Chương 4
Vui buồn nghề văn - nghề báo
1. Tôi tìm ở đâu đề tài để viết?
Trong hai mươi năm tôi làm báo và viết văn, người ta nói đùa là tôi đã viết 1001 truyện ngắn. Còn tiểu thuyết dài và vừa thì gần cả 100 bộ. Sự thật thì tôi đã xuất bản độ 70 bộ truyện dài và truyện vừa. Truyện đã đăng báo nhưng chưa in thành sách vẫn còn khoảng chục bộ. Truyện nhi đồng viết vì yêu cầu của nhà xuất bản Nhi đồng khoảng vài chục truyện. Còn truyện ngắn cũng vài trăm cái.
Vì vậy người ta mới lấy làm lạ, tôi lấy đề tài từ đâu mà viết được nhiều như vậy? Lấy đề tài ngoài đời mà mắt tôi thấy, tai tôi nghe khi tôi bắt đầu hiểu. Quanh tôi có bao nhiêu chuyện đáng để ý, đáng suy nghĩ và đáng nhớ. Tiếp đó là những chuyến đi xa, đi khắp miền Nam Trung Bộ từ Huế trở vô. Từ khi còn nhỏ tôi đã biết quan sát, cái gì không hiểu đã có cha tôi hướng dẫn, dạy dỗ. Rồi cuộc sống ở các trường học, tiếp xúc với bạn bè. Đã tiếp xúc, lẽ dĩ nhiên là có va chạm, có cách đối phó, có những suy nghĩ gây mầm, thu góp hành trang để đi vào đời sau này.
Xã hội của tuổi trẻ thời học trò có nhiều gay cấn, biến động không ngừng và chính tình cảm con người với con người nảy sinh vào thời kỳ này rất quan trọng. Tình bạn, tình thầy trò, tiếp nối tình yêu thương ở gia đình, tình phụ tử, mẫu tử, huynh đệ đã cho tôi thêm một mớ hành trang để đi vào đời viết văn. Nói như Victor Hugo, con người nào mà trái tim rung động, linh hồn nhạy cảm mới có thể cầm bút viết dễ dàng. Nếu trái tim chúng ta như một khối hình ảnh thì rồi cũng có một lúc những điều tra ta tiếp nhận được sẽ đầy ắp, một lúc nào đó bị rung động sẽ trào ra ở ngọn bút hay cây cọ, tiếng nhạc...
Lúc nhỏ, thấy thân phụ tôi viết bài, làm thơ, tôi thường nghĩ những điều ấy một ngày nào đó tôi có thể làm được không? Làm một nhà văn chắc là thích thú lắm? Nhưng cha tôi viết văn là chỉ để dùng thì giờ nhàn rỗi vào chuyện giải tỏa tâm hồn, chứ thật sự cha tôi chỉ là một công chức ngày hai buổi đi làm ở công sở.
Cha tôi thường nói với tôi: “Đây là một cách giải trí lành mạnh, một cách nuôi dưỡng trí óc, tâm hồn trong sáng, chứ nghề viết văn ở xứ ta ở thời buổi này (vào những năm 1920-1925) không thể nuôi người viết một cách tự do và đầy đủ. Vào thời kỳ lệ thuộc ấy, muốn viết những gì mình cảm nhận, những gì mình muốn nói, không phải là chuyện dễ. Viết văn để kiếm ăn ở thời kỳ ấy đều phải tùy thời, thậm chí phải đánh mất tự do của mình là khác”.
Khi còn đi học, tôi cũng thử viết những truyện ngắn, tập dịch những bài hay của các nhà văn Pháp, và thấy làm việc ấy không mấy khó khăn. Viết lách đối với tôi cũng không đòi hỏi nhiều cố gắng, nhiều công sức. Tôi làm công việc ấy dễ dàng như khi tôi viết những bài luận văn hay Pháp văn để góp cho các giáo sư, mà lần nào tôi cũng nhận được những lời khen hay những điểm lớn.
Những cuộc thi văn chương chung với các trường Pháp như Chasseloup Laubat (bây giờ là Lê Quý Đôn), trường Marie Curie, trường Sư phạm (Ecole Normale), tôi vẫn được giải thưởng cao nhất. Vì vậy đặt bút viết khi mới 16, 17 tuổi, tôi vẫn không dùng giấy nháp, y như lúc tôi cầm bút viết báo sau này. Một thiên phú chăng? Nếu vậy thành thật cảm ơn các đấng sinh thành đã cho tôi cái thiên phú ấy.
Thật ra viết đối với tôi không phải là khó, vì ngay từ nhỏ tôi đã quen viết. Mới chín tuổi tôi phải xa nhà để ra Đà Nẵng học, vì vậy mỗi tuần cha tôi bắt buộc tôi phải viết một bức thư về nhà, không được dưới bốn trang giấy học trò. Mới chín tuổi tôi bới đâu ra để mà viết dài dòng như vậy ngoài những lời hỏi thăm thường lệ? Bây giờ nghĩ lại, tôi nhận thấy đây cũng là một cách cha tôi luyện cho tôi viết văn, mà lúc ấy tôi không nghĩ đến.
Cha tôi cho tôi một cái dàn bài phải viết như thế nào, viết có thứ tự và có những đề tài để viết. Cái nào phải viết trước, cái nào phải viết sau. Và luôn luôn đọc kỹ thư cha tôi để trả lời những câu cha hỏi. Đó cũng là một cách dạy tôi cách viết thư và có chuyện để nói dông dài mới chiếm được bốn trang giấy.
Chẳng hạn cha tôi hỏi về sức khỏe bà ngoại tôi, bà tôi tuần này buôn bán ra sao, có thâu hàng thêm không? Bà tôi có thường đi chùa không, và khi bà tôi đi vắng, ở nhà tôi có coi cửa hàng và bán những thứ lặt vặt cho bà tôi không? Rồi đến chuyện tôi đi học. Bạn bè của tôi có những ai? Tôi có bạn để cùng đến trường không? Trường cách xa nhà không? Tôi đi bộ mỏi chân không? Tôi có tiền ăn quà bánh không? Tôi làm gì những ngày chủ nhật? Có đi chơi xa không? Tôi có gì vui hay buồn phải kể cho cha tôi biết. Rồi đến chuyện học hành trong lớp có theo kịp bạn bè không? Cha tôi còn nhắc có khi nào tôi quên gia phong, thốt lên lời chửi rủa một ai đó không? Thí dụ như một người bạn làm mình bực mình hay một người nghèo cứ luẩn quẩn bên mình để xin tiền... Với bao nhiêu lời dặn, với bao nhiêu câu hỏi, tôi trả lời còn khó hơn làm một bài luận văn. Thư nào tôi quên một câu hỏi là thư sau bị rầy và bị nhắc lại.
Bây giờ ngồi viết lại những trang nhật ký này tôi thấy cách cha tôi huấn luyện viết thư cũng là một cách tập cho tôi viết văn. Mà các bạn biết không? Tôi ở Đà Nẵng với bà tôi cả ba năm, một tháng viết bốn lá thư. Lần lần tôi quen, tôi kể đủ chuyện cho cha tôi nghe.
Sau Đà Nẵng, tôi còn ra Huế học ở trường nữ trung học Đồng Khánh và cũng phải viết thư về nhà. Những thư viết ở ký túc xá thường bị kiểm duyệt, nên tôi không còn viết dài dòng nữa. Có những chuyện bực mình muốn nói mà không dám nói. Nếu có việc gì cần nói riêng, hay than thở chuyện trong trường thì tôi phải viết rồi nhờ bạn ngoại trú bỏ giùm ở bưu điện.
Các bạn thấy đó, mới trên chín tuổi đầu tôi đã quen viết những bức thư về nhà như vậy thì khi ngồi trước bài luận, tôi không còn sợ đầu óc mình khô khan. Và tôi có thể viết hết bốn trang giấy ở các phòng thi sau này một cách dễ dàng mà không sợ bị lạc đề.
Viết đến những dòng này, tôi bỗng dưng thấy thương nhớ cha tôi quá. Một người vừa là thầy, vừa là cha, vừa là bạn. Tôi học ở cha tôi đủ thứ, cả cách trồng hoa, nhất là hoa hồng, săn sóc cây kiểng và ươm cây, chiết nhánh. Tôi học ở cha tôi cái đam mê đọc sách. Nhưng tôi lại không học được cái thú tiêu khiển bằng cây đàn nguyệt, mà em gái kế tôi, em Nhiễu, những lúc tôi đi học xa, ở nhà đã được cha tôi dạy môn âm nhạc ấy. Tôi không có khiếu âm nhạc nhưng em tôi lại không có khiếu văn.
Chính nhờ được luyện viết từ lúc nhỏ, nên khi vào làng báo, tôi không cảm thấy bỡ ngỡ lắm, trái lại còn được tiếp đón một cách niềm nở là khác.
Những câu chuyện từ trường học cũng cho tôi nhiều đề tài để viết. Ví dụ như truyện Gương Vỡ Lại Lành, tôi lấy ngay đề tài ở trường Gia Long nơi tôi học, mà nhân vật chính lại là một chị bạn học năm cuối của trường. Chị đi thi trung học và về kể lại một chuyện khá vui. Chị vào thi vấn đáp môn toán với một giáo sư người Việt còn trẻ và ông này cứ theo nhìn chị hoài và sau cùng hỏi địa chỉ của chị. Chị không cho thì ông ta cười và nói cô giấu làm gì, trong cái thẻ học sinh này, tôi đã thấy địa chỉ của cô mà. (Sự thật thì trong thẻ học sinh làm gì có địa chỉ riêng!).
Vậy mà sau đó ông ta cũng tìm ra được địa chỉ nhà chị ở Mỹ Tho. Ông ta tìm xuống tận nơi, để rồi một cuộc tình thơ mộng đã nung nấu hai tâm hồn trẻ. Họ yêu nhau lại được cha mẹ ưng thuận, nên sau đó mấy tháng một đám cưới đã tổ chức trọng thể vì hai bên cha mẹ đều là chủ đồn điền, mà nhà trai có tiếng là gia đình phúc đức, một điền chủ không bóc lột. Rồi họ lên Sài Gòn mua một căn nhà ở gần chỗ Thạch, chồng chị dạy. Họ sống trong hạnh phúc không gặp ai, không tiếp bạn bè, thỏa thuận cùng nhau. Nhà chỉ có hai cái chén, hai đôi đũa, cái gì cũng hai. Không tiếp cả cha mẹ, chị em.
Một chuyện tình tốt đẹp quá, thơ mộng quá, nhưng cũng lãng mạn quá. Họ sống riêng biệt bên nhau cả mấy tháng trời. Thạch đi dạy thì chị ở nhà lo nấu nướng, thêu may, dọn dẹp và khi Thạch về thì cả hai như đôi chim ríu ra ríu rít, cười đùa không ngớt. Đến nỗi cha mẹ cả hai bên phải than phiền là con cái tệ quá, quên cả cha mẹ. Vậy mà có ai ngờ được chuyện tình ấy lại dang dở vì một trận đau kéo dài của chị, bệnh lao phổi. Rồi cô em gái của chị lên thăm, lấy cớ ở với chị để phục vụ việc nhà, và cũng để học tiếp ở trường nữ Gia Long, xin chuyển từ Mỹ Tho lên.
Ở đời không có chuyện gì là bất ngờ cả. Hoàn cảnh đã làm thay đổi con người. Cô chị thì đau yếu, cô em lại mạnh khỏe, ông chồng thì thiếu người trông nom, thiếu tình thương, nên đã bị cô em lôi kéo vào một chuyện yêu thương tội lỗi.
Câu chuyện kể từ bạn bè đó đã cho tôi đề tài để viết một quyển tiểu thuyết, một chuyện có thật ở xã hội, với những tình cảm éo le, nhưng lại rất thường tình: Gương Vỡ Lại Lành. Sau này tôi đổi tên lại là Còn Vương Tơ Lòng, là vì gương vỡ không lành chỉ hàn tạm, chứ sự thật thì tình chồng vợ của hai người đã từng yêu nhau tha thiết, nay không còn nữa. Thay vào đó họ chỉ còn vương lại một chút tơ lòng. Sau 1975, tôi định viết lại chuyện này hoàn toàn theo sự thật. Vì tôi rất cảm động trước cư xử rất khoan dung, rất ưu ái của bà mẹ chồng đứng giữa hai người yêu của con trai mình. Người dâu đầu bà cưới, chỉ do con trai bà thương. Nhưng sau đó bà thật sự cảm mến cô dâu ấy vì lòng yêu thương chân thành và sâu đậm cùng tánh trung hậu, đàng hoàng của cô. Nhưng cô đau yếu, mang một bệnh ngặt nghèo mà vào thời ấy, cho là khó chữa lành, nguy hiểm, lây lan. Và bà thương cảnh con trai mới có vợ ba năm, chưa có đứa cháu nội nào cho bà bồng ẵm, bây giờ phải phòng không gối chiếc còn phải lo cho vợ ở bệnh viện. Đến khi có cô em vợ xen vào, và đã lén lút yêu thương con trai bà, bà biết nhưng giả vờ như không hay biết. Bà là người rất sành tâm lý. Bà hiểu cô em chỉ ghen với hạnh phúc của cô chị, thấy cô chị được thương, được ở nhà cao cửa rộng, nên cố ý đoạt hạnh phúc của chị. Chứ thật sự không yêu thương Thạch như cô chị.
