📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thế là Già!Susan Moon

0 trả lời, 1.420 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-12-31 09:29:42Ct.Ly>
Thế là Già!
Thiền Quán Về Tuổi Già Với Chút Tự Trào Và Tự Hào
This Is Getting Old
Zen Thoughts on Aging with Humor and Dignity
Chuyển Ngữ:
Diệu Liên Lý Thu Linh
Diệu Ngộ Mỹ Thanh
Giác Nghiêm Nguyễn Tấn Nam
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC - 2012
Để tưởng niệm đến Alice, mẹ tôi
Và Paloma, cháu gái tôi
Tôi chẳng biết gì về Alice, khi người còn trẻ
Và sẽ chẳng bao giờ biết Paloma ra sao ở tuổi già
Nhưng cả hai đều đã để lại dấu ấn trong tôi
về sự nhiệt tình mà họ đã dành cho cuộc sống.
Susan Moon
Xin tặng tất cả các anh chị em tôi và những người trên 50.
Diệu Liên Lý Thu Linh

***

MỤC LỤC
Lời giới thiệu ..................................................................... 7
Lời người dịch ................................................................. 15
Phần I:
Những Vết Rạn Trên Thân Tâm
Chương 1: Tôi để bình bát ở đâu?................................... 21
Chương 2: Vết Nhơ Trên Bầu Trời ................................. 31
Chương 3: Rời khỏi vị thế Hoa Sen ................................ 45
Chương 4: Ống Thở ........................................................ 53
Chương 5: Xương Già..................................................... 73
Chương 6: Tất Cả Đều Sụp Đổ ....................................... 87
Chương 7: Giây Phút Lão Hóa, Giây Phút Tuyệt Vời .... 95
Phần II:
Những Thay Đổi Trong Các Mối Liên Hệ
Chương 8: Dưới Bóng Mát Cây Đời............................. 101
Chương 9: Hoán Đổi Giữa Ta và Người...................... 115
Chương 10: Ngôi Nhà Chung....................................... 129
Chương 11: An Nhiên Tự Tại ...................................... 137
Chương 12: Tâm Lão Bà.............................................. 149
Chương 13: Vô Ái Dục ................................................159
Chương 14: Vô Hình, Vô Tướng .................................165
Chương 15: Cô Bé Tinh Nghịch Trở Về ......................173
Phần III:
Trong Cõi Tâm Linh
Chương 16: Uống Trà Với Thượng Đế ........................187
Chương 17: Tôi Chẳng Là Tôi Nữa...............................193
Chương 18: Không Thể Mang Theo..............................209
Chương 19: Chốn Bí Mật ..............................................217
Chương 20: Trò Chuyện Với Người Mẹ Đã Khuất Của
Tôi ..................................................................................227
Chương 21: Hiện Tại .....................................................241
Chương 22: Cô Đơn Giữa Mọi Người ..........................251
Chương 23: Bao La Cõi Đời .........................................263
Tri Ân .............................................................................269


****



Thế là Già!
Shambhala Publications, Inc.
ISBN 978-1-59030-776-2
@2010 by Susan Moon
Copyright @ 2010 Susan Moon
Copyright arranged with: Shambhala Publications, Inc.
300 Massachusetts Avenue, Boston, MA 02115
Through Tuttle-Mori Agency Co., Ltd.
Sách được chuyển ngữ theo hợp đồng bản quyền với NXB
Shambhala (thông qua công ty TNHH Turtle Mori). Muốn sử
dụng bản dịch dưới hình thức nào, xin vui lòng liên hệ Cô Diệu
Liên Lý Thu Linh qua email: ltl3107@yahoo.com
Xin cảm ơn.
Susan Moon
Thế là Già!
Thiền Quán Về Tuổi Già Với Chút Tự Trào Và Tự Hào
This Is Getting Old
Zen Thoughts on Aging with Humor and Dignity
Chuyển Ngữ:
Diệu Liên Lý Thu Linh
Diệu Ngộ Mỹ Thanh
Giác Nghiêm Nguyễn Tấn Nam
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC - 2012
Để tưởng niệm đến Alice, mẹ tôi
Và Paloma, cháu gái tôi
Tôi chẳng biết gì về Alice, khi người còn trẻ
Và sẽ chẳng bao giờ biết Paloma ra sao ở tuổi già
Nhưng cả hai đều đã để lại dấu ấn trong tôi
về sự nhiệt tình mà họ đã dành cho cuộc sống.
Susan Moon
Xin tặng tất cả các anh chị em tôi và những người trên 50.
Diệu Liên Lý Thu Linh
MỤC LỤC
Lời giới thiệu ..................................................................... 7
Lời người dịch ................................................................. 15
Phần I:
Những Vết Rạn Trên Thân Tâm
Chương 1: Tôi để bình bát ở đâu?................................... 21
Chương 2: Vết Nhơ Trên Bầu Trời ................................. 31
Chương 3: Rời khỏi vị thế Hoa Sen ................................ 45
Chương 4: Ống Thở ........................................................ 53
Chương 5: Xương Già..................................................... 73
Chương 6: Tất Cả Đều Sụp Đổ ....................................... 87
Chương 7: Giây Phút Lão Hóa, Giây Phút Tuyệt Vời .... 95
Phần II:
Những Thay Đổi Trong Các Mối Liên Hệ
Chương 8: Dưới Bóng Mát Cây Đời............................. 101
Chương 9: Hoán Đổi Giữa Ta và Người...................... 115
Chương 10: Ngôi Nhà Chung....................................... 129
Chương 11: An Nhiên Tự Tại ...................................... 137
Chương 12: Tâm Lão Bà.............................................. 149
Chương 13: Vô Ái Dục ................................................159
Chương 14: Vô Hình, Vô Tướng .................................165
Chương 15: Cô Bé Tinh Nghịch Trở Về ......................173
Phần III:
Trong Cõi Tâm Linh
Chương 16: Uống Trà Với Thượng Đế ........................187
Chương 17: Tôi Chẳng Là Tôi Nữa...............................193
Chương 18: Không Thể Mang Theo..............................209
Chương 19: Chốn Bí Mật ..............................................217
Chương 20: Trò Chuyện Với Người Mẹ Đã Khuất Của
Tôi ..................................................................................227
Chương 21: Hiện Tại .....................................................241
Chương 22: Cô Đơn Giữa Mọi Người ..........................251
Chương 23: Bao La Cõi Đời .........................................263
Tri Ân .............................................................................269
7
Sáu mươi và vẫn còn khỏe mạnh, tôi chỉ mới chập
chững bước vào tuổi già. Nên giờ đúng là thời điểm tôi
cần tham khảo về vấn đề này để phát triển sự can đảm, vì
tuổi già là điều khó chấp nhận. Tuổi già thật đáng sợ.
Tôi chưa bao giờ chuẩn bị cho tuổi già. Tôi vẫn hy
vọng mình còn có thể sống qua nhiều lần sinh nhật nữa,
nhưng lại không chuẩn bị cho sự hao mòn trong quá trình
đó. Vừa qua tuổi sáu mươi không lâu, các khớp xương của
tôi đã cứng, tóc tai biến mất ở chỗ này lại mọc ra chỗ
khác, tên tuổi của người khác tôi không còn nhớ rõ, thì tôi
phải chấp nhận những gì đang xảy ra cho tôi.
Quá trình tu tập theo Phật giáo giúp tôi không lẩn
tránh những gì khó khăn. Khó khăn đôi khi cũng ẩn chứa
những tín hiệu tốt lành, ngay chính trong mớ bòng bong
đó. Cũng như với tư cách là một nhà văn, việc quán sát,
tìm hiểu những điều khổ đau là cái tôi quan tâm nhất. Vì
thế tôi bắt đầu viết về tuổi già. Tôi muốn nhìn tận mặt sự
lão hóa. Đó là cái gì?
8
Đầu tiên, tôi liệt kê những điều khó khăn mà bản thân
tôi trải nghiệm, như là lẫn trí, đau gối, và sợ cô đơn, rồi tôi
quyết viết một bài văn về mỗi thứ này. Tôi muốn tập cho
mình biết làm thế nào để chấp nhận tuổi già mà không cảm
thấy ngao ngán, chua cay. Sau đó, khi tôi ngày càng già
hơn, thì nhiều thứ khác cũng xuất hiện, vừa tuyệt vời vừa
đau đớn. Tôi lên chức bà, mẹ tôi qua đời và tôi vẫn còn
tiếp tục viết. Tôi không chỉ viết về những điều đang xảy ra
cho thân tâm mà tôi không thích, mà tôi còn viết về những
đổi thay trong các mối liên hệ do tuổi già. Trong lúc viết,
tôi ghi nhận những đổi thay huyền bí, cũng như những
khai thông mới trong tâm linh, những cách sống mới mà
tuổi già mang đến cho tôi.
Quyển sách có vẻ là chuyện riêng tư, nhưng tôi hy
vọng là những quan tâm của tôi cũng liên quan đến những
vấn đề của bạn. Tôi cũng hàm ân những vị đã viết về các
vấn đề kinh tế ở tuổi già, những quan tâm về sự chăm sóc
sức khỏe, nhà ở, mà nhiều người già phải đối mặt.
Montaigne, ở thế kỷ thứ mười sáu, đã sốc thế giới văn
chương khi mang kinh nghiệm cá nhân của mình vào
những trang viết về triết học và tư duy. Ông đã tuyên bố,
“Bản thân tôi là chủ đề của sách tôi”. Ông gọi các bài viết
của mình là “bài văn tập”, ngụ ý là những thử nghiệm
(attempts). Tôi hàm ân ông vì đã mở lối đi này từ rất lâu.
Còn đây là sự thử sức của tôi.
Ngoài ra, quyển sách này cũng là một phần của một
cuộc đối thoại lớn hơn. Tôi thuộc về thế hệ những người có
9
thói quen luôn trao đổi với nhau về những gì mà mình đang
trải qua, nên chúng tôi đã cùng nhau thực hiện việc này.
Không chỉ mình tôi già đi, dầu tôi sống trong nhà một mình.
Tôi thuộc về một nhóm năm người, tất cả đều là phụ
nữ trên sáu mươi. Chúng tôi thường tụ họp lại để chia sẻ
những kinh nghiệm của tuổi già, về những gì đang xảy ra
cho xương cốt của chúng tôi, cho cuộc sống gia đình của
chúng tôi. Chúng tôi tự gọi mình là “crones” (những lão
bà). Tự điển định nghĩa crone là “bà lão già héo”. Vài
người trong Crone Group (Nhóm Lão Bà) héo hắt hơn
những người còn lại, nhưng tất cả chúng tôi sẽ còn phải
héo hắt thêm nữa trước khi ra đi vĩnh viễn.
Điều này khiến tôi nhớ lại một tổ chức phụ nữ khác mà
tôi cũng là thành viên trong thập niên 70 - nhóm ‘đánhthức-
lương-tri”. Lúc đó chúng tôi tụ họp lại để lột mặt sự kỳ
thị giới tính mà chúng tôi đã quá quen thuộc và để giúp
nhau chống lại những gì mà chúng tôi không thể nào chấp
nhận được nữa. Trong Nhóm Lão Bà, chúng tôi cũng hỗ trợ
lẫn nhau, nhưng giờ thì không phải là để đối kháng mà là để
chấp nhận. Tôi không nói đến sự buông xuôi, nhưng: Đây
là sự thật. Đây là những gì đang xảy ra. Chúng ta phải đối
mặt với chúng như thế nào? Trong quá trình đó, đôi khi
chúng tôi thấy hình như mình đang tung hô tuổi già.
Tôi rất bực khi nghe ai đó nói, “Dầu bạn có già, bạn
vẫn có thể trẻ trong tim!” để an ủi người già. Ẩn sau câu
nói đầy thiện ý đó là một giả định văn hóa sâu xa rằng già
là xấu, trẻ thì tốt. Tôi thật muốn biết, già trong tim thì đã
10
sao? “Già trong tim”- điều đó nghe không hay lắm sao?
Bạn không muốn được yêu thương bởi những người mà
trái tim họ đã quen yêu thương qua nhiều năm tháng sao?
Trong văn phòng chật chội của nhóm Gray Panthers
(Những Con Báo Xám), treo đầy trên tường là những ápphích
hình ảnh của nhiều khuôn mặt già trẻ, tuổi tác khác
nhau, và dưới mỗi bức hình là những dòng chữ, “Tuổi đẹp
nhất là tuổi bạn đang mang”.
Tuổi già là một phần của cuộc sống. Vào thế kỷ thứ
mười ba ở Nhật Bản, đại lão thiền sư Dogen đã viết,
“Đừng nghĩ rằng lửa có trước, tro tàn có sau. Lửa tự nó là
một giai đoạn và tro tàn tự nó cũng là một giai đoạn”.
Chúng ta đang ở giai đoạn của chính mình; đừng nghĩ về
lúc chúng ta đã từng là người trẻ, hay nghĩ đến lúc chúng
ta sắp là người chết.
Nhưng ngay chính thiền sư Robert Aitken, trong một
cuộc phỏng vấn về tuổi già - lúc đó ông đã tám mươi -
cũng đã phải thú nhận với tiếng cười, “Tôi thường cảm
thấy mình giống như một người trẻ tuổi nhưng có điều gì
đó trục trặc với tôi”.
Phải cần thời gian để hình ảnh tự - ngã trong tâm bắt
kịp với thân. Thoáng nhìn hình ảnh mình phản chiếu qua
cửa kính tiệm bán đồ, lúc đầu tôi không nghĩ đó là tôi, mà
một người nào đó già hơn tôi. Khi tôi đến dự buổi họp mặt
các bạn cũ lần thứ năm mươi, tôi nghĩ mình đã vào lộn
11
phòng: Mấy cụ già lẩm cẩm này là ai vậy? Và rồi sự nhận
nhìn kỳ thú: trên gương mặt của người đàn ông già tóc bạc
kia, là cậu bé thường hay kéo tóc tôi những lúc ra chơi.
Mẹ tôi, Alice Hayes, một nhà thơ nghiêm túc nhưng
rất thích hài hước, đã viết như sau1:
Trong tuổi già, một Cô (Ms.) còi cọc
Bắt đầu học về tính hiện tại (isness) của hiện tại (is)
Nhưng không ai làm việc đó,
Nên cô chỉ đã là (WAS) và đã là (WAS)…
Giờ thì cô đã ra đi để Có Mặt (BE) ở Cadiz.
Đúng vậy, thưa mẹ. Một vị thầy Phật giáo Wes Nisker
cũng đã nhắc nhở rằng, chúng ta được gọi là ‘human
being’ (con người), không phải là ‘human doings’ (làm
người). Lão Tử cũng đã nói thế, từ rất lâu rồi: “Đạo để
thực hiện là có mặt”. Chúng ta, những người già, bắt buộc
phải chậm lại trong lãnh vực làm, nhưng được ở tay trên
trong lãnh vực có mặt. Mẹ tôi là một trong hai người khiến
tôi ngạc nhiên vì đã xuất hiện một cách thiếu cân đối trong
quyển sách này. Bà mất khoảng thời gian tôi bắt đầu viết
về tuổi già, nhưng điều đó không hề cản trở việc bà có mặt
đều khắp trong tất cả các bài viết của tôi. Lý ra tôi không
nên ngạc nhiên, vì bà là người già mà tôi biết rõ nhất. Một
1 ND: Bài thơ dưới đây chỉ là tạm dịch, không thể nói lên ý
nghĩa thực sự của nó vì đây là cách chơi chữ về văn phạm trong tiếng
Anh, về các thì của động từ To Be, không có phần tương ứng trong
tiếng Việt, hoặc ít nhất là trong khả năng tôi không thấy có.
12
điều gì đó đã gây xúc động trong tôi khi tôi chứng kiến bà
chuyển đổi từ hơi già đến già thật già.
Một thành viên khác trong gia đình cũng luôn có mặt
trong sách là cháu gái tôi, Paloma, được sinh ra trước khi
mẹ tôi qua đời. Cháu giúp tôi hiểu về tuổi già bằng cách
cho tôi thấy cái trẻ của cháu. Tôi thấy chúng tôi rất khác
nhau: tôi không thể treo đầu gối trên các xà trong phòng
thể dục, còn cháu không thể kể chuyện về cuộc đời thuộc
thế kỷ thứ 20 xa xưa rồi. Tôi cũng nhận thấy rằng, những
năm tháng phân cách giữa chúng tôi không phải là một
chướng ngại mà là một thứ để làm phong phú thêm niềm
vui được sống bên nhau.
“Wabi-sabi” là một thuật ngữ Nhật dùng để diễn tả cái
đẹp của vô thường, cái không toàn hảo của những thứ đã
cũ mòn, nứt bể qua sử dụng. Những thứ đơn giản, cũ kỹ
giống như một chén trà bằng đất cũ, và những thứ biểu
hiện tuổi và sự sử dụng của chúng, giống như một cầu
thang gỗ cũ bóng loáng bởi nhiều bàn tay chạm vào, đều
tuyệt đẹp.
Tôi thường vá nhiều mảnh vải trên quần áo và dán keo
những chiếc dĩa bể lại với nhau. Tôi thích mạn vá nhiều
món đồ. Tôi thích chụp hình những thứ cũ kỹ: những vết
nứt hình lưới nhện trên mặt kính xe tải, mảng rêu sáng trên
tường của một trạm tàu hỏa bỏ hoang. Các cô cậu trẻ tuổi
bây giờ phải trả nhiều tiền để đi tắt đến wabi-sabi khi họ
mua những chiếc quần jean kiểu mẫu đã được làm phai
màu trước, được làm nhăn nhó trước, làm rách trước khi
13
sử dụng, nhưng cái nét mộc của wabi-sabi không thể sản
xuất ra trong nhà máy. Điều đó phụ thuộc vào thời gian.
Trong ikebana - nghệ thuật cắm hoa của Nhật Bản -
những loại hoa chóng héo tàn lại đặc biệt được coi trọng vì
chúng hiển lộ vẻ đẹp của vô thường. Chính vì chúng
chóng héo tàn nên chúng được quý trọng.
Tôi cũng đang trở nên một wabi-sabi. Tôi quán sát bề
mặt bàn tay của mình với sự thích thú: các đốm nâu đang
mọc tùm lum, những đám gân xanh đang nổi cộm hẳn lên.
Tôi có thể dùng bàn tay kia để kéo đám da lỏng lẻo trên
bàn tay khẳng khiu. Điều đó có gì xấu không?
Càng già, tôi càng trở nên hướng nội, chỉ dựa vào bản
thân mình. Công việc làm không còn, con cái đã lớn, sống
rất xa, cha mẹ đã qua đời. Không còn có thể đeo ba-lô đi
bụi, không còn nhảy được hip-hop. Thực ra, tôi là ai?
Giờ, đó là việc tôi phải tự khám phá.
SUSAN MOON
14
15
Ai cũng phải chết nên chết là điều đáng sợ. Tuy nhiên
không phải ai cũng được trải qua tuổi già, nên dầu tuổi già
còn đáng sợ hơn cái chết, người ta vẫn chúc tụng nhau
sống lâu trăm tuổi, đầu bạc răng long. Vì không phải ai
cũng thấy được những cái khổ của tuổi già.
Susan Moon là một Phật tử. Bà đã có nhiều năm hành
thiền, nên bà cảm nhận được cái khổ của tuổi già. Trong
quyển tùy bút này, Susan đã nói lên những ảnh hưởng của
tuổi già trên thân, trên tâm của bà. Rồi những ảnh hưởng
đó cũng khiến cho các mối liên hệ của bà đối với bản thân,
với bạn bè, người thân, với xã hội phải thay đổi.
Qua quyển sách mỏng này, Susan đã chia sẻ rất chân
thật các tâm trạng mà bà phải trải qua trong tuổi già, trong
thân phận một người nữ. Cảm giác cô đơn, sợ hãi, trầm
uất, sân hận, nghi ngờ... Tất cả đều có mặt, thật ra không
chỉ ở tuổi già mà ở trong mọi chúng sanh tầm thường, ở
mọi lứa tuổi. Chỉ có điều khi trẻ, chúng ta sẽ khó nhận
16
diện chúng vì chúng ta còn có bao niềm vui khác để khỏa
lấp, chôn vùi. Vì thế dầu tác giả có sợ rằng những điều
mình viết là những tâm tư của riêng mình, cũng khó có
người đọc nào không thấy trong đó hình bóng của người
thân, hay của chính bản thân mình trong đó. Tôi cũng
thường bắt gặp mình đi từ trên gác xuống bếp, rồi ngơ
ngẩn ở nhà bếp không biết mình xuống đó để làm gì. Phải
mất ít phút giây đứng lặng, hồi tưởng. Đôi khi nhớ lại
được, đôi khi phải trở lại lên gác, ngồi xuống ghế, thì lại
chợt nhớ ra lý do mình đã xuống dưới nhà. Rồi mới đây
thôi, chuyện anh Hai tôi đi lòng vòng trong bãi đậu xe của
một khu mua sắm ở xứ người gần cả tiếng, cũng không
tìm ra được nơi mình đã đậu xe, được chị em tôi kể cho
nhau nghe mà cười thương hại. Đâu biết rằng những điều
đó đang chờ mình ở phía trước. Vì chuyện đó cũng đã xảy
ra cho Susan Moon, và có thể cũng đã xảy ra cho bao
nhiêu người cao niên khác nữa.
Tuy nhiên dầu tuổi già có tạo ra những “vết nhơ trên
bầu trời”, tác giả với lối hành văn hóm hĩnh, với những
hiểu biết về Phật giáo đã không mang đến cho người đọc
cảm giác bi quan, yểu xìu. Trái lại, tôi đoan chắc rằng khi
gập quyển sách lại, bạn sẽ thấy như một người sắp lên
đường, sắp bắt đầu một cuộc hành trình cam go nào đó,
mà bỗng nhiên có người đến nói cho bạn biết tất cả những
gì bạn phải chờ đón ở phía trước, thì còn có gì phải sợ hãi
chứ. Nếu luôn quán tưởng về cái chết, như đức Phật đã
dạy, có thể giúp ta chờ đón, chuẩn bị cho cái chết tốt hơn,
thì những người may mắn như chúng ta, những người đã
17
được bước vào tuổi già cũng có thể làm như thế đối với
tuổi già.
Hơn thế nữa, tôi cũng đoan chắc rằng những nhận xét
ý nhị, tinh tế, mà khôi hài của Susan Moon cũng sẽ khiến
bạn không thể không cười. Cũng sẽ khiến bạn thấy tuổi già
cũng không hoàn toàn bất lợi. Và đó là sự thành công của
tác giả.
Xin cảm ơn các bạn đồng dịch giả đã giúp quyển sách
được tới tay độc giả Việt Nam. Dầu đã hết sức cố gắng,
chúng tôi cũng khó tránh khỏi nhiều thiếu sót, mong quý
độc giả vui lòng lượng thứ và chỉ giáo cho. Xin cảm ơn
những tấm lòng luôn hoan hỷ hỗ trợ để một số sách được
đến tay người đọc hoàn toàn miễn phí.
Xin hồi hướng công đức này đến khắp tất cả, đệ tử và
chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.
Diệu Liên Lý Thu Linh
ltl3107@yahoo.com
18
19
20
21
Tôi Để Bình Bát Ở Đâu?
Ngày nọ, tôi đang điền giấy tờ, nhưng không thể nhớ
nổi số an sinh xã hội của mình. Tôi nhẩm lại mấy lần,
nhưng cũng không thể đi xa hơn ba số đầu tiên. Cuối cùng
tôi phải tìm chúng trên giấy khai thuế năm rồi. Để tự trấn
an, tôi đọc một lèo Kinh Cựu Ước theo đúng thứ tự, mà
không một lần dừng lại. Năm tôi mười tuổi, bà cô tôi đã trả
cho tôi hai đô-la để học thuộc lòng chúng và chúng vẫn ở
nguyên trong đầu tôi hơn năm mươi năm nay. Bà nói rằng
học thuộc lòng chúng có thể giúp ích cho tôi khi cần, và
thật đúng vậy, nhưng không phải như cách bà mong đợi.
Dĩ nhiên, lẫn trí cũng là việc bình thường trong tuổi
già. Tôi đoán, không biết trong những năm cuối đời, có lúc
nào đức Phật quên không biết Ngài đã để bình bát của
mình ở đâu. Nhưng dầu chuyện lẫn lộn có bình thường hay
không, nó cũng là điều phiền toái, nếu không muốn nói là
làm ta như què quặt. Thật đau lòng khi quên những điều
22
mình thường nhớ đến. Không ít lần tôi đã phải nhờ bạn đi
rảo quanh đường, tìm xem tôi đã đậu xe chỗ nào. Tâm tôi,
cũng giống như quả thận của tôi, đã teo tóp lại với tuổi tác
nên dung tích của nó không còn chứa được nhiều như xưa.
Giờ tôi liệt kê tên bạn bè trong sổ danh bạ dưới tên gọi
(first name), vì tôi sợ mình sẽ không nhớ nỗi tên họ (last
name) của họ nữa. (Nhưng điều này chỉ ích lợi nếu như tôi
còn nhớ thứ tự các chữ cái). Tật lú lẫn thường làm tôi quên
phần cuối của cái tên, nên đôi khi tôi thấy mình bám vào
chữ đầu tiên của tên gọi giống như người đang trôi giữa
biển bám vào mảnh gỗ của cột buồm.
Tuần rồi tôi gặp một người quen trong một tiệm tạp
hóa, tên người đó, tôi chắc là, bắt đầu bằng chữ P., nhưng
là Peter hay Paul? Mẹ tôi có cách đối phó trong trường
hợp đó. “Xin chào! Tôi còn nhớ tên của tôi đó! Còn bạn,
có biết tên của bạn là gì không?” Nhưng tôi thích sự chân
thật, nên chúng tôi trao đổi chuyện nên gói hàng hóa bằng
giấy hay túi ni-lông, và rồi khi đẩy xe ra khỏi quầy tính
tiền, tôi nghe mình nói, “Rất vui gặp Phil nhé”. Đó đúng là
vấn đề của việc hồi tưởng. Đôi khi, nếu tôi không lo lắng
thái quá về điều đó, thì cái tên tự nhiên sẽ xuất hiện khỏi
cái góc tối của đầu óc tôi. Cái tên sẽ nói, “Làm gì vội vã
thế? Từ từ tôi sẽ đến thôi”. Mẹ tôi còn trải qua giai đoạn
mà khi nói bà còn không thể nhớ những từ thông thường.
Bà bắt đầu viết chúng xuống - sau khi bà đã nhớ lại chúng
- trong một cuốn sổ tay nhỏ mà bà luôn mang theo mình.
Danh mục. Mạch máu. Phấn hoa. Bà nghĩ rằng bà có thể
tra tìm chúng khi cần thiết. Giờ điều đó cũng xảy ra cho
23
tôi: tôi biết có một từ ngữ thích hợp cho điều tôi muốn nói,
nhưng không thể nhớ đó là gì. Nếu người khác nói đến từ
đó, thì tôi sẽ hiểu ý nghĩa của nó, nhưng dường như tôi
không thể nắm bắt lấy nó, cuộn nó lại, để bỏ vào trong…
À, bạn gọi mấy cái giỏ gai mà các ngư dân dùng là gì nhỉ?
Mà cũng không chỉ có từ ngữ, cả đồ vật nữa. Đi qua
cửa an ninh phi trường, tôi đã bị giữ lại vì mấy cái dao nhỏ
(để xắn bơ) trong túi xách. (Tôi thường không đi du lịch
mà mang theo dao nhỏ, nhưng tôi mang chúng từ nhà
người thân này qua nhà người khác). Khi viên chức an
ninh cho phép tôi được mang chúng theo, tôi thở phào nhẹ
nhõm, bước đi ra cổng máy bay, để quên lại máy tính xách
tay của tôi trong cái khay nhựa xám. Tôi không ý thức
được điều đó cho đến sáng hôm sau, khi ngồi xuống bàn
để soạn mấy lá thư, tôi mới sực nhớ lại. Sau mấy ngày gọi
điện thoại như khùng điên, tôi được người ta gửi trả lại cái
máy. Giờ tôi ghi tên, thông tin liên lạc trên giấy, rồi dán
bên ngoài máy tính.
Năm ngoái, khi tôi bị vấn đề về trí nhớ rất tệ, tôi thật
sự lo sợ. Có mấy tuần, dường như ngày nào tôi cũng quên
cái gì đó rất quan trọng, giống như tôi quên bóp để trong
xe đẩy ở chỗ đậu xe của tiệm bách hóa. (Một tiếng sau khi
tôi quay trở lại tiệm, cái xe đẩy vẫn còn nguyên nơi tôi để
nó trước đó, với cái bóp của tôi cũng còn đó). Tôi cũng
quên những thứ không đáng kể nữa. Tôi bỏ cái lược trà
vào tách, rồi chế nước sôi vào, nhưng trước đó tôi quên bỏ
lá trà vào cái lược trà.
24
Tôi đi bác sĩ tâm lý để xét về các hoạt động tâm thức
của mình. Chính ông bác sĩ cũng đã hơn sáu mươi, nên
đầu tiên chúng tôi cùng nhau hồi tưởng lại những năm sáu
mươi - thập niên sáu mươi, không phải tuổi sáu mươi của
chúng tôi - điều đó khiến tôi cảm thấy dễ chịu, thoải mái
hơn. Sau đó ông bảo tôi lặp lại một dãy con số và chữ, rồi
ông cho tôi xem một danh sách các từ ngữ được in bằng
những màu mực khác nhau, bảo tôi phải nói tên các màu
sắc càng nhanh càng tốt. Ông nói tôi thực hiện các việc
này rất tốt, “ở tuổi của tôi”. Tôi thấy được trấn an, dầu câu
nói ở tuổi của bà không giấu được nốt buồn trong đó,
giống như câu nói “Đối với một phụ nữ ở tuổi đó, trông bà
cũng được”.
Ông khuyên tôi nên quên những thứ không quan
trọng chỉ làm rối không gian quý báu trong đầu tôi. Và
ông nói, “Điều tốt nhất chúng ta có thể làm cho đầu óc
của mình ở tuổi này là nghỉ ngơi khoảng nửa tiếng mỗi
trưa”. Ý kiến hay; một ngày nào đó tôi sẽ biến điều này
thành một thói quen.
Việc khám nghiệm đó giúp tôi chấp nhận rằng trí nhớ
suy giảm cũng là chuyện bình thường. Đó là điều phải xảy
ra. Tôi thường nghĩ mình khá thông minh, nhưng giờ tôi
được có cơ hội để buông bỏ ngộ nhận đó. Giờ tôi đã có
một bộ óc khác, nên nếu tôi cứ bám víu vào cái đầu của
hai mươi năm trước, thì tôi sẽ khổ thôi.
Rồi đến việc nghĩ nhớ nữa. Tôi có thể không nhớ tên
họ của nhiều người quen, nhưng tôi lại nhớ hình ảnh lúc
25
cha tôi đứng ở ngưỡng cửa phòng trọ của chúng tôi ở
Chicago. Ông nhìn giống như một người xa lạ trong bộ
quân phục màu nâu, đầu đội nón, mà ngọn đèn ngoài kia
hắt bóng xuống. Lúc đó tôi khoảng hai tuổi rưởi, và ông đã
tham gia cuộc chiến ở Đông Dương.
Bạn càng già, cuộc sống của bạn càng ở trong quá khứ.
Quá khứ càng xa, ký ức của bạn càng mang nhiều dấu ấn
của lịch sử. Công việc của người già là kể chuyện về
những thời đã qua - thí dụ như chuyện về người cha biến
mất trong chiến tranh như thế nào. Hay về việc bước
xuống bến xe buýt Greyhound ở Biloxi, bang Mississippi,
bốn mươi lăm năm về trước, để làm việc ghi danh cho
người ta đi bầu cử, và được ngài quận trưởng cảnh sát đón
tiếp bằng câu, “Này, cô gái trẻ, đừng có mà gây chuyện
trong thành phố chúng tôi nhé”. Lịch sử không phải là
những điều thực sự đã xảy ra - không có chuyện đó đâu.
Nó là những gì mà người ta nhớ lại và kể với nhau. Miễn
là đừng dông dài quá đáng.
Một trong những người hùng của tôi là Studs Terkel,
một nhà sử gia truyền khẩu vĩ đại. Đối với ông, việc người
ta kể lại chuyện của họ là rất quan trọng, vì như ông nói,
“Chúng ta sống trong Liên Bang của Alzheimer (bệnh lãng
trí). Người ta đã quên chính lịch sử của họ”.
Đôi khi tôi kể một câu chuyện đến mấy lần, quên rằng
tôi đã kể rồi trước đó, nhất là khi chuyện trò với con cái.
Tôi cố gắng nhớ để dặn chúng, “Nếu mẹ đã kể chuyện này
rồi, thì chặn mẹ lại nhé”, vì tôi biết từ kinh nghiệm với mẹ
26
tôi là phải ngồi nghe lại một câu chuyện đã biết, rồi lại
phải tỏ vẻ ngạc nhiên ở những đoạn hào hứng, là rất phiền
toái. Ừ, thì điều đó thực sự phiền toái nếu bạn đã nhớ câu
chuyện, và đó là một trong những lý do tại sao những
người già nên chỉ đàn đúm với nhau. Khi tôi kể cho Bill,
một người bạn cũ, một câu chuyện đến lần thứ hai, cũng
không hề hấn gì, vì ông ta đã hoàn toàn quên nó rồi. Đây
có thể nên gọi là “tâm khai thị”.
Không cần phải nói, tôi cũng nhớ lại những điều kinh
khủng, những lỗi lầm tôi đã tạo ra trong quá khứ. Tôi nhớ
đã quăng một khúc củi ngang phòng khách, vào người đàn
ông tôi đã từng yêu (may mắn, mà không trúng). Tôi nhớ
mình đã cuộn người trong tủ áo kín cửa, sau mấy cái áo
bành tô, để các con không thể nghe tôi khóc. Ký ức giống
như là nhựa. Những gì tôi nhớ có thể không phải là điều
thực sự đã xảy ra, và cách tôi nhớ nó cũng thay đổi, tùy
thuộc vào sự thay đổi trọng tâm câu chuyện.
Những ký ức về thân, giống như cách bạn gài nút áo,
dường như là điều cuối cùng ra đi. Một đạo hữu thân quen
đã bị bệnh lãng trí (Alzheimer) nặng, bà không còn đến
thiền đường để thực hành được nữa. Nhưng cuối cùng bà
cũng đến, một thời gian rất lâu sau khi bà đã quên sắp xếp
cuộc sống như thế nào. Một người trong tăng đoàn đến
nhà rước bà đến dự thời khóa thiền buổi sáng. Bà không
biết mình đi đâu, và tại sao, hay ai đang giúp đỡ bà.
Người ta phải đỡ bà từ xe vào trong thiền đường, và giúp
bà mặc áo tràng. Nhưng một khi bà đã vào trong thiền
27
đường, cung cách, tư thế của ba mươi lăm năm tu tập vẫn
hiển hiện nơi thân bà. Tôi thật cảm động khi nhìn thấy,
suốt thời khóa, bà đã không sai sót như thế nào, vẫn biểu
lộ sự nghiêm trang, tận tụy. Bà tụng Tâm Kinh thuộc lòng
như mọi người khác, đảnh lễ khi cần đảnh lễ, và khi đến
lượt bà bước ra khỏi thiền đường, bà chấp tay đến vái chào
vị trụ trì để ra về. Ra khỏi thiền đường, bà lại không biết
mình phải làm gì.
Thật bực mình. Đôi khi, đang lái xe một mình qua
những con đường quen thuộc, bỗng nhiên tôi không thể
nhớ mình định đi đâu. Lúc đó, tôi như đang ở trong bóng
tối, ngay giữa ban ngày. Tôi vẫn tiếp tục lái xe, nhưng
chậm lại, với hy vọng có thể nhớ lại nơi tôi muốn đến
trước khi đến đó. May mà, cho đến bây giờ, tôi vẫn còn
nhớ ra được.
Thiền sư Dogen, vị thiền sư mà tôi mến mộ, đã viết,
“Học theo Phật là học về cái ngã. Muốn học về cái ngã thì
phải quên cái ngã đi. Muốn quên cái ngã thì phải được
hiện thực hóa bởi vô số điều”. Ý ông là gì khi nói phải
quên cái ngã? Có phải quên số an sinh xã hội hay nơi mình
đã đậu xe, là những bước đi theo hướng đó?
Có lần, hai mươi năm về trước, trước khi tôi “già” đi,
tôi có một trải nghiệm rất lạ. Tôi thức giấc giữa đêm và
không thể nhớ mình đang ở đâu. Điều đó không có gì lạ -
thi thoảng vẫn có thể xảy ra cho tất cả chúng ta, nhất là với
những người thường di chuyển như trường hợp của tôi.
Nhưng lúc đó, tôi cũng không thể nhớ mình là ai. Tiếng
28
rạn nứt lớn đánh thức tôi dậy vẫn còn vang lên mồn một
bên tai; có thể đó là tiếng cửa do gió đóng mạnh, hay một
chiếc tô bể trong giấc mơ của tôi, nhưng dầu đó là gì, tôi
đã rơi xuống vết nứt vào không gian đen tối của vô thức.
Tôi đã tự hỏi, “Tôi đang ở đâu?”, và rồi kinh hoàng hơn,
“Tôi là ai?” Tôi nằm trong giường, chờ đợi. Trong khoảng
khắc đáng sợ đó, tôi không biết gì về việc tôi là ai. Tôi
không thể nhớ tên mình. Sau đó mắt tôi quen dần với bóng
tối, tôi nhìn ra tấm màn cửa sổ. À, tôi nhận ra căn phòng
này rồi, trong một ngôi nhà của gia đình bên bờ biển, và
rồi tất cả mọi thứ, cả cuộc đời vô thường của tôi lại trở về.
Tôi không biết cái khoảng khắc trước khi nhớ lại có giống
như một chứng lãng trí nặng. Hay đó là những điều thiền
sư Dogen muốn nói đến?
Nếu đánh mất trí nhớ, tôi có còn là tôi nữa không, hay
còn có một cái tôi nữa bên dưới trí nhớ? Ánh mắt nhìn của
tôi có còn đó không, dẫu tôi có quên đến độ nào? Vấn đề
là, hiện tại tôi không bị chứng lãng trí, nên việc tôi lo lắng
về điều đó làm tôi phân tâm không có mặt trong cuộc sống
của mình, không chăm sóc bản thân, và không chú tâm
đến những vấn đề quan trọng.
Tôi nghĩ là thiền sư Dogen muốn nói đến việc quên đi
những gì liên quan đến cái ngã, và khi tôi già hơn, tôi thấy
thật tuyệt vời khi thực tập loại quên lãng này. Tất cả có
nghĩa là buông xả. Tôi có thể quên đi việc phải hoàn thành
mọi tham vọng của mình - đã trễ rồi cho điều đó. Tôi có
thể quên “việc phải biến mình thành cái gì đó”, một cách
29
nói ấn tượng. Đôi khi, trong một khoảng khắc nào đó, tôi
cảm nhận được sự nhẹ nhõm của việc để cái ngã này nhẹ
nhàng chuyển sang cái ngã kế tiếp, từng chút từng chút,
giống như trứng hòa dần vào trong bột đánh.
Đây là lúc phải quên vài điều gì đó và nhớ những thứ
khác. Đúng ra, thế giới này cần tất cả nhân loại nhớ về lịch
sử của họ, và cũng nhớ đến sự đóng góp của từng người
trong đó. Lịch sử là một quá trình mà chúng ta tiếp tục xây
dựng bằng những câu chuyện chúng ta kể cho nhau nghe
về quá khứ.
Trước khi có chữ viết hay trước khi phần lớn các dân
tộc có chữ viết, họ phải dùng chính cái đầu của mình để
chứa kiến thức, nên họ phải tùy thuộc nhiều vào trí nhớ
của họ hơn là chúng ta ngày nay, và điều đó khiến cho ký
ức của họ hoạt động mạnh hơn. Thí dụ, ngài Ananda, đệ tử
của đức Phật, có một trí nhớ đặc biệt phi thường, ngài có
thể nhớ lại tất cả những gì ngài đã nghe đức Phật dạy. Sau
khi đức Phật nhập diệt, ngài truyền lại những lời đức Phật
dạy, và hàng thế kỷ sau, các vị tăng ni trong các tăng đoàn
tụng đọc các kinh điển cho nhau nghe cho đến khi cuối
cùng họ có thể viết chúng xuống.
Việc in ấn khiến những ký ức được chia sẻ cho nhiều
người hơn, và Internet càng dân chủ hóa ký ức văn hóa của
chúng ta xa hơn. Nếu bạn quên các sách Kinh Cựu Ước,
bạn có thể tìm chúng trên Internet. Nhưng vẫn có những
điều Internet không thể nhớ giùm bạn, thí dụ như bạn đã
đậu xe ở đâu. Và những câu chuyện đời bạn - chúng cũng
30
không có trên Internet. Thí dụ, bạn đã cảm giác thế nào khi
đang nằm trên giường cho con bú thì được nghe tin tức
trên truyền hình thông báo rằng Martin Luther King Jr.2 đã
bị ám sát.
À, quên nữa, mấy cái giỏ gai đựng cá được gọi là
creel.
* * *
2 Một vị lãnh đạo phong trào chống kỳ thị với người da đen ở
Mỹ những năm 1950.
31
Vết Nhơ Trên Bầu Trời
Năm cha tôi sáu mươi tuổi, võng mạc của ông bị bong
khỏi dây chằn. Ông nói với tôi rằng ông thường mơ về một
thế giới đầy màu sắc. Trong bóng đêm, khi ngủ, ông vẫn
có thể thấy được màu xanh của nước trong hồ Menemsha
và những cánh buồm trắng trên chiếc thuyền của ông.
Nhưng buổi sáng khi thức dậy, mở mắt ra, ông không thấy
gì. Ông nói rằng khi tỉnh thức những điều này làm ông đau
đớn, nhưng cuộc đời sẽ còn tệ hại hơn nữa nếu ông không
thể thấy trong những giấc mơ của mình. Ông đã đánh mất
thế giới hình ảnh - nên ông không muốn đánh mất luôn ký
ức về thế giới đó.
Đánh mất thị giác là một trong nhiều điều tôi cố gắng
không nghĩ tới trong tuổi già. Có yếu tố di truyền trong
vấn đề võng mạc bị bong. Nó liên quan đến bệnh cận thị,
và tôi cũng bị cận thị, dầu không nặng như cha tôi. Tôi bắt
đầu phải mang kiếng từ năm mười hai tuổi, và tôi nhớ
32
mình đã thật sốc khi giống cây du ngoài cửa sổ phòng tôi
thực ra là cây Ansel Adams chứ không phải cây Monet.
Tôi không bao giờ nghĩ người ta có thể nhìn thấy rõ như
thế, nên lúc đầu tôi không thích điều đó lắm. Mọi thứ đều
trần trụi. Tôi có thể thấy cả những đốm ố bệnh trên lá cây
và một quả bóng nhỏ mắc kẹt trên các cành cây.
Vì sĩ diện, nên tôi chỉ mang kiếng trong lớp học và rạp
chiếu phim. Mãi sau này, sau khi đã lập gia đình, tôi mới
luôn mang kiếng. Rồi sau khi ly dị, tôi đeo kính sát tròng.
Mấy người tình khen mắt tôi xanh trong, nhưng đeo kính
sát tròng rất phiền toái. Chúng không êm ái, mà thỉnh
thoảng còn vướng víu mí mắt tôi. Mỗi ngày tôi phải chăm
sóc chúng giống như chăm sóc thú cưng - như một con
hoàng yến hay chuột hamster - mà chúng đâu có mang lại
cho tôi chút an ủi nào. Vì thế tôi trở lại với cặp kiếng bình
thường. Nhưng kính sát tròng cũng hữu ích khi tôi tập tu
gieo duyên ba tháng ở một thiền viện ở bang California.
Giống như các vị tu sĩ khác, tôi phải luân phiên tham gia
vào bộ phận phục vụ các buổi thọ thực trong bầu không
khí im lặng và trang nghiêm. Bữa điểm tâm, trong cái lạnh
của buổi sáng sớm, tôi phải đứng trước các vị sư đang an
tọa, với một nồi cháo yến mạch khổng lồ, đang bốc hơi
nghi ngút, và cẩn thận múc cháo vào bình bát của họ.
Người đầu tiên được phục vụ là vị trụ trì, người luôn hành
trì chánh niệm nghiêm ngặt, không một phút giây lơ đãng.
Buổi sáng đầu tiên khi tôi làm nhiệm vụ, tôi mang kiếng,
và chúng lập tức bị hơi nóng làm mờ đến độ tôi không
trông thấy gì cả. Thay vì bình bát của sư, tôi lại đổ cháo
33
xuống mâm ăn trước mặt sư. Sau vụ đó, tôi luôn dậy sớm
hơn mười phút vào những ngày phải làm nhiệm vụ để
mang kính sát tròng.
Sau khi cha tôi bị mù, các chị em tôi - bốn người con
lớn của ông - đều được khuyên nên đi xét nghiệm võng
mạc thường xuyên. Tôi đến viếng một bác sĩ nhãn khoa.
Ông này chiếu một ngọn đèn sáng quắc vào mắt tôi. Tôi
không thể chớp mắt vì mi mắt đã bị kẹp cứng. Không đau
lắm theo nghĩa bình thường của cái đau, tuy nhiên nó vẫn
đau, khi tôi phải ngồi với cắm tựa lên một thứ giống như
cái ly kim loại, và không thể né tránh ánh sáng chói lòa,
không thể dừng nghĩ đến người cha vừa bị mù của mình.
Võng mạc của tôi bình thường. Vị bác sĩ nhãn khoa
dặn dò nếu tôi cảm nhận có bất cứ triệu chứng bất thường
nào, giống như là những bóng mờ trong khi nhìn thì tôi
phải báo ngay cho ông biết.
Một ngày kia, lúc tôi đang xem bảng thực đơn trong
một tiệm ăn, bỗng nhiên tôi không thấy gì cả. Có mấy lỗ
hổng màu trắng ở phần Món Đặc Biệt, và những dãy ánh
sáng, giống như bắc cực quang, nhảy nhót ở mép bảng
thực đơn. Lo lắng, tôi gọi ngay cho bác sĩ, và diễn tả lại
các triệu chứng. Ông nói đó có thể là triệu chứng gây ra do
chứng đau tiền đình, vì cả hai mắt đều giống như thế. Nếu
các triệu chứng vẫn kéo dài trong nửa tiếng nữa, thì gọi lại
ông. Các triệu chứng biến mất.
Từ đó, tôi luôn bị chứng đau tiền đình ảnh hưởng đến
mắt như thế, nhưng tôi đã quen chịu đựng chúng, vì không
34
bị chứng nhức đầu đi kèm theo. Điều tôi thích là vào buổi
chiều tối khi những chùm ánh sáng đủ màu nhảy múa
trong tầm nhìn của tôi, tô màu trên khuôn mặt và thân áo
đen của vị giảng sư Thiền, đang giảng pháp trong thiền
đường với ánh sáng mờ nhạt.
Lúc tôi vào khoảng sáu mươi, trong một khóa tu thiền
ở một ngôi làng hẻo lánh thuộc Mễ Tây Cơ, tôi có những
triệu chứng mới và đáng sợ về thị lực: Tôi cứ thấy các đàn
chim không có thực bay qua biển. Một bóng ma đen đúa
chờn vờn giữa mắt phải của tôi, và một tia sáng lóe lên ở
đáy mắt khi tôi chuyển hướng nhìn chỗ khác. Vị quản lý
của trung tâm thiền hẹn cho tôi gặp bác sĩ mắt ở một thành
phố cách trung tâm khoảng hai tiếng lái xe. Bà còn mướn
một tài xế trong làng, và nhờ một người vô gia cư đến từ
bang California, rành tiếng Mễ, đi theo tôi làm thông dịch.
Tôi cảm thấy áy náy vì sự phiền rộn quá mức này, nhưng
áy náy còn hơn là trở về nhà ở California với mắt phải bị
mù. Vậy là ba người chúng tôi nhắm hướng đến thành phố
Tepic.
Vị bác sĩ mắt là người tử tế, ông nói, qua thông dịch, là
ông rất thích thiền, và muốn tìm hiểu về thiền. Trong một
tòa nhà cổ xưa, văn phòng tối tăm với trần cao, vị bác sĩ
hỏi tôi về vấn đề thị lực, rồi đánh máy các câu trả lời của
tôi trên một bàn máy đánh chữ bằng tay màu đỏ. Sau đó
ông khám mắt phải của tôi, và trấn an tôi rằng võng mạc
của tôi không bị rách hay sa - không cần cấp cứu. Ông nói
rằng ông có thể thấy một vết đen ở đáy võng mạc mà ông
nghĩ có thể là một loại ký sinh từ súc vật lây sang, là
35
chuyện thường xảy ra ở Mễ - nhưng tôi không có nuôi thú
trong nhà. Ông khuyên tôi khi trở về nhà phải đi xét lại thị
lực. Ông không chịu nhận thù lao - ông làm việc này là do
bạn ông, vị quản lý ở trung tâm thiền, nhờ - vì thế sau này
tôi gửi biếu ông một quyển sách về Thiền bằng tiếng Tây
Ban Nha.
Tất cả các triệu chứng đều tự biến mất trừ cái bóng
mờ, mà vị bác sĩ nhãn khoa ở California bảo tôi đó chỉ là
một kẻ “thời vụ’ - một nhóm tế bào nhỏ, vô hại trong
dịch thủy tinh, giống mảng ghèn trong phủ mờ mắt. Sau
đó không lâu, ông bảo rằng, não bộ của tôi sẽ chỉnh sửa
vấn đề đó, và tôi sẽ không còn phải thấy nó nữa. Nhưng
nó không biến mất - thực ra nó còn trở nên to hơn -
nhưng tôi đã tập nhìn xuyên qua nó, hay chung quanh nó.
Tôi thường nghĩ là do kiếng mình bị dơ, mà thường là
đúng thế, nhưng sau khi lau sạch kiếng, đốm xám mờ đó
vẫn còn đó. Tôi thấy cái vết đó khi tôi nhìn vào nơi có
màu sắc liên tục, giống như bầu trời chẳng hạn. Dầu vậy,
cái vết lấm trên bầu trời đó không chỉ là một tì vết trong
thị lực của tôi; nó còn là cái gì đó ở trước mặt tôi, một
điều nhắc nhở để tôi hàm ân rằng tôi còn có thể nhìn thấy
rõ trong khả năng của mình.
Trong những năm gần đây, tôi đâm thích chụp ảnh.
Bất cứ thứ gì mà mặt trời chiếu tới, là tôi nhấc máy ảnh
lên mắt, đóng khung tất cả những gì trao tặng cho tôi. Mới
đây nhất, tôi còn chụp ảnh màn hình, mạng che, màn cửa -
những thứ dường như cản trở cái nhìn. Nhưng khi tôi
nhắm máy ảnh vào mạng che, thì nó trở thành là chủ đề.
36
Cái tưởng là vật che chắn, không che chắn chút nào.
Cha tôi bị mù từng con mắt một. Sau khi võng mạc đầu
tiên bị sa, ông vẫn tiếp tục các sinh hoạt bình thường, dầu
ông không đeo kính hai tròng. Năm năm sau, võng mạc thứ
hai bị tổn thương, và ông phải trải qua một số cuộc giải
phẫu - tổng cộng là năm - trong cố gắng để cứu vãn phần
nào thị lực của ông. Vị bác sĩ giải phẫu là bác sĩ hàng đầu
trong việc khai phá giải phẫu võng mạc. Ông rất quan tâm
đến võng mạc của bệnh nhân, nhưng không quan tâm đến
người cũng rất yêu quý võng mạc. Sau lần giải phẫu đầu
tiên, cha tôi phải ngồi trong giường suốt một tuần, với con
mắt băng kín. Ông chỉ được phép tựa cằm vào một miếng
ván, và chỉ có thế. Ông chỉ muốn nằm xuống. Từ đó ông
phát triển bệnh đau đầu khủng khiếp đến độ ông tưởng rằng
mình bị tổn thương não bộ. Sau đủ loại cực hình, khi tháo
băng ra, ông cũng vẫn không nhìn thấy.
Vào khoảng thời gian đó tôi có một số giấc mơ qua đó
tôi thấy máy ảnh của mình bị bể: tôi làm rớt máy, kiếng
bể; màn ảnh bị dính cứng, không mở ra được; cát lọt vào
khung hình, và tôi không thể lên phim.
Cuối cùng cha tôi cũng đầu hàng, nên quyết đối mặt
với vấn đề phải bị mù. Ông đi dự khóa huấn luyện tại gia
cho người lớn mới bị mù, ở đó ông được dạy cách sử dụng
gậy để dò đường và làm sao đọc được chữ Braille.
Sau khi bị mù, cha tôi còn có thêm hai đứa con nữa với
người vợ thứ trẻ trung - những đứa con ông không bao giờ
có thể thấy. Ông trở thành một hình ảnh quen thuộc trong
37
khu phố, đưa con đi nhà trẻ với chiếc gậy trắng trong một
tay, tay kia nắm tay đứa trẻ lớn, còn đứa bé thì cõng trên
lưng. Hoặc ông đi bộ với chú chó Alfie ồn ào, loại chó kéo
xe tuyết ở Siberi, nhưng thường bị tưởng là chó dẫn đường
cho người mù, nhưng thực ra là ngược lại. Alfie sẽ kéo
mạnh dây khi cha tôi đứng ở lề đường, dùng tai để xét xem
băng qua đường lúc đó có an toàn không.
Năm tôi sáu mươi lăm, tôi lại đụng trận với việc thấy
ánh sáng không có thật lóe lên và những đàn chim tưởng
tượng, giống như đã xảy ra ở Mễ, nhưng lần này bên mắt
trái. Lúc đó tôi đang ở nhà ở California, nên lập tức đi
khám bác sĩ nhãn khoa. Vị này bảo là võng mạc của tôi bị
mỏng đi, nhưng không vấn đề. Ông bảo rồi các triệu
chứng đó sẽ qua đi, nếu không, hoặc nếu có gì khác thì
báo cho ông ngay, còn hiện tại thì cứ trở về nhà. Nếu mạch
máu có bị vỡ chút ít, ông sẽ có thể đem võng mạc trở lại vị
trí cũ bằng tia laser.
Ngày hôm sau, hình ảnh mấy con chim và ánh sáng lóe
biến mất, nhưng hôm sau nữa, tôi lại thấy một vết đen
ngang qua góc dưới phía mắt trái. Lần này cái vết đó không
trôi ngang qua mắt giống như trái nổi. Mà nó giống như cái
bóng ở góc của bức ảnh nếu như bạn để ngón tay che khuất
cạnh của ống kính. Vì nó chỉ che một phần nhỏ thị lực, nó
không ảnh hưởng nhiều đến việc nhìn thấy của tôi.
Tôi để ý đến nó nơi thân hơn là tâm. Tôi lái xe đến
một quán ăn Nhật để dùng bữa trưa với một người quen,
và trong suốt bữa ăn, tôi quan sát cái bóng trong mắt bay
lên, chuyển động giống như một bức màn cửa trước cơn
38
gió nhẹ. Tôi không nói gì với người bạn, nhưng khi đang
ăn sushi, tôi thấy rõ ràng hiện tượng này là khác, và tôi
biết việc kế tiếp tôi phải làm là trở lại gặp bác sĩ. Tôi có
cảm tưởng như đang nhìn qua kính viễn vọng nhưng ở đầu
ngược lại, mọi vật đều nhỏ và thật xa, và tôi đang ăn một
khúc sushi khổng lồ. Tôi vừa bình tĩnh vừa sợ hãi.
Sau buổi trưa, cháu tôi thời may cũng có mặt ở đó, đã
đưa tôi đến phòng mạch bác sĩ, rồi đi đậu xe.
“Bà bị bong võng mạc”, bác sĩ nói.
“Thưa bác sĩ có vá nó lại được như bác sĩ đã nói
không?”
“Vết bong quá lớn”, ông nói “tôi không làm được
trong trường hợp này. Bà phải phẫu thuật ngay. May mà
Bác sĩ Jones rất giỏi, vẫn còn ở đây. Bà ấy có thể khám
cho bà ngay”.
Tôi gọi di động cháu tôi để báo tin, nhưng không thấy
hắn trả lời, tôi đành để lại lời nhắn, “Cô bị bong võng mạc,
phải phẫu thuật gấp”. Hẳn là tôi đang bị sốc, vì tôi còn
nhắn thêm như không có gì quan trọng, “Cháu không cần
đợi. Về đi, cô sẽ gọi lại khi cần cháu đến đón về”.
Bác sĩ phẫu thuật là một phụ nữ đẹp, tóc bạch kim,
mặc áo blouse, jupe rất thời trang và đi giầy cao gót.
