
Hoảng hốt trước tình hình nghiêm trọng của chính quốc, Catroux không đợi đến hôm sau, mà ngay trong đêm 19 rạng ngày 20 đã điện trả lời, nhất nhất vâng theo mọi điều khoản mà Nhật đề ra. Sau đó ông điện cho chính phủ Pháp để tường trình, và ngày 24 tháng 6, thì nhận được điện từ Bordeaux đánh đi khiển trách ông về hành động đầu hàng đó. Ngày 25 tháng 6 thì Catroux điện về Pháp tự bào chữa, và yêu cầu hãy để ông ta “tự do phán đoán và hành động” (... laisser libre de juger et d’agir).
Bức điện của Catroux có những lời lẽ khá sỗ sàng và phạm thượng. Sau khi báo tin là một phần hạm đội Nhật đang tiến về bờ bể Bắc Kỳ, ông ta khuyến cáo chính phủ Pháp phải hiểu là sau khi ký hiệp ước đình chiến với Đức, uy tín của Pháp đã bị sa sút đến mức nào ở Á Châu và “bây giờ không phải là lúc nói cứng rắn được với người Nhật”. Ông ta viết trong bức điện “Khi người ta đã bại trận, khi người ta chỉ có ít phi cơ và súng phòng không, không có tàu ngầm thì người ta cố gắng giữ lấy tài sản của mình mà không phải chiến đấu, và người ta thương lượng. Đó là điều tôi đã làm.
Các ông bảo rằng lẽ ra tôi phải hỏi ý kiến các ông và tuân theo những chỉ thị trong bức điện cuối cùng của các ông. Tôi trả lời là tôi ở cách các ông 4.000 dặm, các ông không thể làm gì được cho tôi và sau hết, tôi lại buộc phải theo một thời hạn”.
Catroux cho rằng chính Bộ Ngoại giao Pháp phải trả lời bác bỏ tối hậu thư của Nhật, nhưng lại không làm việc đó. Và giải pháp của Bộ đề ra là mời người Nhật bố trí sự kiểm soát của họ ngay trên đất Trung Hoa mà họ chưa chiếm đóng được, thì theo Catroux đó là “một chuyện tào lao” Catroux viết tiếp trong bức điện:
“Tôi xin nhắc lại rằng, vì tình thế hiện nay, tôi phải đứng ngoài quỹ đạo hữu hiệu của các ông, và tôi phải được tự do hành động. Mục đích của tôi là giữ lấy Đông Dương không phải bằng võ lực, nếu có thể được, và bằng võ lực trong trường hợp trái lại”.
Ngày 28 tháng 6 năm 1940, bức điện này đến tay ông Bộ trưởng thuộc địa Rivière và ngay tức khắc Hội đồng Bộ trưởng Pháp họp quyết định cách chức Toàn quyền Catroux và chỉ định Đô đốc Decoux lên thay.
Từ ngày 30 tháng 6, là ngày Cartroux nhận được quyết định gọi về nước cho đến ngày 20 tháng 7 là ngày Decoux chính thức lên cầm quyền, Catroux cứ dùng dằng không chịu bàn giao, không chịu gặp Decoux, định âm mưu dùng bọn cầm quyền Pháp và bản xứ khuấy động dư luận “ái mộ” ông ta, làm áp lực với chính phủ Pháp để giữ ông ta ở lại chức vụ. Catroux cũng có sức thuyết phục Decoux từ chối không nhận chức vụ thay ông ta. Sau này trong cuốn hồi ký “Cầm lái xứ Đông Dương” (A la barre de l’Indochine), Decoux kể lại:
“... cho đến lúc cuối cùng, tướng Catroux vẫn vuốt ve dự định đưa tôi đến chỗ từ chối việc thay thế ông ta, và ông ta hy vọng chắc chắn sẽ giữ được chức vụ của ông ta... dưới quyền của Vichy”.
Bản thân Decoux lúc đó đang là Phó đô đốc, Tổng tư lệnh các lực lượng hải quân của Pháp ở Viễn Đông cũng lưỡng lự mãi rồi mới chịu nhận sự chỉ định của Vichy. Sắc lệnh chỉ định được ký từ ngày 25 tháng 6 năm 1940, nhưng mãi tới ngày 19 tháng 7, Decoux mới tới Hà Nội để hôm sau chính thức nhậm chức.
Trong suốt 20 ngày này Catroux còn đi nhiều bước tiến sâu hơn nữa vào con đường đầu hàng, định đem dâng trọn vẹn Đông Dương cho phát xít Nhật. Có lẽ đây cũng là một sự tính toán cực kỳ bỉ ổi của ông ta, muốn dâng món quà này để dựa vào phát xít Nhật gây sức ép với Vichy, buộc phải giữ ông ta ở lại chức vụ Toàn quyền Đông Dương, vừa tiếp tục được hưởng cuộc sống bình yên, nhung lụa ở cái thuộc địa xa xôi hẻo lánh này, vừa không phải dấn thân vào chiến trường binh lửa ở Âu châu.
Ngày 29 tháng 6, thì phái đoàn giám sát Nhật gồm hơn 40 sĩ quan do tướng Nishihara cầm đầu tới Hà Nội. Nishihara đã biết việc thất thế của Catroux nên không thèm gặp ông ta nữa và đòi gặp chính Decoux. Nhưng lúc đó vì chưa có bàn giao, nên Catroux vẫn còn chính thức là Toàn quyền Đông Dương, buộc Nishihara phải làm việc với ông ta, mặc dù viên tướng Nhật này tỏ thái độ ra mặt khinh bỉ và ngạo mạn trịch thượng. Catroux hằng ngày phải gặp Nishihara, không có người chứng kiến, hai bên trao đổi bằng tiếng Pháp vì Nishihara trước đã học ở Pháp nên nói thông thạo ngôn ngữ này.
Ngày 30 tháng 6, chỉ một ngày sau khi đến Hà Nội, phái đoàn Nhật đã nhanh chóng triển khai xong các tổ kiểm soát ở Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai và cả ở Hải Phòng nữa. Catroux để chứng tỏ thực tâm đầu hàng của ông ta, đã cho bóc bỏ hẳn một đoạn đường sắt ở Lào Cai trên biên giới Việt-Hoa. Đó là điều phái đoàn Nhật không hề yêu cầu, nên chẳng những không khen mà còn khiển trách nặng nề ông ta nữa và có ý định bắt ông ta phải đặt lại đoạn đường sắt đó.
Nishihara được thể cứ lấn tới từng bước. Hắn buộc Catroux phải:
1. Giao nộp cho quân đội Nhật tất cả hàng hóa Trung Hoa quá cảnh qua đất nước ta.
2. Để cho quân đội Nhật tiếp tế đạn dược vũ khí cho đội quân Nhật đóng ở Quảng Tây qua đường Bắc Kỳ.
3. Điều trị cho các thương binh Nhật trong các bệnh viện ở Bắc Kỳ.
Và nghiêm trọng hơn nữa
4. Để cho quân đội Nhật đi qua đường biên giới Việt-Hoa để sang chiến đấu ở Vân Nam.
Hắn còn đòi hỏi phải cung cấp cho Nhật một số khoáng sản quý như Wolfram để dùng vào công nghiệp chiến tranh. Ngày 9 tháng 7 năm 1940, Catroux chính thức chấp nhận các yêu cầu nói trên.
Đại sứ Pháp ở Nhật lúc đó là Arsène Henry, thấy ông ta vượt qua xa quyền hạn của một viên Toàn quyền, giải quyết những việc quốc gia đại sự thuộc phạm vi của chính phủ, nên đã điện khuyên ông ta phải thận trọng, đồng thời cũng cấp báo về Vichy. Chính phủ Pháp hoảng hốt điện sang ngay cấm Catroux không được hành động gì nữa, phải về nước ngay, đồng thời hối thúc Decoux phải nhận bàn giao, nắm lấy chính quyền và cố gắng vớt vát lại những điều đã lỡ.
Catroux xuống tàu về nước, nhưng khi đến Singapore thì bỏ tàu lên bờ tìm đường đi đến với De Gaulle.
Tại sao Catroux lại có những hành động như vừa nói ở trên? Tướng Geoges Gautier, chánh văn phòng Phủ toàn quyền Decoux, trong cuốn hồi ký “Sự cáo chung của Đông Dương” (La fin de l’Indoehine) đưa ra hai lý do, vừa là để giải thích vừa có tính chất phần nào thanh minh cho viên Toàn quyền đầu hàng nhục nhã:
Một là khi nước Pháp phải đầu hàng, những người Pháp ở thuộc địa Đông Dương hết sức bàng hoàng lo lắng. Chính quyền thuộc địa lúc đó chỉ nghĩ đến sinh mạng quyền lợi và thân phận của 40 ngàn Pháp kiều, mà quên hẳn họ cũng còn có nhiệm vụ và trách nhiệm đối với đất nước Việt Nam, với 25 triệu người Việt Nam. Catroux với cương vị thủ hiến, chỉ nghĩ đến chuyện làm mọi cách cho vừa lòng quân Nhật để chúng đừng đụng đến đồng bào của ông ta, còn đối với dân chúng Việt Nam thì “sống chết mặc bây” sống chết thế nào dưới lưỡi kiếm và gót giày của quân phát xít Nhật, ông ta phủi tay không cần biết.
Hai là tính toán nếu đứng về phe “nước Pháp tự do” của De Gaulle, thì Đông Dương không thể dựa vào bất cứ một hệ thống phòng thủ nào, không thể trông cậy vào bất cứ một sự viện trợ quân sự nào của chính quốc hay của đồng minh, lúc đó đang còn phải đối đầu sinh tử với quân Đức quốc xã, làm sao có thể đem quân vào “nướng” trên chiến trường Đông Dương được. Tổng thống Mỹ Roosevelt đã dùng một câu nói hài hước cực kỳ tàn nhẫn để nói rõ ý định của Mỹ là không tham chiến ở Đông Dương. Nhại lại cái tên thị trấn Đồng Đăng ở biên giới của ta, ông ta nói: “Tôi không muốn đánh nhau vì Đing Đông”. Đing Đông là tên một bà tiên trong một bài hát nu na nu nống của trẻ em Mỹ.
Vào thời điểm này Nhật Bản vẫn còn trung lập với Anh và Mỹ. Đại sứ Pháp ở Mỹ, bá tước Saint-Quentin khẩn khoản đề nghị Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Cordell Hull can thiệp với Tokyo. Ông này nhận lời, nhưng cũng dứt khoát từ chối không thể cung cấp cho Đông Dương bất cứ một sự hỗ trợ vật chất nào. Cuối cùng vào ngày 23 tháng 6 ông trả lời miệng cho đại sứ Pháp khuyên nên chấp nhận tối hậu thư của Nhật.
Về phía Anh cũng không hơn gì. Đô đốc Sir Percy Noble, Tổng tự lệnh các lực lượng Anh ở Viễn Đông cũng trả lời dứt khoát là không thế giúp đỡ gì được cho Đông Dương, vì chính ông cũng đang phải điều đại bộ phận hạm đội Anh về Âu châu đi đối phó với quân Đức.
Catroux lại khẩn khoản đề nghị Mỹ ban cho phi cơ và các thiết bị quân sự, vì lúc đó Mỹ đang có hợp đồng chế tạo những thứ này cho Anh và Pháp, nhưng Mỹ cũng từ chối, và sau này người ta mới biết rằng vào thời điểm đó, công nghiệp của Mỹ cũng chưa đủ sức thỏa mãn tất cả các đơn đặt hàng của Anh và Pháp. Sau khi Pháp đầu hàng thì Anh chiếm hết các đơn đặt hàng này.
Qua trung gian của lãnh sự Mỹ Reed ở Hà Nội, và đại sứ Pháp ở Washington, Catroux lại cử một phái đoàn sang Mỹ, do đại tá Jacomy cầm đầu, cùng đi có đại úy phi công Pélisse và một quan chức dân sự là ông Camerlyncek, hiệu trưởng trường luật Hà Nội, tới San Francisco ngày 23 tháng 7. Nhưng tất cả những đề nghị mua bán vũ khí của phái đoàn này đều bị Mỹ cương quyết từ chối. Sở dĩ như vậy là vì hai lý do sau đây: Một là tất cả vũ khí chỉ dành cho Anh mà Mỹ coi là hàng rào tiền tiêu chống phát xít Đức, và hai là Mỹ không muốn dính líu vào Viễn Đông, vào lúc người đã bắt đầu nhận thấy mối nguy cơ Nhật Bản.
Kiểm điểm lại thì lúc đó, ngoài số quân người bản xứ với những vũ khí hết sức lạc hậu, Catroux chỉ có trong tay khoản ba, bốn sư đoàn lính người Âu, trang bị cũng không hơn gì, chỉ huy thì kém cỏi đã từ lâu ăn ngon ngủ kỹ, chẳng có một chút kinh nghiệm chiến đấu gì, thì làm sao đối đầu được với một đội quân Nhật hùng cường đã từng làm mưa làm gió ở Thái Bình Dương, xâm chiếm dễ như trở bàn tay Singapore, Philippines và Ấn Độ thuộc Hà Lan. Vì vậy kế thượng sách là: đầu hàng vô điều kiện và hứng chịu mọi điều kiện của đối phương.

2. Cũng đầu hàng nhưng... từng bước của Decoux - viên Toàn quyền Đông Dương cuối cùng
Ngày 20 tháng 7 năm 1940 Decoux chính thức lên nắm quyền. Lần tiếp xúc duy nhất để trao đổi của Decoux với Catroux là trong ngày hôm trước. Catroux công nhận là ông đã đi quá xa những yêu sách của Nhật, cốt là để làm cho “chùng bớt sự căng thẳng”, nhưng nay trách nhiệm của Decoux là phải “xiết chặt” lại tình hình và hạn chế sự hoạt động của Nishihara trong phạm vi phái đoàn kiểm soát của Nhật Bản.
Nhưng Decoux dù có tài ba đến mấy cũng không thế xoay trở được tình hình nữa chứ nói gì đến “xiết chặt” và “hạn chế”. Trong cái mùa hạ nóng bỏng 1940 này, chiến lược của Nhật là nhằm hai mục tiêu chính:
Một là cô lập hoàn toàn nước Trung Hoa.
Hai là đẩy các căn cứ xuất phát của quân đội Nhật vào những nơi nào gần nhất tới các ăn cứ của Đồng Minh.
Thế mà Bắc Kỳ là chặng đường thứ nhất để tiến tới hai mục tiêu này, thì làm sao tránh được không phải đối đầu với Nhật ở đây. Vậy đánh hay hàng?
Kể từ ngày phái đoàn Nishihara đặt chân đến Hà Nội, thì coi như Pháp đã mất đứt Đông Dương rồi. Ngay từ đầu Nishihara đã hành động như ở một nước bị chiếm đóng vậy. Tàu bè Nhật ra vào tấp nập ở cảng Hải Phòng, máy bay chiến đấu Nhật bay đến bay đi, tập luyện nhào lộn ngay trên bầu trời Hà Nội, ngang nhiên không cần xin phép. Thậm chí quân đội Nhật đổ bộ nườm nượp xuống Hải Phòng, bốc dỡ vũ khí, hàng hóa và dùng xe vận tải, đường hỏa xa chuyên chở sang Quảng Tây, tự nhiên như ở trên đất Nhật vậy (theo hồi ký Decoux, sách đã dẫn, trang 47).
Bản thân Decoux cũng đi hết từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, khi nào bị bức bách quá thì lại rời khỏi Hà Nội, né tránh vào Sài Gòn hay Đà Lạt để hoãn binh. Cứ nhùng nhằng như thế cho đến 9 giờ đêm ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật làm cuộc chính biến, chiếm Phủ thống đốc Nam Kỳ, bắt sống ông ta cùng toàn bộ bộ tham mưu ở đó. Sau này trong cuốn sách hồi ký đã dẫn, ông ta có thanh minh là Đông Dương không bị Nhật chiếm đóng và ông ta không dâng Đông Dương một cách dễ dàng cho phát xít Nhật mà có chiến đấu đến... hai lần, một lần ở Lạng Sơn chống đội quân Quảng Tây của Nhật và một lần ở đảo Koh Chang chống hải quân của nước Xiêm (bây giờ là Thái Lan).
Hãy nghe René Charbonneau kể lại trận Lạng Sơn này xem nó “dữ dội” đến mức nào! Charbonneau, con của tướng Charbonneau, bản thân là một đại úy đã từng chiến đấu chống quân Nhật vào những năm 1940 và 1945. Cuốn hồi ký của ông “Loạt đạn bắn vào Đông Dương” (Rafale sur l’Indochine) xuất bản ở Paris vào năm 1946 được đánh giá như một tài liệu rất có giá trị về cuộc chiến tranh ở Đông Dương thời đó.
Ngày 2 tháng 8 năm 1940, theo như thường lệ Nhật lại dùng hình thức dọa nạt, cho viên đại tá Sato, tham mưu trưởng đội quân Quảng Tây sang kéo lê kiếm, nện gót ủng, tới Phủ toàn quyền đập bàn đập ghế, lớn tiếng đòi Decoux phải mở thông biên giới cho quân đội Nhật qua lại ở vùng Lạng Sơn, cho lập thêm một số sân bay quân sự, và nhất là phải “gắn liền, kinh tế Đông Dương vào kinh tế Nhật Bản”. Decoux từ tốn trả lời là ông ta không có thẩm quyền quyết định, vì những việc này thuộc phạm vi thương thuyết giữa hai chính phủ Vichy và Tokyo. Chuyện nhùng nhằng mãi cho đến ngày 30 tháng 8, chính phủ Vichy phải chịu nhận một số điểm như sau:
Chính phủ Nhật tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của Đông Dương và chủ quyền của Pháp trong xứ này. Đáp lại, chính phủ Pháp công nhận sự ưu thế của Nhật ở Viễn Đông, và đồng ý để cho Nhật có được những sự dễ dãi về quân sự ở Bắc Kỳ, một cách tạm thời và ngoại lệ, giới hạn trong thời gian cuộc xung đột Hoa-Nhật.
Một thỏa ước quân sự và kinh tế sẽ quy định về các chi tiết thực hiện. Charbonneau cay đắng kể lại:
“Ngày đó chúng ta có biết đâu rằng người Nhật không chỉ có mục đích đuổi chúng ta ra khỏi cửa, mà còn bắt chúng ta phải làm việc cho họ nữa. Những điều kiện hòa bình mà họ ban cho chúng ta không phải là kết quả của một cuộc thương lượng, mà là hậu quả của một cuộc bại trận”.
Cuộc thương thuyết về các chi tiết của thỏa ước là hết sức vất vả, diễn ra trong một bầu không khí căng thẳng, vì Nhật luôn dùng những lời lẽ hống hách đe dọa. Cứ nhùng nhằng kéo dài mãi cho đến ngày 2 tháng 9, thì Nishihara tuyên bố không đàm phán nữa và đòi ký kết ngay vào trước lúc nửa đêm. Nhưng Decoux vẫn không chịu. Trong đêm 5 rạng ngày 6 tháng 9, một tiểu đoàn quân Nhật lặng lẽ, vượt biên giới Bắc Kỳ, tiến vào đóng trên những đỉnh đồi cao quanh Đồng Đăng. Decoux chính thức phản kháng. Ngày 7 tháng 9, Nishihara cùng tướng Tominaga đến xin lỗi, nói đó là một sự nhầm lẫn về hành quân và ra lệnh cho quân đội Nhật rút lui ngay về bên kia biên giới. Tướng Meunerat, chỉ huy trưởng Lạng Sơn, mặc binh phục cấp tướng đến trước các hàng quân Nhật chứng kiến cuộc rút lui. Nishihara gởi ngay cho Decoux một bức thư chính thức khen ngợi Meunerat, coi đó là một cử chỉ rất táo bạo của một vị tướng.
Cuộc hành quân này của Nhật thực ra chỉ là một dàn cảnh để đe dọa thôi, nhưng đối với Pháp thì lại có một tác động rất tai hại, làm cho Pháp có ảo tưởng nguy hiểm là mình vẫn còn mạnh lắm, chỉ cần can thiệp chính thức ngay là người Nhật đã phải rút lui. Sau chuyện này, Pháp nảy sinh tâm lý rất tự tin về sức mạnh của mình. Các cuộc thương thuyết lại tiếp tục, Nhật lại đưa ra những yêu sách mới không thể chấp nhận được. Cuộc thương thuyết lại bế tắc.
Ngày 19 tháng 9, Nhật lại dấn tới một bước nữa, gởi một tối hậu thư cho Decoux đe dọa sẽ đánh chiếm Lạng Sơn vào ngày 22 tháng 9.
Ngày 20 tháng 9 tất cả kiều dân Nhật ở Đông Dương rời khỏi nơi cư trú một cách rầm rộ để trở về nước. Trong ngày 21, có một cuộc biểu dương của lực lượng hải quân Nhật trong vịnh Bắc Kỳ. Đêm 21, Nishihara tuyên bố chính thức rời khỏi Hà Nội. Nhưng vừa đi đến Hải Dương, ông lại phái viên Tổng lãnh sự Suzuki trở về ban liên lạc Nhật-Pháp đề nghị nối tiếp thương lượng. Decoux cử đại úy hải quân Jouan xuống Hải Dương gặp Nishihara. Vào giữa lúc này, có một bức điện từ Vichy đánh sang, với những lời lẽ “đầy phẩm cách và đau buồn” chỉ thị cho Decoux chấp nhận các yêu sách của Nhật. Vào đầu buổi chiều ngày 22 tháng 9, những điều khoản chi tiết trong thỏa ước được quyết định và tối hôm đó, được ký kết ở Hải Phòng. Nishihara xuống một chiếc tàu phóng ngư lôi của hải quân Nhật chờ sẵn để về nước.
Thế là ở Đông Dương Pháp không còn trung lập trong cuộc xung đột Hoa-Nhật nữa. Với những sân bay ở Bắc Kỳ, Nhật đã tăng cường các cuộc tấn công vào những đường xá giao thông ở Birmanie, Vân Nam và Tứ Xuyên. Trùng Khánh phản kháng gay gắt. Nhưng biết làm sao được. Trong cuộc chiến này, những dân tộc yếu đuối làm sao giữ được cho khỏi bị cuốn hút vào binh lửa.
Tư lệnh trưởng quân đội Pháp ở Đông Dương lúc đó là tướng Martin, một con người mà theo Decoux “vừa kiêu ngạo tự phụ tự mãn lại hết sức chủ quan”. Còn lực lượng phòng thủ Đông Dương thì có thế coi như không đáng kể, tinh thần quân đội thì bạc nhược, thiếu ý chí chiến đấu, võ khí trang bị thì vừa thiếu vừa quá lạc hậu. Decoux kể lại rằng vào năm 1939, ông ta có dự một cuộc tập trận hàng năm của Đông Dương, năm đó được tổ chức tại Cao Miên, có mời cả các quan sát viên ngoại quốc đến dự hẳn hoi, và ông ta hết sức kinh ngạc, thấy quân đội được di chuyển... bằng xe bò! (sic), vì xe vận tải quá thiếu không đủ dùng. Còn mấy chiếc chiến xa thì - vẫn theo Decoux - phải để dành đến lúc thật cần thiết, vì các kỹ thuật viên quân sự cho biết, chỉ còn có thể hoạt động được vài giờ nữa là cùng, các bộ phận đã quá già nua cũ kỹ.
Khi nhận được tối hậu thư về vấn đề Lạng Sơn, Decoux cho họp ban tham mưu và những cộng sự thân cận để bàn xem liệu có thể chống lại quân đội Nhật được không? Tướng Martin khẳng định là thừa sức đối đầu với ba sư đoàn Nhật, vì theo các nguồn tin tình báo quân sự của ông ta, thì đội quân Nhật ở Quảng Tây phần thì bị ốm đau nhiều do không hợp thủy thổ, phần thì đã mất hết tinh thần chiến đấu, lại “không quen đánh đêm”! (sic) nên không có gì đáng lo ngại.

3. Lạng Sơn trận nắn gân đầu tiên quân Pháp
Buổi chiều ngày 22 tháng 9, quân báo cho biết có một lực lượng rất lớn quân Nhật đã được tập kết ở Mục Nam Quan. Vào khoảng 23 giờ cùng ngày, đồn Đồng Đăng báo cáo có những phát súng bắn vào lô cốt tiền tiêu của đồn, và ở trong làng dưới chân đồn thấy lố nhố có nhiều lính Nhật.
Đại tá Louvet, cùng một sĩ quan, đi trên một chiếc mô tô xít ca từ Lạng Sơn lên thăm thú tình hình. Vừa vào đến cổng làng, ông bị bắn chết ngay. Viên sĩ quan quay xe ra chạy thoát về được, cấp báo tin chẳng lành. Một lát sau đồn Chí Ma cũng cấp báo đã bị bao vây. Người ta vội vã điều một phân đội của tiểu đoàn đi giải vây.
Sáng ngày 23 tháng 9, một chiếc máy bay Potez 25 bay đi thám thính về phía ở Đồng Đăng. Chỉ ít phút sau nó đã phải cố sống cố chết, lấy hết sức già nua yếu đuối của nó, bay vội vã về sát các lùm cây mái nhà, đằng sau đuôi có ba chiếc chiến đấu cơ của Nhật đuổi theo sát nút. Vừa hạ cánh được trong sân bay, thì nó đã cùng ba chiếc khác nữa bị bắn ra tro ngay trên đường băng. Viên phi công thoát chết trong tơ tóc, báo lại: trên đường đến Mục Nam Quan, quân Nhật đi đông như kiến. Và, “ôi đau khổ, cờ Nhật đã bay phất phới trên đồn Đồng Đăng”.
Thực sự Đồng Đăng không đầu hàng, có chiến đấu và bị quân Nhật, có xe tăng yểm trợ để xung phong lên chiếm được trong đêm hôm trước. Một nửa số sĩ quan và hạ sĩ quan trong đồn đã tử trận.
Charbonneau kể lại sự bàng hoàng của lính Pháp lúc bấy giờ:
“Thế là mọi hy vọng đều tan tành. Đồng Đăng là đồn vững chãi nhất ở biên giới, với 32 súng tự động. Đồng Đăng con đê chắn sóng của các cuộc tấn công. Không, không thể như thế được. Chúng ta (quân Pháp) đã bị lừa dối. Quân đội Nhật Bản đâu có phải là một đội quân giẻ rách, mà là một đội quân Nhật thật sự...”. Và thế là mọi ý định, mọi ý chí tấn công và phòng thủ đều tan rã hết. Còn biết làm gì hơn nữa ngoài sự chờ đợi. Nhưng chờ đợi cái gì kia, trong sự hoang mang đến cực độ này. Đồn Lộc Bình báo tin Chí Ma đã thất thủ. Đến 16g30 thì chính Lộc Bình cũng đã rơi vào tay quân Nhật. Thế là con đường đi đến lòng chảo Lạng Sơn đã bị mở rộng.
Người ta quyết định điều một tiểu đoàn lính Thổ, vẫn được coi và được gọi là “một tiểu đoàn xung kích” đánh từ Khánh Khê vào sườn quân Nhật, rồi từ Đồng Đăng đi xuống Lạng Sơn, có một tiểu đoàn khác từ Lạng Sơn lên tiếp ứng. Tiểu đoàn Thổ, trong ngày 23 đến Điềm He ở đằng sau Khánh Khê, với 150 người đã kiệt sức. Ác hại thay, chính con đường Khánh Khê - Điềm He, lại đang là sự quan tâm của quân đội Nhật để tiến tới cắt đứt con đường liên lạc giữa Lạng Sơn với Đồng Mỏ và Hà Nội. Cho nên tưởng là đánh bất ngờ vào sườn quân Nhật, thì ở đó Nhật lại tập trung quân đông nhất, tưởng là với 700 người thì sẽ dễ dàng thắng lợi, nhưng lại phải đối đầu với 6.000 quân Nhật có xe tăng. Đến đêm 24, thì những lính Thổ còn sống sót bỏ đi hết: họ trở về làng của họ, về ngôi nhà sàn của họ, về với gia đình vợ con họ bây giờ đang ở sau lưng quân Nhật.
Đêm hôm đó một đơn vị nhẹ của Nhật đột nhập vào sở chỉ huy của tiểu đoàn ứng chiến, rồi tiến thẳng về Lạng Sơn.
Tình hình ở Lạng Sơn lúc đó là như sau: Trong thành Lạng Sơn có một tiểu đoàn lính lê dương, một đại đội bộ binh, ba đội pháo 75, và một đội pháo 155 trên ụ. Thành bị ngăn cách với những hào lũy cố thủ Kỳ Lừa bởi con sông Kỳ Cùng và chỉ được nối với nhau bởi một cây cầu mỏng manh.
Tư lệnh chỉ huy đội quân phòng thủ lúc đó là Chuẩn tướng Meunerat. Ông ta máy lần đánh điện về Hà Nội cấp báo xin rút lui, bỏ Lạng Sơn, xuống cầm cự ở Đồng Mỏ, vì Lạng Sơn là một lòng chảo, có ba con đường lớn đi tới được nên rất dễ bị bao vây. Tướng Martin cũng hoảng hốt không kém, nhưng vẫn ra lệnh cho Meuneat rút về Kỳ Lừa và “tử thủ” ở đó. Vào chiều tối ngày 24, cuộc rút lui bắt đầu. Cỗ pháo 155 quá nặng không thể cho qua cầu được phải phá hủy tại chỗ. Bộ binh qua cầu trước, rồi đến hai cỗ pháo 75. Vào lúc này bỗng xảy ra một chuyận nhầm lẫn bi thảm: những người đi sau, tưởng những người đi trước là quân Nhật đã đến được bờ sông, vội vã nổ súng, và những người bị bắn cũng nổ súng đáp lại. Thế là tất cả rối loạn lên, mọi người lại xô đẩy nhau chạy trở lại về thành Lạng Sơn.
25 tháng 9, Meunerat không thể cầm cự được nữa, lại đánh diện khẩn khoản xin Martin cho đầu hàng để cứu quân lính. Decoux kể lại rằng, lúc đó Martin vào báo cáo tình hình với một bộ mặt tiu nghỉu, không còn thái độ huênh hoang chủ quan như mấy hôm trước nữa. Decoux ủy nhiệm cho ông ta tùy tiện giải quyết. Và ông ta đã giải quyết như thế này: 10 giờ 40 sáng hôm đó, Meunerat được lệnh treo cờ trắng trên thành Lạng Sơn xin đầu hàng. Quân Nhật chiếm trọn vẹn Lạng Sơn, rồi ùn ùn kéo về xuôi.
Tính đến ngày 30 tháng 9, tổng kết lại cuộc thất trận Lạng Sơn phải trả giá như sau:
Ở Lạng Sơn: 2.500 tù binh, trong số đó có vị chuẩn tướng Meunerat. Nói chung họ được đối xử tốt và được quân Nhật hứa sẽ thả họ ra cùng với võ khí. Nhưng lính Đức, trong đội quân lê dương, với số lượng 250 người, được khuyên trở lại tổ quốc của họ để tham gia cuộc thế chiến thứ hai nhưng tất cả đều từ chối, muốn ở lại trong quân đội Pháp. Ở các đồn khác có 150 người chết trong đó có 15 sĩ quan.
Ở Đồng Mỏ quân đội còn nguyên vẹn, nhưng đường bộ và đường xe lửa về Hà Nội bị quân Nhật chiếm và ngay đêm, kéo quân ùn ùn về xuôi.
Cũng trong đêm 25 rạng ngày 26, bất chấp mọi điều khoản của các thứ hiệp ước, thỏa ước đã được long trọng ký kết, quân Nhật làm một cuộc đổ bộ rất quy mô lên bãi biển Đồ Sơn và ở một vài địa điểm khác nữa. Ngoài khơi lúc đó là cả một hạm đội Nhật, trong đó có một chiếc tuần dương hạm, đại bác chĩa hết vào bờ. Sáng hôm sau, vài chiếc máy bay ném vài quả bom xuống Hải Phòng. Các lực lượng Nhật sau khi đổ bộ lên bờ, được tập họp lại, chỉnh đốn hàng ngũ, có xe tăng dẫn đầu, tiến về Hải Phòng.
Người ta lo sợ một cuộc xung đột nữa có thể nổ ra. Hai sĩ quan Pháp cùng một phiên dịch viên người Âu trong ủy ban liên lạc Nhật-Pháp vội đi lên gặp đội tiền quân Nhật ở nửa đường. Họ giải thích cho quân Nhật Hải Phòng là một thành phố bỏ ngõ, không ở trong tình trạng chiến tranh và đề nghị cho một sĩ quan Nhật cùng đi với họ đến xác nhận. Viên sĩ quan này công nhận trong thành phố không có một sự bố trí phòng thủ nào. Không khí căng thẳng lúc đầu được giãn ra. Quân lính Nhật đeo súng trên vai, hàng ngũ chỉnh tề, kéo vào Hải Phòng như trong một cuộc diễu binh.
Mọi việc xong xuôi, Nishihara trở lại Hà Nội gặp Decoux, tuyên bố ông đã hết nhiệm vụ, “chào từ biệt” và giới thiệu người thay ông ta là tướng Sumita.
Hà Nội, Hải Phòng, từ trước đến nay chỉ nghe tiếng quân đội Nhật qua báo chí, bây giờ mới tận mắt được thấy thực chất nó như thế nào! Hàng trăm máy bay chiến đấu bay liệng trên không phận, hàng trăm xe thiết giáp đi rung chuyển phố phường, hàng chục ngàn chiến sĩ với những sĩ quan kéo lê kiếm, nện gót ủng, mặt mũi “bừng bừng sát khí”. Charbonneau ghi lại một cách mỉa mai: “Đây là một cảnh tượng vừa đau lòng vừa hùng vĩ đối với dân chúng ở đây, từ trước đến giờ chỉ quen với những cuộc điều binh khiêm tốn của chúng ta có kèn thổi phồm phồm!”.
Người ta chưa biết tất cả những chuyện này rồi sẽ biến chuyển ra sao đây, nhưng niềm lạc quan đã trở lại. Quân đội Nhật vì muốn đóng quân một cách yên ổn đã cho tuyên bố: “Trận Lạng Sơn chỉ là một hiểu lầm đáng tiếc. Hiệp định Vichy-Tokyo đã được ký kết rồi, chỉ là vì quân đội Nhật ở Đông Dương xa quá chưa nhận được thông báo đó thôi”.
Phải mãi đến ngày 15 tháng 10 bản hiệp định mới được chính thức công bố. Nhân dịp này Nhật đã tổ chức tại Lạng Sơn một buổi lễ thả tù binh khá long trọng. Charbonneau kể lại “Một người Nhật bụng phệ tiến lên cầm một cuộn giấy, mà tất cả những người Nhật có mặt ở đó đều phải cúi lễ một cách kính cẩn. Ông ta mở cuộn giấy ra và đọc một thông điệp của Mikado (Nhật Hoàng) gởi cho các tù binh Pháp, đại ý như sau: Trẫm vĩ đại. Trẫm lòng lành. Trẫm giải phóng cho các người. Trẫm trông cậy ở các người sẽ cộng tác với Nhật Bản để phòng thủ Đông Dương mà chủ quyền Trẫm công nhận là thuộc về nước Pháp”.
Việc công nhận chủ quyền của Pháp là một việc cực kỳ quan trọng đối với những người Pháp ở Đông Dương vì theo lời Charbonneau, “điều này cho phép Đông Dương sống được từ ngày 15 tháng 10 năm 1940 đến đêm mùng 9 tháng 3 năm 1945”. Nhưng nó cũng kèm theo nhiều điều kiện bắt buộc, nhất là đòi hỏi Pháp phải cộng tác về mặt quân sự trong trường hợp có tấn công từ bên ngoài, trước mắt là của người Trung Hoa, và sau này là của các nước Đồng Minh. Vả lại theo Charbonneau nhận xét: hiệp định này chủ yếu chỉ gồm những gì mà người Nhật sẵn lòng thuận cho.

