VIII
Để có một hình ảnh rõ ràng về sự liên hệ của Hoa Kỳ vào chiến tranh Việt Nam; chúng ta hãy nhắc lại những đoạn tài liệu mật của Bộ quốc phòng Hoa Kỳ mà báo chí đăng lại hồi tháng 6-1971.
Theo tài liệu mật thì từ 1945 đến 1950, hai Chính phủ Truman và Eisẽnhower đã có nhiều quyết định quan trọng về chính sách của Mỹ đối với Việt Nam mà quần chúng Mỹ không hề hay biết, mãi tới lúc Kennedy lên làm tổng thống năm 1961, mới nhận thấy Mỹ đã liên hệ quá nhiều vào công cuộc phòng thủ Việt Nam Cộng hoà.
Tài liệu mật cho biết từ cuối 1945 đến 1946, Hồ Chí Minh đã 8 lần gửi thư cho tổng thống Truman và Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, yêu cầu giúp đỡ để chống Pháp giành độc lập.
Thư của Hồ Chí Minh gửi cho Mỹ đúng vào giai đoạn Hoa Kỳ với Nga Sô đang tranh giành quyền lợi kinh tế do Nhật để lại ở Mãn Châu và vùng Đông Bắc nước Tàu, và vì muốn độc chiếm những nguồn lợi to lớn này nên Nga đã triệt để ủng hộ Trung Cộng, để Trung Cộng đánh bật phe Quốc gia lui dần về phía Nam. Bởi thế, Chính phủ Truman mới quyết định viện trợ cho Pháp chống Việt Minh và tìm cách đưa Bảo Đại sang Côn Minh để năm 1949, giải pháp Bảo Đại thành hình.
Với giải pháp Bảo Đại, Hoa Kỳ tin tưởng sẽ tiến tới thành lập một Chính phủ quốc gia có quân đội riêng, có ngân sách riêng, có nền hành chánh riêng, rồi ép buộc Pháp phải tuyến bố trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, như vậy, chính quyền Việt Minh đương nhiên mất hẳn danh nghĩa và trở thành “bọn phiến loạn”, đúng như lời ông Nguyễn Quốc Định, đại biểu chính quyền Bảo Đại tham dự hội nghị Geneve 1954, tuyến bố tại phiên họp hôm 12-5-1954: “… từ 1954, dân chúng Việt Nam đã để cho Việt Minh lãnh phần thực hiện Độc lập và Dân chủ của xứ sở, mặc dầu lúe ấy Cộng sản đã có những mâu thuẫn trong nội bộ Việt Minh rồi. Nếu Cộng sản giữ lời hứa thì sự thống nhất Việt Nam từ hồi 1946 đã không gẫy đổ như ngày nay. Công cuộc chấp chánh của Việt Minh đã đi tới một cuộc khủng hoảng, khiến Quốc trưởng Bảo Đại phải thay thế Việt Minh cai trị xứ sở. Chính phủ của Quốc trưởng đã thực hiện trong mấy năm nay, vì dụ lịch sử thống nhất quốc gia do Pháp trao trả Nam Kỳ lại cho Việt Nam và dùng Sài gòn làm thủ đô. Sự thành lập một đạo quân quốc gia 300 ngàn người, sự thành lập ngân sách. Đã có 35 nước nhìn nhận Việt Nam (của Bảo Đại) và Việt Nam hiện nay là hội viên của nhiều cơ quan quốc tế. Nhò sự hiểu biết của Pháp và sự nỗ lực tranh đấu của Quốc trưởng Bảo Đại, Liên hiệp Pháp và Việt Nam đã ký kết một tuyến ngôn nhìn nhận nền độc lập cho Việt Nam kể từ ngày 25-4-1954”.
“… ngày nay độc lập đã thực hiện xong, Việt Minh không còn lý do để tiếp tục cuộc chiến tranh nữa. Nếu họ còn tiếp tục, họ sẽ bị coi như phong trào rối loạn”.
Thê nhưng cái gọi là “nền độc lập” mà Pháp trao trả cho Việt Nam chỉ là chiếc bánh vẽ, Quốc trưởng Bảo Đại không được sự tín nhiệm của những người quốc gia, và chính quyền của ông bị lệ thuộc vào Pháp hoàn toàn, đó là điều sai ý muốn của Hoa Kỳ, nên khi tổng thống Eisenhower thuộc đảng Cộng hoà lên cầm quyền hồi 1953 thì lá bài Ngô Đình Diệm được dùng thay thế lá bài Bảo Đại.
Việc Mỹ xài lá bài Ngô Đình Diệm thay Bảo Đại, ngoài mục đích nhờ uy tín của nhân vật quốc gia cực đoan này để loại bỏ hẳn ảnh hưởng Pháp ở Việt Nam, hầu Hoa Kỳ có thể nhảy vào thay thế; còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn, nhằm tránh cuộc tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam - Băc như hiệp ưởc Geneve quy định.
Tại sao Mỹ sợ một cuộc tổng tuyển cử như vậy? Rất dễ hiểu, bởi vì tuy giải pháp Bảo Đại đã ra đời từ 1949, nhưng cho tới 1954 vẫn hãy còn quá yếu về mọi mặt, và hoàn toàn chưa có một nền hành chính quy củ từ trung ương xuống tận hạ tầng các thôn ấp khắp Việt Nam. Trên thực tế, chính quyền đó chỉ kiểm soát được những thành thị lớn, còn nông thôn đều lọt vào tay quân du kích Việt Minh, Tổng tuyển cử trong một tình trạng như thế, khác gì đem Việt Nam dâng cho Cộng sản Việt Minh?
Mặt khác, chính sách của Hoa Kỳ lại gây tình trạng bất ổn tại các quốc gia châu Á bằng những cuộc chiến tranh cục bộ, nếu để một trong hai phe Quốc-Cộng ở Việt Nam thắng hay bại hoàn toàn thì cuộc chiến tranh đó sẽ không còn nữa. Điều này không có lợi gì cho Hoa Kỳ?
Với chính sách đó, Hoa Kỳ giúp ông Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại để lên làm tổng thống VNCH, nhưng sau đó không lâu, Hoa Kỳ hoàn toàn thất vọng, vì không sai khiến nổi ông Diệm, không thể biến ông Diệm thành một tổng thống bù nhùn tay sai, chỉ “ngồi chơi xơi nước”.
Năm 1961, tổng thống John F. Kennedy thuộc đảng Dân chủ lên thay tổng thống Eisenhower. Việc trước tiên của Chính phủ này thi hành ở Việt Nam là làm áp lực, buộc ông Ngô Đình Diệm phải chấp nhận để Mỹ tăng phái bộ cố vấn của họ ở Việt Nam lên 16 ngàn người, người ông Diệm nhất định không nghe, và hễ sang dư người nào ngoài con số ấn định là bị trục xuất ngay trong vòng 24 tiếng đồng hồ.
Trước thái độ ngoan cố, cứng đầu cứng cổ của ông Ngô Đình Diệm, tổng thống Kennedy phải quyết định “cúp viện trợ”. Theo những tài liệu được phát giác sau này thì trong khoảng từ tháng 4 đến tháng 9-1963, Chính phủ Ngô Đình Diệm không còn nhận được một đồng xu nhỏ nào của Hoa Kỳ nên chẳng biết lấy tiền đâu trả lương cho công chức - quân nhân, khiến ông Diệm phải tạm vay tiền Ngân hàng quốc gia Việt Nam, vay quỹ bù trừ hối đoái và quỹ hưu bổng công chức quân nhân.
Theo tiết lộ của bà Ngô Đình Nhu trong bản tài liệu “LA PAIX! A QUEL PRIX” phổ biến tại châu Âu ngày 7-10-1966 thì “Về phần chồng tôi (tức cố vấn Ngô Đình Nhu), trong cuộc chiến đấu cho quần chúng, nếu ông đã tự giới hạn trong sự tự vệ chân chính, chống lại chủ nghĩa Cộng sản và chỉ dùng chiến tranh du kích chống lại chiến thuật du kích mà Cộng sản đã gây ra, thì chỉ từ những lý do nhân đạo hơn là chính trị. Do đó, chúng tôi đã bảo vệ được độc lập xứ sở mà không cần đến sự can thiệp của các lực lượng ngoại quốc.
“Năm 1963, nhờ vào sự thiết lập nhanh chóng hệ thống Ấp chiến lược mà các vùng thôn quê trọng yếu được bảo vệ, mặc dù có một chiến dịch tuyên truyền quốc tế của Cộng sản và của người Mỹ đã không ngớt đả kích chương trình này. Như vậy, chúng tôi đã hoàn thành không cần đến những đoàn quân ngoại quốc trong việc bảo vệ xứ sở chúng tôi, nhất là trong lãnh vực của cuộc chiến tranh phá hoại do cộng sản gây ra”.
“Nhờ thành công của chương trình Ấp chiến lược nên chúng tôi chỉ còn cần những sĩ quan Hoa Kỳ làm huấn luyện viên, dậy cho Quân lực VNCH cách sử dụng vũ khí và các loại trực thăng do Mỹ viện trợ.
“Khi chiến thắng đã ló dạng, người Mỹ theo sáng kiến riêng của họ, đã gửi sang Việt Nam cho chúng tôi nhiều cố vấn hơn, nâng tổng số lên 12 ngàn người”.
“Tổng thống Ngô Đình Diệm và chúng tôi nhận thấy con số này quá nhiều so với nhu cầu nên nhất quyền chống lại. Do đó mà báo chí Mỹ đã vội vã gán cho tổng thống Diệm và chồng tôi là những kẻ chống Mỹ“.
“Nên biết tổng thống Kennedy đã từng xác nhận công khai rằng “Những cố vấn Hoa Kỳ sẽ rút về ngay khi Chính phủ yêu cầu“, nhưng thay vì đưa về lập tức ít nhất là phân nửa số cố vấn hiện hữu tại Việt Nam như lời hứa thì trái lại, tổng thống Kennedy cho gửi ngay tức khắc sang Việt Nam một số cố vấn khác đông gấp đôi số hiện có, nghĩa là vào khoảng 16 ngàn người tất cả bất chấp những phản ứng quyết liệt của Chính phủ VNCH, vì vậy mà chiến cuộc bắt đầu leo thang.
Lúc bấy giờ, cái phi lý của người Mỹ là đòi hỏi chúng tôi những cái mà Chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ đang tìm kiếm. Họ bảo hoàn cảnh 1963 cho phép họ làm như vậy, khiến tính cánh hợp pháp của Chính phủ VNCH hồi bấy giờ phải hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự phản đối hay đồng ý của người Mỹ.
Năm 1963, áp lực của Hoa Kỳ được thể hiện trong vấn đề mà tổng thống Kennedy gọi là “ nỗ lực chiến tranh”, và những sáng kiến của chúng tôi về công cuộc chống du kích hoặc phản công trong trường hợp Bắc Việt chuyển từ chiến. tranh du kích qua chiến tranh quy ước đã không được Chính phủ Mỹ chú ý, Điều này đủ để giải thích tại sao tổng thống Ngô Đình Diệm và chúng tôi đã nhất quyết từ chối sáng kiến “leo thang chiến tranh“, và chính vì nguyên do này mà chúng tôi bị Hoa Kỳ tố cáo liên tiếp là “thụ động trong nỗ lực chiến tranh “, và phải chịu nhiều sự che trách nặng nề về mọi phía.
“Vì vậy mà tổng thống Kennedy đã đòi phải có sự thay đổi chính trị và nhân sự tại miền Nam Việt Nam, để cho “nỗ lực chiến tranh“ khỏi bị trở ngại, và đại sứ Henry Cabot Lodge được uỷ nhiệm chuyển giao cho Chính phủ Sài gòn một bức thông điệp với lời lẽ rõ rệt hơn.
“Bức thông điệp buộc tổng thống Ngô Đình Diệm phải loại bỏ người em là cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, và buộc chồng tôi cùng tôi phải tự nguyẹn rời khỏi xứ sở vĩnh viễn, để cho Hiệp chủng Quốc khỏi phải áp dụng những biện pháp khác mà họ có thể dùng để chống lại Chính phủ Nam Việt Nam”.
Những tố cáo trên đây của bà Ngô Đình Nhu hoàn toàn phù hợp với các tài liệu mật của Bộ quốc phòng Hoa Kỳ mà báo Mỹ “Boston Globe” đăng tải hồi tháng 6-1971. Tài liệu này nói rằng “Ngay từ ngày 1-5-1961 (nghĩa là Trung Hoa lục địa ông Kennedy làm lễ nhận chức Tổng thống Hoa Kỳ được 5 tháng), tổng thống Kennedy đã chấp thuận bằng công văn số 52 toàn bộ kế hoạch hoạt động quân sự bí mật do một Uỷ ban đặc biệt nghiên cứu về vấn đề Việt Nam đệ trình“. Kế hoạch này gồm các điểm sau đây:
- Gửi điệp viên ra Bắc Việt hoạt động và dùng phi cơ dân sự thả dù tiếp tế cho những điệp viên này (phi cơ dân sự này do các phi công mang quốc tịch châu Á điều khiển, hầu hết là công dân Đài Loan thuộc Trung Hoa quốc gia).
Lén đưa Lực lượng đặc biệt từ miền Nam Việt Nam sang vùng Đông Nam Ai Lao lùng diệt căn cứ và lộ tuyến tiếp tế của Cộng sản Bắc Việt (Lực lượng đặc biệt này được Chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập dưới sự thúc đẩy của Mỹ, do Mỹ huấn luyện, võ trang và đài thọ lương bổng. Lực lượng này đặt dưới quyền chỉ huy của đại tá Lê Quang Tung, và ông này đã bị thủ tiêu hôm đảo chính 1-11-1963).
- Thiết lập những ổ võ trang chống Cộng sản Bắc Việt; những căn cứ bí mật, những toán phá hoại, quấy nhiễu hậu tuyến đối phương.
- Tổ chức các phi vụ thả truyền đơn xuống lãnh thổ Bắc Việt, phát động du lích chiến, và nếu cần, cho cố vấn Hoa Kỳ tham chiến để đối phó với mọi nỗ lực tiếp liệu của Cộng sản Bắc Việt quanh vùng Tchépone (Ai Lao).
Song song với kế hoạch này, đại sứ Hoa Kỳ ở VNCH hồi bấy giờ là tướng Maxwell Taylor còn gửi phúc trình mật ngày 2-11-1961, yêu cầu tổng thống Kennedy cho gửi gấp 8 (tám) ngàn bộ binh Hoa Kỳ sang Nam Việt Nam, bề ngoài lấy cớ là tham dự công tác cứu trợ nạn lụt miền Trung và miền Tây, và nếu với số quân này mà “không làm nổi chuyện gì” thì Hoa Kỳ vẫn có cớ đưa thêm quân sang Nam Việt Nam.
Tất cả những kế hoạch trên Hoa Kỳ không phải nhằm tiêu diệt Cộng sản, mà nhằm mở rộng và leo thang chiến tranh, hầu chính sách của Mỹ ở châu Á được thực hiện, nhưng bị một chướng ngại rất lớn lao ngăn cản là sự không đồng ý của tổng thống Ngô Đình Diệm.
Muốn san bằng chướng ngại vật này, biện pháp trước tiên được tổng thống Kennedy đem ra áp dụng là dùng viện trợ Mỹ làm áp lực.
Về viện trợ Mỹ hồi bấy giờ, tập tài liệu bà Ngô Đình Nhu cho biết:
“Cần phải hiểu rằng viện trợ Mỹ được căn cứ trên nguyên tắc là Chính phủ VNCH có quyền chi tiêu cho những dự án cần thiết mà không chịu sự kiểm soát của Chính phủ Hoa Kỳ. Nhưng thực tế cho thấy Chính phủ VNCH chỉ nhận được một phần rất nhỏ viện trợ Mỹ mà không biết gì đối với số còn lại. Người Mỹ lấy lý do số còn lại được chi tiêu cho những công cuộc không trực tiếp liên hệ đến Chính phủ VNCH, chẳng hạn những hoạt động tuyên truyền do Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ điều khiển (US lNFORMATION AGENCY), để yểm trợ cho Chính phủ Nam Việt Nam.
“Có những ngân khoản trên giấy tờ thì do chính quyền Việt Nam sử dụng, nhưng trên thực tế, chính quyền Việt Nam lại không có quyền dòm ngó tới số tiền đó. Sự kiện này cho phép Chính phủ Hoa Kỳ đem hết khả năng tuyên truyền phá hoại, chống lại Chính phủ Ngô Đình Diệm và lật đổ Chính phủ này do chính số tiền viện trợ mà ông Diệm bị coi như mắc nợ đối với với Hoa Kỳ.
“Viện trợ Mỹ cho VNCH còn bao gồm cả các loại vũ khí cùng sự tài trợ cho những hoạt động quân sự, đài thọ cho Lực lượng đặc biệt.
“Mặt khác, Hoa Kỳ cũng trích ra từ ngân khoản viện trợ một số tiền 24 triệu đo-la để yểm trợ cho những phong trào chống lại Chính phủ. Như thế đủ thấy số tiền viện trợ Mỹ mà Chính phủ Ngô Đình Diệm nhận được trên giấy tờ, không ít thì nhiều, đã được dùng để thoả mãn trước hết các khuynh hướng quân phiệt cũng như khuynh hướng phá hoại trong sự giành giật ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới.
“Về chương trình Ấp chiến lược trước khi nhận viện trợ Mỹ”, chính chúng tôi đã đưa ra điều kiện là Chính phủ VNCH có thể thực hiện một mình, nhưng Hoa Kỳ lại đòi quyền kiểm soát và duyệt xét chặt chẽ. Hơn thế, họ còn đòi xen vào làm việc ngân sách quốc gia Việt Nam, song chúng tôi đã không chịu để người Mỹ kiểm soát như vậy.
Theo bà Ngô Đình Nhu, ngân khoản chính thức mà Chính phủ Ngô Đình Diệm nhận được do Mỹ viện trợ trong suốt 9 năm của Đệ nhất Cộng hoàa, chỉ vào khoảng 2 tỷ đô-la mà thôi, không như ngày nay, chỉ trong vòng một năm, ngân khoản đã lên đến 15 tỷ cho riêng nỗ lực chiến tranh.
Những tiết lộ trên đây cho thấy các chính quyền thuộc đảng Dân chủ Mỹ, từ thời tổng thống Truman qua đời tổng thống Kennedy, đều có khuynh hướng muốn để Hoa Kỳ trực tiếp liên hệ vào chiến tranh Việt Nam. Vì khuynh hướng đó mà khi thấy không thể thuyết phục tổng thống Ngô Đình Diệm tiếp tay trong việc mở rộng và leo thang chiến tranh, tổng thống Kennedy đã hạ lệnh cho đại sứ Henry Cabot Lodge phải bằng mọi cách, triệt hạ kỳ được chính quyền này, “dù phải làm cỏ cả phủ tổng thống“.
Việc lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm, tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ tiết lộ rằng “tổng thống Kennedy quyết định cử Phó tổng thống Johnson đi Sài gòn vào tháng 5-1961 với sứ mạng thuyết phục ông Ngô Đình Diệm yêu cầu Hoa Kỳ gửi quân qua Việt Nam, nhưng bị ông Ngô Đình Diệm trả lời là ông không muốn lực lượng ngoại quốc vào lãnh thổ Việt Nam trừ trường hợp Bắc Việt trực tiếp xâm lăng. Tổng thống Diệm nhấn mạnh: “ Sự hiện diện của quân đội ngoại quốc sẽ vì phạm thoả ước quốc tế Geneve 1954”.
Vì không thuyết phục được tổng thống Ngô Đình Diệm trong việc để quân đội Mỹ qua Việt Nam nên Hoa Kỳ “khuyến khích nhóm đảo chính chống lại cho tới cùng và huỷ diệt phủ tổng thống nếu cần để chiến thắng” và “buộc gia đình ông Ngô Đình Diệm phải đầu hàng vô điều kiện”. Riêng ông Diệm phải được đối xử tuỳ theo ý muốn của tướng lĩnh VNCH (trích bản giác thư của Roger Hilstman, Phụ tá ngoại trưởng Hoa Kỳ, phụ trách Viến Đông sự vụ gửi cho ngoại trưởng Dean Rusk ngày 30-8-1963).
Thực ra trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ tháng 11-1960, anh cm ông Ngô Đình Diệm đã đoán biết số phận của mình khi ứng cử viên John F. Kennedy thuộc đảng Dân chủ đắc cử sít sao so với số phiếu bỏ cho ứng cử viên Cộng hoà Richard Nixon, vì đường lối của đảng Dân chủ thường biểu lộ tính cách quân phiệt, cứng rắn, và chỉ muốn Hoa Kỳ trực tiếp liên hệ vào chiến tranh Việt Nam.
Nên nhớ giải pháp Ngô Đình Diệm là sản phẩm của đảng Cộng hoà dưới thời tổng thống Eisẽnhower, và từ tháng 7-1954 là ngày ông Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh tới tháng Giêng 1961 là ngày ông John F. Kennedy lên lãnh đạo Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ, mối bang giao giữa VNCH và Mỹ quốc tuy cũng gặp trục trăc khó khăn, nhưng chưa đến nỗi nghiêm trọng lắm.
Bởi thế, khi hay tin ứng cử viên đảng Dân chủ Kennedy trúng cử, anh em ông Diệm đã tỏ vẻ buồn nản vì biết mình sẽ gặp lắm khó khăn, bèn vội vã đề ra chính sách “thật lưng buộc bụng“, và định ban hành Luật hạ lương quân nhân - công chức. Dự luật này do Dân biểu Cao Văn Tường soạn thảo, đã một dạo gây hoang mang thắc mắc trong hàng ngũ công chức - quân nhân, nhưng cuối cùng chẳng hiểu vì sao mà không được áp dụng.
Lo sợ trước chính sách mới của tân tổng thống Hoa Kỳ đã đến với tổng thống Ngô Đình Diệm sớm hơn ý tưởng, vì 5 tháng sau ngày lễ tuyên thệ nhậm chức, tổng thống Kennedy đã dồn dập làm áp lực, và cuối cùng đi đến cuộc đảo chính, giết chết anh em ông Diệm ngày 1-11-1963.
Triệt hạ xong tổng thống Ngô Đình Diệm, chưa ai biết ý định tổng thống Kennedy sẽ làm gì ở Việt Nam, vì ông bị ám sát chết ngay sau đó 3 tuần lễ (Kennedy bị ám sát chết ngày 23-11-1963 tại thành phố Dallas, Tiểu bang Texas), nhưng theo tin AFP đánh đi ngày 25-1-1971 thì “chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi xảy ra vụ ám sát tổng thống Kennedy, và ngay khi còn đang ở trên phi cơ trở về Hoa Thịnh Đốn để đảm nhiệm chức vụ tổng thống theo hiến pháp, ông Lyndon Johnson đã quyết định tiếp tục theo đuổi chính sách của vị tiền nhiệm“.
