📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

A-Nan hỏi Phật việc Tốt - Xấu

3 trả lời, 2.482 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-08-05 12:14:19minhthanh_love>
Anan Hỏi Phật Việc Tốt - Xấu
HT. Tịnh Không giảng
Thích Nhuận Nghi dịch
Nhà XB Phương Đông
Đánh máy : mtlove

A-Nan vấn Phật sự cát hung
(Anan hỏi Phật việc tốt – xấu)

Tên của bộ kinh này có 8 chữ, tôi phân ra làm 5 đoạn để giải thích cho quý vị hiểu.
Thứ nhất : “A-nan”. A-nan là tên người. Ngài là em họ của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau khi xuất gia, Ngài được đại chúng cử làm thị giả cho Phật. Ngài cũng là người nổi tiếng nhất về khả năng nghe nhiều, nhớ nhiều trong mười đại đệ tử Phật.
Thứ hai: là vấn(tức là hỏi) Trong kinh giải thích chữ vấn này có năm nghĩa, tức là năm cách hỏi pháp:
1. Không hiểu mà hỏi: nghĩa là người hỏi, đối với kinh điển của Phật, về phần “sự” và phần “lý” họ chưa hiểu rõ ràng, nên muốn gặp các bậc tri thức để thưa hỏi.
2. Nghi ngờ mà hỏi: Người hỏi đã có nghe và có học qua giáo pháp của đức Phật, nhưng vì trong tâm họ còn nhiều điều nghi ngờ nên cầu gặp các vị giáo thọ sư, các bạc trưởng lão để thưa hỏi.
3. Muốn thử nghiệm mà hỏi: Người hỏi với tâm ngạo mạn coi thường, không phải tâm thiết tha cầu học, hỏi một cách tùy tiện, không đúng nơi, đúng chỗ.
4. Vì lợi lạc tất cả chúng sanh mà hỏi:
Người hỏi tự mình đã thông hiểu giáo pháp, vì thấy trong đại chúng có một số người chưa lãnh hội những lời đức Phật đã chỉ dạy về phần “sự” cũng như phần “lý” nên vì họ mà đứng ra thưa hỏi. Người thông minh là vậy, vì muốn mọi loài thông đạt giáo pháp của đức Phật, một lòng khiêm hạ, thay mọi loài thiết tha thỉnh cầu giáo pháp của Như Lai, cho nên ở đây nói, vì lợi lạc mà thưa hỏi.
Chữ hỏi(vấn) trong đề kinh này rất quan trọng. Tôn giả A-nan với lòng từ bi rộng lớn, mong muốn tất cả chúng sanh đời này, đời sau luôn được hạnh phúc an lạc, nên Ngài đưa ra nưm vấn đề trogj yếu để thưa hỏi. Năm vấn đề này rất hợp vowisn hững người bước đầu học Phật như chúng ta. Và đức Phật từ bi giải bày hững nghi vấn, thắc mắc của A-nan. Chúng ta có thể lãnh hội được những lời chỉ dạy của đức Phật mà dẹp trừ những nghi ngờ trong nội tâm, giúp chúng ta thông hiểu giaosp háp và phương thức tu hành, trên tiến trình giải thoát giác ngộ. Tôi đã sơ lược trình bày về ý nghĩa chữ hỏi(vấn) trong bổn kinh này là vậy.
Thứ ba: “Học Phật”. “Học” là vâng theo. “Học Phật” là vâng theo những lời dạy của đức Phật. Phật giáo là giáo dục, không phải tôn giáo, chúng ta có thể học và có thể không học. Chính vì Phật giáo là một nền giáo dục nên mỗi chúng ta cần phải tiếp nhận học tập. Nếu không hiểu rõ vấn đề này sẽ tạo thành một sự hiểu lầm nghiêm trọng, làm tổn thất không gì hơn. Tuy rằng trong Phật giáo có nhiều tông phái khác nhau, nhưng cũng đều tu học theo sự giáo dục của Phật Đà (*).
Thứ tư: “Cát” (tức là lành, tốt) phàm làm việc gì, cũng được thành tựu như ý, đem đến kết quả như mình mong muốn, gọi là “Cát”. Ngược lại, làm việc gì, không được thành tựu như ý muốn, thậm chí còn đưa đến hư hại, tại họa thì gọi là “hung” (tức là xấu, ác, chướng ngại), hai câu này nói đến kết quả của việc học Phật là “lành” hay “dữ”. Việc này liên quan đến sự sanh hoạt của chúng ta. Vì vậy mỗi chúng ta cần phải suy nghĩ kỹ vấn đề này.
Thứ năm : “Kinh” chữ “kinh” là phần “thông đề”. Nghĩa là tên gọi chung cho tất cả các linh. Nói một cách dễ hiểu kinh là những lời chỉ dạy của đức Phật đối với các hàng đệ tử, sau đó được ghi chép lại gọi lafk nh. Chữ “kinh” hàm nghĩa rấ sâu rộng, là chỗ các đức Phật tu tập giác ngộ, và nói ra bằng kinh nghiệm, sở tu,sở chứng của các Ngài. Đồng thời nó cũng là bộ sách giáo khoa khế h[ợ đối với mọi trình độ căn cơ cho tất cả mọi người. Đó là kinh. Từ xưa đến nay, người ta thường lấy bốn chữ “quán nhiếp thường pháp” để giải thích chữ “kinh”. “Quán” là quán xuyến, nghĩa là ý chỉ trong kinh. “Quán” là quán xuyến, nghĩa là ý chỉ trong kinh được kết cấu một cách có tổ chức và hệ thống, liên quan với nhau một cách chặt chẽ, xuyên suốt không lộn xộn, nên gọi là quán , kế đến là chữ “nhiếp”. “Nhiếp” là khả năng tiếp nhận của chúng sanh, giúp cho họ giác ngộ thì gọi là “nhiếp”. “Nhiếp” là khả năng tiếp nhận của chúng sanh, giúp cho họ giác ngộ thì gọi là “nhiếp”. Thứ ba là chữ “thường”, nghĩa là chân lý nói ở trong kinh, có tính cách vượt cả thời gian, không gian, không biến đổi. Đó gọi là “thường”. Thứ tư là chữ “pháp”. “Pháp” nghĩa là phép tắc, là nguyên lý, nguyên tắc mà tất cả thánh nhân hay phàm phu đều phải tuân thủ và vận hành theo.
Tôi đã giảng về ý nghĩa của bốn chữ “quán nhiếp thường pháp” xong, đúng như thế mới gọi là “kinh Phật”. “Kinh” là những lời đức Phật nói ra, tất cả đều liên quan đến toàn bộ vũ trụ nhân sinh, được tất cả các đệ tử ghi chép lại một cách có hệ thống. Nói một cách dễ hiểu đó là bộ sách giaosk hoa giúp cho mọi người thể nhập và thực chứng được chân lý giải thoát giác ngộ.
