📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

HẲN LÀ YÊU - RACHEL GIBSON [[to be continuous...]]

10 trả lời, 4.419 lượt xem — Trang 1 / 1
HẲN LÀ YÊU – RACHEL GIBSON
Ebook được thực hiện bởi các thành viên
VH-Project
Chụp ảnh: Cỏ
Ảnh bìa: Chibooks
QLDA: Cỏ
Checker: Bluesky29
Type: A2, clover_201 (VHP), saccauvong (TVE), Yến (yenung@gmail.com), blacktun2910 (TVE), ani nguyen (TVE), phamdung90 (TVE), iluvbook (TVE), Mái Ngố (TVE), khicon2004 (TVE), Thanh Huyền (thanhhuyen89@gmail.com), caykho (TVE), may&nui, HuangYing (VHP), sunybrook, dark-moon (TVE), nguyen_thuy_trang, Danny (VHP)
Chế bản ebook: Chút
Ngày hoàn thành: 21/08/2011
http://www.facebook.com/vhproject
http://vhproject.hnsv.com

HẲN LÀ YÊU
Nguyên tác: IT MUST BE LOVE
Tác giả: RACHEL GIBSON
Dịch giả: Nguyễn Mai Trang
Nhà xuất bản: Nxb Thời đại
Giá bìa: 79.000VNĐ
Số trang: 392
Khổ: 14 x 20,5 cm
Đơn vị xuất bản: Chibooks
Đơn vị xin giấy phép: Nxb Thời Đại
Đơn vị phát hành độc quyền: Fahasa

Giới thiệu

Điều không may xảy đến với cảnh sát chìm Joe Shanahan xảy ra vào một buổi sáng khi anh nhìn chằm chằm vào khuôn mặt của cô nàng khả nghi cực kỳ quyến rũ Gabrielle Breedlove. Cô đã thổi bay vỏ bọc của anh - hạ gục anh với một bình xịt tóc - và giờ nhiệm vụ mới của anh là giả vờ làm bạn trai của cô. Nhưng trải qua càng nhiều thời gian với vẻ đẹp hoàn toàn không thễ cưỡng lại được của cô đã gây nên những rắc rối không thể ngờ. Ngoài ra, để khiến cho mọi việc ngày càng rối rắm hơn, các chị gái thích mai mối của anh lại lựa chọn mua đồ sứ làm quà cưới cho anh.
Vẻ ngoài ủ ê và cơ bắp căng cứng bên dưới lớp áo phông của Joe nhìn thật thuận mắt, nhưng làm thế nào Gabrielle lại có thể bị thu hút bởi anh chàng thám tử với vẻ mặt khinh khỉnh, người kiên quyết tìm kiếm các bằng chứng để bắt giữ cô cơ chứ? Song, anh ta vẫn xâm nhập vào các giấc mơ của cô và khi họ chia sẻ những trải nghiệm tuyệt vời bên nhau, Gabrielle biết đó hẳn là yêu.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 1

Thám tử Joseph Shanahan ghét mưa. Anh ghét mưa cũng nhiều như anh ghét lũ tội phạm bẩn thỉu, bọn luật sư biện hộ dẻo quẹo, và loài ngỗng ngu ngốc. Bọn đầu tiên là lũ cặn bã, bọn thứ hai là lũ đĩa ăn bám, và bọn thứ ba là nỗi ô nhục đối với gia tộc chim chóc nói chung.
Anh đặt chân lên cản trước cửa xe Chevy màu be, cúi người xuống và căng cơ. Anh không cần phải nhìn những đám mây xám xịt đang tạo hình trên công viên Ann Morrison cũng biết mình sắp được tắm táp đã đời. Cảm giác nhức nhối khó chịu ở đùi phải anh cho biết hôm nay đơn thuần không phải là ngày của anh.
Khi anh cảm thấy các bắp cơ đã duỗi căng và ấm lên, anh đổi chân. Phần lớn thời gian, thứ duy nhất nhắc nhở rằng một viên đạn xoáy 9mm từng xé toang da thịt và thay đổi cả cuộc đời anh là một vết sẹo dài 12cm nhăm nhúm trên đùi. Chín tháng và vô số giờ vật lý trị liệu khắc nghiệt sau đó, anh đã có thể quên đi que định hình và những cái đinh xoắn vào xương đùi anh. Ngoại trừ khi trời mưa và sự thay đổi trong áp suất không khí khiến nó làm mình làm mẩy.
Joe thẳng người dậy, quay đầu từ bên này sang bên kia như một võ sĩ nhà nghề, rồi thò tay vào túi chiếc quần thể thao mà anh đã cắt thành quần soóc và rút ra một bao thuốc lá. Anh rút một điếu Marlboro ra khỏi bao, rồi châm đầu thuốc bằng cái bật lửa Zippo. Nheo mắt trước ngọn lửa, anh thấy một con ngỗng trắng múp míp đang chằm chằm nhìn anh từ cách đó khoảng dưới nửa mét. Con chim lạch bạch lại gần, vươn cao cái cổ dài và rít lên, cái mỏ màu vàng cam giận dữ mở rộng, chiếc lưỡi hồng vươn thẳng ra.
Với một cái gập cổ tay, chiếc Zippo đóng lại, và anh nhét cả bao thuốc lẫn bật lửa vào túi quần. Anh phả ra một làn khói dài dằng dặc khi con ngỗng chúi cổ xuống và khóa chặt ánh mắt tròn vo vào hai viên bi của Joe.
“Cứ làm thế đi và tao sẽ đá tung mày như một quả bóng đấy.”
Trong vài giây nghẹt thở hai kẻ bước vào một trận quyết chiến sống còn, rồi con chim rụt cổ lại, quay hai bàn chân màng và lạch bạch bỏ đi, liếc nhìn về hướng Joe lần cuối trước khi nhảy lên lề đường và hướng tới chỗ những con ngỗng khác.
“Đồ hèn,” anh lầm bầm và rời mắt khỏi mối đe dọa đang tháo chạy. Hơn cả trời mưa, thay đổi áp suất, và thậm chí là lũ luật sư dẻo mỏ, Joe ghét nhất những tên chỉ điểm. Anh chưa bao giờ biết được nhiều hơn một hay hai tên lại không lừa gạt vợ con, mẹ, hay bạn thân để cứu lấy cái mông đáng thương của chính chúng. Anh có được cái lỗ trên chân nhờ vào chính tên chỉ điểm cuối cùng của mình, Robby Martin. Trò giao dịch hai mang của Robby đã làm Joe mất một mớ thịt, xương và cả công việc mà anh yêu quý. Tên nhóc buôn ma túy đó đã phải trả một cái giá cao hơn – mạng sống của chính hắn.
Joe tựa lưng vào thân một chiếc Caprice không có gì nổi bật và rít một hơi thuốc lá thật sâu. Khói thuốc thiêu đốt cổ họng và lấp đầy nhựa thuốc lá lẫn nicotin trong phổi anh. Chất nicotin làm dịu cảm giác đau nhói từ vết thương của anh như sự âu yếm vỗ về của người tình. Theo những gì anh biết, đó là thứ duy nhất hay ho hơn một lồng ngực đầy độc tố.
Bất hạnh làm sao, anh đã chả có cái thứ duy nhất ấy từ khi chia tay với Wendy, cô bạn gái cuối cùng. Wendy là một đầu bếp tương đối tao nhã, và cô ta trông cực tuyệt diệu khi bó chặt trong chiếc quần thun. Nhưng anh không thể cùng nhìn về tương lai với một người phụ nữ nổi khùng lên chỉ vì anh quên béng ngày kỷ niệm hai tháng hẹn hò của họ. Cô ta đã cáo buộc anh là “khô khan”. Chết tiệt, anh cũng lãng mạn y như bất kỳ thằng đàn ông nào ấy chứ. Anh chỉ không hành động sướt mướt và phát đần vì điều đó mà thôi.
Joe rít thêm một hơi dài. Thậm chí nếu không phải vì cái trò kỷ niệm tào lao đó, thì đằng nào quan hệ của anh với Wendy cũng sẽ không đi đến đâu hết. Cô ta không hiểu được lượng thời gian anh cần phải dành cho Sam. Cô ta cứ mãi ghen tuông, nhưng nếu Joe không chú ý tới Sam, nó sẽ lại gặm nhấm đồ đạc trong nhà.
Joe thở ra chậm rãi và quan sát khói thuốc lơ lửng trước mặt. Lần trước anh đã bỏ hút thuốc trong ba tháng, và anh sẽ bỏ lại lần nữa. Nhưng không phải hôm nay. Chắc cũng không phải ngày mai. Anh vừa được Đại úy Luchetti cho cả chồng giấy tờ, và nếu anh định giải quyết cho hết, sau đấy chắc chắn là anh sẽ muốn một điếu thuốc.
Qua làn khói, mắt anh nheo lại, rồi đậu xuống, trên một người phụ nữ có mái tóc dày loăn xoăn màu nâu đỏ xõa ngang lưng. Một cơn gió nhẹ thổi qua mái tóc và nâng nó lên quanh vai cô ta. Anh không cần phải nhìn mặt cô ta cũng biết là ai đang đứng ở giữa công viên Ann Morrison vươn tay lên cao như một nữ thần tôn thờ bầu trời xám xịt.
Tên cô ta là Gabrielle Breedlove, và cô ta sở hữu một cửa hàng đồ cổ trong quận Hyde Park lịch sử, cùng với đối tác làm ăn của cô ta, Kevin Carter. Cả hai đều bị tình nghi sử dụng cửa hàng đó như bình phong cho một công việc khác, mang lại nhiều lợi lộc hơn – buôn lậu đồ cổ ăn cắp.
Cả hai người chủ cửa hàng đều không có tiền án tiền sự và có thể sẽ chẳng bao giờ bị cảnh sát chú ý đến nếu họ cứ làm ăn nhỏ lẻ, nhưng họ lại có tham vọng lớn hơn. Một bức họa thuộc Trường phái Ấn tượng nổi tiếng đã bị đánh cắp tuần trước từ người đàn ông giàu nhất trong bang, Norris Hilland, hay được biết đến với cái tên Vua Khoai Tây. Ở Idaho quyền lực và ảnh hưởng của ông ta chỉ đứng thứ hai sau Chúa. Một người nào đó phải cần đến rất nhiều dũng cảm mới dám đánh cắp bức họa Monet của Vua Khoai Tây.
Cho đến giờ, Gabrielle Breedlove và Kevin Carter là những đầu mối đáng tình nghi nhất trong vụ án này. Một tay chỉ điểm ở nhà tù đã cho cảnh sát tên của họ, và khi nhà Hillard kiểm tra ghi chép của mình, người ta khám phá ra rằng sáu tháng trước, Carter đã ở nhà Hillard định giá một bộ sưu tập đèn Tiffany.
Joe rít một hơi khói thuốc và chậm rãi phả ra. Cái cửa hàng đồ cổ nhỏ xíu ở Hyde Park đó là tấm chắn hoàn hảo cho một kẻ buôn lậu, và anh cá cả hòn bi trá của mình rằng ngài Carter và cô Breedlove đã giấu kín bức họa Monet của nhà Hillard đi cho đến khi sức nóng giảm bớt và họ có thể chuyển nó cho một tay trung gian lấy một bó tiền. Cơ hội tuyệt vời nhất để đoạt lại là tìm ra bức họa trước khi nó chuyển tới tay trung gian và xuống thế giới ngầm.
Vua Khoai Tây đang nổi cơn thịnh nộ với Cục trưởng Walker, ông ta lại đổ cơn giận đó lên Đại úy Luchetti và các thám tử thuộc bộ phận Trộm cắp Tài sản. Căng thẳng khiến cho vài thám tử phải tìm rượu giải khuây. Nhưng Joe thì không. Anh không coi trọng rượu chè, và anh rít một hơi bình tĩnh từ điếu thuốc Marlboro khi quan sát đối tượng tình nghi của mình. Trong đầu, anh lướt qua tư liệu vội vàng gom nhặt mà anh có về cô Breedlove.
Anh biết cô sinh ra là lớn lên trong một thị trấn nhỏ ở bắc Idaho. Bố cô đã chết khi cô còn trẻ, và cô sống cùng mẹ, cô ruột, và ông nội.
Cô hai mươi tám tuổi, cao một mét bảy tám, và nặng đâu đó khoảng sáu mươi cân. Chân cô dài. Quần soóc của cô thì không. Anh nhìn cô cúi người để chạm xuống nền đất trước mặt, và anh tận hưởng cảnh trí đó cùng làn khói thuốc. Từ khi bị chỉ định theo đuôi cô, anh đã trở nên ngưỡng mộ hình dáng phía sau ngọt ngào của cô.
Gabrielle Breedlove. Tên cô nghe cứ như một ngôi sao khiêu dâm, giống kiểu Mona Lot hay CandyPeaks. Joe chưa bao giờ nói chuyện với cô, nhưng anh đã nhìn cô đủ gần để biết cô có tất cả những đường cong ngọt ngào ở đúng chỗ.
Và gia đình cô cũng không phải trong bang, Công ty Mỏ Breedlove đã hoạt động ở phía bắc trong gần chín mươi năm trước khi bị bán đi vào giữa thập niên bảy mươi. Vào lúc đó, gia đình này cực kỳ giàu có, nhưng những khoản đầu tư tồi tệ và cung cách quản lý kém cỏi đã teo nhỏ gia tài một cách đáng kể.
Anh quan sát cô làm vài động tác yoga căng một chân trước khi bắt đầu từ tốn chạy bộ. Joe búng điếu thuốc Marlboro vào lớp cỏ phủ đầy sương và rời khỏi chiếc Chevy. Anh bắt đầu đi ngang qua công viên theo sau cô và đặt bước lên dải ruy băng nhựa đường đen được biết đến như vành đai xanh.
Vành đai xanh đi theo con sông Boise và vẽ một đường qua thành phố chính, kết nối tám công viên lớn dọc đường đi của nó. Mùi hương nồng đậm từ nước sông và những cây gỗ gòn lấp đầy không khí buổi sớm, trong khi những mảnh bông xơ xác thổi theo gió và dính vào ngực áo nỉ của Joe.
Anh kiểm soát hơi thở của mình, chậm rãi và nhẹ nhàng khi anh giữ nhịp chân với người phụ nữ trước anh khoảng sáu mét. Suốt tuần qua, kể từ vụ trộm, anh vẫn theo đuôi cô, tìm hiểu thói quen của cô - loại thông tin mà anh không thể kiếm được từ những ghi chép của chính phủ, tin mật, hay báo đài.
Theo những gì anh biết, cô luôn chạy bộ cùng hai dặm đường vòng và đeo cùng một cái túi ngang hông màu đen. Cùng lúc ấy cô liên tục nhìn xung quanh. Lúc đầu, anh đã nghi ngờ rằng cô đang tìm kiếm ai hay cái gì đó, nhưng cô còn chẳng bao giờ gặp gỡ đến một cái bóng nữa. Anh cũng lo cô ngờ ngợ thấy sự giám sát của anh, nhưng anh đã cẩn thận mặc quần áo khác nhau mỗi ngày, đỗ ở nhiều bãi đỗ khác nhau, và theo đuôi cô từ nhiều địa điểm khác nhau. Vài ngày anh còn che mái tóc đen của mình bằng một cái mũ bóng chày và mặc bộ quần áo chạy bộ bóng bẩy. Sáng nay, anh thắt một cái khăn đỏ lên đầu và mặc cái áo nỉ dài tay in chữ BSU [1] màu xám.
Hai người đàn ông mặc đồ chạy màu xanh dương sáng chạy chậm lên vành đai xanh hướng về phía anh. Ngay khoảnh khắc học đi qua cô Breedlove, họ ngoái cổ và nhìn chiếc quần soóc trắng của cô đung đưa. Khi họ quay lại, họ cùng mang nụ cười tán thưởng y như nhau. Joe không trách cứ gì họ vì căng mắt ra để nhìn cô lần cuối. Cô có cặp chân tuyệt vời và một bộ mông cũng tuyệt vời. Mỗi tội cô lại được định sẵn cho một bộ đồng phục tù.
Joe theo cô băng qua cầu vượt ra khỏi công viên Ann Morrison, cẩn thận giữ một khoảng cách đều đặn khi họ tiếp tục dọc theo sông Boise.
Tiểu sử của cô không phù hợp với lũ trộm đặc thù. Không giống bạn làm ăn của mình, cô không ngập nợ tới tận cổ. Cô không bài bac, và không có thói quen nghiện ngập cần được trợ cấp, tức là chỉ còn hai động cơ khả dĩ để một người phụ nữ như cô tham gia vào một hành vi phạm pháp.
Một là sự kích thích, và Joe chắc chắn có thể hiểu được cảm giác thôi thúc khi sống trên bờ vực. Adrenalin là một chất gây nghiện mạnh mẽ. Chúa biết anh yêu nó. Anh yêu cách nó bò khắp làn da, châm chích xác thịt và dựng đứng tóc trên đầu anh.
Cái thứ hai thì phổ biến hơn – tình yêu. Tình yêu có xu hướng đưa rất nhiều phụ nữ vào rắc rối. Joe đã gặp rất nhiều người đàn bà sẽ làm bất kỳ chuyện gì vì một thằng con hoang vô giá trị, những kẻ chẳng hề do dự thế mạng cô ta để cứu lấy chính bản thân hắn. Joe không còn ngạc nhiên bởi những gì mà một vài phụ nữ sẽ làm vì tình yêu nữa. Anh không còn ngạc nhiên khi thấy phụ nữ ngồi trong tù tiêu thời gian họ lũ đàn ông của họ nước mắt ròng ròng, mascara nhòe nhoẹt, nói những thứ ngu si như là, “Tôi không thể nói với anh điều gì tồi tệ về gì gì đó, tôi yêu anh ấy.”
Những tán cây trên đầu Joe dày đặc hơn khi anh theo cô vào một công viên thứ hai. Công viên Julia Davis xum xuê, xanh tốt hơn, lại có thêm cả sự hấp dẫn từ những bảo tàng lịch sử và nghệ thuật, vườn thú Boise, và tất nhiên là cả chuyến tàu tham quan Tootin’ Tater nữa.
Anh cảm nhận được thứ gì đó rơi ra khỏi túi quần ngay trước khi nghe thấy một tiếng bộp xuống mặt đường. Anh ôm lấy cái túi quần trống không và quay đầu nhìn một gói Marlboro nằm trên đường. Anh do dự vài giây trước khi lùi bước chân. Vài điếu thuốc rơi vãi lăn trên mặt đường nhựa, và anh vội khom lưng người xuống để nhặt chúng lên trước khi chúng lăn xuống vũng nước. Ánh mắt anh di chuyển tới chỗ đối tượng tình nghi, vẫn đang chạy bộ ở nhịp chân từ tốn thường ngày của cô, rồi quay lại với thuốc lá của anh.
Anh đặt mấy điếu thuốc vào bao, cẩn thận không làm nát chúng. Anh có ý định tận hưởng đến mẩu cuối cùng. Anh không lo là anh sẽ lạc mất nghi phạm. Cô chạy cũng nhanh như một con chó già viêm khớp ấy, một sự thật mà hôm nay anh rất kích động.
Khi anh quay ánh mắt lại con đường, tay anh khựng lại, và một cách chậm rãi anh nhét nốt mất điếu thuốc vào túi quần. Tất cả những gì chào mừng ánh mắt dày dặn kinh nghiệm của anh là con đường màu đen trải dài khi nó uốn lượn qua những tán cây cỏ cao ngút ngát. Một cơn gió mạnh xô đẩy những cành cây nặng nề trên đầu anh và ép sát cái áo nỉ vào lồng ngực anh.
Ánh mắt anh phóng sang bên trái, và anh phát hiện ra cô đang cắt ngang công viên hướng về vườn thú và sân chơi trẻ em. Anh bắt đầu đuổi theo. Theo những gì anh nhìn thấy, công viên vắng không. Bất kỳ ai có đầu óc cũng đã bỏ chạy khỏi nơi này trước khi cơn bão đang lơ lững kia đổ ập xuống. Nhưng chỉ vì công viên có vẻ trống vắng không có nghĩa là cô ta sẽ không gặp gỡ ai đó.
Khi một đối tượng tình nghi lạc khỏi chu trình cố định, điều đó thường có nghĩa là một chuyện gì đó sắp xảy ra. Mùi vị adrenalin làm tê liệt cổ họng anh và đưa một nụ cười lên môi anh. Chết tiệt thật, anh đã không cảm thấy mùi vị ấy còn sống kể từ lần cuối anh dồn tên buôn lậu ma túy vào một con hẻm ở cuối phía bắc.
Anh lại mất dấu khi cô chạy qua nhà vệ sinh và biến mất phía sau. Hàng năm trời kinh nghiệm trì hoãn những bước chân của anh khi anh chờ cô xuất hiện trở lại. Khi không thấy, anh với tay xuống dưới cái áo nỉ và bật khóa bao súng đeo vai. Anh nép mình vào tòa nhà gạch và nghe ngóng.
Một cái túi ni lông của một cửa hàng tạp hóa bị bỏ lại lộn vòng vòng trên mặt đất, nhưng anh chẳng nghe thấy gì ngoài trừ tiếng gió và lá cây xào xạc trên đầu. Từ vị trí này anh chẳng thể nào nhìn thấy gì hết, và anh nhận ra rằng đáng lẽ mình nên lùi lại. Anh bước quanh góc tòa nhà và chạm mắt với nút bấm của một lọ keo xịt tóc. Một luồng hơi ập trọn vào mặt anh, và ngay lập tức tầm nhìn của anh nhòe đi. Một gọng kìm túm chặt lấy áo anh, và một đầu gối thúc mạnh vào giữa hai đùi anh, cách viên bi của anh chỉ xuýt soát vài phân. Cơ bắp đùi phải của anh co rút, và anh hẳn đã gập làm đôi nếu không phải nhờ bờ vai rắn chắc ở ngực anh. Hơi thở của anh rít ra từ phổi khi anh đập thẳng lưng xuống trên nền đất cứng ngắc. Còng tay bằng crôm, vốn treo ở đai quần anh, chọc vào eo lưng anh.
Qua tầm nhìn mù dở nhờ quý cô Clairol [2], anh ngước lên nhìn Gabrielle Breedlove đang đứng giữa đôi chân dang rộng của anh. Anh thả cho cơn đau đang co rút đùi anh lan đi khắp người, và nỗ lực điều hòa hơi thở. Cô ta đã đi trước một bước và cố huých bộ phận sinh dục của anh lên tận cổ họng.
“Chúa ơi,” anh rên rỉ. “Cô là một con quỷ cái điên rồ.”
“Đúng thế đấy, chỉ cần thứ lỗi cho tôi vì bắn xương bánh chè của anh là được.”
Joe nhấp nháy mắt thêm vài lần nữa, và tầm nhìn của anh rõ ràng. Một cách chậm chạp ánh mắt anh di chuyển từ mặt cô, xuống cánh tay, tới bàn tay cô. Khỉ thật. Một tay cô cầm chặt bình xịt tóc, ngón tay sẵn sàng trên nút bấm, nhưng tay kia của cô kẹp chặt một thứ trông như là cây súng lục ngắn. Nó không chĩa vào đầu gối mà thẳng vào mũi anh.
Mọi thứ trong anh khựng lại. Anh tuyệt đối ghét súng ngắn chĩa vào mình. “Bỏ vũ khí xuống,” anh ra lệnh. Anh không biết khẩu súng đó có được lên đạn hay thậm trí có hoạt động hay không, nhưng anh cũng không muốn thử nghiệm. Chỉ mình mắt anh di chuyển khi anh nhìn lại lên mặt cô. Hơi thở cô phập phồng, đôi mắt màu xanh lục hoang dại. Trông cô cực kỳ bất ổn.
“Ai đó gọi cảnh sát đi!” cô bắt đầu la hét điên cuồng.
Joe cau mày nhìn cô. Cô không chỉ xoay xở để hạ anh dập mông mà giờ cô còn hét tung đầu cô ra. Nếu cô cứ thế này, anh sẽ phải lột vỏ bọc của mình, và anh thực sự không muốn làm thế. Ý nghĩ đi vào đồn cảnh sát với nữ nghi phạm số một trong vụ Hillard, nghi phạm vốn không được biết cô ta là nghi phạm, và giải thích cách cô ta hạ gục anh bằng một bình xịt tóc lấp đầy anh một nỗi kinh sợ hãi hùng kẹp chặt hộp sọ. “Bỏ súng xuống,” anh lặp lại.
“Đừng có mơ! Anh mà giật một cái thôi là tôi sẽ bắn anh đấy, đồ cặn bã nhớp nhúa.”
Anh không tin là có đến một linh hồn nữa trong vòng ba mươi mét quanh đây, nhưng anh không chắc lắm, và điều cuối cùng anh cần là một công dân quả cảm đến giải cứu cô.
“Ai đó làm ơn giúp tôi với!” cô la hét ầm ĩ đủ cho cả mấy hạt xa tít tắp cũng nghe thấy ấy chứ.
Cằm Joe nghiến chặt. Anh chưa từng bao giờ ngã xuống kiểu này, và anh thậm trí còn không muốn tưởng tượng ra cảnh đối mặt với Wallker và Luchetti. Joe vẫn còn nằm trên danh sách đen của Cục trưởng vì hậu quả sau vụ bắn Robby Martin. Anh không phải quá vắt óc cũng biết những gì Cục trưởng sẽ nói. “Cậu lại làm rối tung hết cả lên rồi, Shanaham!” Ông ta sẽ hét toáng lên như thế ngay trước khi tống Joe tới bộ phận tuần tra. Và lần này, thủ trưởng nói đúng.
“Gọi 911 đi.”
“Đừng có la hét nữa,” anh ra lệnh bằng giọng sĩ quan cảnh sát thi hành luật pháp rắn nhất của mình.
“Tôi cần một cảnh sát!”
Chết tiệt thật. “Quý cô à,” anh rít lên giữa hàm răng. “Tôi là một cảnh sát!”
Mắt cô nheo lại khi cô nhìn xuống anh. “Phải rồi, và tôi là thống đốc bang.”
Joe di tay về hướng túi quần anh, nhưng cô làm dấu đe dọa với thứ vũ khí nhỏ kia, và anh quyết định dừng lại. “Trong túi trái là căn cước của tôi.”
“Không được di chuyển,” cô cảnh cáo anh một lần nữa.
Những lọn tóc xoăn màu nâu đỏ bay quanh đầu cô, lộn xộn và hoang dã, trông như thể cô nên dùng một ít keo xịt tóc kia lên tóc cô chứ không phải là mặt anh. Tay cô lẩy bẩy khi cô vuốt một bên tóc ra sau tai. Trong một giây anh có thể vật cô ngã xuống đất, nhưng anh phải đánh lạc hướng cô trước hoặc là chịu mạo hiểm bị bắn. Lần này sẽ vào một chỗ anh không chắc có thể hồi phục lại được. “Cô có thể tự thò tay vào túi tôi. Tôi sẽ không động đậy tí nào hết.” Anh ghét phải xử lí phụ nữ. Anh ghét phải đập họ xuống nền đất, Nhưng trong trường hợp này anh không nghĩ mình sẽ phiền đâu.
“Tôi không ngu đâu. Tôi còn không rơi vào cái mánh đó từ thời trung học cơ.”
“Ôi, vì Chúa.” Anh đấu tranh để kiểm soát cơn giận của mình và hầu như không thắng. “Cô có giấy phép mang súng không.”
“Làm ơn đi,” cô trả lời. “Anh không phải là cảnh sát, anh là một tên bám đuôi! Tôi ước gì có một cảnh sát ở quanh đây, bởi vì tôi sẽ cho anh vào tù vì theo đuôi tôi suốt tuần qua. Có một điều luật trong bang này cấm những tên bám đuôi, anh biết đấy.” Cô hít vào một hơi thật sâu, rồi từ từ thở ra. ‘Tôi cá anh có tiền án vì những kiểu hành vi bất thường. Anh hẳn là một trong những tên tâm thần gọi những cú điện thoại tục tĩu và thở hổn hển. Tôi cá anh đang bị lập biên bản vì quấy rối phụ nữ.” Cô hít thêm vài hơi thật sâu và ném cái lọ keo xịt tóc đi. “Tôi nghĩ sau cùng thì anh nên đưa ví của anh cho tôi đi.”
Chưa bao giờ trong mười lăm năm làm việc anh lại thiếu cẩn trọng đến thế khi để một nghi phạm – chưa kể lại là một phụ nữa - đi trước anh một bước.
Thái dương anh nhức như búa bổ và đùi anh đau đớn. Mắt anh bỏng rẫy và lông mi anh kẹp chặt với nhau. “Cô điên thật, quý cô ạ,” anh nói bằng tông giọng tương đối điềm tĩnh khi anh thò tay vào túi.
‘Thật sao? Từ nơi tôi đang đứng, trông anh mới giống đồ điên.” Ánh mắt cô không hề rời khỏi anh khi cô đưa tay lấy cái ví. “Tôi cần tên và địa chỉ của anh để đưa cho cảnh sát, nhưng tôi cá họ cũng đã biết anh là ai rồi.”
Cô không biết được mình đúng đến thế nào đâu, nhưng Joe không lãng phí thêm thời gian chuyện phiếm. Ngay giây phút cô mở bung ví ra và liếc nhìn tấm phù hiệu bên trong, chân anh đã khóa quanh bắp chân cô. Cô đập xuống đất, và anh quăng mình lên trên người cô, ghim chặt cô bằng trọng lượng của anh. Cô vặn vẹo hết bên này đến bên khác, đẩy vào vai anh, đưa khẩu súng gần tai trái của anh một cách nguy hiểm. Anh tóm chặt cổ tay cô và ép chúng lên trên đầu cô, sử dụng toàn bộ chiều dài cơ thể anh để ghim cô xuống đất.
Anh nằm duỗi thẳng trên người cô, cả bộ ngực đầy đặn của cô ấn vào lồng ngực anh, hông cô ấn vào anh. Anh giữ chặt tay cô trên đầu và sự chống cự của cô yếu dần, dù vậy cô vẫn từ chối đầu hàng hoàn toàn. Mặt anh ở trên mặt cô chưa đầy vài cm, và mũi cô đập mạnh vào anh hai lần. Đôi môi hé mở của cô hít mạnh không khí vào phổi, và đôi mắt màu xanh dương nhìn thẳng vào mắt anh, mở to và tràn đầy kinh hoàng lẫn sợ hãi khi cô đấm đá để giải phóng cổ tay. Đôi chân dài, mượt mà của cô quấn vào chân anh, và gấu áo anh xốc lên tận nách. Trên bụng anh cảm nhận được cả làn da mềm mại ấm áp của bụng dưới của cô lẫn vải nylon của cái túi đeo ngang hông.
“Anh thực sự là một cảnh sát!” Ngực cô phập phồng khi cô vật lộn để hít thở.
Anh sẽ nhổm dậy ngay khi khóa chốt khẩu súng của cô. “Đúng vậy, và cô sắp bị vào tù vì tội mang súng và hành hung.”
“Ôi, tạ ơn Chúa!” cô hít một hơi sâu, và anh có thể cảm thấy cô giãn ra, cảm thấy cô trở nên mềm mại và dẻo dai bên dưới anh. ‘Tôi nhẹ cả người. Tôi cứ nghĩ anh là một tên tầm thần bệnh hoạn chứ.”
Một nụ cười rực rỡ thắp sáng khuôn mặt cô khi cô ngước lên nhìn anh. Anh vừa cho cô vào tù, và cô có vẻ thực sự hạnh phúc vì điều đó. Không phải loại hạnh phúc mê mẩn anh thường đặt lên mặt phụ nữ khi anh thấy mình ở cùng vị trí này, mà giống một kiểu hạnh phúc nhẹ dạ hơn. Cô không chỉ là một tên trộm, mà cô rõ ràng còn điên nặng. “Cô có quyền giữ im lặng,” anh nói khi lấy khẩu súng khỏi tay cô. “Cô có quyền…”
“Anh không nghiêm túc chứ phải không? Anh sẽ không thực sự tống giam tôi chứ?”
“… có luật sư,” anh tiếp tục, một tay vẫn ghim chặt chặt tay cô trên đầu khi anh ném khẩu súng ngắn ra xa vài mét.
“Nhưng nó không thực sự là một khẩu súng mà. Ý tôi là phải, nhưng không phải. Đó là một khẩu súng lục ngắn từ thế kỷ mười chín rồi. Nó là đồ cổ, và vì vậy tôi không nghĩ là nó được tính là một khẩu súng thực sự. Và bên cạnh đó, nó không được lên đạn, mà thậm chí nếu có đi nữa, thì đằng nào nó cũng sẽ không tạo ra một vết thương lớn lắm đâu. Tôi chỉ mang theo nó vì tôi quá sợ hãi, và anh thì cứ theo đuôi tôi thôi.” Cô dừng lại, lông mày cô nheo lại với nhau. “Vì sao anh lại theo đuôi tôi?”
Thay vì câu trả lời, anh đọc nốt quyền của cô, rồi lăn sang bên. Anh cầm khẩu súng nhỏ lên và cẩn thận nhổm dậy. Anh sẽ không trả lời các câu hỏi của cô. Không phải khi mà giờ đây anh còn chả biết mình sẽ làm gì với cô nữa. Không phải khi mà cô vừa buộc tội anh là một kẻ bệnh hoạn, tâm thần, và lại còn cố biến anh thành một thằng đàn bà. Anh không tin chính mình sẽ nói với cô nhiều hơn những gì tuyệt đối cần thiết. “Cô còn mang theo bất kỳ vũ khí nào không?”
“Không.”
“Từ từ đưa tôi cái túi đeo ngang hông của cô, rồi bỏ đồ đạc của cô ở trong ra ngoài.”
“Tôi chỉ có chìa khóa xe nữa thôi,” cô lẩm bẩm trong khi làm như anh ra lệnh. Với chìa khóa giơ cao, cô thả nó vào lòng bàn tay anh. Tay anh khép lại, và anh nhét chúng vào túi áo trước của mình. Anh lấy cái túi nhỏ khỏi người cô và lộn ra. Nó trống không.
“Đặt tay cô lên tường đi.”
“Anh sẽ lục soát tôi à?”
“Đúng vậy,” anh trả lời và ra dấu về tòa nhà gạch.
“Như thế này sao?” cô hỏi qua vai.
Khi ánh mắt anh di chuyển từ cái mông tròn trịa xuống chiều dài cặp chân miên man của cô, anh trượt khẩu súng ngắn nhỏ vào cạp quần soóc của anh. “Đúng vậy,” anh lặp lại và đặt tay lên vai cô. Giờ khi anh nhìn cô gần thế này, anh nhận ra rằng cô không cao một mét bảy tám. Anh cao một mét tám ba, và mắt cô ngang mắt anh. Anh di tay xuống dọc lườn cô, qua eo lưng, và đi quanh bụng cô. Anh luồn tay vào dưới gấu áo cô và cảm thấy cạp quần soóc của cô. Anh cảm thấy làn da mềm mại của cô và cả kim loại lạnh lẽo từ chiếc nhẫn đeo rốn. Rồi anh trượt một tay lên giữa hai gò ngực cô.
“Này coi chừng tay anh đấy!”
“Đừng có phấn khích,” anh cảnh báo. “Tôi không thấy vui đâu.” Kế tiếp, anh vỗ dọc xuống người cô, rồi quỳ xuống để kiểm tra cạp tất chân của cô. Anh không thèm kiểm tra xem có thứ gì giấu giữa hai đùi cô không. Không phải vì anh tin cô, anh chỉ không nghĩ rằng cô có thể chạy bộ được với vũ khí trong quần lót.
“Khi chúng ta tới nhà giam, tôi sẽ nộp tiền và rồi đi về nhà.”
“Khi quan tòa cho bảo lãnh, cô có thể về nhà.” Cô cố quay người đối mặt với anh, nhưng bàn tay anh nắm chặt trên hông chặn cô cản lại.
“Trước đây tôi chưa bao giờ bị tống giam.”
Anh đã biết điều đó rồi.
“Tôi sẽ không thực sự bị tống giam kiểu có dấu vân tay và chụp ảnh căn cước chứ, phải không?”
Joe vỗ nhẹ vào cạp quần cô một lần cuối. “Phải rồi, thưa bà, với dấu vân tay và ảnh căn cước.”
Quay người, mắt cô nheo lại, và cô giận dữ nhìn anh. “Cho đến giây phút này tôi vẫn không nghĩ anh nghiêm túc. Tôi cứ nghĩ anh chỉ đang cố trả đũa tôi vì lên gối anh ở… ở vùng kín của anh.”
“Cô đã nhầm,” anh thông báo cho cô khô khan.
“Anh có chắc không?”
Joe thẳng người, với tay vào túi quần sau, và đưa cái còng tay ra. “Không thể nhầm lẫn những chuyện như thế.”
‘Ồ.” Nghe như cô thực sự thất vọng. “Chậc, tôi vẫn không thể tin rằng anh đang thực sự làm điều này với tôi. Nếu anh chỉ có chút đứng đắn thôi, anh cũng sẽ phải thú nhận rằng tất cả là lỗi của anh.” Cô dừng lại và hít một hơi thật sâu. “Anh đang tự tạo nghiệp chướng khủng khiếp cho chính mình đấy, và tôi chắc chắn rằng anh sẽ vô cùng hối tiếc cho xem.”
Joe nhìn vào mắt cô và bập còng vào cổ tay cô. Anh đã hối tiếc rồi. Anh hối tiếc vì bị đập dập mông bởi một nghi phạm xấu xa, và anh thực sự hối tiếc đã thổi bay cái vỏ bọc của mình. Và anh biết rắc rối của anh mới chỉ là bắt đầu thôi.
Giọt mưa nặng hạt đầu tiên đập vào má anh, và anh ngước lên nhìn đám mây bão đang lơ lửng trên đầu. Thêm ba giọt nữa độp vào trán và cằm anh. Anh cười không chút hài hước. ‘Tuyệt đến phát rồ.”
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 2