Tiếp tục theo đuổi chính sách của vị tiền nhiệm có nghĩa là tổng thống Johson tthừa hưởng gia tài về đường lối lãnh đạo chiến tranh do cố tổng thống Kennedy để lại, và chỉ 8 tháng sau ngày nhận chức vụ, tổng thống Johnson đã biến đổi hình thái chiến tranh đó bằng cách tạo ra cái gọi là “biến cố Vịnh Bắc Việt“ rồi ra lệnh cho Không lực Hoa Kỳ oanh tạc miền Bắc và ra lệnh cho bộ binh nhảy vào tham chiến tại miền Nam.
Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ được báo NEWSWEEK đăng tải, nói rằng “Tất cả những quyết định quan trọng nhằm leo thang chiến tranh Việt Nam đều được dự trù từ nhiều tháng ý khi tổng thống Johnson đem ra thi hành và Chính phủ Mỹ lừa phỉnh Quốc hội cùng với quần chúng bằng cách bưng bít. Những gì xảy ra trong Biến cố Vịnh Bắc Việt ngày 4-8-1964 không đáng kể, vì Chính phủ đã bí mật thảo hoạch một hành động quân sự quan trọng đánh Bắc Việt trứcme đó ít nhất là năm tháng, và đã dự thảo sẵn một quyết nghị của Quốc hội nhằm ủng hộ mở rộng chiến tranh“.
Biến cố Vịnh Bắc Việt hồi tháng 8-1964 phải được kể là một điểm then chốt trong chiến tranh Việt Nam hiện nay, vì nó là khởi thuỷ cho cuộc oanh tạc đầu tiên của Không lực Hoa Kỳ xuống lãnh thổ Bắc Việt ngày 5-8-1964, rồi từ cuộc oanh tạc này đẻ ra nguyên nhân khiến Mỹ đưa nửa triệu quân cơ giới vào miền Nam Việt Nam, với sự tham chiến của nhiều nước Đồng minh Hoa Kỳ như Đài Loan, Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân và Thái-Lan, làm cho chiến tranh Việt Nam mở rộng và leo thang.
Thực ra cho đến nay, cái gọi là “biến cố Vịnh Bắc Việt” vẫn hãy còn mù mờ, mỗi bên nói một cách, mỗi người dự đoán một nẻo, còn tin tức thì trái ngược và mâu thuẫn.
Theo Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ thì ngày 4-8-1964, lợi dụng sương mù dầy đặc, các tiểu đỉnh Bắc Việt đã xông ra tấn công Đệ thất hạm đội đang hoạt động ngoài khơi vịnh Bắc Việt, làm chiếc khu trục hạm Maddox bị thương và vài chiếc khác bị hư hại
Chính phủ Hoa Kỳ coi hành động này của Bắc Việt có tính cách khiêu khích nghiêm trọng, cần phải trừng trị, nên sáng 5-8-1964, nhiều phi cơ thuộc Không lực Mỹ, cất cánh từ các Hàng không mẫu hạm, xông vào lãnh thổ Bắc Việt oanh tạc dữ dội.
Trước biến cố “Vịnh Bắc Việt“, một áp lực quốc tế đè nặng lên vấn đề Đông Dương. Pháp, Nga Sô, Trung Cộng và cả Tổng Thư ký Liên hiệp quốc U-Thant nữa đều đưa ra một đề nghị triệu tập một hội nghị như hội nghị Geneve về Việt Nam hồi 1954 để bàn về việc trung lập hoá toàn bán đảo Đông Dương.
Đề nghị này trước tiên là sản phẩm của tổng thống Pháp, tướng De Gaulle,. De Gaulle vẫn luôn luôn nuôi mộng được trở lại với những quyền lợi to tát của nước Pháp ở Đông Dương vốn bị Mỹ dùng thế lực tước đoạt sau ngày thất trận Điện Biên Phủ, nên cho rằng nếu toàn cõi Đông Dương trung lập thì có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ mất nhiều ảnh hưởng, và Pháp lại có hy vọng đóng một vai trò quan trọng Á Đông.
Sau khi tướng De Gaulle nêu đề nghị trên thì ngày 14-7-1964 Nga Sô liên lạc với 14 quốc gia từng tham dự hội nghị Geneve và Ai Lao năm 1962, nêu rõ lập trường nước Pháp và tiếp đến là sự tán đồng của Hà Nội biết Mặt trận giải phóng miền nam Việt Nam.
Trước sự vận động quốc tế như vậy, Hoa Kỳ tất nhiên phải khẩn cấp trực tiếp liên hệ vào chiến tranh Việt Nam, vì nếu không, Chính phủ Nguyễn Khánh tại Sài gòn sẽ sụp đổ nhanh chóng, và kế hoạch rộng lớn của Mỹ tại châu Á sẽ gặp lắm trở ngại, khó thực hiện.
Với biến cố Vịnh Bắc Việt, Hoa Kỳ đã bẻ gẫy âm mưu của tướng De Gaulle và của Nga Sô nhằm trung lập hoa Đông Dương, vì trung lập như vậy không phải chỉ để giết chết Nam Việt Nam mà còn làm thiệt hại nặng nề đến quyền lợi Hoa Kỳ khắp vùng Đông Nam Á.
Đông Nam Á là vùng tranh chấp ảnh hưởng giữa các nước đế quốc tư bản châu Âu từ thế kỷ thứ 18, và sau trận chiến tranh thế giới II, chỉ còn lại 3 khối lớn, Hoa Kỳ-Nga So-Trung Cộng. Còn Pháp, vì nuối tiếc quyền lại cũ, nên luôn luôn đứng ngoài phá rồi bằng cách xúi nguyên giục bị và thọc gậy bánh xe. Về phần Hoa Kỳ, vì nước họ quá giầu mạnh lại phát triển hết sức mau, nên vấn đề mở rộng vòng đai an ninh và tìm kiếm thêm nhiều thị trường là tối cần thiết.
Khi nói đến nền an ninh Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ thì phải hiểu rằng nó liên hệ đến nền an ninh chung toàn thế giới, nếu tình hình châu Âu hay châu Á sôi động thì có nghĩa là Hoa Kỳ cũng bị trực tiếp đe doạ, vì với những phát minh kỳ diệu của nền khoa học hiện đại, một hoa tiễn liên lục địa mang đầu đạn nguyên tử có thể bắn từ Thái Bình Dương bên này qua Thái Bình Dương bên kia, rơi tới tấp xuống lãnh thổ nước Mỹ. Việc Hoa Kỳ phóng vệ tinh do thám bay thường xuyên trên bầu trời Trung Cộng - Nga Sô, cũng như việc phái Đệ thất hạm đội với tầu ngầm nguyên tử sang hoạt động vùng Viễn Đông là nhằm bảo vệ nền an ninh Hoa Kỳ khỏi bị một cuộc tấn công bất ngờ.
Vi khoa học tiến bộ quá mau lẹ, nên chẳng những Hoa Kỳ mà Nga Sô cũng phóng vệ tinh do thám, còn Trung Cộng thì chế tạo được bom nguyên tử và hoả tiễn liên lục địa mang đầu đạn nguyên tử. Bởi thế, sự hiện diện của quân đội Mỹ với các căn cứ quân sự trọng yếu ở Đông Nam Á là điều bắt buộc dù Mỹ có thể bị thế giới kết án là đang theo đuổi chính sách “tân đế quốc thực dân”.
Ngoài việc bảo vệ an ninh cho mình, Hoa Kỳ còn nhằm mục đích khác ở Đông Nam Á là bành trướng ảnh hưởng, tìm kiếm thị trường. Muốn biết mục đích này quan trọng như thế nào, chúng ta hãy tìm hiểu sơ qua sức phát triển mãnh liệt của dân tộc Mỹ.
Hoa Kỳ có một lịch sử lập quốc khoảng trên 300 năm. Hiến pháp được soạn ra từ 1787 với 13 tiểu bang, nhưng chưa đầy 200 năm sau, số tiểu bang nhảy vọt lên 50, song chưa phải là hết mà người ta còn tiên đoán rằng càng ngày, trên quốc kỳ Hoa Kỳ còn gắn thêm nhiều ngôi sao, mỗi ngôi sao tiêu biểu cho một tiểu bang, và rất có thể này mai, Phi Luật Tân sẽ là tiểu bang thứ 51 của Mỹ, vì tại xứ này đang có một phong trào vận động để dân tộc Phi được hương cái “vinh dự“ đó.
Về kinh tế, tuy Hoa Kỳ cũng từng gặp những cơn khủng hoảng đến phải đổ đồ thặng dư xuống biển, vì không có thị trường tiêu thụ, nhưng luôn luôn vẫn là một nước dẫn đầu về tích trữ vàng, nhờ thế mà đồng đô-la giữ vững giá, ngay cả trong thời kỳ thế giới gặp đại chiến.
Nên biết rằng Hoa Kỳ là xứ rất nhiều kim loại và khoáng chất, họ sản xuất hàng năm khoảng 70 triệu tấn sắt dùng cho các ngành kỹ nghệ sản xuất. Đa phần từ số kim loại khai thác được là ở vùng Lake Superior, và không kể những kim loại tốt đang khai thác, số kim loại xấu, chưa đến tuổi, còn nằm sau dưới đất, có thể khai thác hàng trăm năm cũng chưa hết.
Ngoài sắt, thép là mỏ than. Than đá là tài nguyên quan trọng thứ hai tại Hoa Kỳ, số dự trữ có thể dùng cả hàng ngàn năm sau.
Ngoài than đá là dầu lửa, các giếng dầu ở Hoa Kỳ sản xuất hàng năm chừng 400 ngàn triệu lít. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn có một khoáng chất hết sức quý, chính khoáng chất này đã đưa Hoa Kỳ lên địa vị siêu cường quốc nguyên tử hiện nay. Đó là mỏ Uranium.
Vì thiếu kim loại và khoáng chất như vậy nên xu hướng phát triển của Hoa Kỳ là kỹ nghệ nặng, trong đó, khoảng 80% là kỹ nghệ quốc phòng.
Theo những tài liệu gần đây của Phòng Liên vụ thông tin Hoa Kỳ thì từ 1955, chi tiêu của Chính phủ Liên bang được dùng vào việc quốc phòng là hai phần ba (2/3). Phần vòn lại được chi tiêu vào các công cuộc an lạc công cộng, phát triển các tài nguyên về đất đai, y tế, giáo dục v.v…
Nước Mỹ giàu đương nhiên dân Mỹ có lợi tức cao nhất thế giới, đa số người Mỹ có lợi tức hàng năm 2 ngàn đô-la (hơn một triệu bạc Việt Nam) cho mỗi người, và lợi lức trung bình hàng năm cho mỗi quyết định chừng 6 ngàn rưởi đô-la (trên 4 triệu đồng Việt Nam). Lợi tức trung bình này không phải nằm yên một chỗ nữa cứ mỗi năm một tăng và Chính phủ Hoa Kỳ dự trù rằng qua năm 1980, lợi tức đó sẽ gần gấp đôi hiện tại.
Hiện tại ở Mỹ, cứ 6 gia đình thì một gia đình được coi là nghèo, nhưng nghèo ở đây là theo tiêu chuẩn của Chính phủ Mỹ, nghĩa là gia đình nào có lợi tức trung binh hàng năm khoảng 3 ngàn đô-la thì bị coi là nghèo (3 ngàn đô-la gần bằng hai triệu rưỡi bạc VN theo giá bây giờ). Nghèo theo tiêu chuẩn này thì tại VNCH, tất cả các Tổng, bộ trưởng nếu sống hoàn toàn vào đồng lương thuần tuý, đều bị liệt vào hạng nghèo hết.
Căn cứ vào những bản thống kê thì mỗi người Mỹ chỉ cần làm việc 5 phút là mua được nửa ký bánh mì, làm 2 phút mua được một ký khoai, làm 12 phút mua được nửa ký thịt bò, làm 8 phút mua được nửa ký bơ, làm 6 phút mua được một lít sữa, làm 7 giờ mua được một đôi giầy bằng da thật tốt; và làm 20 giờ mua được một bộ y phục bằng len.
Sự giầu mạnh của nước Mỹ; sự sung túc của dân chúng là nhờ vào tài nguyên quốc gia quá dồi dào và nhờ vào sức cần cù cùng óc tính toán khoa học của họ, khi Mỹ đã giầu thì dĩ nhiên Mỹ phải tìm đủ cách bành trướng mãnh liệt khắp năm châu thế giới. Vậy thì chúng ta không nên lấy làm lạ tại sao Việt Nam là một xứ nghèo nên? chẳng mang lại lợi lộc gì cho nước Mỹ, thế mà Chính phủ Mỹ vẫn đổ người, đổ của vào đây. Hiểu nước Mỹ và hiểu người Mỹ sơ qua như vậy tức là hiểu được lý do của vấn đề.
Vì những sự việc như thế nên bắt buộc Hoa Kỳ phải tìm đủ mọi cách liên hệ vào chiến tranh Việt Nam. Sự liên hệ này, những phiến diện bề ngoài, những kẻ không hiểu cặn kẽ vấn đề cứ tưởng Hoa Kỳ đang sa lấy.
Sự liên hệ của Hoa Kỳ vào chiến tranh Việt Nam nặng nề nhất là thời tổng thống Johnson. Người lãnh đạo Hoa Kỳ gốc Texas này có một chính sách làm cho chính trường miền Nam Việt Nam rối loạn cả lrrn nào đảo chính, chỉnh lý, nào công giáo - phật giáo đâm chém nhau tại bùng binh chợ Bến Thành, nào vụ Hiến chương Vũng Tàu của tướng Nguyễn Khánh, nào phong trào Phật giáo tranh đấu ở miền Trung v.v… Nguy hiểm nhất biến cố Tết Mậu Thân 1968.
Trong khi tình hình miền Nam rối loạn thì Không lực Mỹ không ngớt oanh tạc miền Bắc, và bộ binh cơ giới Mỹ cứ hết đợt này đến đợt khác đổ vào miền Nam, lên tới con số trên nửa triệu ngườii. Thế là chiến tranh mở rộng và leo thang.
Khi chiến tranh mở rộng và leo thang như vậy m Hoa Kỳ nói rằng đó là nhằm bảo vệ miền Nam Việt Nam khỏi rơi vào tay Cộng sản: nhưng theo giác thư của thứ trưởng Quốc phòng John Mc Nanghton gửi bộ trưởng McNamara “Mục tiêu của cuộc chiến tranh ở Việt Nam gồm 70 phần trăm nhằm tránh một sự thảm bại nhục nhã cho Hoa Kỳ, 20phấn trăm để giữ miền Nam Việt Nam khỏi rơi vào tay Cộng sản Trung Hoa, và chỉ 10 phần trăm cốt để nhân dân miền Nam được hưởng một đời sống tốt đẹp hơn, tự do hơn”.
Nhân dân miền Nam Việt Nam có được hưởng một đời sống tốt đẹp hơn từ ngày Mỹ đổ nửa triệu quân vào hay không thì thực tế đã trả lời. Riêng miền Bắc, kể từ tháng 2-1965 đến tháng 6-1968 đã phải hứng chịu 2.581.876 tấn bom do 107.700 phi xuất của Không lực Mỹ dội xuống. Những vụ oanh tạc khủng khiếp này chỉ được tạm chấm dứt từ 1-11-1968 vì nhu cầu bầu cử bên Mỹ.
Bởi liên hệ quá sâu xa như vậy nên năm 1969, khi nhậm chức tổng thống Hiệp chủng Quốc, ông Richard Nixon đã đề ra chính sách Việt hoá và công bố lịch trình rút quân. Với lịch trình này, tổng thống Nixon đã hạ thấp con số từ trên 500 ngàn xuống còn 29 ngàn, nhưng thay vì chiến tranh chấm dứt thì nó lại bước vào một khuc quanh mới và bùng lên mãnh liệt bởi cuối tháng 3-1972, khi Bắc Việt bất thấn xua quân vượt tuyến, dùng lối đánh quy ước tấn công vào các lực lượng VNCH ở hai tỉnh địa đầu giới tuyến Quảng Trịn - Thừa Thiên, sau đó lan rộng ở An Lộc, Kontum, Bình Định và ở cá Ai Lao - Kampuchea.
CHƯƠNG TRÌNH VIỆT HOÁ CHlẾN TRANH
IX
Vì sự liên hệ quá sâu xa của Hoa Kỳ nên kể từ 1968, chiến tranh Việt Nam đã trở thành đề tài chính trong các cuộc vận động tranh cử tổng thống Hoa Kỳ.
Việc các ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ triệt để khai thác chiến tranh để vận động tranh cử là một hiện tượng hết sức tự nhiên, vì người Mỹ diều hâu hay người Mỹ bồ câu thì tựu trung vẫn không muốn thấy con em họ phải xa lìa quê hương, phải uổng mạng trong một cuộc chiến mà theo ý họ dân bản xứ giết nhau với dân bản xứ cũng đã đủ bảo vệ quyền lợi Hiệp chủng Quốc rồi.
Như vậy, chấm dứt chiến tranh tại một nơi xa xôi ngoài lãnh thổ Hiệp chủng Quốc mà các ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ cam kết trong khi vận động chỉ có nghĩa là làm thế nào để máu thanh niên Mỹ không phải trực tiếp đổ ra, để công dân Hoa Kỳ không bị bắt làm tù binh, và quyền lợi Hoa Kỳ tại nơi đó vẫn được duy trì bảo đảm.
Trong chiều hướng đó, khi ra tranh cử tổng thống hồi tháng 11 năm 1968, ứng cử viên đảng Cộng hoà Richard Nixon đã nêu lên chủ thuyết Nixon với Chương trình Việt hoá. Chương trình này nhằm rút hơn nửaa triệu quân Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam, chấm dứt việc tác chiến trên bộ của quân đội Mỹ, vì tác chiến trên bộ rất nguy hiểm đối với binh sĩ Mỹ, chỉ giữ lại vai trò cố vấn và yểm trợ bằng Không-Hải lực mà thôi.
Chương trình Việt hoá chiến tranh của tổng thống, Nixon đã gây nhiều luồng dư luận sôi nổi trong 4 năm qua. Những người Việt Nam chất phác thì hiểu đơn sơ rằng Việt hoá có nghĩa là Hoa Kỳ rút hết quân, chỉ để lại một số cố vấn giống như tình trạng trước 1964. Một số khác, cách đây hai năm, đã tỏ ra lo lăng hoang mang trước các đợt rút quân của Hoa Kỳ, vì tưởng rằng miền Nam tự do chỉ có thể tồn tại với sự hiện diện của hơn nửa triệu quân Mỹ; này bếu số quân đó rút đi, chắc Cộng sản Bắc Việt sẽ tràn đến.
Đến nay, thực tế cho thấy Việt hoá chiến tranh không bao giờ có nghĩa Hoa Kỳ sẽ phủi tay, vĩnh viến bỏ bê tất cả mọi quyền lợi tại Việt Nam, hay để mặc cho Cộng sản muốn làm gì thì làm trên phần đất được coi như pháo đài quan trọng nhất của Hoa Kỳ trong khu vực Đông Nam Á.
Muốn hiểu ý nghĩa đích thực của chương trình Việt hoá thì phải phân tích Chủ thuyết Nixon, tức là đường lối đối ngoại mới của Hoa Kỳ đối với toàn thế giới nói chung, và đặc biệt đối với Đông Á cũng nhưThái Bình Dương nói riêng, vì chương trình Việt hoá là một phần trong toàn bộ chính sách đó.
Như chúng ta đã biết, chiến tranh Việt Nam không thuần tuý là một cuộc tranh chấp cục bộ giữa những người Việt theo chủ nghĩa Cộng sản và những người Việt theo chủ nghĩa Quốc gia. Bề ngoài, cuộc chiến đó tuy có vẻ bị đóng khung nhỏ hẹp trong phạm vi của một quốc gia, nhưng thực tế bên trong, nó lại có sự liên hệ sâu xa với các siêu cường, vì là chỗ khởi điểm cho sự tranh chấp giữa các hệ thống: Cộng sản với Tự do, Cộng sản với Cộng sản, đế quốc với đế quốc, Kinh tế tư bản với kinh tế vô sản v.v… thành thử nó làm rúng động cả thế gioi; và trở nên một bộ phận chính yếu trong việc châm ngòi lửa chiến tranh khắp toàn vùng Đông Nam Á.
Sự liên hệ nêu trên là do tình hình thế giới biến chuyển qua mau lẹ tạo thành, và trước những biến chuyển đó, dù muốn hay không, phe tư bản - dẫn đàu là Hoa Kỳ - bắt buộc phải thay đổi chính sách, nếu không sẽ phải hứng chịu phần thiệt.
Tại khu vực Đông Nam Á, cách đây 15, 20 năm, còn bị đế quốc tư sản Âu-Mỹ coi là vùng lạc hậu chậm tiến, kém văn minh, thiếu khai hoá và lúc bằng, dù Cộng sản đã thôn tính trọn Hoa Lục, nhưng chưa phải là một địch thủ đáng sợ của Hoa Kỳ.
Ngày nay, tất cả các dân tộc châu Á đều vươn mình lên, đều trưởng thành trong những điều kiện mà người Âu - Mỹ không ngờ, đặc biệt sự lớn mạnh của Trung Cộng đã trở thành mối đe doạ thường xuyên đối với Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ chẳng những trong phạm vi quân sự, mà còn cả trong phạm vi kinh tế.
Khách quan mà nhận xét, dân số Trung Cộng đông gấp 5 lần dân số Hoa Kỳ và ngày nay đã chế tạo được bom nguyên tử lẫn hoả tiễn liên châu lục mang đầu đạn nguyên tử, thì phải là một đối thủ đủ sức đương đầu với Hoa Kỳ về mặt quân sự.
Tuy nhiên, về mặt kinh tế, việc hàng hoá Trung Cộng càng ngày càng tràn ngập thị trường châu Á là mối quan tâm lớn lao của tư bản Hoa Kỳ, và cứ theo đà phát triển đều đều - không cần bước tiến nhảy vọt - thì chỉ trong vòng vài chục năm nữa, có thể đi đến chỗ Trung Cộng làm chủ thị trường khu vực này, đến cả tư bản Nhật cũng không thể đương đầu nổi.
