Phần II Ngày N, giờ G
1. Tại sao?
Tại sao lại xảy ra cuộc chính biến đẫm máu đêm 9 tháng 3 năm 1945, đêm cáo chung của chủ quyền Pháp trên toàn cõi Đông Dương, chấm dứt gần một thế kỷ đô hộ? Đó là một câu hỏi nhức nhối đặt ra cho nhiều nhà sử học Pháp sau này muốn tìm hiểu lại sự thật phũ phàng này trong quá khứ. Với khoảng lui về thời gian, bây giờ người ta đã có nhiều tư liệu để nhìn rõ hơn thời cuộc lúc đó, để có những nhận định vừa khách quan vừa chủ quan, mà độ chính xác còn chưa được khẳng định.
Có một điều chắc chắn là trong suốt bốn năm sống dưới sự chiếm đóng của Nhật, chính quyền thuộc địa đã làm tất cả mọi điều có thể làm được - có khi, có lúc còn làm quá cả yêu sách của quân địch - cốt để tránh không tạo cho Nhật cái cớ để dùng võ lực, đập nát sự cộng tác bất đắc dĩ, phá tan sự ổn định mong manh và tạm thời này.
Nhưng rồi cái cớ ấy, khách quan và cả chủ quan, cứ được hình thành. Và rồi việc gì phải xảy ra đã xảy ra...
Một trong những cái cớ quan trọng nhất là sự kháng cự ngấm ngầm của Pháp. Mặc dù là một sự kháng cự yếu ớt, gần như vô tổ chức, manh động hơn là có kế hoạch, nhưng dù sao vẫn là một sự kháng cự làm cho hậu phương của Nhật không được ổn định, cần phải dẹp yên đi.
Nói cho công bằng, sau cuộc chính biến, cuộc kháng cự vẫn không bị dập tắt hẳn, vẫn tiếp tục dưới sự tổ chức và chỉ huy của tướng Sabattier. Nó gồm tám mạng lưới của các lực lượng chiến đấu Pháp (8 réseaux de forces Francaises Combattantes) và sáu tổ chức của Ban hành động (Service Action).
Trong tổ chức này có ba người nổi lên được coi là anh hùng, và ngay khi tướng Leclerc sang tới Đông Dương đã đề nghị ngay truy tặng danh hiệu: Compagnon de la Libération (tạm dịch: Chiến hữu Giải phóng). Đó là trung tá Charle Lecoq, chỉ huy trung đoàn Lào Cai, đại úy xen đầm Jean d’Hers, chỉ huy phân đội Nam Kỳ - Cao Miên, và tổng cộng trình sư công chính Nicolai. Sự đề nghị này, tuy là của vị anh hùng Pháp Leclerc đi nữa, những không được bên chính quốc hoan nghênh, vì toàn bộ những người Pháp ở Đông Dương đều bị liệt vào loại “chủ nghĩa Thống chế của Pétain” (maréchalisme).
Để có một ý niệm về tình hình kháng cự ngày đó, có thể lấy cuộc chiến đấu tuyệt vọng của Jean d’Hers làm ví dụ:
Con của một chiến sĩ Pháp tử trận tại Verdun năm 1915, Jean d’Hers vào học trường võ bị Saint Cyr cùng khóa với Mangin năm 1929. Sang Đông Dương, với 35 tuổi đời, một vợ năm con, trước khi lao vào cuộc chiến đấu, anh dặn lại vợ: “Em nên biết anh sẽ không bao giờ đầu hàng quân Nhật, dù chúng có bắt em làm con tin và xử bắn em, thì anh cũng sẽ làm tròn bổn phận của anh cho đến cùng”. Có người bạn nói với anh: “Cuộc chiến đấu của anh là vô ích...”, anh đã đáp lại: “Vì vô ích như vậy nên lại càng đẹp...”.
Từ tháng 12 năm 1940, Jean d’Hers về Sài Gòn tham gia vào mạng lưới kháng cự của Graille, sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn 1 của trung đoàn lính Đông Dương ở Tây Ninh. Trong mạng lưới này anh làm nhiệm vụ tình báo. Anh đã báo được cho quân Anh, Nhật sẽ tấn công chiếm đóng Singapore ngày 8 tháng 12 năm 1941 một ngày sau cuộc đột kích Pearl Harbour. Và chúng cũng sẽ chiếm đóng cả Hà Nội. Rồi những thông tin của anh về những sân bay quân sự Nhật ở Nam Kỳ và Cao Miên cũng rất có ích cho những cuộc ném bom của Đồng Minh.
Đang hoạt động tốt, thì vào năm 1941 đột nhiên anh bị tướng Mordant đổi từ Sài Gòn xuống Cần Thơ vì... kỷ luật. Ở đây anh trở thành người cầm đầu cuộc kháng cự dân sự của miền Tây Nam Bộ, và bây giờ trong mạng lưới của anh, ngoài những lính xen đầm còn có thêm một số người dân sự nữa. Jean d’Hers buồn rầu nhận xét bọn này phần nhiều thường thoái thác, trốn tránh, mỗi khi vào việc nếu không là ngấm ngầm phản bội. Kẻ phản bội bỉ ổi nhất lại chính là một người phụ tá trực tiếp của anh. Đó là tên X, một chánh án khét tiếng trong vùng. Sở dĩ không nêu tên thật của hắn, vì sau này hắn leo lên những chức vụ rất cao trong ngành tư pháp, được thưởng Bắc đẩu bội tinh vì những hoạt động kháng cự ở Việt Nam, và sống rất lâu, vinh quang phú quý với gia đình vợ con.
Ngày 22 tháng 11 năm 1945, khi Leclerc vừa đến Sài Gòn đã đề nghị ngay việc truy tặng cho Jean d’Hers huân chương Chiến hữu Giải Phóng. Trước đó, ngày 21 tháng 10, vợ Jean d’Hers đã gửi cho Leclerc những tài liệu tố cáo X với một bức thư có những lời lẽ như sau: “Tôi trao vào tay ông tất cả những thứ này, và nếu chồng tôi ở trên cao kia nhìn thấy, chắc sẽ rất sung sướng vì ước mơ của anh ấy là được chiến đấu trong trung đoàn của ông. Đã biết bao nhiêu lần chúng tôi nói với nhau về điều này và cùng nhau theo dõi từng chặng, từng chặng một cuộc tiến công quang vinh của ông đi đến chiến thắng”.
Nhưng Jean d’Hers không bao giờ còn được chiến đấu chống quân phát xít Đức dưới sắc cờ của Leclerc. Anh đã chết dưới làn đạn của quân phát xít Nhật. Thôi thì cũng là chống quân phát xít dù dưới bầu trời nào.
Nhưng đối với anh, cay đắng hơn cả cái chết là sự tan vỡ các ảo tưởng. Xung quanh anh là một sự tan rã các ý chí. Anh hiểu rằng chẳng làm gì có sự kháng cự bằng võ lực chống quân Nhật ở Sài Gòn, cũng như ở Đồng Tháp Mười, và chẳng bao giờ có sự viện trợ từ bên ngoài đến. Anh cũng hiểu rằng quân đội Nhật đông hơn rất nhiều, mạnh hơn rất nhiều so với những gì anh khó khăn lắm mới tập họp lại được. Anh đã bắt gặp nhiều sự hèn nhát đáng khinh bỉ và cả những sự phản bội bỉ ổi nhất.
Tuy nhiên như anh nói “vì vô ích nên lại càng đẹp hơn...” nên không nản chí, anh vẫn thành lập một đội biệt kích riêng của anh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đầy kênh rạch, là nơi quân Nhật đang tìm cách tiến từ Cần Thơ đi Cà Mau.
Một bữa đi trên một chiếc canô cũ kỹ chạy bằng động cơ gazogène, cùng với ba người lính Đông Dương, năm người Pháp, gồm một lính xen đầm, một binh nhì và ba lính thủy. Võ khí trên canô có một khẩu đại bác 25 li, một súng phóng lựu đạn, một súng cối 60 và ba tiểu liên. Với một lực lượng mong manh như vậy, Jean d’Hers chạm trán với 5 chiếc xà lúp đầy ắp lính Nhật trang bị đến tận răng. Anh bất ngờ nổ súng trước và bắn chìm được một chiếc xà lúp giết được 17 tên lính Nhật. Phản ứng của Nhật nổ ra ngay tức khắc. Cả toán biệt kích hầu như bị tiêu diệt ngay từ những phút đầu. Jean d’Hers bị cắt đôi người bởi một tràng súng liên thanh. Chỉ có một người sống sót là anh lính xen đầm Sylvestre bị thương nặng, Nhật bắt đưa về điều trị ở Sài Gòn rồi chuyển sang cơ quan Kempêtai để tra hỏi, khai thác những đầu mối của cuộc kháng cự. Sau này khi quân Nhật đã đầu hàng, Sylvestre còn sống, có báo cáo lại là anh đã bị chính tên X đến nhận diện, tố cáo anh với Nhật...
Nhiều tác giả Pháp sau này có nói đến một sự thiếu ý thức của kiều dân Pháp lúc đó làm cớ cho Nhật phản ứng: hành động kháng cự, đã gọi là ngấm ngầm, đáng lẽ phải được tuyệt đối giữ bí mật, thì lại đem ra bàn tán xầm xì gần như công khai, ai cũng muốn tỏ ra mình thông tường ngõ ngách hơn người khác, với những lời nói huênh hoang, thổi phồng khoác lác giữa đám tình báo mật vụ đông như kiến ở khắp nơi. Có tác giả không ngần ngại gọi đây là một “nhu cầu bệnh lý”. Tâm lý này kể cũng dễ hiểu: từ trước đến nay họ vẫn tự coi là những ông chủ da trắng trên mảnh đất này, tự coi là một dân tộc thượng đẳng, nay bị nhục nhã, mất mặt trước quân Nhật da vàng. Không kháng cự được bằng võ khí thì họ trút sự căm hờn uất ức ra bằng những lời lẽ khoác lác tự đề cao. Vả lại đó cũng là những ảo tưởng họ tự tạo ra để dựa vào đó mới có thể sống được dưới gót giày, lưỡi kiếm tàn bạo của quân phát xít Nhật.
Rồi trong nội bộ cuộc kháng cự cũng chẳng ai có một chút kinh nghiệm nào về công tác bí mật, nên đã có những việc làm manh động, dại dột, thiếu tính toán. Đó là những cuộc thả dù người và võ khí, những vụ ám sát của các đội biệt kích, những bài báo, bài phát thanh hớ hênh... Tất cả những cái đó làm sao qua mặt được các cơ quan tình báo Nhật.
Có những tác giả khác thì cho rằng tất cả những điều kiện vừa nêu trên, thực ra cũng không phải là mối bận tâm hàng đầu của Nhật. Họ cho rằng cuộc kháng cự trong nội địa cũng như từ bên ngoài, đối với Nhật thật ra không đáng kể, không ảnh hưởng gì nhiều lắm đến sự vững vàng, ổn định của hậu phương, nếu quá lắm, khi nào cần, chúng vẫn có thể dùng sức mạnh dập tắt ngay được. Cho nên cuộc kháng cự này không phải là nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân duy nhất của cuộc chính biến 9 tháng 3. Cuộc chính biến này là nằm trong một chiến lược dài hơi của Nhật, đã được hoạch định từ lâu, được chuẩn bị đến từng chi tiết. Bốn năm trước đây, khi Nhật mới chân ướt chân ráo đổ bộ vào Đông Dương, chúng chưa thể hất cẳng ngay Pháp để nắm chính quyền, trực tiếp cai trị. Nay sau bốn năm chiếm đóng, chúng đã thông tỏ hết ngọn nguồn, có đủ điều kiện thuận lợi để đập tan chủ quyền của Pháp. Cho nên cuộc chính biến nhất định sẽ xảy ra, nếu không vào đúng ngày N giờ G, mùng 9 tháng 3 thì cũng trước đó hay sau đó thôi, không thể tránh được.
Thế tại sao cuộc chính biến lại nổ ra vào đầu năm 1945, chứ không sớm hơn hay muộn hơn? Là vì vào thời điểm này, về mặt quân sự, Nhật thấy vấn đề Đông Dương không thể tách ra khỏi những sự kiện đang xảy ra trong vùng Đông Nam Á. Trong những ngày đầu tháng 3, Mỹ đã chiếm đóng được đảo Palawan ở Thái Bình Dương, đối mặt với miền nam Đông Dương. Trong giả thuyết, từ đó có một cuộc đổ bộ lên bờ biển Đông Dương, thì hành lang rút lui của quân đội Nhật ở Birmanie (Miến Điện, nay là Myanmar) ở Xiêm, ở Malaixia sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Nếu giả thuyết này trở thành hiện thực, thì chắc chắn quân đội Pháp sẽ đứng ngay về phía Đồng Minh. Người Nhật ý thức rất rõ điều này và dường như đó là lý do quan trọng nhất để Nhật quyết định không trù trừ nữa, mà phải ra tay trước.
Có thể có một số nhỏ người nào đó trong chính quyền và bộ chỉ huy quân sự ở thuộc địa ý thức được nguy cơ này, nhưng cái khó là không đoán ra, không xác định được lúc nào thì nó sẽ nổ ra. Do đó cuộc chính biến 9 tháng 3 là gần như hoàn toàn bất ngờ. Yếu tố bất ngờ được Nhật sử dụng đến triệt để. Cuộc chính biến xảy ra trên toàn cõi Đông Dương, từ Bắc chí Nam, từ Đông sang Tây, vào cũng một ngày một giờ gần như thống nhất, làm cho quân Pháp trở tay không kịp, không thể thông báo cho nhau, không thể tiếp ứng được nhau, chỉ trong vài giờ đã tan nát hết.
Vậy thì thực sự có bất ngờ không? Có, nhưng không phải hoàn toàn. Có thể coi đây là sự bất ngờ của một việc không bất ngờ. Đã có những sự việc không thể bỏ qua được xuất hiện từ nhiều tuần lễ, thậm chí ngay trong một hai ngày trước báo hiệu cuộc chính biến sắp xảy ra trong thời gian cận kề. Nhưng trong hơn bốn năm qua, tâm lý của nhiều người đã quá quen với những giai đoạn cực kỳ căng thẳng, rồi lại được giải tỏa trở lại ổn định nên cuối cùng bây giờ người ta như bị bỏ bùa mê, không còn tin tưởng có thể xảy ra chuyện nguy hiểm nữa.
Những tin tức tình báo đầu tiên có liên quan đến sự chuẩn bị một đòn bạo lực đánh vào quân đội Pháp đã được thu lượm ngay từ trong tháng 9 năm 1944. Rồi đến tháng Chạp, nhờ một loạt những thông tin có xuất xứ từ nước ngoài, người ta đã biết là đại sứ mới của Nhật Matsumoto sẽ sang Đông Dương với những chỉ thị cụ thể của Tokyo đòi chính quyền Pháp phải để cho Nhật kiểm soát quân đội Pháp, và nếu từ chối thì sẽ vô hiệu hóa đội quân này. Vào quãng giữa tháng Giêng năm 1945, bộ tham mưu Nhật báo cho Toàn quyền Decoux biết sư đoàn lục quân số 37 của Nhật ở Quảng Tây sẽ vào Bắc Kỳ và lên đóng ở cao nguyên Trấn Ninh. Bất chấp sự phản kháng của Decoux, 12.400 quân Nhật, từ ngày 6 đến 29 tháng Giêng, cứ tiến lên chiếm đóng những vị trí chiến lược ở Thượng Lào. Đôi quân Nhật cũ ở đây là sư đoàn 21, được điều về phía nam, tăng cường cho những đội quân đóng ở bờ biển Trung Kỳ, nhất là chung quanh Vinh.
Trên dãy Trường Sơn, một số đơn vị Nhật cũng được điều về đóng ở Thakhet.
Ở Nam Kỳ, một lực lượng lớn của Nhật đến đóng trên quốc lộ 13 từ Sài Gòn đi Kratié, là trục đường rút lui theo kế hoạch của quân đội Pháp khi có chiến sự. Nhiều hoạt động quân sự bất thường khác của Nhật cũng được nhận thấy ở Đà Lạt, ở Thủ Dầu Một, ở Buôn Ma Thuột... Máy bay Nhật liên tiếp bay lượn trên bầu trời vùng Ông Yên... Nói chung, theo dõi trên bản đồ và trên thực địa, thấy những cuộc điều động quân đội của Nhật, rõ ràng là tuân theo một kế hoạch đã được vạch ra cụ thể, với mục đích tập trung ở gần những vị trí đóng quân của Pháp, những lực lượng lính Nhật đông hơn về quân số, mạnh hơn về hỏa lực. Vào giữa tháng Hai, kế hoạch này coi như đã hoàn thành.
