<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-08 04:02:56vvn>
Mạn Đàm Về Thơ Tàu, Việt, Nhật
Thiên Nhất Phương
Trải hơn ngàn năm Bắc thuộc, Trung Hoa đã gieo nhiều ảnh hưởng sâu đậm trong nền văn hóa Việt Nam. Về học thuật, người Việt từng dùng chữ Hán làm văn tự chính thức, dung hòa các triết thuyết Nho, Phật, Lão, áp dụng vào đời sống vật chất lẫn tinh thần.
Riêng về mặt văn chương, giới sĩ phu từng làm thơ, viết văn bằng chữ Hán, sử dụng mọi hình thức cấu tạo thơ văn của Tàu như thi, phú, kinh nghĩa, văn sách, từ khúc, hịch, văn tế v.v... Đến đời Hàn Thuyên có sáng kiến làm thơ phú bằng chữ Nôm, nhưng luật thơ do ông đặt ra (gọi là Hàn Luật) cũng là ứng dụng Đường Luật của Tàu.
Liên quan giữa hai dân tộc Việt-Hoa rất mật thiết, về văn tự, mà ngôn ngữ cũng có điểm tương hợp, nên người Việt đã cấu tạo được chữ Nôm (dựa theo cấu trúc chữ Hán) và phát âm được tiếng Hán Việt (chữ Tàu đọc theo tiếng Nam). Về phát âm, chẳng hạn bài thơ Đường "Phong Kiều Dạ Bạc" (của Trương Kế), ta đọc theo giọng Hán Việt:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đôi sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Dịch:
Trăng xế quạ kêu mờ mịt sương
Lửa chài cây bến gã nằm suông
Thành Cô xa vợi chùa Hàn khuất
Thuyền khách canh khuya vẳng tiếng chuông
Theo nguyên văn thì phải chép bằng chữ Hán và đọc theo giọng Tàu như sau:
Uỵt loọc vú thày sướng mán thín
Coóng phống dì phổ túi sàu mìn
Cù Cháu sèng ngồi Hồn Sán sì
Dề pan chống sèng lâu hắc sìn
(theo Hồ Dzếnh)
Thật vậy, tương quan ảnh hưởng Hoa-Việt đã làm phong phú kho tàng văn chương Việt Nam và lịch sử, tư tưởng, văn học Trung Hoa đã cung cấp cho Việt Nam nhiều chất liệu đáng kể (tức là thành ngữ, điển tích).
Thi ca cổ điển của ta, về hình thức cấu tạo, đã mượn của Tàu những thể thơ theo Đường Luật như Thất Ngôn Bát Cú (7 chữ 8 câu), Thất Ngôn Tứ Tuyệt (7 chữ 4 câu), Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt (5 chữ 4 câu), Ngũ Ngôn Cổ Phong (5 chữ, hơn 4 câu). Văn xuôi thì có phú, kinh sách, chiếu biểu... thường gọi là văn chương bát cổ (văn tám vế) và đối.
Khi sáng tác thơ văn, các thi gia, văn nhân Việt Nam thường dùng điển cố của Trung Hoa, cũng như người Âu Tây dùng điển cố La Mã, Hy Lạp. Từ ngữ Trung Hoa cũng làm giầu thêm cho ngôn ngữ Việt, vì có những ý tưởng không thể diễn bằng chữ Nôm.
Tuy nhiên khi nói về thơ Tàu và thơ ta thì vẫn có những dị đồng và mỗi bên đều có cá tính riêng biệt.
Thời đại hoàng kim của thi ca Trung Hoa là vào đời Đường. Chính thơ Đường Luật đã nẩy sinh trong thời kỳ này, nên thi ca sáng tác thường gọi là Đường Thi (thơ Đường). Và hầu như thơ Đường đã áp đảo tất cả thơ ở các đời khác, nên khi nói đến thơ Trung Hoa là người ta nghĩ đến thơ Đường, hay cũng có thể nói Đường Thi là thơ Tàu hoặc thơ Tàu là Đường Thi.
Thơ Đường có 3 thời kỳ: Sơ Đường (thời kỳ đầu), Thịnh Đường (thời kỳ giữa), Vãn Đường (thời kỳ cuối).
