📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

XUÂN VŨ - 2000 ngày...

49 trả lời, 7.952 lượt xem — Trang 2 / 2
Chương 30

Chủ tịch tỉnh Bến Tre mười năm kháng chiến.
Ông Đốc Huệ Giồng Trôm tức ông Nguyễn Văn Huệ,
ra Bắc được Bác Hồ ” ưu đãi ” như thế nào ?




Trí thức Nam Bộ được Hồ coi như giẻ lau chân,
lau xong quăng vô sọt rác.


Lụa bảo tôi xuống hầm ngủ cho khỏe rồi thức dậy lên ăn cơm chiều. Con Rớt thì canh chừng đầm già ở phía sông Sàígòn, con Lượm lắng tai nghe tiếng đề-pa của pháo. Hễ nghe động thì la lên cho ai nấy chui xuống hầm, còn chị Tám và Lụa mắc làm bếp, chặt thịt nấu cơm có khi không để ý, đến chừng có việc thì không chui kịp. Tôi ngoan ngoãn vâng theo lời cô em gái xuống hầm. So với cái hầm năm ngoái thì bây giờ khác xa. Kiến trúc mới hoàn toàn. Trước nhất là sự kiên cố, vách đất bốn bên dày hai thước nóc hầm dầy một thước rưỡi. Ngoài lớp đất còn có gạch đá chất lên trên. Tôi lấy đèn pin soi thì thấy những cây cột in như cột nhà. Những cây đà ngang là kèo nhà. Tôi hỏi Lụa cây gỗ ở đâu, Lụa bảo lấy trên ngôi nhà lớn của má sau khi bị bom.

Một đời người đổ mồ hôi nước mắt mới làm nổi cái nhà phút chốc tan ra tro bụi. Đó là do sự tài khôn của lão Hồ : giải phóng miền Nam. Miền Nam nào cần giải phóng. Chính miền Bắc phải được giải phóng mới đúng ý nguyện người dân.

Tôi thấy những tấm liễng chữ vàng khắc trên sơn mài đen cháy dở lót dưới sàn hầm mà rơi nước mắt. Những gì cao quý nhất trên bàn thờ đã rơi xuống chân. Là do cái chủ trương khốn nạn giải phóng miền Nam của già Hồ tàn ác.

Hầm gồm có lòng hầm chính và nhiều ngách như bàn tay xoè, mỗi ngách có thể đủ cho một người lớn nằm thẳng chân ngủ. Ngoài ra lại còn mấy cái lỗ thông hơi như hầm bí mật, ăn ra ngoài cho gió thổi vào làm cho hầm thoáng khí. Nhưng quan trọng hơn cả lỗ thông hơi là lỗ thoát thân. Đây là một loại hang chuột trổ miệng ra vườn đề phòng khi cháy nhà thì cả nhà luồn ra. Thời buổi này Hồ Chí Minh đã tặng cho mảnh đất Củ Chi danh hiệu Đất Thép Thành Đồng để biến dân Củ Chi thành loài chuột, sống chui rúc và chết quay như chuột.

Nói chung xây cái hầm công lao không kém cất một cái nhà . Tôi nằm trên giường ở giữa lòng hầm. Nghe mùi tóc và hơi hám đàn bà mà khó ngủ chăng? Không! Tôi không thiếu cái hương vị đó. Nàng khu ủy còn để lại trên tôi bao dấu vết. Cô bé quân báo vừa tưới nước mắt lên mặt tôi… Tôi không ngủ được là vì thằng Chín Hung. Gặp lại nó bất ngờ vui quá là vui. Chưa bao giờ tôi vui đến thế. Nhưng sau cơn vui về nằm trong chiến hào của trạm giao liên, nửa tỉnh nửa say, tôi nhớ nó và nhớ bác nó là ông Mười Huệ . Phải, nếu không gặp Chín Hung thì có lẽ tôi đã quên mất rằng trong đời tôi có một ông già mà tôi coi như một cụ Hồ thứ hai trong đời niên thiếu nồng nhiệt yếu nước của tôi.

Hồ ơi! Nay mi đã chết rồi nhưng tội mi đâu đã trả xong. Tao phải vạch ra, chỉ riêng với dân Nam kỳ thôi, tội mày cũng không xe tàu nào chở hết. Dân Nam Kỳ vì mê say yêu nước mà đã bị mày lợi dụng mà trải mật phơi gan trong chín năm trời chống Pháp. Khi tập kết ra Bắc dân Nam kỳ mới trông rõ bộ mặt lưu manh của Bác Hồ. Những tên chủ tịch Bắc kỳ thì mũ cao áo rộng còn những ông chủ tịch tỉnh ở Nam Bộ ra Bắc bị mày quên một cách êm ái. Tỉnh ủy Bắc kỳ thì vô trung ương ở nhà lầu đi xe Volga đớp vợ bé. Tỉnh ủy Nam kỳ ra Bắc đi cạo muối và ngủ garage. Chức tước ban cho dân Nam kỳ quăng cho chó đói cũng không thèm gặm.

Điển hình nhất là ông Đốc Huệ và ông Đốc Thỉnh của tỉnh Bến Tre. Một học giả uyên thâm có bằng cử nhân Văn chương Pháp thời Pháp thuộc có được mấy người. Nếu ở lại với Pháp thì ông đã vinh thân phì da vào hạng nhất Nam kỳ, nhưng ông đã đem cả gia đình đi kháng chiến. Ra Bắc về Nam hai lần. Khi hiệp ước Hòa Bình 54 được ký kết ông Thỉnh bị bỏ quên. May sao một tên nào đó nhắc nhở Hồ chủ tiệm. Chủ Tiệm Hồ bèn ban cho ông một cái chức vô cùng cao cả: Giám Đốc Thư Viện ủy Ban Khoa học nhà nước. Cái thư viện này có chừng chục rưỡi quyển sách Liên Xô mà khách đọc duy nhất là ông Giám đốc. Hại thay ông giám đốc không biết tiếng Liên Xô ! Tôi đã viết chuyện này ở một chương trước nhưng cũng xin nhắc lại vài dòng.

Riêng ông Mười Huệ chủ tịch tỉnh Bến Tre chín năm liền, ra bắc được phong cho chức Thư ký của Hội Việt Pháp Hữu Nghị ở đường Lý Thường Kiệt và được cho ở trong một cái garage tồi tàn dột nát đầy sách nát của Tây vứt lại trước khi chúng chuồn. Ông Mười có bệnh cánh tay phái, không được săn sóc, không có cả bếp để nấu cơm phải đi ăn vất vưởng ở hợp tác xã bữa có bữa không hoặc bằng những ổ bánh mì nguội nài nỉ mua bằng những hào bạc hiếm hoi còn sót lại của tháng lương chết đói. Ngồi viết những dòng này tôi còn trông thấy ông trên những nẻo đường kháng chiến của Ba Tri, Giồng Trôm, Tán Kế mà tôi kính yêu như một thần tượng. Ôi kháng chiến mà chi. Anh dũng mà chi. Thành Đồng Đất Thép để làm gì? Tất cả đều đút vào mồm con sói mặt đỏ Bắc kỳ tên là Hồ Chí Minh thôi. Một tên sát nhân, một thằng bịp lớn nhất lịch sử Việt Nam.

Tôi trăn trở không sao ngủ được với những kỷ niệm đau thương của các nông trường Xuân Mai, Lam Sơn với hằng vạn lính Nam kỳ nai lưng khổ sai mà gọi là xây dựng nông trường, những nông trường trong vòng tám năm không trồng được một cây lúa. Những người lính đó mang thương tật đầy mình sống lây lất trong rừng núi suýt biến thành dã thú nhưng khi cần lót đường xâm lăng thì hắn lại đem họ ra làm gạch sỏi trải trên Trường Sơn. Bây giờ về đây họ làm gì? Vẫn phơi gan trải mật cho cái gọi là trung ương đảng, để sau này khi chiến thắng xong, lại cũng Bắc kỳ ngồi chiếu nhất còn dân Nam kỳ đứng chầu rìa y như hồi 1954 (mà quả thật vậy, sự tiên đoán của tôi có sai đâu). Hiện giờ cái Mặt Trận Giải Phóng chỉ là một trò hề. Nguyễn Hữu Thọ tên luật sư gà mờ được treo hình ngang với Hồ Chí Minh ở nhà hát lớn Hà Nội thì thích lắm, tướng mình là lãnh tụ thứ thiệt, có ngờ đâu đó là trò bịp của lão Hồ. Chiến tranh xong rồi, Thọ sẽ lãnh mang chiếu rách vác đi Cần Thơ lãnh cái án xưa. Bọn tướng tá mặt đỏ Bắc kỳ đã vô nắm hết Bộ chỉ huy R. Trần Độ, Lê Trọng Tấn, Trần Văn Trà , rồi Nguyễn Chí Thanh. Quân Hà Nội ồ ạt tiến vào mở đường cho bọn triều đình Hà Nội tiến vào. Tôi nữa, tôi cũng là một con vật bị hi sinh cho cái tham vọng vô cùng đó. Từ R về đây, tôi thấy khắp nơi, cơ quan, đơn vị nào cũng do Bắc kỳ nắm giữ. Tôi không hài lòng, nhưng không làm gì được. Như hột lúa bị đổ vào cối xay, chờ lọt xuống răng cói để bị nghiền ra đem nấu tấm heo hay nấu cơm tùy theo hạt gạo nát hay còn nguyên. Phải được thế thì còn may. Dân Nam kỳ chỉ là võ trấu. Trong lòng mỗi tên cán bộ hoặc một tên lính Nam kỳ đều mang một cái bi kịch, mà màn cuối chỉ chấm dứt khi nào tụi mặt đỏ Bắc kỳ không có trên đất Nam kỳ.

Đang lơ mơ suy nghĩ bỗng nghe trên nhà có tiếng rổn rảng và tiếng trả lời của Lụa:

-Thầy Hai đâu rồi?

- Ảnh ngủ dưới hầm.

- Bị mặt trời đè chớ ngủ gì giác này.

- Ảnh mới về tới để ảnh ngủ chút. .

- Ngủ mấy chục năm rồi hổng đã hay sao?

Tôi ngồi bật dậy, dụi mắt nhìn ra cửa hầm thì thấy mấy bàn chân trắng phau trên dép cao su và một ống chân đen thui. Tôi bò ra hỏi:

- Ai đó?

- À thầy Hai hả. Tư Thêu đây. Nghe thầy về tôi đem hai mỹ nữ tới ra mắt.

-Đồ quỉ, nói bậy không hè.

Tôi chui lên thì quả tình, có hai mỹ nữ thật. Một nàng chừng hai mươi, một nàng độ mười bảy đang đứng ké né bên gốc cột. Tư Thêu nói:

- Kìa ổng đó, coi mặt đi, để lâu nay ấm ức.

Hai nàng không mắc cỡ nhìn thẳng vào tôi. Tư Thêu bảo:

- Ổng là thầy đó. Mùa thu nhưng còn ô-rin chưa có xệu xạo cu-lát như tôi. Xin giới thiệu với thày Hai đây là hai cô Nguyệt Nga cống Hồ. Cô lớn tên Nga, cô nhỏ cũng Nga. Ông thầy nhìn cho kỹ kẻo lộn.

Tôi hôi Tư Thêu:

- Ông nghe ai nói tôi về đây vậy?

Tư Thêu múa tay quơ chân.

- Ối! Ai cũng nói hết. Nam phụ lão ấu hay chim cò đều biết, hổng chừng Đồng Dù cũng rõ , nó sẽ đốt pháo ăn mừng.

- Ông ngồi chơi chút nữa ăn cơm với tôi. Tôi về đây chuyến này ở luôn Củ Chi.

- Ối trời vậy thì còn gì bằng.

- Ông còn công tác cũ không?

- Đổi rồi. Hồi trước chăn hai con bò, bây giờ bốn con. Hồi trước cỏ còn đầy đồng không phải đi cắt, bây giờ chất độc bỏ tràn lan, bò không còn cỏ ăn, tôi phải đi cắt từng bó, bữa nay đi qua lò rèn lấy cái lưỡi hái đặt hôm trước về cắt cỏ gặp má con con Rớt đi lên Hố Bò. Con Rớt nó thèo lẻo khoe cậu Hai nó về. Do đó lấy cặp lưỡi hái xong rồi quẹo xuống đây.

Tư Thêu bô bô cái miệng:

- Sao, bắt tay đại tướng có khoái không?

- Cũng thường thôi.

- Bà Phó chủ tịch hun có rủn chí tơ lòng không?

- Ở dưới này cũng biết chuyện đó nữa à?

- Biết ráo nạo ông thầy ơi! Cóc nhái ểnh ương nó kêu oang oang chỗ nào không tới. Rồi còn bảy con nhền nhện bao vây ông thầy nữa. Dũng sĩ xứ Củ Chi này bất mãn thầy lắm đó. Cây nhà lá vườn đem đi cho người khác vậy không tức sao được. Rồi cái huân chương đâu?

- Lãnh dùm người ta cho bộ của tôi sao?

- To bằng cái miệng tô không .

- Bằng cái bánh xe bò của ông vậy !

- Rồi chừng nào làm Phò mã ? Nghe nói ông chịu miệng với công chúa rồi mà !

- Ai đồn ác vậy cha?

- Ra-dô sáu đèn phát tin tùm lum hết còn chối nỗi gì, phen này ông về đây là nữ dũng sĩ Củ Chi xẻo thịt, không mong gì thoát lên trên đó nữa đâu.

Tôi ngơ ngác nhìn Lụa như muốn hỏi: Tại sao có những tin đó? Lụa đáp ngay:

- Ông sáu Lực, ông Ba Tân nói chớ ai.

- Sáu Lực Ba Tân nào?

- Mấy ông đó không có đi chung với anh, nhưng ở chung với ông Tám Tiến và Thu Mai. Ông Tám Tiến là người có vợ Rạch Bà gì gần Thái Bình đó, phải không?

- À đúng rồi! Hèn chi chuyện trên R của tôi, tôi chưa về dưới này mà bà con biết hết.

- Ông Sáu Lực nói còn có cô học sinh gì đi theo anh một khúc xa nữa kìa.

Tôi sực nhớ Thanh Tuyền theo tôi tới trạm 66. Tôi đáp:

- Đó là chuyện trong cơ quan R, chớ đâu có…

- Không, nó theo anh hai ba trạm kia mà .

- À, Huỳnh Mai,… nó đi đánh máy cho Ban chỉnh huấn ở trường Trung Sơ.

- Huỳnh Mai Huỳnh Mốt gì hổng biết nhưng mà có thiệt chớ không ai đặt chuyện.

Bỗng có tiếng ngoài sân:

- Bộ mấy người là công an hay sao mà tra hạch thầy Hai dữ vậy?

Tôi ngó ra hỏi.

- Ai đó ?

Tư Thêu kêu lên.

- Ông bác sĩ! Vô đây làm chứng. Bữa đó Sáu Lực kể chuyện trên R có ông nghe nữa phải không.

Cô Nga lớn lên tiếng:

- Em có nghe với chú Tư.

- Vậy sao nãy giờ không lên tiếng dùm chút cô nương?

Bác sĩ Tư Chuyền chừng bốn mươi tuổi, làm xếp C5 tức quân y của Hậu Cần Quân Khu, cũng là dân đằng mình và đệ tử là Bảy Phúc còn trẻ, vào nhà. Tư Chuyền nói:

- Tôi nghe tiếng ông thầy pháo đã lâu, nay nghe ông về tôi tới chơi và đặt cọc trước một chuyện. Đó là cái tăng, hoặc cái dù Mỹ để giăng trên nóc hầm che bụi bặm. Tôi đã xin Hậu Cần khu từ hồi cái C5 này mới thành lập, bây giờ nó sắp giải tán rồi mà cũng chưa có.

Tư Thêu hỏi:

- Bộ tinh giải tán hả ông bác sĩ?

- Mổ xẻ cưa tay chân không có thuốc mê thuốc tê, vết thương thường cũng không có thuốc, nhẹ thành nặng, có ngày thương binh nó đập tét nước, không giải tán thì để làm gì.

- Rồi thầy Hai có dù đâu mà cho ông?

- Thế nào ổng cũng chỉ huy đơn vị chiến đấu, nên tôi bỏ hàng rào thưa trước.

Tôi lấy trà thuốc bày ra mời khách. Một cái xe đạp rẽ vào sân, một ông mang kiếng đen phóng xe thẳng vào cửa:

- Làm gì mà giống đám cưới vầy nè hả?

Rồi quay sang tôi anh chàng cúi mọp.

- Hạ thần xin nhận tội muôn chết. Nghe bệ hạ giá lâm mà đến trễ không kịp tiếp nghinh.

Tư Thêu khoát tay:

- Làm trạm trưởng mà bỏ khách bơ vơ là đáng móc mắt đui luôn. Nhưng tôi chỉ phạt xuống bếp nấu nước uống trà.

Trạm trưởng Một Sơn nghênh mặt:

- Còn chăn bò mà để bò bị máy bay bắn thì tội gì.

Tư Thêu đưa tay tự cứa cổ.

-Chém ngang đầu… ngang đầu!

Bác sĩ Chuyền cãi lại:

- Máy bay bắn cả bầy mà chết có một con là phải phục tài thằng chăn bò chớ sau lại đòi chém, phải không Tư Thêu?

Chị Tám ở dưới bếp đang xào nấu nói vọng lên:

- Hơn nữa cả xóm Dược xóm Hố Bò có thịt ăn khỏi phải ăn thịt chuột là nhờ Tư Thêu.

Một tiếng nói từ ngoài sân vọng vào.

- Nói cái kiểu đó, nay mai nó kêu máy bay tới làm một con nữa đó !

Mọi người nhìn ra. Đó là chú Tư Khiên. Lụa nói ngay:

- Con Là đi hội nghị với chú, nó chưa về à chú?

- Nó còn ghé bắt mấy đứa du kích đi đào hầm đào hố gì đó. Tao mới về, tao nghe rần rần bên này, tao qua coi có chuyện gì không?

Tư Chuyền nói:

- Bữa nay coi mòi Hòa Bình chú Tư ạ, cho tụi này hát bội một bữa được không?

- Hát tuồng gì đó thì hát, nhưng liệu cái hầm của con Lụa có chứa đủ bấy nhiêu người đây không? Để rồi khi nó thụt thì chạy tán loạn như chuột mất hang.

Tư Thêu nói.

- Chật chật thì đủ mà chú Tư.

Lụa nói:

- Hầm của cháu mới đào thêm hai ngách.

Tư Chuyền bảo:

- Nếu là đàn ông thì rộng, ngặt có đàn bà con gái xen vô thì chật.

Vừa đến đó thì con Lượm ngoài góc nhà la lên:

- Má ơi má !

Chị Tám quát:

- Máy bay tới thì đi vô, la cái gì?

- Không phải đầm già mà vịt bầu.

- Tưởng đầm già thì sợ còn vịt bầu không lo.

- Vịt bầu ở đâu?

Vài ba người ló đầu ra cửa ngóng. Một đàn máy bay giăng hàng xa xa phía bên kia bờ sông Sài gòn.

Tôi hỏi chú Tư Thiên:

- Nó đi về hướng An Thành phải không chú Tư?

- Phải đó ! Bên này nó làm sạch bờ sông rồi. Bây giờ nó rắc qua bên kia! Phải nó lại gần đây chú coi. Mình mẩy nó sơn rằn ri giống như tụi thủy quân lục chiến hoặc Trâu Điên Sài gòn. Nó bay rà ngọn cây phun chất độc như mưa trắng xóa. Chỉ vài tiếng đồng hồ thì đu đủ, sầu riêng, mít, dừa, cụp ngọn còn tre trúc thì hai, ba ngày mới xụ đọt.

Tư Thêu ré lên cười:

- Chú Tư nói gì vậy? Xụ đọt là nghĩa gì?

-Tầm bậy ! Cái thằng chăn bò. Thứ thuốc này độc thiệt. Nó đi qua một phát là lá cây rụng sạch. Nó đi lại phát nữa là cây cối cháy đen. Cá rô rỉa qua cơn rồi mình ngóc dậy ngay, nhưng vịt bầu ỉa thì mạt đầu luôn. Vườn thì trụi còn ruộng thì hết cấy lúa được.

- Sao gọi nó là vịt bầu, chú Tư.

- Kìa nhìn coi, nó giống con vịt mập, cái đít no tròn.

- Nó bay thấp vậy sao không cho du kích khìa nó?

- Có mần thử rồi, nhưng lườn nó có bọc thép. Trúng đạn chỉ nháng lửa thôi. Chọc nó giận nó càng ỉa cục to chết mình chớ ích chi! Bây giờ mấy ông mình lòi lưng hết ráo, không có chỗ ở, cứ chạy đầu này trú ba ngày, lủi đầu kia ngụ bốn bữa, vất vả lắm. Nhiều nơi nó còn chơi ác, rải chất độc xong vài ngày, nó ném bom xăng đặc cháy rụi hết rừng. Cắc ké kỳ nhông cũng không còn sống sót. ..

Chú Tư nói luôn:

- Trên bờ đã vậy, dưới sông chúng cũng làm lung. Tàu Dầu Tiếng đi Bình Dương ngưng chạy rồi. Bây giờ trên sông chỉ còn Giang Thuyền. Vừa rồi mấy ổng đem DKZ ra bắn cháy một chiếc. Chỉ năm phút sau cá nhái tới cả bầy. Nó bắn nát không còn một ngọn cỏ xong rồi nó cho phản lực tới dện bom. Bom xong rải chất độc. Cái thằng Mỹ này đã đánh là đánh nhẹp không có đánh nữa chừng.

Ông bác sĩ Tư Chuyền xua tay:

- Thôi đừng nói nữa ông thầy pháo bi quan. Bây giờ mình bàn xem hát tuồng gì đêm nay. Lâu lắm mới được một buổi chiều bình yên như thế này, mình không nên bỏ qua.

Chị Tám vọt miệng đáp ngay:

- Cậu Hai có đem về mấy kí lô thịt và sườn heo đây. Mình có gì đóng góp vô. Tôi còn mấy con chuột ướp sả, để tôi biểu con Lượm về đem qua.

Bảy Phúc tiếp:

- Trong quân y tụi tôi có một lồng chuột chưa xài, Nga ! Em về xách đem qua đây.

- Em ghê chuột lắm? Em không đi đâu!

- Rô ti nước dừa rồi có ghê không?

Lụa trỏ ở góc bếp:

- Tôi vừa bẻ mấy trái dừa nạo về kia kìa!

Tư Thêu phản đối:

- Chuột rô ti ăn không đủ đâu. Tôi đề nghị xào lá cách xúc bánh tráng, ông bác sĩ nghĩ sao?

Tư Chuyền ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:

- Món nào cũng ngon cả, nhưng tôi ngại nhất là ba cái thịt chuột. Bởi vậy nên gài được cả mấy chục con mà tôi còn để đó chưa cho xử trảm.

Tư Thêu nói.

- Tụi tôi không có ngại gì hết. Bữa nào mua không được tương chao thì gặp thịt cóc cũng quơ, thịt chuột tôi cũng nuốt. Mấy lúc gần đây vườn bị hóa học, chuột chạy hết ra ruộng nên dễ gài vô cùng. Có bữa tôi chỉ gài một lồng thôi mà bắt được hai chục con.

Bảy Phúc cười:

- Anh gài có một gì?

-Một lồng chớ một gì!

Bác sĩ Chuyền nói một hơi.

- Cái lồng của ổng là lồng có giê , không phải lồng không giê đâu chú em ơi ! Cái lồng không giê của ông ấy đặt ở bên Thanh An kìa, lâu lâu chuột nhà lội qua sông Sài gòn mới về một chuyến. Chú em hiểu không?

Hai cô Nga đỏ mặt nhìn nhau. Chị Tám ở dưới bếp nói vọng lên:

- Lồng gài chuột là lồng kẻm chớ lồng có dê lồng không dê là lồng gì? Dê ai nuôi trong lồng?

Bảy Phúc cà khịa.

- Có chớ chị Tám! Lồng có hai thứ, một thứ có giê còn một thứ không giê. Thứ có giê để dành gài chuột còn không giê để dành gài người ta.

- Người ta ai mà chui vô lồng?

Lụa trừng mắt:

- Họ nói trây với nhau hơi nào chị cãi!

Bác sĩ Chuyền trở lại chuyện thịt chuột:

- Tôi ngại ba con chuột ăn cỏ bị chất hóa học. Mình ăn thịt nó vô không biết có hại gì không? Trước nhất nó là chất độc. Chất độc thì làm hại bất cứ loại sinh vật nào. Tôi sợ rằng mình xài nước sông Sài gòn cũng có hại, những cái giếng ở vùng này phải làm nắp đậy. Hoặc tốt nhất là đào giếng mới. Nhưng không có nhân công!

Chú Tư Thiên nói:

- Vậy thì mình ăn cái gì bây giờ? Rau cỏ, nước nôi, gà heo có thứ gì không bị nhiễm chất độc đâu! Ngay như mình mình cũng hít chất độc vô phổi hàng ngày mà !

Một Sơn nảy giờ thủ khẩu như bình bây giờ mới lên tiếng:

- Cứ quất bà nó hết thôi . Nếu cứ nghe lời ông bác sĩ thì chỗ nào cũng có vi trùng, mình không dám ăn món gì hết ráo thì làm sao mà sống? Cắn một miếng đùi chuột, nốc một hớp đế, mẹ hóa học cũng tiêu, sợ gì. Tôi đề nghị một nửa rô ti, một nửa xào lá cách xúc bánh tráng, còn mấy con ướp sả của chị Tám thì nướng lửa than.

Tư Xẹ xuất hiện thiệt đúng lúc. Chú bước vô và nói ngay:

- Cây cách đằng tôi nhiều lá lắm. Chắc chưa bị hóa học đụng tới. Để tôi về hái và đem ơ cá tra kho qua đóng góp.

Chú Tư Thiên nói.

- Ý cha cha! Ba con cá tra ở dưới vũng ăn chất hóa học của anh còn ác hơn hóa học của Mỹ nữa đó.

Chập sau, Tự Xe bưng nồi cá kho qua. Chị Tám lấy đũa trở qua trở lại mấy khứa cá úc núc, lườn cá béo ngậy rồi nói:

- Cá này là cá câu ở sông Sài gòn không phải cá trong ao – Bỗng chị kêu lên – Còn cá này là cá gì hả chú Tư.

- Cá tra tôi mua ngoài sông chớ cá gì.

Chị Tám gắp một miếng đen sì, cong cong dẹp dẹp giơ lên. Chú Tư nghiêng qua nghiêng lại nhìn rồi đưa tay cầm lấy, kêu lên:

- Thấy bà chưa? Cái miểng cà nông.

- Cà nông gì mà thụt vô ơ cá?

Tư Xẹ đưa cái miểng đạn cho bác sĩ Chuyền rồi giải thích:

-Đêm qua tôi chạy đuôi tôm cho Hậu Cần đâu có ở nhà . Bữa chiều tôi kho ơ cá rồi gắp một khứa bỏ trong mo cơm, để ơ cá trên giàn. Đi sáng đêm về tới nhà ngủ vùi tới hồi nảy nghe tiếng rốt ráo bên này mới chạy qua đây, chưa cơm nước gì hết. Khi về bưng ơ cá tôi thấy cái hông ơ bị thủng một lỗ, tôi cũng hơi lấy làm lạ, chớ cũng không nghĩ là miểng đạn cà nông xuyên qua.

Chị Tám hỏi:

- Trái cà nông nổ chỗ nào?

- Tôi đâu có biết.

- Chắc là gần nhà chú lắm!

Một Sơn xua tay:

- Không phải đâu, con cá này nó đói nó ăn miểng đạn dưới đáy sông đấy.

Chú Tư Thiên lắc đầu:

- Không! Thằng cha lái cá nó bị đạn bắn bể xuồng, nó lượm miểng đạn nhét vô miệng cá bàu cho nặng cân để lấy vốn đó chớ !

Tư Thêu nói:

- Mấy lúc mình ớn chất tươi như thế này, tôi chỉ mong Mỹ nó chụp cho một phát là mình có đồ nhậu ngay.

Lụa vều môi:

- Anh trù mạt không hè . Ngồi yên không muốn lại muốn chạy hộc máu ra.

- Chạy rồi trở về có một đống đồ hộp Mỹ nó bỏ ở lại, nào thịt heo, nào thịt bò, sô cô la cà phê đường sữa, lượm về ăn hút không đã à?

Tư Chuyền lôi tôi vào góc nhà tâm sự:

- Anh thấy trên R tình trạng hậu cần có khá không?

- Tôi không có tiếp xúc với bộ phận đó.

- Ở dưới này bết quá ông thầy pháo ơi! Bác sĩ gì mà ở thời đại chống Mỹ lại dùng cưa đục thợ mộc như thời kỳ đầu chống Pháp. Tai hại hơn nữa là giải phẫu ở dưới hầm đất rơi vào cả vết thương.

- Giải phẫu dưới địa đạo à?

- Hầm, tức là chiến hào chớ không phải địa đạo. Làm sao đem thương binh xuống địa đạo được mà giải phẫu? Đào hầm cho thương binh nằm mà còn không đủ nhân công, nói chi địa đạo. Mà dù có địa đạo, cũng không đem thương binh xuống được.

- Tại sao?

- Ông chưa xuống địa đạo à?

- Có!

- Bao lâu?

- Chừng nửa giờ.

- Sao không ở chơi lâu lâu.

- Chịu gì thấu mà ở chơi.

- Vậy nếu đem thương binh thì ở làm sao? Nội cái mùi hôi vết thương cũng đủ chết người rồi. Ai cũng tưởng là tôi đem thương binh xuống địa đạo làm việc khỏe ru. Ông biết địa đạo là cái gì rồi, ông thử nghĩ xem thương binh xuống bằng cách nào? Miệng địa đạo có phải là cái cổng trạm 66 của Bộ Tổng ở đường Lý Nam Đế đâu mà đút thương binh xuống dễ vậy. Miệng nó có bằng cái khay trầu, mình muốn xuống phải nghiêng mình lách qua thì mới lọt. Nhỏ hẹp như vậy mà Mỹ nó còn tìm ra, nếu nó rộng để đem lọt thương binh thì xuống địa đạo chẳng khác nào nộp mạng cho nó…. Vừa rồi bộ đội đánh ở đường số 1, có mấy ca bị thương rắc rối phải mổ ruột, mổ sọ, tôi đành bó tay.

- Vậy tôi nghe đồn ông Tám Lê bên Bưng Còng giải phẫu tất cả mọi ca dưới địa đạo rất kết quả. Tôi nghe trên Cục Chính trị đề nghị Bộ Tổng thưởng huân chương kia mà.

Tư Chuyền xua tay:

- Mổ kết quả 100% trên đài giải phóng, 200% trên đài Hà Nội, tôi còn lạ gì!

- Chiến đấu mà không giải quyết được vấn đề thương binh là binh sĩ không chiến đấu hết mình.

- Đúng vậy. Nhưng mấy ông nhà mình lại không chịu thấy như vậy.

- Địa đạo không có tác dụng gì với các ông à?

- Có ! là thế này : Chúng tôi dùng để cất giấu dụng cụ thuốc men. Còn người ngợm thì tuyệt đối không có xuống ở dưới đó. Nói đúng ra là không còn ai dám trốn dưới đó một khi trên mặt đất có đổ chụp.

- Vậy hồi tôi ở trên R. Khi gặp mấy ông trong đoàn Văn Công giải phóng Trung ương, mấy ổng có khoe với tôi là mấy ổng sắp xuống biểu diễn dưới này. Tôi hỏi làm sao dựng được sân khấu? Mấy ổng bảo là ở dưới này có ông nhạc sĩ Phạm Sang biểu diễn cho đồng bào coi dưới địa đạo. Có khi vài trăm khán giả tới dự. Đặc biệt rùng rợn hơn nữa là ông ta biểu diễn ngay dưới đít Đồng Dù trong khi Bốp Hốp làm trò cho lính Mỹ trên mặt đất.

- Bốp Hốp nào?

- Tài tử Mỹ .

Tư Chuyền nổi nóng ngang.

- Đ. bà thằng nào nói láo bỏ sách bỏ vở vậy cho tôi biết để tôi rạch họng nó. Con đ… mẹ nó chớ biểu diễn dưới đít Đồng Dù . Thằng Phạm Sang là thằng nào ông biết không? Nó là thằng cán bộ thông tin ấp mới biết ca lem nhem ba cái bài Bình Bán Kim Tiền theo lối xóm kiếm bánh ít bánh tét ở các đám cúng mụ nó mới quọt quẹt làm được vài bài hát, con nít cũng không thèm nghe.

- Vậy mà tôi tưởng Phạm Sang là Xuân Hồng thứ hai !

- Bữa nào rồi tôi kêu nó vô quân y hát cho ông nghe. Tôi muốn biểu nó vô hát vài bài cho thương binh nghe đỡ sầu, nhưng tôi sợ quá.

- Sợ làm rùm beng bị chụp hả?

- Không! Sợ thương binh nghe rồi ngất luôn.

- sao mà ở dưới này có nhiều chuyện thần thoại về địa đạo quá vậy mà tôi không biết. Kỳ trước tôi vừa đến đây bị ở trên chỉ định giúp cho Tư Linh tiếp thằng nhà báo Burchett. Tôi đã phải một phen mất hồn về ba cái địa đạo chiến rồi, lần này nghe ông nói tôi mới hiểu thêm tài của ông Tám Lê .

Tư Chuyền vẫn chưa hết giận:

- Củ Chi này là xứ gốc của tôi mà chỗ nào tôi không lội tới. Tôi về đây hồi năm 61 kia mà. Phải nói cho công bình là hồi đó sau khi bót An Nhơn Tây rút, đồng bào mình phấn khởi lắm. Mấy ông làng địa phương kêu đi làm gì cũng làm. Cả trăm người đào địa đạo cả tháng liền từ Bến Mương vô Gót Chàng gần nhà con Bảy Mô bây giờ đó. Gần hai cây số chớ ít ỏi gì. Nhưng đào rồi để đó chớ có ai xài. Đến khi cần dùng thì nó đã sụp đã hư hết rồi. Ba năm liền bỏ phế, còn sao được mà còn! Rồi đến năm ngoái năm nay Mỹ vô bom pháo nó bắn tróc mô lưng hết. Lại thêm ba cái B52. Không địa đạo gì chịu nổi. Tôi quạ bên C3 cũng hệ thống quân y, đóng bên An Phú tôi thấy lỗ hang trống phộc như ống cống. Người thường còn không dám chui thì làm sao chứa thương binh, làm sao hằng trăm khán giả tới xem văn nghệ? À! quên thằng Phạm Sang nghe nói bị Mỹ bắn chết rồi, không biết có đúng không?

- Tôi vừa đi qua Bời Lời, Trảng Cỏ tôi thấy cơ quan bộ đội đều ăn ở hầm.

- Bời Lời là chiến khu của mấy ông nội Tây Ninh đó, bây giờ Mỹ nó phát quang rồi, mấy ổng bò sang Trảng Cỏ, nhưng Trảng Cỏ vừa nhỏ lại vừa thưa cây không ở được đâu.

- Nó còn họp chợ chồm hổm vui lắm.

- Thì còn ngoắc ngoải đó chờ B52 hoặc bầy vịt bầu kia đi qua một phát là xong. Cái C5 của tôi vừa bị một phát nên dời về đây mới đào được chục rưởi hầm mà số thương binh có trên năm chục. Vừa ngóc dậy được là tôi cho về đơn vị, kha khá một chút tôi gởi về R an dưỡng.

Nghe ông bác sĩ tố cáo tôi ớn quá, nên bảo:

- Để tôi ra phụ với đám chuột một tay. Cha chà! Mỡ hành thơm nực.

Tư Chuyền lẽo đẽo theo tôi:

- Ông có về trên I, nói tận tai ông Ba Xu dùm tôi, rằng ở dưới này tôi không có đủ bông băng cho thương binh. Quần áo xé ra dùng hết rồi. Ông làm ơn nói câu đó dùm tôi với ông Ba Xu. Tôi lạy ông trước một lạy.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 31

Những mối duyên và nợ


-Bữa tiệc thịt chuột nhậu oắc cần câu. Khách vừa ra về tôi mở ba-lô giăng võng ngay miệng hầm ngả lưng ngay.

Lụa la:

- Anh Hai ! ngủ đó không được đâu !

Tôi lè nhè đáp và nhắm mắt giả ngủ.

- Chừng nào nó thụt anh phóng xuống!

- Đã bảo không được là không được mà . Nó giã gạo anh không xuống kịp.

- Kệ anh, em đi ngủ với con Rớt đi. Lần trước ở nhà má anh ngủ trên ván gõ với thằng Tư Linh đó, có sao đâu!

- Hồi đó khác, bây giờ khác.

- Cũng Mỹ, cũng Đồng Dù chớ khác cái gì!

- Anh say rồi hả ?

Tôi lặng thinh giả ngủ. Lụa đến bên tôi năn nỉ:

- Em lạy anh, anh Hai. Hồi đó nó chưa có pháo siêu âm, bây giờ nó có đủ hết. Nó bắn túm giò chạy không được. Thiếu gì người chết bên miệng hầm rồi đó.

Tôi biết là một tai nạn sẽ xảy đến cho tôi. Tôi cứ nằm lỳ, tâm trí tỉnh queo nhưng giả bộ ngủ. Tôi biết tôi đứng ở bên bờ vực. Tôi cố ghìm tôi lại để khỏi rơi. Mong sao đừng có cơn gió nào thổi ập sau lưng tôi.

Tôi biết tình ý của Lụa và Là . Tôi đã ghì cương con ngựa hoang trong lòng tôi lại bao nhiêu lần rồi. Lần này chưa biết sao. Tôi cố giữ nó lại bằng cách nghĩ tới thằng chồng của Lụa đang đi dân công ở Phước Long. Nếu mình đi như vậy mà ở nhà có thằng…

Tôi lôi cả những bài luân lý giáo khoa thư, những câu cách ngôn học ở trường: Đừng làm việc gì cho người khác nếu mình không muốn người khác làm việc đó cho mình. v.v… Quả y như lời Lụa nói, tôi đang thả hồn phiêu diêu thì nghe giã gạo ình ình. Tôi bật dậy như máy. Lụa gào lên thất thanh: Anh Hai, anh Hai!

Tôi chui tọt xuống hầm nhanh hơn chuột vô hang. Lụa đang ngồi trên giường đầu tóc rối bù. Ngọn đèn dầu rung rinh theo nhịp chày nện. Tôi hỏi:

- Ở đâu vậy?

- Chắc là Gót Chàng.

- Sao nghe xa vậy?

Lựa vừa vén tóc bới lại và nói:

- Có thể là Bàu Lách Bào Trăn gì đó.

- Nó thường bắn lên tới đây không?

- Ít khi ! Ở đây thì nằm trong tầm pháo Trung Hòa.

- Trung Hòa chỉ có pháo 105 không đáng sợ!

- Ở đó mà không sợ. Ở Củ Chi chỗ nào nó bắn cũng tới hết. Nó biết giác này xe bò Hậu Cần chở gạo, đuôi tôm Hậu Cần chạy trên sông nên nó bắn dọn đường.

Tôi ngồi ghé lên giường cách Lụa xa xa. Bé Rớt vẫn ngủ say trong một ngách nhỏ. Nó không giật mình. Có lẽ nó đã quen với loại âm nhạc này. Hiệp pháo chấm dứt. Lụa nói:

- Bữa nay nó bắn ít đó anh ạ . Có lẽ nó bắn cầm chừng. Chớ nếu nó thấy cái gì là nó thả cho hai chục phút. Anh cứ khinh thường là không có được.

Lụa nói xong thọc chân xuống đất vô tình để lộ ra mãng chân trắng ngần. Nàng bước xuống và bảo tôi:

- Anh ngủ trên giường đi, để em vô ngách bên cạnh.

- Sao không để con Rớt ngủ giường? Ngủ trong ngách ngộp chết!

- Để nó ngủ giường có việc gì kêu nó không được. Ngủ trong ngách chắc hơn.

- Dì Út nó ngủ ngách nào?

- Nó muốn ngủ ngách nào thì nó ngủ không có chừng có đổi gì. Thôi, anh còn mệt ngủ đi để sáng mai nó chụp có sức mà chạy.

- Ở nhà không có hầm hố gì hết sao?

- Có nhưng ba cái thứ ôn binh đó chỉ có dì Út nó chui thôi, trời biểu em cũng không xuống.

- Gần nhà hay xa.

- Ngay gần miệng đường thoát thân. Để sáng em chỉ cho. Trước nhất anh vô hầm trốn bom pháo dọn bãi. Kế đó anh theo đường nhỏ chui ra rồi xuống hầm luôn. Em ở trên nghi trang cho.

Lụa nói xong bò vô ngách.

- Sắp tới đợt pháo Trung Hòa rồi.

- Sao em biết?

- Đêm nào cũng vậy mà. Có khi Trung Hòa giã trước rồi tới Đồng Dù, có khi Đồng Dù giã trước rồi kế Trung Hòa.

- Em sợ cái nào hơn?

- Cái nào em cũng sợ, chỉ bữa nay là không sợ thôi.

Tôi biết nếu tôi hỏi tại sao thì Lụa sẽ đáp như thế nào nên không hỏi tới nữa. Lụa nằm ló hai chân ra phía tôi. Cái ngách giống như cái hòm bằng đất, nếu ngồi dậy thì đầu đụng nóc. Tôi nằm xuống im lìm cố không nhúc nhích và nhắm mắt để ngủ . Nhưng ngọn đèn dầu đặt trong lỗ khoét vào vách đất như cái hột đậu xanh cứ chớp chớp trong trí tôi. Tôi vô tình nằm trên chiếc gối của Lụa. Một ít hương tóc của người đàn bà còn rơi sót ở đó. Tôi thở thấy rõ. Cái gì của đàn ông thì đàn bà nhạy phản ứng, cái gì của đàn bà thì đàn ông nhạy phản ứng.

Chưa bao giờ tôi gần một người đàn bà mà trong bụng tôi không khỏi phập phồng. Mai Khanh, bà khu ủy… và bây giờ là Lụa. Tôi đã đi đến chỗ meo nhất của miệng hố. Lụa ngồi dậy quơ tay và đụng vai tôi.

- Anh đưa em cái mền.

- Đâu có cái mền nào ở đây.

- Tấm vải dù của anh ở đâu?

- Anh bỏ ngoài võng.

- Để em lên lấy!

Nàng vọt lên rồi trở xuống ngay, nằm im không nói không rằng. Tôi cho là đã qua ải. Lạy trời cho con một giấc ngủ bình thường. Nhưng một chút Lụa lại gợi chuyện. Nàng kể lể:

- Má nhớ anh dữ lắm. Má được thơ anh, ngày nào má cũng ngóng. Chờ hoài không được nên má mới đi qua dì Ba bên Thanh An. Em cũng muốn đi qua bên đó yên ổn hơn cho con Rớt học hành, nhưng em sợ anh về đây không thấy ai hết, bơ vơ tội nghiệp. Anh đi anh vui với bạn bè đâu có biết người ở nhà lo cho anh.

Nàng sụt sịt khóc. Đột nhiên nàng đổi giọng:

- Em còn biết anh ăn cháo gà ở dưới cô Ba Phi nào đó ở Xóm Giữa nữa. Ăn xong ngủ tới sáng mới về. Anh đâu có nhớ ai.

Tôi cãi lại:

- Người ta đồn bậy chớ anh đâu có ngủ dưới ghe ai.

- Còn không có nữa ? Không có sao người ta đồn?

- Anh với thằng Hùng ra đó mua đồ.

- Rồi còn cô nào đi theo anh mấy trạm liền mới trở về?

- Người ta đi công tác chớ theo gì anh!

Nàng bắt qua chuyện khác:

- May là trái bom nổ ngoài gốc vú sữa, nếu nó trịt vô chút nữa thì anh về đây đâu có ai mà… mà nấu cơm cho anh ăn.

- Bữa đó em ngủ trên nhà má à?

- Em lên rước con Rớt về rồi bị đầm già bắn điểm kẹt lại trong vòng bom. Để mai dì Út nó về dắt anh lên coi nhà cửa có còn cái gì không? Má tiếc cái nhà, má không muốn đi nhưng em đốc má đi qua bên đó ở cho yên. Ba cây cột kèo cháy dở em gom lại làm được cái hầm này.

Tôi bỗng nhiên cảm thấy mình như người chồng đi xa về được vợ ở nhà kể cho nghe những biến cố gia đình trong lúc vắng mặt. Tôi chép miệng, nói một câu rất chính trị:

- Ở đâu cũng vậy hết, nhà cửa tan nát, cha mẹ xa con, vợ lạc chồng.

Chằng ngờ câu nói lại chọc trúng tim người đàn bà sầu muộn. Nàng òa lên khóc. Tiếng khóc trong hầm chật vang to như trong phòng ghi âm của đài phát thanh. Tôi phải nói tiếp một câu chính trị hơn nữa:

- Chừng nào Mỹ thua, mình mới sống bình yên được.

- Xí chừng nào Mỹ mới thua?

- Em giỡn hoài.

- Mấy ổng có đánh chát gì mà nó thua. Có hồi sau Đồng Khởi Công trường 9 của ông Sáu Nhâm về đây làm được mấy trận rồi sau khi rút về R, ở dưới này êm rơ luôn. Đánh cà trật cà duột không ăn ngọt được cú nào hết. Bây giờ có cái Đồng Dù này mấy ổng cũng biến mất.

- Năm nay mình củng cố lực lượng năm tới làm ăn lớn.

- Anh hăng quá ha ! Em nói cho anh biết, ai người ta cũng thả rều, nước tới đâu lục bình tới đó . Một mình anh không đủ đâu. Anh có nghe ông Tư Chuyền than chưa? Quân y mà như vậy, lính làm sao dám xung phong?

Tôi được cơ hội nên rẽ ngang tránh mũi nhọn của người đàn bà. Tôi hỏi:

- Ông ta người xã nào vậy em?

- Hình như Trung Lập hay An Nhơn Phước Vĩnh Ninh gì đó em không rành.

- Sao ổng biết anh về mà tới thăm vậy?

- Giề ! Ổng đi đến nhà bà Khỏe chẳng may gặp anh nên lỡ bộ nói vậy đó chớ thăm gì anh!

- Ông ta vui tính và bình dân chớ em!

- Bình dân nên bà Khỏe phá thai mới có một lần thôi !

-Trời đất! Có thiệt hả?

- Kỳ trước anh nhờ bả đi móc gia đình mà bả đi không được là mới phá thai chớ mấy đứa nhỏ nào bịnh!

- Mấy cha nội đó vậy không!

- Ông nào cũng vậy không phải một mình ổng. Bữa nào dì Út nó về, anh bảo kể cho nghe vụ ông Ba Xu.

- Ba Xu nào?

- Tư lịnh của anh chớ Ba Xu nào?

- Chuyện gì?

- Dì Ba mình là mèo của ổng đấy!

- Dì Ba nào?

- Em của má , dì ruột của em chớ còn dì Ba nào? Dượng Ba chết lâu rồi.

Tôi thở dài. Ở trên đó gặp vụ Năm Lê bị bà Hai Mặn cút bắt tại cổng nhà giời, xuống đây đụng ông Ba Xu léng phéng. Vợ con ông ta đùm đề mà ổng cũng léng phéng ư? Những tên tai to mặt lớn là chúa làm bậy nhưng lúc nào cũng lên lớp huấn từ người khác.

Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Tôi nghiêng mình qua trở bộ thì đụng một vật gì âm ấm. Tôi mở mắt ra. Ngọn đèn đã biến mất. Hơi thở phà vào da mặt tôi. Tôi nằm nhích ra. Nhưng có tiếng rủ rỉ:

- Em… lạnh… quá hè.

- Tấm đắp của anh đâu?

- Em đắp… cũng khô… ông hế… ết lạnh.

- Em đừng làm vậy con Rớt thấy nó mét má, má rầy.

- Má không rầy đâu! Em biết mà.

- Sao không rầy?

- Ba con Rớt mất tích rồi. Chú Tư Thiên giấu em hơn một năm nay.

Lụa òa lên khóc và ôm chặt cứng lấy tôi.

Sáng thức dậy, tôi ngỡ vừa đầu thai kiếp khác. Tôi không muốn nhớ lại chuyện pháo bắn đêm qua nữa. Tôi đã hèn yếu không cưỡng lại nổi ý muốn nóng bỏng của người đàn bà. Nhưng thôi, 99% tội lỗi của đàn ông là do đàn bà, tôi tài gì. Hơn nữa tôi là kẻ dễ dàng phạm tội. Huống chi đây không phải tại tôi. Có khi không hẳn là tôi mà là phúc. Nghĩ vậy tôi cũng yên tâm.

Tôi thấy hơi lọng cọng như đôi vợ chồng mới ở chung một nhà. Giá con Rớt thức dậy, tôi nói chuyện với nó thì đỡ ngượng hơn. Ngược lại Lụa rất tự nhiên. Nàng khuấy sữa bưng đến cho tôi và nói:

- Anh đừng có khinh thường pháo như vậy nữa nghe.

- Anh sợ hầm chật.

- Mà có chật không?

Tôi đánh trống lãng:

- Để anh đi đằng này chút.

- Đi đâu thì cũng ăn cơm rồi mới đi.

- Đi vô C5 gặp ông Tư Chuyền một chút.

- Em biết anh đi đâu mà !

- Đi đâu?

- Hai con nhỏ đó là đồ yêu tinh chớ không phải đồ tốt đâu. Tụi nó ngủ chung hầm với Tư Chuyền đó. Thằng chả một đứa còn thằng cha Tám Lê bên Bưng Còng một đứa. Bà Thắm ghen muốn hộc máu ra đó. Ai cũng biết bả ghen mà xanh lét như con mắm trở.

- Bà Thắm nào?

- Bữa nào ông Tám Lê qua đây anh hỏi thì biết. Thằng chả dụ khị con Nga nhỏ cho đi học y sĩ. Xí, cái thây thằng chả chưa biết có được y sĩ chưa lại cho người khác học y sĩ.

- Đó là chuyện của họ ăn thua gì tới anh?

- Sao không ăn thua, anh vô đó tụi nó bắt xác anh cho coi. Thời buổi chiến.tranh này, sống chết như nháy mắt, nó gặp anh là nó mết ngay.

- Em làm như anh là . . . gì vậy ?

Lụa xổ một hơi.

- Ừ! để rồi coi ! Đố anh khỏi tay hai con quỉ đó. Con gái gì mắc võng trên mình đàn ông. Ngủ như vậy năm này qua tháng khác không bị sao được.

- Võng gì mà mắc trên mình?

- Anh không biết à? Bộ trên R không có vậy sao?

- Trên R thì ngủ trong rừng thôi chứ làm gì có cái vụ chồng lên như vậy.

- Cũng do ba cái vụ pháo bắn mà ra. Không ai dám ngủ khơi khơi trên mặt đất. Dân thì phải ngủ trong hầm. Còn cơ quan phải đào hầm ngoài rừng mà ở. Hầm đào không xuể, phải ngủ chung. Võng giăng hai ba từng, ông từng dưới bà từng trên, vậy đó!

Tôi dã lã :

- Em nói vậy anh biết rồi. Anh sẽ tránh xa ra.

- Anh mà tránh, tránh tới thì có.

- Ừ, thôi anh không đi đâu hết. Anh cứ nằm ỳ ở đây, dì Út nó về anh khai hết.

- Anh cứ việc khai. Anh khai với má luôn đi. Em thách anh đó.

- Nhớ nghe !

Nàng sụt sịt muốn khóc.

- Chớ ba con Rớt như vậy rồi, em thủ tiết với ai nữa?

- Thôi em! đừng có khóc, anh khổ lắm!

- Em biết anh dòm ngó đâu đâu chớ đâu có chịu nhìn cây cỏ dưới chân anh.

Cơm nước xong, tôi nai nịt đi C5, bỏ cái ba lô ở nhà. Vừa ra khỏi cửa là đụng sứ giả của Tư Chuyền: Bảy Phúc tay cầm cái lồng có mấy con chuột cống lông vàng khè.

- Anh Tư, mời anh vô chơi.

Lụa tuôn một hơi.

- Chơi gì mà chơi. Mới hồi hôm không đã sao mà còn kêu réo? Để cho ảnh nghỉ khỏe rồi đi công tác.

Bảy Phúc cười ý nhị:

- Một đêm chưa có đã nên kêu ảnh vô chơi tiếp. Hè hè .. . Còn một rộng chuột cống trong đó…

- Ăn ba con chuột đó miết trổ phong cùi cho coi.

- Chuột người ta kiếm không ra, chuột gì trổ phong cùi.

- Chuột bị hóa học, chuột ăn thây ma ăn không bị cùi hả? Bác sĩ gì ăn ẩu tả không hè.

Tôi nói:

- Tôi cũng tính đi vô đó để bàn công tác với anh Tư mà còn ngại đường đi, không biết có lựu đạn gài hay không?

- Chỉ ở ngoài đường số 1 , Xóm Mới, Gò Nổi mới có thứ đó thường xuyên. Còn trong này chỉ có ba cái hầm chông gài ếch của cô Út Là thôi. Anh nhảy đầm trên đó cũng không sụp

Bảy Phúc để lồng chuột ngoài cửa, bước vô nhà, ngó ngó một hồi rồi bảo:

- Đêm qua pháo thụt anh ngủ đâu?

- Ngủ hầm chớ ngủ đâu mà hỏi kỳ vậy?

- Ờ hầm của chị có nhiều ngách. Tôi biết mà.

- Anh chui vô hồi nào mà biết giỏi vậy?

- Đứng ngoài miệng dòm cũng biết mấy ngách nữa cần gì vô!

Tôi biết cuộc đấu khẩu này có biểu tượng hai mặt và có mòi găng nên hòa giải bằng cách chỉ cái lồng chuột:

- Chuột này mà ăn thây ma à, Phúc?

- Người ta nói vậy thôi, chớ thây ma đâu mà ăn?

- Có chớ sao không. Ông gì ở Bàu Chứa đi làm đồng bị pháo bắn chết hai ba ngày, bà vợ đi thành về mới hay. Ra đến nơi, cái thây bị khoét mấy lỗ. Tôi nghe chuyện đó, mỗi lần thấy con chuột tôi mắc ói.

Bảy Phúc giục:

- Thôi đi anh Hai.

Lụa ném theo.

- Đi một chút thôi à !

- Một chút rồi tôi đem trả lại, còn nguyên không sứt một miếng… da nào!

Lụa hết quạo, cười xòa, khoe hai hàm răng ngà có duyên hết sức:

- Mấy ông tối ngày có môn nói xầy là giỏi! Mà coi kia, con đầm già trên Dầu Tiếng xuống.

Bảy Phúc khom xuống xách cái lồng chuột, nghễnh cổ lên nhìn và nói:

- Nó rà trên sông Sài gòn kệ bà nó, giỏi thì rải hóa học tiếp bên An Điền chớ bên này còn chỗ nào xanh mà rải?

Nói vậy rồi anh em dắt nhau đi. Tôi không nhìn lại, nhưng tôi biết ở sau lưng, Lụa đứng tựa bẹ cửa nhìn theo và tôi biết ở nhà Lụa sẽ làm gì nữa.

Đi dọc đường thì đụng hai con yêu tinh xuống rước. Hồng Nga (tức Nga hai chục tuổi) hỏi ngay :

- Anh tới gia đình con Là hồi nào mà làm con nuôi má hai?

- Năm ngoái.

- Năm ngoái em mới ra khu, đóng ở Phú Hòa.

Tôi hỏi Huỳnh Nga (tức Nga mười sáu tuổi):

- Em học lớp mấy mà bỏ trường đi đây?

- Em học lem nhem không biết lớp mấy nữa !

Hai cô Nga, cô nào cũng được đến, không biết có như Lụa nói hay không? Đàn bà con gái không ai ưa ai cả chị em ruột trong nhà cũng thế. Hễ có dịp là bêu xấu nhau ngay huống chi tình địch.

Đi qua nhà chú Bảy Xe, ra khỏi vườn cao su là ra đụng bìa rừng chồi. Cây thấp nhưng rậm, Huỳnh Nga trỏ tay, bảo:

- Đường này ra Bàu Đưng đi ngang qua đồng Trà Dơ. Chắc rồi sau này thế nào anh cũng có dịp qua mấy nơi đó.

- Em thích nghề y tá này à?

- Em mới ra, mấy chú đặt đâu ngồi đó chớ biết gì mà lựa chọn.

Đang đi bỗng nàng sụp xuống kêu lên.

- Gì vậy?

Bảy Phúc xách lồng chuột đi phía trước, quay lại ngó rồi đi luôn với Hồng Nga không quan tâm. Tôi đi tới hỏi. Nga ngước mắt lên, cặp mắt đen huyền.

- Em đá trúng cái rể cây nó tách móng chân.

Tôi móc trong túi cứu thương cá nhân đeo từ Hà Nội, lấy vải ra quấn mấy vòng. Máu thấm ướt ra tận ngoài. Nga xuýt xoa. Tôi bảo cố đi về nhà rồi băng lại.

- Em hết đau rồi.

Nga nhìn tôi và nói giọng nhỏ rí. Nga đứng dậy đi. Có lẽ chân đau nên Nga đi chậm, cách xa hẳn Hồng Nga và Bảy Phúc. Bỗng nhiên Nga hỏi tôi:

- Sao anh không tìm chị Hai đi? Nhiều ông mới về tới là đám cưới ngay.

- Anh chân ướt chân ráo biết ai đâu! Em làm mai dùm coi.

- Em sợ anh chê chớ có thiếu gì.

Tôi cười:

- Anh thấy có một người đẹp lắm mà không dám.

-Anh sợ ai mà không dám?

Tôi nói ngay:

- Sợ bị thương sơ sơ mà vô bịnh xá , người ta cưa giò anh.

Nga bật cười:

- Người ta đồn bậy vậy chớ ai mà thèm cái ông già dịch đó ông ta có vợ là chị Ba Thắm có hai, ba đứa con rồi. Ai đui mà lủi vô bụi gai đó.

- Sao anh nghe người ta đồn rùm rằng bà Thắm ghen tuột quần tuột áo.

- Bả nghĩ bậy rồi bả ghen chớ ai làm gì chồng bả? Anh mới về mà nghe ai đồn mà lẹ quá vậy?

- Anh cũng không nhớ ai nói với anh.

- Em đâu có phải là người mất trí đâu anh Hai.

- Anh nghe vậy thì anh nói lại cho em biết chớ anh biết em là người có học.

- Sao anh biết em có học?

- Nghe nói chuyện thì biết. Cũng như nghe pháo đề-pa là anh biết pháo gì.

- Em cảm mến anh từ khi nghe tiếng đồn về ông thầy pháo. Quả thật tiếng đồn không sai.

- Anh nhậu nói chuyện tào lao vậy mà cảm mến cái nổi gì?

- Cùng là dân nhậu, nhưng anh khác.

Đi một quảng nữa, Nga nói:

- Anh của em là Năm Hoa ở Tiểu đoàn Quyết Thắng của I/4 này. Ảnh là tiểu đội trường. Ảnh hứa hôn với chị Tám Mang hộ sinh quận, nhà ở Bến Mương.

- Còn nhà em ở đâu?

- Em ở xã Thời Hòa, quận Bến Cát bên đường quốc lộ 13 từ Bình Dương đi lên. Anh Năm em đánh trận Cây Trộm hồi 63 bị thương, cưa hết hai chân. Gia đình chị Tám lãng ra không nói gì đến chuyện cưới hỏi. Thỉnh thoảng em gặp chỉ, nhưng chỉ không nhắc gì đến anh Năm em. Em vẫn thương chỉ lắm. Nhưng tình nghĩa phai lạt như vậy em biết làm sao bây giờ. Em chờ má em đem tiền vô, em đi lên trại An dưỡng ở Lò Gò thăm ảnh. Đời ảnh bây giờ chỉ còn nguồn an ủi là gia đình thôi.

Tôi nói ngay:

- Em thấy không? Đời chiến sĩ là vậy . Khi còn cầm súng chiến đấu thì kẻ đón người đưa, bị thương nằm một đống, cả vợ chưa cưới cũng quay mặt. Do đó anh không muốn làm phiền lòng ai hết.

Nga nói:

- Đâu phải người nào cũng như chị Tám hết, anh !

- Đã đành là người ta vẫn yêu mình đi nữa, nhưng gặp một ông chồng thương tật như vậy thì sống có thú vị gì.

Nga quay sang chuyện móc gia đình:

- Gia đình anh ở đâu?

- Trước ở Long An, bây giờ nghe nói về Sài gòn rồi.

- Anh có muốn móc chung với em không? Em có cây móc ở xóm Ràng xã Trung Lập. Nhưng có chắc là anh về I/4 không?

- Chắc anh về Pháo binh thuộc phòng tham mưu.

- Tham mưu là K10, K20 là phòng Chánh trị, K30 là Hậu Cần của em. Vậy cũng gần. Chừng nào anh có ý định móc thì anh cho em hay.

Nghe Nga nó chuyện tôi thấy nàng có trình độ như Huỳnh Mai. Tôi nói:

- Thấy mặt em là anh muốn hôn. Cho hôn một cái được không? Cho thì lấy, mà không cho thì cũng đừng cự nự nghen.

- Hồi đó tới giờ chưa ai hỏi em như vậy.

- Vậy chưa ai hôn em à?

- Có nhưng họ hôn ẩu. Em tởm lắm. Em đi rửa mặt và lau đi.

- Còn anh?

- Sao anh đòi kỳ vậy?

- Tại thấy thương chớ sao nữa. Phải hôn em được một cái thì hi sinh mới mát bụng.

Nga làm thinh cứ lầm lũi đi. Tôi nhắc lại:

- Có chịu không? Làm thinh tức là đồng ý .

Nga dừng lại chớp chớp mắt:

- Mà anh phải hứa thì em mới đồng ý .

- Hứa gì?

- Hứa là hôn em rồi không được hôn ai khác.

- Nếu anh đã hôn ai khác rồi thì sao?

- Từ đây về trước em bỏ, chỉ tính từ này về sau thôi.

- Vậy… em là gì của anh à?

- Hổng biết nhưng em không muốn anh hôn ai ngoài em.

- Ừ, anh chịu.

- Mà không được đâu, gần tới nơi rồi. Mấy thằng thanh niên thấy nó cười em.

Tôi thấy Nga dễ thương, khôn ngoan và tình cảm rất phải chăng, không xốc nổi như Thanh Tuyền. Huỳnh Mai chết rồi. Có thể đây cũng là Huỳnh Mai chăng? Nga bảo:

- Anh có nghe tiếng đào đất thình thịch trong rừng không? Đó là căn cứ của C5 tụi em.

- Đâu đưa anh vô xem.

Đi theo một con đường mòn mới lởm chởm gai góc và luồn qua những nhành cây thấp. Nga đưa tôi đến một công trường đào đất gồm có bốn mạng. Tôi ngó qua thì thấy đó chỉ là một loại giao thông hào có nắp đậy. Đưa thương binh xuống đây khác nào chôn sống họ ? Anh nào đã vô nằm trong cái bệnh xá này trở về chắc không dám chiến đấu nữa.

Tôi bảo Nga dắt tôi đến văn phòng của Tư Chuyền. Tôi biết trước là tôi sẽ liên hệ công tác rất nhiều với cái C5 này nên tôi phải đóng góp ý kiến với ông ta.

Đến một quảng rừng rậm, tôi dừng lại hỏi:

- Bây giờ còn sợ người ta thấy nữa hết?

- Để thong thả đã .

- Treo môi người ta đến chừng nào?

- Anh đã hứa với em đâu mà đòi.

- Ừ thôi anh hứa đó. Chịu chưa?

- Chịu nhưng phải chờ.

- Chờ gì nữa.

- Chờ má anh với má em gặp nhau bàn định mới được. Chớ làm ngang vầy sao?

Tôi nghĩ bụng, cô bé này khó tính chớ nhỉ. Nhưng mà làm sao giải quyết vụ Thu Hà? So với bất cứ cô nào quen với tôi từ trước tới nay, Nga cũng không thua mảy may. Tôi hơi tiếc sao một đóa hồng nhan như thế này lại lăn thân vào khói lửa?

Nga đưa tôi đến một cái hầm vuông dài trên có mái lá che lẫn trong những tàng lá rậm. Tôi bước theo những bậc thang đất đi xuống. Tư Chuyền đã ngồi sẵn ở bàn với Bảy Phúc. Tư Chuyền bắt tay mời tôi ngồi:

- Sáng sáng trụn lòng trà mậu dịch. Chiều chiều súc miệng rượu quốc doanh. Thầy nhớ câu đối đó ở đâu không thầy Hai?

- Câu lạc bộ F330 ở Thọ Xuân chớ đâu.

Tư Chuyền cười, mắt lấp lánh sau tròng kiếng cận thị:

- Mời thầy trụn sơ bộ đồ lòng buổi sáng cái đi!

- Tình hình chắc êm không?

- Không ngày nào êm. Nó không đổ chụp thì pháo, không pháo thì rải chất độc, không rải chất độc thì đầm già bay tìm mục tiêu.

Tư Chuyền rót trà. Hai đứa vừa ăn đường cát vừa uống trà. Cạn chén thứ nhất, tôi nói ngay:

- Không còn cách nào khác để giấu thương binh hả anh Tư?

- Thầy coi đó thì rõ thầy Hai. Ở trên không cho cả nhân công đào đất mà. Vật liệu là cột nhà cháy tụi tôi thu nhặt đem về, cột kèo chủ nhà quăng dưới mương ngâm tôi cho lấy ẩu hết đem vô làm hàm, không cần đếm xỉa quan điểm nhân dân.

- Cây kim sợi chỉ không lấy của nhân dân, nhưng cột nhà thì rút tuốt.

- Chủ nhà thấy mất là biết mấy con quỉ giải phóng chớ ai vô ! Chuối non tôi cũng đốn, dừa nạo dừa khô cũng không tha, mít sầu riêng cam quít bẽ tuốt.

- Nhưng hầm hố thế này tội cho thương binh quá anh .

- Tôi phải nhắm mắt làm bừa bất kể lương tâm nhà nghề thầy Hai ạ . Chớ nếu chờ ở trên thì không có gì hết. Hôm qua tôi đã tâm sự với thầy đó. Xin một cái móc tăng để che bụi khi mổ xẻ cũng không có mà ! Thầy Hai có tưởng tượng được rằng mổ xẻ không có thuốc tê thuốc mê không?

- Nếu tôi ra đơn vị bộ binh tôi sẽ đưa về đây đào hầm cho anh một thời gian và sẽ nghiên cứu chiến trường đánh cướp một số thuốc men dụng cụ.

- Được vậy tôi phục vụ đơn vị thầy Hai hết mình.

Hồng Nga bưng dĩa khoai mì bốc hơi bước xuống đặt trên bàn:

- Mời chú Tư với anh Hai ăn lót lòng.

Tư Chuyền nói:

- Thầy Hai dùng thử xem có bằng khoai mì Phước Long của ông Ba Cà trồng không?

Nhìn mấy củ khoai nõn nà thơm phức, tôi hỏi:

- Anh có nếm khoai mì của ông Ba Cà nữa à?

- Có thấy nhưng không dám ăn!

- Sao vậy?

- Trong đoàn tôi ăn rồi bị ngộ độc năm, sáu mạng, tôi cứu cấp suốt một đêm mệt muốn chết luôn.

- Tôi ăn no cành có thấy gì đâu !

- Ông có gặp những củ to bằng chiếc gối đệm không?

- Mì gì mà to dữ vậy?

- Đó là những củ bị bỏ quên hai năm không ai đào, ăn như thịt giò voi, không có chất ngọt gì hết, còn lạt hơn củ chuối nữa, nhưng khá hơn đọt cây đớt và lá bép. Cho nên mạnh anh nào anh nấy dồn bao tử. Nhưng loại củ này vô thưởng vô phạt. Còn một loại bị rể tranh mọc xuyên vô rồi trở thành độc địa. Ăn xong ngã ngửa ra, mắt trợn ngược.

- Sao kỳ vậy?

- Đó là hiện tượng rõ ràng. Chỉ biết chữa chạy chớ đâu có thì giờ mà nghiên cứu.

Tôi bẻ miếng mì bỏ vô miệng nhai và nói:

- Mì này không thua mì ở xã Trí Phải Bạc Liêu.

- Ngon thì cũng thấy ngon lắm, nhưng tôi hơi ngại. Như tôi nói hôm qua đó. Sinh vật ở đây đều nhiễm độc. Mình ăn vào không bảo đảm đâu, nhưng đói thì không nhịn được.

Tôi trở lại vụ hầm hố, nói:

- Nắp hầm như thế này may ra chịu được 105 chớ không chịu nổi 155 và 175 đâu.

- Cò ỉa miệng chai thầy Hai ơi! Nếu hầm nào bị pháo trúng lệnh thì đó là trời kêu ai nấy dạ chớ biết làm sao bây giờ.

Tôi bi quan vô cùng, nhưng không biết làm sao cải tiến ngành quân y. Nhớ hồi 47 quân y kháng chiến cũng thiếu thốn vô cùng nhưng thương binh được nằm yên ổn trong nhà, tính mạng không có chông chênh luôn luôn bị đe dọa bởi các thứ như bây giờ.

Hồi trước vẫn có cơ hội để áp dụng khoa học như cấy phi la tốp, như bào chế thuốc chích ngừa bệnh trái mùa, ngừa nọc rắn độc, bào chế vitamine B1, vitamine C, hemogbobine (giống như Hemoglobine Deschiens) còn quân y xá bây giờ cả miền Nam trông thấy mà khóc ròng.

Uống trà xong, Nga dẫn tôi đến xem cái hầm của hai cô Nga. Tôi nhìn thấy mà càng khóc ròng hơn. Đúng là ăn lông chuột và ở hang chuột. Cái hầm sâu ngang đầu người, bề ngang sáu tấc. Võng giăng hai tầng bó chẹt giữa hai vách đất không lắc qua lắc lại được. Tôi bảo:

- Cái nóc thế này chịu nổi đạn gì?

- Chịu nổi đạn gì thì đạn, chớ tụi em không có sức đào nữa.

- Đáng lẽ trước khi đắp nắp, hai em phải lót một lớp ni-lông nước mưa mới không rỉ xuống.

- Ni-lông không có xài lấy đâu lót đất, anh Hai ! Mỗi lần anh Tư xin, ở trên trả lời bảo khắc phục ! Khắc cách nào?

Để phá tan bầu không khí áo não, tôi hỏi Huỳnh Nga:

- Chân em hết đau chưa?

- Nhằm gì cái vết trầy ngoài da anh Hai!

- Vậy vết trầy ở đâu mới nhằm?

Hồng Nga nói hớt.

- Ở trong tim, phải không em Sáu?

Huỳnh Nga quay lại nhìn Hồng Nga. Hai nàng mỉm cười với nhau.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 32

Cô xã đội phó


Nga chưa dứt lời thì một tiếng hét chát chúa như M19 nổ sau lưng tôi:

- Anh Hai đi về !

Tôi quay lại: Là và bé Rớt đứng tần ngần. Cô xã đội phó nói như quát.

- Anh làm gì tới đây?

- Anh vô nghiên cứu công tác.

Là không nói gì quay lưng đi. Được vài bước thì quay lại:

- Trên khu cho người đi tìm anh.

- Ai vậy?

- Không biết. Anh về coi.

Là nói nhát gừng. Tôi dắt tay bé Rớt đi theo. Chợt nhớ mình chưa từ giã hai cô Nga, tôi dừng lại:

- Chào hai em nghe . Chừng nào móc gia đình anh sẽ cho biết.

Đi ngang hầm Tư Chuyền tôi nói:

- Chiều ra trạm chơi nghe ông bác sĩ.

Ra tới đường, Là dừng lại quắc mắt:

- Anh về hồi nào?

- Trưa hôm qua.

- Hồi tối anh ngủ đâu?

Bé Rớt vọt miệng:

- Cậu Hai ngủ ngách của dì.

Câu nói của con bé làm gương mặt nhăn nhó của cô nàng dãn ra. Nàng cười nhưng cố nín. Rồi bảo:

- Anh về đi Bò Cạp với em!

- Đang giờ chụp mà xuống Bò Cạp Bàu Chứa để nộp mạng hả cô xã đội?

- Đó là dưới Nhuận Đức còn Bò Cạp em nói là ở xã Phú Mỹ Hưng mình. Từ nhà má ở Hố Bò băng qua đường 15 là đụng xóm Bò Cạp đó ông thầy ngớ ngẩn.

- Xuống đó kiếm M19 của giang thuyền hay làm gì?

- Anh chết, em chết theo, gì mà lo.

- Để mai không được sao?

- Việc gấp phải đi liền, chậm trễ thằng cha đó vọt mất.

Thấy nàng dịu dịu, tôi phản công:

- Đáng lẽ anh đi hồi chiều hôm qua với Một Sơn rồi, nhưng nghe chú Tư Thiên nói em hội nghị sắp về, nên anh nán lại đây.

- Nán lại sao còn vô C5 làm gì trỏng.

- Xem ba cái hầm chứa thương binh như thế nào để…

- Nghiên cứu hai con hồ ly đó phải không? Thứ đó gặp ai cũng nhận anh nuôi em nuôi. Anh đã làm anh nuôi tụi nó chưa? Tới anh là thứ 1010 rồi đó. Nói cho biết!

- Lần này anh về đây là sống chết với Củ Chi. Nên anh phải xem cách ăn ở hầm hố…

- Vậy kỳ trước em chỉ địa đạo cho anh, quên sao?

- Địa đạo khác, hầm khác, anh phải rút kinh nghiệm cả hai.

- Thôi đi! Em nói không lại anh đâu… Nhưng nếu anh muốn coi kiểu cách làm hầm bí mật ăn thông ra địa đạo thì ở lại đây vài bữa coi chú Tư Thiên làm hầm cho ông Ba Xu thì rõ chớ rút kinh nghiệm gì ba cái hầm cóc nhái đó.

- Ba Xu nào?

- Anh không biết ổng à ?

- À, biết rồi, ông Ba Dì.

Là toét miệng cười rồi xổ luôn.

- Ba Đình chớ Ba Dì gì? Ách giữa đàng mang vào cổ.

- Ách gì mà mang?

Là đã hạ nhiệt độ, chậm rãi kể:

- Em với chú Tư Thiên đi hội nghị ở xã An Phú, trời ơi, tình hình này mà ông Út Một bí thư huyện ủy thuyết trình tình hình mới cả tuần lễ . Ngồi nghe, cái đít có gai mà ổng cứ nói dai như đỉa đói.

- Ổng nói cái gì?

- Có nói cái gì đâu ! Cứ nhai tới nhai lui nắm thắt lưng Mỹ mà đánh. Hết nắm thắt lưng thì xốc tới hoàn thành nhiệm vụ, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng chớ có gì mới đâu !

- Cái đó anh học từ năm ngoái.

- Vậy mà ổng la khẩn trương đó ! Chú Hai Lầu bí thư xã An Phú quèo em với chú Tư Thiên ra hội ý riêng. Tưởng cái gì quan trọng chẳng ngờ cũng hầm hố. Nhưng mà lần này ổng lại muốn chú Tư Thiên lãnh trách nhiệm. Còn ổng và chị Út Lan xã đội phó là con gái của ổng lại bận việc khác. Cứ hễ có đào hầm thì mấy ổng vợ bịnh con đau, y hệt như ông Năm Thuận xã đội trường xã mình vậy. Đáng lẽ Năm Thuận đi họp kỳ này nhưng ổng lại đùn cho em đi với chú Tư. Bây giờ em phải lãnh thêm vụ đào hầm này.

- Đào cho mình thì tốt chớ sao !

- Đào cho ông Ba Đình với ông Tư Trường chớ cho gì em!

- Đào hầm cho hai ông kẹ là quan trọng, người ta tín nhiệm em mới giao cho em.

- Hầm thường không chịu lại đòi hầm ăn thông ra địa đạo kìa! Như vậy là phải có cả chục nhân công. Thời buổi này tìm đâu ra số người đó. Nhưng không phải người nào cũng đào được, mình phải chọn những người đáng tin cậy. Do đó em mới hỏa tốc về nhà và đi Bò Cạp để bắt ngay một số người, nếu chậm trễ thì họ đi mất hết.

- Rồi đèo anh đi làm gì?

- Đào hầm cho ông tư lịnh của anh mà anh không chịu mó tay vào hả ?

- Ổng là tư lịnh của anh nhưng anh không phải là đội viên du kích của em.

Là xuống nước nhỏ:

- Thôi mà anh Hai. Anh giúp em một tay. Có anh, em ăn nói mạnh dạn hơn. Em sẽ bảo họ là anh biệt phái của ông Ba Xu gởi xuống trông coi vụ hầm hố!

- Lần đào với Tư Linh để làm cảnh cho thằng Bọ Chét, anh ớn tới mật xanh, bây giờ bắt đào nữa, chắc anh phải cáo bịnh.

- Sao anh bảo anh vô C5 học kinh nghiệm hầm hố?

- Học cách giấu thương binh chớ không phải học đào địa đạo.

- Nếu anh không giúp em, em bỏ trôi.. Hể có chụp ông Ba ông Tư chạy cà còng rồi bị thộp là anh chịu trách nhiệm. Có đi không?

- Đi thì đi nhưng chỉ một chuyến thôi. Anh bận lắm.

- Ừ ! ra nhà Năm Thuận rồi về !

- Năm Thuận là ai?

- Trước kia ông Ba Cứng làm xã đội trưởng. Ổng vừa cõng vợ con ra ấp chiến lược gần Cầu Ván, chú Tư Thiên mới giao cho Năm Thuận trước kia là ấp đội trưởng ở Bò Cạp. Ảnh có vợ con nhưng còn hăng hái. Ảnh làm ruộng và làm thêm nghề câu tôm câu cá. Nhưng vừa rồi ổng lại than vợ bịnh con đau nhờ em đi hội nghị thay. Bây giờ em xuống em giao ba cái vụ đào hầm này cho ảnh chịu trách nhiệm chính còn em chỉ phụ giúp thôi.

Về tới nhà, nàng bảo như ra lịnh cho tôi:

- Anh bỏ ba cái thứ hộp và đồ phụ tùng ở nhà, xuống bếp lấy cái nón lá của chị Lụa đội lên rồi đi ngay. Ủa mà quên, choàng thêm cái khăn rằn nữa. Rủi tàu lồng cu thả trên sông Sài gòn nó thấy nó tưởng là nông dân làm ruộng. Vùng này là vùng cấm kỵ, hễ nó thấy người thấp thoáng là nó bắn.

Bé Rớt nhõng nhẽo đòi theo cậu Hai. Là quát:

- Xuống đó tàu nó bắn M79 ra-phan mày chạy khỏi không?

Lụa ra đứng ở cửa nói vói theo:

- Đi lẹ lẹ về ăn cơm!

Là quay lại xẳng giọng:

- Tôi hổng dẫn anh Hai đi mất đâu chị Hai.

Lụa nguýt rồi nói.

- Con nhỏ lãng dang. Bữa nay mày mắc chứng gì vậy?

- Chứng gì hổng biết, để má về tôi mét má cho chị coi !

Là ngoe ngoảy bước đi với vẻ mặt giận hờn. Tôi lẽo đẽo theo sau như một thứ cận vệ vừa bất đắc chí vừa tự nguyện.

Đến khúc vắng, tôi mới rủ rỉ:

- Cô nói cái gì nghe trật lất cái lỗ tai vậy cô xã đội?

- Nói cái gì mà trật.

- Anh Hai chị Hai nào?

- Chớ hổng phải hả?

- Phải cái gì mới được chớ.

Là đang đi bỗng quay lại:

- Tôi thấy là tôi biết tẩy liền rồi !

- Thấy gì mà biết tẩy?

- Em hỏi anh tại sao chỉ giặt quần áo của anh?

- Thì anh là anh mà em gái không giặt quần áo cho được hay sao?

Là nói xói xói vào mặt tôi:

- Giặt thì giặt chớ sao còn đưa lên mũi hít hít là cái nghĩa gì! Chỉ có vợ chồng mới làm như vậy thôi.

Tôi dội ngược. Con bé này ranh thật. Nhưng tôi cũng không vừa gì. Tôi nói ngay:

- Tối qua anh nhậu say ói tùm lum, cô Ba Lụa đem áo anh đi giặt, phơi khô chắc là cổ hửi coi còn mùi hôi không chớ gì !

Là lặng thinh không mè nheo nữa. Tôi tiếp:

- Em giận hờn vậy chắc anh phải cuốn gói đi nhanh.

- Em thấy thì tưởng là . . . thôi chớ em có giận hờn gì !

- Tưởng gì kỳ cục vậy mà tưởng chớ !

Bỗng đâu tiếng chuông xe đạp leng keng phía sau. Tôi quay lại thì ra Một Sơn.

Một Sơn đạp trờ tới trước, đưa chân rà xe lại và hỏi tôi:

- Anh tính mai rời trạm chưa anh Hai?

Là hớt ngay:

- Ảnh còn chờ má tôi về mới đi.

- Biết chừng nào má về mà chờ?

- Chừng nào thì chừng cũng phải để ảnh ở lại giải quyết tình cảm gia đình.

- Anh Hai đâu có gia đình gì ở đây?

Là nói xon xỏn.

- Má nuôi, chị nuôi, em nuôi không phải là gia đình hả? Người ta đi mười mấy, hai mươi năm về tới xứ không gặp được gia đình ruột thì có gia đình nuôi, phải để cho người ta nghỉ ngơi trong gia đình chớ. Cách mạng cả đời chớ phải một ngày một bữa gì hay sao?

Một Sơn cười với tôi:

- Con nhỏ này dữ quá anh Hai à ! Anh về anh trị nó dùm tôi coi ! – rồi quay sang Là – Đi lên Bò Cạp coi chừng đó cô em! Hồi sáng tàu trên Dầu Tiếng thả trôi xuống tám chiếc đó, coi chừng nước ròng nó quay trở lên! – Nói xong Một Sơn nhắc chân lên pê-đan nheo mắt với tôi – Thôi tôi để anh Hai ở lại với gia đình vài ba bốn năm bữa nghe !

Là ngó theo xì một tiếng rồi nói với tôi:

- Vợ con đùm đề mà lúc nào cũng be be theo mấy đứa dũng sĩ, nữ du kích! Còn anh, anh phải ở lại chờ má về rồi mới đi. Nếu em không nhận được thơ anh thì em đã theo má qua Thanh An rồi, anh về không có gặp con nhỏ này nữa đâu.

Nàng nghẹn ngào. Tôi không muốn nàng xúc động nên nói:

- Xã đội bỏ cơ sở đi à ?

Là vênh mặt:

- Ông Cứng là xã ủy mà còn bỏ kìa, em là đoàn viên ăn thua gì? Dân đi hết, mình em ở lại giữ ma à?

- Từ rày đừng có nói kiểu đó với chị Lụa em nữa nghe.

- Em nghi anh quá hà.

- Nghi trật rồi !

- Em biết chị Lụa thương anh. Nhưng chỉ không bô lô ba la như em.

Đi ngang qua lò đường, nơi tôi ghé lại uống nước mía năm trước Là bảo:

- Đấy, anh coi có còn gì không? Chỉ trơ lại ba cục gạch. Tất cả đều cháy rụi. Bò che đều tiêu hết. Người đi tứ tán.

Tôi dừng lại ngó qua. Cỏ hang um tùm. Bên đường mòn một cái mẻ lu to đầy nước mưa thế giới riêng của những con lăng quăng. Hố Bò bây giờ không còn là mảnh đất vui tươi nơi anh Tô Ký làm đám cưới với hàng chục ngọn đèn măng sông và khách khứa nhậu rượu Tây suốt đêm nữa. Hố Bò là bãi hoang tàn sau mấy lượt B52.

Đến gần nhà má Hai, cảnh vật càng tang thương. Gạch ngói đã biến hết không còn làm vui cặp mắt của kẻ tha hương như năm nào. Cây vú sữa bị chém đứt ngang, còn đứng đó như người không đầu. Bên cạnh đó là một cái giếng cạn đầy nước lẫn rong rêu. Màu nước nâu làm tôi cảm tưởng đó là dĩa tiết canh đánh với huyết mà gan lòng của kẻ bị trảm thủ kia. Ngôi nhà ngói xưa đã biến mất chỉ còn một bãi than như một cái biển nhỏ mà ở giữa là một cù lao. Đó là cái hầm nổi giữa nhà , nơi ngày trước tôi từng nằm trên bộ ván gõ mát rượi tình gia đình khi vừa đến đất Củ Chi lần đầu.

Tôi nghe quặn ruột gan. Là trỏ ra sau vườn:

- Ba cây chuối cây dừa còn kia là nhờ em còn tới lui, nếu em đi Thanh An với má thì ba thằng du kích đến ăn hết rồi. Lũ quỉ đó phá phách ghê lắm.

Nàng dắt tôi đi ra sau vườn tiếp giáp với sở cao su già trơ trụi ngổn ngang những thân cây, gieo leo mọc chằng chịt.

Nàng trỏ hai cây cột chơ vơ đen thui, bảo:

- Đây là phòng thông tin Hố Bò. Hồi trước thông cáo Mặt Trận dán ở đây. Tối tối tụi em ra đây cầm loa đọc tin tức. Bây giờ thì như vậy đó.

Đi một quãng nữa, nàng bảo:

-Đây là đường 15.

- Sao không thấy gì hết ngoài một bãi sình mênh mông vậy.

- Đã bảo là B52 mà. Ngã Ba Bò Cạp ở trước mặt kia kìa. Chỉ cách sông Sài gòn một quãng ngắn thôi. Nhà cửa quán xá không còn cái nào, cây cối không còn lá, vài khóm chuối non sống sót vượt lên èo uột ngoắc ngoải. Vài ngọn cau ngọn dừa le the. Trái dừa lăn lóc đầy đất như những đầu lâu. Bom đạn đã ác liệt rồi. Chất độc còn ghê gớm hơn nữa. Tược non có thể nảy quanh những vết thương trên thân cây, nhưng chất độc giết tận trong lõi cây gốc rễ. Nàng bảo:

- D8 đóng dọc con đường 15, bây giờ đi mất hết rồi! – Nàng trỏ tay ra giữa đồng – Đó là xóm Bò Cạp.

Tôi nhìn theo. Chỉ có mấy mái nhà đứng co ro nép vào nhau như sợ hãi. Nàng giục:

- Chạy mau qua đồng trống kẻo máy bay !

- Đi chuyến này về anh bạc nửa mái đầu.

- Cho anh quen với sinh hoạt ở đây. Nó như vậy đó ! – Nàng vừa chạy vừa nói – Bạc hết cũng được. Như vậy khỏi ai tranh giành với em.

- Ai tranh anh làm gì.

- Có chớ. Em biết mà ! Em tưởng anh ở luôn trên R rồi chớ.

- Bỏ em dưới này à ?

Đang chạy nàng đứng lại vừa thở hổn hển vừa nói:

- Mới nghe được một tiếng nói…

Tôi trờ tới hôn làm đứt ngang. Nàng ôm quàng lấy tôi. Chỉ một cái siết mạnh rồi lại chạy. Về tới xóm, hai đứa dừng lại. Nàng nhìn tôi:

- Anh ở trển thì em qua Thanh An luôn.

- Về nhà chồng hả ?

- Nếu em lấy thì lấy lâu rồi!

Nàng trở ra bờ sông:

- Khoảng trống đó là sông.

Tôi nhìn kỹ. Thấy những giề lục bình trôi về phía Trung An.

- Rủi nó đổ bộ làm sao chạy kịp?

- Khúc này bờ sông rậm ri, ruộng lại sình lầy. Nó không đổ .

Đi vào đầu xóm, gặp một ông già bận quần tiều, ống quần quá đầu gối, nhuộm phèn vàng cháy. Là kêu:

- Bác Tám! Bác có thấy anh Năm Thuận ở nhà không?

Ông già nhìn Là sửng sốt một hồi mới đáp, tiếng nói rời rạc như cơm nguội:

- Nó đâu mà có ở nhà.

- Ảnh đi đâu bác biết không?

- Nó đi từ sáng hôm qua đâu có ló mặt về !

Là sốt ruột:

- Ảnh đi đâu bác có biết không?

- Nó nói nó đi xuống nhà thằng Sáu Mã Tử bàn công tác công tiếc gì đó . Hình như nó biểu mấy đứa em nó lên coi nhà dùm.

- Vậy là ảnh đi…

Thấy Là đứng lặng thinh Bác Tám bảo:

- Tôi đoán là nó đưa vợ nó ra Bến Thế ở với bà già vợ nó. Xóm này dọn đi hết rồi. Tình hình loạn lạc đến nơi nên ai cũng bỏ đi. Hai cháu đi vô nhà, để tàu xuống trông thấy.

Bác Tám bảo:

- Ngồi kế bên miệng hầm kia cà . Nó hay bắn thình lình lắm. Nó đi thì đi có luồng. Bảy chiếc nhỏ, một chiếc lớn có lồng cu, lính ngồi trên đó bỏ ống dòm nhìn thấy trên bờ rõ lắm. Hầm hố dưới này không chắc như trên Hố Bò, đất thấp đào xuống hai lưỡi cuốc là đụng nước rồi. Nhưng dễ sống là nhờ con Rạch Bò Cạp cho tôm cho cá, cho nước vô ruộng biền cấy lúa trúng. Đặng mặt này thất mặt kia. Bom đạn này giống gì cũng phải bỏ.

Là cứ nhấp nhõm ngó qua ngó lại láo liên. Rồi đứng dậy bảo tôi:

- Anh ngồi đây với bác Tám, em chạy đi nắm óc mấy ông nội đó chút rồi trở lại. Em đi, lỡ tàu có thấy bóng phụ nữ chắc nó không bắn!

Nói xong nàng xách nón ra đi. Tôi ngồi lại hỏi bác Tám qua loa vài câu rồi đứng dậy vạch vách dòm ra mé sông.

Chỗ này có thể phục DKZ đánh tàu. Nghĩ vậy tôi hỏi ông già:

- Nó đi cách khoảng xa hay gần bác?

- Ít lắm cũng một cây số một chiếc.

Vậy muốn đánh cả đoàn phải bố trí mặt trận tám cây số. Quân ngũ nào giàn cho đủ? Nếu đánh một hai chiếc thì mấy chiếc kia nó đổ bộ bọc hậu đan lưới hoả lực không có đường rút. Ruộng ở đây lầy. Vác mấy cái khối thép đó dễ gì chạy được? Bác Tám không có vẽ nồng nhiệt với cán bộ. Bác không vui chuyện mà cứ lầm lỳ tôi hỏi câu nào bác trả lời câu nấy bằng một giọng không vui. Tôi hỏi:

- Bác có anh chị nào đi công tác không bác?

- Có một thằng, cô xã đội kêu đi hoài.

- Ảnh làm gì bác?

- Nó ngày tối đi tìm đạn cà-nông lép đào lên đem về tháo ra làm đạp lôi. Tôi bảo nó dẹp nghề đó đi. Nhưng nó không nghe. Ở trên quận khen nó hai ba lần rồi. Trong xã gọi nó là thằng Năm Đầu Ban.

- Ảnh gài có kết quả lần nào chưa bác?

- Có chớ!

- Mỹ hay Sài gòn bác?

- Mỹ có, Sài gòn có, bồ nhà cũng có !

Ông già lấy mo thuốc banh ra:

- Chú biết hút thuốc, làm thử một điếu. Thuốc trồng ở đây cháy lắm, không thua thuốc Gò Vấp.

Tôi đang rứt thuốc thì bác bảo:

- Con đầm già lên kia kìa. Cháu đừng ló ra nó thấy nó bắn điểm phản lực tới. Nó xuống là có tàu đi theo, mười lần như một.

Tôi phì phà chưa hết điếu thuốc thì bác Tám đưa ngón tay lên miệng, thầm thì:

- Nó xuống rồi kìa. Chú em ngồi xít vô, đừng ló đầu ra bẹ cửa, nó thấy. Chú có muốn coi thì vạch lỗ vách kia kìa.

Tôi riu ríu nghe theo ông già, đến bên vách lá dán mắt vào lỗ hở. Rất tiếc là tôi bị cô xã đội tước bỏ cái ống dòm ở nhà . Ông già không ngó ra sông nhưng vẫn thuyết minh khúc phim ngắn ông thường xem:

- Đó chú em thấy chưa?

- Dạ thấy.

- Chiếc nào cũng cắm cờ trước mũi phải không?

- Dạ cháu mới thấy có một chiếc.

- Chiếc thứ hai tới bây giờ đó.

- Dạ phải. Nó tới rồi.

- Chú có thấy lính đi hoặc ngồi trên tàu không?

- Dạ có.

- Nó thả máy nhỏ mình phải lắng tai cho kỹ mới nghe.

- Nó hay bắn lên bờ không bác?

- Nó thấy việc gì khả nghi mới bắn, còn trên bờ êm rơ thì thôi !

- Cháu thấy một tên đội kê-pi hút ống vố. Thằng bên cạnh mang kiếng mát.

- Chiếc lồng cu cao nghệu ngang ngọn bần tới chưa?

- Dạ chưa.

- Nó đi khúc giữa.

- Dạ chiếc đó là chiếc chỉ huy đó bác.

Sông này bề ngang chừng hai trăm thước. Trong kháng chiến tôi đã vượt qua nhiều lần. Không khó lắm, không như bây giờ. Còn muốn đánh nó phải có cả một kế hoạch, đánh thì khó đã đành, nhưng với trực thăng cà-nông của nó rút lui quả là gian nan. Hèn chi lâu nay D8 bị nạo sát da mà vẫn không làm được cú nào. Ông già nhắc chừng.

- Lồng cu tới chưa?

- Dạ chưa! Ủa mà tới rồi bác.

Con đầm già trên bầu trời vẫn kéo ò e hai cái bản nhạc đám ma. Chừng nửa giờ thì đoàn tàu khuất dạng về phía An Nhơn. Tôi ngó ra sau nhà thì thấy cô xã đội phó đi vô gần tới nhà. Theo sau là hai chàng thanh niên, một mặc áo vải sọc, một cởi trần, cả hai đều xách rộng cá. Ông già quát:

- Đi mau vô nhà. Tàu mới xuống đó, Trương, Hiếu!

- Nó qua rồi, tụi cháu mới dám ló ra đây.

- Bây đem tôm cá đi đâu đó.

- Dạ đem xuống xóm Chùa xóm Thuốc bán cho cơ quan bộ đội.

Tôi vọt miệng:

- Đem vô tôi mua cho.

Hai người vô nhà để rộng cá xuống đất. Người mặc áo sọc hỏi Là:

- Ai vậy chị Út?

Là đáp:

- Anh Hai tôi ở trên R mới về.

Anh cởi trần nhướng mắt tỏ vẻ ngạc nhiên.

- Trời đã quá vậy !

- Anh người ta mà đã cái gì, vô duyên!

- Lâu nay tôi có nghe chị có anh đi R đâu?

- Người ta đi phải báo cáo cho mấy người à?

- Chị này khó quá chưa chi đã sạt người ta rồi.

Tôi hỏi:

- Tôm cá mấy anh bán mấy?

- Mọi lần một trăm một ký . Bây giờ nửa giá thôi.

- Sao rẻ vậy?

- Bà con chê tôm cá bị hóa học, chỉ có bộ đội mua thôi.

- Tôm cá dưới nước mà sao bị hóa học.

- Dạ thấy mình cá sần sần, võ tôm ửng đỏ, bà con nghi hóa học. Cũng như chuột vậy. Hồi trước tụi tôi gài chuột, lột da muối, đem ra chợ bán đắc ghê, bây giờ người ta chê chuột ăn thây ma và bị hóa học nên không mua.

Là nói:

- Ngày mai mấy anh phải tới xã đội lãnh công tác, không có được trốn lánh nữa.

- Bộ địa đạo nữa hả chị út?

- Hổng biết, cứ vô rồi có công tác.

- Hết hầm hố đến chuốc chông, hết chuốc chông đến địa đạo, tôi thấy mặt bà nội là tôi ớn xương sống rồi.

Là nghiêm sắc mặt:

- Ớn gì ! Mỹ vô đầy Đồng Dù hết rồi, ai đi công tác cho mấy người ở nhà cải hoạt cá nhân. Người ta hi sinh xương máu, mấy anh ở nhà hưởng lạc, vậy coi được không?

Bị cô xã đội sạc-cà-rây, hai anh chàng nín khe. Là hỏi:

- Hổm rày có gặp ông Năm Thuận không?

Anh mặc áo sọc cười khoe hàm răng vàng nghĩnh như răng chuột:

- Bây giờ muốn gặp ổng thì ra Bến Thế. Chời ơi chời! Nhà ổng dọn trống hoang ba mươi đời vương rồi. Lu mái chở đi trống trơn, rộng tôm rộng cá đem theo sạch nhách, chị xuống đây có môn vuốt nhớt ba cái cây cột nhà của ổng.

Anh ở trần tiếp:

- Ổng là xã đội trường, là chi ủy nữa đó, ổng chạy sọc dưa như vậy có ai làm gì ổng đâu.

Là càng xẳng giọng:

- Làm chớ sao không làm. Kỳ họp này tôi đề nghị chú Tư Thiên có thái độ cho coi.

- Còn ông Ba Cứng dắt vợ cõng con ra ấp chiến lược Cầu Ván, chú có thái độ chưa?

Là kẹt đạn làm thinh.

Tôi mua cả tôm lẫn cá dồn lại làm một rộng xỏ cây đòn ngang quai rồi từ giã bác Tám, hai đứa khiêng đi. Ra đường tôi hỏi Là:

- Ông già có thằng con…

- Anh Năm Đầu Ban! Ở dưới xóm có anh Sáu Mã Tử. Hai anh chàng này hợp nhau lắm. Họ đi đào cà-nông lép làm đạp lôi. Lại còn phổ biến kinh nghiệm cho các xã cách gỡ hột nổ cà-nông. Anh Sáu Mã Tử bị nổ một lần nám đen cả mặt. Do đó có tên Sáu Mã Tử. Xã này bây giờ chỉ còn Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử là hăng hái thôi. Hai ảnh muốn trở thành dũng sĩ như Năm Cội, Tư Đực ở Nhuận Đức. Hai ảnh đang nghiên cứu gài ở bãi đổ bộ của tụi giang thuyền nhưng tụi nó khôn quá, không sập bẫy mấy ảnh lần nào hết.

- Khôn thế nào?

- Mỗi lần đổ bộ nó bắn M79 lên bờ nát đất rồi bắn cối 106 ly 7, đạp lôi nổ tung hết đâu còn trái nào. Đã vậy mỗi khi lên bờ nó còn cho một thằng cầm cần câu đi trước rà, còn sót trái nào nó gỡ ném xuống sông hết. Tuy vậy mấy ảnh cũng còn đeo dính tụi nó. Mấy ảnh phát minh cách gài cải tiến.

- Gài cải tiến là thế nào?

- Là gài trên ngọn cây chuyền dây xuống đất. Hễ lính bước lên bờ đạp dây là bị nổ chụp xuống đầu.

Đi một chập gặp một ông nông dân đen đúa áo giắt lưng từ đằng kia đi lại, Là kêu:

- Chú Hai !

Tôi nhận ra Hai Tới, tôi chưa kịp chào hỏi thì Hai Tới hất hàm với Là :

- Con nhỏ này đi đâu láng cháng ở đây? Không sợ giang thuyền hả ?

- Đi tìm chú nhờ đóng vài cái đồ nghề.

Hai Tới xua tay, lắc đầu:

- Thôi, thôi, tôi không có công tác cái kiểu năm ngoái nữa đâu.

Là ngạc nhiên:

- Công tác gì mà chú la?

- Đi làm cầu tiêu cầu tắm cho thằng nhà báo còn không có hả?

Tôi nói thay cho Là:

- Đó là công tác của quân khu chớ không phải của xã !

- Của ai thì của chớ tôi không có làm ba cái chuyện tồi bại đó nữa đâu.

- Nó là đồng chí của mình mà chú !

- Đồng chí thì đồng chớ. Qua đây mình sống thế nào nó sống thế đó mới phải là đồng chí chớ. Du kích, dũng sĩ đói thấy mẹ, mà mình phải mua đồ nhà hàng ngoài Sài gòn về dâng cho nó. Đi đâu cũng có xe nước ngọt nước đá theo tò tò. Đã vậy lại còn đòi con gái, chú coi vậy có phải đồng chí không? Chú biết con Hương sau đó ra sao không? Nó xấu hổ nó ra ở luôn ngoài thành.

Tôi muốn độn thổ luôn, nhưng may Hai Tới đổi giọng:

- Tôi biết đó không phải chủ trương của xã nhưng xã phải thi hành. Tôi mong rằng từ rày về sau tôi không phải gằm mặt cúi đầu đóng cầu tiêu cho một thằng đồng chí nào khác của mình như vậy.

Bị một bài học ê mặt, tôi không biết trả lời thế nào, thì Là đỡ gạt:

- Kỳ này không phải đóng cầu tiêu đâu chú Hai…

- Đóng gì thì đóng, bây giờ tôi chạy đuôi tôm cho ông Bảy Hốt. Thôi để tôi đi kẻo trễ.

Về tới nhà, Là bảo:

- Ghé đây bẻ mấy trái dừa nạo về kho cá tôm. Anh đem cái rộng neo dưới mương kia rồi leo cây dừa ở góc mương kia kìa. Có bao nhiêu khô, nạo cứng cạy tuôn xuống hết cho em. Anh biết leo không? Cần dây làm nài thì bứt tay chuối khô kia kìa.

- Anh rành hết mà !

Tôi cởi đồ, chỉ chừa quần tiều và bắt đầu làm chuột, làm sóc. Là còn dặn vói theo:

- Mau đi rồi tuột xuống để nó giã gạo giác chiều xuống không kịp đó.

Tôi leo hái lá bứa bắt ong mật ở Trường Sơn, leo hái me ở trảng Bà Điếc bây giờ leo dừa. Cây gì cũng leo được. Cũng may chưa bị người ta cho leo cây. Chỉ mấy hót là tôi ngồi gọn trên ngọn dừa. Nhớ cái thời ở nhà cởi trâu bắt dế bắt chim. Mỗi lần đi thế nào cũng bẻ cặp dừa xiêm máng trên sừng trâu. Cây dừa này rất sai. Một buồng dừa nạo có đến trên chục trái. Tôi bẻ và ném xuống đất. Bỗng từ dưới đất vọng lên:

- Coi chừng dập hết!

Tôi ngó xuống. Giữa những tấm vách cháy dở ghép lại thành cái nhà tắm tạm bợ một thân hình mỹ nữ lồ lộ không tí xiêm áo trên thân. Nàng vô tình hay cố ý ? Tôi choáng váng mặt mày nhưng làm bộ:

- Em ở đâu nói lên vậy?

- Em trốn mất rồi anh không… thấy đâu. Hí hí…

Cô bé này nghịch ngợm thật. Đứng phơi trần ra đó mà còn bảo trốn mất rồi.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 33

Sợi dây thòng lòng của Đảng thưởng cho mày


Vừa bước vào sân thì Tư Linh đã xuất hiện trong khung cửa.

- Khiêng trái cà nông lép hả ?

- Xuống hồi nào đó con quỷ ?

- Đi thỉnh mày lên niết bàn đây.

Tôi và Là đem cái rộng cá tôm thẳng ra sau bếp, rồi tôi trở lên cởi súng treo trên đầu cột.

- Bộ nhà báo quốc tế tới nữa hả ?

- Ừ, kỳ này quốc tế cái.

- Mụ Ri-fô hả ?

Tư Linh cười hềnh hệch:

- Mầy ơi tao cũng ớn chớ đâu có ham gì cái công tác đó.

Trong nhà chật nức những người: gánh C5 gồm bác sĩ Tư Chuyền, Bảy Phúc, Bốn, Quỷnh, hai cô Nga, cánh Tư Linh có ba người: Tư Linh, Tư Trường, Sáu Ly hai ông cán phụ trách dân vận và thi đua quân khu, Chú Tư Thiên, chú Bảy Xe, chị Tám Khỏe, trong nhà có Lụa, Là và đám con nít.

Đang bàn chuyện linh tinh thì ba ông nhà pháo kéo tới.

Lửa khói mịt mù, ì xèo đớp chát, chén chú chén anh thôi thì không tả nổi. Cái tâm lý chung là làm bộ như ta không sợ gì cả, cứ nhậu tù tì nhưng sự thực thì thằng nào cũng run từng sớ thịt.

Buổi tiệc chưa tàn, nhưng Tư Linh, với lý do hội ý công tác nên khều tôi ra ngoài sân. Hai đứa đến nhà chị Tám Khỏe gần bên cạnh, ngồi trên thân cây cao su bị đạn pháo nổ bật gốc. Tư Linh móc gói Capstan chìa cho tôi và nói ngay:

- Mục đích của mầy vô đây tao đã nắm cả rồi. Trước nhất là mày sẽ bàn việc với tụi Chín Lộc Sáu Huỳnh bên quân báo rồi kế là tao. Mày đi chàng hảng hai chân cho mà khước nhé !

Tư Linh, thằng bạn nối khố từ trong kháng chiến chống Pháp, người Bến Tre là thằng gần gũi và xả láng nhất với tôi. Hắn dám nói mọi chuyện, kể cả chuyện



mất đầu như chơi.




Hắn hít một hơi thuốc và bảo:

- Chuyện ngoéo thằng em đại úy Thủy quân Lục chiến của mầy là vô cùng nguy hiểm.

Hai đứa ngồi lặng thinh và đều rít thuốc phà khói như rồng phun lửa. Tôi đã có ý nghĩ lo sợ về chuyện này từ lâu, nhưng vì Ba Thắng cục trưởng chính trị R và là người anh đỡ đầu của tôi từ thời tôi còn là Đồng tử quân ở Rừng Sát, đốc xúi và quyết định nên cực chẳng đã tôi phải nhận cái con dao hai lưỡi này của cách mạng. Nay nghe Tư Linh nói thì hãy lắng nghe xem hắn bảo sao, vì hắn là trưởng ban Địch vận quân khu.

- Ông Tám Quang có bàn với tao rất lâu. Ổng hi vọng nhờ bàn tay mày mà Mặt Trận sẽ có thêm một.vụ Phùng Văn Mười. Ổng không hiểu tình hình Sài gòn nhiều nên ổng cứ tưởng là làm được cú thứ nhất là sẽ làm được cú thứ hai. Binh pháp Tôn Võ Tử tối kỵ điều đó.

- Vụ Phùng Văn Mười có ảnh hưởng mẹ gì mà ham.

- Mày không biết ông nội Phong Vân đóng ở gần Xóm Mới à? . .

- Có tao có ghé đó ăn chực một bữa trước khi sang trường Trung Sơ chỉnh huấn tình hình nhiệm vụ mới.

- Chính cái ông nội đó khuếch trương chiến quả vụ Phùng Văn Mười. Đài Giải phóng la om tỏi. Chắc ở ngoài Bắc nghe xong các bản tin và bài bình luận của đài, sẽ tưởng rằng toàn bộ lính tráng Sài gòn sắp nổi loạn, hoặc lái xe tăng vô khu hết ráo. – Tư Linh phẹc một bãi nước miếng và tiếp – Cái củ c… họ chớ loạn. Mày cứ tin đi tụi nó sẽ đánh mình trọc đầu không còn một sợi tóc. Để rồi coi. Mấy cha nội chủ quan lắm. Ở ngoài Hà Nội cứ tưởng rằng bọn mình ở trong này ăn hút, mở trường tân binh pháo binh hát xướng như trường Lục quân ở Cạnh Đền hồi



chín năm.




Tôi gạt ngang và hỏi.

- Rồi sao, nói tao nghe vụ móc ngoéo thằng em lợi hại chỗ nào? Nói lan man ho thuốc rê hết rồi ông nội.

Tư Linh lắc đầu :

- Chẳng có lợi cho mày gì hết. Chỉ có lợi cho Chín Lộc và Sáu Huỳnh thôi!

- Lợi gì? .

- Lợi là mấy thằng chả được điểm nếu móc được thằng em mày. Tao biết trước là công việc sẽ diễn biến bước đầu như thế này: Trước tiên họ sẽ bảo mày viết thư cho nó. Ghi địa chỉ, tên tuổi cha mẹ để họ liên lạc tận gốc. Họ nắm cái gốc trước đã. Để sau này nếu mày có ngãng ra họ cũng đã nắm được rồi. Kế đó, sau khi họ nắm được cái gốc, họ sẽ nhờ gia đình mày hoặc chính họ đưa thư cho em mày. Một khi em mày đã nhận thư thì họ đá mày văng ra xa. Từ đó về sau họ sẽ liên lạc trực tiếp và giao công tác cho em mày và không cần tới mày nữa.

- Tại sao?

- Đó là nguyên tắc của Quân báo. Một con mồi không thể có nhiều vòi. Hiểu không? Bao giờ cũng vậy, hể họ nắm được là họ muốn độc tôn chỉ huy, ngoài họ ra không có ai khác. Để mày dính líu vào đó, mày có thể bất đồng ý kiến với họ, mày sẽ xoay thằng em mày theo ý muốn của mày. Như vậy họ khó làm việc.

- Rồi sao nữa?

- Nếu họ thành công thì họ quên mày đi. Còn nếu họ thất bại thì họ sẽ đổ thừa mày không hết lòng. Con dao hai lưỡi của họ trao cho em mày sẽ trở lại đâm mày là ở chỗ đó .

Tôi nổi nóng.

- Củ chi họ ! Tao đếch viết thư.

Tư Linh không nói gì. Tôi vùn vằn đứng dậy định bỏ đi:

- Như vậy thì tao sẽ nói cho ông Ba Thắng biết, tao không chơi cái trò móc ngoéo đó.

Tư Linh kéo tay tôi ngồi lại, hồi lâu mới thở hắt ra:

- Không được! Mày không thi hành là chống lịnh cấp trên. Họ đày mày khỏi có ngóc lên nổi.

- Quyết định của tao ở trong túi đây! Mày muốn xem không?

- Xem mẹ gì ba cái chữ đó ? Lão Sở Khanh làm sao qua mặt được Chín Hô và Sáu Nam!

- Trong quyết định cỏ ghi chữ nào là móc ngoéo em tao đâu.

Tư Linh ném cái tàn thuốc tưng lên. Một vạch vòng cầu đỏ vẽ lên trên không khí. Trời đã tối đi từ lúc nào. Hắn bảo:

- Mày là con nhà pháo nên sống bằng góc vuông, tầm hướng, liều hai liều ba, cứ theo đúng công thức mà hạ lệnh, còn cái nghề địch vận của tao chẳng có công thức con mẹ gì cả. Nói vầy làm khác. Giấy tờ không quan trọng bằng mồm.. . Mày không nhớ vụ ông Tư Mai nghị sĩ Bà Rịa ở Quốc Hội Ba Đình à ?

Tôi gục đầu nhìn xuống đất. Tư Linh tiếp:

- Trên bề mặt thì ông Mai đau tim cấp tính mà chết đột ngột. Đám ma to nhất Hà Nội. Tất cả đều đúng công thức cho cái chết của một ông nghị sĩ, nhưng bên trong là một cuộc thanh trừng nội bộ , giết một anh nghị sĩ xét lại trước mắt hàng ngàn đại biểu quốc hội để bịt miệng họ đừng có lãi nhãi xét lại trong lúc một ông đại giáo điều sắp sang thăm, mày hiểu chưa nào? (Tôi lặng thinh nhưng trong bụng rung rinh cực độ). Vụ của mày cũng vậy thôi, ngoài là công tác móc ngoéo nhưng bên trong là gì ai biết được?

- Mày không biết tao làm sao biết được?

- Đời mà mày ! Chó đẻ ba con. Tao không có tin ai hết. Tao chỉ có tin con tao thôi. Chỉ có con là không giết cha mẹ thôi, chứ còn ngoài ra thì… tout est possible. Coi chừng đảng thưởng cái thòng lọng cho mày.

Tôi nghĩ về vụ An Lộc Sơn Trấn Nhậm Bình Lư. Hồi chín năm trong lúc tôi và cô Thoa con của bà Lê Đình Chi yêu nhau thì tên Trần Văn Chè phổng tay trên. Hồi đó hắn đang làm Tự lệnh Phân Liên Khu Miền Đông. Hắn cưới cô Thoa bằng một bức công điện từ miền Đông đánh xuống miền Tây. Cô Thoa không ưng, đã tự tử mấy lần mà không chết. Rốt cuộc trở thành bà Tư lịnh cho tới bây giờ. Tôi luôn luôn quan niệm ái tình là một loại trò chơi vui vẻ, và con gái là chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn. Nên tôi không hề thù hằn tên Chè và oán trách Thoa gì cả . Hơn nữa, bên cạnh cô Thoa duyên dáng, lúc đó tôi có hai ba cô bạn khác cũng ở thành mới ra, có lẽ xinh đẹp và hơn cô thoa nhiều. Vậy Thoa lấy tên Chè âu cũng là cái may cho tôi.

Vậy thì coi như đường ai nấy đi, c… ai nấy vuốt. Không lẽ nào tên Chè ngày hôm nay còn thù tôi nên tìm cách giết tôi bằng B52 ở Củ Chi. Mà thù gì mới được? Người bạn gái của tôi hắn giật, tôi không thù hắn, hắn lại thù tôi nghĩa là gì? Tư Linh phát thinh lên nói:

- Tao xét một vấn đề gì thường trở qua trở lại xét tới xét lui. Gương sờ sờ ra đó !

- Gương gì mà sờ sờ?

- Mày biết vợ bé xừ Duẫn là mèo của ông Bảy Trấn chứ?

- Con Nga da trắng môi thâm, tao dư… biết. Rồi sao?

- Ông Bảy Trấn là dân Nam kỳ, điệu đàn, tặng cô tình nhân trẻ cho ông bạn vàng chơi đỡ trong lúc xa nhà thiếu thốn tình cảm. Ông bạn vàng mê quá bèn xin. Bảy Trấn công tử Nam kỳ lúc đó đang làm Tư lệnh kiêm chánh ủy miền tây, hét ra lửa, hiến luôn cô tình nhân cho xừ Duẫn lúc đó sắp làm bí thư Trung ương cục như một nấc thang để leo lên cao hơn. Dè đâu, sau đó Bảy Trấn mất cả tình nhân lẫn chức vụ. Hừ! bên ngoài thiên hạ tưởng ông ta không được Trung ương tín nhiệm vì thành phần địa chủ, nhưng sự thực bên trong thì chính là bàn tay của ông bạn vàng.

- Ông ta thù Bảy Trấn à? Sao kỳ vậy?

- Thì vậy mới kỳ, nhưng đời mà mày! Hồi chưa cuỗm được cô nữ sinh thì Bảy Trấn là ân nhân của y, nhưng sau khi ẵm trọn cô nàng rồi thì y hận.

- Hận gì?

- Hận là kẻ đến sau, thằng ăn mót, thằng liếm của thừa.

Tôi nói:

- Tao đâu phải là bảy Trấn mà xừ Chè thù tao?

- Mày biết sao được hả ? Bụng dạ con người là bụng dạ con chó. Mày ngây thơ lắm! Còn vụ mày lăng nhăng với cô con gái của ông Cục trưởng Tha-mu đó đã đồn đi khắp R và xuống tận đây. Có thể lão Sáu Nam không muốn mày làm rễ, nhưng bề ngoài lại tỏ ra thích mày. Hiểu chưa?

- Tao có gạ gẫm gì nó đâu. Tại nó đeo tao chứ.

- Ai đeo ai không thành vấn đề .

- Nó bảo nó sẽ đòi bố nó điệu tao về công tác trên R nữa mà !

- Tao chắc thằng chả không khoái một thằng anh hùng rơm do thằng chả nặn lên để gạt ông đại tướng bần cố đâu. Thằng chả muốn tìm một ông phò mã khả dĩ gắn thêm sao trong cành dương liễu của thằng chả kìa. Do đó hai tên đó tương kế tựu kế đẩy mày xuống Củ Chi. Mày nên biết là một tên giảng huấn pháo binh như mày ở miền Nam này chưa chắc có tới hai mạng, thế mà lão Sở Khanh phải đành bóp bụng cho mày rời khỏi U80 để ra chỉ huy ba cái tiểu đoàn tẹp nhẹp ở Củ Chi này là sao? Điều đó đáng cho mày suy nghĩ lắm chớ!

- Tao không nghĩ là hai lão đó âm mưu hại tao vì những chuyện nhỏ như vậy.

Tư Linh run run cái đầu tóc quăn.

- Thù vặt nặng hơn quốc thù mày ạ ! Nhưng tất cả những điều tao nói chỉ là những xét đoán căn cứ trên duy tâm biện chứng chó ngáp của tao thôi, còn trúng hay trật bao nhiêu thì chờ thực tế trả lời.

- Cám ơn mày thằng bạn chí cốt của tao. Nhưng bây giờ mày bảo tao làm sao?

Tư Linh móc thuốc đốt hút và tiếp:

- Tao thấy rất khó cho mày là mày không thể từ chối. Trước nhất, tụi thằng Chín Lộc sẽ bảo mày để cho nó móc gia đình cho mày. Từ đó nó sẽ phăng ra cái gốc và nó sẽ lèo lái gia đình mày trong việc móc nối với thằng em mày. Nó bảo sao hay vậy. Nếu gia đình mày không thi hành một vài điểm nào đó thì họ sẽ nhân danh mày mà ra lệnh cho gia đình mày, mày đâu có biết ất giáp gì. Cho rằng mày có biết đi nữa thì họ bảo là vì quyền lợi cách mạng và nhân dân hai chữ cách mạng, nhân dân đối với họ là vô tận mày biết chứ? Vì cách mạng, cụ Hồ bỏ thuốc độc giết Dương Bạch Mai, vì nhân dân đảng đấu tố địa chủ, vì nhân dân me xừ Duẫn vác vòi sang Trung Quốc hú hí với mụ Nga, mỗi lần đi máy bay phản lực tốn bằng vài chục mùa lúa của trung nông. Vậy đó. Nhân dân! Cách mạng!

- Chịp !

- Còn thằng em mày chơi một trò rất nguy hiểm. Mày biết vụ Phạm Ngọc Thảo chứ? Rốt cuộc Phạm Ngọc Thảo chết mà chẳng làm nên cơm cháo gì lại kéo luôn ông anh là Phạm Ngọc Thuần đại sứ ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức sụp luôn. Gương tày đình đó ông anh ạ !

- Tao thấy vấn đề rồi !

- Trước nhất là mày cứ nhận lời một cách rất tự nguyện tự giác, cách mạng triệt để, hiểu không?

- Được rồi.

- Sau khi họ tin mày rồi thì mày sẽ bảo em mày lãng dần ra và lánh mặt luôn. Chứ lúc đầu mà mày trục trặc thì họ đánh giá ngược lại mày và họ dám cho rằng thay vì mày xỏ mũi được thằng em, thằng em đã chiêu hồi mày. Như thế thì cuộc đời mày sẽ đen như mõm chó… Mày cứ giao kèo với Chín Lộc, Sáu Huỳnh vầy nè: tôi móc cho các ông rồi các ông làm gì làm, tôi không có trách nhiệm nữa. Rõ chưa?

Tư Linh kéo tôi đứng dậy đi trở lại mâm nhậu. Vừa đi hắn vừa nói thao thao bất tuyệt:

- Sau khi về đây, tao nhận định khác Trung ương ngay. Cuộc chiến tranh này không phải là cuộc chiến tranh chống xâm lược mà là cuộc chiến tranh ý thức hệ . Tại sao Đức, Triều Tiên không nước nào chủ trương thống nhất đất nước bằng võ lực mà chỉ có một mình nước Việt Nam mình thôi? Mày về đây mày thấy dân có còn ủng hộ mình như hồi chín năm nữa không. Miền Nam so với Miền Bắc như thế nào? Mình cứ bô bô cái mồm bảo nó phồn thịnh giả tạo. Hừm! giả tạo mà cơm dư, quần áo thừa thải, muốn mua gì cũng có. Ngay ở một cái quán cóc của cái chợ bị bom pháo tơi bời mày cũng tìm được đủ thứ cần dùng cho đời sống. Còn ở xứ xã nghĩa thì muốn mua một gói đường cát kiếm đỏ con mắt không ra. Mình lỡ đi con đường này rồi, không quay lại được, hồi chánh thì nhục nhã, thôi thì nhắm mắt đi tới cùng, còn gia đình mình đã yên thân ở bên kia thì cứ để họ yên thân, chớ chơi cái kiếu bắt cá hai tay này mệt lắm. Rốt cuộc chẳng bắt được con cá nào ngoài mấy con cá mặt quỉ.

Vừa tới sân nhà, Tư Linh bỗng dừng lại. Tôi tưởng y nói câu gì quan trọng lắm. Chẳng ngờ y móc túi quần lấy bóp ra, mằn mằn một lúc rồi ấn vào tay tôi một gói mềm mềm.

- Mày còn chứng minh thư nhân dân hết? khặc khặc…

Tôi cầm lấy, biết ngay là loại chứng minh y cho tôi lần đầu tiên gặp ở đây. Tôi bảo:

- Tao được thằng Hùng tiếp tế rồi.

- Hùng Bến Tre hay Ngô Huy Hùng?

- Hùng Bến Tre. Nó mới cưới vợ. Đúng ra bà già nó cưới ở Bến Tre rồi dắt lên cho nó.

- Ngon he!

- Nó cho tao cái Seiko đây! Gặp ở trường Trung Sơ. Nó dắt ra chợ Long Hoa giải phóng mua đủ thứ ! Có cả loại chứng minh thư này. Hiệu Hồng Kông hay Đài Loan gì đó.

- Vậy là được rồi. Mày nên nhớ đó là bửu bối số 1 để giữ cho lon gáo khỏi rơi nghe. Đàn bà con gái ở đây bạo dạn hơn thanh niên nhiều. Vì chiến tranh ác liệt chúng nó sống vội sống cuồng hơn cả tụi Sài gòn. Bộ vó của mày coi còn vía lắm. Ngoài con gái ông cục trưởng có cô nào nữa không?

- Thì cũng lai rai. Bánh sáp đi bánh qui lại.

- Đi thì cứ đi, lại thì cứ lại, nhưng ông con nên nhớ đừng có quên xài chứng minh thư nghe chưa. Em mà mang bầu tâm sự là em nắm đầu anh đội chạy không có thoát đâu. Ai chớ đụng mày thì em nó không có buông đâu. Liệu cái thần hồn thần xác đấy ông con !

Tôi nghiệm thấy Tư Linh nói đúng lắm. Đúng nhất là trên R. năm cô đeo một lúc. Mệt ứ hơi. Đối phó còn hơn cả trên trận địa. Cô nào cũng muốn làm vợ anh cả. Gần đây nhất là cô xã đội phó. Đúng lúc tôi nghĩ tới đó thì Tư Linh hỏi:

- Mày có ý định làm rễ má Hai không?

- Má Hai nào?

Và vừa đúng lúc đó thì cô xã đội phó lại ló mặt ra, nói rổn rảng:

- Anh Hai với anh Tư đang chiến đấu sao bỏ chạy vậy, bộ sọc dưa hả?

Tư.Linh đáp:

- Sọc dưa hay không rồi sẽ biết! Ba ván niền không bỏ ván lào đấy!

Tư Linh nói giọng Bắc chúng tôi hiểu nghĩa, nhưng Là không biết nên kêu lên:

- Anít còn nửa cây, đế còn một bình tong ở đó mà



oán,oán.




Hai đứa bước vào. Tư Linh còn nói ráng với tôi:

- Coi được đến chớ hả Thầ…. ầy Ha…. ai ! ? Nè , mầy cần Laissez-passer không, tao cấp cho một hộp đặc biệt. Hai cô Nga ở trong Bệnh xá thì không cần, chứ cô xã đội thì cần đó.

Huỳnh Nga nói tung ra:

- Ớ ! tưởng cái gì chớ ba cái thứ bửu bối đó em không có xài đâu. Tụi em biết ngày nào nguy, ngày nào không nguy, như vậy bảo đảm hơn ba cái chứng minh thư của mấy anh.

Hồng Nga xì một tiếng, bĩu môi:

- Tưởng cái gì chứ ba cái bao cao su đó mà cũng nói lóng: chứng minh thư, Laissez-passer. Tụi em rành quá mà anh Tư! Đó là pha học không có gì phải giấu.

Tư Linh nhìn tôi:

- Mày thấy chưa? Tao bảo là phụ nữ nhảy phóng mình không có thua nình bà con gái Xài-gồng mà.

Huỳnh Nga nghênh mặt:

- Tụi em cũng có trong lưng luôn chớ bộ chỉ các anh là đại lý độc quyền à? Tụi em biết nhãn hiệu Tiệp Khắc, Hung cari dỡ ẹc nữa.

- Sao dỡ ẹc?

- Hay rách chớ sao. Nhãn hiệu Đài Loan có người đàn ông và người đàn bà đứng đâu mặt vào nhau mới tốt. Tốt hơn nữa là nhãn hiệu u-êt-a.

- Ở đâu mà có thứ đó?

- Ra chợ Bắc Hà mua lại của lính Đồng Dù rẽ rề .

Tôi thấy sự hồn nhiên cửa mấy cô mà ê càng quá trời. Ông bác sĩ nhảy rào Tư Chuyền nói đỡ cho hai cô nhân viên của mình:

- Khổ lắm thầy Hai ơi. (Ông ta không phải là học trò của tôi, nhưng thấy mấy người khác kêu tôi bằng thầy thì cũng kêu theo.) Bệnh xá chữa cho thương binh đã mệt ngất rồi, lại còn phải phá nạo cho các bà cố nội nữa. Kẻ ăn bánh người liếm lá.

Tư Linh đang đút điếu thuốc vào mồm bỗng rút ra, cười ha hả và nói:

- Mỗi tháng anh liếm được mấy cái… lá?

Hai cô Nga trừng mắt nhìn Tư Linh. Huỳnh Nga bảo:

- Anh nói tiếng gì ác vậy anh Tư.

Tư Linh cười run run mớ tóc quăn trước trán:

- Ai nói gì đâu. Tại ông bác sĩ nói đó chớ đâu phải tôi.

Tư Chuyền đứng dậy kiếu từ:

- Thôi anh em mình nhổ sào để cho thầy Hai nghỉ ngơi.

Cô xã đội phó không thích sự có mặt của hai nàng Nga có vẻ văn minh và sáng sủa hơn mình, nghe ông bác sĩ nói, bèn đưa thêm:

- Ừ, nhổ sớm sớm đi, để chút nữa tới giờ, pháo Đồng Dù nó giã gạo cho mà bò không kịp.

Tư Chuyền và mấy ông trợ lý của ổng ra về, nhưng hai cô Nga còn nán ở lại với lý do tiếp hai chị em Lụa và Là dọn dẹp rồi về sau. Đó là điều trải với ý muốn của Là, nhưng trước thiện chí của hai nàng, Là không thể đuổi khéo được, nên nàng cứ đi ra đi vào như bận rộn việc lớn, ngồi đứng không yên. Bỗng có tiếng Bụp! Bụp! Bụp rồi lụp bụp liên tràng không còn đếm được nữa. Mọi người nhảy lung tung định chui hầm, nhưng Là vẫn tỉnh khô:

- Làm cái gì như khỉ mắc phong vậy?

Lụa ôm ngực nói:

-Chị tưởng là nó giã mình!

- Xí ! chị ở đây cả đời rồi mà cũng chưa quen tiếng pháo.

- Chị hễ nghe lụp bụp là nhảy chớ ở đó mà quen, lạ gì.

Là ngó tôi, cười:

- Còn anh nữa! Thầy pháo gì nhát vậy?

Lụa nói đỡ:

- Ở đây có cả chục làn pháo, đâu phải chỉ Đồng Dù. Ảnh chưa có quen. Cô làm mặt giỏi có bữa lủi không kịp.

Tôi cười bảo:

- Lạ thì cũng có lạ thật nhưng tính tôi nhát lắm. Hễ nghe là nhảy chớ không có lỳ như bà … xã đâu! Nay mai tôi sẽ đeo dính bà xã . . . đó bà xã ơi !

- Xí anh ngạo em phải không? Nói chút vậy cũng tự ái! Ai là bà xã của anh mà kêu bà xã bà xã.

- Bà xã đội không phải à?

Là làm thinh, hơi đỏ mặt. Huỳnh Nga nói:

- Nói trúng ý rồi phải không bà xã ?

Tư Linh cũng sửa soạn rút lui, mang ba lô súng ống lên vai.

- Bà xã cũng được chớ đâu có hại gì, cô em. Tui mà là con gái thì tui ưng thầy Hai liền!

Tôi đưa Tư Linh đi một quảng đường, Tư Linh nói:

- Mày về đây thì ở đâu tao cũng tìm được. Vấn đề tao nói hồi nảy mày nên cẩn thận. Còn chuyện vợ con của mày thì phải nhanh nhưng cũng phải coi tới coi lui. Như hai cô y tướng trùng tên này thì không được. Tụi nó ở trong bệnh xá nó nhàm ba cái vụ đó rồi. Nó nói xàm không ngán miệng mày thấy không? Đó cũng là nữ sinh thành, nhưng ra đây sống trong cảnh chết chóc hãi hùng, tụi nó trở thành rất hiện sinh. À quên, con xẩm lai ở chợ An Nhơn có nhắc mày.

- Con xẩm lai nào?

- Con nhỏ bán nước đá ở chợ An Nhơn. Mày gặp con Bảy Mô ở đó đó.

- À, nhớ rồi. Cô Bảy nó còn không…

- Còn nguyên chớ đâu có thằng nào rớ được. Dân đụ chĩa học sinh thành, tụi bần cố hỉ và mùa Thu mùa Đông đâu có vô ngàm nổi. Chỗ đó thì tốt quá.

- Còn con chị nó mày dzô… chưa?

- Chậc! Mày khỏi có lo. Thôi đi nhe ! – Tư Linh quay đi còn trở lại – Con xã đội coi bộ nó ghen với hai con Nga ra mặt. Mày coi chừng nó đổ ghè tương lùm xùm ra đó. Tao bắt nhãn thấy tụi nó chíp mày rồi. Thủ trưởng nó về mà nó tụt hậu không thấy sao?

Tư Linh vừa bắt tay từ giãtôi thì có hai bóng người đi tới.

Đó là hai cậu du kích của cô xã đội: thằng Bổn và thằng Quỷnh. Mỗi đứa bưng một cái rỗ. Cả hai cùng đi vô nhà. Là hỏi như gắt.

- Gì đó ?

- Khoai mì.

- Đem đi đâu đây? Nhổ trộm nhà ông Năm Sảnh đó hả ?

Thằng Quỷnh nghênh cái mặt đen ngời, nói đả đớt:

- Chời ơi ! chời ! cái chị này nói nghe dô diên thấy mẹ đi ta! Khoai mì người ta mà hỏi bưng đi đâu. Ông Tư Chuyền về chỏng gặp tụi tui, ổng biểu tui đem cho ảnh ăn chơi. Anh ở lâu chên gờ, chắc ảnh thèm dữ lắm.

- Tao tưởng tụi bây nhổ trộm nhà ông Năm. Lần trước ai nhổ rồi không dập đất lại.

- Mấy ông nội đào hầm chớ ai.

- Nhổ lấy củ rồi không cắm hom trở lại cho người ta. Bộ tính ăn một lần rồi thôi.

Thằng Bổn chìa rỗ khoai ra trước mặt Là:

- Xin lỗi đi bà cô ! Coi võ khoai này dính đất sét hay dính phân đen. Đây là khoai ở An Nhơn Tây nên dính đất sét. Của ông Sáu Mã Tử cho tụi tôi một đám của chị Ba ổng. Tụi tui nhổ cho chú Tư, chú biểu chia bớt cho anh Hai đang ở ngoài này. Xí, chị có cái nói ẩu vậy nên mất uy tín với tụi tui hoài.

Tôi đỡ cho Là:

- Cô xã đội đề phòng mấy em làm vậy mất quan điểm nhân dân. Sao không để cho thương binh ăn, đem ra đây chi?

- Chú Tư nói thương binh thì phải uống sữa, không có sữa thì thôi. Ai cho thương binh ăn khoai mì. Làm vậy họ tủi thân. Vết thương lành, họ về nhà luôn không trở về đơn vị nữa.

Thằng Quỷnh còn ức cô xã đội, nó giằn rổ khoai xuống đất một cách giận dỗi:

- Chời ơi chời ! Tụi em gành quan điểm nhân dân quá ể mà anh Hai. Nhà chưa quét chưa đi, nước chưa gánh chưa đi, củi chưa bửa chưa đi, phải không anh Hai?

Tôi cười:

- Mấy em khá quá. Ai dạy vậy?

- Chú Tư Chuyền chớ ai!

- Mấy em biết mấy câu đó của ai không?

- Dạ không.

- Của Mao chủ tịch đó .

- Mao chủ tịt nào?

- Em không biết đâu. Ổng ở tận bên Trung Quốc.

- Trung Quốc là ở đâu?

- Là ở bên Tàu đó.

- Tàu thì kêu Tàu sao kêu Trung Quốc ai mà biết.

- Cách mạng bây giờ kêu khác hồi trước.

- Vậy là mấy thằng chệt phệ ở chợ An Nhơn Tây hồi trước là dân Trung Quốc đó hả ?

- Phải đó, cách mạng gọi là con cháu Bác Mao.

- Con xẩm lai ở chợ bây giờ có phải là cháu ổng không?

- Phải, phe mình cả đó.

- Phe mình gì đập đổ phe mình dữ vậy?

- Đập cái gì đâu?

- Nó bán nước đá nhận trong cái ly nó ém xốp xộp, chế ít giọt xi-gô, vậy là chém mười đồng.

Lụa thấy hai thằng nhỏ quạu quọ bèn bảo:

- Cho khoai mà mặt mày sần sượng vậy khoai cũng sượng luôn anh Hai ăn không ngọt.

- Ai biểu chị xã đội nói vậy chi. Hề hề… nhưng mà anh Hai à, quan điểm nhân dân của Mao chủ… gì đó, tụi em bây giờ không phải giữ nữa.

- Tại sao vậy?

- Nhà chưa quét chưa đi ! Bây giờ tụi em và thương binh ở ngoài gừng chớ có mấy khi ở trong nhà ai đâu mà quét. Nội xóm này đố anh kiếm được một cái nhà còn ở được! Nước chưa xách chưa đi ! Lu mái tỉn hũ đâu mà gánh nước? Cà-nông nó bắn bể hết. Nếu không trúng tệnh thì đất gun cũng nứt hết. Còn củi chưa bửa chưa đi. Củi bây giờ không cần phải bửa. Cứ rút vách, lôi lá trên nóc nhà, ra vườn bẽ nhánh cây bị bom cháy dở chụm thiên niên cũng không hết.

Tôi cười gượng:

- Cái thằng diễu giỏi quá mậy.

Cô xã đội được dịp, phản công ngay:

- Còn hai cái “chưa” nữa, tụi bây quên. Biết chưa gì không?

- Chị đặt chuyện chớ ai mà quên.

Là nói tỉnh khô:

- Ăn chủ nhà chưa mạt chưa đi !

- Chị nói lảng nhách!

- Chớ không phải hả? Cơ quan mà đóng nhà nào thì ăn sạch nhà nấy mới chịu đi. Còn một cái “chưa” nữa. Đó là chưa mò con gái hoặc vợ chủ nhà thì cũng chưa đi. Đúng ra là chưa bị đuổi đi.

- Chị nói vậy tui báo cáo chị bị kiểm thảo mất chức cho coi!

- Tao thèm cái chức này dữ à ? Tụi bây đi kêu thằng cha Năm Thuận về đây tao trả chức xã đội này cho thằng chả.

Hai thanh niên đang ở thế công, bây giờ lại bị đẩy sang thế thủ, nên chới với không biết đỡ gạt cách nào. Thằng Bổn tìm cách né :

- Ổng là xã đội trưởng, chị là xã đội phó. Thằng chả bỏ trách nhiệm đi câu tôm tự túc thì chị đến mà biểu thằng chả trở về chớ mắc mớ gì tôi.

Lụa thấy tình hình coi mòi găng bèn tìm cách hòa giải:

- Thôi mấy em đem khoai ra giếng gửa đi (Lụa nháy tiếng nói đớt của thằng Quỷnh) rồi nấu cho anh Hai ăn thử. Vậy là huề . Đừng có nói ba cái vụ quan điểm nhân dân nghe mắc cỡ cái lỗ mũi con cóc lắm. Chốc nữa hai đứa về nhớ đem cái rộng chuột về làm cho thương binh ăn. Chuột của chú Tư Thiên tặng cho bệnh xá đó. Xã ủy dông hết vô ấp chiến lược, còn có mình chú thủ trại mà chú cũng ráng đội cà-nông đi gài chuột cho thương binh ăn. Đó, mới gọi là quan điểm nhân dân và tình cá nước.

Huỳnh Nga phục kích bây giờ mới nổ súng:

- Chuột ăn bị phong dữ lắm còn thương binh ăn khó lành vết thương.

Thằng Quỷnh quay lại tấn công bồ nhà:

- Phong gì mà phong. Để tụi tôi ăn cho.

- Chú Tư nói chuột bị hóa học ăn nguy hiểm lắm. Ăn nó bị lên phong như phong cùi.

- Cái gì mà cùi. Hóa học rải ở đâu, sao không đem rải trên đầu tui nề. Ai không ăn để tui nuốt hết cho. Hồi nào tới giờ mấy chị không ăn thịt chuột sao cũng nổi mụt thâm đen như vỏ chuối chín cùng mình, không phải phong thì là gì?

Hồng Nga nguýt:

- Cái thằng lãng dang quá hè ta. Ai nổi phong hồi nào?

- Xí ! Thiệt hôn tui khai hết cho coi. Bà nào bà nấy cũng mang vành đai Đồng Dù trong mình còn giấu.

- Giỏi khai đi.

- Hổng nổi phong mà tối bữa nào cũng lén che ni lông dưới hầm để xức thuốc.

Huỳnh Nga trợn mắt:

- Cái đó là ghẻ xốn ông con ơi! Không phải phong gì hết. Toàn thể nam phụ lão ấu đều bị loại ghẻ này chớ phải riêng ai sao?

- Sao tui không có?

- Mấy đứa tụi bây chưa có chui hầm. Để ít lâu rồi biết. Cái vành đai Đồng Dù. Chừng đó đừng có khóc rồi hỏi tao: chị xức thuốc gì cho em xin xức với, nghe chưa?

Là vọt miệng:

- Ghẻ xốn là ghẻ trời cho, ai mà không ghẻ không phải là dân Củ Chi.

Thằng Quỷnh nghếch mặt:

- Thuốc của mấy bà xức, ghê thấy mẹ, ai mà thèm xài.

Hồng Nga hỏi.

- Thuốc gì mà ghê ?

- Mấy chị tưởng tôi không biết hả ? Vôi trộn với nước chanh. Phết! phất, quẹt, quẹt, sột sột, hít hà, ôi cha rát rát, mày làm ơn phết dùm chỗ này. Ừ, ừ chỗ đó đó.

Thằng Quỷnh vừa nói, vừa học bộ lăn xăn, mặt nhăn nhó diễn tả như kịch, làm mấy người kia cười lăn ra. Rồi nó hất hàm:

- Có đúng điệu xức ghẻ xốn chưa?

- Bộ mày rình người ta hả?

- Tui hổng biết. Tui chỉ hỏi mấy chị là có đúng y như vậy không?

Là tham gia ý kiến:

- Thôi đúng tẩy rồi. Đừng có cãi nữa. Nó khui tới cái tầng nhì của địa đạo thì có môn bỏ xứ Củ Chi này thôi. Mang vành đai Đồng Dù đối với mình là chuyện thường chớ có gì lạ đâu mà chối cãi.



(Tôi cũng đã từng bắt gặp mấy cô dũng sĩ xức ghẻ xốn kỳ phục kích địa đạo chiến cho thằng nhà báo Bọ Chét quay phim nên tôi đâu có lạ gì.)




Là nói tiếp:

- Hễ càng nổi danh dũng sĩ thì cái vành đai càng thâm đen thôi. Cả anh Hai nữa, ở đây ít lâu rồi cũng có.

- Vậy chị là xã đội, chắc cái vành của chị phải rộng hơn của mấy chị kia phải không?

Mọi người cười rộ vì câu hỏi của thằng Quỷnh. Là xua tay lia lịa:

- Hồi nào tới giờ tôi chưa chun xuống cái hang chuột đó .

- Vậy sao bắt người ta đào?

- Đào cho người khác không phải cho tôi.

- Cho ai?