Rồi cô ta có thai. Thật là một chuyện khó xử, nhưng lại là một tin mừng cho bà. Thạch là con một, bà sắp có cháu trai để nối dõi tông đường. Bà ráng thu xếp việc này cho thật yên. Nhưng trong khi cô chị âm thầm đau khổ, cô em lại khai thác ưu thế của mình một cách quá trớn, nay đòi ẵm con về nhà mẹ, mai đòi ra sống bơ vơ ngoài đời. Thạch thì không biết phải làm sao cho ổn thỏa. Bà mẹ chồng nảy ra cái ý đưa cô dâu lớn qua Pháp chữa trị và để nhà cửa lại cho cô em và cậu con trai.
Một mối tình chân thật, một mối tình có tính toán, một bà mẹ chồng vì quyền lợi của mình, nhưng cũng vì yêu thương cô dâu đức hạnh nên cố dàn xếp. Đây là một cốt truyện rất thường tình trong xã hội.
Cũng từ những câu chuyện hồi đi học, tôi đã viết truyện Bóng Người Xưa, mới vài tuần đầu đã gây được tiếng vang khắp nơi, độc giả nam cũng như nữ theo dõi, bàn tán, có kẻ nóng lòng muốn biết kết cục, đã gửi thư hỏi thăm. Thật là một điều đáng khích lệ. Truyện này tôi viết về một chị bạn cùng học ở trường Đồng Khánh năm 1930-1931. Chị học lớp đệ tứ, trong khi tôi mới vào ký túc xá năm đệ thất. Chị là người Nghệ An hay Quảng Bình gì đó, học rất giỏi. Tuy ở ký túc xá nhưng chị không có bao nhiêu bạn. Lúc nào tôi cũng thấy chị thui thủi có một mình. Giờ ra chơi cũng như những giờ được nghỉ, chị thường thơ thẩn một mình, lúc nào cũng có vẻ suy tư và lo lắng về một chuyện gì đó. Chị lại là người thương bị phòng kế toán gọi hối thúc đóng tiền học. Có lần bị bà giám thị mắng nhiếc, chị buồn và chui vào một xó phòng thể dục, lau nước mắt. Tôi thấy hoàn cảnh chị nên rất thương và tìm cách làm quen với chị. Tên chị ở trường không phải Lệ Hằng như tên tôi đặt trong tiểu thuyết. Bây giờ ngồi viết lại những kỷ niệm cũ, tôi vẫn còn thấy mến phục chị, thương chị vô cùng. Không biết ở một phương trời xa xôi nào đó, chị có còn sống không? Chị lớn hơn tôi khoảng ba, bốn tuổi. Có lần thấy chị đan một cái khăn len màu ngà, rông cỡ 1m2, tôi đến làm quen với chị. Chị thấy tôi lại gần, mỉm cười nhưng không bỏ đi như có lần một vài chị khác đến làm quen. Chị hỏi tôi: “Dân mới về trường phải không? Ở đâu đến vậy? Tên chi?”.
Chị hỏi một hơi dài, làm như hỏi cung không bằng. Tôi vẫn vui vẻ trả lời: “Dân mới về trường nhưng không bị ăn hiếp vì có các chị cùng quê ở đây che chở. Ở Đà Nẵng đến và tên là Bạch Vân”.
Chị gật đầu: “Tên hay đấy!”.
Rồi chị nói: “Mình ra băng đá ngồi đi, ngồi trong hốc này tụi giám thị tưởng đâu mình âm mưu gì”.
Lúc đó tôi chưa hiểu nên hỏi :
- Âm mưu gì?
- Tụi nó nghi mình làm chính trị.
- Làm chánh trị? - Tôi ngạc nhiên hỏi lại. Chị cười và nói :
- Thế là em chưa biết chị. Tụi nó nghi chị vào đây để truyền bá chủ nghĩa cộng sản đó em.
Chị kéo vào tôi ra bàn đá giữa sân, trên đường ra cổng và nhìn về giòng sông Hương đang lờ đờ chảy ở phía trước xa xa.
Tôi hỏi: “Chị đan làm gì cái khăn len quá rộng như vậy? Mà sao em thấy chị đan hoài nó vẫn không dài thêm tấc nào. Em ra đây đến nay là ba tháng rồi!”.
Chị cười xòa :
- Đan cho qua thì giờ. Mình vừa đan vừa suy nghĩ, không ai để ý, chớ ngồi ngây người ra tụi nó lại nghĩ, mình định âm mưu gì.
Rồi chị cười lớn ra vẻ thích chí. Tôi nhìn sững chị và thấy chị có một vẻ đẹp quý phái, nhưng bên trong vẻ đẹp ấy là một nét buồn kín đáo.
Chị bỗng đưa cái khăn đang đan lên và bảo :
- Tụi nó đang theo dõi em đó. Tốt hơn em không nên gặp chị thường, chị dễ gây tai họa cho người khác lắm.
Có lần cũng thấy chị ngồi đan một mình trên ghế đá, tôi đi ngang và nói :
- Chị đan hoài không xong, chị làm như bà Pénolope trong chuyện cổ La Mã, ngày đan đêm tháo.
Chị trợn mắt nhìn tôi, rồi cười xòa :
- Em cũng biết chuyện bà Pénopole sao?
- Em đọc sách thấy nói bà ta là một hoàng hậu thật đẹp, một ông vua nước khác si mê bà, bắt bà về ép phải làm hoàng hậu của ông. Bà hứa để bà dệt xong tấm vải may chiếc áo cưới thì sẽ nhận lời. Thế rồi ngày bà dệt, đêm bà tháo, cứ vậy nên tấm vải còn mãi chỗ cũ không bao giờ xong. Bà chờ đến ngày chồng bà đem quân cứu bà ra khỏi tay vị vua kia.
Chị khen tôi kể chuyện hay và thở dài :
- Chị đâu phải là hoàng hậu, chị là người phải làm một nhiệm vụ...
Có lần cô giáo dẫn học sinh ký túc xá đi dạo chơi ngắm cảnh. Chị và tôi cùng là dân không có bà con ở Huế, ít khi Chủ nhật ra ngoài, đã được đi núi Ngự Bình.
Ra tới đây, cô giám thị vào quán ăn bánh bèo, kéo theo một số học sinh, vì bánh bèo ở chân núi Ngự Bình lúc ấy có tiếng là ngon nhất xứ Huế. Tôi thấy chị Lệ Hằng (tên tôi đặt cho chị trong tiểu thuyết) dẫn hai người bạn leo lên núi Ngự Bình. Họ đi thoăn thoắt, tôi chạy theo mà cũng không bắt kịp.
Núi có những bậc tam cấp được người ta đục sẵn, đi lên không khó lắm. Núi lại không cao, nên không dốc lắm. Tôi lên tới đỉnh, thấy sau một bụi cây rậm rạp, chị Hằng ngồi cùng với ba chị khác và họ trao cho nhau những bó giấy, rồi mỗi chị nhét nó vào quần trong áo dài. Nghe tiếng còi báo hiệu tập hợp ra về, chị Hằng và ba người bạn đợi mấy chị khác lên núi xem cảnh chạy xuống trước, rồi họ mới chia nhau chen vào đám đông đi xuống.
Đêm hôm ấy bên Phủ Doãn (nhà giam tù chính trị) đã qua trường Đồng Khánh và bắt chị Hằng cùng ba cô bạn khác về tội rải truyền đơn dọc đường khi ở Ngự Bình về. Trong ba chị bị bắt, một chị được thả về vì có cha làm quan lớn trong triều. Các bạn kể tôi nghe là chị Hằng đã bị theo dõi từ lâu. Năm học đệ ngũ, chị có bị bắt một lần nhưng không tìm ra bằng chứng nên người ta thả chị ra và có hai người bà con làm công chức đứng ra bảo lãnh chị mới được tiếp tục học lại.
Một chị kể :
- Việc lộ ra là hôm chủ nhật khi lớp nam sinh Quốc Học đi phía sau thì lớp nữ sinh Đồng Khanh đi trước đã chờ đợi tốp nam đi qua. Hai bên trao đổi giấy tờ gì đó mà các giám thị bên Quốc Học đã lục soát bọn đi chơi về và bắt được tài liệu. Vì vậy ở bên Quốc Học đêm qua cũng có một số học sinh bị bắt.
Lúc bấy giờ đang có phong trào truyền bá chống thực dân Pháp, đề cao lòng yêu nước trong học sinh sinh viên, rồi phong trào Nguyễn Thái Học ngoài Bắc, các hoạt động của các cụ Phan Sào Nam, Phan Chu Trinh ở miền Trung. Cả chủ nghĩa cộng sản cũng đang phát triển trong nhân dân. Và tụi Pháp đã ra tay đàn áp tàn bạo. Đây là thời điểm các nhà cách mạng nhắm vào thanh niên ở các trường, các trí thức trong hàng ngũ công chức... để vận động.
Chị Hằng bị kêu án ba, bốn năm tù, mấy chị kia lãnh án vài năm. Và chị Hằng bước vào con đường cách mạng từ đó. Nhờ có vài thế lực nào đó, chị được bảo lãnh ra tù, nhưng không được học lại. Chị gia nhập một tổ chức yêu nước và hoạt động trong bóng tối. Bỗng nhiên sau đó một vài chị bạn trong trường kể tôi nghe là chị sắp kết hôn với một kỹ sư và dọn về ở một vùng quê nào đó...
Chính câu chuyện này đã cho tôi đề tài để viết
Bóng Người Xưa và quyển này đã giúp tôi có những bước đi thật vững chắc vào làng văn lúc bấy giờ. Sách in lần đần bán chạy, người ta lại tái bản, cả hai ba lần sau đó. Và sau 1975, Nhà xuất bản Văn Nghệ TP.HCM cũng đã tái bản
Bóng Người Xưa (năm 1989). Sách in 15.000 quyển đã bán sạch.
Thật ra, tôi đưa nhân vật Lệ Hằng ra, rồi nhân vật Thúy Ái sau đó là để đề cao người phụ nữ trong phòng trào đấu tranh cho đất nước. Một phụ nữ xông pha với tù đày, đấu tranh vất vả, và một phụ nữ sống trong gia đình, dưới bóng mát của tình yêu thương nhưng không quên bổn phận đóng góp phần nào vào công việc đấu tranh giành độc lập cho nước nhà.
Cũng có khi tôi lấy đề tài từ chuyện trong chính gia đình mình, như chuyện Mẹ Chồng Nàng Dâu, truyện Giang San Nhà Chồng, là hai truyện tôi lấy từ cảnh sống, làm dâu của bà chị chồng và của cô em gái tôi. Cả hai phải đối phó thế nào để vượt qua cảnh khó khăn khi làm dâu với một bà mẹ chồng ỷ giàu và thiếu học.
Quyển
Giang San Nhà Chồng được chị em phụ nữ theo dõi trên báo hằng ngày. Và khi in thành sách, bán rất chạy. Chị chồng tôi là người có học, xuất thân từ một gia đình nho giáo. Cha chồng tôi là con nhà nho, một thời làm chính trị không thành, trở về dạy học. Chị chồng tôi đa mưu tốc kế, nhưng tánh tình rộng rãi, thương người, sẵn sàng giúp đỡ những ai nghèo khổ. Trái lại, bà mẹ chồng là một nhà giàu keo kiệt, độc ác, gian xảo. Về làm dâu nhà này, bà chị tôi đã phải khổ sở, thức khuya dậy sớm, ăn đói nhịn khát không thua gì một kẻ ở đợ. Về nhà chồng, chị tôi không được mang guốc, không được mặc áo dài, không được ngồi ăn chung mâm với cha mẹ chồng và các anh, chị em chồng. Khi nhà có cúng giỗ, chị tôi phải thức cả đêm để làm bánh, nấu nướng, rồi khi dọn xong thức ăn lên bàn để thờ để họ cúng lạy và khi bày ra bàn để đãi khách thì bà mẹ chồng ác nghiệt kia lại sai chị chồng tôi đi gánh lúa. Đến khi về nhà thì chả ai nghĩ để phần thức ăn, họ đã ăn sạch sành sanh... Những chuyện như vậy mà chị tôi chịu đựng được để rồi tìm cách đối phó và cảm hóa được bà mẹ chồng phải thay đổi thái độ.
