Tặng Vũ Anh Khanh
Để gởi lại đời, cuộc tranh đầu không ngừng
của những nhà văn lạc lòi giữa thị thành u ám.
Phần thứ nhất
- I -
- Người ta thường bảo: “Trời cho ta cái tài, trời lại cho ta cái tình, ta phải mượn cái tài mà ca hát cái tình, ấy là lẽ tự nhiên”.
Đó là câu triết lý hằng ngày của Vũ. Chàng sinh ra trong một gia đình sung túc, sống hoàn toàn trên nhung lụa. Cha chàng làm Đốc phủ ở một tỉnh miền đông Nam Bộ. Từ khi được mười lăm tuổi, chàng rời bỏ quê nhà lên Sàigòn học tập. Chính cái thời gian xa hẳn cái gia đình nền nếp, chàng tìm đặng cái quan niệm trên đây, làm mục tiêu cho đời sống mình.
Sự thật, Vũ vốn có tâm hồn nghệ sĩ. Chàng có một tấm lòng rất dễ xúc cảm với một tình yêu bao la: tình yêu tất cả vạn vật và nhơn loại. Một làn khói trắng bên nhà, một chiếc lá vàng rơi trên mặt cỏ, một tiếng chim kêu lặng lẽ trong u buồn, cũng có thể làm cho chàng bâng khuâng vơ vẩn. Vũ nhận thấy những cảm giác tế nhị của lòng mình, và chàng tìm hòa hợp nó trong Thơ. Chàng là một Thi sĩ.
Vũ nhớ từ khi từ giã băng nhà trường để trở về xứ sở, chàng không quên gởi lại các bạn tiếng lòng tha thiết của mình:
Thôi thế bạn về yên xóm cỏ,
Xứ nghèo đã cổi gốc yêu thương.
Nhớ nhau vẫy bút làm mưa gió,
Cho đống xương đời được nở hương.
Và từ đấy, chàng đem cái tài và cái tình của mình về chốn quê xưa, đem phổ nó vào cảnh hùng vĩ của núi sông trong những buổi chiều tà bảng lảng.
Ngày xanh như lá rụng! Thấm thoát đã ba năm rồi. Một hôm, Vũ đang vơ vẩn trên cầu, bỗng nghe bên rặng tre có tiếng xào xạc. Một chiếc thuyền lách qua cụm lau rồi tiến về phía Vũ. Chàng ngạc nhiên khi thấy một người vạm vỡ dưới thuyền bước lên, kính cẩn chào chàng :
- Cậu có phải là cậu Vũ không?
- Phải, sao chú biết tôi?
Người khách mỉm cườì :
- Ai ở đây mà không biết cậu?
Và hắn lần lưng ra một bức thư đưa cho chàng :
-Cậu có bức thư.
Vũ tiếp lấy thư. Chàng nhận ra tuồng chữ ở phong bì quen quen, nhưng không nhớ là của ai. Nét chữ mềm mại, mảnh mai của một thiếu nữ :
Hoa thôn, một chiều mùa thu...
Anh Vũ yêu quí,
Giờ này còn của đôi ta,
Giang hồ rượu ấy còn pha lệ người.
Anh ơi! Em còn nhớ một buổi chiều mưa gió, anh ngâm câu thơ ấy cho em nghe. Từ khi em quay bước về chốn tử phần, chẳng hiểu theo kiếp phù trầm của nhân thế, có khi nào anh nhớ đến người bạn gái ngày xưa mà nâng cốc rượu than rằng: “Em ấy bây giờ thì trôi nổi về đâu?”
Con bướm của thời xưa đã bay về nơi quê cũ, hấp hối trên đống lá vàng. Buồn lắm, anh ơi! những ngày êm đẹp sao mà chóng tàn, những phút nhớ nhung sao mà vĩnh viễn...
Đường danh chửa đạt nhưng người ấy
Về gởi xương tàn ở đất quê!
Chết nát cả cõi lòng! Chiều chiều, nhìn theo đám mây giang hồ mong gởi chút tình thương nhớ. Những đêm mộng mị bàng hoàng, em vẫn thường mơ thấy bạn. Thượng đế hãy ban chút phước lành để làm dịu bớt lại lòng em.
Em tiếc ngày xa xanh quá! Anh ơi! Em sợ một cánh đồng cỏ xanh hiu hắt và một làn khói nhẹ bốc lên trời. em sợ cả bóng đêm, em sợ cả biều chiều về chậm chậm...
Em chết mất. Em sẽ từ giã cả, từ giã cõi đời, từ giã cha mẹ thân yêu, từ giã anh mà suốt đời em yêu quí.
Em của anh,
PHƯỢNG
Đọc xong bức thư, Vũ dường như bàng hoàng trong cõi mộng. Cả một dĩ vãng lại diễn ra trước mắt khiến lòng chàng xao xuyến, bâng khuâng...
Ngày xưa, Vũ và Phượng là đôi bạn thân yêu. Thấy bạn buồn mà buồn, thấy bạn vui mà vui, đôi bạn trẻ ấy quấn quít nhau, đấp đổi cùng nhau những mộng ngày xanh đằm thắm. Những đêm trăng về trên vườn cau vương bóng, hai người cùng dẫn ra cầu này, đứng bên nhau, nhìn làn nước tấp tênh cánh bèo trên bọt úa. Cảnh trời êm lặng. Vài con vạc sành kêu khắc khoải trên bờ sương. Vũ cầm đàn khẽ nắn đường tơ. Tiếng đàn trầm bổng vang ra não nùng. Vũ biểu nàng ca. Nàng nhìn Vũ bẽn lẽn, rồi cất tiếng ca lảnh lót
Một con bướm hồng
Bên hồng bay bướm.
Một làn phấn bướm,
Bay bướm bên hồng.
Tiếng đàn tình tang,
Tính tang kêu vang.
Thấy bướm thấy chàng,
Buông tay buông đàn...
Phượng ca dứt thì Vũ cũng vừa buông đàn. Hai người nhìn nhau cười vì tìm không thấy bướm.
Qua thời kỳ bé bỏng, đôi bạn cùng xa quê để tiếp tục học ở Saigòn. Nhưng đến năm thứ tư thì Phượng thôi học về nhà, vì sinh kế phải theo cha mẹ về miền Tây là nơi quê cũ của Phượng. Thế là từ đó, Vũ không được tin tức gì của nàng nữa.
Hôm nay, bức thư của nàng đến giữa lúc bất ngờ làm cho chàng cảm động. Chàng run run hỏi người khách :
- Phượng bây giờ ở đâu? Tôi có thể đến thăm Phượng chăng?
- Phượng cũng muốn gặp cậu.
Vũ có cảm giác như tim chàng ngừng đập. Nhưng chàng điềm tĩnh :
- Tôi đi với chú ngay bây giờ được? Tôi nóng gặp...
Hắn mỉm cười :
- Được. Cậu xuống thuyền.
Vũ theo người khách bước xuống. Thuyền tư từ tách ra khỏi bãi sậy đìu hiu. Một cơn gió lốc làm cho nó chập chờn trên đợt sóng. Giữa trời, một con chim con vừa mới biết bay đang kêu lên những tiếng thảm thiết, rồi không chịu nổi với cơn gió mạnh, rơi như chiếc lá xuông cành cây khế bên kia sông.
Vũ hỏi người khách :
- Không thể đi đường bộ sao, chú?
- Được, nhưng xa hơn.
- Độ bao lâu tới?
- Chừng trăng lên.
Vũ không nói gì nữa, đưa mắt nhìn ánh chiều tà đang nhường bước cho màn đêm. Sao đã nhấp nhố ở bốn hướng trời.
Thật như lời khách nói, thuyền ghé bờ khi trăng vừa lên ngọn cau. Khách lên bờ, Vũ bước theo, hai người đi sóng đôi đến một khoảnh vườn rộng. Vũ thấy qua hàng cau, một chiếc nhà ngói cũ kỹ, chàng đoán đó là nhà Phượng.
Qua khỏi cổng, Vũ thấy dạng một thiếu nữ và một cậu bé đứng ở sân. Nàng nhìn ra phía sông, hình như có ý chờ đợi. Đi thêm đặng vài bước, nhờ ánh trăng nghiêng lên mặt, Vũ nhận ra nàng. Chàng cảm động reo lên :
- Em Phượng!
- Anh!
Bốn mắt nhìn nhau lặng lẽ. Mắt thiếu nữ lóng lánh đẹp, nhưng Vũ nhận nó chan chứa một cái gì. Chàng chợt nhận ra nàng gầy đi nhiều, và dưới ánh trăng xanh, khuôn mặt nàng càng tăng vẻ xanh xao tiều tụy.
Vừa lúc ấy, ba má Phượng từ trong nhà bước ra. Bác Tư mừng rỡ :
- À, cậu Vũ.
Vũ kính cẩn cúi đầu :
- Chào hai bác.
Bà Tư mỉm cười :
- Cậu trông mau lớn quá! Cháu Phượng vẫn nhắc đến cậu luôn.
- Đã năm năm rồi còn gì!
- Sao cậu biết bác ở đây mà đến?
- Em Phượng vừa cho cháu hay, cháu ngỡ hai bác còn ở xa.
Bác nhìn Phượng, rồi thở dài nói :
- Bác về đã nữa năm nay. Cháu Phượng hình như không chịu phong thổ miền dưới nên đau ốm luôn. Từ hôm về đây, cháu đã bớt.
- Sao bác không cho cháu hay?
Và chàng day qua phía Phượng :
- Sao em không cho anh hay?
Bà Tư cười nói :
- Tưởng cháu còn đi học.
Vũ tin lời đó ở bà Tư, nhưng chàng không thể tin nếu lời đó cũng thốt ra ở Phượng. Tuy nhiên, chàng vẫn thấy lòng khoan khoái đứng trước những mỹ tình thân ái bỗng đem đến cho chàng một cách đột ngột, cái mỹ tình mà chàng ngỡ đã xa vắng, và sẽ xa vắng đến vĩnh viễn.
Trăng đã lên cao. Từng mảng mây kéo ngang thành những vệt dài xuyên qua làn không khí. Thân cây in bóng xuống nền đất, mấy tàu lá đánh bật sau ót như mấy chiếc đuôi sam.