Huỳnh Nga nhìn tôi một cách ý nhị. Tôi lắc đầu:

- Tôi đã bị bà xã cho chui một lần rồi. Mệt suýt đứt hơi. Tôi ớn lắm. Có lẽ thứ ghẻ này còn ớn hơn ghé ngứa hồi chín năm. Tụi tôi đóng ở nhà đồng bào vùng Lý Nhơn, Đồng Hòa, vì không có gạo đủ ăn, lại thiếu nước tắm rửa, đứa nào đứa nấy mình mẩy như lươn bông. Thừa lúc chủ nhà đi vắng, tụi tôi cởi quần áo vô bếp hơ lửa cho đỡ ngứa. Bây giờ nghe nói ghẻ xốn, tôi chạy tét.

Huỳnh Nga nói:

- Anh chạy đi đâu rồi cũng không không khỏi chui. Anh cứ bỏ một cục vôi ăn trầu hay một trái chanh vào xắc-cốt sẵn đi là vừa.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 34

Đứa học trò bỏ lớp vì thầy giáo ra Ấp Chiến Lược


Là cầm hai cái bẹ chuối ốp lại từ trong bếp đi ra, đưa một cái cho chị Tám Khỏe, một cái cho Huỳnh Nga và nói:

- Đây là cá ướp sả muối chị Tám với chị Nga đem về chiên ăn sáng mai để sửa soạn cặp giò mà chạy. Tôi coi tình

hình này thì sáng mai có đổ chụp đó.

Mấy đứa con chị Tám còn muốn ở lại chơi với bé Rớt nhưng Là quát:

- Về đi! Ở bên này không đủ hầm chui, pháo Đồng Dù nó cắt họng đó.

Con Lượm đã bước ra sân còn quay lại:

- Mai con qua, cậu Hai chép bài cho con học nghen!

Thằng Quỷnh ra tới sân thấy buồng dừa nạo, nói dèm:

- Dừa này, đào hầm mệt thì uống nước đã lắm.

Là muốn tống thiên hạ đi cho nhanh bèn nói:

- Dừa để cho anh Hai. Tụi bây ở đây uống hoài mà còn đòi

Thằng Quỷnh còn quay lại:

- Đó là sáu chưa. Chưa xin dừa, chưa đi. Mao chủ tịch quên dạy. Hé hé hé…

Là quay trở vô, lằm bằm:

- Thứ gì đi đâu ăn tàn ăn mạt tới đó.

Tôi thấy tội nghiệp cho cách mạng, nên đỡ dùm thằng Quỷnh:

- Kệ nó em, nay mai mình rủi bị thương, vô đó nhờ chúng nó .

- Bị thương thà chết sướng hơn. Anh thấy thương binh trong đó nằm hầm như vậy. Như chôn rồi mà chưa lấp đất. Nội cái hơi đất trộn với mùi hôi thối của vết thương thở vào cũng đủ chết rồi. Khi có đổ chụp em không biết làm sao họ di chuyển thương binh đi trốn?

Khách khứa về hết, nhưng tôi thấy gương mặt của Là vẫn cau có, như chưa hài lòng về một điều gì. Con Rớt không còn bạn chơi nên quay sang vòi vĩnh cậu Hai:

- Cậu Hai phỏng vở cho con đi !

Bé Rớt cầm tập vở rách nát đưa cho tôi. Lụa cắt nghĩa:

-Tập vở mua học chưa hết mà con nhỏ phải ở nhà . Hổng chừng bữa nay chữ đã trả lại cho thầy hết rồi.

- Cháu đọc được chưa?

- Nó mới biết ráp vần thôi anh à .

- Vậy đưa vở đây.

Tôi sắp ngồi trên ghế viết thì bé Rớt bảo:

- Tới giờ tụi Đồng Dù giả gạo, cậu Hai phải xuống hầm mới được.

Lụa giục:

- Xuống hầm đi anh. Lúc rày nó bắn thường hơn trước.

Tôi nói:

- Lần trước anh về anh còn dám ngủ trên ván gõ với chiếc gối tai bèo. Bộ ván đâu rồi?

- Anh ngủ trên nhà má chớ đâu phải nhà em.

- À, anh quên.

- Mà bộ ván cũng tiêu rồi. Cả cái nhà cũng không còn nữa là ván ngựa.

- Mới có một năm mà tan tành hết trơn.

- May mà gia đình còn đủ !

Tôi xuống hầm ngồi trên chiếc ghế đẩu xệu xạo và đặt tập vở trên mặt bàn nám đen mà bồi hồi tấc dạ . Bé Rớt đứng một bên cúi đầu vào xem tôi viết và đánh vần từng chữ theo ngòi bút của tôi. Mái hầm đất thấp, đứng dậy thì đụng đầu, phải đi lom khom luôn. Nhưng tôi không thấy chật hẹp mà thấy ấm áp với tình gia đình. Bé Rớt làm cho tôi chạnh nghĩ tới một mái ấm gia đình. Ba mươi bốn tuổi rồi còn nhỏ nhê gì nữa. Biết bao nhiêu lần dự định, bao nhiêu lần sắp sửa, bao nhiêu lần sẵn sàng để dựng nó lên từ bên sông Tân Bửu quê nhà, Miền Đông rồi đến Kinh 13 bờ sông Chắc Băng, Miền Tây Nam Bộ, nhưng tất cả những mái tóc thề những trái tim thanh xuân hồn nhiên đắm đuối đều phải bỏ lại sau lái tàu tập kết. Với nỗi đau lòng lìa bỏ quê hương với biết bao nhiêu kỷ niệm chiến trường, kỷ niệm yêu đương, kỷ niệm của đồng bào, tôi phải bước chân xuống tàu để đi ra miền Bắc. Nhìn lên bờ, những mẹ già, những vợ trẻ, những bà con cô bác yêu thương hoặc không từng quen, những bạn gái của tôi đứng khóc giơ tay hứa hẹn…

Rồi ra miền Bắc, bao nhiêu cơ hội tốt biết bao đến với tôi, nhưng thuyền cặp bến sắp sửa cắm sào thì sóng gió bất thần lại đến giật phăng thuyền đi. Và bây giờ về Nam bao nhiêu đóa hoa nghiêng chào, bao nhiêu nhụy hồng tươi thắm, nhưng rồi làm sao, làm sao sống được với một người vợ dưới một mái nhà trong cái không khí nhao nháo chờ đợi B52 này?

Tôi là người giang hồ bạt tử chân lội khắp đất nước từ miền Đông xuống miền Tây, từ miền Nam ra miền Bắc leo cả sang nước Tàu, chưa hề biết mỏi chân chùn bước, khói lửa lướt qua, gian nguy đạp càn vượt lên mà sống.

Nhưng hôm nay lòng bỗng thấy bồn chồn nghĩ tới lúc cần phải có một đứa con, cho mình, cho gia đình, cho dòng họ. Cuộc sống của con người ở đây quá mong manh và may rủi. Cái chết đến như một trò đùa.

Bé Rớt mới sáu tuổi mà đã vắng cha ba năm hoặc đã mất cha mà không biết. Một năm qua, tôi trở về đây thấy con người phờ phạc hốc hác, đàn bà thì khô héo, rầu rĩ, đàn ông thì láo liên vội vàng, còn trẻ con thì trở thành ông cụ bà cụ.

Tôi chép cái bài học luân lý Việt Nam mà tôi từng học lúc tôi bằng tuổi bé Rớt.

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Bé Rớt đọc tới cuối dòng đầu thì hỏi:

- Thái Sơn là gì cậu?

- Thái Sơn là một cái núi bên Tàu giả tỷ như núi Bà Đen của mình vậy.

Con bé đứng ngớ ra. Nó không biết núi là gì. Bên Tàu là ở đâu. Thế nhưng nó rành hết các loại máy bay đầm già, cá nhái, cá rô biết phân biệt tiếng đạn cà nông từ đâu bắn lại và đạn to hay bé, biết cả nhận định tình hình đổ chụp ngày mai và nhiều chuyện nữa mà kẻ chân ướt chân ráo như tôi phải hỏi Rớt. Tuổi thơ trong chiến tranh đã phải chịu quá nhiều đau khổ. Em Xe cầm cờ xung phong vô bót Pắc Sa Ma đã hi sinh anh dũng. Chính tôi và các bạn trai bạn gái của trường Đồng Tử Quân thời kháng chiến chống Pháp đã mạo hiểm tổ chức đánh xe nồi đồng và đã thắng bất ngờ, làm các anh lớn vừa vui mừng vừa hết hồn hết vía cho lũ con nít quỉ.

Tôi bảo bé Rớt:

- Con đánh vần đi, chữ nào không biết thì hỏi cậu.

Tự nhiên tôi gọi bé Rớt bằng con. Tiếng con thốt ra một cách tự nhiên, không có dự tính. Lụa ngồi gần đó cũng không ngạc nhiên. Tuổi tôi làm cha con Rớt thừa sức. Lụa nhìn tôi với đôi mắt như hỏi dò : anh có muốn làm cha nó không.

Nhưng nàng lại hỏi bé Rớt:

- Con có muốn làm con cậu Hai không?

Bé Rớt mở đôi mắt tròn xoe nhìn má nó như muốn nói:

- Con có ba mà má ! Rồi nó hỏi – Sao ông Tư (Thiên) hứa ít ngày ba về mà ba không về hả má .

- Ít bữa nữa ba con về.

- Ít bữa hoài hè.

- Ở đây đâu có đứa nào có ba đâu.

- Không có ba cũng không có cậu như con. Ba tụi nó đi công trường 9, đi thanh niên xung phong ngoài Bình Long Phước Long… không về.

Con bé chợt buồn. Nó định đánh vần tiếp, nhưng bỏ ngang. Nó hỏi:

- Bình Long Phước Long là ở đâu má?

- Hỏi cậu Hai, má không biết.

- Sao ai đi ra đó cũng không về hả má?

- Má cũng không biết nữa.

Bé Rớt quay sang tôi:

- Sao vậy cậu Hai? Ba con đi đâu ở ngoài lâu quá vậy? Chiều bữa nào má cháu cũng đứng ở bệ cửa dòm ra lộ, thấy ai má cũng nói với cháu: hổng chừng ba con về kìa.

Tôi không biết cắt nghĩa sao cho xuôi một câu hỏi đơn sơ của đứa bé, tôi không muốn nói dối mà càng không thể nói thật. Bọn Hà Nội là bọn bịp. Chúng nó bịp dân Nam kỳ với những mỹ từ kêu to, bịp dân miền Bắc với mớ cỏ khô trước đầu ngựa, bịp thế giới với những chuyện thần thoại, chúng bịp cả trẻ con với những mộng ước không đời nào có.

Thấy tôi im lặng, Lụa bảo con:

- Học riết đi rồi đi ngủ. Mai cậu Hai dạy cho học đồ.

- Cây viết đâu còn má !

Tôi móc cây bút bic mua ở Xóm Giữa đưa cho Rớt.

- Cậu Hai cho con cây bút nguyên tử bốn màu nè.

Cô bé lấy làm thích thú rồi chơi với nó mà không học bài nữa. Cái hầm chiếm gần hết hai phần ba căn nhà, ở dưới đó đặt một bộ ván ngay chính giữa. Mỗi bên có một cái ngách như ngách ếch có thể nằm ngủ một người. Đối diện với cửa hầm chính là một lỗ thông hơi lớn cho không khí ra vào khoảng khoát. Bên cạnh lỗ thông hơi đào một cái ngách khác ăn thấu giao thông hào ở ngoài vườn, đề phòng nếu nhà bị cháy người trong hầm có đường thoát, không phải bị thui như chuột. Tôi và bé Rớt chiếm bộ ván giữa, Lụa và Là, mỗi cô thủ trong ngách hai bên. Cây đèn chong đỏ chạch đặt trong lỗ khoét vào vách hầm lên khói như khói tàu và như là con mắt canh chừng đạo đức của cả ba người. Lụa bảo:

- Anh Hai tắt đèn đi, để lâu nóng lắm.

Tôi vâng lệnh cô em gái thổi nhẹ ngọn đèn. Màn đêm phủ trùm. Dày đặc trong hầm. Tôi không có gì lợn cợn trong đầu. Lụa đã có chồng. Chồng đang ở tiền phương không biết còn mất. Là là cô bé nhiệt tình với cách mạng và yêu tôi. Với tư cách là em của tôi, nàng đã làm những chuyện làm tôi bật ngật, choáng váng, hết hồn. Như vụ bảo tôi leo bẻ dừa trong lúc nàng vô nhà tắm ở bên hiên và đứng trong đó chỉ cho tôi buồng dừa… nạo! Suýt chút nữa tôi buông tay.

Nếu phải lấy một trong hai em thì tôi lấy Lụa, mặc dù Lụa đã có con. Lụa điềm đạm thâm trầm và đẹp hơn cô em, với đầu tóc bới kiểu Nam kỳ lũng lẵng sau ót với chiếc áo bà ba quê hương mà tôi hằng ao ước lúc còn ở ngoài xứ Bắc. Với một mẫu người như vậy chắc sẽ có hạnh phúc hơn với cô em mười tám kia. Giống hệt như câu chuyện Hai chị em trong Con Đường Đau Khổ của A. Tolstoi. Katia và Dacha. Dacha thì rực rỡ thanh xuân còn Katia thì sầu muộn, tâm tư quằn quại khi cách mạng tháng mười xảy ra. Chỉ có điều khác là tôi không phải là nhà thơ Bessonor mà thôi.

Tôi nằm mơ màng tưởng nhớ những chuyện đâu đâu. Từ Tây tới Tàu. Từ Bessonor tới Liễu Hạ Huệ đời Châu và Quan Vân Tường đời Hán, hai vị anh hùng nơi chiến địa và cả phòng the đứng trước nhan sắc mỹ nhân, không bị cám dỗ.

Bé Rớt nằm nép mình bên cậu Hai. Một chốc tôi nghe tiếng cộp nho nhỏ. Tôi biết là con bé ngủ mê đã buông cây bút nguyên tử bốn màu xuống ván.

Tôi nghe tiếng cựa mình của Là và tiếng thở dài rất khẽ của Lụa. Trong hầm mỗi tiếng động đều được khuếch đại nên tôi nghe rõ mồn một. Tôi đoán rằng Lụa có cảm tình đặc biệt với tôi, nhưng tình cảm vượt quá ranh giới anh em một tí. Nhưng nàng tự chủ. Nàng dừng lại ở đó và nén lòng bằng những tiếng thở dài hoặc những cái liếc rất nhanh, những cái nhìn rất xoáy mà tôi bắt gặp.

Tôi thấy không thể ngủ được giữa tiếng trăn trở và những tiếng thở dài, nên tôi lên trên mắc võng ngủ ngay miệng hầm. Bằng cách đó, tôi đã ngủ một giấc nguy hiểm nhưng lại an toàn.

Tôi đã qua một đêm có thể gọi là dài nhất trong đời và thắng mình một cách âm thầm và oanh liệt. Sáng ngày, vừa thức dậy, Là đã quở tôi:

- Anh không được liều lĩnh như thế nữa.

- Lắm khi phải liều mới được em ạ .

Lụa đang lục đục nấu cơm dưới bếp nói vọng lên:

- Cô Út ngày nay ở nhà hay đi đâu?

Là cau có đáp.

- Đưa anh Hai vô Phu Hò a !

- Đi một mình không được sao mà phải dẫn ảnh đi? Rủi có gì làm sao?

Là vùng vằng:

- Chuyện gì là chuyện gì?

- Tao sợ đỗ chụp, ảnh chưa quen đường đất chớ tao có nói chuyện gì.

Là xí một tiếng rồi vẫn cau có, phang trả lại chị:

- Tụi Quyết Thắng (tức tiểu đoàn Quyết Thắng) ở đầy ngoài đó có gì mà sợ dữ vậy. Ảnh là cán bộ quân sự chớ ảnh có phải là thỏ đế đâu. Dẫn ảnh đi cho ảnh quen đường chớ để ở nhà ru rú có đổ chụp ảnh biết chạy đâu. Hay chị muốn ảnh bắt chước mấy ông mấy bà ngồi thum?

Tội nghiệp, trước sự lấn lướt của cô em, Lụa chỉ trả lời yếu ớt:

- Tôi chỉ sợ phòng hờ vậy thôi cô ạ ! Để… ể ảnh ở nhà dạy con Rớt được chữ nào hay chữ ấy.

Nhưng Là vẫn xon xỏn:

- Tôi hổng để ảnh chết đâu. Ảnh có sứt miếng thịt nào thì con nhỏ này cũng dám liều thân xác để bù đắp lại… Học cái gì. Thầy giáo đã bỏ ra ấp chiến lược, học một ngày được mấy chữ.

Tôi hiểu bụng cả chị lẫn em. Cô chị muốn tôi ở nhà để dạy con Rớt.(!) còn Là muốn bắt tôi đi để giải phóng tôi ra khỏi tầm mắt của chị. Ai có lý của người nấy. Bên ngoài Lụa bị đánh tạt, nhưng dễ gì nàng chịu thua cô bé .

Đêm qua, đang lúc ngủ ngon, tôi bỗng giật mình thức giấc. Một vật gì mềm mại chạm vào mặt tôi. Tôi nằm im, trân mình không dám thở. Tôi biết đó là bàn tay và là tay ai. Bàn tay xòe ra di động trên mặt tôi rồi gan bàn tay úp trên mũi tôi. Có lẽ chờ tôi hít. Nhưng tôi quay mình. Chập sau tôi lên miệng hầm.

Lụa dọn cơm ra. Ở đây bao giờ cũng ăn cơm sớm để phòng động. Có chuyện gì thì cũng đã sẵn ba hột trong bụng để có sức mà chạy hoặc chui. Mọi người vừa ngồi lên thì chú Tư Thiên, bí thư xã ủy tới. Nhìn qua mâm cơm tươm tất: sườn ram, tôm kho tàu, cá kho lạt và soong cơm trắng nghi ngút khói, chú hỏi:

- Tụi bây ăn cơm chụp đổ mà như là ăn giỗ.

Lụa nói:

- Còn mấy con chuột để bữa chiều. Chú qua nhâm nhi nghe chú !

Tôi lấy chai rượu còn đầy trên cù lao rót một ly mời:

- Chú làm một chút cho cứng gối.

Chú xua tay:

- Buổi sáng không nên rớ ba cái thứ này, rủi nó càn mình xuống hang khát nước có mà chết.

Là hỏi:

- Chú Tư bữa nay có ra ông Hai Đời không, cho cháu ngoéo đuôi theo với. Cháu với anh Hai ra ngoài chị em con Trong để bàn chuyện lo cái hang cho chú Ba.

Chú Tư ừ một tiếng rồi nói tiếp:

- Chú phải đi gặp đồng bào mình chạy ra xã Trung Lập để lôi họ về, chứ họ đi sạch láng chỉ còn hai chú cháu mình với thằng Năm Đầu Ban thì còn làm nên cơm cháo gì.

Là bảo:

- Chú đi ruồng bắt ông Năm Thuận về đi. Xã đội trưởng gì mà thụt mất tiêu vậy?

- Nó là gà rót rồi, xài không được nữa. Nó đã cho vợ con nó dông qua Thanh An rồi. Sắp tới là phiên nó nhảy.

- Cháu nghe nói ổng đang câu tôm tự túc.

- À, kế hoạch của nó là vậy đó. Lặn dần dần.

Tôi hỏi:

- Vậy văn phòng xã ủy bây giờ chú đặt ở đâu?

Chú Tư vỗ ngực, vỗ bụng rồi vỗ đùi và cười khặc khặc:

-Đặt ở đây nè, ở đây, ở đây nữa? Hì! Có còn ai đâu mà văn phòng văn phiếc?

Là trừng mắt nhìn tôi:

- Hôm qua em đã dẫn anh đi ngang qua xóm Bò Cạp và xóm Hố Bò cũ, anh thấy có còn cái nhà nào không? Anh muốn tìm văn phòng xã ủy hả..? Ra ngoài các ấp chiến lược Cây Bài, Trung Hòa, Cầu Ván mới gặp. Nếu không thì ra chợ Bắc Hà trước cửa Đồng Dù thì chắc ăn hơn.

Chú Tư tiếp:

- Văn phòng xã ủy cháu hỏi đó là hồi hai năm trước, trước cả cháu về đây lần đầu kìa. Hồi đó con Rớt còn đi học, con Là đêm đêm cầm tờ giấy đọc tin ở phòng thông tin ở xóm Hố Bò, trên đường 15 dập dìu tài tử giai nhân lên xuống Bến Dược, Bến Súc, còn dưới sông thì đò máy chạy xìn xịt tối ngày. Tưởng đã giải phóng đến nơi rồi. Ai dè nó đá ngoéo lại cú này ác quá. Cháu về công tác ở đây rồi sẽ thấy. Nó chơi bom pháo xe tăng gì chú cũng ít ngán, còn cái mửng nó xúc dân, ép dân ra ấp chiến lược bỏ đất trống thiệt là ác. Mình như con cua gãy càng. Bộ đội muốn tìm dân để nhờ lá rau hột muối đều không có . Toàn ở ngoài rừng ngoài vườn hoang. Còn đảng bộ thì Bí thư, thư ký, liên lạc gì cũng chỉ một mình thằng này thôi. Một năm nay chú đâu có bận được cái quần dài nào đâu. Quần cụt cho nó gọn, chạy không vướng chân mà có ướt cũng mau khô.

Nghe chú Tư tố khổ tôi rầu thúi ruột, muốn đi quách về Bộ Tư Lịnh để nhận công tác cho xong, nhưng giao liên chưa đến, sẵn dịp Là chạy lo hầm cho chú Ba (Tôi biết ngay là ông Ba Định tức là Ba Xu Tư lệnh Quân khu mới xuống thay hai ông Huỳnh Tấn Phát và Trần Bạch Đằng). Tôi cũng nhân cơ hội này, trong lúc chờ đợi giao liên đến, đi rảo vài nơi với cô nàng để biết thêm chút ít địa hình địa vật hầu nay mai điều động bộ binh cho khỏi bỡ ngỡ.

Cơm nước xong, chú Tư đi về còn Là sửa soạn dẫn tôi đi xuống Phú Hòa. Chú vừa ra khỏi sân thì thụt lùi trở lại. Chú trỏ qua phía bên kia sông Sài gòn:

- Nó lại đánh bên Thanh An ! – rồi bước lại rỉ tai tôi – Chắc nó biết mấy ông mình dời sang bên đó nên nó đeo dính. Ngày nào nó cũng đánh dọc đường 14. Thằng Năm Thuận cho vợ con về bên đó chưa chắc đã yên thân đâu.

Tôi nhìn về hướng bên kia sông. Khu trục bay liệng hai ba chòm. Khói lên đen kịt. Tôi nghĩ: ông Ba Xu từ bên này vọt về bên đó, hay từ bên đó dông qua bên này? Không biết ông ta ở đâu bây giờ. Bé Rớt chạy ra nắm tay tôi:

- Cậu đi chiều về nghe.

- Ừ, chiều cậu về.

- Máy bay nó bỏ bom bên chỗ ngoại đi đó cậu.

Tôi vuốt đầu bé:

- Con ở nhà má dạy học thuộc bài rồi con viết từ số 1 đến số 100 cậu về xem chấm điểm.

Tôi nói rất tự nhiên như cha dặn con, người lạ nghe ắt nghĩ tôi là ba của con Rớt. Nếu trời đất có phép lạ gì biến tôi thành chủ cái gia đình này một cách êm ái, Lụa là vợ tôi thì chắc tôi không có đau khổ gì hết.

Lụa đứng ở cửa bảo:

- Con vô để cho cậu Hai đi, con! (Tôi vụt nghĩ, sao nàng không thể bảo: Con vô cho ba đi! Chỉ khác có một tiếng thôi mà là cuộc đời hoàn toàn thay đổi. Tôi vụt có gia đình và có con. Tôi sẽ gọi con tôi tối ngày, tôi sẽ dạy nó học. Tôi sẽ ở đây. Thuyền tình sẽ đậu mãi mãi ở bến này. )

- Con vô với má đi con!

Là có vẻ không đồng ý với cách nói năng của tôi, nên nạt ngang:

- Người ta đi tới Sa Nhỏ lận, không ai cõng mày theo được đâu mà hòng đòi.

Thấy con bé quyến luyến tôi phải trở lại đủn bé vô nhà và bảo:

- Con muốn ăn gì, cậu ghé quán mua cho.

- Không con không muốn ăn gì hết, con muốn cậu về mau mau.

Tự nhiên nước mắt tôi rơi lã chã. Tôi quay ngang và trở ra giấu đi, không cho Lụa thấy. Tôi không ngờ rằng một tên lỳ lợm trong lửa đạn như tôi lại có thể khóc trong một cuộc chia tay nhỏ nhen như vậy, và trong phút chốc tôi chợt hiểu nguyên do vì sao Năm Thuận và bao nhiêu cán bộ khác nghỉ công tác mà nín ở nhà .

Tôi và Là vừa ra đến đường cái thì chú Tư cũng từ trong nhà chạy băng ra. Chú bảo chú cũng đi cùng đường với chúng tôi để gặp thằng Hai Trâu an ninh xã Trung Lập để liên hệ công tác, rồi gặp thằng Út Chạy ở Sa Nhỏ, biết chừng băng qua Đồng Lớn để gặp thằng Hai Đời bí thơ. Thế là chú đi trước dọn đường. Chú mặc cái áo bà ba mốc rách vai chưa vá, tay cầm cái rựa ngoéo, khom khom bổ tới, cặp chân khẳng khiu đen đúa như hai ống tre cháy nám lòi ra hai ống quần lỡ nhuộm phèn vàng cháy làm tôi xót xa. Không hiểu ông già này hiểu chủ nghĩa Mác bao nhiêu mà làm bí thư đảng ủy? Bên ngoài vạt áo chú nịt ngang lưng một sợi dây da, bảng to bằng bốn ngón tay rất quen thuộc với tôi từ năm ngoái, mỗi bên có một cái túi nhỏ gài nút bóp để đựng giấy quyến và thuốc rê . Đó là thần dược của chú dùng để chống xe tăng và máy bay Mỹ, ngoài ra không có gì khác. .

Phái đoàn cắt ngang qua suối Hố Bò lên đám rừng chồi mà cách đây một năm khi nàng đưa tôi và má Hai ra Bến Dược móc gia đình, đã cho tôi xem cái miệng địa đạo đầu tiên của Củ Chi. Tôi buột miệng hỏi:

- Địa đạo ở đó, em có phát triển thêm ra không?

Nàng đáp.

- Bỏ luôn rồi anh ạ ! Thời buổi này thiên hạ sợ địa đạo hơn sợ cọp.

- Ủa. sao kỳ vậy?

- B52 nó rắc lên đầu ai dám chui?

- Vậy chắc ba cái hầm của tụi anh đào chắc cũng tiêu hết rồi!

- Hầm nào?

- Hầm của anh và Tư Linh chỉ huy tụi con Bảy Mô đào để diễn tả địa đạo chiến cho thằng Bọ Chét.

Là phá lên cười như nắc nẻ một hồi rồi nói:

- Ổng về tới bên Tây rồi hả?

Tôi lặng thinh vì hổ thầm. Một cô nông dân như Là mà cũng biết tỏng cái địa đạo thôn liền thôn, xã liền xã còn cái thằng trí thức quốc tế lại cắm đầu vào cái hang chuột mà cứ tưởng là nó dài tới hai trăm dậm và bao vây cả căn cứ Đồng

Dù. Qua khỏi đám rừng chồi, đến bìa sở cao su Mây Sắc (Beyssac) cũng còn gọi là sở cao su Phú Hòa. Ở đây cao su còn non, cao độ bốn, năm thước, nhưng vì không có người săn sóc, nên nhiều lô bị đốn phá hoặc lấy thân cây hầm than bán. Đi một đổi nữa thì đến đường mòn cặp suối Lộc Thuận. Bên kia bờ suối nhà cửa vách ván, mái ngói bị pháo bắn sập, điêu tàn. Là cho tôi biết hiện giờ chỉ còn một nhóm du kích ở ngoài đầu suối ngang Sa Nhỏ. Hồi 62-63 vùng này vui lắm. Nào các cơ quan khu ủy I-4, nào gánh Hậu Cần của ông đại úy răng vàng Bảy Hốt. Từ ngày Mỹ vô Đồng Dù căng chiếc tăng đầu tiên, vùng này ăn bom pháo hàng ngày. Nó triệt hạ hầu hết cơ sở bên này, bây giờ nó đuổi sang Thanh An. Chúng tôi đang đi bỗng có một chiếc xe đạp bóng nhoáng chạy ngược chiều. Cô gái dừng lại, nhảy xuống chào chú Tư và chị Là . Cô ta thân hình mảnh mai, mặt tròn có nhiều mụn mà cái vành nón hướng đạo bằng nỉ xám không che lấp được. Cổ cô ta lại quàng một cái khăn tím trông rất hợp với cái dáng nhỏ thó của cô làm cho tôi nghĩ đây là một em bé quàng khăn đỏ ở bờ hồ Hà Nội. Là vồn vã nắm tay nàng ta:

- Chị Nhã Nam đi đâu vậy?

- Đi lấy tài liệu về chống càn của mấy ông du kích ở Sa Nhỏ. Bị kẹt đường nên ngủ tạm ở đó đêm qua.

- Bộ có tin gì hay hay hả?

- Ừ, mấy ổng vừa lập một hỏa điểm trong vành đai bao vây Đồng Dù. Nghe tin đó, ông Tám Quang gởi tôi xuống ngay để lấy tài liệu viết bài.

Tôi và chú Tư đứng cách vài bước. Tôi thấy cô liếc sang tôi và hỏi nhỏ nhưng tôi nghe:

- Chị xã đi với ông nào coi găng xi măng vậy?

- Ông nào? Anh Hai tôi ở R mới về đó ?

Nhã Nam bèn rề xe đạp lại gần tôi, cười duyên:

- Anh về thay ông Hai Giả ở H6 phải không?

Tôi giật mình hỏi.

- Sao cô biết?

- Em là nhà báo mà . Xoi mói một cây. Có chuyện gì mà em không biết?

Nhã Nam xưng em ngọt ngào với tôi một cách tự nhiên.

- Tôi mới về nên không biết gì hết.

Nhã Nam cười nhe cái răng duyên bên góc môi trái:

- Giấu hoài anh Hai. Em nhìn cái ống dòm anh đeo trên vai là biết con nhà pháo rồi mà. Hổm rày em nghe đồn ở cơ quan. Nay gặp anh thì em đề quyết.

Thấy nhà báo này có vẻ ranh mãnh, tôi liên tưởng đến tờ báo Nhân Dân, một cây nói láo. Kể từ lội Trường Sơn đến nay, tôi không hề đọc tờ báo láo này nữa, cũng không đọc một tờ báo nào của đảng mà tôi không thấy thiếu chút nào trong đời sống tinh thần của tôi. Thật vậy, tôi đọc báo không phải với sự ham thích mà với thói quen xấu. Nay bỏ nó đi, tôi nghe nhẹ mình.

- Cô ở đâu.

- Em ở Sài gòn (chữ gòn nàng phát âm theo tiếng Bắc).

- Đừng có qua mặt cái ống dòm của tôi chớ. Con gái Sài gòn đâu có nói lai giọng Bắc như thế – Tôi vừa nói vừa bắt nhãn cô gái – Có thể cô sanh ra ở Sài gòn nhưng bố mẹ ở Bắc Giang phải không?

Nhã Nam cười banh cặp môi mỏng và hai gò má đầy mụn hơi ửng lên:

- Anh đoán tài quá !

- Không tài gì đâu! Nhã Nam là quê hương pháo của tôi ở ngoài Bắc. Tôi đã từng diễn tập kéo pháo qua phố Nhã Nam mấy lần mà !

-Thảo nào!

- Ở Nam người ta nói là hèn chi chớ không nói thảo nào !

Nhã Nam làm duyên:

- Em phục anh quá chời. Anh có thể cho em biết quý danh không? Em sẽ viết bút ký.

- Để làm quái gì. Tên tôi xấu lắm, không nên đưa nó vào văn chương.

- Kệ nó, anh cho em biết đi!

- Thiên Lôi !

Nhà báo bịt miệng cười. Chú Tư giục:

- Thôi, đi kẻo trễ !

- Vâng. Anh đi kẻo trễ mất! Gặp lại khi khác. Chào chị xã…ã! Chào chú Tư!

Nhã Nam thót lên xe đạp vun vút.

Tôi ngoảnh mặt lại ngó theo cái bóng hồng hay hay đang bay xa dần. Bỗng nghe đau điếng ở vai:

- Dòm gì mà dòm dữ vậy?

Cô xã đội vừa nhéo tôi vừa nghiến răng ken kéc.

- Anh nhớ cái thị xã Bắc Giang chút mà !

- Ngó ngoái vậy coi chừng trặc cổ đó ông thầy pháo!

- Gì dữ vậy em!

- Con nhỏ đó, anh khỏi cần tìm, tự nó dẫn xác tới thôi.

- Em không nên nói xấu bạn bè.

- Em đâu có bạn bè gì với nó. Nó là dân thành. Nghe đâu sinh viên đại học văn khoa văn khoai gì đó. Nó là nhà báo của Tuyên Huấn khu.

- Người ta vô đây với mình thì tốt chớ sao. Ở trên R cũng rất trọng đãi trí thức mà.

- Trí thức nào em hổng biết, chớ con nhỏ này viết láo dữ lắm. Nó làm mấy bài Chị Năm Cầu Xe em bất ngờ nghe đọc trên đài giải phóng, em muốn độn thổ luôn.

- Sao vậy?

- Nước lã khuấy nên hồ chớ sao. Cho nên bây giờ mấy ông Tiểu đoàn Quyết Thắng chạy mặt nó rồi.

Tôi đỡ cho cô bạn vừa mới quen:

- Không hẳn là cô ta viết láo đâu. Cố nhiên là làm báo phải nói láo không nhiều thì ít chớ không nhà báo nào lại nói y sự thật nhưng trước khi in, cấp trên còn thêm mắm dậm muối.

Tôi biết trong bụng cô xã đội: không phải cô đổ quạu vì nhà báo nói láo mà vì cô ta nó chuyện với tôi thân mật quá. Biết vậy tôi vuốt giận nàng:

- Anh không bao giờ lấy vợ Sàigon.

Quả nhiên là vui vẻ trở lại. Nàng bảo:

- Anh ráng chút nữa em kiếm nước dừa cho uống.

- Dừa ở đây bị hoá học, lẫn B52 và pháo siêu âm! Uống nước dừa dám bịnh lắm! Hèn chi tụi con Nga sợ ăn thịt chuột nổi phong cùi cũng phải.

- Anh chạy đi đâu rồi cũng không không khỏi chui. Anh cứ bỏ một cục vôi ăn trầu hay một trái chanh vào xắc-cốt sẵn đi là vừa.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 35

Lính cò mửa của “Q” Hai Chòi.
Nữ kiện tướng đào đất.



Đến đứng bóng thì đi ngang nhà mủ. Nhà mủ sơn trắng là một toà nhà lớn của sở cao su Phú Hoà, trải qua bao nhiêu trận mưa bom pháo vẫn còn đứng đó trơ trơ. Cái nóc chòi cao trên đó treo cái chuông dùng báo giờ giấc cho phu cao su. Bây giờ rừng cao su hoang tàn, phu phen biến mất nhưng cái chuông vẫn còn. Tuy nó không còn khua ngân như hồi trước nhưng ai đi qua cũng lấy làm ngạc nhiên. Là hỏi tôi tại sao Mỹ bỏ bom dở vậy?

- Hình như hồi năm ngoái em đã hỏi và anh đã trả lời câu hỏi của em rồi mà! Không phải Mỹ ném bom dở đâu. Cầu Hàm Rồng mà còn bị nó đánh hỏng kìa em! Tàu chạy trên sông Bến Thủy nó vẫn ném bòm chìm kìa em! Đánh sập cái nhà mủ này có khó khăn gì. Nhưng nó để đó để làm điểm, hiểu chưa. Nếu san bằng nó rồi thì không có gì để làm điểm tính toán cho vùng lân cận.

Tôi đã từng leo lên đỉnh núi một ngày của con đường Trường Sơn . Từ trên đỉnh núi cao ngó xuống các con đường mòn, các dòng suối lấp lánh ánh nước ngoằn ngoèo giữa muôn trùng rừng xanh trải phía dưới tợ những con rắn bạc, xanh, đỏ, tím, vàng bò trên tấm thảm thiên nhiên xanh rờn. Nơi khúc uốn éo của con rắn bạc, lấp ló những mái nhà, có làn khói mỏng như tơ lơ lửng bay giữa khoảng không xanh biếc. Đó là những bản làng của các sắc dân, quanh năm đàn ông chỉ có cái khố, đàn bà con gái cởi trần hở ngực, con nít trần truồng chạy nhảy như dê trừu.

Với cái nhìn bằng mắt thường từ trên cao ngó xuống mà còn trông rõ mồn một. Tôi mới nghiệm ra rằng với những bức tường trắng và mái ngói đỏ của mấy cái nhà mủ cao su Hố Bò, Phú Hòa này rõ ràng là những vật chuẩn rất tốt của những tên phi công ngồi trên máy bay quan sát chỉ điểm hay bọn khu trục, phản lực ném bom qua những ống kính quang học tinh vi nên nó mới còn hình thù đứng sừng sửng giữa những khu rừng cao su cháy vàng trụi lá với những lỗ đạn trọng liên chi chít như mặt rổ sảo. Nếu cần phá hủy thì nó chỉ cần hai trái hỏa tiễn của đầm già cũng đủ phá tanh banh rồi. Tôi nhìn bốn bức tường loang lỗ đầy dấu vết đạn nổ, cắt nghĩa những điều tôi biết cho cô em xã đội nông dân. Em nhận ra lý lẽ nên đáp nhỏ.

- Ừ he. Vậy mà lâu nay em cứ chê thầm tụi Mỹ bom dở.

Phía sau triền suối cây cối ngã ngổn ngang. Tường ngôi nhà mủ bị mảnh bom đạn xuyên lốm đốm như tàng ong một mảnh tường sập cho thấy chiếc thang gác bên trong còn nguyên. Ba người đi nhanh qua khu nhà mủ, theo triền dốc. Độ nửa tiếng đồng hồ thì đụng một vườn tre trúc bên bờ suối. Là bảo đây là đầu xóm Phú Hòa. Dọc theo bờ thấy có mấy tấm bảng tử địa cắm ở mối đường vào nhà, toàn là những ngôi nhà vô chủ hoặc sụp đổ. Có cái chỉ còn trơ lại cái nền nhà, chứng tỏ gia chủ đã rời nơi đây từ lâu. Vùng này dù không cấm bảng tử địa thì tự nó cũng là khu tử địa rồi.

Đang đi bỗng Là dừng lại trỏ bên lề đường. Tôi ngó theo. Cái vĩ tre che miệng hầm chông bị đất nặng đè sụp phân nửa để lòi những cây chông tua tủa. Là hỏi tôi:

- Anh biết cái gì không?

Tôi giả đò không biết.

- Không!

- Hầm chông diệt Mỹ đó ông thầy pháo.

Chú Tư cũng đừng lại quan sát. Chú than thở:

- Mấy đứa nó bỏ phế như thế này có ngày giết mình.

Là bĩu môi:

- Chuốc cho tốn tre, ngồi mỏi lưng cho được cái gì. Đào đào lấp lấp, đổ bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu năm nay có làm trầy da thằng nào? Có dính mấy ông bộ đội thì có. Ừ, mấy ổng đói, hay sục sạo vô vườn kiếm dừa kiếm chuối để rồi bị lọt cho coi. Ủa, mà bị lọt rồi chớ gì mà sợ.

Chú Tư động lòng trắc ẩn vì câu nói đâm thẳng vào chủ trương làm hầm chông mà chú là người ra lệnh thi hành kinh nghiệm thời kỳ chống Pháp. Chú nói:

- Tao cũng nghĩ là tụi Mỹ cũng như tụi Tây. Giỏi lắm thì Mỹ thả bom nhiều hơn Tây chút đỉnh thôi chớ có khác gì. Hồi chín năm vùng này ăn hút khỏe ru, đông bào có biết trái bom nào, tao có biết mặt thằng Tây mồm ngang miệng dọc ra sao. Chẳng ngờ bây giờ Mỹ có bỏ bom bắn cà nông hàng ngày. Rồi còn xe tăng, chụp dù, nhảy cóc nữa. Bởi vậy hầm chông và lựu đạn gài mất tác dụng.

- Cháu cũng từng làm hầm chông hồi 1950 khi đi công tác ở Phú Hữu tỉnh Cần Thơ. Du kích thời đó làm chông có mũi bằng thiếc gọi là chông đội nón sắt hễ Tây sụp hầm bị chông đâm, rút chông ra thì cái đầu thiếc ở lại trong thịt, nó sẽ bị phong đòn gánh mà chết.

- Rồi có dính thằng nào không?

- Chẳng dính mạng nào cả, rút cuộc ông xã đội đi o mèo đêm khuya lại bị sụp. Từ đó danh từ sụp hầm chông có hai ý nghĩa.

Là xía vô:

- Bây giờ ở đây cũng vậy. Mấy ông cán lang bang bị kỷ luật, người ta không nói bị kỷ luật mà nói sụp hầm chông. Đó là trường hợp lẹo tẹo với con gái. Còn lẹo tẹo với đàn bà có chồng đi công tác xa thì gọi là sụp hầm hom.

Chú Tư trỏ tay phía trước mặt:

- Đây là xóm ngoài của Phú Hòa. Dân còn bám trụ chút ít.

Là đớp ngay:

- Bây giờ không còn ai đâu chú ! Chú Ba Cứng là người gan lỳ nhất, nhưng vừa rồi cũng đã đưa gia đình ra ấp chiến lược Cầu Ván.

- Ủa thằng Ba Cứng xã đội trưởng Phú Hòa đã ra ấp chiến lược rồi à?

- Mới chừng vài ngày đây thôi. Bộ chú không hay thiệt hả?

Chú Tư vỗ đùi kêu:

- Vậy nó gặp tao nó khoe nó sẽ cùng đám du kích bám trụ chơi Mỹ tới gáo!

- Ổng lùa cả trâu ra ngoải rồi. Nghe nói gia đình được phát tôn cất nhà. Chú đi đánh xe mướn trong vùng quốc gia.

- Tụi lính không bắt tội gài lựu đạn làm hầm chông gì của nó à?

- Cháu hổng biết, nhưng nghe mấy bà đi chợ về nói có gặp chú, chú nhắn thăm bà con mạnh giỏi.

Chú Tư Thiên làu bàu:

- Cái thằng ! – Một chập lại nói – Mẹ ! ba cái ấp chiến lược này hại thật. Phải phá cho tan thì mới đánh Mỹ được, nhược bằng cứ để nó phô trương như vậy mình bị nó hút hết dân.

- Ở đó mà dân. Mấy ông cán to cũng chạy ra đó rồi. Có một ông thượng tá mùa thu.

Tôi chột dạ:

-Vậy nữa à?

Là không đáp mà trỏ vào khu rừng chồi ở sau lũy tre, nói nhỏ với tôi:

- Ở đó có một khúc địa đạo chừng ba bốn chục thước . Tụi Phú Mỹ Hưng của em phối hợp với tụi Phú Hòa đào để phục kích tụi Sài gòn, nhưng ở đây đất thấp, không đào sâu được có lẽ bây giờ đã sụp rồi. Anh nhớ nghe. Sau này có thắt ngặt thì vô đó trú đỡ. Để bận về em ghé vào chỉ nắp cho. Nhưng em không bảo đảm có xài được hay không?

- Vậy thì đào làm gì?

Là trợn mắt:

- Em đã bảo với anh rồi. Thời buổi B52 và xe tăng này không ai dám chui xuống địa đạo nữa. Ở dưới xã Trung An ấp Bào Trân bị lấp cả hầm chết mười mấy cán bộ, ở đó đất thấp họ làm gáy hầm cạn xợt. Người ta giấu không nói ra, chỉ phổ biến bằng công văn mật đến cấp ủy thôi. Em không là cấp ủy nên chỉ nghe lóm. Anh muốn chắc hỏi chú Tư kia cà.

Tôi vừa nghe chuyện vừa ngó vào vườn. Ở đây nhà cửa còn nguyên. Nhà ngói nhà lá còn san sát với nhau. Mùi cát khô bốc lên trong nắng gắt. Vài tiếng gà gáy trưa văng vẳng gợi lên cái không khí của thôn xóm ruộng rẫy yên lành thời não thời nao xa lắc xa lơ. Một nỗi buồn man mác dậy lên trong lòng kẻ lữ thứ xa quê quán đã hai mươi năm.

Nhớ cố hương xao xuyến tấc lòng.
Mau dồn chân!

Câu hát từ thời trẻ thơ mà tôi thường nhại đi nhại lại, không biết của ai (giờ thì đã biết) bỗng nhiên làm run run vành môi và xốn xang tấc dạ .

Từ bóng cây ngôi mộ bên đàng
Từ mái tranh bên đình trong làng
Nhìn qua con đường mòn cũ
Quanh co mấy bụi tà dương mới mong chàng.

Là dừng lại ở một mối đường và nói với chú Tư:

- Cháu đến nơi rồi. Chú đi chiều về qua nhà chị cháu ăn cơm với anh Hai nghen chú.

- Ờ nếu tao còn sống thì tao về, chớ có đi đâu mà bây sợ? Tao qua Sa Nhỏ gặp thằng Út Chạy một chút. Nó chạy không có ai tìm nổi. Rồi phải qua Bàu Sỏi gặp con Siêng nếu hổng gặp hai đứa đó thì tao phải tuốt tới Ràng tìm thằng Hai Đời, chiều tối mới về tới.

- Ở Sa Nhỏ pháo thường bắn buổi trưa lắm, chú coi chừng.

- Nó bắn thì nó bắn, mình đi thì mình đi chớ coi chừng gì được mà coi ?

(Bí thơ xã ủy xã Trung Lập đầu tiên năm 60 đến 65 do Hai Đời nhà ở ấp Đồng Lớn phụ trách. Vợ Hai Đời nấu rượu sinh nhai để nuôi bầy con nhỏ. Hai Đời vướng bịnh lao, cà rề đến cuối năm 65 thì mãn phần. Đề cao vai trò phụ nữ để thúc đẩy mặt đấu tranh chánh trị từ ngày Mỹ vô Đồng Dù, phong trào bị xẹp, khu ủy khu IV đã cất nhắc thị Năm Đang bí thư xã ủy xã Phú Hòa Đông lên làm khu ủy viên. Năm Đang được mấy lão sồn sồn tóc bạc của khu ủy vuốt, y thị không bỏ lỡ thời cơ đề cao giới phái đầu tóc của mình, nên đã đề cao một lô phụ nữ tham gia việc lãnh đạo quân xã. Thị đưa Hai Xót công tác phụ nữ xã An Nhơn vào chưn quận ủy viên quận Củ Chi. Đề bạt thị Út Siêng tổ trưởng đảng ấp Đồng Lớn thay Hai Đời làm bí thơ xã Trung Lập. Út Siêng gần bốn mươi, có chồng ở tù chết ngoài Côn Đảo, mà bà bí thơ xã miệng ăn trầu lại chưa diện một cây, mặc dù đã hai lửa, đứa con gái đầu lòng sắp gã được, đứa con trai lại náo nức tham gia bộ đội. Tuổi đời như hủ mắm đầu giàn, nhưng bà bí có tham vọng trèo cao. Bà bí lên mặt hống hách với anh em bộ đội nên đã bị Hai Khởi, Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 7 Thép đòi đá đít bà bí thơ trước mặt mấy bà mẹ chiến sĩ. Mặc dù bà bí thơ lúc đó đã quơ được một anh cán cấp đại úy làm Chánh trị viên Tiểu đoàn, người Liên khu nem. Ông già này khai với tổ chức là vợ ông ta đã bị giặc bắn chết ở quê nhà Quảng Nam, Quảng Ngải gì đó ông đã trên 40. Nồi vun úp vừa khít nên được tổ chức Đảng chấp thuận cho hai ông bà xe duyên. Được một năm thì cái trống bà bí thơ bi bể, bà vịn cớ đó thôi việc, trong khi ấp Đồng Lớn bị bom đạn lửa khói ngày đêm. Ông bà dắt tay nhau qua sông về rừng già Bến Cát Dầu Tiếng để úm đứa trẻ sơ sinh và giao cái gánh xã ủy lại cho ông Út Chạy nhà ở ấp Sa Nhỏ, nguyên là tổ trưởng đảng ấp trước đây. Tình hình sau Tết Mậu Thân quá căng thẳng. Quận Củ Chi phải chia đôi thành hai quận Nam Chi và Bắc Chi. Cái xã của ông Út Chạy cũng bị chia đôi thành hai xã Trung Lập Thượng và Trung Lập Hạ, cắt phân bởi tỉnh lộ 7A ngày đêm bị phong tỏa giao liên khó khăn. Nghe tên Chạy là người ta đoán biết đặc tánh của ông bí thơ mới của xã Trung Lập Thượng này rồi. Nhưng đâu ai dám tưởng tượng ông lấy mười giạ lúa để đổi lấy khẩu “colt đui” của một du kích ấp đã hôi được của lính Mỹ đánh rơi tại đồng ruộng Sa Nhỏ trong trận chống quân Mỹ đổ chụp của Tiểu đoàn Quyết Thắng vào giữa năm 1966. Năm 69, cả xóm Sa Nhỏ không còn một bóng người, vợ con của Út Chạy bị gom ra ấp chiến lược Lào Táo. Còn ông bí thư xã, mang colt đai lủng lẳng dông tuốt qua Miên lánh nạn. Đó là sơ lược thành tích lãnh đạo của các nhân vật ở xả Trung Lập mà chú Tư rỉ rả kể lại cho tôi nghe.)

Chú Tư xách cái rựa ngoéo lủi thủi đi trên đường với cái bóng thu gọn di chuyển trên mặt đất. Là dắt tôi vào nhà, đi ngang qua chuồng trâu ngay sát lộ. Mùi phân trâu khô bốc lên nồng nặc trong nắng trưa càng gợi lên trong lòng tôi những cảnh sinh hoạt đồng quê thuở thiếu thời mò cua bắt ốc cỡi trâu nghênh ngang ngoài ruộng. Cái chuồng trâu bây giờ không còn trâu, không còn nghe tiếng trâu thở phì phì, tiếng móng trâu dậm cộp cộp trên mặt đất.

Trong cái chuồng đặt nghẹt những người. Súng ống, thắt lưng, bình toong treo đầy trên những cây ngáng. Chung quanh chuồng trâu võng xanh treo làng khang giữa những cây cau cây mít. Hồi kháng chiến chống Pháp không có cái kiểu đóng quân lạ lùng này. Bộ đội đi đến đâu dân nhường nhà cho ở và ngã bò vật heo ăn uống tiệc tùng. Bây giờ bộ đội nhảy tới đâu dân phóng mất hết, nên bộ đội ở ngoài rừng và gạo mua từng lít. Đến muối tìm cũng khó.

Tôi đang đứng nhìn cây ớt hiểm trái chín đỏ rực cao ngang ngực. Có lẽ nhờ phân trâu mà nó cao lớn như vậy. Bỗng một tiếng gọi to:

- Ê ! Út Là ! Vô đây biểu coi !

Chà, ai mà lớn lịnh dám bảo bà xã kiểu đó. Tôi vừa nghĩ bụng, thì Là bảo tôi:

- Mấy ông ôn địch đại đội 1 của Tiểu đoàn Quyết Thắng đó anh Hai!

Vừa nói Là vừa đi thẳng vô chuồng trâu. Hai ba ông bộ đội đang nằm võng bỗng ngồi bật dậy, đưa tay chào, cười toe toét Là quạt ngay:

- Nè ông Bính, chưa tối mà ông cho treo võng tùm lum như vậy rồi còn đánh tu-lơ-khơ, uống trà vặn đài oang oang, hổng sợ đầm già nó liếc thấy nó kêu pháo Đồng Dù dập nát xóm Phú Hòa này sao?

Một ông cao cao gầy gầy mặc đồ tê-tô-rông màu xám áo bỏ ngoài, gãi gãi đầu:

- Cô em không phải lo, tụi nó đang bận rộn bên Tam Giác Sắt An Thành An Điền, chưa có rảnh qua thăm mình đâu . Em tới thăm tụi anh thật là phước đức.

Là gạt phắt:

- Ai đi thăm mấy ông. Tôi đi tìm hai chị em Năm Biền và Sáu Trọng. Mấy đứa nó có trỏng không?

Ông Bính, người lùn lùn mặc quần tiều lòi bộ giò chân lư, nhảy lên cây ngáng thò đầu ra hỏi nhỏ Là:

- Cô em đi với ông kẹ nào vậy?

- Anh Hai tui ở ngoải mới gia chớ ông kẹ nào?

Ông cao cao diễu cợt:

- Quê rau muống hả chú?

- Không! Nhà Bè, Phú Mỹ.

- Tưởng chú mày đẩy cây thì bị tôi cho lọt mương rồi. Ê ! biết tui là ai không? ‘

Thấy người cao niên hơn mình, tôi đáp:

- Dạ không.

- Tôi làm lơ xe đò cho ông Đực Lớn, em của Hai Qui ở Phú Mỹ hồi trước đây nè.

- Tôi quê… ên rồi.

- Gặp bà con mà hổng nhận ra sao?

- Dạ tôi đi hồi mười ba tuổi, nay đã hai mươi năm rồi làm sao nhớ nổi a… a… chú?

- Tầm bậy, kêu tao bằng dượng mới đúng. Dượng Chín nghe chưa cháu! Chín Nữa là tao đây.

Người tự xưng là Chín Nữa chui ra khỏi chuồng trâu đến sát mặt út Là, nom vào bảo:

- Nè, cô xã đội, cô đừng có nhận diện tầm bậy nghe! Tôi biết rõ ông này là ai mà. Ổng có mấy đứa em, hỏi tui nè. Anh Hai nào của cô mà nhìn lãng dang vậy cô em?- Rồi Chín Nữa nhắc gốc tích một hơi – Bà già của ổng vợ tôi kêu bằng chị. Vậy ổng phải kêu vợ tôi bằng dì lớn có đúng hông con nhỏ. .Vậy ổng phải kêu tôi bằng Dượng là đúng rắc-lơ-măng-te rồi ! Cô có muốn kêu tôi bằng Dượng thì tôi cho kêu chớ anh Hai tui, anh Hai túi gì !

- Anh hai túi ! . . . – Bính Chân Lư chêm vô – Túi sau là túi tương lai. Túi trước là túi anh Hai gởi về há há…há. Vậy cũng đáng kêu là anh Hai… tui chớ.

Chín Nữa gắt:

- Đừng có nói giỡn kiểu đó. Nó là cháu tôi.

Là được trớn xô một phát, Bính Chân Lư suýt té ngửa. Bính gượng đứng lại và vớt vát:

- Ỷ cháu dâu ông nên nó dám đánh bộ đội của ông thấy chưa ông Chín.

Chín Nữa tiếp:

- Tôi thấy là nhận ra ngay, nhưng để coi nó có nhận ra tôi không. Nó giống ông già như cắt mặt để qua. Ảnh chỉ lâu nay bặt tin nó, tưởng nó chết lâu rồi. – Chín Nữa quay sang Là – Cô xã đội có muốn gặp chị em con Biền thì vô ngay trong nhà. Chị em nó mới đi ruộng về. Còn anh Hai của cô thì để ở đây cho tôi nói chuyện một chút.

Tôi bảo Là :

- Em đi giải quyết công tác đi. Để anh ở lại hỏi thăm ba má và bà con.

Là ngúng nguẩy:

- Tôi gởi anh Hai lại đây, chút nữa tôi trở ra rước.

- Ai mà ăn thịt ăn cá gì đâu mà sợ !

Một ông cho miệng vào.

- Rủi sẩy mất, tui thế thân được không?

Là bỏ đi thẳng. Được một quảng, quay lại dặn tôi:

- Đừng có bỏ đi như hồi nẵm vô quán bà Sáu Tiệm nghen !

Bính Chân Lư chống nạnh và hất mặt lên:

- Để đó tui giữ cho, không có cô nào xớt mất đâu!

Chín Nữa dắt tôi ra gốc rơm trải một manh đệm rách. Hai dượng cháu ngồi bên nhau tựa lưng vào gốc rơm tâm tình. Một chập, bảo phông lông:

- Đứa nào ở trỏng chạy ra tiệm mua mấy cái tép mỡ nghe bây.

Vừa nói vừa móc tiền từ sắc-cốt. Một cậu liên lạc chạy ra. Chín Nữa dặn:

- Chạy qua quán Hai Trâu bắt một gói cáp tăng. Một vài xấp bánh tráng.. . à quên. Đứa nào giỏi chân chạy vô xóm ruồng mua vài con gà. Nhậu tép mỡ xong, chiều ăn thịt gà. Bữa nay chắc tụi nó tha Tào, mình cho khói lửa ngập trời tới khuya. Tôi cho ông bạn trẻ của tôi lết một bữa.

Quay lại tôi, Chín Nữa hất hàm:

- Về đây làm gì?

- Dạ nghe nói ở trên bảo về đây phụ với H6. . .

Chín Nữa vỗ đùi:

- Vậy là mày ! Tao tường ai chớ. Hỗm rày nghe đồn trên R cho một sĩ quan trung cấp pháo binh xuống quân khu, phụ trách cái H6 thay cho Hai Giả . Mày hơn tao xa. Tao ham vui bỏ nghề xe đò vô trong này mấy năm chẳng có làm được con mẹ gì hết. Làm trật nghề cái gì cũng trớt da me. Tao mới quyền Trung đội trường hè ! Thằng trung đội trưởng mới vừa bị pháo Trung Hòa chặt đứt hai chân tối hôm kia, tao vừa lên thay. Khiêng nó vô Xóm Chùa cho Tám Lê băng bó, đại đội mới di quân vô trong này tối hôm qua.

Hỏi phăng gốc tích, tôi mới hay vợ Chín Nữa là cô giáo làng có tiệm may ở chợ Phú Xuân, bà con xa xa với má tôi. Tuy vậy gặp nhau trên xứ lạ quê người, hơn nữa, trong khói lửa thì cũng còn hơn ruột thịt. Bính Chân Lư là đại đội phó (mà tôi không biết, cứ tưởng là lính đơ đềm củi bặp) đem ra một bình toong, bảo:

- Bắn sẻ trước đi, chốc nữa tép mỡ về sẽ xung phong.

Chín Nữa rót trà ra đít bình toong, hai dượng cháu uống chung. Chín Nữa hỏi:

- Mày đã có gì chưa ?

- Chưa, dượng ơi! đi hoài làm sao quăng neo được.

- Mày được tiếng cách mạng lâu năm, nhưng coi kỹ lại, thua tụi cùng lứa tuổi với mày xa! Ở nhà bây giờ đứa nào cũng vợ con đùm đề, đứa có năm, sáu xe đò chạy đường Phú Xuân Sài gòn, đứa là chủ nhà máy xay lúa, tệ lắm cũng có tiệm quán tạp hóa. Hừ, thằng em trai mày không mần ăn nhưng cũng là đại úy Thủy Quân lục chiến. Mày hay vụ đó chưa?

- Dạ chưa?

Tôi né ngang. Chín Nữa ngó quanh rồi nghiêng qua rỉ tai :

- Đừng có dại mà khai ra lý lịch nghe ! Người ta biết cái là nguy to. Nhưng tao đây, tao có vợ là cô giáo, mà tao khai là vợ bần cố nông. Khai thiệt là hết có làm quyền Trung đội trưởng này được.

Hớp miếng trà rồi Chín Nữa hỏi gặn:

- Mà mày không có khai, thật không??

- Dạ không có khai đâu, dượng ạ !

- Họ mà biết được là họ sẽ bảo mày móc nối làm một cú như Phùng Văn Mười là mệt cho mày và cả cho em mày lắm đó.

Tôi thấy nao nao trong bụng, đau nhói trong tim. Em đại úy. Anh cũng đại úy. Một xanh, một đỏ chọi nhau về chủ nghĩa về ý thức hệ . Ai thắng ai thua, cha mẹ cũng phải mang sầu. Chín Nữa cứ triết lý miên man:

- Thời buổi này quan cũng như lính cũng chẳng làm gì cả. Một cái cụp là xuôi tay. Thua mấy thằng thương buôn, lơ xe đò, đạp xích lô… Dốt vậy mà khỏe ra, kiếm ngày nào ăn ngày nấy không sợ làn tên mũi đạn rủi may. Hồi nhỏ mày học giỏi nhất làng Phú Mỹ . Vậy mà hổng chịu học luôn. Bây giờ cũng là người này người nọ với người ta. Chịp! Chịp… Mấy ông nội đại úy thiếu tá của mình về đây cũng nhờ vào cái túi áo khỉ của vợ ở Sài gòn đem đút lót chớ tài ba gì. Tao sợ ở ngoài đó bị bắt lính hổng dè vô đây cũng bị lính bắt nhưng ở ngoải đi lính có xe cộ, có lương mỗi tháng, vô đây toàn xài lô-ca-chưn còn lương thì trớt he. Tháng nào cũng phải thông cảm với ở trên. Đã vậy còn cái nạn tử vô địa táng nữa chớ. Tụi Đồng Dù dữ dằn gấp trăm thằng Sài gòn. Bắn nó một phát chim sẻ, nó trả hỏa một ngàn cà-nông, bắn nó rơi một con cá rô nó rắc tám đợt B52. Hồi 62 tao ăn dầm nằm dề ở Xóm Dược Xóm Thuốc Hố Bò.

- Dạ mấy chỗ đó cháu có biết hồi năm ngoái.

- Năm ngoái là hết vui rồi. Tao có nghe mấy thằng nhà báo vô quay phim. Còn cái gì mà quay. Chắc là ở trên cho nó quay ba đứa con gái dũng sĩ chớ gì.

Tôi hơi nhột trong bụng nên làm thinh. Lòng ủ ê chán chường không phấn khởi nôn nao như hồi còn lội Trường Sơn.

Chín Nữa bảo:

- Mày nên móc gia đình sớm sớm đi! Không nên chần chờ một ngày nào. Nhớ… – Chín Nữa lại ngó quanh rồi nói – Nhớ đừng có cho ai biết em mày làm đại úy nghe chưa?

- Dạ!

- Con nhỏ này thì cũng được, chỉ hơi dốt chút thôi! Ối mà mày cũng đừng nên bắt chước lấy vợ hay chữ như tao. Về nhà nó biểu gì cũng phải nghe.

- Dạ, cháu đâu có định gì. Chân ướt chân ráo mới xuống đây được má Hai nhận làm con nuôi để lấp khoảng trống đứa con bị tử trận hồi 46 khi đánh đồn Bến Súc.

- Xí! Mấy thằng cha Tô Ký Hai Bứa ngông cuồng đào hầm không tới đâu lại đánh làm chết lính.

- Tôi nhớ bà ngoại với cậu Tám tôi quá trời.

- Bà ngoại và cậu Tám đều qua đời hết rồi! Chết nhiều lắm! Tao không muốn kể ra. Rồi cũng chẳng làm gì. Tới phiên mình. Sợ không toàn thây, không mồ mã, không cả hương khói.

Chín Nữa nói phăng phăng như nước chảy, lúc nghiêm trang, lúc cà rởn, nhưng xuyên qua câu chuyện tôi nhận thấy một sự chua chát, tiếc rẻ.

- Bây giờ mày về được gặp lại má mày thì chẳng khác nào bà ngoại mày vậy. Bả giống y bà ngoại chẳng khác một nét nào.

Các cậu đi quán lo đồ nhậu tới. Ông Bính đã cho trải đệm và lá chuối thành một mâm dài ở giữa chuồng trâu. Tất cả mồi và rượu dọn ra. Một chú bé vô nhà mượn mấy cái ly cối.

Chín Nữa ra góc chuồng trâu hái một vốc ớt hiểm đem vô vừa ngồi vừa nói:

- Mời hết nam phụ lão ấu xáp vô . Nó chơi phản lực mình cũng phải nhậu phản lực. Lơ mơ không kịp đó: Đứa nào giỏi giò chạy vô kêu con xã đội với hai đứa kiện tướng ra đây nhậu luôn. Tụi con gái này coi bộ mạnh dạn hơn lính của tao.

Ba cô con gái kéo ra. Ông Bính bảo:

- Ưng đứa nào thì ngồi gần đứa nấy!

- Tui chẳng ưng ai hết.

- Ừ hổng ưng thì ở vậy, chết không biết mùi đời.

- Hổng ưng mơi mốt kiếm không ra con trai phải quơ đàn ông ba bốn lửa cho coi.

- Đại đội đông như vầy, có ba đứa sao đủ?

- Đứa nào chịu thì cho tuyên bố trước.

- Lấy cái chuồng trâu này bao ni-lông động phòng luôn.

Vừa ăn vừa nói vừa uống. Mạnh ai nấy nói nấy ăn nấy uống. Không mời ai, không ai nhường ai và không ai nghe ai. Có thể một trái 175 ly rơi giữa mâm là quân dân bay như bụi. Chuyện đó đã xảy ra ở Củ Chi này rồi.

- Sao gọi là kiện tướng mà không gọi là dũng sĩ.

Bính Chân Lư buột miệng hỏi.

- Dũng sĩ là khi nào bắn chết năm thằng lính Mỹ. Còn kiện tướng thì chỉ đào đất giỏi thôi.

-Vậy chị em bây có đứa nào được đeo huy chương kiện tướng chưa?

Năm Biền đáp.

- Được rồi! Cả hai chị em tôi.

- Kiện tướng thiệt hay giả ? Đừng có làm kiện tướng kiểu con Chín Nhan ở bên Lộc Thuận xứ Trảng Bàng nghe.

Sáu Trong trỏ tay qua phía bên kia bờ suối:

- Nhà nó ở bên đó. Cái nhà ngói ló nóc trong lùm tre. Hổng biết kiện tướng đó ra ấp chiến lược Cầu Ván lập quán chưa?

Bính Chân Lư nói:

- Con nhỏ đó xúc được mấy ki đất mà lên chức kiện tướng? Đào hầm, móc địa đạo chớ có phải làm kẹo đậu phộng hay tráng bánh tráng đâu mà lên kiện tướng mau vậy?

Năm Biền nép vào vai cô xã đội cười sục sục:

- Vậy mà có người mê mới lạ chớ. Hồi trước tôi thấy chiều nào người ta cũng lội suối qua đó, xách nước tưới rau tưới cải dùm để có dịp nói chuyện với cô kiện tướng coi bộ mết lắm.

Chín Nữa cười:

- Người ta mê mết cái chỗ khác chớ phải mê cái kiện tướng hay sao.

Bính Chân Lư bị móc trúng hang cua nên ra miệng:

- Đó là công tác dân vận thôi mà. Hề hề… chớ tôi đâu có ý gì!

Sáu Trong cắt ngang:

- Tại sao dân lại giận bỏ ra tuốt ngoài ấp chiến lược Cầu Ván vậy?

- Tại sao ai biết tại sao, muốn biết thì phải hỏi cô xã đội kìa.

- Nếu tôi là người ta thì bây giờ chiều chiều tôi cũng lội qua suối chổng khu mà hú ra ấp chiến lược để cho cô ta động lòng mà quay về .

- Hồi nẵm thì tôi còn dám chớ bây giờ qua đó lớ huớ là bị cá nhái xúc về Đồng Dù ngay.

Năm Biền vẫn chưa buông tha:

- Anh Bính có nhắc gì chị Bính, ủa chị Chín, tôi chịu khó đi ra Cầu Ván nói dùm cho chớ để bây giờ tôi thấy anh cứ đứng bên bụi ớt ngó qua bên kia suối hoài hà ! Tôi sợ cây ớt giống của tôi rụng hết trái!

- Không có rụng đâu! Ớt đó sẽ trở nên ngọt ngay như đường phèn vậy. Phải không ông Bí… inh?

Bị Chín Nữa bao vây, Bính bèn phá vòng vây bằng cách xoay lại chị em Năm Biền:

- Mất mục tiêu xa, tôi quay họng súng tấn công mục tiêu gần đó.

Mọi người cười ngã nghiêng, chị em Năm Biền bị pháo bất ngờ, lúng túng. Bính tiếp:

- Tôi oánh luôn cả hai đồn một lúc cho mà coi.

Cả mâm rượu la ầm lên khoái chí, vì thủ trưởng của mình chuyển từ thế thủ sang thế tấn công. Bỗng cô xã đội kêu lên:

- Cái gì đen thui trong tép mỡ vầy nè?

- Đâu, cái gì đen thui?

Là giơ miếng tép mỡ lên. Chín Nữa không nhìn nhưng vẫn nói:

- Đó là ba cái lông heo chớ gì. Cứ việc nuốt càn đi. Miểng bom trong cơm tao ăn còn không mắc cổ, sá gì ba cái thứ lông đó.

Tôi quay sang hỏi Chín Nữa:

- Năm ngoái tôi về Củ Chi lần đầu, tôi cũng có nghe đồn cô kiện tướng Chín Nhan. Cô ta là ai vậy dượng?

Chín Nữa đang nhai tép mỡ bèn trỏ tay sang Là. Là háy tôi rồi nói:

- Anh muốn biết sao không hỏi bà Nhã Nam hồi nãy? Em kể tiểu sử vắn tắt của cổ cho anh nghe. Ngồi cho vững để khỏi té ngửa. Cô ta bán quán. Lúc đó trường tân binh của ông Hai Chòi và ông ba Râu đóng gần quán của cổ.

Chín Nữa xen vào:

- Cũng dân mùa thu của mày.

- Cô Nhan đi mua đồ ngoài thị trấn về bán. Nhờ đám tân binh mà bà má của cổ làm giàu nhấp nháy. Bả có ý định bắt rể một trong hai ông mùa thu quá lửa này. .

Bính thêm:

- Phải nói thế này mới đúng dư luận. Trường Tân Binh đó là nơi chiêu tập thanh thiếu niên từ 15-16 đến 19-20. Lớp 19-20 thì R bắt hết để bổ sung cho hai công trường 5 và 9 của ông Sáu Khâm và ông Năm Truyện. Còn lớp 15-16 thì bỏ lại cho khu mình dùng. Con nít mới lớn lên không vác nổi thùng đạn đại liên, ra trận thì không dám ngóc đầu lên, còn đi tải gạo, ba chục lít đã thở hò he. Do đó tụi tôi gọi là lính cò mửa và cho về nhà hết rồi.

Chín Nữa cười:

- Ông nói sự lích tại sao người ta nói Q Hai Chòi kìa.

Tôi nghĩ thầm: lại cũng chữ “Q” của ông Bảy Rừng Sát nữa rồi. Bính tiếp:

- Đó là bí hiệu kiểu H5, H6, nên trường của Hai Chòi mang tên Q1, trường ông Ba Râu mang tên Q2 và do sự muốn bắt rể của má cô Nhan mà bà con chế diễu rằng má cô Nhan muốn bắt Ql lẫn Q2. – Bính gật gù thích thú – Hai chàng Sơn Tinh lẫn Thủy Tinh đua nhau thi tài nhưng rốt cuộc nàng Công Chúa lại dông ra ấp chiến lược theo lính Quốc Gia.

- Tại sao vậy? – Tôi hỏi.

- Tại vì lúc đó ông Hai Tốt Trưởng ban Tài chánh của khu ẵm cả chục triệu nhảy ra Sài gòn. Ở trong này lính đói. Lính đói thì hà hà, Q3, Q4, QIO cũng teo nữa là Ql, Q2. Bà quán thấy không nên để cho cô con gái kiện tướng mình phí sức rót trà châm rượu cho Sơn Tinh Thủy Tinh nữa nên bay ra thành tìm Sơn Tinh Thủy Tinh Quốc Gia. Bởi vậy nên bây giờ Hai Chòi thì dẹp Chòi còn Ba Râu thì rụng râu.

-Ông kể chắc còn thiếu ! – Là đâm hơi – Phải chi ông nghe bài báo của nhà báo trứ danh Nhã Nam phát thanh trên đài Giải Phóng kìa mới đã đời. Bài đó tên là Kiện tướng Áo Hồng nghe mà rùng mình rỡn ốc. Tiểu đoàn 14 Tây Ninh bảo là Kiện tướng thổi phồng. Chuyện Q hai Chòi và Q Ba Râu dài lắm. Nhưng tôi chỉ nhắc thêm một điểm nữa thôi. Đó là thanh niên thanh nữ vô trường, học thì ít mà bắt cặp nhau giỡn hớt thì nhiều. Cho nên dân không để ở trong nhà. Họ phải kéo ra đóng trại ngoài rừng Lộc Thuận. Họ khuyến khích bà con ở vùng Cỏ Ống và Rừng Tre đào địa đạo theo kiểu kiện tướng Chín Nhan. Tức là đào cạn xều. Chỉ một trận mưa là sụp tiêu hết.

- Hầm gì dễ sụp vậy? – Tôi gặn hỏi.

- Hồi nãy em đã nói rồi. Cái gáy hầm phải dầy ít nhất là chín tấc hoặc một thước. Nhưng tụi lính cò mửa chỉ đào 6-7 tấc là trổ ngang. Chỉ mưa một trận lớn, nước ngấm là sụp tuốt không cần gì phải xe tăng càn.

Thấy mặt trời đã xế qua, Là giục:

- Thôi đi về, anh Hai! Mình về còn phải ghé qua thằng Tư Ếch bàn chuyện hầm hố. Mấy đứa này trốn công tác, chui kỹ như ếch, phải moi dữ mới ra. Do đó em phải tìm lâu lắm mới được. Anh coi, một cái hầm quan trọng như vậy một mình em đào sao thấu.

Năm Biền nói:

- Hồi trước chỉ là kiện tướng đứng miệng thí, kéo hai trăm ki . (ki chứ không phải kí, mỗi ki nặng chừng ba chục kí). Bây giờ chỉ bị cụp xương sống nên không đứng nổi mà cũng không đào nổi nữa.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 36

Trên miệng hầm ông Ba Xu


Thấy nắng rọi nghiêng tôi giục Là về trong lúc tiệc còn đang vui. Chúng tôi đi trên con đường mòn. Đi được một quãng, Là quay lại nhìn tôi và hất hàm:

- Có đi cày nổi không?

- Nổi chớ. Hồi ở nhà anh vẫn theo trâu cày ruộng nhà, bắt cá lóc trong lúc cày khoái lắm.

- Ở đây cày gặp miểng cà-nông chớ không có cá đâu.

- Nhưng sao em hỏi anh chuyện đó?

Là quay lưng đi không nói. Một chập mới lằm bằm:

- Nhìn gì dữ vậy?

- Nhìn gì đâu?

- Hai chị em ruột giống nhau như đúc, coi chừng lầm đó.

- Gì mà phải lầm.

Là cười sặc sặc và nói:

- Cô em có cái bớt trên cổ, nhớ nghe thầy Hai!

À ra thế, cô nàng lại lên cơn. Biết thế, tôi móc túi ra đưa cho nàng một gói giấy nhỏ:

- Cái gì đây? Của cô em kỷ niệm hả?

- Mở ra coi!

Là mở ra và kêu lên:

- Ớt! ớt ở đâu vậy?

- Bên góc chuồng trâu. Anh hái hồi lúc em vô nhà.

- Ớt này là ớt hiểm cay hơn ớt sừng trâu.

- Ớt nào mà lại chẳng ca… ay !

- Anh nói móc em há ? Được rồi !

Tôi cười dã lã. Nàng nghiêng mặt sát tôi:

- Anh là anh… của em không ai có quyền…

Tôi ngắt ngang.

- Quyền gì?

- Không ai có quyền động tới.

- Ai động tới anh đâu nào.

- Xí mới con nhỏ Nhã Nam Bắc kỳ lai, lại đến hai bà kiện tướng.

- Anh làm gì mà em la.

- Tụi nó nhìn anh chớ làm gì.

- Nhìn mà cũng cấm nữa à ?

- Tại sao anh nhìn lại?

- Có mắt để làm gì?

Là bí lối đành quay đi với vẻ giận dỗi. Đi được một khúc, Là trỏ tay vào một lùm tre:

- Dượng Chín mua rượu trong quán này ! (Là gọi Chín Nữa bằng dượng cũng như tôi). Quán thằng cha Hai Trâu.

- Tên gì kỳ vậy?

- Thằng chả đánh xe trâu mà ăn tiền mắc hơn các chủ khác nên người ta đặt tên vậy đó. Em ghét thằng chả lắm.

- Anh thấy ai em cũng ghét cả.

- Ừ em chỉ thương có một người thôi. Ai làm gì em nào?

- Em thương người nào chắc người đó phải sợ mất vía.

Là bật cười rồi nói:

- Thằng chả chỉ là cán bộ an ninh xã . Ở Sa Nhỏ này có bốn, năm cái quán, nhưng ổng cứ hạch sách làm khó làm dễ hoài. Ổng bảo chủ quán có liên hệ với lính bót Trung Hòa. Ai ổng cũng nghi ngờ. Vì vậy ổng không cho buôn bán. Để một mình ổng thôi. Vợ ổng ra vô chợ thì không sao cả! Trời bất dung gian đảng, có ngày vợ ổng bị lính bắt vô đồn cho coi. Vậy cho hết nghi ngờ người khác.

Đi với cô xã đội tôi hiểu thêm dân tình và địa vật. (Về sau khi chỉ huy Tiểu đoàn Quyết Thắng tôi rất rành đường quanh nẻo tắt của các thôn ấp.) Tôi hỏi:

- Bà con ở đây làm nghề gì em?

- Cũng ruộng rẩy thôi. Nhiều nhà làm nghề đươn đát, một số khác thì đánh xe trâu. Xe trâu thì cũng như xe bò. Nhưng trâu kéo được xe trong lúc trời mưa, còn bò hễ gặp mưa là phải nằm nhà mất công mất việc.

- Sao bò lại không chịu mưa được?

- Vậy anh không biết là bò sợ mưa à? Vậy mà lúc nào cũng quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng.

Là chỉ tay ra giữa cánh đồng bên phải có mấy cây sộp đứng lơ thơ cô độc, bảo:

- Anh nhớ nhé ! Suối Lộc Thuận ăn ra tới đó. Phía bên kia là Cỏ Ống thuộc xã Lộc Hưng quân Trảng Bàng. Tây Ninh, xứ của bà kiện tướng áo hồng và của bà Bảy Bề cũng kiện tướng áo hồng. Bà này cũng chuyên môn đi thành mua thuốc Tây cho mấy ông Tám Lê, Tư Chuyền, tụi thằng Quỷnh. Chà chà, anh mà gặp bà này thì anh nháy lia thôi.

- Cũng vậy nữa!

(Tuy Là nói chận vậy mà đúng thật. Sau này tôi gặp nàng Bề, một người đẹp.)

Tôi hỏi tiếp:

- Má không quen ai ở ngoài này à?

- Không, Bà con bên ngoại bên nội đều ở bên Bến Cát bên kia sông Sài gòn.

- Rồi sao sang bên này?

- Em không hiểu. Hỗm rày má đi về thăm bà con bên đó. Má đang ở nhà dì Ba… hí hí…

Đang nói bỗng Là bụm miệng cười.

- Cười gì anh vậy?

- Không, em cười ông Ba Xu.

- Ổng làm gì mà em cười.

- Em cười Dì Ba khi không mà được làm bà Tư lệnh Quân khu.

- Sao vậy?

- Thì ông Ba Xu mết dỉ chớ sao!

- Nói bậy đi. Đồn tầm bậy rồi có dư luận, ổng bị kỷ luật không làm việc được. Nghe ai nói, em phải cúp ngay.

Là vẫn lặng thinh, đi nhanh. Hai đứa vừa đi vừa nói chuyện. Ai không biết, tưởng là vợ chồng. Vùng này vườn tược còn xanh. Mít, ổi, vú sữa sai oằn. Chỉ vài dấu đạn rãi rác trên thân cây cau cây dừa. Bên đường, một ngôi nhà lá xập xệ trong đó có bàn ghế. Là bảo tôi vào nghỉ chân. Đây là trường học. Nền đất đã mọc rong và mặt bàn đã lên meo. Xung quanh khu rừng chồi phía sau có một đoạn giao thông hào sâu tới bụng. Có nơi đất sụp lấp lại gần đầy trên mặt.

Là bảo với giọng bất mãn:

- Ông thầy giáo vô ấp chiến lược rồi. Hở là họ chạy ra đó. Mà nếu ở đây cũng chẳng có học trò đâu mà dạy. Ba bốn cái trường nữa cũng y như vậy. Anh thấy con Rớt đó không? Mới bây lớn mà cho đi học rủi có đổ chụp, bố ráp thì thầy giáo làm sao mà cõng cho hết.

- Anh nghe nói Bàn Sõi, vậy nó đâu?

- Kia kìa. Cũng là địa hạt Đồng Lớn đó thôi, nhưng ở rìa Đồng Lớn về phía xóm Tầm Lanh có một cái bàn và ven bàn có nhiều đá sõi nên gọi là Bàn Sõi. Vùng này còn xanh tươi hơn miệt Hố Bò mình. Nhưng em đoán là chỉ nay mai thôi, nó cũng sẽ như Hố Bò. Ở đây chỉ cách bót Trung Hòa đường chim bay bốn cây số thôi, nếu không có vườn cây che khuất thì mình sẽ nhìn thấy cái chuồng cu của nó.

- Còn Đồng Dù?

- Đồng Dù ở phía dưới này, cách nhà mình chừng sáu cây số là cùng. Anh thấy chỗ trực thăng lên xuống là Đồng Dù đó. Cối cũng dư sức bắn tới đây mà. Cần gì đến pháo.

Tôi đứng trên vùng đất này nhìn bốn phía thấy đất khô dễ dàng di chuyển pháo. Có thể dùng xe trâu xe bò, không khổ sở như ở Trường Sơn. Bắn thì dễ rồi, nhưng bắn xong chôn giấu pháo ở đâu cho kịp? Chúng nó phản pháo chỉ trong vòng nửa phút. Và phản công bằng bộ binh trực thăng vận thì mười phút là cùng. Vườn ở đây mỏng và sạch sẽ. Chúng nó chỉ cần chấm tọa độ rồi đổ quân lục soát là tìm ra vũ khí của mình ngay. Tôi ngồi hút thuốc mà suy nghĩ miên man.

- Anh mơ cô nào vậy?

- Cô Hòa. Nhưng anh chán cô Hòa rồi.

- Nữ… a! Hòa nào?

- Anh mơ cô Đồng Dù !

Là cười khoe hai hàm răng trắng đều. Là cũng có duyên. Chỉ phải cái tánh bộp chộp và xốc nỗi như trẻ con. Là đến ngồi gần tôi:

- Anh làm sao oánh cho tiêu cái Đồng Dù thì mình mới sống được.

- Ừ để coi.

- Nếu không thì anh cũng phải quét thằng Trung Hòa. Để nó cứ đâm hông mình hoài khó làm ăn quá !

Nàng hỏi nhỏ.

- Anh cho ông ầm xuống đây em giấu cho.

- Ừ để xem đã !

Tội nghiệp cô bé mộc mạc ngây thơ này và các nường dũng sĩ. Các cô tưởng pháo bắn dễ lắm. Học sói đầu chưa biết có hiểu nỗi cái binh chủng pháo này chưa. Các cô mới đánh dăm trận làm rụng vài cái lông chân thằng Mỹ thì đã tưởng diệt được nó dễ dàng. Bởi thế bọn Hà Nội mới lợi dụng sự ngây ngô này mà đốt đít các cô các chú thừa thắng xông lên, chết bi nhiêu bi, miễn sao mấy thằng Trung ương cơm gà cá gỏi đều đều, Volga chạy tét mắt, vợ bé tì tì, miễn sao con cháu của họ đứa đi Đông Đức đứa đi Tiệp Khắc thì được rồi. Chồng cô Lụa, cô Tư Mai, và bao nhiêu thanh niên khác bỏ vợ con, ra đi biền biệt Phước Long, Bình Long không thấy về bởi họ tin rằng Trung ương yêu mến họ lắm lắm.

Tôi sắp châm điếu Capstan khác thì Là giục đi. Đi mút xóm Sa Nhỏ thì đụng một ngôi nhà đứng giữa vườn cau tơ. Đó là quán của Chín Khuân, con gái của Dì Hai tổ trưởng xe bò Sa Nhỏ chuyên môn tải gạo cho Hậu Cần R. (Tụi này hễ đi tới đâu là tổ chức người tới đó để nắm cổ họng không cho nhúc nhích) . Tuổi độ ngoài bốn mươi, Dì Hai người cao lớn tốt tướng quân sự hơn bà Ba Định nhưng chỉ làm chỉ huy trưởng mấy chiếc xe bò, Chín Khuân chừng mười sáu tuổi nhưng cao lớn như gái hai mươi. Đêm đêm tổ vận tải của dì hoạt động không nghỉ. Xe của dì đi đầu kế đó là một đoàn năm, sáu chiếc nối theo. Hai bên vài anh giải phóng vác súng đi theo hộ tống. Chúng sợ ăn cướp hay sợ máy bay? Chính chúng là một lũ ăn cướp còn sợ ăn cướp nào nữa. Còn nếu máy bay đến thì ba cây súng này bảo vệ được đoàn xe, hay chờ cho bò bị đạn rồi nhào tới xẻ ? Ghé vào quán Dì Hai, tôi mua đủ thứ. Như để trả thù những ngày mua phiếu ở ngoài Bắc. Cái quán cóc bị đe dọa hằng ngày mà mua gì có nấy. Chỉ thiếu máy bay tàu lặn là không có thôi.

Chín Khuân thấy Là cầm không hết bèn tìm cho một chiếc giỏ xách để đựng. Thoạt nghe radio nói oang oang, tôi lắng tai nghe. Thì ra đài giải phóng. Là cũng lắng tai một chút rồi nhăn mặt:

- Cũng ba cái US gô hôm nữa. Phát lúc này ai rảnh mà nghe. .

- Mấy ông bà trong Sài gòn đang uống cà phê buổi trưa nghe chớ !

- Uống cà phê thì phải nghe cải lương Minh Vương Lệ Thủy chớ nghe cái đó, uống mắc cổ chết.

Chín Khuân khịa vào hỏi Là. .

- Bộ miểng cà nông sao mắc cổ. Ông này ở đâu mới tới, coi bộ lạ hả chị Là ?

- Anh Hai tôi đó.

Tôi mua hai chai nước cam uống nước cho mát bụng, hút hết một điếu thuốc mới rời quán.

Ra đến đường, Là hất hàm:

- Coi được không?

- Cái gì được không?

- Con nhỏ mới lớn, anh kêu dì Hai bằng má không xứng đâu.

- Lúc nào em cũng coi anh là hạm đội cả.

Là cười hả hả .

- Anh vô nhà này vừa bán quán vừa đánh xe bò làm nhân viên của ông Bảy Hốt ở Xóm Dược được đó

- Ổng còn ở đó không?

- Đặng anh đến mua bình toong của bà Sáu Tiệm hả? Ổng nhảy qua Thanh An rồi. Bỏ bà Sáu lại đó còn trống chân, ủa, mà không phải, có một ông mùa thu khác trám vô rồi.

Đi hết xóm Sa Nhỏ chúng tôi đi vòng sang phía sở cao su Sinna, một hồi thì đụng con lộ đá ong đỏ chạch. Mỗi cơn gió qua làm dấy lên một ít bụi hồng. Đứng xa nhìn màu hồng đẹp mà xông đó thì hôi hám dơ dáy quá chừng. Mặt mũi quần áo đều đẫm bụi. Là kéo tay tôi đứng nép vào một gốc me, trỏ tay về phía bót Trung Hòa:

- Anh nhìn kỹ thì thấy lính ngồi trên chòi gác.

Tôi núp vào bụi lấy ống dòm ra nhìn thì độ chừng khoảng cách là bốn cây số.

- Gì mà sợ vậy anh ! Tụi em cứ đi nhan nhản như thường.

Tôi bảo:

- Mình thấy nó là nó thấy mình. Cũng có thể nó thấy mình rõ hơn mình thấy nó .

- Sao vậy?

- Vì nó có ống dòm, còn em không có .

- Pháo 105 của Trung Hòa bắn tới Bùng Binh, nhưng chỉ khi nào có trực thăng đổ chụp, pháo mới bắn dọn bãi. Còn súng cối nó chỉ thụt tới Ba Sòng, Gò Nổi, Tầm Lang, Bàu Sỏi hay Ràng, Trung Hưng.

Là vừa nói vừa chỉ tay các xóm trước mặt.

Nhìn thấy những người lom khom dưới ruộng thấp, kẻ cuốc người cày. Tôi hỏi:

- Đó là dân trong xóm này hả em?

- Họ gốc ở trong này, nhưng gần đây chạy ra ấp chiến lược Trung Hòa, Lào Táo, ban ngày về làm ruộng, ban đêm ngủ ở ngoải.

- Dân mình khổ quá. Ở ngoài kia thì bị cải cách ruộng đất ở trong này thì bị chiến tranh.

- Anh đem ông ầm, ký ở đây nã vào bót đó được không?

- Được chớ.

- Đó là bót lớn nhất ở vùng này. Nó có nhà việc cho hội tề các xã làm việc. Dân trong này ra, xã nào tìm hội tề xã nấy. Đến đó xin giấy tờ, xin tôn làm nhà, xin gì cũng được. Nó còn phát cho đài để bắt tin tức.

- Radio mà cho không à?

- Radio một làn sóng chỉ bắt được đài Sài gòn thôi. Nhưng bà con chê, không lấy, để đi mua Sony, Hitachi bắt được cả BBC và VOA.

(Vậy ta giải phóng Miền Nam làm cái gì?)

Đi một quãng nữa, Là bảo:

- Đây là xóm Trại Giàn Bầu. Có lẽ ở đây trồng nhiều bầu bí, nhà nào cũng có một giàn trước hoặc sau nhà.

Đi qua những lô cao su, tôi thấy tiếc vô cùng. Nhớ thằng giáo sư Liên Xô nó rươm rướm nước mắt hôm nó từ giã Củ Chi: “Các đồng chí phá cao su như thế này uổng quá . Nước tôi không trồng được”. Uổng con mẹ gì giáo sư ơi ? Bác Hồ không biết cả quý trọng con người. (Ông không thấy thanh niên phơi xác trắng Trường Sơn đó sao?) Cây cỏ thì sá gì? Đốn lớp này Bác trồng lớp khác. Có điều là chẳng ai thèm trồng, vì trồng xong Bác lại chặt phá. Là bảo tôi:

- Hồi sáng tới giờ anh em mình đi thành vòng chữ O. Bây giờ đi thẳng đường này vô Bàu Đứng.

- Anh biết rồi. Huỳnh Nga có chỉ cho anh.

- Anh đi với con nhỏ đó hồi nào?

- Thì hôm bữa anh vô bệnh xá ông Tư Chuyền rồi em vô kêu anh đi luôn Bò Cạp chớ hồi nào!

- Anh đi một mình với nó à?

- Thì cũng đi như đi với em bây giờ chớ mấy mình.

- Hứ! Đi với nó là khác, đi với em là khác chớ sao như đi với em được.

- Ừ, thì khác !

- Con nhỏ đó là con quỉ. Đừng có thấy nó làm bộ con nít mà tưởng nó hổng biết gì.

- Anh có nói nó hổng biết gì đâu ?

Là quay mặt nhìn tôi và dừng lại.

- Hả ? . . . Bộ . . . bộ anh mê nó rồi hả ?

- Anh không mê ai hết, ai có mê anh thì mê !

- Cả xóm Hố Bò đều biết nó léng phéng với thằng cha Tám Lê y sĩ. Mụ Thắm vợ thằng chả ghen bỏ ăn bỏ uống, ốm xanh ốm xao như con mắm trở. Em thấy mòi cả hai con yêu tinh đó chíp anh rồi. Một ngày vô hai lần tìm anh. Trưa vô chiều vô. Làm bộ công tác dân vận. Ai cầu mà tới dân vận tôi? Em bắt thóp tụi nó mà.

- Còn ai bắt thóp em?

Là bật cười:

- Em hổng có thóp thép gì hết.

- Để anh nói cái thóp của em cho em nghe.

- Thôi đi em không muốn nghe.

Đến ngả ba Bàu Đứng, Là bảo:

- Hồi 62 ở đây có cái trường học. Xóm này vui lắm. Bây giờ tản lạc hết.

- Từ đây có đường về Hố Bò không?

- Có chớ! Vùng này chỗ nào em cũng lội tới. Bây giờ còn ghé một chặng nữa rồi về nhà. Em phải tìm cho được thằng Tư Ếch và con Út Nào. Hai đứa đều là kiện tướng đào hầm cả . Em bắt tụi nó ngay. Nếu không, làm xong ruộng, tụi nó sẽ ra ấp chiến lược Trung Hoà, trời kêu không về !

Tôi kêu mỏi chân. Là bảo ngồi nghỉ, để một mình nàng vô nhà kiếm Tư ếch. Một lát trở ra, nàng bảo Tư Ếch không có ở nhà Vừa quay ra thì gặp Út Nào.

Út Nào đon đả hỏi:

- Đi đâu đây ta? Lại hầm với hố phải không?

- Lần này thì hầm to mày ơi.

- Ai vậy?

- Anh Hai tao ở R mới về .

Người con gái nguýt ngang cười, che miệng rồi quay sang tôi giọng dí dỏm:

- Chào anh Hai ! Thôi mời anh chị vô nhà .

Là càu nhàu và đấm lưng bạn:

- Tao đã nói là anh Hai tao mà mày hổng tin thật hả con quỉ?

- Ái uôi da! Mày đấm tróc phổi tao! Tin chớ sao hổng tin. Đào hầm gì nữa đây ông nội?

- Ông Ếch lặn ở đâu?

- Ổng đi lò rèn gần bìa sở Đất Thịt lấy cái lưỡi hái về cắt cỏ cho bò ăn.

- Hỗôm rày xe có hoạt động không?

- Tổ của dì Năm sắp rã rồi.

- Sao rã vậy.

- Ông Bảy Hốt trả tiền thấp quá. Ba chủ xe đã vô ấp chiến lược Cầu Ván rồi. Còn một chủ thì bò bị chặt chân. Còn lại một mình dì Năm. ..Ối mà thôi, .nhiều chuyện lẹo tẹo lắm.

- Vận tải gạo thì ông Bảy ổng trả tiền, nếu thấp thì đòi thêm. Cách mạng thì phải hi sinh mỗi người một chút, tiền đâu có nhiều mà trả nhiều như thời trước.

- Thôi đi bà nội. Bà lập trường cao thì đi xe vài chuyến thử coi. Ngồi xe chai đít, lại còn bom pháo dội trên đầu, trả một đêm hai trăm, coi được không? Nhưng cũng không phải chuyện đó mà tổ xe bò rã đâu.

- Vậy chuyện gì nữa.

- Mày hỏi con Chín Khuân, nó nói cho nghe.

- Thôi thôi tao biết rồi. Xếp nào lính nấy. Bữa nào rảnh mình xốc một bữa lo xong cái hầm cho…

Là kề tai nói nhỏ. :

-Được không?

- Hổng được đâu. Vùng này nhiều người ra ấp chiến lược dữ lắm. Họ nói tùm lum ra tụi Trung Hoà biết nó gởi đạn vô đây cũng đủ tiêu rồi. Lại nữa đang lúc mùa mưa, ai lại đi đào hầm?

- Khẩn cấp mà mậy !

- Hễ công tác thì cái nào ở trên cũng khẩn cấp. Ông Trâu ở nhà bán quán cũng khẩn cấp như thường.

- Nói vậy rồi mày không tiếp tao một tay à cô kiện tướng.

- Tiếp thì tiếp nhưng phải có ông Ếch chớ hai đứa mình làm sao thấu. Mày cụp xương sống rồi, bây giờ đâu có kéo đất nổi nữa.

Là bàn bạc với bạn một lúc rồi về. Ra đường, nàng sừng sộ với tôi:

- Anh thấy không? Ở trên đổ xuống cho em. Cái gì cũng em hết. Nhưng em đâu có chỉ huy được ai?

- Nhưng tại sao ở trên bắt em phải đào hầm cho ông Tư Lịnh?

Là cười khúc khích:

- Vụ này cũng tại Dì Ba.

- Dì Ba nào?

- Dì Ba Tư lịnh quân khu.

Tôi ngớ ra một lúc rồi nhớ ra. Là nói tiếp:

- Các ông lớn đều như thế cả . Có ông nào thiếu bà nhỏ đâu. Ông Ba Xu ở với Dì Ba lâu rồi.

- Sao em biết rõ vậy.

- Mấy đứa cháu trong nhà nó bắt gặp ổng bả nằm dưới hầm ló hai cặp chân ra.

Tôi lặng người ra, không nói gì được. Là búa thêm:

- Em thấy chỉ có mình anh là đàng hoàng thôi đó. Bởi vậy nên em thương anh!

Một chập Là tiếp:

- Dì Ba nói em làm xã đội bên này. Ổng bảo: hiện giờ đồng chí cũng không dám tin. Nay đồng chí mai chiêu hồi. Nó về khui hầm bỏ mẹ. Chỉ có bà con, cha mẹ không phản mình thôi. Do đó ổng bảo em tìm hầm cho ổng.

Đó là một chân lý mới trong gian khổ chết chóc ở Củ Chi. Là tiếp:

- Ổng có nói với Dì Ba cái vụ Hai Tốt ôm cả chục triệu bạc ra Sài gòn nữa. Dì Ba phải bỏ tiền ra cho ổng nuôi cơ quan. Làm bà Tư lịnh để nay mai sạt nghiệp cho coi.

Cái chân lý của ông Ba Xu nêu ra có khi đúng. Cô xã đội phó Là có thể chiêu hồi trở về chỉ hầm của ông Tư lệnh Quân khu nhưng mà cháu Là không thể chỉ hầm bắt Dượng Ba mình. Chân lý đã rõ ràng, Cộng sản còn tìm đâu cho mệt. Sách vở nào hơn. Dượng cháu là quốc gia. Đồng chí là quốc tế . Cái quốc nào cao hơn đáng tin cậy hơn?

Đến lúc mặt trời xuống thấp ngang ngọn Rừng Chồi, Là mới rẽ vào rừng. Nàng cho tôi xem một cái hầm cũ và hỏi:

- Anh còn nhớ cái hầm này không?

- Có chớ. Nay cũ quá rồi. Làm sao ở được.

- Hổng sao đâu. Các ổng bắt đào vậy thôi chớ không bao giờ xuống.

(Chẳng ngờ Là đoán sai. Về sau bị đuổi nột quá Ba Xu phải chui xuống hầm. Rủi thay bị Mỹ trên đầu. Chính Là phải vượt qua sông Sài gòn kêu tôi đem quân về nhử cho Mỹ ra khỏi chốt. Thầy Xu Ba Đình bò lên được ngất ngư. Chuyện này tôi sẽ kể sau.)

Trời chiều mát mẻ, lá rừng lao xao. Là kêu:

- Em mỏi chân quá trời.

- Ngồi nghỉ một lát rồi về.

- Em đi hết nổi rồi.

Tôi móc tấm ni lông trong lưng ra trải xuống đất. Là để cái giỏ xách đầy những hàng hóa mua ở quán Dì Hai. Nàng lấy bánh in ra đưa cho tôi. Chúng tôi ăn và uống nước chung một bi đông. Là rủ tóc, lau mồ hôi, thấm một ít nước trong bi đông vào chiếc khăn nhỏ lau mặt. Bỗng nàng nhìn tôi:

- Em sượng quá trời.

- Ai làm gì mà sượng?

-Đứa nào gặp anh cũng tưởng anh là…

- Gì… của em phải không?

- Dượng chớ không phải là dì.

Rồi Là kề mặt nàng sát mặt tôi, nghiến răng nói.

- Em móc mắt anh mới được!

- Em không cho anh lấy cự ly bắn pháo à?

- Em cho anh bắn pháo nhưng không cho nhìn ai hết.

- Nhìn có chết ai đâu mà em làm dữ vậy.

-Trong cái nhìn còn có cái khác nữa chớ phải nhìn suông thôi sao?

- Cái khác là cái gì?

- Em ghét con Nhã Nam nói bóng nói gió… ơ gặp lại anh sau. Sau là chừng nào? không có gặp gì nữa hết.

Là nói như có Nhã Nam trước mặt.

- Con nhỏ Bắc kỳ lại nói láo tổ bà . Chín Nhan mà tưng lên làm kiện tướng hứ! Rồi hai chị em con nhỏ Năm Biên nữa. Làm gì mà nhìn anh dữ vậy, như muốn hốt hồn người ta ấy. Bộ hồi đó tới giờ không gặp Mùa Thu sao? Rồi đến cái con Út Nào nữa.

- Em nghi tất cả mọi người.

- Ừ, đúng đó . Em dè gặp nhiều đứa như vậy thì em nhốt anh ở nhà đóng cửa hầm luôn, không cho đi một bước.

Rồi nàng ngã lên ngực tôi, rủ rỉ:

- Anh biết chị Lụa cũng thương anh không?

- Tầm bậy nào!

Tôi quát khẽ và muốn quay ra nhưng nàng càng giữ riết.

- Em thấy mà .

- Thấy gì?

- Em thấy hồi sáng chỉ nhìn theo anh đi.

- Nhìn thì sao? Con Rớt cũng nhìn vậy.

- Trong cái nhìn có cái khác.

- Nói bậy, cái miệng cứ lãi nhãi không để kéo da non.

- Em còn thấy chuyện khác nữa.

- Chuyện gì?

- Em thấy chị Lụa giặt quần áo anh. Chỉ vò thiệt lâu. Xong rồi chỉ đem phơi, chỉ căng ra thật kỹ. Khi quần áo khô chỉ lấy vô chỉ xếp rồi chỉ đưa lên mũi chỉ hít hít hai ba lần.

Tôi biết Là nói đúng, nhưng tôi gạt ngang:

- Đó là tình cảm của một người em đối với người anh cả trong gia đình thôi.

Là càng dựa hẳn vào tôi ôm chằm lấy tôi là như nàng là… của tôi vậy. Tội cố tránh né, nhưng da thịt con gái quá ư hấp dẫn. Tôi chỉ có thể ngăn tôi một cách ất vả trước những chuyện Là đòi hỏi. Nàng lục túi áo và ví của tôi lôi ra những chứng minh thư nhân dân tôi mua và thằng Hùng tặng ở Xóm Giữa. Nàng vứt tung và nói trong hơi thở dồn dập:

- Em không sợ có con với anh. Em muốn có con với anh.

- Anh có vợ rồi.

Là như không nghe, nàng cứ trườn lên người tôi và làm mọi cử chỉ táo bạo rồi hỏi:

- Anh muốn con trai hay con gái đầu lòng?

- Khoan! Để chờ cưới hỏi đã, em!
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 37

Hội ve chai chống Mỹ:
Hai ngày ba tiệc lớn.



Tôi vừa bước vào sân thì thằng Lũy, con Lượm, con của chị Tám chạy ra kêu:

- Gớt ơi Gớt! ! Cậu Hai mày về kìa !

Thằng Lũy nói:

- Tao thấy trước.

Con Lượm cãi lại.

- Tao thấy trước mày.

Bé Rớt chạy vấp ngạch cửa té, nhưng không khóc lồm cồm đứng dậy chạy nhào ra ôm lấy tôi và khóc mùi làm như tôi đi vắng lâu lắm. Là lững thững theo sau với cái xách hàng, với vẻ mệt mỏi và chán nản. Nàng nạt con Rớt:

- Làm gì dữ vậy hả?

Tôi giơ tay lấy chiếc giỏ, lấy bánh kẹo ra phân phát cho đám trẻ. Lụa đứng trong cửa nói vọng ra:

- Rớt để cậu Hai vô nhà con!

Tôi bế bé vào. Thấy cái radio trên vai tôi, Lụa hỏi. Tôi thuật lại chuyện gặp dượng Chín Nữa . Ổng chê cái radio cồng kềnh, nên cho tôi. Kỳ tới sẽ bảo vợ mua cái khác. Bé Rớt cầm bánh kẹo nhưng không ăn. Nó vừa quệt nước mắt vừa nói lia lia:

- Ở nhà có người đi kiếm cậu, một ông có một mắt, còn ông kia đầu bạc. Hai ông chờ.

- Chờ lâu chưa?

- Chờ hồi còn nắng. Vừa mới đi.

Con Lượm đáp. Lụa bảo:

- Một Sơn và Út Tiêu chớ ai ! Mấy ông dưới Gót Chàng nghe anh về cho người lên đón.

Vừa đến đó thì hai người lót tót vào. Là nạt ngay:

- Đây xuống đó ảnh đi lấy không được sao mà phải rước?

Một Sơn nói:

- Bà nội không biết chuyện nhà binh, đừng có xía vô !

- Nhà binh thì nhà chớ. Ảnh mới về, ảnh ở nhà chờ má tôi gặp mặt rồi đi đâu mới đi. Anh đi đánh giặc mấy chục năm rồi không phải mới đi. Mấy ông không coi tình mẫu tử ra cái gì hết sao lại lập Hội Mẹ Chiến sĩ làm gì? – Là quen mặt mấy người này nên nói càn ngang – Mấy ông làm quá đáng, tôi giấu đồ đạc của ảnh hết cho ảnh đi mình không.

Tôi không nói gì, bảo Lụa nấu nước châm trà. Và tôi rút gói Capstan ra mời khách. Vừa rót trà thì một ông khác tới. Một Sơn giới thiệu là Chín Tiền, người ốm ốm, mặt thỏn, dân mùa Đông được rút vào, làm trợ lý Ban Cán bộ. Chín Tiền xoa xoa tay nói:

- Thưa anh, ở trên nghe nói U80 gởi người xuống đây khẩn cấp, nên cho tôi ra trạm đón. May quá, gặp anh vừa tới.

- Tôi tới hôm qua nhưng nhân dịp chờ giao liên, tôi đi với cô xã đội phó một vòng xem thực địa và giúp cô ấy mấy ý kiến bố phòng thôn ấp.

Chín Tiền nói:

- Dạ, anh Tám Quang Trưởng phòng Chánh trị Quân khu đã nhận được điện trên R báo cách đây một tuần rồi. Anh Tám chưa thấy anh xuống thì rất sốt ruột định cho người đi đón khúc trên Trảng Cỏ. Anh Tám dặn anh Bảy Tùng cho người ra hờ sẵn ở đây hễ anh đến thì rước về liền để mười giờ sáng mai anh làm việc với anh Tám.

Là nói ngang ngang:

- Đây đó đạp xe chỉ một tiếng, còn cuốc bộ thì hai tiếng. Tôi đã nhờ anh Tư Thêu qua Bến Chùa rước má tôi chắc cũng sắp về tới. Để anh tôi ở lại một đêm cho má con gặp nhau hổng được sao? Có gì quan trọng dữ lắm sao anh Chín?

- Gì thì tôi không biết chớ tình hình này căng lắm. Bên anh Chín Lộc cho hay, tụi Sâu Rọm đã câu vô Đồng Dù năm khẩu 155 và 175.

Lụa biết tâm lý mấy ông cán hễ gặp là nhậu, nên không năn nỉ thêm Chín Tiền mà cứ tự nhiên bày tiệc ra và mời mọi người. Lụa còn bảo Một Sơn mời chú Tư Thiên qua chứng đám nữa. Chú Tư đi ba đồng bảy đổi về nhà hồi xế. Vừa bước tới cửa chú đã nói:

- Rượu chưa đi hết mùi lại rượu tới.

Tôi ngồi tránh qua một bên dành chỗ cho chú.

- Hai ngày ba tiệc phải không chú? Không cần mồi nhiều có ba cái nước cay là đủ rồi.

Chú Tư cười khè khè :

- Nuốt ba cái thứ đó vô rồi, cà-nông nổ bên hè cũng không chạy.

Chín Tiền hít vô rồi, nhưng làm bộ than:

- Chà, kiểu này thì khuya mới đi được đó anh Hai.

- Khuya mấy tôi cũng đi!

Vừa nói tôi liếc mắt nhìn Là đứng ở gốc cột. Là hỏi ngay:

- Bên nhà chú còn cây dầu vuông nào không chú Tư, cho cháu mượn đỡ đi. Anh Chín bắt gắt quá chắc anh Hai cháu không nán lại chờ má cháu về được. Bữa tiệc này coi như bữa tiệc tiễn chân anh cháu.

Chú Tư đáp ứng ngay:

- Đứa nào giỏi giò vọt qua nhà tao lấy luôn một cây với một xị đem qua đây mình đánh úp luôn. Để dành đến mai biết có còn sống mà uống hay không? Leo lên bàn thờ rồi, ai có rót ngự tửu vua ban mình cũng đâu có uống được.

Đốn ngã mấy cây của chú Tư, Chín Tiền nằm tại mâm. Một Sơn ôm gốc cột cho chó ăn chè. Chú Tư đi ba xí ba tú về nhà, vừa đi vừa nói thơ Lục Vân Tiên, coi pháo Đồng Dù Trung Hoà Bến Cát chẳng ra cái dem nào.

Tôi định đi nghỉ cho khỏe để ngày mai áo mão vào chầu thì bốn trự nữa kéo tới. Toàn là học trò pháo vừa mới vừa cũ của tôi. Ba Tố, Năm Đừng, Hai Chi, Út Lộc. Trường pháo vừa bãi khóa, họ về địa phương hoạt động bằng AK, CKC chớ pháo tép cũng không có, lấy gì mà hoạt động. Mỗi người mang một cái radio, Năm Đừng và Hai Chi mỗi người xách một con gà. Radio thì hát, gà thì kêu rùm trời. Lụa quát.

- Vặn nhô lại để nghe tiếng pháo đề pa các chú ơi !

- Đề pa đề bốn gì mặc kệ. Cải lương Sài gòn buổi tối nghe mùi rệu, bỏ uổng.

Ba Tố vỗ vai, bắt tay tôi, cười hắc hắc, nói như la:

- Nghe thầy về dưới này tôi khoái quá ! Ở đây, người ta chê pháo binh mình mạt cọng. Có thầy về mần vài cú cho thiên hạ lát mắt coi!

Năm Đừng tắt radio máng trên đầu cột rồi nghiêng mặt nhìn vào miệng hầm:

- Có đủ chỗ chứa không?

Tôi nói.

- Dư sức mà . Hổng ấy tôi quay lưng ra. chiu cho !

- Hồi kháng chiến thì thầy đã chịu một phát che đạn cho nhị tẩu Tô Ký và Ba Xu rồi, bây giờ tính làm phát nữa hả.

Hai Chi vừa cởi súng để lên nắp hầm vừa nói:

- Kỳ này thì mình phải đỡ đạn cho thầy. Ông Tố dày cơm dùng làm cửa hầm được lắm. Còn mỏng cơm như tôi đạn

xuyên tuốt.

Là háy:

- Người chớ bộ dừa khô hay sao mà mỏng cơm dày cơm.

Chi chập sau là khói lửa lại mịt trời. Tôi phải chầu ba (Chín Nữa, vừa xong tiệc, bây giờ lại tiếp) có hơi khẳm, nhưng cũng ráng múa để học trò cười. Ba Tố hỏi tôi:

- Bùi Khanh đã tuyên bố với ai chưa thầy?

- Khi tôi sắp đi thì ổng vô bệnh viện rồi. Trường mình tản lạc hết. Sắp sát nhập với trường Trung Sơ (Trường Lục quân của Giải phóng). Tôi kể lại chuyện anh em ăn dưa hấu hụt, ai nấy nghe đều cười lăn.

- Còn bà Mai Khanh đã thành bà Chánh ủy pháo chưa?

- Chuyện đó còn trong vòng bí mật.

- Bí mật cỡ vụ Ái Mỗ không? Nó nổ ra, thầy lại phải đi điều đình.

- Kỳ này nếu sắp nổ thì ổng cho bả đi Sài gòn đánh đặc..công.

Tôi nói với Ba Tố:

- Bữa nay tôi đi một vòng để quan sát địa thế. Bào Cạp, Sa Nhỏ, Bàu Đứng tiêu điều quá. Dân đi gần hết Củ Chi.

- Nó vẫn đó thầy. Không giống hồi thầy về lần trước hụ hợ với Tư Linh trong việc đón tiếp ông nhà báo. Hồi đó tàu chạy từ Dầu Tiếng xuống Bình Dương hàng ngày. Bây giờ chỉ có tụi Giang thuyền thôi. Nó chơi cú độc nghe. Lơ mơ vọt qua sông là bị nó đấy. Cán nhà mình bị rồi. Còn tụi Trung Hòa ỷ có Đồng Dù đã dám bung ra tới Gò Nốc, Tầm Lanh, Ràng, phục kích rượt bắt du kích giữa ban ngày. Còn trên trời thì đầm già khu trục chơi đều đều từ Phú Hòa Đông trở lên Bùng Binh. Vụ pháo kích Biên Hòa coi bộ không đủ làm cho nó bớt đi các vụ oanh tạc.

Ba Tố gặp tôi như được dịp xổ bầu tâm sự, nên tuôn thêm:

- Ông đầu hói Năm Thủ bị ông Năm Lê nạo sát ván, đi đâu không dám ngó mặt ai, cái Ban Dân Quân của ông già Sáu Nâu và Năm Cai có làm rụng lông thằng Mỹ nào, nhưng nhờ ba cái hầm chông ẩu, địa đạo láo, lựu đạn gài suông cựa mà báo cáo được một số thành tít, nên không đến nổi gục mặt dọc đường 15 chứ cái H6 của mình lâu nay mọc rễ ở Bến Mương bị coi là đơn vị co cụm số 1 Quân khu.

- Chớ mấy ông mình ở đâu?

- Ông Sáu Phấn thì tối tối đạp xe về nhà vợ, còn Hai Giả thì ăn dầm nằm dề ở nhà bà Má Mười vì con dâu của bả mới góa chồng. Vậy đó. Đại đội phòng không 12/8 của tôichui kỹ chớ dám ló ra bắn máy bay à? Muốn bắn một chiếc máy bay phải có pháo yểm trợ dập tụi Trung Hòa và Đồng Dù, thì mới dám khai hỏa, chứ nếu để nó rảnh tay thì nó nện mình tan tành xí quách ngay. Tụi này bắn ác hơn bất cứ tụi nào từ trước tới nay. Du kích Bến Mương nổ có một phát vào chiếc trực thăng bay qua mà nó gởi một trăm trái pháo.

- Sao ông biết một trăm?

- Thì dân họ đếm từng lỗ pháo, tính hết mọi thiệt hại để thưa xã ủy tụi du kích…

- Ê, ông đừng có kêu tụi này tụi nọ nghe, mai mốt có chuyện cần đừng có kêu.

Thấy cô xã đội sân si, tôi quắc mắt:

- Anh Ba nói sự thực để rút kinh nghiệm nội bộ em à. Làm người lãnh đạo, em cũng nên lắng nghe nhân dân phản ảnh chớ. Đây là những người có 15-20 năm cầm súng không mà!

Tôi vụt nhớ và kêu lên:

- Tôi quên cho bồ nhà pháo mình hay. Một ông thượng tá su hào mới được đưa vào làm phó tư lệnh bên cạnh ông Hai Nhã và Tư Khanh.

Ba Tố nói:

- Bọn Nam kỳ mình bao giờ cũng đóng vai trò dọn ổ sẵn cho người ta đẻ. Mấy năm trước dân mình lót đường. Năm nay đường suông tụi nó mang lon mang gáo vô ào ào. Mấy ông không nhớ hồi ở ngoài F330 à . Một thằng su hào trẻ măng hai sao hai gạch đại diện Bộ Tổng vào truyền lệnh gì đó. Ông Hai Nhã nhà mình hồi đó là Hai Nho tóc bạc tuổi đáng bố nó lại phải đến chào nó cái cụp và nhận lịnh cái rụp.

- Thì nhà binh phải vậy chớ kêu cái gì.

Ba Tố hăng hái hầm hàm hậm hực xổ nguyên ra phang:

- Thì phải thế rồi. Nhưng coi chướng mắt quá. Nó là trung tá hồi nào? Còn ông Hai Nho quần với Tây chín năm mới lãnh lon Trung tá? Đây rồi khi cách mạng thành công Bắc kỳ sẽ ngồi hết các ghế từ Thủ Tướng cho tới tổ trưởng Hợp tác xã không trống cái nào. Còn dân Nam kỳ mình thì càng ngày càng bất mãn càng chưỡi thề càng bỏ về nhà, rốt cuộc thằng còng làm thằng ngay ăn.

Tôi gạt ngang vì sợ mâm rượu trở thành cuộc họp chống Bắc kỳ và chết vì Bắc kỳ . Cũng may, giữa lúc đó có tiếng hò nghêu ngao từ phía nhà chú Tư vọng lại:

Sông Sài gòn vừa trong vừa mát.
Đất Hố Bò thơm ngát sầu riêng
Ai về tới xóm chú Tư Thiên.
Hò xem cô xã đội còn trùm mền đợi ai. . . ơ. .ơ

Bé Rớt chạy ra cửa nhìn rồi vỗ tay reo:

- Chú Tư chăn bò! Chú Tư chăn bò !

Lụa rầy con hỗn. Là ngó ra:

- Bộ chưa ăn cơm chiều hay sao mà hát như bò rống vậy ông thiếu úy đánh xe bò?

- Nè đừng bắt chước con nít hỗn với người lớn nghe ! Dù sao tôi cũng là bạn với ông anh Ha… ai của cô nghe ! Tôi đến đây để cho cô biết bà già không có về được vì giang thuyền hàn ngay khúc Bến Dược.

- Tụi nó ngăn cả bà già sáu mươi nữa hay sao?

- Cô biểu bà Năm Đang đem đạo quân đầu tóc của bả ra mà đánh trâu chí trạnh đòi tụi nó rút về chớ tui hổng mần gì được. Gạo của ông Bảy Hốt mua xong rồi mà còn nằm ỳ đây không chở về bên đó được ! Ủa mà quên chớ ! -Tư Thêu giơ cái cà-ròn lên – Bà Sáu Tiệm (hay Sáu Tĩnh cũng thế) nghe thầy Hai về, bả nhắc lên lấy cái bình toong của bả tặng.

Là trố mắt:

- Thứ bình toong bể, hổng thèm!

- Còn đây là hai kí lươn bông bả gởi cho thầy um sả nước cốt dừa tẩm bổ.

Là phóng tới giật chiếc bao ném ra giữa sân và hét:

- Trả cho bả ? Bộ ở đây không mua nổi ba thứ đó sao?

Tư Thêu cười hắc hắc nhìn tôi nháy mắt. Tôi hiểu ý nói:

- Ông thiếu úy giỡn chơi đó mà ?

Tư Thêu cười:

- Ba trăm đồng lương của tôi tháng này đó bà cô !Tôi mới lãnh xong định gởi về cho mẹ đĩ đang ở cữ, nhưng thấy lươn vàng nên mua xách lên đóng góp nhậu chơi chớ bà sáu đâu có thơm thảo dữ vậy mà cô em nổi tam bành?

Ba Tố xoa tay:

- Vậy ra thằng em mày có một cục để trên đầu trên cổ rồi hả? Bẹp hay ngỏng? Đặt tên gì chưa? Nhớ lớn lên đừng có cho đi tập kết như bố nó nghe. Chết cũng ôm gốc dưa mà chết ở trong này.

Bị Ba Tố dồn một hơi chới với:

- Tên thì tôi đề nghị đặt là Thùa nếu gái . Bố Thêu con Thùa thì vô đề rồi. Còn nếu trai thì đặt là Chui, Phóng, Dông, Sảy… !

Mỗi người góp một câu làm bữa tiệc vui loạn. Ba Tố nói:

- Bữa nay mình thành lập hội Ve Chai Chống Mỹ như hồi ở Sơn Tây được đó ông Thầy.

- Phải ! Nhưng thiếu quán bà Ba Cạo và thiếu tá Phụng!

Tôi kêu lên:

- Tôi gặp ổng ở trên R. Ổng đang đi giải quyết vụ Phùng Văn Mười. Bữa đó, tụi này với Bùi Khanh đi bắn thực tập DKZ ở Bổ Túc. Lính của tôi thấy bầy heo, tưởng là heo rừng. Nó để một phát con heo mẹ nằm ngay chừ. Xách dao tới xẻ thịt thì té ngửa ra. Đó là heo của cơ quan tự túc. Thằng thủ trưởng đến khóc, cái miệng méo xẹo như cái 1…bị bão. Tôi rút tiền ra thường. Thì ông Phụng tới. Hỏi ra cớ sự, ổng bảo: Tụi này cũng thèm thịt bỏ bố. Đem về chia ra nhậu rịu chớ thường bồi cái đếch gì. Thế là thay vì mất tiền lại được bữa thịt no tới cạnh tai.

- Ổng là thủ trưởng cơ đó à?

- Ổng không phải là thủ trướng nhưng ổng cao cấp hơn thằng thủ trưởng.

- Tàng dân Bắc cờ tôi chỉ chấm có thằng cha đó là chơi được thôi !

- Bậy nào! Nói vậy sai chánh sách Nam Bắc một nhà.

- Nình bà con gái Bắc kỳ bỏ cho ai? Há há…

Tiệc rượu lại bùng lên với đề nghị lập Hội Ve Chai chống Mỹ, mỗi người một câu, mỗi kiểu ca ngợi cái tổ chức bán hợp pháp này mà tiền thân nó là Hội Nhậu trường Pháo Sơn Tây gồm những chiến tướng của làng nước ngược và trụ sở đặt tại quán bà Ba Cạo. Tôi hỏi Ba Tố:

- Ông nhớ hồi mãn khóa “I” mình liên hoan ở quán bà Cạo, ông nội nào say rồi vô mùng bả không?

- Nhớ chứ sao không. Bả đâu có la lối gì. Một tiểu đội dzô bả còn không la nữa là một đứa. Hừ hừ! Thời Pháp bả cũng bán quán, bán cả nọ kia với tụi sĩ quan Pháp nữa mà.

Năm Đùng bỗng rót rượu tràn ly cối và chắp tay nói với giọng run run không biết cảm động giả hay thiệt:

- Ông Ngai ông Địa vong hồn Tư Quảnh và Ba Tô Đê sống khôn thác thiêng về phò hộ anh em.

- Hai thằng trưởng phòng leo bàn thờ một lượt không kịp nhắn nhủ gì lại hết với vợ con.

Ba Tố gạt phắc:

- Ê! Hội của mình phải ra điều lệ mới là khi tác chiến không được nói chuyện buồn nghe. Hể nổ là xốc tới không có khóc khóc mếu mếu nghe.

Hai Chí tán thành:

- Ừ đúng! Hội của mình chiến đấu tới gục thôi, không có la áo áo như gà rót.

- Nay mai rồi cũng tới phiên mình thôi.

- Nữa xin các bạn cúng tôi một cặp giò gà nghe !

- Giò gà cạp không đã bằng đùi…

- Ê, đừng khai ra chuyện bê em cu ếch (BMQS) nghe cha. Thằng Chín Tiền nó ghi vô lý lịch bỏ mẹ !

Chín Tiền đã tỉnh dậy ngồi tóp ve bên góc cột, khúm núm:

- Dạ, mấy anh nói vậy chớ em đâu dám ạ !

- Ghi thì ghi nhiều nhiều một chút. Đổ luôn lọ mực Ba-ke (Parker) lên đó cũng được.

- Ê cậu nào có đi đắp đê kể lại chuyện tắm sông nghe chơi ta !

Ba Tố bảo:

- Cậu đi chớ ai nữa.

Út Lộc bảo:

- Tôi đi có một lần, ông đi thường xuyên! Đê vỡ cũng đắp. Đê không vỡ cũng đắp. Đắp đê là phụ, tắm sông mới là chánh, phải không ông Tố.

- Ừ, tắm sông lặn mò cá rô mới đã . Hễ bữa nào mò trúng thì bữa sau bắn pháo đạt 100%.

- Mấy cô nàng cũng thích tắm sông với anh đội miền Nam rữ rội chớ hả . Há há . . .

- Anh đội khỏe ngư… ời lại xinh trai, ba ván liền không bỏa ván lào!

- Xạ giàn ngoài vậy thôi chớ có cậu nào đột nhập vào trong thâm được đâu.

- Thôi dẹp đi ! Nhắc mấy cái chuyện xa vời đó uống rượu gắt cổ lắm. Chuyện hiện giờ mới hay.

- Chuyện bây giờ phải rữ Bem!

- Ông nào có xuống địa đạo chưa?

- Hà hà… Bây giờ tới phiên ông thầy khai pháo hả?

- Cái địa đạo nó ra nàm thao thầy tỏa cho tụi này nghe với để rút kinh ng…ẹm.

Cả mâm rượu cười rần. Là đứng nghe lóm chuyện BM nãy giờ, ra miệng:

- Anh Hai đừng có bị mấy ổng kích nghe chưa?

- Anh Hai không có bị kích thích đâu cô xã đội. – Ba Tố gật gù – hay là . . .

- Chắc ổng bị kích thích nên mới xuống địa đạo đó chớ. Thiệt là hay. Ngoài Bắc thì đi đắp đê, còn trong này thì đi đào địa đạo. Toàn là chữ đê.

Là quát:

- Mấy ông say rồi nói bậy nghe !

- Hổng phải toàn là chữ “đ” à?


Đắp đê đã đời đi đào địa đạo đã đời.




- Ai mà nói cho lợi mấy cái miệng của mấy ông pháo.

- Miệng pháo cũng là miệng sao nói không lợi?

- Thôi thầy Hai kể chuyện xuống địa đạo đi!

- Tôi mới coi hồi chiều chưa có xuống.

- Địa đạo của ai mà thầy coi được, giỏi vậy hả?

- Của cô xã đội chớ còn của ai!

- Nói vậy thầy được cô cho xuống địa….

- Không mới coi thôi!

Cả thiên hạ cười rầm lên. Út Lộc phun cả rượu ra ngoài.

- Há há.. . Thế là thầy biết cái địa đạo của cô xã đội rồi !

- Ừ ừ cổ giữ kín lắm! Không ai biết nổi đâu. Thiên hạ chỉ đoán chừng thôi.

Là gắt yêu:

- Anh Hai ! Bộ anh nói gì với mấy ông trời đó hả ?

- Anh đâu có nói gì đâu.

- Hổng nói sao mấy ổng… cười em?

- Thì anh chỉ nói là em cho anh coi…

- Mới có coi thôi mà, cô xã..ã.. đội! Đừng sợ mất màu.

Tôi nhìn Là:

- Em giỡ ra cho anh coi hồi chiều không có à?

- Anh đòi coi chớ không phải em….

- Ừ thì anh đòi coi rồi em cho… coi chớ sao.

Mọi người cười ngắc ngơ. Bàn tay đập vào vế, vỗ vào mặt ván ly chén nhảy tưng lên. Một chập, im lại. Ba Tố hỏi:

- Thế nà thầy đã thấy cái miệng địa đạo rồi phải không?

- Thấy rõ rồi !

- Nó ra nàm thao thì thầy phải nhớ nghe.

- Nhớ chớ đâu có quên.

- Anh Hai ! Là thét – Em có một cái đó thôi. Lâu nay em giấu biệt. Chỉ mình anh biết thôi. Lần trước anh đòi coi, nhưng rắp quá em không cho coi, lần này mới cho…

- À, vậy ra thầy Hai đòi coi hồi năm ngoái kìa à?

- Ừ, lúc nào ảnh cũng muốn coi cho được mới nghe.

- Vậy mà thầy Hai giấu tụi tôi nghe.

- Chưa có kết quả nói ra làm gì.

- Năm nay thì có kết… ỏa rồi. Hí hí…

Lụa đứng ở bếp nghe ngóng nãy giờ. Nàng bưng dĩa lươn um lên nói:

- Đây là um sả ớt nước cốt dừa ! Mời mấy anh.

Là vẫn còn trả treo với Ba Tố về vụ địa đạo. Lụa quát:

- Đồ khùng. Người ta nói chuyện khác, hiểu không? Ở đó mà cãi giống!

Là cứ cãi giống:

- Anh Hai đòi xem địa đạo thì em cho coi địa đạo chớ chuyện khác nào?

- Thôi, đi xuống múc thêm dĩa lươn um đem lên đây.

Là đang đi xuống bếp, bỗng quay lại:

- Nhưng mà em quên, em chỉ cho ảnh xem cái hầm cá nhân của em chớ đâu có cho cái gì khác.

Ba Tố chụp lấy câu nói:

- Vậy là hay lắm rồi. Cô em cho xem cái… cái cá nhân của cô chớ không cho xem cái của tập thể.

- Em chỉ cho xem thôi chớ ảnh chưa có dùng, anh nghe chưa?

Năm Đùng gật gù:

- Thì mới có xem thôi, chừng nào gặp hoàn cảnh thuận tiện ổng sẽ dùng.

Hai Chí tiếp:

- Từ coi tới dùng mấy hồi.

- Ảnh chê !

- Chê sao?

- Chê là hầm hẹp ngột ngạt, ảnh không thích.

Cả mâm tiệc lại cười ré lên. Lụa đẫy Là đi xuống bếp.

- Đi đi bà ơi ! Người ta nói lóng mà cứ rống lên cãi !

- Lóng gì?

Tôi bảo:

- Để bữa nào anh nói cho nghe cô xã !

Ba Tố nói:

-Thôi dẹp địa đạo đi nghe thầy Pháo. Bây giờ xoay qua Hội Ve Chai chống Mỹ của mình. Chiến đấu cho đúng luật. Không được chạy làng. Bỏ trận địa thình lình phải phạt.

- Phạt cách nào?

- Uống ba cống một phát.

- Chưa ngon! Uống bằng lỗ mũi! Để trong bình toong mà trút!

Tiếng nói của ai từ ngoài của vọng vào.

- Không được ! làm như vậy mất sức khỏe…

À ! ông bác sĩ nhảy phóng Tư Chuyền với một bầy ết coọc: hai cô Nga, thằng Quỹnh, thằng Bốn. Năm Đùng tuyên bố:

- Đi đến trễ phải phạt.

Tư Chuyền cười:

- Phạt gì thì phạt! Sợ gì!

- Hổng sợ thì tui cho ông phải sợ !

Năm Đùng và út Lộc nhảy xuống ôm đè Tư Chuyền, đầu ngửa trên cạnh ván. Hai Chi đè chân. Ba Tố lấy bình toong rút nút đổ vô miệng. Tư Chuyền nuốt ực hai ba cái rồi sặc phun tứ tung. Y quặc đầu qua một bên làm rượu tràn ra ngoài ván. Ba Tố chìa bình toong cho tôi bảo:

- Thầy Hai đổ dùm. Tôi kềm cái đầu y.

Tôi cầm bình toong:

- Thằng chả chết, ai săn sóc thương binh?

- Thằng chả sống thằng chả cũng không săn sóc được vì hổng có thuốc men. .

- Làm như vậy thằng chả thù, nay mai bọn mình bị trặc tay trầy chân sơ sơ, vô bệnh xá thằng chả cưa bỏ mẹ!

Mấy người nghe tôi nói cười ồ và thả ông bác sĩ ra. Tư Chuyền ngồi dậy, nước mắt nước mũi ròng ròng, tóc tai xơ xài, vừa quệt lia vừa ho:

- Các cha chơi ác hơn tụi ma-rốc hồi kháng chiến.

- Tha vụ này, còn phạt vụ khác. .

- Ừ, phạt đi.

- Ông phải nộp hailít đế.

Tư Chuyền cười khảy:

- Đế tui không có. Tui thế rượu cồn 90 chữ được không?

- Rượu cồn là rượu gì? Rượu 1… hay rượu cồn? Cồn nào Cồn Lớn hay Cồn Lăng?

- Rượu cồn là rượu dùng trong nhà thương để sát trùng, chứ cồn lớn cồn lăng gì ?

- Có cay không cha nội!

- Cay rách phổi chớ sao không cay. Tui sẽ mang ra nộp cho bữa tiệc một tĩn bốn lít.

- Ừ được rượu gì cũng uống, miễn cay thì thôi.

Một ông già đột ngột ló vô ngực trần với sợi dây nịt to bản, tay cặp nách cái chai. Hai Chí reo lên:

- Chú Tư! Mời chú vô! Bữa nay có đủ mặt quân dân chánh đảng đủ hết.

Tôi hỏi:

- Bộ chú hết chết rồi hả .

- Cũng đang ngất ngư thôi, nghe bên này hát bội thì mang qua một lít giúp vui. Cái này tui trữ lâu lắm. Để dành chống bịnh thời khí.

- Bịnh đó, đừng lo. Cà-nông bắn chạy mất hết rồi. Đem vô đây cho Hội Nhậu chống Mỹ.

- Tụi mình bầu chú Tư mần chủ tịch Hội Nhậu đi!

Út Lộc đứng lên cao gần đụng nóc nhà vung tay.

- Ừ chủ tịt ranh rự hội nhậu chống Mỹ muôn năm.

- Chủ tịch rêm xương oải cốt lắm, chỉ muốn nằm thôi.

- Ừ nằm lãnh đạo cũng được. Đề nghị hoan hô ông chủ tịch nằm bằng cách cụngn ly úp gàu cho cạn nè!… Hội Nhậu chống Mỹ muôn năm muôn năm!

- Muôn năm! Muôn năm!

Lụa bảo:

- Các chú la nho nhỏ để nghe pháo đề-pa mà lủi!

Chín Đùng quát:

- Đả bảo là Hội Nhậu chống Mỹ mà pháo thụt thì lủi là cái gì?

Lụa bảo thằng Quỹnh và Bốn:

- Hai em ra ngoài sân ngồi canh dùm chị. Rồi chốc nữa vô ăn sau. Chị để dành lươn um cho. Quỹnh canh pháo Đồng Dù, Bốn canh pháo Trung Hòa. Hễ nghe nó đề-pa thì la lên cho trong này lủi mới kịp.

- Dạ ! Mấy ông cứ việc nhậu chống Mỹ đi ! Để tụi em canh cho.

- Phải sánh tai nghe.

Lụa vừa dứt tiếng thì… Hụp! Hụp!… Hụp.

- Chun hầm! Chun! Nó thụt.

Mọi người nhào lăn xuống đất. Vài người chui vô hầm.

Tiếng nổ rung rinh mặt đất. Đèn bị đạp đổ. Trời đất tối om. Đầu đụng cột lộp cộp. Trẻ con khóc như ri. Lụa kêu:

- Rớt ơi ! Rớt !

Mấy tiếng nổ không xa lắm, nhưng đủ làm cho mọi người rối loạn. Tôi ngồi nép bên mình hầm nhìn lửa lóe qua kẹt vách. Tôi quát:

- Chui vô hết đi. Nó đang thay đổi tầm hướng khác đó.

- Thầy Hai khóa chốt à?

- Bậy nào, để thầy vô trong.

Tiếng nổ ngưng. Trong không khí có tiếng e e e kéo dài.

Trời như vỡ ra từng mãnh. Một tiếng hỏi.

- Đồng Dù hay Trung Hòa.

- Trung Hòa. Đây là pháo 105 không phải cà nông của Đồng Dù.

Một loạt tiếp rơi xa hơn. Tôi bấm đèn pin và đốt đèn lên.

Lụa bảo:

-Nó quay họng lên Bùng Binh, Rừng Tre rồi!

Tư Thêu chép miệng:

- Hổng biết mấy con bò tôi có sao không.

- Chắc là đạn đi trớt lớt lên tới đường số 6.

- Nó có bề gì thì không có xe tải gạo, lính đói cả bầy.

Chập sau, sóng lặn gió im. Mọi người lóp ngóp bò lên.

Chú Tư Thiên cười khoe cái miệng móm:

-Thôi dẹp đi cái Hội Nhậu chống Mỹ ! Tại các cha thành lập nên nó chào mừng đó.

Ba Tố phủi đất trên đầu:

- Dẹp sao được mà dẹp chú ? Nó làm cữ này rồi là mình tha hồ múa lân tới sáng. Bắt gà làm thêm chớ.

- Ba con lươn bò lển nghển ra ván kìa.

- Ai có u đầu chảy máu gì thì kêu bác sĩ có sẵn ở đây.

Là nói giọng quạu đeo:

- U đầu chảy máu gì. Nó cho một trái ngay nhà…

- Thì hốt thịt xương về làm ruốc, lo dữ hôn cô xã đội ?

Một giọng nào phát ra từ hầm, giống như giọng Năm Đùng.

- Ê lên! tiếp tục chiến đấu chớ nằm vạ ở dưới đó sao cha!

- Hổng giỏi hô Hội Nhậu muôn năm nữa đi !
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 38

Vành đai thép:
Chục rưỡi hang ếch!



Qua một đêm thức trắng, tôi ngồi sau bọt-ba-ga như một bao cát cho Một Sơn đèo đi. Con đường ngoằn ngoèo vạch qua rừng Hố Bò rồi ra Trảng Bàu Bưng băng xuyên Sở Đất Thịt tới Xóm Trại Bà Huệ . Hai đứa ngồi nghỉ tại bìa Rừng Làng gần chợ An Nhơn. Một Sơn chỉ vào lùm tre dọc đường lộ 7, bảo nhỏ:

- K10 của ông Năm Lê nằm ở chỗ đó, anh Hai!

- Sao ổng ở gần đường lớn quá vậy? Ổng không sợ tụi Trung Hòa thọc huyết sao?

Một Sơn lắc:

- Tụi Trung Hòa chỉ bung tới bìa ruộng Gò Nổi, ít khi đi xa hơn. Ở Lô Sáu vững lắm. Ở vùng này chỉ sợ Mỹ đổ chụp mà thôi. Ở đó mấy ông dựa vào địa đạo của thằng Ba Xây xã đội phó xã An Nhơn.

- Nó có địa đạo khá lắm à?

- Thì cũng dăm ba hang, mỗi hang vài chục thước. Nếu gặp trường hợp cấp bách thì chui xuống đỡ chừng mười người trong vòng nhiều lắm là một ngày thì được.

- Rủi nó chốt trên miệng thì sao?

- Chưa bị lần nào nên chưa biết anh à ?

Hút tàn điếu thuốc, hai anh em lại tiếp tục cuộc hành quân. Một Sơn đạp băng qua đường 7 xe hố qua đường xe dứa Gót Chàng tới nhà má Ba là phòng thường trực của Ban Cán Bộ. Chín Tiền đã vọt về trước báo cáo rằng đêm qua tôi ốm nên không thể đi được. Chín Tiền lật đật đưa tôi đi ngay:

- Nếu ổng có hỏi tại sao về trễ thì anh cứ nói như thế nghen!

- Công tác gì mà gấp dữ vậy?

- Tôi không biết nhưng thấy ổng có vẻ sốt ruột lắm.

Vừa đạp xe, Chín Tiền vừa kể chuyện:

- Phải chi anh về sớm sớm thì còn ăn sầu riêng măng cụt xứ Gót Chàng đã đời! Bây giờ anh thấy không, toàn là cây cụt đọt, một trái dừa khô cũng khó kiếm. Dân đi hết. Người nào gan góc lắm thì đứng lại nhưng dỡ nhà lấy cột làm hầm. Như vậy mới chịu nổi cà-nông. Nói thì nói vậy thôi vì chưa có hầm nào bị đạn nhểu ngay, chứ rủi nó nhểu trúng thì không biết thế nào !

Chín Tiền dắt xe đi vòng vo qua nhiều mương vũng, dưới nước còn lều phều những mảng chất cháy của bom na-pan kho như bọt nước vàng khè hoặc đen thui thì đến một túp lều.

Chín Tiền rỉ tai tôi:

- Ổng kia kìa.

- Ai ?

- Ông Tám Quang.

Coi cái vẻ khúm núm của ông cán bộ mùa đông mà tôi suýt bật cười. Từ trong lều chui ra một ông nữa. Thế là hai ông. Một béo phị, một gầy như khô cá lẹp. Tôi bước tới đứng nghiêm xưng tên chức vụ nhưng không giơ tay chào theo lối chánh qui. Ai lại chánh qui nửa mùa như vầy được. Hai ông đều mặc đồ bà ba mốc cời. Không có quân đội nào ăn mặc như vậy. Tám Quang vỗ vai tôi cười hắc hắc:

- Cậu còn mang tác phong chánh qui quá hả. Tốt lắm! Tôi đang chờ cậu sốt cả ruột đây.

Tôi nhớ ông hồi 47 trẻ quá. Giảng viên trường chánh trị mê chị Dưỡng, con gái ông Ba Dương… Bây giờ đầu bạc trắng! Đứng bên cạnh ông là một ông già gầy gò lưng khom khom, miệng móm mặt mũi hom hem. Tám Quang giới thiệu với tôi:

- Đây là anh Tám Hà, phó phòng, mới về nhận trách nhiệm. Cậu ở đây một chốc Chín Lộc sẽ đến rước cậu về làm việc. Cậu có quen Chín Lộc không?

- Dạ có nghe tên.

- Ổng là chính trị viên kiêm Trưởng ban Quân Báo. Còn Sáu Huỳnh là Phó Ban.

Tám Hà cũng vỗ vai tôi:

- Bỏ ba lô trong hầm đó nghỉ chút. Có động thì hầm ngoài vườn kia. Còn nếu nó chụp thì có người dắt mình đến chỗ lặn. Vậy là yên tâm rồi chứ?

- Dạ, mấy anh sao tôi vậy. Tôi cũng quen vùng này ít nhiều từ 1946.