Tám chữ của đề kinh, tóm lại mà giảng là tôn giả A-nan hỏi đức Phật rằng :”Tại sao có người vâng theo lời dạy của Thế Tôn, nương vào đó mà thực hành thì đạt được mọi việc cát tường như ý, còn có người cũng làm như thế, lại đưa đến chỗ tổn hại, không có kết quả lợi ích gì?”, lý do duyên khởi của bộ kinh này là vậy. Và đức Phật tuần tự giải thích những lời nghi vấn của A-nan. Phần đề kinh tôi trình bày đến đây.
Tiêp theo, tôi sẽ sơ lược trình bày cho quý vị về nội dung của kinh. Nội dung của bản kinh này, đức Phật nói về đạo lý làm người và phương pháp tu học Phật. Có thể nói đây là một tập tài liệu rất quan trọng, nhằm giúp cho những người sơ cơ bước vào học Phật, nắm vững phương pháp học Phật. Cũng là tập giáo trình sơ cấp dành cho hàng nhân thưa và thiên thừa, cũng chính là nền tảng giáo lý căn bản của Phật giáo Đại Thừa. Phật giáo Đại Thừa, chúng ta hiểu nó giống như nhà lầu cao tầng, phần giáo trình này, dạy cho chúng sinh ở cõi trời và cõi người giống như tạo nên móng cho nhà lầu cao tầng vậy. Do đây có thể biết, bộ kinh này, cũng như là môn học dành cho người mới bước vào học Phật, đứng ở một vị trí vô cùng trọng yếu.
Chúng ta học Phật giảng kinh, cũng bắt đầu từ bộ kinh này. Yếu chỉ của bộ kinh này, đức Phật chỉ dạy cho chúng ta hãy nương vào giáo pháp mà tu học, thực hành với lòng tin và tâm thành kinh, nhất định sẽ đạt được mọi việc tốt đẹp như ý.
Giáo phấp của đức Phật khuyên dạy chúng ta cần phải tu hành. Tu là sửa, hành là hành vi. Tu hành là tu sửa những hành vi, lời nói, những ý tưởng bất chánh từ nơi tâm ý của chính mình. Ta phải dứt trừ các ý niệm xấu ác, vâng làm các điều lành nhằm đem lại sự hạnh phúc cho mình và tất cả mọi người. Ta còn phải phát nguyện cứu độ tất cả chúng sanh không mỏi mệt. Khi làm bất cứ việc gì phải giữ ba nghiệp thân, khẩu, ý cho nhân thiện, nhất định được quả thiện, nhất định sẽ đạt được những việc tốt đẹp như ý. Ở đây đưa ra hai tiêu chuẩn để chúng ta thấy rõ được vấn đề. Người nào dựa vào giáo pháp của đức Phật, chân thật tu hành gọi là “chân”, còn người nào dựa vào giáp pháp mà cầu lợi ích cho riêng mình gọi là “ngụy” giả dối, sẽ không bao giờ được kết quả tốt đẹp. Tác dụng của bản kinh này, gips cho chúng ta phát khởi tín tâm và sự nhìn nhận đúng đắn trên tiến trình học Phật, phân biệt được tà chánh và thấu hiểu về đạo lý nhân quả một cách rôt ráo.
Bộ kinh này, tôi phân ra làm bảy đoạn để giới thiệu cho quý vị dễ hiểu.
Đoạn thứ nhất: Từ câu “A-nan bạch Phật” đến câu “rộng nghe phụng hành”. Đoạn này nói, có người tin và vâng theo lời Phật dạy mà thực hành, thì đạt được kết quả cát tường như ý. Có người cũng tin theo lời Phật dạy mà thực hành, nhưng không đem lại những điều tốt đẹp cát tường như ý. Đức Phật giải thích từng câu hỏi của A-nan. Việc này đối với người học Phật như chúng ta, cần phải quan tâm chú ý.
Đoạn thứ hai: Từ câu “A-nan bạch Phật rằng” đến câu “tội sâu như thế.” Đoạn này nói về vấn đề sát sanh và trách nhiệm của tội sát sanh. Việc này, liên quan đến giới luật, cũng là điều cần phải đem ra bàn luận, vì nó liên quan đến những vấn đề trong cuộc sống sinh hoạt của chúng ta trong hiện tại nó có thể ảnh hưởng đến kết quả ở tương lai. Cũng thế, do ảnh hưởng những hành vi thiện hay ác trong đời sống quá khứ rồi cuối cùng đưa đến kết quả khổ hoặc vui trong hiện tại. Cho nên nói về giới luật, phạm vi của nó vô cùng rộng lớn. Tôi chỉ đưa ra một vài vấn đề để nói sơ lược. Hy vọng từ vấn đề này, có thể hiểu rộng ra, nhận thức được tinh thần giới luật và lợi ích của việc trì giới, giúp chúng ta phát khởi ý nguyenj tu hành để đem lại hạnh phúc an vui cho mình và người. Đây chính là biết và hành một cách tương ứng.
Đoạn thứ ba: Từ câu "A-nan bạch Phật rằng" đến câu "không thể không thận trọng". Đoạn này thảo luận vấn đề "giáo" và "học".
"Giáo học" còn gọi là nền tảng giáo dục, vì nó liên quan đến quá trình sinh hoạt đời sống của con người, đây là điều vô cùng trọng yếu. Nền giáo dục có thành tựu tốt đẹp hay không, thực tế quyết định ở hai phương diện: Thái độ học tập của học sinh và tư cách giảng dạy của thầy giáo. Thái độ học tập và phương pháp giảng dạy một cách hoàn thiện, thì nhất định sẽ đưa nền giáo dục đến sự thành công tốt đẹp. Đối với nền giáo dục của Phật giáo, các môn học rất quan trọng. Các vị giáo sư, Hòa thượng là những vị thầy khéo dùng những phương tiện, khai thị, chỉ bày cho học sinh, tiếp thu nhành và thành tựu được trí tuệ một cách rốt ráo viên mãn. Sau đó, học sinh đem năng lực của mình ra để phục vụ, làm lợi ích cho quốc gia xã hội, mang đến hạnh phúc an vui cho toàn thể chúng sanh. Do đó có thể biết, nền giáo dục của đức Phật là một nền giáo dục vốn có từ xưa và mãi đến nay, luôn là một nên giáo dục vô cùng tốt đẹp và toàn mỹ.

