📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Cuộc tang thương-đoạn thứ nhất

2 trả lời, 2.815 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-03 14:40:09thuyduong>
Cuộc tang thương - Đoạn thứ nhất


Đặng Trần Phất


I

Cách tỉnh Phú-Thọ độ chừng ba kilomètres, có một khu đất bỏ hoang, chưa khai-khẩn gì, rộng ước chừng độ bốn mẫu, giữa có một cái chùa nhỏ, lâu ngày đã nát, tường vôi lở, mái nay trông đã sụt mất mấy hàng ngói. Trong chùa tượng Phật cũng đã sây sát cả, những bát hwong bụi cát đen sì, còn trông thấy có tàn hương làm di-tích. Dưới đất cũng đầy rặt gạch cát ở trên mái chùa rơi xuống, lẫn với tiền vàng rải rác sót lại.

Nguyên chùa này trước kia thuộc về của dân sở-tại đấy lập có ruộng công để đèn hương cúng Phật; sư-cụ giữ chùa đó vốn là một hạng tiểu-lại xuất-thân, nhưng trong khi tòng-sự phải can tội hà-lạm của dân, nên bị nhà nước cách về. Dân làng nghĩ tình người đồng-hương, lại thấy nghèo đói rách rưới, bèn cho ra giữ chùa thay dân. Chẳng ngờ cu cậu sẵn được ấm no, lại sinh lòng muông thú, cách đó ba tháng, nó quyến rũ mất một người đàn bà đã có chồng cơn trong làng, rồi thu xếp hành-lý bỏ chùa đi mất, không biết đi đâu. Lý-dịch làng ấy, có đem việc này lên trình quan tỉnh để phái trát tìm bắt, nhưng tên ấy đã đào-tẩu xứ nào rồi, bặt tin nhạn cá, không sao truy nã được nữa. Thành ra chùa đó từ đấy bỏ không, vả lại trong dân mấy năm mất mùa đói kém, nên bao nhiêu ruộng công để hương đèn thờ cúng Phật, đều thu cả về dân, phân phát mỗi người vài sào...

Lâu nay cảnh chùa tiêu-điều, chẳng ai lo sửa sang. Lại thêm đồn rằng đã hơn một năm nay, chùa đó vẫn có ma hiện ra, những lúc đêm khuya thanh vắng, có người trông thấy một người đàn bà mặc áo trắng, đầu bỏ tóc xõa, vẫn nhởn nhơ ở cửa chùa khi hát, khi đùa, khi cười khi khóc, hễ trông thấy ai thì lại biến ngất. Truyện lạ kỳ, thành ra đồn khắp mấy làng chung quanh đó, không ai dám bén bảng qua lại nữa...