Ngày 4 tháng 3, khâm sứ Trung Kỳ nhận được nguồn tin tình báo từ Tourane là đòn bạo lực sẽ nổ ra trong 10 ngày đầu tháng 3. Ngay từ cuối tháng 2, Thống sứ Bắc Kỳ, lo ngại về những sự chuẩn bị của Nhật đã triệu tập các quan chức đầu tỉnh, và cùng tướng Sabattier chỉ thị cho họ phải sẵn sàng đối phó với một đòn bạo lực của Nhật. Ngày 7 tháng 3, sở mật thám Bắc Kỳ dự đoán cụ thể đòn này sẽ nổ ra vào ngày 9 hoặc 10. Thống sứ báo tin ngay cho Toàn quyền và các chỉ huy quân sự, tướng Sabattier báo động cho toàn quân ở Bắc Kỳ và Bắc Lào, ra lệnh cấm trại quân lính trong thành Hà Nội, rồi chiều tối ngày 8 bí mật rời Hà Nội lên hành dinh của ông ở Phủ Đoan. Cùng ngày, công sứ ở Cao Bằng báo cho Thống sứ Bắc Kỳ biết, một Hoa kiều chủ sòng bạc và gián điệp hai mang của Nhật và Trung Hoa, đã bí mật bỏ đi, sau khi báo cho biết, cụ thể sẽ có những sự kiện cực kỳ quan trọng xảy ra ngày 9.
Sở mật thám Hà Nội điện cho tất cả các sở mật thám địa phương, nói rõ Nhật sẽ tấn công trước ngày 10. Sở mật thám Sài Gòn nhận được điện này vào sáng ngày 9, và đến 17 giờ cùng ngày, gởi cho tất cả các quan chức đầu tỉnh và các thành phố ở Nam Kỳ, một bức điện không mã hóa, nói rõ những tin tức tình báo đã nhận được, và cũng dự đoán đòn bạo lực sắp xảy ra, cần chuẩn bị đối phó.
Ngày 9, vào lúc 11 giờ 45, Khâm sứ Trung Kỳ gởi điện cho tất cả các quan chức đầu tỉnh phải chuẩn bị kháng cự vì cuộc tấn công sắp xảy ra. Bức điện này mãi đến chiều mới đánh đi được, và đã không đến được tay các người nhận.
Cùng vào thời điểm 11 giờ ngày 9, Thống sứ Bắc Kỳ thân chinh sang gặp tướng tổng tư lệnh Mordant để nói rõ ông tin chắc đòn bạo lực sắp sửa nổ ra. Thế nhưng, về phía quân sự, những tin tức nhận được thì lại đáng yên tâm, vì từ ngày 7 đến nay không có một chuyện gì đặc biệt xảy ra. Đáng yên tâm đến mức, vào ngày 9 tướng Mordant đã cho giải tỏa một phần lệnh cấm trại của tướng Sabattier, cho phép sĩ quan và quân đội được về gia đình và ra thành phố.
So sánh lực lượng đêm hôm đó, thì về người hai bên ngang nhau, mỗi bên có 60.000 quân. Nhưng chỉ ngang nhau về quân số thôi, còn các yếu tố khác thì quá ư là chênh lệch. Trong quân đội Pháp có 15.000 lính Âu Châu, cộng thêm với 15.000 lính bản xứ bổ sung và 5.000 lính khố xanh.
Quân đội Nhật thì cả 60.000 quân là thuộc binh đoàn 38 đã chiếm đóng tại chỗ, cộng thêm với 35.000 của các sư đoàn biên giới đang tiến xuống phương Nam. Về mặt chất lượng chiến đấu thì quân Nhật đã đánh nhau trên các chiến trường từ 1937 đến giờ, còn quân đội Pháp thì đã hạ vũ khí từ 1940, tâm lý thì hết sức chán chường vì bị cả chính quốc và các đồng minh bỏ rơi không đoái hoài gì đến.
Về mặt chỉ huy, thì những sĩ quan được đào tạo trong các trường phái cũ với những quan điểm lạc hậu về chiến tranh hầm hào, phòng thủ cố định, không còn có thể đáp ứng được với những đòi hỏi của cuộc chiến tranh hiện đại.
Số lính bản xứ bổ sung thì cũng không coi quân Nhật là kẻ thù truyền kiếp hàng nghìn năm của mình, do đó tinh thần chiến đấu chống quân Nhật cũng không phải là hăng hái và đáng tin cậy lắm. Vả lại, như sẽ xem sau này, trong nhiều trận, quân Nhật lại cố tình nương nhẹ, bảo toàn cho “những người anh em cùng giống da vàng” với mình.
Kết cục lại như vậy, ở Bắc Kỳ chẳng hạn, nếu chỉ tính lính da trắng, Pháp chính cống, lê dương và lính thủy đánh bộ, thì quân Pháp phải chiến đấu trong tỷ lệ một chống lại bốn.
Về mặt võ khí thì lại càng thảm hại nữa. Để đối đầu với một đội quân hiện đại, trang bị rất tối tân, Pháp đã lạc hậu mất một cuộc và có thể hai cuộc chiến tranh rồi. Súng trường 8 li và súng tiểu liên, nhãn hiệu Hotchkiss mẫu mã từ năm... 1875 (!). Không có một khẩu FM nào, còn súng liên thanh Hotchkiss thì cũng từ thời thế chiến thứ nhất (1914 - 1918) để lại, với vài ba khẩu súng cối quá già nua, có những bộ phận được thay thế bằng những phụ tùng làm tại chỗ. Có được một số khẩu đại bác 65, 75, 155 ly còn bắn được nhưng lại không dùng được trong các trận đánh giáp lá cà với Nhật. Vả lại, đạn dược để đã quá lâu không được thay thế, quá cũ kỹ ẩm ướt, quả nổ quả không. Còn nói đến mấy chiếc xe tăng Renault thì lại càng buồn nữa, không có phụ tùng thay thế, chúng nằm ụ đã từ lâu như những đống sắt vụn. Còn máy bay thì suốt bốn năm qua chỉ thấy máy bay Nhật nhào lộn tập luyện ngay trên các thành phố, các khu đông dân cư.
Ấy thế mà trong suốt bao nhiêu năm trời, các đội quân cà khẳng cà kheo này chỉ có một thành tích là đi đàn áp các cuộc nổi dậy, phản kháng của nông dân, bắn giết man rợ những người không có một tấc sắt trong tay để tự vệ.
Giờ trả nợ bây giờ mới đến, tuy rằng trả như thế đâu đã đủ để tính hết cuốn sổ nợ máu với nhân dân ba nước Đông Dương.
Chỉ trong một đêm trên toàn cõi Đông Dương, đã có 2.650 binh lính và sĩ quan da trắng bị giết và mất tích.
Trong số đó phải kể đến: 1 tướng, 9 đại tá, 20 thiếu tá, 60 đại úy, 91 trung úy, 9 bác sĩ và 1 thú y bác sĩ.
Riêng ở Bắc Kỳ, trong số 9.000 lính lê dương thì 1.500 đã bỏ mạng chỉ trong vài giờ đồng hồ, từ 20 giờ ngày thứ sáu 9 tháng 3 đến 15 giờ 30 ngày thứ bảy 10 tháng 3 năm 1945.
2. Những bữa tiệc máu
Vào khoảng 3 giờ chiều ngày 9 tháng 3, tướng Lemonnier, chỉ huy trưởng thành Lạng Sơn nhận được thư của ban tham mưu các lực lượng Nhật Bản đóng ở đây, mời đến dự tiệc vào lúc 18 giờ 30. Các sĩ quan khác trong thành, cùng vị đại diện chính quyền dân sự cũng được mời đi.
Lemonnier là một vị tướng xuất sắc trong quân đội Pháp, con của một người thợ thủ công làm yên cương và đồ da ở Chateau - Gontier, trong vùng Mayenne, thời thanh thiếu niên học rất giỏi, năm 18 tuổi đã thi đậu vào trường đại học bách khoa (Poly technique), chọn chuyên khoa làm pháo thủ thuộc địa. Trong thế chiến thứ nhất, ông làm thiếu úy ở trung đoàn pháo binh 29, rồi tham dự chiến tranh ở Syrie năm 1924, ở Tây Phi thuộc Pháp năm 1929, được rút về học ở trường Chiến tranh (Scole de guerre) từ 1927 đến 1929, sau được phong tướng, chỉ huy lữ đoàn 9 của sư đoàn Bắc Kỳ. Người có học thức uyên bác, nói được nhiều thứ tiếng: Anh, Đức, Nga, Ả Rập, đọc được tiếng Phạn (Sanscrit) và đã từng theo học những lớp về Phật giáo của trường Viễn Đông Bác Cổ.
Hai ngày trước khi nhận giấy mời, Lemonnier đã được Fleutot, viên chánh mật thám khét tiếng tàn bạo thời đó ở Bắc Kỳ, thông báo cho biết tình hình nghiêm trọng, quân Nhật có thể tấn công trong 48 giờ tới. Vì thế Lemonnier đã cảnh giác tìm cớ từ chối lời mời, nhưng để khỏi tạo ra những chuyện rắc rối, ông cho phép các sĩ quan được tự do quyết định đi hay không.
Vào khoảng 17 giờ 30, quân Nhật tiếp đón rất niềm nở những người đến dự tiệc, trong số này có Auphelle, đại diện của tướng Mordant, đại tá Robert, chỉ huy phân đoàn Lạng Sơn, và ủy viên lãnh đạo của mạng lưới kháng cự Bắc Kỳ, Amiguet, thiếu tá chỉ huy pháo binh và Leroy, tiểu đoàn trưởng.
Pháp-Nhật ngồi vào bàn tiệc. Món ăn nấu theo kiểu Nhật, rượu sake rót mấy tuần chúc tụng cả Nhật hoàng lẫn Thống chế Pétain, trong những tiếng cười xã giao hỷ hả. Chỉ còn thiếu tiếng đàn Shamisen và vài chị Geisha thướt tha trong những bộ Kimono rực rỡ quỳ dâng rượu nữa, thì người ta có thể tưởng ở giữa thời bình, trong một khách sạn sang trọng nào đó tại Tokyo.
Cuối bữa tiệc vào khoảng 20 giờ, vừa dùng xong mấy món tráng miệng, uống xong một tuần rượu nữa thì bộ mặt tươi cười của chủ nhà, bỗng biến thành những bộ mặt quỷ dữ, đằng đằng sát khí. Những con dao găm sáng loáng và những khẩu súng lục xuất hiện. Amiguet và Leroy bị đâm chết ngay trên bàn tiệc. Còn Auphelle và Robert thì bị bắt trói quặt hai tay ra sau lưng.
Lúc đó là đúng 20 giờ. Ngoài đường phố Lạng Sơn, những toán lính Nhật phục sẵn đâu đó, không biết từ bao giờ, bắt đầu di động rất nhanh đến các địa điểm đã được định trước. Ở trong thành Lạng Sơn, tin tức về bữa tiệc máu đã được loan báo, người ta vội vã chuẩn bị chiến đấu.
20 giờ 45 - Nhà ăn của sĩ quan bị tấn công.
21 giờ: Pháo Nhật bắn cấp tập vào thành. Từng toán lính Nhật la thét, xung phong. Lemonnier vào cố thủ trong lô cốt chỉ huy. Suốt đêm diễn ra liên tục các cuộc tấn công và phản công. Trong các trận chiến, nhiều sĩ quan và binh lính Pháp đã tử trận. Trung tá Jenny, thiếu tá Bonifay, đại úy Lemoing, đại úy Profit... đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất Viễn Đông này.
Lemonnier gửi cho cấp trên là tướng Sabattier lúc đó đang ở trong Phủ Đoan bức điện vô tuyến khẩn cấp nói trong thành đã thiếu đạn dược và nước uống, xin cho máy bay thả dù xuống ngay cho những thứ cần thiết này. Nhưng than ôi! Chậm quá mất rồi. Trong đêm 9 rạng ngày 10, thành đã rơi vào tay quân Nhật. Lemonnier cùng một số sĩ quan bị bắt sống.
Một số lô cốt và pháo đài vẫn tiếp tục chiến đấu. Đặc biệt pháo đài Brière-de-l’Jsle, mà người tiểu đoàn trưởng Boéry chỉ huy, đã bị gãy cả hai chân ngay tối 9 tháng 3, vẫn chống trả rất dữ dội, buộc quân Nhật phải dùng đến súng phun lửa, rồi máy bay ném bom, và cuối cùng cả hơi độc mới đầu hàng. Boéry cùng tất cả những người còn sống sót đều bị quân Nhật bắt đem giết hết sau khi chúng chiếm được pháo đài.
Đến 17 giờ 30, ngày thứ bảy 10 tháng 3, thì tiếng súng ngừng hẳn trong lòng chảo Lạng Sơn.
Ở trong thành Lạng Sơn, cùng 3 pháo đài và trại quân Kỳ Lừa, tổng cộng có 4.000 binh lính, trong số đó 700 là lính người Âu và 3.300 là lính Đông Dương. Trong số 700 lính Âu này, thì 100 đã chết trong khi chiến đấu, còn lại 600 sống sót, bị thương quá nửa, ra hàng, thì bị giết sạch hết bằng kiếm, bằng lưỡi lê và những nhát cuốc. Viên tướng Nhật chỉ huy, không cần biết các công ước quốc tế về tù binh, đã ra một lệnh ngắn gọn: “Giết tất cả chúng nó”. Đối với hơn 3.000 lính Đông Dương còn sống sót, chúng cho thả ra hết. Lịch sử sau này ghi lại viên tướng đó đã bị xử như một tội phạm chiến tranh và đã đền tội.
Tướng Lemonnier thì ngay trong đêm 9 tháng 3 đã bị quân Nhật dẫn đến động Tam Thanh. Lúc đó trại quân ở Kỳ Lừa cũng đã đầu hàng sau khi người chỉ huy là đại úy tiểu đoàn trưởng Bertrand tử trận. Ở động Tam Thanh, chúng muốn bắt Lemonnier phải ký vào lệnh đầu hàng hoàn toàn và ra lệnh toàn bộ phải hạ vũ khí ngừng bắn, vì lúc này vẫn còn một số khu vực còn tiếp tục chiến đấu, như ở pháo đài Brière-de-l’Jsle đã nói ở trên, và ở những cơ sở quân sự trên bờ sông Kỳ Cùng - Lemonnier không chịu. Chúng trói quặt tay ông ra sau lưng, ấn cho quỳ xuống trên bờ một cái hố, hỏi lại lần thứ hai ông có chịu ký không? Lemonnier lại lắc đầu từ chối, tuy biết rất rõ điều gì sẽ xảy ra cho mình. Và điều đó đã xảy ra. Một hơi gió lạnh thoảng qua trong động. Đó là tiếng của lưỡi kiếm chém phập xuống và đầu tướng Lemonnier lăn xuống cái hố trước mặt ông. Hiện nay ở trung tâm Paris có một phố rất đẹp mang tên ông, chạy từ tượng Jeanne d’Arc ở đường Rivoli xuống đến bờ sông Seine, giữa bảo tàng Louvre và cùng điện Tuileries. Tướng Henry Lapierre, với danh nghĩa là một người đã từng phục vụ dưới trướng của tướng Lemonnier, là người cao tuổi nhất trong số những người thoát chết sau cuộc chính biến, và là người duy nhất sống sót trong số 9 vị tướng (hay làm nhiệm vụ tướng) có mặt ở Đông Dương vào thời điểm đó đã chua chát viết lại trong cuốn hồi ký của ông:
“Hãy hỏi những người Pháp ở chính quốc khi đi qua phố này xem chuyện gì đã xảy ra ở Đông Dương trong đêm 9 tháng 3 năm 1945, và Lemonnier là ai? Sẽ rất hiếm có người nào chịu trả lời một câu trả lời có thể chấp nhận được”.
Ít phút sau khi Lemonnier hy sinh, thì Auphelle cùng chịu chung một số phận như ông. Còn lại đại tá Robert, người cuối cũng sống sót sau bữa tiệc máu chiều tối ngày 9 tháng 3. Ông được quân Nhật đặc biệt “săn sóc”, vì chúng biết rất rõ ông là một trong số những sĩ quan lãnh đạo cuộc kháng cự ở Bắc Kỳ và đã từng dự những cuộc thảo luận bí mật với tướng Blaizot, sau này là tư lệnh trưởng đội quân viễn chinh Pháp trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ tháng 4 năm 1948 đến tháng 9 năm 1949. Với những hoạt động đó, Robert được giam riêng một mình trong căn phòng sĩ quan duy nhất còn sót lại trong thành Lạng Sơn. Ông được các “chuyên gia về hỏi cung” của Kampetai dùng mọi hình thức tra tấn để khai thác, những ông vẫn không khai báo gì. Có lẽ cũng vì cảm phục khí tiết đó, chúng cho ông được hưởng một đặc ân. Chiều tối ngày 13, những sĩ quan Nhật đến đưa cho ông một thanh kiếm, để ông tự mổ bụng theo phong tục hara-kiri của Nhật. Ông đại tá từ chối, và một người lính Nhật đã giúp ông làm điều đó.
Sau cuộc thảm sát có còn người nào sống sót không? Có đấy nhưng không nhiều. Thí dụ có một người lính vô danh cùng với khoảng 100 người nữa bị đưa đến một ngôi chùa ở trên bờ sông Kỳ Cùng. Họ bị giết bằng những lưỡi lê và những nhát cuốc, rồi bị đẩy xác xuống sông. Người lính này chỉ bị thương nặng nhưng chưa chết, lại bơi giỏi nên sang được đến bờ bên kia, tìm đường sang được đất Trung Hoa. Có trung úy Chomette cùng với những người đã chống trả trong pháo đài Brière-de-l’Jsle, kể cả đại úy Boéry với đôi chân gãy, bị lùa đến trước mấy họng súng liên thanh. Súng nhả đạn. Những người chưa chết còn thoi thóp sẽ bị chém bằng kiếm và đâm bằng lưỡi lê. Chomette nằm thật yên giả chết và đã sống sót. Có đại úy Vermières và trung úy Ducasse bị thương rất nặng, không biết thế nào lại được mấy người Nhật rủ lòng thương - chuyện hiếm có - và đưa về điều trị trong trạm xá quân y của họ. Có đại úy Michel trốn trong thành Lạng Sơn chứ không ra đầu hàng cùng với những người khác, chờ ban đêm, thoát ra được, tìm đường đi lên Cao Bằng, cứ định hướng bằng những ngọn lửa thiêu xác lính Nhật tử trận mà luồn đi trong rừng...