yêu
Truyện ngắn
4-3-4-3-6-8
hú hồn...xỉu
cafe
đi cho biết đó đây
bói đây...
thông báo đổi tên
các mem có nhu cầu in ấn và thiết kế sách, xin vui lòng liên hệ mtl
chúc vui và như ý !
viết như thế nào là quyền của tôi, tôi thích. Còn đọc hay không, là quyền của
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-08-05 12:23:39minhthanh_love>
Đoạn thứ tư: Từ câu “A-nan lại bạch Phật rằng” đến câu “có thể gặp Phật và được độ trong đời này”. Đoạn này đặt vấn đề rằng giáo pháp của đức Phật có mặt trên cuộc đời này đến hôm nay, có một số vị đã học Phật nhưng chưa thông hiểu rõ ràng, nên tâm vẫn còn hồ nghi. Trong bộ kinh này, đức Phật sẽ giải thích cho chúng ta hiểu được Phật pháp và phương pháp ứng dụng lời Phật dạy vào trong đời sống sinh hoạt để đạt được nguồn hạnh phúc an lạc mà không bị trở ngại đau khổ. Phần này giải thích những vấn đề nghi vấn của A-nan, cũng là chủ đề chính của bản kinh này.
Đoạn thứ năm : Từ câu “A-nan nghe Phật nói” đến câu “chưa vào Niết bàn”. Đoạn này A-nan tự mình nói lên sự lợi ích của việc nghe và tu học Phật pháp.
Đoạn thứ sáu: Đoạn này, A-nan nói ra hai mươi sáu bài thi kệ. Thi kệ là dùng để ca ngâm hoặc tán tụng. Có rất nhiều thể looaij. Thường thường một đoạn như vậy có 4 câu. Riêng những bài thi kệ trong đây thuộc thể ngũ ngôn. A-nan với tâm dắc của mình, làm những bài thi kệ để ca ngợi tán thán đức Phật và phát nguyện hoằng dương giáo phps, hóa độ chúng sanh. Bởi vì A-nan thực hành theo lời Phật dạy nên đem lại sự an vui hạnh phúc thành tựu được công đức của Phật với A-nan rất lớn. Như vậy, chúng ta phát nguyện học theo hạnh A-nan mới không cô phụ những lời của đức Phật và các bậc hiện tri thức đã khổ công chỉ dạy.
Đoạn sau cùng:”đại chúng nghe pháp tin hiểu” và câu “thọ trì lễ tạ”.
Tôi đã trình bày sơ lược về đề kinh và nội dung của bộ kinh này rồi. Tiếp theo là phần giới thiệu về người phiên dịch bộ kinh này từ Phạn văn ra Hán văn.
Giảng: “Hậu Hán” chỉ cho triều đại nhà Hán. “Niên đại” là năm phiên dịch bộ kinh này. “An Thế Cao” là tên người phiên dịch từ Phạn văn ra Hán văn. Ngài là người nước An Tức, còn gọi là Ba Tư, tức ngước I-ran bây giờ. Ngài tên Thanh, tự An Thế Cao là thái tử con vua nước An Tức thời đó. Lúc thiếu thời căn tánh thông minh hiếu học, tính tình hiền hòa nhu thuận, khi trưởng thành trí tuệ cũng như tài năng của Ngài ít ai sánh kịp. Sau khi phụ vương qua đời, Ngài kế vị ngôi vua, lên ngôi chưa trọn năm, thì nhường ngai vàng lại cho người chú ruột của mình, sau đó xuống tóc xuất gia đầu Phật. Sau khi đắc đạo, Ngài du hóa đến Trung Quốc thời bấy giờ. Khi đến Trung Quốc, việc hoằng pháp của Ngài, đầu tiên là chuyển dịch kinh điển từ Phạn văn qua Hán văn, Ngài cũng là người đầu tiên làm công tác này, khi Phật giáo mới du nhập vào Trung Quốc. Vào năm thứ ba niên hiệu Kiến Ninh, thời Hậu Hán, đời vua Hán Linh Đế (năm 197 trước công nguyên) Ngài đến kinh đô Lạc Dương, được triều đình đón tiếp rất chu đáo và thỉnh Ngài được ở lại đây. Ngài liên tục làm công tác phiên dịch suots 20 năm, tổng số kinh sách Ngài chuyển ngữ từ Phạn văn ra Hán văn là 219 bộ các loại và còn rất nhiều bộ kinh khác. Vào năm thứ tư niên hiệu Kiến Ninh, đời Hán Linh Đế (năm 170 trước công nguyên), Ngài dừng công tác phiên dịch, đến truyền đạo ở huyện Dự Chương tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Lúc bấy giờ, Ngài la người đầu tiên mang Phật giáo đến và xây dựng chùa chiền ở nơi đây. Sử sách ghi lại về truyện ký của Ngài rất nhiều. Các vị tham khảo và tìm hiểu thêm trong Cao Tăng Truyện.
Hai chữ “Sa Môn” là tiếng Ấn Độ, cũng là tên gọi chung cho người xuất gia ở Ấn Độ thời xưa. Còn có nghĩa là “cảm tử”, tức là siêng năng tu giới, định, tuệ, phá trừ tham, sân,si,đó mới đúng với danh hiệu là “sa môn”.