Ôi! Chuyện mẹ chồng nàng dâu ở thời phong kiến không bút mực nào ghi cho hết. Không phải ở Việt Nam mà cả bên Trung Hoa, bên Nhật Bản, như trong truyện của nữ sĩ Quỳnh Dao ở Đài Loan, truyện
Ôsin của nữ sĩ Nhật. Sau quyển
Giang San Nhà Chồng, tôi viết tiếp quyển
Mẹ Chồng Nàng Dâu và cả hai truyện này đều bán chạy.
Tôi còn khai thác nhiều đề tài xã hội, nhờ vào mục
Gỡ Rối Tơ Lòng và
Tâm Tình Cởi Mở mà tôi giữ trên hai báo hằng ngày
Sài Gòn Mới và
Tiếng Vang. Câu chuyện bạn đọc kể thường chỉ vỏn vẹn vài trang giấy, nhưng là chuyện rất thường tình ngoài đời. Hằng ngày nếu chịu khó quan sát, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều nhân vật đem vô tiểu thuyết. Xã hội là một sân khấu với tất cả các vai diễn, độc ác có, hiền hậu có, gian xảo có, trung thực có. Cứ nhìn quanh ta là thấy những người có thể nhập vai, rồi thêm sức tưởng tượng và tài liệu khi ta đọc sách của nhà văn các nước.
Trong khi phụ trách hai mục
Tâm Tình Cởi Mở và
Gỡ Rối Tơ Lòng, tôi gặp biết bao nhiêu cảnh đời éo le, đau đớn khó xử, rứt không ra rời không được, để làm tài liệu đem vào những trang tiểu thuyết hằng ngày, thì một chuyện thình lình đã cho tôi một đề tài thật độc đáo mà từ xưa chưa ai khai thác: Cảnh cha ghẻ con vợ.
Số là một hôm trời nóng nên tôi không viết được bèn nhắc ghế ra sân nhìn trăng, ngắm sao và cũng để tập trung tư tưởng về một bài xã luận phải viết cho tờ
Phụ Nữ Diễn Đàn trong ngày mai. Bỗng đứa con gái út của tôi năm ấy lên mười tuổi, đang học tiểu học, chạy ra nói với tôi là con làm bài xong rồi, mẹ cho con qua nhà con Lan - bạn cùng lớp và ở cùng xóm - chơi nghe mẹ. Chúng tôi ở trong cư xá Chu Mạnh Trinh, lô F. Nó đi một lát dẫn về con bé Lan, rồi hai đứa kéo ghế ngồi bên tôi năn nỉ tôi kể chuyện Trạng Quỳnh. Tôi chưa kịp kể thì nhà tôi lại gọi bé Phương Chi vô nhà đọc báo cho ông nghe. Cón bé phải vâng lời. Thành ra bé Lan chỉ ngồi một mình bên tôi. Bỗng nhiên nó thở dài và nói: “Con buồn lắm bác ơi!”. Tôi ngạc nhiên hỏi :
- Buồn chuyện gì nói bác nghe đi. Bác sẽ khuyên con.
Nó do dự một hồi lâu rồi toan đứng lên bỏ về. Tôi ngạc nhiên hỏi :
- Chuyện gì vậy Lan, bộ chị Hương không đi chơi với con sao?
Nó nói cộc lốc :
- Đi chơi rồi. Ba mẹ chở mấy anh chị đi xem hát bóng cả rồi.
- Thế tại sao con không đi?
- Ai cho mà đi! Bác ơi, toàn là chuyện bất công thôi! Không một lần nào con được đi chơi cả. Xem hát hay đi Thủ Đức gì cũng phải ở nhà.
Tôi chưa kịp nói gì thì con bé nói :
- Bác cho con về. Mẹ cấm không cho con qua nhà hàng xóm, mẹ sợ con đem chuyện nhà nói với người ta.
Tôi khuyên nó đừng nên nghĩ vậy về người mẹ của mình, con cái không nên phê phán việc làm của cha mẹ vì các con còn nhỏ quá, chưa hiểu gì đâu.
Nó nhất định không để tôi nói :
- Thưa bác, trường hợp của con là khác, con không biết có nên kể cho bác nghe không? Và liệu bác có tin con không? Con đọc báo thấy nhiều người lớn, cả đàn ông, đàn bà, các cô gái khi có chuyện gì khó xử thường viết thư hỏi bác. Bác vui vẻ trả lời họ. Thế còn con, con có được phép kể cho bác nghe không? Chuyện của con là chuyện thật, không phải bịa đặt đâu. Con còn nhỏ làm sao bịa đặt được một chuyện quá lớn như vậy.
Tôi không ngờ con bé lại ăn nói khôn ngoan quá. Tôi nghĩ chuyện hàng xóm, mình không nên biết, sợ bà Tuyết, mẹ con bé, hiểu lầm. Tôi còn đang suy nghĩ thì bé Lan đứng lên :
- Bác sợ mẹ con hiểu lầm là bác tò mò tìm hiểu chuyện gia đình con phải không? Nhưng con cứ nói: Con không phải là em chị Hương và mấy chị khác. Con là con của chị Mai, chị lớn và là con riêng của mẹ con. Chị ấy bây giờ đang ở trong tu viện. Người con đang gọi là mẹ thật ra là bà ngoại của con.
Con bé nói xong ôm đầu chạy. Nhưng bỗng nhiên nó hốt hoảng quay lại và nói với tôi :
- Bác ơi! Bác đừng có viết chuyện này lên báo nghe bác. Bà ấy mà biết được thì bà ấy đánh con chết.
Tôi thật bàng hoàng và thấy câu chuyện cũng khá hấp dẫn, nên nằm suy nghĩ mãi. Quả là một đề tài xã hội khá hấp dẫn, nhưng khai thác ngay thì tôi chưa thể làm được. Nhà bé Lan cùng cư xá với tôi, ngày nào bà má của Hương cũng đi ngang qua nhà tôi để ra đường đón xe đến công sở.
Nhưng rồi tôi cũng tìm hiểu được câu chuyện, không phải do bé Lan kể mà là do bé Hương, cô chị cùng tuổi với nó.
Thì ra, bà Tuyết vốn xuất thân một gia đình vọng tộc, khi học xong ở trường Đồng Khánh thì kết hôn với một tham tá dòng hoàng tộc. Cuộc hôn nhân này có kết quả là một đứa con gái nhưng sau đó ông tham tá qua đời vì một cơn bạo bệnh. Gia đình bên nội rất quí em bé vì nó đẹp kỳ lạ và khôn ngoan trước tuổi. Vì vậy bằng mọi cách gia đình bên nội cố giữ cô dâu ở chung được ngày nào hay ngày nấy, hy vọng khi cô ta có muốn tái giá thì bắt đứa cháu nội.
Nhưng chỉ hai năm sau, vừa mãn tang chồng, mẹ của bé Lan liền xin phép cha mẹ chồng để lập gia đình, làm lại cuộc đời với một người bạn trai ngày xưa đã có lần xin cưới Tuyết nhưng gia đình Tuyết không chấp nhận vì lẽ gia thế không bằng cha của Mai. Bên nội muốn bắt đứa cháu nhưng mẹ Mai không chịu nhượng bộ, viện lẽ con bé mồ côi cha nay sống xa mẹ thì tội nghiệp. Lại nữa, nó là hình ảnh của một cuộc tình mà bà ta suốt đời không thể nào quên. Thấy con bé là thấy mối tình đẹp của bà, là tình yêu lý tưởng của bà. Bà còn nói lẽ ra bà không nên đi thêm bước thứ hai, bà không muốn mất cái gia đình này và cũng không muốn đứa con của mình phải sống xa gia đình bên nội, một gia đình quan gia thế phiệt.
Nhưng rồi sau ngày cưới, ông chồng mới của bà đã xin đổi vào Nam, làm việc ở Bộ ngoại giao và sống một cuộc đời khác hẳn nếp sống của bà trước đây. Ông sống hoàn toàn theo Âu Mỹ, có làm thì có chơi, ngày nghỉ ông không bao giờ không tổ chức những cuộc đi chơi xa hay ra ngoại ô sống cả ngày trên sông nước hay trong các vườn cây ăn trái.
Đứa con riêng tên Mai của bà lúc nào cũng được ông nuông chiều yêu thương, cho đến khi bà sinh cho ông liên tiếp cả đám con gái và hai đứa con trai thì Mai đã lên 16 tuổi. Bà bàn nên cho Mai vô ký túc xá ở để dễ học, khỏi phải lo cho đám em nhỏ, vì bà thấy Mai càng lớn càng đẹp, đẹp một cách sắc sảo. Bà cũng thấy hơi lo vì bắt gặp cái nhìn say mê của ông mỗi khi thấy Mai đi qua trước mặt ông hay mang đến cho ông một vật gì. Ông lại rất nuông chiều và thương yêu con bé hơn cả mấy đứa con của ông, khiến lũ nhỏ nhiều lần ghanh tị với Mai: “Ba cứ cho chị ấy nhiều tiền để mua sách, mua chỉ thêu, và may áo quần. Ba không bao giờ cho tụi con tiền, ba nói đã có mẹ lo. Vậy chị Mai là con của ba hay của mẹ?”.
Và bà rất đau khổ phải theo giữ Mai từng bước. Nhưng rồi khi bà sanh bé Hương thì ở nhà đã xảy ra chuyện bất hạnh cho Mai. Mai ngây thơ, khờ dại làm sao giữ mình trước những cám dỗ và mưu toan thường luân bại lý của ông cha ghẻ.
Khi việc đổ bể, bà âm thầm cùng chị bếp, một người tin cẩn, đưa Mai lên Đà Lạt ở với người cô ruột của Mai. Bà thường lên xuống Đà Lạt và mấy tháng Mai gần sanh, bà ở luôn trên ấy. Khi Mai sanh, bà ẵm đứa bé về và tuyên bố vì lần có thai này bà yếu đau thường nên phải tịnh dưỡng ở Đà Lạt, nhờ một bác sĩ Pháp chuyên khoa đem đứa bé ra vô sự. Còn Mai thì bà ép buộc phải vào một nhà tu kín ở Thủ Đức, thỉnh thoảng bà đi thăm, nói với mọi người là con bé tự nhiên sùng đạo và không thích sống ở ngoài đời.
Lúc đầu thì không ai ngoài vợ chồng bà, bà cô và chị bếp hay biết việc này. Con bé Lan, con của Mai và ông chồng sau của bà, sống trong gia đình cùng các con bà và được coi như là con gái bà. Dĩ nhiên bà không yêu thương nó bằng mấy đứa khác. Riêng ông thì ông rất thương nó. Rồi vì chuyện ông bênh nó mỗi lần bà hành hạ, bạc đãi nó, không một lần cho nó đi nghỉ mát với các con khác. Con bé bắt đầu hiểu đã cảm nhận sự bất công trong gia đình và mỗi khi bà la rầy nó, ông lại bênh vực che chở nó, khiến bà lại tức giận và rồi chuyện thâm cung bí sử đã bùng ra trong gia đình, khiến các con hay biết và khiến bé Lan đau khổ muốn bỏ nhà ra đi.
Bé Hương đã kể cho tôi nghe, nhưng tôi không lấy đề tài này để viết tiểu thuyết, dù là một đề tài rất hấp dẫn, vì chúng tôi ở chung một cư xá. Nhà bà Tuyết là độc giả thường xuyên của tôi. Cho đến khi ông này đi làm ở một tòa đại sứ Việt Nam ở nước ngoài, không còn ở trong cư xá của tôi nữa. (Ông xin đi làm ở nước ngoài khi bé Lan nhất định vào nhà tu thăm chị Mai mà bây giờ nó đã biết là mẹ nó. Và một hai đòi chị Mai phải xin với mẹ bề trên ra đời để lo cho nó), tôi mới đem đề tài này viết thành tiểu thuyết cho báo
Phụ Nữ Ngày Mai.
Đến năm 1990, khi các nhà xuất bản ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh xin phép in một số tiểu thuyết của tôi đã xuất bản trước 1975 và những truyện dài tôi viết trước 1975 nhưng chưa xuất bản thành sách, tôi liền cho xuất bản quyển
Đời Con Gái. Sách vừa ra là bán hết ngay, được nhiều cảm tình của độc giả, và nhiều nhà văn bên phái nam đã lên tiếng cho rằng từ trước đến nay chưa một nhà văn nào khai thác đề tài cha ghẻ và con riêng của vợ một cách độc đáo như tôi. Quyển sách này đã làm sống lại tên tuổi của tôi, thật ra thì nó cũng chưa hề mai một và càng ngày độc giả các tỉnh càng yêu cầu có thêm sách tôi trên thị trường. Nhờ vậy mà tôi bán được tất cả 17 bộ sách.