3. Biến tấu của kịch bản tiệc máu
Ở Hà Giang kịch bản cũng tương tự như ở Lạng Sơn, nhưng với vài biến tấu khác. Ngay trong tháng 2 năm 1945, khi viên thiếu tá Nhật Sawano vừa tới nhận quyền chỉ huy, hắn đã có “nhã ý” mời các sĩ quan Pháp đến dự một tiệc rượu để chào xã giao tại một trong hai khách sạn của thị trấn bị chúng trưng dụng. Ngày 1 tháng 3, lấy cớ bị nhầm lẫn vì tưởng các sĩ quan Pháp mời đáp lễ, hắn một mình đi vào doanh trại quân đội Pháp, ngó nghiêng quan sát khu chỉ huy của thiếu tá Moullet trong lúc ông này vắng mặt.
Rồi ngày 8 tháng 3, hắn đạt một giấy chính thức mời toàn thể ban tham mưu quân đội Pháp tối hôm sau đến dự tiệc trong doanh trại quân đội Nhật. Thiếu tá Moullet, vì đã hiểu rõ lòng dạ nham hiểm của tên Sawano, nên từ chối và tương kế tựu kế, lấy cớ đáp lễ bữa tiệc rượu hôm trước, cũng chính thức mới Sawano và các sĩ quan Nhật đến dự tiệc rượu trong tư thất của mình, vào cùng ngày cùng giờ. Sawano nhận lời.
Thiếu tá Moullet cho chuẩn bị kỹ càng cuộc đón tiếp này. Ông lệnh cho 7 sĩ quan trong ban tham mưu khi đến dự tiệc phải bí mật và kín đáo trang bị vũ khí tự vệ cá nhân. Ông bố trí một đội lính lê dương bồng súng có mang đạn lên nòng làm hàng rào danh dự chào quan khách. Rồi ông đặt toàn bộ quân đội trong tình trạng báo động cao nhất.
Ngày 9 tháng 3, 19 giờ, thiếu tá Sawano cùng 7 sĩ quan Nhật đến dự tiệc. Trong số 7 sĩ quan này thì 5 người không phải là sĩ quan mà là những kiếm sĩ đóng giả sĩ quan. Rượu vài tuần, cụng ly hỷ hả chúc mừng lẫn nhau. Rồi bỗng như nổi hứng lên, mấy viên sĩ quan Nhật gào lên hát các bài hát Nhật. Sawano, dường như không quen uống rượu Tây, có vẻ say rượu, thấy khó chịu trong người, cáo lỗi xin được ra về trước. Moullet tiễn hắn ra đến cửa, thì đúng vào lúc đó, như đã có mật hiệu từ trước, điện bị cắt, cả thành phố chìm trong bóng tối.
Trong phòng tiệc, các kiếm sĩ vội rút đoản kiếm ra xông vào chủ nhà. Đại úy Jolly bị giết chết ngay. Đại úy Van den Akker bị trọng thương, 3 sĩ quan khác bị bắt sống. Chỉ có trung úy Kerenneur cùng với thiếu tá Moullet chạy ra được, lên cố thủ trong một gác xếp để đồ trong tư thất. Trong thành phố, hàng trăm quân lính Nhật đã phục sẵn, từ trong bóng tối hiện ra, tỏa ra các nơi và nổ súng lia lịa.
Quân Pháp chống cự suốt đêm trong các doanh trại và các điểm tựa, cũng như trong pháo đài Billote do đại úy Jean Cenelle chỉ huy. Đến rạng ngày 10 thì các công sự bị chiếm hết, chỉ trừ có pháo đài và gác xếp của tư thất. Khoảng 9 giờ sáng, mọi việc đều kết thúc, quân Nhật đã làm chủ thị trấn Hà Giang. Sawano lại dùng những thủ đoạn thường xuyên, đe dọa sẽ giết hết nếu không đầu hàng. Moullet là người cuối cùng ra hàng. Sawano đã biệt đãi ông bằng cách cho đưa đến trước mặt ông lúc đó đi bị trói chặt, vợ, con trai và ông bố vợ của ông. Rồi hắn ra lệnh cho giết hết 80 tù binh người Âu và cho hiếp đến chết tất cả các phụ nữ da trắng bắt được. Giết bằng kiếm, bằng lưỡi lê và những nhát cuốc hình như theo một hình thức được quy định từ trước của chúng trong năm 1945 này. Riêng lính Đông Dương tất cả đều được chúng thả ra hết.
Ở Hà Cối lại có một biến tấu khác cũng không kém phần ngoạn mục. Kịch bản bây giờ không phải là bữa tiệc máu nữa, mà là một trận đấu bóng chuyền và cuộc giải khát sau trận đấu. Trong ngày 9 tháng 3, một đội quân Nhật khá đông đến đóng ở Hà Cối, một thị trấn nhỏ xíu nằm giữa Tiên Yên và Móng Cái. Đại úy Nhật chỉ huy đội quân này mời người đồng cấp là đại úy Régnier, chiều hôm đó đến dự một trận đấu bóng chuyền hữu nghị của quân Nhật. Régnier nhận lời, để đồn binh lại cho một trung úy và một thiếu úy chỉ huy. Hai người này được mời để dự cuộc giải khát sau trận đấu nhưng họ không thể bỏ đồn đi được.
Kết cục, Régnier bị bắt làm tù binh, không chịu ký lệnh cho đồn đầu hàng. Nhưng đến đêm thì đồn bị tấn công và chiếm đóng. Tất cả binh lính người Âu đều bị giết sạch. Đến rạng sáng ngày 10 thì Régnier cũng bị hành hình chém đứt đầu.
4. Người từ cõi chết trở về
Ở Đồng Đăng thì không có tiệc máu, nhưng cuộc thảm sát cũng cực kỳ man rợ. Đồn Đồng Đăng được xây dựng mới và được coi là đồn vững chãi nhất trên biên giới với 4 pháo đài chìm nối với nhau bằng những đường ngầm, có trang bị 2 khẩu pháo 75, 2 khẩu cối 81 và 25 súng tự động. Đồn mang tên Van-Vollenhoven có quân số 150 người với 20 lính người Âu, đặt dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Soulié.
Trong ngày 9 tháng 3 quân báo cho biết có khoảng 3.000 lính Nhật đang tiến về phía Đồng Đăng. Vào khoảng 21 giờ 15, người ta nghe thấy một tiếng súng đại bác đầu tiên, rồi tiếp theo là nhiều tiếng khác. Đó là quân Nhật bắn để “nắn gân” quân trong đồn, vì chúng cũng chẳng cần đến yếu tố bất ngờ nữa. Vào quãng 23 giờ, một toán lính Nhật gồm 8 tên tìm đường đột nhập vào đồn để thăm dò các ổ đề kháng. Một cuộc giáp chiến xảy ra, tìm diệt nhau, kéo dài cho mãi đến 3 giờ sáng. Tât cả 8 tên lính Nhật đều bị giết, nhưng thiếu tá Soulié cũng bị trọng thương, đưa được vào trong đồn thì chết. Đại úy Anosse cho chôn thiếu tá ngay trong sân đồn và lên thay nắm quyền chỉ huy.
Ngày 10, quân Nhật dùng thang định leo qua tường đồn, bị bắn dự dội phải rút lui. Ngày 11, chúng cho phái viên đến cổng đồn kêu gọi đầu hàng. Đại úy Anosse trả lời: “Người ta chỉ đầu hàng nếu bị thua sức mạnh mà thôi”. Đến chiều hôm đó,lại một lần kêu gọi đầu hàng nữa cũng bị đại úy Anosse từ chối.
Hai toán cơ động do thiếu úy Jacobi chỉ huy, lọt ra khỏi được đồn, đi tới nhà ga đưa được về đồn một nhân viên hải quan người Âu, trốn trong làng. Cả đêm 11, quân Nhật nã pháo liên tục vào đồn.
Ngày 12, vào lúc 3 giờ sáng, chúng mở một cuộc tấn công lớn. Trận đánh kéo dài đến 10 giờ sáng. Vào giờ này, quân Nhật ào lên xung phong chiếm được đồn. Trong đồn không còn đạn dược nữa phải kéo cờ trắng đầu hàng.
Và bay giờ tấn đại bi kịch mới thực sự bắt đầu. Hãy nghe một người thực sự từ cõi chết trở về báo cáo lại. Tên anh ta là Cron, binh nhì trong trung đoàn 3 Bắc Kỳ:
“Quân Nhật ra lệnh cho tất cả chúng tôi phải tập trung dưới hàng hiên, và đứng thật yên, không được nhúc nhích. Ông đại úy Anosse được gọi ra khỏi hàng quân đến trao đổi với các sĩ quan Nhật một lát, bằng tiếng Anh. Khi trở về, ông tươi cười rất tự hào nói với chúng tôi là quân đội Nhật rất khen ngợi cuộc kháng cự anh dũng của chúng tôi đến mức còn gọi chúng tôi là những “con sư tử”. Sau đó các sĩ quan Nhật cho lính mang những ghế dựa ra ngồi ở ngoài sân, và ra lệnh cho đại úy Anosse đến ngồi với họ, những ngồi xổm ở dưới đất. Một sĩ quan Nhật đi ra sau lung ông, bất thần dùng đốc kiếm giáng một đòn thật mạnh vào gáy ông, làm ông ngã nghiêng sang một bên. Và lúc đó một sĩ quan Nhật khác rút khẩu súng lục trong bao ra, nhắm thẳng vào đầu ông bắn mấy phát liền, làm hộp sọ vỡ tan, óc bắn tung ra trên mặt đất. Trước hành động cực kỳ tàn bạo này, chúng tôi đứng chết lặng đi, vừa bất lực vừa kinh hãi.
Rồi một tên sĩ quan nữa đến trước mặt chúng tôi, lấy tay chỉ 9 người lính Âu còn sống sót, khoảng 40 người lính Đông Dương, và 2 phụ nữ bị bắt đang lúc băng bó cho thương binh. Chúng bắt chúng tôi phải ra ngồi ở ngoài sân. 10 phút sau, chúng tôi được lệnh phải đi về phía tám lính Nhật bị giết đêm đầu tiên, đi qua đó đến những kho chứa hàng của hải quan, và ở đó đã thấy ông chủ bưu điện và người phụ tá của ông bị bắt giam từ buổi sáng. Chúng bắt chúng tôi phải cởi hết quần áo, ở truồng. Đêm đến. Chúng tôi từ sáng không được ăn uống một tí gì. Chúng bắt chúng tôi ra sân tổng cộng tất cả là 54 người bị trói tay vào nhau. Chung quanh chúng tôi đầy nhóc lính Nhật vác súng cắm lưỡi lê. Chúng đưa chúng tôi ra khỏi đồn, đi về phía doanh trại quân Nhật, trên bờ con đường đi về Lạng Sơn, và bắt chúng tôi quỳ xuống trước một đường hào. Đến đây chúng tôi chắc chết và chờ chết nhưng hoàn toàn bất lực không thể làm gì được. Và cuộc hành hình bằng kiếm bắt đầu. Có người trong số chúng tôi phải chém đến ba nhát mới đứt đầu. Chúng tôi nghe cứ mỗi nhát chém anh ta lại la lên: “Nước Pháp muôn năm”. Chém rồi xác ngã nhào xuống đường hào. Người nào chưa chết thì lính Nhật đứng ở trên lấy lưỡi lê đâm túi bụi xuống cho chết hẳn.
Đến lượt tôi. Tôi ở vào số những người cuối cũng. Như một cách phản xạ, tôi căng các cơ bắp ở cổ và nghiêng đầu theo đà của lưỡi kiếm nên kiếm chỉ vạt vào một bên đầu. Tôi ngã bổ xuống đường hào, đầu cắm xuống trước, được xác của người bị chém sau đè lên. Anh này còn giãy giụa, thế là bị một tên lính Nhật dùng lưỡi lê đâm nhiều nhát cho chết hẳn. Một lát sau lâu lắm, không nghe thấy tiếng động gì nữa, bọn Nhật đã đi hết, tôi cố lách người ra, từ từ ngồi dậy rồi leo lên khỏi bờ hào, trốn vào trong đêm.
Đi đường, tôi gặp hai người lính Đông Dương và nhập bọn với họ. Một người đã bị đâm đến chín nhát lưỡi lê. Đi khoảng vài trăm mét nhìn lại thấy ngọn lửa đang bốc lên rừng rực, nơi chúng tôi vừa bị hành hình. Đó là bọn Nhật đang đốt xác những người vừa bị giết để phi tang. Đi được khoảng 6 cây số, chúng tôi thấy một căn nhà bỏ hoang bên đường nên vào nghỉ tạm và được những người dân địa phương giúp đỡ cho ăn uống. Vì chỗ này còn gần quân địch quá, nên chúng tôi không dám ở lại đó, phải tản vào ngủ trong rừng...” (Báo cáo của binh nhì Cron, thuộc trung đoàn 3 Bắc Kỳ).
Ở Cao Bằng thì quân Nhật không tốn một viên đạn nào vì quân Pháp chưa đánh đã hàng ngay. Cao Bằng được đặt dưới sự chỉ huy của đại tá Séguin, tư lệnh trung đoàn 9 bộ binh thuộc địa và đại úy Reul phụ trách địa bàn. Hai viên sĩ quan này thấy địa thế của Cao Bằng rất khó phòng thủ, không thể giữ được nên quyết định rút quân ra khỏi “cái tổ ong vò vẽ Cao Bằng” (Guêpier de Cao Bằng) vào rừng, tìm đường sang đất Trung Hoa, và để lại cho đại úy Fargues trọng trách “ở lại và kháng cự”, đồn Cao Bằng được xây dựng mới, vào tháng 3 năm 1942, trên địa điểm của thành cổ, trong hệ thống tuyến phòng thủ Bắc Kỳ, gọi là “tuyến Mordant”. Đồn mang tên Huntziger, là tên của một vị tướng lục quân thuộc địa, đã ký với quân Đức hiệp định đình chiến 22 tháng 6 năm 1940, và làm Bộ trưởng quốc phòng trong chính phủ Vichy cho đến khi chết vì tai nạn năm 1941.
Đồn có một hỏa lực khá mạnh với 4 khẩu pháo 75,4 khẩu cối 22 đại liên và 6 trung liên. Quân Nhật đưa một trung úy Pháp, tù binh bị bắt ở Lạng Sơn đến thông báo đe dọa sẽ giết hết nếu không đầu hàng và bắt viên trung úy kể lại cuộc thảm sát tập thể mà anh ta đã chứng kiến và chưa hoàn hồn.
Ngày 14 tháng 3 năm 1945, Fargues để tránh một cuộc đổ máu mà ông biết sắp xảy ra và thế nào cũng sẽ xảy ra, quyết định hạ vũ khí đầu hàng.
Mặc dù nhà văn chiến đấu Charles Péguy có viết ở đâu đó một câu đánh giá như dao chém đá “Kẻ nào đầu hàng, dâng một địa điểm, thì mãi mãi cũng chỉ là một tên khốn nạn”, nhưng Fargues, một sĩ quan xuất sắc, có thể là một người có tâm địa tốt, chỉ muốn cứu mạng sống cho binh lính dưới quyền mình khỏi chết vô ích trong một trận chiến đấu quá chênh lệch, trước sự tàn bạo mất hết tính người của quân Nhật.
Nhưng cái bóng đen của “tên khốn nạn” kia cứ ám ảnh ông mãi, và ngày sau cuộc chiến tranh đã giết chết ông trong một tâm tư u uất hổ thẹn. Nhiều đồn bót khác tuy nhỏ yếu hơn đã kháng cự một cách tuyệt vọng.
Ở Quảng Yên, trung đoàn hỗn họp lục quân thuộc địa đã chiến đấu suốt đêm 9 rạng ngày 10 tháng 3, giữa những phụ nữ và trẻ con trong doanh trại, để lại 118 thương vong. Trong cùng đêm, Đáp Cầu chiến đấu được vài giờ. Ngày 11, Đình Lập bị tấn công, đến đêm thì bị hạ. Ngày 12 Yên Bái bị chiếm đóng. Ngày 13, Na Chầm bị ném bom, đại úy Meric, trưởng đồn bị Nhật hành quyết sau trận chiến. Ở Lào Cai cuộc kháng cự có dữ dội hơn. Đồn mang tên Pennequin, do một đại đội của tiểu đoàn 1 Bắc Kỳ chống đỡ, với một khẩu pháo 75 đã chiến đấu suốt một đêm, chỉ gục ngã khi Nhật bắn đại bác theo đường thẳng vào đồn, và bộ binh Nhật xung phong lên với khẩu súng phun lửa. Chuyện ở Bình Hỷ gần Na Chầm thì buồn thảm hơn: quân lính Đông Dương nổi lên giết chết trung úy Mougin trưởng đồn rồi bỏ chạy để trống đồn...
