📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

HÀ VỸ- LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA. Tiếp Chương 5,6

1 trả lời, 2.179 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-06-15 15:25:13Đào Anh Minh>

Chương 5
HÀ VỸ DƯỚI ÁCH THỐNG TRỊ CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
NĂM1945 Ở ĐỊA PHƯƠNG
1. HÀ VỸ DƯỚI ÁCH THỐNG TRỊ CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ TAY SAI
Năm 1858 thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta. Sau gần 30 năm tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, năm 1884 Triều đình nhà Nguyễn đã phải ký hiệp ước (Patơnốt) bán nước, công nhận sự đô hộ của Thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam
Khi thực dân Pháp thiết lập được ách thống trị trên đất nước ta, chúng thi hành chính sách cai trị áp bức bóc lột đối với nhân dân ta nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng
Về chính trị: Thực dân Pháp bóp nghẹt quyền tự do dân chủ, chúng sử dụng bộ máy hành chính phong kiến và giữ các tục lệ làng xã để áp bức bóc lột nhân dân buộc người nông dân phải thực hiện nghĩa vụ sưu thuế nặng nề với nhà nước thực dân
Về kinh tế: Thực dân Pháp đặt ra hàng trăm thứ thuế như thuế đinh (thân), thuế điền thổ và hàng năm lại tăng thêm …(năm 1897 mỗi suất đinh một năm phải nộp 2,5 đ đến năm 1908 đã tăng lên 4,8 đ bằng 16 lần so với thời Nguyễn…) Bọn địa chủ phong kiến dựa vào thế lực của thực dân Pháp đã phát canh thu tô cho vay nặng lãi để bóc lột nông dân. Khi người nông dân túng quẫn chúng đã mua rẻ ruộng đất làm cho người nông dân không còn ruộng để canh tác phải làm thuê cho chúng khiến người nông dân phải bần cùng hoá. Ngoài thuế, người nông dân còn phải chịu nỗi khổ cực vì các hủ tục và các tệ nạn xã hội như ngôi thứ, ma chay, cưới xin, nghiện hút, cờ bạc …
Do nền kinh tế nông nghiệp làm một vụ lại bấp bênh, năng suất thấp cộng với sưu cao thuế nặng nên đời sống đa
phần người dân Hà Vỹ (cũng như các làng khác quanh vùng ) vô cùng cực khổ đói nghèo.
Đại bộ phận các gia đình trong thôn có đời sống rất thấp, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhà gianh vách đất, cả ngõ Đương ở Giao Tác chỉ có bốn gia đình có nhà ngói sân gạch, ngõ Ba giầu có hơn nên số nhà ngói sân gạch nhiều hơn, gia đình nào gọi là giầu cũng chỉ có vài ba cái nhà ngói, mấy mẫu ruộng, có trâu cày, thóc vài tấn thừa ăn ... tiện nghi sinh hoạt cũng chẳng có gì đáng giá, cả làng cũng chỉ có hai cái nhà gác hai tầng lợp ngói bình thường, đường làng ngõ xóm chật hẹp, phần lớn là đường đất, vào mùa mưa lầy lội bẩn thỉu đi lại khó khăn
Đời sống dân ta càng khổ hơn từ khi phát xít Nhật nhẩy vào xâm chiếm Đông Dương (T9-1940). Khi vào Hà Nội, ở nông thôn chúng bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, thầu dầu để cung ứng cho chiến tranh, chúng vơ vét thóc lúa để nuôi quân lính, thế là dân ta lại phải chịu sự áp bức bóc lột của đế quốc Nhật vì phải chịu "một cổ ba tròng" nên dân ta lại càng vô cùng điêu đứng. Đã thế lại còn phải chịu thiên tai lũ lụt như năm 1943, 1945 vỡ sông làm cho bao nhiêu người chết đói và chết bệnh. Sau trận lụt sông năm 1945 ở Hà Vỹ rất nhiều gia đình cực khổ, cơm chẳng có mà ăn mọi người phải ăn cháo hoặc độn ngô khoai sắn, có gia đình phải đào cả củ rợ, củ chuối để ăn … quần áo rách rưới vá chằng vá đụp, anh chị mặc chặt, em phải lấy dùng, trời rét chăn không có phải đắp bằng chiếu hoặc mền bông cũ, khố tải hay bằng các quần áo đụp nên rất bẩn thỉu sinh ra ghẻ lở bệnh tật và có nhiều chấy rận …
Đời sống vật chất thiếu thốn kéo theo đời sống tinh thần cũng nghèo nàn lạc hậu, 90% người dân không biết chữ chỉ có một số con em gia đình khá giả mới có điều kiện đi học chữ Nho, mãi đến những năm 30 của thế kỷ XX ở đình làng mới mở lớp dậy chữ Quốc ngữ. Tình trạng vệ sinh ở làng xóm cũng rất tồi tàn lạc hậu, mỗi thôn chỉ có một cái giếng xây gạch để lấy nước ăn, mọi việc tắm rửa giặt rũ đều dùng nước ao, nước ngòi. Người ốm không có thuốc điều trị chỉ chữa bằng các loại thuốc Nam thuốc Bắc hoặc các loại thuốc lá dân gian do các ông Lang bắt mạch bốc thuốc chữa cho. Phụ nữ mang thai không được ăn uống nghỉ ngơi đầy đủ, phải kiêng khem vô lý, khi sinh đẻ lại do các bà đỡ dùng liềm cắt rốn (nhau) mất vệ sinh, nên đứa trẻ sinh ra dễ bị nhiễm trùng hay ươn sài khó nuôi, tình trạng "hữu sinh vô dưỡng” - có đẻ mà không nuôi- thường diễn ra phổ biến
Ngoài ra tệ mê tín dị đoan với việc lập điện thờ lên đồng, bói toán, đội bát hương ở thôn nào cũng có. Do dân trí thấp nên nhiều người bị chết oan, tuổi thọ bình quân dân làng không quá 45.
2. Hà Vỹ trước cách mạng tháng Tám năm 1945
Ngay từ khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta, nhân dân ta không cam chịu nô lệ đã liên tiếp đứng lên chống thực dân Pháp trên phạm vi toàn quốc, tiêu biểu là các phong trào Đông du, Đông kinh Nghĩa thục, Việt Nam Quang phục hội đặc biệt là Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội (tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương) đã có ảnh hưởng rất lớn đến các làng xã của huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh trong đó có Hà Vỹ
Khoảng tháng 5 năm 1928 do tham gia tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, đồng chí (đ/c) Nguyễn Văn Cừ (sau này là Tổng bí thư của Đảng) đang học ở trường Bưởi Hà Nội phải bỏ học , đ/c Cừ đã về Giao Tác dậy học để lẩn tránh bọn mật thám truy tìm. Ở đây đ/c ấy đã được gia đình cụ Tổng Đản giúp đỡ che chở. Do công giúp đỡ đ/c Cừ trong những tháng ngày hoạt động cách mạng, nên gia đình cụ Đản đã được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen
Sau khi đ/c Cừ đi "vô sản hoá" ở Hòn Gai nên điều kiện để bắt nối liên lạc với các cán bộ cách mạng của Hà Vỹ bị gián đoạn.
Ngày 3-2-1930 Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Đảng đã thống nhất các tổ chức cách mạng ở Việt Nam. Từ đó cách mạng Việt nam đã có một Đảng Mác xít thống nhất lãnh đạo. Hà Vỹ vốn là một làng quê có nhiều thanh niên đi làm thợ khắp nơi lại rất gần Đình Bảng và chùa Dận (nơi có nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng về ở và hoạt động) nên những tư tưởng cách mạng và những sách báo tài liệu tin tức thời sự trong nước cũng được lan truyền về Hà Vỹ kịp thời. Một số thanh niên tiến bộ trong làng nhờ đọc các báo Cờ giải phóng của Đảng đã tiếp thu được ánh sáng cách mạng chỉ chờ thời cơ có người về giác ngộ là sẫn sàng tham gia phong trào Việt Minh
Từ cuối năm 1942 phong trào cách mạng ở vùng Từ Sơn, Tiên Du sau một thời gian bị địch khủng bố bắt đầu
hồi phục, nhiều cơ sở cách mạng được gây dựng lại.
Đầu tháng 3 năm 1943 ông Nguyễn Trọng Tỉnh người Đình Bảng là cán bộ hoạt động cách mạng (sau này là Tổng cục trưởng Tổng cục Thuỷ sản) đã về Hà Vỹ phát triển phong trào và đã thành lập tiểu tổ Việt Minh đầu tiên ở Giao Tác gồm hai thành viên là Đỗ Nguyên Tỷu (tức Hoàng Viết Phục - Tỷu theo tên lý lịch), Đỗ Văn Đỉnh (tức Khôi) và sau phát triển thêm một số thanh niên giác ngộ như Đỗ Văn Thiền (tức Thành), Phạm Văn Uyển (tức Công), ghép tên của bốn người là “ Khôi Phục Thành Công” sau có thêm Đỗ Văn Thể (tức Khoa), Đỗ Nguyên Sướng (tức Hải), Đỗ Văn Hữu (tức Sơn) và Lê Văn Soang v.v. Từ Giao Tác các thành viên đã tuyên truyền sang Đại Vỹ và đã kết nạp thêm được Dương Văn Phách, Lê Liêm, Nguyễn Văn Tám (Thiều) và Nguyễn Văn Thiết tham gia phong trào Việt Minh. Đến cuối năm 1943, Hà Vỹ đã có 15 hội viên Cứu quốc. Trên cơ sở các tổ Việt Minh của hai thôn, Uỷ ban Việt Minh xã Hà Vỹ được thành lập do Đỗ Nguyên Tỷu làm Chủ nhiệm.
Hoạt động của các tổ Việt Minh lúc đó là rải truyền đơn, dán áp phích ở các chợ, các nơi công cộng, đọc sách báo tài liệu cách mạng để biết được đường lối chủ trương của Đảng mà tuyên truyền quần chúng hiểu được kẻ thù của cách mạng mà tham gia và ủng hộ Việt Minh …
Từ đầu năm 1944 phong trào Việt Minh ở Hà Vỹ phát triển khá mạnh và đều khắp, thu hút được nhiều quần chúng tiến bộ tham gia.