- Ủa, dữ vậy lận à.

- Dạ hồi đó tôi đi với anh Ba Tô Ký . Hồi năm ngoái tôi cũng có về đây một thời gian ngắn.

Tôi đứng hầu chuyện với ông Phó phòng chưa ráo mồ hôi thì một cô bưng mâm trà đi qua mặt. Tám Hà bảo:

-Đi xuống hầm uống trà.

Tám Quang đã ngồi sẵn ở bàn. Ông hỏi tôi ngay:

- Cậu coi tôi có khác trước nhiều không?

- Dạ không khác bao nhiêu. Tôi thấy anh là nhận ra thủ trưởng liền!

(Đã tiếp xúc nhiều lần với mấy ông lớn, nên tôi thuộc tâm lý của các cha. Ông nào cũng già khú rồi nhưng muốn cho mình nói trẻ, để các ổng tưởng rằng mình còn có khả năng với các bà Bành.)

Tôi tiếp:

- Hồi ở Rừng Sát thủ trưởng khoảng ba mươi.

- Gọi bằng anh cho thân mật!

- Lúc đó anh Hai Huy làm chính trị viên Phân khu miền Duyên Hải còn ông Năm Hà, tức Dương văn Hà em ruột ông Ba Dương, tức là Dương văn Dương làm Tư Lịnh. Anh làm giảng viên Trường Quân Chính đóng ở Chiến khu Bà Bông Vũng Gấm. Lúc đó anh hay mặc áo ba bà, tay rộng theo kiểu các nhà chính trị thời bây giờ. Còn tôi ở trong Ban Rùm Beng của Trung Đoàn 300 Dương văn Dương đi lưu động khắp miền Duyên Hải để diễn kịch và hát cho Vệ quốc đoàn nghe. Ban này có đến hát ở Bệnh Viện ông Bảy Viễn, trường Quân Chính của anh và các Chi Đội thuộc Bình Xuyên. Hồi đó anh Ba Thắng làm tiểu đoàn trưởng trong trung đoàn 300.

Tôi dẫn chuyện đến chỗ giáp mối giữa hai ông Thắng và Quang thì ngừng lại. Tám Quang tiếp ngay:

- Ảnh đã điện cho tôi cách đây một tuần lễ, nói tóm tất về công tác của cậu. Cậu sẽ móc thằng em làm đại úy Thủy Quân Lục Chiến. Chắc cậu rõ rồi chứ gì?

- Dạ rõ .

Tám Hà đã rót trà, Tám Quang vừa dứt lời thì ông mời ngay. Ông nói ngang ngang không có vẻ tôn trọng cấp trên là Tám Quang trẻ tuổi hơn ông:

- Mời bà con làm liền cho ấm bụng!

Tám Quang cũng lễ độ mời lại. Cả ba uống trà. Tám Quang chép miệng:

- Gần hai mươi năm mới gặp lại cậu. Nếu không có thơ Ba Thắng thì tôi không nhận ra cậu. Mới là Đồng Tử Quân nhõng nhẽo mà bây giờ đã là giáo viên sĩ quan Pháo Binh.

- Thì cũng bằng tuổi anh hồi đó, anh Tám.

Tám Quang ló đầu ra hầm la:

-Mấy đứa con gái coi chừng khói lên um đó.

- Ủa, ở Trường Sơn sợ khói, ở đây cũng sợ khói nữa sao anh Tám?

- Ở đây còn sợ hơn ở Trường Sơn nhiều vì Đồng Dù và Trung Hòa gần lắm! – Rồi ông la – Cơm nước có gì dọn lên đi, trưa rồi. Nó có đổ chụp mang bụng đói.

Hai cô gái mặt tròn nhưng xanh xao bưng cơm lên. Tôi liếc sơ thấy có đậu phụ và đậu phộng kho. Hai thứ đậu họp lại chẳng ra cái thứ gì.

Tôi ngồi trước mâm cơm cầm đủa mà ngẩn ngơ. Không phải vì sự gian khổ trong thời chiến (ăn thế này có gì là khổ. Còn sướng hơn dân xã nghĩa miền Bắc bội phần là cơm trắng.) mà vì cái sự bịp đời của ông Trưởng Phòng Chính Trị Quân Khu. Ai ai cũng biết rằng bà má của ông vừa vô thăm và cho con tạm 80 ngàn đồng, vì chưa kịp thu lúa ruộng. Ngoài ra các thứ cầm tay khác, như xe đạp Pờ-rô, đồng hồ, radio, bút máy và vàng lá… Cái xắc-cốt của ông Trưởng phòng treo trong góc hầm kia không chỉ đựng kế hoạch chính trị mà còn đựng bạc Sàigòn. Vừa rồi, để thi hành công tác đón tiếp các nhà báo Liên Xô, Pháp, Úc, ông trưởng phòng đã phải đứt từng đoạn ruột đưa cho Tư Linh chiếc xe Pờ-rô mới tinh để đèo thằng Bọ Chét nặng tạ hai, và xùy ra một số bạc chiêu đãi các em dũng sĩ để Tư Linh và tôi đạo diễn cái màn địa đạo chiến cho hắn quay phim trình bày ra quốc tế.

Thế nhưng cơm nước đãi chú em đồng tử quân thì toàn là đậu kho. Nhìn mâm cơm này ắt hẳn những xấp bạc Sàigòn trong xắc-cốt ngứa ngáy lắm thì phải. Nuốt những miếng cơm nhai với đậu phụ đậu phộng như kéo chà tre qua cổ mà tôi nhớ bữa tiệc của Hội Nhậu chống Mỹ tối qua. Thịt gà, lươn um còn thừa bộn bàng. Rượu thì đủ để đổ lỗ mũi năm ông bác sĩ như Tư Chuyền .

Và tôi liên tưởng tới bác Hù vô giàn kính yêu. Bác có hai loại thuốc bỏ túi: một là Craven A, hai là thuốc lá quốc doanh sợi đen như cứt chó. Thằng nào khỏe mấy hút hết một gói cũng phải đi nhà thương ho lao. Craven A thì dùng để hút trong nhà sau, còn quốc doanh thì để dành mời cán bộ. Cũng như thằng nhà thơ bịp Tố Hữu, thằng phê bình mạ kền Hoài Thanh ca ngợi bữa cơm đạm bạc của bác chỉ có bát canh rau và hai con cá lòng tong kho! Vâng, bác ăn xong rồi thì nốc nước sâm đặc Triều Tiên và xơi “bòi” cừu dái bò Mông Cổ, Hoài Thanh và Tố Hữu làm sao ngửi được?

Tám Quang cũng thế. Cháu của bác mà ! Có điều lạ (nhưng rất thông thường) là ở Các Cơ quan từ R xuống khu, các ông thủ trưởng đều dùng thiếu nữ để phục vụ cho mình. Đám nữ sinh Sàigòn ham theo Cách mạng vô khu bị nhốt trong cái chuồng đầy những cọp già và đói thịt mông thịt đùi. Xuống đến trường Trung Sơ cũng thế. Bây giờ lại cũng thế, cũng cứ muôn năm như thế.

Để tỏ vẻ biệt đãi ông cán bộ trẻ và quen biết cựu trào, Tám Quang lấy cái nhạo kiểu (chắc của chủ nhà bỏ lại) và mấy cái ly pha lê (không rõ lượm ở đâu) rót rượu mời:

- Anh Tám và chú em làm chút. Có thứ này tôi mới bớt oải gân mà làm việc và chạy mà lủi và ăn cơm thấy ngon hơn.

- Anh Tư Khanh đi đâu cần vụ cũng mang theo trong ba lô cho ảnh.

- Cậu còn trẻ uống vô coi chừng nguy hiểm.

- Dạ không sao ! Rượu của anh Tư ngâm cả lộc nai bao tử nhím mật gấu tôi uống vô cũng không thấy nguy hiểm gì hết.

Tám Quang cười:

- Thứ lộc nai, trẻ như cậu uống vô coi chừng nứt da đấy.

Tám Hà cười khẩy:

- Cậu ta không có em nuôi hay chị nuôi thì lấy gì mà nguy hiểm.

Tám Quang có lẽ hơi thấm rượu nên đỏ mặt làm thinh. Đang cưa qua cứa lại thì có tiếng đờn cò của con đầm già lửng lơ trên không trên mé sông Sàigòn. Tám Hà chưa quen thủy thổ hỏi .

- Nó ở đâu tới vậy?

Tám Quang buông chén cơm đứng dậy ló đầu ra miệng hầm rồi thụt vô bảo.

- Chắc từ Đồng Dù ! Hổng tốt rồi anh Tám! Nó phăng phăng đâm thẳng tới đây.

- Mấy đứa có coi chừng khói kỹ không?

Tám Hà tái mặt hỏi. Tám Quang không đáp. Ông ta quơ súng ống và xắc-cốt chui ra hầm.

- Dông anh Tám và chú Lôi !

Tám Hà cũng nhanh tay lẹ chân không kém, tóm thu đồ đạc và vọt theo. Ba người chạy ngang bếp, thấy bếp còn bốc khói, Tám Quang dậm chân:

- Dập đi..i!

Tôi lót tót theo sau, tay còn bưng chén và cơm, mắt ngó con đầm già trên trời. Một tiếng quát không biết của ai.

- Nó quần trên đầu không thấy sao?

Tôi đi tới cái hầm ở bên gốc me thì thấy hai cô đang đứng nép vào thân cây và cười khúc khích:

- Bộ chưa ăn hỏa tiễn lần nào sao ông rờ?

Tôi vẫn ăn cơm như thường, cười đáp:

- Hoả tiển thì chưa ăn còn rờ thì cũng chưa!

- Bộ ở trển không có đầm già à?

- Toàn là đầm trẻ .

Tiếng hỏa tiễn xé không khí khào…ào…khào…ào nghe hơi gần. Một cô hỏi.

- Nó bắn đâu vậy?

- Đâu phía ngoài Cây Điệp – Cô kia đáp – Xa lắc !

- Chỉ hơn hai cây số, xa gì ! Mình ở đây hay lên hầm bác Tám?

- Ở đây thí thân với nó. Bom đìa thì hầm nào cũng vậy thôi.

Thấy tôi lua hết chén cơm, một cô hỏi:

- Anh ăn nữa hông, em xúc thêm cho.

Tôi gật. Cô gái đến lấy chén chạy vô bếp rồi trở ra với cơm và thức ăn đưa cho tôi. Tôi vừa ăn vừa ngó chừng. Hai chiếc thần sấm lao xuống, tiếng rít xé trời. Bom nổ rung rinh vách hầm. Bụi đất đổ rào rào. Tôi ném ba lô xuống đất ngồi lên, hỏi:

- Hai cô không sợ à?

- Kêu bằng em coi được không? Em tên Thảo, con nhỏ đó tên Thơi. Bị hoài nên cũng bớt sợ.

- Nhà này sao còn có cái nền trơ vậy?

- Chủ nhà dỡ xuống, bỏ cột kèo dưới mương, rồi ra ấp chiến lược. Cả Xóm Gót Chàng dài ra Xóm Bưng hễ thấy nhà là đầm già phóng hoả tiễn. Có người chỉ dỡ nhà trên, còn giữ lại nhà dưới để ở nhưng lại không ở được rồi cũng ra ấp chiến lược luôn.

Thảo thấy tôi tém chén, hỏi:

- Ăn nữa thôi, đưa em bới.

- Tôi ăn hết nồi không còn cho mấy em.

- Ừ ăn hết thì ăn. Tụi em nhịn cho eo eo cái mình một chút.

Tôi để chén đũa xuống đất, quệt miệng rồi lấy thuốc rê ra hút
(chơi theo kiểu cụ Hồ. Gói Capstan tôi còn trong túi nhưng trước mặt thượng cấp thì tỏ vẻ đạo đức.)

Phì phá khói thuốc, nhìn hai cô em, tôi sực nhớ đến Ba Ánh trên R. Dân Bình Khánh, em của Nguyệt đồng tử quân. Thời gian đi nhanh quá. Cô Nguyệt đã có chồng con đùm đề . Cô em giống hệt chị. Không biết bao giờ mới gặp lại nhau và về nhà ăn tôm nướng với nàng. Tôi lại nhớ vụ khi Tà Bon ăn B52 hôm nọ mà đau lòng. Bức thư Ba Ánh tôi nhận được sau bức thư Thanh Tuyền hai ngày. Ánh cũng nói cái kiểu đi công tác xa, vô bệnh xá. .. Sau vụ đó, không ai được gởi thơ. Ngoài phong bì đề người gởi là Ba Thắng. Bên trong, Ánh nhắc lại công tác. Dưới cùng có mấy dòng chữ của Ánh. Bức thư tôi vẫn còn giữ trong ba lô, bao nhiêu chữ của Ánh tôi thuộc lòng… Anh ơi, em buồn lắm! Không biết anh ở đâu?…Tôi cũng không biết tại sao Ánh thoát chết và ở đâu bây giờ.

Thảo hỏi tôi:

- Anh về công tác văn phòng hay ra đơn vị chiến đấu?

- Anh chưa biết. Tôi đáp và hỏi lại – Cây Điệp có gì mà nó ném bom?

Thơi đáp:

- Nó có nhiều bom nên đụng đâu thả đó. Tại ngả ba đâu có nhà cửa gì. Chỉ có con đường đi thẳng xuống Sở Cao Su Bàu Lách rồi có lối rẽ ra đường 15 xóm Bà Thiên gần Sở Cao Su Đỗ Cao Lụa toàn là cây cao su già . Có lẽ nó thấy cây cối um tùm ở bìa Xóm Bưng gần nhà chị Bảy Mô nên nó muốn cào cho trống. Bên này bây giờ cũng y như An Thành. Ở bển lớp khu trục, lớp bị trực thăng chuồn chuồn lồng kẽm (trực thăng của Tân Tây Lan) chỉ huy pháo bắn tan nát hết. Bà con chạy xuống Bình Dương không còn nhà nào.

- Sao em biết rành vậy?

- Em ở bên đó chớ đâu phải dân Củ Chi.

- Ở bên đó mà vùng nào?

- Gần tiệm Dì Ba Láng, anh biết không?

- À! Dì Ba của tôi đó.

- Nói thiệt chơi đó ông Rờ?

- Thiệt mà ? Má tôi là má Hai ở Hố Bò .

Thơi đấm lưng Thảo. Hai cô cười khúc khích. Thảo nói:

- Vậy thì anh mau lên chân lắm.

- Tại sao?

- Anh hổng biết tại sao à?

- Không – Tôi ngơ ngác.

- Vậy anh kêu ông Ba Xu bằng gì?

- Bằng Thầy Xu.

- Chớ hổng phải là Dượng Ba à ?

Tôi vỡ lẽ ra rồi. Thơi cãi lại:

- Anh này không phải con má Hai ở Hố Bò đâu.

Tôi nói.

- Con nuôi chớ không phải con ruột.

Thơi “A ? ” lên một tiếng to rồi im bặt. Tôi ngạc nhiên nên hỏi gặn. Hồi lâu Thơi mới nói:

- Anh vừa đi với cô xã đội Là tới nhà Chín Khuân phải không?

- Phải.

- Chín Khuân bà con với tôi, ủa với anh cô cậu của tôi. Ảnh về phép gặp Chín Khuân hôm qua. Chín Khuân bảo ảnh: con xã đội nó đi cặp kè với ông nào bảnh lắm. Nói vậy ông đó là anh đây chớ gì. Hèn chi ! – Rồi Thơi tiếp – Chị Nhã Nam cũng quen với anh hả? Chị ấy ở đây mà. Chỉ tới đây làm việc với bác Tám rồi đi. Ít ngày lại trở về.

Tôi nghe hơi bất ổn trong lòng. Những chuyện dọc đường dọc sá của mình đều có đường dây móc nối với nhau hết. Không khéo đây rồi dư luận lan ra. Tôi nói:

- Hôm qua tôi đi quan sát địa hình với cô xã đội phó, dọc đường có gặp nhà báo Nhã Nam, chớ đâu có chuyện gì mà hai cô hỏi gắt vậy?

- Thì tụi em đâu có nói chuyện gì..ì!

Thảo quay lại hỏi:

- Anh coi con gái An Thành có khác con gái Củ Chi không?

- Khác khác nhưng không biết khác chỗ nào.

Thơi cướp lời:

- Chỗ nào cũng khác hết. Con gái Củ Chi đẹp hơn con gái Bình Dương.

-Thiệt à?

- Để khi nào anh gặp chị Bảy Mô, Tám Phụng, Tám Mang coi anh có lé con mắt không mà ?

Tôi đóng kịch:

- Tôi nghe đồn nữ dũng sĩ Bảy Mô lâu rồi mà chưa gặp.

- Chỉ biết đờn nghe anh, không phải lủi vô đít ông Táo như tụi này đâu. – Thơi tiếp – Anh mà xuống Phú Hòa thì anh phải biết. Con gái ở đó…

- … đẹp như con Thơi vầy nè.

- Ủa Thơi ở Phú Hòa à ?

- Dạ. Công trường 9, d7, d2 về đóng ở đó mắc rể bộn hè ! Sụp hầm chông cũng kha khá . Anh muốn đi em chỉ đường cho, em giới thiệu cho nữa.

- Thôi ! Anh có vợ rồi !

- Láo đi ông nội! Anh có vợ thì má Hai nhận anh làm con nuôi để làm chi?

- Con nuôi là con nuôi chớ để chi?

- Con nuôi hóa ra con rể mấy hồi phải không?

- Nếu anh không chịu thì em giới thiệu cho chị Bảy Mô hay chị Tám Mang.

- Bậy nào, chị Tám Mang người ta có chồng rồi.

- Chỉ vừa hứa với anh Sáu Hoa, anh của chị Nga bệnh xá của ông Tư Chuyền thì bị thương cụt hai chân về R an dưỡng còn chỉ ở lại đây tìm mối khác. Vậy anh vô cũng tốt chớ có sao.

Câu chuyện hào hứng làm cho chúng tôi quên cả phản lực nhào lộn trên trời. Không biết nó đã ném hết bom chưa mà con đầm già cun cút lủi đi trong mây xám.

Một chú bé chạy đến:

- Bác Tám bảo anh ra ngoài hầm làm việc, còn chị Thảo nấu nước đem ra.

Tôi đứng dậy theo chú bé, Thơi nói vói theo:

- Nhà em ở xóm Phú Mỹ gần thất Cao Đài kế bên nhà chị Bảy Mô đội trưởng dũng sĩ nghe! Khi nào có dịp ghé đó.

Cậu bé quay lại:

- Chị ở đây mà bảo ảnh ghé nhà làm gì? Há há…

- Cái thằng lãng dang nà !

Cậu bé nói với tôi:

- Bác Tám Quang cưng hai bả dữ lắm. Bà Má của bác mới vô cho tiền, bác xuất ra mua may cho hai bả mỗi người hai bộ đồ láng mướt còn em chạy hiệu mòn chân chỉ có cái quần tiều và cái áo thung ba lỗ. Toàn phòng này có hơn hai chục bà , bác lựa hai bà số dách đem về đây. Anh chưa có chị thì đặc cọc với bác Tám trước đi. Con gái nuôi của ổng đó. Ở đây ông lớn nào cũng có con nuôi mà con gái mới nuôi, còn trai như tụi em là con ghẻ. Hí hí…

Tôi đỡ đòn dùm cho thượng cấp:

- Mấy ổng đáng chú đáng bác cả rồi, đừng nói vậy, em!

- Anh khéo che đậy. Bên K10 Tham mưu còn động trời hơn nữa.

- Chuyện gì động trời?

- Mấy bác hay vỗ mông mấy chị lắm. Mấy chị lom khom thổi lửa mấy bác đi qua là vỗ bép một cái. Mấy chị bất mãn nhưng không dám nói. Có một chị đi nói tùm lum ra, tức thì bị đưa đi phục vụ chiến tường (cậu bé nói đớt) Phước Long. Đi ga đó là kể như hết có thấy mặt tía má ông nội bà nội ông ngoại bà ngoại nữa đi! – thằng bé lãi nhãi – Có bác nói: cha con nhỏ này làm dâu tao được đó. Mai mốt tao gã con tai tao cho.

Rồi thằng bé đọc một lô danh sách các con dê cụ! Tôi nghe mà té ngửa. Trong số đó có lắm ông quen. Đứng đầu bảng là Năm Lê tức là Sơn Tiêu chồng bà Hai Mặn tôi gặp ở trạm 66 R hôm nọ . Bị Sư Tử Hà Đông quơ hụt, xuống đây với chức trưởng phòng, me xừ vẫn chứng nào tật nấy. Kế đó là ông Bê Ka Hai Phán, ông dưa hấu Bảy Thành, xếp kế là ông Năm Eo, Ba Hải (không phải Ba Hải ở U80 đi R với tôi) Cầm đèn đỏ là Sáu Nâu và Năm Cai đều là những chú bác đáng kính của các chá… au cả !

Thằng bé giao tôi cho hai bác xong thì trở ra. Tôi khom người để chui vào hầm. Cái này rộng hơn cái trong nhà lại có lỗ thông hơi. Vào bên trong không đến nổi tối lắm. Lại có ngách trổ ra, đề phòng khi hầm sụp thì có lối thoát thân.

Tám Quang trỏ cái ghế mời tôi ngồi còn hai ông thì ngồi ngang nhau trên chiếc vạt cau để sát vách hầm. Ở góc hầm dựng chiếc xe Pờ-Rô trên cao ngay đó máng cái xắc-cốt. Ông hỏi tôi:

- Cậu là dân nhà pháo, cậu xem cái hầm này có chắc không?

Tôi nói ngay:

- Không chắc đâu anh Tám.

Tám Quang nhảy nhổm lên.

- Tại sao?

- Không chịu nổi pháo 155 và 175 đâu.

- Tôi cho lót tre, trúc trên nóc rồi đổ trên một thước đất. Thấy chưa an toàn tôi cho thêm năm tấc nữa.

- Nhưng cột và đà ngang toàn là cây dừa cây cau là hai loại cây ruột rổng xốp mau mục.

- Ờ ! ờ cậu nói tôi có ý gẩm. Nhưng mà ở đây tìm không ra cột nhà, nên dùng ba cái cây bị bom pháo phạt ngã. Chỉ mấy ông Tư lịnhh ở An Phú mới dám móc cột nhà của dân lên cưa ra làm cột hầm rồi trả tiền chớ tụi này đâu có tiền?
(Tám chục ngàn để làm gì?)

Tám Hà lúc nào cũng châm chọc hoặc chỏi Tám Quang, cười:

- Hầm là để che chở khỏi ba cái miểng thôi anh ạ. Chứ khi bom rớt ngay thì chẳng có hầm nào chịu nổi. Trái 50 ký cũng khoan xuống ít nhất hai thước, bom đìa thì bê tông cũng không ăn thua.

Tám Quang ngồi im. Thấy thế tôi gỡ gạt cho ông:

- Anh dán giấy nhật trình trên vách coi sạch sẽ giống tường quá !

- Ừ! nhưng mà lũ bò cạp núp trong đó chơi tôi mấy phát đau điếng. Mấy đứa con gái cũng bắt chước tôi nhưng thấy tôi bị nạn, tụi nó gỡ hết ráo. Chắc tôi cũng sẽ gỡ.

Tám Hà trỏ vào tấm giấy ở đầu giường, cười:

- Gỡ thì gỡ nhưng chắc ông chừa tấm đó để giải trí.

Tôi ngó kỹ thì thấy tấm hình con đầm mặc xì líp xú chiên lòi cả ngực cả đùi. Tôi phục tài châm biếm móc ngoéo của ông Tám Móm lắm lắm. (Có lẽ ông không ưng ngồi ghế thấp hơn anh chàng trẻ tuổi hơn ông. Khi ra Bắc ông đã là chánh ủy Trung đoàn bây giờ phải ít nhất là Tư lệnh hoặc chánh ủy Sư đoàn như Năm Sàigòn hoặc Sáu Khâm, đằng này ở trên chỉ cho chức phó Phòng chánh trị!)

Tám Quang quay qua gọi thằng nhỏ bảo:

- Cháu xuống bếp hỏi mấy đứa nhỏ coi còn kẹo bánh gì không đem lên uống nước.

Tám Hà rót nước hớp liền, không mời tôi lẫn Tám Quang. Tám Quang vô đề ngay:

- Chốc nữa Chín Lộc sẽ bàn với cậu. Còn vấn đề tôi muốn nói với cậu bức thiết lúc này là vấn đề đạo đức của người cán bộ. Cậu nên biết là mấy ông khu ủy khu này đều là dân ở lại sau 54. Họ thành kiến với Mùa Thu ghê lắm. Ở trên R không có bị cái nạn đó vì toàn là Mùa Thu nên trong sự sắp xếp cán bộ không có ai phân bua mùa thu mùa đông. Ở đây Mùa Thu đụng nhằm Mùa Đông mệt lắm. Các ông ấy cho rằng các ổng dọn ổ, mình về đẻ.

Tôi kêu lên:

- Có vậy nữa à anh?

- Ở trên R thì có vấn đề gốc Dưa và gốc Rau, nhưng không rõ lắm vì Rau nắm cả ngọn ngành. Tôi và anh Tám là gốc Eo nhưng eo tôi chiến đấu ở Nam Bộ thành ra anh em coi tôi là gốc Dưa. Đọ ! Rau và Dưa ở đây vẫn thành vấn đề. Bên cạnh đó lại còn vấn đề Thu-đông. Điều qua tiếng lại rầy tai mệt óc lắm chớ không khỏe đâu. Lệnh ở đây đưa ra cấp dưới chỉ thi hành chừng 50% có khi bỏ quên luôn. Hỏi tại sao, họ bảo là hoàn cảnh khó khăn không khắc phục được. – Anh nói lan man quên cả vấn đề nêu ra lúc đầu – Cũng may, anh Ba Xu phó bí thư khu ủy là phu cao su lại sinh sống ở đồn điền thời trước và chiến đấu ở Nam Bộ nên tiếng nói của anh coi như trung dung hai miền.

Tám Hà chêm vào.

- Trung dung không phải là ba phải nghe !

Câu nói làm cho Tám Quang nhớ rằng mình đi xa đề . Anh trở lại:

- Mùa Thu đi về làm tiếng xấu nhiều quá. Dân mất tín nhiệm. Còn bên mùa Đông thì nhân đó mà củng cố thêm thành kiến. Vụ Sơn Tiêu trên R ở đây giữ kỹ lắm, nhưng rồi cũng không bụm được. Tánh quân phiệt là đánh lính bớt đi nhiều nhưng vụ kia lại tái phát.

Tám Hà lại chọt:

- Thời khí mà tái phát là kể như đi luôn theo ông bà .

Tám Quang làm như không nghe:

- Tôi tin cậu, tuy còn trẻ nhưng không vô Ê kíp của ông Tiêu. Tình hình này căng lắm. Giặc đánh mình văng không đau, mình tự làm mình ngã mới đau. Thời kỳ chiến tranh đặc biệt đã qua rồi. Bây giờ là chiến tranh cục bộ. Đảng chủ trương giữ triệt Mỹ ở miền Nam không cho thò ra Bắc. Ở ngoải, chúng chỉ leo thang bằng không quân là cùng. Nếu chúng đưa quân ra Bắc thì ông anh Ba mình sẽ vu hồi đưa đại quân xuống vùng tam biên cắt ngang đường về của chúng. Chắc chắn chúng không dám liều lĩnh, đúng y như anh Sáu (Vi) nhận định. Tháng ba vừa rồi, Mỹ vô Đà Năng. Thằng chỉ huy của tụi nó tuyên bố sẽ kéo dài biên giới Mỹ đến vĩ tuyến 17. Riêng ở cửa ngỏ Sàigòn thì chúng đóng chốt Đồng Dù và Dĩ An đưa hai Sư đoàn Bộ binh vào Nam Bộ để giữ chặt cửa vào Sàigòn. Quân khu ta là tuyến đầu đánh Mỹ, là nơi chạm trán với lực lượng Mỹ ác liệt nhất. Chúng ta đã không chụp được thời cơ năm 63 hai anh em Ngô Đình Diệm bị giết.

Tám Hà lại đâm hông:

- Lúc đó nếu ở trên sáng suốt thì bọn tôi chạy việt dã chắc là khỏe cặp giò nhái lắm.

Tám Quang chữa ngượng:

- Dám lắm chớ anh Tám. Các cơ quan đoàn bộ đã quảy soong chão nồi ơ chạy ra đường nhựa rồi kia mà . Còn bộ đội khu thì đã phóng tới Suối ông Hùng rồi kia mà. Các Q 761 – 762 – 763 của công trường 9 (Q là Trung đoàn) đã thọc về tới Củ Chi, Bến Cát, Dầu Tiếng rồi chớ đâu có đùa. Đã tới quốc lộ 1 và đường 8 rồi, nhưng được lệnh trên R ngưng ngay và quay trở về căn cứ cũ cấp tốc. Và phải ém quân kỹ hơn trước.

Tám Hà không nói gì, chỉ cầm cái tách hắt cặn trà ngang qua mặt Tám Quang. Tám Quang tiếp.

- Các Q này nằm lại Củ Chi giúp đỡ địa phương mất một năm. Cho đến cuối 64 mới kéo ra đánh Phước Long, Đồng Xoài Bình Giả .

- Bị tiêu hao quá nặng ở các trận này cho đến bây giờ còn choáng váng. Nếu hôm nay có một vụ như thế ở Sàigòn thì có còn ai mà..chạy nước rút nữa. – Tám Hà mở nút chiếc bình thủy rót nước vào bình, rót trà ra và tiếp – Cơ hội như vậy khó bề có nữa.

- Mình phải tạo ra chớ anh Tám.

Hèn chi hồi mới về trường pháo, tôi cũng đã nghe con Tiến con Huê kể chuyện vác soong chảo chạy về Sàigòn, tôi không tin, tôi cho rằng chúng nó châm biếm cách mạng. Tôi dọa phê bình chẳng ngờ chúng nói thật.

Tám Hà đưa ra nhận định nghiêm chỉnh, lần đầu từ sáng đến giờ:

- So với tụi BMEO (Brigade Mobile Est-ouest: Lữ đoàn ứng chiến Miền Đông và Miền Tây) thì quân đội Mỹ cũng không tinh nhuệ hơn đâu, nhưng so về mặt vũ khí thì Mỹ hơn cả trăm lần. Cho nên anh Sáu chủ trương nắm thắt lưng Mỹ mà đánh là vậy. Chứ nếu vạt ra xa thì sẽ ăn bom pháo của nó mà chết ngay. Cậu về đây nếu chưa thấy thì sẽ thấy, nội cái nó dùng bom pháo thôi chúng ta cũng đã rất gian nan trong việc đóng quân, chuyển quân rồi, chưa nói đến tác chiến. Cậu rồi đây sẽ chỉ huy bộ binh. Sự khôn ngoan của người chỉ huy trên đất Củ Chi này không nằm trong sách Trì Cửu Chiến, Du Kích Chiến của Mao Trạch Đông nữa. Chiến thuật Dao mổ bò, lấy thịt đè người, chặt đứt ngón tay hơn đánh dập một bàn tay đều không thể áp dụng được với chiến thuật trực thăng của Mỹ được nữa. Đây, tôi lấy ví dụ: Chúng ta tấn công căn cứ X. Nó không cần đối phó mà nó cho đổ quân bằng trực thăng ngay sau lưng ta. – Tám Hà cười khẹc khẹc – Ngay như Hoàng Thọ có tái sinh cũng không dám liều nữa. Hồi đánh Tây, Hoàng Thọ nướng sạch quân rồi trở về ngồi ăn cơm tỉnh bơ. Mấy bà má hỏi bộ đội đâu hết rồi. Thọ bảo còn nằm ngoài trận. Sao không kêu chúng nó về. Thọ bảo: không về được. Có nghĩa là rụi tèng hen cả đơn vị. Nhưng y không nao vì y còn sống. Chứ bây giờ gặp Mỹ thì y cũng nằm luôn ngoài trận với lính chớ đừng hòng về ăn cơm.

Tám Quang định sửa mũ mấn Tám Hà, nhưng ông này nói tiếp một cách hùng hồn:

- Các nhân tố lớn nhất của chiến tranh du kích là Thiên Thời, Địa Lợi và Nhân hòa, cậu rõ quá rồi. Nhưng về đây cậu sẽ chỉ thấy một bất lợi thôi, cái bất lợi lớn nhất là Nhân Hòa. Dân vùng Giải Phóng ra ấp chiến lược hết trơn rồi ! Tôi gặp ông chủ nhà này. Ổng ra ấp chiến lược rồi trở về nhà lấy đồ đạc để trở ra. Thấy tụi tôi khổ sở quá, ổng khóc, ổng nói: “Tôi thương mấy em lắm, nhưng tôi phải ra ngoài kia. Trong này bom đạn bời bời, tôi không sống nổi. Chừng nào mấy em giải phóng xong thì tôi trở về . ” – Tám Hà cười chua chát – Như thế đó !

Rồi lặng im. Tôi giả đò hỏi:

- Mình còn địa… lợi là địa đạo, anh Tám.

Tám Hà phì cười:

- Địa đạo không phải là địa lợi của ta đâu cậu à.

- Tại sao vậy, thưa anh.

- Trước nhất mình không dám xài nó nữa. Mà cũng đâu có nhiều như trên đài giải phóng và đài Hà Nội ! Kẹt lắm mới phải chui. Nhưng Bộ Tư Lệnh sẽ ra một quyết định cho các lực lượng võ trang không được xuống địa đạo nữa.

- Ủa, tại sao vậy anh? Mình không dùng địa đạo chiến nữa à ?

Tám Hà tiếc Tám Quang. Tám Quang nói ngay:

- Địa đạo chiến thì giỏi lắm cũng như các trận Tư Linh đạo diễn cho thằng Bọ Chét quay phim lần trước. Nay mai cậu sẽ biết địa đạo là cái gì.
(Tôi cười thầm: con đã nắm chắc lâu rồi các bố ơi!) :

- Xã đội bảo họ đưa cả làng xuống dưới đó được. Trâu bò cũng lùa xuống tuốt.

- Ừ, có đấy ! Xã đội đó đáng được bác Hồ tặng cho huân chương! Mà cậu nghe ai tuyên truyền vậy?

- Ông Hai Thi.

Tám Hà hỏi.

- Hai Thi nào?

Tám Quang trả lời.

- Anh không biết Hai Thi đâu, anh Tám. Hai Thi tức là Nguyễn Văn Thi thời kháng Pháp làm trung đoàn trưởng Trung đoàn đặc công gồm có 12 ban công tác thành lừng danh trong các vụ ám sát hồi 1946-47. Một trong những công tác viên xuất sắc là Chín Heo bị bắt và kết án tử hình. Sau vụ đó Hai Thi định nhảy ra khu bằng xe jeep nhưng trên đường đi, tên tài xế ruột của ảnh lại lái thẳng vô bót Ca-ti-na nộp cho phòng nhì Pháp. Ông ta lên đài Sàigòn nói om om ba cái vụ địa đạo thời bây giờ là như thế.

- Còn vụ địa đạo bây giờ?

- Dạ bây giờ thì tôi chi nghe trên đài Giải phóng và đài Hà Nội.

Tám Hà nhìn thẳng mặt tôi:

- Nếu cậu tin, tôi cũng không trách gì vì đó là đảng nói. Nhưng nếu cậu có sang vùng Bến Cát, Dầu Tiếng, Trảng Bàng là những vùng đất rừng cao hơn mặt Thủy Bình từ 15 đến 25 thước thì cậu sẽ thấy. – Tám Hà móc trong xắc-cốt lấy bản đồ trải ra trên bàn, bảo – Cậu xem đây, một vùng rộng lớn cao ráo như thế sao cấp ủy không động viên dân chúng đào địa đạo, mà chỉ có Củ Chi mới làm. Sự thực, mảnh đất Củ Chi là cái cửa ngỏ án ngữ Sàigòn nên tụi Hà Nội đề cao đủ mọi cách làm cho dân, quân đảng vùng này hăng hái lên, nhào vô xốc tới. . . đưa ngực ra hứng đạn để sau này chúng vào ăn cổ. Chứ đám anh hùng dũng sĩ rởm có được cái xơ múi gì.

Tôi nhìn xuống bàn đồ để có khái niệm về mảnh đất được gọi là I-4 tức Quân Khu 4.

(Cái quân khu này hình thành từ sau cái gọi là Đồng Khởi năm 1960 do bộ ba ông Pháo Huỳnh Tấn Phát phụ trách Hành chánh, Trần Hải Phụng cũng còn gọi là Hai Phụng tức là hai Phón vì ông này sợ Mỹ kinh khủng và Trần Bạch Đằng xếp về đảng. Chưa có Bộ Tư lệnh nào vì không đủ người. Lãnh thổ thì gồm có các quận ven đô Sàigòn Chợ Lớn và nội đô. Các quận ven đô gồm có Củ Chi, Bến Cát, Dầu Tiếng, Nhà Bè, Bình Tân, Thủ Đức, Gò Vấp, Hốc Môn và Dĩ An. Cho đến 1964 mới manh nha thành Bộ Tư Lệnh gồm có ba phòng Tham mưu, Chính trị, Hậu cần do Tư Trường làm Bí thư khu ủy. Mãi đến nay (65) mới có đủ Bộ Tư Lệnh gồm : Trần Đình Xu (tức là Ba Xu) Tư lệnh, Trần Hải Phụng (Hai Phẩm Phó Tư lệnh, Tư Trường Chánh ủy. Toàn bộ là dân Bê Ka, thủ giềng mối lãnh đạo.)

Tám Hà là cán bộ của đơn vị chiến đấu nên có nhiều kinh nghiệm thực tế, còn Tám Quang là tay chánh trị thuần túy, ra Bắc được đi học Trung Quốc, về được đề bạt Chánh ủy một Trung đoàn xe tăng ở hai tỉnh Vĩnh Yên và Phú Yên nên không thực tế bằng Tám Hà . Vì thế khi Tám Hà nói, y không thêm thắt hoặc thọc ngang được.

- Chúng ta sống rất tiếp cận địch. Đây là một tình thế hiểm nghèo. Có thể di chuyển nhanh để tránh biệt kích, nhưng không mang theo những cái hầm như thế này được, cho nên không thể tự bảo vệ mình chống bom pháo. Cho nên đành ở trụ một chỗ, thà bị biệt kích còn bom pháo. Quân khu có phê bình cái H6 của ông Hai Giả rằng ông ta không triển khai được lực lượng. Nhưng khi tôi đến tận nơi thì thấy quả thật là tội nghiệp ông ấy vô cùng. DKZ 75 cối 120, trọng liên 12/8 mà đóng trong vùng này, gián điệp biết được thì chi mười lăm phút là tất cả đều bị hết về Đồng Dù. Do đó họ phải vô thùng rồi đút xuống địa đạo, loại địa đạo miệng rộng không dùng cho người. Cứ chôn miết. Nếu cần chiến đấu cấp thời thì không thể nào đáp ứng được. Mà có đánh rồi vác chạy sao cho kịp trực thăng? Đến đổi bộ binh nhẹ nhàng mà cũng phải phân tán ém quân trong rừng. Lính bị bệnh yếu sức không vận động được, bị thương không có cách cứu chữa hoặc bảo vệ được chiến thương… – Tám Hà đang nói bỗng thở dài – Thằng Tư Chuyền xin có một cái dù Mỹ để che nóc hầm khi mổ xẻ, nhưng ba tháng nay Hậu Cần chưa cung cấp được nói chi các thứ khác?

(Vậy mà Trung ương cứ thúc giục thừa thông xông lên! Có thắng đâu mà thừa!)

- Vậy trước đây tôi nghe danh từ Tam Giác Sắt và mật khu Hố Bò tôi tưởng là ghê lắm.

- Đó là những cái tên do tụi Sàigòn đặt chớ đâu phải do mình. Rồi từ đó mình mới la lên và hù trở lại tụi nó chớ nếu tụi nó làm già thì mình đã nhảy qua hết bên kia sông Sàigòn rồi

Tôi hỏi tiếp:

- Còn cái vành đai Đồng Dù nữa. Nó là cái gì vậy anh Tám? Dân trên R nghe phục sát đất.

- Tôi mới về, để anh Tám trả lời cho cậu.

Tám Hà quay sang Tám Quang nói.. Tám Quang hớp ngụm trà rồi cười tủm:

- Đó cũng lại là cái mồm đánh giặc, cũng như kịch Mượn Mỹ của Văn Công R vậy mà.

Tám Hà trở lại bản tính móc lò.

- Ông này là chú đánh giặc mồm, cậu chưa biết à?

Tôi nói:

- Nghe đài Giải Phóng tôi mường tượng như những chiến hào của Giải Phóng quân Trung Quốc ở Thương Cam Lĩnh.

- Ở đây, trong nội bộ tôi nói cho cậu nghe để cậu học tập cái nghề mần chính trị theo kiểu ông Bảy Phong Vân nghe. Cậu nên rút kinh nghiệm, chớ có lộ bí mật! – Tám Quang tằng hắng kỹ càng rồi cất giọng – Đó là tôi bày đặt cho bọn con Tư Gừng, Bảy Mô – ông rút bút khoanh vòng đỏ rồi tiếp – Đây là Đồng Dù. Cậu xem đây: Từ Truông Viết thuộc xã Phước Hiệp đến Bàu Tròn thuộc xã Nhuận Đức rồi qua ấp Cây Sộp thuộc xã Phú Hòa Đông là bao xa. Nếu động viên du kích thanh niên ba xã đào một vành đai giao thông hào quanh Đồng Dù thì mất mấy chục năm? Ấy là chưa kể các vụ đánh bom pháo làm ngưng trệ sự đào đấp. Tôi biết là từ cái vành đai mồm bay lên thành vành đai thép trên đài Giải Phóng. Ai nghe qua cũng nghĩ là địa đạo bao quanh Đồng Dù dài 200 dậm là vậy đó. Ai cũng tưởng là các dũng sĩ du kích Củ Chi bao vây chặt đến nổi lính Mỹ đi đái đi ỉa cũng phải núp lén. Thật ra đó chỉ là vài ba cái hang ếch thôi ! Mà hễ ếch kêu một tiếng nó dộng một trăm trái cà nông.

Tám Quang cười đắc chí:

- Tôi bảo cậu là phải chú ý khai thác tâm lý địch. Chúng nó hay la hoảng để cường điệu hóa sự gian khổ của chúng, cậu hiểu không? Để tôi kể gốc ngọn cho nghe. Có nước lã mới khuấy được hồ . Số là hồi trước cái Sân Dù này là bãi tập của tụi Sàigòn từ thời Pháp cơ. Du kích thấy chúng nó nhảy dù lơ lửng trên trời thì vác súng ra khía bậy vài phát. Không ngờ đạn trúng một cây dù, một thằng Tây rơi vắt trên bụi tre. Chẳng chết chóc gì, nhưng thói đời nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột cậu hiểu không. Chỉ có mỗi một việc là móc thằng lính xuống đem nó về Sàigòn cho nó uống bia, mai trở lên nhảy tiếp, nhưng chúng nó lại đem xe nồi đồng thiết giáp càn quét và báo Sàigòn được dịp la ong ỏng lên. Thế là một phát súng vu vơ của du kích là náo động tới bên Tây. Chúng nó đem một trung đoàn càn quét khắp các xã chu vi. Nào có tìm ra cóc nhái gì.

Tám Quang thích thú kể ron rót:

- Rồi tới thời Mỹ vô chốt Đồng Dù. Mới tới, các chàng chưa có nhà trại nên căng tăng ra sống tạm, thì gặp tụi thằng Năm Cội con Tư Gừng, Bảy Mô vác CKC ra khía, khuấy rối. CKC làm sao bắn tới Đồng Dù, nhưng trúng mấy thằng Mỹ o gái đem ra bìa rừng mần ăn. Tụi con gái đi dân công, làm du kích nửa chừng bỏ về nhào vô đó làm công kiếm mỗi ngày từ 500 đến 1000. Đôi khi quơ được đồ đạc đem ra bán bừa cho chợ Bắc Hà ngay cửa Đồng Dù đó, lắm cô móc được một anh công tử bột rồi đem nhau ra ngoài rừng. Chẳng may bị bọn mình phục kích, chúng xách quần vừa chạy vừa la vi xi, vi xi. Thế là một vài phút sau pháo bắn, trực thăng quần, có khi một tên Mỹ trầy da thì nó đổ chụp. Tụi du kích mình cứ nổ súng như gởi đạn về làng là thích rồi, không cần biết trúng trật cứ đem vỏ đạn về báo công. Bắn lẻ tẻ không có tiếng vang, ba xã Nhuận Đức Phú Hòa, Phước Hiệp, có khi lôi được cả Phước Vĩnh Ninh phối hợp, cùng nổ một lúc. Phước Vĩnh Ninh bị ấp chiến lược Cây Bài áng phía ngoài Đồng Dù nên không bắn được. Thế là Mỹ la to: Việt cộng đã lập vành đai thép, mấy tiếng súng nhép vang tới bên Mỹ . Nhà báo Mỹ sang điều tra và trương luôn lên đài một cái vành đai thép. Thế là đài ta chụp lấy phóng đại ra 500%. Cái vành đai mồm phút chốc trở thành sự hãi hùng cho nhà báo Mỹ và gia đình tụi nó bên Mỹ . Nhờ vậy mà mình mới vận động phản chiến được. Rồi mới có tự thiêu, mới có con đào lộn hột sang tận Hà Nội gặp tù binh Mỹ chớ. Nếu không nhờ tụi nó mình la làm sao thấu bên kia?

Tám Hà cười khoe bộ răng mất trật tự:

- Bao giờ cũng vậy, tụi nó đánh tụi nó khỏe hơn mình đánh nó. Thời Tây có Raymondienne Henry Martin nằm lăn ra đường cản quân xa, thời này có đào hát bóng và tên Mỹ khùng tự thiêu. Con Phổng đá Phổng điếc và thằng Ê mi Ê miếc gì đó .

Tám Quang tiếp:

- Bây giờ mình mới thấy tác dụng của tuyên truyền. Sự thực bốn xã chỉ đào có chục rưỡi cái hang ếch thôi. Nhưng bây giờ không còn nữa. Xe tăng càn nhẹp cả rồi. Bây giờ chính chúng nó lập vành đai trắng bao vây mình đấy. Chúng nó phát quang tất cả rừng rú chung quanh Đồng Dù, cây cỏ thì rắc hóa học, người thì bốc hết ra ấp chiến lược. Đây mới là vàng đai nguy hiểm cho mình.

Tôi nhắc lại:

- Vậy là tôi tưởng như vành đai ở vĩ tuyến 38 ở Thượng Cam Lĩnh bên Triều Tiên bao vây quân Mỹ.

Tám Quang tiếp:

- Vụ ném bom vừa rồi ở Ngã Ba Cây Điệp là nằm trong kế hoạch lập vành đai. Đồng Dù đây – Tám Quang trỏ xuống bản đồ – Mình đây, nó đây. Mình với nó cách nhau không quá năm cây số nhưng nhờ con Suối Bà Cả Bảy mà mình dám trụ ở đây. Xe tăng có càn cũng phái vòng lên Ngã Ba Cây Trắc rồi mới xuống đây được. Như vậy mình có đủ thời giờ cuốn gói. Còn nếu nó đổ chụp thì trên núi nó cũng đổ được ở đâu cũng thế thôi. Cứ mười lăm phút là nó đến nơi.

Tám Hà nói:

- Bây giờ cậu về đây đem áp dụng pháo nhẹ thử coi. Đó là hi vọng của ở trên. Nếu khống chế khuấy phá được tụi Đồng Dù thì Củ Chi mới mong ngóc đầu nổi. Chỉ ngóc đầu thôi, còn tiêu diệt nó thì không thể.

Tôi hỏi:

- Vậy còn đạo quân đầu tóc của bà Năm Đang, anh?

- Xù lâu rồi. Cậu đã từng đạo diễn cái đạo quân hồi năm ngoái cho thẳng Bọ Chét quay phim, cậu biết nó như thế nào rồi. Sau vụ Đồng Khởi 1960 tụi nó đang choáng váng mình mới được đám quân vận yếm mang ra chận đại bác, nhưng chỉ vài tháng là tụi nó tỉnh lại, tụi nó đối phó hữu hiệu ngay. Đàn bà con gái láng cháng ra đó nó bắt nhốt bỏ đói một ngày, rồi trước khi thả, nó vẽ khẩu hiệu trên áo trên nón cho về.

- Khẩu hiệu gì anh?

Tám Quang lắc lư, Tám Hà bảo:

- Thì anh cứ nói cho cậu ấy nghe chớ có gì mà giấu?

Nhưng Tám Quang vẫn lặng thinh. Chuyện đánh trâu của các bà các cô tôi đã nghe cô Là nói đầy tai rồi. Chúng nó kẻ khẩu hiệu bằng dầu hắc Đả đảo Hồ Chí Minh. Đả đảo Mặt Trận côn đồ, nhưng tôi làm bộ ngớ ngẩn chơi thôi. Đi với cô xã đội tôi còn được nghe nhiều việc lạ hơn nữa cơ!

Tám Quang bắt sang chuyện công tác:

- Tôi đã bàn với Năm Lê tức là Sơn Tiêu, cậu nghe lâu rồi mà !

-Dạ!

- Tạm thời cậu về nhận trách nhiệm ở H6 tức là Ban Pháo binh. Hai Giã trưởng ban đang bị kỷ luật, đưa về R cũng khó coi cho ổng, nhưng để ở lại chỉ huy thì lính không phục, nên Năm Lê cho ổng đi công tác các quận một thời gian nguôi nguôi rồi sẽ tính sau. Cậu về đó tuy với trách nhiệm phó ban nhưng thực ra là Trưởng ban vì ông Sáu Phấn chỉ làm công tác đảng chứ không biết pháo binh. Tôi chắc cậu không thắc mắc gì!

- Dạ không.

- Cậu về ráng quậy cho H6 lên lên một chút, để ông Ba Xu ổng rằn ri quá sá. Còn vụ móc thằng em thì có Chín Lộc Sáu Huỳnh tiếp sức. Cậu chỉ phụ một tay thôi.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 39

Con chích choè liếng khỉ


Ra đường xe dứa, Chín Lộc chở tôi phăng phăng chạy về hướng Xóm Bưng. Tưởng ai đâu lạ, ai dè cũng là dân Rừng Sát. Hồi đó Tám Quang mê chị Dưỡng con gái ông Ba Dương nhưng có lẽ vì ông ta nói chuyện chính trị nhiều quá nên chị không chú ý mà lại đi yêu một anh vốn là lính Nhựt. Còn Chín Lộc thì ở trong tổ chức Liên Hiệp nghiệp đoàn của ông Mười Thìn. Chín Lộc còn có biệt hiệu là Chín Rổ hoặc Chín té thùng đinh vì anh bị đậu mùa hồi nhỏ.

Tôi ngồi sau poọc-ba-ga ôm ngang eo ếch anh. Anh vừa đạp vừa nhắc chuyện cũ với tôi. Một chập, khi chạy ngang qua một vùng đất còn mùi cháy khét, tôi hỏi:

- Hồi sáng này nó đánh ở đâu vậy anh Chín?

- Gần Gót Chàng, chỗ nhà con Bảy Mô ?

- Cô ấy có sao không?

Có lẽ nghe giọng hoảng hốt của tôi, anh Chín đoán là tôi có quen, nên hỏi:

- Bộ cậu biết Bảy Mô à?

- Dạ… ạ, có quen.

- Nó đánh gần đó thôi, nhưng miểng văng vô tới chỗ tôi ở nghe rẹc rẹc.

Rồi anh nói ngay không giữ miếng thủ thế gì cả :

- Cậu là Trưởng ban Pháo binh, tôi là Trưởng ban Quân báo, ngang cấp với nhau. Coi bộ cô Thảo có cảm tình với cậu lắm.

- Dạ, tôi mới về đây đâu có quen nhiều anh Chín!

- Nó là con nuôi của ông Eo đó, đừng có mó vào mà bị thịt.

- Eo nào?

- Tám Quang là dân khu nem. Nghe nói tiếng mà không biết à ?

Chín Lộc đưa tôi vào một ngôi nhà trống hốc không còn vách phên, bên trong chỉ thấy một bộ ván gõ ba, kiểu ván gõ nhà má Hai tôi nằm ngủ năm ngoái, nhưng chỉ còn hai tấm. Một tám chắc bị khênh đi làm nắp hầm. Mái ngói đã bay hết một phần trông thê thảm quá.

- Có quen với Sơn Tiêu, F300 ở Thọ Xuân không?

- Tôi biết ổng lâu hơn nữa mà !

- Lủy và Tám Eo có vẻ không ăn giơ với nhau. Một tay là quân sự, một tay là chánh trị, tôi là quân báo bị kẹp ở giữa lắm lúc không biết ai là xếp của mình.

- Về mặt tổ chức thì anh ở bên ông Năm Lê chứ!

- Phải rồi, nhưng Tám Quang thì có chân trong khu ủy, còn Năm Lê bị một cái ô đeo trên cổ nên đứng giàn ngoài, bị lép vế hơn Tám Quang.

- Vậy anh đi hàng hai bẹt giò mệt quá hả?

- Tháng nào cũng họp nghe báo cáo tình hình nội bộ mà nhức cả óc, toàn ô một không thôi. Cậu biết vụ vợ Năm Lê làm rùng beng trên R chứ?

Tôi chối bức.

- Bà ta đi về thành một mạch, tuột bỏ chức khu ủy viên, lấy sĩ quan Sàigòn ngay và cho hai thằng con trai đi học Thiếu Sinh Quân ở vũng Tàu. Có lẽ để chúng nó trả thù cho má chúng chắc.

Vừa đến đó thì xuất hiện một cô gái xinh xinh loắt choắt như con chích chòe, đạp xe tới. Chín Lộc hỏi:

- Con Ua đó hả? Có công tác đây nè. Chuẩn bị đi mau lên.

- Ai biểu chú đi lâu quá, cháu đợi hoài không được, nên cháu qua nhà chị Mô chơi.

Cô gái dựng xe nhảy xuống rứt một trái trong nải chuối máng trên ghi đông xe đạp, lột võ đút vô miệng nhai nhồm nhoàm vừa hất hàm với tôi:

- Ông thầy pháo là ông này đây hả?

- Người ta về thay ông Hai Giả đó nghe con, đừng có giỡn mặt!

- Coi như con ổng vậy!

- Ủa! Tuổi trẻ tài cao mà con!

- À phải phải. Tài không đợi tuổi. Napoléon làm xếp mấy ông già dềnh lúc mới ba mươi hai tuổi. Napoléon về đây cũng trở thành Nã-pồ-lê-dông thôi!

Cô ta phát âm rất đúng. Chín Lộc bảo tôi:

- Nó như con trai vậy, cậu đừng chấp nhứt! – Rồi quay lại cô bé, – Mày đèo ông này về nhà trước. Tao còn phải đi qua ông Năm Lê . Nè , chở cẩn thận nghe ! Có chuyện gì mười cái đầu mày cũng đi đứt. Trường ban H6 đó !

- Bự quá dzậy, con không có dám đèo đâu.

- Để tôi chở cho.

- Xí bộ coi thường con nhỏ này hả?

Chín Lộc ra góc nhà cầm cái gáo múc nước trong khạp da bò ực một hơi rồi bảo:

- Nay mai mày là nhân viên của ổng đó !

Chín Lộc nói rồi quay đi. Cô bé tên Ua đưa nải chuối cho tôi bảo:

- Đói bụng ăn vài trái đi. Chị Bảy Mô cho… đó.

- Bữa nào chở … qua đó làm quen được không?

Cả cô gái lẫn tôi đều không biết xưng hô như thế nào cho đúng vai vế nên cứ nói ngang ngang.

Tôi móc trong xắc-cốt ra một gói kẹo
(của Thảo cho lúc nãy chưa kịp ăn)

- Ăn kẹo đậu phọng không ?

- Ừ đưa coi! Bộ người ta không có tên sao mà phang trơn trơn vậy?

- Tên gì?

- Không nghe ông Chín kêu hồi nãy à? Nhắc lại nè: Ua! Thôi Ua ăn một miếng thôi.

Bỗng nhiên Ua kêu tôi bằng cậu.

- Cậu dìa hồi nào vậy? Chắc là Mùa Thu thứ dữ.

- Có ăn thịt ai không mà dữ?

- Mấy ông Mùa Thu về trước cậu, ông nào ông nấy đầu bạc phếu hoặc sói sọi còn cậu sao mà tóc đen mun vậy? Mà Ua coi cậu hơi giống…

- Giống ai? Giống má Ua hả?

- Giống sĩ quan Sàigòn!

- Trời! giải phóng mà bảo giống sĩ quan Sàigòn!

Ua bước tới đập vai tôi:

- Ua nói vậy tức là nói cậu coi đẹp như người Sàigòn.

- Bộ Ua ở Sàigòn mới vô hả?

- Ua có đi học ở ngoải. À, mà cậu có mợ chưa?

- Mợ gì mà mợ?

- Nếu chưa Ua dắt cậu qua nhà chị Bảy Mô. Hai bên coi bộ xứng dữ.

Nghe Ua nói, tôi như thấy góc vườn sầu riêng thơm bát ngát, bờ suối róc rách hai đứa ngồi ăn sầu riêng mà đờn măng-đô. Ừ, cách đây không lâu, lúc Tư Linh tiếp thằng Bọ Chét.

- Chỉ có nhà không?

- Ở bển chớ đâu. Muốn qua không ? Ua tạt qua đó rồi hãy đi không trễ.

- Thôi, để khi khác.

- Khi khác là khi nào. Tình hình này hễ nói là làm, cho cái kiểu khi khác là đi tuốt. Nói cho cậu biết người Rờ, người Khu, người Công trường bu chỉ dữ lắm!

- Bu thì bu chớ Ua bảo tôi làm gì?

- Thì cưới liền đi! Rồi dắt đi chỗ khác chứ ở đây không có thọ được đâu.

Tôi cười ha hả, rồi tôi dắt xe ra đường, và nói.

- Thôi đi. Đừng có ở đó mà nói bá láp.

- Cậu thứ mấy ! Chắc là thứ Hai. Cậu Hai nhận Ua làm cháu được không?

- Thì cũng được nhưng tôi không có tiền đâu mà cho.

- Ua không cần ba cái quần áo, đồng hồ gì đâu. Ua chỉ cần cậu thương cháu như ba cháu thôi.

- Vậy thì được .

Ua đưa tay cho tôi.

- Được thì ngoéo tay đi, không có quác nghe!

Ra khỏi mối đường Ua nhảy lên xe gọn gàng, tôi ngồi lên poọc-ba-ga nhưng không dám ôm eo ếch. Biết tôi ngại, Ua bảo cứ ôm mạnh đi không sao đâu. Đạp đi một khúc, Ua bảo:

- Thôi, mình làm anh em đi cho nó thân mật.

- Muốn gì thì muốn.

- Nhưng không có cái kiểu em nuôi như mấy ông già ó đâm đâu đó nghe.

- Anh không chơi cái trò đó đâu.

- Vậy chốc nữa về nhà em biểu ngoại nấu chè cho hai anh em mình kết nghĩa với nhau. Ôm chặt đi. Gần tới khúc đường bị pháo nổ lởm chởm, em lạn nhanh lắm, không thua gì anh Lạn đâu. Ôm lỏng coi chừng lật gọng đó.

- Biết cậu Lạn nữa à?

- Ba ảnh kêu vô đi học Liên Xô, không biết sao cả năm nay cứ làm giao liên.

- Còn Ua?

- Hà hà . . . anh hỏi trúng tẩy, em hết chối. Em cũng được kêu vô đây đi học… Liên Xồ… ồ!

Ua cười lớn, chiếc xe chạy loằn ngoằn, tôi suýt bật ngửa.

- Em học đệ thất rồi đó.

- Sao ông Chín dời xuống Bàu Chứa gần Đồng Dù vậy?

- Ở xóm Bung thì gần Trung Hòa. Chỗ nào cũng vậy thôi ! Hay dở là ở cặp giò và thính cái tai, ông Nắp Bồ Lê dông ạ ! Có lẽ ở gần Đồng Dù chỉ sợ pháo thụt thôi còn B52 thì khỏi lo. Nếu ở Xóm Bưng và Gót Chàng thì sợ đủ thứ vì nó xa Trung Hòa và Đồng Dù pháo bắn cũng tới, bom bỏ cũng dễ mà B52 thì càng dễ hơn.

Chạy một quảng, Ua trỏ về phía tay phải, bảo:

- Nóc chuồng cu bót Trung Hòa kia kìa. Quái nhỉ, cái bót này đi đâu cũng trông thấy nó đi theo mình.

Đạp một lúc, Ua lại bảo:

- Xuống đây đi anh. Tới rồi!

- Tới đâu?

Tôi vừa nhảy xuống vừa hỏi, nhưng hỏi xong thì nhận đây là nhà… Ua bước lên thềm nhà, vừa đi vừa réo.

- Ghé nhà chị Bảy chơi một chút đi anh. Hồi nảy em qua chị Bảy chơi, chỉ xôi sầu riêng cho em ăn. Nhưng em sợ ông Chín Lộc về không có em ở nhà ổng la, nên xôi chưa chín mà em phải rút lui. Đi vô đi anh. Chị Bảy ơi, ra có khách.

Từ dưới bếp Bảy Mô chạy ra.

- Khách nà . . . o ?

Vừa trông thấy tôi, nàng khựng lại. Tôi cười nói.

- Khoẻ không em?

- Anh đi đâu đây?

- Thì đi đây chớ đi đâu!

- Em nghe nói anh về R rồi mà !

- Về rồi chớ sao! Nhưng nhớ… Củ Chi quá nên phải trở lại. Thế nào, em có bắt được thêm Mỹ không?

Bảy Mô làm thinh hơi ngó xuống, đôi má ửng hồng vì lửa than trong bếp hay vì thẹn. Ua cười ré lên.

- Hai ông bà quen lâu rồi mà hồi nãy em hỏi, ảnh làm bộ không quen.

Rồi Ua cười khúc khích.

- Mời anh vô trong nhà ! Mời anh Bảy vô nhà !

Tôi đi theo Mô. Bên trong, bàn ghế vẫn còn nguyên tại chỗ. Chiếc tủ thờ khảm xa cừ vẫn còn đứng đó. Một chiếc bị đạn xuyên qua bên hông. Bất thần tôi ngó lên nóc. Một vùng ngói vỡ để hở một khoảng to trên nóc.

Tôi vừa đi vừa ngó. Không khí có vẻ vắng vẻ lạ lùng. Tôi không thấy cây măng-đô treo trên vách nữa. Tôi hỏi:

- Chị Tư Mai có về không em?

- Chỉ được tin anh Tư sao đó, chỉ rầu lắm.

Tôi đoán biết là chuyện gì rồi. Cũng như chồng cô Lụa và nhiều thanh niên khác đi Bình Long Phước Long vậy thôi, nên tôi không hỏi thêm nữa. Tôi hỏi ngang ngang.

-Ba không về à?

- Dạ không.

- Cây đờn đâu?

- Em giấu trong hầm, dây sét hết rồi.

- Lúc này chắc không thể đờn như trước nữa.

Bỗng Ua la lên:

- Em quên bỏ công văn quan trọng rồi chị Bảy ơi, để em trở lại lấy. Anh Bảy ủa anh Hai ở đây chờ em chút nghe.

Nói xong Ua chạy đi, nhưng còn quay lại – Có gì, chị dắt ảnh chạy xuống hầm dùm em nghen. Em giao ảnh cho chị. Ảnh là con cưng của mấy ổng đó !

Nói xong chạy biến đi. Bảy Mô nói:

- Con nhỏ đó lanh lắm anh ơi!

- Nó cũng bỏ học ra đây hả ?

Tôi vừa đi song song với Bảy Mô ra sau bếp vừa trò chuyện. Bảy Mô nói:

- Má nó bán hàng ngoài chợ Củ Chi. Bả là đầu mối của ông Chín Lộc. Con nhỏ này ra vô chợ dễ dàng. Lính quốc gia thấy nó bé nhỏ, loắt choắt nên coi thường. Nhờ vậy nó lấy được nhiều tin tức của mấy ổng.

- Tình hình dũng sĩ bây giờ ra sao em?

Tôi ngồi trên bộ ván ở nhà bếp. Đây không phải là chỗ ngồi của khách, nhưng Bảy Mô coi tôi như người thân, có thể vượt qua mức đó .

- Anh đi hội mừng công hả?

- Ừ| Mới lụi hụi đây mà đã một năm.

- Đội đặc công nào đánh sân bay anh biết không?

- Anh không biết!

- Anh đi dự mà sao không biết? Đài Giải phóng nói hằng ngày. .

Tôi không muốn Bảy Mô biết rõ cái danh hiệu anh hùng rởm của tôi nên đặt chuyện nọ chuện kia nói lãng ra, nhưng Bảy Mô cứ hỏi tới. Bực mình, tôi bảo:

- Chẳng có thằng nào còn sống mà về dự cả nên ở trên bắt anh đại diện đấy, hỏi nữa thôi!

- Vậy anh là anh hùng à?

- Thì cũng xém xém như vậy !

Bảy Mô cười, cái cười mỏi mệt nản chí:

- Kỳ này anh về , có anh Tư Linh không?

- Hắn bận!

- Em sợ ảnh quá đi! Vái trời ảnh đừng có dắt thứ nhà báo tới đây nữa ? Ảnh bày đặt nhiều chuyện làm cho đội của em quay mòng mòng.

- Từ khi Mỹ vô Đồng Dù đội em có lập thêm thành tích gì không?

- Đang xây dựng cái vành đai thép. Anh có gì giúp tụi em không?

- Biết giúp cái gì bây giờ. Em phải đề nghị cụ thể lên ông Tám Quang. Ổng đỡ đầu tụi em mà.

- Ổng có hứa, nhưng chưa thấy cho thêm gì hết.

- Nếu có cối 60 ly anh sẽ dạy cho các em sử dụng.

- Bắn chính xác không? Hay trái nào cũng lọt vô trường học cho dân bất mãn đó nhà pháo?

- Bộ có xảy ra rồi à?

- Chưa xảy ra, nhưng em sợ trường hợp đó lắm.

- Trước nhất em phải có một bản đồ chính xác.

- Cái gì chớ cái đó thì vô phương rồi !

- Thôi để thong thả anh lo.

Nhận thấy trong đôi mắt người con gái đượm một vẻ buồn áo não, tôi hỏi:

- Tình hình đội bây giờ ra sao em?

Bảy Mô lặng thinh hồi lâu mới đáp:

- Đang xốc tới dữ lắm, nhưng không có điều kiện!

- Vấn đề đó không đáng ngại. Em cứ giữ vững tinh thần đội, rồi tình hình mới này sẽ có trang bị mới rất hiện đại.

Tôi thấy bếp không có lửa khói gì. Xôi sầu riêng thì phải nghe mùi từ ngoài cửa chớ ! Con Ua lừa mình vào đây. Cũng tốt thôi? Tôi ngó ra cửa sau. Tôi hoảng hốt kêu lên:

- Sao vườn sầu riêng như vậy Mô?

- Nó rải chất độc!

- Vậy à? Cả vườn tược đều thế này à ?

- Chỗ nào xanh xanh rậm rậm là nó rải. Vậy con Ua chở anh qua mấy lô cao su, mấy khu vườn, những miếng rừng chồi anh không thấy dấu vết hóa học à?

- Có thấy chớ ! Anh thấy từ trên Trường Sơn kia mà . Gần đây nhất là Trảng Cỏ.

Tôi đến đứng ở bệ cửa nhìn ra vườn. Sầu riêng đứng rủ lá như những mái tóc bạc bị cắt cạo nham nhở. Tôi trở lại ngồi ở góc ván và thở dài:

- Tiêu hết vườn rồi.

Hình như câu nói động đến tâm can người con gái, nên nàng né qua cho đỡ đau. Nàng hỏi:

- Không hiểu ông nhà báo gì đó về tới ngoải chưa?

- Về tới lâu rồi chớ.

- Rồi làm sao?

- Làm sao cái gì?

- Ổng quay phim địa đạo mà chỉ quay cái miệng địa đạo thôi, không quay được lòng địa đạo thì tuyên truyền cái gì được hả anh?

Tôi bí nên hút thuốc lấy oai. Bảy Mô tiếp:

- Cái trận địa đạo chiến ổng quay kỳ thấy mồ mà ổng khen nức nở. Em nhớ lại thấy mắc cỡ quá trời.

Tôi nhìn Bảy Mô. Nàng gầy sút đi nhiều. Mắt sâu, gò má nhô lên, tóc tai xơ xác trông như một người đàn bà trung niên. Tôi suýt nói câu gì, một câu thật vô nghĩa, nhưng Bảy Mô đã tiếp:

- Anh Tư Linh thiệt là sáng kiến đầy mình. Cái địa đạo chiến của ảnh chắc nay mai tụi Mỹ phải nghiên cứu dữ lắm.

- Em cũng biết, đó là tuyên truyền mà Mô !

- Nhưng quay phim như vậy đem ra thế giới người ta tưởng thiệt, người ta lại gởi thêm nhà báo đến phỏng vấn tụi em rồi tụi em làm sao?

- Tám Quang sẽ dạy cho mấy em cách trả lời, lo gì.

- Rồi rủi người ta muốn quay phim địa đạo chiến nữa rồi làm sao?

- Thì các em cứ đánh địch kiểu đó cho người ta quay chớ sợ gì?

- Sự thật du kích có bao giờ đánh giặc kiểu như thế đâu. Miệng địa đạo có bao giờ gần đường cái như vậy để khi rút lui chúng em có thể dỡ nắp mà chui như anh Tư Linh đã bố trí. Nếu miệng địa đạo gần đường như vậy thì tụi lính nó tìm thấy ngay. Tụi nó có chó đánh hơi mà ! Nếu không bị chó thì xe tăng cũng cán nhẹp. Hơn nữa đánh giặc mà chạy chui hầm kiểu đó thì họa may chúng em có phép thần thông và thằng địch đui.

Tôi biết chuyện địa đạo chiến là kiệt tác của ông Tư Linh phỏng theo địa đạo chiến của các ông cố nội biên tập đài Giải Phóng và đài Hà Nội, cố nhiên với Tư Linh nó có mùi đất và lá khô hơn. Do đó nó làm cho tên Bọ Chét, mụ đầm già và các giáo sư Liên Xô tưởng thật. Chứ bạn đọc thử nghĩ về hai điều này: kẻ địch là mục tiêu di động còn địa đạo là một vật cố định. Làm sao có thể bắt địch đi theo ý đồ của mình được? Những người phịa ra địa đạo chiến không hề biết chiến trường Củ Chi trong giai đoạn Mỹ vào Việt Nam, đặc biệt khi có cái chốt Đồng Dù ở ngay giữa rốn Củ Chi. Trong chiến tranh chống Pháp, sở dĩ các trận Là Ngà Bầu Lá (khu 7) Giồng Dinh, Phong Phú (khu 8), Tầm Vu, Sóc Xoài (khu 9) đem lại thắng lợi vẻ vang là vì chúng chỉ có một con đường Huê Dung Đạo mà ta đã nắm được trước. Do đó các trận Vận động chiến kể trên hoàn toàn thắng lợi.

Các ông chiến thuật gia nằm trong dinh thự Hà Nội không biết Mỹ là cái gì, cứ cong lưng xúi giục dân Nam kỳ thừa thắng xông lên để làm vui lòng Bác. Sự thực, nếu bác biết được bác càng buồn. Nổ súng đánh Mỹ đã khó rồi. Khi nổ súng xong còn khó và nguy gấp trăm. Nó xúc quân chỗ này đổ qua chỗ khác, gọi là nhảy cóc, mình không đối phó được. Trực thăng có thể đổ ngay sau lưng mình, hoặc chúng bỏ hẳn chiến trường, rồi về nhà uống la de cho bom pháo dập mình tan tành. Nên nhớ rằng Củ Chi có thể bị khống chế bằng nhiều giàn Pháo từ các phía Đồng Dù, Trung Hòa, Củ Chi, Bến Cát, Lai Khê… Đánh xong, rút lui càng khó. Trực thăng nó đuổi theo. Thường thường số tử vong trên đường rút lui lại cao hơn số tử thương tại trận địa. Làm thế nào một trung đội du kích đánh xong chạy chui hầm được? Nếu chui xuống hầm mà không ngụy trang kỹ, chúng sẽ tìm ra miệng hầm ngay. Hoặc không cần khui hầm, chúng cho pháo bắn, hoặc máy bay bỏ bom. Cuối cùng, xin nói cho ông Đại tướng cù lần Sáu Vi rõ là đếch có ông bà du kích nào dám dùng chiến thuật địa đạo chiến hoặc nắm thắt lưng Mỹ mà đánh cả ! Hoặc quát thẳng vào những lỗ tai trâu: Ở Củ Chi không cái gì gọi là địa đạo chiến. Đánh Mỹ khó hơn đánh Pháp một ngàn lần.

Cho nên nghe Bảy Mô phàn nàn ông Tư Lịnh nhà tôi, tôi tìm cách chống chế. Nhưng Bảy Mô là người con gái có học chứ không phải con cái bần cô nông, nàng không chịu im.

Nàng nói:

- Kỳ sau có ông nhà báo ngoại quốc nào tới thì em xin vắng mặt.

- Chắc không có ông bà nào đến nữa đâu. Họ ớn cái Củ Chi này thấy tía rồi. Đó là tình hình năm ngoái, hồi Đồng Dù mới thành hình, năm nay nó xây dựng xong xuôi rồi. Dù có ông bà nào uống mật gấu mà xin đến coi… cái đầu tóc của bà Năm Đang ủa, xem cái đội quân đầu tóc của bà Năm Đang anh cũng không dám nhận. Lỡ nó nhảy dò, nó bắt được một ông mũi lỏ hoặc một bà tóc vàng trong khu ta thì bỏ mẹ !

Bảy Mô lẫm nhầm một chốc rồi lại hỏi:

- Cái ông Bọ Chét đó là đảng viên Cộng Sản hả anh?

Tôi đáp với vẻ tự hào.

- Đúng! ông ta là đảng viên Cộng sản Quốc tế đó.

- Vậy nên ông mới dám lũi vô đây chớ tụi đế quốc nhát hít. Quốc tế Cộng sản được mấy ông đảng viên như vậy, anh?

- Chắc nhiều lắm!

Bảy Mô cười:

- May mà chỉ có một ông đến Củ Chi !

- Sao vậy?

- Chị Hai Khương bỏ việc làm ở xưởng may của Quân Nhu rồi.

Tôi nhìn Bảy Mô, cô bé này ác thật ! Hai Khương là người đàn bà có chồng đi Giải Phóng quân biệt tích ở Bình Long. Năm ngoái, khi Bọ Chét đến đây lấy đề tài địa đạo chiến thì Hai Khương được dùng về phương diện phục vụ nhằm giúp đồng chí ta nếm biết mùi Việt Nam nguyên chất. Sau đó cả làng, cả quận đều hay. Hai Khương phải bỏ xứ, cô ta đi đâu không ai biết. Viết đến đây tôi muốn thét lên: “Địt mẹ mày thằng Hồ tặc. Mày đã làm cho cả dân tộc này điếm nhục không ngóc đầu dậy được”.

- Cô ta đi đâu?

- Không biết anh à !

- Tại sao lại bỏ việc làm mỗi ngày kiếm được 200?


(Tôi quả là thằng đóng kịch đại tài.)



- Em không biết.

Nàng biết chớ sao không. Nhưng nàng chỉ muốn nhắc lại cho tôi nghe đến đó thôi. Để trách móc chăng? (vì lúc đó tôi được ông Tám Quang chỉ đinh hụ hợ với Tư Linh) Nếu nàng trách móc thì cũng phải. Vì việc đó làm xấu mặt phụ nữ giải phóng và nhục cả triều đình nhà Hồ. Ai có thể ngờ rằng thằng nhà báo chó chết đó sang đây lại đòi biết mùi Việt Nam. Bọn quân báo sợ nó đổ bệnh cho Hai Khương, hoặc bỏ con trong bụng nàng rồi quất ngựa chuối dông mất, nên đã khuyên khéo hắn nên dùng áo mưa, hắn trân tráo bảo: Tôi muốn biết mùi Việt Nam nguyên chất!Nhục ngập đầu Hồ chủ tịch vô vàn kính yêu ơi ! Bây giờ đây hắn đã gặp Bác ở suối vàng. Hắn có thể cho bác ngửi tí mùi Việt Nam mà hắn mang theo khi rời Củ Chi. Khi tôi viết đến đây thì Đỗ Mười (cái tên mà tôi cho là có bộ mặt tướng cướp và ăn nói hồ đồ nhất trong cuộc đấu tố Nhân Văn Giai Phẩm ở Hà Nội), Tổng bí đao Việt Cộng đang quì dưới háng Đặng Thánh Chúa để dâng hàng sớ. Rồi tôi bỗng nhớ đến mấy câu thơ của tên Tố Bịp:

Liên Xô nở trước đời tôi ba tuổi.
Hai mươi năm gội nhục ướt đầu xanh.

(Hắn sanh năm 1920)

Nay tôi xin họa lại:

Liên Xô nở như một loài hoa cứt chó.
Bảy mươi năm đội nhục ướt đầu thằng ngu.

Nhục từ tổ tiên nhục tận đến con tận cháu. Bây giờ đây cái nhục được phân phát bằng từng ô phiếu cho mỗi người Việt Nam. Tôi không biết nói gì nữa. Cũng may vừa lúc đó lại có tiếng máy bay.

- Sâu Rọm tới Đồng Dù anh ạ !

Tôi vừa bước ra cửa vừa hỏi.

- Sao em biết?

- Nghe hoài mà sao hổng biết. Nó chở cà-nông tới Đồng Dù đó .

- Sao em biết nó chở cà-nông?

Bảy Mô đứng dậy ra ngoài rồi bảo:

- Anh ra đây coi. Cái cục đen dưới bụng nó dài dài thì đó là cà-nông. Vài bữa nữa sẽ có bố ráp vùng này.

- Sao em biết?

- Em linh cảm và lần nào cũng đúng cả !

- Chứ không phải có tin gì à?

- Lắm khi cũng có bà con đi làm ngoài đó về trong này nói lại.

- Bà con mình đi làm cho nó đông lắm sao?

- Đông lắm vì lương cao. Như chị Hai Khương làm cho quân nhu chỉ có 200 một ngày, còn ngoài đó bét cũng 500.

- Làm gì?

- Đủ thứ từ thợ thầy, thư ký, giặt quần áo, quét nhà và làm gái điếm.

Tối kêu lên. Bảy Mô nói.

- Vợ ông X… đại đội phó cũng đi làm cho nó mà.

-Kỳ vậy!

- Như vậy mới có tiền nuôi con và tiền cho chồng xài trong khu chớ anh.

Thôi vậy là hết. Lại một thứ nhục khác.

Tôi quay vào nhà. Thấy lạnh lẽo quá, không ngồi được nữa, tôi trở ra đi về phía vườn. Bảy Mô bảo.

- Anh vào đi, em đóng cửa! Đóng cửa im ỉm ngộp quá nên em mở ra một chút cho thoáng hơi, nhưng không khí ở ngoài vườn tràn vào, em thở nãy giờ nghe tức tức ngực, anh có nghe thấy không?

Tôi sực nhớ lúc vượt các trạm giáp ranh khu IV băng qua các vùng bị khai hoang bằng hóa học tôi cũng thấy ngực hơi tức. Nhưng ở đây chưa bị nặng nề nên chưa thấy tức lắm.

Bảy Mô đóng cửa lại, hai đứa ngồi ở phía trước. Trong nhà không có ai ngoài chúng tôi. Tôi chờ đợi ở Bảy Mô một câu gì. Và có lẽ nàng cũng chờ đợi tôi thốt ra một câu gì. Nhưng không ai nói gì cả. Mặc dù thế, ai cũng biết câu chưa nói ra đó là câu gì, một câu ngoài công tác.

- Rồi cây đờn đâu?

- Em bỏ luôn rồi.

- Ban đêm em ở nhà một mình vầy à?

- Có vài ba cô nữa đến ngủ với em vì nhà em có hầm chắc. Ba em về làm hầm rồi bỏ đi ra ấp chiến lược, vì ba bảo hầm không chịu nổi cà-nông.

Tôi nói láo với Mô.

- Chú Tám Quang nói cái vành đai thép của mình bao quanh Đồng Dù bảnh lắm hả em?

- Ừ! bảnh lắm. Anh muốn coi không?

- Để hôm nào rồi đã !

- Muốn đi xem anh phải chuẩn bị cặp giò để chạy.

- Tại sao vậy?

- Có khi tụi Mỹ nó ra nằm ở mấy hang ếch của mình trước. Mình vừa lú ra nó ria cho chạy tét quần rồi nó kêu pháo dập.

Bé Ua đã trở lại. Chiếc xe đạp hiện ra trước ngỏ với mái tóc cắt ngắn như học trò.

- Sao, hai ông bà đã cơm nước xong chưa?

- Nước thì đang uống còn cơm đã ăn rồi, bụng dạ đâu mà chứa nữa?

- Vậy sao chị Bảy hứa cho em ăn xôi sầu riêng?

- Chị tưởng là vườn sầu riêng của chị còn nguyên chớ.

- Ừ, chị chiêm bao giữa ban ngày!

- Còn em có chiêm bao không mà quên công văn?

- Công văn gì? Để khoan em ăn hết vĩ xôi sầu riêng của chị Bảy rồi mới nhớ ra công văn gì.

- Em ngạo chị hả Ua?

- Em bắt chước mơ chị đó chớ. Chị chưa vo nếp mà em tưởng mùi sầu riêng nực mũi ! – Rồi Ua quay lại tôi – Thôi từ giã chị Bảy rồi đi,… anh Bảy .

- Con quỉ, mày đưa cái miệng mày đây, tao vả cho tét lá mía!

Mô trợn mắt đỏ mặt quát. Tôi rời ngôi nhà. Chỉ nói một câu:

- Anh đi nghe Mô ! có dịp nào anh đi ngang ghé chơi !

Bảy Mô ra đến ngõ thì dừng lại, ngó theo. Con Ua đạp ù ù. Mớ tóc đuôi gà bay ngược lại ra sau. Mùi hương quất vào mặt tôi, tôi ngồi sau poọc-ba-ga nhìn lại Bảy Mô. Chắc đôi mắt của nàng dũng sĩ cũng như đôi mắt của Thu Hà lúc nọ. Tôi vụt cảm thấy trong Mô tất cả Thanh Tuyền, Huỳnh Mai, Ba Ánh, Là v.v… chỉ trừ Thu Hà. .

Ua quay lại:

- Anh chịu chưa, hả?

- Đạp đi. Coi chừng lọt xuống hố pháo kìa !

- Em thấy chỉ mết anh rồi đó.

- Thôi, cô thầy bói ! Bị người ta hăm vả miệng mà chưa sợ hay sao?

- Hắc hắc… Em làm bộ quên công văn chớ đâu có quên cái gì. Vậy mà cũng tin. Xí.!
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 40

Đấu tranh chánh trị: Ra đồng đánh trâu


Xe chạy boong boong. Bỗng Ua trỏ tay về phía trái:

- Mình ghé bầu trâm uống nước dừa, luôn tiện mình kiếm bậy cặp dừa khô đem về tối nay ngoại em nấu chè….

- Cúng đầy tháng cho em hả?

- Cúng ông bà nhìn nhận anh là anh của em chớ.

- Ba em đâu?

- Em đâu có ba. Ba em đâu em cũng không biết.

Tôi không hỏi thêm gì về gia đình của cô bé nữa. Tôi vụt nhớ vụ ông Nguyễn Văn Thi bị tài xế chở thẳng vô bán cho bót Catinat nên đùa:

- Đừng có chở anh vô tuốt bót Trung Hòa nghe.

- Bậy hoài hè ông mãnh!

Một chút Ua lại hỏi:

- Anh có biết tại sao ông Hai Tốt ôm mười triệu bạc dông vô thành không? Tên Tốt mà không Tốt!

- Không!

- Xí vậy mà cũng lãnh đạo! Tại ông muốn khỏe cái thân chớ sao!

- Nếu ai cũng tính như ông vậy thì còn ai đánh Mỹ ?

- Bây giờ không còn nhiều người chống Mỹ như hồi trước. Họ ra ấp chiến lược chống Mỹ khỏe hơn.

- Bộ cô cũng muốn chống Mỹ kiểu đó hả?

- Em là thiếu nhi mà anh! Em đi đâu cũng được, lính Sài gòn hay Giải phóng đều chịu hết.

Tôi nhìn ra đồng thấy một chòm cây, bèn hỏi:

- Bàu Lách ở đâu còn Bàu Trăn ở đâu?

- Bàu Lách gần Bến Đình kia cà còn Bàu Trăn thì mình cứ đi theo con đường đá đỏ này chút nữa thì đến Bàu Trăn, kế đó là Bàu Tròn rồi tới Bàu Chứa là gặp nhà em.

- Sao gọi là Bàu Trăn, Bàu Tròn, Bàu Chứa? Những Bàu là Bàu!

- Gọi là Bàu Trăn vì nó ngoằn ngoèo như con Trăn, ủa không phải, vì ở đó có nhiều trăn rắn. Còn gọi Bàu Tròn là vì nó hình tròn như cái bụng chữa, còn Bàu Chứa…a..a,. là vì nó giống cái bụng chửa hình tròn. Hắc hắc hắc, hỏi nữa thôi. .. Nhưng bây giờ không ai xài mấy tên đó nữa. Người ta gọi Bàu Trăn là Bàu Tăng, Bàu Tròn là Bàu Bom và còn Bàu Chứa là Bàu Pháo vì mấy cái bàu này chuyên môn bị xe tăng càn bom bô pháo bắn.

- Từ Bàu Pháo đến Đồng Dù bao xa?

- Không quá một tiếng đồng hồ . Để em chỉ cho. Chừng nào anh muốn đi thì đi khỏi lạc đường.

- Bộ em nói anh sắp theo Mỹ sao hả ?

- Em không nghĩ như vậy đâu.

(Chẳng ngờ năm 1970 tôi làm Nâp-bồ-lê… .dông thật!)

Ua tiếp:

- Nếu đi thẳng đi qua suối Là tới Xóm Cầu Mới rồi đụng đường Hai Làng là thấy mấy cái tăng của Mỹ lố nhố rồi. Bên đó là chợ Bắc Hà ngay trước cửa Đồng Dù. Cái chợ này nằm trên đường số 8 đi chừng một cây số nữa thì tới ngã tư Củ Chi. Nếu anh vọt xuống thì chỉ một tiếng rưỡi là tới Sài gòn. Bay lên thì ba tiếng tới Tây Ninh, chạy thẳng thì một tiếng rưỡi tới tỉnh lỵ Hậu Nghĩa. Anh dám ra Củ Chi chơi không? Thay quần áo, anh với em đi bây giờ nề !

Nghe con bé nói mà chua chát trong lòng. Từ Tà Bon về tới đây ít nhất tôi phải lội một tuần lễ , đạp xe đạp đường nhựa thì ba tiếng đồng hồ, còn trực thăng chắc mười lăm phút. Đó là tốc độ hành quân của địch và ta. Từ đây mà về nhà tôi thì có lẽ mất bốn tiếng đồng hồ xe đạp. Ý nghĩ đó làm tôi nôn nao tấc dạ :

- Đưa anh đạp cho một hồi!

- Em còn đủ sức đạp tới Sài gòn mà, lo dữ hôn!

Chúng tôi qua một khu rừng cao su, chạy trên con đường mòn bọc quanh một cánh đồng đến một xóm còn nhiều tre trúc ba quanh những ngôi nhà ngói xưa như nhà của Má Hai ở Phú Mỹ Hưng. Nhiều nhà vách lá, vách ván cũng còn nguyên. Những cây rơm vàng cao nghệu nhắc cho tôi những kỷ niệm thắm thiết ở quê nhà . Trâu buộc ngoài bờ tre hai bên lỗ tai lúc nào cũng hoạt động xua muỗi mòng. Ước gì tôi bỏ hết ba cái thứ lỉnh kỉnh trên lưng tôi để nhảy lên lưng trâu phóng ra đồng hò hát nghêu ngao như một ông tiên con có trăm phép lạ trên cành roi tre cầm trong tay. Ôi những tiếng dế gáy ran trong mô rạ của tuổi thơ, những ổ chim trên buồng cau sau vườn, những lụi cá nướng trui ăn vội bên bờ đìa.. Tất cả đều lùi lại phía sau. Bây giờ tôi chỉ còn một con đường: đi hoài, đi đã hai mươi mấy năm chưa thấy tới. Ua bảo tôi:

- Bên đó là Xóm Mới ăn thông với lộ 6 chạy ra đụng đường số 7 – Ua chỉ tay – Đó là lồng cu bót Trung Hòa. Cối nó thụt không tới đây, ở đây cây cao su còn nhiều nhưng dân phu đã bỏ đi hết từ lâu rồi. Vì mình vô đó lập căn cứ, đào hầm hố lung tung beng.

- Anh không ngờ ở đây có nhiều cao su như ở Hố Bò ! Mà ở đây có địa không em?

- Địa gì ở đây mà địa. Đất thấp ngang mặt ruộng. Nếu có đào thì mùa mưa hóa thành ống cống. Du kích và mấy ông cơ quan chỉ đào hầm bí mật thôi, nhưng mùa mưa cũng ngập nước linh lĩnh. Tụi lính Trung Hòa đã bung ra tới đây, nó khui được vài ba cái hầm, nhưng không bắt được ai, vì hầm ngập hết, ai mà ở dưới đó ! Mấy năm trước em còn ở ngoài chợ, em thấy nói một trung đoàn Sài gòn càn vô đây phá nhiều cơ sở trong rừng và ngoài xóm, bắt sống được cả ban chỉ huy tiểu đoàn thuộc công trường 9. Em có chạy ra coi thấy tội nghiệp quá hà. Người nào người nấy ốm tong. – Ua ngưng kể đưa một tay lên che miệng cười khúc khích. – Sau đó vài hôm vô tình em gói đồ cho khách, em thấy một tờ báo vẽ cái hình và chú thích: Ba tên Việt Cộng đeo không rụng một tàu lá đu đủ .

Ua vừa dứt lời thì chiếc xe rẽ vào mối đường, hai bên là lũy tre. Mấy chú trâu nằm im dưới tàng lá xanh rì. Một chú cò trắng đang nhảy trên lưng trâu chĩa những con mòng. Ua chạy vượt qua suýt cán một bãi cứt trâu, rồi lướt nhanh vào một sân gạch rộng. Sát thềm nhà có mấy gốc kiểng nhánh cây quăn queo. Chúng làm tôi nhớ những chậu kiểng ở nhà ngoại tôi, mỗi cội đều trồng trong một chậu sành lớn. Thềm nhà bằng đất, tấn bằng những tảng đá ong nâu sậm mang những vệt rong xanh. Hai bên hiên nhà là những bụi chuối già với những quày trái sai oằn gần đụng đất. Vài vết đạn lốm đốm trên vách bổ kho. Vậy là coi như hạnh phúc hơn những nhà bị pháo bắn trúng lệnh. Ua réo to.

- Nhà chị Tư Bé nè anh. Chị Tư ơi, chị Tư!

- Chị của em chớ chị của anh đâu mà !

- Chị của em, nhưng là em của anh thôi. Anh muốn uống dừa xiêm, để em xin. Làm gì mà nhìn người ta trân trân vậy?

- Để coi cái miệng dân vận uống nước dừa xiêm của em tài giỏi đến mức nào.

Một ông già khỏe mạnh với tấm lưng dài và chiếc quần lỡ quá gối buộc ngang eo ếch bằng một sợi dây lạt, bước ra, đưa tay che mắt:

- Đứa nào đó?

- Dạ , con Ua !

- Con Bé nó đang xắt chuối cho heo ăn ngoài sau. Bộ có chuyện gì sao cháu?

- Dạ có anh Hai trên khu muốn bàn công tác với chị!

Tôi nhìn cái miệng ba xạo của cô bé. Ông già vừa quay lưng vô, thì Ua cũng dựng xe vào thềm còn tôi ngồi xuống, xem qua một lượt hai chiếc lốp xe đạp và cặp vành coi có chỗ nào bị thương không? Xong rồi ngắm kiểng. Những cái cây cổ thụ con này chắc phải đứng đây tới chết chứ ai mà dời cho nổi. Còn đang tần ngần không biết cái vẻ đẹp của những nhánh nhóc cong queo ở chỗ nào. (Lâu quá toàn ở rừng, đâu có thấy gì hơn ma sốt, mặt khỉ và cứt voi. Ý niệm về thẫm mỹ không còn nữa) thì một bàn tay vỗ nhẹ lên vai tôi:

- Anh Hai, chị Tư nè !

Tôi giật mình quay lại. Một người con gái đứng kế bên, cao hơn Ua một cái đầu. Nàng có cặp mắt đen láy và gương mặt trắng trẻo của một cô gái miệt vườn ít ra nắng. Ua nói:

- Anh ở rừng lâu nên thèm dừa. Nhà chị có dừa xiêm thiệt.

- Ừ, có hàng dừa đàng sau nhà !

- Có bị bom pháo gì chưa?

- Mới sơ sơ!… Bị đạn thôi, chưa trúng bom pháo.

- Chung quanh đây không thấy dấu bom.

- Trực thăng nó ria chơi vài loạt cho đã ngứa.

Ua quay sang tôi:

- Kìa anh Hai, anh muốn uống nước dừa thì hỏi mua sao đứng chết trân vậy? Bộ chỉ ngộ lắm hả?

- Con quỉ này ! Vậy mà lúc nãy nó bảo em là có cán bộ khu xuống giúp đỡ địa phương xây dựng vành đai thép bao Đồng Dù… Anh Hai chịu khó ra sau em móc cho anh vài trái uống chơi chớ bán chát gì. Vườn dừa này hổng lẽ đốn hết ngay, nhưng để nguyên thì nay mai cũng ăn hóa học hoặc bom thôi. Nó bắt đầu rải các vùng chung quanh đây rồi.

Tôi theo Tư Bé đi ra sau nhà. Hàng dừa xiêm, thân cây nhỏ nhắn, không to như dừa ta, mọc thẳng một hàng bên mé mương, nhiều buồng nạo nằm phơi trên bẹ mũm mĩm dễ thương trông thấy phát thèm! Bé đưa câu liêm cho tôi và bảo:

- Anh muốn mấy trái thì cứ móc. Để em vô nhà lấy dao.

Đứng bên hàng dừa tôi vụt nhớ vụ trèo dừa ở nhà xã đội phó hôm trước. Cô ta rắn mắc thật. Mà cũng tại vì cô ấy thương mình chứ con gái dù rắn mắc cũng không đến nổi đó. Cô ta bảo mình trèo bẻ dừa ở dưới này, cô vô nhà tắm thoát y ra rồi kêu mình hỏi: Dừa đã nạo chưa? Suýt chút nữa mình buông tay xuống đất.

Ông già (ba của Tư Bé) cũng ra trông chừng. Ông dùng chiếc gàu mo có cán bằng tre múc nước dưới mương dừa tưới rau, hành, bạc hà trên mấy liếp vườn sau nhà bao bọc bằng lá dừa nước. Rồi tưới gốc bầu xanh tươi mà mỗi lá to bằng chiếc mâm, còn dây của nó thì leo lên giữa nóc nhà với ngọn tua tủa bốn phía. Đất cát ở đây có vẻ màu mỡ hơn đất vùng nhà má Hai. Tưới xong, ông đến nói với tôi:

- Chú em ở trên khu mà sao ít xuống đây quá vậy?

- Ảnh trên R mới về đó bác. – Ua đáp hớt.

- Hèn chi tôi chưa gặp, chớ mấy chú Sáu Nâu, Năm Cai, Năm Ngó… đâu có lạ gì cái nhà này. Mấy chú đó xuống đây huấn luyện dân quân làm hầm chông, gài lựu đạn. Còn mấy chú Ba Luân, Hai Mỏ tới đây càng thường hơn.

- Anh Hai này xuống thay ông Hai Giả là ông lấy bà Chín Kiểu nấu rượu ở Bến Mương đó bác Tám?

Tôi trợn Ua. Ua cũng trừng lại tôi. Đã không rút lui mà còn thừa thắng xông lên:

- Chứ không phải à? Cán bộ gì có vợ ở Hốc Môn hàng tháng đều vô thăm mà ở trong này lại đi ở với đàn bà giá cho đến nổi cái bụng bà ta chang bang.

- Con nhỏ thèo lẻo chuyện người lớn! – Tư Bé quát.

- Em nghe chú Chín Lộc và chú Sáu Huỳnh nói hành nói tỏi dữ lắm. Còn ông Năm Cai, ông Sáu Nâu ra sao em cũng biết. Tên Nâu bể rồi bây giờ đổi ra Sáu Tiến.

Tôi thấy hơi nhột cho bạn mình nhưng không bụm miệng nó được. Từ lúc gặp nó tới giờ tôi có nhận xét là con bé này khôn hơn người lớn. Tư Bé bảo:

- Mày bớt bớt cái miệng này lại nghe, Ua !

- Ừ! để mai mốt, còn bây giờ em phải nói để bác Tám biết là không phải cán bộ nào của khu cũng thứ thiệt đâu!

- Nói vậy anh Hai này cũng không thiệt hả?

Ua lúng túng nhưng đỡ gạt ngay:

- Mấy ông đó khác còn anh Hai tôi khác !

- Anh Hai của mày đây à?

- Ừ. Anh Hai của tôi đó, rồi sao? Sẵn dịp chị cho xin vài trái dừa khô đem về tối nay ngoại nấu chè…

- Cúng mụ cho mày hả ?

- Nấu chè để cúng ông bà cho ảnh làm anh Hai tôi!

Bác Tám thấy đám trẻ vui chuyện bèn vác câu liêm móc liền mấy trái dừa, có một trái lăn xuống mương. Tư Bé đưa dao cho tôi bảo vạt mặt dừa. Tôi nói:

- Tôi là dân xứ dừa. Nhưng từ hồi thoát ly tới bây giờ hình như không có uống nước dừa trong trái lần nào. Đây là lần thứ nhất. Cô Tư muốn tôi chặt dừa kiểu nào?

- Dừa thì chặt có một kiểu thôi chớ mấy, anh?

- Có hai kiểu, một là kiểu của mấy bà bán dừa theo các bến xe đó. Tức là cầm trái dừa trên tay mà vạt từng lát, và lát cuối cùng làm cho miếng sọ dừa văng ra.

Ua bĩu môi:

- Xí, có vậy mà cũng gọi là kiểu.

- Khó lắm nghe cô em. Vạt văng cái miếng sọ nhưng miếng cơm dừa bên trong còn nguyên. Nước dừa chưa có đổ ra giọt nào. Để như vậy đưa cho khách, khách cầm tự khui lấy cái màn cơm đó mà uống.

- Còn kiểu thứ hai?

- Kiểu thứ hai gọi là ăn dừa ba dao. Đó là chỉ chém có ba phát là uống, chứ không được chém nhát thứ tư.

Tôi vạt cái môn dừa để trái dừa úp xuống và chém ba nhát rồi gỡ cái đít dừa ra. Nước dừa sóng sánh bên trong không đổ chút nào. Tôi nâng lên mời bác Tám. Bác lắc đầu:

- Tôi ở nhà uống hoài, chú uống đi cho đỡ nhớ quê !

Đợi tôi uống xong, ông già vui vẻ nói.

- Tôi có kiểu khác đặc biệt hơn nhiều. Hồi còn con nít, tôi đi chăn trâu, lâu lâu bẻ trộm được của nhà giàu một trái, đâu có dao mác gì. Tôi dùng răng cạp như chuột, cạp hết vỏ xanh thì cắn cái môn non rồi bẻ cọng rạ chọc vào cái mắt mềm rồi hút. Thiệt ngon trần đời.

- Mắt mềm là mắt gì hả bác? – Ua hỏi.

- Mày hỏi để nay mai đi ăn cắp dừa hả ? – Tư Bé gắt.

- Em không biết mắt mềm là mắt gì thiệt mà !

- Trái dừa có ba mắt trên đầu. Hai mắt cứng hơi trũng, còn mắt mềm thì lồi. Phải xoi cho đúng mắt mềm thì mới thủng còn nhè mắt cứng mà đâm thì dao cũng không thủng.

Uống nước dừa xong, tôi thẻo hai trái dừa khô buộc chùm lại để choàng qua poọc-ba-ga cám ơn bác Tám rồi đi với Ua ra ngỏ. Tư Bé đứng ở thềm nhà nhìn theo chớ không đưa như Bảy Mô.

(Mãi một năm sau tôi mới lại gặp cô gái này ở trong đạo quân đầu tóc tả tơi của bà khu ủy viên Năm Đang. Năm 1968, Tư Bé theo Tiểu đoàn Thép của tôi tấn công quận ly Củ Chi. Sau khi cuộc tấn công thất bại, Tư Bé được đề bạt làm quận đội phó Củ Chi. Đáng lý ra Bảy Mô lãnh chức này nhưng ở trên chê thành phần nên Bảy Mô tuy rủi mà may. Trong cuộc đổ chụp phản công của quân Mỹ tại Đồng Lớn xã Trung Lập Thượng, cô bị truy đuổi và bắn chết lúc tuổi chưa đầy hai mươi. Tôi sẽ trở lại ở những chương tới.)

Tôi bảo Ua để tôi đèo, nhưng Ua vẫn kiêu hãnh:

- Em thừa sức.

- Em ăn nói như vậy không sợ ông Chín Lộc la hay sao?

- Mười lăm tuổi rưỡi em đâu còn bé nữa. Nhiều đứa lớn xác nhưng đầu bằng đầu tép. Còn em bé xác nhưng lại….

- … đầu dồ, hì hì!

- Anh mắng em hả? Em hổng thèm ăn chè cho anh coi!

Ua chạy theo con đường nhỏ băng qua cánh đồng đến xóm Bàu Tròn. Tại ngã tư có cái chòi Thông tin ngã xiêu ngã tó giống như Hố Bò. Trên một tấm ván con lung lơ như cái răng rụng, một tấm giấy bay giật rèn rẹc theo gió. Tôi hỏi:

- Giấy gì vậy em?

- Thông cáo mời đi đấu tranh ngoài Củ Chi.

- Mời ai?

- Mấy bà cụ ăn trầu. Con gái đàn bà tởn hết rồi.

- Đấu tranh thắng lợi to lớn mà sao lại tởn?

- Bà ngoại em là chì lắm mà cũng lắc đầu rồi.

- Sao vậy?

- Mỗi lần đi mất một cái áo một chiếc nón.

- Nón mất đã đành, còn áo sao lại mất?

- Nó vẽ khẩu hiệu bằng sơn dầu trên lưng chớ sao! Nó còn bảo chừng nào ông Một Sơn bí thư quận ủy ra chợ đấu tranh thì nó chịu thua. Nó nhân đạo không tuột quần mấy bả là may phước! Nhưng nó bảo: cấm tuyệt có đánh trâu thì ra đồng mà đánh, còn léo ra nữa mà nói lải nhải thì đi tù rục xương. Mấy bà già gân đòi đền áo và nón, nó bảo đi về bắt thằng Bí bo đền cho cả quần.

- Em có đi không?

- Có chứ. Em chở bà ngoại ra đó . Em xách giỏ trầu cho ngoại để đề phòng khi bị lính bắt giữ thì ngoại có trầu nhai đỡ buồn miệng. Còn em thì dựng xe đạp ở cổng quận xong em chạy theo đoàn. Đoàn bị lính lùa vô cổng rồi đóng cửa lại. Nó thấy em, nó nhìn một hồi rồi bảo: “Con đ… hà nàm này năm ngoái còn học ở đây mà. Vô khu hồi nào mà đạp cứt Giải phóng vậy?” Nó lôi em ra. Em cự lại: “Để tôi đi tranh đấu.” “Đấu má mày, đồ con nít đẽn?” Em không chịu ra, nó bảo: “Tao cho mày biết mặt.” Rồi nó xắp một mớ tóc: “Đó mày về mà đấu tranh với thằng già hãm con nít của mày.” “Thằng già nào? Trong khu đâu có thằng già nào làm chuyện tồi bại đó ? ” Em nói tỉnh bơ. Chỉ có mấy ông lớn tuổi xa gia đình lâu năm nên nuôi con nuôi thôi. Ua hỏi tôi:

- Hổng lẽ nó nói bác Hồ sao anh?

- Không bác Hồ suốt đời ở giá và đạo đức vô cùng.

(Tôi sực nhớ ra rồi. Cái thằng cha già được treo ảnh ngang ảnh cụ Hồ ở Nhà Hát lớn Hà Nội có lần tôi trông thấy. Nhưng không tiện nói ra cho cô bé. Tụi Sài gòn này độc địa thật, chuyện gì trong khu nó cũng biết).

Ua tiếp:

- Bởi vậy tóc của em một bên ngắn ngủn như cánh gà tre bị vặt hết lông.

- Rồi cuộc đấu tranh ra sao?

- Nó phơi nắng từ sáng tới chiều rồi phát bánh mì, nước ngọt cho ăn uống rồi bảo: “Con lạy mấy bà nội, hổng có gạo nấu thì ra đây tụi tui kiếm cho, đừng có nghe lời bọn khỉ đột ra đây khuấy rối mệt tụi tui lắm. Kỳ sau còn ra, hổng có tha nghe ! “

- Vậy tịt luôn à?

- Còn đi nữa chớ. Nhưng nó không nhốt. Nó bắt lên xe chở đi xa mười lăm cây số rồi đổ xuống bảo: “Cho mấy bà ở đó mà đánh trâu đánh chó gì thì đánh.” Mấy bà lội bộ về muốn rụng giò. Ngoại em về gần tới nhà ngất xỉu. Hai ba ngày sau mới lợi sức. Từ đó tới sau bà Năm Đang kêu đi đấu tranh ít có người theo.

- Bả có đi không?

- Có vài lần, nhưng kể từ khi em bị cắt tóc, bả chỉ ở trong này chỉ đạo ra. Em hổng biết sao tụi nó biết. Nó nói nhắn: ,’Kêu con đ. già đó ra đây nói chuyện, đừng có ở trỏng mà xúi giục người ta.”

- Rồi bả thụt luôn à?

- Thụt chớ ló ra đặng bị bắt. Nó bắt được bả thì có mà đi Côn Đảo chớ không phơi nắng đâu.

Hồi lâu Ua lại nói:

- Mấy ông xã ủy bày chuyện quá trời hè ! Mỗi lần đi mất một ngày cấy của người ta.

- Không có ai bị lính hãm hiếp à ?

- Ối ổi ! Tụi nó đâu thèm dân ruộng của mình. Vợ tụi nó toàn đi dép guốc sơn móng tay, đi ngang qua thơm phức.

Câu nói của con nhỏ làm tôi chợt nhớ tới thằng em. Nó đại úy tôi cũng đại úy. Nhưng nó Quốc gia, tôi Cộng sản. Gia đình nó hẳn là sung sướng vợ con đùm đề. Còn tôi lang bang từ Nam ra Bắc, từ Bắc qua Tàu, từ Tàu về Nam chưa đứng được một nơi nào để nghỉ chân suốt hai mươi năm. Con Ua bỗng hỏi bất ngờ:

- Gia đình của anh ở ngoài đó mà ở đâu?

- Nhà Bè !

- Anh có anh em gì không?

- Có ! – Tôi xốn xang buông một tiếng đơn độc.

- Có ai đi lính quốc gia không?

- Khô…ông!

- Vậy là khỏe đó anh.

- Sao khỏe?

- Nếu anh mà có anh em đi lính quốc gia thì hết mong lên cấp. Kế đó là ở trên biểu anh vận động làm binh biến như Phùng Văn Mười.

(Tôi giật mình. Sao con nhỏ này biết đến cả chuyện đó. Tôi vụt nhớ tới thằng Chung Tấn Quyền, sĩ quan cùng binh chung với tôi. Nó bị tù vì cái họ “Chung Tân” của nó có ăn chịu với Chung Tấn Cang Thủy Quân Đề Đốc của Sàigòn. Mãi không “được” về Nam. Sau này về nhưng lại không được thăng cấp. Tôi tự hỏi: nếu nó có liên hệ với Chung Tấn Cang sao không bảo nó về móc?)

- Em biết vụ đó nữa à ?

- Hồi đó em còn đi học ngoài Củ Chi. Vụ đó ở bên Bình Dương chớ đâu .

Ua nói chuyện không ngớt. Nó biết những chuyện người lớn khá nhiều. Có lẽ nó biết cả chuyện thằng cha già… trên kia nhưng nó không muốn nói ra thôi. Vì đó là cái nhục cho cả lũ, trong đó có nó . Nó hay nói tía lia nhưng nó biết chuyện nào nên nói chuyện nào phải giữ kín. Chỉ tội nghiệp là chuyện nó giữ kín thì cả nước biết từ lâu nữa là anh Hai nó. Nó đạp chậm lại rồi bảo:

- Đây là chuyện bí mật, em nói cho anh nghe, anh đừng học lại cho ai nghen!

- Ừ !

- Ông Tư Minh bắc kỳ xâm lược.. .

- …. nói bậy rồi! Sao nói thế? – Tôi cúp ngang.

- Đó là mấy ổng nói chớ em đâu có . Ông nào người Bắc cũng bị gọi như vậy cả. Nhất là trong lúc uống trà.

- Rồi mấy ông Bắc kỳ nói sao?

- Mấy ông cười hề hề chớ đâu có nói sao ! Ông Tư Minh Bắc kỳ xâm lược di cư hiện làm quản lý của ông Chín Lộc, có vợ làm tiệm may ngoài Sàigòn.

- Rồi ăn thua gì mà em hài ra?

- Có ăn thua chớ. Hàng tháng bà vợ đi vô trong này đem tin tức cho ông Chín Lộc.

- Sao em biết bả vô đây để đem tin?

- Sao hổng bi… iết!

- Bộ em có đi Sài gòn cho ông Chín Lộc nữa à?

- Đâu đâu có!

- Vậy là má em ở Củ Chi cũng có liên lạc với vợ Tư Minh chớ gì?

Tôi chận đầu. Con bé chối phăng, nhưng trong cách chối của một đứa bé ngây thơ dù khá lém lĩnh cũng để lộ sự thú nhận. Công tác quân báo của Việt Cộng luôn luôn đặt cơ sở gia đình chứ không có kỷ thuật chuyên môn. Nhất là quân báo ở thành. Chúng luồn vào cả gia đình sĩ quan cao cấp Sàigòn. Ua tía lia:

- Má em bán vải chớ đâu biết gì mấy chuyện đó. Má em chỉ đường cho vợ Tư Minh vô đây hoặc đôi khi tối cho bả ngủ nhờ. Rồi má em nhắn em ra rước bả vô gặp Tư Minh.

- Ngoại làm sao có gạo nấu cơm cho em hàng ngày?

- Của chú Tư Minh cho. Chú nói ngoại với em ăn như mèo hửi, để chú lo. Ngoại cứ nấu cơm dùm chú và thỉnh thoảng chú cần thì em ra Củ Chi gặp má hoặc đi xuống Sài gòn dùm chú, cầm một cái thơ hay cái áo cái khăn gì đó đưa cho một người nào.

- Thôi được rồi, anh biết hết rồi.

Ua đang đạp bỗng quay lại làm xe đạp sắp lật ngang:

- Anh biết gì?

- Nói đùa, chớ anh không biết gì đâu!

Cả nhà Ua đã làm nhân viên quân báo của Chín Lộc rồi mà không hay. Đó là cách hoạt động tình báo của Cộng Sản. Tuy không ghê gớm lắm, nhưng lại nguy hại cho người cộng tác vô cùng. Lỡ ăn xôi chùa thì phải ngậm miệng. Họ trả lương bằng nhiều cách, nhân viên lãnh mà không biết. Lãnh rồi thì khó từ chối. Đi vào vòng rồi thì khó nhảy ra.

(Tôi sẽ kể trường hợp của một nữ nhân viên tình báo rất đẹp đem tin tức trực tiếp cho Võ Văn Kiệt, về sau bị tên này cưỡng hiếp dưới địa đạo nên bỏ về thành làm quân báo R phải hoảng vía, thay đổ cơ sỡ lung tung.)

- Em có biết vợ của chú Sáu Huỳnh không?

- Sao không?

- Mặt mày thím Sáu ra sao?

- Còn trẻ giống như là…à con gái của chú vậy.

- Con người trắng trẻo cao lớn như cô Tư Bé phải không?

- Anh cũng biết bả nữa à ?

- Hồi hai mươi năm trước !

Ua kêu lên rồi tiếp:

- Em dắt bả với anh Thức, là con trai của chú, từ nhà má em vô trong này.

- Chị ấy học chung lớp với anh nhưng lớn tuổi hơn anh! Chỉ nhỏ tuổi nhưng lớn con. Lấy chú Sáu Huỳnh hồi mới mười sáu. Lúc đó chú Sáu làm ở cơ quan quận Nhà Bè.

- Em ớn anh luôn.

- Đừng có nói lép bép. Công tác quân báo mà nói nhiều là dễ lộ , rõ chưa .

- Với anh thôi, còn mấy ông nội Năm Cai, Sáu Nâu, Hai Giả, Năm Tiều, Hai Nhứt, Bảy Nô… em đời nào lộ ra. .

- Sao khai hết với anh?

- Anh là thứ dữ mà ! Nay mai anh có cần gì bảo em nghe ! Đồ hộp, bánh mì, xanh tuya rông, bi đông USA, chó có lát, bút chì nguyên tử, cà phê, thuốc lá… Bản đồ, địa bàn, súng Colt, đạn Colt hoặc P38. .

- Đạn cà nông có không . . . .

- Thứ này thì em không biết. Nhưng các thứ kia thì nếu anh muốn buổi sáng, buổi chiều hoặc ngày mai em đem về cho anh. . . .

- Ở đâu mà tài vậy?

- Ở chợ Bắc Hà trước của Đồng Dù.

- Mỹ nó bán súng Colt và P.38 à?

- Nó không trực tiếp bán nhưng có mối chạy cho n.

Trên đường đến cơ quan quân báo của Chín Lộc, qua miệng một cô bé tập tểnh làm tình báo, tôi biết được bao nhiêu là chuyện về Củ Chi, về Đồng Dù và về nước nhà . Tôi phải dấn thân vào hai trận địa một lúc: khói lửa và tâm lý. Vừa đánh giặc vừa móc em trai từ phía giặc.

Ua rẽ vào một đường mòn giữa hai đám khoai mì cao khỏi đầu đạp tới một ngôi nhà lá nhỏ chung quanh um tùm những bụi chuối và những cây mít sai trái. Vùng này mít rất nhiều và ngon nổi tiếng: mít nghệ Bàu Chứa. Ua bóp chuông leng leng, kêu:

- Ông Sáu, khách của ông về tới ! – rồi quay lại tôi – Anh vô đi. Ổng ở trong nhà . Em đi quán mua đường về nấu chè .
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 41

C.. cô hồn, L… nhà nước


Một người đàn ông đen đúa đầu bạc trắng nhe răng cười y hệt như anh Bảy Chà Hynos in trong tuýp kem đánh răng, bước ra sân đưa tay cho tôi:

- Đi vô nhà ! – rồi réo theo – Ua, con đi quán hả ? Mua cho bác vài bao Capstan và hộp sữa.

- Cà phê còn trong bếp !

Ua quay lại bảo rồi đạp thăng. Người đàn ông lôi tôi vào nhà , vừa đi vừa nói :

- Mày là con trai lớn của thầy Chín ở Tân Bửu đây hả? Nếu không được ông Tám Quang cho biết trước chắc tao không nhận ra mày!

Tưởng tôi không nhận ra ông ta, ông ta tự giới thiệu:

- Tao là Sáu Huỳnh chồng cô Tịnh, rể ông Cả Giác đây mày còn nhớ không?

- Anh tưởng tôi quên được chợ Tân Bửu của mình dễ dàng như vậy à?

- Bả hỏi thăm mày hoài mà tao đâu có biết mày ở đâu!

- Anh về năm nào?

- Năm 63. Tao chỉ gặp mày có một lần ở Mậu dịch ăn của thị xã Hòn Gai. Sau lần đó tao dông.

- Chị Sáu còn ở đó hay dời đi dâu?

- Đi đâu mà đi. Gốc rể mắc ở Tân Bửu còn đi đâu nữa?

Một nét mặt quen thân làm tôi thoáng nhớ tất cả người và cảnh quê hương. Hồi năm 1947 tôi có về nhà ở Kinh Bà Vụ một lần và là lần độc nhất. Hồi đó anh Sáu làm Huyện đội trưởng Trung Quân Chợ Lớn, tên là Sáu Trầm. Ba tôi, ông Cả và Sáu Trầm uống rượu suốt một đêm bàn về tình hình chiến tranh đang lan tràn. Ba tôi trưởng ban y tế tỉnh nhưng ý kiến của ông có ảnh hưởng trong giới Việt Minh cầm quyền lúc bấy giờ. Lúc các ông uống rượu thì tôi bị cô Dung bạn tôi bắt cóc sang nhà cô, Dung cũng cỡ tuổi Ua bây giờ, nhưng cao ráo và không môi mép như Ua. Hai đứa còn trẻ quá biết gì đâu, chỉ nhảy cóc nhảy nhái qua loa.

- Anh đổi tên hồi nào?

- Từ lúc về trong này.

- Hồi năm ngoái khi giúp cho Tư Linh tiếp thằng Bọ Chét, tôi có nghe nói tên anh nhưng không biết đó là ông cựu huyện đội trưởng Trung Quận ngày trước.

- Vụ đó Tư Linh lo giàn trong, tao chạy giàn ngoài chớ đâu. Lạy trời ở trên đừng có cho lũ ôn dịch đó vô đây nữa. Lo ăn, lo ngủ, lo tắm giặt cho nó còn mệt hơn lo tiếp tế cho một chiến dịch hồi đánh Pháp. Mẹ kiếp, lại còn lo cả cái vụ đó cho nó nữa .

-Tôi phục anh luôn!

- Phục gì! Cơ sở mật của tao đó. Tao phải nói gạt là vô trong phòng phục vụ một sĩ quan Mỹ mình vừa địch vận được. Nó tưởng thiệt nên vác xác vô. Xong rồi nó cự nự quá tay. Nó bảo vừa nhìn thấy là nó biết không phải Mỹ rồi. Thôi, bỏ qua đi, kệ mẹ nó, c… cô hồn 1… nhà nước. Thứ đó thì đụng vô thứ đó là vừa. Mày đi tắm cái cho khỏe rồi bàn chuyện. Mà này, vợ tao vô lần rồi nói là bà con bình yên cả. Chỉ có gia đình mày là dời đi đâu không ai biết!

- Tôi có nhờ má Hai ở Hố Bò đi móc nhưng sau hai ngày tìm kiếm rồi trở về cũng nói như anh.

-Chắc về Nhà Bè quê ngoại mày!… Cái giếng gần cây mít. Lấy gàu múc lên. ở đây không có sông rạch như xứ mình.

Tôi đi ra giếng, ngang qua bếp, thấy Ua đang lui cui nhóm bếp, tôi hỏi:

- Nấu chè hả cưng?

- Nấu nước pha cà phê đãi khách bự!

Tôi tắm xong vô nhà thì gặp một người đàn ông nhỏ thó trẻ hơn Sáu Huỳnh, sơ mi trắng, quần ka-ki xanh. Sáu Huỳnh cười bảo:

- Đây là anh Tư Minh, một tên Bắc kỳ di cư kiêm Bắc kỳ xâm lược. Sau này mày sẽ liên hệ nhiều. Có cần gì cứ níu thắt lưng của hắn nại đòi.

- Di gì nữa mà di. Tôi ở trong này hai chục năm rồi. Tôi trở thành dưa hấu từ lâu. Bố bảo cũng không dám uề ngoài đó nữa. Sợ nhất là đói như hồi bốn nhăm!

Sáu Huỳnh hỏi.

- Bác Chín đi đâu Ua?

- Bác nói bác đi qua ông Năm Lê chút nữa về !

- Vậy thì đủ tứ trụ rồi. Phò một chầu tú lơ khơ chơi. Công tác mai tính! – Sáu huỳnh vỗ đùi – Quên nữa, có thằng Cúc quê ở đâu không rõ, nhưng hồi trước nó hoạt động vùng Nhà Bè. Để tao cho kêu nó lại đây, mày hỏi thăm chắc nó biết tin tức gia đình mày. Trong nhà còn con gà mái ấp. Để tao nài lại của bà ngoại, luộc xé phay, vừa nhẩm xà vừa oán lơ khơ. Mày ở nhà nghỉ, tao đi rồi thêm vài món cầm tay để đãi mày. Không gì thì cũng là đồng hương cố cựu!

Tư Minh nói với theo:

-Đàng quán sợ không có Anít, nếu cần tôi cho đi Trung Hòa! Mà quên nữa! Tôi còn hai chai sâm banh tôi giấu lại kỳ đón thằng cha nhà báo Bọ Chét Bọ rận gì đó, tới nay chưa biết dùng vào đâu.

Sáu Huỳnh gạt:

- Ba cái thứ đó uống lạt nhách. Để tôi đi tìm đế uống cháy cổ họng mới đã.

- Ừ, anh đi cho mau. Giờ này khả năng đổ chụp thì ít, nhưng còn lo bom pháo . Ngang ngả ba Cây Điệp phải vọt cho nhanh. Và phải coi chừng cá rô rỉa. .

Sáu Huỳnh gạt phắc.

- Thôi ông Bắc kỳ xâm lược ơi! Tôi đã ăn cả chục trận bom pháo rồi chớ phải dân thành mới ra khu sao mà ông lo dữ vậy!

Nói rồi lấy xe đạp vọt đi. Tư Minh lắc đầu:

- Tôi ớn lắm. Nhất là đám cá rô. Mình đang đi đường mà đụng nó là kể như núa nuôn (lúa luôn – tiếng “lúa” của cán Nam kỳ hồi chín năm có nghĩa là hỏng bét, xù, tiêu tùng.)

- Bộ mình bị rồi à?

- Ông Chín Mành phó ban tài vụ R với thằng cận vệ đang đi ở Trảng Cỏ. Nó tới, nó sà xuống. Hai thầy trỏ lủi đại xuống hầm bên vệ đường. Nó đáp xuống đất, ném lựu đạn vào miệng hầm rồi lôi xác ra lột một K54, một AK và mấy triệu bạc.

Bà ngoại Ua, người nhỏ bé lưng còng, đến bên tôi, hỏi:

- Nghe con Ua nói chú em ở trên Rờ trên khu gì về phải không? ở trên đó chú em có nghe chừng nào hết giặc không?

- Dạ cái đó là do ngoài Bắc chớ đâu phải do tụi cháu, thưa bà !

- Sao trong Nam oánh giặc mà do ngoài Bắc?

- Dạ vì ngoài đó là chỉ huy còn trong này không phải chỉ huy.

- Vậy thì vụ đạo quân đầu tóc cũng do ở ngoải chỉ huy nữa hả chú em?

Nghe hỏi, tôi không biết bà thật tình hay lắc léo, tôi đang lựa câu trả lời thì bà tiếp:

- Tụi lính Củ Chi này nó hiền, chớ nếu gặp mấy chú, chú không để nhủng nhẳng vậy đâu ! Nếu tôi làm quận trưởng thì tôi chở người của bà Năm Đang đi ba chục cây số chớ không phải mười lăm cây.

- Sao vậy hả bà?

- Cứ theo phá đám hoài, phải trị chớ sao !

- Có bà đi nữa mà ?

- Bây giờ tôi mới rõ ra ! bà Năm bả xúi đàn bà con gái đi ra quận để cản mũi cản lái lính quốc gia. Cản gì được mà cản. Có bữa họ đang hành quân, đằng này kéo ra cản đầu xe thiết giáp. Lính họ nạt: “Tránh ra, không tránh cán bỏ mạng ! ” Mấy bà làm gan, níu tay lại với nhau thành hàng trước mũi thiết giáp. Một người lính hét: “Các bà dang ra! Tôi thổi ba lần tu-hít nếu các bà không tránh thì tôi cho xe chạy ! ” Rồi nó thổi tu-hít vừa dứt hồi thứ ba, nó cho xe chạy.

Tư Minh nói.

- Quân dã man.

- Nhưng xe chạy mà đâu có chết ai.

- Sao vậy cụ.

- Xe vừa nhích tới thì mọi người buông nhau ra tản mất hết – Bà cụ chép miệng – Khổ quá ! Hồi trào trước thì Việt Minh đánh với Cao Đài, thằng cha con Ua và thằng cha con Chia đi theo Cao Đài bị Việt Minh bắn chết. Rồi bây giờ mấy ông Cộng đánh với mấy ông Quốc gia không biết chừng nào mới thôi. Nhà tôi rộng lắm. Bây giờ còn có bơ lớn đây. Hai thằng rể chết, hai đứa con gái góa chồng, hai đứa cháu ngoại mồ côi. Tôi bây giờ muốn trồng mấy nọc trầu xà lẹc để ăn mà không trồng được, muốn có trầu tươi ăn hàng ngày cũng phải ra chợ Củ Chi. Tôi bây giờ có tài nhịn trầu là giỏi nhất.

Tư Minh nháy tôi không biết với ý gì nhưng tôi thấy câu chuyện của bà cụ đã bộc lộ rõ tâm tư của người dân vùng này, nên tôi gợi tiếp:

- Chắc bây giờ mình còn đấu tranh mạnh nữa hả bà ?

- Còn ai nữa mà đấu tranh. Hồi nẵm thì mạnh lắm, nhưng có ăn thua gì. Thằng quận trường Củ Chi bảo: “Các bà muốn chúng tôi ngưng bắn pháo vào làng thì các bà phải đuổi mấy thằng Việt Cộng đi về Bắc.” Bà con bảo: “Các ông dùng súng còn đuổi không được chúng tôi tay không thì làm sao?” Thằng quận trưởng khôn lắm chớ đâu có ngu. Nó bảo: “Các bà chứa Việt Cộng trong nhà, tôi bắn nó mà lỡ trúng các bà chớ đâu phải tôi bắn các bà. Nếu các bà tránh xa chúng nó hoặc đuổi chúng nó đi thì tôi đâu phải bắn làm gì cho uổng đạn! Nếu mấy bà ở trong đó không yên thì ra đây tôi cho ruộng làm, cho tôn cất nhà, cho gạo ăn…” Thấy nó nói vậy nhiều bà ngãng ra không muốn đi đấu tranh nữa. Bây giờ thì không ai đi nữa!

Bà vô buồng lấy ra một cái nón lá và một cái áo đen. Nón lá trắng thì mang chữ đen áo đen thì in chữ trắng. Hai dòng chữ khác nhau nhưng cùng một nghĩa: Đả đảo Hồ Chí Minh! – Đả đảo mặt trận côn đồ.

- Đó bây giờ cậu coi, từ đầu năm (65) B52 dập các xã ven sông Sàigòn, bây giờ có gom dân lại cũng nấu không ngọt nồi cháo, lấy gì đấu tranh! Tụi nó không nhẹ tay như trước nữa đâu mà hòng ra ra vô vô đòi này đòi nọ.

Tôi và Tư Minh ngồi nghe bà cụ tố khổ mà chết điếng. Một chập bà tiếp:

- Tôi ở đây quạnh quẻ một mình với con Ua . Tôi muốn về ở trong chợ với má nó, nhưng nó không chịu đi. Nó lỳ lắm. Pháo bắn, tôi lôi nó vô hầm nó không vô, cứ nằm ngủ. Sáng nay nghe bom bỏ ở miệt trong, nó chưa về, tôi lo ngồi đứng không yên. Mà nó về mặt mày tỉnh bơ. Tôi hỏi nó: “Có ai làm sao không? ‘ Nó nói: “Chết ba con cóc!”

Bà đứng dậy lụm cụm vô bếp bảo Ua:

- Gà chín rồi! Dọn ra ăn đi! Để chiều tụi Đồng Dù giã gạo không có ăn uống được!

(Tiếng giã gạo rất phổ thông ở đây. Không ai bảo ai, mà từ cán đến dân ai cũng nói một kiểu.)

Bà cụ cứ lằng nhằng kể lể hoài làm như tôi là người có thẩm quyền giải quyết mọi chuyện.

- Nhà cửa bây giờ còn gì đâu. Chú Huỳnh với chú Minh đào một cái hầm, tôi và con Ua làm một cái. Bữa nào có vợ chú Huỳnh hoặc chú Minh thì dắt lại nhà con Tư Bánh Bò ở nhờ. Ván gõ lấy làm nắp hầm, liễn thờ lót nằm, giường thì xếp lại quăng xuống mương. Tủ bàn khiêng ra bỏ ngoài vườn, đậy bằng lá chắn và rơm, nếu bom bỏ trúng thì cháy hết.

Lên mâm lên bát xong thì Sáu Huỳnh về tới dắt theo một tốp xe đạp như đoàn cua rơ trong đó có cả ông Chín Lộc. Sáu Huỳnh bảo:

- Vô mau! để đầm già trông thấy mình là hết có nhậu!

Sáu Lễ, Sáu Cúc mỗi người cầm một chai đế còn Chín Lộc xách một bọc giấy. Chín Lộc nói:

- Buổi sáng nó oánh Ngã Ba Cây Điệp, xế qua nó chơi Rừng Làng, không biết buổi chiều nó viếng chỗ nào.

Sáu Huỳnh giới thiệu tôi với Sáu Lễ:

- Đây là người cùng quê với vợ mày đó Sáu Lễ.

- Ở đâu vậy?

Sáu Lễ hỏi ngang ngang tôi cũng đáp ngang ngang:

- Ở Cầu Đúc Mỹ Phú .

- Biết Dì Tư Quán ở tại Cây Keo Một không?

-Lạ gì! Con gái của bả chơi nhà chòi với tôi hồi nhỏ.

-Trời đất! Vậy ông cất nhà chòi với vợ tôi trước tôi rồi!

Sáu Huỳnh cười hô hố:

- Té ra nó cất nhà chòi đúng vợ mày sao?

- Còn gì nữa, bà Tư Quán là má vợ tôi.

Mọi người cười rộ lên. Tôi xua tay:

- Hồi đó tôi mới bảy, tám tuổi mà anh Sáu. Còn vợ anh mới có năm tuổi thì nhà chòi đâu có ăn thua gì. Tôi với chỉ thích ngồi chung trên cái tàu mo cau để đám bạn kẻo chạy trước sân nhà giả bộ làm xe hơi chơi thôi mà !

Sáu Lễ nói:

- Tôi nói chơi vậy thôi chớ nhà chòi của bả tôi chiếm lĩnh trước nhất mà ! Hà hà . . .

Tôi hỏi.

- Nè, có móc gia đình chưa?

-Tôi về năm 60 tôi có móc bả vô được một lần. Thằng con trai đầu lòng lúc đình chiến nay đã mười hai tuổi. Nay được một đứa con gái bốn tuổi. Má vợ tôi chết lâu rồi.

Sáu Lễ tiếp:

- Hồi ở Xuân Mai tôi thấy ông vô căn-tin ngồi uống trà với ông Ba Tô Ký hoài mà đâu có ngờ ông là người bản sở với vợ tôi. Lúc đó ông thường tập lái xe jeep với bọn Sáu Thưa, Hai Thùng trên đường Ba Thả – Hòa Lạc phải không?

- Đúng rồi ! Sáu Thưa thiếu úy em Bùi Thanh Khiết còn Hai Thùng là em ruột của cô Kim Quít. Cô Kim Quít ra Bắc bằng đường Cao Miên gặp chồng cô ta là Nguyễn Đắc Nam, ông có nghe vụ đó không?

- Có chớ. Thằng Nam lúc bấy giờ đang ở bên Lào xin về gặp vợ một tuần lễ . Lâu ngày mới được ăn bánh bẻng mê quá nên tự ý tăng gia hạn phép một tuần. Trở lại Lào bị phạt. Sau đó cho về Nam, không được lên chức. Tội nghiệp nhất là bỏ cái bề hê ở lại đất Bắc mà vác con tí ngẵng về Nam một mình. Đau khổ quá chừng.

- Bây giờ ông biết nó ở đâu không ?

- Nghe nói nó về rồi mà không rõ nó ở đâu.

Sáu Lễ hỏi:

- Ông móc gia đình chưa?

- Móc quác.

- Ông có bà con bên vợ tôi không?

- Hình như bà con bên ngoại. Tôi gọi bà Tư bằng bà.

Sáu Lễ cười đắc chí:

- Vậy ông phải kêu vợ tôi bằng dì, kêu tôi bằng dượng.

- Phải đó. Tôi mới nhìn ông dượng là Chín Nữa ở đại đội 6.

Chín Lộc giục:

- Thôi ngồi vô, vừa nhậu vừa nhìn bà con.

Sáu Huỳnh nói:

- Ở đây tụi mình cũng đủ thành lập hội Nhậu chống Mỹ rồi. Dễ gì chịu thua tụi Ba Tố Năm Đùng.

Tôi hỏi:

- Hội Nhậu mới thành lập tối hôm qua mà anh biết à?

- Biết chớ. Cái nghề của tao ai địt một cái bộp tao cũng biết lựa là cái Hội Nhậu hát bội sáng đêm hôm qua. Nghe nói mày hát cũng khá lắm.

- Dạ thì ai tới đâu, em tới đó vậy anh Sáu. Hồi ở ngoài trường Pháo tụi này cũng đã thành lập Hội Ve Chai ở quán bà Ba Cạo rồi mà.

Sáu Huỳnh vừa rót rượu đưa cho tôi vừa nói:

- Hậu sánh khả quý. Mày hồi đó là con nít, nhưng bây giờ mày hơn tụi tao, bữa nay tao mừng mày. Nè, cắn một miếng đầu coi cho được coi. Xong rồi đưa cho Chín Lộc Bắc Kỳ xâm lược. Phải uống liền liền không được để ly xuống.

Sáu Lễ nói:

- Nếu muốn đua với tụi Ba Tố Năm Đùng mình phải nêu khẩu hiệu:

Một ly còn nhớ tên nhớ tuổ
Hai ly gật gù, bước đi chúi lúi
Ba ly ôm gốc cột cho chó ăn chè
Bốn ly bom bỏ chẳng thèm nghe
Năm ly pháo bắn coi như cứt ỉa
Sáu ly cá rô tới tha hồ cho nó rỉa.

Chín Lộc hớp xong đưa cho tôi:

- Cậu còn trẻ phải chầu đôi. Làm miếng nữa ! Mặt mũi sáng sủa chỉ phiền một nổi là chữa vợ.

- Chữa vợ hay vợ chửa đó ông mãnh ?

Sáu Cúc nảy giờ mới khai khẩu lần đầu. Sáu Huỳnh khui thêm chai A-nít và nói:

- Tôi tiếc hai đứa em vợ tôi lấy chồng sớm, nếu còn tôi gã hai đứa cho nó một lượt để bù công lao tập kết và vượt Trường Sơn.

Sáu Cúc trỏ Chín Lộc và hỏi tôi:

- Cậu biết ông Bắc kỳ xâm lược này là ai không?

- Tôi mới quen ảnh từ sáng tới giờ thôi.

- Ổng là chỉ huy phó 12 đội công tác thành. Chín Heo ám sát cò Bazin bị bắt ở Sàigòn là chỉ huy trưởng đó. Ổng bị kết án tử hình sau giảm còn tù chung thân, bị đày Côn Đảo rồi chết ở ngoải.

Tiệc rượu hôm nay toàn là tay gộc quân báo: Chín Lộc ra Bắc được phong làm Cục phó Cục Bảo Vệ Quân Đội tức là Cục An Ninh chuyên môn theo dõi tình hình quân đội. Được đi học Quân báo bên Liên Xô ba năm. Hiện làm trưởng ban Quân báo Khu. Sau này về làm Phó ban Quân báo R, dưới quyền Phạm Xuân Hoàng. Sáu Huỳnh lên làm Trưởng ban thay Chín Lộc trong chức vụ Trưởng Ban Quân Báo Quân Khu. Sáu Cúc làm Trưởng ban Quân Báo Phân Khu 1 phụ trách điện đài, mật mã trực tiếp liên lạc về R báo cáo tình hình hai Sư đoàn Anh Cả Đỏ và Tia Chớp Nhiệt Đới.

Tư Minh là quản lý, phụ trách một đường dây quan trọng ở Sàigòn. Năm 66 Mỹ càn Bàu Chứa bắn chết Tư Minh. Năm 68 tiệm may vợ Tư Minh bị khám phá có cả đại liên.

Năm 66, các cơ quan Quân Báo Quân Khu chuyển qua đóng ở Bến Cát – Dầu Tiếng.

Sáu Huỳnh có một bộ phận nằm tại ấp Vườn Trầu xã Phước Thành bên đường số 1 đo Ba Xuyên chỉ huy. Chính con Ua làm giao liên cho cụm quân báo này.

Năm 67, Mỹ càn vô Bàu Rô xã Thanh Tuyền bắn chết Sáu Lễ .

Năm 70, Sáu Huỳnh đem vợ ra khu lên Gò Dầu rồi qua Miên, chuyển qua là Phó phòng Hậu cần R Phân Khu I.

Chín Lộc nói oang oang:

- Tao thiệt là tên Bê Ka chính cống, cựu phu cạo mũ Dầu Tiếng, có lai du côn Cầu Ông Lãnh chút đỉnh, vô đảng đàng hoàng. Còn thằng Hoàng Thọ cũng là dân Bê Ka như tao nhưng nó là du côn Xóm Củi, Cầu Muối, chống đảng nên bị anh Ba Duẫn phăng teo!

- Thôi uống đi ông Bắc kỳ xâm lược! ở đó mà nhắc chuyện đời xưa, rượu thiu hết bây giờ. Xong tiệc này còn một ván tu-lơ-khơ nữa. Thức sáng đêm nay! Sáng sớm phải lo chuẩn bị !

Tư Minh nói:

- Chà ! Tiệc này chi coi bộ mạnh dữ đà anh Sáu. Sợ e khó vô sổ chi tiêu.

Chín Lộc nheo cặp mắt bù lạch không còn lông nheo:

- Chú cứ ghi vào khoản tiếp tân.

Sáu Huỳnh gật gù:

- Anh Chín là công thần hồi chín năm lại là phó bí thư đảng ủy phòng Tham Mưu. Năm Lê là Tham Mưu trưởng nhưng lại không có chân trong đảng ủy vì đang mang cái ô số 1 trong cổ. Thằng chả ngán anh Chín thấy mẹ. Anh Chín ký tên đưa lên là thằng chả ký duyệt thôi chớ dám ho he.

Rượu vào rồi lời ra. Cấp trên cũng như cấp dưới, cấp dưới coi cấp trên lem nhem như thảo giái, nên sẵn nhậu lấy rượu làm nư, khui hết hồ sơ của ông Tham Mưu trưởng khu làm món mồi tinh thần đưa cay cho ngọt.

Chín Lộc gợi ý trước nhất:

- Thằng Bắc kỳ này gốc lính thủy Tây có công đánh mấy trận ở sông Lòng Tào hồi chín năm ra Hà Nội được phong thiếu tá, về Nam mang lon Trung tá. Hắn cưới một bà Bành tên Hai Mặn năm 47, lại còn cấy rau muống ở Hà Nội, về Nam lại gặp bà già trầu tình cũ nghĩa xưa. Vụ đó vở lỡ cả R. Cậu đi hội trên R có nghe chớ?

Tôi giả vờ tỉnh khô .

- Dạ không! Tôi không biết gì hết!

Chín Lộc lườm tôi.

- Ở dưới này còn hay, đi lên đó lại không biết.

Sáu Huỳnh tiếp:

- Nay mai anh phải họp đảng ủy ba ngày đêm liền để bàn vụ thi hành kỷ luật ông ta.

Chín Lộc cười: :

- Kỷ luật mẹ gì được. Mình có đề nghị cảnh cáo khai trừ thì ở trên cũng xếp xó thôi. Thói đời huyện bênh huyện, phủ bênh phủ mà, ai hơi đâu ngồi họp cho đau xương sống, để nhậu chơi còn khỏe hơn. Ở trong này sướng thật, muốn nhậu giống gì cũng có cả.

Chín Lộc có mòi hăng máu, nói chuyện bao sân. Một chập có lẽ sợ lố cồn, nên quay sang nói chuyện công tác:

- Sáng sớm mai phải chuẩn bị, thằng Trung đoàn Hoàng Gia Úc đã vô Củ Chi. Nó câu vô thêm sáu khẩu 105 và một đại đội 106/7, chắc sắp làm ăn vùng này.

Chín Lộc quay sang tôi.

- Loại 106/7 trùm trùm tới đây không ông thầy pháo?

Tôi đáp ngay:

- Loại này có rảnh xoắn bắn tương đương với pháo 120 ly của mình. Khoảng cách sáu cây số.

Chín Lộc đăm chiêu:

- Vậy nó bắn khỏi mình rồi. Có thể tới Bàu Tròn.