5. Trận đánh kết thúc vì không còn người chiến đấu
Về phía Tây Bắc tình hình cũng không có gì sáng sủa hơn.
Bình Lư là một ngã ba quan trọng bảo vệ hậu phương của Lai Châu, Tuần Giáo và Sơn La. Đội quân của đại úy Prugnat lên tăng cường đang cố bắt nối với đội quân Pháp chiến đấu ở đó, nhưng không được phải tản vào các rừng núi chung quanh.
Ngày 11 tháng 3, đại úy Charbouneau, chỉ huy Phong Thổ lại điều về đó một toán quân nữa và giao trách nhiệm cho trung úy Ecochard cùng với 100 binh lính bằng mọi giá phải bảo vệ địa điểm này. Ngày 14, cuộc phòng thủ còn được tăng cường bởi đại đội của đại úy Bichoux rút từ Baxát về.
Bình Lư được tăng cường như vậy có nhiệm vụ phải kìm chân quân Nhật để cho quân tiếp viện ở Tông có đủ thì giờ lên tới nơi. Ngày 24 tháng 3 quân Nhật từ Sapa tới, tấn công vào vị trí cây số 9 do đại úy Bichoux chống giữ trong suốt hai ngày. Vào chiều 25, khoảng 16 giờ, quân Nhật làm động tác bao vây vị trí buộc Bichoux phải rút lui về cây số 5 đang được trung úy Ecochard bảo vệ. Hai sĩ quan hợp đồng với nhau, dàn quân sang hai bên sườn của nhau để bảo vệ lẫn cho nhau và tạo nên ở giữa một cái bẫy thu hút quân địch. Họ còn thực hiện một động tác nghi binh trên một cái đèo ở trung tâm để thu hút hỏa lực của địch, và đợi địch đến gần mới nổ súng.
Tất cả đã diễn ra như dự định. Quân Nhật pháo kích mạnh mẽ rồi xông lên tấn công. Quân Pháp nổ súng bắn rất dữ dội. Quân Nhật bị thương vong nhiều phải tản vào hai bên rừng, bị đạn cối và đạn VB của Pháp bắn đuổi theo. Lúc này hai sĩ quan hội ý có nên rút đến một vị trí khác dễ phòng thủ hơn để tiếp tục chiến đấu không? Nhưng rút đi đâu vì sau lưng là vùng đồng bằng, địa hình trống trải, hỏa lực của địch lại rất mạnh. Vả lại, nhiệm vụ được giao là phải bằng mọi giá giữ vững được vị trí cho đến khi toán quân của Prugnat đến được Bình Lư trước quân Nhật. Ecochard quyết định ở lại.
Khoảng 17 giờ 30, quân Nhật lại xông lên tấn công, được yểm trợ bởi hỏa lực mạnh của đại liên và súng cối, nhưng vẫn bị kìm chân lại. Khoảng 20 giờ, một đợt tấn công nữa bằng lựu đạn cũng bị đánh lui. Sau đó, cứ sau mỗi giờ chúng lại xông lên, thương vong rất nhiều nhưng vẫn không đánh bật được quân Pháp.
Vào khoảng nửa đêm, chúng dồn hết lực lượng mở một cuộc tấn công lớn, và cũng là cuộc tấn công cuối cùng, cuộc tấn công quyết định.
Quân Nhật, đông như kiến, vừa la thét kinh khủng vừa xung phong lên, tràn ngập khắp bốn bề. Một cuộc giáp chiến đẫm máu diễn ra. Quân Pháp bị đè bẹp dưới số đông. Ecochard, thương tích đầy mình, là người còn sống sót cuối cùng, vùng đứng thẳng lên, bắn hết đạn trong khẩu súng lục của mình rồi mới ngã xuống bên cạnh các đồng đội. Trận đánh kết thúc vì quân Pháp không còn một người nào sống sót.
(Theo báo cáo của đại đội 11, Trung đoàn bộ binh Bắc Kỳ II/1)
Luân Châu ngày 1 tháng 4 - 10 giờ sáng nhìn thấy quân Nhật cách 1 cây số. 10 giờ 20, chúng tấn công và bị kìm lại bởi đạn cối và đạn VB. 12 giờ lính gác báo cáo, quân Nhật đang len lỏi ở bên phải và bên trái bìa rừng.
12 giờ 25, chúng bất ngờ tấn công từ trong rừng ra. Chúng bắn như vãi đạn, bắn chính xác như bắn bia. Đại úy chỉ huy Alveny bị hai vết thương ngã xuống. Thiếu úy lessons chạy lại đỡ ông lên, trong khi trung úy Poitevin cố tìm cách rút lui qua một đường tắt để xuống đường cái tỏa ra cánh đồng. Đại úy được đặt trên một chiếc cáng do hai người lính là Ferrani và Neveu khiêng đi, Poitevin đi tập hậu để bảo vệ; bằng một khẩu tiểu liên. Nhưng rồi Ferrani bị thương ở tay và Neveu bị thương ở chân. Cả hai bỏ rơi chiếc cáng, làm đại úy ngã xuống đất. Tất cả chạy tản ra để tự vệ dưới làn đạn của địch.
16 giờ, những người sống sót rút lui được về đến Nậm Men. Xác của đại úy Alveny nằm lại trên đồng cỏ...
(Trích nhật ký đi đường của thiếu úy Jessons)
Sơn La 24 tháng 3. Vào ngày giờ này không còn có chuyện bất ngờ nữa nên phải lo phòng thủ. Nhưng cái lòng chảo quá chật hẹp này khó mà bảo vệ được, nên ban chỉ huy ở đây quyết định trong đêm 25 rạng ngày 26 phải rút hết ra ngoài. Tất cả các cơ sở, kho xăng, kho đạn đều đốt cháy hết. Cây cầu cũng bị phá hủy luôn.
Tiểu đoàn 2 do đại úy Besset chỉ huy đến đóng ở một vị trí thuận lợi cắt ngang con đường, ở cách Sơn La 7 cây số. Tại đây còn có một điểm tựa số 1 do đại úy Duget chỉ huy với đại đội 5 đóng giữ, cùng với một toán phi công từ căn cứ không quân Tông lên tiếp viện. Đại đội 7 thì đóng ở cây số 5. Đằng trước họ là một hệ thống tiền đồn do đại úy Courant chỉ huy. Sở chỉ huy của tiểu đoàn thì đóng ở gần điểm tựa số 1.
Buổi chiều ngày 26, đại úy Cockborne, chỉ huy tiểu đoàn 2, cho làm một cuộc thăm dò ở bên ngoài những tiền đồn của cây số 5, không thấy có gì khả nghi. Nhưng vừa chập tối vào quãng
19 giờ, thì các tiểu đồn đột nhiên bị quân Nhật tấn công bằng tiểu liên và lựu đạn. Chúng bị chống trả lại kịch liệt. Đại úy chỉ huy tiểu đoàn phán đoán quy mô cuộc tấn công và thấy những tiểu đồn này chắc không thể chống giữ được qua đêm nên ra lệnh cho rút lui về, vừa rút vừa đánh để làm chậm bước tiến của quân địch. Nhưng chúng theo sát và vẫn tiến lên rất nhanh, tiếp cận được với các vị trí phòng ngự và tổ chức các đợt xung phong liên tiếp trong suốt 4 giờ đồng hồ liền với một hỏa lực cực mạnh súng cối, đại liên và lựu đạn. Lính lê dương và các phi công cầm cự được đến 23 giờ thì quân Nhật tạm thời rút lui, các vị trí phòng thủ được củng cố lại, cả đêm mọi người căng thẳng chờ đợi đến sáng.
Sáng hôm sau, vào khoảng 6 giờ 30, trong một cuộc tấn công dữ dội với những tiếng thét kinh khủng và dưới một trận mưa rào sập xuống, chúng chiếm được một số điểm cao, từ đó nã đạn cối, súng liên thanh chính xác vào các vị trí Pháp...
Trận chiến ác liệt cứ như thế kéo dài đến 11 giờ trong các đợt xung phong liên tiếp của quân Nhật. Đến 13 giờ 30 thì có lệnh cho quân Pháp rút lui toàn bộ. Sơn La rơi vào tay quân Nhật. Rồi Tuần Châu... Rồi Tuần Giáo... Rồi Mãlítao... cứ lần lượt theo nhau gục ngã, bị Nhật chiếm đóng. Thế là con đường đến Lai Châu bị mở toang.
6. Ngài trung tướng ngáp và nổi quạu
Thế còn những trung tâm lớn ở vùng xuôi thì sao? Hải Phòng thế nào? Hà Nội ra sao?
Sau đây là tóm tắt tường thuật của chính một người trong ở cuộc, tướng Henry Lapierre, người chỉ huy cuộc chiến đấu ở Hải Phòng. Ở đây thực sự cũng không thể nói là có yếu tố bất ngờ được nữa. Lapierre cay đắng nhận xét:
“Tuy rằng trước cuộc tấn công đã có những tin tức tình báo chính xác cho thấy rõ ý đồ của Nhật, nhưng những tin tức đó đã không được chuyển đi kịp thời và với một sự chính xác đầy đủ, làm cho các cấp dưới phải lâm vào những tình trạng rất khó khăn...”
Đêm 8 rạng ngày 9 tháng 3, vào quãng 0 giờ 50, ban tham mưu của lữ đoàn 1 (Hải Phòng) nhận được hai bức điện mật mã từ ban tham mưu sư đoàn Bắc Kỳ ở Hà Nội phát đi ngày 8 lúc 19 giờ 50.
Điện số 95: “Do yêu cầu của ngành đường sắt, trung đoàn hỗn họp 19 (19 RMIC) sẽ ở lại Hải Dương thêm một ngày nữa”.
Điện số 96: “Tổng thao diễn báo động cho toàn nhóm phân sư đoàn Hà Nội bắt đầu từ ngày hôm này vào lúc 20 giờ 30”.
Với bức điện 95, kết quả là ngoài những rắc rối về vấn đề chỉ huy, thì tiểu đoàn 1 sẽ không có súng liên thanh và súng cối thêm một ngày nữa. Như thế có thể hiểu là tình hình chưa có gì khẩn trương lắm.
Với bức điện 96, những chữ “tổng thao diễn báo động” (exercise général d’alerte) có thể hiểu là một cuộc kiểm tra thường kỳ các biện pháp phải tiến hành trong trường hợp có báo động. Như vậy, cũng với bức điện trên, càng chắc chắn là tình hình chưa đến nỗi nghiêm trọng lắm. Lúc nhận điện là 1 giờ sáng, thì những chữ “bắt đầu từ ngày hôm nay 20 giờ 30” có nghĩa là cuộc diễn tập sẽ bắt đầu vào lúc 20 giờ 30 ngày 9 tháng 3, tối ngày mai.
8 giờ 30 sáng ngày 9, vấn đề được đặt ra cho Lapierre là vào lúc nào thì sẽ kết thúc cuộc thao diễn. Viên trung úy hải quân Loréal và viên đại úy Quinet trong “Ủy ban liên lạc Pháp - Nhật” được cử đi thăm thú tình hình xem về phía Nhật có động tĩnh gì không. Đến 11 giờ, hai viên sĩ quan về báo cáo “không thấy có gì thay đổi trong sinh hoạt của các sĩ quan Nhật và trong hoạt động của ban liên lạc”. Đại úy Meridan, đại diện của Pháp ở “Ủy ban liên lạc Pháp - Nhật” tại Hà Nội được hỏi, cũng trả lời bằng điện thoại “ở đây, tất cả đều yên tĩnh”.
Chưa yên tâm, Lapierre lại điện hỏi đại úy Kerhoas trong ban tham mưu của sư đoàn và được trả lời “không có gì mới”. Điện gặng hỏi lại thêm lần nữa, vẫn là “không có gì mới”. Nhưng Lapierre vẫn lệnh cho các sĩ quan từ 11 giờ 30 đến 12 giờ phải đi ăn trưa theo hai đợt để có người trực, và lệnh cho nhà bếp chuẩn bị cho bữa ăn chiều cho tất cả các sĩ quan vì phải cắm trại.
14 giờ, đại tá Maupin chỉ huy tiểu đoàn RMIC 19, lúc đó đang ở Quảng Yên, rất lúng túng về việc phải chia tiểu đoàn ra từng tốp 50 người, đi cách nhau 30 phút để qua phà. Mặt khác, các trang thiết bị, võ khí đạn dược của tiểu đoàn phải chở đi bằng thuyền, sẽ xuất phát từ Quảng Yên vào lúc 17 giờ.
14 giờ Lapierre đánh điện về ban tham mưu sư đoàn hỏi: “Xin cho biết theo điện số 95 thì tiểu đoàn RMIC 19 có hành quân về phía Hà Nội hay không?” - không biết bức điện có đến nơi hay không, nhưng không có trả lời.
14 giờ 30 viên đốc lý thành phố Hải Phòng Luciani mời Lapierre đến ngay tòa đốc lý có việc rất khẩn cấp. Đến nơi, ông đưa cho Lapierre đọc một bức điện của Thống sứ Bắc Kỳ báo tin “Khả năng có thể có một cuộc chính biến của các phần tử quốc gia (nationalistes) người bản xứ được quân đội Nhật yểm trợ”. Bức điện cũng căn dặn đốc lý phải cảnh giác đề phòng “có thể ông ta sẽ bị bắt cóc”.
15 giờ Luciani triệu tập họp tất cả những người đứng đầu các ban và những người cộng sự trực tiếp tuyên bố nếu bị tấn công sẽ tuyên bố tình trạng giới nghiêm và tất cả các cơ quan hành chính dân sự, sở mật thám, sở cảnh sát, cùng đội lính khố xanh sẽ đặt dưới quyền chỉ huy của ông.
Lapierre có dự cuộc họp này đề nghị thêm lấy bệnh viện của thành phố làm nơi lánh nạn của các gia đình người Âu khi có tấn công.
17 giờ, lính gác báo cáo trên sân thượng của hãng than (Charbonnage) thấy lố nhố có nhiều quân Nhật, có vẻ chú ý đặc biệt quan sát doanh trại Bouet của quân đội Pháp.
18 giờ 45, đại tá Maupin báo cáo về Hà Nội, quân của ông khi qua phà bị quân Nhật xả súng tấn công. Hà Nội trả lời: “Ở đây yên tĩnh. Có thể đó chỉ là một sự kiện đụng độ nhỏ. Sẽ phái Loréal với sĩ quan Nhật đi giải quyết”.
19 giờ Lapierre gọi điện hỏi Maupin: “Loréal đã đi rồi. Tránh đừng làm cho chuyện xấu đi hơn. Còn bắn nhau nữa không?” Trả lời: “Đã ngừng bắn, nhưng quân Nhật kéo về phía ở Quảng Yên. Tôi sẽ dồn quân về trại Galliéni. Sẽ chỉ nổ súng nếu trại này bị tấn công”.
19 giờ 10, hạ sĩ Kolbacher từ ngoài cảng báo cáo: “Quân Nhật tước vũ khí của các lính gác một cách thô bạo”.
19 giờ 15. Các sĩ quan đã ăn tối xong đợt 1.
19 giờ 20. Báo động toàn thể. Những lỗ châu mai của các lô cốt được mở ra. Những két lựu đạn được khiêng đến, mở sẵn nắp két.
19 giờ 25, ba tiếng nổ lớn. Giờ G đã đến. Súng bắn như mưa. Quân Nhật vừa la thét vừa xông lên tấn công doanh trại Bouet. Trận chiến bắt đầu.
Tình hình trong doanh trại Bouet lúc đó như sau. Trong trại có:
- Ban tham mưu của tiểu đoàn 1: đại tá Lapierre, đại úy Elie, đại úy Polak, hạ sĩ Strazza từ một cơ sở ở giữa thành phố đã rút về đây khi nhận được điện số 96.
- Lapierre cho phá hủy bảng mật mã và các tài liệu mật.
- Toàn bộ quân lính và ban chỉ huy của RMIC 19 gồm: đại tá chỉ huy trưởng, 17 sĩ quan, 42 hạ sĩ người Âu và 65 lính Âu, 250 hạ sĩ và lính Đông Dương.
- Bệnh xá của doanh trại có 2 bác sĩ, 2 y tá người Âu, 1 hạ sĩ tài vụ và 1 y tá Đông Dương.
- Nhiệm vụ của doanh trại: bảo vệ doanh trại “đến giới hạn có thể được”.
- Trại ở giữa thành phố, 3 mặt có tường cao 1,5 thước, trên có rào sắt. Chỉ có vài ba lô cốt xây ẩu tả bằng vật liệu mua trôi nổi ở địa phương. Không có một thước hàng rào kẽm gai nào vì không tìm được ở đâu có để mua. Trại nằm giữa những nhà dân có gác cao ở bốn hướng xung quanh, “trông giống như một công viên hơn là một thành trì”.
19 giờ 25, quân Nhật tấn công mặt đông và mặt bắc. Chúng đã chiếm hết các nhà dân ở ngoài phố chung quanh trại, từ trên các gác cao nã súng vào trại. Trại bắn trả lại dữ dội.
19 giờ 45, đánh điện theo mật hiệu “Hải Phòng - Saint Barthelemy” để báo tin bị tấn công cho tướng tổng tư lệnh ở Hà Nội.
