📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tiếng chim vườn cũ - Nguyễn Mộng Giác 🔒

8 trả lời, 2.161 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-07-06 10:22:49casau>
Tiếng chim vườn cũ
Tác giả: Nguyễn Mộng Giác
Nguồn: nguyenmonggiac



Chương 1


Tôi đã dùng cả buổi sáng để thuyết phục Phương Thảo :
- Hãy nghe anh nói đây Phương Thảo. Chịu khó nghe anh nói đi. Em phải biết đây là một dịp vui, có thể là vui nhất của đời anh. Bao nhiêu năm học tập khổ cực, nhiều hôm thức đến hai ba giờ khuya như em đã thấy. Bây giờ anh tốt nghiệp. Như xong một món nợ nặng trình trịch. Anh cảm thấy nhẹ hẫng như cái bong bóng bơm hơi đá. Đầu óc thì rỗng không như hộp thuốc cũ. Không vui như mình tưởng tượng mấy năm về trước, nhưng quả thật là thoải mái dễ chịu vô cùng. Khỏi vướng bận cái gì nữa.
Phương Thảo chỉ yên lặng ngồi nghe. Nàng tiếp tục đan áo, như không để tâm nhiều đến lời tôi nói. Nhưng lúc tôi nói đến đấy, nàng ngửng lên, mắt vẫn còn vẻ hờ hững nhưng khóe môi cười thật ranh mãnh. Phương Thảo hỏi :
- Cả em nữa, cũng là một thứ vướng bận cho anh phải không? Anh đi một mình đi. Ði một mình cho thoải mái dễ chịu.
Nàng nhấn mạnh bốn chữ Thoải Mái Dễ Chịu để mỉa mai tôi. Tôi cười, tự nhiên trong lòng hớn hở, hăng hái thêm lên. Cô bé hôm nay ghim gút từng tí một. Đó là một điểm đáng mừng. Buồn hay vui, giận hờn, niềm nở, thứ gì cũng được, miễn là Phương Thảo bình tỉnh ghi nhận tất cả các diễn tiến chung quanh, phản ứng thích hợp, nối kết được các sự kiện, rút tỉa được những suy luận bình thường. Tôi chỉ ước ao có thế.
Năm ngoái, lúc tình thế đã tuyệt vọng, mơ ước của tôi còn nhỏ nhoi gấp mấy. Tôi đã mừng rở chỉ vì thấy Phương Thảo rùn vai, và biết xoa hai tay vào nhau khi gió bấc thổi thốc qua cửa sổ, đem cái lạnh tê cóng của đất trời vào khuôn nhà nhỏ. Mừng, chỉ vì nàng còn có xúc cảm, phản xạ tự nhiên. Sau đó, tình trạng sức khỏe khá hơn, tôi giả vờ trợn mắt cố không nháy thật lâu, đầu bỏ ngoẻo sang một bên trên cái cổ mềm lả, Phương Thảo biết nhíu mày khó chịu quay đi.
Nàng còn biết bực bội, nghĩa là biết phân biệt được cải thích thủ và cái dễ chịu. Cũng đáng mừng nữa.
Từ bấy đến nay, Phương Thảo đã biến đổi không ngờ. Ðôi lúc để giấu bớt niềm kiêu hãnh, tôi bảo đó là một phép lạ. Nhưng bạn bè của tôi, thầy học của tôi không tin vậy. Họ đọc kỹ luận án, bàn bạc phân tích, và cảm phục một công trình nghiên cứu khoa học hết sức rành mạch công phu của tôi. Họ cho tôi giả dối, muốn bọc niềm tự mãn bằng cái vỏ mỏng khiêm tốn. Mà quả thật tôi bớt tin ở phép lạ và gia tăng niềm tự tin. Nếu có phép lạ chăng, đó là sự kỳ diệu của tình yêu, động lực thúc đẩy tôi chọn ngành học gai góc bơ vơ nhất trong y khoa là ngành thần kinh. Tôi muốn chính tôi góp phần vào việc tái tạo vóc dáng tuyệt mỹ của một người, chính tôi người phù thủy linh hồn, chàng hoàng tử đến đánh thức nàng công chúa ngủ mê giữa khu rừng hoang sơ, choàng cho nàng một vòng hoa, nhìn đôi mắt nàng nhấp nháy cho quen ánh sáng trước khi cúi trao cho nàng nụ hôn đầu đời. Chính tôi đem đến sự sống và dĩ nhiên xứng đáng hơn ai hết để chiếm hữu nguồn sống đang bắt đầu mơn mởn ấy. Tôi hãnh diện. Tôi khoe với mọi người Phương Thảo của tôi, ngọn cỏ thơm ngát hương của tôi. Phải rủ cho được Phương Thảo. Có Phương Thảo thì buổi tiệc đêm nay, với tôi, mới có ý nghĩa. Tôi dọa :
- Thôi, Phương Thảo không đi thì anh cũng không đi.
Phương Thảo quay lại, vẻ hoảng hốt thành thực. Nàng bỏ đôi que đan xuống, nhìn tôi dò hỏi. Tôi nhắc lại :
- Anh nói thật mà. Em không đi, anh nhất định không đi. Nằm nhà xem báo mà lại khỏe.
Bây giờ chính Phương Thảo lại bối rối :
- Anh không đi sao được. Anh là trưởng ban tổ chức. Lại lãnh phần đọc lời cảm tạ các thầy nữa.
- Mặc kệ. Thế lỡ anh bị bệnh bất thình lình thì sao? Đương nhiên sẽ có đứa thay thế anh. Mọi công việc, rồi đâu lại hoàn đó.
- Bấy giờ lại khác. Anh đau, thì phải báo cho họ biết trước đề họ lo. Nhưng anh có đau gì đâu?
- Sao không? Anh bị tê liệt. Anh bị bán thân bất toại.
Rồi để đùa cho vui, tôi giả vờ méo miệng, lé mắt, gắng giữ yên cho tay trái và chân trái bất động trong cái thế lơ lửng khôi hài nhất. Tôi nói ngọng nghịu vì phải giữ đôi môi lệch :
- Một nửa bên trái của anh hết cử động được rồi.
Phương Thảo vừa thích thú vừa tò mò vì chưa hiểu tôi định biểu diễn trò gì. Nàng hỏi :
- Tại sao lại bán thân bất toại hở ông bệnh nhân?
- Tại vì một nửa thân thể tôi, một nửa linh hồn tôi, một nửa cuộc đời tôi nhất định ở nhà, không chịu đi dự tiệc với tôi tối nay.
Phương Thảo phá lên cười. Nàng bằng lòng. Dẹp que đan vào tủ, ủi lại cái áo dài gấm mầu đỏ điểm hoa trắng trang nhã, chùi lại đôi giầy da gót tám phân mũi nhọn có đính một đóa hoa đen phía trước, xem lại cái hộp thiếc lỉnh kỉnh ống son môi, viết chì kẻ mắt, thỏi phấn nụ... ôi thôi không biết bao nhiêu cái rắc rối phiền phức đáng yêu đáng nể trong đời sống đàn bà. Nhưng tôi vui quá, kiên nhẫn ngồi xem Phương Thảo cẩn thận ủi thẳng từng nếp quần nếp áo. Mọi sự xong xuôi xem lại đồng hồ thi đã bảy giờ ba mươi tối rồi. Tôi giục :
- Em xuống xin phép me nhanh lên rồi còn đi. Từ đây đền đó xa lắm. Sợ trễ mất.
Mà trễ thật. Chúng tôi đến Thuận Ký tửu lầu lúc 8 giờ 15. Trễ mất mười lăm phút. Tôi dẫn Phương Thảo lên lầu thượng, tầng dành riêng cho tiệc mãn khóa của chúng tôi. Cầu thang quanh co uốn khúc. Không có ai lên xuống. Có lẽ tụi nó đã đến đông đủ. Cả các thầy cũng thế, nên mới vắng hoe thế này. Tôi nắm tay Phương Thảo, cố bước thật nhanh xem sự thể ra sao. Phương Thảo ngoan ngoãn theo tôi, nét mặt nghiêm, nhưng không tỏ vẻ phật ý. Tôi bước hai bậc cấp một lúc. Phương Thảo bắt chước để theo kịp tôi, nhưng vì bước hụt nên suýt ngã. Tôi nắm tay nàng đỡ lên. Phương Thảo xụ mặt. Nàng giận thật sự rồi. Tôi hối hận, lấy giọng nhỏ nhẹ an ủi nàng như thường lệ :
- Xin lỗi Thảo nhá. Anh sợ trễ. Mà đằng nào cũng trễ rồi. Chúng ta nên bình tĩnh lên cầu thang chầm chậm, kẻo té.
Nàng không nói gì, chỉ yên lặng nép sát vào tôi để lên lầu. Ðến lưng chừng, ba bốn người bồi mặc áo trắng bưng mâm không chạy xuống, khiến Phương Thảo phải nép sát vào tôi hơn để tránh. Mùi nước hoa trên mái tóc Thảo tỏa ra, dìu dịu mà ngất ngây. Cùng lúc đó, cửa lầu mở và tiếng ồn ào bùng vỡ òa như một phép lạ. Tiếng ai quen quen nói với xuống, hình như là tiếng Tâm :
- Uyên đấy phải không? Trời. Cha nội trưởng ban tổ chức mà đến trễ gần nửa giờ đồng hồ.
Chúng tôi tiếp tục lên lầu. Ðến cánh cửa bọc nỉ đỏ để hờ, tôi hỏi Tâm :
- Các thầy đến chưa?
Tâm liếc nhìn về phía Phương Thảo hỏi thầm, nhưng không chờ tôi giải thích, đáp trước :
- Mày yên lòng. Chưa ai đến cả. Ngay tụi mình cũng chưa đến đủ. Xin chào chị. Tôi là Tâm.
Cái thằng ranh. Nó bắt tôi phải giới thiệu Phương Thảo rồi mới yên lòng bàn tiếp chuyện khác. Tôi quay về phía nàng :
- Bạn cùng khóa với anh đó. Còn đây là Phương Thảo, em gái tao.
Tâm ngờ ngợ điều gì, nhắc lại :
- Em gái?
Tôi vờ như không nghe thấy gì, dẫn Phương Thảo vào phòng.
Tôi hơi khó chịu vì lối trang hoàng của phòng đặt tiệc. Phòng khá rộng, nền lát gạch hoa sặc sỡ, tường mầu cà phê sữa nhạt khá thích hợp với ánh sáng mờ ảo tỏa ra từ chùm đèn bóng kiểu cổ treo chính giữa và mấy bóng đèn tròn che bằng những loa hình sò. Tám cái bàn phủ vải trắng xếp thành vòng, ở giữa nền lầu bóng loáng trang trí hình kỷ hà tân thời. Có lẽ ngày trước, tầng lầu này là một vũ trường. Trên mỗi bàn ăn, chủ nhân còn cẩn thận đặt một bình hoa lai-dênh mầu đỏ nhung. Không có gì đáng chê trách trong lối trang trí cho bàn tiệc. Nhưng cảm giác khó chịu trong tôi vẫn còn.
Có cái gì đó, tôi tìm chưa ra, không được hợp lý. Toàn thể bàn ghế, đồ đạc, cách treo đèn, cách chọn mầu gạch hoa, cách trang trí tranh ảnh, toát ra một cái gì đặc biệt tàu. Lộn xộn, trẻ con, lạm dụng mầu sắc. Gạch hoa xanh đỏ sặc sỡ, đối chọi chan chát với những dây hoa giấy treo chằng chịt ngang dọc. Ngay dưới chùm đèn, là một cái chuông giấy mầu đã phai có lẽ treo tận hồi tổ chức lễ Giáng sinh. Tiếng chuông rộn rã vinh danh thiên chúa trên trời bình an cho người dưới thế có lẽ bây giờ đã trở thành một tiếng chuông rè. Một cửa tròn hình bán nguyệt sơn đỏ, giống như khung cửa khuyết ngày trước Đường Minh Hoàng tựa nhìn các cung nga múa hát, khoét trên tấm phông bằng gỗ ép, lại đưa vào một sân khấu nhỏ vốn là nơi dành cho ban nhạc khiêu vũ. Hai bên cửa son treo hai bức tranh sơn mài loại rẻ tiền, giống y nhau. Tranh vẽ những ngọn núi cao, một dòng suối bạc ngoằn ngoèo, hai bên bờ suối, hai con nai có lẽ vừa uống xong nước nguồn đang nghểnh cổ nhìn trăng. Ngay dưới hai bức tranh có hai tượng sành tráng men cao bằng hình người. Tượng hai tiên ông không có diễm phúc trở lại Ðào nguyên như đôi nai may mắn. Tiên ông mặc áo rộng, chống gậy trúc, mắt lộ, nhưng miệng hả lớn như đang cười hỉ hả. Cách trang hoàng cân đối của tinh thần trung dung đặc biệt tàu ấy dù sao cũng cần một cái trục làm thái cực. Ðây rồi: Tấm hoành phi bằng kính với bốn chữ nho mầu đỏ chói: Dĩ Thực Vi Thiên. Thật là một pha trộn táo bạo chưa từng thấy. Mầu tường trang nhã pha trộn với đá hoa sặc sỡ xanh đỏ. Chùm đèn trần kiểu cổ kề cận bên cái chuông giấy. Nguồn suối mát, ánh trăng trong, ngọn núi cao, đôi nai ngơ ngẩn cùng với tiên ông đắc đạo hồn nhiên gợi lên một thế gian chỉ có tinh khiết và tinh khiết, lại chỉ là những bày biện phụ thuộc cho một khẩu hiệu phàm phu tục tử. Thấy tôi nhìn chăm chăm vào hai bức tranh, Tâm hỏi :
- Mày biết chữ nho không? Bốn chữ trong tranh nghĩa gì thế?
- Song lộc triều nguyên. Nghĩa là hai con nai chầu ngọn suối.
Tâm cười ha hả, diễn giải theo lối khôi hài :
- Suối gì đây? Vì tiệm này là Thuận Ký tửu gia, nên chỉ có thể là suối rượu.
Mấy cặp nai tơ ngơ ngác đưa nhau đến đây cho lão chủ mặc sức chém. Tao xem mơ-nuy, thấy ớn quá.
Tôi bảo :
- Không sao đâu. Tao đã tính toán cẩn thận với ông chủ rồi. Thông cảm sinh viên nghèo mà.
Chợt nhớ đã từ lâu Phương Thảo ké né nép sau lưng tôi, tôi bảo Tâm :
- Mày đi với ai? Không có ai cả à? Lại đây ngồi với tụi này nói chuyện cho vui.
Chúng tôi đến cái bàn góc trái. Hữu, Phúc, Hiếu đã đến trước, đang ngồi đấu hót với ba cô bạn gái. Không hiểu cô nào của đứa nào, vì cả ba người thiếu nữ ngồi chung với nhau. Lại một màn giới thiệu nữa, tôi nghe ba cô gái tên Liên, Hương và Nga, nhưng mãi lo chú ý đến Phương Thảo nên tôi không nhớ được chắc chắn cô nào tên gì. Tôi kéo ghế cho Phương thảo ngồi bên cô áo xanh tóc thề. Cô gái nói giọng bắc thật trong và nhẹ, đôi môi đẹp luôn luôn hé mở một nụ cười hòa nhã, khả ái. Chẳng mấy chốc, Phương Thảo đã tin cậy cô gái, bắt đầu góp chuyện tự nhiên. Câu chuyện đang bàn luận là có thể nào tìm một giải pháp dung hòa giữa tinh thần giản dị tự nhiên của dân tộc và tính chất thực tiễn mạnh mẽ của tây phương nơi y phục phụ nữ. Nói cho gọn hơn, các cô đang bàn luận về một mốt mới: mặc áo dài vạt ngắn tới đầu gối, và thay vì cái quần vải mịn truyền thống, lại mặc quần patte vải dày. Cô áo vàng ngồi bên cạnh Phúc bảo :
-Tất cả chỉ là thói quen. Lâu nay mình quen nhìn áo dài đi đôi với quần trắng, nên tưởng không thể có cái cách nào khác. Nhưng bây giờ họ mặc khác đi một chút. Ban đầu mình thấy chướng. Sau đó mình thấy hơi chướng. Cuối cùng mình thấy không đến nỗi nào. Minh nói với mình: hay ta mặc thử xem sao. Ðấy, cái gì cũng do thói quen hết.
Tâm chen vào câu chuyện phụ nữ :
- Phải rồi. Ngày xưa có ông vua gì đó yêu cô cung nữ gì đó. Cô này bị chột nhưng nhà vua vẫn thấy đẹp. Từ đó về sau, ông vua than rằng sao trời sinh con người ra lại khoét chi cho thừa một con mắt.
Hiếu chế giễu Tâm :
- Mày không thạo văn chương chữ nghĩa thì đừng vạch áo cho người xem lưng. Không nhớ ông vua gì yêu nàng cung nữ nào, mà cũng dẫn chứng tùm lum. Chớ quên cả ba cô này đều là sinh viên văn khoa cả đấy.
Tâm cãi trây :
- Cần gì nhớ rõ chi tiết. Biết đại khái cũng đủ rồi, cũng như tụi mình ra đời mà chỉ chuyên khoa, thì chỉ có việc ngồi mà ngáp ruồi. Phải treo một tấm biển to tướng: Bác Sĩ. Chuyên Chữa Bệnh Nội Thương, Ngoại Thương. Đàn Ông Ðàn Bà Con Nít.
Cả bàn cười lớn. Tâm thích thú vì thành công bất ngờ, quay sang hỏi Phương Thảo :
- Ðúng thế không cô Thảo?
Phương Thảo bối rối không biết trả lời thế nào. Nàng nhìn lên, thấy mọi cặp mắt đổ dồn về phía mình lại càng lúng túng hơn. Ðôi bàn tay Phương Thảo cuống quít khốn khổ, hết sửa vạt áo lại vò vò chéo khăn bàn. Mọi người vẫn giữ im lặng. Phương Thảo nhìn tôi cầu cứu. Tôi quyết định giữ im lặng, cốt trắc nghiệm lần chót thành quả của mình. Nhưng càng ngày tôi càng lo âu, vì Phương Thảo cứ nhìn đăm đăm vào Tâm một cách khác thường. Mọi người tưởng nàng sắp nói với Tâm điều gì, hoặc một lời cầu hòa, hoặc một lời trách móc. Nhưng không. Phương Thảo không nói gì cả, cứ nhìn thẳng tới trước. Ánh mắt ấy ban đầu còn mạnh như một tia sáng, càng về sau càng yếu đi, lờ đờ lạc lõng. Tôi phải tìm cách đánh thức Phương Thảo :
- Tâm nói đúng đấy Thảo. Dân mình nghèo, ăn uống thiếu thốn nên mang đủ thứ bệnh tật. Đã thế chờ đến khi thân thể rũ liệt họ mới tìm đến bác sĩ. Cho nên các bác sĩ toàn khoa thích hợp với hoàn cảnh Việt nam hơn. Mà thôi, dẹp chuyện đó sang một bên đi. Ðể cho các cô tiếp tục chuyện thời trang. Quần áo vải vóc bên ngoài bao giờ cũng đẹp đẽ hơn cái thân thể ốm yếu bệnh tật bên trong.
Cô áo xanh lườm tôi, nhận xét :
- Các anh bên y khoa nhìn đâu cũng chỉ thấy toàn vi trùng là vi trùng. Ai các anh cũng liệt vào hàng bệnh nhân các anh hết.
Cả bọn cùng cười. Vừa lúc đó, có tiếng lao xao ồn ào nơi cửa lớn. Các thầy đã đến. Hình như không thiếu mặt ai. Thầy khoa trưởng đi trước, bệ vệ ì ạch như thường lệ. Thầy đỡ đầu của tôi đang nói chuyện với bà vợ ông khoa trưởng. Thầy Liệt chuyên bệnh ngoài da. Thầy Lý phụ trách nhãn khoa từ bao thế hệ... Sau các thầy, có thêm một lô chừng hai chục sinh viên nữa. Thấy tôi, thầy khoa trưởng hỏi vội :
- Sao tổ chức trên này mà mấy thằng bồi không biết gì cả. Ở dưới cũng có một tiệc cưới lúc chín giờ. Báo hại chúng tôi lóng ngóng đứng đợi, tưởng các anh cho ăn thịt thỏ. Các anh này cũng tưởng tiệc của mình ở dưới lầu.
Tôi xin lỗi :
- Dạ con đã dặn lão chủ. Không ngờ ở đây họ vụng quá. Xin mời quí thầy về phía cái bàn chủ tọa. Dạ, cái bàn giữa ấy.
Thầy Lý hỏi :
- Các anh bắt chúng tôi ngồi riêng à?
Tâm đứng bên cạnh tôi từ lúc nào, không chừa cái tật lếu :
- Dạ.. Kính lão đắc thọ.
Thầy Lý cười :
- Bây giờ các anh ra trường rồi, mới dám chê chúng tôi là bọn già khọm lẩm cẩm.
Tâm trả lời :
- Ðâu có. Già mà dẻo dai hơn trẻ. Già dặn mà.
Thầy khoa trưởng quay lại lườm Tâm, cậu sinh viên cưng của thầy, người thầy đặt hết niềm tin tưởng trong các công tác không dính dáng chút nào đến nghiệp thuốc: tổ chức một cuộc họp mặt thân hữu, liên lạc với chính quyền mượn xe chở sinh viên đi du ngoạn, soạn thảo chương trình khiêu vũ Noel...
Các thầy đều đã ngồi vào bàn. Anh em sinh viên cũng vậy. Không có bàn nào trống nhưng ở mỗi bàn, rãi rác đây đó vài ghế không người, dấu vết của những trục trặc kỹ thuật vào phút chót: Me không cho phép anh -Áo chứa lấy kịp anh - Ðến trễ kỳ lắm em không đi đâu anh - Xa quá tụi mình sẵn dịp đi chơi phố riêng đi anh - cả trăm nghìn lý do chính đáng hay không chính đáng, lý do nào cũng đẹp như một bài thơ tình đầu.
Tâm nhắc tôi :
- Bắt đầu đi. Trễ quá rồi. Nói in ít để cho người ta còn ăn nữa với.
Tôi tiến ra giữa vòng, tuy anh em và các thầy đều nhẵn mặt suốt bao năm qua nhưng lòng vẫn hết sức bối rối. Tôi liếc mắt kín đáo về phía Phương Thảo. Nàng cười, mắt nhìn về phía tôi, không thèm nghe những lời ba hoa của Tâm đang ngồi bên cạnh. Tôi hơi bực Tâm. Nhưng phải nói cái gì cho xong chuyện đây? Tôi bắt đầu nói, ban đầu hơi nhanh và vấp váp vì xúc động :
- Thưa quí thầy. Suốt mấy năm qua, quí thầy và chúng con đã vô ra gặp gỡ nhau nhiều quá rồi, hiểu nhau từng li từng tí, thành thử nói điều gì ra đây cũng trở thành sáo cũ, giả dối. Chẳng hạn thầy Liệt thường có cái tật gãi gãi ở vành tai trước khi giảng bài, bây giờ con nói điều gì không phải, sợ thầy ngứa tai thêm...
Tôi dừng lại vì cả phòng cười ồ. Vài sinh viên nhắc: Còn thầy Hương? Tôi cố nói hơi lớn hơn cho át tiếng ồn :
- Chẳng hạn thầy Hương hay hin hin lỗ mũi khi giận dữ. Nói điều gì trái ý, sợ thầy lại la lên: Thối quá. Thối quá.
Mọi người lại cười. Thầy Lý vỗ mạnh vào vai thầy Hương cười ha hả. Lại có tiếng của anh em nhắc: Thầy khoa trưởng.
Tôi cố lấy bạo. Mà tại sao không dám bạo? Ðây là một cuộc vui thân mật mà.
Tôi nói :
- Chẳng hạn thầy khoa trưởng vốn tính ưa xuề xòa đơn giản, huống chi bây giờ bắt thầy ngồi nghe diễn văn. Tiếng vỗ bàn vỗ ghế bây giờ hăng hơn. Sự ồn ào tưởng bất tận. Ông khoa trưởng hơi ngượng nhưng đành cười giã lã.
Tôi nói tiếp khi mọi người trở lại yên lặng :
- Cho nên, thay mặt anh em, con chỉ có thể nói một câu, một câu đơn giản nhưng chất chứa tất cả lòng thành của khóa chúng con: Nếu mai sau, chúng con có cứu được một mạng sống, xoa dịu được vết thương đau của những người vốn đời đời chịu đựng nghèo khó, thì tất cả niềm vui của chúng con xin gửi lại cho các thầy, với tất cả lòng tri ân sâu xa. Xin tất cả nâng ly.
Anh em tưởng tôi tiếp tục giễu cợt các thói vặt của từng giáo sư. Vì vậy, câu cảm tạ thành kính cuối cùng làm cho mọi người bước hụt. Trong bối rối, họ không biết làm gì khác hơn là đưa ly lên cao, giữ vẻ trang trọng miễn cưỡng. Tôi trở lại bàn. Tâm nhất định ngồi bên cạnh Phương Thảo, nên tôi đành ngồi vào cái ghế trống giữa Phúc và Hiếu. Tiếng cười nói quanh đây mỗi lúc một ồn ào. Ở bàn giữa, các thầy bàn luận với nhau thế nào mà cùng nhau đứng dậy rồi chia đều tỏa ra, ngồi chung với các bàn sinh viên. Thầy Phong đi về phía tôi. Tôi chột dạ bảo Phúc :
- Chết. Mấy ổng muốn ngồi chung với tụi mình. Thầy đỡ đầu của tao lại kia.
Phúc vội đứng dậy chạy đến gần tường đem thêm một cái ghế nữa. Thầy Phong bắt tay hết các nam sinh viên, gật đầu chào bốn cô gái, rồi bảo tôi :
- Tôi phải thân hành đến đây cảm ơn anh Uyên. Làm thầy đỡ đầu cũng có hơn mấy ông kia. Khỏi bị học trò đưa lên đài danh vọng.
Hiếu giả vờ ngây thơ hỏi :
- Em thấy thầy có tật nào đâu.
Tâm bỏ ngang câu chuyện ba hoa với Phương Thảo, nhìn thầy cười hì hì. Thầy Phong nói :
- Các anh đừng nói mỉa. Biết hết rồi còn giả vờ.
Hiếu ngồi nghiêm trang, đưa lưỡi liếm liên hồi lên môi trên, nhại cái tật thông thường của thầy Phong. Ai nấy lại cười to hơn. Tuy đã chuẩn bị tư tưởng kỹ, nhưng thầy vẫn hơi đỏ mặt. Thầy nói chung cả bàn :
- Mình bắt đầu ăn đi chứ. Xúp măng cua gạch phải không?
Chờ cho thầy cầm cái muỗng sứ múc vào chén, mọi người mới bắt đầu uống bia và ăn xúp. Việc ăn uống làm cho câu chuyện rời rạc bớt. Người nào cũng thì thào vài câu với người bên cạnh cho không khí đỡ trơ mà thôi. Thầy Phong nói với tôi :
- Anh chịu ở lại với tôi chứ?
Tôi trả lời ỡm ờ :
- Dạ chắc thế. Mà thầy có cho ở lại không?
- Sao lại không? Ngành của tôi lâu nay bị xem thường. Kể cũng phải. Lo phần xác chưa xong, thì giờ đâu lo phần hồn. Nhưng tâm bệnh học là một khu rừng huyền bí bát ngát. Có anh cùng đi, tôi tự tin hơn. Anh có biết ông khoa trưởng nhận xét thế nào về luận án của anh không?
Tôi im lặng ngước mắt dò hỏi, hơi lo lắng một chút. Thầy Phong nói :
- Ông ấy bảo nó giống như một suy tư về triết lý hơn là một luận án y khoa. Nếu không có bản kê tỉ mỉ lượng thuốc an thần và bản nhiệt độ, thì phần A là tiểu luận về phân tâm học, phần B là triết lý về xã hội học.
Tôi hỏi :
- Còn thầy, ngoài lời phê em đã biết, thầy còn nghĩ gì nữa?
- Tôi không nghĩ gì khác. Tôi cảm phục sự cố gắng của anh. Vả lại, anh đã thành công rồi. Anh bảo sẽ giới thiệu... cho tôi.
Tôi giật mình. Phải rồi, tôi có hứa sẽ dẫn Phương Thảo đến gặp thầy, chứng minh cho thầy thấy những điểm thầy nghi ngờ đều thiếu bằng cớ. Tôi chỉ Phương Thảo :
- Xin giới thiệu với thầy đây là Phương Thảo. Thảo giúp đỡ em nhiều trong việc hoàn thành luận án.
Thầy Phong hiểu câu ám chỉ của tôi, gật gật đầu, kín đáo quan sát nét mặt Phương Thảo. Nàng khẽ chào thầy, rồi tiếp tục lắng nghe Tâm nói. Ðôi mắt nàng hơi mơ màng, có vẻ thích thú. Tôi cảm thấy bứt rứt. Tâm vẫn tiếp tục ba hoa. Phương Thảo chớp chớp đôi mắt, ngước mặt lên trời lắng tai thu trọn những lời tâng bốc văn hoa. Nàng nhìn lên cái chuông giấy đang lung lay giữa phòng. Nàng lắng nghe. Nàng lắng nghe, nhưng cả đến Tâm cũng ngờ ngợ cảm thấy Phương Thảo đang nghe cái gì khác hơn xa hơn là lời mình, nên không nói nữa. Thầy Phong đưa ly bia lên uống để giấu bớt cái nhìn đăm đăm quan sát. Tâm đã im lặng từ lâu mà Phương Thảo vẫn nhìn lên cái chuông giấy lắc lư, như lắng nghe tiếng chuông giáo đường đang vang vang báo hiện giờ giáng sinh của Chúa Trời. Cô Liên mặc áo xanh mải mê nói chuyện với bạn vô tình nhìn về phía tôi và thầy Phong, thấy vẻ mặt nghiêm trọng của chúng tôi, nên mới chú ý nét mặt của Phương Thảo. Liên khẽ đập vai Thảo :
- Không ăn đi chị. Mơ mộng cái gì say sưa thế?
Thảo giật mình e thẹn, nói chữa :
- Em mải nhìn cái chuông giấy, trông nó hay hay. Không hiểu vì sao đột nhiên em nghe được tiếng chuông ngân, êm ả, thanh thoát...
Liên cười chế nhạo :
- Chị lại làm thơ rồi.
Tâm vui mừng khám phá ra mình nói chuyện không đến nỗi vô duyên, lại tiếp tục săn đón Phương Thảo. Thầy Phong đưa mắt nhìn tôi, cái nhìn chứa quá nhiều thương hại lẫn nghi ngờ. Tôi cảm thấy chán nản bực bội. Có lẽ thầy hiểu lầm ý nghĩa dáng điệu của Phương Thảo. Tâm hồn nàng bị cô lập từ lâu với ngoại giới, nên vẫn giữ trọn được vẻ hoang dại trong trắng. Nàng thật nhạy cảm. Gặp cái gì, nàng cũng dễ thích thú vì tò mò. Nàng cảm nhận sự vật khác thường, nghe âm thanh của lá non nhú trên cành gầy hoặc ngửi được hương thơm của chim hót. Tại sao chiếc chuông xếp bằng giấy màu không thể phát được những tiếng ngân êm ả thanh thoát, khi tâm hồn người nghe cũng êm ả thanh thoát không kém. Chờ mãn tiệc, tôi sẽ tranh luận với thầy về vấn đề đó.
Nhưng lo lắng làm gì những điều mơ hồ. Tất cả mọi người đều đang vui. Rượu dẫn người ta nhập vào sự thành thực hết mình. Bàn bên kia, thầy Lý đưa hai tay choàng vai hai đứa học trò lười nhất của thầy. Mặt ông khoa trưởng đỏ gay. Thầy Liệt vứt bộ mặt đạo mạo cố hữu, đem cái ghế ra giữa vòng, đứng lên cho cao, gân cổ hét lớn câu gì không ai nghe rõ. Phúc và Tâm chạy đến công kênh thầy lên, đi một vòng quanh phòng tiệc, vừa đi vừa rao lớn như trẻ con: Ai mua heo không. Ai mua heo đây. Sự ồn ào náo nhiệt làm cho mọi người mất tự chủ. Thầy Phong trở lại bàn giữa, đòi uống rượu thi với ông khoa trưởng. Ông khoa trưởng thua, len lén đổ bớt bia dưới bàn bị phát giác. Tức thì, thầy Phong chỉ thẳng vào mặt vị chỉ huy của mình, la lớn: Ê, đồ gian lận. Các cô gái hơi sợ hãi, cùng nhau tụ thành một nhóm đứng sát lề tường. Mấy anh bồi già mặc áo trắng ở vào thế sẵn sàng can thiệp. Cuối cùng, cả đến tôi cũng không thể đứng ngoài cuộc. Tôi bị lôi cuốn, quên Phương Thảo, hết lưu ý đến nàng từ lúc nào không biết. Tôi nhảy lên ghế giữa phòng hét lớn :
- Yêu cầu ca sĩ khoa trưởng hát một bài.
Tức thì một đám sinh viện bu quanh ông khoa trưởng, dùng sức mạnh lôi xệch ông đến chỗ chiếc ghế, đẩy lưng đẩy mông cho ông bước lên. Ông khoa trưởng cố cưỡng lại. Tâm reo lên :
- Thôi khỏi cần. Có sẵn cai sân khấu trong kia.
Ông khoa trưởng lại bị lôi đến bục gỗ trong khuôn cửa tròn. Ông không hát được, năn nỉ sinh viên cho phép được trổ ngón khác. Và ông lại biểu diễn cái trò ăn kẹo cao su vô ý để dính ở tay, chạm vào đâu cũng vướng hết. Tuy đã quen thuộc quá với ngón nghề này, mọi người vẫn vỗ tay tán thưởng.
Sau ông khoa trưởng, thầy Liệt xung phong lên kể một chuyện tiếu lâm. Kể xong, không ai hiểu gì nên chỉ có một mình thầy cười hề hề gắng gượng. Rồi nhờ thế ai nấy đều cười, chuyện nhạt trở thành chuyện tiếu lâm mặn mà thực sự. Cô Liên được yêu cầu lên hát, nhưng nhất định từ chối. Tâm tinh nghịch đòi Phương Thảo lên hát. Nàng sợ hãi đến phát khóc, nhưng đám đông tàn ác thấy thế càng vỗ tay lớn hô tên Phương Thảo từng chặp để giục. Tôi đành nhảy lên sân khấu :
- Xin lỗi anh em và quí thầy. Phương Thảo không được khỏe lại chưa từng hát bao giờ. Ðề bù lại, tôi xin hát một bài.
Nhiều người phản đối :
- Không được thay thế.
- Lấy tư cách gì mà hát giùm.
Tôi không thèm bào chữa, biện hộ, bắt đầu đằng hắng để chuẩn bị hát bài Mộng dưới hoa. Mọi người thấy không thể làm gì được, đành im lặng đón nghe tôi hát. Lúc định đưa hai tay ra trước để làm điệu bộ, tôi mới nhớ bàn tay phải còn kẹp điếu thuốc còn cháy dang dở. Tôi mỉm cười xin lỗi, tìm chỗ quăng điếu thuốc. Ngó quanh, không thấy cái gạt tàn nào thuận tiện. Tôi nhìn dáo dát đột nhiên mắt chú ý đến bức tượng sành bên trái. Một ý nghĩ tinh nghịch lóe sáng. Tôi tiến gần đến pho tượng, đưa cao điếu thuốc lên cho mọi người thấy, rồi cắm điếu thuốc vào đôi môi hở của tiên ông. Khi tôi vừa nói mời ngài hút thuốc ạ, thì phía đàng xa, có tiếng một người con gái thét lên chát chúa, như cỏ ai lấy kềm nhổ từng móng tay một.
Tôi rùng mình, tưởng như cả tửu lầu sụp đổ tan tành, cả thế giới quay cuồng đảo điên. Vì tiếng thét ấy là tiếng thét của Phương Thảo.
📎 tcvc
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-07-06 10:31:25casau>
Chương 2