4. Bài học Lạng Sơn
Toàn quyền Đông Dương rút kinh nghiệm về trận đánh ở Lạng Sơn. Ông ta nói đi nói lại đến hai lần trong cuốn hồi ký của ông ta:
“...Biến động Lạng Sơn có cái tốt của nó là đã chứng minh cho người Pháp thấy nếu không muốn mất Đông Dương một cách không thể cứu vãn được nữa thì tốt hơn hết là không nên tái diễn lại một lần nữa một cuộc thử thách chống quân đội Nhật Bản như vậy...” (Sách đã dẫn, trang 117 và trang 165).
Riêng đối với Decoux, thì bài học Lạng Sơn là hết sức bổ ích, nên từ đó trở đi, mỗi khi quân Nhật đưa ra một yêu sách gì mới, ông ta cũng cố gắng chống đối lấy lệ, rồi cuối cùng cũng thu xếp làm vừa lòng chúng. Trong hơn bốn năm làm Toàn quyền Đông Dương, chỉ căn cứ vào một vài số liệu mà chính ông ta khai ra, cũng thấy ông ta đã cung cấp cho phát xít Nhật một khối lượng vật tư tài sản vô cùng quan trọng bóc lột của nhân dân Đông Dương. Thí dụ:
Về gạo ông ta xuất sang Nhật năm 1941: 700.000 tấn, năm 1942: 1.050.000 tấn, năm 1943: 950.000 tấn, năm 1941: 900.000 tấn.
Về cao su, chỉ riêng trong thời gian một năm, từ 1941 đến 1942, ông ta đã xuất sang Nhật một số lượng trị giá bằng: 12.907,023 kg vàng. Nếu tính cả các khoản khác, thì chỉ trong một năm này, Nhật đã “ghi nợ trên giấy” tổng cộng là:
Tiền mua cao su: 12.907,023 kg vàng
Cung cấp cho quân đội Nhật (một phần): 11.840,073 kg vàng
Các khoản thương vụ khác tính đến 31-12-1942: 7.870,044 kg vàng.
Tổng cộng 32.617,110 kg vàng trị giá lúc đó bằng 22 tỷ phrăng (Sách đã dẫn, trang 447)
Sự lũng đoạn về tài chính cũng hết sức nghiêm trọng. Thoạt đầu hai bên thỏa thuận “trên giấy” lấy ngân hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine) và ngân hàng Yokohama Species Bank làm cơ sở hối đoái giữa đồng yên của Nhật và đồng bạc Đông Dương. Khi nào số nợ của Nhật lên quá 5 triệu yên thì ngân hàng Đông Dương có thể yêu cầu Yokohama Species Bank trả số nợ đó bằng vàng hoặc bằng những ngoại tệ mạnh có thể đổi ra thành vàng. Ngày 30 tháng 12 năm 1942, Nhật dùng áp lực bắt chính phủ Pháp phải “ký thỏa ước Mitani-Laval về tiền tệ”, bỏ hết các quy định cũ, và từ ngày đó trở đi, Nhật sẽ thanh toán bằng một đồng “yên đặc biệt”, là đồng tiền duy nhất được chấp nhận trong các thương vụ với các nước có liên hệ kinh tế với Nhật. Số vàng của Pháp để ở ngân hàng Yokohama S.B trước ngày ký thỏa ước Mitani-Laval, thì khi nào có điều kiện, Nhật sẽ chuyển sang ngân hàng Đông Dương trả lại Pháp. Còn đồng “yên đặc biệt” thì cũng sẽ được đổi ra vàng hoặc ra các ngoại tệ có thể đổi ra vàng... khi nào có điều kiện (!).
Với những quy định như vậy, Nhật thì ghi nợ “trên giấy” bằng đồng yên đặc biệt, còn chính quyền Pháp ở Đông Dương thì đưa tiền mặt bằng đồng bạc Đông Dương, để cho quân đội Nhật thanh toán mọi chi phí hằng ngày trên đất Đông Dương.
Theo cách này, từ 1940 đến 1945, Decoux đã nộp cho Nhật:
Năm 1940: 6 triệu đồng; năm 1941: 58 triệu; năm 1942: 86 triệu; năm 1943: 116 triệu; năm 1944: 360 triệu; năm 1945 cho đến ngày 9-3-45: 100 triệu. (Sau đó từ tháng 3 đến Cách mạng tháng Tám, chỉ trong vòng năm tháng Chính phủ Trần Trọng Kim đã nộp cho Nhật 720 triệu đồng).
Trước sau tổng cộng tất cả số tiền phải nộp cho Nhật từ ngày đó là 1 tỷ 445 triệu đồng bạc Đông Dương bằng 14 tỷ 450 triệu phrăng.
Nhà Ngân hàng Đông Dương in giấy bạc không kịp trở tay: năm 1939 in 180 triệu đồng, năm 1940 từ 270 đến 280 triệu, năm 1941: 340 triệu, năm 1942: 500 triệu, năm 1943 từ 600 đến 700 triệu, và năm 1944, từ 1.014 đến 1.364 triệu đồng. Sự lưu thông tiền bạc càng ngày càng tăng lên đến mức chóng mặt. Nạn lạm phát chưa từng có làm cho đời sống của toàn thể nhân dân ba nước Đông Dương, nhất là nhân dân nước ta vô cũng cơ cực. Nạn đói khủng khiếp đã giết hại hai triệu đồng bào ta cũng là một hậu quả thảm khốc của sự đầu hàng nhục nhã khiếp nhược của bọn cầm quyền thực dân ở Đông Dương trước quân xâm lược phát xít Nhật.
Ngày 20 tháng 7 năm 1940, sau khi Pháp mất nước vừa đúng một tháng thì viên Toàn quyền Decoux chính thức lên nhậm chức. Việc làm đầu tiên của ông ta là triệu tập tất cả các chuyên viên và công chức cao cấp đứng đầu các ngành kinh tế ở Đông Dương lên báo cáo. Những người này đã không thể che giấu sự thực về tình hình nghiêm trọng lúc bấy giờ.
“... Ý kiến của các chuyên viên rất dứt khoát. Tất cả đều nhận định rằng nếu một ngày nào đó, Đông Dương bị cắt rời khỏi chính quốc, và thêm nữa lại phải từ bỏ mọi quan hệ thương mại bình thường, một mặt với Hồng Kông, Singapore, Ấn Độ, một mặt với Hoa Kỳ và Philippines, thì không bao lâu sẽ bị tắt thở về kinh tế (axphyxie économique) từ đó sẽ không tránh được đi đến chỗ sụp đổ của đồng bạc, sự rối loạn xã hội, và chỉ trong một thời gian ngắn chúng ta sẽ mất hết chủ quyền...”
(Decoux - Sách đã dẫn, trang 420)
Nhưng điều tiên đoán trên này, thực tế đã bắt đầu diễn ra ngay trước mắt rồi. Ngay từ sau khi tin tức đầu hàng của chính phủ Pháp loan ra, thì hải quân Anh đã lập tức cho thi hành mọi biện pháp cần thiết để cắt đứt quan hệ với các thuộc địa của Pháp, và đặt những xứ này vào tình trạng phong tỏa.
Ngày 3 tháng 7 năm 1940, hạm đội Anh do Đô đốc Sommerville chỉ huy, đột nhiên tấn công vào hạm đội Pháp đang bỏ neo tập kết tại cảng Mers-el-Kébir ở Algérie, do điều ước đình chiến với Đức quy định. Toàn bộ hạm đội này bị phá hủy và hơn 1.500 sĩ quan và thủy binh Pháp bị giết.
Ở nước ta chiếc tàu cuối cùng đến được Hải Phòng vào mùa xuân năm 1941 mang hiệu cờ Hà Lan, chở 4.000 tấn dầu mazút, do hải quân Anh kiểm soát và cho phép. Chiếc tàu Pháp cuối cùng rời Sài Gòn để về Pháp là chiếc Dupleix, tháng 8 năm 1941 bị Hà Lan bắt giữ và đưa về giam tại cảng Batavia, năm chiếc tàu chở khách khác, định đi đường vòng qua Phi Châu cũng không thoát. Mới tới Mũi Hảo Vọng (Capde Bonne-Espérance) thì bị chiến hạm Anh bắt giữ và đưa về giam tại Natal, một cửa biển ở Đông nam Phi Châu. Tất cả hành khách trên tàu có quốc tịch Pháp và đến tuổi đi lính đều bị đưa vào trại tập trung. Mùa đông năm 1941, còn lại 12 chiếc tàu chở hàng lớn chạy viễn dương với tổng trọng tải 8.600 tấn, và khoảng 20.000 tấn các tàu nhỏ chạy ven biển, thì bị quân Nhật bức bách chiếm hết trong chiến tranh.
Chiếc soái hạm Lamotte Picquet, mang cờ Đô đốc của Decoux cùng chiếc chiến hạm Chamer và nhiều tàu khác, tất cả 18 chiếc, bỏ neo trên sông Sài Gòn, bị 84 chiếc máy bay của đội Task Force 38 của hải không quân Mỹ từ ngoài khơi bay vào oanh tạc dữ đội, chỉ trong một ngày đã biến tất cả thành những quan tài sắt dưới lòng nước sâu. Tất cả lực lượng hải quân của Pháp ở Đông Nam Á như thế trở thành một con số không to lớn. Không chỉ sau này Mỹ mới tiến hành chiến tranh phá hoại đất nước ta bằng những cuộc ném bom cực kỳ man rợ, mà ngay từ những ngày đó, chúng cũng đã giết hại nhân dân ta một cách vô cùng thảm khốc. Ta hãy tính sổ với chúng những món nợ máu này:
Sau những cuộc không kích không đáng kể của quân Xiêm vào tháng chạp năm 1940, của quân Tưởng Giới Thạch tháng giêng năm 1941 vào miền Bắc nước ta, tháng 8 năm 1942 vào Hải Phòng thì không quân Mỹ bắt đầu nhập cuộc. Ngay từ năm 1943, những máy bay B29 của Mỹ liên tiếp ném bom xuống Hà Nội và Hải Phòng, ngày 21 tháng 7 giết chết 196 thường dân Việt Nam, ngày 7 tháng 8: 100 người, và ngày 12 tháng chạp, dữ dội nhất 500 người. Ngày 5 tháng 5 năm 1944, trận ném bom đầu tiên xuống Sài Gòn đã giết chết 220 người, rồi cứ tiếp tục như thế cho đến tháng 7 năm 1945. Trận ném bom cuối cùng dữ dội nhất là vào ngày 12 tháng 6 năm 1945 đã giết chết 222 người...
Ngoài ra máy bay Mỹ và tàu ngầm Mỹ còn tìm diệt những tàu chở hàng của Pháp cho Nhật, “đánh phá như trong một cuộc diễn tập, chỉ cần nhắm vào lá cờ tam tài mà nhả đạn...”.

5. Cộng tác hay kháng cự
Với những “thành tích” của Pháp phục vụ quân đội Nhật từ 1940 đến 1945 như vừa nêu trên, thì có thể nào không coi đó là một sự “cộng tác” thực sự của chính quyền thuộc địa với quân phát xít Nhật. Một buổi phát thanh của đài tiếng nói Vichy vào năm 1942 đã gọi đúng tên nó là một sự “cộng tác Pháp-Nhật” (une collaboration franco-japonaise). Phủ toàn quyền Pháp ở Đông Dương giãy nẩy lên, vội đánh một bức điện mật về phản đối: Nhật chiếm đóng thì có đấy, nhưng cộng tác với Nhật thì không.
Vậy thì có cộng tác hay không?
Paul Mus, một nhà học giả đã từng sống ở nước ta trong nhiều năm, tên tuổi không xa lạ gì với giới trí thức nước ta, lúc đó phụ trách một phòng tình báo chính trị ở Ấn Độ, có liên hệ trực tiếp với Đồng Minh, quan sát được từ bên ngoài các việc xảy ra ở Đông Dương, đã khẳng định:
“Thực sự đã có một sự cộng tác nào đó, đặc biệt về kinh tế: gạo của Nam Kỳ cứ ùn ùn được chở thẳng sang Nhật, hay chở đi nuôi quân lính Nhật chiến đấu ở các vùng biển phía Nam”. Nhưng ông cũng cố gắng thanh minh: “Nói cho công bằng, sau cuộc bại trận không mấy vinh quang của chúng ta (Pháp) ở Lạng Sơn, thật không dễ gì có thể làm khác được”.
Cũng quan sát khách quan từ bên ngoài. P. Mus lại khẳng định: “Có những dấu hiệu cho thấy có một sự kháng cự ngầm (une résistance sourde) chống lại sự xâm nhập của quân Nhật vào đời sống Đông Dương”.
Theo P. Mus thì:
“Người Nhật có đủ sức mạnh để áp đặt với chúng ta (người Pháp) việc làm này hay việc làm kia mà họ đã chọn lựa và đòi hỏi ta phải thực hiện bằng mọi giá. Nhưng theo kinh nghiệm họ lại không đủ mạnh để bắt chúng ta phải phục tùng ngay tức khắc, lúc nào cũng phục tùng và phục tùng ở bất cứ đâu. Họ chỉ mạnh ở một số địa điểm nhất định, chủ yếu ở Sài Gòn là nơi họ tập trung nhiều phương tiện của họ”.
Để chứng minh điều này, từ Ấn Độ, Mus đã nhiều lần chứng kiến những động tác “hoãn binh” của Decoux. Khi bị bức bách quá ông lại từ Sài Gòn né tránh lên Đà Lạt hay ra Hà Nội. Đã có lần tướng Mordant, tư lệnh quân đội Đông Dương, gợi ý với Decoux nên lấy cớ bị một bệnh “bệnh ngoại giao” nào đó, hay một cớ gì khác, né tránh hẳn đi, để cho một chánh văn phòng dưới quyền thay thế, không có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu lớn của Nhật. Biện pháp này hoàn toàn hợp pháp đã được quy định trong các sắc lệnh tổ chức thuộc địa, như thế không ai bàn cãi gì được, vừa hoãn binh vừa không mất thế diện. Decoux đã từ chối: ông ta là người cầm lái, không thể bỏ con tàu trong lúc sóng gió này.
Ở Đông Dương, những trung tâm tuy quan trọng, nhưng cũng chỉ có một quy mô tương đối nhỏ. Điều chủ yếu là ở khối nông thôn, chiếm tới hơn 90% đất đai và dân số, được chia nhỏ ra lúc đó thành 85 tỉnh. Ở cấp này, người Nhật khó thâm nhập vào được vì thiếu chuyên gia, không hiểu ngôn ngữ và cũng vấp phải sự ác cảm của dân chúng địa phương. Họ chỉ có thể ở những trung tâm quan trọng, thủ đô, thành thị lớn, gây sức ép với những đại diện của chính quyền Pháp ở cấp cao.
Trong thời gian này, bộ máy chính quyền của Pháp hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Trên từ Toàn quyền, Thống sứ, các đốc lý, công sứ các tỉnh, các chỉ huy quân đội, chỉ huy lính khố xanh, khố đỏ, cảnh sát, mật thám, đến các giám đốc các cơ quan hành chính sự vụ, kho bạc, ngân hàng, bưu điện, hỏa xa... tất cả đều vẫn do người Pháp nắm giữ. Tình trạng này đã che giấu thực trạng suy sụp đến mức cùng kiệt của chính quyền thuộc địa. Paul Mus viết:
“Ngoài một số nhỏ người được thông tin đầy đủ hơn, thì có thể nói, cho đến tận 9 tháng 3 năm 1945, cả Đông Dương đã sai lầm về thực trạng của chúng ta, và về tương quan giữa các lực lượng đối diện... Thấy ở nơi nào cũng có người Pháp thì tưởng chúng ta vẫn còn vững lắm, nhưng thực tế không phải thế. Và điều này đã giúp chúng ta còn trụ lại được mấy năm...”
Nhưng người Nhật đâu có mù quáng! Họ biết, mà biết rất rõ về thực lực quân sự, kinh tế của Pháp và nhất là biết rõ sự căm thù lâu đời sâu sắc của nhân dân Việt Nam đối với bọn thực dân xâm lược Pháp. Nhưng họ vẫn để nguyên tình trạng mập mờ này, vì theo tính toán chiến lược của họ, thì Đông Dương là một bàn đạp quan trọng để tiến về phương Nam, tiến sang Ấn Độ. Đông Dương là một vựa thóc tiền tiêu để nuôi quân lính của họ. Nên ở đây họ cần có một chính sách hòa dịu ổn định, nhất là chính sách tăng gia sản xuất ở địa phương để nuôi chiến tranh. Với hai mục tiêu này, sự có mặt của bộ máy chính quyền Pháp, của những cán bộ và kỹ thuật viên Pháp là vẫn còn cần thiết. Mặt khác, người Nhật vẫn biết rằng nhân dân Việt Nam có ác cảm cũng sâu sắc đối với họ, và họ không thể, chưa thể hất cẳng Pháp nắm lấy quyền cai trị. Hãng truyền thanh Domei của Nhật đã chẳng có lần cay đắng nhận xét là thanh niên và giới trí thức Việt Nam chỉ chú tâm vào việc giải phóng dân tộc và độc lập tự do thống nhất đất nước của họ, chứ có mơ màng gì đến thuyết viễn tưởng “Đại Đông Á” của Nhật đâu.
Rút cục lúc đó ở Việt Nam, vừa có cộng tác vừa có kháng cự. Người Nhật đã khôn ngoan không đập nát bộ máy chính quyền của Pháp là để có lợi cả về mắt kinh tế lẫn sự ổn định ở hậu phương của họ.
Cuộc kháng cự ở trong nội địa Việt Nam như vậy chủ yếu chỉ có tính chất “hành chính và thụ động”, kết quả tất nhiên chỉ có thế rất hạn chế. Lúc đó quân đội Pháp vẫn còn hầu như nguyên vẹn, nhưng không thế nghĩ đến việc đưa đội quân này ra trực diện chiến đấu chống lại quân Nhật, vì tương quan lực lượng quá chênh lệch, nghiêng hẳn và nghiêng quá xa về phía Nhật. Đông Dương lại không thế trông cậy gì được ở các nước Đồng Minh, càng không thế trông cậy được vào bất cứ một sự cứu viện nào của chính quốc. Các nước Đồng Minh đang phải đối đầu sinh tử với trục phát xít Đức, Ý, Nhật, sẽ không giơ nửa ngón tay lên để cứu vớt cái thuộc địa này của một nước Pháp đã bại trận. Sau này vào ngày 16 tháng 4 năm 1944, ở Trùng Khánh, Phó tổng thống Mỹ Wallace đã tuyên bố thẳng thừng không úp mở là Trung Quốc, Liên Xô và Mỹ đã thỏa thuận gạt bỏ người Pháp ra khỏi Đông Dương. Sau này nữa vào tháng 8 năm 1945, khi quân Nhật đầu hàng, Mỹ cũng đã quyết định đưa 180 ngàn quân Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc nước ta để giải giáp 30 ngàn quân Nhật, chứ không giao việc này cho người Pháp, tuy lúc đó nước Pháp đã được giải phóng và đã có ý định chiếm lại Đông Dương bằng võ lực. Đây là một hành động bày tỏ thái độ vừa muốn gạt Pháp ra khỏi thuộc địa Đông Dương, vừa cực kỳ tàn nhẫn đối với nhân dân ta, lùa một đội quan đói khát như thế vào một đất nước đã kiệt quệ, vừa trải qua một nạn đói khủng khiếp làm hai triệu người chết thảm khốc.
Như vậy là người Pháp ở thuộc địa chỉ có thế trông cậy vào chính mình mà thôi. Trong nội địa cũng đã có một nhóm Hoffet - Bertrand - Graffeuil định tổ chức một mạng lưới kháng cự, dựa vào quân đội và liên lạc với một nhóm khác ở Calcutta, Ấn Độ. Nhưng chưa hề có kinh nghiệm hoạt động bí mật, cả nhóm đã bị Nhật khám phá, đem giết hết không có một người nào sống sót. Sau này vào tháng 2 năm 1945, trước cuộc chính biến, Paul Mus cũng đã bí mật về được Việt Nam, có một cuộc hội đàm bí mật với Decoux về việc này. Decoux đã kể lại trong cuốn hồi ký của ông (sách đã dẫn):
“Người đối thoại bí mật của tôi đã trao cho tôi một giấy ủy nhiệm do một “Ủy ban Giải phóng Đông Dương” (Comité de Liberation de l’Indochine) cấp cho ông. Ông Paul Mus cho tôi biết, ông trở về xứ này là nơi ông đã từng sinh sống trong nhiều năm để mở rộng mạng lưới kháng cự (Réseau de Résistance) trong những phần tử chắc chắn nhất của lớp những người bản xứ tiến bộ. Tôi đã nói ngay cho nhà bác học bỗng chốc trở thành chính khách này, biết tất cả những điều nguy hiểm mà tôi thấy của một kế hoạch như vậy”. Và tất nhiên là Decoux từ chối tham gia và giúp đỡ.

6. Cuộc kháng cự có bài bản
Vào khoảng tháng 6 năm 1940, có vài chủ đồn điền ở Mã Lai thuộc Anh, lúc đó còn chưa bị Nhật chiếm đóng, quyết định bỏ tất cả công việc khai thác để đi theo De Gaulle. Trong số họ, nổi lên nhất, có ba sĩ quan cũ của quân đội Pháp: đó là đại tá Pechkoff, thiếu tá Langlade, và trung úy Boulle.
Pechkoff là một người gốc Nga, con nuôi của nhà văn Nga nổi tiếng Maxime Gorki. Năm 1914, ông ta đầu quân vào đội lính Lê dương của Pháp, và kiên trì trong binh nghiệp, lên dần tới cấp bậc đại tá. Đi theo De Gaulle, năm 1943, ông được cử cầm đầu phái đoàn quân sự của Pháp ở Trùng Khánh, và trở thành một đại diện của “Ủy ban Giải phóng Đông Dương”. Tháng 5 năm 1941, ông được cử là đại diện của De Gaulle tại chính phủ Tưởng Giới Thạch.
Cuộc đời của Boulle thì trôi nổi hơn. Sinh năm 1912 ở Avignon miền Nam nước Pháp, tốt nghiệp trường đào tạo kỹ sư, năm 1938, Boulle được tuyển mộ vào làm việc cho một công ty cao su ở Mã Lai. Tháng 11 năm 1939 phải động viên vào quân đội, ông chỉ huy một đội ôtô có súng liên thanh, dự vài trận đánh chống quân Xiêm ở vùng Hạ Lào, rồi đào ngũ đi theo Langlade sang Trung Quốc để tìm về với De Gaulle. Ngày 1 tháng 8 năm 1942, ông vượt biên giới Hoa-Việt ở vùng bản Nam Kum, phía tây bắc Phong Thổ, một mình làm một chiếc bè nứa, ban đêm xuôi dòng sông Nậm Tề về Lai Châu, định để liên hệ với mạng lưới kháng cự ở Đông Dương. Ngày 6 tháng 8 thì bị quân đội Pháp bắt được, và, ôi mỉa mai, bị đưa ra tòa án binh vì tội đào ngũ và phản quốc! Tòa kết án tù chung thân, đem về giam ở Hà Nội rồi chuyển vào Sài Gòn. Tháng 10 năm 1944, trong khi di chuyển ông sang Lào, đến Vinh thì được những người trong mạng lưới kháng cự giải thoát. Ông trở về Hà Nội, tìm lại được thủ trưởng cũ của ông là Langlade... Sau chiến tranh ông trở thành một nhà văn nổi tiếng, Pierre Boulle, tác giả của 20 tác phẩm, trong số đó hai cuốn nổi tiếng nhất là “Hành tinh của khỉ” (La planete des singes) và nhất là cuốn “Cây cầu trên sông Kwai” (Pont de la rivière Kwai) đã được quay thành phim, đưa lên màn ảnh đi khắp thế giới.
Cuộc đời của Langlade còn truân chuyên hơn nhiều và có thể coi như một bản tóm tắt của sự kháng cự từ bên ngoài mà ông là linh hồn sôi động.
Từ Mã Lai, Langlade sang Côn Minh, lập lại ở đây mạng lưới tình báo của Pháp ở Viễn Đông. Tháng 10 năm 1942, ông bí mật về biên giới Hoa Việt để bắt liên lạc với các sĩ quan Pháp ở Bắc Kỳ. Rồi ông được De Gaulle triệu về Luân Đôn. Tháng 7 năm 1943, ông được biệt phái sang Ấn Độ ở Kandy chỉ huy phân ban Đông Dương của lực lượng 136, trong tổ chức biệt động của Anh. Ông lại đi Alger nhận chỉ thị của De Gaulle về tiếp xúc với Decoux và tướng Mordant. Ngày 5 tháng 7 năm 1944, ông được thả dù xuống vùng Lạng Sơn, chỉ cách nơi đóng quân của một đại đội Nhật có ba cây số. Ngày 6 tháng 7 ông đã nhanh chóng tiếp xúc được với Mordant. Nhưng vài ngày sau thì Mordant bị Decoux cách chức chỉ huy, thay thế bởi tướng Ayme, tư lệnh sư đoàn Bắc Kỳ.
Ngày 17 tháng 8 năm 1944, ông trở về Alger, trao cho De Gaulle một bản báo cáo về tình hình kháng cự chống quân Nhật ở Đông Dương. De Gaulle cho thành lập một “Ủy ban Hành động vì Đông Dương” (Comite d’action pour l’lndochine) và cử Langlade cầm đầu. Theo sự đề cử của ông, De Gaulle, bí mật và chính thức ủy nhiệm tướng Mordant giữ chức chỉ huy cuộc kháng cự trong nội địa.
Ngày 15 tháng 1 năm 1944, Langlade được thả dù xuống Điện Biên Phủ với sứ mệnh mới, tổ chức một mạng lưới hoạt động quân sự và phá hoại. Sau đó với 119 lần thả dù, các lực lượng hành động đã đưa được vào Đông Dương 35 chuyên viên vô tuyến điện với đầy đủ máy móc thông tin liên lạc, 59 điệp viên, 4.000 vũ khí, 4 tấn thuốc nổ... Langlade bí mật tiếp xúc được với Decoux hai lần vào ngày 19 và 28 tháng 11 năm 1944. Ngày 24 tháng 11, hợp đồng về những mật hiệu phát trên sóng vô tuyến trong trường hợp bị tấn công bất ngờ. Đó là những mật khẩu: “Port Arthur”, “Một cách thô bạo” (A la hussarde), “Bản giao hưởng anh hùng” (Symphonie héroique) và (Eduard Detaille)...
Tất cả những chuyện này xem ra có vẻ bài bản và rất đẹp “trên giấy”. Nhưng khi vào việc, trong cuộc chính biến đêm 9 tháng 3 năm 1945, thì những hành động “một cách thô bạo”, những nét nhạc của “bản giao hưởng anh hùng” đều bị chìm trong tiếng thét xung phong khát máu man rợ của quân lính Nhật, và nhường chỗ cho sự thật phũ phàng của sự tiêu diệt chủ quyền Pháp và sự tàn sát sĩ quan, quân lính Pháp.
Nói cho công bằng, màng lưới kháng cự cũng có làm được đôi ba việc. Chẳng hạn từ ngày 15 tháng 10 năm 1944 đến đêm 9 tháng 3 năm 1945, nhờ những tin tức tình báo của Pháp, 33 chiếc tàu của Nhật đã bị đánh chìm ngoài khơi vùng biển Đông Dương. Nhưng có thấm tháp gì, đúng là chỉ như muối bỏ bể thôi.
Ngày 29 tháng 3 năm 1945, Langlade còn trở lại Điện Biên Phủ, tiếp xúc được với tướng Sabattier bây giờ là người chỉ huy cuộc kháng cự, sau khi Mordant đã bị Nhật bắt. Nhưng Điện Biên Phủ năm 1945 cũng không may mắn gì hơn năm 1954 cho vận mệnh của Pháp ở thuộc địa Đông Dương.
Nếu vào tháng 7 năm 1944, tướng Sabattier đã có những nhận xét chán chường về tổ chức kháng cự trong nội địa “... tổ chức này chưa đứng được lên chân, nó không bao giờ đứng được lên chân. Người ta bơi trong một mớ bòng bong, và càng ngày càng dấn sâu vào sự rối loạn và vô tổ chức”, thì vào năm 1945, Georges Gautier, phụ tá thứ nhất của Decoux, còn nhận xét cay đắng hơn: “Những lời huênh hoang khoác lác, những hành động dại dột như vậy, thì bất cứ một người bình thường, có lương tri nào cũng nghĩ là tất nhiên sẽ dẫn đến một phản ứng tàn bạo của Nhật. Không biết những người lãnh đạo nước Pháp tự do có ý thức được điều này không?”.
Và quả nhiên là Nhật đã phản ứng tàn bạo thật, chỉ trong một đêm đập tan tành chính quyền của Pháp ở Đông Dương, chặt đầu từ tướng chỉ huy đến binh nhất, binh nhì...
0
Phần II Ngày N, giờ G