20 giờ quân Nhật dùng máy tăng âm phát lời kêu gọi bằng tiếng Pháp: “Hỡi người Pháp, nếu các người muốn tránh tai họa cho bản thân và gia đình thì hay hạ vũ khí, các người sẽ được an toàn”. Sau đó kêu gọi bằng tiếng Việt. Dứt tiếng kêu gọi, tiếng súng máy tiếp tục nổ ran trên đại lộ Bounal.
20 giờ 15, mặt đông bắc bị tấn công bằng súng cối và lựu đạn. Binh nhất Carre giữ khẩu liên thanh ở đây bị trọng thương, súng bị phá hủy. Nhiều thương vong ở mặt này.
20 giờ 30, quân Nhật len lỏi vào doanh trại. Hỗn chiến với một toán lính Nùng. Trung úy Phạm Khắc Bùi bị trọng thương, đạn bắn vào ngực và lưỡi lê đâm nhiều nhát.
21 giờ, đại úy Ammont được phái đi xem tình hình ở mặt đông bắc cùng với 10 lính lê dương. Ammont bị thương, chỉ còn 3 người lính ở lại với anh ta.
22 giờ. Quân Nhật lại kêu gọi hạ vũ khí, chúng thâm nhập vào mặt tây do trung úy Claire chống giữ. Tiểu đoàn trưởng Simon tử thương. Đại úy Filliot bị thương vào gần xương sống không thể đứng dậy được nữa. Thế là ban chỉ huy chiến đấu của RMIC 19 từ 9 sĩ quan nay chỉ còn lại 5.
22 giờ 30, đại úy Margerel và đại úy Quinal được lệnh đi thay Filliot và Simon. Quinal bị chết trên đường đi đến vị trí chỉ huy.
Một tiểu đoàn trưởng Nhật trèo qua hàng rào sắt bằng thang vào được trong doanh trại và đặt sở chỉ huy ngay trong các văn phòng của trại. Ở đây đã có nhiều quân Nhật thâm nhập vào được từ trước và đã mắc được đường dây điện thoại dã chiến ra ngoài.
24 giờ, trung sĩ Henri đi tiếp tế cho lô cốt 6, không trở về nữa. Lô cốt này lúc đó đã bị Nhật chiếm lúc nào không ai hay biết. Tất cả binh sĩ trong lô cốt đã chết hết.
2 giờ sáng, lời kêu gọi tối hậu: “Nếu trong 20 phút nữa, không hạ vũ khí thì quân Nhật sẽ tổng tấn công”.
2 giờ 20, súng cối Nhật bắn dữ dội nhưng cuộc tổng tấn công không xảy ra.
3 giờ trở đi, yên lặng cho đến sáng. Quân Nhật thâm nhập qua các phố Domine và Négrier. Lapierre kể lại: “Từ lúc 23 giờ, tôi đã biết rõ kết cục của cuộc chiến đấu quá chênh lệch về lực lượng này nên đã cho đốt hết mọi giấy tờ tài liệu. Đốt luôn cả cờ. Mũi giáo trên cán cờ đốt không cháy đã được đem chôn trong sân trại”.
10 giờ sáng Nhật tấn công bằng đại bác bắn thẳng.
Lapierre báo cáo: “Tiếp tục chiến đấu trong một hoàn cảnh quá chênh lệch như vậy sẽ chỉ đưa đến một kết cục tàn sát tất cả mà không gây được cho địch thiệt hại gì, tôi quyết định cho nổi hiệu kèn “Ngừng bắn” (Cessez le feu)”.
Thế là hết - lúc đó là vào 10 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3 năm 1945. Có lẽ chỉ có ở đây là một trung tâm quan trọng, một cửa bể có tàu quốc tế ra vào, nên quân Nhật không để lộ bộ mặt tàn ác của chúng, dày xéo lên công ước quốc tế mà tàn sát tù binh như đã thấy ở các nơi khác. Nhưng chúng cũng đã làm một việc không cao thượng gì để hạ nhục những người thua trận. Chúng bắt tập trung tất cả những người còn sống sót, bị thương hay không, ra quỳ trong nhiều giờ ở giữa sân doanh trại. Dân chúng Hải Phòng nhiều người đã được mục kích quang cảnh nhục nhã này. Cái giá phải trả cho cuộc thất trận này cũng khá cao, tổng kết lại ở cả trong và ngoài doanh trại, chỉ tính riêng số người Âu có:
- 57 người chết, trong số đó có một thiếu tá, một đại úy, một trung úy, 10 hạ sĩ quan.
- 67 người bị thương, trong số đó có hai đại úy, một trung úy, hai hạ sĩ quan.
- 17 người mất tích trong số đó có bốn hạ sĩ quan.
Thế còn thủ đô Hà Nội?
Có điều rất ngạc nhiên là ở đây lại có một sự bất ngờ hoàn toàn: bất ngờ vì một sự bất ngờ lẽ ra không thể có được.
Đại tá Cavalin phụ trách tình báo sau này đã khai ra trong một bản báo cáo chính thức: ông ta đã mấy lần gởi lên tướng tổng tư lệnh những thông tin chính xác và rất đáng lo ngại về các âm mưu của quân Nhật sẽ tấn công. Nhưng lần nào cũng vậy - theo lời Cavalin - “Ông tướng ngáp và nổi quạu” (“Le général bailie et s’impatiente”)
Vì thế vào lúc 20 giờ khi nổ ra cuộc chính biến, thì còn rất nhiều sĩ quan và hạ sĩ quan đang ở trong nhà riêng với gia đình, hoặc ở những nơi vui chơi giải trí trong thành phố. Đến cả quân lính cũng không bị cắm trại, được đi lại tự do ra ngoài.
Còn ông tướng tư lệnh Ayme, thì ngay từ những phút đầu đã bị quân Nhật bắt sống cùng với cả gia đình ở tư thất, không có một cử chỉ kháng cự nào. Được cái, sau đó ông không chịu ký vào lệnh ngừng bắn. Và sau này phải làm tù binh của Nhật cho mãi đến tháng 10 mới được thả ra, trao trả.
Cuộc tấn công của quân Nhật nhằm vào hai mục tiêu chính đã được chúng định sẵn:
- Một là ở bờ sông Hồng, nơi có các văn phòng của bộ tư lệnh tối cao, và những biệt thự dành làm tư thất cho tướng tổng tư lệnh và các sĩ quan cao cấp. Đằng sau lưng khu này là các phố Bobillot và Ferrié, có trường đại học, nhà hát lớn và những sở truyền thông và thống kê.
- Hai là khu thành cổ, bây giờ không còn thành nữa vì đã bị quân Pháp phá hết khi chiếm Hà Nội vào giữa thế kỷ XIX, để xây dựng một hệ thống doanh trại và văn phòng.
Khu Bobillot (bây giờ là phố Lý Thánh Tôn) thì cầm cự được từ 20 giờ đến 4 giờ sáng, còn khu Ferrié, do trung tá Lacomme, phó trưởng tham mưu chỉ huy, thì lâu hơn, đến 10 giờ sáng hôm sau.
Trong các văn phòng của Ban Hành động và Tình báo (Service Action et Renseignements) hai đại tá Guyot và Cavalin phụ trách, cho đốt hết các tài liệu rồi trốn thoát ra ngoài cùng với vài sĩ quan khác, trừ đại úy Braive bị một đội tuần tra Nhật bắn chết.
Trong khu thành cổ thì chiến sự ác liệt hơn: ở đây có ba trung đoàn 1, 4 và 9 tất cả khoảng 1.000 người dưới quyền chỉ huy của tướng Massimy. Tướng Mordant thì vì nhảy qua tường bị sái chân không ra chỉ huy và lẩn trốn, đến sáng ngày 10 thì ra hàng quân Nhật. Quân Pháp chống cự suốt đêm 9 tháng 3, cả buổi sáng ngày 10 đến 15 giờ 30 chống lại các cuộc tấn công của quân Nhật vào các doanh trại Brière-de-l’Jsle, Balny, Berthe de Villers và Mangin... Vì sự kháng cự anh dũng như vậy, nên khi ngừng bắn đầu hàng quân Nhật cho họ được hưởng những “Vinh quang của chiến tranh” (les honneurs de guerre):
Những người còn sống sót được tập trung lại, xếp hàng, bồng súng chào, trong khi là cờ tam tài đã từng phất phới, ngự trị trên mảnh đất này gần một thế kỷ, được từ từ hạ xuống, vĩnh viễn hạ xuống. Còn cái giá phải trả? Quá ít so với cuốn sổ nợ máu đối với nhân dân Việt Nam và nhân dân hai nước anh em Miên Lào: chỉ riêng ở khu thành này, chỉ riêng ở dưới bóng ngọn cờ này, chỉ riêng lính da trắng: 295 người chết, trong số đó có 10 sĩ quan và 200 người bị thương, tức là gần 40% quân số.
Sau những “Vinh quang của chiến tranh”, sau lễ hạ cờ, các tù binh bị quân Nhật lấy báng súng và đốc kiếm đánh túi bụi dồn vào một góc. Những người trước đã có tham gia vào cuộc kháng cự trong nội địa, hoặc bị nghi ngờ như thế, được tách riêng ra, đưa về sở Kampetai (giống như sở mật thám trước đây của Pháp), một địa ngục trần gian của Nhật đặt ở đường Gambetta (nay là đường Nguyễn Thái Học) để chờ được tra tấn xét hỏi. Những người còn lại thì bị đưa lên trại tập trung ở Hòa Bình, được mệnh danh là “trại chết từ từ” (Camp de mort lente).
7. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ
Trong khi tất cả mọi chuyện đang dồn dập xảy ra thì viên Toàn quyền Decoux ở đâu? Ngày 9 tháng 3, Toàn quyền Decoux không có mặt ở Hà Nội. Ông ta đã vào Sài Gòn từ ngày 24 tháng 2. Tuy ý thức được tình hình rất nghiêm trọng, nhưng ông cho rằng vẫn còn có thể lèo lái được trong một thế thăng bằng rất chênh vênh. Để chờ đợi...
Ở Sài Gòn vào đầu buổi chiều ngày 9, không có một dấu hiệu đặc biệt nào chứng tỏ có gì đáng lo ngại, ngoài những bức điện từ ngoài Bắc đánh vào báo tin những cuộc hành quân của Nhật và sáng nay có tin của một chỉ điểm từ Thủ Dầu Một báo một cuộc tiến công sắp xảy ra. Không khí chung quanh lại dường như dễ thở, cởi mở hơn, vì vừa qua một cuộc đối đầu ngoại giao rất gay go, chống những yêu sách quá quắt của quân đội Nhật. Chúng đòi đổi một số rất lớn đồng yên lấy đồng bạc Đông Dương để chi phí cho quân đội. Chúng đòi phải nộp cho chúng thêm gạo để nuôi quân, chúng đòi đưa thêm quân từ Quảng Tây vào Bắc Kỳ trong khi ở đây tình hình lương thực đang cực kỳ nghiêm trọng, nạn đói đang đe dọa vì bị thiên tai mất mùa và đường xá lại bị không quân Mỹ ném bom tàn phá. Chúng cũng đòi phải nộp cho chúng những phi công Mỹ bị chúng bắn rơi trong trận ném bom ngày 12 tháng Giêng, hiện bị chính quyền Pháp giam giữ...
Không khí của những cuộc họp hết sức căng thẳng. Quân Nhật chỉ trích nặng nề về thái độ lừng chừng của Decoux và chính quyền Pháp, tung ra những lời lẽ ngạo mạn, dọa nạt thô lỗ và ý định thực hiện ngay những sự trừng phạt, nếu không chấp nhận đầy đủ các yêu sách của chúng. Nhưng Decoux vẫn một mực từ chối, và cuối cùng cắt giảm được một phần quan trọng các yêu sách này, sắp sửa đi đến ký kết một thỏa ước. Từ năm năm nay, quan hệ Pháp - Nhật cũng đã từng trải qua những giai đoạn gay go quyết liệt như vậy. Đã nhiều lần, người ta tưởng không tránh khỏi một đòn bạo lực của Nhật, nhưng rồi cuối cùng, Nhật vẫn không thực hiện những lời dọa nạt của chúng, nên lần này chắc cũng lại như vậy thôi.
Vào buổi chiều ngày 9 tháng 3, đại sứ Nhật Matsumoto cùng với tổng lãnh sự Kohno và một đoàn nhân viên ngoại giao đến Phủ toàn quyền ở Sài Gòn để ký kết một bảng thỏa ước về cung cấp gạo cho quân đội Nhật năm 1945, theo những hiệp ước của chính phủ Vichy ký với Tokyo ngày 6 tháng 5 năm 1941.
Theo những chứng nhân có mặt hôm đó cho biết thì phái đoàn Nhật đến với một thái độ rất tươi cười niềm nở, nói những lời chào hỏi chúc mừng hoa mỹ tốt đẹp. Phía Pháp nhận xét thấy họ chỉ có một điều bất thường là họ muốn chùng chình chưa muốn ký ngay, kéo dài thời gian trong những cuộc hội ý vô tận giữa họ với nhau bằng tiếng Nhật, và luôn luôn liếc nhìn đồng hồ, rõ ràng là như chờ đợi một cái gì vậy.
Cuộc họp bắt đầu lúc 16 giờ, và đúng 18 giờ 30, thì đại sứ Matsumoto xin có một cuộc hội kiến với Toàn quyền Decoux vào lúc 19 giờ, để chuyển giao một thông điệp quan trọng. Tuy rất ngạc nhiên về điều bất thường này nhưng Decoux cũng nhận lời.
Đúng 19 giờ, đại sứ Nhật Matsumoto, đứng trước đoàn ngoại giao Nhật trịnh trọng giao cho Toàn quyền Decoux một bức tối hậu thư của chính phủ Nhật, với thời gian phải trả lời là 2 tiếng đồng hồ. Nội dung của bức tối hậu thư đại để như sau: Căn cứ vào diễn biến của tình hình hiện nay, chính phủ Nhật thấy cần thiết phải có những sự phòng ngừa nào đó ở Đông Dương. Vì vậy, ngoài những yêu cầu khác, chính phủ Nhật Bản đòi hỏi quân đội Pháp phải chuyển đặt dưới quyền chỉ huy của Nhật Bản cùng với hải quân, cảnh sát và toàn bộ hệ thống hành chánh. Đồng thời các cơ sở ngân hàng tín dụng Pháp cũng phải phụ thuộc vào sự kiểm soát của Nhật. Pháp sẽ phải nộp cho Nhật một số thế chấp tài sản, và một số con tin để bảo đảm sự thực hiện trung thực các điều khoản nêu ra. Tất cả mọi biện pháp quân sự, mọi bố trí báo động và phòng thủ về phía Pháp trước khi hết hạn trả lời, sẽ lập tức phát động các hoạt động của quân đội Nhật đã ở trong tư thế sẵn sàng.
Decoux, hết sức xúc động tuyên bố ngay đây là những điều kiện nhục nhã không thể nào chấp nhận được, hơn nữa chúng vi phạm vào sự cam kết long trọng của Nhật Hoàng tôn trọng chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Matsumoto đáp lại là ông ta không có thẩm quyền được tranh luận về những điều kiện trong sứ mệnh của mình và xác định lại là tối hậu thư sẽ hết hạn vào đúng 21 giờ. Thêm nữa ông ta tuyên bố quyết định là sẽ ở lại tại chỗ để chờ trả lời. Sau khi thương lượng, vào khoảng 19 giờ 45, ông ta cũng đồng ý rút ra khỏi Phủ toàn quyền với đoàn tùy tùng, hẹn sẽ nhận bản phúc đáp tại ban tham mưu của quân đội Nhật Bản ở đường d’Arras (bây giờ là đường Cống Quỳnh). Một sĩ quan Nhật sẽ ở lại để đưa đường và bảo vệ cho sĩ quan Pháp mang thư trả lời.
Vào hồi 19 giờ 15, tất cả các quan chức cao cấp Pháp dân sự và quân sự được triệu tập khẩn cấp đến để bàn bạc. Ý kiến chung của mọi người đều thống nhất không thể chấp nhận được các yêu sách của bức tối hậu thư. Một bản phúc đáp được thảo ra, đại ý nói những điều kiện đề ra trong tối hậu thư của chính phủ Nhật là không thể chấp nhận được, và xin một thời hạn nữa để liên lạc với các thành viên của chính phủ ở Hà Nội, sau đó sẽ có những điều kiện đáp ứng. Decoux cũng cam kết: “Quân đội Pháp sẽ không có bất cứ một hành động chiến tranh nào, trừ phi những lực lượng Nhật Bản bắt đầu trước những hành động thù địch”.