Đêm đó, chàng nói chuyện thật khuya với gia đình Phượng. Tất cả những chuyện xảy ra từ ngày xa cách, từ chuyện làm ăn của ba má Phượng, đến chuyện học hành của Vũ, đều được ôn lại một cách thân mật và vui vẻ. Chỉ có một điều Vũ chưa nói tới, là tấm lòng của chàng đối với Phượng.
Phượng cũng biết Vũ không bao giờ nói điều đó hay là chàng chưa bao giờ nói. Nhưng nàng đã hiểu nó không cần lời. Những lúc nằm trên giường bịnh, nàng đã nhận nó bằng tâm tưởng. Và giờ đây, dưới ánh trăng huyền bí, nàng đã nhận nó qua tia mắt của Vũ như nàng đã nhận ra ngày xưa ở những bài thơ êm ái của chàng.
- II -
Nhưng Vũ không chỉ là một nhà thơ, Vũ còn là một nhà triết học. Các bạn ở trường thường bảo Vũ: “Anh sống xa thật tế quá!”. Thật vậy, Vũ sống gần với lý tưởng hơn, mặc dầu cái lý tưởng ấy Vũ chưa lĩnh hội một cách đích xác, và chỉ thấy mang máng nó qua đám sương mờ.
Sinh ra với một tình yêu thâm thúy bao la, Vũ thường nhìn qua lòng mình và lòng người. Và Vũ có một phản động tự nhiên đối với những chế độ hà khắc: chế độ gia đình và chế độ xã hội. Nhưng đó là một phản động tiềm tàng, tiêu cực, Vũ chưa một lần bộc lộ nó ở cử chỉ, họa may một đôi lần lộ liễu nó ở ngòi bút. Vì Vũ vẫn còn những sợi giây trắc ẩn đối với gia đình cũng như một mối tình phong phú đối với thế nhân.
Ở nhà Phượng về, Vũ thấy lòng mang thêm những thắc mắc. Đi ngang qua phòng làm việc của quan Phủ - cha chàng - Vũ cảm thấy một bầu không khí trang nghiêm đến khó thở. Chàng không dám nhìn cha, nhưng biết rằng mắt ông đang nhìn chàng với tất cả sự giận dữ răn đe. Ông Phủ chưa nói gì, Vũ biết công việc rầy chàng ông đã để cho mẹ chàng.
Vũ muốn đi thẳng về phòng mình, nhưng rồi vẫn ríu ríu lại chào mẹ như thường lệ.
Mẹ Vũ đang ăn trầu trên bộ ván. Thấy chàng, bà đặt vội miếng thuốc đang xỉa xuống tráp trầu :
- Con mới về đó phải không?
- Thưa mẹ, vâng.
Bà nghiêm giọng :
- Con đi đâu suốt cả đêm nay?
- Con đi thăm một người bạn đau nặng.
- Mẹ đã dặn con không nên đi chơi với bạn bè nhiều... Con phải lo học thêm hoặc ở nhà giúp đỡ cha con. Cha con tính cho con thi ngạch thông phán tòa bố kỳ thi sắp tới đây.
Vũ nhớ đến bầu không khí ở phòng làm việc của cha lúc nãy. Chàng lắc đầu :
- Con tính về vườn thôi, mẹ ạ! Nghề trồng trỉa hợp với con hơn, và tự do hơn.
- Hừ, tự do! Bây thì động cái là nói tự do, đòi tự do. Chớ ỏ đây ai cùm xích mà không tự do?
Vũ nghĩ thầm: “Ở đây cái gì cũng là cùm xích” nhưng chàng chỉ đáp khẽ :
- Con đã định thế từ lâu.
Chàng chào mẹ rồi trở về phòng.
Vừa đặt lưng xuống giường, bao nhiêu nỗi bực dọc đều nhường chỗ cho những ý nghĩ về Phượng. Chàng nhớ đến từ ngày Phượng bé bỏng, đến một Phượng nữ sinh, rồi một Phượng gầy võ tiều tụy. Thời gian thay đổi nhanh chóng quá. Nhưng tánh tình Phượng thì chàng thấy vẫn không chút đổi thay. Chàng tự hỏi: “Mình có yêu Phượng không?” Chưa một lần nào lòng chàng trả lời câu hỏi đó. Chàng chỉ biết mình gần Phượng từ thuở bé với một tình bạn thân mật hơn là một tình yêu. Có những khi trong những bài thơ, chàng có tả đôi mắt đẹp của Phượng, tánh tình ngây thơ của Phượng, nhưng đó là vì chàng cảm thấy cái đẹp ở đấy mà thôi. Nếu có thể nói, tấm lòng của chàng bao quát đối với những vẽ đẹp, không riêng gì ở Phượng. Và mối tình của chàng đối với Phượng - ngay đến buổi gặp gỡ sau cùng này - cũng chỉ là một tình bạn và là mối tình của một thi sĩ đối với một vẽ đẹp mà thôi. Có thể gọi đó là ái tình không? Chàng cười thầm: “Nguời ta bảo mình lập dị, có lẽ cũng phải”. Vũ lấy cuốn “Triết học Mặc Tử” để ở đầu giường, lật qua đến trang đang xem dở. Đó là quyển sách đầu nằm của Vũ. Nó hợp với Vũ ở một tình yêu rộng rãi bao la - tình yêu đại đồng - và Vũ tìm đặng ở nó ít nhiều phản động đối với chế độ cũ. Thế là Vũ ôn nhuần nó như là quyển kinh nhật tụng. Vũ nghĩ: “dầu không thi hành được những phương pháp để đào tạo một thế quân bình, thì âu là hãy có một tâm hồn yêu thế nhân thiết tha như Mặc Tử?” Vũ đang bước qua cái trạng thái của một người sống đầy đủ quá trong vật chất, muốn tìm vài nhu cầu cần thiết cho tâm hồn.
Chàng đang chăm chú đọc đến “Chủ nghĩa kiêm ái”, bỗng nghe có tiếng ai rộn rịp ở sân ngoài. Chàng nhìn qua canh cửa sổ. Một tốp năm người lính đang dẫn một thanh niên bị còng tay đứng ở sân, có lẽ còn chờ lịnh của quan Phủ.
Vũ buột mồm reo lên :
- Anh Bão! Bão làm gì ở đây và làm sao bị bắt?
Chàng vội vàng ngồi dậy. Bão lam lũ trong bộ quần áo đen đã bạc màu. Mặt chàng xạm đen, nổi bật lên những đường gân cương quyết và chững chạc. Mắt chàng sáng quắc, ngó thẳng ra phía trước.
Vũ muốn chạy ra với bạn, nhưng có cái gì ngăn cản không cho chàng bước. Vũ có cảm giác thèn thẹn với bạn. Nhưng chàng biết ra lúc này cũng vô ích, hãy đợi xem Bão bị tội gì.
Bão bị tội gì? Đó là một câu hỏi nảy ra ở đầu Vũ từ khi thấy Bão. Chàng cố đem ra bao nhiêu nghi ngờ để có thể buộc Bão một tội, nhưng mà không thể. Bão không thể gây nên một tội ác gì cả, con người ấy Vũ đã hiểu nhiều sau mấy năm chung đụng gần gũi ở ban Trung học. Bão là một người thành thật, chất phát và học giỏi nhất lớp. Vũ đã xem Bão như một người anh và vẫn thường phục Bão ở mọi cuộc luận bàn về văn chương hay triết lý. Một hôm Vũ đọc cho Bão nghe mấy bài thơ của mình mới viết. Bão nghe xong, cười nói: “Thơ không phải là để nói trời nói đất, mà phải gần với đời sống và phụng sự nhân sinh. Thời đại này không phải là thời đại của Lý Bạch hay Đổ Phủ”. Vũ cũng cười: “Nhưng nếu không như Lý Bạch hay Đổ Phủ thì không còn là thơ nữa”. Bão thẳng thắn kết luận: “Nếu vậy càng hay, bằng làm thơ như họ thì hãy tìm ra những hoang đảo mà làm”. Rồi đôi bạn vui vẻ bắt sang chuyện khác.
Biết bao nhiêu kỷ niệm thân mật về Bão. Từ ngày Vũ thôi học về đây, Vũ chỉ nhận đặng một bức thư vắn tắt của Bão cho biết rằng chàng cũng đã thôi học vì phận sự phải đi xa. Đã ba năm rồi, chàng không được tin tức gì về Bão nữa, cho đến hôm nay...
Vũ thở dài nhìn theo gót mấy người lính đưa Bão xuống trại giam. Chàng thấy lòng thắt lại.
* * * * *
Vũ càng ngạc nhiên khi được biết Bão là một người tình nghi cách mạng.
Gần đây phong trào cách mạng nổi dậy khắp các tỉnh miền Nam Việt Nam. Nhà cầm quyền ra lịnh đàn áp bọn phiến loạn và truy nã những kẻ bị nghi. Rất nhiều lãnh tụ của họ bị bắt và bị đày ra Côn Đảo.
Tiếng “cách mạng” làm khủng khiếp tất cả các giới quan quyền, làm chấn động đến cả giới trí thức và tư sản. Họ nơm nớp lo sợ, nhiều người không hiểu nó có mục đích gì. Chính Vũ cũng là một trong những hạng người ấy. Có một đêm, Vũ bị đánh thức dậy bởi những tiếng ồn ào. Chàng chổi dậy trong khi cha chàng thét lính canh phòng cẩn mật bốn mặt nhà, mẹ chàng run lên như cầy sấy khi nghe tiếng súng bắn dọa ở trước sân. Chàng không dám mở rộng kính cửa sổ, rón rén đến nhìn qua kẹt cửa. Từng đoàn người rần rộ kéo nhau đi. Họ vác hèo mác, cầm biểu ngữ, trương cờ đỏ, vừa reo to những khẩu hiệu. Mặt người nào người nấy đầy sát khí, tưởng chừng như họ có thể giết chết bất cứ người nào ra cản đường họ. Cứ như thế diễn ra luôn mấy đêm. Sáng ra, người ta hay tin một viên hương quản bị chặt đầu. Đêm khác, vài tên lính bị ám sát. Nhiều bản tuyên cáo dán đầy đường hăm sẽ lấy đầu quan Phủ. Vài tuyên ngôn rải khắp ngõ để bày tỏ nguyện vọng của họ, nhưng không ai dám đọc. Tang tảng sáng, đoàn lính tủa ra các ngả đường lượm về, để một chồng ở dinh quan Phủ, rồi đem nạp về tòa bố.