1. Tại sao?
Tại sao lại xảy ra cuộc chính biến đẫm máu đêm 9 tháng 3 năm 1945, đêm cáo chung của chủ quyền Pháp trên toàn cõi Đông Dương, chấm dứt gần một thế kỷ đô hộ? Đó là một câu hỏi nhức nhối đặt ra cho nhiều nhà sử học Pháp sau này muốn tìm hiểu lại sự thật phũ phàng này trong quá khứ. Với khoảng lui về thời gian, bây giờ người ta đã có nhiều tư liệu để nhìn rõ hơn thời cuộc lúc đó, để có những nhận định vừa khách quan vừa chủ quan, mà độ chính xác còn chưa được khẳng định.
Có một điều chắc chắn là trong suốt bốn năm sống dưới sự chiếm đóng của Nhật, chính quyền thuộc địa đã làm tất cả mọi điều có thể làm được - có khi, có lúc còn làm quá cả yêu sách của quân địch - cốt để tránh không tạo cho Nhật cái cớ để dùng võ lực, đập nát sự cộng tác bất đắc dĩ, phá tan sự ổn định mong manh và tạm thời này.
Nhưng rồi cái cớ ấy, khách quan và cả chủ quan, cứ được hình thành. Và rồi việc gì phải xảy ra đã xảy ra...
Một trong những cái cớ quan trọng nhất là sự kháng cự ngấm ngầm của Pháp. Mặc dù là một sự kháng cự yếu ớt, gần như vô tổ chức, manh động hơn là có kế hoạch, nhưng dù sao vẫn là một sự kháng cự làm cho hậu phương của Nhật không được ổn định, cần phải dẹp yên đi.
Nói cho công bằng, sau cuộc chính biến, cuộc kháng cự vẫn không bị dập tắt hẳn, vẫn tiếp tục dưới sự tổ chức và chỉ huy của tướng Sabattier. Nó gồm tám mạng lưới của các lực lượng chiến đấu Pháp (8 réseaux de forces Francaises Combattantes) và sáu tổ chức của Ban hành động (Service Action).
Trong tổ chức này có ba người nổi lên được coi là anh hùng, và ngay khi tướng Leclerc sang tới Đông Dương đã đề nghị ngay truy tặng danh hiệu: Compagnon de la Libération (tạm dịch: Chiến hữu Giải phóng). Đó là trung tá Charle Lecoq, chỉ huy trung đoàn Lào Cai, đại úy xen đầm Jean d’Hers, chỉ huy phân đội Nam Kỳ - Cao Miên, và tổng cộng trình sư công chính Nicolai. Sự đề nghị này, tuy là của vị anh hùng Pháp Leclerc đi nữa, những không được bên chính quốc hoan nghênh, vì toàn bộ những người Pháp ở Đông Dương đều bị liệt vào loại “chủ nghĩa Thống chế của Pétain” (maréchalisme).
Để có một ý niệm về tình hình kháng cự ngày đó, có thể lấy cuộc chiến đấu tuyệt vọng của Jean d’Hers làm ví dụ:
Con của một chiến sĩ Pháp tử trận tại Verdun năm 1915, Jean d’Hers vào học trường võ bị Saint Cyr cùng khóa với Mangin năm 1929. Sang Đông Dương, với 35 tuổi đời, một vợ năm con, trước khi lao vào cuộc chiến đấu, anh dặn lại vợ: “Em nên biết anh sẽ không bao giờ đầu hàng quân Nhật, dù chúng có bắt em làm con tin và xử bắn em, thì anh cũng sẽ làm tròn bổn phận của anh cho đến cùng”. Có người bạn nói với anh: “Cuộc chiến đấu của anh là vô ích...”, anh đã đáp lại: “Vì vô ích như vậy nên lại càng đẹp...”.
Từ tháng 12 năm 1940, Jean d’Hers về Sài Gòn tham gia vào mạng lưới kháng cự của Graille, sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn 1 của trung đoàn lính Đông Dương ở Tây Ninh. Trong mạng lưới này anh làm nhiệm vụ tình báo. Anh đã báo được cho quân Anh, Nhật sẽ tấn công chiếm đóng Singapore ngày 8 tháng 12 năm 1941 một ngày sau cuộc đột kích Pearl Harbour. Và chúng cũng sẽ chiếm đóng cả Hà Nội. Rồi những thông tin của anh về những sân bay quân sự Nhật ở Nam Kỳ và Cao Miên cũng rất có ích cho những cuộc ném bom của Đồng Minh.
Đang hoạt động tốt, thì vào năm 1941 đột nhiên anh bị tướng Mordant đổi từ Sài Gòn xuống Cần Thơ vì... kỷ luật. Ở đây anh trở thành người cầm đầu cuộc kháng cự dân sự của miền Tây Nam Bộ, và bây giờ trong mạng lưới của anh, ngoài những lính xen đầm còn có thêm một số người dân sự nữa. Jean d’Hers buồn rầu nhận xét bọn này phần nhiều thường thoái thác, trốn tránh, mỗi khi vào việc nếu không là ngấm ngầm phản bội. Kẻ phản bội bỉ ổi nhất lại chính là một người phụ tá trực tiếp của anh. Đó là tên X, một chánh án khét tiếng trong vùng. Sở dĩ không nêu tên thật của hắn, vì sau này hắn leo lên những chức vụ rất cao trong ngành tư pháp, được thưởng Bắc đẩu bội tinh vì những hoạt động kháng cự ở Việt Nam, và sống rất lâu, vinh quang phú quý với gia đình vợ con.
Ngày 22 tháng 11 năm 1945, khi Leclerc vừa đến Sài Gòn đã đề nghị ngay việc truy tặng cho Jean d’Hers huân chương Chiến hữu Giải Phóng. Trước đó, ngày 21 tháng 10, vợ Jean d’Hers đã gửi cho Leclerc những tài liệu tố cáo X với một bức thư có những lời lẽ như sau: “Tôi trao vào tay ông tất cả những thứ này, và nếu chồng tôi ở trên cao kia nhìn thấy, chắc sẽ rất sung sướng vì ước mơ của anh ấy là được chiến đấu trong trung đoàn của ông. Đã biết bao nhiêu lần chúng tôi nói với nhau về điều này và cùng nhau theo dõi từng chặng, từng chặng một cuộc tiến công quang vinh của ông đi đến chiến thắng”.
Nhưng Jean d’Hers không bao giờ còn được chiến đấu chống quân phát xít Đức dưới sắc cờ của Leclerc. Anh đã chết dưới làn đạn của quân phát xít Nhật. Thôi thì cũng là chống quân phát xít dù dưới bầu trời nào.
Nhưng đối với anh, cay đắng hơn cả cái chết là sự tan vỡ các ảo tưởng. Xung quanh anh là một sự tan rã các ý chí. Anh hiểu rằng chẳng làm gì có sự kháng cự bằng võ lực chống quân Nhật ở Sài Gòn, cũng như ở Đồng Tháp Mười, và chẳng bao giờ có sự viện trợ từ bên ngoài đến. Anh cũng hiểu rằng quân đội Nhật đông hơn rất nhiều, mạnh hơn rất nhiều so với những gì anh khó khăn lắm mới tập họp lại được. Anh đã bắt gặp nhiều sự hèn nhát đáng khinh bỉ và cả những sự phản bội bỉ ổi nhất.
Tuy nhiên như anh nói “vì vô ích nên lại càng đẹp hơn...” nên không nản chí, anh vẫn thành lập một đội biệt kích riêng của anh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đầy kênh rạch, là nơi quân Nhật đang tìm cách tiến từ Cần Thơ đi Cà Mau.
Một bữa đi trên một chiếc canô cũ kỹ chạy bằng động cơ gazogène, cùng với ba người lính Đông Dương, năm người Pháp, gồm một lính xen đầm, một binh nhì và ba lính thủy. Võ khí trên canô có một khẩu đại bác 25 li, một súng phóng lựu đạn, một súng cối 60 và ba tiểu liên. Với một lực lượng mong manh như vậy, Jean d’Hers chạm trán với 5 chiếc xà lúp đầy ắp lính Nhật trang bị đến tận răng. Anh bất ngờ nổ súng trước và bắn chìm được một chiếc xà lúp giết được 17 tên lính Nhật. Phản ứng của Nhật nổ ra ngay tức khắc. Cả toán biệt kích hầu như bị tiêu diệt ngay từ những phút đầu. Jean d’Hers bị cắt đôi người bởi một tràng súng liên thanh. Chỉ có một người sống sót là anh lính xen đầm Sylvestre bị thương nặng, Nhật bắt đưa về điều trị ở Sài Gòn rồi chuyển sang cơ quan Kempêtai để tra hỏi, khai thác những đầu mối của cuộc kháng cự. Sau này khi quân Nhật đã đầu hàng, Sylvestre còn sống, có báo cáo lại là anh đã bị chính tên X đến nhận diện, tố cáo anh với Nhật...
Nhiều tác giả Pháp sau này có nói đến một sự thiếu ý thức của kiều dân Pháp lúc đó làm cớ cho Nhật phản ứng: hành động kháng cự, đã gọi là ngấm ngầm, đáng lẽ phải được tuyệt đối giữ bí mật, thì lại đem ra bàn tán xầm xì gần như công khai, ai cũng muốn tỏ ra mình thông tường ngõ ngách hơn người khác, với những lời nói huênh hoang, thổi phồng khoác lác giữa đám tình báo mật vụ đông như kiến ở khắp nơi. Có tác giả không ngần ngại gọi đây là một “nhu cầu bệnh lý”. Tâm lý này kể cũng dễ hiểu: từ trước đến nay họ vẫn tự coi là những ông chủ da trắng trên mảnh đất này, tự coi là một dân tộc thượng đẳng, nay bị nhục nhã, mất mặt trước quân Nhật da vàng. Không kháng cự được bằng võ khí thì họ trút sự căm hờn uất ức ra bằng những lời lẽ khoác lác tự đề cao. Vả lại đó cũng là những ảo tưởng họ tự tạo ra để dựa vào đó mới có thể sống được dưới gót giày, lưỡi kiếm tàn bạo của quân phát xít Nhật.
Rồi trong nội bộ cuộc kháng cự cũng chẳng ai có một chút kinh nghiệm nào về công tác bí mật, nên đã có những việc làm manh động, dại dột, thiếu tính toán. Đó là những cuộc thả dù người và võ khí, những vụ ám sát của các đội biệt kích, những bài báo, bài phát thanh hớ hênh... Tất cả những cái đó làm sao qua mặt được các cơ quan tình báo Nhật.
Có những tác giả khác thì cho rằng tất cả những điều kiện vừa nêu trên, thực ra cũng không phải là mối bận tâm hàng đầu của Nhật. Họ cho rằng cuộc kháng cự trong nội địa cũng như từ bên ngoài, đối với Nhật thật ra không đáng kể, không ảnh hưởng gì nhiều lắm đến sự vững vàng, ổn định của hậu phương, nếu quá lắm, khi nào cần, chúng vẫn có thể dùng sức mạnh dập tắt ngay được. Cho nên cuộc kháng cự này không phải là nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân duy nhất của cuộc chính biến 9 tháng 3. Cuộc chính biến này là nằm trong một chiến lược dài hơi của Nhật, đã được hoạch định từ lâu, được chuẩn bị đến từng chi tiết. Bốn năm trước đây, khi Nhật mới chân ướt chân ráo đổ bộ vào Đông Dương, chúng chưa thể hất cẳng ngay Pháp để nắm chính quyền, trực tiếp cai trị. Nay sau bốn năm chiếm đóng, chúng đã thông tỏ hết ngọn nguồn, có đủ điều kiện thuận lợi để đập tan chủ quyền của Pháp. Cho nên cuộc chính biến nhất định sẽ xảy ra, nếu không vào đúng ngày N giờ G, mùng 9 tháng 3 thì cũng trước đó hay sau đó thôi, không thể tránh được.
Thế tại sao cuộc chính biến lại nổ ra vào đầu năm 1945, chứ không sớm hơn hay muộn hơn? Là vì vào thời điểm này, về mặt quân sự, Nhật thấy vấn đề Đông Dương không thể tách ra khỏi những sự kiện đang xảy ra trong vùng Đông Nam Á. Trong những ngày đầu tháng 3, Mỹ đã chiếm đóng được đảo Palawan ở Thái Bình Dương, đối mặt với miền nam Đông Dương. Trong giả thuyết, từ đó có một cuộc đổ bộ lên bờ biển Đông Dương, thì hành lang rút lui của quân đội Nhật ở Birmanie (Miến Điện, nay là Myanmar) ở Xiêm, ở Malaixia sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Nếu giả thuyết này trở thành hiện thực, thì chắc chắn quân đội Pháp sẽ đứng ngay về phía Đồng Minh. Người Nhật ý thức rất rõ điều này và dường như đó là lý do quan trọng nhất để Nhật quyết định không trù trừ nữa, mà phải ra tay trước.
Có thể có một số nhỏ người nào đó trong chính quyền và bộ chỉ huy quân sự ở thuộc địa ý thức được nguy cơ này, nhưng cái khó là không đoán ra, không xác định được lúc nào thì nó sẽ nổ ra. Do đó cuộc chính biến 9 tháng 3 là gần như hoàn toàn bất ngờ. Yếu tố bất ngờ được Nhật sử dụng đến triệt để. Cuộc chính biến xảy ra trên toàn cõi Đông Dương, từ Bắc chí Nam, từ Đông sang Tây, vào cũng một ngày một giờ gần như thống nhất, làm cho quân Pháp trở tay không kịp, không thể thông báo cho nhau, không thể tiếp ứng được nhau, chỉ trong vài giờ đã tan nát hết.
Vậy thì thực sự có bất ngờ không? Có, nhưng không phải hoàn toàn. Có thể coi đây là sự bất ngờ của một việc không bất ngờ. Đã có những sự việc không thể bỏ qua được xuất hiện từ nhiều tuần lễ, thậm chí ngay trong một hai ngày trước báo hiệu cuộc chính biến sắp xảy ra trong thời gian cận kề. Nhưng trong hơn bốn năm qua, tâm lý của nhiều người đã quá quen với những giai đoạn cực kỳ căng thẳng, rồi lại được giải tỏa trở lại ổn định nên cuối cùng bây giờ người ta như bị bỏ bùa mê, không còn tin tưởng có thể xảy ra chuyện nguy hiểm nữa.
Những tin tức tình báo đầu tiên có liên quan đến sự chuẩn bị một đòn bạo lực đánh vào quân đội Pháp đã được thu lượm ngay từ trong tháng 9 năm 1944. Rồi đến tháng Chạp, nhờ một loạt những thông tin có xuất xứ từ nước ngoài, người ta đã biết là đại sứ mới của Nhật Matsumoto sẽ sang Đông Dương với những chỉ thị cụ thể của Tokyo đòi chính quyền Pháp phải để cho Nhật kiểm soát quân đội Pháp, và nếu từ chối thì sẽ vô hiệu hóa đội quân này. Vào quãng giữa tháng Giêng năm 1945, bộ tham mưu Nhật báo cho Toàn quyền Decoux biết sư đoàn lục quân số 37 của Nhật ở Quảng Tây sẽ vào Bắc Kỳ và lên đóng ở cao nguyên Trấn Ninh. Bất chấp sự phản kháng của Decoux, 12.400 quân Nhật, từ ngày 6 đến 29 tháng Giêng, cứ tiến lên chiếm đóng những vị trí chiến lược ở Thượng Lào. Đôi quân Nhật cũ ở đây là sư đoàn 21, được điều về phía nam, tăng cường cho những đội quân đóng ở bờ biển Trung Kỳ, nhất là chung quanh Vinh.
Trên dãy Trường Sơn, một số đơn vị Nhật cũng được điều về đóng ở Thakhet.
Ở Nam Kỳ, một lực lượng lớn của Nhật đến đóng trên quốc lộ 13 từ Sài Gòn đi Kratié, là trục đường rút lui theo kế hoạch của quân đội Pháp khi có chiến sự. Nhiều hoạt động quân sự bất thường khác của Nhật cũng được nhận thấy ở Đà Lạt, ở Thủ Dầu Một, ở Buôn Ma Thuột... Máy bay Nhật liên tiếp bay lượn trên bầu trời vùng Ông Yên... Nói chung, theo dõi trên bản đồ và trên thực địa, thấy những cuộc điều động quân đội của Nhật, rõ ràng là tuân theo một kế hoạch đã được vạch ra cụ thể, với mục đích tập trung ở gần những vị trí đóng quân của Pháp, những lực lượng lính Nhật đông hơn về quân số, mạnh hơn về hỏa lực. Vào giữa tháng Hai, kế hoạch này coi như đã hoàn thành.
Ngày 4 tháng 3, khâm sứ Trung Kỳ nhận được nguồn tin tình báo từ Tourane là đòn bạo lực sẽ nổ ra trong 10 ngày đầu tháng 3. Ngay từ cuối tháng 2, Thống sứ Bắc Kỳ, lo ngại về những sự chuẩn bị của Nhật đã triệu tập các quan chức đầu tỉnh, và cùng tướng Sabattier chỉ thị cho họ phải sẵn sàng đối phó với một đòn bạo lực của Nhật. Ngày 7 tháng 3, sở mật thám Bắc Kỳ dự đoán cụ thể đòn này sẽ nổ ra vào ngày 9 hoặc 10. Thống sứ báo tin ngay cho Toàn quyền và các chỉ huy quân sự, tướng Sabattier báo động cho toàn quân ở Bắc Kỳ và Bắc Lào, ra lệnh cấm trại quân lính trong thành Hà Nội, rồi chiều tối ngày 8 bí mật rời Hà Nội lên hành dinh của ông ở Phủ Đoan. Cùng ngày, công sứ ở Cao Bằng báo cho Thống sứ Bắc Kỳ biết, một Hoa kiều chủ sòng bạc và gián điệp hai mang của Nhật và Trung Hoa, đã bí mật bỏ đi, sau khi báo cho biết, cụ thể sẽ có những sự kiện cực kỳ quan trọng xảy ra ngày 9.
Sở mật thám Hà Nội điện cho tất cả các sở mật thám địa phương, nói rõ Nhật sẽ tấn công trước ngày 10. Sở mật thám Sài Gòn nhận được điện này vào sáng ngày 9, và đến 17 giờ cùng ngày, gởi cho tất cả các quan chức đầu tỉnh và các thành phố ở Nam Kỳ, một bức điện không mã hóa, nói rõ những tin tức tình báo đã nhận được, và cũng dự đoán đòn bạo lực sắp xảy ra, cần chuẩn bị đối phó.
Ngày 9, vào lúc 11 giờ 45, Khâm sứ Trung Kỳ gởi điện cho tất cả các quan chức đầu tỉnh phải chuẩn bị kháng cự vì cuộc tấn công sắp xảy ra. Bức điện này mãi đến chiều mới đánh đi được, và đã không đến được tay các người nhận.
Cùng vào thời điểm 11 giờ ngày 9, Thống sứ Bắc Kỳ thân chinh sang gặp tướng tổng tư lệnh Mordant để nói rõ ông tin chắc đòn bạo lực sắp sửa nổ ra. Thế nhưng, về phía quân sự, những tin tức nhận được thì lại đáng yên tâm, vì từ ngày 7 đến nay không có một chuyện gì đặc biệt xảy ra. Đáng yên tâm đến mức, vào ngày 9 tướng Mordant đã cho giải tỏa một phần lệnh cấm trại của tướng Sabattier, cho phép sĩ quan và quân đội được về gia đình và ra thành phố.
So sánh lực lượng đêm hôm đó, thì về người hai bên ngang nhau, mỗi bên có 60.000 quân. Nhưng chỉ ngang nhau về quân số thôi, còn các yếu tố khác thì quá ư là chênh lệch. Trong quân đội Pháp có 15.000 lính Âu Châu, cộng thêm với 15.000 lính bản xứ bổ sung và 5.000 lính khố xanh.
Quân đội Nhật thì cả 60.000 quân là thuộc binh đoàn 38 đã chiếm đóng tại chỗ, cộng thêm với 35.000 của các sư đoàn biên giới đang tiến xuống phương Nam. Về mặt chất lượng chiến đấu thì quân Nhật đã đánh nhau trên các chiến trường từ 1937 đến giờ, còn quân đội Pháp thì đã hạ vũ khí từ 1940, tâm lý thì hết sức chán chường vì bị cả chính quốc và các đồng minh bỏ rơi không đoái hoài gì đến.
Về mặt chỉ huy, thì những sĩ quan được đào tạo trong các trường phái cũ với những quan điểm lạc hậu về chiến tranh hầm hào, phòng thủ cố định, không còn có thể đáp ứng được với những đòi hỏi của cuộc chiến tranh hiện đại.
Số lính bản xứ bổ sung thì cũng không coi quân Nhật là kẻ thù truyền kiếp hàng nghìn năm của mình, do đó tinh thần chiến đấu chống quân Nhật cũng không phải là hăng hái và đáng tin cậy lắm. Vả lại, như sẽ xem sau này, trong nhiều trận, quân Nhật lại cố tình nương nhẹ, bảo toàn cho “những người anh em cùng giống da vàng” với mình.
Kết cục lại như vậy, ở Bắc Kỳ chẳng hạn, nếu chỉ tính lính da trắng, Pháp chính cống, lê dương và lính thủy đánh bộ, thì quân Pháp phải chiến đấu trong tỷ lệ một chống lại bốn.
Về mặt võ khí thì lại càng thảm hại nữa. Để đối đầu với một đội quân hiện đại, trang bị rất tối tân, Pháp đã lạc hậu mất một cuộc và có thể hai cuộc chiến tranh rồi. Súng trường 8 li và súng tiểu liên, nhãn hiệu Hotchkiss mẫu mã từ năm... 1875 (!). Không có một khẩu FM nào, còn súng liên thanh Hotchkiss thì cũng từ thời thế chiến thứ nhất (1914 - 1918) để lại, với vài ba khẩu súng cối quá già nua, có những bộ phận được thay thế bằng những phụ tùng làm tại chỗ. Có được một số khẩu đại bác 65, 75, 155 ly còn bắn được nhưng lại không dùng được trong các trận đánh giáp lá cà với Nhật. Vả lại, đạn dược để đã quá lâu không được thay thế, quá cũ kỹ ẩm ướt, quả nổ quả không. Còn nói đến mấy chiếc xe tăng Renault thì lại càng buồn nữa, không có phụ tùng thay thế, chúng nằm ụ đã từ lâu như những đống sắt vụn. Còn máy bay thì suốt bốn năm qua chỉ thấy máy bay Nhật nhào lộn tập luyện ngay trên các thành phố, các khu đông dân cư.
Ấy thế mà trong suốt bao nhiêu năm trời, các đội quân cà khẳng cà kheo này chỉ có một thành tích là đi đàn áp các cuộc nổi dậy, phản kháng của nông dân, bắn giết man rợ những người không có một tấc sắt trong tay để tự vệ.
Giờ trả nợ bây giờ mới đến, tuy rằng trả như thế đâu đã đủ để tính hết cuốn sổ nợ máu với nhân dân ba nước Đông Dương.
Chỉ trong một đêm trên toàn cõi Đông Dương, đã có 2.650 binh lính và sĩ quan da trắng bị giết và mất tích.
Trong số đó phải kể đến: 1 tướng, 9 đại tá, 20 thiếu tá, 60 đại úy, 91 trung úy, 9 bác sĩ và 1 thú y bác sĩ.
Riêng ở Bắc Kỳ, trong số 9.000 lính lê dương thì 1.500 đã bỏ mạng chỉ trong vài giờ đồng hồ, từ 20 giờ ngày thứ sáu 9 tháng 3 đến 15 giờ 30 ngày thứ bảy 10 tháng 3 năm 1945.

2. Những bữa tiệc máu
Vào khoảng 3 giờ chiều ngày 9 tháng 3, tướng Lemonnier, chỉ huy trưởng thành Lạng Sơn nhận được thư của ban tham mưu các lực lượng Nhật Bản đóng ở đây, mời đến dự tiệc vào lúc 18 giờ 30. Các sĩ quan khác trong thành, cùng vị đại diện chính quyền dân sự cũng được mời đi.
Lemonnier là một vị tướng xuất sắc trong quân đội Pháp, con của một người thợ thủ công làm yên cương và đồ da ở Chateau - Gontier, trong vùng Mayenne, thời thanh thiếu niên học rất giỏi, năm 18 tuổi đã thi đậu vào trường đại học bách khoa (Poly technique), chọn chuyên khoa làm pháo thủ thuộc địa. Trong thế chiến thứ nhất, ông làm thiếu úy ở trung đoàn pháo binh 29, rồi tham dự chiến tranh ở Syrie năm 1924, ở Tây Phi thuộc Pháp năm 1929, được rút về học ở trường Chiến tranh (Scole de guerre) từ 1927 đến 1929, sau được phong tướng, chỉ huy lữ đoàn 9 của sư đoàn Bắc Kỳ. Người có học thức uyên bác, nói được nhiều thứ tiếng: Anh, Đức, Nga, Ả Rập, đọc được tiếng Phạn (Sanscrit) và đã từng theo học những lớp về Phật giáo của trường Viễn Đông Bác Cổ.
Hai ngày trước khi nhận giấy mời, Lemonnier đã được Fleutot, viên chánh mật thám khét tiếng tàn bạo thời đó ở Bắc Kỳ, thông báo cho biết tình hình nghiêm trọng, quân Nhật có thể tấn công trong 48 giờ tới. Vì thế Lemonnier đã cảnh giác tìm cớ từ chối lời mời, nhưng để khỏi tạo ra những chuyện rắc rối, ông cho phép các sĩ quan được tự do quyết định đi hay không.
Vào khoảng 17 giờ 30, quân Nhật tiếp đón rất niềm nở những người đến dự tiệc, trong số này có Auphelle, đại diện của tướng Mordant, đại tá Robert, chỉ huy phân đoàn Lạng Sơn, và ủy viên lãnh đạo của mạng lưới kháng cự Bắc Kỳ, Amiguet, thiếu tá chỉ huy pháo binh và Leroy, tiểu đoàn trưởng.
Pháp-Nhật ngồi vào bàn tiệc. Món ăn nấu theo kiểu Nhật, rượu sake rót mấy tuần chúc tụng cả Nhật hoàng lẫn Thống chế Pétain, trong những tiếng cười xã giao hỷ hả. Chỉ còn thiếu tiếng đàn Shamisen và vài chị Geisha thướt tha trong những bộ Kimono rực rỡ quỳ dâng rượu nữa, thì người ta có thể tưởng ở giữa thời bình, trong một khách sạn sang trọng nào đó tại Tokyo.
Cuối bữa tiệc vào khoảng 20 giờ, vừa dùng xong mấy món tráng miệng, uống xong một tuần rượu nữa thì bộ mặt tươi cười của chủ nhà, bỗng biến thành những bộ mặt quỷ dữ, đằng đằng sát khí. Những con dao găm sáng loáng và những khẩu súng lục xuất hiện. Amiguet và Leroy bị đâm chết ngay trên bàn tiệc. Còn Auphelle và Robert thì bị bắt trói quặt hai tay ra sau lưng.
Lúc đó là đúng 20 giờ. Ngoài đường phố Lạng Sơn, những toán lính Nhật phục sẵn đâu đó, không biết từ bao giờ, bắt đầu di động rất nhanh đến các địa điểm đã được định trước. Ở trong thành Lạng Sơn, tin tức về bữa tiệc máu đã được loan báo, người ta vội vã chuẩn bị chiến đấu.
20 giờ 45 - Nhà ăn của sĩ quan bị tấn công.
21 giờ: Pháo Nhật bắn cấp tập vào thành. Từng toán lính Nhật la thét, xung phong. Lemonnier vào cố thủ trong lô cốt chỉ huy. Suốt đêm diễn ra liên tục các cuộc tấn công và phản công. Trong các trận chiến, nhiều sĩ quan và binh lính Pháp đã tử trận. Trung tá Jenny, thiếu tá Bonifay, đại úy Lemoing, đại úy Profit... đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất Viễn Đông này.
Lemonnier gửi cho cấp trên là tướng Sabattier lúc đó đang ở trong Phủ Đoan bức điện vô tuyến khẩn cấp nói trong thành đã thiếu đạn dược và nước uống, xin cho máy bay thả dù xuống ngay cho những thứ cần thiết này. Nhưng than ôi! Chậm quá mất rồi. Trong đêm 9 rạng ngày 10, thành đã rơi vào tay quân Nhật. Lemonnier cùng một số sĩ quan bị bắt sống.
Một số lô cốt và pháo đài vẫn tiếp tục chiến đấu. Đặc biệt pháo đài Brière-de-l’Jsle, mà người tiểu đoàn trưởng Boéry chỉ huy, đã bị gãy cả hai chân ngay tối 9 tháng 3, vẫn chống trả rất dữ dội, buộc quân Nhật phải dùng đến súng phun lửa, rồi máy bay ném bom, và cuối cùng cả hơi độc mới đầu hàng. Boéry cùng tất cả những người còn sống sót đều bị quân Nhật bắt đem giết hết sau khi chúng chiếm được pháo đài.
Đến 17 giờ 30, ngày thứ bảy 10 tháng 3, thì tiếng súng ngừng hẳn trong lòng chảo Lạng Sơn.
Ở trong thành Lạng Sơn, cùng 3 pháo đài và trại quân Kỳ Lừa, tổng cộng có 4.000 binh lính, trong số đó 700 là lính người Âu và 3.300 là lính Đông Dương. Trong số 700 lính Âu này, thì 100 đã chết trong khi chiến đấu, còn lại 600 sống sót, bị thương quá nửa, ra hàng, thì bị giết sạch hết bằng kiếm, bằng lưỡi lê và những nhát cuốc. Viên tướng Nhật chỉ huy, không cần biết các công ước quốc tế về tù binh, đã ra một lệnh ngắn gọn: “Giết tất cả chúng nó”. Đối với hơn 3.000 lính Đông Dương còn sống sót, chúng cho thả ra hết. Lịch sử sau này ghi lại viên tướng đó đã bị xử như một tội phạm chiến tranh và đã đền tội.
Tướng Lemonnier thì ngay trong đêm 9 tháng 3 đã bị quân Nhật dẫn đến động Tam Thanh. Lúc đó trại quân ở Kỳ Lừa cũng đã đầu hàng sau khi người chỉ huy là đại úy tiểu đoàn trưởng Bertrand tử trận. Ở động Tam Thanh, chúng muốn bắt Lemonnier phải ký vào lệnh đầu hàng hoàn toàn và ra lệnh toàn bộ phải hạ vũ khí ngừng bắn, vì lúc này vẫn còn một số khu vực còn tiếp tục chiến đấu, như ở pháo đài Brière-de-l’Jsle đã nói ở trên, và ở những cơ sở quân sự trên bờ sông Kỳ Cùng - Lemonnier không chịu. Chúng trói quặt tay ông ra sau lưng, ấn cho quỳ xuống trên bờ một cái hố, hỏi lại lần thứ hai ông có chịu ký không? Lemonnier lại lắc đầu từ chối, tuy biết rất rõ điều gì sẽ xảy ra cho mình. Và điều đó đã xảy ra. Một hơi gió lạnh thoảng qua trong động. Đó là tiếng của lưỡi kiếm chém phập xuống và đầu tướng Lemonnier lăn xuống cái hố trước mặt ông. Hiện nay ở trung tâm Paris có một phố rất đẹp mang tên ông, chạy từ tượng Jeanne d’Arc ở đường Rivoli xuống đến bờ sông Seine, giữa bảo tàng Louvre và cùng điện Tuileries. Tướng Henry Lapierre, với danh nghĩa là một người đã từng phục vụ dưới trướng của tướng Lemonnier, là người cao tuổi nhất trong số những người thoát chết sau cuộc chính biến, và là người duy nhất sống sót trong số 9 vị tướng (hay làm nhiệm vụ tướng) có mặt ở Đông Dương vào thời điểm đó đã chua chát viết lại trong cuốn hồi ký của ông:
“Hãy hỏi những người Pháp ở chính quốc khi đi qua phố này xem chuyện gì đã xảy ra ở Đông Dương trong đêm 9 tháng 3 năm 1945, và Lemonnier là ai? Sẽ rất hiếm có người nào chịu trả lời một câu trả lời có thể chấp nhận được”.
Ít phút sau khi Lemonnier hy sinh, thì Auphelle cùng chịu chung một số phận như ông. Còn lại đại tá Robert, người cuối cũng sống sót sau bữa tiệc máu chiều tối ngày 9 tháng 3. Ông được quân Nhật đặc biệt “săn sóc”, vì chúng biết rất rõ ông là một trong số những sĩ quan lãnh đạo cuộc kháng cự ở Bắc Kỳ và đã từng dự những cuộc thảo luận bí mật với tướng Blaizot, sau này là tư lệnh trưởng đội quân viễn chinh Pháp trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ tháng 4 năm 1948 đến tháng 9 năm 1949. Với những hoạt động đó, Robert được giam riêng một mình trong căn phòng sĩ quan duy nhất còn sót lại trong thành Lạng Sơn. Ông được các “chuyên gia về hỏi cung” của Kampetai dùng mọi hình thức tra tấn để khai thác, những ông vẫn không khai báo gì. Có lẽ cũng vì cảm phục khí tiết đó, chúng cho ông được hưởng một đặc ân. Chiều tối ngày 13, những sĩ quan Nhật đến đưa cho ông một thanh kiếm, để ông tự mổ bụng theo phong tục hara-kiri của Nhật. Ông đại tá từ chối, và một người lính Nhật đã giúp ông làm điều đó.
Sau cuộc thảm sát có còn người nào sống sót không? Có đấy nhưng không nhiều. Thí dụ có một người lính vô danh cùng với khoảng 100 người nữa bị đưa đến một ngôi chùa ở trên bờ sông Kỳ Cùng. Họ bị giết bằng những lưỡi lê và những nhát cuốc, rồi bị đẩy xác xuống sông. Người lính này chỉ bị thương nặng nhưng chưa chết, lại bơi giỏi nên sang được đến bờ bên kia, tìm đường sang được đất Trung Hoa. Có trung úy Chomette cùng với những người đã chống trả trong pháo đài Brière-de-l’Jsle, kể cả đại úy Boéry với đôi chân gãy, bị lùa đến trước mấy họng súng liên thanh. Súng nhả đạn. Những người chưa chết còn thoi thóp sẽ bị chém bằng kiếm và đâm bằng lưỡi lê. Chomette nằm thật yên giả chết và đã sống sót. Có đại úy Vermières và trung úy Ducasse bị thương rất nặng, không biết thế nào lại được mấy người Nhật rủ lòng thương - chuyện hiếm có - và đưa về điều trị trong trạm xá quân y của họ. Có đại úy Michel trốn trong thành Lạng Sơn chứ không ra đầu hàng cùng với những người khác, chờ ban đêm, thoát ra được, tìm đường đi lên Cao Bằng, cứ định hướng bằng những ngọn lửa thiêu xác lính Nhật tử trận mà luồn đi trong rừng...