Phòng làm việc của bà ở cuối hành lang. Lúc đó đã cuối
ngày, và bà bác sĩ đang chuẩn bị ra về, nên đã cởi bỏ chiếc
áo trắng. Bà trông rất thời trang, không giống một bác sĩ
phẫu thuật mắt. Không còn ai trong phòng khám nhãn
khoa, ngoại trừ hai chúng tôi. Khi tôi vừa ngồi xuống ghế
39
thì có tiếng đập cửa, và tiếng cháu tôi gọi, “Sue, cô có
trong đó không?” Bà bác sĩ mở cửa cho cháu tôi vào. Hắn
nói, “Cháu không đi về! Nếu cô bị bong võng mạc, cháu
phải ở đây với cô chứ”. Nói rồi cháu lại ngồi trên một
chiếc ghế đẩu, im lặng đợi chờ. Bà bác sĩ giải thích rằng
dầu tôi thấy cái bóng ở góc dưới mắt trái, nhưng nó thực
sự ở phía trên, bên phải, khoảng vị trí của kim đồng hồ ở
số mười, vì não bộ lật ngược tất cả những gì ta nhìn thấy.
(Thực sự ra chúng ta đang đứng chỗng ngược đầu trên mặt
đất. Cũng may mà lực hút của trái đất khá mạnh để giữ
chúng ta không bị rơi vào bầu trời!). Bà bác sĩ giải thích
rằng giống như có mảnh giấy dán tường bị bong, rớt khỏi
tường, rồi bị nước thấm vào. Bà sẽ chích bong bóng gas
vào mắt tôi để nó nổi lên phía trên, đẩy võng mạc bị rách
trở lại phía sau tròng mắt như cũ. Ngày hôm sau tôi mới
phải trở lại để giải phẫu bằng tia laser.
Khi bà bác sĩ đâm kim vào mi mắt dưới để làm tê
tròng mắt, tôi rất mừng là Max có mặt ở đó. Không phải
cái đau nơi thân khi bị chích gây khó dễ cho tôi, mà chính
là cái ý nghĩ có một cây kim dài đâm vào mắt, làm tôi
khiếp sợ. Tôi bấu chặt vào thành ghế cho đến khi bà bác sĩ
rút kim ra khỏi mắt. Vài phút sau, thuốc tê ngấm, nên tôi
không cảm thấy gì khi bà bác sĩ chích bong bóng gas vào
mắt, nhưng tôi thấy ngay - không phải một cái to, mà vài
cái bong bóng cỡ trung màu bạc và rất nhiều cái nhỏ, đung
đẩy vào nhau giống như những trái banh thủy ngân. Rồi bà
bác sĩ băng mắt tôi lại, dặn tôi hôm sau phải trở lại để làm
phẫu thuật bằng tia laser.
40
Trong khi chờ bong bóng gas tiêu tan, độ khoảng một
tuần, tôi phải nghễnh đầu sang một bên, để cái kim đồng
hồ mười giờ ở phía trên, và tôi không được nằm xuống.
Đêm đó tôi ngủ, hay cố gắng ngủ trong một chiếc ghế
bành, đầu kê trên mấy cái gối. Hôm sau Max chở tôi trở lại
bệnh viện để làm phẫu thuật laser. “Bà có muốn cháu vào
phòng với bà không?”, bà bác sĩ hỏi.
“Dạ, có ạ”, tôi đáp.
Lần này thì không có thuốc tê, vì người ta không thể
làm tê ánh sáng. Mỗi mũi kim từ cây súng laser bắn vào
khiến ánh sáng bùng nổ, và một cái đau nhói trong mắt.
Ánh sáng laser đốt tế bào của võng mạc bằng sức nóng,
và chính vết sẹo sẽ kết võng mạc dính trở lại thành mắt.
Thật lạ là mắt, bộ phận của ánh sáng, lại được chữa bằng
tia sáng.
Bà bác sĩ rất nhân hậu, bà luôn miệng khen tôi chịu
đựng giỏi. Có lúc tôi xin bà được nghỉ chốc lát, và bà đã
dừng lại giữa những mũi kim. Cả quá trình chỉ mất khoảng
mười phút, nhưng mười phút với ánh sáng đủ cho cả một
thập niên. Tôi không cần đeo vải che mắt nữa. Tôi có thể
thấy chút ít bằng mắt trái, quanh các bong bóng gas, và
nhìn rõ với mắt phải, nhưng tôi vẫn bấu vào cánh tay Max
khi đi ra xe. May mắn mà tôi được cháu giúp đỡ. Nếu cháu
không có ở đây, chắc tôi đã phải nhờ đến bạn bè, mà nếu
không được thì đành phải tự đi taxi thôi. Nhưng ngày càng
lớn tuổi, bạn càng phải đi bác sĩ thường hơn, và bạn càng
muốn có người thân đi với mình hơn.
41
Đêm đó, tôi ngồi dựng trong ghế bành, nghiêng đầu
qua một bên. Sáng ra, tôi đi khắp nơi với cái đầu nghễnh
qua một bên, hoặc ngồi ở bàn làm việc đầu tựa vào cánh
tay. Tôi quán sát mấy cái bong bóng gas nhập thành một
cái lớn với rất nhiều mấy cái nhỏ li ti bọc quanh nó, giống
như mấy viên đá quý trên một chiếc nhẫn. Khi tôi quay
đầu, chúng lăn lóc ở đáy thị lực của tôi, giống như mấy
viên đá cuội trong một cái tô, nhưng dĩ nhiên thực sự ra
chúng đang lăn tròn ở phía trên. Mỗi ngày, tôi mừng khi
thấy chúng dần nhỏ lại; khi tất cả tan biến đi, tôi đã có thể
thẳng đầu trở lại, và ban đêm có thể nằm xuống ngủ.
Tôi không ngừng nghĩ đến cha tôi. Có nhiều ngày tôi bị
cứng cổ, và cũng không thể ngủ yên trong ghế bành, nhưng
những điều đó không thể so sánh với những gì mà cha tôi
phải trải qua - mà cuối cùng rồi ông cũng phải bị mù. Tôi
cảm thấy như ông đã cổ vũ tôi, thúc giục tôi nghễnh đầu
qua một bên, mặc cho cổ tôi tê cứng, dỗ dành tôi ban đêm
khi ngủ không được nằm xuống, dù tôi có mệt mỏi đến
mấy, thúc giục tôi làm tất cả để giữ được thị lực của mình.
Tôi biết cha không muốn tôi bị mù. Đôi khi, nghĩ đến ông,
tôi thử làm như mù, mò mẫm đi quanh nhà với đôi mắt
nhắm. Nhưng hầu hết những hoạt động bình thường cũng
vượt quá sức của tôi, như khi pha một tách trà, hay mang
đôi vớ tiệp màu, hay bỏ kem đánh răng lên bàn chải răng -
tất cả những thứ ông phải học làm lại từ đầu khi ông bị mù
ở tuổi sáu mươi. Sự can đảm chấp nhận tình trạng mù lòa
của ông bộc lộ một cách mới mẻ đối với tôi.
42
Mỗi ngày những bong bóng gas nhỏ lại, và tôi có thể
nhìn rõ hơn những gì còn lại trên thế giới quanh chúng, rồi
đến ngày thứ sáu, chúng biến mất hết. Tôi tự lái xe đến gặp
bác sĩ, bà nói giờ tôi có thể sửa thẳng cổ lại. Tất cả đều tốt
đẹp, võng mạc của tôi đã được chữa lành. Từ đó tôi có thể
nhìn bình thường, dĩ nhiên, ngoại trừ trong bóng đêm.
Mấy tháng sau khi bị bong võng mạc, tôi gia nhập một
nhóm các văn nghệ sĩ dự khóa thiền một tháng dài ở
Adirondacks, thuộc miền Bắc bang New York. Vào một
đêm trong tháng mười một, một trận bão tuyết thình lình
tấn công chúng tôi, đi kèm theo với sấm sét, và cuồng
phong. “Còn mấy con gà thì sao?”, một nhà văn lên tiếng.
“Chúng chết cóng mất!” Vài người tóm lấy đèn pin, chạy
ra ngoài bão, và tôi cũng chạy theo. Chúng tôi đi khoảng
vài trăm thước dọc theo lối vào vườn rau, để bắt gà và bỏ
chúng vào chuồng tối nay, nếu không chúng sẽ bị tuyết bất
ngờ chôn sống thôi. Người thì rọi đèn pin vào đàn gà, kẻ
thì trườn trên bụng dưới tầng nhà vườn để bắt mấy chú gà
đang sợ điếng. Còn tôi không có đèn pin, mà đầu gối cũng
không cho phép tôi cúi mình trên tuyết, cảm thấy mình
không ích lợi gì, nên tôi quay trở lại nhà.
Chân tôi có thể cảm nhận được sự trơn láng của mặt
đường, và tôi có thể nhìn thấy ánh đèn trong nhà qua những
rặng cây. Thỉnh thoảng có sấm và sét. Nhưng sau khi đi một
hồi, tôi cảm thấy ánh đèn trong nhà không trở nên gần hơn,
và tôi nhận ra rằng chân tôi đã dò ra được con đường,
nhưng là con đường khác, dẫn ra sân chơi tennis. Tôi biết
43
hướng đi đúng cách đây không xa, ở phía bên kia của một
cái dốc nhỏ, nên tôi đi về phía rặng cây, nhắm hướng ánh
đèn trong nhà. Không thể xa hơn một trăm thước. Tuyết
dầy đặc, giày và quần của tôi ngay lập tức thấm ướt. Rồi
bỗng nhiên ánh đèn trong nhà vụt tắt. Điện cúp do bão táp.
Không còn gì để nhắm tới, mà cũng không còn lối đi dưới
chân tôi. Gió thổi mạnh, tuyết rơi dầy. Tôi hét lớn hết sức.
“Có ai nghe thấy không? Cứu! Cứu tôi với!” nhưng giọng
tôi lạc đi trong gió. Tôi đi chậm rãi về phía mà tôi nghĩ là
hướng về nhà, đưa hai tay về phía trước để tránh đụng phải
cây cối. Có khác gì người mù đâu.
Rồi bỗng nhiên mặt đất sụp xuống phía trước, tôi trượt
xuống dưới hố tuyết, đầu gối va vào đá. Tôi ngồi yên, xem
xét tình thế. Tôi không bị gì. Tôi có thể đứng dậy đi tiếp,
nhưng về hướng nào? Tôi thật là ngốc khi muốn chạy theo
xem bắt gà, giờ thì lạnh làm sao. Không nón, không bao
tay, và tồi tệ nhất là không đèn pin. Tôi tưởng tượng mình
sẽ đi vòng vòng trong bóng đêm, mất phương hướng vì gió
bão, rồi té ngã. Sẽ không có ai biết tôi ở đâu mà đi tìm, vì
mọi người tưởng tôi đã về phòng, đang ngủ trong giường.
Giờ hẳn là mấy con gà đã có thể được vào chuồng an toàn.
Còn tôi thì chết cóng trong đêm, như một hòn đá bị liệng
ra khỏi nhà.
Tôi cố gắng đứng dậy, vừa lúc có tiếng sấm. Một tia
sét theo sau đã giúp tôi thấy, chỉ trong tích tắc, ngôi nhà,
cách đây khoảng năm mươi thước. Cũng may là lúc đó
mặt tôi quay đúng hướng mới thấy được nhà. Rồi mọi thứ
44
lại biến mất trong bóng đêm. Tôi đi theo hướng đó, lội
trong tuyết dầy, dò từng bước trước khi đặt chân xuống, và
khi tiến gần đến nhà hơn, tôi thấy ánh đèn cầy lung lay qua
cửa sổ. Đúng là nhờ võng mạc đã được chữa mà tôi về
được lại nhà. Tôi nghĩ đến cha tôi, và tôi cảm thấy hàm ân
về những tiến bộ trong ngành nhãn khoa đã có mặt quá trễ
đối với cha tôi, nhưng đúng lúc cho tôi.
Tôi nhớ lần đầu gặp lại lúc cha đã bị mù. Ông đứng ở
băng chuyền lấy hành lý tại phi trường Logan của Boston.
Tôi đã bay từ California đến thăm ông. Ông đứng quay
lưng về phía tôi. Ông đang đứng bên vợ, một cánh tay móc
vào cánh tay bà, tay kia cầm gậy trắng. Điều làm tôi xúc
động là cách ông nghễnh đầu, nghe ngóng. Dáng dấp của
người mù, và tôi đã khóc khi tiến đến phía sau ông. Tôi
chưa bao giờ nhìn thấy người cha đầy mạnh mẽ, lịch lãm
đứng như thế trước đây, ngóng đợi, trong ngóng đợi.
Trong thời gian tôi thăm viếng, ông thường khắc khoải
hỏi về giờ giấc như thể để định hướng cho bản thân vì giờ
đối với ông ngày qua đi mà không có sự thay đổi trong
bóng thời gian. Tôi đến Hội Người Mù ở Boston để mua
cho ông một đồng hồ bỏ túi khắc số Braille - ông vẫn
thường sử dụng một đồng hồ bỏ túi, thắt gút vào dây lưng
quần. Ông đã khóc khi tôi trao nó cho ông, và đã giữ nó
bên mình suốt quãng đời còn lại của mình. Sau khi ông
mất, người vợ đã gửi nó về lại cho tôi. Lớp men trắng trên
mặt đồng hồ đã bị bong tróc vì ngón tay ông rờ rẩm.
* * *
45
Rời Khỏi Vị Thế Hoa Sen
Tôi ngồi trên ghế. Vâng, dĩ nhiên rồi, nhưng ý tôi
muốn nói là tôi ngồi thiền trên ghế. Zazen là hành thiền, và
trong tiếng Anh chúng tôi gọi đó là sitting (ngồi), chỉ ngồi.
Tọa thiền trên ghế là một phát triển mới đây thôi cho tôi,
chắc chắn là phát khởi từ mạng lưới của nghiệp nhân quả,
nhưng nhân chính là bệnh viêm khớp gối mãn tính của tôi.
Ai cũng biết là thiền sinh thật sự phải dốc tâm ngồi bắt
tréo chân (kiết già) trên sàn. Đức Phật đã ngồi trong tư thế
kiết già khi Ngài giác ngộ dưới cây bồ đề hai ngàn năm
trăm năm trước, và đã có hàng triệu tượng Phật cho ta thấy
rõ điều đó - ngồi kiết già trên các điện thờ hay trên các kệ
sách ở khắp nơi trên thế giới. Trong nhà tôi cũng có vài
tượng Phật như thế.
Hình ảnh đức Phật ngồi tọa thiền là biểu tượng chủ
46
yếu của Phật giáo. Và tám trăm năm trước, Thiền sư
Dogen, vị sáng lập ra Thiền Tào Động (Soto) ở Nhật Bản,
đã dạy đệ tử phải “ngồi trong tư thế kiết già (hoa sen) hay
bán già (nửa hoa sen)”. Đó là những tư thế yoga cổ xưa,
những tư thế linh thiêng (asanas) - có sự hậu thuẫn, đảm
bảo đằng sau đó. Khi chân tay tôi còn dẻo dai, tôi đã tin
rằng nếu tôi ngồi đủ lâu trong tư thế bán già trên chiếc tọa
cụ đen (zafu), tôi sẽ chứng đắc. Giờ tôi mới thấy điều đó
không hợp lý như thế nào nếu chỉ có những người ngồi
theo các tư thế đó mới vượt qua được bờ bên kia.
Những ngày này ngồi tréo chân làm tôi đau hơn cái
đau người ta thường diễn tả. Ai cũng biết rằng không chạy
trốn cái đau là điều trọng yếu khi hành thiền, kể cả cái đau
ở đầu gối. Sesshins (những khóa tu thiền dài ngày) là một
cơ hội để ngồi qua cơn đau. Khi đau ở gối, nếu tôi có thể
coi đó không là gì hơn là cái đau ở gối, thì tôi sẽ là người
hạnh phúc với cái đau ở gối. Đó là những điều tôi đã được
dạy, trong suốt hơn ba mươi năm hành thiền.
Vài năm về trước, khi tôi vẫn còn ngồi được trên sàn,
một bạn đồng tu đã phải dời sang ngồi ghế sau phẫu thuật
ở gối. (Chứng cứ có tính cách giai thoại của tôi là số đông
những người hành thiền phải phẫu thuật đầu gối). Tôi hỏi
anh có thích như thế không, và anh trả lời là anh nhớ
những cơn đau vì bây giờ anh ‘khó tập trung’ trong khi
hành thiền. Câu trả lời làm tôi bối rối. Tôi cũng nhận thấy
rằng cái đau khiến tâm tập trung, nhưng nó tập trung tâm
vào cái gì? Cái đau! Điều đó có ích lợi sao?
47
Một người bạn khác của tôi được chứng thiền. Anh bị
đau, nhưng tự nguyện sẽ ngồi yên cho đến khi hết thời
khóa, dầu cho bất cứ chuyện gì xảy ra. Cái đau càng lúc
càng khủng khiếp, nhưng anh vẫn ngồi yên, mắt dán vào
bức tường trước mặt, và chỉ vài phút trước khi thời thiền
chấm dứt, cả vũ trụ mở ra và anh nhìn thấy vạn pháp là
vạn pháp. “Không chịu khổ, không thể đạt được gì”, anh
giải thích, khi anh mô tả lại cho tôi nghe về trải nghiệm
của mình sau đó. Tuy nhiên, điều đó chẳng bao giờ xảy
đến cho tôi.
Một vị thầy cũng từng nói với tôi, “Nếu cô trốn tránh
cái đau ngay trước mắt, thì sau này khi cô già, cô bệnh, và
phải chịu đựng những cơn đau không thể tránh, thì cô
xoay trở làm sao? Không lẽ cô không muốn tập sống với
cái đau?” Tôi quyết định không chấp nhận điều đó khi nó
xảy ra cho tôi. Tôi lý luận rằng đời tôi đã có quá nhiều nỗi
đau, tại sao tôi phải gánh thêm nỗi đau này?
Tôi học được đôi điều về cái đau khi tọa thiền. Nếu tôi
thay đổi thế ngồi quá sớm, cái đau dường như đuổi theo
tôi mọi lúc mọi nơi, nhưng nếu tôi cứ ngồi yên lúc cái đau
khởi lên, thì cái đau thường tự nó qua đi, hay lắng xuống.
Loại đau này giống như một đứa trẻ muốn được chú ý,
nuông chiều, nhưng nếu ta cứ phớt lờ đi thì nó cũng bỏ
cuộc. Sự huân tập để không ngọ nguậy, cử động này cũng
có nhiều ứng dụng trong đời sống thế tục bên ngoài thiền
đường, thí dụ ở chỗ hòa nhạc thính phòng, trong các buổi
họp hành nơi cơ quan, hay khi nằm chụp MRI (Magnetic
48
Resonance Imaging)3.
Trong quá trình hành thiền, tôi cũng biết có những thời
điểm khi cái đau đến đỉnh và sẽ không lắng xuống - nó chỉ
càng tệ hơn thôi, cho đến khi tôi nổi cơn thịnh nộ với nó,
và với cách tu tập khiến tôi phải đau thế này. Suy cho
cùng, cái đau là một hệ thống biển báo sinh học được hình
thành để giúp ta ngăn ngừa việc tự làm tổn thương bản
thân. Tại sao ta thấy đau khi chạm vào bếp nóng là để ta
không làm phỏng tay mình.
Cái đau cũng là một yếu tố quan trọng trong nghi lễ
của một số truyền thống tôn giáo: những kẻ sám hối đánh
lưng họ đến rướm máu trong lễ Holy Week; một số người
hành hương leo lên các bậc thang đá bằng đầu gối để đến
các điện thờ linh hiển; những người Mỹ Da Đỏ trong cuộc
truy tìm trí tuệ, sẽ khỏa thân đứng yên dưới sức nóng cháy
bỏng của mặt trời. Nhưng đây là những nghi lễ ở một thời
điểm nào đó, không phải là việc thực tập hằng ngày.
Tôi đang ở giai đoạn thối chuyển trong việc hành
thiền trong tư thế ngồi tréo chân. Tôi bắt đầu hành thiền
năm tôi ba mươi hai, theo tư thế bán già với những cái đau
vừa phải, có thể chịu đựng được. Trong các khóa tu dài
ngày, chân tôi bị đau, nhưng tôi biết đó là cái giá phải trả.
Giờ ở tuổi sáu mươi, tôi bị đau khớp gối. Tôi có thể ngồi
tréo chân một chút, nếu tôi kê thêm gối để giúp tôi ngồi
3 Theo Wikipedia, MRI: một loại xét nghiệm sử dụng từ trường
và sóng vô tuyến để chụp ảnh các bộ phận trong cơ thể.
49
thẳng, nhưng chỉ sau khoảng mười lăm phút là cái đau bắt
đầu tấn công. Năm ngoái khi tôi đến nhờ bác sĩ khoa chỉnh
hình tư vấn về vấn đề của đầu gối, tôi có nói đến việc hành
thiền, và ông rầy vì thế ngồi bán già của tôi. Giờ bác sĩ ra
lệnh tôi phải ngồi trên ghế. Lý ra tôi phải nhờ ông viết
giấy cho sư phụ của tôi, nhưng không cần thiết phải làm
vậy, vì may mắn thay, hiện nay tất cả các thiền sư mà tôi
biết đều chấp nhận việc cho thiền sinh ngồi ghế. Được
phép, chứ không phải là bị bắt buộc. Chính là ông thầy ở
bên trong tôi mới làm khó tôi.
Nên đây là bước ngoặc của tôi, khi tôi phải dẹp tự ái
để lần đầu tiên ngồi hành thiền trên ghế trong một khóa tu
dài ngày. Có một số thiền sinh khác cũng ngồi ghế, nên tôi
không cảm thấy lẻ loi trong khóa tu chuyên sâu hơn này,
không cảm thấy chỉ có cái đầu của tôi nhô lên ở trên mây
giống như một ngón tay đau. Trời ạ, đây là lần đầu tiên
trong bao năm tháng, tôi không tự dày vò mình trong một
khóa tu dài ngày bằng cách tự vấn - tại sao tôi lại làm việc
này? Tôi trầm lắng xuống. Đây là khóa thiền đầu tiên
trong đó tôi chưa một lần cầu mong cho kẻng chuông mau
đổ để chấm dứt thời khóa. Tôi đã có thể có mặt ngay trong
giờ phút hiện tại - hay đúng hơn, lúc viết lại điều này, phải
nói là giây phút đó. Tôi tán thán cái ghế là một dụng cụ
tâm linh. Ghế là dụng cụ để ngồi, một món quà được phát
minh và chế tạo bởi con người dành cho con người. Thân
này biết làm thế nào để ngồi trong ghế. Có một sự cân
bằng hình học trong tư thế ngồi ghế của con người, với
50
chân, bàn tọa và lưng song song với chân, chỗ ngồi, và
lưng ghế, trong một hình chữ chi ghép, biểu hiện sự trùng
khớp của các góc cạnh.
Đôi khi tôi cũng thèm được ngồi xuống sàn - cảm giác
tự tại được an vị, được ngồi xuống. Vì thế tôi phải tự nhắc
nhở mình: tôi đang ngồi trên ghế, và ghế đang nằm trên
sàn, như thế cũng là tôi đang ngồi trên sàn. Ngoài ra, việc
có thể đứng dậy lại sau kẻng chuông cũng là điều quan
trọng. Có hai phần trong việc hành thiền: ngồi xuống và
đứng dậy, và đối với tôi, việc đứng lên khỏi sàn nhà làm
mất quá nhiều thì giờ của hoạt động kế tiếp. Tôi không
muốn để lỡ cơ hội có thể sử dụng nhà vệ sinh trước khi
thời khóa thiền khác bắt đầu.
Trong một khóa tu thiền dài ngày gần đây ở một trung
tâm thiền truyền thống, lần thứ hai tôi ngồi ghế, và tôi là
người duy nhất ngồi ghế, dầu tôi không phải là người lớn
tuổi nhất. Điều này khiến tôi khựng lại. Tôi là người duy
nhất vì tôi là người trong đầu gối có ít sụn nhất, hay vì tôi
là người yếu đuối nhất, hay là người chẳng quan tâm đến
người khác nói gì? Tôi nhận thấy, trong lúc ngồi trên ghế,
rằng không có gì đáng quan tâm. Câu hỏi thật sự duy nhất
tôi cần hỏi, và luôn luôn hỏi là: tôi đã cố gắng hết sức
mình chưa? Nếu ngồi trên ghế mà tôi đã cố gắng hết sức
mình, thì là tôi đã tọa thiền một cách hoàn hảo.
Ngồi thiền trên ghế cũng có bao khó khăn, nên đừng lo
ngại rằng vậy là quá dễ - bạn vẫn có thể cảm thấy khó
51
chịu, khổ đau. Năm chướng ngại của tham, sân, trạo cử,
hôn trầm thụy miên, và nghi vẫn tấn công tôi dễ dàng khi
tôi ngồi trên ghế cũng như khi tôi tọa sàn. Thỉnh thoảng
vẫn có những cơn đau nhói buốt, nóng rát giữa hai bả vai,
nhưng tôi biết cái đau đó không thể làm tổn thương tôi,
nên rồi nó qua đi.
Ngồi thiền trên ghế, tôi cảm thấy hàm ân phương cách
hành thiền này. Tôi tận hưởng cảm giác được ngồi thẳng
lưng. Tôi tận hưởng hơi thở ra vào của mình. Tôi không
phải canh chừng cái đau, và không phải tranh đấu với bản
thân vì là người yếu đuối. Tôi không phải luôn ngã giá với
bản thân, như là: mười hơi thở nữa, rồi tôi sẽ cho phép
mình được đổi tư thế. Tôi quán sát tư thế của mình: tôi
cảm thấy chân tôi đặt vững chải trên mặt sàn nhà, tôi cảm
nhận được sống lưng thẳng đứng, tôi cảm nhận được
xương chậu chạm trên mặt ghế ngồi. Tôi gần gũi với các
thiền sinh khác trong phòng; dầu họ ngồi trên mặt sàn nhà
hay trên ghế, chúng tôi đang hành thiền cùng với nhau,
gắn bó với nhau bằng chính sự lặng thinh.
Tiếp đến là gì? Có lẽ tôi sẽ hành thiền trên võng nằm
chăng, hay ngồi thiền trong những chiếc ghế trải dài, bên
cạnh hồ bơi. Tôi sẽ báo cho bạn biết cảm giác thế nào khi
tôi đến độ đó.
* * *
52
53
Ống Thở
Vào một buổi chiều Chủ nhật, cuối tháng Chín,
Alice, bà mẹ tám-mươi-tư tuổi của tôi, đi chơi với
một người bạn già, mà bà thường gọi đùa là ‘bạn
trai’, người thường đưa bà đi đây đi đó, sau khi bà
không còn tự lái xe được nữa. Đi về hướng bắc phía
ngoại thành của Chicago, xe họ lên dốc, đụng vào
một chiếc xe chết máy đang đậu giữa đường.
Tuần Thứ Nhất
Khi tôi cúi xuống hôn mẹ ở bệnh viện, tôi thấy hai bàn
tay bà sưng to để xuôi theo hai bên hông. Hơi thở bà hôi
hám. Nhưng điều tệ hại nhất là một ống thở được thọc sâu
trong cổ bà, là điều tôi biết bà không bao giờ thích. Cái
ống thở màu xanh, bằng plastic, nhìn thật to rồng rắn từ
máy thở, vào trong cái miệng bị buộc phải luôn mở. Vì cái
ống đó, bà không thể nói được, nhưng bà nhìn tôi với một
bên mắt mở, nhấp nháy như chào. Mắt còn lại, với mí mắt
54
rũ xuống, giờ không hiểu tại sao, hoàn toàn không mở lên
được. Chiếc áo ngủ xanh trắng của bệnh viện trễ xuống
một bên vai, làm lộ một phần ngực, như thể là bà đã bỏ
chạy và người đuổi theo đã nắm áo kéo lại. Tôi kéo áo lại
cho mẹ, vén quanh vai bà.
Ở bên ngoài hành lang của phòng chăm sóc đặc biệt,
Bác sĩ M. trao đổi với các chị em tôi - tất cả chúng tôi đều
từ xa bay về. Bác sĩ M. khoảng tuổi bốn mươi, tóc đỏ,
giọng ông ôn tồn dường như để mang lại sự bình lặng cho
một hoàn cảnh không bình lặng chút nào. Chính ông là
người đã lấy ra những mảnh xương gãy cho mẹ tôi khi bà
được xe cứu cấp chở đến. Bác sĩ kể rằng khi vào phòng
cấp cứu, mẹ tôi không những vẫn còn tỉnh mà còn tỏ ra rất
khó chịu, và chúng tôi coi đó là một dấu hiệu tốt. Vị bác sĩ
giải thích rằng mẹ tôi bị gãy mấy xương sườn, nứt xương
đòn, xương cổ và một bên phổi bị dập nặng. Ông bảo nếu
mẹ tôi còn trẻ và có sức khỏe thì bà có thể lành bệnh dễ
dàng, nhưng vì tuổi tác và thêm nữa là phổi bà trước đó đã
tổn thương, nên trước mắt bà phải gặp nhiều khó khăn.
Người lái xe, bạn mẹ tôi, khá khủng hoảng nhưng
không bị thương nặng, ông đã được bệnh viện cho về, với
cái nẹp cổ. Bác sĩ M. nói, “Chúng tôi cũng định tháo ống
thở cho bà sớm khi có thể, nhưng phải để lá phổi bị dập
lành trước đã”.
Chúng tôi thấy rõ là mẹ rất muốn được tháo ống thở ra.
Hai cổ tay bà bị buộc vào thanh giường để bà khỏi rút ống
thở ra, nhưng bà cứ đưa một ngón tay về hướng miệng một
55
cách giận dữ. Một cái chụp bằng plastic được quấn quanh
mặt để giữ cho ống thở không tụt ra. Miếng plastic được
buộc chặt qua môi trên, dưới mũi, làm phần thịt đỏ của môi
bà sưng lên bên dưới đó giống như một cái bong bóng.
Dầu thức hay ngủ, mẹ tôi cũng chỉ có một mắt mở,
một mắt nhắm, như thể để cùng lúc nhìn ngắm thế giới
mộng mơ và thế giới của ICU (Intense Care Unit-Phòng
Chăm Sóc Đặc biệt). Bà bị mê nhiều, nhưng khi cô y tá
bảo bà cọ quậy mấy ngón chân, thì bà cọ quậy chúng.
Chúng tôi đứng quanh giường và hát, sợ phải dừng lại.
Chúng tôi không biết phải làm gì nếu không hát. Chúng tôi
hát những bài hát mà cha tôi vẫn thường hát khi chúng tôi
còn nhỏ. Dường như bài hát nào cũng về cái chết, nhưng
mẹ tôi đâu có để ý đến lời bài hát. Dường như nhịp tim bà
chậm lại khi chúng tôi hát: “Người đã ra đi mãi mãi, thật
rất đau lòng, Clementine ơi!”
Khi bài hát chấm dứt, tôi hỏi: “Mẹ có muốn con bóp
chân không?”. Mẹ gật đầu. Hai tay tôi cầm chân bà, vuốt
ve làn da mịn màng ở phía trên, lướt trên những đốt xương
đến mấy ngón chân. Tôi có thể đoán qua sức nặng chân bà
tỳ lên tôi là bà rất thích động tác đó. Dĩ nhiên tôi biết chân
mẹ tôi thon đẹp thế nào, nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ trong
đầu: Mẹ tôi có đôi chân tuyệt đẹp. Mà tôi cũng chưa bao
giờ bóp chân cho bà. Phải đợi đến khi bà vào ICU, tôi mới
gần gũi với bà như bà vẫn hằng mong đợi. Mẹ tôi đã viết di
chúc lúc sống, khẳng định rằng bà không muốn được hỗ trợ
máy thở để sống nếu bà bị rơi vào tình trạng hôn mê, và bà
56
đã gửi di chúc này đến chúng tôi nhiều năm trước đó. Vài
ngày sau khi tai nạn xảy ra, chúng tôi lại tìm thấy một
chứng từ khác trong căn hộ của bà - tờ giấy không đề ngày
tháng, nhưng đúng là chữ viết của mẹ tôi, “Đừng có bỏ ống
thở vào cổ tôi để giúp tôi thở”. Nét bút đè mạnh như thể ra
lệnh; tôi như nghe được giọng nói của mẹ tôi. Quá bức
xúc, tôi đưa mảnh giấy cho bác sĩ M. xem. Ông nói,
“Nhưng trường hợp này khác. Bà bị tai nạn xe - đâu phải là
chúng ta giữ bà sống khi bà trong tình trạng thực vật. Tôi
biết sự lo lắng của bà, nhưng mẹ bà đang hồi phục!”
“Thường bệnh nhân phải sử dụng ống thở trong bao
lâu,” chúng tôi hỏi. “Không lâu hơn hai tuần,” bác sĩ trả
lời. “Lúc đó, nếu bệnh nhân vẫn chưa tự thở được, chúng
tôi sẽ yêu cầu mổ khí quản. Nhưng điều đó khó xảy ra
trong trường hợp của mẹ bà. Tôi hy vọng sẽ tháo ống thở
cho bà ấy trong vài ngày tới”.
Được, chúng tôi có thể đợi “trong vài ngày tới”.
Chúng tôi ngủ, hay cố gắng để ngủ, trong căn hộ của
mẹ tôi ở đầu kia của thành phố, và ở cả ngày dài trong
bệnh viện. Chúng tôi thay phiên ở bên mẹ, canh chừng
máy động đồ, gọi y tá nâng hay hạ giường xuống, hoặc rơ
miệng bà bằng miếng băng gạc ướt, hết mình chăm sóc bà
với một sự buông xả chưa từng có. Căn phòng ngỗn ngang
những máy móc, dụng cụ y khoa lại có thể quét sạch một
cách diệu kỳ tất cả những chướng ngại thường cản trở
chúng tôi bày tỏ tình thương yêu; thí dụ, tôi không quan
tâm đến việc mẹ sẽ nghĩ thế nào về tóc tai của tôi.
57
“Cái chụp đó quá chặt ở môi”, tôi nói với cô y tá.
“Phải chặt vậy mẹ cô mới không rứt nó ra”, cô y tá trả lời.
Mẹ tôi dường như muốn nói điều gì: bà lúc lắc cánh tay,
bà chồm tới trước, lắc đầu trong tuyệt vọng, rồi ngã trở
xuống gối, mệt mỏi. Cô y tá mang cây bút lông và một bảng
trắng đến. Chúng tôi buộc cây bút quanh mấy ngón tay bà,
nhưng nét viết quá nghệch ngoặc đến nỗi chúng tôi không
thể đoán ra điều gì, và rồi cây bút rơi khỏi tay bà. Kế tiếp
chúng tôi đưa cho bà một bảng chữ cái, để bà lướt tay trên
mặt bảng thẳng lì giống như mũi tên chỉ trên bảng Ouija,
nhưng thật khó biết là bà chỉ chữ nào, hay bà đang trên đà
đi tiếp tới chữ sau. Chúng tôi cứ đoán trật các chữ, cho đến
khi bà đẩy tấm bảng đi với một cái nhún vai chán nản.
Chúng tôi đoán là bà đang cố gắng nói điều gì đó về
cái ống thở. “Mẹ, tụi con biết là mẹ không thích để ống
thở, nhưng tụi con hứa là sẽ lấy nó ra, lúc đó mẹ có thể nói
bất cứ điều gì mẹ muốn!”
Vài ngày nữa lại trôi qua - đã một tuần rồi - nhưng
chúng tôi được báo là mẹ bị viêm phổi, có lẽ vì bà phải thở
ống thở và phải uống quá nhiều thuốc kháng sinh. Đúng là
một chướng ngại lớn trên đường đi. Họ sẽ khó thể bỏ ống
thở ra cho đến khi bệnh viêm phổi của bà thuyên giảm.
Tuần Thứ Hai
Mỗi ngày một chuyên viên về hô hấp lại đến để hút
đàm dãy cho mẹ tôi - một quy trình đáng sợ. Anh ta đẩy
một cái ống kích cỡ như cái ống hút chúng ta thường dùng
58
vào trong ống thở rộng hơn, thọc sâu từng chút một, vào
phổi của mẹ tôi, lúc đó mắt trái của bà mở càng lúc càng to
trong cảnh giác, ngay cả mắt phải với mi mắt nặng nề cũng
hé đủ cho ta thấy tròng mắt. Tôi đưa tay cho mẹ, và bà
nắm chặt lấy nó. Tiếp đến còn tệ hơn nữa, khi người
chuyên viên kéo cái ống trở ra, tạo một sức hút. Có âm
thanh rột rạc trong đôi giây phút, giống như âm thanh ống
hút tạo ra khi ta uống đến cạn ly sữa sinh tố, mẹ tôi run
người, khi chúng tôi nhìn thấy những dãy đờm vàng được
kéo lên qua cái ống plastic trong veo.
“Cảm ơn, Alice”, người chuyên viên nói một cách vui
vẻ. Mẹ tôi vươn những ngón tay khẳng khiu lên, kéo theo
sợi dây kim loại gắn chặt vào ngón tay trỏ của bà, và bàn
tay của bà chỉ cách ống thở trong gang tấc trước khi nó bị
sợi dây cột ở cổ tay trì lại.
Em trai và tôi bỏ xuống căn-tin bệnh viện một lát.
Nhưng không có cách gì thoát khỏi hoàn cảnh này - dẫu
tôi đi đâu nó vẫn theo tôi. Dầu vậy, chúng tôi cũng thấy
nhẹ đôi chút khi ngồi trong quán cà-phê, khi quanh tôi xôn
xao giọng nói của những người xa lạ, và tiếng mâm dĩa đồ
ăn chạm nhau. “Chị có cảm giác như mình đã sống trong
bệnh viện này cả đời rồi”, tôi nói.
“Đúng vậy, dường như thời gian đã dừng lại”, em tôi
đáp. Da trên khuôn mặt mệt mỏi của nó giống như miếng
vải mềm.
“Thì một là mẹ bớt hơn, hai là tệ hơn”, tôi nói. Một ý
nghĩ an ủi dị thường.
59
Một sáng kia khi chúng tôi bước vào phòng, cái ống
thở được dán băng keo dính vào cằm của mẹ, còn môi trên
bà dán băng. Cô y tá nói, “Tin xấu rồi - cái chụp thở làm
rách da môi bà. Tôi rất xin lỗi. Tôi đã gọi xuống phòng
giải phẫu - họ sẽ cho người đến khám vết thương - tôi
không nghĩ nó sẽ ảnh hưởng nặng đến làm biến dạng môi
đâu”. Cô ta dở cái băng lên để cho chúng tôi thấy một vết
thương cỡ bằng đồng tiền trên môi mẹ tôi - giống như một
cửa sổ với khung bằng máu, qua đó tôi có thể thể nhìn
thấy nướu và răng của mẹ. Cô y tá nói thêm, “Bà đang bị
mê nhiều, nên chắc không đến nỗi đau như ta nghĩ”.
Đến buổi sáng thứ chín, một ngày thứ Ba, mẹ tôi trông
xanh hơn và xa vắng hơn bao giờ hết. Quá thất vọng,
chúng tôi báo với bác sĩ M. rằng không biết chúng tôi còn
có thể để mẹ chịu đựng trong bao lâu nữa. “Chúng tôi
đang định nhờ bác sĩ tháo ống thở ra, dầu tình trạng mẹ tôi
có như thế nào”.
Ông bác sĩ biết là chúng tôi đã quyết tâm. “Tôi hiểu là
ông bà rất muốn thuận theo ý mẹ, và tôi tôn trọng điều đó.
Tôi không cản trở dầu ông bà có quyết định thế nào.
Nhưng tôi nghĩ là bà nhà vẫn còn có cơ hội”. Ông bác sĩ
sửa thế ngồi thẳng lại và nói với vẻ tràn đầy năng lực.
“Hãy cho tôi đến thứ sáu này! Tôi quyết sẽ tháo ống thở ra
cho bà thứ sáu này”. Sự quyết liệt trong lời hứa hẹn mới
của ông bác sĩ khiến chúng tôi an tâm hơn, nên chúng tôi
bằng lòng chờ đợi thêm ba ngày nữa.
Đồng thời với sự hỗ trợ của bác sĩ M., chúng tôi cũng
60
gặp bác sĩ Z. ở phòng chăm sóc giảm đau để được tư vấn,
trong trường hợp chúng tôi quyết định ngưng máy trợ thở
cho mẹ. Ốm và cao lều khều, ông bác sĩ trong màu áo
trắng, trông giống như một thiên thần của cõi chết. Để trả
lời những câu hỏi của chúng tôi, ông vạch ra một số
trường hợp có thể xảy ra, nhưng thật khó để thâu nhận các
thông tin này - vì tất cả chỉ là giả định. “Gọi cho tôi bất cứ
khi nào quý vị cần”, ông nói khi bắt tay tất cả mọi người
đứng quanh. “Bổn phận của tôi là giúp đỡ quý vị tùy theo
quyết định của quý vị, chứ không phải để thuyết phục quý
vị nên làm theo cách này hay cách khác”.
Tinh thần của mẹ tôi lúc trồi, lúc sụt, và chúng tôi
cũng thế. Tất cả đều là người trưởng thành ở lứa tuổi 50,
60 cả rồi, bản thân ai cũng đều đã làm cha, làm mẹ, vậy
mà tinh thần, tâm trạng của chúng tôi tùy thuộc vào việc
mẹ có chớp mắt nhìn khi chúng tôi nói chuyện với bà. Tôi
mang theo máy tính cá nhân vào bệnh viện, cố gắng giải
quyết một số công việc, nhưng tôi không thể chú tâm vào
bất cứ thứ gì ở thế giới giả tạm bên ngoài bệnh viện. Vì
thế tôi ngồi móc một chiếc khăn choàng cho mẹ - những
sọc xanh biển và xanh cây dọc ngang, là những màu sắc
mẹ tôi rất thích.
Đến thứ sáu, ống thở vẫn còn đút sâu trong cổ mẹ. Bà
mở mắt nhìn trân không chớp khi tôi bước vào phòng, và bà
cũng không co duỗi các ngón chân khi cô y tá bảo bà làm
thế. Bà vẫn còn bị viêm phổi, và các con số trên màn hình
không cho thấy một sự tiến triển nào. Cả buổi sáng đó
61
chúng tôi không gặp được bác sĩ M.. Rõ ràng đây không
phải là ngày mẹ tôi được giải thoát khỏi cái ống thở.
Bốn chị em chúng tôi hẹn nhau trong một căn phòng
nhỏ, không có cửa sổ, ở cuối hành lang, được gọi là Phòng
Họp Mặt Gia đình. “Chắc chắn đây không phải là điều mẹ
muốn xảy ra,” em gái tôi nói.
“Bác sĩ cứ bảo chờ thêm vài ngày nữa,” một cô em
khác nói, “rồi vài ngày nữa qua đi, mẹ chỉ nặng thêm,
nhưng thế nào rồi ông cũng bảo cho ông thêm vài ngày
nữa”.
Em trai tôi nói, “Mẹ bị trói trên giường - mấy người có
hiểu tôi nói gì không?” Giọng em lạc đi. “Chúng ta là con
của mẹ, vậy mà chúng ta quyết định để mẹ phải chịu đựng
cảnh này sao?”.
Tụ họp nhau lại trong căn phòng ngộp thở này, với tâm
trạng mệt mỏi hết sức chịu đựng, tất cả chúng tôi đều đồng
ý đã đến lúc phải để mẹ ra đi. Chúng tôi để tin nhắn lại cho
bác sĩ M.. Chúng tôi điện thoại cho các con - các cháu của
mẹ. “Chúng ta phải để bà ra đi”, chúng tôi hát, giống như
những thủy thủ đang tháo dây buộc thuyền để thả nó
xuống dòng nước mặn.
Con trai lớn của tôi, cháu đầu của bà, đang ở tận bang
Texas, nói, “Con tưởng bà đã khỏe hơn. Hôm qua mẹ nói
bà đã đỡ hơn rồi mà”. Tôi cuộn người trên sàn nhà dưới
cái điện thoại công cộng trong phòng đợi.
“Mọi người đều tưởng như thế”, tôi nói, “nhưng hôm
62
nay bà trở nặng hơn. Nếu con mà nhìn thấy bà, người đầy
các ống, tay bị trói chặt, chỉ trân một mắt nhìn… Bà đã
yêu cầu chúng ta đừng gắn ống thở vào cổ bà. Bà đã tin
tưởng chúng ta”.
“Nhưng có thể các thuốc kháng sinh cần thời gian để
chữa lành bệnh viêm phổi”, nó nói.
“Mẹ sẽ hỏi bác sĩ về điều đó”, tôi hứa hẹn. Cuối cùng
bác sĩ M. cũng xuất hiện. Chúng tôi bước ra hành lang để
trao đổi. Khi chúng tôi báo cho ông biết rằng đã đến lúc để
mẹ tôi ra đi, ông có vẻ ngạc nhiên. “Tại sao lại là hôm
nay?” ông hỏi.
“Thì hôm nay là thứ sáu rồi”, tôi nói. “Ông đã hứa sẽ
tháo ống thở ra cho mẹ tôi thứ sáu này”.
“Nhưng bà đang ổn định mà”, ông nói. “Tôi cũng
muốn hạ mức hỗ trợ khí cho bà xuống khoảng bốn mươi
phần trăm, nhưng tình trạng phổi của bà khiến chúng tôi
phải chậm lại tiến trình”.
“Tới hôm nay, thuốc kháng sinh cũng chưa trị dứt
được bệnh viêm phổi sao?” em trai tôi hỏi.
“Tôi muốn để thêm vài ngày nữa cho thuốc có hiệu
lực. Tôi biết quý vị lo lắng vì bà phải mang máy trợ thở,
tôi thông cảm điều đó. Nhưng như tôi đã thông báo, tôi sẽ
không để tình trạng này kéo dài hơn hai tuần, nhưng đến
thứ hai này mới được hai tuần”.
Chúng tôi lại phải đồng ý cho gia hạn lần thứ ba.
63
Khi chúng tôi trở về phòng, mẹ tôi ngồi dậy trong
giường, và đây là lần đầu tiên sau tai nạn, bà giãn miệng ra
như một nụ cười quanh cái ống tuýp màu xanh. Chúng tôi
nhìn nhau kinh ngạc. Lẽ nào bà đã đoán được điều chúng
tôi bàn thảo ngoài hành lang?
Chúng tôi gọi lại các cháu. Chúng tôi không thể tin chỉ
vài giờ trước đây, chúng tôi đã quyết định hôm nay sẽ là
ngày cuối cùng mẹ còn ở trên thế gian.
Tuần Thứ Ba
Chúng tôi muốn giúp bà tới thứ hai này là hồi phục lại
sức khỏe. Tôi gọi con trai, Noah, từ Texas về để cho bà
vui, và ngay sáng hôm sau, nó đã bước vào phòng bệnh
viện. Bà tươi tỉnh ngay và rướn hai bàn tay bị cột chặt về
hướng nó. Noah là một thanh niên cao ráo, nên nó phải cúi
xuống thật sâu để bà có thể đặt tay lên vai nó, và bà kéo nó
xuống các mớ ống tuýp để tặng cho nó một cái hôn vụng
về của chú ngựa bị buộc dây cương. Nó đưa ra trước con
mắt mở của bà hình đứa con gái hai tháng tuổi của nó, đứa
chắt đầu tiên của bà, và bà nhìn tấm ảnh thật lâu.
Thứ hai, sau một vòng khám buổi sáng, bác sĩ M. gọi
chúng tôi ra hành lang bên ngoài phòng của mẹ. “Có lẽ
hôm nay là ngày tốt để tháo ống thở cho bà!” ông nói.
Có khá đông các thành viên trong gia đình và nhân
viên y tế tựu lại trong phòng để chứng kiến sự kiện trọng
đại này, kể cả bác sĩ Z., người thường giúp các bệnh nhân
ra đi; sự có mặt của ông khiến tôi lo lắng.
64
“Chào bà Alice”, bác sĩ M. nói, “Chắc bà vui lắm vì
hôm nay chúng tôi sẽ tháo máy trợ thở ra. Bà có sẵn sàng
chưa nào?” Mẹ tôi sốt sắng gật đầu.
Hóa ra việc đó quá dễ làm. Cô chuyên viên khoa hô
hấp kéo cái ống ra dễ như nhổ cỏ có rễ dài, và mẹ tôi tự
thở. Cô lại mang cho bà một mặt nạ oxy để giúp bà chút
đỉnh trong quá trình chuyển biến. Mặt nạ được quấn quanh
đầu bằng một sợi dây thun, giống như mặt nạ Hallowen.
Cuối cùng họ tháo dây buộc cổ tay bà ra.
Bác sĩ M. cảnh báo có thể bà không nói chuyện được
ngay vì dây thanh âm bị viêm, nhưng bà đã dỡ mặt nạ ra
và nhấp nháy đôi môi, cố tìm lại tiếng nói sau mấy tuần
dài câm lặng. Bà giống như một cô diva, và chúng tôi,
những khán giả trung thành, đang ngóng cổ lên nghe. Âm
thanh bật ra từ tiếng một, khàn và bực bội: “Chùi cằm cho
mẹ!”
Bác sĩ M. rất hài lòng về mẹ, ông dẫn một số bác sĩ tập
sự vào phòng để khoe về bà. Ai cũng vui vẻ, hồ hởi.
“Alice, bà biết đang ở đâu không?” bác sĩ M. hỏi.
“Tôi không chắc lắm,” bà trả lời. “Tôi đang ở trong
nhà bếp phải không?” Ông bác sĩ nói bà đang ở bệnh viện.
“Bà có bao nhiêu cháu rồi?”
“Chín”, bà nói một cách hãnh diện. “Tôi có chín đứa
cháu”.
Bác sĩ M. nhìn tôi. “Đúng vậy,” tôi nói.
65
“Bà có nhớ”, Noah hỏi bà, “bà đã có chắt gái rồi
không?”
“Có chứ”, bà nói một cách hãnh diện. “Chắc chắn là bà
nhớ điều đó rồi!”
Noah thấy bà mình đã hồi phục, nên anh nói lời chia
tay. “Ngoại ơi, bà đã khỏe rồi! Đến mùa xuân, con sẽ về
lại Chicago, và con sẽ mang chắt gái của bà về thăm bà!”
“Bà sẽ đợi”, mẹ tôi nói. “Lúc đó sẽ hạnh phúc lắm”.
Một ngày sau khi ống thở được tháo ra, ngày thứ ba,
mẹ tôi bảo cô y tá giúp bà nằm nghiêng, nên cô y tá làm
như thế.
“Để chuẩn bị cho em bé đó mà”, mẹ giải thích.
“Mẹ, mẹ đâu có em bé”, tôi nói.
“Mẹ biết điều đó mà!” mẹ tôi nói, vẻ bực bội vì sự
chậm hiểu của tôi. “Mẹ phải chuẩn bị cho cháu chắt của
mẹ. Mẹ phải xếp đặt chỗ cho nó”. Bà cuộn người lại, và
xếp một cái ổ hình bán nguyệt trong giường để dành chỗ
cho cháu chắt được nằm kế bên bà. Bà ve vuốt chỗ nằm
đó.
“Còn mấy tháng nữa mẹ mới gặp nó mà”, tôi nói.
Bác sĩ M. bảo chúng tôi đừng lo lắng về việc mẹ tôi
đôi khi có lẫn lộn. Ông bảo điều đó bình thường đối với
bệnh nhân phải nằm phòng chăm sóc đặc biệt một thời
gian. Rồi nó sẽ qua đi, ông nói.
Sáng hôm sau, mẹ tôi ở trong trạng thái thật hưng
66
phấn. Tôi đang ngồi đan móc ở một góc phòng khi bà vẫy
tay về mảng trần phía trên giường nằm. “Mẹ cho con cái
đó làm quà”, bà nói với em gái tôi.
“Miếng gạch lát đó hả mẹ?” em gái tôi hỏi, chỉ tay vào
một trong những tấm gạch lát cách âm vuông có cạnh sáu
tấc, phía trên đầu mẹ. Tôi thật ngạc nhiên khi em gái tôi
hiểu mẹ muốn nói gì ngay.
“Đúng rồi”, mẹ tôi nói, và rồi quay qua tôi, bà tiếp tục,
“còn miếng đó cho con, và miếng kia...” Bà cho từng đứa
con của mình món quà gạch lát. Bà không có gì khác để
cho.
Ngày thứ tư, ba ngày sau khi tháo ống thở, mẹ tôi có
vẻ yếu đi. “Chuyện gì xảy ra, thưa bác sĩ?” chúng tôi hỏi
bác sĩ M. “Tôi không biết”, ông nói. “Chúng tôi truyền tối
đa khí oxy cho bà qua mặt nạ, mà bà chỉ nắm níu”. Ông
dừng lại, như để trấn an bản thân, rồi nói, “Quý vị cần
nghĩ đến việc phải làm gì khi bà không thể trụ được nếu
không có sự giúp đỡ của máy móc. Quý vị có muốn chúng
tôi phẫu thuật khí quản cho bà?”
Một khi đã tháo ống thở ra, chúng tôi không nỡ đặt nó
lại, hơn nữa đã có lời dặn của mẹ tôi. Tuy nhiên, ai cũng
có thể đổi ý, hơn nữa giờ mẹ đã có thể nói chuyện, nên
chúng tôi quyết định hỏi ý bà.
Chúng tôi chờ đợi một trong những giây phút ngắn
ngủi lúc bà tỉnh táo. Bác sĩ Z., vị bác sĩ chuyên lo cho
người chết, bước vào phòng để hỗ trợ chúng tôi. Ông kéo
67
ghế ngồi cạnh giường, để mắt ông ngang tầm nhìn của mẹ.
Còn chúng tôi thì đứng quanh giường, và em gái tôi hỏi đi
hỏi lại câu hỏi đáng sợ đó: “Mẹ có muốn chúng con đặt lại
máy thở cho mẹ, nếu mẹ không đủ sức thở một mình?”
Cô hỏi bằng nhiều cách khác nhau, và mẹ tôi không nói gì.
Chúng tôi ngỡ là bà không hiểu. Lúc đó bác sĩ Z. xen vào
để giúp chúng tôi. “Alice, bà có phản đối việc chúng tôi
đặt lại máy trợ thở cho bà không?”
“Có, tôi sẽ phản đối”, bà nói nhỏ nhẹ.
“Bà nghe cho kỹ nhé. Nếu bà cần máy giúp thở để
sống mà chúng tôi không đặt máy trở lại thì bà có thể chết.
Nếu vậy, chúng tôi sẽ giúp bà ra đi nhẹ nhàng. Bà cảm
thấy thế nào về việc đó?”
Đột nhiên mẹ tôi ngồi bật dậy, la lên, “Trời ơi! Có điên
không mà hỏi như thế lúc này!” Rồi như để giải thích cho
thiếu kiềm chế của mình, bà nói thêm giọng nhẹ nhàng
hơn, “Tôi đã bàn việc này với các con tôi rồi”.
Sáng thứ năm mẹ khỏe lên chút đỉnh - mẹ còn có thể
khá hơn thế nữa mà. Một đứa cháu gái, trên đường đi học
về ghé thăm, mang cả đàn violin vào phòng. “Bà có muốn
con dạo cho bà nghe một bản nhạc không?”, nó hỏi.
“Ừ, dạo bản nào vui vui đó”, mẹ tôi nói.
Vậy là cháu gái tôi dạo một bản nhạc Tô Cách Lan có
tên “Thuyền đang ra khơi”, và mẹ tôi gõ gõ những ngón
tay trên giường theo điệu nhạc, để biểu lộ sự thích thú.
Nhưng chiều hôm đó bà trở nên bồn chồn, bức bối, lắc
68
vai, vẫy tay, co qua duỗi lại đôi chân. Hơi thở của bà trở
nên nhanh hơn và cạn hơn. “Thở chậm và nhẹ thôi mẹ,
chậm và nhẹ”, tôi nói, và dầu những lời nói của tôi không
thể bơm thêm oxy vào phổi bà, chúng khiến cho cả hai
chúng tôi bình tĩnh hơn trong giây phút đó.
Bác sĩ M. đã chuyển mẹ qua làm bệnh nhân của bác sĩ
Z., người đã cho truyền morphine để làm giảm cảm giác
thiếu oxy của bà. Bác sĩ Z. nói mẹ tôi sẽ cảm thấy thoải
mái hơn trong khu chăm sóc giảm đau, mà các chị em
chúng tôi cũng đã sẵn sàng chấp nhận sự chuyển đổi này.
“Nhưng không có nghĩa là mẹ tôi đã hết hy vọng?” tôi hỏi.
Bác sĩ Z. nói rằng họ sẽ làm tất cả để giúp mẹ sống, họ
có thể làm tất cả những gì ở phân khoa trên đã làm cho
mẹ, nhưng ở đây bà sẽ cảm thấy thoải mái hơn. Vì thế tôi
đồng ý, tự nhủ rằng cũng chưa hoàn toàn hết hy vọng là bà
sẽ khỏe hơn.