Những khi chiều giời u-ám, cảnh vật một sắc đìu hiu, đàng xa thì mây xanh thảm đạm, trông gần thì đồng rộng đất hoang, tòa chùa ở giữa trông chẳng khác chi một cây cỏ mọc tron von giữa bãi xa-mạc mông mênh, rồi nghe tiếng quạ kêu lưng giời, tiếng chim ríu rít đàng xa, hòa với những dọng rì rào cành tre gió đập, nghe càng buồn, càng ai-oán càng ngậm ngùi hoài cổ, trông cảnh chùa tàn mà hồi-tưởng đến cuộc tang thương. Lại những đêm giăng không mọc, sao không lên, giời tối mây mờ, cảnh chùa đó trông lại hiu-hắt rầu rĩ vô cùng, tựa hồ như một túp lều gianh nơi Tân-thế-giới, đường đột ở giữa cảnh vũ-trụ cao xa, tịt mù thăm thẳm, khiến cho con mắt người du-tử phải bồn chồn, tự hỏi nơi chùa đó có phải hình-dung đức Phật Tổ, thừa lúc tối tăm này, hiện hồn lên mà than khóc với bãi cỏ khâu, thống-trách cái lòng đơn-bạc vô tín-ngưỡng của người đời, để đến nỗi sương lạnh, giăng mờ, chùa tàn vách đổ, từ đâu nên nỗi như nay ?...
Ký-giả đây, từ khi gánh tang-bồng đã xếp nhẹ hai vai lòng hổ-thỉ đã chán nản tê-mê thì chỉ giữ cái chủ-nghĩa an-bần lạc-đạo, sau khi nợ bút nghiên đã giả, bèn thôi không học lối khoa-cử, mà chỉ chuyên về câu ca, bài phú để di dưỡng tính-tình. Lại thêm đường đời ngang dọc, bụi tục lưng giời, cạnh-tranh sô-sát, bao nhiêu cái bi-kịch hài-kịch về thế-thái nhân-tình thường trình bầy luôn ở trước mắt, nên đối với thế sự thăng-trầm lắm lúc cũng buồn tênh chán ngán, đến nỗi thành ra con người Hoàng-Hy giữa buổi sinh-tồn lao-động này, trộm biết rằng mảnh hình hài dẫu sao cũng còn phải để trực-tiếp với sự-thế, chưa có thể dật-dừ trong cảnh mộng-thế thênh thang được, nhưng lại xin thú thật với ai rằng con mắt ký-giả đã khóc nhiều về nỗi đời thiết tha rồi, bao nhiêu nghị-lực cương-cường đã biến thành cái bệnh nhu-nhược đa-cảm mà đa-sầu, đa-tư mà đa-lự, không cười mà khóc, không vui mà buồn, khiến cho tấm hoài-cổ cùng với tấm cảm-tình lúc nào cũng ngang ngang trong dạ.
Nên bình-sinh vốn ưa ngao-du các chốn danh-lam cổ-tích, con thuyền Tô-Thức, tay chèo Xích Bích, bầu rượu túi thơ, cuộc cờ núi Họa(1), tưởng cũng quên được cơn phiền-nhiệt nồng nàn mà khoáng-dật đôi chút.
Bấy lâu vẫn nghe chùa này bỏ hoang, cảnh-trí tiêu-sơ buồn bã, tuy đồn rằng có ma thiêng ẩn ở đó, nhưng không lấy làm tin, bèn cùng với bạn thân là Kim-Sinh, nhân ngày đầu tháng tám năm ngoái, khí giời trong sạch mát mẻ thẳng đường lên đấy... Đêm hôm ấy giăng sáng vằng vặc, trăm sao lóng lánh, cảnh-trí chẳng khác gì lúc bình-minh. Trông vừng mây cứ từ từ che lấp mặt giăng, chẳng khác chi một con Thanh-long lăn lộn, rồi nhìn xuống đồng thì một đàn đom-đóm đương bay lập lập lòe lòe, tựa hồ như nghìn bó đuốc soi xuống cảnh trần-gian... Tòa chùa nát vẫn sừng sững ở giữa khu đất bỏ không, tựa hồ như vẫn còn buồn phiền cho cuộc dâu bể soay vần... Chốc lại ngọn gió đàng xa thổi lại, rồi tiếng run kêu, rế thét đồng-thanh, rền rĩ, âm thầm, như giọng hờn oán của người bạc-mệnh trong thâm-cung cùng-tịch. Nhìn trước nhìn sau, chẳng thấy chi cả, chỉ duy có một đám cỏ lan mọc trên khu đất với nóc chùa con. Cảnh đã thê-lương, người lại súc-cảnh hưng hoài, bèn ngâm rằng:

Tạo-hóa bầy chi cuộc đổi rời,
Bèo trôi sóng vỗ cánh hoa rơi.
Sông mê mù mịt người đâu vắng,
Bến Giác mong chờ mấy khách chơi.
Hợp hợp ly ly từ mấy thủa?
Suy suy thịnh thịnh kiếp nào thôi?
Trăm năm giấc mộng phù-sinh hẩn,
Cảnh cũ người xưa vẫn nín hơi!


Ngâm rồi ngảnh lại thấy Kim-Sinh đứng gần bên cạnh, mặt có vẻ buồn rầu vô hạn. Chàng thấy tôi nhìn liền thở dài nói:

“Tôi trông thấy cảnh chùa này lại hồi tưởng vừa mới ngày nào được nghe câu truyện một người thiếu-niên chết ở đây, mà chết vì nỗi nhân-tình thế-thái đảo-điên kiêu-bạc!”