3. Biến tấu của kịch bản tiệc máu
Ở Hà Giang kịch bản cũng tương tự như ở Lạng Sơn, nhưng với vài biến tấu khác. Ngay trong tháng 2 năm 1945, khi viên thiếu tá Nhật Sawano vừa tới nhận quyền chỉ huy, hắn đã có “nhã ý” mời các sĩ quan Pháp đến dự một tiệc rượu để chào xã giao tại một trong hai khách sạn của thị trấn bị chúng trưng dụng. Ngày 1 tháng 3, lấy cớ bị nhầm lẫn vì tưởng các sĩ quan Pháp mời đáp lễ, hắn một mình đi vào doanh trại quân đội Pháp, ngó nghiêng quan sát khu chỉ huy của thiếu tá Moullet trong lúc ông này vắng mặt.
Rồi ngày 8 tháng 3, hắn đạt một giấy chính thức mời toàn thể ban tham mưu quân đội Pháp tối hôm sau đến dự tiệc trong doanh trại quân đội Nhật. Thiếu tá Moullet, vì đã hiểu rõ lòng dạ nham hiểm của tên Sawano, nên từ chối và tương kế tựu kế, lấy cớ đáp lễ bữa tiệc rượu hôm trước, cũng chính thức mới Sawano và các sĩ quan Nhật đến dự tiệc rượu trong tư thất của mình, vào cùng ngày cùng giờ. Sawano nhận lời.
Thiếu tá Moullet cho chuẩn bị kỹ càng cuộc đón tiếp này. Ông lệnh cho 7 sĩ quan trong ban tham mưu khi đến dự tiệc phải bí mật và kín đáo trang bị vũ khí tự vệ cá nhân. Ông bố trí một đội lính lê dương bồng súng có mang đạn lên nòng làm hàng rào danh dự chào quan khách. Rồi ông đặt toàn bộ quân đội trong tình trạng báo động cao nhất.
Ngày 9 tháng 3, 19 giờ, thiếu tá Sawano cùng 7 sĩ quan Nhật đến dự tiệc. Trong số 7 sĩ quan này thì 5 người không phải là sĩ quan mà là những kiếm sĩ đóng giả sĩ quan. Rượu vài tuần, cụng ly hỷ hả chúc mừng lẫn nhau. Rồi bỗng như nổi hứng lên, mấy viên sĩ quan Nhật gào lên hát các bài hát Nhật. Sawano, dường như không quen uống rượu Tây, có vẻ say rượu, thấy khó chịu trong người, cáo lỗi xin được ra về trước. Moullet tiễn hắn ra đến cửa, thì đúng vào lúc đó, như đã có mật hiệu từ trước, điện bị cắt, cả thành phố chìm trong bóng tối.
Trong phòng tiệc, các kiếm sĩ vội rút đoản kiếm ra xông vào chủ nhà. Đại úy Jolly bị giết chết ngay. Đại úy Van den Akker bị trọng thương, 3 sĩ quan khác bị bắt sống. Chỉ có trung úy Kerenneur cùng với thiếu tá Moullet chạy ra được, lên cố thủ trong một gác xếp để đồ trong tư thất. Trong thành phố, hàng trăm quân lính Nhật đã phục sẵn, từ trong bóng tối hiện ra, tỏa ra các nơi và nổ súng lia lịa.
Quân Pháp chống cự suốt đêm trong các doanh trại và các điểm tựa, cũng như trong pháo đài Billote do đại úy Jean Cenelle chỉ huy. Đến rạng ngày 10 thì các công sự bị chiếm hết, chỉ trừ có pháo đài và gác xếp của tư thất. Khoảng 9 giờ sáng, mọi việc đều kết thúc, quân Nhật đã làm chủ thị trấn Hà Giang. Sawano lại dùng những thủ đoạn thường xuyên, đe dọa sẽ giết hết nếu không đầu hàng. Moullet là người cuối cùng ra hàng. Sawano đã biệt đãi ông bằng cách cho đưa đến trước mặt ông lúc đó đi bị trói chặt, vợ, con trai và ông bố vợ của ông. Rồi hắn ra lệnh cho giết hết 80 tù binh người Âu và cho hiếp đến chết tất cả các phụ nữ da trắng bắt được. Giết bằng kiếm, bằng lưỡi lê và những nhát cuốc hình như theo một hình thức được quy định từ trước của chúng trong năm 1945 này. Riêng lính Đông Dương tất cả đều được chúng thả ra hết.
Ở Hà Cối lại có một biến tấu khác cũng không kém phần ngoạn mục. Kịch bản bây giờ không phải là bữa tiệc máu nữa, mà là một trận đấu bóng chuyền và cuộc giải khát sau trận đấu. Trong ngày 9 tháng 3, một đội quân Nhật khá đông đến đóng ở Hà Cối, một thị trấn nhỏ xíu nằm giữa Tiên Yên và Móng Cái. Đại úy Nhật chỉ huy đội quân này mời người đồng cấp là đại úy Régnier, chiều hôm đó đến dự một trận đấu bóng chuyền hữu nghị của quân Nhật. Régnier nhận lời, để đồn binh lại cho một trung úy và một thiếu úy chỉ huy. Hai người này được mời để dự cuộc giải khát sau trận đấu nhưng họ không thể bỏ đồn đi được.
Kết cục, Régnier bị bắt làm tù binh, không chịu ký lệnh cho đồn đầu hàng. Nhưng đến đêm thì đồn bị tấn công và chiếm đóng. Tất cả binh lính người Âu đều bị giết sạch. Đến rạng sáng ngày 10 thì Régnier cũng bị hành hình chém đứt đầu.

4. Người từ cõi chết trở về
Ở Đồng Đăng thì không có tiệc máu, nhưng cuộc thảm sát cũng cực kỳ man rợ. Đồn Đồng Đăng được xây dựng mới và được coi là đồn vững chãi nhất trên biên giới với 4 pháo đài chìm nối với nhau bằng những đường ngầm, có trang bị 2 khẩu pháo 75, 2 khẩu cối 81 và 25 súng tự động. Đồn mang tên Van-Vollenhoven có quân số 150 người với 20 lính người Âu, đặt dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Soulié.
Trong ngày 9 tháng 3 quân báo cho biết có khoảng 3.000 lính Nhật đang tiến về phía Đồng Đăng. Vào khoảng 21 giờ 15, người ta nghe thấy một tiếng súng đại bác đầu tiên, rồi tiếp theo là nhiều tiếng khác. Đó là quân Nhật bắn để “nắn gân” quân trong đồn, vì chúng cũng chẳng cần đến yếu tố bất ngờ nữa. Vào quãng 23 giờ, một toán lính Nhật gồm 8 tên tìm đường đột nhập vào đồn để thăm dò các ổ đề kháng. Một cuộc giáp chiến xảy ra, tìm diệt nhau, kéo dài cho mãi đến 3 giờ sáng. Tât cả 8 tên lính Nhật đều bị giết, nhưng thiếu tá Soulié cũng bị trọng thương, đưa được vào trong đồn thì chết. Đại úy Anosse cho chôn thiếu tá ngay trong sân đồn và lên thay nắm quyền chỉ huy.
Ngày 10, quân Nhật dùng thang định leo qua tường đồn, bị bắn dự dội phải rút lui. Ngày 11, chúng cho phái viên đến cổng đồn kêu gọi đầu hàng. Đại úy Anosse trả lời: “Người ta chỉ đầu hàng nếu bị thua sức mạnh mà thôi”. Đến chiều hôm đó,lại một lần kêu gọi đầu hàng nữa cũng bị đại úy Anosse từ chối.
Hai toán cơ động do thiếu úy Jacobi chỉ huy, lọt ra khỏi được đồn, đi tới nhà ga đưa được về đồn một nhân viên hải quan người Âu, trốn trong làng. Cả đêm 11, quân Nhật nã pháo liên tục vào đồn.
Ngày 12, vào lúc 3 giờ sáng, chúng mở một cuộc tấn công lớn. Trận đánh kéo dài đến 10 giờ sáng. Vào giờ này, quân Nhật ào lên xung phong chiếm được đồn. Trong đồn không còn đạn dược nữa phải kéo cờ trắng đầu hàng.
Và bay giờ tấn đại bi kịch mới thực sự bắt đầu. Hãy nghe một người thực sự từ cõi chết trở về báo cáo lại. Tên anh ta là Cron, binh nhì trong trung đoàn 3 Bắc Kỳ:
“Quân Nhật ra lệnh cho tất cả chúng tôi phải tập trung dưới hàng hiên, và đứng thật yên, không được nhúc nhích. Ông đại úy Anosse được gọi ra khỏi hàng quân đến trao đổi với các sĩ quan Nhật một lát, bằng tiếng Anh. Khi trở về, ông tươi cười rất tự hào nói với chúng tôi là quân đội Nhật rất khen ngợi cuộc kháng cự anh dũng của chúng tôi đến mức còn gọi chúng tôi là những “con sư tử”. Sau đó các sĩ quan Nhật cho lính mang những ghế dựa ra ngồi ở ngoài sân, và ra lệnh cho đại úy Anosse đến ngồi với họ, những ngồi xổm ở dưới đất. Một sĩ quan Nhật đi ra sau lung ông, bất thần dùng đốc kiếm giáng một đòn thật mạnh vào gáy ông, làm ông ngã nghiêng sang một bên. Và lúc đó một sĩ quan Nhật khác rút khẩu súng lục trong bao ra, nhắm thẳng vào đầu ông bắn mấy phát liền, làm hộp sọ vỡ tan, óc bắn tung ra trên mặt đất. Trước hành động cực kỳ tàn bạo này, chúng tôi đứng chết lặng đi, vừa bất lực vừa kinh hãi.
Rồi một tên sĩ quan nữa đến trước mặt chúng tôi, lấy tay chỉ 9 người lính Âu còn sống sót, khoảng 40 người lính Đông Dương, và 2 phụ nữ bị bắt đang lúc băng bó cho thương binh. Chúng bắt chúng tôi phải ra ngồi ở ngoài sân. 10 phút sau, chúng tôi được lệnh phải đi về phía tám lính Nhật bị giết đêm đầu tiên, đi qua đó đến những kho chứa hàng của hải quan, và ở đó đã thấy ông chủ bưu điện và người phụ tá của ông bị bắt giam từ buổi sáng. Chúng bắt chúng tôi phải cởi hết quần áo, ở truồng. Đêm đến. Chúng tôi từ sáng không được ăn uống một tí gì. Chúng bắt chúng tôi ra sân tổng cộng tất cả là 54 người bị trói tay vào nhau. Chung quanh chúng tôi đầy nhóc lính Nhật vác súng cắm lưỡi lê. Chúng đưa chúng tôi ra khỏi đồn, đi về phía doanh trại quân Nhật, trên bờ con đường đi về Lạng Sơn, và bắt chúng tôi quỳ xuống trước một đường hào. Đến đây chúng tôi chắc chết và chờ chết nhưng hoàn toàn bất lực không thể làm gì được. Và cuộc hành hình bằng kiếm bắt đầu. Có người trong số chúng tôi phải chém đến ba nhát mới đứt đầu. Chúng tôi nghe cứ mỗi nhát chém anh ta lại la lên: “Nước Pháp muôn năm”. Chém rồi xác ngã nhào xuống đường hào. Người nào chưa chết thì lính Nhật đứng ở trên lấy lưỡi lê đâm túi bụi xuống cho chết hẳn.
Đến lượt tôi. Tôi ở vào số những người cuối cũng. Như một cách phản xạ, tôi căng các cơ bắp ở cổ và nghiêng đầu theo đà của lưỡi kiếm nên kiếm chỉ vạt vào một bên đầu. Tôi ngã bổ xuống đường hào, đầu cắm xuống trước, được xác của người bị chém sau đè lên. Anh này còn giãy giụa, thế là bị một tên lính Nhật dùng lưỡi lê đâm nhiều nhát cho chết hẳn. Một lát sau lâu lắm, không nghe thấy tiếng động gì nữa, bọn Nhật đã đi hết, tôi cố lách người ra, từ từ ngồi dậy rồi leo lên khỏi bờ hào, trốn vào trong đêm.
Đi đường, tôi gặp hai người lính Đông Dương và nhập bọn với họ. Một người đã bị đâm đến chín nhát lưỡi lê. Đi khoảng vài trăm mét nhìn lại thấy ngọn lửa đang bốc lên rừng rực, nơi chúng tôi vừa bị hành hình. Đó là bọn Nhật đang đốt xác những người vừa bị giết để phi tang. Đi được khoảng 6 cây số, chúng tôi thấy một căn nhà bỏ hoang bên đường nên vào nghỉ tạm và được những người dân địa phương giúp đỡ cho ăn uống. Vì chỗ này còn gần quân địch quá, nên chúng tôi không dám ở lại đó, phải tản vào ngủ trong rừng...” (Báo cáo của binh nhì Cron, thuộc trung đoàn 3 Bắc Kỳ).
Ở Cao Bằng thì quân Nhật không tốn một viên đạn nào vì quân Pháp chưa đánh đã hàng ngay. Cao Bằng được đặt dưới sự chỉ huy của đại tá Séguin, tư lệnh trung đoàn 9 bộ binh thuộc địa và đại úy Reul phụ trách địa bàn. Hai viên sĩ quan này thấy địa thế của Cao Bằng rất khó phòng thủ, không thể giữ được nên quyết định rút quân ra khỏi “cái tổ ong vò vẽ Cao Bằng” (Guêpier de Cao Bằng) vào rừng, tìm đường sang đất Trung Hoa, và để lại cho đại úy Fargues trọng trách “ở lại và kháng cự”, đồn Cao Bằng được xây dựng mới, vào tháng 3 năm 1942, trên địa điểm của thành cổ, trong hệ thống tuyến phòng thủ Bắc Kỳ, gọi là “tuyến Mordant”. Đồn mang tên Huntziger, là tên của một vị tướng lục quân thuộc địa, đã ký với quân Đức hiệp định đình chiến 22 tháng 6 năm 1940, và làm Bộ trưởng quốc phòng trong chính phủ Vichy cho đến khi chết vì tai nạn năm 1941.
Đồn có một hỏa lực khá mạnh với 4 khẩu pháo 75,4 khẩu cối 22 đại liên và 6 trung liên. Quân Nhật đưa một trung úy Pháp, tù binh bị bắt ở Lạng Sơn đến thông báo đe dọa sẽ giết hết nếu không đầu hàng và bắt viên trung úy kể lại cuộc thảm sát tập thể mà anh ta đã chứng kiến và chưa hoàn hồn.
Ngày 14 tháng 3 năm 1945, Fargues để tránh một cuộc đổ máu mà ông biết sắp xảy ra và thế nào cũng sẽ xảy ra, quyết định hạ vũ khí đầu hàng.
Mặc dù nhà văn chiến đấu Charles Péguy có viết ở đâu đó một câu đánh giá như dao chém đá “Kẻ nào đầu hàng, dâng một địa điểm, thì mãi mãi cũng chỉ là một tên khốn nạn”, nhưng Fargues, một sĩ quan xuất sắc, có thể là một người có tâm địa tốt, chỉ muốn cứu mạng sống cho binh lính dưới quyền mình khỏi chết vô ích trong một trận chiến đấu quá chênh lệch, trước sự tàn bạo mất hết tính người của quân Nhật.
Nhưng cái bóng đen của “tên khốn nạn” kia cứ ám ảnh ông mãi, và ngày sau cuộc chiến tranh đã giết chết ông trong một tâm tư u uất hổ thẹn. Nhiều đồn bót khác tuy nhỏ yếu hơn đã kháng cự một cách tuyệt vọng.
Ở Quảng Yên, trung đoàn hỗn họp lục quân thuộc địa đã chiến đấu suốt đêm 9 rạng ngày 10 tháng 3, giữa những phụ nữ và trẻ con trong doanh trại, để lại 118 thương vong. Trong cùng đêm, Đáp Cầu chiến đấu được vài giờ. Ngày 11, Đình Lập bị tấn công, đến đêm thì bị hạ. Ngày 12 Yên Bái bị chiếm đóng. Ngày 13, Na Chầm bị ném bom, đại úy Meric, trưởng đồn bị Nhật hành quyết sau trận chiến. Ở Lào Cai cuộc kháng cự có dữ dội hơn. Đồn mang tên Pennequin, do một đại đội của tiểu đoàn 1 Bắc Kỳ chống đỡ, với một khẩu pháo 75 đã chiến đấu suốt một đêm, chỉ gục ngã khi Nhật bắn đại bác theo đường thẳng vào đồn, và bộ binh Nhật xung phong lên với khẩu súng phun lửa. Chuyện ở Bình Hỷ gần Na Chầm thì buồn thảm hơn: quân lính Đông Dương nổi lên giết chết trung úy Mougin trưởng đồn rồi bỏ chạy để trống đồn...

5. Trận đánh kết thúc vì không còn người chiến đấu
Về phía Tây Bắc tình hình cũng không có gì sáng sủa hơn.
Bình Lư là một ngã ba quan trọng bảo vệ hậu phương của Lai Châu, Tuần Giáo và Sơn La. Đội quân của đại úy Prugnat lên tăng cường đang cố bắt nối với đội quân Pháp chiến đấu ở đó, nhưng không được phải tản vào các rừng núi chung quanh.
Ngày 11 tháng 3, đại úy Charbouneau, chỉ huy Phong Thổ lại điều về đó một toán quân nữa và giao trách nhiệm cho trung úy Ecochard cùng với 100 binh lính bằng mọi giá phải bảo vệ địa điểm này. Ngày 14, cuộc phòng thủ còn được tăng cường bởi đại đội của đại úy Bichoux rút từ Baxát về.
Bình Lư được tăng cường như vậy có nhiệm vụ phải kìm chân quân Nhật để cho quân tiếp viện ở Tông có đủ thì giờ lên tới nơi. Ngày 24 tháng 3 quân Nhật từ Sapa tới, tấn công vào vị trí cây số 9 do đại úy Bichoux chống giữ trong suốt hai ngày. Vào chiều 25, khoảng 16 giờ, quân Nhật làm động tác bao vây vị trí buộc Bichoux phải rút lui về cây số 5 đang được trung úy Ecochard bảo vệ. Hai sĩ quan hợp đồng với nhau, dàn quân sang hai bên sườn của nhau để bảo vệ lẫn cho nhau và tạo nên ở giữa một cái bẫy thu hút quân địch. Họ còn thực hiện một động tác nghi binh trên một cái đèo ở trung tâm để thu hút hỏa lực của địch, và đợi địch đến gần mới nổ súng.
Tất cả đã diễn ra như dự định. Quân Nhật pháo kích mạnh mẽ rồi xông lên tấn công. Quân Pháp nổ súng bắn rất dữ dội. Quân Nhật bị thương vong nhiều phải tản vào hai bên rừng, bị đạn cối và đạn VB của Pháp bắn đuổi theo. Lúc này hai sĩ quan hội ý có nên rút đến một vị trí khác dễ phòng thủ hơn để tiếp tục chiến đấu không? Nhưng rút đi đâu vì sau lưng là vùng đồng bằng, địa hình trống trải, hỏa lực của địch lại rất mạnh. Vả lại, nhiệm vụ được giao là phải bằng mọi giá giữ vững được vị trí cho đến khi toán quân của Prugnat đến được Bình Lư trước quân Nhật. Ecochard quyết định ở lại.
Khoảng 17 giờ 30, quân Nhật lại xông lên tấn công, được yểm trợ bởi hỏa lực mạnh của đại liên và súng cối, nhưng vẫn bị kìm chân lại. Khoảng 20 giờ, một đợt tấn công nữa bằng lựu đạn cũng bị đánh lui. Sau đó, cứ sau mỗi giờ chúng lại xông lên, thương vong rất nhiều nhưng vẫn không đánh bật được quân Pháp.
Vào khoảng nửa đêm, chúng dồn hết lực lượng mở một cuộc tấn công lớn, và cũng là cuộc tấn công cuối cùng, cuộc tấn công quyết định.
Quân Nhật, đông như kiến, vừa la thét kinh khủng vừa xung phong lên, tràn ngập khắp bốn bề. Một cuộc giáp chiến đẫm máu diễn ra. Quân Pháp bị đè bẹp dưới số đông. Ecochard, thương tích đầy mình, là người còn sống sót cuối cùng, vùng đứng thẳng lên, bắn hết đạn trong khẩu súng lục của mình rồi mới ngã xuống bên cạnh các đồng đội. Trận đánh kết thúc vì quân Pháp không còn một người nào sống sót.
(Theo báo cáo của đại đội 11, Trung đoàn bộ binh Bắc Kỳ II/1)

Luân Châu ngày 1 tháng 4 - 10 giờ sáng nhìn thấy quân Nhật cách 1 cây số. 10 giờ 20, chúng tấn công và bị kìm lại bởi đạn cối và đạn VB. 12 giờ lính gác báo cáo, quân Nhật đang len lỏi ở bên phải và bên trái bìa rừng.
12 giờ 25, chúng bất ngờ tấn công từ trong rừng ra. Chúng bắn như vãi đạn, bắn chính xác như bắn bia. Đại úy chỉ huy Alveny bị hai vết thương ngã xuống. Thiếu úy lessons chạy lại đỡ ông lên, trong khi trung úy Poitevin cố tìm cách rút lui qua một đường tắt để xuống đường cái tỏa ra cánh đồng. Đại úy được đặt trên một chiếc cáng do hai người lính là Ferrani và Neveu khiêng đi, Poitevin đi tập hậu để bảo vệ; bằng một khẩu tiểu liên. Nhưng rồi Ferrani bị thương ở tay và Neveu bị thương ở chân. Cả hai bỏ rơi chiếc cáng, làm đại úy ngã xuống đất. Tất cả chạy tản ra để tự vệ dưới làn đạn của địch.
16 giờ, những người sống sót rút lui được về đến Nậm Men. Xác của đại úy Alveny nằm lại trên đồng cỏ...
(Trích nhật ký đi đường của thiếu úy Jessons)

Sơn La 24 tháng 3. Vào ngày giờ này không còn có chuyện bất ngờ nữa nên phải lo phòng thủ. Nhưng cái lòng chảo quá chật hẹp này khó mà bảo vệ được, nên ban chỉ huy ở đây quyết định trong đêm 25 rạng ngày 26 phải rút hết ra ngoài. Tất cả các cơ sở, kho xăng, kho đạn đều đốt cháy hết. Cây cầu cũng bị phá hủy luôn.
Tiểu đoàn 2 do đại úy Besset chỉ huy đến đóng ở một vị trí thuận lợi cắt ngang con đường, ở cách Sơn La 7 cây số. Tại đây còn có một điểm tựa số 1 do đại úy Duget chỉ huy với đại đội 5 đóng giữ, cùng với một toán phi công từ căn cứ không quân Tông lên tiếp viện. Đại đội 7 thì đóng ở cây số 5. Đằng trước họ là một hệ thống tiền đồn do đại úy Courant chỉ huy. Sở chỉ huy của tiểu đoàn thì đóng ở gần điểm tựa số 1.
Buổi chiều ngày 26, đại úy Cockborne, chỉ huy tiểu đoàn 2, cho làm một cuộc thăm dò ở bên ngoài những tiền đồn của cây số 5, không thấy có gì khả nghi. Nhưng vừa chập tối vào quãng
19 giờ, thì các tiểu đồn đột nhiên bị quân Nhật tấn công bằng tiểu liên và lựu đạn. Chúng bị chống trả lại kịch liệt. Đại úy chỉ huy tiểu đoàn phán đoán quy mô cuộc tấn công và thấy những tiểu đồn này chắc không thể chống giữ được qua đêm nên ra lệnh cho rút lui về, vừa rút vừa đánh để làm chậm bước tiến của quân địch. Nhưng chúng theo sát và vẫn tiến lên rất nhanh, tiếp cận được với các vị trí phòng ngự và tổ chức các đợt xung phong liên tiếp trong suốt 4 giờ đồng hồ liền với một hỏa lực cực mạnh súng cối, đại liên và lựu đạn. Lính lê dương và các phi công cầm cự được đến 23 giờ thì quân Nhật tạm thời rút lui, các vị trí phòng thủ được củng cố lại, cả đêm mọi người căng thẳng chờ đợi đến sáng.
Sáng hôm sau, vào khoảng 6 giờ 30, trong một cuộc tấn công dữ dội với những tiếng thét kinh khủng và dưới một trận mưa rào sập xuống, chúng chiếm được một số điểm cao, từ đó nã đạn cối, súng liên thanh chính xác vào các vị trí Pháp...
Trận chiến ác liệt cứ như thế kéo dài đến 11 giờ trong các đợt xung phong liên tiếp của quân Nhật. Đến 13 giờ 30 thì có lệnh cho quân Pháp rút lui toàn bộ. Sơn La rơi vào tay quân Nhật. Rồi Tuần Châu... Rồi Tuần Giáo... Rồi Mãlítao... cứ lần lượt theo nhau gục ngã, bị Nhật chiếm đóng. Thế là con đường đến Lai Châu bị mở toang.

6. Ngài trung tướng ngáp và nổi quạu
Thế còn những trung tâm lớn ở vùng xuôi thì sao? Hải Phòng thế nào? Hà Nội ra sao?
Sau đây là tóm tắt tường thuật của chính một người trong ở cuộc, tướng Henry Lapierre, người chỉ huy cuộc chiến đấu ở Hải Phòng. Ở đây thực sự cũng không thể nói là có yếu tố bất ngờ được nữa. Lapierre cay đắng nhận xét:
“Tuy rằng trước cuộc tấn công đã có những tin tức tình báo chính xác cho thấy rõ ý đồ của Nhật, nhưng những tin tức đó đã không được chuyển đi kịp thời và với một sự chính xác đầy đủ, làm cho các cấp dưới phải lâm vào những tình trạng rất khó khăn...”
Đêm 8 rạng ngày 9 tháng 3, vào quãng 0 giờ 50, ban tham mưu của lữ đoàn 1 (Hải Phòng) nhận được hai bức điện mật mã từ ban tham mưu sư đoàn Bắc Kỳ ở Hà Nội phát đi ngày 8 lúc 19 giờ 50.
Điện số 95: “Do yêu cầu của ngành đường sắt, trung đoàn hỗn họp 19 (19 RMIC) sẽ ở lại Hải Dương thêm một ngày nữa”.
Điện số 96: “Tổng thao diễn báo động cho toàn nhóm phân sư đoàn Hà Nội bắt đầu từ ngày hôm này vào lúc 20 giờ 30”.
Với bức điện 95, kết quả là ngoài những rắc rối về vấn đề chỉ huy, thì tiểu đoàn 1 sẽ không có súng liên thanh và súng cối thêm một ngày nữa. Như thế có thể hiểu là tình hình chưa có gì khẩn trương lắm.
Với bức điện 96, những chữ “tổng thao diễn báo động” (exercise général d’alerte) có thể hiểu là một cuộc kiểm tra thường kỳ các biện pháp phải tiến hành trong trường hợp có báo động. Như vậy, cũng với bức điện trên, càng chắc chắn là tình hình chưa đến nỗi nghiêm trọng lắm. Lúc nhận điện là 1 giờ sáng, thì những chữ “bắt đầu từ ngày hôm nay 20 giờ 30” có nghĩa là cuộc diễn tập sẽ bắt đầu vào lúc 20 giờ 30 ngày 9 tháng 3, tối ngày mai.
8 giờ 30 sáng ngày 9, vấn đề được đặt ra cho Lapierre là vào lúc nào thì sẽ kết thúc cuộc thao diễn. Viên trung úy hải quân Loréal và viên đại úy Quinet trong “Ủy ban liên lạc Pháp - Nhật” được cử đi thăm thú tình hình xem về phía Nhật có động tĩnh gì không. Đến 11 giờ, hai viên sĩ quan về báo cáo “không thấy có gì thay đổi trong sinh hoạt của các sĩ quan Nhật và trong hoạt động của ban liên lạc”. Đại úy Meridan, đại diện của Pháp ở “Ủy ban liên lạc Pháp - Nhật” tại Hà Nội được hỏi, cũng trả lời bằng điện thoại “ở đây, tất cả đều yên tĩnh”.
Chưa yên tâm, Lapierre lại điện hỏi đại úy Kerhoas trong ban tham mưu của sư đoàn và được trả lời “không có gì mới”. Điện gặng hỏi lại thêm lần nữa, vẫn là “không có gì mới”. Nhưng Lapierre vẫn lệnh cho các sĩ quan từ 11 giờ 30 đến 12 giờ phải đi ăn trưa theo hai đợt để có người trực, và lệnh cho nhà bếp chuẩn bị cho bữa ăn chiều cho tất cả các sĩ quan vì phải cắm trại.
14 giờ, đại tá Maupin chỉ huy tiểu đoàn RMIC 19, lúc đó đang ở Quảng Yên, rất lúng túng về việc phải chia tiểu đoàn ra từng tốp 50 người, đi cách nhau 30 phút để qua phà. Mặt khác, các trang thiết bị, võ khí đạn dược của tiểu đoàn phải chở đi bằng thuyền, sẽ xuất phát từ Quảng Yên vào lúc 17 giờ.
14 giờ Lapierre đánh điện về ban tham mưu sư đoàn hỏi: “Xin cho biết theo điện số 95 thì tiểu đoàn RMIC 19 có hành quân về phía Hà Nội hay không?” - không biết bức điện có đến nơi hay không, nhưng không có trả lời.
14 giờ 30 viên đốc lý thành phố Hải Phòng Luciani mời Lapierre đến ngay tòa đốc lý có việc rất khẩn cấp. Đến nơi, ông đưa cho Lapierre đọc một bức điện của Thống sứ Bắc Kỳ báo tin “Khả năng có thể có một cuộc chính biến của các phần tử quốc gia (nationalistes) người bản xứ được quân đội Nhật yểm trợ”. Bức điện cũng căn dặn đốc lý phải cảnh giác đề phòng “có thể ông ta sẽ bị bắt cóc”.
15 giờ Luciani triệu tập họp tất cả những người đứng đầu các ban và những người cộng sự trực tiếp tuyên bố nếu bị tấn công sẽ tuyên bố tình trạng giới nghiêm và tất cả các cơ quan hành chính dân sự, sở mật thám, sở cảnh sát, cùng đội lính khố xanh sẽ đặt dưới quyền chỉ huy của ông.
Lapierre có dự cuộc họp này đề nghị thêm lấy bệnh viện của thành phố làm nơi lánh nạn của các gia đình người Âu khi có tấn công.
17 giờ, lính gác báo cáo trên sân thượng của hãng than (Charbonnage) thấy lố nhố có nhiều quân Nhật, có vẻ chú ý đặc biệt quan sát doanh trại Bouet của quân đội Pháp.
18 giờ 45, đại tá Maupin báo cáo về Hà Nội, quân của ông khi qua phà bị quân Nhật xả súng tấn công. Hà Nội trả lời: “Ở đây yên tĩnh. Có thể đó chỉ là một sự kiện đụng độ nhỏ. Sẽ phái Loréal với sĩ quan Nhật đi giải quyết”.
19 giờ Lapierre gọi điện hỏi Maupin: “Loréal đã đi rồi. Tránh đừng làm cho chuyện xấu đi hơn. Còn bắn nhau nữa không?” Trả lời: “Đã ngừng bắn, nhưng quân Nhật kéo về phía ở Quảng Yên. Tôi sẽ dồn quân về trại Galliéni. Sẽ chỉ nổ súng nếu trại này bị tấn công”.
19 giờ 10, hạ sĩ Kolbacher từ ngoài cảng báo cáo: “Quân Nhật tước vũ khí của các lính gác một cách thô bạo”.
19 giờ 15. Các sĩ quan đã ăn tối xong đợt 1.
19 giờ 20. Báo động toàn thể. Những lỗ châu mai của các lô cốt được mở ra. Những két lựu đạn được khiêng đến, mở sẵn nắp két.
19 giờ 25, ba tiếng nổ lớn. Giờ G đã đến. Súng bắn như mưa. Quân Nhật vừa la thét vừa xông lên tấn công doanh trại Bouet. Trận chiến bắt đầu.
Tình hình trong doanh trại Bouet lúc đó như sau. Trong trại có:
- Ban tham mưu của tiểu đoàn 1: đại tá Lapierre, đại úy Elie, đại úy Polak, hạ sĩ Strazza từ một cơ sở ở giữa thành phố đã rút về đây khi nhận được điện số 96.
- Lapierre cho phá hủy bảng mật mã và các tài liệu mật.
- Toàn bộ quân lính và ban chỉ huy của RMIC 19 gồm: đại tá chỉ huy trưởng, 17 sĩ quan, 42 hạ sĩ người Âu và 65 lính Âu, 250 hạ sĩ và lính Đông Dương.
- Bệnh xá của doanh trại có 2 bác sĩ, 2 y tá người Âu, 1 hạ sĩ tài vụ và 1 y tá Đông Dương.
- Nhiệm vụ của doanh trại: bảo vệ doanh trại “đến giới hạn có thể được”.
- Trại ở giữa thành phố, 3 mặt có tường cao 1,5 thước, trên có rào sắt. Chỉ có vài ba lô cốt xây ẩu tả bằng vật liệu mua trôi nổi ở địa phương. Không có một thước hàng rào kẽm gai nào vì không tìm được ở đâu có để mua. Trại nằm giữa những nhà dân có gác cao ở bốn hướng xung quanh, “trông giống như một công viên hơn là một thành trì”.
19 giờ 25, quân Nhật tấn công mặt đông và mặt bắc. Chúng đã chiếm hết các nhà dân ở ngoài phố chung quanh trại, từ trên các gác cao nã súng vào trại. Trại bắn trả lại dữ dội.
19 giờ 45, đánh điện theo mật hiệu “Hải Phòng - Saint Barthelemy” để báo tin bị tấn công cho tướng tổng tư lệnh ở Hà Nội.
20 giờ quân Nhật dùng máy tăng âm phát lời kêu gọi bằng tiếng Pháp: “Hỡi người Pháp, nếu các người muốn tránh tai họa cho bản thân và gia đình thì hay hạ vũ khí, các người sẽ được an toàn”. Sau đó kêu gọi bằng tiếng Việt. Dứt tiếng kêu gọi, tiếng súng máy tiếp tục nổ ran trên đại lộ Bounal.
20 giờ 15, mặt đông bắc bị tấn công bằng súng cối và lựu đạn. Binh nhất Carre giữ khẩu liên thanh ở đây bị trọng thương, súng bị phá hủy. Nhiều thương vong ở mặt này.
20 giờ 30, quân Nhật len lỏi vào doanh trại. Hỗn chiến với một toán lính Nùng. Trung úy Phạm Khắc Bùi bị trọng thương, đạn bắn vào ngực và lưỡi lê đâm nhiều nhát.
21 giờ, đại úy Ammont được phái đi xem tình hình ở mặt đông bắc cùng với 10 lính lê dương. Ammont bị thương, chỉ còn 3 người lính ở lại với anh ta.
22 giờ. Quân Nhật lại kêu gọi hạ vũ khí, chúng thâm nhập vào mặt tây do trung úy Claire chống giữ. Tiểu đoàn trưởng Simon tử thương. Đại úy Filliot bị thương vào gần xương sống không thể đứng dậy được nữa. Thế là ban chỉ huy chiến đấu của RMIC 19 từ 9 sĩ quan nay chỉ còn lại 5.
22 giờ 30, đại úy Margerel và đại úy Quinal được lệnh đi thay Filliot và Simon. Quinal bị chết trên đường đi đến vị trí chỉ huy.
Một tiểu đoàn trưởng Nhật trèo qua hàng rào sắt bằng thang vào được trong doanh trại và đặt sở chỉ huy ngay trong các văn phòng của trại. Ở đây đã có nhiều quân Nhật thâm nhập vào được từ trước và đã mắc được đường dây điện thoại dã chiến ra ngoài.
24 giờ, trung sĩ Henri đi tiếp tế cho lô cốt 6, không trở về nữa. Lô cốt này lúc đó đã bị Nhật chiếm lúc nào không ai hay biết. Tất cả binh sĩ trong lô cốt đã chết hết.
2 giờ sáng, lời kêu gọi tối hậu: “Nếu trong 20 phút nữa, không hạ vũ khí thì quân Nhật sẽ tổng tấn công”.
2 giờ 20, súng cối Nhật bắn dữ dội nhưng cuộc tổng tấn công không xảy ra.
3 giờ trở đi, yên lặng cho đến sáng. Quân Nhật thâm nhập qua các phố Domine và Négrier. Lapierre kể lại: “Từ lúc 23 giờ, tôi đã biết rõ kết cục của cuộc chiến đấu quá chênh lệch về lực lượng này nên đã cho đốt hết mọi giấy tờ tài liệu. Đốt luôn cả cờ. Mũi giáo trên cán cờ đốt không cháy đã được đem chôn trong sân trại”.
10 giờ sáng Nhật tấn công bằng đại bác bắn thẳng.
Lapierre báo cáo: “Tiếp tục chiến đấu trong một hoàn cảnh quá chênh lệch như vậy sẽ chỉ đưa đến một kết cục tàn sát tất cả mà không gây được cho địch thiệt hại gì, tôi quyết định cho nổi hiệu kèn “Ngừng bắn” (Cessez le feu)”.
Thế là hết - lúc đó là vào 10 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3 năm 1945. Có lẽ chỉ có ở đây là một trung tâm quan trọng, một cửa bể có tàu quốc tế ra vào, nên quân Nhật không để lộ bộ mặt tàn ác của chúng, dày xéo lên công ước quốc tế mà tàn sát tù binh như đã thấy ở các nơi khác. Nhưng chúng cũng đã làm một việc không cao thượng gì để hạ nhục những người thua trận. Chúng bắt tập trung tất cả những người còn sống sót, bị thương hay không, ra quỳ trong nhiều giờ ở giữa sân doanh trại. Dân chúng Hải Phòng nhiều người đã được mục kích quang cảnh nhục nhã này. Cái giá phải trả cho cuộc thất trận này cũng khá cao, tổng kết lại ở cả trong và ngoài doanh trại, chỉ tính riêng số người Âu có:
- 57 người chết, trong số đó có một thiếu tá, một đại úy, một trung úy, 10 hạ sĩ quan.
- 67 người bị thương, trong số đó có hai đại úy, một trung úy, hai hạ sĩ quan.
- 17 người mất tích trong số đó có bốn hạ sĩ quan.
Thế còn thủ đô Hà Nội?
Có điều rất ngạc nhiên là ở đây lại có một sự bất ngờ hoàn toàn: bất ngờ vì một sự bất ngờ lẽ ra không thể có được.
Đại tá Cavalin phụ trách tình báo sau này đã khai ra trong một bản báo cáo chính thức: ông ta đã mấy lần gởi lên tướng tổng tư lệnh những thông tin chính xác và rất đáng lo ngại về các âm mưu của quân Nhật sẽ tấn công. Nhưng lần nào cũng vậy - theo lời Cavalin - “Ông tướng ngáp và nổi quạu” (“Le général bailie et s’impatiente”)
Vì thế vào lúc 20 giờ khi nổ ra cuộc chính biến, thì còn rất nhiều sĩ quan và hạ sĩ quan đang ở trong nhà riêng với gia đình, hoặc ở những nơi vui chơi giải trí trong thành phố. Đến cả quân lính cũng không bị cắm trại, được đi lại tự do ra ngoài.
Còn ông tướng tư lệnh Ayme, thì ngay từ những phút đầu đã bị quân Nhật bắt sống cùng với cả gia đình ở tư thất, không có một cử chỉ kháng cự nào. Được cái, sau đó ông không chịu ký vào lệnh ngừng bắn. Và sau này phải làm tù binh của Nhật cho mãi đến tháng 10 mới được thả ra, trao trả.
Cuộc tấn công của quân Nhật nhằm vào hai mục tiêu chính đã được chúng định sẵn:
- Một là ở bờ sông Hồng, nơi có các văn phòng của bộ tư lệnh tối cao, và những biệt thự dành làm tư thất cho tướng tổng tư lệnh và các sĩ quan cao cấp. Đằng sau lưng khu này là các phố Bobillot và Ferrié, có trường đại học, nhà hát lớn và những sở truyền thông và thống kê.
- Hai là khu thành cổ, bây giờ không còn thành nữa vì đã bị quân Pháp phá hết khi chiếm Hà Nội vào giữa thế kỷ XIX, để xây dựng một hệ thống doanh trại và văn phòng.
Khu Bobillot (bây giờ là phố Lý Thánh Tôn) thì cầm cự được từ 20 giờ đến 4 giờ sáng, còn khu Ferrié, do trung tá Lacomme, phó trưởng tham mưu chỉ huy, thì lâu hơn, đến 10 giờ sáng hôm sau.
Trong các văn phòng của Ban Hành động và Tình báo (Service Action et Renseignements) hai đại tá Guyot và Cavalin phụ trách, cho đốt hết các tài liệu rồi trốn thoát ra ngoài cùng với vài sĩ quan khác, trừ đại úy Braive bị một đội tuần tra Nhật bắn chết.
Trong khu thành cổ thì chiến sự ác liệt hơn: ở đây có ba trung đoàn 1, 4 và 9 tất cả khoảng 1.000 người dưới quyền chỉ huy của tướng Massimy. Tướng Mordant thì vì nhảy qua tường bị sái chân không ra chỉ huy và lẩn trốn, đến sáng ngày 10 thì ra hàng quân Nhật. Quân Pháp chống cự suốt đêm 9 tháng 3, cả buổi sáng ngày 10 đến 15 giờ 30 chống lại các cuộc tấn công của quân Nhật vào các doanh trại Brière-de-l’Jsle, Balny, Berthe de Villers và Mangin... Vì sự kháng cự anh dũng như vậy, nên khi ngừng bắn đầu hàng quân Nhật cho họ được hưởng những “Vinh quang của chiến tranh” (les honneurs de guerre):
Những người còn sống sót được tập trung lại, xếp hàng, bồng súng chào, trong khi là cờ tam tài đã từng phất phới, ngự trị trên mảnh đất này gần một thế kỷ, được từ từ hạ xuống, vĩnh viễn hạ xuống. Còn cái giá phải trả? Quá ít so với cuốn sổ nợ máu đối với nhân dân Việt Nam và nhân dân hai nước anh em Miên Lào: chỉ riêng ở khu thành này, chỉ riêng ở dưới bóng ngọn cờ này, chỉ riêng lính da trắng: 295 người chết, trong số đó có 10 sĩ quan và 200 người bị thương, tức là gần 40% quân số.
Sau những “Vinh quang của chiến tranh”, sau lễ hạ cờ, các tù binh bị quân Nhật lấy báng súng và đốc kiếm đánh túi bụi dồn vào một góc. Những người trước đã có tham gia vào cuộc kháng cự trong nội địa, hoặc bị nghi ngờ như thế, được tách riêng ra, đưa về sở Kampetai (giống như sở mật thám trước đây của Pháp), một địa ngục trần gian của Nhật đặt ở đường Gambetta (nay là đường Nguyễn Thái Học) để chờ được tra tấn xét hỏi. Những người còn lại thì bị đưa lên trại tập trung ở Hòa Bình, được mệnh danh là “trại chết từ từ” (Camp de mort lente).

7. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ
Trong khi tất cả mọi chuyện đang dồn dập xảy ra thì viên Toàn quyền Decoux ở đâu? Ngày 9 tháng 3, Toàn quyền Decoux không có mặt ở Hà Nội. Ông ta đã vào Sài Gòn từ ngày 24 tháng 2. Tuy ý thức được tình hình rất nghiêm trọng, nhưng ông cho rằng vẫn còn có thể lèo lái được trong một thế thăng bằng rất chênh vênh. Để chờ đợi...
Ở Sài Gòn vào đầu buổi chiều ngày 9, không có một dấu hiệu đặc biệt nào chứng tỏ có gì đáng lo ngại, ngoài những bức điện từ ngoài Bắc đánh vào báo tin những cuộc hành quân của Nhật và sáng nay có tin của một chỉ điểm từ Thủ Dầu Một báo một cuộc tiến công sắp xảy ra. Không khí chung quanh lại dường như dễ thở, cởi mở hơn, vì vừa qua một cuộc đối đầu ngoại giao rất gay go, chống những yêu sách quá quắt của quân đội Nhật. Chúng đòi đổi một số rất lớn đồng yên lấy đồng bạc Đông Dương để chi phí cho quân đội. Chúng đòi phải nộp cho chúng thêm gạo để nuôi quân, chúng đòi đưa thêm quân từ Quảng Tây vào Bắc Kỳ trong khi ở đây tình hình lương thực đang cực kỳ nghiêm trọng, nạn đói đang đe dọa vì bị thiên tai mất mùa và đường xá lại bị không quân Mỹ ném bom tàn phá. Chúng cũng đòi phải nộp cho chúng những phi công Mỹ bị chúng bắn rơi trong trận ném bom ngày 12 tháng Giêng, hiện bị chính quyền Pháp giam giữ...
Không khí của những cuộc họp hết sức căng thẳng. Quân Nhật chỉ trích nặng nề về thái độ lừng chừng của Decoux và chính quyền Pháp, tung ra những lời lẽ ngạo mạn, dọa nạt thô lỗ và ý định thực hiện ngay những sự trừng phạt, nếu không chấp nhận đầy đủ các yêu sách của chúng. Nhưng Decoux vẫn một mực từ chối, và cuối cùng cắt giảm được một phần quan trọng các yêu sách này, sắp sửa đi đến ký kết một thỏa ước. Từ năm năm nay, quan hệ Pháp - Nhật cũng đã từng trải qua những giai đoạn gay go quyết liệt như vậy. Đã nhiều lần, người ta tưởng không tránh khỏi một đòn bạo lực của Nhật, nhưng rồi cuối cùng, Nhật vẫn không thực hiện những lời dọa nạt của chúng, nên lần này chắc cũng lại như vậy thôi.
Vào buổi chiều ngày 9 tháng 3, đại sứ Nhật Matsumoto cùng với tổng lãnh sự Kohno và một đoàn nhân viên ngoại giao đến Phủ toàn quyền ở Sài Gòn để ký kết một bảng thỏa ước về cung cấp gạo cho quân đội Nhật năm 1945, theo những hiệp ước của chính phủ Vichy ký với Tokyo ngày 6 tháng 5 năm 1941.
Theo những chứng nhân có mặt hôm đó cho biết thì phái đoàn Nhật đến với một thái độ rất tươi cười niềm nở, nói những lời chào hỏi chúc mừng hoa mỹ tốt đẹp. Phía Pháp nhận xét thấy họ chỉ có một điều bất thường là họ muốn chùng chình chưa muốn ký ngay, kéo dài thời gian trong những cuộc hội ý vô tận giữa họ với nhau bằng tiếng Nhật, và luôn luôn liếc nhìn đồng hồ, rõ ràng là như chờ đợi một cái gì vậy.
Cuộc họp bắt đầu lúc 16 giờ, và đúng 18 giờ 30, thì đại sứ Matsumoto xin có một cuộc hội kiến với Toàn quyền Decoux vào lúc 19 giờ, để chuyển giao một thông điệp quan trọng. Tuy rất ngạc nhiên về điều bất thường này nhưng Decoux cũng nhận lời.
Đúng 19 giờ, đại sứ Nhật Matsumoto, đứng trước đoàn ngoại giao Nhật trịnh trọng giao cho Toàn quyền Decoux một bức tối hậu thư của chính phủ Nhật, với thời gian phải trả lời là 2 tiếng đồng hồ. Nội dung của bức tối hậu thư đại để như sau: Căn cứ vào diễn biến của tình hình hiện nay, chính phủ Nhật thấy cần thiết phải có những sự phòng ngừa nào đó ở Đông Dương. Vì vậy, ngoài những yêu cầu khác, chính phủ Nhật Bản đòi hỏi quân đội Pháp phải chuyển đặt dưới quyền chỉ huy của Nhật Bản cùng với hải quân, cảnh sát và toàn bộ hệ thống hành chánh. Đồng thời các cơ sở ngân hàng tín dụng Pháp cũng phải phụ thuộc vào sự kiểm soát của Nhật. Pháp sẽ phải nộp cho Nhật một số thế chấp tài sản, và một số con tin để bảo đảm sự thực hiện trung thực các điều khoản nêu ra. Tất cả mọi biện pháp quân sự, mọi bố trí báo động và phòng thủ về phía Pháp trước khi hết hạn trả lời, sẽ lập tức phát động các hoạt động của quân đội Nhật đã ở trong tư thế sẵn sàng.
Decoux, hết sức xúc động tuyên bố ngay đây là những điều kiện nhục nhã không thể nào chấp nhận được, hơn nữa chúng vi phạm vào sự cam kết long trọng của Nhật Hoàng tôn trọng chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Matsumoto đáp lại là ông ta không có thẩm quyền được tranh luận về những điều kiện trong sứ mệnh của mình và xác định lại là tối hậu thư sẽ hết hạn vào đúng 21 giờ. Thêm nữa ông ta tuyên bố quyết định là sẽ ở lại tại chỗ để chờ trả lời. Sau khi thương lượng, vào khoảng 19 giờ 45, ông ta cũng đồng ý rút ra khỏi Phủ toàn quyền với đoàn tùy tùng, hẹn sẽ nhận bản phúc đáp tại ban tham mưu của quân đội Nhật Bản ở đường d’Arras (bây giờ là đường Cống Quỳnh). Một sĩ quan Nhật sẽ ở lại để đưa đường và bảo vệ cho sĩ quan Pháp mang thư trả lời.
Vào hồi 19 giờ 15, tất cả các quan chức cao cấp Pháp dân sự và quân sự được triệu tập khẩn cấp đến để bàn bạc. Ý kiến chung của mọi người đều thống nhất không thể chấp nhận được các yêu sách của bức tối hậu thư. Một bản phúc đáp được thảo ra, đại ý nói những điều kiện đề ra trong tối hậu thư của chính phủ Nhật là không thể chấp nhận được, và xin một thời hạn nữa để liên lạc với các thành viên của chính phủ ở Hà Nội, sau đó sẽ có những điều kiện đáp ứng. Decoux cũng cam kết: “Quân đội Pháp sẽ không có bất cứ một hành động chiến tranh nào, trừ phi những lực lượng Nhật Bản bắt đầu trước những hành động thù địch”.
Cuộc bàn bạc và thảo thư phúc đáp mất khá nhiều thời gian, nên mãi đến 20 giờ 50, thì đại úy hải quân Robin và trung úy d’Aiguillon mới cầm thư lên đường. Nhưng viên sĩ quan Nhật đưa đường đã biến mất. Hai viên sĩ quan Pháp không biết ban tham mưu Nhật chính xác ở chỗ nào, không tìm được, đành phải đến Ủy ban liên lạc Pháp - Nhật ở phố Richaud (bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiểu). Tại đây, gọi cửa mãi mới có một viên phiên dịch Nhật, tay lăm lăm cầm khẩu tiểu liên ra mở cửa. Sau khi trình bày sự thể, viên này cho hai sĩ quan Pháp được liên hệ bằng điện thoại với Matsuoko, và ông này nói sẽ cho người đến dẫn đi. Lúc đó là 21 giờ 5 phút. Mấy phút sau có một chiếc xe hơi đến, trong đó có một sĩ quan Nhật, trưng một lá cờ Nhật rất to. Xe của hai sĩ quan Pháp đi theo sau xe này. Họ thấy trên đường Verdun (bây giờ là đường Cách mạng tháng 8) không biết bao nhiêu là xe cam nhông chở đầy lính Nhật, và hàng đoàn xe tăng đỗ, nhưng để nổ máy. Đi đến phố d’Arras, hai sĩ quan được Matsumoto tiếp trong một văn phòng rõ ràng là mới được bố trí vội vàng. Một cửa mở rộng cho thấy ở phòng bên có hai sĩ quan cấp tướng đang nghiên cứu một bản đồ Sài Gòn.
Đại úy Robin trao lá thư phúc đáp. Matsumoto sau khi đọc lướt qua nói bằng một giọng cáu kỉnh: thế là từ chối phải không? Ông ta sang phòng bên nói vài lời với hai viên sĩ quan cấp tướng. Một trong hai viên này ra đứng ở cửa sổ hét một vài lệnh ngắn gọn. Lập tức các tiếng còi inh ỏi nổi lên, các động cơ xe nổ ầm ầm. Quân đội Nhật nườm nượp tỏa ra các đường phố Sài Gòn. Đòn bạo lực bắt đầu. Đó là 21 giờ 20 phút.
Trên đường trở về, xe của hai viên sĩ quan Pháp khó khăn lắm mới lách qua được hàng đoàn các xe cam nhông và xe tăng Nhật. An toàn về được đến trước cổng Phủ toàn quyền, họ đã thấy lính Nhật leo qua hàng rào sắt vào trong sân cỏ. Sự chiếm đóng Phủ toàn quyền diễn ra hết sức nhanh chóng, không có đổ máu, không tốn một viên đạn nào. Chỉ mấy phút sau thì toàn bộ bộ chỉ huy tối cao, đầu não quân sự và dân sự đều bị bắt sống hết.
Về quân sự, trong số bị bắt lúc đó có Toàn quyền Decoux, tướng Delsuc, tư lệnh sư đoàn Nam Kỳ - Cao Miên, Đô đốc Berenger, tư lệnh hải quân. Trong số quan chức dân sự có chánh văn phòng Gautier, vợ và cô con gái Simon, 11 tuổi rất xinh đẹp, được Nhật đặc cách cho đeo còng số 8 vì là dân sự.
Sáng hôm sau tướng Kawamura, tham mưu trưởng của quân đội Nhật Bản ở miền Nam Đông Dương vào gặp Decoux. Ông ta tuyên bố rất lấy làm tiếc phải hành động như tối hôm qua, vì những nhu cầu chiến lược, cũng như vì người Nhật thiếu tin tưởng ở sự cộng tác của Pháp ở Đông Dương. Ông ta bảo đảm với Decoux sẽ bảo vệ tính mạng và tài sản của dân chúng. Decoux trả lời ghi nhận lời bảo đảm này, nhưng cực lực phản đối cuộc tấn công không thể chấp nhận được mà nước Nhật sẽ phải chịu trách nhiệm.
Trong cùng ngày, Nhật dùng đài phát thanh của Sài Gòn phát đi những bản tuyên bố đại ý thanh minh cho cuộc tấn công đêm 9 tháng 3, đổ lỗi cho phía Pháp đã tổ chức mạng lưới gián điệp làm việc cho quân Đồng Minh, đã tích trữ súng ống đạn dược đã được thả dù xuống, bố trí quân đội đó tấn công quân Nhật... Và nhất là đã thiếu hẳn tinh thần cộng tác với quân Nhật.
Nhật cũng tuyên bố từ nay chủ quyền Pháp không còn nữa, các dân tộc ở Đông Dương được độc lập, nhưng trước mắt vẫn duy trì toàn bộ hệ thống tổ chức chính trị và hành chính của Pháp để lại trên toàn cõi Đông Dương. Thật ra, ý đồ của Nhật đâu có thể dễ dàng nhả miếng mồi béo bở ở Đông Dương ra như vậy. Chỉ ít ngày sau khi xảy ra cuộc chính biến, viên “Toàn quyền Nhật” Minoda đã nói toạc ý đồ này ra - mà nói bằng tiếng Pháp cho không có nhầm lẫn gì được - trong một cuộc họp với công chức Việt Nam ở Long Xuyên, ngày 30 tháng 3 năm 1945 “Có một sự hiểu lầm lớn về sự độc lập ở Đông Dương. Sự độc lập này là hoàn toàn ở dưới sự kiểm soát quân sự của Nhật Bản. Sự độc lập của đế chế Trung Kỳ và Cao Miên đã được tuyên bố. Nam Kỳ chẳng những ở dưới sự kiểm soát quân sự mà còn dưới cả sự cai trị quân sự của Nhật. Vậy thì không có sự độc lập của Nam Kỳ”. (ll-y-a un grand malentendu au sujet de l’independance de l’Indochine. Celle ei tout entière est so us le contrôle militaire du Japon. L’Independance de l’Einpire d’Annam et celle du Cambodge ont été pro clamées. La Cochinchine, non seulement se trouve sous le contrôle militaire du Japon, mais encore sous l’adminis tration militaire japonaise. Donc, pas d’independance de la Cochinchine...).
Vì vậy, sau này các nhà sử học đã khẳng định Việt Nam lấy lại nước, giành lại độc lập tự do là từ tay nắm giữ của quân Nhật, do chiến đấu chống lại dã tâm cướp nước của Nhật, chứ không phải do Nhật “ban ơn cho”. Đó là một sự thực lịch sử hoàn toàn có căn cứ, được chứng minh bằng bao nhiêu sự kiện tàn bạo do Nhật gây ra trên ba nước Đông Dương. Vả lại, đối với bọn phát xít xâm lược, chẳng làm gì có được thứ “độc lập bánh vẽ” được chúng cho không như vậy.
Cũng trong buổi chiều ngày 9 tháng 3, vào khoảng 18 giờ, viên Thống đốc Nam Kỳ E. Hoeffel cho triệu tập họp các chỉ huy quân sự và một số quan chức dân sự để báo tin, tối hôm đó có thể quân Nhật sẽ tấn công. Mặc dù phần đông các người họp không tin chuyện này có thể xảy ra, nhưng người ta cũng bàn về các biện pháp phòng ngự.
Ở miền Nam Đông Dương lúc đó, lực lượng quân sự gồm có ba đơn vị lớn, trong số này sư đoàn Nam Kỳ - Cao Miên là đơn vị chính thức lớn nhất. Nó được chia thành hai tập đoàn (groupement) là tập đoàn Nam Kỳ - Nam Trung Kỳ, và tập đoàn Cao Miên. Mỗi tập đoàn có những nhiệm vụ khác nhau dưới quyền chỉ huy của tướng Delsuc, đã bị Nhật bắt sống cùng với Decoux tại Phủ toàn quyền. Nói chung quân số không đông, lại phải rải ra trong một địa bàn quá rộng, mà sự thông tin liên lạc lại thiếu thốn. Ngày 19 tháng 11 năm 1944, kế hoạch được đề ra sẽ tập trung một lực lượng mạnh ở Kratié hay ở Buôn Ma Thuột để đối phó với một cuộc tấn công của quân Nhật vào Sài Gòn. Nhưng vào tháng 2 năm 1945, khi thấy quân Nhật đến đóng trên đường Sài Gòn - Kratié, kế hoạch được thay đổi, dự kiến quân đội sẽ rút về tập trung ở Buôn Ma Thuột.
Tại Sài Gòn đêm 9 tháng 3, trong các trại quân chỉ có một số quân nhỏ, đạn dược thiếu thốn, các chỉ huy cấp cao đã bị bắt hết, chỉ còn lại các sĩ quan trực ban. Bị đánh bất ngờ, trung đoàn bộ binh thuộc địa số 11 (11 RIC) có 200 người với súng trường và vài khẩu súng máy, chỉ cầm cự được đến 5 giờ sáng, trong khi trại La Grandière và đại đội ở Chợ Lớn gục ngã ngay từ lúc 2 giờ đêm.
Ở Vũng Tàu, quân Nhật mai phục ở nhiều địa điểm, vào khoảng 21 giờ xông ra giết các lính gác, bao vây các trại quân và nơi cư trú của các sĩ quan, bắn trọng thương viên đại úy Bélief, rồi xông lên chiếm ngọn tháp hải đăng và từ đó bắn pháo hiệu, mở đầu cuộc tấn công. Trong vài tiếng đồng hồ, cửa bể này đã lọt vào tay quân Nhật.
Ở Thủ Dầu Một, viên thiếu tá Mollard chỉ huy một tiểu đoàn cơ giới, cầm cự được đến 2 giờ rưỡi sáng, cho xung phong phá vòng vây hai lần để cho xe cơ giới hoạt động nhưng đều thất bại với nhiều thương vong. Vào quãng 6 giờ sáng, Mollard cũng hy sinh. Cuộc chiến đấu tiếp tục được hơn một tiếng đồng hồ nữa bằng lựu đạn và lưỡi lê, đến 7 giờ sáng thì kết thúc.
Ở miền Tây, kế hoạch kháng cự vũ trang đã được vạch ra từ trước, gọi là “vùng hành động Legrand” (Zône d’action Legrand) gồm có Cần Thơ, Sài Gòn, Đà Lạt và Cam Ranh do một sĩ quan là đại úy Pawels và một người dân sự là viên tổng công trình sư công chính Nicolai cầm đầu. Nhóm chiến đấu quan trọng nhất của vùng này là nhóm Transbassac do thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 Langellie - Bellevue chỉ huy. Ông này về sau bị Nhật bắt được và bị Sở hiến binh Nhật (Kampetai) tra tấn đến chết.
Nhóm Transbassac có khoảng 1.000 người được phân ra như sau:
- Langellie - Bellevue chỉ huy 270 người với 9 sĩ quan.
- Mienville, thuyền trưởng tàu hộ tống La Mame, chỉ huy 250 lính thủy với 9 sĩ quan.
- Jean d’Hers, đại úy xen đầm chỉ huy 570 người, trong số đó có 30 người Pháp dân sự tình nguyện.
Nhóm này đánh du kích và hoạt động phá hoại đã cầm chân được hàng tiểu đoàn tinh nhuệ của Nhật và gây cho chúng nhiều tổn thất, hơn 100 tên tử thương. Ở mũi Cà Mau, Mienville cầm cự được 16 ngày, cuối cùng đã phải cho đánh chìm chiếc tàu hộ tống La Mame. Viên hạ sĩ quan Le Houéron người vùng Bretague của Pháp bị Nhật bắt sống và chặt đầu vào ngày 27 tháng 3 năm 1945. Một nhân vật nữa trong cuộc kháng cự tuyệt vọng này là đại úy xen đầm Jean d’Hers mà cuộc chiến đấu cuối cùng và sự hy sinh anh dũng đã được tường thuật ở trên.
Ở Trung Kỳ thì tương đối ít ác liệt hơn, nhưng cũng không may mắn gì hơn. Về phía Bắc, những toán lính sống sót từ Vinh chạy ra lại bị tiêu diệt mất một số, còn bao nhiêu tẩu tán đi khắp nơi. Căn cứ không quân Đồng Hới cũng chịu chung một số phận như vậy. Ở đây, đại úy Mayraud chỉ huy căn cứ tử vong vì... kiệt sức. Số tàn quân chạy được sang Lào nhập vào khu bưng biền của đại úy Ayrolles.
Ở kinh thành Huế, vào buổi chiều ngày 9, khi nhận được hai bức điện từ Hà Nội đánh vào báo tin tình hình nghiêm trọng, người ta cũng họp bàn các biện pháp đối phó, nhưng lại cứ dùng dằng mãi vì sợ đây là một động thái giả của Nhật nhằm phát hiện những bố trí phòng thủ của quân Pháp. Vào khoảng 17 giờ thì có tin báo hai đại đội Nhật đã rời Quảng Trị và đang tiến về Huế. Mặt khác lại có tin báo, đội quân Nhật đóng từ nhiều ngày nay ở gần Cầu Truồi đã ra cắt con đường đi tới Huế. Như vậy, mối nguy hiểm là có thật và đã rõ ràng. Vào quãng 19 giờ, chính quyền Huế ra lệnh báo động và quyết định võ trang cho cả kiều dân Pháp bằng súng máy và lựu đạn.
Những tiếng súng đầu tiên nổ ra khoảng 21 giờ 15, và sau đó là cuộc chiến đấu chống quân Nhật ở các khu sứ quán, quanh dinh khâm sứ, sở công chính, trại lính Đông Dương và ở khu nhượng địa. Một cuộc chiến hoàn toàn không cân sức, chống một kẻ thù đông hơn gắp nhiều lần, sử dụng trọng pháo và cả không quân. Vào khoảng 7 giờ 30 sáng hôm sau thì khu sứ quán gục ngã trước, rồi đến 10 giờ thì khu dinh khâm sứ, và đến 17 giờ thì không còn nghe một tiếng súng nào nữa. Cả thành phố Huế đã hoàn toàn rơi vào tay quân Nhật.
Tổn thất về phía Pháp là khá nặng nề: chỉ nói riêng về số 1.140 lính Pháp của trung đoàn Trung Kỳ - Ai Lao đã có 51 tử vong tại trận, trong số đó có 13 sĩ quan, 11 người chết vì các vết thương quá nặng, 53 người bị thương, 41 người chết khi rút lui, trong số đó có 3 sĩ quan, 90 người mất tích. Nói chung tổng số thiệt hại của quân Pháp là 251 người, bằng một phần tư quân số. Còn 300 người sống sót, từ thành phố Huế chạy ra, chia thành các nhóm nhỏ, đi sâu vào dãy Trường Sơn, nhưng suốt trong năm tháng luôn đụng đầu với quân Nhật vào lùng sục.
Ở Tourane, ở Quang Ngãi cũng không hơn gì. Đám tàn quân chạy lên cao nguyên Bolovens, thương vong nhiều, phần vì chống cự lại quân Nhật, phần vì bệnh tật, đói khát và kiệt sức. Đại tá Hesse d’Alzon, sau này, trong một cuốn hồi ký có giá trị, gọi đó là “sự hấp hối của những người rừng kiệt lực, bị săn đuổi và bị phản bội”.
Ở Lào có lẽ may mắn hơn cả. Ở Thượng Lào, đại úy Mayer chỉ huy tiểu đoàn 10 RMIC đóng ở Vientiane. Ông ta cũng là một người cầm đầu Ban Hành động (Service action) và mạng lưới của ông mang tên “Donjon” là một trong sáu mạng lưới của Đông Dương. Trong đêm 9 tháng 3, đội quân của ông thoát ra khỏi được Vientiane, rút lui lên phía bắc theo hướng Luang Phabang, bị quân Nhật đuổi theo cho mãi đến sông Nậm U. Từ đây ông rút tới được Mường Sai, vượt biên qua đất Miến Điện.
Ở Trung Lào điều kiện có thuận lợi hơn. Được sự hỗ trợ của Ban Hành động, đội quân ở đây bắt liên lạc được với Calcutta, Ấn Độ, và được “lực lượng 136” tiếp viện cho người và võ khí. Ngay từ trước cuộc chính biến, 319 người Âu, 200 lính Đông Dương được thả dù xuống phía bắc Luang Phabang, Paksane, Thakhet và giữa Savanakhet - Saravane. Thiếu tá Infeld ở đây đã có thì giờ tổ chức bốn đội biệt kích, giúp cho những người lính sống sót chạy được sang đất Trung Hoa. Quân Nhật biết rất tường tận các hoạt động này, nên những cuộc đàn áp khủng bố ở Lào là cực kỳ tàn bạo.
Tại Thakhet đêm 9 tháng 3, có khoảng 100 người Pháp kể cả phụ nữ và trẻ em. Đội quân ở đây đã cầm cự suốt đêm, nhưng vào khoảng 8 giờ sáng thì phải đầu hàng. Trung úy Tavernier may mắn thoát được ra ngoài cùng với một số binh lính của ông và tản được vào rừng gần ngay đó.
Tất cả những người Pháp còn sống sót bị quân Nhật lùa vào một khách sạn nhỏ mang tên Bungalow. Họ bị dồn vào các văn phòng với 14, 15 người mỗi phòng. Các cửa đều đóng kín mít, cửa sổ thì bị đóng đinh. Trong bóng tối họ phải nằm dưới đất và được nuôi bằng những chậu cơm với rau muống.
Trong số những người bị bắt giam ở đây có: ông René Colin, nguyên chánh văn phòng của Toàn quyền Catroux, bây giờ là Công sứ Thakhet, hai ông giám mục là những đức cha Gouin, đức cha Thonime, cùng hai linh mục khác và một bác sĩ có tên là Theron. Trong sáu ngày liền, tất cả mọi người đều bị tra tấn hết sức dã man bằng nước, bằng điện để tra khảo về mạng lưới kháng cự bí mật.
Ngày 16 tháng 3, vào quãng 19 giờ, rồi lần thứ hai vào quãng 21 giờ, hầu hết những tù nhân nam giới bị lùa lên một chiếc xe tải bít bùng, mang đi đâu không biết và không thấy trở về nữa. Ở lại khách sạn lúc đó chỉ còn lại một vài người nam giới, phụ nữ và trẻ em.
Ngay sáng hôm sau, đã có tin là những người bị bắt đi hôm trước đều đã bị hành quyết hết. Một năm sau, “Ban điều tra tội ác chiến tranh” của Pháp đã tìm ra nơi trước đây là doanh trại quân Pháp, một hố chôn tập thể 35 tử thi, có người bị chặt đầu, có người bị giết bằng súng hay lưỡi lê, có cả người bị chôn sống nữa. Bác sĩ Theron bị chúng tra tấn, đánh nát cả hai đầu gối, cũng bị chúng bắt những người cùng đi, khiêng đến chỗ hành quyết để giết. Những người nam giới còn sống sót mấy ngày sau cũng bị giết chết, trong số đó có ông Colin, hai vị giám mục và linh mục Thibaud. Đặc biệt quân Nhật muốn trả thù ông Colin trước đó đã cho đốt đi một kho nhựa thông của chúng ở Nakay. Chúng mang ông cùng các vị tu sĩ đến đó chặt đầu, và bắt dân làng phải phơi thây họ ra, không được đem chôn. Sau đó mấy ngày, trung úy Tavernier được những người dân Lào báo cho biết ban đêm đã bí mật về đem xác vào rừng chôn tạm. Chỉ có ba người không bị chúng giết vì chúng còn muốn dùng đến chuyên môn kỹ thuật của họ về điện, về khai thác gỗ và thiếc.
Sau cuộc thảm sát, phụ nữ và trẻ em bị dồn đi ở các nơi khác, nhưng cứ hai ba ngày chúng lại bắt chuyển chỗ ở một lần. Rồi năm tháng sau, ngày 23 tháng 8 năm 1945, có lẽ để thủ tiêu các nhân chứng chúng dùng súng lục bắn chết bà Couris cùng đứa con trai nhỏ của bà, bà Raymond cùng với một số người khác nữa. Chỉ có hai người Pháp may mắn không chết vì chỉ bị thương, được những người Lào cứu chữa cho, trong đó có ông Raymond mà vợ đã bị bắn chết.
Ở Napé, ở Vientiane, ở Savanakhet và ở nhiều nơi khác nữa cũng có nhiều cuộc tra tấn và thảm sát tương tự. Ý đồ rõ rệt của Nhật không những là muốn tiêu diệt mọi lực lượng kháng cự của Pháp, mà bằng những hành vi hết sức dã man, bỉ ổi, nhất là đối với phụ nữ da trằng, chúng còn muốn tiêu diệt cả uy tín của người Pháp trước mặt người dân địa phương.
Tên tội phạm chiến tranh Nhật phải chịu trách nhiệm chính về những cuộc tra tấn và thảm sát này là viên sĩ quan tình báo Arai. Hắn đã đến ở Thakhet từ nhiều tháng trước cuộc chính biến, trong bộ áo khoác là nhà buôn và mở một cửa hàng bán đồ chơi trẻ em trong thị trấn. Đến đêm 9 tháng 3, hắn mới khoác quân phục vào và cầm súng đi. Rất nhiều người dân Lào đã biết rõ mặt hắn.
Đây là cách làm phổ biến của Nhật. Từ khi đặt chân lên đất Đông Dương họ đã cho mai phục trong các thành phố, các trung tâm lớn nhỏ, ngay cả trong một số dịch vụ của Pháp những tên tình báo, những sĩ quan trá hình dưới các dạng nhà buôn, nhà kỹ nghệ, nhà nghiên cứu, nhà báo... để điều tra tình hình, nắm mọi đầu mối, đợi ngày hành động. Đêm 9 tháng 3, rầt nhiều tên Nhật, dân chúng đã quen mặt, hàng ngày vẫn tỏ ra là những nhà buôn lịch thiệp dễ dãi, bỗng khoác quân phục vào, và trở thành những con quỷ dữ khát máu giết người không gớm tay. Chuyện đã xảy ra ở Hà Nội, ở Hải Phòng, ở Huế, ở Đà Nẵng, ở Sài Gòn... và ở nhiều nơi khác nữa...
Ở Cao Miên thì có thể nói sự bất ngờ đến mức tuyệt đối. Từ những nhà cầm quyền dân sự, những sĩ quan chỉ huy quân sự, chứ chưa nói đến những người dân thường, không một ai hay biết một chút gì cả. Đến ngay cả cái không khí căng thẳng cảm thấy được hai ba ngày trước cuộc chính biến thì ở đây cũng không có nốt.
Buổi chiều hôm đó, như thường lệ, các nhà buôn Nhật đóng cửa hàng, và đến đúng giờ N, họ mặc quân phục vào rồi vác súng đeo gươm ra đi trong đêm tối. Thế là...
Thủ đô Phnôm Pênh bị chiếm trọn vẹn trong không đầy một tiếng đồng hồ. Rồi tất cả các doanh trại của quân đội Pháp đều rơi vào tay quân Nhật nội trong đêm 9 rạng ngày 10 chỉ trừ có một trung đội của trung đoàn lính Miên, do thiếu tá Lavie chỉ huy, rút được lên dãy núi Cardamomes, cố thủ ở đó cho đến ngày quân đội Nhật đầu hàng ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Thế là toàn bộ Đông Dương nằm dưới gót giày của quân phát xít Nhật. Chủ quyền và uy tín của thực dân Pháp, sau một đêm, chỉ còn là những ký ức đen tối của gần một thế kỷ đô hộ.