Sáu Huỳnh lùa mấy dĩa thức ăn qua một bên, trải bản đồ ra xem, rồi kêu:

- Mẹ nó, chạy ô mồ mắc ô mã. Ở Xóm Bưng sợ pháo siêu âm 175 Đồng Dù và B52, Utapao, Hạm đội 7.

Chín Lộc kêu lên.

- Say rồi ! Say rồi ! Không phải Hạm đội 7 mà Guam tía thằng Thức ơi!

- Ừ Guam thì Guam! Mình dời về đây lại bị rảnh xoắn của Hoàng Gia Úc. Đ. mẹ thằng Bọ Chét năm ngoái tới đây nói mép. Nếu năm nay nó trở lại, tôi sẽ cho nó ngửi cái rảnh xoắn của con Bốn. Xong tôi trói nó vô chân giường cho nó xơi vài quả 106/7.

Tôi hỏi Chín Lộc :

- Tôi nghe nói tụi sư đoàn Tia Chớp Nhiệt Đới chuyên chống du kích. Nó đã thực tập ở Phi luật Tân rành rẻ rồi mới tới đây có không?

- Vụ đó tôi không biết nhưng nắm chắc là nó chỉ vô Đồng Dù có một trung đoàn thôi. Nó nặng về pháo binh yểm trợ hành quân, chớ không càn hoặc hành quân bộ binh nhiều.

- Vậy thì không lo lắm!

Chín Lộc gạt ngang:

- Chú em chưa bị 175 nện trúng lệnh, nên chưa rõ. Coi cái đầu của tôi và Sáu Huỳnh nề. Tóc rụng hết có khác gì đám mạ nhổ sạch không. Còn loe hoe vài khóm lưa thưa. Đó là kết quả đội mấy trận 175. Mẹ cha nó bắn nổ như đại liên vậy Một lần nó lau nòng súng là nửa giờ. Ít nhất năm trăm quả. Ngồi trong hầm đất rung như đưa võng. Chỉ còn biết cầu trời thôi. Nói thiệt với cậu, hồi chín năm một tay bụm dái một tay đánh Pháp mà thắng khỏe ru. Bây giờ mình có mọc ra ba đầu sáu tay cũng khó địch với tụi Mỹ này. Bây giờ mà đụng với BMEO là mình ăn gỏi nó cái một, còn gặp tụi Đồng Dù thì ớn tới họng. Tiên sư nhà nó. Đ. mẹ nhà nó giàu thật!

Sáu Huỳnh cười khà khà hơi rượu nặc nồng:

- Ông ngày nào cũng cong lưng đ.. nên nó càng đẻ ra nhiều.

- Nước uống mà nó chở đâu từ Hawaii sang chớ không thèm xài nước phông tên Sàigòn.

- Vậy mà ở xứ mình có một thứ nó khoái nhất ? Biết cái gì không?

Chín Lộc nháy nháy cặp mắt bù lạch:

- Thì ba cái lạng thịt bầy nhầy đó chớ cái gì? Đâu phải Mỹ mới mê mà toàn thế rới đều hít. Hít và rụng tơi bời!

Tư Minh giục.

- Thôi uống đi các cha ! Uống cho đả để mai có rửa chân leo lên bàn thờ thì khỏi đòi của cúng. Còn anh Sáu thì kêu chị Sáu vô ở vài bữa để lấy cho đủ vốn để có bề gì thì khỏi có bị người ta chê là sống thì khát mà chết thì thèm.

Tôi cười:

- Chết khát chết thèm là tôi đây chớ đâu phải mấy anh!

Sáu Huỳnh nhìn thẳng mặt tôi:

- Mày là con quỉ chớ chết thèm gì, mày tưởng cái vụ mày trèo dừa ngó xuống con Là tao hổng biết hả? Mày tính chừng nào cấy mầm sống mới cho con bé dũng sĩ hả? Con nhỏ đó tao coi được nhứt vùng này đó. Mày dạo măng-đô vói nó rồi phải không?

Bỗng tiếng cười nổ lên dòn dã trong bếp. Rồi con Ua ló mặt ra:

- Cháu đồng ý với bác Sáu đó!

Sáu Lễ trừng mắt:

- Con nít hỉ mũi chưa sạch biết gì mà xía vô. Chạy đi quán lấy một chai nữa coi!

Sáu Hùynh đỡ gạt:

- Ý, đừng nói vậy, nó là con dâu tương lại và con nhờ con cậy của tôi đó.

(Sau này, Ua đem mìn đặt trong Câu Lạc Bộ lính Mỹ ở Đồng Dù, sẽ nói ở một chương sau)

- HẾT QUYỂN II -
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 42

 Ngài Thiên Lôi rơi vào tay Tiên Cô




Chín Lộc nheo nheo cặp mắt bù lạch ăn sạch lông nheo vừa cạp xương gà nhai ngồm ngoàm vừa nói giọng ba rọi Nam Bắc:
- Năm ngoái Sư Đoàn 25 Bộ Binh tụi nó hành quân đó đây, rồi tụi Trâu Điên, Cọp Đen cũng dô, như dô nhà không cửa. Chỉ có ba cái hầm chông và lựu đạn gài nhưng đâu dính ma nào. Tụi nó không đi càn rừng càn rú như tụi Tây hồi trước mà nhảy cóc bằng trực thăng. Đang ở Bàu Trân nó nhảy qua Bàu Lách trong vòng 15 phút. Nó bay trên đầu mình, nó bọc sau lưng, nó xuyên hông, mình chạy hộc gạch. Cậu về đây đem món pháo ra trị tụi nó chút coi!
Tôi hỏi:
- Không bắn được à?
- Được chớ sao không! Nhưng mà bắn nó một phát CKC thì lập tức nó trả hoả một trăm trái cà-nông. Ruộng vườn nhà cửa tan hoang hết, đồng bào chửi và đuổi không cho ở – Sáu Huỳnh nhấm tí rượu khà một tiếng khẽ rồi tiếp – Xe tăng nó chạy như bọ hung vậy. Muốn cho bộ binh tới chỗ nào nó cho những khối thép đó càn trước. Gốc cây to cả ôm nó cho xe ủi bứng cái một. Lần nọ nó còn xúc một bụi tre.
Chín Lộc xua tay, định nói gì nhưng bị miếng xương gà trám bít nên cố cạp nhanh, trợn trắng và xua tay lia lịa.
- Thôi thôi cha non, đừng có kể cái chuyện đó, tớ ớn xương sống lấm. Nói ra ông thầy pháo sẽ mất tinh thần ngay.
Sáu Huỳnh nhướng tôi:
- Ê ngán không mày nhỏ?
- Nói nghe chơi chớ ngán gì anh Sáu! Tôi thuộc loại chì mà!
Sáu Huỳnh cười nhe răng dính đầy thịt gà :
- Để rồi coi chân chì hay chân sắt, xe ủi đất là lợi hại nhất. Nó xúc một phát là đi nửa cái nhà . Chòi con nó đưa một đường là bằng mặt đất. Bởi vật tụi du kích bây giờ cũng sợ không dám làm miệng hầm trong bụi tre bờ trúc hoặc gốc cây rừng nữa. Nó không cần thả chó đánh hơi. Nó cứ ủi. Bàu Lách, Gò Nổi hay Trung Hòa xe ủi đất xúc luôn cả du kích trong gốc bụi trúc bứng lên, giống như thuở bé tụi mình đi đào trùn câu cá bóng dừa, trong lưỡi cuốc có dính con trùn đứt làm hai khúc.
- Thằng du kích đứt làm hai à?
- Không phải vậy đâu! May mà lưỡi nó xúc hai phát, phát trước nó xúc thẳng cái nắp hầm, phát sau nó nạo luôn cái đáy hầm, chớ nếu nó xúc nửa chừng thì thằng nhỏ sẽ đứt cổ hoặc bị xắt làm hai khúc.
Sáu Cúc lắc đầu:
- Đang nhậu bắt trớn cha nội nói ba cái chuyện đó, tôi rùng mình mắc ói quá !
Tư Minh nhai miếng xương gà rau ráu và gầm gừ:
- Còn nhiều chuyện ớn hơn nữa, nhưng ăn thua chi ! Ăn thua chi ! Ta cứ anh rũng xốc tới đỡ đạn cà-nông đều đều. Củ Chi đất thép thành đồng mà lỵ!
- Mẹ, nói tới cà-nông, tôi càng ớn. Kỳ đó tôi chỉ cho thằng Cội tới đào một trái 155 lép trong cái nhà hoang. Gia đình có hầm rất chắc nhưng trái cà-nông lại xuyên qua cả nắp chui tuốt xuống giữa lòng hầm. Gia đình có tám người, may là trái cà-nông không nổ ông ạ. Nếu nó nổ thì bay hết không hốt lại được một miếng thịt. Sau đó cả gia đình dời đi tức tốc ra ấp chiến lược .
Sáu Cúc tiếp:
- Không hốt được một miếng thịt thì phải nói trận B52 ở Hố Bò. Ít nhất là mười nóc nhà trúng tệnh, mỗi nhà ăn nguyên một trái bom. Bom không có mắt mà nhểu ngay chóc như cò ỉa miệng chai vậy.
Vừa đến đó thì bỗng có tiếng hát nhí nhô từ ngoài đường:
Áo may xong tiền công khỏi tính,
Anh lính mừng luýnh quýnh cầm ngay,
Áo mới may mà sút hai đường chỉ,
Anh lính rầu bí sị hết mê.

Tiếng hát rõ dần khi bắt leo qua bài khác:
Chiều mưa ướt át anh đi về đâu ?
Sao còn đứng ngóng nơi Bàu Tròn,
Kìa Đường Làng, An Nhơn khói xám
Con đầm già kêu mãi điếc tai
Lòng người xơ rơ bao nỗi ai hoài.

Sáu Huỳnh nháy nháy tôi. Tôi không hiểu chuyện gì cứ nhậu miết. Chín Lộc càng nhậu càng xổ nho và nó giọng ba rọi nghe đến buồn cười:
- Tiên sư mấy thằng Mỹ dô đây riết rồi chơi hết con gái Bình Dương Củ Chi làm đám mình bơ mõm. Địt mẹ bố tiên sư, mình muốn có một cái, phải o mệt mới được, còn tụi nó không thèm mất tiếng nào, chỉ rút giấy bạc ra quơ quơ là đàn bà con gái chạy theo rần rần. Cái kiểu nầy mình còn nồn non nồn già đâu mà địt.
Sáu Huỳnh bất mãn địa vị nên luôn luôn châm chọc cấp trên. Vớ được cơ hội, y cười khè khè:
- Các cha có biết ní nịch của ông công nhân ba đời Chín Nọc chưa? Để tôi xin giới thiệu sơ qua nghe chơi. Hồi trước cách mạng ổng làm ở hãng Rờ nồn đấy ạ ?
Mọi người cười ré rồi nhao nhao lên:
- Hãng gì lại có cái hãng kỳ cục vậy?
Sáu Huỳnh nhẩm xà một phát rồi nói tỉnh bơ.
- Các cha không nghe hãng xe Pháp Renault à? Đó chẳng phải Rờ Nôn hay Sờ Nôn là gì? Chỉ cần bỏ dấu nặng dấu huyền như mấy ông Huế Nghệ : năm cắc thì ra năm cặc, ở đây Rờ Nôn lại hóa ra Rờ Nồn hay Sờ Nồn chớ gì. Chín Nọc mà làm hãng Rờ Nồn thì đúng quá chớ còn gì nữa ? Hì hì ! Có đúng danh từ không lào cụ Chín?
Mọi người gật đầu và cười phun cả rượu thịt. Sáu Huỳnh kết luận:
- Bởi vậy bây giờ thằng chả nhớ cái hãng cũ, cứ mở miệng thì có cái món đó văng ra hàng loạt.
Tư Minh vuốt đuôi:
- Tại ổng cứ đi địt nên nó càng đẻ ra đông như kiến, nay mai sẽ có cái Đồng Dù thứ hai nữa là mình hết đường sống đó nghe .
Chín Lộc nổi cáu chửi oang oang:
- Địt mẹ cái thằng Sáu Gấm và thằng Bảy Tùng.
- Tôi đã bảo đừng có địt nữa mà cứ hở là địt! Ông đã có cái bánh bò gặm mỗi đêm rồi còn ức hiếp gì nữa kia chứ!
Chín Lộc trợn mắt lộn thinh trái ké, miệng há hốc như bị mắc xương hồi lâu mới nói được.
- Chúng nó làm như vậy là mất lập trường cách mạng chớ giỡn à? Ai đời, mình là cán bộ mùa thu mùa đông lại cho vợ con ra làm với Mỹ ở Đồng Dù là cái thá gì?
Thấy Chín Lộc đổ quạo thực sự, Sáu Huỳnh không trêu nữa. Cả mâm rượu cũng hết nhộn. Hắn chỉ là Trưởng ban Quân Báo loại cá kèo nhưng lại là Phó Bí Thư đảng ủy Bộ Tư Lệnh Quân Khu, còn Năm Lê là Trưởng Ban Tham Mưu nhưng vì mang cái ô của bà Hai Mặn nên không được vô cấp ủy . Chín Lộc là cấp dưới Năm Lê về mặt chánh quyền, nhưng vô họp đảng thì Năm Lê lại lấm lét sợ Chín Lộc lôi cái ô đó ra mà nện thì mất mặt bầu cua, nên Chín Lộc được mợi, ăn nói rất hiên ngang con bọ xít. Chín Lộc tiếp:
- Tôi đã bảo Năm Lê phải cảnh cáo hai thằng đó, nhưng y không chịu nói gì hết.
Sáu Huỳnh cười khè khè :
- Ổng bị cái khớp ngang cổ đó mà còn dám nói ai. Nghe nói bà Mặn bỏ công tác rồi hả anh Chín?
- Vụ đó còn nhiều chuyện linh tinh lắm chớ không có êm đâu. Còn vụ hai thằng Bảy Tùng và Sáu Gấm tôi nhất định tranh đấu tới cùng.
Tư Minh đưa cho Chín Lộc cái giò gà và bảo:
- Anh đừng có nóng, anh Chín bầy trẻ.
- Gặm hết năm cái móng gà là hạ hỏa ngay đó chú Chín Nọc.
Con bé Ua ở dưới bếp nói vọng lên. Mọi người phá lên cười Chín Lộc cũng không nhịn được, đính chính:
- Nộc chớ không phải heo nọc nghe các cha !
- Ù, thì ai nói ông là heo nọc. Ông mới có hai bà thôi mà !
Chín Lộc hết chửi Sáu Gấm và Bảy Tùng vì bị cái tiếng nọc chặn họng. Sáu Huỳnh bảo:
- Tụi nó có vợ con đi làm để kiếm tiền nuôi tụi nó. Như vậy tụi nó mới đi làm cách mạng được chớ: Bụng đói mà lội sình cuốc đất đào hầm sao nổi cha!
Chín Lộc dịu giọng:
- Nhưng phải nhớ rằng đám đàn bà con gái dô đó thì mười đứa bị rốc kết Mỹ hết cả mười . Về trong này nó đổ bệnh tiêm na cho mình.
- Ông quá lo xa ông nội ơi !
- Ông không biết chớ tôi hội nghị đảng ủy đã nghe quân y báo cáo rõ mà. Ít nhất là có ba ông mảnh bị dính đang nằm nhà thương bên Bưng Còng kia ! Pênêxilin không đủ chữa vết thương cho chiến sĩ, lấy đâu tiêm cho tụi nó. Thằng Mỹ vô đây làm đảo nộn mọi thứ không phải chỉ bằng bom đạn mà thôi đâu. Lãnh đạo thật vô cùng phức tạp.
Tư Minh hỏi, giọng tỉnh bơ:
- Bộ có vụ lính mình bị rắn hổ nữa sao ông Chín?
- Tôi nói náo cho cà nông Đồng Dù ăn tôi đi.
Tôi nghe buồn buồn sau gáy, linh cảm có việc gì nên quay lại thì bắt gặp một cặp mắt đen lay láy ở sau bẹ cửa buồng. Tôi giật mình, tướng đó là đôi mắt của Thu Hà bên gốc bàng lăng ở Trường Sơn.
Sáu Huỳnh cầm chai Anít lên lắc lắc rồi bảo:
- Mày về đây coi chỗ nào khơ khớ thì làm liền đi, ở đó mà kèn cựa thì tụi Mỹ nó xơi tái hết.
Tư Minh nói:
- Anh Sáu khéo lo ! Ông thầy pháo có ba bốn cái bánh bò rồi. Ổng còn xem xét coi cái nào có rể tre, cái nào chai rồi mới bẻ ra chấm nước cốt dừa đó !
Sáu Huỳnh vừa châm thêm rượu cho tôi vừa nói:
- Tao có một cái. ổ tốt lắm. Tao cũng muốn tòm tem ngặt sợ chị Sáu mày đổ ghè tương ra tùm lum như ông Năm Lê. Nếu mày muốn tao làm mai cho!
Chín Lộc chắp tay xá xá:
- Tôi lạy ông mai tốt số!
Sáu Huỳnh quay ngoắc xuống bếp.
- Con Ua đâu, ra bác bảo – nhưng đụng nhằm cặp mắt đen lúc nãy – Chia, ra đây ba bảo!
Tôi hỏi:
- Anh có con gái lớn vậy sao anh Sáu?
- Nó là con dâu tương lai của tao. Mày nhớ thằng Thức con trai tao hồi kháng chiến, má nó đẻ ở…
-…Kinh Bà Vụ phải không?
- Đúng đó ! Bây giờ nó lớn xộn rồi. Tao tính cưới con nhỏ này cho nó đó. Năm rồi mẹ nó ra dẫn nó theo tao bắt ở ngoài này công tác luôn. Con một bên, cha một bên khó lắm. Rủi nó ở ngoải nó đi lính quốc gia, nó nhảy dù xuống đây, nó khìa ông già tía nó, ai cản được?
Sáu Huỳnh lại ngoắc.
- Chia ! ra đây ba nhờ chuyện này chút.
Tôi nghe tiếng cười rúc rích bên trong nhưng không thấy ai ra trình diện. Chín Lộc uống ít, phá mồi nhiều, y cố nuốt miếng da gà béo ngậy, chùi mép chàm ngoạm mỡ rồi nói:
- Con cưới con, bố lấy mẹ, vậy còn ai bằng!
- Đọ! bây giờ anh Sáu ló cựa rồi nghe, tôi mé.. ét chị Sáu!
Cụp cụp…
Cả bàn tiệc đang vui vẻ bỗng lăn xuống đất.
- Phá…phá…áo!
Một tiếng kêu thất thanh. Đèn đuốc tắt đui. Mọi người nằm sát đất. Nhoài, bò, lết, trườn tới miệng hầm hoặc tới chỗ khác mà tưởng mình tới miệng hầm. Đúng là tắt đèn nhà ngói như nhà tranh, tất cả đều đen thui như lông chó mực.
Tiếng nổ nghe như ngay ngoài hè. Chát chúa lỗ tai. ầm, ầm!
- Anh Hai bò lại đây nè!
Một bàn tay quờ đụng và lôi tôi đi. Tôi bò theo như máy, không biết nó dắt tôi đi đâu. Người ngợm đụng nhau hung như cá trong chiếc rộng tre chật.
Tôi nghe tiếng thì thào đứt quãng bên tai:
- Anh đừng sợ ! Bên ngoài có vách đất.
Rồi má tôi nghe ấm hổi. Không phải một bên mà cả hai bên rồi tiếng thì thào bên tai.
- Ôm em đi cho hết sợ ! Ôm mạnh nó !
Tôi làm theo như máy. Trong khi tôi ôm thì tôi lại bị ôm.Tôi nghe ấm áp trên má và những tiếng thì thầm tiếp tục,không biết bao lâu… Ở giữa hai tiếng nổ, một phần ngàn của một tic tắc, tôi bỗng nghe rõ từng tiếng một cả hai phía bên tai. Đáng lý ra tôi phải có sáu cái lỗ tai mới nghe hết.
- Em yêu anh, em yêu anh!
Và :
- Em đâu còn nhỏ , em đâu còn nhỏ . Anh yêu em đi ! Anh yêu em đi!
Tiếng nổ đã dứt hồi nào, nhưng dư âm còn vang “e e e” trong không khí nóng bừng. Sáu Huỳnh kêu to:
- Hết chết rồi, ra đi! Nhậu tiếp!
Tôi lồm cồm bò ra. Sau tôi là hai đứa con gái: Ua và một cô khác Tôi đứng dậy phủi bụi trên quần áo. Ua đến lau tóc cho tôi bằng một cái khăn tay. Còn cô kia thì lẩn mất. Ua cười như nắc nẻ và vỗ vỗ đầu tôi:
- Ông thầy pháo bị pháo nện chui xuống đít ông táo ê ê.
Bà ngoại từ trong hầm ló đầu ra quát:
- Con Ua không được hỗn . Người ta nhỏ với mày hở? rồi bà hỏi – có đứa nào có sao không?
Ua hớt:
- Có có ngoại à ! Anh Hai u đầu vì đội đít bếp, còn con rụng hết mấy cái lông nheo.
Tôi hỏi Sáu Huỳnh:
- Tụi nó có thường chơi chầu đôi không anh Sáu?
Sáu Huỳnh đáp:
- Chuyện đó không có qui luật gì cả . Chầu đôi chầu ba, chầu năm chầu bảy cũng có.
Chín Lộc mặt như gà cắt tiết nhưng cố làm tỉnh bằng cách mở mồm địt tiên sư chúng nó không ngớt.
- Ngồi lại nhậu tiếp. Cho đi mua rịu thêm.
Sáu Huỳnh bảo:
- Để tôi ra sân xem nó nổ ở đâu.
Chín Lộc trợn mắt:
- Nó nổ ở Đồng Dù, ở Trung Hòa chớ còn ở đâu nữa mà phải xem!… Tiên sư bố nhà nó làm đổ cả chai anít và mấy tô cháo. Con Ua đâu, coi nồi chè đậu còn hay bể mất rồi?
Trong lúc hỗn canh hỗn cư, tôi lôi Sáu Huỳnh ra sân, rỉ tai ngay:
- Có gián điệp nội bộ không anh Sáu?
- Gián điệp gián điếc gì. Đêm nào nó cũng giả, không chỗ này thì chỗ kia. Không đêm nào là không có người bị thương. Bệnh xá của Tư Chuyền không còn chỗ chứa.
- Tôi lấy làm lạ sao tôi đi đâu pháo bắn theo giáng đít tới đó vậy?
- Mày đừng lo.
- Cái hột mít nào lạ hoắc kia, anh Sáu?
- Công tác viên của mình đấy. Tao định cưới cho thằng con trai tao, nhưng thằng nhỏ khờ quá không cầm cương nổi nó đâu.
Tôi nhớ lúc nãy dưới đít bếp, tôi bị những cái hôn từ cả hai phía. Tôi lấy làm lạ sao tụi thanh nữ lại yêu cuồng sống vội vậy? Tôi và Sáu Huỳnh trở vào mâm rượu. Chín Lộc lấy rượu làm nư nhưng mặt mày vẫn còn lơ láo. Sáu Huỳnh nói:
- Ba thằng Trung Hòa còn đỡ đỡ chớ tụi Đồng Dù chơi hỗn lắm. Muốn ăn chắc ta đem mồi và rượu xuống hầm, muốn cưa mấy cây thì cưa .
Nói thì nói vậy chớ không ai còn bụng dạ nào mà gặm nết mấy cái xương gà trong lúc chúng nó lại giã gạo tứ phía. Hết Bàu Lách qua tới Bến Mương đến Gót Chàng. Từ Xóm Bưng lan sang Gò Đình, từ Bàu Chưa đến Xóm Cây Sộp. Rải rác khắp nơi đất thép Củ Chi đều ăn pháo, nơi nhẹ nhất cũng vài phút. Chưa thấy Đồng Dù xài pháo 175. Pháo 105 chỉ bắn từng phát. Như vậy cũng đã động đất tới âm phủ và tận Hà Nội rồi. Đêm nay chắc Bác cũng khó ngủ như đêm nào. Nhà thơ Minh Huệ lại có thêm đề tài tốt.
Ngồi trong hầm, trước dĩa thịt gà lạnh tanh, răng cỏ mấy lão già trệu trạo sơ rồi nuốt chớ đâu còn tâm trí để nhai.
Chín Lộc buông đũa trước nhất:
- Kiểu này, mai có chụp! Mình phải chuẩn bị. Các cha, ai về chỗ nấy lo chôn đồ đi. Nãy giờ tội nghe nó nện đúng những hướng có tụi mình hết cả.
- Không sao đâu anh Chín! Đây là cữ thường đêm của tụi nó mà.
- Tôi nhảy mũi nãy giờ năm sáu cái liền đây cha ! Tôi bốc gió ngửi thấy mùi tanh tanh nữa !
Tiệc xong tôi được Sáu Huỳnh phân công ngủ chung hầm với bà ngoại và hai đứa con gái. Sáu Huỳnh nháy nháy tôi và bảo Ua:
- Hai đứa bây nằm hai bên bảo vệ anh Hai nghe. Còn để bà ngoại ngủ trong hang ếch!
Nói xong Sáu Huỳnh và Chín Lộc xuống hầm.
Ngôi nhà ngói ba gian rộng đã giỡ hết hai. Cột kèo quăng xuống vũng ngâm chờ hòa bình.sẽ vớt lên cất lại. Còn một gian và cái bếp khá rộng thì đào hai cái hầm thật sâu, nóc đất thật dày. Chín Lộc và Sáu. Huỳnh. dùng làm văn phòng và chỗ ngủ.
Bà ngoại thì đóng vai chị nuôi cho cơ quan. Con Ua làm liên lạc đi thư và quân báo ra vào Củ Chi thường xuyên.
Tôi. đi ra ngoài giếng để múc nước rửa mặt đánh răng. Nghe mùi thuốc đạn khen khét, tôi đoán chắc đạn nổ ở sau đồng. Vừa nặn kem anh Bảy Chà Hynos vào bàn chải thì tôi nghe một bàn tay vỗ lên vai:
- Mơ mộng gì đó ông anh cả?
- Đâu có mơ giống gì?
- Thiệt hổng mơ hả ? Thề đi ! Hề hề . Em biết anh đã rung rinh trái tim rồi mà. Hổng sao đâu! Em làm mai cho. Đó là con Chia, con của dì Tư em, em bạn dì của em, học ở Sài gòn, bỏ trường về đó. Má em thứ ba. Rõ chưa nào? Nó nghe em nói hồi chiều em qua quán nó mua rượu trà thuốc nên nó muốn qua coi mặt ông giải phóng mùa thu. Nó cũng mê ông giải phóng tít thò lò rồi. Hồi pháo nổ nó hun ông ha ha phải không? – Ua nói một hơi vừa pha trò vừa tỏ vẻ bực tức – Nó đọc tiểu thuyết thành, ăn mặc kiểu thành, uốn tóc, nói tiếng ăng-lê chút đỉnh và đẹ …ẹp. Vậy là đủ tiêu chuẩn chưa nào ông tân Trưởng ban H6?
- Em ăn nói kiểu gì vậy Ua?
- Anh coi chừng chớ nó hốt hồn anh cái một. Nó không ăn nói lách chách cái miệng như em đâu. Nó chỉ nhìn anh chăm chắm rồi thở dài thườn thượt.
- Con nhỏ này!
Tôi quay sang vỗ đầu Ua.
- Hồi nãy nó núp trong buồng lén coi anh nhậu. Em hỏi nó: Cỡ đó bằng sĩ quan Sài gòn chưa? Nó nhéo em mấy cái bầm da đây này.
Ua cầm tay tôi ấn vào bả vai nàng:
- Tạ i anh ! Bắt thường anh đó .
- Ừ, thì bắt thường ! – Tôi bất thần hôn trên má Ua – Vậy được chưa?
- Xí, cứ coi người ta là con nít hoài !
- Bộ lớn lắm hả?
- Em biết chuyện còn hơn người lớn nữa đó.
- Chuyện gì, nói nghe coi!
- Mấy ông nội này tưởng em không biết gì hết. Sự thực không có chuyện gì lọt qua mắt em. Ông nào cũng thúi rùm, không có ông nào là nhà cách mạng chơn chánh như hồi ở ngoài thành em tưởng tượng hết. Ông Bắc Kỳ mắt bù lạch ăn có tới hai bà. ông Sáu Huỳnh có vợ ngoài thành vô ra hoài mà cũng có bồ tèo là má con Chia.
- Ai?
- Má con Chia chớ ai.
- Người ta công tác mà !
- Tác hoác thì có . – Bỗng nhiên Ua quay ngang – Em nói cho anh biết. Em không còn nhỏ nữa đâu. Em yêu anh rồi đó. Đừng có chê em là con nít.
- Trời đất !
- Không có giỡn đâu. Anh mà lăng nhăng với người khác a lê hấp lựu đạn da láng rút chốt chia hai.
- Em học ở đâu cái thứ du côn đó Ua?
- Ở thành chớ đâu ! Tối nay ngủ, anh nằm giữa, phải nằm ngay ngắn, nếu có trở mình thì không được trở qua phía con Chia nghe chưa?
- Sao nó không về nhà mà ở đây?
- Nó lấy cớ pháo bắn không dám về, nhưng em đi guốc trong bụng nó. Nhà có hai cái hầm. Cái của ông Chín Lộc không ai được xuống ngoài Tư Minh và Sáu Huỳnh. Vậy anh ngủ ở đâu? Nó ở lại thì ngủ ở đâu? Không chung một hầm với ngoại và em thì ngủ với ai? Em em hổng chịu thu…
- Chị em chưa chi đã xích mích nhau rồi.
Tôi cắt ngang tiếng nói của cô bé bằng một cái hôn môi.
Hai tay Ua ôm quặp lấy tôi. Tất cả những cao điểm nóng trên người Ua chạm vào tôi như sự đối kháng của những vũ khí chực nổ. Tôi bảo:
- Buông ra, ngoại thấy chết!
- Xí ngoại chịu gả em cho anh rồi! Mai em ra nói với má ngoài Củ Chi. Má về làm đám cưới luôn, con Chia hết có dòm dèm.
Tôi đi vào nhà. Sáu Huỳnh nói ngay:
-Đi ngủ sớm đi! Mai không yên ổn đâu.
Tôi xuống hầm. Lòng hầm chiếm trọn một căn nhà. Cột và đà ngang làm bằng gỗ lấy từ ngôi nhà lớn nên rất chắc chắn. Nóc đất dày hơn một thước tây. Trên nóc còn chất vô số cây gỗ, ván và các thứ lặt vặt khác nhằm chặn sức xoi của đầu đạn cà nông.
Hồi kháng chiến chống Pháp tôi cũng từng đi năm sông bảy núi nhưng chưa bao giờ phải chui vô một cái hầm kiên cố như thế này. Cao lắm là loại hầm gọi là hố một cạn như lỗ mèo quào và ít khi có nắp. Nhưng đánh với Mỹ kỳ này toàn dân ở hang. Nhưng không phải thứ hang lơ mơ đâu, phải là hang Pắc Pó mới bảo đảm. Tôi đã từng trốn máy bay Mỹ ở trong đường hầm khoét trong núi Quyết ở gần Phà Bến Thủy. Bom bỏ trên đầu không ăn thua.
Cái thứ hầm này tuy coi thì chắc vậy, nhưng nếu một trái cà nông 175 rơi ngay thì người trong hầm lãnh đủ. Trường hợp cò ỉa miệng chai cũng thường xảy ra. Bạn cứ nghĩ: hết một nắm lúa vẫy vào bụi tre thì không trúng cây này cũng trúng cây khác chớ làm thế nào không ngơ được. Ở trên R thì chuyện đào hầm hố ít quan trọng. Vì trên đó hễ ăn thì ăn dưa hấu bầy rãi thảm không có nắp hầm nào chịu nổi (họa may hầm của Sadam) nên người ta sống trong sự thấp thỏm, may rủi nhờ trời, không có cách gì chống được, nhưng ở Củ Chi, ngoài B52 còn pháo. Pháo bắn bất cứ lúc nào. Có khi chỉ vài trái. Có khi hàng trăm hàng ngàn trái. Cán bộ, bộ đội, dân chúng chết trên đường đi công tác hoặc trên đồng rất nhiều không thể nào biết hết. Cho nên cái việc đầu tiên của cán bộ khi đến địa phương công tác là hỏi: “Có hầm không? Có hang chui không?” Không có hai thứ này thì kể như tam phân mạng nghĩa là chỉ sống một phần ba thôi, cũng như hành thuyền kỵ mã vậy.
Bà ngoại, sau trận pháo, vô nằm trong ngách, chừa cái giường ở giữa hầm cho tôi và hai đứa cháu gái. Nghe Ua nói, tôi hiểu tại sao một bà già phong kiến lại thả lỏng cháu gái mình như vậy. Tôi đoán biết tâm lý của những người có con gái là muốn chúng nó có nơi có chỗ cho rồi, để lớ huớ lại tránh không khỏi cái cảnh bị sau là bị tương lai, bị trước là bị anh Hai gởi về. Mang ba lô sau lưng ít lâu rồi lại mang một cái ba lô trước bụng. Trường hợp nữ chiến sĩ thi đua Tư Gừng lừng danh dũng sĩ diệt Mỹ rồi cũng thế thôi. Sau khi bỏ được cái bị trước thì mặt mũi cũng không còn. Do đó, bà ngoại muốn cho con nhỏ bồng chanh bốc chách này có nơi có chỗ sớm đi, để có ngày cái bị của cháu bà là của mấy tên già dơ xưng bác bác chú chú này thì mang nhục cả dòng họ . Chuyện này cũng xảy ra rồi ở Phú Hòa Đông, một ông cán đầu bạc quơ một đứa cháu nuôi mười sáu tuổi. Và nói chi xa, Năm Lê cũng hát cái tuồng đó với con gái nuôi (sẽ kể tới). Hai đứa con gái nằm hai bên. Chúng bắt tôi chép bài hát ở trên R, cô Ba Ánh cũng bắt tôi chép bài hát. Rồi các cô Tiến, cô Huê ở trường pháo cũng bắt tôi chép bài hát. Mọi việc bắt đầu bằng chép bài hát… Hát là hỏng! R là rờ mà !
Hai cái đầu nom sát vào tờ giấy. Chữ hiện ra dưới ánh đèn cầy mát rợi. Ua bảo dưới hầm phải xài đèn cầy, nếu xài đèn dầu lửa thì sáng ngày hai lỗ mũi trở thành hai cái ống khói tàu. Tôi nghe cả hai luồng hơi ấm phả vào mặt tôi từ cả hai phía.
Ban đầu tôi chép Bài ca may áo cho Chia, kế đó tôi chép bài Xuân chiến sĩ cho Ua . Nhưng cả hai đều chê bài hát không mùi và cũ mèm. Tôi hỏi hai em muốn bài gì? Hai em bảo bài gì cũng được, nhưng không phải bài kháng chiến, giải phóng vì những bài đó đoàn văn công của huyện hát nhàm hết rồi. Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Quận có đoàn văn công nữa à?
- Đoàn đờn cò đờn gáo của ông Phạm Sang đó mà, anh muốn coi không?
- Phạm Sang nào?
- Thằng cha bị vợ bỏ rầu rỉ kéo đờn cò tối ngày bà con trong xóm nhức xương, hơn nữa, tiếng ò e làm cho lối xóm không nghe được tiếng đề-pa của pháo, nên bà con đòi chụm ba cây đờn, giải tán cái đám nhảy cóc nhảy nhái và khóa mấy cái miệng ca Kim Tiền, Bình Bán đó đi!
- Rồi bây giờ nó còn hoạt động không?
- Còn vài đứa con gái và vài ba cậu thanh niên loại gà rót không dám đi chiến đấu lủi trốn ở nhà vô đoàn văn công của ổng.
Tôi nằm giữa hai nàng tiên, nghe trong người ngứa ngáy vô cùng nhưng bóp bụng làm như mình là gỗ đá . Mới vừa ăn chè đậu làm anh Hai của cô bé bây giờ lại hát tuồng tơ xe lộn mối hay sao? Thực tình tôi không có ý bỏ ngón cái cây đờn tì bà tí hon này, nhưng chính nó tự lên dây và khiêu khích tôi hoài, nên tôi mới dạo sơ sơ mấy đoản khúc. Coi bộ nó không hài lòng. Nó cứ rà sát vào cả hai vú . . . chì cau vào hông, cọ chân đụng đùi, còn má thì áp vào cổ tôi khiêu khích. Chắc tôi khó bề nhẫn nại được. Còn cô bé Chia thì chiến tranh lạnh. Cô nàng chỉ xem tôi viết, lâu lâu lại khen:
- Anh viết chữ đẹp quá hà !
Hoặc hỏi:
- Anh có biết đàn không? Anh về , đã móc gia đình chưa? Má em sẽ móc dùm cho!
Mỗi lần Chia hỏi, Ua đều nghễnh đầu trừng mắt sau gáy tôi Tôi nhìn thấy cả những gì ở sau lưng tôi và tôi linh cảm trước những gì có thể xảy ra cho tôi nữa.
Ua làm như tôi là vật sỡ hữu của nàng rồi. Sự thực từ lúc tôi thấy cô bé Chia thì tôi bớt để ý đến Ua. Ua cũng nhận ra điều đó nên nàng bực tức và lồng lộn.
Chép xong bài hát, tôi bảo Ua:
- Nếu em muốn hát đúng giọng em ghé lại nhà chị Bảy Mô, chị ấy sẽ dạy cho em thêm đờn.
- Em không cần hát đúng giọng, em chỉ cần có nét bút của anh để giữ làm kỷ niệm.
- Nay mai pháo bắn, kỷ niệm gì rồi cũng bay hết thôi.
Chia không nói gì. Chỉ cầm tờ giấy lên đọc nhẩm rồi kê lên mũi hít hít. Ua kêu lên:
- Mày làm gì vậy, Chia?
- Giấy thơm quá !
- In là con khùng!
Bà ngoại đang nằm trong hang ếch ló đầu ra cười:
- Bà có đứa cháu gái đó, cháu chấm đứa nào, bà gã đứa ngay.
Ua ngồi chồm dậy cong cớn cặp môi:
- Bà chịu gã cháu rồi, bà nói vậy ảnh thay đổi làm sao?
- Nếu hai đứa bây chịu thì tao gã hết cho cậu ấy!
Ua ứng khẩu liền:
- Vậy thì con Chia phải làm bé; vì nó tới sau cháu!
Chia vẫn lặng thinh. Ua biết Chia hơn mình về nhiều mặt nên nói lại ngay:
- Ý mà không được, làm vậy ảnh bị kỹ luật chết.
Bà ngoại cười xòa:
- Con nhỏ lúc nào cũng bồng chanh bốc chách, miệng bằng tay, tay bằng miệng.
Tôi nằm ở giữa, bên trái là Ua, bên phải là Chia. Ua bảo:
- Bên trái có trái tim, bên phải không có trái tim, chỉ có cái cùi chỏ !
Chia vẫn im lặng. Ua để ngọn đèn vào một ngách hầm. Bên trong trở nên mờ như đêm trăng lu.
Tôi tưởng mình trở thành con cá muối cứng ngắt và đồng thời như một thanh sắt nung. Tôi không dám xê qua nhích lại lằn ranh nóng mà hai nàng dành cho tôi. Riêng Ua thì thọc tay dọc xuống hông tôi cứ nhéo khẽ như có ý nhắc chừng: đừng có vi phạm luật giang hồ. Còn Chia thì có lẽ tự tin mình hơn hơn đối thủ nên giữ tư thế nghiêm trang, không khiêu khích.
Tôi giả bộ ngủ. Tôi nghe Ua chồm lên thổi tắt ngọn đèn rồi lặng lẽ nằm trở lại chỗ cũ . Nhưng lần này thì nàng bỏ một tay qua ngực tôi. Tôi vờ không hay biết. Nàng hôn tôi khe khẽ Tôi trân mình như khúc gỗ. Nàng càng hôn bạo. Nàng hôn vai tôi cố làm cho tôi quay mặt sang nàng đưa lưng cho Chia. Tôi bất thần quờ tay Chia cầm lấy và nối vòng tay lớn hai chị em trong đêm tối. Ua giật ra đạp mạnh, nhưng Chia đã rút nhanh nên tay Ua chạm vào bụng tôi đánh bịch. Ua cười khúc khích. Chia giữ im lặng như cũ.
Chao ôi là khổ. Tôi chỉ cần một mà lại có đến hai, ba bốn. Ở trên R tôi đã khổ vì các cô tiểu thư con cháu các ông trời, về trường pháo tôi khổ vì Huê, Tiến, Mai Khanh rồi bà khu ủy viên. Rồi đến Củ Chi tôi bị hai chị em cô Lụa Là bắt xác. Sau đó hai cô Nguyệt Nga, cô nào cũng sẵn sàng dâng dưa cả Đó là chưa kể mấy nàng độc chiến như Bảy Mô, Tư Bé…rải rác dọc đường Thiên Lôi. Và bây giờ thì hai nàng tiên nhỏ cặp hông. Cầu thủ bị chèn nghẹt thở suýt không được quả nào. Củ Chi này phải chăng là Tây Lương Nữ Quốc, một nước gồm toàn đàn bà. Từ Vua chúa triều đình cho đến thứ dân đều là hạng quần vận yếm mang. Cái nước này làm khổ ông thầy tu chín kiếp Tam Tạng không ít. Nhưng Tam Tạng là nhà chân tu..Còn tôi là tu hú. Tôi tu cái đạo của ông Trượng ghẹo Tiên Bửu tân thời:
Tu đâu cho bằng tu đây
Tu chùa một cột đá xây hai hòn.

Gây chiến tranh với Mỹ, bác Hồ độc thân đã biến Củ Chi này thành một Tây Lương Tiểu Nữ Quốc. Thanh niên vắng bóng trong làng. Họ ra đi dân công ở Bình Long, Phước Long, Bình Giã, nơi quân Bắc kỳ xâm lược nghênh ngang muốn đọ sức với Mỹ: một ra đi là không trở về. Chồng của Là, của Mười, của Tư Mai. của Hai Hương (người đàn bà đến giúp vui cho nhà báo quốc tế Bọ Chét) đã nằm lại ở nơi xó rừng sâu núi thẳm nào đó, để vợ yếu con thơ… lãnh cái giấy báo tử nát nhàu.
Những gái một con thiếu chồng lâu năm, những cô gái đang học ngoài thành bỏ trường vào khu giải phóng vì nghe tiếng tăm Mặt Trận. Vào đây thấy không như người ta nói trên đài nhưng không dám chạy trở ra đành phải sống giữa cảnh chết chóc yêu cuồng sống vội. Hai cô bé này giống y như cô bé Thanh Tuyền, con gái rượu ông Lê Đức Anh.
Tôi bị kèm chặt quá, mặc dù được phép bà ngoại, vẫn không hoạt động được. Muốn xoay qua một bên để cho cái thớt lưng đỡ tê mà sợ mếch lòng. Một cử chỉ nhỏ cả hai đều biết. Cả hai đều giả vờ ngủ, nhưng lại muốn đối thủ của mình tin rằng mình ngủ say. Cả tôi nữa cũng ngáy bằng mũi lẫn mồm rất to để được hai nàng tin rằng tôi ngủ và khẩu pháo nằm ụ, không có pháo kích vùng đất cấm nào. Sự thực chẳng có ai chợp mắt.
Nghĩ thầm một chút mà tự cười mình. Tên Thiên Lôi này là loại người gì mà các bà các cô đều thích lấy giống vậy. Đẹp trai như Tam Tạng chăng? Sức mạnh phi thường như Hạng Võ chăng? Văn chương sánh cùng Lê Qui Đôn chăng? Quyền cao lộc cả chăng?
Không! không có dèm nào cả. Mặt mũi vêu vao lấy gì mà đẹp, nọc sốt rét còn mang trong người, cái lá lách sưng lên không biết lúc nào làm gì cử đảnh nổi như Hạng Võ . Văn chương thì mới làm vài bài thơ con cóc, và đàn dăm bản măng-đô. Quyền hành ư? Tiếng là thượng úy trưởng ban pháo binh (H6) nhưng đó chỉ là một đơn vị rã bèng như mẽ thúng rách. Vậy giới nữ lấy giống thằng Thiên Lôi này để làm gì mới được chứ!
Đó chẳng qua là họ túng chất nhờn của giống đực nên họ thấy tôi tóc chưa bạc ắt còn nhiều dự trữ xăng nhớt trong người mà bắt xác đó thôi. Còn tôi cũng vậy, của cải tồn kho quốc doanh mười mấy năm, nay có nơi phân phối thì đâu có ngại ngùng gì cắt ô phiếu cho ai, chỉ sợ một nỗi là mấy em mang cái bị của anh Hai gởi về thì khốn cho chàng Thiên Lôi này lắm.
Tôi sực nhớ cô bé liếng thoắng Thanh Tuyền, cô em chấc phát Ba ánh, cô nàng thùy mị Huỳnh Mai, nhớ nàng Mai Khanh đa tình, cô khu ủy say đắm nếm mùi tình lần thứ nhất, rồi gần đây là cô xã đội phó rắn mắc. Không biết có nường nào đã mang mầm mống hủy thể của hủy thể của chàng Thiên Lôi này chưa? Dám lắm. Tôi sợ, rồi hết lần này đến lần khác, lòng dặn lòng, đây là lần chót, nhưng rồi không lần nào chót cả.
Tôi ớn nhất là cô xã đội phó. Kỳ đó tôi đã phải rơi vào bẫy của cô rất tự nguyện. Cô nàng thiệt cao tay ấn chứ chẳng phải chơi. Ai đời lại gạt mình leo lên bẻ dừa rồi vô nhà tắm thoát y và kêu: Anh Hai ơi, dừa có. . . nạo không . Tôi bất thần ngó xuống, suýt nữa như dơi bị đạn giàn thung trúng ngay chính giữa ức, buông tay rơi xuống đất!
Cô ta tính tình như bé Ua. Nói chuyện ân ái như chuyện bình thường vừa ngây thơ vừa ngô nghê nghe mà rợn cả người. Ua thì tiểu tư sản và bạo miệng hơn. Tuy con bướm nhà tôi chưa bỏ vòi vào cái nhụy chắc còn phong kín kia, nhưng cô nàng tự coi như là chuyện đã rồi. Chỉ chờ hoàn cảnh thuận lợi hơn. Tôi nghĩ vậy nên ghìm cương con ngựa đang lồng lên trong tôi. Bất thần tôi nghiêng mình xoay mặt về phía nàng. Nàng lập tức ôm choàng cổ tôi áp riết mặt tôi vào mặt nàng mà hôn thật mạnh để cho đối thủ biết rằng nàng đã đoạt chiến thắng vẻ vang. Tôi đành phải làm việc theo sự điều khiển của nàng. Nàng càng hấp tấp bắt tôi phải cho nàng biết rằng tôi là của nàng và nàng đã là của tôi… từ lâu, tôi không phải dè dặt gì nữa. Tuy vậy cái hồng tâm vẫn còn che kín, chưa muốn nhận vết thương do xạ thủ gây nên.
Chia quay lưng lại tôi quay mặt ra mép giường. Tôi nghe một tiếng thở dài tự kềm chế. .




Chương 43

Thế Cờ Lật Ngược Bất Ngờ

Sáng thức dậy, nàng Ua hát nghêu ngao lúc nấu nước để mấy bác pha trà. Sáu Huỳnh đi xuống, vỗ đầu cô bé:
- Ngủ thẳng giấc không nhỏ?
- Thẳng chớ sao không thẳng. Ôm anh Hai ngủ ngon thấy mồ !
Tôi mọc da gà khắp người. Chia cũng ngồi gần đó đang bỏ trà vào bình, cúi mặt với vẻ chịu đựng phi thường. Sáu Huỳnh bảo Chia:
- Mày về bển bảo má mày sửa soạn đi Sài gòn ngay.
- Chi vậy chú?
- Móc gia đình ông nhà pháo.
- Chưa có sửa soạn gì hết làm sao đi ngay được chú?
- Công chuyện cần kíp không thể chần chờ !
- Còn con nhỏ kia – Sáu Huỳnh chỉ vào Ua – sửa soạn cặp giò đưa má con Chia đi Củ Chi.
Ua nguých ngang:
- Ai đèo cho nổi cái bà mập ú đó!
Bà ngoại đang lọ mọ xuống bếp nghe cháu nói thì quay lại rầy.
- Con nhỏ này hỗn quá . Chú Sáu không dạy nó, để riết nó quen. Nó không có cha…
- Sao không có cha? Không cha làm sao má con có bầu được? Ngoại phải nói là không còn cha hoặc mồ côi cha!
Ua nói tươm tướp một hơi. Bà ngoại cười hiền từ với tôi:
- Thằng cháu cưới nó thì phải biết tánh mà thể tất cho nó đừng có bắt lỗi mẹ nó không biết dạy con nghe chưa?
Ua lại nghênh mặt:
- Con hỗn với ai chớ đâu có hỗn với ảnh.
Uống trà xong, Chín Lộc và Tư Minh đi công tác. Tôi và Sáu Huỳnh xuống hầm của ngoại bàn công chuyện, Chia về nhà còn Ua đi bôm xe đạp để chở cái bà mập ú kia.
Sáu Huỳnh nói với tôi bằng giọng chân tình của một người anh và của một đồng hương. Anh đã là quân đội trưởng quận Trung Huyện, tỉnh Chợ Lớn từ năm 1947. Tập kết ra Bắc mười năm không thăng một cấp nào lại bị chê là thành phần không cơ bản và lớn tuổi nên cho đi đào than ở Mõ Hòn Gai.. Rồi được kêu về Nam cho mặc lại áo lính với cấp bậc thượng úy (ngang với tôi). Tôi đoán là ông anh mang đầy một bụng bất mãn. Quả thật, bất mãn phọt ra từ câu đầu:
- Mày thấy không? Bắc kỳ vô tràn ngập hết cả rồi!
- Hai trung đoàn chiến thắng ở Điện Biên Phủ cũng đã tới đây, tôi gặp ở gần trường Trung Sơ. .
- Tao biết hơn thế nữa. Thằng còng làm thằng ngay ăn. Đó là qui luật xưa nay. Huỳnh văn Nghệ, Tư lệnh khu 7 mà ra Bắc lãnh lon thượng tá còn Trần văn Trà , Nguyễn văn Vịnh cũng cấp đó mà lãnh lon Trung Tướng là sao??
Tôi trỏ trỏ về phía hầm Chín Lộc. Sáu Huỳnh gạt tay tôi:
- Tao nói tạt mặt hắn chớ sợ hắn sao mầy. Ấy hổng ấy tao về ba vụ nuôi vịt Tàu hốt trứng.
Rồi anh bắt ngay qua chuyện của tôi:
- Sao mày dại vậy? Ai lại đi khai có em trai làm đại úy Sài gòn?
-Không khai làm sao được anh Sáu! Người ta nắm hết ráo mà. Anh không biết anh Ba Thạnh hiện giờ là Cục phó Chính Trị sao? Anh nuôi tôi hồi kháng chiến đó ! Chính ảnh biết và đặt vấn đề.
- Anh nuôi cái con khỉ gì vậy? Mày kẹt rồi, tao cho mày biết để mà đề phòng.
Tôi hơi rối trong bụng. Khi ở trên R, nhận lời với Ba Thạnh (tức Ba Thắng) tôi chưa kịp nghĩ sâu xa nên chưa thấy hết tầm quan trọng. Về Phú Mỹ Hưng gặp Tư Linh cũng nói thế kẹt của tôi. Sáu Huỳnh hỏi:
- Bây giờ mày định thế nào?
- Theo anh thì sao?
- Chỗ anh em tao phân tích lợi hại cho mày nghe nè!
Bỗng tiếng rí rố bên ngoài. Sáu Huỳnh bước ra hầm và quát:
- Cái gì đó Ua?
- Súng du kích báo động.
- Ba cái thằng du kích nứng c. .. đạo lộ bắn bậy chớ động gì mà báo. Xe tăng có vô thì phải kèm trực thăng và pháo bầy, chớ nó đi êm rơ vậy à?
Ua nói oang oang:
- Ông già nói bậy rồi. Tụi nó thả biệt kích đi đêm đó. Chú không nhớ ở Bàu Trăn chúng nó tóm gọn một tiểu đội du kích cũng vì ỷ y nó không đi hay sao?
Sáu Huỳnh nói cứng nhưng mặt mày dớn dác. Y bảo tôi:
- Tao với mày đi qua nhà con Chia bàn vụ cho má nó đi móc gia đình mày.
Vừa đi, Sáu Huỳnh nói tiếp:
- Mày có muốn thằng em đại úy của mày cộng tác với mình không?
Tôi ngần ngừ chưa kịp đáp thì y hạ giọng:
- Tao với mày đã rơi xuống vũng cứt trâu Hợp tác xã ngọ ngậy cả chục năm không thoát ra được, bây giờ không có lẽ mày lại lôi thằng em rớt xuống với mày? Nó đi, bỏ vợ bỏ con ai nuôi? Ra đây làm cái gì? Mày có thấy thằng Phùng Văn Mười cháu ông Cung không?
- Tôi có gặp… nó đang nuôi heo.
- Nhưng chắc có được yên thân mà nuôi heo không? Cái đó là không chắc, chắc là không!
Chúng tôi đi len qua những giồng mì lá còn đẫm sương ướt mẹp. Sáu Huỳnh vừa đi vừa khịt khịt mũi như chó đánh hơi hang chuột:
- Hồi hôm pháo nổ gần đâu đây,. ít nhất là vài chục.
Tôi nói:
- Trời sương mù dày đặc, khó nhận ra địa vật quá anh Sáu, rủi đụng tụi nó thình lình làm sao?
- Ở đây là năm ăn năm thua thôi chú em ạ . Chết pháo, chết xe tăng, chết biệt kích, chết bom, chết tàu, rồi chết hầm chông lựu đạn của du kích, một trăm thứ chết. Mạng mình ở đây như chuông treo chỉ mành vậy. Mày về đơn vị ít bữa rồi xem.
- Hồi chín năm (*) tôi công tác ở đại đội địa phương 1085 Ô Mô Cần Thơ, tối tối bộ đội vác nóp ra đồng ngủ. Sáng vác nóp vô nhà dân nấu cơm nhờ. Dọc đường đụng commandos, hai bên vật lộn. Nó hô Phơ, tôi cũng hô Phơ. Nó hô ăng na văng, tôi cũng nạt ăng na văng trả lại. Rốt cuộc hai bên đều cắm đầu chạy về nhà, không có phơ phát nào cả . Nhưng tụi tôi phải ớn chúng nó. Chúng nó toàn đi dưới nước, đội lục bình trên đầu, mò vô tận địa điểm đóng quân của mình. May mà mình đã ra đồng, nếu ở đó như bữa trước thì cúng mụ hết cả đơn vị rồi.
(*) chín năm: Danh từ để gọi thời gian chiến tranh Việt Pháp từ tháng 9-45 đến tháng 7-54.
Sáu Huỳnh nói:
- Tụi commandos Pháp tao cũng từng đụng ở Trung Huyện hồi chín năm nhưng chẳng ăn thua mẹ gì với tụi biệt kích Mỹ đâu ? Tụi này nhảy trực thăng nằm ém trong rừng có khi cả tháng. Nó ăn mặc nói tiếng giống hệt mình. Nó đào hầm ở trong rừng. Ban đêm mò ra xóm tìm cơ quan và chấm điểm cho máy bay bỏ bom. Nó còn bắt cóc người. Bà con sợ đồn là rừng có cọp
- Hồi chín năm có cọp ba móng ở Rừng Sát, Long Nguyên, An Thành…!
- Ừ. Đó là loại thám báo mặc quần áo giống da cọp. Cho nên tiếng đồn rừng có cọp là vậy đó.
Sáu Huỳnh trở lại vụ thằng em tôi:
- Mày viết thơ chưa?
- Viết lâu rồi.
- Kẹp theo tấm hình nghe !
- Có đủ cả anh à !
Sáu Huỳnh đứng lại rỉ tai tôi:
- Chừng nào Thầy có vô (tức ba tôi) nếu tao không có ở nhà thì mày bảo ông là đừng có cho thằng em mày bắt liên lạc với đầu mối của tao tức là má con Chia, chút nữa mày sẽ gặp tại nhà.
- Vậy anh làm sao hoàn thành công tác? Và tôi báo cáo lên trên thế nào?
- Hoàn thành cái chó gì. Tao sẽ giao lại việc này cho thằng Bắc kỳ mắt toét. Nói đúng ra ở trên không tín nhiệm tao đâu. Họ nghi tao bất mãn. Hơn nữa thằng đó có đi học tình báo Liên Xô ba năm. Mày coi chừng nó. Nó làm bộ xổ bầu tâm sự để mình hùa theo, cuối cùng nó nắm thóp hết ráo. Nó là quân báo thì cái nghề của nó thực hành ngay cả trong nội bộ. Nó hiện là Phó bí thư đảng ủy các cơ quan Bộ Tư Lệnh Quân Khu. Năm Lê chức cao hơn nó nhưng không có chân trong đảng ủy nên phải ngán nó.
Tôi hỏi ngang:
- Sao mình không di chuyển qua Bến Cát cho gần chiến khu Long Nguyên cũ, anh Sáu? Ở đây sát nách Đồng Dù tôi phập phồng lắm. Mấy ổng lại giao cho tôi cái H6 toàn đồ nặng. Đánh thì không dám đánh, còn giấu thì súng lẫn người đều rỉ hết.
- Biết làm sao bây giờ! Mấy năm trước còn sinh hoạt ì-xèo, bây giờ lặng trang như tờ. Tối ngủ đến sáng, thức dậy mới chắc mình còn sống. Sống tới chiều cơm nước xong xuống hầm ngủ mới chắc mình chưa chết. Qua Bến.Cát cũng được nhưng làm như vậy có nghĩa là bỏ đất bỏ dân ở lại đây, tuy sẽ không giữ được đất được dân, nhưng dân còn trông thấy mặt mình họ chưa ra ấp chiến lược vội. Mình đi hết, tụi nó sẽ lập ấp chiến lược ngay trong rốn mình để mở rộng vành đai an toàn cho Đồng Dù . Tụi Anh Cả Đỏ ổn định các ụ pháo chắc chắn sẽ càn một trận để quét sạch các căn cứ của mình ở cận Đồng Dù như Bàu Cạp, Truông Viết, Bến Mương, Ngã Ba Cây Trắc v.v… Xong rồi, nó sẽ cho B52 cày khắp từ Bàu Cạp đến Gò Nổi, Gò Đình. Thế là sạch láng.
- Sao anh đặt kế hoạch trước cho tụi nó vậy?
- Thằng nào cầm quân mà có phương tiện đầy đủ trong tay cũng sẽ làm như vậy cả. Chặt khúc, rồi băm nát. Băm xong cho lính nhảy xuống bắt sống, như cái kiểu mình tát đìa xong để phơi bùn cá chạch ló mỏ lên thở, chỉ nắm mỏ xách đầu lên vậy.
- Anh tính xem mình không có kế hoạch tấn công để phòng ngự à?
- Chiến thuật Mao Trạch Đông trong Luân Trì Cửu Chiến của tao học ngày xưa bây giờ hóa ra vô dụng hết ráo. Chiến thuật trực thăng vận của Mỹ đảo lộn tất cả ý niệm tác chiến hồi chín năm của mình. Từ Đồng Dù đến đây chưa đầy bốn cây số. Mình xách giò chạy bộ hộc máu mồm ít nhất một tiếng đồng hồ, trong khi nó bay không mất năm phút, lính không mệt chút nào. Đó là chưa nói các thứ râu ria khác yểm trợ bộ binh như pháo, trực thăng cá lẹp. Ối giào, mày phải bị một trận cá lẹp bắn thì mày mới biết đá biết vàng. Nó phóng một phát bốn rốc kết chụp xuống đất thành một vòng tròn. Sắt thép nằm giữa vòng tròn đó cũng bị tiêu diệt hết, nữa là người.
- Anh nói nghe bi quan quá vậy, anh Sáu!
- Chớ lạc quan sao được mà lạc chú em! Để mai mốt mày về H6, ở trên giao cho mày lập kế hoạch pháo kích Đồng Dù rồi tao sẽ cho mày biết hỏa lực của nó.
- Làm sao anh nắm được giỏi vậy anh Sáu?
- Đó là nghề của tao mà mày! Cái gì cũng chẳng qua tiền. Tiền mua tiên cũng được mà mua Tướng tá thì càng dễ hơn. Hình của L10 chụp bộ đội mình hành quân rõ từng dấu chân trên bờ suối và từng cái lá ngụy trang, thế mà nó báo cáo không có gì cả. Cho nên Tướng vùng thả xuống một đại đội thám báo. Mình quất sạch gồm cả cố vấn Mỹ. Trả cho thằng báo cáo ba triệu.
- Tiền đâu mà dữ vậy?
- Hai Tốt mang mười triệu bạc chiêu hồi ăn thua gì ? Lính chỉ đói sơ sơ vài bữa. Công tác viên của mình vô Chợ Lớn vài hôm cho ra một xe lam Đức Thánh Trần. Ba triệu bạc mua đứt một đại đội thám báo sừng sỏ, mắc lắm sao? Không phải thằng nào mình cũng mua được. Phải chọn đúng mặt gởi vàng. Chọn trật nó nắm đầu là bể hết. Ví dụ thằng em của mày chịu đèn với tụi tao rồi, nếu nó đang ở đơn vị tác chiến, tao có thể điều động nó về văn phòng, nó đang là Đại úy, tao chạy cho nó lên Trung tá dễ ợt. Tất cả đều nhờ tay anh Ba Tàu! Tụi này có thể mua cả Tỉnh trường mà mậ! (Việt Cộng đang đi trên con đường tráng nhựa thênh thang này gấp mười lần.)
Tôi ngớ ra, không ngờ cái sự đời nó lại như thế. Sáu Huỳnh tiếp:
- Do công tác điệp báo quan trọng như vậy cho nên lão Tư Khanh chánh ủy U80 mới cho mày về Cục Chính Trị để Ba Thạnh đưa mày xuống đây làm đầu cầu móc nối em mày. Nếu mày không có thằng em sĩ quan dễ gì thằng chả cho mày đi trong lúc trường pháo binh không có thầy giáo toàn năng như mày. Mày rõ chưa nào?
Sáu Huỳnh ngưng ngang và hỏi.
- Mày ở ngoải có nghe hai trận
Ấp Bắc và Bầu Bàng không?
- Có nghe. Bộ Tổng đã cho học chiến lệ của hai trận này nữa.
- Chiến lệ nói gì?
- Nói ta đại thắng, địch đại bại. Anh biết cái lối sáng tác thành tích của Cục tác chiến mà ?
- Lê Đức Anh là Cục phó tao còn lạ gì. Có cái chiến lệ nào bằng cái. . . của má con Thanh Tuyền không? Bả đem giao con nhỏ cho ổng rồi trở về thành, không nói một tiếng.
- Tôi suýt làm phò mã của ổng đó nghe anh Sáu?
- Rồi sao không làm?
Tôi kể chuyện cho Sáu Huỳnh nghe. Nghe xong y bảo:
- Tao như mày tao vô ngàm cái cụp. Ở lại trên đó khỏe ru như cu bà bóng.
- Ở trên đó ớn B52 quá anh à. Hội nghị vừa xong, tôi dông liền. Về tới trường Trung Sơ, đang chỉnh huấn thì trên đó ăn dưa hấu tơi bời.
- Tao biết! Nhưng mày về dưới này lại thoát B52 sao?
- Đã đành rồi, nhưng về dưới này không phải nổi ghen với ba con khỉ làm tình. Anh thấy không, tay tôi quờ tới đâu hoa hồng rơi tới đó.
- Mày biết Bầu Bàng ở đâu không?
- Đó là một ấp nhỏ từ Bến Cát lên ấp Lai Khê xã Lai Hưng theo quốc lộ 13. Từ ấp Lai Khê đến ấp Bến Cần, ấp Đồng Sở mới đụng ấp Bầu Bàng. Từ Bàu Bàng lên ngã ba Chơn Thành còn hơn chục cây số. Bàu Bàng nằm giữa Lai Khê với Chơn Thành nhưng cách Lại Khê chừng tám cây số, toàn rừng cao su.
- Mày đi đâu đó mà rành vậy?
- Tôi có thằng bạn sống sót từ trận Bầu Bàng về.
- Chiến thắng đó to không bằng Ấp Bắc đâu. To nhờ đài Giải Phóng la rồi Hà Nội la rờ le chớ có gì. Tao rành mà. Công tác viên của tao nằm lềnh khênh ngoài thành nắm hết sự kiện.
- Ấp Bắc có phải nằm ở xã Bình Hòa tỉnh Tân An không anh?
- Chớ còn đâu nữa. Nhưng đó thuộc trào Ngô Đình Diệm. Để tao nói về cái chiến thắng này cho mày nghe. Hồi đó Mỹ mới viện trợ một số trực thăng. Lính Sài gòn chưa quen nhảy dò, nên nó đem trực thăng ra mà thực tập đổ quân theo chiến thuật gọi là Phượng Hoàng vồ mồiBủa lưới phóng lao.
- Trên Trường Sơn tôi đã được giao liên gốc đồng bằng Nam kỳ kể cho nghe rồi. Cái tên nghe ác thật!
- Nó ác thật chớ không phải chơi đâu. Thằng Mỹ khi đã làm việc gì thì làm tới gáo không có chơi cái kiểu một lon muối cho đắp đầu gối vượt Trường Sơn như mình… Hồi đó sau Đồng Khởi mình mới tập trung du kích được tới cấp đại đội và võ trang bằng súng trường bá đỏ thôi. Tệ hơn nữa là loại oảnh tầm sào thời Nga hoàng đồng chí đầu trọc xỏ lá viện trợ cho mình đánh với M13 của Mỹ . Ở Bàu Bàng thì lính khá hơn, vì được 2 tiểu đoàn Phú Lợi và Bình Dương.
Tôi chắn ngang:
- Để tôi hỏi anh về vụ thảm sát Phú Lợi chút.
- Thảm sát nào?
- Hồi còn ở ngoải tôi nghe có vụ thảm sát một ngàn tù nhân bằng thuốc độc trong trại Phú Lợi.
- Đầu cặc! Toàn láo. Thuốc độc gì mà giết một ngàn tù. Tù đui hết à? Có thuốc độc bỏ vô nước ngọt ở Quốc Hội Ba Đình giết Dương Bạch Mai thì có.
- Anh nói bừa vậy không sợ thằng bù lạch Bắc kỳ à? Nay mai nó thưởng anh chai nước ngọt Hồng Hà đó !
Sáu Huỳnh nói tiếp:
- Mình nói láo quá sức rồi chính mình cũng không còn phân biệt đâu là láo đâu là thật nữa. Tao cho công tác viên của tao điều tra hết cả. Đéo mẹ, tù Phú Lợi ăn cơm trắng với thịt heo chớ không ăn chè trôi nước không nhân làm bằng bột mì Liên Xô và cơm độn sắn như dân xã nghĩa mình ngoài đó đâu. Đài Giải Phóng la oang oang không biết mắc cỡ miệng chút nào hết. Cái trận Ấp Bắc chỉ hạ vài chiếc trực thăng mà nó phóng đại, nghe qua tưởng chừng quân ta tiêu diệt hết phân nửa lính Sài gòn. Sự thực sau trận Bàu Bàng, hai tiểu đoàn Phú Lợi và Bình Dương nằm liệt giường không có quân số bổ sung, hai cái mê rỗ nhập lại làm một để đi xúc cá hủn hỉn. Còn sau chiến thắng Ấp Bắc thì hai đại đội Đồng Khởi phần đông là lính mới của Ba Đào ở Bến Tre đưa lên mất tên luôn. Số còn sống trốn về quê hết sạch. Hai ban chỉ huy chỉ sống sót một đại đội phó nhưng cũng bị thương cưa cụt chân. Mày nghĩ xem, lính cỡ tụi mình đầu có sạn gặp bom đạn của Mỹ còn nhợn thay huống gì ba thằng thanh niên vườn bốc tếu tưởng thổi kèn bằng tàu đu đủ là địch cuốn ró chạy rài. Nay mai mày có ra chỉ huy Bộ binh rồi mày sẽ thấy hỏa lực của nó mạnh gấp chục lần các tiểu đoàn thiện chiến BMEO của Pháp hồi trước.
Tôi thở dài:
- Anh nói tôi nghe bi quan quá anh Sáu!
- Có còn gì lạc quan! Chỉ ông Giáp ở ngoài đó là lạc quan thôi, chớ ông Sáu Vi vô đây thì không thể lạc quan được.
- Vừa rồi ổng nói ở đại hội mừng công, trước mặt cả dân trí thức Sài gòn: Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh.
- Đó là cách nói, cũng như hợp tác xã bị hạn không có nước, vác xe gỗ, gàu sòng ra tát nước mà báo Nhân Dân cho là Vắt đất ra nước, thay trời làm mưa, còn ruộng bị úng thì kêu là nghiêng đồng đổ nước ra sông vậy mà !
Tôi hỏi ngang xương:
- Vụ dưa hấu đổ xuống R kỳ rồi ra sao anh Sáu?
Sáu Huỳnh cười khè khè quay lại nhìn tôi:
- Thì ta vẫn đại thắng như ở Bầu Bàng Ấp Bắc chớ R đâu có chết con nhái nào. Chỉ có diều tao lo là thằng con trai tao gởi trên đó không biết ra sao. Đến nay chưa dò ra tin tức.
- Tại sao anh lại gởi trên đó?
- Nó đang sửa soạn thi Tú Tài, vợ tao sợ nó thi trợt sẽ bị bắt lính nên hộc tốc đưa thằng nhỏ vô đây không hỏi ý kiến tao trước vì tin tưởng Mặt Trận đã giải phóng 3/4 đất đai và 4/5 dân số miền Nam. Thằng nhỏ tha hồ mà rong chơi. Chẳng dè vô đây khu giải phóng chó ngồi ló đuôi. Trở ra không được nên tao đưa lên đó hồi chưa có B52 kia. Bây giờ thì không ổn nữa ! Cũng kiểu như thằng em mày vậy. Tao lấy tình anh em khuyên mày nên suy nghĩ cho kỹ. Đáng lẽ ở cương vị công tác của tao, tao xúi mày thừa thắng xông lên mới phải… Nhưng lương tâm tao không nỡ nhìn mày bị kẹt đạn.
- Tôi hiểu anh, anh Sáu. Xin thành thật cám ơn anh.
- Dính vô đây rồi là tấn thối lưỡng nan cả một đời chớ không có dễ đâu!
Câu chuyện tạm ngưng khi Sáu Huỳnh dừng lại, trỏ tay vào một hố pháo nám đen bên đường:
- Mày thấy không? Má con Chia chắc phải lủi xuống tận đất cái hồi hôm này !
Từ ngoài đường quẹo vô một quảng là tới nhà Chia. Sáu Huỳnh rỉ tai tôi:
- Đây là cơ sở bí mật của tao nghe !
- Các cha đi đâu cũng có cơ sở hết cả !
- Mày nghĩ, ra Bắc mười năm thằng nhỏ chỉ làm cái nhiệm vụ chiến lược thứ yếu thôi. Còn nhiệm vụ chiến lược chính yếu lại không động tới. Bây giờ phải cho nó lãnh phụ trội chớ. Để nó làm cây pháo vô dụng sao được mậy ! Nường bốn mươi tuổi nhưng không đi cấy nên còn mướt lắm.
- Anh coi chừng, không khéo rồi như Hai Giả đó .
- Đồ thằng ngu! Ăn vụng mà không biết tém cho sạch mép.
- Tém sao được khi cái bị của anh Hai đã gởi về ?
- Tao đã ngâm kín cái cơ sở này ba năm mà không lộ tẩy là nhờ cái bửu bối này.
Sáu Huỳnh thọc tay vào túi quần sau móc bóp. Tôi xua tay:
- Tôi biết rồi anh ơi ! Thằng Tư Linh đã cho tôi một mớ . Hôm đi đại hội mừng công về ghé Xóm Mới gặp thằng Hùng Cối nó bổ sung cho một mớ, tôi mua tăng cường một mớ nữa, tất cả chừng ba chục hiện nằm trong sắc-cốt tôi đây.
- Mày khá lắm! Nhưng trong mình là một chuyện còn đeo cho thằng nhỏ là một chuyện khác. Tuổi trẻ của mày lúc sắp xáp chiến mày hăng-xờ-máu, cương-xờ-quyết quá đi nên mày quên mất cái việc quan trọng đó . Nhớ lại coi có lần nào mày quên không?
- Bỏ mạng rồi anh Sáu ơi? Có, có hai ba lần.
- Với ai?
- Với bà khu ủy ở quân Tân Lập, Tân Biên gì đó !
- Sao phạm thượng dữ vậy?
Từ trong nhà có tiếng bà nói vọng ra:
- Cái ông già mắc dịch bày chuyện cho thanh niên hư hỏng.
Tôi ngó vào bên trong. Một người đàn bà mập mạp tóc đen. Tôi biết đó là má con Chia. Sáu Huỳnh nói ngay:
- Mày muốn mua gì cũng có trong cái quán này. Có thể bà chủ quán là nhạc mẫu của mày đó. Tạm thời mày kêu bà bằng dì Tư cho ngọt trước đi, sau kêu bằng má . – Sáu Huỳnh đi vào vừa nói oang oang – Tuổi tác có hơi chõi một chút, nhưng không sao, không sao ! Tình không kén tuổi. Con Chia đâu rồi, pha hai ly cà phê sữa đem ra đây liền coi! Rồi tao làm chủ hôn cho. Tao biết hai đứa bây khứng với nhau rồi!
Dì Tư kêu oai oái:
- Ông làm như mua gà mua vịt vậy, miệng trả giá tay chộp liền.
Sáu Huỳnh nói:
- Nội đàn ông mùa thu mùa đông không thằng nào bằng thằng này về mọi phương diện, học hành cấp bực và hình thức Còn nội con gái dân thứ, du kích, cơ quan vùng này cũng không đứa nào bằng con Chia. Như vậy là Dâu Nam Giáng Rể Đông Sàn, còn chờ gì nữa? Bà không chịu thì con Ua, con Bảy Mô, Tám Mang, Sáu Nga, con xã đội phó Phú Mỹ Hưng đua nhau giành mất đấy. Rồi đừng có tiếc nghe?
Dì Tư ngập ngọng nói líu lưỡi:
- Thì để thong thả đã chớ làm gì như chạy giặc vậy?
- Chạy giặc chớ không à? Nó sắp càn tới nơi rồi đó, tôi cho bà hay! Nào, bà sửa soạn đi Sài gòn mau lên. Móc gia đình cho thằng này và công tác luôn tôi sẽ nói sau. Cố gắng đem ông già hoặc bà già nó vô để bàn việc đám cưới luôn. Gia đình nó phong kiến dữ lắm. Tôi biết rành hồi chín năm. Bà thấy có ai như nó không? Đến tuổi này rồi, con gái bu rần rần mà không bị một tiếng xấu. Bà tìm ở đâu ra một thằng rể như vậy?
Sáu Huỳnh vừa uống cà phê vừa nói mâm trên liên tục rồi giao công tác cho dì Tư. Tôi và anh vừa đứng dậy định đi về thì nàng Ua phóng xe đạp tới thềm la oang oang:
- Rồi chưa dì Tư! Mau đi cho kịp chuyến sáng. – rồi nói với tôi – Anh về ngoại biểu gì ở bển.
Tôi biết là con sư tử Hà Đông tí hon này sắp nổi trận lôi đình nên bước ra cửa ngay. Ua đi lẽo đẽo sau lưng tôi. Tôi cố đi nhanh, Ua chạy vụt theo:
- Anh đứng lại em nói chuyện này chút.
- Em đi công tác rồi về sẽ nói !
Ua thở hỗn hễn.
- Em là vợ anh rồi nghe chưa? Anh mà léng phéng với con Chia là em rút chốt lựu đạn.
Tôi bịt miệng cô bé bằng một cái hôn. Nàng ta vít đầu tôi xuống, ghì mãi vào má nàng. Tôi biết Sáu Huỳnh và dì Tư ngó theo nên dãn ra. Ua nói tiếp:
- Em ra ngoài đó nói với má cho anh đồ đạc. Em sẽ ghé chợ Bắc Hà mua xanh-tuya-rông và vải dù cho anh.
- Các thứ đó anh có đủ rồi !
- Vứt hết đi. Em muốn anh đắp tấm của em như đắp em vậy; em muốn anh nịt xanh-tuya-rông của em như đeo niềng kim cô để lúc nào cũng nhắc anh nhớ rằng em là vợ của anh.
- Thôi được rồi, em vô lãnh công tác đi!
- Anh nhớ đấy. Kể từ đêm qua em là vợ của anh rồi.
Ua nói rồi quày trở vô. Trời ơi! đã có bao nhiêu người con gái nói với tôi câu đó ! Thế mà tới bây giờ ba mươi bốn tuổi rồi tôi vẫn chân không. Sáu Huỳnh đi ra, vừa nhìn tôi vừa lắc đầu:
- Tao hết biết cho mày !
- Tôi mệt còn hơn leo cây dừa lão anh Sáu ơi!
Vừa đi trở về, Sáu Huỳnh nói:
- Chờ cho nó chở bả đi thì mày trở lại. Phải chơi cái miếng hồi mã tam thương mới thắng địch.
- Tuổi tác chênh lệch quá anh Sáu ạ ! Tụi nó còn con nít biết cách làm vợ ra sao?
- Chị Sáu mày lấy tao hồi mười sáu tuổi. Vẫn ở tới bây giờ, có sao đâu. Đối với con gái mới lớn lên, thằng con trai phải biết điệu nghệ , để phát đầu tiên cho nó lên tận mây xanh là nó đội bàn thờ theo mày. Bởi vậy mấy tên già dơ đều quơ được con gái nõn nà, còn mấy thằng thanh niên chạy xớ rớ cứ hụt giò hoài. Mày không phải o mà tụi nó tới nộp thịt thì cứ xơi tái, bỏ đi rất uổng!
- Tôi có hứa với người ta rồi anh Sáu ạ !
- Hứa thì hứa, ăn thua gì. Thời buổi này không có gì chắc. Con Tám Mang ở An Nhơn Tây cũng hứa với một thằng tiểu đội trưởng ở tiểu đoàn Quyết Thắng , anh chàng bị thương cụt hai giò, con bé ngãng ra. Ai tránh được? Mày hứa như vậy chừng nào cưới? Lỡ một bên bị thương nặng thì sao? Chuối lột tới đâu ăn tới đó, đừng có treo đó mà mất ăn. Nếu con nhỏ cằn nhằn thì cứ đổ thừa cho gia đình cưới đem vô cho mày. Rồi nó đi lấy thằng khác chớ ế ẫm gì mà lo. Đời này không có ai chung thủy với ai hoàn toàn. Tao có cơ sở ở đây nhưng vẫn chung thủy với chị Sáu mày như thường. Mày năm nay ba mươi bốn rồi phải không? Ở đó mà chung với thủy!
Sáu Huỳnh lôi tôi nép vào bên bụi trúc và thuyết một hồi nữa, mắt thì ngó về phía mối đường. Thấy Ua đạp chiếc xe ra quẹo phải, Sáu Huỳnh vẫy vẫy tay. Dì Tư ngồi sau poọc-ba-ga vẫy đáp lại và trỏ tay vào nhà. Sáu Huỳnh nói.
- Bả chịu mày làm rể rồi. Trở lại đi!
Thấy tôi chần chờ, Sáu Huỳnh đẫy sau lưng tôi và nói:
- Đây ra Củ Chi mà đi ngã Bào Tre thì mất hai tiếng, về mất hai tiếng nữa. Ở ngoài đó với má nó mất hai tiếng. Vị chi là sáu tiếng. Chừng ba giờ nó về tới nhà . Nó đang điên trong bụng nên đạp bạt mạng có thể về sớm hơn. Mày trù trừ mất hết thời giờ . Phát đầu tiên kể như mới lấy cự ly. Phát thứ hai mới đúng đích. Mau lên ông thầy pháo. A ông con rể !
Nói xong Sáu Huỳnh quay lưng đi. Tôi trở lại nhà Chia. Chia đang đứng ở cửa ngó ra. Tôi nói để che giấu tội lỗi sắp phạm phải:
- Anh bỏ quên…
-…cái chỗ ngồi phải không?
Chia vừa nói vừa quay vô nhà. Tôi đi theo bén gót. Qua khỏi quày hàng, đến miệng hầm, nàng dừng lại bảo tôi:
- Anh xuống hầm đi, ở trên này ớn lắm. Để em ra đóng cửa .
- Rồi người ta tới mua hàng làm sao?
- Không có bán buôn gì hết!
Nàng trở ra đóng cửa cài then rồi trở vào, đi xuống hầm đốt đèn. Lòng hầm kiến trúc cũng giống như hầm bên nhà của Ua nhưng chỉ có một cái giường không có hầm khoét và dưới gầm giường chất đầy những hàng hóa. Nàng nói:
- Bây giờ anh là của em.
Tôi bị đặt trước việc đã rồi. Không rõ ở ngoài đó Thu Hà ra sao? Những lần đi với bà khu ủy, Mai Khanh, Huỳnh Mai, Thanh Tuyền, Ba Ánh tôi không suy nghĩ đắn đo gì hết, coi như bánh ngon dâng tới miệng trong lúc mình đói thì cứ ăn. Và sau khi ăn xong, chẳng có nợ nần gì. Tôi sẽ xa họ ngày hôm sau, dù ai có muốn níu tôi lại cũng không thể được. Còn lần này tôi phải sợ vì tôi công tác ở tại đây, gia đình Chia cũng ở tại đây và nếu ba hoặc má tôi vào thì thành chuyện chính thức. Chia cũng rất vừa ý tôi. Ngoài ra cô xã đội phó, Bảy Mô và nàng Ua sẽ là những trở ngại. Bảy Mô sẽ không phản ứng như cô xã đội và Ua, nhưng tôi cũng cảm thấy mình bạc tình. Do đó, tôi ngồi im trước câu nói trùm phé của cô bé . Nàng cũng đứng dựa thanh giường nhìn tôi chớ không đến gần, thủ thỉ:
- Em đọc tiểu thuyết, thấy anh đúng là người trong mộng của em.
- Sao lạ vậy?
- : Em không hiểu tại sao. Hôm qua khi con Ua….
- Nó vai chị nghe !
- Em coi nó như con nít ! Hôm qua nó cho em hay và rủ em qua coi mắt anh, em qua đến nơi thấy anh em thương liền ! … Đêm qua em khóc hết nước mắt… Nhưng em biết thế nào em cũng được anh yêu.
- Tại sao em biết vậy?
- Người như anh không thể yêu con Ua. Nó đáng lẽ phải là con trai. Ngoại em thường nói mụ bà nắn lộn.
Que sera sera thật rồi. Tôi đến gần bên Chia. Chia nói:
- Em tên Châu, nhưng hồi nhỏ má em sợ xấu hái nên đặt tên Châu mà lại gọi Chia. Tên đẹp sợ quỉ bắt mất.
Chia nhìn tôi với cặp mắt như nói:
- Em thế này mà anh không yêu sao?
Tôi chưa kịp đưa tay ra thì nàng đã ôm quàng lấy tôi. Chúng tôi lăn lóc trên giường như hai thỏi sắt nướng. Chia rên rĩ:
- Chắc em chết quá . Chắc em đứng tim quá !
Rồi nàng chồm lên thổi tắt đèn.
- Em là ánh sáng của anh.
Tôi không nói thành lời. Môi thay thế. Tay phụ họa thêm. Ngọn suối nhỏ của khu thần tiên đã dâng tràn. Nhớ lời Sáu Huỳnh dặn lúc nãy. Tôi ngồi lên để lấy bửu bối.
Chia kêu lên và nằm co rúm lại. Một mãng tuyết lồ lộ trên bãi cỏ xanh, một nàng tiên rơi vào trần tục. Chia liếc mắt thấy và kêu lên.
- Anh làm gì vậy?… Không ! em không chịu thứ đó đâu!
- Em không sợ có con à ?
- Chính em muốn có con với anh.
- Sao em biết cái thứ đó?
- Ông Sáu Huỳnh ngủ ở đây với má em, bỏ tùm lum em lượm vứt đi hoài.
Tôi còn đang lưỡng lự chưa biết có nên nghe lời cô bé hay không thì bỗng có tiếng đập cửa rầm rầm. Tôi nhìn Chia:
- Người ta đến mua hàng?
- Kệ họ ! Không có buôn bán gì hết.
Rồi tiếng kêu tiếp tục. Tôi trợn mắt với Chia.
- Rõ ràng là tiếng con Ua.
Chia vẫn lắc:
- Kệ nó.
- Nó tông vô được làm sao?
- Cho nó thấy luôn chớ sao !
- Chia, Chia ơi! Cho tao vô lấy đồ bỏ quên.
Tiếng kêu lẫn tiếng rung lắc cửa. Một chập, tiếng lằm bằm:
- Con nhỏ quỉ này đóng cửa quán qua bển rồi !
Rồi im bặt. Chia lấy mền cuộn vào người rồi rón rén đi lên. Một lát, trở lại:
- Con quỉ đi rồi.
- Nó quên cái gì vậy?
- Nó làm bộ để coi anh có quay lại đây không chớ quên cái gì?
- Nó về bên ngoại không thấy anh chắc nó la ầm lên.
- Nó biết anh đi đâu mà la ầm?
Nói xong Chia đưa cánh tay ngà ra như một búp hoa huệ, quạt khẽ. Cái đốm sáng ngoan ngoãn biến đi như con mắt thần nhắm lại. Tôi để nàng trãi lên tôi như một dãi lụa và nghe mọi cảm giác dâng lên trong người.
Với cô xã đội vừa rồi, vì ở giữa rừng trống trải nên tôi hấp tấp. Lần trước đó vì ngủ chung hầm với cô chị, nên tôi cũng tốc chiến tốc thắng để rút lui. Còn hôm nay một mình tôi một cõi, tôi cứ nhỡn nha như các ông đạo uống trà, hớp từng hớp khẽ như sợ hết miếng ngon. Bây giờ tôi mới nghiệm ra, con gái thích đàn ông vì đàn ông có ngón nghề, biết huyệt nào là tử huyệt. Chỉ cần khảy một cái nhẹ thì bệnh nhân rã rời tứ chi lung lay nhật nguyệt. Tôi vừa đi nhẹ vào nàng và hỏi:
- Rủi có con đừng làm rùm nghe.
- Ư ư…
- Anh cũng muốn có con. Già cái đầu rồi, cứ hun con nít khính của người ta.
- Ư ư …
Bỗng nàng kêu lên the thé : Anh ơi! rồi quào loạn xạ trên lưng tôi.
…. Nàng đưa cho tôi xem chiếc khăn trắng mà nàng lót dưới chiếu trước khi tôi yêu nàng, cho tôi xem và gục đầu vào vai tôi mà nức nở.
- Anh tin rằng em yêu anh là người đầu tiên chưa?
Tôi làm thinh. Nàng nói tiếp:
- Để em giữ làm kỹ niệm.
Tôi nhìn thấy mấy cánh hoa hồng tươi mà tự hào cho cái kiếp giang hồ bạt búa của mình. Nàng tiếp:
- Nhưng chắc kỳ này không có con đâu anh.
- Sao em biết?
- Em biết luật Ogino mà. Sau khi có kinh một tuần lễ hoặc mười ngày thì ăn ở với chồng mới có con. Em vừa sạch kinh mới có hai ba ngày thôi. Anh phải yêu em tuần tới.
- Biết anh còn ở đây không?
- Anh đi đâu em cũng tìm cho được.
- Rủi anh chết làm sao…
Chia bịt miệng tôi bằng nguyên cái gò má nóng bừng của nàng.
Như thói quen của thầy pháo, phát thứ nhất chỉ là phát lấy tọa độ . Phát thứ hai mới là phát tàn sát kẻ thù . Tôi lẽ nào không theo cái nguyên tắc pháo binh đó. Hình như hôm nay tôi đã vượt chỉ tiêu.
o O o
Tôi giật mình thức dậy và xem đồng hồ. Con Ua sắp về. Tôi khoác lại y phục và bảo nàng tôi phải về bên ngoại. Chia biết ý tôi sợ Ua về bắt gặp nên trừng mắt:
- Bộ anh sợ nó bắt gặp anh ở đây hả?
- …..
- Em cần nó biết anh đã yêu em. Nếu nó không biết em sẽ nói cho nó biết.
- Thôi đi em ơi, làm đổ bể tùm lum anh trốn khỏi đất này luôn.
Chia cười ngất, vuốt má tôi:
- Coi vậy mà nhát gan!
Tôi ra ngoài nhà mở cửa. Khách tới mua hàng. Không có ai quen. Toàn là lính và cán bộ . Tôi cứ hốt đậu, đường muối, thuốc lá… đưa cho họ và chỉ lấy tiền tượng trưng. Họ mừng quýnh không kịp cám ơn nhận hàng rồi rút đi. Một người quay lại nói:
- Cầu trời cho ông mở thêm một vài cái quán nữa !
Tôi vừa quay vô thì có tiếng hỏi:
- Quán có bán thuốc rê Gò Vấp không?
Nghe giọng quen quen, tôi quay lại và kêu lên:
- Chú Tư! Chú đi đâu xuống đây?
- Đi họp! Sao chú ở đây?
- Dạ cháu về nhận công tác.. . Mời chú Tư ngồi. Để cháu nấu miếng nước pha trà quạu chú uống chơi.
Chú Tư Thiên trông gầy tọp. Râu ria như chổi chà tua tủa, tóc dựng đứng như bó rơm, mắt sâu như hai cái hố bom đìa.
- Tình hình ở trển có yên không chú Tư?
- Yên gì mà yên? Đêm pháo, ngày máy bay. Lúc này chú về trển tìm không ra ai hết. Thằng Tư Thuận dông luôn rồi. Tôi đã biết cái dèo nó cho vợ con đi ra ấp chiến lược trước mà !
- Má Hai có về không chú?
- Về đâu được mà về . Con Lụa có tin buồn. Để tôi kêu con Là lại gặp chú.
- A cổ cũng ở đây nữa à?
- Bây giờ ở trển chỉ còn hai chú cháu hôm sớm với nhau thôi. Đi họp huyện mà tình hình động quá. Chú với con Là tới Xóm Bưng mà huyện đội huyện ủy đi đâu mất tiêu. Hai chú cháu đang tính tới tính lui xem có nên đi tìm hay trở về. Cuối cùng tọt xuống tới dưới này. Ăn ở lêu bêu thế này nó chụp một cái là bị hết nguyên con.
Chú Tư đứng dậy đi. Nhìn chú ra tới đường tôi mới thấy sự có mặt của nàng xã đội là nguy hiểm vô cùng nhưng chẳng lẽ lại ngăn chú hoặc mình lánh mặt?
Chập sau, cô xã đội phó tới, chân bước loăng quăng, mặt mũi hớt hãi, cây trường bá đỏ chĩa họng lên trời.
- Anh Hai tôi đâu, anh Hai tôi đâu?
Chú Tư đi phía sau, cười khoe hai hàm răng xếu xáo:
- Ai đứng sầm sầm một đống kia?
Là chạy nhào tới ôm choàng lấy tôi rồi úp mặt vào ngực tôi mà òa lên khóc. Tôi đứng chết trân. Đợi chờ nàng bớt cơn mưa giông tôi mới hỏi:
- Gia đình mạnh hết hả em?
- Ba con Rớt hi sinh rồi.
Tôi nghe rụng rời tay chân. Hiện lên trước mặt tôi con bé mồ côi và người mẹ trẻ góa bụa dưới một cái hầm đất hôi hám. Bé Rớt lúc nào cũng.quấn quít bên tôi. Lần nào tôi đi, nó cũng hỏi: Cậu Hai chừng nào về? Nhớ tới bé tôi không cầm được nước mắt. Nay ba nó hi sinh thì nó sống làm sao. Mấy dòng chữ tôi phóng cho nó đời nào nó mới học thuộc?
- Má có về không em?
- Anh đi đâu mất biệt vậy?
-Thì đi công tác chớ đi đâu!
- Anh hứa rước gia đình vô để gặp má , làm em chờ hoài.
- Anh có cho đi móc nhưng không kết quả em ạ ! Anh mới vừa nhờ người đi hồi sáng này.
Mắt Là sáng rực lên.
- Người ta đi, chừng nào về, anh?
Tôi thấy tội nghiệp cô gái quê chân thành đến mức độ khờ dại. Tôi thật tình không muốn đi sâu vào tình cảm của Là vì tôi biết tôi không thể lấy một người vợ như vậy. Cũng như với Ua, bị Là ép tôi phải nhận. Tôi cho nàng những gì nàng đòi hỏi, nhưng tôi không hứa hẹn gì. Chuyện tôi rước gia đình vào để gặp má Là do nàng mơ ước chớ không phải thoát ra từ quyết định của tôi. Nàng quay sang chú Tư Thiên:
- Mình ở loanh quanh đây tìm huyện ủy chú Tư à !
Chú Tư biết ý cô nàng muốn ở nán lại chờ tin vui do cây móc mang về, nên nói:
-Tao ở mấy ngày cũng được ! Trâu già đâu nại dao phay, nhưng sợ cho cái thân gái của bây lang bang như chuột không hang rủi có chuyện gì thì khổ.
Là cười như mếu và quệt nước mắt:
- Không sao đâu chú ! Chẳng lẽ lại xui dữ vậy sao?
- Năm may ngày rủi biết đâu ! Ừ, ở thì ở, nhưng để tao tìm thằng ấp đội trưởng để nếu có bị chụp hai chú cháu có hầm mà chui. Cháu ở đây nghe ? Chú đi xế xế thì trở lại.
Nói xong chú xách rựa ngoéo, đội mê nón lên đầu vai vác khúc cây cò ke lúc nào cũng sẵn sàng đẽo cây đòn gánh để đổi rượu, thuốc rê hay vật dùng khác.
Chia từ trong bếp bưng mâm trà đi ra. Là nhìn Chia, Chia nhìn Là bằng những cặp mắt của tử thù sẵn sàng ăn gan uống máu nhau. Nhưng Chia đặt mâm trà lên kệ hàng rồi nhã nhặn mời: Anh chị giải khát và lui vào. Còn Là thì quắc mắt ngó theo rồi quay sang hỏi tôi bằng một giọng mát mẻ:
- Ai vậy anh Hai?
- Con của chủ nhà đi móc dùm anh!
Biết Là không tin (như lần vô quân y của Tư Chuyền bắt gặp hai cô Hằng Nga đang ăn khoai mì với tôi), tôi thêm:
- Đó là vợ của một chiến sĩ ở cơ quan anh mà . Khổ quá !
- Ừ ! cho nhớ đa nghe !
Tôi xoay sang hỏi thăm công tác. Là chỉ đáp nhát gừng và kết luận:
- Kỳ này lên quận tôi trả chức.
- Sao em nói kỳ vậy?
- Dân ra ấp chiến lược, du kích lẫn tránh, cán bộ nằm nóp hoặc ngồi thum, còn các bà Hai Xót, Năm Đang thì biến mất, muốn xin chỉ thị chỉ biết vô rừng cao su tìm cái miếu thổ thần, nhưng ông thần cũng ra ấp chiến lược rồi.
- Em đã hoàn thành ba cái hang cho ông Ba Xu chưa?
- Đào nửa chừng thì bỏ mứa. Tụi thằng Trương thằng Hiếu cõng vợ con chiêu hồi rồi.
- Trời đất! Còn hai thằng Mã Tử và Đầu Ban?
- Còn đó nhưng chỉ có xác, không có hồn!
- Con Rớt….
- Nó nhắc anh hàng ngày. Tụi con chị Tám Khỏe cũng vậy. Ngày nào cũng hỏi cậu Hai chừng nào về?
Tôi ngồi nói chuyện với Là mà trong bụng rối bời. Chắc nàng Chia đã biết Là là ai rồi. Nếu đổ bể ra không biết tôi sẽ giải thích như thế nào cho cả hai bên để cái ngòi nổ tịt đi.
Đang ngổn ngang trăm mối tơ vò thì một chiếc xe đạp vọt vào sân: bà chằng lửa về tới. Giống như một màn kịch tới hồi quyết hệt. Trông thấy tôi, Ua quát ngay với giọng hằn học:
- Anh qua đây làm gì?
- Đón em chớ làm gì nữa.
- Sao không ở nhà chờ mà đón ở đây?
- Sao em không về nhà mà lại vô đây?
- Má con Chia gởi hàng lụa về cho nó !
Ua vừa nói vừa mở lấy mấy gói ở poọc-ba-ga đem vô, vừa đi vừa kêu:
- Chia ơi ra lấy đồ .
Rồi banh một gói hàng nói tía lia.
- Cái này má gởi vô cho anh. Một bộ ni-lông dầu. Cái này là vải dù và xanh-tuya-rông em mua ở chợ Bắc Hà cho anh. Má nói má đồng ý hết trơn . Bảo cơ quan lo liệu, khi xong má sẽ về. Má hỏi chú Sáu Huỳnh làm chủ hôn bên đàng trai được không?
Là lõ mắt nhìn tôi. Tôi làm cầu thủ nhanh nhẹn gạt bóng văng ra khỏi vùng cấm địa:
- Còn vụ rước gia đình anh tới đâu?
- Dì Tư lên chuyến xe sớm nhất đi Sài gòn. Chắc bây giờ bả đang bước vô cửa nhà anh.
- Tình hình Đồng Dù thế nào?
- Ở trong này anh cũng biết cần gì phải hỏi em. Lính Anh Cả Đỏ vô ngập cả Đồng Dù rồi. Trực thăng sâu rọm câu pháo từ Long Bình xuống đó liên tục. Xe tăng chạy có bầy như trâu. xanh-tuya-rông rẻ rề. Bình toong hạ giá. Tụi Mỹ ném bỏ nhiều quá mà. Người mình ở Củ Chi ra làm cho tụi nó đông như kiến cỏ. Quần là áo lượt cười nói toe toét không còn coi các chú các anh trong này ra cái gì. Có mấy con nhỏ du kích của Bảy Mô trong đám làm công nữa. Vừa thấy tụi nó em lánh mặt rồi dông luôn. Nó rành em mà.
- Cái cổng chính ra vào ở Ngả Tư Trùm Tri còn mở hay đã đóng lại rồi?
- Chuyện đó nói sau t Anh đi qua đây bao lâu rồi?
- Mới ngồi chưa nóng đít mà, cạch hỏi làm gì gắt vậy?
- Thôi đi về . Em có chụp hình để anh cất trong bóp, lúc nào cũng có em bên anh luôn.
Là trợn mắt:
- Nè, con đỉ! Tao nói cho mày biết. Đây là chồng của tao.
- Ơ kìa! Chồng gì, chồng ngồng hả?
(Nãy giờ Ua tưởng Là ở trong đội du kích ấp nên không để ý.)
Là đứng chồm dậy trỏ mặt Ua và chụp lấy súng.
- Tao bắn…
Ua hụp xuống và núp sau lưng tôi. Tôi giật cây súng trong tay Là. Tôi chưa kịp nói gì thì Sáu Huỳnh bước vô:
- Bây làm cái trò gì đó hả tụi con nít quỉ?
Ua thò đầu bên vai tôi run run nói.
- Con nhỏ này định bắn cháu.
Sáu Huỳnh vốn quen Là từ trước vụ tiếp đón thằng Bọ Chét, nay đụng bất ngờ, anh điểm mặt:
- Làm bậy tao trói đầu hết hai đứa.
Là phân trần:
- Chồng của em mà con nhỏ này nó nói…
- Cưới hỏi hồi nào, nó là cán bộ của tao, sao tao không biết?
- Dạ má em đồng ý rồi, nay mai má ảnh ra gặp má em.
- Cơ quan chưa cho phép!
- Chú Sáu nghe bà ngoại nói chịu gả cháu cho ảnh, nên hồi sáng này em ra Củ Chi gặp má em, má em cũng đồng ý rồi.
Sáu Huỳnh gạt phắc:
- Không có thành chuyện gì hết nếu tao chưa cho phép. Bây làm sao nó mất chức như Hai Giả thì làm.
Là không chịu thua:
- Ảnh hứa với em trước rồi mà anh Sáu?
- Ảnh cũng cũng…
Sáu Huỳnh quát vào trong.
- Con Chia đâu? Ra đây tao bảo.
Chia lẵng lặng bước ra đứng nép vào mép kệ . Sáu Huỳnh hất hàm.
- Nó có hứa gì với mày không?
- Dạ.. cháu… cháu…
- Tao nói cho bay biết là cán bộ muốn lập gia đình đều phải báo cáo, cơ quan có chấp nhận thì mới được cưới chớ không có ai dám tự ý quyết định hết. Cấp bậc của ông trưởng ban H6 này là phải được khu ủy duyệt xét chớ không phải tao thông qua là xong đâu.
Ba cô nàng nhóc mỏ cá kèo nghe chấn chỉnh tư tưởng. Nàng Ua có vẻ cương lý :
- Cháu thấy thiếu gì ông có vợ rồi mà vẫn léng phéng, sao không có kỷ luật gì hả chú?
Sáu Huỳnh hơi nhột vì vụ lẹo tẹo với cái cơ sở má con Chia, nhưng vốn nghề quân báo lẽo mép, y quát:
- Ai đâu?
- Như ông Hai Giả, ông Năm Tiều, Năm Cai, Sáu Nâu, Năm Ngó… ông nào cũng con vòng con cỡi hết á ?
Sáu Huỳnh trợn mắt:
- Sao bây biết họ không bị kỷ luật? Kỷ luật phải tuyên bố ra cho bây nghe để họ mất uy tín thì làm sao công tác?
Ua vẫn xon xỏn đối đáp:
- Cháu biết có người… lẹo tẹo.
Sáu Huỳnh biết con nhỏ ám chỉ mình nên quạt mạnh.
- Đó là cần thiết cho công tác! Khi cần công tác hoặc để che mắt địch, hai chú cháu còn phải đóng trò vợ chồng như con Thanh và chú nó là thằng Nam, tụi bây con nít biết gì. Đến mày nay mai nếu cần tao cũng bắt mày làm kiểu đó .
- Ừ cho cháu đóng với anh Hai thì cháu chịu bền.
Sáu Huỳnh nghiêm sắc mặt:
- Nào, nói sơ về tình hình Đồng Dù nghe coi!
- Người trong mình ra làm công như kiến cỏ. Mỹ đi đụng đầu lộp cộp Xe tăng chạy rung đất. Trực thăng bay đen trời. Cà-nông câu tới liên tục. Chợ Bắc Hà bán đồ rẻ mạt.
- Nay mai rồi mày vào bên trong điều tra rành rẽ hơn.
Sáu Huỳnh đứng dậy bảo ba cô:
- Thôi giải tán đi. Cô xã đội phó đi về hoàn thành cái vụ hôm trước cho sớm. Sắp có việc cần đến nơi rồi. Con Ua chuẩn bị đi Sài gòn bây giờ nè. Tình hình như nước sôi ở đó mà giành chồng.
Rồi anh khều tôi ra đường bảo nhỏ:
- Tao biết ba con gà dò này mày chỉ xé phay tạm cơn đói lòng thôi chớ chắc mày chẳng lấy làm vợ được. Một đứa thì cục mịch, đứa lại quá nông nổi. Con Chia, mùi mẫn thì được còn đóng vai hiền nội thì cũng hụt tiêu chuẩn. Mày cứ việc bứt dây oánh tuất. Nhưng nhớ giàn xếp cho khéo đừng để nó làm bể bạc tùm lum. Con Ua nó biết mày ở đây cả ngày với con Chia chớ hổng không đâu, nó lém lắm.
- Nó bảo nó chịu cho con Chia chung chồng với nó, nhưng con Chia phải làm bé.
Sáu Huỳnh cười phì:
- Con quỉ hón đó ghê lắm. Chuyện gì của ai nó cũng biết hết. Mày vô bảo nó về đằng nhà thăm bà ngoại. Từ hồi sáng tới giờ tao không có về nhà. Có chuyện rắc rối lắm!
- Gì đó anh Sáu?
- Bí mật, nhưng tao xì một chút cho mày nghe. Vợ thằng Tư Minh là cơ sở của mình ở Sài gòn. Mụ ta làm thợ may nhưng trong nhà có súng đại liên và vài chục trái mìn. Công tác viên vừa ra cho biết là tụi cảnh sát Sài gòn có vẻ như đánh thấy hơi. Tao và Chín Lộc muốn cho dời đi, nhưng không có chỗ. Một tên sĩ quan cấp tá từng là tay trong của mình lâu năm ngỏ ý muốn nhận số vũ khí đó đem cất giấu một nơi đặc biệt, nhưng tao ngại loại rắn trung hai đầu, nó chích một cái là trời cứu, nên tao chưa quyết định. Đem bấy nhiêu vũ khí đó được vô thành phải trầy vi tróc vẫy chớ đâu có dễ . Rủi bị tụi nó biết thì khóc không ra tiếng.
- Tôi nghe nói tụi tướng cũng móc với mình hả anh Sáu?
- Có, nhưng ít lắm.
- Sao mà có loại người như vậy hả anh, tôi thực tình không hiểu nổi.
- Đời này chẳng có cái lương tâm nào là không biến thành hàng hóa. Mày không đọc thơ Giao Thừa của cụ Tố nhà ta đăng trên báo Nhân Dân Xuân 61 à?
- Có ! Hàng hóa lương tâm cũng thiếu thừa !
Sáu Huỳnh làm dấu.
- Đưa cái này và cái này ra, không có lương tâm nào không chảy ra nước. Mày nghĩ coi, một tấm hình L19 một lời báo cáo láo giá ba triệu, khó gì mà không xơi? Công tác này mệt lắm mày ơi!
Sáu Huỳnh mở sắc-cốt móc một cọc bạc giấy mới cước cạnh dúi vào tay tôi và bảo:
- Lấy xài. Tao mới được tụi Tàu Chợ Lớn đóng thuế. Mày có về H6 ráng cẩn thận nghe. Biệt kích như rươi đấy. Việc vợ con tính mau mau đi. Đừng có cầu toán. Ông già bà già mày cần có cháu để trên đầu trên cổ với người ta. Tao đi công tác vài bữa rồi về, chắc gặp ổng.
Sáu Huỳnh vừa đi thì Là tới. Tôi móc đưa cho nàng năm ngàn (với số tiền này có thể mua được một cái radio Sony) bảo:
- Em về lo thu xếp cho cô Lụa và bé Rớt qua Bến Chùa với má. Ở đó có trường cho nó học. Tội nghiệp cô Lụa, mới ngần ấy tuổi mà đã góa chồng. Anh thương bé Rớt quá chừng. Nếu dễ dàng thì anh đem nó theo anh để dạy dỗ.
Là bắt ngay câu nói của tôi để buộc chặt.
- Anh thương con nít mà không chịu có con?
- Anh không biết sống chết ngày nào. Do đó anh không muốn để khổ cho ai hết. Em thấy không, như bé Rớt bây giờ ai nuôi nấng?
Là đứng lặng thinh. Tôi hỏi:
- Cái hầm cho ông Ba Xu em đã làm xong chưa?
Là vùn vằn:
- Ổng ở miết bên Bến Chùa Thanh An ăn dầm nằm dề tại nhà dì Ba chớ đâu có ở bên này mà cần hầm hố?
Là cười ngượng ngập:
- Bộ anh nhớ cái … gì ở trên nắp hầm đó hả?
- Nhớ chớ sao quên được.
- Anh mà lang thang thì em đi vành đai cho anh coi.
Tưởng Là nói về thành nhưng Là lại nói vành đai, nên tôi hỏi:
- Đi vành đai là sao?
- Là đi với mấy ông du kích ra hàm ếch bắn tỉa Đồng Dù cho nó pháo lại chết ngủm chớ sao nữa?
Tôi thấy tội nghiệp cô bé quá, định hôn một cái để vuốt giận cô nàng, nhưng nàng Ua lại phóng xe đạp ra, la oang oang:
- Em vừa chấn cho con Chia một mách cho bỏ thói giựt chồng kẻ khác! – Ua đạp ngang chầm chậm – Còn bà xã đội này nữa, không có được rù quến người ta nghe! Và anh nữa, anh lớ quớ em phăng teo anh luôn đó . Chút nữa về nhà, em tặng cho tấm ảnh mới chớp.
Nhìn theo cô gái đạp xe với chân hơi ngắn nên phải dùng mũi chân, cặp mông trệu qua trệu lại tôi phát tức cười. Là gắt hỏi.
- Anh quen với cô ta hồi nào vậy?
- Vài hôm thôi.
- Sao cổ gọi anh là chồng?
Anh không biết.
- Bộ anh có gì với người ta nên người ta mới dám nói vậy. Lúc nãy cổ xôm lên là em để cho một phát bá đỏ.
- Chịp! Em nói bậy quá ? Không thể làm như vậy được. Nếu anh yêu cô ta thì cô ta có chết anh cũng yêu, còn không yêu thì cô ta có ở bên cạnh anh vẫn không mà.
- Còn con nhỏ chủ quán là ai?
- Má cô ta đi móc gia đình cho anh. Cứ tra hạch hoài.
- Trở về trên lại có cô Ba Phi, cô Thanh Tuyền hả ? Anh nói thiệt đi, chừng nào anh làm đám cưới.
- Anh không cưới ai hết. ở trên đó mới bị B52, biết có còn không mà cưới.
- Không, em hỏi chừng nào cưới em kia !
- Để gia đình vào xem !
- Em ở đây chờ ba má anh vô .
- Rồi còn cơ quan nữa. Em không nghe ông thủ trưởng của anh nói hồi nãy à?
Có tiếng Chia từ trong nhà vọng ra:
- Mời anh chị vô ăn cơm để đói bụng.
- Đi vô ăn cơm, em!
- Không có ăn uống gì hết. Em thấy mặt nó là em muốn trào máu họng em lên rồi !
- Cô đó tốt lắm.
- Cô nào đẹp đẹp anh cũng cho là tốt hết. Sao anh không khen bà Hai Xót, bà Năm Đang, con Út Nhở, bà Năm Cầu Xe tốt dùm chút?
Tôi cười trừ:
- Thôi, trên đời này chỉ có mình em là đáng được anh khen thôi.
Như không nghe tôi nói, nàng tiếp:
- Ở bên Thanh An người ta định bỏ vòi qua đây coi mắt em, do dì Ba làm mối. Má nói má nghe em đã hứa với ai rồi, nên người ta thụt.
- Anh khuyên em nên sang bên đó sống bên cạnh má để săn sóc má tốt hơn, ở bên này công tác chẳng được bao lâu nữa.
- Em cũng muốn như vậy, nhưng em còn nấn ná ở đây là vì anh !
- Em không nên vì anh một chút nào hết.
Là trừng trừng nhìn tôi. Tôi nói luôn:
- Anh bảo thật đấy. Em thấy chị Lụa em đó không? Nay mai anh sẽ chỉ huy đơn vị chiến đấu, bom đạn gấp trăm lần công tác dân công của ba con Rớt. Anh không sống để cưới em đâu. Để rồi em xem anh sẽ không có cưới ai hết, không thể cưới ai hết trên cái đất Củ Chi này.
Tôi chưa bao giờ thấy Là trầm tĩnh như hôm nay. Nàng không nói gì mà nước mắt chảy ròng ròng trên đôi má. Tôi muốn lau cho nàng nhưng sợ con bé ác ôn hiện tới thình lình. Tôi buồn thật sự. Và tôi cũng chưa bao giờ nghe nỗi buồn thấm thía đến như hôm nay. Chiến tranh đã động tới tất cả mọi người. Thằng Trần Chánh Lý chết ngồi ở gốc cây rừng Trường Sơn, trên đó những chiếc võng giăng, người nằm không bao giờ dậy nữa. Thu Hà, Huỳnh Mai. Những người yêu mình cứ xa dần hoặc biến mất. Rồi lại có thêm, nhưng cũng như trước, xa rồi biến mất. Bé Rớt giờ đây không còn gặp lại ba được nữa, nhưng nó không biết điều đó. Bỗng nhiên Là bảo tôi:
- Anh đi với em lại đằng này chút.
- Nhà ai? Có hầm hố gì không đã ?
- Không, vô rừng thôi. .
- !!
Tôi ngó Là kinh ngạc. Là hồn nhiên:
- May ra kỳ này em có con với anh.
Có thể nào tôi từ chối một ý định như vậy không? Tôi đi theo Là đến nơi nàng dắt. Tôi đứng nhìn quanh. Nhờ Là hướng đạo cho tôi kỳ trước mà tôi quen thuộc được nhiều địa hình. Kìa là gân dứa xanh giữa đồng ăn liền với con suối chảy thông tới cầu Lào Táo ở đường số 7 bót Trung Hòa. Nọ là xóm Mới dính liề với sở cao su Ba Lăng gối đầu lên đường số 1 đi Trảng Bàng. Nếu không có Xóm Bò Cạp thì có thể nhìn thấy đường một làng, ở đó có ấp Phú Hiệp ăn ra xóm Cây Sộp sát bên Đồng Dù. Xe tăng chạy, trực thăng bay rầm rì mà hai đứa coi như pha. Một lùm cây ở giữa đồng không đủ kín, nhưng vì dân làng đã bỏ đi hết nên không lo có người qua lại. Bên trong có một cái chòi, loại chòi của chăn trâu chăn vịt. Chắc các ông bà du kích từng trú ngụ ở đây.
Một bộ vạt tre xệu xạo. Là ngồi xuống và nói ngay:
- Anh yêu em đi. Có lẽ đây là lần cuối cùng.
- Tại sao?
- Em sẽ đi Thanh An hoặc sẽ chết.
- Lấy chồng làm ăn, nuôi má hay hơn em ạ ! Em thấy thằng Tư Thuận không không? Đám thanh niên đã đi hết rồi. Nơi anh đóng cơ quan bây giờ cũng không còn ai. Nếu không chết trận thì cũng vô thành đạp xích lô, làm thợ mộc thợ hồ kiếm ăn và kiếm sống. Ở vùng Mặt trận thì đói và chết dễ dàng.
Tôi phân tích tình hình địch ta cho cô nàng nghe. Cô chăm chú nhìn tôi và tôi cũng có cảm tưởng là tôi nói cho tôi nghe nữa ! Ngày xưa kháng chiến, toàn dân căm thù thực dân Pháp nên có câu khẩu hiệu Bất hợp tác với giặc, Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Em bé tự tẩm dầu làm đuốc sống đốt kho xăng Thị Nghè, ba em bé vô danh leo lên lầu nước treo cờ độc lập ! Nguyễn Bình đã vào Sài gòn Chợ Lớn như cơm bữa mà mật thám Tây không động được lông chân. Chúng treo giải thưởng mười ngàn bạc Đông Dương cho ai bắt được ông ta… nhưng chẳng ma nào hưởng ứng trái lại còn cất giấu ông. Một anh thợ hớt tóc ở đốc cầu Bình Điền chuyên môn cạo đầu tụi lính Lê Dương gác cầu này. Một hôm có thằng Tây vác súng ngất nghễu đi tới đưa đầu cho anh cúp. Thằng tây được anh lấy ráy tai đã ngứa nên lim dim ngủ. Anh lấy con dao cạo ra cạo râu, rồi đưa một nhát. . . Mười lãm phút sau anh xuống xuồng với khẩu súng mi-trây-dết và cái thủ cấp thằng Tây mắt còn nháy nháy (đồng bào kể cho nhau nghe thêm thắt cái chi tiết lý thú này) bơi tuốt vô khu nạp cho ông Bảy Trấn Trưởng Ty Quốc Gia Tự Vệ Cuộc Tỉnh đang đóng ở kinh Lý Văn Mạnh. Còn bây giờ ? Mỹ tới người ta theo rần rần. Người mình không xem Mỹ như Tây ngày trước. Số người thù ghét Mỹ không bằng 1/100 số người ghét Tây . Người ta không coi việc hợp tác với Mỹ là phản quốc, là Việt gian, là quên non sông gì cả Mỹ nó vô đây để giúp mình giữ nền độc lập. Cán bộ cỡ như bà khu ủy, bà Năm Đang, Hai Xót, Là v.v… và cả tôi nữa cũng khó lòng mà bẻ lại lý luận đó. Hà hà… thì đó, vợ con cán bộ đi làm cho Mỹ ở Đồng Dù nhờ đó mà cán bộ mới có tiền ăn mà chống Mỹ . Thì đó, ngày nào lại chẳng có người hồi chánh?
- Anh làm gì mà ngồi nói lảm nhảm vậy hả?
Tôi đang bị cuốn hút vào những ý nghĩ miên man thì bị Là đập tay lên vai. Tôi quay lại. Nàng đã trải xong tấm vải dù trên bộ vạt. Bãi đã dọn sẵn. Chỉ còn đổ quân. Nàng hứng lấy mọi sự tấn công của tôi với một sự khao khát của một vạt đất khô nẻ được mưa đầm đìa. Còn tôi thì tôi xả thân một cách hết lòng như để chuộc tội phản bội trái tim yêu của nàng, để bảo nàng rằng: “Anh có yêu ai đâu! Tất cả anh chỉ dành cho em! ” Mà thật vậy, khi yêu người đàn bà con gái nào tôi cũng cảm thấy tôi mới yêu lần đầu. Quyết tâm chiến thắng đối phương của tôi lần nào cũng được biểu hiệu một cách rõ rệt. Hơn thế nữa tôi tự nhủ: đây là lần cuối cùng, mai mình chết. Hãy tận hưởng. Nàng như con suối bị đắp ngăn, chỉ một nhát cuốc vừa bỗ là nó đã tràn trề tuôn chảy. Chúng tôi không còn thì giờ ôm ấp và trò chuyện lâu lắc như tôi với Chia.
Nàng buồn rầu bảo:
- Anh có thương ai thì thương, đừng quên em là đủ.
- Anh có thương ai đâu!
- Anh! – Nàng kêu lên rất khẽ và nhào tới bá cổ tôi – Em ước mong em được một đứa con với anh. Cho em và cho anh nữa. Nếu anh hi sinh thì em cũng còn mang anh trong òng.
Chúng tôi trở ra đường. Là trở nên trầm tĩnh như một anh línhh trước phút lao vào trận địa bịt lỗ châu mai. Nàng chấp nhận cái đau khổ không tránh được: Sự cách biệt với tôi.
Chúng tôi đứng trước một gốc cây cành lá gãy cụp che nửa mặt đường. Trời đã ngã chiều, không khí vắng lặng như chết.
- Anh vô đi, em đi tìm chú Tư!
Tôi không nỡ rời nàng. Nàng quay lưng. Tôi gọi một tiếng to như trăn trối. Nhưng nàng cắm cúi đi, không quay lại. Tôi thấy tất cả đều tan vỡ trong tôi nhưng tình yêu của một cô gái quê còn đọng mãi.
Tôi trở lại quán thì thấy Chia đang đứng ngơ ngáo ở trước thềm. Trong nhà, vài ba ông lính đang uống rượu với khô cá kèo, cá mực. Lúc nào hễ có dịp ăn uống nhậu nhẹt là nhà lính ta ăn uống nhậu nhẹt. Cuộc sống ở đây quá mong manh, người ta cố níu lấy được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Ngày mai sẽ đội B52, pháo, rốc kết, sẽ bị xe tăng khui hầm, bị bom chôn sống.
Tôi đi thẳng vào sau nhà. Chia đi theo tôi, đẩy tôi xuống hầm. Tôi nằm lên giường. Nàng chạy lên một chốc rồi trở xuống với ly sữa trên tay.
- Anh uống đi rồi ngủ một giấc cho khỏe.
Tôi ngoan ngoãn vâng lời bà tiên.
Tôi giật mình khi nghe hơi mát lướt trên mặt. Tôi mở mắt ra. Trong ánh sáng lờ mờ của lòng hầm tôi nhận ra bà tiên đang ngồi cầm chiếc quạt nan phe phẩy.
- Ngủ đi anh !
Tôi vít đầu nàng xuống và bà tiên trở thành phàm tục trong đôi tay phàm tục của tôi. Tôi lại tự nhủ : đây là mâm cỗ ân huệ của tên tử tù. Sau đây sẽ không có gì khác hơn là lưỡi gươm máy. Tôi đi vào tâm hồn nàng một cách chậm chạp nhưng tận tình và đến nơi. Nòng súng của người chiến sĩ sau khi đã khai hỏa lần đầu thép có phần lạnh hơn nhưng vô cùng chính xác. Anh ta tỏ ra là người xạ thủ có kinh nghiệm ở trường bia. Nàng như một khúc đuôi thằn lằn đứt run rẩy tíu tít. Chính nàng cũng chất lưỡi như chú thằn lằn ở trong xó tối nào kia đang nhìn thấy cảnh này. Nàng rủ rỉ bên tai tôi:
- Anh thua em rồi !
- Em thua thì có .
- Thua trí cơ !
-Trí gì?
- Buổi sáng em nói dối anh.
- Dối gì?
- Em nói là em vừa sạch kinh không thể đậu thai. Nhưng không phải. Em đang trong thời kỳ có khả năng thọ thai nhất.
Tôi cười:
- Em tưởng anh sợ có con à ? – Tôi hôn nàng nơi vành tai và bảo – Chính anh đang rất muốn có con. Ngày mai em đẻ cho anh một…
- … Bầy Thiên Lôi nghe !… À này, cho em hỏi anh câu này được không?
- Sao không hỏi từ đầu. Bây giờ muộn rồi. Hỏi có bao nhiêu cô đeo anh chớ gì?
- Không bao giờ !
- Vậy hỏi gì?
- Sao anh lấy tên Lôi. Bộ bị người ta kéo lôi hoài hả?
- Vì anh là Thiên Lôi.
- Anh có đánh ai đâu?
- Anh chỉ vâng lịnh người khác xách búa chạy rong hai chục năm trời. Không bao giờ tự chủ được.
- Bây giờ là chủ rồi.
- Chủ ai?
-Em!
Tôi bật cười:
- Chủ quán!
- Anh mà chủ quán thì vài ngày quán đóng cửa.
- Tại sao?
- Vì anh cho không chớ sao.
- Kẻ thắt ruột thương người ruột thắt, mắt châu rơi khóc mắt rơi châu.
- Em chỉ đùa thôi, anh đừng giận em.
- Anh không giận em.
- Anh có thể cho hết cả quán, chỉ chừa…
- …em.
- Không! chừa anh.
- Anh cho anh nốt.
- Không!
- Cho em! Anh cho em tất cả anh!
Nàng hôn tôi như một tiếng cám ơn. Chúng tôi nói với nhau những chuyện vớ vẫn như thế. Nói bất tận, như một mẫu nhạc nhẹ một màn hoạt kê giữa hai lớp hát. Xong lại trở về tuồng chính với lớp hát kéo dài. Nàng bảo:
- Chắc em có thai.
- Sao chắc?
- Đúng luật Ogino Knaus mà anh ! – Nàng lại hôn tôi – Anh sẽ có một thằng Thiên Lôi con giống hệt cha.
Có tiếng la oang oang ngoài trước: Bỏ mạng rồi. Lúc nãy không đóng cửa. Chạy ngõ nào?
- Anh Hai đâu, sao chưa về?
Biết bà chằng lửa tới, tôi kéo tay Chia giật giật và quơ quần áo đắp lên nàng. Nhưng nàng cứ nằm im. Tôi ngồi dậy, nàng kéo tôi nằm xuống.
- Kệ nó, cho nó thấy.
Tiếng chân bước thẳng xuống hầm. Tôi khoác vội y phục và bật dậy. Ua trỏ mặt Chia.
- Hén! Anh Hai vậy hén! Mày giật của tao há Chia.
Chia quát trả dữ dội.
- Rồi sao?
- Không sao hết ! Mày giành thì tao cho, nhưng mày phải làm bé .
- Xí! Mặt này mà làm bé mày?
- Chớ tới sau mà đòi làm lớn hả? Anh Hai, đi về ngoại biểu !
- Ảnh không về !
- Không về, tao ở đây luôn, mày nuôi cơm tao. Tao ra mét dì Tư cho mày coi ?
- Mét mét tao hổng sợ !
Tôi lên tiếng:
- Hai em làm vậy, anh bỏ về R ngay cho coi.
Đúng là cảnh ông Tam Tạng lọt vào triều đình của Tây Lương nữ quốc. Chỉ khác là tôi không thể là Tam Tạng được thôi. Câu nói của tôi như một gáo nước tạt vào hai ngọn lửa. Tôi quay lại Ua:
-Đi về để ngoại chờ, em!
.Ua chở tôi trên ngọc ba ga chạy rào rào. Vừa đạp nàng vừa nói tía lia:
- Em đẹp hơn nó, nó thùy mị hơn em. Anh thích đứa nào?
- Thích cả hai hoặc không thích đứa nào hết.
- Em biết anh thích ai mà . Nhưng mặc kệ . Nó làm gì làm, em vẫn là vợ chưa cưới của anh.
Ua bất thần nói ngang:
- Mấy thằng Mỹ to như trâu cui, con gái đi ngang nách nó.
- Em thấy ở đâu?
- Ở gần ngả Tư Trùm Tri, chỗ cổng chính vào Đồng Dù . Ở đó mới ký hai chiếc xe tăng chĩa họng về phía mình. Khi cần là nó khạc vô . Đạn bay qua đầu xóm Phú Hiệp, dân chúng đang làm ruộng ắt phải té đái.
- Sao em không báo cáo với anh Sáu?
- Báo thì cũng như không. Mấy ổng có làm gì mà báo cho mất công.
Ua không chở tôi về mà đưa tôi tới một ngôi nhà hoang cách ven đường không xa. Chủ nhà đi ra ấp chiến lược lâu rồi. Cột kèo bị cơ quan lấy làm hầm. Vườn tược du kích tha hồ đốn cây hái trái. Ua dựng xe vào gốc bưởi trước sân. Tôi nhìn quanh thấy nhiều vết đạn trên thân cây. Ua bảo:
- Con nhỏ xã đội, con Chia lui rồi, bây giờ anh là của em.
Tôi nói như giật mình:
- Để tối không được sao nhỏ?
- Chút nữa… mà không chút nữa gì, ngay bây giờ một trái cà nông có thể rớt ngay đây nè. Ở đó mà tối với sáng. Anh không biết ở Bầu Trăn có một đám cưới của một anh chiến sĩ công trường 9 ăn một.trái 155. Cả hai họ bay như lá.
Ua vừa nói vừa đi xăm xăm vào một chái nhà xiêu xiêu còn sót ở bên trái nền nhà. Nàng ôm quàng lấy tôi như giằn nén khao khát từ lâu.
- Cho anh tất cả đấy.
Tôi hơi run. Nàng giục:
- Hoặc của anh, hoặc của lính Đồng Dù .
- Sao vậy?
- Em đi qua đi lại trước mắt nó, nó tha cho à? Chừng đó anh đừng tiếc.
Tôi không thể mà cũng không muốn từ chối. Tôi muốn thành thật với tôi với nàng như mọi người khác thành thực với chính mình khi đứng trước một vệ nữ thần như hôm nay. Ánh chiều đã tắt hẳn. Hoàng hôn xuống khuyến khích cho việc thiện lẫn ác. Tôi đã uống cạn hai nguồn suối tiên trong khoảnh khắc, bây giờ vẫn thấy còn khát.
- Anh muốn được thì được, anh muốn mất thì mất. Chắc anh có nghe con Chia hát bài Que sera sera chớ . Nó thích bài đó lắm và nó muốn thả lỏng đời nó tới đâu tới. Thí dụ bữa nay anh yêu nó, mai bỏ nó, nó cũng chẳng màng. Còn em thì khác. Em phải nắm được những gì em muốn. Cho nên khi em yêu anh thì em yêu tới cùng. Em có cách làm cho anh không thể bỏ em để đi với người khác. Con nhỏ xã đội đó định chơi ác với em? Vì bất ngờ em không có phương tiện đối phó. Chứ bây giờ, em chấp nó!
Nói xong Ua rút trong túi quần tây một khẩu súng nhỏ xíu. Tôi nhìn mà không biết hiệu gì.
- Súng bắn ruồi ở đâu vậy?
- Mua.
- Mua ở đâu?
- Ở chợ Bắc Hà chớ đâu. Ở đó anh mua xe tăng đại bác gì cũng có, thứ này là đồ bỏ. Công tác của em cần món này, em lận lưng luôn.
Ua có vẻ như rửa được cái nhục trước cô xã đội.
- Lần sau nó có đến, anh đừng cho nó chạm trán em nghe. Nó đừng có tưởng cây bá đỏ của nó là ngon. Em không để nó bóp cò trước.
(Lợi dụng tính ngỗ ngáo của cô gái, Chín Lộc đã dùng Ua như một nữ điệp báo cụm 20 ở ven Quốc lộ 1 và sau này nhờ bàn tay Ua đánh lính Đồng Dù bằng mìn đặt trong hộp coca. )
Tôi lại phải ngoan ngoãn làm theo lệnh nữ hoàng Tây Lương. Đêm qua vì cô công chúa Chia kềm kẹp nên tôi không dở được độc thủ với Ua. Bây giờ thì tôi tha hồ đấu tranh chánh trị lẫn quân sự, dùng chiến thuật phượng hoàng vồ mồi của Mỹ hay chiến thuật lấy thịt đè người của cụ Mao đều tốt cả. Vồ mồi trước rồi lấy thịt đè người sau, hay vừa lấy thịt đè người vừa làm phượng hoàng vồ mồi càng tuyệt sắc.
Trên một cánh cửa ván kê trên mấy chồng gạch gập ghềnh tôi càng có cảm giác lượn trên sóng biển bềnh bồng vô tận. Để kết thúc trận địa, tôi phải dùng đến chiến thuật bủa lưới phóng lao. Lưới thì đã bủa xong rồi, còn bước cuối cùng: phóng lao. Nhưng nàng cự tuyệt Tôi dụ hổ ly sơn để đạt yêu cầu, nàng nhất định vườn xuân có lối nhưng chưa cho vào:
- Bao giờ em là vợ anh thì mới được!
Con nhỏ này học nghề tình báo của Chín Lộc chăng? Tôi thầm nghĩ. Hay là cánh cửa vườn xuân của nàng đã bị mấy tên già dềnh mở toang rồi nên không muốn cho mình biết cái điều bí mật đó. Tôi lên nằm ghé bên nàng và rủ rỉ:
- Sao em bảo em là vợ của anh?
- Vợ chưa cưới !
- Vợ chưa cưới thì cũng là vợ chớ khác gì?
- Vợ chưa cưới là vợ chưa cưới, sao không khác ! Chỉ khi nào cưới hỏi xong anh mới được hưởng cái ân huệ đó. Anh có đọc quyển Les demi-vìerges của Marcel Prévost không?
- Em đọc bấng Pháp được à?
- Quyển đó đã dịch ra tiếng Việt lâu rồi. Tụi học sinh em đều áp dụng theo đó cả nghĩa là cho cả, trừ một.
- Đối với anh thì em nên trừ cả, cho một.
Nàng tát yêu tôi:
- Anh quỉ lắm! Nhưng em vẫn yêu anh.
- Yêu mà thế à ?
- Yêu mới thế chứ.
Tôi đành chịu rút quân trong danh dự. Nàng ôm đầu tôi , rủ rỉ:
- Em dành cho chồng em tất cả !
- Nếu chồng em không phải là anh?
Ua chớp chớp mắt vài cái rồi đáp:
- Nếu không phải là anh… ờ ờ… thì chỉ khi anh cũng không còn trên đời.
- Chuyện đó cần gì phải nói!
- Hoặc anh còn mà em lấy người khác làm chồng… nhưng chuyện đó chắc không thể có đâu!
Con bé này không phải thông minh vặt mà nó khôn ngoan mà khẩu khí thật chớ chẳng phải thường. Chín Lộc đã chọn đúng người để giao công tác. Chỉ tiếc cho nó là không được đi học để dính vào ba cái chuyện nguy hiểm này. Cuộc đời nó rồi sẽ không tránh khỏi bi kịch. Thấy tôi làm thinh, Ua hỏi:
- Anh suy nghĩ gì vậy?
- Số phận của em!
- Nó sẽ như thế nào?
- Chắc em sẽ thành công rực rỡ trong công tác.
- Khỉ mốc !
Ua ngồi dậy mặc quần áo vào không chút ngượng ngùng, vừa cài nút áo vừa tiếp.
- Dưới sự chỉ đạo của ông Hói và ông Tét em chỉ là một tên quân chạy hiệu, thành công gì ! Hôm nọ anh có kể với em là anh có hụ hợ trong việc tiếp đón nhà báo quốc tế nào đó anh nói có một cô chiêu đãi tên Bốn, nhớ không?
- Cô Bốn của anh Sáu Huỳnh đưa tới.
- Em rồi cũng sẽ như Bốn thôi.
- Nghĩa là sao?
- Họ sẽ cấy em vào đám ruộng Mỹ Đồng Dù. Lúa nào sẽ trổ bông? Bốn trước kia cũng là… -Ua ngưng ngang – Thôi bỏ đi.
Ua giận dỗi rồi xách xe đạp chạy một mình, tôi gọi cách gì nàng cũng không trở lại. Tôi sợ nàng quẩn trí rồi làm bậy mang khốn. Tôi bắt đầu sợ và tìm cách lánh xa nàng, nhưng luẩn quẩn rồi cũng không khỏi.