Sách vừa in ra ở Việt Nam là bên Pháp, bên Mỹ cũng đã thấy xuất hiện ngay. Có một thời kỳ sau 1975, những nhà văn nhà báo bỏ quê hương chạy ra nước ngoài, mang theo các tiểu thuyết của tôi (như Việt Định Phương), qua bên ấy họ in nhiều quyển, nhất là quyển Bóng Người Xưa (do Nhà xuất bản Đại Nam bên Mỹ phát hành) mà nào họ có trả cho tôi một đồng xu nào! Vào thời điểm ấy, gia đình tôi cũng như bao gia đình khác sống dưới chế độ cũ lâm vào tình trạng như thế nào các bạn cũng hiểu. Vậy mà cái bọn chạy ra nước ngoài còn lợi dụng tên tuổi sách vở của tôi để bán lấy tiền sống phè phỡn, nghĩ thật là vô lương tâm.
Nhiều người cũng tức giận thay về việc này. Nhưng riêng tôi, tôi nghĩ có lẽ Việt Định Phương lúc còn ở Sài Gòn vốn bất tài, sống được chỉ nhờ chạy chọt, nay chạy ra nước ngoài làm sao mà sống? Vốn liếng học hành không có, tiếng Mỹ không biết, sống nhờ tiền trợ cấp đâu có là bao, cho nên phải kiếm cách sống, in đại các sách mang theo qua bên ấy, bán kiếm tiền. Mình không nên trách mà nên hiểu cho hoàn cảnh của họ. Huống chi có một số người lớn tuổi, qua bên ấy không biết làm gì, không biết đi đâu, ngồi giữ nhà cho con cái, một tiếng Mỹ cũng không biết, làm sao đọc sách đọc báo? Có được những quyển sách bọn này in, họ mừng rỡ, mua đọc để khỏi buồn, khỏi nhớ quê hương. Như vậy, tên tuổi của mình được sống lại bên Mỹ, bên Pháp cũng là chuyện hay, có sao đâu?
Bây giờ tôi kể tiếp các bạn nghe, tôi còn viết một quyển tiểu thuyết nữa với nhân vật sống mà tôi đã gặp trong một lần đi về thăm một quân y viện. Đó là quyển
Tình Thương, in trên báo
Phụ Nữ Diễn Đàn năm 1971 và sau năm 1975 khi xuất bản thành sách đã lấy tên
Chỉ Một Lần Yêu.
Tháng 11-1960, một bộ phận quân đội miền Nam đứng lên lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm mà lúc đó bị chỉ trích là chánh phủ độc tài, gia đình trị. Vì trong nước chánh biến, sự chết chóc không sao tránh khỏi vì sự xô xát giữa hai bên thân chánh phủ và chống chính phủ. Do vậy mà ở các bệnh viện, nhất là quân y viện, có nhiều thương bệnh binh. Tôi không nói nhiều về những diễn biến chính trị, chuyện này đã có nhiều người viết sử nói đến. Tôi chỉ nêu ra đây một chuyện là nhờ có việc này mà tôi có dịp tiếp xúc với các thương phế binh. Có dịp đi ủy lạo, thấy tận mắt cảnh thịt đổ xương rơi không phải tại chiến trường mà tại các quân y viện.
Số là bà Bút Trà, chị dâu tôi, làm chủ nhiệm báo
Sài Gòn Mới. Chuyện lật đổ chính quyền ngụy là tin sốt dẻo, một dịp bán báo chạy, hốt bạc. Có nhiều báo cứ đăng tin và mạ lỵ những kẻ độc tài. Có báo đăng hình ông Ngô Đình Diệm và viết những câu mạt sát. Nhưng cuộc đảo chính này bất thành và chính quyền ngụy đã nắm lại quyền kiểm soát. Các báo lúc bấy giờ mới hốt hoảng, thôi đi tìm đủ cách để chuộc lỗi. Tiêu hủy các báo chưa ra, in lại những số báo ca tụng chính quyền ngụy đàn áp được cuộc đảo chính.
Ôi! Thật là những cảnh bát nháo đáng buồn cười. Các chủ báo như bà Bút Trà, ông Đinh văn Khai (báo
Tiếng Chuông) phải lánh mặt, kẻ khai bệnh đột ngột phải đi nằm bệnh viện, người bảo đi công tác xa, để đàn em tay chân dàn xếp với chánh quyền cho êm thấm, tránh tội. Vì vậy tôi nguyên là cây bút chuyên viết tiểu thuyết và các trang mục phụ nữ, tham gia nhiều công tác xã hội, được các anh em trong nhà tòa soạn, theo lời chỉ dẫn của bà chị dâu tôi, đề cử tôi thay mặt tờ
Sài Gòn Mới đi ủy lạo các thương bệnh binh ngụy đã bị tai biến trong những ngày đảo chính hụt này. Và thế là tôi có dịp đi thăm và ủy lạo họ.
Từ bé tôi chưa bao giờ thấy cảnh chết chóc hay cảnh máu đổ, người bị thương. Đây là lần đầu tiên tôi đến một quân y viện và thấy tận mắt cảnh thịt nát xương rơi. Cảnh chiến tranh tàn khốc diễn ra trước mắt tôi một cách kinh hoàng. Và cũng trong một chuyến đi thăm này, tôi gặp một thiếu nữ mang hoa vào thăm một thương phế binh từ mặt trận miền Tây đưa về. Khi phát quà xong ra về, trên xe lam chở khách, tôi lại gặp cô thiếu nữ này. Cùng đi với cô là bà mẹ của thương phế binh. Nét mặt cô buồn bã vô vọng khó tả. Cô có nét đẹp tự nhiên, làn da trắng nuột, dù là người ở tỉnh. Cô không hề nhìn lên, nét mặt suy tư, đăm chiêu trong một thế giới riêng biệt không cần biết quanh mình xảy ra chuyện gì.
Một bà đứng tuổi ngồi gần tôi hỏi người đàn bà đi với cô :
- Cô ấy là con gái của bà?
Bà này lắc đầu.
- Nó là bạn học của con trai tôi. Con trai tôi đi lính thì nó cũng thôi học. Con tôi vừa ra trận đã bị mất một cánh tay, một cái chân.
- Cậu con bà được bao nhiêu tuổi?
- Mới 22 tuổi. Đã đậu trung học, định học nữa thì bị kêu lính.
- Còn cô này chắc ở gần nhà bà?
- Không cháu nó ở Sa Đéc, còn tôi ở Vĩnh Long.
Bà nói đến đây thì xe đến một trạm ở Phú Nhuận, cô gái ngước mắt lên nói với bà :
- Thưa bác, con phải xuống đây để gặp dì con, ngày mai con sẽ đến bác để cùng đi thăm anh Quân một lần nữa rồi về quê.
Cô nói xong xách cái giỏ rồi cúi đầu chào tôi, chào bà nọ, đoạn xuống xe. Khi cô này đi rồi và xe bắt đầu chạy thì bà nói với tôi bằng một giọng rất cảm động :
- Tội nghiệp con nhỏ. Nó đang học lớp 11, lại bỏ ngang vì chuyện thằng con tôi bị thương ngoài mặt trận. Nó phải lặn lội khắp nơi mới biết được tin thằng con tôi và chính nó cho tôi hay và kéo tôi đi thăm. Trong cảnh này thiệt tôi không biết nói gì. Hồi đó ba má nó không bằng lòng cho nó thư từ qua lại với con trai tôi, ông bà nói đi lính dễ chết lắm, có khôn thì dang ra sớm chớ không thì góa phụ mất con ơi! Hai bên gia đình tương đối dư ăn, thằng con tôi thương nó lắm. Chúng tôi không ngăn cản nhưng thấy thái độ không vui của cha mẹ nó, tôi không thích. Bây giờ câu chuyện xảy ra như vậy, tôi không dám tiến tới nữa. Thằng con tôi thấy mình ra nông nỗi ấy cũng khuyên cô ta đừng thăm viếng thường, trở về học tập, chớ chẳng lẽ đi yêu một phế binh như nó?
Ai trên xe nghe kể cũng thở dài. Bà liền nói :
- Vậy mà con nhỏ thật có tình có nghĩa, nó bỏ học, xin cha mẹ lên Sài Gòn để dễ bề đi thăm nuôi. Nó nói: Nó đã hứa làm vợ thằng con tôi là nó giữ lời.
Bà kể đến đây thì xe cũng đã ngừng ở ngã tư Phú Nhuận, tôi vội xuống xe và lòng không khỏi phân vân về chuyện bà nọ vừa kể.
Trong thời buổi chiến tranh, đất nước nào cũng có những chuyện tình cao thượng đáng quí như vậy. Như cô gái mà tôi gặp ở trên chưa phải là vợ chánh thức của anh thương binh kia, nhưng vẫn giữ một lời thề sống bên nhau khi chàng trai gặp chuyện tai biến. Mặc dù cha mẹ phản đối, mặc dù chàng trai khuyên lơn hãy quên chàng ta đi, cô này vẫn lặn lội đi nuôi. Rồi sau đó theo lời một người quen kể lại tôi nghe, cô dọn hẳn lên ở Sài Gòn đi học may, để tính chuyện lâu dài với anh chàng thương binh xấu số mà lại may mắn. Mỗi khi người ta đưa anh chàng này đi đâu đó là cô cũng dời chỗ ở đi theo và tìm nơi cư ngụ gần đó. Suốt mấy năm trời như vậy, cha mẹ cô tìm bắt cô về để gả chồng cô cũng không chịu. Đến khi anh chàng thương binh đã chữa lành các vết thương, được một cơ quan từ thiện nước ngoài làm cho bộ chân tay giả và đưa về Bình Dương học nghề làm sơn mài, vẽ tranh, thì cô liền dọn lên Bình Dương và mở một tiệm may gần đó. Trước mối tình chung thủy của cô, cha mẹ hai bên đành phải đứng ra làm lễ cưới và rồi họ sống bên nhau có được hai con, một trai một gái.
Tình yêu không phải chỉ tìm đến những nơi giàu có sang trọng, thanh lịch, yêu kiều, mà nó xuất phát từ con tim và như thế tình yêu mới có cái giá trị cao quí của nó. Khi quả địa cầu này còn có bóng người và dù là dân châu Âu da trắng hay dân châu Á da vàng, châu Phi da đen, châu Mỹ da đỏ, thì tình yêu cũng là bửu bối quí báu để loài người sát lại với nhau, tạo cho đời những con người cao thượng giữa xã hội vật chất phù phiếm.
2. Những kỷ niệm với làng báo Sàigòn
Lúc đầu khi viết tiểu thuyết tôi cứ nghĩ là để nuôi con, không ngờ khi cắm cúi viết hằng ngày, có nhiều chuyện xảy ra khiến tôi phải nghĩ là mình có quyền sinh sát đối với những nhân vật tiểu thuyết của mình.
Có lần tôi đang viết một câu chuyện dài, có chiều hướng không cho hai nhân vật yêu nhau đi đến hôn nhân, thì một buổi sáng vừa để cái cặp lên bàn, toan ngồi lại làm việc thì bà Bút Trá - chị dâu của tôi mà cũng là chủ nhiệm của báo
Sàigòn Mới lúc bấy giờ - cho người mời tôi vào và nói :
- Thím không định cho Yến và Thanh kết hôn sao?
Thấy tôi cười mà không trả lời thì chị tôi nói :
- Thím nên cho tụi nó kết hôn với nhau, như thế mới hợp tình hợp lý và mới đúng với cái tên tiểu thuyết mà thím đặt Gương Vỡ Lại Lành.
Nhưng chuyện tôi đang viết lại là một chuyện thật - đó là chuyện gia đình của một cô bạn cùng học ở Gia Long nhưng là bạn về vai chị. Khi viết nửa chừng tôi bỗng có ý nghĩ không để cho họ “làm lành”, và để trừng phạt người đàn ông phụ bạc, tôi không cho họ gặp nhau lại. Vì thế sau này in thành sách, tôi đã đổi tên từ
Gương Vỡ Lại Lành thành
Còn Vương Tơ Lòng.
Viết tiểu thuyết là một nghề mà như một nhà văn Pháp tự hào:
Muốn cho ai chết là chết.
Muốn cho ai sống là sống.
Lại một lần nữa, một bạn đồng nghiệp cùng dạy ở trường Tân Thịnh cũng là độc giả trung thành theo dõi tất cả những tiểu thuyết của tôi trên các báo, gặp tôi ở văn phòng giáo sư đột nhiên hỏi: “Chị định cho kỹ sư Kiệt chết hay sao?”.
Tôi giật mình, bỡ ngỡ không biết kỹ sư Kiệt nào. Nhưng sau đó kịp nhớ ra thì ra ông bạn này nói đến một nhân vật trong tiểu thuyết Bóng Người Xưa mà tôi đang viết. Tôi bật cười hỏi lại: “Anh mà cũng đọc tiểu thuyết của tôi sao? Anh có biết một nhóm nhà văn nghĩ mình là đàn anh nên nói rằng tôi viết văn chỉ như người kể chuyện?”.