8. Công và tội
Jean Decoux, viên thái thú Pháp cuối cùng của cuộc đô hộ Đông Dương, sinh ở Bordeaux năm 1884, chết ở Paris năm 1963.
Bị Nhật bắt sống trong đêm 9 tháng 3 năm 1945 ở Sài Gòn, quản thúc trong hai tháng ở Dinh Thống soái Nam Kỳ, rồi được chuyển lên trại tập trung ở Lộc Ninh.
Ngày 1 tháng 10 năm 1945, quân Nhật đưa ông lên một chiếc xe tải bít bùng kín mít, lén lút chạy ngang qua Sài Gòn ra sân bay Tân Sơn Nhất, để đi nhờ một chiếc máy bay Anh về nước.
Tới Calcutta, ông ta xin gặp viên cao ủy Thierry d’Argenlieu, nhưng viên này không tiếp và ra lệnh tịch thu tất cả những tài liệu mà ông mang theo, rồi đưa đi quản thúc trong một khách sạn cấm không cho đi ra ngoài, cấm không được tiếp xúc với bất cứ ai.
Về đến Pháp vào ngày 7 tháng 10, vừa trên máy bay bước xuống đất, ông ta bị bắt giam ngay ở sở An ninh quốc gia (Sureté Nationale). Năm lần bảy lượt ông ta năn nỉ xin được gặp tướng Charles de Gaulle, nhưng ông này không trả lời. Mãi đến ngày 14 tháng 10, ông ta mới được De Gaulle bất đắc dĩ lắm phải tiếp tại nhà riêng, vào một ngày chủ nhật, khi đang mệt mỏi sau một chuyến đi rất vất vả từ Bruxelles trở về.
Decoux đã hết sức cay đắng thuật lại cuộc tiếp xúc này. Một cuộc tiếp xúc hết sức lạnh lẽo “một cuộc tiếp xúc băng giá”, như phải thế, giữa một vị “Đứng đầu kháng chiến của nước Pháp” (Le “Premier Résistant de France”), tiếp một viên Toàn quyền tầm thường của cái chế độ đáng khinh ghét Vichy.
Decoux thì vốn người hơi thấp bé, còn De Gaulle thì lại cao lớn quá khổ, đứng sừng sững trấn áp trước mặt - Decoux viết mỉa mai:
“Vâng, ông ta cao lớn, vóc dáng rất cao lớn thật, nhưng để rồi một ngày nào đó, lịch sử sẽ nói ông ta có phải là một người lớn không”.
De Gaulle không bắt tay và để Decoux đứng mãi mới mời ngồi.
“Tôi nghe ông nói đây”.
Thế là Decoux bắt đầu trình bày từ lúc nhận được tin đình chiến ở chính quốc, trình bày về các hành động của Catroux, về những thỏa ước ký với Nhật, về ủy nhiệm của chính phủ Vichy cho ông những đặc quyền, về việc tổ chức cuộc kháng cự ở Đông Dương... vân vân và vân vân. Cuối cùng Decoux thuật lại cuộc chính biến đêm 9 tháng 3, những gì xảy ra trong đêm đó, sau đêm đó... cho đến khi ông ta về nước.
Cuộc trình bày gần như một bản độc thoại. Trong suốt hơn ba tiếng đồng hồ, De Gaulle không nhếch mép, chỉ thỉnh thoảng mới ra hiệu ngắt lời để chỉnh lại một danh từ, một cách nói của Decoux, có đụng chạm đến ông ta.
Lúc đó đã 14 giờ 15. Decoux đã trình bày xong, ngồi đợi. Một lát sau De Gaulle mới nói một cách nghiêm nghị đại ý:
“Ông Đô đốc, tôi đã nghe kỹ những lời tường trình của ông. Ông sẽ phải ra báo cáo trước một tòa án, và ở đó, ông sẽ bảo vệ những lý lẽ của ông. Còn riêng ý kiến cá nhân tôi, thì ông đã phạm phải nhiều sai lầm, mà tôi muốn chỉ ra cho ông thấy”.
Deeoux gồng mình lên, chú ý lắng nghe.
“Một, là việc đình chiến... Phản xạ đầu tiên của ông là đúng, nhưng sau đó, lẽ ra ông phải từ nhiệm, không được nhận trách nhiệm làm Toàn quyền ở Đông Dương nữa mới phải”.
Decoux cãi lại:
“Đang thời chiến, tôi không thể nghĩ đến việc tự làm mất danh dự của mình bằng cách từ bỏ một nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm đã được giao phó. Làm thế sẽ mất ngay thuộc địa của chúng ta, không thể vãn hồi được nữa”.
De Gaulle không có phản ứng gì trước câu trả lời này, vì theo Decoux, quan điểm của ông ta là: “Chỉ những người bỏ nhiệm vụ của mình để đi theo ông ta mới là những người thực sự yêu nước”.
Sang sai lầm thứ hai, De Gaulle nói.
“Lẽ ra, ông không được đợi đến khi giải phóng nước Pháp rồi mới đi theo tôi mà phải đến với tôi ngay từ 1941 kia. Lúc đó đã rõ là ông Thống chế Pétain không thể làm gì được chống quân Đức, vì thế cũng không thể làm gì được chống quân Nhật... Lúc đó chỉ có một mình tôi có thể làm được một việc gì... Lẽ ra ông phải hiểu điều đó chứ. Vì ông không đến với tôi, nên tôi phải kêu gọi những người khác”.
Decoux lại cãi lại:
“Thưa tướng quân, những người phái viên của tướng quân sang Đông Dương, chỉ dám đứng ở vùng biên giới Hoa - Việt, làm mọi cách để lôi kéo các sĩ quan binh lính của tôi đào ngũ, và làm hư những người Pháp dân sự ở Đông Dương, những hoạt động đó có thể gây ra một “trận dịch đi trốn” (une épidémie d’évasions). Thế mà người Nhật thì chỉ chờ có thế để vào thay chúng ta...”.
Decoux nhận xét: “Tướng De Gaulle không nói gì. Tôi có cảm tưởng là đã thắng được một điểm”.
Sang đến sai lầm thứ ba, De Gaulle nói.
“Tại sao ông lại cứ cần luôn luôn, như ông đã làm, ca hát lên những lời tán tụng ông Thống chế, và lúc nào cũng gào lên “Thống chế muôn năm”.”
Decoux kể lại: “Lúc đó đã trưa lắm rồi, tôi cũng không nghĩ rằng phải đáp lại lời chê trách này, vì rõ ràng nó xuất phát từ những mối tư thù có tính cách cá nhân...”
Thế là xong. Decoux lên xe hơi cùng với hai người lính gác, trở về bệnh viện quân y Val de Grâce là nơi ông bị quản thúc trong hơn hai năm.
Năm 1949, Jean Decoux viết lại một ý nghĩ của ông, có thể coi như một nhận định tiên tri khá chính xác:
“Nếu nước Pháp từ bỏ nhiệm vụ của mình ở Đông Dương thì Pháp sẽ vĩnh viễn bị quét khỏi Châu Á, và do đó ra khỏi cả Thái Bình Dương, và có nguy cơ sẽ mất tất cả các vị trí chủ yếu ở Phi Châu. Như thế nước ta sẽ phản bội sứ mệnh của mình, và làm trái với lịch sử của mình. Nước Pháp sẽ không còn là một cường quốc lớn nữa, và đáng bị sa sút như vậy...”.
Bị truy tố với tội danh “âm mưu chống lại sự an ninh của quốc gia” (complot contre la sureté de l’Etat), ông bị đưa ra xét xử tại tòa Thượng thẩm ở Paris.
Tại đây ông đã trình bày chính sách đối ngoại của ông ở Đông Dương, nghĩa là chính sách đối ngoại của Vichy mà ông là đại diện được ủy quyền trong suốt những năm bị Nhật chiếm đóng.
Theo ông thì, đại thể, từ 1940 đến 1944, trong nội địa xứ Đông Dương, chủ quyền của Pháp vẫn nguyên vẹn, không có sự ngăn cản nào. Tất cả những dịch vụ lớn như bưu điện, hải quan, công chính, khai mỏ, giáo dục đều không bị Nhật kiểm soát, vì thế Pháp vẫn bảo tồn được sự chung thủy, sự tin tưởng và sự gắn bó của dân chúng bản xứ, kể cả tầng lớp các trí thức. Sự tuyên truyền của Nhật chống Pháp không có ảnh hưởng gì nhiều.
Về kinh tế thì không được thuận lợi lắm. Vì bắt buộc phải thỏa mãn, không thể từ chối được, những yêu sách của quân đội Nhật, nên trong xứ bị khan hiếm những sản phẩm kim khí và nông nghiệp, gây nên tình trạng giá cả tăng vọt, đời sống của dân bản xứ khó khăn. Thêm nữa sự chi phối của kinh tế Nhật ngày càng gia tăng, những thương nhân Nhật đến ngày càng nhiều, mà nhiều cơ sở kinh doanh buôn bán với nhiều đặc quyền đặc lợi... Điều này chắc chắn sẽ là một nguy cơ chính trị cho tương lai Đông Dương sau này...
Việc quan hệ với Thái Lan, tương đối ổn định. Chỉ có đối với Trung Hoa thì đáng lo hơn, đặc biệt là ở các vùng biên giới... Vì thế, mặc dù Trung Hoa đã cắt quan hệ ngoại giao với Pháp, nhưng Đông Dương vẫn phải giữ những quan hệ tốt với Trung Hoa, và ở trong tư thế sẵn sàng để bảo đảm được vị trí của mình khi chiến tranh kết thúc.
Decoux đặc biệt nêu lên một bức thông điệp, sau này được gọi là “thông điệp của bộ ba” (Message à trois) do ba người ký tên là Decoux, Toàn quyền Đông Dương, Margerie, tham tán sự vụ của Pháp ở Trung Hoa, Cosme, đại sứ Pháp ở Tokyo, và do Cosme bí mật gửi bằng đường qua nước trung lập cho tướng De Gaulle, ngày 31 tháng 8 năm 1944 ở Alger. Hôm đó lại cũng chính là ngày chính phủ lâm thời của De Gaulle từ Alger trở về Pháp, nên bức điện lại được chuyển tới Paris.
Trong nội dung của bức thông điệp, sau khi phác họa lại tình hình chính trị, kinh tế của Đông Dương tương tự như đã nêu ở trên, có trình bày những gợi ý về chính sách đối ngoại nên thực hiện ở xứ này. Đại để có những điểm đáng lưu ý sau đây:
“...Theo ý kiến chúng tôi, sẽ trái với những quyền lợi của Pháp, nếu Pháp có một lập trường không hữu nghị, thậm chí gây chiến tranh đối với Nhật Bản. Ngược lại Pháp và Đông Dương cần phải giữ một lập trường trung lập, nhờ thế chúng ta có thể hy vọng đi tới được ngày kết thúc cuộc xung đột mà không bị thiệt hại gì nhiều lắm...”
“... Cũng trong luồng ý kiến này, sẽ cực kỳ quan trọng là chính phủ mới của Pháp phải ý thức được tất cả sự nguy hiểm của bất cứ một cuộc tấn công nào vào Đông Dương, cuộc tấn công này sẽ lập tức làm nổi lên nguyên tắc của một sự phòng thủ chung, mà chính phủ của Thống chế đã công nhận ngay từ tháng Bảy năm 1941, để đổi lấy sự giữ vùng chủ quyền của Pháp và bảo vệ sự tồn tại của những lực lượng vũ trang của chúng ta ở Đông Dương”.
“... Chúng tôi cho rằng tình hình ở thuộc địa của chúng ta, tự nó sẽ sáng sủa lên sau khi kết thúc cuộc chiến tranh ở Châu Âu, và Nhật Bản sẽ phải tìm cách thương lượng...
Tổng tư lệnh quân đội Ayné cũng đồng ý với những gợi ý này của chúng tôi...”
“... Tóm lại, điều kiện cần và đủ cho chủ quyền Pháp ở Đông Dương và những quyền lợi của Pháp ở Viễn Đông được bảo tồn nguyên vẹn khi kết thúc cuộc xung đột, là chính phủ mới của Pháp phải khuyến cáo các đồng minh đừng có thực hiện bất cứ một cuộc tấn công nào vào Đông Dương, và chính phủ Pháp cũng đừng có một khởi xướng nào về ngoại giao hay quân sự có thể làm cho Nhật nghi ngờ đối với Pháp...”
Kết cục vào năm 1949, tòa Thượng thẩm Paris, ra bản án cho Decoux được hưởng sự miễn tố (non-lieu), có nghĩa là công nhận chính sách đối ngoại trên của Pháp ở Đông Dương và Viễn Đông là không sai lầm.
Nhưng chính sách hòa hoãn này, hay gọi đúng tên của nó là chính sách đầu hàng, trong cái lôgic khắc nghiệt của chiến tranh chống quân phát xít, cũng đâu có ngăn cản được cuộc chính biến 9 tháng 3, đâu có cứu vãn được chủ quyền của Pháp ở Đông Dương, đâu có bảo vệ được những quyền lợi của Pháp ở Châu Á - Thái Bình Dương.
Lời nhận định của Decoux, viên thái thú cuối cùng của nền đô hộ Pháp, xét ra không phải là không có căn cứ.
(Thời Decoux làm Toàn quyền ở Đông Dương có xảy ra một chuyện đau thương cho gia đình ông là: hồi đó Bảo Đại và Nam Phương đang ở Đà Lạt, vì ghen tuông, Nam Phương đã cầm súng rượt theo Bảo Đại để bắn, hình như bị thương ở chân. Decoux phải cử vợ lên để giàn xếp chuyện, lúc trở về ban đêm thì xe hơi bị tai nạn, và vợ Decoux bị chết. Câu chuyện được ém nhẹm rất kỹ, không lọt ra ngoài...)

9. Những địa ngục trần gian
Tính cho cùng, những thiệt hại về nhân mạng của quân đội Pháp ở Đông Dương trong cuộc chính biến 9 tháng 3 cũng không phải là lớn lắm. Nếu chỉ tính riêng lính da trắng thì chỉ mất 4,5% tổng quân số và 17,6% tổng số quân lính người Âu. Sau đêm 9 tháng 3, tất cả những người còn lại, nếu không thoát được ra ngoài đi theo các toán quân sang đất Trung Hoa, bị Nhật bắt trong nội địa đều là những tù binh, bị dồn đến giam giữ và làm khổ sai trong các trại tập trung. Những người trước đó có hoạt động trong các mạng lưới kháng cự, hoặc bị nghi, bị tố cáo như thế, đều bị tách riêng ra, đưa về giam ở các trại hiến binh Kampêtai của Nhật để khai thác thông tin.
Sở hiến binh là cùng một loại với sở mật thám của Pháp, sở Gestapo của Đức. Nó có nhiệm vụ chính thức là tra hỏi, và một nhiệm vụ không chính thức nhưng lại rất quan trọng là trừng phạt và khủng bố để gây sợ hãi trong dân chúng và cho kẻ thù. Nếu như tra hỏi là cốt để moi cho ra những mạng lưới tổ chức bí mật, tìm hiểu cho được những kháng cự của kẻ địch có thể phương hại đến an ninh của quân đội Nhật, thì còn có thể hiểu được lý do của sự tàn nhẫn mất hết tính người của những cực hình khủng khiếp chúng đã dùng để tra tấn những người chẳng may đã sa vào tay chúng.
Nhưng đây là một sự trỗi dậy của thú tính, lấy việc làm đau đớn xác thịt của người khác làm một thú vui, một sự thỏa mãn những bản năng thấp hèn nhất. Ở đây cũng còn là một ý đồ muốn chà đạp nhân phẩm của con người, muốn trả thù cho những mặc cảm, những căm hờn bị đè nén đã bao đời đối với giống nòi da trắng. Vì thế, có những cuộc tra tấn, những cách hành hạ, những sự tàn ác hoàn toàn vô ích, cốt chỉ để hạ nhục, để báo thù.
Những người đã sống sót trở về từ địa ngục trần gian đó đã kể lại: 17 tiếng đồng hồ liền quỳ trên những phiến gỗ xù xì, trên những đầu gối đã rách nát lở loét, không được động đậy, không được dựa vào nhau, không được nói, không được ngủ, không được cả nhắm mắt... Mỗi ngày ba nắm cơm gạo hẩm, bốn hớp nước, hàng chục người chen chúc như xếp cá ngủ ngay trên đất ẩm ướt, trong những đám mây ruồi muỗi, nồng nặc mùi phân, mùi nước tiểu, dưới những ngọn đèn 500 nến nóng cháy da, cháy thịt thắp suốt ngày đêm... Không lúc nào ngớt tiếng kêu thét của những người bị tra tấn bằng điện, bằng nước, treo ngược hai chân, đánh bằng roi gân bò... Cứ như thế ngày này qua ngày khác, tuần lễ này qua tuần lễ khác, rồi tháng này qua tháng khác, trong một niềm tuyệt vọng thê thảm, chỉ mong được sớm chết... Cho đến cái ngày tháng Tám ấy, tiếng trái bom nguyên tử ở Hiroshima vọng về đến tận đây... Kể cả đối với những người tuy còn sống sót sau ngày ra khỏi trại những cũng sẽ chết sau đó ít lâu, ai cũng chỉ có một ý nghĩ an ủi: ác giả ác báo...
Còn những trại tập trung ở Hòa Bình và ở nhiều nơi khác nữa, thì khỏi cần phải mô tả, chỉ nghe tên của nó được mệnh danh là những “trại chết từ từ” (Les camps de la mort lente) thì cũng đã hiểu sự sống ở đây như thế nào rồi. Cũng lại là một thứ địa ngục trần gian nữa, giữa những núi rừng nguyên thủy bạt ngàn, hàng ngày làm việc khổ sai đến kiệt sức, ăn ba nắm cơm với muối, uống vài hớp nước, quần áo rách tả tơi, hôi thối, muỗi mòng, đĩa vắt, sốt rét, ỉa chảy, kiết lỵ, cả người là những vết thương mưng mủ, nhức buốt... Thế mà chỉ mấy ngày trước, mấy tuần lễ trước đó thôi, họ còn là những người ăn trên ngồi tróc, có người hầu người hạ, bàn ăn trải khăn trắng tinh, thịt cá ê hề, rượu vang, rượu mạnh, nệm êm, chăn ấm, ngày tắm hai lượt, ra đường một bước đã có xe kéo chạy bằng “ngựa - người”... Vì thế, từ cuộc sống đó bỗng rơi xuống cái địa ngục này, đối với họ sẽ khổ hơn gấp năm lần, gấp mười lần, gấp cả trăm lần cũng nên.
Nhưng giữa rừng núi như thế sao không tìm cách trốn đi? Đi trốn ư? Trốn đi đâu? Mà trốn như thế nào? Lính Nhật đông nhung nhúc, canh gác 24 trên 24, ở lán trại, lùng sục trong rừng nơi làm việc chặt cây phá rừng. Lúc nào cũng lăm lăm cây súng cầm lưỡi lê, đạn lên nòng, chỉ có bất kỳ một động tác nào khả nghi là có thể bị bắn chết, đâm chết ngay... Cũng có mấy người đi trốn đó. Nhưng đi được mấy hôm thì bị những người dân Thái bắt đem nộp, để tránh cho chính họ cũng sẽ bị quân Nhật trừng phạt nếu để tù nhân trốn thoát. Số phận của những người bị bắt về được quyết định ngay tức khắc: họ đều bị chém đầu, trước đám tù nhân được tập họp vội vã về để chứng kiến cảnh hành hình này. Có một người trong số đi trốn, tỏ ý kháng cự. Anh ta chưa được chết ngay để còn được “săn sóc” đặc biệt. Đầu tiên là một trận đòn túi bụi bằng những cây gậy cứng. Rồi khi khắp người đã đầy máu me, thì bị trói vào một thân cây, với một mối dây lòng thòng ở cổ, để nếu ngả đầu xuống thì sẽ thít chẹt lại nghẹt thở ngay. Khi anh ta đã gần bất tỉnh nhân sự, chúng đặt anh nằm trên một phiến gỗ ngoài nắng. Anh ta rên xiết cho đến chiều tối, chúng mới đưa ra hành hình. Nhát kiếm đầu tiên chém xả một bên vai, nhất thứ hai xẻ dọc một đường trên lưng, sau đó mới chặt đầu. Tên sĩ quan chỉ huy trại và bọn lính, như điên dại, còn đâm lê, chém nhiều nhát trên xác cho đến nát bấy ra. Những người ở cùng lán với anh, bị phạt vì đã không tố cáo người đi trốn, phải ra đứng nghiêm ngoài nắng từ sáng để chứng kiến đầy đủ cảnh hành hình này...
Đại tá quân nhu Jean J. Bernardini, sống sót từ Hòa Bình trở về đã viết một bài tường thuật dài kể lại tỉ mỉ cuộc sống trong những “trại chết từ từ” và những cuộc hành hình mà ông đã chứng kiến. Sau nhiều năm rồi mà ngòi bút của ông vẫn còn như rung lên vì xúc động và bị ám ảnh bởi những gì đã được tai nghe mắt thấy.
Nhưng qua Bernardini, có một điều mà có lẽ còn ít người biết đến, còn ít sách vở nói đến, còn ít sử gia bình luận đến, kể cả những người dân Pháp, những sách vở Pháp, những nhà sử học Pháp: đó là sự lãnh đạm, hất hủi của nước mẹ Pháp, đối với những người con Pháp đã hy sinh, ngã xuống, đã bị tra tấn cực hình để rồi bệnh hoạn, tàn phế suốt đời, chỉ vì muốn cố níu lại cho chính quốc cái thuộc địa vẫn được coi là hòn ngọc đẹp nhất, quý nhất trong cái chuỗi những sở hữu của đế quốc Pháp. Vì sao vậy? Bernardini cay đắng viết:
“Là nạn nhân thê thảm của những sự điên cuồng giết chóc của những samurai hiện đại, của sự ngu dại của con người, xa làng quê, xa gia đình, họ không hiểu tại sao họ chết và chết cho ai? Họ không biết rằng có một sự nghi ngờ khủng khiếp và vô lý của chính quốc đang đè nặng lên họ. Đối với những đồng bào của họ bị nhiễm phải huyền thoại De Gaulle, thì họ là những người đã cộng tác với Nhật, và mỉa mai cay đắng, họ là những người cộng tác với chính những đao phủ của họ.
Là “những người Pháp 1945” (Les Francais 1945) - và đây mãi mãi là những kỷ niệm đau buồn nhất của chúng tôi - chúng tôi đụng đầu vào một sự không thông cảm hoàn toàn, một sự bất công khó tin nhất, một thái độ thiếu hẳn sự tưởng tượng và hiểu biết. Sau cả một phần tư thế kỷ, cũng không thể hiểu nổi sự đối xử của những người mới đến, đối với những người cũ ở Đông Dương, quân sự hay dân sự. Một số ông sếp, một số người mới được trao cho những quyền hành phù du, những người vừa được “thả dù xuống”, tới Đông Dương với những cảm nghĩ phức tạp, trong đó lẫn lộn ý thức phục thù, sự ác ý, sự hung hăng gay gổ, và cả sự thèm khát địa vị, sự ngứa ngáy muốn được thăng chức.
Ngay hiện nay, khi tôi gợi lại những giờ bi thảm của thời thanh niên trước những người bạn đồng tù cũ, nay đã lên tướng hoặc đã đi làm đại sứ, họ không thể giấu được sự khó chịu bực bội: tại sao lại cứ khuấy mãi lên cái quá khứ đã đi qua rồi ấy.
Như thế là họ đã bán rẻ ký ức về những người mà ta đã để nằm lại đó, trong những rừng rậm Hòa Bình, ở những nghĩa địa mà những “tên thực dân” khốn khổ yên nghỉ, quá xấu xa đến nỗi những ngôi mộ của họ cũng đáng bị cào phẳng đi bởi những sự căm thù mù quáng của những kẻ bè phái, những kẻ ngu dốt, tự trang điểm cho mình bằng những chủ nghĩa, và viện dẫn ra sự giải phóng các dân tộc.
Những nạn nhân khốn khổ của những trại tập trung quốc xã đã từng phải chịu đựng trong một thời gian dài những đau khổ cực kỳ trong phẩm cách làm người của họ, cũng ghê tởm không muốn gợi lại cuộc sống trong các trại đó. Những người sống sót trong các trại tập trung Nhật Bản cũng có một thái độ như vậy. Nhưng cái khác nhau duy nhất là ở chỗ: những người trên thì được tôn vinh với sự thành kính và biết ơn, còn những người dưới thì không được một ai biết đến.
Chúng tôi không tự an ủi mình bằng những ảo tưởng, nhưng chúng tôi chỉ muốn làm cái nhiệm vụ đau buồn là gợi lại sự hy sinh ầm thầm của những người đã ngã xuống lúc ấy ở Đông Dương. Bởi vì đối với những nạn nhân hầu như vô danh đó, không ai nhắc đến họ bao giờ. Họ đã chiến đấu dưới một ngọn cờ Pháp thiếu chữ thập Lorraine (Croix de Lorraine - biểu tượng cờ của De Gaulle). Đó là tội ác của họ”.
“Những người chết “xấu xa” đó, vì họ thuộc về kỷ nguyên thuộc địa, đã phải chịu những đau khổ kéo dài của những trại tập trung và đã ngã xuống chẳng có vinh quang gì. Họ đã phạm một sai lầm không thể tha thứ được là đã không biết đứng vào trong “luồng gió của lịch sử”.”
“Những đồng đội của chúng tôi đã ngã xuống ở Lạng Sơn, ở Hòa Bình, ở Huế, ở Hà Nội dưới viên đạn, lưỡi kiếm của quân Nhật hay suy kiệt vì bệnh sốt rét, bệnh kiết lỵ, không được ai nói đến, bị mọi người dửng dưng thờ ơ. Họ đã chết quá sớm hay quá muộn. Trong cái sự không thông cảm mênh mông và não lòng này, chỉ còn những người vợ góa, những đứa con côi, và một vài người bạn cùng chiến đấu, cùng bất hạnh nhớ tới họ thôi”.
“Chúng tôi không muốn tự thương xót mình vì những con đường đau khổ chúng tôi đã đi qua, nhưng chúng tôi cũng không mong muốn gì là sự hy sinh vô ích bị vĩnh viễn biến khỏi ký ức của những người ở nước này”.
“Những người bị tù đày ở Hòa Bình cũng không bao giờ được hưởng danh nghĩa chính thức “tù giam và lưu đày”. Người ta nói rằng có những lý lẽ về pháp lý chống lại sự công nhận đó. Hình như thế là không có một mối liên hệ nào giữa sự kháng cự chống kẻ thù và sự giam giữ ở “trại tử thần”.”
Những điều đại tá Bernardini nêu lên trên đây cũng thật dễ hiểu, đâu có ra ngoài cái tâm lý thông thường của một thời hậu chiến. Trong suốt những năm tháng nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, trong khi người dân Pháp ở chính quốc phải sống trong một hoàn cảnh cực kỳ gian khổ, bi thảm thì ở Đông Dương, những người Pháp, vì đi theo chính phủ Vichy, vì đầu hàng Nhật Bản vẫn có một cuộc sống hòa bình, sung túc, tuy là tương đối, nhưng dù sao cũng hơn hẳn chính quốc. Nếu không có cuộc chính biến đêm 9 tháng 3 năm 1945, nếu Nhật Bản thất trận sớm hơn 5, 7 tháng thì chắc chắn những người Pháp ở Đông Dương, đã có thể trải qua cuộc thế chiến thứ hai một cách an toàn, không mất mát, thiệt hại gì. Như vậy làm sao ở chính quốc, người ta có thể thông cảm được, không đánh giá, không so sánh, không coi những con người ở cái thuộc địa xa xôi này là những kẻ trốn trách nhiệm, không dám đấu tranh, chỉ nghĩ đến sự an toàn cho bản thân mình, nên đã cộng tác với kẻ thù, cúc cung phục vụ chúng - dù là bị ép buộc đi nữa bán rẻ cả uy tín và danh dự của Tổ quốc.
Ngay ở Pháp, trong những ngày hậu chiến, người ta đã lập những phiên tòa để xử những người đã cộng tác với quân Đức, mà đứng đầu là Thống chế Pétain của chính phủ Vichy. Dân chúng phẫn nộ đã cạo đầu, gọt tóc của những phụ nữ từng chung chạ với quân Đức, rồi dẫn đi làm nhục trên các đường phố Paris. Chính viên Toàn quyền Decoux và nhiều quan chức cao cấp Pháp khác cũng đã phải ra trước vành móng ngựa của chính quyền và của dư luận quần chúng - để được xét xử về những hành động của mình ở Đông Dương.
Trong cuộc chiến đấu tuyệt vọng ở thuộc địa, không phải lẻ tẻ không có những trường hợp chiến đấu, hy sinh anh dũng, nhưng đâu có đủ để xóa nhòa được cảm tưởng chung của mọi chính sách đầu hàng nhục nhã để được yên thân trước quân thù.
Người dân Pháp ở chính quốc hất hủi, lãnh đạm, thậm chí khinh ghét những “Người Pháp 1945” ở Đông Dương, chính là vì đã lên án chính sách đầu hàng đó.
0
Phần III Ngày hôm sau


Ngày 10 tháng 3 năm 1945, tức là ngày hôm sau của đêm chính biến, tướng De Gaulle, người cầm đầu chính phủ lâm thời Pháp, từ Paris gởi cho tướng Mordant ở Hà Nội, bức điện có nội dung như sau:
“Tôi hoàn toàn hy vọng ông có thể lãnh đạo cuộc kháng cự làm sao để kéo dài nó đến được khi nào các đồng minh của chúng ta tiến hành các chiến dịch từ bên trong và bên ngoài, tạo cho chúng ta khả năng thắng được ván bài cuối cùng...”
Bức điện này chứng tỏ người gởi đi chưa hay biết gì về đêm chính biến, còn người nhận thì đã ra hàng và là tù binh của người Nhật rồi. Sáu vạn quân lúc đó đã tan nát hết, chỉ còn những nhóm nhỏ, thoát được ra ngoài, tìm đường sang đất Trung Hoa. Trong số đó, có thể kể đến, ở Bắc kỳ chẳng hạn:
- Đại đội của đại úy Perrein ở phía nam Lạng Sơn, phá được vòng vây đồn Đồng Mỏ, chạy sâu vào dãy núi Cái Kình, và nhập được với một đoàn quân cơ động.
- Đại đội của đại úy Genest, ở phía tây Cao Bằng, rút được sang phía tây Trung Quốc.
- Các đồn Đồng Văn ở bắc Hà Giang, các doanh trại ở Bắc Quang, Hoàng Su Phì, Thanh Thủy, ở đông Hà Giang, cũng rút được sang đất Trung Hoa.
- Các đồn ở phía đông bắc Lào Cai vượt biên sang đất Trung Hoa hoặc từ ngày 14 tháng 3 hoặc sau một tháng, vừa đi, vừa cùng những binh lính người Mèo (này gọi là H’Mong) đánh du kích vào sườn quân Nhật.
Sang được đến đất Trung Quốc cũng chưa phải đã yên thân. Họ bị cả người Mỹ và người Hoa khinh bỉ, đến nỗi Rene Charbonneau đã phải gọi họ là “những người cùng khổ” (paria) tuyệt vọng.
Còn ở Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Miên thì việc rút đi kém may mắn hơn.
Cả đội tàu thuyền cũng thế, không chạy đi đâu được, nhiều chiếc đã phải tự sát như chiếc pháo hạm Francis - Gamier bị Nhật bắn cháy phải tự đánh chìm ở Kratié ngày 9 tháng 3. Cùng ngày là chiếc pháo hạm Commandant - Bourdais tự đánh chìm ở Hải Phòng cùng với hai chiếc Balny và Doudart de Largeé. Ở Mỹ Tho thì chiếc tàu vớt mìn Paul Bert tự đánh chìm vào ngày 9 tháng 3, và chiếc tàu hộ tống Amiral - Chamer ngày 10, sau khi bị máy bay Nhật oanh tạc...