Trước những cảnh ấy, Vũ không hiểu gì họ và cũng không có một cảm tình gì với họ được. Vũ không quen với những hành động phản kháng tính cực, nhất là cuộc đẫm máu đồng bào. Nhưng Vũ cũng không có gì thù hằn họ. Nhiều khi Vũ còn thương họ là khác, khi những người bị của họ bị bắt, bị khảo tra, bị tù đày.
Nhưng lần này, bao nhiêu ý nghĩ của Vũ về họ đều đổ vỡ và xáo trộn trong đầu óc Vũ: Bão là một nhà Cách mạng. Có thể như thế được chăng? Có thể Bão cũng là một người hung hăng, khát máu như thế chăng? Tại sao Bão lại làm cách mạng, cái hành động mà xưa nay Vũ vẫn cho là vô lối, là không tưởng?
Bao nhiêu câu hỏi ấy vẩn vơ trong đầu Vũ. Vũ nghi ngờ Bão, rồi nghi ngờ cả những nhận xét lâu nay của mình. Rốt cuộc, Vũ nhất quyết: phải tìm hiểu Bão, phải rõ sự thật.
Trưa hôm ấy, trong lúc quan Phủ ở phòng việc, Vũ xuống ngay phòng giam. Sau khi nói với tên lính gác rằng chàng có chuyện cần dọ hỏi tội nhân, chàng tiến ngay vào phía Bão.
Trong khám có ba người. Hai người thường phạm đang ủ rũ ngồi trong một hóc nói chuyện, chợt ngưng bặt khi thấy Vũ vào. Bão đứng cạnh cánh song sắt hướng ra đường, mắt đăm đăm nhìn mấy tên lính gác đi qua đi lại, có vẻ nghĩ ngợi. Bão không để ý cánh cửa mở, cũng không để ý đến người vừa vô là ai.
Vũ nghĩ thầm: “Cũng vẫn vẻ hiên ngang ấy”, và chàng gọi lớn :
- Anh Bão!
Bão day lại - À, Vũ.
Vũ tiến đến bên Bão, đưa tay ra bắt tay bạn :
- Tôi không ngờ gặp anh trong trường hợp này. Ba năm rồi, không được tin tức gì của anh, tôi ngỡ anh đã phiêu lạc về phương trời nào.
Bão cười :
- Phải, ba năm rồi biết bao là công việc đổi thay, chỉ có anh là không thay đổi gì cả. Đời vẫn bình thản dưới mái nhà ấm, và tiếng nói của anh vẫn là giọng của một nhà thơ.
Vũ nhìn tận vào mặt bạn, vẻ mặt nhuộm một màu khắc khổ nhưng rắn rỏi. Chàng thấy ở lời vừa thốt ra ấy của Bão có cái gì mỉa mai nhưng thân mật, mà chỉ có những người bạn thẳng thắn như Bão mới biểu lộ ra được. Chàng chưa tìm được lời gì để đáp, thì Bão thản nhiên tiếp :
- Cảnh ở đây nên thơ quá, Vũ nhỉ? Trong những nơi huy hoàng đài các như thế này, người ta sống biệt lập với những cõi đời ngoài ngưỡng cửa. Suốt đời, tôi chưa được hưởng những phút ấy, và nếu tôi được hưởng, chẳng hiểu tôi có khác gì anh không?
Vũ cảm thấy mặt mình nóng bừng, chàng đáp khẽ, giọng phân trần :
- Đó không phải là lỗi ở tôi, Bão ạ! Cha mẹ tôi ở đây, tôi cũng đã được sinh ra và nuôi nấng ở đây từ thuở nhỏ.
Bão day mặt ngó ra đường để che một nụ cười :
- Tôi nói có sao đâu? Tôi chỉ bảo đây là một căn nhà tây thật đẹp và thật sang.
Không thể giữ vẻ điềm nhiên nữa, Vũ ngắt lời Bão :
- Anh Bão, thật tôi không hiểu anh ra sao cả. Nếu anh còn xem tôi là người bạn thân của anh ngày xưa, tôi mới có thể tiếp chuyện với anh được. Tôi có nhiều điều cần phải hỏi anh...
Mặt Bão trở nên dịu dàng :
- Chúng ta vẫn là bạn. Từ ngày ta xa nhau, tôi đã từng theo dõi từng việc làm của anh, bằng cớ là tôi đã đọc hầu hết những bài thơ anh viết ở các báo, cả những bài thơ của anh nữa.
Vũ ngạc nhiên :
- Anh đã đọc cả? Nhưng bấy lâu nay anh ở đâu?
- Ở khắp nơi.
- Và anh đã về đây?
Bão gật đầu :
- Phải, hơn một năm nay.
Giọng Bão buông rơi một cách lạnh lùng, trong khi Vũ đi lần từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chàng thấy Bão có cái gì khác thường, hay ít nhất, khác xa với chàng.
- Anh về đây làm gì?
Bão lại cười :
- Điều ấy anh đã biết: tôi làm cách mạng.
Vũ trố mắt :
- Cách mạng?
- Anh lạ lắm sao? Một người sống bay nhảy khắp nơi để về đây nằm trong ngục tối, anh đã từng sống bên người ấy, gần gũi hơn là ruột thịt, anh không hiểu được người ấy sao?
Vũ thở dài :
- Thật tình, tôi chưa hiểu gì anh lúc này.
Bão đưa tay nắm lấy chân song sắt, chàng không cười nữa, mày hơi cau :
- Cũng có lẽ, anh không hiểu là phải!
Vũ không để ý đến lời bạn, chàng nắm lấy tay Bão, như để giữ lòng tin ở bạn :
- Tôi chưa hiểu cách mạng là gì, và thú thật tôi không cảm tình gì với nó. Những hành động của họ chỉ làm tôi hoang mang. Ở trường, người ta không nói đến nó; về đây, tôi không biết gì hơn ngoài những triết lý duy tâm ở sách vở. Tôi không thích đem cá tính mình ràng buộc trong những chế độ xiềng xích, nhưng tôi đã tìm được một lối thoát cho tâm hồn: tôn giáo. Tôi tưởng nếu rèn luyện cho mình một tâm hồn vị tha thì có thể vượt ra ngoài mọi khuôn khổ phiền phức.
Bão buông nhẹ hai tay xuống để tỏ một cử chỉ phản đối; - Như thế chỉ là một lối giải thoát cá nhân.
- Tại sao chỉ là cá nhân?
- Con đường ấy nhiều người đã đi rồi. Đức Phật có một tình yêu bao quát, Mặc Tử có một tình yêu đại đồng, nhưng có một tình yêu không, chưa đủ. Phật có nhập Niết Bàn - nếu quả đó là cõi giải thoát - thì chỉ giải thoát riêng cá nhân Phật mà thôi. Mặc Tử có cổ xúy chủ nghĩa “Kiêm ái”, chỉ là phương pháp độc tài về lòng yêu thiên hạ mà thôi. Giáo lý Phật đã mấy ngàn năm, mà thế nhân vẫn còn oằn oại trong đau khổ. Mặc học có biểu dương khắp Trung Quốc, cũng không thâu phục được lòng thiên hạ trong một quốc gia. Như vậy, ta còn có thể tìm ở đó một chân lý giải thoát chăng?
Vũ như chợt tỉnh :
- Đành rằng vậy, nhưng không có chân lý nào tuyệt đối.
- Sao lại không? Chân lý đó không phải nảy nở trong những cánh cửa đài các, mà ở ngoài kia ngưỡng cửa. Và người ta phải nhận thức nó, nhận lấy nó theo luật tiến hóa của xã hội. Lòng yêu vị tha mà anh tìm ra ở tôn giáo là một phương tiện để soi sáng cái chân lý ấy.
Vũ đưa một tay lên trán như để cố gợi một ý thức :
- Những điều anh nói còn mờ ám quá, nhưng hình như tôi hơi mang máng hiểu.
Bão sung sướng :
- Thế thì tôi tin anh sẽ hiểu?
Vũ bỗng nghe tiếng rang rảng của quan Phủ từ phòng giấy đưa lại, có lẽ đang rầy vài người hầu. Vũ thấy chột dạ, hỏi khẽ Bão :
- Tại sao anh làm cách mạng?
- Câu chuyện dài, tôi không thể nói ở đây. Tôi sẽ nói với anh, một này kia khi tôi ra khỏi ngục.
Câu của Bão nhắc lại Vũ cái mục đích của chàng vào đây. Chàng lo lắng :
- Anh bị bắt có đủ bằng cớ không?
- Không, tôi bị tình nghi.
- Anh có hy vọng được thả không?
- Điều ấy tôi không nghĩ đến.
Vũ ngập ngừng, nói nhỏ để cho hai thường phạm đừng nghe :
- Tôi sẽ tìm cách cho anh được thả ra trong vài hôm. Anh có thể tin tôi, một người bạn.
Bão thản nhiên ngẩng đầu lên :
- Hãy thận trọng, Vũ ạ! Việc ấy có thể nguy hiểm cho anh, cho gia đình anh.
Vũ cũng thản nhiên :
- Tôi đã quyết. Vả lại, tôi cần phải hiểu anh hơn, cần phải nghe câu chuyện anh thuật lại về cuộc đời cách mạng của anh. Vì tôi đang muốn tìm ra chân lý.
Bão không đáp trong khi Vũ từ giã bước ra. Tới cửa, Vũ quay lại chào chàng một lần nữa với một nụ cười đảm bảo, rồi lẵng lặng vặn khoá.
Cánh cửa khép lại với một tiếng rên siết nặng nề.
- III -
Vũ vui vẻ đạp xe về hướng Hoa Thôn. Gió ngược chiều lướt dài trên mái tóc. Vài chiếc lá rơi la đà trước mặt, lạc loài như những cánh chim.
Đến một nẻo đường mòn, chiếc xe đạp vồng lên trên những mô đất. Những cây tràm, cây phượng, cây điều nối liền những rặng trúc thành hai hàng dài san sát hai bên lề. Bánh xe chuyển mình trên những cánh phượng, ghi lại dặm đường những vết máu lòng trinh.
Vũ đạp một thôi dài mà không biết mệt. Buồng ngực chàng căng lên. Lòng chàng rộn rã. Đời xin tươi trong ánh nắng lên đào.