Ký-giả nghe thấy chàng nói, giật mình như người nghe phải tiếng sét. Chết vì nhân-tình thế thái! Ai chết?

Kim-Sinh thấy ký-giả mặt đã đổi sắc khác, bèn thong thả mà nói:
“Thời buổi này, nhân-tâm ấy, ai là người hữu-tâm mà không chua sót cho thói đời điên-đảo, đệ đây thật lấy truyện chàng thiếu-niên chết ở đây làm đau đớn thương sót lắm, biết đâu chúng mình sau này chẳng có một lần bị cái giây nhân-tình thế-thái ấy gò thắt? Nói ngay ở gia-đình, phong hóa đã suy-đồi....
Chàng chưa nói hết câu ký-giả đã gạt đi:

“Thôi thôi, phong-hóa suy-đồi, vô phương-pháp cứu-vãn, bất nhược ta bỏ qua nghĩ tới làm chi, chỉ xin nhân-huynh làm ơn kể cho tiểu-đệ nghe rõ câu truyện ấy duyên-do làm sao, mà xẩy ra cái bi-kịch tại đây?”

Kim Sinh giả lời:
“Truyện dài lắm, nói ra chửa biết bao giờ hết. Vậy chúng ta ngắm cảnh rồi về, bấy giờ tiểu-đệ sẽ thuật kỹ cho nhân-huynh nghe”.

Ký giả gật đầu khen phải, nhân đối với cảnh thê-lương, bụng buồn sẵn, liền lại ngâm câu của ông Lý Thái-Bạch rằng:

Sử-thế nhược đại mộng(2)
Đêm đã khuya, canh đã hầu tàn, anh em mới giắt nhau về. Đến nhà rồi, ký-giả bèn lưu Kim-Sinh lại đêm hôm ấy để thuật truyện cho nghe...

---------------------------------------------
(1) Ông Trần Đoàn là một ông tiên rất cao cờ ở núi Họa-sơn.
(2) Ở đời giấc mộng lớn.


(Xem tiếp kỳ sau)
Đăng nhập để trả lời
0
Đoạn thứ nhất


II

“Nguyên chàng thiếu-niên này tên là Ngô-Tòng là con một nhà phú-gia ở nhà quê, thuộc tỉnh Thái-Bình, người khôi-ngô tuấn-nhã, có vẻ thông minh hoạt-bát, nếu chàng được chịu ơn gia-đình giáo-dục của cha mẹ, thì dẫu chẳng sớm muộn, cũng phải thành người. Nhưng chỉ vì ông thân-sinh ra chàng là người phóng khoáng tửu-sắc thái quá, không hết nghĩa-vụ làm người tộc-trưởng trong nhà, nên mới gây cái bi-kịch thảm hại mà ta sắp kể sau đây....

Ông tên là Ngô-Văn, tuổi mới ngoại bốn mươi, người bé nhỏ, trước có theo đòi cửa Khổng sân Trình mấy năm hoạn-lộ rủi ro, lao đao trường ốc, ông chán bèn về ở nhà quê, mượn tửu-sắc làm vui. Cũng may được bà là người siêng năng tần tảo, công việc làm ăn đảm đang, xốc vác giỏi, cho nên gia-nghiệp cứ một ngày một khá, chẳng mấy lúc mà giầu có ngay...
Ông thấy cửa nhà sung túc, ruộng vườn cũng nhiều, thì lấy làm mừng lắm, chỉ còn tức một nỗi đường công-danh ngoắt ngoéo, khiến cho ông những ước ao mà không được, vẫn là người bạch-đinh; lúc rảnh rang ông thường nói với bà:

“Đời nay cứ có nhiều tiền là có danh-giá thế-lực, có tiền cũng được người ta gọi là quan lớn, vậy thì vợ chồng ta, giời cho cũng có cơ-nghiệp kha khá, không nhân dịp này mà mua lấy chút danh vọng, tội gì mà khư khư giữ hai tiếng trọc-phú để cho làng nước người ta khinh cho!

Bà cũng giả lời:

“Ừ, ông nói rất phải, xem ngay như ông bà hai Đ. bây giờ, ai cũng gọi là quan hàn, bà hàn, ông quan lớn, bà cũng bà lớn, ngồi cả với ông phủ bà phủ, nghĩ như người ta giầu còn kém mình, mà lại danh-giá hơn mình bao nhiêu? ... Sướng thật!