Lúc bấy giờ có anh Chỉnh, một giáo sư đậu cử nhân văn khoa vừa ở Pháp về cùng dạy ở trường, Chỉnh còn trẻ và ít tham gia vào câu chuyện của các giáo sư cùng ngồi chờ vào lớp. Nhưng lúc đó anh chợt nói :
- Bộ kể chuyện là không có tài sao? Kể chuyện mà không ai nghe thì sao?
Tôi nói :
- Họ còn nói tôi nghe lỏm những câu chuyện của các nhà văn Pháp rồi viết lại, chứ thậm chí không biết đọc chữ Pháp đó anh.
Các anh ấy cười xòa :
- Thì ra họ ganh tị với chị. Chứ chị dạy môn gì ở đây nào?
Sau này có lần một bà bạn rủ tôi đi nghe một buổi diễn thuyết về đề tài: “nhà văn cũng là một sứ giả gửi một thông điệp đến độc giả”. Diễn đàn là linh mục Thanh Lãng, Hội Văn bút tổ chức. Lúc ấy Phạm Việt Tuyền làm Chủ tịch. Thính giả toàn là hội viên của hội Văn bút cùng một nhóm sinh viên học sinh của các ông Thanh Lãng, Việt Tuyền, và một số nhà văn, nhà báo.
Khi ngồi vào chỗ, chị bạn của tôi, chị Nghệ, một nữ trí thức từng làm chính trị vừa ở Pháp về, nói với tôi :
- Mình không ngờ được dự một buổi nói chuyện lý thú, xem thử họ nói cái gì.
Trong bài diễn thuyết của mình, Thanh Lãng đã đi đến một kết luận đề cao vai trò của nhà văn: Một nhà văn là một sứ giả gởi một thông điệp đến cho độc giả khắp nơi. Vì thế vai trò của nhà văn là một sứ mạng cao quí. Quanh vấn đề này, nhiều người được mời lên phát biểu ý kiến. Toàn là những ông có cấp bằng cao, viết những quyển sách triết học hay những tác phẩm bình luận khó hiểu. Rồi bỗng trong đám thính giả ngồi ở hàng ghế sau cùng, một sinh viên ở một phân khoa nào đó nói giọng Bắc xin lên phát biểu ý kiến. Cậu ta khen những sách lý luận cao siêu và chê các nhà văn tiểu thuyết ở Sàigòn lúc bấy giờ, và nêu tên Dương Hà, Trọng Nguyên và... bà Tùng Long. Thật bất ngờ! Cậu ta bảo tôi không biết một chữ Pháp nào và chỉ nghe người ta kể các chuyện tiểu thuyết Tây rồi viết lại. Viết như vậy thì tại sao lại có báo chịu mua đăng, có độc giả chịu khó đọc?
Chắc khi nói cậu ta không ngờ trong đám thính giả lại có bà Tùng Long. Trong số người có mặt, còn có Nguyễn Hữu Ngư, nhà văn cộng tác với báo
Bách Khoa (ký hiệu Nguyễn Ngu Í) và cũng là đồng nghiệp cùng dạy trường Tân Thịnh với tôi. Nguyễn Hữu Ngư dạy sử địa, còn tôi thì dạy Việt văn và Pháp văn. Cũng có cả Trần Dạ Từ, chồng của Nhã Ca, đang là phóng viên Đài phát thanh Việt Nam lúc bấy giờ, ngồi ở hàng ghế đầu và đang thu thanh buổi diễn thuyết cho đài. Cậu sinh viên này vừa nói xong thì ông Nghiêm Xuân Việt, một luật gia và cũng là một giáo sư trường Đại học Luật khoa, liền đứng ra trả lời vì ông có tên trong Hội Văn bút và cũng là nhóm tổ chức cuộc diễn thuyết ngày hôm ấy. Ông Việt cao giọng tán thành ý kiến của sinh viên nọ là nên đọc những sách thuộc loại nghiên cứu, sách có giá trị văn chương do những nhóm gọi là uyên bác cao thâm sáng tác, bởi họ mới thật là những sứ giả gởi đi các thông điệp cho quốc dân đồng bào. Còn loại sách nhảm nhí như sách của các tác giả mà cậu sinh viên nọ vừa nói xong thì có quyền đừng đọc đến. Ông Việt vừa nói xong thì Nguyễn Hữu Ngư và Trần Dạ Từ đều quay xuống nói với tôi (khi tôi vào giảng đường trường Quốc Gia Âm Nhạc họ có thấy và có chào): “Chị cứ để đó, tụi này sẽ lên trả lời cho chị”.
Nhưng tôi đã đứng lên và lên chỗ bàn thư ký để xin ghi tên phát biểu. Lúc ấy Minh Đức Hoài Trinh ngồi ghi. Minh Đức nhìn tôi cười, còn chị Nghệ thì nói :
- Chị không soạn bài mà dám phát biểu ngay à? Tôi thì không có tài ấy đâu.
Tôi cười và chờ đến phiên mình lên phát biểu. Không chờ đợi, tôi được mời lên ngay, vì ai chớ Phạm Việt Tuyền hay Minh Đức Hoài Trinh thì có lạ gì tôi. Phạm Việt Tuyền cùng dạy ở trường Tân Thịnh với tôi, và khi Phạm Việt Tuyền làm tờ
Tự Do thì chính anh đã mời tôi giúp cho một tiểu thuyết và tôi đã viết chuyện
Gió Ngàn Phương (đã xuất bản trước 1975).
Tôi còn nhớ rõ hôm ấy tôi mặc bộ áo dài trắng (tôi luôn mặc áo dài trắng khi đi dạy, khi đến các tòa soạn báo hay đi dự lễ hội, dự hội nghị), và sự hiện diện của tôi trước micro đã gây cho hội trường một sự ngạc nhiên, nhất là khi Phạm Việt Tuyền trịnh trọng giới thiệu tôi là một cây bút có nhiều tác phẩm cộng tác với nhiều tờ báo hằng ngày và làm thư ký tòa soạn cho tuần báo
Phụ Nữ Diễn Đàn, cộng tác với báo
Văn Nghệ Tiền Phong và còn là giáo sư dạy ở các trường tư thục. Hội trường bỗng im bặt và chờ tôi phát biểu. Đầu tiên tôi cảm ơn ban tổ chức cho phép tôi có cơ hội lên để nói vài ý nghĩ thô thiển, và tôi thành thật cám ơn cậu sinh viên vừa phát biểu đã nói đến tôi. Trong đời tôi, chê tôi cũng quí như khen vì giúp tôi có kinh nghiệm tốt hơn khi sử dụng ngòi bút. Xong tôi đi ngay vào đề tài của Thanh Lãng, một nhà văn là một sứ giả gởi thông điệp đến mọi người. Nhưng sứ điệp ấy phải như thế nào để mọi người dù tầng lớp nào cũng có thể đọc hiểu được thì mới có thể tiếp nhận. Chứ những quyển sách viết quá cao, đầy triết lý sâu xa thì đâu phải ai cũng có thể tiếp nhận một cách vui vẻ và nồng nhiệt. Tôi nói tiếp: “Tôi không có khả năng để viết những loại sách cao siêu, cao thật cao ấy (và tôi giơ tay lên ra dấu khỏi đầu) nhưng tại sao tôi lại chấp nhận số phận của người cầm bút? Tôi có đọc một đoạn văn trên một tờ báo Pháp thấy có một nhà văn nam nào đó tuyên bố rằng: “Nếu tôi có một ngai vàng thì tôi sẵn sàng đổi nó để tìm hiểu tâm lý phụ nữ”. Như thế thì tôi, một phụ nữ, tại sao không viết để nói lên tâm lý của phụ nữ? Vì tôi đã trải qua thời kỳ niên thiếu dưới mái ấm gia đình của cha mẹ, bên các em thân yêu, tôi đã từng là một thiếu nữ, tôi hiểu những ước muốn, những buồn vui của giới thiếu nữ, của tuổi mới lớn. Tôi đã từng là một người vợ, một người mẹ. Tôi hiểu tâm sự của người vợ khi gặp cảnh ngộ ngang trái, khi sống trong hạnh phúc, khi nuôi dạy các con, và hiểu những đòi hỏi của các con mình. Tôi lại còn là một cô giáo từng đứng trên bục giảng và tìm hiểu những đôi mắt thơ ngây, vô tư của lũ học trò đang muốn gì, ao ước được những gì. Vì những ước mong thế đó mà tôi mạnh dạn cầm bút. Nói rằng tôi không biết một tiếng Pháp nào, chỉ nghe người ta kể chuyện trong các quyển tiểu thuyết Pháp rồi viết lại, thì nếu được như vậy kể ra tôi cũng có chút tài cỏn con nào đó, vì tôi kể chuyện như vậy mà vẫn có người đọc, người nghe, nhà báo chấp nhận mời viết thì thật là chuyện lạ trên đời phải không các bạn? Về chuyện tôi có đọc được sách Pháp hay không, lúc nãy qua lời giới thiệu của anh Phạm Việt Tuyền chắc các bạn cũng hiểu là lời chỉ trích kia có đúng hay không, tôi không cần đính chính. Nhưng tôi không dám tự phụ mà nói lên rằng thông điệp của tôi gửi cho phụ nữ, cho các bà mẹ, cho các học sinh chắc chắn là được đón nhận. Nếu không vậy làm sao tôi viết, làm sao có người thuê tôi viết? Nói lên cái tâm lý của phụ nữ vì mình là một phụ nữ, tôi đã mạnh dạn nhận lấy vai trò của tôi, một phụ nữ”.
Chỉ có năm phút để phát biểu nên tôi kết luận :
- Qua số thư từ tôi nhận được hằng ngày trong đó phần đông là thư của bạn gái, kế tiếp là thư của độc giả nam, của học sinh sinh viên, tôi chỉ lấy làm lạ là tại sao ông Nghiêm Xuân Việt lại có thể nói rằng những cuốn sách viết dở của các nhà văn như bà Tùng Long, Dương Hà, Trọng Nguyên thì vứt đi đừng đọc là xong. Riêng tôi, gặp một quyển sách ở tầm tay, đọc qua nếu là dở tôi vẫn cố gắng đọc cho hết để thấy nó dở chỗ nào. Một nhà văn ở châu Âu đã viết: “Trong một quyển sách dở vẫn có thể tìm thấy một câu hay hoặc một ý kiến khá”.
Tôi cảm ơn thính giả, ban tổ chức và đi xuống trong tiếng hoan hô vỗ tay của cả thính đường. Khi đi ngang qua hàng ghế của Nguyễn Hữu Ngư và Trần Dạ Từ, cả hai đứng lên nói: “Hoan hô chị Tùng Long!”.
Tôi ngừng lại và nói: “Cảm ơn các anh đòi trả lời cho tôi, nhưng mà chuyện của tôi để tôi nói là phải”.
Sau đó Phạm Việt Tuyền lên nói tiếp lời tôi và kết luận: “Không phải ai gửi thông điệp cũng có người nhận. Ngay Đức giáo hoàng gửi thông điệp cho toàn giáo dân trên thế giới mà vẫn còn có người không chịu tiếp nhận nữa thì sao?”.
Buổi nói chuyện kết thúc lúc 7 giờ tối. Chị Nghệ và tôi ra đường đứng đón taxi về nhà thì ông Nghiêm Xuân Việt chạy theo mời để ông được lấy xe đưa chúng tôi về nhà.
Chị Nghệ vốn có quen với ông Việt liền nhận lời ngay, và tôi xin đỗ xuống đầu hẻm Chu Mạnh Trinh để ông Việt còn đưa chị Nghệ về đường Ngô Tùng Châu (nay là đường Nguyễn văn Đậu ở Bình Thạnh).
Tôi ít có thì giờ để theo dõi chương trình phát thanh của đài, nhưng sau đó anh Quốc Phong, chủ nhiệm báo
Tiếng Vang mà tôi cộng tác, gọi điện thoại cho tôi và nói :
- Đêm qua cháu gái ở nhà nghe đài đến đoạn nói về buổi diễn thuyết của Thanh Lãng có nêu lời phát biểu của chị, nó gọi tôi đến nghe và tôi thật vui mừng thấy chị đã trả lời thật hay và xác đáng.
Tôi cũng cảm thấy vui vui là mình đã có dịp nói lên mục đích viết văn của mình. Tôi chưa bao giờ dám tự hào xưng mình là văn sĩ, nữ sĩ. Tôi chỉ nói tôi viết văn là để nuôi con, chỉ thế thôi. Ngay khi được báo
Saigon Time (Thời báo Sài Gòn) phỏng vấn, tôi cũng đã nói tôi viết văn là để nuôi con. Khi nào các con tôi trưởng thành, đứa lớn lo được cho đứa nhỏ thì tôi sẽ nghỉ viết.