Vượt khỏi rặng trúc, Vũ khoan khoái thấy những đọt lá cau uốn mình đong đưa quanh mái ngói. Chàng đã nhận ra đó là nhà Phượng. Nhớ đến người con gái ấy, Vũ lại thấy lòng mênh mang. Hơn một tuần rồi, vì bận lo cho Bão, Vũ không có thì giờ nghĩ đến Phượng. Cho đến sáng hôm nay, trong một lúc vơ vẩn nhìn ra cầu, Vũ chợt nhớ đến bạn và có ý định đến thăm nàng.
- Chị Phượng ơi! Anh Vũ đến đây nè.
Thằng Tí, em Phượng, đang chơi trước nhà, mừng rỡ, reo lên khi thấy Vũ vào. Vũ cũng vừa đến sân, nhảy xuống xe, mỉm cười hỏi nó :
- Sao em biết tên anh?
Tí láu lỉnh đáp :
- Em biết, vì chị Phượng nhắc đến anh luôn.
- Chị Phượng em đâu?
- Chỉ ở ngoài vườn sau. Anh đứng đây, để em chạy gọi chỉ nhé?
Chàng nắm lấy tay Tí :
- Không, anh cùng đi với em cũng được.
Tí không đi vô nhà, bước lẹ ra phía hông rồi thẳng ra vườn, Vũ hỏi nhỏ :
- Chị Phượng em có hay buồn không?
- Lúc nào chỉ cũng buồn.
- Sao vậy?
- Em không biết. Má em cũng thường hay hỏi, nhưng chỉ không chịu đáp. Ba em nói vì chỉ đau tim, có lẽ chỉ buồn vì sợ chết!
Vũ nhớ lại bức thư của Phượng, trong đấy Phượng than thở và tiếc rẻ tuổi xanh của mình. Có lẽ đó là bằng cớ về mối buồn của Phượng. Nhưng không phải vì lẽ đó mà thôi, lòng Phượng vẫn còn cái gì thắc mắc, khiến cho nàng sống trên sự hồi hộp, đợi chờ. Vũ đã hiểu sự thắc mắc ấy ở Phượng. Cho nên ngay sau khi ở nhà nàng về, Vũ đã dè dặt hỏi lại lòng mình, xem nó có đáng với sự chờ đợi của nàng không. Vũ chưa tự trả lời được thì chuyện Bão xảy ra, lôi cuốn chàng và cả trí não chàng vào công việc hoạt động của Bão. Cái câu hỏi mà chàng chưa kịp trả lời ấy, đến bây giờ chàng mới nhận rõ. Chàng thấy mình nghiêng về lý trí hơn là tình cảm, tình bạn hơn là tình yêu.
- Chị Phượng!
Vũ đang miên man nghĩ, tiếng gọi của Tí làm cho chàng giật mình. Phượng đứng dưới giàn mướp, tà áo ẩn trong bóng lá phản chiếu với ánh nắng thành một màu thiên thanh. Mái tóc nàng lấm tấm những đài hoa mướp vàng.
Phượng chưa kịp cất lời chào, Vũ buột mồm reo lên :
- Đẹp quá!
Phượng dịu dàng nhìn Vũ :
- Anh bảo cái gì đẹp?
Vũ tươi cười :
- Cái gì hôm nay cũng đẹp, mà đẹp nhất là người thiếu nữ dưới giàn hoa.
Phượng bẽn lẽn cúi đầu, đôi má xanh xao của nàng ửng hồng chẳng hiểu vì ánh nắng hay vì thẹn. Vũ yên lặng nhìn nàng. Phượng vẫn đẹp, tuy khuôn mặt và vóc dáng có gầy đi nhiều. Chàng thân mật :
- Anh đến thăm Phượng đây. Phượng có trông anh lắm không?
Nàng đáp nhỏ :
- Anh còn phải hỏi!
Đôi mắt buồn và câu đáp dịu dàng của Phượng làm cho chàng cảm động. Chính câu nói ấy ngày xưa, một lần Phượng dùng nó để bộc lộ tấm lòng mình, mà đến ngày nay Vũ vẫn còn nhớ. Năm ấy, Phượng và Vũ học năm thứ ba, hai ngưòi ở trọ cách nhau nhưng vẫn thường qua lại thân mật. Một hôm nhân kỳ lễ, các bạn về cả, chỉ còn Vũ ở lại. Chàng băng khoăng ra bến xe hỏi thăm tin tức ở nhà. Đến bến xe, Vũ ngạc nhiên thấy Phượng cũng vừa đến. Gặp Vũ, nàng mừng rỡ :
- Anh Vũ chưa về sao?
- Có lẽ anh không về được.
- Em cũng ở lại vì ba em đau ở nhà thương Chợ Rẫy. Nếu anh không về, chiều em đến chơi với anh nhé?
- Ừ, em đến chơi, anh ở lại một mình buồn quá!
Nhưng chiều đó, xe của quan Phủ đến và Vũ phải theo cha về quê. Thấm thoát ngày lễ qua, Vũ trở lên Sài Gòn. Trong khi ngồi xe về nhà trọ, Vũ thấy Phượng đi bên đường, mắt đăm đăm nhìn xuống chân như đếm từng bước. Chàng gọi lớn: “Em Phượng!” Chẳng hiểu có nghe hay không mà Phượng vẫn cúi đầu lẵng lặng bước đi.
Chiều lại, Vũ lật đật đến tìm Phượng. Nàng đang lay hoay xếp sách trên bàn. Thấy Vũ, nàng không nói gì, tay mân mê mấy chồng sách, nhưng vẻ mặt nàng đượm một u hoài không thể tả. Vũ hỏi :
- Bữa ấy, Phượng có đến kiếm anh chăng?
Phượng im lặng một lúc, rồi ngẩng lên nhìn Vũ với đôi mắt rưng rưng :
- Anh còn phải hỏi!
Đó là một lời trách cứ êm đềm và thâm thúy. Vũ thấy lòng sung sướng trước những giọt nước mắt vì mình, giọt nước mắt thấy lòng mình cảm động hơn là rung động, thương nàng hơn là yêu nàng.
Hôm nay tình cờ Phượng lập lại câu đó làm cho Vũ lại lo sợ. Chàng muốn Phượng hiểu chàng hơn, nhưng không có cách gì để giải rõ lòng mình. Chàng chỉ nói :
- Anh bận lắm, Phượng ạ! Rồi anh sẽ thuật lại cho em nghe.
Vừa lúc đó có tiếng chân từ trong nhà bước ra. Vũ day lại và gặp bà Tư :
- Chào bác ạ!
- Chào cậu.
Rồi bà thân mật :
- Lúc nãy vừa nhắc cậu thì giờ cậu đến, may quá! Cậu ở lại chơi đến chiều hãy về. Ở miệt đồng quê này, không khí rất tốt và được cái yên tỉnh.
- Cám ơn bác. Cháu cũng định thỉnh thoảng có rảnh lại về đây chơi.
Bà Tư vui vẻ nhìn quanh, cất tiếng gọi :
- Tí đâu rồi?
Thằng Tí đứng cạnh Phượng sau giàn hoa, vội vàng chạy lại :
- Con đây, má.
- Vào đây má nhờ cái này, con!
Dứt lời bà dẫn Tí trở vào. Vũ nhìn theo, mỉm cười nói với Phượng :
- Cậu Tí trông kháu quá! Tí vừa mách với anh một câu chuyện về Phượng đấy.
Phượng đưa mắt cho Vũ, hỏi lẹ :
- Chuyện gì, hở anh?
- Tí bảo rằng Phượng hay buồn lắm.
Mắt Phượng chớp chớp như hai cánh bướm :
- Không, em có buồn đâu!
Nhưng Phượng không dám nhìn Vũ nữa. Nàng bước mấy bước ra phía cổng, vừa bảo Vũ :
- Ta đi lần ra mé sông chơi, anh Vũ. Và anh thuật câu chuyện mà anh hứa kể lại cho em nghe.
Vũ bước theo nàng :
- Phải, ta cùng ra mé sông chơi đi. Gió ngoài ấy hẳn mát hơn.
Vũ tiến đến bên nàng và cùng đi song song ra cổng. Cách một con đường mòn nhỏ thì đến sông. Mặt nước phẳng lặng như nằm ngủ dưới bóng cây, vài rặng lau nhấp nhô trương mình ra ánh nắng. Gió dìu dịu và trời đìu hiu.
Vũ tự nhiên có một cảm tưởng, chàng nói :
- Ở đồng quê, cảnh vật lúc nào cũng như trầm tĩnh. Ở những nơi như thế này, người ta dễ giữ được bản tính thiên lương hơn.
Tiếng “hơn” Vũ có ý muốn nói:
“hơn những nơi đài các”. vì chàng vừa chợt nghĩ đến lời Bão vừa nói hôm nào. Vũ lại nhận ra rằng từ ngày gặp Bão đến nay, chàng hay vơ vẩn vì những tư tưởng của Bão, dầu là đến những tư tưởng nhỏ nhặt.
Nhưng Phượng thì nàng nghĩ khác, cho rằng Vũ nhắc nhở đến mối buồn của nàng. Phượng ý nhị nói :
- Nhất là sau những cơn giống tố, cảnh vật chẳng những trầm tĩnh mà còn thêm uể oải. Chẳng hiểu những lúc ấy người ta có giữ được tính thiên lương hay không?
Vũ cười :
- Điều ấy thì em hẳn hiểu?
Phượng cũng cười :
- Mà nào em có hiểu đâu!
Hai người đứng dưới cội trâm. Tàn lá xum xê che khuất cả ánh nắng. Phượng vói tay nắm lấy một nhành cây. Đôi bồ câu đang ríu rít gù nhau trên cành, vụt vỗ cánh bay đi vì tiếng động.
Phượng nhắc Vũ :
- Nào, anh kể chuyện đi.
Vũ ngắm bạn một lúc, ngần ngại, rồi chàng thuật lại câu chuyện gặp Bão cho Phượng nghe. Chàng thuật lại với tất cả sự thắc mắc của những trạng thái biến đổi của tâm hồn. Trong lúc Phượng chăm chú lắng nghe, và cũng như Vũ, nàng cố hiểu. Nhưng sau khi nghe xong, nàng không tỏ vẻ gì quan tâm đến, thản nhiên nói :
- Bão hoạt động như vậy là phải. Những kẻ nghèo thì luôn luôn tìm cách để binh vực quyền lợi của kẻ nghèo, có gì là lạ?
- Binh vực quyền lợi thì thiếu gì cách, sao lại dùng đến bạo động và nguy hiểm vậy?