Ông thấy bà gãi ngay vào chỗ ngứa, thích ý quá, cười vang cả lên:
“Trước kia tôi đi học, chủ-ý cũng để thi, may ra có đỗ, thì cũng làm được tý quan lớn cho có chút danh giá với đời. Chẳng may số phận chẳng ra gì, cho nên sôi hỏng bỏng không, chữ lại giả chữ... Bây giờ thấy người ta đắc-chí; quan-hoạn hiển hách mà thèm... Vậy làm thế nào tôi cũng phải bỏ tiền ra mua lấy một cái hàm, gọi là cũng làm quan lớn tắt được... “

Hai vợ chồng bàn định xong, rồi đó ông lo mượn thày thợ, bỏ ra ba nghìn mua được hàm hàn-lâm-viện điện-bạ. Từ đấy rở đi, trong làng ai cũng gọi ông là quan lớn; ông đi đâu thường hay mang điếu tráp. Thỉnh thoảng có việc gì, ông lại vào hầu các quan tỉnh, cho nên nội nha-lại với cai lệ dinh quan Tuần, quan Án đều biết ông, chúng đều tâng bốc ông mà đều gọi là quan cả. Hoặc có tên lính mới nào, mới đăng ngạch, không được biết ông, một đôi khi có giáp ông, thì anh em lại bảo nó:

“Quan lớn đây thân với quan nhà lắm đấy! Lần sau ngài có lên tỉnh anh phải bẩm ngay để ngài vào chơi!”

Ông nghe nói lấy làm thích lắm, bèn trọng thưởng cho chúng. Trong bụng ông nghĩ: “Ngày nay ta cũng quan, chớ có kém gì đâu, hà tất phải thi-cử đỗ đạt mới làm được.

Trong tư-tưởng ông lúc bấy giờ đã nở ra như trăm hoa hớn hở; trong tưởng-tượng ông lại mới mô-phỏng ra một cuộc đời khác... Lạ gì cái phong-lưu là cái cạm trên đời, nó thường đánh bẫy con người phồn hoa, cho nên người ta ở đời, phú-quí dễ sinh hư-hỏng là thế. Như ông hàn này giời cho cửa nhà sang-trọng, ruộng vườn nhà cửa chẳng thiếu gì, sung-sướng kể đã nên sung-sướng, tuy cũng cỗ cao mâm đầy, lầu son gác tía, mà ông vẫn không lấy làm tự-túc... Như người khác ao ước cái cảnh như ông, được như ông tất bụng lấy làm mãn-nguyện lắm, nhưng đến lúc hy-vọng đã thành rồi, lại muốn hi-vọng cái này cái nọ nữa. Cho hay con người ta sinh ra, chỉ dồ dại vì cái lòng tham sống tham vui quá, mà đến nỗi đắm đuối vào những cảnh-tượng rất éo le, có vui sướng mà không được bao lâu. Thế mới biết một người đã quen ở cảnh thị-dục đào-hoa như ông hàn đây, lúc qua cảnh ấy rồi, hồi-tưởng đến vẫn còn ký-ức rất mạnh. Cái hoa thơm kia, dẫu nay hương tàn nhị rữa, mà vẫn còn bay mùi chung quanh mình ta, lúc nào cũng có hình ảnh ở trong tưởng tượng, làm cho ta mỗi lúc nghĩ đến, lòng còn cảm-súc đến bây giờ, ta muốn rơ hai tay mà cầm lấy, hứng lấy, nhưng than ôi nó chỉ là một giấc mộng tràng-xuân vô-hình vô-ảnh đó thôi... Ấy thế mà dại dột thay là lũ người, vẫn biết rằng giấc mộng tràng-xuân ấy dài ngắn chẳng được là bao nhiêu, mà tinh-thần thường vẫn phảng-phất cái khí-vị êm đềm. Ngán thay!