1. Kế hoạch A
Vào tháng 6 năm 1944, bộ chỉ huy Pháp ở Đông Dương đã có thiết lập một kế hoạch kháng cự và phòng thủ gọi là “kế hoạch A” (Plan A), do tướng tổng tư lệnh Aymé chủ trì. Kế hoạch này dự định thành lập 3 tập đoàn quân (groupements) chủ chốt, có nhiệm vụ phải kìm chân được số lượng cao nhất quân Nhật, và bảo đảm làm chủ 5 sân bay, để làm căn cứ hoạt động cho Đồng Minh.
Đến tháng 11 và 12, sau những cuộc thảo luận với trung tá Huard, thiếu tá Langlade là những đại diện của mạng lưới kháng cự bên ngoài, và các tướng Aymé, Mordant, Sabattier ở nội địa, thì kế hoạch A được mở rộng và sửa đổi căn bản.
Ngày 26 tháng 2 năm 1945, bộ chỉ huy sư đoàn Bắc Kỳ lệnh cho các đơn vị ở chiến trường phía Bắc phải chuẩn bị để bảo vệ các sân bay, giữ vững các trung tâm phòng thủ chính, kìm chân quân Nhật ở đồng bằng, làm chậm bước tiến của chúng dọc theo sông Hồng, sông Lô... Để thực hiện tất cả những việc này, 6 tập đoàn quân sẽ cùng phối hợp, đồng thời hoạt động.
Như thế là kế hoạch trên giấy xem ra khá hoàn chỉnh và mọi việc đã chuẩn bị sẵn sàng để đối phó. Thế nhưng...
Thế nhưng, vào trước ngày xảy ra cuộc chính biến, trong số những người lãnh đạo cao nhất, duy chỉ có tướng Sabattier là chú ý và tin vào những thông tin đáng lo ngại do sở mật thám cung cấp.
Tướng Sabattier sinh năm 1892, mất năm 1966 là một sĩ quan xuất sắc, dày dạn chiến trận, từ thế chiến thứ nhất, với 6 lần được tuyên dương khen thưởng, đã phục vụ ở Đông Dương lần thứ nhất từ 1923 đến 1926, trở lại Đông Dương lần thứ hai vào năm 1941 và nắm quyền tư lệnh ở Bắc Kỳ từ ngày 23 tháng 7 năm 1944.
Ngày 8 tháng 3 năm 1945, chính Sabattier là người đã gởi bức điện số 96 “tổng thao diễn báo động”, vì với chức vụ của ông, ông không đủ danh nghĩa để ra lệnh “tổng báo động”. Sau khi đánh điện, vào tối 8 tháng 3, ông rời Hà Nội, lên xe đi lên tổng hành dinh của ông ở Phủ Đoan, cách Hà Nội 100 cây số trên đường đi Tuyên Quang. Khi đi qua Sơn Tây, ông rẽ vào Tông để trao đổi với tướng Alessandri, chỉ huy lữ đoàn 2 và tập đoàn quân sông Hồng. Hai vị tướng đều thống nhất nhận định là tình hình rất nghiêm trọng, khẩn trương, và sẽ rất vô lý nếu khư khư ở lại giữ sân bay và cửa ngõ của đồng bằng giữa Sơn Tây và Ba Vì, vì rõ ràng là chẳng có sự can thiệp nào của Đồng Minh cả. Tốt hơn hết là nên rút ra khỏi Tông, vượt qua sông Đà, lui lên phòng thủ ở phía núi giữa sông Đà và sông Hồng. Chính quyết định sáng suốt này đã cứu được tập đoàn quân của Alessandri. Sabattier tiếp tục lên Phủ Đoan, và ở đây, vào đêm 9 tháng 3, lúc 22 giờ 20, ông nhận được điện của ban chỉ huy sư đoàn ở Hà Nội, báo tin quân Nhật đã tấn công.

2. Những cuộc trường chinh của sáu tập đoàn quân
Kế hoạch trên giấy thì rất rõ ràng và hợp lý, nhưng trên thực tế thì sẽ có nhiều điều bất ngờ, nhiều khó khăn không vượt qua được, có cả sự tan vỡ của các tập đoàn trước sự tấn công của quân Nhật. Ngoài ra, sự tập hợp quân, điều động các sĩ quan chỉ huy cũng rất khó khăn trong những hoàn cảnh vội vã như vậy. Thí dụ đại tá Seguin là người phải chỉ huy tập đoàn sông Lô ở Tuyên Quang, thì ngày 9 vẫn còn ở sở chỉ huy của ông ở Cao Bằng, cách nơi hẹn đến cả 8 ngày đường. Rồi trong khi một tiểu đoàn của ông vẫn còn ở Cao Bằng thì một tiểu đoàn khác lại bị đánh bất ngờ, tan tác ở khu vực Lạng Sơn. Lúc ông đến được Tuyên Quang, thì ở đây đã bị Nhật chiếm từ ngày 14 tháng 3 mà không ai báo tin cho ông biết.
Ngay từ những ngày đầu, có hai tập đoàn đã bị loại khỏi vòng chiến. Thứ nhất là tập đoàn Đình Cả giữa Lạng Sơn - Thái Nguyên và tiểu đoàn Tiên Yên do thiếu tá Lecoq chỉ huy. Vào rạng sáng ngày 10, Lecoq muốn phản công chiếm lại đồn Hà Cối bị Nhật dùng mưu lấy mất như đã tường thuật ở trên. Nhưng Lecoq tử vong trong trận phản công này. Tiên Yên bị chiếm ngày 13 tháng 3, rồi khi quân Mống Cái phải bỏ chạy thì cả tập đoàn phải tìm đường sang đất Trung Hoa.
Thứ hai là tập đoàn Sầm Nứa do trung tá Chubillot chỉ huy. Bị phục kích ngày 18 tháng 3, Chubillot bị Nhật bắt sống. Một phân đội bị đánh tan nát, chỉ còn khoảng 50 người. Tất cả tập đoàn tan rã, chạy tản hết vào rừng.
Tập đoàn sông Đà, do trung tá Fourmachat chỉ huy, tuy chỉ gồm có những đơn vị tản mạn ô hợp, nhưng lại làm được một phần nhiệm vụ chủ yếu: giữ vững được tỉnh lộ số 41 Chợ Bờ - Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên Phủ, do đó bảo đảm được cho tập đoàn quân quan trọng của Alessandri rút đi được an toàn.
Tập đoàn Thượng Lào do đại úy Mayer chỉ huy, đã cứu được nhiều người thoát chết ở Lào, cuối cùng đã rút được sang Miến Điện, như đã tường thuật ở trên.
Tập đoàn sông Lô do đại tá Seguin chỉ huy là một tập đoàn tương đối quan trọng. Nó được phân ra làm 4 đội quân (colonne) do đại tá Seguin, các thiếu tá Reul, Lepage, Capponi mỗi người chỉ huy một đội dưới sự chỉ huy chung của Seguin.
Đội của Seguin, ngày 9 tháng 3 đi từ Cao Bằng sang Tuyên Quang theo một hành trình chữ V, mới đầu xuôi xuống phía nam, đến giữa đường thì dừng lại ở Bắc Cạn. Tại đây, Seguin nhận được một thông báo đánh đi từ Calcutta, là điểm hẹn Tuyên Quang, nơi ông dự định tới đã rơi vào tay quân Nhật rồi. Ông lại đi ngược trở lên phía bắc theo hướng Bảo Lạc. Ngày 26 tháng 3 thì tới đây sau 17 ngày hành quân ròng rã cực kỳ gian khổ qua một vùng núi đá. Nhưng đồn Bảo Lạc đã bị quân đội Việt Minh chiếm giữ tự bao giờ rồi. Lúc đó còn có thể thương thuyết với Việt Minh để đóng lại. Tưởng thế đã yên thân, nhưng đến sáng 28 thì đại tá Seguin thấy 9 phần 10 quân số của ông đã biến mất. Hơn 1.000 lính Đông Dương đã đào ngũ, bỏ tập đoàn của ông vào rừng theo Việt Minh. Kiểm điểm lại trong tổng số hơn 1.200 người nay chỉ còn trơ lại 20 sĩ quan, 150 lính Pháp và khoảng 100 lính bản xứ.
Ngày 4 tháng 4, bị Nhật tấn công, rồi ngày 10 bị Việt Minh tấn công, tất cả phải vượt biên chạy sang đất Trung Quốc, sau khi đã phá hủy hết đại bác không thể kéo theo được. Về đại úy Reul, thì như trên đã tường thuật, ông ta có nhiệm vụ phải giữ Cao Bằng và một tá những đồn bót chung quanh đó với 1.500 binh lính, nhưng vì cũng tin vào những thông tin của sở mật thám như Sabattier nên đã cho rút quân lên đóng ở trên biên giới Hoa - Việt, giao cho đại úy Fargues ở lại giữ pháo đài. Ông này không chiến đấu và đã hạ vũ khí đầu hàng ngay quân Nhật.
Sau khi đã cho xe tải chở hết gia đình binh lính sang Quảng Tây, Reul mới cùng 600 người trong đoàn của ông làm một cuộc trường chinh sôi động trong hơn một tháng trời trên dãy núi đá vôi ở biên giới, phải đối đầu lúc thì với quân Nhật, lúc thì với quân Việt, đến ngày 20 tháng Tư mới sang được đất Trung Hoa.
Cùng ngày này, đoàn của Lepage cũng tới được Mã Phủ là nơi có trụ sở của phái đoàn quân sự Pháp ở Trung Hoa, sau khi đi mất 35 ngày trên các đường núi từ chợ Chu ở phía bắc Tuyên Quang cùng với một tiểu đoàn lính người Rhadé và một đại đội lính lê dương.
Đoàn thứ tư của thiếu tá Capponi chỉ huy là ít may mắn hơn cả. Bi kịch của đoàn là không thể nào bắt liên lạc được với các đoàn của Seguin và Lepage. Đoàn tập trung ở gần Tuyên Quang, quân số 1.500 người, trong đó có 500 lính người Âu, với một hỏa lực khá mạnh nhưng vô dụng: 6 khẩu đại bác 75 ly. Lẽ ra hỏa lực này còn được tăng cường bởi sự thả dù của những người Anh - những võ khí tự động, nhưng vì thả nhầm chỗ nên các côngtennơ đều rơi vào tay quân Việt. Lại có toán quân của thiếu tá Mille từ Thái Nguyên lên cùng nhập bọn, theo lệnh của tướng Sabattier.
Đoàn Capponi phải vội vã lên đường ra đi trong đêm 12 rạng ngày 13, vì quân Nhật hoàn toàn chủ động, di chuyển rất nhanh, lúc đó đang theo quốc lộ số 2 từ Hà Nội lên, từ Hà Giang xuống, sắp tới Tuyên Quang.
Hồi thứ nhất của bi kịch được diễn ra từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 3 trên quốc lộ số 2, ở ngã tư Yên Bình Xã về phía tây, ở đây Capponi lại gặp một người quen cũ của cuộc chính biến: đó là tên ác ôn Sawano, đã dùng mưu chiếm Hà Giang, tàn sát nhiều người và bắt sống cả gia đình của đại tá Moullet. Hắn bắt bố vợ của Moullet đến gọi hàng Capponi cũng với luận điệu dối trá quen thuộc là sẽ không làm hại ai, nếu chịu buông ngay võ khí. Nhưng Capponi không chịu và lời qua tiếng lại trong ba ngày liền. Bất thần quân Nhật xông lên tấn công, buộc Capponi phải rút lui theo con đường duy nhất còn để trống là đi Yên Bình Xã. Bị đuổi theo trong suốt hai ngày, Capponi phải ra lệnh đi về phía bắc, bằng các đường mòn trên núi. Sau một chuyến đi cực kỳ gian nan cực khổ, vừa đói khát đến kiệt sức, lại luôn luôn bị những người Mèo nấp trong rừng bắn tỉa, ban đêm thì xông ra đánh cướp võ khí...
Ngày 26 tháng 3, cả đoàn đến được một lòng chảo ở giữa những núi đá bao quanh. Con đường duy nhất thoát được sang đất Trung Hoa thì đã bị một toán quân Nhật rất đông án ngữ ở đó, cách 15 cây số.
Và đó là hồi cuối cùng của tấn bi kịch. Biết là đã lọt vào một cái bẫy. Capponi đành phải thương lượng. Ông buộc một chiếc khăn trắng lên đầu một cây gậy giơ lên cao và đi ra cùng với hai sĩ quan tới chỗ quân Nhật đóng.
Quân Nhật giải cả ba người về chỉ huy sở của chúng ở Xìn Mần gần biên giới. Ở đó, chúng chặt đầu ngay hai viên sĩ quan, bắt Capponi phải ký một lệnh hạ võ khí đầu hàng. Ngày 27, cả đội quân chờ kết quả của cuộc thương lượng thì nhận được lệnh đầu hàng. Thế là tâm lý rã rời, hàng ngũ tan tác. Và quân Nhật cũng chỉ chờ có thế để tấn công. Cả đội quân bị loại ra khỏi cuộc chiến. Chỉ có một viên trung úy cùng vài người sống sót, chạy thoát được sang đất Trung Hoa.
Sau này, cả Capponi và Mille đều bị đưa ra xét xử ở một tòa án binh Pháp. Họ đều được tha bổng, vì chỉ là nạn nhân chứ không là kẻ có tội.
Chỉ còn lại tập đoàn sông Hồng, mà người chỉ huy là tướng Alessandri. Ông được các sách báo, tài liệu Pháp khen là một sĩ quan xuất sắc, vừa nghiêm túc vừa nhân đạo. Trong suốt cuộc phiêu lưu 53 ngày đêm đi bộ đến kiệt sức trong những rừng núi Bắc Bộ, cùng 12 trận ác chiến và 45 ngày trên đất Trung Hoa, lúc nào ông cũng ở cùng quân lính của mình. Hình ảnh ông tướng già 50 tuổi đời này, chống cây can đi trước hàng quân đã làm nức lòng binh sĩ.
Marcel Alessandri sinh năm 1895, mất năm 1968, tốt nghiệp trường võ bị Saint Cyr, khóa “Cuộc phục thù lớn” (La grand revanche) năm 1914 đã chiến đấu từ Verdun đến vùng Flandres, và cũng như Sabattier đã được 6 lần tuyên dương khen thưởng. Tháng 3 năm 1939 ông xuống tàu sang Đông Dương ở mãi đến tháng 8 năm 1946. Sau đó lại sang lại cùng với đội quân viễn chinh Pháp để hòng cướp nước Việt Nam lần thứ hai.
Cuộc trường chinh của ông bắt đầu từ Tông vào đêm 9 tháng 3. Tất cả các đơn vị đều kéo đi hết lên hướng bắc, chỉ để lại một số người không có võ khí. Sáng sớm ngày 10 tháng 3 quân Nhật vào Tông. Tất cả những người ở lại đều bị chúng giết hết, trong số đó có một trung tá và một đại úy. Khoảng 7 giờ, chúng vào Sơn Tây, 7 giờ 30 thì chúng tấn công Việt Trì. Lính lê dương của đại úy Lenoir, kịch chiến với chúng, rồi phải bỏ lại các võ khí nặng, bơi qua sông Hồng sang bờ bên kia. 18 người trong số họ đã bị dòng nước cuốn đi. Trong cuộc chiến, họ đã mất 40 người chết, 39 người bị thương và 30 người mất tích, chỉ còn khoảng 150 lính lê dương tới nhập với tập đoàn quân.
Ngày 11 tháng 3, Alessandri chia tập đoàn ra làm hai tiểu tập đoàn, đi song song với dãy núi giữa sông Hồng và sông Đà, một đoàn đi qua Nghĩa Lộ và Thái Nguyên về phía Phong Thổ, một đoàn đi về phía Sơn La - Lai Châu. Đoàn trên quân số 640 người do thiếu tá Prugnat chỉ huy gồm lính pháo thủ, lê dương và nhiều toán quân ở Tông lên. Đoàn dưới quân số và thành phần cũng như đoàn trên, do đại tá Franyois chỉ huy. Hiệu trưởng trường võ bị Tông, trung tá Carbonel cũng đi trong đoàn này. Từ ngày 10 tháng 3 đến ngày 10 tháng 5, trường đã có 17 sĩ quan trẻ tốt nghiệp bị giết ở Bắc Kỳ.
Trong khi đi đường cũng có nhiều toán quân khác nhập vào, tổng cộng tất cả là 1.350 lính Âu, 3.300 lính Đông Dương. Họ đã chiến đấu liên tục từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 1 tháng 5, trên một chặng đường dài hơn 1.000 cây số: ngày 13 trận Chợ Bờ, ngày 18 trận Mộc Châu, từ ngày 20 đến 27 quanh Sơn La, ngày 29 ở đèo Pha Đin, ngày 31 ở Tuần Giao... trận ở ngã ba Bình Lư ngày 1 tháng 4 là ác liệt hơn cả.
Từ ngày 1 đến ngày 4 tháng Tư, lính lê dương chiến đấu ở quanh Điện Biên Phủ, từ ngày 11 đến 15 ở Mường Khoa trên bờ sông Nậm U. Một bộ phận lên được đến Bảo Thái, ngày 29 tháng 4 phải đối đầu với quân Nhật ở đó. Ngày 1 tháng 5 là trận cuối cùng, đẫm máu...
Ngày 2 tháng 5 Alessandri và những người sống sót qua được biên giới sau 54 ngày đêm rút lui và chiến đấu.
Thiệt hại về nhân mạng khá cao, riêng trong số 850 lính lê dương có 63 người chết, 108 người bị thương và 109 người mất tích.
Nhưng sang đến đất Trung Hoa chưa phải đã yên thân, được nghỉ ngơi băng bó thương tích. Người Mỹ và người Hoa ở đây coi họ như một thứ kẻ thù. Họ bị đuổi từ làng này sang làng khác, nhiều khi phải ngủ ngay giữa trời, đói khát, bệnh tật và phải đi lang thang như vậy gần 450 cây số trong suốt 45 ngày kiệt lực.
Tháng 8 năm 1945, khi họ trở về, thì cuộc Cách mạng tháng Tám đã thành công rực rỡ ở Việt Nam.
0
Phụ lục
Vài nét về việc phòng thủ Đông Dương của quân lực Pháp


Kể từ nửa sau thế kỷ XIX trở đi, sau khi đã thôn tính được ba nước Việt, Miên, Lào, cho đến thế chiến thứ nhất, Pháp tự coi là đã đứng chân được trên bán đảo Đông Dương và chỉ lo giữ vững, củng cố địa vị của mình ở Viễn Đông. Sau thế chiến thứ nhất, Pháp lại ở trong phe thắng trận, nên chủ quyền của Pháp ở Đông Dương lại càng vững vàng, không lo bị một cường quốc nào khác đến giành giật cướp mất thuộc địa của mình.
Vì vậy, với quan điểm đó, việc phòng thủ Đông Dương đối với Pháp chủ yếu chỉ là phòng thủ trong nội địa, chống lại những cuộc khởi nghĩa nổi dậy của nhân dân ba nước vùng lên giành lại độc lập tự do.
Nói chung, so với các cường quốc khác trên thế giới, thì quân đội Pháp được tổ chức, huấn luyện và trang bị theo những quan điểm rất lạc hậu về chiến tranh, của những trường phái cũ, với những điểm phòng thủ cố định, những phòng tuyến vững chắc không thay đổi mà điển hình là phòng tuyến Maginot [1]. Quan điểm này hoàn toàn không đáp ứng được với cuộc chiến tranh hiện đại nên trong thế chiến thứ hai, Pháp đã nhanh chóng gục ngã. Ở chính quốc đã như vậy thì ở Đông Dương, quân đội Pháp lại càng lạc hậu và yếu kém hơn nữa. Nó chỉ có tính cách của một đội quân chiếm đóng, không thể nào đủ sức chống lại một cuộc tấn công từ bên ngoài vào, nhưng lại được bố trí và trang bị cốt chỉ để đàn áp những dân tộc nghèo, yếu của ba nước Đông Dương, bị tước hết võ khí, dồn vào một thế bất lực, không thể nào chống trả được.
Trước một bối cảnh diễn biến phức tạp ở Châu Âu và Viễn Đông, ngày 24 tháng 5 năm 1938, chính phủ Pháp ra sắc lệnh tổ chức một cuộc công trái 40 triệu đồng bạc để lấy tiền dùng vào việc phòng thủ Đông Dương. Vào cuối năm 1939, chính phủ thuộc địa ở Đông Dương cũng cho thành lập một quỹ riêng, gọi là “quỹ vũ trang” bằng cách tăng một số thuế gián thu mỗi năm thu được vào khoảng 10 đến 15 triệu đồng bạc.
Vào tháng 7 năm 1939, kế hoạch phòng thủ Đông Dương được triển khai: tiền công trái dùng để xây dựng mấy sân bay và các doanh trại quân đội. Vịnh Cam Ranh được sửa sang lại, một căn cứ cho tàu ngầm được xây dựng ở Sài Gòn, Vũng Tàu được củng cố, một nhà máy làm đạn được khởi công, một đường bộ song song với đường tàu hỏa đi Vân Nam được bắt đầu xây dựng...
Vấn đề cán bộ là gay go nhất. Vào tháng 9 năm 1939, tất cả các quan chức về nghỉ ở Pháp phải trở lại Đông Dương ngay để giữ các chức vụ sĩ quan và hạ sĩ quan trong đội quân bản xứ sẽ được tuyển mộ và thành lập...
Nhưng vào lúc đó, chương trình này là rất chậm đối với các yêu cầu đã trở nên cấp bách. Vả lại nó cũng không đáp ứng được với những phương tiện tấn công của chiến tranh hiện đại đòi hỏi muốn phòng thủ được Đông Dương là một địa bàn rộng lớn, có một bờ bể dài đến 2.500 cây số, một biên giới dài hàng mấy chục ngàn cây số, thì phải có một lực lượng hải quân và không quân rất mạnh mới đương đầu nổi.
Thế mà vào những năm 40 này, thì thực lực của quân đội Pháp ở Đông Dương có thể tóm tắt được như sau:
Về hải quân chỉ vỏn vẹn có một chiếc tuần dương hạm Lamotte - Picquet, và 4 chiếc tàu hộ tống. Chiếc tuần dương hạm thì được đưa vào hoạt động từ năm 1926, có tốc độ khá, được trang bị 8 khẩu đại bác 155 li nhưng hoàn toàn thiếu sự bảo vệ và dễ bị tấn công. Ngày 12 tháng Giêng năm 1945, nó đã bị một máy bay Mỹ từ một tàu sân bay ở ngoài khơi vào, bổ nhào xuống đánh bom và chìm ngay trên sông Sài Gòn. Hai chiếc tàu hộ tống La Marue và Le Talure là những chiếc tàu chiến nhỏ 575 và 660 tấn, hạ thủy từ năm 1916 và 1919. Chỉ có hai chiếc Dumont d’Urville và Amiral Chamer, 2.000 tấn mỗi chiếc, đóng riêng cho vùng bể nhiệt đới, thì có mới hơn, được hạ thủy vào những năm 1932 và 1933. Toàn bộ hạm đội này tổng cộng chỉ có 12.480 tấn với một thủy thủ đoàn 950 người, 16 khẩu pháo cỡ nòng to hơn 120 li, 10 khẩu nòng bé hơn và 12 quả ngư lôi.
Lực lượng không quân có thể coi gần như một con số không. Tất cả vỏn vẹn có được 4 chiếc phi cơ chiến đấu Morane 406, sau tăng lên được đến 20 chiếc, tốc độ cao nhất chỉ có 450 cây số giờ, đủ xăng bay được 3 giờ, trang bị có 3 súng liên thanh 20 li. Còn thì là những chiếc máy bay đã quá cũ kỹ: 6 chiếc Potez 543, tốc độ 200 cây số giờ dùng để đi thám thính, 4 chiếc Farman 221, bay 200 cây số giờ, mang được 800 ký bom, 40 chiếc Potez 25T02 quá già nua, bay chậm như rùa bò, 100 cây số giờ, làm mồi cho những chiếc máy bay Xiêm tập bắn. Cho đủ bộ, cũng có cả 10 chiếc thủy phi cơ Loire 30 và 6 chiếc máy bay y tế P29.
Còn súng phòng không thì chỉ có ba đội: hai đội liên thanh Oerlikon 20 li và một đội đại bác Nga 76,2 li. Khi máy bay Xiêm đến ném bom, bắn phá giữa ban ngày cũng chịu, không chống trả được, súng phòng không thì quá thiếu, máy bay chiến đấu có bay lên thì cũng bị bắn rụng ngay.
Trên mặt đất, lực lượng lục quân cũng quá yếu: tổng số quân là hơn 90.000 người, trong số đó chỉ có 18.000 người là lính Âu, phải đóng rải ra trên một địa bàn rộng hàng vạn cây số vuông. Trang bị vũ khí thì vừa thiếu, vừa rất lạc hậu. Đạn dược cũng hết sức thiếu, mỗi khẩu đại bác 75 chỉ có 80 viên đạn, đã để lâu ngày không được thay thế. Trọng pháo hoàn toàn không có. Những súng tự động rất thiếu, mẫu mã cũng rất cũ, không thể đối phó được với những súng của Thái Lan, vừa nhiều vừa hiện đại, phát huy được hết hiệu lực trong những rừng rậm ở Cao Miên và Lào. Về xe cơ giới thì không có xe tăng, chỉ có vài xe xích nhỏ (chenillettes) đã quá già nua, không có phụ tùng thay thế.
Địa hình của ba nước Đông Dương lại rất phức tạp, nếu xảy ra chiến tranh thì các chiến trường sẽ ở cách nhau rất xa, trong khi đường sá giao thông và các phương tiện thông tin liên lạc lại rất thiếu sót.
Bao trùm lên tất cả là “một sức ỳ của ban chỉ huy tối cao” (une inertie du Haut - Commandement) bị xơ cứng trong những kinh nghiệm và sự tự mãn chiến thắng dễ dàng chống nhân dân ba nước Đông Dương, chống lại cả những học thuyết mới về chiến tranh. Theo một nhà quân sự Pháp thì “khách quan mà đánh giá, trong giả thuyết ở Đông Dương, nếu bị một sức ép phối họp của Nhật và Xiêm, thì sẽ là một cuộc chiến đấu tuyệt vọng, chắc chắn dẫn đến một thất bại nhanh chóng và nặng nề”.
--------------------------------------------------------
[1] Phòng tuyến Moginot là một hệ thống phòng thủ ở Đông bắc nước Pháp, được xây dựng rất tốn công tốn của trong chín năm, từ 1927 đến 1936 mới xong, mang tên của vị Bộ trưởng chiến tranh lúc đó André Maginot là người đã khởi xưởng ra phòng tuyến này. Phòng tuyến đã để hở sườn không bảo vệ biên giới với Bỉ, nên trong cuộc thế chiến thứ hai, nó hoàn toàn vô ích, không có một tác dụng gì đối với đội quân cơ giới hiện đại của Đức quốc xã.
0
Phụ lục
Cuộc xung đột Pháp Thái


Vào đầu năm 1940, những sự kiện xảy ra ở Bắc Kỳ, tuy đã bắt đầu nghiêm trọng nhưng chưa làm cho chính quyền thuộc địa ở Đông Dương lo lắng nhiều như đối với mối hiểm họa ở sát sườn phía tây do nước Xiêm láng giềng gây ra.
Ở Xiêm, sau cuộc đảo chính ngày 24 tháng 6 năm 1932 đưa phái quân sự của Luang Phibul lên nắm quyền, nước Xiêm chuyển mình, thắt chặt những mối quan hệ với Đức, Ý, Nhật. Vào tháng 11 năm 1936, Xiêm xé bỏ hết tất cả các hiệp ước đã ký kết trước đó với các cường quốc phương Tây. Đặc biệt trong nước Xiêm dấy lên một phong trào chống Pháp dữ dội. Và Xiêm bắt đầu đi vào con đường vũ trang tích cực, đặc biệt là về hải quân. Từ 1935 đến 1937, ngân sách của hải quân được tăng lên gấp bội để thuê đóng ở Ý và Nhật những tàu ngầm, tàu phóng ngư lôi, tàu hộ tống, tàu thả mìn, tàu tuần tiễu và nhiều tàu nhỏ khác. Xiêm cũng đàm phán mua hai chiếc tuần dương hạm nhẹ, mỗi chiếc 4.000 tấn và đưa đơn đặt hàng đến hãng Glen I. Martin của Mỹ để mua phi cơ chiến đấu.
Ngày 23 tháng 6 năm 1939, Xiêm chính thức đổi tên là nước Thái Lan (Thailand) với ý nghĩa bao gồm tất cả những người dân tộc Thái ở Đông Nam Á. Rồi các báo chí Thái Lan tuyên truyền rầm rộ việc đòi xét lại hiệp ước 23 tháng 3 năm 1907 quy định biên giới với Đông Dương và hiệp ước năm 1908 ký với Anh quy định biên giới với Miến Điện và Malaixia.
Trước tình hình đó, ngày 22 tháng 6 năm 1939, hai ban tham mưu quân đội Pháp và Anh phải họp ở Singapore để bàn về một kế hoạch phòng thủ chung Hồng Kông, Đông Dương và Malaixia. Cuộc hội nghị không đưa đến một kết quả thực tiễn nào, vì mỗi bên đều chờ đợi ở phía bên kia những sự hỗ trợ mà chính bản thân mình không thể cung cấp được.
Ngày 12 tháng 6 năm 1940, một hiệp ước không xâm lược đã được thỏa thuận giữa Pháp và Thái Lan, chỉ còn chờ chính phủ hai nước phê chuẩn, thì nước Pháp phải đầu hàng Đức quốc xã. Băng Cốc tranh thủ ngay thời cơ này đòi điều kiện phê chuẩn là phải trả lại cho Thái Lan những tỉnh của Lào ở hữu ngạn sông Mê-kông.
Vào tháng 10 đã bắt đầu có những sự kiện khởi hấn của Thái Lan ở biên giới phía Tây của Đông Dương. Ngày 14 tháng 10, Vichy đề nghị thành lập một ủy ban hỗn hợp để bàn việc phân chia các hòn cù lao trên sông Mê-kông và một ủy ban khác để giải quyết các sự kiện ở biên giới. Còn tất cả các yêu sách về đất đai trên lãnh thổ Đông Dương là cương quyết từ chối không thể chấp nhận được. Thế là các sự kiện khiêu khích dồn dập xảy ra.