Thời Thịnh Đường là thời kỳ thi ca Trung Hoa phát triển nhất với những tuyệt tác của các nhà thơ như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Thôi Hiệu v.v... mà vua Tự Đức đã có câu thơ ca ngợi hai nhà thơ Việt Nam có tài năng vượt các nhà thơ Tàu:
Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán
Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường
(tức là Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương).
Tuy vua Tự Đức nói quá vậy, chứ thật sự thì các vị Tùng, Tuy với các tác phẩm bằng Hán văn, không thể nào vượt được các nhà thơ Đường. Văn chương của người chính quốc bao giờ cũng có những đặc tính và nét độc đáo, do bản chất cấu tạo ngôn ngữ, ngữ điệu, ngữ sắc riêng của họ. Cũng như Phạm Duy Khiêm, dù là thạc sĩ văn phạm Pháp, khi viết văn Pháp không thể nào hay hơn các nhà văn Pháp được.
Hoặc khi Hồ Tông Thốc, đời Trần, sửa thơ Vương Bột (Tàu):
Lạc hà dữ cô lộ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc
(Ráng chiều với cánh cò lẻ cùng bay
Sông thu hợp bầu trời rộng một sắc)
Thành ra:
Lạc hà cô lộ tề phi
Thu thủy trường thiên nhất sắc
(Ráng chiều cánh cò lẻ cùng bay
Sông thu bầu trời rộng một sắc)
Để câu thơ gọn hơn, Hồ Tông Thốc bỏ hai chữ "dữ" và "cộng" trong thơ Vương Bột, cho là thừa và bỏ đi hai chữ đó câu thơ vẫn đủ ý nghĩa.
Người ta kể chuyện Hồ Tông Thốc sửa thơ Vương Bột là một thiên giai thoại văn chương để đề cao nhà thơ Việt, chứ hai câu thơ được sửa lại đó không thể nào hay hơn nguyên tác được.
Trở lại vấn đề thơ Đường, về mặt hình thức thơ, có các loại: Thất Ngôn Bát Cú, Thất Ngôn Tứ Tuyệt, Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt, Ngũ Ngôn Cổ Phong.
Loại Thất Ngôn Bát Cú như bài Thu Hứng của Đỗ Phủ:
ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
vu sơn vu giáp khí tiều sâm
giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
tái phượng phong vân tiếp địa âm
tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
cô chu nhất hệ cố viên tâm
hàn y xứ xứ thôi đao xích
bạch đế thành cao cấp mộ châm
Dịch: Cảm Hứng Mùa Thu
Rũ rượi rừng phong sương trắng bay
Non vu lạnh lẽo khí âm đầy
Lòng sông cuồn cuộn trời tung sóng
Đầu ải mịt mờ đất rợp mây
Hoa nở đất người hai lượt cúc
Thuyền neo quê mẹ một vòng dây
Nơi nơi lạnh giục người may áo
Thành Bạch chiều hôm vội nhịp chầy.
Loại Thất Ngôn Tứ Tuyệt như bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế (đã dẫn ở trên)
Loại Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt như bài Xuân Hiểu của Mạnh Hạo Nhiên:
xuân miên bất giác hiểu
xứ xứ văn đề điểu
dạ lai phong vũ thanh
hoa lạc tri đa thiểu
Dịch: Sáng Xuân
Giấc xuân sáng nào biết
Khắp nơi chim ríu rít
Đêm nghe tiếng gió mưa
Hoa rụng nhiều hay ít?
Loại Ngũ ngôn Cổ Phong như bài Vô Đề Thi của Vương Phạm Chí:
tích ngã vị sinh thì
minh minh vô sở tri
thiên công hốt sinh ngã
sinh ngã phục hà vi
vô y sử ngã hàn
vô phạn sử ngã ky
hoàn nhĩ thiên sinh ngã
hoàn ngã vị sinh thì
Dịch: Thơ Không Đề
Xưa ta chưa sinh trưởng
Mơ màng chẳng biết chi
Chợt trời sinh ta đó
Sinh ta để làm gì
Không áo ta từng lạnh
Không cơm đói có khi
Trả trời sinh ta đó
Chưa sinh trả ta đi.
Thơ Tàu theo Đường Luật, nhất là thể Thất Ngôn Bát Cú, bị ràng buộc bởi nhiều yếu tố chặt chẽ về hình thức như: niêm vận (chữ vần hợp nhau ở vị trí nhất định trong 8 câu), âm luật (tiếng bằng trắc thích hợp đối xứng nhau trong toàn bài), đối (câu 3, 4, 5, 6 trong bài đối nhau từng cặp và từng chữ một).
