<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-08-05 12:14:19minhthanh_love>
Anan Hỏi Phật Việc Tốt - Xấu
HT. Tịnh Không giảng
Thích Nhuận Nghi dịch
Nhà XB Phương Đông
Đánh máy : mtlove
A-Nan vấn Phật sự cát hung
(Anan hỏi Phật việc tốt – xấu)
Tên của bộ kinh này có 8 chữ, tôi phân ra làm 5 đoạn để giải thích cho quý vị hiểu.
Thứ nhất : “A-nan”. A-nan là tên người. Ngài là em họ của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau khi xuất gia, Ngài được đại chúng cử làm thị giả cho Phật. Ngài cũng là người nổi tiếng nhất về khả năng nghe nhiều, nhớ nhiều trong mười đại đệ tử Phật.
Thứ hai: là vấn(tức là hỏi) Trong kinh giải thích chữ vấn này có năm nghĩa, tức là năm cách hỏi pháp:
1. Không hiểu mà hỏi: nghĩa là người hỏi, đối với kinh điển của Phật, về phần “sự” và phần “lý” họ chưa hiểu rõ ràng, nên muốn gặp các bậc tri thức để thưa hỏi.
2. Nghi ngờ mà hỏi: Người hỏi đã có nghe và có học qua giáo pháp của đức Phật, nhưng vì trong tâm họ còn nhiều điều nghi ngờ nên cầu gặp các vị giáo thọ sư, các bạc trưởng lão để thưa hỏi.
3. Muốn thử nghiệm mà hỏi: Người hỏi với tâm ngạo mạn coi thường, không phải tâm thiết tha cầu học, hỏi một cách tùy tiện, không đúng nơi, đúng chỗ.
4. Vì lợi lạc tất cả chúng sanh mà hỏi:
Người hỏi tự mình đã thông hiểu giáo pháp, vì thấy trong đại chúng có một số người chưa lãnh hội những lời đức Phật đã chỉ dạy về phần “sự” cũng như phần “lý” nên vì họ mà đứng ra thưa hỏi. Người thông minh là vậy, vì muốn mọi loài thông đạt giáo pháp của đức Phật, một lòng khiêm hạ, thay mọi loài thiết tha thỉnh cầu giáo pháp của Như Lai, cho nên ở đây nói, vì lợi lạc mà thưa hỏi.
Chữ hỏi(vấn) trong đề kinh này rất quan trọng. Tôn giả A-nan với lòng từ bi rộng lớn, mong muốn tất cả chúng sanh đời này, đời sau luôn được hạnh phúc an lạc, nên Ngài đưa ra nưm vấn đề trogj yếu để thưa hỏi. Năm vấn đề này rất hợp vowisn hững người bước đầu học Phật như chúng ta. Và đức Phật từ bi giải bày hững nghi vấn, thắc mắc của A-nan. Chúng ta có thể lãnh hội được những lời chỉ dạy của đức Phật mà dẹp trừ những nghi ngờ trong nội tâm, giúp chúng ta thông hiểu giaosp háp và phương thức tu hành, trên tiến trình giải thoát giác ngộ. Tôi đã sơ lược trình bày về ý nghĩa chữ hỏi(vấn) trong bổn kinh này là vậy.
Thứ ba: “Học Phật”. “Học” là vâng theo. “Học Phật” là vâng theo những lời dạy của đức Phật. Phật giáo là giáo dục, không phải tôn giáo, chúng ta có thể học và có thể không học. Chính vì Phật giáo là một nền giáo dục nên mỗi chúng ta cần phải tiếp nhận học tập. Nếu không hiểu rõ vấn đề này sẽ tạo thành một sự hiểu lầm nghiêm trọng, làm tổn thất không gì hơn. Tuy rằng trong Phật giáo có nhiều tông phái khác nhau, nhưng cũng đều tu học theo sự giáo dục của Phật Đà (*).
Thứ tư: “Cát” (tức là lành, tốt) phàm làm việc gì, cũng được thành tựu như ý, đem đến kết quả như mình mong muốn, gọi là “Cát”. Ngược lại, làm việc gì, không được thành tựu như ý muốn, thậm chí còn đưa đến hư hại, tại họa thì gọi là “hung” (tức là xấu, ác, chướng ngại), hai câu này nói đến kết quả của việc học Phật là “lành” hay “dữ”. Việc này liên quan đến sự sanh hoạt của chúng ta. Vì vậy mỗi chúng ta cần phải suy nghĩ kỹ vấn đề này.