Vì vài lý do, bất kì lúc nào Gabrielle nghĩ đến một cuộc thẩm vấn của cảnh sát, cô luôn hình dung ra Dustin Hostin trong phim Marathon Man. Cô luôn vẽ ra một căn phòng tối, đèn rọi và một tên tội phạm chiến tranh thuộc quốc xã điên khùng cùng với một cái khoan nha khoa.
Căn phòng cô thấy mình ở trong không giống như thế. Các bức tường màu trắng ảm đạm, không có cửa sổ cho ánh nắng tháng Sáu tràn vào. Nhiều cái ghế kim lọai bao quanh một cái mặt bàn giả gỗ. Một chiếc điện thoại an tọa ở cuối bàn. Một tấm poster đơn độc, cảnh báo về sự nguy hại của ma túy, treo trên cánh cửa khép kín.
Một máy quay video đứng trong góc, đèn đỏ của nó nhấp nháy, báo hiệu nó đang quay hình. Cô đã ưng thuận cho họ ghi lại cuộc thẩm vấn của cô. Cô quan tâm làm gì? Cô vô tội. Cô cho là nếu cô hợp tác, họ sẽ nhanh nhẹn hơn, xong việc, và cô có thể về nhà. Cô mệt lả và đói. Bên cạnh đó, chủ nhật và thứ hai là những ngày nghỉ duy nhất của cô, và cô vẫn còn rất nhiều việc phải làm xong trước lễ hội Coeur cuối tuần này.
Gabrielle hít vài hơi thở sâu, kiểm soát lượng oxy cô hít vào vì sợ cô có thể bất tỉnh hoặc thở quá gấp. Thở tan căng thẳng đi, cô tự bảo mình. Mày bình tĩnh mà. Cô giơ tay lên và cào các ngón tay vào tóc. Cô không cảm thấy bình tĩnh và biết cô sẽ không bình tĩnh cho đến khi được thả về nhà. Chỉ sau đó cô mới có thể tìm được chốn bình yên và chỉnh lại đầu óc nhiễu nhương của mình.
Vài dấu mực đen làm bẩn các đầu ngón tay của cô, và cô vẫn còn cảm nhận được áp lực từ chiếc còng tay mà cô không còn đeo quanh cổ tay nữa. Thám tử Shanahan đã bắt cô đi hết công viên trong màn mưa tay còng lại như một tội phạm, và niềm an ủi duy nhất của cô là anh ta cũng không thích thú với chuyến đi đó nhiều hơn cô chút nào.
Không ai trong hai người họ nói một lời, nhưng cô đã chú ý thấy anh ta xoa bóp đùi phải vài lần. Cô cho rằng mình phải chiụ trách nhiệm về vết thương của anh ta, và cô nên cảm thấy tội lỗi - nhưng mà cô không. Cô sợ hãi, bối rối, và quần áo của cô vẫn còn ướt đẫm. Và tất cả là lỗi của anh ta. Việc tối thiểu anh ta có thể làm là chịu đựng cùng với cô.
Sau khi bị bắt giữ vì hành hung một cảnh sát và mang súng trên người, cô đã bị dẫn vào một phòng thẩm vấn nhỏ. Giờ đây Shanahan và Đại Úy Luchetti đang ngồi đối diện với Gabrielle. Cả hai người đàn ông đều muốn biết về những món đồ cổ bị đánh cắp. Hai quả đầu đen của họ cùng chụm xuống một quyển sổ màu đen và họ đang say sưa thảo luận. Cô không biết đồ cổ bị mất cắp thì có liên quan gì với tội hành hung. Họ có vẻ nghĩ hai thứ đó có liên quan, dù vậy chẳng ai trong hai người có vẻ vội muốn giải thích cho cô gì hết.
Còn tệ hơn sự bối rối là việc biết rõ rằng cô không thể cứ đứng dậy và bỏ đi. Cô để cho thám tử Shanahan quyết định mọi việc. Cô chỉ mới biết anh ta hơn một tiếng đồng hồ, nhưng cô biết anh ta đủ rõ để hiểu rằng anh ta chẳng khoan dung tí nào hết.
Lần đầu tiên cô nhìn thấy anh ta cách đây một tuần, anh ta đang đứng dưới một tán cây ở công viên Ann Morrison. Cô chạy bộ qua chỗ anh ta và có thể đã không chú ý gì tới nếu không phải vì đám mây khói thuốc lá bao quanh đầu anh. Cô hẳn cũng sẽ không nghĩ gì về anh nữa nếu cô không bắt gặp anh ngày hôm sau ở cửa hàng Albertson đang mua một cái bánh gà lạnh. Lần đó cô đã chú ý đến cách bắp đùi anh căng lên trong cái quần thể thao cắt ngắn, và cách tóc anh quăn lên như những chữ c nhỏ quanh cạp chiếc mũ bóng chày. Mắt anh sẫm màu, và cái cách anh quan sát cô đầy mãnh liệt mang đến những cơn rùng mình khoái lạc đáng báo động khắp cột sống cô.
Cô đã thề sẽ từ bỏ những anh chàng lộng lẫy từ cách đây nhiều năm - họ chỉ khiến trái tim tan vỡ và tạo ra đống hỗn mang trong cả khối cơ thể, trí óc, và tinh thần. Họ như những thanh Snicker, trông và nếm thì ngon, nhưng không bao giờ có thể đi vào một bữa ăn đủ dưỡng chất. Trong một khoảng thời gian, cô vẫn trở nên thèm thuồng, nhưng ngày nay thì cô thích thú với tâm hồn một người đàn ông hơn là cơ mông của anh ta. Và một đầu óc thông thái khiến cô khuấy động.
Vài ngày sau, cô nhận ra anh đang ngồi trong một cái ô tô bên ngoài bưu điện, rồi một lần nữa đỗ xe dọc con đường dẫn đến Anomaly, cửa hàng đồ cổ của cô. Lúc đầu cô tự bảo mình là cô đang tự tưởng tượng ra mọi thứ. Sao một người đàn ông ngăm ngăm, đẹp trai lại theo đuổi cô cơ chứ? Nhưng khi tuần ấy trôi qua, cô lại chú ý thấy anh ta thêm vài lần nữa, không bao giờ gần đủ để tiếp cận, nhưng cũng không bao giờ quá xa.
Tuy vậy, cô vẫn cố gạt đi xem như trí tưởng tượng sáng tạo của cô làm việc quá thời gian - cho đến ngày hôm qua cô thấy anh ở cửa hàng Barnes & Noble. Cô đang ở trong cửa hàng mua thêm sách về dầu triết xuất từ thiên nhiên vào lúc cô ngước lên và chú ý thấy anh đang núp trong khu sức khỏe phụ nữ. Với vẻ ngoài ngăm ngăm, dữ dội cùng với cái áo phông cuồn cuộn cơ bắp, anh đơn thuần là không có vẻ giống loại đàn ông đồng cảm với cơn đau từ triệu chứng tiền kinh nguyệt. Đó chính là lúc mà cuối cùng cô cũng chấp nhận rằng anh ta vẫn cứ theo đuôi cô như một tên tâm thần. Cô đã gọi cảnh sát và bị bảo rằng cô có thể đến sở và điền vào một đơn kiện tên "chạy bộ hút thuốc vô danh", nhưng vì anh ta chưa làm gì hết, cô cũng không thể làm gì nhiều. Cảnh sát chẳng giúp đỡ được gì, và cô thậm chí chẳng buồn để lại tên mình nữa.
Đêm qua cô đã ngủ rất ít. Chủ yếu cô nằm chong chong cẩn thận sắp đặt kế hoạch. Vào lúc đó chiến lược của cô có vẻ khá hay. Cô sẽ dụ anh ta vào một chỗ cực kì công cộng. Đoạn công viên kế bên sân chơi, trước vườn thú, và cách ga tàu Tootin' Tater mấy trăm mét. Cô sẽ hạ gục tên bám đuôi đó và hét như điên xin giúp đỡ. Cô vẫn nghĩ đó là một kế hoạch hay, nhưng không may cô không dự đoán trước hai chi tiết vô cùng quan trọng. Thời tiết đã làm đổ bể tất cả mọi thứ, và, tất nhiên, tên rình mò của cô không phải một tên rình mò. Hắn là một cảnh sát.
Khi cô lần đầu nhìn thấy anh ta đứng dưới tán cây đó, trông như thể đang nhìn vào bộ lịch Những chàng Lực lưỡng Yêu đương nồng cháy của cô bạn Francie của cô. Giờ khi cô nhìn thấy anh ta bên kia bàn, cô tự hỏi sao cô lại có thể từng nhầm anh với một anh chàng lực lưỡng của tháng được cơ chứ. Trong cái áo nỉ luộm thuộm mà anh vẫn mặc và với cái khăn rằn đỏ quấn quanh đầu, anh trông giống một tên cưỡi mô tô đến từ địa ngục hơn.
"Tôi không biết các anh muốn gì từ tôi ", Gabrielle phát biểu, chuyển ánh mắt từ Shanahan sang người còn lại. "Tôi nghĩ tôi bị đưa đến đây vì những gì xảy ra lúc trước trong công viên chứ."
"Trước đây cô đã từng nhìn thấy cái này chưa?” Shanahan hỏi khi anh đẩy một tấm ảnh mới về phía cô.
Gabrielle đã nhìn thấy bức ảnh tương tự này trên tờ báo địa phương. Cô đã đọc về tên trộm bức Monet của nhà Hillard và nghe về vụ ấy trong mục tin tức của cả quốc gia lẫn địa phương.
"Cô nhận ra nó à?"
"Tôi nhận ra một bức Monet khi tôi nhìn thấy" Cô mỉm cười rầu rĩ và đẩy bức tranh lại bên kia bàn. "Tôi đã đọc về nó trong tờ Statesman. Đó là bức vẽ bị đánh cắp từ ông Hillard."
"Cô có thể nói gì với tôi về điều đó?' Shanahan nhìn cô chằm chằm qua ánh mắt cảnh sát như thể anh ta có thể nhìn thấy câu trả lời cho câu hỏi của mình trên vết não của cô ấy.
Gabrielle cố không cảm thấy bị áp đảo, nhưng không thể đừng được. Cô bị áp đảo. Anh thật là một người đàn ông to lớn, và cô đang kẹt cứng trong một căn phòng bé xíu cùng anh. "Chỉ những gì mọi người khác đã đọc hoặc nghe về tên trộm thôi." Tức là cũng khá nhiều, vì đây thực là một câu truyện sốt dẻo. Ngài thị trưởng đã công khai biểu lộ cơn giận dữ. Chủ nhân của bức họa vô cùng kích động, và sở cảnh sát Boise đã bị miêu tả như một đám tỉnh lẻ chậm chạp trên mạng lưới tin tức quốc gia. Những thứ ấy cô cho rằng cũng là cải thiện so với những gì Idaho thường được miêu tả với cả phần còn lại của đất nước, một bang đầy những kẻ cuồng khoai tây, nghiện súng ống, phân biệt chủng tộc. Sự thực thì không phải người nào cũng yêu khoai tây, và chín mươi chín phần trăm dân số không có liên quan gì với chủng tộc da trắng hoặc các nhóm vũ trang. Và trong những người là thành viên các nhóm hội, thì đa số cũng không phải dân bản địa.
Dù vậy phần nghiện súng ống chắc hẳn cũng đúng.
"Cô có sở thích với nghệ thuật à?" anh ta hỏi, giọng nói trầm sâu dường như lấp đầy mọi góc của căn phòng.
"Tất nhiên, bản thân tôi cũng là một nghệ sĩ". Chậc, cô giống là một người hay vẽ hơn là một nghệ sĩ thực thụ. Trong khi cô có thể vẽ tương đối giống, cô không bao giờ đạt được vẻ thanh thoát ở tay và chân. Nhưng cô yêu việc vẽ, và đó là những gì thực sự đáng tính.
"Vậy thì cô có thể hiểu được việc ông Hillard khá nóng lòng muốn lấy lại nó", anh nói và đẩy bức ảnh sang một bên.
"Tôi cũng hình dung là thế". Cô vẫn không hiểu những chuyện này thì có liên quan quái gì đến cô. Từng có thời Norris Hillard là bạn của gia đình cô, những cũng đã lâu lắm rồi.
"Cô đã từng thấy hay gặp gỡ người đàn ông này chưa?" Shanahan hỏi khi anh ta đẩy một bức ảnh khác về phía cô. "Tên hắn ta là Sal Katzinger ."
Gabrielle nhìn vào bức ảnh và lắc đầu. Người này không chỉ có cặp kính cận dày nhất mà cô từng nhìn thấy mà khuôn mặt hắn ta cũng có vẻ bủng beo và khá vàng vọt. Tất nhiên, cô có thể gặp hắn ta trước kia và chỉ không nhận ra hắn từ bức ảnh này mà thôi. Nó không được chúp dưới điều kiện tuyệt nhất. Ảnh căn cước của cô cũng xấu thế mà thôi.
"Không. Tôi không nghĩ mình từng gặp hắn ta," cô trả lời và đẩy bức ảnh căn cước lại qua bàn.
"Cô có bao giờ nghe đến tên hắn ta được đối tác làm ăn của cô, Kevin Carter, đề cập đến chưa?' người đàn ông còn lại trong phòng cô hỏi.
Gabrielle chuyển ánh mắt sang người đàn ông già hơn với mái tóc đen muối tiêu. Trên thẻ nhận dạng bằng nhựa của ông ghi Đại úy Luchetti. Cô đã thấy đủ phim và xem đủ ti vi để biết rằng ông ta đang đóng vai "cảnh sát tốt" với "cảnh sát xấu" của Shanahan - điều mà cũng không phải đòi hỏi gì ghê gớm với Shanahan. Nhưng trong hai người, đại úy Luchetti có vẻ thực sự tốt bụng hơn. Ông hơi làm cô nhớ đến chú Judd của cô, và luồng khí của ông cũng ít thù địch hơn ngài thám tử. "Kevin, Kevin thì có liên quan gì với người đàn ông trong bức ảnh này?"
"Tên Katzinger này là một tên trộm chuyên nghiệp. Hắn ta rất giỏi và chỉ trộm những thứ tuyệt nhất. Hơn một tuần trước hắn đã bị tống giam vì tội trộm cắp một số đồ cổ trị giá hơn hai mươi lăm nghìn đô. Khi đang trong phòng giam, hắn ngụ ý rằng có thể hắn biết người có bức tranh của ông Hillard," Đại úy Luchetti thông tin cho cô khi ông vẫy tay về một chồng ảnh. "Hắn bảo chúng tôi rằng hắn đã được mời chào công việc đánh cắp bức Monet, nhưng hắn đã từ chối”
Gabrielle khoanh tay dưới ngực và tựa người ra sau. "Sao ông lại nói với tôi về chuyện này? Nghe có vẻ như ông phải nói chuyện với hắn chứ." Cô chỉ về tấm ảnh căn cước bên kia bàn.
"Chúng tôi đã, và trong lần thú tội ấy hắn đã đẩy sang tay buôn lậu của hắn." Luchetti dừng lại, nhìn vào cô như thể ông ta mong chờ một phản ứng nào đó.
Cô đoán ông ta nói tay buôn lậu nghĩa là một người nhận và bán đồ ăn cắp, ngược lại với những tay trung gian giữa đường dây. Nhưng cô không biết điều đó thì có liên quan gì tới cô. "Có lẽ ông nên nói cho tôi chính xác ý ông là gì đi". Cô hất đầu về hướng Shanahan. "Và lý do tôi bị một thiên thần hủy diệt bám đuôi suốt mấy ngày qua."
Nét cau có của Shanahan vẫn ém chặt trên trán anh ta, trong khi gương mặt viên đại úy giữ vẻ bình thản. "Theo lời Katzinger, đối tác của cô chủ tâm mua và bán đồ ăn cắp" Đại úy Luchetti dừng lại trước khi nói thêm, "Anh ta cũng bị tình nghi là người trung gian vụ trộm nhà Hillard. Điều đó khiến anh ta mắc rất nhiều tội, bao gồm cả trọng tội."
Cô há hốc. "Kevin? Không thể nào. Cái người tên Katzinger đó đang nói dối!"
"Giờ thì, sao hắn ta lại phải làm thế?" Luchetti hỏi. "Hắn ta được hứa giảm tội đổi lại sự hợp tác.”
"Kevin sẽ không bao giờ làm một chuyện như thế," cô đảm bảo với họ. Tim cô đập nặng nề, và không một khối hít thở sâu nào có thể làm dịu tâm hồn hay thanh tỉnh trí óc cô.
"Sao cô biết?"
"Biết là biết thôi. Tôi biết anh ấy sẽ không bao giờ dính líu vào bất kỳ chuyện gì bất hợp pháp."
"Thế à?" Ánh mắt Shanahan bảo cô rằng anh ta điên tiết thật như giọng nói anh ta biểu lộ. "Sao lại thế?"
Gabrielle liếc nhanh Shanahan. Vài lọn tóc xoăn nâu óng ả rơi khỏi cái khăn và chạm vào trán anh ta. Anh ta với tay lấy một quyển sổ nhỏ và bắt đầu nghuyệch ngoạc bên trong. Năng lượng tiêu cực bao quanh anh như một đám mây đen và lan ra khắp không khí. Anh ta rõ ràng là có vần đề về kiếm soát cơn giận. "Chà", cô bắt đầu và đảo ánh mắt giữa hai người đàn ông, "đầu tiên, tôi đã biết anh ấy vài năm rồi. Tôi chắc chắn sẽ biết nếu anh ấy buôn bán đồ cổ ăn cắp. Chúng tôi làm việc cùng nhau hầu như mỗi ngày, và tôi sẽ biết nếu anh ấy đang che giấu một bí mật như thế."
"Bằng cách nào?" Đại úy Luchetti hỏi.
Ông ta trông giống như kiểu người tin vào luồng khí, nên cô không đề cập đến việc cô không hề cảm thấy một đốm đen nào bao quanh Kevin dạo gần đây. "Chỉ biết thôi."
"Còn lý do nào khác không?" Shanahan hỏi.
"Có, anh ấy thuộc cung Bảo Bình."
Cây bút bay thẳng lên trời, lộn vài vòng, rồi hạ cánh đâu đó đằng sau tay thám tử. "Trời đất quỷ thần ơi," anh ta rên lên như bị đau.
Gabrielle trừng mắt nhìn anh ta. "Chậc, đúng vậy đây. Người thuộc cung Bảo Bình khinh thường việc nói dối và lừa gạt. Họ ghét thói đạo đức giả và hai mang. Abraham Lincoln là một người thuộc cung Bảo Bình, hai người biết đấy."
"Không, tôi không biết điều đó," Đại úy Luchetti trả lời và với tay lấy quyển sổ. Ông đặt nó trước mặt và lấy một cái bút bạc ra khỏi túi áo ngực. "Nhưng tôi thực sự không nghĩ cô ý thức được mức độ nghiêm trọng của tình huống này. Tội hành hung một cảnh sát viên nhận tối đa là mười lăm năm tù."
"Mười lăn năm! Tôi hẳn sẽ không bao giờ hành hung anh ta nếu anh ta không bám đuôi tôi. Và đằng nào thì cũng không phải hành hung thực sự nữa. Tôi là người theo chủ nghĩa hòa bình."
Người theo chủ nghĩa hòa bình không mang súng," Shanahan nhắc nhở cô.
Gabrielle cố tình lờ đi tay thám tử gắt gỏng đó.
"Cô Breedlove, "viên đại úy tiếp tục, "trên cả tội hàng hung, cô bị buộc thêm trọng tội trộm cắp. Cô đang nhìn vào ba mươi năm trong nhà tù liên bang. Cả một đống rắc rối đấy, cô Breedlove."
"Trọng tội ăn cắp - Tôi ư?" cô nâng một tay lên tim. "Vì cái gì?"
"Bức Monet của nhà Hillard."
"Ông nghĩ tôi có gì đó liên quan với bức tranh bị đánh cắp của ông Hillard sao?"
"Cô có dính líu."
"Chờ đã," cô ra lệnh và ép lòng bàn tay xuống mặt bàn trước mặt. "Ông nghĩ tôi đã đánh cắp bức Monet của ông Hillard sao?" Cô hẳn đã bật cười nếu tình huống này không ảm đạm đến kì lạ. "Tôi chưa bao giờ đánh cắp thứ gì trong đời." Lương tâm to lớn của cô chon đúng thời khắc đó để bất đồng. "Chậc, trừ phi ông tính đến thanh Chiko Stix lúc tôi bảy tuổi, nhưng tôi đã thấy tệ đến nỗi tôi cũng không thực sự cảm thấy ngon miệng với nó."
"Cô Breedlove," Shanahan cắt ngang, "Tôi đếch thèm quan tâm đến mấy thanh kẹo chết tiệt nào đó cô ăn cắp lúc bảy tuổi."
Ánh mắt Gabrielle phóng qua lại giữa hai người đàn ông. Đại úy Luchetti trông sửng sốt, trong lúc những đường rãnh sâu dập xuống trán và khóe miệng Shanahan.
Bất kỳ một cảm giác giông giống thanh thản và bình yên nào cũng đã bỏ rơi cô từ lâu rồi, và các dây thần kinh của cô đều đau buốt. Cô không thể ngăn những giọt lệ dâng đầy mắt, và cô đặt khủyu tay lên bàn rồi che mặt bằng hai tay. Có lẽ cô đáng lẽ không nên từ chối quyền có luật sư nhưng mà cho đến giờ cô vẫn chưa thực sự tin rằng mình lại cần luật sư. Trong thị trấn nhỏ nơi cô sinh ra và lớn lên, cô biết tất cả mọi người, kể cả những nhân viên cảnh sát. Họ luôn đưa cô Yolanda của cô về nhà sau khi bà tình cờ bỏ đi với đồ đạc của một ai khác.
Tất nhiên, chỉ có ba cảnh sát viên ở quê nhà của cô, nhưng họ không chỉ là ba người đàn ông lượn quanh quanh trong chiếc mô tô gào rú. Họ là những con người tử tế giúp đỡ mọi người.
Tay cô thả vào lòng, và cô lại ngước lên qua hàng nước mắt. Đại úy Luchetti vẫn nhìn chằm chằm vào cô, trông cũng mệt mỏi như cô. Shanahan đã biến mất. Anh ta chắc hẳn đã đi kiếm đồ tra tấn rồi.
Gabrielle thờ dài và lau sạch nước mắt khỏi cô. Cô đang gặp rắc rối lớn. Cách đây một giờ, cô cảm thấy vững tin, họ sẽ thả cô đi khi họ nhận thấy cô chẳng làm gì sai - không hẳn là sai. Cô sẽ chẳng bao giờ mang súng ngắn nếu cô không cảm thấy bị tay Thám tử Shanahan đó đe dọa. Và bên cạnh đó, chẳng ai gặp rắc rối thực sự ở Idaho vì mang vũ khí hết. Nhưng giờ cô nhận ra rằng họ nghĩ cô bằng cách nào đó dính líu đến một số việc mà cô thì không, và cả Kevin cũng không. Cô biết anh quá rõ để tin khác đi. Phải, Kevin cũng có vài sản nghiệp khác ngoài Anomaly, anh là một doanh nhân thành công. Anh làm ra rất nhiều tiền, và phải anh ta có thể hơi tham lam, và ích kỷ, và quan tâm đến tiền hơn cả linh hồn của mình, nhưng điều đó chắc chắn không phải một tội.
"Sao cô không nhìn những thứ này một cái nhỉ?" đại úy Luchetti gợi ý, rồi đẩy hai bản đánh giá viết tay và một chồng ảnh qua bàn về chỗ cô.
Cô cảm thấy run khắp người và giờ đây càng khiếp hãi hơn trước.
Mấy món đồ cổ trong bức ảnh có gốc gác chủ yếu là từ phương Đông, vài món là Staffordshire. Nếu chúng cổ thực sự, và không phải bản sao, chúng cũng cực kì đắt. Cô chuyển sự chú ý sang bảng định giá bảo hiểm. Chúng không phải bản sao.
"Cô có thể nói gì với tôi về những thứ này?"
"Tôi sẽ nói cái bàn sứ thời Minh này gần tám nghìn hơn bảy nghìn. Nhưng bản định giá cũng công bằng."
"Cô có bán loại đồ này trong cửa hàng của cô không?"
"Tôi có thể, nhưng không làm," cô trả lời khi đọc bản mô tả của vài món hàng nữa. "Mấy thứ này nói chung bán được giá hơn ở các cuộc đấu giá hay những cửa hàng chỉ giao dịch đồ cổ. Người ta không mang đến Anomaly chỉ để tìm đồ Staffordshire. Nếu một trong những khách hàng của tôi nhặt cái ống gạt kem hình con bò nhỏ xinh này lên, họ sẽ sốc nặng và đặt nó ngay lại giá nơi nó hẳn sẽ ở thêm vài năm nữa.
"Trước hôm nay cô đã từng nhìn thấy những món đồ này chưa?"
Cô đẩy mấy tờ giấy sang bên và nhìn viên đại úy ở bên kia bàn. "Ông đang buộc tôi tội ăn cắp chúng đấy à?"
"Bọn tôi biết chúng đã bị trộm từ một ngôi nhà trên đại lộ Warm Spring cách đây ba tháng."
"Tôi không làm điều đó."
"Tôi biết." Luchetti mỉm cười, rồi với tay quan bàn để vỗ vỗ tay cô. "Sal Katzinger đã thú nhận rồi. Nghe này, nếu cô không dính líu tới bất kì hành vi phạm pháp nào, thì cô chẳng có gì phải lo lắng hết. Nhưng chúng tôi biết chắc rằng bạn trai của cô ngập sâu trong việc buôn bán đồ trộm cắp tới tận bi - ờ, bi mắt."
Gabrielle cau mày."Bạn trai ư? Kevin không phải bạn trai tôi. Tôi không nghĩ hẹn hò đối tác kinh doanh là một ý hay."
Viên đại úy nghiêng đầu sang một bên và nhìn cô như thể ông ta đang cố phân loại những mảnh ghép của một câu đố mà không thực sự ăn khớp. "Vậy, cô chưa bao giờ hẹn hò anh ta ư?"
"Ồ, chúng tôi đã hẹn hò vài lần," Gabrielle tiếp tục với cái vẫy tay khinh thường, "đó là cách tôi biết đó không phải một ý hay, nhưng khi ấy đã là cách đây vài năm rồi. Chúng tôi phát hiện ra chúng tôi không hòa hợp cho lắm. Anh ấy là người Đảng Cộng Hòa. Còn tôi bầu cho Đảng Dân Chủ." Đó là sự thực. Nhưng không phải lý do chính. Lý do chính quá riêng tư để giải thích với người đàn ông ngồi đối diện bàn kia. Làm sao mà cô có thể nói với Đại úy Luchetti rằng Kevin có một cặp môi mỏng toẹt, và hậu quả tất yếu, cô thấy anh ta không hấp dẫn về thể xác? Lần đầu tiên Kevin hôn cô cũng đã chấm dứt bất kỳ một cảm xúc đắm đuối nào cô có thể có với anh. Nhưng chỉ vì Kevin không có môi không có nghĩa là anh ấy phạm tội hay là người xấu. Shanahan có cặp môi tuyệt diệu, điều đó đã chứng minh rằng vẻ bề ngoài chỉ lừa lọc, bởi vì anh ta thực sự là một thằng khốn.
"Cô sẽ đồng ý làm một bài kiểm tra nói dối chứ, cô Breedlove?" Luchetti hỏi, xen ngang dòng suy tư về đàn ông và môi của Gabrielle.
Mũi Gabrielle chun lại với vẻ chán ghét. "Ông nghiêm túc đấy à?" Thậm chí ý nghĩ làm một bài kiểm tra để phát hiện nói dối cũng thật ghê tởm. Sao cô lại phải chứng minh mình đang nói thật cơ chứ? Cô chưa bao giờ nói dối. Chậc, đằng nào cũng không phải cố tình. Thi thoảng cô quanh co hay nói lái sự thật, những thứ hoàn toàn khác hẳn. Nói dối tạo ra nghiệp chướng khủng khiếp, và cô tin vào nhân quả. Cô được nuôi dạy tin vào điều ấy.
"Nếu cô đang nói với chúng tôi sự thật, vậy thì cô chẳng có gì phải sợ bài kiểm tra cả. Hãy coi nó như thứ chứng minh sự vô tội của cô. Cô không muốn chứng minh mình vô tội sao?"
Cánh cửa bật mở trước khi cô kịp trả lời, và một người đàn ông Gabrielle chưa từng gặp bước vào phòng. Ông ta cao, gầy, và có một lớp tóc trắng che phủ cái đầu hồng bóng nhẫy. Ông ta có một cặp giấy dưới cánh tay. "Xin chào, cô Breedlove," ông ta nói khi bắt tay cô. "Tôi là Jerome Walker, Cục trưởng cục cảnh sát. Tôi vừa nói chuyện với công tố viên Blackburn, và ông ấy sẵn sàng miễn trách nhiệm hoàn toàn cho cô. "
"Khỏi cái gì cơ?"
"Ngày lúc này đây là tội mang súng và hành hung một cảnh sát đang thi hành công vụ."
Cái phần cảnh sát đang thi hành công vụ trong tội hành hung đó làm cô lo lắng. Họ rõ ràng không nghĩ rằng cô có lý do chính đáng để mang khẩu súng ngắn, bất kể những gì cô tin tưởng. Mười lăm năm là bản án tối đa. Cô tự hỏi tối thiểu là bao nhiêu, nhưng cô đoán cô cũng không thực sự muốn biết.
Cô có hai lựa chọn. Cô có thể thuê một luật sư, đến tòa và kiện tụng, hoặc cô có thể hợp tác với cảnh sát. Chẳng lựa chọn nào có chút hấp dẫn, nhưng cô cho là mình có thể lắng nghe đề nghị của họ, "Tôi sẽ phải làm gì?"
"Cô sẽ kí một hiệp ước cung cấp thông tin mật, và rồi chúng tôi sẽ đặt một thanh tra ngầm vào cửa hàng của cô."
"Như một khách hàng sao?"
"Không, chúng tôi nghĩ cậu ta đóng vai một họ hàng cần tìm việc."
"Kevin sẽ không để họ hàng của tôi làm việc ở cửa hàng nữa đâu." Không kể từ khi cô phải sa thải cô em họ thứ ba của mình, Babe Fairchild, vì dọa khách hàng với những câu chuyện bay lên không trung và chuyển giao ý nghĩ. "Và bên cạnh đó, tôi không nghĩ mình sẽ giúp được gì nhiều cho các ông. Thứ Sáu và thứ Bảy này tôi sẽ không ở trong cửa hàng. Tôi sẽ ở lễ hội Coeur trong công viên Julia Davis."
Cục trưởng Walker rút cái ghế đối diện cô bên kia bàn và ngồi xuống. Ông ta đặt cái cặp lên bàn trước mặt. "Hội chợ Coors á?"
(Hội chợ Coors*: tên hội chợ của một hãng Bia Mỹ)
"Coeur. Trái tim ấy. Tôi có một quầy hàng để bán dầu thiên nhiên và đồ thơm."
(Coeur* : Trái tim (tiếng Pháp))
"Carter sẽ ở trong cửa hàng của cô trong lúc cô ở trái tim này à?"
"Phải."
"Tốt. Giờ nếu cô phải thuê một tay thợ sửa chữa để làm việc cho cô thì sao?"
"Tôi không biết nữa." Thực ra thì, cô và Kevin đã bàn luận đến việc thuê ai đó để chuyển giá hàng sang một bức tường lớn hơn và xây thêm vài ngăn chứa đồ trong phòng sau. Và cô cũng cần một mặt quầy mới ở phía sau nữa, nhưng cửa hàng hoạt động không tốt trong mùa nghỉ lễ vừa qua như họ hy vọng, và anh đã loại bỏ ý tưởng ấy như một chi phí không cần thiết.
"Hiện giờ Kevin khá là thắt chặt chi tiêu." Cô bảo họ
Cục trưởng Walker rút hai tờ giấy ra khỏi cặp. "Thế nếu cô đề nghị tự trả tri phí đó thì sao? Tất nhiên cục sẽ hoàn lại cho cô."
Có lẽ cô cô đang nhìn vào toàn bộ trò chỉ điểm này ở nhầm góc độ. Kevin không có tội, nhưng nếu cô đồng ý giúp cảnh sát, thực ra sẽ là cô đang giúp anh. Cô chắc chắn cảnh sát sẽ không tìm thấy gì đáng tội trong cửa hàng của cô, vậy sao không để họ lục soát?
Nếu cô chơi khôn khéo, cô sẽ dụ được chính phủ trả tiền cho khoản nâng cấp mà cô muốn. "Kevin không thực sự thích thuê người làm từ báo chí hay ngoài đường đâu. Tôi sẽ phải giả vờ biết người thợ sửa chữa này."
Cánh cửa mở ra và thám tử Shanahan bước vào. Anh ta đã thay cái quần soóc và bỏ cái khăn ra khỏi đầu. Tóc anh ta còn ướt và ép vào đầu ngoại trừ một lọn tóc thoát ra, cong lại trên trán, và chạm vào lông mày anh.
Anh ta đeo một bao súng ngắn dưới vai trên một cái áo sơ mi trắng vừa vặn bó khít ngang lồng ngực rộng và chụm lại ở eo anh, nơi nó bị nhét vào một cái quần kaki. Cổ tay áo anh được xắn lên cánh tay, và anh đã đeo một chiếc đồng hồ bạc quanh cổ tay. Trên túi áo ngực, cạnh chiếc cà vạt màu xanh và be, anh nhét thẻ căn cước. Đôi mắt màu nâu của anh nhìn chằm chằm vào cô khi anh đưa Cục trưởng Walker một tờ giấy thứ ba.
Viên chỉ huy liếc nhìn tờ giấy, rồi đẩy nó qua bàn và đưa cô một cái bút hiệu Bic.
"Cái gì thế?" Cô chuyển sự chú ý qua tờ giấy và cố lờ thám tử Shanahan đi.
"Hiệp ước cung cấp thông tin bí mật," Walker trả lời. "Thế một anh bạn trai thì sao?"
"Không." Cô lắc đầu và dán mắt vào tờ giấy trước mặt. Khá lâu rồi cô không có mối quan hệ tình cảm nghiêm túc. Tìm ra một người đàn ông thông thái và hấp dẫn về mặt thể xác đang chứng tỏ là cực kì khó khăn. Khi tâm hồn và đầu óc cô nói có, thì cô lại còn nói còn khuya. Hoặc ngược lại. Cô vuốt tay trên tóc khi nghiên cứu mấy tờ giấy trước mặt.
"Giờ thì cô có rồi đấy. Nói xin chào với anh bạn trai mới của cô đi."
Một linh tính khủng khiếp chạy dọc xương sống Gabrielle, và cô liếc nhìn ngực chiếc áo sơmi trắng bảnh bao của Joe Shanahan. Ánh mắt cô di chuyển lên đường sọc trên cà vạt rồi tới cái cổ rám nắng của anh, qua cằm tới đường khuôn miệng được chạm khắc tinh tế của anh. Khóe môi anh cong lên trong một nụ cười chậm rãi, gợi dục. "Xin chào, em yêu."
Gabrielle bật người ngồi thẳng dậy và đặt cây bút sang bên. "Tôi muốn một luật sư."
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 3

Gabrielle gọi điện cho luật sư kinh doanh của cô, người này lại cho cô tên của một luật sư biện hộ cho tội phạm. Cô tưởng tượng ra Jerry Spence. Một người mặc áo khoác da hoẵng thay mặt cô đá mông kẻ khác. Cô có Ronald Lowman, một anh chàng trẻ măng tự phụ với mái tóc cắt bằng dao cạo và một bộ vét Brooks Brothers. Anh ta gặp cô trong phòng tạm giam trong mười phút, rồi bỏ cô lại một mình. Khi quay lại, anh ta không còn quá tự tin về bản thân nữa.
“Tôi vừa nói chuyện với công tố viên,” anh ta bắt đầu. “Họ sẽ tiến hành khởi tố cô với tội hành hung. Họ nghĩ cô biết gì đó về bức Monet bị ăn cắp của nhà Hillard, và họ sẽ không để cô đơn giản bước ra khỏi đây đâu.”
“Tôi chẳng biết tí gì về cái bức tranh ngu ngốc đó hết. Tôi vô tội,” cô nói, cau mày với anh chàng mà cô đã thuê để bảo vệ lợi ích cho cô.
“Nghe này, cô Breedlove, tôi tin rằng cô vô tội. Nhưng chúng ta có công tố viên Blackburn, Cục trưởng cục cảnh sát Walker, Đại úy Luchetti, và ít nhất một thám tử không tin.” Anh ta trút ra một hơi thở sâu và khoanh tay trước ngực. “Họ sẽ không nhẹ nhàng với cô đâu. Không phải khi giờ đây cô đã biết cô và đối tác của mình là nghi phạm. Nếu chúng ta từ chối trợ giúp họ trong vụ điều tra này, họ sẽ tiến hành khởi tố tội hành hung. Nhưng họ thực sự không muốn làm thế. Họ muốn ông Carter, sổ sách mật và danh sách liên lạc của ông ta. Họ muốn món đồ nghệ thuật của ông Hillard quay lại, nếu có thể. Họ muốn sự hợp tác của cô.”
Cô biết họ muốn gì, và cô không cần một tên luật sư vừa ra trường nói cho cô biết. Để cứu lấy chính mình, cô phải tham dự vào một cuộc điều tra ngầm của cảnh sát. Cô phải thuyết phục Kevin rằng cô vừa thuê anh bạn trai của cô làm việc như một tay thợ sửa chữa trong cửa hàng của họ. Cô phải ngậm chặt miệng và ngoảnh đi chỗ khác trong khi Thám tử Hủy Diệt thu thập bằng chứng để kết án người bạn tốt và đối tác kinh doanh của cô là một tên buôn lậu.
Lần đầu tiên trong đời, những niềm tin và mong muốn của cô chẳng đáng kể gì. Chẳng ai có vẻ quan tâm xem những gì họ đang đề nghị cô làm có mâu thuẫn với đạo đức của cô hay không, những mảnh nhỏ về đạo đức mà cô đã tập hợp từ nhiều tín ngưỡng và nền văn hóa khác nhau trong suốt cuộc đời cô. Họ đang đòi cô phá vỡ những nguyên tắc đòi hỏi sự trung thực, đòi cô phản bội một người bạn.
“Tôi không tin Kevin có đánh cắp gì hết.”
“Tôi không ở đây để đại diện cho đối tác của cô. Tôi ở đây để giúp cô, nhưng nếu anh ta có tội, anh ta sẽ lôi cô vào một vụ án nghiêm trọng. Cô có thể mất đi cửa hàng của mình, hay ít nhất là danh tiếng một nữ doanh nhân trung thực. Và nếu Kevin vô tội, cô chẳng mất gì và tuyệt đối chẳng có gì phải sợ. Hãy xem như đang giúp rửa sạch tên tuổi anh ta. Hay chúng ta có thể ra tòa. Nếu chúng ta yêu cầu một phiên tòa pháp lý, cô chắc sẽ không tốn mấy thời gian. Nhưng cô sẽ có một bản án buôn lậu trong hồ sơ.”
Cô ngước lên nhìn anh ta. Ý nghĩ về một bản án buôn lậu làm cô chán nản hơn cô từng nhận ra. Tất nhiên, trước đây cô chưa bao giờ nghĩ mình như một tên buôn lậu. “Thế nếu tôi nói đồng ý và họ ùa vào cửa hàng của tôi, làm tung tóe mọi thứ, rồi bỏ đi thì sao?”
Anh ta đứng dậy và liếc nhìn cổ tay đeo đồng hồ. “Để tôi nói chuyện với công tố viên và xem xem chúng ta có nhận được một nhượng bộ nào nữa không. Họ muốn sự hợp tác của cô đến phát điên lên được ấy chứ, nên tôi nghĩ họ sẽ hợp tác với chúng ta thôi.”
“Vậy anh nghĩ tôi nên ký vào bản hiệp ước hả?”
“Điều đó phụ thuộc vào cô, nhưng đó sẽ là lựa chọn tốt nhất của cô. Cô để họ làm việc ngầm vài ngày, rồi họ sẽ đi. Tôi sẽ bảo đảm họ để lại cửa hàng của cô đúng nguyên tình trạng hiện giờ, hoặc tốt hơn. Cô phải giữ lại quyền bầu cử, và thậm chí cũng phải giữ lại quyền sở hữu súng của cô. Mặc dù tôi sẽ gợi ý cô lấy một giấy phép mang súng.”
Điều đó có vẻ vô cùng đơn giản, vậy mà thật khủng khiếp. Nhưng đến cuối cùng, cô đã ký vào bản hiệp ước biến cô thành một tay chỉ điểm ngầm. Cô ký nó cùng với mẫu đơn đồng ý cho lục soát và tự hỏi họ có cho cô một bí danh như một Bond Girl hay không.
Sau khi được thả, cô đi về nhà và cố đắm mình trong niềm vui mà cô vẫn thường thấy khi trộn dầu tự nhiên. Cô cần làm xong dầu xoa bóp húng quế và hoa cam trước lễ hội Coeur, nhưng khi cô đổ đầy mấy cái bình nhỏ màu xanh, cô làm loạn hết cả và phải dừng lại. Cô cũng không thành công hơn trong việc dán nhãn.
Đầu óc và tâm hồn đã bị chia tách, và cô phải cố gắng thư giãn, để đưa chúng hợp nhất. Cô ngồi khoanh chân trong phòng ngủ và cố tìm kiếm chốn yên tĩnh trước khi đầu cô bùng nổ. Nhưng khuôn mặt dữ dằn của Joe Shanahan cứ nhảy vào não cô, quấy nhiễu việc ngồi thiền của cô.
Thám tử Shanahan tương phản hoàn toàn với bất kỳ người đàn ông nào mà cô sẽ cân nhắc hẹn hò. Anh ta có mái tóc sẫm màu không tỉa tót, da ngăm ngăm, và đôi mắt nâu mãnh liệt. Cái miệng đầy đặn nghiêm nghị. Bờ vai rộng và đôi bàn tay to hơn hẳn người thường. Anh thực sự giống người nguyên thủy… nhưng đã có những ngày, trước khi cô quyết định rằng anh là một tên bám đuôi, cô thấy vẻ ngăm ngăm, dữ dội của anh quyến rũ mãnh liệt. Khi anh nhìn cô từ dưới hàng lông mi đen ấy, cô đã hơi tan chảy ngay tại quầy thực phẩm đông lạnh. Tầm vóc và sự hiện diện của anh ẩn chứa sức mạnh và sự tự tin, và bất kể trong đời cô có cố lẩn tránh những anh chàng to lớn, đồ sộ bao nhiêu, thì cô cũng không phải luôn thành công.
Chính là chiều cao của cô. Chiều cao của cô luôn khiến cho mắt cô lang thang tới chỗ anh chàng to lớn nhất xung quanh. Cô cao một mét tám mươi, mặc dù cô sẽ không bao giờ thú nhận cao hơn một mét bảy tám một phân nào hết. Như cô có thể nhớ, cô có nhiều rắc rối liên quan đến chiều cao. Suốt thời học sinh cô luôn là cô gái cao nhất lớp. Cô luôn vụng về, to xương, và lớn lên mỗi ngày.
Cô đã cầu nguyện mọi thần thánh mà cô có thể nghĩ đến can thiệp vào. Cô muốn thức dậy nhỏ nhắn với bộ ngực và bàn chân nhỏ. Tất nhiên, điều đó chẳng bao giờ xảy ra, nhưng đến thời trung học, các cậu trai bắt kịp với cô, và vài người đã cao hơn cô đủ để mời cô đi chơi. Bạn trai đầu tiên của cô là đội trưởng đội bóng rổ. Nhưng sau ba tháng, anh ta đã đá cô vì đội trưởng đội cổ vũ. Một mét năm bảy Mindy Crenshaw.
Cô phải nhắc nhở mình đừng có còng lưng khi đứng cạnh phụ nữ thấp.
Gabrielle từ bỏ việc tìm kiếm sự cân bằng và thay vào đó tìm đến một bồn tắm nóng. Cô thêm vào nước một hỗn hợp dầu đặc biệt gồm oải hương, hoàng lan, và hoa hồng nguyên chất. Hỗn hợp chiết xuất từ thiên nhiên này có tiếng là giúp thư giãn. Gabrielle không biết nó có tác dụng hay không, nhưng nó quả thực có mùi rất tuyệt. Cô trượt vào làn nước thơm ngát và tựa đầu vào thành bồn. Hơi ấm bao bọc lấy cô, và cô nhắm mắt lại. Những sự kiện trong ngày lướt qua đầu cô, và chỉ ký ức về Joe Shanahan, nằm trên mặt đất dưới chân cô, hơi thở hổn hển thoát khỏi phổi và lông mi dính chặt vào mí mắt, mới đưa một nụ cười đến môi cô. Ký ức ấy thành công trong việc làm cô thư giãn ở nơi mà một tiếng ngồi thiền đã thất bại.
Cô bám chặt vào ký ức đó và một hy vọng rằng có thể một ngày nào đó, nếu cô thật sự sống tốt và nghiệp chướng lựa chọn cô là người để trao phần thưởng, cô có thể có được cơ hội hạ gục anh với một chai sáp tạo kiểu tóc khác.
Joe bước vào cửa sau nhà cha mẹ anh mà không thèm gõ cửa và đặt cái lồng chim lên mặt bếp. Anh nghe thấy tiếng tivi từ hướng phòng gia đình phía bên phải. Một cánh cửa tủ đựng bát đĩa chặn vào mặt lò nướng, và một cái máy khoan nằm kế bên bồn rửa. Thêm một kế hoạch bị lãng quên trước khi được hoàn thành. Cha của Joe, Dewey, đã mang một cuộc sống thoải mái đến cho vợ và năm đứa con với khoản thu nhập làm thợ xây nhà, nhưng ông dường như không bao giờ hoàn thiện một thứ gì trong ngôi nhà của chính ông. Từ hàng năm trời kinh nghiệm Joe biết rằng phải dùng đến lời đe dọa sẽ thuê một người khác của mẹ anh thì công việc mới đột nhiên được làm xong.
“Có ai ở nhà không?” Joe gọi lớn, dù cho anh đã thấy xe của cha mẹ anh đều ở trong gara.
“Là con à, Joey?” Giọng của Joyce Shanahan hầu như không thể nghe thấy qua âm thanh xe tăng và súng đạn. Anh vừa xen ngang một trong những khoảng thời gian giải trí ưa thích nhất của cha anh. Phim của John Wayne.
“À vâng, con đây.” Anh thò tay vào lồng, và Sam leo lên cánh tay anh.
Joyce đi vào bếp, mái tóc muối tiêu của bà được vuốt ra khỏi mặt bằng một cái băng đô màu đỏ co giãn. Bà nhìn con vẹt châu Phi màu xám dài ba mươi centimet đậu trên vai Joe một cái và khựng ngay lại. Môi bà biến mất trong miệng, và vẽ không hài lòng kéo trĩu lông mày bà xuống.
“Con không thể bỏ thằng bé ở nhà,” Joe bắt đầu trước khi bà có thể phát biểu sự đau buồn của mình. “Mẹ biết nó trở nên thế nào khi không có đủ sự chú ý đấy. Con đã bắt nó hứa sẽ cư xử ngoan ngoãn lần này.” Anh nhún vai và nhìn con chim. “Nói với bà đi, Sam.”
Con vẹt chớp đôi mắt màu vàng đen và chuyển từ chân này sang chân kia. “Tiếp tục đi, ghi dấu ngày của tôi nào,” Sam kêu lên bằng một giọng chói tai.
Joe chuyển ánh mắt sang chỗ mẹ anh và mỉm cười như một người cách tự hào. “Thấy chưa, con đã thay Jerry Springer bằng Clint Eastwood.”
Joyce khoanh tay trước ngực áo phông Betty Boop. Bà chỉ cao có một mét năm, nhưng bà luôn là nữ hoàng, vua, và bạo chúa trong gia đình Shanahan. “Nếu nó lại bắt đầu cái miệng tục tĩu, nó sẽ phải biến đi đấy.”
“Mấy đứa cháu đã dạy nó những từ chửi thề ấy khi chúng ở đây ăn mừng lễ Phục sinh mà,” anh nói, ám chỉ tất cả mười đứa cháu trai và gái.
“Con dám đổ thói cư xử hư hỏng của nó lên các cháu mẹ đấy à.” Joyce thở dài và buông tay xuống. “Con đã ăn chưa?”
“À vâng, con đã ăn vội mấy thứ trên đường từ chỗ làm về nhà.”
“Đừng nói với mẹ, thịt gà ăn nhanh đầy mỡ và cái thứ khoai tây chiên khủng khiếp.” Bà lắc đầu. “Mẹ còn lasagna thừa và một đĩa salad xanh ngon lành. Con mang một ít về nhà đi.”
Giống như rất nhiều gia đình khác, phụ nữ nhà Shanahan thể hiện tình yêu và sự quan tâm của họ qua thức ăn. Thường thì Joe không thấy phiền – chỉ trừ khi tất cả họ đều quyết định thể hiện cho anh thấy cùng một lúc. Hay khi họ bàn luận thói quen ăn uống của anh như thể anh mới có mười tuổi và sống nhờ bim bim khoai tây. “Thế sẽ rất tuyệt ạ.” Anh quay sang Sam. “Bà làm lasagna cho con kìa.”
“Hừ. Vì nó rất có thể là thứ gần một đứa cháu nội nhất mà mẹ có được từ con, mẹ đoán nó cũng được chào đón. Nhưng con cũng nên bảo đảm nó sẽ rửa sạch cách ăn nói đi.”
Nói về cháu chắt là dấu hiệu rút lui của Joe. Anh biết nếu anh mà không trốn ngay bây giờ thì cuộc nói chuyện tất yếu sẽ chuyển sang chuyện đàn bà dường như cứ ra ra vào vào đời anh. “Sam đã thay đổi rồi,” anh nói khi lách qua mẹ anh và đi vào phòng gia đình, được trang trí bằng những món đồ cũ mua lại gần đây nhất của mẹ anh – một cặp giá nến gắn tường bằng sắt và áo giáp đồng bộ. Anh thấy bố anh đang nghỉ ngơi trong chiếc ghế La-Z-Boy màu nâu của ông, chiếc điều khiển một tay, cốc trà đá tay kia. Một gói thuốc và bật lửa nằm trên cái bàn nhỏ chia cách ghế với bộ sofa đồng màu. Dewey ở cuối tuổi sáu mươi, và Joe gần đây đã chú ý thấy một chuyện kỳ lạ đang xảy ra với tóc bố anh. Nó vẫn dày và trắng phau, nhưng năm vừa rồi nó đã bắt đầu dựng thẳng về phía trước như thể ông đang ngồi với một cơn gió mạnh sau lưng.
“Họ không làm phim như thế này nữa,” Dewey nói mà không dứt mắt khỏi tivi. Ông vặn nhỏ tiếng trước khi nói thêm, “Tất cả những hiệu ứng đặc biệt mà ngày nay họ dùng không thể được như cái thật. John Wayne biết cách đánh nhau và khiến cho cảnh quay trông đẹp mắt.”
Ngay khi Joe ngồi xuống, Sam bay khỏi vai anh và quắp vào thành ghế sô pha với đôi bàn chân đen có vảy. “Đừng đi xa quá đấy,” Joe bảo con chim của anh, rồi với lấy một điếu thuốc. Anh trượt điếu Marlboro giữa các ngón tay, nhưng không châm lửa. Anh muốn Sam hít thở ít khói thải ra hết mức có thể.
“Con lại bắt đầu hút thuốc đấy à?” Dewey hỏi, cuối cùng cũng dứt mắt khỏi Duke. “Cha tưởng con bỏ rồi. Điều gì đã xảy ra thế?”
“Norris Hillard,” là tất cả những gì Joe nói. Anh không cần tỉ mỉ thêm. Tất cả mọi người đang tự do đến giờ đều biết hết về bức Monet bị ăn trộm. Anh muốn tất cả mọi người đều biết. Anh muốn những kẻ liên quan phải lo lắng. Những kẻ lo lắng hay phạm sai lầm. Khi chúng sai lầm, anh sẽ ở ngay đó, sẵn sàng đốn chúng xuống. Nhưng anh sẽ không đốn gục Gabrielle Breedlove. Chẳng quan trọng nếu cô có dính líu sâu tới tận cặp mông ngọt ngào xinh xắn của cô. Chẳng quan trọng nếu chính cô cắt bức tranh ra khỏi khung. Cô đã được miễn trách hoàn toàn – không chỉ với án hành hung và bất kỳ cáo trạng nào sau đó nảy sinh từ vụ Hillard mà cô cũng sẽ không bị tố tụng bất kỳ một án trộm đồ cổ nào hết. Tên luật sư của cô có thể trẻ, nhưng là một con chồn con ranh mãnh.
“Có đầu mối nào chưa?”
“Một ít ạ.” Bố anh không hỏi câu hỏi nào rõ ràng, và Joe cũng không đề nghị được giải thích gì thêm. “Con cần mượn máy khoan và vài dụng cụ của bố.” Thậm chí nếu có thể, Joe cũng không muốn nói gì về người chỉ điểm mật của anh. Không chỉ vì anh không hề tin người chỉ điểm mà còn vì người chỉ điểm mới nhất của anh vô trách nhiệm y như một hộp bim bim khoai tây, lại còn cái trò biểu diễn với súng kia gần như cho anh thêm một lần giáng chức nữa. Và lần này, người ta sẽ không nhon nhón xung quanh và gọi đó là điều chuyển nữa đâu. Sau cơn ác mộng diễn ra ở công viên sáng hôm đó, anh phải đưa đầu Carter lên khay. Anh phải bù lỗi cho chính mình. Nếu không, anh sợ họ sẽ đẩy anh xuống bộ phận tuần tra sâu đến nỗi anh chẳng bao giờ còn nhìn thấy ánh nắng ban ngày nữa mất. Anh chẳng có gì chống đối những cảnh sát mặc đồng phục. Họ là những anh chàng tuyến đầu, và anh không thể làm việc của mình mà không có họ, nhưng anh đã lao động quá lâu, và đã phải chịu đựng quá nhiều thứ tào lao, để cho phép một nàng tóc đỏ vác súng làm loạn sự nghiệp của anh lên.
“Joe, cuối tuần trước mẹ đã nhặt được vài thứ cho con đấy,” mẹ anh thông báo cho anh khi lướt qua phòng trên đường bà ra sau nhà.
Cái “vài thứ” cuối cùng mà mẹ anh đã “nhặt được” cho anh là một cặp chim bằng nhôm đáng ra phải được treo trên tường. Vào giờ phút này chúng đang ở dưới giường anh cạnh một con cú tết bằng sợi to tướng. “À, thế ạ,” anh rên lên, và ném điếu thuốc chưa châm lửa lên cái bàn nhỏ. “Con ước gì mẹ đừng có làm thế. Con ghét cái đống đồ cũ bán lại thối hoắc đó.”
“Đừng chống lại nó, con trai, nó là một căn bệnh rồi,” bố anh nói và quay sự chú ý lại với cái tivi. “Một căn bệnh như chứng nghiện rượu vậy. Bà ấy vô phương phản kháng chứng nghiện ngập của mình.”
Khi Joyce Shanahan quay lại, bà mang theo một cái yên ngựa đã bị cắt làm đôi, theo chiều dọc. “Mẹ đã có cái này với năm đôla,” bà khoe và đặt nó lên sàn cạnh chân Joe. “Họ muốn mười đô cơ, như mẹ đã mặc cả xuống.”
“Con ghét cái đống đồ cũ bán lại thối hoắc đó,” Sam nhai lại, rồi thêm vào một tiếng rít “Aaaaaaaa” cho thêm phần hiệu quả.
Ánh mắt Joyce di chuyển từ chỗ con trai sang con chim ở trên thành ghế. “Nó tốt nhất không nên làm loạn trên ghế của mẹ.”
Joe không thể hứa gì. Anh chỉ về cái yên ngựa. “Con nên làm gì với nó đây? Tìm con ngựa nửa người à?”
“Con hãy treo nó trên tường ấy.” Điện thoại reo lên, và bà thêm vào qua vai khi hướng đến bếp, “Nó có mấy cái móc nhỏ ở một bên đấy.”
“Tốt nhất là đóng nó vào đinh tường ấy, con trai,” bố anh khuyên. “Nếu không cái thứ đó rất có thể sẽ lôi cả vữa nhà con xuống.”
Joe nhìn chằm chằm cái yên ngựa với một bàn đạp. Khoảng trống dưới giường anh sắp đông đúc lắm đây. Tràng cười của mẹ anh rú lên từ phòng bên kia, dọa Sam giật mình. Nó đập cánh, để lộ phần lông đỏ bên dưới đuôi, rồi bay tới chỗ tivi và đậu lên nóc một cái lồng chim bằng gỗ có một cái tổ giả và trứng nhựa gắn ở đáy. Nó nghiêng cái đầu xám sang một bên, chu mỏ, và giả tiếng điện thoại kêu.
“Sam, đừng có làm thế,” Joe cảnh cáo đúng một phần nghìn giây trước khi con chim nhái lại điệu cười của bà Joyce một cách hoàn hảo đến lạnh sống lưng.
“Con chim của con sẽ kết thúc trong một gói Lắc rồi Nướng đấy,” bố anh tiên đoán.
“Con không biết chắc.” Anh chỉ hy vọng Sam không nảy ra cái ý nghĩ xé toạc căn nhà gỗ nhỏ nhoi đó bằng mỏ của nó.
Cánh cửa trước mở ra với một tiếng bang lớn, và đứa cháu trai Todd bảy tuổi của Joe chạy vào nhà, theo sau là Christy mười ba tuổi và Sara mười tuổi, hai cháu gái của Joe.
“Chào chú Joe,” hai cô cháu gái của anh hòa âm cùng một lúc.
“Xin chào các cô bé.”
“Chú có mang Sam không ạ?” Christy muốn biết.
Joe gật đầu về tivi. “Nó đang hơi hoảng sợ. Đừng la hét xung quanh nó hay di chuyển đột ngột. Và đừng dạy nó thêm một từ xấu nào nữa.”
“Chúng cháu sẽ không đâu ạ, thưa chú Joe,” Sara hứa, mắt cô bé hơi quá to, hơi quá ngây thơ.
“Cái gì thế kia?” Todd hỏi, chỉ về cái yên ngựa.
“Đó là nửa cái yên ngựa.”
“Để làm gì ạ?”
Chính xác. “Cháu có muốn nó không?”
“Tuyệt!”
Chị gái Tanya của Joe bước vào nhà kế tiếp và đóng cửa lại sau lưng. “Chào cha,” cô nói, rồi chuyển sự chú ý sang em trai. “Chào Joey. Chị thấy mẹ vừa cho em cái yên ngựa. Em có thể tin là mẹ có nó chỉ với năm đô không?”
Rõ ràng là Tanya cũng bị lây bệnh đồ cũ bán lại rồi.
“Ai đánh rắm thế? Aaaaaaaa”
“Này các cháu,” Joe trách mắng hai cô bé, vốn đang rạp xuống sàn nhà trong một tràng cười dữ dội.
“Có gì vui đến thế?” mẹ anh hỏi khi bà đi vào phòng, nhưng trước khi có người kịp trả lời, điện thoại lại reo lên. “Trời ơi.” Bà lắc đầu và đi vào bếp lần nữa, chỉ để quay lại vài phút sau vẫn lắc đầu. “Họ gác máy trước khi mẹ kịp trả lời.”
Joe liếc mắt nghi ngờ con chim của anh, và sự hoài nghi của anh được xác nhận khi Sam nghiêng đầu sang một bên và điện thoại tình cờ lại reo lên.
“Trời đất.” Mẹ anh lao bổ vào bếp.
“Bố cháu đã ăn một con rệp,” Todd bảo Joe, hút sự chú ý của anh về phía thằng bé. “Nhà cháu đã nướng thịt và bố thì ăn một con rệp.”
“Ờ đấy, Ben đã chơi cắm trại vì anh ấy nghĩ mấy bé gái và chị đang khiến anh ấy trở nên ẻo lả,” chị gái Joe nói thêm khi cô ngồi xuống cạnh anh trên ghế sô pha. “Anh ấy nói anh ấy cần đưa Todd đi và làm chuyện đàn ông.”