Hôm sau, ngày thứ sáu, đã có một chiếc giường trống
trong khu chăm sóc giảm đau - tôi đoán điều đó có nghĩa
là, ai đó đã ra đi - và chiều hôm đó mẹ tôi được chuyển
vào một phòng giống như phòng khách sạn trên tầng thứ
mười sáu, phòng tận cùng của bệnh viện, gần với thiên
đàng nhất, với màn cửa bằng vải, và những chiếc ghế có
tay bọc nệm. Mẹ tôi vẫn trân trọng những gì tốt đẹp trong
cuộc đời, nên dù chất morphine đã dìm bà vào giấc ngủ, và
dường như bà không thấy gì qua con mắt còn mở, chúng
tôi vẫn xoay giường để bà có thể hướng mặt về khung cửa
sổ hướng đông, ngó ra những tháp đá và những mái nhà
69
thiếc của Chicago đến tận khoảng không gian đen tối
mênh mông của Hồ Michigan.
Bác sĩ Z. bảo rằng bà có thể ra đi trong vài giờ hay
vài ngày nữa. Thật là nhẹ nhõm khi đem được mẹ ra khỏi
những đống dây nhợ máy móc của phòng chăm sóc đặc
biệt, dầu cái máy đo máu vẫn còn gắn chặt theo bà, và tôi
vẫn còn theo dõi nó, như thế nó vẫn còn có một ý nghĩa
gì đó.
Bước ra hành lang, tôi nói với bác sĩ Z., “Mức đo oxy
của bà đã xuống đến tám mươi”.
Ông đặt tay lên cánh tay tôi. “Mẹ sắp ra đi”, ông nói
với tôi bằng giọng của một thầy giáo trường mầm non.
“Giờ là lúc chúng ta phải làm cho bà được thoải mái”. Tôi
biết ông đang cố gắng tử tế, nhưng tôi quay lưng và đi
thẳng về phòng - bà đâu phải là mẹ của ông. Nhưng điều
khiến tôi bực bội không phải là vì ông dùng tiếng Mẹ; mà
chính là những lời còn lại.
Trong phòng có sáu thành viên trong gia đình - con và
cháu - khi cô y tá phòng chăm sóc giảm đau tháo mặt nạ
dưỡng khí ra thay bằng cái ống thông dò ở mũi, cô nói:
“Để bà được thoải mái hơn”. Tôi nhìn qua lại từ mặt mẹ
đến cái máy biểu đồ, và tôi thấy những con số rớt xuống
như thang máy - rớt xuống bảy mươi, sáu mươi, năm
mươi. Sandy, con trai tôi, đang ngồi trên chiếc ghế bành
giữa phòng. “Bà đang ra đi”, tôi nghe mình nói, và nó
nhảy lên đến đứng bên giường với chúng tôi. Tuyệt vọng,
chúng tôi đứng nhìn ức bà nhô lên và xẹp xuống giống
70
như mũi thuyền trong cơn bão biển; tuyệt vọng, chúng tôi
đứng nhìn gương mặt bà đổi trắng khi máu đỏ cạn chảy ra
khỏi mao quản.
Chưa đầy hai phút sau bà ngưng thở. Chúng tôi đứng
đó, chờ đợi một điều gì đó xảy ra, chờ đợi mẹ sẽ bảo
chúng tôi làm gì tiếp theo. Nhưng bà đã ra khỏi phòng.
Tôi không biết mẹ làm sao thực hiện việc biến mất đó - tôi
không thấy mẹ ngồi dậy và đi, tôi luôn ở bên cạnh bà. Sau
phút ngưng đọng, tất cả sáu người chúng tôi òa khóc. Lúc
đó là mười giờ tối thứ sáu.
Khi chúng tôi khóc, cô y tá bước ra ngoài, và sau
khoảng mười phút vắng mặt vì lịch sự, cô trở lại với
những giấy tờ để chúng tôi ký tên. “Quý vị có thể ở đây
với bà khoảng hai tiếng”, cô nói. “Sau đó chúng tôi phải
mang xác đi”. Thời gian quay vòng, đánh vụt vào tường.
Làm sao mà bỗng nhiên bệnh nhân của cô giờ thành xác
chết. Giờ khi mà mẹ tôi thật sự thoải mái, thì công việc
của cô y tá cũng hoàn thành.
Chúng tôi tháo cái băng cổ cho mẹ - có một vệt đỏ
bầm bên dưới, chỗ cái băng cọ xát với xương cổ của bà.
Chúng tôi hát bài “Dona Nobis Pacem” và “Row Row
Row Your Boat”. Tôi tụng một bài kinh Phật giáo dành
cho người chết, và những âm thành xưa cũ mà chúng tôi
không hiểu dường như mang chúng tôi lại gần nhau hơn:
nen nen fu ri shin. Các em gái và tôi lấy quần áo bà ra
khỏi cái bao plastic, những quần áo bà mặc khi xảy ra tai
nạn. Cũng hơi lạ, nhưng thật nhẹ nhõm, là không có vết
71
máu nào trên quần áo đó. Chúng tôi cùng nhau cởi bộ
quần áo ngủ của bệnh viện ra cho bà, và kéo chiếc quần
jean đen bạc màu lên khỏi hai bên hông lạnh của bà, mặc
cho bà chiếc áo giả chemise màu xanh, và để chân trần cho
bà. Hình như gương mặt bà bỗng thóp lại, da mặt chảy xệ
xuống gối. Chúng tôi cố khép miệng bà lại, nhưng nó
không ở yên một chỗ. Bên con mắt mở của bà cũng thế.
Chúng tôi xếp hai tay bà trên ngực, và tôi phủ tấm khăn
choàng mới xong phân nửa với những sọc xanh biển và
xanh dương ngang dọc lên chân của bà.
* * *
72
73
Xương Già
Tôi dẫn đứa cháu nội gần ba tuổi ra chơi công viên, và
cô bé bò lên cầu trượt trên hai tay và đầu gối.
“Giờ Nội làm đi, Nội”, nó nói.
“Nội không làm được”, tôi nói với cô bé. “Đầu gối Nội
già rồi, không trèo lên cầu trượt được”.
“Cố lên Nội! Nội làm thử đi mà!”
Nhưng tôi không thử. “Nội xin lỗi Paloma, nhưng gối
Nội yếu lắm”.
Ngày hôm sau tôi dẫn Paloma lên lầu để tắm. “Bồng
con đi, Nội, được không?” cô bé nài nỉ.
Tôi không thấy khỏe. “Con đi được mà”, tôi nói. “Nội
sẽ nắm tay con”.
“Con không đi được”, nó nói. “Chân con già rồi!”
Càng lớn tuổi, xương cốt tôi cũng già đi, yếu đi. Tôi bị
loãng xương ở phía dưới lưng. Chứng bệnh đó di truyền
trong gia đình tôi. Mẹ tôi bị lùn đi khoảng năm tấc vì bệnh
74
đó, và tôi đã bị mất gần hai tấc, nhưng tôi không bị đau
đớn gì, nên nếu không đi làm xét nghiệm xương thì tôi
không thể biết về điều đó.
Bệnh khớp ở gối và hai ngón tay cái thì gây khó chịu
hơn. Ít nhất là tôi không thể mở các chai lọ dễ dàng nữa vì
bị đau khớp các ngón tay. Và điều này có thể gây trở ngại
khi tôi chỉ có một mình với hũ mứt dâu đã được hút chân
không chặt kín. Một người bạn đã tặng tôi một thứ rất diệu
kỳ mà tôi không biết gọi là gì, giống như cái đồ đựng nồi,
một bên cạnh bọc cao su, rất có công hiệu trong việc mở
các chai lọ, nhưng đôi khi nó cũng thất bại, mà nếu lúc đó
không có ai khác ở nhà, thì tôi đành ăn sáng mà không có
mứt dâu. Còn đầu gối tôi thì chúng không thích đi lên hay
xuống dốc, chúng không thích tôi tập yoga trong tư thế của
một chiến binh (warrior pose), và tôi không còn có thể
ngồi chồm hổm nữa, khiến cho đôi khi cần, tôi không thể
ngồi xuống tiểu trong rừng cây. Còn nhảy lò cò thì không
cần phải nói nữa rồi.
Cũng có thể nói, cuộc sống dường như thú vị hơn khi
có những vấn đề nho nhỏ như thế này để quan tâm. Việc
chăm sóc bản thân trở nên là một công việc phức tạp hơn,
nên nó giúp ta mài dũa các khả năng giải quyết vấn đề.
Hai đầu gối lên tiếng là tôi phải đáp ứng ngay. Mấy lóng
xương già dường như mang lại cho tôi chút tình cảm thân
thuộc. Không phải là tôi cần những thứ như tay nắm, hay
những cột vịn đi bộ, mà là hai đầu gối của tôi; tôi phải lo
cho chúng, vì chúng tôi là người trong gia đình mà.
75
Suốt đời chưa bao giờ tìm hiểu về xương trên mạng,
nên giờ tôi phải cố gắng tập làm cách nào để chăm sóc nó.
Nhiều năm nay, tôi uống thuốc để giúp xương phát triển.
Nhưng hơn một năm nay tôi đã thôi dùng thuốc, vì có
những ảnh hưởng phụ nguy hiểm, và tôi đã tự hứa là sẽ
chăm sóc xương tốt nhất bằng cách uống calci, vitamin D,
và mỗi ngày, hay gần như mỗi ngày, tập thể lực - trong
trường hợp của tôi, đó là đi bộ hay tập thể dục ở trung tâm
Y. Sau một năm theo chương trình này, tôi đi xét nghiệm
xương lại. Tôi rất hài lòng về mình khi kết quả xét nghiệm
cho thấy tình trạng loãng xương của tôi không phát triển
xấu thêm. Tôi là chương trình thử nghiệm của chính mình.
Trước đây tôi xem thường xương cốt mình, nhưng giờ
tôi quan tâm đến chúng hơn. Tôi thấy chúng đúng là một
sáng tạo tuyệt vời. Thí dụ, khi xương những người trẻ
đang tăng trưởng, các tế bào bồi đắp bên ngoài dọc theo
các lóng xương, trong khi đó các tế bào bên trong bị loại
trừ bớt, để mở rộng ống xương chứa tủy, theo một hoạch
đồ thiết kế phức tạp. Năm tôi khoảng mười hai tuổi, xương
chân tôi tăng trưởng quá nhanh đến độ tôi đau chân kinh
khủng. Mẹ tôi gọi chúng là “những nỗi đau để lớn”. Cả hai
con trai của tôi đều bị đau chân trong thời kỳ phát triển
tuổi thiếu niên.
Nhưng giờ tôi co rút lại. Dưới lớp thịt nhão, xương cốt
tôi co ngắn hơn, nhẹ hơn, nhiều lỗ hổng hơn trước đây, với
những sự tăng trưởng ở chỗ này, chỗ kia, không theo đúng
hoạch đồ đầu tiên. Nhưng dầu gì chúng cũng là xương
chắc, tốt - những khớp và hốc, hốc mắt và dây chằn. Tôi
76
thích những tên gọi khoa học của chúng: humerus (xương
tay), tibia (xương chân), scapula (xương bả vai), fibula
(xương mác).
Có lần khi Sandy, con trai tôi, đang ở tuổi thiếu niên,
nó và tôi cùng đi dọc theo những con đường sắt hoang phế
ở vùng quê và chúng tôi thấy ít xương khô - các đốt sống
rời rạc của một động vật lớn nào đó. Có thể là nai - nằm
giữa những thanh sắt. Chúng tôi lượm hết bỏ vào túi và
mang về ca-bin nơi chúng tôi đang ở cuối tuần. Chúng tôi
trải chúng ra trên bàn giống như những mảnh của trò chơi
ghép hình. Các mảnh xương rỗng tròn có những nhánh
chân nhỏ và những cánh vươn ra, và chúng kết nối lại với
nhau một cách toàn hảo, giống như những chiếc ghế xếp
chồng lên nhau. Chúng tôi thật thán phục kiểu mẫu, hình
dáng thanh thoát của chúng, và chúng tôi có thể phân biệt
được các phần khác nhau của xương sống nhờ vào kích
thước của các cánh, và vào việc chúng có các vây lưng hay
không. Thiếu một số xương. Chúng tôi lấy dây nhợ, kéo và
biến những đốt xương này thành một chuỗi xương sống
năng động, hài hòa trên một cây đinh sắt rỉ của đường ray
xe lửa. Chúng tôi treo nó trong ca-bin của người bạn, sung
sướng nhìn các đốt xương già lắc lư dưới ánh mặt trời. Bộ
xương người trong phòng tập yoga chỗ tôi học thì không
thiếu sót mảnh xương nào. Nó hoàn hảo đến độ giống như
nó được làm từ một bộ dụng cụ học tập để giúp cho
phương tiện nghe nhìn ở một lớp yoga, đến nỗi thật khó
nhớ là nó đã từng đi đứng ở bên trong một con người nào
đó. Tôi không biết là ai.
77
Trên bằng lái xe, dầu bạn có gạch chữ hiến xác, thì
cũng không có nghĩa là bạn muốn hiến xương cốt mình
cho một phòng tập yoga. Lúc đó đúng là bạn trần trụi giữa
đám đông. Tuy nhiên, không ai biết đó là bạn trừ khi có
tấm bảng bằng đồng nhỏ dán trên xương chậu có ghi tên
bạn. Không ai có thể nhận ra bộ xương của bạn, dầu đó có
là người bạn thân thiết nhất, dầu đó có là người tình suốt
bao nhiêu năm tháng của bạn.
Cũng lạ là bộ xương và đầu lâu là tượng trưng của
thần chết, nhưng người sống cũng mang bộ xương đó
trong người, và nó giúp chúng ta đứng vững suốt cuộc
sống dài. Không có nó, chúng ta chỉ là một vũng nước
trên sàn nhà. Tôi đoán bộ xương có nghĩa là chết vì ta
không thể nhìn thấy bộ xương cho đến khi người ta chết,
và da thịt đã rã tan.
Vào ngày lễ dành cho người chết ở Oaxaca, tôi nhìn
thấy những bộ xương nhảy múa, những bộ xương bên bàn
máy may, máy đánh chữ, những bộ xương cắt tóc các bộ
xương khác trong một tiệm hớt tóc. Tôi mang về nhà hình
cảnh một bộ xương bác sĩ đang hộ sinh một em bé, bộ
xương từ người mẹ, bộ xương trong khi một bộ xương y tá
đứng cạnh sẵn sàng giúp đỡ.
Bạn biết mình sẽ chết, nhưng không biết điều gì sẽ xảy
ra cho bạn sau đó. Bạn cũng không biết điều gì sẽ xảy ra
cho mình trước đó, ở tuổi già, và bạn cũng không thể kiểm
soát điều đó. Một người bạn trẻ của tôi trong ngành y được
dạy rằng tuổi sáu mươi là một bước ngoặt, và rằng cơ thể
78
con người bình thường ở tuổi đó đang bước qua một lằn
ranh, để bắt đầu thực sự hư hoại. Dĩ nhiên là các bác sĩ
không nói điều này với bệnh nhân của họ, và dĩ nhiên ở
mỗi cá nhân một khác, nhưng nói chung, tuổi sáu mươi có
nhiều biến đổi quan trọng.
Hai con trai của tôi đã hứa đưa tôi đi dã ngoại ở Sierra
như món quà cho sinh nhật tuổi sáu mươi của tôi. Khi hai
đứa còn nhỏ, tôi thường đưa chúng đi cắm trại và dã ngoại,
lần này thì chúng là người chu cấp và hướng dẫn của tôi.
Chỉ lời hứa thôi cũng là một trong những món quà tốt đẹp
nhất mà tôi từng nhận lãnh, nói chi đến chuyến đi thực sự.
Mấy tháng trước khi đi, tôi tập luyện thêm thật nhiều ở
phòng tập thể dục. Tôi sắp đặt một số buổi tập với huấn
luyện viên cá nhân, người bắt tôi tập leo những bước thang
trồi sụt theo từng bước chân một cách không thương xót,
rồi bước lên bước xuống những chiếc thùng plastic màu
tím để giúp bắp chân tôi cứng chắc mà trèo núi.
Hai cậu con trai của tôi đã vẽ đường đi, xin giấy phép,
mướn lều, dự tính thực đơn và mua thức ăn. Đến ngày đã
hẹn, Sandy và tôi cùng lái xe từ vùng Bay Area4, còn Noah
thì lái từ Los Angeles5 để gặp nhau tại điểm hẹn trong thị
trấn Bishop, phía đông của Sierra. Tôi rất phấn khởi khi
quẹo xe vào chỗ đậu của hạt kiểm lâm và thấy chiếc
Toyota màu xanh của Noah lung linh dưới sức nóng của
4 Bay Area: thuộc bắc tiểu bang California.
5 Los Angeles: thành phố thuộc nam California.
79
tháng Tám. Chúng tôi gặp Noah ở bên trong, cậu ta cũng
vừa đến khoảng mười lăm phút trước, và đang xem những
quyển sách về hoa. Chúng tôi lấy giấy phép đốt lửa trại và
mướn những ống xi-lanh đựng đồ ăn chống gấu, và ở giây
phút cuối cùng đó, trước khi dấn bước theo những lối mòn
nhỏ, tôi nghe theo lời gợi ý của Sandy nên mua một cặp
gậy leo núi. Tôi cũng mua, một cách bốc đồng, một cuốn
sách nhỏ về Hiến Pháp của Mỹ được xếp đặt một cách đập
mắt ngay cạnh quầy tính tiền. Khoảng thời gian này thuộc
thời tổng thống George W.Bush, khi Hiến pháp đang được
sửa chữa, nên tôi nghĩ biết đâu nó sẽ có ích sau này, nếu
không phải bây giờ ở High Sierra đây.
Lúc ban đầu chân tôi rất khỏe. Chúng tôi trèo dốc cao
và mỗi ngày đều chuyển lều đi một chỗ khác. Tôi bước
chậm và tự tạo ra những khúc quanh ngắn khi đường khá
dốc. Đôi khi sau một lúc trèo dốc, các cơ bắp tôi như nhũn
ra, nhưng tôi cũng bám trụ được. Hai đứa con trai cao lớn
của tôi đeo các túi nặng và tử tế đi chậm bước chờ tôi, nói
rằng chúng cũng muốn đi như thế. Dọc đường, chúng tôi
bơi lội trong những hồ nước nhỏ, thưởng thức hoa cỏ, và
ngắm những đám mây lướt nhanh qua các ngọn núi.
Chúng tôi hầu như không thấy ai khác; hầu hết thời gian
con đường như chỉ dành cho ba chúng tôi. Mà không chỉ
có con đường. Chúng tôi còn có cả vũ trụ, mênh mông
ngút mắt nhìn, thật bát ngát, và giờ này tôi không còn
muốn có ai bên cạnh.
Các cơ bắp đã được nắn gân đưa tôi với ba-lô lên cao
80
tận đèo Paiute, ở độ cao hơn ba ngàn sáu trăm mét so với
mực nước biển. Vào ngày thứ ba chúng tôi tìm được một
cánh đồng đầy cây núi nhỏ giả, được che chắn khỏi gió bởi
những phiến đá gra-nít, cạnh hạ nguồn hồ Desolation. Sau
khi căng lều, Noah và Sandy đi khám phá phía thượng
nguồn của hồ Desolation, còn tôi ở lại, ngã lưng trên cỏ,
bao quanh là những cây hoa kim sa vàng rực, để cho ánh
nắng mặt trời buổi chiều thấm vào hai đầu gối đau buốt
của tôi. Tiếng kêu kỳ lạ của con mam-muốt (mammot) dội
vào vách núi ở phía trên. Cả ngày nay tôi đã vận dụng
xương cốt chống lại trọng lực, giờ chúng được nằm dài
trên núi; những lóng xương dài thẳng đứng giờ nằm
ngang, và trọng lực dễ dàng đón nhận chúng. Tôi ngủ một
giấc ngắn.
Hôm sau đó chúng tôi quay về lại đèo Paiute. Chúng
tôi dừng chân để ngoái nhìn lại mặt hồ, màu xám thiếc
dưới bầu trời đe dọa một cơn mưa, tôi tranh thủ đặt máy
hình ngay ngắn trên một phiến đá để chụp cả ba chúng tôi,
tươi cười, bá vai nhau, choáng váng trong không gian bao
la đó. Trước khi chúng tôi quay về, tôi nhìn thật kỹ cái chỗ
trũng rộng lớn mà các ngọn núi tạo thành, ghi hình ảnh đó
vào trong tâm, thứ hình ảnh mà bạn không thể ghi lại bằng
máy ảnh, thứ hình ảnh có mùi của gió trong đó, và sự nhẹ
nhõm của đôi vai khi bạn giải thoát chúng khỏi gánh nặng
của túi đeo. Tôi biết là có thể tôi chẳng bao giờ được nhìn
lại cảnh này nữa.
Tôi rất biết ơn hai cây gậy chống - hai đầu gối tôi cần
81
tất cả mọi sự trợ giúp mà chúng có thể có vì giờ là lúc
chúng tôi bắt đầu xuống dốc. Noah và Sandy đã lấy bớt từ
túi đeo của tôi những thứ đồ lỉnh kỉnh mà tôi vẫn còn mang
theo, cùng với máy ảnh, thuốc chống nắng và pin dự trữ của
đèn bấm. Ba-lô của tên nào cũng nặng gấp đôi của tôi.
Xế chiều, khi chúng tôi vẫn còn đi xuống con dốc đá
sâu thẳm, tuyết bắt đầu rơi. Không có chỗ nào bằng phẳng
để dựng lều, nên chúng tôi phải tiếp tục đi xuống, trong
khi tuyết lạnh vẫn rơi, và bầu trời trở nên tối đen. Chúng
tôi vội vã một cách chậm chạp - những bước chân của tôi
cũng ngắn lại vì hai đầu gối tôi đau hơn, và lối đi trở nên
trơn trợt. Tôi khiến hai đứa con phải chậm lại, nhưng
chúng không làm tôi phải áy náy; vì chúng rất kiên nhẫn,
chốc chốc lại hỏi tôi có làm sao không. Ngoài ra chúng tôi
hầu như im lặng, dốc hết sự chú tâm vào con đường đi.
Chúng tôi nôn nóng dựng được lều trước khi trời tối.
May thay ngay trước hoàng hôn, chúng tôi đến một
cánh đồng đá, và với những ngón tay tê cóng, chúng tôi
dựng lều trên một khoảnh đất bằng không có quá nhiều đá
cục chỏi vào lưng. Lúc lều được dựng xong thì chúng tôi
cũng đã ướt lạnh và đói, trời sắp tối hẳn mà tuyết vẫn rơi.
Chúng tôi mang túi xách vào trong lều, thay đồ khô,
nhưng sau đó chúng tôi cảm thấy nước bì bõm dưới chân.
Thì ra chỗ chúng tôi dựng lều không có nơi thoát nước,
nên giờ nó đã giống như một cái hồ nhỏ chứa nước tuyết
tan. Tất cả chúng tôi lại phải chui ra khỏi lều, trong khi
Noah đào một rãnh nhỏ chung quanh lều với cái bay bằng
82
plastic mà chúng tôi mang theo để đào những hố đi vệ
sinh. Còn Sandy thì đi tìm một chỗ che chắn nào đó mà
nó có thể nghĩ ra dưới những lùm cây thông gần đó để đun
nước nóng cho món nui phô-mai đã đông cứng của chúng
tôi. Tôi thì cầm đèn bấm để soi cho nó.
Tôi suy nghĩ: Không biết chúng tôi sẽ phải làm gì nếu
gió bão giữa khuya thổi căn lều bay đi, và chúng tôi phải
chết vì bị giảm thân nhiệt? Hoặc bão tuyết sẽ dầy đến độ
chúng tôi không thể đi ra ngoài mấy ngày trời? Hay là
chúng tôi không thể tìm được đường xuống trong tuyết và
đi lạc? Nhưng tôi không nói lên điều mình suy nghĩ.
“Buổi tối đã sẵn sàng”, Sandy nói. “Con đã đặt một
bàn tiệc cho ba người”.
Không thể nói là chúng tôi ăn buổi tối ngon lành,
nhưng chúng tôi đã cùng đứng bên nhau dưới các lùm cây,
hăm hở múc những muỗng súp nóng ra khỏi mấy cái ly
Sierra của mình - đây chính là những chiếc ly vẫn còn vết
khắc mấy cái tên Dân Tộc Da đỏ Yahi trong chuyến đi
cắm trại do trường tổ chức năm Noah học lớp Năm, hai
mươi lăm năm về trước, và tôi đi với tư cách phụ tá các
phụ huynh - với hai đầu gối vẫn còn có thể bò trườn trên
cát đá với lũ trẻ - và Sandy đi với tư cách là em trai. Theo
trên ly, thì chúng tôi có tên là Tetna, Siwin và Wakara:
nghĩa là Gấu, Thông, và Trăng Tròn.
Sau buổi tối, chúng tôi chỉ còn mỗi việc là chui tọt vào
lều, chun vô mấy chiếc túi ngủ, và cố giữ cho ấm. Lúc đó
là tám giờ tối, giữa tháng Tám, và đêm sẽ rất dài trước khi
83
trời sáng. Giá mà chúng tôi có mang theo bộ bài để chơi,
nhưng chúng tôi không tiên liệu được hoàn cảnh của mình.
Chúng tôi chỉ có một thứ có thể dùng để giải trí trong lều
là bảng Hiến Pháp Mỹ, nên trong khi bên ngoài tuyết vẫn
rơi, vẫn chảy xuống bên hông lều, thì chúng tôi đố nhau về
luật Quyền Con Người.
Ngày hôm sau lúc chúng tôi trở xuống xe cũng là lúc
đầu gối phải của tôi kêu đau trong từng bước chân, và cả
hai bàn chân đều đau đớn do phồng rợp. Nhưng tôi hoàn
toàn hạnh phúc.
Từ bấy đến nay đã hơn năm năm, và đó đúng là
chuyến phiêu lưu cuối cùng trong cuộc đời tôi. Những mũi
thuốc cortisone chữa lành được hai gót chân phồng của tôi,
còn bệnh khớp của gối ngày càng tệ hơn. Nhưng bệnh
khớp thì thường là thế. Mà tại sao không là thế chứ? Khi
công việc của chúng thật nặng nhọc nào là mang người ta
đi lên, đi xuống núi, lên xuống thang lầu trong bao năm
tháng. Ít nhất là tôi đã chấm dứt những ngày đi dã ngoại
của mình một cách vinh quang, hơn nữa tôi vẫn còn có thể
xuống núi bằng cách cưỡi lừa hoặc bằng dây cáp treo.
Quá trình lão hóa đó luôn tiếp diễn, vì thế hãy buông
bỏ những gì bạn không còn có thể làm được, và hướng đến
việc làm những gì bạn còn có thể. Năm sáu mươi ba tuổi,
tôi đã dự một lớp nhảy hip-hop ở câu lạc bộ Y, dành cho
người mới bắt đầu. Cũng có đôi ba học viên đầu bạc khác
trong lớp, nhưng tôi nghĩ mình là kẻ đầu bạc nhiều nhất.
Lớp đó thật khó cho tôi, cả về thể lực lẫn tâm thần, và tôi
84
có thể gần như cảm nhận được có những chuỗi phản ứng
sinh hóa xuất hiện trong não bộ khi chúng tôi chuyển từ
thế dậm chân sang quay tròn xoay tít.
Một ngày kia, ông thầy bảo chúng tôi chạy khắp
phòng bằng những bước lướt dẫn dắt nhau. Lúc đứng ở
cuối hàng tôi nghĩ là tôi ổn thôi, nhưng khi ông bảo
chúng tôi xoay ngược lại, vậy là bỗng nhiên tôi lại thành
đứng hàng đầu. Tôi lướt như điên nhưng cũng không thể
dẫn dắt - tôi cản trở, làm cả hàng phải chậm lại. Ông thầy
dẫn tôi đến một vị trí khác, đổi chỗ với một chàng thanh
niên trẻ khỏe khác.
“Tốt nhất là bà đứng ở chỗ này”, thầy nói với tôi. Rồi,
trước cả lớp học, ông nói, “Bà ấy nhảy giống như thế
này!” và ông bắt chước tôi ngã sấp ngã ngửa trên sàn
nhảy.
Lý ra tôi phải nói, “Này, ông đang nói đến người đã
thắng giải phóng lao từ năm lớp bốn đấy!” Nhưng lạ lùng
làm sao, tôi không hề để tâm đến sự chọc ghẹo của ông.
Trong khoảng khắc tôi dường như bay ra khỏi thân thể khô
cứng của mình, và trôi bồng bềnh bên ngoài trên những
cánh cửa sổ cao của lớp học. Tôi nhìn xuống với lòng yêu
thương cái xác sáu mươi ba tuổi, đang cố gắng học nhảy
hip-hop, và tôi nhận thấy có điều gì đó thật buồn cười
trong nỗ lực để khiến hai chân bắt chéo nhau nhanh chóng.
Tôi tự an ủi mình đã cố gắng, nhưng sau đó tôi không trở
lại lớp hip-hop đó nữa. Đã đến lúc phải buông bỏ điều đó.
Tôi vẫn còn sử dụng chính hai đầu gối già của mình,
85
và cảm thấy trung thành với chúng, nhưng sau này tôi có
thể cũng phải thay đầu gối mới, và tôi cảm ơn là tôi có
được sự lựa chọn đó khi cần. Hiện tại thì dường như tôi
vẫn có thể tiếp tục tham gia vào lớp học yoga thêm một
thời gian nữa, và tôi với các cây gậy chống để đi vẫn còn
tung tăng trên các ngọn đồi Berkeley.
Mới đây Paloma cũng bắt chước tôi, dầu không phải là
để chọc ghẹo như ông thầy hip-hop; mà qua giọng nói của
cháu, tôi biết là cháu chỉ biểu lộ một sự quan sát thân thiện.
Chúng tôi đang cùng đi dạo quẩn quanh để bắt mấy con bọ
rùa, bỗng cháu nói, “Nội nhìn nè, con đang đi giống Nội
nè”. Cháu làm điều bộ đi với chân thẳng đơ, hoàn toàn
không cong đầu gối lại, giống như những con búp-bê gỗ
vùng Appalachia đang đi xuống trên tấm ván nghiêng. Tôi
khựng lại. Không lẽ cái dáng đi cứng đơ già nua của tôi lại
lộ liễu như thế? Nhưng đối với Paloma thì không có gì sai
với dáng đi đó; mà đó chỉ là cách tôi đi đứng.
* * *
86
87
Tất Cả Đều Sụp Đổ
Té ngã là bất ngờ mất thăng bằng khiến ta tiếp
xúc với mặt đất hay sàn nhà một cách bất ngờ.
- Tạp Chí Của Hội Người Cao Tuổi ở Mỹ
(Journal of the American Geriatrics Society,
Vol. 39)
Lần tôi bị té gần đây nhất là lúc tôi đang dự một
khóa thiền. Trong buổi họp mặt sinh hoạt hằng ngày có
khoảng hai mươi thiền sinh đang ngồi quanh trong im lặng
trên một bục cao trong rừng tùng, tôi nhớ là mình vừa đi
xuống đó để dự buổi họp, vừa suy nghĩ là đôi giày của
mình rộng quá. Tôi bước hụt trước bục thềm, trước mắt
những người đang quan sát trong im lặng, vì mặt đường
không bằng phẳng. Tôi cảm thấy cổ chân bị xoáy khi té
xuống. Thật lạ kỳ trong tích tắc giữa lúc bị vấp và lúc ngã
xuống đã có bao nhiêu điều chạy qua đầu tôi. Trong lúc té,
tôi đã lo sợ rằng một ai đó phải bỏ dở thời khóa thiền để
88
lái xe đưa tôi đến Sebastopol để bác sĩ chụp x-quang mắt
cá chân tôi, nhưng ý nghĩ đó đã bị gián đoạn khi thay vào
đó mặt tôi đập xuống cạnh bục thềm. Những người chứng
kiến đồng thanh la lên. Tôi không thực sự cảm thấy đau -
hơn là thấy sốc. Sự chú tâm của tôi chuyển từ mắt cá chân
lên mặt, cố gắng mò mẩm để biết điều gì đã xảy ra. Hình
như miệng tôi bị làm sao đó. Răng-Liệu tôi còn cái răng
nào không? Rờ miệng, tay tôi đầy máu môi, chứ răng thì
hình như tất cả vẫn còn nguyên trên nướu.
Tôi lồm cồm ngồi lên, và nhìn thấy những mặt người
lố nhố từ trên bục cao ngó xuống lao xao. “Tôi không
sao”, tôi nói. “Tôi thực sự không sao mà”. Làm sao mà tôi
có thể té nằm một đống trên mặt đất như thế? Tôi là người
từng trèo cây, nhảy dây, người coi thường sức hút của trái
đất mà. “Tôi thiệt hư!” tôi nói thêm. (Chính việc không
thể chấp nhận rằng mình già đã khiến người ta khó thực
hiện việc lắp các tay nắm hay mua những tấm cao su
không trượt bỏ trong bồn tắm).
Nhiều bàn tay đưa ra, kéo tôi lên. Một thiền sinh đạo
hữu, là y tá, dẫn tôi đi rửa vết thương. Cô không tìm được
đá lạnh, nhưng tìm được một trái dưa leo trong tủ lạnh,
nên chẻ nó làm đôi để tôi đắp lên vết thương ở môi. Nhờ
sự chăm sóc đó, tôi trở lại họp để nhận phần việc của
mình, và buổi chiều đó tôi làm nhiệm vụ của người phục
vụ trà trong thiền đường. Môi sưng đâu có cản trở người ta
trong việc rót trà.
Sự tổn thương trên da thịt không đáng kể-mấy, vết
89
bầm sau một tuần đã biến mất. Tôi được chăm sóc tử tế,
được tặng nhiều cây kim sa. Nhưng thật đáng sợ khi té
kiểu đó, đập mặt xuống trước.
Từ năm sáu mươi tuổi, tôi đã bị té nhiều lần, nên tôi
quyết định lên mạng tìm hiểu về việc té ngã. Tôi tìm được
rất nhiều lời khuyên hữu ích, giống như, “Đừng đứng trên
ghế, bàn hay thùng”, của Cơ quan về Sức khỏe Cộng Đồng
thuộc Khoa Lão Hóa của Canada. Một lời khuyên tốt nữa
là, “Nếu được ráng té ngồi sẽ tránh được nhiều tổn thương
nặng”. Còn Trung Tâm Phòng Bệnh có lời khuyên mà nếu
tôi được nghe trước đó, tôi đã không phải té rồi: “Mang
giày vừa vặn, tránh đế giày trơn trợt”.
Tôi được biết ở Mỹ hàng năm có khoảng mười ba
ngàn người trong độ tuổi sáu mươi lăm hay hơn nữa chết
do té ngã - đó là ba mươi lăm người mỗi ngày. Số người bị
thương tật còn nhiều hơn, và sức khỏe của họ cũng bị ảnh
hưởng.
Phòng ngừa té ngã cho người lớn tuổi còn là một
chuyên khoa riêng biệt trong ngành y. Và tôi thật ngạc
nhiên khi khám phá ra rằng nhiều năm liên tiếp, có một dự
luật được trình lên Quốc hội được gọi là Luật Giúp Người
Lớn Tuổi Không Bị Té Ngã, dầu nó đã không bao giờ
được thông qua. Ai có thể chống lại một dự luật như thế
chứ? Nhưng chắc là vì nó quá tốn kém.
Ngoài việc bị ngã, cảm giác sợ té ngã cũng không tốt
cho sức khỏe, vì nó khiến người ta ngồi nhiều hơn, rồi gân
cốt họ không vận động, ngày càng yếu hơn. Khoa Lão Hóa
90
của Canada cũng nói, “Đừng để sự sợ bị té ngã cản trở bạn
hoạt động. Sự thiếu hoạt động còn tạo ra nhiều nguy cơ bị
té ngã hơn”.
Lý do đầu tiên tôi nghĩ đến trong việc té ngã do tuổi
tác là vì tôi đã hành xử không hợp với tuổi của mình. Thí
dụ, một ngày hè đẹp trời kia, tôi đạp xe trên làn đường
dành cho xe đạp nhỏ hẹp, đi phía sau cô cháu gái mười
tuổi của tôi, nhưng nó đã chạy mất hút. Tôi vẫn còn đủ sức
đạp xe đạp, nhưng bỗng nhiên tôi cảm thấy muốn đạp xe
mà ‘buông tay’ như tôi vẫn thường làm khi tôi là cô gái
mười tuổi. Bạn chỉ già như bạn nghĩ! Không phải là người
ta luôn nói thế sao? Ngọn gió mát vuốt ve mái tóc, và
tiếng những con chim chích chòe từ trên các lùm cây kêu
vang như ca ngợi tôi, cho đến khi tay lái của tôi trượt trên
sỏi ở một khúc quanh và tôi rơi xuống, tướm máu đầu gối,
hai tay và cùi chỏ. Tôi khập khểnh, dẫn xe đến chỗ cháu
gái tôi đang đợi ở một nhánh đường. “Trời ơi! Xảy ra
chuyện gì cho Nội vậy?”
“À, vì lòng kiêu ngạo đi trước cái té đó mà”, tôi trả lời.
Từ đó tôi bỏ luôn việc lái xe “buông tay” - thêm một mất
mát vì tuổi tác. Ít nhất điều này tôi cũng dễ dàng chấp nhận.
Sự thật là tôi không giữ được thăng bằng. Trong lớp
yoga, khi tập thế đứng của con cò, tôi đứng gần tường, và
lén dựa vào đó bằng đầu gối hay cùi chỏ tay, việc mà
không có con cò tự trọng nào làm. Thầy lớp yoga bảo là
tôi có thể giữ thăng bằng tốt hơn bằng cách thực hành. Vì
thế tôi tập mỗi ngày. Mỗi sáng, trong khi đánh răng bằng
91
bàn chải điện, tôi tập đứng một chân, thì bàn chải sẽ ngưng
hoạt động ngay sau hai phút. Vào những ngày chẵn, tôi
đứng trên chân phải; ngày lẻ, chân trái. Các cơ bắp của
chân đứng đau buốt. Lúc đầu tôi không thể đứng hơn hai
phút, nhưng giờ tôi làm được rồi.
Tôi càng già thì mặt đất dường như càng xa, và cái đầu
tôi nhận tín hiệu từ bàn chân chậm hơn, cũng như ngược
lại. Có những buổi sáng khi tôi vừa thức dậy và rời khỏi
giường, tôi bị va vào cánh cửa trên đường đi vào nhà vệ
sinh. Thân tôi vẫn thường đảm trách những việc tầm
thường như tự đi một mình, mà không cần có người khác
trông chừng; nhưng giờ, tôi phải suy nghĩ trước khi đặt
chân xuống đất.
Tôi nhận ra rằng cây gậy không chỉ dùng để nâng đỡ
các cơ khớp đau yếu - nó còn giúp ta giữ thăng bằng. Tôi
chưa đến mức độ đó, dầu tôi cũng dùng gậy khi đi dã
ngoại, nhưng điều đó không làm tôi mất mặt vì ngay chính
những người trẻ tuổi, năng động cũng dùng chúng. Tôi có
cây gậy của ông tôi để trên la-phông, chờ đợi tôi. Nó được
làm bằng một loại xương nào đó. Đứng đằng sau mấy cây
gậy là những con người.
Nói về người đi bộ, tôi đã được quan sát một đứa trẻ
mười tháng tuổi, con gái của bạn tôi, tập đi. Đứa bé nắm
lấy cạnh bàn, và đi dọc theo hết các cạnh, sau đó nó thực
hiện những bước táo bạo, buông tay, và phóng tới, rất
nhanh đến sofa! Hoan hô! Còn tôi, tôi di chuyển theo
hướng ngược lại. Có lẻ sẽ có một ngày nào đó, những
92
người có mặt trong phòng cũng phải vỗ tay khen tôi, khi
tôi buông cạnh bàn ăn và đi những bước táo bạo vèo qua
không gian để đến quầy bếp.
Trong quá trình tập đi, cô con gái của bạn tôi thường
hay té ngã, nhưng nó đứng ngay dậy trên bộ xương bằng
cao su của mình. Đôi khi nó cũng khóc, nhưng không bao
giờ kéo dài. Nhưng khi bạn đã quá sáu mươi, và mặt đất
dường như xoay vòng trước mặt bạn, thì câu chuyện sẽ
khác đi, nhất là khi xương cốt bạn đã sinh ra lỗ chỗ, giống
như của tôi.
Một lần khi ở trong căn ca-bin đơn sơ của bạn tôi, tôi
thức giấc giữa đêm để dùng nhà vệ sinh ở bên ngoài. Lúc
trở về giường, trong bóng tối của đêm không trăng, không
đèn, tôi vấp và ngã vào một bệ cây, mà sau đó tôi mới biết
mình bị gãy hai xương sườn. Tiếng động đánh thức cô bạn
trẻ đang ngủ ở cuối dãy nhà, và cô tử tế hỏi tôi có cần giúp
đỡ gì không, tôi không nghĩ ra điều gì, và vì tôi may mắn
té ngã sau khi ra khỏi nhà vệ sinh, nên tôi trở về giường,
uống một viên aspirin, rồi ngủ tới sáng.
Nếu bạn có gãy xương, thì xương sườn là nơi tốt nhất
để gãy. Trong đôi ba tuần, bạn có thể bị đau khi ho hay
cười, nhưng thật diệu kỳ là cơ thể ta hoạt động tốt đến thế
nào. Tôi cứ vô tư sống, tránh không ho, vậy mà sau một
thời gian xương sườn tôi đã lành. Làm sao chúng biết để
tự chữa lành cho mình nhỉ? Trong khi xe tôi bị móp, thì nó
cứ móp mãi.
Sau đám tang mẹ, các chị em chúng tôi về nhà mẹ ở
93
Chicago để dọn dẹp đồ đạc trong nhà. Khi xong việc, tôi
chào từ giã em gái tôi. Nó đang đứng đợi người đến dọn
nhà giữa những thùng đồ đạc trong căn phòng khách trống
trơn, lồng lộng tiếng người. Tôi từ giã ngôi nhà đó lần cuối
để quay về bang California. Đó là một ngày mùa đông
khắc nghiệt, tôi vội vã bước đi dọc theo lề đường với hành
lý, giỏ xách. Khi tôi còn cách trạm xe buýt độ nửa đoạn
đường, tôi thấy xe buýt đang đi tới và tôi bắt đầu chạy.
Tôi trượt ngã trên lề đường đông đá và sách vở, giấy tờ từ
trong giỏ của tôi văng ra tung tóe. Tay tôi bị cắt sâu, chảy
máu, và một đầu gối bị sướt da dưới chỗ quần rách. Khi
tôi cố gắng đứng lên, tôi thấy xe buýt chạy thẳng luôn.
Có hai phụ nữ cũng đang đi trên đường phía sau tôi -
những thiên thần của lòng tử tế. “Bà có sao không? Có cần
giúp gì không?” Người thì phủi lá cây vướng trên lưng
tôi, người kia nhặt cho tôi những giấy tờ.
“Tôi không sao”, tôi nói. Cái phần không ổn trong tôi
vô hình - nó liên quan đến việc từ giã căn nhà của mẹ tôi
lần cuối. Nó liên quan đến sự thật là mẹ tôi đã mất. Bà đã
ngã xuống lần cuối; chúng tôi đã thả tro của bà về với đất.
Tôi cảm ơn hai người phụ nữ và đi tiếp đến trạm xe
buýt, vừa lúc một chiếc xe buýt khác trờ tới. Tôi leo lên,
lục tìm tiền với hai bàn tay rướm máu, và ngồi xuống
trong bấn loạn. So với những người trên xe buýt, hẳn tôi
trông rất thảm hại, nhưng khi đã ổn định trên chuyến xe
đường dài ra phi trường, tôi đã lau những vết máu trên tay
mình bằng chiếc khăn tay tôi đã lấy từ trong tủ áo của mẹ.
94
Một cái té nhẹ nhàng hơn đã xảy ra ngay trước thềm
cửa nhà tôi. Khi bước xuống, tôi không để ý nên bước hụt
chân trong khi vẫn còn một bậc nữa, và tôi ngã sõng soài
trên mặt đường cement cứng. Tôi nằm lăn ra, cảm thấy
đau buốt ở cổ chân. Đó là một buổi sáng êm ắng trong khu
phố. Không có ai chung quanh. Hình như không có gì bị
gãy. Tôi nằm đó, như người dừng bước trên đường đi chợ,
ngước nhìn bầu trời trong sáng và những đường chéo của
mái nhà nhô lên trong đó. Tôi ngắm nhìn các đầu ống
khói. Thời gian như dừng lại, và tôi nằm nghỉ giống một
đứa trẻ mẫu giáo đang giờ nghỉ trưa. Tôi đã ngã xuống
không phải từ những bậc thềm mà xuyên qua một lỗ hổng
trên mặt đất để đến một xứ sở không có tiệm tùng, không
có sức hút của trái đất. Tôi không thể ngã sâu hơn nữa.
Khi cổ chân tôi đỡ đau, tôi ngồi dậy, rời bỏ giây phút bình
an, tôi thấy mình có thể đi lại bình thường.
Nhưng cũng có nhiều cách khác để tìm giây phút bình
an. Một trong những điều được liệt kê trong tất cả danh
mục để làm cách nào tránh té ngã là: “Gắn tay vịn trên tất
cả mọi nấc thang”, và sau cú té ngã đó, cuối cùng tôi cũng
lấp được tay vịn cho các bậc thềm trước cửa. Tôi đã chần
chừ - làm sao mà có người sống ở địa chỉ nhà tôi lại cần tay
vịn chứ? - nhưng giờ tôi cảm thấy thân gỗ tròn láng của tay
vịn cầu thang trong tay tôi mới dễ chịu làm sao. Cũng dễ
chịu gần giống như khi bạn được trượt cầu thang tuột.
* * *
95
Giây Phút Lão Hóa,
Giây Phút Tuyệt Vời
Tôi gọi Cornelia, bạn già của tôi, để hỏi mượn cái nôi
cho đứa cháu nội sắp về thăm tôi. Khi bà trả lời điện
thoại, tôi nói, “Chào Cornelia, Sue đây”, rồi đầu óc tôi trơ
ra. Tôi dừng lại, trong hy vọng, nhưng không nói được
điều gì.
“Chào”, bà nói. “Có việc gì thế?”
Bà là bạn thân, nên tôi không cần phải giả vờ, nhưng
dầu sao, cũng khó thú thật. “Ummm”, tôi nói, chờ đợi mấy
dây thần kinh già tăng tốc trở lại. Tôi tự hỏi không biết có
phải tôi định nói về thời khóa biểu đi bộ hàng tuần của tôi
với bà. K h ô n g . . . Hay về bài viết của con trai bà, về
việc bảo tồn nguồn nước? K h ô n g . . . Ngoài cửa sổ
một chú sóc đang chạy dọc hàng hiên, miệng ngậm hạt óc
chó. “Tôi đang bị lãng trí rồi đây”, cuối cùng tôi nói. “Bà
96
biết tôi gọi làm gì không?”. Cornelia cười. “Chắc là bà biết
tôi có ít mận trong vườn dành cho bà”. Chú sóc giờ ngồi
trên hàng hiên, bóc vỏ hạt óc chó, phun xuống đất. Tôi
chưa bao giờ để ý thấy chiếc đuôi lông dài của chúng làm
sao mà uốn lượn giống như cỏ khi chúng vẫy đuôi.
Đến lúc tới nhà của Cornelia để lấy mận thì tôi nhớ lại
cái nôi, nên mang nó về luôn.
Thiền sư Nhất Hạnh đã giúp tôi hàm ân những giây
phút già đi của mình. Trong sách, Giây phút Hiện tại, Giây
phút tuyệt vời (Present Moment, Wonderful Moment),
Thầy đã viết, “Điều kỳ diệu thực sự là tỉnh thức trong giây
phút hiện tại”. Tôi tin rằng Thầy cũng sẽ đồng ý là giây
phút lão hóa, giây phút quên đi hôm nay là ngày thứ mấy
hay bạn đang đi đâu, cũng có thể là giây phút của trí tuệ
sâu sắc. Thí dụ, khi đứng trong bếp ngẫm nghĩ không biết
tay mình cầm kéo để làm gì, tôi nhận thấy ánh mặt trời lóe
sáng trên lưỡi kéo kim loại, nhảy múa trên tường, và tôi
lặp lại câu nói của Thầy với bản thân: “Điều kỳ diệu thực
sự là tỉnh thức trong giây phút hiện tại!”. Người trẻ cũng
có thể trải nghiệm được những giây phút siêu việt của sự
chìm sâu vào hiện tại bất tận, nhưng họ phải trải qua bao
khó nhọc để thực hiện điều này, thí dụ như phải thiền định
hằng bao ngày một lúc hoặc kiên trì qua bao tháng ngày.
Còn tôi, chỉ cần cầm kéo đi từ phòng này qua phòng kia.
Tôi đi dã ngoại với bạn bè, nhưng khi con đường bỗng
trở thành dốc cao, tôi phải bảo họ đi tiếp, còn tôi ở lại, vì
biết hai đầu gối khó mang tôi trở xuống. Tôi ngồi ở một
97
phiến đá trước khi trở về phòng. Đây không phải là những
giây phút lão hóa mà chúng ta thường nghĩ đến, nhưng tôi
nhắc đến ở đây vì đó cũng là một trường hợp khác khi sự
mong manh của tuổi già lại kéo tôi vào khoảng không gian
của thất vọng. Tôi lắng theo tiếng họ nói, âm thanh xào
xạc của lá dưới bước chân họ, tiếng họ bẻ cây cành, cho
đến khi không còn nghe được gì nữa. Tôi giận đầu gối đã
khiến tôi không theo được bạn, dầu tôi biết không phải là
chúng cố ý làm thế. Tôi ngắm nhìn một chiếc lá vàng uốn
lượn trước khi rơi xuống đất, và tôi lắng nghe âm thanh
của những chiếc lá rơi chạm vào nhau. Bạn có bao giờ
nghe tiếng lá rơi chạm nhau chưa? Đúng - đó không phải
là giây phút phấn khích nhất trong cuộc đời tôi, nhưng nó
cũng không tệ, nên tôi không muốn đánh mất nó.
Tôi nói, “Tôi đang bị lão hóa”, khi lãng trí, hy vọng là
nó sẽ phá tan được sự bực bội của người khác bằng chút
hài hước. Nhưng lần sau, nếu đầu óc tôi đặc sệt, tôi sẽ cố
mạnh dạn lên, chế ngự sự bực mình. Tôi sẽ nói, “Giây
phút lão hóa, giây phút tuyệt vời!” để nhắc nhở người
chung quanh về trí tuệ có thể được tìm thấy trong những
lúc trí não chợt nghỉ xả hơi như thế này.
Một người bạn của tôi lại sử dụng một chiến thuật
khác. Ông nói là ông học thuộc lòng một câu nói dự phòng
và sử dụng nó để lấp khoảng trống. Vì thế, nếu ông nói với
một người quen lúc đang ăn trưa, “Anh có nhận thấy rằng.
. .” rồi bỗng quên mình đang định nói gì tiếp theo, thì ông
mang câu nói dùng cho mọi mục đích đó ra: “Rất khó bóc
98
vỏ một chiếc CD mới”. Hoặc nếu ông gặp hai người bạn
mà ông định giới thiệu họ với nhau, nhưng tên của họ
bỗng biến mất trong khoảng không gian đáng chán đó, thì
khi giây phút phải giới thiệu họ đến, ông sẽ bắt tay họ một
cách nhiệt tình, và lại nói: “Rất khó bóc vỏ một chiếc CD
mới!” Giống như viên đá cuội chạm vào tre trúc trong một
công án Thiền xưa cũ, câu nói gây sốc của ông tạo cơ hội
cho người nghe thức tỉnh để có mặt ngay trong giây phút
hiện tại.
Không phải lỗi của tôi khi tôi có những giây phút lãng
trí này cũng giống như tôi có lỗi gì đâu khi tóc tôi trở bạc.
Suy cho cùng, tôi cũng chỉ là một chúng sinh. Tôi đã có
những giây phút trẻ trung trong cuộc đời, khi từng câu,
từng chữ tôi nói theo nhau một cách mạch lạc và những sự
tiếp nối - chán phèo, của từng hành động theo sau nhau.
Trong không biết bao nhiêu năm, tôi đã nhớ là khi mình
cầm viết chì xuống lầu là để chuốc nó. Tôi nghĩ là tôi đã
có đủ quyền để thoát ra khỏi sự gò bó của cách suy nghĩ
mạch lạc, theo trình tự.
Giây phút lão hóa là một bảng Stop (Dừng) trên con
đường đời. Biết đâu nó là một lợi thế để tiến tới giác ngộ.
Vì thế tôi bình tĩnh, để cho bộ máy này được nhàn rỗi, và
tận hưởng cảnh quang. Điều gì xảy ra kế tiếp sẽ hiển bày
đúng lúc thôi.
* * *
99
100
101
Dưới Bóng Mát Cây Đời
Lúc nhỏ, chúng tôi thuờng chơi trò "Gái già" (Old
Maids). Đây là trò chơi mà người ta cặp đôi những lá bài
tương xứng cho đến khi kẻ thua cuộc là người chỉ còn lại
một lá bài lẻ, không có đôi - lá bài gái già. Cặp mắt kính
của cô gái già ngự trên chóp mũi xương xẩu, dài ngoằn,
các nhúm tóc lòng thòng bên ngoài búi tóc, và một nốt
ruồi lớn nằm dưới cằm. Lúc đó, tôi không thắc mắc gì về
hình ảnh này, ngoài việc nó gây cho tôi một ấn tượng sợ
hãi nào đó, vậy mà, bây giờ đây, chính tôi cũng là một cô
gái già. Theo nghĩa đen của nó thì tôi không phải là cô gái,
nhưng đúng là tôi già và không chồng.
Ở lứa tuổi thiếu nữ, ảnh tượng mà tôi hình dung về
những người phụ nữ độc thân lớn tuổi - lúc đó chúng tôi
còn dùng từ bà cô - cũng không hấp dẫn gì đối với tôi hơn
102
là cô gái già trên lá bài. Ở cấp trung học, hầu như tất cả các
cô giáo dạy chúng tôi đều không chồng. Tôi nhớ đến Cô
Biddle, Cô Beveridge, Cô Casals và các cô giáo dạy thể
dục như các cô Sullivan và Bailey. Hình dáng các cô dường
như đều giống nhau, cứng như gỗ, lại không có eo, vai thì
nhô cao, dưới mắt tôi họ hoàn toàn không có giới tính. Họ
giống như những hàng hóa trôi lênh đênh, bị thổi dạt vào
các bãi bờ thuộc trường phái của các cô gái hủ lậu. Là một
cô gái hời hợt, tôi chẳng bao giờ tự hỏi liệu họ có cảm thấy
cô đơn vào các tối thứ bảy. Giờ tôi nghĩ về những cô giáo
này của tôi với lòng thương cảm và nỗi buồn.
Làm một phụ nữ lớn tuổi, đơn thân, không dễ. Qua
những trao đổi với bạn bè, tôi biết mình không phải là
người duy nhất thỉnh thoảng thức giấc giữa đêm khuya,
đơn chiếc trong giường và tự hỏi: Quái quỉ! Sao khổ cảnh
này lại có thể xảy ra chứ? Ba giờ sáng là thời điểm cô đơn
nhất. Nếu lúc đó một trận động đất lớn xảy thì tôi biết bám
víu vào ai?
Thế giới mà tôi sống sắp đặt con người thành đôi.
Chúng tôi được dạy suy nghĩ theo nhị phân, tin vào câu
chuyện của Plato rằng, lúc khởi thủy, con người chỉ có
một giới tính rồi được chia thành hai và kể từ đó, hai nửa
của một con người nguyên vẹn sẽ cảm thấy không đầy đủ
cho đến khi họ tìm thấy nhau.
Niềm tin này được khẳng định bởi những đôi thắm
thiết yêu nhau với hình ảnh khuôn mặt họ kề bên nhau trên
các bìa sách. Các chuyên gia trong việc tìm được thiên
103
đàng trong cuộc sống lứa đôi này nhìn vào mắt nhau mà
cười, và họ tuyên bố ngay trên bìa sách rằng sự hiểu biết
sâu xa nhất về ý nghĩa con người chỉ có thể đạt được qua
mối liên hệ mật thiết. Nhưng biết đâu đó chỉ là một trong
nhiều phương cách?
Ngay cả khi ta để sự khai ngộ qua một bên, thì nhu cầu
được có mối liên hệ giữa các loài chúng sanh vẫn còn có
mặt. Cách đây chừng vài năm, khi bị gãy xương vai trái, tôi
chỉ có thể nằm nghiêng bên phải, với cánh tay trái bị thương
được cẩn thận để yên trên mình như một lực nặng ngàn cân.
Ban đêm, khi vào giường, tôi phải nằm đè lên cánh tay
phải; lúc đó đúng là cực hình khi tôi nhận ra rằng mình
không thể làm được một điều bình thường, thoải mái kế
tiếp, đó là kéo mền đắp lên mình. Tôi cảm nhận một cách
sâu sắc sự vắng mặt của người đã hứa sẽ ở bên tôi khi khỏe
mạnh, lúc ốm đau, người đã hứa trước các nhân chứng sẽ
luôn che chở tôi. Tôi đã phải tập lấy răng cắn giữ mền trong
khi từ từ hạ người xuống trên cánh tay lành của mình.