Kinh văn : A-nan bạch Phật : “Có người học Phật, đem lại phước báu an lạc. Có người học Phật lại bị hao tổn, không đem lại kết quả tốt đẹp. Tại vì sao cũng đồng học Phật, kết quả lại khác nhau? Cúi mong Thế Tôn thương xót chúng con mà giải nói ”

Giảng: Đoạn kinh này là lời thưa hỏi của A-nan, Ngài thắc mắc hai vấn đề:
Thứ nhất, có người học Phật thì đem lại phước báu an lạc, mọi việc đều được thành tựu, toại nguyện như ý.
Thứ hai, cũng có người học Phật,nhưng không được kết quả như trên, lại còn hao tổn về tài sản, dịa vị và tất cả mọi việc không được toại nguyện như ý. Tại sao cùng học Phật mà kết quả lại khác nhau ? Cúi mong Thế Tôn từ bi thương xót chúng con, mà giảng nói đạo lý này cho chúng con rõ.
Đức Phật nói có ba nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Học Phật mà được phước báo.
Thứ hai: Học Phật không được kết quả tốt đẹp.
Thứ ba: Học Phật cần nên phá trừ mê tín, chấp trước.

yêu
Truyện ngắn
4-3-4-3-6-8
hú hồn...xỉu
cafe
đi cho biết đó đây
bói đây...
thông báo đổi tên
các mem có nhu cầu in ấn và thiết kế sách, xin vui lòng liên hệ mtl
chúc vui và như ý !
viết như thế nào là quyền của tôi, tôi thích. Còn đọc hay không, là quyền của
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-08-19 12:54:00minhthanh_love>

Kinh văn: Phật bảo A-nan :”Có người tôn kính vâng lời Phật dạy, gặp được minh sư,truyền trao giới pháp, lòng tin luôn chuyên nhất, tinh tấn phụng hành, nghiêm trì giới luật,dung mạo tươi sáng,sớm tối siêng năng đốt đèn cúng Phật, cung kính lễ bái cúng dường,bố thí an vui, không trái phạm cấm giới, trai giới luôn thanh tịnh, lòng vui vẻ, thường được chư thiên, thiện thần phò tri ủng hộ, mong muốn điều gì đều được tốt đẹp, hộ pháp thiện thần, trời người cung kính, sau tất đắc đạo, thiện nam tín nữ như thế là đệ tử chơn chánh của Phật”.