Thứ năm : “Kinh” chữ “kinh” là phần “thông đề”. Nghĩa là tên gọi chung cho tất cả các linh. Nói một cách dễ hiểu kinh là những lời chỉ dạy của đức Phật đối với các hàng đệ tử, sau đó được ghi chép lại gọi lafk nh. Chữ “kinh” hàm nghĩa rấ sâu rộng, là chỗ các đức Phật tu tập giác ngộ, và nói ra bằng kinh nghiệm, sở tu,sở chứng của các Ngài. Đồng thời nó cũng là bộ sách giáo khoa khế h[ợ đối với mọi trình độ căn cơ cho tất cả mọi người. Đó là kinh. Từ xưa đến nay, người ta thường lấy bốn chữ “quán nhiếp thường pháp” để giải thích chữ “kinh”. “Quán” là quán xuyến, nghĩa là ý chỉ trong kinh. “Quán” là quán xuyến, nghĩa là ý chỉ trong kinh được kết cấu một cách có tổ chức và hệ thống, liên quan với nhau một cách chặt chẽ, xuyên suốt không lộn xộn, nên gọi là quán , kế đến là chữ “nhiếp”. “Nhiếp” là khả năng tiếp nhận của chúng sanh, giúp cho họ giác ngộ thì gọi là “nhiếp”. “Nhiếp” là khả năng tiếp nhận của chúng sanh, giúp cho họ giác ngộ thì gọi là “nhiếp”. Thứ ba là chữ “thường”, nghĩa là chân lý nói ở trong kinh, có tính cách vượt cả thời gian, không gian, không biến đổi. Đó gọi là “thường”. Thứ tư là chữ “pháp”. “Pháp” nghĩa là phép tắc, là nguyên lý, nguyên tắc mà tất cả thánh nhân hay phàm phu đều phải tuân thủ và vận hành theo.
Tôi đã giảng về ý nghĩa của bốn chữ “quán nhiếp thường pháp” xong, đúng như thế mới gọi là “kinh Phật”. “Kinh” là những lời đức Phật nói ra, tất cả đều liên quan đến toàn bộ vũ trụ nhân sinh, được tất cả các đệ tử ghi chép lại một cách có hệ thống. Nói một cách dễ hiểu đó là bộ sách giaosk hoa giúp cho mọi người thể nhập và thực chứng được chân lý giải thoát giác ngộ.
Tám chữ của đề kinh, tóm lại mà giảng là tôn giả A-nan hỏi đức Phật rằng :”Tại sao có người vâng theo lời dạy của Thế Tôn, nương vào đó mà thực hành thì đạt được mọi việc cát tường như ý, còn có người cũng làm như thế, lại đưa đến chỗ tổn hại, không có kết quả lợi ích gì?”, lý do duyên khởi của bộ kinh này là vậy. Và đức Phật tuần tự giải thích những lời nghi vấn của A-nan. Phần đề kinh tôi trình bày đến đây.
Tiêp theo, tôi sẽ sơ lược trình bày cho quý vị về nội dung của kinh. Nội dung của bản kinh này, đức Phật nói về đạo lý làm người và phương pháp tu học Phật. Có thể nói đây là một tập tài liệu rất quan trọng, nhằm giúp cho những người sơ cơ bước vào học Phật, nắm vững phương pháp học Phật. Cũng là tập giáo trình sơ cấp dành cho hàng nhân thưa và thiên thừa, cũng chính là nền tảng giáo lý căn bản của Phật giáo Đại Thừa. Phật giáo Đại Thừa, chúng ta hiểu nó giống như nhà lầu cao tầng, phần giáo trình này, dạy cho chúng sinh ở cõi trời và cõi người giống như tạo nên móng cho nhà lầu cao tầng vậy. Do đây có thể biết, bộ kinh này, cũng như là môn học dành cho người mới bước vào học Phật, đứng ở một vị trí vô cùng trọng yếu.
Chúng ta học Phật giảng kinh, cũng bắt đầu từ bộ kinh này. Yếu chỉ của bộ kinh này, đức Phật chỉ dạy cho chúng ta hãy nương vào giáo pháp mà tu học, thực hành với lòng tin và tâm thành kinh, nhất định sẽ đạt được mọi việc tốt đẹp như ý.