Tội nghiệp. Chính thầy Phong đã lấy chiếc Peugeot đưa tôi và Phương Thảo về. Bữa tiệc tan như một đàn ong vỡ tổ, mỗi người góp một lời bàn cũng đủ khiến cho cả phòng náo loạn. Tâm và tôi khiêng Phương Thảo xuống cầu thang trong khi những người khác muốn giúp đỡ chúng tôi nhưng lính qua lính quýnh không biết phải làm gì, phải đứng đâu. Người Phương Thảo mềm nhũn, mắt nhắm nghiền, cái đầu hết ngoẹo sang bên tay phải, lại buông thõng sang bên kia. Tiệc cưới dưới lầu cũng bị ảnh hưởng, làm bà con hai họ buông đũa xô nhau ra cửa nhìn chúng tôi. May quá, thầy Phong đã lái xe sát vào mái hiên. Cửa xe mở sẵn. Tôi vào trước, cố vực Phương Thảo cho nàng nằm dài trên băng sau, đầu ke vào vế tôi. Tâm cẩn thận vén vạt áo dài của nàng lên trước khi đóng cửa. xe vừa nổ máy, cô Liên đã hớt hải chạy xuống, đem theo đôi giày và cái bóp da Phương Thảo bỏ lại. Hồn tôi rối quá, bay ra tận đâu đâu. Tâm cảm ơn thay tôi, rồi ra ngồi đằng trước với thầy Phong.
Từ Thuận Ký về nhà, thầy lái xe thật nhanh. Chung tôi cùng im lặng, mỗi người theo ý nghĩ riêng. Tôi vừa lo âu vừa thất vọng. Tại sao thế này? Tại sao thế hở Phương Thảo? Tôi cúi xuống nhìn nét mặt nàng. Mảng tóc phía trước dán dính vào trán mồ hôi. Mắt Phương Thảo vẫn nhắm, đầu lắc lư. Hình như nàng có ú ớ điều gì. Tiếng động cơ nổ dòn, tiếng hơi lớn vì ống thoát hơi vỡ nên tôi không dám chắc nàng nói thế nào. Nàng lại ú ớ lần nữa, lần này Phương Thảo đưa cả hai tay lên chới với, như cố bám víu, cố vươn tới một cái gì chập chờn trước mặt. Chắc chắn Phương Thảo đang nói gì đó rồi, vì bàn tay nàng nắm lại, dằn mạnh vào không khí, như lối người ta làm điệu bộ lúc thuyết trình hoặc hô hào cổ động. Tôi nhìn đôi bàn tay Phương Thảo, hồi hộp theo dõi từng cử động nhỏ của chúng như lo lắng theo dõi số mệnh của chính đời tôi. Phương Thảo thôi ú ớ, tay bỏ xuôi xuống nệm một cách bất lực mệt mỏi, rồi lại đưa lên ôm mặt khóc nức nở.
Tôi sốt ruột quá, cầu cứu thầy Phong :
- Sao thế này thầy? Làm thế nào bây giờ?
Thầy Phong không dám quay lại, mắt cứ nhìn thẳng ra trước đường đêm. Tôi hoảng hốt nhắc lại câu hỏi, giọng đã vỡ đi. Thầy trầm tĩnh nói :
- Uyên cứ bình tĩnh đi. Không việc gì đâu. Ở nhà có thuốc khỏe hay thuốc ngủ không?
- Dạ có. Cả loại uống lẫn loại tiêm.
- Thế thì được. Tôi định ghé lại nhà lấy ít thuốc, nhưng đằng đó cũng có sẵn rồi thì thôi. Tôi đưa Phương Thảo về nhà, Uyên chịu khó theo dõi săn sóc đêm nay. Mai tôi trở lại xem thử thế nào.
- Có việc gì không thầy?
- Anh mất bình tĩnh rồi Uyên. Chính anh theo dõi bệnh trạng Phương Thảo còn kỹ hơn cả tôi nữa mà. Mai chúng mình sẽ bàn lại. Nếu cần, ta xét lại, từ bước đầu.
Về đến nhà, me tôi đã đi ngủ. Tôi phải đập cửa hai ba lần, mới có tiếng dép lê phía trong và ánh đèn bật tỏ. Thầy Phong và Tâm đã tìm cách đưa Phương Thảo ra khỏi xe, và đang khiêng nàng vào chiếc cổng hẹp. Nếu không có ánh sáng phát ra từ bóng đèn nhỏ trong chiếc peugoet cũ của thầy, có lẽ hai người đã vấp nhiều lần lên các tảng đá đặt đâu đó trên sân. Khu vườn của chúng tôi hơi thấp, nước mưa từ các nền nhà cao quanh đấy đổ dồn về đây trước khi rút ra con mương nhỏ phía nam. Chúng tôi phải xếp đá thành hàng để bước chân lên khỏi phải cởi giày hay vây bùn lên gấu quần. Me tôi mở cửa, và khi thấy thầy Phong và Tâm đem Phương Thảo vào dưới hiên, bà không cầm nổi lòng hoảng hốt :
- Trời ơi, con tôi. Sao Thảo thế hả con. Có sao không con?
Tôi nắm tay me tôi lại, cô gắng lấy giọng thật bình tĩnh để trấn an bà :
- Không việc gì đâu me. Phương Thảo không chịu nổi đám đông ồn ào, nên mệt mỏi một chút...
Me tôi đi theo Phương Thảo, lưỡi líu lại không nói được gì, cũng không cần nghe xem tôi nói gì, vì nét mặt xanh ngắt đôi mắt nhắm nghiền và dáng người mềm nhũn của Phương Thảo đã cho me tôi biết hết cả sự thực. Me tôi xếp dọn giường của Phương Thảo nằm, rồi ngồi bệch xuống nền nhà lay gọi :
- Con. Thảo con. Có nghe me gọi không? Thảo. Me đây này. Trời. Sao nó nhắm mắt như chết vậy Uyên?
Thầy Phong đập nhẹ vào vai tôi, thầm bảo tôi ra trước cho thầy dặn điều gì.
Thầy bảo :
- Bây giờ tôi với anh Tâm phải về. Gắng khuyên lơn bà cụ, xin bà cụ để yên tĩnh cho cô ấy nghỉ. Anh chích cho cô ấy một mũi thuốc khỏe và một mũi thuốc ngủ. Mai khoảng chín giờ tôi trở lại.
Tôi không đưa thầy và Tâm ra cửa vì không nỡ xa Phương Thảo. Tôi đóng cửa lại cho gió lạnh khỏi lọt vào căn phòng vốn đã lạnh lẽo u tối. Ngoài ngõ có tiếng xe đề máy và rú lớn để chạy đi. Vừa định xuống bếp lấy nước nóng lau mặt cho Phương Thảo, tôi giật mình vì có ai gọi cửa. Tâm đem trả đôi giày và cái xắc bỏ quên trên xe. Tâm về rồi, chỉ còn có hai mẹ con thấp thỏm, khắc khoải bên giường Phương Thảo. Me tôi cứ hỏi luôn miệng :
- Có việc gì không con? Sao con bảo nó khỏi hẳn rồi?
Ngay lúc đó, Phương Thảo oằn người như con rắn bị dẫm phải đầu, hai tay nàng ôm lấy thái dương giống y cách tự vệ của những đứa bé yếu đuối vô vọng khi bị cha mẹ giận dữ quất bừa ngọn roi lên mình mẩy tay chân. Thấy thế me tôi nói :
- Con coi kìa. Nó cứ ôm lấy đầu như sợ ai đánh ai đập. Y như lúc nhỏ.
Tôi kinh ngạc hỏi :
- Me nói lúc trước Thảo nó chỉ che mặt khi có người lạ, chứ đâu có ôm đầu?
- Không. Lúc mới về, nó cứ ôm lấy đầu, tuy không thấy nó kêu đau nhức gì ở đấy cả. Bình thường thì không sao. Nhưng bất chợt ai hù ai la nó giật mình, là hai tay lại ôm lấy đầu.
Me tôi định nói gì thêm nữa, nhưng thấy Phương Thảo oằn người vật vã đau đớn im lặng theo dõi cử chỉ của nàng. Phương Thảo thả tay khỏi hai thái dương, nhưng lại đưa ra xua trước mặt, miệng không ngớt van xin :
- Tôi van các người. Xin tha cho tôi. Cho tôi ra khỏi đây. Không thì tôi thét lên. Tại sao giam tôi mãi ở đây. Các người vuốt tóc, vuốt má, miệng than: tội nghiệp con bé, con nhà ai không biết. Đi đi, không thèm. Đi khỏi đây. Đi hết. Mặc kệ người ta.
Phương Thảo muốn chống tay đứng dậy, nhưng vì yếu quá nên lại rơi xuống nệm. Mắt Phương Thảo mở lớn, nhưng có vẻ lờ đờ. Đột nhiên nàng quay lại nhìn về phía tôi. Tôi vui mừng hỏi :
- Thảo, có nhận ra anh không Thảo? Em đã khỏe chưa?
Phương Thảo vẫn nhìn tôi, và ánh mắt ấy càng ngày càng tăng độ hoảng hốt, để cuối cùng trở thành khủng khiếp. Thảo đưa tay che mặt. Lại bao nhiêu triệu chứng cũ. Vẫn những câu nói, những cử chỉ cũ. Tôi đã ghi nhận cẩn thận tất cả những câu nói mê loại này cảu Phương Thảo. Những câu đó thấp thoáng, lượn lờ, nay một ít, mai một ít, mô tả lại một kỷ niệm chua xót nào đó của Phương Thảo: một viện mồ côi, những cử chỉ lời nói vồn vã giả tạo ném vào mặt đứa bé ngơ ngác lạc loài...Phương Thảo thù ghét đám đông, cái đám đông được quyền đi lại nô đùa tự do ngoài khung cửa sắt, nói cười huyên thiên những điều độc ác lẫn trơ trẽn. Tôi đã xếp loại, đã giải thích, đã tìm nguyên nhân và vạch hậu quả. Nhưng giờ đây, bao nhiêu công lao ấy có đến đâu đâu. Phương Thảo vẫn thế, nằm sõng soài trước mặt tôi, mê sảng những câu đã cũ. Me tôi lấy khăn ướt đắp ngang trán Phương Thảo. Bà nói :
- Cho nó giải nhiệt. Ai có ngờ bệnh trở lại thế này.
Phương Thảo quay sang nhìn me tôi, miệng mỉm cười như có vẻ thỏa mãn, dễ chịu vì cảm giác mát mẻ trên trán. Me tôi cố tạo một nụ cười gượng, nói âu yếm với nàng :
- Con nhận ra me không? Me đây Thảo.
Nàng đưa tay mơn man má me tôi, vuốt nhẹ lên thái dương, rồi vuốt nhẹ lên mái tóc bạc của bà. Me tôi cảm động đến rưng rưng muốn khóc. Giọng bà run run :
- Me đây con. Con khỏe rồi phải không?
Thảo gọi :
- Má.
Me tôi vội vã đáp :
- Ừ. Má đây. Me đây.
Thảo nói :
- Má. Con thương má. Sao má cứ khóc hoài. Có phải ba làm cho má khóc không má. Ba bỏ đi, làm cho má khóc phải không? Má đừng khóc nữa. Có con ở bên cạnh má hoài hoài. Ba chợt đi chợt về, hơi nào đâu má đợi. Má heo hắt quá. Mắt má buồn. Đôi má má hóp. Má ốm o qúa chừng. Tại ba hết. Tại ba hết.
Rồi Phương Thảo nhìn thẳng lên trần, ánh mắt sáng rực giận dữ :
- Ba chịu ở nhà thì má đâu có thế này. Ba ở lại đi ba. Ở lại với má với con đi. Má khóc đó, ba thấy không? Con van ba, con van ba má.
Me tôi thấy Phương Thảo vẫn nói mê, thở dài. Tôi, cahn1 nản. Làm sao bây giờ đây? Lần đầu tiên tôi nghe Phương Thảo nói đến ba đến má. Cái chữ Má lạ hoắc, vút cao lên đau xót và khẩn thiết như một lời kêu cứu. Thảo vẫn gọi me tôi bằng Me ngay từ nhỏ. Tôi đã say mê ngắm Phương Thảo nũng nịu dụi đầu vào ngực me tôi, mái tóc ngún nguẩy hờn dỗi, miệng nho nhỏ gọi tiếng Me mỗi lần tôi làm cho cô bé phật ý điều gì. Tại sao bây giờ nàng gọi Má?
Tôi lay vai Phương Thảo :
- Thảo, Thảo. Em đang nói chuyện với me đó chứ. Thảo có nghe anh nói không?
Thảo trả lời giọng ơ hờ :
- Có. Em nghe thấy tiếng chuông ấy. Em thích nghe tiếng ngân nga ấy lắm. Làng tôi xanh bóng tre, lừng tiếng chuông vang chiều, tiếng chuông nhà thờ rung. Anh có biết bài đó không. Em thích bài hát đó. Em thích vì tiếng chuông ấy trong vắt, thong thả...
Bây giờ Thảo lại nhắc tới tiếng chuông nhà thờ. Thảo đã me sảng nhiều lần về tiếng chuông này. Trong buổi tiệc, tôi lo sợ vô cùng khi Thảo lắng nghe tiếng chuông giấy. Tôi đã ghi nhận, phân tích, xếp loại, và giải thích ý nghĩa tiếng chuông ấy trong luận án. Thầy Phong tán thưởng phần này khen tôi hiểu rõ căn bản của phân tâm học. Thầy lầm rồi. Tôi ngu dốt mà cứ tưởng thông minh quán chúng. Bằng chứng: tôi có chữa được bệnh của Phương Thảo đâu. Tiếng chuông nhà thờ ma quái ấy lại đổ dồn, không biết có thật sự thanh thoát không, nhưng với tôi, nó là hồi chuông báo tử.
Thảo nhắm mắt lại, hơi thở khá điều hòa. Me tôi hơi yên lòng, về ngồi ở giường mình. Tôi lay Thảo, bảo nàng hả miệng uống viên thuốc ngủ. Nàng vâng lời, chịu chống tay ngồi dậy để nước khỏi từ ly chảy lan xuống cổ xuống nệm. Uống xong, tôi hỏi nàng :
- Em còn mệt không? Có nhận ra anh không?
Thảo nhìn tôi, không nói gì. Lòng tôi hoang mang. Tôi phải làm gì bây giờ. Tôi đã lầm lạc từ chỗ nào? Từ chỗ nào?
* * * * *
Từ ban đầu chăng? Cái thủa ban đầu mà tôi đã quên? Vả lại, việc xin Phương Thảo về, tôi chỉ nhớ mang máng không lấy gì làm chắc. Muốn xác nhận, tôi phải bắt me tôi kể lại nhiều lần. Luận án của tôi dựa nhiều vào những lời kể lại của bà.
Ba me tôi khá hiếm hoi. Hai ông bà lấy nhau cả mười năm trời vẫn chưa có được mụn con nào. Ông bà nội đã sốt ruột, nhắc đi nhắc lại cái câu bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại để gợi ý cho ba tôi lấy vợ lẻ. Ba tôi giả vờ không hiểu. Me tôi thấy thế mừng thầm. Tuy vậy, bà luôn luôn ray rức khổ sở vì cho rằng tất cả tội lỗi là do ở mình dù thời bấy giờ chưa có các phòng thí nghiệm đầy đủ dụng cụ để xác nhận phần lỗi về chồng hay về vợ. Mà thật ra phần lỗi không thuộc về ai hết, vì đến năm ba tôi hai mươi chín tuổi thì tôi ra đời. Tôi là cháu đích tôn, là con cưng của gia đình. Hai năm sau, me tôi sinh thêm được một em gái. Me sinh vào mùa xuân. Và một lần nữa, lòng hoài cổ của một nho sinh lạc đệ một đời long đong vì nghiệp nho là ông nội tôi lại được dịp biểu lộ, một cách thi vị tao nhã. Ông nội trích câu đầu của bài cổ thi:
Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng lục hà tri
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết thi.