Giảng: Đoạn kinh này đức Phật giải thích câu hỏi của a-nan, nguyên do vì sao học Phật mà đem lại quả báo lành. Câu này phân ra làm ba điểm để thảo luận.
Thứ nhất: Người học Phật biết vâng lời thầy. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng :”thiện nam tử muốn thành tựu dduwwocj nhất thiết trí, không ngại khó khăn, không buông lung giải đãi, không kiêu ngạo tự mãn; luôn có tâm tùy thuận, không nhìn ngó lỗi người. Lúc thiện Tài đồng tử tìm cầu bậc thiện tri thức để học hỏi, tâm hồn luoon luôn vâng lời và cung kính bậc thiện tri thức, như người cha người mẹ hiền, khi được pháp lòng vui mừng khôn xiết.”
Do đây có thể biết, dù là người thế gian hay xuất thế gian. Việc tìm thầy cầuh ọc, điều trước tiên, người học phải có tâm kính trọng thầy giáo. Có tâm kính trọng thầy giáo thì sự nghiệp học tập mới thành tựu. Nếu được như thế thì nhất định sẽ sản sinh ra rất nhiều nhân tài, phục vụ cho quốc gia Xã hội đem đến cho toàn thể nhân loại một cuộc sống hòa bình và an lạc.
“gặp được minh sự, truyền thọ giới pháp”. Ngài Âu Dương Cánh vô nói rằng :”thầy nghĩa là lấy trí tuệ làm thể”, không lấy sự thành tự hoặc nghi thức làm thể. Kinh Pháp Hoa (2) nói : “Chư Phật Thế tôn vì một đại sự nhân duyên mà thị hiện ở đời, mục đích là khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật.” Trong kinh Niết Bàn (3), luận Du Già (4) không bộ nào mà không chú trọng đến tri kiến. Chỉ có tri kiến mới làm thầy của trời người. thầy của trời người là căn bản duy nhất của Phật Giáo.
“Minh sư” là chỉ vị thầy có sự chứng ngộ, thông đạt Phật pháp và thế gian một cách viên mãn, vô ngịa. Gnhiax là vị thầy đó thành tựu trọn vẹn hai mặt “đạo đức và trí tuệ”. Phật dạy chúng ta, muốn học Phật có kết quả, phải tìm cầu minh sư. Tuy vậy, đôi khi chúng ta gặp minh sư nhưng không học được điều gì ở nơi các Ngài. Nếu không có nhân duyên phúc đức nhiều đời, dù gặp nhưng khó có cầu học được. Nếu không tìm cầu được bậc minh sư, cũng nên cầu một vị chánh tri chánh kiến có kiến thức, học rộng nghe nhiều mà theo học.
Kinh nói rằng : “Y phất bất y nhơn”, nghĩa là nương vào giáo pháp của Phật mà tu học, không nương cầu ở người. trong kinh Niết bàn có kể câu chuyện một La sát ở núi tuyết Sơn, nghe nửa bài kệ liền giác ngộ. Vị thầy sáng suốt, thông đạt Phật pháp và pháp thế gian mới hướng dẫn chúng ta đi đúng đường. còn không thì chúng ta tu học dễ sai đường lạc lối. Với những người mới bước vào học Phật, nếu không gặp được bậc minh sư hướng dẫn, họ dễ rơi lạc vào những đường tà tâm ban đầu của họ thì sau này khó có thể buông bỏ được., dù họ có gặp được chân thiện tri thức cũng khoongg dễ dàng xóa hết những thành kiến và thay đổi cách nhìn nhận. Cho nên đối với người sơ phát tâm học Phật, việc lớn trước tiên phải thận trọng chọn thầy và tìm cầu bậc thiện tri thức.
“Thọ giới”: là tiếp nhận, là vâng theo sự chỉ dạy của thầy giáo. Hàm nghĩa chữ “giới” là học vấn, dung hòa giữa thân và tâm trong đời sống sinh hoạt. Học vấn tức sinh hoạt, sinh hoạt tức học vấn. Hiểu và hành, tu và học, lý và sự phải viên dung.
Tóm lại, ý câu kinh này nói, chúng ta muốn học Phật, phải tìm một vị thầy giởi, thông đạt về Phật pháp về phần sự và phần lý, cũng như thành tựu về đạo đức và trí tuệ để hướng dẫn, chúng ta cần nương vào đó mà phát khởi niềm tin để tu tập.