Còn các cô giáo của tôi - tôi tự hỏi giờ đây không biết
có ai đến giúp đỡ họ nếu họ bị gãy xương không. Tôi tự
hỏi, không biết có ai trong số họ đã từng yêu. Hay họ là
người đồng tính? Hoặc có thể ai đó trong số họ đã chọn
không kết hôn để cống hiến cuộc đời cho sự nghiệp dìu dắt
các thiếu nữ trẻ?
Một người trong số họ, cô Punderson nhỏ bé, với đôi
mắt xanh trong lấp lánh và búi tóc trắng dày, đã trốn thoát
một cách đầy ngoạn mục khỏi cảnh ế muộn. Cô đã từng
104
dạy Chaucer và Milton cho mẹ tôi thuộc thế hệ trước và
dường như sẽ là người độc thân suốt đời. Năm tôi ra
trường, cũng là năm cô nghỉ hưu ở tuổi sáu mươi lăm để
trở về quê nhà của mình ở Stockbridge, bang
Massachusetts, rồi cô làm chúng tôi kinh ngạc khi kết hôn
với người bạn cũ của mình, người họa sĩ góa bụa Norman
Rockwell. Điều này có thể xảy đến với tôi không? Theo số
liệu thống kê thì điều này khó mà xảy ra; phụ nữ độc thân
càng lớn tuổi càng khó kiếm người tâm đầu hơn.
Khi mối liên hệ lâu dài cuối cùng của tôi kết thúc thì
tôi đã ở giữa tuổi năm mươi. Tôi sợ rằng mình đã bước
qua một cung bậc vô hình nào đó và cơ hội dành cho tôi
càng xuống dốc. Tôi lo lắng về các nếp nhăn dầy cộm trên
mặt, cái cằm chảy xệ, những đốm đồi mồi trên da bàn tay.
Bài toán học rắc rối của các tín hiệu này dường như được
các giống đực học rất nhanh, nên họ sẽ quay lưng lại để
đón tiếp người phụ nữ trẻ hơn, nếu có. Đàn ông độ tuổi tôi
cũng xuống cấp, nhưng tôi không ngoảnh nhìn chỗ khác.
Khi tuổi sáu mươi cận kề, tôi cảm thấy bức bách hơn.
Nếu thực sự muốn có người làm bạn, chắc là tôi phải vội
vã lên, trước khi các nếp nhăn quanh miệng hằn lên môi.
Sợ phải một mình khi thực sự già, tôi muốn tìm một người
chấp nhận tôi trước khi tôi chuyển từ giai đoạn chớm phai
tàn tới giai đoạn ít có khả năng kết hôn hơn trong tiếng thở
chua chát. Tôi muốn tìm một người nào đó, để sau này, có
thể đẩy xe lăn cho tôi, nếu hoàn cảnh buộc phải xảy ra.
(Tôi cứ quên rằng nếu tôi kiếm được người độ tuổi tôi, biết
đâu đó cũng là lúc tôi phải bắt đầu đẩy xe lăn cho ông ta).
105
Tôi bắt đầu một cuộc tìm kiếm, hẹn hò, với “cụ ông
phù hợp”, như cách một người bạn đã trêu. Tôi gọi một
dịch vụ tìm bạn được quảng cáo trên đài phát thanh âm
nhạc cổ điển, nên nó có vẻ đứng đắn. Họ thường tổ chức
bữa ăn tối cho ba nam và ba nữ.
Người phụ nữ trả lời điện thoại hỏi tuổi tôi và khi tôi trả
lời là năm mươi chín tuổi thì bà nói, với giọng ấm áp nhưng
thiết thực, "Xin lỗi bà, nhưng hiện tại chúng tôi không nhận
phụ nữ trên năm mươi hai". Tôi hỏi đối với đàn ông thì họ
nhận bao nhiêu tuổi, nhưng bà ta không trả lời.
Một đôi bạn đồng tính của tôi, gặp và yêu nhau ở tuổi
sáu mươi lăm. Họ bảo tôi, "Chị còn nhiều thời gian lắm!"
Họ khuyên tôi hãy nghĩ đến người cùng giới tính, nhắc
nhở tôi rằng phụ nữ thường không quan tâm đến các nếp
nhăn như nam phái. Tôi trả lời rằng, "Tôi đã từng trải
nghiệm điều đó lâu rồi, và tôi khám phá ra mình không
thực sự là người đồng tính". Họ nói," Tính dục không phải
là tất cả. Nó cần thiết thật, nhưng nó chỉ là một phần nhỏ
trong cuộc sống". Tuy nhiên, tôi khó chấp nhận việc mình
phải trở nên người đồng tính, chỉ vì tôi không thể thu hút
đàn ông.
Tôi đã tham khảo một số quảng cáo của cá nhân và can
đảm tiến tới việc gặp gỡ một số những người không quen
biết đó. Trong lần nỗ lực cuối cùng, tôi "đi uống cà phê"
với một tay vẫn còn ham thích đi dã ngoại, đạp xe ở tuổi
sáu mươi, từng làm tư vấn về môi trường. Có vẻ là người
tử tế. Người vợ suốt ba mươi bốn năm của ông đã qua đời
106
vì ung thư, và sau hai năm đau buồn, ông mới quay lại với
việc hẹn hò, tìm bạn. Việc ông đã chờ đợi hai năm khiến
tôi có cảm tình với ông.
Ông hỏi cuộc hôn nhân của tôi có vấn đề gì. Đó là
chuyện quá xưa cũ, tôi nói. Vào thập niên bảy mươi, khó
có ai ở Berkeley giữ được gia đình. Không có ai còn tin
vào hôn nhân.
Ông cũng muốn biết điều gì đã xảy ra cho mối liên hệ
tình cảm cuối cùng của tôi. Tôi nói, tôi cần nhiều tự do
trong cuộc sống hơn mức độ mà người đó cho phép; còn
ông ấy thì cần tình cảm gia đình hơn là tôi có thể mang
đến cho ông.
Còn những mối liên hệ ở giữa chừng, điều gì khiến
chúng đổ vỡ? Tôi lí nhí về việc làm một người mẹ độc
thân và những khó khăn trong việc quân bình các áp lực
giữa con cái và người tình.
Sau đó, ông muốn biết tôi nghĩ điều gì giúp cho một
mối liên hệ được vững bền. Tại sao tôi lại phản hồi mục
quảng cáo của ông? Tại sao tôi gọi cho ông? "Tôi chỉ là
một người bình thường", ông nói. "Chưa chắc gì tôi tốt đẹp
hơn so với những người bà đã biết. Giả sử chúng ta trở nên
gắn bó, làm sao tôi có thể tin rằng bà sẽ muốn ở bên tôi?"
Điều ông nói làm tôi khựng lại. "Tôi nghĩ là tôi đã sửa
đổi sau những sai lầm của mình", tôi nói. "Còn ông, ông
làm thế nào để duy trì mối liên hệ với bà nhà trong suốt
bao nhiêu năm?”
107
"Đó là sự cam kết trong hôn nhân", ông nói. "Chúng
tôi không bao giờ đặt câu hỏi về sự cam kết của mình,
ngay cả trong những lúc khó khăn".
Trước khi dắt xe đạp xuống vỉa hè, ông nói ông nghĩ
rằng chúng tôi không cần thiết phải gặp lại nhau.
Sau một cuộc gặp gỡ như thế, thật khó mà không tự
trách mình.
Tôi họp mặt một nhóm bạn nữ trạc tuổi tôi, cũng độc
thân, để thảo luận về hoàn cảnh của chúng tôi. Tôi muốn
biết họ đối mặt với những thách thức như thế nào. Chúng
tôi tổ chức ăn trưa chung, ngoài trời và nói chuyện.
Chúng tôi chia sẻ cảm giác cô đơn: "Tôi không biết mình
là ai, nếu không có người bạn tâm tình", một người nói.
Người khác lại tâm sự, “Tôi nhớ những gì mà một mối liên
hệ mang đến".
Rồi chúng tôi cũng khuyên lơn nhau. Một phụ nữ cho
biết là mỗi ngày cô điện thoại trò chuyện với bạn bè thân
thiết, và điều này giúp cô không cảm thấy cô lẻ. Người
khác nhận xét: "Đối với tôi thì cảm giác yêu đương mà tôi
đã có lúc đầu với nhiều bạn trai thực sự buồn nôn". Người
khác nữa chêm thêm, "Tôi rất cần cô đơn để lắng nghe bản
thân suy nghĩ".
Chúng tôi tuy không đồng quan niệm về vấn đề độc
thân, nhưng chúng tôi thông cảm nhau và cùng làm cho
nhau cười.
Không phải là chuyện dễ khi ta cố gắng tìm một người
bạn tâm tình. Thường thì nó không tự đến nếu bạn là một
108
phụ nữ luống tuổi, vì thế bạn phải chủ động. Người ta
thường nói với tôi, “Cứ để tự nhiên, rồi nó sẽ đến", nhưng
tôi thấy họ khựng lại khi biết tôi đã quá sáu mươi. Theo
đức Phật và các vị có trí tuệ, một trong những nguyên
nhân của khổ là khi ta luôn tìm kiếm những gì không có
trong tầm tay. Hạnh phúc là khi ta chấp nhận sự vật đúng
như bản thẻ của chúng, nhưng khi ta đi tìm một người bạn
tình, là ta đang ao ước điều mình không có.
Tôi không hoàn toàn tận hưởng cuộc sống vì trong đầu
tôi luôn nghĩ đến chuyện tìm bạn này. Không chỉ có cảm
giác thất vọng làm nản lòng tôi; mà còn là việc phải luôn
tính toán, lên kế hoạch, thí dụ như dự tính phải nghỉ lễ ở
những nơi đâu để có thể được gặp nhiều đàn ông độc thân
nhất. Tôi đã quá tuổi ghi danh học các lớp bay lượn,
nhưng một lớp nhiếp ảnh về thiên nhiên, có thể mang đến
kết quả tạm thời dưới hình thức một cái hẹn đi ăn tối.
Nhưng rồi sau đó tôi nhớ lại rằng có một khoảng cách rất
lớn giữa việc gặp gỡ một người và việc sống chung dưới
một mái nhà với người đó.
Tuổi sáu mươi của tôi đến rồi đi mà tôi vẫn chưa tìm
được bạn mới.
Tôi quán sát lại cuộc đời mình và tự hỏi hoàn cảnh của
tôi là do đâu mà ra. Tôi độc thân có phải do may rủi? Hay
nghiệp báo? Sự lựa chọn? Hay số liệu?
Một phi nhân quen thuộc thì thầm vào tai tôi rằng chỉ
là do tôi không có khả năng duy trì một mối liên hệ lâu
bền. Một giọng nói nhẹ nhàng hơn thì cho rằng tôi không
109
có đối tượng vì tôi không muốn có. Có lẽ tôi là người
không thích việc giao phối, mà không ý thức được điều đó,
vì tôi rất yêu thích tự do của mình. Hoặc một ý nghĩ đen
tối hơn hiện đến: có thể tôi đã quen sự cô đơn của mình;
có thể cô đơn là một nửa quan trọng của đời tôi.
Nhưng cô đơn là một trạng thái, không phải là hôn
nhân. Nó là một cảm giác đơn giản. Thanh tịnh và buồn,
nó phai dần, rồi sau đó trở lại. Nếu tôi để bản thân cảm
nhận nỗi buồn khi nó đến thì sự cay đắng của tâm ganh tị
và tiếc nuối được vơi đi. Cay đắng nhiều nhưng nỗi buồn
trôi qua và tan chảy. Cô đơn trở thành cô độc. Tôi vẫn
sống, một mình.
Izumi Shikibu, một nữ thi sĩ Nhật Bản của thế kỷ thứ
mười, đã viết:
Giữa khuya,
Ngắm trăng
Đơn lẻ, giữa trời,
Ta biết ta vẹn toàn,
Chẳng thiếu chi.
Dần dần, không biết tự lúc nào, dường như tôi đã
buông bỏ mọi cố gắng. Thật là nhẹ nhõm, khi mỗi lần
bước ra cửa, tôi không còn phải đôn đáo ngóng tìm khắp
chân trời góc biển một người đàn ông đứng tuổi độc thân,
thông minh, có tâm, tình cảm, biết quan tâm đến xã hội.
Thậm chí có những ngày tôi quên cả việc nhìn vào ngón
tay đeo nhẫn của những người đàn ông trạc tuổi tôi khi
gặp nhau lần đầu.
110
Tôi thừa nhận rằng người ta vẫn có thể đi tìm người
bạn tình lúc luống tuổi, đối với người bình thường hay
đồng tính cũng thế. Ít nhất là điều đó cũng đã xảy đến với
cô Punderson. Nó có thể xảy ra nếu bạn tiếp tục cố gắng -
nhất là nếu bạn không quá kén chọn - mà ngay cả khi bạn
không cố gắng nó cũng có thể xảy ra trong muôn một.
Người bà góa bụa của tôi đã lập gia đình hạnh phúc lần
thứ hai ở tuổi sáu mươi lăm, rồi hai người bạn đồng tu với
tôi cũng đã yêu nhau ở tuổi bảy mươi. Tôi rất mừng cho
họ. Tôi lặp lại: tôi rất mừng cho họ.
Hiện tôi đang tập hạnh từ bỏ ganh tị, thực sự là tập, vì
điều đó không phải dễ làm. Khi nhận thấy ngọn lửa của
lòng ganh tị lóe lên, tôi nghĩ đến trạng thái mudita hay tâm
hoan hỷ của người Phật tử. Vui trong niềm vui của kẻ khác
là phương cách để đối trị tâm ganh tị, nhưng dù gì đi nữa,
chưa chắc là tôi hạnh phúc nếu lập gia đình với Norman
Rockwell.
Giờ tôi đang tập trung tận hưởng cuộc sống hiện tại.
Tôi quán chiếu về những lợi ích của cuộc sống độc thân.
Một đạo hữu có gia đình đã nói, "Bạn thật may mắn.
Bạn có cơ hội mà tôi không có để khám phá sự cô độc.
Bạn có thể nghiền ngẫm về ý nghĩa của con người". Điều
này làm cho tôi nghĩ về Sumangalamata, vợ của người làm
nón. Bà là một trong những tín nữ đầu tiên của đức Phật ở
thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên. Bà đã sáng tác bài thơ
sau đây:
111
Cuối cùng tự do,
Cuối cùng tôi là một phụ nữ tự do!
Không còn dính chặt trong bếp,
bị vấy bẩn giữa những nồi niêu bẩn.
Không còn bị ràng buộc với chồng
người chê tôi kém hơn
cái bóng mà ông đan kết bằng tay của mình.
Không còn giận, không còn đói,
Tôi ngồi trong bóng mát cây của riêng tôi.
Quán tưởng rằng, tôi hạnh phúc, tôi bình an.
Bạn tôi nhắc nhở tôi rằng: "Lập gia đình cũng giống
như chạy đua trên ba chân, hai mươi bốn giờ, bảy ngày
một tuần. Lúc nào bạn cũng phải thỏa hiệp. Thí dụ, ông
chồng thích loại sữa hai phần trăm chất béo; mình thích
một phần trăm. Ông muốn đi dự tiệc đúng giờ; mình muốn
đến trể nửa giờ. Ông muốn dậy sớm; mình muốn ngủ
thêm. Còn bạn, bạn muốn làm gì cũng được. Bạn muốn đi
đâu cũng được”.
Thi sĩ May Sarton đã nói, "Độc thân, bạn có thể hoàn
toàn là mình, bất cứ là gì, và muốn cảm nhận thế nào cũng
tuyệt đối được. Đó là một sự xa hoa tuyệt vời!"
Lý ra tôi phải bọc plastic những lời này, đem chúng
theo trong bóp phòng trường hợp tôi vớ phải một trong
những cuốn sách về bạn tâm giao.
Còn một điều tốt khác nữa về việc sống độc thân, liên
quan đến sự buông xả. Tuổi tác thúc giục tôi sống buông
xả. Đây là lúc phải giảm thiểu, phải đơn giản hóa cuộc
112
sống. Tất cả mọi người, dù độc thân hoặc có đôi, đều
khám phá ra rằng tuổi già đồng nghĩa với với sự buông bỏ,
nhưng sự buông bỏ vào lúc tuổi già dễ được chấp nhận
hơn nếu bạn độc thân. Bạn có thể cho đi sách vở, đĩa CD
mà không cần hỏi ai.
Đôi khi, không chỉ vào những lúc tôi nằm thao thức
đến ba giờ sáng, mà cả vào các giờ giấc khác nữa, tôi nghĩ
đến Peace Pilgrim. Bà đã đi tới đi lui khắp nước Mỹ từ lúc
bà bốn mươi bốn tuổi cho đến khi bà qua đời ở tuổi bảy
mươi ba. Bà không mang theo tiền bạc, và không có gì cả
ngoài bộ quần áo đang mặc và một vài thứ trong các túi.
Nguyện ước của bà là "sẽ mãi làm người du mục cho đến
khi nhân loại biết chung sống hòa bình, đi bộ cho đến khi
được cho chỗ nương trú, và nhịn đói cho đến khi được
cho ăn". Tôi không thể làm được như bà - vì đó là cách
của bà, không phải của tôi, nhưng nó làm cho tôi cảm thấy
phấn khởi khi nghĩ về bà. Bà cũng là người sống độc thân.
Điểm chính yếu là, tôi không phải cá biệt, tôi chỉ nghĩ
mình là như thế. Tôi là một trong những viên ngọc trên
lưới đế châu (Indra’s Net), cái mạng nhện bao la của vũ
trụ. Tôi không là gì cả, mà chỉ là nơi các sợi hội tụ lại. Để
tôi qua một bên thì toàn bộ đều sụp đổ, giống như một
chiếc khăn đan móc sẽ xổ tung ra từ một mũi đan thiếu
hụt. Vũ trụ chất chứa tôi và vũ trụ cần tôi. Không có cách
gì vũ trụ sẽ rời bỏ tôi để theo một phụ nữ trẻ hơn.
Giờ tôi đang tập thỏa mãn những nhu cầu riêng tư nhất
của mình mà không cần đến phân nửa kia của tôi. Tôi có
113
một cây gãi lưng dài bằng tre đặt trên bàn cạnh giường
ngủ. Tôi đặt tên cho nó là "Chồng Tôi". Như thế tôi được
lợi cả hai mặt - tôi có thể dùng nó để gãi chỗ tay tôi không
với tới dưới bả vai, mà khỏi đi lượm vớ cho ai cả.
Ở tuổi bảy mươi, bạn tôi, Walter, đã rời bỏ căn hộ của
mình ở San Francisco, nơi ông có nhiều bạn bè và người
thân chung quanh, để chuyển về một căn nhà nhỏ ở rìa một
vườn táo thuộc hạt Sonoma, để được yên tĩnh hơn. Tôi kể
cho ông về cuộc chống chọi của tôi với nỗi cô đơn và ông
nói ông thích được một mình. "Tôi sẽ bách bộ trên bãi
biển, và tự nhủ mình, ‘Này Walter, ông bạn già! Được đi
bộ với ông, thật là tuyệt!’", ông nói, tự vỗ vai mình một
cách trìu mến. "Bà cũng có thể làm như vậy mà”, ông an
ủi tôi.
Do đó đôi khi nghĩ tới ông, tôi cũng gọi lớn tên mình,
“Này Sue, bạn già!” và tôi cũng tự đập tay lên vai mình,
giả bộ thích thú với chỉ mình mình giống như Walter. Dĩ
nhiên là nó không làm tan được nổi buồn, nhưng nó cũng
ích lợi.
* * *
114
115
Hoán Đổi Giữa
Ta và Người
Những ai mong muốn nhanh chóng được là
Nơi nương tựa cho chính mình và người khác
thì nên hoán đổi cái "Ta" và "Người",
như thế là ta đã lãnh hội được điều bí ẩn thiêng liêng.
-Tịch Thiên, Con Đường Bồ Tát Hạnh
(Shantideva, The Way of the Bodhisattva)
Tôi nhìn qua máy vi tính ra cửa sổ của một nhà ăn
được sửa đổi thành lều nghỉ mát trên bờ biển Maine, nơi
mà tôi và cô bạn cũ Susie, đang nghỉ phép một tuần. Đó
là lúc xế chiều. Tôi dừng viết, quán sát Susie chụp ảnh
các tảng đá cuội màu mỡ, trong khi nước của Vịnh
Penobscot đang vỗ vào các lỗ hổng. Susie và cái bóng
cao dài của cô di chuyển nhẹ nhàng trên đá hoa cương,
dừng lại rồi đi và dừng lại một lần nữa, giống như một
con nhện đang di chuyển.
116
Lần đầu tiên tôi gặp Susie khi cô ở phòng đối diện với
tôi, tại đại học Radcliffe, năm học đầu của chúng tôi. Đến
New England từ Mexico, là con gái của một nhà biên kịch
nằm trong danh sách đen của Hollywood, Susie đã sống ở
Mexico từ năm lên tám. Còn tôi lớn lên từ khu phố chỉ
cách trường hai khoảng đường, nên giống như một nhà du
lịch trên ghế bành, tôi rất vui được làm bạn với người có
thể mang đến cho tôi hương vị của những thế giới mà tôi
đã chưa bao giờ tưởng tượng ra - như Hollywood, thành
phố Mexico, đảng Cộng sản Mỹ. Nhưng ngay cả trước khi
tôi biết điều gì đó về cô, và tôi không biết ngay những điều
ấy vì cô rất nhút nhát, thì tôi đã bị cô ấy lôi cuốn. Bạn có
thể thương yêu một người vì muốn làm bạn với người đó,
mà không có bất kỳ cảm giác lãng mạn nào, nhất là khi
bạn là một tân sinh viên mới bước vào ngưỡng cửa đại
học, đang tự hỏi mình là ai, và mình muốn trở thành gì.
Susie thắt bím tóc nâu thả dài xuống lưng với một sợi
chỉ Mexico dầy quấn vào đó, có khi sợi chỉ màu vôi xanh
tươi sáng, có khi là màu cây hoa vân anh. Một cô sinh viên
trong ký túc xá thường rón rén đi phía sau Susie trong
hành lang, rồi bất ngờ kéo bím tóc của Susie la lên "Đính
đong! Đính đong!" Susie lầm bầm "Đừng!" rồi chạy đi.
Tóc tôi muốn dựng đứng, mỗi khi chuyện đó xảy ra.
Chúng tôi trở thành bạn cùng phòng suốt ba năm đại
học còn lại. Tôi nhớ lại kiểu trèo tường của Susie vào ban
đêm trong phòng chúng tôi ở ký túc xá. Chính xác là đã
hơn một lần, tôi thức giấc và nhìn thấy cô quỳ gối trên
117
giường, trong khi tay cào vào tường như thể là cô đang cố
gắng trèo lên đó để ra ngoài, miệng thốt ra những tiếng mà
tôi không thể hiểu. Khi tôi vực cô dậy để trấn an thì cô
cũng không biết là mình đang ở đâu. Chúng tôi đang ở thật
xa thành phố Mexico.
Susie đưa tôi về thăm gia đình cô vào mùa hè năm
1962. Gia đình cô đã dọn từ Thành phố Mexico qua Ý.
Lúc đó chúng tôi khoảng mười chín tuổi. Cha mẹ, năm anh
chị em cô, một số bà con và các khách mời đang nghỉ hè
trong một ngôi nhà thuê tọa lạc trên một vách núi ở Italian
Riviera. Chúng tôi thường ngồi ngoài hiên nhà, dưới một
giàn nho, nhìn ra biển màu ngọc lam đậm, và thưởng thức
bánh sừng trâu nóng sốt của một tiệm bánh trong vùng và
tôi háo hức lắng nghe họ nói chuyện về LSD6, về phân tâm
học, và về những người bạn cộng sản cũ đã trở về
Hollywood và bắt đầu hoạt động trở lại bằng tên thực. Họ
nói phần nhiều bằng tiếng Anh, đôi khi bằng tiếng Tây
Ban Nha. Mẹ của Susie kéo tôi vào câu chuyện như thể tôi
đã là một người trưởng thành, mặc dù tôi hầu như không
hiểu họ đang nói gì.
Susie đã dẫn dắt tôi đến những nơi chốn và tư tưởng xa
lạ. Còn tôi, ngược lại, vì gia đình tôi chỉ cách ký túc xá
một con đường, nên tôi có thể mang đến cho cô một không
khí gia đình, với sự ồn ào quen thuộc của những đứa em.
6 LSD: Lysergic Acid diethylevavide: Một loại thuốc tạo hoang
tưởng mạnh.
118
Cha mẹ tôi rất mến Susie, đôi khi còn mời cô đến những
bữa ăn tối chủ nhật. Tôi nghĩ rằng việc quen biết với một
gia đình sống trong căn nhà gỗ, với ngọn lửa ấm trong lò
sưởi phòng khách được đốt lên trong những ngày chủ nhật
lạnh giá của New England, giúp cô ấy cảm thấy an tâm
vững bước hơn.
Sau khi tốt nghiệp đại học được một năm, Susie là cô
bạn gái thân thiết đầu tiên có con. Vào một ngày mùa đông
tươi sáng, tôi đã đến thăm cô và con gái trong một căn
phòng bé tẹo trên lầu ở Cambridge. Tuyết phủ đầy đường
và mặt trời sáng tỏa trên tuyết. Tôi rất phấn khởi. Tôi
muốn biết làm mẹ là như thế nào. Trước khi quay mắt lại
nhìn đứa bé, tôi không nhớ Susie đã nói gì, nhưng tôi nhớ
ánh sáng mặt trời chói lọa xuyên qua cửa sổ không có màn
che rọi lên các bức tường màu ngà trong phòng và nụ cười
thoáng trên môi Susie trao cho tôi. Tôi nhớ cô và bé gái
đang quấn trong chiếc chăn trắng đã nhìn nhau đằm thắm
như thế nào.
Susie bảo tôi đi mua tấm lót ngực để sữa từ hai bầu vú
không thấm ướt áo cô. Tôi chưa bao giờ nghe về tấm lót
ngực này. Tôi tự hỏi: làm sao mà người ta biết về những
điều như vậy? Tôi đi trên những con đường đầy tuyết để
đến nhà thuốc, và quay trở lại với tấm lót ngực trong tay,
tự cảm thấy mình quan trọng và hữu ích. Bước lên cầu
thang gỗ, và bước vào tổ ấm ánh sáng của sữa, của những
giấc ngủ. Vậy làm mẹ là như thế này đây, là sự sáng lạng
tràn đầy. Đứa bé đó giờ cũng đã bốn mươi. Nó không biết,
119
nhưng thỉnh thoảng khi tôi gặp nó, dầu nó đã trưởng
thành, nó vẫn tỏa sáng trong mắt tôi - đứa trẻ đầu tiên
trong nhóm bạn của tôi.
Sau khi cả Susie và tôi đều ly dị, chúng tôi sống chung
cả năm trời trong nhà của cô ở Cambridge, với bốn đứa
con của chúng tôi, hai của cô và hai của tôi. Mấy đứa nhỏ
họp thành đội thám tử với cái tên là Non-Squeaky
Sneakers (tạm dịch là Những Thám Tử Âm Thầm). Susie
chụp hình chúng leo lên các lối thoát hiểm tránh cháy, lén
lút nhìn qua cửa sổ các nhà lân cận, tìm kiếm các manh
mối đáng ngờ. Còn tôi thì viết phần mô tả, thế là chúng tôi
có chung một cuốn sách.
Khi dọn về California, tôi không còn gặp hoặc liên lạc
thường xuyên với Susie nữa, nhưng sự kết nối giữa chúng
tôi vẫn bền chặt qua thời gian và không gian. Chúng tôi
vẫn có thể nối mạch ngay lập tức, như thể lúc nào chúng
tôi cũng bên nhau. Mấy năm trước khi tôi bị trầm cảm
nặng, có khoảng thời gian, tôi gọi điện cho Susie hầu như
mỗi ngày. Cô lắng nghe tôi qua bao khoảng cách, chuyện
trò với tôi và gửi cho tôi thuốc chữa trị.
Càng lớn tuổi, bạn cũ càng trở nên quý. Với anh chị
em trong gia đình, chúng ta không có chọn lựa, nhưng bạn
bè bắt đầu bằng cách chọn lựa nhau, và nếu tình bạn kéo
dài theo thời gian, trải qua bao thăng trầm thì bạn cũ trở
thành người thân. Bạn cũ rất có ích cho ta lúc trở về già.
Thời trẻ, tôi cũng có những người bạn cũ, nhưng lúc đó tôi
không thể nào biết bạn cũ là gì. Suy cho cùng, không thể
120
có tình bạn nào lâu dài hơn tuổi đời của bạn, bạn càng lớn
tuổi thì tình bạn càng lâu dài.
Tại Công Viên Quốc Gia Muir Woods ở California, tôi
đã thấy các vân cây của một cây gỗ đỏ khổng lồ, một ngàn
năm tuổi, có một vòng vân cho mỗi năm. Tình bạn lâu
năm cũng giống như cây cổ thụ với lớp vân này đến lớp
vân kia của bao kỷ niệm đã cùng chia sẻ dưới lớp vỏ bên
ngoài, khiến cho tình bạn càng sâu đậm, cao cả hơn. Đôi
khi, giống như cây gỗ đỏ, có thể có một phần thân cây
rỗng bị cháy, nhưng tình bạn vẫn bền vững.
Bạn bè thời thơ ấu giúp tôi liên kết toàn bộ câu chuyện
đời tôi. Càng đi xa, trở về thời thơ ấu, thì càng khó mà tin
rằng tôi đã từng là một bé gái chín tuổi tập trò tung hứng
với cô bạn thân nhất của mình ở sân sau nhà cô, tập cho
đến khi cả hai đều có thể tung hứng ba trái táo một lúc,
bạn tôi có thể xác nhận điều đó. Cô đã có mặt ở đó. Chúng
tôi là chứng nhân của nhau. Qua khía cạnh này, càng lớn
tuổi tôi càng nhận ra rằng cuộc sống của tôi không chỉ
thuộc về cá nhân tôi - nó thuộc về những người mà tôi đã
có liên hệ. Tuổi thơ của tôi thuộc về những người bạn thời
thơ ấu của tôi, và ngược lại.
Mới đây, tôi đã đi thăm chính cô bạn đó sau khi cô mổ
khớp gối. Cô sống rất xa tôi, trong ngôi nhà nơi cô lớn lên,
căn nhà với cây táo chua mà chúng tôi đã lấy trái để chơi
trò tung hứng, căn nhà nơi cô đã bày cho tôi cách sử dụng
miếng tampon7, căn nhà nơi chúng tôi trò chuyện đến
7 LND: Một loại khăn vệ sinh phụ nữ dùng khi có kinh nguyệt.
121
khuya về thuyết tương đối của Einstein và thời gian trôi
qua với tốc độ khác nhau như thế nào. Hơn năm mươi năm
sau, khi cô cho tôi xem vết sẹo trên đầu gối, tôi đã có một
khoảng khắc xúc động mạnh của sự nhìn nhận. Tôi đã
nghĩ: tôi biết đầu gối đó, dù nó có sẹo hay không. Nếu ai
đó cho tôi thấy đầu gối này, thông qua lỗ hổng thì tôi cũng
biết đó là đầu gối của ai. Điều gì xảy ra cho đầu gối quen
thuộc đó cũng khiến tôi quan tâm.
Lúc gần cuối đời, cha tôi đã liên lạc lại với những
người quen biết từ thời thơ ấu và thời tuổi trẻ của mình.
Tôi nghĩ điều này xảy ra sau khi em gái ông mất. Ông đã
luôn giữ khoảng cách với cái lai lịch đặc biệt của mình, và
những giá trị bảo thủ của gia đình mà ông lớn lên từ đó, vì
thế tôi đã ngạc nhiên khi thấy một ông lão mù loà, bệnh
ung thư lại lấy xe buýt đến thăm một người anh em họ ở
Maine, người mà bốn mươi năm nay ông không gặp, rồi
ông lại bay tới California để gặp một người bạn học nội trú
mất liên lạc từ lâu. Thật biết bao công trình. Ông đã khóc,
nói rằng bắt được liên lạc lại với những người thân có ý
nghĩa như thế nào đối với ông. Ông nói họ là những người
duy nhất biết ông từ thời thơ ấu mà vẫn còn sống.
Khi tôi nói bạn bè cũ gắn bó với nhau qua bao thăng
trầm, ý của tôi là như sau. Có lần tôi đã thuê một công ty
chuyên sắp xếp văn phòng để phân loại các giấy tờ trong
phòng làm việc của tôi, một công đoạn mà tôi luôn sợ. Cô
nhân viên và tôi cùng kiểm qua các hồ sơ cũ, và vứt chúng
đầy các túi đi chợ, các thùng giấy để tái chế. Cô nhân viên
đã bày cho tôi một hệ thống hoàn toàn mới để đối phó với
122
thư từ gửi tới - "Xếp chúng ngay ngắn! Xếp ngay ngắn!" là
điệp khúc của cô - và cô kê cho tôi một danh sách các
công cụ cần thiết để hệ thống mới có thể hoạt động. Xong
việc, tôi tiễn cô ra cửa trước, chào tạm biệt.
Lúc quay trở vào, tôi ôm một chồng thư vừa lấy từ
trong thùng thư vào phòng làm việc. Tôi không biết để
chúng ở đâu, vì hệ thống sắp xếp của tôi đã bị chuyển đổi.
Rồi đột nhiên, tôi hoàn toàn mất hết bình tĩnh. Tôi nghĩ, có
lẽ tôi chưa bao giờ nổi trận lôi đình như thế. Tôi hét toáng
lên, "Trời ơi, thiệt là bực!" rồi tôi đá văng các túi, các
thùng giấy. Tôi hốt đống giấy quăng lên cao khiến chúng
rơi xuống như bão tuyết, cho đến khi cả phòng làm việc
của tôi phủ đầy giấy, rồi mệt mỏi, tôi ngồi xuống giữa
phòng và khóc. Làm thế nào để thoát khỏi bãi chiến
trường này đây?
Bỗng một tia sáng lóe lên trong đầu. Tôi vừa nhớ đến
một người bạn, sống gần đây và làm việc tại nhà. Một
người bạn tôi biết khá lâu, đến nỗi tôi chắc rằng là ông sẽ
không phiền hà gì ngay cả sau khi ông đã phát hiện ra tôi
đã làm gì. Tôi gọi ông ngay, bảo là tôi cần được giúp đỡ.
May mắn thay, ông có giờ rảnh trước khi người học dương
cầm đến, nên ông đến ngay. Ông kinh ngạc trước bãi chiến
trường, nhưng không tỏ ra lo lắng - vì các giấy tờ này
không phải của ông. Ông thán phục rằng tôi còn đầy sinh
lực, và nhận xét rằng trận lôi đình của tôi đã được tính
toán kỹ, vì tất cả các giấy tờ này dầu gì cũng là đồ bỏ đi.
Vậy là tôi được thỏa lòng, vì đã trút được cơn giận mà
123
cũng không gây ra bất kỳ sự thiệt hại nào. Ông chọc cười
cho tôi vui, rồi chúng tôi cùng sắp xếp giấy tờ lại vào các
bao giấy, cùng khiêng chúng ra khỏi phòng.
Bạn bè cũng nhìn thấy được những sự thay đổi của
nhau. Nhiều năm qua, cứ mỗi sáng thứ năm, tôi cùng đi
bộ với một người bạn. Khi còn là những bà mẹ trẻ đơn
thân, chúng tôi thường đưa các con cùng đi trượt tuyết
chung. Chúng tôi cũng đi dã ngoại với nhau. Sau này,
trong những buổi đi bộ hàng tuần, chúng tôi đi theo một
con đường mòn trên các ngọn đồi phía sau Berkeley. Các
buổi đi bộ đã trở nên ngắn hơn khi chúng tôi không còn
leo lên chỗ dốc trên cao, vì đầu gối của tôi. Chúng tôi đổi
qua một con đường dốc thoai thoải hơn trong một công
viên khá đẹp, gần nơi làm việc của cô bạn – thật ra, đó là
một nghĩa trang, nhưng chúng tôi không nằm trong đó.
Gần đây bạn tôi bị đau hông, nên chúng tôi lại chỉnh sửa
thêm, chỉ chọn mặt đất bằng, trên các con đường buổi sáng
sớm trong khu phố của chúng tôi. Vào ngày đi bộ sau cùng
của chúng tôi, cô bạn ấy đã đến đúng giờ hẹn để đón tôi,
nhưng cô đã bị trặt lưng khi bước vào xe, vì thế thời gian
thay vì dùng để đi bộ, cô ta lại nằm ngã lưng trên mặt sàn
phòng khách, và tôi đi lấy đá cho cô chườm chỗ đau. Tôi
ngồi trên ghế xích đu bên cạnh cô và chúng tôi tán gẫu cho
tới khi cô có thể lái xe đi làm.
Tôi nhận thấy là khi người mình thương yêu cần được
giúp đỡ thì ta rất sẵn lòng. Để làm "nơi nương tựa cho bản
thân và cho người”, như ngài Tịch Thiên (Shantideva) nói,
124
tôi cố gắng để "hoán chuyển giữa 'tôi' và ‘người’," để nhớ
rằng giúp đỡ bạn cũng giống như nhận sự giúp đỡ của bạn,
và điều này khiến tôi tin là các bạn tôi cũng rất vui khi
được giúp đỡ tôi những khi tôi cần. Dĩ nhiên là có nhiều
cơ hội cho cả hai phía.
Càng lớn tuổi thì ta càng có nhiều bạn hay bệnh. Cách
đây vài năm, tôi có một người bạn thân bị bệnh nặng, với
một căn bệnh hiếm gặp, là viêm phổi do vi-rút. Nhiều năm
trước đó, ngay khi tôi vừa dọn về California, chính cô là
người đã giới thiệu tôi đến vùng cao nguyên của Yosemite.
Khi tôi hụt hơi, leo dốc theo sau cô, trong bầu không khí
loãng hơn không khí mà tôi thường thở, thì cô đã động viên
tôi bằng cách nói: chậm và chắc để chiến thắng cuộc đua.
Cô bảo tôi thở sâu trong bụng, với cơ hoành.
Khi cô bị bệnh, tôi thường túc trực bên cô trong suốt
thời gian dài trong bệnh viện. Những giờ phút đó không
được hoạch định trong thời khóa biểu bận rộn của tôi,
nhưng tôi vẫn có thời gian dành cho cô. Không sao cả. Đó
là do sự toàn tâm, toàn trí đưa lối dẫn đường, tôi vui vẻ
làm mà không đắn đo, do dự, hay suy tính. Vì giờ đến
phiên tôi phải động viên cô thở.
Tôi biết có một phụ nữ độ tuổi bảy mươi. Bà đã thành
lập "nhóm" với những người bạn cũ và thân tín. Họ đã
thỏa thuận là sẽ đến với nhau khi cần, để "có mặt bên
nhau". Bà giải thích rằng điều đó có thể là ngồi cạnh bên
giường, ủng hộ tinh thần trong bệnh viện, hoặc cầm tay
nhau khi có điều gì đó khủng khiếp xảy ra. Thậm chí điều
125
đó có thể có nghĩa là giúp nhau chết. Điều đó có thể muốn
nói, "Tôi biết hoàn cảnh của bạn hiện giờ là điều mà bạn
chẳng bao giờ muốn nó xảy ra cho mình”.
Tôi đã suy nghĩ về điều này. Bạn có thể đề ra một thỏa
thuận rõ ràng như vậy, giống như lời hứa trong một lễ
cưới. Nếu bạn cần tôi giúp, tôi sẽ làm tất cả mọi thứ trong
khả năng của mình để đến với bạn. Nếu tôi cần đến bạn,
tôi cũng mong bạn sẽ làm như thế. Bạn có thể nói ra điều
này hoặc thậm chí lập một văn bản như thế.
Dầu không nói ra, phần nào tôi cũng ở trong nhóm với
các bạn của mình.
Tình bạn cũ là điều ích lợi trong tuổi già, nhưng bạn cũ
rồi cũng ra đi. Hẳn là rất cô đơn khi bạn càng già đi và
những bạn bè thân thiết đều đã ra đi. Điều này đã gây ấn
tượng cho tôi, khi nhiều năm sau cái chết của bà ngoại, tôi
đã đến thăm người bạn thân thiết nhất đời của ngoại tôi, đó
là "Dì Dorothy". Giờ dì đã gần chín mươi, người nhỏ bé,
ngồi trên chiếc giường ở nhà, giống như một ụ đất nhỏ
trong đống chăn nệm, một cục bướu sống nổi lên trên mặt
bằng, tất cả bạn bè của dì đều đã ra đi. Dì nói với tôi là
mỗi ngày dì đều nghĩ đến ngoại tôi. Dì bảo không còn
muốn sống nữa, vì giờ mọi người thuộc thế hệ của dì đều
đã ra đi. Tôi đoán rằng trong cái rủi là có tất cả bạn bè ra
đi trước mình, thì cái may là điều đó sẽ giúp ta cảm thấy
sẵn sàng hơn cho cái chết. Tôi đang nghĩ đến một thánh
126
ca xưa "Swing Low, Sweet Chariot"8 (tạm dịch “Hãy đu
đưa nhẹ nhàng, xe ngựa dấu yêu”): "Nếu em đến đó trước
tôi, hãy nói với tất cả bạn bè là tôi cũng đang tới".
Bây giờ, sau hơn bốn mươi năm quen biết nhau, Susie
và tôi cùng đến chỗ nghỉ dưỡng này, ở cạnh bến cảng, để
chụp ảnh và viết lách. Chúng tôi đang tập hoán chuyển
giữa cái tôi và tha nhân. Susie đến từ California và sống ở
Massachusetts, còn tôi đến từ Massachusetts và sống ở
California. Susie, nhiếp ảnh gia, gần đây lại trở thành nhà
văn, còn tôi đang tập chụp ảnh. Có lẽ dự án hợp tác tiếp
theo của chúng tôi sẽ là một cuốn sách do cô ấy viết, còn
tôi cung cấp các hình ảnh.
Tuần này, tôi đã đọc một đoạn trong quyển tiểu thuyết
dành cho tuổi mới lớn mà Susie đang viết, để cho cô ý
kiến, còn hôm qua Susie đã chỉ bày cho tôi làm thế nào để
chụp ảnh có chiều sâu, để cả hai phần rong biển xanh nổi
trên mặt nước và các loại đá vỏ sò dưới nước được làm nổi
bật. Tôi rất thích cụm từ đó, chiều sâu của phong cảnh. Nó
diễn tả được tình bạn của chúng tôi.
Ngoài cửa sổ, ánh mặt trời lặn tô điểm các tảng đá với
sắc sáng vàng, và lay động các hình bóng, khiến hình ảnh,
phong cảnh nền luôn thay đổi và những phiến đá xô dạt vào
nhau, mềm mại như nước. Susie đang đứng dạng chân trên
một hốc đá, trong thế đứng chân vòng kiềng quen thuộc. Cô
8 Một bài thánh ca lâu đời của người Mỹ Da Đen, được ghi xuống lần
đầu vào nắm 1909 (Wikipedia).
127
chĩa máy ảnh xuống, điều chỉnh tầm ngắm, dừng lại, hoàn
toàn đứng yên. Cô đang chờ đợi điều gì đó, có thể là một
làn sóng phủ chụp lên. Tôi mong là Susie chụp được bức
ảnh cô chọn. Tôi cảm thấy lòng tràn đầy tình thương đối
với Susie, trong chiếc mũ len màu đen của cô.
Chúng tôi trùng tên nhau. Hồi ở đại học, cả hai chúng
tôi đều được gọi là Susie. Có lần, cô đã đánh thức tôi trong
ký túc xá bằng cách gọi, "Susie!"
Tôi lên tiếng trả lời.
"Trời ơi!" cô la lên. “Thật là kỳ quái! Khi tôi gọi bạn
Susie lúc đó tôi cũng nghĩ là tôi đang gọi mình".
* * *
128
129
Ngôi Nhà Chung
Với thời gian, dầu tôi không liệu định như thế, nhưng
ngôi nhà của tôi cũng đã trở thành ngôi nhà chung.
Tôi đã sống trong ngôi nhà này gần bốn mươi năm,
chuyện mà hầu như chưa từng nghe trong thời đại của gia
đình phân tán. Tôi luôn chia sẻ ngôi nhà với người khác và
giờ tôi vẫn làm vậy.
Kỷ nguyên đầu tiên trong ngôi nhà này là thời gian các
con của tôi lớn lên. Năm 1972, tôi là một người mẹ mới ly
hôn, có hai con nhỏ và tôi đã mua ngôi nhà này ở
Berkeley, California, với sự giúp đỡ của cha mẹ tôi. Tôi sợ
mình sẽ cảm thấy cô đơn nếu chỉ sống một mình với các
con, nhất là khi cha chúng đã dọn đi ngay sau khi chúng
tôi chia tay. Tôi cũng nghĩ rằng khi có những người lớn
khác sống cùng nhà, cùng quan tâm đến lũ trẻ thì tốt hơn
cho chúng. Tôi đã chọn một căn nhà bằng gỗ ấm cúng, có
130
hơn bốn phòng ngủ nên khá lớn để có thể chia sẻ với
người khác. Hai cây hồ đào già cỗi vươn cành che mái nhà
sân sau.
Một số bạn bè dọn vào ở với tôi - và chúng tôi gồm
bốn người lớn và ba trẻ em sống chung với nhau trong
những năm đầu tiên. Các cây hồ đào cho nhiều trái, chúng
tôi đem phơi khô ở tầng áp mái, rồi bỏ chúng vào trong
bánh nướng. Tôi và một bà mẹ khác thay phiên nấu ăn cho
các con. Một người ở cùng nhà đã vẽ hình ông mặt trời
trên trần nhà bếp, với những tia nắng vàng tỏa chiếu.
Chúng tôi tổ chức các lớp học xoa bóp trên sàn phòng
khách trước lò sưởi, các buổi tiệc tưng bừng với âm nhạc
tự chế. Giờ tôi nhìn nhận đó có thể không phải là một
khung cảnh gia đình ổn định nhất cho các con của tôi,
nhưng ở Berkeley trong những năm bảy mươi, thì điều này
có vẻ gần như bình thường. Chúng tôi đã vượt qua những
giới hạn đáng sợ của gia đình hạt nhân.
Thời gian trôi qua, người đến rồi đi. Những người đến
ở thường là bạn bè hoặc bạn của bạn. Xin kể đôi nét về họ.
Một nghệ sĩ ngủ trong hành lang nhà bếp để sử dụng
phòng mình làm xưởng vẽ. Một quý ông bỏ hàng giờ ở
trong phòng thực hành liệu pháp phản xạ (reflexology)
trên đôi chân của mình, đầu thì quấn khăn, mình mặc quần
ống bó. Như thủy triều lên, xuống, cuốn theo các thiền
giả, bạn trai, du học sinh, chó và mèo, trong khi bọn trẻ và
tôi vẫn đứng trên bờ.
Những người không sống trong ngôi nhà này cũng biết
131
đến nó. Các lớp học xoa bóp lại nhường chỗ cho những sự
kiện bớt ồn ào hơn, giống như những buổi viết thư vì mục
đích chính trị hàng tháng. Cũng có những buổi họp tại nhà
về cuộc chiến ở El Salvador và các bữa ăn gây quỹ cho
chiến dịch đình chỉ chương trình hạt nhân. Bọn trẻ và bạn
bè của chúng chơi âm nhạc trong nhà với các nhạc cụ khác
nhau. Suốt bao năm, tôi và ba người bạn, cùng với sự giúp
đỡ của bọn trẻ, đã xuất bản một tạp chí hài hước dành cho
gia đình với cái tên - Tỏi, Hơi thở của Công Chúng
(Garlic, the Breath of the People) - trên bàn ăn, dán các
bản vẽ và các cột bài đánh máy với sáp, chuẩn bị sẵn sàng
để in. Chúng tôi có khoảng ba trăm độc giả đặt báo.
Căn nhà đã phát triển một nền văn hóa gia đình riêng
của nó, giống như chất men để làm sữa chua hoặc bột bánh
mì chua. Nếu bạn làm đổ gì đó lên các bàn ghế tiện nghi,
nhưng đã cũ sờn thì điều đó không quan trọng mấy. Trong
nhà lúc nào cũng có cái gì đó cần được sửa chữa - như một
vòi nước rò rỉ, hoặc một bậc thềm gỗ sau nhà bị bể -
nhưng ngôi nhà đó luôn có không khí chào đón thân thiện.
Nhiều khách trọ đã ngồi ở bàn trong nhà bếp với tôi.
Họ lưu lại một, hai, hoặc ba năm, rồi cuối cùng cũng dọn
đi. Khi các con của tôi cũng ra đi thì ngôi nhà dường như
đánh mất ý nghĩa của nó. Tất cả những năm tháng chung
sống với nhiều người khác nhau, tôi đã tạo được một mái
nhà cho các con của tôi, nên đó cũng đã là nhà của tôi.
Giờ tôi cảm thấy nó quá rộng lớn, trống trải, không
còn giống một mái nhà nữa. Tuy nhiên, nếu không phải là
132
mái ấm, thì nó vẫn là nơi trú ngụ, nên tôi vẫn bám trụ.
Một bạn học cũ người Senegal và mấy cậu con trai nhỏ
của ông đã sống ở đây được một năm khi ông dạy tại
trường đại học. Một đôi vợ chồng, bạn của bạn, đến từ
Vermont trong một xe ngựa chở hàng do họ tự đóng, đã
lưu lại đây mấy năm, để được gần cô cháu gái đang học ở
Berkeley. Và các con trai của tôi cũng trở về thăm, đôi khi
một thời gian dài.
Tôi luôn tiếp thu những bài học về vô thường, biến
đổi. Ở những người khách trọ vừa mới đến, tôi đã biết họ
sẽ sớm ra đi, thí dụ như người bạn đến từ Phi châu, dầu đã
hứa ở đến một năm. Thỉnh thoảng tôi cũng có yêu cầu ai
đó ra đi. Nhưng cũng có người tôi đã mong họ ở lại.
Tuy nhiên, tôi hiểu rằng tôi là chủ nhà. Tôi không thể
có tất cả. Tôi không thể muốn khách trọ ở lại trong nhà
theo thời hạn mà tôi định đoạt, không kéo dài hơn thế. Vì
vậy, ngôi nhà này là một cộng đồng khác biệt, sở hữu của
cá nhân. Có một thời điểm, tôi gần như thuyết phục bạn bè
thân thiết mua lại nửa căn nhà, nhưng nó lại có những trở
ngại về thuế.
Khi tôi đã sống trong ngôi nhà này được hai mươi lăm
năm, tôi đã tổ chức một cuộc tái hợp mặt với tất cả những
người đã từng sống ở đây, mà tôi có thể liên lạc được.
Những người sống ở Chicago, đảo Prince Edward, Đan
Mạch, Đức, Pháp, Senegal đã không đến, nhưng những
người ở địa phương đã tới. Chúng tôi ngồi thành một vòng
tròn lớn trong phòng khách và nhắc lại bao kỷ niệm: chẳng
133
hạn chuyện con chó của tôi đã ăn phải một bụm thuốc lá
của khách trọ, và đã té nhào ở bậc thềm cửa trước với một
mảnh thuốc vẫn còn dính trên lưỡi mà ông khách cố kéo ra
giúp nó; chuyện về cuộc thi nếm bánh sừng trâu; về các
thanh thiếu niên từ Liên Xô đến thăm viếng vào lúc mà
đứa con trai năm tuổi của tôi, đã dùng kéo cắt vòng tránh
thai của một nữ khách trọ. Để kéo được tất cả cùng ngồi
lại với nhau trong phòng khách cùng một lúc, để những
câu chuyện chung sống như gia đình trong hai mươi lăm
năm dồn nén lại trong phút giây, vừa tuyệt diệu vừa buồn
bả. Là tôi hay chính là ngôi nhà đã tụ họp tất cả chúng tôi
lại? Và tại sao, khi có quá nhiều người đã đến rồi đi, mà
chỉ còn mình tôi ở lại?
Tôi rất vui khi em gái tôi với hai con gái của cô dọn
đến ở với tôi, nhưng hai năm sau khi mua được nhà riêng,
họ đã dọn ra, điều đó giống như sự chấm hết của một kỷ
nguyên. Tôi đã nghĩ, có lẽ đã đến lúc tôi cũng phải ra đi.
Năm 2000, tôi cho mướn nhà và bắt tay vào việc khám
phá các cơ hội khác. Tôi đã sống trong một thùng rượu
rỗng ở một trung tâm thiền trong vùng quê, nhưng nó quá
nhỏ; tôi phải mướn phòng trọ trong nhà người khác, nhưng
nó cũng chẳng phù hợp với tôi; tôi lại mướn một căn
phòng nhỏ rất đẹp cạnh bãi biển, nhưng ở đó quá xa nơi
làm việc và bạn bè ở Berkeley, nên tôi cảm thấy cô đơn.
Sau vài năm, tôi quyết định dọn trở về nhà.
Tôi vẫn còn sống ở đây, vẫn chia sẻ ngôi nhà với nhiều
người khác. Bảo quản một căn nhà cũ là việc khó, vì tôi
phải luôn sửa chữa, sơn phết nó. Phải mất nhiều thời giờ,
134
tiền bạc và công sức. Tôi đang ở giữa tuổi sáu mươi. Khi
mới dọn đến đây, tôi chỉ mới hai mươi chín. Giờ tôi vẫn có
thể chăm sóc ngôi nhà, nhưng được bao lâu nữa?
Tôi nghĩ về những người cùng thời với tôi, bạn bè và
người thân: hầu như tất cả đều sống một mình hoặc với
người phối ngẫu (trừ khi họ tạm thời chung sống với tôi),
ngoại trừ một số ít người sống trong các cộng đồng Thiền.
Thật là kỳ lạ khi tôi là người duy nhất còn sống chia phòng
trong nhà, giống như một kẻ tụt hậu. Đó không phải là một
quyết định chiến lược; chắc chắn là tôi cũng không phải là
người chống đối lối sống hưởng thụ. Cuộc sống sẽ đơn
giản hơn nhiều nếu tôi bán nhà và dọn vào một căn hộ nhỏ
hoặc căn hộ chung cư.
Nhưng vấn đề là vầy: Tôi không muốn sống một mình.
Tôi cần không gian riêng cho mình, nhưng tôi cũng muốn
nghe tiếng của những người tôi thương yêu vang vọng
trong nhà. Tôi thích ngửi mùi cà phê của họ mỗi sáng (tôi
không còn uống cà phê nữa) và tôi muốn được ngồi ăn tối
cùng nhau, không nhất thiết phải là mỗi tối, nhưng thường
xuyên, để biết điều gì đang xảy ra cho mọi người.
Một bà góa già sẽ phải làm gì nếu không muốn sống
một mình? Tôi có thể bán nhà và dọn đến ở khu chung cư
với những người xa lạ. Hoặc tôi có thể dọn vào một trung
tâm Thiền, nếu tôi có thể mỗi sáng thức dậy lúc 4 giờ 30
và cống hiến thời gian của tôi cho một thời khóa biểu tu
tập cam go. Tôi có thể kết hợp với bạn bè để hoạch định
thành lập một cộng đồng chung. Nhưng mấy năm trước,
135
khi một số người cố gắng thực hiện điều đó, thì chẳng có
ai bỏ hết thời gian vào việc tìm kiếm địa điểm, thiết lập
cộng đồng đó, nên kết quả là cả nhóm tan rã. Nếu đã có
một cộng đồng như thế, nếu các bạn bè thân thiết của tôi
sống trong một cộng đồng ấm cúng, có tinh thần xã hội, có
căn bản tâm linh, ở một nơi gần Berkeley, hướng ra mặt
biển không bị ô nhiễm, với những buổi dùng chay chung,
hai lần một tuần và có phòng cho con cháu đến thăm thì
tôi sẽ dọn ngay vào. Nhưng tôi không mong đợi điều đó sẽ
xảy ra.
Cũng có ‘cách sống dưỡng lão’ (retirement living).
Mẹ và dượng tôi đã sống hạnh phúc trong một khu nhà
dành cho người già suốt mười lăm năm cuối đời họ.
Nhưng lúc đó họ lớn tuổi hơn tôi bây giờ, mà tôi cũng
chưa sẵn sàng để sống như thế.
Cộng đồng tồn tại không chỉ trong không gian mà còn
qua thời gian. Tính ra đến giờ, chính ngôi nhà cũng đã trở
thành là một thành viên của đại gia đình chúng tôi. Khi
bạn bè hoặc người thân bị trặt lưng, họ tự nhiên mở cổng,
vào sân, vào nhà, leo vào bồn tắm nóng. Họ tổ chức các lễ
sinh nhật, kỷ niệm đám cưới ở sân sau. Mấy cậu con trai
đã trưởng thành, con dâu, cháu nội gái, cháu trai, cháu gái
của tôi cũng thường đến thăm. Ngôi nhà là một trạm dừng
chân cho bạn bè lỡ đường. Nó trở thành một phần của
cộng đồng và tôi hiện đang là người quản lý của nó.