Ngày 15 tháng 3 năm 1944 ông Lê Đình Thiệp (thay ông Nguyễn Trọng Tỉnh) thuộc đội công tác của Trung ương Đảng được cấp trên cử về Giao Tác tổ chức lễ kết nạp (tại nhà anh Tỷu) cho ba thanh niên là Đỗ Nguyên Tỷu, Đỗ Văn Đỉnh và Đỗ Văn Thiền vào Đảng Cộng sản Đông Dương và lập ra chi bộ Đảng đầu tiên ở Hà Vỹ, đồng chí Đỗ Nguyên Tỷu được bầu làm Bí thư chi bộ. Ngày hôm đó đã đánh dấu một sự kiện quan trọng nên mọi người đã gọi ngày 15 tháng 3 là ngày “mốc son lịch sử”. Đến tháng 7 năm 1944, chi bộ được công nhận chính thức (cũng do ông Thiệp thay mặt Đảng tuyên bố và công nhận). Tháng 9 năm 1945 chi bộ lại kết nạp thêm anh Đỗ Văn Hữu (tức Sơn) vào Đảng và công nhận Đỗ Nguyên Sướng (tức Hải) là cảm tình của Đảng.
Do đội công tác của An toàn khu Trung ương rút khỏi khu vực Từ Sơn đã không kịp giới thiệu chi bộ Hà Vỹ với Ban Cán sự huyện Từ Sơn, trong khi đó đ/c Tỷu lại đi thoát ly nên chi bộ Hà Vỹ không hoạt động rồi mất liên lạc với cấp trên, vì thế tổ chức đã không biết đến chi bộ Hà Vỹ mà giao nhiệm vụ. Điều đó đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phương. (Ông Lê Đinh Thiệp đã nhận lỗi thiếu sót trong lời xác nhận của mình)
Việc kết nạp đảng viên và thành lập chi bộ Đảng là điều hết sức bí mật không thể công khai hoặc cho nhiều người biết được, chỉ có người trong cuộc mới biết, nay cả ba đ/c ấy đều đã mất nhưng năm 1965 đ/c Đỗ Nguyên Tỷu (khi đó mới có 45 tuổi) đã viết tài liệu “Tóm tắt lịch sử cán bộ Đảng Hà Vỹ” và đã được ông Lê Đình Thiệp (đang là Thứ trưởng bộ Nội vụ) trực tiếp về kết nạp xác nhận thì điều đó là hoàn toàn đáng tin cậy.
Dưới sự chỉ đạo của chi bộ Đảng, các cơ sở Việt Minh được mở rộng sang hai thôn Đại Vỹ và Châu Phong. ở Giao Tác đã thành lập được các đoàn thể Cứu quốc (CQ) của Mặt trận Việt Minh:
- Đoàn Thanh niên CQ do anh Đỗ Văn Đỉnh làm bí thư
- Đội Tự vệ chiến đấu do anh Đỗ Văn Thiền làm đội trưởng
- Hội Phụ nữ CQ do chị Đỗ Thị Tịnh phụ trách
- Tổ Phụ lão CQ do ông Đỗ Văn Thìn làm Tổ trưởng
- Đội Thiếu niên CQ do Đỗ Văn Phái (em anh Tỷu) làm đội trưởng có Lê Văn Kiên và Đỗ Nguyên Lãng tham gia (1)
Những ngày tháng của năm 1944 ở Hà Vỹ có nhiều cán bộ cấp trên về hoạt động cách mạng, ngoài ông Nguyễn Trọng Tỉnh và Lê Đình Thiệp còn có một số cán bộ khác như các đ/c Thịnh, Cao, Can... Hai ông Tỉnh và Thiệp đã ở nhà cụ Điện Trung (bố ông Đỉnh), gia đình ông Tỷu, còn các đ/c khác ở nhà Cụ Thìn và bà Năm Đội. Đó là những cơ sở rất an toàn tin cậy, làm nơi hội họp đi lại ăn ở và làm việc của các cán bộ về hoạt động cách mạng ở địa phương Hà Vỹ
Trong những ngày về hoạt động ở Giao Tác, các ông ấy đã được các gia đình trên che chở giúp đỡ, bảo vệ, chính vì vậy mà gia đình cụ Điện Trung và bà Đỗ Thị Tịnh (vợ ông Tỷu) ở Giao Tác mới được Nhà nước tặng bằng có công với nước.
Vào cuối năm 1944 đầu 1945, tổ chức Việt Minh và các đoàn thể CQ lần lượt được hình thành ở các thôn Đại Vỹ và Châu Phong .
Các đoàn thể này rất tích cực hoạt động như tuyên tuyền cho Việt Minh, rải truyền đơn, rán áp phích, bảo vệ và giúp đỡ cán bộ cấp trên về hoạt động, tham gia các cuộc mít tinh bí mật trong vùng do Việt Minh tổ chức v.v..
Những ngày tháng đó có nhiều người truyền cho nhau bài thơ khóc anh Hoàng Văn Thụ - một lãnh tụ của Đảng- bị thực dân Pháp bắt được do không chịu khuất phục chúng đã xử bắn anh ở Hà Nội. Bài thơ đó không rõ ai sáng tác nhưng đã gây xúc động lòng người có anh đã chép vào sổ tay để phổ biến, trong đó có những đoạn như sau:
…Mắt anh đã say mầu lý tưởng,
Đường anh đi không lượng gần xa,
Tám năm xa nước xa nhà,
Đời anh đã trải phong ba dạn dày,
Cùng đồng chí ra tay chèo chống,
Lái con thuyền vượt sóng trùng dương......
...Anh Thụ ơi! Kìa xem muôn vạn,
Lớp hùng binh ngạo mạn tưng bừng,
Tuốt gươm thề thốt vang lừng,
Gương Hoàng Văn Thụ ta cùng noi theo,
Cờ khởi nghĩa bay vèo trước gió,
Đoàn quân đi cây đổ núi rung,
Xông pha rửa nhục non sông,
Và cùng rửa hận anh hùng Việt Nam.
Ngày 9-3-1945, phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng đã ra chỉ thị lịch sử "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" để chỉ đạo phong trào cách mạng trong cả nước. Được gần nơi ra chỉ thị cùng với các địa phương khác, Hà
Vỹ đã tiếp nhận được ngay tinh thần chỉ đạo của Trung ương. Cán bộ Việt Minh đã nói chuyện và tuyên truyền cho nhân dân thấy rõ kẻ thù chính của dân tộc ta lúc bấy giờ là phát xít Nhật, kêu gọi người dân không nộp thuế bán thóc cho Nhật và chính quyền tay sai. Vụ thuế năm 1945 cán bộ

Việt Minh đã chỉ đạo quần chúng đấu tranh không chịu nộp thuế cho Nhật. Mọi việc thu thuế ở địa phương thực tế là do cán bộ Việt Minh điều hành. Việt Minh cùng Lý trưởng xã Hà Vỹ đã đưa 10 tấn thóc mới thu của dân giao cho “Quán Bảo anh” - là một tổ chức cứu tế của Việt Minh đặt tại chùa Quậy. Số thóc này sau được đem phân phát cho những người bị đói do trận lụt năm năm 45 ở địa phương, nên đã cứu được nhiều người không bị chết đói lúc bấy giờ.
Phong trào cách mạng cả xã lên cao, tháng 6 năm 1945 cán bộ Việt Minh đã tổ chức mít tinh tại đồng Tróc được quần chúng hăng hái tham gia, chính quyền phong kiến hoàn toàn rệu rã không đảm đương được các chức năng của một chính quyền cơ sở về các mặt như đời sống, bảo vệ trị an, đắp đê chống lụt… Trong tình hình đó các đoàn thể Việt Minh đã đứng ra giải quyết như một chính quyền thực thụ .
Đầu tháng 8 -1945 lực lượng cách mạng đã phát triển đều khắp ở các thôn, khí thế sôi sục đánh đuổi phát xít Nhật giành lại độc lập tự do cho đất nước trong quần chúng nhân dân Hà Vỹ lên rất cao, chỉ chờ lệnh khởi nghĩa là vùng lên cướp lấy chính quyền
3. Hà Vỹ khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng (tháng 8 năm 1945)
Tháng 8 năm 1945, Hồng quân Liên Xô đánh tan đội quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu Trung Quốc, Nhật đầu hàng phe đồng minh, quân Nhật ở Đông Dương hoàn toàn tan rã, chớp thời cơ đó, Đảng ta đã phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Tin đó được truyền về Hà Vỹ đã gây được không khí phấn khởi sôi động chưa từng có. Dưới sự chỉ đạo của cán bộ Việt Minh, đội tự vệ đã tổ chức tốt việc chống cướp giữ làng, bảo vệ tài sản cho nhân dân, giữ vững trật tự an ninh cho thôn xóm và chuẩn bị sẫn sàng làm nhiệm vụ chiến đấu khi có lệnh khởi nghĩa, các tổ phụ nữ tham gia may cờ, thanh niên tham gia luyện tập quân sự, cắt khẩu hiệu v. v.
Sau khi có lệnh tổng khởi nghĩa, Uỷ ban nhân dân Lâm thời xã Hà Vỹ được thành lập. Uỷ ban do ông Đỗ Văn Hối (Đại Vỹ) làm Chủ tịch, ông Đỗ Văn Hưởng (Châu Phong) làm Phó Chủ tịch và anh Đỗ Văn Đỉnh (Giao Tác) làm uỷ viên. Để điều hành công việc, mỗi thôn bầu thêm một Chủ tịch thôn (trưởng thôn). Đại Vỹ là ông Nguyễn Văn Kiên, Châu Phong là ông Phạm Văn Ngân, Giao Tác là ông Đỗ Văn Chỉnh.
Uỷ ban nhân dân Lâm thời đã tiến hành tịch thu triện bạ, sổ sách giấy tờ khế ước c ủa Lý trưởng xã Hà Vỹ và tổ chức một cuộc mít tinh tại đình làng rồi tuyên bố giải tán chính quyền phong kiến tay sai ở tất cả các thôn trong xã .Từ đó chính quyền cơ sở đã thực sự thuộc về nhân dân lao động. Hà Vỹ đã bước sang một trang sử mới.