Joe hiểu hoàn toàn. Anh đã được nuôi dạy với bốn chị gái, những người mặc cho anh quần áo của họ và bắt anh tô son môi. Lúc tám tuổi, họ đã thuyết phục anh rằng anh được sinh ra như một người lưỡng tính tên là Josephine. Anh thậm chí còn không biết một người lưỡng tính là gì cho đến khi anh bước sang tuổi mười hai và có thể tra từ ấy trong từ điển. Sau đó, trong vài tuần, anh đã sống trong nỗi sợ hãi là sẽ lớn lên với cặp ngực bự như chị cả Penny. May mắn thay, bố anh đã bắt gặp anh đang kiểm tra cơ thể xem có những thay đổi kỳ cục nào không, và ông đã trấn an Joe rằng anh không phải người lưỡng tính. Rồi ông đã đưa anh đi cắm trại, câu cá, và không bắt anh tắm trong một tuần.
Các chị gái anh dính chặt vào nhau như keo dán Bodini và chẳng bao giờ quên cái quái gì hết. Khi lớn lên, họ thích được quấy rối anh, và họ là ác quỷ chân chính trong tâm hồn anh. Nhưng nếu anh có bao giờ ngờ thấy dù chỉ một giây thôi rằng người đàn ông trong cuộc đời của các chị anh không đối xử tử tế với họ, anh sẽ rất vui lòng đánh những tên đó nhừ tử.
“Và chị đoán một con rệp đã đậu xuống xúc xích của Todd rồi thằng bé khóc và không chịu ăn,” Tanya tiếp tục. “Điều đó hoàn toàn dễ hiểu thôi, và chị không trách thằng bé về điều đó, nhưng Ben tóm lấy con rệp và ăn nó, cố làm bậc đại trượng phu. Anh ấy đã nói, “nếu bố có thể ăn con rận chết tiệt đó, thì con cũng có thể ăn cái xúc xích chết tiệt kia.”
Nghe hợp lý đấy chứ. “Cháu có ăn cái xúc xích đó không?” Joe hỏi cháu trai.
Todd gật đầu, và nụ cười của cậu bé khoe ra hai răng cửa bị mất. “Rồi cháu ăn cả một con rận nữa. Một con màu đen lận.”
Joe nhìn vào khuôn mặt tàn nhang của cháu trai, và họ cùng chia sẻ một nụ cười bí ẩn. Kiểu nụ cười “ta có thể đứng tiểu” của câu lạc bộ các chàng trai. Một nụ cười mà đám con gái chẳng bao giờ có thể hiểu được.
“Họ lại gác máy,” Joyce thông báo cho cả phòng.
“Mẹ cần kiếm một cái máy hiện số người gọi đi,” Tanya khuyên. “Bọn con đã kiếm một cái, và con luôn kiểm tra xem ai đang gọi đến trước khi trả lời.”
“Mẹ có khi cũng sẽ làm thế,” mẹ anh nói khi hạ mình xuống một cái ghế bập bênh cũ bằng kim loại sơn màu, nhưng ngay khi mông bà chạm vào ghế, tiếng chuông lại bắt đầu. “Chuyện này chán lắm rồi đấy,” bà thở dài và nhỏm dậy. “Có ai đó đang đùa nghịch trên điện thoại.”
“Dùng nút gọi lại số cuối cùng vừa gọi ấy. Con sẽ chỉ cho mẹ.” Tanya đứng dậy và đi theo mẹ cô vào trong bếp.
Các cô bé tan ra trong một tràng cười rũ rượi khác, và Todd lấy tay che miệng.
“Được,” Dewey nói mà không rời mắt khỏi Duke, “con chim đó đang trêu đùa với thảm họa rất tốt đấy.”
Joe lồng các ngón tay sau đầu, vắt chéo cổ chân, và thư giãn lần đầu tiên kể từ vụ trộm bức Monet nhà Hillard. Gia đình Shanahan là một đám đông lớn, om xòm, và ngồi trên tràng kỷ của mẹ anh bao quanh bởi cảnh náo loạn ấy có cảm giác như về nhà. Nó cũng nhắc cho anh nhớ đến ngôi nhà trống không của chính anh bên kia thị trấn.
Cho đến cách đây khoảng một năm, anh vẫn không lo lắng nhiều đến thế về việc tìm một cô vợ và bắt đầu một gia đình. Anh đã luôn nghĩ mình có thời gian, nhưng bị bắn có xu hướng đưa cuộc sống của một người vào trạng thái hoài nghi. Nó nhắc một người đàn ông nhớ đến những gì thực sự quan trọng trong đời anh ta. Một gia đình của chính anh.
Đúng, anh có Sam, và sống với Sam cũng giống như sống với một đứa trẻ hai tuổi hiếu động, nhưng rất thú vị. Nhưng anh không thể đốt lửa trại và nướng thịt với Sam. Anh không thể ăn rận. Phần lớn những cảnh sát khác ở tuổi anh đều có con cái, và khi anh nằm ở nhà để phục hồi sức khỏe, chẳng có gì ngoài thời gian trong tay, anh bắt đầu tự hỏi cảm giác thế nào khi ngồi ngoài rìa một Litte League(1)(Giải bóng chày cho trẻ em Mỹ) và xem các con anh chạy vòng quanh các gôn. Nhìn thấy các con anh trong đầu là phần dễ dàng. Vẽ ra vợ anh thì khó khăn hơn chút.
Anh không nghĩ mình quá kén cá chọn canh, nhưng anh biết những gì mình muốn và những gì mình không muốn. Anh không muốn một phụ nữ nổi khùng vì những chuyện cỏn con như kỷ niệm hàng tháng hay không thích Sam. Anh biết từ kinh nghiệm quá khứ rằng anh không muốn một cô nàng ăn chay quan tâm thái quá đến gram chất béo và cỡ đùi.
Anh muốn khi đi làm về và có ai đó chờ đợi anh. Anh muốn đi vào cửa mà không có đồ ăn cầm trong tay. Anh muốn một cô gái bình thường, một ai đó gắn chặt cả hai chân trên mặt đất. Và tất nhiên, anh muốn một ai đó thích tình dục theo cái cách anh thích. Nóng bỏng, cực kỳ nóng bỏng. Thỉnh thoảng hơi bẩn thỉu, thỉnh thoảng không, nhưng lúc nào cũng không giới hạn. Anh muốn một người phụ nữ không e ngại chạm vào anh hay e ngại để anh chạm vào cô. Anh muốn nhìn cô và cảm thấy dục vọng xoáy đảo trong bụng. Anh muốn nhìn cô và biết rằng cô cũng cảm thấy y như vậy với anh.
Anh luôn cho rằng anh sẽ biết người phụ nữ phù hợp khi anh gặp cô. Anh không thực sự biết làm sao mà anh sẽ biết, chỉ là thế thôi. Anh sẽ cảm thấy nó đập mạnh vào giữa hai mắt anh như một cú nốc ao hay một tia chớp, và chính là nó. Anh sẽ biết.
Tanya quay lại vào phòng với một nét cau có làm lông mày chị ấy nhăn lại. “Số cuộc gọi đến cuối cùng thuộc về bà bạn Bernese của mẹ. Sao Bernese lại gọi điện đùa nghịch chứ?”
Joe nhún vai và quyết định đánh lạc hướng chị gái anh khỏi thủ phạm thực sự. “Có lẽ bà ấy thấy buồn chán. Khi em mới vào ngành, một bà già gọi đến một tháng một lần để báo rằng có ai đó cứ đột nhập vào nhà bà ấy, cố đánh cắp mấy cái khăn choàng vô giá trị của bà ấy.”
“Thế không phải à?”
“Quỷ thật, không. Chị nên nhìn mấy thứ đó – tất cả đều màu xanh sáng, vàng cam, và tím. Mấy cái khăn chết tiệt đó sẽ khiến chị gần như phải mù mắt chỉ vì nhìn chúng. Dẫu sao, bà ấy cũng luôn có bánh quy Nilla Wafers và bia không cồn chờ bọn em. Đôi khi người già trở nên thực sự cô đơn và làm những chuyện kỳ cục chỉ để có ai đó nói chuyện cùng.”
Đôi mắt nâu của Tanya nhìn chằm chằm vào anh, và cái cau mày của cô sâu hơn. “Đó là những gì sẽ xảy ra với em nếu em không tìm ai đó để chăm sóc cho mình đấy.”
Những phụ nữ trong gia đình anh vẫn luôn thúc giục anh về đời sống yêu đương. Nhưng kể từ khi anh bị bắn, mẹ và các chị anh đã tăng cường nỗ lực để thấy anh kết hôn một cách hạnh phúc. Họ đánh đồng hôn nhân với hạnh phúc. Họ muốn anh ổn định như phiên bản cuộc sống ấm cúng tốt lành của họ, và trong khi anh hiểu nỗi lo của họ, họ vẫn khiến anh phát điên lên được. Anh không dám để họ biết rằng anh thực sự đã có vài suy nghĩ nghiêm túc. Nếu anh làm thế, tất cả họ sẽ chồm lên anh như chim ác là trên một cái xác.
“Chị biết một phụ nữ thực sự tử tế…”
“Không,” Joe cắt ngang, thậm chí không sẵn sàng xem xét một trong những cô bạn của chị gái anh. Anh có thể tưởng tượng từng chi tiết nhỏ đều được báo cáo lại với gia đình anh. Anh đã ba lăm, nhưng các chị anh vẫn đối xử với anh như kiểu anh mới có năm tuổi. Như kiểu anh không thể tự tìm thấy mông của chính anh nếu họ không bảo anh rằng nó ở tận cùng xương sống ấy.
“Vì sao?”
“Em không thích phụ nữ tử tế.”
“Đó là những gì sai trái ở em ấy. Em thích thú với kích cỡ bộ ngực hơn là nhân phẩm.”
“Chẳng có gì sai với em hết. Và không phải kích cỡ bộ ngực, mà là hình dáng mới đáng tính đến.”
Tanya khịt mũi, và anh không nhớ trước đây đã từng nghe được một âm thanh như vậy phát ra từ một người phụ nữ đấy.
“Sao chứ?” anh hỏi.
“Em sắp trở thành một người đàn ông già cực kỳ cô đơn đấy.”
“Em có Sam làm bạn đồng hành, và nó hẳn sẽ sống lâu hơn cả em nữa.”
“Chim chóc không được tính đến, Joe. Dạo này em có cô bạn gái nào không? Ai đó mà em có thể cân nhắc đến việc mang về gặp gia đình em ấy? Ai đó mà em có thể cân nhắc cưới xin?”
“Không.”
“Sao không?”
“Em vẫn chưa tìm được người phụ nữ phù hợp.”
“Nếu đàn ông ở khu tử tù tìm phụ nữ để cưới xin, thì sẽ khó khăn đến thế nào nhỉ?”
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 4

Quận Hyde Park lịch sử nhỏ nhắn nằm nép mình ở chân đồi Boise. Vào thập niên bảy mươi, quận này bị xao lãng do các cuộc di tản đến vùng ngoại ô và các siêu thị nhỏ mọc lên như nấm. Nhưng mấy năm gần đây, các doanh nghiệp của nó đã được trao một bộ mặt mới và cả một lớp áo sơn tươi sáng, và họ cũng được hưởng lợi từ sự hồi sinh của cuộc sống trong thành phố.
Dài ba khu phố, Hyde Park được bao bọc ở tất cả các mặt bằng một trong những khu dân cư cổ kính nhất thị trấn. Chính bản thân cụm dân cư cũng là sự pha trộn đa dạng giữa dân di cư và những người quyền thế. Giàu có, nghèo khổ, trẻ trung, và cả những người vừa già vừa gù lưng như những mặt vỉa hè lồi lõm. Những nghệ sĩ túng quẫn và những người trẻ tuổi phát đạt sống kề vai nhau. Những ngôi nhà màu tím xập xệ với những tia nắng màu vàng cam quanh cửa sổ nằm cạnh những ngôi nhà từ thời Victoria được phục chế lại, bao gồm cả những bậc thang lỗ chỗ cạnh lề đường.
Các doanh nghiệp cũng phong phú như cư dân. Cửa hàng sửa giày đã được mở ra trong quận từ trước khi có ai đó có thể nhớ nổi, và dưới con phố, một anh chàng vẫn có thể cắt tóc với bảy đô la. Người ta có thể lấy được món bánh thịt chiên dòn, pizza, cà phê, hoặc một bộ đồ lót ăn được ở cửa hàng đồ lót Naughty or Nice. Bạn có thể rẽ vào cửa hàng 7-11 trong vùng và mua một tờ Slurpie hay National Enquirer sau khi đổ đầy xăng vào xe, hay đi dạo nửa con phố và mua sắm sách, xe đạp, hay giày trượt tuyết. Hyde Park có tất cả những thứ đó. Gabrielle Breedlove và Anomaly phù hợp một cách hoàn hảo với cả khu vực này.
Ánh sáng mặt trời đổ đầy lên khu nhà và rót qua các cửa sổ mặt tiền của Anomaly, rửa sạch căn phòng bằng ánh sáng. Những cửa sổ lớn được lấp đầy bằng những chiếc đĩa sứ và chậu rửa phương Đông trưng bày. Một con cá vàng dài sáu mươi centimet cùng cái đuôi vĩ đại của nó hẩy những bóng râm không đều lên tấm thảm Berber.
Gabrielle đứng trong cửa hàng tối om của cô, bóp vài giọt dầu thơm hoắc hương vào một lọ xịt màu xanh cô-ban xinh xắn. Gần một năm nay, cô đã thử nghiệm nhiều loại tinh dầu tự nhiên khác nhau. Toàn bộ quá trình là một chuỗi liên tục những cố gắng, thất bại, và lại cố gắng.
Nghiên cứu những đặc tính hóa học, trộn các loại dầu vào một bình nhỏ, sử dụng bát nung và bát pha, tất cả khiến cô cảm giác hơi giống một nhà khoa học điên rồ. Tạo ra những hương thơm tuyệt diệu lôi cuốn mặt nghệ sĩ của cô. Cô có niềm tin là một loại hương thơm nào đó rất có khả năng chữa lành đầu óc, tâm hồn, và cơ thể, dù thông qua những đặc tính hóa học của chúng hay bởi gợi lên những ký ức ấm áp, dễ chịu làm dịu tâm hồn. Chỉ vừa tuần trước cô đã thành công trong việc tạo ra hỗn hợp độc đáo của riêng cô. Cô đã đóng gói nó trong những cái lọ màu hoa hồng xinh xắn, rồi, như một phần trong thủ đoạn marketing, cô lấp đầy cửa hàng với mùi hương thoang thoảng từ cam quýt và những hương hoa khêu gợi. Cô đã bán hết ngay ngày đầu tiên. Cô hy vọng cũng làm tốt được như vậy ở lễ hội Coeur.
Hỗn hợp ngày hôm nay không phải độc nhất nhưng thấy bảo là có tác dụng xoa dịu. Cô đậy nắp cái bình hoắc hương màu nâu và đặt nó lại vào trong hộp gỗ chứa những lọ tinh dầu khác của cô. Cô với tay lấy dầu ngải đắng và thêm vào hai giọt nữa một cách cẩn thận. Cả hai loại tinh dầu đều được cho là giảm stress, tăng thư giãn, và làm dịu cảm giác kiệt quệ sợ hãi. Sáng nay, với một cảnh sát ngầm ở lỳ trong cửa hàng cô đến hai mươi phút, Gabrielle cần cả ba tác dụng đó.
Cửa sau mở ra rồi đóng lại, và cảm giác hãi hùng chất chứa trong hố sâu tâm hồn cô. Cô liếc qua vai về phía sau cửa hàng. “Chào buổi sáng, Kevin”, cô gọi to đối tác làm ăn của mình. Tay cô lẩy bẩy khi cô đặt lại lọ ngải đắng. Chỉ mới chín giờ ba mươi sáng, mà các dây thần kinh của cô đã bị tấn công rồi, và cô mệt lả. Cô đã chong chong cả đêm cố thuyết phục mình rằng cô có thể nói dối Kevin. Rằng bằng cách cho phép Thám tử Shanahan làm việc ngầm trong cửa hàng của cô, cô thực sự đang giúp rửa sạch tên tuổi của Kevin. Nhưng cô có vài rắc rối lớn: Cô là một kẻ nói dối dở tệ khét tiếng, và cô không thực lòng nghĩ rằng cô có thể giả vờ thích tên thám tử đó, chứ đừng nói đến việc tưởng tượng mình là bạn gái anh ta.
Cô ghét nói dối. Cô ghét tạo nhân quả xấu. Nhưng thực lòng, thêm một lời nói dối có là gì khi mà cô sắp sửa tạo ra nghiệp chướng báo thù tầm cỡ một cơn địa chấn cơ chứ?
“Đây đây”, Kevin gọi từ hành lang và bật công tắc đèn. “Hôm nay em đang nấu cái gì thế?”
“Hoắc hương và ngải đắng.”
“Trong này sẽ có mùi giống một buổi hòa nhạc của Grateful Dead sao?”
“Có thể đấy. Em làm nó cho mẹ em mà.” Ngoài việc trợ giúp thư giãn, mùi hương còn nhắc cô nhớ đến những ký ức dễ chịu, giống như mùa hè cô và mẹ đã đuổi theo Grateful Dead khắp đất nước. Gabrielle mới có mười tuổi và rất thích được cắm trại trong chiếc xe buýt Volkswagen của họ, ăn đậu hũ và nhuộm tất cả mọi thứ cô có. Mẹ cô đã gọi đó là mùa hè thức tỉnh. Gabrielle không biết về sự thức tỉnh của họ, nhưng đó là lần đầu tiên mẹ cô quả quyết về sức mạnh tâm linh. Trước đó, họ là người hộ Giám lý.
“Mẹ và cô em thế nào trong kỳ nghỉ vậy? Em đã nghe tin gì về họ chưa?”
Gabrielle đóng nắp hộp gỗ lại và nhìn Kevin bên kia phòng, đang đứng ở ngưỡng cửa của văn phòng mà họ cùng chia sẻ. “Không cho đến vài ngày nữa.”
“Khi bà ấy quay lại, bà ấy và cô em sẽ ở nhà của họ trong thị trấn một khoảng thời gian, hay dành thời gian lên phía bắc với ông em?”
Cô ngờ rằng sự thích thú của Kevin với mẹ và cô cô liên quan tới lòng hiếu kỳ thuần túy thì ít, mà vì sự thật rằng họ khiến anh ta lo sợ thì nhiều. Claire và Yolanda Breedlove không chỉ là chị em chồng mà họ cũng là bạn thân và sống cùng nhau. Và đôi khi họ đọc ý nghĩ của nhau, chuyện có thể khá là đáng sợ nếu bạn không quen với họ. “Em không chắc. Em ngờ rằng họ sẽ đỗ lại ở Boise này để đón Beezer, rồi mới lái xe lên kiểm tra ông em.”
“Beezer nào?”
“Con mèo của mẹ em”, Gabrielle trả lời, cảm giác tội lỗi xoắn chặt dạ dày cô khi cô nhìn vào đôi mắt màu xanh biển quen thuộc của anh bạn. Anh vừa mới bước sang tuổi ba mươi nhưng trông chỉ khoảng hai mươi hai tuổi. Anh đứng thấp hơn Gabrielle khoảng chục phân, và mái tóc vàng của anh bị ánh nắng tẩy trắng. Anh theo nghề nghiệp là một thủ thư và từ trong tim là một người buôn đồ cổ. Anh xử lý mặt kinh doanh của Anomaly, cho Gabrielle tự do bộc lộ óc sáng tạo của mình. Anh không phải một tội phạm, và cô chẳng tin đến một giây rằng anh sẽ dùng cửa hàng của họ như tấm chắn để bán đồ trộm cắp. Cô mở miệng để nói thành tiếng lời nói dối cô đã tập luyện ở sở cảnh sát, nhưng những từ ngữ cứ kẹt cứng trong cổ họng cô.
“Anh sẽ ở trong văn phòng sáng nay”, anh nói, rồi biến mất qua ngưỡng cửa.
Gabrielle với lấy một cái bật lửa và châm một ngọn nến trà trong lọ phun hơi nhỏ. Một lần nữa, cô cố bảo mình rằng cô thực ra đang giúp đỡ Kevin dù cho anh sẽ không biết điều đó. Cô thực sự không hề hiến tế anh cho Thám tử Shanahan.
Cô vẫn không thể bắt bản thân tin vào điều đó, nhưng không quan trọng. Tay thám tử sẽ ở lì trong cửa hàng cô khoảng dưới hai mươi phút, và cô phải làm cho Kevin tin rằng cô đã thuê anh ta để làm việc lặt vặt trong mấy ngày tới. Cô nhét chiếc bật lửa vào túi chiếc váy sa mỏng và đi qua quầy thu tiền phía trước, hỗn loạn với những tin tức thôi thúc, tới văn phòng. Cô nhìn nhanh quả đầu vàng của Kevin đang cúi xuống vài giấy tờ trên bàn, và cô hít vào một hơi thật sâu. “Em đã thuê một người để di chuyển mấy cái giá hàng từ mặt bên cửa hàng ra tường sau,” cô nói, ép lời nói dối tràn qua môi. “Nhớ là chúng ta đã nói về chuyện đó trước đây không?”
Kevin ngước lên, và lông mày anh cau lại. “Anh nhớ chúng ta đã quyết định chờ đến năm sau cơ mà.”
Không, anh đã quyết định điều đó cho cả hai người. “Em không nghĩ việc này lại có thể đợi lâu đến thế, nên em đã thuê một người. Mara có thể giúp anh ta,” cô nói, ý chỉ cô sinh viên trẻ tuổi làm việc bán thời gian vào các buổi chiều. “Joe sẽ ở đây trong vài phút nữa thôi.” Buộc ánh mắt tội lỗi của cô giữ nguyên trên người Kevin là một trong những chuyện khó khăn nhất cô từng làm.
Im lặng tràn ngập căn phòng trong vài giây tra tấn khi anh cau mày nhìn cô. “Cậu Joe này là một họ hàng của em phải không?”
Chỉ ý nghĩ Thám tử Shanahan ngụp lặn trong cùng một bể gen cũng khiến cô khó chịu gần bằng việc đóng giả làm bạn gái anh ta. “Không.” Gabrielle vuốt thẳng một tập hóa đơn. “Em cam đoan với anh rằng Joe không phải họ hàng.” Cô giả vờ có hứng thú với tờ giấy trước mặt. Rồi cô bật ra lời nói dối khó khăn nhất trong tất cả. “Anh ấy là bạn trai em.”
Cái cau mày của anh biến mất, và trông anh chỉ bối rối mà thôi. “Anh thậm chí còn không biết em có một người bạn trai đấy. Sao em chưa bao giờ nhắc đến anh ta trước đây?”
“Em không muốn nói về chuyện đó cho đến khi em chắc chắn về cảm xúc của mình,” cô nói, chồng một lời nói dối lên một lời nói dối. “Em không muốn tạo ra ảnh hưởng xấu.”
“À. Chà, em biết anh ta bao lâu rồi?”
“Không lâu lắm.” Cái đó đa phần là sự thật, cô cho là thế.
“Làm sao mà em gặp được anh ta?”
Cô nghĩ đến cảnh tay Joe ở trên hông, đùi, và giữa hai ngực cô. Cảnh người anh ấn vào cô, và hơi nóng dâng lên cổ tới tận má cô. “Chạy bộ trong công viên,” cô nói, biết rằng giọng cô cũng đầy tội lỗi như cảm giác của cô vậy.
“Anh không nghĩ chúng ta có thể chi trả được khoản đó trong tháng này. Chúng ta phải trả phí vận chuyển pha lê Baccarat. Tháng tới sẽ tốt hơn cho chúng ta.”
Tháng tới có thể tốt hơn cho họ, nhưng không phải cho Sở cảnh sát Boise. “Nó phải được hoàn thành tuần này. Em sẽ tự trả cho khoản đó. Anh không thể phản đối được đâu.”
Kevin tựa lưng ra sau và khoanh tay ngang ngực. “Em muốn nó được hoàn thiện một cách khủng khiếp nhỉ. Sao lại bây giờ? Có chuyện gì à?”
“Chẳng gì hết,” là câu trả lời khá nhất cô có thể nghĩ ra.
“Có điều gì em không thể nói cho anh biết vậy?”
Gabrielle nhìn vào đôi mắt xanh dương ngờ vực của Kevin và không phải lần đầu tiên cô nghĩ đến việc cứ nói toẹt ra. Rồi hai người họ có thể bí mật làm việc cùng nhau để rửa sạch tên tuổi của Kevin. Cô nghĩ về hiệp ước cung cấp thông tin mật mà cô đã kí. Hậu quả của việc phá vỡ hiệp ước cực kỳ nghiêm trọng, nhưng quỷ tha ma bắt hậu quả đi. Lòng trung thành hàng đầu của cô là cho Kevin, và anh xứng đáng với sự chân thật của cô. Anh là đối tác kinh doanh của cô, và quan trọng hơn, là bạn cô.
“Trông em đỏ lựng và lo lắng.”
“Bệnh tiền mãn kinh đấy.”
“Em chưa đủ già cho bệnh tiền mãn kinh đâu. Trong chuyện này phải có gì đó ngoài những gì em tiết lô. Hành động này không giống em. Em đang yêu tay thợ sửa chữa của em đấy à?”
Gabrielle hầu như không nén nổi một tiếng thở dốc kinh hàng. “Không.”
“Hẳn là dục vọng.”
“Không!”
Một tiếng gõ rung cửa sau bần bật. “Bạn trai của em đấy,” Kevin nói.
Cô có thể nói nhờ nét mặt anh rằng anh thực sự tin rằng cô có ham muốn với anh chàng thợ sửa chữa của cô. Thi thoảng Kevin nghĩ anh ta biết hết mọi chuyện, trong khi gần như chẳng biết tẹo teo gì. Nhưng những gì cô biết về đàn ông bảo cô rằng đó là trường hợp chung của tất cả bọn họ. Cô đặt chồng hóa đơn lên bàn cô và đi ra khỏi phòng. Ý nghĩ đóng giả làm bạn gái Joe thật đáng lo. Cô di chuyển qua khu vực kho phía sau cửa hàng, nó to gấp đôi một căn bếp nhỏ. Cô mở cánh cửa gỗ nặng nề ra.
Và anh ta đứng đó trong chiếc quần Levi’s bạc màu, áo phông trắng, và luồng khí màu đen. Anh ta đã tỉa gọn mái tóc sẫm màu, và một cặp kính râm phi công che khuất đôi mắt. Nét mặt anh ta không thể đọc nổi.
“Anh đến vừa đúng giờ,” cô nói với hình phản chiếu của cô trong kính mắt của anh.
Một hàng lông mày sẫm màu nhướn lên. “Anh luôn như thế mà.” Anh với lấy tay cô bằng một tay và đóng cánh cửa đằng sau cô bằng tay kia. “Carter có ở đây không?”
Một lát không khí mỏng chia cách ngực chiếc áo sơ mi tay lỡ của cô với lồng ngực anh, và đầu cô bao bọc trong hương thơm của gỗ đàn hương, tuyết tùng và mùi gì đó say nồng đến nỗi cô ước gì mình có thể gọi tên để rồi có thể đóng chai nó.
“Có,” cô nói và gỡ tay anh khỏi cánh tay trần của cô. Cô đi lướt qua anh và xuống dọc con hẻm tới tận góc xa nhất của thùng rác. Cô vẫn có thể cảm nhận được dấu ấn của các ngón tay anh trên làn da cô.
Anh đi theo cô. “Cô đã nói gì với anh ta?” anh hỏi với tông giọng trầm gay gắt.
“Những gì tôi được bảo phải nói với anh ấy.” Giọng của chính cô chẳng hơn một lời thì thầm khi cô tiếp tục, “tôi đã bảo anh ấy rằng tôi thuê bạn trai mình để di chuyển mấy cái giá trong cửa hàng.”
“Và anh ta tin cô à?”
Nói chuyện với hình ảnh phản chiếu của chính cô làm cô mất bình tĩnh, và cô hạ ánh mắt khỏi kính râm xuông chỗ trũng ở môi trên của anh. “Tất nhiên. Anh ấy biết tôi không bao giờ nói dối.”
“Ừ nhỉ. Có gì tôi nên biết trước khi cô giới thiệu tôi với đối tác kinh doanh của cô không?”
“Chà, vài thứ.”
Môi anh hơi mím lại. “Gì?”
Cô thực sự không muốn thú nhận rằng Kevin nghĩ cô đang yêu anh, nên cô lươn lẹo chút ít. “Anh ấy nghĩ anh đang yêu tôi điên cuồng.”
“Giờ thì sao anh ta lại nghĩ thế hả?”
“Bởi vì tôi bảo anh ấy là anh như thế,” cô nói, và tự hỏi từ lúc nào thì nói dối lại trở nên thú vị đến thế. “Vì vậy anh tốt hơn hết là nên đặc biệt tử tế vào.”
Môi anh vẫn y xì một đường thẳng. Anh không thấy thú vị.
“Có khi ngày mai anh nên mang hoa hồng đến cho tôi.”
“À vâng, và có khi cô nên bắt đầu giữ mồm giữ miệng đi.”
Joe nghuệch ngoạc một địa chỉ giả và số điện thoại của trung tâm An ninh Xã hội lên tờ khai thuế và ngắm kỹ khung cảnh xung quanh, chú ý tới mọi thứ mà không hề nhìn vào một thứ gì. Anh đã không làm việc ngầm trong gần một năm rồi, nhưng làm việc ngầm cũng giống như đi xe đạp vậy. Anh không hề quên cách lừa bịp một tay lừa đảo.
Anh nghe tiếng gõ nhè nhẹ từ đôi sandal đang bỏ đi của Gabrielle khi cô rời phòng, và tiếng lách cách phiền nhiễu từ chiếc bút của Kevin khi ngón cái của hắn gõ gõ phần đuôi chiếc Montblanc. Khi Joe mới bước vào, anh đã chú ý thấy hai tủ tài liệu cao, hai cửa sổ hẹp cao từ sàn tới trần nhà bên phía Gabrielle, và một chồng tạp nham đủ thứ trên bàn cô. Trên bàn Kevin đặt một chiếc máy tính, giỏ sắt, và một sổ lương. Mọi thứ bên phía Kevin đều trông được đo đạc có chiến lược, rồi sắp xếp với một cái thước kẻ. Một tên đồng bóng kiểm soát cứng ngắc thực sự.
Khi hoàn tất tờ khai thuế, Joe đưa nó cho người đàn ông đang ngồi đối diện trực tiếp bên kia bàn. “Tôi không thường điền mấy tờ kiểu này,” anh bảo Kevin. “Tôi thường được trả công bằng tiền mặt, và chính phủ chẳng bao giờ phải biết hết.”
Kevin liếc qua tờ đơn. “Quanh đây chúng tôi làm mọi thứ tử tế và đúng luật,” anh ta nói mà không ngước nhìn lên.
Joe tựa lưng vào ghế và khoanh tay ngang ngực. Thật là một tên đê tiện lùn tịt dối trá. Anh chỉ mất khoảng hai giây để xác định rằng Kevin Carter tội lỗi đầy mình. Anh đã tống giam quá nhiều tên xấu xa để có thể không nhìn thấy dấu hiệu.
Kevin sống quá mức thu nhập của hắn, thậm chí cả với thập niên chín mươi muốn-gì-phải-có-đấy ngày nay. Hắn lái một chiếc Porsche và mặc tất cả đồ thiết kế, từ áo sơ mi cho đến đôi giày Ý. Hai bức tranh Nagel treo trên tường sau bàn làm việc của hắn, và hắn viết với một cây bút hai trăm đô la. Ngoài Anomaly và công việc định giá, hắn có vài thương nghiệp khác quanh thị trấn. Hắn sống trong một khoảnh đất ở chân đồi nơi giá trị của một người đàn ông được đánh giá bởi khung cảnh thành phố qua cửa sổ phòng khách của anh ta. Năm ngoái hắn báo tổng thu nhập là năm mươi nghìn đô la với tổng cụ thuế. Gần như không đủ để duy trì lối sống của hắn.
Nếu có một sợi chỉ chung chỉ ra hành vi tội phạm, thì chính là sự phung phí. Không sớm thì muộn tất cả những tên lừa đảo đều trở nên đủ tự phụ, đủ phê, hoặc ngập đủ nợ để lờ đi sự tiết chế.
Kevin Carter là một tấm poster sống cho sự phung phí của lũ tội phạm, và hắn cũng cũng có thể đi lòng vòng với một bảng hiệu neon chỉ thẳng vào đầu. Giống như rất nhiều tên trước hắn, hắn cũng ngu ngốc đủ để khoe khoang thói phung phí và tự mãn đủ để tin rằng hắn sẽ không bị tóm. Nhưng lần này hắn đã ngập quá đầu và hắn phải cảm nhận được áp lực. Buôn lậu nến và bát súp cổ không hẳn là giống như buôn lậu một bức Monet.
Kevin bỏ tờ đơn sang một bên, rồi ngước lên nhìn Joe. “Anh đã biết Gabrielle bao lâu rồi?”
Giờ thì, Gabrielle là một câu chuyện khác. Vào thời điểm này, chuyện cô có tội hay vô tội như cô quả quyết không quan trọng, mà anh muốn biết điều gì khiến cô phải nơm nớp lo sợ cơ. Cô khó đóng cọc hơn Kevin nhiều, và Joe không biết phải hiểu cô như thế nào nữa – ngoài sự thực rằng cô còn gàn dở hơn cả một hộp bơ Skippy. “Đủ lâu.”
“Vậy chắc hẳn anh cũng biết cô ấy quá tin người. Cô ấy sẽ làm mọi việc để giúp đỡ những người mà cô ấy quan tâm.”
Joe tự hỏi việc giúp đỡ đó có rộng tới mức giúp cả những người cô ta quan tâm buôn lậu đồ trộm cắp không. “Phải, cô ấy là một cô gái ngọt ngào thực sự.”
“Đúng vậy, và tôi ghét nhìn thấy ai đó lợi dụng cô ấy. Tôi khá giỏi xét đoán tính cách, và tôi có thể nói anh thuộc dạng người làm việc để cho có. Chắc chắn không làm nhiều hơn.”
Joe nghiêng đầu sang một bên và mỉm cười với anh chàng nhỏ con có rắc rối bự chảng. Điều cuối cùng anh muốn là thù địch với Kevin. Ngược hẳn lại thì đúng. Anh cần làm hắn ta tin anh, thuyết phục hắn rằng họ là bạn bè. “Ồ thật sao? Anh có thể nói tất cả những điều đó sau khi biết tôi trong năm phút?”
“Chà, hãy đối mặt đi, chẳng thể có nhiều tiền khi là một tay thợ sửa chữa. Và nếu công việc của anh đang tốt đẹp, Gabrielle sẽ chẳng phải vẽ ra một công việc cho anh ở đây.” Kevin xoay ghế lùi ra sau và đứng dậy. “Không một người bạn trai nào khác của cô ấy cần việc làm. Cái tên giáo sư triết học cô ấy hẹn họ cuối năm ngoái có thể cần đến nhân phẩm, nhưng ít nhất hắn ta cũng có tiền.”
Joe quan sát Kevin đi tới một tủ tài liệu cao và mở một ngăn kéo ra. Anh giữ im lặng và để Kevin nói tất.
“Ngay lúc này cô ấy nghĩ cô ấy yêu anh,” hắn tiếp tục khi xếp tờ khai thuế. “Và con gái không nghĩ đến tiền khi họ mê mẩn thân hình anh.”
Joe đứng dậy và khoanh tay ngang ngực. Không chính xác là những gì anh được tự quý cô đó nói cho nghe. Quả là nhiều với lời khẳng định không bao giờ nói dối của cô ta.
“Tôi đã hơi ngạc nhiên khi anh bước vào đây sáng hôm nay. Anh không phải loại đàn ông mà cô ấy thường hẹn hò.”
“Loại nào vậy?”
“Cô ấy thường đi chơi với loại đàn ông Kỷ Nguyên Mới kỳ quặc. Loại đàn ông ngồi thiền và thảo luận những chuyện tào lao như là ý thức vũ trụ của đàn ông.” Ngăn kéo đóng lại, và hắn tựa vai vào đó. “Anh trông không giống loại đàn ông thích ngồi thiền.”
Giờ thì là một cảm giác nhẹ nhõm.
“Hai người đã nói chuyện gì trong con hẻm vậy?”
Anh tự hỏi Kevin có nghe lỏm ở cửa sau không, nhưng anh đoán là nếu hắn ta có nghe lỏm thì họ hẳn sẽ không có cuộc chuyện trò này rồi. Joe để một nụ cười chậm rãi kéo cong khóe miệng anh. “Ai nói là chúng tôi đã nói chuyện.”
Kevin cười đáp lại, một trong những nụ cười tôi-cũng-ở-trong-câu-lạc-bộ-đàn-ông, và Joe rời khỏi văn phòng.
Điều đầu tiên Joe chú ý thấy khi anh đi ra mặt tiền cửa hàng là mùi hương, nó có mùi như một cửa hàng gội đầu, và anh tự hỏi người chỉ điểm mật của anh có thường du lịch trên tàu cỏ khô hay không. Điều đó sẽ giải thích kha khá đấy.
Ánh mắt Joe lang thang khắp căn phòng, và anh ghi nhận sự sắp xếp lộn xộn kỳ cục của cả đồ cũ lẫn đồ mới. Trong một góc, những cây bút ngộ nghĩnh, dao mở thư, và nhiều hộp văn phòng phẩm đặt trên một cái bàn nhiều ngăn kéo. Anh liếc nhìn quấy thu tiền chính giữa và một mẫu trưng bày đá quý cổ trong một cái thùng thủy tinh cạnh máy tính tiền. Anh nhớ thầm tất cả mọi thứ trước khi sự chú ý của anh bị hút về cái thang đặt cạnh cửa sổ mặt tiền và người phụ nữ đang đứng ở bậc trên cùng.
Ánh nắng rực rỡ chiếu sáng dáng nhìn nghiêng của cô, lọt qua mái tóc màu nâu đỏ dài, và biến chiếc áo lẫn cái váy mỏng màu vàng của cô trở nên trong suốt. Ánh mắt anh lướt xuống mặt, cằm tới đôi vai mảnh mai và bộ ngực đầy đặn của cô. Ngày hôm qua, anh tức như điên còn đùi anh thì nhức nhối, nhưng anh chưa chết. Anh vẫn ý thức rất rõ cơ thể mềm mại của cô ấn chặt vào anh. Về ngực cô khi anh kiểm tra xem có vũ khí không hay vài phút sau khi họ đi vê ô tô của anh, cơn mưa lạnh buốt làm ướt đẫm áo phông của cô, đông lạnh da thịt cô và làm cứng đầu ngực cô.
Mắt anh di chuyển tới eo và cái hông tao nhã của cô. Trông không có vẻ là cô có mặc gì dưới váy ngoài một cái quần lót bikini. Chắc là màu trắng hoặc be. Sau khi theo đuôi cô suốt tuần vừa rồi, anh đã trở nên ngưỡng mộ cặp mông tròn trịa xinh xắn và cặp chân dài của cô. Anh không quan tâm giấy phép lái xe của cô nói gì, cô cao gần mét tám ba và có đôi chân chứng minh cho điều đó. Loại cặp chân vốn dĩ là quấn quanh eo một người đàn ông.
“Cô có cần giúp gì không?” anh hỏi khi đi về phía cô, nâng ánh mắt khỏi những đường cong nữ tính khêu gợi của thân hình cô tới mặt cô.
“Thế sẽ rất tuyệt,” cô nói, kéo mớ tóc qua một bên vai và nhìn xuống anh qua bên còn lại. Cô chọn một cái đĩa lớn màu xanh trắng từ một cái giá trong cửa sổ. “Tôi có một khách hàng sẽ ở đây sáng nay để lấy món đồ này.”
Joe lấy cái đĩa từ tay cô, rồi bước lùi lại khi cô trèo xuống thang.
“Kevin có tin anh là thợ sửa chữa cho tôi không?” cô hỏi chỉ hơn một lời thì thầm.
“Hơn cả thợ sửa chữa cho cô.” Anh chờ cho đến khi cô đứng trước mặt anh. “Anh ta nghĩ cô muốn tôi vì cơ thể của tôi.” Anh quan sát cô cào tay qua tóc, làm rối tất cả những lọn tóc xoăn mềm mại như thể cô vừa ra khỏi giường. Cô đã làm cùng chuyện đó ngày hôm qua ở Sở cảnh sát. Anh ghét phải thú nhận điều này, nhưng nó quyến rũ kinh khủng.
“Anh đang đùa.”
Anh bước vài bước về phía cô và thì thầm vào tai cô. “Anh ta nghĩ tôi là món đồ chơi con trai riêng của cô.” Mái tóc lụa là của cô có mùi như hoa hồng vậy.
“Tôi hy vọng anh đã chỉnh lại cho anh ấy.”
“Giờ thì, sao tôi lại làm thế cơ chứ?” Anh lùi ra sau và mỉm cười vào khuôn mặt hãi hùng của cô.
“Tôi không biết mình từng làm gì để phải chịu chuyện này,” cô nói khi lấy cái đĩa và đi vòng qua anh. “Tôi chắc chắn mình chưa bao giờ làm chuyện gì xấu xa đến độ xứng đáng phải nhận loại nghiệp chướng tồi tệ này.”
Nụ cười của Joe tắt lịm, và một cơn buốt giá gặm nhấm gáy anh. Anh đã quên béng mất. Anh đã thấy cô đứng trên cái thang, với ánh nắng rọi lên mọi đường cong mềm mại, và trong vài phút anh đã quên béng mất cô bị điên.
Gabrielle trông thì bình thường, nhưng cô không bình thường. Cô tin vào nhân quả, luồng khí, và xét đoán tính cách con người qua các ngôi sao. Cô hẳn tin rằng mình cũng có thể bắt sóng với Elvis. Cô là một kẻ lập dị, và anh cho là mình nên cảm ơn cô vì nhắc cho anh nhớ rằng anh không ở trong cửa hàng của cô để chằm chằm nhìn mông cô. Nhờ có cô, sự nghiệp thám tử của anh đang trên bờ vực, và anh phải giải quyết cho xong với một vụ khám xét lớn. Không nghi ngờ gì. Anh rời ánh mắt khỏi lưng cô và liếc quanh căn phòng. “Những cái giá mà cô muốn di chuyển ở đâu thế?”
Gabrielle đặt cái đĩa lên quầy hàng cạnh máy tính tiền. “Kia kìa,” cô nói, chỉ về hệ thống giá đỡ bằng kim loại và kính gắn vào tường bên kia căn phòng. “Tôi muốn chúng được chuyển ra tường sau.”
Ngày hôm qua, khi cô nói cái giá, anh đã cho rằng cô có ý nói tủ trưng bày. Với việc lắp và gỡ có dính dáng, công chuyện này sẽ tiêu của anh mất vài ngày. Nếu anh sơn, anh có thể kéo dài ra thành hai, có lẽ là ba, ngày tìm kiếm bất kỳ thứ gì để đóng cọc Kevin Carter. Và anh sẽ đóng cọc hắn. Anh không nghi ngờ điều đó lấy một phút.
Joe băng qua phòng tới cái giá bằng kính, mừng vì việc này sẽ tốn kha khá thời gian. Không giống những miêu tả về cảnh sát chiếu trên tivi, các vụ án không được giải quyết trong có một giờ. Phải mất nhiều ngày và nhiều tuần, đôi khi hàng tháng trời, để thu thập đủ bằng chứng cho một vụ tống giam. Rất nhiều chờ đợi. Chờ cho kẻ nào đó có động tĩnh, hốt hoảng hay bị phản bội.
Joe để ánh mắt lướt qua những khung tranh bằng sứ và thủy tinh, bạc và thiếc. Vài cái rổ đan nằm trên một cái hòm cũ giữa các giá hàng, và anh với tay lấy một cái túi vải nhỏ và giơ nó lên mũi. Anh có hứng thú với những thứ có thể ở trong cái hòm hơn là những gì ở trên hòm. Cũng không phải anh thực sự mong tìm thấy bức họa của ông Hillard dễ dàng đến thế. Đúng là thỉnh thoảng anh đã tìm được chỗ giấu thuốc phiện và đồ trộm cắp ở những nơi rõ rành rành, nhưng anh đoán mình sẽ không may mắn được thế với vụ này.
“Cái đó chỉ là túi hoa khô thơm thôi.”
Joe liếc qua vai nhìn Gabrielle và ném cái túi nhỏ vào trong rổ. “Tôi đã đoán ra rồi, nhưng dẫu sao cũng cảm ơn.”
“Tôi đã nghĩ anh có thể nhầm nó với một loại thuốc gây nghiện nào đó.”
Anh nhìn vào đôi mắt màu xanh lục của cô và nghĩ rằng anh phát hiện thấy một dấu hiệu hài hước, nhưng anh cũng không chắc. Nó cũng rất dễ là một tia mất trí. Ánh mắt anh lướt qua cô tới căn phòng trống không. Carter vẫn ở trong văn phòng. Bận rộn với hy vọng làm cho bản thân hắn khá lên. “Tôi đã là một đặc vụ về ma túy trong tám năm. Tôi nghĩ mình biết sự khác biệt. Cô thì sao?”
“Tôi không nghĩ mình nên trả lời câu hỏi đó xét đến việc nó có thể buộc tội tôi.” Một nụ cười thích thú nhếch hai khóe môi đỏ hồng của cô lên. Cô rõ ràng là nghĩ mình hài hước lắm đấy. “Nhưng tôi phải nói rằng nếu tôi từng dùng thuốc phiện, và nhớ kỹ rằng tôi không có đang thú nhận gì đó đâu đấy, thì cũng là lâu lắc rồi vì những lý do tôn giáo.”
Anh có một cảm xúc rằng anh sẽ thực sự hối tiếc, nhưng anh vẫn cứ hỏi. “Lý do tôn giáo ư?”
“Để tìm kiếm sự thật và sự khai sáng,” cô nói rõ thêm. “Để phá vỡ ranh giới của trí óc nhằm tìm kiếm tri thức cao hơn và sự trọn vẹn trong tâm hồn.”
Ừ đấy, anh thấy hối tiếc rồi.
“Để khám phá mối liên hệ vũ trụ giữa cái tốt và cái xấu. Sự sống và cái chết.”
“Để tìm kiếm cuộc sống mới, nền văn minh mới. Để liều lĩnh đi tới những nơi chưa một con người nào từng đi tới,” anh thêm vào, giữ giọng nhạt nhẽo. “Cô và thuyền trưởng Kirk[3] dường như có rất nhiều điểm chung đấy.”
Một cái cau có đập bẹt nụ cười của cô.
“Có cái gì trong cái hòm này vậy?” anh hỏi.
“Nến Giáng sinh.”
“Lần cuối cùng cô kiểm tra là khi nào?”
“Giáng sinh.”
Chuyển động phía sau Gabrielle hút sự chú ý của Joe về quầy trước, và anh quan sát Kevin đi tới chỗ máy tính tiền và ấn nó mở ra. “Anh có vài công việc lặt vặt phải chạy sáng nay, Gabrielle,” Kevin nói khi anh đổ đầy ngăn kéo bằng tiền. “Anh sẽ quay lại lúc ba giờ.”
Gabrielle quay phắt lại và nhìn bạn kinh doanh của cô. Sự căng thẳng làm tắc nghẽn không khí, nhưng dường như không có ai ngoài cô chú ý tới. Nó bịt kín họng cô, nhưng lần đầu tiên kể từ lúc bị tống giam, cảm giác nhẹ nhõm cũng nâng cánh tâm hồn cô. Cái kết cho cảnh điên khùng này đang trong tầm mắt. Kevin rời đi càng sớm, thì tay thám tử có thể lục soát càng sớm, và anh ta sẽ càng sớm tìm thấy không gì cả. Anh ta sẽ càng sớm rời khỏi cửa hàng và cuộc đời của cô hơn. “Ồ, được rồi. Cứ thoải mái đi. Nếu anh thực sự bận rộn, thì anh không cần quay lại đây đâu.”
Kevin rời ánh mắt khỏi Gabrielle sang người đàn ông đang đứng thẳng phía sau cô. “Anh sẽ quay lại”
Ngay khi Kevin đi, Gabrielle liếc nhìn qua vai. “Làm việc của anh đi, thám tử,” cô nói, rồi đi tới quầy trước và bắt đầu bọc cái đĩa xanh vào giấy lót. Qua khóe mắt, cô quan sát anh kéo một quyển sổ nhỏ màu đen ra khỏi túi sau của chiếc Levi’s. Anh hẩy nó mở ra và từ tốn đi khắp cửa hàng của cô, dùng tay lật một trang và dừng lại để nghuệch ngoạc lên trang khác.
“Khi nào thì Mara Paglino đến làm việc?” anh hỏi mà không nhìn lên.
“Một giờ ba mươi.”
Anh kiểm tra dấu hiệu trên đáy một cái đĩa bơ Wedgwood, rồi đóng quyển sổ lại. “Nếu Kevin quay lại sớm, hãy giữ anh ta ở ngoài này với cô,” anh nói khi đi vào văn phòng và đóng sập cánh cửa lại phía sau.
Bằng cách nào chứ? Cô hỏi cửa hàng trống không. Nếu Kevin quay lại sớm, cô không biết bằng cách nào - chưa nói đến xử trí anh – để giữ anh không phát hiện ra tay thám tử đang xoay vần cả cái bàn của anh lên. Nhưng chuyện Kevin có về sớm và tóm được Joe tận tay cũng không đáng kể, Kevin vẫn sẽ biết mà thôi. Anh quá ư ngăn nắp đến mức anh luôn luôn biết nếu có ai đó chạm vào đồ đạc của anh.
Suốt hai tiếng sau đó, các dây thần kinh của Gabrielle càng ngày càng xoắn chặt hơn. Mọi tiếng tích tắc của đồng hồ đều đẩy cô gần hơn tới ngưỡng sụp đổ hoàn toàn. Cô cố chìm mình trong lịch trình thường ngày, cô thất bại. Cô nhận thức quá rõ chuyện tay thám tử đang lục soát tìm bằng chứng buộc tội sau cánh cửa khép kín của văn phòng cô.
Vài lần cô đi về hướng cửa văn phòng với ý định thò đầu vào trong và xem xem chính xác thì anh ta đang làm cái gì, nhưng cô luôn luôn mất can đảm. Mọi âm thanh nhỏ xíu cũng khiến cô nhảy dựng lên, và một cục nghẹn tạo hình trong họng và dạ dày cô, chặn không cho cô ăn món súp cải xanh mà cô đã mua làm bữa trưa. Đến lúc Joe cuối cùng cũng chui ra khỏi văn phòng lúc một giờ, Gabrielle đã căng thẳng đến mức cô cảm thấy muốn hét toáng lên, thay vào đó, cô hít vài thở sâu và im lặng niệm câu thần chú xoa dịu bảy âm tiết mà cô đã sáng tác ra mười tám năm trước để đương đầu với cái chết của cha cô.
“Được rồi.” Joe xen ngang nỗ lực tìm kiếm chốn thanh tĩnh của cô. “Tôi sẽ gặp cô vào sáng mai.”
Anh chắc chẳng tìm thấy bất kỳ thứ gì đáng tội. Nhưng Gabrielle cũng không ngạc nhiên, chẳng có gì mà tìm hết. Cô theo anh ra phòng sau. “Anh đi đấy à?”
Anh nhìn vào mắt cô, và một khóe miệng anh nhếch lên. “Đừng nói với tôi là cô sẽ nhớ tôi nhé?”
“Tất nhiên là không, nhưng còn mấy cái giá thì sao? Tôi phải nói gì với Kevin chứ?”
“Bảo anh ta rằng tôi sẽ bắt đầu vào ngày mai.” Anh lấy cái kính râm ra khỏi túi áo phông. “Tôi cần đặt một cái máy nghe trộm vào điện thoại làm việc của cô. Nên hãy đến sớm hơn một chút vào buổi sáng đấy. Tôi sẽ chẳng mất đến vài phút đâu.”
“Anh sẽ nghe lỏm điện thoại của tôi à? Anh không cần một lệnh của tòa án hay gì đó sao?”
“Không. Tôi chỉ cần sự cho phép của cô, thứ mà cô sẽ trao cho tôi mà thôi.”
“Không đâu.”
Hàng lông mày đen của anh nhíu xuống và mắt anh trở nên cứng rắn. “Vì quái gì lại không? Tôi tưởng cô đã nói cô chẳng liên quan gì đến vụ trộm bức Monet của Hillard?”
“Tôi không liên quan.”
“Vậy thì đừng có hành động như thể cô có gì phải che giấu nữa.”
“Tôi đâu có. Đó là sự xâm phạm khủng khiếp đời sống riêng tư.”
Anh cắm gót chân xuống và nhìn cô qua đôi mắt nheo nheo. “Chỉ nếu cô có tội mà thôi. Trao sự cho phép của cô có thể giúp chứng minh rằng cô và Kevin trong sáng như những đứa trẻ sơ sinh.”
“Nhưng anh không tin vào điều đó, đúng không nào?”
“Không,” anh trả lời không do dự.
Phải mất rất nhiều nỗ lực mới không nói cho anh ta nghe chính xác nơi anh ta có thể nhét cái máy nghe trộm của mình. Anh ta quá tự mãn vào bản thân. Quá mức tự tin, nhưng cũng quá sai lầm. Một cái máy nghe trộm sẽ chẳng kiếm được gì cho anh ta hết, và chỉ một cách để chứng minh rằng anh ta sai. “Tốt thôi,” cô nói. “Làm bất kỳ chuyện gì anh muôn. Đặt một cái máy quay. Dùng đến máy kiểm tra nói dối. Đưa ra dụng cụ tra tấn.”
“Lúc này thì máy nghe trộm làm hữu dụng rồi.” Anh mở cửa sau và đẩy cái kính râm lên sống mũi thẳng tắp. “Tôi để dành dụng cụ tra tấn cho những tay chỉ điểm lập dị thích thú với nó cơ.” Những đường nét nhục dục ở môi anh cong lại thành một nụ cười khiêu khích có thể khiến một người phụ nữ gần như tha thứ hết cho anh vì đã còng tay cô ta rồi tống cô ta vào tù. “Cô có hứng thú không?”
Gabrielle nhìn xuống chân, tránh khỏi ảnh hưởng thôi miên của nụ cười đó, choáng váng vì anh cũng có thể gây ảnh hưởng đến cô. “Không, cảm ơn.”
Anh móc một ngón tay vào dưới cằm cô và nâng ánh mắt cô lên, quay lại mắt anh. Giọng nói quyến rũ của anh ve vuốt da thịt cô. “Tôi có thể thực sự dịu dàng đấy.”
Cô nhìn vào cặp kính râm của anh và không thể nói được anh đang đùa hay nghiêm túc. Anh cố quyến rũ cô hay đó chỉ là ảo tưởng của cô mà thôi. “Tôi sẽ bỏ qua.”
“Đồ gà con.” Anh thả tay xuống và bước một bước ra sau. “Cô hãy cho tôi biết nếu cô đổi ý nhé.”
Trong vài giây sau khi anh đi, cô nhìn chằm chằm vào cánh cửa đóng kín. Một cơn run rẩy nhồn nhột cù trêu dạ dày cô, và cô cố tự bảo mình đó là vị cô chưa ăn. Nhưng cô không thực sự tin vào điều đó. Với việc tay thám tử đã đi, cô đáng lẽ phải cảm thấy khá hơn, nhưng cô thì không. Anh sẽ quay lại vào ngày mai với máy nghe trộm, rình mò các cuộc trò chuyện.
Đến lúc Gabrielle xong việc trong ngày, cô đã cảm thấy như thể não cô sưng phồng và đầu cô sắp sửa nổ tung. Cô không biết chắc, nhưng cô nghĩ cô có thể đang phát triển một khe stress ở hộp sọ.
Lái xe về nhà, thường tốn mất của Gabrielle mười phút, giờ được hoàn thành trong có năm phút. Cô rẽ chiếc Toyota dòng bán tải vào rồi ra khỏi luồng giao thông, và chưa bao giờ quá đỗi vui mừng đến thế để đi vào căn gara chỉ chứa được một xe ô tô ở đuôi nhà cô.