Cái hạnh-phúc nhà ông hàn đây kể cũng không phải là không có, nhà cửa như thế, vợ chồng con cái xum họp vui vẻ, ông còn ước ao chi nữa. Song ông là người không phải lấy cái hạnh-phúc một gia-đình thế làm vui, làm sướng; tư-tưởng, cảm giác lại mộng du ra ngoài cái phạm-vi gia-đình lạc-thú, trong những cảnh mộng-thế xuân sắc tươi cười của những kẻ đa-tình đa-tứ, lấy gió giăng làm kho vô-tận để tận-hưởng cái thú vật-chất kỳ khôi. Ông hồi-tưởng lại mười năm về trước, lúc ông còn trong vòng ba mươi, thôi thì bôn-ba trên đường hành-lạc, cùng chúng bạn câu cười suốt tháng, chén rượu cung đàn, dịp phách, khi cùng mấy ả hồng-lâu truyuện-trò tri-kỷ, cảm tình biết bao nhiêu? Ông nhớ như vừa mới ngày nào, cũng vào hồi tháng chạp, ông cùng ông cả Bi... hai anh em rủ nhau ngược Hanoi chơi, lên số nhà 70 phố hàng Giấy là nhà cô đầu Thi uống rượu. Cô đầu Thi này là một bực giai-nhân có nhan sắc ở phố hàng Giấy, khách làng chơi đã từng nghe tiếng, ai ran ríu cũng phải tốn hàng nghìn, thế mà ông mới biết cô có một lần duyên giời xui khiến, cô đã đem lòng quyến-luyến ông ngay, lúc ngồi chiếu rượu, cô hãm cho ông rằng:

Thuyền-quyên vừa biết anh-hùng,
Dặn lòng xin chớ phụ lòng làm chi.
Sớm đã tương-tri,
Thôi thì sớm đã tương-tri,
Cùng ai biết có duyên gì hay không?
Tạc một chữ đồng...


Ông nghĩ đến mấy câu hãm này, lại hồi-tưởng như được trông thấy cô đầu Thi trước mắt, đêm hôm ấy cùng ông ở trên một cái gác kín, ngoài thì gió thổi rét run, lúc bấy giờ đêm khuya chỉ có ông với cô ta còn thức nói truyện; những lời cô ta cảm-động thấm thía, ông nghe thấy, nay hãi còn trong lòng, mà cô đầu Thi bây giờ thì đâu... Ông lại nhớ như vừa độ nào, ông đương cùng với mấy ông bạn học, rủ nhau về Đông-Ngạc (Làng Vẽ thuộc tỉnh Hà-Đông) đánh trống, canh tàn lặng ngắt, ngồi trong nhà lá mà tai chỉ nghe tiếng phách chen tiếng đàn, hòa với câu hát, rịp rịp ràng ràng, thánh thót mà êm đềm như xui dục người du-tử mến cảnh giang-hồ, rồi mà, khúc hát Tỳ-Bà vừa não ruột vừa réo rắt, tay ông cầm roi chầu, cũng phải rời rạc... Chính cũng hôm ấy, ông cùng cô đầu Hanh là một người danh ca ở Đông-Ngạc đã hẹn hò sau trước, định trăm năm tính cuộc vuông tròn, nào ngờ đâu, qua đến năm sau ông hỏi thăm cô thì cô đã rơi ngọc trầm châu rồi, để cho ông thương tiếc..... Bây giờ dẫu cô đã ra con người Đạm-Tiên, mà cái hình-dung, cái tiếng thanh-tao của cô còn phảng-phất ở bên ông, ông nhớ đến cô, nghĩ như lại được trông thấy cô hát ở trước mắt. Cách năm mây khói mịt mù, vườn đào ướm hỏi ai là chủ-nhân? Thì sự đời đối với ông có lúc thường, có lúc biến, xưa kia vui vẻ bao nhiêu, thì nay lại buồn bã bấy nhiêu. Thấm thoắt mà nay ông đã ngoài bốn mươi tuổi đầu, da dăn, tóc đã hơi bạc, bao nhiêu cái xuân-sắc, xuân-tình, xuân-tứ thủa xưa nay đâu đâu cả, mà cả những sự mắt trông, tai nghe ngày xưa cũng tiêu-tán đâu hết. Ngoảnh đi ngoảnh lại, xuân rồi lại hạ, hạ lại sang thu, mà thu tàn, cảnh vắng, lá rụng, hoa rơi, tức là cái biểu-hiện cuộc đời ngày nay của ông, vì ông đã già rồi...