để đặt tên cho em tôi. Em Phương Thảo. Nhưng ba tôi có tuổi khắc với con gái và ông nội tôi không có diễm phúc được du xuân ngắm cảnh đồng cỏ ngát hương của ông nội lớn lên. Em Phương Thảo mất năm mới lên ba. Lúc ấy tôi mới có năm tuổi, không nhớ được gì. Chiếc ảnh cũ của em Phương Thảo chụp trong dịp lễ thôi nôi trông bụ bẫm dễ thương. Me tôi bảo con Thảo Chị trắng như cục bột, đôi mắt sáng và đen ánh như hai hạt nhãn. Me tôi gọi là Thảo Chị để phân biệt với Thảo Em, tức Phương Thảo ngày nay.
Sở dĩ me tôi có thêm được một đứa con gái nuôi nữa, co lẻ cũng do một sơ suất ngẫu nhiên. Hình như lúc đó vào độ tết năm 1955 hay 1956. Trí nhớ me tôi không được tốt, me tôi chỉ bảo là khoảng một hay hai năm sau hiệp định Genève. Ngày mồng 1, ba me dẫn tôi đi hái lộc trên chùa, rồi ghé qua thăm cô nhi viện. Ba tôi mới mua được một máy ảnh cũ do người bạn thua bạc nhượng lại, nên tìm mọi cơ hội trổ tài phó nhòm. Thôi thì đủ kiểu đủ lối. Ba chụp me ngồi mơ màng. Ba chụp me ngồi tươi cười. Me quàng vai con. Me dựa vào gốc dừa xanh. Me phải đứng im cho ba biểu diễn tài nghệ nhiều quá, đâm chán, không thèm chụp nữa. Ðến lượt tôi chịu đựng. Ba chụp tôi ngồi bên chậu cúc. Ngồi dưới tượng Phật Bà. Chụp xong, ba tôi thấy gần bên hồ sen có thùng gỗ lạc quyên phía mặt trước có kẻ mấy chữ Giúp Trẻ Cô Nhi. Ba tôi đạo diễn, bắt tôi lấy tờ bạc mới vừa được ông nội lì xì nhét vào kẽ thùng, cho ba tôi chụp ảnh. Ba tôi không cho tôi rút tay lại, bắt đứng yên, để gắng chụp cho trung thực hình ảnh một nhà từ thiện tí hon. Ba tôi loay hoay thế nào mà khi sang ảnh, nhà từ thiện thành kẻ ăn xin. Trong bức hình, mặt mày tôi nhăn nhó trông thảm thương. Lưng khom lại như sắp sụp xuống lạy. Còn bàn tay tôi, bị chụp lúc đang rút tay về, trông chẳng khác nào bàn tay chìa ra của em bé hành khất khốn khổ. Nhưng các chi tiết khôi hài đó tạm thời có thể cho qua đi. Me tôi sợ đến xanh mặt lại, khi thấy tôi đang thiểu não đứng bên cái thùng có bốn chữ Giúp Trẻ Cô Nhi. Phải chăng đây là một điềm gỡ? Tôi sẽ mồ côi? Và mồ côi cha hay mồ côi mẹ? Ban đầu ba tôi chỉ bực mình vì trở ngại kỹ thuật. Sau đó, nghe me tôi e dè giải thích, ông vội vàng xé tan bức ảnh. Không hiểu đằng sau nét mặt trầm tĩnh của ba tôi, biến cố đó có để lại chút vết nhỏ mọn nào không? Nhưng riêng đối với me tôi, nó trở thành một ám ảnh. Nhất là ba tháng sau, ba tôi bị một chiếc xe hàng vượt qua mặt, vè xe kéo ngã chiếc xe đạp của ba tôi. Ông bị xây xác khắp mình mẩy, ống chân trái bị gãy, một viên đá nhọn suýt làm mù con mắt phải. Me tôi bị khủng hoảng tinh thần thực sự. Bà cứ lo ngay ngáy rằng tôi sẽ bị mồ côi cha. Me tôi đi chùa. Me tôi cầu Phật cầu Trời. Bao nhiêu tiền lời buôn bán cực nhọc, me tôi đem cúng vào quỹ của các cô nhi. Đồng tiền lời phước thiện không mua được sự bình yên cho tâm hồn me tôi. Bà cảm thấy làm như vậy chưa đủ. Bà đến cả nhà thờ, quì gối trước tượng chúa tuy me tôi không thuộc lấy một chi tiết nhỏ nhặt nào của đời sống Ðấng Cứu Thế. Me tôi cầu khẩn van vái mọi đấng thần linh dù từ bi hay bác ái. Rồi ba tôi bình phục sau hơn một tháng nằm bệnh viện, đi đứng khó khăn vì chân bị băng bột. Chưa kịp mừng vì thoát nạn, gia đình tôi nhận ngay một tin buồn khác: đơn xin tái bổ vào ngạch cán sự công chánh của ba tôi bị bác. Không biết có phải đó là những lý do thầm kín để me tôi đơn phương quyết định một cách chuộc tội, một cách phòng ngừa khác hay không. Khó có ai hiểu rõ sự thực. Ngay cả me tôi nữa, bà cũng không hiểu rõ mình. Chỉ có một điều chắc chắn, cho tôi và cho cả nhà: Me xin Phương Thảo về từ cô nhi viện công giáo, khiến tôi có thêm một người bạn và me tôi có được một mối bận tâm thường xuyên. Từ khi Phương Thảo về, quả nhiên me tôi quên hẳn chuyện bức ảnh của tôi ngày trước.
Tên Phương Thảo là do ba tôi đặt. Chắc ông hối hận, sự vụng về nhiếp ảnh gây rối cho me tôi nhiều quá, nên ông muốn lấy tên em tôi đặt cho đứa con nuôi, như một lối tưởng niệm. Me tôi rất bằng lòng, ban đầu còn gọi là Thảo Em, nhưng về sau gọi hẳn là Phương Thảo.
Năm đó, Phương Thảo lên chín. Cô bé thật xinh đẹp, ống kính đã lão luyện sắc sảo của ba tôi có chụp được một bức hình Phương Thảo thủa ấy. Thảo Em hơi gầy, không bụ bẫm như Thảo Chị. Ðôi mắt Thảo Em buồn buồn, không nhí nhảnh tươi sáng như Thảo Chị, tuy cũng đen láy như hai hạt nhãn. Thảo Em ngồi bên me tôi, mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Như một đôi mắt nai buồn. Mái tóc ngắn, cái mũi nhỏ và thẳng, đôi môi chúm chím như môi các người đàn bà Nhật trong tranh. Cái cổ thon cao. Tất cả các yếu tố đó hòa hợp với nhau tạo thành một nhân dáng tội nghiệp sầu muộn lạc loài. Me tôi đưa bức ảnh cho tôi làm tài liệu. Phía sau, me tôi có đề: Thảo Em, Ngày Mới Về. Me tôi còn giải thích rõ xuất xứ của bức ảnh. Thảo Em đã bất thường ngay từ thời ấy. Cô bé sầu muộn thích ngồi một mình trong xó tối, ở góc nhà, hát nho nhỏ những bài đầu ngô mình sở. Trong nhà Thảo Em chỉ nói chuyện với me tôi mà thôi. Có lẽ vì me tôi đã nhiều lần mang quà bánh tới cho cô bé lúc còn ở cô nhi viện. Còn ba tôi thì không có cách nào làm quen được với cô gái nuôi. Mỗi lần ông đến gần, Thảo Em cứ lấy tay che mặt lại, hoảng hốt như sợ một tai nạn gần kề. Ba tôi hơi bực. Ông muốn tìm mọi cách âu yếm nâng niu Phương Thảo để làm vừa lòng me tôi, xem đó là một cách chuộc tội nhẹ nhàng và kín đáo. Rồi tự nhiên một hôm, cái hôm ba tôi đã quên hết chuyện cũ bắt đầu táy máy chụp hình trở lại, Phương Thảo không sợ ba tôi nữa. Cô bé để mặc cho ba tôi vuốt tóc. Cô bé còn cười với ba tôi nữa. Ba tôi mừng rỡ. Bức ảnh ghi lại được cái nhìn khá thanh thản của Phương Thảo lúc bấy giờ, và nét mặt thật hân hoan của me tôi.
Nhưng me tôi không giữ được nét mặt ấy lâu. Hai tháng sau, Thảo Em lại nổi cơn. Lần này cô bé bị hành hạ dữ dội hơn, nằm thiêm thiếp cả ngày, lúc tỉnh cứ lấy hai bàn tay ốm xanh che lấy mặt. Phương Thảo không nói chuyện với me tôi nữa. Còn ba tôi, bây giờ, trở thành mối khủng khiếp cho cô bé. Ba tôi càn nhàu, trách me tôi vô cớ rước nợ vào thân. Me tôi giận, sẵn dịp tốt bỏ nhà cho ba tôi trông coi, đem Phương Thảo và tôi về quê ngoại. Me tôi nghĩ về thôn quê, gần gũi với những đồng lúa xanh, bông tre rợp, hít thở không khí trong lành đượm mùi cây cỏ, bệnh của Phương Thảo sẽ giảm bớt.
Trí nhớ tuổi nhỏ đôi lúc thật tốt đối với những kỷ niệm không mấy quan trọng của cuộc đời rối rắm và dài. Không hiểu sao đến nay, tôi vẫn còn nhớ rõ từng chi tiết căn nhà lá mái của bà ngoại. Con đường đất sét khô cứng vào mùa hè và lầy lội vào mùa đông dẫn vào một chiếc cổng vôi rêu phong. Hàng rào lá chè cắt xén khéo léo tiếp tục dẫn vào gặp một tấm bình phong cỏ đắp hình cành mai và lão tiều dưới chân núi. Ngôi nhà cổ lợp tranh dày trông thô sơ, nhưng bên trong là những cây kèo cây cột gỗ quí điêu khắc công phu. Ngôi từ đường lặng lẽ ẩm mốc. Phía sau hàng cột cao những bộ ngũ sự lớn nhỏ thấp thoáng ẩn hiện trong bóng mờ. Bên ngoài, gió thổi vào tàu lá chuối nghe xào xạc, và mỗi lần ngoại mở một cánh cửa nhỏ cho nắng lọt vào, thì màu ánh sáng xanh xao lọc qua lá chuối non cũng mang theo, rõ mồn một, từng tiếng tu hú não nùng, ma quái.
Me tôi đem Phương Thảo về ngoại không được một tuần. Tôi buồn quá chừng, trông cho mau đến ngày về tỉnh. Me tôi ngược lại, thích sống cái không khí trìu mến thân yêu của thời thơ ấu dưới ánh mắt bao dung của ngoại. Phương Thảo đã giúp tôi toại nguyện.. Vì vừa ở quê được vài ngày, một hôm me dẫn Phương Thảo lên từ đường lạy ông bà, cầu nguyện ông bà phù hộ cho chóng khỏi. Vừa bước qua cái cửa ngăn ngạch cao đến gối, Phương Thảo tự nhiên chùn lại, ôm lấy me tôi sợ hãi. Me tôi vô ý, cứ bước tới. Phương Thảo hốt hoảng, lại đưa hai tay bụm mặt và thét lên khủng khiếp. Me tôi chán nản, hoang mang. Bà đành dẫn chúng tôi trở về phố vậy.
* * * * *
Ngạc nhiên làm sao, trở lên tỉnh, Phương Thảo lại khá hơn, tuy căn nhà ba me tôi thuê thời bấy giờ đâu có mát mẻ yên tĩnh như nhà bà ngoại. Việc buôn bán của me tôi không mấy phát đạt, tảo tần bao năm mà chưa thâm vốn là may chứ đừng nói đến chuyện mở mang cơ sở kinh doanh. Ba tôi, như tôi đã nói, xin mãi mà không được tái bổ dụng. Hồ sơ công an của ba tôi xấu. Chú tôi đi tập kết. Bác tôi đi tập kết. Người thì ra đi vì mơ ước được biết những nơi nước lạ non xa, biết con đường Cổ Ngư, đền Voi Phục, chùa Láng, hồ Tây mà chú tôi say mê qua các tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn. Bác tôi thì được chính quyền khuyến cáo đi tập kết, vì nếu ở lại, có thể trở thành một nguy hiểm cho cách mạng. Tài ngụy biện của bác tôi, cùng với cái khiếu sách động quần chúng, nhiều lần đã khiến bác tôi mang tai vác ách. Riêng ba tôi có một thời là nhân sĩ khả kính trong quận, nên được bầu làm nghị viên hội đồng tỉnh. Cái chức vị trang trí đó trong thời kháng chiến trở thành cái gông nặng nề ba tôi phải mang sau này, khi quốc gia đến tiếp thu vùng đất kháng chiến hai bên bờ sông Côn. Ba tôi thất nghiệp, dở ông dở thằng, cứ quanh quẩn bực bội trong nhà hoặc chắp tay sau lưng rảo bước quanh vườn cho qua thì giờ dằng dặc. Ðời sống nhàn cư tới tấp đem đến cho ba tôi những đam mê bất ngờ. Như đam mê nhiếp ảnh chẳng hạn. Những đam mê ấy làm khổ vợ khổ con không ít. Tuy thế, thà ba tôi lo săm soi chùi rửa ống kính, giam mình trong phòng tối sang hình, me tôi và chúng tôi còn bớt khổ hơn lúc ông ở không. Những lúc ấy, nét mặt ba tôi cau có, đăm đăm. Ba tôi đối đãi với tôi và Phương Thảo nghiêm khắc quá. Ông ít nói cười, hoặc nói quá nhiều và đùa quá trớn, khiến chúng tôi hoang mang, không biết ba tôi dễ dãi thành thực hay chỉ là một cái bẫy. Kết quả là chúng tôi thường trốn tránh ba tôi. Những buổi trưa, chờ ba tôi lim dim ngủ trên cái võng treo ở gian dưới, chúng tôi đưa mắt cho nhau làm hiệu cùng nhón gót chuồn ra khỏi bếp. Chưa yên lòng, chúng tôi phải núp sau tấm liếp tre đan dò xem ba tôi có ngủ thực không. Thường thường thì ba tôi nằm yên. Chắc ông ngủ thật. Chúng tôi dẫn nhau ra vườn. Tôi chạy tung tăng, len lỏi giữa những gốc nhãn xù xì, chân đạp trên lá khô. Phương Thảo bước chậm dưới bóng mát như một người lớn trầm tư, mắt mơ mộng bình tĩnh. Tôi rủ Phương Thảo chơi trò cút bắt. Cô bé không mấy thích, từ chối rất hợp lý :
- Chạy nhiều rách quần áo, me la chết.
Tôi cãi :
- Me bản vải, đâu có sợ thiếu quần áo. Rách cái này, may cái khác mới hơn. Cái áo của Thảo cũ rồi. Mấy cái hoa đỏ này đã phai màu. Cả chùm lá này cũng hết xanh. Xấu lắm. Ðúng là cành hoa héo. Em cứ việc chạy nhảy chơi đùa đi, đừng sợ.
- Lỡ me không may áo mới thì sao? Người ta sẽ bảo mình con nhà nghèo.
- Không đời nào. Trong nhà, me cưng Thảo nhất. Me cứ ao ước cho Phương Thảo khỏi bệnh, cho Phương Thảo cười đùa như con nít thường.
Cô be ngơ ngẩn hỏi :
- Em có bệnh gì đâu?
- Mấy hôm trước, em cứ lấy tay che mặt lại. Có người lạ là em chạy trốn, mặt úp vào xó tối. Có gì đâu mà em sợ. Người ta cũng như mình. Cũng có hai con mắt này cái mũi này, cái miệng này. Có hai tay hai chân này.
- Họ đâu có cười như me.
- Thế sao ba cười mà em lại trốn?
Thảo bối rối, cố tìm ý để giải thích :
- Tại... tại miệng ba hả ra, ba nhe răng
Tôi cười hô hố, chỉ vào miệng mình :
- Anh cũng nhe răng ra đây, sao em không chạy trốn đi?
- Anh khác. Anh nhe răng, nhưng mắt anh không đỏ. Còn ba...
Quả tình Phương Thảo nói đúng. Ðôi mắt ba tôi, qua mấy mươi năm lao khổ, không còn trong sáng như mắt chúng tôi được nữa. Lòng đen hơi xám lại, trong khi lòng trắng kéo đầy gân đỏ. Dù vui mừng đột ngột hay giận dữ tột độ, đôi mắt ấy không thể nào phát ra được những tia sáng làm bùng dậy niềm tin, nhen lên thiện cảm. Đó là ánh sáng leo lét của kẻ bất đắc chí không tìm được ánh đuốc của đời mình, nên cho dù có cố gắng, nụ cười của ba tôi vẫn gượng gạo đến não lòng. Tôi hỏi :
- Em có thương ba không?
-Có.
- Thương lúc nào?
- Lúc ba ngủ.
- Tại sao vậy?
- Lúc đó ba cười.
- Ngủ thì làm sao cười được? Nói láo.
Phương Thảo không chịu, cãi lại :
- Có mà. Ba nằm mơ thấy...
Phương Thảo nói đến đó tìm ý không ra nữa, đành im lặng. Tôi không chịu thua, giục :
- Thấy gì, nói đi chứ.
- Em làm sao biết được. Ba thấy chứ bộ em thấy hay sao.
- Giả sử em là ba, thì em nằm mơ thấy gì mới cười?
- Em ấy à? Em nằm mơ thấy me ở nhà với em này, ở nhà cả ngày từ sáng đến lúc mặt trời lặn. Rồi ngày mai cũng vậy, ngày mốt cũng vậy.
- Em có mong anh ở nhà không?
- Có.
- Em có mong ba ở nhà từ sáng cho tới tối không?
Thảo ngần ngừ. Tôi nói :
- Có hay không, nói thật đi.
Phương Thảo thú nhận :
- Em không biết sao nữa. Ba ở nhà thì em sợ. Ba đi thì me buồn. Mà me buồn thì em cũng buồn. Hay ba ở nhà, với me, nhưng ba cứ nằm lim dim trên võng, miệng mỉm cười hoài.
- Chẳng lẽ em bắt ba ngủ cả ngày?
- Nếu thức thì ba ngâm thơ. Lúc đó ba cũng cười.
Ngâm thơ? Tôi không tin tai mình. Giữa tôi và ba tôi, như có một bức tường trong suốt bằng thủy tinh chắn ngang, cách biệt và lạnh lẽo. Lúc nào tôi cũng thấy ba tôi nghiêm nghị, bình tĩnh. Chưa bao giờ ba tôi tỏ vẻ mừng rỡ thái quá hay xúc động thái quá. Ðã đành ba tôi có những đam mê, nhưng đam mê trong vòng im lặng, trật tự. Như thế thì làm thế nào ba tôi có nhiệt tình với thi ca đủ để ngâm to một bài thơ cho Phương Thảo nghe lóm được. Tôi hỏi :
- Ba ngâm thơ lúc nào?
- Trưa hôm qua. Trưa hôm kia cũng có nữa.
Khám phá đó làm cho tôi tò mò. Tôi và Phương Thảo rình nghe liên tiếp hai buổi trưa nhưng ba tôi chỉ ngủ. Ðến trưa hôm thứ ba, tôi mới thấy Thảo nói đúng. Ba tôi nằm yên lặng trên võng như thường lệ. Đột nhiên, ông đằng hắng, rồi ngâm to mấy câu thơ nghe lạ hoắc:
...Những ngày xưa thân ái.
Chắc hắn quên rồi.
Riêng tôi tôi nhớ.
Ðồng làng mênh mang biển lúa.
Sương mai đắp trắng cỏ đường.
Hai đứa tôi sách vở cặp chung.
Áo quần nhàu giấc ngủ.
Song song bước nhỏ chân trần.
Gói cơm mo mẹ vắt xách tùng tơn.
Nón rộng chùng quai.
Trong túi hộp diêm nhốt dế...

Ðọc xong, ba tôi vẫn nằm yên lặng, không phác một cử động nhỏ nào. Nếu không tận mắt thấy đôi môi ba tôi mấp máy, tôi đã tưởng đó là tiếng ma ngâm.
Từ độ ấy, lòng tôi thương ba tràn trề. Có thể nào đằng sau gương mặt lầm lì cau có đó tâm hồn ba tôi vẫn luôn luôn mơ về thời thơ ấu giữa thôn quê mênh mông biển lúa trời cao, hình ảnh cậu bé lo lắng cho con dế trong túi con chim trong cặp hơn là các bài tính cộng tính trừ.
Ba tôi bị đời sống dồn vào chân tường nên quay lưng lại, sống thật trọn thật đầy những xúc động riêng tư cô độc. Tâm hồn ba tôi vẫn còn là một khu vườn hoang liêu đầy những hoa dại và cỏ cây sống chết chồng chất. Khám phá ấy khiến chúng tôi không e ngại ba tôi như trước nữa. Chúng tôi dám cười to. Chân bước mạnh hơn. Ba tôi choàng thức dậy, và từ một lúc cả ba tâm hồn bỡ ngỡ cùng gặp nhau ở một điểm hẹn, thì mọi đố kỵ e sợ đổ hết. Ba tôi trở thành một đứa trẻ. Ông nhập vào trong một thế giới mới, tuổi thơ ấu sống lại. Võng ba tôi nằm thành chiếc phi cơ đưa hai chúng tôi vào khoảng không gian tưởng tượng bát ngát. Giường ba tôi ngủ là sân chầu của một vương triều mà ông vua đội mũ lá mít cưỡi ngựa tàu cau, còn công chúa thì trang điểm đơn sơ bằng một đóa hoa trắng hình loa (cho đến bây giờ, tôi cũng không biết tên hoa gì). Tuổi thơ của chúng tôi trải qua như thế. Phương Thảo đã sống gần ba năm như một đưa trẻ bình thường. Dấu vết bệnh hoạn càng ngày càng bớt đi. Màu da xanh xao đã mất. Đôi mắt cô bé trong sáng trở lại.
Phương Thảo càng lớn càng đẹp, cử chỉ bạo dạn, lời lẽ từ tốn tự nhiên. Phải tinh ý lắm mới thấy đôi vết bất thường khi Phương Thảo quá bối rối.
Chẳng hạn đôi bàn tay Phương Thảo cứ xoắn lấy nhau, cái môi thắm phía trên hơi run run, hoặc lâu lâu, nàng khẽ lắc đầu một cái như người ta lay một cái đồng hồ tự động cho nó bắt đầu chạy.
Ðấy la mấy năm hạnh phúc của gia đình tôi. Me tôi thời ấy buôn bán phát đạt, từ một sạp vải nhỏ mở lớn thành một căn phố rộng. Ba tôi sau một thời gian thất nghiệp nhờ gặp một người bạn cũ làm lớn tại bộ lại được đi làm ở ty công chánh. Tôi đi học trung học tại thành phố. Phương Thảo giúp me tôi trông hàng, giữ sổ sách và tiền nong chi thu. Cuộc đời tươi sáng như một bầu trời mùa hạ cao xanh trong vắt.
Nhưng những cụm mây mù bên kia núi đùn đùn kết lại. Không biết từ đâu.
Chẳng hiểu vì lẽ gì. Ðời sống bằng phẳng, êm đềm thì đột nhiên biến cố dồn dập đến. Me tôi bị khách hàng quịt nợ, gần như khánh tận. Ba tôi mất, sau một cơn bệnh có vẻ thật xoàng. Me tôi bán căn phố, giật gấu và vai trả hết nợ nần rồi chỉ còn đủ tiền thuê cái nhà thấp nhỏ thiếu thốn tiện nghi này. Nét mặt me tôi từ đó héo hắt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của Phương Thảo. Sự sa sút của gia đình tôi có thể là yếu tố chính khiến bệnh Phương Thảo tái phát. Đã có lúc me tôi tính gửi nàng vào dưỡng trí viện Biên hòa, vì nàng lại che mặt nói xàm cả ngày. Tôi chua xót nhìn Phương Thảo héo gầy, đau đớn thấy nàng nhìn tôi như một kẻ hoàn toàn xa lạ. Khi không nói mê, nàng lẳng lặng cử động âm thầm như một cái máy. Ngược lại khi nói mê, những câu nói ngắn, rời rạc, lộn xộn của nàng làm cho tôi hoang mang không biết mình đang ở đâu đang làm gì. Tôi lạc thần, phờ phạc chẳng khác gì Phương Thảo.
Vì thế, đậu xong tú tài, tôi đã quyết định chọn y khoa. Tôi chọn ngành thần kinh ngay từ khi chưa học thuốc. Tôi học thuốc vì Phương Thảo, cho Phương Thảo. Và giờ đây, sau bao năm cần cù, kết quả là con số không.
Kết quả là Phương Thảo nằm dã dượi mê man trước mặt tôi, chẳng khác nào một xác chết. Làm thế nào bây giờ? Tôi đã lầm lẫn thế nào trong các lý đoán chẩn bệnh?
0
Chương 3


“Trong sự cố gắng giải thích biểu tượng nơi giấc mơ người khác, chúng ta thường hay bị trở ngại vì có khuynh hướng dùng cách phóng đại để bổ túc những chỗ hiểu biết còn thiếu sót, giả tỉ như nhà phân tâm học tri giác hay suy nghĩ cái gì thì người nằm mộng cũng phải như thế. Vì muốn ngăn ngừa những nguyên do lầm lỗi đó mà tôi vẫn nhấn mạnh đến điểm quan trọng là chỉ căn cứ vào nội dung của mỗi giấc mơ riêng biệt, còn thì loại hết những giả thuyết căn cứ vào lý thuyết đại cương về giấc mơ, ngoại trừ những giả thuyết có ý nghĩa nào đó đối với giấc mơ ấy”.
Lời khuyên trên đây của Jung trong quyển Thăm dò tiềm thức giúp tôi qui định một lề lối làm việc thuần nhất, y nguyên từ trước đến sau. Tôi cố quên những điều phóng đại, những hệ thống lý thuyết đồ sộ do trí thông minh bao nhiêu thế hệ loài người dựng lên, sừng sững cao ngất đến độ không còn phù hợp vời vóc dáng tầm thường nhỏ nhoi của con người.
Tôi cố gắng khởi đầu bằng hai bàn tay không, và một đầu óc rỗng. Trước mặt tôi, là một con người cá biệt, không |giống ai. Phương Thảo ở riêng một cõi, hoàn toàn riêng lẻ. Nụ cười của nàng khác hẳn mọi người. Tiếng khóc của nàng cũng khác hẳn tiếng khóc kẻ khác. Vì Phương Tháo có riêng cho mình một quá khứ. Những hình ảnh, những kỷ niệm tạo thành sự phức tạp của tiềm thức Phương Thảo không có một phó bản nào khác.
Cho nên việc đầu tiên của tôi khi soạn luận án là thu thập tài liệu.
Tôi hỏi kỹ me tôi về Phương Thảo, từng dáng điệu, cử chỉ, lời nói, vẻ mặt của cô bé từ khi me tôi xin về cho đến khi lớn lên. Công việc khá vất vả, vì chẳng những me tôi không nhớ kỹ, mà nhiều lúc, những điều bà tưởng nhớ rõ chỉ là một thứ ảo tưởng được tô vẽ chải chuốc lại. Tôi hiểu me tôi lắm. Ba tôi đã qua đời. Gia tài đã khánh kiệt. Ngày ngày tháng tháng lúc thúc trong khu vườn quạnh hiu và mái nhà ẩm thấp này, me chỉ còn một niềm vui ít ỏi là say sưa kể chuyện ngày xưa. Mỗi lần muốn me tôi vui, tôi chỉ cần đặt một câu hỏi. Mắt me tôi những lúc ấy long lanh một thứ ánh sáng lạ lùng, họa hoằn. Me nói, me nói đến nỗi tôi ghi không kịp, còn Phương Thảo thì ngẩn ngơ.Vì thế, tôi phải chọn lọc lại những kỷ niệm tươi đẹp và rối rắm, nhiều khi mâu thuẫn của me tôi. Nhớ những lời ghi chú đó, cộng thêm mớ ký ức thiếu thời, tôi phác họa được tuổi thơ ấu của Phương Thảo, từ năm tám tuổi về ở với me tôi đến lúc ba tôi mất me tôi buôn bán thua lỗ và Phương Thảo lên cơn trở lại. Xin thú thực, tôi không tin tưởng mấy vào những trang phác họa này. Nó đẹp, và mờ như một thành phố hồng ngày xuân sương mù. Nếu căn cứ vào những điều kiện sinh hoạt thời này, thật khó mà giải thích được tình trạng sức khỏe và tâm thần của Phương Thảo. Khốn nỗi, từ lúc ở cô nhi viện trở về trước, me tôi không biết gì về Phương Thảo hết.
Tôi đành thu thập tài liệu những năm về sau, lúc tôi lên đến năm thứ ba.
Tôi chú ý thấy Phương Thảo thường khủng hoảng thần kinh nặng nề vào khoảng tháng năm tháng sáu. Bấy giờ khí hậu nực nội, oi ả. Những cơn nắng hực lửa gay gắt vào buổi sáng bao nhiêu thì cơn mưa buổi chiều càng làm cho đời sống ướt át ủ dột bấy nhiêu. Có lẽ vì vậy khoảng mấy tháng đó, Phương Thảo thường mê sảng. Tôi ngồi bên Phương Thảo, ghi nguyên văn tất cả những lời nàng nói.
Sau một tuần lễ, tôi đem đối chiếu chọn lọc, chỉ thu thập những câu nàng nói đến lần thứ nhì. Sau một tháng, tôi lại đối chiếu loại bỏ lần nữa, nghĩa là chỉ ghi lại làm tài liệu những câu nàng nói mê đến lần thứ ba.
Tôi cũng áp dụng một lối chọn lọc như vậy để tìm tài liệu sống về các cử chỉ, các hành động thất thường của Phương Thảo.
Trong hai năm, tôi ghi chú được khá nhiều, dầy đặc cả một quyển vở trăm trang. Đến cuối năm thứ năm y khoa, tôi chọn lọc tài liệu một lần chót rồi mời xếp đặt, phân loại, để thử dựa vào đó, phỏng đoán nguyên nhân căn bệnh Phương Thảo.
Tôi hơi bối rối trước mớ tài liệu hỗn tạp rắc rối như mớ bòng bong này.
Xoay ngang, xếp ngược, làm sao cũng không hợp lý cả. Tôi vụng về, chẳng khác nào anh chàng thợ hồ mới học nghề không biết phải quệt chút vữa này thế nào cho viên gạch này dính liền vào viên gạch kia.
Nhưng rồi dịp may đến với tôi, đúng lúc. Năm đó, người bạn tôi đang học bên luật khoa, đọc sách nhiều, suy tư lắm, mà phát ngôn cũng dữ tợn nữa. Lúc nào đến thăm hắn, vừa bước lên cái cầu thang hẹp lên gác, tôi cũng nghe hắn bi bô lập thuyết. Bọn bạn nối khố từ thời trung học đặt cho hắn cái biệt danh Lý Thuyết Gia Tạp Thuyết, vì tháng nào hắn cũng có một học thuyết mới toanh để oang oang rao giảng cho thân hữu. Bấy giờ, hắn đang hăng hái phổ biến cho bạn bè thuyết Tân Trung Dung của hắn, học thuyết vừa khoa học thực tiễn vừa đề cao sức mạnh đời sống tâm linh, vạch trần sự nông cạn của Marx và sự bí hiểm cố ý để che giấu ngu dốt của phái duy tâm. Chúng tôi đã quen với những dao to búa lớn của hắn quá rồi, không ngạc nhiên chút nào, lẳng lặng lắng nghe hắn đại ngôn :
- Các toa biết không. Con người ta, như Pascal nói, chỉ là một cây sậy yếu đuối. Dù biết suy tưởng chăng nữa, nó vẫn là một cây sậy không hơn không kém. Vì sao?
Hắn dừng lại, học cái xạo vặt của mấy tay du thuyết nhà nghề, rút điếu thuốc chậm rãi đánh diêm châm lửa hút. Chúng tôi hơi tò mò, nhưng chỉ yên lặng chờ. Hắn cười thật khinh bạc rồi tiếp :
- Vì sao? Vì sao mà yếu? Chỉ vì nó chịu đủ thứ áp lực. Sinh ra là chịu đựng những ràng buộc xã hội, và cá tính, địa vị, cách xử thế của nó là hậu quả tất yếu của những áp lực.
Trước hết là áp lực kinh tế. Chính đời sống vật chất, cái ăn, cái mặc, cái uống, cái ngủ, bắt buộc nó phải chịu lệ thuộc. Nhưng moa không dừng lại ở đó, như Marx. Moa cho rằng áp lực này chỉ có trên lý thuyết như một thứ định đề. Trong đời sống con người, áp lực nguyên thủy này biến thái đi, để phân thành hai áp lực khác, như từ thái cực sinh lưỡng nghi vậy.
Lưỡng nghi đó là áp lực xã hội và áp lực siêu nhiên. Cách thức tìm miếng cơm manh áo của mỗi người buộc nó phải chịu sự kiềm tỏa của đám đông. Nó cảm thấy bị tước đoạt. Nó sợ hãi. Cho nên tùy vào các cách áp chế của xã hội nó sống, mà con người phải tìm lối thoát trong lòng tin ở thần linh. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Nó thoát những dây xích tàn nhẫn của xã hội, thì lại mang thêm một gông cùm mới.
Chúng tôi chịu, không hiểu nổi cái mớ bòng bong pha trộn cẩu thả nào mác xít, nào hình như thượng học của nho giáo, nào xã hội học, nào Pascal của hắn. Hắn nói mãi, cho đến lúc bị một thằng bạn kê đúng vào chỗ học thuyết yếu nhất. Hắn tịt ngòi, hơi thẹn, sau đó lại tiếp tục cãi bướng.
Tối hôm đó về, tôi lại xoay ngang xếp ngược mớ tài liệu về căn bệnh của Phương Thảo. Tôi tìm một cái khung để móc các tài liệu ấy lên. Tôi viết rồi xóa, xóa rồi viết. Cuối cùng, tôi tìm ra một dàn bài.
Phải rồi, cô bé Phương Thảo dù sao cũng chỉ là một thành phần yếu đuối tội nghiệp trong guồng máy xã hội, chịu đủ mọi thứ áp lực. Cô bé bị vứt vào viện mồ côi, như một cái cây bị nhổ bật rễ lên khỏi lòng đất mẹ để đem cấy vào một miền đất khác lạ hoắc. Cô bé cảm thấy chới với. Đôi chân non và bàn tay yếu không cho phép cô bé lăn lộn với đời tìm sống, trong khi cái bao tử đói ăn, cái miệng đói uống. Đó là một thứ áp lực tiên khởi. Áp lực kinh tế, như nhà lập thuyết của tôi đã nói. Phương Thảo không có cách lựa chọn nào khác. Người ta đã chọn giùm cho Phương Thảo một mẫu sống. Cô bé chỉ còn biết ngồi yên ở đó, chịu đựng tất cả lòng thương hại của ông đi qua bà đi lại. Đó là áp lực xã hội. Cô bé chịu đựng khá, kiên nhẫn nhìn mọi cái trò giả dối bác ái. Cô bé chớp mắt cảm động khi người ta vuốt tóc, ngồi yên cho các chị hướng đạo chải đầu, nhỏ nhẹ trả lời mọi câu hỏi của khách lạ.
Cô bé ngồi giữa đám trẻ trai gái cùng mặc một thứ quần áo như mình, nhìn đám người lố nhố bên ngoài rào sắt một cách lạnh nhạt xem thường như đám người bên ngoài nhìn vào bên trong. Người đời cần một cái gì đó để tỏ lòng thương hại vào ngày chủ nhật và các lễ trọng. Vuốt tóc trẻ mô côi, bỏ 100 đồng vào quỹ cô nhi cũng khoan khoái như ăn một tô phở tái, hút một điếu thuốc thơm hảo hạng. Và xã hội buộc Phương Thảo làm cái đinh cho mọi người móc lên trên lòng tự mãn về nhân đức.
Nhưng càng ngày cô bé càng khôn lớn. Con búp bê nhồi bông mềm nhẽo và hôi hám không còn thích hợp với tuổi Phương Thảo nữa. Tay Phương Thảo rỗng. Lòng Phương Thảo trống. Sự chịu đựng trở thành hèn nhát lố bịch. Có lẽ đó là lúc tâm hồn cô bé có một khát vọng mới, mơ hồ nhưng nhất định là huyền diệu vô cùng. Tự lúc nào đó, Phương Thảo nghe tiếng chuông nhà thờ với một đôi tai khác, nên nhận thức cũng khác hẳn.Tiếng chuông ngân nga thanh thoát ấy trở thành mơ ước, một khao khát thoát ly. Cuộc sống thực càng tù túng bao nhiêu, thì tiếng chuông càng có một sức mạnh lôi cuốn đối với Phương Thảo bấy nhiêu. Chính vì thế mà về sau, nhiều lần trong đời, Phương Thảo đã ngồi im lặng đột ngột, mắt mơ màng dõi theo hồi chuông nhà thờ tưởng tượng. Áp lực siêu nhiên là đấy.
Tôi khoan khoái tìm ra được chân lý. Động cơ của cá tính Phương Thảo là vậy. Xã hội đã nhào nặn vóc dáng một tâm hồn ngơ ngác, lạc lõng, rồi chính xã hội cũng đã đưa đẩy tâm hồn đó rơi vào những âm mưu chi phối khác của huyền nhiệm, của thần thánh.
Nếu Phương Thảo chấp nhận mọi áp lực trên đây, nàng đã là một người bình thường. Giống như mọi kẻ khác bằng lòng làm cái mắt xích cho guồng máy khổng lồ, Phương Thảo sẽ xuôi tay như mọi người, cúi đầu cam chịu như mọi người. Xã hội sẽ khen Phương Thảo: Chà, cô bé ngoan ngoãn. Các dì phước sẽ cử Phương Thảo cầm hoa đi chúc mừng Đức Cha, đi dâng hoa cho quan khách.
Nhưng Phương Thảo giữ nguyên vẹn cá tính độc đáo. Cô bé cương quyết chống đỡ để còn nguyên vẹn là mình. Thế mới phiền. Cô bé trở thành bất thường, làm cho mọi người khó chịu.
Thay vì hướng về ánh sáng cho mọi người thấy rõ hiệu quả mầu nhiệm của đức bác ái, cho mọi người vuốt tóc bẹo má, Phương Thảo lại đi tìm bóng tối. Cô bé thường quay lưng lại, suốt ngày nhìn vào xó. Cô bé muốn bảo :
- Tôi chán cái màn giả trang trơ trẽn của các người quá rồi. Cuộc sống các người tạo dựng chói chang quá lắm, tôi không chịu nổi nữa.
Thay vì nhìn thẳng vào đám đông, cúi đầu cảm tạ, cô bé lấy tay che mặt lại. Cô bé muốn phủ nhận, muốn từ chối. Cô bé muốn bảo :
- Hãy đi đi. Để cho tôi yên. Kia kìa, mụ đàn bà mập núng ninh như con lợn ỉ, mặt trát phấn như tô vôi kia, nụ cười của mụ không nhân hậu chút nào. Mụ giả vờ, mụ nói láo. Tôi thấy hết dã tâm của mụ. Mụ chỉ kiêu căng tự mãn về gia tài đồ sộ của mụ, lại còn muốn cho mọi người cúi đầu khâm phục sự giàu có của mình. Đi đi, các người làm tôi xấu hổ.
Và cô bé đã đưa tay che mặt lại khi người lạ đến gần. Vì thật ra, có ai không mang những ý tưởng đen tối độc ác đàng sau khuôn mặt nghiêm nghị hiền hòa? Cô bé sợ là phải.
Lối giải thích trạng thái thần kinh của Phương Thảo như tôi vừa trình bày có đầy đủ dẫn chứng cụ thể. Tôi đã rào trước đón sau từ đầu rằng đây chỉ là một cuộc Thăm Dò, thăm dò đời sống tiềm thức của một người thực riêng biệt, xác định. Kinh nghiệm thu lượm được của cuộc thăm dò này có thể là khởi điểm suy rộng ra những phổ quát được không, điều đó tôi chưa biết chắc.
Nhưng trong khu rừng hoang vu còn nguyên vẹn chưa khai phá của ngành tâm bệnh ở Việt nam, tôi bạo gan đặt một bước chân dò đường. Tôi đã viết đại khái như thế trong phần mở đầu tập luận án. Tôi lọc các câu nói mê của Phương Thảo phù hợp với sơ đồ giải đoán trên kia, ghi chú xuất xứ cẩn thận xếp loại và giải thích tỉ mỉ. Tuy thế còn một số câu nói mê khác không hợp với lý luận. Chẳng hạn nhiều lần Phương Thảo nhắc đến một con ngựa bị chặt chân lê lết quay cuồng trên thửa ruộng lầy, chuyện một tiên ông đầu tóc bạc phơ thân hình quắc thước nhưng gặp cô bé ở đâu là rạp người xuống lạy như tế sao. Cũng có những mùa, khi người lạ vào nhà, thay vì chạy vào xó tối che mặt lại, cô bé đến quì trước me tôi, ôm lấy hai chân bà khóc nức nở. Nói chung, phần lớn những biến chứng của Phương Thảo đều hiền từ, không la hét phá phách. Mọi cử chỉ, thái độ, hành động mê sảng của Phương Thảo đều của kẻ ở thế yếu, cần trốn tránh, van xin, cầu cứu. Còn nhiều, nhiều câu nói sảng nữa không giải thích được. Làm việc một cách khoa học, tôi đã gắng phân loại những câu này rồi cho in luôn vào phần Tồn Nghi, phụ đính sau luận án.
Tuy nhiên tôi cho rằng các tồn nghi ấy chỉ là phụ thuộc, vì tôi đã nắm được điểm chính yếu. Vì vậy, tôi vững lòng, phác họa tiếp một phương pháp trị liệu.
Tôi cố gắng xóa tan những mặc cảm, những ám ảnh nặng nề ăn sâu trong hồn của Phương Thảo. Tôi đề nghị me tôi giao hẳn cho Phương Thảo coi sóc việc chi tiêu trong gia đình, cho nàng toàn quyền quyết định việc tài chính. Dù me tôi hay tôi cần tiền làm việc gì cũng phải hỏi Phương Thảo. Me tôi tin tưởng hoàn toàn vào tôi nên tuy ban đầu hơi ngạc nhiên, về sau bà dần dần cảm thấy thoải mái hòa nhã. Bà sống vô tư, tiền nong đã có con gái nuôi của me lo liệu. Me tôi đã thôi buôn vải, việc sổ sách không còn rắc rối đau đầu như trước kia. Ngoài hoa lợi mấy mẫu ruộng trên quê nội, và số tiền dạy tư của tôi, gia đình còn có thêm số lợi tức hùn hạp trong một xưởng sản xuất nước mắm. Tổng cộng mỗi tháng Phương Thảo có trong tay khoảng ba mươi nghìn đồng. Với một gia đình ba miệng ăn, số tiền ấy khá đầy đủ.
Nhờ thế mỗi tuần chính tôi dẫn Phương Thảo mua quà bánh đi thăm các cô nhi viện trong thành phố. Nếu không có quà, tôi đem theo dụng cụ y khoa, thuốc men đến săn sóc sức khỏe cho các em cô nhi. Phương Thảo làm phụ tá cho tôi. Những lần đi thăm như vậy khiến Phương Thảo vui thích thật sự. Tuy ban đầu nàng có hơi ngượng ngập e ngại thật. Chủ ý của tôi là muốn cho Phương Thảo nhìn lại liên hệ nhân loại, xét lại ý nghĩa các hành vi cứu trợ xã hội với tư thế đối nghịch. Đồng thời, để điều kiện hóa các phản ứng, tôi cho Phuơng Thảo nghe cuốn băng thu tiếng chuông nhà thờ vào nhiều dịp khác nhau. Lúc đầu tôi cho nàng nghe vào lúc chiều tà, khi đêm đã về mà me tôi vẫn hà tiện chưa chịu bật đèn ở nhà dưới. Phương Thảo xúc động thật sự, tay mân mê vạt áo, như đang lần chuỗi, miệng lâm râm nói gì không rõ. Lần thứ nhì và các lần kế tiếp tôi cho nghe chuông vào các giờ sáng sủa hơn. Tiếng chuông trở thành báo hiệu bữa cơm chiều, báo hiệu bữa cơm trưa và cuối cùng, báo hiệu bắt đầu một ngày mới.
Đến vòng thứ ba, nghe chuông lúc chiều tà, Phương Thảo không mân mê áo và mơ màng đôi mắt nữa. Đến vòng thứ tư, nàng cười khi thấy chuông báo hiệu bữa cơm nàng đang sửa soạn. Đến vòng thứ năm, tiếng chuông chẳng khác gì tiếng đồng hồ báo thức.
Những biến đổi khả quan ở Phương Thảo làm me tôi mừng rỡ. Cùng với tiếng cười trong của Phương Thảo, tôi thấy được ánh mắt vui của me tôi. Khoảng thời gian đó, Phương Thảo ăn được, giấc ngủ tương đối lành vì tôi điều giảm lần phân lượng thuốc an thần.
Vào hồi tháng năm vừa qua, tôi hơi lo âu chờ cơn mê định kỳ của Phương Thảo trở lại. Tháng năm rạng rỡ ánh nắng đi qua, không một áng mây mờ. Tôi yên lòng chờ qua tháng sáu. Rồi tháng sáu cũng qua. Tháng bảy tới. Tôi hoàn thành luận án. Và để chứng tỏ sự thành công trọn vẹn sau bao năm kham khổ, tôi kiểm chứng thành quả bằng cách mượn Phương Thảo đọc luận án cho tôi đánh máy vào stencil. Nàng vừa đọc vừa cười thích thú, như khám phá thấy trong gương khuôn mặt ngộ nghĩnh của chính mình. Nhiều điểm nàng còn bổ khuyết hoặc đính chính giúp tôi nữa. Những lúc ê tay tôi dừng việc, thì Phương Thảo nằm dài trên ghế bành, lim dim đôi mắt cười vu vơ với cuộc đời tươi đẹp trước mắt. Nhiều hôm tôi hỏi :
- Phường Thảo, em đang cười gì đó?
Nàng không đáp, tiếp tục nhắm mắt và giữ nụ cười trên môi. Tôi hỏi :
- Em có mơ thấy điều gì khác không?
- Có, không nhiều như trước. Một tháng chỉ vài ba lần mà thôi. Những lúc ấy, nghĩa là khi đang mơ, em tự nhủ: phải nhớ kỹ mai kể lại cho anh Uyên làm luận án. Nhưng sáng dậy, em lại quên mất.
- Thảo cố nhớ xem, em thường mơ thấy gì nào?
- Em đã nói quên hết rồi.
- Mặc kệ. Em cố gắng chú tâm một chút, là nhớ lại liền. Em có mơ thấy mình chảy máu, hay mình bị rơi xuống một vực sâu, hay mình...
Phương Thảo cướp lời :
- À, em nhớ ra rồi. Em mơ thấy mình biến thành một con chim, chim gì em không rõ nhưng hình như có đôi cánh thật là rộng. Em vừa bay vừa nghếch đầu nhìn cái cánh xập xòe. Đôi cánh đập nhẹ nhàng đều đặn, rồi đôi cánh trở thành những lượn sóng biển uốn khúc, nhô cao xuống thấp tiếp nối mãi, tiếp nối mãi đến chỗ xa tít. Xa đến mỏi mắt. Muốn nhìn cho rõ đợt sóng xa mù đó phải nín thở. Và vì nín thở khó chịu, nên em tỉnh dậy.
- Giấc mơ của em sao mà bao la vậy. Đủ cả trời cao bể rộng. Mà nó là cái gì?
- Em đâu có biết.
Mà cả tôi cũng không hiểu nốt. Nhưng chắc chắn không phải là ác mộng, vì nhịp độ, động tác thật đều đặn, êm dịu. Đôi cánh xập xòe. Sóng lượn đến miền chân trời. Đây phải chăng là một ý thức thanh tĩnh tuyệt đối, ý thức thấy rõ bản chất của chính ý thức.
Tôi hết sức tự tin khi đem trình luận án cho thầy Phong xem lần đầu. Thầy xem xong trong vòng có hai ngày, rồi phê bằng bút chì lên trang đầu: Quá Hợp Lý Trong Một Phạm Vi Có Nhiều Cái Phi Lý Cần Thiết.
Tôi đã cãi :
- Nhưng thưa thầy, y khoa là một khoa học.
Thầy đã cười, vỗ vai tôi không nói gì.
0
Chương 4