Nhưng việc ấy rồi cũng qua đi trong ngay tuần lễ sau đó vì tôi quá bận rộn với công việc dạy học, viết báo. Nào ngờ sau đó vài tuần, vào một buổi tối, ông Nghiêm Xuân Việt đã tìm đến nhà tôi và đưa cho tôi xem số Bách Khoa mới ra, trong ấy có bài chính ông ta viết để xin lỗi về những lời của ông phát biểu trong cuộc diễn thuyết, vô tình đã nói những lời xúc phạm đến tôi. Sau đó tôi mới biết chính ông ta là giáo sư giảng dạy cho con trai tôi Nguyễn Đức Lập đang học năm thứ ba ở Đại học Luật khoa - nhưng việc này ông ta không biết và tôi cũng không cần nói làm gì, vì sau lần gặp gỡ này tôi không còn lần nào khác có dịp gặp ông ta. Nguyễn Hữu Từ làm ở tòa soạn báo
Bách Khoa sau đó gặp tôi, tôi có hỏi bộ anh chỉ nhà cho ông Việt hay sao mà ông ta biết vậy? Nguyễn Hữu Ngư cười hì hì và nói: “Chị ở cư xá Chu Mạnh Trinh ai mà không biết, chị không đọc bài báo của Duyên Anh sao? Duyên Anh nói anh ta ở cư xá Chu Mạnh Trinh, cái rốn của vũ trụ”.
Tôi hỏi :
- Tại sao lại là cái rốn của vũ trụ?
- Là vì ở cái cư xá này có lắm nhân tài.
- Ai là nhân tài vậy?
Nguyễn Hữu Ngư chỉ tôi và nói: “Duyên Anh kể Phạm Duy bên lô E cùng với Hồ Anh chủ nhiệm báo
Văn Nghệ Tiền Phong. Lô C thì có Năm Châu cùng vợ là Kim Cúc. Lô B có Nguyễn Mạnh Côn, lô F có bà Tùng Long và chồng là thi sĩ Hồng Tiêu, Phan Quang Đán, Hoàng Nguyên, lô G thì có Hoàng Thi Thơ, Văn Quang. Như vậy không phải là cái rốn của vũ trụ là gì? Nơi đây hằng ngày tụ tập nào Thanh Nga, Thẩm Thúy Hằng, các nhà văn, nhà báo, và các nghệ sĩ sân khấu, các nhạc sĩ...”
Tôi nhún vai nói :
- Hân hạnh, hân hạnh. Nhưng nói lớn lối như vậy, chỉ tổ cho thiên hạ ghét.
Nguyễn Hữu Ngư là bạn về vai em của tôi. Tôi thường gọi là Ngư là chú, chú em, nhưng sau này các con tôi có đứa gọi Ngư là anh, vì Ngư cưới Thoại Dung, một cô bạn của cô gái lớn của tôi.
Làng báo lúc bấy giờ có những người thích châm chọc, có dịp là họ viết trêu ghẹo trên các số báo Xuân hay trong mục Chuyện hằng ngày khi thiếu đề tài.
Như trong một tờ báo
Xuân, anh Đỉnh cùng làm việc ở trường Tân Thịnh với tôi (anh ở ban giám thị, sau viết cho
Văn Nghệ Tiền Phong lấy bút hiệu là Tử Vi Lang) đã viết:
Năm nay mưa thuận gió hòa, ông Đinh văn Khai viết sách, bà Bút Trà làm thơ...
Ý Tử Vi Lang ngạo Đinh văn Khai, chủ nhiệm báo
Tiếng Chuông, vì ông này mới ra một quyển sách ký tên mình mà sách ấy lại do người khác viết.
Còn bà Bút Trà, trên báo
Sàigòn Mới do bà làm chủ nhiệm năm nào cũng có một bài thơ mừng Xuân đăng ở trang đầu tờ báo
Xuân Sàigòn Mới ký tên bà, nhưng lại do ông Bút Trà, chồng bà, một nhà thơ nổi tiếng, viết.
Ngoài Tử Vi Lang còn có Chu Tử, Nguyễn Duy Hinh có dịp là châm biếm dân trong làng báo, cũng như chồng tôi là Hồng Tiêu vớt bút hiệu Như Hoa ở mục Tranh Xã Hội trên mặt báo
Sàigòn Mới.
Lẽ dĩ nhiên Tử Vi Lang không bao giờ viết châm biếm tôi vì quá hiểu tôi và là đồng nghiệp ở hai lãnh vực viết báo và dạy học. Trái lại, còn rất nể tôi và khi cưới vợ, có đưa vợ đến thăm tôi. Thỉnh thoảng Lang ghé thăm Hồ Anh bên lô E cũng tạt qua thăm tôi ở lô F. Vả lại sau này, Trịnh Viết Thành, tổng thư ký báo
Tiếng Vang, cũng dọn về ở lô F, góp thêm một thành viên cho “cái rốn vũ trụ”.
Nguyễn Duy Hinh trong làng báo có tiếng là tay phá làng phá xóm, ai anh ta cũng dám viết bài kêu đích danh mà chê bai nêu không vừa ý việc làm của họ.
Thế mà hai lần Nguyễn Duy Hinh đề cập đến tôi bị tôi lên tiếng là chấm dứt ngay. Lần đầu không biết có phải là do Tế Xuyên nói về gia đình tôi - Vì có lần Tế Xuyên thất nghiệp, anh Hồng Tiêu của tôi đem về nhà giúp đỡ, còn giới thiệu cho ông Nguyễn văn Sâm để viết tờ báo
Đuốc Nhà Nam. Hinh viết là anh Hồng Tiêu không có lương tâm, cưới tôi rồi giao cả bầy con cho tôi nuôi nấng, tôi phải viết bài bù đầu bù cổ trong khi nhà tôi nghêu ngao làm thơ và tụ tập bạn bè chuyện nhảm suốt ngày không làm gì để phụ giúp tôi. Thật ra có ai hiểu được chuyện gia đình tôi, đèn nhà ai nấy sáng mà! Anh Hồng Tiêu không hợp tác với Pháp rồi với Nhật, và sau này với Mỹ. Anh mà cầm lấy cây bút là viết bài chửi lung tung khiến báo bị đóng cửa, riết rồi các ông chủ nhiệm không dám mướn dù họ biết nhà tôi có tài. Đọc thấy những lời của Hinh viết trên báo, tôi liền gọi điện thoại cho Hinh và chỉ nói một câu :
- Anh Hinh, anh lại định nói bậy bạ gì vậy? Đừng nhé, đừng có nghe lời của Tế Xuyên!
Hinh ú ớ qua điện thoại :
- Tôi viết có lợi cho chị.
- Không, cảm ơn!
Thế là bài báo ấy lý ra kéo dài cả bốn kỳ thì chấm dứt nửa chừng.
Một lần nữa, sau khi chính phủ ông Diệm bị đổ do nhóm quân nhân đảo chánh, Quốc hội bị giải tán, Nguyễn Duy Hinh cũng có viết một bài báo nói về cái ghế ba chân của Quốc hội, mà khóa III Quốc hội lại quy tụ được 25 phụ nữ do bà Ngô Đình Nhu mời tham gia, trong ấy có tôi (tôi ứng cử ở Quảng Ngãi, quê chồng tôi). Tôi mong khi đắc cử sẽ làm một việc gì đó có ích cho tỉnh nhà, nơi mà tôi đã sống những năm 1944 đến 1952, đã có được một số học trò. Nhưng vừa đắc cử được một tháng thì chế độ Ngô Đình bị lật đổ, tôi lại trở về làm báo, dạy học như cũ.
Vừa đọc bài của Hinh, tôi liền gọi điện thoại cho Hinh và khuyên Hinh nên chấm dứt bài phóng sự ấy vì công kích làm chi, bươi móc làm gì những phụ nữ bị ép buộc phải ra Quốc hội kỳ ấy? Và tôi có nói với Hinh để tôi viết một bài phóng sự khác trên báo
Sàigòn Mới để trần tình...
Hinh nghe lời tôi không viết nữa và tôi cũng biết đây là một thiệt thòi lớn cho Hinh. Vì không viết thì không có tiền, mà Hinh thì rất cần tiền, lúc nào cũng cần vì ăn xài lớn quen rồi.
Sau đó tôi có viết bài phóng sự như tôi đã hứa với Hinh, nhưng vừa viết được hai kỳ, hai kỳ này tôi mới nói về trường hợp của tôi và chị Nguyễn Phước Đại, thì các bà cùng ra khóa III và là phu nhân của các nhân vật thân cận với chế độ Ngô Đình liền chạy tới năn nỉ chị Bút Trà bà đòi gặp tôi để xin tôi đừng viết tiếp nữa.
Còn Chu Tử, anh ta trong những bài “phim hằng ngày” thỉnh thoảng cũng có nhắc đến tôi với giọng hài hước như đã hài hước với bà Châu Phố khóc chồng ở Đà Lạt. Thuở ấy người ta thường nói về Đông Hồ khóc vợ ở Hà Tiên, còn Châu Phố thì khóc chồng ở Đà Lạt. Chu Tử khoe khoang là bà Châu Phố sẽ xuống Sài Gòn hợp tác với Chu Tử để Sống, Yêu và Loạn.
Sống,
Yêu và
Loạn là ba quyển tiểu thuyết mà Chu Tử đã viết trên báo
Sống và đã xuất bản, thuộc về loại sách bán chạy được người đọc trẻ lúc ấy hưởng ứng nhiệt liệt.
Tôi cũng gọi điện thoại cho Chu Tử - Tôi và Chu Tử không quen, chỉ gặp nhau vài ba lần trong các cuộc họp báo ở Bộ Thông Tin, không ai nói với ai lời nào, chỉ gật đầu chào thôi.
Tôi nói :
- Anh Chu Tử ơi! Anh lại bày trò gì nữa đây? Xin anh cho tôi hai chữ bình an. Tôi viết văn là để nuôi con thôi, không có cái mộng văn sĩ, văn siếc gì đâu.
- Vâng, vâng, chị đã dạy thì xin nghe - Bên kia đầu dây, Chu Tử đã nói như vậy. Chu Tử tuy viết văn đôi khi có giọng thô lỗ, hỗn xược, nhưng bề ngoài phong độ rất nho nhã và lịch sự.
Sau đó có lần Chu Tử đến nhà nhạc sĩ Hoàng Nguyên, cùng ở lô F với tôi, chỉ đối diện cách hai ba nhà, nhờ vợ Hoàng Nguyên, một cây bút ngiệp dư cộng tác với
Sống của Chu Tử, đưa qua thăm tôi. Ngoài mục đích thăm viếng, Chu Tử còn nhờ tôi giữ cho tờ báo
Sống hai mục như ở báo
Tiếng Vang và
Sàigòn Mới, là một truyện dài mà mục Tâm Tình Cởi Mở. Chu Tử có bao giờ hạ mình mời tôi như thế vì anh ta tự hào về tờ báo
Sống của anh qui tụ toàn những cây bút viết hay, có học thức cao. Tôi nói với anh được mời như thế này tôi rất cảm động và lấy làm hân hạnh, nhưng tôi hỏi lại anh :
- Anh thử nghĩ xem tôi còn thì giờ đâu để mà viết cho
Sống nữa chớ?
Tiếng Vang rồi
Sàigòn Mới, rồi hai tờ báo tuần
Văn Nghệ Tiền Phong,
Phụ Nữ Diễn Đàn (làm thư ký tòa soạn),
Phụ Nữ Ngày Mai với một truyện dài và một truyện ngắn hằng tuần.
Chu Tử thêm :
- Ngoài ra chị còn đi dạy học nữa phải không? Và còn làm cho nhiều hội như Hội Phụ nữ, Bảo vệ Luân lý và các hội phụ huynh có các con chị học.
Tôi nói :
- Đúng thế. Nhưng anh cũng nên hiểu cho, không viết được cho anh, tôi rất tiếc.
Trong thâm tâm tôi, lúc ấy tôi nghĩ và mỉm cười với mình. - Viết cho cái ông trời này, nay mai ổng lại quảng cáo rùm beng bà Tùng Long đã về với báo
Sống, để Sống - Yêu và Loạn như ông đã viết về bà Châu Phố, thì có nước bị ông chồng cả ghen của tôi làm tội làm tình cho mà chết.