Giáo phấp của đức Phật khuyên dạy chúng ta cần phải tu hành. Tu là sửa, hành là hành vi. Tu hành là tu sửa những hành vi, lời nói, những ý tưởng bất chánh từ nơi tâm ý của chính mình. Ta phải dứt trừ các ý niệm xấu ác, vâng làm các điều lành nhằm đem lại sự hạnh phúc cho mình và tất cả mọi người. Ta còn phải phát nguyện cứu độ tất cả chúng sanh không mỏi mệt. Khi làm bất cứ việc gì phải giữ ba nghiệp thân, khẩu, ý cho nhân thiện, nhất định được quả thiện, nhất định sẽ đạt được những việc tốt đẹp như ý. Ở đây đưa ra hai tiêu chuẩn để chúng ta thấy rõ được vấn đề. Người nào dựa vào giáo pháp của đức Phật, chân thật tu hành gọi là “chân”, còn người nào dựa vào giáp pháp mà cầu lợi ích cho riêng mình gọi là “ngụy” giả dối, sẽ không bao giờ được kết quả tốt đẹp. Tác dụng của bản kinh này, gips cho chúng ta phát khởi tín tâm và sự nhìn nhận đúng đắn trên tiến trình học Phật, phân biệt được tà chánh và thấu hiểu về đạo lý nhân quả một cách rôt ráo.
Bộ kinh này, tôi phân ra làm bảy đoạn để giới thiệu cho quý vị dễ hiểu.
Đoạn thứ nhất: Từ câu “A-nan bạch Phật” đến câu “rộng nghe phụng hành”. Đoạn này nói, có người tin và vâng theo lời Phật dạy mà thực hành, thì đạt được kết quả cát tường như ý. Có người cũng tin theo lời Phật dạy mà thực hành, nhưng không đem lại những điều tốt đẹp cát tường như ý. Đức Phật giải thích từng câu hỏi của A-nan. Việc này đối với người học Phật như chúng ta, cần phải quan tâm chú ý.
Đoạn thứ hai: Từ câu “A-nan bạch Phật rằng” đến câu “tội sâu như thế.” Đoạn này nói về vấn đề sát sanh và trách nhiệm của tội sát sanh. Việc này, liên quan đến giới luật, cũng là điều cần phải đem ra bàn luận, vì nó liên quan đến những vấn đề trong cuộc sống sinh hoạt của chúng ta trong hiện tại nó có thể ảnh hưởng đến kết quả ở tương lai. Cũng thế, do ảnh hưởng những hành vi thiện hay ác trong đời sống quá khứ rồi cuối cùng đưa đến kết quả khổ hoặc vui trong hiện tại. Cho nên nói về giới luật, phạm vi của nó vô cùng rộng lớn. Tôi chỉ đưa ra một vài vấn đề để nói sơ lược. Hy vọng từ vấn đề này, có thể hiểu rộng ra, nhận thức được tinh thần giới luật và lợi ích của việc trì giới, giúp chúng ta phát khởi ý nguyenj tu hành để đem lại hạnh phúc an vui cho mình và người. Đây chính là biết và hành một cách tương ứng.
Đoạn thứ ba: Từ câu "A-nan bạch Phật rằng" đến câu "không thể không thận trọng". Đoạn này thảo luận vấn đề "giáo" và "học".
"Giáo học" còn gọi là nền tảng giáo dục, vì nó liên quan đến quá trình sinh hoạt đời sống của con người, đây là điều vô cùng trọng yếu. Nền giáo dục có thành tựu tốt đẹp hay không, thực tế quyết định ở hai phương diện: Thái độ học tập của học sinh và tư cách giảng dạy của thầy giáo. Thái độ học tập và phương pháp giảng dạy một cách hoàn thiện, thì nhất định sẽ đưa nền giáo dục đến sự thành công tốt đẹp. Đối với nền giáo dục của Phật giáo, các môn học rất quan trọng. Các vị giáo sư, Hòa thượng là những vị thầy khéo dùng những phương tiện, khai thị, chỉ bày cho học sinh, tiếp thu nhành và thành tựu được trí tuệ một cách rốt ráo viên mãn. Sau đó, học sinh đem năng lực của mình ra để phục vụ, làm lợi ích cho quốc gia xã hội, mang đến hạnh phúc an vui cho toàn thể chúng sanh. Do đó có thể biết, nền giáo dục của đức Phật là một nền giáo dục vốn có từ xưa và mãi đến nay, luôn là một nên giáo dục vô cùng tốt đẹp và toàn mỹ.