Cuộc bàn bạc và thảo thư phúc đáp mất khá nhiều thời gian, nên mãi đến 20 giờ 50, thì đại úy hải quân Robin và trung úy d’Aiguillon mới cầm thư lên đường. Nhưng viên sĩ quan Nhật đưa đường đã biến mất. Hai viên sĩ quan Pháp không biết ban tham mưu Nhật chính xác ở chỗ nào, không tìm được, đành phải đến Ủy ban liên lạc Pháp - Nhật ở phố Richaud (bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiểu). Tại đây, gọi cửa mãi mới có một viên phiên dịch Nhật, tay lăm lăm cầm khẩu tiểu liên ra mở cửa. Sau khi trình bày sự thể, viên này cho hai sĩ quan Pháp được liên hệ bằng điện thoại với Matsuoko, và ông này nói sẽ cho người đến dẫn đi. Lúc đó là 21 giờ 5 phút. Mấy phút sau có một chiếc xe hơi đến, trong đó có một sĩ quan Nhật, trưng một lá cờ Nhật rất to. Xe của hai sĩ quan Pháp đi theo sau xe này. Họ thấy trên đường Verdun (bây giờ là đường Cách mạng tháng 8) không biết bao nhiêu là xe cam nhông chở đầy lính Nhật, và hàng đoàn xe tăng đỗ, nhưng để nổ máy. Đi đến phố d’Arras, hai sĩ quan được Matsumoto tiếp trong một văn phòng rõ ràng là mới được bố trí vội vàng. Một cửa mở rộng cho thấy ở phòng bên có hai sĩ quan cấp tướng đang nghiên cứu một bản đồ Sài Gòn.
Đại úy Robin trao lá thư phúc đáp. Matsumoto sau khi đọc lướt qua nói bằng một giọng cáu kỉnh: thế là từ chối phải không? Ông ta sang phòng bên nói vài lời với hai viên sĩ quan cấp tướng. Một trong hai viên này ra đứng ở cửa sổ hét một vài lệnh ngắn gọn. Lập tức các tiếng còi inh ỏi nổi lên, các động cơ xe nổ ầm ầm. Quân đội Nhật nườm nượp tỏa ra các đường phố Sài Gòn. Đòn bạo lực bắt đầu. Đó là 21 giờ 20 phút.
Trên đường trở về, xe của hai viên sĩ quan Pháp khó khăn lắm mới lách qua được hàng đoàn các xe cam nhông và xe tăng Nhật. An toàn về được đến trước cổng Phủ toàn quyền, họ đã thấy lính Nhật leo qua hàng rào sắt vào trong sân cỏ. Sự chiếm đóng Phủ toàn quyền diễn ra hết sức nhanh chóng, không có đổ máu, không tốn một viên đạn nào. Chỉ mấy phút sau thì toàn bộ bộ chỉ huy tối cao, đầu não quân sự và dân sự đều bị bắt sống hết.
Về quân sự, trong số bị bắt lúc đó có Toàn quyền Decoux, tướng Delsuc, tư lệnh sư đoàn Nam Kỳ - Cao Miên, Đô đốc Berenger, tư lệnh hải quân. Trong số quan chức dân sự có chánh văn phòng Gautier, vợ và cô con gái Simon, 11 tuổi rất xinh đẹp, được Nhật đặc cách cho đeo còng số 8 vì là dân sự.
Sáng hôm sau tướng Kawamura, tham mưu trưởng của quân đội Nhật Bản ở miền Nam Đông Dương vào gặp Decoux. Ông ta tuyên bố rất lấy làm tiếc phải hành động như tối hôm qua, vì những nhu cầu chiến lược, cũng như vì người Nhật thiếu tin tưởng ở sự cộng tác của Pháp ở Đông Dương. Ông ta bảo đảm với Decoux sẽ bảo vệ tính mạng và tài sản của dân chúng. Decoux trả lời ghi nhận lời bảo đảm này, nhưng cực lực phản đối cuộc tấn công không thể chấp nhận được mà nước Nhật sẽ phải chịu trách nhiệm.
Trong cùng ngày, Nhật dùng đài phát thanh của Sài Gòn phát đi những bản tuyên bố đại ý thanh minh cho cuộc tấn công đêm 9 tháng 3, đổ lỗi cho phía Pháp đã tổ chức mạng lưới gián điệp làm việc cho quân Đồng Minh, đã tích trữ súng ống đạn dược đã được thả dù xuống, bố trí quân đội đó tấn công quân Nhật... Và nhất là đã thiếu hẳn tinh thần cộng tác với quân Nhật.
Nhật cũng tuyên bố từ nay chủ quyền Pháp không còn nữa, các dân tộc ở Đông Dương được độc lập, nhưng trước mắt vẫn duy trì toàn bộ hệ thống tổ chức chính trị và hành chính của Pháp để lại trên toàn cõi Đông Dương. Thật ra, ý đồ của Nhật đâu có thể dễ dàng nhả miếng mồi béo bở ở Đông Dương ra như vậy. Chỉ ít ngày sau khi xảy ra cuộc chính biến, viên “Toàn quyền Nhật” Minoda đã nói toạc ý đồ này ra - mà nói bằng tiếng Pháp cho không có nhầm lẫn gì được - trong một cuộc họp với công chức Việt Nam ở Long Xuyên, ngày 30 tháng 3 năm 1945 “Có một sự hiểu lầm lớn về sự độc lập ở Đông Dương. Sự độc lập này là hoàn toàn ở dưới sự kiểm soát quân sự của Nhật Bản. Sự độc lập của đế chế Trung Kỳ và Cao Miên đã được tuyên bố. Nam Kỳ chẳng những ở dưới sự kiểm soát quân sự mà còn dưới cả sự cai trị quân sự của Nhật. Vậy thì không có sự độc lập của Nam Kỳ”. (ll-y-a un grand malentendu au sujet de l’independance de l’Indochine. Celle ei tout entière est so us le contrôle militaire du Japon. L’Independance de l’Einpire d’Annam et celle du Cambodge ont été pro clamées. La Cochinchine, non seulement se trouve sous le contrôle militaire du Japon, mais encore sous l’adminis tration militaire japonaise. Donc, pas d’independance de la Cochinchine...).
Vì vậy, sau này các nhà sử học đã khẳng định Việt Nam lấy lại nước, giành lại độc lập tự do là từ tay nắm giữ của quân Nhật, do chiến đấu chống lại dã tâm cướp nước của Nhật, chứ không phải do Nhật “ban ơn cho”. Đó là một sự thực lịch sử hoàn toàn có căn cứ, được chứng minh bằng bao nhiêu sự kiện tàn bạo do Nhật gây ra trên ba nước Đông Dương. Vả lại, đối với bọn phát xít xâm lược, chẳng làm gì có được thứ “độc lập bánh vẽ” được chúng cho không như vậy.
Cũng trong buổi chiều ngày 9 tháng 3, vào khoảng 18 giờ, viên Thống đốc Nam Kỳ E. Hoeffel cho triệu tập họp các chỉ huy quân sự và một số quan chức dân sự để báo tin, tối hôm đó có thể quân Nhật sẽ tấn công. Mặc dù phần đông các người họp không tin chuyện này có thể xảy ra, nhưng người ta cũng bàn về các biện pháp phòng ngự.
Ở miền Nam Đông Dương lúc đó, lực lượng quân sự gồm có ba đơn vị lớn, trong số này sư đoàn Nam Kỳ - Cao Miên là đơn vị chính thức lớn nhất. Nó được chia thành hai tập đoàn (groupement) là tập đoàn Nam Kỳ - Nam Trung Kỳ, và tập đoàn Cao Miên. Mỗi tập đoàn có những nhiệm vụ khác nhau dưới quyền chỉ huy của tướng Delsuc, đã bị Nhật bắt sống cùng với Decoux tại Phủ toàn quyền. Nói chung quân số không đông, lại phải rải ra trong một địa bàn quá rộng, mà sự thông tin liên lạc lại thiếu thốn. Ngày 19 tháng 11 năm 1944, kế hoạch được đề ra sẽ tập trung một lực lượng mạnh ở Kratié hay ở Buôn Ma Thuột để đối phó với một cuộc tấn công của quân Nhật vào Sài Gòn. Nhưng vào tháng 2 năm 1945, khi thấy quân Nhật đến đóng trên đường Sài Gòn - Kratié, kế hoạch được thay đổi, dự kiến quân đội sẽ rút về tập trung ở Buôn Ma Thuột.
Tại Sài Gòn đêm 9 tháng 3, trong các trại quân chỉ có một số quân nhỏ, đạn dược thiếu thốn, các chỉ huy cấp cao đã bị bắt hết, chỉ còn lại các sĩ quan trực ban. Bị đánh bất ngờ, trung đoàn bộ binh thuộc địa số 11 (11 RIC) có 200 người với súng trường và vài khẩu súng máy, chỉ cầm cự được đến 5 giờ sáng, trong khi trại La Grandière và đại đội ở Chợ Lớn gục ngã ngay từ lúc 2 giờ đêm.
Ở Vũng Tàu, quân Nhật mai phục ở nhiều địa điểm, vào khoảng 21 giờ xông ra giết các lính gác, bao vây các trại quân và nơi cư trú của các sĩ quan, bắn trọng thương viên đại úy Bélief, rồi xông lên chiếm ngọn tháp hải đăng và từ đó bắn pháo hiệu, mở đầu cuộc tấn công. Trong vài tiếng đồng hồ, cửa bể này đã lọt vào tay quân Nhật.
Ở Thủ Dầu Một, viên thiếu tá Mollard chỉ huy một tiểu đoàn cơ giới, cầm cự được đến 2 giờ rưỡi sáng, cho xung phong phá vòng vây hai lần để cho xe cơ giới hoạt động nhưng đều thất bại với nhiều thương vong. Vào quãng 6 giờ sáng, Mollard cũng hy sinh. Cuộc chiến đấu tiếp tục được hơn một tiếng đồng hồ nữa bằng lựu đạn và lưỡi lê, đến 7 giờ sáng thì kết thúc.
Ở miền Tây, kế hoạch kháng cự vũ trang đã được vạch ra từ trước, gọi là “vùng hành động Legrand” (Zône d’action Legrand) gồm có Cần Thơ, Sài Gòn, Đà Lạt và Cam Ranh do một sĩ quan là đại úy Pawels và một người dân sự là viên tổng công trình sư công chính Nicolai cầm đầu. Nhóm chiến đấu quan trọng nhất của vùng này là nhóm Transbassac do thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 Langellie - Bellevue chỉ huy. Ông này về sau bị Nhật bắt được và bị Sở hiến binh Nhật (Kampetai) tra tấn đến chết.
Nhóm Transbassac có khoảng 1.000 người được phân ra như sau:
- Langellie - Bellevue chỉ huy 270 người với 9 sĩ quan.
- Mienville, thuyền trưởng tàu hộ tống La Mame, chỉ huy 250 lính thủy với 9 sĩ quan.
- Jean d’Hers, đại úy xen đầm chỉ huy 570 người, trong số đó có 30 người Pháp dân sự tình nguyện.
Nhóm này đánh du kích và hoạt động phá hoại đã cầm chân được hàng tiểu đoàn tinh nhuệ của Nhật và gây cho chúng nhiều tổn thất, hơn 100 tên tử thương. Ở mũi Cà Mau, Mienville cầm cự được 16 ngày, cuối cùng đã phải cho đánh chìm chiếc tàu hộ tống La Mame. Viên hạ sĩ quan Le Houéron người vùng Bretague của Pháp bị Nhật bắt sống và chặt đầu vào ngày 27 tháng 3 năm 1945. Một nhân vật nữa trong cuộc kháng cự tuyệt vọng này là đại úy xen đầm Jean d’Hers mà cuộc chiến đấu cuối cùng và sự hy sinh anh dũng đã được tường thuật ở trên.
Ở Trung Kỳ thì tương đối ít ác liệt hơn, nhưng cũng không may mắn gì hơn. Về phía Bắc, những toán lính sống sót từ Vinh chạy ra lại bị tiêu diệt mất một số, còn bao nhiêu tẩu tán đi khắp nơi. Căn cứ không quân Đồng Hới cũng chịu chung một số phận như vậy. Ở đây, đại úy Mayraud chỉ huy căn cứ tử vong vì... kiệt sức. Số tàn quân chạy được sang Lào nhập vào khu bưng biền của đại úy Ayrolles.
Ở kinh thành Huế, vào buổi chiều ngày 9, khi nhận được hai bức điện từ Hà Nội đánh vào báo tin tình hình nghiêm trọng, người ta cũng họp bàn các biện pháp đối phó, nhưng lại cứ dùng dằng mãi vì sợ đây là một động thái giả của Nhật nhằm phát hiện những bố trí phòng thủ của quân Pháp. Vào khoảng 17 giờ thì có tin báo hai đại đội Nhật đã rời Quảng Trị và đang tiến về Huế. Mặt khác lại có tin báo, đội quân Nhật đóng từ nhiều ngày nay ở gần Cầu Truồi đã ra cắt con đường đi tới Huế. Như vậy, mối nguy hiểm là có thật và đã rõ ràng. Vào quãng 19 giờ, chính quyền Huế ra lệnh báo động và quyết định võ trang cho cả kiều dân Pháp bằng súng máy và lựu đạn.
Những tiếng súng đầu tiên nổ ra khoảng 21 giờ 15, và sau đó là cuộc chiến đấu chống quân Nhật ở các khu sứ quán, quanh dinh khâm sứ, sở công chính, trại lính Đông Dương và ở khu nhượng địa. Một cuộc chiến hoàn toàn không cân sức, chống một kẻ thù đông hơn gắp nhiều lần, sử dụng trọng pháo và cả không quân. Vào khoảng 7 giờ 30 sáng hôm sau thì khu sứ quán gục ngã trước, rồi đến 10 giờ thì khu dinh khâm sứ, và đến 17 giờ thì không còn nghe một tiếng súng nào nữa. Cả thành phố Huế đã hoàn toàn rơi vào tay quân Nhật.
Tổn thất về phía Pháp là khá nặng nề: chỉ nói riêng về số 1.140 lính Pháp của trung đoàn Trung Kỳ - Ai Lao đã có 51 tử vong tại trận, trong số đó có 13 sĩ quan, 11 người chết vì các vết thương quá nặng, 53 người bị thương, 41 người chết khi rút lui, trong số đó có 3 sĩ quan, 90 người mất tích. Nói chung tổng số thiệt hại của quân Pháp là 251 người, bằng một phần tư quân số. Còn 300 người sống sót, từ thành phố Huế chạy ra, chia thành các nhóm nhỏ, đi sâu vào dãy Trường Sơn, nhưng suốt trong năm tháng luôn đụng đầu với quân Nhật vào lùng sục.
Ở Tourane, ở Quang Ngãi cũng không hơn gì. Đám tàn quân chạy lên cao nguyên Bolovens, thương vong nhiều, phần vì chống cự lại quân Nhật, phần vì bệnh tật, đói khát và kiệt sức. Đại tá Hesse d’Alzon, sau này, trong một cuốn hồi ký có giá trị, gọi đó là “sự hấp hối của những người rừng kiệt lực, bị săn đuổi và bị phản bội”.
Ở Lào có lẽ may mắn hơn cả. Ở Thượng Lào, đại úy Mayer chỉ huy tiểu đoàn 10 RMIC đóng ở Vientiane. Ông ta cũng là một người cầm đầu Ban Hành động (Service action) và mạng lưới của ông mang tên “Donjon” là một trong sáu mạng lưới của Đông Dương. Trong đêm 9 tháng 3, đội quân của ông thoát ra khỏi được Vientiane, rút lui lên phía bắc theo hướng Luang Phabang, bị quân Nhật đuổi theo cho mãi đến sông Nậm U. Từ đây ông rút tới được Mường Sai, vượt biên qua đất Miến Điện.
Ở Trung Lào điều kiện có thuận lợi hơn. Được sự hỗ trợ của Ban Hành động, đội quân ở đây bắt liên lạc được với Calcutta, Ấn Độ, và được “lực lượng 136” tiếp viện cho người và võ khí. Ngay từ trước cuộc chính biến, 319 người Âu, 200 lính Đông Dương được thả dù xuống phía bắc Luang Phabang, Paksane, Thakhet và giữa Savanakhet - Saravane. Thiếu tá Infeld ở đây đã có thì giờ tổ chức bốn đội biệt kích, giúp cho những người lính sống sót chạy được sang đất Trung Hoa. Quân Nhật biết rất tường tận các hoạt động này, nên những cuộc đàn áp khủng bố ở Lào là cực kỳ tàn bạo.
Tại Thakhet đêm 9 tháng 3, có khoảng 100 người Pháp kể cả phụ nữ và trẻ em. Đội quân ở đây đã cầm cự suốt đêm, nhưng vào khoảng 8 giờ sáng thì phải đầu hàng. Trung úy Tavernier may mắn thoát được ra ngoài cùng với một số binh lính của ông và tản được vào rừng gần ngay đó.
Tất cả những người Pháp còn sống sót bị quân Nhật lùa vào một khách sạn nhỏ mang tên Bungalow. Họ bị dồn vào các văn phòng với 14, 15 người mỗi phòng. Các cửa đều đóng kín mít, cửa sổ thì bị đóng đinh. Trong bóng tối họ phải nằm dưới đất và được nuôi bằng những chậu cơm với rau muống.
Trong số những người bị bắt giam ở đây có: ông René Colin, nguyên chánh văn phòng của Toàn quyền Catroux, bây giờ là Công sứ Thakhet, hai ông giám mục là những đức cha Gouin, đức cha Thonime, cùng hai linh mục khác và một bác sĩ có tên là Theron. Trong sáu ngày liền, tất cả mọi người đều bị tra tấn hết sức dã man bằng nước, bằng điện để tra khảo về mạng lưới kháng cự bí mật.
Ngày 16 tháng 3, vào quãng 19 giờ, rồi lần thứ hai vào quãng 21 giờ, hầu hết những tù nhân nam giới bị lùa lên một chiếc xe tải bít bùng, mang đi đâu không biết và không thấy trở về nữa. Ở lại khách sạn lúc đó chỉ còn lại một vài người nam giới, phụ nữ và trẻ em.