Nói cho đúng, trong làng báo từ khi tôi vào nghề đến năm 1972 tôi nghỉ viết, anh chị em văn nghệ sĩ đều đối xử với tôi rất tốt, xem tôi như một người chị, vì thật ra ai cần gì thì tôi đều giúp trong khả năng. Tôi sẵn sàng giúp cho một tờ báo mới ra đời một truyện ngắn không cần tiền nhuận bút, hoặc giới thiệu cho một số em út vào làm ở các tờ báo mà tôi hợp tác. Thành ra lúc bấy giờ Nguyễn Ang Ca, Thanh Phong, Hoài Trinh của báo
Phụ Nữ Diễn Đàn với bút hiệu chị Ba Sún Răng, Nguyễn Duy Hinh, Tế Xuyên, Hoài Thanh, Huỳnh Thanh Vị... đều xem tôi như một người chị. Anh em trong làng báo đối với tôi thật tử tế.
Có thể nói thời kỳ thành công và phồn thịnh nhất của tôi bắt đầu từ năm 1957 đến năm 1963. Năm 1963, vào khoảng tháng 11 vì có cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm, trong làng báo cũng phải chịu một sự thay đổi và khủng hoảng, nên tôi cũng gặp phần khó khăn, nhưng sau đó lấy lại uy tín cũng rất nhanh chóng. Và rồi từ 1964 đến năm 1972, tôi vẫn viết đều đều ra một loạt sách nữa, sau đó mới nghỉ hẳn.
Năm 1963, vì công việc ở nhà báo thu hút quá nhiều thì giờ lại thêm công việc ở các đoàn thể cũng rất bận rộn, nên tôi phải nghỉ dạy, đó là một điều mà tôi rất tiếc. Sức khỏe kém, theo lời bác sĩ Pháp Boucheron đang điều trị cho tôi thì một lá phổi bị nám không thể dạy, vì vậy tôi phải lên Đà Lạt nghỉ một thời gian, và chữa trị xong chỉ còn viết và viết.
Trong thời kỳ phồn thịnh nhất của tôi, có nhiều sự việc đáng ghi lại. Việc thứ nhất là Nhất Linh đã viết về tôi: “Bà Tùng Long là cây bút ăn khách hiện nay”.
Đối với Nhất Linh, lúc nào tôi cũng xem như một bậc đàn anh. Mà thật thế. Khi nhóm Tự Lực Văn Đoàn cùng với báo
Ngày Nay,
Phong Hóa ra đời thì tôi còn học ở Gia Long và là độc giả trung thành của nhóm này cũng như của báo
Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Tôi đọc tất cả Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Thanh Châu, Lê văn Trương... Sau này khi nhóm Tự Lực Văn Đoàn chạy vào miền Nam thì những cây bút này không còn mạnh, và độc giả miền Nam không hâm mộ như lúc trước nữa. Một phần cũng tại nhóm này phần đông là Việt Nam Quốc Dân đảng, hay Đại Việt, mà đất này thì họ khó có chỗ dung thân vì lý do chính trị.
Lúc bấy giờ khi sách được xuất bản, các tác giả thường gửi tặng tôi với những lời ưu ái. Như nhà thơ Thanh Tâm Tuyến với tập thơ đầu tay, sách đóng thật đẹp, đã viết: “Kính tặng chị Tùng Long, một cây bút đang làm mưa làm gió trên văn đàn miền Nam”.
Ôi! Thật là hãnh diện cho tôi khi chính tôi lúc bước vào con đường văn nghiệp đâu dám nghĩ mình là một văn sĩ mà chỉ mong sao đóng góp một phần nào đó xây dựng cho nữ giới và nuôi chín đứa con để chúng trở thành những công dân tốt.
Rồi Ban tổ chức cuộc thi văn chương toàn quốc (miền Nam Việt Nam) lần thứ hai vào năm 1961 hay 1962 mời tôi tham dự trong ban chấm thi. Ban giám khảo năm ấy có anh Đông Hồ, anh Phú Đức, và nhiều người khác nữa mà tôi không nhớ.
Trước đó, khi nghe đến cuộc thi văn chương toàn quốc, tôi có gửi dự thi hai tác phẩm, đó là quyển
Bóng Người Xưa và quyển
Nhị Lan. Nhưng khi kẹt vào Ban giám khảo, tôi liền rút sách lại không dự thi nữa. Cử chỉ này của tôi được Ban giám khảo ca ngợi, vì lẽ có nhiều người trong Ban giám khảo mà vẫn có sách dự thi và lại được chấm lãnh giải như ở kỳ đầu.
Năm tôi làm giám khảo, có tác phẩm của Nguyễn Vỹ dự thi, có sách của một người nào đó trong nhóm Văn Bút, mà khi phát giải, chị Nguyễn thị Vinh lên lãnh thế vì người ấy đang ở Pháp.
Nhờ có tên trong ban giám khảo cuộc thi văn chương toàn quốc năm ấy mà tôi có thêm uy tín với làng văn làng bút và độc giả thân yêu của tôi. Tuy vậy tôi không hề lấy chuyện này làm hãnh diện, tôi cũng biết sức học của mình đâu bằng ai mà đi chấm môn tiểu thuyết. Có những nhà văn tên tuổi ra đời trước tôi như Nguyễn Vỹ gửi tác phẩm dự thi. Tuy vậy, dù tài sức không bằng ai nhưng đọc một tác phẩm và biết nó hay dở, chắc chắn là tôi làm được.
Sau buổi phát thưởng ở dinh Độc Lập, tôi được ông Nguyễn Đăng Thục tìm đến làm quen do nhà văn và nhà giáo Phạm Việt Tuyền giới thiệu. Ông Thục mời tôi vào hội nghiên cứu của ông, giao tôi phần nghiên cứu tiểu thuyết. Tôi trình bày với ông là tôi bận lắm. Như ông biết, rồi phụ trách nhiều tờ báo hằng ngày và hằng tuần, rồi còn có chân trong nhiều đoàn thể, hội phụ huynh, chắc tôi không đảm đang nổi. Đã vậy là một người phụ nữ, tôi còn nhiệm vụ đối với gia đình.
Ông Thục có lẽ cũng hiểu cho tôi như vậy, nên sau mấy lần hội họp tôi không đến dự được, ông cũng thông cảm cho tôi.
Rồi nhân trong một cuộc họp do Bộ Thông tin tổ chức, lúc ấy bác sĩ Thọ làm giám đốc, bà Bút Trà có một bài thơ mừng sự nhận chức của bác sĩ, nhưng bà lại không dám đọc vì bà nghĩ rằng ai cũng biết bài thơ ấy là của ông Bút Trà làm cho. Bà giỏi về quản lý và điều khiển tờ báo, chớ làm thơ viết văn thì còn ai không biết bà học lực ra sao mà thơ thẩn gì! Bà liền nhờ tôi đọc giùm. Trong một buổi tiệc như vậy, có đông đảo mọi người, tôi làm sao từ chối được, vả lại bà là chị dâu mà cũng là chủ nhiệm của tôi. Thế là tôi đứng lên và trước khi đọc tôi tuyên bố rõ ràng là của chị tôi. Khi tôi đọc xong, tiếng vỗ tay không ngớt, có lẽ họ nghĩ do tôi viết, còn bác sĩ Thọ thì rất vui vì những lời ca ngợi ấy. Sau đó bác sĩ Thọ đã đứng lên bỏ chỗ ghế chủ tọa của mình để xuống ngồi ở bàn của các nhà văn nhà báo. Bác sĩ ngồi gần bên tôi và hỏi thăm tôi về công việc viết lách và đời sống ra sao. Việc này khiến cho nhiều người càng nể tôi, và bà Bút Trà cũng phải thay đổi cách đối xử với tôi sau này.
Nhân chuyện này mà một phóng viên của báo
Times ở Sài Gòn là Trần Quân có đến ngỏ ý với tôi muốn viết một bài phóng sự về cuộc đời viết văn của tôi và xin phép tôi cho Trần Quân đến nhà vào một ngày do tôi định. Thế là bài phỏng vấn ấy xuất hiện trên một kỳ báo
Times. Với những câu trả lời của tôi, nay ngồi nhớ lại tôi vẫn không quên. Tôi có nói là tôi viết văn như một người thư ký làm có giờ giấc nhất định, không thức khuya dậy sớm vàkhông phải tìm nguồn cảm hứng một cách khó khăn. Tôi có thể viết bất cứ lúc nào và ở chỗ nào khi có nhu cầu. Tôi không dám cho mình là một nữ văn sĩ vì tôi viết văn để nuôi con. Nhưng nói thế không có nghĩa là tôi viết theo thị hiếu của độc giả và sự yêu cầu của các ông chủ báo với mục đích để bán chạy, bán nhiều. Nếu phải viết một quyển sách có phần tụy lạc, hay tình cảm ướt át, thì dù trả tiền cho tôi gấp đôi tôi cũng không viết. Nhưng nếu một tờ báo mới ra đời, tài chính kém cỏi mà nhờ tôi viết cho một truyện ngắn, tôi cũng sẵn sàng viết ngay, không đặt vấn đề tiền bạc.
Bài báo ấy viết rất đặc sắc bằng tiếng Anh, được dịch ra như sau:
Bà Tùng Long và sự tự nhiên được bênh vực
Sự việc xảy ra thật sớm vào buổi sáng trong một cái chòi nằm chen chúc trong những con hẻm của một khoảnh đất ở vùng dân cư đông đúc và nghèo nàn của Sài Gòn. Buổi sáng, mặt trời chiếu trên những nóc nhà một cách yếu ớt, những người dân ở đó còn mơ màng trong giấc ngủ chập chờn vì cuộc sống quá khó khăn, thiếu không khí của những người dân lao động phải thức dậy lo công việc. Khi tiếng gà vừa gáy đợt đầu, một người đàn bà đã già mở cánh cửa của cái chòi và sai một đứa bé trai chạy đi mua cái gì đó cho bà. Mấy phút sau đứa bé chạy về, với hai bàn tay không và sẵn sàng chống đỡ những lời chỉ trích rầy la của bà. Bà ta đã đưa cho nó hai đồng bạc để mua cho bà một tờ báo
Sàigòn Mới, tờ báo mà ai cũng biết xuất bản buổi sáng, và thằng bé lại lấy tiền đó để mua một khúc bánh mì cho đỡ đói.
Người đàn bà ấy không dằn được sự tức giận bèn la hét thằng bé, bảo tại sao nó không chịu ăn sáng với cơm như mọi người trong gia đình và để hai đồng bạc ấy mua cho bà một tờ báo. Tờ báo đối với bà thật sự là một bữa điểm tâm tinh thần, cũng như một hơi thuốc lá và một cái tách cà phê đen và nóng vào buổi sáng của những người thượng lưu.
Nếu bạn may mắn và có dịp để hỏi cái gì trong tờ báo đã khiến cho bà quan tâm chiếu cố đến vậy, bà sẽ nói với bạn không một chút ngần ngại là không phải những chuyện tranh đấu không ngừng của Lumumba, hay cuộc tranh chấp không bao giờ chấm dứt của Phoumi và Phouma, và cũng không phải sự ra đời của một hoàng nam kế vị ngai vàng của xứ Iran, mà chỉ là tiểu thuyết ra hằng ngày trên báo của một cây bút nữ được cả nước nghe tên, được cả nước đọc với bút hiệu Bà Tùng Long, một người bạn trung thành của những người nghèo, của những người vô sản trong xã hội Việt Nam của chúng ta hiện giờ.
Không phải là một nhà văn
Bà Tùng Long là một trong rất ít phụ nữ viết văn hiện nay đã gặt hái được sự thành công, bà đã làm cho bao nhiêu con tim của cả nghìn vạn người từ mọi miền đất nước phải hồi hộp, khi bà xuất hiện vào năm 1955 như là một cây bút viết feuilleton nổi tiếng nhất trong kỹ nghệ làm báo lúc bấy giờ. Mặc dù không được giới trí thức (cao cấp) và giới trẻ còn quá vô tư với cuộc đời tiếp nhận, nhưng những tiểu thuyết của bà dễ đọc, dễ hiểu, với những tình tiết khéo léo và hấp dẫn, đã được theo dõi bởi phần đông độc giả của giới bình dân. Những quyển tiểu thuyết mà bà viết trên các báo đều được các nhà xuất bản mua và in thành sách cũng được độc giả hoan nghênh không kém. Độc giả của bà thuộc nhiều thành phần khác nhau, phần đông ở giới lao động, ít học, những người nội trợ muốn tìm cái chìa khóa hạnh phúc, những kẻ không có phương tiện để đến trường nghe lời giảng dạy của các thầy giáo, cả những quân nhân ở những vùng xa xôi hay những thủy thủ thiếu mái ấm gia đình. Mặc dù không có một quyển sách nào của bà được các nhà phê bình đem ra phê bình như một tác phẩm văn học của những nhà văn được coi là trí thức lúc bấy giờ, chính bà Tùng Long cũng tự nhận mình không phải là một nhà văn, mà bà chỉ viết cho những người thiếu học, những người không may mắn đến các trường Trung học Đại học, vậy mà tên tuổi của bà đã giúp bà kiếm được khá nhiều tiền trong cái thế giới làm văn của thời kỳ lúc bấy giờ.