Đã hơn hai tuần nay, Phương Thảo vẫn ôm đầu nói mê. Thầy Phong và tôi bàn luận với nhau, thử đặt lại vấn đề ngay từ đầu, nhưng đặt rồi xóa, xóa rồi đặt mãi như trò dã tràng xe cát, cuối cùng cả thầy cũng đâm nản. Thầy cứ nhắc đi nhắc lại mãi câu :
- Có điều gì trục trặc, đâu đó. Anh làm việc khoa học quá thành ra sai lạc.
Nhưng lúc tôi hỏi lại thầy :
- Thưa sai ở chỗ nào?
Thầy không trả lời được.
Đến một lúc thầy Phong muốn dừng lại, sợ dây dưa thì càng ngày càng bị luống cuống trong cái mớ bòng bong sự kiện khó lòng thoát ra mà giữ được nguyên vẹn hào quang một bậc danh y. Tôi cảm thấy như vậy, và cả thầy Phong cũng biết tôi đã hiểu rõ như vậy nên không e dè gì nữa. Các buổi thăm bệnh của thầy thưa dần, thưa dần. Cái tang ông chú ở Cần Thơ đến đúng lúc. Thầy lái xe đến buồn rầu báo tin cho tôi hay, nét mặt hối tiếc xót xa diễn tả vụng về bằng đôi mắt vốn chất phác nấp sau đôi kính trắng và cử chỉ hối hả lăng quăng thái quá. Tôi chia buồn với thầy lúc tiễn thầy ra cổng.
Mây hạ thấp trên nền trời u ám. Lá dừa run lập cập trước cơn gió lạnh, từ đâu không biết đột ngột kéo về. Trời đất nhỏ hẹp, dù sao vẫn còn quá bát ngát so với nỗi côi cút của đời tôi và sự nhỏ nhoi của trí óc tôi.
Tôi chia buồn với thầy. Tôi chia buồn với tôi. Tôi biết từ đây, mình hoàn toàn cô độc trong khu rừng hoang vu bí hiểm mà những bụi gai độc, những dây leo chằng chịt và vùng tối tăm lá phủ đủ làm nản lòng tất cả mọi người. Nếu không phải đó là lẽ sống của tất cả một đời,tôi đã bỏ cuộc, tôi đã dừng lại rồi.
Nhưng khu rừng đó, khổ lắm, lại là quê hương yêu dấu. Khu rừng Cỏ Thơm của tôi. Buồn bực, chán nản, hồn trĩu nặng, lòng chùng xuống, tôi quay trở vào nhà. Me tôi đã vực Phương Thảo ra ngồi trên ghế xếp trước mái hiên. Me cẩn thận điều chỉnh lưng dựa cho vừa tầm thoải mái, rồi lại cẩn thận chèn thêm hai chiếc gối nhỏ sau lưng Phương Thảo cho êm. Hai chân Phương Thảo duỗi dài, bàn chân xếp song song trên một cái gối êm khác. Me bắc ghế ngồi bên cạnh nàng, cố khơi chuyện cho Phương Thảo nói. Lúc tôi vào, ánh mắt Phương Thảo vẫn không thay đổi. Nàng vẫn nhìn mông lung phía trước, lâu lắm mới chớp mắt hay thay đổi phương hướng. Me tôi thấy tôi đến gần, ngước lên nhìn tôi lắc đầu tỏ dấu chán nản, rồi tiếp tục câu chuyện dở dang :
- ...Ừ, me biết, rồi sao nữa? Có những ông tiên đầu tóc bạc phơ, râu dài thật là dài, con kể như vậy. Rồi sao nữa? Thảo.
Phương Thảo vẫn ngồi bất động. Không nói gì. Me tôi ra dấu cho tôi đến gần chỗ bà, nói thì thầm cho tôi nghe một mình mà thôi :
- Bữa nay nó khá hơn chút ít nghe Uyên. Con đi vào mà nó không quay mặt sang hướng khác hay lấy tay che mặt lại như hôm qua.
Tôi buồn rầu đáp :
- Nhưng me thấy không, hình như Thảo nó không thấy con nữa. Thảo không biết con đã trở vào, làm sao che mặt được. Con sợ...
Me tôi sợ tôi nhắc lại những điều bà cố quên, gạt đi :
- Sợ cái gì. Lúc nào đôi mắt nó không như vậy.
Tôi nói lảng sang chuyện khác :
- Me đang nói chuyện gì đấy? Chuyện đới xưa ông tiên vui có cái râu dài phải không?
Me tôi chớp chớp đôi mắt sâu có nhiều nếp nhăn ở đuôi, me tôi cảm động. Bà nhớ thời tôi bắt đầu đi học, nhớ tới cái giọng trong và thanh đến lảnh lói của tôi, lúc hãnh diện hát vang bài ca thuộc lần đầu. Me tôi dừng lại một lúc, cho bớt xúc động rồi nói :
-Me hỏi mãi chuyện này chuyện kia, nó cứ im lặng không nói gì. Rồi me xưng Má với Thào. Nó giật mình quay lại nhìn me. Nó còn cười nữa. Từ đó nó gọi me bằng Má, rồi kể nào là con tu hú bằng đất sét nghe não lòng hơn tiếng tu hú thật, vì giọng khao hơn nghẹn hơn. Me hỏi tu hú ở đâu, nó bảo ở dưới đất chui lên. Nó bảo ông tiên râu trắng cho nó con tu hú, nhưng cấm nó không được kề miệng vào cái đuôi để thổi, vì sợ dính đất dơ dáy. Me khơi khơi câu chuyện cho nó kể, cả buổi chỉ được chừng ấy.
Me tôi quay lại phía Phương Thảo :
- Rồi ông tiên râu trắng làm gì nữa con?
- Cái gì, má?
- Ừ, má đây. Ông tiên râu trắng làm gì nữa mà con sợ?
Giọng Thảo lơ lửng rời rạc :
- Ông nội có làm gì đâu? Con có sợ đâu. Ông nội sợ đấy chứ.
Tôi thắc mắc chen vào :
- Ông nội em tóc bạc phơ và có chòm râu dài cũng bạc phơ có phải không?
Phương Thảo không trả lời tôi, vẫn tiếp tục nói một mình :
- Ông nội sụp xuống lạy, lạy mãi lạy mãi như tế sao. Còn con ngựa thì rống lên từng hồi. Còn má thì khóc...
Phương Thảo quay nhìn me tôi,đôi mắt sáng lên hiểu biết, hỏi bà một cách tỉnh táo :
- Má còn nhớ không má? Má khóc thật dữ, còn ông nội cứ lạy mãi.
Me tôi giả vờ hiểu :
- Ừ me... à quên má nhớ rõ lắm. Ông nội thì lạy. Con tu hú kêu não nùng. Con ngựa rống lên từng chặp. Nhưng hôm qua con bảo ông nội cưỡi con ngựa hởi cao lớn chạy nhanh qua đồng cỏ đến nỗi râu bạc của ông nội phất dài ra phía sau lưng.
Phương Thảo có vẻ ngơ ngẩn, im lặng một lúc, rồi chợt nhớ điều gì, cãi lại :
- Đâu có. Con nói cái cán giáo dài cứ rung rung trên lưng ông nội mà.
Me tôi quay lại phía tôi lắc đầu chầm chậm, tiếng thở dài nhẹ như một hơi gió thoảng nhưng đậm nỗi chán chường, bất lực :
- Mỗi ngày đẻ thêm ra đủ thứ chuyện khác nhau. Khi thì ông tiên cưỡi ngựa. Khi thì ông tiên vái sao. Khi thì ông tiên lê lết sau con ngựa què. Đến nay thì không phải con ngựa què mà chính ông tiên bị đâm chết. Có Trời mới hiểu nó nói cái gì.
Men tôi bỏ vào nhà trong lo bữa cơm tối. Tôi ngồi lên chiếc ghế còn ấm của me tôi, ý nghĩ mông lung nhảy từ chuyện nọ sang chuyện kia thành ra không hiểu mình đang nghĩ gì. Ý tưởng khi thì ào ào đến như một thác nước, khi thì lờ mờ thấp thoáng như một hơi thuốc lá, khi thì xoay tròn như cơn lốc đưa bụi đen uốn lượn lên lưng chừng khoảng trời. Từ lâu, Phương Thảo giữ im lặng không nói gì nữa. Nét mặt nàng hoàn toàn trống vắng, như một ngôi nhà ở vùng kém an ninh dân chúng đã lũ lượt tản cư đi hết. Tôi biết mình không có đủ cái kiên nhẫn của me, ngồi gợi ý để chờ nghe những mẫu chuyện rời rạc mâu thuẫn của Phương Thảo. Tôi cố định thần lại, bình tĩnh nghĩ ngợi hết mình về một điềm nào đó. Như nghĩ về tình trạng bệnh tình Phương Thảo chẳng hạn. Nàng vẫn còn bị ám ảnh vì những kỷ niệm thơ ấu, những mảnh vụn nát của một khoảng đời vô danh trước khi vào cô nhi viện. Có những mảnh tôi đã quen hình, như tiếng chuông ngân của nhà thờ, lối che mặt bằng cả hai bàn tay xanh và ốm...Nhưng cũng có những mảnh lạ hoắc, như tiên ông râu tóc bạc phơ, chữ Má chói tai như một mũi kim nhọn, con ngựa què, tiếng tu hú.
Lại thêm tiếng thét kinh hãi của Thảo đêm liên hoan, tiếng thét mở đầu, báo hiệu giai đoạn hai của cuộc đời bệnh hoạn. Trầm trọng hơn. Vô vọng hơn. Mù mờ phi lý hơn. Hổn độn lung tung. Cái gì đã làm cho nàng sợ hãi đến như vậy? Sân khấu ẩn sau khung cửa son? Pho tượng cười bằng sành? Bản nhạc tình Mộng dưới hoa? Điếu thuốc lá? Cái gì? Cái gì?
Tôi ngợp trong hoài nghi và phân vân, lòng nặng những hối tiếc. Giá mình được làm một đứa trẻ thơ trốn học ra lượm banh trên sân ten-nít, lượm mãi lượm hoài những cú banh vụng về của lũ trọc phú, dưới ánh nắng gay gắt trên sân xi măng bốc khói, mà vẫn không hề chán nản.
Hoặc làm người hành khất già, một trưởng lão cái bang chín túi đứng ở góc chợ ngửa tay xin lại những giờ phút lãng phí của bao năm học hành. Thật vậy, mình đã lãng phì cả một thời thanh xuân, để chẳng được cái tích sự gì.
Mình đã sai lầm. Điều ấy quá rõ rồi. Mình không có tham vọng đưa ra một trị liệu phổ quát, mà như đã nói trong phần dẫn nhập của luận án, chỉ muốn thăm dò tiềm thức một người cá biệt. Sự suy luận, qui nạp phóng đại dành cho người khác. Nhưng ngay cả sự thăm dò khiêm nhường cũng không đưa đến đâu. Ánh đuốc leo lét của trí khôn tôi, cây thước cong queo của óc suy luận của tôi, chỉ đưa tôi đến một ngõ cụt.
Đằng sau là tháng năm lãng phí. Trước mặt là sự thất bại cay đắng, hiện hình trong đôi mắt lờ đờ rỗng không của Phương Thảo.
Mình đã lầm. Nhưng lầm ở đâu? Phải chăng tinh thần phương đông có nhiều điểm khác biệt với tinh thần tây phương? Chịu đựng quen, nhọc nhằn mài dũa, đời sống cơm áo thiếu thốn và sinh hoạt chung đụng trong gia đình đã khiến cá tính của mỗi người đều phẳng lì, chai đá. Như một đứa bé bỏ cầu bơ cầu bấc nơi đầu đường xó chợ, nắng khét trên đầu, chân tay đen đúa, thở hít đủ thứ bụi bặm nên buồng phổi khỏe, ăn uống bừa bãi nên bộ máy tiêu hóa vững, đến độ toàn thân đều miễn dịch. Con người phương đông không phải là đứa con được nuông chìu của Thượng Đế. Dùng những kiến thức khoa học, tâm ly phương tây để tìm hiểu thăm dò con người phương đông, là đã tưởng cơn gió thoảng có thể làm bật ngã cây lau cây sậy.
Nếu đúng như vậy thì trận cuồng phong nào đã làm bật gốc cây lau ẻo lả mà dẻo dai ấy, cây lau Phương Thảo của đời tôi?
* * * * *
Nhưng dù sao, thà nói mê những chuyện đầu Ngô mình Sở còn hơn là lặng câm như một xác chết biết cử động. Tình trạng của Phương Thảo từ hai ngày nay làm chúng tôi khốn khổ. Chiều chiều, me tôi theo thói thường dìu Phương Thảo ra ngồi trên ghế xếp trước hiên. Càng ngày nàng càng ít nói hơn, vì càng ngày đôi mắt Thảo càng nhìn xa hơn sâu hơn vào khoảng không gian hun hút trước mặt. Cái nhìn rỗng không. Hoàn toàn rỗng không. Nàng chìm vào hư vô ngút ngàn đó, ngập trong đám sương mù dày đặc nhộn nhạo quá khứ vị lai hiện tại, không còn thì giờ mở miệng nói lấy một lời nhát gừng. Tai nàng điếc. Không có cả cái quay đầu ngơ ngác hay nhướng mắt hỏi dò. Thảo ngồi bất động. Đôi lúc gió chiều thổi từ vườn chuối làm bay tung mái tóc dài che hẳn một phía mắt nàng. Phương Thảo vẫn để vậy không đưa tay lên vén tóc rồi vuốt nhẹ cho nằm gọn trên vai, hoặc ngửng khuôn mặt trái soan lên không. Me tôi nắm lấy bàn tay xanh của Phương Thảo, vừa thút thít khóc vừa than :
- Sao tội nghiệp vầy con? Me có làm gì đâu mà Trời Phật nỡ hành hạ con gái me thế này? Cả đời me ăn ở phước đức. Sao trời nhẫn tâm...
Me tôi thầm thì như thế cả buổi chiều. Khi không có tôi, bà buồn rầu nhìn mông lung phía trước, chẳng khác gì Phương Thảo. Chiều nay từ phố trở về tôi đau xót bắt gặp hình ảnh hai pho tượng mỏi mòn ấy. Pho tượng trẻ câm lặng. Pho tượng già câm lặng. Tôi chua xót quá chừng, không chịu nổi mãi sự im lặng ma quái trong căn nhà ẩm thấp này. Tôi nắm tay me tôi, lay bà dậy. Me than :
- Sao nó cử ngồi trâng một chỗ không nói năng gì thế, hở con?
- Con cũng không biết rõ.
Me tôi bám vào niềm tin mong manh cuối đường :
- Con hỏi lại thầy gì hôm trước coi.
Tôi chán nản :
- Thầy ấy cũng như con mà thôi. Vả lại, thầy về Cần Thơ chưa lên kịp. Thầy có tang.
Me tôi hỏi, cho có chuyện :
- Ai chết nữa đó?
- Thầy bảo là ông chú.
- Thà chết hẳn đi, còn hơn thấy nó ngồi đó mà không hay biết gì. Me đập vai lay gọi, nó vẫn không quay đầu lại. Me hỏi, không trả lời. May mà đưa muỗng cơm lên miệng, nó còn biết hả ra.
Chợt nhớ đến chuyện cơm nước, me bảo tôi :
- Con ngồi coi chừng Thảo cho me vào dọn cơm. Giữ đừng cho nó đứng dậy.
Me tôi đi rồi, tôi thử lay vai Thảo :
- Thảo, có nghe anh nói không?
Im lặng. Nàng quay lại, ngơ ngác. Tôi tưởng nàng hiểu hỏi vội
- Anh đây. Em có thấy nhức đầu hay mệt nhọc lắm không?
Thảo quay hẳn lại nhìn tôi, rồi nhìn xuống đất tìm đôi dép. Đột ngột không báo trước, nàng đứng dậy. Không kịp ngăn lại nữa, tôi đi theo nàng. Tôi đưa tay đỡ lấy vai Thảo. Qua làn vải mỏng, tôi cảm thấy xương bả vai nàng nhô cao lên. Lòng tôi xót xa. Thảo đi dọc theo bờ rào, ra phía có mấy bụi chuối xanh. Gió thổi vào mấy tàu lá chuối già xơ xác, tiếng rì rầm như tiếng khẽ gọi của tình trời yêu đất, tình gió yêu cây. Phương Thảo đi len lỏi vào các thân chuối cao, với tay xé một mảnh lá xanh, tước thành sợi nhỏ thả xuống chân đi. Như Mỵ Châu dùng lông ngỗng để dấu cho Trọng Thủy. Lòng tôi xúc động dạt dào. Còn Phương Thảo muốn để dấu cho ai đây? Con đường ngoằn ngoèo bí mật đó đưa chúng tôi về hướng nào?
Khu vườn nhà tôi khá rộng, trồng chuối, và dừa. Thảo đi quanh vườn vài vòng, rồi dừng lại ngơ ngác như muốn tìm đường, mặt lộ vẻ băn khoăn.
Tôi hỏi :
- Em muốn vào nhà chưa?
Thảo không trả lời, tiếp tục suy nghĩ, cố nhớ điều gì. Cuối cùng nàng đi thẳng tới phía trước, đi tới nữa. Như một người mù. Nếu tôi không giữ lại, chắc Phương Thảo đã xô mạnh người vào một thân dừa xù xì. Thảo mềm nhũn thụ động, để mặc cho tôi dắt nàng vào nhà.
Khi me tôi lặng lẽ đút cơm cho Phương Thảo, lòng tôi ray rức bồn chồn. Chẳng lẽ đành bắt lực? Khoanh tay trước ngõ cụt? Dừng lại bên bờ hư vô? Khoảng tối hoang vu sở dĩ trắc trở đến ngại ngùng, là vì tôi chưa biết gì đến thời thơ ấu của Phương Thảo. Má của Phương Thảo ở đâu ‘? Gia đình Thảo thế nào? Tiếng chim tu hú và tiếng rống nổi gai ốc của con ngựa bị chặt què, và tiên ông râu tóc màu tuyết, những hình tượng ấy âm thanh ấy tất nhiên có một xuất xứ. Phương Thảo mê sảng nhiều lần về những tiếng những hình ấy, thì phải có liên hệ xa gần với căn bệnh của nàng.
Tôi quyết chí đi lại từ đầu, hay nếu cần, từ trước cả thời khởi đầu. Tôi hỏi tên cô nhi viện me xin Phương Thảo về. Me trả lời. Tôi hỏi thêm. Chỉ được vài chi tiết mù mờ. Me tôi chữa thẹn :
- Lâu quá me không nhớ rõ. Gần mười lăm năm rồi.
Nhưng tôi không cần nhiều. Chỉ cần một địa chỉ. Phần còn lại, tôi sẽ gắng dò manh mối.
0
Chương 5