Kinh văn : Lòng tin chuyên nhất, tinh tấn phụng hành, không hủy phạm giới luật.
Giảng: Ba câu kinh này, nói về việc thờ thầy. Người xưa nói rằng :”Ở trong số quần thần của nhà vua, phải chọn một vị để làm quân sư cho mình”. Sách Lễ Ký nói rằng :”Khi quần thần lạy thiên tử thì xoay mặt về hướng bắc. Nhưng thiên tử vào trường học, trước khi học phải xoay mặt về hướng Nam, để lạy các bậc Thánh và thầy giáo.”
Đạo thờ thầy, đòi hỏi người học trò phải hết lòng cung kính. Tâm phải luôn thành thật. Khi lỗi lầm phải thành tâm sám hối, quyết lòng cải đổi, hết mình chăm lo cho thầy. Người xưa học đạo và tinh thần thờ thầy rất cao, người học đạo trước phải học tâm cung kính thầy giáo, đó là điều trọng yếu thứ nhất. Nếu thầy lỡ mất, người học trò phải để tang thầy ba năm. Tinh thần tôn sư trọng đạo là vậy, vì đây chính là nhân đạo, vì nhân đạo chính là sư đạo, cũng chính là Phật đạo. Đạo lý tôn kính thầy ở trong kinh đều nói đến. vì đây là con đường đầu tiên bước vào tu tập giải thoát giác ngộ của người học trò thành tựu được đạo đức trí tuệ. Người có tâm cung kính có lòng tin chuyên nhất thì không gây tạo tội ác. Nhất tâm không chướng ngại, còn gọi là tâm chuyên nhất. Không làm trái lời dạy, gọi là không phạm. Đây chính là phương pháp đầu tiên bước vào tu học giải hotats. Cư sĩ Dương Đại Viên nói rằng: “Phật giáo dạy người học trước pahir cầu căn bản trí, tức là vô tướng vô phân biệt, kế đến cầu hậu đắc trí, tức là phân biệt được tất cả các pháp”. Ngày xưa phương pháp giáo dục ở các trường dạy học tại Trung Quốc, đầu tiên là dạy trẻ nhỏ đọc bài trước, rồi học thuộc lòng từng câu chữ. Sau đó thầy giáo mới giảng giải. Khi giảng giải như thế thì tự nhiên học sinh tiếp nhận và hiểu một cách thấu đáo. Đây chính là tính nhất quán của tư tưởng văn hóa Á Đông. Học Phật cũng thế, điều trước tiên, người Phật tử chúng ta nên đọc tụng kinh, luận cho thuộc lòng, không tìm cầu kiến giải, đây tức là đi vào căn bản trí (5), khi thuần thục thì tự nhiên phát sanh thiện xảo. Do quá trình nghe, học, tư duy mà thành tựu trí tuệ, đây gọi là hậu đắc trí. Cho nên giữa hai nền văn hóa Đông Phương và Tây phương có sự khác nhau. Ở Đông phương sự giáo dục không vội vàng đi tìm lý giải trước, chủ yếu là bồi dưỡng “căn bản trí”, sau mới phát triển “hậu đắc trí.” Còn giáo dục ở Tây phương, người học lúc ban đầu đi tìm lý giải trước, cho nên phá hoại căn bản trí, làm mất đi cái dụng của hậu đắc trí. Đại sư Âu Dương nói rằng:”Những đạo lý thâm sâu trong kinh sách của thánh hiền để lại đến ngày nay, lớp trẻ không hề nghien cứu, đọc tụng, cho là không phù hợp với thời đại, nên phế bỏ. Đây là một điều rất tiếc, tương lai sẽ dần thiêu đốt hạt giống trí tuệ, không còn sinh khí nữa, thật đáng buồn.” Cho nên nói “niềm tin chuyên nhất không hủy phạm là tieeos nhận phương pháp giáo dục bất nhị môn (7) của nền giáo dục Phật đà.

yêu
Truyện ngắn
4-3-4-3-6-8
hú hồn...xỉu
cafe
đi cho biết đó đây
bói đây...
thông báo đổi tên
các mem có nhu cầu in ấn và thiết kế sách, xin vui lòng liên hệ mtl
chúc vui và như ý !
viết như thế nào là quyền của tôi, tôi thích. Còn đọc hay không, là quyền của
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-09-02 13:55:40minhthanh_love>
"Tinh tấn phụng hành" nghĩa là tâm tình thuần chuyên nhất, "ngày mới, ngày mới, ngày một mới". Mỗi chúng ta dũng mãnh hướng lên phía trước, ngày ngày cầu tiến, không thối chuyển, siêng năng tìm cầu kinh điển tài liệu Phật pháp để học hỏi. Vì kinh điển Phật pháp có tính chất vượt thời gian, không gian, là những nguyên lý, nguyên tắc thường hằng bất biến. Ngay điểm này chúng ta có thể thấy được bằng chứng xác thực. Lịch sử nhân loại trải qua những biến đổi thăng trầm, nhưng đối với chân lý Phật nói trong kinh không bị thời gian làm thay đổi. Các sách vở cũng như các tư tưởng khác, sự trình bày và giải thích đều mang tính cách thời đại, mỗi thời đại mỗi khác, nhu cầu con người cũng khác. Nhưng tác dụng của kinh điển văn hoá của đức Phật luôn khế hợp với mọi thời đại và đem lại lợi ích cho tất cả chúng sanh trong mọi thời mọi lúc. Đây chính là "căn bản trí" không bị biến đổi và sử dụng "hậu đắc trí" để tùy duyên hoá độ chúng sanh, làm cho tất cả đều được an vui tự tại. Đây chính là "tinh tấn" ngày mới, ngày mới, ngày một mới. Do vậy chúng ta thấy rằng, việc đọc sách, bảo quản sách, chính là không làm cho sách chết. Mỗi khi đọc, học đều áp dụng vào thực tế cuộc sống nhằm đem lại lợi ích cho mọi người. Cho nên nên giáo dục của Phật giáo "ngày mới ngày mới, càng tinh tấn", vĩnh viễn không dừng lại ở mọi thời đại và không bị lạc hậu hay bị phế bỏ. Siêng năng tinh tấn vâng theo lời chỉ dạy của thầy thì tự nhiên đối với con đường học vấn, càng ngày càng tiến bộ không bị thối thất.

Kinh văn : Thân thể sạch sẽ, sáng tối siêng năng lễ bái, hình tượng chứ Phật và Bồ -tát, cung kính đốt đèn cúng dường Phật, thực hành hạnh bố thí thì luôn được an vui, không làm trái với đạo, trai giới hằng thanh tịnh, trong tâm thường hoan hỷ.

Giảng : Đoạn này nói việc "tu học". Học mà thường thường thực tập những điều đã học đó, chẳng lẽ không vui sao ?"