Cần nhận định rằng hệ thống phát triển kinh tế giữa Mỹ và Trung Cộng hoàn toàn trái ngược nhau. Một đằng, Hoa Kỳ chuyên về kỹ nghệ nặng và kỹ nghệ quốc phòng (tức chế tạo những thứ gây chiến trannh như súng ống, đạn dược, máy bay, tầu chiến, quân trang quân cu v.v…), còn một đằng thì Trung Cộng chuyên về kỹ nghệ nhẹ và sản xuất những thứ hàng hoá thích hợp với người châu Á.
Giữa hai hệ thống kinh tế tư bản và vô sản đó, người ta thấy có một sự va chạm mạnh mẽ lúc đầu, nhưng càng ngày chúng lại biến chứng, đi đến chỗ cần phải kết hơhp với nhau để bổ túc cho nhau, vì nếu riêng rẽ, cả hai đều bị tê liệt.
Vô sản đối kháng tư bản, đó là một định luật tự nhiên từ khởi thuỷ có con người trên quả địa cầu, không phải đợi đến lúc Các Mác - Lê Nin hô hào người ta mới biết. Nhưng đối kháng là một việc, phải dựa vào nhau để phát triển, để sinh tồn là một việc khác, và vấn đề sinh tồn mới là vấn đề thiết yếu quan trọng.
Vì sinh tồn nên Nga Sô, mặc dầu sau 50 năm cách mang vô sản, ngày nay vẫn phải tính tới chuyện sinh sống với tư bản Hoa Kỳ, phải ký kết với Hoa Kỳ những thoả ước hết sức quan trọng về vũ khí chiến lược, về thương mại v.v…
Cả Trung Cộng nữa, cũng vì vấn đề sinh tồn nên Mao Trạch Đông, nhân vật từng tuyên bố coi Mỹ là “con hổ giấy“ hồi tháng 2-1972 phải mời tổng thống Nixon qua thăm Bắc Kinh, và sau đó, đặt mua của Mỹ nhiều máy móc dụng cụ, nhiều phi cơ phản lực thương mại Boeing 707, nhiều vạn tấn lúa mi v.v…
Chính vì chỗ hai hệ thống kinh tế tư bản và vô sản cần kết hợp với nhau để bổ túc cho nhau nên tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon - nhân vật được dư luận quốc tế coi là đại diện cho phe tư bản Mỹ - phải đề ra chính sách đối ngoại mới ở châu Á, nơi Trung Cộng đang lớn mạnh, và sự thay đổi chính sách này được gọi là “Chủ thuyết Nixon“.
Chương trình Việt hoá là một phần trong toàn bộ chủ thuyết Nixon, mà chủ thuyết này thì lại muốn phản ánh những thực tại:
- Rằng vai trò quan trọng của JIoa-Kỳ là điều cần thiết đối với nền hoà bình thế giới;
- Rằng những quốc gia khác có thể, và phải đảm trách lấy những phần vụ lớn lao của mình cho chính quyền lợi họ, và cho cả quyền lợi Hoa Kỳ.
Trong bản tương trình gửi đến Quốc hội Hoa Kỳ ngày 25-2-1971, tổng thống Nixon khẳng định rằng chủ thuyết của ông, trước hết không thể coi như là một sự san sẽ gánh nặng hay làm nhẹ bớt gánh nặng của Hoa Kỳ. Chủ thuyết này có một ý nghĩa tich cực hơn đối với các quốc gia khác và đối với chính Hoa Kỳ nữa.
Do đó, Hoa Kỳ đang khuyến khích các quốc gia hãy tận lực tham gia việc thiết lập những kế hoạch, và trù liệu những chương trình, ấn định rõ tính chất của nền an ninh riêng, và quyết định đường lối tiến hành.
Với chiều hướng đó, tại Việt Nam, Hoa Kỳ đã tuần tự chuyển giao nhiệm vụ tác chiến cho quân lực VNCH trong khi chiến tranh còn đang tiếp diễn, và triệt thoái gần hết trên nửa triệu quân, chỉ để lại khoảng hơn 30 ngàn người với nhiệm vụ cố vấn.
Tại Triều Tiên, Hoa Kỳ cũng hành động tương tự, vừa giảm quân số ở Nam Hàn, vừa khuyến khích việc Hán Thành - Bình Nhưỡng thảo luận với nhau để đi đến cho hiệp thương.
Tại nhiều nơi khác trên thế giới, Hoa Kỳ cũng giảm bớt sự hiện diện chính thức của họ, cả dân sự lẫn quân sự. Riêng tại Nhật Bản, Hoa Kỳ đã trả lại quyền hành chính trên đảo Xung Thằng.
Nói một cách tổng quát, trước đây, trong chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ cáng đáng lấy tất cả, từ việc gửi vũ khí, chiến cụ, quân đội qua tham chiến, và Hoa Kỳ cũng định làm như vậy tại nhiều nơi khác trên thế giới. Nhưng ngày nay, qua chủ thuyết Nixon, Hoa Kỳ không làm như vậy nữa, họ giao trách nhiệm đánh nhau lại cho người địa phương, còn họ đứng ngoài hỗ trợ bằng uy lực riêng và bằng cách tích cực viện trợ tiền bạc, vũ khí.
Việc trao trách nhiệm cho dân bản xứ, được chủ thuyết Nixon gọi là “một sự hợp tác”, “một sự đóng góp” của các quốc gia đồng minh để “đạt đến một đường lối hữu hiệu hơn và bớt lộ liễu hơn”.
Thực ra ra từ trước tới nay, tại nhiều quốc gia châu Á và châu Âu, người ta cũng than phiền về sự hiện hữu quá lộ liễu các vị quan chức dân sự và quân sự Mỹ và sự kiện quá lộ liễu này nên bất cứ biến cố chính trị nào xảy ra ở đâu, phản ứng rất tiên vẫn là là việc dư luận nghi ngờ và kết án sự trực tiếp nhúng tay của người Mỹ.
Từ sau ngày chiến tranh thế giới II kết thúc đến nay, tinh ra trên 5 châu thế giới, đã xảy ra khoảng hơn 150 vụ đảo chính. Riêng tại châu Á, những vụ đảo chính quan trọng nhất như ở Thái Lan (lật đổ Thống chế Phibul Songgram), ở Nam Dương (lật đổ tổng thống Sukarno), ở Miến Điện (lật đổ thủ tướng U-Nu), ở Cao Mên (truất phế Quốc trưởng Sihanouk) ở Việt Nam (lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm) v.v… đều bị coi là do người Mỹ trực tiếp gây nên, và trong tất cả những vị bị lật đổ đó, vị nào cũng kết án là độc tài, măhc dầu họ đã chứng tỏ nhiều thành tích đấu tranh chống tlực dân cũ xâm lăng, giành độc lập chủ quyền cho đất nước.
Điều đặc biệt đáng chú ý là sau mỗi vu đảo chính như thế, chế độ dân sự gián đoạn để cho chế độ quân sự lên thay, và mức độ ảnh hưởng của Mỹ cũng tăng cao.
Ngày nay, tại khu vực Đông Nam Á, hầu hết các quốc gia đồng minh Hoa Kỳ đều do phái quân nhân cầm quyền. Với phái này, lẽ đương nhiên việc tăng cường quân lực và những vấn đề thuộc phạm vi chiến tranh được đặc biệt củng cố. Một bằng chứng điển hình là trước ngày 18-3-1970. quân đội Hoàng gia Cao Mên chỉ vào khoảng 30 ngàn người. Nhưng sau ngày Quốc trưởng Sihanouk bị truất phế, Thống chế Lon Nol lên cầm quyền thì quân lực Cộng hoà Khmer ngày nay đã có hơn 200 ngàn người, và được huấn luyện tác chiến theo chiến thuật - chiến lược của Mỹ, được Mỹ trang bị và viện trợ.
Những sự kiện trên chứng minh cho chúng ta thấy chủ thuyết Nixon muốn tiến tới giai đoạn nào, và chủ thuyết đó phải chăng là sản phẩm rieng của cá nhân Nixon, hay nó nằm trong một quá trình tiến triển của chủ nghĩa tư bản Mỹ? Chủ thuyết đó, đúng như lời của ông William H. Sullivan, phụ tá ngoại trưởng Mỹ, phụ trách Đông Nam Á và Thái Bình Dương sự vụ, tuyên bố trong cuộc họp báo tại Hoa Thịnh Đốn ngày 3-12-1971, rằng mặc dầu Hoa Kỳ đang triệt thoái quân lực ra khỏi Đông Dương - nghĩa là khỏi Việt Nam - nhưng không có một sự triệt thoái hoàn toàn của Hoa Kỳ khỏi châu Á“.
Ông Sullivan nhán mạnh rằng chủ thuyết Nixon vẫn còn một khoản về sự viện trợ của Hoa Kỳ đối với mối đe doạ nguyên tử. Nói cách khác, Hoa Kỳ tiếp tục sử dụng những khả năng riêng để bảo vệ các quốc gia Đông Nam Á chống bất cứ một đe doạ nguyên từ nào nhằm vào họ. Như vậy, đó là một bảo đảm quân sự quan trọng nhất mà các quyết định nhận được từ Hoa Kỳ.
Chủ thuyết Nixon đã có những nét gì nổi bật tại các quốc gia Đông Nam Á và lực lực lượng nguyên tử Trung Cộng có thực sự đe doạ trực tiếp các quốc gia này không? Điều này chưa thế trình bày khách quan ngay bây giờ. Riêng trong chiến tranh Việt Nam, chủ thuyết Nixon, qua chương trình Việt hoá, đã có nhiều điểm đáng lưu ý.
Trước hết, cho tới hiện nay, mặc dầu Hoa Kỳ đã triệt thoái nửa triệu quân, nhưng cộng sản Bắc Việt vẫn không nuốt nổi miền Nam, trái lại, còn bị tàn phá kinh khủng ở miền Bắc vì những cuộc oanh tạc dữ dội của Không lực Mỹ. Những cuộc oanh tạc này xảy ra triền miên từ tháng tư 1972, sau ngày Bắc Việt xua quân vượt tuyến, với mức độ trung bìinh khoảng 300 phi vụ mỗi ngày, trong số có những phi vụ đặc biệt do pháo đài bay khổng lồ B-52 thuộc Không quân Chiến lược thực hiện.
Ngoài những trận oanh tạc khủng khiếp nhất trong lịch sử chiến tranh từ xưa tới này, Bắc Việt còn bị Hoa Kỳ phong toả bở biển và vòm trời. Cuộc phong toả này, chẳng những ngăn chặn không cho vũ khí - chiến cụ từ ngoài lọt vào, đến nguyên liệu và thực phẩm cũng không tới tay Bắc Việt, dồn họ vào tình thế thiếu thốn hết sức nguy ngập.
Trong khi đó, chiến sự tiếp tục bùng nổ ác liệt tại miền Nam Việt Nam, nhưng đặc biệt số thương vong của binh sĩ Mỹ chỉ đếm được trên đầu 10 ngón tay và tuyệt đối không có một cuộc đụng độ trực tiếp nào giữa những đơn vị Mỹ còn lại tại Nam Việt Nam với bộ đội Bắc Việt.
Số thương vong của binh sĩ Mỹ tại Nam Việt Nam không phải chỉ mới giảm sút gấp đây, mà ngay từ năm 1970, khi bắt đầu thực hiện lịch trình rút quân, đã giảm sút trông thấy.
Theo bản phúc trình của tổng thống Noxon đọc trên hệ thống vô tuyến truyền thanh và truyền hình ngày 30-6-1970 thì trước khi thực hiện chương trình Việt hoá, số thương vong của binh sĩ Mỹ trong khi chiến đấy, trung bình mỗi ngày tuần là 278 người. Năm 1969 đã giảm xuống 180 người, Năm 1970, số đó còn lại 80 người rồi 51 người.
Cũng theo bản phúc trình này thì trước 1969 (khi chưa có chương trình Việt hoá), Hoa Kỳ phải chi tiêu khoảng 22 tỷ Mỹ kim hàng năm cho những đòi hỏi gia tăng chiến cuộc Việt Nam. Qua năm 1970, số chi tiêu giảm xuống còn phân nửa.
Những tổn thất của binh sĩ Hoa Kỳ sở dĩ cứ càng ngày càng giảm sút như vậy, theo tổng thống Nixon là nhớ những cuộc hành quân càn quét của binh sĩ VNCH vào các mật khu Cộng sản ở Kampuchea, tổng thống Nixon nói: “Tổn thất của binh sĩ Mỹ giảm sút rất nhiều. Sáu tháng trước khi có cuộc hành quân vào các mật khu địch, thì tổn thất trung bình mỗi tuần lễ là 93 người. Sáu tháng sau, tổn thất này chỉ còn 51.
Binh sĩ VNCH bắt đầu mở các cuộc hành quân vượt biên kể từ tháng 5-1970, sau khi một biến cố chính trị lớn lao bùng nổ ở Kampuchea, đó là việc Thống chế Lon Nol đứng lên chủ xướng cuộc truất phế Thái tử Sihanouk để thành lập chế độ Cộng hoà Khmer.
Mặc dầu tổng thống Nixon tuyên bố rằng “ Sự truất phế ông hoàng Sihanouk vào ngày 18 tháng 3 năm 1970 hoàn toàn bất ngờ đối với Hoa Kỳ cũng như đối với bất cứ người nào khác“. Nhưng ông lại phải công nhận rằng “Nếu Hoa Kỳ muốn tiếp tục chính sách trao trảch nhiệm chiến tranh lại cho Nam Việt Nam, và triệt hồi binh sĩ Mỹ, thì cần phá vỡ các mật khu của địch. Không theo đường lối đó mà để cho địch tự do gia tăng sư đe doạ mà không bị trả đũa như thế, không sớm thì muộn, Hoa Kỳ sẽ phải lựa chọn, hoặc ngừng triệt hồi, hoặc tiếp tục triệt hồi những sẽ có hại cho sinh mạng những binh sĩ còn ở lại“.
Như vậy, phải nói rằng biến cố chính trị xảy ra ở Kampuchea hồi tháng 3-1970 là nằm trong thắng lợi mới của tổng thống Nixon. Biến cố đó giúp cho việc triệt thoái quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam được an toàn và đưa chiến tranh Việt Nam vào một khúc quanh mới.
Kampuchea là một quốc gia nhỏ bé nằm trên bán đảo Đông Dương, dân số chừng 6 triệu người, trước ngày 18-3-1970 theo chính sách trung lập thiên tả, do Thái tử Sihanouk lãnh đạo.
Vì trung lập thiên tả nên hồi Sihanouk còn cầm quyền, ảnh hưởng Cộng sản tại Kampuchea, để thiết lập nhiều mật khu, nhiều căn cứ hậu cần quan trọng, xâm nhập và tấn công miên Nam Việt Nam.
Chính phủ hoàng gia Kampuchea của Thái tử Sihanouk từng ký nhiều hiệp ước với Bắc Việt, trong số đó có hiệp ước Kampuchea phải cho bộ đội Bắc Việt sử dụng lãnh thổ và phải tiếp tế lương thực cho số binh sĩ này.
Dựa vào những hiệp ước “thân hữu“ đó, Bắc Việt thiết lập tại Nam Vang một Toà đại sứ nhiều Toà lãnh sự ở những tỉnh đông Việt kiều.
Ngoài những cơ sở ngoại giao đó, Bắc Việt còn cho xuất bản tại thủ đô Nam Vang tờ nhật báo “TRUNG LẬP” làm cơ quan tuyên truyền trong giới Việt kiều, đồng thời đưa vào Kampuchea nhiều sách vở báo chí ấn hành tại Hà Nội cùng những tài liệu tuyên truyền xuất xứ từ các quốc gia Cộng sản khác trên khắp thế giới.
Bắc Việt còn sử dụng các rạp chiếu bóng, các hí trường tại Cao Mên để chiếu những cuốn phim do chính họ hay Trung Cộng sản xuất. Những cuốn phim này, hoặc màu hay đen trắng, nói tiếng Việt, tiếng Trung Hoa có phụ đề.
Hầu hết các gia đình Việt kiều ở Kampuchea còn được cán bộ Cộng sản phát không ảnh Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông để treo trong nhà, ngang với chân dung Quốc trưởng Sihanouk; một số gia đình còn trưng cả cờ đỏ sao vàng thường xuyên hay trong các ngày lễ lớn.
Tại Kampuchea cũng như tại Ai Lao và Thái Lan, có rất đông Việt kiều. Riêng tại Kampuchea, ở thủ đô Nam Vang và một vài thị trấn lớn như Svay-Rieng, số Việt kiều có phần lấn lướt dân chúng Cao Mên, và họ chiếm đến khoảng 6, 7 chục phần trăm mọi hoạt động nghề nghiệp.
Bay giờ tình hình đã đổi khác nhiều, nhưng thời kỳ Thái tử Sihanouk còn trị vì, những ai lên viếng thăm Cao Mên, sau khi vượt biên giới Gò Dầu Hạ thuộc tỉnh Tây Ninh, chắc chắn không có cảm tưởng mình đã ra nước ngoài, mà vẫn nghĩ mình đang ở một tỉnh thuộc lãnh thổ Việt Nam, bởi lẽ số Việt kiều quá đông và hầu như nắm trọn mọi ảnh hưởng.
Ngay tỉnh địa đầuu Svay-Rieng, từ chợ buá, trường học, nhà thờ, chùa chiền và các tiệm buôn toàn do Việt kiều làm chủ. Linh mục, sự sãi, dì phước, ni cô, thợ thuyền, phu phen, cảc chị bán hàng… đều là người Việt Nam, nên cái gì cũng mang hình ảnh và mầu sắc Việt Nam.
Đến thủ đô Nam Vang, tuy có người Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp chia xớt bớt ảnh hưởng, nhưng mầu sắc Việt Nam vẫn còn nổi bật. Đa số các tiệm lớn nhỏ là của người Việt Nam, 80 phần trăm các gian hàng ở chợ mới và chợ Boong do người Việt Nam làm chủ. Công tư chức làm việc tại bưu điện, ngân hàng và những cơ sở khác, người Việt Nam cũng chiếm đa số. Các bảng hiệu, những tấm bích chương quảng cáo… được viết bằng chữ Việt, đặc biệt tiếng Việt là tiếng phổ thông nhất ngay giữa thủ đô Nam Vang.
Người Việt ở đây nói tiếng Việt đã đành, nhưng người Tàu, người Ấn Độ và cả chính người Cao Mên cũng nói tiếng Việt luôn, vì hầu hết khách hàng của họ là người Việt, còn ngôn ngữ Cao Mên thì chỉ có dân chúng Mên dùng để nói chuyện riêng với nhau, người ngoại quốc ít ai sử dụng tới.
Chung quanh ngoại ô Nam Vang, ảnh hưởng của Việt kiều nhiều hơn, có những xóm làng hoàn toàn do người Việt Nam trú ngụ, không một công dân Cao Mên nào có thể chen lấn vào, và các nghề nghiệp làm ăn sinh sống hàng ngày, từ nghề cao đến nghề thấp, thượng vàng hạ cám đều do người Việt chiếm hết.
Ảnh hưởng người Việt trên Cao Mên cũng giống như ảnh hưởng người Trung Hoa ở Chợ Lớn, có điều người Trung Hoa chỉ tập trung vào một Chợ Lớn, còn người Việt trên Cao Mên toả ra khắp nơi, từ trung tâm thành phố đến ngoại ô, dồn đa số dân chúng Cao Mên vào cái thế chỉ có thể sinh sống bằng hai nghề: hoặc cày cấy trồng trọt ở thôn quê, hoặc làm phu phen tại thành thị.
Người Việt Nam sang Kampuchea sinh cơ lập nghiệp bắt đầu từ lúc các vị vua triều Nguyễn - nhất là thời Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức đưa quân chinh phục nước này. Thời Gia Long, Đức Tả quân Lê Văn Duyệt từng sang trấn nhậm Cao Mên và đắp thanh Nam Vang ngày nay.
Vì những cuộc chinh phục triền miên đó, và vì việc vượt biên giới giữa Việt Nam và Kampuchea quá dễ nên số người Việt sang Cao Mên ngày càng đông. Thêm vào đó, hồi Pháp thuộc, vì chính sách chia để trị, dùng người xứ nọ, hà hiếp xứ kia, nên dân chúng và thầy chú người Việt được khuyến khích lên Cao-Mên, càng khiến cho số Việt kiều tăng cao, và tạo cho họ mặc cảm coi thường, khinh rẻ dân bản xứ. Mặc cảm này đã đào sâu hố xa cách giữa người Việt với người Miên, và tạo nên mối thâm thù, gây vụ qua tai hại trong phong trào “cáp duồn“ hồi 1970.
Vì nhận thấy ảnh hưởng người Việt ngày càng gia tăng nên Thái tử Sihanouk ngả theo chủ nghĩa trung lập thiên tả, dựa vào sự ủng hộ của Trung Cộng - Nga Sô để làm khó dễ Việt kiều, cấm Việt kiều làm nhiều nghề và ban hành đạo luật buộc người Việt phải gia nhập Miên tịch.
Tâm trạng của Quốc trưởng Sihanouk cũng là tâm trạng của đa số dân chúng Mên, oán ghét và căm thù người Việt.
Vì oán ghét người Việt nên hồi Đệ nhất Cộng hoà ở Việt Nam, Quốc trưởng Sihanouk đã gây khó khăn đủ điều và coi miền Nam Việt Nam cũng như Ai Lao là những nước láng giềng thù nghịch.
Vì coi Nam Việt Nam là quốc gia thù nghịch nên Quốc trưởng Sihanouk mới cho Bắc Việt sử dụng lãnh thổ Kampuchea lập căn cứ tấn công Việt Nam Cộng hoà, đồng thời đòi Việt Nam Cộng hoà vẽ lại đường ranh biên giới, giao đảo Phú Quốc cùng một số tỉnh Hậu Giang cho Cao Mên.
Hồi này, giữa Kampuchea và miền Nam Việt Nam chỉ trao đổ đại diện chứ không có đại sứ, và tuy chấp nhận ông Ngô Trọng Hiếu làm đại diện cho miền Nam Việt Nam, nhưng nhiều khi vị đại diện này không được đối xử theo đúng luật lệ ngoại giao quốc tế, trái lại còn gây trở ngại và đôi lúc tỏ thái độ khinh mạn.
Một trong những thái độ khinh mạn, vi phạm nghiêm trọng luật lệ ngoại giao quốc tế của Quốc trưởng Sihanouk đối với vị đại diện VNCH là chặn xe riêng ông Ngô Trọng Hiếu trên quốc lộ số 1 nối liền Nam Vang - Sài gòn để xét hỏi giấy tờ và lục lọi hành lý. Có khi Quốc trưởng Sihanouk còn cấm, không cho phép ông Ngô Trọng Hiểu đi thăm Việt kiều.