(1) Theo Tài liệu “Tóm tắt lịch sử cán bộ Đảng Hà Vỹ” do ông Đỗ Nguyên Tỷu viết, đã được xác nhận của ông Lê Đình Thiệp - nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ - ngày 18/3/1965


Chương 6
HÀ VỸ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ MỚI VÀ KHÁNG
CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)
1. XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ MỚI , CHUẨN BỊ BƯỚC VÀO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(Từ T9-1945 đến T4-1949)
Cách mạng tháng Tám thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân dân cả nước trong đó có nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Tuy cách mạng thành công nhưng Chính phủ Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo lại phải đương đầu với vô vàn khó khăn thử thách, chống chọi với thù trong giặc ngoài, tình thế tưởng chừng như "ngàn cân treo sợi tóc"
Trong bối cảnh chung của cả nước, chính quyền nhân dân xã Hà Vỹ cũng phải đối phó với không ít khó khăn ác liệt
Ngày 22 tháng 8 (rằm tháng Bẩy năm ất-Dậu ) vỡ đê sông Cà Lồ làm ngập lụt một vùng rộng lớn trong đó có Hà Vỹ, đồng ruộng ngập chìm làm cho toàn bộ lúa mùa và hoa mầu mất trắng. Trong làng, nhiều gia đình nước cũng ngập đến tận mái gianh (vì Hà Vỹ là nơi trũng nhất) cây cối ăn trái trong nhà đều chết cả do bị ngập nước lâu ngày
Sau hơn một tháng, nước mới rút hết, để ổn định nơi ăn chốn ở, mọi người phải tu sửa lại nhà cửa, nhiều nhà phải làm lại vì tường bị đổ, nhà bị xiêu, công việc rất nhiều và bề bộn. Lụt đã để lại những hậu quả vô cùng khó khăn, nhiều gia đình lương thực không còn phải ăn cháo loãng cầm hơi hoặc đào củ chuối củ rợ để ăn, có người đã chết vì đói. Lụt sông đã làm cho môi trường và nước ăn nhiễm bẩn nên ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người, do đó bệnh dịch tả, đậu mùa, sốt định kỳ…đã phát sinh, thuốc thang lại không có, đã làm cho nhiều người chết thêm vì bệnh.
Trước tình hình đó, chính quyền cách mạng đã lãnh đạo nhân dân khắc phục hậu quả do trận lụt gây ra, mọi người giúp nhau dựng lại nhà cửa, ổn định đời sống. Chính quyền đã phát động phong trào cứu đói, lập quĩ "hũ gạo chống đói" hưởng ứng lời kêu gọi của cụ Hồ
Để chống đói lâu dài, chính quyền đã triển khai ngay chiến dịch tăng gia sản xuất. Vận động mọi người cấy tái giá các diện tích lúa mùa và trồng thêm khoai lang, rau mầu ngắn ngày trên các chân ruộng cao.
Do tinh thần hưởng ứng tích cực của người dân, tuy khó khăn vất vả nhưng kết quả đã cứu được nhân dân khỏi tai hoạ chết người do trận lụt gây ra
Nhằm xây dựng đời sống mới, chính quyền các thôn đã quyết định bãi bỏ mọi hủ tục lạc hậu của chế độ phong kiến để lại như mua nhiêu, chứa quan viên, giảm bớt các lễ thức gây tốn kém trong tang ma, cưới xin ...và kêu gọi mọi người dân thực hiện triệt để quyết định này. Trên các tường ở đường làng thanh niên viết khẩu hiệu kêu gọi mọi người thực hiện "đời sống mới" “ bài trừ mê tín dị đoan”…
Hưởng ứng phong trào "diệt giặc dốt " của Chính phủ Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi " một dân tộc dốt là một dân tộc yếu", chính quyền các thôn đã phát động phong trào Bình dân học vụ (BDHV) để dậy chữ Quốc ngữ cho toàn dân.
Các thôn Đại Vỹ, Giao Tác, Châu Phong đều đã thành lập các Ban BDHV. Ban này có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo các lớp học, vận động người đi học và cử người ra dậy với tinh thần "người biết chữ dậy người chưa biết chữ, người biết nhiều dậy người biết ít". Các lớp học được tổ chức theo từng ngõ, không phân biệt trẻ già trai gái, ai muốn học lớp nào thấy phù hợp đều được học. Với nhận thức "diệt giặc dốt, diệt giặc đói cũng như diệt giặc ngoại xâm" nên mọi người đều hăng hái tham gia. Việc tuyên truyền cổ động cho phong trào BDHV rất đa dạng phong phú bằng nhiều hình thức như "đố chữ" đặt ở cổng chợ, cổng làng ai đọc được thì được vào, ai không đọc được thì phải chui v.v. Ngày ấy thường có câu ca:
“ Lấy chồng biết chữ là tiên,
Lấy chồng mù chữ là duyên con bò”
để động viên mọi người nhất là con trai phải cố mà học bình dân cho biết chữ không thì ế vợ như chơi. Để dễ phân biệt hai chữ cái giống nhau, người dậy thường đặt ra các câu thơ lục bát như là:
“o, ơ hai chữ khác nhau,
ơ thì có dấu móc câu trên đầu" v.v
Nhờ tinh thần tích cực vận động của Ban chỉ đạo và sự cố gắng tham gia học tập của toàn dân, nên chỉ sau vài tháng, phong trào BDHV đã thu được kết quả khá, hàng trăm người từ chỗ không biết chữ nay đã biết đọc biết viết, nạn mù chữ ở Hà Vỹ đã xoá được một phần. Do kết quả của phong trào BDHV mà ngày tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới, tổ chức vào ngày 6 tháng 1 năm 1946, đa số các cử tri đi bầu đã tự tay viết vào lá phiếu - thực hiện quyền công dân thiêng liêng của mình.
Để xây dựng cuộc sống mới, chính quyền các thôn đã phát động phong trào làm vệ sinh làng xóm nhà cửa, tuyên truyền mọi người giữ vệ sinh ăn sạch, uống sạch, ở sạch để hạn chế những tác hại do dịch bệnh gây ra
Nhằm bảo vệ cuộc sống yên lành cho nhân dân và giữ ổn định trật tự trong thôn xóm, chính quyền các thôn đều thành lập đơn vị tự vệ, ban đêm ngủ tập trung ở các điếm làng để làm nhiệm vụ tuần tra, ban ngày canh gác kiểm tra giấy tờ của người lạ mặt vào làng để bảo vệ thôn xóm và tài sản của nhân dân
Sau bốn tháng lãnh đạo và quản lý các mặt công tác ở Hà Vỹ dưới chế độ mới trong điều kiện đầy khó khăn, thiếu thốn nhưng với lòng nhiệt tình cách mạng vì nhân dân phục vụ, các cán bộ Việt Minh và chính quyền lâm thời cơ sở đã làm được khá nhiều việc tốt, được quần chúng nhân dân trong thôn rất tin tưởng vào sự lãnh đạo của chính quyền mới.
Cùng với kỳ tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên năm 1946, xã Hà Vỹ còn tổ chức cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp xã. Đây là sự kiện quan trong trong đời sống chính trị của nhân dân, lần đầu tiên người dân Hà Vỹ được thực hiện quyền công dân là tự tay bầu ra những đại biểu ưu tú vào cơ quan chính quyền ở địa phương mình.
Sau cuộc bầu cử dân chủ, Uỷ ban hành chính (UBHC) xã Hà Vỹ được thành lập cùng với các bộ phận giúp việc
UBHC đầu tiên của xã Hà Vỹ gồm các ông:
1. Đỗ Văn Chù (1) (thôn Châu Phong) : Chủ tịch
2. Nguyễn Văn Chuyền (thôn Châu Phong): Phó Chủ tịch
3. Nguyễn Văn Kiên (thôn Đại Vỹ): Uỷ viên
4. Lê Văn Tít (thôn Đại Vỹ): Uỷ viên
Sau khi chính quyền xã được thành lập, đội ngũ cán bộ các thôn cũng được kiện toàn. Các đại biểu trong Hội đồng nhân dân (HĐND) ở từng thôn cũng là những cán bộ chủ chốt lãnh đạo các đoàn thể và chỉ đạo các hoạt động ở thôn. Công tác trọng tâm nhất trong giai đoạn bấy giờ vẫn là tăng gia sản xuất để đảm bảo ổn định đời sống nhân dân, củng cố lực lượng vũ trang, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở từng thôn xóm, tiếp tục và duy trì phong trào BDHV, ra sức xây dựng đời sống mới làm cho làng xóm có một khí thế phấn khởi hồ hởi khác hẳn với chế độ thực dân phong kiến thối nát trước đây.
Cùng với việc xây dựng chính quyền mới, thúc đẩy phong trào hoạt động cách mạng ở các thôn, nhân dân Hà Vỹ còn tích cực đóng góp sức người sức của vào công việc chung của cả nước
Những ngày đầu tháng 9 năm 1945 chính quyền xã Hà Vỹ đã huy động hàng trăm lượt dân công, đóng góp hàng nghìn cây tre để hàn khẩu chỗ đê sông vỡ, đồng thời phối hợp với các địa phương khác trong huyện tôn cao các đoạn đê bị vỡ, góp phần bảo vệ sản xuất và ổn định đời sống nhân dân
Tháng 1 năm 1946 nhân dân Hà Vỹ sôi nổi hưởng ứng "Tuần lễ vàng" do Chính phủ kêu gọi. Nhiều người giầu có trong làng đã ủng hộ các hiện vật quí giá bằng vàng, bạc như hoa tai, nhẫn, xà tích, vòng cổ …cho Nhà nước.
Sau hơn một năm, dưới sự lãnh đạo của Chính quyền mới, nhân dân Hà Vỹ từng bước thoát khỏi khó khăn, ổn định đời sống, hình thành được cơ sở chính trị - xã hội của chế độ mới tạo được lòng tin của nhân dân vào chính quyền mới và thắng lợi của Cách mạng.
Chính phủ do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã sáng suốt chèo lái con thuyền Việt Nam không bị nguy cơ tiêu diệt mà vẫn giữ vững được những thành quả của Cách mạng, đặc biệt là đã tổ chức thành công cuộc tổng tuyển cử trong toàn quốc (1-6-1946), ra bản Tuyên ngôn Độc lập (ngày 2 tháng 9 năm 1945) để công bố với thế giới rằng "Nước Việt Nam là một nước độc lập...". Nếu nước ta không bị bọn thực dân Pháp trở lại xâm lược thì nhất định dân ta đã được sung sướng ấm no chẳng kém gì các nước trong khu vực và trên thế giới.