Phượng cười :
- Bởi vì Bão là người hiếu động cũng như anh là người ưa tĩnh. Bão làm cách mạng cũng như anh làm thơ.
Câu ví của Phượng làm cho Vũ bật cười. Lý luận của nàng thật dễ dàng và ngây ngô, nhưng chính Vũ cũng chưa bao giờ nghĩ đến. Có ai vì thị hiếu mà hy sinh tánh mạng mình bao giờ? Càng nghĩ, Vũ càng hoang mang. Chàng có cảm giác ở ngoài kia còn một chân trời mới lạ, mà chàng chưa khám phá ra, cũng chưa hình dung nó được.
Trong lúc Phượng và Vũ đứng lặng bên nhau, mỗi người đeo đuổi theo một ý tưởng, thì chợt có tiếng lá động xạc xào. Vũ nắm tay Phượng bảo khẽ :
- Có người đến.
Từ trong một ngõ rẽ um tùm cây lá, ba người đàn ông bước ra, vừa đi vừa nói chuyện. Mặt người nào người nấy đều có vẻ gân guốc, chững chạc. Hình như họ đang bàn câu chuyện gì quan trọng.
Nhận ra một người trong bọn họ, Vũ bỗng reo lên :
- Anh Bão!
Bão ngoảnh lại, đôi mày chàng hơi cau khi bắt gặp đôi mắt ngạc nhiên của thiếu nữ. Chàng đến bên Vũ, chào qua Phượng, rồi thẳng thắn đùa bạn :
- Lúc này mà anh còn đi tìm tứ thơ hay sao?
Vũ có cảm giác như sắc mặt mình đỏ lên. Chàng lúng túng đáp :
- Không, tôi đi thăm một người bạn gài đồng học cũ.
Và chàng day lại phía Phượng :
- Luôn tiện, xin giới thiệu anh Bão với em Phượng.
Bão chào Phượng một lần nữa, trong lúc Phượng nép bên Vũ, bẽn lẽn cúi đầu. Bão để ý thấy Phượng gầy yếu xanh xao, vẻ mặt kiều diễm đượm một sắc u buồn. Chàng tự nhiên thấy lời đùa của mình hơi ác ý, vội chữa :
- Tôi năng đến vùng này mà không biết cô Phượng ở đây. Vậy từ nay thỉnh thoảng tôi ghé cô chơi, được không cô Phượng nhỉ?
- Cám ơn anh. Như thế là hân hạnh cho em lắm.
Bão day qua Vũ :
- Chúng tôi có chút việc. Anh có rảnh để theo chúng tôi một đoạn đường chăng?
Vũ nói :
- Tôi theo ngay. Các anh đợi tôi một phút.
Dứt lời, Vũ vội vã chạy vào từ giã bà Tư rồi lấy xe đạp ra. Chàng thân mật nói với Phượng :
- Thôi, em Phượng vào nhà nghỉ nhé! Khi khác anh lại đến, và hẳn là sẽ có chuyện có ích cho em.
- Em vẫn mong như thế.
Bão dịu dàng chào Phượng rồi cùng ba người bước đi. Khi đã khuất dạng thiếu nữ, Bão nói với Vũ :
- Ngay hôm được anh vận động thả ra, tôi về đây lo tụ họp lại các đồng chí cũ. Một số đã bị bắt, bao nhiêu còn lại vẫn cương quyết với chí hướng mình. Chúng tôi đang bí mật mở những cuộc tuyên truyền lớn ở các vùng quê.
Vũ ngần ngại một lúc, đáp :
- Tôi không thể tán thành công việc của các anh làm, vì tôi chưa hiểu rõ mục đích của các anh. Tôi vận động trả tự do lại cho anh, một là vì tôi là bạn anh, hai là để rõ sự thật những gì mà tôi chưa được rõ. Tôi muốn tỏ rằng: không phải vì cái hố sâu giai cấp mà chúng ta không có quyền thấu rõ chân lý.
Bão khẽ nhếch mép, để lộ một nụ cười rắn rỏi :
- Tôi đã hiểu anh nhiều, Vũ ạ! Một người bạn đã từng sống bên cạnh anh những ngày còn ở trường, đã từng theo dõi hành động anh từ ngày chia rẽ, người bạn ấy không thể hiểu lầm anh đâu. Anh là người hằng nói đến chữ “Thiên lương”, mặc dầu là một thi sĩ đi nữa, anh cũng không thể sống riêng với tình cảm mà không cần đến lý trí.Hôm nay, tôi muốn đánh thức lại cái lý trí ấy ở anh, để anh nhận lấy cái ý niệm tổ chức lại một đời sống mới.
- Miễn là đời sống đó không phản với Thiên lương.
- Cái ấy đã đành. Tôi không thể nói nhiều để cho anh hiểu, vì tôi tự biết tôi biểu lộ tư tưởng mình một cách khó khăn, nhưng tôi đã thận trọng ghi rõ lên trang giấy.
Bão rút trong túi ra một xấp giấy đưa cho Vũ, ân cần tiếp :
- Anh có thể xem đấy mà hiểu được tôi, hiểu được những điều mà anh muốn hiểu. Xem xong, anh nhớ đốt ngay.
Vũ sung sướng tiếp lấy. Chàng có cảm tưởng như cánh cửa của chân trời mới đã từ từ mở ra, một luồn ánh sáng lùa vào làm cho chàng nở bừng cả tuệ giác.
- IV -
Anh Vũ,
Có lẽ anh đã hiểu chút ít về gia đình và quê hương tôi, vì ngày xưa, đã có lần tôi nói với anh. Nhưng tôi chắc rằng anh không thể nào rõ tấm lòng tôi đối với nó. Hôm nay, một lần nữa tôi nhắc lại nó với anh, chẳng phải là để nhớ tiếc xuông cái đất quê cằn cỗi ấy và những người gia quyến thân yêu, mà chính vì nó đã đào tạo ra một “Tôi” ngày nay, một tâm hồn được cảm hóa trong yêu đương cũng nhu được cứng rắn vì rạn lửa.
Quê tôi ở một vùng xa, thật xa, nơi đấy chứa toàn những hạng người lầm than lam lũ. Họ lo cày bừa, trồng trĩa, gặt hái, suốt đời đổi giọt mồ hôi lấy hột gạo, không biết rằng mình khổ, cũng không hề ngỏ lời than van. Đời họ sống phẳng lì như những con vật. Chỉ có tôi là một kẻ đến sau, tôi được cái may mắn bước chân đến nhà trường. Khi tôi vừa đọc bập bẹ được vài câu tiếng Tây, cả gia đình và những người thân quyến tôi đều lấy đó làm thú vị. Những buổi chiều hè, họ xúm quanh bên tôi, kêu nài: “Nào, đọc tiếng Tây lên nghe thử nào”. Tôi phải lấy giọng, ráng đọc chẫm rải từng tiếng: “Tôi tên Bão. Tôi yêu quê hương tôi. Tôi yêu gia đình tôi”. Họ lặng yên nghe, bỗng cất tiếng cười vang lên khi tôi ngừng, có khi những giòng lệ sung sướng cùng theo tiếng cười mà lăn dài xuống má. Rồi họ reo lên: “Người ta bảo đó là tiếng vịt kêu.Thế là nghĩa gì nhỉ?” Tôi phải cắc nghĩa cho họ nghe. Tất cả đều thán phục sự hiểu biết của tôi.
Ông tôi bảo: “Ta không lầm mà cho nó đi học. Thời thế đã đổi khác rồi. Nó làm vinh hạnh cho chúng ta và sẽ đền đáp gấp mấy cho chúng ta”. Tôi run run đáp: “Chắc như thế, ông ạ!”, và khoan khoái thấy bao nhiêu cặp mắt hiền lành chất phát đang thao tháo nhìn tôi.
Ngày tôi rời quê lên Sàigòn để vào trường lớn, tất cả cái xóm quê hẻo lánh đã tiễn tôi đi. Họ góp nhóp những số tiền đã tiện tặn, sắm sang cho tôi đủ các vật: quần áo, giày vớ, khăn, nón. Họ bảo nhau: “Phải cắt trừ hao, vào trường lớn nó sẽ mau mập và mau lớn”. Nhưng mấy bộ đồ ấy vẫn phùng phình với tôi, vì tôi vẫn không lớn, không mập. Các bạn nhìn tôi chế nhạo. Tôi không mấy quan tâm. Và mỗi lần chúng cười, tôi cũng cười theo cho đỡ ngượng. Trong lòng tôi đã mang bao nhiêu mỹ cảm đối với quê hương, chẳng những thế, tôi còn có một sứ mạng là sẽ đền đáp một cách xứng đáng những tấm lòng tốt. Vì vậy mà tôi ráng học. Luôn sáu năm, tôi là một tên học trò giỏi giắn và siêng năng nhất lớp.
Nếu cuộc đời cứ chảy qua như vậy thì đã không có gì biến đổi, và tôi sau này đã có một chức phận ở quan trường, sẽ sống một cách yên phận như tôi đã ao ước. Nhưng một sự tình cờ đã xoay hẳn lại, làm cho tôi không thể giữ tâm hồn mình được bình tĩnh nữa.
Một hôm, được nói chuyện với giáo sư T. về anh em sinh viên Pháp, Nga, Anh, và những sự hoạt động của họ khi họ đã hồi quê, giáo sư thở dài nói một câu khiến tôi phải thắc mắc: “Phần nhiều về đến nhà rồi, họ vẫn ngu như muôn ngàn người khác. Cũng lầu ngà, vợ đẹp, họ nghĩ đến họ hơn là nghĩ đến xứ sở”. Tôi nghĩ thầm: “Lầu ngà, vợ đẹp là ngu hay sao? Trên đời mấy ai lại không muốn sự giàu sang?” Nhưng từ đấy, tôi bắt đầu lưu tâm đến những hoạt động của trí thức. Tôi thấy ngoài hạng trí thức chỉ lo vinh thân phì gia, còn một hạng chỉ sống đạm bạc với nghề viết báo, nghề dạy học và nghề... ngồi tù. Cứ vài ngày nghe họ bị xét bắt, vài ngày nghe họ tuyệt thực phản kháng, vài ngày nghe họ trở vô tù. Tại sao họ lại làm thế? Họ làm như vậy có ích gì cho xứ sở đâu, nếu quả họ là những người mà giáo sư T. đặc biệt chú ý? Tôi quyết định sẽ hỏi giáo sư T.