Nguyên nhân của những vụ rắc rối biên giới, rắc rối ngoại giao giữa VNCH và Kampuchea, một phần do chủ trương của Chính phủ Pháp, phần khác do cộng sản Bắc Việt đứng sau lưng giật dây, nhưng chắc chắn Hoa Kỳ cũng có trách nhiệm, vì chính sách của Mỹ hồi bấy giờ là gây rối ở Đông Dương để loại bỏ ảnh hưởng cùng quyền lợi kỳ cựu của thực dân Pháp.
Những rắc rối giữa hai phe quốc gia cùng nằm chung trên bán đảo Đông Dương càng ngày càng biến thành một ngòi nổ nguy hiểm, và đến nay thì nó thực sự bùng nổ, gây nên cuộc chiến toàn diện.
Nhìn vào bản đồ, chúng ta thấy lãnh thổ Kampuchea giống như một quả banh, nằm lọt giữa những đôi chân của các đấu thủ Việt Nam, Ai Lao và Thái Lan, tất cả mọi ngã thông thương ra nước ngoài đều phải qua lãnh thổ VNCH hoặc Thái Lan, nếu hai quốc gia này đóng cửa biên giới thì Kampuchea hoàn toàn lâm cảnh bế tắc.
Trong hoàn cảnh đó, vì vấn đề sinh tồn, dĩ nhiên Kampuchea phải lựa thế đứng và phải tìm cho mình một hướng đi. Thế đứng và hướng đi đó là chính sách trung lập thiên tả, nhận viện trợ của cả ba bốn phe, vừa của Nga Sô - Trung Cộng, vừa của Pháp và Hoa Kỳ.
Pháp xây cho Kampuchea hải cảng Silianoukville nhằm giúp Kampuchea thát khỏi thế kẹt với Sài gòn, trong trường hợp hai nước gây hấn và Sài gòn đóng cửa thuỷ lộ Cửu Long giang và giòng sông Cửu Long vốn là thuỷ lộ chính chở đồ tiếp liệu lên Cao Mên.
Vì sự quan trọng của sông Cửu Long đối với Kampuchea nên hồi Đệ nhất Cộng hoà, tuy dự án xây cất cầu Bắc Mỹ Thuận đã hoàn thành, song rốt cuộc không thể thực hiện, bởi Kampuchea nhất quyết phản đối.
Việc thiết lập hải cảng Sihanoukville, tuy nói để tránh cho Kampuchea khỏi thế kẹt, nhưng ẩn khúc bên trong thì đã là một hải cảng chiến lược quan trọng, và càng quan trọng hơn, nếu sau khi chiến tranh lan rộng khắp Đông Nam Á.
Trong khi người Pháp thiết lập hải cảng Sihanoukville thì Hoa Kỳ lại giúp Cao Mên đắp xa lộ nối liền hải cảng đó với thủ đô Nam Vang. Xa lộ này dài trên 200 cây số, và là một trong những xa lộ quan trọng bậc nhất châu Á về phương diện chiến lược, chẳng kém gì xa lộ Biên Hoà tại VNCH hay xa lộ tại vùng Đông Nam Thái Lan (cũng do Hoa Kỳ xây đắp), vì hiện nay, dọc theo những xa lộ này, có nhiều căn cứ quân sự của Mỹ, trong số có căn cứ Utapao ở Thái Lan, chứa pháo đài bay khổng lồ B-52 thuộc Không quân chiến lược Mỹ.
Trung Cộng - Nga Sô cũng góp phần vào công cuộc viện trợ cho Kampuchea, nào trường học, nào nhà thương, và cả vũ khí, đạn dược. Đặc biệt Trung Cộng, qua ngả Bắc Việt, đã chở giúp Kampuchea những loại vũ khí mới như các kiểu súng AK mà hiện nay người ta thấy bộ đội Cộng sản thường sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.
Một nước nhược tiểu, dân số quá ít, có một vị trí địa lý không mấy thuận lợi, lại nhận viện trợ của hai ba phe nên nền trung lập của Kampuchea chỉ nên trung lập giả tưởng, do các cường quốc cố ý tạo ra để ảnh hưởng của mình chen lấn và khi thế lực quốc tế mất thăng bằng thì biến cố bùng nổ.
Quốc trưởng Sihanouk dù được mô tả như thế nào, thì tựu trung ông vẫn là một nhà lãnh đạo bị đôi bên giằng níu.
Đối với Cộng sản, dĩ nhiên ông không phải là hạng giai cấp được dung nạp, và bản chất của ông cũng không thể trở thành con người Mác-xit thuần tuýy, nhưng ông phải bám níu vào họ để giữ thế quân bình.
Đối với phe tư bản Hoa Kỳ, tuy thường lên tiếng đả kích, những chỉ là một thứ đả kích để lấy lòng Cộng sản, ông vẫn không dám buông rơi, vì một phần, ông vẫn được Mỹ viện trợ đều đều, phần khác, Hoa Kỳ là cái bình phong, là chiếc khiên giúp ôngg chống đỡ một cách hiệu quả qua các chưởng phong của Cộng sản.
Nếu Quốc trưởng Sihanouk có phần nào tự bảo đã lợi dụng được cả Pháp lẫn Trung Cộng, Nga Sô và Hoa Kỳ thì trái lại, những cường quốc này cũng không phải thực tâm giúp Kampuchea xây dựng một nước trung lập cường thịnh với đầy đủ chủ quyền và nền độc lập.
Phía Cộng sản - đặc biệt là Cộng sản Bắc Việt, đã lợi dụng nền Trung lập giả tưởng của Kampuchea để xâm nhập người và vũ khí, biến lãnh thổ Kampuchea thành một căn cứ địa vững chắc, chẳng những đe doạ Nam Việt Nam mà còn đe doạ cả Thái Lan và khắp vùng Đông Nam Á.
Phía Hoa Kỳ, vin vào cớ Cộng sản Bắc Việt, đã thường xuất phát từ lãnh thổ Kampuchea để tấn công Nam Việt Nam, gây nguy hiểm đến tính mạng của hơn nửa triệu binh sĩ Mỹ, nên họ phải rch đảo chính và sau đó, hợp lực với Quân đội VNCH mớ các cuộc hành quân vượt biên.
Trước kia, dân chúng Cao Mên đã có ác cảm rất nhiều với người Việt Nam, những kể từ khi bộ đội Bắc Việt xâm nhập vào thì mọi ác cảm này giống như lửa đỏ bỏ thêm dầu, soi sục lên và biến thành phong trào “cáp duồn“ người Việt.
Trước 18-3-1970 là ngày Quốc hội Cao Mên ra quyết nghị truất phế Quốc trưởng Sihanouk, dân chúng Cao Mên đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình tràn vào các căn cứ quân sự Cộng sản Bắc Việt cướp giật vũ khí, căng biểu ngữ, hô khẩu hiệu “đả đả Việt Cộng bẩn thỉu”.
Tại thủ đô Nam Vang, dân chúng, học sinh, sinh viên và thanh niên cuồng nhiệt tràn vào Toà đại sứ Bắc Việt và Việt Cộng đập phá tan hoang, hành hung các nhân viên, gây thương tích trầm trọng cho một cán bộ Cộng sản.
Trước sự phẫn nộ tột độ của quần chúng, tối 11-3-1970, Quốc hội Cao Mên họp khẩn cấp, ra quyền nghị hoàn toàn ủng hộ các cuộc biểu tình, và đòi Chính phủ hoàng Gia phải áp dụng những biện pháp cứng rắn, bảo vệ lãnh thổ Kampuchea khỏi bị Cộng sản Bắc Việt xâm lấn.
Giữa bầu không khí sục sôi căm thù đó, Hoàng thái hậu Kampuchea cũng lên tiếng trên đài phát thanh, nhấn mạnh rằng các cuộc biểu tình đầp phá cơ sở ngoại giao và quân sự cộng sản Bắc Việt là một sự phát triển của lòng phẫn nộ của quần chúng Cao Mên trước những hành động cố ý xâm lăng của cộng sản Bắc Việt.
Nghị quyền của Quốc hội với những lời tuyên bố của Hoàng thái hậu như liều thuốc kích thích, càng làm cho phong trào quần chúng Cao Mên lan tràn và lên cao tột độ, họ lăn xả vào các căn cứ Cộng sản Bắc Việt, khiến quân Bắc Việt phải nổ súng, đi đến đổ máu.
Xác người Kampuchea ngã gục, máu dân Kampuchea đã đổ vì súng đạn ngoại bang, thế là tấn bi kịch ở Kampuchea bắt đầu, gây hậu quả nghiêm trọng đến chiến tranh Việt Nam.
Ngày 12-3-1970, trước áp lực của quần chúng và Quốc hội, Chính phủ Hoàng gia Cao Mên gửi hai tối hậu thư cho Bắc Việt và Việt Cộng, ra hạn ba ngày phải rút hết tất cả bộ đội khỏi lãnh thổ Kampuchea, nhưng Bắc Việt và Việt công chẳng những không thèm trả lời tối hậu thư mà còn gửi giác thư buộc Chính phủ Hoàng gia Cao Mên phải bồi thường mọi thiệt hai vì các vụ đập phá của dân chúng Mên.
Trước thái độ khinh mạn của Bắc Việt và Việt Cộng. Chính phủ Hoàng gia cùng dân chúng Cao Mên đâm ra căm thù tất cả người Việt, không phân biệt cộng sản hay quốc gia, và phong trào “cáp duồn“ nổ bùng, khiến hàng chục ngàn Việt kiều bị tàn sát đã man, hàng trăm ngàn người khác phải hồi hương về Việt Nam Cộng hoà.
Thảm cảnh người Việt bị dân chúng và quân đội Hoàng gia Cao Mên “cáp duồn“ hồi tháng 3-1970 đã được nhiều thông tín viên quốc tế mô tả là kinh khủng chưa từng thấy, kinh khủng hơn cả những cuộc tàn sát giữa người da trắng với mọi da đỏ bên châu Mỹ.
Ngứci Mên giết người Việt bằng nhiều hình thức, có nơi, dân chúng Mên tự động tràn vào các xóm Việt kiều, lôi cứ từng người ra thọc huyết hoặc thiêu sống.
Có nơi, người Mên trói quặt người Việt thành từng chùm rồi dùng cây tre nhỏ vót nhọn, đâm suốtt người nọ qua người kia, đem thả sông, và trên đầu cay tre treo tấm bảng viết những dòng chữ bộc lộ căm thù.
Chẳng những dân chúng Mên tự động “cáp duồn” Việt kiều mà cả Chính phủ Hoàng gia Mên và quân đội Kampuchea cũng tổ chức những vụ giết tập thể người Việt, giống như Quốc Xã Đức giết người Do Thái trong thế chiến II.
Hồi đó, Chính phủ Hoàng gia Cao Mên cho quân đội đi ruồng bố trong các thôn áp, bắt Việt kiều về tập trung vào một nơi, dùng dây kẽm gai căng chung quanh và đặt trạm canh gác nghiêm ngặt, rồi chờ đêm tối, vừa phóng hoả vào đốt trại để thiêu sống Việt kiều, vừa ném lựu đạn tới tấp, vừa xả súng trung liên bắn bừa trong khi chính miệng họ hô to: “Việt Cộng!”
Một số lớn xác Việt kiều bị tàn sát, được thả xuống giòng sông Cửu Long, khiến một dạo, những làng sống dọc hai bên bờ không dám dùng nước còn sông ấy.
Mấy phóng viên quốc tế săn tin trên đất Mên, hồi tháng 3-1970, khi đi ngang bến phà Net Luông, vì tò mò, đã đếm một lúc được khoảng bốn, năm trăm xác Việt kiều trôi lềnh bềnh, tay chân bị trói và bị giết bằng nhiều hình thức.
Phong trào “cáp duồn” Việt kiều là màn đầu của biến cố 18-3-1970, và khi biến cố này bùng nổ thì Cộng sản Bắc Việt không còn tôn trọng luật pháp, chủ quyền cùng nền độc lập của Kampuchea, dồn Chính phủ Hoàng gia Cao Mên vào chân tường, đi đến chỗ quyết định vô hiệu hoá tất cả những hiệp ước ký kết với Bắc Việt và Việt Cộng từ trước đến nay, trong đó có hiệp ước buộc Cao Mên phải cung cấp lúa gạo, thực phẩm cho bộ đội Cộng sản Bắc Việt trú đóng trên đất Miên. Điều bất hạnh cho quốc gia nhỏ bé này là sau biến cố 18-3-1970, dân chúng Kampuchea mới thực sự phải nếm mùi chiến tranh, và mới biết cái nhục của một cuộc chiến cốt nhục do các thế lực ngoại bang chủ ý gây nên.
Không hiểu có phải là một sự tình cờ hay do bàn tay ai sắp đặt trước mà trong khi Quốc trưởng Sihanouk mở cuộc công du qua Pháp - Nga Sô và Trung Cộng, thì tại quốc nội Kampuchea, ngọn gió chính trị bỗng xoay chiều, đi đến chỗ bắt buộc Quốc hội phải nhóm họp khẩn cấp suốt buổi chiều 18-3-1970, và đến tối, đài phát thanh Nam Vang bất thần loan tin Hội đồng Hoàng tộc và Quốc hội Kampuchea đã truất phế Thái tử Sihanouk khỏi chức vụ Quốc trưởng và Chủ tịch Quốc hội Cheng Heng được chỉ định làm quyền lãnh đạo quốc gia cho tới khi có cuộc bầu cử.
Biến cố này xảy ra đúng lúc Thái tử Sihanouk vừa từ Ba Lê qua Mạc Tư Khoa để chính thực mở cuộc viếng thăm Cộng hoà Liên bang Sô Viết, và ông được Chủ tịch nhà nước Liên Sô thông báo tin này với thái độ bình tĩnh.
Khi hay tin bị truất phế, Thái tử Sihanouk vẫn tươi cười tuyên bố hy vọng Nga Sô và Trung Cộng giúp sức, ông sẽ có thể lật ngược thế cờ, và trở về nước nắm chính quyền.
Tuy nhiên chỉ mấy ngày sau, khi ông từ Mạc tư Khoa tới Bắc Kinh, ông mới cảm thấy r rằng mọi hy vọng về cướp lại chính quyền đều tiêu tan, và bắt đầu tố cáo Hoa Kỳ đã nhúng tay vào vụ truất phế.
Lời tuyên bố của Thái tử Silianouk hoàn toàn mâu thuẫn với lời khẳng định của tổng thống Nixon trong bản phúc trình gửi Quốc hội Mỹ ngày 25-2-19.71, cho rằng “Sự truất phế ông Hoàng Sihanouk vào ngày 18-3-1970 là một sự hoàn toàn bất ngờ đối với chúng ta“.
Tuy nhiên, cũng trong bản phúc trình này, tổng thống Nixon lại cho biết rằng phản ứng đầu tiên của Hoa Kỳ sau khi ông Hoàng Sihanouk bị truất phế là khuyến khích những thương thuyết mà Chính phủ Kampuchea đang tìm kiếm với Cộng sản, nhưng Hà Nội thẳng tay bác bỏ mọi cuộc thương thuyết như vậy, và đã tức tốc điều động binh sĩ để nối liền những mật khu của họ, tạo nên sự đe doạ gia tăng đối với Chính phủ trung lập Kampuchea.
Hoa Kỳ có nhúng tay vào vụ truất phế ông Hoàng Sihanouk hay không? Điều này, đến nay chưa một tài liệu chính thức nào tiết lộ, chỉ biết rằng trước biến cố 18-3-1970, Cộng sản Bắc Việt ở Kampuchea chỉ tập trung vào những mật khu lớn, dài khoảng 600 dặm dọc biên giới Việt - Mên, nhưng sau biến cố, họ đã toả ra khắp nơi như kiến vỡ đàn, như ong vỡ tổ, đưa Kampuchea vào tình trạng nguy ngập.
Chính tổng thống Nixon cũng nhìn nhận rằng Hoa Kỳ phải đối phó với viễn ảnh mật khu rộng lớn đó của Cộng sản Bắc Việt, và một đường tiếp tế vững chắc từ hải cảng Sihanoukville mà địch đã sử dụng suốt trong 6 năm qua để chuyển vận phần lớn chiến cụ vào miền Nam Việt Nam. Với mật khu và đường tiếp liệu đó, bộ đội Cộng sản Bắc Việt có thể tấn công quân đội Đồng minh rồi rút lui mà không bị trả đũa. Như thế có nghĩa là cuộc tấn công mà địch sẽ gia tăng, và tổn thất của Hoa Kỳ cùng quân đội Đồng minh cũng sẽ lên cao, sự việc đó còn là một đe doạ rõ ràng cho công cuộc Việt hoá, cho chương trình triệt hồi binh sĩ Mỹ, và cho an ninh Nam Việt Nam.
Qua những lời khẳng định của vị lãnh tụ Hoa Kỳ, người thấy rõ rằng biến cố 18-3-1970 xảy ra ở Kampuchea, không phải là một thúc bách của chương trình Việt hoá. Nhờ biến cố đó, quân đội VNCH và Hoa Kỳ mới có thể hành quân vượt biên, càn qúet các mật khu Cộng sản, bảo đảm an toàn cho lịch trình rút dần binh sĩ Đồng minh ra khỏi Việt Nam.
X
Dù Hoa Kỳ là một siêu cường quốc, quân đội cờ giới của họ dư phương tiện, nhưng vẫn phải tuân theo nguyên tắc thông thường của binh pháp.
Binh pháp tự cổ chí kim đều dậy rằng tiến quân thì dễ, nhưng rút lui lại rất khó, vì địch có thể lợi dụng trong lúc triệt binh để tấn công.
Việc Hoa Kỳ đổ hơn nửa triệu quân vào miền Nam Việt Nam chẳng có gì khó khăn nguy hiểm, nhưng chỉ triệt thoái vài chục ngàn thôi, đã thấy tạo nên một khoảng trống trong công cuộc phòng thủ. Muốn khuất lập khoảng trống này, việc mở các cuộc hành quân sang Kampuchea là điều tối cần thiết.
Trước kia, hồi Thái tử Sihanouk còn là Quốc trưởng Kampuchea, các cuộc hành quân của quân đội VNCH dọc biên giới gặp phải rất nhiều khó khăn.
Vì Kampuchea không công nhận đường ranh biên giới cũ từ hồi Pháp thuộc, nên thường tố cáo sự vi phạm biên giới của các cuộc hành quân đó
Lợi dụng sự tranh chấp này, bộ đội Cộng sản Bắc Việt thường từ bên kia lãnh thổ Kampuchea tràn qua tấn công quân đội VNCH, và khi bị phản công thì họ tức tốc rút lui. Những vụ tấn công này có tính cách khiêu khích nhiều hơn, và có ý làm cho quân đội VNCH đuổi theo để Kampuchea tố vi phạm biên giới, hầu tạo thêm tình trạng căng thẳng giữa Nam Việt Nam với Kampuchea.
Tình trạng biên hiới thực sự chấm dứt sau khi Quốc trưởng Sihanouk bị lật đổ, và kể từ ngày đó Bắc Việt mở nhiều cuộc tấn công lớn vào quân đội Khmer trên khắp lãnh thổ, khiến tân Chính phủ Kampuchea do Thống chế Lon Nol lãnh đạo phải hốt hoảng yêu cầu VNCH và Hoa Kỳ kéo quân sang giải vây.
Đầu tháng 5-1970, trước lời yêu cầu khẩn cấp của tân Chính phủ Kampuchea, quân lực VNCH với sự yểm trợ của lực lượng Hoa Kỳ, đã chính thức vượt biên, tiến vào mật khu Cộng sản Bắc Việt ở Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu, và lên sát thủ đô Nam Vang. Những cuộc hành quân này trước hết đã giúp cho việc triệt thoái binh sĩ Mỹ khỏi Nam Việt Nam được an toàn, không sợ bị vvộ đội Cộng sản Bắc Việt đánh tập hậu.
Ngày 25-5-1970, một phái đoàn Chính phủ Kampuchea do Phó thủ tướng kiêm ngoại trướng Yem Sambaur cầm đầu, chính thức viếng thăm Sài gòn trong 3 ngày. Phái đoàn này xác nhận với Chính phủ VNCH rằng Kampuchea đã cắt hẳn mọi quan hệ chính thức với Bắc Việt và Việt Cộng. Phái đoàn cũng cam kết bảo vệ sinh mạng và tài sản Việt kiều, đông thời hứa giải quyết càng sớm càng tốt những vấn đề còn đang gây cuộc tranh chấp giữa hai nước.
Dầu vậy, sinh mạng và tài sản Việt kiều còn lại ở Kampuchea vẫn bị đe doạ, quân đội VNCH chiến đấu trên đất Kampuchea vẫn bị tố cáo và tướng Đỗ Cao Trí bị yêu cầu thay thế, vì lẽ ”ông là đã tỏ nhiều thái độ khinh miệt quân đội Miên“.
Trong khi đó, bộ đội Cộng sản Bắc Việt vẫn không ngớt mở các cuộc tấn cong trực tiếp đe doạ cả thủ đô Nam Vang, khiến các quan sát viên quốc tế phải nhận định rằng nếu quân đội VNCH rút lui thì chỉ 48 giờ sau là Nam Vang thất thủ, và 72 giờ kế tiếp là toàn thế lãnh thổ Kampuchea lọt vào tay Cộng sản Bắc Việt.
Trước tình trạng đó, một mặt thủ tướng Lon Nol vẫn gởi khẩn điện tới tấp xuống Sài gòn, yêu cầu VNCH mang quân tiếp viện, giải vây và giải toả các trục giao thông chính yếu, nhất là quốc lộ số 4 nơi nối cảng Sihanoukviile với thủ đô Nam Vang.
Ngay những ngày đầu, khi quân đội VNCH vươtt biên, Chính phủ VNCH đã phải giải quyết 6 trong 12 vụ mà kháng thư Kampuchea nhắc tới. Cách giải quyết của Chính phủ VNCIH là giam cầm người phạm tội, và quyết định trong tương lai, nếu những chuyện như vậy còn xảy ra thì tiền bồi thường thiệt hại sẽ được thanh toán ngay tại chỗ.
Theo ngoại trưởng VNCH Trần Văn Lắm thì giữa VNCH và Kampuchea vẫn có những khó khăn mới về mặt ngoại giao. Những khó khăn này có lẽ là việc tân Chính phủ Kampuchea lại muốn nêu lên vấn đề biên giới và dự kiến kiện Chính phủ VNCH ra toà án quốc tế La Haye về chuyện binh sĩ VNCH đã cướp của họ 3 ngàn chiếc xe hơi du lịch cùng nhiều tài sản khác. Tân Chính phủ Lon Nol còn manh nha làm sống lại phong trào chống đối Chính phủ VNCH trong hàng ngũ người Việt gốc Mên đa số cư ngụ tại các tỉnh thuộc Quân kh lV.