Ngôi nhà gạch mà cô đã mua cách đây một năm khá nhỏ và nhồi nhét đầy những miếng những mẩu đời sống của cô. Trong một cửa sổ nhô ra đối diện với đường, một con mèo đen khổng lồ nằm duỗi mình giữa những cái đệm màu đào, quá béo và lười biếng để thực hiện được một màn chào hỏi đúng đắn. Những tia mặt trời tràn qua vô số tấm kính, trải những vùng sáng hình lập phương lên sàn gỗ và thảm hoa cỏ.
Bộ ghế và tràng kỷ được bọc màu tùng lam và hồng đào, cùng lúc ấy những cây cỏ tươi tốt tô điểm cho căn phòng hình chữ nhật, bức chân dung bằng màu nước vẽ một con mèo đen nằm trên cái ghế bành được treo trên một lò sưởi gạch thanh lịch.
Khi Gabrielle lần đầu tiên đặt mắt lên ngôi nhà này, cô đã yêu ngay nó. Nó, giống như chủ trước của nó, cổ kính và chứa đựng một bầu không khí chỉ có thể được tạo ra từ thời xa xưa. Căn phòng ăn nhỏ được trang trí bằng tủ bếp liền tường và dẫn ra một căn bếp với những tủ bát đĩa cao với từ sàn nhà lên tận trần. Cô có hai phòng ngủ, một trong số đó cô dùng làm phòng vẽ.
Các đường ống cứ rên rỉ. Sàn nhà gỗ thì lạnh, và nước thì nhỏ giọt vào bồn tắm. Nước toa lét chảy không ngừng nghỉ trừ phi cô lắc nhẹ tay vặn, và cửa sổ phòng ngủ cảu cô thì bị đóng chặt. Dẫu vậy, cô yêu ngôi nhà của cô bất chấp những hư hỏng của nó và yêu thậm chí cả vì những hư hỏng ấy.
Thoát quần áo khi bước đi, Gabrielle hướng đến phòng vẽ. Cô đi nhanh qua phòng ăn và bếp, bỏ qua những cái bát và chai nhỏ chứa kem chống nắng và các loại dầu chiết xuất tự nhiên khác mà cô đã chuẩn bị. Đến lúc cô tới được cửa phòng vẽ, tất cả những gì cô mặc là chiếc quần lót bikini màu trắng.
Một cái áo sơ mi loang lổ màu vẽ treo trên một khung vẽ ở giữa phòng. Khi cô đã cài khuy áo đến nửa ngực, cô bắt đầu nhặt nhạnh đồ vẽ.
Cô biết chỉ có một cách để giải phóng cơn giận khủng khiếp quấn quanh người cô và lại tô đen cả luồng khí của cô. Cô đã vượt quá xa tọa thiền và hương thơm xoa dịu rồi, và chỉ có một cách để biểu lộ cơn giận dữ và cảm giác tra tân nội tại. Chỉ có một cách để tống nó ra khỏi cơ thể cô.
Cô không thèm chuẩn bị vải bạt hay phác họa khuôn hình trước. Cô không thèm làm dịu lớp sơn dầu nặng nề hay cố pha sáng màu sắc. Cô thậm chí còn không có một ý tưởng rõ ràng về những gì cô định vẽ nữa. Cô chỉ vẽ mà thôi. Cô không tốn thời gian cẩn thận tính toán mỗi nét phác cọ, hay thèm quan tâm xem cô đang tạo ra cả một mớ hỗn loạn trên vải vẽ.
Cô chỉ vẽ mà thôi.
Vài giờ sau, cô không ngạc nhiên khi thấy ác quỷ trong bức tranh của cô mang một vẻ tương đồng đáng kể với Joe Shanahan hay con cừu non bé nhỏ tội nghiệp, bị còng bằng một đôi còng tay bạc, có mái tóc đỏ óng ả trên đầu thay vì lông len.
Cô bước lùi lại một bước để cẩn trọng đánh giá bức tranh. Gabrielle biết cô không phải là một nghệ sĩ vĩ đại. Cô vẽ vì tình yêu, nhưng thậm chí cô cũng biết tác phẩm này không phải bức vẽ tuyệt nhất của cô. Dầu bị dùng quá nặng, và vầng hào quang bao quanh đầu con cừu trông giống cái kẹo dẻo hơn. Chất lượng không tốt được gần bằng cả những bức vẽ và chân dung khác treo trên bức tường trắng của phòng tranh. Và như cô đối xử với những bức vẽ khác, cô bỏ chuyện vẽ tay và chân cho một lần khác. Cô cảm thấy trái tim nhẹ bẫng, và một nụ cười nâng hai má cô lên. “Mình thích nó,” cô thông báo cho căn phòng trống không, rồi đâm cây cọ vẽ vào một khoanh mực đen và thêm một bộ cánh kinh khủng cho ác quỷ.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 5

Tóc gáy Gabrielle dựng đứng khi cô xem Thám tử Shanahan đặt một máy nghe trộm vào tai nghe điện thoại. Rồi anh lấy cái tua vít và đặt mọi thứ vào vị trí cũ.
“Thế thôi à?” cô thì thào.
Một hộp dụng cụ nằm mở ra ở chân anh, và anh thả cái tua vít vào trong. “Sao cô lại thì thào thế?”
Cô hắng giọng và nói, “Anh đã xong chưa, Thám tử?”
Anh liếc cô qua vai và đặt cái tai nghe vào lại thân máy. “Gọi tôi là Joe ấy. Tôi là người yêu của cô, nhớ chứ?”
Cô giành cả đêm qua để cố quên đi. “Bạn trai.”
“Cũng giống nhau thôi.”
Gabrielle cố không đảo tròn mắt. Cố rồi thất bại. “Vậy hãy nói cho tôi,” cô dừng lại và thở ra, “Joe. Anh đã kết hôn chưa?”
Anh quay người đối mặt với cô và dồn trọng lượng lên một chân. “Chưa.”
“Tình yêu cháy bỏng của một cô nàng may mắn nào đó?”
Anh khoanh tay ngang ngực chiếc áo phông xám. “Vào lúc này, không.”
“Mới chia tay?”
“Phải.”
“Hai người ở cùng nhau bao lâu?”
Ánh mắt anh hạ thấp xuống chiếc áo sơ mi màu ngọc lam với hai con bướm màu xanh xanh vàng vàng to đùng mỗi bên ngực của cô. “Cô quan tâm làm gì?”
“Chỉ đang cố nói chuyện vui vẻ thôi mà.”
Anh trượt ánh mắt lên mặt cô một lần nữa. “Hai tháng.”
“Thật đấy à? Sao cô ấy lại phải mất lâu đến thế mới lấy lại lý trí vậy?”
Mắt anh nheo lại, và anh rướn người về phía cô. “Cô bị điên đấy à? Đấy là vấn đề của cô chắc? Cô là người đang gặp phải rắc rối, và tôi là người có thể giúp cô giải quyết được việc đó. Thay vì chọc ghẹo tôi đến phát điên, cô nên hỏi thăm mặt tốt của tôi mới đúng.”
Chỉ mới hơn chín giờ sáng, mà Gabrielle đã có quá đủ Thám tử Joe Shanahan để đi hết cả chín năm rồi. Cô đã có quá đủ việc anh ta gọi cô là đồ điên và chế nhạo những đức tin cá nhân của cô rồi. Cô phát ngán việc anh ta cứ sai bảo cô, ép cô đóng vai chỉ điểm, và đặt một con rệp vào điện thoại của cô. Cô trừng mắt nhìn anh, và đấu tranh xem có nên khiêu khích anh thêm nữa. Thường thì cô cố làm một người tốt, nhưng cô không cảm thấy tốt lắm sáng nay. Cô đặt hai tay lên hông và quyết định liều lĩnh với cơn nóng giận của anh. “Anh chẳng có mặt nào tốt cả.”
Ánh mắt anh chậm chạp di chuyển khắp mặt cô, rồi lướt qua cô. Khi anh nhìn lại, đôi mắt sẫm màu của anh nhìn xoáy vào cô, nhưng giọng anh trầm khàn và quyến rũ khi anh lên tiếng. “Đó không phải là những gì em đã cảm thấy tối qua.”
Tối qua ư? “Anh đang nói về cái gì vậy?”
“Trần truồng trên giường anh, lăn lộn giữa các tấm drap, em gào thét tên anh và cầu nguyện Chúa trong cùng một hơi thở.”
Tay Gabrielle thõng xuống hai bên. “Hử?”
Trước khi có thể hiểu hết những gì anh đang làm, anh đặt lòng bàn tay lên hai má cô và kéo cô về phía anh. “Hôn anh đi, em yêu,” anh nới, hơi thở của anh mơn man má cô. “Đưa anh lưỡi của em nào.”
Hôn anh đi, em yêu? Sững sờ không nói nên lời, Gabrielle không thể làm gì hơn là đứng đó như một na nơ canh. Hương thơm từ xà phòng gỗ đàn hương của anh xộc vào cô, khi anh hạ miệng xuống và ấn vào miệng cô. Anh rải những nụ hôn mềm mại lên hai khóe môi cô, và ôm mặt cô trong lòng bàn tay ấm áp của anh khi các ngón tay anh lồng vào phần tóc ngay trên tai cô. Đôi mắt nâu của anh phủ kím tầm nhìn của cô, cứng rắn và mãnh liệt, trái ngược hẳn với cái miệng nóng hổi, nhục dục của anh. Đầu lưỡi anh chạm vào viền môi cô, và hơi thở của cô nghẹn lại trong họng. Cô cảm nhận một cơn co giật tụ lại ở gan bàn chân, cảm giác nhoi nhói ấm áp cuộn tròn các ngón chân cô và lắng xuống trong bụng cô. Nụ hôn thật dịu dàng, gần như ngọt ngào, và cô đấu tranh để mắt mình mở to, đấu tranh để nhắc nhở bản thân rằng đôi môi đang mơn man môi cô, như thể anh thực sự là người yêu của cô, thuộc về một tay cảnh sát cứng đầu với luồng khí đen xì. Nhưng vào lúc này đây, luồng khí của anh không có cảm giác đen xì. Nó đỏ rực, màu đỏ nóng bỏng ngột ngạt của dục vọng, dục vọng của anh, bao quanh cả hai người họ và thúc giục cô quy hàng trước sự vuốt ve đầy sức thuyết phục của anh.
Cô thua trận. Mắt cô khép lại và môi cô hé ra. Anh dỗ miệng cô mở ra, và lưỡi anh chạm vào cô, nóng bỏng, trơn mượt, và khiêu khích được đáp lại. Cô ấn miệng mình vào anh, kéo sâu nụ hôn, và buông mình vào luồng cảm xúc dâng tràn khắp người cô. Anh có mùi thật tuyệt. Vị của anh còn tuyệt hơn. Cô dựa vào anh, nhưng anh buông tay khỏi mặt cô và kết thúc nụ hôn.
“Anh ta đi rồi,” anh nói, chỉ hơn một tiếng thì thầm.
“Hmm…” Không khí lạnh giá vuốt ve bờ môi ẩm ướt của cô, và cô mở mắt. “Gì cơ?”
“Kevin.”
Cô chớp mắt vào lần trước khi đầu óc bắt đầu rõ ràng. Cô liếc ra sau, nhưng căn phòng trống không trừ ra hai bọn họ. Từ phía trước cửa hàng, cô nghe tiếng máy tính tiền mở ra.
“Anh ta vừa đứng ở ngưỡng cửa.”
“À.” Cô quay lại với anh nhưng không thể nhìn vào mắt anh. “Ừ, đó cũng là những gì tôi đoán,” cô lầm bẩm và tự hỏi từ khi nào thì nói dối lại trở nên dễ dàng đến như vậy đối với cô. Nhưng cô biết câu trả lời - chính cái phút thám tử Shanahan xử lý cô trong công viên Julia Davis. Cô đi vòng qua anh tới bàn cô và ngồi xuống trước khi đàu gối cô khuỵu hẳn.
Cô cảm thấy đờ đẫn và hơi mất phương hướng, như sau cái lần cô cố ngồi thiền bằng cách treo ngược người và cuối cùng kết thúc bằng việc rơi ra khỏi đôi bốt trọng lực. “Hôm nay tôi sẽ đi gặp đại diện của Silver Wilds, nên tôi sẽ không ở đây từ trưa đến khoảng hai giờ. Anh phải tự lực cánh sinh đấy.”
Anh nhún vai. “Tôi có thể tự xử lý được.”
“Tuyệt vời!” cô nói hơi quá mức nhiệt tình. Cô với tay lấy quyển catalog đầu tiên trên cùng một chồng giấy và mở ra chính giữa. Cô không biết mình đang nhìn vào cái gì nữa, tâm trí cô còn đang quá bận rộn tua lại khoảnh khắc đáng xấu hổ vừa qua. Anh đã hôn cô để chặn miệng cô trước mặt Kevin, và cô tan chảy như bơ dưới môi anh. Tay cô run rẩy, và cô kéo chúng vào lòng.
“Gabrielle.”
“Ừ?”
“Nhìn tôi này.”
Cô bắt ánh mắt mình tới chỗ anh và không ngạc nhiên khi thấy nét cau có trên khuôn mặt ngăm ngăm dữ tợn của anh.
“Cô không nhũn ra chỉ vì nụ hôn đó chứ, hả?” anh hỏi nhỏ đủ để giọng anh không bị vượt ra khỏi phòng.
Cô lắc đầu và đẩy một bên tóc ra sau tai. “Tôi đã biết sao anh lại làm thế mà.”
“Bằng cách nào chứ? Cô quay lưng về phía anh ta mà.” Anh cúi xuống để nhặt hộp dụng cụ và máy khoan lên, rồi lại nhìn cô lần nữa. “À, ah, tôi quên mất. Cô là bà đồng mà.”
“Không, tôi không phải thế.”
“Giờ thì thật nhẹ nhõm.”
“Nhưng mẹ tôi thì phải.”
Nét cau có của anh hằn sâu hơn, rồi anh quay về hướng cửa và lẩm bẩm cái gì đó dưới hơi thở nghe như là “Trời đất quỷ thần ơi, xin hãy cứu con.”
Khi anh ra khỏi phòng, ánh mắt cô chuyển từ những lọn tóc cong ngắn đang vuốt ve qua gáy anh, qua đôi vai rộng, và đi xuống lưng chiếc áo phông xám mềm mà anh đã dắt vào trong cạp “quần Levi’s của mình. Một cái ví phồng lên bên túi trái quần jean của anh, và gót đôi bốt làm việc của anh nện vang khắp sàn nhà.
Gabrielle chống khuỷu tay lên bàn và tựa mặt vào tay. Cô không phải tín đồ cuống nhiệt của chakra (Các chakra được miêu tả như là xếp thành một cột thẳng từ gốc của cột sống lên đỉnh đầu. Các chakra được cho là đem lại năng lượng cho cơ thể và có liên quan đén các phản ứng của cơ thể, tình cảm hay tâm lý của một người. Chức năng của các chakra là xoay tròn để thu hút vào Năng lượng sống từ vũ trụ để giữ cân bằng cho sức khỏe về tâm linh, tâm lý, tình cảm và sinh lý của cơ thể.) , nhưng cô tuyệt đối tin vào mối quan hệ hòa hợp giữa cơ thể, trí óc, và tinh thần. Và ngay lúc này cả ba thứ đó đều đang hỗn loạn. Đầu có cô kinh hãi trước phản ứng thể xác của cô dành cho tay thám tử, và tâm hồn cô trống rỗng bối rối trước sự phân chia thái cực đó.
“Anh đoán giờ đã an toàn để đi vào đây rồi.”
Gabrielle thả tay xống và nhìn Kevin khi anh ta bước vào phòng. “Xin lỗi,” cô nói.
“Vì sao chứ? Em không biết là anh sẽ đến làm việc sớm mà.” Anh ta đặt một chiếc cặp táp lên bàn và vô thức tăng lên cảm giác tội lỗi của cô. “Joe là một anh chàng hùng hổ, anh hiểu mà.”
Cô không chỉ phản bội tình bạn của cô với Kevin mà giờ anh còn vô thức làm mọi việc tồi tệ hơn nhiều khi bào chữa cho hành vi của cô với tên đàn ông nghe trộm điện thoại với hy vọng khám phá ra thứ gì đó đáng tội. Kevin, tất nhiên, không biết gì về con rệp nghe trộm, và cô không thể cảnh báo cho anh.
“Ồ, ừm,” cô thở dài và tựa mà vào tay. Vào lúc cành sát loại cô và Kevin ra khỏi danh sách tình nghi của họ, cô sợ rằng cô cũng sẽ bị điên y như những gì tay thám tử đang cáo buộc cô.
“Có chuyện gì sao?” Kevin hỏi khi anh đi vòng quanh bàn và với tay lấy điện thoại.
“Anh không thể dùng cái đó ngay bây giờ được,” cô nói, ngăn anh lại, cứu anh khỏi con rệp.
Anh rụt tay lại. “Em cần dùng nó trước à?”
Cô đang làm cái gì thế này? Anh không có tội. Cảnh sát sẽ chẳng nghe được gì ngoài những cuộc gọi kinh doanh của Kevin, những thứ cũng thú vị như quan sát sơn khô đi vậy. Các cuộc gọi của anh sẽ nhàm chán đến mức họ lãnh đủ. Nhưng… Kevin có vài cô bạn gái, và thính thoảng khi Gabrielle đi vào văn phòng, anh đã quay lưng lại và che lấy ống nghe bằng tay như thể cô đã bắt gặp anh thảo luận những chi tiết thân mật trong đời sống tình yêu. “Không, em không cần dùng nó ngay bây giờ, nhưng chỉ cần đừng…” Cô dừng lại, tự hỏi làm sao để có thể cứu anh mà không có vẻ quá mơ hồ hay đi vào quá chi tiết. Làm sao cô có thể cứu anh mà không bảo với anh rằng cảnh sát đang nghe lóm các cuộc điện thoại của anh? “Chỉ đừng có riêng tư quá nhé,” cô lại bắt đầu. “Nếu anh có gì đó thực sự cá nhân muốn nói với một cô bạn gái, có lẽ anh nên đợi cho đến khi về đến nhà.”
Anh nhìn cô theo cái cách Joe cũng nhìn cô - như thể cô bị mất trí. “Em đã nghĩ anh sắp sửa làm gì thế? Gọi những cuộc điện thoại khiêu dâm à?”
“Không, nhưng em không nghĩ anh nên nói về những vấn đề riêng tư với bạn gái. Ý em là, đây là việc kinh doanh.”
“Anh ư?” Anh khoanh tay ngang ngực chiếc áo vét, và đôi mắt xanh của anh nheo lại. “Thế còn em thì sao? Cách đây vài phút, mặt em dính chặt vào tay thợ sửa chữa của em đấy.”
Giờ thì anh tức giận, nhưng chẳng mấy ngày nữa anh sẽ cảm ơn cô thôi. “Em sẽ ăn trưa với đại diện của Silver Wild chiều nay,” cô nói, cố tình thay đổi chủ đề. “Em sẽ đi trong khoảng hai tiếng.”
Kevin ngồi xuống và khởi động máy tính của anh, nhưng anh không nói gì hết. Anh không nói chuyện với cô trong khi cô kiểm tra biên lai chuyển hàng, hay khi- trong nỗ lực dỗ dành anh- cô dọn sạch bên văn phòng của cô.
Ba tiếng đồng hồ cho đến cuộc hẹn buổi trưa dường như kéo dài vô tận. Cô đổ đầy hoa oải hương và ngải đắng vào bình xịt sứ, bán vài món hàng, và luôn luôn ngầm theo dõi tay thám tử tháo gỡ các giá đỡ gắn trên tường ở bên phải cô.
Cô quan sát để đảm bảo anh không gắn thêm một con rệp nào nữa hay rút một cái súng lục ra khỏi đôi bốt và bắn vào ai đó. Cô quan sát các cơ bắp anh căng ra bên dưới áo phông khi anh gỡ cái giá thủy tinh nặng nề, và cô quan sát bờ vai rộng cơ bắp của anh khi anh vác nó vào phòng sau. Anh đã đeo thắt lưng treo dụng cụ trễ trên hông như bao súng, và tay anh trượt êm ru vào cái túi trước, cất ốc vít.
Thậm chí khi Gabrielle không quan sát anh, thì cô cũng biết khi nào thì anh ra khỏi phòng và khi nào thì anh lại bước vào. Cô có thể cảm nhận anh như lực hút vô hình của hố đen. Khi cô không giúp đỡ khách hàng, cô lại tự làm mình bận rộn với điệp khúc phủi bụi không bao giờ kết thúc, và cô tránh nói chuyện với anh nhiều hết sức có thể, chỉ trả lời những câu hỏi trực tiếp của anh.
Đến mười giờ, sự căng thẳng đã siết chặt hộp sọ cô, và vào mười một giờ ba mươi, cô bị giật giật khóe mắt ngoài bên trái. Cuối cùng, lúc mười hai giờ kém mười lăm, cô vớ lấy cái ba lô nhỏ bằng da và ra khỏi cửa hàng đầy áp lực, bước vào ánh nắng rực rỡ, cảm giác như cô vừa được phóng thích sau mười năm hà khắc.
Cô gặp đại diện của Silver Wilds trong một cửa hàng ở trung tâm mua sắm, rồi họ ngồi ngoài ban công và bàn luận về những cái vòng và khuyên tai bạc xinh xắn. Một cơn gió nhẹ đung đưa cái ô xanh trên đầu khi xe cộ băng qua trên con phố phía dưới. Cô gọi món gà xào ưa thích và một cốc trà đá rồi đợi cho cảm giác căng thẳng của buổi sáng rời khỏi sọ.
Tật giật giật ở mắt cô đã hết, nhưng có vẻ như cô không thể hoàn toàn thư giãn. Bất kể cô cố gắng bao nhiêu, cô cũng không thể tập trung và điều hòa lại tinh thần. Bất kể cô đấu tranh bao nhiêu, tâm trí cô vẫn quay lại với Joe Shanahan, và vô số cách mà tay thám tử có thể lừa moi một lời thú tội sai sự thực từ Kevin trong lúc cô đi vắng. Cô không tin là lại có tính mềm lòng trong cái cơ thể cơ bắp đồ sộ của thám tử Shanahan, và cô ngờ ngợ mong sẽ quay về và thấy Kevin tội nghiệp bị còng vào một cái ghế.
Những gì chào đón cô khi cô bước vào của hàng hai giờ sau là những thứ cuối cùng cô mong đợi. Tiếng cười. Tiếng cười của Kevin hòa vào cùng Mara khi hai người họ đứng cạnh một cái thang, toe toét cười với Joe Shanahan như thể tất cả họ là bạn thân.
Đối tác kinh doanh của cô đang ngửa mặt lên cười với tay thám tử quyết tâm bắt anh ấy vào tù. Và Gabrielle biết Kevin sẽ ghét nhà tù hơn so với phần lớn cánh đàn ông. Anh sẽ ghét quần áo, kiểu tóc và ghét không có di động.
Ánh mắt cô di chuyển từ khuôn mặt vui vẻ của Kevin tội nghiệp tới tám giá hàng cao dần chạy từ sàn lên tận trần nhà ở tường ngang. Joe đứng ở bục cao nhất của cầu thang với một tay cầm khoan, một tay cầm mũi khoan, và thước đo gắn vào mặt chiếc thắt lưng đeo dụng cụ của anh.
Cô đã không mong anh sẽ biết nhiều về nghề lắp ráp để hoàn thành tốt công việc, nhưng hệ thống giá kim loại đang nhìn thẳng vào cô, nên anh rõ ràng là biết nhiều hơn cô tưởng. Mara quỳ xuống cạnh bức tường và giữ để cái giá cuối cùng. Nét biểu cảm trong đôi mắt nâu to tròn của cô gái hơi quá mê dại khi cô gái ngước nhìn tay thám tử. Mara còn non nớt và, Gabrielle đoán, hơi mẫn cảm với chất đàn ông mùi xạ hương mà Joe toát ra.
Ba người họ không hề nhận thấy Gabrielle, hay vị khách đang nhìn vào các lọ hoa sứ trưng bày.
“Không dễ đến thế đâu,” Kevin nói với viên thanh tra phía trên. “Anh phải có cả con mắt tinh tường lẫn bản năng để kiếm tiền với đồ cổ.”
Cuộc đối thoại dừng lại khi Joe khoan hai con vít lên một mặt giá kim loại. “Chậc, tôi dường như chẳng biết gì về đồ cổ hết,” anh thú nhận khi trèo xuống cầu thang. “Mẹ tôi là một người cuồng tín các món đồ cũ bán lại, và với tôi tất cả những thứ đó trông đều như nhau hết.” Anh quỳ xuống cạnh Mara và khoan nốt hai con ốc còn lại. “Cám ơn vì đã giúp,” anh nói trước khi đứng lên.
“Không có gì. Em còn có thể làm gì nữa cho anh nào?” Mara hỏi, trông như thể cô gái muốn cắn cho anh ta một cái.
“Anh gần xong rồi.” Anh đứng chắc hai chân và bắt thêm vài con vít nữa.
“Vài người tìm thấy đồ cổ ở các hàng đồ cũ bán lại,” Kevin nói khi bầu không khí lại trở nên im ắng. “Nhưng những tay buôn bán nghiêm túc thường chủ đi tới những cuộc bán đấu giá hoặc thanh lý thu hồi tài sản. Đó là cách tôi gặp được Gabrielle. Chúng tôi cùng trả giá một bức tranh màu nước. Đó là một bứa tranh phong cảnh đồng quê của một họa sỹ địa phương.”
“Tôi cũng không biết nhiều về nghệ thuật,” Joe thú nhận và dựa cánh tay vào một bậc thang, chiếc máy khoan vẫn nắm chắc trong tay anh như một khẩu súng 45 ly. “Nếu tôi muốn mua một bức tranh, tôi sẽ phải hỏi ai đó biết về những thứ như thế.”
“Anh rất thông minh khi làm thế. Phần lớn mọi người không biết thứ gì thực sự có giá trị và cũng không nói được tranh của họ có phải bản chính hay không. Anh sẽ ngạc nhiên số lượng tranh giả treo trong các phòng tranh uy tín đấy. Đã có một cuộc tấn công vào…”
“Đó là nghệ thuật tranh tang,” Gabrielle ngắt lời trước khi Kevin có thể tự buộc tội mình thêm nữa. “Chúng tôi đã trả gía các bức tranh tang.”
Kevin lắc đầu khi cô đi về phía anh ta. “Anh không nghĩ thế. Tranh tang làm anh sởn gai ốc.”
Joe nhìn cô qua vai. Ánh mắt anh chạm vào mắt cô khi anh chậm rãi nói, “Buổi sáng (từ tang (mourning) trong tiếng anh phát âm gần giống như buổi sáng (morning)) như lúc mặt trời mọc ấy à?” Anh không bị lừa, anh biết cô đang làm gì.
“Không.” Cô không thực sự quan tâm đến những gì anh biết. “Nó được gọi là tranh tang vì các bức tranh được làm từ tóc của người yêu dấu đã lìa đời. Chúng rất phổ biến trong thế kỷ mười bảy và mười tám, và giờ vẫn còn thị trường cho nghệ thuật tranh tóc. Không phải mọi người đều có ác cảm với những bức tranh được làm từ mái tóc của người đàn bà vĩ đại. Vài bức khá là đẹp.”
“Với tôi thì nghe có vẻ bệnh hoạn.” Joe quay người và dùng dây thừng màu vàng cam để hạ cái máy khoan xuống sàn nhà.
Mũi Mara nhăn lại. “Em đồng ý với anh Joe. Bệnh hoạn và tởm lợm.”
Gabrielle yêu nghệ thuật tranh tóc. Cô luôn thấy nó hấp dẫn, và bất kể rất phi lý, ý kiến của Mara thực sự mang lại cảm giác bị phản bội. “Em cần đi giúp vị khách hàng đang ngắm nghía các bình hoa đi,” cô bảo nhân viên của mình, tông giọng hơi khắc nghiệt hơn cô dự tính. Cảm giác bối rối kéo hàng lông mày của Mara lại khi cô gái đi ra cửa hiệu. Cơn giật giật ở mắt Gabrielle quay lại, và cô ấn các ngón tay vào đó. Cuộc sống của cô đang vỡ vụn, và nguyên nhân của nó đang đứng trước mắt cô trong quần jean bó căng và áo phông, trông như một anh công nhân xây dựng trong các quảng cáo Coca ăn kiêng.
“Em thấy ổn chứ?” Kelvin hỏi, sự quan tâm rõ rành rành của anh khiến cô càng thấy tệ hơn.
“Không, đầu em hơi nhức và dạ dày em cồn cào.”
Joe vươn tay qua khoảng cách ngắn ngủi chia cách họ và vuốt một bên tóc cô ra sau tai. Anh chạm vào cô như thể anh có quyền chính đáng, như thể anh có quyền quan tâm đến cô. Nhưng tất nhiên là anh không quan tâm. Tất cả chỉ là để lừa Kelvin.
“Em đã ăn gì cho bữa trưa thế?” anh hỏi.
“Bữa trưa không khiến em phát ốm.” Cô nhìn chằm chằm vào đôi mắt nâu của anh và trả lời thật, “Nó đã bắt đầu từ sáng nay rồi.” Cảm giác nhộn nhạo thú vị trong dạ dày cô bắt đầu với một nụ hôn. Một nụ hôn từ tay cảnh sát cằn cỗi cảm xúc ghét cô nhiều như cô ghét anh ta. Anh vỗ má cô bằng lòng bàn tay ấm áp của anh như để bảo cô hãy cứng rắn lên.
“Nó gì? À, chứng đau bụng kinh,” Kelvin suy ra như thể biểu hiện của cô đột nhiên cực kỳ dễ hiểu với anh. “Anh tưởng em đã pha chế một loại thuốc thảo mộc cho các thay đổi tâm trạng rồi chứ.”
Hai khóe miệng của Joe cong lên trong một nụ cười thích thú, và anh hạ tay xuống và móc ngón tay cái vào thắt lưng đeo dụng cụ.
Đó là sự thật. Cô đã tạo ra một loại dầu tự nhiên dường như giúp được cô bạn Francis của cô các triệu chứng tiền kinh nguyệt của cô ấy. Cô thì không có các triệu chứng tiền kinh nguyệt và cô luôn luôn cực kỳ tử tế với mọi người – chết tiệt thật. “Em không có bất ổn về tâm trạng.” Cô khoanh tay dưới ngực và cố không trừng mắt. “Lúc nào em cũng hoàn toàn dễ thương mà. Cứ hỏi bất kỳ ai mà xem!”
Hai người đàn ông nhìn cô như thể họ sợ phải nói thêm một từ nào nữa. Kelvin rõ ràng đã phản bội cô. Anh đã đào ngũ sang doanh trại kẻ thù – kẻ thù của anh.
“Có khi em nên nghỉ ngơi cả ngày đi,” Kelvin gợi ý, nhưng cô không thể. Cô phải ở lại và cứu anh khỏi Joe và khỏi chính bản thân anh. “Anh đã có một cô bạn gái nằm vắt vưởng với túi chườm nóng và ăn sô cô la. Cô ấy nói đó là cách duy nhất có vẻ giúp ích được với những cơn đau bụng kinh và bất ổn tâm trạng.”
“Em không bị đau bụng kinh hay tâm trạng bất ổn!” Không phải đàn ông không được nói về những chuyện như thế này sao? Không phải nó sẽ làm họ chết khiếp sao? Nhưng chẳng ai trong hai người đàn ông trông xấu hổ gì hết, thực tế thì, Joe trông như thể anh đang cố không cười phá lên.
“Có khi em nên uống vài viên Midol,” Joe thêm vào qua nụ cười mỉm, dù cho anh biết quá rõ là những gì làm cô đau đớn không thể chữa lành bằng Midol.
Kelvin gật đầu. Cơn đau đầu của Gabrielle chuyển tới thái dương, và cô không còn thèm quan tâm đến việc cứu Kelvin khỏi Joe Shanahan hay nhà tù nữa. Nếu cuối cùng anh có trở thành bạn đặc biệt của một tay tội phạm cơ bắp căng phồng nào đó, thì lương tâm của cô vẫn trong sạch. Gabrielle nâng tay lên hai bên đầu như để giữ cho đầu khỏi nứt làm đôi.
“Tôi chưa bao giờ thấy cô ấy tức giận đến vậy,” Kelvin nói như thể cô không đứng ngay trước mặt anh.
Joe nghiêng đầu sang một bên và giả vờ xem xét cô. “Tôi đã có một cô bạn gái mỗi tháng một lần làm tôi nhớ đến một con bọ ngựa đang cầu nguỵện. Nếu anh nói điều gì đó không đúng, cô ta sẽ cắn nát đầu anh ra. Dù vậy những khoảng thời gian khác cô ấy thực sự là một cô nàng ngọt ngào.”
Gabrielle nắm chặt hai bàn tay hiền lành của cô thành nắm đấm rồi buông xuống hai bên người. Cô muốn thụi ai đó. Ai đó cứng cáp với đôi mắt và mái tóc sẫm màu. Kẻ đang ép cô có những ý nghĩ ác độc. Ép cô tạo ra nghiệp chướng. “Cô bạn gái nào vậy? Cái cô đã đá anh sau tận hai tháng ấy hả?”
“Cô ấy không đá anh. Anh đã chia tay với cô ấy.” Joe với lấy Gabrielle và vòng cánh tay anh quanh eo cô. Anh kéo cô áp vào người và vuốt ve da cô qua lớp vải nylon mỏng của áo sơ mi. “Chúa ơi, anh yêu những lúc em ghen tuông,” anh thì thầm bằng giọng trầm, gợi cảm ngay trên tai cô. “Em nheo hết cả mắt lại và thật quyến rũ.”
Hơi thở anh sưởi ấm da đầu cô, và nếu cô quay đầu chỉ một chút thôi, môi anh cũng sẽ mơn man má cô. Mùi hương tuyệt diệu của da anh bao bọc đầu cô, và cô tự hỏi sao một người đàn ông quỷ quyệt như vậy lại có mùi của thiên đường. “Anh trông thì bình thường,” cô nói, “nhưng anh thực sự là một ác quỷ từ địa ngục.” Cô huých khuỷa tay vào xương sườn anh. Thật mạnh. Không khí rít ra từ phổi anh và cô buớc ra khỏi vòng tay anh.
“Đoán điều này có nghĩa là anh sẽ không được gì tối nay rồi,” Joe rên lên khi anh ôm lấy lườn.
Kelvin tên phản bội bật cười, như thể tay thám tử là một nghệ sĩ hài không bằng.
“Em về nhà đây,” cô nó và đi ra khỏi phòng mà không ngoái lại. Cô đã cố. Nếu Kelvin tự buộc tội mình trong lúc cô vắng mặt, và lương tâm cô vẫn trong sạch.
Kelvin nghe thấy tiếng cửa sau đóng sầm lại, rồi anh quay ánh mắt sang bạn trai của Gabrielle. “Cô ấy thực sự tức điên với anh đấy.”
“Cô ấy sẽ vượt qua thôi. Cô ấy chỉ rất ghét khi tôi nhắc đến mấy cô bạn gái cũ.” Joe chuyển trọng lượng sang một chân và khoanh tay ngang ngực. “Cô ấy bảo tôi là anh và cô ấy từng hẹn hò một hai lần gì đó.”
Kelvin tìm kiếm dấu hiệu ghen tuông nhưng chẳng thấy gì. Anh đã thấy cái cách Joe chạm vào Gabrielle đầy sở hữu, và đã chứng kiến họ hôn nhau sáng nay. Trong khoảng thời gian dài mà anh quen biết cô, cô luôn đắm đuối những anh chàng cao, gầy. Anh chàng này khác hẳn. Anh chàng này toàn thân cơ bắp lực lưỡng và mạnh mẽ cục súc. Cô chắc là đang yêu. “ Chúng tôi đã đi chơi vài lần, nhưng chúng tôi làm bạn thì tốt hơn,” anh ta trấn an Joe. Thực ra thì, anh ta đã thích cô nhiều hơn là cô thích anh ta. “Anh không có gì phải lo lắng hết.”
“Tôi không lo lắng. Tôi chỉ tò mò thôi.”
Kelvin luôn ngưỡng mộ sự tự tin, và Joe có vô số. Nếu người đàn ông có một khoản thu nhập tử tế bên cạnh vẻ đẹp mã, Kelvin chắc sẽ ghét hắn ra mặt. Nhưng hắn ta thực là một kẻ thảm hại đến nỗi Kelvin không cảm thấy tự ti tí nào. “Tôi nghĩ anh chắc sẽ tốt cho Gabrielle đấy,” anh nói.
“Sao lại thế?”
Bởi vì anh muốn cô xao nhãng trong mấy ngày tới, và Joe dường như chiếm cứ được cô hoàn toàn. “Bởi vì không ai trong hai người mong đợi quá nhiều,” anh trả lời và quay về văn phòng. Anh lắc đầu khi bước lại vào phòng và ngồi vào bàn làm việc. Bạn trai của Gabrielle là một tên bại trận thảm hại hoàn toàn hạnh phúc với việc kiếm sống qua ngày.
Không phải Kelvin. Anh không được sinh ra đã giàu có như Gabrielle, hay trông đẹp mã như Joe. Thay vào đó, anh sinh ra là con thứ sáu trong một gia đình theo đạo Mormon có mười một đứa con. Với nhiều trẻ con đến thế gói gọn trong một nông trang nhỏ, thật dễ bị bỏ qua. Ngoại trừ sự bíến đổi chút ít trong màu tóc và khác biệt rõ ràng về giới tính, lũ trẻ nhà Carter trông đều như nhau hết.
Ngoại trừ một lần một năm vào dịp sinh nhật, chẳng có sự chú ý đặc biệt nào dành cho cá nhân mỗi đứa trẻ. Chúng đựoc đối xử như một thể. Một đại gia đình. Phần lớn các anh chị em của anh đều thích được lớn lên trong một gia đình lớn như vậy. Họ cảm thấy một sự ràng buộc, một sự gần gũi đặc biệt với các anh chị em khác. Không phải Kelvin. Anh chỉ cảm thấy vô hình. Anh ghét điều đó.
Suốt cả cuộc đời, anh đã làm việc chăm chỉ. Trước khi đi học, sau khi đi học, và suốt cả mùa hè dài đằng đẵng. Anh chẳng được đưa cho thứ gì ngoài mấy bộ quần áo cũ và một đôi giày mới mỗi mùa thu. Anh vẫn làm việc chăm chỉ, nhưng giờ anh thích thú với bản thân hơn nhiều. Và nếu có những thứ anh muốn nhưng không thể kiếm được tiền qua việc kinh doanh hợp pháp, thì vẫn có những con đường khác. Luôn có những con đường khác.
Tiền là sức mạnh. Tuyệt đối. Không có nó, một người đàn ông chả là cái gì hết. Chỉ vô hình.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 6