Song, dã tâm của bọn thực dân Pháp rất tham lam, muốn chiếm nước ta một lần nữa, mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sang thăm Pháp và đã ký Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946. Đây là bước nhân nhượng cuối cùng của ta nhưng bọn thực dân càng thể hiện thái độ ngoan cố và hiếu chiến, nguy cơ chiến tranh không thể nào tránh khỏi
Ngày 23 tháng 9 năm 1945 giặc Pháp đã quay trở lại xâm lược nước ta ở miền Nam. Nam bộ đã bắt đầu kháng chiến, đầu tháng 12 -1946 quân Pháp liên tiếp gây hấn ở Hải Phòng và Hà Nội, buộc quân ta phải tự vệ chiến đấu. Ngày 19 tháng 12 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến:
“ Hỡi đồng bào cả nước…Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Hỡi đồng bào, chúng ta phải đứng lên.. ". Thế là từ đó cả nước ta bắt đầu bước vào một cuộc chiến tranh lâu dài khốc liệt với bọn thực dân Pháp hiếu chiến
Cùng với cả nước, nhân dân Hà Vỹ sẫn sàng đứng lên chiến đấu bảo vệ quê hương làng xóm theo đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài dựa vào sức mình là chính với tinh thần " Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ....." như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi
Hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp nhiều thanh niên Hà Vỹ đã xung phong ra nhập quân đội để chiến đấu với kẻ thù xâm lược như các anh Dương Văn Bách (Ba), Lê Văn Bẩy, Lê Quốc Trọng, Ngô Văn Năm (Hỗ), (Đại Vỹ), Đỗ Đức Khôi (Đỉnh), Đỗ Bàng Hiệp, Đỗ Tùng Sơn (Hữu), Đỗ Đức Bốn (Hổ) (Giao Tác)... Trong đó có một số anh đã tham gia đội quân Nam tiến
Do vị trí của Hà Vỹ xa các thị trấn huyện lỵ và xa đường quốc lộ số 1, số 3 nên Hà Vỹ còn được yên ổn vài ba năm. Vì vậy những năm đầu của cuộc kháng chiến, Hà Vỹ là nơi đón nhận nhiều gia đình ở nam phần Bắc Ninh như Thượng Cát, Lệ Mật… (bên kia sông Đuống về phía Hà Nội) và các vùng ven đô, sát đường quốc lộ như Yên Viên, Mai Lâm, Đông Hội…về tản cư
Mặc dầu chiến sự chưa lan tới quê hương, nhưng các hoạt động chuẩn bị chiến đấu vẫn được triển khai tích cực. Để chuẩn bị chiến đấu, từ đầu tháng 11 năm 1946 Hà Vỹ bắt đầu rào làng, đào hầm hào để xây dựng làng chiến đấu. Lực lượng tự vệ ở các thôn được củng cố, tăng cường và thường xuyên luyện tập.
Theo quyết định của trên, UBHC Hà Vỹ được đổi
thành Uỷ Ban kháng chiến hành chính (UBKC-HC) cho phù hợp với tình hình. Uỷ ban này vẫn do các ông Đỗ Văn Chù và Nguyễn Văn Chuyền (thôn Châu Phong) làm Chủ tịch và Phó Chủ tịch
UBKC-HC lãnh đạo toàn dân gấp rút chuẩn bị mọi mặt để chiến đấu lâu dài, lực lượng tự vệ được chuyển thành dân quân du kích và được bổ sung quân số đồng thời cũng tăng cường trang bị thêm vũ khí đạn dược.
Việc xây dựng làng chiến đấu vẫn tiếp tục được củng cố, rào làng vững chắc, đào thêm hệ thống giao thông hào (nhà nọ sang nhà kia dài hàng trăm mét lan toả khắp ngõ) để tránh máy bay oanh tạc và cất dấu lương thực đồ dùng ...
Về sản xuất vẫn phải huy động nhân dân cấy hết diện tích và theo đúng thời vụ để đảm bảo lương thực lâu dài cho dân
Về văn hoá-xã hội, các thôn đều tổ chức các lớp học bổ túc văn hoá, thu hút đông đảo thanh niên phụ nữ tham gia, thực hiện cưới xin theo đời sống mới, đơn giản hoá các nghi thức việc tang, kêu gọi mọi người giữ gìn vệ sinh ...tạo thành một nếp sống mới trong nhân dân.
Do chiến sự chưa lan tới Hà Vỹ, quê hương vẫn còn yên ổn, nên các đoàn thể thanh thiếu niên phụ nữ hoạt động rất sôi nổi, dân quân du kích hàng ngày luyện tập, đêm ngủ tập trung hăng hái tham gia các cuộc mít tinh biểu tình do Việt Minh tổ chức. Phong trào văn hoá văn nghệ cũng phát triển rất mạnh nhiều bài hát cách mạng như Tiến quân ca, Du kích ca, Diệt phát xít, Bao chiến sĩ anh hùng… được phổ biến rộng rãi và được hát tập thể trong các cuộc mít tinh hay những đêm biểu diễn văn nghệ ở địa phương.
Nhiều lời ca như: “ Cùng nhau đi hồng binh, liều thân cho nòi giống, cho thế giới đại đồng, tiến lên quân hồng” hoặc “ Tiến lên đường, tới xa trường , ta xứng danh là cảm tử quân ”… tạo ra một khí thế hào hùng cách mạng làm nô nức phấn chấn lòng người.
Từ đầu năm 1948 Hà Vỹ là nơi đóng quân của bộ đội
Từ Sơn và là trụ sở làm việc của một số cơ quan huyện (2).
Nhân dân Hà Vỹ nhất là thôn Châu Phong đã giúp đỡ hàng tấn lương thực, hơn 100 bộ quần áo cho bộ đội địa phương đóng tại thôn
Ngoài ra, nhân dân Hà Vỹ đã hoàn thành nhiệm vụ nộp thuế cho cấp trên, mua tín phiếu kháng chiến, hưởng ứng phong trào "gửi áo mùa đông binh sĩ" ...
Thực hiện các nhiệm vụ cho kháng chiến, công tác xây dựng Đảng cũng được tiến hành đồng bộ.
Ngày 06 tháng 01 năm 1948 các đồng chi Đỗ Văn Thiền (3) (Giao Tác) Dương Văn Phách và Lê Liêm (Đại Vỹ) được kết nạp vào Đảng, sinh hoạt ở Chi bộ ghép Thiết-Hà-Châu (Thiết Bình, Hà Khê và Cổ Châu). Sau khi được xét chuyển đảng chính thức, ba đồng chí được tách ra để thành lập Chi bộ Hà Vỹ, sau đó chi bộ kết nạp thêm Nguyễn Văn Thân, Lê Thị Lễ và Nguyễn Văn Bẩy (Châu Phong) vào Đảng để cùng trực tiếp lãnh đạo phong trào kháng chiến ở địa phương
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chi bộ Hà Vỹ đã phân công các đảng viên đi sâu đi sát các phong trào của quần chúng và lựa chọn một số quần chúng tích cực có giác ngộ cách mạng có năng lực và thành tích công tác để bồi dưỡng xét kết nạp vào đảng, nên số lượng đảng viên của ba thôn được tăng lên nhờ đó mà công tác ở cơ sở cũng tốt hơn
2. CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG VÀ THAM GIA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(TỪT4-1949 ĐẾN T10 -1954)
2.1. Hà Vỹ hợp nhất với xã Ngũ Hà thành xã Liên Hà
Hà Vỹ và Ngũ Hà trước đây đều thuộc tổng Hà Lỗ huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nên có những phong tục tập quán khá giống nhau, vị trí địa lý lại gần nhau, do đó nhân dân hai xã đã từ lâu có những mối quan hệ khăng khít về nhiều mặt
Để hình thành thế liên hoàn giữa các thôn làng cũng như yêu cầu chỉ đạo kịp thời thống nhất trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp ở địa phương, tháng 4 năm 1949 theo quyết định của trên, hai xã Hà Vỹ và Ngũ Hà được nhập thành một xã mang tên Liên Hà. Từ đó chính quyền và chi bộ của hai xã cũng phải sáp nhập làm một
Hội nghị hợp nhất hai chi bộ được tổ chức tại chùa Quậy. Cả hai chi bộ khi đó có 91 đảng viên, hội nghị đã bầu ra Chi uỷ Đảng xã Liên Hà, trong đó Hà Vỹ chỉ có hai đ/c tham gia Chi uỷ đó là: Dương Văn Phách - phụ trách Dân vận và Lê Liêm - phụ trách Tuyên huấn (cả hai đ/c đều ở thôn Đại Vỹ)
Ngoài Chi uỷ còn có bốn ban là: Tuyên huấn, Tuyên truyền, Đảng vụ và Kinh tế, mỗi ban có ba đảng viên phụ trách. Chi bộ chia thành tám tổ Đảng theo đơn vị thôn do các tổ trưởng Đảng phụ trách trực tiếp
Hội nghị đã ra Nghị quyết và xác định nhiệm vụ của
quân và dân Liên Hà trong giai đoạn trước mắt để các tổ Đảng và chính quyền các thôn theo đó thực hiện
Ngay sau hội nghị, chính quyền và các đoàn thể đã hợp thành một mối. Mỗi thôn có một cán bộ phụ trách hành chính và một cán bộ phụ trách quân sự. Chi uỷ chỉ đạo các tổ Đảng, phân công từng đảng viên phụ trách các mặt công tác ở thôn
Cũng như các thôn ở bán xã phía Bắc các thôn của Hà Vỹ cần tập trung vào một số việc sau:
a) Củng cố lực lượng vũ trang, huy động nhân dân đào thêm hầm trú ẩn, hào giao thông và hầm bí mật, rào làng đắp luỹ nhằm xây dựng mỗi thôn là một làng chiến đấu; tăng cường tuần tra canh gác, bảo đảm an toàn cho nhân dân kể cả dân đến tản cư …
b) Tiếp tục vận động nhân dân tranh thủ thời gian tăng gia sản xuất khi giặc chưa tới, giao số ruộng công điền công thổ còn lại cho những gia đình nghèo thiếu ruộng cấy
Thực hiện Sắc lệnh 78SL ngày 14/7/1949 của Chính phủ về giảm tô. Chi bộ đã chỉ đạo các tổ Đảng vận động nông dân đòi các chủ ruộng phải giảm tô cho những người nông dân thuê ruộng. Nói chung ở cả ba thôn các chủ ruộng đều chấp nhận yêu cầu này
2.2. Chiến đấu bảo vệ quê hương và tham gia vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(từ T4/1949 đến T10/1954)
Từ khi xã Liên Hà được thành lập thì các mặt công tác trong toàn xã đều do Chi uỷ Đảng và UBKC-HC chỉ đạo thống nhất. Tổ đảng và Chính quyền các thôn ở Hà Vỹ chỉ việc triển khai thực hiện các chủ trương do Chi uỷ đề ra. Vì mới sáp nhập, công việc rất nhiều, Chi uỷ đang triển khai thì giặc Pháp bắt đầu tấn công Liên Hà. Thế là quân và dân Liên Hà chính thức bước vào cuộc chiến đấu ác liệt đầy hy sinh gian khổ cho tới ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1954)
Ngày 6-8-1949 (12 tháng Bẩy năm Kỷ Sửu) quân Pháp bắt đầu tiến vào càn quét các thôn bán xã phía Bắc Liên Hà, còn các thôn của Hà Vỹ chúng không tới, nhưng chúng đã bắn đại bác vào khu đồng Trùng, Châu Phong, làm cho một số người dân thiệt mạng. Cuộc chiến đấu giữa dân quân du kích và bộ đội địa phương với quân địch rất quyết liệt, nhưng địch đông, võ khí tốt, quân ta phải vừa đánh vừa rút để bảo toàn lực lượng, cốt sao cản bước tiến của quân địch để cho đồng bào chạy thoát
Ngay đêm hôm đó một số gia đình trong làng đã đi tản cư lên vùng tự do ở Đông Lâm, Hiệp Hoà Bắc Giang lánh nạn.