Chương 44

Phụ Tử Trùng Phùng


Hôm sau tôi đang ngồi ăn cơm tối với Sáu Huỳnh, Tư Minh và Chín Lộc thì Chia xuất hiện. Nàng nói lắp bắp:
- Anh Hai! Bác… tới!
Sáu Huỳnh trêu.
- Bác nào? Bác Hồ hả?
- Bác tía anh Hai !
Tôi đang ăn bỗng no ngang, buông đũa đứng dậy:
- Để tôi đi gặp ba tôi, anh Sáu!
Tôi xuống hầm quơ ba lô nịt súng và chạy đi. Ua quát:
- Anh lấy xe kìa đi cho mau!
Tôi xách chiếc xe vừa chạy vừa nhảy lên yên, đạp trật hai ba phát mới phóng được . Nhưng Chia chạy theo kêu quang quác:
- Anh Hai, anh Hai bỏ em sao?
Tôi phải dừng lại. Chia nhảy phóc lên ngồi trên pọc-ba-ga ôm ngang eo ếch tôi chặt cứng. .
- Anh với ba như cắt mặt để qua. Em thấy là biết liền!
- Em thấy ba anh già nhiều hôn?
Chia đấm lưng tôi thụi thụi.
- Ba chớ không phải ba anh nghe chưa? Riết đi.. . để con Ua nó giành.
- Ừ, em thấy ba già nhiều hôn?
Chia nũng nịu.
- Em đâu có gặp ba lần nào mà biết già nhiều hay ít. Đám cưới liền anh nghe. Sau đám cưới em theo ba về nhà luôn.
Nàng nói như công việc đã được quyết định.
-Về à?
- Em ghét ở trong này quá hà !
- Vậy hồi nào tới giờ sao ở được?
- Hồi nào tới giờ không có anh, sao cũng được.
- Em về rồi bỏ anh trong này một mình hay sao?
- Đừng bỏ anh một mình, đừng bỏ em một mình.
Tôi hỏi:
- Em lảm nhảm cái gì vậy?
- Hình như có ai nói với em như vậy rồi. Ý mà không ! Bài hát!
- Bài gì?
- Bài Đừng bỏ em một mình.
- Ở đâu?
- Hồi em đi học, em nghe bài đó.
- Em về ngoải thì anh ở trong này một mình mà em ở ngoải cũng một mình.
- Ờ thôi em không về một mình.
- Thì ở lại trong này chớ sao !
- Không ! Em không muốn ở trong này nữa. Cái gì cũng kỳ cục hết, em không chịu nổi.
- Vậy thì làm sao?
- Anh với em về ngoải luôn!
- Ý! Bậy nào. Anh đâu có đi như vậy được?
- Tại sao không? Có ông thượng tá còn đi đấy! Đài Sài gòn nói mà.
Cô bé này không bộp chộp như Ua nhưng lãng mạn hơn.
Cô nói nhiều câu như dùi sắt chọc vào tim tôi. Ở giữa cái vùng bom đạn lại được tiếp xúc với vùng thành thị bình yên có nếp sống khác hẳn, ắt cô nàng phải suy nghĩ. Như vậy cũng hợp với luật liên quan của duy vật biện chứng pháp lắm.
Tôi hỏi:
- Em có ý nghĩ như vậy hồi nào?
Chia ôm chặt tôi lúc chiếc xe xốc mạnh.
- Hôm anh yêu em!
- Tại sao?
- Vì em nghĩ, nếu ở trong này em sẽ mất anh.
- Sao lại mất?
- Anh biết mà, cần gì phải hỏi.
Tôi biết nàng nghĩ xa nhưng không rõ là mất với ý nghĩa nào? Bom đạn hay sự cấu xé giữa các cô mà nàng đã chứng kiến, rồi tôi bỏ nàng. Ai yêu tôi cũng bằng tấm tình chân thật cả. Dù tình dài hay ngắn, suông sẻ hay gút mắc, khi yêu tôi cũng yêu chân thành, nhưng tôi không thể đáp lại tấm tình của họ như họ mong ước. Tôi biết cuộc chiến này đã để lại góa phụ khắp nơi từ miền Bắc tới miền Nam, trên R cũng như ở Củ Chi. Tôi sẽ là một chiến tướng da ngựa bọc thây. Tôi cũng yêu mọi người như yêu tôi, còn lấy ai làm vợ trong lúc này quả là điều tôi do dự hoặc không dám quyết định.
Chia có vẻ quả quyết tiến tới trong kỳ này với sự có mặt của ba tôi. Biết vậy nhưng tôi không ngăn cản hoặc chiều theo ý định của nàng. Tôi cứ làm như một đám lục bình trôi trên sông. Ngừng lại đâu hay trôi đến đâu cũng thế. Một trở ngại trước mắt là Thu Hà, người con gái độc nhất mà tôi đã hứa từ trước đến nay. Nếu ba tôi ưng cưới Chia cho tôi thì…
Tôi hỏi khi chiếc xe đến khúc quanh sắp rẽ vào nhà .
- Em thấy tóc ba đã bạc hết chưa?
- Gần hết!
- Ba mặc quần áo gì?
- Áo trắng quần trắng.
- Có đội nón không?
- Có đội nón nỉ. Tướng mạo của ba không giống người nào ở đây hết.
Tôi quẹo vô sân nhà. Chia bảo:
- Ba đứng trước hàng ba ! Để coi ba có biết anh không.- Chia cười rúc rích và buông eo ếch tôi ra.
- Sao không biết?
Tôi buông xe nhảy xuống chạy ào tới.
- Con đó hả con?
Ba tôi bình thản hỏi. Một sự bình thản cố làm ra, không phải tự nhiên. Tôi nhào tới ôm lấy ba tôi. Không nói gì hết. Nức nở nghẹn ngào. Hai mươi năm nay tôi mới được nghe tiếng nói của ông già.
Tôi đã đi đâu, làm gì, sống chết ra sao. Cha mẹ ở nhà đau yếu đói no ra sao tôi bất biết. Lắm lúc ham vui tôi cũng không nhớ rằng tôi còn có cha mẹ trên đời nữa. Đi làm cách mạng ! Cách mạng là cái gì? Việc nước không xong, việc nhà bỏ phế! Đó là cách mạng. Đánh giết cho nhiều, phá phách cho hung. Đó là cách mạng. Thay tên đổi họ, lén lút mò mẫm đêm, chui trốn trong rừng. Đó là cách mạng. Còn gì nữa, cách mạng? Tất cả những gì đẫm máu, đểu cáng, bịp bợm, dâm dục thối tha nhất có thể gọi là cách mạng. Nhưng tới hôm nay, đứng trước mặt ba tôi, tôi mới nhận ra chân lý đó . Nhận rồi để làm gì? Tôi muốn phủi bỏ hết tất cả các thứ hào quang rởm lâu nay thiên hạ gán cho tôi để trở về với gia đình, làm một người thường sống với những hạnh phúc bình thường của nó: săn sóc cha mẹ, cưới vợ sinh con, cơm nước hàng ngày.
Đảng lẽ ra tôi đã có trong tay tất cả hạnh phúc đó từ lâu nhưng vì say mê lý tưởng mà bây giờ đầu chẳng đội trời chân chẳng đạp đất, muốn lùi không được, còn đi tới thì tới đâu? Ba tôi rơi nước mắt, nghẹn ngào:
- Má mày nhớ mày dữ lắm ! Còn con Duyên nó chờ mày không được…
Chia dọn cơm tươm tất mời ba tôi và tôi, còn dì Tư chỉ đóng vai hụ hợ, tiếp tế mời mọc lăng xăng. Ăn xong Chia
mời ba tôi xuống hầm nghỉ. Tôi cũng đi theo. Tôi bảo ba tôi nằm cho khỏe, ba tôi nói ba không mệt. Ba tôi nhìn tôi:
- Mày nay ba mươi bốn rồi, con!
Hai cha con im lặng một chập rồi ba tôi trở lại chuyện hồi nãy:
- Con Duyên chờ mày không được…
- Cổ còn chờ con sao ba?
Trời đất, nếu Duyên còn chờ tôi thì tôi sẽ cưới nàng, chỉ nàng thôi, không ai khác. Tôi đã mang hình ảnh của Duyên trong tim tôi từ hồi còn đi học trường quận. Chúng tôi từng hứa hẹn với nhau sẽ nên vợ nên chồng. Những mơ ước thời thơ ấu có thể thành sự thật nếu không có cách mạng tháng tám xảy ra. Nhưng ngược lại, một điều không ai mơ ước lại xảy ra: Đó là cách mạng tháng tám. Mới đầu ai cũng tưởng đó là một sự ly kỳ … ngờ đâu lại kỳ cục.
Ba tôi tiếp:
- Nó ở trên Sài gòn với cô Ba nó, phụ tiếp bán vàng bạc và hột xoàn. Nó thường chạy lên chạy xuống nhà mình hỏi thăm tin mày. Mười năm liền. Cho đến khi tao cho biết mày đã đi tập kết, nó cũng còn chờ. Lúc đám tang bà ngoại, không biết ai cho nó hay mà nó đến. Thiệt bất ngờ. Đó là lần cuối cùng. Nó xin phép tao với má mà để tang cho ngoại. Sau đám tang, nó xin má mày cho nó bộ đồ tây và đôi giày của mày để mang về cất làm kỷ niệm. Má mày khóc với nó một đêm ròng. Từ đó về sau không thấy nó tới nữa. Mấy đứa bạn nó bảo nó luôn luôn mặc đồ đen. Hỏi tại sao? Nó nói nó để tang cho mối tình đầu của nó !
Ba tôi thở dài. Trán ông răn lên sâu như những đường rảnh trong lòng súng cối. Ông tiếp:
- Tao nghe nói nó lấy chồng hay đi tu… một trong hai lẽ đó.
Tôi kêu lên như chim bị trúng thương.
- Đi tu hả ba?
- Tao không rõ.lắm. Mày đã ở chân trời góc bể thì sự trùng phùng đâu có thể có được. Do đó tao không tìm hiểu cho rõ làm chi. Cứ để mập mờ như vậy mà còn ít buồn.
Tôi ngậm ngùi nhớ lại quãng đời tươi đẹp nên thơ và đầy hy vọng của tuổi trẻ. Cách mạng tới tất cả thay đổi và trở thành mây khói. Bây giờ đây tôi vẫn còn là sinh vật sống trong mây khói le lói tí hào quang… giả tạo. Tôi không nói lời tạ tội với ba tôi, nhưng trong thâm tâm, tôi tự nhận là đứa con bất hiếu.
Độ quá mười giờ thì Sáu Cúc và Sáu Huỳnh đến. Tôi biết hai trự này đến bàn việc móc thằng em tôi. Ba tôi không hay biết gì về chuyện đó, nên lại hướng về tình cảm quê hương.
Ông nói với hai người:
- Xứ mình lâu nay cũng bình yên. Mấy ông quận trưởng, xã trưởng biết những gia đình có con em tập kết và giải phóng hết, nhưng không khó dễ. Ở xã cũng có mấy cái ấp chiến lược nhưng viên chức đều là bà con nên có việc gì họ cũng bỏ qua.
Sáu Huỳnh hỏi:
- Họ không làm gì gia đình anh, là vì anh có thằng nhỏ đi sĩ quan, còn gia đình tôi?
- Gia đình nào cũng vậy thôn Thím Sáu vô trong này thăm chú vừa rồi, họ cũng biết, nhưng đâu có làm gì. Tôi đi ra ngoài này thình tinh, chớ nếu tôi biết trước, thì tôi bảo sấp nhỏ chạy qua cho thím Sáu hay, chắc thế nào thím cũng gởi cho chú nhấm mớ xài.
Sáu Huỳnh là người địa phương với tôi nên anh không muốn dính và chuyện móc ngoéo, để cho Sáu Cúc mở đề. Nghề quân báo là nghề nhổ râu ông này cặm cầm bà kia, nghề đá cá lăn dưa, ngồi cầu tàu thổi ống kêu. Sáu Cúc khai mào bằng một màn dạ hành tỏ rất giựt gân. Y nói với tôi nhưng cốt ý để cho ba tôi nghe:
- Tao mới nghe đài BBC nói mình đã tấn công Phước Long đồng thời tập kích chi khu Đồng Xoài. BBC nói Đồng Xoài cố tử thủ chờ viện binh. Còn ở Quảng Ngãi thì nghe đài Hà Nội nói mình vừa diệt gọn hai tiểu đoàn bộ binh…
Sáu Huỳnh phụ họa:
- Hèn chi hổm rày các loại máy bay hít về phía đó, dưới này đỡ đỡ.
- Đài BBC còn cho biết tụi Mỹ đang ồ ạt đổ quân lên Khe Sanh, thung lũng Đa Drăng và Pleiku.
Sáu Cúc nói xong, quay sang ba tôi:
- Hổng biết thằng em nó có đi ra miệt đó không anh Chín?
Ba tôi lắc đầu:
- Nó đi liên miên nay chỗ này mai chỗ khác, tôi đâu có biết được.
Sáu Cúc nói.
- Tôi cho rước anh vô đây trước là gặp em Lôi, sau là bàn với anh một chuyện.
Tôi dư biết các trận Phước Long Đồng Xoài đã xảy ra từ lâu và kết quả như thế nào rồi. Nhưng Sáu Cúc moi móc lại để hù ba tôi. Ở ngoài thành tin tức nhanh chóng và xác thực hơn cái đài giải phóng của mặt trận ông Thọ nhiều, có lý gì ba tôi không nghe để mắc mưu tên ma cô này. Thấy ba tôi đáp không vô vòng của hắn, Sáu Cúc bèn vỡ giọng tâm tình:
- Cây cùng một gốc, mà một nhánh rẽ sang bên trái, một nhánh bên phải như vậy. .. không tốt. Súng đạn là thứ vô tình. Rủi ra trận mạc đụng nhau rồi làm sao? Theo tôi đứa nhỏ phải theo đứa lớn thì coi mới phải. Vậy anh Chín nghĩ lẽ nào?
- Sanh con há dễ sanh lòng mấy chú à. Tuy là hai anh em nhưng mỗi đứa lớn lên trong một hoàn cảnh, trí óc khác nhau cho nên chí hướng khác nhau.
- Nhưng anh là người cựu kháng chiến, con cái phải theo con đường của anh mới phải.
- Mấy chú nói sao tôi hay vậy. Còn như chuyện mấy chú muốn em theo anh, thì mấy chú cứ nói thẳng với nó hoặc nếu mấy chú tin tôi thì tôi chuyển lời đùm, còn kết quả hay không tôi không hứa.
Sáu Huỳnh thấy vậy là đã đạt yêu cầu, nên nói loanh quanh vài câu chuyện mưa nắng rồi rút lui, còn Sáu Cúc ở lại tiếp tục địch vận ông già . Y mở xắc-cốt lấy ra một xấp hình cỡ 6×9 đưa cho tôi xem. Tôi cầm hình trong khi y giải thích một cách hứng thú:
- Đây là cơ sở của mình. Anh này là đại tá không quân đấy. Anh ta vô đây tiếp xúc với chúng tôi vài bữa trước khi cậu về. Cậu là người đặc biệt lắm tôi mới cho xem.
Tôi biết đây là những tấm hình láo toét. Chẳng có đại tá nào hết. Y đem ra đây để khoe và nhử ba tôi thôi. Tôi không làm nghề quân báo nhưng tôi thừa biết là những cơ sở đại tá như thế này, dù tôi có đặc biệt như thế mấy cũng không được xem. Vì nguyên tắc của quân báo là bí mật.
Y lấy ngón tay trỏ vào từng điểm trên mấy tấm hình và tiếp :
- Cái hình này là do máy bay L19 chụp được anh Sáu Huỳnh nói với cậu hôm trước đó. Lính mình đang đào công sự trong rừng cao su ở Bình Giả. Nếu anh ta báo cáo thật thì mình ăn bom chết hết rồi. Nhưng anh ta lại tráo tấm ảnh khác, đưa tấm này cho mình. Cậu biết một tấm như vầy mấy triệu không? Thằng Sài gòn bỏ mạng là ở chỗ đó. Nó ỷ nó có khí tài máy móc, nhưng lại dòi trong xương dòi ra, nó đâu có biết. Chỗ có nói không, chỗ không nói có. Cho nên súng nhiều bom lớn mà không thắng là vì vậy.
Thấy ba tôi có vẻ lắng nghe, y hùng hồn nói tiếp:
-Tôi hứa chắc với anh Chín nếu mà thằng nhỏ chịu cộng tác với chúng tôi, nó muốn gì được nấy. Nó đang ở bộ binh, nếu sợ nguy hiểm muốn về văn phòng, tôi chạy cho nó về văn phòng, muốn ở chính trị tôi cho chính trị, muốn làm tham mưu tôi cho vô tham mưu. Trong vòng hai năm tôi cho nó mang lon tướng cho anh Chín coi. Tôi nói thiệt. Nếu không có vậy tôi sẽ chịu cho đàn bà Củ Chi này đái trên đầu tôi sôi bọt.
Ba tôi cười hưởng ứng:
- Mấy chú quả quyền hạn mênh mông vô tận.
- Thiệt mà anh Chín. Tôi còn có thể đưa nó vô làm ở phủ Tổng Thống nữa cơ. Lên Tướng mả khó khăn gì. Hễ nó móc với tụi tôi, trong vòng sáu tháng nó sẽ đóng lon Thiếu tá. Sáu tháng nữa lên Đại tá. Một năm sau lên Tướng ít lắm là Tiểu khu trưởng. Rồi muốn làm chúa tỉnh nào tôi cho về tỉnh nấy. Chừng đó tha hồ bán gạo, bán súng cho chúng tôi. Bạc chất đâu cho hết !
Y leo qua cả lý luận Mác:
- Tụi tư bản hễ nghe tới hơi tiền là tít mắt. Bàn thờ ông vải cũng bán mà !
Y ngồi hút hết nửa gói Capstan, không khí trong hầm khét nghẹt khói thuốc. Y bắt tay ba tôi dặn dò, tâm sự to nhỏ, chúc tụng đủ điều rồi mới ra về. Tôi đưa y lên ra tận cửa, đóng cửa lại, cài then kỷ rồi mới vào nhà ngó loanh quanh không thấy ai cả, yên trí rằng dì Tư và Chia đã ngủ nên chui xuống hầm. Ba tôi vẫn còn ngồi đó. Lúc chiều khi vừa gặp ông tôi đã nói tóm tắt mấy điều, cho nên dù Sáu Cúc có tụng bao nhiêu thì ba tôi vẫn không thấm bài.
Tôi từng biết vụ tên Phạm Ngọc Thảo làm đội trưởng đội tình báo lấy tên là đoàn công tác đặc biệt của cộng sản trong thời kháng chiến. Đội này thành lập ở tỉnh Bến Tre. Lúc đó tôi từ miền Đông xuống miền Tây với bác sĩ Du. Khi đoàn tới Đồng Tháp Mười thì bác sĩ Du bị Tây ruồng bắt, tôi đi theo phái đoàn đến Tường Đa (Bến Tre) thì gặp đội tình báo này. Phan Triêm dân Quảng Nam mặt chuột môi thâm đang làm tỉnh ủy Bến Tre được cắt sang làm chính trị viên.
Sau đó tôi xuống miền Tây học trường Lục Quân thì Thảo về cất nhà ở với vợ là Phạm thị Nhiệm (em gái của Phạm Thiều giám đốc sở tuyên truyền Nam Bộ) bên bờ kinh xáng Chắc Băng. Rồi khi tôi ra công tác ở các đơn vị chiến đấu thì Thảo làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 410 trong trung đoàn Tây Đô của Huỳnh Thủ cũng người Quảng Nam. Thảo nhỏ con, mặt thỏn, hai mắt bất đồng nên anh gọi là Thảo Lé.
1954 Hòa Bình thành lập lại, Thảo Lé tọt về Sài gòn, ít lâu đầu quân dưới trướng ông Diệm và được ông Diệm tin dùng ngay. Khi ra Bắc tôi còn nghe tiếng đồn rằng Thảo làm cố vấn chống du kích toàn Đông Nam Á. Ít lâu sau Thảo được ông Diệm bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa. Đây là thời kỳ Thảo Lé công tác rất đắc lực với Cộng Sản. Hắn thả tù binh chính trị môtcách bừa bãi. Tệ hại hơn nữa, bãi biển Cồn Chim trở thành bến đổ vũ khí cho tàu Bắc Việt, mạnh hơn cả Vũng Rô.
Sau đó Thảo Lé đảo chánh hụt bị bắn trọng thương và bị rượt nà. Thảo chui vô nhà thương giả bệnh nhân, nhưng công an tóm được, giết một cách bí mật ngay trên giường bệnh..
Tôi nhớ lại câu chuyện của một tên tình báo Cộng Sản mà rùng mình. Quá nhiều phiêu lưu và nguy hiểm. Tôi không muốn cho em tôi làm chuyện đó.
Ba tôi chờ đợi ở tôi một câu. Nhưng tôi không nói gì. Một tiếng nói phát ra lúc này có thể bị dính vô máy móc của đám Sáu Cúc cài sẵn trong vách hầm trước khi cho ba tôi và tôi vào đây, nếu không, có thể một kẻ đang rình bên ngoài. Chia biết đâu chẳng là tay trong của tụi nó và là mỹ nhân kế. Tôi đã khôn rồi. Tôi không tin ai cả . Tôi chỉ nói những chuyện không dính tới em tôi rồi ra dấu bảo ba tôi ngủ để sáng mai tôi đưa về. Vượt qua bao nhiêu đồn bót và những cặp mắt cú vọ, ba tôi đến, tôi được nhìn thấy mặt là đủ rồi. Ở nán lại nếu có việc gì tôi sẽ ân hận suốt đời.
Tôi lấy gối để lên đầu giường cho ba tôi nằm rồi đi lên nấu được pha trà. Định bụng sẽ trở xuống viết một bức thư về thăm má tôi rồi nằm bên ba tôi ngủ như một đứa bé thơ thuở nào.
Nhưng khi tôi vừa lên khỏi miệng hầm thì một cánh tay nắm vai tôi. Không suy nghĩ cũng biết đó là Chia.
- Sao anh không nói gì với ba hết vậy?
Thì ra cô nàng đã rình nghe hết cả buổi nói chuyện.
- Nói gì?
- Chuyện anh và em.
- À bận quá. Hơn nữa có mặt mấy chú.
- Mấy chú đã về lâu rồi! Chừng nào anh mới nói?
- Chừng ba sửa soạn đi về .
- Chừng nào ba về?
- Sáng mai!
- Sao gấp vậy? Mấy chục năm trời anh mới gặp ba, sao anh không giữ ba ở lại chơi?
- Có công chuyện khẩn cấp.
Chia coi như việc đã rồi. Chỉ còn thưa qua ông già nữa là tiến hành đám cưới. Nàng có ngờ đâu bụng tôi ngổn ngang trăm mối tơ vò. Nàng vùng vằng:
- Để ba ở lại chơi vài bữa. Có chuyện gì em chịu trách nhiệm cho.
- Không có chuyện gì cả , nhưng công tác khẩn nên phải về .
Tôi và Chia ngồi co ro sau bếp, nói chuyện thì thào như vịt xiêm. Nàng hôn tôi, tôi hôn nàng không ngừng, không buông nhau ra phút nào. Mấy ông táo trên bếp mà ngó thấy chắc cũng phát ghen. Chia bảo:
- Anh yêu em đi.
- Để mai mốt đã . Anh ở đây chớ đi đâu mà sợ !
- Em sợ con Ua nó giật mất anh.
- Anh đâu phải cái chén cái tô mà nó giật dễ vậy.
- Nó dọa em: “Đừng có mó vào chồng nó mà không toàn mạng.” Con nhỏ dữ lắm. Em không muốn ở đây, em chỉ muốn ba gật đầu một cái là em về luôn với ba thôi.
. Tôi trở lại hầm. Ba tôi vẫn nằm, tay gác trên trán có vẻ suy nghĩ chớ nào đã ngủ. Tôi khe khẽ nằm xuống bên cạnh thì ba tôi hỏi. Ba tôi kể một dọc.
- Mấy anh Bảy Trấn, Trần văn Giàu, Hoàng Xuân Nhị, Tô Ký, Trần Thắng Minh, Sáu Của, Huỳnh văn Nghệ , Dương Bạch Mai … ra ngoải làm tới chức gì con?
Đây là câu hỏi tôi không thể trả lời nếu trả lời thì phải nói láo. Tôi suy nghĩ mãi không biết trả lời thế nào cho phải, thì ba tôi hỏi thêm:
- Mấy ông đó còn sống hết hôn, hay là có ông nào mãn phần.
- Dạ có ông chết ông sống ba à ! Nhưng nói chung thì coi như đã chết hết. Nếu ba đi tập kết thì chắc nằm ở ngoài đó luôn chớ về gì nổi mà về .
Ba tôi không để ý câu nói chua chát của tôi.
- Dạ, con đi trên Trường Sơn . Gặp nhiều ông trên năm mươi thảm lắm ba à ! Vừa đi vừa bò vừa lết. Giao liên thấy tội nghiệp mang dùm ba-lô, nhưng cũng không đi nổi.
- Rồi làm sao con?
- Lớp trở ra, lớp nằm lại dọc đường. Có người ráng vô tới Bà Rịa thì chết.
- Chết à?
- Dạ trẻ cũng chết chớ không phải chỉ có già ! Trên đường Trường Sơn có đến một trăm kiểu chết ba ơi.
Ba tôi ngưng một lúc lâu rồi mới tiếp.
- Nhờ ông bà thánh thần phụ hộ nên con mới về tới xứ. Ba má tưởng con hi sinh lâu rồi!
Tôi nghe trong tiếng của ba tôi có pha nước mắt. Tôi chưa bao giờ thấy ba tôi khóc. Ông thuộc loại người ít nói, trầm ngâm và cương nghị. Khi kháng chiến nổ ra, ông theo hết lòng. Bỏ nhà cửa, mặc cho má tôi nuôi dưỡng đàn con. Nhưng sau đó, hình như ông thấy việc gì, nên bỏ về nhà. Lúc đình chiến, tập kết, ủy ban tỉnh mời ông, ông từ chối không đi. Sự thực trong lòng ông như thế nào tôi không rõ. Đêm nay chỉ có hai cha con trong gian hầm vắng lặng, tôi định hỏi mấy lần nhưng lại ngập ngừng để so sánh những ý nghĩ của ông hồi đó với tôi bây giờ. Rồi thôi, bỏ hẳn ý định. Tôi tự nhủ:
- Cứ xem cái kiểu thiên hạ bỏ kháng chiến đều đều từ miền Đông xuống miền Tây thì rõ chứ gì.
Ông cứ thở dài. Tôi biết ông gặp lại tôi ông mừng lắm. Nhưng sau đó niềm vui lại nhường chỗ cho những lo âu và sầu muộn. Hai đứa con trai, mỗi đứa một đường. Có lẽ từ sau lúc tiếp xúc với hai ông cán gộc, ông càng buồn hơn chăng?
Tính lẽ nào cho phải? Cuộc xum họp hóa thành éo le. Ông bất ngờ nhắc lại vụ Duyên. Có lẽ đây là một nỗi buồn day dứt của gia đình tôi.
- Con nhỏ nó gầy tọp đi. Mỗi lần nó đến, tao thấy mà xót xa. Nó đem tiền tới cho má. mày. Má mày không chịu lấy. Nó bảo: má coi như của ảnh gửi về. Tao đứt ruột đứt gan, nhưng làm sao bây giờ? Nếu như mày ở trong miền Nam thì đâu có như vậy. Cái giới tuyến ác thiệt.
Ngưng một chốc, ông lại tiếp:
- Lần cuối cùng nó đến nó mặc đồ đen. Nó xin phép má mày nó đi lấy chồng.
- Hồi nào ba?
- Sau đình chiến. Sau khi hai bên Bắc Nam không chịu Tổng Tuyển Cử.
- Vậy sao ba nói cô ấy đi tu?
- Sau đó nghe đồn như vậy, không biết lẽ nào. Nó nói một câu tới chết tao không quên được.
- Câu gì ba?
Ba tôi không đáp. Tôi nghe ông nuốt ực mấy lần. Ông cố nén nhưng tôi vẫn nghe. Tôi hỏi gặng lần nữa, ông mới nói:
- Nó nói nếu nó dè phân cách duyên nợ như vầy, thà hồi đó nó liều thân với mày cho xong, nhụy đào thà bẻ cho người tình chung, để bây giờ nó không thể lấy chồng nữa. Nó chờ mày tới già.
Tôi chỉ còn biết kêu trời!
- Con đừng buồn ! Đó chẳng qua là duyên kiếp con à !
Ông ít gọi tôi bằng con, trừ những trường hợp nghiêm trọng, tiếng con thắm thía vô cùng. Tôi đón nhận tất cả yêu thương của một người cha.
Sáng dậy tôi tưởng đã qua một giấc ngủ mười năm. Vâng, giấc ngủ hai mươi năm! Giấc ngủ của nhà văn Trần Lực tôi từng đọc từ đầu kháng chiến. Giấc ngủ này được mô tả trong tiểu thuyết theo trí tưởng tượng của tác giả, thì người thức dậy thấy một cảnh thiên đường mặt đất lúc thóc đầy bồ, dân chúng hạnh phúc, hoa thơm cỏ lạ khắp nơi. Thế nhưng, cái giấc ngủ ấy, tôi đã ngủ đến hai lần. Lần thứ nhất mở mắt ra thấy cải cách ruộng đất ở miền Bắc. Lần thứ hai mở mắt ra thấy nằm giữa Củ Chi bom đạn bời bời và sắp chia ly với gia đỉnh.
o O o
Con Ua phóng xe đạp tới, ghếch chân lên thềm nhà, Sáu Huỳnh cho nó sang chở ba tôi sang bển để thết đãi. Nó nhìn tôi với cặp mắt xoi mói điều tra: đêm qua anh ngủ ở đâu, nói gì với ai …v..v… Nhưng tôi gạt ngang:
- Em về sửa soạn đi rồi đưa ba anh về .
Tôi không dùng tiếng ba đơn độc như với Chia. Ua chưng hửng, không hiểu. Tôi quát.
- Mau đi! Tình hình động tới nơi rồi.
- Nếu động em đưa ba ra Củ Chi tạm trú, yên lại trở vô.
- Không được. Có công tác gấp.
Nghe nói công tác Ua không cãi nữa, nhưng bộ mặt ỉu xìu. Ua bước xuống xe, định vô nhà, nhưng tôi gạt ra. Cực chẳng đã, Ua phải dắt xe đi. Nàng hỏi:
- Anh đã nói gì với ba chưa ?
- Thưa chớ không phải nói với ba.
- Ừ thôi thưa. Anh đã thưa với ba chưa?
- Chưa .
Ua trợn mắt:
- Sao còn neo hoài vậy?
- Chờ má anh vô mới được.
- chớ không phải má anh nghe chưa ông mãnh!
- Thưa chớ không phải nói với ông già nghe chưa? Ba nghe được là hỏng hết.
Ua rụt cổ lè lưỡi, nói nhỏ rí:
- Chết! Ba có nghe không anh? Em ăn nói ngang tàng với mấy ổng quen cái miệng rồi. Ba nghe chắc ba chê em quá !
- Không, có anh ! Hễ anh khen thì ba không chê . Em về nói với chú Sáu Huỳnh rồi trở qua đưa ba ra Củ Chi ngay.
- Ừ đưa ba, chớ nói ba anh thì em bịt miệng bây giờ. Anh nên nhớ ba của anh cũng là ba của em. Em không để ai kêu như em đâu.
Tôi đi với ba tôi ra đường. Nét mặt ba tôi buồn dàu dàu.
Ba tôi móc chiếc bóp da lớn trong túi áo trên ra lấy tiền cho tôi:
- Tiền của má mày. Ba ngàn, còn hai ngàn là của mấy em mày góp lại.
- Con không cần ba ạ ! Từ lâu con đã không làm gì cho gia đình nhờ, bây giờ lại rút rỉa, con thẹn lắm.
- Lấy xài chớ, để cặp tàu anh em hoài sao!
Tôi suýt bật cười. Tiếng cặp tàu này xưa lắm. Đâu hồi trước 45 kia. Ba tôi có tật đọc báo. Bữa nào cũng mua tờ báo sang quán uống cà phê ngồi đọc và bàn bạc với mấy người bên quán. Người quen đến cặp tàu ba tôi luôn, thành ra uống một tách phải trả ba bốn tách.
- Con không cặp tàu ai đâu ba à !
- Không cặp người ta, thì để cho anh em cặp tàu con. Khi mình, khi người. Anh em thì phải chia cơm xẻ áo cho nhau. Như vậy có tình thân mới ở chung với nhau được.
Đi một quãng, ba tôi hỏi:
- Còn vụ vợ con, mày tính sao?
- Con chưa tính gì được hết ba à !
- Má mày muốn có cháu bồng. .
- Mấy em con có thiếu gì đó ba !
- Má mày muốn con của mày chớ nói gì của tụi nó !
Đi một quãng nữa, ba tôi hỏi:
- Con tính cụ Hồ có thắng được Mỹ không?
- Dạ thì phải thắng chớ ba !
- Cụ làm vầy chết dân. Lính Quốc gia chết, anh giải phóng chết. Ngoài ra thì ai đi miền Bắc không thấy về, lớp nhỏ tấn lên không lấp được lỗ trống! Làng xóm ngó eo sèo xác xơ còn hơn thời kháng chiến.
Tôi dặn ba tôi mấy việc về thằng em. Vừa xong thì Ua phóng xe tới. Tôi bảo:
- Em đi đến ngã ba chờ. Để anh nói chuyện với ba chút nữa .
Thật ra tôi chẳng nói thêm câu nào. Hai cha con lẳng lặng đi song song với nhau. Mặt trời lên cao. Nắng sáng ấm áp. Tôi bước đi thong dong. Tôi sực nhớ rằng từ ngày về Nam tới giờ tôi chưa bao giờ đi đứng khoan thai như hôm nay. Lúc nào cũng hối hả, chụp giựt, chạy tuôn, lủi trốn, la hét v.v… Những sự bất thường đều trở nên bình thường. Con người thay đổi về tâm lý lẩn tánh tình hồi nào cũng không hay nữa.
- Con Duyên có đến thăm mộ ngoại con nữa chớ ! Chút nữa ba quên nói với con.
- Mộ ngoại ở đâu ba?
- Ở trong đất nhà, bên mộ cậu Tám con.
- Cô Duyên không có tới nữa hả ba?
- Sau lần đó, nó biệt luôn.
- Nếu biết được . . . .
- Trên mười năm rồi ! Má mày khuyên nó đừng có đi tu. Nó nói nó không còn ham muốn gì nữa hết.
- Con không ngờ cổ thương con đến như vậy.
Ba tôi lặng thinh. Bước chân ông chậm chạp, dường như ông sợ đến ngã ba. Ở chỗ đó cha con lại phải xa nhau như cái bến tàu Chắc Băng hai mươi năm trước. Trong cách mạng cái gì đã xa rồi không trở lại được. Từ xa tới xa….
Đột nhiên ông hỏi:
- Con chấm cô nào?
Tôi biết ý ông hỏi tôi về Ua và Chia. Tôi đáp:
- Con chưa có ý gì hết ba à. Ba thấy cô nào được ba?
- Tùy ý con.
Đã đến ngã ba. Ua vừa giục vừa rề xe lại:
- Anh Hai, mau lên. Chỗ ngã ba pháo hay bắn lắm. Mời bác ngồi lên.
Tôi đứng khựng lại. Phút chia tay đột ngột. Tôi không cầm được nước mắt. Chiếc xe chở ông già đi sẽ mang cả ruột gan tôi theo. Ba tôi ngồi lên chiếc poọc-ba-ga. Tôi bước lại cầm tay ba tôi, bàn tay gầy xương xẩu từng bồng bế, nựng nịu và từng đánh đòn tôi. Ua quay đầu lại, liếng thoắng:
- Anh về đi. Ba sẽ đi chuyến mười hai giờ trưa. Sáu giờ chiều ba ăn cơm nhà .
Tôi nghẹn ngào.
- Ba về nghe ba !
- Ba gởi lời thăm hết thảy anh em. Gấp quá ba không gặp mặt chú Trầm (tên thật của Sáu Huỳnh) để từ giã.
Ua nhấc chân lên pê-đan, đạp. Tôi đứng trân trân, mắt ngó theo. Bộ đồ lụa trắng của ba tôi xa dần. Tôi đứng nhìn theo cho đến khuất mới trở bước về . Cứ đi một quãng tôi quay lại nhìn. Nhưng tôi không còn thấy gì nữa ngoài cái mặt đường lởm chởm nằm phơi dưới nắng buồn tênh.
Tôi muốn kêu lên một tiếng ba thật lớn rồi vứt tất cả súng ống ba lô, cả hai mươi năm thành tích để chạy về nhà. Tôi không thấy cách mạng còn hấp dẫn đối với tôi nữa. Cái gì mông lung nhất, đó là cách mạng. Cái bịp bợm nhất cũng lại là cách mạng. Nhưng sở dĩ nó cứ lôi cuốn con người Việt Nam hoài hoài là vì nó khéo khoác áo ngụy trang dân tộc. Bao giờ nó cũng bô bô cái miệng là vì dân. Sự thực tôi đã thấy rõ mười năm Miền Bắc rồi. Vì dân nhưng dân ăn rau muống, củ chuối và cám lợn. Còn lãnh tụ nhân dân thì ăn cơm tấm giò chả , ăn không hết đem đổ. Vì dân nhưng dân ở nhà tranh vách đất như ổ lợn còn lãnh tụ thì quơ mỗi ông một cái villa thượng hạng, chưa đủ quơ thêm vài cái để dành cho con đi học Liên Xô chưa về, thậm chí cho cháu chưa đẻ.
Vì dân kiểu đó thằng này xin vì dân suốt đời.
Trong lúc tâm sự với tôi, ba tôi mỗi khi nhắc đến thời chín năm là ông than phiền hoặc chê bai. Ông đã nhìn thấy rõ bọn Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Tô Ký, Nguyễn Văn Trấn, Hà Huy Giáp. Ông bảo mấy người đó không có tư cách mà lãnh đạo gì. “Gia đình nào không dính với cách mạng là gia đình đó khỏe nhất.” Đó là ý nghĩ của ba tôi mà tôi tổng kết được qua câu chuyện với tôi.
Ông kể cho tôi nghe những gia đình nào đi theo kháng chiến mà bỏ về sớm bây giờ có sự nghiệp hết cả. Như mấy đứa em cô cậu của tôi hiện giờ là chủ bốn năm chiếc xe đò đưa khách đường Nhà Bè – Sài gòn, hoặc chủ tiệm tạp hóa.
Còn gia đình tôi đi kháng chiến mút mùa, đến khi trở về tài sản bỏ bê mất mát, nhà cửa tiêu tan hết. Ba tôi bỏ cả đàn em tôi cho má tôi nuôi, nhờ tiền bên ngoại giúp đỡ và cô Duyên cũng tiếp tế mất mấy năm nên không đến đổi nghèo hèn quá, nhưng so với thiên hạ thì chẳng bằng ai.
Ba tôi còn khui ba cái vụ công khố phiếu hồi kháng chiến ra làm cho tôi không còn cách nào bao che cho cách mạng được. Tôi biết gia đình tôi hiến rất nhiều mâm thau, lư đồng và vàng bạc cho tuần lễ vàng. Ngoài ra mỗi lần có đấu giá ảnh cụ Hồ thì ba tôi móc tiền túi ra đua tranh để lấy cho được bức ảnh đem về treo ở cơ quan. Cái loại ảnh gắn bằng kén tằm nhuộm đỏ và vàng coi đẹp lắm nhưng chỉ vài tháng con nít bảo mặt cụ Hồ có lác nên phải gỡ xuống đút vô kho. Ba tôi còn mua công phố phiếu. Ba tôi còn tuyên truyền cho bà con mua: “Có thực mới vực được đạo, có tiền bộ đội mới có gạo, có gạo ăn mới đánh được Tây.” Vì yêu nước những nhà điền chủ ùn ùn đi mua. Kẻ nghèo cắt củm được một ít cũng hiến cho công khố. Không mua công khố phiếu là Việt Gian. Ai chịu mang tiếng ác nghiệt đó? Sau hòa bình ba tôi bỏ nó vô tỉn nước mắm khằn lại và giấu chui giấu nhủi cả chục năm nay. Bây giờ nghe nói có Mặt Trận, có khu Giải Phóng nên đem vô đổi lấy lại tiền, để cho tôi xài, nhưng vô đây mới vỡ lẽ ra là Mặt Trận đang đào khoai mì lén của dân bỏ nhà đi ra ấp chiến lược mà ăn. May mà ba tôi có bỏ phòng hờ theo, nên đã cho tôi năm ngàn đồng. (Sánh sao nổi với bà già địa chủ của ông Trưởng phòng Chính trị Quân khu và bà vợ thầu cà-phê của ông Trưởng phòng Huấn học Cục Chính trị R). Số tiền đó là sự ki cỏm của má tôi chớ đâu phải của tôi. Tôi thực tình xấu hổ. Tôi không muốn lấy. Cha mẹ già đã không nuôi dưỡng lại đi lấy tiền là nghĩa gì?
Tôi biết ba tôi là người khí khái. Khi đã say mê thì say mê hết lòng, dốc hết sức để đạt được mục đích, nhưng khi đã hết mê thì bỏ ngay. Và đã bỏ thì không có quay lại. Sở dĩ ba tôi ra khu giải phóng là vì tôi chứ không phải muốn xem khu giải phóng. Ba tôi dư biết nó là cái gì rồi. Ba tôi nói nhỏ :
- Ở trong thành ba cũng biết rõ ngoài này ra sao rồi con ạ. Cũng y như thời 12 đội công tác thành của Nguyễn Bình vậy thôi, nghĩa là thu thuế lén, thuế tiệm chệt, thuế xe bộ hành, thuế những sòng bạc, thuế tiệm hút v.v. ..
Mấy người trí thức ở thành ra khu, ba tôi đều nghe nói. Ba tôi chỉ phán một câu:
- Đó là những người bất tài và có tâm địa ăn không được khuấy cho hôi.
Ba tôi còn biết vụ kỹ sư Cao Văn Bổn chết vì bịnh sốt rét, Phạm Ngọc Thạch (trong kháng chiến là người quen thân với ba tôi) chết vì đau ruột, Trần Hữu Trang chết vì B52 v.v. . . Ông còn biết Mặt trận giải phóng bắt cóc Trình Đình Thảo khiêng ra khu giải phóng, và giải cứu Nguyễn Hữu Thọ từ nhà lao Ban Mê Thuột. Ông có lạ gì tướng tá và quân đội miền Bắc vô trong Nam. Trần Văn Trà ông biết quá rõ mà ! Năm 54, ông lấy cớ gánh nặng gia đình nên không đi tập kết, chứ kỳ thực ông đã chán ngán vì trông rõ cái sự thực mà hai mươi năm nay, nghĩa là hôm nay, tôi vẫn chưa trông thấy.
- Con nhớ không, thời chống Pháp, bộ đội đi tới đâu gà vịt heo bò ngã liệt địa tới đó, dân nhường nhà cho bộ đội, cán bộ và dân quân…
Ba tôi không nói hết câu, nhưng vế sau tôi vẫn hiểu. Ông bảo tôi:
- Cụ Hồ có đem vô đây một hột muối hột gạo nào, rốt cuộc vẫn củi đậu nấu đậu.
Biết mình nói những câu đó, thằng con trai đi theo Việt Cộng sẽ không vui, ba tôi cười gượng:
- Trời không cho mình giàu con ạ. Đó là phần số Thiên định, mình không cãi được, nhưng qua chín năm kháng chiến mà gia đình mình còn nguyên vẹn thì phước lớn lắm rồi. Đó cũng là do trời. Con nghĩ coi. Lần đó máy bay bỏ bom, má con với mấy em chui xuống hầm, một trái bom rơi giữa hầm, không trúng ai mà cũng không nổ. Phần số mình lớn cỡ nào?
Lúc sắp chia tay, ba tôi cố tìm những câu chuyện vui nói với tôi ông muốn để lại cho tôi một dư âm tốt đẹp về cuộc viếng thăm ngắn ngủi. Nhưng bây giờ ông đã xa tôi rồi. Nỗi buồn đổ ập lên tôi. Trên đường về, tôi cơ hồ cất chân lên không nổi nữa. Tôi không dám quay lại nhìn ba tôi nữa, nhưng vẫn thấy chiếc xe đạp như con vật tha ông già đi xa dần. Đã xa hai mươi năm bây giờ lại xa.
Phá nát đất nước: Đó là cách mạng.
Đang xum họp bỗng chia ly: Đó cũng là cách mạng.
Đang vui hóa buồn: Không gì khác hơn là cách mạng.
Đang giàu trở thành nghèo: Đó là bước tiến của cách mạng.
Ôi cách cái mạng!






Tiếng Sét Ái Tình và Tiếng Sấm Bom Đạn




Chương 45


Tây Lưong Nữ Quốc

Tôi lịm đi trong mệt mỏi và đau buồn. Tôi thức dậy khi nghe có hơi người bên cạnh: Chia . Chia vừa xốc tôi dậy vừa nói .
- Anh lên ăn cơm đi !
Tôi vuốt tóc nàng và hỏi.
- Anh ngủ lâu chưa?
- Chừng hơn một tiếng. Chắc bây giờ ba ra tới Củ Chi đang chờ xe đi Sài gòn. Từ Củ Chi đi Sài gòn có hơn hai mươi cây số, xe chạy một tiếng là cùng. Từ Sài gòn về nhà mấy tiếng anh?
- Chừng hơn một tiếng nữa.
Chia nói một cách quả quyết y như sự thực xảy ra trước mặt:
- Chiều nay ngồi ăn cơm với má, ba sẽ nói chuyện về anh với em cho má nghe, xong rồi má hỏi chừng nào làm đám cưới để má vô. Má hỏi là muốn để em ở trong này với anh một thời gian hay về ngoài nhà ngay. Má nói để em ở với anh chừng nào em có bầu rồi hãy đưa em về ngoại, má sợ có bầu ở trong này ruồng, cà nông, thụt bom bỏ rung rinh đất hư thai!…
Tôi để xem cô bé mơ tới đâu. Chia cứ nheo nhẽo cặp môi nói liên miên:
- Em phải có con sớm với anh mới được để lỡ anh có mệnh hệ gì rồi ba má làm sao? Mặc dù ba má có nhiều cháu rồi nhưng anh là con trai lớn, ba má muốn cháu đích tôn. Em không đòi phải trai gái gì hết, miễn có con thì thôi. Em sẽ nói với má em mua cho con mình những bộ đồ thật đẹp. Chừng đó em sẽ ra Củ Chi ở chớ không về Sài gòn nữa để em có thể biết tin anh hằng ngày. à à… mà Mỹ nó vô nó đóng bít hết các xã trong này rồi anh đi đâu? Em không muốn anh qua Bến Cát. Cách một con sông, em làm sao bồng con đi thăm anh cho được. Anh phải ra Củ Chi..i?
Chia dừng lại vì biết đã lố cồn. Ra Củ Chi tức là chiêu hồi cô em ạ ! Cán mùa thu chiêu hồi cũng bộn rồi, thiếu tá cũng có cơ đấy, nhưng ở trên ém kỹ lắm. Cứ để cho biệt kích Mỹ bắt cóc. Tôi không muốn làm đóa hoa mơ đang nở xòe của Chia, nên nằm im. Chia nhìn tôi tha thiết:
- Sao anh buồn vậy? Bộ ba về anh buồn hả ? Đừng buồn ! Có em đây, mai mốt má vô em sẽ giữ má ở lại chơi lâu hơn.
Tôi không nguôi được những lời dỗ dành của cô bé con. Tôi nghĩ xa hơn kia t Tôi nghĩ đến sự rắc rối mà tôi mang về cho gia đình: móc ngoéo thằng em đại úy. Tôi sẽ làm cho gia đình xáo trộn ít nhất là một thời gian ngắn. Nhưng biết đâu sự móc nối này đổ bể rồi liên lụy đến gia đình nó lẫn gia đình ba tôi: Tan vỡ ! Mình đi hai mươi năm, chính nó là trụ cột của gia đình. Bây giờ mình làm cho trụ cột đó đổ và sụp cái nhà. Là sĩ quan mà lem nhem với Việt Cộng thì không dễ sống đâu. Chia nom sát mặt tôi và hỏi:
- Trên đường đi ba có hỏi gì anh không?
- Hỏi gì?
- Hỏi anh định ngày nào làm đám cưới.
- Ba nói tùy anh định.
Tôi nói dối. Sự thực tôi không thưa gì với ba tôi về Thu Hà hoặc cô nào khác. Ba tôi cũng không nôn nóng cho tôi. Điều làm ông mừng nhất là tôi còn sống đến hôm nay. Ông tưởng tôi hi sinh trong kháng chiến rồi, nên năm 54 không thấy nhắn tin về nhà.
Chia lôi tay tôi đi ăn cơm, nhưng tôi không thiết cơm nước. Tôi bảo:
- Anh cũng như em, muốn có con bây giờ.
Nói xong tôi làm một cử chỉ yêu thương táo bạo. Chia đã nếm mùi dương thế vài lần bây giờ nàng không ngượng ngùng nữa mà có vẽ hường ứng với tất cả sự hứng thú . Nàng muốn tỏ ra nàng dâng hiến tất cả cho tôi. Nàng vả mặt tôi:
- Anh hung dữ quá hà .
- Em định làm vợ anh thật à?
- Tới bây giờ còn hỏi câu đó ! Xì.
- Anh không sống lâu đâu. Anh phải yêu vội, sống cuồng. Để chết ai yêu em dùm anh?
- Một ngày cũng được. Yêu em một lần cũng đủ.
- Rủi có con làm sao?
- Sao lại rủi? Em đang muốn mà rủi gì?
Tôi lặng thinh. Ánh sáng lờ mờ trong hầm làm cho thân hình của nàng như khoác một lớp áo the thưa, càng trở nên mờ ảo và hiện thực. Nàng như đóa hoa búp bị chú bướm quái ác phanh phui hoa nhụy trước ngày nở hé . Cả hai đều không có tội gì. Bướm tìm hoa và hoa cũng đang cần bướm. Tôi hôn nàng như trăn trối như nghe một khúc ca không lời, chỉ có tiếng ngắt ở giữa những câu nhạc, chỉ có những nhịp ngoại và tiếng nhạc độc nhất thoát ra từ những hàm răng nghiến.
Chia òa lên khóc. Tôi lau nước mắt cho nàng bằng lưỡi và môi tôi.
- Sao em khóc?
- Em sợ anh đi!
- Anh không đi đâu hết. Anh ở đây với em.
Chia ôm quặt lấy tôi bằng tay chân vừa hôn tôi như đất lỡ trời long vừa thầm thì:
- Anh nói thiệt nghe ?
- Thiệt!
- Anh không nói dối chớ?
- Không ?
- Tại sao?
- Anh chán tất cả rồi. Anh không ham gì nữa hết ngoài em.
- Em cũng vậy, em không thích gì cả, ngoài anh!
Hai thân hình bằng xương thịt trần tục và hai tâm hồn cuộn xiết lấy nhau trên một bãi đất đầy những hố pháo, bom.
- Em muốn một viên đạn xuyên qua em và anh trong lúc này để chúng ta chết hoàn toàn hạnh phúc và nguyên vẹn trái tim đối với nhau. Tình yêu tưởng chưa đến nào ngờ đã đến rồi. Nó đi bằng bước chân nhung không tiếng động.
Tôi khẽ vả miệng Chia rồi chụp môi tôi lên đó.
Bỗng ngoài có tiếng gõ cửa rầm rầm. Tôi giật mình hỏi.
- Ai đóng cửa hồi nào?
- Em đóng và khóa lại sau khi má đi.
- Má cũng ra Củ Chi à ?
- Không biết, thấy chú Sáu Huỳnh bảo. Chậc ! buôn bán cái gì, ba con lũng sĩ!
- Phải mất đến mười phút nàng mới lên khỏi hầm, nhưng cứ lằm bằm không ngớt. Tôi nằm dưới hầm mà nghe tiếng rí rố thì biết cả bầy con gái tràn vào. Tôi nghe tiếng quen quen:
- Ba anh Hai còn ở đây không?
Chia trả lời cộc lốc.
- Bí mật!
- Cha chả, bí mật để độc quyền chiếm hữu ông thầy pháo hả?
- Ai chiếm hữu gì đâu. Ở đằng chú Chín Lộc không có hầm, nên chú gởi bác ở nhà tôi chớ tôi có quyền gì?
- Hì hì. . . nói chơi chút vậy mà con nhỏ quạu đeo, bộ mày sợ mất màu cây K54 hả?
Thấy tình hình có mòi găng tôi phải lên giàn xếp nhưng thực ra tôi cũng đang cần sự giúp đỡ của mấy cô. Tôi còn ở lại đây vài ngày nữa chờ móc em tôi vô. Trong mấy ngày nay tôi sẽ đi với các đội dũng sĩ để nắm tình hình và địa dư cụ thể hầu dễ bề xoay chuyển khi chỉ huy đơn vị H6.
Sự xuất hiện bất ngờ của tôi làm đám nữ dũng sĩ reo mừng và Chia bất mãn. Nàng nói nhát gừng:
-Đó, ăn thịt ăn cá gì ăn đi ! Rồi ngoe ngoảy bỏ đi vô.
- Ê, cô chủ, cho tôi mua ít đồ coi!
Chia không quay lại, tôi bảo:
- Chủ quán đây, muốn mua gì, bán cho.
Cô Ba Cấm, tôi quen lần trước trong dịp bố trí địa đạo chiến cho gã Bọ Chét quay phim, nay gặp tôi thì mừng ra mặt, không ngượng ngập gì hết:
- Em nghe đồn ba anh đến ở đây, nên công tác xong, em kéo cả bọn lại cho bác chọn, bác chấm đứa nào làm dâu thì em gả cho anh.
Tôi cười đẩy cây thoa mỡ bò luôn:
- Ba anh nói hễ anh ưng cô nào thì ba anh chấm cô nấy. Ba anh còn thưởng cho mấy em tiền để nấu chè nữa đây!
- Vậy anh chấm cô nào?
Ba bốn nàng chĩa mặt tới tôi và hỏi một lúc. Tôi bảo:
- Để thong thả đã chớ. Muốn chấm một cô phải có chỗ có nơi chớ đâu mà mau vậy được!
Ba Cấm háy:
- Em biết anh chấm ai mà !
- Ai?
- Cô Bảy Sầu Riêng chớ ai ! Hí hí! Anh khôn tổ bà ! Vô đó làm địa chủ ngay. Một trăm mẫu ruộng, một vườn sầu riêng, một ngôi nhà ngói năm căn. Trời đất ! Chừng đó tụi em bén mảng tới, ông địa chủ sẽ bảo: đi chơi chỗ khác, tui không có quen với mấy người.
- Mấy chị mua gì tôi bán cho rồi tôi đóng cửa tiệm?
Chia từ sau nhà nước ra nói như gắt. Cô bé Phượng có gương mặt tròn trịa và nước da trắng trẻo nhất bọn cười châm chọc:
- Trời chưa tối mà đóng cửa quán làm gì..ì hả cô chủ?
- Làm gì làm kệ người ta.
Ba Cấm giục:
- Thôi minh mua đồ rồi cút cho mau để cho người ta khóa cửa tụi bây ơi. .
- Xí nói cái giọng xốc ốc đó nghe hết dô rồi nghe !
- Vậy hả?
Ba Cấm đầu têu, có lẽ cũng hơi tức mình vì lý do gì đó chưa rõ, bèn chọc thêm:
- Thôi mà cô chủ ơi giận chi cho mất sức khỏe. Nhiệm vụ của anh Hai từ Bắc về trong này là dạy bắn pháo cho tụi này chớ không phải đứng bán quán cho cô đâu. Trước khi tụi tui rút tui, tôi xin giới thiệu với anh Hai các học sinh của anh do quân đội tuyển chọn gởi tới đây:.Đây là Phượng em bé nhất của đội, đây là Phương, đây là Út Nhỡ, đây là Bảy Nê, còn cô Bảy Sầu Riêng hôm nay mắc đi hộ tống bà Năm Đang lên Hố Bò tạm vắng mặt. Vậy chừng nào thì ông thầy pháo lên lớp được, ông thầy phá..áo?
Tôi không ngờ có việc bất thường như vậy nên hỏi Ba Cấm:
- Có trường trại gì chưa em?
- Xong cả rồi. Chờ hoài không thấy anh đến sợ anh trở về R nên tụi em đi vào bắt anh đây! Nói đùa anh đừng giận em út tội nghiệp nghe anh Hai. Chúng em đã dọn cái trường học bỏ hoang gần ngã ba kia rồi. Chờ anh đến là khai mạc.
- Ừ thôi mấy em về đi để anh đi lấy dụng cụ rồi tới.
- Rút lên! Pháo Đồng Dù mau hơn phản lực đừng để tụi em chờ hoài nghe.
Ba Cấm nói xong, cả đội rút lui. Tôi quay vào trong, định vuốt giận Chia, nhưng chưa kịp nói gì thì bên ngoài đã có khách kêu mua hàng. Chia nạt tướp:
- Ra bán hàng !
Tôi hoảng hốt chạy ra thì đụng mấy ông tướng đến mua rượu mà đòi rượu đế uống cháy họng chớ không chịu mấy thứ uống như thứ đồ rượu cúng đạo lộ và mặt ông nào nấy cũng hầm hầm sẵn sàng gây sự. Chia đứng nép qua một bên rồi thụt lùi vào trong bỏ đó cho tôi. Thấy tôi cũng có vẻ nhà binh, ông hói đầu tự giới thiệu:
- Tôi là quản lý của dê hai (D2 tức là tiểu đoàn 2) lùng bắt vài chai về nhậu tiếp. Đang lên kháp mà hụt nước cay tức dế quá, tụi nó không chịu ngưng tiệc.
Họ thấy nhiều mặt hàng bèn mua thêm đủ thứ: muối đường, xà bông, dầu lửa, thuốc rê, thuốc ngay… Tôi hỏi:
- Sao các đồng chí.không vô ấp chiến lược mà mua cho rẻ?
- Ở trỏng thì rẻ thiệt đó ông ơi, nhưng có khi phải đổ máu chớ không dễ đâu. Hồi trước nó còn mở cửa hí hí, chớ bây giờ nó khóa chặt rồi, mình muốn vô phải chui lỗ chó.
- Sao tôi nghe các cô thanh nữ đi vô Đồng Dù như đi chợ vậy?
- Thì mấy cô đó đi vô làm mướn, từ quét nhà , lau giường đến giặc xì líp cho Mỹ, có gì mà khó . Khó là khó cho cái đám ba ngạnh tụi tui thôi.
Các ông khách ra về, Chia lú ra quắc mắt nhìn theo:
-Mấy thằng cha dê xồm!
Tôi gắt:
- Không nên nói vậy em! Người ta là cán bộ cả đó.
- Anh không ra, mấy ông nuốt sống em chớ cán bộ gì! Vì vậy em mới la bài hãi cho anh ra chớ đâu phải em không biết bán hàng.
Tôi trở lại việc đi dạy pháo cho đội du kích. Chia đang trớn quạo, quạt luôn:
- Pháo gì mà dạy có mấy ngày tụi nó học thuộc. Viết chín chữ trật luôn mười, anh liệu dạy kết quả bao nhiêu. Sắp sửa đi công tác rồi hổng ở nhà nghĩ, dạy gì tụi đó ?
- Kế hoạch của ở trên là dạy cho đội nữ sử dụng súng cối để pháo vô Đồng Dù.
- Đồ ba con lười nhác trốn việc nhà vác súng đi nhong nhong đêm nào cũng tụ tập giỡn hớt chớ bắn được phát nào vô Đồng Dù? Ít bữa rồi chang bang cái bụng lén lén lội sông Sài gòn qua bưng Còng nhờ ông Tám Lê phá thai chớ pháo kích ai?
Tôi thấy đụng chạm tự ái, nên gạt nhẹ :
- Em đừng nói vậy, thoát ly như mấy cổ là hi sinh hạnh phúc cá nhân rồi, nhờ vậy em mới yên ổn ở đây!
- Em đã chán ở đây rồi. Nay mai má em sang tiệm này lại cho người ta để ra Củ Chi bán vải với má con Ua. ở đây dễ chết lại thấy nhiều chuyện chướng mắt quá hà . Để rồi anh coi nay mai bị Mỹ rượt cho vài trận thì bỏ về nhà hết trơn!
Kể ra Chia nói cũng chẳng sai là mấy, cuối năm 68 đội này giải thể một cách âm thầm, đa số bỏ về nhà, một vài cô vô làm ở quận đội, vài cô theo Bảy Mô lên khu để được huấn luyện đặc công. Nhưng chưa làm được gì thì bị Phượng Hoàng móc được và chiêu hồi cả con chim đầu đàn là cô Bảy Sầu Riêng. Từ đó đội “dũng sĩ” của ông Tám Quang lặn mất trên đất Củ Chi.
Chia hầm hầm, càu nhàu, nhưng tôi dã lã bằng những cái hôn và hứa sẽ trở lại trong vài tiếng đồng hồ.
- Anh đến coi quận họ bố trí lớp học ra sao. Đây là công tác không phải chuyện chơi!
Chia vẫn cau có:
- Công tác, công tác gì, mấy ông đày anh riết còn da bọc xương cho coi !
Tôi đi. Chia đứng ở bẹ cửa, không vẫy tay mà mắt tràn lệ Tôi muốn quay trở lại phức cho rồi. Công tác mẹ gì. Để hôm khác! Tôi thầm nhủ. Nhưng tụi con gái đang đứng chờ ở đầu đường. Út Nhỡ ngoắc lia. Tôi đi tới. Bọn chúng dắt tôi vào một trường học cách đó không xa. Thoạt nhìn tôi đã thấy não lòng. Cỏ lan vào đến giữa nhà. Bên trong chỉ là những cái cọc chơ vơ. Vòng ngoài mấy đoạn giao thông hào. Dễ thường thầy trò nhào xuống đây khi có pháo hoặc bom. Chết hụt rồi trò còn trí đâu học, thầy còn thần đâu mà dạy. Cảnh khổ này là do ý nghĩ ngông cuồng giải phóng Miền Nam mà ra. Tôi hỏi:
- Bộ trường bị ăn pháo hả mấy em?
- Chưa ! Mới sém sém thôi. Nhưng cô giáo dông ra ấp chiến lược Cây Bài rồi.
Ba Cấm tiếp theo Út Nhỡ:
- Bây giờ tới anh dạy tụi em!
- Quận xã đồ đâu hết?
- Quận xã nào?
-Thì lúc nãy em nói trường xong cả rồi chỉ chờ anh tới….
Cả bọn ré cười mỗi cô một kiểu. Cười đã đời rồi Bảy Nê mới nói:
- Cũng như cái hồi quay phim địa đạo chiến của tụi em ở Hố Bò vậy thôi!
Tôi ngơ ngác không hiểu cô muốn nói gì? Út Nhỡ hỏi:
- Cái ông nhà báo gì đó về tới bển chưa anh?
- Về lâu rồi. ông ta quan trọng lắm đó. Ổng nói một tiếng còn hơn anh bắn cả trăm trái pháo.
- Mèn ơi! Cái địa đạo của tụi em chắc là ông khuếch trương ghê lắm.
Tôi hỏi về lớp học. Tụi con gái cười rộ lần nữa. Bé Phượng lắc đầu:
- Mấy chỉ gạt anh đó, có lớp gì đâu.
Tôi ngẩn người ra. Ba Cấm tới ôm cổ nói vào mặt tôi:
- Bộ anh bị con nhỏ chủ quán đó bỏ thuốc mê hả?
Tôi hất tay nàng ra một cách mạnh dạn nhưng nó dính như chân thằn lằn, hay tôi không cương quyết, cho nên Ba Cấm càng áp sáp mặt tôi, nàng nghiến răng làm như giận dữ:
- Cán bộ khôngcó cưới vợ thương buôn nghe chưa!
- Thương buôn không phải là nhân dân à?
- Mất lập trường nặng! Mất lập trường nặng!
- Kiểm thảo ba ngày ba đêm liền!
Bọn con gái xúm quanh tôi đứa níu vai, đứa vò đầu, đứa móc túi. Ba Cấm tuyên bố:
- Đứa nào muốn hun ảnh thì hun đi tụi bây, để hôm rày ao ước.
Cả bọn ôm cứng lấy tôi. Tôi nghe chùn chụt chùn chụt như đạn mút rơi xuống nước liên hồi. Một chập chúng bỏ ra, tôi quay mồng mọng. Bảy Nê, con gái to con, không xấu không đẹp, có thân hình rất hài hòa, khoẻ mạnh xốc vác nhất đám trong lần đào hầm cho thằng Bọ Chét quay phim, nói:
- Nội tụi em anh không coi được đứa nào nên phải lấy con chuột hà nam đó à?
- Anh có… gì đâu….
- Thôi đi! Không có gì mà quán ban ngày lại đóng cửa !
- Thì… thì…
- Lúc anh ra em thấy cái mặt anh đỏ rần còn chối nữa!
- Bây giờ kêu tôi ra đây hạch tội à?
- Tụi em nói thiệt, tụi em không để anh lấy con thương buôn đâu. Anh phải coi chừng nó là đòn xốc hai đầu đó.
- Nghĩa là sao?
- Nghĩa là sa..ao? Xí, anh là mùa thu, lập trường anh để đâu? – Út Nhỡ vênh mặt – Má nó ra thành như cơm bữa còn nó thì ở nhà rù quến đàn ông con trai, anh thấy cái kiểu ăn mặc của nó không? Tụi em toàn là vải thô, còn nó bọc thây bằng nhiễu lãnh, tê-tô-rông màu này màu kia.
- Má nó công tác cho chú Sáu Huỳnh, chú Chín Lộc mà !
Bảy Nê rồi nói:
- Tác, tác gì? Tác hoác thì có. Ừ, có ngày bỏ bom ngay đầu cho coi. Anh thấy mấy trái pháo thụt ngay chân bữa nọ không? Pháo đui mà thấy đường nhen ngay dữ vậy à?
Tôi hơi giật mình. Mấy lần nhậu đều ăn pháo hụt cả . Vậy cũng nên cảnh giác. Ba Cấm nói:
- Bây giờ anh đi đào hầm với tụi em. Có bề gì tụi em bảo vệ cho anh. Luôn tiện tụi em cho anh biết đường đi nước bước của tụi em để sau này anh cần mà không có tụi em thì anh cũng biết, chớ anh làm ông chủ quán hoài rủi tình hình động anh làm sao chui?
Thấy ý kiến các nàng đúng ý định của tôi, tôi bèn đi theo đội du kích đào hầm. Vừa đi, Ba Cấm tiếp:
- Mấy ông mùa thu về đây đều mất uy tín hết. Chỉ còn mình anh đó. Liệu cái thần hồn. Anh có cần cưới vợ thì chị Bảy Sầu Riêng đó, đẹp, có chữ lại có điền sản. Cán khu, cán R đều bị chỉ cho quác ra hết đó !
Bảy Nê đang đi trước quay lại cắt ngang:
- Còn nếu anh ngại chị Bảy thành phần không cơ bản thì có chị Ba em đây cũng đẹp vậy.
Ba Cấm vói tay đập vai Bảy Nề:
- Mày quỉ! Tao vã miệng bây giờ.
Bảy Nê vẫn chưa dứt:
- Còn nếu anh muốn học sinh cỡ tuổi hai con chuột hà nam Ua-Chia thì có cặp gà dò Phượng-Phương đây . Anh chấm đứa nào tụi em gả đứa đó cho anh, tụi em sẽ đứng ra tổ chức lễ tuyên hôn có cơ quan đoàn thể xã quận dự, và có cha mẹ hai bên đến dự đàng hoàng. Chớ nhất định tụi em không để cho anh xáp vô cái quán đó.
Tôi tin là Sáu Huỳnh và Chín Lộc không đến đỗi khờ khạo để mắc bẫy. Nhất là Chín Lộc đã từng đi học Liên Xô về cái nghiệp dư tình báo. Nhưng nghe Ba Cấm nói tôi cũng hơi ngại. Dám lắm. Cớ gì mà cả Ua lẩn Chia đều đeo tôi nhanh và chắc như vậy. Và cả hai đều có vẻ căm ghét đội dũng sĩ này. Chia thì đã không ngại dâng cái ngàn vàng cho tôi còn Ua thì chỉ nhử cho con mồi vồ. Vồ xong, còn màn gì sắp tới? Tất cả đều xảy ra trong lúc tôi đang làm cây móc để đem em tôi nối cho đám tình báo của Chín Lộc ngoài Sài gòn.Chuyện này không đơn giản đâu. Tôi thầm nghĩ.
Tôi nhận thấy Ba Cấm là cô gái khôn ngoan lại đẹp không kém Bảy Mô và Thu Hà. Bảy Mô thì tôi chỉ có tình cảm khá đậm chứ chưa ăn chịu gì. Còn Thu Hà bặt tin hơn một năm rồi. Vậy thì cái đường khương tuyến của nòng pháo Thiên Lôi này sẽ xoáy vào ai? Chim đậu không bắt để bắt chim bay ư? Cái đời tôi cứ như thế. Từ bé nó đã thế rồi. Lúc đầu kháng chiến gia đình tôi tản cư tránh Tây đến ở đậu trong một nhà : giàu. Cô dâu của nhà này không yêu thằng chồng mặt gà mái vì ham của mà cha mẹ cô gả cô cho anh ta. Đêm tân hôn, cô mới vỡ lẽ ra hắn không phải là đàn ông. Cô nàng yêu tôi đắm đuối. Lúc đó tôi mới mười bốn tuổi, nhưng cô coi tôi như một nhân tình bé nhỏ . Cô dắt tôi đi Sài gòn chơi và mướn cả phòng ngủ hai đứa hú hí với nhau. Cô nói cho tôi nghe những chuyện mà tuổi tôi chưa từng biết. Cô ôm ấp tôi rủ rỉ bên tai: Chị mong cho bom bỏ cả nhà nó chết đi để chị sống với em… Sau đó chiến tranh tràn lan gia đình tôi lại chạy, tôi phải chia tay với nàng. Nàng bắt tôi phải thề: Không được yêu ai mà chỉ yêu nàng mà thôi! Tôi đã thề . Lần đó nàng bảo tôi yêu nàng.
Và tôi đã vâng lời nàng. Đó là lần đầu tiên tôi biết sự rung động của trái tim và vị ngọt của nước mắt con gái. Rồi bây giờ tôi lại cũng là thằng chạy vòng che chung quanh cái trận địa ái tình. Đánh thì có đánh, trúng thì cũng trúng lắm, nhưng rốt cuộc chẳng đi đến đâu. Tôi lại hóa thành cái mục tiêu cho những trái tim bắn.
Đột nhiên Bảy Nê hỏi tôi:
- Anh chịu chị Bảy Sầu Riêng không? Nói phức đi rồi tiến tới, để lâu nó nguội.
- Rủi anh chịu, người ta không chịu thì sao?
- Em biết chỉ chịu anh.
- Sao chắc vậy?
Út Nhỡ thêm vào:
- Anh nên kiếm vợ trên hai mươi, đừng có hốt đám con nít, coi không được.
- Chồng già vợ trẻ thì xinh. Vợ già chồng trẻ như hình chị em! – Ba Cấm nói – Nếu ảnh mà quơ bà Năm Đang hay bà Hai Xót mới khó coi, chớ còn anh cưới cỡ con Phương hay con Phượng thì đâu có gì là chèo ách.
Phượng và Phương kêu lên oai oái:
- Chị quỉ nà !
Nhưng Ba Cấm nói rướn tới:
- Con gái đẻ vài đứa thì già ngắt, thấy hết muốn dòm rồi !
Phương trả hỏa:
- Chị ghẹo em hoài, em khui chuyện của chị ra cho coi!
- Khui thì khui chớ chị đâu có sợ.
- Thiệt không? Hà hà… ông nhạc sĩ đờn cò đã kéo chị tới đâu rồi
Ba Cám xì một tiếng và cười hô hố. Út Nhỡ quay mặt lại:
- Lớ quớ bị mắc ngạnh con cá chốt đó đa !
Ba Cấm cười:
- Vợ y bỏ y ra Sài gòn lấy lính là vì ba cây đờn cò đờn gáo đó.
Bảy Nê chọc vào:
- Cái gáo bể, còn có cái cần, đờn không kêu.
Bé Phương dẫu mỏ:
- Ý ! ông khảy bài Kim Tiền Bình Bán hay lắm chớ chị !
- Ừ hay lắm! Hay đến nổi má Tám run tay ngoáy trầu hết nổi.
Phương moi cái gì trong ba lô tôi, giơ lên quơ lia và la:
- Ảnh lậm bang rồi mấy chị ơi ! ảnh lậm bang rồi.
Bảy Nê chụp lấy và cười.
- Hình con quỉ đó hả? Ừ, con nhỏ học sinh bận áo dài trắng, nón lá bài thơ đi xe đạp coi đã tỉ quá hả. Hèn chi mà ảnh không mê.
Phượng lại đưa thêm tấm nữa:
- Cái này mới tình!
Ba Cấm giật lấy xem rồi lật ra bề sau lẩm nhẩm đọc: Thân mến tặng anh yêu quí của đời em. Phượng cũng bắt chước lật phía sau tấm hình kia ra đọc: Tặng anh tình yêu bất diệt.
- Ở đâu mày lấy được vậy?
- Em móc túi ảnh hồi nãy.
Tôi mới hay bị điếm xâm nhập. Nhưng trong bóp còn nhiều thứ bí mật, nên tôi la hoảng và chụp lại. Nhưng bé Phượng lẩn tránh, rồi cho Bảy Nê mấy bức thư, bảo:
- Chị đọc đi. Thư của ai gởi mà mùi hết cỡ ? Em đọc tự nãy giờ muốn té xỉu mấy lần.
Tôi bảo:
- Không còn gì trong hết, đưa cái bóp lại cho anh!
Phượng lại moi ra mấy cái chứng minh thư và reo lên:
- Anh Hai mà cũng sợ.. . mấy chị ạ !
- Sợ gì?
Phương giơ lên. Cả bọn cười ré. Ba Cấm nói:
- Ai có con với anh là người đó mừng hùm, anh sợ gì mà phải dùng thứ đó chớ !
Tôi đẩy đưa cầm chừng.
- Mấy em rắn mắc quá trời! Moi hết bí mật của anh.
- Hình hai con quỉ đó cho anh hỏi nào vậy?
- Tra tấn tôi hoài khổ quá !
- Mới đây mà đã anh yêu quí của đời em! mà đã tình yêu bất diệt. Chạy nhong nhong ra Củ Chi có ngày Mỹ nó cho ăn đạn 155 ở đó mà bất diệt.
Tôi đi theo bọn con gái tới nhà bác Tám, ông già của cô Tư Bé ở Bàu Trăn, kỳ rồi Ua ghé xin dừa. Bác Tám đãi cả bọn một bữa khoai mì luộc với mắm sặc ăn no cành hông. Tôi ra mé hiên nhà uống nước mưa. Thấy hàng mái vú tôi nhớ nhà tôi quá chừng. Nhà tôi cũng hứng nước mưa để dành uống quanh năm. Cả xóm, ai có thèm nước mưa đều đến nhà tôi uống. Trên nắp mái có cái tô ông Rồng. Người yếu yếu chỉ uống 1/3 tô là chạy tét. Ừ nhỉ, hằng ngày mình đều kê cái tô đó vào miệng mình. Chạy chơi đã đời về ực một tô . . . không biết cái tô ông Rồng miệng bịt đồng đó còn hay đã bể rồi? Chắc tiêu rồi. Tụi Tây đốt nhà tôi hồi kháng chiến rồi mà tôi quên đi. Bảy Nề trêu sau lưng tôi.
- Làm gì mà đứng ngớ ra vậy anh Hai?
Ba Cấm và Út Nhỡ đi tới. Út Nhỡ uể oải:
- Ăn cơm chúa phải múa tối ngày. Đi! Đào hầm với tụi em, anh Hai !
Tôi đi đằng sau, nhìn những bộ đùi trắng nõn như lõi chuối. Đàn ông chỉ lụy có bấy nhiêu thôi.
-Tụi em đi tấn công Thổ địa nên làm có vẻ hòm tướng vậy đó. Còn anh, anh chỉ nên mặc quần tiều. Cả áo thun cũng bỏ ra nữa !
Tôi hỏi Út Nhỡ.
- Mấy em đào hầm bí mật hay địa đạo?
- Ở đây đâu đào địa đạo được anh. Đất quá thấp so với Phú Mỹ Hưng. Chỉ bên Bàu Lách hoặc Gót Chàng mới đào được. Ở Bầu Tròn gần đường đá đỏ cũng có, nhưng địa đồ đào hồi 62, bây giờ đất sụp hết không có ai sửa sang nên bỏ luôn rồi. Đến như hầm bí mật mà bỏ lâu không xài cũng hỏng. Trời mưa rể cây ăn luồng đất sụp là cả một vấn đề. Lại còn cái thứ ghẻ xốn nữa. Thứ này mới ác.
Ba Cấm nói:
- Nếu anh có về R mà dự đại hội như kỳ rồi, thì nói với trên đó muốn lựa kiện tướng địa đạo thì chỉ nên căn cứ một tiêu chuẩn thực tế chớ không nên đọc báo công. Đó là thẹo ghẻ xốn. Cứ cởi áo quần ra thấy ai có nhiều vành đai đen nhất thì đó là kiện tướng. Hổng tin anh biểu bà chính trị viên của em làm vậy rồi anh sẽ thấy. Vì lũi dưới đất nên ghẻ mọc khắp người.
Út Nhỡ quay lại trừng mắt:
- Con nhỏ nói vô duyên quá.
- Chớ không phải à? Nội đây hổng có mạng nào mang vành đai đen bằng chị hết!
Út Nhỡ xấu hổ đánh trống lãng:
- Hồi 62, xã động viên toàn thể đi đào địa đạo ở Gót Chàng và Bàu Lách vui lắm anh Hai ạ. Người ta vác cuốc đi rần rần như đi chợ vậy. Đợt đầu tiên em nhớ là xã tổng kết đến hai ngàn nhân công đào một tuần lễ, được non một cây số. Đó là đợt lớn nhất được quận tuyên dương toàn quận. Nhưng đào rồi bỏ chớ đâu có ai chun.
- Trâu bò cũng không ham à?
- Trâu bò gì?
- Vậy mà anh nghe nói là địa đạo thôn liền thôn trâu bò xuống luôn. Còn người ta họp chợ dưới đó.
- Chèn đét. Ai lá…áo dữ vậy. Xuống vài chục người là đã ngộp thở rồi. Chỗ đâu mà họp chợ?
- Mấy cô giấu tôi mà !
- Em có giấu một chút nào cho pháo Đồng Dù ăn em đi. Em nói không có là không có mà.
Tôi vừa đi vừa ngắm mấy cặp đùi thì đám tiên nữ dừng lại bên bờ trúc tiếp giáp với một khu rừng chồi. Út Nhỡ trỏ tay chỉ địa hình cho tôi như một vị chỉ huy:
- Nếu anh có bị xe tăng đuổi thì từ đây anh có thể vọt vô khu rừng này, qua hết rừng tới ruộng là đụng Bàu Lách. Ở đó có địa dài chừng hơn trăm thước. Vài chục người thì xuống đỡ được một vài tiếng đồng hồ còn ở cả ngày thì moi lên chắc ngất ngư hết cả.
Bảy Nê gạt ngang:
- Chưa chi đã trù mạt.
Cả bọn cởi bao đạn lột súng dựng dụm đầu trên một mô đất. Út Nhỡ trỏ ra phía bờ trúc và nói:
- Thân chính của địa nằm dọc dưới hàng trúc đó.
Tôi trỏ bụi tre xa xa và hỏi:
- Sao em không đào dưới hàng tre kia. Tre cứng hơn trúc xe tăng không càn nhẹp nổi, mà lại dùng trúc để làm chướng ngại?
Bảy Nê đáp ngay:
- Anh nói đúng, nhưng bây giờ nó khôn lắm. Hễ gặp bụi tre là chúng đánh tan rồi bắt đầu ủi tìm miệng hầm. Cho nên bây giờ chúng em không dùng bụi tre để ngụy trang nữa ! Máy ủi của nó ác lắm. Cây cỡ một ôm nó đi qua là ngã hết. Rồi máy xúc tới. Nó xúc một phát lòi miệng hầm liền. Rồi tung trái khói kêu Vi xi, vi xi, nếu không lên nó liệng lựu đạn. Không lên nó đánh mìn. Ở dưới Phú Hòa Đông nó chơi kiểu đó mấy ông bả tróc hết, chạy bỏ hầm.
- Không lên luôn, nó làm gì?
- Bom! tới bom mình không lên cũng văng lên. Bởi vậy chị Năm Đang cho con Mô đem nửa đội về Gót Chàng tìm địa thế tốt, còn một nửa ở đây. Nhưng chỉ đào hầm….
- Không xài địa nữa à?
- Địa hết tác dụng rồi anh ạ. Sau khi thấy bãi bùn do B52 gây ra từ Rừng Làng đến Chợ Mới bề ngang trên hai cây số bề dài mười cây lsố à thầy chú trồi lên như chuột bỏ hoang, dông tuốt qua Bến Cát bộn.
- Pháo không tác dụng gì à?
- Sao không? Pháo cũng khoan trên dưới một thước rưỡi gáy hầm chỉ chín tấc, chịu sao nổi.
Trong lúc Bảy Nê và Út Nhỡ nói chuyện với tôi thì cả đội đã sắp hàng dọc chuẩn bị tư thế chuyền đất đổ xuống một cái mương lạn để phi tang. Út Nhỡ là linh hồn của công tác. Nàng trỏ tay vào hàng trúc, giải thích cho ông thầy pháo:
- Hầm này sẽ nằm dưới rễ trúc. Năm đứa có thể chui sống được một ngày khỏe re.
- Lâu nữa không được à? Rủi nó chốt trên đầu rồi làm sao?
- Ở đây chắc tụi nó đến rồi đi chớ không chốt.
- Tại sao em chắc như vậy?
- Vì đây là khu rừng lẻ. Nó không nghi có địa. ở trên số Bò và Rừng Làng mới bị nó nghi.
- Sao em biết nó nghi?
- Vì nó tìm được nhiều miệng địa. Cho nên mỗi lần vô, nó trụ lại ba, bốn ngày. Trời ! Nó chơi đủ kiểu mà anh ? kiểu mới nhất là chó. Eo ơi! kiểu này thì chúng em hết đỡ được. Chó nó đánh hơi tài lắm.
- Hồi chín năm anh nghe mấy ông ở hầm dùng tiêu sọ đâm nhuyễn rắc quanh lỗ thông hơi. Chó Tây hít vô một phát là chạy tuốt.
- Em có nghe mấy chú nói tác dụng của tiêu sọ nhưng bây giờ không dám xài nữa. Vì Mỹ khôn lắm, chó đang khịt hoặc hửi hăng mà bất thần bỏ đi là chuyên gia nó đến ngay !Nó hửi cái lỗ mũi con chó anh ạ. Tụi Mỹ là ghê gớm lắm! Nó chỉ dại gái thôi ngoài ra không dại chuyện khác. Bởi vậy em lợi dụng cái đám rau mơ kia.
-Để làm gì?
Mùi rau mơ hăng hắc nhưng không gắt bằng tiêu sọ. Chó có thể bỏ đi, nhưng không bỏ ngay, như đối với tiêu sọ. Nếu chuyên gia nó có đến thì nó nghe mùi la rau mơ nó không nghi.
Tôi cười:
- Các em cao kiến thật!
Tôi khen cho các em vui vậy thôi chớ trong bụng buồn tênh. Ta đánh với một thằng địch khoa học kinh hoàng trong khi ta chỉ có ba cái thứ thủ công nghiệp buồn cười như chông, lựu đạn, súng ngựa trời… và địa. Ngoảnh đi ngoảnh lại, thấy đội hình thưa đi, tôi hỏi như giật mình:
- Ba Cấm đâu?
- Hì hì. .. nó xuống âm phủ rồi. Anh muốn xuống với nó không?
Út Nhỡ dắt tôi lại xem cái miệng thí. Bé Phương đứng ở bên miệng thí thọc một cái thanh tre có móc xuống rồi kéo lên một ki đất đẩy. Các cô chuyền tay nhau đổ xuống mương rồi ném trả lại chiếc ki cứ như thế sợi dây chuyền liên tục làm việc.
- Mới đây mà đã sâu cỡ đó rồi à?
- Đào xuống thì dễ , trổ ngang mới khó anh ạ .
Tôi bảo Phương đưa tôi đứng miệng thí thử một lúc. Mỗi ki đất nặng chừng ba chục kí lô, kéo từ dưới độ sâu hai thước lên mặt đất rồi chuyền tay đi đổ. Đó là công tác trên mặt đất. Dùng cuốc xắn vào đất để làm nên khoảng trống ở giữa lòng âm phủ. Đó là công tác dưới kia. Đứng ở miệng thí một lát, tôi bảo Út Nhỡ cho tôi xuống một phen cho biết mùi âm phủ . Đám nữ binh reo lên vừa ngạc nhiên vừa vui mừng:
-Để cho thầy pháo đọ sức với đất thép.
Tôi vừa thay quần áo ngắn vừa bảo:
- Anh đào công sự phát ở đất núi ngoài Bắc kìa các em ạ Đất này ăn thua chi ! Mà phải đào với đúng qui cách trong khuôn khổ thời gian nhất định chớ không phải tới đâu hay tới đó đâu!
- Đồng chí nào dám đi cặp với anh Hai nào? – Út Nhỡ hỏi – Ba Cấm dám chầu đôi không?
- Ai mà chịu cho nổi.
Ba Cấm muốn đi với tôi nhưng lại xấu hổ bèn đùn cho bé Phượng. Phượng ngây ngô không suy nghĩ gì nghe Bảy Nê bảo thì sẵn sàng. Nàng lôi tay tôi. Tôi nhìn cô bé mặt mũi trong veo mà tội nghiệp.
Ba Cấm và Bảy Nê leo lên mặt mày như ôn dịch, mình mẩy như ma trơi. Thấy mà đau lòng. Con cái nhà ai cho đi như vậy Quả thật cách mạng là dã man, từ đày đọa cho đến giết chóc, chuyện gì cũng dám làm cả. Khổ thay chỉ có con cái bần cố nông gánh chịu, còn con cái lãnh tụ thì không hề rớ tay vào những việc mà họ gọi là vinh quang, như đi vào Trường Sơn phơi xương vậy. Thấy bé Phượng còn non như trái quít vừa ra da lươn, tôi hỏi:
- Nhà em ở đâu?
- Dạ ở Bến Nẫy, dưới Phú Hòa Đông
- Cha mẹ còn đủ không?
- Dạ còn. Bác em là ông Mười Thơ khu ủy viên. Ông bảo em về văn phòng ông để học đánh máy nhưng em không thích sống gần mấy ông già đạo đức giả.
- Úy! Sao em nói kỳ vậy tội chết?
Phượng phang luôn:
- Tội lội sông chổng mông hết tội chứ gì anh. Các ông tóc bạc ông nào cũng có một cô thơ ký, cần vụ đáng tuổi cháu nội cháu ngoại. Đêm thì ngủ chung hầm, võng hai từng, ông ở tầng dưới cháu ở tầng trên.
Tôi không thể bụm miệng cô bé được nên đành nói lãng ra :
- Hồi anh ở Bắc Giang nhiều chỗ đất cứng cuốc không nổi phải gánh nước tưới đó em.
- Ở đây có vùng đất pha đá đào nhoáng lửa, anh ạ.
Ba Cấm và Bảy Nê đã trổ ngách được chừng năm tấc. Tôi và Phượng tiếp tục sự nghiệp. Tôi cầm cán cuốc còn ấm hơi tay Ba Cấm. Tôi bổ phát đầu, không ăn thua gì cả. Chỉ làm rung rung cây đèn cầy trên vách. Phượng thấy vậy bảo:
- Anh lùi ra cào đất vô ki thay cho em, để em vào làm thử cho anh xem.
Tôi nghe lời Phượng ép mình sát vách hầm để Phượng bò vô ngách. Nàng cạ cái mảng hông mềm mại vào ngực tôi như lửa cháy. Tiếng của Út Nhỡ từ trên vọng xuống:
- Còn đèn cầy không? Nè, lấy đốt thêm lên để tối hù thầy trò không thấy gì hết rồi quơ trúng nhau đó.
Tôi nghe chiếc đèn cầy rơi trên lưng tôi. Tôi nhặt lấy và đưa cho Phượng. Quả tình cây đèn cháy sắp hết. Mỗi một phiên là một cây đèn. Phượng ngồi xếp bằng hai tay cầm cây cuốc cán ngắn giơ lên quá vai nhưng không đụng nóc hầm, rồi bổ tới, lưỡi cuốc ăn phập vào đất đến một nửa, rồi giật xuống. Đất rơi lộp độp xuống chiếc nón tai bèo. Nhờ nó trùm kín đầu, nếu không cái đầu đội nguyên cả mảng đất.
Phượng bổ liên tu, vừa đào vừa nói chuyện:
- Anh xúc mau mau đi kẻo ở trên đó không thấy chiếc ki đưa lên, người ta nghi anh em mình ở dưới này làm cái gì.
- Làm cái gì là cái gì?
- Ai biết đâu. Chị Út muốn cho em đi với anh đó.
- Đi đâu?
- Đi âm phủ . . .ủ . Anh có sợ ma không thì ới với e . . .
Cô nàng phun phèo phèo.
- Tại em nói chuyện với anh nên đất rớt vào miệng thấy chưa. Đâu, quay ra anh coi!
Phượng quay ra. Dưới ánh đèn xanh yếu hàm răng của cô bé chói lấp lánh như những hạt châu. Nàng kề mặt sát mặt tôi:
- Anh lau đất dùm em đi.
- Đâu có gì để lau !
-Anh lau bằng gì cũng được.
Tôi đưa tay vít cổ nàng lại và hai cái mặt dính vào nhau, những hơi thở hít vào thở ra từ buồng ngực thanh xuân của cô bé chuyền sang lồng ngực của gã giang hồ và ngược lại, pha lẫn mùi đất nồng nặc và mùi da thịt rực cháy như hai chiếc bình thông nhau. Hồi lâu, Phượng đẩy tôi ra.
Hai đứa nhìn nhau. Phượng xấu hổ đưa tay lên quệt ngang miệng rồi che mặt. Tôi lết tới ôm nàng hôn. Phượng thầm thì.
- Thôi, buông em ra đi. Ở trên la bây giờ đó !
- Biết gì mà la ?
- Anh không đưa ki đất ra, mà họ đã thò móc xuống kia kìa.
Quả tình, ở trên có tiếng vọng xuống:
- Hai thầy trò làm tuồng gì ở dưới mà êm rơ vậy?
Tôi buông Phượng và ló đầu ra miệng thí la lên:
- Đất rớt vô mắt em bé tôi ! Nó khóc om đây nè!
- Bé nhõng nhẽo nhất đội đấy, anh ráng mà dỗ nó.
Phượng háy tôi và thầm thì:
- Mấy bả muốn xuống đào với anh đấy.
- Thôi, em đào nhanh lên đi rồi đùa đất mau ra cho anh hốt.
Tôi vừa nói vừa ôm ngang eo ếch Phượng trong lúc nàng đang giơ cuốc lên. Cái eo ếch thon thon mềm mại phô ra một mảng ngà bên vạt áo ba bà lem luốc. Phượng giật tay xuống cười khúc khích và kẹp tay lại đề phòng năm đạo quân đổ bộ ngược lên miền Bắc . . . cực. Ở trên lại có tiếng vọng xuống:
- Mắt Phượng hết chưa? Nếu chưa, thì lên cho người khác xuống thay.
Tôi ngước lên bảo.
Hết rồi! Không sao đâu. Em nào móc túi áo anh lấy tiền đi mua trà và đường rồi nấu nước, anh Hai lên uống.
Phượng quay lại tôi:
- Anh biết tư thế ngồi đào chưa?
- Biết rồi. Để anh thay cho.
Phượng buông cuốc. Tôi bảo:
- Phồng tay chưa? Đưa coi.
Phượng cười. Cả răng lẫn cổ nàng hài hòa dưới ánh đèn xanh mát và nổi bật giữa nền đất nâu. Tôi lại ngồi nép vào vách hầm chừa lối cho nàng bò ra. Cái ngách bây giờ hơi sâu nên dễ thở và dễ xoay trở hơn. Nàng xê địch chậm chập ngang tôi thì dừng lại không nhúc nhích nữa. Mặt áp vào mặt, ngực ép vào ngực. Bốn cánh tay nhễ nhại mồ hôi bê bết đất cát, mũi thở như ống bể, tim như ngừng đập. Một trăm cái hôn dồn dập hối hả bạt mạng dưới huyệt mộ trong lúc một bầy quỉ cái đang đứng trên ngó xuyên lòng đất xoi mói, thèm thuồng, ganh tị. Tôi là cái quái gì nhỉ. Sao bọn con gái cứ tấn công? Tội nghiệp. Bao nhiêu trai tráng đi dân công bộ đội đều không trở về . Bọn cán bộ thì già nua, thô lỗ hoặc vô luân, còn du kích thì quá ư thô kệch. Tôi không gì thì cũng dễ coi và có tư cách… chút đỉnh? Ha ha… Phượng thì thào:
- Em với anh đi ra Củ Chi được không? Chịu không?
Một luồng nước đá lạnh buốt chạy suốt xương sống tôi. Cô bé này táo bạo thế. Thấy tôi không nói gì Phượng liền tiếp theo:
- Em thích công tác như con Ua.
Tôi biết Phượng nói trớ. Đằng sau câu nói đó có thể là cả một ý định làm tôi kinh ngạc.
Tôi bắt đầu cầm cuốc bổ từng nhát vào trong lòng đất. Chỉ trong vài chục nhát mồ hôi đã tuôn như tắm, mũi thở nghe ồ ồ và nóng như ống bể lò rèn. Ngọn đèn rung rinh theo từng nhát cuốc như con mắt nhìn hóm hỉnh của vị thổ địa: “Chúng bây làm chuyện bá láp, uổng công vô ích. Tự cổ chí kim chẳng ai ngu mà đi moi gan móc ruột ta như chúng mày. ” Mồ hôi bò xuống lưng đầm đìa và thấm ướt cả chiếc quần đùi rồi làm cho đất ướt dần chém nhẹp chỗ tôi ngồi và mỗi lần tôi nhóm lên để phóng nhát cuốc khai phá thì lại nghe một tiếng đáy quần nhấc lên khỏi lớp bùn mỏng do mồ hôi gây ra.
Tôi từng đào mương mướn ở miền Tây lấy tiền ủng hộ dân quân chánh đảng ở miền Đông năm 1952 bị bão lụt. Ra Bắc cuốc đất tăng gia tự túc cho đơn vị, đi đắp đê chống bão lụt ở Mai Lâm, Thanh Hóa, đào cả chục hầm pháo. Tuy có mệt, có vất vả nhưng không khó khăn và trắc trở như đào địa đạo bây giờ. Giống như con gà nòi bị tréo cánh, trói giò mà bắt phải đá. Cái ác nghiệt nhất là lưỡi cuốc và vách đất chỉ cách nhau có một tấc thành thử không lấy trớn được, giơ cao thì đụng nóc hầm,giơ qua hai bên thì đụng vách hầm. Nó bực bội, nó chật chội, nó bức rức khó chịu như ngặt mình sắp chết vậy . Chỉ qua một lần tham quan địa đạo do cô xã đội Là hướng dẫn năm ngoái, tôi đã đánh dấu hỏi, rồi một lần quay phim địa đạo chiến với thằng Bọ Chét tôi đã nghi ngờ về tác dụng và tầm vóc của địa đạo trong kháng chiến chống Pháp lẫn chống Mỹ và ở đây qua một phiên đào dài bằng đời sống của một cây đèn cầy, tôi có thể quả quyết cái địa đạo Củ Chi thôn liền thôn, xã hèn xã này chỉ có trên đài Hà Nội và đài Giải Phóng mà thôi, chứ không thể nào có ở dưới đất: hai trăm miles.
Phượng vừa cào đất sau lưng tôi ra miệng thí vừa nói:
- Ông thầy pháo bây giờ trở thành ông thầy khoét rồi đó.
- Thầy bỏ ngón nữa!
- Tại em thích anh chớ đừng tưởng ai cũng rớ được em đâu!
- Sao không về thành lấy chồng làm ăn, đi theo chi cho cực thân hả nhỏ?
- Ba em là xã đội trưởng, bác em là khu ủy viên, em đâu có thể đi ra thành được.
- Vậy sao lúc nãy rủ anh?
- Em nói là muốn đi công tác như con Ua khỏe hơn !
- Nói vậy anh không báo cáo đâu mà chối.
- Em đâu có chối.
- Bà con ngoài thành cũng là đồng bào của mình chớ là thù sao !
- Trời ! Phải nói như anh vậy thì hay biết bao nhiêu. Mấy ông du kích nghi ai thì cứ bắt đem ra sông Sài gòn thủ tiêu. Bởi vậy dân ra ấp chiến lược, mình nhắn mời đâu có ai về. Ra đi là như diều đứt dây luôn.
Ngồi dưới hầm chỉ có hai đứa, vừa đào vừa xúc vừa nói chuyện, thỉnh thoảng lại điểm xuyết công tác bằng những cái hôn. Thiệt là thú vị. Bỗng nhiên Phượng buột miệng nói:
- Anh với em như chôn một huyệt ấy nhỉ.
- Em có thích không?
- Ai mà thích chết. Em chỉ muốn sống thôi. Mà sống với anh kìa mới thích. Nhưng em biết anh không ngó ngàng gì tới em đâu. Anh coi em còn nhỏ quá mà, phải không? Anh để ý chị Bảy Mô, chị Ba Cấm thôi thì cũng phải đi. Vì hai chị đó chị nào cũng xứng với anh hết. Nhưng con Chia con Ua thì đâu có bì với anh được. Hai con nhỏ đó chỉ được cái xí xọn thôi chớ không hay ho gì đâu. Anh muốn đi theo cách mạng thì đừng đeo nó.
- Để đeo em hả ?
Phượng đấm lưng tôi.
- Bậy nào? Còn đeo nó thì hết cách mạng rồi!
- Ừ thôi đeo em.
Tôi buông cuốc ngã ngửa ra trên đống đất đùn sau lưng tôi, trợn mắt nhìn lên nóc hầm và thở hắc ra. Phượng trườn mình vào cúi xuống sát mặt tôi:
- Anh làm sao vậy. Có lẽ thiếu dưỡng khí, để em lôi anh ra kẻo chết ngộp.
Tôi cười hắc hắc:
- Anh sắp chết rồi. Hôn anh đi ?
Phượng tát khẽ vai tôi. Tay tôi đưa lên vít đầu nàng xuống ghịt vào mặt tôi.
- Thôi, hết chết rồi! Xúc đất đưa ra đi để mấy bà trời đó nghi.
- Mấy chỉ biết hết chớ nghi gì nữa. Nhất là chị Cấm. Bà Bắc kỳ lai đó không phải tay gà mờ đâu.
- Anh em mình làm nhanh cho họ kéo ki lên không kịp chơi.
- Ừ chiều nay anh em mình sẽ được bầu là kiện tướng.
- Anh không thích làm kiện tướng đâu. Anh chỉ thích ở đây đào hoài.
Bây giờ tôi đã quen với động tác chật chội, không xoay trở nhiều mà vẫn bổ những nhác khỏe. Lưỡi cuốc cắm phập vào đất chính xác và nhanh. Phượng nhắc:
- Anh đừng đào rộng nóc hầm. Giữ nó theo hình chóp nón như chị Bảy Nê và chị Ba Cấm khai mở lúc đầu.
Thầy trò tôi làm theo công thức nhanh nhiều tốt (không rẻ). Chiếc ki lên xuống liền liền. Nhờ vậy không khí cũng đổi thay không bức bối. Cứ mỗi lần tôi quay lại đùa đất ra cho nàng thì tôi cũng tặng cho nàng một mảnh hạnh phúc và được nàng đáp lại gấp bội. âm dương hòa hợp quả là một hiện tượng diệu kỳ. Tôi không thấy mệt như lúc mới xuống nữa. Càng đào cái lòng hầm dài ra thì không khí càng nhiều, tôi thấy dễ chịu hơn, nhưng việc đùn đất ra miệng thì chậm hơn, nên tôi phải dừng lại giúp cho Phượng. Do đó tôi có điều kiện gần nàng và chúng tôi ban hạnh phúc cho nhau đều đều hay có thể nói chúng tôi chỉ dành một nửa năng lực cho công tác còn một nửa để yêu nhau: Yêu trong lao động, vừa lao động vừa yêu, nghỉ chẳng có ở đâu ngoài địa đạo. Đường đã đài như một chiếc giường hẹp có thể nằm thẳng người nhưng người trên người dưới chớ không nằm song song được. Tôi như phát điên lên. Tôi lừa thế, đè lên mình nàng và đòi hỏi cái ân huệ cuối cùng. Nàng chận tay tôi cứng ngắt, thì thào:
- Không nên!
- Sợ họ thấy hả? Vậy tắt đèn?
- Không sợ, nhưng ngại đẻ con hôi đất.
Tôi cười ngất với ý nghĩ vui vui lạ lùng của nàng.
- Mình tắm xà bông thơm.
- Nó có ghẻ xốn thì báo đời !
Cây đèn sắp hết. Tôi bảo: . .
- Tới phiên người khác.
Phượng móc trong túi áo ra một cây to gấp đôi mồi vào, bảo:
- : Em xuống hầm là luôn luôn có sẵn món này.
- Nhưng hết phiên mình lên cho cặp khác xuống.
Nàng ôm chầm lấy tôi:
- Em muốn phiên mình dài gấp đôi phiên khác… Anh mệt thì đưa cuốc đây em thay cho.
Tôi bảo:
- Chừng nào em chạy thì. anh mới thôi.
- Xí! em là kiện tướng đào, kiện đứng miệng thí…
- Và kiện tướng chui nữa phải không?
Phượng vừa quệt mồ hôi ngang trán vừa đáp.
- Không ! Đào thì em hăng hái nhất nhì trong đội nhưng chui thì không bao giờ. Em sợ chui lắm. Ai chui thì chui, em không dám chui hầm gì cả.
- Tại sao đào hầm lại không chui?
- Em không chui cả hầm bí mật nữa cơ mà . Em có cảm giác là em bị chôn sống. Ngoài ra em sợ có người chỉ miệng hầm!
- Sao lại có người chỉ miệng hầm.
- Là vì có nhiều người chiêu hồi. Chớ anh không biết hai ông đại cán Bảy Huyền và Hai Tốt hiện giờ đang đứng ở trạm gác Cầu Bông để nhìn mặt cán bộ mình xâm nhập thành à?
- Có việc đó nữa sao?
- Có chớ. Em nghe con Ua nói mà.
- Nó đi đâu ra đó mà biết?
- Nó nghe mấy chú trong cơ quan dặn.
Tôi gạt ngang:
- Tin đồn không nên nghe !
Tôi chấm dứt câu chuyện bằng một nhác búa bổ cật lực. .
Lưỡi cuốc thay vì ăn sâu vào đất, nó lại dội ra sau một tiếng cụp khô khốc Tôi quay lại:
- Đụng đá rồii Phượng ạ .
- Vậy để em lấy cây cuốc lục lộ anh moi mới được.
Phượng bò ra miệng thí, kêu lên. Khi chiếc ki thòng xuống thì trong đó có cây cuốc lục lộ. Phượng cầm lấy và bò vào đưa cho tôi. Tôi cầm lấy đoản đao quơ múa một lúc thì lôi được hòn đá ra. Tôi kêu lên.
-Trời đất! Không khéo mình được đá quí.
- Đá quí gì kỳ cục vậy anh?
Dưới ánh đèn cầy, tôi nhìn ra đó là một khúc xương, xương đùi.
Phượng rú lên rồi ôm chặt lấy tôi. Không biết mình đã đào trúng huyệt của ai đây?
Tôi hoang mang suy nghĩ. Tôi cầm cây đèn soi vào lổ cuốc. Trong đó còn lủ khủ. Tôi bảo Phượng lùi ra. Tôi cuốc moi một lát nữa thì thấy những lóng xương nằm sấp lớp ngổn ngang lẫn trong đất. Thịt đã biến thành đất cho nên hàng trúc xanh tươi. Chỉ còn lại những lóng xương là không tan. Tôi bò ra và bảo Phượng:
- Mình hết phiên rồi Phượng ạ ! Đi lên !
Phượng bỏ hai chiếc cuốc, chiếc vá và khúc xương vào ki. Cái móc từ trên thò xuống rồi kêu lên. Phượng leo theo nấc thang khoét trong đất một cách dễ dàng. Tôi cũng lên ngay. Phượng tìm một gốc cây ngồi khuỵu xuống đất và ngả lưng vào, mắt nhắm tít. Các cô xúm lại kêu rối rít vì tưởng Phượng bị ngộp thở. Tôi nhặt khúc xương đưa cho Út Nhỡ:
- Mình phải bỏ ngay chỗ này.
Út Nhỡ quay mặt đi, không cầm ù té chạy úp mặt vào gốc cây nơi Phượng ngồi và nôn ọe. Bảy Nêề vào nhà xin một tỉn nước vừa ra tới không biết chuyện gì, bèn cười rẻ lên:
- Ái da, chị Út bị ai rắm cái hột bầu rồi nên nôn ọe đó tụi bây ơi!
- Ừ, chỉ đang thèm me… dốt hoặc khế chua !
Tôi xua tay và giải thích cho Bảy Nê và các cô nghe. Út Nhỡ tái lét mặt mày, giọng run run:
- Anh trả cái khúc đó xuống hầm đi. Em sẽ cho lấp đất lại.
Tôi cầm lấy khúc xương đi đến miệng hố khom xuống ném nhẹ xuống lòng hầm rồi quay đi. Út Nhỡ hỏi:
- Anh không van vái gì hết sao?
- Van vái gì?
- Mình cuốc mồ cuốc mả của người ta tội chết! Để em vô nhà xin ít cây nhang đem ra đốt.
Ba Cấm xua tay:
- Đừng làm vậy, lộ bí mật hết.
Bảy Nề tán thành ý kiến Út Nhỡ:
- Mình làm vậy vong hồn họ oán sẽ cho tụi lính nằm chiêm bao và chúng sẽ tới đây khui hầm mình.
Ba Cấm đưa mắt nhìn tôi, ý hỏi tính thế nào? Tôi bảo:
-Ý kiến cô Bảy đúng đấy. Nhưng hiện giờ mình chỉ nên lấp lại rồi rút êm thôi. Bác Tám không hỏi về công việc của mình đâu, nếu bác có hỏi, mình nói là đào xong rồi nghe chưa? Rồi sau đó mình lén lén đem nhang đèn tới cúng sau. Như vậy sẽ không lộ bí mật.
Út Nhỡ lắc đầu nguẩy nguậy:
- Toi công cả ngày ! Xui quá !
- Cũng may là mình mới khởi đầu, nếu đào sắp xong mà đụng thì mới xui.
Ba Cấm hỏi:
- Hổng rõ xương cốt của ai vậy?
- Ai mà biết được !
Tôi hỏi:
- Hồi nào tới giờ có gặp trường hợp này chưa?
Bảy Nê nói:
- Có trường hợp cà nông bắn trúng mả văng xương và ván hòm lên, chớ không gặp trường hợp này.
Tôi nghe ớn ớn lạnh bèn lấy quần dài và sơ mi mặc và bụng nghĩ dại:
- Phải hồi nảy con bé nó đồng ý thì hai đứa mắc phong cùi bỏ mạng.
Út Nhỡ cho cào đất lấp miệng hầm. Bảy Nê rùng mình giả bộ:
- Tối nay nằm ngủ thấy ma cho coi ! Eo ôi !
Phượng đứng dậy vươn vai và nói với tôi:
- Em nghe ơn ớn, anh có dầu cù là đó không bôi cho em một chút.
Ba Cấm trừng mắt:
- Con nhỏ nhõng nhẽo!
Út Nhỡ bảo:
- Thôi đi vô, tắm rửa thật kỷ. Không ai nói gì với bác Tám về việc này, rõ chưa?
Mặt trời đã lặn nhưng còn lưu lại một vệt ráng đỏ bầm ở miệt Hố Bò. Rừng chồi lặng ngắt, không một cơn gió nhẹ. Cảnh vật như chết. Một sự im lặng chứa đựng bùng nổ . Ở đây là thế. Không bao giờ có được một phút nào yên tĩnh. Không có pháo bắn thì máy bay bỏ bom, không bom không pháo thì có trực thăng đầm già. Lưng trời mặt đất luôn luôn bị chọc phá khuấy động. Tôi tìm cách đi sau cùng với Ba Cấm. Nàng nói ngay khi tôi hỏi kinh nghiệm chui địa đạo:
- Sở dĩ chúng em bảo anh có quận xuống khai mạc lớp dạy pháo là tụi em muốn cho anh biết cách đào hầm hố và địa đạo này. Sớm muộn gì ở đây rồi anh cũng nếm mùi ghẻ xốn thôi. Nhưng ghẻ xốn còn đỡ hơn bị khui hầm. Mỹ, Úc không đáng gờm bằng tụi Đại Hàn đâu! Tụi này tàn nhẫn nhất. Nó mà gặp miệng hầm là nó theo tới cùng chớ không có bỏ dỡ. Tụi Mỹ coi hùng hổ vậy chớ có tật đau lưng. Làm một hồi không xong hoặc có đổ tí máu vịt là co vòi chạy như vịt vậy. Em muốn anh đến đâu công tác thì tự làm hầm bí mật cho anh ở, đừng có ở của tụi đu kích. Nó thí cho anh những cái đã có một trăm người tứ xứ đến ở rồi. Tới anh nữa là thứ một trăm lẽ một. Anh mà chui xuống đó là kể như đi âm phủ 99%. Thằng giặc đui cũng nhìn thấy nắp nữa là ? – Nàng ngưng một chút rồi nhìn tôi bằng cái nhìn sâu thẳm- Đó là tình cảm của em dành cho anh. Yêu anh thì phải biết bảo vệ anh chứ còn nói cái miệng nào là tình yêu bất diệt, tình yêu trọn đời ai mà không nói được.
Tôi nắm vai cô nàng xoay mặt lại hôn trên môi một cái khẽ:
- Cám ơn cô Bắc kỳ lai ! : Biết cô nàng hơi hờn, tôi nói tiếp- Sao em không ở dưới với anh mà lại bỏ đi lên làm anh phải đào với Phượng.
- Em quen anh từ hồi năm ngoái cơ mà ! Anh quên sao?
- Sao mà quên được e…em..!
- Không quên mà….
Nàng nói chưa dứt câu thì tôi bước tới chặn ngang và ghi thêm một quả phạt đền.
Bữa cơm chiều mừng chiến thắng gồm có mắm kho và mít luộc. Tôi được đối đãi như thượng khách, ngồi mâm trên bàn với ông Tám bà Tám, còn các nàng thì ngồi dưới gạch. Tôi nhắc lại với bác Tám lần trước Ua dắt tôi ghé đây xin dừa về nấu chè. Kỳ này không thấy Bé ở nhà tôi muốn hỏi thăm, nhưng chưa mở miệng thì bà Tám đã nói:
- Hổng biết làm cái gì ở đâu mà con Năm Đang với con Mô ghé đây một ngày một đêm rồi nó lôi con Bé lên trển . Ở nhà, chú Bảy Hốt ở bên Hậu Cần kêu đi chở gạo, mà không có nó, đâu có ai đi!
Tôi không rõ bà Năm Đang bắt con người ta đi làm gì (chắc chắn là không còn cái vụ đấu tranh chánh trị nữa rồi) nhưng cũng nói mò:
- Chắc là công tác quan trọng lắm đó bác.
- Việc nhà bỏ bê hết ráo như vầy, lấy gạo đâu mà nấu hả chú em?
Các cô lua nhanh rồi tản ra sân, cô thì chải tóc, cô thì sửa sang súng ống. Tôi và ông Tám ngồi nói chuyện. Thừa lúc vắng người, bà Tám đem bình trà tới nói nhỏ với tôi:
- Nè, cháu có gia đình chưa?
- Dạ chưa.
- Có định mối nào chưa?
-Dạ cũng chưa.
- Để ông nhà tôi chỉ cho một chỗ được không chú?
- Dạ cám ơn bác có lòng thương cháu.
Tôi tưởng rằng bà muốn gả cô Bé cho tôi. Trong câu chuyện giữa các nàng với nhau, tôi được biết là ông bà Tám chỉ có một đứa con gái nên muốn gả bắt rể. Rể nào chớ rể này thì có biết làm ăn gì? Lê dương chuyên nghiệp từ nhỏ đến giờ, có tài chạy rong thôi. Còn thua rễ cây nữa.
Ông Tám nhấm nháp trà nghe bà Tám nói thì nhấp nhõm, có lẽ ông sợ bà Tám bật mí. Bà Tám nói:
- Con nhỏ được lắm. Việc nhà giỏi dắn, công tác rất tích cực Vùng này chỉ có một mình nó.
Bảy Nê chạy vô nhà lấy ba-lô, chợt nghe, bèn vọt miệng:
- Chị Bé được đó bác Tám!
Ông tám hỏi như giật mình.
- Được cái gì?
Bảy Nê cười hí hí :
- Chỉ sẽ không làm cản trở công tác của anh Hai, còn đám con buôn thì không chắc.
Bà Tám nguých ngang:
- Tao nói là nó mày đấy. Nội vùng này tao chấm mày nhứt hết thảy. Mặt nào cũng được. Lấy vợ thì chọn người có ngang nở hậu như mày mà lấy để sanh con dễ dàng mà món ăn cũng giỏi. Ngoài công tác lại còn phải lo việc nhà nữa chớ ? Mua heo chọn nái, cưới gái chọn dòng. Thanh niên nào mà thấy mày cũng ham.
Bảy Nê đứng lặng người, tay cào gốc cột. Ông Tám hỏi.
- Có chịu không? Nếu chịu thì lấy nhà tao làm đám tiên bố.
Bà Tám xúi thêm:
- Được mà Nê! Để chú em vuột ra khỏi Bàu Trăn này thì uổng lắm! – Được trớn bà Tám nói luôn – Thời buổi này nên gã cưới mau mau đi. Dễ chết quá hà! Cán bộ chiến sĩ hi sinh đã đành, thường dân ở hầm mà cũng không tránh khỏi. Ở ngoài Bến Đình, một trái pháo rơi ngay giữa nhà chết cả gia đình năm sáu mạng. Bởi vậy ở ngoài đó từ Bà Thiên trở xuống người ta dọn nhà đi hết rồi, lớp ra ấp chiến lược, lớp chạy xuống Phú Hòa Đông.
Ông Tám phụ họa:
- Phú Hòa Đông ăn pháo càng gần.
- Nhưng đỡ được B52 ! – Bà Tám ngồi lên, tay bó gối rầu rĩ – Nghe nói xe ủi nó dọn láng tới Cây Sộp.
Tôi tiếp.
- Dạ, nghe nói nó ủi tới ngã ba Cây Sộp giáp tới ngã ba Trùm Tri…
(Sự thực nó đang ủi cả phía sau Đồng Dù giáp ranh và Suối Bến Mương. Còn hai bên hông nó là Đường I làng và ấp chiến lược Cây Bài. Như vậy, cái Đồng Dù nằm ở giữa muốn pháo kích nó từ hai bên hông thì phải vô ấp chiến lược Cây Bài và xóm Cây Sộp. Còn muốn pháo kích nó từ phía sau thì phải vượt qua suối Bến Mương, pháo rồi làm sao chạy kịp? Riêng mặt tiền thì không thể đặt pháo vì nó chỉ cách quận lỵ Củ Chi chừng 2,5 km. Tìnnh thế du kích Củ Chi này ló ra đâu cũng bị lưỡng đầu thọ địch cả. Địa bàn hẹp té, khó xoay trở vô cùng. Đó là chưa nói tới vụ máy bay phản lực và trực thăng.)
Tuy vậy tôi vẫn nói cứng với bà già :
- Không sao đâu bác. Dân theo nó là vì sợ bom đạn chớ không phải thích nó.
- Không thích nó nhưng nhận tôle của nó để lợp nhà và gạo của nó để nấu cơm.
Bà Tám cắt ngang nhưng ông Tám đỡ cho tôi:
- Ở trên nói mình xài súng Mỹ đánh Mỹ, ăn gạo Mỹ đánh Mỹ, họ làm như vậy là đúng chớ sao bà ?
Bỗng nghe tiếng e e xa xa. Bà Tám bước xuống đất chạy ra cửa la to:
- Mấy đứa coi chừng đầm già . Quần áo gom hết vô !
- Không sao đâu bác, lúc này tụi nó bị đánh ngoài Phước Long nên đổ ra ngoải tiếp viện không có lực lượng ở trong mình.
Tụi con gái từ từ vào nhà. Út Nhỡ bảo:
- Núp cho kỹ . Nó mà thấy một bóng thấp thoáng là cão đùng đó.
Tôi hỏi.
- Cão đùng là cái gì?
Ông Tám đáp trước:
- Là đầm già nó bắn rốc-kết đó mà . Hễ nghe cão tức là nó bắn rồi đó. Chừng vài ba cái tíc tắc thì nghe đùng tức là đạn nổ ở dưới mặt đất. Bộ chú em chưa bị nó cão đùng à?
- Dạ chưa.
- Cão đùng là nhẹ nhút. Nếu nó không thấy gì quan trọng thì nó chỉ cão đùng vài phát rồi đi. Vậy là may lắm. Nhưng nếu nó thấy gì lạ thì nó kêu phản lực tới.
Bà Tám xìa môi:
- Ông ở đó mà cắt nghĩa…
Vừa tới đó thì nghe tiếng văng vẳng trên không trung. Bà Tám xì một tiếng rồi ngồi lên chỗ cũ:
- Tưởng gì ai dè là máy bay quyên tiền!
- Máy bay quyên tiền trong ấp chiến lược hả bác?
- Máy bay gì mà quyên tiền trong ấp chiến lược. Đó là máy bay điêu thuyền.
- Bộ nó ca hát trên đó cho bà con mình nghe hả bác?
- Không phải đâu anh Hai ! – Út Nhỡ xen vô – Đó là máy bay tiên triền.
Ba người nói trớt hệ hết ráo quay lại cãi vui vẽ.
- Thì tao nói máy bay quyên tiền không đúng hay sao?
- Đó nghe coi có phải không.
- Đúng rồi bác, nó tiên triền.
- Ôi! quyên tiền, tiên triền hay điêu thuyền cũng nó đó chớ ai !
Ba Cấm cười:
- Điêu thuyền cũng được, nhưng đừng có giang thuyền thì thôi. Giang thuyền mà đổ bộ ở mé sông thì ở đây mình phải dông lẹ.
Tiếng loa vang vang từ trời vọng xuống:
- Đồng bào hãy tống cổ bọn Bắc kỳ xâm lược ra khỏi nhà, khỏi vùng đất của mình ở. Quân đội Cộng Hòa và đồng minh sẵn sàng đón tiếp đồng bào ra ấp chiến lược hoặc đi định cư nơi khác. Quân đội và đồng minh sẽ không chịu trách nhiệm về sinh mạng và tài sản của đồng bào nếu trong nhà và trong vùng của đồng bào ở còn có hầm hố cơ quan của Việt Cộng.
Mọi người trong nhà lắng tai nghe rõ từng tiếng một. Loa cứ lặp đi lặp lại có bấy nhiêu trong lúc máy bay lượn khắp vùng trời Nhuận Đức. Nó bay đi một lúc rồi quay lại, loa tiếp lần này với giọng khác:
- Các bạn thân mến. Tôi là Bảy Huyền, cấp bậc thượng úy đã ra hợp tác cùng chánh phủ Cộng Hòa. Nay tôi có mấy lời nhắn nhủ cùng các bạn. Bọn Cộng sản Hà Nội là những kê lừa bịp dân Nam kỳ ta. Chúng lợi dụng lòng yêu nước của dân ta để lót đường cho chúng lên ngôi cai trị xứ này chớ chẳng phải vì thống nhất đất nước hay vì hạnh phúc của nhân dân. Tôi đã hi sinh chiến đấu hai mươi năm rốt cuộc gia đình tan nát và bản thân thì chẳng được một thứ quyền lợi gì. Tôi thành thật khuyên các bạn hãy sớm tỉnh ngộ quay về với Quốc gia.
Tiếng loa quyên tiền lồng lộng vang vang cả một vùng trời vùng đất. Cả nhà vễnh tai nghe rồi nhìn mặt nhau. Tôi không dám nhìn thẳng ai. Chính tôi cũng có nghe xầm xì vụ Bảy Huyền nhưng ở trên giải thích rằng anh ta bị biệt kích bắt cóc chứ không phải hồi chánh. Trường hợp Hai Tốt trưởng ban kinh tài của Quân khu nơ mười triệu bạc nhảy ra thành cũng được giải thích như vậy.
Tôi phá tan bầu không khí nặng nề:
- Có em nào biết ông này không?
Út Nhỡ đáp.
- Có! Hồi nẵm ổng cặp với bà gì kháp rượu ở chợ An Nhơn Nghe nói ổng bị kỷ luật, ổng ở nhà luôn và sau đó rồi hai ông bà biến mất. Ít lâu sau nghe đồn ông ra thành.
- Bậy quá ! – Tôi ném mấy tiếng phong long.
Hồi ở Trường Sơn tôi cũng bị vụ này một lần. Không biết ông trung đoàn phó nào đó bị biệt kích bắt hay tự thú mà cũng lên mây xanh quyên tiền xuống mặt đất cái kiểu này. Giữa ban ngày mà nghe loa vọng xuống muốn rởn tóc gáy. Bây giờ lại tái diễn. Con đầm già điêu thuyền trên một tiếng đồng hồ rồi trước khi đi lại còn hát: Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào! Út Nhỡ bảo:
- Tụi nó chiêu hồi mình đó, bịt tai lại, đừng nghe!
Út Nhỡ đưa tay bịt, nhưng bỗng một miếng giấy rơi ngay trước sân. Bà Tám chạy ra lượm. Út Nhỡ bảo:
- Triền đơn đấy, đừng coi. Chỉ anh Hai được xem thôi.
Bà Tám đưa tờ truyền đơn cho tôi. Tôi liếc sơ qua thì thấy giống in như truyền đơn tôi gặp trên Trường Sơn: Mặt trước in bảy lá cờ đồng minh và lời kêu gọi Cộng Sản về với Quốc gia. Mặt sau hình một viên chức quốc gia bắt tay một cán bộ Cộng Sản và giơ tay trỏ đường đi. Tôi nói:
- Để anh đem về cho chú Sáu Huỳnh.
Bảy Nề cười:
- Nó rãi khắp đồng chớ phải một tờ sao anh? Những đâu có ai theo nó.
Ba Cấm tiếp:
- Mình phải ở lại chiến đấu, để chừng giải phóng xong chú Tám Quang cho đi đại học nữ sĩ quan chớ!
Đang bàn tính việc học đại học thì một cái xe đạp rườn tới ngoài sân. Tôi giật mình, con chích chòe này mình đi đâu nó cũng tìm tới. Tướng con bé Ua, ai dè không phải. Con bé học đại, nữ phóng viên Nhã Nam!
Nhã Nam bước vào giơ nón chào và hỏi:
- Có anh Dương đình Lôi tân trường ban H6 đây không các chị?
Phượng hất mặt trả lời.
- Không có Lôi liếc tân cựu, H6 H7 gì hết á !
Tôi hỏi:
- Có việc gì vậy?
- A kìa, anh Lôi ? Ông Chín Lộc nói anh ở đằng quán. Em lại đó không có anh, cô bé chỉ hướng này. Ối giời! may cho em quá. Nếu không gặp anh, em sẽ bị khiển trách.
- Việc gì mà dữ vậy?
Nhã Nam lột chiếc nón tai bèo quạt quạt và vừa thở hỗn hễn vừa tiếp:
- Chú Tám Quang bảo em đến phỏng vấn anh.
- Phỏng cái gì?
- Phỏng vấn đề đại hội trên đó.
- Dưới này đâu có báo chí, phỏng để làm gì?
- Em đâu có biết. Chú bảo thì làm.
Mấy nàng dũng sĩ lườm lườm cô phóng viên. Họ có thành kiến với đài Giải phóng và đài Hà Nội từ lâu vì hai cơ quan này đã phóng đại thành tích của họ quá cỡ. Nước lã khuấy nên hồ như tường thuật những cuộc đấu tranh chánh trị, nữ anh hùng chị Tư Cầu Xe, nữ dũng sĩ Năm Cội, Tư Gừng, Bảy Mô.. . . cho nên khi nghe nói tới báo chí thì họ không thích. Họ cứ luôn luôn nhắc lại cái vụ quay phim địa đạo chiến của Bọ Chét để chế diễu, tôi phải đàn áp họ mới ngưng. Tôi đành tránh né bằng cách giới thiệu đội dũng sĩ của Út Nhỡ. Nhã Nam nói:
- Nếu vậy để em làm một cuộc phỏng vấn tập thể !
Nhã Nam móc trong ba lô ra một cái máy ảnh dọa chụp hình nhưng bà Tám và các cô dũng sĩ vừa trông thấy thì lẩn tránh, tôi gọi thế nào cũng không trở lại. Tôi bèn hỏi Út Nhỡ, Bảy Nê và Ba Cấm thì cả ba nàng đều nói một kiểu rằng họ không muốn chụp hình vì sợ rủi bị bắt ra ngoài đó tụi nó nhìn được mặt thì chết. Nay mai rủi nó làm ấp chiến lược hoặc đóng đồn các xã trong này thì họ không thể sống được.
À ra thế, họ chiến đấu nhưng vẫn còn tự dành cho mình một con đường sống!
Cuối cùng họ lẫn tránh luôn cả cuộc phỏng vấn mồm, nại cớ rằng gần đây họ không có thành tích gì. Thế là cô phóng viên chỉ còn có một mình tôi. Thấy trời tối, đoán rằng cô phóng viên chưa ăn cơm nên bà Tám tốt bụng bèn dọn cơm cho cô một mâm cơm gồm mắm kho cá lóc và mít luộc. Cô phóng viên gốc Bắc kỳ có lẽ đã quen ăn mắm cáy, gặp mắm đồng thì húp ngon miệng nên vo vét đến đít nồi cơm. Ăn xong, cô lấy giấy tờ ra khảo tra ông anh hùng rơm hoặc rỡm cũng thế. Sực nhớ đến cái tình yêu bất diệt, nên tôi bày kế:
- Tôi phải đem cái truyền đơn nộp cho chú Sáu, vậy mời cô về nhà bà ngoại làm việc, nếu có gì thắc mắc tôi thỉnh thị chú luôn.
Thế là tôi có lý do chánh đáng để rời cái triều đình Tây Lương Nữ Quốc này. Các cô tỏ vẻ căm thù con nhỏ nhà báo đời nhưng không thể nào giữ tôi ở lại được.
(Nhưng sau này còn nhiều keo tái ngộ ngoạn mục khác như lần chạm trán của cô xã đội phó với cô Ua. Đúng là Củ Chi đã trở thành một Tây Lương Nữ Quốc.)
Nhã Nam chở tôi về, nhưng tới quán thì tôi bảo quẹo vô để tôi mua ít bánh kẹo, để về nhà vừa ăn vừa làm việc. Nhã Nam đồng ý và đứng ngoài đường chờ tôi. Tôi vừa bước vào thì Chia đã nhào ra ôm lấy tôi khóc òa, đẫy nẩy, hờn dỗi:
- Anh đi luôn đi t Anh đi luôn đi!
- Anh đi công tác chớ đi đâu!
- Tác tác… gì… hức… hức… hức
- Má về chưa?
- Chư..a hức hức.
- Con Ua về chưa ?
- Em hổng biết.
Tôi như Từ Hải chết đứng: Rõ ràng là một cảnh vợ chồng xum họp. Ai nhìn thấy mà chẳng hiểu như thế. Chia vừa lột xắc-cốt và súng của tôi vừa trách yêu:
- Anh đi bỏ em đi luôn với mấy con lũng sĩ đó hả ? Lần này em nhất định không cho anh đi một bước.
Rồi Chia đẩy tôi vô buồng, quát khẽ.
- Đi tắm đi, mình mẩy đất cát không hè.
Tôi bước qua cửa buồng thì nghe có người đến. Chia hỏi:
- Chị mua gì?
- Ở đây có bán thuốc cảm không ạ !
- Có bán thuốc trị cảm chớ không có thuốc cảm.
Tôi quay ra thì vừa kịp trông thấy cái lưng của Nhã Nam.
Tôi muốn gọi cô phóng viên trở lại để cô phỏng vấn, nhưng Chia đã lấn tôi vào và càu nhàu:
- Con mẹ đó ai mà không biết.
- Người ta là nhà báo đó cô ơi!
-Xí!
Tôi chợt nhớ tới lời của xã đội phó nói với tôi kỳ trước Bò Cạp: “Anh khỏi cần tìm nó, nó cũng vác cái … mặt của nó tới kiếm anh?” Té ra đây chỉ là một cuộc phỏng vấn do cô ta sáng tác. Tôi bèn khất vôi Nhã Nam một ngày khác. Biết chắc Chia không cho tôi thoát ra đôi tay mềm mại của nàng nữa (lạt mềm buộc chặt) nên tôi đành ngoan ngoãn nghe theo. Tôi cố nêu ra lý do đem truyền đơn cho Sáu Huỳnh xem, nhưng nàng gạt phắc: “Tối rồi, pháo bắn thình lình làm sao?” Thế là tôi tịt luôn một cách hạnh phúc.
Tấm rửa với xà bông Cô Ba xong, tôi được uống cà phê sữa và nằm nghỉ ngơi trên thương ở giữa hầm và trong ánh mắt âu yếm của nàng. Mệt mỏi rã rời, tôi lịm đi không biết bao lâu. Tôi bừng mắt dậy khi nghe tiếng léo nhéo bên trên. Bà Chằn Lửa về tới.
- Mày ở nhà khỏe quá ha ! tao chạy qua ngã ba Cây Điệp mệt đứt hơi.
- Sao không về luôn đẳng báo cáo cho chú Sáu?
- Có anh Hai ở đây không?
Tôi nghe bước chân hậm hực bước xuống mấy nấc thang hầm, và :
- Anh Hai ! – Ua kêu lên như sảng sốt, rồi chạy ùa tới đập lia lịa vào lưng vào đùi tôi mà nghiến răng – Cứ trụ hình ở đây không thôi! Dậy đi về đằng ngoại.
Chia biện hộ dùm tôi:
- Ảnh mới đi đào hầm với mấy con quỉ về đó. Tối ngày nay ảnh không có ở nhà đâu mà ganh!
- Ganh gì! Tao nói vậy chớ mình đã giao ước rồi, tao làm lớn máy làm bé mà !
Chia hơi nhịn nhục, vả lại cũng đã được nhiều ân sủng hơn Ua rồi. Nàng nói:
- Tắm rửa, ăn cơm rồi ở lại đây ngủ. Đằng đó bữa nay chật lắm.
- Dì Tư đi thẳng Sài gòn với ba rồi. Hễ kết quả thì nội trong hai ngày có ông em tới gặp ông anh.
Chia vui vẻ trở lại. Hai đứa dắt nhau ra sau bếp với lý do để anh Hai ngủ. Nhưng tôi nào có ngủ được. Bao nhiêu thứ xoáy cuộn trong đầu. Chấn chỉnh H6. Thằng em. Gia đình. Thu Hà . Ai? Ai sẽ là v.v. .. Tôi muốn quyết định nhưng không quyết định được. Đang hoang mang thì Ua xuất hiện.
- Con Chia nó ngủ hầm kia.
- Hầm nào?
- Có một cái hầm khách.
Ua vừa tắm xong. Tóc nàng còn ướt mép, nước chảy ròng ròng xuống vai. Nàng ngồi ở chân giương với vẻ mặt nghiêm trang tôi chưa từng thấy ở nàng. Tôi dự định là vừa rồi có một cuộc cãi vã ghê gớm giữa hai con sư tử bé này. Tôi chờ đợi những lời lẽ nảy lửa. Nhưng không, nàng báo cáo công tác với một giọng lo âu:
- Nó ủi hết mặt trước Đồng Dù rồi anh ạ ! Mai mốt có lẽ nó sẽ kéo cả bầy lên Hố Bò chớ không phải loe hoe vài chiếc như ở sở cao su Bà Hộ đâu.
Tôi gắt:
- Bị Suối Bà Cả Bảy cản ngang làm sao nó chạy được?
- Xí! nó ủi sập cầu Bến Mương rồi thả ống cống lót vỉ sắt lên, ủi đất hai bên lấp qua. Chỉ vài tiếng đồng hồ là xe tăng chạy được. Bây giờ, theo em thấy thì xe tăng không xuất trận bằng ngõ trước Đồng Dù mà nó ra cửa hậu để theo đường này càn lên Nhuận Đức.
Nghe Ua kể tôi đâm ra nghi ngờ về tác dụng chống tăng của các con suối Cây Điệp, Hố Bò, Lộc Thuận v.v…
(Từ năm 1966 trở đi không có mảnh đất nào là vắng bóng xe tăng. Có nơi nó càn lướt năm bảy lần, bất chấp cả suối. Chỉ có con sông Sài gòn là nó chưa phình bụng bơi qua thôi)
Tôi cũng hơi rung rinh trong bụng, nhưng làm ra tỉnh táo:
- Nó bung ra được hay không là do mình. Nếu mình cứ co lại mãi thì nó mới làm lung.
- Ngày hôm nay từ Cây Sộp nó ủi gần tới Truông Viết vài hôm nữa nó đẩy trớt lên tới Xóm Mới rồi tới Bàu Chứa của mình. Còn ở mặt Nam thì nó bào láng từ ngã ba Trùm Tri ra đến xóm Bắc Hà qua luôn tới ấp Nhà việc rồi.
- Em đi đâu đó mà biết?
- Em đến chợ Bắc Hà mua đồ rồi sẵn đó đạp xe đi coi cho biết. Tụi Mỹ nó tường em là con nít nên không xét hỏi. Anh biết lô cao su trước cổng chính nằm giữa đường I làng và đường tỉnh lộ 8A không? Nó cũng ủi láng hết rồi. Khoảng trống trước cổng chính rộng ít nhất là hai cây số. Đứng ở chợ Bắc Hà có thể nhìn thấy người đi ở cổng chính. Xe tăng xe ủi như bù hung vậy. Bụi bay mịt trời. Máy nổ điếc óc. Lớp dưới đất. Lớp trên trời. Nội ngày nay em đếm được ít nhất là năm khẩu pháo được trực thăng câu tới. Nó còn đem nhà ráp sẵn vô nữa. Chỉ ken vách lại nháy mắt là thành cái nhà.
- Em có lẻn vô trong được không?
- Không được, nhưng nhìn qua cổng em thấy nhà cửa đường đi bên trong giống như là thành phố. Có tới bốn cái lầu nước. Cái nào cái nấy cao nghệu ở trong này mới ló ra là đã trông thấy rồi. Có lẽ tụi nó định ăn đời ở kiếp đây sao anh?
- Ở sao được mà ở ! Mình phải đánh tụi nó văng ra chớ.
Ua thở dài não ruột:
- Chắc em chết quá anh ạ !
- Gì mà em bi quan vậy.
Ua lặng thinh hồi lâu rồi nhìn tôi bằng cặp mắt của một con vật đang bị một vết tử thương van lơn cầu cứu:
- Chú Sáu bảo em vào do thám Đồng Dù.
Tôi ngồi bật dậy.
- Hả? Do thám Đồng Dù?
Ua khẽ gật.
- Không có ai khác sao?
- Có, nhưng những người đó hết rồi.
- Nghĩa là sao?
- Là bị Mỹ nó mua hết hoặc bị Phượng Hoàng phát hiện cũng vô hiệu hóa luôn. Do đó chú Sáu muốn cấy em vào!
Tôi thấy bị đụng chạm đến cá nhân tôi, nhưng vì không tiện nói nên đành lặng thinh. Ua tiếp:
- Vô nhởn nhơ ở trỏng thì làm sao khỏi bị tụi Mỹ. Anh cứ tin đi, không có đàn bà con gái nào vô làm ở trỏng mà an toàn. Không này cũng nọ. Ở trong đó nghe nói có bà phước nuôi con mồ côi nữa mà.
Tôi thấy xót xa thực sự. Tụi to đầu luôn luôn hô hào giải phóng vinh quang, nhưng trên đường Trường Sơn chẳng bao giờ có bóng dáng lũ con cháu của Trung ương đảng và chánh phủ. Chúng được đi Liên Xô Tiệp Khắc để sau này vác bằng kỷ sư, tiến sĩ về nối tiếp sự nghiệp của ông cha chúng. Rốt cuộc thằng dân đen cũng bị hi sinh để chẳng được xơ múi gì.
- Em yêu cầu anh một việc nhé.
- Sao bữa nay em làm ra người lớn vậy.
- Không gì làm người ta lớn bằng một niềm đau khổ lớn.
Tôi nghe lùng bùng lỗ tai. Câu thơ đó của Hugo, sao Ua biết và lại nói ra trong lúc này. Ua bình tĩnh tiếp:
- Hôm nọ anh đòi, em từ chối nhớ không?
Tôi lắc. Ua tiếp với giọng nghẹn ngào.
- Em bảo chỉ khi nào em là vợ anh thì anh mới được! Nhưng bây giờ em yêu cầu anh ! Em tặng anh tất cả . ..em em…
Ua đứng phắt dậy từ từ bấm từng chiếc cúc áo rồi tự biến thành một bức tượng thần Vệ Nữ lung linh trước mặt tôi. Nàng đưa quả đào tiên ép vào mặt tôi và nói với giọng bình tĩnh lạ thường:
- Yêu em đi anh, đừng để muộn.
Tôi ôm quàng lấy nàng như cuộn cả vào lòng đau khổ và hạnh phúc của cả thế gian. Cô gái bé bỏng lọt thỏm vào lòng tôi như một con chim non, nằm im, chỉ rên rỉ, chờ đợi, ước mong bị vặt lông bóp họng, như tên tử tội chờ đợi lưỡi dao hạnh phúc rơi xuống cổ mình. Trước đây khi nàng cưỡng lại thì tôi hậm hực đòi hỏi, nhưng bây giờ nàng không chống cự mà lại xuôi tay thì tôi lại đâm ra lựng khựng ngỡ ngàng. Tôi chỉ ôm riết thân hình non mềm của nàng . Còn nàng thì hầm hập đòi hưởng những phút giây trần đời.
- Yêu em đi kẻo muộn!
Và làm những cử chỉ yêu dùm tôi đối với nàng. Nhưng tôi vẫn cảm thấy thế nào ấy. Xót xa đau đớn cho đời một cô học sinh sắp bị ném vào hang sói. Nàng gắt:
- Anh khinh em hả ?
- Không phải đâu em.
- Nhưng tại sao anh lạnh nhạt với em thế. Em tự vận cho anh coi!
Nàng vùng tuột ra chạy vút đi lên. Tôi còn đang ngày ngật thì nàng trở lại với cái giỏ xách trên tay. Nàng đặt trên giường. Tôi vội ôm nàng và quật xuống sợ cái hạnh phúc cụ thể kia biến đi lần nữa. Nhưng lần này thì nàng lại xô tôi ra một cách quả quyết. Thôi rồi, cái thời cơ ngàn năm một thủa đã biến mất. Tôi đang có chút ân hận thì nàng rất bình tỉnh thò tay vào cái xách lôi ra từng món một như kẻ buôn bán trưng ra những món hàng ở vỉa hè, chỉ khác là nàng không có tí vải dính da. Tôi giật mình khi thấy nàng móc ra một khẩu súng nhỏ xíu không có bao.
- Em làm gì vậy Ua?
- Để yên em triển lãm hết cho anh coi!
Rồi nàng lấy thêm một chai rượu nhỏ bằng chai xá xị. Sau đó là một chiếc máy ảnh.
- Đây là những món em mua ỡ chợ Bắc Hà . Em thuê một ông dân vệ đem lọt qua trạm gác hờ. Rượu này là rượu tân hôn, máy ảnh để chụp hình lúc anh yêu em còn khẩu súng là để công tác hoặc để tự sát.
Nàng nhìn tôi trăn trối, và với giọng thều thào đứt quãng:
- Vợ chồng chỉ một lần thôi rồi xa nhau mãi mãi. Em đi vào cuộc phiêu lưu không có chút may mắn nào. Còn anh chắc cũng không sống được bao lâu nữa.
Nàng lấy con dao sáu lưỡi mở cái khoan rút nút chai rượu ra, kề vào miệng tôi.
- Uống đi anh rồi yêu em, rồi chúng mình cùng chết. Ôi mồ êm của ta là giường cưới.
Nàng ngửa cổ ra ực ực.Tôi ngã nàng xuống định làm chàng kỵ sĩ đường dài. Bỗng nàng ngồi bật dậy, chạy vút đi. Một chập nàng trở lại với Chia. Không nói gì hết, nàng thoát y toàn bộ cô em họ của nàng. Chia không lấy làm lạ, không một cử chỉ nhỏ phản đối. Ua chụp máy ảnh lên phim và đưa cho Chia:
- Chụp mười . Chừa mười . Biết chụp không. Kê lên mặt bấm bấm như vầy !
Tôi cứ ngồi trân trân trước sự diễn biến trong mấy phút. Ua nằm trải người ra trên giường như một mảng tuyết trên đó nhô lên những ngọn đồi trúc lưa thưa run rẩy trước một cơn gió nhẹ. Ua bảo:
- Hôm nay mình sống một cuộc sống đã đời, để rồi mai có chết không ân hận. Chụp tao với ảnh đi.
Nàng quàng tay lên cổ tôi kéo xuống. Tôi không còn lý do gì để chống trả. Nàng bảo:
- Anh yêu con Chia rồi. Em biết. Bây giờ em muốn được anh yêu. Em muốn có những tấm ảnh để khi em nằm trong tay kẻ khác em sẽ lấy ra giơ trước mặt em.
Chia bấm máy và tôi làm mọi việc theo lời nàng bảo cho đến khi nàng không còn bảo gì được nữa mà chỉ siết lấy tôi. Xong nhiệm vụ tôi lại được lệnh tiếp tục chiến đấu. Nàng bảo:
- Chia, bây giờ tao chụp mày !
Nàng ngồi bật dậy giật máy ảnh và xô Chia lên giường. Chia chống trả sơ sơ rồi nằm xuống bên tôi. Ua bảo:
- Đừng có làm bộ. Tao biết mày đã làm gì ở nhà rồi!
Ua bấm máy. Nàng kê sát những vùng hiểm địa của chúng tôi mà bấm. Tôi thấy còn đầy đủ hùng lực nên vừa xuống dốc lại leo lên ngay.
Cuộc sống ở đây vô cùng tân nhẫn. Cái sống và cái chết xoắn lấy nhau. Vừa mới chui từ âm phủ lên thì lại gặp thiên đàng. Rồi cũng có thể là đang vũ khúc Nghê Thường với tiên nữ, một trái pháo rơi ngay. Tôi tưởng như thế là tận cùng của sự ngông cuồng của một Xuyên Đảo Phương tử tí hon Việt Nam, nào ngờ nàng cất máy rồi nằm bên cạnh tôi bắt tôi phải chèo một lúc hai chiếc thuyền.
- Hai đứa em đều là vợ anh cả, chẳng đứa nào ghen. Và sau đây em giao anh hoàn toàn cho nó. Em không biết còn có dịp gặp anh nữa không. Em vào Đồng Dù làm việc cho chú Sáu thì phải hi sinh. Em có thể thành công hoặc thất bại, nhưng chắc chắn là em mất hết cuộc đời. Em có thể giết chúng rồi tự sát hoặc bại lộ cơ mưu rồi chúng nó giết em. Tất cả em đều dự tính trước hết.
Nàng và Chia ôm cứng tôi. Ua cứ nảy ra những ý kiến lạ lùng. Nàng bảo:
- Anh gọi em và Chia là vợ đi.
- Ừ, vợ !
-Anh phải bảo Ua là vợ lớn. Chia vợ bé . Chịu hôn Chia?
- Chịu. Gì em cũng chịu hết miễn anh Hai ở với chúng mình thì thôi.
- Mày phải giữ ảnh để mấy con lũng sĩ bắt hồn bắt xác mất.
Tôi bảo:
- Không có ai bắt anh được hết. Nhưng anh phải đi công tác với người ta. Mấy em đừng nói vậy.
- Không nói vậy thì nói sao? Tụi con Phượng, con Phương, con Lan đầu quăn, con Ba Cấm, rồi chị Bảy Mô nữa, ai ai cũng hầm hầm muốn giựt anh hết, anh tưởng em không biết sao?
- Thì bây giờ muốn phanh thây xé xác gì thì làm đi!
Chia lặng im từ lâu, bây giờ mới mở miệng:
- Em sẽ nhốt . . .
Bỗng cộp cộp. Tiếng gõ cửa vang ở phía trước. Rồi tiếng đập càng gấp. Chia nghiêng tai nghe. Tôi giơ tay lên xem đồng hồ. Thời giờ đi quá nhanh. Có tiếng người ơi ới. Ua nháy Chia có ý bảo cứ làm thinh.
Chia vừa mặc y phục vừa chỉ chỏ vào cửa hầm. Mặc quần áo xong, Chia lấy lược chải tóc rồi thổi tắt đèn trước khi bước lên. Chia đi ra cửa quát:
- Ai?
- Mở cửa cho mua đồ.
- Khuya rồi mua gì?
- Nửa đêm cũng phải mở.
Tôi nghe tiếng làu bàu của Chia rồi tiếng cửa nghiến chầm chậm. (Chỉ tới đó thôi. Còn từ đó về sau tôi ghi lại nhờ Chia kể.)
Một người đàn ông bước vô . Theo sau là Út Nhỡ. Út Nhỡ hỏi Chia:
- Có anh Hai ở đây không?
- Anh Hai nào tôi không biết.
- Đây là công tác, không có giỡn nghe cô quán!
- Tui có giỡn gì đâu. Lúc nảy có chị Nhã Nam dắt một người tới đây mua đồ rồi hai người dẫn đi.
- Mày làm bộ không biết chồng của mày hả? Cơ quan không có cho cán bộ cao cấp cưới thương buôn đâu nghe. Đừng có lấp lững. Chị Nhã Nam mới đến nhà bác Tám gặp tụi tao bảo là mày bắt ảnh giấu trong nhà. Giấu ở đâu?
- Đó ai có nghi thì cứ xét.
Út Nhỡ trỏ người đàn ông, và lườm mắt nhìn Chia:
- Đây là ông tham mưu trưởng quận đội ở trên cử ổng xuống dự lễ khai mạc lớp học. Chỉ còn thiếu ông thầy pháo. .
- Tôi hổng biết.
Út Nhỡ đi thẳng ra sau bếp mở cửa. Một đám nữ du-kích tràn vào. Út Nhỡ bảo:
- Các cậu cứ tìm. Nếu có anh Hai ở đây thì chủ quán phải kiểm thảo.
Bảy Nê, Phương, Phượng, Lan đầu quăn đi rảo rảo chung quanh và liếc vào lòng hầm nhưng không dám chun xuống.
Chia lấy đèn pin đưa cho Út Nhỡ và bảo:
- Các bà cứ tự tiện xuống hầm coi.
Hai ba cô mạnh dạn xông vào, một chốc rồi ra. Bảy Nê lắc đầu:
- Chỉ có con Ua nằm ngủ.
- Chị ấy mới đi công tác về . Đằng nhà chỉ có khách đông nên chỉ lại đây ngủ nhờ.
Út Nhỡ nhìn ông tham mưu trường quận đội. (Sau này khi tôi về H6 gặp lại, chằng ngờ đó là bồ nhà ở ngoài Bắc, hai đứa cười với nhau đã đời.) Ông này bảo:
- Bây giờ cũng khuya rồi khai mạc không kịp, vậy để ngày mai.
Út Nhỡ và các nàng tỏ ra tức tối nhưng không làm gì được bèn kéo nhau đi. Chia cài cửa, xuống hầm bảo Ua:
- Tôi sợ chị giấu ảnh không kịp. Thôi, giải phóng cho ảnh đi!
Ua xua tay.
- Khoan đã ! Coi chừng tụi nó còn rình ngoài hè .
- Thì mình đừng có nói chuyện nữa.
Tôi đang ngồi co ro dưới hầm thì nắp hầm bật lên. Cái hầm này ăn thông ra sau vườn. Trong lúc các nàng ở trên thì tôi đã bò thử theo lòng hầm một quãng khá xa. Chia rọi đèn xuống. Tôi trồi lên, thở phào:
- Xe tăng rút hết rồi hả ?
Ua đưa tay bịt miệng tôi, trỏ ra phía ngoài, ý bảo có người rình. Tôi đã lên khỏi hầm chìm, nhưng hãy còn ở giữa hầm nổi, nên vẫn thấy bực bội. Mới ở dưới đó chưa được một tiếng đồng hồ mà cảm thấy như đã cách khỏi thế gian hằng năm. Vậy mà người ta bảo bộ đội nghỉ dưỡng sức dưới đó là dưỡng cách nào? Chỉ dưỡng khí thôi cũng không đủ nữa là. Nhưng nhờ cái hầm và cái ngách địa đạo con này mà tôi chém vè khỏe ru. Mặc cho nhà báo đi tìm phỏng vấn, mặc cho đội dũng sĩ và ông tham mưu trường thỉnh cầu. Đó là sinh lộ của Sáu Huỳnh. Ông ta đã từng sống cảnh Thiên Thai này với dì Tư nên đề phòng mọi bất trắc. Nếu bom bỏ cháy nhà hoặc Mỹ đóng chốt thì có lối thoát. Chẳng ngờ bây giờ tôi lại đi trùng dấu của ông anh. Thấy tôi sốt ruột muốn xuất hiện, Ua bảo:
- Anh không lo hết Mỹ đâu. Chúng nó vô đen cả Đồng Dù rồi. Xe tăng như bọ hung đấy. Em quên cho anh hay là ngày nay xe tăng càn một lúc ba điểm: Rừng Tre, Bùng Binh và Đồng Chà Dơ.
- Có đánh bật được hầm hố gì không?
- Khi nào lại không?
- Ông Sáu Huỳnh định làm gì mà cấy em vô đó?
- Ổng bảo vô được đã rồi sẽ giao công tác sau. Anh cứ yên tâm ở với chúng em. Sợ rồi đây anh không còn có dịp nào như bữa nay nữa đâu. Em biết trước rằng anh không có cưới con Chia hoặc con Ua này. Em biết anh cũng yêu hai con nhỏ ngu đần này nhưng không bằng chúng nó yêu anh. Nhưng mặc kệ, thấy yêu là yêu không nên đòi hỏi người ta phải yêu mình bằng mình yêu người ta.
Tôi sống trong động Thiên Thai đó không biết một ngày hay một năm nữa. Lúc nào hai nàng tiên cũng quấn quít bên tôi. Hễ Ua đi công tác thì có Chia. Hai chị em không tỏ ra ghen hờn gì hết mà trái lại rất vui sướng. Hai nàng đã cho tôi tất cả và đòi ở tôi tất cả, cả những điều lạ lùng làm tôi phải ngạc nhiên. Nếu nói địa đạo Củ Chi là thần thánh thì đó là cái địa đạo trong quán này. Có thể sánh bằng một trăm năm của Lưu Nguyễn chăng?
Than ôi! Thúy Kiều, Thúy Vân? Kim Trọng và những nhụy đào…?
Xưa chia ly rồi tái hợp: Đi với đảng, đừng hòng!