Ngay sáng hôm sau, đã có tin là những người bị bắt đi hôm trước đều đã bị hành quyết hết. Một năm sau, “Ban điều tra tội ác chiến tranh” của Pháp đã tìm ra nơi trước đây là doanh trại quân Pháp, một hố chôn tập thể 35 tử thi, có người bị chặt đầu, có người bị giết bằng súng hay lưỡi lê, có cả người bị chôn sống nữa. Bác sĩ Theron bị chúng tra tấn, đánh nát cả hai đầu gối, cũng bị chúng bắt những người cùng đi, khiêng đến chỗ hành quyết để giết. Những người nam giới còn sống sót mấy ngày sau cũng bị giết chết, trong số đó có ông Colin, hai vị giám mục và linh mục Thibaud. Đặc biệt quân Nhật muốn trả thù ông Colin trước đó đã cho đốt đi một kho nhựa thông của chúng ở Nakay. Chúng mang ông cùng các vị tu sĩ đến đó chặt đầu, và bắt dân làng phải phơi thây họ ra, không được đem chôn. Sau đó mấy ngày, trung úy Tavernier được những người dân Lào báo cho biết ban đêm đã bí mật về đem xác vào rừng chôn tạm. Chỉ có ba người không bị chúng giết vì chúng còn muốn dùng đến chuyên môn kỹ thuật của họ về điện, về khai thác gỗ và thiếc.
Sau cuộc thảm sát, phụ nữ và trẻ em bị dồn đi ở các nơi khác, nhưng cứ hai ba ngày chúng lại bắt chuyển chỗ ở một lần. Rồi năm tháng sau, ngày 23 tháng 8 năm 1945, có lẽ để thủ tiêu các nhân chứng chúng dùng súng lục bắn chết bà Couris cùng đứa con trai nhỏ của bà, bà Raymond cùng với một số người khác nữa. Chỉ có hai người Pháp may mắn không chết vì chỉ bị thương, được những người Lào cứu chữa cho, trong đó có ông Raymond mà vợ đã bị bắn chết.
Ở Napé, ở Vientiane, ở Savanakhet và ở nhiều nơi khác nữa cũng có nhiều cuộc tra tấn và thảm sát tương tự. Ý đồ rõ rệt của Nhật không những là muốn tiêu diệt mọi lực lượng kháng cự của Pháp, mà bằng những hành vi hết sức dã man, bỉ ổi, nhất là đối với phụ nữ da trằng, chúng còn muốn tiêu diệt cả uy tín của người Pháp trước mặt người dân địa phương.
Tên tội phạm chiến tranh Nhật phải chịu trách nhiệm chính về những cuộc tra tấn và thảm sát này là viên sĩ quan tình báo Arai. Hắn đã đến ở Thakhet từ nhiều tháng trước cuộc chính biến, trong bộ áo khoác là nhà buôn và mở một cửa hàng bán đồ chơi trẻ em trong thị trấn. Đến đêm 9 tháng 3, hắn mới khoác quân phục vào và cầm súng đi. Rất nhiều người dân Lào đã biết rõ mặt hắn.
Đây là cách làm phổ biến của Nhật. Từ khi đặt chân lên đất Đông Dương họ đã cho mai phục trong các thành phố, các trung tâm lớn nhỏ, ngay cả trong một số dịch vụ của Pháp những tên tình báo, những sĩ quan trá hình dưới các dạng nhà buôn, nhà kỹ nghệ, nhà nghiên cứu, nhà báo... để điều tra tình hình, nắm mọi đầu mối, đợi ngày hành động. Đêm 9 tháng 3, rầt nhiều tên Nhật, dân chúng đã quen mặt, hàng ngày vẫn tỏ ra là những nhà buôn lịch thiệp dễ dãi, bỗng khoác quân phục vào, và trở thành những con quỷ dữ khát máu giết người không gớm tay. Chuyện đã xảy ra ở Hà Nội, ở Hải Phòng, ở Huế, ở Đà Nẵng, ở Sài Gòn... và ở nhiều nơi khác nữa...
Ở Cao Miên thì có thể nói sự bất ngờ đến mức tuyệt đối. Từ những nhà cầm quyền dân sự, những sĩ quan chỉ huy quân sự, chứ chưa nói đến những người dân thường, không một ai hay biết một chút gì cả. Đến ngay cả cái không khí căng thẳng cảm thấy được hai ba ngày trước cuộc chính biến thì ở đây cũng không có nốt.
Buổi chiều hôm đó, như thường lệ, các nhà buôn Nhật đóng cửa hàng, và đến đúng giờ N, họ mặc quân phục vào rồi vác súng đeo gươm ra đi trong đêm tối. Thế là...
Thủ đô Phnôm Pênh bị chiếm trọn vẹn trong không đầy một tiếng đồng hồ. Rồi tất cả các doanh trại của quân đội Pháp đều rơi vào tay quân Nhật nội trong đêm 9 rạng ngày 10 chỉ trừ có một trung đội của trung đoàn lính Miên, do thiếu tá Lavie chỉ huy, rút được lên dãy núi Cardamomes, cố thủ ở đó cho đến ngày quân đội Nhật đầu hàng ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Thế là toàn bộ Đông Dương nằm dưới gót giày của quân phát xít Nhật. Chủ quyền và uy tín của thực dân Pháp, sau một đêm, chỉ còn là những ký ức đen tối của gần một thế kỷ đô hộ.
8. Công và tội
Jean Decoux, viên thái thú Pháp cuối cùng của cuộc đô hộ Đông Dương, sinh ở Bordeaux năm 1884, chết ở Paris năm 1963.
Bị Nhật bắt sống trong đêm 9 tháng 3 năm 1945 ở Sài Gòn, quản thúc trong hai tháng ở Dinh Thống soái Nam Kỳ, rồi được chuyển lên trại tập trung ở Lộc Ninh.
Ngày 1 tháng 10 năm 1945, quân Nhật đưa ông lên một chiếc xe tải bít bùng kín mít, lén lút chạy ngang qua Sài Gòn ra sân bay Tân Sơn Nhất, để đi nhờ một chiếc máy bay Anh về nước.
Tới Calcutta, ông ta xin gặp viên cao ủy Thierry d’Argenlieu, nhưng viên này không tiếp và ra lệnh tịch thu tất cả những tài liệu mà ông mang theo, rồi đưa đi quản thúc trong một khách sạn cấm không cho đi ra ngoài, cấm không được tiếp xúc với bất cứ ai.
Về đến Pháp vào ngày 7 tháng 10, vừa trên máy bay bước xuống đất, ông ta bị bắt giam ngay ở sở An ninh quốc gia (Sureté Nationale). Năm lần bảy lượt ông ta năn nỉ xin được gặp tướng Charles de Gaulle, nhưng ông này không trả lời. Mãi đến ngày 14 tháng 10, ông ta mới được De Gaulle bất đắc dĩ lắm phải tiếp tại nhà riêng, vào một ngày chủ nhật, khi đang mệt mỏi sau một chuyến đi rất vất vả từ Bruxelles trở về.
Decoux đã hết sức cay đắng thuật lại cuộc tiếp xúc này. Một cuộc tiếp xúc hết sức lạnh lẽo “một cuộc tiếp xúc băng giá”, như phải thế, giữa một vị “Đứng đầu kháng chiến của nước Pháp” (Le “Premier Résistant de France”), tiếp một viên Toàn quyền tầm thường của cái chế độ đáng khinh ghét Vichy.
Decoux thì vốn người hơi thấp bé, còn De Gaulle thì lại cao lớn quá khổ, đứng sừng sững trấn áp trước mặt - Decoux viết mỉa mai:
“Vâng, ông ta cao lớn, vóc dáng rất cao lớn thật, nhưng để rồi một ngày nào đó, lịch sử sẽ nói ông ta có phải là một người lớn không”.
De Gaulle không bắt tay và để Decoux đứng mãi mới mời ngồi.
“Tôi nghe ông nói đây”.
Thế là Decoux bắt đầu trình bày từ lúc nhận được tin đình chiến ở chính quốc, trình bày về các hành động của Catroux, về những thỏa ước ký với Nhật, về ủy nhiệm của chính phủ Vichy cho ông những đặc quyền, về việc tổ chức cuộc kháng cự ở Đông Dương... vân vân và vân vân. Cuối cùng Decoux thuật lại cuộc chính biến đêm 9 tháng 3, những gì xảy ra trong đêm đó, sau đêm đó... cho đến khi ông ta về nước.
Cuộc trình bày gần như một bản độc thoại. Trong suốt hơn ba tiếng đồng hồ, De Gaulle không nhếch mép, chỉ thỉnh thoảng mới ra hiệu ngắt lời để chỉnh lại một danh từ, một cách nói của Decoux, có đụng chạm đến ông ta.
Lúc đó đã 14 giờ 15. Decoux đã trình bày xong, ngồi đợi. Một lát sau De Gaulle mới nói một cách nghiêm nghị đại ý:
“Ông Đô đốc, tôi đã nghe kỹ những lời tường trình của ông. Ông sẽ phải ra báo cáo trước một tòa án, và ở đó, ông sẽ bảo vệ những lý lẽ của ông. Còn riêng ý kiến cá nhân tôi, thì ông đã phạm phải nhiều sai lầm, mà tôi muốn chỉ ra cho ông thấy”.
Deeoux gồng mình lên, chú ý lắng nghe.
“Một, là việc đình chiến... Phản xạ đầu tiên của ông là đúng, nhưng sau đó, lẽ ra ông phải từ nhiệm, không được nhận trách nhiệm làm Toàn quyền ở Đông Dương nữa mới phải”.
Decoux cãi lại:
“Đang thời chiến, tôi không thể nghĩ đến việc tự làm mất danh dự của mình bằng cách từ bỏ một nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm đã được giao phó. Làm thế sẽ mất ngay thuộc địa của chúng ta, không thể vãn hồi được nữa”.
De Gaulle không có phản ứng gì trước câu trả lời này, vì theo Decoux, quan điểm của ông ta là: “Chỉ những người bỏ nhiệm vụ của mình để đi theo ông ta mới là những người thực sự yêu nước”.
Sang sai lầm thứ hai, De Gaulle nói.
“Lẽ ra, ông không được đợi đến khi giải phóng nước Pháp rồi mới đi theo tôi mà phải đến với tôi ngay từ 1941 kia. Lúc đó đã rõ là ông Thống chế Pétain không thể làm gì được chống quân Đức, vì thế cũng không thể làm gì được chống quân Nhật... Lúc đó chỉ có một mình tôi có thể làm được một việc gì... Lẽ ra ông phải hiểu điều đó chứ. Vì ông không đến với tôi, nên tôi phải kêu gọi những người khác”.
Decoux lại cãi lại:
“Thưa tướng quân, những người phái viên của tướng quân sang Đông Dương, chỉ dám đứng ở vùng biên giới Hoa - Việt, làm mọi cách để lôi kéo các sĩ quan binh lính của tôi đào ngũ, và làm hư những người Pháp dân sự ở Đông Dương, những hoạt động đó có thể gây ra một “trận dịch đi trốn” (une épidémie d’évasions). Thế mà người Nhật thì chỉ chờ có thế để vào thay chúng ta...”.
Decoux nhận xét: “Tướng De Gaulle không nói gì. Tôi có cảm tưởng là đã thắng được một điểm”.
Sang đến sai lầm thứ ba, De Gaulle nói.
“Tại sao ông lại cứ cần luôn luôn, như ông đã làm, ca hát lên những lời tán tụng ông Thống chế, và lúc nào cũng gào lên “Thống chế muôn năm”.”
Decoux kể lại: “Lúc đó đã trưa lắm rồi, tôi cũng không nghĩ rằng phải đáp lại lời chê trách này, vì rõ ràng nó xuất phát từ những mối tư thù có tính cách cá nhân...”
Thế là xong. Decoux lên xe hơi cùng với hai người lính gác, trở về bệnh viện quân y Val de Grâce là nơi ông bị quản thúc trong hơn hai năm.
Năm 1949, Jean Decoux viết lại một ý nghĩ của ông, có thể coi như một nhận định tiên tri khá chính xác:
“Nếu nước Pháp từ bỏ nhiệm vụ của mình ở Đông Dương thì Pháp sẽ vĩnh viễn bị quét khỏi Châu Á, và do đó ra khỏi cả Thái Bình Dương, và có nguy cơ sẽ mất tất cả các vị trí chủ yếu ở Phi Châu. Như thế nước ta sẽ phản bội sứ mệnh của mình, và làm trái với lịch sử của mình. Nước Pháp sẽ không còn là một cường quốc lớn nữa, và đáng bị sa sút như vậy...”.
Bị truy tố với tội danh “âm mưu chống lại sự an ninh của quốc gia” (complot contre la sureté de l’Etat), ông bị đưa ra xét xử tại tòa Thượng thẩm ở Paris.
Tại đây ông đã trình bày chính sách đối ngoại của ông ở Đông Dương, nghĩa là chính sách đối ngoại của Vichy mà ông là đại diện được ủy quyền trong suốt những năm bị Nhật chiếm đóng.
Theo ông thì, đại thể, từ 1940 đến 1944, trong nội địa xứ Đông Dương, chủ quyền của Pháp vẫn nguyên vẹn, không có sự ngăn cản nào. Tất cả những dịch vụ lớn như bưu điện, hải quan, công chính, khai mỏ, giáo dục đều không bị Nhật kiểm soát, vì thế Pháp vẫn bảo tồn được sự chung thủy, sự tin tưởng và sự gắn bó của dân chúng bản xứ, kể cả tầng lớp các trí thức. Sự tuyên truyền của Nhật chống Pháp không có ảnh hưởng gì nhiều.
Về kinh tế thì không được thuận lợi lắm. Vì bắt buộc phải thỏa mãn, không thể từ chối được, những yêu sách của quân đội Nhật, nên trong xứ bị khan hiếm những sản phẩm kim khí và nông nghiệp, gây nên tình trạng giá cả tăng vọt, đời sống của dân bản xứ khó khăn. Thêm nữa sự chi phối của kinh tế Nhật ngày càng gia tăng, những thương nhân Nhật đến ngày càng nhiều, mà nhiều cơ sở kinh doanh buôn bán với nhiều đặc quyền đặc lợi... Điều này chắc chắn sẽ là một nguy cơ chính trị cho tương lai Đông Dương sau này...
Việc quan hệ với Thái Lan, tương đối ổn định. Chỉ có đối với Trung Hoa thì đáng lo hơn, đặc biệt là ở các vùng biên giới... Vì thế, mặc dù Trung Hoa đã cắt quan hệ ngoại giao với Pháp, nhưng Đông Dương vẫn phải giữ những quan hệ tốt với Trung Hoa, và ở trong tư thế sẵn sàng để bảo đảm được vị trí của mình khi chiến tranh kết thúc.
Decoux đặc biệt nêu lên một bức thông điệp, sau này được gọi là “thông điệp của bộ ba” (Message à trois) do ba người ký tên là Decoux, Toàn quyền Đông Dương, Margerie, tham tán sự vụ của Pháp ở Trung Hoa, Cosme, đại sứ Pháp ở Tokyo, và do Cosme bí mật gửi bằng đường qua nước trung lập cho tướng De Gaulle, ngày 31 tháng 8 năm 1944 ở Alger. Hôm đó lại cũng chính là ngày chính phủ lâm thời của De Gaulle từ Alger trở về Pháp, nên bức điện lại được chuyển tới Paris.
Trong nội dung của bức thông điệp, sau khi phác họa lại tình hình chính trị, kinh tế của Đông Dương tương tự như đã nêu ở trên, có trình bày những gợi ý về chính sách đối ngoại nên thực hiện ở xứ này. Đại để có những điểm đáng lưu ý sau đây:
“...Theo ý kiến chúng tôi, sẽ trái với những quyền lợi của Pháp, nếu Pháp có một lập trường không hữu nghị, thậm chí gây chiến tranh đối với Nhật Bản. Ngược lại Pháp và Đông Dương cần phải giữ một lập trường trung lập, nhờ thế chúng ta có thể hy vọng đi tới được ngày kết thúc cuộc xung đột mà không bị thiệt hại gì nhiều lắm...”
“... Cũng trong luồng ý kiến này, sẽ cực kỳ quan trọng là chính phủ mới của Pháp phải ý thức được tất cả sự nguy hiểm của bất cứ một cuộc tấn công nào vào Đông Dương, cuộc tấn công này sẽ lập tức làm nổi lên nguyên tắc của một sự phòng thủ chung, mà chính phủ của Thống chế đã công nhận ngay từ tháng Bảy năm 1941, để đổi lấy sự giữ vùng chủ quyền của Pháp và bảo vệ sự tồn tại của những lực lượng vũ trang của chúng ta ở Đông Dương”.
“... Chúng tôi cho rằng tình hình ở thuộc địa của chúng ta, tự nó sẽ sáng sủa lên sau khi kết thúc cuộc chiến tranh ở Châu Âu, và Nhật Bản sẽ phải tìm cách thương lượng...
Tổng tư lệnh quân đội Ayné cũng đồng ý với những gợi ý này của chúng tôi...”
