Vũ Hạnh chim cút hoạt đầu văn nghệ
Tác giả: Vương Trùng Dương
Nguồn: sưu tầm
Tác giả: Vương Trùng Dương
Nguồn: sưu tầm
Nguyễn Đức Dũng sinh ngày 15 tháng 7 năm 1926 tại Kế Xuyên, xã Bình Nguyên, quận Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Học tiểu học ở quê và trung học ở Huế. Hoạt động Việt Minh từ tháng 3 năm 1945 ở Liên Khu 5, phụ trách ban kịch tuyên truyền kháng chiến. Năm 1953, ông dạy ở trường trung học Thăng Bình.
Năm 1954, ông được tổ chức phân công ở lại để hoạt động nằm vùng. Chẳng may, người bạn đồng hương, đồng lớp là Vũ Đình, thay ông Phan Vỹ làm quận trưởng Thăng Bình, chân tướng của Vũ Hạnh bị bại lộ, ông bị bắt giam ở đề lao Hội An. Tại đề lao có tên cán bộ Cộng sản là Vũ Hạnh, đồng hương, đồng chí, bạn thân của Nguyễn Đức Dũng, trưởng toán đơn vị hoạt động bí mật đã từng thủ tiêu thành phần chống cộng và Việt Nam Quốc Dân Đảng... Vũ Hạnh bị giam cầm và chết trong đề lao nên khi ra khỏi nơi này, Nguyễn Đức Dũng lấy bút hiệu Vũ Hạnh để “tưởng nhớ người bạn cố tri”. Năm 1987, ông viết bài ca tụng tên cán bộ này trên báo Công An và Tuổi Trẻ.
Năm 1956, ông vào Sài Gòn lập nghiệp, dạy học ở trường Khai Trí, Chợ Lớn và vài trường trung học tư thục, hoạt động bí mật. Trước năm 1954, ông sở trường về viết kịch và diễn kịch, nhận thấy bộ môn này phải xuất đầu lộ diện nên ông chuyển sang lãnh vực sáng tác. Thời gian đầu ông gặp Lưu Nghi, người Hội An, Quảng Nam, theo học trung học Khải Định và đại học văn khoa, năm 1957 chủ trương nhà xuất bản Trùng Dương, cùng dạy học với nhau, nhờ Lưu Nghi giới thiệu nên Vũ Hạnh được quen biết với một số văn nghệ sĩ ở Sài Gòn.
Tạp chí Tin Văn
Trong quyển Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa của Cao Thế Dung đề cập đến sự xâm nhập của Cộng sản trên mặt trận văn nghệ:
“Hàng trăm điệp viên hữu hạng của Cộng sản từ Bắc vào Nam sau Hiệp Định Genève. Số điệp viên này thuộc Phòng Đông Á Vụ và Phản Gián, hầu hết đã có kinh nghiệm hoạt động nội thành, chia nhau xâm nhập nhiều đường dây thuộc nhiều lãnh vực. Phan Nghị thì hành nghề ký giả sau len lỏi vào tờ Ngôn Luận và Chính Luận (sau năm 1963). Vũ Ngọc Nhạ len lỏi vào Công giáo phía Linh mục Hoàng Quỳnh; Nguyễn Ngọc Lương, một giáo viên tư thục ở Nam Định là kẻ đã móc nối Vũ Hạnh (1964 cùng Vũ Hạnh xuất bản tạp chí Tin Văn và sau bí mật cộng tác với Thế Nguyên, tạp chí Trình Bày)...”
Trong quyển Văn Học Miền Nam Tổng Quan của Võ Phiến, nhà xuất bản Văn Nghệ, Cali, ấn hành năm 1986, trang 216 ghi nhận thời điểm của tờ Tin Văn:
“Lữ Phương cùng với Vũ Hạnh cho ra tờ Tin Văn vào tháng 6 năm 1966 dưới sự lãnh đạo của cán bộ Cộng sản Nguyễn văn Bổng...”.
Thật ra, lúc đó Lữ Phương chưa nằm trong tổ chức bí mật này. Năm 1960, Vũ Hạnh gia nhập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng và ở trong tổ chức nhà báo yêu nước với bí danh Hoàng Thanh Kỳ. Tháng 8 năm 1966, Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc thành lập, bí mật tổ chức cơ sở ngôn luận với tờ báo Tin Văn, Nguyễn Ngọc Lương làm Chủ bút và Vũ Hạnh giữ vai trò Tổng thư ký, dưới sự chỉ đạo của Nguyễn văn Bổng.
Nguyễn văn Bổng cũng người Quảng Nam, lớn hơn Vũ Hạnh 5 tuổi, bước chân vào con đường văn nghệ vào thập niên 40. Năm 1955 công tác ở Hội Văn Nghệ Việt Nam đến năm 1962 vào Nam giữ vai trò Phó chủ tịch trong Hội Văn Nghệ Giải Phóng. Ngoài việc “chỉ đạo” tờ Tin Văn, Nguyễn văn Bổng với bí danh Tám Nhàn, còn lãnh đạo tờ Người Việt bí mật dưới bút hiệu Lê Nguyên Trung, Vương Quế Lâm. Cuối năm 1968, bị lộ, trở ra Bắc, làm chủ nhiệm báo Văn Nghệ.