Về nội dung thì ý tưởng toàn bài được diễn tả theo trình tự: Khai (mở đầu), Thừa (tiếp nối), Chuyển (dời qua), Nhập (vào sâu), Kết (tóm lại).
Một mẫu điển hình về thơ Việt Nam theo Đường Luật là bài Thăng Long Thành Hoài Cổ của bà Huyện Thanh Quan:
(khai)
1 - tạo hóa gây chi cuộc hí trường
(thừa)
2 - đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
(chuyển)
3 - lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
4 - nền cũ lâu đài bóng tịch dương
(nhập)
5 - đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
6 - nước còn cau mặt với tang thương
(kết)
7 - nghìn năm gương cũ soi kim cổ
8 - cảnh đấy người đây luống đoạn trường
Bài thơ chia làm 2 phần:
1 - Hình Thức:
- Các chữ có gạch ở dưới là niêm (dính nhau theo tiếng bằng, trắc - bằng: không dấu, huyền; trắc: dấu sắc, nặng, hỏi và ngã).
- Các chữ đậm và nghiêng là vận (có vần hợp nhau).
- Tiếng bằng, trắc đối lập nhau từng chữ trong 8 câu (trừ 2 vần cuối câu 1 và 2).
- Các câu 3, 4, 5, 6 vừa đối nhau từng chữ, vừa đối ý từng câu (theo luật bằng trắc).
2 - Nội Dung:
Câu 1 - 2: Ý niệm mở đầu và nối tiếp về thời gian biến động.
Câu 3 - 4: Dời qua ý tưởng cảnh vật thay đổi của con người.
Câu 5 - 6: Đi sâu vào tính chất trường tồn của thiên nhiên.
Câu 7 - 8: Kết thúc với niềm hoài cảm của tác giả về cố đô Thăng Long.
Thời trước, các nhà thơ Việt thường mượn các thể thơ của Tàu nhưng vẫn sáng tạo thêm được các thể thơ riêng như thể Lục Bát (câu 6 và 8 chữ), Ca Trù (tổng hợp các thể thơ 6-8 chữ, 7-8-5 chữ, đặc biệt có vài câu thơ chữ Hán xen lẫn giữa những câu thơ Nôm). Thí dụ:
- Thể Lục Bát như trong Truyện Kiều:
Trăm năm trong cõi người ta (6)
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (8)
Trải qua một cuộc bể dâu (6)
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng (8)
- Thể Song Thất Lục Bát như trong Chinh Phụ Ngâm:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi (7)
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên (6)
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này (8)
- Thể Ca Trù như bài Vịnh Tiền Xích Bích của Nguyễn Công Trứ:
Gió trăng chứa một thuyền đầy (6)
Của kho vô tận biết ngày nào vơi (8)
Ông Tô Tử qua chơi Xích Bích (7)
Một con thuyền với một túi thơ (7)
Gió hiu hiu mặt nước như tờ (7)
Trăng chếch chếch đầu non mới ló (7)
Thuyền một lá xông ngang ghềnh bạch lộ (8)
Buông chèo hoa len lỏi chốn sơn cương (8)
quế trạo hề lan tương (5 - chữ Hán)
kích không minh hề tố lưu quang (7 - chữ Hán)
diểu diểu hề dư hoài (5 - chữ Hán)
vọng mỹ nhân hề thiên nhấ't phương (7 - chữ Hán)...
Hình thức cấu tạo các thể thơ Việt đơn giản hơn thơ Đường Luật. Thể Lục Bát vần ở các chữ thứ 6, 8 trong câu (có gạch ở dưới). Thể Song Thất Lục Bát vần ở các chữ thứ 7, 5 trong câu. Thể Ca Trù có vần tương tự như các thể thơ Lục Bát và Song Thất Lục Bát.
Về hình thức, thơ Tàu chuộng lối đoản thiên (ngắn) theo thể Đường Luật để bài thơ có tính chất hàm súc. Thơ ta thường được cấu tạo theo lối trường thiên (dài) với thể Lục Bát hoặc Song Thất Lục Bát để sáng tác truyện thơ, nên có tính chất dàn trải.