“... Tóm lại, điều kiện cần và đủ cho chủ quyền Pháp ở Đông Dương và những quyền lợi của Pháp ở Viễn Đông được bảo tồn nguyên vẹn khi kết thúc cuộc xung đột, là chính phủ mới của Pháp phải khuyến cáo các đồng minh đừng có thực hiện bất cứ một cuộc tấn công nào vào Đông Dương, và chính phủ Pháp cũng đừng có một khởi xướng nào về ngoại giao hay quân sự có thể làm cho Nhật nghi ngờ đối với Pháp...”
Kết cục vào năm 1949, tòa Thượng thẩm Paris, ra bản án cho Decoux được hưởng sự miễn tố (non-lieu), có nghĩa là công nhận chính sách đối ngoại trên của Pháp ở Đông Dương và Viễn Đông là không sai lầm.
Nhưng chính sách hòa hoãn này, hay gọi đúng tên của nó là chính sách đầu hàng, trong cái lôgic khắc nghiệt của chiến tranh chống quân phát xít, cũng đâu có ngăn cản được cuộc chính biến 9 tháng 3, đâu có cứu vãn được chủ quyền của Pháp ở Đông Dương, đâu có bảo vệ được những quyền lợi của Pháp ở Châu Á - Thái Bình Dương.
Lời nhận định của Decoux, viên thái thú cuối cùng của nền đô hộ Pháp, xét ra không phải là không có căn cứ.
(Thời Decoux làm Toàn quyền ở Đông Dương có xảy ra một chuyện đau thương cho gia đình ông là: hồi đó Bảo Đại và Nam Phương đang ở Đà Lạt, vì ghen tuông, Nam Phương đã cầm súng rượt theo Bảo Đại để bắn, hình như bị thương ở chân. Decoux phải cử vợ lên để giàn xếp chuyện, lúc trở về ban đêm thì xe hơi bị tai nạn, và vợ Decoux bị chết. Câu chuyện được ém nhẹm rất kỹ, không lọt ra ngoài...)
9. Những địa ngục trần gian
Tính cho cùng, những thiệt hại về nhân mạng của quân đội Pháp ở Đông Dương trong cuộc chính biến 9 tháng 3 cũng không phải là lớn lắm. Nếu chỉ tính riêng lính da trắng thì chỉ mất 4,5% tổng quân số và 17,6% tổng số quân lính người Âu. Sau đêm 9 tháng 3, tất cả những người còn lại, nếu không thoát được ra ngoài đi theo các toán quân sang đất Trung Hoa, bị Nhật bắt trong nội địa đều là những tù binh, bị dồn đến giam giữ và làm khổ sai trong các trại tập trung. Những người trước đó có hoạt động trong các mạng lưới kháng cự, hoặc bị nghi, bị tố cáo như thế, đều bị tách riêng ra, đưa về giam ở các trại hiến binh Kampêtai của Nhật để khai thác thông tin.
Sở hiến binh là cùng một loại với sở mật thám của Pháp, sở Gestapo của Đức. Nó có nhiệm vụ chính thức là tra hỏi, và một nhiệm vụ không chính thức nhưng lại rất quan trọng là trừng phạt và khủng bố để gây sợ hãi trong dân chúng và cho kẻ thù. Nếu như tra hỏi là cốt để moi cho ra những mạng lưới tổ chức bí mật, tìm hiểu cho được những kháng cự của kẻ địch có thể phương hại đến an ninh của quân đội Nhật, thì còn có thể hiểu được lý do của sự tàn nhẫn mất hết tính người của những cực hình khủng khiếp chúng đã dùng để tra tấn những người chẳng may đã sa vào tay chúng.
Nhưng đây là một sự trỗi dậy của thú tính, lấy việc làm đau đớn xác thịt của người khác làm một thú vui, một sự thỏa mãn những bản năng thấp hèn nhất. Ở đây cũng còn là một ý đồ muốn chà đạp nhân phẩm của con người, muốn trả thù cho những mặc cảm, những căm hờn bị đè nén đã bao đời đối với giống nòi da trắng. Vì thế, có những cuộc tra tấn, những cách hành hạ, những sự tàn ác hoàn toàn vô ích, cốt chỉ để hạ nhục, để báo thù.
Những người đã sống sót trở về từ địa ngục trần gian đó đã kể lại: 17 tiếng đồng hồ liền quỳ trên những phiến gỗ xù xì, trên những đầu gối đã rách nát lở loét, không được động đậy, không được dựa vào nhau, không được nói, không được ngủ, không được cả nhắm mắt... Mỗi ngày ba nắm cơm gạo hẩm, bốn hớp nước, hàng chục người chen chúc như xếp cá ngủ ngay trên đất ẩm ướt, trong những đám mây ruồi muỗi, nồng nặc mùi phân, mùi nước tiểu, dưới những ngọn đèn 500 nến nóng cháy da, cháy thịt thắp suốt ngày đêm... Không lúc nào ngớt tiếng kêu thét của những người bị tra tấn bằng điện, bằng nước, treo ngược hai chân, đánh bằng roi gân bò... Cứ như thế ngày này qua ngày khác, tuần lễ này qua tuần lễ khác, rồi tháng này qua tháng khác, trong một niềm tuyệt vọng thê thảm, chỉ mong được sớm chết... Cho đến cái ngày tháng Tám ấy, tiếng trái bom nguyên tử ở Hiroshima vọng về đến tận đây... Kể cả đối với những người tuy còn sống sót sau ngày ra khỏi trại những cũng sẽ chết sau đó ít lâu, ai cũng chỉ có một ý nghĩ an ủi: ác giả ác báo...
Còn những trại tập trung ở Hòa Bình và ở nhiều nơi khác nữa, thì khỏi cần phải mô tả, chỉ nghe tên của nó được mệnh danh là những “trại chết từ từ” (Les camps de la mort lente) thì cũng đã hiểu sự sống ở đây như thế nào rồi. Cũng lại là một thứ địa ngục trần gian nữa, giữa những núi rừng nguyên thủy bạt ngàn, hàng ngày làm việc khổ sai đến kiệt sức, ăn ba nắm cơm với muối, uống vài hớp nước, quần áo rách tả tơi, hôi thối, muỗi mòng, đĩa vắt, sốt rét, ỉa chảy, kiết lỵ, cả người là những vết thương mưng mủ, nhức buốt... Thế mà chỉ mấy ngày trước, mấy tuần lễ trước đó thôi, họ còn là những người ăn trên ngồi tróc, có người hầu người hạ, bàn ăn trải khăn trắng tinh, thịt cá ê hề, rượu vang, rượu mạnh, nệm êm, chăn ấm, ngày tắm hai lượt, ra đường một bước đã có xe kéo chạy bằng “ngựa - người”... Vì thế, từ cuộc sống đó bỗng rơi xuống cái địa ngục này, đối với họ sẽ khổ hơn gấp năm lần, gấp mười lần, gấp cả trăm lần cũng nên.
Nhưng giữa rừng núi như thế sao không tìm cách trốn đi? Đi trốn ư? Trốn đi đâu? Mà trốn như thế nào? Lính Nhật đông nhung nhúc, canh gác 24 trên 24, ở lán trại, lùng sục trong rừng nơi làm việc chặt cây phá rừng. Lúc nào cũng lăm lăm cây súng cầm lưỡi lê, đạn lên nòng, chỉ có bất kỳ một động tác nào khả nghi là có thể bị bắn chết, đâm chết ngay... Cũng có mấy người đi trốn đó. Nhưng đi được mấy hôm thì bị những người dân Thái bắt đem nộp, để tránh cho chính họ cũng sẽ bị quân Nhật trừng phạt nếu để tù nhân trốn thoát. Số phận của những người bị bắt về được quyết định ngay tức khắc: họ đều bị chém đầu, trước đám tù nhân được tập họp vội vã về để chứng kiến cảnh hành hình này. Có một người trong số đi trốn, tỏ ý kháng cự. Anh ta chưa được chết ngay để còn được “săn sóc” đặc biệt. Đầu tiên là một trận đòn túi bụi bằng những cây gậy cứng. Rồi khi khắp người đã đầy máu me, thì bị trói vào một thân cây, với một mối dây lòng thòng ở cổ, để nếu ngả đầu xuống thì sẽ thít chẹt lại nghẹt thở ngay. Khi anh ta đã gần bất tỉnh nhân sự, chúng đặt anh nằm trên một phiến gỗ ngoài nắng. Anh ta rên xiết cho đến chiều tối, chúng mới đưa ra hành hình. Nhát kiếm đầu tiên chém xả một bên vai, nhất thứ hai xẻ dọc một đường trên lưng, sau đó mới chặt đầu. Tên sĩ quan chỉ huy trại và bọn lính, như điên dại, còn đâm lê, chém nhiều nhát trên xác cho đến nát bấy ra. Những người ở cùng lán với anh, bị phạt vì đã không tố cáo người đi trốn, phải ra đứng nghiêm ngoài nắng từ sáng để chứng kiến đầy đủ cảnh hành hình này...
Đại tá quân nhu Jean J. Bernardini, sống sót từ Hòa Bình trở về đã viết một bài tường thuật dài kể lại tỉ mỉ cuộc sống trong những “trại chết từ từ” và những cuộc hành hình mà ông đã chứng kiến. Sau nhiều năm rồi mà ngòi bút của ông vẫn còn như rung lên vì xúc động và bị ám ảnh bởi những gì đã được tai nghe mắt thấy.
Nhưng qua Bernardini, có một điều mà có lẽ còn ít người biết đến, còn ít sách vở nói đến, còn ít sử gia bình luận đến, kể cả những người dân Pháp, những sách vở Pháp, những nhà sử học Pháp: đó là sự lãnh đạm, hất hủi của nước mẹ Pháp, đối với những người con Pháp đã hy sinh, ngã xuống, đã bị tra tấn cực hình để rồi bệnh hoạn, tàn phế suốt đời, chỉ vì muốn cố níu lại cho chính quốc cái thuộc địa vẫn được coi là hòn ngọc đẹp nhất, quý nhất trong cái chuỗi những sở hữu của đế quốc Pháp. Vì sao vậy? Bernardini cay đắng viết:
“Là nạn nhân thê thảm của những sự điên cuồng giết chóc của những samurai hiện đại, của sự ngu dại của con người, xa làng quê, xa gia đình, họ không hiểu tại sao họ chết và chết cho ai? Họ không biết rằng có một sự nghi ngờ khủng khiếp và vô lý của chính quốc đang đè nặng lên họ. Đối với những đồng bào của họ bị nhiễm phải huyền thoại De Gaulle, thì họ là những người đã cộng tác với Nhật, và mỉa mai cay đắng, họ là những người cộng tác với chính những đao phủ của họ.
Là “những người Pháp 1945” (Les Francais 1945) - và đây mãi mãi là những kỷ niệm đau buồn nhất của chúng tôi - chúng tôi đụng đầu vào một sự không thông cảm hoàn toàn, một sự bất công khó tin nhất, một thái độ thiếu hẳn sự tưởng tượng và hiểu biết. Sau cả một phần tư thế kỷ, cũng không thể hiểu nổi sự đối xử của những người mới đến, đối với những người cũ ở Đông Dương, quân sự hay dân sự. Một số ông sếp, một số người mới được trao cho những quyền hành phù du, những người vừa được “thả dù xuống”, tới Đông Dương với những cảm nghĩ phức tạp, trong đó lẫn lộn ý thức phục thù, sự ác ý, sự hung hăng gay gổ, và cả sự thèm khát địa vị, sự ngứa ngáy muốn được thăng chức.
Ngay hiện nay, khi tôi gợi lại những giờ bi thảm của thời thanh niên trước những người bạn đồng tù cũ, nay đã lên tướng hoặc đã đi làm đại sứ, họ không thể giấu được sự khó chịu bực bội: tại sao lại cứ khuấy mãi lên cái quá khứ đã đi qua rồi ấy.
Như thế là họ đã bán rẻ ký ức về những người mà ta đã để nằm lại đó, trong những rừng rậm Hòa Bình, ở những nghĩa địa mà những “tên thực dân” khốn khổ yên nghỉ, quá xấu xa đến nỗi những ngôi mộ của họ cũng đáng bị cào phẳng đi bởi những sự căm thù mù quáng của những kẻ bè phái, những kẻ ngu dốt, tự trang điểm cho mình bằng những chủ nghĩa, và viện dẫn ra sự giải phóng các dân tộc.
Những nạn nhân khốn khổ của những trại tập trung quốc xã đã từng phải chịu đựng trong một thời gian dài những đau khổ cực kỳ trong phẩm cách làm người của họ, cũng ghê tởm không muốn gợi lại cuộc sống trong các trại đó. Những người sống sót trong các trại tập trung Nhật Bản cũng có một thái độ như vậy. Nhưng cái khác nhau duy nhất là ở chỗ: những người trên thì được tôn vinh với sự thành kính và biết ơn, còn những người dưới thì không được một ai biết đến.
Chúng tôi không tự an ủi mình bằng những ảo tưởng, nhưng chúng tôi chỉ muốn làm cái nhiệm vụ đau buồn là gợi lại sự hy sinh ầm thầm của những người đã ngã xuống lúc ấy ở Đông Dương. Bởi vì đối với những nạn nhân hầu như vô danh đó, không ai nhắc đến họ bao giờ. Họ đã chiến đấu dưới một ngọn cờ Pháp thiếu chữ thập Lorraine (Croix de Lorraine - biểu tượng cờ của De Gaulle). Đó là tội ác của họ”.
“Những người chết “xấu xa” đó, vì họ thuộc về kỷ nguyên thuộc địa, đã phải chịu những đau khổ kéo dài của những trại tập trung và đã ngã xuống chẳng có vinh quang gì. Họ đã phạm một sai lầm không thể tha thứ được là đã không biết đứng vào trong “luồng gió của lịch sử”.”
“Những đồng đội của chúng tôi đã ngã xuống ở Lạng Sơn, ở Hòa Bình, ở Huế, ở Hà Nội dưới viên đạn, lưỡi kiếm của quân Nhật hay suy kiệt vì bệnh sốt rét, bệnh kiết lỵ, không được ai nói đến, bị mọi người dửng dưng thờ ơ. Họ đã chết quá sớm hay quá muộn. Trong cái sự không thông cảm mênh mông và não lòng này, chỉ còn những người vợ góa, những đứa con côi, và một vài người bạn cùng chiến đấu, cùng bất hạnh nhớ tới họ thôi”.
“Chúng tôi không muốn tự thương xót mình vì những con đường đau khổ chúng tôi đã đi qua, nhưng chúng tôi cũng không mong muốn gì là sự hy sinh vô ích bị vĩnh viễn biến khỏi ký ức của những người ở nước này”.
“Những người bị tù đày ở Hòa Bình cũng không bao giờ được hưởng danh nghĩa chính thức “tù giam và lưu đày”. Người ta nói rằng có những lý lẽ về pháp lý chống lại sự công nhận đó. Hình như thế là không có một mối liên hệ nào giữa sự kháng cự chống kẻ thù và sự giam giữ ở “trại tử thần”.”
Những điều đại tá Bernardini nêu lên trên đây cũng thật dễ hiểu, đâu có ra ngoài cái tâm lý thông thường của một thời hậu chiến. Trong suốt những năm tháng nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, trong khi người dân Pháp ở chính quốc phải sống trong một hoàn cảnh cực kỳ gian khổ, bi thảm thì ở Đông Dương, những người Pháp, vì đi theo chính phủ Vichy, vì đầu hàng Nhật Bản vẫn có một cuộc sống hòa bình, sung túc, tuy là tương đối, nhưng dù sao cũng hơn hẳn chính quốc. Nếu không có cuộc chính biến đêm 9 tháng 3 năm 1945, nếu Nhật Bản thất trận sớm hơn 5, 7 tháng thì chắc chắn những người Pháp ở Đông Dương, đã có thể trải qua cuộc thế chiến thứ hai một cách an toàn, không mất mát, thiệt hại gì. Như vậy làm sao ở chính quốc, người ta có thể thông cảm được, không đánh giá, không so sánh, không coi những con người ở cái thuộc địa xa xôi này là những kẻ trốn trách nhiệm, không dám đấu tranh, chỉ nghĩ đến sự an toàn cho bản thân mình, nên đã cộng tác với kẻ thù, cúc cung phục vụ chúng - dù là bị ép buộc đi nữa bán rẻ cả uy tín và danh dự của Tổ quốc.
Ngay ở Pháp, trong những ngày hậu chiến, người ta đã lập những phiên tòa để xử những người đã cộng tác với quân Đức, mà đứng đầu là Thống chế Pétain của chính phủ Vichy. Dân chúng phẫn nộ đã cạo đầu, gọt tóc của những phụ nữ từng chung chạ với quân Đức, rồi dẫn đi làm nhục trên các đường phố Paris. Chính viên Toàn quyền Decoux và nhiều quan chức cao cấp Pháp khác cũng đã phải ra trước vành móng ngựa của chính quyền và của dư luận quần chúng - để được xét xử về những hành động của mình ở Đông Dương.
Trong cuộc chiến đấu tuyệt vọng ở thuộc địa, không phải lẻ tẻ không có những trường hợp chiến đấu, hy sinh anh dũng, nhưng đâu có đủ để xóa nhòa được cảm tưởng chung của mọi chính sách đầu hàng nhục nhã để được yên thân trước quân thù.
Người dân Pháp ở chính quốc hất hủi, lãnh đạm, thậm chí khinh ghét những “Người Pháp 1945” ở Đông Dương, chính là vì đã lên án chính sách đầu hàng đó.