Chương 46
Gọt xương Cao Đài làm cà rá đeo chơi

Sáu Huỳnh vừa đi vừa nói với tôi:
- Sao vô ngàm rồi hả mậy ? Đêm bảy ngày ba vô ra không tính hả? Hí ..hí… mày có số đào hoa từ hồi nhỏ, nhưng lận đận hoài hoài.
- Chơi choi vậy chớ rồi trớt he thôi anh Sáu ơi ! Hai ba cô một lúc rốt cuộc chẳng cô nào.
- Nghe nói thằng cha mặt rỗ muốn bắt mày làm phò mã hả?
- Tôi không chịu ở trong cái triều đình R đó đâu. Ba-ke không hà. Mình chơi không hợp rơ.
- Ở đâu lại không có Ba-ke? Nam cờ là thuộc địa của Bắc cờ. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi. Giải phóng rồi mày sẽ thấy cái chân lý đó một lần nữa. Lót đường : Nam cờ . Dựng ổ đẻ: Nam cờ. Ăn muối: Nam cờ. Đội B52: Nam cờ và Bắc cờ. Cổ dọn ra: toàn thể Bắc cờ xực ráo. Địt mẹ! Xong cuộc tao về làm ruộng.
Tôi đoán cái bụng bất mãn của anh phải to bằng bồ. Quận đội trưởng năm 1947, 1964 vẫn thượng úy, trong lúc những kẻ cấp dưới anh đã là trugn tá, thượng tá.
- Tao xì ra với mày thôi, nghe chưa?
- Tôi hiểu, tôi hi…iểu mà anh Sáu!
- Rồi bây giờ mày định cưới đứa nào, con chị hay con em?
- Duyên chị mà lại tình em. Tơ xe lộn mối.
- Bậy mày. Mày lấy mật con người ta rồi quất ngựa chuối dông hả?
- Tình hình này, anh bảo tôi làm sao?
- Thì cưới rồi để cho nó ở với má nó, lâu lâu mày về tẩm bổ vài ngày rồi đi.
- Cái Củ Chi rồi cứ như thế này mãi sao anh?
- Tới đâu tính tới đó, ăn chuối đâu cần lột cả trái mới ăn. Tao nay mai rồi chẳng ở đây nữa đâu.
- Sao vậy anh?
- Không hợp rơ với thằng mắt toét. Ở trên có tin tụi dưa hấu mình bao giờ. Mày không biết hay sao? Nam kỳ mình toàn lãnh chức phó cối, phó nhòm, phó cạo. – Sáu Huỳnh. xoay qua vụ thằng em tôi – Kỳ này tuy móc không được nhưng mày cũng đã nhẹ trách nhiệm rồi. Mày đã viết thơ, mấy chả đã biết địa chỉ của nó, vậy móc được hay không là do mấy chả, không phải do mày. Tao cố gắng đưa nó ra đây cho mấy chả gặp là tao phủi tay luôn.
- Anh không dự vô việc này sao?
- Thằng mắt toét lo. Nó không tin dân Nam kỳ. Vậy càng tốt! Nếu thất bại nó không đổ cho tao. Tình anh em tao nói riêng với mày đó.
- Anh bảo tôi nên thế nào?
- Thì tao đã nói hôm trước rồi.
Hai người quẹo vào nhà dì Chín Bánh Bò. Sáu Huỳnh bảo:
- Đây là cơ sở của thằng mắt toét. Bà ta thứ hai, nhưng bây giờ cả xóm kêu là dì Chín vì bả bồ của Chín Lộc. Bà ta có tới bốn đứa con gái có tên hay lắm Suối, Trong, Xanh, Biếc. Chồng bị cà-nông chết hồi năm ngoái. Bà ta muốn dời ra ấp chiến lược Cây Bài, nhưng mắt toét ngăn cản. Bốn đứa nhỏ coi cũng khớ khủm. Con Xanh đẹp lắm. Nó mà ăn mặc khá lên thì chẳng thua gái thành. Mắt nó sắc, mày nó cong lá liễu mày ạ . Hổm rày có đứa qua bên này coi mắt lén mày nhưng mày bị nhốt đằng quán. Bữa nay mày qua tụi nó mừng lắm.
Hôm trước tôi có xung phong bắt được một con chồn. Nó lọt xuống hầm bí mật. Hầm này bị bay nắp vì loạt đạn đêm nhậu ở nhà bà ngoại. Con chồn hoảng hồn bò lang thang nên rơi xuống hầm không lên được. Dì Chín Bánh Bò ra vườn thấy hầm mất nắp bèn ngó xuống thấy con chồn cho Chín Lộc hay. (Hầm này của Chín Lộc.) Chín Lộc sợ để miệng hầm tô hố người ta trông thấy, nhưng y lại không dám xuống bắt. Y cũng không cho đám thanh niên trong cơ quan biết, nên gọi tôi đến. Tôi đến thì cả nhà lẫn cơ quan bu lại xem, thành ra bị bật mí hoàn toàn. Chín Lộc phải đào cái hầm khác, vất vả vô cùng. Cho nên y nổi cáu gọi con chồn là chồn lùi. Bữa nay cả cơ quan làm thịt nhậu.
Vào đến nhà thấy Chín Lộc ngồi hút thuốc mũi phì khói như tàu dầu. Thấy tôi và Sáu Huỳnh vào, Chín Lộc quay vào trong, bảo suông suông:
- Đứa nào đem ra đây vài cái bánh bò coi!
Một cô gái xinh xắn, mặc bà ba đen cổ trái tim cầm dĩa bánh bước ra để trên bàn, không chào hỏi gì cả rồi trở vô. Sáu Huỳnh nháy tôi. Tôi biết ngay đó là cô bé anh vừa đề cập tới. Mắt toét cũng tinh lắm. Y cười khè khè, diễu cợt bằng giọng Bắc:
- Nhà cháu có những bốn cháu cơ đấy ạ, anh có một cháu giai làm sao cho xuể ạ !
Sáu Huỳnh liếc thấy phía trước không có ai bèn đáp cũng bằng giọng Bắc:
- Dạ, cháu giai bé cuỗm cô nào thì cuỗm, còn nại bao nhiêu cháu giai lớn xin nôm cả ạ ?
- Ối giáo… thế thì không được đâu ạ !
Vừa đến đó thì dì Chín xuất hiện. Vừa trông thấy tôi, dì thốt lên ngay:
- Chú em này đây hả?… Hèn chí! Hổm rày tôi nghe cả xóm bàn tán… Coi tốt tướng quá.
- Bà coi chọn đứa nào gã cho chú ấy đi. Con Suối, con Trong, con Xanh hay con Biếc? Con Biếc thì chưa tới tuổi, vậy ba đứa lớn phải chọn một đứa, để mụ chủ quán bắt rể đó.- Chín Lộc nói một hơi như chủ gia đình – Bánh bò rễ tre thật khéo đem ra thêm vài cái nữa đãi khách.
Dì Chín háy ông tình nhân Bắc kỳ:
- Mấy ông đi làm thịt con chồn đi. Mấy đứa nhỏ không.dám cắt cổ đâu!
Sáu Huỳnh nháy tôi:
- Chỉ có mày là anh rũng vậy thừa thắng xông nên đi! Kẻo nó nùi mất.
Vừa lúc đó thì Út Biếc đi đâu về. Thấy tôi nàng khựng lại rồi chạy tuốt vô bếp. Tôi đi ra sau. Sáu Huỳnh cũng đi. theo. Anh nhìn mấy chị em đang xúm quanh lò hấp bánh và nói:
- Đây là cái người bây háo hức được biết hổm rày, bữa nay tao dẫn đến cho bây coi mắt đó. Hễ đứa nào ưng thì trầu rượu nói với tao, tao đứng ra làm lễ tiên bố cho!
Cô Ba nguých, cô Tư lườm, cô Năm dãy nãy, chỉ có cô Út Biếc là điềm nhiên:
- Con gái gì coi mắt con trai, con trai coi mắt con gái mới phải chớ bác Sáu..
- Ừ thôi, ai coi ai cũng được! Cháu đi lấy con dao thiệt bén đưa đây.
- Chi vậy bác?
- Cắt cổ con chồn, cháu có sợ không?
- Sợ gì mà sợ. Mấy ông Việt Minh đập đầu chôn sống Cao Đài ở trong Bàu Lách còn không sợ kìa.
Sáu Huỳnh gạn ngang.
- Hồi đó mày mấy tuổi mà mày biết?
- Cháu mới nghe anh Năm Cội nói kìa. Ảnh nói mấy ổng đập riết mỏi tay, mấy ổng chỉ cầm búa quất ẩu bất kể trúng trật, rồi đạp xuống giếng, thành ra chưa chết, lấp đất lại ở dưới rên hừ hừ, ghê quá hà.
Dì Chín nạt:
- Mày biết gì nói chuyện người lớn?
- Ba con Chia cũng vô Cao Đài bị đập phải không má?
- Tao hổng biết!
Út không sợ thất chính trị, cứ hỏi tới:
- Sao người ta đập Cao Đài vậy má?
Dì Chín bỏ đi và nói:
- Ai biết đâu, hỏi bác Sáu mày kìa.
Sáu Huỳnh bị kẹt bất ngờ nên bỏ đi lên nhà trên. Anh thừa biết đây là công tác của ông Ba Tô Ký và ông Hai Bứa hồi 46-47. Mấy ổng cho bắt hết tín đồ Cao Đài mà mấy ổng gọi một cách miệt thị là dân một mắt ở miệt Cầu Xe Trảng Cỏ, Lộc Thuận. Đêm nào cũng xỏ cả xâu đàn bà con nít đem vô những lô cao su hoặc rừng Trà Dơ, Bà Thiên, Bàu Lách đập đầu quăng xuống giếng nhà mũ. Tiếng kêu la thảm thiết hằng đêm, rúng động cả vùng. Có nhiều người trồi lên được bò vô xóm van xin tha chết, nhưng cán bộ Việt Minh bắt bỏ vô bao bố dồn đá xanh vào rồi đem ném xuống sông Sài gòn.
- Việt Minh là cái gì ác vậy bác Sáu?
- Ai biết đâu, lên hỏi bố Chín mày ấy!
Út móc trong túi ra một chiếc nhẫn trắng tinh. Chín Lộc vừa đi xuống nhát trông thấy, reo lên:
- Con bé bắt được nhẫn ngà voi ấy à? Đưa bố xem tí !
- Không phải ngà voi, xương Cao Đài đó !
Chín Lộc thét lên.
- Hả ! mày nói gì?
Sáu Huỳnh ngoảnh mặt, tôi đứng lặng câm, còn Út thì thao thao kể tới:
- Anh Năm Cội cho tôi một chiếc đây. Ảnh bảo đây là xương Cao Đài thật mà . Nó linh lắm. Ai đeo nó súng bắn bom nổ đều trớt lớt hết: Còn ma quỉ đi lánh xa . Té sông cũng không chết.
Tên Nam kỳ giải phóng và tên Bắc kỳ xâm lược cảm thấy nhột nhạt nên rút lui. Chỉ còn tôi ở lại đối đáp:
- Có thật linh không?
- Anh Năm Cội nói vậy mà. Nếu anh muốn em chạy qua xin cho anh một chiếc.
- Xương ở đâu mà ảnh có vậy?
- Ảnh nói ảnh với anh Hai Coi đào hầm bí mật ở bên Bàu Lách đào trúng một cái giếng lạn gặp xương chồng chất như củi, lớp dài lớp ngắn, lục cục lòn hòn. ảnh nói ảnh ớn quá ảnh có lượm được mấy cái răng vàng, một chiếc cà rá có khắc tên, một chiếc bông tòng teng, một cái móng cọp. Ừ chắc là móng cọp bùa đeo cổ con nít cho khỏi bị con sát bắt. Anh Năm Cội bảo nếu moi sâu chắc còn nhiều nữa, nhưng sợ công an thấy ảnh có vàng rồi nghi ngờ nên ảnh lấp lại để hòa bình sẽ đào lên lấy cho hết, ảnh chỉ lấy mấy khúc xương đem về nhà, một số ảnh cho em ảnh ở công trường làm cà rá, một số ảnh giữ lại cũng làm cà rá . Mấy ông Sáu Mả Tử và Năm Đầu Ban ở trên Hố Bò thường hay đi đào bom và đầu cà-nông lép với ảnh nghe ảnh nói cà rá linh nên cũng xin ít khúc đem về làm.
Tôi nhớ những khúc xương ở dưới rể bụi trúc hôm qua. Dưới trào Việt Minh thịt da người làm phân bón cho cây. Còn xương thì không tan cũng như tội ác còn lưu truyền trên miệng người thế gian.
o O o
Thịt chồn chỉ ướp nghệ xào lăn với củ hành tàu là ngon nhất. Ăn thịt rừng nhớ rừng, nhớ trường Trung Sơ nơi có thằng Hùng Cối, nhớ trường pháo có Bùi Khanh tay thiện xạ bá phát bá trúng, nhớ vụ thằng Châm bắn chết thằng Liêm trong một buổi săn đêm, nhớ tụi con Tiến con Huê, nhớ thằng cuBình, nhớ Mai Khanh đóng kịch câm thiệt tài tình. Nhớ dài dài tới Xóm Mới, nhớ quẹo sang bà khu ủy viên cô độc đa tình. Trạm giao liên của anh Liên khu nem là giới tuyến giữa rừng và đồng bằng. Nhớ Chín Hung người Bến Tre có vợ trong ấp chiến lược. Không biết cô bé Thanh còn ở dưới cái hang chuột ngập nước đó không? Bao nhiêu kỷ niệm gần xa tự nhiên ùn ùn trở về trong đầu pha vào ly rượu vừa cay vừa ngọt vừa làm cho tâm trí ngây ngất vừa làm cho nó tỉnh tuồng. Nó như tấm kính trong veo lộ rõ những bước chân tôi trên quãng đường gian lao vô tả từ Hà Nội về đây. Thằng Trần Chánh Lý ngồi chết ngon lành bên gốc cây rừng Trường Sơn.
Cứ sau mỗi bữa tiệc thì sự đời cứ mất, cứ xa thêm: tình bạn, tình yêu và những hi vọng càng ngày càng mờ mịt. Sau tiệc này cái gì sẽ đến? Trước mắt là sẽ phải xa Chia và Ua, xa Sáu Huỳnh là người anh đồng hương có nhiều tâm sự và dám bảo tôi những chuyện trật đường rầy. Xứ này tôi không có ai, ngoài Tư Linh. Bỗng nghe tiếng réo vang ngoài sân:
- Anh Hai có đó không?
Tôi biết ngay là bà chằn con. Ua đi vô với bộ mặt hớt hãi nhưng không quạo quọ như mấy lần tìm gặp tôi ở đằng quán.
- Vô nhậu áp-sanh nè nhỏ.
- Chồn a a… phải không? Chú Tư Minh bảo là ở đằng này đang làm thịt nó, cháu chạy riết lại coi con chồn lùi ra sao. Chú bảo chồn này hiếm có . Đi mau, để thấy nó còn sống. Con chồn lùi đâu rồi bác, cho cháu xem chút.
Mọi người cười ngã nghiêng trước nét mặt ngây ngô của cô bé .
- Mày không biết con chồn lùi thiệt hả Ua?
- Thiệt mà, đây là lần thứ nhất cháu nghe nói.
Tôi ngoắc Ua lại, rỉ tai. Ua nhảy tưng lên, với tay đập trên lưng Sáu Huỳnh thùm thụp. Sáu Huỳnh vừa né qua vừa la:
- Con nhỏ này kỳ cục chưa . Làm gì đánh tao?
- Ai biểu chú Tư Minh trát cháu? …Cháu về cháu vặt râu chú cho coi!
Nói xong Ua quày quả trở ra thì đụng nhằm Năm Trong:
- Cô làm gì diện dữ vậy cô Hai?
- Diện gì đâu! Tao đi chợ thì phải vậy chớ bận đồ tèm nhèm đi được à?
- Thôi mà! Cô Hai lúc rày vui vẻ lắm phải không?
- Ừ đó ! Nè, đừng có bắt xác anh Hai tao nghe bốn con nhền nhện!
- Còn mày con gì?
- Con gì kệ tao miễn tao có anh thôi.
- Anh gì?
- Anh gì cũng được mày đừng xía vô.
- Anh gì mà ngủ chung với em?
- Anh yêu dấu, rồi sao nào? Bởi vậy bọn nhền nhện mày đừng có rớ vào tao bẻ càng trụi lủi đó.
Tôi nghiêng đầu ra bảo:
- Về đi em ! Anh chơi chút rồi về đằng ngoại.
Thế là cô bé lặng thinh rút lui. Sáu Huỳnh nói:
- Con nhỏ dữ quá nhưng mà được việc.
Chín Lộc lắc đầu:
- Chỉ có cao bồi Sài gòn mới trị nó nổi thôi!
Xong tiệc, chúng tôi uống trà, thì một cô bé lạ lại tới. Sáu Huỳnh bảo:
- Lại một nàng Thủy Long công chúa tới coi mắt mày.
- Ai vậy anh?
- Con Nhánh, em gái thằng anh hùng diệt Mỹ Năm Cội. Nhà nó ở xéo xéo kia cà. – Sáu Huỳnh quay lại hỏi cô bé đã đi khuất vào trong – Thằng Cội có ở bển không Nhánh?
- Dạ không, ủa có.
- Không ủa có là sao?
- Ảnh dặn cháu là ai hỏi thì nói ảnh không có ở nhà. Nhưng với bác thì cháu không nói vậy được.
- Nó làm gì ở bển, về kêu nó qua đây có chuyện.
- Dạ ảnh đang cưa bom với hai anh Mã Tử và Đầu Ban.
- Trời đất quỷ thần, cưa bom hả? Bộ nó muốn chầu trời sớm hay sao chớ !
Tôi nói:
- Lâu nay tôi cũng có nghe danh ông anh hùng, nay gặp dịp may để tôi qua xem cho biết cái công binh xường của ổng chút. Khi tôi về H6 thế nào cũng liên hệ với mấy ổng.
- Bom ở đâu mà nó có?
- Dạ ảnh đi đào ở ngã ba Cây Diệp được một trái lớn lắm, ảnh mượn xe bò chở về hôm qua.
- Ba má mày chắc tản cư hết rồi hả ?
- Dạ ảnh che chòi ngoài đồng chớ không có cưa trong nhà .
Nhánh nói xong thụt luôn. Sáu Huỳnh bảo tôi:
- Gà này mới lú hộp bắp thôi chưa đá cựa mày ạ !
Chín Lộc lắc đầu:
- Nhưng mà nó có mòng rồi. Đỏ thén đó thấy chưa ? Đá được chớ còn chờ gì nữa.
Sáu Huỳnh đang hớp nước trà bỗng đặt tách xuống bàn:
- Cha nói gì mà mòng… đỏ then, ác vậy cha?
- Thì ông nói gà, gà thì có mòng, không có mòng thì là con gì? Mòng nó đỏ tức là nó đang sung sức không đúng à?
- Gà nhưng là gà mái giò, đá gì mà đá, mòng đâu mà mòng?
Hai ông nhậu ba gù bắt đầu gài nhau vô lãnh vực tiếu lâm cho hả hơi. Chín Lộc nheo nheo cặp mắt bù lạch ăn, mí mắt đỏ lên vì men rượu, như hai con vắt nằm quanh. Y nói:
- Bộ ông tưởng hễ cái thì không có mòng, còn đực mới có hay sao?
- Đã là giống cái thì không thể có mòng được !
Chín Lộc cười khục khục rồi xoa tay:
- Để tôi chứng minh một cái định ní ngoại nệ cho ông và ông thầy pháo coi.
Sáu Huỳnh la to:
- Mấy đứa nhỏ đâu, tránh hết đi nghen
- Tránh gì, tụi nó núp trong vách rình nghe dáo chơn dáo chọi. Hì hì… Hồi xưa có hai ông bà đó mê nhau mà không lấy nhau được.
Sáu Huỳnh xỏ ngọt:
- Chắc hai ông bà đó cũng quá sồn rồi hả anh Chín?
Chín Lộc xỏ lại.
- Ừ! Có con rồi. Nhưng còn muốn thiếm xực.
- Xực lâu rồi chớ muốn gì!
Chín Lộc xua tay:
- Để tôi kể cho nghe, chuyện này mê cu xanh lắm. Bữa đó cũng nhậu thịt chồn lén như tụi mình vầy nè. Ông ấy bèn cao hứng thuyết trình đề tài: “Tất cả những con gì có mòng đều là giống đực.” Ông ta vừa nêu ra cái định lý đó thì có một bàgiơ tay phản đối: “Không nhất thiết, không nhất thiết. ” Ông ta thách thức: “Vậy thì bà hãy chứng minh xem nào!” Bà ta bảo: “Ai có xem tôi chứng minh thì hãy nhắm mắt lại, trừ một mình ông thôi. ” Mọi người làm bộ nghe theo yêu cầu của bà, nên nhắm mắt hí hí. Bà ta liền leo lên thoát y hạ bán thân và gắt hỏi: “Đây thuộc giống cái mà có mòng thì ông tính sao?” Mọi người vỗ tay hoan nghinh nhiệt liệt cho rằng đây là một phát minh mới có tính chất củng cố hòa bình thế giới.
Mọi người cười khoái trá. Chín Lộc hấp háy cặp mắt bù lạch ăn và tiếp:
- Bà ta thừa thắng xông lên lấy thịt đè người.
Sáu Huỳnh nói:
- Đâu có đè mà anh nói đè .
Chín Lộc xua tay:
-Để chốc nữa sẽ hay. Bà ta bèn đưa ra một phản đề đối lập chan chát với cái định đề của ông ta : “Tất cả những con gì có trứng đều là giống cái?” Ông ta lắc đầu: “Không nhất thiết! không nhất thiết! Tôi xin chứng minh.” Ông ta bèn leo lên bàn làm một cử chỉ cương quyết như bà kia lúc nãy và quắc mắt hét: “Con này có trứng đây, nhưng nó có phải là giống cái đâu thưa bà ! ” Thế là hai người được xem cái của quý của nhau mà không ai bắt bẻ gì được hết.
Tôi phụ họa.
- Lại còn ham!
Sáu Huỳnh hớp miếng trà tiếp:
- Thằng cha đó chắc là vừa nhậu thịt chồn… của Chín Lộc nấu ?
Xong tiệc, tôi đi theo cô bé Nhánh sang nhà Năm Cội.
Sáu Huỳnh đi ra đường với tôi còn dặn:
- Mày có coi thì phải cẩn thận. Mày chưa lãnh công tác mà vô bệnh viện thì tao bị khiển trách đó . Mày nhớ hồi kháng chiến chống Pháp mấy ông Binh Công xưởng, vô đề tô lựu đạn VTF (Võ thành Phát) bị nổ cụt tay hoài không. Họ ngồi sau một miếng sắt dày có khoét hai lỗ để thọc tay ra, nên khi bị nạn chỉ bị nhẹ. Đó là lối đề phòng đơn sơ nhưng ít ra cũng giảm bớt nguy hiểm, còn bây giờ tụi nó cưa bom như cưa gỗ và tháo kíp nổ như bắt ốc mò cua vậy. Hễ nổ là rụm thôi.
Ông già của Năm Cội vừa gặp tôi đã khẩn khoản ngay (Thấy tôi đeo súng ngắn ông cho là ở trên xuống):
- Ông làm ơn làm phước bảo nó nghỉ tháo gỡ ba cái đầu cà-nông và bom lép đó dùm tôi. Nó là tay ngang chớ biết ất giáp gì. Khổ quá ! Không biết kỳ lên trên R nó được tiên dương công trạng như thế nào mà về nhà nó đi răm tối ngày. Chỗ nào có bom lép nó cũng đào xới moi móc. Vừa rồi nó bươi được mấy trái cho xe bò đem về, tui biểu nó đem ra ngoài ruộng. Nó che chòi ở ngoài đó với hai chú đâu trên Hố Bò xuống…
Tôi nói.
- Hai người đó cũng chuyên môn đào bom lép, tên là Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử đó bác.
- Có một chú tháo hột nổ gì đó bị nổ dem hết một con mắt. Thằng em của thằng Cội đi du kích thì cũng được rồi không biết ai rủ ren mà nó lội qua Bưng Còng làm trong Binh Công xưởng, chế tạo lựu đạn đạp lôi gì đó. Hai anh em công tác toàn là loại độc địa không thôi. Chậc ! – ông già ngưng một chút rồi tiếp – Nghe nói Trung Hoa với Liên Xô có mần nhiều thứ võ khí bảnh lắm sao không cho mình, để mình phải đến nổi xài thứ lép vậy chú em.
- Dạ thì mình làm thêm đó bác.
Tôi miễn cưỡng đáp chứ sự thật thì tôi thừa biết là lão Khơ chỉ cho ta có hai ngàn cây mút-cơ-tông thời Nga Hoàng. Vừa rồi thằng giáo sư Liên Xô sang tận đây để xem tình hình vũ khí ở trên bảo các đơn vị trưng ra toàn súng bắn ruồi để kêu rêu với đàn anh. Cô Nhánh thấy ông già phàn nàn bèn đem ra một chiếc túi nhái vung vung và nói:
- Anh Năm em có đeo cà rá này nên ảnh không sợ gì hết đó anh Hai.
- Cà rá gì vậy em?
- Cà rá làm bằng xương Cao Đài bị đập hồi nẵm. Anh Năm em đào hầm bí mật bắt được cả giếng vậy đó.
- Con quỉ! Mày hùa với thằng Cội, có ngày Mỹ nó càn, mày chạy sút trứng mày ra!
Ông già quơ cây chổi định đập con gái, nhưng Nhánh đã vọt ra sân và ngoắc tôi. Tôi nói với ông già:
- Để cháu ra cháu bảo mấy ảnh dùm bác.
Ra đồng, gặp Năm Cội tôi nói ngay:
- Ông già không mấy thích công việc của chú, chú Năm! (Thấy Cội còn trẻ cỡ tuổi em tôi nên tôi gọi bằng chú.)
Cội không trả lời mà nói sang chuyện khác.
- Hì hì.. Nghe anh xuống lâu rồi, nay mới gặp. Tụi em tính học nghề pháo của anh chút đỉnh để đem ra chơi với tụi Đồng Dù.
- Học thì được nhưng pháo đâu mà chơi?
- Trên quận hứa rồi.
Tôi đưa mắt nhìn quanh. Mái chòi lá xiêu vẹo, mấy quả bom mấy đầu đạn cà-nông dính đầy đất sét đỏ như những củ khoai bí khổng lồ. Bên cạnh đó là những kềm, búa, đục, xà-beng, mấy thùng thiếc, một lô hộp sữa. .. Một cây cưa sắt mắc trên đầu cột. Đó là tất cả những vật liệu và dụng cụ của ông kỹ sư chế vũ khí đánh Mỹ . Tôi thấy mà não lòng nhưng không dám nói. Tội nghiệp dân Nam kỳ ! Giặc chưa đánh được đã chết rồi. Nhánh lấy một tấm ván để trước mặt tôi rồi mở miệng chiếc túi nhái dốc ngược xuống, Nào nhẫn xương, nhẫn bạc, nhẫn đồng, nhẫn trơn, nhẫn mặt vuông có khắc chữ… ,hốt gom ắt được một bụm. Sáu Mã Tử và Năm Đầu Ban mỗi người xách một cái vỏ cà-nông lót đít ngồi xung quanh, Năm Cội đem một chiếc ghế gỗ cho tôi và bảo:
- Anh Hai muốn chiếc nào cứ lấy, lấy vài chiếc cũng được! Đeo càng nhiều tai nạn càng ít.
Sáu Mã Tử đưa tay lên trỏ chiếc cà rá xương và nói:
- Tôi nhờ đeo chiếc đặc biệt này nên hôm trước cạy hột nổ bị xẹt mà mắt mũi không sao hết.
- Linh dữ vậy à ?
Năm Cội vừa soạn những chiếc cà rá vừa đáp:
- Linh chớ anh. Tôi đeo ba chiếc, nè anh coi. Bởi vậy nên tôi tháo gỡ đào bới biết bao bom đạn lép mà đâu có sao ! Ba tôi ổng sợ hờ vậy thôi chớ tôi có Thánh Thần hai bên vai phù hộ mà .
Tôi vừa nhặt vài chiếc để lên tay vừa hỏi.
- Chú định làm loại vũ khí gì đó?
- Lựu đạn gài. Loại nổ chụp.
- Là sao?
- Là thay vì mình gài dưới đất, kỳ này mình gài trên cây.
- Làm chi cho khó khăn vậy?
- Tụi tôi tính mần đám giang thuyền trên sông anh ạ. Tụi này khôn lắm. Mỗi lần đổ bộ tụi nó bắn cả trăm M79 lên bờ, nếu mình gài lựu đạn dưới đất thì nổ hết. Tụi tôi hụt ăn mấy phát rồi. Kỳ này thay đổi chiến thuật, gài trên cây lòn dây xuống đất. Nó đạp dây là lựu đạn nổ chụp xuống đầu. Đây là chuyện bất ngờ, nó đâu có biết mà đề phòng, mà có đề phòng cũng không được !
- Không chơi ngựa trời nữa à ?
- Lạc hậu rồi.
- Có chế thứ nào đánh xe tăng không?
- Có chớ!
Cội nhanh nhẹn bước lại góc chòi mỡ nắp thùng thông (loại của Mỹ vứt đi) ngoắc tôi:
- Anh lại đây xem. Tụi nó lần nào vô Bàu Lách tôi cũng lượm ít nhất một cặp.
Tôi nhìn thấy mấy trái mìn hiệu Năm Cội và hỏi.
- Cấu tạo thế nào?
- Cũng xài của tụi nó thôi nhưng mình cải tiến.
-Thuốc lấy ở đâu?
- Cưa bom ra.
- TNT cứng như đá, làm sao cạy ra?
- Nấu !
-Trời đất! không sợ… à?
- Mình canh chừng lửa già lửa non chớ anh. Ban đầu thì sợ Bây giờ quen rồi. Tôi liệu chừng được thì ngưng rồi lấy muống múc đổ vô vỏ mìn.
- Vỏ mìn ở đâu?
- Cũng của Mỹ. Thứ lép nó vứt lại.
- Coi chừng mìn nổ chậm rồi tướng mìn lép nghe chú !
- Tôi đợi hai ba ngày không nổ thì mới vớt về .
- Bằng cách nào?
- Xe bò hoặc khiêng hoặc đèo xe đạp.
Tôi nghe nói cách thức chế tạo vũ khí của Cội mà run gân. Tội nghiệp! Tội nghiệp cho những người nông dân hiền lành chất phác coi mạng sống của mình không bằng cái lông… chim. Thời chống Pháp tôi từng biết những anh hùng cấp tỉnh cấp khu dùng súng trường bao vây pháo kích đồn bót mà lính phải rút lui, dùng lựu đạn gài, hầm chông mà ngăn hẳn hoặc làm chậm lại những cuộc hành quân của địch. Đó là điều có thể hiểu được vì Pháp không có trực thăng, không có cà-nông, không có đổ chụp nhảy cóc, còn xe tăng thì không mấy khi xuất hiện, máy bay cánh quạt thì chậm rì và ít khi có. Còn bây giờ? Trung ương chỉ huy cả một chiến trường Miền Nam mà không hiểu đối phương một cách đầy đủ, thậm chí hiểu sai lạc hẳn. Dân Nam bộ hi sinh nhiều quá (mà chẳng được gì) chẳng khác một thứ hi sinh vật trong mâm cổ của bọn Bắc kỳ. Thấy Năm Cội hăng hái bao nhiêu tôi càng lo cho anh bấy nhiêu. Anh ta còn định khoe với tôi vài sáng kiến nữa, nhưng tôi lấy cớ bận công tác nên xin rút lui.
Năm Cội trở lại mớ cà rá:
- Anh thích chiếc nào? Anh cứ lấy đi. à chiếc đó hả, để tôi khắc tên anh lên mặt vuông nghen.
- Làm sao mà chú khoét được lỗ tròn như vậy?
Năm Cội moi trong thùng mấy lóng xương đã cắt ngắn đưa cho tôi xem.
- Xương ống quyển và xương đùi nó có lỗ sẵn anh ạ ? Đây! ở trong đó là tủy. Thịt rả thì tủy cũng tiêu luôn. Anh ngửi thử xem không có mùi gì hết. Nếu mình không nói thì ai thấy cũng tưởng xương bò xương cọp gì !
Năm Cội cầm hai khúc xương gõ vào nhau nghe cắc cắc và ca:
Mỹ vô Củ Chi đành bỏ thây.
Đem máu tươi ra nhuộm sông Sài gòn
Ta tí ta tí tà . . . ta ta
Mỹ đen Mỹ trắng chết trôi
Trôi lên trôi xuống thúi hôi…

Năm Cội ngưng và nói:
- Bản Kim Tiền của ông Phạm Sang mới sáng tác, tôi học chưa thuộc. Ổng biểu tôi làm dùm mấy cái phím đờn và cặp nhịp sánh cho đoàn văn công của ổng. Xương này làm nhạc cụ đó thì số dách. Tiếng kêu rất đặc biệt…
- Đặc biệt là sao?
- Tôi không biết, nhưng tôi nghe ông Phạm Sang nói vậy thì hay vậy. Ổng biểu tôi làm sao oánh được một chiếc xe tăng hoặc giết được một tên Mỹ để ổng lấy đề tài sáng tác
- Chú đã đánh được một chiếc hồi năm 64 ở Đồng Chà Dơ rồi kìa mà !
- Dạ thì có thiệt. Và ổng cũng làm rồi một bài Bình Bán vắn.
- Chú còn nhớ không?
- Dạ còn nhớ ít câu. Thỉnh thoảng tôi có nghe trên đài giải phóng hát.
- Tên là bài gì?
- Dạ bài Anh hùng đánh xe tăng.
- Đâu chú kể lại trận đánh đó cho tôi nghe để rút kinh nghiệm chút!
Năm Cội lấy làm hứng thú, lấy một cục đất gạch gạch trên nền nhà nói:
- Đây là Bàu Cạp, đây là đường I làng, đây là…. Suối Bà Cả Bảy, đây là Đồng Dù. Muốn qua Bàu Cạp hoặc Bàu Lách thì xe tăng phải nhờ trực thăng móc chớ nó không lội suối được Trực thăng móc thì mau lắm, mau hơn từ hồi anh lại đây tới bây giờ, thì chúng tôi bị rượt chạy tóe khói rồi.
- Bộ nó qua cầu Suối Bến Mương không được sao mà phải trực thăng móc?
- Không được? Cầu yếu lắm, chỉ xe bò qua được thôi. Nghe nói nó rào châu vi ra tới Bến Mương và sẽ làm lại cây cầu này nay mai. Nó vừa ủi sập và làm rồi. Tôi với Hai Coi, Tư Gừng và thằng Ưng vác súng chạy lũi. Riêng tôi thì vác trái mìn tân tạo bằng đầu cà-nông lép. Đất ruộng lởm chởm và đầy lỗ nẻ, tôi không chạy được bèn đến mé lộ đường I làng nhủi đại nó vô bụi rậm cho nhẹ để thoát thân. Anh phải biết là xe tăng nó vừa bắn vừa chạy, vừa chạy vừa bắn chớ không phải chỉ chạy không thôi. Mà bắn ác lắm, bắn trước đầu, bắn sau đít, bắn hai bên hông đều được cả, chớ có phải nó chạy êm ru đâu ! Bởi vậy chạy đua với nó là túm giò không có chạy được.
- Rồi chú bố trí trận địa làm sao?
- Tôi nhủi trái mìn vô bụi cây rồi phóng như tên bắn chớ có bố trí gì, nhưng thằng Mỹ lạc đường, nó chạy xà quần một hồi rồi cán lên trái mìn. Mìn nổ lật xe. Có vậy thôi.
Tôi vỗ vai anh chàng dũng sĩ.
- Vậy cũng là giỏi lắm! Nếu người khác thì ném trái mìn xuống đìa.
Năm Cội hào hứng kể tiếp:
- Do đó trên đại hội bầu tôi làm anh hùng đánh xe tăng toàn miền Nam và bảo tôi phổ biến kinh nghiệm. Chời ơi chời? Tôi có kinh nghiệm gì đâu nè chời! Mấy ông nhà báo nhà đài bu theo tôi chất vấn tôi mắc cỡ rùng mình. Lại còn gắn cái bông bự tổ nái bít hết ngực tôi, trong đại hội ai cũng dòm, nhất là mấy bà phụ nữ tóc quăn cứ.theo hỏi chuyện tôi hoài.
Tôi bảo:
- Ráng đánh thêm chiếc nữa đi rồi ông Phạm Sang làm cho bài nữa !
Năm Cội le lưỡi lắc đầu:
- Hồi trước dễ, bây giờ thì khó rồi.
- Sao vậy?
- Hồi trước nó mới tới loe hoe vài thằng, ban đêm nó ngủ bừa bãi trong tăng, ngoài ruộng, súng ống, đạn dược, đồ ăn, mền mùng bỏ vương vãi tùm lum, tôi với thằng Ựng bò vô lấy đồ hộp và lựu đạn nữa mà. Bữa nào cực ăn là đêm đó tụi tôi mò vô Đồng Dù kiếm chát. Nhưng bây giờ vô phương. Xe tăng nó đi là có trực thăng, pháo dọn đường, nó về cũng làm y bài bản như lúc nó đi, mình khó chơi lắm.
Nhánh chạy vào trong nhà nãy giờ trở ra với gói kẹo đậu phộng trong lúc Sáu Mã Tử đã nấu xong ấm nước. Năm Đầu Ban dọn mâm trà với những cái ly làm bằng võ đạn cà-nông 20 ly. Sáu Mã Tử rót đưa tôi một ly.
- Anh Hai uống chút trà cho khoẻ, anh Hai!
- Chà ! ly này thiệt đặc biệt.
Ba anh em ngồi bên mâm trà bàn luận chiến thuật. Tôi thấy vừa cảm phục vừa thương hại những người nông dân này. Trong tay không có gì cả mà dám chọi với xe tăng.
(Phải chăng đó là truyền thống lưu lại từ Bạch Đằng Giang, Chi Lăng, Đống Đa? Phải chăng đó là truyền thống lưu lại từ ngọn tầm vông thời đầu kháng chiến chống Pháp? Không! không phải. Những chiến thắng trước đây là kết tinh của tinh thần dân tộc tự cường. Ở Điện Diên Hồng quân thần, vua Nhân Tôn và toàn dân thống nhất ý chí chống ngoại xâm. Tiếng chiêng trống Chi Lăng và tiếng hò reo của quân sĩ ở trận Đống Đa cũng là kết tinh của ý chí chống xâm lăng bảo vệ Tổ Quôc. Tổ Quốc Việt Nam là của toàn dân Việt Nam chứ không phải của đảng nào. Ngày nay người ta bỏ cái tinh thần đó vào cái chảo Mác Lê để tạo ra một thực đơn dân tộc gia dối . Người Miền Nam thấy đất nước đã độc lập rồi, dân đã yên ổn làm ăn trên mười năm dưới một chánh quyền ôn hòa chứ không phải một chánh quyền sắt máu cai trị bằng nhà tù. Người Miền Nam đầy đủ không cần ai giải phóng. Giải phóng để “được hạnh phúc” cải cách ruộng đất ư? Cuộc chiến tranh này là do tên ác ôn họ Hồ bày đặt và đặt cho nó cái tên là Giải Phóng Miền Nam. Chẳng có người dân nào ham muốn chiến tranh ngoài những tên mù và ngu ở Ba Đình ngày ngày chạy tới chạy lui lăng xăng tìm cách giải phóng Miến Nam diệt lũ bán nước (!). Lão tặc Hồ còn khóc khóc mếu mếu ra vẻ lâm ly thống thiết: “Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi! Cút đi thằng khốn nạn, miền Nam không ở trong trái tim con bò và con quỉ Sa tăng. Ở trên đài giải phóng có một mục: “Ra ngõ gặp anh hùng ” Mục này chuyên môn ca ngợi Tạ thị Kiều, Nguyễn văn Trỗi, Út Tịch, Bảy Mô, Tư Gừng, Năm Cội, chị Năm Cầu Xe… như những Trần Hưng Đạo, Trưng Nữ Vương thời đại Hồ Chí Minh. Thật là láo xược. Người Miền Nam chính là những con Trâu ngây ngô trong Trận Hỏa Ngưu chiến của Điền Đơn Hồ. Trâu mang gươm trên sừng và lửa sau đuôi húc vào xe tăng, xe tăng không vỡ mà trâu lại chết thui, chết bắn. Tội nghiệp và nực cười thay chính họ Hồ lại là một con trâu trong kế hỏa ngưu của Kem Lanh lẫn Bắc Kinh. Họ Hồ chết ôm theo bản đồ Đông Dương đỏ nham nhỡ và ngày nay tan vỡ hoàn toàn.
Năm Cội một thời làm anh hùng đi mây về gió trên đài, tội nghiệp thay, cũng chỉ là một con trâu ngu dại, cũng như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tân Phát, Trần Bạch Đằng, Dương Quỳnh Hoa, Trịnh Đình Thảo, Thích Đôn Hậu, Phạm Văn Ngỡi, Joseph Hồ Huệ Bá, Thanh Nghị, Lữ Phương, Lưu Hữu Phước… tất cả chỉ là một đàn trâu, trâu đực trâu cái, trâu nghé, trâu già, trâu cò, trâu đen, mang cái mồi lửa rơm sau đít. Ngày nay chắc trâu đã khôn ra tí chút rồi.
Tôi nữa, tôi cũng là một con trâu chạy long nhong sau cái bầy trâu khốn kiếp đó. May mà tôi đã rẽ ngang, rã bầy khá sớm. Và chính nhờ rẽ ngang mà mắt tôi mới nhìn rõ được đàn trâu thảm hại đó. Chúng còn đeo cái con cúi đã tắt tị sau đuôi và rống ò ò chờ người đến rứt đùm để sống sót).
Tôi hỏi Năm Cội:
- Chú chắc mình đánh tụi Đồng Dù nổi không?
Năm Cội làm thinh. Tôi bảo:
- Ông Phạm Sang đã xuống địa đạo hát cho bộ đội mình nghe ở dưới đít Đồng Dù trong lúc một thằng ca sĩ Mỹ hát cho lính Mỹ nghe ở trên mặt đất, chú có đi nghe lần đó không?
- Hồi nào anh?
Tôi nói tiếp:
- Nếu chú đi theo ổng thì chú sẽ biết đường. Một khi biết đường rồi thì chú đem mìn tân tạo của chú đặt ngay đó rồi chui lên cho nó nổ một cái bay nguyên cả cái Đồng Dù, hai ngàn lính Mỹ tan xác, mình chiến thắng khỏe ru, tôi cần gì phải pháo cho mệt.
- Anh Hai nói giỡn tụi em hoài anh Hai.
Tôi cười ngất:
-Thiệt mà!
- Thiệt cái gì mà thiệt! Địa đạo tụi tôi đào đây chớ ai, sao tụi tôi không biết.
- Chú biết ở Bàu Lách thôi chớ làm sao biết hết cả một hệ thống dài 250 cây số xã liền xã thôn liền thôn.
- Tôi biết ở đây chưa được hai trăm thước.
- Cả thế giới người ta phúc lăn Củ Chi mình vì cái địa đạo này đó. Chú không hay gì hết sao?
- Làm gì mà thế giới biết được !
Tôi nháy Năm Cội.
- Chời ơi chời! Năm ngoái có nhà báo Pháp, Liên Xô, Úc tới đây mà chú không hay à?
- Ờ ờ tôi có nghe con Mô nó đi về nó thuật lại cái trận địa đạo chiến của đội nữ nó. Phải mấy ổng đó không?
Tôi gật. Năm Cội kêu lên:
- Ối chời! tưởng cái gì ai dè cái đó. Phải tôi hay, tôi cho quay phinh cái của tôi còn bảnh hơn nhiều.
- Ờ để khi nào họ có tới tôi dẫn xuống đây gặp chú nghe !
- À mà quên, đó là tôi nói hồi nẵm kìa, chớ bây giờ sập mẹ nó hết rồi.
- Sao vậy?
- Từ ngày pháo vô Đồng Dù và nhất là sau khi B52 cày láng từ Hố Bò tới chợ An Nhơn, tụi tôi hết dám chui nữa. Bỏ bê không ai săn sóc nên lớp lỡ, lớp rễ cây ăn xuyên, bít hết, chắc còn vài khúc nhưng không có kế hoạch sửa chữa.
Bỗng Năm Cội lên gân – Bây giờ Mỹ vô nhiều, Mỹ chết càng nhiều, mình phải nắm thắt lưng Mỹ mà đánh chớ ở đó chui sao anh Hai?
- Vậy chú không chơi địa đạo chiến nữa hả ?
- Địa đạo chiến là gì?
- Là nghe địch tới, mấy chú ở dưới hầm ló lên bắn sẻ rồi thụt xuống đậy nắp hầm di chuyển sang chỗ khác rình địch tới lại bắn, rồi lại rút lui… Vậy đó !
Năm Cội ngẩn. tò te hồi lâu rồi lảm nhảm:
- Chời ơi chời! Ai nói với anh vậy?
- Thì cô nữ dũng sĩ Bảy Mô đã biểu diễn cho người ta quay phinh mà !
Năm Cội vỗ đùi reo.
- Con nhỏ khôn thiệt! Coi lẫm rẫm mà khôn tổ trời !
- Khôn sao?
- Nó gạt mấy ông ngoại quốc chớ sao. Địa đạo là để chui trốn địch chớ chiến cái gì được mà kêu là địa đạo chiến. Miệng hầm phải mở trong rừng. Trong rừng chỉ có xe tăng càn thôi, lính nó đâu có thèm đi cho mệt. Nó đi ngoài đường xe bò, đường cái, bộ mình rinh cái miệng hầm ra đó được à ? Tụi nó khôn lắm! Nó đang đi ở đây, cái nó kêu máy bay tới xúc đổ đằng kia. Mình đang chờ nó tới ở trước mặt chẳng ngờ nó bọc hậu, chạy hộc gạch chớ ở đó mà địa đạo chiến!
Tôi gạn hỏi tiếp:
- Vậy hồi nào tới bây giờ chú chưa áp dụng địa đạo chiến lần nào à?
- Để tôi nói cho anh nghe. Miệng địa đạo là phải giữ bí mật. Anh bắn nó xong rồi biến mất là nó biết anh chui xuống địa đạo chớ bộ nó ngu sao? Mà thiệt ra tôi chưa dám chơi kiểu đó. Vì đó chẳng khác nào lạy ông con ở bụi này. Nó chỉ cần biết hướng thôi là nó sẽ khoanh vùng này kêu pháo bắn. Rồi kêu phản lực dệnh bom, nắp hầm bật hết.
-Mình chạy qua xã khác!
- Chạy cách nào?
- Thì luồn dưới địa đạo. Nó dài tới hai trăm cây số bao quanh cả Đồng Dù nữa kia mà !
- Chời ơi chời! Bộ anh nói giỡn sao chớ! Cái khúc địa đạo của tôi không có tới hai trăm thước mà cũng không có ăn thông ra địa đạo của ai hết.
- Vậy tôi nghe nói địa đạo rộng lắm, đi xổng lưng như chơi và có hai ba từng, có nhiều ngã rẽ nếu không có ai dẫn đường người đi dưới đó sẽ bị lạc không biết đường ra.
Sáu Mã Tử và Năm Đầu Ban cười hắc hắc. Năm Đầu Ban nói:
- Chưa đủ đâu anh Hai ! Nay mai tụi em còn đem xe lam xuống đưa khách nữa đó !
Năm Cội cười nhe bộ răng xếu xáo:
- Ừ phả i ? Há há . . .
Sáu Mã Tử nghiêm chỉnh hỏi:
- Anh về dưới này ở lâu không anh Hai?
- Tôi ở luôn Củ Chi.
- Vậy anh dạy tụi em bắn pháo với!
- Ừ! Tôi vừa dạy sơ sơ đội nữ của con Út Nhỡ rồi. Sẽ mở một lớp cho ba huyện Trảng Bàng, Củ Chi, Bến Cát.
Năm Đầu Ban nhảy tưng lên.
- Dạy như vậy sao anh? Vậy anh dạy luôn tụi em đi để tụi nó bào láng tụi Đồng Dù không còn cho tụi em chơi đó.
Năm Cội ngạc nhiên:
- Bắn pháo khó không anh Hai?
- Khó khiếc gì, hồi đánh tây bộ đội có học hành gì cũng bắn được vậy.
- Anh ở ngoải học mấy năm?
- Hai năm, đi Trung Quốc bổ túc một năm.
Năm Đầu Ban kêu lên.
- Trời! Sao anh dạy tụi nó có một buổi?
- Chiến trường này không cho phép kéo dài, mình phải dạy tắt!
Vừa đến đó thì một chú bé chạy đến, vừa thở hổn hển vừa nói đằng mũi:
- Anh Nă…năm, họ nói biệt kích thằng Gắc …
- Ở đâu?
- Không biết ở đâu.
- Không biết sao báo cáo?
- Dạ người ta chạy gần gần.
Năm Cội bảo Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử dọn dẹp cái Binh Công xưởng chụp cây trường bá đỏ.
- Anh Hai ở đây, có gì mấy đứa nó dắt cho lặn.
- Để tôi đi ra ngoài đó với mấy chú.
Thế là tôi theo Năm Cội. Cô Nhánh đang ở trong nhà thấy tôi chạy ngang thì dúi cho một gói nho nhỏ. Tôi không biết món gì trong đó, cứ quơ lấy và chạy vụt đi. Cô bé này coi bộ cũng mết anh Hai lắm, nhưng nó cũng như cô Út Biếc, thuộc loại gà giò chưa biết gáy.
Năm Cội kéo ngọn chạy thẳng một hơi ra cây xoài múc. Đây là một cây xoài già gốc to và cao nhất trong vùng. Tôi đã đi qua đi lại đây nhiều lần. Mỗi lần đi qua thì tôi nghĩ nó có thể làm điểm cho máy bay tìm mục tiêu như cái nhà mũ trên Hố Bò . Nay mới biết Năm Cội xử dụng nó như một cái sân thượng gác lính xuất hiện tứ hướng. Đứng dưới gốc xoài xum xuê như tàng lọng mà nhớ Trường Sơn. Những cây cổ thụ che mắt máy bay rất tốt nhưng nếu tróc gốc thì nó lại giết người một cách dã man nhất. Nó đè thân người bẹp như chú nhái bén. Tôi đã từng chứng kiến rồi. Năm Cội ngước lên:
- Đứa nào ở trên đó?
- Tôi là thằng Kềnh.
Thằng Ựng cũng ngó theo, hả họng nhắm mắt nói ngọng và cà lăm tối đa:
- Cái mà …à anh Năm với anh Hai chớ không phải lính đâu đừng có gun té lũng guột nghe!
Năm Cội hỏi: .
- Có thấy gì không Kềnh?
- Có mấy chấm đen đen đi ở ngoài phía Đồng Dù. Tôi nghi lính thằng Rắc biệt kích nên biểu thằng Ựng chạy về cho anh hay để bố trí trận địa.
Năm Cội quát:
- Đi xuống, để tao lên coi !
Tôi hỏi thằng Rắc là thằng nào. Năm Cội xì một tiếng rồi lên giọng:
- Đây là tụi biệt kích con ở ở ngoài Củ Chi do thằng Rắc chỉ huy. Tôi không ngán bọn này đâu. Chỉ sợ nó đi ban đêm mình đang ngủ , nó thọc vô , chớ ban ngày tôi đoán được hướng nó đi thì tôi cho nó ăn mìn tân tạo ngay thôi. Nhưng nói thì nói chớ vừa rồi nó luồn vô rất êm, giết một tổ trinh sát của tiểu đoàn 7 đang di chuyển từ Phú Hòa về Bàu Trăn. …
Thằng Kềnh đã tuột xuống đất. Năm Cội dợm leo lên, tôi bảo cho tôi lên với. Năm Cội hỏi:
- Anh tập kết mà cũng biết leo à ?
- Tập kết thì không biết leo hay sao? Tôi với chú thi đua chơi !
Năm Cội leo tới đâu tôi bườn lên tới đó . Lên đến quá nửa thân cây thì có một tấm ván lót trên chảng ba. Năm Cội ngồi nép một bên chừa cho tôi một bên. Tôi ghé đít và tựa vào nhánh cây to sau lưng cảm thấy rất an toàn vì tàng lá quá rậm ri không ai có thể nhìn thấy. Nhánh cây chắc chắn không có thể tét được. Nhưng có một điều không an toàn.
- Rủi pháo bắn làm sao tuột xuống kịp, chú ?
- Tuột đại, được khúc nào hay khúc nấy còn bao nhiêu thì nhảy thí mạng. Chời ơi chời, có lần tôi và thằng Ựng lên bị nó giã gạo, thằng Ựng hoảng quá , còn một khúc xa mà nó phóng ẩu bị trẹo giò, cả tháng còn đi cà xẹo.
Tôi bảo Năm Cội chỉ hướng cho tôi. Năm Cội vẹt lá trỏ tay giải thích:
- Đồng Dù khuất sau xóm Cây Sộp xanh um đó. Chỗ máy bay quần quần. trực thăng xoáy xoáy đó là cái ổ Mỹ. Con đường I làng đỏ như gạch bút chì chạy thẳng ra xóm Phú Hiệp. Dấu đất đỏ đỏ là chỗ chúng nó đang ủi dọn láng vườn tược nhà cửa. Phía bên trái là Xóm Mới. Mấy chấm li ti di động đó là người ta băng đồng từ Bàu Chứa đi đến chiếc cầu gỗ trên lộ số 7 còn làn gân xanh rì là ranh giới giữa Nhuận Đức và Phước Hiệp. Gần đây nhất nhấp nhô đó là Đồng Mả, là nơi đó có cả trăm cái mả , ai chết không có đất chôn thì cứ đem ra đó mà dập. Vừa rồi pháo giã trúng, xương cốt văng tùm lum. Nghe nói trước kia Cao Đài cũng bị vùi ở đó.
Năm Cội chỉ mấy chấm di động và nói:
- Chắc thằng Kềnh nó thấy mấy người đó nó nghi là biệt kích.
Tôi mở chiếc hộp đeo bên hông lấy ống dòm ra. Thấy món vật lạ Năm Cội tò mò hỏi, tôi bảo chút nữa sẽ cắt nghĩa.
(Cái bửu bối này tôi được thằng Ngô Huy Hùng chủ nhiệm Trinh Sát phát cho lúc tôi về U80 nhận lệnh ở chỗ thượng tá Nguyễn Bá Phúc tới nay chưa dùng vào việc gì ngoài mấy lần dọa hai cô Nga và cô xã đội phó: “ống dòm xuyên qua cả vải! “)
Tôi kê ống dòm vào mắt điều chỉnh tầm mắt thì thấy chỉ là những người dân thường. Chung quanh đây vắng lặng không thấy có một hoạt động nào. Chắc bụng không có biệt kích, tôi đưa ống dòm cho Năm Cội. Cội .kê mắt, tôi điều chỉnh. Cội kêu lên:
- Chời ơi chời! Rõ thiệt rõ ta ơi ! Thấy y như là ở trước mắt vậy Gần xệu hè anh Hai à!
Cội vừa quay qua quay lại vừa chắt lưỡi hít hà:
- Cái máy gì mà tài quá vậy anh Hai? Coi đã thiệt!
Xem mãn nhãn rồi, Cội khom xuống kêu:
- Ê ! Ựng, Kềnh lên đây coi này.
Cả hai vọt lên như sóc. Cội nhường chỗ. Mỗi đứa được coi ống dòm một hồi, rồi tất cả tuột nhanh xuống đất. Cả ba chàng du kích đều trầm trồ cái máy gì lạ vậy. Từ trong nhà ông Tư Ất, hai chàng bưng ra một rổ khoái mì luộc lót lá chuối xanh ngắt. Tất cả làm tiệc dưới gốc xoài. Ông Tư đã ra ấp chiến lược. Vườn và nhà của ông do du kích quản lý. Họ rút vách làm củi nấu cơm, nấu khoai mì. Tôi lấy cái gói của Nhánh dúi cho lúc nảy, mở ra: đường táng, thuốc rê, trà, giấy quyến. Năm Cội vừa bẻ khoai mì mời tôi vừa nói:
- Xe tăng, pháo, trực thăng cái nào cũng ngán, nhưng ngán nhất là biệt kích anh ạ ! Các thứ trên thì mình đề phòng, trốn tránh được, còn cái món biệt kích thì vô phương. Ở trên Phú Hòa Đông, cơ quan họp dưới hầm, biệt kích đến, không hay. Nó ném lựu đạn chết sạch. Anh nghĩ coi, một hầm mà nó tung mười mấy trái ? Ông Tư Tâm cán bộ huyện ngủ dưới hầm ban trưa, nó cũng đến tung cho một trái. Bây giờ thứ đó lộng lắm. Nó chưa dám lên tới Hố Bò – An Nhơn, nhưng ở Mội Nước Nhỉ, Ngả Ba Cây Trắc, đường I Làng, Nhuận Đức và Phước Hiệp đã nhẩm dấu chân của tụi nó. Thằng Rắc nghe nói trước là du kích ở đâu trên Gò Đình trở cờ ra ngoài đó nên nó thuộc đường trong này, nó thọc luồng tuông không có thể đoán được đường đi đường về của nó nên không đánh được. Có lần chạm trán với bọn này, nhưng rồi nó rút mất hồi nào không hay bọn này cứ chổng khu phục kích nằm chờ. Lại còn một vài kiểu rắc biệt kích nữa. Nó dùng trực thăng thả xuống rừng êm rơ. Mình láng cháng ra rừng đào hầm là đụng nó. Nó không thèm chơi mà để đó, chờ mình làm xong, nó cho ruồng, mình chui, nó khui hầm lôi cổ lên. Hoặc xe tăng càn phía trước, chúng nó núp sau đít. Xe tăng rút về, chúng nó nín lại, phục kích mình bằng mìn nổ chậm. Đánh xong rút êm không cần lấy vũ khí. Có nhiều người bỗng dưng mất tích không biết đi đâu, ít lâu sau tìm thấy xác ở ven rừng.
Tôi hỏi.
- Mấy đơn vị khu không hoạt động à?
Năm Cội bị nghẹn miếng khoai mì, cố nuốt trửng rồi nói:
- Tiểu đoàn của Bảy Nô hồi trước thì còn đóng tập trung gió máy dữ lắm, nhưng năm nay thì phân tán mỏng ra từng trung đội rồi cứ bám lấy miệng địa đạo mà ăn hút. Nghe xe tăng biệt kích thì cũng lủi hoặc né như tụi tôi vậy. Tụi nó rút về thì vô quán mua đồ về nhậu. Mấy cái quán cóc ở đây làm giàu nhờ mấy ổng. Ông Bày Nô cưới con gái bà má Hai bán hủ tiếu ờ Bào Lách. Tiểu đoàn của ổng quanh quẩn ở đó. Ở dưới Phú Hòa Đông thì có tiểu đoàn 2 của ông Sáu Thiệt và Tám Lệ. Tiếng là bộ đội Gò Môn (tức là Gò Vấp Hóc Môn) mà cứ trồi lên trên này ôm miệng hầm, không đánh chát gì. Em nghe lén mấy ông cán lớn đi trên R về uống rượu rồi bật mí rằng có ông đại tướng nào ở miền Bắc vô dọa đốt cái rừng Bời Lời để cho bộ đội Tây Ninh ra mặt có không anh?
Tôi ú ớ…Cội tiếp:
- Em nói thiệt nếu em có quyền thì em ra lệnh lấp hết ba cái địa đạo này, giặc đến, bộ đội rút xuống hang hết ráo, như vậy chừng nào cái Đồng Dù này mới tróc chớ? Có mình tróc thì có!
Cội bảo thằng Ựng vô nhà nấu nước đem ra châm trà trong cái vỏ đồ hộp Mỹ . Vừa uống nước vừa hút thuốc. Khói lên xanh um gốc xoài. Năm Cội bật cười:
- Nhưng mình không cần lấp. Vài bữa xe ủi của Mỹ tới nó làm dùm mình. Thử coi mấy chả còn chỗ đâu mà ngồi thum như mấy bà Năm Đang, Hai Xót nữa? Tụi con Út Nhỡ, Bảy Mô với mấy ông đờn cò đờn gáo của gánh hát Năm Sang đã trồi rồi. Tụi nó đi đào hầm mới.
- Còn chú thì sao?
- Ăn thua gì em! Cội vênh mặt bướng bỉnh. Với mấy quả mìn tân tạo và vài cây mút nội hóa tụi em vẫn lao đầu này lách đầu kia, tụi em vẫn bám được mảnh đất này mà. (Cội bắt đầu xưng em với tôi.) Em bị ông già la ghê lắm, nhưng em làm bộ không nghe . Tụi em đánh giặc như cơm bữa . Ngày nào không đi bám đi canh là không yên tâm. Đâu có ai phát cho khẩu phần quần áo gì. Đụng vườn hoang nào cũng nhào vô quơ chuối non, mì già, bất cứ thứ gì để dồn vô bao tử. Bởi vì về nhà có khi không được chén cơm nguội. Ông già ổng đòi bỏ đói em mà .
Năm Cội được trớn tố khổ luôn:
- Tụi em vừa đánh giặc vừa làm mướn nuôi trâu. Tụi em đi gặt lúa hoặc gánh hàng cho bà Tư The (má con Chia) đổi lấy thuốc hút hoặc đèn cầy để đào hầm bí mật. Vậy mà tụi em vẫn ra đây canh giặc mỗi ngày. Không có tụi em mấy ông Chín Lộc Sáu Huỳnh làm sao ở yên? Nhưng mấy ổng ỷ là mùa thu có vợ ngoài thành vô mua cho xe Bờ Rô chạy nhong nhong ăn nói huênh hoang, coi tụi em như cỏ rác. Em nói thật, tụi em mà bỏ cái cây xoài múc này là mấy ổng bị biệt kích làm thịt ngay thôi. (Quả thật sau đó ít lâu, đội du kích của Cội lung lay không bám gốc xoài nữa, biệt kích vô bắn chết Tư Minh trong lúc Sáu Huỳnh và Chín Lộc đi vắng.) Hồi mấy năm trước giặc còn ở xa, tụi em phải từ trên này lội xuống tới Phú Hiệp để phối hợp với tụi Ba Trắng, Bảy Thung ban ngày bắn tỉa tụi lính Mỹ dắt đĩ ra rừng. Nhưng bây giờ Mỹ bung ra phản công lại tụi em, tụi em thì phải co lại phòng ngự rất thụ động. Nếu bộ đội mà không bẻ được càng của nó thì chúng em hết phương cụt kịt. Ở dưới Phước Hiệp bây giờ chỉ còn có một tay súng thôi. Đó là con Tư Lan.
- Cỡ Bảy Nê, Bảy Mô, Út Nhỡ không?
- Mấy cô này nặng về mặt biểu diễn, chớ so với con Tư Lan thì chưa đi đến đâu. Quận đội đề bạt nó làm đội trưởng đội nữ, chỉ huy mấy cô này, nhưng nó không làm. Nhà nó ở xóm Bàu Điều, em có đến. Mỗi ngày nó đều dắt đội của xã ra sát Đồng Dù bám trụ nắm chắc tình hình, nếu không có gì nguy hiểm, nó về nhà ra đồng làm việc. Tụi thằng Bảy Sơn có lần bị biệt kích thằng Rắc rượt ở gần ấp chiến lược Cây Trôm chạy có cờ, nếu không có con Tư Lan chận lại thì chết cả lũ rồi. Nó ôm cây bá đỏ đứng tựa gốc cau bắn mười mấy phát liền. Anh phải biết loại súng này bắn ba phát là bể cả vai chớ không phải êm ái gì đâu. Em nghe em phục lăn.
Năm Cội đang nói bỗng ngưng ngay. Một chốc, hạ giọng:
- Em có phối hợp với nó mấy lần. Em thích nó lắm. Ngặt vì ở xa quá, ít gặp nhau.
Tôi đưa ống nhòm lên nhìn quanh rồi trao cho Cội. Cội tra vào mắt rồi reo lên hoan hĩ:
- Chời ơi chời!, rõ thiệt? Chỗ con Lan ở kia kìa nhưng bị Quốc Lộ I áng không ngó thấy. Anh có thấy cái đường đất nâu nâu không? Đó là con lộ số 2 từ Trung Hòa chạy xuống. Vô nới trong này xanh xanh kia là rừng cao su rồi tới Xóm Cây Sộp: Còn xa xa nữa là Ba Xa Trảng Lắm.
Cả một vùng mênh mông cắt ngang cắt dọc bởi lô đất lộ đá sông rạch mà người ta bảo là có một địa đạo bao quanh Đồng Dù. Tôi nhìn những bàn tay xù xì của Cội, Ựng, Kềnh, nhớ những bàn tay mềm như liễu của các tiểu thư hôm qua, bất giác tôi tự hỏi: những bàn tay này có phép thần chăng? Hai trăm năm mươi cây số, ba lần bằng Hà Nội – Nam Định, gần bốn lần bằng Sài gòn – Vũng Tàu, năm lần bằng Sài gòn – Long An. Cách mạng ơi, nói láo vừa vừa thôi chớ!
Cái vành đai thép của ông Trưởng phòng chính trị Quân khu quả là vĩ đại. Tội nghiệp những anh du kích thật thà chất phát và gan dạ như Năm Cội, Bảy Mô, Bảy Nê được gán cho danh hiệu anh hùng dũng sĩ mà chẳng biết rằng mình chì là những khúc củi do bàn tay của đảng cầm đút vô lò lửa đỏ rực của chiến tranh.
Tôi ngồi nghe Cội kể chuyện, ta thán, tự chế diễu mà vừa cảm phục và thương hại họ vô cùng. Hai mươi năm trước ông cha họ đánh với thực dân Pháp bằng tầm vông, phi tiêu, dao găm, lựu đạn có đuôi ném mười trái không nổ một, ngủ nóp, chân trần ra trận ôm súng mà không biết lên đạn như thế nào, giờ chót sắp nổ súng cấp chỉ huy mới dạy cho. Ta thắng được Pháp là nhờ thần thánh phù hộ và đó là sự may rủi.
Ngày nay đánh Mỹ, súng trường không còn xài được nữa. Mỹ xài M16, Mi9, toàn ra-phan. Trực thăng bắn cà-nông 20 ly một phút tám ngàn viên. B52 bỏ bom một loạt tan hai chục cây số đường đá. Thế mà ở đây Năm Cội đi đào bom và đạn cà-nông lép để đánh xe tăng, leo lên cây xoài để canh giặc bằng mắt thường, không có khẩu phần; không có quần áo Thế giới cổ kim họa chăng chỉ có thằng Hà Nội mới nướng dân nướng lính trong một tình trạng võ trang như vậy.
Chúng cứ ở ngoài Hà Nội hô thừa thắng xông lên, đội bạt bom để giành chiến thắng. Vì sao chúng hăng hái như vậy? Vì con cháu chúng không có đứa nào vô đây để đội bạt bom cả Thằng dân Nam kỳ ơi ! Mày đã sáng mắt chưa? Mày còn muốn ở trong trái tim người nữa không vậy hả?
(Năm 68 Năm Cội chết trên cánh đồng Bàu Lách quê hương của anh. Trận đó Mỹ càn nặng. Bộ đội không xuất hiện một mống nào. Chỉ mình Năm Cội, thằng Ựng nói đớt và thằng Kềnh cà lăm vác mặt ra chống xe tăng. Bị vây đuổi ráo riết Năm Cội đặt mìn rồi chạy bị trực thăng đổ chụp. Cội chạy trở lại và đạp trái mìn tân tạo của chính mình gài. Năm Cội không còn. Cây xoài múc đứng cô đơn một lúc. Gió reo vi vút như linh hồn của chàng du kích chất phác ngây ngô. Một bữa kia, bom rơi. Cây xoài cũng ngã. Đồng Mả thêm một nấm mộ và trống bớt một vùng trời do cây xoài múc choáng mặt lâu nay. Những dũng sĩ diệt Mỹ ngày xưa hiện giờ đang vét những hố bom để làm ao nuôi những con cá rô còm bán kiếm sống qua ngày, hẳn còn chưa quên Năm Cội. Có lẽ họ nhìn thấy lại chàng dũng sĩ đánh xe tăng dưới đáy nước đục từ kia. Chín Lộc chắc đã lên tới đại tướng tình báo còn Sáu Huỳnh thì về nhà chăn vịt như anh đã từng dự tính trước đây. )




Chương 47
Nước mắt người con gái Củ Chi

Sáu Huỳnh đi với tôi một đoạn đường. Anh không còn đùa dỡn như mấy hôm tôi ở chung với anh chờ móc em tôi vô nữa. Lần này móc cũng quác. Em tôi không vô, hay không vô được. Sáu Huỳnh nhắc lại:
- Cứ thế cứ thế. . . – Anh sang tình hình Củ Chi – Cái điệu này cơ quan sẽ không ở đây được lâu. Nó lấn đất dần dần. Mày ra H6 nhận công tác sớm sớm để liệu mà di chuyển đơn vị.
Tôi không biết nói gì. Hai người đồng hương đi bên nhau. Tiếng máy bay và tiếng xe tăng rù rì bốn phía. Thời gian đi sao nhanh thế. Mới là con nít đã già. Những hình ảnh quê hương lùi xa tít tắp. Ở đâu tôi cũng có bước chân qua từ Nam ra Bắc, từ Bắc chí Nam. Nhưng không đâu là nhà . Bao nhiêu cuộc tình trôi qua nhưng không người con gái nào là vợ. Tôi đâu có muốn lê trái tim qua những mớ tóc rối hoặc nhận chìm nó trong những biển nước mắt biệt ly. Nhưng làm sao? Những cuộc biệt ly nối tiếp những cuộc ly biệt. Nước mắt những người con gái yêu tôi đã chảy đầm đìa ở vườn hoa Thống Nhất, ở rừng Trường Sơn, ở ven sông Bà Hảo, ở ngoài hiên “Hoàng Cung”, ở trên nắp hầm bí mật v.v… và giờ đây… tên lính lê dương cách mạng lại tiếp tục viễn chinh.
Sáu Huỳnh hỏi:
- Mày định gì chưa?
- Định gì mà định anh?
- Mày không thưa gì với ông già à?
- Thưa gì bây giờ anh?
- Tao coi bộ ổng buồn lắm, buồn vì nổi mày, nổi nước non, rồi nổi mày và thằng em mày.
- Tôi biết anh Sáu ạ, nhưng tôi không có cách gì.
- Ổng là người thức thời. Ổng bỏ kháng chiến không phải vì gian khổ hay vì sợ xa gia đình mà vì lý do khác: ổng thối chí nản lòng ! Mấy cha Trần văn Giàu, Nguyễn văn Trấn, Hà huy Giáp nhử ổng vô đảng dữ lắm. Tao biết. Nhưng ổng bảo : “Tôi không có khả năng biến đổi thế giới như mấy ông. ” Ổng nói chuyện với tao, ổng trách khéo cụ Hồ… Tao làm thinh. Trả lời sao được. Ổng không phải là người dễ nghe tuyên truyền. Ổng có vẻ mến mấy ông Phan văn Hùm và Tạ thu Thâu.
-Tôi về đây chẳng mang điều gì vui cho gia đình, ngược lại, chỉ là khổ ải.
- Phải hồi đó mày đừng đi miền Tây, ở trên này với tao. Có lẽ ổng bắt mày về cưới vợ rồi. Tao thấy tội nghiệp ổng quá chừng. Ổng không mong gì hơn là mày cho ổng đứa cháu đích tôn.
Tôi thở dài ngao ngán:
- Chắc tôi phạm tội, một trong bốn tội lớn nhất: không con nối dòng.
- Con Chia nói gì với mày tao biết hết. Nó học với má nó. Má nó rủ rỉ với tao. Bả cũng muốn bắt rể . Bả nói kỳ tới bả sẽ dắt con nhỏ lên nhà mày đó mày ạ. Con Chia nó nói mày đã nhận nó là vợ của mày rồi kia.
- Thì tôi cũng cần có vợ thiệt đó chớ anh Sáu.
- Rồi sao?
- Tôi không thể đứng ra cưới, nhưng nếu nó tới nhà tôi ở và có con thì tôi sẽ coi như đó là việc đã rồi.
- Còn con nhà cao bồi này?
- ….!
- Bộ mày cũng hứa gì với nó rồi hả ?
- ….!
- Tao coi nó lậm bang còn nặng hơn con kia. Nó yêu mày theo cái kiểu Loan và Dũng trong Đoạn Tuyệt hoặc là chàng ra đi lưng khoác chiến bào em ngồi mong bên song cửa. Mày mà cưới con kia nó nổi khùng lên dám ra Củ Chi kêu pháo bắn tan xóm này lắm. Tao biết tánh nó. Nó không sợ ai hết! Nó dám xông vào chỗ nguy hiểm. Nó lỳ lợm. Pháo bắn ban đêm ai cũng lăn xuống hầm, nó cứ ỳ ra ngủ như thường.
- Bây giờ tôi làm sao? Trái tim đâu thể chia năm xẻ bảy được anh Sáu.
- Tao biết nếu nó ở nhà nó sẽ làm bận mày dữ lắm, nên sáng nay tao sai nó đi Củ Chi lấy tin. Nói là lấy tin chớ chủ yếu là đưa nó đi để mày lên đường. Tao bảo mấy đứa dũng sĩ đưa mày lên ông Thần Núi.
Sáu Huỳnh rẽ vào nhà ông Hai Ất giao tôi cho đội nữ của Út Nhỡ rồi về . Út Nhỡ phân công cho Phượng và Út Lan đưa tôi đi (không phải Tư Lan người Năm Cội mê ). Có lẽ Út Nhỡ cho rằng tôi và Phượng tuổi tác quá chênh lệch không thể có chuyện pháo tầm xa được mà chỉ bắn chim sẻ tí ti thôi nếu có hoàn cảnh. Bên cạnh đó còn có Út Lan khống chế. Út Lan nhỏ tuổi nhất có lẽ chưa có ý thức về tình yêu. (Nhưng Út Nhỡ nhầm. Út Lan vẫn để ý tôi và đã nhét vào xắc-cốt tôi một lá thư)
Thế là Phượng và Lan chuẩn bị đưa tôi đi. Nỗi buồn vương mỗi bước chân. Lưng nặng tâm tư, đầu gục vì sầu não, trái tim rướm máu với bao vết thương. Vết thương gây ra bởi những chiếc móng tay búp măng còn sâu hơn bom đạn. Nó đã rạch vỡ rồi thì kim chỉ nào cũng không thể vá may.
Tôi không đến gặp Chia trước khi đi. Chỉ nói chuyện với nàng đêm qua. Nàng coi như đã là vợ tôi rồi. Tôi hình như không có một sự từ khước nào cả . Thôi thì cứ vậy đi. Tiến tới như một chiếc xuồng trên dòng nước trôi; ắt phải đến, huống chi có bàn tay chèo?
Bảy Nê nói:
- Chậm chậm một chút cho tan phèn đã anh! Bây giờ còn sớm lắm! Đi nửa đường rồi nó đổ chụp không có chỗ chui.
Người buồn nhất có lẽ là cô Bắc kỳ lai Ba Cấm. Nàng cứ nhấp nhứ định nói câu gì nhưng lại không nói. Nàng đi theo tôi ra cổng, trao cho Phượng cây tiểu liên của nàng và dặn:
- Em Phượng đi trước bám bìa rừng cao su. Anh Hai và Lan đi sau cách một trăm thước, khi tình hình êm thì vẫy tay anh Hai và Lan mới đi lên, nhưng Lan phải đi trước anh Hai năm chục thước cảnh giới cẩn thận. Khi đến đường số 7 phải đi nhanh băng qua suối Xóm Mới.
Tôi quàng cổ cô trung đội phó hôn lên má:
- Chu đáo quá nhà quân sự! Cám ơn! Thôi được rồi, đi vô đi .
Ba Cấm rơm rớm nước mắt.
- Bữa nay em sẽ nằm suốt ngày không làm gì nổi !
- Sao vậy?
- Em ốm mất ?
- Anh đi nhe. Kỳ sau sẽ dạy pháo và địa đạo.
- Viết thư cho em!
Một Thu Hà khác đứng ngó theo tôi. Tôi không quay lại nhưng vẫn trông thấy cô Bắc kỳ lai đứng đó chẳng biết lúc nào trở thành tượng đá Củ Chi. Lan quay lại:
- Anh Hai chuẩn bị băng qua ruộng. Anh lột dép ra đưa em xách cho.
Phượng lên đạn tiểu liên và vọt trước. Tôi cũng rút khẩu K54 ra lên đạn xuống cò nước nhỏ rồi tra vào vỏ. Lan nói:
- Mình phải sẵn sàng vậy thôi ! Tụi Trung Hòa chưa dám thọc vô tới đây. Nó chỉ vô rìa Gò Nổi là cùng, chớ không dám bước vô xóm. Du kích An Nhơn của ông Ba Tâm gài lựu đạn nhiều lắm. Ở ngoải cũng có đội du kích túc trực canh gác như đội của anh Năm Cội. Nếu tụi Trung Hòa vô tới Gò Nổi là du kích bắn báo động để tụi mình ở Lô 6 hoặc Ba Sòng biết.
Tổ ba người chúng tôi rẽ xuống ruộng đi theo lối mòn. Hai cô dũng sĩ sẵn sàng trong tư thế chiến đấu. Đi một quảng đụng con suối, không có cầu, chỉ có hai khúc dừa lều bều trong lòng suối. Chúng tôi lội bừa. Buổi sáng chưa có dấu chân qua lại, nước suối trong veo, những cụm lá hẹ trôi theo nước uốn lượn mềm mại như những mớ tóc suông xanh rì.
- Suối gì đây hai em?
- Người kêu là suối Xóm Mới, kẻ gọi Suối Bào Trăn hay Bào ôn. Nó bắt nguồn từ Bào Đúng tận trên Hố Bò . Mùa mưa nước tràn không lội qua được.
Chúng tôi lên tới xóm bên bờ suối rợp tre trúc. Đường dốc cao dần như đi lên đồi. Đến một quãng đường rậm có một cây cao su ngã ngang. Không ai bảo ai, cả ba đều ngồi xuống nghỉ. Tôi vừa ngồi xuống vừa hỏi:
- Có con ve không hai em?
- Ở đây không có thứ đó. Phải lên rừng Lộc Thuận thì mới được nếm mùi.
- Rừng ở đây hiền khô, còn ở Trường Sơn, nhiều đoạn khách dừng lại là vắt ăn thịt. Đứng nghỉ cũng phải dậm chân, nếu không, nó đeo dính cả hai bàn chân rồi bò tới lỗ tai mà cắn. Mấy cô mấy bà lấy dây quấn từ mắc cá lên quá đầu gối mà nó vẩn vượt vĩ tuyến như thường.
- Rồi làm sao đi?
- Thì cũng nhắm mắt lội càn chớ làm sao ? Nhiều cô học sinh Hà Nội khóc rùm. Có cô nhõng nhẽo đòi giao liên mang dùm ba lô…
Lan nhìn tôi:
- Nếu em đi ngoài đó chắc em đòi anh cõng quá !
Tôi vò đầu Lan:
- Anh còn lê không nổi cái xác anh nữa là cõng em !
Lan gợi lại chuyện hôm trước.
- Anh Hai đào hầm giỏi quá hé !
Phượng nguých.
- Mày không có đào với ảnh sao mày biết?
- Em đứng miệng thí, em lôi ki nào ki nấy muốn cụp xương sống cóng xương sườn mà không biết à?
- Trông các đội ai đứng miệng thí cừ nhất em biết không?
- Chị Là xã đội phó xã Phú Mỹ Hưng !
- Sao em biết?
- Lần đó chỉ thách tất cả nam nữ nếu ai đứng lâu hơn chỉ thì chỉ sẽ đãi một nồi chè.
- Có ai thắng không?
- Không?
- Em cũng thua à?
- Hồi đó em chưa vô du kích. Gia đình em ra ấp chiến lược Suối Cụt hết cả rồi. Em và anh em trốn ở lại nhập du kích đó chớ. Anh em công tác ở xã Phước Thành.
- Phước Thành ở đâu?
- Ở phía trên đường số 7 giáp với quốc lộ I, phía dưới là xã Phước Hiệp. Đầu trên có suối Sâu giáp ranh với Trảng Bàng. Hồi 62 du kích xã em mạnh nhất. Ban ngày mà dám ra chận đường bắt xe đò lấy hàng hóa chở về cả mấy xe bò, nào vải, nào thuốc lá, đường, đậu vô số. Mấy ông du kích liên hoan ngày đêm. Lại còn vô tiệm hàng xén bắt chủ đóng thuế.
Nghỉ chân một lát, lại đi tiếp đúng một tiếng đồng hồ đến đường số 7. Phượng bảo tôi và Lan đứng lại nép vào bụi, cô nàng ghìm tiểu liên đi tới, một chốc quay trở lại ngoắc. Tôi và Lan đi lên. May mà không có chuyện gì. Nếu có thì sao? Chết lãng nhách.
- Chỗ này đầm già thường bắn điểm lắm. Nó hay phục kích trên mây xanh rồi bất thần nhào xuống bắn xe đạp chạy trên đường. Đi nhanh lên anh Hai!
Từ sáng tới giờ tôi đi giữa những những lỗ bom, pháo, đạn, tro than. Không có mấy nơi là không có dấu vết chiến tranh. Nhà không cái nào còn nguyên, không cháy thì giở bỏ cột kèo bừa bãi, nền nhà trơ trụi, một con chó mực nằm rầu chủ, mấy con mèo chạy vụt ngang đường. Cả một vùng đất hoang tàn tang tóc. Đi qua một khóm trúc, Lan bảo:
- Đây là nhà chị Tám, em gái nuôi của ông Hai Thái.
- Ông Hai.Thái ở đây à?
- Không, ổng đi đi về về thôi. Ổng là chánh trị viên tiểu đoàn Quyết Thắng, cũng là mùa thu như anh.
Phượng quay lại gắt:
- Mùa thu thì mùa thu chớ không phải như anh Hai.
- Em nói ổng cũng là mùa thu chớ em không nói ổng giống như anh Hai. Anh Hai đâu có em nuôi 18 tuổi như ổng.
Lan tiếp:
- Vừa rồi má ổng vô cho tiền và xe Bờ Rô. Ổng không dám nhận xe còn tiền thì lấy rồi đem ra làm tiệc đãi ….
- Đãi tiểu đoàn à?
- Không, đãi các em nuôi! Em có tham gia một tiệc ở Ràng. Cốt ý của ổng là mua chuộc đám em kêu ổng bằng anh đừng kêu bằng chú, nhưng ăn xong, đám em vẫn kêu bằng chú, ổng cự nự quá sá. Ổng bảo: “Tao vầy mà chú à? Tao cho tụi bây biết Tổng bí thư đảng có vợ bé ít hơn ba chục tuổi đó, có ai kêu ổng bằng chú không?” Em nói: “Không kêu chú, nhưng kêu bác.”
Đi đường mới qua toàn cảnh lạ tôi không nhận ra chỗ nào, bèn hỏi:
- Gần chợ An Nhơn chưa?
- Anh định vô đó lượm than và hốt tro hả ?
- Quán cô xám bán nước đá còn không?
- Nhà cháy, tiệm sập, một hố bom đìa giữa sân chợ. Cô xẩm của anh chạy tuốt xuống Bàu Trai dưới Hậu Nghĩa rồi.
- Sao em biết cô ta?
- Thì lần anh tập trung mấy bà mấy cô và thiếu nhi tại chợ, cho ông nhà báo quay phim em ở trong đám con nít được uống nước đá khỏi trả tiền đó chớ đâu. Anh lên đó dàn cảnh phải không?
- Nhà của ai còn ngói đỏ au vậy em?
- Nhà chị Tám Phụng, phụ nữ xã mới được đề bạt lên quận. Cũng loại gác máy bay. Nhưng không có lép xẹp như khô cá hố kiểu bà Năm Đang, Hai Xót đâu ? Anh muốn làm ông quận thì đâm đơn vô . Cỡ anh thì chỉ đạo một vòng là bắn trúng mục tiêu thôi.
Một lát Phượng lại trỏ một ngôi nhà khác. Tôi nhìn vào.
Hai bên hiên có những cây bưởi. Bưởi non và vỏ bưởi vung vãi đầy gốc. Trước nhà có mấy gốc vú sữa. Một gốc bị xén mất một nửa tàng lá. Cành quặc xuống lòi cây trắng như xương. Tôi chợt nhớ cây vú sữa nhà má Hai. Rồi nhớ bé Rớt, nhớ Lụa, Là. Gia đình thứ hai của tôi đó. Không biết cô xã đội rắn mắc còn giận mình hết?
Phượng bảo:
- Đó là nhà của ông Út Vọng, cũng tập kết.
Tôi hỏi như giật mình.
- Út Vọng nào?
- Út Vọng chớ Út Vọng nào. Vợ ổng có chồng rồi. Ở ngoài Củ Chi á ? Bả lấy lính mới chết chớ !
- Chắc không?
- Cả Củ Chi biết sao không chắc ! Anh ra ngoải có gặp ông không?
- Không !
Tôi đáp vậy nhưng tôi biết ổng rành. Ổng là Trung đoàn phó Trung đoàn 2 đóng ở Thọ Xuân Thanh Hóa! Khổ chưa! Không biết ổng có hay tin này? Có bao nhiêu người chồng Nam kỳ như ông Út Vọng? Tôi không muốn nghĩ xa thêm. Chính tôi cũng đã hụt vợ vì đi theo kháng chiến ! Còn đi kháng chiến là còn hụt dài dài.
Tôi đang lan man nghĩ ngợi thì nghe tiếng chuông xe đạp leng leng phía sau lưng. Linh tính cho tôi biết đó là thằng Lạn. Vùng này bị bánh xe phong trần của nó rạch ngang rạch dọc như mặt thớt. Nhưng không! Đây là chắn con. Ua rẹc xe đạp tới trước mặt chúng tôi rồi thắng két, dừng lại bên vệ đường, chõi chân xuống đất, ngoáy cổ lại, trề môi:
- Đi đâu từ sáng tới giờ mới tới đây.
Phượng hất hàm.
- Đi đâu vậy ông tướng?
- Đi đưa anh Hai lên K10.
- Chú Sáu giao ảnh cho tụi tao rồi. Sao mày còn xía vô !
- Tụi bây đi cà rịt cà tang chừng nào mới tới? -rồi quay lại tôi nói như ra lệnh – Anh Hai lên đây !
Tôi bị kẹp giữa hai gọng kềm êm ái. Nhưng tôi quyết định chớp nhoáng.
- Phượng và Lan trở lại được rồi em. Ở nhà còn nhiều công tác.
Phượng phật ý, vùn vằn:
- Như vậy tụi em không hoàn thành công tác.
- Anh sẽ báo cáo tốt cho hai em.
- Chú Sáu bảo em đi riết theo chở anh mau mau lên K10 có công tác khẩn.
Lan và Phượng nghe nói thế đành chịu thua. Phượng rưng rưng:
-Anh Hai đi mạnh giỏi nghe!
Lan móc túi đạn ra một mẫu giấy đưa cho tôi:
- Đây là thơ của anh em gởi cho anh Tám bạn của ảnh công tác ở K10, anh tới đó, đưa đùm.
Ua chụp lấy ngay bỏ túi và quắc mắt:
- Để tao đưa dùm cho.
Ua lại giục. Tôi vừa ngồi lên ngọc ba ga vừa vươn cổ ra lải nhải với Phượng và Lan:
- Công tác khẩn cấp nên chú Sáu mới bảo Ua đi thế này hai em ạ? Hai e….
Ua vọt tới, cắt ngang câu nói của tôi, còn quát:
- Anh ôm em cho chặt, em đạp mau té bây giờ !
Tôi chưa hết bàng hoàng thì Ua đã chạy vun vút như con ngựa chứng. Tôi vẫy tay lại Phượng và Lan. Hai nàng dũng sĩ đứng chết trân. Chỉ có Lan vẫy đáp, còn Phượng thì im lìm. Có lẽ nàng cảm thấy những cái hôn hôm nọ trở thành vết thương trong lòng nàng chăng? Ua lên giọng gay gắt:
- Mấy con nhỏ như rùa.
Tôi chẫm rãi:
- Sao chú Sáu bảo em đi Củ Chi?
- Xí quan trọng gì ba cái chuyện đó. Em đi một quãng rồi quành ra đây chận đường anh.
-Đi đường nào mà tài vậy?
- Anh biết đâu mà hỏi.
- Đi vầy rồi về một mình sao?
- Em trở lại đường số 7 ra Gò Nổi rồi ra Củ Chi, khó gì !
Tôi thầm nghĩ: con bé này ghê gớm thật. Ua nói:
- Em đi kỳ này có thể là lần cuối cùng với anh. Không còn gặp lại hoặc gặp lại mà không như trước đây.
- Em nói gì vậy?
- Một là chú Sáu cắm em luôn ngoài Củ Chi để tìm cách đột nhập vào Đồng Dù . Như vậy là không còn gì nữa. Em đã bảo anh hôm đó mà anh không nhớ sao? Thì bây giờ em phải bắt anh.
- Vậy sao bữa hôm em nói em nhường đứt anh cho Chia?
- Nói vậy thôi, chớ anh cưới con Chia thì em sống sao được ?
- Ai nói với em anh sẽ cưới…?
- Nó sang nói với ngoại, má nó cũng nói với ngoại. Thôi, em nhường anh cho nó . Em sẽ lao vào công tác để quên anh. Em sẽ không bao giờ lấy chồng.
Tôi cảm thấy mình có tội. Tôi đã nghiêng hẳn về Chia. Ua cũng biết. Ngoài ra còn sự bàn bạc giữa má Chia và ngoại. Tôi chống đỡ lấy có:
- Sao em bảo ở chung?
- Nói vậy cho anh yên tâm chớ trái tim ai mà cắt ra hai mảnh như vậy được.
Tôi rụng rời hết cả tay chân, chẳng còn biết nói năng sao cho xuôi. Ua vừa đạp hùng hục vừa nói liên miên, tôi tưởng như nàng là đứa con gái đã trên hai mươi.
- Anh yêu con Chia là phải đấy. Nó đằm thắm, nó học giỏi, nó khôn khéo hơn em. Cái gì nó cũng hơn em cả. Nó chỉ thua em một điều.
- Điều gì?
- Nó không yêu anh bằng em.
Tôi bất ngờ nghe như bị một mủi tên cắm phập vào tim.
- Và đó là điều quan trọng nhất để sống với nhau. Học giỏi không cần trong tình yêu. Còn sự khôn ngoan trong tình yêu lại là một điều tai hại. Em yêu anh, em không có suy tính đám cưới, không tính chuyện đến nhà anh gì cả. Vừa trông thấy anh không biết anh là ai, em đã yêu ngay. Em tự nhủ lòng mình đây rồi, người mình mơ ước. Chưa bao giờ em để ý đến mấy ông thanh niên chung quanh đây, em thấy họ thấp thấp thế nào ấy. Thanh niên gì lại gởi em ra chợ Bắc Hà mua sợi xanh-tuya-rông hoặc một cái bi-đông US để chi anh biết không?
-Để chi?
Để tặng lại em. Sao họ có thể khúm núm như vậy? Em có thể mang bộc phá vào đánh lại Mỹ Đồng Dù và chết luôn trong đó chứ không thể nào nhận những món quà như vậy. Anh chọn con Chia làm vợ là đúng, chọn em là lầm. Còn anh chọn em làm người yêu là đúng nhưng cưới em làm vợ là lầm. Trước đây em cũng tự lầm lẫn nên mới đòi anh thưa với bác chuyện nọ chuyện kia, thậm chí cưới em. Em đã lầm chính em. Em chỉ yêu anh thôi còn làm vợ anh thì không chắc hoặc chắc là không. Anh hiện đang cần vợ hơn cần người yêu
- Vậy anh là người không biết yêu?
- Có thể ! Xưa nay những người yêu nhau đều không lấy được nhau cả? Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Lan và Điệp, Dũng và Loan v.v… Không lấy nhau thì còn yêu nhau. Lấy nhau rồi tình yêu là đĩ vãng.
Tôi có cảm tường như Ua giảng cho tôi một bài học đường đời vô cùng thấm thía. Tôi thấy tôi trẻ lại và đồng thời già lên. Tôi hỏi:
- Vậy em bảo anh phải làm gì bây giờ?
- Anh hãy tự hỏi anh!
Ua đèo tôi đến một khóm vườn tre mạnh tông và trúc lẫn lộn, nhà cửa xệu xạo đường đi ngập cỏ hoang.
- Đây là căn cứ của ông Năm Lê ở trong nhà ông Ba Xây xã đội phó An Nhơn Tây. Anh đến đây phải cẩn thận . Ổng gài lựu đạn bốn bên. Mỗi một bụi gai mắc cỡ có một cái chông ba lá ẩn dưới đó. Mỗi một bước đi có thể là một hầm chông. Nhà ổng bị nguyên một trái rốc kết cháy tiêu vừa dựng lại sơ sơ. Vợ con ra ấp chiến lược ngoài Trung Hòa. Ổng với mấy tổ du kích còn bám lại. Ổng có hầm ngách thông ra địa đạo nên chủ quan lắm.
Ua bảo tôi xuống, nàng dắt xe đi theo một lối mòn bên ven bờ tre rồi vòng ra sau ruộng. Rồi men theo một bờ ranh mà trở lại vườn tre bằng ngỏ sau. Nhìn vào trong thấy có làn khói mỏng, tôi hỏi:
- Ở đây cũng làm bếp Hoàng Cầm nữa à em?
- Đó là bếp của ông Năm Lê, còn du kích của ông Ba Xây thì làm biếng cứ nấu bừa bãi chớ đâu có làm bếp Hoàng Cầm.
Chợt thấy một cô gái thấp thoáng bên trong, Ua gọi:
- Chị Hiền!
- Ai đó.
- Em đây. Có khách của chị tới !
- Ông thầy pháo phải không?
- Sao chị đoán tài vậy?
- Chú Tám bảo ra đón mà !
- Làm sao vô?
- Qua ngã bên hông kia kìa. Lối sau đã rào bít rồi. Cứ đi đi không có lựu đạn đâu.
Ua dắt xe quay trở ra ruộng bọc theo phía cô gái vừa chỉ.
- Đến nơi rồi ? Thôi anh vào nhé . Em đi về .
Ua nói với giọng lạnh lùng, nhưng tôi biết đó là một sự đè nén ghê gớm. Tôi bảo:
- Em đừng giận anh, Ua nhé !
- Giận gì mà giận. Dù sao em cũng đã yêu anh và được anh yêu … hức hức… nhiều.
- Mãi mãi.
- Không! Bây giờ thì anh đang cân nhắc lợi hại. Khi cân nhắc, tình yêu không còn nữa. Cũng như đánh giặc. Nếu ra trận mà suy nghĩ lần này ta có còn sống để trở về không, bị thương mấy vết, nặng hay nhẹ, thì không thể đánh giặc được nữa .
Ua đẩy tôi ra, nhìn tôi bằng ánh mắt hờn dỗi:
- Môi anh hết điện.
Tôi giật mình. Nàng cảm thấy điều này thực tình hay chỉ phỏng đoán. Tôi thấy sợ nàng. Nàng phẫn chí dám liều lắm. Tính tình của nàng lạ lùng. Nếu xảy ra chuyện gì thì tôi phải chịu trách nhiệm.
-Thôi chào anh!
Ua quay lại rồi dắt xe vọt ra con đường mòn khác không thấy nàng quay lại. Tôi đứng chết trân, cảm thấy như gân cốt trong người đều bị cắt đứt. Một tiếng nói bên tai làm tôi tỉnh lại. À Hiền. Hiền nhoẻn miệng cười xinh xắn:
- Anh đi vô đi anh.
Tôi vẫn đứng, tâm thần chưa định. Bỗng thấy chiếc xe đạp lấm lem bùn đất dựng ở gốc bưởi, tôi hỏi:
- Xe của ai vậy em?
- Xe tiếp phẩm mới về .
Tôi vừa nói vừa bước lại dắt chiếc xe:
- Cho anh mượn chút.
Rồi phóng vút đi. Tôi đuổi theo Ua, theo ái tình, theo cái hạnh phúc vừa vuột tay. Tôi vừa chạy vừa kêu. Nàng đang ở trước mặt tôi rõ ràng mà như một ảo ảnh. Chiếc xe vẫn nảy lên như con ngựa chứng. Tôi vọt qua mặt và chặn đứng nàng lại
- Ua !
Nàng thắng gắt, ngã xe qua và quắc mắt:
- Anh theo em làm gì nữa.
- Em không yêu anh nữa à?
- Anh không còn yêu em.
- Sao em nói vậy?
- Anh không hôn em.
Tôi sực nhớ ra tôi đã không hôn hoặc quên hôn nàng lúc sắp chia tay. Chính tôi cũng không hiểu tại sao. Tôi ôm chặt lấy đầu nàng:
- Hôn nè, hôn nè. Chút chút… Còn giận hết?
Nàng buồn rầu nói.
- Môi anh nguội ngắt!
Tôi cũng không hiểu tôi nữa. Điện nguội từ bao giờ. Tôi dìu nàng dắt xe đi song song. Đường nắng chang chang nhưng tôi nghe lạnh buốt. Đến mối đường cỏ mọc lan, tôi nhìn vào trong thấy một ngôi nhà ngói cũ hoang tàn. Tôi nắm tay nàng quẹo vô Nàng ngoan ngoãn vâng lời, Nhà cửa ngổn ngang. Chúng tôi chỉ đứng ngoài hiên để khuất mắt người đi đường. Ua phụng phịu:
- Anh biết em đến làm chi không?
- ????
- Bữa nay là ngày chắc đậu thai hơn bữa hổm.
Tôi ôm và ép nàng vào tấm vách ván cơ hồ rung rinh cả ngôi nhà. Nàng tiếp:
- Đời em kể như tiêu rồi. Chỉ có anh mới cứu được em thôi.
- Lại ghen với Chia.
- Ghen cũng có nhưng hết rồi. Em còn đâu nữa để mà ghen. Em sẽ ra Củ Chi công tác, như em đã nói. Vậy thì chỉ có chết thôi. Em đến đây hôm nay là nhằm ngày trứng rụng để em có con với anh. Nếu trong ba tháng liền mà em tắt kinh thì em nghỉ công tác luôn. – Ua nói rất bình tĩnh như chuyện thường – Em sẽ ở nhà nuôi con. Ai hỏi em con ai, em sẽ đưa tấm hình ra, không cần giấu giếm.
- Hình rửa rồi à? Thợ nào vậy?
- Rửa rồi. Em rửa lấy chớ thợ nào. Chú Sáu Huỳnh có bộ phận nhiếp ảnh. Thằng cha Bắc kỳ tên gì không rõ ở ngoài Củ Chi lâu lâu đem phim vô rửa trong này. Nó bảo em vô phòng tối giúp cho nó một tay. Em ham coi hình nên em vô. Nó vừa làm vừa dụ dỗ em, bảo nếu thích ra Củ Chi ở với nó mở tiệm chụp hình. Nó sẽ chụp hình em thiệt to treo ở trong tiệm… Rồi nó mò em, nó hun em. Chàng ngờ em học được nghề nó và hôm nay lại có ích!
Nàng móc túi lấy ra một xấp ảnh đen trắng:
- Chối nữa thôi.
Tôi nhìn tấm đầu tiên mà lóa cả mắt, chóng mặt giây lâu. Mình nhìn rõ lại mình.
- Em cũng mắc cỡ quá trời, nhưng nhìn vài ba lần thì quen. Rồi em nhớ anh, em không chịu được. Con Chia chụp hụt mấy pô
Trời đất! Con nhỏ này ngông nghênh.lãng mạn đến kỳ cùng. Pô thứ nhất ghi dấu thằng Đồng Khởi của tôi trong tư thế… Pô thứ hai …. . Pô thứ ba …. nghĩa là một trăm phần trăm em ơi !
- Em đưa của con Chia cho nó. Còn cái nào có dính cả hai đứa thì em cất.
- Coi chừng lọt ra ngoài thì chết.
- Em hổng sợ mà anh sợ hả?
Tôi không hiểu nàng tiêm nhiễm ở đâu các kiểu lãng mạn kỳ tình đó . Văn hóa Đồng Dù và cái không khí chết chóc của Củ Chi? Con người biết mình sắp chết nên tìm những thú vị chăng? Chắc là vậy. Nàng rất tha thiết lặp đi lặp lại:
- Em muốn có con với anh. Còn việc anh cưới em, em không đòi hỏi như trước nữa. Em biết là việc đó bất thành. Nhưng em muốn giữ lại cho tình yêu duy nhất của em một kỷ niệm thật chớ không mơ hồ hoặc trong những bức thư.
- Em không bỏ công tác được à?
- Em đã thề với ông Chín Lộc là không bỏ cũng không làm hại công tác. Cũng như anh, anh có bỏ đảng, bỏ cách mạng được không?
Tôi lặng thinh. Nàng cứ nói miên man, hễ tôi ngưng lâu nàng tiếp. Những câu nói như những vết búa đập chan chát vào tình cảm của tôi. Tôi có cảm tưởng là nàng đã lặp lại những câu nói trong một cuốn tiểu thuyết nào hay chính nàng đang, hoặc đã trở thành nhân vật tiểu thuyết. Nàng mếu máo rồi khóc nức nở:
- Em không còn ghen với con Chia nữa. Vì nó rồi cũng như em thôi. Anh sẽ không cưới nó, còn nó rồi sẽ không còn ở đây. Cái hầm của chúng ta từng sống với nhau sẽ bỏ hoang. Không có nó, không có em và cũng không có anh đến nữa. Má nó sẽ dời ra thị trấn ở với má em. Chúng ta sẽ không còn gặp nhau… Yêu em đi. Đây là lần cuối cùng. May mắn trời cho thì em có được đứa con.
Đây là lần cuối cùng chăng? Tôi yêu nàng, đứng, giữa ban ngày, giữa hoang tàn và giữa tiếng bom, pháo gần, xa.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 48
Gặp lại cố nhân hốc hác:
Sơn Tiêu và Tám Nghi


Trong kháng chiến chống Pháp cũng từng có một vụ thất tình của một anh cán bộ đã dẫn tới một hành động chính trị Một anh chàng học sinh Sài gòn dắt một cô bạn ra bưng để xây tổ uyên ương trong khói lửa. Ra khu được ít lâu, một tên cán bộ trung ương giỏi mép Mác xít đã cuỗm được cô nàng. Chàng kia uất ức trở lại thành kêu quân đội Pháp đến oanh tạc và đổ bộ đánh tan một hệ thống cơ quan ở vùng Bạc Liêu. Những người có trách nhiệm tìm cách che giấu rất kỹ nhưng sau cuộc tấn công bất thần đó, truyền đơn rải khắp nơi. Mỗi tờ giấy trắng đều in rõ hình anh chàng hận tình, tên tuổi và câu chuyện bị cuỗm người yêu cùng với danh tánh của những kẻ trong chuyện.
Sau đó lại xảy ra một chuyện khác ở vùng Cần Thơ. Tên tư lệnh mắt mèo Võ Quang Anh hốt vợ chưa cưới của sinh viên trường Quân chính Quang Trung. Cậu sinh viên này phẫn chí bỏ về thành đi học trường sĩ quan quân đội Sài gòn, lúc đình chiến lên đến trung tá. Trước khi về thành cậu ta nhắn với bạn thân: “Mày nói thằng này địt mẹ cách mạng dùm tao nghe!” Thằng bạn thân đó chính là tôi.
Có lẽ nào giờ đây tôi là kẻ cuỗm vợ chưa cưới của ai? Tôi không bao giờ làm chuyện đó. Ngược lại chính một tên tư lệnh mắt mèo khác đã cuỗm người yêu của tôi. Nhưng tôi không nói gì cũng không thèm phản ứng. Vì tôi biết nàng ta không yêu hắn mà bị bà mẹ nàng dồn ép, dâng nàng cho hắn để hắn không đến ve vãn bà ta nữa. Sự ve vãn này có thể đưa đến sự thất tiết của bà . Lẽ thứ hai tôi luôn luôn nghĩ con gái như mảnh lụa đào phất phơ giữa chợ, cũng như chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn. Ta tìm cái khác. Thiếu chi mà ta phải ghen tương giành giật với nhau? Xoàng!
Với triết lý đó tôi không bao giờ đau khổ vì tình. Không có người con gái nào làm tôi đau khổ, và tôi cũng không muốn ai đau khổ vì tôi. Tôi muốn họ coi tôi như một thứ chim trời, cá nước, một con bướm khi vui nó đậu khi buồn nó bay. Tôi chỉ sợ Ua quẩn trí thì khốn.
Cô nàng chỉ vọt ra Củ Chi trong vòng ba tiếng đồng hồ là cả vùng này nát như tương. Thoắt nghĩ như vậy tôi muốn vọt theo nàng nhưng nàng đã ra đến đường lớn. Chiếc xe phóng nhanh. Cô Hiền ra đến cái ngõ lan cỏ hoang rắp hờ bằng một nhánh chà tre để ngăn biệt kích chớ gì? Rõ một trò đùa. Ở trên R có một cơ quan cũng làm như cảnh giác cao, bắt nhân viên đốn nứa rào một châu vi rất rộng. Chẳng ngờ đó là một cách phô trương. Chẳng bao lâu biệt kích đột nhập, phối hợp với trực thăng đổ chụp giết sạch nhân viên.
Cô Hiền kẻo nhánh chà tre qua một bên lấy lối cho tôi vào rồi rắp lại ngay. Tôi vừa bước ít bước thì từ một cái chòi lá lụp xụp núp dưới một gốc bưởi bước ra một người: .
- Ê! bồ nhà !
Tôi nhìn ra ngay: Tám Nghi! Nhưng một Tám Nghi xơ xác hãi hùng. Hắn là thượng úy đoàn viên của một đoàn sĩ quan do tôi làm phó đoàn vượt Trường Sơn. Tám Nghi nói.
- Ổng được điện bá o của H2 mày đã rời trên đó hồi sáng. Tao cho người rình nãy giờ ! Thôi đi vô, đi vô ! Ổng đang chờ mày như trông nước uống.
- Gì mà dữ vậy?
- Mày thuộc về thứ dữ rồi chớ còn gì nữa?
- Ăn ở gì mà kín cổng cao tường vậy? Còn hơn mấy ông trời con giao liên trên Trường Sơn trốn khách!
- Phải vậy mới sống ! – Tám Nghi quay lại Hiền lót tót theo sau bảo – Em đi vào đem trà kẹo và thuốc lá ra đây để anh bạn anh giải lao chút rồi vô yết kiến bệ hạ !
Tám Nghi đẩy tôi vào chòi. Trong đó có một chiếc võng mắc sẵn. Hắn bảo tôi giăng võng nghỉ ngơi chờ lệnh. Tôi nghĩ: lại một thứ triều đình con con so với trên R. Mỗi một ông lớn hùng cứ một vùng tha hồ đặt ra điều lệ riêng cho mình. Tôi hất hàm hỏi tám Nghi:
- Cô em nào coi khớ vậy?
- Thì cũng con nuôi của các ông thôi, hỏi làm gì?
- Mày không nuôi đứa nào à?
- Tao lấy gì mà nuôi?
Phong trào con nuôi em nuôi coi bộ lây khắp nơi!
- Biết vậy hay vậy, chớ có nói ra mà mất chỗ đội nón!
- Con gái bây giờ mà lọt vô cơ quan của mấy ông là in như phi tần của hoàng thượng vậy.
Tám Nghi móc thuốc Capstan ra mời. Hai đứa nằm võng lắc lư coi trời bằng hột vịt qua làm khói mờ. Tám Nghi hỏi:
- Tao nghe đồn mày sắp làm phò mã đâu ở trển?
-Đếch gì!
- Ở trển có phải yên thân không?
- Mày không hay vụ dưa hấu rụng kỳ rồi à?
- Có chớ sao không. Mày tưởng dưới này không có thứ đó sao mà vác càng tôm xuống đây?
- Dưới này còn lượm mạnh hơn trên đó hả ?
- Dưới này còn bận Ba xây, ba chống, ba khoan nên để trên R lượm trước.
Hai đứa cười rù với nhau thoải mái. Phải có Tư Linh là đủ bộ ba ông Táo tha hồ mà phun mây nhả khói. Nguyễn Trường Nghi không biết ở tỉnh nào. Tôi không hề hỏi quê quán hắn mà hắn cũng không hỏi gốc gác tôi. Tôi biết hắn là tay xạ thủ súng ngấn của trường Lục Quân Sơn Tây. Trên đường về Nghi bệnh nằm lại trạm Tl4. Mới có hai năm mà anh ta trông hom hem quá đổi.
Hắn đoạt hạng tư trong toàn thể các tay súng ngắn Liên Xô và Đông Âu. Trên đường Trường Sơn, Nghi là tay bắn khỉ đại thần sầu còn tài hơn Dương bá Dương nữa đấy, không phát nào sẩy mà toàn ngay đầu. Khỉ mà bắn trúng mình thì kể như ăn máu… nó thôi. Tám Nghi buông một câu bất ngờ. .
- Thằng Trần Chánh Lý nằm lại ngoài đó muôn năm! . ..
- Không biết Bảy Phương có sửa sang gì lại cái mộ nó hay không?
- Vào trong này đụng tăng Mỹ mới nhớ đến nó . Thượng úy chống tăng lại nằm ở chỗ không có tăng!
Hai đứa thở dài với nhau sườn sượt. Tám Nghi chợt thấy chiếc nhẩn trên tay tôi, hỏi:
- Bộ mày có dính với cô nào rồi sao?
- Cô nào?
- Không biết con Thu Hà . . .
Tám Nghi bỏ lửng không nói thêm, cơ chừng sợ đụng chạm tới cô nào. Tôi nói:
- Tao vẫn lang bang như xưa !
- Ai biết đâu. Tao nghe nói mày bị đeo dữ lắm. Nào thành phần cơ bản, nào tiểu tư sản!
- Cũng có nhưng không dính với ai.
Tám Nghi uống trà và đốt thuốc hết điếu này mồi điếu khác Hắn ngó mông lung trên nóc lều một hồi lâu và nói:
- Mày biết vụ bà chằn trên R không?
- Bà chằn nào?
Tám Nghi ngó quanh như cảnh giác điều gì và nói:
- Bà chằn Rừng Sát xuống tới đây này.
Tôi giựt mình:
- Hồi nào vậy cha nội?
Tám Nghi nghiêng qua gần tôi và thầm thì.
- Cũng mới đây thôi! Mày đừng có học đi đồ lại nghe chưa ? Đứt đầu đó ! Mẹ! Tao không hiểu ngày xui tháng rủi gì mà tao lại gặp một chuyện như vậy .
Nghe Tám Nghi nói vòng vo, tôi cũng đoán ra rồi, nhưng để y bật mí thử xem. Thì đúng y như rằng:
- Không hiểu bằng cách nào mà bả mò trúng ngay chóc hầm ông Đờ Cát.
- Rồi cái tuồng đó diễn ra như sao?
- Thì đại khái là quăng cái hồ lô của bà lên hô giáng. Ổng cũng quăng cây gươm phép của ông lên hô giáng đáp lại. Bả chỉ tay một cái và hô thâu. Cây gươm chạy tọt vào hồ lô. Thói đời là vậy, cây gươm bao giờ cũng không thắng nổi cái hồ lô… Nè tao dặn kỹ nghe, chớ có nói ra nói vào. Gặp con nhà báo Nhỡ Nôm nó chụp được nó phết ra thì mệt cho ổng lắm! Hôm trước đóng ở trên kia cà, sau màn hỗn chiến đó sợ hôi ổ ổng rút xuống đây.
- Còn bả ?
- Bả là khu ủy viên mà mậy! Mấy bà Hai Xót, Năm Đang mọp dưới trướng bả nghe lệnh bả truyền nào dám chống lại. Các cơ quan của khu đóng trên đất Củ Chi này đều phải liên hệ với hai bà đó. Bả hỏi một tiếng là hai bà đó khai ngay. Ổng bây giờ sợ bả còn hơn sợ xe tăng Mỹ.
- Mày nói cà rởn hoài tao không hiểu gì hết, đâu nói rõ ra nghe coi. Tao hứa sống để bụng chết mang theo mà ! Tao thề độc – Tôi đưa tay ra – ngoéo tay nè.
Tám Nghi tiếp:
- Bả la ó dữ quá !
- Làm sao bả vô tận nồi gọ được vậy?
- Bả đứng bên ngoài bả la om lên. Bảo vệ ra đuổi bả. Bả rút K54 ra lên đạn rong róc và xưng tên. Ông thần mình sợ vỡ lỡ ra nên kêu bảo vệ đẩy bả xuống hầm để ém luôn. Bả dữ thiệt mày ạ. Tao không ngờ bả dám nói những tiếng quá ư nặng nề .
- Nói gì? Bả xổ nho à?
- Chậc! Không đâu! Bả là cán bộ đảng cao cấp hơn bà Ba Phó Tư lệnh R mà. Bả đâu có xài nho! Bả nói về bốn chữ Cần Kiệm Liêm Chính kia chớ !
- Bả hoan hô chữ nào nhất?
- Chữ nào bả cũng đem ra hô giáng ông thần cả ! Cuối cùng bả hạ một câu bất hủ : “Cụ Hồ còn đó sao củ không dạy cháu củ?”
(Tội nghiệp bà khu ủy viên! Bà tưởng cụ Hồ là người đạo đức! Đứt họng thì có! Toàn dân Nam kỳ đã nhầm lão già tàn ác này. Chính lão đã bỏ thuốc độc giết chết Dương Bạch Mai tại cuộc họp khoáng đại của Quốc Hội tại Ba Đình năm 1960. Ai cũng biết mà không dám hó hé!)
Tám Nghi tiếp:
- Lúc bấy giờ tao đang làm báo cáo ở trong một cái ngách hầm ngay bên cạnh hầm chính của ổng. Muốn tránh để cho hai bên tha hồ oánh phép, tao bèn chui tọt lên và chạy đi. Nhưng tai vẫn còn nghe văng. vang những câu rất ác…
- Rồi ông phản ứng làm sao?
- Ổng xuống nước nhỏ, rất nhỏ ! Nhỏ tối đa, tao chưa bao giờ có thể tưởng tượng đến thế.
- Rồi bả làm sao?
- Bả thì đi nước lớn, lớn thật lớn. Lớn như chưa bao giờ có thể tưởng tượng đến thế! Thôi, đại khái vậy đó, mày đừng có phổng rấn tao nữa, khổ thân tao lắm.
Tôi không hỏi hắn nữa nhưng suy nghĩ, hoang mang. Tôi chưa bao giờ thấy một lãnh tụ hoặc một cán bộ cao cấp đàng hoàng. Phải chăng thượng bất chánh hạ tất loạn. Ông trưởng phòng như thế thì còn dạy dỗ các trường ban và nhân viên làm sao? Tôi đi từ miền Đông qua miền Trung xuống miền Tây Nam Bộ trong thời kháng chiến. Đi tới đâu cũng nghe những chuyện lăng nhăng của mấy ông lớn. Ở miền Đông thì có ông Tô Ký, miền Trung có Trần văn Trà, miền Tây có Nguyễn văn Trấn và Võ quang Anh. Toàn những ông tư lệnh tư lọt không thôi. Lính lãi có quyền hành đâu mà giật vợ người. Người nắm quyền trong tay phải luôn luôn được kiểm soát chặt chẽ, nếu không sẽ gian dâm, hà lạm.
Tôi nhớ đám cưới Tô Ký, một thứ xa xí cực kỳ quái gở. Đèn măng sông đốt cả mấy chục cái trong rừng cao su, không nói làm chi. Rượu Tây uống không hết đem đổ trên đầu nhau chơi. Còn đám cưới của Năm Lê (tức là Sơn Tiêu) lính lấy thịt heo quay ném nhau như đất cục. Thế nhưng bây giờ Năm Lê lại phụ tình và bị vợ hạ nhục. Ắt hẳn bây giờ chị Hai Mặn ăn năn vì đã đá ông Trung đội trưởng Chọn kia để lấy ông Tiểu đoàn trướng Sơn Tiêu này. Tôi nói với Tám Nghi:
- Tao gặp bả trên trạm 66 R mày ạ ! Bả định đột nhập vào triều đình để hỏi tội đức lang quân nhưng lính gác kỹ quá bả không vào được.
- Mà có vào được cũng chẳng làm gì. Vì ổng đâu có ghé R. Ổng đi tàu lặn về Bến Tre rồi lội về đây nhận chức Phó phòng tham mưu luôn.
- Tha… m mu hả?
- Tha gì thì tha nhưng ổng bây giờ kẹt cò dữ lắm. Ổng không vô được đảng ủy thì có ngày rơi mão. Tao về đây hai năm rồi ngày nào cũng nghe ông chưởi bới gắt gỏng. Cả với ông Hai Phụng thượng tá Tư lệnh phó kiêm Trưởng phòng Tham mưu mà ông cũng tạt ngang, không ngán.
- Tại ổng không tha được cái mu con mẹ đan len ở Phố Hàng Đào vô đây nên ông khủng hoảng chớ gì. Còn ông tạt ông Phụng là vì ông này dốt không có thành tích bằng ổng, chứ đối với ông Ba Xu ổng đâu có dám lấn lướt. Ông ấy là Tư lệnh lại thành phần dân cạo mủ, vô sản trăm phần trăm, còn ổng thành phần lính thủy Tây. Ổng cũng biết tùy mặt mà lên chân! Thôi bỏ chuyện đó đi, mày rước bà xã vô chưa?
- Tao cũng ôm cây cà-nông-xăng-rờ. .. cum đây mà chịu trận chớ xã ớt gì đâu! Trên Trường Sơn thì bị sốt rét, xuống đồng bằng cái nọc muỗi đòn xốc cũng còn đây chớ nào đã dứt. Tối ngày cứ ru rú trong hầm chờ coi ổng có kêu tới la hét gì không. Làm chánh văn phòng mà y như thằng cần vụ.
- Sao có cái việc lẩm cẩm trong chức trách vậy?
-Ở đây toàn như vậy cả, không phải chỉ ở đây và mà mình tao. Mấy ổng bỏ hết điều lịnh nội vụ, điều lịnh kỷ luật của quân đội rồi. Mỗi ông là một cái đầu gà, muốn gáy kiểu nào cứ gáy. Tao chỉ huy cả một trung đội liên lạc, cần vụ. Tối ngày chuyên nấu cơm và móc hầm cho ông lủi. Kia kìa mày nhìn cái mái nhà lụp xụp đó ! Trên mặt đất trông không ra gì cả nhưng dưới hầm thì đủ hết: ván gõ, bàn ghế y như ở trên. Ổng không bao giờ bước ra khỏi hầm, trừ khi tiểu tiện. Tao chỉ thiếu việc bưng bô cho ổng nữa thôi. Ổng vừa ra lịnh cho tao bắt lũ con nít khoét đường cho ổng đi dạo quanh nhà này. Lạ thật! Ổng là trung đoàn trưởng pháo binh mà lại sợ pháo hơn tụi thường.
- Chính vì con nhà pháo hiểu tánh cách lợi hại của pháo nên sợ pháo hơn người thường.
- Ờ, mày nói đúng. Thằng Ba Xây, xã đội phó, chủ có nhà này, nó cho vợ con ra ấp chiến lược hết rồi ở lại đây tử thủ. Hàng ngày nó đi đặt lờ đặt lọp bắt cá tôm bán, có biết sợ sệt gì.
- Tao biết ổng hồi còn trẻ cũng gan lắm đâu có thỏ đế dữ vậy. Có lẽ về già lưng mật. . ..
- Mấy lúc ngớt pháo ổng kêu tao tới nói chuyện chơi. Biết chuyện gì mà nói? Bố ai dám pha trò với ổng.
- Hồi chín năm ổng vui nhộn và thể thao lắm! Trung đoàn 300 có đánh lấy được chiếc tàu Tây… tụi này chiều chiều thường chạy trên sông Vàm Sát la ó cho hả hơi. Ổng chạy đua, bơi lội đều giỏi hết.
- Bộ tướng ổng coi bộ cái gì cũng giỏi. Giò dài, tay dài mặt cũng dài… Từ hôm B52 cắt một đường vén ót tao coi bộ cái mặt của ông càng dài hơn ra, khó nhìn quá hè . Để chừng gặp ổng mày sẽ thấy tao nói có đúng không? Tối ngày ăn rồi cứ rút trong hầm, nếu độn thổ được chắc ông cũng độn thổ tới đất cái luôn.
- Bộ B52 có viếng khúc lòng ống này à?
- Có chớ. Nó rạch một lằn từ Hố Bò xuống An Nhơn bề ngang chừng hai cây số. Có lẽ đây là loạt mồ côiđầu mút cho nên độ bom không đông đặc lắm. Chừng hai trăm thước mới có một hố bom. Ấy là tao chỉ đoán mò thôi chớ làm sao biết được. Nhưng nếu nó chệch về phía trong một chút thì tụi này chắc hốt xương rồi. Chừng mày về H6 sẽ đi ngang cái nhát dao vén ót đó.
- Chắc gần Đồng Dù, tụi nó sợ xuống cựa nên làm nhẹ tay chớ gì ?
- Đây chỉ cách Đồng Dù chừng sáu cây số!
- Xa thì sợ B52, gần sợ tăng, pháo, biệt kích, mày muốn cái nào?
- Muốn cái nào à? Còn mày chạy vuột B52 trên R về đây bắt cái nào?
Tôi cười:
- Mày bắt cái nào tao bắt cái đó !
Tám Nghi ngưng một chút rồi hỏi:
- Mày về đây có kế hoạch đánh đá gì chưa?
- Đánh bằng cùi chõ hay bằng gì?
- Pháo phiếc tụi H6 chôn sống hết, mày về quật mồ lên mà xài.
- Tao không có một món khí tài nào trong tay, ngoài bộ thước xạ kích tổng hợp trong ba lô và cặp ống nhòm này.
- Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng ! Nói vậy sao được tía nó .
- Vùng thì vùng, còn lên hay không chưa biết.
- Tao thì muốn vùng mà nó không lên. Nó cứ nằm ỳ. Hề hề… mà thà nó nằm êm còn dễ chịu, chứ nó vùng lên thì mắc công kiểm thảo như thằng Hai Giả.
- Tao nghe đồn mà không rõ vụ đó ra sao?
- Thì có cái đách gì! Sướng con cu thì mù con mắt. Nó có vợ ngoài Hốc Môn, tháng nào cũng vô cho nó nộp tô, nhưng vì nó thích vùng lên nên ở trong này chịu không nổi lại thím xực thêm một bà . Vậy chớ có gì. Nghĩa là đúng y cái công thức con vòng con cỡi của mùa thu ta.
- Có vậy thôi?
- Vậy thôi đã hạ từng công tác, ngưng sinh hoạt đảng. Nếu hơn thì tới chuyện gì nữa?
- Trong khi vợ bé bố Duẫn ở villa còn bố thì làm Tổng bí thư với số phiếu trăm phần trăm.
- Chíp! Chuyện đời muôn năm nó là vậy. Nói đạo đức dễ hơn giữ đạo đức.
Bỗng có bấng kẻng khua leng keng trong nhà . Tám Nghi nhổm dậy, bảo:
- Sửa soạn triều phục, đi vô chầu cha nội. Bệ hạ gọi đó.
- Ê hồi nảy cô bé nào coi mướt vậy ta?
- Mày cũng muốn vùng lên hả? Con gái nuôi của ổng đó, nó là người thận cận với ổng hơn cả tao. Nó ra vào chầu chực mình rồng tự do còn tao có lô phôn gọi mới được tới.
- Ở đây có lô phôn cơ à ?
- Cái kẻng đó, không nghe sao? Đánh với Mỹ mà xài lô phôn cỡ đó, mày thấy bình minh lên khắp nơi rồi chứ?
- Tao đi đâu cũng thấy con nuôi. Ông Ba Thắng trên R, ông Tám Quang và ông Thần Núi ở đây.
- Con nuôi có hiếu hơn con đẻ . Con nuôi bố biểu cái gì cũng được mày có hiểu không?
Chúng tôi sánh vai đi đạp lên đầu những đám cỏ mịt mùng ít dấu chân. Người ta muốn để nguyên màu hoang dại. Tám Nghi bảo:
- Có đại yến đãi mày đấy!
- Yến gì?
-Tao chưa hề thấy ổng săn đón ai như đối với mày. Bọn hậu cần, liên lạc, cả tao nữa, được lệnh ổng chạy đi mua rượu tây la ve và một mớ thỏ để nấu sốt vang theo kiểu Hà Nội . Riêng tụi tiếp phẩm phải chạy mua cho kỳ được nước đá !
Tôi bật cười:
- Bỏ mẹ rồi!
- Gì?
- Mới đút đầu vô chiến đấu mà ổng cho ăn thịt thỏ là điềm chẳng lành. Vậy thì tao sẽ nhát như thỏ đế và chạy nhanh như thỏ rừng mà thôi!
Tới thềm nhà, Tám Nghi níu tôi dừng lại và nói nhỏ:
- Mày đứng ở đây, tao vô ngách bảo thằng cần vụ.
Một chốc Tám Nghi chạy ra, đẫy tôi đi trước, hắn rón rén theo sau. Tới hầm hắn bảo:
- Rồi, vào đi! Cởi dép ra !
Tôi làm theo lệnh rồi bước xuống bậc thứ nhất. Sao mà lạnh thế ! Tôi đã từng vào nhiều hầm nhưng chưa hầm nào giống âm phủ như hầm này. Đúng là hầm Đờ Cát. Tôi có cảm tưởng tôi là chú chuột nhắt đang chui vào lòng một quả núi đất. Quả núi mà sụp là chuột bẹp dí. Phải dùng ít nhất năm trăm nhân công mới đắp nổi cái hầm này. Lòng hầm rộng rải nhưng tôi lại thấy nó ngột ngạt khó chịu vì cái không khí ẩm ướt nặng nề và ánh sáng lờ mờ của một ngọn đèn cầy cắm ở một chỗ lõm của tường đất.
Tám Nghi bảo tôi ngồi ở một cái ngách có bàn ghế hẳn hoi. Đây là nơi cán bộ các ban ngồi chờ trước khi làm việc với ổng. Tôi đang đảo mắt ngó quanh thì cận vệ trở ra. Cậu ta bước lại rỉ tai Tám Nghi. Tám Nghi nắm vai tôi, bảo:
- Ổng kêu vào !
Rồi hắn đi trước tôi theo sau. Tôi nghĩ thầm ông thần này rành chiến tranh lắm. So với cái hầm của Tám Quang thì nó khoa học hơn gấp bội. Bỗng Tám Nghi quẹo qua trái. Hầm kiến trúc theo hình chữ L. Nếu đạn có nổ ngay miệng hầm miễng cũng không văng vào được. Một ngọn đèn cầy khác hắt ra một thứ ánh sáng nhà mồ. Tám Nghi quay lại bảo:
- Coi chừng sụp.
Tôi bước xuống luôn một mạch bốn bậc đất xén rất sắcnhư lót gạch. Ai xuống cái hầm này dù không đội bom đạn cũng có thể hiểu được cường độ chiến tranh ở đây. Tám Nghi đưa tôi đến một cái ngách đào sâu vào vách hầm, rộng bằng phân nửa toàn bộ hầm của Tám Quang. Tám Nghi trỏ vào bàn ghế, các cây trụ rất chắc và bảo:
- Đây là hang của tao và mấy cậu bảo vệ. Bàn để ăn cơm và làm việc. Trụ để mắc võng hai tầng.
Tám Nghi lại bảo tôi ngồi chờ rồi cười khoe cặp môi chì khô răn rúm:
- Mày coi tao kiến trúc hầm kiểu này đúng với hầm chống nguyên tử mình học ngoài Bắc không?
Đối diện với cái ngách này là một cái ngách nhỏ, trong đó một cậu bé đang ngồi trên một cái thùng gỗ thông đựng đạn DKZ. Tám Nghi bảo:
- Viết thư viết từ cái gì . Không có được gởi lén đó nghe. Bữa nào tao cho về Sa Nhỏ mà thăm nó. Bộ gần ngày cưới rồi nôn hả? Tao đây với ông thầy pháo này già khú rồi mà có được như mày đâu !
Thằng bé ngóc lên nhìn rồi nói:
- Chú già chớ thầy pháo có già đâu!
- Đi lại bếp bảo mấy đứa nhỏ lột da thỏ chuẩn bị xào nấu đi, khách tới rồi. Đứa nào coi lại nước đá rộng mạc cưa và trấu có kỷ không, để đến lúc dùng mà chảy hết, ổng cạo đầu tụi bây nghe!
Tám Nghi quay lại bảo tôi bỏ ba lô và các thứ lỉnh kỉnh ra để trên bàn ăn cơm, đứng chờ còn y thì đi tới rồi rẽ ngang về phía trái. Như vậy hầm có hình chữ Z. Tôi tranh thủ gạ chuyện cậu bé :
- Bộ nhà cậu ở Sa Nhỏ à?
-Dạ.
- Sao vô đây?
- Dạ, ban đầu em tòng quân ở Q Hai Chòi, học xong khoa tân binh, em đưa nguyện vọng ra đơn vị chiến đấu, nhưng họ đưa về đây.
- Chừng nào đám cưới?
- Dạ em hẹn với cô ta là giải phóng xong về cưới, nhưng xem mòi không mau, nên em muốn xin phép về làm đám cưới rồi trở vô nhưng chú Tám bảo khoan đã , tình hình này không có ai dám tập trung ăn đám cưới mà làm, nên em gởi thơ về bảo ở nhà nán lại một thời gian nữa. .
(Thì cũng kiểu hai năm thống nhất cậu ơi! Đừng có bao giờ tin lời hứa của cách mạng!)
Tôi bắt qua chuyện hầm hố:
- Hầm này đào sâu ngủ thoái mái quá ?
- Trời ơi mấy cháu đào hộc máu đó chú. Cả trung đội làm liên miên một tháng trời mới xong.
- Đà ngang bằng cây cao su hả?
- Dạ, đây là cột nhà giàu bỏ đi mình lấy đại về làm. Rừng chồi cây non đâu đủ sức chịu cái nóc hầm này. Tụi cháu lvừa trồng khoai mì và mắc cỡ trên nóc. Hồi trước có cái nóc lá nhưng bị B52 quạt bay mất.
- B52 ở ngoài xa mà.
- Nhưng mà hơi nó mạnh lắm, nó đi như sấm vậy. Nếu người đứng trên mặt đất không bị đạn thì cũng văng.
Tôi trỏ mấy đóm ánh sáng loang trên vách hầm, hỏi:
- Lỗ thông hơi khoét hay có ống tre?
- Dạ đặt ống tre đàng hoàng, còn khoét thì ít lâu đất lỡ bít hết.
- Có lót ni-lông trên đà ngang trước khi đổ đất lên không?
- Dạ có, chúng em còn đươn vỉ tre trải đè lên để đất lkhỏi rơi xuống nữa .
- Vậy là tốt! Ở đây đất cao nên lòng hầm đào rất sâu, trong Gót Chàng đất thấp, xuống một thước là đụng nước.
Tám Nghi trở ra. Tôi hỏi ngay:
- Cái hầm có ăn thông ra địa không?
- Có chớ ! Ba Xây có được một khúc đào trước kia. Nó vừa lỡ, tụi tao phải sửa sang lại để xài. Y tặng cho tụi này luôn. Y bảo: “Mấy ổng có chun thì chun, còn tôi thì dông thôi, chun xuống dưới rủi tụi nó moi được miệng hầm nó móc lên như móc cua, tôi hổng chơi.”
- Địa được bao dai?
- Trăm rưỡi thước.
- Mày có xuống thử chưa?
- Có chớ !
- Bao lâu?
- Chừng hơn nửa tiếng. Tao thấy tốt lắm.
- Hơn nửa tiếng thì tốt, chớ chừng ba tiếng trở lên phải coi chừng. Tao đã từng đào và từng xuống địa. Đây là vấn đề khoa học không phải vấn đề lập trường. Thiếu dưỡng khí thì dù có thừa lập trường cũng không kham! Mày phải đặt vấn đề nếu nó chốt trên đầu thì phải làm sao?
- Mày bảo tao phải làm sao?
- Người ta cứ tướng xuống địa như đi xuống nhà nghỉ mát, nằm ngủ khỏe re chờ giặc nó rút thì trồi lên bắn tỉa xuyên hông hay vét đuôi nó dễ như ăn ớt vậy. Sự thực không phải đâu. Một cái đánh dấm ở dưới đó có giá trị bằng một trái bom nguyên tử trên mặt đất vậy. Còn rủi mấy cô công chúa kia có kỳ thì cả hầm sẽ chết ngộp. Rồi khát nước, rồi tiểu tiện, rồi ăn uống. Bất cứ cái gì cũng kỳ cục khác thường hết cả. Đừng tưởng đơn giản mà chết.
- Sao mày rành vậy?
- Thì tao đã xuống rồi chớ sao. Cái thằng nhà báo Bọ Chét tới đây hồi năm ngoái đòi quay phim lòng địa đạo nhưng nếu nó quay được thì tai hại biết bao nhiêu. Cứ để cho nhân dân thế giới thưởng thức cái địa trên đài Giải phóng và đài Hà Nội thì tốt nhất?
Bỗng nghe tiếng lục lạc ngựa leng leng. Tám Nghi ngắt nhẹ hông tôi và thì thào:
- Ổng kêu vô !
Tám Nghi dẫn tôi đến miệng ngách rồi đùn tôi vào.
Một người cao ốm, mặt dài, cằm dài ,trán thấp mà ngang chàng, mắt lươn ti hí, nhe răng cười mà không ra tiếng chỉ lphát ra tiếng hừ hừ như sư tử vờn mồi, đi tới đưa tay cho tôi. Tôi bắt lấy và nói:
- Anh Tiêu, anh mạnh hả ?
- Cậu làm gì ở dưới với mấy thằng Bắc kỳ lâu vậy? Có lmóc được gia đình không?
- Dạ tôi nằm chờ. ông già vô cho tiền rồi về.
- Còn vụ thằng em?
- Dạ chưa kết quả .
- Mấy thằng đó làm ăn bá láp. Gặp đâu xâu đó . Cán bộ chiến đấu không phải dính vào những cái chuyện địch vận lăng nhăng như vậy. Con người ta ai cũng chỉ có một bộ óc, là hễ làm tham mưu thì không chính trị, hễ làm chính trị thì đừng làm tham mưu. Cái thằng chính trị nó nhìn cậu nó thấy như một cục mồi nhử cá, còn thằng tham mưu nhìn cậu như một cái búa đập kẻ thù, cậu hiểu chưa? – Anh vừa nói vừa móc gói Capstan ra đưa cho tôi – Theo tôi trong nghệ thuật chỉ huy không nên có hai bộ phận chính trị. và tham mưu cùng một lúc.
Tôi mời lại anh và bật lửa cho anh đốt. Anh nói:
- Kể từ khi cậu đi miền Tây tới giờ tôi không gặp lại.
- Dạ, có gần hai chục năm!
- Cậu hồi đó còn thiếu nhi nhưng đã có khiếu quân sự. Mười bốn tuổi mà dám đánh xe tăng.
- Dạ làm ẩu may mà được anh à .
- Cậu xài cái ống quẹt ngon quá !
- Dạ , của người ta mua ở chợ Bắc Hà cho. – Nói xong tôi để hộp quẹt lên bàn. – Dạ, anh cất dùng còn cái kia để tôi gởi ra Hà Nội sửa.
Tôi cũng có nhưng cái của xưởng cơ khí Hà Nội làm, quẹt rách ngón tay mà không ra lửa.
Tám Nghi thò đầu vô hỏi:
- Dạ anh Năm còn bảo gì nữa không?
- Dặn con Hiền mua thuốc hút cho tôi.
- Dạ có rồi anh Năm.
- Thịt thỏ bảo tụi nó chiên sả ớt, đừng nấu kiểu có nước lỉnh bỉnh như vừa rồi ăn tanh lắm.
Tám Nghi thụt ra, anh bảo:
- Cậu đó giáo viên Lục quân mà chậm chạp, không linh hoạt, việc gì cũng đợi nhắc.
Tôi mở sắc-cốt định lấy bức thư của thượng tá Phúc, Phó tư lệnh pháo binh R U80 của ông Tư Khanh, nhưng lại thôi, chỉ móc giấy công tác ra trình. Anh xem xong, để trên bàn, xòe bàn tay to lớn ra đập đập trên tờ giấy, gầm gừ:
- Cái này là không được.
Tôi giật mình hỏi.
- Dạ, anh nói sao ạ?
- Hễ công tác ở Tham mưu thì công tác ở Tham mưu không có chàng hãng hai chân vậy được.
Tôi.ngồi lặng thinh, khống biết số phận mình ra sao. Ổng không nhận thì có nước lội về R. Trên đó còn ai đâu? Sức hút duy nhất làm cho tôi trở về R là các em thôi. Các em đã tản lạc hết rồi thì về làm gì nữa? Anh hất hàm:
- Cậu muốn tham mưu hay chính trị?
- Dạ, ở trên sắp xếp đâu tôi ngồi đó.
- Nói vậy sao được. Tham mưu là thực tế: Nhìn bom đạn là bom đạn chớ không thấy nó là mầm mống căm thù như chánh trị. Theo cậu cuộc chiến tranh này sẽ đi đến đâu?
Tôi ngần ngại, anh bảo ngay:
- Trung ương không hiểu gì ráo mà phát động chiến tranh. Giống như hồi 45 tầm vông đánh xe tăng. Nhưng bây giờ không giống chút nào.
Một cô bé đưa trà vào. Anh rót mời tôi và uống ngay, rồi tiếp :
- Binh thư có nói ba yếu tố chiến tranh: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Kẻ nào có ba yếu tố đó sẽ thắng. Ta có không? Tôi sát hạch chính trị cậu đó. Nói đi nghe thử!
- Dạ, thiên thời ta có vì đây là đất của ta, Mỹ không quen cái thủy thổ nhiệt đới này. Địa lợi: ta có địa đạo thôn liền thôn, xã liền xã, ta thuộc lãnh thổ hơn Mỹ. Nhân hòa….
Anh cười như con cọp bị hóc xương:
- Nói về nhân hòa nghe thử.
- Ta có dân. Mỹ bị dân thù ghét.
Anh khoanh hai tay trước ngực, ngã ngửa ra thành ghế:
- Cậu làm chánh ta có thớ lắm! Hà hà… Cậu nói y như Tám Quang. Nhưng đó là những điều trật lất. Mỹ không chịu được nhiệt đới nếu nó không có máy lạnh. Mình ốm đau vì ăn ở ngoài rừng, bịnh không có thuốc. Thậm chí bị thương chở tới Bưng Còng ông Tám Lê chạy trốn. Lính rượt bắn ông đó là thiên thời. Còn về địa lợi thì đây nà – Anh dậm dậm chân : Địa xạo chớ địa đạo gì. Ở chui rút như chuột có thấy trời đất gì mà chỉ huy? Còn nhân hòa hả ? Thằng Ba Xây xã đội phó này cho vợ con ra ấp chiến lược hết rồi. Chung quanh đây bà con cũng đã đi hoặc sắp đi. Người ta không thích mình đến. Vì mình đến có nghĩa là bom pháo, B52, biệt kích đến. Cậu nhớ hồi chín năm không? Mình đi đến đâu gà heo ngã liệt địa tới đó, dân chúng sắp hàng hai bên đường chào đón hoặc tiễn đưa. Còn bây giờ? Cấp trên phán như vậy rồi, mình cãi làm sao?
Tôi không ngạc nhiên về nhận định của anh. Tôi cũng nghĩ thế, có điều tôi không dám nói ra. Anh rót trà uống và tiếp:
- Cuộc chiến tranh này ác liệt hơn, ta phải hi sinh nhiều hơn và nó sẽ kéo dài hơn cuộc kháng chiến chống Pháp, ngoại trừ thằng Mỹ chạy làng. Nếu không, với tương quan lực lượng này ta không thấy có lý do để chiến thắng. Tôi nói thật đấy mà. Tôi đi tàu lặn với năm chục ông cấp tá . Tàu cặp bờ biển Bến Tre. Từ đó về đây phải chạy chừng một chục cuộc đổ dù. Qua những lần đó tôi tổng kết tình thế của miền Nam về mọi mặt. Dân quan chánh đảng và tình hình quân địch.
- Xin anh cho tôi nghe với.
- Uống nước đi, chút nữa ở đây ăn cơm với tôi một bữa ngon nghe ! – Anh hớp trà rồi trở lại vấn đề – Ta ép buộc dân làm chiến tranh, không phải họ tự nguyện. Bộ đội ta vũ khì không bằng 1/100 quân địch. Đây tôi chỉ cho cậu một điểm. Chiến tranh là tội ác, bất cứ chiến tranh nào. Thằng nào giết người nhanh và nhiều nhất thằng đó thắng. Về điểm này Mỹ có ưu thế hơn ta nhiều. – Anh chĩa ngón tay trỏ vào cốc trà và chấm chấm trên bàn – Đây là cự ly đạn phát ra từ lòng súng M16 không đấy một tấc một viên. Nghĩa là một chiến sĩ ta có thể bị ba viên một loạt đạn. Còn đạn trực thăng bắn thì còn kích hơn. Nó bắn từ sáu đến tám ngàn viên trong một phút. Cự ly đạn ước chừng hai tấc. Vậy một người chạy trong lưới đạn của nó không có thể lọt kẽ được. Cậu hiểu dư mà!
-Dạ.
- Còn loại cá lẹp của nó phóng rốc-kết sẽ không để cho mình thoát. Bốn trái nổ bốn gốc một lúc. Tôi nhìn dấu đạn thì tôi thấy là nếu mục tiêu bị nó nhắm thì chỉ có hai trường hợp: một là hủy diệt, hai là trọng thương. Nhiều ông cùng về với tôi hỏi: “Sao nó không bắn giống FM Tây hồi trước nghĩa là bập bập bập mà chỉ nghe cái réec hoặc hù ù.. Là vì đạn đi dính liền nhau. Khi về đến Tháp Mười tôi bị một trận pháo bầy. Đạn nổ rồi mình mới nghe đề pa ! Ở Trung Quốc tôi không có học thứ này. Sợ e bạn ta không có . Binh chũng của cậu đó, cậu thấy thế nào?
- Dạ tôi cũng để tâm dữ lắm anh Năm ! Nhưng chưa biết phải làm gì. Ít nhất ta phải có lực lượng tương đối.
- Tương đối là bao nhiêu?
- Là…ít nhất nó mười ta phải sáu hoặc năm.
- Đừng mong. Tôi biết hiện giờ nó mười, ta 0,5. Cũng có thể là 0.
- Sao vậy anh?
- Vì DKZ là thứ dùng hồi chín năm ta lén chôn lại, bây giờ móc lên. Lau chùi xong lại chôn. Cậu dạy trên trường loại pháo gì?
- Dạ Nhựt, Mỹ, Pháp, Trung Quốc.
Anh cười chế diễu.
- Học gì dữ vậy? Bộ oánh một lúc bốn phép à?
- Dạ râu ông này cặm cầm bà kia anh Năm ạ . Pháo Nhật không có máy ngắm, phải dùng máy ngắm của Pháp gắn qua. Bắn vòng cầu không được phải bắn trực xạ.
- Vậy rồi làm sao chơi với thằng Đồng Dù?
- Cần chơi thì phình bụng ra chơi chớ sao giờ anh Năm!
Anh lặng thinh một lúc rồi bảo:
- Nhưng ngặt nhất là học sinh. Lớp hai, lớp ba, làm pháo thủ còn không xong lấy đâu chỉ huy một khẩu đội? Rồi hành quân bằng cái gì?
- Anh mà thấy lính trên Trường Sơn khiêng pháo thì anh sẽ khóc ròng đó anh ! Bộ giò như cây tăm xỉa răng mà khiêng pháo 90 ly. Trời ơi ! Đói ! Đế cối bỏ đầy đường ! Tôi thấy không dám dòm. Trung ương ác quá ! Miễn đạt mục đích thì thôi, hi sinh bao nhiêu không kể.
- Nhất là hi sinh dân Nam kỳ và nhất nữa là không có đứa con đứa cháu gì của mấy ông to bà lớn cả !
Tám Nghi lại ló đầu vô:
- Thưa anh Năm, uống rượu gì ạ?
- Có Tây chơi Tây, có đế chơi đế. Đãi cậu thầy pháo này một bữa cho tới gáo. Cậu ta là lính của tôi hồi chín năm. Tiến bộ mau quá ! ờ ờ đó là nhờ văn hóa. Chiến tranh là một khoa học. Hồi chín năm ai có dao dùng dao, ai có búa dùng búa chớ bây giờ không thể chơi miếng võ rừng đó được nữa. Một người chỉ huy bây giờ phải là một nhà khoa học. Cậu có thắc mắc tại sao Ông Chuột nhà mình làm quyền Sư trưởng mất năm, sáu năm mà không lên Sư trưởng được không?
- Dạ thấy dân Nam mình ra Bắc bị lép, nhưng không dám thắc mắc.
Anh lắc đầu:
- Đứng về địa phương anh thì thắc mắc, nhưng đứng về khoa học thì không nên. Ông ấy làm Sư trường trong lúc chưa rành toán chia thì làm sao? Một vị chỉ huy cầm mười ngàn lính trong tay gồm có cả chục loại binh chủng, nào pháo binh, xe tăng, bộ binh, cơ giới, hóa học, quân y, hậu cần, có khi cả hải quân và không quân mà trình độ như ổng thì làm sao xoay trở? Lập trường chỉ tốt ở trong văn phòng và kiểm thảo dâm ô tham ô thôi chớ ra trận thì vứt đi. Thằng lính nào hi sinh bằng Ma tơ rô xốp và Đồng Tồn Thụy? Cậu có xem phim chứ? ờ… ờ Bế văn Dàn, Tô vĩnh Diện của ta nữa !
-Dạ có.
- Cứ bắt lính lao mình vô lấp lỗ châu mai hoài sao? .
- Dạ… tôi đâu có ý kiến gì anh Năm!
- Ba cái cô dũng sĩ do Tám Quang sơn phết chỉ nhảy cóc nhảy nhái ít lâu và trong lúc bom đạn chưa thật ác liệt thôi . Nay mai thằng Tư Linh sẽ không có đạo diễn địa đạo chiến được nữa.
Tôi hơi nhột, gượng hỏi.
- Hồi thằng cha Bọ Chét tới đây anh về chưa anh Năm?
- Tôi ở đây chớ đâu ! Tám Quang có liên hệ với tôi yêu cầu cho bố trí pháo bắn máy bay để quay phim. Tôi bảo không được Anh ta có đề nghị lên ông Ba Đình, nhưng ông Ba bảo tùy tôi. Cậu thấy không? Con mắt chính trị nó nhìn sự việc như thế đó . Nó tưởng bắn máy bay là dễ lắm. Cứ có tiếng nổ cho nó thu thanh là được rồi. Mấy đứa nữ du kích ngoài Bắc tập bắn máy bay bằng súng trường tôi trông thấy mà khóc ròng. Vậy mà ông thi sĩ nhà mình làm thơ ca ngợi và mời quốc tế tới xem nữa.
- Thơ gì anh?
- Thơ gì không biết thơ gì, tôi chỉ nhớ đoạn du kích bắn máy bay ở cầu Lai Vu như sau:
Có cô du kích xóm Lai Vu
Quấn rắn trong chân vẫn bắn thù
Mỹ hại muôn nhà lo diệt trước
Rắn! Mình em chịu có sao đâu.