Lúc lái xe xuống con đường dốc gập ghềnh chạy thẳng đến chân núi, tìm thấy tấm bảng đề Orphanage Xuân Phương 2, tôi mới hết lo âu. Tôi đã mất cả một ngày hôm qua và cả sáng hôm nay để tìm cô nhi viện này. Me tôi chỉ cho biết bà xin Phương Thảo ở cô nhi viện Xuân Phương, một khu dân cư trù phú bên sông Lương giang. Không chần chờ gì hết, tôi mua vé xe trở lại Xuân Phương. Người lính gác ở bến xe hẻo lánh ngăn tôi lại :
- Ông có điên không? Vùng ấy bây giờ còn có ai đâu. Chỉ toàn rừng là rừng. Năm ngoái Đại hàn còn đóng bên Núi Đất, vài người lén mò về được. Nay thì họ rút đi rồi. Quốc gia cũng không mà Việt cộng cũng không.
Tôi thất vọng. Chợt nhìn cái dây chuyền vàng tây thật nhỏ đeo hình thập tự giá nơi cổ người lính, tôi hỏi cầu may :
- Thế anh có biết cô nhi viện dời đi đâu không?
Người lính đăm chiêu một cách khó khăn để cố đào lại trí nhớ. Anh chỉ gặp được những đất cằn và sỏi đá quên lãng. Anh ta gọi người bạn đang ngồi nghe tân nhạc trong cái ra đi ô ấp chiến lược :
- Ê, cô nhi viện mấy dì phước dời đi đâu mầy?
Người lính được hỏi vặn ra đi ô nhỏ lại, trả lời ỡm ờ :
- Chắc lại xuống Qui Nhơn chớ đâu.
Tôi cảm ơn, lại lên xe trở về thành phố. Tôi hỏi thăm vài người quen, họ chỉ biết lờ mờ ở đây có một tu viện của mấy dì phước dòng Mến Thánh Giá, và một cô nhi viện của dòng Thánh Phao Lồ. Không biết dòng nữ tu trên Xuân Phương thuộc dòng nào.
Tôi tìm đến dòng Mến Thánh Giá, vui mừng thấy nơi đó là một trường tư thục trung tiểu học dành cho nữ sinh. Tôi gặp Mẹ Bề Trên dễ dàng, lại được chỉ dẫn cẩn thận. Nhờ thế, bây giờ tôi mới đến được đích. Khi tiễn tôi, Mẹ Bề Trên cố làm nguội bớt nguồn hy vọng ngụt lửa trong ánh mắt vui của tôi :
- Nhưng tôi chỉ sợ lâu quá, các xơ không tìm ra được hồ sơ. Mười mấy năm rồi còn gì. Lại thêm bao lần tản cư dọn đi dọn lại. Mỗi lần di chuyển, giấy tờ sổ sách lại thất lạc thêm một ít.
Tôi gửi chiếc xe cho cụ già bán quán phía bên kia đường, sau khi đưa trọn cả 100 đồng trả tiền một gói thuốc Bastos xanh và hộp diêm nhỏ. Phải thú nhận là tôi hồi hộp. Tôi e ngại, không dám tiến vào con đường nhỏ trải đá chạy giữa những mái nhà tôn vách ván thấp bé. Tôi phải đứng lại trước tấm bảng cô nhi viện đã tróc sơn lỗ chỗ, đánh diêm châm lửa hút gần hết điếu thuốc mới phà theo hơi khói hết những lo lắng vu vơ để bước sâu vào phía trong.
Cổng viện để mở. Ba dãy nhà lợp fibro- ciment xếp hàng dọc, và cùng nối liền với một dãy nhà ngang làm thành hình chữ E đều. Trước các dãy nhà, mấy bụi bông giấy hoa đỏ và vàng gạch mọc um tùm, phủ kín gần hết mái nhà xám. Ngay đầu dãy nhà gần cổng nhất, một nhóm trẻ em trai đang ngồi đánh cờ giấy, mải chú ý đến nước cờ nên không chú ý đến người lạ. Nhưng dì phước mặc áo đen cạnh đấy đứng dậy trước. Dì phước tiến về phía tôi, dì đã già khoảng trên bốn mươi. Dì hỏi :
- Anh cần hỏi ai?
Tôi bối rối đứng im dưới sân sỏi nhìn lên, chưa đủ bình tĩnh để nói cho gãy gọn. Mãi một lúc, tôi mới hỏi được :
- Dạ thưa, con muốn gặp bà nhất.
Dì phước cười dễ dãi, ánh mắt vui và để lộ cả hàm răng không mấy đều :
- Bà nhất nào? Bà nhất nhà dòng hay bà nhất cô nhi viện?
- Thưa bà nhất giám đốc ở đây.
Dì phước bước xuống sân,cười lớn và bảo :
- Nếu vậy tôi là bà nhất đây. Anh muốn hỏi gì đó?
Câu trả lời đột ngột như một đợt sóng cao phủ xuống bất ngờ. Tôi đứng lặng thêm một lúc nữa, rồi phải vất vả lắm mới giải thích cho bà nhất hiểu mục đích của tôi. Dì phước kiên nhẫn lắng nghe. Lũ con trai thấy người lạ đang nói chuyện với bà giám đốc, bỏ cuộc chơi đến tò mò bu quanh. Dì phước vừa xua tụi trẻ đi chơi chỗ khác vừa mời tôi :
- Được. Nếu thế thì mời anh vào văn phòng đây ngồi chờ cho chút. Các con đi chơi đi. Đã dặn nhiều lần là khi các con thấy khách đến phải chào hỏi lễ phép rồi đi chơi chỗ khác, không được tò mò việc của người lớn.
Cả lũ trẻ bấy giờ mới nhớ phận sự, cũng vòng tay cúi đầu thật thấp, đồng thanh: Chào ông ạ.
Bà nhất cười khanh khách có vẻ bằng lòng, ra lệnh :
- Thôi. Các con đi chỗ khác chơi. À Thường, lại bà dặn đây. Con chạy đi tìm xơ Christine, bảo lên văn phòng cho bà có việc nhờ một chút nghe không. Gấp lắm. Con nói vậy. Nhưng con không được chạy té như hôm trước đấy.
Lũ trẻ đứa trở về phòng, đứa ra vườn rau lấy nước tưới mấy luống rau muống và mấy dây bầu.
Tôi theo bà nhất lững thững đi lên văn phòng. Lúc đi ngang qua một căn phòng rộng ở dãy giữa, tôi nghe thấy nhiều tiếng trẻ sơ sinh khóc thé. Tiếng khóc hơi khác thường, cay xé mà lại vỡ như phát từ một buồng phổi rách. Thấy tôi lắng tai tò mò, bà nhất mời :
- Đây là phòng nuôi trẻ dưới một tuổi. Anh có muốn vào xem không?
Không chờ tôi đồng ý, bà nhất bước lên thềm. Tôi bước theo.
Trong phòng, giường nôi con nít xếp dày, cái nọ sát cái kia và cùng sơn một màu xanh đậm. Một đứa con gái khoảng mười tuổi đang cố nhét núm vú vào miệng đứa bé da đen đang khóc, trong khi trên các nôi khác, lũ trẻ nằm im ngậm núm vú mắt lim dim thỏa mãn. Chỉ được chừng bốn năm em nằm ngay ngắn trên nôi và dùng hai tay cầm vững bình sữa nhựa dốc cao lên. Số còn lại hoặc nằm lệch ra khỏi chiếc chiếu ni lông nhỏ khiến cái nôi nghiêng hẳn sang một bên, hoặc để bình sữa rơi xuống một phía cằm không biết sửa lại cứ nhay núm vú vàng một cách kiên nhẫn. Bà nhất tiến đến gần con bé hỏi :
- Sao đó con Lan?
- Thưa bà, nó cứ khóc hoài. Thằng đen xấu xí này khó chịu quá. Khi hôm nó không cho con ngủ.
Dì phước vừa an ủi vừa khuyên răn :
- Con đứng nói vậy. Tội nghiệp thằng nhỏ. Khi hôm cả phòng đều khóc chứ đâu phải một mình nó.
Thấy tôi tiến đến gần, dì phước giải thích :
- Thằng nhỏ này òi ọp nhất đám. Đau yếu hoài, từ ngày vào đây tốn không biết bao nhiêu tiền thuốc.
Quả nhiên đúng như lời bà nhất, thằng bé da đen thật bất thường. Đầu to, mắt lồi lờ đờ. Bụng ỏng và chân tay co rúm nhăn nheo. Khắp mình mẩy đầy những mụt nhọt li ti. Đứa bé nằm trên một cái nôi loại đặc biệt để trên bàn gần cửa sổ, thân thể trần truồng. Một cái đai cột quàng xuống dưới một cái bụng lớn nhô cao hơn cả mũi mặt. Tôi không dám nói cho dì phước biết đây là kết quả của bệnh phong tình ở thời kỳ trầm trọng, hoặc di truyền nơi người lính da đen viễn chinh hoặc nơi người mẹ làm gái giang hồ quanh các trại Mỹ. Đứa con gái đã nhét được núm vú vào miệng đứa bé bệnh, nên tiếng khóc nghẹn ầm ừ trong cổ họng. Bé gái quay lại phân trần :
- Hễ con rút bình sữa, là nó lại ré lên. Nó bày đàn cho lũ kia chướng theo. Khi hôm con với xơ Jeanne lớ quớ không biết làm sao nữa.
Bà nhất vuốt tóc bé gái an ủi, giải thích cho tôi hiểu :
- Ở đây chúng tôi bực nhất là tiếng súng. Cô nhi viện gần trại lính Mỹ quá. Tối tối, có tiếng súng nổ thình lình, mấy đứa nhỏ phòng này giật mình khóc ré liền. Một đứa khóc lên, mấy đứa kia khóc theo. Nếu không có đứa nào khởi xướng thì không sao. Khổ là cái thằng này lại hay bắt giọng cho ban hợp ca đông đảo.
Bà nhất cười. Tôi cũng cười theo với cái hồn nhiên của dì phước. Chúng tôi đi ra hiên và đến bấy giờ tôi mới kịp nhận thấy mùi tanh tanh xông lên từ căn phòng sơ sinh. Qua cửa lớn đầu phòng bên kia, bà nhất dừng lại nói chuyện với một dì phước trẻ tuổi đang đổ sữa từ cái son nhỏ qua biberon. Trao đổi vài câu ngắn xong, bà nhất lại tiếp tục đi qua dãy khác. Chờ tôi đến trước cửa một phòng quét vôi vàng, bà nhất giải thích :
- Phòng này dành cho cô nhi từ một tuổi đến ba tuổi. Tương đối nuôi tụi này dễ chịu hơn tụi sơ sinh. Đã bắt đầu tập cho chúng quen được với giờ giấc rồi.
Căn phòng trống trơn. Tôi ngạc nhiên đưa mắt hỏi thầm. Bà nhất nói :
- Ở đây có tất cả hai mươi tám em. Bây giờ phải lo cho chúng đi bô.
Tôi quay lại ý đòi giải thích động từ lạ lùng đó. Dì phước cười bí mật, tiếp tục đi vài bước nữa rồi dừng lại chờ tôi :
- Chúng nó đây.
Tôi nhìn theo hướng dì phước chỉ. Phía trong có một dãy nhà tiêu. Một cái bể chứa nước rộng ở ngay sát lối vào. Vòi nước đang róc rách chảy. Hai em bé gái đứng gần hồ nước, có lẽ chờ cho đầy để khóa máy. Không có gì lạ. Nhưng khi bước tới chút nữa, theo hướng nhìn của bà nhất mà hạ mắt xuống thấp, tôi mới ngạc nhiên. Lúc nhúc một lũ trẻ nhỏ đứa nào cũng chỉ mặc có mỗi chiếc áo đang ngồi trên bô thành hàng dọc, sát theo vách đối diện dãy nhà cầu. Phía ngoài cùng có bốn em bé da đen tóc xoăn ngồi yên như tượng. Một đứa lai trắng quá bé đến nỗi như muốn gần lọt tõm vào lòng bô, cố dướn người lên bằng cách gập người lên trên cặp đùi lỗ chỗ thuốc đỏ. Một bé gái đầu bị kéo cắt lăm nhăm vì những mụt lở, bình thản ngồi ngay trên bô không lo ngại vì cái bụng ỏng kê vừa vặn lên thành bô nhựa. Thấy tôi nhìn đến, nó toe toét cười. Cười xong, nét mặt lại bình tĩnh như không có gì xảy ra. Bà nhất nói :
- Con bè này hơi bất thường. Tôi có cho đem xuống Thánh Gia, nhưng họ không cho biết bệnh gì.
Tôi hỏi, hơi e dè :
- Chúng nó ngồi trong bao lâu thì... thì đi xong, thưa ma xơ?
- Chừng một giờ đồng hồ. Nhiều đứa chỉ ngồi chơi, không chịu đi.
Vừa lúc ấy, phía trong cùng, hai đứa bé đang nắm tóc nhau mà dằn. Đứa con gái có phận sự canh chừng vội đóng vòi nước lại, chạy vào can thiệp, trong khi đứa con gái kia lấy chổi quét nhẹ cho nước dơ trên sàn chảy vào hầm rút.
Tôi nói cảm tưởng :
- Phần lớn các em ở đây đều có vẻ thất thường. Hình như chúng òi ọp ngay từ lúc nhập viện?
Bà nhất vui mừng tìm được người tâm sự :
- Phải rồi. Họ đem cho chúng tôi toàn những đứa trẻ khó nuôi. Hoặc bị chứng này hoặc bị chứng kia. Anh tính viện có hơn hai trăm năm mươi em từ sơ sinh đến mười lăm tuổi. Thế mà chúng tôi chỉ có bốn người. Nội chuyện thay nhau thức đêm canh gác lũ nhỏ nhất đã lo không xuể, nữa là...
Bà nhấc lấy chìa khóa mở cửa văn phòng. Tôi ngồi xuống ghế nệm trước mặt bà, cố gắng tìm một lời an ủi :
- Xã hội ngoài đời phạm tội, rồi quăng lũ trẻ bất hạnh vào đây cho các xơ. Các xơ chữa bệnh cho chúng, lo cái ăn cái mặc cho chúng lớn lên, lớp này chưa hết, thì đời lại đẩy thêm vào lớp khác.
Dì phước cười buồn, nói :
- Chứ biết làm sao. Mình rán làm, như một việc cứu chuộc cho thế gian. So với Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh trên thánh giá, thì công việc của mình thấm gì. Nhưng những lúc mệt mỏi quá sức, cũng hơi có chán nản. Người đời chẳng những đã vậy, mà càng ngày càng tệ hơn nữa. Mỗi ngày, chúng tôi nhận cô nhi càng đông, và hình thù các em càng thê thảm hơn, đến tội nghiệp. Nhiều lúc chúng tôi nghĩ mình đang lội ngược một làn sóng dữ.
Ánh sáng văn phòng chợt tối lại. Một dì phước khác nét mặt gầy, da hơi xanh, dáng người nhỏ nhắn bước vào. Bà nhất ngăn không cho tôi đứng dậy, vội vã nói :
- À, xơ Christine đây rồi. Anh cứ ngồi đấy. Christine, anh này muốn hỏi lý lịch một em cô nhi đã xuất viện. Christine lục giúp cho anh ấy nhé. Tôi ra ngoài này xem lũ trẻ xới đất ra làm sao.
Chờ cho bà nhất ra khỏi văn phòng rồi, tôi mới trình bày lại ý định của mình. Dì phước Christine gật đầu, nhỏ nhẹ bảo :
- Dạ, dạ, chắc được. Hồ sơ còn đủ chưa bị thất lạc đâu. Em đó nhập viên năm nào?
Tôi lẩm nhẩm tính, trả lời mù mờ :
- Khoảng 1955, 1956 gì đó. Dạ mà không, đó là năm xuất viện chứ không phải nhập viện. Me tôi xin em nó về khoảng đó.
Nét e ngại thoáng hiện trên khuôn mặt dì phước.
- Lâu quá, trên mười năm rồi, không biết hồ sơ còn đủ không. Tôi cứ tưởng em đó mới xuất viện gần đây. Như vậy thì... thì em đó tên gì?
- Dạ thưa Phương Thảo.
- Như vậy thì Phương Thảo xuất viện từ hồi cô nhi viện còn ở trên Xuân Phương. Để tôi rán lục tìm thử đã.
Dì phước Christine đi về phía mấy cái tủ gỗ, ngồi xuống tìm kiếm ở ngăn cuối cùng. Dì phước hết đóng cái tủ này lại mở cái tủ khác. Mở đến tủ thứ tư, lục tìm khá lâu, chị quay lại hỏi tôi :
- Lúc nãy anh nói em Thảo xuất viện năm nào?
- Dạ khoảng 1955, 1956.
- Tôi tra sổ từ 1956 trở về trước xem. Sổ cái của viện chỉ ghi tên tuổi, chi tiết lý lịch theo ngày nhập viện. Thôi, cứ đi ngược thời gian, thử xem sao.
Dì phước Christine vừa lật từng tờ cuốn sổ lớn vừa lẩm nhẩm đọc tên.
Tôi hồi hộp lắng nghe. Nét mặt dì phước cười hóm hỉnh, vì cái tên nào cũng thật bình dân lạ tai: Trần Văn Dừa, Lê Thị Bến, Nguyễn Văn Lé, Đặng Văn Nhánh... Đến lúc không thể dằn được nữa, dì Christine cười to lên. Dì phước ngước nhìn về phía tôi, phân bua :
- Các xơ hồi trước thật thiếu óc văn chương. Đặt tên dở quá.
Tôi ngạc nhiên hỏi lại :
- Tên cha mẹ các em ấy đặt ra chứ. Chắc tại trên đó là thôn quê, các ông các bà lấy hình ảnh quen thuộc chung quanh mà đặt tên con, như Ruộng, Mương, Cào, Cuốc, Dừa, Mít...
Dì Christine cãi :
- Không phải thế. Nếu các em ấy có cha mẹ, thì đâu phải là cô nhi. Hầu hết trẻ em họ đem đến đây cho đều không cha mẹ, hoặc do chiến tranh, hoặc do lỡ lầm sợ tai tiếng thuê người mang đến đây. Có nhiều khi họ bỏ nằm trước cửa sẵn hồi nào rồi, kiến đã bắt đầu bu đến. Cho nên chúng tôi phải lo làm khai sinh cho các em. Mình muốn khai họ gì tên gì cũng được. Hai năm nay, tôi đặt cho chúng toàn tên đẹp cả.
Rồi để khoe với tôi, dì phước bỏ cuốn sổ cũ đến giở cuốn sổ mới nhặt đặt trên bàn giấy, đọc lớn tên các em vừa nhập viện :
- Anh nghe đây nhé. Vũ Đức Huy. Vương Duy Hùng. Trần Thị Thùy Trang. Lê Thị Quỳnh Uyển.
Đọc xong, dì Christine cỏ vẻ sung sướng hãnh diện. Tôi cười rồi hỏi :
- Thế phần tên cha tên mẹ thì làm sao?
- Trước kia, chúng tôi để trống. Nhưng năm ngoái, bộ xã hội có lưu ý là nên làm giấy khai sinh có đầy đủ tên cha mẹ để lớn lên đứa trẻ khỏi có mặc cảm. Thành ra chúng tôi lại phải bóp óc đặt thêm hai tên nữa. Mà phải đặt thế nào cho có lý, cho thích hợp. Chẳng hạn em Lê Thị Quỳnh Uyển này. Tên cha: Lê Trung Dũng. Tên mẹ: Vương Quỳnh Ngân. Bà Quỳnh Ngân sinh ra em bé Quỳnh Uyển là hợp lắm.
Tôi đưa ra nhận xét :
- Đôi khi tên đẹp quá cũng tạo cho chúng mặc cảm. Chẳng hạn các bé gái nước da đen, lớn lên sẽ khổ sở vô cùng với cái tên Bạch Tuyết. Hoặc các em bị bệnh phì thân thể to lớn ô dề sẽ bị chòng ghẹo đến phát khóc nếu có cái tên Thu Liễu hay Diệu Mai hay Thanh Trúc.
Dì phước Christine công nhận tôi có lý, nhưng cố biện bạch :
- Ấy, cha giám đốc cũng có nói như vậy. Cha bảo cô nhi cần gì tên đẹp. Nhưng chúng tôi vẫn giữ lập trường, cố chọn những cái tên hay hay cho chúng đỡ tủi. Nếu chúng mang tên Rớt hay tên Rơi, chắc chúng khổ lắm.
Sợ tôi chờ lâu, dì phước trở lại ngăn tủ lục tìm hồ sơ của Phương Thảo. Tôi im lặng ngồi ngắm mấy bức tranh lấy đề tài trong Thánh kinh treo cao trên tường, những đồ trang hoàng nhỏ nhắn hết sức đàn bà trong tủ kính như con chim thắt bằng dây ni lông hồng, mảng cỏ giáng sinh tí hon chúa Hài đồng lẫn thánh Giuse và Đức Mẹ đều bằng nhựa, một cái bình hoa giấy tí xíu.
Giọng dì Christine có vẻ thất vọng, bực bội :
- Anh có lầm điều gì không? Tôi lục tìm đến hai ba lần vẫn không thấy em nào tên Phương Thảo hết.
Tôi giật mình, mồ hôi rịn ướt nơi lòng bàn tay. Tôi quên bẵng đi mất rằng Phương Thảo là tên ba me tôi đặt, sau khi xin cô bé về. Sự e ngại khiến lời tôi ấp úng khó nghe hơn :
- Xin lỗi ma xơ, Phương Thảo là tên ba me tôi gọi. Không hiểu lúc ở viện, em nó có tên Phương Thảo hay mang tên khác.
Dì phước lộ vẻ mệt mỏi chán chường, nói thật chậm :
- Thế thì làm thế nào bây giờ.
Tôi ngại ngùng đề nghị :
- Phương Thảo hơi thất thường ngay từ hồi chưa nhập viện. Em nó vẻ đãng trí, khờ khờ, sợ người lạ. Xin về, cái bệnh ấy vẫn còn.
Dì phước cố gắng giải thích sự khó khăn :
- Trong sổ cái này chỉ để tên cô nhi, ngày khai sinh, ngày nhập viện, trường hợp thu nhận. Còn muốn biết chi tiết rõ hơn, thì phải lục ở thùng phiếu cô nhi. Lục cả hai cái tủ lớn này để tìm cho ra một phiếu một bé gái bị đãng trí cách đây hơn mười năm, thật là... thật là...
Dì Christine định nói cho đủ ý, nhưng nhìn nét mặt thất vọng của tôi, dì dừng lại. Tôi ngồi im lặng, như chết dí trên ghế nệm. Để che giấu bối rối, dì phước quay về xếp dọn hồ sơ trong cái tủ trong cùng. Tôi hỏi cầu may :
- Có cách nào nữa không ma xơ?
Dì phước yên lặng không dám trả lời phủ định. Tôi gắng hỏi một lần chót :
- Có xơ nào làm việc ở đây từ hơn mười năm không thưa ma xơ?
Dì Christine chợt nhớ, liếng thoắng nói :
- Phải rồi. Sau nhà bếp có một người giúp việc trước kia cũng là cô nhi ở đây. Không biết chừng chị ấy nhớ chuyện cũ.
Dì phước bước ra hiên gọi một em trai.
- Tấn ơi, con xuống bếp gọi chị Trầm cho bà. Duy, Dũng, không được vọc đất dơ quần áo. Vào đây biểu.
Dì Christine trở vào, vừa ngồi xuống ghế chỗ bàn giấy vừa bảo tôi :
- Anh chịu khó chờ một chút. May ra chị ấy còn nhớ.
Ngoài cửa, hai em bé đa đen khoảng 4, 5 tuổi lấp ló, không dám vào.
Dì phước gọi :
- Vào đây. Hai con chào ông đi.
Hai bé cô nhi trai tóc xoăn, môi vều giống y giòng giống của cha, cúi đầu thật thấp nói lớn: Chào ông. Những câu tiếng Việt phát ra từ khuôn mặt tí hon đặc biệt Phi châu tạo cho tôi cảm giác thích thú bất ngờ. Dì phước cười sung sướng, bảo hai đứa bé :
-Hai con xưng tên cho ông biết đi. Con tên gì?
- Con tên Dũng.
- Còn con tên gì?
- Con tên là Duy.
- Lớn con đi về Mỹ không?
Cả hai đứa trẻ đồng thanh trả lời, đầu lắc quầy quậy :
- Không không. Con ở lại với ma xơ.
Dì Christine vuốt tóc hai đứa bé, ôm chúng vào lòng hôn nhẹ lên mái đầu :
- Ở lại với ma xơ khổ lắm. Về Mỹ sướng hơn.
Rồi chị phước quay về phía tôi giải thích :
- Tuần trước, ông cố vấn bên tỉnh có đến đây lập danh sách các em lai Mỹ. Ông ấy bảo có thể có một chương trình đưa các em lai này về bên ấy nuôi nấng. Dầu sao, đấy là nhiệm của chính phủ Mỹ. Không thể để con của lính mình cầu bơ cầu bấc được. Nước họ giàu mà.
Tôi hỏi :
- Ở dãy này, tôi thấy chỉ có các em trai sáu tuổi thôi. Bé như hai đứa này, phải ở bên kia chứ.
- Lúc mới vào, hai đứa này đau yếu luôn. Tôi thấy tội nghiệp quá, xin xơ Josse cho qua bên này tôi nuôi riêng. Tốn không biết bao nhiêu tiền thuốc, nhiều lúc phải đem đi bác sĩ tư nữa. Nuôi mạnh xong, tôi gửi trả lại bên đó nhưng hai đứa nó khóc quá, không chịu. Cả tôi cũng quyến luyến không nỡ rời chúng. Đáng lý tôi được về lại dòng ngoài đó từ kỳ hè, nhưng tôi đã xin ở lại đây.
Bấy giờ hai đứa trẻ thoát khỏi tay dì phước, đang lại phía tủ kính cố mở cửa để lấy đồ chơi. Dì Christine mắng không cho phá, rồi gọi thằng bé lớn lại, hỏi :
- Duy, lớn con làm gì?
Giọng thằng bé đã sõi :
- Lớn con đi tu.
Dì phước cười sung sướng, lấy khăn tay trong bọc áo thằng bé chùi mũi cho nó. Chị hỏi tiếp :
- Nhưng trước khi đi tu, con phải làm gì?
- Con đi học i, a, o, e.
- Ông này đến xin con, ma xơ đã cho con về với ông này. Chịu đi không?
Thằng bé mặt mày bần thần, nước mắt rơm rớm nơi hai khóe trong khi thằng kia cưới nụ hí hửng. Dì phước cảm động ôm Duy hôn lấy hôn để, trấn an :
- Ma xơ nói giỡn đó. Hai con ra ngoài chơi đi. Ngoan nào.
Thằng Duy vui mừng chạy ra khỏi phòng, như sợ tôi bắt lại. Dì phước nhìn theo, nét mặt hiền hóa trìu mến. Dì quay lại phía tôi, giọng nói hơi run run :
-Lúc nhỏ thì ngoan lắm. Nhưng lớn lên một chút, hoang không chịu được. Đánh lộn suốt ngày. Lại lười biếng không chịu đi học nữa.
- Các em ở đây học ngay trong cô nhi viện, hay phải học ở ngoài thưa ma xơ?
Dì Christine chưa kịp trả lời thì một người đàn bà mặc đồ tang bước vào. Dì phước vội vàng bảo :
- À chị Trầm. Vô đây tôi nhờ một chút. Sao, chuyện đắp mộ đi đến đâu rồi?
Người đàn bà nét mặt bất động lầm lì, giọng nói khao khao buồn hiu :
- Dạ họ đòi nhiều quá. Đến 20.000.
Dì phước an ủi :
- Thôi. Chị để tôi xoay cho. Hoặc xin ngoài Mẹ hoặc xin đâu đó. Còn chị với hai đứa nhỏ thì dọn vào ở trong này luôn cho tiện.
Người đàn bà im lặng đứng dựa vào vách không nói. Dì phước nhớ lại chuyện chính hỏi :
- Chị Trầm này, chị ở đây lâu rồi phải không?
- Dạ.
- Từ hồi còn bà nhất Gabrielle chứ gì?
- Dạ.
- Được mười mấy năm rồi?
Người đàn bà lúng túng không trả lời được, chỉ ấp úng :
- Dạ, tận hồi nhỏ.
- Nhỏ là mấy tuổi?
- Hồi sáu bảy tuổi gì đó. Tận trên Xuân Phương, ma xơ.
- Bây giờ chị mấy tuổi rồi?
- Dạ lớn rồi ma xơ.
Dì phước có vẻ bực hội :
- Ai không biết chị lớn rồi. Nhưng mấy tuổi?
- Dạ chắc hai mươi tám.
Dì Christine lấy viết ghi chép trên cuốn sổ con, hí hoáy tính toán rồi vui mừng bảo tôi :
- Chị này ở trong viện từ hồi nhỏ cho đến khi lấy chồng. Nghĩa là tận hồi 1951. May ra chị ấy còn nhớ, vì như anh thấy đấy, chị ta không được mau mắn lắm.
Dì phước cố hạ thấp giọng cho chị Trầm khỏi nghe thấy mấy câu cuối cùng.
Rồi dì lấy giọng lớn hơn hỏi người đàn bà :
- Chị có nhớ hồi ở Xuân Phương, trong viện có em nào hơi đãng trí không?
Chị Trầm hỏi lại :
- Dạ, đãng trí?
- Nghĩa là hơi khù khờ, không được như chị.
Tôi chen vào :
- Em đó hay sợ người lạ, thường thích ngồi quay mặt vào xó tối...
Chị Trầm nghe một cách lơ đãng vô sự. Dì phước nhắc :
- Chị có nhớ em gái nào thời đó thích ngồi trong xó không?
- Dạ, ở đây à?
- Ừ, ở đây, trong viện này, nhưng lúc còn ở trên Xuân Phương đó.
Chị Trầm nói một cách e dè, không lấy gì làm chắc :
- Có con Phương. Nó hay che mặt lầm rầm một mình...
Tôi reo lên :
- Đúng rồi. Ma xơ làm ơn tra giùm hồ sơ em Phương.
Dì Christine lại lục tìm một hồi nữa. Người đàn bà tự động bỏ ra sau vườn, lúc nào không ai hay. Dì phước đang lật từng trang cuốn sổ cái đã cũ đột nhiên la lớn vui mừng :
- Đây rồi. Lê Thị Phương.
Tôi mừng quá, chạy đến gần bàn dì Christine. Dì phước cười bảo :
- Hồi đó, mấy xơ đặt tên cho các em ngộ nghĩnh quá. Em vào trước tên Trần Thị Phố. Em này tên Lê Thị Phường. Nhập viện ngày18-9-1954. Ngày xuất viện: 2-3-1956. Số 462. Để tôi tra thử ở phiếu cô nhi thử có ghi chú điều gì thêm không.
Dì Christine mở cái hộc gỗ phía tay trái tìm một lúc, rồi đem lại cho tôi xem một phiếu bìa cứng mầu xanh. Hai góc trên phiếu lý lịch đều bị cắt mất. Dì phước giải thích trước khi đưa hẳn phiếu cho tôi :
- Bị cắt góc thế này, tức là không có cha mẹ. Bị cắt một góc trái là mồ côi cha. Bị cắt góc phải, là mồ côi mẹ.
Các chi tiết ấy không cần thiết đối với tôi. Tôi đưa tay run run đỡ lấy tấm phiếu. Cổ tôi muốn nghẹn lại, lòng tôi hồi hộp.
Tấm phiếu chỉ ghi được những dòng sau đây:
Cô Nhi Viện XUÂN PHƯƠNG
PHIẾU CÔ NHI
1. Họ và tên: Lê Thị Phường
2. Số danh bộ: 462
3. Năm sinh: 1947
4. Ngày nhập viện: 13-9-1954
5. Ngày lập phiếu: 15-9-1954
6. Ngày xuất viện: 02-3-1956
7. Quốc tịch: Việt nam
8. Tôn giáo: Công giáo
9. Tên họ nghề nghiệp địa chỉ cha mẹ: chừa trống
10. Lý do gửi trẻ vào viện: Nạn nhân chiến cuộc
11. Người hoặc cơ quan đem gửi: chừa trống
12. Tên họ, địa chỉ của thân nhân: chừa trống
13. Nếu đứa trẻ không có lý lịch, xin ghi rõ trường hợp nào em được tiếp nhận: cha xứ Xuân Hòa cho người đem đến, gia đình em bé đều bị chết trong chiến tranh.
14. Lập án thế vì khai sinh ngày: 14 tháng 9 năm 1954 tại Tòa án T.P.
15. Lý do xuất viện: có gia đình xin về nuôi.
16. Tên họ gia đình đỡ đầu: Ông bà Lý Văn Lâm địa chỉ 43 Phạm ngũ Lão.
17. Nhận xét chung của ban giám đốc cô nhi viện: Ngoan, ít nói, nhút nhát.
Tôi ngồi trân trên ghế, không nói được lời nào. Dì Christine chờ sự vui mừng của tôi để bù đắp công lao vất vả tìm kiếm, nhưng thấy vẻ thất vọng của tôi, dì phước tế nhị lẳng lặng trở về bàn giấy, ngồi ghi ghi chép chép gì đó trên cuốn sổ cái. Tiếng đồng hồ tí tách nghe rõ mồn một, đếm bước thời gian dằng dặc mệt mỏi. Nếu người xin nuôi là ông bà Lý Văn Lâm, thì Lê Thị Phường đâu phải là Phương Thảo. Chắc chắn trên tấm phiếu này, không có một dòng nào ghi tên họ địa chỉ ba me tôi. Các dì phước bấy giờ cũng chỉ nhận xét: bé Phương ít nói và nhút nhát mà thôi. Không còn hy vọng gì.
Khí nóng ngột ngạt khiến hơi thở tôi nồng, cổ tôi thắt lại nghẹn ngào. Ánh nắng chói chang hắt từ sân cát vàng làm lòa cả mắt. Một lúc lâu, dì Christine ngần ngại hỏi nhỏ :
- Anh thấy thế nào, có đúng không?
- Dạ chắc không. Lý Văn Lâm không phải tên ba tôi.
Tôi liếc nhìn lần cuối lên tờ phiếu trước khi trả lại cho dì phước. Mắt tôi lướt trên mấy chữ Tôn Giáo: Công Giáo.
Tôi hơi tò mò hỏi :
- Dĩ nhiên các em vào đây đều được rửa tội. Nhưng khi xuất viện, làm thế nào...
Dì phước hiểu ý của tôi, mau mắn đáp :
- Tôi hiểu. Dĩ nhiên chúng tôi chỉ giao các em cho những người đỡ đầu có đạo. Vì vậy dù xuất viện, các em vẫn là người thiên chúa giáo.
Trí óc tôi lúc đó bỗng lang mang bất định. Miệng tôi nói :
- Cảm ơn ma xơ nhiều. Báo hại ma xơ tìm vất vả cả một buổi chiều.
Nhưng trí tôi nghĩ: Cô nhi viện chỉ tin cậy những người quen biết trong họ đạo. Có thể me tôi thích nuôi Phương Thảo, thích nuôi bé Phường. Vì vậy, me tôi phải nhờ người khác xin bé về. Lòng tôi lại thoáng vui. Tôi hỏi, giọng buồn rầu cố ý tô đậm ơ hờ bất cần :
- Xứ Xuân Hòa là đâu vậy ma xơ?
Dì phước cười.
- Tôi cũng không biết. Tôi vốn không sinh trưởng ở đây, nên mù tịt về các tên quận tên làng. Anh trở về dòng hỏi Mẹ Bề Trên, chắc Mẹ biết. Mẹ vốn người ở đây mà.
Tôi cúi chào dì Christine, bần thần bước ra đường.
Lúc đi ngang qua dãy sơ sinh, thằng bé da đen vẫn còn khóc chát chúa. Tự nhiên lòng tràn đầy thương xót vu vơ, nước mắt tôi rơm rớm, đọng lại trên bờ mi, chỉ chực tràn xuống má.
0
Chương 6