Bập bềnh trên một cái phao hơi trong suốt ở chính giữa bể bơi trẻ con ở sân sau nhà, Gabrielle cuối cùng cũng tìm thấy sự bình yên nội tại mà cô đã truy đuổi suốt cả ngày. Không lâu sau khi cô trở về từ cửa hàng buổi chiều nay, cô đã đổ đầy bể và mặc vào bộ bikini màu bạc. Bể bơi rộng ba mét, sâu một mét và có những động vật rừng rậm màu vàng cam và xanh dương bao bên ngoài. Hoa dại, cánh hoa hồng và chanh thái lát trôi nổi trên mặt nước, xoa dịu cảm giác căng thẳng thần kinh của cô với hương của hoa và cam quýt. Tất nhiên xóa sạch Joe khỏi đầu cô là bất khả thi, nhưng cô cũng thành công trong việc ngấm đủ năng lượng tích cực từ vũ trụ để đẩy anh xuống tận cùng trí óc cô.
Ngày hôm nay là cơ hội đầu tiên cô có để kiểm tra kem chống nắng của cô, và cô đã xoa hết khoảng da trần của mình bằng hỗn hợp dầu của hạt vừng, mầm lúa và hoa oải hương. Oải hương là sáng tạo phút cuối, một kiểu tự bảo hiểm. Oải hương không có tính chất chống nắng, nhưng có tác dụng chữa lành da, trong trường hợp cô bị cháy nắng. Và bên cạnh đó, mùi hương hoa che lấp mùi hạt mầm để cô không hút lấy sự chú ý không mong muốn từ những con chim đói khát tìm kiếm thức ăn.
Định kỳ, cô nhấc mép đồ tắm lên và kiểm tra làn da rám nắng của mình. Suốt buổi chiều, da cô rám đi rất đẹp mà không có lấy một vết đỏ tấy.
Lúc năm giờ ba mươi, cô bạn Francis Hall-Valento- Mazzoni của cô, giờ chỉ còn lại là Hall, ghé qua để tặng Gabrielle một cái quần lọt khe lụa đỏ và áo con xuyệt tông. Francis sở hữu cửa hàng Naughty or Nice, cửa hàng đồ lót cách Anomaly nửa con phố. Và cô ấy thường ghé qua với phát minh mới nhất của cô về quần lót không đũng hoặc áo ngủ trong suốt. Gabrielle không có can đảm bảo bạn cô là cô không có đam mê với đồ lót khiêu gợi. Hậu quả là đa số các món quà kết thúc trong một cái hộp trong tủ đồ của Gabrielle. Francis tóc vàng và mắt xanh, ba mươi mốt tuổi, đã ly dị hai lần. Cô ấy đã dính vào nhiều mối quan hệ hơn cô ấy thèm nhớ, và tin rằng rắc rối phần lớn giữa đàn ông và đàn bà có thể giải quyết với một cái quần lót bằng cam thảo.
“Phấn phủ mà tớ làm cho cậu làm việc thế nào?” Gabrielle hướng câu hỏi về bạn cô, đang ngồi trong một cái ghế bằng liễu gai dưới mái hiên.
“Tốt hơn mặt nạ yến mạch hoặc dầu chữa các triệu chứng tiền kinh nguyệt.”
Gabrielle lướt tay qua mặt nước, khuấy loạn cánh hoa hồng và cỏ dại. Cô tự hỏi cách cư xử của cô hay tính nóng vội của Francis là sai lầm. Francis luôn tìm kiếm giải pháp tức thì. Câu trả lời dễ dàng nhất, không bao giờ thèm bận tâm tìm kiếm linh hồn của chính cô ấy và khám phá sự thanh thản nội tại và hạnh phúc trong tâm hồn. Hậu quả là, đời sống của cô ấy luôn gặp khủng hoảng. Cô ấy bị dính như nam châm với những tay thảm hại và có nhiều rắc rối hơn cả những cô người mẫu trên tạp chí gầy nhằng. Francis cũng có những phẩm chất mà Gabrielle ngưỡng mộ. Cô ấy vui vẻ và tươi sáng, đuổi theo những gì cô ấy mong muốn và có trái tim thuần khiết.
“Lâu rồi tớ không nói chuyện với cậu. Kể từ tuần trước khi cậu nghĩ có một tên đàn ông to lớn với mái tóc đen nào đó đang theo đuổi cậu.”
Lần đầu tiên trong hơn một giờ, Gabrielle nghĩ đến thám tử Joe Shanahan. Cô nghĩ về việc anh xâm nhập đời sống của cô và những nghiệp chướng tồi tệ mà cô đã tích lũy được nhờ có anh. Anh vừa hách dịch, thô lỗ và đầy hóc môn nam tính đến mức bóng râm năm giờ của lớp râu mới mọc tô sẫm má anh vào lúc bốn giờ mười lăm. Và khi anh hôn, luồng khí của anh chuyển sang màu đỏ rực rỡ nhất trong bất kì người đàn ông nào cô từng gặp.
Cô nghĩ đến việc kể cho Francis về một buổi sáng cô chĩa một khẩu súng vào một tay cảnh sát ngầm và kết thúc trở thành tay chỉ điểm mặt cho anh ta. Nhưng bí mật này quá lớn để nói ra.
Gabrielle lấy tay che mắt và nhìn bạn cô. Cô chưa bao giờ giỏi giang gì trong việc giữ bí mật. “Nếu tớ nói cho cậu chuyện gì đó, cậu phải hứa không nói ra nhé,” cô bắt đầu, rồi tiếp tục kể lể như một tay chỉ điểm chuột nhắt trong nhà tù. Cô kể hết những điểm chính, nhưng cố tình bỏ qua những chi tiết khó chịu, như sự thực rằng anh có những cơ bắp cứng cáp, quyến rũ của một người mẫu đồ lót và hôn như một người đàn ông thậm chí có thể quyến rũ những người đàn bà cứng nhắc nhất ra khỏi quần bó bụng. “Joe Shanahan quá hống hách và thô lỗ, và tớ bị kẹt cùng với anh ta cho đến khi Kevin được giải phóng khỏi toàn bộ câu chuyện vớ vẩn lỗ bịch này,” cô kết thúc, cảm thấy sảng khoái. Lần đầu tiên, các rắc rối của Gabrielle lớn hơn bạn của cô.
Francis im lặng một giây, rồi lẩm bẩm, “Hmm.” Cô đẩy cặp kính râm màu hoa hồng lên sống mũi. “Vậy anh chàng này trông như thế nào?”
Gabrielle quay mặt ra với mặt trời. Cô nhắm mắt lại và nhìn thấy khuôn mặt của Joe, đôi mắt mãnh liệt và hàng lông mi sắc nhọn, những đường nét nhục dục của khuôn miệng anh, và vẻ đối xứng hoàn hảo của vầng trán rộng, cái mũi thẳng và cái cằm cương nghị. Mái tóc dày có xu hướng cong lại quanh tai và gáy anh, làm mềm đi những đường nét mạnh mẽ, cơ bắp. Anh có mùi tuyệt vời. “Không có gì đặc biệt.”
“Quá tệ. Nếu tớ phải làm việc với một tên cảnh sát, tớ muốn một anh chàng vạm vỡ như trên mấy tờ lịch cơ.”
Thứ mà, Gabrielle cho rằng miêu tả Joe khá tốt.
“Tớ sẽ bắt anh ta mang mấy đồ thật nặng và đổ đầy mồ hôi,” Francis tiếp tục với giấc mơ ảo tưởng.
“Và tớ sẽ quan sát cặp mông rắn chắc của anh ta khi anh ta cúi xuống.”
Gabrielle cau mày. “Chà, tớ nhìn vào tâm hồn một người đàn ông. Vẻ ngoài của anh ta không quan trọng.”
“Cậu biết gì không? Tớ đã nghe cậu nói thế trước đây, và nếu đó là sự thực, thì sao cậu lại không ngủ với anh bạn trai cũ Harold Maddox của cậu?”
Francis đúng một điểm, nhưng không đời nào Gabrielle thú nhận vẻ ngoài quan trọng như bản chất tâm hồn một người đàn ông đâu. Không hề đúng. Một người đàn ông thông thái về tâm hồn quyến rũ hơn nhiều một tên cư dân nguyên thủy. Vấn đề là, sự hấp dẫn thể xác đôi khi chắn giữa đường. “Tớ có lý do của tớ.”
“Ừ ha, kiểu như anh ta nhàm chán, có một cái đuôi tóc không đều, và mọi người đều nhầm anh ta thành bố cậu.”
“Anh ấy không già đến thế.”
“Cậu nói gì chả được.”
Gabrielle có thể làm vài nhận xét về cách lựa chọn đàn ông và chồng của Francis nhưng chọn không làm thế.
“Tớ không quá ngạc nhiên rằng Kevin là một nghi phạm,” Francis nói. “Hắn ta có thể khá xảo trá.”
Gabrielle nhìn bạn cô và cau mày. Francis và Kevin đã từng hẹn hò một thời gian ngắn, và giờ thì hai người họ có một mối quan hệ kiểu không yêu thì ghét. Gabrielle chưa bao giờ hỏi tại sao hay chuyện gì đã xảy ra, cô không muốn biết. “Cậu chỉ nói thế vì cậu không thích mà thôi.”
“Có thể, nhưng hứa với tớ dẫu thì sao cũng sẽ mở to mắt nhé. Cậu đặt quá nhiều lòng tin mù quáng vào bạn bè.” Francis đứng dâỵ và vuốt thẳng cái váy hai dây.
Gabrielle không nghĩ cô trao đi lòng tin mù quáng, nhưng cô tin rằng sự tin tưởng mà cô trao đi là sự tin tưởng mà cô nhận được. Nếu cô không trao được một cách hào phóng, cô sẽ không được nhận lại. “Cậu đi đấy à?”
“Ừ, tớ có hẹn với một tay thợ sửa ống nước. Nên tỏ ra là thú vị. Anh ta có một cơ thể tuyệt vời, nhưng không nói nhiều. Nếu anh ta không quá tẻ nhạt, tớ sẽ cho anh ta đưa tớ về nhà và cho tớ xem cái mỏ lết của anh ta.”
Gabrielle cố tình không binh luận gì về lời phát biểu cuối cùng. “Cậu có thể bật máy lên hộ tớ được không?” cô hỏi và chỉ về cái máy cassette cũ đang nằm trên một cái bàn bằng liễu gai.
“Tớ không biết làm sao mà cậu lại có thể nghe cái thứ tào lao này được.”
“Cậu nên thử đi. Cậu có thể tìm ra lẽ sống của cuộc đời đấy.”
“Ừ, phải, tớ thà nghe Aerosmith còn hơn. Steven Tyler khiến cuộc đời tớ có ý nghĩa.”
“Ha ha,” Francis nói, và tiếng cửa sau sập vào báo hiệu cô đã đi. Gabrielle kiểm tra đường rám nắng của cô, tìm dấu hiệu cháy nắng, rồi nhắm mắt lại và suy ngẫm mối liên hệ của cô với vũ trụ. Cô tìm kiếm các câu trả lời. Trả lời cho những câu hỏi mà cô không hiểu. Giống như làm sao mà số mệnh lại quyết định rằng Joe nên bước vào cuộc đời cô với sức ảnh hưởng của một cơn lốc xoáy vũ trụ cơ chứ.
Joe ném điếu thuốc của anh vào một bụi đỗ quyên, rồi nâng tay lên trước cánh cửa gỗ nặng nề. Cùng lúc anh gõ, cánh cửa mở ra và một người phụ nữ có mái tóc vàng ngắn và đôi môi hồng ánh nhũ nhìn chằm chằm vào anh ta sau một cặp kính râm màu hoa hồng. Dù anh đã quan sát cái địa chỉ này mấy tuần trời, anh vẫn lùi lại và nhìn vào số nhà màu đỏ tươi được đóng vào tường ngôi nhà. “Tôi đang tìm Gabriella Breedlove,” anh nói.
“Anh hẳn là Joe.”
Ngạc nhiên, ánh mắt anh quay lại với người phụ nữ trước mặt.
Sau cặp mắt kính, đôi mắt màu xanh dương của anh ta lướt xuống ngực anh. “Cô ấy đã kể cho tôi anh là bạn trai cô ấy, nhưng rõ ràng là cô ấy đã bỏ qua rất nhiều thứ.” Cô ta nâng mắt anh ta lên và mỉm cười. “Tôi tự hỏi vì sao cô ấy lại bỏ đi những thứ hay ho cơ chứ?”
Joe tự hỏi chính xác thì người chỉ điểm của anh đã nói gì về anh. Anh cũng có một vài câu hỏi khác muốn hỏi cô, nhưng đó không phải lý do duy nhất anh cần gặp cô. Anh chưa bao giờ làm việc với một ai lại khó chịu và thù địch như Gabrielle, và anh sợ rằng cô có thể bật hẳn lại anh và phá vỡ vỏ bọc của anh. Anh cần cô bình tĩnh và hợp tác. Không còn trò hề nào nữa. Không còn chắn mình vào giữa anh và bạn thân mới của anh, Kevin. “Gabrielle đâu?”
“Trong bể bơi ở sân sau.” Cô ta bước tránh sang và đóng cửa lại phía sau. “Đi nào, tôi sẽ chỉ cho anh.” Cô ta đưa anh tới rìa ngôi nhà và chỉ về một hàng rào cao phủ đầy hoa hồng. Một khung vòm với cánh cổng mở ra chia hàng rào thành hai phần.
“Qua đó đấy.” người phụ nữ chỉ, rồi quay lại bỏ đi.
Joe đi xuống dưới khung vòm và sải hai bước dài trước khi đứng sựng lại. Cái sân sau đầy những bông hoa màu sắc và thơm ngát. Và Gabrielle Breedlove đang bập bềnh trên một cái bể bơi trẻ con. Ánh mắt anh thu hết cả người cô vào một lúc, nhưng sự chú ý của anh bị kéo đến cái nhẫn rốn anh đã từng cảm thấy trong lúc lục soát cô mấy ngày trước. Anh chưa bao giờ mê mẩn những người phụ nữ có khuyên trên người, nhưng… chết tiệt thật. Cái nhẫn bạc bé nhỏ đó khiến miệng anh khô rang.
Tay cô khỏa mặt nước, và cô xoa những ngón tay ướt nước lên bụng. Vài giọt nhỏ trôi ngang bụng và sườn cô. Một giọt nước tinh khiết bắt lấy một tia sáng khi nó chậm rãi trượt xuống bụng và biến mất trong hõm rốn cô. Bên trong anh trở nên ngứa ngáy và phát hỏa, và dục vọng kéo đầy trong háng anh. Anh đứng với hai chân bám rễ vào mặt cỏ, trở nên cứng ngắc và nặng nề, vô lực kiềm chế những ý nghĩ không được chào đón đang đột kích anh. Ý nghĩ đi vào cái bể bơi đó, quấn tay mình quanh eo cô và mút giọt nước khỏi hõm rốn cô, rồi đào sâu lưỡi anh vào trong và liếm da thịt ấm áp của cô. Anh cố nhắc nhở mình rằng cô bị điên, hâm đơ, gàn dở, nhưng sau chín tiếng đồng hồ, anh vẫn nhớ sự mềm mại của môi cô ép vào môi anh.
Nụ hôn đó là một phần của công việc, để đóng miệng cô lại trước khi cô phá tung vỏ bọc của anh. Tất nhiên là cơ thể anh đã phản ứng, và anh không ngạc nhiên bởi phản ứng của anh trước mùi vị từ khuôn miệng ấm áp của cô và sự gần gũi của ngực cô, nhưng anh đã phạm sai lầm lớn với cô. Anh đã trượt lưỡi mình vào miệng cô và giờ anh biết cô có hương vị hơi chút bạc hà và vô khối đam mê. Anh biết những lọn tóc rối mềm mại của tóc cô quanh tay anh và biết cô có mùi như hoa ngoại lai. Cô đã không đẩy anh ra hay kháng cự lại và sự đáp lại của cô đã với xuống và tóm chặt lấy anh đến tận những ngón chân co quắp. Anh đã đi từ hơi cương tới cứng ngắc trong khoảng hai giây. Anh chỉ xoay xở để giữ vững được kiểm sóat. Hầu như chỉ xoay xở để giữ tay anh không trượt xuống và lấp đầy ngực cô vào lòng bàn tay anh. Anh là một cảnh sát nhưng anh cũng là một thằng đàn ông.
Đứng trong sân sau nhà cô với ánh mắt anh tuột xuống mảnh tam giác nhỏ bằng vải màu bạc ở bên dưới cô và những ý nghĩ của anh lướt đến những thứ ẩn đằng sau nó, những thứ chẳng liên quan gì tới việc là một cảnh sát và cực kỳ liên quan tới việc là một thằng đàn ông. Ánh mắt anh di chuyển tới nốt ruồi nhỏ nằm ở má trong đùi cô, dọc cặp chân dài tới những ngón chân sơn màu tím, rồi ngược lên qua cái nhẫn rốn bằng bạc tới thân trên bộ bikini của cô. Một đường may nổi chạy qua hai đầu ngực cô và thần phân chặt khít đẩy hai bầu ngực hoàn hảo, rám nắng của cô lên. Mặt đất dưới chân anh dịch chuyển, dường như biến đổi và sụp xuống dưới chân anh, nuốt anh xuống dưới. Cô là người cung cấp thông tin cho anh. Cô gàn dở. Cô cũng đặc biệt xinh đẹp, và anh chẳng muốn gì hơn là xé toang bộ bikini đó ra như một gói snack bằng thiếc và vùi sâu mặt vào khe ngực cô.
Ánh mắt anh đi tới hõm cổ, qua cằm, tới cái miệng đầy đặn của cô. Anh quan sát môi cô cử động và, lần đầu kể từ khi anh đặt chân lên sân sau, anh mới ý thức được một giọng đàn ông trầm trầm nói gì đó về một hang động. “Đây là hang động của bạn,” người đàn ông nói đều đều như thể vừa uống thuốc an thần. “Đây là nơi của bạn. Một nơi bạn có thể thực sự tìm thấy chính mình, nơi bạn đến để tìm trung tâm của mình. Hít một hơi thật sâu… đưa ý thức của bạn về bụng…”
“Thở ra và lặp lại theo tôi… tôi yên bình… Ô- Na- Ma- Si- Ya- Ya… Hmm.”
Mặt đất dưới chân anh dừng lại, lại trở nên rắn chắc. Đột nhiên, mọi thứ lại hoàn toàn ổn trong thế giới của Joe Shanahan. Ổn định. Anh ổn. Cô vẫn bị điên, và chẳng có gì thay đổi hết. Anh cảm thấy một cảm giác mạnh mẽ thôi thúc muốn cười phá lên, như thể anh vừa lừa gạt thần chết vậy. “Tôi đáng lẽ phải biết cô nghe Yanni chứ,” anh nói to đủ để át đi tiếng băng.
Mắt Gabrielle mở choàng ra và cô ngồi bật dậy. Cái phao trong chập chềnh, và Joe quan sát chân và tay cô chấp chới khi cô lộn xuống nước. Khi cô quay trở lên, cánh hoa hồng màu đỏ và hồng dán lên tóc cô. Cô ngồi ở đáy bể bơi trong khi những lát chanh và hoa dại lượn lờ xung quanh.
“Anh đang làm gì ở đây?” cô thôi phì phì.
“Chúng ta cần nói chuyện,” anh trả lời qua một nụ cười mà anh đã cố gắng, và đã thất bại, để lấp đi.
“Tôi chẳng có gì để nói với anh hết.”
“Vậy thì cô có thể nghe.” Anh đi tới chỗ cái đài cạnh cửa sau. “Đầu tiên chúng ta cần thoát khỏi Yanni đã.”
“Tôi không nghe Yanni. Đó là tọa thiền với yoga hoàng gia.” (Raja Yoga là những bài tập luyện về yoga tâm thức theo Yoga Sutra của Patajali. Raja có nghĩa là hoàng gia, do vậy Raja Yoga còn được gọi là Yoga của hoàng gia. Người tập phải hướng đến việc làm chủ bản thân và cuộc đời của mình thông qua việc rèn luyện ý chỉ, tình thương và ý nghĩ.(ND))
“À ừ.” Anh ấn nút tắt và quay ra đối diện với cô.
Nước chảy xuống cơ thể cô khi cô đứng, và một nhánh hoa màu tím thòi ra khỏi thân trên bộ bikini của cô. “Việc này mới thật điển hình làm sao.” Cô kéo tóc cô qua một bên vai và vắt cạn nước. “Tôi chỉ vừa tìm được chốn yên bình thì rồi anh sộc vào sân nhà tôi và hủy hoại sự cân bằng của tôi.”
Joe không cho là cô từng có chút nhận thức thoáng qua về một thứ gì đó từa tựa cân bằng. Anh nhặt một cái khăn tắm màu trắng đang vắt trên một cái ghế liễu gai và đi tới mép bể bơi. Nhưng chuyện cô có bất ổn về tâm hồn cũng chẳng quan trọng gì. Anh vẫn bị kẹt đóng vai bạn trai cô, nhưng trong hai ngày qua, cô xử xự như thể anh được chào đón chẳng kém gì một trận bệnh dịch. Giờ thì Kevin có thể không nghi ngờ, nhưng Joe không thể cứ dối trá rằng hành vi thù địch của cô chẳng gì hơn là ghen tuông và triệu chứng đau bụng kinh. “Có lẽ chúng ta có thể giải quyết nó,” anh nói và đưa cô khăn tắm.
Tay cô đông cứng lại, và cô trừng trừng nhìn anh, vẻ không tin tưởng làm đôi mắt màu xanh lục của cô nheo lại. “Giải quyết cái gì cơ?” Cô nhận lấy cái bể bơi và bước ra khỏi bể bơi.
“Cách chúng ta xoay xở với nhau. Tôi biết cô nghĩ tôi là kẻ thù của cô, nhưng không phải.” Mặc dù anh không tin người chỉ điểm của anh khi ở ngoài tầm mắt anh, anh vẫn cần cô tin anh. Anh chịu trách nhiệm với sự an toàn của cô, và một phần công việc của anh là bảo vệ cho cô – về thể xác.
Anh không thể bảo vệ cô nếu cô chạy đến chỗ Kevin khi mọi việc trở nên tồi tệ. Anh không thực sự nghĩ Kevin sẽ làm hại Gabrielle, nhưng có một thứ anh sẽ phải lường trước, thì đó là sự đột xuất. Theo cách đó anh mới không bao giờ bị tóm lúc quần nằm giữa hai mắt cá chân. “Cô cần để tôi làm công việc của mình. Tôi càng sớm có được những gì mình muốn, thì tôi càng sớm ra khỏi cuộc sống của cô. Chúng ta cần đi đến một kiểu hiệp ước nào đó.”
Cô lấy khăn vỗ vỗ mặt và cổ cô rồi kéo mấy bông hoa tím ra khỏi áo bikini của cô. “Ý anh là một thỏa thuận chứ gì?”
Không hẳn. Ý anh là cô cần ngừng ngay cái hành động điên rồ và bắt đầu xử sự như thể cô đắm đuối anh. Không còn gọi anh là một ác quỷ từ địa ngục thêm nữa. “Chắc chắn rồi.”
Cô xem xét anh và vứt nhành hoa vào lại bể bơi. “Bằng cách nào?”
“Chậc, đầu tiên cô cần bình tĩnh lại và dừng ngay việc hành động như thể sắp có cả một đội cảnh sát vũ trang nhảy xộc vào qua cửa kính cửa hàng cô.”
“Và thứ hai?”
“Cả hai chúng ta có thể không thích việc này, nhưng cô được coi là bạn gái của tôi. Bỏ ngay việc hành động như thể tôi là một tay giết người hàng loạt đi.”
Khi cô vỗ vỗ ngực bằng khăn tắm, anh chủ tâm giữ ánh mắt mình ghim chặt trên mặt cô. Không đời nào anh hạ mắt xuống và lại bị kẹt cứng trong vùng đất mơ mộng nữa đâu.
“Và nếu tôi làm thế?” cô hỏi “Anh sẽ làm gì cho tôi?”
“Bảo đảm rằng cô không bị dính vào….”
“Ừ ừ,” cô lắc đầu và quấn khăn tắm quanh eo. “Lời đe dọa đấy không còn làm tôi sợ nữa đâu, vì tôi không tin rằng Kevin có tội.”
Joe chuyển trọng lực sang một chân và khoanh tay ngang ngực. Anh biết thủ tục này. Đây là phần mà bọn chỉ điểm thường cố tống tiền anh, hay muốn tất cả các vé đỗ xe chưa trả tiền của chúng biến mất nhanh hơn cả một tép ma túy trong thời ký cai nghiện hay có thể là kiếm một huy hiệu cho chính chúng. “Cô muốn gì?”
“Tôi muốn anh giữ đầu óc cởi mở. Đừng cứ kết luận rằng Kevin có tội.”
Những vé đỗ xe chưa trả còn dễ dàng hơn. Chẳng có lấy một chút nghi ngờ trong đầu Joe rằng Kevin Carter tội lỗi đầy mình, nhưng một phần của việc làm cảnh sát ngầm là có tài năng thiên bẩm để thốt ra những lời dối trá trắng trợn mà không có lấy một thoáng hối hận. “Chắc chắn rồi. Tôi sẽ giữ đầu có cởi mở.”
“Thật chứ?”
Anh giãn khóe miệng ra và bắn cho cô nụ cười thân thiện của anh. “Tuyệt đối.”
Cô nhìn chằm chằm vào mắt anh như thể cô đang cố đọc ý nghĩ trong não anh vậy. “Mũi anh đang mọc dài ra kìa, sĩ quan Shanahan.”
Nụ cười của anh trở nên chân thật. Cô bị điên, chứ không ngu. Anh đã có đủ kinh nghiệm để biết sự khác nhau đó, và được lựa chọn, lúc nào anh cũng thích điên khùng hơn ngu ngốc. Anh giơ tay lên, lòng bàn tay ngửa ra. “Tôi có thể thử,” anh nói và hạ cánh tay xuống hai bên. “Như thế thì sao?”
Cô thở dài và thắt nút khăn tắm quanh hông trái của cô. “Tôi đoán nếu như thế là thứ khá khẩm nhất mà anh có thể làm, thì cũng sẽ đủ tốt rồi.” Cô quay sang ngôi nhà, nhìn vào anh qua vai. “Anh đã ăn chưa?”
“Chưa.” Anh cho là mình sẽ dừng lại ở hàng tạp hóa trên đường về nhà và nhặt một ít gà cho anh và một ít cà rốt cho Sam.
“Tôi sắp làm bữa tối đây. Anh có thể ở lại nếu anh muốn.” Giọng cô xa hẳn nhiệt tình.
“Cô đang mởi tôi ăn tối với cô đấy à? Như một cô bạn gái thực sự sao?”
“Tôi đói và anh thì chưa ăn.” Cô nhún vai và hướng ra cửa sau. “Cứ xem nó như thế thôi.”
Ánh mắt anh đi theo dòng sóng trên mái tóc ẩm ướt của cô, những giọt nước chảy xuống từ đuôi tóc và lướt dọc sống lưng cô. “Cô có thể nấu ăn à?”
“Tôi là một đầu bếp tuyệt vời.”
Khi anh đi theo sau cô, ánh mắt anh hạ xuống eo hông đong đưa của cô, cặp mông tròn trịa mà anh đã đi đến tán thưởng trong tuần vừa qua, và chuyển động cọ xát của khăn tắm qua khe chân cô. Bữa tối được chuẩn bị bởi một đầu bếp tuyệt vời nghe thật tuyệt. Và tất nhiên nó cho anh cơ hội để hỏi cô vài câu hỏi về mối quan hệ của cô với Kevin, vừa để làm cô thư giãn khi ở quanh anh. “Bữa tối có gì thế?”
“Thịt bê nấu kem sốt cà chua, bánh mỳ Pháp và salad.” Cô trèo lên vài bậc thang tới cánh cửa kính và mở nó ra.
Joe theo sát ngay sau và với tay lên trên đầu cô, giữ lấy phần trên khung cửa gỗ và giữ cánh cửa mở ra.
Cô dừng lại, và nếu anh không chú ý, anh hẳn đã đập thẳng vào cô rồi. Ngực anh hơi sượt qua phần lưng trần của cô, Cô quay lại, và vai cô chạm nhẹ vào ngực anh qua lớp vải cotton mỏng của áo phông anh. “Anh có phải là một người ăn chay không?” cô hỏi.
“Lạy trời không. Cô có à?”
Đôi mắt màu xanh lục to tròn của cô nhìn thẳng vào anh, và một cái cau mày hơi buồn khổ kéo nhăn lông mày cô lại. Rồi cô làm một thứ gì đó kì quặc – dù anh đoán mình không nên ngạc nhiên trước bất kỳ thứ gì cô làm nữa. Cô thở thật sâu qua mũi như thể cô ngửi thấy mùi gì đó. Joe không thể ngửi thấy bất kỳ cái gì ngoài hương hoa đang dính trên da cô. Rồi cô hơi lắc đầu như để rũ sạch đầu óc và tiếp tục đi vào nhà như thể chẳng có gì xảy ra. Joe theo sau và chống lại một cơn thôi thúc đột ngột muốn ngửi nách anh.
“Tôi đã cố làm người ăn chay.” Cô thông tin cho anh biết khi họ đi qua một căn phòng nhỏ ở sau nhà với một cái máy rửa chén và máy sấy rồi bước vào một căn bếp nhỏ sơn màu vàng sáng. “Đó là một lối sống khỏe mạnh hơn rất nhiều. Nhưng không may thay tôi đã sa ngã rồi.”
“Cô là một người ăn chay xa ngã à?” Anh chưa từng nghe đến một chuyện như thế, nhưng anh cũng không lấy làm ngạc nhiên cho lắm.
“Phải, tôi đã cố kháng cự lại những thôi thúc ăn thịt, nhưng tôi thật yếu ớt. Tôi có rắc rối về kiểm soát.”
Kiểm soát thường không phải là một rắc rối đối với anh – cho tới bây giờ.
“Tôi yêu những thứ đa phần là không tốt cho động mạch của tôi. Thi thoảng tôi đi được nửa đường tới McDonald rồi mới nhận ra điều đó.”
Một cửa sổ bằng kính màu trên góc bàn ăn sáng ném ra nhiều mảng màu sắc khắp căn phòng và lên cả những dãy chai thủy tinh bé xíu xếp thành hàng trên cái bàn gỗ nhỏ. Căn phòng này có hương thơm như Anomaly, mùi dầu hoa hồng và hoắc hương, nhưng không có gì hơn, và anh dấy lên nghi ngờ về lời khẳng định là một đầu bếp tuyệt vời của cô. Chẳng có một chiếc nồi hiệu Crock- Pot đổ đầy món thịt bê nấu nước sốt nào trên kệ bếp. Chẳng có tí mùi bánh mỳ nướng. Sự nghi ngờ của anh được xác thực khi cô mở tủ lạnh và rút ra một chai nước sốt, một gói mỳ Ý sống và một ổ bánh mỳ Pháp.
“Tôi tưởng cô là một đầu bếp tuyệt vời.”
“Chính thế.” Cô đóng tủ lạnh lại và đặt hết mọi thứ lên cạnh lò nướng. “Anh có thể giúp tôi mở cái tủ cạnh chân trái của anh rồi bỏ hai cái nồi ra không?”
Khi anh cúi người xuống và mở cánh cửa, một cái rá rơi vào chân anh. Tủ của cô còn loạn hơn tủ của anh nữa.
“À, tốt. Chúng ta cũng cần cả thứ đó nữa.”
Anh tóm lấy cái nồi và cái rá rồi thẳng người dậy. Gabrielle đứng tựa lưng vào cửa tủ lạnh, một khúc bánh mỳ Pháp trong một tay. Anh quan sát ánh mắt cô trượt lên quần jeans rồi ngực anh. Cô từ tốn nhai, rồi nuốt. Đầu lưỡi cô liếm đi một mẩu vụn bánh mỳ khỏi khóe miệng cô, và cuối cùng cô ngước lên nhìn anh. “Muốn một ít không?”
Ánh mắt anh tra xét mặt cô tìm một dấu hiệu rằng cô không mời bánh mỳ, nhưng anh chẳng thấy chút gì khiêu khích trong đôi mắt màu xanh lục thuần khiết của cô hết. Nếu cô mà là bất kỳ người phụ nữ nào khác ngoài người chỉ điểm của anh, anh hẳn sẽ muốn cho cô xem chính xác những gì anh muốn – bắt đầu với miệng và chậm rãi tìm đường tới nốt ruồi nhỏ ở đùi trong của cô. Anh cũng hết sức muốn được lấp đầy tay mình bằng bộ ngực no căng, mịn như kem đang căng lên trên cái áo bikini kia của cô. Nhưng cô không phải bất kỳ một phụ nữ nào khác, và anh phải hành xử như một cậu bé hướng đạo sinh. “Không, cảm ơn.”
“Được rồi, tôi sẽ đi thay quần áo. Trong lúc tôi đi vắng, hãy cho nước sốt vào cái nồi nhỏ, rồi đổ đầy nước vào nồi lớn. Khi nước bắt đầu sôi, cho mỳ Ý vào. Đun trong khoảng năm phút nhé.” Cô rời khỏi tủ lạnh, và khi cô đi ngang qua anh, cô dừng lại khoảng một giây, và hít vào thật sâu qua lỗ mũi. Y như lúc trước, một nét cau có nhíu hai hàng lông mày của cô lại, và cô lắc đầu. “Dẫu sao đi nữa, đến lúc ấy tôi cũng sẽ quay lại.”
Joe quan sát cô lướt nhanh ra khỏi phòng, cắn rứt một miếng bánh mỳ, và anh tự hỏi mọi chuyện chính xác đã xảy ra như thế nào mà anh lại được mời tới bữa tối bởi người phụ nữ trong bộ bikini, người đã quả quyết là một đầu bếp tuyệt vời nhưng bỏ mặc anh nấu bữa ăn trong lúc cô ta thay quần áo. Và có vấn đề gì với trò hít hà đó vậy? Đến giờ cô đã làm thế hai lần rồi, và anh đang bắt đầu trở nên hơi hoảng loạn rồi đây.
Gabrielle thò đầu lại vào trong bếp. “Anh sẽ không tìm kiếm bức Monet trong lúc tôi ra khỏi phòng phải không?”
“Không, tôi sẽ chờ cho đến khi cô quay lại.”
“Tuyệt.” cô nói qua một nụ cười, rồi lại bỏ đi.
Joe di chuyển tới chỗ chậu rửa và đổ đầy nước vào cái nồi lớn. Một con mèo đen béo mập dụi vào chân anh và quấn cái đuôi của nó quanh bắp chân anh. Joe không thích lũ mèo lắm, cho là chúng khá vô dụng. Không giống như chó có thể được huấn luyện để đánh hơi thuốc kích thích hay như chim có thể được huấn luyện để trò chuyện và treo ngược mình bằng một chân. Anh đẩy con mèo ra bằng mũi đôi bốt và quay sang cái bếp.
Ánh mắt anh lạc tới ngướng cửa, và anh tự hỏi bao lâu cô sẽ quay lại. Cũng không phải vì anh có đắn đo muốn lục soát các ngăn kéo trong lúc cô ra khỏi phòng, anh có hai lý do rất tốt để chọn không làm thế. Đầu tiên, anh không tin mình sẽ tìm thấy bất kỳ thứ gì. Nếu Gabrielle có dính líu đến vụ trộm bức tranh của ông Hillard, anh nghi ngờ chuyện cô sẽ mời anh vào nhà. Cô quá yếu thần kinh để mà chuyện phiếm về món thịt bê nếu cô có một bức Monet cuộn trong tủ bếp nhà cô. Và thứ hai, anh cần sự tin tưởng của cô, và điều đó sẽ không bao giờ có nếu cô bắt gặp anh đang lục lọi nhà cô. Anh cần cho cô thấy rằng anh cũng không phải một người đàn ông tệ hại cho lắm, chuyện này anh không nghĩ sẽ quá khó khăn. Anh không phải loại đàn ông khoác lác về các cuộc chinh phục chỉ sau vài hớp bia, nhưng phụ nữ nói chung là thích anh. Anh biết anh là một người tình tốt. Anh luôn bảo đảm rằng những người phụ nữ ở trong giường anh cũng có nhiều vui vẻ như anh, và bất chấp những gì Meg Ryan nói, anh cũng biết một phụ nữ có giả vờ khoái cảm hay không (Một tình tiết trong phim When Harry met Sally, Sally( Meg Ryan)quả quyết với Harry( Billy Crystal) rằng phụ nữ có thể giả vờ đạt cực khoái mà đàn ông không hề hay biết).
Gabrielle móc khóa áo lót giữa hai bầu ngực, rồi kéo một chiếc áo phông màu xanh biển ngắn qua đầu. Dù Joe nói anh ta sẽ không lục soát căn bếp của cô, cô cũng không thực lòng tin tưởng anh ta. Cô không tin anh ta khi ở ngoài tầm mắt của cô. Khỉ thật, cô không tin anh ta dù mắt cô có dính chặt lên anh ta đi chăng nữa. Nhưng anh ta đúng, cô phải tìm một con đường dịu ổn để đối phó với anh ta vả trong cửa hàng lẫn đời sống của cô. Cô phải điều hành một doanh nghiệp, và cô không thể làm được mà cứ phải quan sát mọi động tĩnh của anh ta hay rời chỗ làm sớm.
Cô xỏ chân vào một chiếc quần jeans nhạt màu và cài nút ngay dưới rốn. Ngoài những mối lo về kinh doanh, cô biết sức khỏe cô cũng đang gặp nguy hiểm. Cô không biết cô còn có thể đi lòng vòng với những cơn đau đầu vì căng thẳng và cái tật giật giật mắt xấu xí trước khi tạo ra những rắc rối nghiêm trọng về sức khỏe, như mất cân bằng về hóc môn hay những phản ứng quá mức của tuyến yên, cho đến lúc nào nữa.
Gabrielle vớ lấy một cái lược trên tủ quần áo và chải nó qua mái tóc ướt đẫm. Cô ngồi trên tấm vải ren trải trên chiếc giường bốn cột và cố nhắc nhở bản thân rằng tất cả mọi người bước vào đời cô đều có một lý do. Nếu cô cởi mở đầu óc mình hơn, cô sẽ tìm thấy mục đích cao hơn cho sự tồn tại của Joe. Hình ảnh cặp mông anh khi cúi xuống lấy mấy cái nồi từ tủ bếp của cô xuất hiện trong đầu cô, và cô cau mày trước hình ảnh phản chiếu của cô trong một chiếc gương bên kia phòng. Cái cách anh căng đầy chiếc quần jeans của anh chẳng liên quan chút nào tới những ý nghĩa tâm linh hết.
Ném cái lược ra bên cạnh, cô tết tóc thành một bím tóc lỏng, rồi thắt một dây lụa màu xanh dương quanh đuôi tóc. Joe là một cảnh sát u ám, dữ tợn làm các dây thần kinh của cô hoảng hốt, đảo lộn đời sống của cô, và gây ra sự không hòa hợp. Sự mất cân bằng của cơ thể và linh hồn. Một trận chiến giành uy quyền. Tình trạng hỗn loạn. Cô chắc chắn không thấy một mục đich cao cả nào trong tất cả những điều đó.
Nhưng anh có mùi thật tuyệt.
Khi cô bước vào căn bếp vài phút sau, Joe đứng ở trước cái bồn rửa đang rót mỳ vào một cái rá. Một đám mây hơi nước bao phủ đầu anh cùng lúc con mèo của mẹ cô đi vòng số tám giữa chân anh, quấn cái đuôi của nó quanh bắp chân anh và meo meo ầm ĩ.
“Beezer!” Cô bế bổng con mèo lên và ôm nó vào ngực. “Mày tốt hơn là nên để yên cho thám tử nếu không ngài ấy sẽ đập mày xuống đất và tống giam mày đấy. Tao có kinh nghiệm rồi mà.”
“Tôi chưa bao giờ đập cô xuống đất hết,” Joe nói khi dòng hơi nước tan đi. “Nếu có ai đó bị đập, thì đó phải là tôi.”
“À vâng.” Cô mỉm cười trước ký ức anh đang nằm trên mặt đất với hàng lông mi dính bết vào nhau. “Tôi đã đi trước anh một bước.”
Anh nhìn cô qua vai và lắc cái rá. Một nụ cười nhẹ cong một khóe miệng anh lên, và tình trạng ẩm ướt làm xoăn tóc quanh thái dương anh. “Nhưng ai kết thúc ở trên, hả cô Hâm Đơ?” Ánh mắt anh trôi khắp người cô từ bím tóc trên đầu cho đến cặp chân trần của cô rồi lại quay ngược lên. “Mỳ xong rồi.”
“Tiếp tục và đổ nó vào món thịt bê sốt đi.”
“Cô sẽ làm gì?”
“Cho Beezer ăn nếu không thì cô ả sẽ không bao giờ để anh yên. Nó biết anh đang làm bữa tối, và nó bị thức ăn ám ảnh.” Gabrielle đi về một cái tủ cạnh cửa sau và lấy ra một gói thức ăn cho mèo. “Sau khi cho nó ăn, tôi sẽ làm salad,” cô nói khi xé nắp túi. Cô đổ thức ăn vào một cái đĩa sứ, và khi Beezer bắt đầu ăn, cô mở tủ lạnh và bỏ ra một túi salad thái sẵn.
“Cũng đoán được.”
Gabrielle nhìn qua Joe, đang đứng trước cái bếp khuấy mỳ Ý vào nước sốt với một cái muôi gỗ. Bóng đen của bộ râu làm sẫm hai bờ má rám nắng của anh và càng nhấn mạnh những đường cong gợi cảm của miệng anh. “Cái gì cơ?”
“Món rau của cô được thái trước. Cô biết đấy, đây là lần đầu tiên tôi được mời tới một bữa tối, rồi bị bảo hãy tự nấu ăn đi.”
Cô không hẳn nghĩ về anh như một vị khách, giống một bạn đồng hành không thể tránh được hơn. “Kỳ lạ nhỉ?”
“Ừ. Kỳ lạ.” Anh chỉ cái muôi về khu ăn sáng ở góc phòng. “Tất cả những thứ đó là gì vậy?”
“Dầu tự nhiên cho lễ hội Coeur,” cô giải thích khi đổ rau vào hai cái bát. “Tôi tự làm các túi thơm và dầu xoa dịu. Hôm này là ngày rảnh rỗi đầu tiên tôi có để kiểm tra dầu chống nắng tôi làm từ hạt vừng, mầm lúa mỳ, và oải hương. Đó là những gì tôi đã làm trong bể bơi.”
“Nó có tác dụng không?”
Cô kéo cổ áo phông của cô xuống và nghiên cứu đường bikini trắng trơ trụi trên lồng ngực rám nắng của cô. “Tôi đã không bị cháy nắng.” Cô liếc nhìn anh, nhưng anh không nhìn mặt cô hay đường viền rám nắng của cô. Anh nhìn chằm chằm vào khoảng bụng trần của cô, ánh mắt anh nóng bỏng và mãnh liệt đến nỗi sức nóng làm da cô đỏ ửng. “Anh thích có gia vị gì trên món salad của mình?” cô kiềm chế.
Rồi anh nhún một vai và tập trung sự chú ý của mình vào nồi thịt bê sốt, làm cô băn khoăn tự hỏi cô có phải tự tưởng tượng ra cái cách anh nhìn cô không. “Loại Ranch.”
“Ồ…” Cô quay vào tủ lạnh để che dấu sự bối rối của mình. “Chà, tôi chỉ có nước trộn kiểu Ý và kiểu Ý không béo thôi.”
“Thế sao cô lại hỏi như thể tôi có lựa chọn vậy?”
“Có mà.” Nếu anh có thể giả vờ như chẳng có gì vừa xảy ra giữa họ, thì cô cũng có thể, nhưng cô có cảm giác rằng anh là một diễn viên giỏi hơn. “Anh có thể có nước trộn kiểu Ý hoặc kiểu Ý không béo.”
“Kiểu Ý đi.”
“Tuyệt.” Cô trộn salad, rồi mang cả hai cái bát vào phòng ăn và đặt chúng lên cái bàn sứt sẹo. Cô không thường xuyên có bạn đồng hành và phải nhét mấy quyển catalog và công thức chế dầu của mình vào một cái tủ sát tường. Khi cái bàn đã sạch không, cô đặt một cây nến bằng sáp ong ngắn ở chính giữa cái bàn và thắp nó lên. Cô mang ra cả bộ đặt bát đĩa bằng vải lanh và khăn ăn đồng bộ, một cặp nhẫn thắt khăn ăn bằng bạc, và bộ dao nĩa bạc cổ mà cô đã thừa kế từ bà cô. Cô vớ lấy hai cái đĩa Villeroy & Boch được vẽ hoa anh túc màu đỏ rực và tự bảo mình cô không phải đang cố gắng gây ấn tượng với tay thám tử đâu. Cô muốn sử dụng những “món đồ hảo hạng” của mình bởi vì cô hiếm khi có cơ hội. Chẳng còn lý do nào nữa.
Với món đồ sứ tốt nhất trong tay cô quay lại trong bếp. Anh đứng ở chỗ cô đã bỏ lại anh, lưng quay về phía cô. Cô dừng lại ở ngưỡng cửa, mắt cô thu hết mái tóc đen, gáy, bờ vai và lưng rộng của anh. Cô để ánh mắt mình di chuyển tới túi sau chiếc quần Levi’s và dọc cặp chân dài của anh. Cô không thể nhớ nổi lần cuối cùng cô có một anh chàng đẹp trai đến thế ăn tối cùng là khi nào. Hai anh bạn trai cuối cùng của cô thì không tính bởi vì họ không tuyệt lắm trong phần vè ngoài. Harold đã rất thông minh, và cô thích được nghe anh nói chuyện về việc khai sáng tâm hồn. Anh không thích thuyết giáo hay quá viển vông, nhưng Francis đúng, Harold quá già với cô.
Trước Harold, cô đã hẹn hò với Rick Hattaway, một anh chàng tử tế, trông bình bình, người đã khiến cho những đồng hồ báo thức của đạo Phật sống dậy. Chẳng ai trong hai người khiến mạch cô chạy loạn hay dạ dày cô nhộn nhạo, hay khiến da cô ửng hồng vì hơi nóng trong ánh mắt anh ta. Sự cuốn hút của cô với cả Harold và Rick không hề nhục dục và chẳng có mối quan hệ nào tiến triển xa hơn hôn hít.
Đã lâu lắm rồi từ cái thời cô xét đoán một người đàn ông dựa vào vẻ ngoài chứ không phải phẩm chất tâm hồn của anh ta. Đó là trước khi cô biến đổi thành người bảo vệ môi trường, khi cô ghét rửa đĩa đến mức cô chỉ dùng đĩa giấy. Những anh chàng cô hẹn hò những ngày ấy thậm chí còn không chú ý đến sự khác biệt giữa Wedgewood và Chinet. Vào lúc ấy trong đời cô đã xem mình là một nghệ sĩ thực sự và cô đã chọn lựa đàn ông chỉ vì những lý do mỹ thuật đơn thuần. Chẳng ai trong số họ thông thái, có vài người còn không thông minh lắm, nhưng thực sự, trí tuệ không phải trọng điểm. Cơ bắp. Cơ bắp và những cơ bụng săn chắc lần thể lực là trọng điểm.
Ánh mắt Gabrielle di chuyển lên xương sống của Joe, và cô thú nhận một cách khó chịu rằng cô thật nhớ được nhìn vào một người đàn ông đẹp trai, nam tính qua bàn ăn. Joe chắc chắn không có vẻ quan tâm mấy tới sự thông thái của bản thân, nhưng anh thực sự có vè thông minh hơn những tên lực lưỡng trung bình. Rồi anh ta nâng cánh tay, cúi đầu, và ngửi nách.
Gabrielle nhìn vào mấy cái đĩa trong tay. Cô đáng lẽ nên dùng đĩa giấy mới phải.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 7


Gabrielle ngạc nhiên trước điệu bộ ăn uống của anh. Ngạc nhiên khi anh không nhai nhồm nhoàm, gãi người, hay ợ như một thằng nhóc vênh váo với sáu chai bia Old Milwaukee. Anh thực sự đã đặt khăn ăn lên lòng và đang tiêu khiển cho cô bằng những câu chuyện kỳ quặc về chú vẹt tên Sam của anh. Nếu cô mà không khôn ngoan, có khi cô đã nghĩ anh đang cố quyến rũ cô hoặc có lẽ anh có một linh hồn đứng đắn vùi sâu đâu đó trong cơ thể rắn chắc kia.

"Sam có vấn đề về trọng lượng," anh bảo cô giữa những lần ăn thịt bê. "Nó yêu pizza và bim bim Cheetos."

"Anh cho con chim của anh ăn pizza và Cheetos á?"

"Không còn nhiều nữa. Tôi đã phải làm cho nó cái máy tập thể hình. Giờ thì tôi bắt nó tập luyện khi tôi tập."

Gabirelle không biết có nên tin anh hay không. "Sao anh làm cho con chim tập luyện được? Nó không bay đi luôn ạ?"

"Tôi lừa nó nghĩ rằng nó đang được chơi vui." Joe bẻ một mẩu bánh mỳ và ăn. "Tôi đặt cái máy tập cạnh máy tập tạ của tôi," anh tiếp tục sau khi đã nuốt xuống. "Và miễn là tôi còn ở trong phòng với nó, nó sẽ trèo lên các bậc thang và dây xích của nó."

Gabrielle cắn một miếng bánh mỳ của chính cô và quan sát anh qua đầu ngọn nến sáp ong. Luồng ánh sáng yếu ớt từ cửa sổ phòng ăn tràn qua các tấm màn mỏng, tắm căn phòng và cả Thám tử Joe Shanahan trong thứ ánh sáng dịu dàng. Những đường nét mạnh mẽ, nam tính của anh có vẻ thoải mái và dịu nhẹ. Gabrielle đoán đó hẳn là trò lừa đảo của ánh sáng, bởi vì dù hiện thời anh có quyến rũ, từ những kinh nghiệm gần đây cô biết rằng chẳng có gì dịu nhẹ ở người đàn ông ngồi đối diện với cô này cả. Chẳng có gì dịu dàng, nhưng cô cho là một người đàn ông yêu chú chim của anh ta không thể hoàn toàn thiếu vắng những phẩm chất bù lại. "Anh có Sam bao lâu rồi?"
"Đến giờ thì chưa đến một năm, nhưng cứ như là tôi lúc nào cũng có nó vậy. Debby đã mua nó cho tôi."

"Anh có chị em à?"

"Tôi có bốn."

"Wow." Khi lớn lên, Gabrielle luôn mong muốn có một ông anh bà chị hoặc một đứa em. "Anh là người lớn nhất à?"

"Trẻ nhất."

"Nhóc út," cô nói, mặc dù cô không thể tưởng tượng ra Joe là bất kỳ cái gì ngoại trừ một người đàn ông đã trưởng thành. Anh có quá nhiều hoóc môn nam tính để cô nghĩ về anh như một cậu bé xinh xắn với đôi má bóng hồng. "Tôi cá là lớn lên với bốn người chị gái rất vui."

"Phần lớn là địa ngục." Anh cuộn một miếng mỳ Ý vào đĩa của mình.

"Vì sao?"

Anh đẩy chỗ mỳ vào miệng và quan sát cô khi nhai. Trông anh không có vẻ như anh sẽ trả lời, nhưng rồi anh nuốt xuống và thú nhận, ''Họ đã bắt tôi mặc quần áo của họ và giả vờ là em gái thứ năm."

Cô cố không cười, nhưng môi cô run run.

''Chẳng vui đâu. Họ thậm chí còn không để tôi giả vờ làm chó. Tanya luôn được là chó.''

Lần này cô có cười và thậm chí còn nghĩ đến việc vươn tay ra vỗ về tay anh và bảo anh rằng anh sẽ ổn thôi, nhưng cô không làm thế. "Nghe như thể anh có một con chim nhân ngày sinh nhật.''

''Debby đã cho tôi Sam khi tôi nằm dưỡng thương ở nhà một khoảng thời gian. Chị ấy nghĩ chú chim sẽ bầu bạn với tôi cho đến khi tôi đi lại được và sẽ đỡ phiền hơn một chú cún con.'' Giờ thì anh mỉm cười. ''Chị ấy đã sai về điều đó.''

''Sao anh phải nằm dưỡng thương ở nhà?''

Nụ cười của anh rũ xuống, và anh nhún đôi bờ vai rộng. ''Tôi bị bắn trong một vụ án thuốc phiện mà đã sai lầm ngay từ lúc bắt đầu.''

''Anh đã bị bắn ư?'' Gabrielle cảm thấy hai hàng lông mày của cô rướn lên tận trán. ''Ở đâu thế?''

''Ở đùi phải của tôi,'' anh nói và đột ngột đổi chủ đề. ''Tôi đã gặp bạn của cô khi tôi gõ cửa nhà cô lúc trước đấy.''

Gabrielle sẽ rất thích được biết chi tiết về cú bắn đó, nhưng anh rõ ràng là muốn bỏ rơi chủ đề này. "Francis à?''

''Cô ấy không cho tôi tên, nhưng cô ấy có nói là cô đã kể với cô ấy rằng tôi là bạn trai cô. Cô còn nói gì với cô ấy nữa?'' anh hỏi trước khi nhét miếng mì Ý cuối cùng vào miệng.

''Thế thôi," Gabrielle nói lập lờ khi cô với tay lấy cốc trà lạnh của mình. ''Cô ấy đã biết tôi nghĩ rằng có một tay rình mò đang theo đuổi tôi, nên hôm nay cô ấy đã hỏi tôi về chuyện đó. Tôi bảo cô ấy giờ chúng ta đang hẹn hò.''

Anh từ tốn nuốt xuống, và ánh mắt anh nghiên cứu cô qua khoảng cách không đáng kể chia cách họ. ''Cô bảo với cô ấy là cô đang hẹn hò với kẻ cô đã nghĩ là đang rình mò cô?''

Gabrielle uống một ngụm và gật đầu. "Ừ đấy.''

''Và cô ấy không nghĩ chuyện đó quái gở sao?''

Gabrielle lắc đầu và đặt cốc trà xuống. ''Francis có rắc rối với các mối quan hệ. Cô ấy biết rằng thi thoảng một người phụ nữ phải chớp lấy cơ hội. Và được một người đàn ông theo đuổi có thể rất lãng mạn.''

''Kể cả một tên rình mò nữa sao?''

"Ừ thì, trong đời anh phải hôn vài con cóc ghẻ chứ.''

''Cô đã hôn rất nhiều con cóc ghẻ đấy à?"

Cô đâm nĩa vào món salad và cố tình chĩa thẳng sự chú ý của cô vào môi anh. ''Chỉ một thôi,'' cô nói và nhét miếng rau diếp vào trong miệng.

Anh với tay lấy cốc của mình, và tràng cười trầm thấp của anh lấp đầy căn phòng. Họ đều biết cô không đáp lại anh như thể anh là một con cóc ghẻ. ''Ngoài việc hôn cóc ghẻ, hãy nói thêm cho tôi biết về bản thân cô đi.'' Một giọt chất lỏng trượt khỏi cốc, rồi nhỏ xuống áo phông của anh, tạo nên một hình tròn nhỏ xíu ướt nước trên ngực phải của anh.

''Anh đang thẩm vấn tôi đấy à?''

''Tuyệt đối không.''

''Anh không có một tập tài liệu về tôi đâu đó đầy những thông tin, như thể tôi đã có bao nhiêu lỗ răng sâu hay vé phạt tốc độ sao?''

Mắt anh gặp phải mắt cô qua thành cốc, và anh quan sát cô khi uống một hơi dài. Rồi anh đặt cốc xuống và bảo cô, ''Tôi đã không kiểm tra tiền sử nha sĩ của cô, nhưng cô có một vé phạt tháng Năm vừa rồi vì lái xe ba mươi lăm dặm ở khu vực hai mươi dặm. Khi cô mười chín tuổi cô đã đâm chiếc Volkswagen của mình vào một bốt điện thoại và đủ may mắn để bỏ đi chỉ với vài vết bầm nhỏ và ba mũi khâu trên đỉnh đầu.''

Cô không ngạc nhiên là anh biết tiền sử lái xe của cô, nhưng thực là hơi lúng túng khi anh biết nhiều thứ về cuộc đời cô trong khi cô gần như chả biết tí gì về anh. "Những thứ thú vị đấy. Anh còn biết gì nữa?''

''Tôi biết cô được đặt tên theo tên ông nội cô.''

Không phải một ngạc nhiên lớn nữa. ''Chúng tôi là một trong những gia đình mà tên trẻ con theo tên ông bà. Các bà của tôi là Eunuch Beryl Paugh và Thelma Dorita Cox Breedlove. Tôi tự cho bản thân mình may mắn.'' Cô nhún vai. ''Còn gì nữa?''

''Tôi biết cô đã vào hai trường đại học nhưng không nhận được một bằng cấp nào từ cả hai.''

Rõ ràng anh chẳng biết gì cốt lõi hết. Anh chẳng biết tí gì về cô. ''Tôi không đi học để lấy một tấm bằng,'' cô bắt đầu khi đặt bát salad gần như trống không của cô lên đĩa và đẩy chúng sang bên. Cô không ăn nhiều phần thịt bê của mình, nhưng với Joe ngồi bên kia bàn, cô đột nhiên không thấy đói lắm. ''Tôi đi để học về những thứ thu hút tôi. Khi tôi đã học được những gì mình muốn, tôi chuyển tới thứ thu hút tôi tiếp theo.'' Cô đặt cánh tay lên bàn và tựa má vào tay. ''Bất kỳ ai cũng có thể kiếm một cái bằng hoặc chứng chỉ gì đó, chẳng có gì lớn lao. Một mẩu giấy từ một trường đại học đâu đó không định nghĩa được một con người. Nó sẽ không nói cho anh biết tôi là ai.''

Anh lấy khăn ăn bằng vải lanh ra khỏi lòng và đặt cạnh cốc của anh. ''Vậy thì, sao cô không nói cho tôi biết cô là ai. Nói cho tôi biết điều gì mà tôi chưa biết đi.''

Cô cho là anh muốn cô tiết lộ bằng chứng phạm tội, nhưng cô chẳng biết gì hết. Chẳng biết tí gì, nên cô kể cho anh một số điều mà cô lạc quan rằng anh sẽ không bao giờ đoán được về cô. ''Chà, tôi đag đọc những gì Freud (Sigmund Freud (1856 - 1939): một bác sĩ thần kinh và tâm lý người Áo) nói về ép buộc tâm lý và vật kích dục. Theo như lời ông ấy, tôi có chứng khát miệng (khiến cho người ta đòi hỏi cần có sẹ kích thích bằng miệng).''