Ba ngàn chiếc xe du lịch mà Chính phủ Lon Non đề cập, không hẳn là của dân chúng Kampuchea mà là tài sản riêng của các Việt kiều, khi bị “cáp duồn”, họ phải theo quân đội VNCH hồi hương về Sài gòn và mang theo những gì của họ.
Còn về phong trào người Việt gốc Mên đòi tự trị thì đã được nuôi dưỡng từ lâu, nhưng chỉ âm thầm, mãi tới 1966-1967 mới thực sự bùng nổ, và sau biến cố 18-3-1970 ở Kampuchea thì tạm yên.
Giữa lúc có những khó khăn mới về ngoại giao như thế thì Chính phủ VNCH lại lên tiếng yêu cầu Chính phủ Kampuchea phải gánh chịu một phần về những phí tổn do các cuộc hành quân vượt biên gây ra. Phí khoảng này lên tới 6 tỷ bạc Việt Nam trong vòng 4 tháng cho 20 ngàn quân sang đánh nhau bên Kampuchea, chưa kể súng ống đạn dược và nhiên liệu.
Tuy nhiên, lời yêu cầu trên đây của VNGH đã bị Chính phủ Kampuchea bác bỏ, viện lẽ rằng các cuộc hành quân vượt biên, nếu giúp Kampuchea một phần thì cũng có lợi cho miền Nam Việt Nam một phần, vì nhờ đó mà lãnh thổ VNCH, nhất là những tỉnh dọc biên giới có an ninh.
Các cuộc hành quân vượt biên của binh sĩ VNCH trên lãnh thổ Kampuchea cũng như ở Hạ Lào hồi tháng 2.1971, dầu ai lợi, ai hại, nhiều hay ít, thì nó vẫn là một khúc rẽ quan trọng trong chiến tranh Việt Nam.
Từ lâu rồii, người ta vẫn không muốn tách rời chiến tranh Việt - Mên - Lao ra riêng biệt. Hơn thế, nhiều người còn nghi ngờ rằng chiến tranh Đông Dương hiện nay và chiến tranh khắp vùng Đông Nam Á sau này, thực chất chỉ là một, vì những cuộc chiến tranh tại vùng này, rốt cuộc sẽ chẳng có kẻ thua người thắng, và chính những quốc gia bị chiến tranh tàn phá lại là những quốc gia chẳng bao giờ được toàn quyền giải quyết với nhau theo ý riêng mình.
Từ cuối 1969, người ta đã bấy giờ nghe nói tới chủ thuyết Nixon, nhất là sau khi Trung Cộng được thừa nhận vào Liên hiệp quốc thay thế Trung Hoa quốc gia, và việc tổng thống Nixon viếng thăm Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa hồi tháng 2 và tháng 5-1972, lại càng khiến dư luận nghĩ rằng thế nào cũng có một sự đổi chác hay một sự sắp đặt cho số phận những nước nhược tiểu trong vùng Đông Nam Á, dù những nước đó theo phe Cộng sản hay phe Tự do.
Điều dư luận suy đoán trên đây là dựa vào những biến chuyển lớn lao của tình hình thế giới cho rằng chiến tranh theo quan niệm thực dân cũ đã lỗi thời, và trước mắt các siêu cường quốc hiện nay, không còn ai là cộng sản, ai là quốc gia, cũng chẳng có đồng chí, đồng minh, mà chỉ có duy nhất một đối tượng là “thị trường“ và “người tiêu thụ”.
Vì thực chất chiến tranh hiện nay là như vậy nên tất cả những biến cố xảy ra tại 3 quốc gia nằm chung trên bán đảo Đông Dương đều ràng buộc và mật thiết liên quan với nhau, chẳng hạn biến cố 18-3-1970 ở Kampuchea và các cuộc hành quân ở Hạ Lào hồi tháng 2-1971 là để giúp cho chương trình Việt hoá thành công, đồng thời bảo đảm an toàn cho công cuộc triệt thoái binh sĩ Mỹ.
V8 mục đích chương trình Việt hoá chiến tranh, tuy tổng thống Nixon đã nói rõ là “ Những quốc gia đang hoàn toàn sống nhờ vào viện trợ Mỹ, và đang có sự hiện diện của quân đội Mỹ trong các cuộc hành quân, phải tự đảm nhận lấy những trọng trách lớn lao hơn cho quyền lợi của chính mình, cũng như quyền lợi của Hoa Kỳ“, nhưng chương trình đó vẫn là cốt tránh cho thanh niên Mỹ khỏi mọi sự chết chóc hay bị bắt làm tù binh trong khi cầm súng chiến đấu ở ngoài, và vẫn bảo đảm được thực chất chiến tranh theo đúng chính sách của Mỹ định thi hành ở Đông Nam Á.
Điều này thật rõ ràng vì sau biến cố chính trị 18-3-1970 ở Kampuchea, chiến tranh Việt Nam mở rộng và leo thang đến mức kinh khủng, nhưng nhìn vào con số tổn thất và bị thương của binh sĩ Hoa Kỳ ai cũng nhận thấy xuống thấp tới mức chưa từng thấy.
Chương trình Việt hoá chiến tranh quả là một thành công lớn lao về phía Hoa Kỳ, đặc biệt riêng đối với tổng thống Nixon, vì với chương trình này, ông vừa tự hào trước Quốc hội là giữ lời hứa khi ra tranh cử hồi 1968 rằng sẽ tìm cávh giải quyết kết thúc chiến tranh Việt Nam, vừa chứng minh cho dư luận quần chúng Mỹ cũng như dư luận chung toàn thế giới thấy rõ thái độ thiện chí hoà bình của Hoa Kỳ, vừa trút phần lớn trách nhiệm gây chiến tranh lên đầu Cộng sản Bắc Việt.
Kết quả là tối 25-1-1972, tổng thống Nixon công bố trên hê thống truyền thanh và truyền hình Hoa Kỳ đề nghị mới 8 điểm trong đó có điểm đặc biệt là tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu từ chức giao quyền xử lý lại cho Chủ tịch Thượng nghị viện Nguyễn Văn Huyến và thành lập Uỷ ban bầu cử với sự tham dự của phe bên kia.
Sáng 26-1-1972, tại Sài gòn, tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu cũng tuyên bố sẵn sàng từ chiếc theo như đề nghị của tổng thống Nixon, yêu cầu phe bên kia từ bỏ vũ khí để tổ chức bầu cử, và cam đoan tôn trọng kết qua cuộc bầu cử hỗn hợp đó.
Đề nghị của tổng thống Nixon và những lời tuyên bố của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã làm cho dư luận quần chúng Nam Việt Nam lo ngại phần nào, có lẽ coi đó là một sự nhượng bộ quá đáng. Dầu vậy, Cộng sản Bắc Việt vẫn không chấp nhận, và còn đưa ra phản đề nghị 9 điểm.
Nội dung đề nghị 8 điểm của tổng thống Nixon và phản đề nghị 9 điểm của Bắc Việt, không khác nhau là bao. Cả hai bên đều nói đến vấn đề Mỹ rút quân ngừng bắn, tôn trọng hiệp định Geneve 1954, trao đổi tù binh, những vấn đề nội bộ của các quốc gia Đông Dương sẽ được giải quyết trên căn bản tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ v.v… Thế nhưng dụng tâm của Bắc Việt vẫn là muốn xoá bỏ chế độ chống cộng hiện hữu tại Nam Việt Nam, giải giới quân lực VNCH, và không nhận những cơ quan Hiến định sẵn có của Nam Việt Nam.
Với đề nghị 8 điểm, tổng thống Nixon tự coi mình đã tỏ thiện chí đến tối đa trong việc giải quyết chiến tranh Việt Nam, và đó chính là cách ông lựa chọn dư luận để ngày 23-3-1972, đơn phương đưa ra quyết định ngừng nhóm hoà đàm Ba Lê, viện lẽ “Bắc Việt ngăn trở từ ba năm rưỡi nay, họ từ chối thương thuyết nghiêm chỉnh, và họ sử dụng cuộc hoà đàm vào mục đích tuyên truyền trong khi Hoa Kỳ cố gắng mưu tìm hoà bình” (tuyên bố của tổng thống Nixon trong cuộc họp báo ngày 24-3-1972).
Từ ngày mở ra cho tới ngày 23-3-1972, trải qua 145 phiên họp, hoà đàm Ba Lê hoàn toàn dẫm chân tại chỗ, không tiến triển được chút nào trong việc tìm một giải pháp chấm dứt chiến tranh Việt Nam, vì cả đôi bên đều dụng tâm dùng diễn đàn phô trương lập trường của mình trước dư luận thế giới.
Việc tổng thống Nixon đơn phương quyết định ngừng họp hoà đàm Ba Lê là một đòn chính trị phủ đầu cốt ý tố cáo sự ngoan cố của Bắc Việt, và thúc đẩy Bắc Việt phải đi đến chỗ: hoặc “thương thuyết nghiêm chỉnh” theo ý muốn Hoa Kỳ, hoặc mở một cuộc bầu cử mới tại Nam Việt Nam.
“Thương thuyết nghiêm chỉnh” theo ý muốn Hoa Kỳ là điều mà Bắc Việt không thể làm.
Khi đơn phương công bố quyết định ngừng nhóm hoà đàm Ba Lê ngày 23-3-1972, chắc chắn tổng thống Nixon đã nắm đầy đủ dứ kiện trong tay về việc quân Cộng sản Bắc Việt tập trung nhiều ở vùng giới tuyến và cao nguyên Trung phần, vì trước Tết Nhâm Tý 1972, các tin tức tình báo cho biết những cuộc tập trung Cộng quân như vậy.
Bởi thế, trong những ngày đầu, khi quân Bắc Việt vượt tuyến tấn công bằng trận địa chiến vào tỉnh Quảng Trị của Nam Việt Nam ngày 31-3-1972 tổng thống Nixon vẫn có thái độ tỉnh bơ, và dứt khoát quyết định không gửi bộ binh phản công.
Sự kiện đáng lưu ý là cuộc vượt tuyến của cộng quân Bắc Việt xảy ra đúng lúc tổng thống Nixon đang sửa soạn Nga du, và khi thấy Cộng quân chiếm Đông Hà - Quảng Trị, uy hiếp cố đô Huế thì nhiều người hoang mang nghi ngờ, không biết thái độ của Mỹ sẽ như thế nào đối với bạn đồng minh Nam Việt Nam.
Sự nghi ngờ này cũng hướng về cuộc đông du Nga Sô, vì dạo ấy, một vài luồng dư luận quốc tế đã vội vã tiên đoán rằng có thể chuyến công du lịch sử đó sẽ bị huỷ bỏ.
Trong suốt tháng 4-1972, hầu như quân Bắc Việt làm chủ tình hình chiến trường. Tại vùng giới tuyến, họ chiếm Đông Hà - Quảng Trị. Tại thị xã An Lộc thuộc tỉnh Bình Long, cách Sài gòn 100 cây số, họ pháo kích trung bình mỗi ngày 7 ngàn viên đạn đại bác đủ loại, buộc quân VNCH phải tử thủ nơi đây. Tại Kontum, một vài đơn vị của họ cũng xâm nhập vào thành phố, và thường xuyên đe doạ cắt đứt quốc lộ 14.
Trước tình hình cực nghiêm trọng đó, nhiều người vừa hoài nghi vừa trách móc Hoa Kỳ cho rằng với phương tiện dư dả, với đầy đủ máy móc điện tử tối tân, với khả năng huỷ diệy khủng khiếp của Lực lượng không quân chiến lược B-52, và với hoa lực hùng hậu của Hạm đôih số 7, tại sao Hoa Kỳ không phát giác, không ngăn chặn trước cuộc xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt, và không bảo vệ nổi Quảng Trị -Đông Hà?
Tất cả những hoài nghi, trách móc trên đã được giải toả phần nào khi tổng thống Nixon đưa ra quyết định quan trọng ngày 8-5-1972. Quyết định này gồm 4 điểm:
1. Tất cả mọi ngã đi vào các hải cảng Bắc Việt sẽ bị đặt thuỷ lôi để ngăn cản tàu bè ở ngoài vào và ngăn cản các hoạt động của hải quân Bắc Việt xuất phát từ các hải cảng ấy.
2. Quân lực Hoa Kỳ đã được lệnh áp dụng những biện pháp thích nghi trong hải phận Bắc Việt để ngăn chặn sự chuyển giao bất cứ thứ tiếp liệu nào.
3. Thiết lộ và tất cả các đường giao thông khác của Bắc Việt sẽ bị cắt đứt tối đa.
4. Các cuộc không tập và hải pháo chống các mục tiêu quân sự ở Bắc Việt sẽ tiếp tục.
Các biện pháp trên đây, theo lờ tổng thống Nixon, không nhằm chống bất cứ quốc gia nào khác, mà chỉ nhằm ngăn chặn, “không cho vũ khí lọt vào tay bọn sống ngoài vòng luật pháp quốc tế Bắc Việt”.
Trong lời tuyên bố trên đài vô tuyến truyền thanh và truyền hình đêm 8-5-1972, tổng thống Nixon nhắc lại việc Cộng sản Bắc Việt vượt tuyến hồi cuối tháng 3-1972, và cho biết ông đã có nhiều cố gắng để mưu tìm hoà bình ở Việt Nam, chẳng hạn chỉ thị đại sứ Porter trở lại hoà đàm Ba Lê ngày 27-4-1972, cử Tiến sĩ Kissinger đi thương thuyết mật với Lê Đức Thọ ngày 2-5-1972, nhưng Bắc Việt đã thẳng tay khước từ cứu xét bất cứ đề nghị nào, họ cũng không chịu đưa ra đề nghi mới của riêng họ, mà chỉ đọc lại từng chữ những yêu sách công khai trước đây.
Đi xa hơn, tổng thống Nixon còn cho biết ròng rã 3 nam thương thuyết vừa công khai vừa kín đáo với Bắc Việt, Hoa Kỳ đã đề nghị những gì mà một vị tổng thống Hoa Kỳ có thể đề nghị được, chẳng hạn đề nghị xuống thang chiến cuộc, đề nghị ngừng bắn và một thời hạn rút quân, đề nghị một cuộc tuyển cử tại Nam Việt Nam v.v… nhưng “Bắc Việt đã đáp ứng những đề nghị đó bằng những lời lẽ xấc xược và thoá mạ“.
Tổng thống Nixon kết án Bắc Việt đã khước từ một cách trắng trợn và kiêu căng việc thương nghị một đường lối kết liễu chiến cuộc và vãn hồi hoà bình. Sự trả lời của họ đối với bất cứ đề nghị hoà bình nào của Hoa Kỳ bằng cách leo thang chiến tranh.
Bởi những lẽ đó và để bảo đảm sinh mạng 60 nghìn binh sĩ Mỹ còn lại tại Nam Việt Nam khỏi bị đe doạ tổng thống Nixon nói rằng không còn cách nào khác hơn là phải hành động cương quyết bằng cách ban hành 4 biện pháp trên.
Song song bốn biện pháp đó, tổng thống Nixon còn đưa ra hai điều kiện để chấm dứt:
1, Tất cả các tù binh Hoa Kỳ phải được hồi hương.
2. Phải có một cuộc ngừng bắn có quốc tế giám sát trên toàn cõi Đông Dương.
Tổng thống Nixon coi hai điều kiện trên đây là rộng rãi, không còn đòi hỏi bất cứ phía nào phải đầu hàng hay mất thể diện.
Những điều kiện mà tổng thống Nixon coi là rộng rãi thì Bắc Việt lại cho là quá chật hẹp, không thể chấp nhận được. Bởi thế, dầu không còn đủ sức mở những trận tấn công lớn, nhưng Bắc Việt vẫn bị dồn vào thế phải bám vào miền Nam Việt Nam để hứng chịu những cuộc oanh tạc nặng nề trên toàn miền Bắc trung vình mỗi ngày có khoảng 200 phi vụ do Không quân Mỹ thực hiện, trong số kể cả những phi vụ của những pháo đài bay B-52.
Cuộc công du Nga Sô của tổng thống Nixon diễn ra bình thường hồi hạ tuần tháng 5-1972. Nhân cuộc công du này, Mỹ - Nga đã đạt được những hiệp ước song phương rất quan trọng, và chiến tranh Việt Nam mà nhiều người lầm tưởng sẽ được giải quyết nơi đây thì ngay sau đó, nó vẫn tiếp tục leo thang, Bắc Việt vẫn bị dội bom và phong toả.
Tháng 10-1972, trước cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ nhiều dấu hiệu cho thấy tổng thống Nixon còn muốn thực tâm tìm một giải pháp chấm dứt chiến tranh Việt Nam; dư luận thế giới cũng đinh ninh rằng vì nhu cầu bầu cử ít nhất tổng thống Nixon phải có một hành động ngoạn mục để chửng minh với cử tri rằng ông đã giữ lời hứa khi nhậm chức nhiệm kỳ đầu hồi 1969.
Càng gần đến ngày bầu cử 7-11-1972, người ta càng thấy những hoạt động ngoại giao nhộn nhịp của Hoa Thịnh Đốn - đặc biệt của Tiến sĩ Kissinger và phụ tá Haig.
Tiến sĩ Kissinger đị lại thường xuyên giữa Hoa Thịnh Đốn, Ba Lê và Sài gòn, bí mật hội đàm với Lê Đức Thọ nhiều lần, rồi tiết lộ nội dưng những cuộc mật đàm này với tổng thống Pháp Pompidou.
Trong khi đó, tình hình chính trị miền Nam Việt Nam sôi động mạnh, cờ quốc gia mầu vàng ba sọc đỏ được lệnh vẽ, dán và treo khắp nơi, khiến giá cờ leo thang và một số người lợi dụng cơ hội hốt được nhiều tiền.
Chưa bao giờ ở miền NamViệt Nam diễn ra quang cảnh cờ xí ngợp trơgi như những ngày cuối tháng 10-1972, có thể nói gần như mỗi người phải sắm một lá cơ để chuẩn bị đấu tranh chính trị với Cộng sản.
Cùng với phong trào vẽ cờ, dán cờ, treo cờ, các đảng phái, đoàn thể, tôn giáo hội họp liên miên, vì ai cũng tưởng rằng Hoa Kỳ và Bắc Việt đã thoả thuận ký hiệp ước ngừng bắn vào ngày 31-10-1972, hiệp ước đó - theo dư luận một số người - sẽ bất lợi cho Nam Việt Nam.
Việc Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội thoả thuận thoả thuận ký hiệp ước ngừng bắn vào ngày 31-10-1972 là điều có thật. Nhưng ngày 26-10-1972, tiến sĩ Kissinger - nhân vật đã mật đàm nhiều lần với Lê Đức Thọ - đột nhiên mở cuộc họp báo.
Trong cuộc họp báo này, Tiến sĩ Kissinger chính thức tuyên bố rằng ngày 8-10-1972, lần đầu tiên Bắc Việt đã đưa ra một đề nghị khiến Hoa Kỳ có thì xúc tiến nhanh chóng cuộc thương nghị. Đề nghị đó là trước hết đôi bên chú trọng vào việc kết liễu chiến tranh về khía cạnh quân sự, từ bỏ yêu sách thành lập Chính phủ liên hiệp nắm trọn quyền hành tại Nam Việt Nam, đồng thời nhìn nhận các nhân vật lãnh đạo cùng những cơ cấu chính quyền hiện hữu của Sài gòn. Tiến sĩ Kissinger cũng nhìn nhận: “Các thương thuyết gia của Bắc Việt đã tỏ ra có thiện chí và rất nghiêm chỉnh”.
Từ trước tới nay, tại các phiên họp hòa đàm cũng như mật đàm, Bắc Việt vẫn luôn luôn giữ vững lập trường: đòi giải quyết các vấn đề quân sự và chính trị cùng một lúc, đòi giải tán Chính phủ hiện hữu tại Nam Việt Nam, đòi giải quyết riêng rẽ vấn đề ba nước Việt-Mên-Lào, và đòi thành lập Chính phủ hoà hợp dân tộc để đi đến tổng tuyển cử.
Việc Bắc Việt đột nhiên thay đổi lập trường, từ cứng rắn trở nên mềm dẻo, là một sự kiện đáng chú ý trong chiến tranh Việt Nam, khiến Hoa Kỳ đã thoả thuận ký kết với họ một hiệp ước ngừng chiến vào ngày 31 tháng 10.
Tuy nhiên, theo lời tuyên bố của tiến sĩ Kissinger trong cuộc họp báo tại Hoa Thịnh Đốn ngày 26-10-1972 thì “Người ta đã thấy mầm mống một sự hiểu lầm” và “Hoa Kỳ không thể ký một thoả hiệp mà trong đó các chi tiết còn phải được thảo luận”.
Những chi tiết cần phải được thảo luận thêm, tiến sĩ Kissinger nói ở đây, trước hết là “khả năng trừu tượng của một cuộc ngừng bắn” vì theo sự tiết lộ của tiến sĩ Kissinger thì “ có lẽ không một phe nào đã nói được một cách minh bạch về vấn đề ấn định thời gian và phương cách thực hiện một cuộc ngừng bắn trong một quốc gia không có giới tuyến rõ ràng”.
Thứ đến, trong cách hành văn của bản thoả hiệp “còn có nhiều sự lờ mờ”, khiến cần phải có một phiên họp nữa để sửa lại cho rõ ràng. Những sự lờ mờ đó theo tiến sĩ Kissinger là “song song với cuộc ngừng bắn, còn kéo dài các cuộc hành quân để đủ thời gian thiết lập sự kiểm soát chính trị ở một vùng nào đó”. Hoa Kỳ muốn tránh nguy cơ tổn thất nhân mạng và có lẽ cả nguy cơ tàn sát ở vài nơi, nên muốn thảoluận những biện pháp để thiết lập một Uỷ hội giám sát quốc tế cùng lúc với việc công bố ngừng chiến.
Mặt khác, có những vấn đề ngôn ngữ, chẳng hạn Hoa Kỳ gọi Hội đồng hoà giải quốc gia là “Administration Structure” (Cơ cấu hành chính), để vạch rõ rằng Hoa Kỳ không coi nó như một cơ cấu có thể so sánh được với một Chính phủ Liên hiệp.
Sau khi đã nêu ra những vấn đề chuyên môn trên đây, khiến Hoa Kỳ không thể ký thoả ước ngừng bắn với Bắc Việt vào ngày 31-10-1972, tiến sĩ Kissinger còn nại ra những chứng cớ chính trị cho việc không ký kết đó.