Tôi chờ ở phòng khách tòa giám mục đã nửa giờ rồi.
Căn phòng trống trơn, chỉ có một bộ bốn cái ghế bành bằng gỗ, một cái bàn thấp lồng kính và một tập lịch của cơ quan Caritas treo trên tường đối diện cửa ra vào. Tôi cúi xuống gầm bàn tìm một tờ báo hay một tạp chí cũ nào đó xem cho qua thì giờ chờ đợi, nhưng không có. Cuốn lịch trên tường, ai đã bóc trước đi hai ngày. Nhìn quanh quất không tìm được một việc qua giờ, tôi đứng dậy đi về phía cửa sổ nhìn mông lung ra sân sau.
Hàng me tây thấp làm rợp bóng con đường sỏi chạy dài sang dãy nhà bên kia, lá xanh biến màu vì bụi đường từ ngoài bay vào phủ đầy. Mái ngói tòa giám mục xám một lớp rêu khô năm trước và mãi ở tít xa kia, bầu trời không gợn một chút mây mỏng. Mọi vật quanh tôi ù lì, im sững. Không khí chết lặng. Khung cửa vuông thành chu vi một bức tranh tĩnh vật. Mọi sự đều thanh bình, sao lòng tôi xao động. Tôi lo âu, chờ đón cha Hải như chờ đón một nguồn hy vọng tràn trề cần thiết cho tôi, như cần một hơi thở hiền.
Tôi vất vả cả tuần nay, xuôi ngược đi tìm dấu vết quá khứ của Phương Thảo, trên những nẻo đường chằng chịt rắc rối như đường chỉ trong lòng bàn tay tôi. Chộp được một tên làng trên tờ phiếu của bé Phường, tuy lòng còn hồ nghi, tôi cứ lấy xe lao về hướng Xuân Hòa.
Lại những trạm gác đầu cầu. Lại những vọng canh xoi mói kèm theo các lời khuyến cáo quen thuộc. Vùng đó không yên đâu. Về làm gì. Cả họ đạo đã di cư từ năm ngoái. Lại hỏi thăm. Lại tìm một trại định cư nằm dọc theo quốc lộ bên con sông phơi cát mùa hè. Lại những nét mặt ban đầu ngơ ngác và cố tỏ thêm thiện chí bằng lối nhíu mày cố nhớ.
Nhưng chung cuộc, lại chỉ có những cái lắc đầu. Cha sở phụ trách trại định cư, một thanh niên còn trẻ có gương mặt xương xẩu biểu lộ ý chí sắt đá và niềm kiên nhẫn không đáy, khuyên tôi :
- Thường thường một linh mục không ở luôn một chỗ suốt mười lăm năm ròng. Tòa giám mục thuyên chuyển luôn. Có nhiều lý do lắm. Hoặc cách cư xử, hướng dẫn tinh thần của ông ấy không thích hợp với bổn đạo. Hoặc ngược lại; nếu họ quá thành công, thì cũng nên đổi đi nơi khác để xây dụng các họ đạo mới. Thành ra...
Tôi không kiên nhẫn được nữa, vội hỏi :
-Thưa cha, như vậy nếu muốn tìm vị cha xử của họ đạo này khoảng năm 1954, 1955 thì làm sao?
Vị linh mục trẻ ngại ngùng, có vẻ thương hại tôi :
-Tận mười mấy năm ư? Lâu quá. Anh hỏi dưới tòa giám mục xem. Nếu vị linh mục anh hỏi đã già, có thể ngài đang dưỡng lão ngay tại tòa giám mục. Anh biết tên ngài rồi chứ gì.
Tôi bối rối thú nhận :
- Thưa cha, chưa.
Rồi để cho ông khỏi ngạc nhiên, tôi vắn tắt trình bày chuyện Phương Thảo. Rồi chuyện bé Phường. Linh mục có vẻ thích thú, sốt sắng giúp đỡ tôi :
- À, phải rồi. Để tôi tìm hỏi những cụ già trong trại thử. Có lẽ họ nhớ. Phiền một điều là hôm nay, anh thư ký của tôi đã mang theo cái chìa khóa tủ hồ sơ. Nếu không, tôi chỉ việc giở tài liệu của xử đạo ra, là biết ngay. Anh chờ tôi một chốc nhé, không lâu đâu.
Tuy vậy, nửa giờ sau, cha xứ mới trở lại, bảo tên vị linh mục tôi tìm là Hải. Tôi rối rít bắt tay cha xứ trở về thành phố. Miễn là cha Hải chưa đổi đi giáo khu khác, hoặc nếu cha đã già, thì mong ngài còn có nhiều hệ lụy với nhân gian, chưa thể vội về nước Chúa.
Vì thế bây giờ tôi đang ngồi đây. Gian phòng này trống quá, lạnh lùng, làm tôi sợ. Mầu vôi xám lầm lì như nỗi thất vọng. Mặt ghế gỗ cứng. Nền nhà lát một thứ gạch hoa cũ kỹ phai nhạt cả nét. Và nhất là sự chờ đợi dằng dặc trong một căn phòng thiếu hẳn dấu người nầy. Tôi định đứng dậy ra vịn cửa sổ nhìn ra hàng me tây nhưng chợt nhớ mình đã làm như vậy đến ba lần rồi, nên lại thôi. Tôi đổi thế ngồi. Không biết lần thứ mấy. Rồi trong lúc bất ngờ nhất, một linh mục trẻ tiến vào phòng. Tôi đứng dậy, ngỡ ngàng. Cả vị linh mục cũng vậy. Ông hỏi, hơi rụt rè vì sợ lầm :
- Có phải ông cần gặp tôi?
Tôi nhìn kỹ người đối diện, ấp úng mãi mới nói được :
- Dạ, tôi tìm cha Hải.
Vị linh mục cười dễ dãi, giọng nói reo như tiếng chim :
- Tôi là linh mục Hải đây.
Tôi lấy lại được bình tĩnh.Người tu sĩ trước mặt tôi còn trẻ lắm. Khoảng 30 tuổi. Chắc có sự lầm lẫn hay trùng hợp nào đây. Tôi hỏi :
- Thưa có phải có hồi cha đã ở Xuân Hòa không ạ?
- Xuân Hòa nào?
Tôi giải thích rõ hơn :
- Tôi muốn tìm vị linh mục phụ trách đạo Xuân Hòa cách đây mười lăm năm, để hỏi tông tích một bé mồ côi do ngài giớì thiệu gửi đến viện cô nhi.
Lần này thì vị linh mục trẻ cười to một cách vui vẻ :
-Như thế thì lầm rồi. Lúc bấy giờ tôi còn học ở chủng viện Pi-ô. Vị linh mục anh tìm chắc phải già hơn.
- Đúng vậy. Ở đây có...
Vị linh mục cướp lời :
- Chắc có chứ. Nhiều khi ở bên khu dưỡng lão, vì cái tên Hải, hì hì, nhiều người mang lắm. Vì thế có chuyện trùng hợp. Hay bây giờ anh đi với tôi qua bên ấy xem.
* * * * *
Vị linh mục bảo tôi đứng chờ trước cửa phòng quản lý. Mười phút sau, ông trở ra, vui mừng báo tin :
- Đúng rồi. Cha Hải ở đây ngày trước coi xứ đạo Xuân Hòa. Ngài ở đằng phòng cuối. Anh đi với tôi.
Tôi mừng quá, lòng rộn rã hồi hộp, nhưng cố giấu sự xúc động lặng lẽ đi bên cạnh linh mục. Tôi vẫn còn sợ những trường hợp mừng hụt, lỡ tàu.
Chúng tôi đi dưới hàng me tây thấp. Tiếng sỏi reo vui dưới chân, trong khi chờ đến bây giờ gió mát từ biển xanh mới thổi vào tàn lá rậm, thì thào tình tự. Tôi tìm một câu gì đó để gián tiếp cảm ơn người hướng dẫn :
- Thưa, cha về đây lâu chưa?
- Hơn hai năm rồi. Tôi lo phòng tuyên úy cho thanh sinh công.
Rồi cha quay lại hỏi tôi :
- Anh người ở đây chứ?
- Dạ. Nhưng gia đình bỏ xứ đã gần mười năm nay rồi. Lúc còn đi học, tôi mơ ước được về đây làm việc khi ra trường. Bây giờ ra trường rồi, lại ngần ngừ, chưa dứt khoát được.
- Anh học ngành gì?
- Thưa cha y khoa.
Linh mục nhìn tôi rồi chậm rãi nói :
- Hay đấy. Anh nên tìm cách về đây. Dân vùng này ngày nay đông đúc quá. Bác sĩ còn ít. À phải rồi, anh đến thăm cha Hải sẵn xem giùm thử có cách nào chữa cho ngài bớt suyễn không. Trên phòng quản lý họ bảo độ này ngài hay lên cơn.
Chúng tôi bỏ con đường nhỏ bước lên một hành lang tối. Dãy nhà phía bên này có lẽ đã xây cất hồi Pháp thuộc, nên lối kiến trúc khác hẳn ngày nay. Cửa lớn và cửa sổ đều thuộc loại lá sách cao, bên trên hai cánh thông hơi hình uốn tròn theo kiểu gô- tít. Nền nhà lót gạch bát tràng đã bóng, và trần đóng bằng mảnh gỗ dài đánh vẹt-ni trau chuốc công phu. Từ lâu, vị linh mục trẻ tiếp tục kể chuyện đời sống ở đây, nhưng sự rộn rã khiến tai tôi bùng, mắt tôi quáng. Tôi không còn nghe gì, thấy gì khác ngoài khuôn ánh sáng rực rỡ ở cuối hành lang và tiếng giày gõ đều đặn reo vui trên lối đi. Linh mục nói :
- ...Cuộc sống chúng tôi đã định hướng, nên dù làm việc ở đây hay về các xứ đạo cũng vậy mà thôi. Hãy cứ tuân theo Thánh ý. Anh thấy không, khu này dành cho các vị linh mục già, không còn làm lễ được nữa. Các ngài gần về chầu Chúa, và thỏa mãn với một cuộc đời cao rao danh Chúa của mình. Ở đây, anh thấy không có vẻ thanh bình bao nhiêu.
Tiếng nói của vị linh mục đều đặn, nhẹ nhàng ngân nga như tiếng cầu kinh.
Tôi được ru trong thứ âm thanh ấy, lâng lâng trôi nổi giữa ánh sáng huyền hoặc âm u, giống như theo trí tưởng tượng của tôi, là ánh sáng âm thanh ở giữa biên giới của trần gian và thiên đàng. Chúng tôi dừng lại ở phòng cuối cùng.
Linh mục gõ cửa. Tiếng dép kéo lê phía trong, và khuôn mặt một cậu bé khoảng 14, 15 tuổi hiện ra giữa hai cánh cửa hé. Vị linh mục hỏi nhỏ, cậu bé trả lời :
- Thưa, cha đang ngồi ở phía sau. Mời cha vào.
Linh mục hỏi :
- Đi vòng phía đầu hiên được không?
- Dạ được. Hay xin cha đi vòng cho nhanh.
Chúng tôi tìm thấy linh mục Hải đang ngồi trên ghế xếp dưới giàn hoa lý. Gối kê dày dưới lưng ngài, một tấm chăn bông mỏng phủ lên bụng và hai chân ngài. Trên cái bàn nhỏ bằng sắt vừa tầm tay của linh mục, có cái khay nhỏ đặt bình nước, hai cái tách, và một cuốn sách úp sấp. Cha Hải ngước lên nhìn dò hỏi khi chúng tôi tiến tới gần. Đôi mắt ngài đã đục, hơi lờ đờ. Linh mục hướng dẫn tôi nói :
- Thưa cha, anh này tìm cha có chút việc.
Cha Hải ngước mặt cao hơn, đầu hơi nghiêng, hỏi lớn :
- Hả, cái gì?
Cậu bé ra vườn sau từ lúc nào, thì thầm lưu ý chúng tôi :
- Cha hơi nặng tai. Phải nói lớn, cha mới nghe được.
Cha Hải theo dõi hướng nhìn của tôi, quay lại thấy cậu bé đang nói thầm với linh mục trẻ tuổi, đoán được họ đang nói điều gì, giận dữ quát tháo :
- Thằng Biên có vào trong nhà không. Trẻ con biết gì xen vào chuyện người lớn. Gặp ai tới, mày cũng bảo cha đã điếc đặc rồi. Mày nói xấu cha với người ta mà không biết xấu hổ. Tưởng cha không nghe hay sao.
Cậu bé sợ hãi đi quá ra sau nữa, ra phía giếng bơm nước. Cha Hải đăm đăm nhìn theo cậu bé một lúc, rồi mới quay lại hỏi :
- Cái gì?
Bây giờ đến lượt tôi nói :
- Dạ, con xin cha giúp cho một việc...
Linh mục trẻ khẽ đập vào vai tôi nói nhỏ :
- Thôi anh ở lại nói chuyện vời ngài. Tôi về trước nhé.
Cha Hải nhìn đôi môi cử động của linh mục trẻ với đôi mắt ác cảm. Nhưng chờ linh mục trẻ đi rồi, cha mới nói :
- Cha rất ghét những người cứ rầm rì trong cổ họng. Nói cái gì cũng phải phân minh. Điều lành phải nói lớn cho cả và thiên hạ nghe hết. Chỉ có những chuyện xấu xa mới giấu giếm, không dám nói lớn.
Sợ ngài đi xa quá, tôi nhập đề ngay. Dĩ nhiên bằng cách nói thật to cho ngài bằng lòng :
- Thưa cha, con xin cha giúp con. Con có một đứa em nuôi, ngày trước xin ở cô nhi viện Xuân Phương. Con muốn tìm tông tích gia đình của nó. Con có đến cô nhi viện của các xơ dòng Mến Thánh Giá, được biết ngày trước chính cha cho người đưa em gái đó đến gửi các xơ nuôi...
Vị linh mục già cố gắng nheo mắt nghiêng đầu lắng nghe, nhưng có lẽ vì tôi xúc động quá lưỡi líu lại, nói chập tiếng nọ với tiếng kia, nên ngài đưa tay ngăn lại :
- Nói chậm một chút. Sao, cái gì. Có mấy xơ Mến Thánh Giá?
Tôi cố gắng khởi hành trở lại, từ lúc đầu :
- Dạ thưa cha, gia đình con có xin ở cô nhi viện Xuân Phương một em gái mồ côi.
- Ừ, rồi sao
- Bây giờ, con muốn tìm ra tông tích, gia cảnh của người em gái đó. Xem thử em nó con ai ở đâu.
Cha Hải nói lớn, giọng đầy giễu cợt mai mỉa :
- Đã là trẻ mồ côi, còn cha mẹ sao được mà tìm?
- Dạ, con có đến cô nhi viện, nhờ các xơ lục tìm hồ sơ. Trong phiếu, con thấy có ghi chính cha xứ Xuân Hòa cho người mang bé gái mồ côi đó tới.
Cha Hải reo lên :
- Thì đến hỏi cha xứ Xuân Hòa là biết ngay.
Tôi hơi ngần ngừ :
- Thưa cha, nhưng chính...
Vị linh mục già cướp lời :
- Ừ, ông ta cho người mang đến, thì biết chắc con bé con ai. Nghe hình như gần đây, trên đó đánh nhau hoài. Lại trẻ mồ côi vì bom đạn chứ gì.
Tôi hấp tấp giải thích :
- Dạ thưa không phải. Chuyện này xảy ra từ mười lăm năm trước. Tận hồi trước hiệp định Genève. Lúc ấy, cha đang lo cai quản xứ đạo Xuân Hòa.
- Ừ, Xuân Hòa, rồi sao?
Tôi cố gắng kiên nhẫn hơn nữa :
- Năm 1954, thưa cha, chính cha là cha xứ Xuân Hòa. Cha có nhận của người ta gửi một bé gái mồ côi. Nhưng vì bận việc quá, có lẽ thế, sau đó cha phải gửi bé gái vào cô nhi viện mấy dì phước trên Xuân Phương. Cha còn nhớ chuyện ấy không?
Cha Hải ngồi im lặng, mắt lim dim để ngược lại dĩ vãng. Tôi hồi hộp lắng đợi. Lâu quá, tôi không thấy ngài nói gì, nên phải nhắc :
- Dạ lúc ấy cha cai quản xứ đạo Xuân Hòa, cha còn nhớ chứ ạ?
Vị linh mục già gật gù :
- Ừ, Xuân Hòa, Xuân Hòa cha nhớ rõ. Cha nhớ rõ lắm. Bổn đạo Xuân Hòa quí cha vô ngần. Con biết không, lúc nghe tin cha đổi đi nơi khác, cả họ đạo xao xác tán loạn còn hơn ngày tản cư nữa. Các bô lão đến quí khóc trong nhà nguyện, cầu khẩn Chúa giữ cha lại. Trẻ con đến ôm chân cha. Cha ở lại đây với chúng con. Cha ra đi, Chúa còn thương xót chúng con nữa hay không. Chúng con có được cứu rỗi nữa không. Rồi đích thân bổn đạo kéo nhau xuống tòa giám mục. Đức cha phải đích thân ra giải thích. Tuy thế, cha đi, cả bổn đạo đều khóc...
Cha Hải lại im lặng. Hình như cha cũng xúc động theo lời kể, đôi mi mắt mấp máy để cố ngăn một dòng lệ cạn. Tôi nhắc :
- Dạ thưa cha, hồi ở Xuân Hòa, cha có nuôi một em gái mồ côi...
Cha Hải choàng dậy, quay lại nhìn tôi có ý trách móc :
- Một em? Sao lại một? Ít ra là trăm đứa. Chiến cuộc ác liệt lắm. Hai bên dàn binh đánh nhau, cả một vùng dân cư đông đúc nằm phơi giữa hai lằn đạn. Xứ của cha dù sao cũng đỡ hơn vì người Pháp cố tránh các giáo khu công giáo. Còn bên đó ngại dân vệ của cha không dám đến gần. Nhưng những làng chung quanh đều bị tàn phá hết. Để cha nhớ coi. An Vinh này. Thiện Đức này. Giang Thanh này. Trung Thái này. Nhiều người ùn ùn kéo về Xuân Hòa, cầu khẩn được núp dưới chân Chúa, được an toàn trong vòng tay bao dung của Chúa. Nhiều gia đình chết hết chỉ còn lại một em nhỏ. Có khi người mẹ mang con đến xin tiền cha, chờ tối trốn đi bỏ lại hai đứa trẻ ốm tong teo còn ngủ lăn lóc bên cạnh nhà thờ. Cha phải chạy chỗ này chạy chỗ kia xin gạo, bột mì cứu trợ. Có lúc trại cô nhi trong khuôn viên nhà thờ của cha lên đến trăm đứa nhỏ. Chúng nó giành ăn với nhau, la khóc tối ngày. Mỗi lần như thế, chúng chạy đi tìm cha. Thưa cha thằng kia nó giật ổ bánh mì của con. Thưa cha con bé này nó tát vào mặt con. Thưa cha cu tí đái dầm ướt hết áo con. Thưa cha, thưa cha, thưa cha... Thưa cha thế này thưa cha thế khác. Cha rối trí lên, đôi lúc quát tháo om sòm. Nhưng sau đó thấy chúng rơm rớm nước mắt, len lét nép sát vào tường mỗi khi cha đến gần, cha đâm hối hận. Cha ôm chúng vào lòng, chúng cảm động quá khóc òa... Cha cũng khóc...
Lần này cha Hải khóc thật sự. Vai cha rung động từng hồi, cha đưa cái khăn nhỏ lên chặm chăm mí mắt rồi nhìn mông lung ra phía trước. Tôi chưa kịp nhắc cha trở về đường cũ, thì ngài đã ngồi thẳng người lên, hét lớn :
- Biên, làm gì đó?
Tiếng cậu bé trả lời, giọng vỡ dậy thì :
- Thưa cha, con bơm nước tưới cây.
- Tưới thứ gì
- Dạ mấy chậu hồng.
- Cả ngày chỉ lo săm soi mấy cây hồng mà thôi. Quí hóa gì ngữ đó. Chỉ được cái ăn hại. Không tưới cho gốc lý lấy một giọt.
Biên cãi lại :
- Thưa cha con vừa tưới hồi sáng rồi,
- Tưới hồi nào đâu. Gốc dây lý lúc nào cũng khô ran. Hôm qua hôm kia cũng thế. Hôm nay...
Cha Hải quay sang phía bên trái, tìm chỗ gốc mấy dày hoa lý để kiểm chứng thành kiến của mình. Đất xốp vẫn còn ướt ở đấy, khiến cha ngừng lại, ậm ừ trong cổ họng để cố che giấu sự bối rối. Cha nhìn quanh nhìn quất để tìm một cái lỗi mọn của Biên. Có lẽ cha tìm không ra. Cha thất vọng, lại ậm ừ khó chịu. Tôi yên trí cha đã hết giận cậu bé, nhắc khéo :
- Thưa cha, trong số cô nhi nuôi hồi ấy...
Giọng cha bùng vỡ, òa tung lên giận dữ, rít giữa hai hàm răng đã rụng khá nhiều :
- Cô nhi với không cô nhi. Một lũ ăn hại. Người ta chém giết nhau cho đã rồi đem con quẳng vào nhà thờ. Cửa chúa đâu phải là trại tế bần. Đâu phải, đâu phải là...là...
Cha giận quá, càng tức giận hơn khi không thể tìm một tỉ dụ nào khác cho vừa phải, không phạm thánh. Trong cơn loay hoay lúng túng, cha tự thấy mình nổi giận một cách vô cớ, nên dừng lại. Cha nhìn sang tôi, lời trầm lại :
- Đành thế, nhưng mình phải chịu đựng. Như một cách cứu rỗi, chứ biết sao. Nuôi thế nào nổi hai ba trăm đứa cô nhi đủ mọi hạng tuổi, đủ mọi bênh tật. Sau đó cha phải tìm cách gửi bớt cho người ta nuôi.
Tôi mừng rỡ, chen vào hỏi :
- Cha có gửi...
Cha Hải không để cho tôi nói, tiếp tục ý ngài :
- Cha chen những lời hô hào chia nuôi cô nhi vào các buổi giảng phúc âm, Cha khuyến khích. Cha bảo lũ trẻ này có thể là phần thưởng và bổn phận, do lời phán truyền của Đấng Cứu Thế. Ơn phước sẽ về kẻ nào biết tin ở chúa, cũng như biết nhận sự gửi gắm của chúa.
Mắt cha lim dim, mắt ngước lên mấy chùm hoa lý đong đưa trên đỉnh đầu, như muốn đuổi bắt những áng mây thiên đàng ở bên trên, trên thật xa, nơi nào đó không còn những nhọc nhằn, những xót xa, những mệt mỏi cô độc già nua. Tôi nghĩ đến cái tuổi già lạc loài. Con đường đi về nước chúa, trước mặt tôi, ở hình ảnh đôi vai xuôi, bàn tay xương xẩu xòe rộng trên mặt chăn ấm, dáng điệu vọng tưởng bất động ấy, sao mà đìu hiu. Tôi liên tưởng đến những chiều me tôi nhìn mông lung ra khu vườn xào xạc tiếng lá chuối, liên tưởng đến cái nhìn rỗng không của Phương Thảo. Ruột tôi thắt lại. Tôi hỏi, như một hơi thở :
- Thưa cha, trong số cô nhi...
Ngạc nhiên làm sao, vị linh mục già nghe thấy lời tôi thì thào. Ngài quay lại, mắt chớp chớp như vừa bừng tỉnh một giấc mộng :
- Số cô nhi thế nào?
Tôi nuốt hết nước bọt, trước khi nói chậm và rõ :
- Thưa cha trong số cô nhi năm ấy, có một bé gái khoảng bảy tám tuổi, nét mặt thường lo lắng hốt hoảng, ít thích bạn bè...
Không biết đây là lần thứ mấy, cha Hải lại ngắt lời tôi :
- Đứa nào lại thích đứa nào. Nội chuyện giành nhau bánh mì buổi sáng cũng đủ rắc rối rồi. Tụi nó xem nhau như kẻ thù. Hoặc phải giành cho được một mình hai ổ, hoặc nhịn đói. Về sau cha bắt mấy đứa lớn ngồi canh, chờ đến lúc đứa nào cũng ăn hết phần của mình mới quay vào làm việc khác. Chỉ có mấy đứa còn bé xíu mới chập chững...
Đột nhiên, vị linh mục già nhìn thẳng vào tôi, đôi mắt khác thường :
- Khi nãy anh hỏi gì? Anh tìm một bé gái bảy tám tuổi thường hay trốn bạn ngồi một mình trong xó tối hả?
Tôi mừng quá, reo lên :
- Thưa cha, đúng rồi. Con tìm tông tích em gái ấy, cha còn nhớ không, thưa cha.
Vị linh mục nở một nụ cười, cánh mũi phập phồng và môi trên run run. Không hiểu sao cha xúc động mạnh đến như vậy. Cha thì thào :
- Phải rồi. Con bé Xíu. Con bé Xíu.
Cổ tôi nghẹn. Nước mắt ứa làm mờ thị giác. Tôi nắm bàn tay của cha lúc nào không hay. Tôi lay tay ngài, giục ngài nói tiếp :
- Bé Xíu. Sao nữa cha? Cha gặp bé ở đâu? Ở đâu hở cha? Cha làm ơn nhớ lại đi.
Cha Hải nói :
- Ừ, đúng rồi. Con bé Xíu. Nó đã lớn, nhưng cha cứ gọi nó là con bé Xíu, vì trông nó nhu mì tội nghiệp quá. Nó đứng thu mình ở một góc, nơi đâu, chỗ nào, cũng như lạc loài. Mắt nó ngơ ngơ ngác ngác như mắt nai. Hai bàn tay chắp lại như luôn luôn cầu nguyện. Lại thêm mái tóc rối, và đôi môi mím lại. Mới gặp, cha đã chú ý đến nó ngay. Vì sao con có biết không?
Tôi mau mắn hỏi :
- Thưa cha, cha gặp bé Xíu ở đâu?
Cha Hải không nghe thấy gì, vẫn tiếp tục nói :
- Ừ, con nói đúng. Nó là hình ảnh thu nhỏ của Đức
Mẹ Maria. Có lẽ lúc Đức Mẹ nhìn Chúa Jésus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá, Ngài cũng có một nét mặt như thế. Vừa xót thương đến não lòng, vừa trìu mến cam chịu một cách can đảm. Nhìn nét mặt bé Xíu, cha ngỡ ngàng, không tin ở mắt mình nữa.
Tôi khẩn thiết, rán hỏi một lần chót :
- Nhưng cha đã gặp bé Xíu ở đâu, cha có còn nhớ không?
- Ở đâu ư? Cha thấy nó đứng một mình bên đường. Cha đi xe ngựa đến khánh thành một nhà thờ mới. Đường từ Xuân Hòa qua đó khá xa, đường lại gập ghềnh lồi lõm. Xe hơi không chạy được. Cha phải sai đi thuê một chiếc xe ngựa. Người xà ích có vẻ không bằng lòng nhưng sợ lôi thôi nên đành vâng lời. Khi ngồi trên xe rồi, anh ta mới cho biết đường đi đến Giang Thanh không còn yên như trước nữa. Ngay hôm trước một vài người bên đó lén về, để trả đũa báo thù gì đó. Cha bảo không sao đâu, cha vừa được tin ông quận đã nhận lời đến chủ tọa lễ khánh thành. Cha nói với người xà ích: Khi ông quận đến tất nhiên tình hình phải an ninh hoàn toàn. Vả lại sắp đình chiến rồi còn gì nữa. Tuy thế, đi ngang qua khu chợ, cha cũng hơi ngài ngại. Chợ vắng hoe, tuy hôm ấy đúng ngày chợ phiên.
Tôi sốt ruột quá rồi, hỏi gấp :
- Cha cho con biết đã gặp bé Xíu ở đâu? Làm ơn chút, thưa cha.
Vị linh mục già nhìn tôi, mắt chưa hết mơ màng :
- Nó đứng bên đường cái ngay trước chợ. Nó đang khóc. Cha bảo anh xà ích dừng xe lại, anh ta cự nự cho xe chạy như thường. Cha phải giật lấy dây cương xe mới ngừng. Cha chạy bộ trở lại chỗ bé Xíu, ngồi xuống hỏi sao bé khóc. Nó không nói, còn khóc to hơn nữa. Cha vuốt đầu an ủi nó một lúc, đề nghị đưa bé về nhà. Cha dẫn nó vào chợ, nó đi vài bước rồi đột nhiên khóc thét lên sợ hãi, ôm chân cha chặt cứng không chịu đi nữa. Cha ngạc nhiên quá sức, Cha bồng nó lên đến gõ cửa nhà cạnh chợ nhưng không có ai lên tiếng. Nhà nào cũng đóng im ỉm, Cha đi hết một dãy lều thấp mới đến một trạm canh, Cha chỉ đứa bé, hỏi một người lính đang lau súng. Anh ta ngước lên, nói trổng: Đem con mắc dịch đó đi thì đem, hỏi lôi thôi. Cha giận đến tràn hông, nhưng thấy con bé sợ người lính đến nỗi hai bàn tay bấu chặt lấy vai cha, nên bồng nó trở lại xe. Cha nghĩ phải nói cho ông quận trị sát ván tụi lính ba gai láo xược. Vì chuyện đó, cha đến nhà thờ trễ mất nửa giờ. Ông quận đã đến đó từ lâu. Ông ta...
Tôi ngắt lời cha Hải :
- Thưa cha, chợ đó tên là chợ gì?
Vị linh mục già nhìn tôi, mắt cười rạng rỡ. Ánh vui tràn đầy trong cái hố sâu thẳm thời gian ấy. Tôi đón chờ tên làng quê hương bé Xíu vời niềm hân hoan rộn rã, vì hy vọng có thể đó là quê hương bé Phường, rồi hi vọng lớn dần theo tháng năm, suy rộng hơn xa thêm, là quê hương của Phương Thảo. Cha Hải gật gù thú vị, như khâm phục trí nhớ quán chúng của mình. Cha nói tiếp tục, vẫn với giọng đều đều :
- Thật ra ông quận còn vui hơn cả cha nữa. Ông ta tin rằng tôn giáo là khí giới hữu hiệu nhất để chống lại bên đó. Cho nên ông ta giúp đỡ cha tận tình. Cha xin một ít xi măng xây nhà thờ. Ông ta cho chở đến hai xe đầy, rồi đích thân thuê xe ngựa đem xuống Giang Thanh. Ông quận còn xuất quỹ đem mua giúp nào gỗ, sơn, đinh... đủ thứ. Hoàn thành được nhà thờ đó, tổ chức lại xóm đạo để lập hệ thống tự vệ cho khu phía đông lâu nay bất an ninh, đó là kế hoạch của ông quận.
Cho nên tuy cha đến trễ, ông quận vẫn vui vẻ chờ. Cha nhường cho ông ấy vinh dự kéo dây chuông. Giáo dân đứng thành hàng ngay ngắn, hai dây cờ treo từ nóc tháp chuông giăng nghiêng ra đến cổng. Chưa bao giờ cha cảm động như hôm ấy. Và cũng chưa bao giờ cha giảng hay đến như vậy. Cha đọc: Đức Chúa Giê-su cùng với môn đồ qua đến bờ biển bên kia, trong miền Jérusalem. Ngài mới ở trên thuyền bước xuống tức thì có một người bị ma ám từ nơi mồ mả đi ra trước mặt Ngài, sấp mình xuống mà kêu rằng: Hỡi đức Chúa Giê-su, con Đức Chúa Trời cao cả, tôi với Ngài có sự gì chăng?...
Cha Hải tiếp tục nói, nói mãi. Tôi thất vọng. Không còn cách nào xua hết những đám mây ảo của cái quá khứ rạng rỡ ấy trong hồn ngài, van xin ngài thốt giùm cho một cái tên, một cái tên, một cái tên đơn sơ giản dị. Cái tên đối với Ngài như một tình cờ, nhưng với tôi là cửa ngõ bước vào hạnh phúc. Là chìa khóa của Trí Tuệ. Là Thiên đàng. Nhìn đôi mắt cha mông lung xa hẳn thực tại, nhìn gương mặt cha hướng về cõi cao vời, ngút mắt, tôi thấy chỉ còn có một cách.
Tôi lẳng lặng đứng dậy, lẳng lặng bước nhẹ về phía đầu hiên để trở về. Mây xám từ đâu bay tới, thấp là đà ngay trên ngọn cây. Ngực tôi nặng. Mắt tôi hoa. Trước mặt tôi, chỉ có một con đường vô danh: Con đường đất sỏi gập ghềnh từ Xuân Hòa đến Giang Thanh. Người xà ích e ngại không đi. Tôi sẽ van nài. Nếu cần tôi sẽ dọa nạt. Đến một cái chợ, tôi phải dừng lại, hỏi thăm người này hỏi thăm người khác.
May ra. May ra tôi sẽ gõ đúng cửa một người mười mấy năm về trước đã từng lo sợ ghé mắt qua cửa sổ nhỏ nhìn vị linh mục bồng đứa trẻ lạc đi qua đi lại nhiều lần qua chợ, trước khi lên xe đi quá mạn phía đông.
Có thể tôi gặp lại người lính cũ.
Tôi đã phí cả bốn tuần xuôi ngược tìm kiếm, lục chỗ này một vết cũ, hỏi thăm hỏi nom chỗ khác tra lại một dấu mòn, để bây giờ, không tìm được gì khác hơn là một khoảng đường vô danh, một khu chợ vô danh, một người lính vô danh.
Lúc tôi ra khỏi cổng tòa giám mục, trời bắt đầu ầm ầm giông tố, rồi đổ mưa. Như người điên, tôi thản nhiên bước dưới làn nước dày và gió dữ. Nước chảy xuống má, xuống môi tôi. Thấy có vị mặn, tôi mới biết mình đã khóc.
0
Chương 7