Một nụ cười giật giật khoé miệng anh, và anh hạ ánh mắt xuống môi cô. ''Thực sao?''

''Đừng có trở nên phấn khích quá,'' cô cười lớn. ''Freud là một trí óc sáng chói đằng sau sự thèm muốn của quý, một điều thật dớ dẩn. Chỉ có đàn ông mới nghĩ đến những chuyện ngớ ngẩn như vậy. Tôi chưa bao giờ gặp một người phụ nữ nào mà lại muốn có của quý hết.''

Khi anh nhìn cô chằm chằm từ bên kia bàn, khoé miệng anh cong lên thành một nụ cười toe toét. ''Tôi biết vài người đã muốn của tôi đấy.''

Bất chấp những quan niệm tự do của cô về tình dục, Gabrielle vẫn cảm thấy hai má cô nóng lên. ''Tôi không nói theo ý đó.''

Joe bật cười và ngửa ghế của anh chống trên hai chân.''Sao cô không nói cho tôi cách cô gặp Kevin ấy.''

Gabrielle cho là Kevin cũng đã kể với Joe tất tần tật rồi, và cô băn khoăn có phải anh đang hỏi để bắt quả tang cô nói dối hay không. Cô không có gì để mà phải nói dối hết. ''Như Kevin hẳn đã kể với anh, chúng tôi lần đầu tiên gặp nhau ở một buổi đấu giá tài sản cách đây vài năm trước khi chúng tôi mở Anomaly. Anh ấy vừa chuyển từ Portland về đây và đang làm việc cho một tay buôn đồ cổ từ trung tâm thị trấn, và tôi đang làm việc cho một người với các cửa hàng ở Pocatello, Twin Falls, và Boise. Sau lần đầu tiên đó, tôi tình cờ chạm mặt anh ấy khá nhiều.'' Cô dừng lại và vuột một mẩu vụn bánh mỳ ra khỏi bàn. ''Rồi tôi bị đuổi việc, và anh ấy gọi cho tôi và hỏi xem tôi có muốn tham gia kinh doanh với anh ấy không.''

''Cứ như trên trời rơi xuống thế sao?''

''Anh ấy đã nghe chuyện tôi bị đuổi vì một vụ mua bán thêm các tác phẩm tranh tang. Ông chủ cửa hàng không suy nghĩ thoáng về chuyện đó cho lắm, thậm chí sau khi tôi đã hoàn lại cho ông ấy các chi phí, ông ấy vẫn sa thải tôi.''

''Vì vậy, Kevin gọi cho tôi, và hai người đã quyết định mở một doanh nghiệp.'' Anh khoanh tay trước ngực và hơi đung đưa cái ghế. ''Chỉ như thể thôi à?''

"Không. Anh ấy muốn chỉ bán mỗi đồ cổ, nhưng tôi đã hơi chán đồ cổ rồi, nên chúng tôi thoả hiệp và ổn định với một cửa hàng bán đồ lạ. Tôi đưa vào sáu mươi phần trăm vốn khởi tạo.''

''Bằng cách nào?"

Gabrielle ghét phải nói về tiền nong. ''Tôi chắc chắn là anh biết tôi có một khoản uỷ thác khiêm tốn.'' Và cô đã đầu tư hơn nửa số đó vào Anomaly. Thường thì, khi người ta biết đến họ của cô, họ sẽ cho rằng cô có một tài khoản ngân hàng không đáy, nhưng không đúng trường hợp rồi. Nếu cửa hàng của cô thất bại, cô sẽ gần như khánh kiệt. Nhưng ý nghĩ về việc mất đi khoản đầu tư tài chính không khiến cô buồn phiền nhiều bằng ý nghĩ mất đi thời gian, năng lượng và những gắn bó cảm xúc mà cô có với cửa hàng của mình. Phần lớn mọi người đo thành công bằng số tiền kiếm được. Không phải Gabrielle. Chắc chắn là cô muốn trả các hoá đơn, nhưng với cô thành công được đo đạc bằng hạnh phúc. Cô tự cho mình là cực kỳ thành công.

''Thế còn Kevin thì sao?''

Trong khi đối với Gabrielle thành công có nghĩa là hạnh phúc, thì cô cũng biết điều đó không đúng với Kevin. Với anh, thành công phải sờ mó được. Thứ gì đó anh có thể cầm, lái, hoặc mặc được. Điều đó khiến anh mờ mắt, chứ không khiến anh thành tội phạm. Điều đó cũng biến anh thành một đối tác tốt. ''Anh ấy kiếm một khoản vay ngân hàng cho bốn mươi phần trăm còn lại.''

''Cô có thèm điều tra tí tẹo nào trước khi bắt đầu công việc kinh doanh này không?''

''Tất nhiên rồi. Tôi không phải đồ ngốc đâu nhé. Vị trí là nhân tố quan trọng nhất dẫn tới thành công của một doanh nghiệp nhỏ. Hyde Park có một dòng tiền thu đều đặn...''

''Chờ đã.'' Anh giơ một tay lên và ngăn cô lại. ''Đó không phải là những gì tôi định nói. Tôi đang hỏi cô có từng nghĩ đến việc điều tra lai lịch của Kevin trước khi cô đầu tư quá nhiều tiền của chính cô không?''

''Tôi không có kiểm tra tội hình sự hay gì gì đó, nhưng tôi đã nói chuyện với những người chủ trước của anh ấy. Tất cả họ đều nói những điều tuyệt vời về anh ấy.'' Phần tiếp theo đây cô biết anh sẽ không bao giờ hiểu được, nhưng dẫu sao cô cũng nói với anh - thật nhanh. ''Và tôi đã ngồi thiền về chuyện đó một khoảng thời gian trước khi tôi cho anh ấy câu trả lời của tôi.''

Tay anh rơi thõng xuống hai bên người, và vẻ cau có làm nhăn trán anh lại. ''Cô đã ngồi thiền ấy à? Cô không nghĩ là tham gia kinh doanh với một người đàn ông cô hầu như không biết gì hết đòi hỏi nhiền hơn việc toạ thiền sao?''

''Không."

"Vì cái khỉ gì lại không?''

''Đó là nhân quả.''

Với một tiếng bịch thật to, chân ghế đập xuống sàn nhà. ''Lại nữa?''

''Số phận của tôi đang thưởng cho tôi. Tôi đã buồn bã và bị mất một việc làm, và Kevin trao cho tôi cơ hội được làm chủ của chính tôi.''

Anh không lên tiếng trong vài giây dài dằng dặc. ''Cô có phải đang nói với tôi,'' anh bắt đầu, lại lần nữa, ''rằng lời đề nghị kinh doanh của Kevin là một phần thưởng cho một chiến dịch tốt đẹp nào đó mà cô đã từng thực hiện trong kiếp trước sao?''

''Không, tôi không tin vào việc đầu thai.'' Niềm tin của cô đối với nhân quả làm một số người bối rối, và cô không thực lòng mong đợi Thám tử Shanahan sẽ hiểu. ''Tham gia kinh doanh với Kevin là phần thưởng cho một điều gì đó mà tôi làm trong cuộc đời này. Tôi tin rằng việc tốt hay xấu mà anh làm đều ảnh hưởng ngay đến anh, không phải sau khi anh đã chết. Khi anh chết, anh đi tới một mặt bằng ý thức hoàn toàn khác. Sự thông thái, hay trí tuệ, mà anh đã đạt được trong cuộc đời này quyết định mặt bằng mà linh hồn của anh đi tới.''

''Cô đang nói về thiên đàng hay địa ngục đấy à?''

Cô đã dự đoán một câu hỏi xúc phạm từ phía anh và không ngạc nhiên. ''Tôi chắc chắn anh gọi đó là thiên đàng.''

''Thế cô gọi nói là gì?''

''Thường thì tôi chẳng gọi nói là gì hết. Nó có thể là thiên đàng. Địa ngục. Cõi niết bàn. Gì cũng được. Tôi chỉ biết đó là nơi linh hồn của tôi sẽ đi đến khi tôi chết.''

''Cô có tin vào Chúa không?''

Cô đã quen với câu hỏi đó. ''Có, nhưng chắc không phải theo cái cách anh tin. Tôi tin rằng Chúa thà là muốn tôi ngồi trong một cánh đồng đầy hoa cúc và lấp đầy các giác quan của tôi với vẻ đẹp phi thường mà ông ấy đã tạo ra trong khi tôi suy ngẫm về sự thanh thản nội tại. Ông ấy thà là muốn tôi thực sự sống với mười điều răn hơn là ngồi trong một nhà thờ ngột ngạt và lắng nghe một người nào đó nói cho tôi biết cách để thực hiện chúng. Tôi nghĩ có một sự khác biệt to lớn giữa tín ngưỡng và đức tin. Anh có thể là cả hai, tôi không biết. Tôi chỉ biết rằng có rất nhiều người đeo tôn giáo như một cái bảng tên, và họ hạ thấp nó xuống thành những miếng dán quảng cáo. Nhưng đức tin thì khác. Nó đến từ trái tim và tâm hồn." Cô chờ anh sẽ cười hoặc nhìn cô như thể cô vừa mọc sừng và móng guốc. Anh cuối cùng lại làm cô ngạc nhiên.

''Cô có thể đúng về điều đó,'' anh nói khi anh nhỏm dậy. Anh đặt bát salad của anh lên đĩa, thu gom dao nĩa bạc, và đi vào bếp.

Gabrielle theo sau và quan sát anh tráng qua đĩa của anh trong bồn rửa. Cô hẳn sẽ không bao giờ đoán anh lại là loại đàn ông tự rửa đồ cho mình. Có thể chỉ vì anh dường như quá nam tính, như một trong những tên đàn ông đập chai bia lên trán.

''Nói với tôi đi,'' anh nói khi tắt vòi nước đi.''Việc tôi bắt giữ cô trong công viên Julia Davis có phải nhân quả không?''

Cô khoanh tay dưới ngực và dựa một bên hông vào quầy bếp bên cạnh anh. ''Không, tôi chưa từng làm chuyện gì đủ tồi tệ để xứng đáng với anh hết.''

''Có thể,'' anh nói, giọng anh trầm và quyến rũ khi anh nhìn cô qua vai, ''Tôi là phần thưởng của cô vì cư xử ngoan ngoãn.''

Cô lờ đi những cơn rùng mình đang chạy lên cột sống của cô cứ như thể cô bị hút tới những tên cảnh sát khô cằn cảm xúc với thái độ hư hỏng ấy. Mà cô thì không. ''Thực tế đi. Anh rực rỡ như một cây nấm độc ấy,'' cô nói và chỉ về mấy cái nồi trên bếp. ''Anh sẽ không rửa hết mấy cái đĩa à?''

''Đừng có mơ. Tôi đã làm hết việc nấu ăn rồi.''

Cô đã thái bánh mỳ và trộn salad cơ mà. Anh không hề làm hết việc nấu ăn. Đây là một thế kỷ mới - những anh chàng như Joe phải bước ra khỏi hang động và làm phần của mình đi chứ, nhưng cô chọn không khai sáng cho anh về chủ đề đó. ''Vậy thì tôi cho rằng mình sẽ gặp anh rực rỡ vào sáng sớm nhỉ?''

''Ừ.'' Anh nhét một tay vào túi trước của chiếc quần Levi's và rút ra một bộ chìa khoá. ''Nhưng thứ Sáu tôi phải làm chứng ở toà, nên tôi chắc sẽ không đến cho tới khoảng sau buổi trưa đâu.''

''Tôi sẽ ở Lễ hội Coeur thứ Sáu và thứ Bảy đấy.''

''Đúng rồi nhỉ. Tôi sẽ ghé qua gian hàng của cô và kiểm tra cô vậy.''

Cô đang trông mong một khoảng lặng khỏi Joe và nỗi căng thẳng mà anh gây ra. ''Không cần thiết.''

Anh liếc lên khỏi bộ chìa khoá trong tay và nghiêng đầu sang một bên. "Dẫu sao tôi cũng sẽ ghé qua, chỉ để cô không bắt đầu nhớ nhung tôi thôi.''

''Joe, tôi sẽ nhớ anh nhiều như một vết lở loét ấy.''

Anh cười thầm, rồi quay ra cửa sau. ''Cô tốt hơn là nên coi chừng đấy, tôi nghe bảo nói dối tạo ra nhân quả xấu lắm.''

Chiếc xe Bronco màu đỏ của Joe lăn bánh vào chỗ đỗ xa nhất trong khu đỗ xe ở cửa hàng Albertson. Cỗ xe bốn bánh chưa đến hai tháng tuổi, và anh không hề muốn một đứa nhóc nào đó làm lõm cửa xe của mình. Mới tám giờ rưỡi, và mặt trời đang lặn treo ngay trên những đỉnh núi bao quanh thung lũng.

Không có nhiều người trong cửa hàng tạp hoá cho lắm khi Joe vào và túm lấy một túi cà rốt cho trẻ em ưa thích của Sam.

''Này, là anh sao, Joe Shanahan?''

Joe ngước lên khỏi món cà rốt nhìn và một người phụ nữ đang cho cải bắp vào một cái xe đẩy. Cô ta thấp, xinh xắn, và có mái tóc nâu dày buộc thành một cái đuôi ngựa mượt mà trên đầu. Cô ta chỉ dùng rất ít mỹ phẩm, và có một kiểu khuôn mặt xinh xắn trông như thể được rửa sạch tới sáng bóng. Đôi mắt màu xanh biển to tròn đang nhìn thẳng vào anh trông quen quen, và anh tự hỏi mình có từng tống giam cô hay không.

"Là em đây. Ann Cameron. Chúng ta đã lớn lên trong cùng một khu dân cư. Em đã sống dưới con đường từ chỗ nhà cha mẹ anh. Anh đã hẹn hò với chị gái em, Sherry.''

Điều mà, anh cho là, lý do cô trông quen thuộc. Năm lớp mười anh đã vài lần rò rẫm với Sherry ở ghế sau chiếc Chevy Biscayne của cha mẹ anh. Cô ta là cô gái đầu tiên để anh chạm vào ngực - dưới áo lót. Lòng bàn tay trần vào bộ ngực trần. Một cột mốc thực sự với bất kỳ tên đàn ông nào. ''Chắc chắn rồi, anh có nhớ. Em thế nào, Ann?''

''Em tốt.'' Cô ném thêm vài bắp cải vào xe hàng, rồi với tay lấy một túi cà rốt. ''Mẹ và bố anh thế nào?''

''Cũng vẫn như mọi khi thôi,'' anh trả lời, nhìn núi rau củ trong xe hàng của cô. ''Em có một gia đình lớn phải ăn, hay em nuôi thỏ thế?''

Cô bật cười và lắc đầu. ''Cả hai đều không. Em chưa kết hôn và không có con. Em có một cửa hàng đồ ăn ở đường Eighth, và hôm nay em đã chạy quá công suất và không thể nhận được lần chuyển rau tươi kế tiếp cho đến chiều mai. Quá trễ cho một đám đông ăn trưa của em.''

''Một cửa hàng đồ ăn à? Vậy thì em hẳn là một đầu bếp giỏi nhỉ?''

''Em là một đầu bếp tuyệt vời.''

Anh đã nghe cũng lời khẳng định đó cách đây hai tiếng đồng hồ từ một người phụ nữ trong bộ bikini màu bạc người đã biến mất trong phòng ngủ của cô ta và bỏ mặc anh nấu bữa tối. Rồi cô thêm phần xỉ nhục vào vết thương bằng cách lờ đờ ăn bữa ăn mà anh đã chuẩn bị.

''Anh nên ghé qua và để em làm cho anh một cái sandwich, hoặc anh có thể nếm thử món mỳ Ý của em. Em làm nước sốt tôm dìu dịu dùng với mỳ tóc tiên mềm. Tất nhiên là tất cả đều từ đầu. Chúng ta có thể hồi tưởng lại khoảng thời gian xưa.''

Joe nhìn vào đôi mắt màu xanh lục trong vắt của cô và hai lúm đồng tiền làm lún má cô xuống khi cô cười với anh. Bình thường. Không có dấu hiệu điên rồ, nhưng người ta không thể nói gì từ cái nhìn đầu tiên. ''Em có tin vào nhân quả, khí, và có nghe Yanni không?''

Nụ cười của cô tắt ngóm và cô nhìn anh như thể anh bị dở hơi. Joe bật cười, ném cái túi lên không và tóm lấy nó. "Ừ, anh sẽ ghé qua. Quán của em ở số mấy trên đường Eighth?''

Gabrielle coi bản thân cô là một người lau dọn miễn cưỡng. Khi cảm giác cưỡng bách đến cực điểm, cô lau dọn. Không may thay, cảm giác thôi thúc phải dọn dẹp tử tế để đồ và tủ bát của cô chỉ đánh động một lần mỗi năm và kéo dài chỉ vài giờ. Nếu cô ra khỏi nhà khi nó đánh động, tủ đồ của cô sẽ phải đợi tròn một năm nữa.

Cô bóp nước tẩy rửa mùi chanh vào bồn rửa và lấp đầy nó với nước ấm. Có lẽ sau khi cô đã rửa cái nồi thịt bê sốt, cô sẽ cố gợi dậy đủ nhiệt tình để sắp xếp ngăn nắp cái tủ chén bát để cái rá của cô không còn rơi xuống chân một vị khách khác như đã rơi xuống chân Joe nữa.

Đúng lúc cô chộp lấy đôi găng tay cao su màu vàng, điện thoại reo. Cô nhấc lên ở hồi chuông thứ ba, và giọng mẹ cô lấp đầy tai cô.

''Beezer thế nào?'' Claire Breedlove bắt đầu mà không có lấy một lời chào mừng.

Gabrielle liếc qua vai nhìn quả bóng lông to bự ngủ gục trên tấm thảm cạnh cửa sau. ''Nằm gục đầy vui mừng.''

''Tốt, nó cư xử có ngoan không?''

''Chủ yếu nó ăn và ngủ,'' Gabrielle trả lời. "Mẹ ở đâu? Ở trong thị trấn à?''

''Yolanda và mẹ đang ở cùng ông con. Bọn mẹ sẽ lái đến Boise vào buổi sáng.''

Gabrielle kẹp ống nghe điện thoại giữa tai và vai cô rồi hỏi, ''Cancún thế nào?''

''Ồ, nó cũng được, nhưng mẹ phải kể cho con về những gì đã xảy ra. Cô con và mẹ phải rút ngắn chuyến du lịch bởi vì mẹ đã bị một điềm báo dai dẳng quấy rầy. Mẹ đã biết rằng một thảm kịch khủng khiếp sẽ giáng xuống ai đó ở vùng lân cận quanh đây. Mẹ đã cảm giác rằng ông con sẽ bị kéo vào, nên mẹ chạy về nhà để báo trước cho tất cả mọi người.''

Gabrielle chuyển sự chú ý của cô về những cái đĩa trong bồn rửa. Cuộc đời của cô vốn đã đang biến đổi to lớn rồi, và cô thực sự không có tâm trạng đi đến Twilight Zone với mẹ cô đâu. ''Điều gì đã xảy ra?'' cô hỏi, mặc dù cô biết đằng nào thì mẹ cô cũng sẽ kể cho cô thôi.

''Cách đây ba ngày, trong lúc cô Yolanda của con và mẹ ở Mexico, ông con đã cán qua con chó xù của bà Youngerman.''

Cô gần như làm rơi cái ống nghe và phải túm lấy nó bằng một bàn tay đầy xà phòng. ''Ôi không! Không phải Murray bé nhỏ chứ?''

''Phải, mẹ e là thế. Cán nó còn bẹp hơn của một cái bánh kếp. Đưa linh hồn nó tới thiên đàng của loài chó xù, con vật tội nghiệp. Mẹ cũng không hoàn toàn dám chắc rằng vụ đó là một tai nạn và cả bà Youngermen cũng không. Con biết ông con cảm thấy gì về Murray rồi đấy.''

Phải, Gabrielle biết ông có cảm thấy thế nào về chú chó nhà hàng xóm. Murray bé nhỏ không chỉ là một con vật sủa không ngừng nghỉ, nó còn là một đứa quen thói bám chân. Gabrielle không thích nghĩ rằng ông cô lại đi xa đến mức cố tình cán chết con chó, nhưng cùng lúc đó Murray đã chĩa sự chú ý mãnh liệt của nó vào cẳng chân ông cô không chỉ một lần, và cô không thể loại trừ khả năng này.

''Đó không phải là tất cả đâu. Chiều nay, Yolanda và mẹ đã viếng thăm chia buồn, và trong khi mẹ đang ngồi ở phòng khách nhà bà Youngerman, cố xoa dịu bà ấy, mẹ đã cảm thấy khoảng không gian sau trán mẹ trống rỗng hẳn. Mẹ nói với con, Gabrielle, đó là viễn cảnh tương lai mạnh mẽ nhất mẹ từng có. Viễn cảnh đó quá rõ ràng với mẹ. Mẹ có thể nhìn thấy những lọn tóc xoăn sẫm màu vuốt ve tai cậu ta. Cậu ta là một người đàn ông cao...''

''Cao, ngăm đen, và đẹp trai, hử?'' Một lần nữa cô lại kẹp điện thoại vào giữa tai và vai, rồi bắt đầu xử trí mấy cái đĩa ăn tối.

''Ồ, phải rồi. Mẹ không thể nói với con rằng mẹ phấn khích thế nào đâu.''

''À vâng, con cá đấy,'' Gabrielle lẩm bẩm. Cô lắc đĩa dưới nước, rồi đặt chúng vào máy làm khô đĩa.

''Nhưng cậu ta không phải dành cho mẹ.''

''Quá tệ. Anh ta là của cô Yolanda sao?''

"Anh ta là định mệnh của con. Con sắp có một chuyện tình cháy bỏng với người đàn ông trong viễn cảnh của mẹ.''

''Con không muốn một chuyện tình, mẹ à,'' Gabrielle thở dài và thả bát salad lẫn cốc trà vào bồn rửa. ''Giờ đây đời con đơn giản là không thể có gì thú vị cho được.'' Cô tự hỏi bao nhiêu người mẹ lại tiên đoán những người tình cháy bỏng cho con gái của họ. Cô đoán chắc là không nhiều lắm.

''Con biết con không thể ước định mệnh biến đi, Gabrielle.'' giọng nói ở đầu bên kia cau có, ''Con không thể đấu tranh với nó nếu con lựa chọn, nhưng kết quả vẫn sẽ luôn y nguyên. Mẹ biết con không tin vào định mệnh một cách mạnh mẽ như mẹ tin, và mẹ sẽ không bao giờ bảo con rằng con đã sai. Mẹ luôn luôn khuyến khích con tìm kiếm những bữa tiệc tinh thần cho chính mình, chọn con đường của riêng con để khai sáng. Khi con được sinh ra...''

Gabrielle đảo tròn mắt. Claire Breedlove không bao giờ áp đặt, ra lệnh, hay chi phối con gái. Bà đã cho cô bài học vỡ lòng về thế giới và khăng khăng rằng Gabrielle hãy tự chọn lối đi cho riêng cô. Đa phần thì, sống với một bà mẹ tin vào tình yêu tự do và quyền tự do rất tuyệt, nhưng đã có những năm vào cuối thập niên bảy mươi có những chuyến du lịch bình thường thú vị tới Disneyland thay vì thấm đẫm những di tích của người da đỏ ở Arizona hay giao tiếp với tự nhiên ở một bãi biển khoả thân phía bắc California.

''...khi mẹ ba mươi tuổi, mẹ đã được ban tặng thị lực thứ hai,'' Claire tiếp tục với câu chuyện ưa thích nhất của bà. ''Mẹ nhớ rõ nó y như thể nó mới xảy ra ngày hôm qua. Như con biết đấy, chuyện đó là giữa mùa hè thức tỉnh tinh thần của chúng ta, không lâu sau khi bố con mất. Mẹ không chỉ đơn giản thức dậy mỗi buổi sáng và chọn lựa khả năng tâm linh của mình. Mẹ đã được chọn.''

''Con biết, mẹ à,'' cô trả lời khi tráng mấy cái bát và cốc rồi đặt chúng vào máy sấy khô.

''Vậy thì con cũng biết những gì mẹ đang nói với con không phải thứ gì đó mà mẹ bịa ra. Mẹ đã nhìn thấy cậu ta, Gabrielle, và con sẽ có một cuộc gặp gỡ đầy đam mê với người đàn ông này.''

''Cách đây vài tháng điều đó có thể là một tin tức được chào mừng, nhưng không phải hôm nay,'' Gabrielle thở dài. ''Con không nghĩ con có năng lượng cho đam mê nữa.''

''Mẹ không nghĩ con có lựa chọn đâu. Cậu ta có một vẻ rất cứng rắn quanh mình. Mạnh mẽ. Cậu ta thực ra khá là đe doạ. Một đôi mắt mới thật sẫm màu, mãnh liệt làm sao và lại còn cả vẻ gợi dục ở cái miệng của cậu ta nữa chứ.''

Một cơn lạnh giá chạy dọc xương sống của Gabrielle tới tận gáy của cô, và cô từ từ hạ cái nồi vào nước rửa.

"Như mẹ đã nói, mẹ đã nghĩ cậu ta là của mẹ, và mẹ run bắn của lên. Ý mẹ là, không phải ngày nào định mệnh cũng trao cho một phụ nữ ở tuổi của mẹ một anh chàng trẻ trung trong quần jeans bó sát và thắt lưng đeo dụng cụ.''

Gabrielle nhìn chằm chằm vào những bong bóng trắng, họng cô đột nhiên khô khốc. ''Anh ta có thể là của mẹ.''

''Không. Cậu ta nhìn thẳng qua mẹ và thì thầm tên con. Có một khao khát không thể nhầm lẫn trong giọng nói của cậu ta, mẹ đã nghĩ mẹ có thể ngất lịm lần đầu tiên trong đời mất.''

Gabrielle biết cảm giác đó. Cô cũng cảm thấy lịm người đây.

''Bà Youngermen trở nên lo lắng đến mức bà ấy tạm thời quên bẵng Murray tội nghiệp. Mẹ nói với con, con yêu, mẹ đã nhìn thấy định mệnh của con. Con đã được ban cho một người tình đam mê. Cậu ta là một món quà tuyệt diệu.''

''Nhưng con không muốn anh ta. Lấy anh ta lại đi!''

''Mẹ không thể lấy cậu ta lại, và bằng vẻ mặt cậu ta, mẹ có cảm giác rằng những gì con muốn sẽ chẳng đáng kể gì.''

Lố bịch. Mẹ cô chỉ đúng về một điều, Gabrielle không tin vào định mệnh. Nếu cô không chọn có một mối tình nóng bỏng với một người đàn ông đeo thắt lưng đeo dụng cụ, thì cô đơn giản là sẽ không có.

Vào lúc Gabrielle gác mày, cô đã chết lặng và hơi chấn động. Qua nhiều năm, cô đã dần dần nghĩ về những tiên đoán tâm linh của mẹ cô như trò Gắn đuôi vào con lừa ( Một trò chơi của trẻ em. Đứa trẻ sẽ bị bịt mắt và cho quay vòng vòng đến khi mất phương hướng. Sau đó nói sẽ phải cố gắng gắn cái đuôi lừa bằng giấy vào con lừa vẽ sẵn trên tường.) vậy. Thi thoảng các viễn cảnh của mẹ cô hơi viển vông và đi nhầm hướng, thi thoảng chúng tương đối gần, và có những lúc bà lại ghìm chúng một cách chính xác đến phát sợ.

Gabrielle quay lại với bồn rửa và nhắc nhở bản thân rằng mẹ cô cũng đã báo trước về việc tái hợp của Sonny và Cher, Donald và Ivana, rồi cả Bob Dylan và Joan Baez nữa. Rõ ràng là, khi liên quan đến những tiên đoán tâm linh tình cảm, Claire chẳng biết tí gì hết.

Lần này mẹ cô lại rời xa mặt đất và quay mòng mòng ngoài tầm kiểm soát rồi. Gabrielle không muốn một người tình tóc đen cháy bỏng. Cô không muốn nghĩ về Joe Shanahan như bất kỳ thứ gì ngoại trừ một tay cảnh sát cứng rắn hết.

Nhưng đêm đó lần đầu tiên cô mơ về anh. Cô mơ thấy anh bước vào phòng ngủ của cô, nhìn cô qua đôi mắt sẫm màu khó hiểu, khoái lạc kéo cong một khoé miệng anh, và chẳng mặc gì hết ngoài luồng khí đỏ sậm. Khi cô tỉnh dậy sáng hôm sau, cô không biết mình vừa có giấc mơ khiêu dâm nhất trong đời hay trải nghiệm ác mộng tồi tệ nhất nữa.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 8


Không nghi ngờ gì. Giấc mơ đó là một cơn ác mộng.

Ngay giây phút Joe đặt chân vào Anomaly sáng hôm sau, mặc một chiếc quần jeans đã mềm đi ở tất cả những chỗ cần thiết và một cái áo phông Cactus Bar, cả người Gabrielle đỏ bừng hết cả lên. Cô đã cố tình mặc cái váy ren gấp nếp màu xanh đen để làm việc bởi vì nó dễ chịu và mát lạnh, nhưng ngay khoảnh khắc mắt cô khóa vào anh, nhiệt độ cơ thể cô vọt thẳng lên và cô đã phải vào phòng tắm và ấn khăn giấy lạnh vào hai má. Cô thậm chí còn không thể nhìn vào anh mà không nhớ đến cái cách anh đã chạm vào cô và những điều anh đã thì thầm với cô trong giấc mơ của cô nữa. Những thứ anh muốn làm và nơi anh muốn khởi đầu.

Cô cố giữ bản thân bận rộn và tâm trí xa khỏi Joe, nhưng ngày thứ Năm chậm chạp đặc thù, và ngày hôm nay cũng không phải ngoại lệ. Cô vắt vài giọt tinh dầu cam và hoa hồng vào bình đốt và đốt ngọn nến trà bên dưới. Khi cửa hàng đã bắt đầu tràn ngập mùi hương pha trộn của cam quýt và hoa cỏ, cô tách riêng một mẩu vật nữ thần và bươm bướm cắt từ pha lê. Cô phủi bụi rồi sắp sếp lại, và qua khóe mặt cô nhìn anh trám nốt mấy cái lỗ ở bức tường đằng sau do bộ giá đỡ mà anh đã di chuyển ngày hôm trước để lại. Ánh mắt cô di chuyển dọc xương sống anh lên tới đầu của anh, và cô nhớ lại cô đã tưởng tượng tóc anh mang đến cảm giác gì giữa các ngón tay cô. Điều đó dường như thật chân thực, nhưng tất nhiên nó chỉ xảy ra ở trong đầu cô mà thôi, mà có cảm thấy ngớ ngẩn khi để nó làm cô chới với và cho nó ảnh hưởng tới cô trong cà ánh sáng ban ngày.

Như thể anh có cảm thấy mắt cô trên người anh, Joe nhìn qua vai và bắt gặp cô đang nhìn chăm chú. Ánh mắt thận trọng của anh nhìn đáp trả, và cô nhanh chóng chuyển sự chú ý sang một bức tượng nữ thần vui nhộn, nhưng trước đó má cô đã nóng rẫy.

Như thường lệ, Kevin ở lì trong văn phòng với cánh cửa đóng kín phần lớn buổi sáng, nói chuyện với các nhà cung cấp, nhà bán lẻ, hoặc chăm sóc các món lợi tức kinh doanh khác của anh. Thứ Năm là ngày nghỉ của Mara, nên gần như chắc chắn, Gabrielle biết rằng cô sẽ thấy mình ở một mình với Joe cho đến khi đóng cửa. Cô hít vài hơi thở sâu bình tĩnh và cố không nghĩ đến hàng giờ liền trải dài trước mặt. Hàng giờ liến vắng vẻ. Một mình. Với Joe.

Qua đỉnh một mẫu bình hoa pha lê trưng bày, cô nhìn anh nhúng con dao trát tường của anh vào một chậu vữa và tự hỏi loại phụ nữ nào hấp dẫn được sự hứng thú của một người đàn ông như Joe. Những vận động viên thể thao xinh đẹp với cơ thể săn chắc, hay những người phụ nữ mềm mại nướng bánh mỳ và lo lắng về những con thỏ bụi bặm? Cô không phải là cả hai.

Lúc mười giờ, các dãy thần kinh của cô đã được xoa dịu tới một mức độ quản lý đuợc. Các cái lỗ đều đã được bịt kín, và cô phải nghĩ ra một công việc khác cho Joe. Họ quyết định chọn mấy cái giá ở kho đằng sau. Không có gì phức tạp. Chỉ là mấy miếng gỗ dán dài ba phần tư inch được giữ cố định với những mấu nối chữ L nặng nề.

Vì chẳng có khách hàng để mà phải lo lắng, cô dẫn Joe đi xem nhà kho, căn phòng mà chỉ hơi lớn hơn phòng tắm và có một bóng đèn sáu mươi oát treo trên trần. Nếu có một khách hàng đi vào mặt tiền của cửa hàng, một cái chuông sẽ reo ở phía sau và cho cô biết.

Hai người họ đẩy mấy cái hộp quà và các hạt xốp Styrofoam sang hết một bên phòng. Joe đeo cái thắt lưng đeo dụng cụ thấp trên hông và đưa cô một đầu của cái thước đo bằng sắt. Cô quỳ xuống và giữ nó vào một góc tường.

“Tôi có thể hỏi anh một câu riêng tư không, Joe?”

Anh quỳ một gối và tìm đến góc đối diện với đầu thước đo của anh, rồi liếc qua cô. Ánh mắt anh không bao giờ chạm tới mặt cô. Nó trượt dọc lên cánh tay tới ngực cô và ở lì đó. Gabrielle nhìn xuống ngực váy của cô nơi thân áo rủ xuống, cho Joe nhìn mãn nhãn khe ngực trắng mịn và cái áo lót ren đen của cô. Cô đặt cánh tay rảnh rỗi lên thân áo và vuốt thẳng.

Không có lấy một dấu hiệu xấu hổ, Joe cuối cùng cũng nâng mắt nhìn lên mặt cô. “Cô có thể hỏi, dù vậy không có nghĩa là tôi sẽ trả lời cô,” anh nói, rồi viết gì đó lên tường bằng bút chì.

Gabrielle đã bắt gặp nhiều người đàn ông nhìn cô chằm chằm trong quá khứ, nhưng ít nhất họ cũng biết thân biết phận mà tỏ vẻ xấu hổ. Không phải Joe. “Anh đã kết hôn chưa?”

“Chưa. Tôi đã từng suýt.”

“Anh đã đính hôn à?”

“Không, nhưng tôi suýt thì nghĩ đến điều đó.”

Cô không tin suýt thì nghĩ đến điều đó cũng được tính. “Điều gì đã xày ra thế?”

“Tôi đã được nhìn mẹ cô ấy rất rõ ràng và bỏ chạy thục mạng.” Anh lại nhìn sang cô một lần nữa và mỉm cười như thể anh thực sự hài hước lắm ấy. “Giờ thì cô có thể thả ra được rồi,” anh nói, và cái thước đo bay dọc tường, búng lên, và quất ngón tay cái của anh. “Chết tiệt.”

“Úi!”

“Cô đã cố tình làm thế.”

“Anh nhầm rồi. Tôi là người theo chủ nghĩa hòa bình, nhưng tôi đã suýt nghĩ đến điều đó.” Cô đứng dậy, tựa một vai vào tường, và khoanh tay dưới ngực. “Tôi cá anh một trong tên đàn ông kén cá chọn canh muốn vợ mình nấu ăn giỏi như Betty Crocker và trông giống một siêu mẫu.”

“Cô ấy không cần phải trông giống một siêu mẫu, chỉ cần hấp dẫn vừa phải là đuợc. Và không có móng tay dài. Phụ nữ với mấy cái móng tay dài làm tôi sợ.” Một lần nữa, anh lại mỉm cười với cô, lần này chậm rãi và quyến rũ. “Không có gì đáng sợ hơn nhìn mấy cái đoản kiếm dài khiếp đó đâu đó gần thằng bé.”

Cô không hỏi xem có phải anh phát biểu từ kinh nghiệm trong quá khứ hay không. Cô thực sự không muốn biết. “Nhưng tôi đúng về phần Betty Crocker phải không nào?”

Anh nhún vai và trượt cái thước kim lọai lên bức tường tới trần nhà. “Điều đó quan trọng với tôi. Tôi không thích nấu ăn.” Anh dừng lại để đọc độ dài và viết nó cạnh cái đầu tiên. “Tôi không thích mua sắm, dọn dẹp nhà cửa, hay là giặt giũ. Những việc mà phái nữ không ngại làm.”

“Anh nghiêm túc đấy à?” Anh trông thì bình thường, nhưng ở vài điểm trong đời sống cùa anh, anh thực sự còi cọc về tinh thần. “Điều gì khiến anh nghĩ là phụ nữ không ngại giặt giũ và dọn dẹp nhà cửa? Anh có thể ngạc nhiên khi biết rằng chúng tôi không được sinh ra với tố chất sinh học để giặt tất và chùi toa lét đâu.”

Thước đo trượt nhẹ nhàng vào vỏ kim loại, và anh móc nó vào thắt lưng. “Có lẽ. Tất cả những gì tôi biết là phụ nữ dường như không ngại quét dọn và giặt giũ nhiều như đàn ông. Cũng như đàn ông không ngại thay dầu trong ô tô, và phụ nữ sẽ lái xe mười dặm xa xôi để tới một cửa hàng sửa xe Jiffy Lube.”

Tất nhiên là phụ nữ tới Jiffy Lube rồi. Tên gàn dở nào lại tự thay dầu cho xe của chính hắn chứ? Cô lắc đầu. “Dẫu sao tôi cũng tiên đoán anh sẽ độc thân trong một khoảng thời gian đấy.”

“Gì chứ, cô là bà đồng của tôi đấy à?”

“Không, tôi không cần phải có năng lực siêu nhiên cũng biết rằng không người phụ nữ nào lại muốn làm người hầu của anh cả đời hết. Trừ phi trong đấy có gì đó cho cô ta,” cô thêm vào, nghĩ đến một người phụ nữ vô gia cư tuyệt vọng.

“Trong đấy có gì đó cho cô ấy mà.” Với hai sải bước dài anh đóng lại khoảng cách giữa họ. “Tôi đây.”

“Tôi đang nghĩ thứ gì đó tốt đẹp cơ.”

“Tôi tốt. Thực sự tốt,” anh nói đủ thấp để anh không bị ngoài phòng nghe thấy. “Cô có muốn tôi cho cô xem tôi tốt như thế nào không?”

“Không.” Cô đứng thẳng dậy khỏi tường, và anh đứng gần đến mức cô có thể nhìn thấy cả những vành đen trong mống mắt anh.

Joe nâng tay lên và vuốt một bên tóc của cô ra sau tai, ngón tay cái của anh mơn man má cô. “Đến lượt cô.”

Cô lắc đầu, sợ rằng nếu anh quyết định cho cô xem anh tốt như thế nào, cô sẽ không thèm cố gắng ngăn anh lại nữa. “Không, thực đấy. Tôi tin lời anh về chuyện đó mà.”

Tràng cười khục khặc của anh tràn ngập căn phòng. “Ý tôi là đến lượt cô trả lời một câu hỏi.”

“À,” cô nói và không biết vì sao mình lại cảm thấy thất vọng thế đến thế.

“Sao một cô gái như cô lại vẫn còn độc thân?”

Cô tự hỏi ý anh là gì và cố gợi lên một ít căm phẫn, nhưng lời đáp của cô thốt ra hổn hển hơn là khó chịu. “Như tôi thế nào?”

Anh trượt ngón tay cái ngang quai hàm tới cằm cô, rồi vuốt ve môi dưới của cô. “Với mái tóc hoang dại như vừa mới làm tình xong của cô, và đôi mắt màu xanh lục to tròn này, có có thể khiến cho một thằng đàn ông quên đi hết thảy đấy.”

Hơi nóng trong lời nói của anh lắng xuống ở cuối dạ dày có và làm đầu gối cô nhũn ra. “Như là quên gì?”

“Như là lý do tại sao không phải là một ý hay nếu tôi hôn cô,” anh nói và chậm rãi hạ miệng anh xuống với miệng cô. “Khắp mọi nơi.” Tay anh âu yếm hông cô, và anh kéo cô lại gần. Mấy cái túi da ở dây thắt lưng đeo dụng cụ của anh ấn vào bụng cô. “Như là tại sao tôi lại thực sự ở đây, và tại sao chúng ta lại không thể dành cả ngày như kiểu chúng ta sẽ làm nếu cô thực sự là bạn gái của tôi.” Môi anh mơn man môi cô và cô mở ra cho anh, không thể kháng cự lại thôi thúc khao khát đang cuộn tròn các ngón chân cô lại. Đầu lưỡi của anh chạm vào lưỡi cô, rồi anh kéo nó vào khuôn miệng ấm áp của anh. Anh từ tốn hôn cô, gợi lên khoái lạc với những âu yếm chậm rãi, nấn ná của môi và luỡi. Thậm chí khi anh đẩy cô áp vào tường, lồng các ngón tay của họ vào, và khóa chặt tay cô cạnh đầu cô, đôi môi ẩm ướt của cô vẫn níu chặt lấy môi anh và lưỡi anh vẫn dịu dàng luồn vào trong, rồi rút lui.

Trêu chọc thậm chí cả khi anh dỗ dành cô bằng miệng của anh. Vị trí tựa vào tường của cô ưỡn lưng cô lên và đâm ngực cô vào lồng ngực cứng cáp của anh. Đầu ngực cô bắt đầu siết chặt, và khi anh đào sâu nụ hôn, Gabrielle trở nên ướt át hết bên trong. Dòng chất lỏng nóng hổi đong thấp trong bụng cô và kéo ra một tiếng rên rỉ từ sâu trong lồng ngực cô. Cô nghe thấy nó nhưng hầu như không thể nhận thấy nó đang phát ra từ cô nữa.

Rồi cô nghe thấy thứ gì đó như là Joe đang hắng giọng, nhưng đứng trong vòng ảnh hưởng quyến rũ của luồng khí đỏ sậm của anh, cô tự hỏi làm sao mà anh có thể hắng giọng khi lưỡi anh đang ở trong miệng cô.

“Khi em đã xong với tay thợ sửa chữa của em, Gabe, anh cần em nhìn qua mấy cái hóa đơn cho hư hỏng trong việc vận chuyển đĩa sushi.”

Joe lùi ra và trông đờ đẫn như cảm giác của cô. Cô nhận ra rằng anh chẳng hề nói gì, và cô quay đầu vừa kịp lúc để nhìn Kevin đi khỏi phòng sau tới mặt tiền cửa hàng. Cái chuông báo hiệu khách hàng rung lên, và nếu Kevin có chút nghi ngờ nào trong đầu về việc Joe thực sự là bạn trai của cô, thì giờ cũng sẽ không còn nữa.

Joe bước lùi lại và cào tay qua hai bên tóc. Anh thở phù một cái, và tay anh buông thõng xuống hai bên, ánh mắt anh vẫn hơi thẫn thờ và hoang mang như thể anh vừa bị một thế lực vô hình nào đó đánh vào đầu. “Có khi cô không nên mặc những thứ như thế để làm việc.”

Với dục vọng vẫn cuồn cuộn trong huyết quản, Gabrielle loạng choạng trên gót chân và liếc một ánh mắt bối rối xuống váy của cô. Chân váy chạm tới hai bắp chân cô, và phần thân lùng thùng để lộ rất ít. “Cái này ư? Có gì sai với nó nào?”

Anh chuyển trọng lượng sang một chân và khoanh tay ngang ngực. “Nó quá gợi cảm.”

Cảm giác sửng sốt giữ cô im lặng một lúc, nhưng khi cô nhìn vào mắt anh và nhận ra rằng anh nghiêm túc, cô phá ra cười. Cô không thể dừng lại được.

“Có gì vui đến thế vậy?”

“Không một trí tưởng tượng phong phú nào có thể cho rằng cái váy này gợi cảm hết.”

Anh lắc đầu. “Có thể chính là do cái áo lót ren đen mà cô đang mặc.”

“Nếu anh không nhìn xuống váy của tôi, anh sẽ không biết về áo lót của tôi.”

“Và nếu cô không trưng ra cho tôi, tôi sẽ không nhìn.”

“Trưng ra cho anh á?” Cảm giác giận dữ hóa lạnh bất kỳ khao khát nào còn nấn ná lại, và cô không còn nghĩ có gì đó thú vị về tình huống này nữa. “Anh đang nói rằng cảnh cái áo lót đen của tôi khiến anh mất kiểm soát sao?”

“Thường thì không.” Anh nhìn cô từ trên xuống dưới. “Có gì trong cái thứ mà cô đốt lúc nãy vậy?”

“Dầu cam và hoa hồng.”

“Không còn gì nữa à?”

“Không. Sao chứ?”

“Bất kỳ thứ gì thay đổi suy nghĩ trong tất cả những cái bình nhỏ kỳ quặc cô mang theo bên mình không? Thần chú, bùa mê hay gì đó?”

“Anh nghĩ rằng anh đã hôn tôi bởi vì một loại bùa dầu nào đó sao?”

“Hợp lý đấy chứ.”

Còn hơn cả lố bịch. Cô rướn ra trước và chọc ngón trỏ của cô vào lồng ngực anh. “Anh có phải đã bị rơi đập đầu khi còn bé không?” Cô lại chĩa vào anh. “Đó là vấn đề của anh phải không?”

Anh thả tay ra và túm lấy bàn tay cô trong lòng bàn tay nóng hổi của anh. “Tôi cứ nghĩ cô là một người yêu hòa bình đấy.”

“Đúng thế, nhưng anh vừa đẩy tôi đi quá…” Gabrielle dừng lại và lắng nghe những giọng nói đang vang đến từ mặt tiền. Họ di chuyển về hướng phòng sau, và cô không cần nhìn họ cũng biết ai vừa đi vào cửa hàng.

“Gabe ở đằng sau này với bạn trai của cô ấy.” Kevin nói.

“Bạn trai sao? Gabrielle đã không nhắc đến một cậu bạn trai nào khác khi bác nói chuyện với con bé tối hôm qua đấy.”

Gabrielle giật tay ra khỏi nắm tay Joe, lùi lại một bước, và nhanh chóng nghiên cứu anh từ đầu tới chân. Anh đứng trước mặt cô trông y xì những gì mẹ cô đã miêu tả. Cứng đầu, quả quyết, và gợi cảm. Cái quần jean và thắt lưng đeo dụng cụ như một biển báo sáng trưng. “Nhanh lên.” Cô thì thầm, “đưa tôi cái thắt lưng đeo dụng cụ kia đi.”

“Gì cơ?”

“Cứ làm đi.” Không có cái thắt lưng, có lẽ mẹ cô sẽ không nhầm Joe với người đàn ông trong viễn cảnh của bà nữa. “Mau lên.”

Tay anh hạ xuống trước cái quần jean, và anh cởi khóa cái thắt lưng da to bản. Từ từ, anh đưa nó qua và hỏi, “Còn gì nữa không?”

Gabrielle chộp lấy nó từ anh và ném nó ra sau một cái hộp ở trong góc. Nó đập mạnh vào tường, và cô quay lại đúng lúc để nhìn thấy mẹ cô, cô Yolanda, và Kevin đi vào phòng sau. Cô bước ra khỏi kho hàng và đính một nụ cười lên mặt. “Chào mẹ,” cô nói như thể chẳng có gì khác thường hết. Như thể cô không phải vừa hôn hít với một người tình u tối, đam mê vậy.

Joe quan sát đôi vai thẳng đơ của Gabrielle khi cô ra khỏi căn phòng nhỏ. Anh nhanh chóng quay lưng vào cửa và mất một lúc để chỉnh đốn lại bản thân. Anh không quan tâm cô đã nói gì, phải có một tình dược làm thay đổi tâm trí nào đó trong cái thứ mà cô lúc nào cũng đốt lên ấy. Đó là lời giải thích duy nhất cho câu hỏi tại sao anh đã hoàn toàn lạc mất tâm trí của mình.

Khi anh ra khỏi nhà kho, anh không nhận ra hai người phụ nữ ở cùng Kevin, nhưng người cao hơn mang một vẻ tương đồng đáng kể với Gabrielle. Bà ta chia mái tóc màu nâu đỏ dài ra làm đôi ở giữa và buộc lại ở hai bên, giữ cố định với cái dây da đính hạt.

“Joe,” Gabrielle nói, nhìn anh qua vai, “đây là mẹ tôi, Claire, và cô tôi, Yolanda."

Joe trao tay anh cho mẹ của Gabrielle và thấy nó bị nắm chặt trong một gọng kìm. “Rất vui được gặp bác,” anh nói khi nhìn vào đôi mắt màu xanh biển đang xoáy sâu vào anh như là bà có thể nhìn xuyên qua trán anh vậy.

“Bác đã từng gặp cháu trước đây,” bà thông báo cho anh.

Không thể nào. Joe hẳn phải nhớ đã từng gặp người phụ nữ này. Có một sức mạnh kỳ lạ ở bà mà anh hẳn sẽ không quên. “Cháu nghĩ bác có thể đã nhầm cháu với ai đó khác rồi. Cháu không tin là chúng ta đã từng gặp.”

“À, cháu thì chưa gặp bác,” bà thêm vào như thể điều đó làm sáng tỏ điều bí ẩn.

“Mẹ ơi, làm ơn.”

Claire lật bàn tay anh lại và nhìn vào lòng bàn tay anh. “Đúng y như bác đã nghi ngờ. Nhìn vào cái đường này, Yolanda.”

Cô của Gabrielle bước lại gần và cúi mái đầu vàng xuống lòng bàn tay Joe. “Rất cứng đầu.” Bà cô nâng đôi mắt nâu mềm mại lên nhìn anh, rồi nhìn Gabrielle một cách buồn bã và lắc đầu. “Cháu có chắc về người đàn ông này không, cháu yêu?”

Gabrielle rên lên, và Joe cố rút tay anh ra khỏi kìm kẹp của Claire. Anh phải giật ra hai lần thì bà mời thả anh ra.

“Cháu được sinh ra lúc nào, Joe?” Claire hỏi.

Anh không muốn trả lời. Anh không tin vào tất cả cái trò hoàng đạo vớ vẩn, nhưng khi bà nhìn thẳng vào anh với đôi mắt ma quỷ đó, tóc sau gáy anh dựng đứng hết cả lên, rồi anh mở miệng ra và thú nhận, “Đầu tháng Năm ạ.”