Ông đã già rồi nếu thật có phải, thì ông cũng chưa lấy chi làm già, ông còn tiếc cái chơi, ưa cái xuân tàn biết thú cái xuân-tình xuân-tứ kia mà... Thôi thì thôi, người dẫu có già, mà bụng ông chưa già; ông còn muốn có vừng mây xanh cản mảnh nguyệt sáng lại, cho bao nhiêu cảnh non nước hữu-tình còn rực-rỡ ở trước mắt ông. Nhưng sức ông đã kiệt, bao nhiêu ý-khí hăng hái lúc còn trẻ cũng không còn, dẫu có muốn chơi như ngày xưa cũng không được nữa... Vả lại bao nhiêu những sự hành-lạc của ông ngày trước, bấy giờ đối với ông cũng không đậm mấy, tinh-thần ông đã thấy mệt mỏi. Nhiều lúc nghĩ muốn cưỡng mà chơi, nhưng thân thể đã nhu-nhược không tài nào vượt qua được cái giới-hạn đã nhất-định, chỉ có ngồi nghĩ mà tiếc mà buồn thôi... Càng buồn, càng tiếc bao nhiêu, càng thấy như thèm nhạt khát khao. Bà cũng khéo chiều ông, cơm hầu canh dẫn, không để cho ông phải nói, nhưng bà đối với ông chẳng qua như một bức tranh tạo-vật về mùa thu, không còn có cái vẻ sán-lạn xuân-sắc nữa, như thế thì tuy bà chiều ông, yêu ông, mà ông vẫn chỉ coi bà như một thứ hoa giấy để một chỗ, cho đẹp cửa nhà, không khả dĩ đem ra để ngoạn-thưởng. Bao nhiêu sự cảm-giác của ông quay cả về cảnh xuân đầm ấm tươi tốt. Ông thấy các anh em bà con ông, lắm người già hơn ông mà còn lấy ba bốn vợ lẽ, nàng hầu đẹp đẽ trẻ trung, ngồi ăn thế này cũng hai ba cô ra hầu hạ, thì ông lại nghĩ đến ông, ví với các người ấy, sự sung-sướng thật cách xa, một giời một bể. Người ta thì hơi yếu đau, cũng hai ba cô hầu đấm bóp thuốc thang, mà mình giá có làm sao, thì chỉ có một vợ già cả lẫm cẫm hầu; người ta hơn gì mình mà được sung sướng thế; mình của có, danh-giá có mà vẫn khổ, là nghĩa làm sao? cũng chẳng qua người ta được vợ cả hiền-đức biết chiều chồng, mà không ghen tuông ! Đã nhiều lần ông ngỏ ý muốn mua hầu, thì bà lài kiếm truyện gạt đi, tức mình chẳng biết làm thế nào, chỉ ngày đêm thở ngắn than giài, bực rọc vô cùng, công việc trong nhà từ đấy ông bỏ cả, giao cho bà, còn cậu Ngô-Tòng là con ông, ông cũng chả nhìn gì đến.... ông vốn biết bà tin lễ bái, số tướng, mới bảo bà rằng:

“Tôi xem số, thánh có dậy rằng phải lấy vợ lẽ, nếu không thì sát vợ cả, bởi vậy tôi lo cho bà lắm!...