Những người còn lại, thông qua việc sử dụng, cũng đã có
quyền đối với nó. Tôi không cảm thấy hoàn toàn có quyền
136
bán nó, chưa đến lúc. Tôi vẫn để nó mở rộng cửa như là
một nơi của niềm hy vọng. Bức tranh mặt trời vẫn tỏa sáng
trên trần nhà bếp.
Trong những năm gần đây, như gà về chuồng để ấp
trứng, những người trước kia sống nơi đây lại trở về. Em
gái tôi mới đây đã quay lại lần thứ hai và một cô gái trẻ
từng sống ở đây lúc còn nhỏ đã quay trở lại trong một thời
gian ngắn. Hiện giờ một đứa cháu gái đang sống cùng tôi
trong nhà, và tôi đang chờ xem còn ai đến nữa.
Tôi biết thời gian đang đến gần để tôi rời bỏ vai trò
làm người giữ nhà, nhưng tôi không có ý nói mình chết.
Chỉ là tôi đã quá mỏi mệt khi phải tính xem mình phải làm
gì với tầng hầm đầy bùn đất, hoặc tôi sẽ quá buồn bả khi
một khách trọ mà tôi yêu mến dọn đi. Sắp có một sự thay
đổi. Có thể ai đó sẽ dọn đến sống với tôi và hứa không bao
giờ ra đi, hay ai đó sẽ mời tôi đến sống chung với họ. Có
lẽ tôi sẽ ngăn ngôi nhà ra thành hai căn hộ, rồi cho mướn
hoặc bán một căn cho bạn. Có thể là tôi sẽ sẵn sàng để
sống trong khu người già, hoặc gây ngạc nhiên cho bản
thân mình bằng cách muốn sống đơn độc.
Tôi biết không phải dễ dàng chuyển đổi. Chắc chắn tôi
cần sự can đảm. Nhưng cộng đồng là một bộ phận có sức
sống, có hơi thở vượt lên trên các bức tường nhà tôi. Tôi là
một phần của nó, và những ngày này tôi có lòng tin rằng
cộng đồng sẽ bảo bọc tôi bằng những phương cách mà tôi
không thể biết trước được.
* * *
137
An Nhiên Tự Tại
Tôi điểm tâm buổi sáng bằng ngũ cốc Cheerios và sữa
với mẹ ở chiếc bàn nhỏ cạnh cửa sổ, trong cao ốc dành cho
người già của bà ở Chicago. Căn hộ trên tầng thứ sáu của
bà hướng mặt ra hồ Michigan, nên một trong những cái
thú lớn nhất của mẹ tôi trong cuộc sống là ngồi trên chiếc
ghế bà ưa thích, ngắm nhìn các tàu, thuyền qua lại và
những đám mây trên bầu trời. Đây là buổi sáng đầu tiên
trong những ngày tôi thăm viếng, nên mẹ tôi đã chuyển sự
quan tâm từ cái hồ dưới kia sang cô con gái. Bà nói, “Tóc
tai con bù xù quá! Con không vén nó lên khỏi mặt được
sao?" Tôi trả lời, "Mẹ có bao giờ khen tóc con đẹp?".
Tối hôm đó bà cố gắng sửa chữa bằng cách tuôn bao
lời khen khi tôi kẹp tóc lại trước khi chúng tôi xuống lầu
đi ăn tối. Nhưng sáng hôm sau, một lần nữa, khi ngồi
trước tô ngũ cốc, bà lại nghiêng đầu nhìn tôi, và tôi biết
điều gì sắp xảy ra.
138
"Đêm qua mẹ thấy con thật đẹp”, bà nói, cố tỏ ra tế
nhị. “Mẹ không thể không ngắm nhìn con”. Tôi biết đó là
đoạn khởi đầu. "Nhưng sáng nay... sao con không chải tóc
lên?"
Tôi trả lời, "Mẹ ơi, con đã sáu mươi ba. Con không
còn nhỏ để mẹ bảo con phải chải tóc kiểu nào”. Nhưng rõ
ràng là tôi chưa đủ trưởng thành để bỏ qua.
"Mẹ chỉ muốn cho con biết là con đẹp như thế nào khi
con chãi tóc lên".
"Con biết mẹ thích nó như thế nào mà”.
"Không, con không biết! Vì vậy mẹ mới nói cho con
biết".
Tôi nghĩ thầm: Mẹ đã nói chuyện tóc tai của con suốt
sáu mươi năm qua. Mẹ tuởng là con không biết mẹ thích gì
sao? Nhưng tôi không nói ra những điều này.
Dù sao, bản thân tôi cũng có lỗi. Mấy năm trước đây,
khi tóc mẹ tôi còn dài đến vai, đôi khi bà buộc tóc thành
bím, rồi bà hỏi tôi có thích bà làm tóc theo kiểu đó không.
Tôi trả lời là tôi không thấy nó "hợp với tuổi" của bà. (Nếu
người hỏi không phải là mẹ tôi, có lẽ tôi đã trả lời là rất
thích bím tóc đó). Mẹ tôi làm tuồng như bà nghĩ đó là một
nhận xét dí dỏm nhất của tôi và đôi lần tôi nghe mẹ nói với
bạn bè, "Susan cho rằng bím tóc của tôi không 'hợp với
tuổi’!". Nhưng điều đó làm tổn thương bà. Không lâu sau,
bà cắt tóc ngắn, để mái tóc bạc xõa nhẹ quanh mặt. Vậy
mà khi gặp lại mẹ, tôi có khen tóc bà đẹp không? Không,
139
cho đến khi bà hỏi thẳng tôi là liệu mái tóc mới của bà có
hợp với tuổi không.
Mẹ tôi là người rộng lượng. Bà thương con cháu với
tình thương vô điều kiện - gần như thế. Giống như thiền sư
Suzuki Roshi đã nói với các đệ tử khi ông cố gắng giải
thích về Phật tánh: "Tất cả chúng ta đều hoàn hảo như
chúng ta đang là nhưng chúng ta có thể tận dụng một ít
sửa đổi".
Tôi mướn một chiếc xe để sử dụng trong chuyến viếng
thăm kéo dài một tuần này, như thế tôi có thể chở mẹ tôi đi
đây đi đó. Mấy năm nay mẹ tôi đã bỏ lái xe, sau tai nạn
đâm vào một chiếc xe đang đậu mà không hiểu tại sao.
Không được lái xe, thật là một điều khó cho bà. Bà không
thể đi bộ xa vì đau lưng, nên việc xe buýt dừng ở trạm
cách nhà khoảng hai chặng đường là một trở ngại cho bà.
Khu cao ốc có một chiếc xe tải để chở các cư dân đi mua
sắm, nhưng đi bộ vòng quanh một siêu thị rộng lớn, dù có
xe đẩy cũng là việc khó làm đối với bà. Và bà ghét nhất là
không được lựa chọn đi vào lúc nào.
Tôi đã giúp mẹ tôi làm một số việc linh tinh: tôi rất vui
vì có thể đem mẹ đến bác sĩ khám mắt cườm cho bà.
Những cuộc hẹn đi bác sĩ là một vấn đề tâm lý đối với mẹ
tôi, và càng lớn tuổi thì bà càng có nhiều cái hẹn. Khi trao
đổi qua điện thoại không lâu trước chuyến viếng thăm của
tôi, bà đã nói với lòng thèm muốn về một người bạn trong
chung cư, "Bà Janet được con gái chở đi mỗi khi bà có hẹn
khám bệnh với các bác sĩ. Ôi, mẹ ước gì có một đứa con
140
sống ở Chicago!" Mấy chị em tôi đã cố gắng kết hợp các
chuyến thăm viếng của chúng tôi với các cuộc hẹn khám
bệnh của mẹ, nhưng ai cũng sống quá xa, nên bà không thể
thường xuyên dựa vào chúng tôi. Mẹ đi khám bệnh hầu
hết bằng taxi, mà taxi phải chờ thật lâu mới có.
Một ngày trong tuần lễ đó tôi đã đưa mẹ đến một cuộc
triển lãm in ấn của Nhật tại Viện Nghệ thuật, và đẩy mẹ đi
qua các phòng trưng bày trên chiếc xe lăn có thể xếp lại
được mà mẹ thường sử dụng cho những chuyến đi như vầy.
Nhiều lần, khi bà muốn ngắm một bức tranh khác hơn cái
mà tôi muốn hướng tới, bà tự nhiên bỏ chân xuống sàn
khiến chiếc xe lăn không thể đi tới, giống như một chiếc xe
đẩy đã bị khóa lại. Điều đó làm tôi khó chịu cho đến khi tôi
nhìn vấn đề theo quan điểm của bà, và nhận ra rằng đó là
cách để bà dành lại chút quyền quyết định của mình.
Tôi cũng cố gắng tỏ ra có ích bằng nhiều cách khác.
Nhu cầu ăn uống của mẹ tôi rất đơn giản. Cách tổ chức
trong chung cư này là mẹ tôi sẽ dùng bữa tối ở tầng dưới
trong phòng ăn chung với mọi người, còn điểm tâm và
trưa thì mẹ tôi tự lo liệu, rất giản đơn, trong nhà bếp nhỏ
bé của bà. Vì vậy, tôi đã lau sạch tủ lạnh cho mẹ, mua ngũ
cốc lạnh, một ít sữa chua và đã nấu sẵn một nồi to cần-tây,
súp khoai tây, rồi cất một ít trong tủ đá để dành cho mẹ
chuẩn bị các buổi ăn trưa sau này.
Sau đó đến phần máy vi tính. Tôi đã bày cho mẹ một
số điều mà giữa những lần thăm viếng của tôi, bà luôn
quên chúng: thí dụ làm thế nào để thay đổi các lề trong
141
chương trình tạo văn bản, làm thế nào để gửi thư điện tử.
Tôi không phàn nàn gì việc này, vì mẹ là người duy nhất
trên thế giới xem tôi là một chuyên gia máy tính.
Tôi rất ngưỡng mộ cuộc sống của mẹ tôi. Chicago là
thành phố của mẹ, vì bà đã lớn lên ở đó. Bà vẫn có những
người bạn cũ không sống trong chung cư mà thỉnh thoảng
bà vẫn gặp gỡ và nhiều năm qua bà cũng đã có một cuộc
sống phong phú trong khu chung cư này. Một trong các cư
dân là hậu duệ của nhà thơ người Mỹ gốc Châu Phi, Paul
Laurence Dunbar, đã mang một số ấn phẩm của ông đến
lớp và cả nhóm, bao gồm người da trắng và người Mỹ gốc
Châu Phi, đã có một cuộc thảo luận hào hứng về văn
chương trong cộng đồng người Mỹ gốc Châu Phi sử dụng
tiếng Anh. Tôi đã rất ấn tượng. Tôi gần như có thể hình
dung mình sinh hoạt trong một nhóm như thế.
Nhưng có lẽ tôi ghét sự tự giam hãm giống như mẹ tôi
thường làm. Đôi khi bà ở yên trong nhà nhiều ngày và chỉ
có thể đoán được nhiệt độ bên ngoài bằng cách quan sát
cách ăn vận của những người dẫn chó đi dạo dọc theo bờ
hồ. Bà ngồi hàng giờ bên cửa sổ, xoay ghế 180 độ trong
tầm nhìn của mình, để nhìn ra chỗ mặt hồ có mấy con vịt
bằng chiếc ống dòm của mình. Thực ra, tôi nghĩ là bà thích
nhìn thời tiết - dù nó thế nào - trên chiếc ghế êm ấm của
mình hơn là ở bên ngoài đắm mình trong đó. Dù tu tập
theo Phật giáo nhiều năm, tôi vẫn không thể ngồi yên
trong căn phòng chật chội, nhưng mẹ tôi, vì phải ở yên
một chỗ, nên bà rất giỏi chịu đựng.
142
Một ngày trước khi tôi quay về California, tuyết đã rơi
lúc tôi vừa thức giấc. Tôi nhẹ nhàng đi ra khỏi phòng,
trong khi mẹ tôi vẫn còn ngủ. Tôi đi theo đường hầm dành
cho người đi bộ phía dưới đường lái xe và đi bộ trong
công viên nhỏ cạnh hồ ngay đối diện tòa nhà của mẹ.
Không có ai khác ở đó; dấu chân tôi là những dấu chân
đầu tiên trên nền tuyết mới phủ. Tôi tưởng chừng mình
đang ở đồng quê, với những chỏm tuyết trắng phủ trên các
trụ hàng rào và cái hồ bên cạnh tôi thì xa mút mắt vì tuyết
rơi xuống đã che lấp các ống khói của Indiana, và các chú
sóc làm rơi vải mọi thứ từ trên các cành cây. Tôi tưởng
chừng mình đang ở đồng quê, nếu không có tiếng gầm rú
của xe cộ lưu thông ở phía sau. Tôi nghĩ thầm: mùa xuân
tới, tôi sẽ ghé thăm mẹ, khi tuyết đã tan, mặt trời đã ló
dạng, lúc ấy tôi sẽ đẩy mẹ ngồi trên xe lăn đi qua công
viên, để bà có thể nghe tiếng chim hót và ngửi mùi hương
của các cây liễu.
Quay lại để đi về, tôi nhìn thấy chung cư của mẹ ở
phía bên kia của dòng sông xe cộ. Tôi đếm sáu tầng để
nhận ra cửa sổ phòng mẹ ở mặt tiền bằng gạch, rồi vẫy tay
chào, để trong trường hợp mẹ có thức dậy, nhìn ra ngoài
thì sẽ thấy tôi.
Tối hôm cuối cùng đó, mẹ tôi tổ chức một bữa tiệc
trước bữa ăn tối cho một nhóm bạn mà bà gọi là "các bà
mẹ của các cô con gái". Tất cả các bà mẹ này đều có con
gái ở xa, thỉnh thoảng đến đây thăm họ - như tôi, là từ
Berkeley, California. Trước bữa tiệc, tôi chải tóc, cố kẹp
nó lại thật gọn gàng.
143
Sáu bà mẹ này đi thang máy lên căn hộ của mẹ tôi để
uống rượu và ăn bánh lạt có hình những con cá vàng nhỏ.
Tôi không cần phải cất áo khoác cho họ vì tất cả đều ở
trong chung cư này, nhưng phải cất hai cây gậy tập đi. Mẹ
tôi rất vui được gặp họ - bà luôn nói là bà rất thích giới
thiệu con cái mình với bạn bè. Họ ngồi an vị thành nửa
vòng tròn đối mặt với cửa sổ lớn. Ánh sáng ban ngày đã
nhạt nhòa thành xám xịt trên mặt hồ và màu tuyết trắng đã
trở nên đen đúa dọc theo các lề đường bên dưới.
Người phụ nữ duy nhất mà tôi chưa được gặp trước
đây nói: "Cô giống y khuôn mẹ!" Dầu đã cao tuổi, mẹ tôi
vẫn còn nét đẹp, nhưng có người con gái nào muốn được
nói là mình giống mẹ đâu? Tôi không thấy phiền nếu có
giống mẹ, nhưng tôi muốn được thấy trẻ hơn bà. Thực ra,
mỗi khi đi thang máy một mình không có mẹ trong chung
cư này, tôi rất sợ bị hiểu lầm là cư dân ở đây. Tôi đã gần
sáu mươi lăm - đủ tuổi hợp lệ để sống ở đây rồi.
Nhóm phụ nữ này khiến tôi rất cảm kích - tất cả đều
vui vẻ, thân tình, tất cả đều đang phải đối mặt với sự tàn
hoại của tuổi già. Betty, người lớn tuổi nhất trong nhóm,
khoảng chín mươi. Những người khác đều trong thập niên
tám mươi. Betty vẫn còn khỏe, luôn vui cười. Vài năm
trước đây, bà và mẹ tôi đã du lịch xuyên Siberian bằng xe
lửa, nhưng sau đó bà bắt đầu bị bệnh chóng mặt nên không
thể du lịch nữa. Một vị khách nữa thì bị lãng tai, người
khác nữa thì dù ngồi hay đứng thân hình cũng cong như
chữ C.
144
Jane, người bạn từ thời thơ ấu của mẹ tôi, bị bệnh ung
thư miệng giai đoạn cuối. Bà không còn răng và phải gắn
hàm giả. Bà không xuống dự bữa ăn tối, vì như bà đã nói
với mẹ tôi, bà sợ các bạn sẽ ăn mất ngon nếu họ nhìn thấy
bà ăn như thế nào. Ngay cả nói chuyện cũng làm bà bị
đau, mà bà phát âm giờ cũng không được rõ, nhưng bà là
một phụ nữ rất dũng cảm, bà vẫn tham gia vào cuộc hội
thoại. Khi câu chuyện xoay sang chủ đề quen thuộc về sự
thăm viếng của những đứa con đã trưởng thành, bà chua
chát nói, "Con trai vẫn là con mình cho đến khi nó lấy vợ,
nhưng con gái thì suốt đời vẫn là con gái mình”.
Tất cả những người phụ nữ này đều là góa phụ, kể cả
mẹ tôi. Tôi không thể biết họ đau khổ đến thế nào khi trở
thành góa bụa sau hàng chục năm chung sống với người
bạn đời. Ngược lại tôi cũng không thể biết họ cảm thấy
được giải thoát như thế nào sau những năm dài phải chăm
sóc cho người thân yêu. Nhìn bề ngoài những người phụ
nữ lớn tuổi này không có sự đồng cảm với họ, thì bạn sẽ
không thể hiểu họ cô đơn hoặc nhẫn nại như thế nào để
mang những cây gậy tập đi ra vô thang máy. Bạn quên
rằng trước đây họ không giống như thế, rằng họ đã thường
đi ca-nô trong rừng Minnesota hoặc khiêu vũ theo điệu
valse đến tận bình minh, rằng họ đã có một cuộc sống
khác bên ngoài chung cư này. Bạn nghĩ rằng họ sinh ra đã
da mồi tóc bạc, và điếc lác.
Như một đứa con gái ngoan, tôi chuyền bánh đến mời
các bà. Tôi mời họ rượu vang, đỏ hoặc trắng, trong những
145
chiếc ly Mễ Tây Cơ màu xanh tuyệt đẹp của mẹ tôi. Chú
mèo nhỏ, Sigo, được mẹ tôi nuôi sau khi cha dượng tôi
chết, nằm ngữa trên lưng, chân cào không khí, muốn được
đùa giởn. Mẹ tôi cầm một sợi dây kẽm có một quả bóng
treo ở đầu dây, đung đưa trước mặt Sigo. Nó nằm sát đất,
không động đậy, trừ cái đuôi, sau đó đột ngột nhảy vọt lên
chỗ trái banh làm tất cả chúng tôi đều phá ra cười.
Betty nói với tôi, "Dì nghe nói cháu vừa dự một khóa
thiền dài ngày trở về. Vậy nó có giúp cháu tự tại không? "
Tôi có vẻ khác mọi người ở đây, vì là người đã cải đạo
qua Phật giáo. Buổi chiều hôm đó, mẹ đã giới thiệu tôi với
hai người bạn ở cùng chung cư, khi chúng tôi đang đi
trong thang máy, nơi mà các cuộc giao tiếp, xã giao của bà
thường xảy ra. "Đây là cô con gái theo Phật giáo ở
California của tôi!" bà nói một cách hãnh diện. Hai người
bạn của mẹ muốn biết tất cả mọi thứ về Phật giáo và rằng
tôi có tin hay không vào luân hồi. Nhưng thực sự tôi
không thể giải thích trong khoảng thời gian thang máy đi
từ tầng sáu xuống tầng một.
Giờ thì tôi trả lời câu hỏi của Betty như thế này.
"Trong thiền người ta không cố gắng để đạt được điều gì
cả, ngay cả sự an tĩnh. Cái chính là buông bỏ tâm tham
muốn. Buông bỏ mọi bám víu”.
Betty nói, "Vậy thì tôi không cần hành Thiền rồi. Tuổi
già bắt buộc người ta phải từ bỏ hết thứ quỷ này đến thứ
khác!" Mọi người đều cười tán thưởng.
146
"Tôi thích Thiền”, mẹ tôi nói, “vì Thiền giúp ta sống
trong hiện tại. Đó là điều quan trọng trong tuổi già. Tôi
không còn quan tâm đến quá khứ - nó đã chấm dứt từ lâu!
Còn nghĩ đến tương lai thì thật vô ích - tương lai gì đây?
Nhưng hiện tại! Tôi tự nhủ mình, có biết bao điều đang
xảy ra".
Tôi mời thêm rượu, nhưng chỉ có một người uống
thêm, tôi thắc mắc không biết họ có luôn thực tập tính điều
độ. Cuộc trò chuyện chuyển sang đề tài về người đầu bếp
mới trong nhà ăn ở tầng dưới với món sốt kem nấm rất độc
hại mà ông nấu với thịt gà. Tôi quan sát những người phụ
nữ này khi họ nói cười, khi họ chuyền nhau chiếc tô đựng
bánh quy bằng những bàn tay run rẩy. Tôi thấy họ quan
tâm đến nhau như thế nào. Họ là những người đã thành đạt
trong các vai trò như học giả, nghệ sĩ, nhân viên xã hội,
nhà thơ, nội trợ. Giờ ở tuổi già, họ đang trải nghiệm tình
bằng hữu và cuộc sống cộng đồng.
Mẹ tôi chỉ hơn tôi hai mươi tuổi, với đà này thì chẳng
mấy chốc tôi sẽ ở vào tuổi bà. Bà là người đang lần dò
lãnh địa này cho tôi, nên bắt buộc tôi phải quan sát cẩn
thận.
Năm giờ rưỡi - trong chung cư này đó là lúc phải
xuống nhà dùng bữa ăn tối. Sau khi tôi lấy hai cây gậy đi
bộ từ góc phòng ra, bảy bà mẹ có con gái và một người
con gái - là tôi - bắt đầu ra hành lang dẫn đến thang máy.
Mẹ tôi ngồi xe lăn, điều khiển nó đi tới bằng cách xủi
chân tới trước trên sàn nhà như một đứa trẻ đẩy món đồ
147
chơi đi tới. Đó là điều mẹ tôi thích làm khi ở trong môi
trường thân thuộc. Bà nói ngồi trên xe lăn kiểu đó là cách
thể dục tốt nhất. Người ta tưởng rằng bà ngồi xe lăn vì
chân bà có vấn đề, nhưng thật ra chính là do lưng bà bị đau
nếu bà đi bộ nhiều hơn khoảng năm mươi bước.
Đôi khi, vào những ngày lưng mẹ đỡ đau, bà có thể đi
bộ ra thang máy với một cây gậy. Cây gậy của bà có một
tay cầm mà khi nghiêng nó qua một bên, thì nó trở thành
một chỗ ngồi nhỏ để bà có thể dừng lại, nghỉ ngơi. Bà đã
đặt mua những chiếc gậy này từ Anh. Nếu bạn nhìn bà từ
phía trước, khi bà ngồi trên gậy thì bạn sẽ ngạc nhiên, vì
bạn không thể nhìn thấy cây gậy, nên lầm tưởng bà đang
thực hiện một tư thế yoga rất khó - đầu gối hơi cong, tư
thế như đang ngồi trên một chiếc ghế mà ta không thấy nó
đâu… Nhưng hôm nay là ngày mẹ đi xe lăn.
Như một đội quân nhếch nhác, chúng tôi di chuyển
dần xuống hành lang và tôi phải cố tình đi chậm lại. Bà
Betty, đi bên cạnh tôi, nói: "Susan, cháu có mái tóc đẹp
quá". Ngồi trên xe lăn, mẹ ngước lên nhìn tôi và chúng tôi
cười với nhau.
* * *
148
149
Tâm Lão Bà
Khi Noah, con trai tôi, được bốn tuổi và tôi đã là một
người mẹ cô đơn, bất hạnh, nó đã nói sau này không muốn
có con. Đó là lúc tôi phải đưa nó đến trường mẫu giáo mà
nó nhất định không mặc bất cứ quần áo nào ngoại trừ bộ
đồ Superman, dù đồ còn trong máy giặt, sạch nhưng còn
ướt. Điều này khiến tôi nổi giận, còn nó thì tuyên bố "Con
sẽ không bao giờ có con. Quá rắc rối!"
Tôi ráng kiềm chế. "Nhưng rất đáng công, con ạ", tôi
nói. "Chắc chắn là rất đáng công!"
Khi nó lớn hơn, tôi quan sát thấy nó cũng vuốt ve,
nựng nịu thú vật và em bé, nhưng nó vẫn giữ ý định là
không muốn có con cho đến tuổi trưởng thành. Em trai nó,
Sandy, thích trẻ em nhưng hiện tại vẫn độc thân, nên tôi
bắt đầu sợ là mình sẽ không bao giờ được làm bà. Người
phụ nữ có thể làm cách gì đó để có con, nhưng không thể
150
làm gì để có cháu. Vì vậy, ngay cả khi Noah đã lấy vợ thì
tôi cũng cố gắng tránh không đá động đến vấn đề này. Tôi
tự nhắc nhở là con tôi không phải sinh ra đời để nhanh
chóng có cháu cho tôi. Chuyện đó thuộc quyền quyết định
của Noah và Arcelia, vợ nó. Chúng có sự nghiệp phải lo
lắng, cùng với các vấn đề về kinh tế của bậc làm cha mẹ
và mối quan tâm về sự hủy diệt môi truờng của trái đất.
Tuy vậy, tôi vẫn nói là tôi rất vui nếu được giữ cháu.
Thưở nhỏ, tôi được cả hai bên nội ngoại thương bằng
nhiều cách khác nhau. "Bà ngoại" thường dẫn tôi đến các
cuộc họp của người Quaker, viết những lời cầu nguyện mà
bà ưa thích xuống một cuốn sổ tay nhỏ cho tôi. Bà cũng
dẫn tôi đến xưởng điêu khắc của bà, nơi bà cho tôi chơi
với đất sét trong lúc bà nặn tượng. Tôi là cháu trưởng tôn
của bà. Buổi sáng khi tôi trèo vào giường bà, bà sẽ cất đi
chiếc mặt nạ màu đen kỳ lạ mà bà mang khi ngủ, và máng
nó lên thành giường. Chiếc mặt nạ làm cho bà trông giống
như một người hùng cô độc. Bà kéo tôi vào lòng, và tôi sẽ
cuộn tròn bên cạnh bà, thích thú cảm nhận da thịt mềm
mại, mát mẻ nơi bắp tay bà và bà nói, "Chào cháu cưng số
một của bà! "
Còn bà nội thì tôi gọi là "Ma". Bà thường cất kẹo
chanh trong một cái ly thủy tinh trong hình con gà để trên
tủ bàn phấn của bà. Nếu bạn muốn một viên kẹo, bạn chỉ
cần giả bộ ho một tiếng thì bà sẽ nói: "Cháu cưng, cổ cháu
có vấn đề rồi”. Bất cứ khi nào đám trẻ con chúng tôi đến
chơi, đều có bánh bông lan sô-cô-la mới nướng, có rắc
151
đường vani trên một tấm thiếc màu xanh trong nhà bếp và
bạn được phép ăn bất cứ khi nào bạn muốn. Bà luôn có
mùi thơm dễ chịu, một loại hương thơm nào đó mà không
ai khác có được. Bà đeo một chiếc vòng tay bằng vàng có
chiếc máy bay cũng bằng vàng nhỏ xíu treo lủng lẳng trên
đó. Tôi hỏi bà lý do, bà bảo rằng đó là bản sao của chiếc
máy bay quân sự mà con trai út của bà, tức là chú Morton
của tôi, đã lái khi chú bị bắn hạ tại Nhật Bản. Bà đeo nó để
không bao giờ quên lòng can đảm của con mình. Trên
cánh máy bay có khắc những con số ký hiệu chính xác,
nhưng chúng quá nhỏ nên tôi không thể đọc được.
Qua ông bà nội ngoại, tôi biết một sự thật thú vị là
trước đây rất lâu, chính cha mẹ tôi cũng từng là trẻ con -
thí dụ, tôi kinh ngạc khi được biết cha tôi rất nhút nhát,
còn mẹ tôi rất tinh nghịch. Họ không giống như thế trong
mắt tôi! Tôi cũng biết rằng trong cuộc đời của mỗi con
người có những điều đáng buồn xảy ra, nhưng người ta
vẫn tiếp tục sống. Tôi đã biết được sự xoay chuyển qua
các thế hệ: trẻ em trở thành cha mẹ, cha mẹ già đi để trở
thành ông bà. Rồi ông bà trở thành những hình ảnh bất
động trong một thước phim.
Vào một chiều chủ nhật, tôi đang ở nhà tại Berkeley,
khi Noah từ San Antonio, Texas gọi để báo tin con gái nó
đã ra đời. Giọng của nó giống như một tô nước mà nó
đang cố giữ để nước không tràn ra ngoài. Lúc đó Paloma
đã ra đời được đúng hai mươi phút, và hai mẹ con vẫn còn
trong phòng sinh. Mọi người đều bình yên. “Được làm bà,
152
mẹ có vui không?”, Noah sốt sắng hỏi, dù nó đã biết câu
trả lời của tôi.
"Đương nhiên! Không gì có thể làm cho mẹ hạnh phúc
hơn!" Sau đó tôi nghe tiếng khóc của Paloma vọng ra. Cô
bé không phải khóc vì hạnh phúc như tôi, mà theo Noah
thì bé đã khóc vì bị người ta dùng kim trích một ít máu ở
gót chân để làm thử nghiệm sắc tố cam.
Buổi chiều hôm đó, Berkeley lái xe loanh quanh thành
phố để làm một số việc. Khi một mình ngồi trong xe, tôi
cứ gọi lớn, "Paloma! Paloma!" Tôi nghĩ đến tất cả những
đứa trẻ được sinh ra trong ngày hôm đó, trên cả thế giới,
quá nhiều em phải sinh ra trong chiến tranh hoặc trong
cảnh nghèo đói. Qua Google, tôi được biết mỗi ngày có
khoảng 353.000 đứa trẻ được sinh ra trên trái đất. Tôi nghĩ
là bạn có thể nói rằng tất cả những em bé sinh ra vào ngày
tôi trở thành bà đều là con cháu của tôi.
Vào cái ngày đặc biệt đó, trên trang nhất của báo New
York Times có nói về con số người dân thương vong ở
Beirut do Israel bỏ bom Hezbollah9. Tôi tự thấy mình cần
xoa dịu chư thiên, Thượng đế, Vũ trụ, hay bất cứ gì - để
cảm ơn họ về sự ra đời an ổn của Paloma, để cầu mong họ
bảo vệ con bé và tất cả mọi đứa trẻ khác được bình an.
Tôi phải cúng dường gì và cúng cho ai? Buổi chiều ngày
sinh nhật của Paloma, tôi xem lại các e-mail và tìm thấy
9 Có nghĩa là “Đội Quân của Allah”, một tổ chức chính trị và
quân sự xuất phát từ Lebanon.
153
một lá thư ngõ yêu cầu được giúp đỡ của Liên Minh Các
Trẻ em Trung Đông và tôi đã gửi tiền đóng góp dưới tên
của Paloma. Một việc làm khiêm nhượng về phần của tôi,
với tư cách là người bà, để hồi hướng cho Paloma và tất cả
chúng sanh khác.
Khi tôi đến San Antonio, Paloma đã được hai tuần
tuổi. Cô bé đang ngủ nằm ngửa lúc Noah chở tôi từ sân
bay về nhà, nên tôi có thể nhìn thấy cả khuôn mặt của bé.
(Ngày nay người ta khuyên cha mẹ nên để trẻ ngủ nằm
ngửa để tránh bị chết ngạt. Điều này đối với tôi là mới lạ).
Tôi nhận ra ngay là Paloma rất giống cha lúc nhỏ - thanh
tú, chứ không mập phì, cả bản chất cô bé cũng đã hiển lộ
trên nét mặt. Cô bé có đôi mắt to giống mẹ. Sau đó bé thức
dậy, Arcelia cho con bú, cuối cùng là tôi được ẵm cô bé
vào lòng.
Tôi ở lại một tuần trong cái nóng mùa hè của bang
Texas. Suốt thời gian đó, tôi chỉ ra khỏi nhà có hai lần để
đến cửa hàng tạp hóa ở khu mua sắm. Những lúc gia đình
ngủ trưa, tôi nấu món này, món nọ cho họ. Khi Paloma
quấy, tôi bồng bé đong đưa trong vòng tay, hát dỗ, nhảy
nhót quanh phòng khách. Tôi càng lắc lư bé mạnh tay, nó
càng thích. Nó không hề bận tâm việc tôi chẳng thể nhớ tất
cả lời các bài hát mà tôi cố moi ra từ trong sâu thẳm của
ký ức - các bài nhạc mừng Giáng sinh và các bài hát xưa
cũ của nhóm Beatles. Khi cô bé ngủ thiếp đi trên tay tôi,
tôi ngã lưng trên chiếc đi văng, cẩn thận ôm bé trong lòng,
và để bé nằm ngủ trên ngực tôi bao lâu tùy thích. Trong
khoảng thời gian hạnh phúc đó, trong căn phòng khách
154
máy lạnh ở ngoại ô, tôi để mũi lên cái đầu dễ thương của
bé, vừa ngắm các lá cây sồi lắc lay trong làn gió nóng
ngoài cửa sổ.
Tôi đã học được những điều mới trong cách chăm sóc
trẻ sơ sinh-mới mẻ đối với tôi, nhưng cũng là dựa trên
những hiểu biết của người xưa. Tôi đã biết năm điều cần
làm để dỗ em bé quấy khóc: thay tã, đong đưa, cho bú, ẵm
đứng lên và thì thầm bên tai. Noah có biệt tài vừa thay tã,
vừa gù gù với Paloma bằng cái giọng ồm ồm -“Nào, nào
Đầu Bí Đỏ, giờ bé dễ chịu chưa nào” - trong khi nhét mấy
góc chăn quanh tay bé, cuộn nó thành một gói nhỏ nhắn.
Trong suốt thời gian thăm viếng, tôi cũng nghe cả hai cha
mẹ kêu bé với giọng tràn đầy yêu thương, bằng những cái
tên ngộ nghĩnh như Cô Heo Con, Hạt Đậu Ngọt, Quả Bí,
Bông Hoa Nhỏ, và thậm chí gọi là Bánh Ghẻ.
Riêng tôi, tôi tràn đầy hạnh phúc khi được Arcelia, con
dâu, gọi tôi là “Abuelita” (Bà trẻ).
Đôi khi tôi bồng Paloma ra ngoài sân ở phía sau nhà,
với cái nóng của 102 độ Farenheit. Cô bé nín lặng ngay.
Bé nhướn mắt nhìn các cây và không gian rộng lớn của
bầu trời và tôi có thể thấy cô bé đang cảm nhận không khí
tự nhiên tràn đầy trên má. Tôi có thể thấy cô bé cảm nhận
được những điều khác biệt ở đây, ở ngoài trời. Noah cũng
rất thích nhìn các lá cây khi anh ta còn bé.
Thiền sư Dogen, người sáng lập Trường phái thiền
Soto ở Nhật Bản, có một đệ tử là một tỳ-kheo chân chất,
biết giữ giới, nhưng vị ấy có một yếu điểm - ông không có
155
"tâm lão bà". Thiền sư Dogen nói, "Ông có thể thông suốt
về Phật giáo, nhưng ông không thể vượt quá khả năng và
trí thông minh của mình trừ khi ông có robai-shin, tâm lão
bà, tâm đại từ bi. Lòng từ bi để giúp mọi chúng sanh. Ông
không nên chỉ nghĩ đến riêng mình".
Bạn không cần phải làm bà để có tâm lão bà. Ngược
lại bạn còn có thể là một vị tỳ-kheo độc thân trong tu viện.
Tâm của cha mẹ phải khác với tâm của bậc ông bà. Cha
mẹ phải quan tâm đến những nhu cầu cụ thể của con cái -
lo dưỡng nuôi chúng, cho chúng có chỗ ở, quần áo ấm
cúng. Cha mẹ phải bảo vệ chúng khỏi tai nạn xe cộ, không
cho ăn nhiều đường, tránh bị bắt cóc. Cha mẹ lo chuyện
trước mặt. Nhưng các ông bà - hiểu theo cả nghĩa đen và
nghĩa bóng - có thể quan tâm đến chuyện hậu trường. Họ
có thể kể cho các em chuyện về các ngôi sao trên trời.
Nhưng đôi khi ông bà cũng phải thay thế cha mẹ. Như
khi cha mẹ phải ngồi tù, hay chính họ cũng còn là trẻ con,
hay họ đã chết vì bệnh AIDS. Đôi khi khả năng chăm sóc
con cái của họ đã bị tước đoạt bởi chiến tranh, không nơi
nương tựa hay do nghiện ngập. Ngày càng có nhiều người
bà phải nhận lãnh vai trò trụ cột trong gia đình hơn, phải
dũng cảm dưỡng nuôi các cháu của họ trong những điều
kiện khiến họ không còn có nhiều thời gian để lả lướt điệu
waltz với các cháu quanh nhà, vừa hát bài "Rừng Na Uy".
Tôi muốn ghi nhớ tất cả những người bà này vào trong
tâm trí tôi.
Một ngày kia ở San Antonio, khi tôi dậy pha trà và
156
mang tờ báo New York Times trước cửa nhà vào, thì mọi
người trong gia đình còn ngủ. Câu chuyện trên trang đầu
về vụ đánh bom Beirut được tiếp nối bên trong - tôi lật
trang báo, đập vào mắt tôi là hình ảnh của một đứa trẻ sơ
sinh với nửa thân mình bị chôn vùi trong đống gạch đổ
nát, khuôn mặt bé đầy bụi đất, một bàn tay nhỏ nhô lên
giữa những cột kèo gãy đổ. Tôi xếp tờ báo lại, rồi đặt nó
xuống bàn.
Lát sau, khi Noah ngồi xuống bàn bên bát thức ăn
điểm tâm, tôi thấy nó mở tờ báo ở ngay trang có bức ảnh
đó. Tôi thấy mắt nó nhìn vào hình xác chết của em bé
trong đống gạch vụn, và tôi nghe một tiếng rên nhỏ phát
xuất từ cổ nó khi nó xếp tờ báo lại, thậm chí còn nhanh
hơn tôi. Tôi đau đớn khi thấy Noah nhìn bức ảnh đó còn
hơn khi chính tôi nhìn bức ảnh đó. Tôi vẫn là một người
mẹ, mà cũng là người bà. Chúng tôi không đá động gì về
bức ảnh đó.
Tuy nhiên, khi thấy Noah nhìn Paloma - thì lại là một
chuyện khác. Arcelia nói với tôi, các chuyên gia khuyên ta
nên nhìn chăm chú vào mắt của trẻ sơ sinh hầu khuyến
khích sự phát triển tình cảm lành mạnh, nhưng điều chắc
chắn là khi cha mẹ Paloma nhìn vào mắt bé, họ không chỉ
làm theo hướng dẫn của sách vở.
Được nhìn thấy con mình hạnh phúc trong vai trò làm
cha mẹ khẳng định toàn bộ sự tiếp nối theo hình xoắn ốc -
tổ tiên chúng ta đã rời bỏ cây gia tộc từ rất lâu, còn con
cháu ta thì đang hướng nhìn đến các nhánh cây. Noah, cậu
157
bé đã từng nghĩ "con cái quá rắc rối”, giờ đã làm cha.
Đúng là có con cái rất rắc rối. Thật rắc rối khi phải thức
dậy lúc giữa đêm, rắc rối khi phải giặt bao nhiêu đồ dơ, rắc
rối khi phải cố gắng biến trái đất này thành một nơi an
toàn cho trẻ em. Có rắc rối nhưng không phải là quá sức
chịu đựng.
Thật không đành lòng nói lời chia tay với họ cuối tuần
đó. Noah mang túi xách của tôi ra xe, và chúng tôi đã ngồi
vào trong xe. Arcelia bồng Paloma, đứng ở ngưỡng cửa.
Khi Noah lui xe ra khỏi garage để đi vào cái nóng rực lửa
của bang Texas, Arcelia cầm tay Paloma lên vẫy vẫy.
"Tạm biệt, Abuelita!" Arcelia nói với theo.
Tôi đáp lại, "Tạm biệt, Calabacita, trái bí nhỏ của tôi".
* * *
158
159
Vô Ái Dục
Có thể tôi sẽ không bao giờ quan hệ tình dục nữa. Có
thể tôi sẽ không bao giờ còn nằm kề cận bên người khác
nữa. Ngay giây phút này tôi không cảm thấy ham muốn
tình dục, đó là điều may mắn vì tôi đâu có ai để thực hiện
điều đó. Nhưng tôi không chắc rằng mình có thể giữ vững
lập trường này cho đến chết. Lúc còn trẻ và không có
người yêu, tôi chẳng bao giờ tự hỏi, "Nếu tôi chẳng bao
giờ quan hệ tình dục thì sao?" Vì tôi cho rằng mình đang ở
lưng chừng, chưa xác định được các mối quan hệ. Nhưng
giờ, ở tuổi sáu mươi hơn, tôi tự hỏi không biết mình có âm
thầm vượt lên “sự lưng chừng” đó chưa.
Đã không có quan hệ với ai một thời gian - không cần
biết là bao lâu - giờ tôi hầu như chẳng nghĩ gì về nó. Tôi
có cái may là thường không mong muốn cái tôi không có.
Thật là tiện. Tôi chỉ muốn quan hệ, khi thấy nhớ nó, chứ
không phải do dục vọng. Trong phim ảnh, khi đến những
160
đoạn khó coi, thì tôi giống như đứa trẻ tám tuổi, phản ứng:
“Hãy kết thúc nhanh đi lên! Không có gì để tôi coi đâu! "
Trước kia tôi quan tâm đến toàn bộ chủ đề về tình dục
và tôi cũng thích viết về nó. Bây giờ thì tôi thích viết về
việc không có quan hệ tình dục.
Tôi khó chịu với cách người ta luôn luôn nói, theo
phép lịch sự, rằng người già cũng rất “sexy” (gợi cảm),
rằng người già cũng có thể có đời sống tình dục phong
phú, vân vân... Vâng, nhưng chúng tôi có cần phải thế
không? Đối với tôi, người già muốn làm gì trên giường
của họ cũng được, nhưng tôi không muốn có cảm giác là
mình có vấn đề, nếu không làm chuyện đó. Tôi cũng có
quyền không ham muốn tình dục khi tuổi lớn hơn. (Tuy
nhiên, tôi không hứa điều đó).
Tôi nghĩ là nhiều người cũng đồng quan điểm về sự
thiếu nhu cầu tính dục như tôi, nhưng họ không thừa nhận
điều đó. Trong những năm 1940, Alfred Kinsey đã phát
hiện ra rằng không ít người dùng đủ loại mánh khóe, mà
họ không thừa nhận, để che dấu điều đó, nhưng giờ ở thời
đại hậu-Kinsey, thời sau cách mạng tình dục, thì người ta
cũng khó thừa nhận những gì họ không làm.
Tôi thật sự cũng nhớ những tác dụng phụ của quan hệ
tình dục. Bạn có thể vuốt ve và được ve vuốt bởi một
người nhiệt tình khác. Dĩ nhiên cũng có cách khác để thực
hiện điều này: như đi xoa bóp thư giãn và đến nha sĩ là hai
trong các cách đắt tiền nhất. Ôm ấp con cháu không mất
tiền, nhưng cháu gái của tôi cách xa hàng ngàn dặm.
161
Thứ đến là thú nuôi trong nhà. Khi tôi đi dự khóa tu ẩn
cư trong rừng, tôi đem theo Satchmo, chú chó của em tôi,
cho có bạn. Lông nó mượt mà dưới những ngón tay ve vuốt
của tôi. Mỗi buổi sáng sau khi tản bộ trở về, tôi dùng bàn
chải màu vàng để chải lông cho nó, để gỡ các mảnh lông
rụng của nó. Mỗi lần nhìn thấy tôi cầm bàn chải lên là nó
đi thẳng đến tôi và cạ người vào tôi. Đôi khi nó liếm mặt tôi
khi tôi đang chải lông cho nó, dường như để nói, “Cảm ơn
bà. Con rất yêu bà”. Tôi đã nhớ những cái cạ người, những
cái liếm của nó khi tôi trả nó về cho em gái tôi.
Có khi cả nửa năm, khoảng thời gian giữa các cuộc
hẹn với nha sĩ, tôi không hề có sự xúc chạm với người nào
khác. Nhưng không hẳn như vậy, vì tôi cũng ôm người
khác khi chào hỏi, tuy nhiên những cái ôm đó, sự đụng
chạm đó không kéo dài như khi tôi đi làm vệ sinh răng.
Cũng phải kể đến việc gần gũi, mật thiết, một trong
những tác dụng phụ phổ biến nhất của tình dục. Có người
còn cho rằng quan hệ tình dục là một tác dụng phụ của sự
gần gũi. Nói tóm lại, quan hệ tình dục là một cách tuyệt
vời để làm giảm đi sự phân biệt giữa cái ta sâu thẩm của
người này với cái ta sâu thẩm của người khác - có thể nói
là cách tốt nhất. Tôi đã nghe nói rằng quan hệ tình dục là
cách để có con, nhưng ngày nay có nhiều cách khác để
làm điều đó. Tôi nghĩ rằng quan hệ tình dục có mặt chính
vì mục đích giúp chúng ta khám phá ra rằng chúng ta
không khác biệt nhau.
Tôi thật sự nhớ những sự gần gũi, thân mật đó. Tôi có
162
bạn và những người thân trong gia đình để chia sẻ, gần
gũi, thân thiết qua các cuộc tiếp xúc chuyện trò. Chúng tôi
cũng chia sẻ với nhau những mối quan tâm thầm kín nhất.
Nhưng đó vẫn không phải là sự gần gũi làm mờ nhạt ranh
giới giữa hai người mà tôi đã nói. Đó không phải là nguồn
nước trong veo mà bạn và người yêu cùng gieo mình vào
khi hai người đắm đuối nhìn nhau trong gang tấc. Nhân
vật cuối cùng mà tôi đã nhìn lâu vào mắt là con chó của
em gái tôi.
Không có quan hệ tình dục ít nhất cũng đơn giản hóa
việc quản lý thời gian. Thay vào đó tôi thường làm chuyện
khác. Thí dụ, nếu ngay bây giờ tôi đang quan hệ tình dục
thì tôi sẽ không thể viết những dòng này mà bạn cũng
không đang đọc chúng. Chính việc viết lách cũng là một
cách để kết nối, mặc dù sự trao đổi giữa chúng ta là một
chiều.
Dẫu rằng tôi sẽ không bao giờ còn quan hệ tình dục
nữa, cũng đâu phải là tôi chưa từng trải qua, thắc mắc
không biết mình chưa hưởng được gì. Cuộc đời của tôi
cũng đầy những khoảng thời gian vui vẻ mà tôi sẽ không
nói ra với bạn ở đây. Nhưng lắm khi, tôi cũng bị đau đầu
vì chúng.
Sống độc thân cũng là một cách để không phải nghĩ
đến việc quan hệ tình dục. Đây được coi như là sự lựa
chọn tích cực. (Có lẽ tôi đã phải nguyện sống độc thân, để
được ghi điểm cho cả khoảng thời gian sống như thế). Đó
là cách để mở rộng tình thương của bạn đến với cả vũ trụ.
163
Nếu bạn không có một người bạn tình đặc biệt nào, thì
cũng giống như bạn ‘kết hôn’, mở rộng tình thương đến
với tất cả mọi người trên thế giới, dầu bạn chưa từng gặp
họ. Mà cũng không chỉ với con người, mà cả với cây cỏ,
cát đá, suối sông và các vì sao.
Khi tôi bơi trong hồ Anza, trên những ngọn đồi phía
sau Berkeley, tôi hoàn toàn ướt đẫm. Khi tôi nằm dài trên
chiếc khăn trên bãi biển, lực hút của trái đất giữ tôi lại và
mặt trời sưởi ấm khắp cả thân thể tôi. Khi tôi hít một hơi
thật sâu, gió tràn vào lồng ngực, làm đầy ấp phổi tôi. Tôi
vẫn tiếp xúc với đất, nước, gió và lửa. Thế thì có hề gì nếu
tôi không bao giờ còn quan hệ tình dục nữa? Có gì nào?
Tuy nhiên. . .
* * *
164
165
Vô Hình Vô Tướng
Có lần bà mẹ tám mươi ba tuổi của tôi và tôi cùng đi
máy bay, lúc đến nơi, chiếc xe lăn mà tôi đã đặt cho bà
không có sẵn ở cửa. Cô tiếp viên hàng không bảo sẽ có
ngay, nhưng chúng tôi đứng đợi và đợi trong khi tất cả các
hành khách khác đều đã xuống khỏi máy bay. Việc phải
đứng lâu khiến mẹ tôi bị đau đến nỗi bà mất hết kiên nhẫn:
"Mẹ kiếp, xe lăn của tôi đâu? Mẹ nó! Đây là lần chót tôi đi
du lịch với hãng hàng không này!". Tôi điếng hồn, nhưng
chiếc xe lăn xuất hiện ngay lập tức. Khi đã an tọa trên xe
lăn, bà nhã nhặn xin lỗi cô tiếp viên hàng không và họ vui
vẻ chia tay nhau.
Khác với mẹ, tôi không bao giờ dám la hét người khác,
ngay cả khi tôi có cảm giác rằng họ phớt lờ sự có mặt của
tôi. Tuần trước, khi tôi đang xếp hàng chờ mua phong bì
trong một cửa hàng văn phòng phẩm đông người, thì một
166
phụ nữ trẻ khỏe mạnh, tóc đen nhánh được tính tiền trước,
dù cô ấy đến sau tôi, mà cũng không phải do cô muốn lấn
ra trước tôi, mà do người tính tiền không để ý đến tôi.
Dầu bản thân tôi đã bị trở thành vô hình, vô tướng,
chính tôi cũng phạm lỗi này. Hôm qua, khi đứng xếp hàng
tại bưu điện, tôi đang mãi nhìn một chàng trai đang dán
băng keo gói hàng của anh ta, thì tôi giật nẩy mình bởi
tiếng gọi "Kìa Sue!". Tiếng gọi xuất phát từ một phụ nữ
tóc bạc đứng ngay trước tôi - một người bạn của tôi. Tôi
nghĩ rằng lý do khiến tôi không nhìn thấy bạn có lẽ do con
mắt tâm của tôi khi nhìn thấy màu xám là lướt vội qua.
Tôi đã tham dự một hội thảo với chủ đề "Giảng sư
Phật giáo ở phương Tây", với hơn hai trăm nam nữ cư sĩ
họp lại trong vài ngày, phần đông tuổi tác đều đã trên năm
mươi. Một người đàn ông tóc bạc, dáng vẻ chững chạc,
nói với tôi, "Nhìn quanh, tôi thấy có nhiều bạn nam tóc
bạc hơn bên nữ giới, mặc dù tuổi tác của chúng ta không
khác biệt. Như vậy tôi có thể đoán là đa số các bà đã
nhuộm tóc. Tuy nhiên, các vị này là các giảng sư Phật
giáo! Tại sao một vị giảng sư Phật giáo lại đi nhuộm tóc?
Lý ra là người Phật tử, các vị ấy phải biết chấp nhận bản
thân!” Lúc đó mái tóc bạc của tôi không nhuộm, chắc hẳn
ông ta nghĩ tôi là người biết chấp nhận bản thân.
Tôi cố thuyết phục ông rằng: không phải là các vị ấy
không chấp nhận bản thân mà chính là người khác không
chấp nhận họ. Đó là tính chất vô hình. Tóc bạc phủ bạn
trong sương mù và bạn muốn hét thật to, "Tôi vẫn còn ở
167
đây! Tôi vẫn còn có thân! Tôi vẫn còn có suy nghĩ trong
đầu!"
Thậm chí giờ tôi còn có cái nhìn khác về việc căng da
mặt. Việc làm này không phải là một hành động giả tạo
mà đúng hơn nó là một cố gắng - dầu có vô vọng bao
nhiêu - để được như thực, để xé bỏ tấm màn che mà xã hội
rọi chiếu lên mặt chúng ta. Tôi không thể trách cứ văn hóa
về tuổi tác, giới tính đối với các nếp nhăn trên mặt tôi,
nhưng không phải các nếp nhăn khiến tôi đau khổ, mà
chính là cái ý nghĩa gán ghép cho chúng. Ý nghĩa đó
thường là vô thức và ngấm ngầm.
Chúng ta thấy người khác già đi, nhưng không thể tin
rằng mình cũng sẽ tàn phai. Nếu chúng ta quyết tâm, nếu
chúng ta tập thể dục và không sử dụng thực phẩm bừa bãi,
thì chắc chắn chúng ta sẽ không già. Hoặc khoa học sẽ tìm
ra giải pháp cho chúng ta. Có câu hỏi như sau đã xuất hiện
trên trang bìa của tạp chí Harvard: "Lão hóa có cần thiết
không?" Nhưng cho đến nay, thời gian vẫn trôi qua, vẫn
để lại dấu vết của nó trên thân thể chúng ta.
Tôi vẫn chỉ mới bắt đầu. Tôi vẫn còn đứng ở hai làn
ranh - làn ranh giữa bắt đầu già và đã già. Làn ranh đó
luôn dời đổi. Có nhớ câu: "Đừng tin những ai ngoài ba
mươi" không? Tôi nhớ đến lúc mà tôi nghĩ rằng bốn mươi
là già, rồi năm mươi, rồi sáu mươi.
Nhưng rồi đến một lúc nào đó, “tuổi già” sẽ không còn
chỗ để lùi nữa, và rồi dù muốn hay không, tôi cũng sẽ an
vị bộ xương xốp của mình trong chiếc xe lăn.
168
Mẹ tôi cũng nói rằng bà cảm thấy như mình không còn
hiện hữu với tuổi già. Những năm của tuổi năm mươi khi
bà thiết lập trung tâm an dưỡng cho các nghệ sĩ, bà đang ở
thời hoàng kim của mình; ai cũng lắng nghe bà. Nhưng khi
bà bước vào tuổi bảy mươi, bà cho rằng hội đồng quản trị
và nhân viên không còn để ý tới lời bà nói, vì họ nghĩ rằng
bà là một bà lão ngớ ngẩn. Vì thế, đôi khi bà mất bình tĩnh
và la hét người khác trong các buổi họp, giống như bà đã
làm ở cửa phi cơ - bà nói đó là cách duy nhất để bắt người
ta phải lắng nghe bà. Tôi thường nghĩ là bà hơi thái quá,
nhưng giờ tôi bắt đầu hiểu những điều bà muốn nói.
Trong một cuộc họp lên kế hoạch liên quan đến công
việc của tôi, một vị nam nhân nêu lên một đề nghị mà tôi
đã đưa ra, nhưng lại cho đó là đóng góp của một đồng
nghiệp nam khoảng tuổi tôi: "Theo lập luận của Bill . . . ".
Tôi không nghĩ là ông ta cố ý phớt lờ tôi. Hẳn là ông đã
nghe những điều ấy từ miệng tôi nói ra, nhưng theo trí nhớ
của ông, ông đã nghe chúng qua cửa miệng của một nam
nhân. Đàn ông lớn tuổi dễ được nhìn nhận hơn so với phụ
nữ lớn tuổi. Đó là do tôi tưởng tượng ra hay thực sự là lời
nói của tôi có trọng lượng hơn khi tôi còn trẻ đẹp? Tôi
không biết. Tôi cũng cần giải thích thêm là trong trường
hợp này, đang trong cuộc họp mà tôi đi đan móc khăn
choàng, vậy thì một phần cũng lỗi tại tôi. Nếu bạn là phụ
nữ đã ngoài bốn mươi lăm, tốt hơn không nên làm bất kỳ
việc khâu vá nào trong các cuộc họp quan trọng.
Tôi được truyền cảm hứng từ tấm gương rất đáng
169
ngưỡng mộ của Raging Grannies (Những Lão Bà Cuồng
Nộ). Họ vẫn giữ hình ảnh rập khuôn của các phụ nữ lớn
tuổi, với thân hình nhỏ bé, và đi hoạt động với nó. Họ là
những người cổ động cho hòa bình, đi biểu tình với những
chiếc nón và tạp-dề có hoa văn lòe loẹt như trên sân khấu,
trông họ có vẻ hiền lành, vô tội vạ, nhưng thật ra không
phải vậy. Ví dụ, một số Lão Bà Cuồng Nộ (Raging
Grannies) bị bắt khi họ đòi ghi tên nhập ngũ trong đợt tuyển
quân của Mỹ ở trung tâm Tucson. Họ nói rằng họ muốn
được gửi đến Iraq để con cháu của họ có thể trở về nhà.