Con đường nhấp nhô mờ thoáng ấy ám ảnh tôi quá đỗi. Nó cuốn tôi vào một cơn đam mê huyền hoặc. Do đó lần này tôi bắt chấp mọi lời can ngăn. Mấy người lính gác hôm trước lại ngăn tôi đừng vào Xuân Hòa. Tôi cứ đi. Mấy người ở đầu cầu phía nam Xuân Hòa ngăn tôi không nên bỏ đường quốc lộ rẽ xuống con đường đất đi Giang Thanh. Tôi bất chấp. Họ tưởng tôi nói đùa cho vui. Đến lúc thấy tôi chạy xuống cái dốc đất đỏ, họ mới đâm ra hốt hoảng. Một người bắn chỉ thiên bảo tôi dừng lại. Tôi trầm tĩnh quay trở lên vọng canh, hỏi tại sao phải làm vậy. Người lính kia, với một điệu nói kẻ cả và xấc xược, hất hàm trả lời :
- Muốn xuống đấy theo họ phải không? Cho coi giấy tờ.
Tôi muốn thanh toán công việc cho lẹ, đưa thẻ y sĩ trưng tập cho họ xem. Thái độ của họ thay đổi quá nhanh chóng. Người vừa sừng sộ với tôi vồn vã xin lỗi :
- Chúng tôi không biết, vì trung úy không đeo lon. Dưới đó nửa nạc nửa mỡ, cán bộ ấp mà còn phải lên quận từ bốn giờ chiều. Nhưng chắc trung úy có việc riêng?
Tôi không trả lời, bỏ cái thẻ vào túi quần sau, gật đầu chào họ rồi trở về con dốc cũ. Con đường đất gập ghềnh lồi lõm vết trâu bò và vết chân người. Đất sét khô cứng như đá, nhiều lần chiếc giày phải của tôi bước chênh vênh lên một mô đất cao bị ngã trẹo sang phía bên đau điếng. Cỏ hai bên đường mọc cao làm hẹp thêm con đường vốn đã hẹp. Tôi tự hỏi làm thế nào ngày trước cha Hải có thể đi xe ngựa trên con đường này. Bây giờ không ai có tài lái khéo như vậy. Hai bên đường là ruộng sâu bỏ hoang. Mặt đường lại gập ghềnh ngoằn ngoèo dưới các lũy tre cỗi lá bắt đầu vàng. Đôi đoạn đường bị các bụi dứa gai ăn lan vào bên trong, nên chỉ còn vừa vặn cho các bước chân bộ hành. Những lúc phải len qua các ngõ hẻm độc đạo, hay đi vào một khoảng tre mọc um tùm lá xào xạc thân kẽo kịt ma quái, tôi đã hối hận đến độ chùn bước chân đi. Tưởng tượng một cái hầm chông nơi góc đường này, ngay chỗ tôi phải đặt giày lên trên khung đất hẹp giữa hai bụi dứa. Hay tưởng tượng một họng súng chờ, đôi mắt người nhìn từ phía sau hàng rào táo nhơn xanh cao. Nhưng đã vào đây, thì phải liều. Không còn cách khác. Con đường độc đạo dẫn tôi đến hy vọng, đến ánh sáng, dù thế nào, tôi cũng phải đi.
Tâm trạng pha lẫn lo sợ, hăm hở ấy kéo dài thêm đoạn đường vốn đã dằng dặc quanh co. Rồi cuối cùng tôi cũng đến được xóm chợ.
Tôi ngờ ngợ, không dám tin hẳn ở ấn tượng ban đầu. Có phải đây là khu chợ ngày xưa trong trí nhớ đã mù mờ vì thời gian chất chồng của vị linh mục già? Có thể lắm. Bên tay trái là một bến nước. Bậc đá ong xuôi xuống một con sông nhỏ. Cái bến qui mô, chắc ngày trước cũng tấp nập người lên kẻ xuống để gánh chuyển hàng hóa từ dưới thuyền lên trên bến. Ngay bên phải con đường là khu họp chợ. Cây bàng lớn thưa lá cố vươn những cành dài ra che bóng mát. Hai dãy lều ngói bị dột lỗ chỗ chạy song song nhau, từ lề đường cái vào đến bụi tre dày.
Điều làm tôi ngạc nhiên trước hết là vẻ nhỏ bé đìu hiu của cảnh vật quanh đây. Không phải khu chợ vắng người. Lúc tôi tới nơi, chợ vẫn họp. Người mua kẻ bán chen chúc ồn ào trong hai căn lều, tràn ra bãi đất hai bên, đến tận cửa khoảng mười căn nhà tranh tụ tập quanh đấy. Nhưng từ sự hối hả của từng người, từ cái nhìn pha rất nhiều e ngại hồ nghi trong mắt người quanh tôi, từ những tụm năm tụm ba bàn tán xì xầm, thoát ra điều gì khác thường. Tôi linh cảm như vậy, không xác định rõ từ đầu được vì sao nên còn lại lẩn khuất trước mắt chỉ có một làn khói mỏng hay một cơn gió thoảng. Tôi bỏ đường cái, lờ lững bước vào khu chợ. Người ta lễ phép tránh đường cho tôi đi. Nhưng tránh xong, y như mọi lúc, hễ tôi liếc mắt nhìn lại người vừa nhường bước là gặp ngay đôi mắt lấm lét của họ. Khu chợ chỉ toàn đàn bà trẻ con. Những cái nón mê rách rưới hoặc méo mó che kín khuôn mặt xương xẫu đen điu. Nhưng lúc nào cũng vậy, những cái nhìn e ngại luôn luôn ẩn nấp ở đấy, rình mò hết sức khả nghi.
Tôi đi vào hai dãy lều, lòng hoang mang đến độ chưa hiểu rõ mình phải làm gì, phải hỏi thăm ai. Đâu đâu tôi cũng chỉ gặp những khuôn mặt hiu hắt, buồn hiu. Những khuôn mặt sáp cảu đau khổ. Đâu đâu cũng toàn là từ chối quyết liệt trong vẻ nhìn, trong câm lặng, trong lối nhìn lén lút rồi đột ngột quay mặt đi. Tôi như người mất hồn, cứ chen chân vào đám đông đàn bà lam lũ, đi dạo quanh khu chợ. Đến lúc thấy mình hành động một cách phi lý điên rồ, tôi cúi xuống hỏi mua một món gì đó. Em gái nhỏ có nét mặt hết sức người lớn ngước lên, mặt dáo dác kinh ngạc. Tôi đã hỏi mua vôi ăn trầu. Tôi lí nhí xin lỗi. Mặc kệ. Cứ đi quanh xem có người nào gương mặt đủ thiện cảm mời đón để hỏi thăm.
Rồi đến một lúc bất chợt, tôi ghi nhận một điều lạ lùng. Thiên hạ lần lượt bỏ về. Nhìn đồng hồ: mới hơn ba giờ chiều. Mà cái dáng về cũng hấp tấp lén lút như lúc nào. Em bé bán vôi ăn trầu lúc nãy vội quá xô mạnh vào người tôi. Một người bán rau quả trong lúc hấp tấp đánh rơi hai bó cải xuống đường mà không dừng lại lấy lên. Thúng mủng chồng chất vội vã lên đôi gióng lệch. Không đầy nửa giờ sau, cả khu chợ đều trống rỗng. Trên mặt đất rác rưới vỏ trái cây vung vít bừa bãi. Mùi nồng bắt đầu xông lên nguyên vẹn, vì không còn bị át bởi hơi người.
Tuy vậy, còn một điều lạ lùng hơn nữa. Mãi tận góc căn lều phía tay phải còn có hai người ở lại. Một bà lão ngồi điềm nhiên sau một cái rổ lớn đậy nắp trên đó bày một vài loại hoa quả dành cho trẻ con như ổi, khế, chim chim. Gần khóm ổi, là hai cái ly rượu bằng nhựa vàng cáu và chén muối ớt. Chai rượu đế bên cạnh rổ có lẽ đã làm sáng đôi mắt người đàn ông ngồi cạnh. Người đàn ông độc nhất trong khu chợ, chắc thế.
Ông ta thật ốm, tóc tai bù xù dơ dáy, mặc một cái áo lính đã cũ và một cái quần. đen dài nửa vời không ra quần cụt của đàn ông không ra quần dài của đàn bà. Trông mặt vải bóng nhẫy, tôi đoán có lẽ cái quần lãnh đàn bà này đã được biến chế cho hợp với đàn ông hơn. Người đàn ông quấn một cái khăn bẩn quanh cổ, nhưng vẫn ho sù sụ từng cơn. Ông ta đang nghiêng mặt năn nỉ gì đó với bà lão. Bà lão hoàn toàn im lặng, bỏ hết ngoài tai những lời cầu khẩn, mắt vẫn nhìn mông lung về phía trước, ánh nắng phủ hoa lên trên hai hình hài lạc lõng và héo hắt, giữa đống rác rưới hôi thối, như do sự chểnh mảng của mặt trời.
Mà thật vậy, lúc ấy mặt trời vẫn còn đủ chói chang. Cảnh vật quanh đây vẫn sáng sủa quang đãng. Tôi nhìn quanh tìm cho ra nguyên nhân sự sợ hãi của đám đông. Một cuộc phục kích bất thần chăng? Hay máy bay trên trời sắp oanh tạc. Không. Không có gì hết. Chỉ có những bụi tre già xơ xác. Chỉ có những mái tranh lụp xụp bây giờ cửa đóng then cài. Chỉ có hai người còn lại ở góc chợ, một người giống y như pho tượng thời gian, một người giống y như pho tượng bệnh tật. Chỉ có... chỉ có tiếng... à, mà sao lạ thế, từ nãy tới giờ, lúc mọi người đã về hết, tại sao tôi không chú ý ngay từ đầu thứ âm thanh này... chỉ có tiếng chim tu hú thật não nùng trên ngọn tre già. Tiếng chim ấy là âm thanh đích thực của đời tôi. Nó gợi tôi nhớ khu vườn xanh thủa nhỏ của bà ngoại, mỗi lần trưa trưa lẩn thẩn len lỏi giữa mấy hàng cau hàng chuối, cảm thấy tiếng chim buồn ấy thấm dần cùng nỗi quạnh hiu vào trong từng làn da thớ thịt. Nó vừa là một lời mời gọi. Vừa là một kêu cứu khẩn thiết. Tu hú. Tiếng Hú ở sau chợt vút lên, kéo ngân ra, lảnh lói như nỗi thống khổ cố dằn. Nó chính là cuộc đời heo hắt của me tôi, suốt đời lo âu nhưng rồi suốt đời thất bại. Nó chính là... phải rồi, tôi đã nhớ hết... nó chính là âm thành đã ghi đậm vào trí nhớ cỏ hoang của Phương Thảo.
Trong tâm hồn dày đặc sương mù, nàng chỉ còn nhớ lại có tiếng chuông nhà thờ, tiếng chim tu hú và tiếng rống của con ngựa què.
Nhớ được điều ấy, lòng tôi trở nên rộn rã. Có thể lắm. Bé Xíu của cha Hải có thể là Phường của các dì phước. Bé Phường của dì phước là Phương Thảo của tôi.
Tôi nhìn quanh, cố tìm những xác nhận cho định kiến ban đầu, ru mình trong hy vọng. Lại đây nữa: phía sau lũy tre già, là một cánh đồng trồng toàn bằng bắp và đậu xanh. Ngựa của ông tiên râu tóc bạc phơ đã rong chơi trên đó. Gió cánh đồng này đã từng thổi tạt chòm râu bạc của ông nội Thảo mười mấy năm về trước. Nhưng khoảng đất thổ ấy không chiếm hết diện tích một vùng đồng bằng phì nhiêu chạy dài từ con sông đào đến chân núi xanh. Phía đông khu chợ là một vùng ruộng thấp mới cấy. Những khi mùa về, nắng hạ làm dẻo những cục đất sét vàng màu sáp lũ trẻ quê thường dùng để nắn tu hú. Tôi biết rõ điều ấy lắm. Chúng sẽ dùng một khoanh lạc khoét ruột con chim đất, rồi ghép hai phần trên dưới của chim lại. Chúng sẽ dùng một thanh tre mỏng xoi lỗ dẹp đằng đuôi, một lỗ vuông dưới bụng. Những bàn tay nhà nghề chỉ cần làm một lần. Tu hú được nung chín hay phơi khô, rồi quét một lớp vôi màu hay vôi trắng bên ngoài. Tiếng tu hú đất nghe não nùng chẳng kém tiếng tu hú trên ngọn cây, và đôi khi nghe tiếng xướng âm nhân tạo, lũ chim buồn trên cao cùng nhau phụ họa, thành một hợp khúc sầu.
Chắc tôi đã tìm được đúng mạch. Trong mớ hỗn mang tôi đã trải qua, từ trí nhớ mù mờ của me tôi, tủ hồ sơ đầy những phiếu lý lịch rắc rối mơ hồ của dì Christine, cho đến những tia nắng yếu sự thật chen lẫn giữa vô vàn khói mây ảo tưởng của cha Hải, thật khó mà tìm cho ra con đường chính xác. Tất cả đều mờ mờ ảo ảo, bập bềnh như bọt nước và mông lung như hạnh phúc. Tôi đã cố hết sức mình, mạo hiểm vượt qua lo âu, bất chấp nhiều rất nhiều lời can ngăn. Tôi đã đến được đây, tôi phải bám vào chút hy vọng nào đó để biện minh cho nỗi nhọc nhằn mấy tháng tìm kiếm xuôi ngược. Khung cảnh ở đây phù hợp đôi chút với lời vị linh mục già và những lời mê sảng của Phương Thảo. Nhưng có chắc được gì không? Tôi tiến tới phía bà lão và người đàn ông, lòng còn hồi hộp hơn cả lúc đối diện với cha Hải.
Người đàn ông dừng lại không nói nữa, nhưng không ngửng đầu lên nhìn tôi. Theo dõi hướng nhìn của ông ta, tôi biết hắn đang theo dõi bước chân của tôi đến gần, đến gần. Bà lão chậm chạp ngửng lên, im lặng chờ câu tôi hỏi. Cổ tôi nghẹn lại. Tôi muốn thoái lui, muốn giữ cho mình một chút mơ hồ để làm niềm tin cho cuộc đời dài. Bà lão chờ lâu chưa thấy tôi nói, miệng bắt đầu nhai trầu nhóp nhép. Vẻ thản nhiên thách đố ấy làm cho tôi bực bội.
Sự bực dọc khiến tôi bạo dạn. Tôi nói :
- Xin cho tôi hỏi thăm một chút.
Bấy giờ người đàn ông mới ngửng lên, mặt hơi đỏ vì cố dằn cơn ho sắp kéo đến. Chờ cho ông ta ho xong, tôi mới hỏi tiếp :
- Thưa cụ, cụ ở đây đã lâu chưa?
Bà lão nhìn tôi trừng trừng, môi run run, nửa muốn trả lời nửa muốn không. Bà đưa mắt hỏi ý kiến người đàn ông, nhưng khi thấy hắn định với tay nắm cổ chai rượu đế, liền vôi vàng chụp lấy chai rượu kéo vào lòng mình. Bà lão gắt :
- Đi chỗ khác. Không lo quét chợ cho xong, ngồi đó càm ràm cả buổi. Cái đồ mắc dịch.
Người đàn ông lấy tay gãi gãi sau ót bối rối, rồi tiếp tục gãi mạnh lên mái tóc bù xù bẩn thỉu. Bà lão ngửng lên trả lời tôi :
- Ở đây lâu rồi. Mà sao?
- Thưa cụ, cháu muốn tìm tông tích một bé mồ côi. Cách đây trên mười lăm năm, ông linh mục xứ Xuân Hòa đi ngang qua đây, có gặp một bé gái mồ côi. Cha xứ thấy em bé đứng khóc một mình bên khu chợ này, có đem về nuôi. Bây giờ em ấy đã lớn. Chúng tôi muốn tìm cha mẹ em ấy để thăm nom. Cụ có biết...
Bà lão không chờ tôi nói hết, gạt phắt :
- Không biết. Không biết. Tui mới tới ở đây năm ngoái.
Người đàn ông vừa ho vừa cười, chỉ vào mặt bà lão :
- Coi kìa, đừng thấy người ta lạ mà nói láo. Bà ở đây từ nhỏ tới giờ mà nói thế à. Bây giờ mới rõ ai thiệt ai láo. Tôi đã nói mấy lần trước kẹt quá mới sai hẹn. Lần này nếu trả trễ, tôi làm con bà.
Bà lão tìm được cơ hội cho qua điều dối trá của mình, bắt nhanh qua chuyện người quét chợ :
- Làm mẹ mày thì được gì? Kiếm được đồng nào, mày ăn cắp uống rượu cho hết. Tao đã thề không để cho mày khua môi khua mép nữa. Đừng dài lời mất công.
Tôi cố chen vào câu chuyện :
- Thưa cụ, chuyện này đối với cụ không can hệ gì, nhưng đối với cháu quan trọng lắm. Thưa cụ, em bé mồ côi ấy hiện giờ đang ở nhà tôi và đang đau nặng. Em ấy muốn gặp mặt ba má lần cuối cùng trước khi nhắm mắt.
Tôi bi thảm hóa căn bệnh của Phương Thảo để bà lão xúc động. Không ngờ chính tôi lại vương bẫy. Nghĩ đến lúc Phương Thảo mê dần mê dần, chỉ còn là một cái xác vô tri, lòng tôi rúng động. Đang nói nửa chừng, tôi nghẹn lời. Nước mắt chảy thành dòng trên má. Tôi phải nuốt nước bọt hai ba lần, xúc động mới lắng xuống. Bà lão vẫn thản nhiên :
- Ông đừng nghe lời thằng quỉ sứ này. Tui mới đến đây, có biết gì đâu.
Thấy giọng từ chối cương quyết quá, tôi đành chịu thua. Cầu may, tôi quay sang hỏi người quét chợ :
- Chắc bác ở đây lâu mới biết rõ bà cụ ở đây từ nhỏ. Xin bác giúp đỡ cho. Tôi cần tìm cha mẹ họ hàng em bé ấy lắm. Tôi đã đi dò hỏi khắp mọi nơi. Tôi đã tìm đến các dì phước cô nhi viện Xuân Phương. Các dì tra lý lịch, chỉ tôi đến cha xứ Xuân Hòa. Cha xứ lại bảo rằng ngày trước cha gặp em bé ở bến chợ này. Đến đây hỏi chắc có người biết. Chính cha xứ bảo ngày trước ngài tìm khắp chợ hỏi thăm cha mẹ em bé ấy, nhưng không tìm ra ai. Cha chỉ gặp một người lính chỗ trạm canh...
Lão quét chợ ngửng phắt lên, đôi mắt đầy kinh ngạc hốt hoảng. Đôi môi thâm của lão mở há hốc, để lộ mấy cái răng cửa cáu bẩn. Tôi mừng rỡ, biết chắc con người này có liên hệ xa gần đến cuộc đời bé Xíu, hay cuộc đời Phương Thảo. Không hiểu sao tôi tin chắc chắn rằng Phương Thảo là bé Phường là bé Xíu. Tôi nhắc lần nữa để kiểm chứng :
- Phải. Cha xứ gặp một người lính đang lau súng. Người lính thú nhận...
Lão quét chợ la lớn, ra chiều giận dữ :
- Thôi. Đừng lãi nhãi nữa. Không biết gì hết. Ai nhớ chi chuyện mười mấy năm trước. Đi hỏi chỗ khác đi. Ở đây không ai biết đâu.
Tôi không chịu thua, cố nói thật chậm thật rõ :
- Bác ở đây lâu, chắc biết người lính. Ông ta đang lau súng, và khi nghe cha xứ hỏi đã bảo rằng...
Người quét chợ lắc đầu quầy quậy :
- Không, không. Đi hỏi mấy người trong kia kìa. Tôi mới đến ở đây, như bà hàng này thôi. Đi hỏi mấy cái nhà trong kia, chắc họ biết. Tôi không biết gì hết.
Rồi để tỏ thái độ dứt khoát, người đàn ông quấn cái khăn lông bẩn lại quanh cổ, nằn nì với bà lão :
- Bà cứ tin tôi đi. Mai tôi trả liền. Cho tôi uống chịu một xị thôi mà. Mấy lần trước, tôi sòng phẳng nợ bà có bao nhiêu. Thế nào mai tôi cũng trả.
Giọng nói người quét chợ lạnh lẽo, thiếu hẳn sự tha thiết, nhiệt tâm. Tôi biết lão chỉ nói cho có nói, nói cho tôi hiểu rằng lão không muốn nói bất cứ điều gì với tôi nữa hết. Bực bội, tôi quày quã ra đường.
Sao vậy? Cớ gì mọi người đều có vẻ sợ hãi liên lụy với tôi, đến Phương Thảo. Mười mấy năm trước, họ đã tỏ sự lạnh nhạt đố kỵ ấy với cha xứ. Bây giờ, họ đã tỏ chừng ấy thái độ với tôi tuy họ đã già đã bệnh, mái tóc trắng thêm và đôi mắt hom hem vì cố nheo lại nhìn ngày tháng trước mặt. Bước chân tôi nặng nề, bùn bay lên phủ nâu cả mũi giày. Tôi nhớ đến bước chân của cha Hải ngày trước. Người xà ích đợi cha chỗ kia. Có lẽ ngay nơi bến sông. Có lẽ ngay dưới gốc cây đa cỗi. Hay có lẽ tận chỗ con đường chạy quành sang hướng bắc để leo qua cây cầu gỗ. Bước chân cha ngập ngừng. Cha quay vào hỏi người chủ nhà gần chợ, hy vọng biết được lý lịch em bé lạc.
Tại sao mình không gõ cửa những căn nhà này, hỏi thăm chủ nhà về bé Xíu, về Phường về Phương Thảo. Ý tưởng đó khiến tôi dừng lại, đi dọc theo mé đường đến mấy căn nhà phía dưới chợ. Từ xa, lão quét chợ và bà hàng chăm chú theo dõi bước chân tôi, không chút e ngại.
Căn nhà đầu tiên không ai mở cửa tuy có tiếng trẻ khóc sau bếp.
Căn nhà thứ hai giữ im lìm. Căn nhà thứ ba cũng vậy. Tôi kiên nhẫn đập phên cửa trước, đứng đợi. Lão quét chợ vẫn nhìn tôi lom lom. May quá, bên trong có tiếng chân người. Tiếng chân nhè nhẹ tiến lên trước. Người ta đang cố đẩy tấm cửa ra ngoài để giở cái then lên. Cửa mở. Một cậu bé khoảng chín tuổi nheo mắt nhìn tôi. Thảo nào cậu mở cửa một cách khó khăn nặng nhọc quá. Tôi hỏi :
- Cha đâu hở em?
Đứa bé đáp nhanh :
- Cha em chết rồi.
- Thế mẹ đâu?
Thằng bé quay vào trong gọi lớn :
- Mẹ ơi, có ai hỏi.
Tôi nghe thấy tiếng ồm ồm của đàn ông phía sau nhà, chen lẫn tiếng đàn bà gắt gỏng. Một lúc lâu, một người đàn bà từ bếp đi lên, tay đang vấn lại cuốn tóc rối. Tôi nói, quên cả nỗi sợ hãi vừa thấy :
- Cho tôi hỏi thăm. Mười mấy năm trước, có một bé gái bị bỏ chỗ chợ trên kia được cha xứ Xuân Hòa mang về nuôi. Tôi muốn...
Người đàn bà tò mò hỏi lại :
- Chú muốn tìm một đứa con gái lạc hay sao?
- Không, không. Không phải lạc. Hình như ngày trước, người ta bỏ mặc kệ nó, cho nó sống lây lất chỗ chợ này. Về sau cha xứ gửi nó vào cô nhi viện. Bây giờ nó đã lớn. Tôi muốn tìm cha mẹ hay bà con đứa bé...
Tôi phải dừng lại, phải thú nhận là vì sợ hãi. Một người đàn ông trạc bốn mươi bước ra nhà trước. Ông ta gạt tay cho vợ con đứng tránh sang một bên, đến trước mặt tôi, dằn từng tiếng chắc nịch :
- Ở đây không biết gì hết. Ông hỏi vô ích. Không nghe gì hết. Không thấy gì hết nên không biết gì hết. Làm ơn ra khỏi nhà cho tôi đóng cửa.
Cánh cửa phên đập mạnh sau lưng tôi.
Quá tức giận, tôi đưa tay đấm mạnh vào khoảng không, càu nhàu chửi thầm rồi bỏ đi. Sau lưng, tôi ngờ ngợ cảm thấy ánh nhìn của nhiều người vẫn không rời tôi.
* * * * *
Tôi thất thểu trở về con đường đất cũ.
Thế là hết. Hết tất cả rồi. Mọi cánh cửa đều khép kín. Những vành môi mím lại. Những khuôn mặt trơ như tượng đá vô tri. Không còn cách nào tìm được dấu vết tuổi thơ của Phương Thảo. Tôi chỉ được có mỗi một điều nhỏ nhoi: có lẽ Phương Thảo là bé Phường, là bé Xíu. Thế thôi.
Tôi xông pha nguy hiểm để chỉ thu được kết quả nhỏ nhoi ấy. Bây giờ, nhớ lại các khuôn mặt lạnh và dáng dấp lấm lét hớt hải của mọi người, tôi đâm sợ. Mặt trời đã xuống thấp. Những lũy tre tiếp nối che mất ánh sáng trên đường lồi lõm. Tôi bị vấp ngã nhiều lần. Cảnh vật, làng xóm quạnh hiu lặng lẽ một cách lạ lùng. Tôi nghe rõ cả bước chân tôi, và lo rằng đã có những kẻ núp sẵn đâu đó chờ mình: sau khóm tre còi, dưới lùm cỏ dại, bên kia bờ sông đào, cũng nghe rõ tiếng chân bước ấy.
Tôi hồi hộp, vừa đi vừa chạy, chốc chốc lại quay về phía sau. Không có ai cả. Tôi yên tâm hơn. Phía trước là một ngõ tối. Một khúc đường quanh giữa hai hàng tre rậm. Có ai chờ tôi đàng ấy không? Tôi bước chậm và nhẹ, cuối cùng dừng lại nghe ngóng. Chỉ có tôi thở và tiếng tim tôi đập. Không còn chần chờ gì nữa, tôi chạy qua khúc quanh. Trước mặt tôi, lại một lối đi tối tăm khác...
Tôi trải qua một đoạn đường uốn lượn ghê rợn như thế, trong không khí căng thẳng đến nghẹt thở.
Nhưng rồi lâu dần phải quen. Tôi chì lại.Vời lại càng ngày tôi càng xa cái xóm chợ bí mật nọ. Chính lúc bắt đầu bình tĩnh trở lại ấy, tôi nghe có tiếng chân người đuổi sau lưng mình.
Sợ hãi làm chân lính quýnh, tôi không có cách nào chạy nhanh như trước được. Tôi khổn khổ, và xấu hổ vì nhát gan. Đến gần một bụi rậm, tôi nép mình bên đường chờ. Nếu cùng lắm, tôi sẽ vật lộn với tên địch, để dùng vài thế nhu đạo học lóm được ở một thằng bạn trong đại học xá để quyết sống mái với kẻ theo đuổi. Tiếng chân người gần hơn. Đằng nào cũng phải ra tay trước. Tôi sẽ ngồi sụp xuống đây, chờ xuất kỳ bất ý nhảy chồm ra ôm cổ tên địch, siết chặt lấy họng hắn. Dù hắn có vùng vẫy đấm đá thế nào, nhất định đừng buông tay ra. Hắn sẽ nghẹt thở, thân thể mềm nhũn, mềm nhũn dần.
Tôi ngồi nép sát bên bụi cây tối, hai bàn tay giơ tới trước ở thế sẵn sàng, để dọa tên địch thì ít mà để tự trấn tĩnh thì nhiều. Lúc người đuổi theo đến thật gần, tôi mới yên tâm. Tôi núp vụng về quá. Hắn thấy tôi trước, chậm chân bước tới, nụ cười tuy héo hắt nhưng đầy thiện cảm vồn vã.
Hắn, lão quét chợ.
Mái tóc lão bù xù thêm, che mắt cái trán gồ. Người quét chợ chạy một khoảng đường dài, mệt quá, không nói được ngay. Ông ta ho rũ rượi một lúc, lấy cái khăn bẩn lau miệng và chùi nước miếng nước mũi.Thấy không có gì nguy hiểm, tôi hỏi :
- Cái gì đó?
Người quét chợ đã dằn được cơn ho, mắt lấm lét nhìn trước nhìn sau như chưa yên lòng. Lão kéo tôi ra sau bụi đứa cao, thì thào :
- Tôi có đề nghị này, ông chịu không?
Tôi hỏi, hơi ngạc nhiên và tò mò :
- Đề nghị cái gì?
Lão nói nhanh :
- Chuyện ông hỏi.
Tim tôi đập mạnh, lưỡi líu lại nói năng khó khăn :
- Thiệt không? Nói cho tôi biết đi. Thiệt không?
Lão ta láu lỉnh nhận ngay được thế mạnh của mình, chậm chạp nói :
- Thiệt chớ. Chuyện đó xảy ra trước ngày đình chiến hơn một tháng. Đúng không?
Tôi quên hết giữ gìn :
- Đúng lắm. Nói nữa đi. Bác muốn thứ gì tôi cũng chịu. Hãy nói đi. Con bé con cái nhà ai mà bỏ sống lơ láo ngoài chợ, cha xứ hỏi, không ai thèm trả lời. Tại sao vậy? Tại sao vậy? Làm sao nó sống?
- Người ta sợ không dám nuôi. Nhưng thấy nó đói thì tội nghiệp, lén cho ăn. Tối nó ngủ ở góc lều.
Tôi hỏi nhanh, tìm giải đáp cho thắc mắc lớn lao nhất :
- Nhưng sợ cái gì? Ai cũng có vẻ sợ sệt cả. Sợ cái gì mới được chứ?
Giọng người quét chợ trầm ngâm, bí hiểm :
- Thời buổi này... biết đâu mà lường. Dây dưa vào đâu cũng nguy hiểm cả. Thà không nghe không thấy không biết, thà đui điếc câm cho yên thân. Cái gương gia đình đó còn rành rành, trong xóm ai mà quên được.
- Gia đình nào?
- Gia đình con nhỏ. Nó còn sống là may. Họ đã kề họng súng vào màng tang con nhỏ. Tôi la lên, bảo con mẹ nó chết đủ. Đừng có giỡn ác nhơn. May tụi nó nghe xuôi tai, nên thôi. Có đứa còn bảo: nhổ cỏ phải nhổ tận gốc. Tôi nói: xì, con gái ăn nhằm gì. Nhưng phải bắn thêm vài phát chỉ thiên, con nhỏ mới sợ, không dám lẩn quẩn ôm xác của mẹ nữa.
Tôi cảm thấy lạnh ở gáy và xương sống. Máu nóng dồn cả lên thái dương. Trước mặt tôi đây là kẻ a tòng trong một tội ác tày trời hay một nhà từ thiện?
Tôi phải hỏi cho ra :
-Ai giết mẹ con bé?
Lão quét chợ cười khẩy :
- Ai giết? Chắc trời giết trước rồi tụi nó giết sau. Mới dẫn đến, con mẽ ngã ra chết siếng. Tiếng thét còn chát hơn cả tiếng tu hú. Tụi nó cười, rưới nước lạnh cho mẹ con bé tỉnh dậy. Vừa mở mắt, bà đã chồm đến ôm riết cây cọc, chân tay chèo queo như người leo cau. Tụi tôi cười rộ, thằng Tương la: Con mẽ muốn leo hái dừa bay ơi. Bả như người điên, ôm cây cọc oằn oại mãi mà không khóc được tiếng nào. Cây cọc chôn hơi cạn nên lay qua lay lại. May mà trái dừa chưa rơi xuống...
Tôi ngăn lại tò mò hỏi :
- Chơi cái trò gì lạ vậy? Treo dừa lên đầu cọc làm gì?
Lão quét chợ khựng lại ngơ ngác, ông ta chưa hiểu câu tôi hỏi. Nhưng chỉ vài giây sau, ông ta hiểu rõ. Lão cười lớn, đưa tay lên gõ vào đầu mình :
- Dừa gì? Cái dừa này này.
Tôi chưa hiểu, hỏi lại :
- Cái đầu à?
- Chớ sao. Cái đầu lâu, hiểu chưa? Tụi nó cắt cái đầu thằng chồng cắm vào cọc bêu giữa chợ, rồi dắt con vợ ra nhìn. Hiểu chưa?
Tôi không tin tai mình. Ánh mắt lão quét chợ long lanh một thứ hí hửng của loài dã thú sắp vồ mồi. Lão nhắc đi nhắc lại hai chữ Hiểu Chưa nhiều lần, rồi đưa sống bàn tay xếp cứa cứa vào cổ mình để diễn tả bằng hình ảnh. Nếu bây giờ có súng, tôi đã bắn mù hai con mắt đầy ắp niềm khoái lạc hung bạo của lão. Nhưng tôi đã không mang theo thứ gì khác, ngoài niềm hy vọng. Tôi cố trấn tĩnh mình, chậm rãi hỏi :
- Tại sao họ giết cả cha lẫn mẹ con bé?
Lão quét chợ hơi giật mình khi nghe giọng hỏi giận dữ của tôi. Lão hơi lùi lại phía sau, đưa tay ra trước huơ huơ để tìm cách giải thích :
- Tại sao? Tại sao ư? Rõ quá mà. Hai bên đánh nhau. Bên này giết bên kia, bên kia giết bên này. Tụi nó nghe lệnh Tây đến chợ đóng đồn. Cha con nhỏ chỉ huy bên đó, nhiều lần phá đồn. Thấy không, rõ như ban ngày rồi còn gì. Bên này giết bên kia, bên kia giết bên này. Con sông đào thời ấy ngày nào không có xác chết trôi tấp lên bến.
Lão có vẻ tự mãn với thứ triết lý đơn giản đó, cười hăng hắc thỏa mãn. Nếu cơn ho không kéo đến đúng lúc, lão còn cười nữa. tôi đã hiểu đại khái câu chuyện, nhưng muốn cho chắc hơn, hỏi lão quét chợ :
- Cha con nhỏ đi kháng chiến phải không?
- Phải. Đi theo bên kia sông từ lâu. Từ hồi con nhỏ mới sinh được mấy tháng. Vì chuyện đó mà ông già ở nhà bị hành lên hành xuống. Tây nó bắt xuống phố tra tấn còn có một nắm xương. Ngồi trên ngựa gió thổi muốn bay. Đâu có mạnh mẽ phương phi như trước.
Câu cuối cùng của lão quét chợ đến với tai tôi như một khám phá kỳ lạ. Tôi nhớ đến lời nói mê của Phương Thảo, đến những ông tiên đầu tóc bạc phơ cưỡi ngựa thả dong trong cánh đồng. Tôi tò mò muốn hỏi đến ngọn ngành :
- Gia đình con bé thế nào? Giàu nghèo? Nghề ngỗng ra sao?
Giọng lão quét chợ bực bội :
- Gia đình đó giàu tới phát ghét. Ông già nuôi ngựa bán cho người ta kéo xe. Tiền rừng bạc biển mà. Mỗi lần lão đi đâu, tiền hô hậu ủng rầm rầm rộ rộ. Chiều chiều cưỡi con ngựa hởi băng đồng lên núi, nhàn nhã quá mà. Nhưng lên như diều thì phải có lúc đứt dây. Từ lúc thằng con bỏ qua bên kia sông, gia đình lão xuống thấy rõ. Tụi trong đồn lấy mấy con ngựa giống của lão làm bia bắn thi. Thôi thì cả xóm ăn thịt ngựa đến phát ớn. Cha con nhỏ bắn tiếng dọa về, tụi nó nghe cũng hơi run. Nhưng đã có lão già làm con tin, lo gì.
- Nhưng làm thế nào bắt được cha con bé?
Mắt người quét chợ sáng lên hãnh diện :
- Dễ gì bắt được thằng chả. Cha con nhỏ đi đi về về như ma. Biết nó về thăm vợ hoài, rình mò luôn, cũng đành chịu. May mà cuối cùng nhờ nó khinh địch tụi nó mới tóm được. Tụi trong đồn thua trí thằng chả, thua nhiều phen nhưng cuối cùng thắng được keo chót. Biết tại sao không?
Tôi cố dằn tò mò để trả thù vẻ kiêu hãnh vô lối của lão quét chợ. Chờ lâu không thấy tôi hỏi, lão trở lại giọng bình thường :
- Hồi đó có tin sắp đình chiến rồi. Hai bên đã bớt đánh nhau. Nhiều lúc cả bên kia cũng tránh không gặp bên này, hay ngược lại. Tụi trong đồn yên lòng, bắt đầu có thể la cà ngoài chợ, vác súng đi bắn chim hay xuống tắm dưới bến sông. Bọn bên kia cũng vậy. Cha con nhỏ lại về thăm nhà, lần này đi ngựa qua cầu hẳn hoi. Tuy thằng chả chờ khuya mới về, nhưng tụi nó cũng biết. Ba bốn đứa bàn tính với nhau, phục kích ngoài bờ tre. Nó vào nhà, có lẽ để từ biệt trước hay báo tin cho vợ con. Mẹ con nhỏ khóc cả đêm, tụi tôi nghe cũng hơi cảm động. Gần sáng, thằng chả trở ra. Thấy nó thót lên ngựa, cả bọn nổi cơn lên. Một đứa chặt quị chân ngựa, Ba đứa áp lại trói gô cha con nhỏ lại. Chưa đầy mười lăm phút, mọi sự xong xuôi hết. Tảng sáng,, thiên hạ đi chợ đã thấy cây cọc cắm sẵn ở giữa hai căn lều rồi. Đàn bà con nít hoảng hốt bỏ chạy. Đã thế, thằng Tương lại bày trò.
Tôi nhìn thẳng vào mặt lão quét chợ, hỏi gằn :
- Thằng Tương là thằng nào?
- Thằng trưởng đồn. Nó thấm nước lên tóc cha con nhỏ chải rẽ cẩn thận. Nó lấy hai cây tăm chống mi mắt cho mở ra. Nó còn cạy răng cho cái miệng ngậm điếu thuốc. Lạ thiệt, điếu thuốc cứ cháy mãi không tắt. Chắc nhờ gió. Cười một bữa quên ăn...
Tôi đưa tay ra nắm lấy tay lão quét chợ, giả vờ ân cần hỏi :
- Cảm ơn bác nhiều nghe. Khi nãy bác nói bác đề nghị. Chắc bác muốn kể cho tôi nghe tông tích con bé để... để...
Lão gãi tai, và rút tay về, giọng nói nhỏ mềm hẳn lại :
- Dạ, dạ... thú thiệt với ông tôi đang lên cơn ghiền. Cái con ma men đó mà. Tôi kể cho ông nghe để đổi lấy xị rượu. Con mẹ già lúc nãy, ông thấy không, khó chịu quá mức.
Tôi hỏi cộc lốc :
- Bao nhiêu?
- Dạ bao nhiêu cũng được.
Tôi rút trong bóp ra đưa cho lão hai trăm. Lão mừng rối rít, định quay trở lại đường cũ, nhưng tôi nắm chặt lấy tay áo lão. Lão hơi lấy làm lạ, tay đút nhanh tiền vào gấu quần. Tôi hỏi :
- Cho tôi hỏi câu chót. Lúc nãy kể chuyện, khi thì bác nói Tụi Nó, khi thì bác nói Tụi Tôi. Tụi Nó bàn tính chuyện phục kích, nhưng Tụi Tôi nghe con mẽ khóc cũng hơi cảm động. Tụi Nó vác cọc cắm giữa chợ, còn Tụi Tôi cười một bữa quên ăn. Vậy hồi đó bác làm gì?
Lão ú ớ không tìm ra câu trả lời. Tôi không lầm lẫn chút nào. Chính lão là một trong những người chủ xướng cái trò chơi hái dừa năm ấy.
Chính lão vừa bị ma men thúc giục, bán rẻ một kỷ niệm mà lão cố giấu cố quên trong hơn mười lăm năm.
Cơn giận bốc lên. Mắt tôi, đầu tôi bừng bừng lửa căm hờn. Tôi đấm đá như điên như cuồng vào thân người lão. Lão gập người xuống, miệng không ngớt rên rỉ.
Lúc lão nằm im một đống bên bụi dứa, tôi nư giận, vội vã chạy lên phía quốc lộ. Chính lúc đó, trời cũng bắt đầu sụp tối, u ám giăng giăng.
0
Chương cuối