"Thân thể sạch sẽ". Câu này chỉ cho tâm thành kính tu tập, lễ bái hình tượng Phật và Bồ tát. Lễ bái cũng dường không phải là mê tượng làm bằng chất liệu gỗ, đá...v..v.. và sự lễ lạy ở đây biểu hiện nét văn hoá rất cao của nền giáo dục Phật pháp. Nói đến Phật, Bồ tát thì không thể kể hết, các Ngài cũng không phải là những vị thần quyền năng ban ơn giáng hoạ, các Ngài chính là đại diện cho đức năng vô tận sẵn có trong tự tánh của mỗi chúng ta. Tượng Phật, danh hiệu Bồ tát là biểu thị cho quả đức. Ý nghĩa lễ kính Phật và Bồ tát là kính trọng hai đức tính đó. Mỗi chúng ta phải học đức tự trọng, từ ái, trang nghiêm, cung kính và dõng mãnh. Giống như tên "Thích -ca" nghĩa là "năng nhân" biểu thị cho đức tính nhân từ, "Mâu ni" nghĩa là "tịch mặc", biểu thị cho đức tánh thanh tịnh vắng lặng.
Địa tạng Bồ-tát. "Địa" nghĩa là đại địa rộng lớn, hàm chứa rất nhiều khoáng sản tài nguyên, biểu thị lòng hiếu đạo. Đây là cội gốc của sự tu tập. Đối với việc tu tập, đầu tiên là phải có đức tánh hiếu thuận.
Bồ tát Văn Thù biểu thị cho trí tuệ, Bồ tát Quán Âm biểu thị cho lòng đại bi, nhà Nho gọi là "lòng nhân". Bồ tát Di Lặc biểu thị lòng đại từ, nhẫn nhục, khoan dung. Bồ tát Phổ Hiền biểu thị cho tánh đức rộng lớn...Tất cả những hình tượng như thế trong Phật pháp rất nhiều rất nhiều, không thể nói hết. Giáo dục của Phật pháp qua hình tượng Phật và Bồ tát, giúp cho người học thấy được hình ảnh, nghe được danh hiệu, liền phát khởi tín tâm tu tập, chí hướng thượng mạnh mẽ. Thấy chân dung các bậcThanhs, phải quyết tâm làm giống như các Ngài, lấy hình tượng của các Ngài làm điển hình để xây dựng phẩm cách chân thiện mỹ cao đẹp ở nơi chính mình, như thế sao gọi là mê tín? Hơn nữa, đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni là vị thầy mô phạm đầy đủ đức hạnh và trí tuệ, các bậc Bồ tát là những người đến trường học đầu tiên. Cúng dường hình tượng, chính là dạy người tu học phải có tâm chân thật và lòng tôn kính. Phương cách giáo dục của Phật giáo là giúp mọi người qua lại cội gốc lúc ban đầu của chính mình, biết cung kính bậc Thánh hiền, bậc thiện tri thức. Người nào có tâm hạnh như thế, nhất định họ sẽ hướng đến việc thiện tạo phước đức cho xã hội, giúp tất cả mọi người được hạnh phúc an lạc. Đây là vấn đề rất thực tế và đúng nghĩa cúng dường hình tượng trong Phật giáo.
"Sạch sẽ" là nói đến thân tâm luôn sạch sẽ tinh khiết. Y theo lời Phật dạy, đây chính là biểu hiện sự thành kính nhất.
"Sớm tối bái lễ". Câu này nói về việc tu tâm. "Sớm tối" là nói đến thời khoá tu tập trong ngày. Người học Phật nhất định phải theo thời khoá công phu. "Lễ bái" là học lễ, học tâm cung kính đối với tất cả mọi người. Khổng tử nói : "Bất tri lễ vô dĩ lập giả", nghĩa là không biết lễ, không thể thành tựu được. Ý nói, "Bậc quân tử lấy nghĩa làm gốc để hành sự", huống nữa nói đến phương cách lễ bái tượng Phật. Lễ bái tượng Phật và Bồ tát là thực hành nguyên lý thiền định còn gọi là động tịnh vô ngại. Đạo lý mà chúng ta đang thực hành là phương pháp động tịnh không hai. Nouis đúng hhown đây là một phương pháp dưỡng sinh rất tốt, giúp chúng ta vận động cơ thể, đem lại sức khoẻ tốt nhất. Sáng sớm ngủ dậy lạy một trăm lạy như thế, trong sự vi diệu của Phật phápbieeyt đâu có vài người đắc đạo.
"Đốt đèn" chính là tu tâm. "Đèn" biểu tượng cho ánh sáng quan minh, là năng lực trí tuệ và cũng tượng trưng cho lòng chân thành, từ bi và trí tuệ vốn đầy đủ nơi mỗi chúng ta.
"Cung kính đốt đèn" là chúng ta phải cung kính và đốt đèn trí tuệ ơi chính mình. Toả ánh sáng khắp muôn nơi. Do vậy, khi đốt đèn chúng ta phải hết sức thành kính, đốt lên ngọn lửa trí tuệ nơi chính mình. Đốt lên ngọn lửa tinh tấn làm phát ra ánh sáng chiếu diệu vô cùng vô tận, để cứu giúp muôn loài chúng sanh. Haicaai này giống câu nói của Không Tử "ham học là gần trí tuệ", Ngài rất chú trọng đến việc học.
"Bố thí thì được an vui, không trái đạo cấm". Hai câu này chỉ việc tu hành. "Tu" là sửa, "hành" là hành vi bất thiện nơi chính mình. Tâm của phàm phu luôn bị ba độc tham sân si làm chướng ngại, che mờ chân tâm không hiển lộ trí tuệ được. Nghiệp là do tham đắm vào sắc tài, với lòng tham cầu không biết đủ, rồi gây tạo ra vô số nghiệp ác, tự mình mở cửa địa ngục đi vào ba đường ác thật là đáng thương.
Phật dạy chúng ta, muốn phát triển và thành tựu trên con đường tu học là phá mê, khai ngộ, lìa khổ được vui. Đó là thực hành hạnh "tịnh thí". "Tịnh" là thanh tịnh, "thí" tức là bố thí, là buông xuống. Tịnh thí giúp cho thân tâm của chúng ta được thanh tịnh an lạc. Thực hành hạnh này, đòi hỏi chúng ta phải có tâm khiêm hạ và cung kính. Phật giáo Đại Thừa gọi là : lìa tướng bố thí, nghĩa là thi ân mà không mong cầu báo đáp, thí xả một cách vô điều kiện. Công đức của "tịnh thí" giúp chúng ta phá trừ tâm tham sân si. Dứt bỏ các việc ác, đem lại an vui và hạnh phúc cho tất cả mọi người, đồng thời giúp chúng ta thực tập hạnh buông bỏ, phá trừ si mê chấp trước, sự lý viên dung, thân tâm an lạc, tự tại giải thoát. Do đây nên biết tịnh thí là chánh nhân của việc tu hành.
Muốn được an vui tự tại. Chúng ta phải có tâm chân thật, thành khẩn, tu sửa những hành vi bất thiện của chúng ta, từ đây mới có được kết quả như đã mong muốn.
"Không trái với đạo cấm". Chữ "đạo" là nói về phần lý. Chữ "cấm" là nói về phần sự. Ý nghĩa câu này, khuyên nhắc chúng ta, luôn luôn hướng tâm đến việc tu học theo giáo pháp của đức Phật đã truyền dạy. Dù hoàn cảnh thế nào, chúng ta cũng không dám trái phạm. Khi đối nhân xử thế không được làm những điều trái với cấm giới của Phật đã chế như : năm giới, thập thiện giới... Muốn làm người tốt, khi hành xửa một điều gì, đều phải nương vào đạo lý để hành xử. Hai câu kinh này giống câu "lực hành cận hồ nhân", nghĩa là ra sức làm việc thiện là gần với điều nhân mà Khổng Tử đã nói. Ngài chú trọng đến việc thực hành.