Năm ngoái tôi nhuộm mái tóc bạc xám của mình sang
màu đỏ sáng (Lúc đó không có bất cứ hội thảo Phật giáo
đang diễn ra). Bình thường tóc tôi không phải màu đỏ,
nhưng không phải là tôi đang cố ý lường gạt ai. Khi người
thợ làm tóc hỏi tôi muốn màu tóc của mình đem lại hiệu
quả gì, tôi nói là tôi muốn bộc phá. Tôi nói là tôi không
quan tâm dù màu nhuộm không tự nhiên, nhưng tôi muốn
nhìn. . .ừm. . .nói không quá lời . . . trẻ hơn. Tôi muốn có
một màu tóc mà nó sẽ làm cho người ta quan tâm đến
những điều tôi nói.
Người thợ làm tóc tính giá cao nhưng thật khéo tay.
Trong hai tuần lễ đầu, màu đỏ đó rất chói, nhưng tôi thực
sự giật mình khi khám phá ra rằng đúng là nó đã đem lại
sự khác biệt. Khi tiếp xúc với người không quen, họ đã
nhìn thẳng tôi. Từ đằng xa người ta thấy tôi trẻ hơn, mạnh
mẽ hơn, thậm chí có thể nhiệt tình hơn - một mái tóc hoe
đỏ! Ở các nơi buôn bán đông người, người ta đã nhận thấy
sự có mặt của tôi.
170
Sau vài tuần, màu nhuộm biến đổi thành màu cam hóa
học: đó là một cuộc chiến vất vả, khi người ta cố gắng xóa
đi dấu vết của tuổi tác trên một thân xác già nua. Mà việc
làm đó cũng rất tốn kém: nếu những người phụ nữ lớn tuổi
không quan tâm đến việc lão hóa, thì một mảng lớn của
nền kinh tế sẽ sụp đổ.
Khi tôi than thở với em gái về cảm giác trở thành vô
hình, vô tướng của người phụ nữ lớn tuổi, rằng họ giống
như một chiếc lá khô, tôi nghĩ là cô ấy cảm thấy khó chịu
với sự tự kỷ của tôi, dù cô ấy không nói thẳng ra. Cô chỉ
nhẹ nhàng nói, "Vậy phẩm cách có ý nghĩa gì? Sao chị
không tạo dựng phẩm cách của riêng mình?" Tôi đã đặt
chữ phẩm cách đó vào túi như một viên đá mịn, nắm chặt
lấy nó, tìm sự an ủi trong nó.
Không lâu sau, tôi gặp một bà cụ ở sân bay ở Puerto
Vallarta, Mexico. Bà cụ phải đến chín mươi. Cả hai chúng
tôi đều ngồi trong phòng đợi, chờ máy bay đi California.
Bà đeo nữ trang màu ngọc lam, mặc váy dài bằng vải
denim, khăn choàng kiểu Mễ màu hồng tươi, và gương
mặt nhăn nheo cúi trên trang sách, đầy ấn tượng. Mái tóc
bạc trắng của bà được búi trên đầu, và được gài chặt bằng
những que gỗ - mà tôi nghĩ là những chiếc đũa. Bà giống
như một nghệ sĩ, tôi nghĩ - một nghệ sĩ già. Dường như bà
đi du lịch một mình, nhưng trông bà không có vẻ sợ hãi
hay lo lắng; trông bà thật tự tại, ngồi đó đọc sách, với tấm
vé lên máy bay được nhét giữa các trang sách. Bà không ý
thức một điều, rằng bà là phúc trời ban - một sứ giả của
171
tuổi già. Bà là sự tương phản của vô tướng, vô hình, bà tỏa
sáng đối với tôi - mái tóc bạc trắng, khăn choàng màu hoa
cây vân. Bà như nhắc nhở tôi không được thương hại bản
thân. Khi được gọi lên máy bay, bà đứng dậy và bước đi,
chậm rãi, vững chắc với cây gậy cầm tay và mỉm cười,
bước lên máy bay. Bà đúng là có phẩm cách.
* * *
172
173
Cô Bé Tinh Nghịch
Trở Về
Cuối cùng tôi biết làm thế nào để được chấp nhận là
một người phụ nữ. Tôi tập chải mái tóc bạch kim dài mượt
của mình hằng ngày và đeo kính áp tròng khi muốn làm
đẹp. Thỉnh thoảng, tôi còn mặc áo đầm mà không cần phải
được mua chuộc. Tôi đã kết hôn, sinh con và nuôi nấng,
dạy dỗ chúng nên người. Nhưng trong tôi vẫn có cô gái
chín tuổi, luôn nhớ về tất cả các loại cây mà nó đã leo trèo,
và các cây có nhánh thẳng thuột để làm cung tên, ở một
nơi xa xôi, nơi mà nó đã lớn lên. Lạ lùng là càng cách biệt
cô gái qua năm tháng, tôi càng cảm thấy gần gũi cô hơn.
Ước chi tôi có thể đền bù cho cô ấy vì những sự bội bạc
mà cô ấy phải chịu đựng.
Các con của tôi đã rời xa tổ ấm từ lâu rồi. Tôi không
còn phải chuẩn bị bữa điểm tâm cho ai nữa. Sau khi mãn
kinh, ở tuổi năm mươi, khi các chức năng trong thân người
174
nữ không còn quấy rầy tôi nữa, tôi đã quay trở lại với cô
bé đầy nam tính ngày nào. Tôi tôn vinh tinh thần mạo
hiểm của cô, và sự từ chối bị giới hạn bởi các quy ước xã
hội đầy dũng cảm của cô.
Lúc học lớp ba ở trường, tôi là cô gái duy nhất trong
băng nhóm của Joel. Để được nhận vào băng nhóm đó,
bạn phải đấu vật với tất cả mọi thành viên trong nhóm.
Chúng tôi chạy vòng quanh, làm ra bộ dữ tợn, rồi chạy ù
vào giữa các cô gái yếu ớt đang chơi nhảy lò cò. Chúng tôi
tập vật lộn với nhau, và chơi ném dao vào các bụi cây
forsythia, để các thầy cô không thấy được mấy con dao
nhíp của chúng tôi.
Khoảng thời gian đó mẹ thường thưởng cho tôi hai
mươi lăm xu nếu tôi chịu mặc đầm, trong những lúc cần
ăn mặc như thế - thí dụ như khi có bà con thăm viếng. Còn
thường thì tôi mặc quần áo bằng vải thô, còn gọi là vải
jean – cộng với dây nịch cao bồi.
Với các bạn trai trong khu phố của tôi - như Robert,
Skipper, Evan và Sammy - thì chúng tôi đóng vai cảnh sát
và bọn cướp, hay các chàng cao bồi và mọi da đỏ: những
trò chơi bạo lực, đầy tính kỳ thị, mà nhiều năm sau, tôi coi
như mình đúng khi cấm các con chơi trò đó. Chúng tôi
trèo cây, chạy xe đạp thả tay. Tôi còn có súng đồ chơi treo
trên tường trong phòng ngủ của tôi. Chúng tôi trao đổi thẻ
bóng chày, thuộc lòng điểm trung bình của tất cả các cầu
thủ đánh banh bằng gậy của đội Braves Boston và chơi bắt
175
bóng hàng giờ. Tôi đọc sách trinh thám, ly kỳ Boys Hardy,
và Lou Gehrig, Boy of the Sand Lots. Tôi lập ra Hội Cướp
Biển, Hội Walky-Talky và Hội Sưu Tầm Chuyện Vui về
Cao Bồi.
Tôi mặc đồ tắm con trai mỗi dịp hè, cho đến khi tôi lên
tám hoặc chín tuổi. Tôi không thích mặc đồ tắm con gái,
với tất cả các thứ lăng nhít, giả tạo thường đâm vào bộ
ngực lép của tôi, cho đến khi một nhỏ bạn khác chế giễu:
Mầy tưởng mầy là con trai hả! Mầy tưởng mầy là con trai
chắc! Tôi tức đến nỗi tôi nhảy ra khỏi hồ bơi, rồi đem
quần áo của nó giấu vào trong tủ. Con nhỏ phải ra về trong
bộ đồ tắm ướt nhẹp, còn tôi giả vờ như không biết gì.
Nhưng tại sao tôi lại ở trong băng nhóm của Joel, thay
vì chơi nhảy lò cò? Có lẽ đó là cách tôi từ chối bị hàng
phục.
Tôi suy nghĩ về ngôn ngữ biểu hiện qua cơ thể của cha
mẹ tôi. Mẹ tôi dường như không thoải mái với cơ thể của
mình. Bà di chuyển như thể cố gắng để che giấu thân trong
cơ thể của chính mình. Tương tự, những người phụ nữ
khác cũng di chuyển như cái bóng, lẫn trong đám đông.
Nhưng cơ thể cha tôi như có tính đàn hồi, có sự sẵn sàng.
Ông thường đi bộ rất nhiều và đi xe đạp. Khi mẹ tôi muốn
đi một nơi nào đó, bà đi bằng xe hơi.
Ở đâu tôi cũng thấy, đàn ông nắm vai trò chỉ đạo, còn
phụ nữ chỉ là người phụ thuộc: thí dụ ngài tổng thống và
phu nhân, ông hiệu trưởng và cô thư ký, ông bác sĩ và cô y
tá, chú phi công và cô tiếp viên. Mặc dù lúc đó tôi không
176
diễn đạt được ra bằng lời, nhưng tôi có ý nghĩ là thân
người nữ không phải là một chốn quyền lực để nương trú.
Riêng tôi, tôi muốn chạy, nhảy, leo trèo qua hàng rào,
dù cho quần áo của tôi có bị rách đi nữa. Không phải là tôi
cố gắng làm như mình là phái mạnh, tôi chỉ muốn không
bị phân biệt giới tính, do đó không bị hạn chế. Chẳng hạn
tôi ghét cắt tóc, chỉ muốn để tóc như bụi rậm, giống như
một đứa trẻ hoang dã. Tôi không muốn phải trông xinh
đẹp, nhưng tôi thích cái dáng của mình khi đội cái nón nỉ
cao bồi sang trọng - một cái nón "thứ thiệt" giống như mấy
chú cao bồi "thứ thiệt" vẫn đội. Tôi nghĩ là tính cách mạnh
mẽ như con trai đó, không phải là cách để tôi chối bỏ giới
tính của mình, mà nó đã giúp tôi tập sống trong thân người
nữ của mình, và có thể tìm được niềm vui trong đó.
Cha mẹ tôi không bao giờ cấm đoán những chiếc quần
tắm nam hay sự mê thích về cao bồi của tôi. Khi tôi yêu
cầu, mẹ tôi luôn kiên nhẫn ngồi đố tôi về số liệu thống kê
bóng chày. Nhưng họ không thể chấp nhận tôi có quá
nhiều nam tính. Tôi tra cứu về từ ngữ tomboy (ND: từ ngữ
dùng chỉ những cô gái hành động như con trai, có nhiều
nam tính) trong sách Doctor Spock, vì cha mẹ tôi dựa vào
những sách đó để dạy dỗ chúng tôi, nhưng không có gì nói
về đề tài này. Tôi đoán hẳn là cha mẹ tôi cũng bối rối lắm.
Có lẽ họ sợ rằng cả đời tôi sẽ không bao giờ chịu chải tóc,
rồi suy diễn ra thêm rằng tôi sẽ không bao giờ trở thành
một người vợ và mẹ.
Tôi nghĩ như vậy vì mới năm lên lớp bốn, tôi đã được
177
gửi đến trường múa - để học khiêu vũ! - nhiều năm trước
khi các bạn tôi phải trải qua nghi thức huấn nhục này. Tôi
được dạy phải ngồi tréo chân cho đến khi một chàng trai,
chắc cũng khổ đau không kém, đến mời tôi nhảy. Tôi phải
học các "box step"10, một cái tên rất thích hợp để gọi sự di
chuyển vô hồn không can hệ gì đến khiêu vũ. (“Bướcbước-
phải-bước-bước-trái”.)
Có một thời gian, vào các buổi chiều chủ nhật, tôi
được gửi tới nhà một bà lão tỵ nạn, người Do Thái đến từ
Vienna để học may, một việc mà tôi chẳng thích thú gì.
Vì tôi bị chứng sợ bóng đêm và thường bị nên tôi được
đưa đến một bác sĩ tâm lý trẻ em khi tôi khoảng mười tuổi.
Ông bác sĩ hỏi tôi những câu hỏi có tính cách xâm phạm
như "Có bạn nào trong lớp em bắt đầu có kinh không?"
Theo tin đồn thì có cô gái kia đã dính “lời nguyền rủa”,
nhưng tôi thấy chuyện đó không liên can gì đến ông bác sĩ,
nên lí nhí trả lời, “Tôi không biết”. Dịp lễ Giáng sinh, ông
bác sĩ tặng tôi ít thứ để pha chế nước hoa nhưng tôi đã đổ
nó xuống bồn cầu vì ghê tởm.
Nhưng ngay trong gia đình tôi cũng có những thông
điệp mâu thuẫn nhau. Một mặt, ngoại tôi nói là tôi phải
chải tóc một trăm lần mỗi ngày để tóc được bóng. Bà nói
với một chút mai mỉa trong giọng nói, “On doit souffrir
pour être belle”. Muốn đẹp thì phải chịu khổ. Mặt khác,
trong một cuốn album gia đình có một tấm hình tôi và hai
10 Bước nhảy hình thoi.
178
em gái diễn hành quanh bãi cỏ ở nhà ông bà, giả bộ làm
lính, xấp hàng, với mấy khúc cây trên vai làm súng, đội
mũ ba lô làm bằng giấy báo. Ông tôi, xuất thân từ một gia
đình quân binh, làm trung sĩ huấn luyện chúng tôi. Rõ ràng
là chúng tôi vui vẻ lắm, phồng ngực lên trong ảnh.
Tôi luôn ý thức mình không phải là con trai. Một ngày,
tôi đi đến một lô đất bỏ trống gần nhà mà đám trẻ chúng
tôi gọi là "khu rừng". Tôi mang theo mình cây cung làm
bằng tay quý báu của tôi để tìm kiếm thứ gì làm mũi tên.
Tôi vừa băng qua một bụi rậm thì kìa là gã côn đồ trong
khu phố, đang ngồi trên một gốc cây. Tên này giống như
Butch, tên du đảng gộc của băng West Side, trong truyện
tranh hài Little Lulu mà tôi thường nghiền ngẫm. "Đưa tao
cây cung kia hay mầy muốn tụt quần ra”, hắn ra lệnh. Là
con gái, được huấn luyện phải vâng lời, tôi biết mình
không có sự lựa chọn nào khác. Tôi đưa cho nó cây cung.
Không lâu sau đó, trẻ em khu phố tụ tập tại sân nhà
của Sammy, bạn tôi, để dự một cuộc thi đấu đô vật. Đến
lượt, tôi phải đấu với tên du đảng đáng sợ đó. Tôi vật hắn
xuống đất, đè cổ hắn để người ta đếm cho tới mười. Tôi đã
thắng! Một cách công bằng. Nhưng khi tôi buông hắn ra
và đứng lên thì tôi thấy hắn như muốn giết tôi vì đã hạ gục
hắn trước đám đông. Sợ hãi, tôi quay lưng chạy, và hắn
rượt theo tôi. Tôi nghĩ chính nỗi sợ hãi đã khiến chân tôi
dường như có cánh. Tôi chui tọt vào nhà, khóa cửa lại và
đổ vật xuống trong sợ hãi. Việc tôi vừa vật ngã hắn xuống
đất không mang giá trị gì cả. Ngay sau khi cuộc thi kết
thúc, tôi trở lại là một cô gái sợ sệt gã côn đồ.
179
Một lần khác, Skipper, Evan và tôi cưỡi xe đạp vòng
quanh khu phố và chúng tôi phát hiện ra một kho chứa
hàng hóa cũ, ở phía sau một ngôi nhà lớn thiết kế theo thời
Victoria. Tự leo lên căn gác không khóa, chúng tôi lục
tung các thùng đồ một cách không ngại ngần và tìm được
một viên đá quý màu tím khổng lồ, nên chúng tôi đã lấy
cắp, đem về chôn ở sân sau nhà Skipper. Chúng tôi đã vẽ
một bản đồ kho tàng để đánh dấu điểm chôn giấu - mười
bước từ cây thích và mười lăm bước từ góc nhà xe của
Skipper - và chúng tôi long trọng thề thốt là sẽ chôn nó ở
đó mãi mãi, hay ít nhất là cho đến khi chúng tôi trưởng
thành. Sau này, nếu ai trong chúng tôi có khó khăn thì
chúng tôi sẽ đào nó lên, bán đi để lấy tiền giúp người đó.
Nhưng đêm hôm đó, tôi không thể ngủ được vì mặc
cảm phạm tội. Cuối cùng không thể chịu đựng thêm, tôi
thú thật với mẹ về viên đá đánh cắp. Ngày hôm sau mẹ
bắt chúng tôi đào nó lên, mang trả lại và xin lỗi chủ của
nó. May mắn thay, người đàn bà sống trong ngôi nhà đó
không giận mấy. Bà nói viên đá đó là tay nắm của cửa
kính. Bà khuyên chúng tôi không nên đến chơi gần khu
nhà kho, rồi cho chúng tôi ít bánh. Dầu được ăn bánh,
Skipper và Evan vẫn không hài lòng vì tôi. Tại sao tôi tiết
lộ? Vì chỉ có tôi là con gái? Đó có phải là lý do tại sao phụ
nữ không được phép gia nhập vào hội, nhóm của các ông?
Rồi khi đến lớp năm, mọi thứ đã bắt đầu thay đổi trong
cách đáng lo ngại. Bắt đầu từ năm đó, con gái phải mặc
váy hoặc đầm khi đi học. Tuy nhiên cũng không có nội
180
quy cấm mặc dungarees (quần áo vải thô) nên tôi mặc cả
hai thứ: áo đầm phía trên, quần jean phía dưới. Sau đó, tôi
phải mặc đầm đến trường. (Bây giờ nói thì khó tin, nhưng
khi tôi học đại học vào những năm sáu mươi, chúng tôi
không được phép mặc quần tây vào lớp trừ khi trời có
tuyết).
Đến năm lớp sáu, mọi thứ tiếp tục thay đổi. Tôi có bạn
cùng phái, và tôi ngạc nhiên khi khám phá ra, một số bạn,
cũng có những điểm giống như tôi. Giờ ra chơi, đôi khi tôi
chơi bài thay vì ném banh.
Qua lớp bảy, các bạn cũ trong băng nhóm của Joel
không muốn chơi với tôi nữa. Họ bắt đầu hẹn hò với chính
các cô gái nhảy lò cò mà chúng tôi phá phách mấy năm
trước - mấy đứa con gái hay thầm thì, cười khúc khích
trong nhà vệ sinh, mấy đứa con gái, làm tôi lợm giọng với
những chiếc váy bó sát người. Hãy thử trèo cây với váy bó
xem!
Rồi cũng đến tuổi dậy thì, giống như một bức màn vừa
được rủ xuống. Tôi bắt đầu có ngực: phần vật thể mềm
mại chưa từng có trước kia, thân mọc trên thân. Chúng đến
như những người xa lạ mà tôi phải đón nhận như một phần
thân thể của mình, dù mười hai năm nay tôi đã sống không
cần có chúng. Ngực trái của tôi phát triển trước, tôi nhớ là
điều này đã khiến tôi phải khám trước gương, vì lo là ngực
phải sẽ không bao giờ bắt kịp.
Rồi, năm tôi mười ba, một buổi sáng, tôi thức dậy thấy
máu khô trên đáy quần ngủ của mình. Lúc đầu tôi không
181
biết đó là gì, vì tôi đã tưởng tượng rằng "lời nguyền" sẽ
đến với dòng máu chảy ngập tràn dưới bàn học, trên sàn
lớp. Mẹ đưa cho tôi băng vệ sinh, chỉ dẫn tôi cách sử
dụng. Có lẽ những người còn có kinh nguyệt, không ai
nhớ mấy sợi dây đeo bằng plastic với hai cái móc ở phía
trước và phía sau. Mẹ rất vui và hết lòng hỗ trợ tôi; nhưng
tôi vẫn cảm thấy xấu hổ - tôi đã bị ‘bộ tộc’ của mình tìm
thấy, đóng dấu ấn không thể đổi dời là một công dân hạng
thứ. Cuối cùng, tôi cũng thuộc về họ. Những ngày leo trèo,
chạy nhảy của tôi đã chấm dứt.
Chắc chắn là tôi không thể đẩy lùi vấn đề sinh học,
nhưng tôi chẳng nghĩ ra cho mãi đến sau này là tôi có thể
đẩy lùi những định kiến xã hội đi kèm theo đó. Vì thế tôi
bắt đầu cư xử cho phù hợp. Tôi cố gắng để làm vừa lòng
các thầy cô giáo, để nhìn đẹp hơn, để hành động lịch sự.
Tôi để tóc dài, chải tóc đàng hoàng. Ở các lớp khiêu vũ tôi
chờ đợi trong nỗi sợ hãi âm thầm rằng mình sẽ không
được mời nhảy. Nhưng nếu được mời, tôi khiêu vũ trong
sự dằn vặt do nhút nhát, không thể nghĩ ra điều gì để nói.
Ở trường, định mệnh trớ trêu, tôi lại được Joel, trong băng
nhóm Joel, mời đến dự một buổi khiêu vũ long trọng của
trường trung học. Chúng tôi hầu như không liên lạc với
nhau từ năm lớp ba. Chúng tôi nhảy điệu foxtrot với nhau
mà khổ sở, không nói nên lời, vì không còn có thể tập đô
vật với nhau.
Suốt những năm đại học, và trong độ tuổi hai mươi, tôi
coi thường việc tham gia thể dục, thể thao, coi đó dường
như chỉ dành cho bọn ngốc, nhất là nếu những người tham
182
gia là phái nữ. Hăng say trong các hoạt động thể thao đối
với tôi có nghĩa là đối nghịch với thông minh, thời thượng
và gợi cảm. Lòng tôn vinh thể lực đã biến mất. Tôi mặc
quần áo lót bó sát. Tôi sợ đổ mồ hôi, sợ gió làm rối tóc tôi.
Giờ tôi thấy điều này như một hành động bội phản lại với
giới tính của mình - sự cam chịu lặng lẽ này, sự ghét bỏ
cái thân được gọi là "phái nữ" này.
Giờ tôi thường xuyên đến phòng tập thể dục và tôi tập
tạ. Tôi muốn có bắp thịt - những bắp thịt cuồn cuộn. Tôi
thích hình dạng chúng. Tôi muốn cảm thấy mạnh mẽ. Tôi
thích nằm cử tạ để đẩy thanh sắt nặng nề, cồng kềnh đó lên
khỏi ngực. Nếu phải vật lộn với một kẻ lưu manh, có thể tôi
không đủ sức đẩy hắn ra, nhưng chắc chắn là tôi phải thử.
Ngày càng lớn tuổi, tôi dường như quay về lại cái thuở
trước tuổi dậy thì. Có thể tôi không còn mặc đồ tắm nam
nữa, nhưng tôi giục mình tảng lờ đi những gì được coi là
phù hợp đối với phụ nữ. Cơ thể tôi không còn đủ mềm mại
để trèo cây, nhưng lúc này đúng là lúc phải tập luyện tâm
dẻo dai, tâm không ủy mị như đàn bà.
Tôi đã dành phần lớn cuộc đời cố gắng gìn giữ vẻ đẹp,
và ít nhiều gì cũng thành công. Thói quen thật khó bỏ. Nếu
được chọn lựa thì tôi thích đẹp hơn là xấu, nhưng ở thời
điểm này, những vấn đề về vẻ đẹp bề ngoài chẳng còn
quan trọng nữa - cũng giống như lúc tôi mới chín tuổi - và
quan niệm như thế phần nào cũng là cách giải thoát.
Bao năm nay, một trong những nét nổi bật của tôi là
mái tóc bạch kim dầy cộm. Rồi cũng đến thời gian khi tôi
183
muốn, như thi sĩ Yeats đã viết, được "yêu thương vì chính
mình chớ không phải vì mái tóc vàng của mình". Tôi đã
cắt tóc thật ngắn và giờ tôi không có bàn chải hay lược
nữa. Hành động cắt bỏ này vừa là sự giải phóng vừa là
điều đáng sợ.
Vấn đề không chỉ là dáng vẻ tôi như thế nào. Vấn đề
quan trọng hơn là cung cách hành xử. Khi còn tinh nghịch
như con trai, tôi đã tổ chức đấu gậy. Giờ các hoạch định
sáng tạo của tôi ít có tính cách mạnh mẽ như lúc tôi chín
tuổi, nhưng tôi cố gắng để tìm lại tinh thần dũng cảm đó,
lòng kiên quyết đi theo tiếng nói của trái tim. Lúc chín
tuổi, tôi không lãng phí thời gian để tỏ ra lịch sự. Tôi
không giặt đồ người khác, hoặc đọc bản thảo của người tôi
chưa bao giờ gặp, miễn phí như là một ân huệ. Cái ngã lúc
chín tuổi của tôi nghĩ rằng chắc là vui lắm khi học đánh
trống hay là đi ẩn tu trong tu viện dòng Benedict ở miền
bắc California, nơi tôi có thể ở trong một ngôi nhà được
làm bằng thùng rượu vang và đọc về các vị thánh.
Tôi rất hàm ân thời tinh nghịch đó, vì như bà tôi
thường nói "tuổi già không dành cho những kẻ yếu đuối".
Nếu tôi không leo tất cả các cây bị cấm leo, có lẽ tôi sẽ dễ
dàng trợt ngã trong sự cô đơn và sợ hãi lúc tuổi già.
Lão bà đang gõ cửa trước nhà tôi không phải ai xa lạ -
bà chính là cô gái mặc quần áo vải thô, mái tóc rối bù, đến
dẫn đưa tôi trở về với cái ngã dũng cảm nhất của tôi. Bà nói
rằng tôi không bao giờ phải chải tóc nữa, trừ khi tôi muốn.
* * *
184
185
186
187
Uống Trà Với Thượng Đế
Khi còn là một đứa trẻ, tôi thường lo lắng về việc có
nên tin hay không tin vào Thượng Đế. Trong gia đình tôi,
Ngài ít khi được nhắc đến, ngoại trừ trong những câu ta
thán của mẹ tôi, vì thế tôi không biết thượng đế có thật hay
không, nhưng nếu như có mà tôi không tin vào Ngài, tôi
sợ rằng mình sẽ làm Ngài phật lòng.
Tôi quyết định thử liên lạc với ngài, bằng cách dành
riêng cho ngài một chỗ để ngài biết rằng ngài sẽ được
hoan nghinh. Chỗ ấy là dưới bụi hoa nghinh xuân trong
vườn sau nhà chúng tôi, trong cái hang được hình thành
bởi những cành hoa rủ xuống. Trong căn ‘nhà nguyện’ âm
u ấy, tôi quét sạch các lá cây trên mặt đất, và dù khi ấy tôi
chẳng biết bàn thờ là cái gì, tôi đã dựng nên một cái bàn
khá đẹp từ những cành lá và bùn, cao khoảng sáu in-sơ
(15cm). Tôi trải lên đó một tấm khăn bàn làm bằng những
nụ hoa từ la lan, màu xanh lam và tím, nằm chồng lên
188
nhau như mái ngói. Tôi ngồi đó trong không gian gầnnhư-
tối-đen, hài lòng với cái nơi thánh thiện mà tôi đã làm
bằng bùn. Tôi muốn trò chuyện với thượng đế, nhưng
không biết nói gì, nên tôi chỉ ngồi đó.
Ngày hôm sau tôi lại bò vào trong đó và nhận thấy
rằng nơi tôi đã sửa soạn cho thượng đế bây giờ trở nên
sống động với những con kiến to, đen. Chúng di chuyển
như những chiếc xe nhỏ xíu trong cảnh kẹt xe khắp mặt
bàn thờ, kéo theo những mảnh lớn cánh hoa từ la lan để
dành làm thức ăn. Chúng nó đã phá hại bàn thờ - thành ra
dơ bẩn, chẳng có chút gì là thánh thiện nữa. Tôi không
nghĩ thượng đế sẽ đến một nơi như thế này dầu ngài có
hiện hữu.
Ở tuổi thiếu niên, tôi thường dự các buổi họp của
người Quaker. Tôi đã có thể thử trò chuyện với thượng đế
ở đó, nhưng khi ấy tôi chỉ lo lắng về bài tập tiếng Pháp mà
tôi phải làm. Sao tôi lại như vậy?
Tôi khám phá ra rằng nếu như tôi nhắm mắt lại, trợn
mắt lên trong đầu tôi, và nhắm chúng vào vị trí trên trán
nơi mà người Ấn giáo vẽ một chấm đỏ, tôi cảm nhận có
cái gì đó mới mẻ và lạ lùng - một sự choáng váng, lâng
lâng, gần như là một cơn nhức đầu. Có thể là thượng đế
chăng? Nếu là vậy, ngài chẳng nói gì với tôi, và tôi cũng
thế với ngài. Sau một lúc tôi từ bỏ phương thức này.
Khi Sandy, con trai tôi được bốn tuổi, nó nói, “Con
vừa tìm ra cách mà mình có thể thấy thượng đế”. Nó đang
nằm trên ghế băng sau xe (lúc đó chưa có ghế làm cho trẻ
189
em ngồi trong xe), khi chúng tôi trên đường từ nhà trẻ về
nhà. “Mẹ nhắm mắt lại, chặt thật chặt, mẹ sẽ thấy một
luồng ánh sáng màu lam, đó là thượng đế”.
Chính tôi đã thử làm thế - dĩ nhiên là sau đó, khi tôi
không đang lái xe - nhưng tôi chẳng thành công.
Khi tôi bắt đầu hành Thiền, việc tôi hay Ngài, có thể
trò chuyện với nhau không, chẳng còn quan trọng nữa -
các thiền giả không quan tâm đến chuyện đó. Thật thoải
mái khi không phải lo nghĩ về thượng đế lúc đó, nhưng giờ
thì tôi lại lo rằng mình không biết hành thiền như thế nào.
Nhìn bên ngoài thì dường như là tôi đang hành thiền,
nhưng tôi chỉ ngồi đó, hít thở và vọng tưởng lan man.
Chẳng có gì xảy ra cả. Đó là việc tới giờ tôi vẫn làm - chỉ
ngồi, và cũng chẳng có gì xảy ra. Tới giờ tôi đã quen rồi.
Tôi đã biết rằng đó là cách hành Thiền: “chỉ là ngồi.” Tuy
vậy, đôi lúc tôi cũng cảm giác cô đơn.
Chẳng bạn tình; tôi ngủ một mình. Khi thức dậy, tôi
luôn uống một tách trà xanh, và ngắm nhìn ngày mới bắt
đầu. Tôi thường mất bốn phút để pha trà trong một cái nồi
sắt đỏ có hình những con chuồn chuồn trên đó, rồi tôi đổ
trà vào một cái tách trắng có viền xanh.
Vào những ngày chủ nhật, tôi chẳng cần để chuông
báo thức. Một ngày chủ nhật cách đây không lâu, tôi mở
mắt dậy vào một buổi sáng mù sương. Chiếc giường vẫn
ấm, và tôi chẳng có nơi nào để đi. Tôi sung sướng nghĩ
đến việc được thưởng thức tách trà ngon. Nhưng cái khổ là
tôi chẳng muốn ngồi dậy khỏi giường.
190
Tôi chẳng nghĩ là mình sẽ nói gì, nhưng bỗng nhiên,
tôi bất ngờ nghe mình nói lớn tiếng, “Thượng đế, con có
một yêu cầu. Ngài có thể mang cho con một tách trà xanh
hay không?” Dường như đó là một yêu cầu quá nhỏ, nhất
là khi bạn biết rằng từ trước tới giờ, tôi chưa bao giờ yêu
cầu thượng đế về bất cứ điều gì.
Rồi thượng đế đã trả lời tôi, lớn tiếng, và điều đó cũng
làm tôi ngạc nhiên. Tiếng nói của ngài thoát ra từ cửa
miệng tôi.
“Rất tiếc, Sue à,” ngài nói. “Ta sẽ làm nếu có thể,
nhưng ta chẳng có tay chân để làm công việc ấy. Tuy
nhiên ta hoàn toàn ủng hộ việc con tự pha trà cho mình. Ta
hoàn toàn ủng hộ con!” Tôi thấy rằng ngài thực sự chẳng
làm việc ấy. “Nhưng thưa Ngài,” tôi nói, “con chẳng có ai
để mang trà vào tận giường cho con”.
Thượng đế trả lời, “Đó không phải là lỗi của ta. Con
chẳng có ai bên cạnh là kết quả của sự chọn lựa của con.
Dù vậy, ta đang có mặt ngay đây. Ta rất sẵn lòng cùng con
xuống bếp”.
Tôi biết rằng Ngài nói thực lòng, nên tôi vô cùng xúc
động. Tôi hăng hái tung mền ra, thả đôi chân trần xuống
ngay sàn nhà lạnh.
Tôi nghe thượng đế nói, lần này thì thầm trong hơi thở,
“ Con đi đi, Sue!”
Trong khi chờ trà thấm, tôi có bốn phút để hồi tưởng
lại khoảng thời gian khi tôi đã được có một người đàn ông
191
bên cạnh, nhưng dù lục cạn ký ức, tôi cũng chẳng nhớ có
ai đã từng mang trà vào giường cho tôi những sáng chủ
nhật. Có lẽ do tôi chưa bao giờ đòi hỏi điều đó.
Tôi ngồi trước hiên nhà với chiếc tách viền xanh trong
tay. Chén trà đã giải cơn khát trong tôi, nên tôi chỉ ngồi
đó, nhìn chú sóc đang ăn những mầm non của giàn lạc tiên
trên nóc nhà bên cạnh.
* * *
192
193
Tôi Chẳng Là Tôi Nữa
Tôi muốn chia sẻ với quý vị về sự đổ vỡ, sự muốn
được chết đi, để cuối cùng quay về với bản ngã, và về việc
tu tập theo Phật giáo đã vừa giúp tôi, vừa cản trở tôi trong
cuộc hành trình khúc khuỷu này.
Dầu bị trầm cảm nặng, tôi đã không nhận mình có
bệnh này trong suốt thời gian lúc bệnh, lúc khỏi. Tôi đã
nghĩ bệnh trầm cảm chỉ dành để gọi những người đã hết
sinh lực, suốt ngày chỉ nằm trong giường. Nhưng nỗi đau
của tôi sắc nhọn như dao. Bức rứt cùng cực, tôi vật vã tìm
một lối thoát. Nguyên nhân gần có thể là do sự chấm dứt
đầy khó khăn, mệt mỏi của một mối quan hệ. Nguyên
nhân sâu xa hơn, khó thấy được là những nỗi đau buồn, sợ
hãi trong quá khứ, và những lý do khác mà tôi không biết
được. Ở tuổi năm mươi mấy, tôi lại rơi vào hoàn cảnh bế
194
tắc, không phải của người trưởng thành, mà vào sự vô
vọng của một đứa trẻ hai tuổi.
Trầm cảm là một chứng bệnh cấm kỵ. Do đó, khi cảm
thấy rất mệt mỏi, trầm uất, tôi vẫn đi làm, dầu hầu như
không làm được gì cả. Trái lại, nếu như bị cảm cúm, đau
đớn chỉ một phần nhỏ so với cái đau tôi đang chịu đựng,
thì tôi đã cáo bệnh nghỉ ở nhà. Nhưng tôi không thể cáo
bệnh khi “bị trầm cảm”. Có lần tôi đã vứt nguyên cả một
tờ tạp chí tôi đang biên tập vào sọt rác điện tử, nhưng nghĩ
rằng tôi đang lưu trữ nó. Sau đó tôi lại dọn sạch sọt rác đó.
Hậu quả là tôi phải mướn một chuyên viên để tìm kiếm lại
tạp chí đó trong sọt rác ảo (virtual garbage). Cuối cùng tôi
tìm lại được hầu hết các bài vở. Nhưng chính bản thân mới
là cái tôi muốn vứt vào sọt rác.
Cái đau nơi thân đã khó diễn tả, thì nỗi đau của tâm lại
càng khó giải bày hơn. Tôi phải chịu đau đớn tận cùng
trong từng phút giây, và điều tôi mong mỏi nhất là có thể
thoát khỏi nó. Nỗi đau là trong tâm tưởng, mà tôi đã không
và không thể nhận biết điều đó chỉ là trong tâm tưởng tôi.
(Như đức Phật đã nói, “Đối với những ai, suy tưởng biết là
suy tưởng, thì người đó được tự do…”) Tiếng nói trong
đầu tôi lặp lại cái mà tôi cho là Chân Lý: rằng tôi hoàn
toàn đơn độc, rằng tôi sẽ không bao giờ yêu ai hoặc được
ai yêu, rằng “tôi” chẳng là gì cả.
Mỗi ngày tôi bỏ bao nhiêu thời gian để nói chuyện
điện thoại. Một lần, trên chặng đường bốn mươi lăm phút
lái xe từ nhà bạn trai về lại Berkeley, tôi đã phải dừng xe
195
bên đường để gọi cho một người bạn từ điện thoại công
cộng, có vậy tôi mới có thể lái tiếp đoạn đường còn lại, dù
chỉ còn mười lăm phút nữa là đến nhà. Rất may là bạn tôi
có ở nhà. “Tôi mới qua cầu Richmond”, tôi sụt sùi. “Tôi
nghĩ là mình không hiện hữu. Thân tôi ở đây, nhưng
không có ai trong đó hết”.
“Chị hiện hữu chứ,” cô bạn nói. “Làm thế nào tôi có
thể thương yêu chị nếu như chị không hiện hữu? Đến ngay
đi, chúng ta có thể đi dạo trên bến tàu Berkeley”.
Tôi đã phần nào hiểu được thế nào là có một chứng
bịnh vô hình, giống như “lupus” (ban lặn), hoặc triệu
chứng mệt mỏi thường xuyên. Ước gì tôi có thể đeo một
tấm bảng ở cổ rằng -“Bề ngoài tôi bình thường, nhưng tôi
đang bệnh đó!”- như thế mọi người không đòi hỏi tôi phải
năng động. Tôi không ăn được - một triệu chứng phổ biến
của bệnh trầm cảm. Vấn đề không chỉ là tôi không thèm
ăn, mà ngay cả việc phải nhai cũng là điều không thể chịu
đựng. Một mẫu bánh mì cũng đáng sợ vì nó có thể cản trở
việc thở, mà chỉ việc thở không đã khó làm rồi. Chất lỏng
thì còn dễ một chút. Giờ hình như tôi đã thoái hóa trở về
giai đoạn khi tôi chưa mọc răng, khi tôi chỉ có thể ăn bằng
cách bú mút. Vì thế giờ tôi uống sữa nóng với mật ong và
trà hiệu Earl Grey. Tôi đã xuống ký rất nhiều, là điều tôi
vẫn thường cố gắng làm khi tôi ‘bình thường’, nhưng giờ
thì tôi quá nản lòng để vui mừng vì việc đó.
Giống như những người trầm cảm khác, tôi rất khó ngủ.
Tôi bấu chặt vào gối, cầu cứu với những tấm màn treo cửa.
196
Tôi uống thuốc ngủ - có khi chúng công hiệu, có khi không.
Tôi không biết mình sinh hoạt như thế nào qua những đêm
mất ngủ (hoặc cả ban ngày không ngủ) vì tôi không thể
chống cự với nỗi sợ phải chú tâm vào bất cứ thứ gì.
Mỗi sáng thức dậy là điều kinh khủng nhất. Vì ngay
giây phút mà ý thức quay về, thì nỗi đau cũng hiện diện.
Trời ạ! Tôi phải sống thêm một ngày nữa.
Tôi không thích đi tắm vì không muốn trực diện với
thân xác của mình. Cảm nhận chính da thịt của mình và
tưởng tượng rằng chẳng có ai còn xúc chạm đến nó nữa
thật là điều khó chấp nhận. Tốt hơn là tôi nên tự quấn
mình trong nhiều lớp áo, bất kể là thời tiết thế nào, để da
thịt tôi không cảm nhận sự cô đơn. Tôi nhớ đến một cô gái
xanh xao sống cạnh nhà tôi vài năm trước. Cô ta bắt đầu
mặc rất nhiều lớp quần áo - váy mặc ngoài quần, áo đầm
chồng lên váy, sơ-mi dài chồng lên áo đầm, rồi thêm áo
len, áo khoác dài, áo choàng, nón-vào giữa thời tiết mùa
hè của Berkeley. Cuối cùng ba cô ta đến và mang cô ta vào
bệnh viện tâm thần.
Một trong những điều tệ nhất của bệnh trầm cảm là
người bệnh trở nên hoàn toàn đắm mình trong tự ngã. Tôi
chỉ nghe người khác khi họ nói với tôi về tôi: giới thiệu
cho tôi các bài thuốc, giải thích những giấc mơ của tôi, nói
rằng họ yêu thương tôi.
Trong thời gian tôi bị trầm uất, một trong hai đứa con
trai lớn của tôi bị tai nạn xe đạp nghiêm trọng, và sự lo
lắng cho sức khỏe của con đã vực tôi dậy khỏi sự đắm
197
chìm trong tự ngã được năm ngày, thời gian mà con tôi
nằm viện.
Cả đêm tôi ngồi trên ghế cạnh giường bệnh của con,
canh chừng không mệt mỏi cho con ngủ. Tôi đắp khăn ướt
trên trán con. Tôi cầu nguyện với bất cứ ai đang lắng nghe,
hứa điều mà tôi không thể thực hiện được: không để bị
trầm uất nếu con tôi được bình phục.
Con tôi, với một chân bó kín bột, xuất viện về nhà tôi,
vì nó cần được chăm sóc trong một thời gian. Đó là vào
mùa hè - nó ngồi ở hiên sau của ngôi nhà nơi nó đã lớn
lên, dưới ánh nắng, và tôi cọ lưng cho nó.
Một ngày kia khi tôi bước vào phòng khách nơi nó
đang nằm đọc sách trên ghế trường kỷ. Nó buột miệng,
“Trời ơi, có chuyện gì vậy? Mẹ nhìn giống như ma vậy!”
Miệng khô đắng với tâm trạng hoảng loạn, tôi thú nhận
rằng tôi cần đi gặp bạn trai của mình; chúng tôi phải quyết
định ngay lúc ấy có nên chia tay hay không. “Con nghĩ mẹ
có nên tiếp tục với ông ta hay không?” Tôi hỏi.
Con trai tôi nhìn tôi với vẻ mặt tôi sẽ không bao giờ
quên - cái nhìn trộn lẫn tuyệt vọng và thương yêu. “Con
không biết làm thế nào để giúp mẹ nữa,” nó trả lời. “Con
nghĩ mẹ không nên lái xe trong tâm trạng như bây giờ.
Mẹ không thể ở nhà và chỉ là mẹ của con thôi sao?”
Nhưng tôi không thể. Tôi lái xe đi gặp người đàn ông
đó, thôi thúc bởi một cảm giác khẩn trương phi lý, trong
khi nét mặt bi thương của con trai vẫn đốt cháy tâm trí tôi.
198
Tôi từng là một hành giả tu tập thiền Phật giáo trong
nhiều năm, và tôi đã nghĩ là công phu tu thiền sẽ giúp tôi
được ổn định. Có gì dễ chịu hơn là bốn mươi phút trong
thiền đường tĩnh lặng, quen thuộc, với mùi hương của
những tấm đệm rơm? Nhưng công phu đó chẳng giúp tôi
được gì. Đó là điều tôi muốn nói: đôi khi việc hành thiền
còn làm cho mọi việc tệ hơn. Mấy con ma vương trong
tâm tôi đã lợi dụng sự im lặng. Chúng không phải là ma
quỷ thực sự, nhưng chúng không quan tâm đến việc mình
là thật hay giả; chúng vẫn dày vò tôi.
Quý thầy Phật giáo khuyến khích tôi tiếp tục hành
thiền. “Chỉ quán sát các vọng tưởng khởi lên”, họ nói, “rồi
quán sát chúng biến mất”.
Khi tôi ngồi xuống gối thiền, đúng là các vọng tưởng
có khởi lên, nhưng nếu chúng biến mất, thì chỉ để nhường
chỗ cho những ý nghĩ đau đớn hơn xuất hiện. Tôi sẽ chết
trong cô đơn. Và, như để sát thêm muối vào vết thương:
Tôi là thiền sinh tệ nhất từ đó đến giờ.
Khi tôi tâm sự với một trong các vị thầy rằng tôi thất
vọng vì việc tọa thiền không làm cho tôi cảm thấy thoải
mái hơn, bà thầy nói, “Ta không tọa thiền để được điều gì
đó. Ta tọa thiền chỉ để tọa thiền. Nếu ta muốn tọa thiền để
có cảm giác thoải mái hơn, điều này không thể xảy ra”.
Nhưng chẳng phải đức Phật sáng tạo ra Phật giáo trước
tiên là để diệt trừ khổ đau? Chẳng lẽ tất cả mọi người
trong thiền đường thực sự ra khỏi giường lúc năm giờ sáng
mà không vì lý do đặc biệt nào sao?
199
Dầu vậy, tôi vẫn tiếp tục hành thiền, với hy vọng rằng
nếu tôi đủ tinh tấn, tôi sẽ có được sự “đột phá” nào đó.
Trong quá khứ, nhiều lúc ngồi trong thiền đường, tôi cũng
đã trải nghiệm được việc quan sát thấy các vọng tưởng của
tôi biến thành bột khô và bay đi. Vì thế tôi đã ghi tên dự
khóa thiền dài ngày rohatsu sesshin, là một khóa tu thiền
kéo dài một tuần vào đầu tháng Mười Hai để kỷ niệm ngày
đức Phật thành đạo. Ngài đã ngồi dưới cội cây bồ đề và
thệ nguyện sẽ không đứng lên cho đến khi Ngài khám phá
ra chân lý. Đức Phật đã trải qua bảy ngày đêm. Tôi đã
tham dự nhiều khóa thiền trước đó, nhưng lần này biết đâu
đó sẽ là bảy ngày đêm của tôi.
Ngày đầu tiên thật khổ. Tôi đã khóc trong âm thầm, vì
sợ làm phiền đến người khác. Ngày thứ hai còn tệ hơn
nữa. Nước mắt, nước mũi tuôn trào trên mặt chảy xuống
ngực. Tôi chán ghét bản thân. Không còn ai khác sẽ yêu
thương tôi nữa!
“Hãy chú tâm trở về hơi thở”, quý thầy cô đã khuyên
dạy tôi. Điều này cũng giống như nói với người đang trên
đường đua, mà đôi cánh tay đã bị tháo rời khỏi khớp vai,
đếm hơi thở.
Nhưng tôi đâu có đang ở trên đường đua. Tôi đang ở
trong thiền đường quen thuộc. Quanh tôi là các đạo hữu,
tay đang bắt ấn rất oai nghi. Còn tôi, để bắt ấn, tôi bấu các
móng tay của bàn tay trái vào lòng bàn tay phải, cảm thấy
nhẹ nhõm với cái đau thể xác, chứng cứ tạm bợ của sự
hiện hữu của tôi.
200
Vào ngày thứ ba, trong giờ nghỉ, tôi lẻn ra điện thoại
công cộng ở cuối đường để gọi cho em gái tôi ở
Philadelphia. Trong tiếng nấc nghẹn ngào, tôi nói với em
là tôi không biết mình là ai nữa. Cuối cùng dầu những lời
khẳng định của em không thực sự thuyết phục tôi, nhưng
được nghe giọng nói của em cũng đã phần nào an ủi được
tôi.
Ngày thứ tư cũng không khá hơn. Khoảng cách giữa
tôi và hai người ngồi bên cạnh dường như vô tận, dầu
trong thế ngồi bán già, đầu gối của họ chỉ cách tôi trong
gang tấc. Tôi đang nghĩ đến người đàn ông cuối cùng cũng
bỏ rơi tôi.
Tôi chẳng là ai cả, tôi nghĩ. Thực sự là chẳng có ai ở
đây cả. Tính chất vô ngã được coi là trọng tâm của thiền
định, vậy mà không hiểu bằng cách nào đó tôi đã đi sai
hướng. Trong khi bao áp lực không tên dồn nén trong tôi,
thì mọi người chung quanh vẫn an nhiên tĩnh tọa. Tôi
không thể trụ được thêm giây phút nào nữa - tôi đã ra về
mà không xin phép qua vị thiền chủ.
Lái xe rời thiền đường, một mình trong xe, tôi đã hét
lên: “Đây là ngày tệ hại nhất trong đời tôi!” (Nhưng rồi
còn có những ngày khác sau đó, tôi sẽ phải nói: “Không
đúng, ngày này còn tệ hơn nữa”).
Tôi lái xe đến Công Viên Tilden, đi bách bộ trong
rừng, nơi không ai có thể nhìn thấy tôi. Tôi la hét, kéo tóc
tai mình. Tôi nằm xuống đất, rồi để mình lăn xuống đồi,
mặc cho các bụi rậm đâm móc, cày xước tôi. Tôi thích để
201
các lá cây vương trên tóc tai, áo quần. Điều đó khiến tôi
cảm thấy mình có mặt. Tôi lượm một cành cây gãy từ cây
thông đỏ, và bắt đầu tự đánh vào lưng mình. Cái đau thể
xác dễ chịu đựng hơn là cái đau tinh thần đang bị nó xô
đẩy qua một bên.
Nhưng rồi tôi cảm thấy sợ hãi chính mình. Sao tôi lại
bỏ buổi chiều hành thiền mà đến đây tự đánh đập mình với
các nhánh cây trong rừng? Làm thế nào mà việc này có thể
xảy ra?
Tôi vuốt sạch lá cây trên tóc, rồi trở về nhà. Sáng hôm
sau, ngày thứ năm, tôi đã gọi trung tâm Thiền và báo rằng
tôi không được khỏe - nếu có sự đánh giá nào, thì đó là lời
nói cho nhẹ bớt - và không thể tham dự trong những ngày
còn lại của khóa thiền. Tôi đã không hành thiền hàng
tháng trời sau đó.
Tôi nghĩ là tôi đã thất bại trong việc tu tập của mình -
công phu của hàng chục năm!- và đau xót thất vọng với
bản thân. Mãi sau này, sau khi bệnh trầm cảm đã giảm bớt,
tôi mới nhìn thấy những tiến bộ của mình. Quyết định
không hành thiền là chọn lựa không để bị giáo điều điều
khiển mình, là từ bi với bản thân, là tự điều tiết sự tu tập
tâm linh của mình.
Phật giáo đã thuyết rằng chúng ta không có “một cái
ngã cố định”. Không có gì thường hằng ở nơi tôi. Trong lúc
bệnh trầm cảm, tôi thực sự không phải là ‘tôi’. Dường như
tôi hoàn toàn không có ngã, dưới một khía cạnh nào đó,
điều này có vẻ châm biếm một cách cay độc thuyết lý trọng
202
tâm này của Phật giáo. Có lẽ bạn sẽ nghĩ rằng người ta sẽ
không cảm thấy đau đớn khi không có ngã, vì không có
ngã, thì ai ở đó để cảm nhận sự đau đớn? Vậy mà nỗi đau
vẫn không thể chịu đựng nỗi. Giống như một con búp bê đã
được lên dây cót, tôi cử động một cách cứng nhắc qua các
chuyển động của Sue Moon, nhưng không có ai ở đó,
không có sự sống-chỉ có năng lượng của pin đang thải ra.
Tôi trở nên giận dữ đối với Phật giáo: Quý vị đã dạy
tôi rằng không có một cái ngã cố định, và tôi tin quý vị,
nhưng xem nó đã đưa tôi đến đâu! Tôi chỉ nắm bắt được
phần dương (yang) nhưng không có phần âm (yin) - chân
lý cân bằng cho rằng không có sự tách biệt. Tôi không thể
kéo dài như thế này mãi; tôi đang dằn xé từng sợi đời tôi.
Một buổi chiều kia, khi tôi đang khóc lóc với một người
bạn trên điện thoại, huyên thuyên về sự điên rồ quen thuộc
của tôi, cô bỗng hét lên với tôi: “Dừng lại đi! Chị phải tự
cứu đời mình! Chị phải tự làm điều đó! Không ai khác
ngoài chị có thể cứu lấy mình. Chị có thể làm được mà!
Chỉ cần chị can đảm lên. Chỉ cần có thế thôi”. Đó là một
cú điện thoại quan trọng: người bạn đã thúc đẩy tôi tìm ra
nhánh cây can đảm, và tôi đã bấu víu vào đó bằng cách
nhắc nhở bản thân về những lời người bạn đã nói.
Tuy nhiên, sự trầm uất vẫn tiếp tục, cuối cùng tôi
quyết định dùng đến thuốc chữa. Tôi phải vượt qua rất
nhiều chướng ngại. Tôi nghĩ là sự bất hạnh của mình do
hai nguyên nhân: những hoàn cảnh tiêu cực ở thế giới bên
ngoài, là điều mà thuốc chống trầm cảm rõ ràng không thể
203
chữa trị được, và những quan điểm tiêu cực ở trong đầu, là
điều mà tôi nghĩ là tu tập theo Phật giáo sẽ giúp được tôi.
Vì suy cho cùng, các tăng sĩ thời xa xưa đã sinh tồn mà
không cần đến thuốc chống trầm cảm.
Nhưng tôi phải làm điều gì đó khác hơn để cứu cuộc
đời của mình, như bạn tôi đã nói, và thuốc chữa bệnh là
thứ mà tôi chưa thử qua. Tôi tham vấn với một nhà tâm lý
học, và ông đã kê toa cho tôi một loại thuốc chống trầm
cảm thông thường. Tôi uống thuốc được khoảng một tuần,
và cảm thấy còn tệ hại hơn, dầu một tuần trước đó tôi đã
nghĩ là không thể nào có chuyện tệ hại hơn. Nhà tâm lý
học bảo tôi ngưng loại thuốc đó và thử dùng một loại
khác. Chỉ sau đôi ngày sử dụng là tôi đã thấy thuốc có
công hiệu. Tôi không cảm thấy buồn ngủ; mà cảm thấy
như có một lớp sương mù dầy đang nâng tôi lên.
Loại thuốc trầm cảm tôi đang sử dụng nhắm đến
những người bị hoang tưởng ám ảnh, và dường như tôi là
một trong những người này. Loại thuốc này làm được điều
mà thiền không thể làm được - nó làm dịu bớt được những
tiếng nói trong đầu tôi rằng: “Tôi thất bại. Tôi không là gì
cả”. Dầu nó không hoàn toàn dập tắt được chúng, nhưng
chúng không còn la hét, và đôi khi tôi cũng có thể gạt
chúng qua một bên.
Đối với các vị tu sĩ thời cổ xưa, giờ tôi tự hỏi không
biết có ai trong số họ để cho cuộc sống của mình qua đi
trong khốn khổ, và không biết có ai đã rời bỏ tu viện chỉ vì
họ không thể chú tâm thiền định. Lịch sử Phật giáo không
204
nói cho chúng ta biết về những người đã tu tập nhưng
không thành công, những người bị rối loạn không thể tập
trung hay bệnh trầm cảm.
Một ngày kia, một cách tình cờ, tôi ghi tên học lớp
chụp ảnh cho người mới bắt đầu, mà không nghĩ chi nhiều
về điều đó. Có lẽ một trực giác thâm sâu đã báo với tôi
rằng đây có thể là một cánh cửa khác giúp tôi thoát khỏi sự
khổ sở của mình. Tôi là một nhà văn, nhưng chữ nghĩa
dường như đã bỏ tôi trong những lúc ngặt nghèo. Chụp
ảnh đòi hỏi tôi phải nhìn ra bên ngoài. Không cần biết là
tôi có cái ngã hay không, đèn chụp ảnh vẫn rực sáng, vẫn
nổi bật lên mọi bề mặt, tựa như một tu sĩ Tây Tạng đang
nhoài mình lễ lạy. Thế giới như mở ra cho tôi, không một
lời, qua máy ảnh của tôi. Tôi như thăng hoa khi bức ảnh
đầu tiên của tôi chìm trong ánh sáng đỏ trong phòng tối ở
trung tâm nghệ thuật cộng đồng: mấy đứa cháu gái của tôi,
một đứa lớn, một đứa nhỏ, đứng ở cửa bếp trong ánh nắng,
đang mỉm cười. Tôi không cần phải hiểu bản thân. Tôi
không phải làm gì cả. Chiếc máy ảnh dẫn dắt tôi đến với
những vẻ đẹp tự nhiên. Học được một khả năng mới khiến
tôi cảm thấy như sống lại.
Tôi cũng học tự tin vào bản thân. Sử dụng thuốc chống
trầm cảm và ngưng không hành thiền nữa là những hành
động tự tin vào bản thân. Cho nên, tôi cũng tập kiến tạo sự
thực hành tâm linh cho riêng mình.