Me tôi đi từ trưa tới giờ chưa về.
Tôi để mặc cho bà làm gì thì làm, vì không còn cách nào khác. Tôi đã chẳng làm được tích sự gì, nên phải để cho me tôi cầu viện đến các đấng thần linh. Me tôi đã cầu khẩn van vái hết nhà thờ đến nhà chùa. Và mặc cho me tôi khóc nức nở khi lâm râm cầu khẩn, Phương Thảo vẫn vậy.
Hai hôm nay, me tôi nghe lời người ta đồn đãi, tìm lên miếu Ông. Me tôi theo đuổi một chút hy vọng nhỏ nhoi, một chút ánh sáng le lói cho tuổi già quá nhiều bóng tối của bà. Tôi biết vậy. Đó cũng là một nhu cầu cần thiết cho cuộc đời. Cho nên tôi sẵn sàng ở nhà coi sóc Phương Thảo cho me tôi yên lòng đi tìm một lẽ sống.
Trời bắt đầu tối. Tôi dìu Phương Thảo xuống nằm ở ghế dài kê cạnh cửa bếp cho Phương Thảo trông ra khu vườn chuối đã bắt đầu ngả màu tối. Nàng để mặc cho tôi dẫn đi, vai kê tin cậy vào vòng tay tôi. Ðến gần ghế, như một cái máy, Phương Thảo ngồi xuống, ngã lưng lên tựa trên hai cái gối lớn và duỗi chân dài ra, như mọi lần. Nàng không quay lại nhìn tôi, chỉ hướng mắt đăm đăm về phía có mấy tàu lá thẫm phất phơ. Tiếng lá xì xào như gợi được sự tò mò của Phương Thảo vì khi gió mạnh, tiếng xao xác to hơn, tôi thấy đôi mắt nàng khẽ chớp.
Tôi để mặc Phương Thảo ngồi yên ở đỏ, lại phía bếp nấu sẵn cơm giùm cho me tôi. Hôm qua trời mưa tạt vào mái hiên, nên củi khô bị thấm nước. Tôi nhen mãi lửa vẫn chưa bắt lên mấy thanh củi ấm. Khói bay mù mịt, tro vươn vãi tứ tung lên mặt, tóc, và cổ tôi. Nhìn quanh để tìm giấy nhen lửa, tôi không thấy được mảnh giấy loại nào.
Tôi lên bàn học tìm, và đúng lúc đang hối hả ấy, tập luận án còn lại của tôi nằm ngay giữa bàn.
Tôi nhìn cái bìa in đẹp với đôi chút mỉa mai. Tôi nhìn chiều dày của nó, với tất cả thẹn thùng. Tất cả, tất cả, chỉ là những lầm lẫn to lớn, những huênh hoang vô lý. Tại sao tôi lại có thể ngây thơ đến độ cặm cụi tra tìm những chồng sách bám bụi trong thư viện, đem cai khung thuyết này cái mẫu thuyết kia gán ghép cho trường hợp của Phương Thảo.
Chưa chi đã vội hí hửng tuyên bố thế này thế khác. Nào lối loại suy chính xác, để lần đến nguyên nhân căn bệnh. Nào những nghiên cứu công phu với lời rào trước đón sau đặc giọng khiêm nhường lố bịch.
Tôi đã chẳng biết gì cả. Tôi không xứng đáng, vì đã thất bại hoàn toàn. Bực bội, tôi giận cả chính tôi. Phải làm cái gì đó, để tự chứng tỏ sự bất lực của mình. Để sòng phẳng.
Ít ra, tôi phải tự cho tôi biết rằng mình không đáng giá bao nhiêu. Ý nghĩ lóe trong đầu. Không do dự tôi chụp tập luận án đem xuống bếp. Tôi vất hết mớ củi ướt ra, xé mạnh một lượt hai tờ giấy trong luận án để bật diêm đốt. Phần dẫn nhập và đề tặng làm cho nước trong son bắt đầu sủi bọt. Hết phần chẩn bệnh thì nước đã sôi. Phần trị liệu giúp cho cơm cạn. Sau khi chắt hết nước cơm thừa, dùng muỗng trộn đều và đậy nắp lại chờ chín, chỉ còn trên tay phần Tồn Nghi.
Lúc bấy giờ, bên ngoài trời đã tối hẳn. Ngọn lửa trên bếp đã tắt. Chỉ còn lại một vài đóm tro hồng đủ soi lờ mờ hai chữ Tồn Nghi ở đầu trang giấy.
Tồn nghi! Tồn nghi! Tất cả đều nên xếp vào phần tồn nghi, từ kiến thức sách vở của tôi cho đến cả cuộc đời mù sương của Thảo. Sau bao nhiêu năm học hành, và bao nhiêu tháng lặn lội để tìm dấu vết một quá khứ, trước mặt tôi, vẫn chỉ là một vùng mây mù.
Tôi bật diêm thắp sáng ngọn đèn dầu hỏa. Ánh sáng không làm cho Phương Thảo quay lại. Nàng vẫn nhìn thẳng vào bóng đêm, nhìn tận một phương trời xa lạ nào đó chưa từng có trong tầm mắt.
Tôi cũng vậy. Tôi đã tìm xa, thật xa. Nhưng gốc bệnh lại ở quá gần. Ở trong lũy tre già xơ xác từng chứng kiến sự phế hưng mau chóng của hết thế hệ này đến thế hệ khác.
Ở cánh đồng xanh màu cỏ lúa, mà mỗi luống cày mỗi vồng rau đều đã thấm máu vô tội của bao lớp dân nghèo.
Ở những căn nhà tranh cửa đóng im ỉm giống các đôi mắt nhắm lại để khỏi nhìn thấy xót xa, cay đắng.
Gốc bệnh ở thật gần: Ở một ám ảnh khủng khiếp trong thời thơ ấu của Phương Thảo. Chỉ có điều đó là không đáng tồn nghi. Chắc chắn như thế. Tôi muốn kiểm chứng lần chót.
Tôi giả tiếng tu hú, cất giọng rền rĩ trong khi cố quay mặt về hướng đèn cho Phương Thảo khỏi nhìn thấy môi tôi mấp máy.
Quả nhiên, chiếc ghế lay động.
Phương Thảo quay hẳn lại phía tôi, mắt ngơ ngác tìm kiếm. Nhưng tôi đau nhói trong lòng khi thấy trong chút ý thức hiếm hoi ấy, mắt nàng vẫn tràn đầy hoang dại, xa vắng.
Tôi biết mình đã tìm được gốc bệnh. Nhưng đồng thời, tôi cũng biết rằng mình bất lực hoàn toàn. Tôi không có phép trị liệu nào.
Phương Thảo bị ám ảnh, đến độ khủng khiếp, bởi những cây cọc cắm đầu lâu để bêu giữa chợ, bởi đôi mắt trắng dã mở lớn nhờ sáng kiến của người sống, bởi đôi môi tái ngậm hờ điếu thuốc bốc khói....
Tôi tìm đâu ra một thế giới “trong sạch” cho Phương Thảo bây giờ?
Đâu đâu cũng chỉ có những lâu đài dựng bằng những cây cọc cắm đầu lâu, và đâu đâu cũng gặp phải những làn môi thâm nhả khói ảo tưởng cho đôi mắt mơ màng đuổi bắt.
Không còn chỗ nào dành cho em nữa đâu, hỡi Phương Thảo của anh!

HẾT
0
Tiếng chim vườn cũ - Nguyễn Mộng Giác

Đã mang vào thư viện

Cảm ơn casau đã góp sức cho thư viện



📎 thankyou
0