HT. Tịnh Không giảng
Thích Nhuận Nghi dịch
Nhà XB Phương Đông
Đánh máy : mtlove
A-Nan vấn Phật sự cát hung
(Anan hỏi Phật việc tốt – xấu)
Tên của bộ kinh này có 8 chữ, tôi phân ra làm 5 đoạn để giải thích cho quý vị hiểu.
Thứ nhất : “A-nan”. A-nan là tên người. Ngài là em họ của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau khi xuất gia, Ngài được đại chúng cử làm thị giả cho Phật. Ngài cũng là người nổi tiếng nhất về khả năng nghe nhiều, nhớ nhiều trong mười đại đệ tử Phật.
Thứ hai: là vấn(tức là hỏi) Trong kinh giải thích chữ vấn này có năm nghĩa, tức là năm cách hỏi pháp:
1. Không hiểu mà hỏi: nghĩa là người hỏi, đối với kinh điển của Phật, về phần “sự” và phần “lý” họ chưa hiểu rõ ràng, nên muốn gặp các bậc tri thức để thưa hỏi.
2. Nghi ngờ mà hỏi: Người hỏi đã có nghe và có học qua giáo pháp của đức Phật, nhưng vì trong tâm họ còn nhiều điều nghi ngờ nên cầu gặp các vị giáo thọ sư, các bạc trưởng lão để thưa hỏi.
3. Muốn thử nghiệm mà hỏi: Người hỏi với tâm ngạo mạn coi thường, không phải tâm thiết tha cầu học, hỏi một cách tùy tiện, không đúng nơi, đúng chỗ.
4. Vì lợi lạc tất cả chúng sanh mà hỏi:
Người hỏi tự mình đã thông hiểu giáo pháp, vì thấy trong đại chúng có một số người chưa lãnh hội những lời đức Phật đã chỉ dạy về phần “sự” cũng như phần “lý” nên vì họ mà đứng ra thưa hỏi. Người thông minh là vậy, vì muốn mọi loài thông đạt giáo pháp của đức Phật, một lòng khiêm hạ, thay mọi loài thiết tha thỉnh cầu giáo pháp của Như Lai, cho nên ở đây nói, vì lợi lạc mà thưa hỏi.
Chữ hỏi(vấn) trong đề kinh này rất quan trọng. Tôn giả A-nan với lòng từ bi rộng lớn, mong muốn tất cả chúng sanh đời này, đời sau luôn được hạnh phúc an lạc, nên Ngài đưa ra nưm vấn đề trogj yếu để thưa hỏi. Năm vấn đề này rất hợp vowisn hững người bước đầu học Phật như chúng ta. Và đức Phật từ bi giải bày hững nghi vấn, thắc mắc của A-nan. Chúng ta có thể lãnh hội được những lời chỉ dạy của đức Phật mà dẹp trừ những nghi ngờ trong nội tâm, giúp chúng ta thông hiểu giaosp háp và phương thức tu hành, trên tiến trình giải thoát giác ngộ. Tôi đã sơ lược trình bày về ý nghĩa chữ hỏi(vấn) trong bổn kinh này là vậy.
Thứ ba: “Học Phật”. “Học” là vâng theo. “Học Phật” là vâng theo những lời dạy của đức Phật. Phật giáo là giáo dục, không phải tôn giáo, chúng ta có thể học và có thể không học. Chính vì Phật giáo là một nền giáo dục nên mỗi chúng ta cần phải tiếp nhận học tập. Nếu không hiểu rõ vấn đề này sẽ tạo thành một sự hiểu lầm nghiêm trọng, làm tổn thất không gì hơn. Tuy rằng trong Phật giáo có nhiều tông phái khác nhau, nhưng cũng đều tu học theo sự giáo dục của Phật Đà (*).
Thứ tư: “Cát” (tức là lành, tốt) phàm làm việc gì, cũng được thành tựu như ý, đem đến kết quả như mình mong muốn, gọi là “Cát”. Ngược lại, làm việc gì, không được thành tựu như ý muốn, thậm chí còn đưa đến hư hại, tại họa thì gọi là “hung” (tức là xấu, ác, chướng ngại), hai câu này nói đến kết quả của việc học Phật là “lành” hay “dữ”. Việc này liên quan đến sự sanh hoạt của chúng ta. Vì vậy mỗi chúng ta cần phải suy nghĩ kỹ vấn đề này.