Ngày 9-11-1949 (19 tháng Chín năm Kỷ Sửu) giặc Pháp lại dùng một lực lượng khá đông (tới 4 tiểu đoàn tinh nhuệ ) ở các bốt Cầu Đuống, Từ Sơn, Đông Anh và Phù Lỗ tấn công vào các thôn của Hà Vỹ. Chúng tiến theo ba mũi đều bị quân ta đánh chặn lại: Phía tây vào thôn Châu Phong theo đường cầu Rợ, du kích thôn Châu Phong và bộ đội địa phương Từ Sơn đã chặn đánh địch ở đầu làng. Phía Đông dân quân du kích thôn Đại Vỹ cũng chặn đánh địch ở đường cổng cầu Mới còn dân quân du kích thôn Giao Tác chặn đánh địch ở đường đồng Rạnh từ phía Thiết úng sang. Cuộc chiến đấu đã diễn ra hết sức quyết liệt suốt từ sáng đến chiều tại các chốt điểm do quân ta bố trí ở ria làng. Quân ta chiến đấu rất dũng cảm kiên cường song vì quân địch đông lại vô cùng hung hãn, đến khi quân ta hết đạn đành phải bỏ chốt rút lui xuống hầm bí mật để bảo toàn lực lượng. Khi địch chưa vào được làng, chúng đã dùng các loại súng bắn xối xả ra các cánh đồng Châu Phong và Giao Tác làm cho nhiều người dân chạy ra cánh đồng bị chết và bị thương. Khi quân ta ngừng chiến đấu, quân địch mới tiến được vào làng, khi chúng vào được làng chúng đã điên cuồng tàn phá nhà cửa bắt người đánh đập dã man. Trận càn hôm đó dân ta chết nhiều. Riêng Châu Phong đã chết 30 người trong đó có cả Chủ tịch Đỗ Văn Chù và Phó Chủ tịch Nguyễn Văn Chuyền
Trận càn hôm đó cả ba thôn chết hơn 70 người, 20 cán bộ và du kích bị bắt. Ngoài ra chúng ta còn thiệt hại rất nhiều về kinh tế.
Về phía địch cũng có 43 tên phải đền mạng và nhiều tên bị thương
Ngày 19 tháng 9 năm ấy là một ngày tang tóc đau thương, mãi mãi ghi nhớ trong ký ức của người dân Hà Vỹ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Để giải quyết hậu quả, các tổ Đảng cùng với lãnh đạo thôn đã lo mai táng những người bị chết, tổ chức giúp đỡ những gia đình bị thiệt hại nhiều về của cải, dựng lại nhà cửa cho những gia đình bị đốt do địch gây ra .
Sau trận càn đó, đại bộ phận nhân dân rất hoang mang lo sợ, nhiều gia đình đã phải bỏ làng đi tản cư lên Đông Lâm, Trung Định…(huyện Hiệp Hoà, Bắc Giang) và Phố Giá (Thái Nguyên) để tránh giặc. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, dân quân du kích cũng bắt đầu dao động, một số bỏ công tác theo gia đình lên vùng tự do hoặc ra Hà Nội lánh nạn..
Đến cuối năm, địch còn hai lần càn vào Hà Vỹ nhưng cán bộ du kích của ta không chặn đánh mà rút hết xuống hầm bí mật để bảo toàn lực lượng, mặc cho địch tự do vào làng bắt bớ cướp bóc của cải. Khi biết địch quây làng, nhân dân đã tập trung tại đình, nghè và một số nhà để địch không làm gì được. Đó cũng là hình thức đoàn kết đấu tranh với địch
Năm 1950 là năm thứ hai mà nhân dân Hà Vỹ bước vào cuộc chiến đấu với địch. Để kiểm soát toàn bộ vùng đồng bằng Bắc Bộ, địch đã tăng cường càn quét các xã trong huyện. Đoạn đường quốc lộ số 1 thuộc địa phận huyện Từ Sơn, địch cho sửa lại để phục vụ các cuộc hành quân nhằm đàn áp lực lượng kháng chiến và mở rộng vùng chiếm đóng
Tại Hà Vỹ, chúng cũng tăng cường đàn áp, bắt các làng phải vào tề, ở phía đông có làng Đồng Kỵ, phía Tây có làng Dục Nội, Giỗ Giao (xã Việt Hùng), phía Nam, chúng xây bốt Cầu Tây gần làng Dục Tú, tạo thành một thế bao vây hai xã Liên, Vân Hà. Địch tăng cường hoạt động quây càn dựa vào những tên phản động ở các làng tề để chỉ điểm và trấn áp phong trào kháng chiến của ta.
Ngày 13 - 3 -1950 (25 tháng Giêng năm Canh Dần) địch quây Hà Vỹ gây thiệt hại rất nhiều. Chúng bắt được một thanh niên Đại Vỹ rồi tra tấn rất dã man, bắt phải chỉ hầm bí mật. Do không chịu được đòn tra tấn dã man của địch, thanh niên này đã phải chỉ hai hầm bí mật làm cho 7 đồng chí cán bộ và du kích phải hy sinh. (trong đó có các anh Nguyễn Văn Bẩy, Nguyễn Văn Tậu, Dương Văn Hữu, Lê Văn Bồn và đ/c An (con nuôi cụ Mặc Đại Vỹ - là đại đội trưởng bộ đội Từ Sơn). Trong hầm đó còn có đ/c Nguyễn Văn Quí (Đại Vỹ) đang là Xã đội trưởng cũng bị chúng bắt và tra tấn dã man, chúng dong đi khắp các ngõ trong thôn, bắt phải chỉ hầm, song đ/c ấy quyết không khai để giữ vững khí tiết của người đảng viên cộng sản. Lợi dụng lúc địch sơ hở đ/c đã bỏ chạy để thoát thân, địch đuổi theo và bắn đ/c chết ở ao nhà cụ Nhiêu La gần nhà, khi đó còn rất trẻ mới có 33 tuổi đời.
Ngoài cán bộ du kích hy sinh còn có nhiều người dân cũng bị chúng bắn chết, nhiều người bị bắt bị đánh đập rất dã man. Ngày hôm đó cũng là ngày tang tóc đau thương cho nhiều gia đình của hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác.
Ngày 23-3-1950, địch càn vào thôn Châu Phong bắt được anh Phạm Văn Ba là du kích, chúng đem đi biệt tích rồi thủ tiêu
Ngày 19-4-1950, địch lại quây thôn Châu Phong, do cán bộ du kích chúi hầm, chúng không bắt được ai nên đã điên cuồng đánh đập nhiều người dân rồi đốt nhà cướp của gây bao thiệt hại cho thôn
Để cắt đứt đường dây liên lạc từ vùng tạm chiếm lên vùng tự do, tháng 3 năm 1950, địch xây thêm bốt Chờ và bốt chợ Núi (huyện Yên Phong, Bắc Ninh), nên việc đi lại của cán bộ và nhân dân xã ta gập rất nhiều khó khăn nguy hiểm
Trước sức o ép của địch, nhân dân rất hoang mang lo sợ, được sự đồng ý của Huyện uỷ và chỉ đạo của Chi uỷ, các thôn của Hà Vỹ cũng phải lập tề nhưng chỉ là tề giả hiệu nghĩa là về hình thức là có Ban tề nhưng việc hoạt động lại theo chỉ đạo của ta
Cuối tháng 5 năm 1950 bộ máy tề ở các thôn Đại Vỹ, Giao Tác, Châu Phong lần lượt được hình thành. Các Ban tề này đều có cán bộ của ta tham gia hoặc quần chúng tốt của ta đưa vào. Mọi hoạt động của các Ban tề đều do ta chỉ đạo.
Thấy các Ban tề không giúp được gì cho chúng, địch sinh ra nghi ngờ. Chúng đã lập mưu ở Ban tề thôn Châu Phong để bắt các ông Đỗ Văn Hưởng và Đỗ Xuân Sam nhưng do cảnh giác đề phòng nên hai ông ấy đã không bị bắt. Tức tối, chúng đã cho lính đến dỡ nhà ông Sam để phá hoại kinh tế gia đình
Việc lập tề của địch không theo ý chúng nên chúng vẫn tiếp tục khủng bố, quây càn lùng sục, bắt cán bộ du kích nằm vùng, do ta có hầm bí mật và kinh nghiệm đối phó với địch nên cũng ít tổn thất hơn
Đầu năm 1951 sau thất bại ở chiến dịch Biên giới, địch lâm vào thế bị động, chúng co về giữ chắc vùng đồng bằng, bằng cách thiết lập một hệ thống đồn bốt dày đặc đồng thời củng cố lại bộ máy tề ngụy, tăng cường càn quét uy hiếp các làng để vây bắt cán bộ du kích. Địch tập trung vào các xã chúng chưa kiểm soát được (trong đó có Liên Hà) gây cho ta không ít khó khăn.