Để trả lời tôi, giáo sư đưa cho tôi mấy quyển sách chánh trị, vừa bảo: “Xem xong mấy quyển sách này, em sẽ hiểu. Đó là mấy quyển sách cấm, mấy anh ở ngoại quốc lén đem về. Em coi phải dè dặt”. Tôi vâng lời, về phòng thức suốt đêm để đọc. Tôi đọc say mê luôn hai ngày. Tôi chỉ mới mang máng hiểu chớ chưa nhận định được rõ rệt, thì buổi sáng thứ ba trong lúc tôi vừa ngủ dậy, bỗng có tiếng gõ cửa. Tôi ra mở. Năm người lính bước vào, một người nghiêm giọng bảo :
- Chúng tôi được lịnh đến xét nhà cậu.
Tôi ngạc nhiên nhưng vẫn cung kính hỏi :
- Các ông muốn tìm gì?
- Sở Mật thám cho biết rằng cậu hiện giữ mấy quyển sách cấm.
Tôi xanh mặt. Sao mật thám lại biết mấy quyển sách ấy tôi đang xem. Hay giáo sư T. tố cáo? Tuy vậy tôi thẳng thắn đáp :
- Các ông khỏi cần phí công tìm. Mấy quyển sách ấy ở đầu giường kia.
Một người của Sở Mật thám nói :
- Nếu vậy hay. Mời cậu theo chúng tôi về bót.
Tôi gật đầu rồi theo họ đi.
Vì đã đủ tang cớ nên tôi bị tống vào khám. Tôi lặng lẽ bước vào, tâm trí chưa kịp có một ý nghĩ gì. Tôi cũng không thấy mình buồn hay là sợ. Đây là một căn khám dành riêng cho tù nhân chính trị nên rộng rãi, khoảng khoát. Việc làm trước nhất của tôi là quan sát qua quang cảnh trong khám. Tôi vừa đưa mắt nhìn qua, lạ chưa, một dáng người làm cho tôi dừng mắt lại: giáo sư T.
Giáo sư trông thấy tôi, cười nói :
- Em cũng vào đó sao?
Tôi thuật lại việc bị xét nhà cho giáo sư nghe. Ông nghe xong, thản nhiên nói :
- Em đã hiểu những điều mà em thắc mắc chưa?
- Em chỉ hiểu quyền lợi và bổn phận của mình, nhưng chưa thấu đáo nguyên lý và phương pháp.
- Nếu vậy nơi đây mới chính là trường học hữu ích cho em.
Giáo sư chỉ mấy tội nhân đang ngồi vui vẻ nói chuyện bên cạnh, tiếp :
- Họ là những giáo sư mới của em đó.
Tôi đến chào từng người theo lời giới thiệu của giáo sư T. Tôi thấy họ không có vẻ gì là tội nhân, họ giống như những nhân viên của một hội kín đương bàn chuyện quốc sự.
Thế là từ đây, tôi đã trở nên một nhân viên tập sự của hội. Tôi được nghe những câu chuyện mà sáu năm nay tôi chưa hề nghe ở nhà trường, chưa hề nghe ở ngoài đời. Tâm hồn tôi mở rộng ra. Có một cái gì bồng bột, hăng hái dâng lên, làm cho tràn trề hy vọng. Trước mặt tôi, những mạch sống cũ càng đã đổ vỡ. Chưa cần một phản kháng, bao nhiêu xích xiềng phong kiến đã rơi tan tác xuống mặt tôi.
Bây giờ tôi mới hiểu tại sao dải đất Việt Nam với bao nhiêu nguồn lợi phong phú, mà những người dân quê suốt đời vẫn dốt nát lam lũ. Tôi mới hiểu rằng giúp đỡ họ, trả ơn họ bằng tiền bạc chưa đủ, phải cải tạo đời sống họ, làm cho họ bừng tỉnh dậy, trao cho họ một lợi khí để họ tự đòi lấy quyền lợi mình. Tôi lấy làm thỏa mãn với sự hiểu biết mới mẻ này, và tôi quyết thực hành một ngày này kia khi tôi ra khỏi ngục.
Nhưng từ khi hiểu biết được những điều ấy, những ngày ở ngục tôi lại thấy nó nặng nề. Trong lúc đó, căn ngục lần lần đầy dẩy. Vá khi đầy, người ta lại đem bớt đi, đưa họ về cấm cố ở những miền xa. Cứ mỗi một người vào, lại thêm một câu chuyện lạ ở bên ngoài. Cứ mỗi một người ra, tất cả đều ái ngại thay cho tánh mạng người ấy. Nhưng họ không hề than thở, không hề rên xiết, không hề rơi lệ. Họ bước đi những bước nặng nề với nụ cười quả quyết trên môi.
Có những đêm đứng tựa bên song cửa, lòng tôi tha thiết nhớ quê hương. Chẳng rõ khi hay tin tôi bị bắt, gia đình tôi sẽ khổ sở đến bực nào, những người bạn quê thân yêu của tôi sẽ lo lắng đến bực nào! Có lẽ họ tưởng tôi đã chết. Có người hằng đêm cầu nguyện cho tôi. Nhiều khi những ý tưởng rùng rợn đến với tôi, tôi nghĩ biết đâu một khi chết, tôi sẽ không được an nghỉ dưới miếng đất êm ấm ở quê nhà, mà tôi phải vùi thây ở một phương trời lạnh lẽo nào, thân mình vẩy đầy những vết đạn. Tuy nghĩ thế, tôi vẫn không nao núng. Tâm hồn tôi đã cứng rắn lắm rồi!
Chính đến lúc này tôi mới thấy tôi hoàn toàn thành một tay cách mạng...
Hơn một năm sau, nhơn một cuộc phản kháng của tù nhân chính trị, tôi được ân xá. Một con đường đã vạch sẵn cho tôi rồi, tôi chỉ còn hăng hái tiến bước. Không một trở lực nào có thể ngăn nổi những gót chân đã hoàn toàn giác ngộ.
Đó là đoạn ký ức đáng ghi nhớ nhất của đời tôi. Nhờ nó mà tôi đã tìm ra chân lý của cuộc đời, tôi tưởng chép lại cho anh xem, không phải là một việc vô ích.
Phải thế không, anh Vũ?
Bạn của anh,
BÃO
- V -
Từ hôm đó, Vũ thường gặp Bão ở Quán Lá về miệt Đông bắc Hoa Thơn. Vũ bắt đầu sắp quyển
“Triết học Mặc Tử” vào đáy tủ, để tìm đọc những quyển chính trị, kinh tế triết học của những nhà văn Âu Châu.
Những loại sách ấy, Vũ thường hỏi mượn Bão. Và cứ mỗi lần có điều gì nghi ngờ, Vũ vội chạy ngay đi tìm Bão, hỏi cho ra lẽ.
Suốt mấy tuần, chàng cố đọc những tác phẩm mà trước kia Bão đã biết được nhờ giáo sư T. Chàng đọc say mê hơn là làm một bài trường thi, hơn là chàng đã đọc chủ nghĩa “Kiêm ái” của Mặc Tử. Đọc xong, Vũ thấy tâm hồn mình dường như thay đổi hẳn. Nhưng chàng vẫn còn do dự - như Bão ngày xưa - giữa những nguyên lý và phương pháp thực hành. Chàng nghĩ: “Bão giác ngộ được nhờ những giáo sư trong ngục, còn mình phải nhờ đến một nhà cách mạng như Bão mới được”. Và chàng lại tìm Bão.
Chiều hôm ấy, Vũ đến Quán Lá, gặp Bão đang ngồi với mấy người dân quê. Cái con người mà Vũ kính phục, có vẻ mặt hiền lành hơn là những người dân quê chất phác. Vậy mà Bão có một tâm hồn khác thường! Rồi Vũ thèn thẹn thấy mình sang trọng quá đối với họ. Chàng biết đó không phải là một cái tội, nhưng chàng vẫn thấy làm sao ấy.
Sau vài câu chuyện, Vũ hỏi Bão :
- Tôi hiểu được cái chân lý mà bấy lâu nay tôi mờ ám. Nhưng tôi lấy làm lạ tại sao ta không dùng phương pháp cải cách mà phải dùng đến phương pháp cách mạng. Cách mạng chỉ gây ra những cuộc hỗn độn trong xã hội, nhất là xã hội chúng ta còn chặt chẽ trong những tập tục phong kiến. Tôi tưởng ta nên theo phương pháp của Malon hơn.
Bão mỉm cười đáp, không cần nghĩ ngợi :
- Tôi cũng đã nghĩ đến điều ấy. Nhưng nước ta còn ở dưới chế độ thuộc trị,cái thời thế thuận tiện ta hẳn là không có rồi. Ta phải dùng đến phương pháp thứ hai:
Giải phóng quốc gia. Ta không thể nào làm khác hơn.
Vũ nghĩ một lúc, ôn tồn nói :
- Tôi chỉ còn một việc thắc mắc đó, nay anh đã cởi mở ra rồi. Tôi lấy làm sung sướng thấy tâm hồn mình đã ly khai với những tư tưởng cũ. Vậy từ nay, tôi có thể đứng trong hàng ngũ để hoạt động với các anh không?
Tất cả những cặp mắt đều đổ dồn về Vũ. Bão vui vẻ đáp :
- Chính đó là điều mà tôi chờ đợi ở anh từ lâu. Tôi biết rằng anh sẽ đi tới, nên tôi đã giúp cho anh đủ những điều kiện thuận tiện để cho anh dễ dàng nhận thức. Ngày nay, anh đã tới, chúng tôi xin sẵn sàng đón tiếp anh với tất cả tấm lòng chân thành và tín cẩn.
Một loạt hoan hô nổi dậy. Vũ hân hạnh bước đến nhận lấy những cái bắt tay đậm đà của những người bạn mới.
* * * * *
Sự thật, Vũ cũng ngạc nhiên với tâm trạng biến đổi của mình. Từ một thi sĩ, Vũ đã trở nên một chiến sĩ. Chàng theo Bão lăn lội khắp các vùng quê, đem những điều hiểu biết của mình dạy lại những người bạn dốt nát.