Về nội dung, thơ Tàu biểu hiện một nhân sinh quan phóng khoáng, ảnh hưởng tư tưởng Lão, Trang (như thơ Vương Duy, Lý Bạch), có khuynh hướng xã hội như thơ Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Đỗ Mục hay mô tả cảnh vật thiên nhiên liên quan đến cuộc sống nhàn dật (rất nhiều nhà thơ đời Đường, Tống). Thơ ta phản ảnh nếp sống của các thi gia chịu ảnh hưởng của tam giáo hòa đồng (Nho, Phật, Lão), nhất là đời Lý, Trần có các thiền sư thi gia sáng tác thơ nặng tinh thần trung quân ái quốc như các tướng đời Trần (Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Đặng Dung), đời Lê (như Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn...). Một số khác, sáng tác thi ca bằng chữ Hán lẫn Nôm, phần lớn là ngâm, truyện như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Hoa Tiên, Kiều... là những áng văn chương đề cao trung, hiếu, tiết, nghĩa và có ít nhiều tính chất trữ tình. Qua thi ca Việt, người ta còn nhận thức được đường lối xuất xử của kẻ sĩ. Khi còn trẻ, gắng công dùi mài kinh sử hoặc trau dồi võ học để có cơ hội ra phò vua giúp nước hoặc trả nợ tang bồng khi đất nước cần đến tài lực đánh nam dẹp bắc:
tang bồng hồ thỉ nam nhi trái
cái công danh là cái nợ nần (Nguyễn Công Trứ)
Đến tuổi già thì lui về vườn hưởng thú điền viên hay nhàn cư:
nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo
thảnh thơi thơ túi rượu bầu (Nguyễn Công Trứ).
Song song với dòng thơ cổ điển trên, Việt Nam còn có một kho tàng thi ca bình dân phong phú (ca dao), phản ảnh nếp sống vật chất, tinh thần và tình cảm của người dân nơi đồng ruộng.
Thơ Nhật có phần khác thơ Tàu và thơ Việt. Tiêu biểu của thi ca Nhật là thơ Hài Cú, được biết nhiều trên thế giới như là nét đặc thù của văn chương Nhật nói riêng, văn hóa Nhật nói chung. Người Âu Mỹ biết ít nhiều về Đường Thi của Tàu, không biết gì về thơ Việt Nam, ngoại trừ đôi tiếng vang về truyện Kiều qua các bản Pháp dịch. Nhưng họ lại biết nhiều về thơ Nhật, nhất là thơ Hài Cú qua các bản Anh dịch và các tác phẩm giới thiệu, bình phẩm về loại thơ này.
Trước khi đề cập đến thơ Hài Cú, cần biết qua các loại thơ cổ điển có trước thơ Hài Cú. Đó là các loại Choka (thơ trường thiên), Tanka (thơ đoản thiên), Renga (thơ liên hoàn).
Thơ Choka có từ 3 đến hơn 100 đoạn thơ, mỗi đoạn gần khoảng 12 từ (chữ).
Ví dụ: (đọc từ trái sang phải)
Mùa đông giăng mắc | mùa xuân cởi mở
buổi sáng | móc trắng nhẹ rơi
buổi chiều | sương mù giăng khơi
trên đồng | dưới nhành cây con
sơn ca hót!
Thơ Tanka là loại thơ trừ tình với hình thức tiêu biểu gồm các câu có 5-7-5-7-7 từ.
Ví dụ: (đọc từ trái sang phải)
Cơn gió vào mùa thu | bây giờ trở nên mát mẻ hơn
bầy ngựa bước sóng hàng | nào cùng nhau đi tới đồng cỏ
ngắm nhìn hoa dại bừng nở
Thơ Renga là loại thơ liên hoàn gồm nhiều đoạn với những câu có 5-7-5 từ hoặc 7-7 từ, thường do hai hoặc nhiều thi gia hợp tác. Thơ Renga điển hình có từ 36, 50, 100, 1000 (hoặc hơn) đoạn thơ.