Mỗi sáng, ngay khi vừa rời khỏi giường, tôi đốt nến
trên chiếc bàn thờ nhỏ của mình, rồi dâng hương. Tôi lễ ba
205
lạy, rồi đứng trước bàn thờ, hai tay chấp vào nhau, tôi đọc
to bài kinh nguyện buổi sáng, bắt đầu với một bài cầu kinh
của trẻ mà một người bạn Công giáo đã dạy tôi:
Thánh thần, người bảo hộ yêu quý của con,
Qua người, Thượng Đế đã gửi tình thương yêu đến cho
tôi,
Cho đến giờ người luôn ở cạnh tôi
Để bảo vệ, trông nom, để dẫn dắt và dạy bảo.
Thật dễ chịu để yêu cầu người khác, ai đó chứ không
phải bản thân tôi, giúp tôi. Nghi thức cầu nguyện, theo như
tôi biết, là điều mà tôi không thấy trong môn phái Thiền,
nên tôi mang từ Công giáo, và các truyền thống Phật giáo
khác sang. Tôi cầu nguyện đến ngài Tara, vị nữ thần của
lòng từ bi Tây Tạng, để ngài bay từ trên cao xuống, xanh
rờn và rực sáng, vào trái tim tôi. Tôi cầu nguyện đến
Prajna Paramita (Bát Nhã Ba La Mật), mẹ của tất cả chư
Phật, người mà theo kinh Bát Nhã đã dạy chúng ta, “mang
ánh sáng đến để ta từ bỏ sự sợ hãi, lo lắng, phá tan bóng
tối, sự âm u của ảo tưởng”.
Sau đó tôi lớn tiếng nguyện nương trú vào Phật, Pháp
và Tăng, dầu tôi có cảm nhận được gì hay không.
Việc tôi tự sắp xếp cách tu tập này cho bản thân, đem
lại cho tôi nhiều tự tin. Khói nhang mỗi sáng sớm, dầu
mong manh, bay bổng, cũng tạo cho tôi được cảm giác của
sự tiếp nối trong cuộc sống. Suy cho cùng, chúng cũng là
những ngày tháng trong cùng một cuộc đời. Cuộc đời của
206
một người - là tôi. Giờ tôi có thể nói điều này: có những
lúc trong cuộc sống khi không có gì có thể giúp được bạn,
khi bạn chỉ phải cảm thấy khổ sở trong một lúc nào đó thì
tất cả những gì bạn có thể làm được là chịu đựng sự đau
khổ, cho đến khi nó qua đi. Trong một chừng mực nào đó,
khi bạn phải rơi xuống tận vực sâu, thì đó cũng là một
món quà, dầu lúc đó bạn sẽ không thể coi đó là món quà.
Nếu bạn nằm trên cỏ, thì đó không thể coi là đã rơi xuống.
Trong Thiền có câu nói rằng “hỏi và đáp đi đôi với
nhau”. Có lẽ sự cầu nguyện cũng giống như thế đó. Trong
sự cầu nguyện đã có sự đáp ứng, vì khi ta hỏi thì dường
như câu trả lời đã có ở đâu đó rồi. Cũng không cần thời
gian chờ đợi. Ngay giây phút bạn cầu nguyện, bạn đã nhận
được sự đáp ứng, dầu có thể đó không phải là sự giúp đỡ
mà bạn cần.
Có lần, trong tuyệt vọng, tôi gọi cho thiền sư Reb
Anderson, và ông đã đến Berkeley để gặp tôi. Chúng tôi
ngồi trên băng ghế trong công viên trong khu vui chơi của
trẻ em, và ông đã nói với tôi, “Pháp (universe) đã bảo vệ
cho cô rồi”. Tôi đã lặp đi lặp lại câu chú này: “Pháp đã bảo
vệ tôi rồi”.
Một bước ngoặt đã xảy ra vào cuối một mùa hè oi
nồng khi tôi đang thăm viếng bè bạn ở Cape Cod. Vào một
buổi xế chiều tôi một mình, đi chân trần xuống biển, dầm
nước biển mặn. Không có ai ở đó, nên tôi đã cởi bỏ đồ tắm
để trầm mình xuống tắm. Tôi lội, lội mãi, cảm nhận được
làn nước chan hòa trên khắp thân tôi. Tất cả đều ướt đẫm,
207
không có chỗ nào khô ráo. Tôi không còn sợ một mình đối
mặt với da thịt của mình, vì tôi không một mình; không có
gì, kể cả một tế bào, ở giữa tôi và vũ trụ còn lại. Tôi làm
một cú nhào lộn và ngước nhìn lên màn nước sáng chiếu
bên trên tôi. Đầu tôi trồi lên trong ánh sáng, tôi hít thở
không khí và tôi biết rằng tôi sẽ bình an. Không, không
phải là sẽ, mà đã như thế rồi: tôi đã hồi sinh.
Giờ đây, sau nhiều năm thoát khỏi sự cô đơn, tôi vẫn
không hiểu tại sao lúc đó tôi phải khổ sở đến vậy, hay tại
sao mà tôi dừng lại được. Tôi không trách mình vì sự khổ
đau mà cũng không cho mình giỏi vì sự chấm dứt khổ đau.
Tôi ngồi trở lại - ý tôi là tọa thiền - nhưng không nhiều
như lúc trước. Tôi cũng thực hành lễ lạy, tụng kinh và cầu
nguyện. Tôi đã ngưng không uống thuốc chống trầm cảm
nữa, dầu nếu thấy cần, tôi vẫn có thể quay lại dùng nó mà
không cảm thấy ái ngại gì.
Tôi thực hành tâm nghi hoặc. Nghi nghe không có vẻ
giống như một đặc tính tâm linh mấy, nhưng tôi muốn nó
là thế. Sinh ra làm người để làm gì? Thân bọc trong một
lớp da riêng biệt có ý nghĩa gì? Có nhiều phương cách để
thoát ra khỏi ảo tưởng của sự tách biệt không, ngoài việc
có bạn trai - thí dụ như là viết lách, bơi lội. Và còn có các
nghiên cứu về cuộc sống của con người. Bạn có thể gọi đó
là Phật Pháp (Buddhadharma) hoặc bạn có thể gọi nó bằng
một tên khác - điều đó không quan trọng.
Giờ tôi muốn thú nhận rằng tôi đã tọa thiền vì một
mục đích: tôi muốn biết tôi là ai, nếu có là ai đó, thì tôi
208
làm sao liên hệ với những người còn lại. Đúng, tôi muốn
dừng khổ đau, và tôi muốn giúp người khác cũng dừng
khổ đau.
Tôi cũng đã đạt được ít nhiều lòng tự tin vì đã sống sót
qua những tháng năm khủng khiếp đó, và càng lớn tuổi, tôi
càng thấy dễ dàng để nghe theo một lời khuyên rất hay mà
tôi thấy họ dán sau đuôi xe: “Đừng tin vào tất cả những
điều bạn nghĩ”.
Đó là sự vững chãi trong tuổi già.
* * *
209
Không Thể Mang Theo
Những thứ mà bạn để lại phía sau cần được sắp xếp
vào thùng và dán nhãn kỹ lưỡng.
Ngôi nhà cũ kỹ nơi tôi đã sống hơn ba mươi năm qua,
ngay dưới mái nhà có một gác xếp. Khi đi tìm một cặp
găng tay trong thùng đựng quần áo ấm, tôi có thể đứng
thẳng một cách dễ dàng trong gác xếp, nhưng hai bên mái
nhà dốc xuống, nên tôi phải cẩn thận để mấy cây đinh
nhọn đóng trên ván lợp mái nhà không đâm vào đầu. Để
lấy được đôi găng tay, có thể tôi phải đẩy sang một bên
nào là các thùng sách, giấy tờ, bộ sưu tập nắp chai thời thơ
ấu của các con trai lớn của tôi, các loại muỗng lưu niệm,
ống kính máy ảnh tôi đã sử dụng ở một hội thảo cuối tuần,
một thùng đựng các album đĩa hát, hoặc những dụng cụ
đóng sách đã bị gỉ sét của tôi.
Khi tôi xuống khỏi căn gác để vào phòng khách khá
210
gọn ghẽ, tôi cảm thấy các thứ đồ đạc ở phía trên trần nhà
như đè nặng lên tôi. Chúng đã nặng, ngày càng như nặng
hơn; tôi tưởng tượng rằng chúng đã sinh sản thêm những
chiếc thùng nhỏ vào ban đêm khi tôi không để ý đến.
Cứ vài năm, tôi cố gắng dọn dẹp căn gác một lần. Lần
này, tôi nhờ cháu gái giúp. Chúng tôi lôi từng thùng giấy
ra khỏi chỗ tối, rồi chúng tôi ngồi trên mấy máng sữa rỗng,
kiểm xem trong thùng có gì. Một số thùng bị cắn nát ở các
góc. Có thùng bị chuột làm ổ từ những mảnh vụn của cuốn
niên giám trung học. Chuột thì mấy năm trước đã bị người
diệt côn trùng xử lý, với chi phí không nhỏ nhưng chúng
tôi thấy còn mấy cái bẫy không có lò xo, vẫn còn mồi là
bơ đậu phộng đã khô, trong các góc máng xối.
Từ một cái thùng đầy những lá thư lẫn lộn, tôi lôi ra
đại một lá thư; đó là thư của đứa trẻ nhớ nhà trong một lần
cắm trại. Tôi mất tự chủ, quá khứ chợt tràn về trong tôi.
Tôi có nên giữ chúng cho các con tôi? Hay tôi nên vứt
chúng giùm các con tôi? Với cảm giác yếu đuối, nản lòng,
tôi dán nhãn lên thùng: Thư cần phân loại, và cháu gái tôi
đẩy nó trở lại dưới mái nhà, rồi kéo ra cái thùng kế tiếp.
Khi còn là một đứa trẻ, tôi thường chơi trên gác xếp
của bà tôi, diện các bộ trang phục trong rương và chơi với
căn nhà búp bê cũ. Lúc nhỏ, bà tôi cũng chơi ở ngay căn
gác xếp này - đó là gác xếp của bà cố. Sau khi mẹ mất, chị
em tôi phải dọn dẹp những gì chứa trên căn gác - những
thùng thư của năm thế hệ và một cái rương đựng các trang
phục cổ xưa.
211
Chúng tôi tặng thư từ cho thư viện lịch sử, còn trang
phục chúng tôi mang đến một buổi họp mặt gia đình, để
trình diễn thời trang. Những người lớn tuổi chúng tôi ngồi
ngắm trong khi các cô gái trẻ trong gia đình - cháu gái, con
dâu, bạn gái của cháu trai - từng người một bước ra trên
‘sàn diễn’ được dựng tạm ở giữa phòng khách, biểu diễn
các bộ trang phục: bộ áo du lịch bằng vải bóng của chị họ
Lizzie Wentworth, trang phục thiếu nữ của bà, bộ áo dạ
hội ren tím của dì Bessie. Họ bước khệnh khạng, họ dừng
lại, họ kéo cao váy áo, ngửng cằm lên một cách điệu hạnh.
Họ đã mang sức sống đến cho những bộ trang phục cổ
xưa. Khi chia tay, các cô gái này mang theo về nhà bộ áo
mà họ ưa thích.
Tôi cũng quan sát các cách mà những người đồng thời
với tôi xử lý đồ đạc khi họ lớn tuổi hơn. Một người bạn,
mỗi năm ở tiệc sinh nhật của mình, bà lại yêu cầu các vị
khách chọn một quyển sách của bà đem về nhà. Ngược lại
cũng có người không thể dừng lại việc thu gom mọi thứ.
Một điển hình tiêu cực: một người bạn thích tất cả các loại
dụng cụ. Bất cứ khi nào ông nhìn thấy một lò nướng bánh
hỏng bị vứt ngoài đường, ông sẽ dừng xe lại, nhặt bỏ vào
thùng xe của ông.
“Nhưng ông đã có một cái lò nướng bánh hỏng rồi!”,
tôi kêu lên. “Tôi có thể sửa lại. Biết đâu có người cần”.
Giờ thì bạn bè mang cho ông những chiếc xe đạp hư, đèn
cũ, họ khỏi phải mang chúng ra bãi rác cho lôi thôi. Trong
phòng khách của ông, chỉ còn một lối đi chật hẹp, giữa
212
những đống đồ mà ông lượm lặt được từ những đống rác
bên đường. Sự thật thì thỉnh thoảng ông cũng sửa được, thí
dụ, một cái máy cắt cỏ cũ, rồi đem cho, nhưng ông cũng tự
thừa nhận rằng tình trạng đã trở nên quá tải, nên ông gần
như từ bỏ mọi cố gắng để thu thập thêm.
Cách đây một năm, em gái tôi đã bán căn nhà ở
Berkeley. Cô ấy bỏ tất cả mọi thứ đồ đạc vào kho chứa đồ,
ngoại trừ những thứ mà xe có thể chứa, rồi lái xe đến New
Mexico cùng với chú chó, sau đó cô đã thuê một căn nhà
nhỏ ở một vùng hẻo lánh. Cô ấy thích cuộc sống giản dị ở
đó. Cô ấy đã nói nếu tôi muốn một cuộc sống đơn giản
hơn, thì hãy bỏ mọi thứ đồ đạc vào nhà kho. Đối với tôi,
tôi chẳng phải di chuyển đi đâu cả - tôi có thể ở ngay trong
ngôi nhà trống xinh đẹp của mình. Có điều là tôi phải cân
nhắc về chi phí mướn nhà kho để chứa đồ.
Tôi đã dán một tấm bảng trên tường chỗ bàn làm việc
của mình rằng: “Đừng nghĩ, dù chỉ trong chốc lát, rằng
bạn sẽ không chết”. Dầu bạn có tin hay không, nhưng mỗi
lần nhìn tấm biển ấy, tôi thật sự cảm thấy hạnh phúc. Nó
phấn chấn tôi như cái vỗ vai của một người bạn cũ, nhắc
nhở tôi rằng tôi chưa chết.
Cách đây vài năm, tôi gia nhập một nhóm có tên là
nhóm “Một-Năm-Để-Sống”. Mười người chúng tôi và
người nhóm trưởng giỏi giang họp mặt mỗi tháng một lần,
trong một năm, với giả dụ rằng chúng tôi chỉ còn một năm
để sống, để thực hành cách sống trọn vẹn, không lo lắng
213
những chuyện vớ vẩn, và tập buông xả những gì không
cần thiết.
Một trong những bài thực tập cuối cùng để giúp chúng
tôi thực hành buông xả, là cho đi một thứ gì đó rất quý báu
đối với chúng tôi. Suy cho cùng, chúng ta cuối cùng rồi
cũng phải cho đi mọi thứ. Mỗi người chúng tôi rút trong
nón ra tên một Santa bí mật. Tôi thích Michael, chàng trai
trẻ mà tôi đã rút tên. Trong đầu nghĩ đến Michael, tôi đi
quanh nhà, quan sát những đồ vật đặc biệt ở trên kệ và bệ
cửa sổ. Cuối cùng tôi chọn tách uống trà Nhật Bản. Bà tôi
đã mua nó cách đây rất lâu ở Nhật Bản, và nó luôn được
đặt ở một vị trí trang trọng trên bệ lò sưởi trong phòng
khách của bà. Khi bà mất, tôi hỏi xin chiếc tách trà đó. Lúc
đầu, mẹ tôi không đồng ý, vì nghĩ rằng chiếc tách nên ở
nguyên vị trí của nó trên lò sưởi, nhưng em gái tôi đã
thuyết phục mẹ, “Cho chị ấy đi mẹ! Chị là Phật tử tu Thiền
- chị ấy sẽ cần tách trà Nhật đó”.
Trước khi gói tách trà cho Michael, tôi cảm nhận chất
đất sét tròn láng mát lạnh trong tay tôi và ngắm nghía lần
cuối lớp men nâu lốm đốm. Đúng là có hơi tiếc khi cho đi
chiếc tách này, nhưng đó chính là dụng tâm của việc làm
này, đúng không? Tình cảm hỷ xả dâng lên trong tôi; tôi
cảm thấy tự hào về bản thân.
Tại buổi họp mặt cuối cùng, chúng tôi ngồi theo vòng
tròn, từng người mở gói quà được tặng, và từng người tặng
kể câu chuyện về món quà đó. Michael rất thích chiếc tách
-anh ấy nói rất mong được uống trà bằng cái tách đó. Tôi
214
là người cuối cùng mở quà, và thật trùng hợp, chính
Michael rút được tên tôi. Món quà Micheal gửi cho tôi là
một hòn đá nhẵn bóng, rộng khoảng 12 centi-mét với chữ
“Biết ơn” và một bông hoa cúc được vẽ lên đó. Trong khi
Michael kể câu chuyện anh ấy đã mua hòn đá như thế nào
vào một cuối tuần đặc biệt, khi anh ấy và bạn gái đang dự
khóa thiền yoga ở vùng sa mạc, và vì sao đó là ngày mà họ
quyết định kết hôn, và vì sao anh luôn để nó trên bàn thờ,
thì tôi đang nghĩ: “Đúng là biết ơn! Vậy ra đây là cái mà
tôi nhận được để đổi đi tách trà Nhật cổ!”
Tâm ích kỷ, bỏn xẻn dâng tràn khiến tôi bị sốc, tôi đặt
hòn đá nhớ ơn ngay trên bàn thờ nhà mình, nghĩ rằng để
nó ở đó như là một cách để huân tập cho đến khi tôi có thể
nhìn nó và thực sự cảm thấy biết ơn. Tôi tự nhắc nhở rằng
có lẽ hòn đá cũng quý báu đối với Michael như là chiếc
tách trà đối với tôi. Nhưng chẳng ích lợi gì - càng nhìn nó
tôi càng ít cảm thấy biết ơn, và thật nhẹ nhõm, khi cuối
cùng, tôi có thể đem nó cho tổ chức từ thiện Goodwill
cùng với mấy cái áo len dài tay cũ. Tuy nhiên, tôi cũng
chẳng màng đến tách trà nữa.
Nhà thơ, Thiền sư Ryokan sống trong một nhà tranh
đơn giản trong những dãy núi ở Nhật Bản. Câu chuyện
được kể rằng một tên trộm đã đến nhà của ông vào một
buổi chiều và không tìm thấy gì để lấy cắp. Ryokan về nhà
và bắt gặp tên trộm. Ông nói với tên trộm, “Anh đã đi một
quãng đường xa, thì không nên về tay không. Hãy nhận
quần áo của ta làm quà”. Tên trộm bối rối nhận lấy quần
215
áo rồi lẩn đi. Ryokan ngồi trần trụi, ngắm trăng, và viết bài
thơ như sau:
Tên trộm đã để lại:
Mặt trăng
Bên cửa sổ nhà tôi.
Lúc tuổi già, Ryokan và một ni cô trẻ tên là Teishin
yêu nhau, họ trao đổi thư từ và các bài thơ với nhau.
Những năm cuối cùng của Ryokan, Teishin đã chuyển đến
sống gần đó để chăm sóc ông. Sau khi Ryokan qua đời,
thư từ của họ cùng với bộ sưu tập thơ của ông đã được
xuất bản. Thật may cho chúng ta, Ryokan đã giữ tất cả thư
của Teishin trong một hộp giày ở góc nhà của ông.
Cháu gái và tôi xem xét tất cả mọi thứ trong các thùng
trên gác mái. Một số thùng chúng tôi vứt bỏ hoàn toàn,
một số chúng tôi lựa chọn lại. Tất cả đều được dán nhãn,
thậm chí chỉ có giấy tờ để phân loại. Có lẽ một ngày nào
đó, tôi cần đến chúng, nhưng hiện tại, tôi buông cái cần
buông. Bên trong mỗi thùng giấy, tôi để giấy ghi chú rằng:
“Nếu cần, cứ vất chúng đi!”
* * *
216
217
Chốn Bí Mật
Lúc nhỏ, tôi tìm được một chỗ bí mật trong các bụi
cây thanh mai. Lúc đó là mùa hè, khi gia đình tôi rời bỏ
thế giới quen thuộc, thế giới được đo lường bằng những
chuyến xe đi chung, và các vĩa hè, để về miền biển. Ở đó
tôi cô đơn, cô đơn trong cái ngã tách biệt của mình, trong
những chiếc quần bò ngắn, với hai đầu gối dơ bẩn và cây
sơn độc mắc giữa mấy ngón chân tôi.
Tôi dắt con dao nhỏ vào túi, chui vòng qua một lổ
hỗng đầy gai trong bụi rậm, vào một nơi trống trải có kích
cở của một căn phòng nhỏ, một nơi gần như bằng phẳng
trên sườn núi, ngó xuống Hồ Menemsha. Các bụi cây
thanh mai cao hơn tôi, nên ba mẹ từ nhà không thể nhìn
thấy tôi. Mà họ cũng chẳng biết đến sự có mặt của một nơi
bí mật như vầy. Còn tôi ở đây có thể nhìn ngút mắt qua hồ
nước đến những đụn cát lấp lánh của Lobsterville.
218
Trong căn phòng bụi rậm này, tôi tập lộn nhào, chỗng
ngược đầu đi trên tay, xoay đảo thế giới. Tôi ngồi trên cỏ,
đẻo các cây. Tôi có thể đoán thời gian qua đi bằng cách
quan sát những cánh buồm lướt qua mặt hồ.
Còn ở nhà, cha tôi bị trầm cảm, tự nhốt mình trong
phòng làm việc, viết lách gì đó suốt thời gian. Mẹ tôi cột
tóc lên cao bằng chiếc khăn vải, và cố giữ không để đám
con quấy rầy ông. Các em gái tôi chạy đuổi nhau khắp
nhà, la hét ỏm tỏi. Tôi có thể cảm nhận được sự căng
thẳng của đời sống gia đình, một nỗi buồn tôi không thể
giải, thậm chí còn không biết có thể gọi đó là nỗi buồn.
Tôi nằm ngửa trên mặt đất cứng giòn vì đám rêu kho,
trong khi bầu trời đảo lộn quanh tôi. Khi ngày tàn, ánh
sáng mặt trời trở nên vàng đậm hơn, và mây xua đuổi nhau
trốn chạy tôi về khoảng không ở phía bên kia của chân
trời, rồi biến mất. Sự kết thúc của ngày này, được diễn ra
trong mùi hương của cây thanh mai và tiếng kêu của các
con hải âu, khiến tôi dường như nghẹn ở cổ - một tiếng
kêu tôi không thể buông ra.
Tôi không có bạn cùng trang lứa để chơi, vì không có
láng giềng nào gần chỗ chúng tôi - người cha thầy giáo
của tôi thích tránh xa mọi người trong mùa hè. Các em gái
nhỏ hơn tôi khá nhiều, và chúng thích chơi với nhau hơn.
Nhưng không phải tôi cần bất cứ ai để cùng chơi với - mà
tôi cần điều gì đó to lớn hơn tôi.
Tôi đã đọc quyển Robin Hood của Howard Pyle, nên
đã lên kế hoạch để thành lập hội Robin Hood khi chúng tôi
219
trở về lại thành phố vào mùa thu. Bạn bè và tôi sẽ phải học
cách đánh nhau bằng dùi cui. Chúng tôi sẽ bảo vệ các em
nhỏ trong khu phố chống lại mấy đứa ngang ngược. Tôi sẽ
làm Little John, to lớn mà hiền lành, một thần tượng của
tôi trong nhóm của Robin Hood. Tôi đã kiếm được một
khúc cây to trong đám gỗ trôi dạt ngoài bãi biển và tập
đánh trong không khí với cái dùi cui đó - tôi khiến nó gây
ra tiếng gió khi vút nó lên trong không khí.
Sách trong thư viện là bạn bè của tôi. Có mùa hè tôi
đọc tất cả tiểu thuyết của Louisa May Alcott, những quyển
sách bìa vải mộc, gáy sách đóng chữ vàng của thư viện.
Tôi đã thả diều với Jo và đám trẻ của cô trong Đám Trẻ
Của Jo (Jo’s Boys), sau đó với gia đình riêng của tôi trong
cái gọi là thế giới thực, vào những ngày khi cha tôi không
quá trầm uất. Ông sẽ là diều trưởng, một con diều xanh to
mà chúng tôi gọi là Rồng Xanh; ông từng là lính thủy, nên
đây cũng giống như dong buồm. Chúng tôi thả diều lên
cao, cánh diều càng lúc càng nhỏ đi khi nó dường như đến
sát mặt trăng khuyết. Lúc đó cha tôi sẽ giữ ống dây diều,
rồi cùng chúng tôi đi xuống đồi, trèo lên một chiếc thuyền
chèo, chèo xa khỏi bãi biển. Cha cho tôi mang bao tay làm
vườn để giữ sợi dây khi con diều kéo chúng tôi đi tới, nhẹ
nhàng trên mặt hồ. Thật kỳ diệu, dường như chính Thượng
đế ở trên cao đang kéo chúng tôi đi tới, dầu cha mẹ chúng
tôi không nhắc đến Thượng đế bao giờ.
Tôi thường thắc mắc về Thượng đế. Tôi tự hỏi mình là
ai và tôi đang làm gì ở đây. Tại sao chỉ có một cái tôi nhỏ
220
bé bên trong đầu tôi, lại phải chịu sự giam giữ suốt đời
trong cô độc, trong sọ đầu tôi, để chỉ nhìn ra bên ngoài qua
hai hốc mắt? Thật là vô lý. Mùa hè năm tôi mười tuổi, tôi
bị bệnh mất ngủ, tôi đã sợ là mình sẽ chết vì thiếu ngủ. Tôi
nằm trong giường lắng nghe tiếng đồng hồ của con tàu khi
nó hòa âm với các đồng hồ của đêm. Giữa đêm thì có tám
tiếng chuông. Điều tệ hại nhất của sự cô đơn là ta không thể
nói ra. Tôi không thể diễn tả hay giải thích điều đó với ai.
Không có gì sai, nhưng tôi cảm thấy hụt hẫng. Hai tiếng
chuông có nghĩa là một giờ sáng. Tôi rón rén vào phòng cha
mẹ. “Con không ngủ được”, tôi nói. Tôi muốn chui vào
giường với họ, nhưng không dám nói. Tôi đã lớn quá rồi.
Mẹ bảo tôi tưởng tượng ra những con cừu đang nhảy qua
hàng rào, rồi đếm chúng. Thật là một ý tưởng rồ dại, không
liên quan gì đến nỗi sợ hãi đã khiến tôi không ngủ được,
nhưng tôi cũng cố thử. “Nếu con đếm đến một trăm con mà
vẫn chưa ngủ, thì trở lại đây”, mẹ tôi nói.
Tôi đã đếm - đến một trăm con, dễ dàng. “Người ta có
thể chết vì không ngủ không mẹ?” tôi hỏi. “Không”, bà trả
lời, “Chưa có ai chết vì không ngủ. Cục cưng, sao con
không đọc sách?” Tôi trở lại giường, đọc quyển Dưới
Khóm Hoa Huệ (Under the Lilacs), về một cậu bé mồ côi
với con chó của em, và chúng đã trốn thoát khỏi đám xiếc
như thế nào. Bốn tiếng chuông là hai giờ sáng - tôi thấy
những tấm màn cửa lung lay như hơi thở của ánh sáng
trăng. Sáu tiếng chuông, ba giờ sáng, khi ánh trăng đã tàn
phai và lại lặng lẻ di động trong tiếng gió rít đáng sợ - do
một đám mây lướt qua mà tôi không hề biết - vì lúc đó
221
chắc là tôi đã ngủ, vì tôi không nghe thấy tiếng kẻng báo
hiệu hết đêm.
Sáng sớm, tôi đi chân trần vào chỗ bí mật, cẩn thận
tránh các cây sơn độc (poison ivy). Tôi muốn cuối mùa hè
các gót chân của mình cũng rắn chắc như của người thổ
dân. Đêm qua, trời mưa nhẹ, nên các loại nấm mọc trên
thân cây màu xanh lơ bị ướt, mềm. Tôi tưởng tượng mình
là một trẻ mồ côi lạc vào chốn hoang dại. Tôi sẽ phải đi
hái các trái dâu, và dựng cho mình một chỗ trú ẩn để sinh
tồn. Để thực tập, trước tiên tôi làm thử một chỗ nhỏ. Tôi
hái mấy nhánh cây từ các bụi thanh mai, và xén gọt các
chỗ nổi cục. Khi tôi đã có được một chồng nhánh cây
không dài hơn mười hai centi-mét suôn sẻ, đẹp đẽ, tôi
dùng chúng để dựng một nhà mái, cột các khúc cây lại với
nhau bằng những cọng cỏ dài. Tôi mang ít đá và vỏ sò từ
bãi biển vào trong đó, để làm bàn ghế cho các cô tiên. Tôi
cũng không thực sự tin vào các cô tiên, nhưng tôi nghĩ là
phải có những nguồn lực không thể thấy được trong vũ trụ,
và tôi muốn được tiếp xúc với họ. Các vị tiên này hoặc là
rất to lớn, hoặc là rất nhỏ bé.
Khi tôi nằm sấp trên bụng, giấu mặt vào trong đám cỏ
thơm, tôi thấy một chấm đỏ nhỏ, rồi nó lộ dần ra là một
con nhện đang bò trên ngọn cỏ. Đối với con nhện, chắc tôi
to lớn như là cả vũ trụ. Sau đó, tôi xoay người nằm ngữa,
cẩn thận không đè lên con vật, rồi ngắm trời mây - từng
đám mây chồng lên nhau, nhiều đám quá xa đến độ chúng
khiến cho những đám mây ở gần hơn dường như đang
222
chạy theo chiều ngược lại. So sánh với chúng thì tôi giống
như con nhện đỏ nhỏ bé kia. Tôi vừa bé tị, đồng thời vừa
to lớn. Rồi tôi tập chổng ngược đầu, càng thực tập tôi càng
có thể đứng trên hai tay lâu hơn. Tôi thích ở chỗ khi tôi đá
ngược cái chân thứ hai lên, khi động lượng làm chủ, lấy đà
đảo ngược thế giới. Thời gian đó tôi không cần phải dựa
vào tường để thực hành, chứ không phải như bây giờ tôi
phải làm điều đó trong lớp học yoga. Tôi muốn có thể đi
trên đôi tay của mình. Tôi có thể đi bước đầu tiên - có thể
dở tay phải lên, rồi nhanh chóng đặt nó trở xuống hơi
nhích tay lên chút đỉnh trước khi tôi té nhào - nhưng tôi
muốn đi bước thứ hai với tay trái. Tôi thực tập một cách
kiên nhẫn. Điều đó dường như rất quan trọng. Khi đôi vai
mỏi nhừ, tôi ngồi trên cỏ để nghỉ, và sắp xếp lại bàn ghế
cho các cô tiên trong mái nhà của họ. “Được rồi, các cô
tiên”, tôi nói, “hãy xem tôi đi bằng tay nè”. Tôi đá cẳng
lên trời, và lần này tôi đi được hai bước trước khi xuống.
Tôi đã làm được! Robin Hood chắc phải rất hãnh diện về
tôi. Có lẽ tôi nên đi theo gánh xiếc.
Cha mẹ tôi dường như không lo lắng gì khi tôi một
mình lang thang đó đây khám phá thế giới thiên nhiên
quanh mình: họ biết là tôi sẽ giữ quy luật duy nhất của họ:
không được đi bơi một mình. Chỉ còn một thứ độc hại nữa
ở địa phương này là cây sơn độc. Họ không biết rằng tôi
luôn mong muốn một điều gì đó mà tôi không thể nói tên,
vì tôi không thổ lộ với họ. “Susie! Tới giờ ăn rồi!”, tiếng
mẹ tôi gọi. Thế giới kia đang kêu gọi, thế giới của tầm cở
trung bình.
223
Lúc có tuổi, tôi thấy mình lại trở về với những ước mơ
trong thời thơ ấu. Tôi vừa tìm kiếm sự đơn độc, vừa sợ hãi
nó, cũng giống như tôi đã làm khi tôi lên mười.
Trong phòng làm việc ở trên lầu, trong căn nhà yên
tĩnh của tôi, tôi uống trà xanh và ngồi nghiêng người trong
chiếc ghế cưng của tôi, hai chân vắt qua thành ghế giống
như mấy đứa tuổi teen, ngắm cây gỗ đỏ qua cửa sổ. Tôi tự
hỏi mình là ai, và tôi đang làm gì trong bị da này, theo
cách nói của một vị đại lão thiền sư Trung Hoa. Tại sao
vẫn chỉ một mình tôi trong đó?
Có hai lần, không chỉ có mình tôi bên trong cơ thể tôi.
Tôi có thể cảm nhận được sự có mặt của ‘khách’ bên trong
người tôi khi tôi quan sát chỗ lồi của một cái chân di
chuyển ngang qua bụng tôi. Tôi thích có ai đó với tôi, để
thay đổi không khí, trong căn phòng nhỏ bé của thân tôi,
dầu dĩ nhiên là tôi còn thích hơn nữa khi lần lượt từng đứa
trẻ sẽ ra đời để gặp tôi.
Nếu tôi có một người bạn tình, tôi chắc là nỗi khát
khao, lòng tham đắm không còn buốt nhói, nhưng ở đây
tôi muốn nói về một điều gì đó khác với việc độc thân,
một sự riêng lẻ, tách biệt chủ yếu; tôi không nói về sự cô
đơn, một mình trong giường - đó là chuyện khác - nhưng
về sự cô đơn trong đầu tôi.
Tôi hành thiền tại nhà, mà cũng đi ra ngoài để tọa thiền
với các thiền giả khác ở những trung tâm Phật giáo. Đôi
khi tôi ngồi ở vị trí của người thầy, đôi khi ở vị trí của
người học, nhưng tôi luôn ngồi ở vị trí khát khao, mong
224
chờ. Trong sự chuyển động chậm chạp giữa hơi thở vào và
hơi thở ra, đôi khi câu hỏi chợt phát khởi: “Làm thế nào để
tôi thoát khỏi cái ngã biệt lập này?”
Trong truyền thống Thiền chúng ta thường quay mặt
vào vách để khỏi nhìn người khác. Mới đây khi tôi hành
thiền theo truyền thống Nguyên Thủy, chúng tôi lại ngồi
thành vòng tròn, đối mặt nhau với đôi mắt nhắm. Tôi hé
mắt nhìn những người khác, tất cả mọi người dường như
ngồi rất bình yên, và tôi đã nghĩ, “Mọi người đang làm gì
vậy và làm thế nào mà họ biết cách làm điều đó?” Một làn
sóng của sự mong mỏi lại trào dâng trong mạch máu tôi
giống như khi vừa nốc rượu, tôi cảm thấy da mình nổi gai.
Tôi tự nhủ, “Chào, tham đắm. Ta biết ngươi mà”. Và trong
giây phút đó, tôi bỗng thấy mình tràn đầy hạnh phúc. Tôi
thích nổi gai. Tôi lại trở về với hơi thở của mình lần thứ
một trăm ngàn, để không khí trong phòng tràn vào buồng
phổi của tôi như những làn sóng - cũng là không khí mà
những người khác trong phòng thở ra, thở vô, để kết nối
chúng tôi với nhau. Nỗi khát khao, tham đắm chính là sự
thỏa nguyện của nó. Nó đã hoàn thiện rồi.
Suốt cuộc đời tôi luôn cảm nhận được nỗi khát khao,
tham đắm này. Tôi nghĩ nó là phương hướng tôi chọn đi
trong cõi đời này; nó mang tôi đến nơi mà tôi cần đi.
Nỗi khát khao được kết nối tạo ra một cuộc sống kết
nối. Nỗi khát khao đã đưa tôi đến chỗ bí mật trong những
bụi cây thanh mai cũng là nỗi khát khao, tham đắm đã đưa
tôi, khi trưởng thành, đến việc sống hàng tháng trong tu
225
viện; gia nhập phong trào kêu gọi ghi danh bầu cử; và
chăm sóc, bảo vệ gia đình, bạn bè. Cái ngã nhỏ bé của tôi
sẽ tiếp tục vươn tới điều gì đó vượt trên bản ngã. Cô bé đã
tập đi chổng ngược trong chỗ bí mật kia vẫn ở trong tôi,
làm bạn với tôi. Nếu cô gái bé nhỏ kia có thể chịu đựng
được sự khát khao, chờ đợi, thì tôi cũng có thể chịu đựng.
Tôi sẽ nhớ tôi là ai, là người luôn khắc khoải, hoài nghi.
* * *
226
227
Trò Chuyện Với Người Mẹ
Đã Khuất Của Tôi
Khi bà mẹ tám mươi bốn tuổi của tôi phải vào bệnh
viện sau một tai nạn xe, tôi đã bay đến Chicago để có mặt
bên bà. Trong khi vội vã ra đi, tôi không mang theo đôi
giày nào khác hơn là đôi tôi đang mang trong chân, và
chúng đã rách toang ngay khi tôi vừa đến nơi, khi tôi vội
vã băng qua bãi đậu xe của bệnh viện. Ngày hôm sau, kỳ
lạ thay, một đôi giày mới mà mẹ tôi đã đặt mua trước đó
qua quảng cáo, cũng vừa được gửi đến nhà. Đôi giày da
đen loại đi bộ vừa khít chân tôi; êm ái và bền chắc, chúng
đúng là thứ tôi đang cần. Tôi bảo với mẹ là tôi mượn đôi
giày mới của bà cho đến khi bà hết bệnh, nhưng bà đã
chẳng bao giờ khỏe lại.
Tôi đã mang đôi giày này gần như mỗi ngày kể từ khi
mẹ tôi mất. Tôi đã hai lần mang chúng đến một tiệm sửa
228
giày gần nhà ở Berkeley để thay các dây buột hiệu Velcro.
Tôi rất dị đoan về chúng. Tôi muốn đôi giày này chẳng
bao giờ bị hư hoại, nhưng dĩ nhiên là chúng sẽ hư hoại.
Khi mẹ mất, tôi trở thành mồ côi. Ở tuổi sáu mươi ba,
tôi đã quá lớn để cảm thấy bơ vơ như đứa trẻ, vậy mà tôi
vẫn không thoát khỏi cảm giác đó. Khi còn nhỏ, tôi và các
bạn chơi trò làm trẻ mồ côi; chúng tôi chơi cái trò, mà giờ
tôi nghĩ ra, là thứ mà chúng tôi sợ nhất. Chúng tôi đã tỏ ra
rất can đảm, mạnh mẽ. Trò đó là tàu bị đắm mà không còn
cha mẹ nào sống sót trên một đảo hoang là vườn sau nhà
tôi. Chúng tôi đã sống trong những căn nhà tưởng tượng
trên cây, huấn luyện những con ngựa có lông và bườm
màu vàng, làm võng từ những chùm dây leo, hái chuối và
trái dâu hoang dại để ăn - cuộc sống thật thoải mái.
Nhưng phải làm trẻ mồ côi thực sự thì không giống thế
chút nào; từ khi mẹ mất, tôi chưa hề làm bất cứ thứ gì
giống như thế.
Và, một nghịch lý kỳ lạ là chính việc khiến tôi thành
kẻ mồ côi cũng biến tôi phải đóng vai trò nữ tướng. Tại
đám cưới cháu trai, giữa những bà con quyến thuộc đông
đảo, tôi lại là người trọng tuổi nhất. Làm thế nào mà điều
này có thể xảy ra? Đó là vì tôi là chị cả trong bốn chị em,
và giờ cả hai cha mẹ đều đã mất, cũng như tất cả các cô
chú. Các thế hệ đã nối tiếp: hai tháng trước khi mẹ tôi
mất, cháu nội của tôi ra đời, người đầu tiên trong thế hệ
của các cháu trong gia đình tôi. Suốt nhiều năm, tiếng gọi
Bà chỉ dành cho mẹ tôi, người rất yêu và cũng được chín
229
đứa cháu nội ngoại yêu thương. Vậy mà bây giờ tôi trở
thành Bà. Mọi người phải đứng dậy khỏi ghế, chuyển đến
cái kế cận để nhường ghế cho tôi. Tôi đang ngồi trong
chiếc ghế của mẹ, điều đó đôi khi đúng cả trong nghĩa đen
của nó. Tôi đang sở hữu chiếc ‘ghế tắm hơi’ mà bà yêu
thích trong hiên sau nhà, và tôi cũng rất thích ngồi đó
trong những ngày nắng ấm.
Tôi cũng mặc lại một số quần áo của mẹ. Khi các em
gái và tôi soạn tủ quần áo của mẹ sau khi bà mất, tôi đã
chọn lấy mấy cái áo sơ-mi, áo lạnh mà trước đây tôi cho là
quá lụng thụng đối với tôi: thí dụ một cái áo sơ-mi xanh
bằng vải jean, với những bông hoa cúc thêu chạy dọc theo
thân áo. Sự thôi thúc của lòng trung thành đối với mẹ đã
khiến tôi chọn nó, ngoài ra nó cũng rất thoải mái, đúng
như thời trang chuộng sự thoải mái hiện nay. Tôi cũng lấy
một đôi bao tay da đen, một áo khoác nỉ đen với những nút
bằng đồng, do người tỵ nạn Tây Tạng may. Đôi khi đang
rảo bước trên đường phố ở Berkeley vào một ngày chớm
lạnh, tôi nhìn xuống để thấy cả thân mình đang được bao
bọc bởi áo khoác của mẹ, bao tay của mẹ và giầy của mẹ.
Ở tuổi mới lớn, tôi thường bực bội vì có những cái giống
mẹ. Tôi đã theo học cùng cái trường nữ trung học nhỏ bé
mà mẹ tôi từng học hai mươi năm trước đó. Hai trong số
các thầy cô của tôi - một thầy dạy tiếng Anh và một thầy
dạy tiếng Latin - đôi khi gọi tôi bằng tên của mẹ tôi,
‘Alice”. Năm cuối khóa, tôi rất vui được chọn làm biên tập
viên cho tạp chí văn học của trường trung học, trừ việc là
mẹ tôi cũng từng làm việc đó, và tôi đã sợ rằng có thể do
230
một lời nguyền nào đó mà tôi phải sống cuộc đời của mẹ
trở lại lần nữa. Nhưng chẳng phải là tôi đã đến thế giới này
để làm một người khác sao?
Sau thời trung học, qua nhiều thời vận và nhiều bất
hạnh của riêng mình, tôi kết luận chắc nịch rằng tôi không
phải là mẹ, và không còn lo lắng về điều đó nữa. Nhưng
giờ một lần nữa, nhân dạng (identity) của tôi lại trùng lấp
với mẹ. Nhiều khi người ta bảo là tôi giống mẹ, và giờ khi
bà đã ra đi, tôi không còn để tâm đến điều đó nhiều như
trước đây. Tuy nhiên, tôi không thích việc tôi hay làm dính
đồ ăn trên áo, giống như mẹ tôi trước đây - dấu của yaourt
rớt trên ngực áo và các đốm của kem sô-cô-la dây trên ống
tay áo.
Cũng lạ là những sự giống nhau trong gia đình đã nổi
bật lên khoảng cuối đời như thế nào, nhất là sau khi cha
mẹ đã qua đời. Các em gái tôi cũng vậy, ngày càng giống
mẹ, và sau khi cha tôi mất, em trai tôi bỗng nhìn giống ông
một cách lạ lùng. Sau khi bà nội tôi mất, cô tôi mang dáng
dấp, khuôn mặt của bà tôi. Dường như cô còn cố làm cho
giống nữa, cũng cắt ngắn mái tóc bạc quăn quít như bà tôi
đã làm, cũng mặc chiếc váy xanh đậm và áo khoác giống
như bà tôi từng mặc. Có lần, gặp cô tại một buổi họp mặt
gia đình sau một thời gian vắng mặt, tôi thoáng nghĩ trong
một giây phút sợ hãi rằng cô chính là người bà đã mất của
tôi. Có lẽ DNA11 của chúng ta là một viên thuốc phát tán
11 DNA: (Deoxyribonucleic Acid): cấu tử cơ bản của tế bào di
231
theo thời gian, ở một thời điểm nào đó, tế bào di truyền
phát lệnh: những người trong gia đình bạn sẽ nhìn giống
như thế này khi họ về già.
Tôi nhớ mẹ tôi nhiều hơn tôi tưởng. Tôi cũng buồn vì
bà mất do tai nạn, trước khi bà sẵn sàng ra đi, và trong ba
tuần cuối cùng trong đời bà lại phải ở trong bệnh viện, đau
đớn, nặng nề vì cái máy thở mà lý ra phải cứu bà sống,
nhưng nó đã thất bại. Tôi muốn xóa đi nỗi muộn phiền của
mình - để mẹ tôi không phải chết, hay để cho tôi không
còn nhớ nghĩ nữa - nhưng sự thanh thản đó chắc khó đến
với tôi khi nào tôi còn sống trên đời.
Và tôi khám phá ra một điều đáng ngạc nhiên: ngay cả
sau khi mẹ tôi mất, tôi vẫn còn giữ mối liên hệ với bà, đó
là một mối liên hệ biến chuyển, linh động, dầu bà đã mất.
Tôi liên hệ với mẹ như thế nào là tùy tôi.
Tôi có một người bạn thường dẫn cha cô đến một công
viên nước ở Berkeley, và ngồi với ông trên một chiếc băng
ghế đặc biệt để ngắm cảnh. Ông mất mười lăm năm trước,
vậy mà cô vẫn thường đến đó để ngồi trên ‘băng ghế của
Phật’ để chuyện trò với ông. Sau khi mẹ tôi mất, tôi treo
một bức ảnh của bà cạnh cầu thang để mỗi lần lên xuống
thang lầu tôi đều có thể nhìn thấy gương mặt bà. Đôi khi
tôi bắt gặp mình buột miệng nói lớn: “Chào Mẹ!”
Mẹ tôi đã xuất bản một số sách thơ với vài nhà xuất bản
truyền.
232
nhỏ, và lúc cuối đời, bà muốn xuất bản một tuyển tập
những tự truyện ngắn của mình. Bà đã nhờ tôi biên tập, điều
mà tôi rất sẵn lòng, vì thế tôi đã giúp bà chọn các truyện để
bỏ vào sách, và tôi đã có những gợi ý để bà sửa đổi chúng.
Bà cũng có viết vài truyện ngắn mới cho tuyển tập này.
Chúng tôi đã cùng thực hiện công việc này một cách vui vẻ.
Tôi ngưỡng mộ văn của mẹ, và rất xúc động về cuộc đời
mà mẹ đã kể lại trong các câu truyện, ngược lại mẹ cũng
hoàn toàn tin cậy vào các ý kiến biên tập của tôi.
Năm trước khi mẹ tôi mất, tôi đưa mẹ đến dự một hội
trại viết văn do một người bạn cũ phụ trách ở Glenstal
Abbey, một tu viện Thiên Chúa giáo, phía tây của Ái Nhĩ
Lan. Đó là một chuyến du hành lớn cuối cùng của hai
chúng tôi. Chỉ có bảy người học: mẹ, tôi, bốn vị tu sĩ văn
chương ở tu viện và một phụ nữ đến từ Dublin. Ở đó mẹ
tôi đã viết truyện cuối cùng của mình, về cuộc hôn nhân
đầy đau khổ với cha tôi, và mỗi ngày, khi đến lượt mình,
mẹ đã can đảm đọc lớn một phần câu truyện đó trước cả
nhóm. Can đảm vì câu truyện kể lại những khổ đau thầm
kín trong hôn nhân mà trong nhóm có cả các vị tu sĩ độc
thân và con gái của bà. Mọi người đều lắng nghe kỹ và đã
có những ý kiến phản hồi hữu ích cho bà. Vậy là cả tuần
đó mẹ tôi lao vào công việc, viết lại bằng tay vì ở đó bà
không có máy vi tính, rồi cắt, dán bằng kéo và băng keo.
Một trong các vị tu sĩ, vị mà bà đặc biệt có cảm tình, đã
làm copy cho bà trong thư viện. Đó là một câu truyện hay,
mà mẹ còn làm cho nó hay hơn.
233
Đến giờ ăn, tôi đẩy mẹ trong chiếc xe lăn xuống con
đường đầy đá sỏi đến phòng ăn - một sự di chuyển chậm
chạp, nghiến qua sỏi đá - để dùng bánh pút-đinh
(pudding)12 màu huyết dụ, bánh mì nâu và trà trong những
chiếc tô với các vị tu sĩ. Buổi chiều, trong ánh mặt trời
chiều của mùa hè ở Ái Nhĩ Lan, tôi đưa mẹ ra khu vườn có
tường bao bọc. Bà ngồi trên bờ triền đá của những luống
hoa oải hương, và nhoài mình ngửi mùi hương hoa.
Lần căng thẳng duy nhất xảy ra giữa chúng tôi là vào
một buổi sáng khi mẹ tôi nói, “Mẹ thích con chải tóc về
phía sau hơn”. Đó cũng chỉ là một điệp khúc quen thuộc,
nhưng lần này tôi nghĩ đó là một lời khen tặng, vì tôi vừa
chải tóc xong trong phòng tắm.
“Cảm ơn mẹ”, tôi nói.
“Không”, bà nói, “không phải giống vậy. Con chải lại
được không?” Tôi nổi giận, nhưng sau đó, xem lại những
tấm hình của tôi trong chuyến đi đó, tôi thấy tóc mình thực
sự là rất bù xù. Tôi không cắt tóc ngắn, gọn ghẻ, cho khỏi
vướng vào mặt như mẹ tôi vẫn luôn muốn thế, cho đến khi
sau khi bà mất. Hẳn đó là sự kình chống vô thức của con
cái đối với cha mẹ, khiến tôi không muốn làm mẹ vui lòng
trong việc đó. Giờ nếu mẹ nhìn thấy tóc tai tôi, hẳn là bà
rất vui lòng.
Tôi có mặt trong phòng mẹ ở nhà khách của tu viện
khi mẹ nhận được điện thoại của một ông cụ ở Chicago,
12 Một loại bánh giống như bánh Flan.
234
người mới để ý đến mẹ gần đây. Giọng ông ở đầu dây
đằng kia, ở bên kia bờ Đại Tây Dương, hét vang lên khắp
phòng, “Tôi yêu em!”
“Em cũng vậy”, mẹ nói, quá ngượng ngùng với sự có
mặt của tôi trong phòng nên không nhắc lại câu nói. Mẹ
không biết rằng tôi đã nghe được người kia nói gì hoặc
biết rằng những lời đó khiến tôi vui cho mẹ.
Không lâu sau chuyến đi Ái Nhĩ Lan, mẹ tôi hoàn tất
việc chỉnh sửa tất cả các câu truyện, vậy là chỉ còn phần
biên tập cuối cùng của tôi. Tôi làm việc này hơi chậm, vì
đang biên tập dở dang một dự án khác.
“Khi nào thì con hoàn tất việc biên tập sách của mẹ”,
bà hỏi tôi, mỗi khi chúng tôi chuyện trò.
“Ngay sau khi con hoàn thành dự án đang dang dở”,
tôi trả lời.
Rồi thì tôi cũng hoàn tất việc biên tập quyển sách kia,
nên tôi dốc hết chú tâm vào quyển sách của mẹ. Tôi vừa
gửi cho mẹ phiên bản cuối cùng thì mẹ bị tai nạn và đã ra
đi ba tuần sau đó.
Tôi rất hối hận vì đã không hoàn thành quyển sách kịp
để mẹ thấy nó được in ra. Nhưng đây là điều thường xảy
ra khi người ta phải ra đi bất ngờ. Cái chết là một sự gián
đoạn của cuộc sống. Công trình gì đó đang dang dở, công
việc gì đó, lớn hay nhỏ, còn chưa hoàn tất, một số điều
chưa được nói ra, một lá thư chưa gửi, một cái tách chưa
kịp rửa, một chiếc áo chưa kịp xếp trên giường.
235
Tôi đã hứa lúc mẹ nằm viện rằng tôi sẽ hoàn thành
việc biên tập và xuất bản quyển sách, và tôi đã thực hiện
được điều đó. Khi từ nhà in trở về, tôi háo hức mở thùng
sách và lôi ra một quyển. Bìa sách là một bức họa của một
người bạn của mẹ. Tôi ôm sách vào lòng, đó là một quyển
sách toàn mỹ. Tôi vòng tay trong cử chỉ - tựa như đặt
quyển sách vào hai tay của mẹ tôi. Tôi tự khẳng định rằng
niềm đau của việc không kịp hoàn tất công việc này trước
khi mẹ tôi ra đi thuộc về tôi nhiều hơn, vì bà đã hoàn
thành phần việc của mình đối với quyển sách, và trước giờ
ra đi, mẹ tôi dường như quan tâm đến những vấn đề khác
hơn: về gia đình, về bạn bè, về việc thở. Ngoài ra, việc sắp
xếp lại quyển sách, rồi in ấn nó, tạo cho tôi phương tiện để
có thể cảm thấy gần gũi với mẹ ngay cả sau khi bà đã ra
đi. Dầu giờ bà là người cộng tác thầm lặng hơn là lúc sinh
thời, nhưng tôi vẫn nhận ra được sự có mặt của mẹ khi tôi
và các em đọc sách, gửi nó đi khắp mọi nơi, những nơi mà
người ta hân hoan đón nhận nó.
Đã từ lâu, ngay cả trước khi mất, mẹ tôi đã không còn
chăm sóc các con theo ý nghĩa thông thường; vì chúng tôi
đã là những người trưởng thành từ lâu rồi. Nhưng mẹ luôn
khuyến khích tôi, khiến tôi cảm thấy được an ủi. Bà luôn
lắng nghe tôi, luôn muốn được gặp tôi, và bà thường tán
thán công việc tôi làm. Khi nào mẹ còn sống thì tôi còn tin
tưởng rằng khi tôi gặp phải khó khăn gì, mẹ cũng có thể
bằng cách nào đó xoa dịu cho tôi. Giờ trong cảnh mồ côi
tôi phải chấp nhận sự thật là mẹ không còn có thể can
thiệp được nữa rồi.
236
Giá mà tôi cũng có thể đáp lại tình thương yêu của mẹ
bằng cách an ủi mẹ tốt hơn. Mẹ không đòi hỏi tôi chuyện
đó, nhưng tôi ít khi lắng nghe khi mẹ buồn phiền về
chuyện gì đó. Vì tôi nghĩ là mẹ, thì bà phải là người an ủi
tôi. Tôi thường nhanh chóng kết luận, “Ấy, chuyện đó có
là gì đâu. Con chắc là ông ấy không có ý làm mẹ buồn
đâu”, và như thế là mẹ tôi càng buồn hơn, vì bà không
được lắng nghe.
Giờ tôi đã trải qua một số điều mà mẹ tôi đã trải qua
trong tuổi già, tôi cảm thông với bà dưới cái nhìn khác.
Ngẫm nghĩ lại tôi thấy là mẹ rất ít khi than phiền, ngay cả
với những vấn đề nghiêm trọng như lần bị đau ở lưng
khiến bà phải giới hạn sự đi đứng. Nghịch lý thay khi bà
càng yếu ớt, bà càng mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên bà có trách
tôi không thường thăm viếng bà. Mỗi năm tôi bay qua
Chicago thăm bà đôi lần, mỗi lần khoảng tuần lễ. Cha
dượng đã mất trước mẹ tôi hai năm. Sau khi ông mất,
những cuộc viếng thăm có vẻ thân mật hơn. Tôi cảm thấy
hơi lúng túng khi chỉ có hai chúng tôi ngồi trong phòng
khách, tôi thì đan móc, còn mẹ vuốt ve chú mèo hay gõ gõ
tay trên môi, như chờ đợi những tâm sự mà tôi không
muốn nói ra - như tôi nghĩ thế nào về cuộc đời mình và
những người thân. Mẹ không hỏi, nhưng tôi có thể cảm
nhận được sự thắc mắc của bà: Tôi đã yêu ai chưa? Tôi
đang viết sách gì? Trời ạ! Sao mà khó gở bỏ sự che giấu
mình đến thế? Tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi đến 10 giờ
đêm, theo thói quen mẹ thường vặn đài BBC để nghe tin
tức. Nhưng bà nói, “Có con ở đây, mẹ không cần xem tin
tức đâu. Lúc nào khác mà mẹ xem không được”.
237
“Không sao đâu mẹ,” tôi trả lời. “Để xem mấy vụ cháy
rừng ở California ra sao”.
Tôi sợ rằng những đòi hỏi của mẹ nơi tôi quá lớn đến
nỗi sẽ khiến tôi phải giữ khoảng cách với bà, do sự tự bảo
vệ sai lầm. Giờ mẹ đã mất, dầu tôi không muốn thì khoảng
cách giữa mẹ và tôi cũng đã quá xa.
Tôi thường gọi điện thoại cho mẹ mỗi chủ nhật.
Chúng tôi nói về thời tiết, về quyển sách đang đọc, phim
đã xem, tin tức về mấy đứa cháu, còn mẹ thì nói cho tôi
nghe những gì bà đang nhìn thấy qua cửa sổ ở tầng lầu thứ
sáu xuống hồ Michigan. “Mấy người thợ mũ vàng đang rải
cát, để tạo một bờ biễn cạnh hồ - nhìn họ giống mấy chú
kiến vàng”. Hay, “Có một bà mập đang chạy quanh hồ -
mẹ không hiểu sao mập vậy còn đi chạy bộ. Thật quái dị!”
Có lần mẹ hồ hởi nói với tôi về một vị nghị sĩ thượng nghị
viện vừa được bầu ở Illinois, người đó trước ở Hyde Park,
là khu vực bà đang sống ở Chicago - là Barack Obama.