Đem súng trường ra bắn phản lực thì chỉ có Việt Nam ta thôi.
- Và đem hầm chông địa đạo ra chống B52 thì cũng chỉ có Củ Chi này thôi anh ạ -Thấy ông thủ trưởng cởi mở nên tôi cũng phụ họa – Tôi đã đi với các đội du kích đào hầm và địa đạo để tìm hiểu tình hình hầu sau này áp dụng cho công tác chỉ huy. Tôi thấy quả bi đát. Anh Tám Quang bảo tôi là một vòng đai thép bao quanh Đồng Dù, tôi tưởng có thật…
- Thì có thật chớ láo à?
Dạ, anh bảo sao?
- Thì có mấy hang ếch của tụi thằng Năm Cội và của con Bảy Mô!
Anh ngừng lại lấy cái lục lạc trên bàn lắc lắc. Tám Nghi ló vào Anh chỉ cái ghế bảo Tám Nghi ngồi:
- Cậu nói cho ông giáo viên pháo nghe về cái vành đai thép của ông Tám Quang chút.
- Dạ! Hôm trước anh Năm bảo tôi đi nghiên cứu cái vành.
Anh cắt ngang.
- Là vì tôi ở đây mà không biết. Thế mà đài Giải phóng nói oang oang. Rồi đài Hà Nội cũng phụ họa và khuếch đại nó thành Thượng Cam Lĩnh. Tôi nghe mà giật nảy người lên ! Mình ở đây mà sao không biết vụ đó ! Khơi quá ! Nào, cậu Nghi trình bày để ông thầy pháo nghe xem có thể đem cà-nông 105 ở Tầm Vu ra tăng cường cho cái vành đai đó không?
Tám Nghi nói:
- Dạ là chục rưỡi hố một của du kích các xã Phước Hiệp với Nhuận Đức. Họ núp bắn ba tụi tinh Mỹ ở Đồng Dù thường đem đĩ ra làm ăn ở bên ngoài vòng rào. Nhưng tình trạng đó đã chấm dứt rồi. Vì sau mấy lần tụi nó bị bắn xách quần chạy, thì xe tăng, pháo, trực thăng đáp lễ. Chúng vừa bắn vừa ủi tan mấy cái hầm đó hết rồi. Hiện giờ du kích bị tróc nên chạy vô Bàu Chứa đào hầm khác.
- Như vậy thì Đồng Dù ở ngoài đạn đạo súng trường rồi. Tôi có gặp đội nữ của Bảy Nề và tự sung công làm ông thầy khoét hết một ngày.
Tám Nghi hết nhiệm vụ, đứng dậy cóm róm:
- Dạ, thỏ chiên sả ớt cũng sắp xong rồi anh Năm!
- Bảo tụi nó dọn ra đi. Cậu tới nhậu cho vui nghé!
-Dạ.
Tám Nghi vừa đi ra, anh lấy bản đồ trải ra và chỉ cho tôi các vị trí đồn bót. Tôi rút bút chì mỡ và bút nguyên tử bốn màu đưa cho anh làm điểm. Anh hỏi:
- Ở đâu cậu có thứ này?
- Dạ tôi mua ở chợ Long Hoa II. . .
- Cậu dám vô chợ Long Hoa kia à?
- Dạ, đó là Xóm Mới ở quận Tân Biên của Tây Ninh chớ không phải chợ Long Hoa thiệt. .
- Xa không?
- Dạ nếu không có máy bay đi bộ chừng hai ngày.
- Từ ngày về đây tôi như thằng ngố cứ ở miết trong hầm. Tụi nó xì xào tôi nghe, nhưng kệ. Tụi nó cười tôi là con nhà pháo sao lại sợ pháo ghê thế. Tụi nó không hiểu gì hết nên không sợ là phải.
Anh cầm cây bút chì nghiêng qua nghiêng lại xem và nói.
- Thứ này là made in USA đấy ! Tôi bảo Sáu Huỳnh mua cho tôi mấy cây mà y có nhớ đâu, y chỉ nhớ má con Chia.
Tôi làm bộ không biết: .
- Con Chia nào anh Năm?
- Chỗ thằng mắt bù lạch đóng cơ quan cậu không biết thật à?
Tôi lắc. Anh cười hắc hắc:
- Thằng Chín Lộc với bà Ba Bánh Bò, thằng Huỳnh đớp mụ Tư The má con Chia. Tụi nó làm công tác quân báo nhân dân mọc rễ ở đó luôn chớ gì! Kệ tụi nó, tôi cũng thế thôi. Hay dỡ là công tác chớ ba cái vụ lặt vặt đó tôi không xét nét.
Anh cầm bút chì chỉ mấy điểm trên bản đồ rồi xếp lại, nói tiếp:
- Cậu biết từ trước tôi không ưa mấy thằng chính trị viên. Chúng nó nói toàn chuyện trên trời dưới đất không thực tế chút nào! Lão Long này (tức là Tám Quang) vì nói chính trị nhiều quá mà ở vá tới bây giờ, mó đâu hụt đó. Ổng đi Trung Quốc học xong về, cũng nói cái giọng Mỹ là con cọp giấy. Lão Khơ trọc vậy mà thực tế: “Cọp giấy nhưng nó có nanh nguyên tử” Đến Củ Chi này xem con cọp giấy nó có làm gì không? Ấy là nó chưa xài tới nanh của nó đó. Mấy thằng chánh trị ba lem nhem học được ba mớ lý luận đã bốc trời… Tôi đã chỉ thị cho Ba Hải, Năm Tiều triển khai lực lượng đánh phục kích hoặc pháo kích, nhưng ba tháng nay vẫn êm rơ. Ngày ngày cứ lõ con mắt ra nhìn đồng bào chạy ra ấp chiến lược và xe tăng ủi Phước Hiệp lấn vô Cây Sộp. Ttình hình càng găng, cán bộ càng bệ rạc. Mỗi lần tôi thấy Hai Giả và Sáu Phấn tôi nổi xung lên! Tánh của tôi cậu còn lạ gì. Hễ nóng lên là bất kể. Tôi la ó um sùm. Mà giận thiệt, cán bộ có khuyết mặt này thì được mặt khác. Còn hai ông này trớt he. Đó mấy ông chánh trị già làm thử xem! Cậu về đây tôi mừng lắm. Trẻ, lại có kiến thức.
- Anh muốn tôi về H6 làm gì trước?
- Giao công tác đảng cho Sáu Phấn. Cậu lo mặt tác chiến. Chấn chỉnh lại đơn vị, hâm nóng tinh thần chiến đấu. Mục tiêu chính là Đồng Dù. Phải hạ vài chiếc khu trục ngày nào cũng bay lên bay xuống tuôn bom vùng An Nhơn! Ông Ba Đình cứ hối thúc tôi mãi, tôi thiệt bực mình. Nhưng làm gì được với một giàn cán bộ như vậy? Nhớ hồi chín năm đánh mấy trận Bàu Cá, La Ngà, Bến Cát ăn ngon như rau mà ham. Bây giờ dễ gì làm nổi một cái?
- Anh có bản đồ pháo binh vùng này cho tôi xin một tấm! Tôi chỉ có bản đồ Củ Chi của U80 phát, tỷ lệ 250.000 mà mờ quá, lại toàn chữ Trung Quốc.
- Mình vô đây là rơi vào một cái khủng hoảng thiếu; thiếu tất cả phương tiện chiến đấu và một cái khủng hoảng thừa, thừa bom đạn địch. Không thứ gì mình cần mà có. Bản đồ thí lem nhem và không chính xác nên ông Hai Nhã đấm lưng bộ binh ngoài Đồng Dù Bình Giả khá khá đó .
- Tôi có gặp ông Năm Truyện và ông Trí O ở trường Trung Sơ.
- Cậu làm gì về đó?
- Dạ học.
- Học cái gì?
- Tình hình nhiệm vụ mới. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành
- Kẻ thù nào cũng đánh thắng. Biết rồi. Đó là chánh trị xưa như trái đất.
Tôi biết anh rành câu đó của ai nên không nói tới nữa nhưng hỏi:
- Phải anh Ba Đình chỉ huy trận Đồng Xoài Bình Giả không anh?
- Ổng chớ ai. Hồi 1949 ổng làm tham mưu trưởng Bến Cát thì dễ ăn hơn! Vô đây tôi cho cái bản đồ .
Anh đứng dậy bước đi. Tôi theo anh qua một đường hầm ngắn đến một cái ngách khác khá rộng nền đất lót bằng một bộ ván dầu mun đen, trên đó kê một chiếc giường đôi và một cái bàn nhỏ.
- Ở hầm kinh niên mà nền không lót cây thì bị bịnh tê thấp cũng đủ chết chớ không cần bom đạn cậu ạ.
Trong hầm có nhiều lỗ thông hơi nhưng không đủ ánh sáng nên vẫn phải đốt đèn cầy. Anh nói:
- Ở mãi dưới này rồi mắt mờ và các giác quan khác đều kém nhạy.
Anh ngồi xuống giường lôi cái sắc-cốt để bên cạnh chiếc ba-lô kiểu Trung Quốc còn mới nguyên, lấy bản đồ, mở ra và nói:
- Bản đồ này tỷ lệ 1/50 ngàn do đồ bản của mình vẽ lại của Mỹ in ở Đà Lạt. Đây là tấm Củ Chi, cậu xài đỡ, khi nào, xong tấm mới, tôi sẽ gởi cho cậu.
Thấy cái ngách nhỏ tối om khoét trong vách hầm, tôi hỏi:
- Cái ngăn này anh để làm gì xin nói cho tôi kinh nghiệm với.
- Phòng khi hầm sập mình chui vào đó. Nó ăn thông ra địa đạo. Như vậy lỡ bộ binh nó ngồi trên đầu, mình vẫn có lối thoát thân. Còn một kinh nghiệm này nữa. Khi cậu xuống hầm trốn bom pháo, không nên nằm, mà chỉ nên ngồi thôi. Nằm có hai cái hại. Một là chấn động tim, hai là khi hầm sụp cậu không ngồi lên được.
Chúng tôi trở ra chỗ cũ. Anh hỏi:
- Hôm cậu lên đại hội mừng công có gặp mấy cha Ba Thành, Ba Sinh, Hai Lơn, Hai Búa, Lê đức Anh không?
- Dạ đủ mặt hết anh ạ ! Người khu 7 cũ của mình hình như đã về hết trong này.
- Họ có nhắc tới tôi không?
- Dạ…ơ ơ…
- Nhắc làm mẹ gì thằng này. Khi gian khổ có nhau. Lúc vinh quang ngoảnh mặt.
Tôi biết tánh anh ngang bướng từ thời trai trẻ, nên ngồi làm thinh. Anh tiếp:
- Hôm đám cưới tôi ở Hà Nội, tôi có mời từng người, không ai đến cả. Họ sợ trách nhiệm.
Tôi vẫn làm thinh. (Ông nội ai dám đến dự đám cưới vợ bé của ông thần?)
- Chỉ có Hai Nhơn thôi. Cậu nhớ Hai Nhơn bí thư của ban chỉ huy E300?
- Dạ quên sao được. Ảnh ra Bắc mười năm chỉ được lãnh lon thiếu úy, vì thành phần trí thức.
- Thì tao đây cũng vậy. Không trí thức nhưng là lính thủy của Pháp, nên bị trù không lên nổi, lại vụ cưới vợ ngoài Hà Nội. Tao không trách ai – Anh chuyển sang tình cảm anh em, xưng tao và gọi tôi bằng mày – Mấy chả sợ gánh trách nhiệm với tao. Tao chẳng phiền gì, chỉ buồn là anh em quên tình nghĩa cũ. Tao quyết định làm thì làm và ngửa cổ chịu một mình. Rơi một sao, tụt một cấp tao vẫn vui. Vợ tao oán trách và nói nặng tao. Tao chấp nhận. Vì đàn bà ai cũng thế. Còn tao… – Anh ngập ngừng một chút và nói như suối chảy – Nhưng nếu ngược lại ở trong này vợ tao có chồng tao không trách móc gì hết. Con người phải hơn con vật! Con người phải sống như con người. Trước kia tao đi lính thủy, hễ lêu bêu dưới nước thì thôi, hễ lên bờ là việc đầu tiên là vô bung-ga-lô tìm chất tươi. Chưa bao giờ tao thiếu nó trên ba tháng. Nếu có thiếu thì tao tự bù trừ. Còn ở ngoài Bắc mười năm thằng nhỏ vô dụng. Liên Xô nó sang Hà Nội hai tuần dẫn vợ theo. Còn mình, nó khen là thần thánh! Ai ham làm thần thánh kiểu đó chớ tao thì không! Người ta chê bai anh Ba Duẫn, anh Sáu Thọ có vợ bé, lấy vợ địa chủ nữ sinh v.v… Tao không khen nhưng cũng không chê. Thằng Napoléon là thằng mê gái số một, thậm chí khi viễn chinh nó có cả một đơn vị đi tìm gái cho nó . Đêm nó ngủ không thể không có mỹ nữ bên mình. Đến lúc bị đày ra St- Hélène vẫn còn có cô con gái 17 tuổi yêu nó cơ. Yêu nó cho đến nó chết. Nhưng nó là thằng gì? Liên Xô phải học nó và sợ nó. Cutuzov thắng nó không phải nhờ tài ba mà nhờ mùa đông quái ác của xứ Nga . Mày có ra Hà Nội ghé lại hiệu sách Ngoại Văn ở Tràng Tiền mày sẽ thấy bày bán một quyển sách tiếng Pháp bìa carton dày 807 trang bên trong in một chữ vàng N. Đó là tác phẩm của Viện Hàm Lâm Quân sự Liên Xô nghiên cứu về nó đấy. Tiếc là hồi ở Hà Nội tao không gặp mày để bảo mày đọc cuốn đó. Mày đọc được chớ?
- Dạ , chắc được !
- Bây giờ về đây tao đọc cái này – Anh thò tay móc dưới gầm bàn ném lên – Bí thư của tao đấy.
Tôi nhìn: Tam Quốc Diễn Nghĩa. Anh trở lại Napoléon:
- Nó làm thống soái hồi ba mươi hai tuổi, nhỏ hơn mày hai tuổi, nhỏ hơn tao mười tám tuổi. Khi nó đứng ra chỉ huy mấy thằng nguyên soái già thì tụi này xì xầm tỏ vẻ bất phục, nó rút gươm bảo “à mes ordres!” Nghe lệnh của tôi! Thế là tụi kia răm rắp cúi mặt nghe theo lệnh nó. Chuyện lăng nhăng của nó ngày nay vẫn được ghi lại thành sách để bên cạnh binh nghiệp của nó. Nào Joséphine, nào Beauhamais và cả chục mối tình khác, mối tình nào cũng cho thấy nó là thằng mê gái tuyệt vời, nhưng vẫn là một nhà chi huy quân sự số 1 lịch sử. Lịch sử có phê phán gì về tội mê gái của nó không? Tao xa vợ tao mười năm, đó là chưa kể những năm ở khu 7, lâu lâu mới gặp nhau một lần trong nhà dân hoặc ngoài rừng. Tao lấy vợ ở Hà Nội đàng hoàng, không giấu ai, trái lại có mời bạn bè và cho tổ chức biết một cách quang minh. Ông anh vợ tao là thượng tá cùng học pháo bên Trung Quốc hai năm tiền ăn ở chung, vẫn biết tao có vợ con trong Nam nhưng ông vẫn gã em gái cho tao. Vợ tao ở Hà Nội cũng biết tao có vợ…
Anh ngưng ngang như bị nghẹn. Tôi cười:
- Chắc anh mong một lá thư của chị?
- Vô phương có !
Anh nói bằng tiếng Pháp và vung tay lên buông rơi xuống trên đùi.
- Nếu có anh nghĩ sao?
- Hả ? hả t Mày đùa à ? Bà này sẽ bỏ tao và đem con tao về Sài gòn. Bà ta là một loại đàn bà ghê gớm. Không phải sự hung dữ mà là tình yêu. Bà ta yêu tao như một lý tưởng trong đời sống riêng tư, cho nên bà ta không tha thứ cho tao, không chấp nhận sự chia xẻ tình yêu. Tao muốn nói chuyện với bả lúc bả hồi tĩnh lại nhưng bả nhất định không nghe. Bả nói một câu như búa chém: “Nếu tôi ở lại đây, tôi sẽ có thể bị ông thuyết phục mà đồng ý với ông. Như vậy suốt những năm tháng còn lại của đời tôi sẽ chỉ là sống tạm sống nhờ.t Tôi sẽ ân hận vì đã chấp nhận tội lỗi của ông !”
Anh ngưng, mặt đờ ra, thờ thẩn.
Tôi từ từ cởi cúc áo trên móc ra một chiếc phong bì mà tôi đã sửa soạn khi nằm võng với Tám Nghi bên ngoài. Tôi rất kính phục anh từ thuở còn là thiếu nhi và vẫn còn giữ nguyên tình cảm đó. Tôi đưa cho anh và nói tên người nhờ gửi bức thư. Anh nói lạc hẳn giọng.
- Ông Phúc à? Anh… anh… ấy…
- Dạ anh ấy mới về nhận chức Phó tư lệnh U80. Khi tôi đến gặp anh ấy để nhận quyết định đi xuống đây thì ảnh giao cho tôi thư này nhờ tôi trao tận tay anh.
Anh xé thư ra xem ngay trước mặt tôi. Xem tới đâu mặt anh hững lên tới đó. Xem xong anh xếp lại đút vào phong bì cho vô túi áo và hỏi tôi.
- Tao thì đành vậy rồi, còn mày? Ở Hà Nội có gặp con Ánh Tuyết không?
- Dạ có, nhưng chỉ một đêm…
- Một đêm đủ rồi! thằng Napoléon cũng thế, nhưng không phải nó phụ tình mà ngày mai nó đã lên ngựa hành quân xứ khác. Con nhỏ nào được nó ngủ một đêm cũng đã vinh hạnh suốt đời.
Tôi nói:
- Tôi gặp Ánh Tuyết một đêm ngồi trên băng đá anh ạ. Hai đứa chỉ nói chuyện cũ ở Rừng Sát đi mò cua bắt ốc và tô bùn trên đầu cho chí chết, chớ có chuyện gì đâu mà nói vì nó sắp đi Trung Quốc học kỹ thuật gì đó còn tôi thì đã nằm trên bệ phóng rồi chẳng lẽ cách xa vạn dậm mà yêu nhau được? Tôi đã ớn một lần hai năm rồi nên không dám quyết định gì hết.
- Đúng đấy! Hai năm gì được mà hai năm.
Anh cười ha hả một cách bất ngờ:
- Nó tước mất xe của tao mày ạ !
- Xe jeep gì, anh?
- Nói chuyện hồi ở ngoài Hà Nội mà ! Hai sao hai gạt hai cái chày tiêu gác tréo thì được xe jeep có tài xế lái phom phom đi Hà Nội. Đằng này nó kê tao vụ đó, nó đánh tao rơi một sao, mất xe nhưng tao cóc cần. Tao vứt xe đạp lên tàu hỏa, ra Hà Nội chạy tới nhà vợ, rồi đèo vợ đi cinê, đi uống nước ngọt Bờ Hồ chẳng sướng hơn đi xe jeep mà xách xe không chạy nhong nhong như con chó thiến à? Đói cơm thì chịu được chớ đói tình cảm thì buồn lắm phải không chú đồng tử quân của Rừng Sát?
Anh lại hỏi:
- Rồi bây giờ mày định mối nào chưa?
- Dạ cũng còn đang chạy nhong nhong.
- Ông già vô có vui không?
- Dạ ổng buồn lắm. Vì hai thằng con trai mỗi đứa một đường.
- Làm sao được! Ai có chí hướng nấy. Mày khó chinh phục nó mà nó cũng khó chinh phục mày!
- Vậy làm sao bây giờ anh?
- Tao không biết. Về ba cái vụ lăng nhăng đó tao không có ý kiến được. Hà hà, trước khi tao xuống tàu lặn họ gắn sao lại cho tao mày ạ ! Được sao nhưng lại mất nàng tiên Hà Nội. Như mày mày bắt sao hay tiên?
Tôi cười:
- Anh bắt cái nào?
- Mày không có quyền bắt mà mày phải bắt cái người ta đưa cho mày. Chịp, nhớ hồi kháng chiến ở Đồng Hòa Long Thành vui quá, chiều chiều ra bãi cát ngó thấy Cấp St-Jacques, hay ngó qua Vàm Láng Gò Công chỉ cách có con sông Lý Nhơn… Bây giờ hổng biết bà ấy dắt hai đứa con tao đi đâu?
Tiệc xong, tôi ra ngoài cái chòi mắc võng nằm với Tám Nghi. Hắn bảo:
- Từ lúc tao hầu dưới trướng ông tới nay, tao chưa thấy ứng tiếp ai như tiếp mày, hơn nửa ngày. Bữa nay có bốn trưởng ban về xin gặp ổng, ổng bảo chờ đến mai. Thế nào, ổng bảo gì mày?
- Về chỉnh đốn H6 bắn vài cái máy bay, pháo cho thằng Đồng Dù vài quả, một quả cũng được.
- Ổng xử lý Hai Giả ra sao?
- Xưa kia nghe vụ ổng lôi thôi, rồi về R chính tao gặp bà Mặn làm loạn ở trạm 66 tao có ý chê trách ổng kém đạo đức nhưng nghe ông tâm tình, tao hết ghét ổng. Tao lại thấy thông cảm với ổng. Chiến tranh rõ thật đáng thù, ổng bảo ổng không muốn làm gì Hai Giả cả mà vì ở trên bảo rằng Hai Giả bị dư luận không tốt trong quần chúng nên ổng cho Hai Giả đi công tác nơi khác một thời gian rồi trở về chỉ huy đơn vị chiến. đấu ở quận Bến Cát hoặc Nhà Bè. Tội mẹ gì mà phải ngưng sinh hoạt đảng và rơi sao. Vậy các ông tướng ở R thì sao?
Tám Nghi nói:
- Kẹt một cái là Hai Giả có vợ con ở Hốc Môn ai cũng biết. Bả vô đây hoài hoài, bả tiếp tế lớp tiền, lớp xe Bờ Rô, lớp Radio, toàn thứ kẻng…
- Chậc ! Thì vậy không mà ! Bà Ba lớn nhăn như da ổi thì anh Ba phải tìm bà Ba nhỏ láng hơn. Còn mày? Đã có chỗ nào để bám trụ chưa?
- Con gái nhìn mặt tao là chạy tét, bám trụ gì!
- Sao không đi bệnh viện?
- Đi đến đó nằm, thì thà ở nhà còn khỏe hơn. Cái bệnh viện của ông Tư Chuyền ở trên Hố Bò chớ đâu. Tao đã đến xem qua rồi. Nó chỉ thiếu dùng cưa mập để cưa chân tay thương binh thôi.
Tôi định lấy đồ trong sắc-cốt tặng cho Tám Nghi, nhưng hắn bảo hắn chỉ thích cái đèn pin USA có cái đầu bẻ cụp được (gọi tắt là đèn quắu) để rọi đi ra đi vào hầm. Tôi chụp vào hông bảo:
- Đây tặng cho mày !
Nhưng không thấy nữa. Tôi sực nhớ ra lúc nhậu tôi đã mở ống dòm sắc-cốt và dây nịt đưa cho bảo vệ . Tôi ngồi dậy định đi vào nhưng Tám Nghi bảo để y lấy cho. Tôi bảo:
- Để tao vào gặp ông có chút chuyện riêng, lúc nãy tao quên nói.
Tôi đi vào hầm. Nhờ quen lối cũ nên tìm đến mâm tiệc lúc nãy dễ dàng, nhưng không thấy đồ đạc ở đó, tôi bèn quay lại phòng của Tám Nghi và mấy chú bảo vệ . Vẫn không thấy ai. Tôi đi theo lối đến phòng bản đồ. Tôi sắp bước vào thì nghe tiếng thì thào và tiếng rên ư ử. Bất giác tôi đứng nép một bên đưa mắt nhìn vào.
Tôi bật ngửa. Dưới ánh đèn xanh lờ mờ một thân hình tiên nữ nằm phơi lồ lộ trên chiếc giường đôi. Ánh sáng làm cho nó hư ảo như một vệt mây trắng tinh với một đám mây đen lung linh. Còn ông tiên thì ngồi bên cạnh cầm quạt phe phẩy, chốc chốc lại nghiêng môi xuống hớp mây, cái đầu to của ông ta gục xuống rất lâu mới ngóc lên. Ông ta hỏi.
- Mát không cưng mát không?
Tôi sợ bị bắt gặp, định quay trở ra thì một bàn tay lôi khẽ tôi. Tôi vọt ra ngoài rất nhanh như một tên trộm sợ chủ nhà rượt bắt. Tám Nghi thầm thì.
- Tới giờ ổng lên giàn hỏa. Tao biết thế nào thịt thỏ xong cũng có cái trò múa đôi đi liền. Tao muốn bảo mày nhưng mày nói có chuyện riêng tao để cho mày đi.
Tám Nghi rỉ tai tôi:
- Con nuôi ổng đó !
Tôi cười chữa ngượng và chối phắt.
- Tao có thấy gì đâu mà nuôi với dưỡng!
- Thấy hay không thì cũng vậy đó. Mấy cậu bảo vệ và tao biết ý nên tối tối là chui vô ngách nằm im rơ, có tiếng chuông mới trình diện. Con nhà ai vô đây thì kể như dưng cơm cho lục đi. Hễ tanh cơm tanh cá thì ổng cho qua Bưng Còng nạo.
Tiếng nạo của Tám Nghi làm cho xương sống tôi nghe như có miếng B52 bay phớt qua.
(Sau đó tôi về H6 là Trưởng ban Pháo binh Quân khu, tôi có dịp ra vào cái.hầm “Đờ-cát-tiêu” này luôn. Mỗi lần đến tôi mua quà tặng các cô các cậu báo vệvà nhậu nhệt với Tám Nghi. Do đó tôi được họ coi như người nhà. Lắm khi làm việc xong tôi vô bếp lục cơm nguội ăn hoặc được mấy cô cấp dưỡng xẻ phần của ông xếp lớn cho tôi. Đầu năm 66 tôi ra chỉ huy tiểu đoàn bộ binh, toàn cơ quan Quân khu không ở nổi Củ Chi nữa nên vọt qua xây căn cứ ở Đường Long tức bên kia sông Sài gòn. Tôi vượt sông qua đó gặp ông Thần Núi để thông qua kê hoạch phòng ngự của Củ Chi. Lúc bấy giờ nhân viên và phòng chẳng còn người nào quen cả. Hỏi thăm thì họ bảo “Tám Nghi về R an dưỡng, cô Hiền đi học y tá. ” Nhưng mà tháng sau tôi gặp ông Chín Nửa, dượng tôi, người cho tôi cái radio Sony sau bữa tiệc nhậu tép mỡ ở cái chuồng trâu. Dượng cho hay Tám Nghi và cô Hiền đã bị Mỹ khui hầm bắt ở Bến Súc nay đang ngồi trong tù. Vậy cũng may, tôi nghĩ Tám Nghi tên lính Lê dương vẫn còn có cơ may: sống sót. Còn đối với cô Hiền thì đời tù tội có cực khổ nhưng không nhục bằng làm con nuôi.)
Nhưng màn con nuôi vẫn còn dài dài trong hầm Đờ-Cát ở Củ Chi và R.
Đời thằng thượng úy kiêm xạ thủ quốc tế về đây để được làm một trung tá sai vặt và ngồi tù Mỹ.
Trong kháng chiến chống Pháp cũng từng có một vụ thất tình của một anh cán bộ đã dẫn tới một hành động chính trị Một anh chàng học sinh Sài gòn dắt một cô bạn ra bưng để xây tổ uyên ương trong khói lửa. Ra khu được ít lâu, một tên cán bộ trung ương giỏi mép Mác xít đã cuỗm được cô nàng. Chàng kia uất ức trở lại thành kêu quân đội Pháp đến oanh tạc và đổ bộ đánh tan một hệ thống cơ quan ở vùng Bạc Liêu. Những người có trách nhiệm tìm cách che giấu rất kỹ nhưng sau cuộc tấn công bất thần đó, truyền đơn rải khắp nơi. Mỗi tờ giấy trắng đều in rõ hình anh chàng hận tình, tên tuổi và câu chuyện bị cuỗm người yêu cùng với danh tánh của những kẻ trong chuyện.
Sau đó lại xảy ra một chuyện khác ở vùng Cần Thơ. Tên tư lệnh mắt mèo Võ Quang Anh hốt vợ chưa cưới của sinh viên trường Quân chính Quang Trung. Cậu sinh viên này phẫn chí bỏ về thành đi học trường sĩ quan quân đội Sài gòn, lúc đình chiến lên đến trung tá. Trước khi về thành cậu ta nhắn với bạn thân: “Mày nói thằng này địt mẹ cách mạng dùm tao nghe!” Thằng bạn thân đó chính là tôi.
Có lẽ nào giờ đây tôi là kẻ cuỗm vợ chưa cưới của ai? Tôi không bao giờ làm chuyện đó. Ngược lại chính một tên tư lệnh mắt mèo khác đã cuỗm người yêu của tôi. Nhưng tôi không nói gì cũng không thèm phản ứng. Vì tôi biết nàng ta không yêu hắn mà bị bà mẹ nàng dồn ép, dâng nàng cho hắn để hắn không đến ve vãn bà ta nữa. Sự ve vãn này có thể đưa đến sự thất tiết của bà . Lẽ thứ hai tôi luôn luôn nghĩ con gái như mảnh lụa đào phất phơ giữa chợ, cũng như chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn. Ta tìm cái khác. Thiếu chi mà ta phải ghen tương giành giật với nhau? Xoàng!
Với triết lý đó tôi không bao giờ đau khổ vì tình. Không có người con gái nào làm tôi đau khổ, và tôi cũng không muốn ai đau khổ vì tôi. Tôi muốn họ coi tôi như một thứ chim trời, cá nước, một con bướm khi vui nó đậu khi buồn nó bay. Tôi chỉ sợ Ua quẩn trí thì khốn.
Cô nàng chỉ vọt ra Củ Chi trong vòng ba tiếng đồng hồ là cả vùng này nát như tương. Thoắt nghĩ như vậy tôi muốn vọt theo nàng nhưng nàng đã ra đến đường lớn. Chiếc xe phóng nhanh. Cô Hiền ra đến cái ngõ lan cỏ hoang rắp hờ bằng một nhánh chà tre để ngăn biệt kích chớ gì? Rõ một trò đùa. Ở trên R có một cơ quan cũng làm như cảnh giác cao, bắt nhân viên đốn nứa rào một châu vi rất rộng. Chẳng ngờ đó là một cách phô trương. Chẳng bao lâu biệt kích đột nhập, phối hợp với trực thăng đổ chụp giết sạch nhân viên.
Cô Hiền kẻo nhánh chà tre qua một bên lấy lối cho tôi vào rồi rắp lại ngay. Tôi vừa bước ít bước thì từ một cái chòi lá lụp xụp núp dưới một gốc bưởi bước ra một người: .
- Ê! bồ nhà !
Tôi nhìn ra ngay: Tám Nghi! Nhưng một Tám Nghi xơ xác hãi hùng. Hắn là thượng úy đoàn viên của một đoàn sĩ quan do tôi làm phó đoàn vượt Trường Sơn. Tám Nghi nói.
- Ổng được điện bá o của H2 mày đã rời trên đó hồi sáng. Tao cho người rình nãy giờ ! Thôi đi vô, đi vô ! Ổng đang chờ mày như trông nước uống.
- Gì mà dữ vậy?
- Mày thuộc về thứ dữ rồi chớ còn gì nữa?
- Ăn ở gì mà kín cổng cao tường vậy? Còn hơn mấy ông trời con giao liên trên Trường Sơn trốn khách!
- Phải vậy mới sống ! – Tám Nghi quay lại Hiền lót tót theo sau bảo – Em đi vào đem trà kẹo và thuốc lá ra đây để anh bạn anh giải lao chút rồi vô yết kiến bệ hạ !
Tám Nghi đẩy tôi vào chòi. Trong đó có một chiếc võng mắc sẵn. Hắn bảo tôi giăng võng nghỉ ngơi chờ lệnh. Tôi nghĩ: lại một thứ triều đình con con so với trên R. Mỗi một ông lớn hùng cứ một vùng tha hồ đặt ra điều lệ riêng cho mình. Tôi hất hàm hỏi tám Nghi:
- Cô em nào coi khớ vậy?
- Thì cũng con nuôi của các ông thôi, hỏi làm gì?
- Mày không nuôi đứa nào à?
- Tao lấy gì mà nuôi?
Phong trào con nuôi em nuôi coi bộ lây khắp nơi!
- Biết vậy hay vậy, chớ có nói ra mà mất chỗ đội nón!
- Con gái bây giờ mà lọt vô cơ quan của mấy ông là in như phi tần của hoàng thượng vậy.
Tám Nghi móc thuốc Capstan ra mời. Hai đứa nằm võng lắc lư coi trời bằng hột vịt qua làm khói mờ. Tám Nghi hỏi:
- Tao nghe đồn mày sắp làm phò mã đâu ở trển?
-Đếch gì!
- Ở trển có phải yên thân không?
- Mày không hay vụ dưa hấu rụng kỳ rồi à?
- Có chớ sao không. Mày tưởng dưới này không có thứ đó sao mà vác càng tôm xuống đây?
- Dưới này còn lượm mạnh hơn trên đó hả ?
- Dưới này còn bận Ba xây, ba chống, ba khoan nên để trên R lượm trước.
Hai đứa cười rù với nhau thoải mái. Phải có Tư Linh là đủ bộ ba ông Táo tha hồ mà phun mây nhả khói. Nguyễn Trường Nghi không biết ở tỉnh nào. Tôi không hề hỏi quê quán hắn mà hắn cũng không hỏi gốc gác tôi. Tôi biết hắn là tay xạ thủ súng ngấn của trường Lục Quân Sơn Tây. Trên đường về Nghi bệnh nằm lại trạm Tl4. Mới có hai năm mà anh ta trông hom hem quá đổi.
Hắn đoạt hạng tư trong toàn thể các tay súng ngắn Liên Xô và Đông Âu. Trên đường Trường Sơn, Nghi là tay bắn khỉ đại thần sầu còn tài hơn Dương bá Dương nữa đấy, không phát nào sẩy mà toàn ngay đầu. Khỉ mà bắn trúng mình thì kể như ăn máu… nó thôi. Tám Nghi buông một câu bất ngờ. .
- Thằng Trần Chánh Lý nằm lại ngoài đó muôn năm! . ..
- Không biết Bảy Phương có sửa sang gì lại cái mộ nó hay không?
- Vào trong này đụng tăng Mỹ mới nhớ đến nó . Thượng úy chống tăng lại nằm ở chỗ không có tăng!
Hai đứa thở dài với nhau sườn sượt. Tám Nghi chợt thấy chiếc nhẩn trên tay tôi, hỏi:
- Bộ mày có dính với cô nào rồi sao?
- Cô nào?
- Không biết con Thu Hà . . .
Tám Nghi bỏ lửng không nói thêm, cơ chừng sợ đụng chạm tới cô nào. Tôi nói:
- Tao vẫn lang bang như xưa !
- Ai biết đâu. Tao nghe nói mày bị đeo dữ lắm. Nào thành phần cơ bản, nào tiểu tư sản!
- Cũng có nhưng không dính với ai.
Tám Nghi uống trà và đốt thuốc hết điếu này mồi điếu khác Hắn ngó mông lung trên nóc lều một hồi lâu và nói:
- Mày biết vụ bà chằn trên R không?
- Bà chằn nào?
Tám Nghi ngó quanh như cảnh giác điều gì và nói:
- Bà chằn Rừng Sát xuống tới đây này.
Tôi giựt mình:
- Hồi nào vậy cha nội?
Tám Nghi nghiêng qua gần tôi và thầm thì.
- Cũng mới đây thôi! Mày đừng có học đi đồ lại nghe chưa ? Đứt đầu đó ! Mẹ! Tao không hiểu ngày xui tháng rủi gì mà tao lại gặp một chuyện như vậy .
Nghe Tám Nghi nói vòng vo, tôi cũng đoán ra rồi, nhưng để y bật mí thử xem. Thì đúng y như rằng:
- Không hiểu bằng cách nào mà bả mò trúng ngay chóc hầm ông Đờ Cát.
- Rồi cái tuồng đó diễn ra như sao?
- Thì đại khái là quăng cái hồ lô của bà lên hô giáng. Ổng cũng quăng cây gươm phép của ông lên hô giáng đáp lại. Bả chỉ tay một cái và hô thâu. Cây gươm chạy tọt vào hồ lô. Thói đời là vậy, cây gươm bao giờ cũng không thắng nổi cái hồ lô… Nè tao dặn kỹ nghe, chớ có nói ra nói vào. Gặp con nhà báo Nhỡ Nôm nó chụp được nó phết ra thì mệt cho ổng lắm! Hôm trước đóng ở trên kia cà, sau màn hỗn chiến đó sợ hôi ổ ổng rút xuống đây.
- Còn bả ?
- Bả là khu ủy viên mà mậy! Mấy bà Hai Xót, Năm Đang mọp dưới trướng bả nghe lệnh bả truyền nào dám chống lại. Các cơ quan của khu đóng trên đất Củ Chi này đều phải liên hệ với hai bà đó. Bả hỏi một tiếng là hai bà đó khai ngay. Ổng bây giờ sợ bả còn hơn sợ xe tăng Mỹ.
- Mày nói cà rởn hoài tao không hiểu gì hết, đâu nói rõ ra nghe coi. Tao hứa sống để bụng chết mang theo mà ! Tao thề độc – Tôi đưa tay ra – ngoéo tay nè.
Tám Nghi tiếp:
- Bả la ó dữ quá !
- Làm sao bả vô tận nồi gọ được vậy?
- Bả đứng bên ngoài bả la om lên. Bảo vệ ra đuổi bả. Bả rút K54 ra lên đạn rong róc và xưng tên. Ông thần mình sợ vỡ lỡ ra nên kêu bảo vệ đẩy bả xuống hầm để ém luôn. Bả dữ thiệt mày ạ. Tao không ngờ bả dám nói những tiếng quá ư nặng nề .
- Nói gì? Bả xổ nho à?
- Chậc! Không đâu! Bả là cán bộ đảng cao cấp hơn bà Ba Phó Tư lệnh R mà. Bả đâu có xài nho! Bả nói về bốn chữ Cần Kiệm Liêm Chính kia chớ !
- Bả hoan hô chữ nào nhất?
- Chữ nào bả cũng đem ra hô giáng ông thần cả ! Cuối cùng bả hạ một câu bất hủ : “Cụ Hồ còn đó sao củ không dạy cháu củ?”
(Tội nghiệp bà khu ủy viên! Bà tưởng cụ Hồ là người đạo đức! Đứt họng thì có! Toàn dân Nam kỳ đã nhầm lão già tàn ác này. Chính lão đã bỏ thuốc độc giết chết Dương Bạch Mai tại cuộc họp khoáng đại của Quốc Hội tại Ba Đình năm 1960. Ai cũng biết mà không dám hó hé!)
Tám Nghi tiếp:
- Lúc bấy giờ tao đang làm báo cáo ở trong một cái ngách hầm ngay bên cạnh hầm chính của ổng. Muốn tránh để cho hai bên tha hồ oánh phép, tao bèn chui tọt lên và chạy đi. Nhưng tai vẫn còn nghe văng. vang những câu rất ác…
- Rồi ông phản ứng làm sao?
- Ổng xuống nước nhỏ, rất nhỏ ! Nhỏ tối đa, tao chưa bao giờ có thể tưởng tượng đến thế.
- Rồi bả làm sao?
- Bả thì đi nước lớn, lớn thật lớn. Lớn như chưa bao giờ có thể tưởng tượng đến thế! Thôi, đại khái vậy đó, mày đừng có phổng rấn tao nữa, khổ thân tao lắm.
Tôi không hỏi hắn nữa nhưng suy nghĩ, hoang mang. Tôi chưa bao giờ thấy một lãnh tụ hoặc một cán bộ cao cấp đàng hoàng. Phải chăng thượng bất chánh hạ tất loạn. Ông trưởng phòng như thế thì còn dạy dỗ các trường ban và nhân viên làm sao? Tôi đi từ miền Đông qua miền Trung xuống miền Tây Nam Bộ trong thời kháng chiến. Đi tới đâu cũng nghe những chuyện lăng nhăng của mấy ông lớn. Ở miền Đông thì có ông Tô Ký, miền Trung có Trần văn Trà, miền Tây có Nguyễn văn Trấn và Võ quang Anh. Toàn những ông tư lệnh tư lọt không thôi. Lính lãi có quyền hành đâu mà giật vợ người. Người nắm quyền trong tay phải luôn luôn được kiểm soát chặt chẽ, nếu không sẽ gian dâm, hà lạm.
Tôi nhớ đám cưới Tô Ký, một thứ xa xí cực kỳ quái gở. Đèn măng sông đốt cả mấy chục cái trong rừng cao su, không nói làm chi. Rượu Tây uống không hết đem đổ trên đầu nhau chơi. Còn đám cưới của Năm Lê (tức là Sơn Tiêu) lính lấy thịt heo quay ném nhau như đất cục. Thế nhưng bây giờ Năm Lê lại phụ tình và bị vợ hạ nhục. Ắt hẳn bây giờ chị Hai Mặn ăn năn vì đã đá ông Trung đội trưởng Chọn kia để lấy ông Tiểu đoàn trướng Sơn Tiêu này. Tôi nói với Tám Nghi:
- Tao gặp bả trên trạm 66 R mày ạ ! Bả định đột nhập vào triều đình để hỏi tội đức lang quân nhưng lính gác kỹ quá bả không vào được.
- Mà có vào được cũng chẳng làm gì. Vì ổng đâu có ghé R. Ổng đi tàu lặn về Bến Tre rồi lội về đây nhận chức Phó phòng tham mưu luôn.
- Tha… m mu hả?
- Tha gì thì tha nhưng ổng bây giờ kẹt cò dữ lắm. Ổng không vô được đảng ủy thì có ngày rơi mão. Tao về đây hai năm rồi ngày nào cũng nghe ông chưởi bới gắt gỏng. Cả với ông Hai Phụng thượng tá Tư lệnh phó kiêm Trưởng phòng Tham mưu mà ông cũng tạt ngang, không ngán.
- Tại ổng không tha được cái mu con mẹ đan len ở Phố Hàng Đào vô đây nên ông khủng hoảng chớ gì. Còn ông tạt ông Phụng là vì ông này dốt không có thành tích bằng ổng, chứ đối với ông Ba Xu ổng đâu có dám lấn lướt. Ông ấy là Tư lệnh lại thành phần dân cạo mủ, vô sản trăm phần trăm, còn ổng thành phần lính thủy Tây. Ổng cũng biết tùy mặt mà lên chân! Thôi bỏ chuyện đó đi, mày rước bà xã vô chưa?
- Tao cũng ôm cây cà-nông-xăng-rờ. .. cum đây mà chịu trận chớ xã ớt gì đâu! Trên Trường Sơn thì bị sốt rét, xuống đồng bằng cái nọc muỗi đòn xốc cũng còn đây chớ nào đã dứt. Tối ngày cứ ru rú trong hầm chờ coi ổng có kêu tới la hét gì không. Làm chánh văn phòng mà y như thằng cần vụ.
- Sao có cái việc lẩm cẩm trong chức trách vậy?
-Ở đây toàn như vậy cả, không phải chỉ ở đây và mà mình tao. Mấy ổng bỏ hết điều lịnh nội vụ, điều lịnh kỷ luật của quân đội rồi. Mỗi ông là một cái đầu gà, muốn gáy kiểu nào cứ gáy. Tao chỉ huy cả một trung đội liên lạc, cần vụ. Tối ngày chuyên nấu cơm và móc hầm cho ông lủi. Kia kìa mày nhìn cái mái nhà lụp xụp đó ! Trên mặt đất trông không ra gì cả nhưng dưới hầm thì đủ hết: ván gõ, bàn ghế y như ở trên. Ổng không bao giờ bước ra khỏi hầm, trừ khi tiểu tiện. Tao chỉ thiếu việc bưng bô cho ổng nữa thôi. Ổng vừa ra lịnh cho tao bắt lũ con nít khoét đường cho ổng đi dạo quanh nhà này. Lạ thật! Ổng là trung đoàn trưởng pháo binh mà lại sợ pháo hơn tụi thường.
- Chính vì con nhà pháo hiểu tánh cách lợi hại của pháo nên sợ pháo hơn người thường.
- Ờ, mày nói đúng. Thằng Ba Xây, xã đội phó, chủ có nhà này, nó cho vợ con ra ấp chiến lược hết rồi ở lại đây tử thủ. Hàng ngày nó đi đặt lờ đặt lọp bắt cá tôm bán, có biết sợ sệt gì.
- Tao biết ổng hồi còn trẻ cũng gan lắm đâu có thỏ đế dữ vậy. Có lẽ về già lưng mật. . ..
- Mấy lúc ngớt pháo ổng kêu tao tới nói chuyện chơi. Biết chuyện gì mà nói? Bố ai dám pha trò với ổng.
- Hồi chín năm ổng vui nhộn và thể thao lắm! Trung đoàn 300 có đánh lấy được chiếc tàu Tây… tụi này chiều chiều thường chạy trên sông Vàm Sát la ó cho hả hơi. Ổng chạy đua, bơi lội đều giỏi hết.
- Bộ tướng ổng coi bộ cái gì cũng giỏi. Giò dài, tay dài mặt cũng dài… Từ hôm B52 cắt một đường vén ót tao coi bộ cái mặt của ông càng dài hơn ra, khó nhìn quá hè . Để chừng gặp ổng mày sẽ thấy tao nói có đúng không? Tối ngày ăn rồi cứ rút trong hầm, nếu độn thổ được chắc ông cũng độn thổ tới đất cái luôn.
- Bộ B52 có viếng khúc lòng ống này à?
- Có chớ. Nó rạch một lằn từ Hố Bò xuống An Nhơn bề ngang chừng hai cây số. Có lẽ đây là loạt mồ côiđầu mút cho nên độ bom không đông đặc lắm. Chừng hai trăm thước mới có một hố bom. Ấy là tao chỉ đoán mò thôi chớ làm sao biết được. Nhưng nếu nó chệch về phía trong một chút thì tụi này chắc hốt xương rồi. Chừng mày về H6 sẽ đi ngang cái nhát dao vén ót đó.
- Chắc gần Đồng Dù, tụi nó sợ xuống cựa nên làm nhẹ tay chớ gì ?
- Đây chỉ cách Đồng Dù chừng sáu cây số!
- Xa thì sợ B52, gần sợ tăng, pháo, biệt kích, mày muốn cái nào?
- Muốn cái nào à? Còn mày chạy vuột B52 trên R về đây bắt cái nào?
Tôi cười:
- Mày bắt cái nào tao bắt cái đó !
Tám Nghi ngưng một chút rồi hỏi:
- Mày về đây có kế hoạch đánh đá gì chưa?
- Đánh bằng cùi chõ hay bằng gì?
- Pháo phiếc tụi H6 chôn sống hết, mày về quật mồ lên mà xài.
- Tao không có một món khí tài nào trong tay, ngoài bộ thước xạ kích tổng hợp trong ba lô và cặp ống nhòm này.
- Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng ! Nói vậy sao được tía nó .
- Vùng thì vùng, còn lên hay không chưa biết.
- Tao thì muốn vùng mà nó không lên. Nó cứ nằm ỳ. Hề hề… mà thà nó nằm êm còn dễ chịu, chứ nó vùng lên thì mắc công kiểm thảo như thằng Hai Giả.
- Tao nghe đồn mà không rõ vụ đó ra sao?
- Thì có cái đách gì! Sướng con cu thì mù con mắt. Nó có vợ ngoài Hốc Môn, tháng nào cũng vô cho nó nộp tô, nhưng vì nó thích vùng lên nên ở trong này chịu không nổi lại thím xực thêm một bà . Vậy chớ có gì. Nghĩa là đúng y cái công thức con vòng con cỡi của mùa thu ta.
- Có vậy thôi?
- Vậy thôi đã hạ từng công tác, ngưng sinh hoạt đảng. Nếu hơn thì tới chuyện gì nữa?
- Trong khi vợ bé bố Duẫn ở villa còn bố thì làm Tổng bí thư với số phiếu trăm phần trăm.
- Chíp! Chuyện đời muôn năm nó là vậy. Nói đạo đức dễ hơn giữ đạo đức.
Bỗng có bấng kẻng khua leng keng trong nhà . Tám Nghi nhổm dậy, bảo:
- Sửa soạn triều phục, đi vô chầu cha nội. Bệ hạ gọi đó.
- Ê hồi nảy cô bé nào coi mướt vậy ta?
- Mày cũng muốn vùng lên hả? Con gái nuôi của ổng đó, nó là người thận cận với ổng hơn cả tao. Nó ra vào chầu chực mình rồng tự do còn tao có lô phôn gọi mới được tới.
- Ở đây có lô phôn cơ à ?
- Cái kẻng đó, không nghe sao? Đánh với Mỹ mà xài lô phôn cỡ đó, mày thấy bình minh lên khắp nơi rồi chứ?
- Tao đi đâu cũng thấy con nuôi. Ông Ba Thắng trên R, ông Tám Quang và ông Thần Núi ở đây.
- Con nuôi có hiếu hơn con đẻ . Con nuôi bố biểu cái gì cũng được mày có hiểu không?
Chúng tôi sánh vai đi đạp lên đầu những đám cỏ mịt mùng ít dấu chân. Người ta muốn để nguyên màu hoang dại. Tám Nghi bảo:
- Có đại yến đãi mày đấy!
- Yến gì?
-Tao chưa hề thấy ổng săn đón ai như đối với mày. Bọn hậu cần, liên lạc, cả tao nữa, được lệnh ổng chạy đi mua rượu tây la ve và một mớ thỏ để nấu sốt vang theo kiểu Hà Nội . Riêng tụi tiếp phẩm phải chạy mua cho kỳ được nước đá !
Tôi bật cười:
- Bỏ mẹ rồi!
- Gì?
- Mới đút đầu vô chiến đấu mà ổng cho ăn thịt thỏ là điềm chẳng lành. Vậy thì tao sẽ nhát như thỏ đế và chạy nhanh như thỏ rừng mà thôi!
Tới thềm nhà, Tám Nghi níu tôi dừng lại và nói nhỏ:
- Mày đứng ở đây, tao vô ngách bảo thằng cần vụ.
Một chốc Tám Nghi chạy ra, đẫy tôi đi trước, hắn rón rén theo sau. Tới hầm hắn bảo:
- Rồi, vào đi! Cởi dép ra !
Tôi làm theo lệnh rồi bước xuống bậc thứ nhất. Sao mà lạnh thế ! Tôi đã từng vào nhiều hầm nhưng chưa hầm nào giống âm phủ như hầm này. Đúng là hầm Đờ Cát. Tôi có cảm tưởng tôi là chú chuột nhắt đang chui vào lòng một quả núi đất. Quả núi mà sụp là chuột bẹp dí. Phải dùng ít nhất năm trăm nhân công mới đắp nổi cái hầm này. Lòng hầm rộng rải nhưng tôi lại thấy nó ngột ngạt khó chịu vì cái không khí ẩm ướt nặng nề và ánh sáng lờ mờ của một ngọn đèn cầy cắm ở một chỗ lõm của tường đất.
Tám Nghi bảo tôi ngồi ở một cái ngách có bàn ghế hẳn hoi. Đây là nơi cán bộ các ban ngồi chờ trước khi làm việc với ổng. Tôi đang đảo mắt ngó quanh thì cận vệ trở ra. Cậu ta bước lại rỉ tai Tám Nghi. Tám Nghi nắm vai tôi, bảo:
- Ổng kêu vào !
Rồi hắn đi trước tôi theo sau. Tôi nghĩ thầm ông thần này rành chiến tranh lắm. So với cái hầm của Tám Quang thì nó khoa học hơn gấp bội. Bỗng Tám Nghi quẹo qua trái. Hầm kiến trúc theo hình chữ L. Nếu đạn có nổ ngay miệng hầm miễng cũng không văng vào được. Một ngọn đèn cầy khác hắt ra một thứ ánh sáng nhà mồ. Tám Nghi quay lại bảo:
- Coi chừng sụp.
Tôi bước xuống luôn một mạch bốn bậc đất xén rất sắcnhư lót gạch. Ai xuống cái hầm này dù không đội bom đạn cũng có thể hiểu được cường độ chiến tranh ở đây. Tám Nghi đưa tôi đến một cái ngách đào sâu vào vách hầm, rộng bằng phân nửa toàn bộ hầm của Tám Quang. Tám Nghi trỏ vào bàn ghế, các cây trụ rất chắc và bảo:
- Đây là hang của tao và mấy cậu bảo vệ. Bàn để ăn cơm và làm việc. Trụ để mắc võng hai tầng.
Tám Nghi lại bảo tôi ngồi chờ rồi cười khoe cặp môi chì khô răn rúm:
- Mày coi tao kiến trúc hầm kiểu này đúng với hầm chống nguyên tử mình học ngoài Bắc không?
Đối diện với cái ngách này là một cái ngách nhỏ, trong đó một cậu bé đang ngồi trên một cái thùng gỗ thông đựng đạn DKZ. Tám Nghi bảo:
- Viết thư viết từ cái gì . Không có được gởi lén đó nghe. Bữa nào tao cho về Sa Nhỏ mà thăm nó. Bộ gần ngày cưới rồi nôn hả? Tao đây với ông thầy pháo này già khú rồi mà có được như mày đâu !
Thằng bé ngóc lên nhìn rồi nói:
- Chú già chớ thầy pháo có già đâu!
- Đi lại bếp bảo mấy đứa nhỏ lột da thỏ chuẩn bị xào nấu đi, khách tới rồi. Đứa nào coi lại nước đá rộng mạc cưa và trấu có kỷ không, để đến lúc dùng mà chảy hết, ổng cạo đầu tụi bây nghe!
Tám Nghi quay lại bảo tôi bỏ ba lô và các thứ lỉnh kỉnh ra để trên bàn ăn cơm, đứng chờ còn y thì đi tới rồi rẽ ngang về phía trái. Như vậy hầm có hình chữ Z. Tôi tranh thủ gạ chuyện cậu bé :
- Bộ nhà cậu ở Sa Nhỏ à?
-Dạ.
- Sao vô đây?
- Dạ, ban đầu em tòng quân ở Q Hai Chòi, học xong khoa tân binh, em đưa nguyện vọng ra đơn vị chiến đấu, nhưng họ đưa về đây.
- Chừng nào đám cưới?
- Dạ em hẹn với cô ta là giải phóng xong về cưới, nhưng xem mòi không mau, nên em muốn xin phép về làm đám cưới rồi trở vô nhưng chú Tám bảo khoan đã , tình hình này không có ai dám tập trung ăn đám cưới mà làm, nên em gởi thơ về bảo ở nhà nán lại một thời gian nữa. .
(Thì cũng kiểu hai năm thống nhất cậu ơi! Đừng có bao giờ tin lời hứa của cách mạng!)
Tôi bắt qua chuyện hầm hố:
- Hầm này đào sâu ngủ thoái mái quá ?
- Trời ơi mấy cháu đào hộc máu đó chú. Cả trung đội làm liên miên một tháng trời mới xong.
- Đà ngang bằng cây cao su hả?
- Dạ, đây là cột nhà giàu bỏ đi mình lấy đại về làm. Rừng chồi cây non đâu đủ sức chịu cái nóc hầm này. Tụi cháu lvừa trồng khoai mì và mắc cỡ trên nóc. Hồi trước có cái nóc lá nhưng bị B52 quạt bay mất.
- B52 ở ngoài xa mà.
- Nhưng mà hơi nó mạnh lắm, nó đi như sấm vậy. Nếu người đứng trên mặt đất không bị đạn thì cũng văng.
Tôi trỏ mấy đóm ánh sáng loang trên vách hầm, hỏi:
- Lỗ thông hơi khoét hay có ống tre?
- Dạ đặt ống tre đàng hoàng, còn khoét thì ít lâu đất lỡ bít hết.
- Có lót ni-lông trên đà ngang trước khi đổ đất lên không?
- Dạ có, chúng em còn đươn vỉ tre trải đè lên để đất lkhỏi rơi xuống nữa .
- Vậy là tốt! Ở đây đất cao nên lòng hầm đào rất sâu, trong Gót Chàng đất thấp, xuống một thước là đụng nước.
Tám Nghi trở ra. Tôi hỏi ngay:
- Cái hầm có ăn thông ra địa không?
- Có chớ ! Ba Xây có được một khúc đào trước kia. Nó vừa lỡ, tụi tao phải sửa sang lại để xài. Y tặng cho tụi này luôn. Y bảo: “Mấy ổng có chun thì chun, còn tôi thì dông thôi, chun xuống dưới rủi tụi nó moi được miệng hầm nó móc lên như móc cua, tôi hổng chơi.”
- Địa được bao dai?
- Trăm rưỡi thước.
- Mày có xuống thử chưa?
- Có chớ !
- Bao lâu?
- Chừng hơn nửa tiếng. Tao thấy tốt lắm.
- Hơn nửa tiếng thì tốt, chớ chừng ba tiếng trở lên phải coi chừng. Tao đã từng đào và từng xuống địa. Đây là vấn đề khoa học không phải vấn đề lập trường. Thiếu dưỡng khí thì dù có thừa lập trường cũng không kham! Mày phải đặt vấn đề nếu nó chốt trên đầu thì phải làm sao?
- Mày bảo tao phải làm sao?
- Người ta cứ tướng xuống địa như đi xuống nhà nghỉ mát, nằm ngủ khỏe re chờ giặc nó rút thì trồi lên bắn tỉa xuyên hông hay vét đuôi nó dễ như ăn ớt vậy. Sự thực không phải đâu. Một cái đánh dấm ở dưới đó có giá trị bằng một trái bom nguyên tử trên mặt đất vậy. Còn rủi mấy cô công chúa kia có kỳ thì cả hầm sẽ chết ngộp. Rồi khát nước, rồi tiểu tiện, rồi ăn uống. Bất cứ cái gì cũng kỳ cục khác thường hết cả. Đừng tưởng đơn giản mà chết.
- Sao mày rành vậy?
- Thì tao đã xuống rồi chớ sao. Cái thằng nhà báo Bọ Chét tới đây hồi năm ngoái đòi quay phim lòng địa đạo nhưng nếu nó quay được thì tai hại biết bao nhiêu. Cứ để cho nhân dân thế giới thưởng thức cái địa trên đài Giải phóng và đài Hà Nội thì tốt nhất?
Bỗng nghe tiếng lục lạc ngựa leng leng. Tám Nghi ngắt nhẹ hông tôi và thì thào:
- Ổng kêu vô !
Tám Nghi dẫn tôi đến miệng ngách rồi đùn tôi vào.
Một người cao ốm, mặt dài, cằm dài ,trán thấp mà ngang chàng, mắt lươn ti hí, nhe răng cười mà không ra tiếng chỉ lphát ra tiếng hừ hừ như sư tử vờn mồi, đi tới đưa tay cho tôi. Tôi bắt lấy và nói:
- Anh Tiêu, anh mạnh hả ?
- Cậu làm gì ở dưới với mấy thằng Bắc kỳ lâu vậy? Có lmóc được gia đình không?
- Dạ tôi nằm chờ. ông già vô cho tiền rồi về.
- Còn vụ thằng em?
- Dạ chưa kết quả .
- Mấy thằng đó làm ăn bá láp. Gặp đâu xâu đó . Cán bộ chiến đấu không phải dính vào những cái chuyện địch vận lăng nhăng như vậy. Con người ta ai cũng chỉ có một bộ óc, là hễ làm tham mưu thì không chính trị, hễ làm chính trị thì đừng làm tham mưu. Cái thằng chính trị nó nhìn cậu nó thấy như một cục mồi nhử cá, còn thằng tham mưu nhìn cậu như một cái búa đập kẻ thù, cậu hiểu chưa? – Anh vừa nói vừa móc gói Capstan ra đưa cho tôi – Theo tôi trong nghệ thuật chỉ huy không nên có hai bộ phận chính trị. và tham mưu cùng một lúc.
Tôi mời lại anh và bật lửa cho anh đốt. Anh nói:
- Kể từ khi cậu đi miền Tây tới giờ tôi không gặp lại.
- Dạ, có gần hai chục năm!
- Cậu hồi đó còn thiếu nhi nhưng đã có khiếu quân sự. Mười bốn tuổi mà dám đánh xe tăng.
- Dạ làm ẩu may mà được anh à .
- Cậu xài cái ống quẹt ngon quá !
- Dạ , của người ta mua ở chợ Bắc Hà cho. – Nói xong tôi để hộp quẹt lên bàn. – Dạ, anh cất dùng còn cái kia để tôi gởi ra Hà Nội sửa.
Tôi cũng có nhưng cái của xưởng cơ khí Hà Nội làm, quẹt rách ngón tay mà không ra lửa.
Tám Nghi thò đầu vô hỏi:
- Dạ anh Năm còn bảo gì nữa không?
- Dặn con Hiền mua thuốc hút cho tôi.
- Dạ có rồi anh Năm.
- Thịt thỏ bảo tụi nó chiên sả ớt, đừng nấu kiểu có nước lỉnh bỉnh như vừa rồi ăn tanh lắm.
Tám Nghi thụt ra, anh bảo:
- Cậu đó giáo viên Lục quân mà chậm chạp, không linh hoạt, việc gì cũng đợi nhắc.
Tôi mở sắc-cốt định lấy bức thư của thượng tá Phúc, Phó tư lệnh pháo binh R U80 của ông Tư Khanh, nhưng lại thôi, chỉ móc giấy công tác ra trình. Anh xem xong, để trên bàn, xòe bàn tay to lớn ra đập đập trên tờ giấy, gầm gừ:
- Cái này là không được.
Tôi giật mình hỏi.
- Dạ, anh nói sao ạ?
- Hễ công tác ở Tham mưu thì công tác ở Tham mưu không có chàng hãng hai chân vậy được.
Tôi.ngồi lặng thinh, khống biết số phận mình ra sao. Ổng không nhận thì có nước lội về R. Trên đó còn ai đâu? Sức hút duy nhất làm cho tôi trở về R là các em thôi. Các em đã tản lạc hết rồi thì về làm gì nữa? Anh hất hàm:
- Cậu muốn tham mưu hay chính trị?
- Dạ, ở trên sắp xếp đâu tôi ngồi đó.
- Nói vậy sao được. Tham mưu là thực tế: Nhìn bom đạn là bom đạn chớ không thấy nó là mầm mống căm thù như chánh trị. Theo cậu cuộc chiến tranh này sẽ đi đến đâu?
Tôi ngần ngại, anh bảo ngay:
- Trung ương không hiểu gì ráo mà phát động chiến tranh. Giống như hồi 45 tầm vông đánh xe tăng. Nhưng bây giờ không giống chút nào.
Một cô bé đưa trà vào. Anh rót mời tôi và uống ngay, rồi tiếp :
- Binh thư có nói ba yếu tố chiến tranh: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Kẻ nào có ba yếu tố đó sẽ thắng. Ta có không? Tôi sát hạch chính trị cậu đó. Nói đi nghe thử!
- Dạ, thiên thời ta có vì đây là đất của ta, Mỹ không quen cái thủy thổ nhiệt đới này. Địa lợi: ta có địa đạo thôn liền thôn, xã liền xã, ta thuộc lãnh thổ hơn Mỹ. Nhân hòa….
Anh cười như con cọp bị hóc xương:
- Nói về nhân hòa nghe thử.
- Ta có dân. Mỹ bị dân thù ghét.
Anh khoanh hai tay trước ngực, ngã ngửa ra thành ghế:
- Cậu làm chánh ta có thớ lắm! Hà hà… Cậu nói y như Tám Quang. Nhưng đó là những điều trật lất. Mỹ không chịu được nhiệt đới nếu nó không có máy lạnh. Mình ốm đau vì ăn ở ngoài rừng, bịnh không có thuốc. Thậm chí bị thương chở tới Bưng Còng ông Tám Lê chạy trốn. Lính rượt bắn ông đó là thiên thời. Còn về địa lợi thì đây nà – Anh dậm dậm chân : Địa xạo chớ địa đạo gì. Ở chui rút như chuột có thấy trời đất gì mà chỉ huy? Còn nhân hòa hả ? Thằng Ba Xây xã đội phó này cho vợ con ra ấp chiến lược hết rồi. Chung quanh đây bà con cũng đã đi hoặc sắp đi. Người ta không thích mình đến. Vì mình đến có nghĩa là bom pháo, B52, biệt kích đến. Cậu nhớ hồi chín năm không? Mình đi đến đâu gà heo ngã liệt địa tới đó, dân chúng sắp hàng hai bên đường chào đón hoặc tiễn đưa. Còn bây giờ? Cấp trên phán như vậy rồi, mình cãi làm sao?
Tôi không ngạc nhiên về nhận định của anh. Tôi cũng nghĩ thế, có điều tôi không dám nói ra. Anh rót trà uống và tiếp:
- Cuộc chiến tranh này ác liệt hơn, ta phải hi sinh nhiều hơn và nó sẽ kéo dài hơn cuộc kháng chiến chống Pháp, ngoại trừ thằng Mỹ chạy làng. Nếu không, với tương quan lực lượng này ta không thấy có lý do để chiến thắng. Tôi nói thật đấy mà. Tôi đi tàu lặn với năm chục ông cấp tá . Tàu cặp bờ biển Bến Tre. Từ đó về đây phải chạy chừng một chục cuộc đổ dù. Qua những lần đó tôi tổng kết tình thế của miền Nam về mọi mặt. Dân quan chánh đảng và tình hình quân địch.
- Xin anh cho tôi nghe với.
- Uống nước đi, chút nữa ở đây ăn cơm với tôi một bữa ngon nghe ! – Anh hớp trà rồi trở lại vấn đề – Ta ép buộc dân làm chiến tranh, không phải họ tự nguyện. Bộ đội ta vũ khì không bằng 1/100 quân địch. Đây tôi chỉ cho cậu một điểm. Chiến tranh là tội ác, bất cứ chiến tranh nào. Thằng nào giết người nhanh và nhiều nhất thằng đó thắng. Về điểm này Mỹ có ưu thế hơn ta nhiều. – Anh chĩa ngón tay trỏ vào cốc trà và chấm chấm trên bàn – Đây là cự ly đạn phát ra từ lòng súng M16 không đấy một tấc một viên. Nghĩa là một chiến sĩ ta có thể bị ba viên một loạt đạn. Còn đạn trực thăng bắn thì còn kích hơn. Nó bắn từ sáu đến tám ngàn viên trong một phút. Cự ly đạn ước chừng hai tấc. Vậy một người chạy trong lưới đạn của nó không có thể lọt kẽ được. Cậu hiểu dư mà!
-Dạ.
- Còn loại cá lẹp của nó phóng rốc-kết sẽ không để cho mình thoát. Bốn trái nổ bốn gốc một lúc. Tôi nhìn dấu đạn thì tôi thấy là nếu mục tiêu bị nó nhắm thì chỉ có hai trường hợp: một là hủy diệt, hai là trọng thương. Nhiều ông cùng về với tôi hỏi: “Sao nó không bắn giống FM Tây hồi trước nghĩa là bập bập bập mà chỉ nghe cái réec hoặc hù ù.. Là vì đạn đi dính liền nhau. Khi về đến Tháp Mười tôi bị một trận pháo bầy. Đạn nổ rồi mình mới nghe đề pa ! Ở Trung Quốc tôi không có học thứ này. Sợ e bạn ta không có . Binh chũng của cậu đó, cậu thấy thế nào?
- Dạ tôi cũng để tâm dữ lắm anh Năm ! Nhưng chưa biết phải làm gì. Ít nhất ta phải có lực lượng tương đối.
- Tương đối là bao nhiêu?
- Là…ít nhất nó mười ta phải sáu hoặc năm.
- Đừng mong. Tôi biết hiện giờ nó mười, ta 0,5. Cũng có thể là 0.
- Sao vậy anh?
- Vì DKZ là thứ dùng hồi chín năm ta lén chôn lại, bây giờ móc lên. Lau chùi xong lại chôn. Cậu dạy trên trường loại pháo gì?
- Dạ Nhựt, Mỹ, Pháp, Trung Quốc.
Anh cười chế diễu.
- Học gì dữ vậy? Bộ oánh một lúc bốn phép à?
- Dạ râu ông này cặm cầm bà kia anh Năm ạ . Pháo Nhật không có máy ngắm, phải dùng máy ngắm của Pháp gắn qua. Bắn vòng cầu không được phải bắn trực xạ.
- Vậy rồi làm sao chơi với thằng Đồng Dù?
- Cần chơi thì phình bụng ra chơi chớ sao giờ anh Năm!
Anh lặng thinh một lúc rồi bảo:
- Nhưng ngặt nhất là học sinh. Lớp hai, lớp ba, làm pháo thủ còn không xong lấy đâu chỉ huy một khẩu đội? Rồi hành quân bằng cái gì?
- Anh mà thấy lính trên Trường Sơn khiêng pháo thì anh sẽ khóc ròng đó anh ! Bộ giò như cây tăm xỉa răng mà khiêng pháo 90 ly. Trời ơi ! Đói ! Đế cối bỏ đầy đường ! Tôi thấy không dám dòm. Trung ương ác quá ! Miễn đạt mục đích thì thôi, hi sinh bao nhiêu không kể.
- Nhất là hi sinh dân Nam kỳ và nhất nữa là không có đứa con đứa cháu gì của mấy ông to bà lớn cả !
Tám Nghi lại ló đầu vô:
- Thưa anh Năm, uống rượu gì ạ?
- Có Tây chơi Tây, có đế chơi đế. Đãi cậu thầy pháo này một bữa cho tới gáo. Cậu ta là lính của tôi hồi chín năm. Tiến bộ mau quá ! ờ ờ đó là nhờ văn hóa. Chiến tranh là một khoa học. Hồi chín năm ai có dao dùng dao, ai có búa dùng búa chớ bây giờ không thể chơi miếng võ rừng đó được nữa. Một người chỉ huy bây giờ phải là một nhà khoa học. Cậu có thắc mắc tại sao Ông Chuột nhà mình làm quyền Sư trưởng mất năm, sáu năm mà không lên Sư trưởng được không?
- Dạ thấy dân Nam mình ra Bắc bị lép, nhưng không dám thắc mắc.
Anh lắc đầu:
- Đứng về địa phương anh thì thắc mắc, nhưng đứng về khoa học thì không nên. Ông ấy làm Sư trường trong lúc chưa rành toán chia thì làm sao? Một vị chỉ huy cầm mười ngàn lính trong tay gồm có cả chục loại binh chủng, nào pháo binh, xe tăng, bộ binh, cơ giới, hóa học, quân y, hậu cần, có khi cả hải quân và không quân mà trình độ như ổng thì làm sao xoay trở? Lập trường chỉ tốt ở trong văn phòng và kiểm thảo dâm ô tham ô thôi chớ ra trận thì vứt đi. Thằng lính nào hi sinh bằng Ma tơ rô xốp và Đồng Tồn Thụy? Cậu có xem phim chứ? ờ… ờ Bế văn Dàn, Tô vĩnh Diện của ta nữa !
-Dạ có.
- Cứ bắt lính lao mình vô lấp lỗ châu mai hoài sao? .
- Dạ… tôi đâu có ý kiến gì anh Năm!
- Ba cái cô dũng sĩ do Tám Quang sơn phết chỉ nhảy cóc nhảy nhái ít lâu và trong lúc bom đạn chưa thật ác liệt thôi . Nay mai thằng Tư Linh sẽ không có đạo diễn địa đạo chiến được nữa.
Tôi hơi nhột, gượng hỏi.
- Hồi thằng cha Bọ Chét tới đây anh về chưa anh Năm?
- Tôi ở đây chớ đâu ! Tám Quang có liên hệ với tôi yêu cầu cho bố trí pháo bắn máy bay để quay phim. Tôi bảo không được Anh ta có đề nghị lên ông Ba Đình, nhưng ông Ba bảo tùy tôi. Cậu thấy không? Con mắt chính trị nó nhìn sự việc như thế đó . Nó tưởng bắn máy bay là dễ lắm. Cứ có tiếng nổ cho nó thu thanh là được rồi. Mấy đứa nữ du kích ngoài Bắc tập bắn máy bay bằng súng trường tôi trông thấy mà khóc ròng. Vậy mà ông thi sĩ nhà mình làm thơ ca ngợi và mời quốc tế tới xem nữa.
- Thơ gì anh?
- Thơ gì không biết thơ gì, tôi chỉ nhớ đoạn du kích bắn máy bay ở cầu Lai Vu như sau:
Có cô du kích xóm Lai Vu
Quấn rắn trong chân vẫn bắn thù
Mỹ hại muôn nhà lo diệt trước
Rắn! Mình em chịu có sao đâu.

Đem súng trường ra bắn phản lực thì chỉ có Việt Nam ta thôi.
- Và đem hầm chông địa đạo ra chống B52 thì cũng chỉ có Củ Chi này thôi anh ạ -Thấy ông thủ trưởng cởi mở nên tôi cũng phụ họa – Tôi đã đi với các đội du kích đào hầm và địa đạo để tìm hiểu tình hình hầu sau này áp dụng cho công tác chỉ huy. Tôi thấy quả bi đát. Anh Tám Quang bảo tôi là một vòng đai thép bao quanh Đồng Dù, tôi tưởng có thật…
- Thì có thật chớ láo à?
Dạ, anh bảo sao?
- Thì có mấy hang ếch của tụi thằng Năm Cội và của con Bảy Mô!
Anh ngừng lại lấy cái lục lạc trên bàn lắc lắc. Tám Nghi ló vào Anh chỉ cái ghế bảo Tám Nghi ngồi:
- Cậu nói cho ông giáo viên pháo nghe về cái vành đai thép của ông Tám Quang chút.
- Dạ! Hôm trước anh Năm bảo tôi đi nghiên cứu cái vành.
Anh cắt ngang.
- Là vì tôi ở đây mà không biết. Thế mà đài Giải phóng nói oang oang. Rồi đài Hà Nội cũng phụ họa và khuếch đại nó thành Thượng Cam Lĩnh. Tôi nghe mà giật nảy người lên ! Mình ở đây mà sao không biết vụ đó ! Khơi quá ! Nào, cậu Nghi trình bày để ông thầy pháo nghe xem có thể đem cà-nông 105 ở Tầm Vu ra tăng cường cho cái vành đai đó không?
Tám Nghi nói:
- Dạ là chục rưỡi hố một của du kích các xã Phước Hiệp với Nhuận Đức. Họ núp bắn ba tụi tinh Mỹ ở Đồng Dù thường đem đĩ ra làm ăn ở bên ngoài vòng rào. Nhưng tình trạng đó đã chấm dứt rồi. Vì sau mấy lần tụi nó bị bắn xách quần chạy, thì xe tăng, pháo, trực thăng đáp lễ. Chúng vừa bắn vừa ủi tan mấy cái hầm đó hết rồi. Hiện giờ du kích bị tróc nên chạy vô Bàu Chứa đào hầm khác.
- Như vậy thì Đồng Dù ở ngoài đạn đạo súng trường rồi. Tôi có gặp đội nữ của Bảy Nề và tự sung công làm ông thầy khoét hết một ngày.
Tám Nghi hết nhiệm vụ, đứng dậy cóm róm:
- Dạ, thỏ chiên sả ớt cũng sắp xong rồi anh Năm!
- Bảo tụi nó dọn ra đi. Cậu tới nhậu cho vui nghé!
-Dạ.
Tám Nghi vừa đi ra, anh lấy bản đồ trải ra và chỉ cho tôi các vị trí đồn bót. Tôi rút bút chì mỡ và bút nguyên tử bốn màu đưa cho anh làm điểm. Anh hỏi:
- Ở đâu cậu có thứ này?
- Dạ tôi mua ở chợ Long Hoa II. . .
- Cậu dám vô chợ Long Hoa kia à?
- Dạ, đó là Xóm Mới ở quận Tân Biên của Tây Ninh chớ không phải chợ Long Hoa thiệt. .
- Xa không?
- Dạ nếu không có máy bay đi bộ chừng hai ngày.
- Từ ngày về đây tôi như thằng ngố cứ ở miết trong hầm. Tụi nó xì xào tôi nghe, nhưng kệ. Tụi nó cười tôi là con nhà pháo sao lại sợ pháo ghê thế. Tụi nó không hiểu gì hết nên không sợ là phải.
Anh cầm cây bút chì nghiêng qua nghiêng lại xem và nói.
- Thứ này là made in USA đấy ! Tôi bảo Sáu Huỳnh mua cho tôi mấy cây mà y có nhớ đâu, y chỉ nhớ má con Chia.
Tôi làm bộ không biết: .
- Con Chia nào anh Năm?
- Chỗ thằng mắt bù lạch đóng cơ quan cậu không biết thật à?
Tôi lắc. Anh cười hắc hắc:
- Thằng Chín Lộc với bà Ba Bánh Bò, thằng Huỳnh đớp mụ Tư The má con Chia. Tụi nó làm công tác quân báo nhân dân mọc rễ ở đó luôn chớ gì! Kệ tụi nó, tôi cũng thế thôi. Hay dỡ là công tác chớ ba cái vụ lặt vặt đó tôi không xét nét.
Anh cầm bút chì chỉ mấy điểm trên bản đồ rồi xếp lại, nói tiếp:
- Cậu biết từ trước tôi không ưa mấy thằng chính trị viên. Chúng nó nói toàn chuyện trên trời dưới đất không thực tế chút nào! Lão Long này (tức là Tám Quang) vì nói chính trị nhiều quá mà ở vá tới bây giờ, mó đâu hụt đó. Ổng đi Trung Quốc học xong về, cũng nói cái giọng Mỹ là con cọp giấy. Lão Khơ trọc vậy mà thực tế: “Cọp giấy nhưng nó có nanh nguyên tử” Đến Củ Chi này xem con cọp giấy nó có làm gì không? Ấy là nó chưa xài tới nanh của nó đó. Mấy thằng chánh trị ba lem nhem học được ba mớ lý luận đã bốc trời… Tôi đã chỉ thị cho Ba Hải, Năm Tiều triển khai lực lượng đánh phục kích hoặc pháo kích, nhưng ba tháng nay vẫn êm rơ. Ngày ngày cứ lõ con mắt ra nhìn đồng bào chạy ra ấp chiến lược và xe tăng ủi Phước Hiệp lấn vô Cây Sộp. Ttình hình càng găng, cán bộ càng bệ rạc. Mỗi lần tôi thấy Hai Giả và Sáu Phấn tôi nổi xung lên! Tánh của tôi cậu còn lạ gì. Hễ nóng lên là bất kể. Tôi la ó um sùm. Mà giận thiệt, cán bộ có khuyết mặt này thì được mặt khác. Còn hai ông này trớt he. Đó mấy ông chánh trị già làm thử xem! Cậu về đây tôi mừng lắm. Trẻ, lại có kiến thức.
- Anh muốn tôi về H6 làm gì trước?
- Giao công tác đảng cho Sáu Phấn. Cậu lo mặt tác chiến. Chấn chỉnh lại đơn vị, hâm nóng tinh thần chiến đấu. Mục tiêu chính là Đồng Dù. Phải hạ vài chiếc khu trục ngày nào cũng bay lên bay xuống tuôn bom vùng An Nhơn! Ông Ba Đình cứ hối thúc tôi mãi, tôi thiệt bực mình. Nhưng làm gì được với một giàn cán bộ như vậy? Nhớ hồi chín năm đánh mấy trận Bàu Cá, La Ngà, Bến Cát ăn ngon như rau mà ham. Bây giờ dễ gì làm nổi một cái?
- Anh có bản đồ pháo binh vùng này cho tôi xin một tấm! Tôi chỉ có bản đồ Củ Chi của U80 phát, tỷ lệ 250.000 mà mờ quá, lại toàn chữ Trung Quốc.
- Mình vô đây là rơi vào một cái khủng hoảng thiếu; thiếu tất cả phương tiện chiến đấu và một cái khủng hoảng thừa, thừa bom đạn địch. Không thứ gì mình cần mà có. Bản đồ thí lem nhem và không chính xác nên ông Hai Nhã đấm lưng bộ binh ngoài Đồng Dù Bình Giả khá khá đó .
- Tôi có gặp ông Năm Truyện và ông Trí O ở trường Trung Sơ.
- Cậu làm gì về đó?
- Dạ học.
- Học cái gì?
- Tình hình nhiệm vụ mới. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành
- Kẻ thù nào cũng đánh thắng. Biết rồi. Đó là chánh trị xưa như trái đất.
Tôi biết anh rành câu đó của ai nên không nói tới nữa nhưng hỏi:
- Phải anh Ba Đình chỉ huy trận Đồng Xoài Bình Giả không anh?
- Ổng chớ ai. Hồi 1949 ổng làm tham mưu trưởng Bến Cát thì dễ ăn hơn! Vô đây tôi cho cái bản đồ .
Anh đứng dậy bước đi. Tôi theo anh qua một đường hầm ngắn đến một cái ngách khác khá rộng nền đất lót bằng một bộ ván dầu mun đen, trên đó kê một chiếc giường đôi và một cái bàn nhỏ.
- Ở hầm kinh niên mà nền không lót cây thì bị bịnh tê thấp cũng đủ chết chớ không cần bom đạn cậu ạ.
Trong hầm có nhiều lỗ thông hơi nhưng không đủ ánh sáng nên vẫn phải đốt đèn cầy. Anh nói:
- Ở mãi dưới này rồi mắt mờ và các giác quan khác đều kém nhạy.
Anh ngồi xuống giường lôi cái sắc-cốt để bên cạnh chiếc ba-lô kiểu Trung Quốc còn mới nguyên, lấy bản đồ, mở ra và nói:
- Bản đồ này tỷ lệ 1/50 ngàn do đồ bản của mình vẽ lại của Mỹ in ở Đà Lạt. Đây là tấm Củ Chi, cậu xài đỡ, khi nào, xong tấm mới, tôi sẽ gởi cho cậu.
Thấy cái ngách nhỏ tối om khoét trong vách hầm, tôi hỏi:
- Cái ngăn này anh để làm gì xin nói cho tôi kinh nghiệm với.
- Phòng khi hầm sập mình chui vào đó. Nó ăn thông ra địa đạo. Như vậy lỡ bộ binh nó ngồi trên đầu, mình vẫn có lối thoát thân. Còn một kinh nghiệm này nữa. Khi cậu xuống hầm trốn bom pháo, không nên nằm, mà chỉ nên ngồi thôi. Nằm có hai cái hại. Một là chấn động tim, hai là khi hầm sụp cậu không ngồi lên được.
Chúng tôi trở ra chỗ cũ. Anh hỏi:
- Hôm cậu lên đại hội mừng công có gặp mấy cha Ba Thành, Ba Sinh, Hai Lơn, Hai Búa, Lê đức Anh không?
- Dạ đủ mặt hết anh ạ ! Người khu 7 cũ của mình hình như đã về hết trong này.
- Họ có nhắc tới tôi không?
- Dạ…ơ ơ…
- Nhắc làm mẹ gì thằng này. Khi gian khổ có nhau. Lúc vinh quang ngoảnh mặt.
Tôi biết tánh anh ngang bướng từ thời trai trẻ, nên ngồi làm thinh. Anh tiếp:
- Hôm đám cưới tôi ở Hà Nội, tôi có mời từng người, không ai đến cả. Họ sợ trách nhiệm.
Tôi vẫn làm thinh. (Ông nội ai dám đến dự đám cưới vợ bé của ông thần?)
- Chỉ có Hai Nhơn thôi. Cậu nhớ Hai Nhơn bí thư của ban chỉ huy E300?
- Dạ quên sao được. Ảnh ra Bắc mười năm chỉ được lãnh lon thiếu úy, vì thành phần trí thức.
- Thì tao đây cũng vậy. Không trí thức nhưng là lính thủy của Pháp, nên bị trù không lên nổi, lại vụ cưới vợ ngoài Hà Nội. Tao không trách ai – Anh chuyển sang tình cảm anh em, xưng tao và gọi tôi bằng mày – Mấy chả sợ gánh trách nhiệm với tao. Tao chẳng phiền gì, chỉ buồn là anh em quên tình nghĩa cũ. Tao quyết định làm thì làm và ngửa cổ chịu một mình. Rơi một sao, tụt một cấp tao vẫn vui. Vợ tao oán trách và nói nặng tao. Tao chấp nhận. Vì đàn bà ai cũng thế. Còn tao… – Anh ngập ngừng một chút và nói như suối chảy – Nhưng nếu ngược lại ở trong này vợ tao có chồng tao không trách móc gì hết. Con người phải hơn con vật! Con người phải sống như con người. Trước kia tao đi lính thủy, hễ lêu bêu dưới nước thì thôi, hễ lên bờ là việc đầu tiên là vô bung-ga-lô tìm chất tươi. Chưa bao giờ tao thiếu nó trên ba tháng. Nếu có thiếu thì tao tự bù trừ. Còn ở ngoài Bắc mười năm thằng nhỏ vô dụng. Liên Xô nó sang Hà Nội hai tuần dẫn vợ theo. Còn mình, nó khen là thần thánh! Ai ham làm thần thánh kiểu đó chớ tao thì không! Người ta chê bai anh Ba Duẫn, anh Sáu Thọ có vợ bé, lấy vợ địa chủ nữ sinh v.v… Tao không khen nhưng cũng không chê. Thằng Napoléon là thằng mê gái số một, thậm chí khi viễn chinh nó có cả một đơn vị đi tìm gái cho nó . Đêm nó ngủ không thể không có mỹ nữ bên mình. Đến lúc bị đày ra St- Hélène vẫn còn có cô con gái 17 tuổi yêu nó cơ. Yêu nó cho đến nó chết. Nhưng nó là thằng gì? Liên Xô phải học nó và sợ nó. Cutuzov thắng nó không phải nhờ tài ba mà nhờ mùa đông quái ác của xứ Nga . Mày có ra Hà Nội ghé lại hiệu sách Ngoại Văn ở Tràng Tiền mày sẽ thấy bày bán một quyển sách tiếng Pháp bìa carton dày 807 trang bên trong in một chữ vàng N. Đó là tác phẩm của Viện Hàm Lâm Quân sự Liên Xô nghiên cứu về nó đấy. Tiếc là hồi ở Hà Nội tao không gặp mày để bảo mày đọc cuốn đó. Mày đọc được chớ?
- Dạ , chắc được !
- Bây giờ về đây tao đọc cái này – Anh thò tay móc dưới gầm bàn ném lên – Bí thư của tao đấy.
Tôi nhìn: Tam Quốc Diễn Nghĩa. Anh trở lại Napoléon:
- Nó làm thống soái hồi ba mươi hai tuổi, nhỏ hơn mày hai tuổi, nhỏ hơn tao mười tám tuổi. Khi nó đứng ra chỉ huy mấy thằng nguyên soái già thì tụi này xì xầm tỏ vẻ bất phục, nó rút gươm bảo “à mes ordres!” Nghe lệnh của tôi! Thế là tụi kia răm rắp cúi mặt nghe theo lệnh nó. Chuyện lăng nhăng của nó ngày nay vẫn được ghi lại thành sách để bên cạnh binh nghiệp của nó. Nào Joséphine, nào Beauhamais và cả chục mối tình khác, mối tình nào cũng cho thấy nó là thằng mê gái tuyệt vời, nhưng vẫn là một nhà chi huy quân sự số 1 lịch sử. Lịch sử có phê phán gì về tội mê gái của nó không? Tao xa vợ tao mười năm, đó là chưa kể những năm ở khu 7, lâu lâu mới gặp nhau một lần trong nhà dân hoặc ngoài rừng. Tao lấy vợ ở Hà Nội đàng hoàng, không giấu ai, trái lại có mời bạn bè và cho tổ chức biết một cách quang minh. Ông anh vợ tao là thượng tá cùng học pháo bên Trung Quốc hai năm tiền ăn ở chung, vẫn biết tao có vợ con trong Nam nhưng ông vẫn gã em gái cho tao. Vợ tao ở Hà Nội cũng biết tao có vợ…
Anh ngưng ngang như bị nghẹn. Tôi cười:
- Chắc anh mong một lá thư của chị?
- Vô phương có !
Anh nói bằng tiếng Pháp và vung tay lên buông rơi xuống trên đùi.
- Nếu có anh nghĩ sao?
- Hả ? hả t Mày đùa à ? Bà này sẽ bỏ tao và đem con tao về Sài gòn. Bà ta là một loại đàn bà ghê gớm. Không phải sự hung dữ mà là tình yêu. Bà ta yêu tao như một lý tưởng trong đời sống riêng tư, cho nên bà ta không tha thứ cho tao, không chấp nhận sự chia xẻ tình yêu. Tao muốn nói chuyện với bả lúc bả hồi tĩnh lại nhưng bả nhất định không nghe. Bả nói một câu như búa chém: “Nếu tôi ở lại đây, tôi sẽ có thể bị ông thuyết phục mà đồng ý với ông. Như vậy suốt những năm tháng còn lại của đời tôi sẽ chỉ là sống tạm sống nhờ.t Tôi sẽ ân hận vì đã chấp nhận tội lỗi của ông !”
Anh ngưng, mặt đờ ra, thờ thẩn.
Tôi từ từ cởi cúc áo trên móc ra một chiếc phong bì mà tôi đã sửa soạn khi nằm võng với Tám Nghi bên ngoài. Tôi rất kính phục anh từ thuở còn là thiếu nhi và vẫn còn giữ nguyên tình cảm đó. Tôi đưa cho anh và nói tên người nhờ gửi bức thư. Anh nói lạc hẳn giọng.
- Ông Phúc à? Anh… anh… ấy…
- Dạ anh ấy mới về nhận chức Phó tư lệnh U80. Khi tôi đến gặp anh ấy để nhận quyết định đi xuống đây thì ảnh giao cho tôi thư này nhờ tôi trao tận tay anh.
Anh xé thư ra xem ngay trước mặt tôi. Xem tới đâu mặt anh hững lên tới đó. Xem xong anh xếp lại đút vào phong bì cho vô túi áo và hỏi tôi.
- Tao thì đành vậy rồi, còn mày? Ở Hà Nội có gặp con Ánh Tuyết không?
- Dạ có, nhưng chỉ một đêm…
- Một đêm đủ rồi! thằng Napoléon cũng thế, nhưng không phải nó phụ tình mà ngày mai nó đã lên ngựa hành quân xứ khác. Con nhỏ nào được nó ngủ một đêm cũng đã vinh hạnh suốt đời.
Tôi nói:
- Tôi gặp Ánh Tuyết một đêm ngồi trên băng đá anh ạ. Hai đứa chỉ nói chuyện cũ ở Rừng Sát đi mò cua bắt ốc và tô bùn trên đầu cho chí chết, chớ có chuyện gì đâu mà nói vì nó sắp đi Trung Quốc học kỹ thuật gì đó còn tôi thì đã nằm trên bệ phóng rồi chẳng lẽ cách xa vạn dậm mà yêu nhau được? Tôi đã ớn một lần hai năm rồi nên không dám quyết định gì hết.
- Đúng đấy! Hai năm gì được mà hai năm.
Anh cười ha hả một cách bất ngờ:
- Nó tước mất xe của tao mày ạ !
- Xe jeep gì, anh?
- Nói chuyện hồi ở ngoài Hà Nội mà ! Hai sao hai gạt hai cái chày tiêu gác tréo thì được xe jeep có tài xế lái phom phom đi Hà Nội. Đằng này nó kê tao vụ đó, nó đánh tao rơi một sao, mất xe nhưng tao cóc cần. Tao vứt xe đạp lên tàu hỏa, ra Hà Nội chạy tới nhà vợ, rồi đèo vợ đi cinê, đi uống nước ngọt Bờ Hồ chẳng sướng hơn đi xe jeep mà xách xe không chạy nhong nhong như con chó thiến à? Đói cơm thì chịu được chớ đói tình cảm thì buồn lắm phải không chú đồng tử quân của Rừng Sát?
Anh lại hỏi:
- Rồi bây giờ mày định mối nào chưa?
- Dạ cũng còn đang chạy nhong nhong.
- Ông già vô có vui không?
- Dạ ổng buồn lắm. Vì hai thằng con trai mỗi đứa một đường.
- Làm sao được! Ai có chí hướng nấy. Mày khó chinh phục nó mà nó cũng khó chinh phục mày!
- Vậy làm sao bây giờ anh?
- Tao không biết. Về ba cái vụ lăng nhăng đó tao không có ý kiến được. Hà hà, trước khi tao xuống tàu lặn họ gắn sao lại cho tao mày ạ ! Được sao nhưng lại mất nàng tiên Hà Nội. Như mày mày bắt sao hay tiên?
Tôi cười:
- Anh bắt cái nào?
- Mày không có quyền bắt mà mày phải bắt cái người ta đưa cho mày. Chịp, nhớ hồi kháng chiến ở Đồng Hòa Long Thành vui quá, chiều chiều ra bãi cát ngó thấy Cấp St-Jacques, hay ngó qua Vàm Láng Gò Công chỉ cách có con sông Lý Nhơn… Bây giờ hổng biết bà ấy dắt hai đứa con tao đi đâu?
Tiệc xong, tôi ra ngoài cái chòi mắc võng nằm với Tám Nghi. Hắn bảo:
- Từ lúc tao hầu dưới trướng ông tới nay, tao chưa thấy ứng tiếp ai như tiếp mày, hơn nửa ngày. Bữa nay có bốn trưởng ban về xin gặp ổng, ổng bảo chờ đến mai. Thế nào, ổng bảo gì mày?
- Về chỉnh đốn H6 bắn vài cái máy bay, pháo cho thằng Đồng Dù vài quả, một quả cũng được.
- Ổng xử lý Hai Giả ra sao?
- Xưa kia nghe vụ ổng lôi thôi, rồi về R chính tao gặp bà Mặn làm loạn ở trạm 66 tao có ý chê trách ổng kém đạo đức nhưng nghe ông tâm tình, tao hết ghét ổng. Tao lại thấy thông cảm với ổng. Chiến tranh rõ thật đáng thù, ổng bảo ổng không muốn làm gì Hai Giả cả mà vì ở trên bảo rằng Hai Giả bị dư luận không tốt trong quần chúng nên ổng cho Hai Giả đi công tác nơi khác một thời gian rồi trở về chỉ huy đơn vị chiến. đấu ở quận Bến Cát hoặc Nhà Bè. Tội mẹ gì mà phải ngưng sinh hoạt đảng và rơi sao. Vậy các ông tướng ở R thì sao?
Tám Nghi nói:
- Kẹt một cái là Hai Giả có vợ con ở Hốc Môn ai cũng biết. Bả vô đây hoài hoài, bả tiếp tế lớp tiền, lớp xe Bờ Rô, lớp Radio, toàn thứ kẻng…
- Chậc ! Thì vậy không mà ! Bà Ba lớn nhăn như da ổi thì anh Ba phải tìm bà Ba nhỏ láng hơn. Còn mày? Đã có chỗ nào để bám trụ chưa?
- Con gái nhìn mặt tao là chạy tét, bám trụ gì!
- Sao không đi bệnh viện?
- Đi đến đó nằm, thì thà ở nhà còn khỏe hơn. Cái bệnh viện của ông Tư Chuyền ở trên Hố Bò chớ đâu. Tao đã đến xem qua rồi. Nó chỉ thiếu dùng cưa mập để cưa chân tay thương binh thôi.
Tôi định lấy đồ trong sắc-cốt tặng cho Tám Nghi, nhưng hắn bảo hắn chỉ thích cái đèn pin USA có cái đầu bẻ cụp được (gọi tắt là đèn quắu) để rọi đi ra đi vào hầm. Tôi chụp vào hông bảo:
- Đây tặng cho mày !
Nhưng không thấy nữa. Tôi sực nhớ ra lúc nhậu tôi đã mở ống dòm sắc-cốt và dây nịt đưa cho bảo vệ . Tôi ngồi dậy định đi vào nhưng Tám Nghi bảo để y lấy cho. Tôi bảo:
- Để tao vào gặp ông có chút chuyện riêng, lúc nãy tao quên nói.
Tôi đi vào hầm. Nhờ quen lối cũ nên tìm đến mâm tiệc lúc nãy dễ dàng, nhưng không thấy đồ đạc ở đó, tôi bèn quay lại phòng của Tám Nghi và mấy chú bảo vệ . Vẫn không thấy ai. Tôi đi theo lối đến phòng bản đồ. Tôi sắp bước vào thì nghe tiếng thì thào và tiếng rên ư ử. Bất giác tôi đứng nép một bên đưa mắt nhìn vào.
Tôi bật ngửa. Dưới ánh đèn xanh lờ mờ một thân hình tiên nữ nằm phơi lồ lộ trên chiếc giường đôi. Ánh sáng làm cho nó hư ảo như một vệt mây trắng tinh với một đám mây đen lung linh. Còn ông tiên thì ngồi bên cạnh cầm quạt phe phẩy, chốc chốc lại nghiêng môi xuống hớp mây, cái đầu to của ông ta gục xuống rất lâu mới ngóc lên. Ông ta hỏi.
- Mát không cưng mát không?
Tôi sợ bị bắt gặp, định quay trở ra thì một bàn tay lôi khẽ tôi. Tôi vọt ra ngoài rất nhanh như một tên trộm sợ chủ nhà rượt bắt. Tám Nghi thầm thì.
- Tới giờ ổng lên giàn hỏa. Tao biết thế nào thịt thỏ xong cũng có cái trò múa đôi đi liền. Tao muốn bảo mày nhưng mày nói có chuyện riêng tao để cho mày đi.
Tám Nghi rỉ tai tôi:
- Con nuôi ổng đó !
Tôi cười chữa ngượng và chối phắt.
- Tao có thấy gì đâu mà nuôi với dưỡng!
- Thấy hay không thì cũng vậy đó. Mấy cậu bảo vệ và tao biết ý nên tối tối là chui vô ngách nằm im rơ, có tiếng chuông mới trình diện. Con nhà ai vô đây thì kể như dưng cơm cho lục đi. Hễ tanh cơm tanh cá thì ổng cho qua Bưng Còng nạo.
Tiếng nạo của Tám Nghi làm cho xương sống tôi nghe như có miếng B52 bay phớt qua.
(Sau đó tôi về H6 là Trưởng ban Pháo binh Quân khu, tôi có dịp ra vào cái.hầm “Đờ-cát-tiêu” này luôn. Mỗi lần đến tôi mua quà tặng các cô các cậu báo vệvà nhậu nhệt với Tám Nghi. Do đó tôi được họ coi như người nhà. Lắm khi làm việc xong tôi vô bếp lục cơm nguội ăn hoặc được mấy cô cấp dưỡng xẻ phần của ông xếp lớn cho tôi. Đầu năm 66 tôi ra chỉ huy tiểu đoàn bộ binh, toàn cơ quan Quân khu không ở nổi Củ Chi nữa nên vọt qua xây căn cứ ở Đường Long tức bên kia sông Sài gòn. Tôi vượt sông qua đó gặp ông Thần Núi để thông qua kê hoạch phòng ngự của Củ Chi. Lúc bấy giờ nhân viên và phòng chẳng còn người nào quen cả. Hỏi thăm thì họ bảo “Tám Nghi về R an dưỡng, cô Hiền đi học y tá. ” Nhưng mà tháng sau tôi gặp ông Chín Nửa, dượng tôi, người cho tôi cái radio Sony sau bữa tiệc nhậu tép mỡ ở cái chuồng trâu. Dượng cho hay Tám Nghi và cô Hiền đã bị Mỹ khui hầm bắt ở Bến Súc nay đang ngồi trong tù. Vậy cũng may, tôi nghĩ Tám Nghi tên lính Lê dương vẫn còn có cơ may: sống sót. Còn đối với cô Hiền thì đời tù tội có cực khổ nhưng không nhục bằng làm con nuôi.)
Nhưng màn con nuôi vẫn còn dài dài trong hầm Đờ-Cát ở Củ Chi và R.
Đời thằng thượng úy kiêm xạ thủ quốc tế về đây để được làm một trung tá sai vặt và ngồi tù Mỹ.




Chương 49
Ly nước mía của nàng tiên bên đường.


Tám Nghi kêu thằng Đỏ đến, bảo:
-Đây là thủ trưởng của mày, chở ông về đi!
Tôi nhìn thằng bé ròm rỉnh chưa đến mười bảy tuổi, tóc húi trọc, mắt gà chọi, quần tiều áo bà ba bạc màu cụt tay. Tôi chợt nhớ thằng Xe trong trận đánh Pắc-sa-ma năm 1948. Toàn dùng con nít đưa vào nướng trong lửa đạn để vui lòng bác, để bác đừng có không ngủ đêm nay. Tám Nghi đưa tôi ra cái ngỏ rấp chà tre, giọng ngậm ngùi:
- Mày đi khỏe nhe ! Thỉnh thoảng lên tao chơi. Coi chỗ nào trống trống ở dưới xin tao về. Ở trên này ít không khí quá
Tám Nghi không thân với tôi như Tư Linh nhưng tôi thương hắn quá. Cái thân một xạ thủ lại làm tên chạy hiệu. Tôi bắt tay hắn không buông ra được, nhưng không hứa vì không dám. Tôi cũng chỉ là tên thiên lôi chớ có quyền hạn gì. Hai đứa nhìn nhau. Tự nhiên tôi muốn khóc. Hắn quay mặt đi và giục:
- Đi đi Đỏ !
Hai thằng đoàn viên trong đoàn vượt Trường Sơn của tôi. Một thằng ngồi lại gốc cây rừng mà chết ngon lành. Còn thằng này chết chậm và bầm dập.
Thằng Đỏ cắm đầu đạp như bay. Qua khỏi lộ số 7 nó bảo :
- Tới đây là hết lo rồi đó anh!
Rồi nó trỏ mấy cái hầm ếch và nói tiếp.
- Coi đó , nếu khu trục có tới thì mình chui vô cho nó bắn muôn năm. Đây là hầm của du kích đào cho người đi đường. Nắp hầm cao một thước, chỉ sợ bom rơi tệnh thôi.
Nó chỉ tay ra phía trước cười khúc khích.
- Ở đằng đó có người đang chờ anh.
- Ai?
- Chút nữa thì biết ?
Chạy một hồi Đỏ lại bảo:
- Chỗ đó đó !
- Cái gì mới được chớ !
- Anh ghé uống nước mía, em đãi anh một ly nghe ? Chợ chồm hổm ỳ xèo vui lắm! Có tiệm hàng xén, tiệm sửa đồng hồ, sửa la-dô, tiệm hủ tiếu, tiệm gì cũng có.
- Tiền đâu mà đãi?
- Hôm ông ngoại cháu lên thăm cháu cho cháu hai trăm, cháu chưa xài. Thôi cho cháu gọi bằng anh, cậu chịu hôn?
- Cháu gọi mấy ổng bằng gì?
Thằng Đỏ cười hí hí.
- Bằng ông hoặc chú là bét. Mấy ổng bắt các chị kêu bằng anh, các chị không chịu kêu. Anh gì mà đầu bạc hết mà anh? Em mà kêu anh bằng anh thì mấy chị cũng kêu như vậy, đây rồi mấy ổng ganh cho coi!
Thằng Đỏ đạp không thua Lạn hoặc Ua. Tôi hỏi:
- Ông ngoại lên thăm cho tiền, có nói gì với em không?
- Ông đòi bắt em về.
- Rồi em nói sao?
- Dạ, ngoại về trước, mai con về sau.
- Rồi sao còn ở đây?
- Em nói là mai mà ! tức là mai chớ không phải bữa nay hì hì… em gạt ông ngoại em tuốt luốt.
Tới một đám người đứng lúm xúm bên đường, thằng Đỏ dừng xe. Tôi chưa có ý kiến gì thì có tiếng chế diễu:-
- Thầy Hai! Thầy hứa dạy tụi này thụt súng cối sao đi biệt lâu vậy?
Tôi nhìn ra Bây Mô.
- Thì mới gặp hôm nào đây mà !
- Nhưng em nói vụ dạy súng kìa.
- Bé Liên với chị Năm có đến không?
- Chuyện đó nói sau, bây giờ mời anh ly nước uống cho khỏe cái đã.
Đỏ thêm một phần.
- Hai ly chớ !
- Chi Mai và…
Bảy Mô nguých.
- Người có mặt không hỏi, hỏi người vắng mặt.
- Ờ thôi hỏi người có mặt.
- Hỏi gì?
- Sao em đẹp vậy? À sao mặt mày sáng rỡ vậy, bộ có gì vui sao?
- Không chết là may; ở đó mà vui.
- Sao may cho anh vậy? Vừa nhớ tới em, em lại xuất hiện.
- May cho em chớ may gì cho anh. Em vừa nhảy mũi, anh lại đi ngang.
- Em nhớ anh thật hả ?
Bảy Mô đỏ mặt:
- Em nhắc nợ dạy pháo, không phải nhớ gì đâu!
- Nhớ gì miễn có nhớ thôi!
- Em chỉ nhớ cái xe nước mía này thôi.
Thằng Đỏ xen vào:
- Hồi nãy chỉ gặp em, chỉ tra hạch em, em khai thiệt là em đi đón anh. Chỉ biểu mau mau, chỉ ở đây chờ.
- Hổng có đâu anh, thằng Đỏ bày đặt đó !
- Vậy em thưởng cho nó một ly, thêm một ly bỏ túi đem về để kỳ sau nó hết bày đặt.
- Ừ mấy ly cũng được, lột ba lô ra, ngồi xuống băng đó, dựng xe đạp ở gốc cây kia. Mau mau lên để đầm già tới nó liếc cái là hết uống.
Nãy giờ có một người con gái cứng tuổi hơn Mô đứng nhìn chúng tôi. Bảy Mô quay lại giới thiệu:
- Xỉn giới thiệu với anh đây là chị Tám Lý nhà gần bên em, còn đây là anh Hai…
Tôi xua tay._Mô ngưng ngang. Cô gái cười duyên dáng với cặp mắt nai rất đẹp:
- Bữa nào mời anh Hai ghé nhà em chơi.
Bảy Mô sửa lưng cô bạn nhè nhẹ.
- Mời anh Hai bữa nào ghé nhà em chơi chớ không phải bữa nào mời anh Hai ghé nhà em chơi. Bộ ai hốt hồn sao nói trật câu hết vậy.
Thằng Đỏ xía vào:
- Ờ, hổng chừng chị Lý bị ai hết hồn đó. Tui là trai mà tui nhìn ảnh tui cũng bị hốt hồn.
Lý với tay đập vai thằng Đỏ:
- Em nói kỳ quá hè !
- Kỳ mà trúng. Anh Hai tui vầy chị Lý không mê còn mê ai, hén anh Hai.
Tôi can gián khi thấy mấy ly nước mía đưa tới.
-Thôi uống nước đưa đi em! Mời hai cô. Uống đi Đỏ, rồi dông!
- Anh Hai uống đi, em uống rồi!
Bảy Mô cầm ly nước mía nặn chanh vào và đưa cho tôi.
Tôi mời lại Lý. Lý nói.
-Em cũng uống rồi. Tụi em ở đây anh lo gì.
- Vậy tôi nghe nói xe nước mía dời đâu lên Trảng Bàng rồi tôi buồn quá !
Tôi đưa cho Đỏ. Đỏ lắc đầu:
- Của chị Bảy mời anh chớ đâu phải mời em!
- Em nói đúng đó Đỏ !
Lý bước lùi lại núp sau lưng Bảy Mô cười khúc khích.
Bảy Mô ứng khẩu ngay:
- Ảnh có tánh hay nhắc người vắng mặt, chị không thấy sao? Cho nên ảnh mời tôi là tôi mời chị đó.
- Vậy cô Lý từ chối cũng có nghĩa là nhận lời à?
- Ừ, chị Bảy chị Lý gì cũng nhận hết á !
Bảy Mô nguých thằng Đỏ.
- Cái thằng lẽo mép ! Mày biết đâu trong bụng người ta.
Thằng Đỏ còn mở hơi.
- Để rồi xem! Chị Bảy về nhà làm xôi sầu riêng còn chị Lý bắt một con gà làm thịt quay nước dừa, anh Hai vô ăn gà quay còn xôi sầu riêng thì tôi bọc đem về.
- Ừ, mày chở anh vô đi, rồi sầu riêng sầu chung gì cũng có hết.
- Ghé nghe anh Hai !
Thấy tôi ngần ngừ, Đỏ tiếp.
- Về cơ quan cơm rời chấm cơm cục, muối ớt trộn muối tiêu nuốt như kẹo chà tre qua cổ họng vậy. Lâu lâu thầy trò mình cải thiện sanh hoạt một bữa. Bây giờ về tới trỏng cũng tối rồi đâu có làm gì được mà anh phải vội. Nhận đi anh Hai.
Bảy Mô cười:
- Cái thằng này, cái miệng nó nói dẽo như kẹo kéo vậy !
- Thôi đi thì đi. Nhưng đi nhà ai Đỏ?
- Nhà chị Bảy trước vì chỉ có công đón anh từ trưa tới giờ.
Thế là hai anh em đi với Bảy Mô. Sợ Lý buồn tôi đưa tay cho Lý. Lý đưa tay ra. Tôi giật mình: Sao có bàn tay đẹp thế này. Tôi hấp tấp nắm lấy, giật giật:
- Cô Lý cảm phiền nhé . Chủ nhật tôi sẽ đến ăn con gà quay.
- Anh gọi bằng em cho thân mật!
Lý nói nhỏ rí và cúi nhìn xuống đất. Tôi vẫn giữ bàn tay trong tay tôi. Tim nghe động mạnh. Lại duyên nợ nữa đây!
Thằng Đỏ cười châm chọc:
- Chừng nào đánh Mỹ thành công. Bác Hồ cho phép một ông bốn năm bà !
Nói xong nó cười ré lên. Bảy Mô nhìn Lý. Cả hai ngượng đỏ mặt và vành tai. Mô gắt:
- Mày học lóm được câu đó ở đâu vậy Đỏ?
Đỏ vênh mặt:
- Mấy chú mấy bác mùa thu uống rượu nói rùm. Mà cần gì uống rượu, bây giờ cũng đã có nhiều ông hai bà rồi, như bác Hai Giả nè!
Chưa tới nhà, Bảy Mô đã nói:
- Anh về kỳ này sẽ thấy cảnh nhà không vui.
Tôi sợ chồng chị Mai hi sinh, nên hỏi:
- Bộ có tin gì sao em?
- Nhà trên giở đi rồi. Chỉ còn cái nhà dưới thôi.
- Cách đây mấy bữa…
- Sau bữa anh ghé với con Ua, ba về mướn người giở, cột kèo lớp ngâm dưới mương, lớp mướn xe bò chở ra ấp chiến lược Suối Cụt. Lần này có má vô nữa.
Mô dùng tiếng ba má suông kiểu Ua và Chia. Tôi cũng tùng dấu nói theo:
Má vô làm gì trong vùng bom đạn này?
Mô làm thinh. Đi bên cạnh Mô tôi cảm thấy Ua và Chia còn trẻ con quá. Hai cô chỉ yêu sôi nổi thôi còn làm vợ thì phải là Mô. Nhưng trước Mô còn Thu Hà. Khổ thiệt. Tôi khẽ thở dài. Mô nhìn sang có lẽ nàng tưởng tôi buồn vì cảnh nhà, nên nói:
- Nếu để nguyên sẽ bị máy bay đánh tiêu hết anh à !
- Cả quận Củ Chi chắc không còn mấy cái nhà còn nguyên.
- Đồng bào đi gần hết. Nhà nào ráng bám ở lại cũng giở làm hầm. Bây giờ chuyện ruộng nương đã thưa thớt rồi. Lúa gạo đâu mà ăn. Bà con đi ra Củ Chi được phát gạo Mỹ đem về cả trong này.
- Có ngon không?
- Thì cũng là gạo, nhưng trắng và nhỏ hột như gạo thơm nanh chồn hay gié vàng.
- Mỹ nó đánh đủ mặt em ạ ! Mùa này là mùa sầu riêng sao em?
- Đúng giữa mùa sầu riêng đó anh. Anh đi R chỉ còn nhớ có mai rừng thôi.
Giọng Mô bắt đầu trách móc. Tôi giật mình nghĩ: Sao cô bé biết chuyện mình với Huỳnh Mai? Bèn hỏi phăng:
- Sao em biết anh chỉ nhớ Mai, anh còn nhớ nhiều loại hoa khác nữa chớ.
- Thì ông nhạc sĩ nào đó chẳng làm bài hát Xuân Chiến Khu nói mai rừng nở khắp nơi là gì?
Tôi như qua khỏi truông nhà Hồ, té ra không phải. Tại mình có tịch nên nhúc nhích đó thôi . Tôi tỏ vẻ nôn nóng muốn về nhanh đơn vị thì nàng nói mát:
- Anh đã làm anh hùng, còn làm kiện tướng rồi còn muốn làm gì nữa?
- Anh chỉ muốn làm anh… của em thôi, ngoài ra anh gì cũng không bằng.
Mô liếc tôi trong thầm lặng. Chúng tôi đi song song với nhau như cặp vợ chồng mới. Tôi hỏi:
- Lâu nay em có gặp Tư Linh không?
- Không! Chỉ gặp nhà báo khu. Họ cho em biết anh sẽ về H6 và còn biết anh là anh hùng chiến thắng trận pháo kích sân bay Biên Hòa.
- Trời! Ai dám tưng anh tới tận mây xanh vậy?
- Anh đừng tưởng em không biết. Chính là cái nàng Xuyên Đảo Phương Tử nói chớ ai.
- Tên gì lại giống gián điệp Nhự vậy?
- Không phải gián điệp mà là nhà báo Nhã Nam.
- Ờ… ờ…
Tôi chợt nhớ cô sinh viên Nhã Nam hôm nọ đụng đầu với Chia dội ngược. Mô tiếp:
- Nhà báo còn cho em biết nhiều chuyện về anh nữa kìa.
Tôi linh cảm biết ngay là cô nhà báo này chơi cái chiến thuật ăn không được cũng khuấy cho hôi, nên nói chặn đầu trước:
Người ta đồn vậy chớ không có gì đâu!
- Anh có đi đào hầm với đội Bảy Nê và được bầu làm kiên tướng phải không?
- Anh muốn tìm hiểu thêm về địa đạo nên có tham gia một buổi.
- Con Cấm nó nhắc anh hoài. Bữa đó em mắc đi với cô Năm Đang nên không đến được.
- Thì bây giờ anh đến với em. .
Tôi liếc nhìn, thấy nàng có vẻ đẩy đà hơn trước. Cái cổ trắng nõn lấp ló dưới mái tóc huyền phủ trên đôi vai tròn nỉn. Nàng hỏi:
- Anh rước ba vô sao không cho ai hay hết vậy?
- Ba vô gấp. Chỉ ở có một đêm rồi về đâu kịp cho ai hay.
- Vậy mà ai cũng hay hết á !
Cô bé này thọc mũi dao găm vào ba sườn mình, tôi nghĩ, vậy mình phải tấn công để phòng ngừa mới được, nhưng chưa nghĩ ra cú gì để đáp lại thì nàng đã ngọt ngào:
- Em sắp được ăn cưới của ai rồi đây nhá !
- Của ai?
Nàng cười khảy, ngó ngang tôi: .
- Còn của ai nữa?
- Anh không biết thiệt mà .
- Anh giả bộ hoài. Con Ua gặp em hôm qua, nó khoe nó là vợ chưa cưới của anh. Nó bảo ông già về chuyến này sẽ rước bà già vô làm đám tuyên hôn. Có không?
Tôi tê cứng lưỡi, lúc sau mới ngọng nghịu đáp:
- Chừng… chừng nào Đồ… Đồng Dù bị san bằng thì chừng đó mới có đám cưới.
- Nó còn khoe nhiều chuyện khác nữa.
- Như chuyện gì?
- Trong ví của anh có cái gì không?
- Cái gì là cái gì mới được chớ !
Tôi sợ nàng biết tới mấy cái chứng minh thư của Tư Linh, Hùng và Sáu Huỳnh cho tôi cất kỹ trong xắc-cốt, còn một mớ nhét trong ví để dành ứng chiến, có lần Ua lục lạo bắt gặp. Con bé hồn nhiên đó dám nói tùm lum ra lắm.
- Cũng may, Bảy Mô nói làm tôi nhẹ nhõm:
- Hình chụp ở tiệm ngoài Củ Chi mới lấy về tặng anh liền! Cho em xem tình yêu bất diệt với.
Tôi thấy không có đường chối nên làm thinh. Còn nhà nữ quân sự có lẽ cũng biết không nên đuổi giặc vào đường cùn nên không hỏi tới nữa. Chúng tôi đi vô sân và dừng lại. Cảnh điêu tàn hiện ra trước mặt. Cả ngôi nhà ngói xưa đã biến mất chỉ còn trơ lại cái nền trên đó ngổn ngang gổ gạch ngói và bàn ghế gãy Bên hiên nhà mấy chiếc bàn thờ đứng ủ rủ dưới tàng cây bưởi cây mít như những nàng con gái ngồi phải cọc gượng cười. Cái nhà bếp như một đứa con nít mất đi chỗ tựa là ngôi nhà trên, trở nên quái gở, không còn giống cái nhà (như Việt Nam mất Liên Xô vậy). Tôi hỏi:
- Công tác với cô Năm Đang xong rồi sao em về nhà?
- Không. Hôm qua em gặp con Lan với con Phượng, chúng nó cho em hay anh đi lên K10. Thì em biết anh sẽ đi ngang qua đây, nên em xin phép cô Năm về nhà xin tiền má để bồi dưỡng, em giao việc đào hầm cho tiểu đội của con Bê .
- Vậy em gạt người ta.
- Em học ai đó, anh biết không? Lần này em nhất định.. .
Mô nói em thật tha thiết và nhìn tôi một cách tình tứ.
- … sẽ bị gạt nữa.
- Anh thấy chị Tám Lý thế nào?
- Thế nào là thế nào?
- Cũng đẹp đấy chứ. Em giới thiệu được không?
- Giới thiệu ? Em đã . . .
- Không… vụ kia cà.
Tôi biết Mô tháu cây tôi nên tôi thấu cấy lại:
- Được đấy Vừa thấy cô ấy, anh yêu ngay, yêu cả cái tên Lý.
- Chị ấy yêu anh rồi.
- Sao em bói chắc vậy?
- Thấy thì biết chớ còn sao. Chỉ ra đứng ở đây với em cả buổi, cứ hỏi em về anh. Em bảo anh là người…
-.. . như con ma ấy!
Mô cười:
- Ừ ma mà quỉ nữa.
Từ trong khung cửa hiện ra một gương mặt đàn bà hao hao giống Bảy Mô.
- Chị Ba em đấy. Chỉ về ở đây để trông coi vườn cho em đi công tác. Ba má và thằng Út ở luôn ngoài ấp chiến lược Chị Tư Mai và bé Liên ở nhà dì Hai em gần cây xăng Suối Cụt
Tôi phóng mắt ra vườn sầu riêng: một hố bom. Cây ngã liệt địa. Miễng bom gây thương tích cho người lẫn cây. Một sự tàn phá.
- Mày nói chuyện với ai vậy Mô.
- Chị nấu cơm đi, em hái sầu riêng. Bữa nay có khách đặc biệt.
- Đỏ vô giúp chị Ba một tay em!
Tôi quay lại bảo Đỏ đang lót tót theo sau chúng tôi từ nãy giờ. Rồi trêu Mô:
- Khách đặc biệt nào?
Mô chới với.
- A!… không…
Tôi nói với chị Ba.
- Không phải khách chị Ba ơi! Em là… là gì Mô?
- Ai biết đâu đấy… ủa anh là kiện tướng, ủa là anh hùng…
- . rơm , rơm !
Bảy Mô trỏ tay về phía trái:
- Cái bàn cẩm thạch ba chở đi rồi.
- Cái bàn ba bỏ ngoài để phòng khi…
- Nhà cháy thì có chỗ ngồi ăn cơm. Em nhớ nó ghê lắm.
- Nhớ cái bàn?
- Nó có liên quan đến em.
- Nó không có liên quan đến anh à ?
Mô cười. Bây giờ tôi mới thấy hàm răng của nàng được sửa sang: Nó vừa trắng lại vừa có trật tự hơn. Tôi hỏi trỏng:
- Đi nha y hồi nào vậy?
- Tháng trước em lên Phú Hòa ở gần suối Lộc Thuận có nha y quân khu, nhưng phải có giấy giới thiệu của ông Tám Quang thì họ mới làm.
- Coi đẹp quá !
- Nhưng nhai thịt gà ram hơi khó. Thôi, đi vô ăn cơm.
- Sao mới nói với chị Ba làm mà xong rồi?
- Em làm trước chờ anh, chớ đợi anh tới rồi mới làm à?
- Bữa nay ngày gì mà anh đi tới đâu cũng gặp ăn?
- Ăn kẹo của Plấy con nhỏ đó coi chừng mắc cổ đấy.
Tôi đánh trống lãng:
- Bé Liên bây giờ chắc lớn lắm.
Mô cười:
- Con nhỏ nhớ dai ghê ! Nó cứ hỏi cậu Hai. Má nó dạy nó gọi anh bằng…
- Bằng gì?
- Thôi, em hổng nói đâu.
Hai đứa đi ngang hòn non bộ, một sự thương tâm dấy lên trong tôi, như tôi đang xem những đào kép lên sân khấu mà không có trang phục áo mảo. Lần trước tôi đến nó cổ kính duyên đáng bao nhiêu thì lần này thấy nó trơ trẻn bấy nhiêu. Cảnh Trúc Lâm thất hiến, Hoàng Thạch Công nhận giày của Trương Lương. Cảnh mục đồng cỡi trâu, tiều phu đốn củi, ngư ông câu cá, nhà nông đi cày không còn hòa hợp với những vết đạn trước sân và những trái sầu riêng rụng vỡ nát ở hiên nhà Tôi lột ba lô và đồ lề để trên bàn, đến ngồi trên tấm ván bắc ngang con suối mơ nơi hai đứa từng ngồi đàn măng-đô năm ngoái. Nghe hương tóc bay trong gió lâng lâng, tôi hỏi:
- Bộ em không thích xà bông Mỹ hay sao mà xài xà bông Cô Ba vậy?
- Em quen với nó rồi. Cái gì em quen khó bỏ lắm. Ở ngoài chợ Bắc Hà bán đủ thứ xà bông Mỹ, nào Dial, Camay, nhưng em không gởi mua. Nghe cái mùi đó, em thấy nó kỳ kỳ thế nào ấy.
- Anh thì thứ gì cũng xài miễn sạch thì thôi. Cọp nó có tắm rửa gì mà người ta cũng gọi nó bằng ông vậy.
- Anh nói ngang không hè .
- Bữa nay anh mới biết xà bông Cô Ba là thơm nhất. ‘
- Vậy từ trước anh thấy xà bông nào thơm?
- Xà bông nào cũng thơm nhưng không nhất.
Mô liếc và bĩu môi:
- Giỏi tài nịnh.
- Anh nói thật mà ! Ở Sài gòn sắp sửa có xà bông Cô Bảy còn thơm hơn xà bông Cô Ba.
Đột nhiên Mô nói.
- Anh kiếm chuyện hay lắm, em chịu thua . Em ước bữa nay má vô đây bất ngờ. ‘
- Chi vậy?
- Coi mặt chàng rể.
- Rể ở đâu mà coi mặt?
- Ai biết đâu đấy.
Mô chợt bước lên tấm ván làm nó oằn suýt đụng mặt nước. Tôi kêu lên:
- Coi chừng gãy !
Tôi vừa nói vừa ôm lấy nàng. Tôi đặt trên má nàng một cái hôn nồng nàn và thủ thỉ:
- Mùi xà bông Cô Bảy thiệt tuyệt diệu.
Mô đứng im trong tay tôi, ngã đầu trên vai tôi. Tôi hỏi:
- Em yêu anh không sợ tình yêu lỡ dỡ sao?
Nàng gỡ tay tôi ra, bước qua đứng bên kia cầu tỏ vẻ suy nghĩ rất lung rồi lắc đầu:
- Em không sợ gì hết.
- Anh không sống lâu đâu em.
- Anh đừng nói gở.
- Yêu em thì đẹp quá rồi. Đời anh đâu ao ước gì hơn. Nhưng anh nghĩ đến thân góa bụa của em như chị Tư Mai, như cô Lụa con má Hai, hoặc đau khổ với người chồng chưa cưới cụt chân như Tám Mang.
- Không bao giờ em nghĩ tới cảnh tượng đó.
Tôi bước tới xoay người nàng lại, mặt đối mặt. Tôi thở dài:
-Anh khác. Anh chỉ sợ uổng một đời con gái hương sắc của em thôi. Chớ anh là tên lính lê dương cách mạng, từng lội suốt từ Đông sang Tây, từ Bắc vô Nam anh đâu có sợ gì.
- Yêu mà gian nan mới gọi là yêu. Dám hi sinh cho người yêu mới gọi là yêu.
- Anh cũng nghĩ thế.
Đột nhiên trên gò má mịn màng và trắng hồng của cô học sinh lăn hại hạt trân châu lóng lánh. Tôi kề môi vào khẽ hớp và thầm thì:
- Đừng khóc em.
Mô đưa tay quệt ngang và gượng cười, trỏ dưới lòng suối:
- Anh trông kìa, anh với em có giống Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài không ?
- Ừ, giống lắm, nhưng mà không giống chút nào.
Tôi nhìn hai cái bóng lộn đầu dưới nước gợn lăn tăn. Mặt đất cũng rung theo: có tiếng pháo nổ xa xa.