Ví dụ: Gió Sớm Mai
Cơn gió buổi sớm mai
thổi tan đi mây mù chuyển mưa
lắc lư chùm bông liễu
(Philip)
một đàn trẻ nhỏ cùng đua nhau
bước lên chiếc xe buýt du lịch
(Tadashi)
Thiên Nhất Phương
Trải hơn ngàn năm Bắc thuộc, Trung Hoa đã gieo nhiều ảnh hưởng sâu đậm trong nền văn hóa Việt Nam. Về học thuật, người Việt từng dùng chữ Hán làm văn tự chính thức, dung hòa các triết thuyết Nho, Phật, Lão, áp dụng vào đời sống vật chất lẫn tinh thần.
Riêng về mặt văn chương, giới sĩ phu từng làm thơ, viết văn bằng chữ Hán, sử dụng mọi hình thức cấu tạo thơ văn của Tàu như thi, phú, kinh nghĩa, văn sách, từ khúc, hịch, văn tế v.v... Đến đời Hàn Thuyên có sáng kiến làm thơ phú bằng chữ Nôm, nhưng luật thơ do ông đặt ra (gọi là Hàn Luật) cũng là ứng dụng Đường Luật của Tàu.
Liên quan giữa hai dân tộc Việt-Hoa rất mật thiết, về văn tự, mà ngôn ngữ cũng có điểm tương hợp, nên người Việt đã cấu tạo được chữ Nôm (dựa theo cấu trúc chữ Hán) và phát âm được tiếng Hán Việt (chữ Tàu đọc theo tiếng Nam). Về phát âm, chẳng hạn bài thơ Đường "Phong Kiều Dạ Bạc" (của Trương Kế), ta đọc theo giọng Hán Việt:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đôi sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Dịch:
Trăng xế quạ kêu mờ mịt sương
Lửa chài cây bến gã nằm suông
Thành Cô xa vợi chùa Hàn khuất
Thuyền khách canh khuya vẳng tiếng chuông
Theo nguyên văn thì phải chép bằng chữ Hán và đọc theo giọng Tàu như sau:
Uỵt loọc vú thày sướng mán thín
Coóng phống dì phổ túi sàu mìn
Cù Cháu sèng ngồi Hồn Sán sì
Dề pan chống sèng lâu hắc sìn
(theo Hồ Dzếnh)
Thật vậy, tương quan ảnh hưởng Hoa-Việt đã làm phong phú kho tàng văn chương Việt Nam và lịch sử, tư tưởng, văn học Trung Hoa đã cung cấp cho Việt Nam nhiều chất liệu đáng kể (tức là thành ngữ, điển tích).
Thi ca cổ điển của ta, về hình thức cấu tạo, đã mượn của Tàu những thể thơ theo Đường Luật như Thất Ngôn Bát Cú (7 chữ 8 câu), Thất Ngôn Tứ Tuyệt (7 chữ 4 câu), Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt (5 chữ 4 câu), Ngũ Ngôn Cổ Phong (5 chữ, hơn 4 câu). Văn xuôi thì có phú, kinh sách, chiếu biểu... thường gọi là văn chương bát cổ (văn tám vế) và đối.
Khi sáng tác thơ văn, các thi gia, văn nhân Việt Nam thường dùng điển cố của Trung Hoa, cũng như người Âu Tây dùng điển cố La Mã, Hy Lạp. Từ ngữ Trung Hoa cũng làm giầu thêm cho ngôn ngữ Việt, vì có những ý tưởng không thể diễn bằng chữ Nôm.
Tuy nhiên khi nói về thơ Tàu và thơ ta thì vẫn có những dị đồng và mỗi bên đều có cá tính riêng biệt.
Thời đại hoàng kim của thi ca Trung Hoa là vào đời Đường. Chính thơ Đường Luật đã nẩy sinh trong thời kỳ này, nên thi ca sáng tác thường gọi là Đường Thi (thơ Đường). Và hầu như thơ Đường đã áp đảo tất cả thơ ở các đời khác, nên khi nói đến thơ Trung Hoa là người ta nghĩ đến thơ Đường, hay cũng có thể nói Đường Thi là thơ Tàu hoặc thơ Tàu là Đường Thi.
Thơ Đường có 3 thời kỳ: Sơ Đường (thời kỳ đầu), Thịnh Đường (thời kỳ giữa), Vãn Đường (thời kỳ cuối).
Thời Thịnh Đường là thời kỳ thi ca Trung Hoa phát triển nhất với những tuyệt tác của các nhà thơ như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Thôi Hiệu v.v... mà vua Tự Đức đã có câu thơ ca ngợi hai nhà thơ Việt Nam có tài năng vượt các nhà thơ Tàu:
Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán
Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường
(tức là Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương).