Giờ thì Claire nhìn đến lượt con gái bà và lắc đầu. “Là một Kim Ngưu tới tận rễ.” Rồi bà hướng sự chú ý tới Yolanda. “Rất phàm tục. Yêu thức ăn ngon và tình yêu đẹp. Những người Kim Ngưu là người theo chủ nghĩa nhục dục của cung hoàng đạo.”

“Người theo chủ nghĩa khoái lạc thực sự. Chịu đựng tuyệt vời, và không ngừng nghỉ khi đã tập trung một mục tiêu hoặc nhiệm vụ nào đó,” Yolanda thêm vào danh sách. “Cậu ta có tính sở hữu cao với bạn đời của mình và rất bao bọc con cái.”

Kevin bật cười, và môi Gabrielle trề ra. Nếu hai người phụ nữ này không thảo luận về anh như thể anh là dịch vụ ngựa giống tiềm năng, Joe hẳn cũng sẽ cười. Gabrielle rõ ràng là không thấy tí hài hước nào trong tình huống này, nhưng cô cũng không thể thông báo chính xác cho mẹ và cô cô biết rằng anh không phải bạn trai của cô được. Không khi mà Kevin đứng gần đến thế. Joe không thể làm gì nhiều để giúp cô thoát ra, nhưng anh hẳn đã có thể cố thay đổi chủ đề nếu cô không mở miệng ra và xỉ nhục anh.

“Joe không phải là cái người tình u tối, đam mê mà hai người nghĩ đâu nhé,” cô nói. “Cứ tin lời con về chuyện này.”

Joe khá chắc chắn rằng anh là một người đàn ông đam mê. Anh cũng khá chắc chắn rằng mình là một người tình tốt. Anh chưa bao giờ bị phàn nàn tí nào. Cô cũng có thể nói trắng ra và buộc tội anh là một con cá chết. Anh vòng tay quanh eo cô và hôn thái dương cô. “Cẩn thận hoặc là em sẽ làm anh lo lắng về màn biểu diễn của anh đấy,” anh nói, rồi cười khục khặc như thể ý nghĩ biểu diễn một cách tệ hại thật lố bịch vậy. “Gabrielle hơi giận cháu vì ám chỉ quét dọn nhà cửa và nấu ăn là công việc của phụ nữ đấy mà.”

“Và anh vẫn còn đang thở đấy sao?” Kevin hỏi. “Tôi đã từng gợi ý cô ấy đảm nhận nhiệm vụ quét dọn phòng vệ sinh ở chỗ làm này vì cô ấy là con gái, và tôi đã nghĩ cô ấy sẽ đánh tôi no đòn cơ đấy.”

“Không đâu, cô ấy là người yêu hòa bình mà,” Joe trấn an Kevin. “Phải không, em yêu?”

Vẻ mặt cô quay sang anh là bất kỳ thứ gì trừ phi bạo lực. “Em luôn sẵn sàng cho anh là ngoại lệ.”

Anh siết chặt cô vào anh và nói, “Đó là những gì một người đàn ông thích nghe từ người phụ nữ của anh ta.” Rồi trước khi cô có thể thốt ra một từ nào nữa và buộc tội anh là ác quỷ đến từ địa ngục, anh ấn môi anh vào môi cô, chặn cơn giận dữ của cô bằng nụ hôn của anh. Mắt cô mở to, rồi nheo lại, và cô nâng tay lên vai anh. Trước khi cô có thể đẩy anh ra, anh thả cô, và nỗ lực đẩy anh ra của cô không lại giống như một vòng ôm để giữ anh lại gần hơn. Anh mỉm cười, và, trong vài giây ngắn ngủi, anh nghĩ cơn oán giận của cô có thể vượt qua niềm tin vào phi bạo lực của cô. Nhưng là người yêu hòa bình thực sự mà cô đã tự xưng, cô hít một hơi thật sâu và chậm rãi thở ra. Rồi cô chuyển sự chú ý sang mẹ lẫn cô cô và lờ tịt anh đi.

“Hai người đến để đưa con đi ăn trưa à?” Cô hỏi.

“Mới có mười giờ ba muơi.”

“Vậy thì bữa lửng vậy,” cô sửa đi. “Con muốn nghe tất cả về kỳ nghỉ của hai người.”

“Bọn mẹ cần đón Beezer,” Claire nói, rồi nhìn Joe. “Tất nhiên là cháu được mời. Yolanda và bác cần kiểm tra năng lượng sinh mệnh của cháu.”

“Chúng ta nên kiểm tra cậu ấy bằng thước đo luồng khí mới,” Yolanda thêm vào. “Em nghĩ nó chính xác hơn…”

“Con chắc chắn rằng Joe thích ở lại đây và làm việc hơn,” Gabrielle cắt ngang. “Anh ấy yêu công việc của mình. Phải không nào?”

Thước đo luồng khí ư? Chúa nhân từ. Tính điên rồ không rơi xa khỏi cây gia phả cho lắm. “Đúng vậy ạ. Nhưng cảm ơn bác, bác Claire. Có lẽ để lần khác.”

“Hy vọng ở điều đó. Số mệnh đã trao cho cháu một người rất đặc biệt, và bác ở đây để đảm bảo rằng cháu sẽ chăm lo đến tinh thần yếu đuối của con bé,” bà nói, ánh mắt bà nhọn hoắt đến mức tóc gáy anh lại dựng đứng. Bà mở miệng để nói thêm, nhưng Gabrielle nắm lấy cánh tay bà và đi với bà về phía mặt tiền cửa hàng.

“Mẹ biết con không tin vào định mệnh,” Joe nghe thấy Gabrielle nói, “Joe không phải định mệnh của con.”

Kevin lắc đầu và thốt ra một tiếng huýt sáo nho nhỏ khi cánh cửa đã đóng lại sau lưng ba người phụ nữ. “Cậu gần như không tránh được viên đạn đó, bạn của tôi. Mẹ và cô của Gabe là những quý bà thực sự tử tế, nhưng thi thoảng khi họ muốn nói chuyện, tôi mong được nhìn thấy đầu họ quay cuồng như Linda Blair trong phim Quỷ Ám.”

“Tệ đến thế hả?”

“Ừ, tôi nghĩ họ cũng bắt sóng được với Elvis nữa. Khuếch đại Gabrielle khoảng một nghìn lần, và anh có họ hàng của cô ấy.”

Lần duy nhất anh không nghĩ Kevin nói dối. Anh quay sang tay buôn lậu và đập vào lưng anh ta như thể họ là bạn thân. “Cô ấy có thể có những họ hàng gàn dở, nhưng cô ấy có cặp chân tuyệt vời,” anh nói. Đến lúc làm việc rồi. Đến lúc để nhớ lại rằng anh không ở đây để ghim người cung cấp thông tin bí mật của anh vào tường và cảm nhận cơ thể mềm mại của cô ép vào anh, khiến anh cứng đến nỗi anh quên mất tất cả mọi thứ trừ bộ ngực cô chọc vào ngực anh và hương vị tuyệt vời của miệng cô. Đến lúc kết thân với Kevin rồi tóm cổ anh ta vì tội trộm bức Monet của ông Hillard rồi.

* * * * * *

Sáng hôm sau thám tử Joe Shanahan đi vào tòa án quận Bốn, giơ cánh tay phải lên, và thề sẽ nói sự thực, trong vụ tố tụng Ron và Don Kaufusi. Mấy thằng nhãi nhà Kaufusi là những kẻ xui xẻo đang phải đối mẵt với một quãng thời gian trong tù nếu bị buộc tội cho một loạt vụ ăn trộm ở các khu dân cư. Vụ án này là một trong những nhiệm vụ đầu tiên được chỉ định cho Joe không lâu sau khi anh bị điều chuyển tới phòng Trộm cắp Tài sản.

Anh lấy ghế ngồi trong khu nhân chứng và bình tĩnh vuốt thẳng cà vạt. Anh trả lời các câu hỏi từ công tố viên và luật sư biện hộ của lũ nhãi con kia, và nếu Joe không có sẵn định kiến với mấy tên luật sư biện hộ, anh hẳn đã thực lòng cảm thấy thương tiếc cho tên luật sư nhận vụ này. Đấy là một cú ghi điểm không thể chối cãi.

Được cho ngồi sau bàn biện hộ, lũ nhóc nhà Kaufusi trông giống những tay sumo, nhưng từ kinh nghiệm trong quá khứ Joe biết rằng hai anh em này có thần kinh thép và trung thành như chú chó Old Yeller. Chúng đã thực hiện một chuỗi hoạt động thực sự gan dạ trong vài tháng trời trước khi bị bắt khi đang chuồn ra khỏi một ngôi nhà ở đại lộ Harrison. Mỗi tuần, mấy tên này sẽ đỗ một chiếc xe chuyên chở hiệu U-Haul kế bên cửa sau của một ngôi nhà nào đó mà chúng đã nhắm đến. Chúng sẽ bốc vác những thứ có giá trị như tiền quý, bộ sưu tập tem, và đồ cổ lên xe tải. Trong một trường hợp, các hàng xóm bên kia đuờng đã nhìn thấy, tin ngay rằng hai anh em này là những người vận chuyển chuyên nghiệp.

Khi Don bị khám xét, nhân viên cảnh sát tống giam đã tìm thấy một thanh Đa năng trong túi quần lao động bằng vải gai của anh. Những dấu hiệu đặc trưng của dụng cụ này phù hợp với một tá dấu hiệu khác sót lại trên các khung cánh cửa sổ và cửa ra vào khắp thành phố. Văn phòng công tố đã thu thập đủ bằng chứng trực tiếp và gián tiếp để tống giam hai anh em này một khoảng thời gian dài, thế mà chúng vẫn từ chối nêu tên kẻ buôn lậu cuả chúng để đổi lấy ân xá. Vài người có thể tin rằng chúng thiếu thiện ý hợp tác có liên quan tới danh dự giữa bè đảng trộm cắp, nhưng Joe thì không nghĩ thế. Anh cho nó hẳn là liên quan nhiều tới công việc kinh doanh béo bở hơn. Mối quan hệ giữa bọn trộm và bọn buôn lậu là mối quan hệ cộng sinh. Tên ký sinh trùng này cho tên ký sinh trùng kia ăn để tồn tại. Hai anh em này đang đặt cược vào một khoảng thời gian ở tù ngắn ngủi và đã lên sẵn kế hoạch cho chúng quay lại làm ăn. Không mang lại lợi lộc gì khi gây thù địch với một tay buôn lậu giỏi giang.

Joe làm chứng trong hai tiếng đồng hồ, và khi đã xong, anh cảm thấy muốn giơ cao hai nắm đấm qua đầu như một tay thợ săn tiền thưởng. Lợi thế đang nghiêng về phía anh, và người tốt sẽ chiến thắng vòng này. Trong một thế giới mà kẻ xấu chiến thắng ngày càng nhiều hơn, thật tốt khi loại bớt một số tên trong bọn chúng ra khỏi đường phố một khoảng thời gian. Hai tên đã hạ gục và còn thêm hai nghìn tên nữa để tiếp tục. Anh đi khỏi phòng xử án với một nụ cười khinh khỉnh trên mặt và đẩy kính râm lên sống mũi. Anh rời khỏi bầu không khí ngột ngạt của phòng xử án và tắm trong ánh nắng mặt trời. Một bầu trời xanh mênh mông và những đám mây bóng xốp lơ lửng trên đầu anh khi anh lái xe rời khỏi đường Hill về nhà. Căn nhà kiểu nông trại này đã được xây dựng vào thập niên năm mươi, và trong năm năm anh đã sống ở đó, anh đã thay thế thảm trải và đồ nhựa từ trong ra ngoài. Giờ tất cả những gì anh phải làm là tống khứ cái bồn tắm màu xanh ô liu ở một phòng tắm đi, và anh cho tạm thời thế là được. Anh thích tiếng cọt kẹt của cái sàn và những viên gạch bạc màu trên cái lò sưởi đắp nổi. Chủ yếu, anh thích tính chất đầm ấm ở ngôi nhà của anh.

Ngay phút Joe bước vào cửa trước, Sam đập cánh và huýt sáo như một tay công nhân xây dựng nhặng xị.

“Mày cần một cô bạn gái,” anh nói với chú chim khi thả nó ra khỏi lồng. Anh đi vào phòng ngủ để thay quấn áo, và Sam theo sau.

“Tên kia, hãy coi chừng đấy,” con chim rít lên từ chỗ đậu trên tay nắm tủ kéo của Joe.

Joe thoát khỏi bộ vét và đầu óc anh xoay sang chuỗi những câu hỏi ai-cái-gì-ở đâu-khi nào-và-tại sao của vụ án Hillard. Anh không đến gần được phần tống giam một tí nào hết, nhưng ngày hôm qua không hoàn toàn đáng chán. Anh đã biết được tại sao. Anh đã biết được những gì thúc đẩy Kevin Carter. Anh đã biết được rằng Kevin đã phuẫn uất đến thế nào khi đến từ một gia đình đông đúc. Và hơn nữa, anh ta ghét đến phát điên khi lớn lên nghèo đói.

“Tên kia, hãy coi chừng đấy.”

“Mày cần tự lĩnh hội lời khuyên của chính mày đấy, anh bạn ạ.” Joe dắt một cái áo phông màu xanh biển vào cạp chiếc quần Levi’s của anh và ngước lên nhìn Sam. “Tao không phải cái đứa cắn đồ gỗ hoặc tự giật lông mình khi tao phát rồ,” anh nói, rồi rút ra một cái mũ bóng chày của đội New York Rangers để che tóc. Anh không bao giờ thì biết được khi nào thì va phải một ai đó anh từng tống giam trong quá khứ, đặc biệt là ở một nơi kỳ cục như lễ hội Coeur.

Khi anh rời khỏi nhà là gần một giờ, và anh ghé nhanh qua một chỗ trên đường tới công viên. Anh dừng ở cửa hàng thức ăn trên đường Eigth của Ann. Ann đứng sau quầy hàng, một nụ cười ấm áp rọi sáng khuôn mặt cô khi cô ngước lên và nhìn anh. “Xin chào, Joe. Em vẫn hy vọng anh sẽ đến.”

Cái cách cô nhìn anh, anh không làm gì ngoài đáp lại nụ cười của cô. “Anh đã bảo em là anh sẽ đến mà.” Anh thích tia sáng thích thú lấp lánh trong đôi mắt cô. Một tia sáng xinh xắn bình thường. Kiểu tia sáng mà một phụ nữ sẽ cho người đàn ông thấy cô ta muốn tiến xa hơn.

Anh gọi một bánh mỳ trắng kẹp giăm bông và xúc xích, và vì anh không biết một người ăn cay sa ngã sẽ ăn gì, anh gọi một bánh mỳ kẹp thịt gà cho Gabrielle - rất nhiều mầm cây đấy.

“Khi em gọi chị em, Sherry, tối hôm qua và bảo chị ấy rằng em đã chạm mặt anh, chị ấy nói chị ấy nghĩ anh là một cảnh sát. Có đúng không?” Cô hỏi khi cô cắt lát bánh mỳ và đặt một đống thịt vào mỗi lát.

“Anh là một thám tử phòng Trộm cắp Tài sản.”

“Em không ngạc nhiên đâu. Sherry nói anh thường lục soát chị ấy vào năm lớp chín.”

“Anh tưởng đó là lớp mười chứ.”

“Không phải đâu.” Cô bọc mấy miếng sandwich lại và đặt chúng vào một bao giấy. “Anh có muốn thêm salad hoặc khoai tây chiên không?”

Joe bước lùi lại và nhìn vào cái hộp mẫu được đặt đầy nhiều loại salad và tráng miệng khác nhau. “Cái gì thì ngon?”

“Tất cả đều ngon hết. Em chỉ vừa làm chúng sáng nay thôi. Ít bánh kem thì sao?”

“Anh không biết nữa.” Anh rút một tờ hai mươi đô ra khỏi ví và đưa nó cho cô. “Anh cực kỳ khó tính về bánh kem của anh.”

“Em sẽ nói với anh điều này,” cô nói và mở máy tính tiền ra. “Em sẽ đưa anh vài miếng, và nếu anh thích nó, anh sẽ quay lại vào ngày mai và mua cho em một cốc cà phê vào giờ nghỉ của em nhé.”

“Giờ nghỉ của em là khi nào?”

Nụ cười của cô lại một lần nữa thắp sáng đôi mắt cô, và hai má lúm đồng tiền lún hai má cô xuống. “Mười giờ ba mươi,” cô trả lời và đưa anh tiền thối lại.

Anh phải làm việc lúc mười giờ. “Chuyển thành chín đi.”

“Đồng ý.” Cô mở hộp kính ra và cắt hai lát bánh kem và bọc chúng lại trong giấy sáp. “Đấy là một cuộc hẹn.”

Anh sẽ không đi xa đến thế. Nhưng cô rất tử tế và rõ ràng là có thể nấu ăn. Cô chắc chắn không nhìn anh như thể thứ duy nhất cứu anh không bị thụi mạnh vào vào bụng là lòng tin vào phi bạo lực của cô. Anh nhìn cô đặt hai cái bánh và hai cái đĩa nhựa lên đỉnh chồng sandwich, rồi cô đưa anh cái túi.

“Gặp anh vào buổi sáng nhé, Joe.”

Có lẽ Ann chính là những gì anh cần.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 9


Ba mươi cái mái che vải sọc quây riêng một khu của công viên Julia Davis gần dàn nhạc. Một tốp các nghệ sĩ ngẫu hứng ngồi vắt chéo chân dưới một tán cây sồi hùng vĩ, đập những ngón tay vững vàng vào bề mặt cả những chiếc trống bongo. Vài người thổi sáo quạt và một nhóm dân du mục chuyên sống trên xe buýt dỗ dành những giai điệu da diết từ những dụng cụ thủ công cũng tham gia cùng. Những vũ công chân trần xoay mình, chân váy bằng sa mỏng và những bím tóc dài xoay tít theo nhịp điệu lôi cuốn, trong khi những người Mỹ da trắng nhìn từ ngoài rìa trông hơi bối rối.

Ở Lễ hội Coeur, bạn có thể mua các viên pha lê chữa bệnh và sách về nghệ thuật xem bói. Đọc lòng bàn tay, tiên đoán số mệnh, và giải thích quá khứ. Các lều đồ ăn mời mọc những món ăn hữu cơ ngon lành như bánh thịt chay, rau xào, rau trộn ớt, và bánh mỳ đậu với nước rưới đậu phụng.

Lều của Gabrielle nằm giữa Tâm Hồn Mẹ, người xoa dịu tinh thần, và Ngài Hữu Cơ, nhà dược thảo ưu tú. Lễ hội này là một tổ hợp cả tinh thần lẫn thương mại của Kỷ nguyên mới, và nhân dịp này Gabrielle đã mặc một cái áo vải mỏng không tay, thêu hình mặt trời vàng và kỳ lân, buộc lại dưới ngực. Chiếc váy đồng bộ trễ thấp trên hông cô và cài khuy đằng trước. Cô mở nút váy từ đầu gối tới mắt cá chân, và cô đã cho chân vào một đôi xăng đan bằng da thủ công. Cô đã thả tóc xuống, và đôi vòng tai vàng mỏng trên tai cô hợp tông với chiếc nhẫn ở rốn. Bộ đồ này gợi cho cô nhớ tới một ít quãng thời gian ngắn ngủi cô đam mê múa bụng.

Tinh dầu và nến thơm của cô đang bán còn tốt hơn cả những gì cô đang hy vọng. Cho đến giờ, món hàng bán chạy nhất của cô là tinh dầu có tác dụng chữa bệnh, với dầu massage về sát nút ở vị trí thứ hai. Đối diện thẳng lều hàng của Gabrielle là một phụ nữ vẽ hình trang trí lên mu bàn tay, và kế bên cô ấy, Doug Tano, nhà chữa bệnh ruột kết bằng nước.

Không may cho Gabrielle, Doug không ở trong lều của anh ta. Anh ta đang ở trong lều của cô, nhồi nhét cho cô những lợi ích của phương pháp chữa bệnh ruột kết bằng nước. Gabrielle vốn tự hào về đầu óc cởi mở của bản thân. Cô thấu hiểu. Cô hiểu và chấp nhận niềm tin của mọi người về những vùng đất siêu hình khác. Cô ủng hộ những nghệ thuật và liệu pháp chữa bệnh không chính thống, nhưng gừ, thảo luận về chất thải vượt quá mức sức chịu đựng của cô và gần như đã tiếp giáp đến địa hạt tục tĩu.

“Cô nên đến và làm sạch đi,” anh ta bảo cô khi cô dựng lại mấy cái chai tinh dầu làm đẹp và dầu tắm nhỏ nhắn.

“Tôi chỉ không thấy là mình có thời gian.” Và cô cũng sẽ không bao giờ thấy mình dành ra thời gian. Về mặt nghề nghiệp, cô xếp hạng công việc rửa sạch ruột kết cùng một vùng với tổ chức tang lễ. Một trong hai việc ấy cô cho là ai cũng phải có ai đó làm thôi nhưng cảm tạ nhân quả may mắn của cô khi đó không phải là cô.

“Cô không thể trì hoãn một việc quan trọng đến thế,” anh ta nói, cũng kiểu gợi cô nhớ đến một tay làm dịch vụ tang lễ. Giọng anh ta hơi quá đều đều, móng tay anh ta hơi quá chải chuốt, và da hơi quá nhợt nhạt. “Tôi nói với cô đấy, cô sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn nhiều khi tất cả những thứ độc hại đó đã được tống khứ.”

Cô sẽ tin lời anh ta về chuyện đó. “Ồ, thật sao?” là tất cả những gì cô rặn ra được, rồi giả vờ vô cùng thích thú với những cây nến thơm của cô. “Tôi nghĩ có ai đó đang ở lều của anh kìa,” cô nói, tuyệt vọng muốn thoát khỏi anh ta đến mức cô cố tình nói dối.

“Không, họ chỉ đi ngang qua thôi.”

Qua khóe mắt cô, một túi giấy màu nâu rơi bịch xuống cạnh mấy bình xịt thủy tinh của cô. “Tôi đã làm bữa trưa đây,” vang lên từ một giọng nói trầm ấm mà cô không bao giờ lại nghĩ rằng cô sẽ thực sự vui mừng được nghe thấy. “Cô có đói không?”

Cô để ánh mắt mình nhẩn nha lên chiếc áo phông trắng trơn của Joe, qua hõm cổ rám nắng của anh, lên tới chỗ lõm sâu ở môi trên của anh. Bóng của một cái mũ bóng chày màu xanh pha đỏ che mất nửa mặt, tô đậm những đường nét nhục dục của miệng anh. Sau cuộc trò chuyện với Doug, cô ngạc nhiên là mình rất đói. “Đói ngấu,” cô trả lời và quay sang người đàn ông đang đứng cạnh cô. “Joe, đây là Doug Tano. Doug có lều hàng ở đằng kia.” Cô chỉ ngang qua đường và không thể dừng chú ý đến sự khác biệt lồ lộ giữa hai người đàn ông. Doug là một linh hồn hiền hòa tương tác với bản chất nội tâm của anh ta. Loe thì lại phóng ra nguồn năng lượng nguyên thủy, nam tính và cũng hiền hòa như một vụ nổ hạt nhân.

Joe liếc qua vai, rồi chuyển sự chú ý của anh sang Doug. “Trị liệu ruột kết bằng nước à? Là anh phải không?”

“Đúng vậy. Thời gian làm việc của tôi là trừ thứ sáu. Tôi trợ giúp giảm cân, khử độc cho cơ thể, tăng khả năng tiêu hóa, và nâng cao các bậc năng lượng. Trị liệu bằng nước có tác dụng rất êm dịu tới cơ thể.”

“Ờ đấy. Các anh không phải tọng một cái vòi vào mông à?”

“Chà, à… à,” Doug lắp bắp. “Tọng… là một từ mạnh ghê tởm. Chúng tôi có đặt một cái ống rất mềm dẻo…”

“Tôi sẽ phải ngăn anh lại ở đó thôi, anh bạn ạ,” Joe ngắt ngang và giơ một tay lên. “Tôi sắp sửa ăn trưa, và tôi thực sự muốn tận hưởng món xúc xích và dăm bông của mình.”

Vẻ chê bai làm các đường nét của Doug rúm ró lại. “Anh đã từng thấy thịt được tiêu hóa làm gì với ruột kết của anh chưa?”

“Chưa,” Joe trả lời khi anh ngó nghiêng trong lều. “Tôi đoán là cách duy nhất để tôi có thể thấy được những gì bên trong ruột kết của tôi là thọc đầu tôi vào mông. Và anh biết gì không, Doug? Điều đó đơn giản là sẽ không bao giờ xảy ra.”

Gabrielle cảm thấy cằm cô rơi xuống một tí. Anh thật thô lỗ… thậm chí là Joe… nhưng cũng rất hiệu quả. Doug quay người và chạy thẳng ra khỏi lều của cô để tránh xa khỏi anh. Và mặc dù cô ghét phải thú nhận điều này, nhưng cô rất biết ơn và còn hơi chút ghen tị nữa.

“Chúa ơi, tôi đã không nghĩ là hắn ta có định rời đi đâu đấy.”

“Tôi đoán là phải cảm ơn anh,” cô lầm bầm. “Anh ta không hề ngừng nói về ruột kết của tôi, và tôi đã không thể thoát khỏi anh ta.”

“Đó là vì hắn ta muốn nhìn cái mông trần của cô.” Joe túm lấy tay cô và đập một cái sandwich gói trong giấy sáp vào lòng bàn tay cô. “Không thể nói là tôi có gì trách móc hắn.”

Anh băng qua cô đi về phía sau lều và ngồi vào một trong hai cái ghế xếp mà cô mang đi từ nhà. Cô không chắc lắm, nhưng cô nghĩ anh vừa cho cô một lời khen.

“Hôm nay Mara có tới giúp cô không?” anh hỏi

“Một tí nữa thôi cô bé sẽ tới đây.” Gabrielle nhìn vào cái bánh sandwich trong tay cô. “Cái gì đây?”

“Thịt gà kẹp lúa mì.”

Cô ngồi xuống cái ghế cạnh anh và liếc xung quanh. “Tôi đoán là anh không biết,” cô nói chỉ hơn một lời thì thào, “nhưng Lễ hội Coeur là hội chợ ăn chay.”

“Tôi tưởng cô đã sa ngã rồi.”

“Đúng vậy.” Cô mở gói giấy sáp ra và nhìn vào một ụ thịt gà và mầm lúa được nhét giữa hai mẩu bánh mì mềm. Dạ dày cô sôi lên và miệng cô chảy nước, và cô cảm thấy vừa có tội vừa nổi bật, như một người dị giáo trong một buổi lễ của đạo cơ đốc.

Joe huých khuỷu tay anh vào cánh tay cô. “Ăn đi. Tôi sẽ không nói cho ai đâu,” anh nói như thể là quỷ Sa tăng mời mọc cô những tội lỗi bản năng.

Gabrielle nhắm mắt lại và cắm phập răng vào miếng sandwich. Vì Joe đã tử tế một cách khác thường và mang bữa trưa cho cô, không ăn thì thật là bất lịch sự. Cô đã rời khỏi nhà sáng nay mà không ăn sáng, và cô thực sự đang đói ngấu. Cho đến nay, cô đơn giản là không thể thôi thúc lòng thèm ăn món rau cải xào ớt. Cô thở dài và môi cô cong lên trong một nụ cười mãn nguyện.

“Đói sao?”

Cô mở mắt ra. “Ừm, ừm.” Anh nhìn cô chằm chằm từ dưới vành mũ, quan sát cô khi anh từ tốn nhai, rồi nuốt xuống. “Có một ít bánh ngọt nếu cô muốn đấy.”

“Anh mua bánh ngọt cho tôi à?” Cô ngạc nhiên và không chỉ hơi cảm động bởi sự sâu sắc của anh.

Anh nhún vai. “Ừ, chắc rồi. Sao lại không chứ?”

“Bởi vì tôi không nghĩ là anh lại thích tôi cơ đấy.”

Ánh mắt anh hạ xuống miệng cô. “Cô được mà.” Anh cắn một miếng sandwich lớn, rồi chuyển sự chú ý của anh sang công viên đông đúc. Gabrielle cầm hai chai nước từ một cái thùng ướp lạnh cạnh ghế của cô và đưa một chai cho Joe. Anh lấy nó từ tay cô, và họ ăn trong sự im lặng thân thiện. Cô ngạc nhiên khi không cảm thấy nhu cầu cần lấp đầy sự im lặng bằng chuyện trò. Cô cảm thấy dễ chịu khi ngồi cạnh Joe, ăn thịt gà tây của cô, không nói chuyện, và ngạc nhiên rằng điều đó càng khiến cô ngạc nhiên hơn.

Cô đá văng đôi sandal của mình ra và vắt chéo chân, ngồi tựa ra sau nhìn đám đông đang trôi qua lều của cô. Đó thực sự là một hỗn hợp đa dạng thực sự từ những người trẻ tuổi giàu có của Bennetton cho tới lớp thanh niên thời đại mới ở Birkenstock, từ những người nghỉ hưu yêu vải bông, cho tới những con người tham vọng sinh cùng năm với cơn sốt nhạc disco. Và lần đầu tiên kể từ khi Joe tấn công cô trong công viên không quá xa nơi họ đang ngồi, cô tự hỏi anh thấy gì khi nhìn cô. Vài người bán hàng khác trông đặc biệt kì dị, và cô tự hỏi anh có thấy cô như thế hay không. Giống như Mẹ Tâm Hồn, với mớ tóc lọn dài, khuyên mũi, và cái áo choàng sáng màu đang ngồi thiền trên tấm thảm cầu nguyện. Và cô tự hỏi sao cô lại phải quan tâm đến những gì anh nghĩ cơ chứ.

Gabrielle đã no sau nửa cái bánh sandwich to đùng, nên cô gói nửa còn lại, rồi đặt nó lên trên một khối đá trong thùng lạnh của cô. “Tôi đã không nghĩ hôm nay tôi sẽ gặp anh đấy,” cô nói, cuối cùng cũng phá vỡ sự im lặng. “Tôi cứ nghĩ anh sẽ ở cửa hàng của tôi, dán mắt vào Kevin.”

“Tôi sẽ đến đó một lúc.” Anh ngốn nốt chỗ sandwich còn lại và súc nó xuống với nửa chai nước của anh. “Kevin sẽ không đi đâu đâu, nhưng thậm chí nếu có, thì tôi cũng sẽ biết về điều đó.”

Cảnh sát đang theo đuôi Kevin. Cô không nghĩ họ sẽ nói điều đó với cô, nhưng cô cho là mình cũng không quá ngạc nhiên. Cô bóc nhãn chai nước của cô đi và quan sát anh qua khóe mắt. “Hôm nay anh định làm gì? Hoàn thành nốt bộ giá trong nhà kho à?” Đến giờ đóng cửa ngày hôm trước, anh đã cắt bộ giá và đóng bộ giá đỡ vào tường. Tất cả những gì anh phải làm là đặt mấy cái giá vào đúng chỗ. Việc đó sẽ không mất lâu.

“Tôi sẽ sơn chúng trước, nhưng đến cuối ngày chắc tôi sẽ xong. Tôi cần việc gì đó để làm vào ngày mai.”

“Thế còn cái mặt quầy ở phòng phía sau thì sao? Kevin đã nói là anh ấy không ngại thấy nó được thay đâu, và một việc như vậy hẳn phải kéo dài qua thứ Hai.”

“Hy vọng là Kevin sẽ có động tĩnh trong tuần này, và thứ Hai tôi sẽ không ở đây nữa.”

Các ngón tay của Gabrielle sững lại. “Có lẽ chúng ta không nên nói về chuyện này. Anh vẫn nghĩ Kevin có tội, còn tôi thì không.”

“Dẫu sao tôi cũng thà là không nói về Kevin lúc này.” Anh nâng chai nước lên và rót một dòng nước vào miệng. Khi anh uống xong anh mút một giọt nước từ môi dưới và nói, “Tôi có vài câu hỏi quan trọng tôi muốn hỏi cô đây.”

Cô đáng lẽ phải nghi ngờ chuyện anh đối tốt với cô vì anh muốn gì đó chứ. “Gì?”

“Cô lấy cái bộ đồ Barbara Eden (Nữ diễn viên chính trong phim Mơ về Jeanie), Mơ về Jeanie đó ở đâu ra thế?”

Cô liếc xuống cái áo cánh nhỏ xinh và phần bụng trần của mình. “Đây là một trong những câu hỏi quan trọng của anh đấy à?”

“Không, tôi chỉ tò mò thôi.”

Vì ánh mắt anh chiếu thẳng vào bụng cô, cô không thể biết anh đang nghĩ gì. “Anh không thích nó à?”

“Tôi đâu có nói thế.” Anh nhìn thẳng vào mặt cô, đôi mắt cảnh sát của anh trống rỗng một cách cẩn trọng, và cô vẫn không thể biết anh nghĩ gì. “Sau khi cô rời cửa hàng ngày hôm qua,” anh tiếp tục, “cô đã nói gì với mẹ và cô của cô về tôi?”

“Tôi đã kể cho họ sự thật.” Cô khoanh tay dưới ngực và nhìn anh biểu hiện thái độ không hài lòng theo cách thường lệ. Anh cau có với cô.

“Cô đã kể cho họ về việc tôi là một cảnh sát ngầm à?”

“Đúng thế, nhưng họ sẽ không nói gì với bất kỳ ai đâu,” cô trấn an anh. “Họ đã hứa rồi, và thêm vào đó, họ tin rằng số mệnh đưa chúng ta đến với nhau. Họ không làm loạn với số mệnh đâu.” Cô đã cố bảo Claire rằng Joe không phải người tình nồng cháy u ám trong viễn cảnh tâm linh của bà, rằng anh ta thực sự chỉ là một tay thanh tra nóng tính mà thôi. Nhưng cô càng giải thích nhiều, thì mẹ cô càng trở nên tin rằng định mệnh thực sự đóng vai trò trong đời sống tình yêu của Gabrielle. Sau cùng thì, Claire đã phân tích, bị bám đuôi, tấn công, và ép đóng vai bạn gái cùng một sĩ quan cảnh sát ngầm đấy nam tính như Joe không phải chỉ là một sự kiện thường thấy, kể cả trong chuỗi những vụ trùng hợp ngẫu nhiên thường thức của vũ trụ. “Anh còn muốn biết gì nữa không?” cô hỏi.

“Có đấy. Sao cuối tuần trước cô lại biết tôi đang theo đuôi cô? Và đừng có cho tôi cái đống tạp nham như là cảm thấy tần sóng của tôi nhé.”

“Tôi không cảm nhận được tần sóng. Thế nếu tôi nói rằng đó là luồng khí đen ngòm của anh thì sao?” cô hỏi, mặc dù nói thực là cô không hề chú ý đến khí của anh mãi đến sau khi anh tống giam cô.

Từ dưới vành mũ, mắt anh nheo lại, và Gabrielle quyết định giải thoát cho anh. “Dễ thôi. Anh hút thuốc. Tôi không hề biết bất kì một người chạy bộ nào lại hút một điếu thuốc xinh xắn có lợi cho sức khỏe trước khi bắt đầu chạy đâu. Mầm lúa mì, có. Một điếu Marlboro ư, không.”

“Thật đáng chê trách.”

“Lần đầu tiên tôi chú ý đến anh, anh đang đứng dưới một tán cây, khói thuốc bao quanh đầu anh như một đám mây hình nấm vậy.”

Joe khoanh tay ngang ngực, và miệng anh mím lại thành một đường thẳng dữ tợn. “Giúp tôi một việc nhé? Nếu có ai đó hỏi cô xem làm sao mà cô lại phát hiện ra người theo dõi mình, cứ dán chặt vào cái chuyện luồng khí đen ngòm ấy.”

“Sao chứ? Anh không muốn những cảnh sát khác biết một điếu thuốc đã thổi tung vỏ bọc của anh à?”

“Không, nếu tôi có thể ngăn lại.”

Cô nghiêng đầu sang một bên và trao cho anh một nụ cười mà cô hy vọng sẽ khiến anh run rẩy. “Đồng ý, tôi sẽ giúp anh thoát, nhưng anh nợ tôi.”

“Cô muốn gì?”

“Tôi chưa biết. Tôi sẽ nghĩ về nó và báo lại cho anh.”

“Những người cung cấp thông tin khác của tôi luôn biết họ muốn gì.”

“Họ muốn gì?”

“Thường là thứ gì đó bất hợp pháp.” Ánh mắt anh chiếu thẳng vào cô khi anh nói, “như kiểu bắt tôi làm biên bản tiền án tiền sự của họ biến mất hay nhìn ra chỗ khác khi họ hút cần sa.”

“Anh sẽ làm thật sao?”

“Không, nhưng cô có thể hỏi. Điều đó sẽ cho tôi một cái cớ để lục soát cô.” Giờ thì đến lượt anh cười. Và anh cười thật. Môi anh cong lên lười biếng khiến dạ dày cô nhộn nhạo. Anh hạ ánh mắt xuống miệng cô, rồi để nó trượt xuống ngay trên ngực áo cô. “Có lẽ thậm chí còn ép tôi phải lục soát thoát y.”

Hơi thở nghẹn lại trong phổi cô. “Anh sẽ không làm thế đâu.”

“Tất nhiên là tôi sẽ làm rồi.” Ánh mắt anh tuột xuống hàng khuy của cô, nấn ná trên rốn cô, rồi hạ xuống váy và khe hở kéo dài lên tận đùi trái của cô. “Tôi đã tuyên thệ danh dự. Tôi đã thề có trách nhiệm bảo vệ, phục vụ và lục soát thoát y. Đó là công việc của tôi.”

Cơm nhộn nhạo trong dạ dày cô trở nên nóng bừng. Cô chưa bao giờ giỏi tán tỉnh, nhưng cô không thể không hỏi. “Và anh làm việc có giỏi không?”

“Rất giỏi.”

“Nghe anh có vẻ khá tự tin đấy nhỉ.”

“Cứ nói rằng tôi sẽ ở đó cho đến khi mọi việc được phụ trách.”

Cô có thể cảm thấy bản thân tan chảy, và điều đó chẳng liên quan gì đến nhiệt độ ngoài căn lều hết. “Mọi việc nào cơ?”

Anh cúi người về phía cô và nói bằng giọng trầm ấm chảy tràn khắp da cô và nâng nhiệt độ của cô thêm vài độ nữa, “Bất kì việc gì thổi ngược tóc em ra sau, cưng ạ.”

Cô đứng dậy thật nhanh và vuốt mềm những nếp nhăn trên váy. “Tôi phải…” Cô chỉ về mặt lều, lúng túng. Cơ thể cô đang tranh đấu với đầu óc và tinh thần. Khao khát thể chất đang chiến đấu để chế ngự mọi lý lẽ. Thật hỗn loạn. “Tôi chỉ…” Cô đi tới bàn để dầu massage và dựng thẳng gọn gàng một hàng lọ nhỏ màu xanh. Cô không muốn sự hỗn loạn. Một cảm xúc điều khiển những cảm xúc khác là không tốt. Không, rất xấu. Cực kì xấu. Cô không muốn cảm thấy da cô râm ran, dạ dày cô nhộn nhạo, và hơi thở cô nghẹn lại. Không phải bây giờ. Không phải giữa công viên. Không phải với anh.

Vài cô gái đại học đến chỗ cái bàn và hỏi Gabrielle về dầu của cô. Cô trả lời, giải thích, và cố giả vờ như cô không nhận thấy sự hiện diện của Joe một cách mạnh mẽ y như thể anh đang chạm vào cô. Cô bán hai chai dầu hoa lài và cảm thấy, chứ không phải nhìn thấy, anh đi đến đứng đằng sau cô. “Cô có muốn tôi để lại bánh ngọt của cô không?”

Cô lắc đầu.

“Tôi sẽ đặt nó vào tủ lạnh ở cửa hàng của cô nhé.”

Cô nghĩ sau đó anh sẽ rời đi, nhưng không. Thay vào đó, anh vòng tay quanh eo cô tới khoảng bụng trần của cô và kéo lưng cô áp vào lồng ngực anh. Gabrielle đóng băng.

Anh vùi mặt vào tóc cô và nói bên tai cô. “Nhìn thấy cái tên mặc áo ba lỗ đỏ và quần đùi màu xanh lá cây đó không?”

Cô liếc qua con đường đi bộ nhìn sang lều của Tâm Hồn Mẹ. Người đàn ông trong câu nói trông giống như rất nhiều người đàn ông khác ở hội chợ. Sạch sẽ. Bình thường. “Có.”

“Đó là Ray Klotz. Hắn có một hàng cầm đồ ở Main. Tôi đã tống giam hắn năm ngoái vì tội nhận và bán đầu máy video ăn cắp.” Anh xòe rộng ngón tay trên bụng cô, và ngón tay cái của anh ve vuốt cái nút thắt trên áo ngay dưới ngực cô. “Ray và tôi đã quen nhau một quãng đường khá dài, và có thể tốt nhất là hắn không nhìn thấy tôi ở cùng cô.”

Cô cố rời ý nghĩ khỏi những vuốt ve của ngón tay anh trên da thịt trần trụi của cô nhưng thấy thật khó khăn. “Vì sao? Anh nghĩ anh ta biết Kevin à?”

“Chắc hẳn.”

Cô xoay lại, và không có giày, đỉnh đầu cô vừa khớp dưới vành mũ của anh. Cánh tay anh trượt ra sau lưng cô và ôm cô gần gũi đến nỗi mũi anh chạm vào mũi cô và ngực cô hơi chạm nhẹ lồng ngực anh. “Anh chắc là hắn sẽ nhớ anh chứ?”

Bàn tay tự do của anh trượt lên cánh tay tới vừa đúng quá khuỷu tay cô. “Khi tôi còn làm các vụ án về ma túy, tôi đã từng bắt hắn chịu một án buôn lậu. Tôi đã phải thọc các ngón tay tôi xuống họng hắn và bắt hắn ói ra những bao cao su chứa đầy thuốc phiện mà hắn đã nuốt,” anh nói, các ngón tay anh vuốt ve lên xuống xương sống của cô.

“Ô,” cô thì thào. “Điều đó thật tởm.”

“Đó là bằng chứng,” anh nói ngay trên miệng cô. “Không thể để một gã nào đó cuỗm đi bằng chứng của tôi được.”

Đứng thật gần với anh, ngửi hương làn da anh, âm sắc trầm ấm trong giọng anh tràn ngập đầu cô, nghe anh nói thật hợp tình hợp lý, như thể bắt một gã nào đó nôn mửa là chuyện bình thường lắm vậy. Như thể lòng bàn tay ấm áp của anh trên làn da trần của cô chẳng ảnh hưởng gì tới anh hết. “Hắn đi chưa?”

“Chưa.”

Cô nhìn vào mắt anh và hỏi. “Anh định làm gì?”

Thay vì trả lời, anh bước lùi lại vài bước vào bóng tối của căn lều, kéo cô đi cùng anh. Anh nâng ánh mắt lên tóc cô. “Tôi định làm gì về chuyện gì cơ?”

“Về Ray ấy.”

“Hắn sẽ đi tiếp thôi.” Anh nhìn vào mắt cô, và các ngón tay anh vuốt ve eo lưng cô. “Nếu tôi hôn cô, cô có coi đó là chuyện cá nhân không?”

“Có. Anh thì không sao?”

“Không”. Anh lắc đầu, môi anh mơn trớn môi cô. “Đó là một phần công việc của tôi.”

Cô giữ mình ngừng trệ để khỏi tan chảy trong bức tường ấm áp, vững chãi là lồng ngực anh. “Hôn tôi là một phần công việc của anh sao?”

“Phải.”

“Như lục soát thoát y sao.”

“Đúng rồi.”

“Điều đó không thu hút sự chú ý của Ray về chỗ anh ư?”

“Còn tùy,” anh nói sát miệng cô. “Cô có rên không?”

“Không.” Nhịp tim của anh đập nằng nề sát ngực cô, và cô đặt tay lên vai anh và cảm nhận những cơ bắp cứng cáp dưới lòng bàn tay cô. Sự cân bằng tinh thần của cô bấp bênh nghiêng về phía rơi chúi đầu vào dòng khao khát đang cướp đi sự tự chủ ra khỏi cô và khiến cô yếu ớt. “Anh có rên không?”

“Có thể.” Anh dịu dàng hôn môi cô, rồi nói, “Cô có vị thật tuyệt, Gabrielle Breedlove.”

Cô phải nhắc nhở bản thân rằng người đàn ông đang ôm cô trong vòng tay vững chắc của anh ta cũng thông thái như một tảng đá vậy. Anh không phải bạn tâm giao của cô. Anh còn chả gần vị trí đó nữa. Nhưng anh có vị thật tuyệt.

Miệng anh mở ra trên miệng cô, và anh luồn lưỡi vào trong. Cô không rên rỉ, nhưng cô rất muốn. Các ngón tay cô bấm vào áo phông và da thịt anh, và cô níu lấy anh. Anh nghiêng đầu sang một bên và tìm sâu vào trong miệng cô. Lòng bàn tay anh lướt sang lườn cô, và anh vuốt ve những rải sườn trần trụi và ấn ngón tay cái vào rốn cô. Và ngay khi cô sắp sửa chìm vào nụ hôn ấy và ngơ ngẩn ở đó một lúc, thì anh lùi ra và buông tay xuống hai bên.

“A khỉ thật,” anh thì thào bên tai trái của cô.

“Joey, là em đấy à?”

“Em đang làm gì thế, Joey?” một giọng nữ hỏi từ chỗ nào đó phía sau Gabrielle.

“Trông như thể nó đang hẹn hò với một cô gái.”

“Ai thế?”

“Con còn không biết nó đã có một cô bạn gái nữa. Mẹ có biết không?”

“Không. Nó không bao giờ nó gì hết với mẹ.”

Joe thì thầm bên tai Gabrielle. “Chỉ cần phối hợp theo bất kỳ những gì tôi nói, và có khi chúng ta sẽ sống sót mà không khiến họ đi chọn đồ sứ và lên kế hoạch đám cưới cho chúng ta.”

Gabrielle quay lại và nhìn vào năm đôi mắt nâu đang nhìn cô chằm chằm với sự thích thú rõ rệt. Những người phụ nữ được bao quanh bởi một lũ trẻ con đang cười mỉm, cười khúc khích, và cô không biết nên bật cười hay trốn đi nữa.

“Bạn gái con là ai thế, Joey?”

Cô liếc qua vai nhìn người đàn ông bên cạnh cô. Joey sao? Những đường rãnh sâu hằn trên miệng anh, trong khi một loại cảm giác ngờ ngợ kỳ cục dựng đứng lông trên cánh tay cô lên. Chỉ có điều lần này anh không gặp gỡ gia đình cô. Cô đang gặp gỡ gia đình anh. Nếu Gabrielle tin vào định mệnh, cô hẳn đã nghĩ mẹ cô nói đúng, điều này quá lạ lùng để là một trùng hợp ngẫu nhiên trong vũ trụ. Không, cô không tin vào định mệnh, nhưng cô không thể nghĩ đến một lời giải thích nào khác cho những cú ngoặt quái đản trong đời cô từ khi cô gặp Joe.

Sau vài giây dài dằng dặc, Joe hít vào một hơi chịu đựng và giới thiệu. “Gabrielle,” anh bắt đầu, “đây là mẹ tôi, Joyce.” Anh chỉ về một người phụ nữ lớn tuổi mặc áo phông in hình đầu Betty Boop gắn trên cơ thể Rambo. Trên băng đô của Betty viết chữ Ramboo Boop. “Đây là các chị tôi, Penny, Tammy, Tanya, và Debby.”

“Cháu cũng ở đây nữa, chú Joey ơi.”

“Cả cháu nữa.”

“Và đây là phần lớn lũ cháu trai cháu gái của tôi,” anh nói, điểm tên lũ trẻ bằng ngón trỏ. “Eric, Tiffany, Sara, Jeremy, Pete út, và Christy. Còn bốn đứa nữa ở đâu đó.”

“Chúng hoặc đang ở phố mua sắm hoặc đang chơi bóng rổ ở nhà thờ,” một người chị gái giải thích.

Gabrielle nhìn Joe, rồi quay lại nhìn gia đình anh. Còn nữa sao? Nhóm người trước mặt cô quá đủ áp đảo rồi. “Tất cả là có bao nhiêu người vậy?”

“Bác có năm đứa con,” Joyce trả lời. “Và mười đứa cháu. Tất nhiên điều đó sẽ thay đổi khi Joey kết hôn và cho bác thêm vài đứa nữa. “Bà bước lùi lại một bước nhỏ và nhìn vào cái bàn xếp đầy những lọ nhỏ. “Cái gì đây vậy?”

“Gabrielle chế tạo một số loại dầu,” anh trả lời.

“Cháu điều chế tinh dầu và nến thơm,” cô sửa lại. “Cháu bán chúng trong cửa hàng của cháu.”

“Cửa hàng của cháu ở đâu thế?”

“Mẹ sẽ không thể tìm ra nó đâu,” Joe trả lời trước khi cô kịp mở miệng, như thể anh sợ những gì cô có thể nói.

Một cô chị gái nhấc một lọ gừng pha tuyết tùng lên. “Đây có phải hương kích thích tình dục không?”

Gabrielle mỉm cười. Đây là lúc cô giúp nhân quả của Thám tử Shanahan trả lễ cho anh ta. Vài loại dầu massage của em có tác dụng hóa học của chất kích thích tình dục. Cái chị đang có trong tay đã làm Joe phát cuồng.” Cô vòng tay quanh eo anh và rúc lại gần. Cô rõ ràng sẽ rất vui vẻ nhìn anh co rúm lại gọi là thay đổi. “Không phải thế sao… anh yêu?”

Mắt anh nheo lại, và nụ cười của cô càng rực rỡ hơn.

Cô chị gái đặt lại cái chai xuống và nháy mắt với Joey. “Hai em biết nhau bao lâu rồi?”

“Vài ngày thôi,” anh nói, giật nhẹ tóc của cô, hành động mà cô cho là nhằm nhắc cho cô nhớ phải để mỗi anh nói thôi.

Các cô chị gái liếc nhau. “Với chị thì trông có vẻ như là không chỉ vài ngày đâu. Đó là một nụ hôn nghiêm túc. Trông nó có giống một nụ hôn nghiêm túc với mọi người không?”