Nói rồi cố ý nhìn bà xem bà có đổi sắc sợ hãi gì không, nhưng mặt bà vẫn như thường. Bà cũng biết rõ rằng ông nói dối như thế để dễ được lấy hầu, song không hề nói ra, vì bà cũng không muốn để phiền quá cho ông, e rằng ông vì bà mà lo rầu thái quá. Thói thường đàn bà ai cũng có tính ghen, yêu chồng mà ghen, quí chồng mà ghen, muốn đem hết một cái ái tình làm vợ đối riêng với chồng, ngoài ra không muốn có một cái ái tình khác nào gián-tiếp vào nữa, sự ghen đó tình rất nên yêu, mà thế rất nên thương. Vả lại như bà đây, cũng không phải là một người hãn-phụ, thật là có tam-tòng tứ-đức từ khi lấy ông chiều ồng hết mực án họ Mạnh ngang mày khép nép, gánh giang-sơn thu xếp một tay, không một câu gì ông phải nói. Nay vì làm sao mà bà muốn phản đối ông việc mua hầu lấy lẽ? Chỉ vì bà biết ông nhiều thị-dục, xưa kia đã quá si mà hại của về cô đầu, chi cho khỏi ngày nay lại sẩy ra cái hại nữa về hầu thiếp? Những kẻ đào non liễu thắm, chịu đem thân lấy lẽ làm hầu, đã không có cái địa-vị làm vợ, gối phượng chăn loan ôm ấp, ngọt bùi san sẻ làm đôi, thì chắc chỉ mơ màng no ấm thân hèn, tiền của cho nhiều mà thôi, mấy kẻ có đức hạnh tốt? Con nhà bần tiện, vì bén hơi đồng, bán mình vào cửa giầu sang làm chi có giáo-đục, mà hòng biết đạo nghĩa. Ông thì tuổi cũng đã cao, cậu Ngô-Tòng cũng đã mười ba mười bốn, hai vợ chồng được có mụn giai là cậu, nếu nay ông không lo dậy bảo cậu thì sau này nhớn lên ra làm sao? Con có cha như nhà có nóc, nóc mà rột hỏng, phỏng có ở được nữa không? Ông mà không nghĩ gì đến việc cửa việc nhà nữa, thì gia-đình tất phải suy-đồi, cậu Ngô-Tòng tất mất trông cậy ơn giáo dục, cho nên khi bà nghe ông nói thế, thì bà giả lời:

“Có phải ông đã muốn mua hầu, thì để thong thả tôi xem có món nào xinh xắn tôi mua cho ông một người. Nhưng tôi tưởng bây giờ ông cũng đã ngót năm mươi tuổi đầu, việc lấy hầu dẫu sớm muộn cũng chẳng làm chi, chỉ cốt ông lo liệu dậy bảo trông nom con nó cho khỏi đến nỗi hư hỏng....”

- “... Trông nom dậy bảo con nó à! Việc đó bà không phải lo, để sang năm tôi xin cho nó vào học trường tỉnh....”

- “Đã hay rằng thế, nhưng nó còn ở nhà, ông cũng phải dậy bảo nó một tí mới được chứ!”

Ông thấy bà nói lắm, chỉ vắn tắt một câu:

“Nó cũng ngoan ngoãn, chả cần phải dậy bảo lắm cũng được!”
Bà nghe ông nói, chán như cơm nếp, bụng buồn bực, than thầm:
“Hỏng mất, ông như thế thì gia-đình hỏng mất!”

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

(Xem tiếp kỳ sau)




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Đoạn thứ nhất

III



Từ hôm ấy giở đi gia-đình cậu Ngô-Tòng đổi ra một cảnh khác. Ông thì chỉ trông mong việc lấy hầu, sao cho chóng; trong bụng ông lúc bấy giờ tưởng như đã sẵn có tiền mua được hòn ngọc quý, đợi ngọc đến tận tay là tiền bỏ ra; ông ngẫm nghĩ đến những việc vui vẻ sau này với cô hầu mới, thôi thì cuộc vui đã dài mà trận cười lại lâu, vui sướng này không có giá nào nhất định, thân ông tựa hồ như trẻ lại mà cùng cô hầu chắp cánh liền cành, đôi mảnh hình-hài phiêu-dật trên cõi bồng-lai cực-lạc, bạn với phong-hoa tuyết-nguyệt, cái già của ông nay là cái xuân còn non, cái duyên đương mặn, đương nồng, lửa tình càng cháy càng bùng, tình xuân như dục cho lòng nhớ ai, mê ai, mong ai, chờ ai, yêu ai, tương tư ai, vẩn vơ ngồi nhẫn canh dài! ... Cái quá khứ của ông vui vẻ bao nhiêu thì cái hiện-tượng cũng sung sướng bấy nhiêu...