Trong sáu tháng đầu năm 1951 địch nhiều lần vây càn vào Hà Vỹ làm cho nhiều người bị bắt, bị đánh đập, tra tấn hãm hiếp rất dã man
Ngày 9 - 7 (mồng 6 tháng Sáu năm Tân Mão) địch vây thôn Châu Phong, anh Phạm Văn Phái là Trưởng ban tuyên truyền của xã bị bắt vì lộ hầm, chúng đem lên bốt Phù Lỗ tra tấn rồi bắn chết anh. Cũng hôm đó chúng còn bắt 21 cán bộ du kích thôn Châu Phong, trong đó có anh Phạm Thược (tức Ha) đang là Trưởng thôn, và Phạm Văn Phan em ruột Phạm Văn Phái.
Ngày 28-7 (25 tháng Sáu năm Tân Mão) địch lại vây thôn Châu Phong. Chúng bắt được anh Phạm Văn Hưu là huyện uỷ viên ở một hầm bí mật. Chúng nghi anh là cán bộ lãnh đạo nên tra tấn rất dã man. Mặc dầu vậy anh vẫn không chịu khai báo, biết không thể lay chuyển được khí phách của người đảng viên cộng sản, tối hôm đó chúng đã bắn anh ở bãi Trám xã Việt Hùng
Để tăng cường đàn áp các lực lượng du kích và trấn an được dân chúng trong vùng, tháng 11-1951 địch cho xây bốt Thiết Bình xã Vân Hà để cùng với bốt Cầu Tây (Dục Tú) và bọn tề phản động làng Dục Nội làm thành thế gòng kìm bao vây xã Liên Hà.
Trong thời gian này địch bắt dân ta phải làm thẻ căn cước để quản lý nhân khẩu, ai đi đâu đều phải mang theo thẻ nếu không có thẻ, chúng sẽ bắt vì cho đó là người nơi khác về hoạt động nằm vùng
Sau khi tạm trấn an được bốn xã Minh Đức, Châu Khê, Nghĩa Khê, Vân Hà, địch tập trung quyết phá cơ sở kháng chiến của Liên Hà trong đó có Hà Vỹ. Chúng củng cố Ban tề, thanh lọc những người chúng còn nghi vấn (cho là của ta cài vào). Lập Ban tề mới theo ý đồ của chúng, trong thời gian đó Ngô Văn Vũ ở thôn Giao Tác đã ra làm Lý trưởng cho địch, Lý Vũ đã bắt dân xây bốt ở đình Hà Vỹ và lấy một số thanh niên trong thôn (gọi là lính bảo an) để làm bảo vệ, ban ngày về làng lùng sục, tra xét khủng bố những gia đình có nuôi dưỡng giúp đỡ du kích bộ đội, còn tối thì lên bốt ở, vì sợ ta bắt. Lý Vũ không phải thuộc thành phần lớp trên, bản thân chỉ làm nghề chài lưới kéo vó kiếm ăn, không có hằn thù gì với cách mạng, chính con trai duy nhất của ông (Ngô Văn Tôn) cũng tham gia du kích và bị địch phục kích bắn chết trong lần đi lên vùng tự do. Lý Vũ theo địch có lẽ do hoang mang sợ hãi, cũng muốn yên thân, giúp dân yên ổn làm ăn nên đã đứng ra làm Lý trưởng, nhưng rồi bị địch o ép bắt phải làm theo ý chúng, do đó đã mắc phải lỗi lầm. Vì thế mà Lý Vũ đã phải đền mạng do bộ đội Từ Sơn và du kích xã ta đột nhập vào làng Thiết Bình bắn chết cùng với tám tên phản động khác vào đêm 19-1-1952 (23 tháng Chạp năm Tân Mão) trong khi đang đánh bạc với nhau.
Bốt Hà Vỹ và Châu Phong xây chưa được bao lâu đã bị bộ đội và du kích địa phương đặt bộc phá. Chỉ một tiếng nổ rung trời chuyển đất, bốt đã tan tành. Bốt không còn, địch rất tức tối nhưng không làm gì được dân ta
Mặc dù địch càn đi quét lại nhưng phong trào chống địch của quân dân Hà Vỹ vẫn được giữ vững và ngày càng phát triển, đội ngũ cán bộ đảng viên và lực lượng dân quân du kích của ba thôn vẫn kiên cường bám đất bám dân giữ vững cơ sở. Tuy cũng có người ban đầu tham gia hoạt động rất tích cực nhưng sau bị bắt hoặc vì hoàn cảnh gia đình đã thôi công tác, chạy ra Hà Nội cầu an hoặc lên vùng tự do làm ăn sinh sống. Có kẻ lại phản bội nhân dân làm tay chân cho địch đã chỉ điểm để bắt cán bộ của ta và làm hại phong trào kháng chiến nhưng trong suốt thời gian tạm chiếm không có một thanh niên nào của làng đi lính cho địch. . Hầu hết cán bộ đảng viên của các thôn luôn vững vàng kiên định, đồng chí này bị bắt hoặc hy sinh đã có đồng chí khác thay thế. Nhiều đồng chí là tấm gương sáng để cho cán bộ và quần chúng noi theo như bà Nguyễn Thị Thuyết (vợ ông Lê Liêm thôn Đại Vỹ) hai lần bị địch bắt và tra tấn rất dã man, trong đó có lần đang mang thai cháu đầu lòng (cô Chính). Mặc dầu bị tra tấn bằng cách đổ nước vào mũi cho sặc sụa ngạt thở giữa mùa đông giá rét, nhưng bà vẫn giữ vững khí tiết của người đảng viên cộng sản quyết không khai để bảo vệ an toàn cho cán bộ đang ở dưới hầm bí mật
Ngoài những tấm gương hy sinh oanh liệt của các đ/c cán bộ đảng viên trên mảnh đất quê hương, còn có những tấm gương dũng cảm hy sinh chiến đấu ở các nơi khác tiêu biểu nhất là anh Nguyễn Văn Phàn thôn Châu Phong .
Anh Nguyễn Văn Phàn tham gia bộ đội Từ Sơn năm 1949 khi mới 17 tuổi, anh được đơn vị phân công làm giao liên. Ngày 10-2-1950 Huyện uỷ và UBKC-HC huyện Từ Sơn họp ở xã Văn Môn (nay thuộc huyện Yên Phong Bắc Ninh) anh được giao nhiệm vụ canh gác và bảo vệ một cuộc họp quan trọng, thì bất ngờ địch vây càn. Hơn 30 cán bộ huyện đang họp phải chạy vào một hầm bí mật để ẩn náu. Anh bị địch bắt, và bị tra tấn rất dã man tàn bạo nhưng anh vẫn không khai nơi có hầm bí mật, cuối cùng chúng đã dùng dao xẻo từng miếng thịt cho tới chết. Anh đã hy sinh khi còn rất trẻ, song đã bảo vệ được tính mạng cho 30 cán bộ đảng viên của huyện Từ Sơn trong đó có cả các đồng chí là cán bộ lãnh đạo chủ chốt.
Tấm gương hy sinh dũng cảm của anh Phàn luôn khắc sâu trong trí nhớ của người dân Hà Vỹ
Để ca ngợi tinh thần dũng cảm và khí phách anh hùng bất khuất của anh, sau khi anh hy sinh đã có người sáng tác một bài hát về anh trong đó có những câu:
“Anh Phàn quê ở Châu Phong... ú Châu Phong mà Châu Phong
Tham gia hàng ngũ ....ú dân quân mà dân quân
Quan Đình nổ súng ....ú bao vây mà bao vây....”
55 Năm sau, anh Phàn đã được Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam truy tặng anh hùng các lực lượng vũ trang - người duy nhất được phong anh hùng ở Hà Vỹ (Quyết định số 496 QĐCTN ngày 2 tháng 5 năm 2005)-
Trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, ngoài đội ngũ cán bộ đảng viên, dân quân du kích dũng cảm kiên cường giữ vững phong trào, trong các đoàn thể và quần chúng nhân dân còn xuất hiện những tấm gương dũng cảm, sẫn sàng hy sinh tính mạng và tài sản để bảo vệ và giúp đỡ cán bộ làm xúc động lòng người, đó là:
Ông Phạm Văn Cường ở Châu Phong: Một lần địch quây thôn, ông vừa đậy xong nắp hầm bí mật cho anh Phạm Văn Hưu đang là huyện uỷ viên và một số cán bộ khác thì bọn địch ập tới. Chúng bắt ông và tra tấn dã man song ông vẫn kiên quyết không khai nơi có hầm bí mật và bảo vệ an toàn cho anh Hưu và một số cán bộ nữa. Vì địch tra tấn rất tàn bạo độc ác nên sau đó ít ngày, ông đã hy sinh, ông đã được công nhận ngay là liệt sĩ
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp Hà Vỹ có rất nhiều gia đình đã giúp đỡ nuôi dưỡng và bảo vệ bộ đội, các gia đình này đã được nhà nước tặng bằng khen hoặc huy chương kháng chiến (xem phụ lục 3)
Ngoài ra còn rất nhiều tấm gương hy sinh của nhiều gia đình và cá nhân đã tích cực hoạt động cách mạng nhiều người bị địch tra tấn đánh đập rất dã man hoặc tù đầy khốn khổ như ông Lê Văn Tồn, bà Đỗ Thị Hai (bà Bùi), bà Dương Thị Bẩy (Hồng), và các chị Đỗ Thị Năm (Cảnh), Đỗ Thị Bốn (Quang), Ngô Thị Nhẫn (Bảo), Lê Thị Mây …(Đại Vỹ), bà Đỗ Thị Ba (bà Thát), chị Đỗ Thị May, Phạm Thị Minh (Hịch) chị Đỗ Thị Sánh…(Giao Tác), ông Phạm Văn Lĩnh, ông Đỗ Văn Nghĩa, chị Phạm Thị Thoi, Phạm Thị Phận…(Châu Phong)
Cuối năm 1951 quân ta mở chiến dịch Hoà Bình đến cuối tháng 2 năm 1952 chiến dịch kết thúc thắng lợi. Do ta thắng lớn ở chiến dịch này đã tạo thuận lợi cho phong trào chống địch ở vùng địch hậu. Huyện uỷ Từ Sơn quyết định mở khu du kích liên hoàn gồm các xã Liên Hà, Vân Hà, Dục Tú, Châu Khê nối với khu du kích Đông Anh. Việc lập khu du kích này đã làm thay đổi thế và lực giữa ta và địch. Trước đây địch muốn làm gì chúng đều làm được, nay thì không thể, vì ta có lực lượng khá hùng mạnh làm cho địch phải dè chừng
Để đối phó với phong trào kháng chiến của ta, ngày 20 - 01-1952 (24 tháng Chạp năm Tân Mão) địch dùng một lực lượng lớn bao vây thôn Châu Phong sau đó chúng tiến vào thôn lùng sục rồi phát hiện được một hầm bí mật tại nhà ông Đỗ Văn Nghĩa. Dưới hầm có ông Nghĩa cùng hai du kích thôn và hai bộ đội Từ Sơn. Cả năm người không chịu đầu hàng đã cố thủ chiến đấu rồi đều bị hy sinh
Hai tháng sau, ngày 30-3-1952 (24 tháng Hai năm Nhâm Thìn) địch lại càn vào thôn Châu Phong và tìm thấy một hầm bí mật, dưới hầm có hai nữ du kích là chị Phạm Thị Phận và Đỗ Thị Nhấp. Chúng gọi không chịu lên vẫn cố thủ dưới hầm để chiến đấu, vì vậy chúng đã ném lựu đạn xuống hầm làm cả hai chị đều phải hy sinh trong khi còn rất trẻ.