Tiến sĩ Kissinger nói rằng “Hoa Kỳ chỉ thảo luận những gì đã được thương nghị trước hết tại Hoa Thịnh Đốn rồi tại Sài gòn. Có rất nhiều điều thảo luận, hoặc giả như Sài gòn đã có sự phủ quyết về cuộc thương nghị của Hoa Kỳ“.
Sài gòn, theo lời tiến sĩ Kissinger, đã bày tỏ ý kiến với một sự mạnh dạn cả công khai lẫn kín đáo, và Hoa Kỳ đã đồng ý ít nhiều với ý kiến Sài gòn.
Thêm vào đó, còn một lý do khiến Hoa Kỳ từ chối việc ký hiệp ước ngừng bắn với Bắc Việt, vì trong thời gian có đồng nghiệp của tiến sĩ Kissinger, và cả chính ông nữa, tới Sài gòn cùng đi thăm một số quốc gia Đông Nam Á khác, nhận thấy tại những nơi ấy, đã có những ưu tư nào đó về những chô không rõ ràng nào đó trong bản dự thảo thoả hiệp mà Hoa Kỳ nghĩ là cần phải tu chỉnh và hoàn thiện. (Trích lời tuyên bố của Kissinger với báo chí ngày 26-10-1972 ở Hoa Thịnh Đốn).
Sau cuộc họp báo của tiến sĩ Kissinger, chuyện phải đến đã đến. Ngày 31-10-1972 mà nhiều người chờ đợi sẽ đem lại một cái gì mới lạ cho chiến tranh Việt Nam, đã qua đi trong im lặng, và cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ ngày 7-11-1972 diễn ra bình thường với sự tái đắc cử vẻ vang của tổng thống Nixon.
Trước ngày bầu cử, một thoả hiệp đã được chuẩn bị kỹ lưỡng mà rốt cuộc vẫn bị phủ nhận, huống hồ sau bầu cử, lại càng không có điều kiện nào bảo đảm Mỹ với Bắc Việt sẽ đi đến chỗ ký kết ngừng bắn, mặc dầu ông Kissinger lại qua Ba Lê, và các cuộc mật đàm vẫn cứ tiếp tục.
Quả vậy, trong khi nhiều tin tức từ thủ đô Pháp đánh đi, nói tới sự cởi mở lại những phiên mật đàm, và trong khi bầu không khí chính trị ở Sài gòn sôi động nhất, thì bất thần ngày 16-12-1972, tiến sĩ Kissinger lại họp báo, to cáo thái độ ngoan cố của Hà Nội, đồng thời nhấn mạnh tới thiện chí tối đa của Hoa Kỳ trong việc mưu tìm hoà bình cho Việt Nam, và qua ngày 18-12-1972, Không lực Hoa Kỳ tái oanh tạc Bắc Việt với một mức độ kinh khủng chưa từng thấy.
Với cuộc họp báo này, viẫn ảnh hoà bình cho Việt Nam và các dân tộc Đông Dương đã xa vời càng xa vời thêm, vì đôi bên cùng lúc tố cáo nhau bằng những lời lẽ nặng nề, và đều trút hết trách nhiệm phá hoại hoà bình cho nhau. Trong khi đó, phía Hoa Kỳ, tổng thống Nixon đã ra lệnh cho ông Kissinger hãy gián đoạn những cuộc thảo luận tại Ba Lê, bởi vì “càng ngày nó càng có tính chất của một trò chơi đánh đố với nhau”.
Dầu ai phải ai quấy trong việc phá hoại hiệp ước ngừng ban thì thái độ chống quyết liệt của Chính phủ Sài gòn cũng phải được coi là một điểm mấu chốt. Thái độ đó ít nhất đã giúp Hoa Kỳ có thêm lý do để từ chối ký kết thoả hiệp với Bắc Việt.
Chưa ai biết trong tương lai, Hoa Kỳ có thực hiện được mục tiêu đối với Bắc Việt hay không, vì mục tiêu này, theo lời tiến sĩ Kissinger là “Muốn đi từ tình trạng đối nghịch sang tình trạng bình thường và từ tình trạng bình thường sang tình trạng hợp tác, chứ không phải một cuộc ngừng bắn”, nhưng khi mà chương trình Việt hoá chiến tranh được kể là thành công, và khi mà Hoa Kỳ rút được gần hết quân đội ra khỏi Nam Việt Nam, thì họ có quyền theo đuổi mục tiêu đó tới kỳ cùng, nếu Hà Nội ngoan cố, không chịu chấp thuận ý muốn của Mỹ thì cuộc chiến cứ tiếp tục, với mọi trách nhiệm lúc bấy giờ sẽ bị Mỹ trút hết lên đầu Bắc Việt.
LIÊN HỆ NGA-HOA TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM
XI
Chính sách Việt hoá chiến tranh của Hoa Kỳ, như phần trước đã trình bày, không có nghĩa là làm cho chiến tranh Việt Nam hạ thấp hay thu hẹp, cũng không có nghĩa là Hoa Kỳ nhất quyết phủi tay ra đi, vì một sự phủi tay như vậy sẽ làm Hoa Kỳ mất uy tín với các đồng minh, và làm thiệt hại những quyền lợi Mỹ tại Đông Nam Á.
Châu Á, nhất là vùng Đông Nam Á gồm những quốc gia nằm sát ven lục địa Trung Hoa, đối với Hoa Kỳ, thật quan hệ, vì đây là những thị trường tiêu thu tốt nhất, và là vòng đai bao vây, không cho thế lực Trung Cộng bành trướng.
Vì mục đích bảo vệ quyền lợi của mình tại châu Á bằng bất cứ giá nào nên Hoa Kỳ đã trực tiếp tham chiến tại Triều Tiên từ 1950 đến 1953, và vẫn duy trì áp lực quân sự ở đó cho mãi tới ngày nay.
Sau Triều Tiên đến Việt Nam. Việt Nam chẳng những là mảnh đất nằm sát nách Trung Hoa mà còn là một địa điểm thuận lợi trên đường qua lại từ Âu sang Á, nên được Hoa Kỳ coi tiền đồn bảo vệ Thế giới tự do.
Tiền đồn này có giá trị thực tiễn về mặt quân sự, nối liền các căn cứ quân sự Hoa Kỳ nằm rải rác khắp Thái Bình Dương, và nhờ vào đấu tranh thực tiễn về mặt quân sự đó mà Hoa Kỳ có thể bảo vệ được những quyền lợi kinh tế tại châu Á.
Từ lâu rồi, nhiều người vẫn hằng thắc mắc, tự hỏ Hoa Kỳ thu được những lợi lộc gì khi quyết định gửi quân đội cơ giới sang tham chiến tại Việt Nam, và việc Hoa Kỳ giúp miền Nam chống Cộng sản miền Bắc có phải vì thực tình người Mỹ thù ghét chế độ Cộng sản đó không?
Khách quan mà nhận xétt, miền Nam Việt Nam không phải là thị trường lý tưởng của Hoa Kỳ so với lục địa Trung Hoa, Nam Dương và các quốc gia đông dân số khác ở châu Á, nên khi quốc gia trực tiếp tham chiến tại Việt Nam, chắc chắn các nhà lãnh đạo Mỹ không chú trọng lắm đến khía cạnh kinh tế của miền này.
Thế nhưng về phương diện quân sự, Nam Việt Nam lại là một pháo đài, một dãy hành lang bảo vệ an ninh cho khu vực Đông Nam Á, khi khu vực này nằm trong vòng cương toả của Mỹ thì đương nhiên những quyền lợi của Hoa Kỳ tại đây được bảo đảm.
Về lý tưởng chống Cộng, theo lẽ thường tình thì tư bản khó đi đôi với Cộng sản, nhưng đặc biệt đối với với tư bản Hoa Kỳ thì lẽ thường tình này phải được xét lại, và Hoa Kỳ ngày nay đã trở thành một siêu cường quốc nguyên từ vô địch, họ không sợ bất cứ một nước nào đánh bại, và cũng chẳng có một chủ nghĩa như chủ nghĩa Cộng sản thao túng.
Đọc lịch sử Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, chúng tôi thấy người Mỹ có những tư tưởng dân chủ kỳ lạ, vừa rộng rãi, vừa bảo thủ, vừa mâu thuẫn, vừa lạc hậu mà lại tỏ ra tiến bộ.
Chẳng hạn trong khi họ cổ võ ban hành những đạo luật giải phóng nô lệ da đen thì họ lại tận diệt giống dã đỏ, và trong khi họ thi hành những biện pháp di dân da đỏ thì họ lại treo cổ, đốt sống hàng ngàn người da đen chỉ vì những người này khởi xướng phong trào đấu tranh đòi quyền sống đúng theo tinh thần bản tuyên cáo Độc lập của Hiệp chủng quốc.
Đằng khác, trong khi họ buộc các quốc gia châu Âu tôn trọng quyền lợi dân tộc Hoa Kỳ thì họ lại tìm đủ cách thôn tính lãnh thổ Mễ Tây Cơ, cướp công lao kiều dân Pháp và Tây Ban Nha trên Tân thế giới. Đặc biệt 90 phần trăm tổng sản lượng quốc gia nằm gọn trong tay thiểu số tư bản, và thiểu số này lại luôn luôn chiếm đa số trong các cơ quan lập pháp, hành pháp từ Tiểu bang tới Liên bang.
Dân tộc Mỹ là dân tộc tạp chủng, gồn những người và hạu duệ những người từng rời bỏ xứ sở, tổ quốc, quê hương để di cư sang lập nghiệp bên Tân Thế Giới, nên đối với họ, tuy có lắm tư tưởng tiến bộ, nhưng đó là thứ “tiến bộ trong ích kỷ“, chủ nghĩa bị coi là thứ yếu, việc bảo vệ quyền lợi Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ luôn luôn được đặt lên hàng đầu.
Đối với một dân tộc khôn ngoan, tháo vát, thực tế và phát triển tột bực như thế, lý tưởng duy nhất của họ là làm sao người Mỹ đã giầu càng thêm giàu, Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ đã mạnh càng thêm mạnh.
Sự giàu mạnh của Hoa Kỳ một phần dựa vào tài nguyên phong phú, nhưng phần khác cũng biết triệt để khai thác những tài nguyên đó để biến chúng thành những thứ hàng hoá đắt giá, đem xuất cảng ra nước ngoài. Với chính sách dùng thế lực quân sự để bành trướng kinh tế như thế, trước mắt tư bản Hoa Kỳ, không có ai là cộng sản cũng chẳng có ai là quốc gia, mà chỉ có một môi trường duy nhất là “Người tiêu thụ“.
Muốn tìm kiếm người tiêu thụ thì phải cạnh tranh. Trước kia, tư bản Hoa Kỳ cạnh tranh với tư bản châu Âu, nhưng ngày nay, tư bản châu Âu đã bị Hoa Kỳ đè bẹp, và đối tượng còn lại là Trung Cộng với Nga Sô.
Vì muốn bao vây Trung Cộng, không cho quốc gia khổng lồ này bành trướng cả về mặt quân sự lẫn kinh tế, nên Hoa Kỳ đã phải liên hệ vào chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam, vì sự liên hệ này mà chiến tranh Việt Nam ngày nay không còn mang sắc thái một cuộc nội chiến như hồi Trịnh - Nguyễn phân tranh, hay một cuộc chiến tranh Quốc - Cộng như ở Trung Hoa từ 1945 đến 1950, mà biến thành một cuộc chiến mang tầm vóc quốc tế, với sự liên hệ của cả Trung Cộng lẫn Nga Sô.
Sự liên hệ của Hoa Kỳ vào chiến tranh Việt Nam là một việc hiển nhiên rồi. Nhưng sự liên hệ của Trung Cộng - Nga Sô cũng là một thực tế không ai có thể chối cãi. Có điều, sự liên hệ này cũng lắm khúc mắc, và càng ngày càng cho thấy không hẳn Bắc Việt đã nhận được một sự viện trợ thực tâm mà trong đó không có những âm mưu lợi dụng.
Dĩ nhiên phong trào Cộng sản quốc tế đứng đầu là Nga Sô với Trung Cộng, vẫn hằng mơ mộng không những thiết lập tại bán đảo Đông Dương mà còn trên khắp thế giới những chính quyền Cộng sản hay ít ra là thân Cộng.
Thế nhưng có một sự kiện mà ngày nay các triết gia, các nhà chính trị - kinh tế nhìn nhận là cái gì cũng phải tiến hoá theo nguyên tắc, kể cả chủ nghĩa Cộng sản. Nếu đã gọi là tiến hoá thì Cộng sản ngày nay nhất định khác xa Cộng sản 50 năm về trước khi Cách mạng tháng Mười Nga Sô mới thành công.
Cách đây 50 năm, hay gần hơn, 20 năm, các nhà lãnh đạo cao cấp Cộng sản như Stalin, Mao Trạch Đông v.v… đều quả quyết giữa Cộng sản và Tư bản không thể có cái gọi là “chung sống hoà bình” mà chỉ là chuyện tranh đấu đi đến chỗ một mất một còn.
Bằng chứng là hồi sinh tiền Stalin có viết hai tác phẩm, được Đảng cộng sản Nga coi như cẩm nang dùng để chinh phục thế giới. Tác phẩn thứ nhất nói về các vấn đề kinh tế cũng như chủ nghĩa xã hội. Tác phẩm thứ hai nhan đề: “ Chính trị - Kinh tế học”.
Trong hai tác phẩm nổi tiếng này, Stalin khẳng định một nguyên tác là “chiến tranh sẽ phải bùng nổ tại các quốc gia không cộng sản, và Nga Sô phải tăng cường chiến thuật chia rẽ để thúc đẩy cuộc chiến đó sớm bùng nổ, ngõ hầu xích hoá toàn thế giới”.
Cổ võ, thúc đẩy chiến tranh tức là Stalin phủ nhận thuyết chung sống hoà bình mà sau này người ta thường nghe nói lại.
Trrớc Stalin, có lần Lenine cũng đã phát biểu ý kiến tương tự trong kỳ Đại hội Đảng cộng sản Nga lần thứ 8 hồi 1919. Lenin quả quyết rằng: “Không phải chúng ta sống trong một quốc gia mà sống trong một hệ thống nhiều quốc gia. Sự chung sống giữa Cộng hoà Liên bang Sô viết và đế quốc là một việc không thể thực hành được“.
Dầu vậy, năm 1954, sau khi Stalin từ trần, tân lãnh tụ Nga Khrushchev lại đặt ngược vấn đề, cho rằng “hai chế độ kinh tế khác nhau như chế độ Cộng sản và Tư sản vẫn có thể chung sống lâu dài và hoà bình được”. Chính vì chủ trương một cuộc chung sống như trên, nên Khrushchev bị Mao Trạch Đông kết án là theo chủ nghĩa xét lại, phản bộ những nguyên tắc căn bản của Lenin, Stalin.
Hồi 1951, khi đưa ra chủ trương trên, Khrushchev chỉ mới có một khái niệmtổng quát về vấn đề chung sống, chứ chưa có những hành động cụ thể, nếu có chăng thì đó chỉ mới là việc Phó tổng thống Mỹ Richard Nixon qua thăm Mạc Tư Khoa và Khrushchev công du Hiệp chủng Quốc.
Đối với Trung Cộng thì vấn đề lại càng trở nên nghiên trọng hơn, mặc dầu các nhà lãnh đạo tân Trung Hoa như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai luôn luôn đưa thuyết “chung sống hoà bình“ ra ve vãn các nước nhược tiểu trung lập châu Á, lôi kéo họ về phe mình, nhưng lại kịch liệt bài xích đế quốc Hoa Kỳ, coi Hoa Kỳ là “con hổ giấy“.
Từ 1953, người ta thấy giữa Trung Cộng- Nga Sô có sự bất đồng sâu sắc về vấn đề “chung sống”, phía Nga Sô, trong cuộc họp Hội đồng Sô viết tối cao ngày 15-3-1953 (phiên họp đầu tiên sau khi Stalin từ trần), Malenkov đã tuyên bố rằng không một cuộc xung đột nào giữa các cường quốc mà không thể giải quyết được theo phương pháp hoà bình.
Song song với lời tuyên bố này, Nga Sô đã tỏ một thiện chí trước tiên qua việc ký kết hiệp định đình chiến Triều Tiên và thay đổi ít nhiều đường lối đối ngoại.
Việc Nga Sô cổ võ thuyết chung sống hoà bình hồi 1953, dầu sao cũng chỉ mới được đón nhận một cách dè dặt tại các nước châu Âu. Trước sự kiện này, thủ tướng Anh Churchill tuyên bố rằng “có thể chung sống với sống chung với Cộng sản không phải là một cuộc sống có thể đảm bảo cho tương lai chúng ta được vui sướng và khoẻ khoắn, nhưng sự chung sống đó có tính cách thiết thực, và đó là một cách hay nhất để hoà hợp với tình hình hiện tại, xây dựng hoà bình cho nhân loại”.
Ngoại trưởng Canada lúc bấy giờ là ông Pearson thì coi thuyết chung sống hoà bình giữa Nga Sô vừa cần thiết, vừa nguy hiểm. Cần thiết vì nếu không chung sống với Cộng sản thì nhiều vấn đề quốc tế không giải quyết nổi, và các nước bạn trung lập hoặc có thiện cảm với Cộng sản sẽ buộc tội các nước tư bản Tây phương là ngoan cố và hiếu chiến. Nguy hiểm nếu để thuyết đó lung lạc, nhất là trong khi các nước tư bản châu Âu lại không có một sức mạnh quân sự đáng kể.
Từ thuyết chung sống đó, suy ra, người ta thấy rằng sự liên hệ của Nga-Hoa trong chiến tranh Việt Nam cũng theo đà tiến hoá chung mà thay đổi mầu sắc và thái độ.
Nhất định không một ai am hiểu tình hình lại ngớ ngẩn tin rằng việc Nga Sô -Trung công tích cực quân viện cho Bắc Việt để nhằm mục đích giúp quốc gia đàn em này đánh bại “đế quốc Hoa Kỳ xâm lăng”.
Danh từ “đế quốc Hoa Kỳ xâm lăng” mà người ta thường nghe Bắc Việt dùng bấy lâu nay, chỉ là một cách nói nhằm mục đích tuyên truyền, bởi vì nếu quả thực Hoa Kỳ có ý định xâm lăng Việt Nam như đã xâm lăng Mễ Tây Cơ và nhiều vùng đất mênh mông khác chính ngay tại Hiệp chủng quốc hồi thế kỷ 17, 18 thì cuộc xâm lăng đã kết thúc từ lâu và phần thắng nghiêng về phía Hoa Kỳ.
Khi quyết định liên hệ vào chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ không nhằm mục đích xâm lăng theo kiểu thực dân cũ: chiếm đất và đặt quan cai trị thì chắc chắn Trung Cộng - Nga Sô cũng chẳng dại gì giúp Bắc Việt thực hiện một mục đích không có trong thực tế.
Vậy thì việc Nga Sô, Trung Cộng viện trợ quân sự cho Bắc Việt, trước tiên phải được coi như một cuộc chạy đua hào hứng giữa hai hệ thống kinh tế tư bản và vô sản, và nếu suy luận xa thì phải nhìn nhận rằng thuyết “chung sống hoà bình“ của Nga Sô mà Trung Cộng lúc đầu chối bỏ thì nay lại rập theo, đã nảy sinh ra cuộc chạy đua này.
Lại nữa, trong việc Nga Sô, Trung Cộng quân viện cho Bắc Việt, ngoài ý nghĩa một cuộc chạy đua hào hứng hệ thống kinh tế tư bản Hoa Kỳ, còn một mục đích sâu xa hơn là tranh giành ảnh hưởng, là bành trướng thế lực chính trị và kinh tế riêng giữa hai nước.
Từ ngàn xưa, hai nước Trung Hoa và Nga đã là hai quốc gia thù nghịch. Sự thù nghịch này trước tiên bắt nguồn từ vấn đề tranh chấp biên giới, và cuộc tranh chấp này vẫn tồn tại mãi cho tới hiện nay, chưa biết tới khi nào mới chấm dứt.
Như chúng ta biết, giữa Trung Hoa và Nga Sô có chung một biên giới dài, và vùng Đông Bắc nước Tàu giáp giới với Nga Sô lại là vùng có nhiều tài nguyên phong phú.j
Trước kia, khi hai nước chưa là Cộng sản thì Trung Hoa còn giữ được phần nào những quyền lợi ở vùng Đông Bắc, đặc biệt là Mãn Châu - Mông Cổ. Nhưng từ sau chiến tranh thế giới II, lợi dụng quyền được giải giới quân đội Nhật, Hồng quân Nga Sô đã ào ạt kéo vào Mãn Châu, tịch thu hết tài sản do Nhật để lại, tháo gỡ tất cả các máy móc trong các cơ xưởng do Nhật thiết lập để đưa về Nga, rồi biến Mông Cổ thành một quốc gia độc lập, hoàn toàn chịu sự kiểm soát và chi phối của Nga Sô.
Căn cứ vào những diễn biến của tình hình từ ngày Đảng cộng sản được chính thực thành lập tại Trung Hoa và nhất là trong thời kỳ nội chiến, người ta thấy rằng nếu dưới thời các triều đại Nga hoàng, nước Tàu bị Nga lần át một, thì sau khi Mao Trạch Đông dựa vào thế lực Cộng sản Nga để chiếm chính quyền, nước Tầu Cộng sản bị đàn anh Nga Sô lấn át hai. Đó là một sự kiện thật mia mai mà chính các đảng viên Cộng sản quốc tế nhiệt tâm cũng cho là hết sức phi lý.
Không kể khoảng thời gian từ 1921 đến 1945 là khi Cộng sản Trung Hoa chưa hoàn toàn cướp được chính quyền Hoa Lục, thời gian này, dĩ nhiên Nga Sô vừa đóng vai đồng chí, vừa đóng vai một bậc thầy, viện trợ và chỉ vẽ cho Trung Cộng. Ngay sau khi Cộng sản Trung Hoa đánh bại Quốc Dân Đảng sự kiện trái ngược trên vẫn tồn tại và có phần gia tăng.
Một bài báo đăng trên tờ “DIMANCHE MATIN” được Việt Tấn Xã dịch đăng lại trong bản tin buổi chiều ngày thứ Hai 17-1-1955 cho biết tháng Giêng 1949, các cán bộ Trung Cộng đi dán bích chương khắp nơi, nói “ở đay không có hành động như bên Nga, không ai phải lo lắng, đến cả những phần tử đã cộng tác với Quốc Dân Đảng. Chúng tôi không đả động đến thương mại, ngân hàng của ngoại quốc hay người bản xứ, và kỹ nghệ. Tất cả những người này được hoàn toàn tự do”.