Tất cả các cô chị đều gật đầu với nhau. “Trông như thể nó đang cố nuốt sống em ấy vậy. Chị sẽ nói đó là nụ hôn mà một người đàn ông trao đi sau ba tuần. Chắc chắn là không chỉ vài ngày.”

Gabrielle tựa đầu vào đầu Joe và thú nhận, “Chà, bọn em có thể đã biết nhau ở kiếp trước.”

Tất cả phụ nữ trong gia đình anh trố mắt ra.

“Cô ấy đang đùa mọi người đấy,” anh trấn an họ.

“À.”

“Khi con ghé qua nhà ngày hôm nọ,” mẹ anh lại bắt đầu, “con đã không nhắc đến bạn gái. Con chả bao giờ nói gì hết.”

“Gabrielle chỉ là một người bạn thôi,” Joe thông báo cho gia đình anh. Anh giật nhẹ cô một cái nữa. “Không đúng sao?”

Cô ngửa ra sau, cố tình nhìn anh một cách trống rỗng, rồi nói, “À! À đúng vậy. Đúng thế.”

Lông mày anh nhíu xuống, và anh cảnh cáo nhóm phụ nữ trước mặt, “Đừng có nghĩ gì đấy.”

“Gì là gì cơ?” một cô chị hỏi, mắt cô ấy mở to và ngây thơ.

“Về việc em sẽ sớm kết hôn.”

“Em đã ba mươi lăm rồi.”

“Ít nhất nó cũng thích con gái. Bọn chị đã từng hay lo rằng nó sẽ trở thành gay đấy.”

“Nó thường đi đôi giày cao gót màu đỏ của mẹ và giả vờ làm Dorothy trong Phù thủy xứ Oz.”

“Nhớ khi nó va vào tường và bị khâu mấy mũi trên trán chứ.”

“Thật náo loạn.”

“Chúa ơi, em mới có năm tuổi,” anh rít lên qua kẽ răng. “Và mấy người các chị đã cho em ăn mặc giống Dorothy.”

“Nó thích thế.”

“Các con, các con đang làm em trai xấu hổ đấy,” Joyce quở trách.

Gabrielle bỏ tay ra khỏi eo Joe và vắt cổ tay cô lên vai anh. Dưới làn da rám nắng, má anh đỏ ửng một cách đáng ngờ, và cô cố không bật cười. “Và giờ khi anh không còn mặc quần áo của phái nữ đi giày cao gót đỏ, anh là một cú béo bở sao?”

“Và giờ nó sẽ không còn bao giờ bị bắn nữa,” một cô chị thêm vào.

“Nó là một anh chàng tuyệt vời.”

“Yêu trẻ con.”

“Và động vật.”

“Nó rất tốt với con chim của nó.”

“Nó khá khéo tay với các dụng cụ.”

Như thể từng đấy lời tán tụng không thể thốt ra mà không bị trừng phạt, một cô chị quay sang những người khác và lắc đầu. “Không, không đâu. Nhớ khi nó mổ xẻ con Paula Chạy nhảy của em để xem thứ gì khiến nó đi bộ được chứ?”

“Đúng rồi. Nó không bao giờ có thể xếp lại cái chân đó vào nữa. Con búp bê cứ gục xuống một bên và lắc lư.”

“Ừ đấy, sau đó Paula không thể chạy nhảy được nữa.”

“Chà,” một cô chị nói át những người còn lại, nhắc cho họ nhớ rằng tất cả đáng lẽ phải bán ra những phẩm chất tốt đẹp hơn của Joe, “nó tự giặt giũ đồ của mình.”

“Đúng vậy, và nó không còn biến tất thành màu hồng nữa.”

“Nó làm ra những đồng tiền lương thiện.”

“Và nó…”

“Em có đủ răng,” Joe ngắt lời, rít ra từng từ. “Em không có lông trên lưng, và em vẫn có thể cương cứng.”

“Joseph Andrew Shanahan,” mẹ anh há hốc và che lấy tai đứa trẻ ở gần bà nhất.

“Mấy người các chị không còn gì nữa phải bận tâm sao?” anh hỏi.

“Chúng ta nên đi thôi. Chúng ta vừa làm nó cáu kỉnh rồi.” Như thể các cô chị không muốn đem lại xui xẻo cho một chuyện tốt lành, họ nhanh chóng dồn lũ nhóc của họ lại và nói chào tạm biệt nối tiếp nhau.

“Rất vui được gặp tất cả mọi người,” Gabrielle bảo họ vừa đúng trước khi họ đi sâu hơn vào công viên.

“Bảo Joey mang cháu đến ăn tối một hôm nào đó vào tuần sau nhé,” Joyce mời trước khi bà cũng bỏ đi.

“Chuyện đó là vì sao vậy?” anh hỏi. “Cô đang trả đũa tôi vụ hôm qua đấy à?”

Cô thả tay xuống khỏi vai anh và cắm gót chân xuống đất. “Ồ, chỉ một tí thôi mà.”

“Tôi ghét phải thú nhận điều này, nhưng cảm giác thật là tuyệt, Joe ạ. Thực ra thì, tôi không bao giờ lại nghĩ rằng trả thù thực sự có thể tuyệt đến thế này.”

“Chà, vậy thì cứ tận hưởng trong khi còn thấy thế đi.” Giờ đến lượt anh mỉm cười. “Trả đũa khó nhằn lắm đấy.”
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 10


Joe nhìn mẹ và các chị anh nhanh chóng biến mất trong đám đông, và lông mày anh cau lại. Họ tha cho anh dễ dàng quá. Thường thì, khi anh trở nên “cáu kỉnh” họ sẽ hùa nhau vào giết chết anh. Anh không rõ lý do họ không bới ra thêm một câu chuyện nhớ - khi xa xưa nào nữa, nhưng anh đoán là có liên quan tới người phụ nữ bên cạnh mình. Gia đình anh rõ ràng là tin rằng Gabrielle thực sự là bạn gái anh, bất kể những gì anh đã nói, và người này nối tiếp kia làm cho anh có vẻ một con mồi béo bở thực sự trong mắt cô. Điều đó làm anh ngạc nhiên, khi anh cho rằng chỉ nhìn Gabrielle một cái thôi đáng lẽ cũng phải đủ để thuyết phục gia đình anh rằng cô không phải tuýp phụ nữ của anh chứ.

Anh liếc nhìn cô, nhìn khuôn mặt xinh đẹp, mái tóc hoang dại, và khoảng bụng trần mượt mà khiến anh muốn khuỵu gối xuống và ấn miệng mình vào cái bụng phẳng lỳ của cô. Cô đã quấn cơ thể lộng lẫy của mình trong một bộ cánh mà anh có thể dễ dàng xé toạc bằng tay, và anh tự hỏi có phải cô cố tình làm thế để khiến anh phát điên hay không nữa.

“Anh có một gia đình thật tốt.”

“Họ không tốt đâu.” Anh lắc đầu. “Họ chỉ đang lừa cô nghĩ rằng họ tốt, phòng trường hợp cô là em dâu tương lai của họ thôi.”

“Tôi sao?”

“Đừng có phổng mũi lên đấy. Họ sẽ hạnh phúc với bất kỳ người phụ nữ nào. Thế cô nghĩ vì sao mà họ lại nói tất cả những cái thứ vớ vẩn về việc tôi yêu trẻ con và động vật chứ?”

“À!” Gabrielle làm cho đôi mắt màu xanh dương to tròn của cô mở to đầy ngạc nhiên. “Đó là anh sao? Ngoài trừ phần cáu kỉnh, tôi không hề biết họ đang nói về ai đâu.”

Anh cầm lấy cái túi giấy mà anh đã mang đến từ cửa hàng ăn. “Tử tế đi không thì tôi sẽ bảo Doug là cô muốn tẩy ruột kết đấy.”

Tiếng cười dịu dàng tràn ra khỏi môi cô, khiến anh bất ngờ. Trước kia anh chưa bao giờ nghe thấy tiếng cười chân thật của cô, và âm điệu nữ tính ấy vừa ngọt ngào vừa êm dịu, dễ chịu đến mức nó làm khóe môi anh cong lên trong một nụ cười không đoán trước. “Gặp cô sáng mai nhé.”

“Tôi sẽ ở đây.”

Joe quay lại và luồn lách qua hội chợ ra khu đỗ xe mà anh đã đậu chiếc ô tô của mình. Nếu anh không cẩn thận, anh có thể kết thúc với việc thích cô hơn nên thích. Anh sẽ xem cô nhiều hơn một phương tiện để đạt được kết quả, và anh không thể gánh vác được nếu cô trở thành bất kỳ một cái gì khác ngoài tay chỉ điểm của anh. Anh không thể gánh vác được việc xem cô như một phụ nữ đáng khao khát, như ai đó anh không ngại lột trần và lục soát bằng lưỡi mình. Anh không thể gánh vác được nếu làm loạn vụ án này thêm nữa.

Ánh mắt anh dò quét đám đông, vô thức tìm kiếm những tay buôn ma túy. Những người tiêu dùng lập dị, một tên hút thuốc mắt thâm quầng, và những con nghiện thuốc bồn chồn, đầu quay mòng mòng. Tất cả chúng đều nghĩ rằng chúng duy trì đều đặn, kiểm soát được cơn thèm thuốc, khi mà cơn thèm thuốc quá rõ ràng là đang kiểm soát chúng. Anh đã không làm các vụ về ma túy trong gần một năm rồi, vậy mà có những lúc, đặc biệt là khi anh ở trong đám đông, anh vẫn nhìn thế giới qua con mắt của nhân viên điều tra ma túy. Đó là những gì anh được huấn luyện để làm, và anh tự hỏi sự huấn luyện đó còn ở với anh bao lâu nữa. Anh biết có những viên cảnh sát điều tra tội sát nhân đã nghỉ hưu đến mười năm mà vẫn nhìn mọi người như một tay sát thủ hoặc nạn nhân tiềm tàng.

Chiếc Chevy Caprice màu be được đỗ ở ven đường cạnh thư viện thành phố Boise. Anh trượt vào sau tay lái của chiếc xe cảnh sát không gắn phù hiệu và chờ cho một chiếc xe tải nhỏ vượt qua rồi mới quành xe nhập vào luồng giao thông. Anh nghĩ đến nụ cười của Gabrielle, mùi vị miệng cô, và chất liệu làn da cô dưới ban tay anh. Anh nghĩ về cặp đùi mềm mại mà anh đã thoáng thấy giữa váy cô. Cảm giác khao khát nhức nhối nặng nề giục giã ở háng anh, và anh cố không nghĩ đến cô thêm nữa. Thậm chí nếu cô không gàn dở, thì cô cũng rắc rối. Loại rắc rối sẽ giáng cấp anh xuống làm việc tuần tra làm việc lúc nửa đêm. Loại rắc rối mà anh không cần đến, anh đã hầu như không trụ nổi qua vụ thẩm tra công việc nội bộ lần mới rồi. Anh không bao giờ muốn trải qua điều đó nữa. Không phải vì công việc của anh. Không phải vì bất cứ thứ gì.

Mới có chưa đầy một năm, nhưng anh biết anh sẽ không bao giờ quên việc phòng Tòa Án đã điều tra, xét hỏi, và cả lý do anh bị buộc phải trả lời các câu hỏi của họ. Anh sẽ không bao giờ quên việc dồn Robby Martin vào một con hẻm tối tăm, tia lửa màu vàng cam phóng ra từ khẩu súng ngắn của Robby và cú bắn đáp trả của chính anh. Suốt cả cuộc đời còn lại, anh biết mình không bao giờ quên cảnh nằm gục trong con hẻm, nắm chắc khẩu súng Colt rỗng không trong bàn tay lạnh lẽo. Không khí buổi đêm bị xé toạc bởi những tiếng còi báo động ầm ĩ và những màu đỏ, trắng, và xanh dương xoay tít mù ra ra vào vào các lùm cây và tường nhà. Hơi ấm của máu anh rỉ ra qua cái lỗ trên đùi, và cơ thể bất động của Robby Martin cách đó sáu mét. Đôi giày Nike trắng của anh chói lọi trong bóng đêm. Anh không bao giờ quên được những ý nghĩ rời rạc cứ tích tắc tích tắc trong đầu anh khi anh hét vào một thằng bé mà không còn có thể nghe thấy gì nữa.

Phải mất một lúc sau, khi nằm trong bệnh viện, với mẹ và các chị anh nức nở bên cổ, bố anh quan sát anh từ cuối giường, chân anh cố định bằng một cái khung kim loại trông như thứ gì đó mà một đứa trẻ sẽ xây nên với bộ đồ lắp ráp của nó, thì buổi tối hôm đó mới chậm dần lại và chiếu đi chiếu lại trong đầu anh. Anh suy xét lại tất cả mọi động thái mà anh đã thực hiện.

Có lẽ anh không nên theo Robby vào con hẻm đó. Có lẽ anh nên thả thằng nhóc đi. Anh đã biết nơi nó sống, có lẽ anh nên đợi viện trợ và lái xe tới nhà nó.

Có lẽ, nhưng công việc của anh là truy đuổi lũ kẻ xấu. Cộng đồng muốn lũ buôn thuốc phiện cút khỏi đường đi của họ - phải chứ?

Chậc, có lẽ.

Nếu tên của Robby là Roberto Rodriguez, khả năng lớn là sẽ chẳng có ai ngoài gia đình của thằng nhóc đấy thèm quan tâm. Thậm chí còn có thể không phải là điểm tin hàng đầu trên mục tin tức của tivi, nhưng thằng nhóc đấy lại trông như thể một ngày nào đó sẽ thành một thượng nghị sĩ. Một cậu bé Mỹ đặc sệt. Một cậu bé Mỹ đặc sệt gốc Âu với hàm răng thẳng và nụ cười thiên thần toe toét. Buổi sáng sau vụ bắn nhau đó, tờ Idaho Stateman đã in hình Robby lên trang bìa. Mái tóc của cậu ta tỏa sáng như một vận động viên lướt sóng bảnh bao, và đôi mắt màu xanh dương to tròn nhìn thẳng vào các độc giả suốt thời gian uống cà phê buổi sáng của họ.

Và độc giả nhìn vào khuôn mặt ấy, rồi họ bắt đầu tự hỏi viên cảnh sát ngầm kia có thật cần thiết phải bắn chết người không. Chẳng để tâm đến việc Robby đã chạy trốn cảnh sát, việc cậu ta đã bắn trước, và rằng cậu ta có một tiểu sử lạm dụng thuốc phiện. Trong một thành phố đang phải vật lộn với ngày càng nhiều tệ nạn, một thành phố rõ rành rành là đổ hết mọi rắc rối lên dòng người nhập cư ngoại quốc và những người bang khác, được sinh ra ở bệnh viện trung tâm, không phù hợp với quan điểm của công dân thành phố về bản thân họ và thành phố của họ một cách dễ chịu cho lắm.

Và họ chất vấn lực lượng cảnh sát. Họ tự hỏi thành phố có cần một hội đồng công dân thẩm tra để đánh giá chính sách buộc phải bắn chết của bộ phận cảnh sát, và họ tự hỏi có phải họ có một tên cảnh sát phản trắc, chạy nháo nhào giết chết những người đàn ông trẻ của họ hay không.

Cục trưởng cục cảnh sát đã xuất hiện trên mục tin tức địa phương và nhắc nhở trên mọi người nhớ về tiền án của Robby. Phòng khám nghiệm đã tìm thấy những dấu hiệu chất kích thích và cần sa đáng kể trong máu của cậu ta. Tòa án và phòng nội vụ đã tẩy sạch tên Joe khỏi bất kỳ hành động sai trái nào và quyết định rằng hành động buộc phải bắn chết là cần thiết. Nhưng mỗi lần bức hình của Robby lóe lên qua màn hình hay xuất hiện trên mặt báo, người ta vẫn cứ băn khoăn.

Joe đã bị yêu cầu gặp bác sĩ tâm lý của cảnh sát, nhưng anh chỉ nói rất ít. Thực sự thì có gì để mà nói nào? Anh đã giết chết một thằng bé, thậm chí còn chưa phải là đàn ông. Anh đã cướp đi một sinh mạng. Anh có lý do chính đáng để làm những gì anh buộc phải làm. Anh biết tuyệt đối chắc chắn rằng anh sẽ chết nếu Robby là một tay súng cừ hơn. Anh không có lựa chọn nào.

Đó là những gì anh đã tự bảo mình. Đó là những gì anh phải tin.

Sau hai tháng ngồi bệt mông ở nhà và thêm bốn tháng điều trị thể chất khắc nghiệt, Joe đã được minh oan để quay lại làm việc. Nhưng không phải về bộ phận chống Ma túy nữa. Anh đã bị im lặng điều chuyển sang phòng Trộm cắp tài sản. Đó là cách họ đã gọi, điều chuyển. Nhưng chắc chắn với anh đó là giáng chức, như là anh đã bị phạt vì làm công việc của mình vậy.

Anh quành chiếc Caprice vào một chỗ đỗ xe cách Anomaly nửa con đường và lấy một thùng sơn, một bao đầy chổi quét, một chổi lăn, và một cái nồi ra khỏi xe tải. Mặc dù anh đã bị điều chuyển, anh chưa bao giờ xem những gì xảy ra trong con hẻm với Robby là sai lầm. Đáng buồn và bất hạnh, và một thứ mà anh cố không nghĩ đến – một thứ anh từ chối không nói đến – nhưng không phải sai lầm của anh.

Không như Gabrelle Breedlove. Giờ thì chính điều đó mới là mớ bòng bong của anh. Anh đã đánh giá thấp cô, nhưng thực lòng, ai mà lại nghĩ rằng cô sẽ nảy ra một kế hoạch đần độn như là lùa anh vào công viên mà không có gì hơn ngoài một khẩu súng lục cổ và một chai keo xịt tóc chứ?

Joe đi ra phía sau cửa hàng và đặt thùng sơn lẫn bao dụng cụ lên mặt quầy cạnh bồn rửa. Mara Paglino đứng ở đầu quầy bên kia đang mở gói hàng mà cửa hàng vừa nhận được ngày hôm qua. Hàng gửi không có vẻ có đồ cổ. “Em có gì ở đó thế?”

“Chị Gabrielle đã đặt hàng mấy món pha lê Baccarat.” Đôi mắt nâu to tròn của cô ta nhìn anh hơi quá mãnh liệt. Cô ta đã uốn lọn mái tóc đen dày, và môi cô hơi bóng đỏ. Từ giờ phút anh gặp cô ta, anh đã nhận thức được rằng cô ta có thể hơi say nắng anh. Cô ta theo anh đi lòng vòng và đề nghị được mang đồ đạc cho anh. Anh hơi thấy phổng mũi nhưng chủ yếu là khó chịu. Cô ta chỉ lớn hơn Tiffany, cháu gái anh, một hai tuổi gì đó, và Joe không có hứng thú với mấy cô bé gái. Anh thích phụ nữ. Những người đàn bà đã phát triển hoàn toàn không cần phải chỉ dẫn xem phải làm gì với miệng và tay họ. Những người đàn bà biết cách di chuyển cơ thể họ để tạo ra đúng chuẩn ma sát. “Anh có muốn giúp em không?” cô hỏi.

Anh lấy một cái cọ sơn ra khỏi túi. “Anh tưởng em đáng lẽ đang phải ở công viên để giúp đỡ Gabrielle chứ.”

“Em đã định đi, nhưng Kevin bảo em phải dỡ mấy món pha lê này ra và bỏ chúng ra khỏi lối đi nhằm trường hợp hôm nay anh muốn đo đạc mặt quầy.”

Các kỹ năng thợ mộc của anh không rộng đến tận việc thay thế mặt quầy. “Anh sẽ không động tới nó cho tới tuần sau.” Hy vọng tuần sau anh sẽ không phải lo lắng về nó nữa. “Kevin đang ở trong văn phòng à?”

“Anh ấy vẫn chưa quay về từ bữa trưa.”

“Ai ở ngoài đằng trước thế?”

“Không ai hết, nhưng em sẽ nghe thấy tiếng chuông nếu khách hàng bước vào.”

Joe cầm lấy một cây cọ và thùng sơn rồi đi vào nhà kho nhỏ xíu. Đây là phần công việc của một cảnh sát ngầm khiến anh gần như phát điên – chờ đợi loanh quanh chờ nghi phạm có động tĩnh. Tuy vậy anh cho rằng làm việc trong cửa hàng còn tốt hơn ngồi ngoài đường trong một cái ô tô không phù hiệu và bị béo phì với món Yankee Dogs. Tốt hơn, nhưng không nhiều lắm.

Anh che sàn bằng vải phủ chống sơn và dựa mấy tấm bảng mà anh đã cắt cho bộ giá ngày hôm qua vào tường. Mara lẽo đẽo theo anh như một con cún và luyên thuyên không ngừng nghỉ về những anh chàng sinh viên non nớt mà cô ta từng hẹn hò. Cô ta rời đi một lần khi chuông reo, nhưng xuất hiện lại không lâu sau để trấn an anh rằng cô ta đang tự do cho một người đàn ông chín chắn, già dặn hơn.

Đến lúc Kevin quay lại, Joe đã sơn xong hai cái giá và đang chuẩn bị quét sơn tường của căn phòng nhỏ. Kevin nhìn Mara một cái và cho cô ta đi giúp Gabrielle, bỏ lại hai người họ một mình.

“Tôi nghĩ cô ta say nắng cậu,” Kevin nói khi Mara liếc qua vai nhìn một lần cuối cùng và đi ra khỏi cửa.

“À, có thể.” Joe đặt một tay sau vai và nâng cánh tay lên quá đầu. Dù anh rất ghét phải thú nhận, nhưng cơ bắp anh nhức nhối kinh khủng. Anh giữ cơ thể trong tình trạng ngon lành. Chỉ có một lời giải thích duy nhất còn lại. Anh đang già đi.

“Gabrielle có trả anh đủ để chịu đựng cơ bắp rã rời không?” Kevin mặc đồ hàng hiệu từ đầu đến chân và một tay cầm một cái túi từ cửa hàng tổ chức tiệc còn tay kia cầm một cái túi từ cửa hàng đồ lót phụ nữ dưới phố.

“Cô ấy trả cho tôi cũng đủ.” Anh thả cánh tay xuống bên người. “Tiền không phải tất cả những gì quan trọng với tôi.”

“Tức là anh chưa bao giờ nghèo. Tôi đã từng, anh bạn ạ, và nó thật tệ hại. Nó ảnh hưởng đến cả cuộc đời anh.”

“Sao anh lại cho là thế?”

“Mọi người đánh giá anh dựa vào nhãn hiệu áo sơ mi và tình trạng đôi giày của anh. Tiền là tất cả. Không có nó, người ta sẽ nghĩ anh là rơm rác. Và phụ nữ, quên luôn đi. Phụ nữ không có gì để làm với anh hết. Trường kỷ.”

Joe ngồi lên mép một cái hòm và khoanh tay ngang ngực. “Còn tùy vào loại phụ nữ mà anh đang cố gây ấn tượng.”

“Loại đòi bảo dưỡng cao cấp. Những phụ nữ biết về sự khác biệt giữa một chiếc Toyota và Mercedes.”

“À.” Joe ngả đầu ra sau và nhìn người đàn ông trước mặt. “Những phụ nữ đó tốn nhiều tiền lắm đây. Anh có số tiền đó không?”

“Có chứ, và nếu tôi không có, thì tôi cũng biết cách kiếm được chúng. Tôi biết cách kiếm được những gì tôi cần.”

Bingo. “Bằng cách nào vậy?”

Kevin chỉ mỉm cười và lắc đầu. “Anh sẽ không tin tôi nếu tôi kể cho anh nghe đâu.”

“Cứ thử đi.” Joe nài ép.

“Sợ là tôi không thể.”

“Anh đầu tư vào thị trường chứng khoán à?”

“Tôi đầu tư vào tôi, Kevin Carter, và đó là tất cả những gì tôi sẽ nói.”

Joe biết khi nào thì phải lùi. “Trong túi kia là cái gì thế?” anh hỏi và chỉ vào tay Kevin.

“Tôi đang tổ chức một buổi tiệc sinh nhật cho bạn gái tôi, China.” (1- Trong tiếng Anh có nghĩa là đồ sứ hoặc Trung Quốc)

Không nhầm chứ? China là tên thật hay nghệ danh của cô ấy vậy?”

“Không phải cả hai,” Kevin cười khục khặc. “Chỉ là cô ấy thích nó hơn tên thật, Sandy. Tôi đã kể về buổi tiệc với Gabrielle vào sáng nay khi ghé qua gian hàng của cô ấy. Cô ấy có nói hai người đã lên kế hoạch khác rồi.”

Joe nghĩ anh đã thực sự làm rất rõ khi bảo Gabrielle rằng cô phải dừng ngay việc chắn đường vụ điều tra của anh. Rõ ràng là, anh sẽ phải nói chuyện với cô lần nữa. “Tôi nghĩ chúng tôi có thể ghé thăm bữa tiệc của anh một tí.”

“Anh chắc chứ? Cô ấy có vẻ cực kỳ quyết tâm dành cả buổi tối ở nhà.”

Thường thì, Joe không phải loại đàn ông ngồi trên ghế quán bar và trò chuyện về phụ nữ, dù của anh hay của ai khác. Nhưng lần này thì khác, đây là công việc của anh và anh biết phải chơi như thế nào. Anh hơi rướn người về phía trước như thể sắp sửa chia sẻ một bí mật. “Chậc, chỉ giữa anh và tôi thôi nhé, Gabrielle là một người đàn bà cuồng dâm.”

“Thực sao, tôi luôn nghĩ cố ấy là người cả thẹn cơ.”

“Cô ấy là loại kín đáo nhất.” Anh dựa người ra sau và toe toét như thể anh và Kevin cùng một dòng máu anh em thân thiết. “Nhưng tôi nghĩ mình có thể kìm cô ấy lại trong vài tiếng. Bữa tiệc của anh là vào mấy giờ?”

“Tám,” Kevin trả lời khi anh ta hướng vào văn phòng, và Joe kẹt với việc sơn quét trong hai giờ kế tiếp. Sau khi Anomaly đóng cửa buổi tối, anh lái xe tới sở cảnh sát và đọc qua các báo cáo hàng ngày về vụ trộm nhà Hillard. Không có nhiều thông tin mới kể từ danh sách buổi sáng. Kevin đã gặp một phụ nữ lạ mặt để ăn trưa ở nhà hàng trung tâm. Hắn đã mua đồ đạc cho buổi tiệc và dừng lại ở cửa hàng tiện lợi Circle K mua một cái cốc cỡ bự. Chuyện thú vị đây.

Joe báo cáo lại cuộc trò chuyện của anh với Kevin và để Luchetti biết rằng anh đã được mời tới bữa tiệc của Kevin. Rồi anh vơ lấy một tập giấy tờ từ bàn làm việc và hướng về nhà với Sam.

Trong bữa tối, anh nướng một ít sườn và ăn salad macaroni mà chị gái Debby của anh đã bỏ lại trong tủ lạnh trong khi anh ở chỗ làm. Sam đứng trên bàn cạnh đĩa thức ăn của anh và từ chối không ăn món mầm cho chim và cà rốt trẻ em của nó.

“Sam yêu Joe.”

“Mày không thể có món sườn của tao được đâu.”

“Sam yêu Joe – braack”

“Không.”

Sam chớp chớp đôi mắt màu vàng pha đen, nâng mỏ, và nhái tiếng chuông điện thoại.

“Tao không đổ vì thứ đó mấy tháng rồi.” Joe dùng nĩa xiên một ít macaroni và cảm giác như thể anh đang trêu chọc một đứa trẻ hai tuổi bằng một cây kem ốc quế vậy. “Bác sĩ thú y nói rằng mày cần ăn ít đi và tập luyện nhiều hơn không thì sẽ bị bệnh gan đấy.”

Con chim bay lên vai anh, rồi ngả cái đầu đầy lông vào tai Joe. “Con chim xinh đẹp.”

“Mày béo.” Anh vẫn cứng rắn như thế suốt bữa ăn và không cho Sam ăn, nhưng khi con chim nhái lại một trong những cụm từ ưa thích nhất của Joe từ một bộ phim của Clint Eastwood, anh mềm lòng và cho nó ăn mấy miếng bánh ngọt của Ann Cameron. Nó cũng ngon y như cô đã khẳng định, nên anh đoán anh nợ cô cà phê. Anh cố nhớ lại Ann khi còn bé, và mang máng gợi ra một cô gái với cặp kính kim loại ngồi trên một trong mấy cái ghế nhung nhăn màu lục bảo ở nhà bố mẹ cô, nhìn anh chằm chằm trong lúc anh đợi chị gái cô, Sherry. Cô chắc nhỏ hơn anh khoảng sáu đến mười tuổi. Khoảng tầm tuổi Gabrielle.

Ý nghĩ về Gabrielle mang một cơn đau nhức ảm đạm đến lông mày anh. Joe kẹp sống mũi giữa ngón cái và ngón giữa rồi vắt óc để tìm ra xem phải làm gì với cô. Anh chẳng có manh mối nào.

Khi vầng mặt trời đang lặn đẩy cả thung lũng trong luồng ánh sáng chạng vạng, Joe đặt Sam vào lồng chim và nhét Dirty Harry vào đầu xem băng. Ngoài Too Hot For Televison của Jerry Springer, đây là cuộn băng duy nhất mà Sam thích. Trong quá khứ, Joe đã thử khuyến khích chú chim của anh xem Disney hoặc Sesame Street hoặc là một trong những đĩa giáo dục mà anh đã mua. Nhưng Sam nghiện Jerry, và giống phần lớn các bậc phụ huynh, Joe nhượng bộ rất nhiều.

Anh lái xe tới ngôi nhà gạch nhỏ bên kia thị trấn và đỗ chiếc Bronco của anh cạnh lề đường. Một ngọn đèn hiên màu hồng chiếu sáng lên cửa trước. Cách đây vài đêm, bóng đèn này màu xanh lục. Joe băn khoăn trước dấu hiệu đấy nhưng đoán là anh chắc cũng không muốn biết đâu.

Một đôi sóc phóng qua bãi cỏ, vỉa hè và bay lên lớp vỏ cây xù xì của một cây sồi cổ thụ. Lên được nửa đường, chúng dừng lại để trừng trừng nhìn anh, cái đuôi xù lông ngoe ngẩy. Tiếng líu ríu khích động của chúng tràn đầy tai anh, đục xuyên qua anh như thể bằng cách nào đó anh đã thô lỗ đánh cắp đồ dự trữ của chúng. Anh thích sóc còn ít hơn cả mèo.

Joe gõ cửa nhà Gabrielle ba lần trước khi nó bật mở. Cô đứng trước mặt anh với chiếc áo sơ mi trắng lớn cài nút phía trước. Đôi mắt màu xanh lục mở to, và mặt cô đỏ bừng bừng.

“Joe! Anh đang làm gì ở đây thế?”

Trước khi trả lời câu hỏi của cô, anh để mắt mình ngắm cô, từ những lọn tóc màu nâu đỏ loăn xoăn rũ xuống từ đỉnh đầu, tới cái dây cườm buộc quanh mắt cá chân. Cô đã xắn tay áo lên bắp tay cùng lúc vạt áo chạm vào khoảng vài phân trên hai đầu gối trần của cô. Theo những gì anh thấy, cô mặc rất ít đồ nữa trừ những vệt sơn sặc sỡ. “Tôi cần nói chuyện với cô,” anh nói, quay ánh mắt lại với hơi nóng đang dâng trào trên má cô.

“Ngay bây giờ sao?” Cô liếc ra phía sau như thể anh vừa tóm được cô đang làm dang dở một việc phạm pháp nào đó.

“Ừ, cô định làm gì thế?”

“Không gì hết!” Cô trông tội lỗi khủng khiếp về một thứ gì đó.

“Đêm hôm trước tôi đã nói với cô về chuyện can thiệp vào cuộc điều tra này, nhưng chỉ để đề phòng trường hợp cô không hiểu tôi, tôi sẽ nói lại với cô lần nữa. Bỏ ngay việc bảo vệ Kevin đi.”

“Tôi đâu có.” Ánh sáng phía sau luồn vào tóc cô và tỏa sáng qua chiếc áo sơ mi trắng, phác họa bộ ngực đầy đặn và vòng hông mảnh mai của cô.

“Cô đã từ chối một lời mời tới bữa tiệc tối mai của anh ta. Tôi đã chấp nhận hộ chúng ta rồi.”

“Tôi không muốn đi. Kevin và tôi là bạn bè và đối tác làm ăn, nhưng chúng tôi không vui chơi với nhau. Tôi luôn nghĩ tốt nhất là chúng tôi không dành thời gian ngoài lúc làm việc với nhau.”

“Qúa tệ.” Joe chờ cô mời anh vào trong, nhưng cô không mời. Thay vào đó, cô khoanh tay lại, thu hút sự chú ý của anh về vết mực đen trên ngực trái cô.

“Bạn bè của Kevin rất nông cạn. Chúng ta sẽ không có một quãng thời gian vui vẻ đâu.”

“Chúng ta sẽ không ở đó để có một quãng thời gian vui vẻ.”

“Anh sẽ không tìm kiếm bức Monet chứ, phải không?”

“Có.”

“Tốt thôi, nhưng không hôn hít gì nữa đâu đấy.”

Anh ngả gót chân ra sau và nhìn cô dưới hàng lông mi lim dim. Lời yêu cầu của cô hoàn toàn hợp lý và khó chịu hơn anh sẽ bao giờ chịu thú nhận. “Tôi đã bảo cô đừng coi đó là hành vi cá nhân rồi.”

“Không hề, nhưng tôi không thích nó.”

“Cô không thích gì cơ? Hôn tôi hay không coi đó là hành vi cá nhân?

“Hôn anh.”

“Vớ vẩn, cô ấm rực và hổn hển.”

“Anh nhầm rồi.”

Anh lắc đầu và nói qua một nụ cười. “Tôi không nghĩ thế.”

Cô thở dài. “Đó là tất cả những gì anh muốn nói phải không, thám tử?”

“Tôi sẽ đón cô lúc tám giờ.” Anh quay người để rời đi, nhưng ngoái lại nhìn cô qua vai. “Và Gabrielle này?”

“Gì cơ?”

“Mặc thứ gì đó gợi cảm vào nhé.”

Gabrielle đóng cửa lại và tựa lưng vào đó. Cô cảm thấy hơi lâng lâng và nôn nao, như thể bằng cách nào đó cô đã triệu hồn Joe đến. Cô hít một hơi thật sâu và đặt một bàn tay lên trái tim đang đập dồn dập của mình. Việc anh xuất hiện ở thềm nhà cô vào chính xác khoảnh khắc ấy hơi kiểu bất bình thường.

Kể từ khi anh đi khỏi gian hàng của cô chiều hôm đó, cô có một khao khát mạnh mẽ muốn vẽ anh thêm lần nữa. Lần này đứng trong luồng khí đỏ rực của anh. Trần truồng. Sau khi cô trở về nhà sau một ngày thành công ở Lễ hội Coeur, cô ngay lập tức bước vào phòng tranh và chuẩn bị vải vẽ. Cô đã phác họa và vẽ khuôn mặt lẫn những cơ bắp rắn chắc của cơ thể anh. Với hình ảnh David của Michelangelo làm cảm hứng, cô vừa bắt đầu vẽ các bộ phận của Joe lúc anh gõ cửa. Cô đã mở cửa ra và thấy anh đứng đó, và trong vài phút giây xao xuyến cô sợ rằng bằng cách nào đó anh đã biết những gì cô định làm. Cô cảm thấy tội lỗi, như thể anh bắt quả tang cô đang dòm anh mà không có quần áo anh trên người ấy.

Cô không tin vào số mệnh. Cô tin tưởng quá mạnh mẽ vào tự do ý chí, nhưng cô không thể lờ đi những cảm giác linh tinh đang dựng tóc gáy cô lên.

Gabrielle rời khỏi cánh cửa và hướng đến phòng vẽ. Cô thực sự có ý làm những gì đã bảo Joe, không hôn hít thêm nữa. Cùng lúc cô thấy ăn nằm với anh dễ hơn cô đã tưởng tượng một tuần trước, cô cũng không thể nói dối bản thân mình. Vì những lý do cô không thể đo định, đứng quá gần với Joe, hơi thở anh thì thầm quét ngang má cô và môi anh vuốt ve môi cô không hoàn toàn dễ chịu. Không, chẳng hề dễ chịu tí nào.

Gabrielle tin vào việc bộc lộ tình yêu một cách trung thực và cởi mở, nhưng không phải trong một công viên đông đúc, và không phải cùng thám tử Joe Shanahan. Anh không quan tâm đến cô, và anh đã tỏ ra cực kỳ rõ ràng là anh coi việc hôn cô là một phần công việc. Cô nghĩ về phản ứng của cô với nụ hôn của anh và đã đi đến kết luận logic rằng sự động chạm của Joe đã làm rối loạn nhịp sinh học của cô cũng như làm mọi thứ loạn xí ngầu. Kiểu như một cơn nấc hoặc lỗi nhịp trong dòng năng lượng sống kết nối cơ thể, trí óc, và tinh thần cô.

Nếu Kevin bắt gặp họ đang cãi vã một lần nữa, hoặc nếu Joe gặp bất kỳ ai trong quá khứ của anh, anh sẽ phải tìm ra một thứ nào khác. Không có đứng gần, lấp đầy các giác quan của cô bằng hương thơm làn da anh thêm nữa. Không có những nụ hôn bâng quơ chạm vào tận bên trong và cướp đi hơi thở của cô thêm nữa. Và tuyệt đối sẽ không đời nào có chuyện cô mặc vào “thứ gì đó gợi cảm” cho anh hết.

Khi chuông cửa reo tối hôm sau, Gabrielle nghĩ lần này cô đã sẵn sàng cho Joe. Không còn bất ngờ nữa. Cô nắm vững kiểm soát và nếu anh đã mặc một chiếc quần jean bạc phếch và áo phông, cô cũng có thể xoay sở được. Nhưng nhìn anh một cái thôi mà trung tâm bình yên của cô đã lộn vòng vòng vào một vũ trụ nào đó rồi.

Anh đã cạo bộ râu lú nhú mọc của mình đi, và đôi má rám nắng của anh thật mượt mà. Chiếc áo thể thao bó màu đen được làm từ lụa và vừa vặn một cách đẹp đẽ trên lồng ngực rộng và cái bụng phẳng của anh. Anh đã luồn một cái thắt lưng tết qua đỉa quần của một chiếc quần vải chéo là lượt với những nếp li phẳng phiu. Thay vì đôi giày chạy cũ kĩ hoặc đôi bốt đi làm, anh đi đôi giày da lộn. Anh có mùi thật tuyệt vời và trông càng tuyệt hơn.

Không như Joe, Gabrielle đã chủ tâm đặt ít công sức hơn vào diện mạo của mình. Cô đã ăn vận đơn thuần cho thoải mái với cái áo cánh trắng trơn và một cái váy yếm kẻ ca rô màu xanh pha trắng chạm vừa tới đầu gối. Cô chỉ trang điểm rất ít và không hề nỗ lực tạo kiểu khác đi cho mái tóc, chỉ để nó xoăn lại quanh vai và buông xuống lưng như vẫn luôn thế. Nhượng bộ duy nhất của cô với bất kỳ thứ gì tương đồng với thời trang là đôi khuyên bạc trên tai và chiếc nhẫn bạc ở ngón giữa bàn tay phải. Cô đã bỏ quần tất lại trong tủ và cho chân vào một đôi giày vải. Cô cho là mình trông đối lập với từ gợi cảm.

Một bên lông mày nhướn lên tới tận trán anh bảo cô rằng anh cũng nghĩ thế. “Con chó Toto bé nhỏ của cô đâu?”

Bộ cánh của cô có tệ đến thế đâu. “Này, tôi không phải cái người đi đôi cao gót đỏ của mẹ và đâm bổ vào tường đâu nhé.”

Anh khinh khỉnh nhìn cô. “Tôi mới có năm tuổi.”

“Đó là điều tất cả bọn họ nói.” Cô bước ra bậc thềm và khóa cánh cửa lại sau lưng. “Thêm vào đó, tôi chắc chắn bữa tiệc này không trang trọng.” Cô thả chìa khóa vào cái túi to bự kiểu hoa văn đan chéo bằng dây thừng và quay lại để đối mặt với anh. Anh không dịch chuyển lấy một phân, và cánh tay trần của cô chạm nhẹ qua ngực anh.

“Tôi nghi ngờ điều đó đấy.” Joe đỡ lấy khuỷu tay cô như thể họ đang trong một buổi hẹn hò thực sự và dẫn cô tới chiếc xe màu be khủng khiếp mà cô nhớ quá rõ. Lần cuối cùng cô bị còng ở ghế sau. “Tôi đã gặp Kevin, và tôi nghi ngờ chuyện anh ta làm bất cứ việc gì tầm thường, có lẽ trừ ra tình dục tầm thường.”

Hơi ấm lòng bàn tay anh quét lên cánh tay và đi xuống tận đầu ngón chân cô. Cô ép mình đi điềm tĩnh bên cạnh anh, như thể sự động chạm của anh không làm cô muốn giật tay khỏi tay anh. Như thể cô cũng bình tĩnh và thản nhiên như Joe. Cô cố lờ đi những cảm giác đang khiến bàn tay cô đổ mồ hôi, và cô không thèm bình luận về quan điểm của Joe đối với Kevin, vì những gì anh nói cũng khá đúng sự thật. Điều cũng chả làm Kevin tốt hơn hay xấu hơn rất nhiều những tên đàn ông khác.

“Tối qua tôi tưởng anh lái một chiếc Bronco chứ?”

“Đúng thế, nhưng Kevin nghĩ tôi là một đứa vứt đi khánh kiệt. Đó là những gì tôi muốn anh ta nghĩ,” anh nói và cúi người mở cửa bên ghế hành khách. Lồng ngực anh lại chạm nhẹ vào cô, và cô hít một hơi thật sâu qua lỗ mũi và tự hỏi nước hoa của anh có phải là hỗn hợp của tuyết tùng, hoa cam và một thứ gì đó nữa hay không.

“Sao cô làm thế?”

“Làm gì?”

“Ngửi tôi như thể tôi có mùi thối lắm vậy.” Anh thả khuỷu tay cô ra, và cô cảm thấy như mình lại có thể thư giãn.

“Anh tưởng tượng ra đấy thôi,” cô nói và chui vào ô tô. Không giống Joe, bên trong xe vẫn có mùi khủng khiếp như cái ngày anh bắt giam cô. Kiểu như dầu nhớt mô tô, nhưng ít nhất ghế cũng sạch sẽ.

Chuyến lái xe tới nhà Kevin mất chưa đến mười phút, và Joe dùng khoảng thời gian đấy để nhắc cho cô nhớ về hiệp ước cung cấp thông tin mà cô đã kí. “Nếu Kevin vô tội,” anh nói, “anh ta không cần sự giúp đỡ của cô. Và nếu anh ta có tội, thì đằng nào cô cũng không bảo vệ được anh ta.”

Luồng không khí lạnh giá quét qua chân, cánh tay và cái cổ trần trụi của cô. Cô ước gì mình đã ở nhà. Cô ước gì mình được cho lựa chọn.

Gabrielle đã tới nhà Kevin vài lần, tất nhiên, nhưng cô thực sự không quan tâm đến nó. Kiến trúc hai tầng kiểu đương đại đậu trên sườn một ngọn núi được trụ đỡ bởi các cột chống và có một tầm nhìn thành phố ngoạn mục. Bên trong được dựng nên từ rất nhiều đá hoa cương, gỗ cứng, thép, và mang lại cảm giác ấm cúng như một bảo tàng nghệ thuật đương đại.

Gabrielle và Joe sóng đôi lên vỉa hè, vai chạm vai, gần như không động chạm.

“Sẽ thế nào nếu bạn bè của Kevin nhận ra anh? Anh sẽ làm gì?”

“Tôi sẽ tìm ra thứ gì đó.”

Đó chính xác là những gì mà cô lo sợ. “Như là?”

Joe rung chuông cửa và họ đứng cạnh nhau, nhìn thẳng về phía trước. “Cô sợ ở một mình với tôi sao?”

Hơi hơi. “Không.”

“Vì trông cô lo lắng về chuyện đó.”

“Trông tôi không lo lắng.”

“Trông cô như là cô không tin tưởng bản thân mình.”

“Tin để làm gì?”

“Để giữ chặt tay cô trên người.”

Trước khi cô kịp đáp trả, cánh cửa mở ra và màn hài kịch bắt đầu. Joe vòng tay quanh vai cô, hơi nóng từ lòng bàn tay anh sưởi ấm da thịt cô qua chất vải mỏng manh trên áo sơ mi của cô.

“Tôi đã tự hỏi hai người có đến không.” Kevin bước lùi lại, và họ đi vào trong. Như thường lệ, anh trông như vừa chụp hình cho tờ GQ.

“Tôi đã bảo anh là tôi có thể mang cô ấy ra khỏi nhà trong vài tiếng đồng hồ mà.”

Kevin liếc nhìn cái yếm của Gabrielle, và một đường rãnh xuất hiện trên trán anh. “Gabe, đây là một vẻ ngoài mới cho em. Thú vị thật.”

“Không tệ đến thế mà,” cô tự biện hộ cho mình.

“Không, nếu em sống Kansas.” Kevin đóng cửa lại và họ theo anh về hướng phòng khách.

“Em trông không giống Dorothy mà.” Gabrielle liếc xuống cái váy kẻ ca rô màu xanh pha trắng của cô. “Phải không?”

Joe kéo cô vào cạnh anh. “Đừng lo, anh sẽ bảo vệ em khỏi lũ khỉ có cánh (1.)”(Một hình ảnh trong phim The wonderful Wizard of Oz, hàm ý chỉ ác quỷ.)

Cô nâng mắt lên mắt anh, với đôi tròng mắt màu nâu sậm và hàng lông mi dày, sắc nhọn, và lũ khỉ có cánh không phải điều làm cô lo lắng.

“Sao em không để Kevin để cái ví to đùng mà em đã mang theo vào đâu đó nhỉ?”

“Anh có thể để nó vào phòng ngủ thừa,” Kevin đề nghị.

“Em muốn giữ nó cạnh mình.”

Joe giật nó ra khỏi vai cô và đưa nó cho Kevin. “Em sẽ bị viêm túi dịch đấy.”

“Ở vai sao?”

“Chẳng bao giờ nói gì được về bệnh viêm túi dịch,” Joe dự đoán khi Kevin rời đi với túi xách của cô.

Phòng khách, phòng bếp, và phòng ăn chia sẻ cùng một không gian thoáng khí rộng lớn và tầm nhìn thành phố ngoạn mục. Một nhóm khách nhỏ lẫn lộn ở quầy bar, cùng lúc Mariah Carey hát vang từ một bộ loa kín, lấp đầy ngôi nhà với từng quãng tám mà cô ta có thể kéo ra từ dây thanh quản của mình. Riêng Gabrielle chẳng có gì phản đối Mariah, nhưng cô nghĩ nàng diva này cần học hỏi một bài học về sự khiêm tốn. Gabrielle di chuyển ánh mắt khắp khoảng không gian, từ da ngựa vằn trải trên thành bộ ghế sô pha bằng da cho đến những món đồ thủ công nghệ thuật rải rác khắp ngôi nhà. Kevin cũng có thể dùng đến cùng bài học đó.

Khi Kevin quay lại, anh giới thiệu Joe và Gabrielle với bạn bè anh, một nhóm doanh nhân keo kiệt những người mà, theo những gì Gabrille thèm quan tâm, lo lắng đến tình trạng tài khoản ngân hàng của họ nhiều hơn hẳn tình trạng lương tâm. Joe để yên tay quanh Gabrielle khi họ bắt tay với một người đàn ông và vợ ông ta, những người sở hữu một chuỗi cửa hàng cà phê thành công. Những người khác thì bán vitamin hoặc máy tính hoặc nhà cửa và rõ ràng là đều buôn bán rất tốt. Kevin giới thiệu họ với bạn gái hắn, China, người mà, Gabrielle có thể thề là có tên Sandy lần cuối cùng họ gặp nhau. Bất kể bây giờ tên cô ta là gì, người phụ nữ đó vẫn nhỏ nhắn, tóc vàng, và hoàn mỹ, Gabrielle cảm thấy thôi thúc mãnh liệt muốn khuỳnh người xuống.

Cạnh China là cô bạn gái xinh đẹp và nhỏ nhắn tương đương cô ta, Nancy, người còn không thèm giả vờ có hứng thú với bất kỳ điều gì Gabrielle có thể nói. Sự chú ý của cô ta dán lên người đàn ông đang đứng với hông ép vào Gabrielle. Qua khóe mắt, cô quan sát vẻ hài lòng uốn cong hai khóe môi Joe thành một nụ cười tán thưởng. Ánh mắt anh bập bùng qua bộ ngực của Nancy, và anh chuyển trọng lượng sang chân bên kia. Bàn tay ấm áp của anh trượt khỏi vai Gabrielle và ngang qua lưng cô, rồi anh cho tay vào túi quần và sự động chạm của anh hoàn toàn biến mất.

Cô đáng lẽ phải mừng. Cô mừng. Chỉ là cô thấy hơi giống bị bỏ rơi và còn gì đó hơn thế nữa. Gì đó khó chịu có cảm giác như ghen tuông, nhưng không thể nào là ghen tuông bởi vỉ (a) Joe không phải bạn trai thật sự của cô, (b) cô không quan tâm đến anh; và (c) cô không bị những tên đàn ông nông cạn thu hút.

Kevin nói gì đó mà Joe hẳn phải nghĩ là hài hước, bởi vì anh hơi ngả đầu ra sau và cười lớn, để lộ hàm răng trắng thẳng đều và cổ họng rám nắng mượt mà. Những rãnh nhỏ xuất hiện ở khóe mắt anh, và âm thanh thoải mái trầm ấm chạm vào tận bên trong cô và lắng lại trong lồng ngực cô.

Có ai đó nói gì đó nữa, và tất cả cùng bật cười. Trừ Gabrielle. Cô không nghĩ có gì đáng để cười. Không, tuyệt đối không có gì khôi hài về cảm giác nhoi nhói dưới xương ức của cô, hay tình trạng hỗn loạn nóng bỏng trắng xóa chạy dồn dập qua huyết quản cô, khuấy lên một khao khát thể xác mà cô thấy không thể lờ đi.
Đăng nhập để trả lời
0