Ông những mừng thầm, mà bỏ ăn quên ngủ, hình giáng bơ sờ. Trong tưởng-tượng ông chỉ hình-dung một cảnh tịch mịch, ngoài ra duy có tiếng chim hót dun kêu mừng đón cô hầu của ông sắp về; bà và cậu Ngô Tòng ở trước mặt ông; lúc bấy giờ chả qua như cái bụi nhỏ không lọt vào được cái nhỡn-tuyến nắng quáng, đèn lòa si-tình của ông; cùng ăn một mâm, mà ông nhất thiết không nói truyện với bà, bà có hỏi gì, thì ông chỉ nhạt nhẽo giả lời, con ông có truyện trò với ông, thì ông chỉ gắng gượg nói lại, trong hai vợ chồng với một con là ba người, mà khi họp mặt ăn uống tuyệt nhiên không có sắc mặt nào vui. Chưa chập tối ông cơm nước xong đã vào màn ngủ; Còn có mình bà với cậu Ngô-Tòng hai mẹ con ngồi riêng một buồng; bà thấy cảnh chồng như thế bụng buồn vô cùng, nhưng vẫn làm mặt như thường, cái vẻ âu sầu hơi lộ ra hai con mắt thôi, nên cậu Ngô-Tòng vẫn không biết rằng vì mẹ cha mà sầu não; cậu là người tinh, sáng ý lắm, những lúc ăn cơm với cha, thấy cha hờ hững nói năng gượng gạo, mặt vẫn không vui vẻ, thì bụng nghi hoặc. Hôm ấy cậu hỏi bà rằng:

“Con xem cha con hay buồn là nghĩa làm sao, hở mẹ?”

Bà thấy cậu đột nhiên hỏi, rơm rớm nước mắt bèn bật mồm giả lời:
“Cha con chỉ buồn vì chưa có người để hầu.”

Bà vừa nói vừa khóc làm cho cậu cảm động cũng khóc nốt:

“Cha con chưa có người để hầu, sao mẹ không hầu cha con có được không?”

Bà nghe câu ấy lại càng đau đớn:

“Con ơi, cha con có thiết mẹ hầu đâu? vì mẹ già rồi!...”

Đoạn, nức đi một hồi, rồi bà lại khóc:

“... Mẹ già rồi, cho nên cha con muốn lấy người khác để vui thú mà bỏ mẹ con ta!...”

Cậu nghe bà nói xong, ruột đau quàn quại, cổ nghẹn ngào tức tối, nước mắt từ đâu chảy xuống giòng giòng. Thế ra ông đã chán ghét mẹ con cậu, mà chỉ ước mong lấy vợ lẽ nàng hầu về mà vui xướng lấy một mình thôi:

“... Cha con muốn bỏ mẹ với con! Trời ơi, mẹ với con tội tình bạc ác gì mà cha bỏ! ... Thôi thì mẹ ơi, cha đã ghẻ lạnh mẹ với con, con cũng xin mẹ bỏ quá, mẹ chớ ưu phiền làm chi! Con yêu mẹ, con không bỏ mẹ là đủ...”

Bà nghe con nói thiết tha liền ôm cậu vuốt ve nưng niu;

“Thật con yêu mẹ không nỡ bỏ mẹ chớ? !”

- “Thật!...”

Ấy trong khi hai mẹ con cậu Ngô-Tòng thở than khóc lóc với nhau trong một cái buồng kín, canh khuya đối ngọn đèn xanh, bóng đèn thâm-u như sui dục lòng mẫu-tử thêm bi-đát cho nước đời éo-le, thì ngoài giời tối mây đen, run gào rế khóc như thi nhau mà chia buồn với mẹ con bà....

Còn ông thì đâu? Thưa rằng ông đương trằn trọc nằm trong màn, vắt tay lên trán mà nghĩ, ông nghĩ đến cái người còn mập mờ ở trong tưởng tượng, chưa xuất hiện ra trân-ảnh, cái người má phấn môi son, miệng cười hoa nở, trẻ trung mà yể điệu để cùng ông, như những đêm khuya này chung-hưởng giấc Vu-Sơn; ông nghĩ cái người nào mà ông sắp sửa mua về để hầu hạ ông, ông nghĩ những sự vui sướng, ông nghĩ những cảnh xuân-tình mộng-sắc vậy.

(Xem tiếp kỳ sau)






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0