"Trai giới không chán". Câu này chỉ về công phu tu ặp. Tâm thanh tịnh gọi là "trai". Đức Phật dạy chúng ta, mục đích của việc tu học cốt làm cho sáu căn thanh tịnh, không nhiễm một chút dơ cấu nào, "tâm hằng thanh tịnh". Tâm thanh tịnh thì đầy đủ vô lượng phước huệ. Sở dĩ tâm chúng ta không được thanh tịnh, nguyên nhân là do quá nhiều tập khí vọng tưởng chấp trước, nên không thể tiến đạo và chứng đắc được. Đây là một điều làm cho chúng ta thật đáng hổ thẹn và tủi nhục đối với các bậc tiền bối.
Phật dạy chúng ta cần phải học "giới". Ý nghĩa của "giới" là ngăn lại, dừng lại; dừng lại tất cả vọng niệm những tập khí tham sân si ..v.v..., trở về với bản tâm thanh tịnh sẵn có nơi mỗi chúng ta. Hai chữ "trai giới" chính là "sám hối nghiệp chướng", là pháp môn tu tập thù thắng và hiệu lực nhất giúp chúng ta "hàng phục được những vọng tâm của mình". Nghiệp chướng dứt trừ thì tâm thanh tịnh, bình đẳng, từ bi trí huệ hiển lộ. Lúc đó gọi là thành Phật. Do vậy pháp tu "trai giới" không thể tính đếm thời gian, phải luôn chuyên nhất liên tục không mỏi mệt, không chán bỏ công phu tu tập, như vậy mới thành tựu viên mãn được."Không chán bỏ" còn có ý nghĩa "không thối chuyển", không thối chuyển còn gọi là "đại dõng mãnh", chúng ta cần phải thông hiểu vấn đề này cho rõ ràng.
"Trong tâm thường vui vẻ". Câu này nói công đức viên mãn, pháp hỷ đầy đủ. Ngay đó cảm nhận được nguồn hạnh phúc an lạc chân thật ngay chính mình thì còn gì vui bằng!
Theo đạo lý và phương pháp tu tập như đoạn kinh này đã nói, chúng ta luôn tỉnh giác tu sửa từng hành vi nơi thân tâm của mình, thì nhất định trong cuộc sống sinh hoạt chúng ta sẽ đạt được nhiều điều hạnh phúc, an lạc. Như vậy chúng ta mới cảm nhận được ý nghĩa, giá trị đích thực của cuộc sống.
Đoạn kinh trên thật vô cùng quan trọng, chúng ta cần phải lưu ý.

yêu
Truyện ngắn
4-3-4-3-6-8
hú hồn...xỉu
cafe
đi cho biết đó đây
bói đây...
thông báo đổi tên
các mem có nhu cầu in ấn và thiết kế sách, xin vui lòng liên hệ mtl
chúc vui và như ý !
viết như thế nào là quyền của tôi, tôi thích. Còn đọc hay không, là quyền của
Đăng nhập để trả lời
0