Trong tờ Tin Văn với những bài viết nòng cốt về lý luận phê bình của Lữ Phương nên nhiều người cho rằng Lữ Phương ở trong tổ chức bí mật tờ báo này. Thời gian từ 1964 đến tháng 4 năm 1968, Lữ Phương dạy tại trường Thoại Ngọc Hầu ở Long Xuyên, chỉ có Nguyễn Ngọc Lương, Vũ Hạnh, Nguyễn Nguyên và Hà Kiều đảm trách tờ báo mà thôi. Trong bài viết Những Chuyến Ra Đi của Lữ Phương viết vào năm 1999 nhưng mãi đến năm 2008 mới được phổ biến. Lữ Phương đã đề cập đến giai đoạn này:
“... Lúc bấy giờ tôi đang học năm thứ hai ở đại học sư phạm Sài Gòn, ghi danh học thêm hai chứng chỉ ở Văn Khoa, tiếp tục đọc thêm về triết học hiện sinh và Mácxít, sau đó định tập trung chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp thì chẳng may bị tai nạn gẫy chân phải nằm liệt giường suốt tám tháng ròng rã. Trong khi đó, phong trào Phật Giáo và học sinh sinh viên đã lên tới đỉnh cao, đưa đến cuộc đảo chính của Dương văn Minh năm 1963 lật độ được chế độ Ngô Đình Diệm. Khi trường mở lại sau một thời gian tạm ngừng hoạt động vì biến cố nói trên, tôi đã có thể chống nạng đi học lại được. Cũng vào năm đó tôi lập gia đình để sau khi tốt nghiệp, nhận sự vụ lệnh xuống Long Xuyên dạy học...
... Về sau này dần dà tôi đã đoán biết được Tin Văn do Nguyễn Ngọc Lương làm chủ bút, Vũ Hạnh và Hà Kiều điều hành chính là một trong những tờ báo do Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chỉ đạo trực tiếp về đường lối, bài vở và cả tài chính nữa.
... Vào thời gian hợp tác với tờ Tin Văn, tôi đã gặp một vài người mà qua cung cách ăn nói, ứng xử tôi nghi là cán bộ từ ngoài vào để chỉ đạo trực tiếp phong trào, trong số những người này có Hai Vũ (sau này tôi biết tên thật là Tài, không rõ họ gì) là gần gũi nhất và kế đó là một người khác mà mãi sau này tôi biết được là Nguyễn văn Bổng.
... Phong trào lên rất cao vào những năm 1966-1967 thì bị bể bạc: hầu hết các cán bộ chỉ đạo bí mật như Hai Vũ, Hoàng Hà cùng với các nồng cốt của những hoạt động công khai trong Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc như Vũ Hạnh, Lê văn Giáp, Nguyễn Ngọc Lương, Thái Bạch... đều lần lượt bị bắt. Tờ Tin Văn bị đình bản. Tên tôi đã bị báo Sống của Chu Tử liên tục lôi ra chửi bới thậm tệ. Nhưng bấy giờ do không trực tiếp đến tổ chức và bị khai báo nên tôi vẫn tiếp tục được công việc của mình bằng cách hợp tác với nhóm “Công giáo cấp tiến” của Thế Nguyên. Nhóm này có những cơ sở hoạt động rộng lớn với một nhà xuất bản và một loạt các tạp chí như Trình BàyĐất Nước, Nghiên Cứu Văn Học cùng với nhật báo Làm Dân có quan điểm chính trị khá rõ rệt: chống độc tài, chống sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, chấm dứt chiến tranh. Sau khi đăng cho tôi một số bài trên Đất Nước, Nghiên Cứu Văn Học, năm 1967, chính Thế Nguyên đã đề nghị tôi gom lại một số bài đã viết để nhà Trình Bày xuất bản, và đó là tập Mấy Vấn Đề Văn Nghệ. Sau này, tôi biết Thế Nguyên đã trở thành cơ sở của cách mạng, có ra bưng họp. Anh chết cách đây mấy năm hết sức vô lý: Dùng dao lam cắt một mụn cóc và bị nhiễm phong đòn gánh...”
Sau Tết Mậu Thân, tháng 4 năm 1968 Lữ Phương vào bưng, ghi lại những nhân vật đã gặp:
“... Ở đây tôi gặp lại tất cả những người tôi đã quen biết từ Hoài Hương, Nguyễn Khắc Vỹ, Lê Hiếu Đằng, Thiên Giang, Vân Trang (vợ Thiên Giang), Nguyễn Đăng Trừng, ông bà Phú Hữu Nguyễn Thạnh Cường, Nguyễn văn Kiết (thầy dạy tôi ở Đại Học Sư Phạm), Lê văn Giáp (chủ tịch Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc ở Sài Gòn và chủ tịch Liên minh Sài Gòn sau khi ra khu) cho đến những người tôi từng nghe tên nhưng chưa gặp mặt như Trịnh Đình Thảo, Liên Hoa Ngô thị Phú (vợ Trịnh Đình Thảo), Lâm văn Tết, Dương Quỳnh Hoa, Huỳnh văn Nghị (mới kết hôn với Dương Quỳnh Hoa khi vào khu), Trương Như Tảng, Thanh Nghị, Dương Kỵ, Thanh Lan Võ Ngọc Thành, Nguyễn văn Bửu, Hồ văn Bửu, Cao văn Bổn, Nguyễn Hữu Khương, Lucien Phạm Ngọc Hùng, Trần Thiện Tứ, Lê Quang Lộc... tất cả những nhân vật trên đây đều ở chung với nhau trong một khu vực biệt lập do Huỳnh Tấn Phát trực tiếp quản lý. Lúc tôi tới đây thì căn cứ này đang đóng ở trên đất K, ở một khu vực gần biên giới Việt Nam gọi là Sáu Cầu...”.
Những khuôn mặt được Lữ Phương nêu trên, sau 1975 chỉ thời gian ngắn đều bị thất sủng.