Thứ năm : “Kinh” chữ “kinh” là phần “thông đề”. Nghĩa là tên gọi chung cho tất cả các linh. Nói một cách dễ hiểu kinh là những lời chỉ dạy của đức Phật đối với các hàng đệ tử, sau đó được ghi chép lại gọi lafk nh. Chữ “kinh” hàm nghĩa rấ sâu rộng, là chỗ các đức Phật tu tập giác ngộ, và nói ra bằng kinh nghiệm, sở tu,sở chứng của các Ngài. Đồng thời nó cũng là bộ sách giáo khoa khế h[ợ đối với mọi trình độ căn cơ cho tất cả mọi người. Đó là kinh. Từ xưa đến nay, người ta thường lấy bốn chữ “quán nhiếp thường pháp” để giải thích chữ “kinh”. “Quán” là quán xuyến, nghĩa là ý chỉ trong kinh. “Quán” là quán xuyến, nghĩa là ý chỉ trong kinh được kết cấu một cách có tổ chức và hệ thống, liên quan với nhau một cách chặt chẽ, xuyên suốt không lộn xộn, nên gọi là quán , kế đến là chữ “nhiếp”. “Nhiếp” là khả năng tiếp nhận của chúng sanh, giúp cho họ giác ngộ thì gọi là “nhiếp”. “Nhiếp” là khả năng tiếp nhận của chúng sanh, giúp cho họ giác ngộ thì gọi là “nhiếp”. Thứ ba là chữ “thường”, nghĩa là chân lý nói ở trong kinh, có tính cách vượt cả thời gian, không gian, không biến đổi. Đó gọi là “thường”. Thứ tư là chữ “pháp”. “Pháp” nghĩa là phép tắc, là nguyên lý, nguyên tắc mà tất cả thánh nhân hay phàm phu đều phải tuân thủ và vận hành theo.
Tôi đã giảng về ý nghĩa của bốn chữ “quán nhiếp thường pháp” xong, đúng như thế mới gọi là “kinh Phật”. “Kinh” là những lời đức Phật nói ra, tất cả đều liên quan đến toàn bộ vũ trụ nhân sinh, được tất cả các đệ tử ghi chép lại một cách có hệ thống. Nói một cách dễ hiểu đó là bộ sách giaosk hoa giúp cho mọi người thể nhập và thực chứng được chân lý giải thoát giác ngộ.
Tám chữ của đề kinh, tóm lại mà giảng là tôn giả A-nan hỏi đức Phật rằng :”Tại sao có người vâng theo lời dạy của Thế Tôn, nương vào đó mà thực hành thì đạt được mọi việc cát tường như ý, còn có người cũng làm như thế, lại đưa đến chỗ tổn hại, không có kết quả lợi ích gì?”, lý do duyên khởi của bộ kinh này là vậy. Và đức Phật tuần tự giải thích những lời nghi vấn của A-nan. Phần đề kinh tôi trình bày đến đây.
Tiêp theo, tôi sẽ sơ lược trình bày cho quý vị về nội dung của kinh. Nội dung của bản kinh này, đức Phật nói về đạo lý làm người và phương pháp tu học Phật. Có thể nói đây là một tập tài liệu rất quan trọng, nhằm giúp cho những người sơ cơ bước vào học Phật, nắm vững phương pháp học Phật. Cũng là tập giáo trình sơ cấp dành cho hàng nhân thưa và thiên thừa, cũng chính là nền tảng giáo lý căn bản của Phật giáo Đại Thừa. Phật giáo Đại Thừa, chúng ta hiểu nó giống như nhà lầu cao tầng, phần giáo trình này, dạy cho chúng sinh ở cõi trời và cõi người giống như tạo nên móng cho nhà lầu cao tầng vậy. Do đây có thể biết, bộ kinh này, cũng như là môn học dành cho người mới bước vào học Phật, đứng ở một vị trí vô cùng trọng yếu.
Chúng ta học Phật giảng kinh, cũng bắt đầu từ bộ kinh này. Yếu chỉ của bộ kinh này, đức Phật chỉ dạy cho chúng ta hãy nương vào giáo pháp mà tu học, thực hành với lòng tin và tâm thành kinh, nhất định sẽ đạt được mọi việc tốt đẹp như ý.