I. Kế hoạch Jacomy
Các phương tiện truyền thông đại chúng của Băng Cốc trở nên khiêu khích một cách hết sức gay gắt. Họ tuyên truyền rầm rộ “tính đống nhất về dân tộc” (identité de race) giữa người Thái và người Miên, nêu lên quyền sở hữu lịch sử của họ về các tỉnh Battambang, Sisophon, Siêmreap, đã bị Pháp dùng võ lực chiếm đóng trước đây. Họ đưa tin Pháp đã dùng phi cơ, tàu chiến và bộ binh xâm phạm lãnh thổ của Thái Lan. Đồng thời họ trục xuất một số kiều dân Pháp trong số đó có những nhà truyền giáo nam và nữ, sau khi những người này bị “giam giữ trong những lồng bằng sắt”. Đêm 3 tháng 12, một nhà báo nước ngoài bị bắn chết khi vượt qua biên giới ở Poipét. Không ngày nào quân Thái không bắn súng vào các đồn tiền tiêu để khiêu khích. Máy bay Thái Lan đến ném bom xuống các tỉnh Paksé, Vientiane, Saravan và nhiều địa điểm khác. Trọng pháo Thái nã đạn vào Savamakhet, Thakhet...
Hà Nội đưa tin sẵn sàng nối lại các cuộc thương thuyết ngày 12 tháng 6 đã bị Thái đơn phương bác bỏ. Nhưng các cuộc tiến công của Thái vẫn tiếp tục leo thang ngày càng dữ dội hơn. Vào những tuần lễ cuối cùng của tháng Chạp năm 1940, cuộc xung đột đã thực sự trở thành một cuộc chiến tranh không tuyên bố.
Ngày 7 tháng Giêng năm 1941, trong cuộc họp thường kỳ của hội đồng chính phủ, Toàn quyền Decoux tuyên bố quyết định sẽ đối đầu quyết liệt với sự khiêu khích của Thái Lan. “Chúng ta (Pháp) đã trả đũa mọi đòn đánh và chú ý không để bất cứ một sự khiêu khích nào không được đáp lại. Chúng ta đã đánh mạnh khi cần thiết, và chúng ta cương quyết sẽ đánh mạnh hơn nữa, nếu những người láng giềng của chúng ta bắt buộc chúng ta làm như vậy...”
Vào ngày 15 tháng Giêng năm 1941, Pháp đã tập trung ở biên giới phía Tây Cao Miên một quân số lên tới 14.000 người, rải ra trên một vòng cung dài khoảng 150 cây số. Nhưng trong vùng mỏ vịt bị đe dọa nhất thì chỉ có 4 tiểu đoàn, mà hai tiểu đoàn là lính bản xứ. Một tiểu đoàn lê dương được để dự trữ, chưa tham chiến. Có một đại đội cơ giới, nhưng chỉ có một đội phòng không với súng liên thanh 20 li, rút từ Battambang và đặt trên xe cam-nhông.
Đại tá Jacomy đề ra kế hoạch đánh một đòn mạnh vào cánh phải của quân Thái ở xã Yan Đăng Cum, cùng phối hợp với một đòn thứ hai đánh vào Phum Préav rồi thừa thắng sẽ đánh vào Poipét với những lực lượng dự trữ ở Sisophon.
Nếu kế hoạch này thành công thì sẽ đẩy lùi được quân Thái về bên kia biên giới. Kế hoạch được thực hiện một cách thiếu khẩn trương, việc điều động các lực lượng phải tiến hành vào ban đêm, từng nửa chặng một, xuất phát từ Sisophon, trên một con đường mòn duy nhất, binh lính phải đi bộ, mà có nơi bụi đường dày đến 30cm rất khó đi.
Thêm nữa, quân Thái được một số phần tử trong dân chúng và rất nhiều điệp viên báo cho biết tường tận sự chuyển dịch của quân Pháp, nên đã cảnh giác, tăng cường lực lượng để đối phó. Kế hoạch dự định sẽ tấn công vào tảng sáng ngày 16 tháng Giêng, thì quân Thái đã chủ động tấn công nửa giờ trước.
Kết quả là những đội tiền quân của Pháp thì bị đánh lùi xa những vị trí dự định, còn những toán quân còn đang đi sau thì bị đánh bất ngờ trong những trận tao ngộ chiến. Trong rừng rậm, trọng pháo không có máy bay chỉ điểm đành bất lực, một đội bắn vu vơ được vài trái, còn đội kia im bặt. Trong những điều kiện như vậy, vai trò của bộ binh hết sức bị hạn chế. Các tiểu đoàn binh lính bản xứ thì tan rã chạy hết. Đến hai giờ chiều ngày 16, thì kế hoạch Jacomy đã hoàn toàn bị thất bại, có lệnh rút lui tất cả trở lại Sisophon.
Cuộc thất trận này đã bị chỉ trích rất chua cay ở Đông Dương cũng như ở chính quốc. Báo chí Pháp gọi đó là “một chứng minh hùng hồn sự yếu kém về những phương tiện phòng thủ Đông Dương của chúng ta (Pháp)”. Rút kinh nghiệm của trận đánh thấy nổi cộm lên những điểm sau đây:
- Quân địch đã hành động như biết rõ từng chi tiết của kế hoạch Jacomy và tương kế tựu kế làm ngược lại tất cả những gì kế hoạch này dự định: quân Pháp định tiến công bằng đường mòn Yan Đăng Cum và chặn đường mòn Phum Préav, thì quân Thái lại đánh trước vào Phum Préav và giữ chân quân Pháp ở Yan Đăng Cum. Giờ khởi sự của quân Pháp cũng đã được quân địch biết rất rõ, nên chủ động tấn công trước nửa giờ, lợi dụng được triệt để yếu tố bất ngờ cả về thời gian lẫn địa điểm tấn công.
- Cuộc chiến đấu diễn ra trong rừng rậm, trọng pháo trở nên vô dụng, trong khi quân Thái được trang bị rất nhiều súng tự động cá nhân, từ trong các bụi rậm bắn ra như mưa, phối họp cả hai cách chiến đấu hiện đại và du kích trên một địa bàn mà họ quen thuộc.
- Không quân Pháp thì rất thiếu lại rất yếu, trong khi các máy bay Thái làm chủ bầu trời trên Yan Đăng Cum và Phum Préav. Các trận ném bom, cùng sự tấn công của các xe tăng thiết giáp Thái đã làm mất tinh thần quân đội chưa từng quen với một cuộc chiến hiện đại như vậy. Một nhà quân sự Pháp đã tóm tắt mọi sự yếu kém của quân đội Pháp trong nhận xét sau: “Người ta thấy nổi lên ở đây một sự thiếu óc tưởng tượng, một sự quá thừa lòng tự tin, và kết quả của những quan niệm về chiến tranh được soạn thảo theo những trường phái cũ về phòng thủ cố định trên một trận tuyến không thay đổi, trong khi địch thủ lại có những phương tiện cơ động hiện đại để di chuyển và bao vây...”

II. Trận Koh Chang
Rất may là sau cuộc bại trận này của quân đội Pháp, quân Thái Lan chưa kịp khai thác được chiến thắng của họ, thì ngay ngày hôm sau 17 tháng Giêng xảy ra một trận thủy chiến làm thay đổi thế cờ và cứu vãn được danh dự của Pháp.
Bộ chỉ huy Pháp, căn cứ vào cuộc tấn công của Thái và Cao Miên vào đồng bằng sông Cửu Long, nhận định sớm hay muộn, thế nào Thái cũng sẽ huy động hải quân vào cuộc xung đột. Vì vậy cần phải đi một bước trước, tấn công phá hủy ít nhất một phần hạm đội của họ.
Tương quan lực lượng của hai bên lúc đó là như sau:
- Về phía Pháp, như ở phụ lục trên đã nói, có một tuần dương hạm Lamotte - Picquet và bốn tàu hộ tống La Mame, Le Tahure, Dumont d’Urville, Amiral Chamer, tổng cộng 12.480 tấn với một thủy thủ đoàn 950 người, 16 khẩu pháo nòng cỡ 120 li và to hơn, 10 khẩu cỡ nhỏ hơn và 12 quả ngư lôi. Căn cứ là Sài Gòn cách biên giới 450 cây số.
- Về phía Thái Lan, có 2 thiết giáp hạm 2.300 tấn, mới đưa vào hoạt động từ năm 1938, 10 tàu phóng ngư lôi mà 9 trong số đó được đóng ở Ý, mới hoạt động từ năm 1935 và 1937, 6 tàu hộ tống mà 4 chiếc mới mua, 4 tàu ngầm mới đưa vào hoạt động trước chiến tranh, hơn 10 chiếc tàu tuần tra bờ biển mới mua ở Ý và Nhật. Về võ khí, Thái có 20 khẩu cỡ 120 li và to hơn nữa, 56 khẩu cỡ trung bình và 88 ngư lôi. Căn cứ là Satahib cách biên giới 130 dặm.
Với một tương quan như vậy, một trận hải chiến sẽ là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm đối với Pháp. Nếu tàu bị hư hại thì khó lòng có thể trở về nơi ẩn náu an toàn. Lại phải tính đến tất cả tàu phóng ngư lôi, tàu ngầm của căn cứ Satahib và máy bay ném bom nặng, nhẹ từ các căn cứ Chantaboum và Krat bay lên đuổi theo.
Vì vậy chỉ có thể dồn toàn bộ lực lượng, đánh vào một điểm đã chọn đúng, trong một thời gian rất ngắn, lợi dụng triệt để yếu tố bất ngờ với điều kiện tuyệt đối bí mật thì mới mong thắng được, giống như trong một trận biệt kích vậy.
Trong một cuộc hội nghị quân sự họp vào ngày 15 tháng Giêng ở Sài Gòn, sau khi cân nhắc kỹ và quyết định chấp nhận mọi nguy cơ, bất trắc, Đô đốc Decoux đồng ý với kế hoạch của Phó đô đốc Terraux vạch ra và cho thi hành ngay không chần chừ để giữ bí mật. Cả hạm đội được đặt dưới quyền chỉ huy của đại úy hải quân Bérenger lên đường ngay tiến tới vịnh Thái Lan.
Vào chiều ngày 16, máy bay thám thính của Pháp báo cáo thấy hai nhóm tàu của Thái, lực lượng ngang nhau, một nhóm đang đậu ở căn cứ Satahib, nhóm kia ở đảo Koh Chang. Nhóm thứ hai này được chọn làm mục tiêu tấn công vào rạng sáng ngày 17, mặc dù thiếu các hải đồ mà vùng này thì có nhiều đá ngầm, và những đáy bùn ở gần bờ. Vào sáng ngày 17, một máy bay thám thính Pháp bay trên đảo Koh Chang, bị ba chiếc tàu phóng ngư lôi bắn theo.
Hạm đội Pháp chia làm ba nhóm mở hết tốc lực tiến tới mục tiêu, các tàu địch trông thấy nổ súng trước. Tất cả các cỡ pháo lớn nhỏ trên 5 tàu Pháp bắn cấp tập. Chỉ sau hai phút, một chiếc phóng ngư lôi Thái bị lật nghiêng hẳn, chiếc thứ hai nổ tung và chiếc thứ ba chìm dần.
Sau đó chiếc Lamotte - Piequet trông thấy chiếc tàu tuần tiễu Dhombure của Thái, vội tiến đến gần tầm súng, thấy nó đang đi vào vùng có đáy bùn liền nổ súng ngay. Những khẩu 203 li của Thái không địch lại được các khẩu 155 li của Pháp, bắn chính xác. Chiếc tàu tuần tiễu bỏ chạy. Cả 4 chiếc tàu Pháp tới tiếp ứng bắn xối xả. Tháp chỉ huy của chiếc Dhombure trúng đạn. Ba đám cháy lớn bốc lên trên boong tàu. Vừa lúc đó có lệnh rút lui, toàn bộ hạm đội Pháp bị máy bay Thái đuổi theo, nhưng tách ra chạy riêng rẽ, ra được ngoài khơi an toàn. Trận chiến kéo dài trong gần hai tiếng đồng hồ, kết quả khoảng 20% hạm đội chiến đấu của Thái bị đánh chìm hoặc hư hại nặng.

III. Sự hòa giải thiên vị của Nhật
Ngay từ khi Thái Lan mới khởi hấn, Nhật đã định vào “can khéo” đôi bên để ở giữa trục lợi. Vào đầu tháng 12 năm 1940, Nhật đề nghị đứng làm “trung gian hòa giải”, nhưng Vichy từ chối, chỉ thị cho ông Carreau, tham tán ở Băng Cốc làm việc trực tiếp với phía Thái. Thái Lan được Nhật hậu thuẫn, đưa ra những yêu sách quá quắt không thể chấp nhận được, và vẫn tiếp tục tấn công nên cuộc thương lượng đổ vỡ.
Cuộc thủy chiến thắng lợi của Pháp ở Koh Chang đã làm thay đổi phần nào thế cờ bất lợi cho Thái, nên lần này Nhật trực tiếp xông vào can thiệp. Ngay ngày hôm sau, 18 tháng Giêng, vào lúc 6 giờ chiều, viên đại tá Nhật Koike của ban liên lạc Nhật, đã đến Phủ toàn quyền áp đặt ý định phải đình chiến. Rồi ngày 20, chính phủ Nhật chính thức triệu tập đại sứ Pháp ở Tokyo đến để đưa ra đề nghị đứng làm trung gian hòa giải. Từ ngày 22, Nhật cho một hạm đội mạnh gồm 4 chiếc thiết giáp hạm, 12 chiếc tuần dương hạm, cùng các tàu tuần tiễu và hộ tống, lượn đi lượn lại ngoài khơi Vũng Tàu trong lãnh hải Việt Nam để biểu dương lực lượng, lấy cớ thỏa ước Pháp-Nhật ký ngày 30 tháng 8 năm 1940 ở Vichy đã công nhận địa vị đặc biệt và ưu thế của Nhật ở Viễn Đông.
Trước một sức ép bức bách như vậy, ngày 28 vào lúc 10 giờ sáng hai bên phải ra lệnh ngừng bắn. Ngày hôm sau, 29, các đại diện của ba nước họp trên một chiếc tuần dương hạm của Nhật đến đậu tại Sài Gòn. Ngày 31 họ ký vào một bản thỏa ước có giá trị trong 15 ngày quy định các điều kiện ngừng xung đột.
Bản thỏa ước mở đầu bằng một đoạn công nhận địa vị trung gian hòa giải của Nhật rồi đến 10 điều quy định những đường rút lui của quân đội hai bên, những vùng phải hạn chế hoạt động của tàu bè và máy bay, sự ngừng tuyên truyền kích động và tôn trọng tính mạng tài sản của nhân dân.
Ngày 7 tháng 2, phái đoàn Robin của Pháp bắt đầu chính thức đàm phán ở Tokyo với phái đoàn Thái. Việc đầu tiên là thỏa thuận kéo dài thời gian của thỏa ước 31 tháng Giêng đến 11 tháng 2, và cuối cùng đến ngày 7 tháng 3.
Phái đoàn Thái đưa ra những yêu sách vượt rất xa những đòi hỏi ban đầu của họ. Cuộc đàm phán kéo dài trên một kế hoạch cắt nhượng đất đai do Nhật soạn thảo đưa ra. Cuối cùng, dưới sức ép của Nhật, và căn cứ vào tình hình thực tế, cùng những điều khoản trong những thỏa ước ngày 30 tháng 8 năm 1940, Vichy phải nhượng bộ, và phái đoàn Pháp phải chấp nhận một đường biên giới lý thuyết hết sức vô lý về mặt lịch sử, mặt kinh tế, chính trị và cả về mặt dân tộc nữa. Thỏa ước được ký vào ngày 11 tháng 3 năm 1941.
Theo các điều khoản của thỏa ước này, trước hết Pháp phải cắt nhượng cho Thái Lan tất cả vùng lãnh thổ của Lào ở hữu ngạn sông Mê-kông. Sau nữa Pháp phải rời bỏ một phần quan trọng của lãnh thổ Cao Miên về phía Tây của một đường kẻ thẳng góc với vĩ tuyến 15 kéo dài đến tận Biển Hồ, cùng một phần quan trọng của tỉnh Battambang cho đến tận tỉnh Pursát. Tổng số mất tất cả là 70.000 km vuông. Pháp chỉ đấu tranh được một số điểm thứ yếu, mà chưa chắc đối phương đã thi hành, thí dụ: Thái Lan phải phi quân sự hóa những phần đất chiếm được, phải tôn trọng tính mạng tài sản của nhân dân trong vùng, nhất là kiều dân Pháp, phải để cho nhân dân có quyền được lựa chọn nơi cư trú sinh sống...
Thái Lan còn đòi hỏi quốc tế hóa vùng Biển Hồ, còn Nhật thì đưa ra dự kiến thành lập một ủy ban hỗn hợp vĩnh viễn do Nhật chủ trì để giám sát việc phi quân sự hóa và giải quyết mọi vấn đề xung đột trong tương lai giữa Pháp và Thái Lan. Phải mất gần hai tháng đấu tranh trong một bầu không khí rất căng thẳng mới đẩy lui được các yêu sách này. Nhưng Nhật cũng bắt Pháp phải nhận điều kiện không được có bất cứ một thỏa ước hợp tác nào với một cường quốc thứ ba về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự có tính cách bất lợi trực tiếp hay gián tiếp cho Nhật.
Hiệp ước hòa bình được ký kết vào ngày 9 tháng 5 năm 1941 tại Tokyo. Với hiệp ước này, từ nay, sông Mê-kông sẽ là biên giới từ phía bắc xuống phía nam, cho đến điểm sông này cắt vĩ tuyến 15. Con đường nhân tạo đó sẽ là giới hạn phía bắc của Cao Miên. Sau đấy nó ngả theo một góc vuông phía nam đến tận Biển Hồ. Ở đây, một vòng cung 20 cây số đường kính sẽ nối điểm giao thoa giữa hai tỉnh Battambang và Pursat. Còn ở phía nam Biển Hồ, biên giới vẫn theo đường cũ đã vạch ra trong hiệp định 1907.
Sự thất bại nhục nhã này là một bị kich thê thảm đối với nhân dân ba nước Đông Dương. Từ nay Đông Dương sẽ bị cô lập hẳn và rơi vào quỹ đạo hệ thống Đại Đông Á của Nhật.
Đối với Lào, hoàng gia đau buồn sâu sắc, vì tất cả các mộ phần tổ tiên vua chúa Lào đều ở phía hữu ngạn sông Mê-kông, nay nằm trong tay của Thái Lan. Việc cắt đất như vậy là một sự chà đạp thô bạo lên lịch sử lâu đời của một dân tộc hiền hậu, yêu chuộng hòa bình và hữu nghị.
Cao Miên thì mất đứt tỉnh Battambang trù phú cùng với 450.000 người dân Khmer nay trở thành thần dân của vua Thái Lan. Miên còn mất cả rặng núi Phnom Koulen là nơi trong lịch sử lâu đời, người dân Khmer cổ đại lấy đá ở đó để xây dựng Angkor, hiện nay ở đó còn di tích của một thủ đô cũ, và ngày nay là nguồn nước tưới tiêu cho vùng Siêmréap.
Angkor thì còn lại nhưng Thái Lan cương quyết lấy vùng di tích Banteai Srei thuộc nhóm Angkor, phải nhờ đến sự can thiệp của Nhật mới giữ được, nhưng phải đền bù cho Thái một vùng đất khác ở phía nam vĩ tuyến 15.
Vị vua già Sisowath Monivong đau buồn, lo nghĩ đến sinh bệnh và ít lâu sau thì từ trần.
Về phía Pháp, cả ở Đông Dương lẫn ở chính quốc, người ta cay đắng suy nghĩ về những lời tuyên bố long trọng của Nhật Hoàng cam kết tôn trọng chủ quyền Pháp và toàn vẹn lãnh thổ ở Đông Dương. Ngoài sự tổn thất to lớn về vật chất, địa vị, danh dự và uy tín của Pháp ở Viễn Đông đã bị sa sút nặng nề, khó mà hồi phục được.
0
Phụ lục
Chỉ thị Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương


Ngay sau cuộc chính biến đêm 9 tháng 3, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhanh chóng bố cáo trong toàn quốc một bản chỉ thị lịch sử quan trọng dưới nhan đề: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Bản chỉ thị gồm có 6 mục như sau:
I. Nhận xét tình hình
II. Điều kiện mới do tình thế mới gây ra
III. Chiến thuật của Đảng thay đổi
IV. Thái độ ta đối với cuộc kháng chiến của Pháp và việc lập Mặt trận Dân chủ chống Nhật ở Đông Dương
V. Công việc cần kíp
VI. Sẵn sàng hưởng ứng quân Đồng Minh
Sau đây là toàn văn mục I của bản chỉ thị lịch sử quan trọng này
I. Nhận xét tình hình
a) Cuộc chính biến nổ ra: Tám giờ 25 tối hôm 9-3-1945, Nhật nổ súng bắn Pháp chiếm các thành phố lớn và địa điểm quân sự quan trọng. Sức kháng chiến của Pháp yếu, Pháp sẽ bại vì ba lẽ:
1. Không có tinh thần chiến đấu
2. Thiếu vũ khí tinh xảo
3. Không thống nhất hành động với lực lượng chống Nhật của nhân dân Đông Dương
b) Tính chất và mục đích của cuộc chính biến: chính biến ngày 9-3-1945 là một cuộc đảo chính mục đích là truất quyền Pháp, tước khí giới của Pháp, chiếm hẳn lấy Đông Dương làm thuộc địa riêng của chủ nghĩa đế quốc Nhật.
c) Nguyên nhân cuộc chính biến: cuộc chính biến ngày 9-3-1945 có ba nguyên nhân dưới đây
1. Hai con chó đế quốc không thể ăn chung một miếng mồi béo như Đông Dương.
2. Tàu, Mỹ sắp đánh vào Đông Dương, Nhật phải hạ Pháp để trừ cái họa bị Pháp đánh sau lưng khi quân Đồng Minh đổ bộ.
3. Sống chết Nhật phải giữ lấy cái cầu trên con đường bộ nối liền các thuộc địa miền nam Đông Dương với Nhật, vì sau khi Phi Luật Tân bị Mỹ chiếm, đường thủy của Nhật đã bị cắt đứt.
d) Cuộc khủng hoảng chính trị do cuộc đảo chính của Nhật gây ra:
Ngay bây giờ chúng ta đã nhận rõ mấy hiện tượng sau này, biểu hiện một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc
1. Hai quân cướp nước bắn xé nhau chí tử
2. Chính quyền Pháp tan rã
3. Chính quyền Nhật chưa ổn định
4. Các tầng lớp đứng giữa hoang mang
5. Quần chúng cách mạng muốn hành động
(Lưu tại Kho lưu trữ Trung ương Đảng)
0
Tài liệu tham khảo


. Andre Goudel - L’Indochine Francaise en face du Japon ­ Đông Pháp đối mặt với Nhật Bản - NXB J.Susse 1947.
. Philippe Héduy - L’Histoire de l’Indochine. La perle de d’Empire 1624 - 1954. Lịch sử Đông Dương. Hòn ngọc của đế quốc 1624 - 1954, NXB Albin Michel Paris 1998.
. Georges Gautier - La fin de l’Indochine francaise. Sự cáo chung của xứ Đông Pháp.
. Jean Decoux - A la barre de l’Indochine. Cầm lái xứ Đông Dương.
. René Charbonneau - Rafales sui l’Indochine. Những tràng đạn bắn vào Đông Dương.
. Paul Mus - Occupation Japonaise et resistance civile. Cuộc chiếm đóng của Nhật Bản và sự kháng cự dân sự.
. Henri Lapierre - La defense de la Caserne Bouet à Haiphong. Cuộc bảo vệ doanh trại Bouet ở Hải Phòng.
. Tướng Mordant - Défense de la résistance. Bảo vệ cuộc kháng cự.
. Henri Lapierre - L’exemple du General Lemonier. Gương sáng của tướng Lemonier.
. André Fraisse - La repression Japonaise au Laos. Cuộc đàn áp của Nhật ở Lào.
. J. P. Pissardy - Les parachutages au Laos. Những cuộc thả dù xuống đất Lào.
. Jean J. Bernardini - Le “camp de la mort lente” à Hoa Binh. Trại tập trung “chết từ từ” ở Hòa Bình.
. Vô danh - Les Martyrs de la Kampétai. Những người hy sinh ở Sở Hiến binh Nhật.
Và nhiều báo cáo của các sĩ quan trong quân đội Pháp, cùng nhiều bài báo và tư liệu khác.
0
Lời bạt


Trong tất cả các sách lịch sử, giáo khoa giảng dạy về Lịch sử Cách mạng tháng Tám 1945 của Việt Nam đều đã có viết về cuộc đảo chính ngày 9-3-1945 của phát xít Nhật lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương nhằm tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Đại Đông Á của chúng. Tuy nhiên, có thể nói, do khuôn khổ của sách ấy, sự kiện này viết còn khái quát chưa được cụ thể lắm.
Bác sĩ Ngô văn Quỹ nghề nghiệp chủ yếu là “cứu nhân độ thế” được nhiều người biết tiếng, lại rất say sưa về khoa học lịch sử, đã để nhiều thời gian, đọc hàng chục nghìn trang sách báo của trong nước, ngoài nước, nhất là các sách, báo của các tác giả người Pháp, để dựng lại “bức tranh lịch sử” của những ngày trước, trong và sau sự kiện này một cách khá chi tiết, sinh động, thật là bổ ích đối với nhiều bạn đọc, nhất là cho các bạn trẻ đang tìm hiểu các sự kiện cần biết của lịch sử cách mạng nước ta. Có thể nói, ở nước ta đây là công trình đầu tiên trình bày rõ ràng, tương đối đầy đủ về sự kiện này. Tôi là người được bác sĩ Ngô văn Quỹ cho xem trước, tôi rất hứng thú khi đọc, tôi xin trân trọng giới thiệu với các bạn đọc của Nhà xuất bản Trẻ.
Những năm 1960-1970, tôi được Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng trực thuộc Ban chấp hành Trung ương giao cho viết cuốn Lịch sử Cách mạng tháng Tám (1945) do đồng chí Trường Chinh làm Trưởng ban, trực tiếp chỉ đạo biên soạn. Do đó, tôi đã được trực tiếp nghe đồng chí Trường Chinh, thời kỳ đó làm Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương, kể về sự kiện này như sau:
Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào chiếm đóng Đông Dương, Nhật chưa lật đổ ngay chính quyền cai trị của Pháp ở Đông Dương, mà thông qua Pháp bóc lột nhân dân ta. Nhân dân ta sống dưới ách một cổ hai tròng, rất cực khổ. Đồng thời, mâu thuẫn giữa hai tên cùng thống trị Đông Dương ngày càng diễn ra gay gắt. Trung ương Đảng thường xuyên theo dõi mối quan hệ giữa hai tên phát xít Nhật và thực dân Pháp, dự đoán trước Nhật, Pháp thế nào cũng sẽ bắn nhau. Trên báo của Đảng đã có nhiều bài báo viết về dự đoán này. Đặc biệt trên báo Cờ Giải Phóng số 7, ra ngày 27 tháng 9 năm 1944 (tức là trước sự kiện đảo chính của Nhật khoảng nửa năm) trong bài Cái nhọt bọc sẽ phải vỡ mủ, Trung ương Đảng nhận định rằng, nếu Nhật và Pháp tạm hòa hoãn với nhau, thì “sự hòa hoãn này có khác chi một cái nhọt bọc, chứa chất bên trong bao nhiêu vi trùng và máu mủ, chỉ chờ dịp chín mõm là vỡ tung ra... Cả hai quân thù Nhật và Pháp đều đang sửa soạn tiến tới chỗ tao sống mày chết, quyết liệt cùng nhau”.
Đầu tháng 3-1945, tại cơ quan đóng ở thôn Phú Gia (gần Chèm bây giờ thuộc Hà Nội) Ban Thường vụ Trung ương liên tiếp nhận được mấy tin từ nội thành báo ra.
Tin thứ nhất cho biết binh lính Nhật được phát mỗi tên mười ngày lương khô. Chúng bị giữ luôn trong trại, không cho ra phố, để chuẩn bị chiến đấu.
Tin thứ hai qua lời của một công chức người Việt làm cho Pháp, kể lại cho cán bộ của ta, Trung ương Đảng được biết “tên Toàn quyền Đông Dương Decoux bị tên Cao ủy Nhật gọi vào Sài Gòn đưa ra một số điều kiện rất ngặt nghèo bắt Pháp phải theo. Decoux tỏ thái độ chần chừ, yêu cầu tên Cao ủy Nhật chờ nó xin chỉ thị của chính phủ Pháp ở Paris. Tên Cao ủy Nhật không nghe, hiện tình Decoux đang bị Nhật khống chế”.
Khớp các nguồn tin lại và dựa trên cơ sở phân tích tình hình mâu thuẫn Nhật, Pháp từ trước, nhất là gần đây, Nhật đang liên tiếp bị thua trên các mặt trận ở Thái Bình Dương, Mỹ đang ráo riết chuẩn bị cho quân đổ bộ lên đất Nhật, nước Pháp đã được giải phóng khỏi phát xít Đức, đang có những hoạt động muốn dựa vào Đồng Minh Mỹ, Anh, tổ chức lực lượng chống Nhật, đồng chí Trường Chinh nhận định: Nhật sắp lật Pháp đến nơi và ngày 8-3 lập tức cho giao thông chạy “hỏa tốc” triệu tập hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng vào ngay tối 9 tháng 3 năm 1945 ở Đồng Kỵ, thuộc phủ Từ Sơn, Bắc Ninh.
Lúc đó, tình hình rất khẩn trương, Bác Hồ đang còn ở Trung Quốc, đồng chí Hoàng Quốc Việt, ủy viên Ban Thường vụ Trung ương, với danh nghĩa đại biểu Tổng bộ Việt Minh theo lời mời của Tưởng Giới Thạch, cũng đang ở Quảng Tây họp với đại biểu Quốc Dân Đảng Trung Quốc để bàn việc cách mạng Việt Nam giúp đỡ quân Trung Quốc vào Việt Nam đánh Nhật. Các đồng chí Trung ương phần lớn đang công tác ở biên giới Việt­Trung. Do đó, không thể họp toàn Ban chấp hành Trung ương mà chỉ họp được Ban Thường vụ Trung ương mở rộng.
Nơi được chọn làm địa điểm họp là chùa Đồng Kỵ, cách ga Từ Sơn khoảng 2 kilômét. Sư cụ chùa này là Đại đức Phạm Thông Hòa, trông coi cả chùa Lã, chùa Dận (nơi Lý Công Uẩn làm tiểu ở lúc còn bé). Sư cụ được đồng chí Trường Chinh trực tiếp giác ngộ từ năm 1940, chùa trở thành cơ sở để thỉnh thoảng Thường vụ Trung ương gặp nhau họp bàn.
Chập tối, mọi nhà vừa lên đèn, thì các đồng chí vào ngôi nhà ngang, cạnh nhà Tổ, chuẩn bị họp. Cuộc họp bắt đầu, đồng chí Tổng Bí thư tuyên bố lý do:
- Thường vụ Trung ương đã nhận được tin giặc Nhật - Pháp sắp bắn nhau, cho nên triệu tập các đồng chí về đây họp.
Vừa mới nói được như thế, bỗng có tiếng chó sủa ran, tiếp đó tiếng gõ cửa dồn dập. Sư cụ cho chú tiểu ra mở cổng, thì thấy có hai bóng người, tay chiếu đèn pin, bước vào. Sư cụ vội chạy ra cất to tiếng chào thầy Phó, thầy Trương để báo động. Các đồng chí biết ngay có Phó lý, Trương tuần đến lục soát. Theo kế hoạch đã định trước, tất cả thu xếp giày, dép, khăn, áo... rồi vội vượt qua hàng rào cây sau chùa, chiếu theo hướng Nam, đi sang phía làng Đình Bảng là địa điểm họp dự bị, cách chùa Đồng Kỵ khoảng hơn ba kilômét.
Sau này, Sư cụ kể lại cho đồng chí Trường Chinh nghe chuyện hôm đó như sau: Khi tôi thấy tiếng gõ cửa, tôi sai chú tiểu ra mở, nhưng tôi bước theo luôn. Vừa trông thấy Phó lý và Trương tuần tôi vội lên tiếng báo động :
- Chào thầy Phó, thầy Trương, mời hai thầy vào chơi. Các thầy có việc gì ra chùa đấy?
Phó lý hỏi :
- Nhà chùa hôm nay có việc gì mà đông khách thế?
Tôi trả lời :
- Có gì đâu, mấy ông thợ sơn đến tô tượng cho nhà chùa. Hôm nay các ông ấy đến tính tiền đấy.
- Thế bây giờ các ông ấy đâu rồi? - Tên Phó lý hỏi ngay.
Tôi chậm rãi trả lời :
- Các ông ấy ăn cơm xông và đi rồi.
Trả lời chúng nó thế nhưng tôi rất hồi họp. Tôi biết thế nào các ông cũng bỏ đi rồi, tôi biết các ông lắm, biết từ lâu rồi.
Hai tên hỏi xông đi ngay vào nhà ngang. Tôi vẫn lo, không biết các ông có bỏ quên cái gì chăng. Tên Phó lý bấm đèn pin soi khắp nhà, chẳng thấy gì. Tôi mừng quá...
Khi các đồng chí ra tới cánh đồng làng rừng Sặt, đối mặt bên kia là địa phận làng Đình Bảng, thì nghe thấy tiếng súng nổ ở phía Hà Nội. Đồng chí Trường Chinh liền nói một cách khẳng định:
- Nhật - Pháp bắn nhau rồi anh em ơi!
Thế là đúng vào lúc Nhật nổ súng lật Pháp ở Hà Nội và trên toàn Đông Dương thì cũng chính là lúc cuộc Hội nghị Ban thường vụ Trung ương Đảng bắt đầu. Hội nghị đã họp trong ba ngày, từ ngày 9 đến ngày 12-3-1945. Ngay sau đó đã ban hành bản chỉ thị nổi tiếng Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, mà bác sĩ Ngô văn Quỹ đã trích dẫn trong cuốn sách đang có trong tay các bạn.
Hội nghị đã phân tích những nguyên nhân của cuộc đảo chính, thấy trước Pháp sẽ nhất định thất bại. Sau cuộc đảo chính, Nhật là kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể của trước mắt, duy nhất của nhân dân ta. Phát xít Nhật nắm quyền cai trị nước ta, nhưng chúng đang đứng trước tình hình khủng hoảng chính trị sấu sắc, không rảnh tay đối phó với cách mạng; nạn đói ghê gớm đang diễn ra, quần chúng oán ghét bọn cướp nước và chiến tranh đã đến giai đoạn quyết liệt. Đó là những cơ hội rất tốt giúp cho cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đi tới chín muồi nhanh chóng.
Hội nghị nêu ra những tình huống ta có thể phát động cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, trong đó nói rõ nếu Nhật bại trận, quân đội viễn chinh Nhật mất tinh thần thì khi ấy dù quân Đồng Minh chưa đổ bộ vào Đông Dương, cuộc Tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi.
Những tư tưởng chỉ đạo của hội nghị Ban Thường vụ Trung ương đã góp phần quyết định thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám ở thủ đô Hà Nội ngày 19-8-1945 và nhiều nơi, góp phần thúc đẩy cuộc Tổng khởi nghĩa ở cả nước đi đến thắng lợi hoàn toàn, tạo ra cuộc đổi đời vĩ đại cho toàn dân ta, mở ra trang sử mới của đất nước ta.
Tôi xin nói thêm vì sự kiện này, góp phần với sách của bác sĩ Ngô văn Quỹ.

Trần Giang
Nguyên giám đốc cơ quan thường trực các tỉnh phía Nam
Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ nhiệm công trình khoa học cấp Nhà nước
Lịch sử khởi nghĩa Nam Kỳ


HẾT
0
Truyện đã đưa vào thư viện

Cảm ơn casau đã góp sức cho thư viện
0