Tuy vua Tự Đức nói quá vậy, chứ thật sự thì các vị Tùng, Tuy với các tác phẩm bằng Hán văn, không thể nào vượt được các nhà thơ Đường. Văn chương của người chính quốc bao giờ cũng có những đặc tính và nét độc đáo, do bản chất cấu tạo ngôn ngữ, ngữ điệu, ngữ sắc riêng của họ. Cũng như Phạm Duy Khiêm, dù là thạc sĩ văn phạm Pháp, khi viết văn Pháp không thể nào hay hơn các nhà văn Pháp được.
Hoặc khi Hồ Tông Thốc, đời Trần, sửa thơ Vương Bột (Tàu):
Lạc hà dữ cô lộ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc
(Ráng chiều với cánh cò lẻ cùng bay
Sông thu hợp bầu trời rộng một sắc)
Thành ra:
Lạc hà cô lộ tề phi
Thu thủy trường thiên nhất sắc
(Ráng chiều cánh cò lẻ cùng bay
Sông thu bầu trời rộng một sắc)
Để câu thơ gọn hơn, Hồ Tông Thốc bỏ hai chữ "dữ" và "cộng" trong thơ Vương Bột, cho là thừa và bỏ đi hai chữ đó câu thơ vẫn đủ ý nghĩa.
Người ta kể chuyện Hồ Tông Thốc sửa thơ Vương Bột là một thiên giai thoại văn chương để đề cao nhà thơ Việt, chứ hai câu thơ được sửa lại đó không thể nào hay hơn nguyên tác được.
Trở lại vấn đề thơ Đường, về mặt hình thức thơ, có các loại: Thất Ngôn Bát Cú, Thất Ngôn Tứ Tuyệt, Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt, Ngũ Ngôn Cổ Phong.
Loại Thất Ngôn Bát Cú như bài Thu Hứng của Đỗ Phủ:
ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
vu sơn vu giáp khí tiều sâm
giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
tái phượng phong vân tiếp địa âm
tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
cô chu nhất hệ cố viên tâm
hàn y xứ xứ thôi đao xích
bạch đế thành cao cấp mộ châm
Dịch: Cảm Hứng Mùa Thu
Rũ rượi rừng phong sương trắng bay
Non vu lạnh lẽo khí âm đầy
Lòng sông cuồn cuộn trời tung sóng
Đầu ải mịt mờ đất rợp mây
Hoa nở đất người hai lượt cúc
Thuyền neo quê mẹ một vòng dây
Nơi nơi lạnh giục người may áo
Thành Bạch chiều hôm vội nhịp chầy.
Loại Thất Ngôn Tứ Tuyệt như bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế (đã dẫn ở trên)
Loại Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt như bài Xuân Hiểu của Mạnh Hạo Nhiên:
xuân miên bất giác hiểu
xứ xứ văn đề điểu
dạ lai phong vũ thanh
hoa lạc tri đa thiểu
Dịch: Sáng Xuân
Giấc xuân sáng nào biết
Khắp nơi chim ríu rít
Đêm nghe tiếng gió mưa
Hoa rụng nhiều hay ít?
Loại Ngũ ngôn Cổ Phong như bài Vô Đề Thi của Vương Phạm Chí:
tích ngã vị sinh thì
minh minh vô sở tri
thiên công hốt sinh ngã
sinh ngã phục hà vi
vô y sử ngã hàn
vô phạn sử ngã ky
hoàn nhĩ thiên sinh ngã
hoàn ngã vị sinh thì
Dịch: Thơ Không Đề
Xưa ta chưa sinh trưởng
Mơ màng chẳng biết chi
Chợt trời sinh ta đó
Sinh ta để làm gì
Không áo ta từng lạnh
Không cơm đói có khi
Trả trời sinh ta đó
Chưa sinh trả ta đi.
Thơ Tàu theo Đường Luật, nhất là thể Thất Ngôn Bát Cú, bị ràng buộc bởi nhiều yếu tố chặt chẽ về hình thức như: niêm vận (chữ vần hợp nhau ở vị trí nhất định trong 8 câu), âm luật (tiếng bằng trắc thích hợp đối xứng nhau trong toàn bài), đối (câu 3, 4, 5, 6 trong bài đối nhau từng cặp và từng chữ một).