Những thắng lợi đầu tiên của đợt phá tề diệt bốt ngăn chặn địch quây càn đã mở ra một cục diện mới cho phong trào chống địch của xã ta. Từ đó sự o ép của địch đã giảm bớt. Ta chủ trương xây dựng các thôn thành một vùng du kích mạnh, làm cơ sở tin cậy cho nhiều xã quanh vùng
Vì vậy cơ quan của xã và huyện đã lấy thôn Châu Phong làm địa điểm đóng trụ sở. Đội giao liên làm nhiệm vụ đón cán bộ các địa phương tới, rồi đưa lên vùng tự do và ngược lại. Đội giao liên này phần lớn là do các chị em phụ nữ đảm nhiệm trong đó ở Hà Vỹ có các chị Phạm Thị Thoi Đỗ Thị May...tham gia. Các chị em này đã đưa nhiều cán bộ các xã và huyện lên vùng tự do đi về an toàn
Phong trào kháng chiến của Liên Hà phát triển mạnh đã tác động tích cực đến phong trào các xã trong vùng. Địch lo sợ và tìm cách đối phó, chúng đem quân lập lại bốt Thiết Bình và từ bốt này hàng ngày đem quân lùng sục các làng. Để loại bỏ sức ép của bốt này, ngày 16 tháng 6, bộ đội Từ Sơn phối hợp với du kích các xã (có sự trợ giúp của nội ứng) đã đánh bốt Thiết Bình, diệt hai trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí và quân trang quân dụng, từ đó đã phá bỏ được thế kìm kẹp của địch trong vùng.
Du kích Hà Vỹ còn tham gia phục kích ở làng Dục Nội phá huỷ hai xe cơ giới, diệt 25 tên, trong đó có hai tên ác ôn khét tiếng là đội Hồng và đội Liên.
Bị thua đau, địch càng điên cuồng quyết trấn áp bằng được các lực lượng kháng chiến trong vùng trong đó có Hà Vỹ. Chúng lập lại bốt Thiết Bình tăng cường lực lượng để chốt tới cùng, hàng ngày chúng cho lùng sục bao vây các làng xung quanh.
Ngày 27-12-1952 (ngày 11 tháng Một (T11) năm Nhâm Thìn) địch quây hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác. Sáng sớm hôm đó, tất cả trẻ già, trai gái hai thôn đều phải ra đình tập trung, địch vào làng lùng sục bắt người tra tấn dã man bắt phải chỉ hầm bí mật. Hôm đó chúng ở suốt ngày đêm trong làng. Một số cán bộ và du kích của hai thôn đều phải chúi ở dưới hầm bí mật. ở Đại Vỹ anh Ngô Văn Lục và anh Nguyễn Hữu Cảnh chúi chung một hầm, đến tối các anh đã phải đội nắp hầm lên, trước khi chạy ra cánh đồng, hai anh còn đến mở nắp hầm cho anh Thảng (người Vân Điềm đang là Phó Chủ tịch huyện Từ Sơn), Phạm Văn Nho và chị Phạm Thị Thu ở hầm nhà ông Liêm sau đó sang mở nắp hầm cho ông Mão (một cán bộ địch vận của tỉnh) rồi cùng nhau đi ra cánh đồng chạy sang làng Hà Hương nên thoát nạn. Cũng trong ngày hôm đó chị Đỗ Thị Năm - Cảnh) bị địch bắt và bị tra tấn rất dã man bằng cách lấy nước đái đổ vào mũi, mặc rầu chị biết hầm bí mật ở đâu song quyết không khai nên đã bảo vệ được tính mạng của nhiều đồng chí. Cũng đêm đó ở Giao Tác anh Đỗ Văn Sưu (anh Hai Cận) chúi ở dưới hầm, đến tối anh đội nắp hầm lên để chạy ra cánh đồng nhưng không may bị địch phục kích bắn chết rồi chúng chôn anh ở ven đường cái rìa làng
Sang năm 1953 cục diện chiến trường giữa ta và địch đã hoàn toàn thay đổi, địch bị thất bại trên chiến trường Tây Bắc chúng càng lún sâu vào thế bị động.
ở vùng hậu địch, chúng cũng bị quân ta đánh liên tiếp làm cho chúng “ăn không ngon, ngủ không yên”. Tại Từ Sơn phong trào chiến tranh du kích tiếp tục lên cao, khu du kích được mở rộng ra nhiều xã, quân ta đã có thể chủ động đánh phá các đồn bốt của địch ở trên địa bàn Từ Sơn. Địch không còn có thể hoành hành như trước nữa, lực lượng nghiêng hẳn về phía ta. Nhiều ban Tề ở các thôn không còn hoạt động, không giúp được gì cho địch, đã phải tự tan rã
Đêm 30 tết Quí Tỵ (13-2-1953), bộ đội ta đánh bốt Cổ Loa, du kích Hà Vỹ đã hỗ trợ, giúp cho trận đánh thắng lợi nhanh chóng mà lại ít tổn thương, nghè Châu Phong là nơi đón thương binh liệt sĩ.
Tháng 4-1953, Liên Hà được cử ba nữ du kích (Hà Vỹ có một là chị Đỗ Thị May) có thành tích xuất sắc đi dự Hội nghị thi đua của Quân khu Ba và được bầu là chiến sĩ thi đua trong các lực lượng du kích
Từ năm 1953 tương quan lực lượng giữa ta và địch đã có sự thay đổi, địch càng ngày càng yếu, ta càng ngày càng mạnh. Tuy Liên Hà nằm trong vùng địch hậu, song địch không thể nào kiểm soát nổi. Dân quân du kích và bộ đội ta hoạt động công khai, chúng muốn vây càn vào làng cũng khó.
Không tiến được vào làng chúng đã dùng đại bác từ các bốt bắn vào làng để uy hiếp tinh thần và làm thiệt hại tài sản của nhân dân
Ngày 5 tháng Chín năm Quí Tỵ (1953) địch đã bắn đại bác từ bốt Phù Lỗ vào hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác làm cho nhiều người chết và bị thương, nhiều nhà bị đổ gây cho dân ta thiệt hại nặng nề. Hôm đó nhiều người dân của hai thôn Đại Vỹ và Giao Tác phải chạy vào bốt Thiết Bình để lánh nạn
Do có phong trào du kích mạnh, lại nằm trên đường giao liên đi lên vùng tự do, vì vậy Huyện uỷ Từ Sơn đã giao nhiệm vụ cho Liên Hà đưa đón cán bộ thương binh từ Nam phần Bắc Ninh lên vùng tự do. Lúc đầu đi theo đường từ Liên Hà qua Thuỵ Lâm, Quan Đình rồi theo đường 16 vượt sông Cầu đến vùng tự do Hiệp Hoà Bắc Giang. Về sau đi theo đường Nhạn Tái qua sông Cà Lồ vượt vành đai trắng Núi Đôi rồi đến vùng tự do
Ngoài ra giao liên Hà Vỹ còn đưa đón, bảo vệ các đoàn dân công chuyển lương thực lên vùng tự do và tiếp nhận hàng binh, tù binh rồi đưa chúng ra vùng tự do an toàn .
Trong khi làm nhiệm vụ đưa đón và bảo vệ các đoàn dân công, một số du kích đã hy sinh như anh Đỗ Văn Thoái (thôn Châu Phong) hy sinh khi dẫn đường cho dân công đưa gạo lên Hiệp Hoà (đầu năm 1951)
Cùng với việc che trở bảo vệ giúp đỡ cán bộ, bộ đội du kích, nhân dân Hà Vỹ còn tích cực đóng góp sức người sức của cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Các nghĩa vụ thuế, mua công phiếu kháng chiến "Hũ gạo nuôi quân" v.v. đều được nhân dân tích cực tham gia .
Đóng góp đáng kể nhất của nhân dân Hà Vỹ là đi dân công phục vụ các chiến dịch lớn như Hồng Quảng, Hà Nam Ninh, Hoàng Hoa Thám (1951), Tây Bắc (1952) và đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ (đầu năm 1954). Phong trào tòng quân của thanh niên Hà Vỹ sôi nổi trong suốt những năm kháng chiến, cả Hà Vỹ đã có hàng trăm thanh niên tham gia quân đội chiến đấu ở khắp các chiến trường trong đó có nhiều anh đã hy sinh vì Tổ quốc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
3. PHONG TRÀO HỌC TẬP VĂN HOÁ CỦA HÀ VỸ
Hà Vỹ là một làng quê trước đây thuộc huyện Đông Ngàn, nơi có truyền thống hiếu học và khoa bảng, truyền thống đó đã có ảnh hưởng tốt đến việc học tập của con em Hà Vỹ. Thời Phong kiến cả làng đã có 84 người học cao trong đó có 6 vị đỗ Đại khoa (Thám hoa, Tiến sĩ). Đình làng có Văn chỉ thờ đức Khổng Tử có văn bia ghi tên những người đỗ đạt cao từ Giám sinh, Tú tài, đến Tiến sĩ, Thám hoa của làng. Với truyền thống hiếu học của cha ông, nên con em Hà Vỹ thời nào cũng có nhiều người đi học, việc học là nhu cầu cần thiết là mơ ước của mọi người.