Một tâm hồn nhạy cảm
Ngoài những bộ tiểu thuyết feuilleton mà bà Tùng Long đang viết ở báo
Sàigòn Mới và tuần báo
Phụ Nữ Diễn Đàn, bà con có những tác phẩm in lại thành sách cả 12 bộ vào năm 1963, đây là một kỳ công mà không một cây bút nữ nào hiện giờ ở đây có thể làm được. Hai tác phẩm được nổi tiếng nhất là
Giang San Nhà Chồng và
Bóng Người Xưa. Quyển thứ nhất nói về một phụ nữ Việt Nam sống trong địa ngục của bà mẹ chồng và gia đình chồng, chịu đựng bao điều khổ sở nhục nhã, nhất là bà mẹ chồng cay nghiệt cổ hủ, cho đến khi cô dâu này với ngày tháng đã chiếm được cảm tình và sự khâm phục của những kẻ đã đầy đọa mình. Quyển thứ hai mô tả cuộc đời sôi động của một đảng viên chánh trị chống lại sự cai trị của ngoại xâm. Nữ đảng viên này lập gia đình với một kỹ sư giàu có để có tiền giúp cho phong trào và các đồng chí trong đảng, nhưng rồi phải bỏ chồng khi cuộc hoạt động không thành vì sự tan rã của các đảng viên trước kẻ thù quá mạnh. Cả hai tiêu biểu cho hai tâm hồn cao thượng trước những khó khăn của một xã hội phong kiến, nhưng vì tác giả phải viết từng ngày một cho báo hằng ngày nên đôi khi lời văn kém sâu sắc, hình ảnh không được chú trọng kỹ càng hơn, tuy vậy vẫn nói lên được những vấn đề hằng ngày của giới phụ nữ, trong gia đình, ngoài xã hội, chuyện tình cảm riêng tư một cách thiết thực và cách đáp ứng lại một cách khôn khéo thông minh, đã làm cho những cuốn tiểu thuyết của bà Tùng Long như những tấm gương hằng ngày của hàng vạn phụ nữ và cả hàng vạn nam giới nữa.
Đến lúc tự động phải cầm bút
Sanh năm 1915 tại Đà Nẵng (Trung phần Việt Nam), Lê thị Bạch Vân, bút hiệu Tùng Long, là chị cả của bảy đứa con trong một gia đình trung lưu. Sau một thời thơ ấu bên bờ biển của một tỉnh lỵ và tại cô đô Huế với giòng sông Hương nước chảy lờ đờ, bà đã theo cha mẹ vào miền Nam và tiếp tục học ở trường Nữ trung học Gia Long nổi tiếng lúc bấy giờ, luôn luôn chiếm giải nhất về hai môn Pháp văn và Việt văn. Nhưng cái điều bà ao ước lúc này khi còn ngồi ghế nhà trường, là trở thành một nữ giáo viên ở một tỉnh yên tĩnh nào đó “có nền trời xanh trên những mái nhà và nơi đó có chim kêu ríu rít trên các cành cây tươi mát...”. Bà đã trở thành một nữ giáo viên vào năm 1934 sau khi thi đậu ra trường. Năm sau bà lập gia đình với nhà báo Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy. Khi còn đi học bà đã tập tành viết những truyện ngắn, những tùy bút và những bài nói về phụ nữ, bây giờ bà lại viết trong những lúc rảnh rang, nhưng là viết cho mình đọc mà thôi.
Cho đến năm 1951, sau những năm dài đằng đẵng sống trong vùng kháng chiến, làm quen với những thiếu thốn vật chất và sự cô quạnh của những đêm không trăng, trong những hang đá của rừng núi, và những ngày đen tối bên những con đường nhỏ hẹp ngút ngàn của rừng rậm, mà nữ giáo viên tầm thường này nuôi cái mộng phải viết, phải nói lên những gì mà tâm hồn mình đã cảm nhận và con tim rung động.
Trở về Sài Gòn với chồng và các con, bà liền cầm bút viết một cách say sưa và hứng thú, và đã thành công ngay với cuốn tiểu thuyết đầu tay, rồi những quyển liên tiếp trên các báo hằng ngày và hằng tuần. Bà đã chinh phục được một diễn đàn rộng rãi và đến lúc ấy bà liền mở mục
Giải Đáp Tâm Tình cho bạn đọc.
Mục Gỡ Rối Tơ Lòng và
Tâm Tình Cởi Mở như các mục
Coeur A Coeur bên các báo
La Femme hay
Marie Claire của Pháp. Nhờ các mục này mà bà đã làm quen nhiều hơn với các độc giả và những chuyện tâm tình của họ.
Bốn giờ mỗi ngày
Ngày hôm nay, là mẹ của chín đứa con, người đàn bà viết văn này đã ước vào tuổi 45 và vẫn viết thường xuyên, đều đặn mỗi ngày bốn giờ, ngừng ngay khi cuối giờ thứ tư mặc dù đang lúc nguồn cảm hứng đang ở lúc cao độ. Bà nói bà phải ngừng lại theo một thời khóa biểu đã vạch sẵn để lo cho các con và còn một số học trò mà bà đang dạy ở các trường trung học tư thục Sàigòn.
“Tôi không nghĩ rằng mình là một nữ sĩ, một nhà văn, và tôi không bao giờ nghĩ rằng mình có một thực tài như vậy. Tất cả những gì tôi làm là ghi lại những gì tôi đã nghe và thấy xung quanh tôi, để có tiền nuôi các con tôi”. Bà đã xác nhận một cách thành thật như vậy. Có thể bà nên viết một cách sâu sắc hơn, một lối văn trau chuốt hơn với những tình cảm dạt dào của sự sống, bớt đi những lời đối đáp không cần thiết thì bà còn có thể chiếm được một chỗ đứng đáng kính nể hơn trong lịch sử của nền văn chương hiện đại. Nhưng bà cũng như các cây bút nữ khác rất hiếm hoi lúc bấy giờ được độc giả biết đến cũng chỉ vì phương diện tình cảm con người như con đường duy nhất mà họ đeo đuổi để tạo được sự hòa thuận trong các gia đình, sự hòa bình trong xã hội.
Bà Tùng Long có thể tự hào là bà đã nhận lấy trách nhiệm quan trọng khi cầm bút là vạch ra cho phụ nữ đương thời con đường phải đi để được cùng tham gia với nam giới xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ hơn.
Mặc dù bà Tùng Long không nghĩ mình là một nữ sĩ, một nhà văn có biệt tài, nhưng bà thật sự có một quần chúng độc giả đông đảo khắp các miền đất nước và bà đã làm cho bao con tim hồi hộp, chờ đợi một cái kết thúc khéo léo của quyển tiểu thuyết mà bà đang viết từng ngày một và bà cũng đã nổi tiếng trong suốt 20 năm và đảm nhận vai trò của mình, và cũng kiếm được một số tiền không nhỏ với những tác phẩm đã được in lại thành sách mà độc giả vẫn đón nhận một cách nhiệt tình.
Trần Quân (1963)
Trong bài phỏng vấn ấy, tôi có nói với Trần Quân tôi viết văn là để nuôi con. Hiện tôi có tất cả chín đứa, ba đứa ở đại học, ba đứa ở trung học, còn ba đứa sắp vào tiểu học. Khi nào các con lớn của tôi thành tài và ra đời thì tôi sẽ nghỉ viết.
Trần Quân hỏi tôi về tác phẩm mà tôi thích nhất thì tôi nói tôi không thấy một tác phẩm vừa ý, mà chỉ vừa ý một tác phẩm... Nói xong tôi vào bồng con bé út của tôi lúc ấy đã một tuổi ra khoe với Trần Quân. (Bé Phương Chi của tôi, hiện giờ đang ở Đức. Nó sang Tây Đứa năm 1980 và định cư ở đó, học ở trường Điện Tử đậu kỹ sư và lập gia đình với một kỹ sư Việt Nam ở Thụy Sĩ).
Tất cả những bài báo, phỏng vấn hiện tôi không còn, vì năm 1975 tôi đã mất cả một tủ sách có giá trị và rất nhiều tác phẩm, tài liệu của tôi chưa in ra thành sách. Hồi đó trên báo
Bách Khoa có phỏng vấn tôi hai lần, một lần về viết văn, một lần về dạy học. Linh Giang trên một tuần báo nào đó cũng có viết một bài về tôi và anh Hồng Tiêu của tôi.
Tôi không phải ngồi nhà mà viết tiểu thuyết, và cũng không phải như Phú Đức, phải nhờ vào ả phù dung để viết những quyển tiểu thuyết dày năm sáu pho với cốt chuyện nhiều tưởng tượng hơn là thực tế. Tôi cũng không phải như Lê văn Trương, như Trương Tửu, như một số nhà văn khác phải mượn rượu để giúp đầu óc có thêm hứng thú. Tôi có rất nhiều đề tài, những đề tài sống thực do các bạn đọc của tôi kể về cuộc đời làm dâu, làm vợ, về những cảnh ngang trái mà con cái phải chịu như cảnh dì ghẻ, con chồng, dượng ghẻ với con riêng của vợ. Còn nữa, còn nhiều nữa, những chuyện yêu thương của tuổi trẻ, những chuyện bơ vơ giữa chợ đời của những kẻ mồ côi... v.v và v.v. Đề tài thì nhiều, viết không sao hết, tài của mình, ngòi bút của mình đâu có chạy kịp với cả trăm nghìn chuyện như thế? Tôi lại được may mắn là viết rất dễ, viết cả chục trang không cần phải sửa. Trước khi viết tôi phải suy nghĩ về đề tài tôi sắp viết cả tháng như vậy, bất cứ lúc nào, ngồi trên taxi đến trường, ngồi giặt đồ ngoài sàn nước, đứng nấu thức ăn cho các con tôi, tôi tập sao cho đầu óc của tôi có nhiều ngăn như cái tủ của tôi, mỗi chuyện tôi viết cho báo này phải ở ngăn nào khi cần đến tôi kéo ngăn ấy ra.
Khi còn đi học, mỗi lần thầy cô cho đề luận, một hai tuần mới nộp bài, trong thời gian ấy tôi luôn suy nghĩ đến cái đề luận. Khi trên đường đến trường, khi ra chơi, vừa thức giấc, tôi liền nghĩ đến cái đề bài ấy, mình phải vô đề như thế nào, kết luận ra sao...
Và khi còn nhỏ, khi tôi tưới cây hay chăm sóc mấy bụi hồng cho cha tôi, tôi vẫn nghĩ đến những bài luận phải làm. Tôi không thích học toàn, chớ thật sự tôi không đến nỗi dốt toán, cho nên có những bài toán tôi cũng phải nghĩ cả tuần.
Tôi tự tập cho tôi giờ giấc làm việc, giờ nào làm việc nào và đêm phải ngủ vào lúc nào và sáng phải dậy mấy giờ, không cần đồng hồ báo thức. Cho đến ngày nay đã trên 80 tuổi, nhưng ngày nào phải dậy 6 giờ để đi bác sĩ là tôi tự động dậy đúng 6 giờ, không cần ai kêu và không cần đồng hồ báo thức.
Tôi làm việc gì cũng có thứ tự và rất ghét một điều là bị ai đó thúc giục. Tôi không làm được việc gì mà bị người ta hối. Vì vậy từ ngày viết feuilleton, tôi không bao giờ để thợ phải hối bài. Ngay khi sắp sanh, tôi cũng chuẩn bị trước bài vở và lần tôi bị mổ, tôi đã nghiêng mình viết vào ngày thứ ba đến nỗi bác sĩ Trần Đình Đệ phải ngạc nhiên.
Tôi tập vừa nghe nhạc vừa viết, vừa dạy con học vừa viết, vừa cả vừa nghe tin tức đài BBC hay VOA vừa viết tiểu thuyết. Tôi ăn uống có giờ giấc và làm việc cũng vậy. Tôi tập có ngăn nắp từ nhỏ, để không bao giờ phải mất thì giờ tìm một cái gì. Ngay bây giờ, khi cần nằm nhiều hơn ngồi, tôi sắp đặt xung quanh trong phòng tôi tất cả những gì mà tôi cần, như cái kéo, con dao, cái ly nước, hộp đồ may, quyển kinh nhật tụng, hay tất cả thuốc men cần uống, hộp giấy viết thư, hũ kẹo, nghĩa là tất cả những gì tôi cần đến là có mà không cần phải sai ai. Tôi rất ghét cái tật sai vặt của nhà tôi hồi đó.
Cho đến ngày nay khi ngồi viết những trang giấy này, tôi cũng vẫn còn giữ được tính ngăn nắp và ít khi làm phiền đến con cái, các cháu, ít sai ai làm những việc nhỏ cần thiết cho sinh hoạt hằng ngày của tôi...