Mấy năm trước khi mẹ tôi mất, tôi bắt đầu nói con yêu
mẹ, trước khi gác máy điện thoại. Tôi đã ngoài sáu mươi,
còn mẹ đã ngoài tám mươi - một người con gái ở tuối xế
chiều nói với bà mẹ già một điều đơn giản mà bà rất vui
lòng khi được nghe. Đúng thế, vậy mà không hiểu tại sao
khi tôi bắt đầu thực tập nó khó nói làm sao, mãi khi đã
thành thói quen mới thấy dễ hơn, mấy năm cuối nó tự
nhiên tuôn ra đầu lưỡi.
Biết bao điều xảy ra mà tôi rất muốn nói với mẹ nếu
tôi có thể gọi bà chủ nhật tới. Tôi muốn cho mẹ biết là độc
238
giả rất thích quyển sách truyện ngắn của bà. Tôi muốn mẹ
biết là chắt gái của bà có thể nói cả tiếng Anh lẫn tiếng
Mễ. Chắc mẹ sẽ rất thích dự đám cưới của cháu trai tôi
diễn ra hồi hè năm ngoái, với sự có mặt của đông đủ người
thân. Và hẳn là mẹ rất phấn khởi về ông Obama. Ước gì
tôi có thể nói với mẹ -“Thử đoán xem ai là tổng thống của
mẹ bây giờ!”
Thời gian càng trôi qua, càng có nhiều sự kiện mẹ
không còn được chứng kiến: lễ ra trường, lễ cưới, lễ mừng
sinh con, và mẹ càng lùi sâu về quá khứ, những đứa cháu
của mẹ sẽ lập gia đình với những người mẹ chưa bao giờ
gặp, theo đuổi những mục đích mà mẹ chẳng bao giờ biết
chúng có, còn con cái của mẹ thì trở nên già nua, yếu đuối,
phải thay khớp, hay có những bộ phận trong người không
hoạt động phải bị cắt bỏ.
Giờ tôi có thể hàm ân mẹ nhiều hơn vì tôi không còn
phản ứng một cách tự vệ đối với những nhận xét của mẹ
về mái tóc rối bù của tôi, hay cảm thấy tội lỗi vì không
thăm viếng mẹ thường xuyên. Khi nào còn sống, thì bà
vẫn là Mẹ, còn tôi, con của bà, dầu có bao nhiêu tuổi, thì
tôi vẫn trẻ dại.
Mẹ đã sinh tôi đến hai lần: lần đầu khi tôi được sinh ra,
lần thứ hai khi mẹ mất đi. Giờ khi mẹ đã khuất, tôi không
còn là con trẻ của ai cả. Vì thế tôi phải trưởng thành, ở
thời điểm muộn màng này. Phải mất rất lâu con người ta
mới có thể trưởng thành.
Một năm sau khi mẹ mất, khi tôi đang ngồi trong xe
239
đậu ở một vùng quê California. Điện thoại di động để trên
ghế ngồi cạnh tôi bỗng reo lên. Tôi mò mẫm chụp lấy nó,
và chỉ vừa kịp trả lời đúng lúc. “A-lô?”
“A-lô, mẹ đây”. Đó là cách mẹ tôi tự khẳng định mình
khi bà điện thoại cho tôi, nhấn mạnh một cách mai mỉa
chữ “mẹ” như thể đó là một cách đùa riêng của chúng tôi.
Chưa ai có thể gọi được tôi qua điện thoại, ngay cả người
sống, vì tôi chẳng bao giờ vặn nó lên, nên đây đúng là một
phép mầu.
“Mẹ!” tôi kêu lên, quá vui mừng khi nghe được giọng
nói của bà, “thật kỳ diệu khi mẹ tìm được cách để gọi con
dầu mẹ đã mất rồi! Cảm ơn mẹ vô cùng vì đã gọi cho
con”.
“Susan, con hãy bảo trọng,” bà nói với giọng trìu mến.
Chỉ có vậy, nhưng khi bà nói điều đó, tôi biết đó đúng là
điều tôi đang muốn được nghe. Rồi thì tôi mất liên lạc.
Nhưng vậy cũng đủ rồi. Tôi tràn đầy lòng biết ơn rằng
mẹ đã cố gắng liên hệ với tôi từ bên kia thế giới. Và khi tôi
tỉnh dậy, ý thức được rằng đó chỉ là một giấc mơ. Nhưng
nó vẫn là một phép mầu. Mẹ đã có cách để kết nối với tôi:
qua những giấc mơ.
* * *
240
241
Hiện Tại
Ngã là thời gian... Đừng nghĩ
rằng thời gian chỉ lướt qua
...Nếu thời gian chỉ lướt qua, thì
bạn đã bị tách biệt khỏi thời gian.
- Thiền Sư Dogen, “The Time Being”
Năm tôi bốn mươi chín tuổi, và các con tôi ít nhiều đã
lớn khôn, tôi đã thực hiện một lời hứa với bản thân là sẽ
tham dự một khóa tu dài hạn trước tuổi năm mươi. Tôi sắp
xếp để xin nghỉ việc, nhờ người may một ít y, rồi đi dự
một khóa ‘tu hành’ ở Trung Tâm Sơn Thiền Tassajara, sâu
trong các núi dọc theo bờ biển của California. Suốt ba
tháng tôi tuân giữ thời khóa nghiêm ngặt của tu viện: tọa
thiền, học giáo lý, và im lặng làm bất cứ công việc gì
được giao phó, dầu đó là xắt cà-rốt hay lau mấy cây đèn
dầu. Suốt thời gian đó tôi không hề bước chân lên xe hay
nghe điện thoại.
Các thiền sinh được báo hiệu giờ đi tọa thiền bằng
tiếng gõ của cây han, là một khúc gỗ nặng treo trên một
242
sợi dây ngay lối vào chùa. Người ta dùng chày gõ vào
khúc gỗ này theo một nhịp điệu phức tạp trong khoảng
mười lăm phút. Ở trung tâm Tassajara, vì ca-bin của các
hành giả trải dài dọc theo một thung lũng hẹp, nên một
khúc gỗ han thứ hai, được coi là bản gỗ vọng, treo ở
khoảng giữa đường, để truyền tín hiệu xuống xa hơn. Bạn
có thể biết mình còn khoảng bao nhiêu thời gian để đến
chỗ tọa cụ trong thiền đường bằng cách lắng nghe nhịp
điệu tiếng gõ .
Tiếng vọng của gỗ trên gỗ chạy nhanh khắp thung
lũng. Trên khúc gỗ có mấy dòng thư pháp như sau:
Hãy thức tỉnh!
Cuộc đời là giả tạm
Nhanh chóng qua đi.
Hãy chánh niệm
Việc trọng đại
Chớ lãng phí
Thời gian.
Một buổi tối khoảng giữa khóa tu học, thì đến lượt tôi
phải gõ bảng gỗ vọng, từng tiếng từng tiếng. Tôi đứng trên
một con đường đất, chày cầm trong tay, giống như một
con cóc trên nhánh hoa huệ chờ đợi con mồi. Mặt tôi
hướng về khu vườn, nơi ánh nắng mặt trời chiều chiếu
xuyên qua các khe núi, đậu trên hai cây đào. Tôi đang ở tư
thế sẵn sàng trong khoảng dừng ngắn ngủi giữa những
tiếng gõ, chờ đợi, và các tuần lễ của thời gian tu tập vươn
dài ra trước tôi và sau tôi để vào cõi vô hạn. Và khi tiếng
243
gõ kế tiếp đến tai tôi, cánh tay cầm chày đưa lên và gõ vào
bảng gỗ, hết ga, không kiềm giữ, sau đó là thinh lặng,
trong khi ánh sáng vẫn còn trên các cây đào và tôi sẵn
sàng cho tiếng gõ kế tiếp.
Vài năm trước đây, khi tôi chỉ còn mấy tháng đến tuổi
sáu mươi lăm, tôi dọn hết đồ đạc ở chỗ làm việc. Tôi rất
thích công việc mình làm - tôi đã làm công việc này suốt
mười bảy năm nay. Nhưng việc biên tập cho một tạp chí ra
mỗi quý, có nghĩa là tôi luôn phải chịu áp lực về thời gian.
Tôi muốn nghỉ hưu trước khi họ phải nhẹ nhàng mời tôi ra
đi, trước khi đầu óc của tôi khô cằn ngay tại bàn làm việc
của mình, với một tay cầm điện thoại, một tay cầm chuột
máy tính. Tôi muốn có thì giờ dành cho nhiều việc khác
trước khi tôi chết - những khoảng thời gian bình lặng, sâu
thẳm - dành cho viết lách, dành cho Phật Pháp, gia đình,
thân hữu và cho một điều gì đó mới lạ, bí ẩn.
Một phần con người tôi muốn được thả chiếc thùng
xuống sâu dưới giếng để kéo lên dòng nước mát lạnh lại bị
cản trở bởi một phần khác. Tôi đang trải qua một trạng
thái mà một người bạn thiền sinh gọi là “Triệu chứng
FOMS” - sợ thiếu sót điều gì đó (Fear Of Missing
Something). Đó là một hình thái của tham - sự thôi thúc
phải dồn nhiều hoạt động hấp dẫn vào trong một ngày nếu
có thể, cộng thêm bản năng ôm đồm tất cả mọi thứ. Nói
một cách tích cực, tôi tò mò về tất cả mọi thứ, tất cả mọi
người. Vì thế, khi mới vừa nghỉ hưu, cảm thấy có nhiều
thời gian, tôi ghi danh cho tất cả mọi loại hoạt động, lớp
244
học và dự án. Mỗi thứ tôi làm đều đáng giá; thí dụ, tôi rất
yêu thích lớp học tiếng Tây Ban Nha và lớp chụp ảnh của
mình. Sau đó tôi thấy mình còn bận rộn hơn trước nữa.
Vậy thời gian dành cho việc tu tập ở đâu? Khi tôi trở nên
quá bận rộn thì các thói quen cũ của tâm lại trỗi dậy. Tôi
cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách sửa chữa thời khóa
biểu của tôi, nhưng chỉ làm cho nó thêm rối. Tôi thay đổi
một cuộc hẹn này để có chỗ cho một cuộc hẹn khác. Tôi
căng mắt nhìn quyển lịch để tìm một chỗ trống, và khi tôi
tìm được, tôi nhảy lên mừng rỡ. À, một mẫu thời gian quý
báu! Tôi viết xuống: “2PM- Café Nomad, dự tính hội thảo
với Jean”, và khoảng trống trắng trên quyển lịch mất đi.
Chết! Không còn thời gian nữa. Lúc đó tôi cảm thấy giống
như một con thú quay cuồng trong một chiếc bẫy làm bằng
lưới, càng lúc càng bị siết chặt.
Tôi cố gắng đo lường thời gian của mình trước mắt
cũng như về sau. Tôi là người thích đong đếm sự vật, giỏi
với các con số. Năm sáu mươi sáu, tôi tính là tôi đã đi
được khoảng ba phần tư con đường. Đó là nếu tôi sống
đển tám mươi tám. Là bao lâu nữa vậy? Tôi đi trở ngược
lại hai mươi hai năm, khi tôi đang học tiếng Nga và tôi
tham dự chuyến du lịch “công dân ngoại giao” đến Liên
bang Xô-Viết. Còn nhớ Liên bang Xô-Viết không? Tôi
đoán hai mươi hai năm là một khoảng thời gian khá dài -
nhưng giờ tất cả đã qua đi, kể cả tiếng Nga của tôi. Hai
mươi hai năm tiếp theo sẽ đi nhanh hơn hai mươi hai năm
đã qua, hơn nữa, tôi cũng có thể ra đi sớm hơn thế nữa.
Nếu giống như cha tôi, người ra đi ở tuổi bảy mươi ba, thế
245
có nghĩa là tôi đã sống - chờ tí, để tôi làm con tính thử -
hết 90 phần trăm cuộc đời mình.
Phải thừa nhận, đôi khi suy nghĩ về thời gian theo cách
này cũng phù hợp - dựa theo những bảng thống kê của
tâm. Tôi có người bạn già bảy mươi tuổi, bị bệnh tim và
một số bệnh mãn tính khác. Bà có khó khăn về tài chánh,
nên phải tính toán về nhà ở và chi phí cuộc sống. Bà phải
quyết định xem còn bao lâu nữa thì bà vượt mức trần tiền
tín dụng thế chấp của căn nhà, hoặc bà có cần phải tiếp tục
làm việc bán thời gian nữa không. Bà không ngại ngần hỏi
bác sĩ tim mạch phỏng đoán xem bà còn sống bao lâu nữa.
Bà bảo bác sĩ là nhẩm tính về tài chánh thì bà có thể trụ tới
tuổi tám mươi hai.
“Mấy năm gần đây sức khỏe bà đã tốt hơn rồi”, bác sĩ
bảo bà. “Theo thống kê, hơn năm mươi phần trăm cơ hội
là bà sẽ sống đến tám mươi bảy”. Bạn tôi trợn mắt,
“Nhưng tôi không có khả năng để sống lâu như thế!” Cả
hai người cùng cười, và giờ thì bà phải tìm thêm việc bán
thời gian để làm.
Dĩ nhiên chúng ta không thể thực sự đo lường được
thời gian. Sự tính toán của chúng ta giống như vết mực
trên biển. Einstein đã bảo rằng thời gian rất uyển chuyển.
Thời gian qua đi khác nhau đối với người đang lưu thông
trên đường, với người đang nắn đất sét ướt trên bàn quay
làm nồi, hoặc một người đang tiến đến tốc độ ánh sáng
trong một chiếc phi thuyền. Một giờ có thể dường như một
năm, và một năm dường như một giờ.
246
Trong những ngày cuối cùng của cha tôi, ông rất đau
đớn vì căn bệnh ung thư. Ông thường hỏi giờ, và bất cứ
câu trả lời là gì, ông luôn rên rĩ, nói, “Không thể nào! Chỉ
mới giờ đó thôi à?” Tôi đã không hiểu tại sao ông lại
muốn thời gian nhanh qua, vì đâu có gì xảy ra, ngoài việc
là ông sắp ra đi. Tôi nghĩ sự đau đớn khiến thời gian qua
đi một cách chậm chạp, và cha tôi muốn biết là ông đã
vượt qua cơn đau, trong từng giờ.
Tôi cũng có những lúc muốn thời gian qua đi nhanh
chóng. Nhưng đa phần, thời gian là thứ mà tôi luôn cần
nhiều hơn, nhưng khi tôi ngày càng thêm tuổi, thì thời gian
ngày càng ít dần lại. Một là thời gian trước mặt không còn
nhiều như trước kia. Hai là mỗi năm lại qua đi nhanh hơn
năm trước. Ba là tôi không còn một lúc làm được nhiều
việc khác nhau nữa - tôi chỉ có thể làm mỗi lúc một việc.
Và bốn là giờ mỗi việc tôi làm tốn nhiều thời gian hơn
trước. Tuổi tác đã buộc tôi phải chậm lại. Tôi không phải
là người duy nhất như thế. Hẳn là vì lý do sinh học mà
người già lái xe trên xa lộ rất chậm chạp. Tôi còn thấy một
băng rôn dán sau đuôi xe rằng: “Già và Chậm”.
Tôi nhớ lại mình đã quan sát bà một cách bực bội khi
bà làm bánh mì bơ đậu với mứt để đi dã ngoại. Bà lấy hũ
mứt trên tủ ra, đến đặt trên mặt kệ xanh, rồi quay trở lại
lấy bơ đậu cũng từ trong cái tủ ấy. Việc đó gần như bất
tận. Mà thật ra, không phải hoàn toàn bất tận, vì cuối cùng
bà cũng làm xong bánh mì, và chúng tôi đã ăn chúng khi
ngồi trên tấm mền ca-rô ngoài cánh đồng.
247
Đây mới là điều kỳ diệu: tuổi tác đã trả lại cho tôi giây
phút hiện tại. Chỉ có tuyến thời gian là rút ngắn lại, nhưng
khi điều đó xảy ra, tôi lại có cơ hội tốt hơn để đi vào thời
gian sâu lắng. Chỉ cần vài giây để lướt qua tiếng động giữa
hai chày đệm trên bảng gỗ han mà vào khu vườn của thời
gian vô hạn.
Đó là thiền định: thời điểm bước ra khỏi thời gian, đó
là dẹp bỏ các hoạt động, chậm lại để hoàn toàn dừng hẳn.
Trong khi tọa thiền, dầu tâm vượn của tôi có phóng điên
cuồng từ cành nọ sang cành kia, ít nhất là tôi không hoàn
thành bất cứ điều gì có ích lợi. Như Tâm Kinh đã dạy,
“Không có chứng đắc, cũng không có gì để chứng đắc”.
Khi ngồi thiền rất dễ để không hoàn thành điều gì;
thiền sinh ở bất cứ độ tuổi nào cũng làm được. Nhưng giờ
khi tôi đã lớn tuổi hơn, tôi tập gần như không hoàn thành
điều gì suốt cả ngày nữa. Nếu công phu tu tập này tiếp tục,
bà hàng xóm kế bên có thể nghĩ là tôi đang hành thiền
đứng trong sân sau trong khi thực sự là tôi đang lượm đồ
phơi đem vô nhà.
Tôi thích giấu mặt trong mùi nắng của tấm trải giường
treo trên dây trước khi gở nó xuống. Tôi thích tiếng cót-két
nhỏ của dây phơi đồ chạy qua cái ròng rọc sét rỉ khi tôi
kéo thêm một cái áo gối thơm tho khác.
Tôi không nói rằng tôi đã sẵn sàng để rũ bỏ tất cả.
Dầu Tâm Kinh có dạy như thế nào, tôi vẫn còn nhiều việc
tôi muốn hoàn thành trên đời hơn là công việc giặt đồ; sau
đó tôi muốn tiếp tục làm việc gì đó mới nữa, việc gì đó tôi
248
có thể làm với người khác để giúp thế giới hỗn loạn này.
Tôi vẫn muốn tiếp tục làm việc - tôi sử dụng từ làm việc
theo nghĩa rộng. Tôi biết là chậm lại, là một phương cách.
Tôi phải để tâm đến nhịp độ tự nhiên của mình. Tôi cố
gắng để mỗi việc cần bao lâu thời gian thì cứ để như thế,
và tôi để cho quyển lịch công việc của tôi còn được những
chỗ trắng. Tôi đã đặt ra một quy luật cho riêng mình mà đa
phần tôi giữ được: không gặp gỡ, không điện thoại, không
thư điện tử trước trưa. Buổi sáng dành cho viết lách và
nghiên cứu; buổi trưa tôi có thể xét bảng liệt kê những
việc phải làm.
Giờ các tầng lớp thời gian ở trong tôi. Tôi nghĩ đến
tầng lớp thời gian này như thời gian theo đường thẳng
đứng, khi tất cả mọi thời gian đều đổ về giây phút hiện tại,
ngược lại với thời gian theo đường chân trời mà ta thường
thấy trên những bức họa đồ treo trên tường lớp học: ở bên
trái là bắt đầu của cuộc sống của con người hai chân khi tổ
tiên của chúng ta từ trên cây xuống bốn triệu năm về trước
trong thời đại Pliocene, rồi sau đó, ở cuối của con đường
dài, là thời đại Holocene hiện tại, trong đó loài người
chúng ta có thể du hành qua Internet để nhìn xuống tuyết ở
các cực đang tan mà chẳng cần phải rời khỏi ghế ngồi. Tất
cả đều ở trong tôi, trong giây phút hiện tại. Dầu tôi không
nhớ rõ về những ngày thuộc thời đại Pliocene, thì thân này
nhớ nó đã trèo từ cây xuống như thế nào, với cánh tay treo
lơ lửng trên cành cây thấp nhất, rồi buông bàn tay đầy vết
thương, rơi xuống đất cứng giống như một trái banh trong
bao tay của người bắt bóng chày.
249
Khi người già lẫn lộn về các thế hệ, và gọi cháu trai
bằng tên của em trai mình, thì không phải là họ sai đâu.
Họ đang sống trong thứ thời gian sâu lắng mà Tào Động
gọi là “thời điểm hiện tại”. “Mỗi lúc là tất cả có mặt, là
toàn thể thế giới. Hãy quán chiếu ngay bây giờ nếu có
chúng sanh nào hay thế giới nào không có mặt trong giây
phút hiện tại”.
Tôi nghĩ thời gian giống như cảnh vật khi tôi đi trên
tàu hỏa, và tàu hỏa chính là cuộc đời tôi. Tôi chỉ có thể
thấy những gì bên ngoài cửa sổ tàu. Hôm qua đó là thành
phố Naperville, của bang Illinois; bữa nay là vùng Grand
Junction, của Colorado; ngày mai sẽ là Sparks, của
Nevada. Tôi chỉ nhìn thấy từng mảnh đóng khung bởi cửa
sổ con tàu, nhưng tất cả đều có ở đó ngay tức thì, tất cả
những nơi chốn đó, cả châu lục đó.
Tôi đi thăm cháu gái Paloma của tôi lúc sinh nhật ba
tuổi của nó; chúng tôi đến hồ bơi trong khu phố và chơi ở
chỗ cạn. Cháu đổ những vại đầy nước lên đầu tôi, giả bộ
như đang gội đầu cho tôi. Cô bé nhìn giống như cha nó lúc
nhỏ, khi tôi ngồi trên nắp bàn toilet trong phòng tắm, trong
lúc nó đang tắm, ngắm nó đổ đầy nước vào những chiếc ly
nhựa, rồi xếp chúng thành hàng dọc theo bờ bồn tắm để
cho Bạch Tuyết và Peter Pan tắm trong đó. Cái tôi ba tuổi
cũng ở trong Paloma, khi vào một ngày mùa hè nắng
nóng, tôi hứng đầy nước từ vòi nước bơm tay vào trong
chiếc thùng cây trong vườn nhà bà tôi để “sơn” mấy chiếc
ghế trong vườn. Cùng chơi với Paloma trong hồ tắm, tôi
250
đã không nghĩ đến những kỷ niệm về nước đã rất lâu xa
một cách có ý thức; tôi không cần phải làm điều đó. Ngay
khi Paloma chổng ngược thùng nước đổ lên đầu tôi, thì
thời xa xưa đó biến mất đi, mà những thời thơ ấu khác đó,
những mùa hè khác đó, tràn ngập tôi, làm đẫm ướt da tôi.
Trước khi rời hồ tắm, Paloma đến trước người cứu hộ
đang ngồi trên chiếc ghế trên cao; nó đưa ba ngón tay lên
và gọi, “Chú cứu hộ ơi! Con ba tuổi! Ba tuổi!” Ba tuổi
cũng ở trong tôi. Tôi không thể ở nhiều hơn một chỗ trong
cùng một lúc, nhưng tôi có thể ở nhiều thời điểm ở cùng
một nơi.
Thời gian không phải là thứ tôi sở hữu; nó là thứ tạo ra
tôi.
* * *
251
Cô Đơn Giữa Mọi Người
Suốt cuộc đời tôi luôn phải đấu tranh với cô đơn và
nỗi sợ phải cô đơn. Với công phu tu tập theo Phật giáo, tôi
dần đi đến chỗ hiểu biết rằng tôi không cô độc, ngay cả khi
tôi một mình, ít nhất trên lý thuyết là thế.
Năm hơn sáu mươi tuổi, khi tôi được kỳ nghỉ không
phải làm việc, tôi được có cơ hội đó. Cuối cùng tôi cảm
thấy sẵn sàng để chuyển lý thuyết thành thực hành. Tôi
quyết định sống một mình trong rừng suốt một tháng -
trong một căn nhà gỗ nhỏ xây theo cách của dân bụi đời,
trên một miếng đất do tôi và hai gia đình khác nữa làm chủ
ở hạt Mendocino. Hai mươi lăm năm nay, tôi vẫn thường
lên đó. Đó là một nơi rất thú vị để đến với người yêu của
mình, nhưng tôi không bao giờ thích đi đến đó một mình
vì nó quá vắng vẻ, và tôi luôn sợ phải đối mặt với sự cô
đơn. Nhưng giờ thì tôi đã sẵn sàng. Tôi muốn khám phá ra
ai có mặt khi không có ai ở đó trừ bản thân tôi.
252
Làm thế nào bạn thực sự biết mình đang sống, rằng
bạn là một con người nếu không có ai ở chung quanh để
nói, “Ừ, tôi biết ý anh là gì!” Hay hơn thế nữa, “Này! Bạn
đang dẫm lên chân tôi đấy!” Vì thế đây là câu hỏi cốt lõi
của tôi. Nếu một thân cây ngã đổ trong rừng, và không có
ai nghe thấy nó...? Nếu một phụ nữ ngồi trong hiên nhà
trong rừng sâu, và không ai thấy cô ...?
Phải đi hơn ba cây số trên con đường đất dốc cao lên
núi mới tới được căn ca-bin. Ở đó không có điện, không
điện thoại, không kết nối di động, không tủ lạnh. Có một lò
đốt củi để sửu ấm, và một lò đốt khí pro-pan để nấu nướng.
Khung cảnh bên ngoài thật tuyệt vời. Người hàng xóm gần
nhất cũng ở cách đây khoảng một cây số phía trên cao và
làm việc tại thị trấn Willits, khoảng nửa giờ lái xe.
Chủ tâm của tôi là không gặp hay nói chuyện với ai
suốt cả tháng. Có bao nhiêu lần, dù chỉ trong một ngày bạn
có thể không gặp gỡ hay trò chuyện với người khác?
Chuyện đó gần như không bao giờ xảy ra. Nhiều người thân
không hiểu tôi đang giở trò gì. Phản ứng đầu tiên của mẹ
tôi là, “Con muốn làm thế để làm chi?” Ngay chính trong
pháp hành của Thiền Tào Động, chúng tôi cũng không có
truyền thống độc cư, như trong Phật giáo Tây Tạng.
Tôi đã chuẩn bị cho sự trải nghiệm này rất cẩn thận.
Tôi đã nhờ người hàng xóm ở phía trên đường mang cho
tôi ít thực phẩm tươi hai lần trong tháng đó, nhưng đa
phần tôi ăn yến mạch, gạo, đậu, củ dền và khoai tây. Tôi
cũng đã sắp xếp với Norman Fischer, đạo hữu, và cũng là
253
cố vấn của tôi, làm đầu mối liên lạc cho tôi. Mỗi tuần một
lần, để bản thân không cảm thấy hoàn toàn cô lập, và để
gia đình biết là tôi đã không bị sư tử núi vồ chết, tôi sẽ lái
xe hai mươi phút xuống đường và gọi cho Norman từ điện
thoại công cộng ở trạm dừng chân trên Xa Lộ 101. Đó là
thời điểm duy nhất tôi sử dụng xe và thời điểm duy nhất
tôi trao đổi với một con người khác.
Em gái tôi đã tử tế để tôi mượn chú chó chân dài
ngoan hiền, Satchmo, cho có bạn. Chú chó giống như một
con nai, nhất là khi nó phóng trên sườn đồi qua những
buội cây manzanita. Tôi cần con chó với tôi vì có một chú
gấu đã quẩn quanh căn ca-bin cả năm nay hay lâu hơn
nữa; nó đã phá cửa vào nhà mấy lần, và ngốn hết tất cả
thực phẩm, có lần con trai tôi đã bắt gặp nó khi đang trên
đường ra nhà vệ sinh giữa đêm khuya. Nó kể rằng nó đã
chiếu đèn phin thẳng vào mặt gấu, nên nó quay lưng, lẩn
đi, nhưng tôi không thể hình dung mình có thể làm thế.
Tôi sợ con gấu này dù nó không phải là loại gấu ăn thịt
người. Tôi nghĩ là có Satchmo, tôi sẽ cảm thấy yên dạ hơn
- và thực sự là thế. Quan trọng hơn nữa, nó còn là người
bạn hiền lành, luôn ở cạnh tôi. Chúng tôi luôn tiếp xúc với
nhau. Nhưng tôi vẫn còn phải chấp nhận sự thật rằng mình
là một sinh vật nói tiếng Anh duy nhất ở quanh đây.
Tôi không mang theo đồng hồ, vì tôi muốn khám phá
thời gian một cách khác. Tôi muốn được ở trong giây phút
hiện tại càng nhiều càng tốt. Tôi đang được xa rời thời
khóa biểu hằng tuần trước mắt, xa rời cuộc sống luôn chạy
254
từ cái hẹn này đến cái hẹn khác, lo lắng sợ trể hẹn. Tôi
muốn được trải nghiệm việc thức dậy khi tôi muốn, ăn khi
tôi đói, và vào giường khi tôi bùn ngủ. Tôi không muốn
biết thời gian qua chiếc đồng hồ.
Tôi đã phát triển một thông lệ. Tôi thức dậy, và dẫn
Satchmo đi bộ. Sau đó tôi hành thiền độ tàn một cây nhang.
Tôi ăn sáng, rồi trải qua buổi sáng đọc sách và viết lách.
Tôi có mang máy vi tính cá nhân theo, cùng với linh kiện
để nạp pin từ bình điện xe bằng cách cắm nó vào chỗ đốt
hột quẹt. Khi bụng tôi báo cho tôi biết đã đến giờ ăn trưa
thì tôi ăn trưa, và vào các buổi chiều tôi làm một ít việc
khác. Tôi ngạc nhiên khám phá ra mình thích cưa các bảng
gỗ làm giá sách, dọn dẹp đường sá, sửa chữa băng ghế, chất
gỗ đốt lò sưởi. Sau khi mệt nhoài, tôi sẽ ngồi ở hàng hiên
ca-bin, uống một tách trà đen với mật và sữa bột.
Hàng hiên này là buồng lái của con thuyền của tôi, ngó
ra một thung lũng đến những dãy núi ở phía bờ bên kia, từ
nơi đó tôi chống chọi, lèo lái để đi qua đến tháng Chín.
Thời tiết thật hoàn hảo cho cuộc hành trình: ban ngày ấm
nhưng không quá nóng, ban đêm mát mẻ nhưng không quá
lạnh. Sau khi uống trà, tôi và Satchmo lại thực hiện cuộc
đi bộ buổi chiều.
Xế chiều, tôi trở về lại chỗ ngồi ngoài hàng hiên đọc
sách cho đến khi trời tối không còn thấy chữ nữa, thì tôi
vào nhà và ngồi thiền đến tàn một cây nhang khác nữa.
Sau đó tôi ăn tối.
Nhưng sau buổi ăn tối tôi không biết phải làm gì. Đôi
255
khi tôi đọc sách hay đan móc, hay tự học đàn ghi-ta bốn
dây của Hạ Uy Di. Tôi có một số công việc phải làm.
Nhưng thực sự, tôi thấy mấy cây đèn dầu không tạo ra
được sự năng động trong tôi để tôi có thể bắt tay làm việc
gì đó một cách hứng thú. Tôi để buổi tối qua đi. Trời thật
tối và có nhiều âm thanh lạ - tiếng cào trên mái nhà, hay
tiếng Satchmo gầm gừ gì đó. Nên tôi đành đi ngủ.
Tôi cũng biết tự chăm sóc bản thân. Tôi thu nhặt củi và
chặt củi để dành khi trời lạnh. Tôi phải chỉnh mực nước
đúng lúc khi bồn nước bị rỉ, nên tôi rất tự hào về bản thân vì
đã tìm ra cách làm điều này. Mỗi ngày tôi chuẩn bị ba bữa
ăn cho mình, vì tôi sử dụng loại thực phẩm phải được nấu,
nên khi tôi làm món súp đậu lăng đen thật hấp dẫn, tôi suy
nghĩ, “Chắc là phải có ai đó ở đây, nếu không tại sao tôi
nấu món súp đậu lăng đen này cho bà ta?” Tôi là con người.
Tôi cần được ấm. Tôi cần có nước. Tôi cần ăn. Tôi đã quen
chăm sóc người khác, nhưng không ngờ công việc chăm
sóc bản thân cũng không tồi, tuồng như có một du học sinh,
đó là tôi, đã đến ở với tôi một tháng. Tôi nhận ra là cô ta
đáng được chăm sóc, có thể hơn cả tháng cũng được.
Thời gian khó chịu nhất đối với tôi là mỗi ngày lúc trời
chạng vạng tối. Kể từ khi còn bé, tôi đã cảm thấy cô đơn
lúc trời chạng vạng. Có một điều gì đó về khoảng thời gian
giao thoa này, khi không còn là ngày nữa nhưng cũng
chưa là đêm. Ngày đang trên giường chờ chết - tôi đã quan
sát khi nó nằm xuống trên những dãy đồi nâu. Và ở trên
đó, một mình, đó là cái mà tôi gọi là căn bệnh chạng vạng
256
đã trùm phủ lấy tôi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tôi
không kiểm soát được mình; cảm giác đó ùa đến như một
vị khách không mời. Dầu chúng khác nhau về mức độ
nhưng luôn có vị đắng cay lúc cuối ngày. Các loại côn
trùng cất tiếng - châu chấu? dế mèn?- để tiễn ngày qua;
chào đón, bóng đêm. Tôi cố gắng để nắm bắt giây phút đó
khi chúng bắt đầu dàn nhạc klezmer13 của chúng nhưng tôi
luôn lỡ dịp. Khi tôi bắt đầu nghe chúng, thì chúng đã cất
tiếng ca rồi, giống như ngôi sao đầu tiên, luôn đã chói
sáng. Tôi không có ai ở bên cạnh “lúc ngày tàn” như
người ta thường nói. Tôi cũng đã có thể cố gắng tránh căn
bệnh chạng vạng đó, đã có thể lên dây chiếc radio, lắng
nghe đài KMUD ở Garberville, nơi những người dân quê
phản văn hóa luôn chống đối Bush14, nên cũng có thể
mang đến chút ấm lòng. Nhưng khi chiếc radio-lên-dây đã
tê liệt - nó chỉ là một phương tiện để lấp chỗ trống. Nên tôi
đành ngồi xuống trên chiếc ghế tròn đen trên gác xếp để
đối mặt với chạng vạng. Tôi nhất quyết sẽ ngồi đó cho đến
tối. Qua cửa sổ lớn, tôi ngắm nhìn ngày chịu thua bóng
đêm. Nơi bầu trời giáp đường dãy núi Yolla Bolla, tôi nhìn
thấy một màu sắc không thể đặt tên, giữa xanh và hồng.
Người tôi rũ xuống khi ánh sáng mặt trời đã tắt, và cuộc
đời của tôi dường như cũng phai mờ theo với ngày qua -
tất cả những gì tôi yêu thương đã không còn; tất cả những
gì tôi làm đều hư hoại. Bóng đêm bao trùm cây cối, từng
13 Một loại dụng cụ âm nhạc truyền thống của người Do Thái.
14 Bush: Tổng Thống Mỹ lúc bấy giờ.
257
chiếc lá một. Và tôi vẫn còn ngồi đó, soi rọi tâm mình. Tôi
đã chọn lựa để đến Shimmins Ridge một mình, giống như
một tăng sĩ trong sách Trung Hoa. “Cái gì thế này?” tôi
gào lên. “Cài gì đây?”
Cuối cùng thì thời khắc chạng vạng cũng qua đi. Tôi
trèo xuống trên những bậc thang dốc, đốt đèn lên, ăn cơm,
đậu ở thời điểm không còn là lưng chừng, thời điểm đơn
giản chỉ là đêm.
Chiều này sang chiều khác, tôi đã ngồi đó với ngạ quỷ
của tôi, thốt lên câu hỏi: Cái gì đây? Cuối cùng, tôi nhận ra
nó không là gì cả. Nó bình thường. Tôi bắt đầu tin rằng
mình đang ở trong vòng tay của Phật.
Khi những ngày yên ắng qua đi, và tôi bắt đầu quen
với khung cảnh chung quanh, thiên nhiên đã giúp tôi hiểu
rằng tôi không chỉ một mình. Dơi, chim cút, chim gõ mõ,
nai luôn ở chung quanh. Khi các chú dế hòa ca và cây lá
thầm thì, bạn cảm nhận được nhịp đập của cuộc sống đang
lướt qua bạn. Ngay cả chú rắn chuông đang cuộn mình
trên mặt sàn tắm ngoài trời dưới ánh nắng mặt trời cũng
mang chút hơi hám thân thiện khi nó đe dọa tôi trước khi
lẩn mình trốn vào đống củi.
Một buổi chiều khi tôi đang ở ngoài hàng hiên tập
yoga. Tôi đang cảm thấy mạnh mẽ, sảng khoái, an lạc một
mình, nhưng tiếng máy bay ồn ào cứ gầm rú trên đầu. Tôi
rất yêu thích sự tĩnh lặng của nơi này, và tôi bực bội với
những sự khuấy phá bất thường. Khi cuối cùng tôi ngước
lên quan sát, tôi thấy có một cột khói khổng lồ đang tạt về
hướng tôi từ thung lũng bên dưới. Tôi sững sờ nhận ra
258
rằng có một đám cháy rừng ở gần bên, và đó là những
chiếc phản lực cứu hỏa.
Tôi không thể đoán đám cháy ở đâu vì cây rừng,
nhưng dường như khói từ thung lũng nhỏ bé ngay dưới
con đường đất bay lên. Tôi cảm thấy lo ngại. Nếu đám
cháy ở dưới đường Covelo, nó có thể xé đường lên núi qua
đám cây khô trong nháy mắt, và tôi và Satchmo sẽ tàn đời.
Vì thế chúng tôi leo lên xe để chạy xuống đồi, xem tình
hình. Nhưng chiếc xe không chịu khởi động - bình điện xe
đã chết! Giá mà tôi đậu xe trên dốc thì tôi đã có thể cho
nó vào số hai, rồi đổ dốc cho đến khi máy xe khởi động,
nhưng tôi lại đậu xe vào một chỗ khuất xa đường.
Lúc đó tôi hoảng loạn. Tôi nhớ đến đám cháy Oakland,
nơi nhiều người chết vì không thể đi xuống khỏi đồi
Oakland. Tôi đã nghĩ: gia đình và bạn bè sẽ rất bực tức
nếu tôi bị chết cháy vì tôi đã làm tiêu hao bình điện xe vì
cái máy tính cá nhân!
Biết là người hàng xóm ở trên dốc đường làm việc
dưới thị trấn, nên Satchmo và tôi đi bộ đến nhà của người
hàng xóm gần nhất kế tiếp, khoảng một cây số rưỡi dưới
đường, nhưng ông ấy cũng không có ở nhà. Có lẽ tôi là
người duy nhất sống ở Shimmins Ridge. Chúng tôi tiếp tục
đi hơn cây số nữa xuống tận cùng con đường đất, và lúc đó
thì nhìn đám khói, tôi biết rằng đám cháy ở phía bên kia
đồi. Hú hồn! Tận cuối đường, trên con đường tráng nhựa,
tôi thấy một số hàng xóm có mặt ở nhà - ở thôn quê, hàng
xóm cách xa nhau ba, bốn cây số - và những người hàng
259
xóm không có mặt ở nhà cũng có mặt ở đây, tất cả họ đang
ngồi uống bia vào một buổi trưa trong tuần.
Họ bảo tôi đừng lo về vụ cháy - họ đã lên internet xem
và biết là nó ở phía bên kia xa lộ. Tôi nói với họ bình điện
xe tôi bị cạn, nên một trong mấy người thanh niên đó nói
sẽ cho tôi quá giang trên chiếc xe hàng của anh ta lên đồi
và giúp tôi khởi động lại xe. Họ mời tôi uống nước, và
chúng tôi ngồi trò chuyện khoảng nửa tiếng đồng hồ,
không ai nhắc gì đến chuyện cho tôi quá giang xe. Tôi
cũng không hỏi, “Khi nào ông có thể giúp tôi khởi động
xe?” Tôi không vội vã. Mà dường như ai cũng thế. Tôi
chưa bao giờ thấy chim ruồi nhiều như thế ở một chỗ, bay
vần vũ quanh mấy chục người cho chim ăn, nên tôi đã
quán sát họ. Cả hai tuần nay tôi không tiếp chuyện với ai,
nên dầu gì tôi cũng ở trong một trạng thái khác. Tôi bằng
lòng chờ đợi. Nhưng tôi ngạc nhiên bởi việc, nếu ai đó
trong thành phố, ở Berkeley chẳng hạn, nếu họ nói sẽ giúp
đẩy xe cho bạn, họ sẽ không ngồi đó chuyện vãn gần nửa
tiếng đồng hồ như chưa hề nói sẽ giúp bạn. Cuối cùng
người thanh niên nói, “Thôi, đi thôi”, rồi anh ta chở tôi và
Satchmo lên đường trong chiếc xe hàng, và khởi động xe
cho tôi.
Một trải nghiệm đáng xấu hổ. Tôi đang cảm thấy quá
đỗi tự hào về việc mình là người phụ nữ tiên phong khi có
thể tự chăm sóc trong chốn hoang vu. Tôi đã rất bực bội
với mấy chiếc máy bay - những biểu thị của sự ô nhiễm
công nghệ này. Rồi bỗng nhiên mọi thứ đảo lộn, và tôi
260
nhận ra rằng ngay khi ẩn tu trong rừng, tôi cũng hoàn toàn
bị đan xen vào trong tấm thảm của xã hội loài người. Tôi
cảm thấy hàm ơn việc Bộ Kiểm Lâm có các máy bay để
dập tắt những cuộc cháy rừng, và việc có những người
thân thiện sống cuối con đường đã giúp tôi khởi động lại
xe, và tôi thấy rằng cả việc ẩn tu của tôi cũng dựa trên nền
tảng của lòng tử tế của con người và xã hội loài người.
Gần cuối cuộc tạm trú của mình, tôi lại rơi vào những
cơn cô đơn trầm trọng. Khi điều đó xảy ra, tôi bỏ ca-bin
trong một ngày rưỡi để đi dự lễ truy điệu của một người
bạn thân với gia đình. Tôi trả Satchmo về nhà em gái ở
Berkeley, rồi cùng với người thân đến viếng người đàn
ông đã cống hiến cả cuộc đời dài của mình cho nghệ thuật
và gia đình. Sau đó, tôi lại lái xe về phương bắc, lần này
không có chú chó, để hoàn thành tuần lễ cuối cùng trong
chuyến ẩn tu của mình.
Khi trở về lại căn ca-bin buổi chiều đó, tôi hoàn toàn
sụp đổ. Tôi lại chỉ có một mình, không có cả chú chó
Satchmo làm bạn. Trời chạng vạng tối, và tôi đã quên tôi
đang làm gì ở đó. Tôi so sánh cuộc đời mình với người
bạn vừa mất - ông luôn sáng tạo nghệ thuật, luôn yêu
thương và gắn bó với gia đình. Tất cả những nỗi sợ hãi tồi
tệ nhất và tất cả những ân hận của tôi về việc chỉ có một
mình lại bùng lên trong tôi, và tôi đã nghĩ chắc là tôi
không thể vượt qua tuần lễ cuối cùng này. Tôi ngồi xuống
tọa thiền, và tôi đã khóc. Sáng hôm sau, vẫn còn khóc, tôi
đã đi bộ, tôi đã thiền, tôi đã nấu súp đậu lăng, và dọn dẹp
261
mấy bụi cây. Khi tôi ngồi trong lúc chạng vạng của buổi
chiều hôm ấy, nhìn ra cây sồi sáng chói trong ánh nắng
cuối cùng, tôi tự nhắc nhở mình về những gì Norman đã
nói trong cuộc trò chuyện cuối cùng qua điện thoại.
Người ta cảm thấy buồn bả khi ngày qua đi là điều tự
nhiên, và khi phải chia lìa với người thân thương người ta
buồn bả cũng là điều tự nhiên. Vô thường là khổ, nhưng
khi tôi tự dằn vặt mình với sự tiếc nuối, là tôi tự đánh cắp
cuộc sống mà tôi đang sống ngay hiện tại: đám rêu trên
cành cây sồi, tiếng dế kêu, mùi súp đậu lăng đang nấu trên
lò. Tôi cảm thấy... một chuyển động, một nhấc bổng, một
tiếng lách cách vào khớp. Những ngày sau đó, cơn sốt cô
đơn của tôi vỡ òa, và tôi trở lại là tôi lần nữa.
Một buổi sáng khi tôi vừa trở về từ một cuộc đi bộ khá
xa, tôi nhìn lên trời và kia là mảnh trăng khuyết, vừa vơi
đầy, với một bên bị thời gian qua đi gặm dần bớt, đang lơ
lửng trong bầu trời xanh sáng trên những cây thông. Bỗng
nhiên tôi nhận thấy đó là mặt trăng đẹp nhất mà tôi từng
thấy. Tôi cảm thấy dường như trăng đang mở hội và đang
mời tôi đến dự.
Giờ tôi tin là tôi bình thường trong cái cách mà trước
đây tôi không tin là như thế. Giờ khi cơn bệnh chạng vạng
lại đến, và tôi chắc là nó sẽ còn đến, tôi hy vọng là tôi sẽ
biết, dầu trong nỗi buồn đau đó, rằng tôi cô đơn giữa mọi
người.
* * *
262
263
Bao La Cõi Đời
Mỗi sáng, tôi nguyện hàm ân vì món quà cao quý
được sinh làm người. Đó là một món quà lớn, nó bao gồm
rất nhiều thứ mà tôi chẳng bao giờ thực sự mong mỏi vào
ngày sinh nhật của mình. Một số món trong gói đồ đó tôi
ước là mình có thể đổi một kích cỡ hay màu sắc khác.
Nhưng tôi muốn khám phá xem được làm người có ý
nghĩa gì - sự tò mò của tôi vẫn rất cao độ ngay cả khi tôi
đã có tuổi hơn -vì thế tôi cảm ơn về tất cả mọi thứ. Tất cả
trọn gói.
Vào thế kỷ thứ mười ba ở Nhật Bản, Thiền sư Dogen
viết, “Đạo cơ bản là hoàn hảo và bao trùm vạn pháp”. Tôi
đã có mặt trong đó. Tất cả chúng ta đều ở trong đó; chúng
ta được tạo ra từ đó.
Khi cháu gái của tôi được hai tuổi, tôi đến thăm gia
đình và cháu ở bang Texas. Lúc đó cháu chưa có nhiều
khái niệm về việc sự vật phải như thế nào, hay điều gì phải
264
xảy ra kế tiếp. Cháu vui vì được sống. Một buổi chiều kia
khi tôi đang trông cháu, và công việc của tôi là phải đánh
thức cháu dậy khỏi giấc ngủ trưa. Tôi đang đọc sách ở
phòng bên cạnh, tôi biết cháu đã thức giấc khi tôi nghe
cháu nói chuyện với chú gấu bông của mình. Tôi bồng
cháu và chú gấu ra khỏi nôi, rồi đi xuống lầu. Trong khi
tôi chuẩn bị món ăn nhẹ gồm bánh lạt và phô-mai cho
cháu, thì cháu nhảy múa quanh một trái banh tím ở giữa
phòng, hát một bài đồng dao con trẻ mà cháu đã học được
ở lớp mẫu giáo: “Nhảy quanh hoa hồng, túi đầy các tràng
hoa, tàn tro, tàn tro, chúng ta tất cả đều lụi tàn”. Rồi cháu
ngồi thụt xuống sàn - bụp!- cười vang. Cô bé hoàn toàn có
mặt, hoàn toàn vui vẻ. Thực ra bài đồng dao cháu đang hát
là một bài hát rất cổ xưa về một trận dịch, và câu cuối
cùng về tro, ám chỉ sự hoại diệt của chúng ta. Nhưng cháu
không quan tâm về điều đó.
Trong một công án đầy chất thơ, thiền sư Dogen đã
viết, “Cá lội trong biển, dầu có lội bao xa, cũng không ra
khỏi nước. Chim bay trên trời, dầu có bay bao xa, cũng
không hết bầu trời”.
Khi tôi đau khổ vì điều gì đó trong cuộc đời, tôi nghĩ:
“Không được, cuộc đời này không đúng như tôi muốn, tôi
phải tìm một góc cạnh nào đó, để nhảy ra khỏi hàng rào
cuộc đời này vào một cuộc đời khác”. Nhưng đó không
phải là phương cách. Cuộc đời tôi bao la. Tôi không thể
tìm được góc cạnh của nó, cũng giống như con cá ngoài
biển khơi hay chú chim trên bầu trời. Không có cách gì
265
thoát ra khỏi cuộc đời này, biển rộng này, bầu trời này,
ngoài trừ cái chết. Nếu tôi cố gắng dời đổi biển khơi, tôi
sẽ chẳng bao giờ có thể tìm được con đường hay nơi chốn
của tôi - không có chỗ nào khác để có mặt ngoại trừ nơi
đây, trong sự bí ẩn thâm sâu của nó.
Chuyện là chỉ mấy ngày sau chuyến viếng thăm cháu
gái, tôi đến thăm một người bạn cũ đã ngoài tám mươi,
đang sống trong khu dành cho những người già cần sự hỗ
trợ trong cuộc sống. Ông là một tu sĩ Thiên Chúa giáo,
người đã dành trọn cuộc đời để sống đơn độc và tu tập.
Ông đã nghiên cứu nhiều truyền thống tâm linh, kể cả
Thiền, và ông là một trong những vị nâng đỡ tinh thần lớn
của tôi. Nhiều năm qua, ông đã thường trao đổi với tôi về
sự cầu nguyện, sự huyền bí và những thắc mắc, hoài nghi
về tâm linh qua thư từ, hay những cuộc gặp mặt trao đổi.
Thể chất ông không được tốt, ông rất yếu, phải thở máy,
phải ngồi xe lăn, nhưng tâm trí vẫn tỉnh táo.
Ông nói với tôi, “Tôi không nhớ, nếu mình đã chết
trong quá khứ, nhưng tôi nhận ra được những gì đang xảy
ra - đó là nơi tôi sẽ đến”. Nhiều năm trước, ông đã nhờ
một người thợ mộc mà ông quen, làm cho ông một chiếc
quan tài. Nó ở ngay trong căn phòng nhỏ của ông, giống
như một người bạn cùng phòng, một kẻ nhắc nhở, làm bạn
với ông. Ông ngồi ở bàn và nhìn cây đào qua cửa sổ, quan
sát những chiếc lá rơi rụng, rồi lại đâm chồi. Ông đã quan
sát các mùa, cả vũ trụ trong cây đào đó. Ông đọc, ông cầu
nguyện, thỉnh thoảng tiếp khách. Giống như cháu gái của
266
tôi, ông hoàn toàn có mặt với cuộc đời mình. Giống như
con cá của ngài Dogen, ông bơi lội trong đại dương của
mình, dầu ở trong căn phòng nhỏ bé này, chúng cũng
không hề thiếu nước. Vài phút giây sau khi tôi bước vào
phòng, ông nói với tôi về Isaac của Ninevah, một vị ẩn sĩ
người Syria, thuộc thế kỷ thứ tám, tác giả của các tác
phẩm mà ông đang đọc khi tôi đến.
Giống như cháu gái tôi, ông cũng đang hát bài ca nhảy
múa quanh đám hoa hồng, trong phiên bản của mình, nhảy
múa cho đến khi ông ngã quỵ và biến thành tro bụi. Giữa
đứa bé đó và ông lão có một khoảng cách của tám mươi
năm - và phần đông chúng ta, những thế hệ lưng chừng, tự
trói buộc mình vào trong những khúc mắc về những thứ
chúng ta muốn mà không có, và những thứ chúng ta có mà
không muốn. Chúng ta chạy loanh quanh cố gắng sửa
chữa nhiều thứ, trong cuộc sống riêng của mình, và trong
cuộc sống của trái đất này. Việc chúng ta làm là điều tốt,
vì trách nhiệm của chúng ta là phải sửa chữa sự việc; thí
dụ chúng ta phải sửa chữa ống nước. Cháu bé và ông lão
không thể sửa chữa ống nước. Họ cần chúng ta chăm sóc
cho họ, nhưng chúng ta cũng cần đến họ, để nhắc nhở
chúng ta rằng mọi thứ đều đã được sửa chữa.
Tôi thích nghĩ về việc chúng ta hoàn toàn được bao
bọc bởi không khí như thế nào, một cách cụ thể. Không
khí bao bọc thân ta, vào ra trong phổi ta, không phải là
không có gì. Nó đẩy các phân tử, và nó lấp đầy các lỗ
hỗng, các nứt rạn giữa chúng ta và những người và vật
267
khác ở quanh ta: đồ đạc, vách nhà, cây cối bên ngoài, các
dãy nhà. Không có nơi nào là không gian trống vắng.
Không khí loãng tạo không gian cho chúng ta, để mỗi
chúng ta sống trong một không gian bằng đúng kích cỡ
của mình. Không khi chuyển động nhẹ nhàng theo chúng
ta khi ta di chuyển. Giống như các loại đá mềm mà ta có
thể tìm được trên những bãi biển ở miền Bắc California,
có những con vật thân mềm thật nhỏ bé sống bên trong,
trong những lỗ hổng chúng tự tạo ra. Tất cả chúng ta đều
kết nối với nhau, trên từng phân tử. Tôi được bao bọc bởi
tất cả những gì không phải là tôi.
Khóa tu thiền mà tôi dự gần đây nhất ở bên cạnh bờ
biển. Tôi thường ngồi, lắng nghe tiếng sóng vỗ. Tiếng
sóng là âm thanh hơi thở của biển. Nó không bao giờ bình
yên. Đôi khi biển quá ồn ào, xao động đến nỗi tôi đã ao
ước một chút yên lặng, nên tôi lắng nghe sự im lặng giữa
các làn sóng, nhưng ngay khi một làn sóng vừa lui khỏi
bờ, đuổi cát trở xuống biển, trở nên nhẹ nhàng, nhẹ nhàng
hơn, ngay trước khi nó bắt đầu im lặng, thì làn sóng kế
tiếp đã luôn đánh tới. Biển không bao giờ dừng thở vì nó
đang sống. Khi tôi ngồi trên gối thiền, trong thiền đường,
theo dõi hơi thở. Tôi cũng theo dõi hơi thở của biển, và tôi
bắt đầu thở theo nhịp điệu của biển.
Âm thanh của biển là âm thanh của thời gian thoáng
qua, âm thanh của từng khoảng khắc này sang khoảng
khắc khác. Ngay như khi tôi không ngồi cạnh bờ biển,
từng làn sóng đời của tôi vẫn dồn dập đuổi theo nhau, mà
không hoàn toàn có sự tĩnh lặng giữa các làn sóng.
268
Tôi thường khấn nguyện: “Pháp môn vô thượng, thề
nguyện học”. Tôi sẽ buông mình theo giây phút kế tiếp, và
giây phút kế tiếp đón nhận tôi. Và tôi chỉ cần bước qua đó.
* * *
269
TRI ÂN
Tôi hàm ân các biên tập viên tại Nhà Xuất Bản (NXB)
Shambhala như: Dave O’Neal, là người đã khuyến khích
tôi viết quyền sách này trước tiên và Emily Bower, với
những sự góp ý tinh tế, đầy tính hỗ trợ của cô đã giúp tôi
hình thành quyền sách.
Cũng xin cảm ơn Ellery Akers, Sarah Balcomb, Mary
Barrett, Andrew Boyd, Susan Butler, Louise Dunlap,
Barbara Gates, Fanny Howe, Bonnie O’Brien Jonsson,
Linda Norton, Susan Orr, Bob Perelman, Nora Ryerson,
Prue See, Barbara Selfridge, Gail Seneca, Francie Shaw
và Jeff Sharlet về những đề nghị trong biên tập.
Cảm ơn các thành viên trong Hội Lão Bà của tôi,
Melody Ermachild Chavis, Annette Herskovits, Cheeta
Llanes, và Judith Tannenbaum, vì đã trao đổi với tôi một
cách nghiêm túc về vấn đề lão hóa, và cảm ơn tất cả
những người bạn và thân quyến khác vì đã tham gia vào
cuộc đối thoại không có hồi kết này.
Cảm ơn Trung tâm Blue Mountain, Tu Viện Glenstall,
Thư Viện Công Cộng Berkeley vì đã dành cho tôi những
chỗ ngồi lý tưởng để viết lách.
Susan Moon
270
PHƯƠNG DANH QUÝ PHẬT TỬ HÙN PHƯỚC
ẤN TỐNG SÁCH
Thế là Già (This Is Getting Old)
Tác Giả: Susan Moon







Susan Moon
Thế là Già!
Chịu trách nhiệm xuất bản:
BÙI VIỆT BẮC
Biên tập: Thế Vinh
Sửa bản in: Quỳnh Trang
Trình bày: Quảng Tâm
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC
A2 - 261 Thụy Khuê - Tây Hồ - Hà Nội
ĐT: 08044806 - Fax: 08043538
In lần thứ nhất 1000 quyển, khổ 14.5x20.5 cm, tại Cty TNHH 1
Thành viên in Ng ư ời lao đ ộng, 195 Lê Quang Sung, Q.6, TP.HCM.
Giấy phép xuất bản số: 1330-2012/CXB/19-41/HĐ, cấp ngày 06-
11-2012. In xong và nộp lưu chiểu tháng 12 năm 2012.
Đăng nhập để trả lời
0