Khi Hán học xâm nhập vào nước ta, thì làng đón thày Đồ về dậy chữ Hán - Nôm cho các thanh niên con nhà khá giả trong làng và lập thành hội Tư Văn và hội Đồng môn. Dậy học là một nghề cao quí được mọi người tôn vinh nên nhiều người đi học dù không được bổ làm quan cũng về làm thày Đồ mở lớp dậy học cho các con em trong vùng
Trước cách mạng tháng Tám, ở Hà Vỹ có thày Đồ Phi (Lê Hồng Phi - Đại Vỹ) đã mở lớp dậy chữ Hán-Nôm cho một số con em trong làng, trong kháng chiến chống Pháp khi mà chữ Hán - Nôm không còn thông dụng nữa, thày Phi chuyển sang dạy chữ Quốc ngữ. Dậy chữ Quốc ngữ còn có thày Đồ Nghi (Ngô Văn Nghi - Đại Vỹ). Thày Nghi dậy lớp ba lớp bốn, thày Phi dậy lớp nhì, lớp nhất, (lớp nhất là lớp cuối bậc tiểu học, tương đương với lớp 5 bây giờ). Lớp học đặt tại Táo Trù của đình làng. Hầu hết những người biết chữ Quốc ngữ ở làng thời đó đều qua hai thày ấy dậy cả. Khi học xong lớp nhất (tức là hết bậc Tiểu học) ai muốn học cao hơn (lên bậc Thành chung) thì học trường Hoàng Hữu Nam (ở Me) hoặc ra Hà Nội hay lên vùng tự do học tiếp
Năm 1953 UBKC-HC và ty Giáo dục tỉnh Bắc Ninh đã có quyết định cho xã Liên Hà đựơc mở trường Phổ thông cấp I Âu Lạc với 16 giáo viên, Hà Vỹ có 5 giáo viên là các anh Nguyễn Văn Sáng( Khải), Nguyễn Hữu Cảnh (Đại Vỹ) Đỗ Văn Lượng, Đỗ Văn Bảng và Trịnh Xuân Quang (Châu Phong). Các giáo viên này đã được đi bồi dưỡng kiến thức rồi trở thành các giáo viên và cán bộ trong ngành giáo dục
Thày Sáng là Hiệu trưởng trường cấp II Đại Phúc, Bắc
Ninh, thày Cảnh được đi học ở trường Nguyễn ái Quốc và trở thành Phó Giám đốc, Bí thư Đảng uỷ trường Đảng tỉnh Hà Bắc. Thày Bảng là Hiệu trưởng trường THCS Liên Hà và thày Quang là Hiệu trưởng kiêm Bí thư Chi bộ trường Tiểu học Liên Hà; cả bốn Thày này đều công tác liên tục cho đến tuổi về hưu
Cuối năm 1953 quân ta mở chiến dịch Đông Xuân tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, ở vùng hậu địch, quân và dân Hà Vỹ cũng đẩy mạnh các hoạt động chiến tranh du kích.
Ngày 19-3-1954 (24 tháng Hai năm Giáp Ngọ) địch quây thôn Châu Phong, anh Phạm Cao Tiến chết vì trúng đạn ở đồng Móc.
Để chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ, nhiều đợt dân công Hà Vỹ được huy động đi phục vụ chiến dịch. Ngày mồng Hai tết Giáp Ngọ (5-2-1954), Hà Vỹ đã đưa hàng chục dân công đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ trong đó có các anh Phạm Văn Nga (Tỵ), Phạm Văn Dân, (Châu Phong) chị Đỗ Thị Sửu (Giao Tác) có thành tích và được tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua Điện Biên.
Để tăng cường lực lượng chiến đấu, trong những năm 1953-1954, nhiều thanh niên ở vùng tự do Thái Nguyên đang đi học đã "xếp bút nghiên lên đường tranh đấu" xung phong tòng quân như các anh Nguyễn Bá Tước, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Văn Đính… (Đại Vỹ), Phạm Huy Thông, Đỗ Ngọc Tiến, Đỗ Văn Bảng… (Giao tác) Phạm Thanh Long, Nguyễn Thanh Lâm, Phạm Văn Tuân… (Châu Phong). Sau này một số anh đã trở thành những sĩ quan trung, cao cấp trong các lực lượng vũ trang hoặc cán bộ chuyên môn trong các ngành khoa học và kinh tế.
Sau 56 ngày đêm chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, ngày 7-5-1954 chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho phái đoàn của ta ở bàn Hội nghị Giơ-ne -vơ
Điện Biên Phủ thất thủ, địch phải rút quân ở các bốt vùng đồng bằng Bắc Bộ về Hà Nội để chuẩn bị cho cuộc rút quân khỏi miền Bắc theo Hiệp định Giơ -ne- vơ
Ngày 10-10-1954 địch rút khỏi Từ Sơn thế là quê hương Hà Vỹ được hoàn toàn giải phóng, cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta kết thúc thắng lợi
Trong 8 năm kháng chiến với hơn 5 năm trực diện chiến đấu với kẻ thù, quân và dân Hà Vỹ đã chịu đựng vô vàn hy sinh gian khổ nhưng cũng vô cùng oanh liệt vẻ vang
“Kể từ tháng 9 năm 1949 đến tháng 10 năm 1954 địch đã vây càn vào xã Liên Hà tất cả hơn 100 lần, giết và bắt tù đầy hơn 150 cán bộ, du kích, bắt đưa đi mất tích gần 50 người khác; giết hại gần 200 dân thường, nhiều người bị tra tấn đánh đập hãm hiếp rất dã man, chúng đã phá và đốt trên 500 ngôi nhà, bắn và cướp đi trên 200 con trâu bò, cùng nhiều tài sản quí giá khác…”
Đặc biệt thiệt hại không gì bù đắp được, đó là do Thực dân Pháp xâm lược mà Hà Vỹ phải mất đi ngôi chùa chốn Tổ gần 100 gian do tiêu thổ kháng chiến. Đình làng cũng vì giặc Pháp mà phải dỡ đi bao nhiêu câu đối, cánh cửa, ván sàn để làm nắp hầm trú ẩn cho du kích bộ đội, cũng vì giặc Pháp xâm lược mà đình bị xiêu do phá bốt gần đình đến nay vẫn chưa chữa được…
“Cũng trong 5 năm trực diện đương đầu với địch, quân dân xã ta đã chiến đấu trên 50 trận lớn nhỏ, diệt trên 100 tên địch, bắt và gọi hàng 20 tên, thu hàng trăm súng các loại, cùng nhiều quân trang quân dụng và các chiến lợi phẩm khác
Cùng với chống địch vây càn, nhân dân xã ta còn tích cực đóng góp sức người sức của cho cuộc kháng chiến: 556 người tham gia quân đội, hàng trăm người tham gia dân công ở các chiến trường
Ngoài ra nhân dân ta còn giúp đỡ chỗ ăn chỗ ở nơi làm việc và bảo vệ an toàn cho các cơ quan huyện Từ Sơn và các cơ quan huyện Tiên Du, Gia Lâm cùng cán bộ, du kích nhiều xã trong huyện…”
“Có được những thành tích trên đây, trước hết là do sự chỉ đạo sáng suốt của Chi uỷ Đảng và các cán bộ, đảng viên trong các thôn đã biết vận dụng đường lối kháng chiến sáng suốt của Đảng và Chính phủ vào điều kiện và hoàn cảnh thực tế của địa phương
Có được những thắng lợi trên đây còn do lòng yêu nước thiết tha, chí căm thù giặc sâu sắc, một lòng một dạ tin tưởng vào đường lối kháng chiến, sẫn sàng hy sinh tính mạng, tài sản… của toàn thể nhân dân trong xã
Những thành tích trên đây còn có sự hỗ trợ giúp đỡ của các đơn vị bộ đội, cán bộ du kích và nhân dân trong vùng, đặc biệt là sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ Từ Sơn
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc đó, ngày 15 tháng 8 năm 2003, Chủ Tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định số 522/KT- CTN phong tặng nhân dân và lực lượng vũ trang xã Liên Hà (trong đó
có Hà Vỹ) danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Pháp.” (4)

(1) Lúc đầu, ông Đỗ Văn Hưởng được bầu làm Chủ tịch, ông Đỗ Văn Chù làm Phó Chủ tịch song do ông Hưởng tổ chức ăn mừng trong khi nhân dân còn đói vì vậy cấp trên không đồng ý mà cử ông Đỗ Văn Chù làm Chủ tịch

(2) Cơ quan Huyện uỷ ở nhà ông Ngô Văn Hồng, ông Nguyễn Văn Xướng (thôn Đạị Vỹ). Bộ phận in ở nhà ông Bẩy Bắc, bà Năm Đồn (Trại). Cơ quan UBKC-HC huyện Từ Sơn và các Đ/c Chủ tịch và phó Chủ tịch ở nhà ông Phạm Văn Ngân. Cơ quan Huyện Đội ở nhà cụ Nghĩa, cơ quan Giao Thông- Bưu điện ở nhà cụ Nhâm cụ Nhã. Bộ phận quân giới ở nhà cụ Cừu, (các cơ quan này đều đóng ở Châu Phong)

(3) Đ/c Thiền đã được kết nạp vào Đảng từ khi thành lập chi bộ đầu tiên ở Hà Vỹ, do vì mất liên lạc nên phải kết nạp lại, cũng do mất liên lạc nên Hà Vỹ lại thành lập chi bộ mới.
(4) Theo “ Liên Hà - Truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng "
Đăng nhập để trả lời
0
Đã chuyển 2 chương 5 và 6 vào chủ đề " Hà Vỹ - Lịch sử và văn hoá"
Đăng nhập để trả lời
0