Càng sống chung với hạn bình dân, Vũ càng cảm thấy cái khó khăn của nhiệm vụ. Họ là những người yên phận, ưa tịnh, nhưng chàng phải kiên nhẫn lắm mới chịu nổi với tánh tình và cách sống của họ. Đừng ai cố bào chữa họ là một hạng người tốt đẹp, đáng ca ngợi. Vũ đã lắm khi bực mình vì những tiếng chửi mắng nhau của họ suốt đêm, chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt như mất một cái quần, hay dành nhau một cây ớt. Những chuyện trộm cắp thường xảy ra luôn, những cuộc đánh nhau một cách tàn nhẫn không thương xót. Họ sống như thế, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác. Họ không nhìn lên trên, không nhìn ra xa, và không muốn gì khác hơn là kéo lê cuộc đời trong tăm tối. Cứ mỗi lần có việc gì xảy ra ở họ. Vũ phải đến can thiệp, khuyên lơn, giải nghĩa cho họ nghe, chỉ họ cách cải tạo đời sống. Họ nhìn chàng với cặp mắt lãnh đạm, với nụ cười hinh hỉnh đáng ghét. Nhưng đến khi Vũ đem lý thuyết cách mạng ra giảng giải, họ tự nhiên mừng rỡ như chiếm được vàng, họ hoan hô Vũ như một vị thần sống. Lúc đầu Vũ lấy làm lạ, về sau Vũ hiểu. Những nạn nhân của chính sách ngu dân ấy chẳng phải trong mấy phút mà hiểu được cách mạng: họ hoan hô Vũ, bởi vì Vũ hứa đem lại tự do, cơm áo cho họ. Họ tán thành lời Vũ bởi vì họ vốn là những kẻ nghèo khó. Vũ bỗng nhớ đến lời Phượng nói với chàng dưới cội trâm: “Những kẻ nghèo thì luôn luôn tìm cách binh vực quyền lợi kẻ nghèo, có gí lạ”. Bây giờ Vũ mới nhận ra đó là tâm lý chung của họ. Phải, có gì lạ? Chỉ có lạ là việc làm của Vũ. Vũ không phải là hạng người nghèo mà Vũ vẫn binh vực kẻ nghèo.
Có lần Vũ đem ý nghĩ của mình nói với Bão. Bão cười một cách chua chát :
- Anh vẫn còn thiên lương quá, Vũ ạ! Anh tưởng kẻ nghèo lại tốt gì hơn kẻ giàu sao?
Không, họ còn nguy hiểm hơn kẻ giàu nữa!
- Vậy tại sao ta lại binh vực họ?
- Chỉ vì lỗi ấy không phải tại họ, mà là tại xã hội. Xã hội không khéo tổ chức đã đẻ ra những đứa con ngu dốt như họ, ta nên thương hại họ hơn là ghét bỏ. Muốn cứu vớt họ, ta phải tổ chức lại xã hội. Đó là công việc mà chúng ta đang làm đây.
Vũ nhận lấy lời đó của Bão như là một hoàn thuốc để giữ vững tinh thần. Chàng lại hoạt động. Cái khổ của Vũ là mỗi lần đi hoạt động trở về, chàng lại nghe cái giọng gắt gỏng của cha, lại phải sống êm đềm trên nhung lụa, lại phải chịu trong khuôn phép của gia đình. Trước kia, Vũ cho đó là sự tự nhiên: chàng đã sinh ở đây và đã sống ở đây từ thuở nhỏ, chàng có quyền như thế. Nhưng sau khi thấy cảnh vất vả của những kẻ cần lao, sau khi lăn lộn trong lầm than để tìm ra cái lẽ sống mới, chàng thấy như thế là bất công, là áp chế. Không nên nghĩ đến hạnh phúc riêng mình, phải nghĩ đến hạnh phúc cộng đồng.
Trong đầu óc Vũ nảy ra cái ý phản ứng lại đối với chế độ phụ quyền. Chàng chỉ còn đợi dịp là biểu lộ sự phản ứng ấy.
- VI -
Sự vắng mặt hằng ngày của Vũ làm cho bà Phủ lo ngại. Bà nhận ra sự thay đổi tánh tình của Vũ. Chàng là người điềm đạm, ít nói, bỗng nhiên trở nên một thiếu niên hùng biện, ham hoạt động. Điều đó cũng không tránh khỏi cặp mắt của quan Phủ. Nhưng với cái tánh nghiêm khắc một cách dè dặt, ngài chỉ dò từng hanh vi Vũ trong lặng lẽ. Ngài muốn tìm ra cái nguyên nhân đích xác sự thay đổi của Vũ.
Lòng người mẹ có cái gì dịu mềm, đằm thắm hơn. Bà Phủ không thể thấy con mình ngày một lam lũ vì dạn dày sương gió. Một đêm khuya, thấy phòng Vũ còn ánh đèn, bà lật đật sang phòng con. Bà thấy Vũ chăm chú cúi đầu vào quyển sách, xem say mê như những khi bà xem hát đến những màn cụp. Tóc Vũ rủ xuống trán, đôi mắt long lanh sáng dưới ánh đèn. Đôi má Vũ hơi gầy, ẩn sau lớp da đen rám nắng.
Trái với thường ngày bà hay rầy Vũ, bà thấy lòng dậy lên một niềm thương. Bà âu yếm hỏi Vũ :
- Con chưa ngủ à?
Vũ giật mình ngẩng lên :
- Thưa mẹ, con chưa buồn ngủ.
- Độ này trông con gầy lắm! Con phải dưỡng sức mới được.
- Con thấy trong mình con vẫn khỏe.
Bà lặng yên nhìn Vũ một phút, dịu dàng nói :
- Mẹ để ý gần ba tháng nay, con hay đi bất thường, không kể gì đến lời rầy của cha mẹ nữa. Chẳng hay có việc gì xảy ra cho con! Hay là ai quyến rủ con bê tha lêu lỏng?
- Không, mẹ thấy con lêu lỏng bao giờ đâu! Con chỉ đến chơi nhà những người bạn.
- Con nên nhớ mình là con nhà gia thế, không nên chơi bời nhiều với phường du hí du thực. Chơi với họ, không có ích gì, mà còn có hại thêm thôi.
Tiếng “Phường du hí du thực” bà Phủ vừa thốt làm cho Vũ cau mặt. Xưa nay, Vũ chưa bao giờ để ai chạm đến những người mình yêu kính. Biết rằng mình đi nghịch đường với cha, chàng vẫn thấy tức giận mỗi khi một người bạn lỡ chạm động đến cha chàng. Huống gì Bão là người chàng yêu kính. Cho nên vừa nghe bà Phủ nói, Vũ vội cải :
- Thưa mẹ, họ không phải là những người như mẹ tưởng. Họ không giàu như chúng ta, nhưng họ tốt hơn chúng ta nhiều.
Bà Phủ phật ý :
- Con có tánh vẫn hay cải cho kỳ được theo ý mình. Con không biết khắp cả tỉnh người ta đàm tiếu nhiều về con, người ta bình phẩm về cha mẹ con nữa.
Vũ cảm thấy như một gáo nước lạnh dội vào mặt. Chàng đưa mắt ngạc nhiên nhìn mẹ :
- Người ta đã nói thế nào về con?
- Họ đồn rằng con say mê con nào ở Hoa thôn, rằng con đã bị bùa mê ngải lú gì nên không ngày nào con xa con đó được.
Vũ đang lo sợ sự hoạt động bí mật của mình bị phát giác, lời bà Phủ làm cho chàng trở lại vững bụng. Chàng thở ra một hơi dài khoan khoái khi nhớ đến Phượng, và chàng nghĩ: “Giá Phượng có bùa mê thật, thì mình làm sao nhỉ?” Nghĩ như vậy, rồi chàng tự cười thầm.
Bà Phủ thấy chàng cười, giận dỗi nói :
- Con cho như vậy là tốt lắm sao?
- Không, thưa mẹ, con cười vì người ta khéo đặt điều. Sư thật, cô ấy chỉ là người bạn của con.
- Con có cả bạn gái?
- Sự ấy rất thường đối với người bây giờ. Gái trai đều có quyền tự do như nhau.
Bà Phủ lắc đầu :
- Tự do? Đó là cái cớ để các cậu bây giờ bào chữa những chuyện lố lăng của mình. Mẹ không muốn nghe con nói đến tiếng đó nữa.
Vũ cúi đầu, đáp khẽ :
- Thưa mẹ, vâng.
Nhưng trong lòng Vũ thấy trở lại thương mẹ. Con người ấy suốt đời chưa hề biết tư do là gì, và cũng không bao giờ đòi hỏi tự do. Sống trong những tập quán cổ truyền, mẹ chàng quen chịu cảnh phục tùng của chế độ gia tộc. Người đàn bà chỉ là một con vật nô lệ, suốt đời để trả nợ cho chồng, cho con.
Càng nghĩ thương mẹ, Vũ càng thấy công việc hoạt động của chàng là cần thiết. Sống trên đống vàng, không ích gì cả, phải làm sao cho mọi người đều hiểu lấy cái lẽ sống, trong số những người ấy có cả mẹ chàng.
Vũ nhiều phen tự hỏi có nên nói thật với mẹ công việc của chàng đang làm hay không? Và mỗi lần dợm nói, chàng lại thôi. Mẹ chàng chưa thể nào hiểu được và có hiểu, chỉ gây thêm sự thắc mắc. Bà không có can đảm như chàng. Đối với những người như thế, chỉ còn trông mong ở sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ xã hội.
Thấy Vũ lại đặt mắt vào trong sách, bà Phủ hỏi :
- Con xem gì mà mải miết thế?
Vũ vẫn cúi đầu để tránh đôi mắt mẹ, nhưng tại sao chàng vẫn thấy lòng rộn rã. Chàng không thể dằn lòng được nữa, thân mật bảo với mẹ :
- Mẹ ngồi xuống đây.
Bà Phủ ngồi xuống bên chàng. Bà có cảm tương sắp được nghe một chuyện lạ.
Vũ rắn rỏi nói :
- Con đang đọc những quyển sách cấm.
Bà ngơ ngác :
- Lại có những quyển sách cấm?
- Nếu người ta biết rằng con đọc nó, con sẽ bị tù hay hơn nữa sẽ bị đày...
- Nhưng tại sao con đọc?
- Vì con muốn rõ sự thật.
- Sự thật?
Và giọng bà run lên :
- Không có sự thật nào cả. Con không nên xem những đồ ấy, mẹ sẽ đem đốt ngay, đốt cả...