Về nội dung thì ý tưởng toàn bài được diễn tả theo trình tự: Khai (mở đầu), Thừa (tiếp nối), Chuyển (dời qua), Nhập (vào sâu), Kết (tóm lại).
Một mẫu điển hình về thơ Việt Nam theo Đường Luật là bài Thăng Long Thành Hoài Cổ của bà Huyện Thanh Quan:
(khai)
1 - tạo hóa gây chi cuộc hí trường
(thừa)
2 - đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
(chuyển)
3 - lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
4 - nền cũ lâu đài bóng tịch dương
(nhập)
5 - đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
6 - nước còn cau mặt với tang thương
(kết)
7 - nghìn năm gương cũ soi kim cổ
8 - cảnh đấy người đây luống đoạn trường
Bài thơ chia làm 2 phần:
1 - Hình Thức:
- Các chữ có gạch ở dưới là niêm (dính nhau theo tiếng bằng, trắc - bằng: không dấu, huyền; trắc: dấu sắc, nặng, hỏi và ngã).
- Các chữ đậm và nghiêng là vận (có vần hợp nhau).
- Tiếng bằng, trắc đối lập nhau từng chữ trong 8 câu (trừ 2 vần cuối câu 1 và 2).
- Các câu 3, 4, 5, 6 vừa đối nhau từng chữ, vừa đối ý từng câu (theo luật bằng trắc).
2 - Nội Dung:
Câu 1 - 2: Ý niệm mở đầu và nối tiếp về thời gian biến động.
Câu 3 - 4: Dời qua ý tưởng cảnh vật thay đổi của con người.
Câu 5 - 6: Đi sâu vào tính chất trường tồn của thiên nhiên.
Câu 7 - 8: Kết thúc với niềm hoài cảm của tác giả về cố đô Thăng Long.
Thời trước, các nhà thơ Việt thường mượn các thể thơ của Tàu nhưng vẫn sáng tạo thêm được các thể thơ riêng như thể Lục Bát (câu 6 và 8 chữ), Ca Trù (tổng hợp các thể thơ 6-8 chữ, 7-8-5 chữ, đặc biệt có vài câu thơ chữ Hán xen lẫn giữa những câu thơ Nôm). Thí dụ:
- Thể Lục Bát như trong Truyện Kiều:
Trăm năm trong cõi người ta (6)
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (8)
Trải qua một cuộc bể dâu (6)
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng (8)
- Thể Song Thất Lục Bát như trong Chinh Phụ Ngâm:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi (7)
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên (6)
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này (8)
- Thể Ca Trù như bài Vịnh Tiền Xích Bích của Nguyễn Công Trứ:
Gió trăng chứa một thuyền đầy (6)
Của kho vô tận biết ngày nào vơi (8)
Ông Tô Tử qua chơi Xích Bích (7)
Một con thuyền với một túi thơ (7)
Gió hiu hiu mặt nước như tờ (7)
Trăng chếch chếch đầu non mới ló (7)
Thuyền một lá xông ngang ghềnh bạch lộ (8)
Buông chèo hoa len lỏi chốn sơn cương (8)
quế trạo hề lan tương (5 - chữ Hán)
kích không minh hề tố lưu quang (7 - chữ Hán)
diểu diểu hề dư hoài (5 - chữ Hán)
vọng mỹ nhân hề thiên nhấ't phương (7 - chữ Hán)...
Hình thức cấu tạo các thể thơ Việt đơn giản hơn thơ Đường Luật. Thể Lục Bát vần ở các chữ thứ 6, 8 trong câu (có gạch ở dưới). Thể Song Thất Lục Bát vần ở các chữ thứ 7, 5 trong câu. Thể Ca Trù có vần tương tự như các thể thơ Lục Bát và Song Thất Lục Bát.
Về hình thức, thơ Tàu chuộng lối đoản thiên (ngắn) theo thể Đường Luật để bài thơ có tính chất hàm súc. Thơ ta thường được cấu tạo theo lối trường thiên (dài) với thể Lục Bát hoặc Song Thất Lục Bát để sáng tác truyện thơ, nên có tính chất dàn trải.