Chẳng được bao lâu, người ta thấy các cố vấn Nga đến Thiên Tân. Người Tàu theo những cố vấn này nhưng cau có, rồi bắt buộc phải nhận các tổ chức nghiệp đoàn Sô viết, đặt trụ sở tại một toà nhà đẹp nhất trong thành phố.
Từ đó, công việc được tổ chức rất khoa học: nhân viên người Tàu làm việc tại mỗi cơ quan phải “cấm phòng“ nhiều ngày, được ăn ở tử tế nhung phải theo học lớp Mac-xít do người Nga chỉ huy.
Sau đó, các nhân viên phải ghi tên trong “phít” (fiche - thẻ), và mỗi cơ quan thành lập một nghiệp đoàn giao trách nhiệm cho một người Tàu, nhưng quyền kiểm soát lại do một người Nga.
Khi các nghiệp đoàn tổ chức xong thì lại có ngay các cố vấn chuyên môn Nga. Họ biến các nghiệp đoàn thành những sĩ quan xung phong chiến tranh.
Bên cạnh các nhà lãnh đạo quân sự Trung Hoa, Nga Sô đặt những chính trị viên ngang hàng với các vị thiếu tướng.
Dân chúng Tầu không ưa người Nga, họ đặt cho những người này một tên riêng, gọi là “bọn mũi to“.
Người Tàu khó chịu nhất là chế độ mật báo lan tràn khắp dân chúng. Chế độ này do người Nga đưa sang, và được huấn luyện tại Mạc Tư Khoa làm tay sai đắc lực. Đấy là là Công an bản xứ.
Mỗi cuộc hội họp gia đình đều phải có một thám tử của ban tình báo. Người ta phỏng đoán có 12 triệu thám tử ở Trung Hoa lúc bấy giờ, trong số đó, một nửa là người Nga.
Một bài khác của Jean Monsterllet (cũng do Việt Tấn Xã dịch, đăng tải trong bản tin buổi chiều, thứ Hai 17-12-1954), cho biết trước khi thắng Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông chưa từng qua thăm Mạc Tư Khoa. Không nói chi tới dĩ vãng, chỉ cần khoảng 5 năm đầu từ ngày Mao nắm chính quyền, ảnh hưởng của Nga Sô không ngớt bành trướng trong mọi lĩnh vực. Trong Chính phủ, nhóm thân Nga và nhóm theo chủ nghĩa quốc tế toàn thắng. Các bộ trong Chính phủ trung ương đầy rẫy cố vấn Nga. Ngày 31 tháng 12 năm 1951, Tân Hoa Xã Trung Hoa đã phải nói tới hiện tượng “các chuyên viên Nga làm việc ở khắp các Bộ trong Chính phủ Trung ương”.
Về mặt kinh tế, sự xâm nhập của Nga mỗi ngày một chặt chẽ, nhất là trong các ngành kỹ nghệ nặng do các chuyên viên Nga kiểm soát thì lại chặt chẽ hơn.
Kế hoạch ngũ niên khởi sự năm 1953 do Nga Sô đề xướng và kiểm soát. Tất cả các kỹ nghệ nặng ở Mãn Châu đều nằm trong tay người Nga: hơn 90 phần trăm trong số 85 xưởng máy là do Nga Sô xây dựng.
Về các ngành khác như canh nông, giáo dục v.v… cũng mang ảnh hưởng Nga Sô, các sách giáo khoa đều dịch từ sách giáo khoa Nga, ngay cả bản Hiến pháp Trung Cộng cũng chịu ảnh hưởng Hiến pháp Nga Sô quá nửa.
Còn nhiều tài liệu chính xác khác nói về sự bành trướng ảnh hưởng và thế lực của Nga Sô tại Trung Hoa, nhưng tất cả đều công nhận rằng như thế không có nghĩa là Trung Hoa đã hiển nhiên biến thành một chư hầu của Cộng hoà Liên bang Sô viết. Điều này, chính Stalin là người thất vọng và bực tức trước tiên, vì trong số các lãnh tụ Cộng sản tại những nước trên khắp thế giới, chỉ độc nhất một mình Mao Trạch Đông là chưa hề sang Mạc Tư Khoa yết kiến “lãnh tụ vĩ đại Stalin”.
Giữa người Trung Hoa và người Nga có mối thù truyền kiếp, cũng giống như mối thù giữa người Việt với người Tầu, nên từ ngày Đảng cộng sản Trung Hoa được thành lập, Mao Trạch Đông vì chiến thuật và chiến lược, phải chịu lép vế nhờ sự viện trợ của Nga, song thâm tâm ông ta bao giờ cũng vẫn chủ trương muốn tách rời cả về mặt lý thuyết lẫn lãnh đạo.
Nga-Tàu đều theo chủ nghĩa Cộng sản, nhưng nếu Nga áp dụng một cách cứng ngắt lý thuyết Các Mác-Lenin thì trái lại, Mao phỏng theo Các Mác-Lenin để tạo nên một hệ thống lý tưởng riêng, mênh danh là “Chủ nghĩa Mao Trạch Đông” (Maoisme).
Điều này chứng minh câu nói: Đông là Đông - Tây là Tây: Đông và Tây không bao giờ gặp nhau. Chính vì chỗ “không gặp nhau” đó mà sự xung đột Nga - Hoa bắt nguồn từ những quyền lợi kinh tế đã bước sang đại hạt lý thuyết - chủ nghĩa.
Sự xung đột Nga - Hoa càng ngày càng trở nên trầm trọng thì trong việc viện trợ cho Bắc Việt, chắc chắn hai nước có hai chủ đích riêng. Phía Nga Sô qua kinh nghiệm chiến tranh Triều Tiên, không dễ gì chịu rơi vào cậm bẫy Trung Cộng lần thứ hai, họ nhất quyết phải níu lấy Bắc Việt, dồn Bắc Việt vào tình thế nếu không hoàn toàn ngả hẳn theo Nga thì cũng không thể bỏ Nga đi theo Tàu, bởi vì một sự đi theo như vậy. vừa làm thiệt hại Nga Sô về mặt kinh tế, vừa làm uy tín lãnh đạo Nga Sô giảm sút trong khối Xã hội chủ nghĩa.
Vì chủ đích viện trợ là như vậy nên trong việc Nga Sô gửi vũ khí qua giúp Bắc Việt đã gặp phải lắm khó khăn do Trung Cộng gây ra.
Trước kia, đa số chiến cụ, cơ giới và máy móc, vật dụng nặng được chuyển từ Nga qua Bắc Việt bằng đường bộ xuyên qua lãnh thổ Trung Cộng, nhưng về sau, Trung Cộng đóng cửa biên giới và đòi đánh thuế những món hàng của Nga viện trợ cho Bắc Việt, nên Nga Sô bắt buộc phải chuyên chở bằng đường biển, vừa xa xôi, vừa tốn kém, số lượng chuyên chở lại bị hạn chế.
Sau 8-5-1972 là ngày Hoa Kỳ phong toả các hải cảng Bắc Việt thì việc chuyên chở vật dụng, chiến cụ từ Nga qua Bắc Việt lại càng khó khăn hơn, vì có những điều kiện riêng ràng buộc nên Nga không dám trái lệnh phong toả của Hoa Kỳ, còn nhờ lãnh thổ Trung Cộng thì vấn đề biên giới tại không cho phép.
Chính thời gian tổng thống Nixon ra lệnh phong toả các hải cảng Bắc Việt, và cả trước đó rất lâu, có nhiều tin nói rằng Nga Sô đã tập trung dọc biên giới Trung Cộng 41 sư đoàn quân tinh nhuệ, trong khi Nga chỉ để lại ở châu Âu khoảng trên 30 sư đoàn mà thôi.
Tin UPI đánh đi từ Huho Haote (Nội Mông) ngày 14-9-1972 cho biết Nga đã khoảng 300 ngàn quân và các đơn vị hoả tiễn dọc biên giới Nga Sô - Mong Cổ và tung ra các cuộc thao dượt gần biêng giới Trung Hoa. Căn cứ vào những tin này, các quan sát viên quốc tế, có một dạo, đã sny luận rằng sở dĩ Mao Trạch Đông chịu hạ mình mời tổng thống Nixon qua thăm Bắc Kinh chính vì việc Nga Sô tập trung đông đảo quân đội dọc biên giới.
Chở bằng đường biển thì bị Mỹ phong toả chở bằng đường bộ thì Trung Cộng không cho phép, Nga Sô i chỉ còn cách duy nhất để chuyển vũ khí tới tay Bắc Việt là dùng đường hàng không.
Việc chở chiến cụ của Nga qua Bắc Việt bằng đường hàng không chẳng phải là một việc dễ dàng.
Vì tuy ngành hàng không Nga cũng đã tiến triển khá nhiều, song so với Hoa Kỳ hãy còn thua xa, nên số lượng rất bị hạn chế.
Theo tin tức các hãng thông tấn quốc tế đánh đi từ thủ đô Vạn Tượng ngày 30, 31-8-1972 và 4-9-1972 thì Nga Sô phải dùng loại phi cơ vận tải khổng lồ Antonov-12, tương tự như loại C-130 của Hoa Kỳ, bay từ Mạc Tư Khoa đến Hà Nội qua ngả Calcutta và qua không phận Ai Lao.
Tin AFP đánh đi từ Vạn Tượng ngày 30-8-1972 nói rằng các đơn xin phép cho phi cơ Nga bay qua không phận Lào ngày càng gia tăng. Từ giữa tháng 7 đến cuối tháng 8-1972, Toà đại sứ Nga ở Vạn Tượng đã gửi đến Chính phủ Hoàng gia Ai Lao 30 đơn như vậy, và tất cả đều được nhà cầm quyền Vương quốc Ai Lao chấp thuận. Ngoài những chiếc Antonov-12 Nga Sô cũng xin phép cho các loại máy bay Ilyushin Il-18 bay qua không phận Lào, những không hề đáp xuống một phi trường nào của Vương quốc này.
Việc Nga Sô quân viện cho Bắc Việt không phải chỉ mới có trong những tháng gần đây, mà đã xảy ra từ lâu.
Theo sự tiết lộ của các giới chức cao cấp Hoa Kỳ thì ngay sau khi hiệp định Geneve về Đông Dương được ký kết chưa ráo mực, cộng sản Bắc Việt đã được các nước Cộng sản tới tấp cung cấp nhiều loại vũ khí để chuẩn bị xâm lăng Nam Việt Nam, và ngay sau khi cuộc xâm lăng mở màn hồi đầu tháng Tư 1972 thì sự cung cấp này trở thành ồ ạt.
Vẫn theo các giới chức này thì giữa năm 1954 đến 1959, tàu chở hàng Lidice của Tiệp Khắc đã chở năm chuyên hàng tới Hải Phòng. Ngày 7-4-1959, một tầu Pháp đã ngăn chiếc Lidice đang trên đường tới Bắc Việt, trên tàu chở 500 tấn dụng cụ, 12 ngàn síng trung đoàn một một ngàn súng máy đủ loại, nhưng tất cả đều được ghi là “hàng hoá thông thường“.
Tính từ giữa năm 1954 đến 1972, Tiệp Khắc đã chở một số vũ khí tới Bắc Việt trị giá hơn 67 triệu Mỹ-kim. Nhưng con số này không thấm vào đâu so với số lượng chiến cụ do Nga Sô cung cấp. Thật vậy, từ 1958, Nga Sô đã quân viện cho Bắc Việt các loại xe Jeep, xe vận tải Molotova, xe thiết giáp, súng máy đủ loại, súng chống xe tăng, súng phòng không, súng cối 102 ly cùng một số tiểu đỉnh cho hải quân Bắc Việt.
Suốt năm 1959 và 1960, Nga Sô lại cung cấp cho Bắc Việt phi cơ MiG-15, trực thăng và những loại phi cơ khác, rồi san đó dần dần được thay thế bằng những loại tối tân hơn như MiG-17, MiG-21.
Trong năm 1971, có 340 chuyến tầu Nga cập bến Bắc Việt, chuyển giao một triệu tấn dụng cụ. Tháng Giêng 1972, chỉ một mình hải cảng Odessa của Nga đã chở 60 ngàn tấn dụng cụ giúp Bắc Việt, tức tăng khoảng 20 phần trăm so với cũng khoảng thời gian tương tự trong năm 1971.
Theo sự phỏng định thì số viện trợ Nga cho Bắc Việt từ 1965 đến 1971, tổng cộng chừng 3.200 triệu Mỹ kim, so với Trung Cộng chỉ khoảng 1.200 triệu.
Hiện thời, có thể nói phần lớn số vũ khí cơ giới mà quân Bắc Việt dùng vào việc xâm lăng Nam Việt Nam đều do Nga Sô cung viện. Không kể những thứ súng ống lặt vặt, riêng các loại chiến xa như PT-76, T-54 v.v… theo xác định của phân tích gia Hoa Kỳ thì quân Bắc Việt đã nhờ Nga giúp và tung vào chiến trương Nam Việt Nam trên 600 chiếc.
Sự quân viện ồ ạt của Nga Sô cho Bắc Việt đã làm tình hình thế giới trở nên căng thẳng hồi trung tuần tháng 5-1972, khi dư luận đồn đại rằng tổng thống Nixon có thể huỷ bỏ cuộc công du Nga Sô, vì hồi đó Chính phủ Hoa Kỳ đã chính thức lên án Nga tiếp tục trao vũ khí sang cho Hà Nội mở cuộc xâm lăng Nam Việt Nam.
Sự cung viện của Nga Sô cho Bắc Việt càng nhiều chừng nào thì chẳng những tình hình Đông Dương càng rắc rối chừng ấy, mà tình hình toàn khu vực Đông Nam Á cũng bị ảnh hưởng lây, vì nó khuyến khích những phần tử Cộng sản vùng này dấy loạn, khiến nguy cơ một cuộc chiến tranh toàn diện ở châu Á khó tránh.
Bằng chứng là hiện nay, ngoài bước nước Việt - Mên - Lào mà Cộng sản Bắc Việt đang dốc toàn lực củng cố - huấn luyện cán bộ Cộng sản địa phương, mầm mống chiến tranh đã bắt đầu tràn qua Thái Lan, và nếu một khi chiến tranh nùng nổ dữ dội trên đất Thái thì chắc chắn Cộng sản Bắc Việt cũng vẫn đóng giữ một vai trò quan trọng.
“Chiến tranh sẽ bùng nổ tại những quốc gia không Cộng sản” câu nói này của Lenin đang được Nga Sô thực hiện, nhưng không phải nhằm mình xích hoá thế giới hoàn toàn, mà nhắgm giành giật những quyền lợi kinh tế - trước hết đối với Hoa Kỳ, và sau đó với nước “anh em thù địch” Trung Cộng.
Việc Nga Sô ngày càng tăng cường tiềm lực chiến tranh ở châu Á mà hầu như sao nhãng những vấn đề châu Âu, cho mấy mục đích tranh giành nói trên, và trong việc tranh giành đó, Cộng sản Bắc Việt đã được chọn làm kẻ châm ngòi, đốt cho ngọn lửa chiến tranh bùng lên khắp vùng Đông Nam Á.
Việc Nga Sô quân viện cho Bắc Việt nằm trong âm muu nguy hiểm đó, âm mưu này đã làm cho chiến tranh Việt Nam trở nên rắc rối, và càng rắc rối hơn khi người ta muốn đi tìm một giải pháp để chấm dứt.
Một sự kiện không thể bỏ qua được là Nga Sô -Trung Cộng càng liên hệ đến chiến tranh Việt Nam nhiều chừng nào thì những xích mích giữa Nga - Hoa càng sâu sắc chừng ấy, và trong vấn đề này, người ta đồ chừng rằng rồi đây, Hoa Kỳ sẽ đương nhiên đóng vai “ngư ông đắc lợi“.
Chưa lúc nào tin tức quốc tế nói tới những xích mích Nga-Hoa nhiều bằng lúc này. Không kể vấn đề biên giới mà một số quan sát viên Tây phương ở Mạc Tư Khoa nhận định rằng có thể đi đến chiến tranh giữa hai nước đàn anh Cộng sản, chỉ nói chuyện tổng thống Nixon vừa công du Bắc Kinh, vừa viếng thăm Mạc Tư Khoa đã đủ gây sự nghi vực lớn giữa đôi bên.
Ngày 28 tháng 3, 1972, thông tín viên hãng UPI tưg Mạc Tư Khoa đã đánh đi nguyên văn bài xã thuyết đăng trên tờ nhật báo “Pravda”, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng cộng sản Nga, do bình luận gia trứ danh Victor Mayevsky viết.
Dưới đề mục “Hoà bình và an ninh ở châu Á”, bài báo quả quyết rằng Hoa Kỳ và Trung Cộng đã cấu kết với nhau trong âm mưu phái hoại hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng các dân tộc nhược tiểu.
Bài báo xác nhận Nga Sô phải đóng giữ một vai trò quan trọng ở châu Á, vì hai phần ba lãnh thổ Nga Sô nằm trên lục địa nà, đồng thời tố cáo Nixon - Mao Trạch Đông ký thông cáo chung nói rằng không có tham vọng làm bá chủ châu Á và Thái Bình Dương, những về phía Mỹ vẫn dội bom ác liệt Bắc Việt vẫn đóng quân ở Nhật Bản - Thái Lan và các quốc gia châu Á khác Hạm đội 7 và Hạm đội 6 của Mỹ vẫn hoạt động tại các vùng chỉ định. Còn Trung Cộng cố tình thổ phồng và làm ầm ĩ về cái gọi là “sự đe doạ từ phía Bắc” và tiếp tục đả kích mạt sát Liên Xô.
Bài báo kêu gọi các nước châu Á hãy đòi Trung Cộng chấm dứt hành động thô bạo, đe doạ, làm áp p lực và can thiệp vào nội bộ các nước này, làm cho tình hình châu Á trở nên căng thẳng.
Song song với bài báo này, một tin khác của hãng AP đánh đi từ New York ngày 29-3-1972, cho biết tại phiên họp của Hiệp hội Nghiên cứu châu Á, ông Daniel Tretiak, một khoa học chính trị gia Canada thuộc Đại học York đã tuyên bố rằng chiến tranh VN giúp cái thiện mối bang giao Mỹ- Trung Cộng.
Căn cứ vào thực tế thì sự nhận định trên đây đúng một phần nào, vì từ ngày cộng sản thôn tính lục địa Trung Hoa, giữa Mỹ và Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc đã trở thành hai quốc gia thù nghịch.
Từ 1950, mặc dầu Chính phủ Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch chỉ cai trị một dân số khoảng 13 triệu người ở Đài Loan, những lại được Mỹ và các nước Đồng minh của Mỹ nhìn nhận là Chính phủ hợp pháp duy nhất, đại diện cho toàn thế nhân dân Trung Quốc - kể cả 800 triệu ở Hoa Lục và vẫn tiếp tục ngồi lại tại toà nhà Liên hiệp quốc với đầy đủ quyền phủ quyết của một cường quốc sáng lập viên tổ chức c này.
Vì nhìn nhận Chính phủ Đài Loan là Chính phủ hợp pháp duy nhất nên chính sách Hoa Kỳ lúc bấy giờ là cương quyết bảo vệ hòn đảo này để làm chưởng ngại vật không cho Cộng sản bành trướng khắp Thái Bình Dương.
Thái độ cương quyết của Mỹ được bày tỏ hết sức rõ rệ, trong bản quyết nghị được Quốc hội chấp thuận; cho phép tổng thống Hoa Kỳ hành động trong trường hợp Đài Loan và các đảo lân cận bị Cộng sản tấn công.
Sở dĩ Mỹ có thái độ cương quyết như vậy vì hồi đầu tháng 9-1954, Trung Cộng đã có những hành động để lộ ý muốn xâm chiếm Đài Loan, trước hết là việc Trung Cộng pháo kích ồ ạt đảo Quế Môn chỉ nằm cách bờ biển Hoa Lục chừng 10 cây số. Tiếp đến, đảo Đại Trần bị chừng hai chục máy bay Trung Cộng oanh kích, và sau cùng, Hồng quân Trung Cộng định đổ bộ lên đảo Wuchin gần duyên hải tỉnh Phúc Kiến, cách Đông Bắc đảo Quế Môn 160 cây số, và cách phía tây Đài Loan 200 cây số.
Trước thái độ khiêu khích của Trung Cộng, đầu tháng Chạp 1954, Hoa Kỳ và Trung Hoa quốc gia chính thức ký kết hiệp ước phòng thủ chung gồm 10 khoản.
Theo hiệp ước này thì Chính phủ Đài Loan cho phép Hoa Kỳ duy trì một lực lượng Hải - Lục - Không quân trên và chung quanh đảo Đài Loan cùng quần đạo Bành Hồ, cần thiết cho sự phòng thủ, chống lại các cuộc tấn công võ trang và những hoạt động phá hoại của công sản được điều khiển từ bên ngoài.
Điều khoản 10 của hiệp ước nói rằng “Hiệp ước này sẽ có hiệu lực mãi mãi. Một bên đương sự có thể chấm dứt hiệp uớc này sau khi cho bên kia biết ý muốn của mình trước một năm”.
Căn cứ vào những điều khoản ghi trong Hiệp ước, Hoa Kỳ phái hạm đội ngày đâm canh phòng Đài Loan cùng quần đảo Bành Hồ, đồng thời đổ bộ một số binh sĩ tượng trưng chừng hai ngàn người lên đảo.
Việc Mỹ nhìn nhận chế độ Đài Loan và ký hiệp ước phòng thủ quần đảo này là một điều sỉ nhục to tát đối với Trung Cộng, vì dầu cai trị khoảng 800 triệu dân, nhưng Trung Cộng vẫn không có một tiếng nói chính thức nào trên trường quốc tế.
Đằng khác, Trung Cộng luôn luôn luôn coi đảo Đài Loan là một vị trí chiến lược quan trọng ở Thái Bình Dương. Đảo này vẫn tiếp tục nằm dưới quyền kiểm soát của Hoa Kỳ thì có nghĩa là Trung Cộng cứ bị bao vây, và tình trạng “hai nước Trung Hoa“ không thể xoá bỏ được.
Tưởng nên nhắc lại rằng từ trước, đảo Đài Loan đã bị người Tây Ban Nha đo hộ. Khoảng đầu thế ký 20, đảo bị Nhật chiếm đóng, cho mãi tới khi chiến tranh thế giới II kết thúc, Nhật đầu hàng Đồng minh giao trả cho Trung Hoa quốc gia.
Ngày 10 tháng 12 năm 1949, Quốc Dân Đảng bị cái gì đó Trung Hoa đánh bại, Tưởng Giới Thạch phải chạy ra đảo Đài Loan, và năm 1950, khi chiến tranh Triều Tiên bùing nổ, Hoa Kỳ bèn phái Hạm đội 7 tới canh chừng quần đảo này.