Vừa nói bà vừa với tay dằn lấy quyển sách. Vũ nắm lấy tay bà :
- Mẹ!
Bà rút tay lại, ngồi ngẩn ngơ như pho tượng. Vũ tiếp với giọng thiết yếu :
- Mẹ không cần hiểu, nhưng con cần hiểu. Con lấy làm hối hận đã làm cho mẹ sợ, nhưng mẹ hãy yên lòng và xin mẹ nên giữ kín.
Bà hốt hoảng đứng dậy, Vũ cũng đứng lên, đi theo bà đến tận cửa :
- Mẹ hãy giữ kín, cả với cha con.
Nhưng bà Phủ không nghe gì nữa. Mắt bà hoa lên vừa xúc động bởi một tiếng sét dữ dội...
* * * * *
Hôm sau, khi Vũ vừa về phòng thay đồ xong, thì có tiếng giày đến sát bên cửa.Vũ nhận ra tiếng giày của cha. Chàng vội ra mở.
Ông Phủ tay cầm một quyển sách, thong thả bước vào. Mặt ông không có vẻ giận, cũng không có vẻ vui. Ông kéo ghế ngồi, đặt quyển sách lên bàn, bảo Vũ :
- Mẹ con nói độ rày con ham đọc sách, nên cha đã chọn quyển này cho con đọc.
Vũ liếc mắt lên quyển sách thấy hàng tựa: “Mặt nạ Cách mạng”. Chàng tự nhiên rùng mình.
Không đợi cho Vũ đáp, ông tiếp :
- Cha không muốn cho con đọc những quyển sách nhảm nhí, nhất là những quyển sách cấm. Con hãy đem tất cả đây cho cha.
Từ lâu, Vũ biết mình có những tư tưởng trái nghịch với cha, nhưng chưa bao giờ dám có một cử chỉ phản đối. Sự ấy đối với Vũ gần như là một thói quen. Chàng lại bàn lấy mấy quyển sách đang xem dở đưa cho cha. Ông Phủ tiếp lấy, cầm một quyển lật vài trang, bỗng ông hỏi :
- Ai cho con mượn mấy quyển sách này?
- Con không thể nói.
Ông Phủ hơi cau mày :
- Người đó ra thế nào?
- Một người rất tốt.
Ông đặt quyển sách lên bàn, làm bắn tung mấy tờ giấy rơi là xà xuống đất. Sắc mặt ông bỗng trở nên giận dữ. Ông nhìn thẳng vào mặt Vũ, dằn từng tiếng :
- Con lầm! Những kẻ gây loạn cho nước nhà, khủng bố lương dân, không phải là những người tốt. Họ chỉ là một bọn phiến loạn, bọn mê tín.
Dứt lời, ông hầm hầm đứng dậy, cầm mấy quyển sách đi thẳng ra cửa. Nhưng vừa đến ngạch cửa thì ông dừng bước, ngoái trông lại Vũ một lần chót, rồi ban lịnh cuối cùng :
- Cha cấm con từ rày không được lui tới với bọn ấy nữa. Cha biết họ là người thế nào rồi.
Vũ cúi đầu ngoan ngoãn như một đứa bé. Khi tiếng giày của ông Phủ đã vang ra xa, Vũ nằm vật xuống giường, tâm trí chàng rối loạn. Chàng thấy giữa khung cảnh này, chàng hoàn toàn cô độc. Và thì giờ đã đến để cho chàng làm lại cuộc đời...
Vũ cầm quyển sách của cha vừa đưa, mấy hàng chữ nhảy múa trước mắt chàng. Không cần đọc Vũ cũng biết đó là những điều người ta cố bài xích công việc chàng đang làm, cái lý tưởng chàng đang tôn kính. Vũ nghĩ đến Phượng, đến Bão, đến những bạn quê thân yêu, nhớ đến những ngày cùng chia sớt nỗi cơ hàn với họ. Chàng thấy rằng chàng không thể nào phản bội họ được.
Và chàng quăng trả quyển sách lên bàn, mơ màng nghĩ đến một ngày mai...
- VII -
Vũ đến giữa lúc Phượng đang quét lá ở trước sân. Những chiếc lá vàng nằm phơi trên mặt cỏ, đón ánh nắng đào. Mỗi lần chiếc chổi của Phượng đưa đến đâu, chúng lại chuyển mình lăn đùn vào nhau, như một đoàn tù binh sắp bị đưa đến ngục hình.
Phượng ngừng tay khi nghe tiếng Vũ :
- Em Phượng hôm nay trông mạnh chán!
Nàng cười :
- Thật sao, anh?
- Chớ anh lại dối à?
- Nếu vậy thì may, vì em vẫn có tánh hay sợ chết.
Giọng Phượng rất duyên dáng khiến Vũ bồi hồi nhớ đến lời mẹ. Chàng nghĩ: “Người ta đồn là phải”, và chàng thấy Phượng đẹp hơn lúc nào hết, đẹp một cách ngây thơ, dung dị.
Thấy Vũ chăm chú nhìn mình, Phượng bẽn lẽn :
- Có gì lạ không, anh Vũ?
- Nhiều chuyện lạ.
- Vui hay buồn?
- Cũng vui mà cũng buồn.
Phượng ngước mắt lên nhìn Vũ, và bốn mắt gặp nhau trong một phút. Nàng thấy đôi mắt Vũ sáng lên một cách cương quyết, dường như chàng đã có một quyết định gì. Tự nhiên, Phượng thấy lòng hồi hộp.
Vũ dịu dàng nói :
- Em Phượng, anh muốn nói với em một chuyện.
Phượng biết đó không phải là câu chuyện nàng mong đợi, nhưng nàng vẫn đáp, thật khẽ :
- Vâng, em nghe anh.
- Em có nghe nói đến cách mạng bao giờ chưa?
- Có, em có nghe nhiều người nói.
- Em nghe nói thế nào?
- Họ bảo quân cách mạng ghê gớm như bọn cướp.
Vũ reo lên :
- Không, người ta nói dối.
- Sao anh biết?
- Vì anh là một đảng viên cách mạng.
Phượng ngạc nhiên :
- Anh Vũ!
Vũ nắm lấy tay nàng :
- Anh nói thật, Phượng ạ! Và anh đã suy nghĩ trước khi làm.
Vũ bắt đầu thuật lại câu chuyện từ ngày gặp Bão cho Phượng nghe, những chuyện chàng đã làm với Bão. Phượng bỗng dưng thấy bầu trời như tối lại. Trước mặt nàng, những làn hào quang xẹt qua xẹt lại rồi tan mất đi, nàng chỉ còn thấy đôi mắt Vũ, đôi mắt mà nàng chưa hề thấy như thế bao giờ. Cái cảm giác đầu tiên của nàng là sợ hãi, những giọt mồ hôi rươm rướm trên trán nàng như những giọt sương mai.
Vũ điềm tĩnh tiếp :
- Em Phượng, anh kể lại câu chuyện ấy, vì anh tin nó có ích cho em. Em là người có thâu thái được Tây học, lẽ tự nhiên em phải nhận thức lấy quyền lợi mình.
Nàng đưa tay ôm mặt :
- Không, em không hiểu gì cả, em không muốn hiểu gì cả. Em chỉ thấy rằng anh đang đi vào con đường rùng rợn, con đường mà chưa bao giờ em dám nghĩ tới.
- Nhưng không thể nào tránh được, Phượng ạ! Nước ta sẽ phải trải qua một cơn kinh khủng. Nếu em không vì em, em cũng phải vì nước.
- Chừng ấy sẽ hay. Em chỉ là người con gái yếu ớt, yếu cả tinh thần lẫn thể xác.
Vũ thở dài :
- Không phải vì lẽ đó mà em có quyền từ chối phận sự.
Hai người im lặng một lúc, Vũ tiếp :
- Hôm nay anh đến đây để từ giã em.
- Anh đi đâu?
- Đi xa, sang Tàu.
- Anh đi qua bên ấy làm gì?
- Anh có sứ mạng qua liên lạc với Trung Ương đảng bộ, để bàn tính kế hoạch phục quốc.
Qua hồi kinh hoảng, Phượng thấy lòng dịu lại và bồi hồi nghĩ đến những ngày sắp xa Vũ, xa không hẹn ngày gặp gỡ. Nhưng trước vẻ hiên ngang của người tráng sĩ, nàng không muốn để lộ cái yếu mềm của lòng mình.
- Bao giờ anh đi?
- Ngay ngày mai.
- Bao giờ anh về?
- Ngày giải phóng dân tộc. Ngày đó anh tin rằng không xa.
- Em cũng tin thế!
Lời nói ấy của Phượng làm cho Vũ sung sướng. Chàng nhìn nàng với cái nhìn cám ơn :
- Em cũng tin rằng ngày đó gần đây? Nếu vậy thì em đã hiểu anh, anh ra đi không còn sự gì thắc mắc.
Phượng đứng im một lúc, lại hỏi :
- Còn anh Bão?
- Bão vẫn ở lại. Anh ấy sẽ cố mở rộng thế lực xuống miền Tây.
- Anh Bão thường ở đâu?
- Quán Lá. Đó là chỗ họp kín của đảng.
Một cơn gió làm đôi bạn giật mình. Đống lá trước mặt hai người tung lên như để bộc lộ một phẫn uất. Một chiếc mới từ trên cành rụng xuống, là đà trên mái tóc Vũ, rồi đến nép trên vai Phượng. Nàng cầm lấy chiếc lá lật qua lật lại, vơ vẩn đưa lên môi.
Cái cử chỉ âu yếm ấy làm cho Vũ hồi hộp. Và cứ mỗi lần thấy lòng sắp rung động, Vũ lại tìm cách trấn tỉnh lại.
- Hai bác đâu, em Phượng?
- Ba má em đi khỏi.
- Rủi quá, anh định lại chào hai bác.
- Anh không ngại, em sẽ thưa lại cho ba má em hay.
Chàng nhìn quanh như để ôn vào trí những cảnh vật kỷ niệm. Dầu sao, phút chia tay cũng làm cho Vũ bùi ngùi.
- Thôi, anh đi.
Phượng run run :
- Anh đi...
Hai người nhìn nhau một lần chót. Vũ không muốn kéo dài giây phút ấy nữa, chàng xây lưng rồi bước vội về phía rặng trâm.
Phượng không bước theo được một bước nào. Nàng thấy lòng quặn lên và hai giòng lệ lăn dài xuống má.