Về nội dung, thơ Tàu biểu hiện một nhân sinh quan phóng khoáng, ảnh hưởng tư tưởng Lão, Trang (như thơ Vương Duy, Lý Bạch), có khuynh hướng xã hội như thơ Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Đỗ Mục hay mô tả cảnh vật thiên nhiên liên quan đến cuộc sống nhàn dật (rất nhiều nhà thơ đời Đường, Tống). Thơ ta phản ảnh nếp sống của các thi gia chịu ảnh hưởng của tam giáo hòa đồng (Nho, Phật, Lão), nhất là đời Lý, Trần có các thiền sư thi gia sáng tác thơ nặng tinh thần trung quân ái quốc như các tướng đời Trần (Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Đặng Dung), đời Lê (như Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn...). Một số khác, sáng tác thi ca bằng chữ Hán lẫn Nôm, phần lớn là ngâm, truyện như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Hoa Tiên, Kiều... là những áng văn chương đề cao trung, hiếu, tiết, nghĩa và có ít nhiều tính chất trữ tình. Qua thi ca Việt, người ta còn nhận thức được đường lối xuất xử của kẻ sĩ. Khi còn trẻ, gắng công dùi mài kinh sử hoặc trau dồi võ học để có cơ hội ra phò vua giúp nước hoặc trả nợ tang bồng khi đất nước cần đến tài lực đánh nam dẹp bắc:
tang bồng hồ thỉ nam nhi trái
cái công danh là cái nợ nần (Nguyễn Công Trứ)
Đến tuổi già thì lui về vườn hưởng thú điền viên hay nhàn cư:
nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo
thảnh thơi thơ túi rượu bầu (Nguyễn Công Trứ).
Song song với dòng thơ cổ điển trên, Việt Nam còn có một kho tàng thi ca bình dân phong phú (ca dao), phản ảnh nếp sống vật chất, tinh thần và tình cảm của người dân nơi đồng ruộng.
Thơ Nhật có phần khác thơ Tàu và thơ Việt. Tiêu biểu của thi ca Nhật là thơ Hài Cú, được biết nhiều trên thế giới như là nét đặc thù của văn chương Nhật nói riêng, văn hóa Nhật nói chung. Người Âu Mỹ biết ít nhiều về Đường Thi của Tàu, không biết gì về thơ Việt Nam, ngoại trừ đôi tiếng vang về truyện Kiều qua các bản Pháp dịch. Nhưng họ lại biết nhiều về thơ Nhật, nhất là thơ Hài Cú qua các bản Anh dịch và các tác phẩm giới thiệu, bình phẩm về loại thơ này.
Trước khi đề cập đến thơ Hài Cú, cần biết qua các loại thơ cổ điển có trước thơ Hài Cú. Đó là các loại Choka (thơ trường thiên), Tanka (thơ đoản thiên), Renga (thơ liên hoàn).
Thơ Choka có từ 3 đến hơn 100 đoạn thơ, mỗi đoạn gần khoảng 12 từ (chữ).
Ví dụ: (đọc từ trái sang phải)
Mùa đông giăng mắc | mùa xuân cởi mở
buổi sáng | móc trắng nhẹ rơi
buổi chiều | sương mù giăng khơi
trên đồng | dưới nhành cây con
sơn ca hót!
Thơ Tanka là loại thơ trừ tình với hình thức tiêu biểu gồm các câu có 5-7-5-7-7 từ.
Ví dụ: (đọc từ trái sang phải)
Cơn gió vào mùa thu | bây giờ trở nên mát mẻ hơn
bầy ngựa bước sóng hàng | nào cùng nhau đi tới đồng cỏ
ngắm nhìn hoa dại bừng nở
Thơ Renga là loại thơ liên hoàn gồm nhiều đoạn với những câu có 5-7-5 từ hoặc 7-7 từ, thường do hai hoặc nhiều thi gia hợp tác. Thơ Renga điển hình có từ 36, 50, 100, 1000 (hoặc hơn) đoạn thơ.
Ví dụ: Gió Sớm Mai
Cơn gió buổi sớm mai
thổi tan đi mây mù chuyển mưa
lắc lư chùm bông liễu
(Philip)
một đàn trẻ nhỏ cùng đua nhau
bước lên chiếc xe buýt du lịch
(Tadashi)



![[:D]](/images/smiley/s2.gif)