Trong chiến tranh Triều Tiên, vì thấy Trung Cộng phái 200 ngàn chí nguyện quân qua giúp Bắc Triều Tiên nên tháng Giêng 1953, tổng thống Eisenhower chính thức tuyên bố huỷ bỏ chính sách trung lập hoá Đài Loan và ra lệnh cho Hạm đội 7 sẵn sàng hành động nếu Trung Cộng lại có một âm mưu mới như ở Triều Tiên.
Lệnh này của tổng thống Eisenhower phù hợp với tin tức tình báo hồi đó nói rằng Trung Cộng đã tập trung khoảng 400 ngàn quân đóng ở vùng Hạ Môn với 1.600 thuyền buồm, 360 thuyền máy và 30 pháo thuyền, trong lúc quân Quốc Dân Đảng chỉ có khoảng 350 ngàn binh sĩ với chiến xa, đại bác đủ loại và độ 50 phi cơ cùng 80 chiếc tàu thuỷ.
Cơn sốt ở biển Đài Loan đã lên cao tới tột độ hồi năm 1954 với những sự kiện như trên. Hồi đó, ai cũng tưởng sau chiến tranh Triều Tiên thế nào Trung Cộng cũng dốc toàn lực giải phóng Đài Loan, nhưng mộng lớn của Trung Cộng không thành, vì có sự bảo vệ chính thức của Hoa Kỳ đối với quần đảo này.
Tình trạng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Cộng cứ kéo dài như vậy cho tới đầu năm 1971 thì đột nhiên có biến chuyển trọng đại, mặc dầu trong quãng thời gian dài đó, chiến tranh Việt Nam vẫn tiếp tục leo thang và Trung Cộng không ngớt kết án Hoa Kỳ là “ đế quốc hiếu chiến xâm lăng”.
Biến chuyển trọng đại ở đây là việc Trung Cộng đột nhiên mời đội bóng bàn Hoa Kỳ qua chơi, và các cầu thủ trong đội bóng này được chủ tịch Mao Trạch Đông tiếp đón hết sức niềm nở. Để đáp lễ, đầu tháng 4-1971, một đội bóng bàn Trung Cộng cũng được mời qua đấu giao hữu tại nhiều Tiểu bang bên Hoa Kỳ.
Việc hai nước thù nghịch trao đổi phái đoàn thế thao là một sự kiện gây chú ý cho toàn thế thế giới, nhất là khi hãng thông tấn TASS của Nga Sô ngày 16-4-1971 đăng ý kiến rằng “Mối liên lạc Mỹ - Trung Cộng có liên hệ tới việc Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn thoả hiệp về với Đông Dương“.
Tiếp theo màn “ngoại giao thể thao“, tin AP đánh đi ngày 19-4-1971 cho biết Thượng nghị sĩ Henry Bellmon thuộc đảng Cộng hoà Tiểu bang Oklahoma, từng được xem như một nhân vật bảo thủ, tuyên bố “ Chế độ Bắc Kinh phải được nhìn nhận về mặt ngoại giao… Dân chúng Mỹ có thể trông thấy tính cách vô ích trong việc tiếp tục không cần biết đến sự hiện diện của một dân tộc chiếm một phần tư dân số thế giới mà cách đây 25 năm đã là thân hữu và khách hàng có giá trị của Hoa Kỳ”.
Mặt khác, cũng trong khoảng thời gian trên, các nhà kinh doanh Hoa Kỳ ở San Francisco rằng việc mở lại giao thương với Hoa Lực không cần phải chờ đợi đến khi Hoa Kỳ chính thức nhìn nhận Bắc Kinh. Các nhà kinh doanh này nhấn mạnh rằng “Thương mại trực tiếp với Hoa Lục không những là một cuộc kinh doanh hấp dẫn mà còn có thể là đường lối hữu hiệu nhất chấm dứt căng thẳng chính trị giữa hai nước”.
Cũng lúc với những lời tuyên bố trên đây, Uỷ ban thương mại của thành phố Chicago ngày 19-4-1971 đã đốc thúc tất cả các nông gia hãy ghi số nông sản không có giá trị chiến lược vào danh sách những hàng hoá xuất cảng sang Trung Cộng và nhiều tổ chức khác lên yiếng yêu cầu Bộ ngoại giao Hoa Kỳ huỷ bỏ lệnh cấm công dân Mỹ du lịch qua Hoa Lục.
Tiến xa hơn việc trao đổi phái đoàn thể thao và thương mại, ông W. Rostov, cố vấn cao cấp của cựu tổng thống Johnson, giống như ông Henry Kissinger hiện tại đối với tổng thống Nixon, tuyên bố rằng sắp đến lúc chín mùi để đưa Trung Cộng vào Liên hiệp quốc.
Trong lúc đó nhiều tin tức được loan truyền về ý định của tổng thống Nixon muốn qua thăm Bắc Kinh. Tổng thống nói rằng “Nếu có một việc tôi muốn làm trước khi chết thì đó là việc sang thăm Hoa Lục. Nếu tôi không được làm như thế thì tôi mong các con tôi sẽ làm được”.
Khi những tin này được ban ra thì tại Bắc Kinh, trong một cuộc tiếp kiện nhà văn Hoa Kỳ Edgar Snowm chủ tịch Mao Trạch Đông nói ông rất hoàn nghênh việc tổng thống Nixon qua thăm Trung Hoa, và được hân hạnh hội đàm với tổng thống với tư cách là khách du lịch hay tư cách vị lãnh đạo Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.
Tháng 7 1971, ý muốn của tổng thống Nixon sang thăm Trung Hoa đã tiến gần tới sự thật qua việc cố vấn an ninh riêng của tổng thống là ông Henry Kissinger chuẩn bị qua Bắc Kinh. Tất cả những bối tối của cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Chu Ân Lai - Kissinger làm cho ngưới ta tin rằng quả thật đã có một cuộc thương thuyết, vì nếu không thì làm sao các nhà lãnh đạo Bắc Kinh lại đột ngột mời tổng thống Nixon qua thăm.
Việc tổng thống Nixon chuẩn bị công du Bắc Kinh làm cho hình ảnh chiến tranh Việt Nam nổi bật lên hồi bấy giờ. Hầu hết dư luận chính giới quốc tế đều nghĩ rằng tổng thống Nixon muốn chấm dứt cuộc chiến tại VN vì ông phải làm như thế mới hy vọng tái đắc cử trong cuộc bầu cử ngày 4.11-1972, và muốn chấm dứt như thế, tất nhiên phải nhờ tới ảnh hưởng cùng thế lực của Bắc Kinh.
Tuy nhiên. tại phiên họp hoà đàm Ba Lê ngày 16-4-1971, Xuân Thuỷ vẫn khẳng định rằng Bắc Việt sẽ không chấp nhận bất cứ một giải pháp nào trừ phi giải pháp đó bao gồm sự triệt thoái đơn phương toàn thể binh sĩ Hoa Kỳ ra khỏi Nam Việt Nam, và ngừng hoàn toàn các vụ không tập Bắc Việt cùng những hoạt động xâm phạm chủ quyền an ninh Bắc Việt, tuyệt đối Xuân Thuỷ không đả động gì tới việc các nhà lãnh đạo Bắc Kinh mời tổng thống Nixon qua chơi. Sự kiện này khiến dư luận nghi ngờ đến thế lực thật sự của Trung Cộng đối với Hà Nội, nhất là khi người ta nghe Đài phát thanh Bắc Việt và Việt Cộng nói rằng “mọi mưu mô của tổng thống Nixon muốn có áp lực Trung Cộng buộc Cộng sản Việt Nam thoả hiệp ngừng chiến sẽ bị bác bỏ”.
Dầu Thế giới Tự do lo ngại, dầu cộng sản Bắc Việt khẳng định, và dầu các nhà lãnh đạo Trung Cộng trấn an, nhưng mọi việc vẫn được tuần tự tiến hành để mở đầu cho kỷ ngnyên bang giao giữa Mỹ và Trung Cộng.
Kỷ nguyên này được đánh dấu trước tiên qua lời tuyên bố của ngoại trưởng Hoa Kỳ William Rogers ngày 3-8-1971, Rogers loan báo rằng Hoa Kỳ sẽ biểu quyết cho Trung Cộng vào Liên hiệp quốc, còn vấn đề chiếc ghế Trung Hoa quốc gia thì do các hội viên cơ quan này quyết định.
Lời tuyên bố trên đây của ngoại trưởng Rogers tuy có gặp vài phảen ứng, nhưng Đại hội đồng Liên hiệp quốc, trong phiên họp ngày 27-9-1971, với một đa số tuyệt đối (76 thuận, 35 chống và 17 phiếu trắng), đã quyết định thâu nhận Trung Cộng vào Liên hiệp quốc và loại Trung Hoa quốc gia ra ngoài.
Quyết định của Liên hiệp quốc đã gây một xúc động mạnh mẽ trong hàng ngũ những quốc gia chống Cộng tại Thái Bình Dương, làm cho nhiều nước lo ngại Đài Loan sẽ bị cô lập về cả quân sự, chính trị lẫn kinh tế, vì tiếp theo đó, một số quốc gia từ trước đến nay vẫn thừa nhận Trung Hoa quốc gia, liền vội vã công nhận chế độ Bắc Kinh và tuyên bố coi Đài Loan là một phần lãnh thổ của Trung Cộng. Trong số các quốc gia này có Nhật, Anh, Y, Canada v.v...
Sau khi Trung Cộng bước chân vào Liên hiệp quốc từ ngày 16-10-1971, Tiến sĩ Kirssinger bay qua Bắc Kinh, và tiếp theo, nhiều phái đoàn khác của Hoa Kỳ cũng lần lượt lên đường sang Hoa Lục, sửa soạn cho chuyến công du của tổng thống Nixon vào đầu năm 1972.
Cuộc công du lịch sử mà thế giới chờ đợi thực sự diến ra vào sáng thứ Hai ngày 21-2-1972, khi chiếc phi cơ đặc biệt Spirit-76 chở tổng thống Nixon cùng phu nhân và phải đoàn tháp tùng hạ cánh xuống phi trường Bắc Kinh hồi 11 giờ 28 phút.
Hôm ấy, chiếc phi cơ chở tổng thống Mỹ, từ sáng sớm tinh sương, đã rời đảo Guam bay lững lờ trên không trung qua Thái Bình Dương và khi bắt đầu vào không phận Hoa Lục thì không còn được hộ tống.
Đừng nói các đoàn máy bay khu trục phản lực hộ tổng. ngay cả phi hành đoàn điều khiển chiếc Spirit-76 của tổng thống Nixon cùng phái đoàn tuỳ tùng cũng được lệnh thay đổi thường phục, vì nhà cầm quyền Bắc Kinh đã có lời yêu cầu, tuyệt đối không một cái gì mang mầu sắc quân sự lọt vào lãnh thổ Trung Cộng, nếu không nghe lời thì sẽ bị coi là “hành động khiêu khich”.
Trước khi tới Bắc Kinh, tổng thống Nixon và đoàn tuỳ tùng tạm ghé Thượng Hải, và cái nhìn đầu tiên của vị lãnh đạo Hiệp chủng quốc trên đất Hoa Lục là cái nhìn ngỡ ngàng, bởi vì nghi lễ đón tiếp dành cho ông không giống với bất cứ xứ nào mà ông ông từng thăm viếng.
Kiều Quán Hoa, thứ trưởng Bộ ngoại giao Trung Cộng, trong bề ngoài bảnh bao lịch sự, giống như một nhân vật thượng lưu tại các nước tư bản châu Âu, hướng dẫn phái đoàn Trung Cộng tới tận cầu thang đón chào tổng thống Hoa Kỳ, rồi hướng dẫn vào phòng khách phi trường.
Các thông tín viên quốc tế tháp tùng tổng thống Nixon tường thuật rằng mặc dầu phi trường Thượng Hải đã được sửa sang và trang hoàng lịch sự nhưng nó vẫn mang mầu sắc cằn cỗi khô khan.
Trong phong đợi, ngoảnh nhìn phía nào cũng bắt gặp hình ảnh các lãnh tụ Cộng sản như Các Mác, Lenin, Mao Trạch Đông v.v… tổng thống Nixon không để ý mấy đến những bức ảnh này, ông chỉ nhìn thoáng qua rồi nói văn tắt một câu với những nhân vật cao cấp Trung Cộng đứng chung quanh: “Đây là hình các triết gia”.
Tổng thống và phu nhân cũng lướt qua mấy quầy hàng nơi phi trường, nhưng không mua sắm gì, vì những món hàng này toàn là đồ tiểu công nghệ, lạ thì có lạ, nhưng không thể nói là đặc biệt.
Sau khi tậm ghé Thượng Hải một giờ để tiếp nhiên liệum chiếc Spirit-76 lại cất cánh bay đi Bắc Kinh.
Trên đường tói thủ đô nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, tổng thống Nixon đã tuyên bố với báo chí rằng chủ tịch Mao Trạch Đông và thủ tướng Chu Ân Lai là những người có đầu óc thiên về triết lý, có những quan điểm cùng krh về lâu về dài, vì thế, Chính phủ Hoa Kỳ cũng phải có những kế hoạch tương tự. Tổng thống cũng để mặc phái đoàn Trung Cộng ngồi một mình ở phòng ngoài trên phi cơ, bước vào phòng riêng làm việc với cố vấn Kissinger.
Tại Bắc Kinh, hình ảnh đầu tiên đập vào măt tổng thống Nixon là bức chân dung Mao Trạch Đông cao bằng toà nhà 6 taàng đứng sừng sững ngay trước phi cảng. Ngoài bức chân dung là một khẩu hiệu kẻ bằng Hoa ngữ mầu đỏ máu, mỗi chữ cao chừng 6 thước, nói rằng “Vô sản và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới thế giới liên hiệp lại”.
Trước ngày lên đường sang Bắc Kinh, tổng thống Nixon có học một ít chữ nho, nhưng ông vẫn không đủ vốn liếng để đọc nổi nguyên vẫn tấm khẩu hiệu. Thoạt đầu, ông tưởng đó là những lời chào mừng mình, sau ông mới vỡ lẽ khi được một nhân viên tháp tùng giải thích.
Mặc dầu giữa Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh đã có thảo luận trước về lễ nghi đón tiếp, nhưng khi thấy quang cảnh phi trường Bắc Kinh quá buồn tẻ và không khi buổi lễ quá đơn giản, tổng thống Nixon đã để lộ trên nét mặt một thoáng thất vọng, song rồi ông lại vội tươi cười ngay.
Qua. thật lễ nghi đón tiếp tổng thống Nixon tại phi trường Bắc Kinh không xứng đáng với vị nguyên thủ của một siêu cường quốc, vì nó bị đơn giản hoá đến mức tối đa.
Phía Trung Quốc, có 360 binh sĩ thuộc các binh chủng Hải - Lục - Không quân dàn chào. Những binh sĩ này từng thăm gia “chiến tranh chống đế quốc Hoa Kỳ“ tại Triều Tiên hồi 1950-1953, và khi tổng thống Nixon bước xuống cầu thang phi cơ thì họ đồng thanh hát bài “Ba điều kỷ luật, tám điểm lưu tâm”. Đây là một bài hát hoàn toàn có tính cách tuyên truyền nội bộ chứ chẳng ăn nhập gì với nghi lễ ngoại giao.
Ngoài số binh sĩ trên này, có rất ít viên chức Trung Quốc hiện diện trong cuộc đón tiếp, chỉ thấy Chu Ân Lai, ngoại trưởng Cơ Bằng Phi và 7 nhân vật trung câp khác. Chủ tịch Mao Trạch Đông vắng mặt, viện lẽ rằng hiện thời ông không giữ chức vụ gì trong chính quyền. Số ký giả ngoại quốc đón tổng thống Nixon tại phi trường Bắc Kinh đông gấp 10 lần các nhân vật Trung Cộng.
Trên đường từ phi trường về thủ đô Bắc Kinh, quang cảnh cũng tẻ nhạt không kém, tuyệt đối chẳng thấy bóng một người dân Trung Hoa nào đón chào vị thượng khách, đến nỗi tổng thống Nixon và phái đoàn tuỳ tùng có cảm tưởng rằng họ là “những người Mỹ cuối cùng còn sót lại giữa trần gian”. Qua khung cửa kính xe hơi, tổng thống Hoa Kỳ chỉ thấy cây cối tiêu điều và những cửa kính nước đông thành đá.
Việc các nhà không được Trung Cộng tiếp đón tổng thống Nixon một cách tẻ nhạt khiến người ta nhớ lại hồi tháng 3-1970, khi Sihanouk từ Mạc Tư Khoa qua Bắc Kinh, mặc dầu lúc bấy giờ đã bị Lon Nol truất phế, song ông vẫn được đón tiếp một cách vô cùng trọng thế, đúng theo cương vị một vị Quốc trưởng. Sự kiện này đã làm dư luận thế giới xầm xì, và Chính phủ Trung Cộng phải lên tiếng giải thích rằng họ đón tiếp tổng thống Nixon với tư cách “ vừa là bạn, vừa là thù”.
Dẫu là bạn hay là thù thì quốc gia đầu tiên lên tiếng công kích cuộc công du Bắc Kinh của tổng thống Nixon lại là Nga Sô.
Những ngày chuẩn bị cũng như suốt thời gian tổng thống Nixon hiện diện ở Bắc Kinh, và cả về sau, không ngày nào đài Mạc Tư Khoa không đưa đầu đề này ra để mạt sát công kích Trung Cộng. Đài Mạc Tư Khoa nói rằng “chính Mao đã lậy Nixon chứ không phải Nixon lậy Mao“, và tố cáo Mao cấu kết với kẻ thù tư bản đế quốc, phản bội các nước theo chủ nghĩa xã hội i, nhất là phản bội nhân dân Đông Dương.
Những lời tố cáo này được Đài phát thanh Bắc Kinh bắt chước lập lại, vì hơn hai tháng sau, ngày 22-5-1972, tổng thống Nixon lại mở cuộc công du Mạc Tư Khoa, và bị Trung Cộng coi đó là một âm mưu câu kết, gây chia rẽ.
Hai cuộc công du lịch sử của tổng thống Nixon qua hai quốc gia đàn anh Cộng sản, được dư luận coi là có liên quan tới chiến tranh Việt Nam, vì nhiều người tiên đoán rằng sau hai cuộc công du này thế nào một giải pháp cho vấn đề Việt Nam cũng đạt được.
Một thoả hiệp cho vấn đề Việt Nam có đạt được trong tương lai hay không thì chưa rõ, chỉ biết rằng sau hai chuyến công du, Trung Cộng và Nga Sô đã ký kết với Hoa Kỳ nhiều hiệp định thương mại quan trọng, lên đến hàng chục tỷ Mỹ kim, và một số quốc gia châu Á, câu Âu đã cử phái đoàn sang Hoa Lục nghiên cứu thể thức giao thương, bỏ vốn đầu tư, mở ra kỷ nguyên bang giao mới với Trung Cộng.
Trong khi đó, chiến tranh Việt Nam vẫn tiếp tục mở rộng và leo thang tới mức độ kinh khủng, mỗi ngày có hàng trăm phi vụ do Không lực Hoa Kỳ thực hiện dội hàng trăm ngàn tấn bom xuống cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam, đặc biệt từ 18-12-1972, ngày nào cũng có trên một trăm phi vụ B-52 tham gia các cuộc oanh tạc.
Sự kiện này giải thích tại sao Nga Sô, Trung Cộng lại không có một biện pháp nào hữu hiệu và tích sực đối với Mỹ trong việc phong toả Bắc Việt, và tại sao một cường quốc như Hoa Kỳ mà lịch sử chứng minh chỉ có thắng chứ không hề thua lại không thể đánh gục tiểu nhược quốc Bắc Việt, khiến chiến tranh cứ tiếp tục bằng đủ loại vũ khí tối tân, mà khiến hoà đàm - mật đàm cứ dây dưa mà một thoả hiệp ngừng bắn vẫn chưa đạt được.
Nhìn vào các cuộc mật đàm Ba Lê giữa Kissinger - Lê Đức Thọ, điều mà nhiều người e ngại không hẳn là việc sợ Mỹ ký kết riêng rẽ với Bắc Việt một thoả hiệp bât lợi cho Nam Việt Nam, mà ở chỗ trong khi vừa mật đàm thì đôi bên vẫn đưa ra những điều kiện gài bẫy nhau, và đều tăng cường nỗ lực chiến tranh. Như vậy, một thoả hiệp, nếu đạt được, dù lợi hay hại về bên nào thì mầm mống chiến tranh vẫn còn, hoà bình vẫn chưa thể tới với dân tộc Việt Nam một cách trường cửu.
Mầm mống chiến tranh Việt Nam vẫn còn thì điều này có nghĩa là ngọn lửa chiến tranh đó sẽ bén dần tới các quốc gia Đông Nam Á, trước hết là Thái Lan.
Việc mở rộng chiến tranh tại vùng Đông Nam Á là điều không thể tránh khỏi, vấn đề chỉ chờ thời gian và cơ hội chín muồi mà thôi, vì thực chất chiến tranh ở vùng này là nằm trong âm mưu do siêu cường, muốn làm cho các dân tộc nhược tiểu kiệt quệ đi, để họ dễ áp lực và bành trướng ảnh hưởng.
Với âm mưu đó, chiến tranh chỉ có thể mở rộng và leo thang, chứ không gặp những điều kiện thuận lợi để đi đến chỗ dập tắt.
Riêng trong chiến tranh Việt Nam, cho tới nay, người ta vẫn chưa hội đủ điều kiện để chấm dứt. Thì làm dập tắt vĩnh viễn ngọn lửa chiến tranh đó khi mà nó liên hệ tới toàn bộ tình hình vùng Đông Nam Á, và khi mà những vấn đề chính tri cục bộ tại Nam Việt Nam - Lào - Kampuchea chưa có căn bản giải quyết?
Chiến tranh Việt Nam chỉ có thể giải quyết chiến dịch một lúc với vấn đề Lào và Cao Mên, nếu giải quyết riêng rẽ, hoà bình chẳng những không bảo đảm mà ngọn lửa chiến tranh có khi nổ bùng còn ác liệt hơn.
Giải quyết cùng một lúc, xem ra chẳng dễ dàng gì vĩ mỗi nước trên bán đảo Đông Dương có một hoàn cảnh riêng, một vị trí riêng, và nhất là cả Mỹ lẫn Bắc Việt đều có những lý do riêng để từ chối một sự giải quyết như vậy.
★
★
★
★
★
0