Giáo phấp của đức Phật khuyên dạy chúng ta cần phải tu hành. Tu là sửa, hành là hành vi. Tu hành là tu sửa những hành vi, lời nói, những ý tưởng bất chánh từ nơi tâm ý của chính mình. Ta phải dứt trừ các ý niệm xấu ác, vâng làm các điều lành nhằm đem lại sự hạnh phúc cho mình và tất cả mọi người. Ta còn phải phát nguyện cứu độ tất cả chúng sanh không mỏi mệt. Khi làm bất cứ việc gì phải giữ ba nghiệp thân, khẩu, ý cho nhân thiện, nhất định được quả thiện, nhất định sẽ đạt được những việc tốt đẹp như ý. Ở đây đưa ra hai tiêu chuẩn để chúng ta thấy rõ được vấn đề. Người nào dựa vào giáo pháp của đức Phật, chân thật tu hành gọi là “chân”, còn người nào dựa vào giáp pháp mà cầu lợi ích cho riêng mình gọi là “ngụy” giả dối, sẽ không bao giờ được kết quả tốt đẹp. Tác dụng của bản kinh này, gips cho chúng ta phát khởi tín tâm và sự nhìn nhận đúng đắn trên tiến trình học Phật, phân biệt được tà chánh và thấu hiểu về đạo lý nhân quả một cách rôt ráo.
Bộ kinh này, tôi phân ra làm bảy đoạn để giới thiệu cho quý vị dễ hiểu.
Đoạn thứ nhất: Từ câu “A-nan bạch Phật” đến câu “rộng nghe phụng hành”. Đoạn này nói, có người tin và vâng theo lời Phật dạy mà thực hành, thì đạt được kết quả cát tường như ý. Có người cũng tin theo lời Phật dạy mà thực hành, nhưng không đem lại những điều tốt đẹp cát tường như ý. Đức Phật giải thích từng câu hỏi của A-nan. Việc này đối với người học Phật như chúng ta, cần phải quan tâm chú ý.
Đoạn thứ hai: Từ câu “A-nan bạch Phật rằng” đến câu “tội sâu như thế.” Đoạn này nói về vấn đề sát sanh và trách nhiệm của tội sát sanh. Việc này, liên quan đến giới luật, cũng là điều cần phải đem ra bàn luận, vì nó liên quan đến những vấn đề trong cuộc sống sinh hoạt của chúng ta trong hiện tại nó có thể ảnh hưởng đến kết quả ở tương lai. Cũng thế, do ảnh hưởng những hành vi thiện hay ác trong đời sống quá khứ rồi cuối cùng đưa đến kết quả khổ hoặc vui trong hiện tại. Cho nên nói về giới luật, phạm vi của nó vô cùng rộng lớn. Tôi chỉ đưa ra một vài vấn đề để nói sơ lược. Hy vọng từ vấn đề này, có thể hiểu rộng ra, nhận thức được tinh thần giới luật và lợi ích của việc trì giới, giúp chúng ta phát khởi ý nguyenj tu hành để đem lại hạnh phúc an vui cho mình và người. Đây chính là biết và hành một cách tương ứng.
Đoạn thứ ba: Từ câu "A-nan bạch Phật rằng" đến câu "không thể không thận trọng". Đoạn này thảo luận vấn đề "giáo" và "học".
"Giáo học" còn gọi là nền tảng giáo dục, vì nó liên quan đến quá trình sinh hoạt đời sống của con người, đây là điều vô cùng trọng yếu. Nền giáo dục có thành tựu tốt đẹp hay không, thực tế quyết định ở hai phương diện: Thái độ học tập của học sinh và tư cách giảng dạy của thầy giáo. Thái độ học tập và phương pháp giảng dạy một cách hoàn thiện, thì nhất định sẽ đưa nền giáo dục đến sự thành công tốt đẹp. Đối với nền giáo dục của Phật giáo, các môn học rất quan trọng. Các vị giáo sư, Hòa thượng là những vị thầy khéo dùng những phương tiện, khai thị, chỉ bày cho học sinh, tiếp thu nhành và thành tựu được trí tuệ một cách rốt ráo viên mãn. Sau đó, học sinh đem năng lực của mình ra để phục vụ, làm lợi ích cho quốc gia xã hội, mang đến hạnh phúc an vui cho toàn thể chúng sanh. Do đó có thể biết, nền giáo dục của đức Phật là một nền giáo dục vốn có từ xưa và mãi đến nay, luôn là một nên giáo dục vô cùng tốt đẹp và toàn mỹ.
yêu
Truyện ngắn
4-3-4-3-6-8
hú hồn...xỉu
cafe
đi cho biết đó đây
bói đây...
thông báo đổi tên
các mem có nhu cầu in ấn và thiết kế sách, xin vui lòng liên hệ mtl
chúc vui và như ý !
viết như thế nào là quyền của tôi, tôi thích. Còn đọc hay không, là quyền của