Chương 50
Người đàn bà đau khổ vì dở dang thời kháng chiến


Thấy chị Ba khoảng bốn mươi, tôi hỏi Bảy Mô:
- Còn anh Ba đâu?
Mô lặng thinh. Hai đứa đi song song vào nhà. Mô buồn dàu dàu. Tôi nghi là có chuyện gì bi đát. Thì quả như rằng, Mô kể:
- Chị Ba có thương một anh vệ quốc đoàn…
- Thời kháng chiến chống Pháp.
- Thời đó em mới ba tuổi. Còn anh chắc đã…
- Mười sáu tuổi rồi. Anh đang làm mật mã cho quân khu.
- Em nghe chị kể lại anh ấy ở Tiểu đoàn 303.
- Anh biết rồi! Đó là tiểu đoàn đánh giao thông chiến giỏi nhất toàn khu.
- Chị bảo trận Bến Súc hay Bến Cát gì đó, mình thắng lớn, bắt được hơn chục xe GMC chở hàng và thu súng nhiều vô kể. Bộ đội kéo về nhà em liên hoan mấy ngày liền.
- Anh biết rồi. Tiểu đoàn đó do ông Hoàng Thọ chỉ huy. Sau khi Hoàng Thọ bị thuyên chuyển thì Ba Cửu và Ba Vỏ về thay.
- Trận đó anh ấy hi sinh.
- Trời!
- Cho nên bộ đội thì liên hoan mà chị Ba em thì liên hận. Từ đó chị lãnh đạm với tất cả mọi người. Các ông Năm Tiền, Ba Châm, Ba Hải cùng lứa với anh ấy bây giờ là cán bộ tiểu đoàn cả. Các ông ấy tìm gặp chị hoài, nhưng chị bảo là lòng chị đã đóng kín không còn mở ra để đón tiếp bóng hình nào. Tuy bị từ chối thẳng họ cũng vẫn cứ tới lui.
- Em cũng nên khuyên chị !
- Chị Ba, chị Năm, rồi tới em nữa. Toàn lấy chồng bộ đội.
- Anh đã bảo mà !
- Em rầu… cho hai chị quá !
Bữa tiệc xôi sầu riêng và gà quay trở thành buồn tẻ vì có một mối sầu chung lan trải quanh bàn ăn. Tôi thấy buồn nặng trĩu. Xưa nay những danh tướng mấy ai về đã đành rồi, còn lính tráng càng có mấy ai? Tôi từ giã Bảy Mô như chạy trốn một hạnh phúc, thứ hạnh phúc có thể cháy vèo như một chiếc cánh bướm mong manh. Đời thằng lính đầu đỏ này luôn luôn như thế đó. Ngã Ba Gót Chàng – Bến Mương chia tay.
Về đến đơn vị đã có cả chục cán bộ tề tựu san để chào đón thủ trưởng mới: Ba Tố, Ba Đùng, Ba Thu, Sáu Đức. Ba Tố vốn quen tôi từ xưa và từng cụng ly từ Sơn Tây vô tới R, rồi xuống Củ Chi, săn sớm giới thiệu với tôi từng người không theo điều lịnh nội vụ mà theo luật lục lâm sơn trại:
- Tụi bây nhờ hồng phước của chúa thượng nên được ở trên ban cho ông thủ trường này, vừa điệu đàn vừa tài giỏi. Nhậu thì hết chê ! Sao không mọp sư phụ đi tụi bây?
Tôi xua tay.
- Thôi anh ba, phá em hoài !
Sáu Đức giơ cái rộng tre nước chảy ròng ròng:
- Tôi có cái này mừng thủ trưởng.
Ba Tố cười:
- Tôm ăn thây ma ở sông Sài gòn đó hả?
- Thứ mồi đó nhậu đế mới bắt.
Tôi đứng ở đây, miệng đối đáp với cán bộ chiến sĩ quyền chỉ huy của tôi mà lòng tôi còn ở lại con suối ngát hương sầu riêng. Tôi đã yêu nàng rồi chăng? Ở Củ Chi, nếu có thì chỉ có nàng, người con gái hợp với tôi nhất. Nàng đang chen lấn trong trái tim tôi với Thu Hà. Mùi xà bông Cô Ba còn thoang thoảng bên tôi. Tóc nàng, vai nàng, áo nàng. Nàng đã lẩn vào trong tôi bằng ngõ mắt và tóc. Tôi chưa hề có cảm giác da thịt khi đụng chạm hay ôm lấy nàng. Tôi chỉ tưởng tôi là thi sĩ đang tựu thành những vần thơ khi gần nàng hay hôn nàng. Mô ! cho dù tất cả tình yêu đều phải kết thúc bằng những cuộc ân ái để thỏa mãn thèm khát, tôi chưa bao giờ thấy háo hức khi đụng chạm nàng. Tôi cứ vẫn muốn giữ nguyên nàng như hôm nay bên dòng nước nhỏ gợn rêu xanh, một tấm ván bắc ngang, dưới đáy nước một đôi tình nhân lộn ngược đầu.
- Ơ kìa, ông thầy làm gì đứng ngớ ra vậy.
Một tiếng nào đó vang lên từ đám người. Tôi giật mình đáp như máy:
- Tôi đang nghĩ cách đào pháo lên để bố trí trận địa chơi với thằng Đồng Dù. A nè, tại sao mày tên Đỏ hả?
Tôi tạt ngang có vẻ như lạc đề. Thần kinh đang rung vì một chuyện lại bị giật lại nên hoảng hồn, như súng bắn vậy.
Nhưng Sáu Đức vẫn vui vẻ :
- Nó tên Độ, nhưng cậu Mười Muôn của nó ở trên D14 Tây Ninh xuống đây uống rượu với tôi rồi bảo là ở trên R có ông nào cũng tên Độ ngoài Bắc vô làm tới tướng lận, nên cậu nó bảo sửa tên nó lại. Nhưng văn phòng đã ghi nó trên khắp các giấy tờ là Độ rồi làm sao sửa được nên chỉ sửa chữ “ô” ra chữ “ỏ” là dễ nhất. Còn cái dấu nặng là quẹt ngang là xong. Do đó mà có tên Đỏ chớ chẳng phải nó muốn nó tên Đỏ đâu. Tên gì nghe kỳ cục vậy.
- Ở chỗ chú Chín Lộc có bốn chị em tên rất hay Suối Trong Xanh Biếc nghe cũng hay hay.
Sáu Đức ứng khẩu:
- Vậy cơ quan cũng nên đặt là Thu Đức Đỏ Lòm đi !
- Ba tên đầu thì có nhưng còn tên Lòm tìm đâu ra.
- Thằng Đỏ gánh luôn, thay vì Đỏ thì kêu là Đỏ Lòm!
Thằng Đỏ dẫy nẩy :
- Tui hổng chịu đâu.
Tôi bảo:
- Ở ngoài Bắc người ta thường đặt hiệu tiệm hoặc hợp tác xã bằng chữ đỏ, như Cờ Đỏ.
Xanh biếc thì nghe còn hay chớ đỏ lòm nghe mắc ói quá, em không chơi đâu.
Sáu Đức đưa cái rộng tôm cho quản lý Ba Thu:
- Làm sao nhậu cho oắc cần câu mừng thủ trưởng mới đêm nay thì làm.
Ba Tâm cười nhe hàm răng vàng nghĩnh:
- Để đó tôi tinh, không phải lo.
Thằng Tâm trinh sát viên góp ý:
- Tôi đi quán xách một cây nghe anh Ba, anh Sáu. .
Thu Ba, cô bé cấp dưỡng chống chế:
- Mấy anh ăn cơm thì muốn cục chấm muối hòn, còn nhậu một bữa hết cả chục kí tôm. Đưa cho tôi kho ăn hai ba bữa, để mai thấy muối khỏi kêu rát ruột nghen!
Thằng Đỏ bảo:
- Đáng lẽ phải kiếm gà vịt mới phải, tôm nhằm nhờ gì!
Khách khứa bỗng kéo tới chật cả văn phòng, không có chỗ ngồi, chỗ đứng cũng không đủ. Năm Đùng, Út Lộc, Út Chi ở D8 xa mà cũng đến góp mặt. Năm Đùng vỗ vai tôi :
- Từ bữa ở nhà cô Lụa tới nay tụi tôi làm cả chục trận, trận nào cũng nhắc thầy. Pháo Đồng Dù bắn bao nhiêu, tôi chống bằng đế quốc bấy nhiêu. Hội ve chai chống Mỹ sinh hoạt đều chờ thầy. Bữa nay đại hội bất thường mới có tôm chưa đủ. Để tôi đi kiếm thêm vài ký lươn.
Út Chi thêm:
- Có gà giò quơ vài con. Mình phải chơi sáng đêm. Mấy cha Hai Giả và Sáu Phấn đâu có bao giờ hợp với tụi này. Mấy chả chơi toàn mấy bà không thôi !
Quản lý Thu tiếp:
- Hai ổng còn không ăn cơm ở đây nữa là nhậu!
Thu Ba bồi thêm:
- Hai chú cắt khẩu phần, lãnh gạo đem về nhà lâu rồi.
Tôi hỏi.
- Vậy ai chỉ huy cơ quan này, nếu có giặc tới?
-Đâu có ai!
Ba Tố bảo.
- Bây giờ có rồi ! Mấy chú khỏi lo. H6 sẽ lên như diều.
Bữa tiệc tan tôi đi theo thằng Đỏ . Kể từ bây giờ nó là bạn chí thân của tôi. Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ. Tôi ra cái hầm cá trê của nó móc ngoài vườn để nghỉ ngơi. Qua một ngày đi đường và một trận đấu ly của Hội ve chai, tôi mệt. Nhưng cái này không đáng sợ bằng cái buồn. Buồn ghê gớm. Buồn vì xa ông già, vì chia tay với ba người yêu cùng một lúc, buồn vì sự bệ rạc của cơ quan và sự cô đơn.vây riết quanh mình. Không có bạn bè nào chung quanh. Nhậu xong họ về hết rồi. Còvl lại mình tôi như con chim bay giữa cái biển mênh mông với đôi cánh cô đơn nặng trĩu.
- Mày ăn ở như vầy sao hả Đỏ ?
- Vậy là sao anh?
- Một cái hầm cá trê với một mớ rơm lót, không có gì nữa hết?
- Còn cái võng với tấm ni lông nữa chớ anh.
Tôi nhìn quanh: vườn hoang. Trước mặt con lộ đất chạy ngang. Nằm gác đầu trên mép võng, có thể nhìn thấy xuyên qua mớ cỏ lưa thưa cao nghệu, đàn bà đàn ông đi qua ngoài đường. Đỏ làm cho tôi chỗ mắc võng để tối ngủ theo kiểu hai tầng. Tôi nằm dưới đáy hầm trên mớ rơm khô có mùi hăng hắc, đưa mắt ngó lên trời. Hoàng hôn ảm đạm. Ráng tỏ rực ở chân trời phía sông Sài gòn. Tôi lấy chiếc khăn lông trắng ra bảo Đỏ nhúng dùm chút nước để tôi lau mặt.
- Nhớ đừng có giặt nghe .
- Sao vậy anh?
- Giặt bay mất mùi xà bông… thơm.
- Ối xà bông thơm thiếu gì, tôi mua cho anh cả lô… ủa ủa hay là anh sợ mất mùi xà bông Cô Ba.
- Cô Ba ở đâu mà mày biết.
- Hồi trưa chị Ba bảo em ra kêu anh vô ăn cơm, em ra vườn gặp anh đang nói chuyện xà bông Cô Ba với chị Bảy.
Đỏ nói đúng, nhưng chiếc khăn này là của Chia tặng “để mỗi sáng anh lau mặt là nhớ em! ” Thằng Đỏ lại nói:
- Hôm trước anh Lạn có đến đây.
- Mày cũng biết nó nữa à ?
- Biết chớ, ảnh đem công văn khẩn đến đây hoài mà. Ảnh nói là nếu anh có về đây thì nhắn anh chị Lụa chị Là gì đó bảo anh về nhà má ở Phú Mỹ Hưng, có má bên Bến Cát Thanh An về !
- Có nhắn gì nữa không?
- Bảo anh phải về gấp, má không có ở lâu được!
Tôi nói y như với Lụa và Là .
- Về sao được mà về ? Công việc mê mê, thì giờ đâu?
- Ai biết đâu nà !
Lại coi mắt! má Ua, má Là, má Mô ! Ba bà mẹ đi coi mặt một chàng rể ! Tôi không muốn vương mắc trong đám tơ rối mù đó nên hỏi sang chuyện khác: .
- Ông Hai Giả và ông Sáu Phấn không về đây sinh hoạt với anh em à ? .
- Sinh gì mà sinh. Ông Hai có xe đạp Bờ Rô của vợ ở Hốc Môn đem vô cho nên ông nhường xe của cơ quan cho ông Sáu rồi. Hai ông có chân chạy nên không ở đây. Ông Hai thì ở riết nhà bà Chín Kiểu, còn ông Sáu thì sáng đạp xe tới chiều đạp xe về. Đó là hồi trước, còn bây giờ cả tuần ổng mới đến một lần.
- Bộ phận trinh sát thì sao?
- Dạ thì chỉ có ông Sáu Đức đó thôi. Còn anh Ba Thanh và anh Mười, tiếng là trinh sát cơ động nhưng sự thật hai ảnh đang đeo sát Út Lành và Út Lan ở ngoài Xóm Chùa.
- Sao mày biết?
- Tôi còn biết nhiều chuyện nữa chớ!
- Gạo muối lãnh đủ không?
- Dạ đủ, ủa mà thiếu nhưng không sao. Vẫn ăn đủ.
- Tại sao vậy. Bộ thắt lưng buộc bụng hả?
- Dạ không phải. Quân số H6 mình 420 kể cả đơn vị, riêng văn phòng 40 nhưng còn có 12 hiện diện, nên gạo lãnh cho 40 họ phát có 15. Như vậy vẫn thừa ba khẩu phần.
- Còn sinh hoạt phí?
- Dạ cũng đủ xài.
Vừa tới đó thì có tiếng trực thăng phía sông Sài gòn. Tôi đứng bật dậy nhìn ra. Trời mờ mờ, mây vằn vện giăng giăng tôi không thấy gì. Đỏ bình tĩnh bảo:
- Anh cứ yên trí đi !
- Yên trí cái gì?
- Nó đi tuần là mình khỏe gà. Nó đi tuần sông đó, anh ạ ! Không phải nó đi hứng mát đâu.
Đỏ vừa dứt lời thì một làn ánh sáng từ trên không tỏa ra như hình một cái nơm khổng lồ xé màn đêm chụp xuống mặt đất Tôi hỏi:
- Nó làm gì vậy Đỏ ?
- Trực thăng soi đó anh.
- Lạ nhỉ !
- Anh chưa từng bị lần nào à?
- Chưa !
- Tụi nó khôn lắm. Nó biết hậu cần chở gạo qua sông. Nên hễ sụp tối là nó đi soi như mình soi ếch soi cá vậy. Soi đường sông xong nó soi đến đường xe bò. Nhưng mình cũng đâu có dại. Hễ nó soi vừa xong, biến dạng là mình cho đuôi tôm vọt. Có lúc một tuần liền mình không bị soi phát nào, nhưng không hiểu tại sao nó rút kinh nghiệm được. Chắc có lẽ mấy cha nội hồi chánh mách cho nó chớ gì?
- Ai hồi chánh đâu?
- Ông thượng úy Bảy Huyền dắt mèo đi luôn một cặp.Cho nên khi tắt đèn bay đi xa một lúc thì nó quay trở lại . Mình vừa bị dính một phát chìm hai ghe gạo, một ghe súng đạn. Ác thiệt! Cái ngữ trực thăng soi này còn độc hơn cả pháo đó, anh ạ ! Sông rộng quá, mà nó bay mau, mình cập bến không kịp. Còn lắm khi nó đáp xuống cả ruộng nữa chớ !
- Ban đêm à?
-Dạ ban đêm ban ngày đều có hết. Nó soi, hễ gặp ai đi đường khúc trống nó đáp xuống hỏi giấy căn cước. Ai có giấy nó không nói gì, ai không có nó xúc luôn về ấp chiến lược.
- Giấy căn cước của ai?
- Của tụi quận Củ Chi cấp.
- Sao kỳ vậy? Dân của mình mà tụi nó cấp giấy căn cước !
- Dạ đâu có biết! Nhưng bà con trong này ra ngoài đó xin giấy đều đều. Nó cấp cho dễ dàng. Đem về trong này họ dấu mấy ông xã ủy. Họ lận dưới lai quần hoặc nhét kỹ trong lưng. Có nhiều người bị xét về nhà không dám ở nữa, bỏ ra luôn ngoài ấp chiến lược. Họ ở đây nhưng bụng lại ở ngoài.
Nghe thằng nhỏ nói, tôi rủng chí. Đó chính là sự thất bại của mình. Cá không có nước, cá lóc trên khô. Một cặp trực thăng bay đi đảo lại hai ba vòng. Nó không bắn. Chắc là.không đụng đuôi tôm vọt qua sông. Tôi thở phào, nằm dài trên nệm rơm. Nó chơi mình nhiều kiểu quá. Bom pháo, sự thường. Chất độc hóa học: cũng còn chịu được. Xe tăng ủi xóm làng: Ta chạy tránh đào hầm khác. Bây giờ chơi tới cái trò soi ếch này. Mình khôn nó cũng đâu có dại. Tôi hỏi:
- Mày có nghe chị Ba nói gì không?
- Nói gì?
- Nói về tao ấy mà ! .
- Không!
-Mày giấu hả?
Thằng Đỏ cười hề hề:
- Anh khôn tổ mẹ. Cái gì cũng chận đầu. Nói chơi chớ chỉ khen anh ngất trời thiên. Chỉ bảo em có ông chỉ huy bánh tẻn, còn chỉ có cậu em rể coi được quá chừng. Chỉ bảo lần tới chỉ sẽ đưa má vô coi mặt anh. Anh chịu không?
- Chịu gì?
- Anh làm bộ hoài hè, người ta ưng anh rồi đó. Chị Bảy được biệt hiệu là dũng sĩ toàn miền lại còn biết khảy đờn bài Mùa Xuân Chiến Khu may áo, nghe hay lắm. Chỉ rủ em, muốn học chỉ dạy cho một tuần thì biết. Chỉ có cho em thử mà em bấm cà trật cà duột hoài, rồi em chạy luôn.
Một tiếng từ xa vọng lại.
- Có đồng chí trưởng ban đó không Đỏ?
- Dạ có ! – Đỏ đáp xong, quay lại tôi thì thầm – ông Sáu Phấn!
Tôi vừa ngồi dậy thì Sáu Phấn đã đến miệng hầm.
- Trời ơi! Tôi mừng muốn chết. Hôm qua tôi vào trong K20 gặp ông Tám Quang, ổng bảo ông về rồi. Tôi vọt ra đây để hai đứa mình bàn tính công chuyện – Sáu Phấn nói một hơi – Hai Giả làm đơn vị này mang tiếng. Ở trên tưởng là mình bệ rạc lắm. Đâu có gì đến đổi. Bất đồ mấy ổng bảo chơi Đồng Dù vài chục quả thử coi mình có làm được không? Dù hèn cũng thể, dù bể cũng còn kêu cạch cạch chớ đâu có tịt luôn. Thôi bây giờ ông đến nhà, tôi làm bậy vài cây đón gió rồi bàn công chuyện tiện hơn.
Thằng Đỏ nghe nói nhảy lên bờ vác xe đạp chạy tới. Chúng tôi hành quân bằng hai chiếc xe đạp. Theo như ba tôi nói sĩ quan Sài gòn, thiếu úy cũng có xe ieep rồi. Tụi này đã là đại úy ở Hà Nội vẫn cuốc bộ bỏ mạng, bây giờ nhờ ân huệ của đảng nên được xe đạp mà đi. Mô Phật xe của đảng !
Sáu Phấn cũng thuộc nhà pháo nhưng không có học với tôi. Tuy vậy hắn vẫn biết tôi có phép thuật cao cường hơn hắn nên hắn rất nể. Hắn cao lớn người, ngoài bốn mươi, tốt tướng, đặc biệt có cặp mắt lộ, nên có hổn danh là Sáu ốc Bưu.
Sáu Phấn kêu vợ làm cơm. Tôi can. Bà vợ chỉ đem trà và bánh ngọt,. Sáu Phấn thanh minh ngay:
- Ổng là trưởng mà bỏ bê như vậy, tôi là phó thì làm sao được?
- Để mình gặp ông rồi bàn luận.
- Tôi đề nghị ông làm vừa vừa thôi, làm mạnh quá tôi sợ ổng quất ngựa chuối như Bảy Huyền!
- Mạnh hay nhẹ không thành vấn đề, cái chính là làm sao cho ổng thấy trách nhiệm của trưởng ban pháo binh của một quân khu.
- Ổng không chịu đến cơ quan. Còn tôi mà lơn tơn tới nhà ổng thì bả nặng mày nặng mặt. Bả sợ tôi đến rù quến bắt ổng đi kiểm thảo ! Bố tôi kiểm ông không nổi nữa là tôi ! Ông Năm Lê gọi ổng tới ổng cũng không tới mà !
- Ông Năm cũng không chấp nhất mấy vụ đó đâu!
- Không chấp sao được? Đó là kỹ luật quân đội !
- Tình trạng của mình bây giờ là bán du kích bán chính quy bởi vì mình không đủ điều kiện để thi hành kỹ luật theo chánh quy thì mình phải dùng tình cảm thay cho nguyên tằc.
Sáu Phấn nói ngang ngang với tôi, không xưng hô bằng đồng chí. .
- Nếu một đơn vị pháo binh ở doanh trại có đủ quân số và khí tài thì điều lệnh của trên ban xuống ông phải thi hành và lệnh của ông đưa ra các khẩu đội phải tuân theo. Hành quân có quân xa hoặc xe tăng kéo pháo, đâu có tình trạng chôn pháo, đâu có tình trạng cán bộ ở nhà dân mà có vụ này vụ nọ. Mình xét vấn đề phải xét nhiều mặt. Đánh giá con người cũng thế. Cái chuyện vượt Trường Sơn và chịu đựng ở đây mấy năm liền lớn hay là vụ vợ bé vợ mọn lớn?
- Ông nói đúng rồi, nhưng kẹt cái là ổng có vợ. Bả vô đây hàng tháng. Thì ta chỉ nên khoanh tròn ở chỗ đó thôi! Ôngg Năm Lê có tính nóng nảy, la ó hay đập bàn đạp ghế, nhưng tôi thấy ổng đánh giá cán bộ đúng lắm. Cho nên tổ chức đề nghị thi hành kỹ luật cả hai mặt đảng và chính quyền mà ổng chỉ thi hành về mặt chính quyền thôi, nghĩa là điều Hai Giả đi công tác một thời gian cho lắng êm dư luận rồi cho chỉ huy một đơn vị khác!
- Cho đi đâu?
- Chắc đi Dĩ An Thủ Đức để chỉ đạo các đơn vị pháo dưới đó nhằm vào các căn cứ Mỹ.
- Hổng biết ông có chịu đi hay không.
- Để mai tôi gặp ổng thử coi. Riêng các anh em khác thì anh cho hay chiều mai tất cả phải có mặt để họp toàn ban. Anh nào không đến, tôi coi như đào ngũ.
- Về đây chết bom đạn rất đông mà lọt hầm chông phèo ruột cũng không ít.
- Tại mình coi vấn đề đó quan trọng nên xử lý nặng nề chớ nào có đáng gì !
Tôi ngồi uống trà với Sáu Phấn mà tâm sự ngổn ngang. Tôi biết rất nhiều vụ lăng nhăng như thế này của các ông lớn. Từ ông Duẩn trở xuống ông Trà trở lên. Năm 1956 khi tôi ở một đơn vị, Xuân Mai nghỉ phép Hà Nội, tôi có tìm đến thăm bác Ba Lắm là dân Bình Xuyên đi theo kháng chiến từ đầu 1945. Lúc đó tóc bác đã hoa râm. Con người không to lớn nhưng khỏe mạnh gân guốc. Tôi vốn là học trò nhà quê mê truyện Tàu nên nhiễm cái tính anh hùng trong các truyện Tam Quốc, Vạn Huê Lầu… Tôi xem bác Ba Lắm như Tần Thúc Bảo hay Địch Thanh. Bác ra trận không bao giờ nằm. Súng nổ là đứng lên chạy trước. Bác còn bảo lính: “Đứa nào xung phong lên trước chiếm xe địch tao để cho chỉ huy tao. ” Đánh giặc chín năm lên chức tiểu đoàn phó. Ra Bắc, cùng cỡ bác lên Trung đoàn phó là bét, bác không nhích được chút nào. Lại còn bị tổ chức ghi trong lý lịch là thành phần lưu manh. Bác bảo: “Tôi không phải là lưu manh. Mà dù tôi có là lưu manh thì hãy xem từ khi tôi vào bộ đội tôi có lưu manl không?” Rồi buồn tình bác bỏ ra dân, lấy một bà tư sản góa chồng (Đây là lần đầu tiên ông lấy vợ, vào lúc gần năm mươi!) Tổ chức lại được dịp nhân lên tội lỗi của bác: phạm lập trường giai cấp. Bác nghỉ chơi với cách mạng luôn và đi kéo nứa mướn bằng xe ba gác ở bến phà Đen để kiếm sống. Khi tôi đến bác đã có một đứa con gái ba tuổi. Tôi nhắc lại chuyện xưa Bác khóc ròng: ” Khi cần ngực mình để đỡ đạn người ta bảo mình là anh hùng. Thắng trận xong rồi mình làm thằng lưu manh. Địt mẹ chúng nó, chúng nó lấy vợ địa chủ thì không sao cả, còn mình lấy một bà tư sản phá sản còn có cái nhà rách thì lại bị quy là phạm lập trường giai cấp!”
Hình tượng và câu chuyện của vị tướng lãnh Bình Xuyên không bao giờ phai nhạt trong tôi. Thì cũng gần như vậy cái trường hợp Hai Giả hôm nay. Khi vượt Trường Sơn thì bảo là vinh quang, khi đến Củ Chi thì bảo là Đất Thép Thành Đồng. Lấy vợ bé thì bảo là phạm kỷ luật. Còn Tổng bí thư, chánh ủy Tư lệnh lấy vợ ba thì cái lập trường vẫn cứ còn nguyên con, không sứt mẻ chút nào. .
Tôi đứng ở giữa cấp trên và tội phạm, tôi phải hành xử sao đây. Đành rằng tôi không phải là kẻ thi hành kỷ luật y nhưng phải làm sao để y thấy rằng mình không có ham hố gì- – mà lại khổ tâm – vì cái chức trưởng ban H6 này.
Vợ Sáu Phấn một người đàn bà trạc bốn mươi, vóc dáng khỏe mạnh, tay bưng dĩa tôm càng nướng đỏ rực và dĩa rau sống xanh biếc có chuối khế xắc lát rất khéo sắp quanh vành dĩa, đi ra đặt nhẹ lên bàn và nói với chồng:
- Anh mời khách uống vài ly cho vui !
Sáu Phấn cười với tôi:
- Ông thấy tôm con nào con nấy mập ú không?
- Thì hồi chiều cũng làm ở đẳng một chầu rồi.
- Tôm rẻ hơn cá và lươn. Chỉ một trăm một rổ đầy vì sao ông biết không? …Vì nó ăn thây ma, chỉ có tụi mình nuốt mà thôi. Chuột bị hóa học, tôm ăn thằng chổng đều ních tuốt.
- Ở vùng này vườn tược nhà cửa còn được tám chục phần trăm hả ông?
- Nhà cửa cũng xếp lại lấy cây cột làm hầm, còn dân thì rục rịch đi ra ấp chiến lược gần hết rồi. Hạng nhất vùng này là nhà con Bảy Mô, ông già nó có vườn sầu riêng và một trăm mẫu đất, nhà cũng vừa giở.
Vợ Hai Giả ở trong bếp nói ra:
- Anh làm mai cho cô Ba được đó . Chồng chưa cưới của cổ hi sinh hồi kháng chiến cổ thất tình, cổ không tính chuyện chồng con gì hết cho tới bây giờ.
- Bậy nào ! Có làm mai thì làm mai cho con em, chớ ông này con trai nheo nhẻo mà.
- Con em cũng đã có chồng có con rồi !
- Con em thứ Bảy dũng sĩ kia chớ không phải con thứ năm. Chắc ổng chưa gặp đâu để mai mốt tôi bàn chuyện công tác rủ cổ lại đây cho ông làm quen. Cặp gà này coi bộ đồng cựa đồng chạng đó.




Chương 51
Mối tình già éo le của một đại úy pháo binh

Thằng Đỏ chở tôi đến nhà Hai Giả. Đáng lẽ y phải tới bàn giao công việc cho tôi mới phải, nhưng thôi, bạn bè hơn nhau một chút cũng chẳng mập béo gì. Ở giữa cơ quan có nhân viên lại càng bất tiện cho y. Chiếc xe đạp lọc cọc lăn trên đường gồ ghề màu đất nâu sậm như báo hiệu rằng Củ Chi Đất Thép sẽ nhuộm máu. Đạp một lúc thằng Đỏ bảo:
- Đi bộ thôi anh. Đi xe đường xấu giằn đau đít lắm! Anh đứng nép vô để đầm già nó liếc. Tôi trở về cất chiếc xe đạp.
Tôi đứng bên đường chờ nó trở lại. Tôi đưa mắt ngó chung quanh. Hầu hết những ngôi nhà lớn lợp ngói không còn nguyên, nhà cỡ trung bình cũng đều giở xuống. Người ta đã biết trước những gì sẽ xảy ra khi thấy cái Đồng Dù càng ngày càng xúc tiến mạnh. Ngày nào trực thăng cũng đeo những cục tròn tròn dài dài dưới bụng nó đem nhả xuống Đồng Dù. Còn bên trong thì nhà cửa bằng gỗ thông được dựng lên, cột điện trồng tua tủa, đường thì trải nhựa, bắt ống nước, xây lầu nước. Những người đi làm công cho Mỹ về đồn rinh tai: “Nó làm in như một thành phố! Nó ăn thua đủ với mình ! Nó mọc rễ ở luôn…”
Ngôi nhà bên vệ đường ngay trước mặt tôi chỉ còn trơ lại có cái nền. Một đống cột đầu vuông chất ngổn ngang bên cạnh với mấy cái tàu dừa che lên trên lấy lệ. Trong kháng chiến chống Pháp nhà tôi bị đốt, má tôi ngồi khóc. Nhưng tôi không thấy buồn gì cả, trái lại càng kiêu hãnh, làm thơ:
Nhà em Tây nó đốt
Em ra ngủ ngoài vườn
Khác gì anh chiến sĩ
Quen lạnh lẽo gió sương.

Bây giờ thì khác. Cứ mỗi lần thấy một ngôi nhà bị cháy vì rốc-kết (Mỹ không đốt nhà như Tây) hoặc chủ nhà bỏ đi, tôi buồn ghê gớm. Ở cái tuổi này sau khi ở đậu trong hàng ngàn ngôi nhà của dân từ Nam ra Bắc và đã từng sống không nhà ba tháng dọc Trường Sơn, hai năm lẩn lút trong những ngôi nhà không ra nhà ở trên rừng, tôi cảm thấy tất cả sự ấm áp của một ngôi nhà trong đó có bàn thờ, có buồng ngủ, có ván gõ ván dầu, có bếp, có khói nấu cơm và hơn nữa có tiếng đàn bà, con nít vui chơi hoặc khóc ré.
Mỗi một hòn đất đắp vào nền nhà, mỗi một thanh gỗ bào đẻo trơn tru, mỗi một nuộc lạt buộc vách là một giọt mồ hôi, một tình cảm yêu thương đằm thắm. Thế mà chủ nhà phải bỏ đi, hơn thế nữa phải mất nó trong nháy mắt. Đêm qua thằng Đỏ có kể cho tôi chuyện hai vợ chồng bị một trái cà-nông ngay đêm tân hôn. Tôi luôn luôn có ý nghĩ: “thằng Mỹ ác quá!”. Nhưng Bác Đảng cũng ác chẳng kém gì. Mười năm dân Miền Nam đã tự hàn gắn laị được vết thương chống Pháp, bây giờ chính Đảng laị chọc vào đó, xé toạc nó ra. Đảng đã thọc cây vào ổ kiến lửa trách gì nó không cắn cho bầm mình. Nó đánh cả Hà Nội rồi. Cả hai miền đều ăn dưa hấu tấn.
Thằng Đỏ trở lại:
- Đi bộ 15 phút mà khoẻ. Hơn là đi xe, đầm già nó cão đùng mình nhảy không kịp.
Đỏ vừa đi vừa chỉ từng nhà cắt nghĩa cho tôi nghe:
- Đây là nhà của má Mười. Con cái chết đâu hết cả, chỉ còn một ông con trai ở nhà tên là Tám Lù. Ông ta lờ khờ, nên trong xóm gọi là Tám Lù Đù. Bà má này cỡ anh thì vô làm con ngọt, còn lính lác thì đừng hòng.
- Sao vậy?
- Hổng biết tại sao. Hễ mang K54 tới thì kể như có ưu điểm liền. Để bữa nào tôi dắt anh tới giới thiệu anh là trưởng ban H6, rồi anh sẽ thấy gà vịt đơm tới nườm nượp.
Qua ngang chiếc quán cóc ở đầu đường, Đỏ bảo:
- Quán này có bán đường, đậu, mắm, thuốc hút, xà bông thơm, nhưng không có giấy tập. Tôi thèm một mớ để chép bài hát của chị Bảy Mô cho mà chưa dám ra chợ An Nhơn.
- Sao vậy?
- Bom bỏ thường lắm. Ra đó chậm chân thì hết có về.
- Vườn tược ở đây vẫn còn y nguyên hả Đỏ?
- Lâu lâu bị pháo vài trái. Nhưng thiệt ác. Một trái pháo mồ côi trúng hai vợ chồng mới cưới tôi kể cho anh đêm qua đó. Ở ngoài lộ ngó vô thì tưởng vườn tượt còn nguyên, vô trong rồi thì toàn hố bom hố pháo.
Tôi để ý thấy có nhà còn để cây rơm, có nhà còn gà gáy,có nhiều vườn xanh tươi, măng cụt, lôm chôm, có những bụi trúc quằn ngọn đốn làm cần câu thì tốt lắm, nhưng có lẽ không ai có kiên nhẫn ngồi câu nên trúc vẫn còn đứng chôn chân đó như những cô gái đẹp chờ người tới rước về nhà chồng. Có ngỏ nhà vui hơn với ba chú trâu nằm chơi vô tư không để ý khách đi qua. Khi sắp ra đường 15 thì có một em bé gái chạy tới kêu to:
-Anh Đỏ!
Đỏ nói với tôi:
- Đó là con gái của bà Chín Kiểu, vợ ông Hai Giả.
Cô bé đi tới nói tía lia:
- Cậu tôi biểu tôi ra quán mua trà thuốc về đất khách.
- Khách nào?
- Hổng biết khách nào. Cẩu còn biểu má tôi chiên bánh xèo nữa.
Đỏ trỏ vào tôi:
- Khách đây nè! – rồi nhìn tôi, cười hí hí – Bữa nay mình có lộc ăn nữa rồi anh Hai.
Con bé có lẽ nhận ra vai trò của ông khách đối với bố dượng của nó, nên nhìn tôi bằng cặp mắt là lạ. Tôi hỏi:
- Em tên gì?
- Cậu kêu con bằng con nghe cậu Hai.
- Cậu Hai chưa có vợ sao có con được chị Gái!
Cô bé lườm Đỏ. Tôi nói ngay:
- Đã là con gái sao còn lấy tên là Gái? Tên Thơm, Thảo, Bông, Hoa, Đẹp… thiếu gì!
- Tại con không có cha nên má con không biết đặt tên gì. Thôi, cậu cho con một cái đi.
Đỏ xen vào:
- Muốn đặt tên thì phải nấu chè. Anh đặt cho nó là con Thơm đi anh Hai.
-Dạ được!
Con bé mừng nhảy chân sáo biến đi nhanh rồi trở lại với trà thuốc trên tay. Tôi nghĩ thầm: con bé như thế này chắc mẹ nó phải đẹp lắm. Hèn chi Hai Giả quên cả trời đất chớ gì. Vào đến sân nhà, Thơm kêu to:
- Má ơi, má có cậu Hai tới!
Một chiếc xe đạp mới toanh dựng ở bẹ cửa vách ván. Một người đàn ông bước ra thềm bắt tay tôi. Tôi quen Hai Giả từ ngoài Bắc, nên câu chuyện khởi đầu rất thân mật. Hai Giả giới thiệu với vợ y:
- Ông này là thầy dạy pháo của tôi ở ngoài Bắc đó Chín !
Người đàn bà có nước da trắng trẻo, tóc đen nhánh bao quanh gương mặt xương xương có vẻ không phải là nông dân, trái ngược với gương mặt hơi thô của Hai Giả. À, ra đây là bà Chín Kiểu mà lâu nay tôi nghe đồn là người bắt được hồn thư của ngài đại úy pháo binh bằng cái sắc đẹp đã vào thu của bà. Tôi ngó quanh thấy cảnh nhà rất ấm cúng. Bàn thờ chạm trổ
mun đen, trên đó có cặp chân 5hờ cổ kính. Một ngọn đèn Hoa Kỳ nhỏ bằng hạt đậu xanh để dựa vách bàn thờ. Tôi mở đầu:
- Ông Tư Khanh cho tôi về đây, tôi mừng húm, xách quyết định bay đi liền. Ông nhớ không, hồi ở Sơn Tây, chiều thứ bảy nào tôi với ông cũng làm cua-rơ đua qua cầu Ái Mỗ.
Hai Giả nói giọng buồn tênh:
- Thầy.còn làm cua-rơ chớ tôi thì hết rồi. Đeo hai cái wagons còn đua sao được nữa mà đua với thầy.
Tôi nhìn Hai Giả, chờ đợi một câu mà tôi chắc là ai oán. Quả nhiên, Hai Giả thở dài:
- Ông thầy ơi ! ông cứu tôi đi ! Tôi nghe bạn bè quen nói ông giải quyết êm xuôi vụ Ái Mỗ của ông Đào. Tôi phục thầy lắm. Thầy làm dùm tình sư đệ . Thì bây giờ đến vụ này của tôi. Tôi vẫn còn là đệ tử của thầy ở E400. Thầy được cấp trên nể phục, cấp dưới sùng bái, chẳng lẽ thầy lại cầm gậy đánh gãy xương sống của đệ tử thầy hay sao?
Tôi ngồi lặng thinh, nghe da thịt ran rát như bị ngàn mũi kim châm. Tôi biết làm sao bây giờ. Hồi ở trường pháo binh trên R tôi cũng đã cứu thằng Sâm một keo. Kỳ này mọi việc đã rồi. Tôi chỉ còn có thể an ủi y thôi. Tôi cố giấu vẻ xúc động. Thiệt tình tôi thấy tội nghiệp y vô cùng. Hai Giả than thở:
- Cũng là trời khiến thầy ạ. Nếu tôi không về đây thì cần câu đâu có mắc gốc thế này. Thầy còn nhớ hồi trước không?
- Nhớ gì?
- Nhớ trận đánh xà-lan của Tây ở tại Bến Dòng Sỏi trên sông Sài gòn này ! Lúc đó tôi mới mười tám tuổi nhưng đã chỉ huy một trung đội cơ động trong chiến dịch Bến Cát, có trách nhiệm quốc lộ 13 và sông Sài gòn. Hồi đó nghĩ mình dữ thiệt! Có một trung đội mà chịu hai mặt bộ binh lẫn hải quân của Tây. Không biết sợ là gì. Gặp xe tăng cũng bắn, gặp tàu cũng chơi. Trận đó ba con Gái mới là trung đội phó, nhưng nó gan lắm. Vì gan nên mới hi sinh… – Hai Giả ngưng một chút rồi tiếp – Hi sinh để lại một bà vợ chửa mới hai mươi tuổi Là bà này đây. Còn đứa bé trong bụng là con nhỏ đó.
Hai Giả chỉ hai mẹ con đang đứng khép nép ở cửa buồng. Hai Giả cố nén giọng cảm động để kể nốt câu chuyện:
- Trời xui đất khiến gì đấy ông ạ . Hay hồn thằng bạn cũ nó hướng dẫn tôi tới cái nhà này. Một hôm tôi đi lên K10 về. Hồi đó ông Năm Lê chưa về đây. Ông Hai Phụng Phó tư lệnh còn kiêm Trường phòng tham mưu. Trời tối, tôi lại bị xẹp bánh xe. Tôi vô đại cái nhà bên đường xin tá túc. Hồi đó vùng này còn sầm uất lắm. Y như thời chín năm vậy. Tôi ngồi ở cái bàn trước kia kìa. Bỗng tôi ngó lên bàn thờ thấy cái ảnh quen quen. Tôi hỏi ra mới biết là thằng bạn đã hi sinh trong trận Dòng Sỏi. Đêm đó tôi ở lại đây, nhắc chuyện cũ cho bả nghe. Rồi hai bên thông cảm, rồi sau đó tới lui thăm viếng bàn thờ thằng bạn. Rồi… vậy đó. Con nhỏ nay đã mười bảy tuổi rồi. Hai mẹ con hủ hỉ với nhau. Ông coi, đó có phải là trời đất xui khiến không?
Tôi nghĩ : Quả là trời xui đất khiến thật. Giống y như tiểu thuyết lạ lùng. Người đàn bà có con gái lớn ngần ấy vẫn chưa lấy chồng. Nay gặp bạn cũ của chồng nên không muốn thủ tiết nữa. Chiến tranh, dù là thứ chiến tranh gì, cái hậu quả thảm khốc của nó vẫn đổ cho người mẹ, người vợ gánh chịu. Tôi đã gặp cái màn kịch vợ góa con côi khá nhiều ở cái Đất Thép này.
Tôi muốn gạt phăng mọi thứ kiểm thảo giả dối nhằm bao che một thứ đạo đức rỡm đã bị bọn lãnh tụ sơn phết từ thời kháng chiến tới giờ, như Ba Lắm chửi: “Đù mẹ tụi nó ! Tụi nó lấy vợ bé địa chủ thì không sao, còn mình thì tụi nó bảo là sai lập trường!” Tôi nhắm hớp trà thấm giọng rồi nói:
- Sự thực ở trên cũng không có định làm gì to chuyện đâu. Riêng tôi, tôi cũng thấy không có gì to tát. Tôi nhìn vào khả năng và thành tích của ông chớ! Từ 1945 tới nay đầu chúng mình đã trọc mấy thứ tóc rồi mà ! Anh cứ yên tâm, và nhớ rằng đây không phải là ý muốn.của tôi, anh cứ đi công tác xa một thời gian, thế là xong. Khi về tôi sẽ tuyên bố xóa bỏ tất cả khuyết điểm của anh. Anh sẽ không mất gì cả. (Tôi đâm ra kính trọng con người Hai Giả) Anh Hai nhé ! Chị Chín nhé !
Người đàn bà bước ra ngồi gần chồng đối diện với tôi, mắt đỏ hoe, giọng xúc động:
- Hồi nào tới bây giờ tôi mới nghe một người nói có tình có lý như cậu vậy! Xin lỗi tôi chắc cậu còn trẻ hơn tôi. Ba sắp nhỏ hi sinh nay đã mười bảy cái lễ giỗ rồi. Tôi ghi từng lễ giỗ bằng gạch vôi trên vách đó ! – Chị Chín trỏ lên vách – Tôi đếm từng cái Tết mỗi khi tôi may áo mới cho con. Tôi đã quyết định không lấy ai nữa. Con gái đã có chồng thì chỉ một lần. Chồng chết thì ở với con. May mà ảnh còn để lại cho tôi giọt máu này. Nhưng hình như trời xui đất khiến cho nên anh Hai mới ghé vào tá túc lần đó…
Hai Giả tiếp:
- Mấy thằng quận ủy đến ve vãn bả không được nên ganh ghét viết báo cáo khuếch đại gởi cho Bộ tư lệnh, làm cho mấy chả đòi khai trừ và giáng cấp tôi. Tôi thầm bảo: khai trừ như nói láo, cảnh cáo như nói chơi. Cứ làm! Tao ra dân, chẳng sao cả. Nhưng còn tụi bây thằng nào cũng ê chề một đống, ai cảnh cáo, ai khai trừ tụi mày? Ông ở đây một thời gian rồi sẽ thấy mấy thằng địa phương này khó chịu lắm!Khi cần thì nó đội mình lên, khi mình ngã thì nó đạp luôn. Hồi 60, Đồng Khởi xong chỉ có loe hoe ba cây súng ngựa trời, nếu không có bọn tập kết mình về , tụi Sài gòn nó nhai đầu cái một làm gì có Quân khu IV này, làm sao có chiến tranh chính trị nọ kia? Bây giờ có quyền, có thế, nhờ ai? Vậy mà chúng nó ghét dân tập kết ghê lắm!
Tôi biết Hai Giả có những nỗi u uất bị đè nén từ lâu, bây giờ có dịp tuôn ra. Anh tiếp:
- Còn ở trên biểu pháo kích Đồng Dù, biểu móc súng lên để trên mặt đất rồi sinh hoạt như hồi chín năm! Xì, cái đó dễ ợt. Tôi sẽ pháo kích cho mấy ổng coi. Tôi sẽ dựng pháo trong nhà đồng bào và sinh hoạt ỳ xèo cho mấy ổng khoái mắt. Nhưng chỉ trong một tuần lễ là mất cả súng lẫn người. Các ông chui vô hầm Đờ-cát-tri chỉ thị ra ngoài, nói rùm lên trên đài nào là vành đai thép, nào dũng sĩ diệt Mỹ. Có thật không? Tụi thằng Cội, con Nê bắn một phát súng bá đỏ nó pháo trả một trăm quả . Đồng bào chửi cho không dám ló mặt lên. Tôi mà bắn nó một quả là nó đem B52 và xe tăng tới. Chừng đó đồng bào sẽ đuổi mình đi như đuổi tà . Để rồi xem !
Hai Giả càng nói càng hăng:
- Thầy còn lạ gì cối 120 nòng nặng một tạ, đế hơn năm chục kí, sức người làm sao vận động nổi với trực thăng và cơ giới chớ! Mình vừa lên tiếng rống là nó đổ chụp ngay trên đầu. Tôi đã bị mấy cú ở Phú Hòa Đông rồi. Tôi đặt ở hậu cứ Cây Trôm để chi viện cho bộ binh đánh giao thông. Trận đó tôi đã nếm mùi tân khổ. May mà chưa mất khẩu nào. Chỉ bị hỏng hai khẩu 120 ly ở Láng Cát thôi. Thằng Việt đại đội trưởng hi sinh, mất xác.
- Sao vậy?
- Đang rút thì B52 đến. Tưởng nó đã vùi tất cả đơn vị rồi chớ. Chạy bò về tới Bàu Lách đứa nào đứa nấy hộc máu ra đằng đít. Mấy chả có biết đâu. Thằng Tám Quang, Liên khu nem cứ oang oang cái mõm chó sủa um: Vành đai thép, dũng sĩ diệt Mỹ. Có cái con mẹ gì. Tụi nó chỉ nhảy cóc nhảy nhái thôi, chớ tình hình căng chút nữa là trốn mất hết cho coi ! Còn tụi quận ủy hả ? Hết cái màn đấu tranh chính trị rồi, bây giờ tới lớp ngồi thum. Một bước cũng không dám rời khỏi miệng hầm. Chúng rút xuống âm đạo mắc cặp như ếch dưới đó. Có gì thì bịt kín, phá thai, nhưng ai cũng biết. Cái vành đai thép đài giải phóng la um, tôi nghe mắc cỡ quá chừng. Đó chẳng qua mấy sợi lông le the chọc cho Đồng Dù nó ngứa mắt, nó giã cho nhừ xương cấp kỳ. Bây giờ bọn thằng Cội, con Nê đã tróc hết rồi. Chúng nó bị xe tăng ủi chạy dồn xuống đây chớ bám gì được mà bám. Tôi nằm ở đây nhưng nghe nó thầy làm anh hùng pháo kích sân bay Biên Hòa, vẫn nghe thấy thằng Đồng mất hết mấy khẩu DKZ và cối 120 ở lòng sông Bé, Tư Quảnh, Ba Tô Đê rửa chân lên bàn thờ. Còn thằng Đông không biết có trở về được không?
….Vậy là xong vụ Hai Giả. Chị Chín mời tôi ở lại ăn cơm nhưng tôi từ chối vì việc nhà quá đa đoan. Thực ra tôi không muốn nghe Hai Giả tố cáo cấp trên thêm. Tố thì cũng được nhưng tôi sợ tôi đồng bịnh tương lân. Nghe y tố tôi cũng tôi theo thi bọn Bắc.kỳ xâm lược sẽ có lý do mà chơi tôi.
Lòng buồn bạc mạng, tôi cùng thằng nhỏ lủi thủi ra về. Tôi mang theo thêm một trời tâm sự của một thằng bạn đường đang gặp chuyện không may. Cứu nó ư? Bằng cách nào. Bất cứ cách nào nếu tôi có quyền có phép. Tôi sẽ bịt các cái mồm bép xép trong cơ quan và sẽ gặp thằng Một Sơn bí thư quận ủy cho nó một trận giằn mặt. Chính nó mới là kẻ đáng thi hành kỹ luật trong khi đó nó lại đi cầm kỷ luật để nện người khác. Cái cung cách muôn thuở trong đảng là như thế. Những tên vô kỷ luật, phá nát kỷ luật nhất là những tên cao cấp. Chính chúng là những tên ký những bản án kỹ luật cho đồng chí mình. Tiêu biểu nhất là tên Lê Đức Thọ. Trên đời này thằng đàn ông nào có vợ mà không quyến rủ bởi nhan sắc hoặc lời êm tiếng đẹp khác?
Cô bé Thơm (tên bé Gái tôi vừa đặt) chạy theo dặn Đỏ:
- Chừng nào rảnh anh ra đây tôi cho cá lòng tong về kho quéo .
Tôi hỏi:
- Lòng tong ở đâu mà có?
- Dạ ở dưới rạch Sơn vô đây cả bầy. Hễ nước lớn cháu chỉ cần rải cám rồi móc hột cơm vô lưỡi câu, quất trên màn nước, một lát có đủ kho cả tộ.
Dường như chưa vơi tâm sự Hai Giả đuổi theo tôi ra tận ngỏ. Y nói:
- Ở đây lúc trước có tàu đi Dầu Tiếng xuống Bình Dương. Bây giờ thì hết chỉ có giang thuyền thôi, nhưng nếu du kích không chọc nó, nó chỉ thả xuôi êm ru không xổ lên bờ viên nào!
Hai Giả nhắc lại chuyện cũ:
- Con nhỏ đó như vậy thì thằng tía nó hẳn không xấu trai phải không thầy? Tội nghiệp, lúc đó bả có hai mươi còn nó mới hăm lăm. Chết bỏ vợ bỏ con. Đau quá ! Tôi biết tôi ở với bà ta là lỗi đạo với vợ con tôi, nhưng thầy rành mà, trước một người đàn bà như vậy ai cũng mềm lòng. Thằng Út Việt ở trên xóm trên kia cà , bị một trái bom bỏ vợ mang bầu. Hầm bê tông cốt sắt cũng không chịu nổi…
Hai Giả nói câu này không ăn với câu kia, chứng tỏ tâm thần không bình thường.
Theo lời mời của Sáu Phấn, sau cuộc họp bàn tròn tay đôi, tôi và Hai Giả đến nhà y ăn bánh xèo, nhưng Hai Giả không đi lấy cớ ở nhà thu xếp công việc để đi công tác, nhưng tôi bắt ép nên phải đi. Tôi muốn an ủi và trấn tỉnh y luôn. Thực tình tôi tội nghiệp y quá:
- Đến tiệc bánh xèo thì cũng lại gặp tôm.
Hai Giả vui vẻ :
- Lại cũng tôm thằng chổng?
Sáu Phấn đem ra một lít rượu trong như mắt mèo:
- Tôm đó thì phải có rượu này mới trị nổi !
Sáu Phấn vừa nói vừa chiếc nhạo bông xanh rồi rót ra ba cái chun có in hình ông Phật và nói.
- Bữa nay coi mòi êm. Chỉ còn ngại ba thằng giang thuyền nữa thôi. Từ Bến Chùa đến Xóm Dược du kích hay chọc nên nó mới bắn ra-phan M79 hoặc đổ bộ lên bờ rượt du kích.
- Có vụ rượt du kích nữa sao anh?
- Có chớ, nó đâu có ngán thứ trường bá đỏ ! Nhưng miệt An Nhơn trở xuống Bến Mương thì không ai làm gì nên nó cũng không làm gì ai.
Tôi hỏi:
- Mình chơi nó vài phát DKZ không được sao?
Hai Giả trả lời dứt khoát.
- Chơi thì được, nhưng đồng lầy, chơi rồi chạy mắc lầy chết luôn!
Sáu Phấn cũng phụ họa:
-Tụi nó kỹ lắm. Nó đi lêu bêu như cá chết trôi như vậy nhưng hễ mình đụng tới nó là nó sừng gai ngạnh của nó lên ngay.
Đang trao đổi ý kiến về dự kiến một trận đánh giang thuyền thì một người con gái bưng bánh xèo trên cái sàng lót lá chuối xanh ra bồi thêm. Tôi nhát trông thấy đã mất hồn ngay. Nàng ta đẹp hơn tất cả những người con gái và đàn bà tôi biết từ trước đến nay. Nàng vừa khuất lưng vào bếp, Hai Giả điệu đàng nói ngay:
- Em vợ Sáu Phấn đó ông bạn trẻ à ! Có lẽ anh ta không chịu nghèo ba năm đâu?
Tôi cười:
- Chịu không anh Sáu?
- Chịu nghèo ba năm thì ăn thua gì, ngặt một điều.
- Điều gì?
Sáu Phấn khom qua bàn xầm xì với tôi. Tôi hoang mang lúc lâu nhưng dùng rượu để trấn áp sự hoang mang đó ngay . Hai Giả xua tay:
- Không sao đâu! Gái một con trông mòn con mắt. Ông Phấn nói toẹt ra cho rồi!
Sáu Phấn tớp chung rượu và gật gù:
- – Chồng nó đi công trường 9 đánh trận Đồng Xoài. Con nó đã năm tuổi rồi. Lính nhà mình cũng bủa lưới phóng lao dữ lắm nhưng phóng cây nào trớt cây nấy.
Sáu Phấn quay mặt gọi vào trong:
- Dì Mười a, còn bánh hết, đem thêm ít cái cho khách dùng!
Cô Mười duyên dáng bước ra. Má đỏ hồng hồng có lẽ vì đứng gần lửa. Nàng có đôi môi đỏ tự nhiên, làn da mặt và cổ trắng như bông bưởi, đôi vai tròn mà từ lúc gặp tôi luôn mơ tưởng được đụng vào. Mười vừa quay vô, Sáu Phấn lại bảo:
- Hết lá đọt mọt rồi dì chịu khó đi ra vượn hái thêm. Coi chừng kiến vàng đái vô mắt rồi khóc ở ngoài không có ai dỗ .
Tự nãy giờ có một ông già ngồi ăn chung mâm tứ trụ với chúng tôi mà Sáu Phấn giới thiệu là cậu Tám. Cậu Tám chỉ nói chuyện đưa đẩy chớ không nhiệt tình. Lúc chai rượu lưng quá nửa câu Tám mới khai pháo:
- Oa hồi trước cũng đi Vệ Quốc Đoàn mất sáu năm, bị thương về nhà làm xã đội luôn tới đình chiến. Sợ ở lại bị trả thù nên bán nhà cửa đồ đạc ghe xuồng dắt vợ con xuống bến Hàm Tân tập kết. Ai dè xuống đó người ta bảo thương binh cỡ tui không có tiêu chửn, cho nên đành dắt vợ con trở về. Nhà cửa bán hết rồi, phải qua bên vợ ở nhờ. Rồi lần hồi tạo lập cái khác ! Bụng làm dạ chịu, chớ kêu ca với ai. Cũng may chánh quyền Sài gòn họ bắt tố cộng sơ sơ rồi thả, không đánh đập gì. Nhờ cố công mào sắt chầy ngày nên kim. Từ 1954 đến 1960 tôi kiếm lại được gấp đôi gấp ba cái tôi đã bán. Hai vợ chồng mới yên vui được một năm thì đến Đồng Khởi. Ừ, đồng thì đồng, dân kháng chiến chống Pháp lẽ nào làm lơ, nên tôi nhảy vào hò hét đốt lửa thổi kèn đu đủ, làm tùm lum. Hồi đó thằng Một Sơn bí thư huyện ủy bây giờ mới có làm tới chức ấp đội thôi. Nó chỉ biết thiến heo chớ biết đảng là cái gì Nó đâu có biết cầm súng trở họng ra hay trở họng vô. Làm việc gì nó cũng hỏi tôi ráo nạo.
Cậu Tám vuốt bộ râu ngạnh trê chép chép cái miệng móm không còn răng và tiếp:
- Sau Đồng Khởi, mình lập được bộ đội và có cả cánh tập kết luồn về. Do đó có hậu cần. Bảy Hốt bây giờ còn đó chứng kiến cho tui . Tui phụ một tay với chả . Gạo từ Bến Chùa cho qua Đường Long Thanh An đều có tên Tám Cần này chèo chống hết. Trực thăng bắn mấy lần tưởng đã lọi giò . May nhờ nhảy xuống sông lặn. Đạn đi sém ba sườn, vết thẹo còn đây. bên Thanh An có một anh bạn già từng tham gia kháng chiến chín năm cũng làm phụ với Bảy Hốt, nhưng chẳng may bị trực thăng bắn chết trên sông Sài gòn gần Bến Chùa. Vợ thằng chả bán quán, có hai đứa con gái như là tiểu thư. Còn bà ta thì uốn tóc quăn, chân giày chân dép, quần lụa áo bông như hoàng hậu. Tôi thấy bà ta trống chân bèn dạ hành tỏ vài phát thử xem thời vận ra sao, chẳng dè cụp ngay. Tôi cũng biết cái thân phận nam nhi thê tử lùm đùm của tôi làm như vậy là sái nhưng mà con mèo thấy mỡ đời nào lại tha cho được? Đàn ông chẳng thằng nào thấy đàn bà góa mà không ve bao giờ.
Hai Giả bật cười:
- Chú Tám nói điệu lắm. Rồi sao nữa chú?
- Nhưng cá vừa cắn câu thì kỳ đả cản mủi!
Sáu Phấn hỏi.
- Kỳ đà cụt đuôi hay kỳ đà dài đuôi vậy cậu Tám?
- Không biết cụt hay dài nhưng đúng là kỳ đà . Thôi, nói gần nói xa không qua nói thiệt. Đó là mấy ông quân khu. Mấy chả tới có cảnh vệ rình rang đóng tại nhà yến tiệc tưng bừng. Tưởng nhậu nhẹt xong là rút lui. Không dè mấy chả ra sau vườn đào hầm rồi trụ luôn. Cảnh vệ gác trước canh sau. Thằng lính hậu cần này đâu có chen lọt được. Mấy lần gặp tui ngoài đường, bà ta ngoảnh ngoảnh cái đầu quăn không nhìn chi thằng lái đuôi tôm ban đêm như ăn trộm. Trên 40 mà gác máy bay thứ nặng, B26 trở lên chớ không có coi đầm già cồng cộc ra gì đâu. Thôi thì nói quách ra cho rồi. Tư lịnh đó mấy chú, không thèm phó tư lịnh đâu.
Tôi chợt nhớ đến chuyện cô xã đội phó cho biết má Hai sang bên đó ở nhà dì Ba và có lần tụi trẻ nó bắt gặp hai cặp chân ló ra vách mùng. Tôi bèn hỏi: .
- Bả thứ mấy vậy chú Tám?
- Thứ ba – Cậu Tám nói luôn – bả có bà chị làm mẹ chiến sĩ ở Phú Mỹ Hưng mình nè. B52 cày đường 15 bả sợ quá bả dông qua ở đó luôn. Nghe nói mấy đứa con gái nhắn bả về để coi mặt thằng rể mà bả còn chùng chình không dám về .
Tôi nghĩ thầm: Thôi, vậy là đích thị ông Ba Xu rồi. Tôi nói:
- Vậy ra chú mới ở bên đó về đây?
- Thì mới tháng rồi chớ lâu lắc gì. Nghe đâu thằng rể cũng là dân mùa thu như chú em vậy.
Tôi nhấp nhỏm như ngồi trên bàn chông. Cậu Tám nhấm nháp vài hớp liên tiếp rồi nói:
- Sở dĩ tôi kể chuyện vòng vo Tam Quốc vậy là vì tôi nghe nói vụ chú Hai này lâu nay. Bữa nay nghe chú về thay thế chú Hai tôi có hơi động lòng ẩn trắc. Thật cũng có đáng trách tí chút nhưng mà phải thương chú ấy nhiều. Ví như xưa kia Thúc Sinh đi học xa bỏ vợ lớn ở nhà lấy nàng Kiều làm thiếp trong khi du học để nhờ lấy sự săn sóc của bàn tay đàn bà mà lo việc đèn sách. ông bố quá nghiêm nên rầy la, nhưng chàng ta đâu có bỏ nàng Kiều. Nếu chàng yêu nàng Kiều mà bạc đãi Hoạn Thư như vua Trụ hành hạ chánh cung thì mới đáng phạt. Còn đằng này mỗi bà đều có phần riêng. Bà lớn ở xa không săn sóc được chồng, bà nhỏ ở gần bên chồng thay mặt cho bà trong việc nâng khăn sửa trấp cho chồng mình, nếu tôi là đàn bà thì tôi càng cảm ơn bà nhỏ. Tôi hỏi mấy chú ông Ba Đình có vợ chưa, ông Năm Lê có vợ chưa mà mấy ông làm như vậy? Tôi dây, tôi cũng có vợ con, có cháu ngoại cháu nội rồi, nhưng mà thấy cái quần Mỹ A nháng qua nháng lại trước mắt, làm sao chịu nổi? Sách có câu: “Vũ vô kềm tỏa năng lưu khách, sắc bắt ba đào dị nịch nhân” mà! Nếu như mấy ông muốn thi hành kỹ luật chú Hai thì mấy ổng phải tự thi hành mình trước, như vậy mới nghiêm minh!
Cả bàn tiệc ngồi im. Thấy không ai hưởng ứng cậu Tám có vẻ ức nên càng nổ máy lớn:
- Ở cơ quan của tôi, ông Bảy Hốt đã nổi tiếng là Hốt, là vì tàu hàng vừa cặp Bến Dược là ổng hốt hết dầu lửa, nước mắm, muối đường gom vô kho hậu cần, dân không còn để mua. Do đó có tên Bảy Hốt, nhưng hốt hàng hóa không đáng nói, còn cái mục hốt kia nữa chớ! Một mình ổng hốt hai ba ổ. Tiền cơ quan ông chi đều đều nên ổ nào ổng muốn là hốt được. Như cái quán mụ Sáu Tỉnh cũng lọt vô tay ổng luôn … Ở đây ông nào cũng con vòng con cỡi hết ráo. Sáu Huỳnh thì chiếm cái quán con Tư The, Chín Lộc thì xực bánh bò, còn Năm Lê thì có vợ trong kháng chiến, có vợ ngoài Bắc rồi về đây vẫn… đâu phải riêng thằng Hai Giả mà bắt tội nó. Tui không phải bà con gì của nó hết, nhưng thấy việc bất công thì lên tiếng vậy thôi.
Sáu Phấn rót nước cho cậu Tám rồi xá xá:
- Cháu lạy cậu, cậu Tám ơi ! Không phải chuyện gì cũng nói ra được đâu. Cái thằng làm lớn ngồi trên ván gõ người ta ăn giỗ, miệng chửi thề bốp trời thì được cho là bình dân, còn thằng lính lãi mà làm như vậy thì bị coi là lỗ mãng. Thằng lớn có vợ bé thì không sao cả, thằng nhỏ liếm láp chút đỉnh thi bị xét xử như kẻ mất lập trường. Đã là người lớn thì có người lớn bao che, ai làm gì được? Tôi thấy anh Hai chẳng phải tội tình gì cho lắm, nhưng vì ở trên hành hạ ảnh nên ảnh thối chí rồi từ lãng công đi đến bất chấp tổ chức. Nhưng tôi làm sao có ý kiến với người ta? Cậu cũng vậy chớ gì cậu Tám.
Cậu Tám đang nhâm nhi bỗng đưa hai tay lôi toạc hai vạt áo nút áo văng vào cả bàn tiệc, trợn mắt:
- Ê ! mày Sáu Phấn, mày nên biết tên già Cần này cũng kháng chiến hai mùa như ai nghe! Chỉ thua thiên hạ là thua cái tài chỉ huy thôi, cho nên bây giờ còn làm lính chạy đuôi tôm chở gạo, coi vậy chớ hổng có sợ ai nghe mậy. Người ta đâu dám cho tao mò tôm sông Sài gòn. Có miệng là để nói chớ ! Đâu mấy chú em khi nào có gặp Ba Tô Ký hỏi ảnh xem tao vô đảng hồi nào? Đảng có nói lấy phê bình và tự phê bình làm phương châm tiến bộ mà. Ai dám mở miệng phê bình mấy ông kẹ thì bị nhai đầu ngay. Tao không có chán công tác mà tao chán người lãnh đạo. Vậy nên tao về luôn bên này không qua Thanh An nữa. Bảy Hốt năn nỉ tao năm lần bảy lượt, tao nói vết thương cũ hành, không có thuốc nên tao xin tạm nghỉ một thời gian.
Mâm nhậu bỗng nhiên mất hứng. Nhưng cũng may con bé Hoàn khệ nệ bưng rổ đọt mọt ra. Sáu Phấn trỏ tôi và bảo:
-Đưa cho ông đó.
Bé Hoàn nhích lại gần tôi. Con bé mặt như hoa, giống in mẹ nó. Sáu Phấn hỏi:
- Cháu biết ai đó không?
- Dạ biết.
- Ai?
- Dạ cậu Hai!
- Cậu Hai nào?
- Dạ con hổng biết.
Tôi đỡ lấy rổ đọt mọt non mỡn, mướt như thoa mỡ để lên bàn. Sáu Phấn lại bảo:
- Cháu vô hỏi má cháu xem đó là ai?
Tôi ẵm bé để ngồi trên bắp vế tôi và hỏi:
- Cháu ăn bánh chưa?
- Dạ cháu ăn rồi.
- Cháu đi học chưa?
- Dạ chưa. Má cháu bảo chừng nào ra ấp chiến lược mới học được.
- Sao vậy?
- Ở trong này trường nghỉ hết rồi.
- Để cậu dạy cho cháu học.
Sáu Phấn bảo:
- Cháu hỏi cậu Hai có gặp ba cháu ở đâu không?
Bé Hoàn làm thinh một chốc rồi nói:
- Má cháu nói ba cháu đi công tác ở ngoài Phước Long.
Tôi hỏi Sáu Phấn.
- Thiệt hả, anh Sáu?
Sáu Phấn nháy tôi rồi bảo bé Hoàn:
- Cháu vô bảo mẹ cháu chiên bánh mau mau đem ra.
Con bé nhảy xuống đất nhanh nhẹn biến vào bếp. Tôi nhìn theo mái tóc đen huyền với nỗi chua xót trong lòng.
Hai Giả nãy giờ ngồi im, chỉ lâu lâu đưa ly rượu lên miệng nhắm khẽ lấy lệ. Cậu Tám quay sang tôi:
- Chú em không nhớ tôi thiệt sao?
- Dạ, xin lỗi chú Tám cháu chưa nhớ ra!
- Nhớ cái vụ chú mày xách giấy của ông Ba Tô Ký lại kho lấy đường sữa và xà bông thơm chiến lợi phẩm của trận Chơn Thành không? Nhớ kỷ xem ai phát cho chú !
- A! cháu nhớ ra rồi!
Cậu Tám không để cho tôi nói, hỏi tiếp.
- Ba Tô Ký ở đâu bây giờ? Còn ông Tám Nghệ nữa?
- Dạ anh Ba Tô Ký thì về trong này rồi, nhưng trở ra Bắc vì đau .bao tử: Còn anh Tám Nghệ thì làm kinh tài ở trên Cao Miên. Ảnh già rồi, đau yếu xề xệ đâu còn như xưa, chú Tám!
Cậu Tám thở dài rồi quay sang thấy Hai Giả trầm tư thì bảo:
-Đừng có buồn mày Hai. Con người không phải giá trị chỉ có bấy nhiêu. Hồi xưa đánh Tây, tao nổi tiếng là bán trời không mời thiên lôi. Chơi bời sái nát công tác chạy đều thì thôi. Trông đội tao, tao chỉ phục mỗi một mình Hoàng Thọ và anh Bảy Phong Vân thôi. Hai ông này.phá phách phụ nữ kinh khủng nhưng đánh giặc thì kinh hồn. Còn tao chỉ tiếc một điều là trong trận La Ngà có một con đầm sợ mình giết chết, nó tuột váy trước mặt chiến sĩ. Áy cha cha ! ăn mắm kho hoài xót ruột gặp bít-tết lại ngó lơ, uổng biết chừng nào. Nó về bên Tây, chắc nó cho rằng lính mình bị thiến hết ráo.
Hai Giả bật cười và tươi hửng lên:
- Tôi được nghe ông tân trưởng ban nói những lời chân tình hồi sáng, bây giờ lại nghe chú Tám rót thêm, thật tôi hả dạ vô cùng !
Hai Giả cầm nhạo rượu rót đầy hai chung.
- Kính chú Tám một ly – rồi quay qua tôi – Đồng chí nhỏ hơn tôi một con giáp nhưng cũng kính mời một ly tri ngộ .
Nhìn gã đại úy già rưng rưng nước mắt tôi thấy thương và thông cảm anh ta hơn bao giờ hết. Cậu Tám rót rượu tạ lại Hai Giả rồi cả bàn cùng vui vẻ cạn ly.
Tan tiệc tôi ra về. Hơi ngà ngà say, lòng buồn não nề. Không có ai bên cạnh để tâm sự. Thằng Đỏ thì nhỏ quá biết gì cuộc chiến tranh lớp trước. Những cán bộ lứa Hai Giả, Sáu Phấn, Ba Tố… đều kháng chiến hai mùa cả. Đi kháng chiến càng lâu, tâm sự càng nặng nề u uất. Thằng Đỏ mắc võng và bảo tôi:
- Anh ngủ sớm đi, mai còn họp Ban.
Tôi leo lên võng nằm lắc lư ngó sao trên trời nhấp nháy. Bỗng bật lên trong tâm trí tôi một bài hát xưa nhất trong những bài tôi thuộc, bài Nhớ Mẹ của Đức Quỳnh.
Chiều mờ trông xa rơi ngoài chân mây
Lòng ngổn ngang như vơi như đầy
Lòng nhớ những ai bên trời xa xăm thở than
Mẹ ơi ở lại đừng buồn chi vì phải xa con. ..
Xưa lúc đi lòng con đã quyết phân ly
Không hề lưu luyến bao tình thê nhi
Nay bởi đâu lòng con tưởng nhớ tới khi
Bao người nhớ con nên nặng cơn sầu
Rồi đây đến khi thân này xông pha gió sương
Buồn chăng hỡi mẹ nhưng ngày vẻ vang gần về.

Tôi vừa dứt tiếng thì thằng Đỏ nói:
- Anh hát bài gì buồn dữ vậy anh? Tôi muốn khóc nè!
- Tao cũng buồn lắm.
- Phải bây giờ còn sớm tôi với anh ra nhà chị Bảy Mô biểu chỉ đờn nghe cho đỡ buồn.
- Đờn nghe còn buồn hơn nữa mày ơi ! Mà đờn đứt giây hết rồi.
Thằng Đỏ làm thinh. Một lát tôi hỏi:
- Mày có muốn về nhà không, tao cho phép mày về ít ngày.
- Không anh ạ . Lúc này cơ quan đang chấn chỉnh mà về coi sao được.
- Về phép chớ phải bỏ ngũ sao.
- Sợ ông ngoại em bắt ở nhà luôn. . . với sợ đi ngang Láng Cát.
- Láng Cát là cái gì đó mà sợ?
- B52 cày trận D8 đánh ở quốc lộ 1. Ngó thấy rùng rợn lắm anh à. Nó bào láng tè hết không còn một cái cây. Chỗ đó không đi xe đạp được.
Một loạt M79 xa xa. Thằng Đỏ ngồi dậy:
- Nó bắn ở Bến Dược. Chắc mấy ông du kích lại chọc. Ờ kìa, trực thăng soi !
Tôi nghĩ thầm: Tụi này nó chơi mình đủ 35 kiểu rồi còn một kiểu nữa là đủ trăng-xít ma-nhe. Còn mình thì trong tình trạng cố ngồi dậy để đánh trả, nhưng không biết đánh bằng cách nào. Chiều nay có lẽ là buổi chiều rảnh rang nhất trong đời thằng Lê Dương cách mạng của tôi. Không có việc gì làm. Không có ai để nói chuyện. Tôi bèn gạ chuyện thằng Đỏ :
- Mày ở nhà làm gì Đỏ?
- Dạ chăn trâu cho ông ngoại em!
- A! vậy chắc ổng muốn bắt mày về là để chăn trâu cho ổng chớ gì?
- Không phải đâu anh!
- Chứ tại sao?
- Tại vì ngoại em sợ sẩy em mất. Em là cháu nội và cháu ngoại độc nhất của hai bên.
Thằng Đỏ dùng tiếng sẩy một cách bất ngờ. Không hiểu tại sao? Đó là tiếng để dùng cho trẻ hài nhi. sẩy thai, sẩy tay trong tháng. Có lẽ vì cái chết ở đây dễ đàng và nhanh chóng quá chăng. Tôi chạnh nghĩ tới gia đình. Mẹ tôi nuôi tôi đến lớn, tôi đi hoang đàng cách mạng, tới nay chưa sẩy. Nhưng trên đất Củ Chi này lỡm chớm gai chông, tua tủa bom đạn, ngày nào đêm nào cũng có máu chảy. Không một ngày nào vắng tiếng súng … Tôi cố nén tiếng thở dài.
Tôi sực nhớ hồi tôi ở miền Tây sắp đi tập kết thì bà ngoại thằng Phước vô bắt nó về. Thằng Phước là bạn cùng ở trại Đồng Tử quân với tôi. Ba nó là Chi Đội phó chi đội Bình Xuyên thời đầu kháng chiến cùng với Sáu Hoạch lập chiến khu ở Rừng Sát. Trong lúc hỗn canh hỗn cư, ở ngoài Bắc đưa một người vào làm chính trị viên tên là Lê Hiền. Bố nó và Sáu Hoạnh không phục bị bắt giam một lúc rồi thả. Sau này khi Nguyễn Bình bị gọi về Trung ương và bị phục kích chết thì cho đội Bình Xuyên tan rã lớp bị sát nhập vào đơn vị khác, lớp bỏ về nhà, Lê Hiền lấy lại thế bắt hai kẻ cựu thù giết ngay.
Bà ngoại thằng Phước vô bảo: “Người ta ở ngoài Bắc vô trong này giết ba mày, mày còn ra ngoài Bắc làm gì?” Thế là thằng Phước ngoan ngoãn theo bà ngoại nó về nhà khỏi đi tập kết: Tôi hiểu rõ: nếu hồi đó ba má tôi vào bắt tôi về, có phải tôi khỏi cái nạn tập kết không? Cách mạng âu cũng chỉ là một chuyện may rủi chớ không phải là lập trường.
Có lẽ thằng Đỏ cũng nhớ gia đình nên nó hỏi:
- Gia đình anh đông con hôn?
- Đông.
- Anh về có móc gia đình chưa?
- Có móc rồi ! – Tôi nói luôn không đợi nó hỏi tiếp – Ba tao vô có một mình. Má tao và các em tao không vô được.
- Em của anh chắc lớn hết rồi chớ đâu cỡ tôi.
- Ừ lớn hết! – Tôi nói lướt qua chuyện khác vì sợ nó biết vụ thằng em trai Thủy Quân Lục Chiến của tôi – Đỏ à, hôm nào rảnh rỗi, mày dắt tao về nhà mày chơi. Đại khái là nhằm ngày đám giỗ… ăn no cành rồi tao ngủ trên ván gõ. Tao thèm ngủ trên ván gõ buổi trưa quá hà. Hồi năm ngoái tao công tác trên Phú Mỹ Hưng, tao ở nhà bà má Hai, tao ngủ ván gõ đã cái lưng hết sức, nhưng năm nay tao trở lại, cái nhà cháy tiêu rồi.
- Ừ để chừng nào có đám giỗ tôi với anh về . . . À mà gần tới rồi, giỗ hội anh ạ !
- Giỗ hội là giỗ gì?
- Lần đó tiểu đoàn 8 đánh ngoài quốc lộ I có 28 chiến sĩ hi sinh đem về Phú Hòa Đông chôn. Sau đó, B52 rắc bom xuống Láng Cát chết ba mươi mấy người du kích và thường dân. Do đó nhằm ngày này người ta đi ăn khắp làng chỗ nào cũng có giỗ, dân giỗ dân lẫn bộ đội. Vui lắm.
- Cái thằng! Đám giỗ mà vui gì mậy?
- Dạ vui chớ anh ! Nhà nào cũng nhậu mà không vui sao .
- Hồi chín năm cũng có giỗ hội như vậy. Tây ruồng bắt dân gom lại ở ven Rừng Sát rồi dùng FM ria chết hết. Có đến trăm người, gồm cả đàn bà con nít. Bắn xong nó rút rồi cho máy bay tới bỏ bom tan xác hết. Sau đó người ta gom xương thịt còn lại, đâu có biết của ai là của ai, cứ đào một cái hầm rồi bỏ xuống lấp đất lại gọi là Mã Chung. Hàng năm đến ngày thảm sát, người ta đem lễ vật và nhang đèn ra cúng vái. Nhưng chưa hết. Tụi Tây còn gom cả trăm con trâu lại rồi bắn hết. Dân xẻ lấy thịt lấy da, còn lại thì đào một cái hầm lớn vứt xuống, lấp đất lại, kên kên quà quạ. bay đến vần vũ đen cả một góc trời. Đó gọi là Mã Trâu.
- Ở Trảng Lớn có một hầm cơ quan gồm mười mấy người bị tụi Đại Hàn khui hầm. Tụi này ác hơn Mỹ anh ạ . Nó tìm được miệng hầm là tông lựu xuống chớ không có kêu Vi Xi như Mỹ để cho cán bộ giơ tay đầu hàng đâu! Tụi nó khui là kể như banh xác.
Tôi không muốn nghe chuyện buồn thảm nữa nên bảo thằng Đỏ kêu mấy cô cậu đến nhà bếp đánh tu-lơ-khơ chơi.
Đây là trò chơi của lính Ba Tàu. Cán bộ ta đi chỉnh huấn bên đó học được đem về bên này, rồi vào Nam đem theo luôn. Đơn vị, cơ quan nào cũng chơi. Có nơi gầy sòng đánh mê quá biệt kích tới không hay bị bắn chết hết.
Tôi sang chơi ít ván nhưng thấy nhiều cô cậu ngồi ngoài chực chờ nhảy vào, nên nhường cho họ mà về hầm nằm. Tôi tính đến chuyện rút lui cho đơn vị. Bây giờ khu giải phóng không rộng mênh mông như thời kháng chiến chống Pháp. Thời đó đi bộ tối ngày không đụng đồn bót. Riêng ở miền Tây thì có cả ba tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu giáp ranh với nhau tạo thành một căn cứ địa có lẽ còn rộng hơn Diên An ở bên Tàu. Bây giờ thì ngủ thức dậy thấy vùng giải phóng teo nhỏ lại như miếng da lừa. Củ Chi có mười lăm xã nhưng nó như một cơ thể mà mỗi khớp xương là một cái chốt đồn, tất cả gồm ba chục cái, ở trên ngực là tảng đá Đồng Dù và giữa rốn đóng lút cây cọc sắt Trung Hòa. Bộ đội nhân dân lao nhao lúc nhúc ở những vùng giải phóng hầu như bán khai, đi tới chuyện lui đụng đầu nhau lụp cụp. Đường vừa rộng thênh thang vừa ngột ngạt là địa đạo. Dù không ham chui, cuối cùng rồi cũng phải chui. Do đó tôi đã đi tìm ông xã đội Ba Xây để tìm cách làm cho địa mình thôn liền xã, xã liền thôn. Ba Xây là chủ nhà cho ông Năm Lê đóng cái hầm Đờ-cát-tri mà hôm nay tôi đến thường xuyên. Một hôm tôi gặp ông xã đội đi câu ở Rạch Sơn về. Tôi bèn gọi lại mua tôm cá của ông ta rồi tự giới thiệu luôn. Xong mới đề nghị phối hợp công tác độn thổ nghĩa là thông một trong mấy cái hầm cá trê của H6 ra địa đạo xã, cũng như rạch nhỏ chảy ra sông lớn, để tìm đường sinh lộ . Đến giờ này tôi cũng vẫn còn hơi tin rằng Địa đạo có bề dài… dài lắm và xuống dưới đó nằm vỗ bụng chơi, Mỹ có biết cũng không làm gì được. Có thể cho bộ đội dưỡng sức dưới tầng thứ ba vài tuần lễ…
Ông xã đội nói:
- Tôi còn được một khúc để tôi nói đồng chí nghe. Thấy đồng chí làm việc với ông Năm thường xuyên thì tôi biết đồng chí là người có trách nhiệm cao. Tôi không giấu giếm gì. Cái khúc còn lại đó tôi đã cho ông Năm thông nòng rồi, hễ bị kẹt thì từ hầm ông có thể bò ra đường chính. Nhưng nó ngắn lắm. Nằm đó chờ tình hình êm rồi bò ra chớ không đi xa, cũng không nằm lâu được.
Tôi gạn hỏi:
- Vậy không sang Phước Thành Phước Hiệp được à?
- Đồng chí nói gì?
- Tôi muốn nói là địa đạo xã nhà không ăn thông sang các xã bên cạnh được à?
- Ăn đâu mà ăn. Quân ngũ nào mà đào cho nổi bốn, năm cây số địa đạo. Hồi sau Đồng Khởi thì có đào, nhưng cũng đâu có được cây số nào? Hai xã An Nhơn và Nhuận Đức này đất cao và cứng nhất, muốn có nước uống phải đào mười một thước trở lên, nhưng đất pha đá ong, cuốc bổ nháng lửa chớ đâu có phải như đất mặt ruộng hay sao? Ai có đào một cái hầm bí mật thì mới biết địa đạo đào khó khăn dường nào. Đào một tấc hộc một búng máu chớ đâu có như ăn giỗ mà người ta bảo là địa đạo thôn liền thôn.:.. ờ ờ thôn liền thiệt đấy. Lâu lâu tôi cũng có nghe đài Giải phóng nói dữ quá tôi thấy hơi kỳ kỳ. Nhằm bữa hội nghị, tôi mở to ra cho ai nấy nghe chơi thì nhảy đè trúng y cái buổi phát thanh về dũng sĩ và địa đạo. Lại rủi hơn nữa có mặt tụi con Bảy Mô, Bảy Nê, Út Nhỡ, Ba Cấm ở đó . Có luôn Tư Gừng, Năm Cội anh hùng đánh xe tăng nữa. Tụi nó vừa nghe vừa bụm mặt, con Mô nó chạy ra ngoài. Nói thì nói vừa phải thôi, nói lố quá nghe hơi chổi lỗ tai. Mà không phải chỉ tụi dũng sĩ nghe thôi đâu. Còn đồng bào nữa chớ. Ở chỗ khác nghe tưởng thiệt, còn ở đây người ta cười chết! Như vụ con Bảy Mô được kêu là dũng sĩ toàn miền Nam. Thiệt ra tui biết nó có bắn sẻ đâu chừng vài chục phát CKC chớ đâu có chết thằng Mỹ nào. Giỏi lắm là bị thương một thằng Mỹ thôi. Nhưng nghe đài người ta tưởng đánh Mỹ dễ như ăn gỏi.
-Đó là lối tuyên truyền cách mạng đồng chí à! Cũng như ngoài Bắc đâu có bắn rớt hơn hai ngàn máy bay Mỹ, nhưng đài phải la lên trong các buổi phát thanh. Như vậy địch nó nghe nó mới sợ, mình nghe mình khoái.
- Địch nghe nó không sợ mà nó lại moi móc càng hung. Còn mình nghe minh không khoái mà lại mắc cỡ thấy bà. Tiên triền như vậy tụi con Bảy Mô nó hết dám nghe đài Giải phóng nữa. Còn bà con nghe rồi thì gặp tụi nó, bà con bảo: “Tụi bây giết Mỹ kiểu đó hổng có mấy tháng mà hết sạch tụi Đồng Dù.” Bác Tám Càn gặp tui, bác ghẹo: “Nghe tụi nó diệt Mỹ mà ham, tao cũng muốn môn dũng sĩ cái quá ngặt răng cỏ không còn.”
Tôi nói:
- Vừa rồi tôi có đào hầm với đội Út Nhỡ, tôi thấy phấn khởi lắm!
- Tụi nó đào ở đâu, tui biết mà. Tụi nó bị xe tăng càn tróc cho nên chạy lủi về bám ở vườn trúc ông Tư Ất chớ đâu, nhưng đào gặp xương Cao Đài rồi bỏ dỡ, hiện giờ chúng nó tính ra Đồng Mã. Nhưng ở Đồng Mã còn nhiều xương hơn nữa. Đã gọi Đồng Mã mà không hiểu đó là chỗ gì hay sao lại đi đào hầm đào hố. Mấy đứa con nít không biết gì hết. Tụi đó ham vui làm lếu vậy chớ có đào được khúc địa nào. Tụi nó còn xin chui của tôi nữa là khác. Để rồi coi, tụi nó lêu bêu, nếu có xe tăng càn, không có hang mà chui nữa là địa. Tụi nó nhảy cóc nhảy nhái vậy thôi. Tình hình mới hơi găng một chút xíu là đã có đứa lặn mất rồi. Găng chút nữa thì ông nội ai bới không ra một đứa cho mà coi.
- Bây giờ không xài địa nữa à đồng chí?
- Xài thì cũng ráng xài trong trường hợp kẹt lắm chớ còn bình thường thì thiệt ngán. Sau vụ B52 càn đường 15 và Láng Cát thì tụi tui dựng tóc gáy hết trọi trơn. Bom dùi cạn nhất cũng sáu thước, còn sâu thì mười thước, hỏi đồng chí hầm, địa nào chịu nổi? Trúng tệnh thì đã đành rồi, còn không trúng thì cũng bật nắp hoặc đội mồ lên mà chạy chớ ở đó kênh mình à ? – Ba Xây lắc đầu – Tụi B52 này hổng biết ở đâu tới vậy đồng chí?
- Ở bên đảo Gưam, Thái Lan.
- Bộ nó có mắt sao rắc ngay trân vậy? Nó rắc ngay kẽ giữa Đồng Dù và Trung Hòa, Trung Hòa và Cầu Xe, chỉ cách đồn một cây số.
- Nó có máy tính đồng chí à !
Ba Xây ngồi ngớ ra. Tôi thấy tội nghiệp người nông dân này hết sức. Anh đâu có biết Guam, Thái Lan là đâu, B52 là loại máy bay gì bay cao và nhanh cỡ nào. Cứ nghe ở trên bảo chống Mỹ là chống Mỹ . Đem cả súng ngựa trời hầm chông, chông ba lá ra chống xe tăng. Đem tóc đàn bà con gái ra giăng lưới cản nòng đại bác. Trong lúc đó bọn đĩ đực Hà Nội có cái tên rất huê mỹ Bộ Chính Trị thì chạy lăng xăng quanh mâm hút và tiệc đầu lâu. Vì dân Nam kỳ quá tin tưởng nơi bác Hồ nên bác xúi gì họ cắm đầu làm nấy, nói gì nghe nấy. Bảo đi tập kết hai năm thống nhất trở về . Đi ! Bảo lên rừng núi xây dựng nông trường xã nghĩa. Đi! Bảo quăng cuốc lội hai ngàn cây số Trường Sơn với hộp muối trong lưng. Đi ! Bảo đội bạt bom dành chiến thắng. Đội ! Bảo liều mạng đánh thành phố vào Tết Mậu Thân. Làm! Bảo cúi đầu làm nô lệ cho dân Bắc kỳ ! Ờ cúi thì cúi nhưng cúi hai, ba chục năm mỏi cổ quá, bây giờ ngẩng dậy đập thấy mẹ tụi mày.
Nhà Ba Xây đã cháy, cái nền cho Năm Lê làm hầm, vợ con đi ra ấp chiến lược còn mình thì bám trụ ở lại đi câu tôm câu cá kiếm ăn và làm xã đội chỉ huy ba đứa du kích phá phách hơn quỉ. Tôi hỏi vớt vát một câu cho mát ruột bồ nhà:
- Vậy tôi nghe nói hồi kháng chiến chống Pháp, địa đạo rộng có thể đưa dân làng và cả trâu bò xuống được, sao mình không sửa lại xài hoặc đào theo lối đó?
Ba Xây trợn mắt:
- Hồi đó ông già tôi là chủ tịch xã chớ ai. Ỏng kêu hàng xóm ráp đào dược mấy khúc. Tôi còn con nít nhưng cũng có xuống chơi một lần. Xuống dưới đó tôi ngộp, tôi khóc ré lên, ổng đẩy tôi lên liền.
-Còn người lớn không khóc à?
- Tôi hổng thấy người lớn nào xuống hết. Còn trâu bò thì làm sao mà xuống địa đạo? Nếu muốn đưa trâu bò xuống thì miệng địa đạo phải bằng nửa chiếc đệm hay sao? Cái phép làm miệng địa đạo là phải mở cho khéo và càng nhỏ càng tốt để ít bị phát hiện, làm to như vậy thằng đui cũng mò ra, vậy thì chui xuống là bị nó nắm đầu kéo lên hèn. Đây kìa, mấy đứa du kích đó , nam thì xuống tuốt nhưng nữ thì vú mớm vung nhẩy như vậy xuống bị kẹt ngang nhưng ráng chịu chớ đâu có ai làm nắp rộng đặc biệt cho tụi nó?
- Theo đồng chí trong quận mình xã nào dễ đào hầm và địa đạo nhất?
- Chỉ có vài xã như Phú Mỹ Hưng, An Phú, Phú Hòa, An Nhơn và Nhuận Đức thôi. Còn mấy xã kia đất thấp chỉ đào hầm chớ không chơi địa được. Nhưng ở đây, dầu có đào xong rồi cũng phải coi chừng coi đổi thường xuyên, nếu cứ bỏ hoang, đụng chuyện bất thình lính mà lao xuống có khi lại bị rắn cắn hoặc địa lở , sụp, bít hết, mình chui xuống là ngộp ngay.
Tôi hỏi:
- Rắn ở đâu mà có?
- Nó chui theo lỗ hơi đồng chí ơi. Có người bị rắn cắn chết luôn ở dưới, không tìm được. Mãi mấy tháng sau, người ta lại gần hầm, nghe thum thủm bèn giở nắp ra, mới biết. Giặc chưa đánh đã chết !
- Rồi làm sao?
- Thì cứ để vậy đắp nấm mả bên trên chớ quân ngũ nào mà đào móc lên cho nổi!
Tôi bèn ngồi xít lại, bẻ que cây vẽ sơ đồ dự kiến địa của H6 cho Ba Xây coi và hỏi:
- Cho tôi trổ ngách ra địa chính của đồng chí được không?
- Hồi trước thì tôi có mấy trăm thước địa công cộng ở rải rác khắp xã. Bây giờ đã sụp hết, chỉ còn mấy chục thước cá nhân thôi, tôi hiến cho ông Năm Lê rồi, có bề gì thì tôi chạy cà còng như thỏ rừng vậy.
Sau lần thương lượng với Ba Xây, tôi không tha thiết tới vụ địa nữa. Tôi biết y nói thiệt về tình trạng địa chung, còn địa cá nhân thì mở ngách ra làm gì. Đó chẳng khác nào vào nồi gọ chuột, gom lại đó để cho người ta dễ tóm. Ba Xây nói xong tôi mua tôm cá. Anh ra về.
Tôi ra đứng ngoài sân hóng gió cho mát một chút để sửa soạn xuống hầm mơ tiên. Giờ này là giờ cao điểm mà nghêu ngao trên mặt đất thì không có lợi. Không Đồng Dù thì Trung Hòa, không thì Bến Cát Lai Khê cũng giã gạo. Có khi nó giã chày đôi chày ba nhảy xuống hầm không kịp. Ba lần nhậu ở nhà Lụa Là, ở nhà bà ngoại và nhà Sáu Phấn đều bị giã hết cả .
Tôi vừa định độn thổ thì… Pháo sáng nổ lóe trên nền trời Bến Cát. Tôi quay lại, màn đen ở phía rừng Lộc Hưng lại vỡ ra, đó là bót Cầu Ván trên đường số 6 gần bót Cầu Xe, rồi pháo bông lại nổ dây chuyền liên tiếp ở Trung Hòa, Suối Cụt, Củ Chi và một dãy dài trên quốc lộ I, hình như có báo động. Cuối cùng là pháo Đồng Dù lên tiếng gầm về phía Hố Bò. Tôi thoáng nghĩ: không biết đám con chị Tám Khỏe và con Rớt có xuống hầm kịp không thì có bóng người chạy vụt tới nhủi vào mình tôi.
- Anh Hai !
- Ai vậy? Mười hả ? Em đi đâu mà bồng con nhỏ thế này.
- Xuống hầm mau để nó nện tới.
Người đàn bà vừa thở hổn hển vừa nói:
- Con Hoàn… nó đòi ra anh!
- Giờ cao điểm nguy hiểm lắm, sao đi vậy? Ơ kìa pháo sáng chỗ nào vậy Mười?
Mười đưa con cho tôi bế rồi nói: .
- Đó là Đức Hòa của Sư Đoàn 25 Sài gòn. Tụi đó hay thọc vô nhà em lắm.
Tôi bế bé đi xuống. Mười theo sau. Tôi bảo Mười ngồi trên thùng gỗ thông, để bé lên võng và ngồi xuống tấm ni-lông trải trên đống rơm thằng Đỏ mới quơ về. Căn hầm sơ sài còn nồng mùi đất mới, vách hầm lam nham, nhưng không khí bỗng nhiên ấm cúng lạ lùng: như một cặp vợ chồng với một đứa con bên ngọn đèn mờ.
Đôi mắt bé Hoàn đen lay láy hướng về tôi. Tôi chỉ làm quen với bé trong lúc ăn cơm ở nhà Sáu Phấn. Mười bảo nó tôi là ba nó, đi Phước Long mới về.
Mả Đà Sơn Cước, anh hùng tận
Phước Long ra đó, mấy ai về!

Lão Hồ tặc ác thật. Lão là tội phạm lớn nhất lịch sử. Lão giết không biết bao nhiêu người Việt Nam trong Cải cách ruộng đất, ở Trường Sơn, ở Mậu Thân, lão gây ra không biết bao nhiêu cành sanh ly tử biệt. Dân Việt Nam ngày nay tan nát nhếch nhác do chính cái tên thằng cha già hại dân tộc này. Mười là em vợ Sáu Phấn. Chồng Mười là trung đội trưởng, về Nam năm 60. Cưới Mười ngay khi về quê ở Tân Phú Trung gần quốc lộ I và Cầu Bông. Nhà chồng có máy xay lúa. Nhưng gia đình đông con nên Mười không làm dâu mà về ở bên quê mình.
Bé Hoàn còn nằm trong bụng mẹ thì cha đã trở ra chiến trường miền Trung. Bé lớn lên hỏi ba đâu. Mười bảo ba đi bộ đội. Bé hỏi bộ đội là cái gì? Mười không trả lời được.
Hồi chiều khi tôi tới nhà Sáu Phấn ăn bánh xèo, chỉ thấy Mười thấp thoáng mà đã mơ. Bé Hoàn hỏi ai vậy. Mười buột miệng bảo: “Ba con đó!” Một sự nói dối tàn nhẫn nhưng không đáng trách. Thế là bé Hoàn đeo tôi, gọi tôi bằng ba ngọt. Tôi cũng gọi nó là con với tất cả tình cảm của một thằng đàn ông ngoài ba mươi chưa có vợ. Hoàn đòi học. Tôi vẽ mấy chữ cho Hoàn đánh vần. Chữ gì thì chữ, không phải chữ Staline. Tôi lấy giấy bút và tập và có hình bìa ba cô gái Nam Trung Bắc của họa sĩ Lê Trung, dở trang đầu sỗ vài sỗ đứng rồi đưa cho Hoàn bảo làm theo. Mười vuốt đầu con:
- Viết đi con rồi ba khen giỏi.
Tội nghiệp cho cả ba người . Người mẹ nói gạt con. Thằng lính Lê Dương bất ngờ được nhận làm cha. Đứa bé gọi người lạ bằng cha. Cả ba đều tự nguyện. Thật là oái oăm.
Tôi càng thấm thía bài hát của nhạc sĩ Đức Quỳnh:
Xưa lúc đi lòng con đã quyết phân ly
Nay bởi đâu lòng con tưởng nhớ tới khi. . .

Đúng vậy. Khi còn trẻ thích đi cho xa nhà . Ngủ nhà người ta, ngủ ngoài bờ ngoài bụi cho có vẻ tráng sĩ. Nay mệt mỏi chán chường mới ân hận: Sao mình đi làm gì vào cái ngữ này.
Tôi thương con nít không chỉ là tính trời phú mà còn vì thèm kêu một tiếng con đúng nghĩa. Bé Rớt, bé Hà, bé Nga, đứa nào tôi cũng dạy được ít chữ rồi đi. Tôi đi đứa nào cũng ôm chân tôi mà khóc: “Cậu Hai chừng nào trở lại?” Tôi hứa sẽ trở lại nhưng chắc không bao giờ. Nếu tôi ở nhà thì Duyên đâu có đau khổ. Và chúng tôi đã có ít nhất hai, ba mặt con. Đứa lớn nhất đã mười tuổi. Nhưng vì đi lêu bêu theo ba cái cách mạng rỡm, chẳng đến đâu mà bây giờ không ngờ như cây trụi lá không hoa quả. Càng nghĩ càng thương má tôi vô cùng. Già rồi mà chưa có cháu nội đích tôn. Trẻ con khóc trẻ con cười, trẻ con học trẻ con chơi, bé gái bé trai, tất cả đối với tôi đều kỳ diệu. Tôi hỏi Mười:
- Sao đặt tên Hoàn?
- Ba nó đi hồi em có bầu ba tháng dặn đặt là Hoàn có nghĩa là ảnh hoàn hương, ảnh sẽ trở về.
-Rồi đứa tới là gì?
Mười ngồi làm thinh, mắt chớp chớp. Tôi thầm nghĩ: thằng này chọn vợ khéo thiệt. Đẹp như bức tranh. Ra đường ai nghĩ là đàn bà có con ! Bỗng nhiên nước mắt nàng chảy ròng ròng. Nàng đưa bàn tay lên quệt ngang, rồi cười ngượng:
- Đứa tới thì anh đặt.
- Bậy nào! – Tôi suýt nhảy dựng lên – Không thấy ông Hai Giả bị kẹt đó sao?
- Ổng có vợ, còn anh, em nghe anh Sáu nói …
- Nhưng chồng con em như vậy. Anh không muốn động tới hạnh phúc của đồng chí anh?
Mười không nói gì, đưa mấy ngón tay nhỏ xíu run run moi móc trong túi hồi lâu mà không lấy được vật gì ra. Bên ngoài pháo bông lẫn pháo tre Đồng Dù bắn như mừng đám cưới.
Mười đã móc được mẫu giấy cầm nơi tay. Môi nàng cắn lại nước mắt tuôn tràn. Lần này nàng không quệt nữa. Mười đưa cho tôi mẫu giấy.
- Anh xem bằng khen của em nè!
- Khen gì? Bộ em đã từng đi bộ đội. Dũng sĩ hả?
Mười cười như mếu, hít hít. Cặp môi xinh đẹp húp nước mắt.
- Anh đọc rồi biết.
Tôi dần dần mở tờ giấy ra. Nó chỉ bằng bàn tay. Chữ đánh máy, những chấm chấm đen dài dằng dặc, mấy chữ bằng mực nguyên tử. Tôi biết ngay. Không cần đọc. Đó là những chữ mang đến nỗi bất hạnh nhất cho một người đàn bà, cho một gia đình. Nó được sản xuất hàng loạt dưới thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nhưng gia đình những tên Lê Dương trên Trường Sơn không nhận được cả tờ giấy tệ hại này: Giấy báo tử. Tôi bàng hoàng cả người. Một người đàn bà xinh đẹp trẻ măng như thế lại mất chồng. Một đứa bé mất cha từ khi còn trong bụng mẹ. Tôi không còn biết nói gì. Nói gì?
Hình như Mười đã qua cơn khủng hoảng tinh thần. Nàng bình tỉnh trở lại:
- Em không cho ai biết, nhưng người ta vẫn biết. Em không lập bàn thờ, không đốt nhang, sợ con hỏi. Ảnh ra đi có ba tháng thì chết. Đâu ở Phước Long. Mấy ông xã ủy cũng tới lui nói dèm. Em không dám phản đối. Chỉ mặc đồ rách rưới, để mặt mày tèm lem, tóc tai bù xù. Khổ lắm anh ạ.
Tôi thấy một thứ tai nạn lại sắp xảy đến cho tôi. Làm sao tránh. Mà có nên tránh không?
- Em buồn lắm, nhưng không muốn về bên chồng vì sợ ba má ảnh bắt con Hoàn. Mất nó rồi, em sống với ai? – Mười nói liên miên như trong cơn mê – ảnh cũng đẹp người như anh vậy, nhưng chắc không có tài bằng anh. Anh!
Mười đứng dậy đến gần bên tôi, ngồi ngã đầu vào vai tôi. Bé Hoàn đã mệt mỏi gục đầu trên trang giấy viết dở. Tôi đỡ nó lên võng, rồi loay hoay không biết ngồi đứng ở đâu cho tiện.
Mười với tay lôi tôi ngồi lại chỗ cũ, thầm thì:
- Anh ! Anh đừng khinh em tội nghiệp nghe ! Em không phải như tụi dũng sĩ cười cợt giởn hớt và lang bang rồi đi phá thai đâu. Nếu em muốn, em chỉ cần ngoắc một cái, thiếu gì người chạy tới. Nhưng em không thương ai hết. Không hiểu tại sao em thương anh ngay. Có lẽ tại anh giống ba con Hoàn .
Nàng ôm và hôn tôi như mưa và thầm thì:
- Anh! Anh cho em xin một đứa con để con Hoàn có bề gì thì em khỏi trơ trọi. .
Ôi chiến tranh ! Ôi Tây Lương Nữ Quốc ! Biết chừng nào tôi mới thoát ra khỏi cái Củ Chi Quốc đầy góa phụ và con gái sợ chết, chỉ mong có con trước khi chết này?
Tôi đã cho nàng tất cả những gì nàng mong muốn. Với nàng tôi được biết cả tình yêu xác thịt lẫn tâm hồn: Tình vợ chồng.




Chương 52
Cái chết lãng xẹt của một đại úy pháo binh.


Tôi đi xe đạp lên ông Năm Lê để trình bày kế hoạch tác chiến. Lòng luôn luôn bị vương vấn bởi những cuộc tình bất ngờ. Vừa dứt đường tơ với Ua-Chia thì gặp Mô . Vừa tạm rời Mô thì lại rơi vào tay Mười. Mười có cái đẹp hồn nhiên, khỏe mạnh. Nàng không cần làm duyên mà cũng đã duyên dáng. Đứng trước nàng tôi luôn luôn lúng túng, còn khi vắng nàng thì tôi cứ bâng khuâng. Yêu thì đã yêu rồi, nhưng sẽ tiến tới hay chỉ làm con bướm mà thôi?
Lấy cớ là bé Hoàn đòi ra với ba, nàng đến cơ quan hầu như hằng ngày. Và tội nghiệp thay, con bé tin rằng tôi là ba của nó. Ác thật. Nhân viên cán bộ trong cơ quan cũng rất thương hai mẹ con nên để cho nàng ra vào tự do. Riêng Sáu Phấn thì cứ nói lơ lửng nhưng kỳ thật là y đốc vô để đứa chèo lái đứa chèo mũi cho vui.
Con đường dẫn đến hầm Đờ-Cát-Tri phải đi ngang cái xe nước mía . Cô xẩm bán nước đá bào năm ngoái đã cho Tư Linh mượn cuốn Buồn Nôn đã đi Trảng Bàng. Chợ An Nhơn không còn phố xá . Xe nước mía phải lui vào núp ở mé vườn. Chiếc xe còn đó nhưng người khác quay. Vẫn còn nước đá mua ngoài Trung Hòa đem về được. Hãy tưởng tượng giữa cảnh hoang tàn mà có một ly nước mía, có bỏ đá, và nguyên chất hơn ở Hà Nội ! Tôi gặp Bảy Mô lần đầu tiên ở chợ An Nhơn và lần vừa rồi ở đây. Hôm nay tôi lại qua đây nhưng lại không thấy bóng hồng thấp thoáng. Lòng man mác buồn. Ngã bịaCây Điệp càng nóng bức với những lỗ bom mới. Đó là mục tiêu của pháo và bom. Có lẽ bữa nay thời tiết được dự đoán không tốt lắm cho nên xe nước mía không xuất hiện. Do đó đường xá cũng vắng teo. Tôi thấy khát nên ngó quanh ai nhà vào xin nước. Ở trong vườn cây sầm uất thấy hiện ra một
mái ngói. Chắc còn người ở nên tạt vào thì thấy một ông bà đang ngồi trên ván giữa, chấm mút sầu riêng. Nhà không còn vách, bốn bên trống lổng trống lơ. Người đàn ông nghe tiếng chuông xe đạp tôi vừa bóp quay lại.
- Ê mày thằng quỉ!
- Anh Chín làm gì đây?
Tôi và Chín Lộc kêu lên cùng một lúc như tao ngộ chiến.
- Tình. cá nước hì hì, đập cẳng nhào lên làm vài miếng.
Tôi dựng xe đạp ở thềm đá ong rêu xanh lốm đốm, giống như ở nhà Bảy Mô, rồi đi vào ngồi lên ván. Bộ ván gõ thủng mấy lỗ đạn.. Tôi ngó lên nóc nhà: một vạt ngói bay trơ mấy thanh rui gãy.
- Vô ông Thần hả ! – Chín Lộc vừa nuốt vừa hỏi rồi giới thiệu luôn – Đây là bà chủ nhà tên là chị Hai Xót. Mày cần mấy cô dũng sĩ, cứ níu áo bà khu ủy có hết. Còn đây là trưởng ban H6 trai lơ cắt chỉ trăm phần trăm – Chín Lộc xổ luôn ra-phan – Mẹ , thằng Đồng Dù lấn đất ra quá ! Nổ ủi hết Cây Sộp, dám lấn qua bên này suối bà Cả Bảy lắm.
- Rồi mình làm sao?
Chín Lộc nhướng mắt sang bà khu ủy.
- Hỏi bà này ! Đạo quân tóc dài của bả may ra chận được xe tăng chớ tụi mình là đạo quân quần ngắn làm chi được. Bà mần lẹ lẹ đi để nó bắt hết phụ nữ rải phóng ra đó làm công cho nó rồi nó đem về Mỹ luôn đó. Bà có kiểm điểm xem đã mất bao nhiêu rồi chưa? Coi chừng tới phiên bà !
Bà khu ủy trừng mắt:
- Cái ông này vô duyên quá !
- Chớ không à ! Củ Chi này cung cấp nhân vật lực cho Mỹ xây dựng cái Đồng Dù chớ ai? Tội của bà lớn lắm! Còn bà Năm Đang nữa. Tối ngày vừa ngồi thum vừa gác máy bay.
- Máy bay đâu mà gác? ở đây toàn xe bò với đuôi tôm, ai gác làm gì ba cái ngữ đó !
Chín Lộc cười rồi đưa cái hột sầu riêng lên vừa cạp vừa liếm:
- Buổi sáng mà bả đãi sầu riêng ăn xót ruột quá ! Còn gà giò gà mái gì không chị Hai?
- Còn, nhưng sang năm mới có !
- Sang năm thì Đồng Dù nó càn nhẹp hết cái Củ Chi này rồi, tụi tôi nhảy qua bên kia sông chị ở đây mà đấu tranh chánh trị với tụi nó.
Chín Lộc nghiêng đầu sang tôi, chớp chớp cặp mắt bù lạch ăn.
- Bả chê tao là xe bò, đuôi tôm của Bảy Hốt Hậu Cần mày biết hôn? Bả gác cả B52 Ba Đình, B26 Hai Phụng, B24 Năm Lê còn đuôi tôm Chín Lộc thì bả không thèm ngó. Nè, chị Hai, còn thằng thanh niên này chị cho nó là đuôi tôm hay xe bò ? Nó chưa . . .
Chị Hai Xót giơ cái vỏ sầu riêng lên vá vá:
- Mấy ông tối ngày cứ đi quanh hè bà Tư The với bà Tư Bánh Bò đâu có thấy ai.
Chín Lộc cười ré lên:
- Thấy chớ sao không chị Hai. Thấy cả chị lẫn chị Năm Đang. Thấy ưu điểm lẫn khuyết điểm của hai chị hết trơn hết trọi !
- Nói xầy hoài nên già khú không ai ưng! Xuống lỗ thành con ma chết thèm.
- Vậy chị còn gà vịt gì không, lâm đãi anh em tôi một bữa coi nào ! Vậy là chết không có thèm nữa.
Nói chuyện cù nhầy một lúc, Chín Lộc sang qua công tác :
- Ông Thần kêu mày vô phải không?
-Dạ.
- Không biết có chuyện gì mà ông sầm sầm cái mặt! Vừa gặp tao ông la hét om sòm. Hí hí ? Bộ mấy đứa con nuôi không chịu đấm lưng cho ổng chắc. Mày phải chuẩn bị kế hoạch cho tỉ mỉ, ông hỏi đâu phải nói đó cho xuôi ron rót, nếu ngắc ngứ là ông nện cho chạy không kịp.
- Tôi mới về có một tháng mà anh Chín.
- Ừ, ổng có khen mày giỏi, nhưng ổng muốn nhanh nhiều hơn nữa.
- Vậy tôi phải mọc thêm hai cái đầu bốn cánh tay nữa mới được.
- Thôi mày ơi, mọc thêm đầu thì kiểm thảo thêm tốn giấy chớ làm gì.
Hai Xót lại cự nự.
- Ông thì lúc nào cũng nói bá xàm!
Chín Lộc lôi tôi ra ngoài:
- Vụ thằng em mày ăn chắc rồi. Tao cho bắt mối xuya lắm. Hễ ngoéo vô được là mình làm một cú binh biến kiểu Bình Dương. Mày sẽ trở thành anh hùng lần thứ hai. Còn tao thì cứ tiếp tục bị chị Hai bày chẻ chê là xe bò lụp cụp. Kệ nó, miễn có thầu giêng gặm thì thôi!
Hai Xót đứng trên thềm nghe được dẫu mồm ra:
- Bộ lén vạch khuyết điểm của tôi đó hả ông?
- Tụi tôi bàn việc ủng hộ công tác đấu tranh chánh trị của bà chớ đâu có vạch cá i gì . . . khuyết của bà .
Chị Hai Xót có chồng cán bộ thời chín năm. Sau Hòa Bình bị chính quyền bắt Tố Cộng. ông ta bị ghép vào luật 10/59, đưa ra Côn Đảo tới nay mười năm không có tin tức. Chị ở nhà tham gia giải phóng và được đưa lên tới chức Khu ủy viên, cùng một ca-líp với Út Tức. Đứng về mặt Đảng thì trên cả Chín Lộc lẫn Năm Lê.
Hội ý xong, tôi và Chín Lộc trở vào nhà. Chị Hai hỏi tôi:
- Anh đi ấp Bến Mương trong hay đi Bến Mương ngoài?
- Dạ , em đi hướng đó .
- Trả dạ, trả em cho anh đó. Xưng hô vậy tội chết!
Chín Lộc cười khé khé:
- 1 Chị Hai mới có bốn mươi mấy thôi mày nhỏ, nhưng chỉ chê tao ngoài năm mươi, chỉ muốn làm em bé thôi. Hé hé ! cũng được, mày cứ kêu chỉ bằng em như em Bảy Mô, em Ba Cấm, em Bảy Nê vậy !
Rồi trở lại chuyện Bến Mương.
- Nó không thích Bến Mương trong hay Bến Mương ngoài, mà nó chỉ thích Gò Nổi.
- Gò Nổi gần Trung Hòa, ra đó có mà ăn biệt kích hả.
- Bà nội đó là Gò Nổi trên. Còn đây là nó đi Gò Nổi dưới . Hô hô . . . hô !
Chín Lộc vừa bụm miệng cười như cà nông nghẹt họng.
- Gò Nổi dưới thì ở xa Gò Nổi chên nhưng hai cái gò này có niên quan với nhâu ghê gớm. Hễ biệt kích rà vô Gò Nổi trên thì rừng Gò Nổi dưới phải chuyển động mà hễ đụng Gò Nổi dưới thì Gò Nổi trên cũng rung rinh vì giữa hai gò này có địa đạo.
Bà Khu ủy viên vốn tối dạ như những đồng chí của bà, đứng ngớ ra không hiểu cái ông mắt toét này nói theo kiểu ẩn ý. Một lát mới chạy tới đập Chín Lộc lia lịa:
- Cái ông già không nên nết.
Rồi chị quay qua tôi:
- Anh Hai đi Bến Mương cho em quá giang chút được không?
- Được niền hả anh đội? Ngồi lên anh đội nai cho đi. Anh đội còn khỏe lắm. Ba ván niền không bỏ ván nào.
- Ván gì? Ván gõ hay ván dầu?
- Ván tu lơ khơ ấy mà !
Tôi biết đây là đồng chí cốt cán của Chín Lộc nên ngần ngại không muốn liên hệ, nhưng Chín Lộc xuề xòa:
- Ở đời muôn sự của chung mày Thiên Lôi ơi ! Mày đèo bả đi một bước đàng mày sẽ học được một sàng khôn cho mày coi.
Thế là tôi đèo bà Khu ủy viên đi như bay. Để bà chị khỏi ngại ngùng tôi bảo cứ ôm eo ếch tôi cho khỏi ngã. Được đàn bà mó tới da thịt, đàn ông nào lại không run. Chị Hai Khu ủy mặc áo ni-lông màu hường, tê-tô-rông móng khé, thấy cả quai và hai cái núm xú-chen. Quần Mỹ A láng mướt, tay xách giỏ (chắc có K54 ở dưới đáy, nhưng không có trầu như bà trên kia), tay xỏ quai nón lá buông trắng như nón bài thơ, chị phải dồn hai vật này qua một tay để một tay móc ruột móc gan ông thầy pháo. Chị Hai hỏi ngay:
-Anh Hai vào trong này chắc bỏ chị hĩm ngoài Bắc hả?
Chị dùng ngôn ngữ miền Bắc do mấy ông mùa thu mang về.
- Tôi đâu có chị hĩm chị cò gì!
- Ở ngoải cả chục năm mà không bị rau muống quấn chưn sao?
- Ở lại một năm nữa chắc không tránh khỏi, chị Hai à. .
- Anh Hai đừng kêu vậy tội chết! Kêu bằng em đi! Chịu hôn?
- Dạ. .
- Nữa ! Dạ thưa hoài. Mất thân mật hết.
Chị càng siết chặt bụng tôi và hỏi tiếp. .
- Về trong này móc gia đình chưa?
- Chưa chị, ủa, chưa em à !
Tôi nghe cặp môi tôi như bị đóng băng cứng ngắt hoặc vừa áp vào một vành cốc quá nóng, không biết lẽ nào.
- Sao trễ vậy?
- Tôi cái gì cũng trễ hết.
- Chưa trễ đâu. Có nhắm nơi nào chưa, để em giúp đỡ?
Nghe tiếng em thốt ra từ miệng bà gái già, tôi cóng chưn, đạp sượng ngắt.
-Công tác mê mê bù đầu bù óc, tình hình càng lúc càng căng thẳng, còn thì giờ đâu mà tính chuyện?
- Vậy người ta đó, anh không thấy sao? Đã có rồi còn kiếm thêm. Anh sao hiền vậy?
Bà nội Khu ủy ơi ! thằng Thiên Lôi này mà hiền thì ai mới dữ? Nghĩ vậy, tôi cười thầm và không nói gì hết. Chị Hai càng xốc tới
- Cần thì em làm mối cho.
- Ở đâu?
- Có người nghe tiếng anh lâu rồi, người đó thương anh nữa.
- Ai vậy?
- Em không nói đâu.
- Thương thằng Thiên Lôi này thì chỉ có khổ thôi.
- Khổ gì mà khổ?
- Vậy không thấy con Mười, con Tám Mang, bà The, má con Ua góa chồng vì chiến tranh đó sao?
Hai Xót thở dài, hơi thở dường như chạm tới lá phổi của tôi. Chiếc xe chở quá độ nghiến ken két, khua cọc cạch, nhưng tôi cố đạp như đèo thêm một khối tâm tư của người đàn bà đau khổ theo với mình. Tôi không nỡ động tới nên nói lảng sang chuyện khác:
- Lâu nay vấn đề đấu tranh chính trị ra sao chị ủa, em?
- Vấn đề ba mũi giáp công, coi như tà hết cái mũi của em thôi!
Tôi suýt bật cười. Nếu lão mắt toét có ở đây, lão sẽ chộp lấy và nói ngay: cái mũi của bà thì phải tà chớ nhọn với ai được mà nhọn? Tôi hỏi:
- Quân đầu tóc còn lại bao nhiêu?
Chị Hai rút tay ra đập trên lưng tôi một cách thân ái.
- Còn một quân một tướng đây thôi !
- Tôi nghe nói bà ngoại con Chia rất anh dũng mà !
- Anh cũng biết chuyện đó nữa?
-Tôi ở nhà đó với ông Chín Lộc trước khi lên đây.
- Ai nói với anh vụ bà ngoại đó đấu tranh chính trị vậy?
- Con Ua .
- Ừ, nó nói thì đúng. Nó hay tía lia nhưng nó không nói láo. Bà già bể rồi. Bắt đầu từ cái lần bả bị vẽ khẩu hiệu trên lưng và bỏ lên xe chở đó mười cây số cho lội bộ về , tôi không động viên bả nổi nữa.
- Còn chị Năm Cầu Xe.
- Bà đó đâu còn nữa. Khổ quá. Bây giờ đài giải phóng vẫn cứ nói oang oang, làm như bả còn sống vậy.
- Rồi bây giờ ở trên tính sao?
- Em đâu có bắt ai được. Quân tướng cũng một mình em đây thôi.
Đến chỗ lộ đứt ngang vì hố bom đìa tôi xuống xe. Ai ném một thân cây tre đòn tay nhà bắc cầu. Tôi vác chiếc xe qua đứng chờ. Bà khu ủy cứ lựng khựng không chịu đi. Đây là kế trá hàng của bà Út Tân Biên truyền lại chắc. Tội nghiệp những người đàn bà được Đảng đưa lên mây xanh, nhưng dưới chân lại không có đất. Tôi buông xe và trở qua đưa tay cho chị Hai. Chị nắm lấy chắc cứng khi qua gần tới bên kia thì chị lủi đại vào mình tôi mà la oai oái làm như tiểu thơ nhỏ lớn chưa đi cầu tre.
Đến ngã ba gần xóm trại bà Huệ tôi thả chị xuống và đạp thẳng. Chị còn nói với theo, tôi nghe văng vẳng, nên vung tay lại sau vẫy vẫy hai ba cái. Nói cho ngay, tôi không có hiền như chị Hai tưởng, nhưng tôi không muốn đụng chạm tới ông Bắc Kỳ xâm lược đang nắm dây cương của bà.
Tôi đến hầm Đờ-Cát dễ dàng vì lúc nào cũng có sẵn kẹo thuốc để lo lót các em bảo vệ. Tám Nghi trông càng thiểu não: mặt dài ra như mặt lừa, tay nghều ngào ốm nhom như tay vượn, tóc tai như tổ quạ. Nghi bảo:
- Tao suýt đứt thở.
- Sao vậy?
- Không biết tại sao thở không ra hơi. Tụi nó phải làm hô hấp nhân tạo.
- Ổng đâu?
- Vừa mới la mấy thằng Quân lực.
- Sao la?
- Có mấy thằng nhải rau muống dông ra Sài gòn qua ngã Cầu Bông mà tụi nó không hay.
-Bao lâu rồi?
- Cả tháng nay. Đơn vị không báo cáo thì Quân Lực làm sao nắm được? Nó ra, nó lên Ti vi lên đài Sài gòn nói oang oang, đồng bào ở ấp chiến lược nhận diện được. Chả là lúc trước chúng nó ra đó mua gạo do cơ sở mình tổ chức.
- Bỏ mẹ chưa ?!
- Ổng muốn dời đi nhưng không còn chỗ nào yên ổn! Ba Xây đang chạy tìm cứ mới. Thôi, vô đi.
- Con Hiền đâu không thấy ra đòi kẹo?
Tám Nghi rỉ tai tôi. Tôi kêu lên khe khẽ:
- Thì vậy thôi. Chơi trò đó thì chạy trời không khỏi nắng
Trái hẳn với dự định của tôi, Thần Núi không la ó với tôi. Ông ta đang ngồi trước dĩa chuối chín và lột cắn từng miếng. Thấy tôi vào, ông ta trỏ tay:
- Ngồi đó mày. Ăn vài trái rồi sẽ làm việc.
Tôi vừa ngồi xuống chiếc ghế hôm nọ vừa nói:
- Hôm nay tôi trình bày và thỉnh thị ý kiến anh về đồ án tác chiến đối với điểm A và điểm B (tức là Đồng Dù và Trung Hòa).Và đề án phối hợp với quận đội Củ Chi để huấn luyện cối cho du kích..
-Tổ chức vậy là ổn chưa?
- Dạ tương đối, nhưng cần thêm nhân sự chiến đấu lại thiếu. Mấy khẩu đội DKZ xộc xệch quá.
- Không đánh được à?
- Dạ phải dồn hai thành một. Thiếu nhất là bộ phận quan trắc Không có cả máy ngắm, máy đo thì không cách nào bắn được. Còn bộ phận trinh sát thì phải tìm ra cho được vị trí sân bay, kho đạn, trại lính hoặc những bộ phận quan trọng để làm mục tiêu. Diện tích của nó rộng lắm anh à . Bắn một vài quả không nhằm gì.
Thầu Núi gật đầu lia:
- Phải! Hễ bắn là phải trúng chỗ độc. Cõng một viên đạn vô tới đây không để ? Cậu định làm gì đâu nói miệng tôi nghe, khoan trình giấy tờ.
Tôi nói ngay:
- Trước nhất tôi đã cho một trung đội trinh sát đó chuẩn bị tọa độ cối ở hai xã Phú Hòa Đông và Nhuận Đức để tập kích bọn Đồng Dù, một trung đội đi An Nhơn và Trung Lập Thượng để chuẩn bị pháo kích tụi Trung Hòa. Chuẩn bị phần tử đo đạc xong các trận địa cối tôi sẽ cho trinh sát lập hệ thống tọa độ trên toàn quận Củ Chi và Trảng Bàng, hễ nó đỗ quân cụm lại ban đêm thì mình nện tiếp!
Năm Lê lắng nghe, gật gù tán thưởng, bất thần cắt ngay:
- Chừng nào thì đánh được? Hai Giả cũng đã từng hứa với tôi, nhưng chẳng bao giờ xong cả. Cậu đã có những gì trong tay?
- Dạ pháo phiếc phải móc lên lau chùi, đạn không biết có biến chất không? Anh biết ở ngoài đó, đạn pháo phải bảo quản như thế nào, còn vô đây cứ chôn trong rừng, mưa nắng…
- Tôi biết, tôi biết. . . – Năm Lê cắt ngang – Nhưng ở trên không đếm xĩa những chuyện đó cho chúng ta. Họ cứ tưởng bắn pháo như trẻ con chơi ống thụt bố vậy, cứ nện đại,. nổ cũng được lép cũng chẳng sao. Họ có biết đâu một viên DKZ tịt, nổ trong lòng chết cả khẩu đội. Ông Ba Đình biết chút đỉnh về pháo còn ông Chánh ủy Tư Trường thì chỉ biết làm nghị quyết số 1 số 2 thôi. ông ta tưởng cứ vác pháo ra bắn là ăn gọn.
Tôi biết khả năng của Năm Lê từ trước. Ông có tài tham mưu. Trận hạ tàu rà mìn Loubert trên sông Lòng Tảo năm 1949 là do sáng kiến của Năm Lê neo thủy lôi giữa sông mà tàu không rà được, ngoài ra ông còn có sáng kiến vẽ mẫu cho Binh Công Xưởng làm FTI, FT2 tức bộc phá úp vào tường đánh tháp canh trên các trục lộ. Do đó mà ông Trà rút Năm Lê về làm tham mưu trưởng Trung Đoàn chủ lực Đồng Nai. Ra Bắc ông làm Tổng Tham Mưu phó muốn Năm Lê làm bí thư riêng nhưng Năm Lê không thích nghề xách cạc-táp lót tót chạy theo đít ông tướng, nên được cho đi Trung Quốc học pháo binh rồi về làm Trung Đoàn trướng pháo binh sư đoàn 330 của Đồng văn Cống. Tư lệnh pháo binh của sư đoàn này là Lương văn Nho, khi về Nam làm Tư lệnh Pháo Binh R lấy tên Hai Nhã, kẻ đã từng đấm lưng bộ binh nhà kha khá các trận Đồng Xoài Bình Giã mà tôi đã kể ở quyển trước trong đoạn gặp các viên chỉ huy về học chỉnh huấn ở trường Trung Sơ. Năm Lê dưới quyền Hai Nhã, nhưng lại không phục tài Hai Nhã, nay về đây làm tham mưu trưởng quân khu,thoát khỏi sự dốt nát của Hai Nhã , ông tha hồ tung hoành. Ông chỉ nể Ba Đình còn Hai Phụng, tư lệnh thì ông cho là dốt quân sự.
Tôi thiếu tất cả khí tài, nhưng phác đại một chương trình có tính cách rất pháo binh để tránh sự la ó của ông ta, kỳ thực còn lâu mới làm được. Bất thần ông ta nói:
- Thật ra trách Hai Giã cũng tội nghiệp. Tình hình này bố thằng nào cũng không làm gì được. Tôi biết khả năng pháo của cậu hơn Hai Giã nhưng muốn làm nổi đình nổi đám cũng khó lắm.
Năm Lê nhíu cặp chân mày sâu róm:
- Tôi không hiểu người ta định làm cái gì mà đem cối 120 ly kéo bằng xe xích về chiến trường này? Định đem thứ đó về hù ba thằng Mỹ à?…
Sợ ông đổ quạu với tôi, tôi trình bày tiếp.
- Hiện giờ tôi có 18 khẩu cối 82 để thay thế cho cối 81 và 120 mà R đã cấp cho từ thời ông Hai Phụng nhưng đạn thì yếu quá.
Tôi không nói đủ nghĩa: ít và xấu.
- Yếu nghĩa là sao?
- Dạ, còn ít quá.
- Yếu cũng có nghĩa là liều lượng trải qua mưa nắng bảo quản kém không còn đủ sức tống nữa cậu biết không?
- Dạ biết, nhưng làm sao với hoàn cảnh của mình bây giờ anh Năm?
- Cậu thấy pháo nó bắn không? Nổ sát vách đồn một trăm thước.
- Dạ ở trên chợ Long Hoa B kìa mới ớn anh Năm! Bên Chợ Cũ nó bắn tan tành. Cách đó một trăm thước là Chợ Mới không một lá cây rụng.
- Không phải mình tồi mà vì không có phương tiện.
- Tôi có dự kiến huấn luyện du kích sử dụng pháo…
- Úi cha chà… cậu tính làm cái món pháo binh nhân dân chớ gì? Được lắm! Nhưng cũng ngại lắm. Du kích không có khái niệm rõ về vũ khí hiện đại. Giao cho họ có thể họ làm ăn được nhưng cũng có thể họ táy máy gây tai nạn trước khi đánh địch. Nhưng không có chó phải bắt mèo… chớ sao.
Năm Lê vùng đứng dậy đi vào ngách nhỏ rồi trở ra ném lên bàn một quyển sách. Tôi liếc thấy Les Tunnels de Cu Chi. Năm Lê hất hàm:
- Tác phẩm của cậu và thằng Tư Linh đó ! Giở ra xem.
Tôi cầm quyển sách lên lật ra mấy tờ đã muốn té ngửa. Hình và tựa bài nói về các nữ dũng sĩ diệt Mỹ , địa đạo chiến và các cuộc đấu tranh chính trị mà nhà báo quốc tế đã chộp được hồi năm ngoái do sự dàn cảnh của tôi và ông phó ban Địch vận Tư Unh. Tôi nghe rung rinh tận tâm linh. Bỏ mẹ rồi. Sự nói láo của mình đã bay ra thế giới. Tôi vẫn biết trước sự thể này sẽ xảy ra, nếu ở một nơi mà tôi không biết thì chẳng ăn thua gì, ví như một kẻ ném một mồi lửa rồi vụt chạy không muốn thấy đám cháy do mình gây nên, thì dù đám cháy đó có to thế mấy cũng chẳng hề gì. Nhưng bây giờ tôi thấy cái đám cháy đó ở ngay trước mặt tôi, trên bàn: quyển sách bằng Pháp văn, in ở bên Pháp.
- Nói láo thế này có bỏ mẹ không kia chớ. Tụi bây ẩu thiệt! Đây rồi quốc tế nó tin bằng thật, nó ùn ùn kéo tới đây xin quay phim lòng địa đạo, nào chỗ nghỉ quân, nào chợ búa, nào bệnh viện, nào tầng thứ ba thì mình mới làm sao?
- Ở đâu anh chôm được cuốn sách này vậy?
- Chín Lộc mua ngoài Sài gòn.
Tôi nói:
- Tụi nó dí mình vào cái thế phải làm thế anh ạ !
- Thì cũng tại mình khua dao khua thớt mạnh quá đi cho nên chúng nó tưởng có đám to. Đọc cuốn này tao rùng mình rởn ốc! Địa đạo tầng thứ ba! Trời đất quỷ thần! Thằng nhà báo này cho cái địa đạo Củ Chi là bố của Thượng Cam Lĩnh và Maginot – Năm Lê trợn mắt – thật đấy mà . Thượng Cam Lĩnh chỉ là chiến hào thủ công nghiệp thôi. Còn chiến lũy Maginot mới đúng là phòng tuyến đào dưới đất.
Năm Lê chấm ngón tay vô cốc trà rồi vẽ lên mặt bàn:
- Để tao nói về cái Maginot cho mày nghe. Hồi đó tụi Tây nó dạy cho lính mà. Đó là một sự tự hào lớn của người Pháp. Nó nằm dọc theo sông Rhin giữa Đức và Pháp. Mày có học lịch sử nước Pháp mày biết mà. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, mày nhớ Maréchal Foch, Maréchal Joffres chớ? Hồi nhỏ tao khoái hai ông này dữ. Chiến lũy Maginot lập nên là để đề phòng quân Đức tràn qua sông Rhin chiếm nước Pháp. Ghê lắm! Trên mặt đất có pháo đài bê-tông cốt sắt, hầm hố, dây chì gai, cọc trụ xây dựng bằng máy móc chớ đâu phải bằng sức người. Còn ở dưới đất thì một hệ thống đường hầm cho xe vận tải, hầm chứa xe tăng, và cả hầm chứa máy bay nữa !
- Ghê vậy sao anh?
- Nó đào đất bằng máy chớ phải bằng cuốc chim như mày đào với tụi con Bảy Nê sao mậy! Đây, tao kể cho mày nghe rõ từng chi tiết một: nó có cả hệ thống giao thông, rạp chiếu bóng, nơi giải trí, nhà thương, kho lương thực, ga-ra, và nơi đồn trú quân lính. Một cửa ngõ thông ra phía sau. Từ đó có thể người và xe cộ ra vào thông thương với hậu phương. Có hệ thống điện thoại, truyền tin và hệ thống máy điều hòa không khí nữa. Mày biết nó có mấy tầng không?
- Mấy tầng anh?
- Bảy, tám tầng gì đó tao quên rồi.
- Sao nó làm được vậy?
- Trước nhất nó là đất núi . Kế đó nó làm bằng máy móc. Bên trong nó có trụ bằng bê-tông để chống đỡ cho khỏi sụp. Tóm lại xuống phần dưới của chiến lũy Maginot mày sẽ không biết mày ở dưới đất mà mày tưởng mày đang đi vào một thành phố. Đó là phía bên Pháp. Còn phía Đức nó cũng xây một hệ thống địa đạo đối diện như thế để chống Pháp. Pháp chẳng ngờ rằng đó chỉ là một sự dọa mà không đánh để thu hút sự chú ý của đối phương. Đùng một cái vào tháng 6 năm 1940, quân Đức tiến qua nước Bỉ và đánh vào nước Pháp trên đầu phía Bắc chiến lũy Maginot và trong 3 tuần lễ bọc hậu nó. Quân Pháp không ngờ nên trở tay không kịp. Hơn nữa, quân Đức đã vào cả nước Pháp bằng cửa ngõ Belgique.. Đó là một nghệ thuật chiến tranh.
Nhà quân sự ngồi im. ông rót trà uống hai ba chung liền,chép miệng to và nói:
- Bất ngờ là một nghệ thuật tấn côngl Trở lại địa đạo Củ Chi của thằng nhà báo này, mày thấy nó có thua gì chiến lũy Maginot. Sợ còn hơn. Vì chiến lũy Maginot không dài đến 250 cây số, như địa đạo của nó. Còn tuyệt sắc hơn nữa là địa đạo Củ Chi ăn xuyên dưới đít Đồng Dù để ông Phạm Sang biểu diễn đờn cò cho giải phóng quân nghe trong khi Bob Hope làm trò cho lính Mỹ xem trên Đồng Dù. Đụ bà thằng chó đẻ này hại mình. Mày biết ngoài cái hại nói láo khắp thế giới, nó còn làm cho Mỹ hăng tiết rắc B52 !- Năm Lê trợn mắt – Mày phải biết là Mỹ nó chở bữa ăn cho một sĩ quan của nó bằng một chuyến trực thăng. Một thằng lính Mỹ chết nó đưa về tận Mỹ chôn cất với lễ nghi quân cách đầy đủ chớ không phải chết như lính mình trên Trường Sơn. Cho nên nó mà đọc quyển sách của tên nhà báo bất lương này, nó tưởng thật, nếu trước đây nó đánh mình một bây giờ nó đánh mười. Vì địa đạo Củ Chi ghê gớm hơn cả Maginot thì nó phải diệt sớm, nếu không nó sẽ bị mình diệt. Trong nghệ thuật chiến tranh kim cổ, mày còn lạ gì cái lối tấn công để phòng ngự, phòng ngự đơn thuần là bị tấn công.
Năm Lê tự cắt ngang câu chuyện đang hào hứng:
- Thôi được rồi, mày cứ làm. Tao sẽ giúp cho. Còn cái món pháo binh nhân dân theo kiểu công xã nhân dân mà tao thấy bên Trung Quốc cũng hay lắm nhưng cũng dở lắm. Rất khó xơi
Tôi đứng dậy nai nịt súng.và các thứ lỉnh kỉnh vào lưng định chào từ giã anh thì anh giơ chân trỏ vào góc hầm bảo:
- Cầm cái xắc-cốt đó về !
- Của ai vậy anh?
- Quận đội Thủ Đức báo về nó và thằng Ba Thanh trợ lý tham mưa bị tụi Phượng Hoàng mách tinh Đại Hàn khui hầm, tong lựu đạn. Đù mẹ, mấy thằng tổ chức giết con người ta !
Tôi lặng lẽ bước lại góc hầm nhặt cái sắt cốt của thằng đồng chí, thu quai ngắn lại xách tay chứ không quàng vào vai rồi đi ra. Tôi biết nó là của ai. Đại Hàn khui hầm tong lựu đạn – Mấy tiếng đó văng vẳng bên tai tôi.- Đù mẹ . mấy thằng tổ chức! Chuyện chẳng đáng gì mà làm dằng vặt đến chết tươi một đại úy pháo binh. Lãng xẹt.
Tôi ló ra khỏi miệng hầm. Không biết hoàng hôn hay bình minh nữa. Nắng héo hắt khô khan rơi từng mảng trên mặt đất lùi xùi. Trong đầu tôi hiện lên hai người đàn bà và một lũ trẻ con đầu chít khăn tang. Và đứa bé còn trong bụng mẹ. Nó sẽ ra đời mà không biết mặt cha.
- Đù mẹ …. mấy thằng tổ chức !
Tôi nhớ hồi thời chín năm một chiến sĩ hi sinh, cả làng thương tiếc làm lễ truy điệu hết sức cung kính. Bây giờ chiến sĩ cán bộ chết như chó . Cơ quan không làm gì được, còn nhân dân thì ớn quá trời. Ngày nào cũng chết. Trường hợp này, nếu đem ra truy điệu thì sẽ có một ngàn luồng dư luận khác nhau và nó sẽ làm cho cán bộ chiến sĩ mất tinh thần. Tôi đang đạp xe, sực nhớ cái xắc-côt rất quen thuộc vùng này, bà con tinh ý lắm, thấy nó máng tòng teng ở ghi đông, sẽ hỏi ngay. Tôi bèn ngừng xe, lấy tấm ni lông bọc nó lại và buộc vào poọc-ba-ga. Về đến nhà thì gặp Sáu Phấn. Tôi ngoắc y ra ngoài. Y nói ngay:
- Con bé Hoàn nó mến ông quá đó ông thầy. Hì hì… thương con mà bỏ mẹ hay sao?
Tôi gạt ngang:
- Thôi đi cha nội! Mình đang gặp rắc rối đây.
- Rắc rối gì? Ông chưa vợ, còn chồng nó chết rồi.
- Không! Cái H6 mình đây nè.
- Bộ ông Thần Núi sạc cà-rây cái gì hả?
Hai Giả leo bàn thờ rồi .
- Hả ?
Sáu Phấn há hốc mồm, tay chụp gốc cây. Hồi lâu mới hỏi:
- Tin ở đâu vậy?
- Thì trong ổng chớ đâu. Dưới Thủ Đức báo về . Tụi Đại Hàn khui hầm và ném lựu đạn.
Sáu Phấn ngồi nhếch xuống gốc cây, lảm nhảm chửi thề một dây rồi nói:
-Tụi Đại Hàn ác hơn Mỹ. Khui được miệng hầm là nó tong lựu đạn, còn Mỹ thì kêu lên đầu hàng, chừng nào mình không lên nó mới làm tới! Bây giờ biết xác đâu mà tìm. Khổ quá! Đưa con người ta vào chỗ chết vô lý như vậy. Ảnh chỉ thua thầy thôi chớ quân khu này có ai hiểu biết pháo hơn ảnh đâu. Đù mẹ ba thằng quận đội chó má. Chúng nó có hầm riêng. Ở trên này mình xuống, chúng nhét vô mấy cái hầm bể miệng như lỗ đĩ , thằng đui nào không thấy? Tôi đã dặn ảnh rồi, nhưng ảnh không có kinh nghiệm sống ở vùng xôi đậu.
- Lúc quýnh thì người ta bảo chui đâu chui đó, chớ biết ở giữa Thủ Đức Dĩ An, biệt kích, Phượng Hoàng, gián điệp chìm nổi như rươi. Tụi nó đãi bia mình uống xong rồi nó đi mách cho cảnh sát, chánh quyền. Mình đi xuống đó mang súng ngắn lú ra khói áo là không khỏi mắt tụi nó đâu.
- Bây giờ làm sao?
- Ai biết làm sao bây giờ. Phải giấu nhẹm đừng cho hai bả biết. Bà ở Hóc Môn thì nhẹm được, còn bà trên này làm sao? Thế nào rồi tin này cũng xì ra.
- Tới đâu hay tới đó ! Hay là ông đi cho bả hay ! Được không? Chớ giấu giếm coi kỳ quá ông ạ !
- Ông đi đi ! Tôi không sợ gì. Bom đạn còn không sợ chín năm. Trường Sơn không ngán. B52 cũng coi thường, nhưng sợ là sợ giọt nước mắt của người đàn bà mất chồng. Và lần này là lần thứ… ông chưa có vợ, chắc ông không hiểu nổi giọt nước mắt đó đâu.
Đây là lần thứ nhất tôi nghe thằng bạn lớn hơn tôi một con giáp, gốc nông dân, nói văn hoa. Tôi đáp:
- Tuy tôi chưa có vợ, nhưng tôi vẫn hiểu ông à . Việc con bé Hoàn tưởng tôi là ba nó và đeo tôi làm cho tôi vui nhưng cũng đau buốt tâm can ông ơi. Về Củ Chi này tôi gặp vô số đàn bà góa trẻ măng. Chồng chết ở Bình Giả, Đồng Xoài, Phước Long, Mã Đà. Má con Hoàn mới có hai mươi hai tuổi. Có chồng không được ở bên chồng hơn một tháng, rồi con ra đời không biết mặt cha. Bây giờ tới vợ ông Giả.
- Vợ tôi cũng đang có bầu ông ạ ! Ráng chút nữa ẵm con rồi hãy lên bàn thờ. Bốn mươi ngoài rồi còn mong gì hơn. Ông lo cái thân ông gấp gấp đó. Tôi nói thiệt đấy mà!
Sáu Phấn rưng rưng nước mắt rồi bỗng òa lên. Y gục mặt xuống hai đầu gối. Rồi ngóc lên ngay, sợ tôi thấy sự yếu đuối của thằng đàn ông chăng? Tôi nói:
- Tùy ông ! ông có muốn nhẹm thì nhẹm, còn muốn truy điệu thì truy điệu tôi đều tán thành hết cả.
- Truy gì nữa mà truy. ông lên K hỏi rõ chỗ cái hầm và ngày tháng để sau này vợ con ổng biết nơi mà tìm kiếm về giỗ quảy thôi. Chớ còn truy điệu có ý nghĩa gì. Chính mình giết đồng chí mình rồi truy điệu à ? Nó đếch có thèm về hưởng hương khói của mình đâu.
Tôi mở poọc-ba-ga, tháo tấm ni lông đưa cái xắc-cốt cho Sáu Phấn. Sáu Phấn ôm chầm lấy áp vào ngực khóc nức nở.
- Anh Hai ơi! Sống khôn thác thiêng…
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 53
Đẩy chồng đi dân công để ở nhà ve vợ.


Tôi về nhà, không khí vắng hoe. Tôi gọi thằng Đỏ, Ba Thu đều không thấy. Tôi cởi súng vất lên bàn mắc võng nằm bẹp dí, không buồn cục cựa nữa. Tôi đâu có trách nhiệm gì trong cái chết của Hai Giả nhưng tôi vẫn thấy ân hận trong lòng. Sao lúc Năm Lê quyết định cho Hai Giả đi Thủ Đức tôi không có ý kiến gì hết? Đại khái như đưa ổng ra các tiểu đoàn bộ binh hiện đang cần đơn vị pháo trợ chiến, hoặc cùng lắm trả về U80 cho ông Tư Khanh. Một trong hai trường hợp này khả dĩ cứu ổng khỏi cái chết quá ư nhanh chóng, bất ngờ.
Tôi cũng đâu có ý tranh giành chức vụ trưởng ban H6 này. Đây là một chiếc xe bò bể nát chớ đâu phải một chiếc Volga mới. . . mà ham. Hơn nữa từ xưa tới nay sở trường của tôi là huấn luyện sĩ quan pháo binh chớ không phải chỉ huy đơn vị pháo. Chỉ huy pháo như cái H6 này là sa lầy chớ có gì khác!
Ở trên ác quá. Giết một đại úy pháo binh bằng tay địch. Nói cho công bình, Năm Lê không có ý định đưa Hai Giả đi xuống vùng xôi đậu đó. Sĩ quan pháo binh đi xuống đó làm cái gì?Năm Lê là nhà quân sự thiên về kỹ thuật hiện đại chứ không thích cái gì cũng nhân dân chủ nghĩa. Du kích thì xài hầm chông lựu đạn súng trường, còn sứ dụng cối 81 thì không được nhưng cái gì cũng do Chính ủy quyết định mà ông Tư Trường là bí thư khu ủy kiêm chính ủy quân khu thì chỉ là lãnh tụ công đoàn, một phát súng ngắn cũng chưa từng bắn.
Quyết định thi hành kỹ luật và đưa Hai Giả đi Thủ Đức là do Tư Trường ký. Thì cũng như quyết định mở cuộc tổng tấn công Mậu Thân vậy. Cứ ra lệnh còn hậu quả thì kẻ ra lệnh đâu có gánh chịu mà lo. Hai Giả chết vì sự ngu xuẩn của một tên đạo đức giả. Trời phạt nên sau này hắn đạp mìn tan thây
Tôi buông cả hồn lẩn xác vào một vũng mông lung, mong khi thức dậy, cái khối buồn tan đi ít nhiều.
o O o
Vừa chợp mắt thì nghe tiếng léo nhéo ở miệng hầm. Tôi biết là Mười ẵm bé Hoàn đến với lý do là con nhỏ nó đòi đi, em dỗ nó không được. Từ sau hôm ấy thỉnh thoảng Mười lại bế con tới ở chơi một lúc rồi để con bé ở lại với tôi, nàng ra về để có lý do trở lại rước con mà gặp tôi lần nữa. Mười ra vào dễ dàng vì nhân viên của tôi cũng thông cảm với cái anh chàng thủ trưởng của họ ba mươi bốn tuổi đầu lội khắp từ Bắc chí Nam mà vẫn chân không.
Mười thả con xuống đất và bảo.
- Ba con kìa.
Mười nói câu đó với tất cả tình cảm. Còn tôi thì dường như đã gần thành bố đứa nhỏ trong tình cảm rồi. Mười bảo con:
- Con ở đây ba dạy cho học nghe ! Bữa hôm qua con mới vẽ được có một chữ thôi.
Mười nhìn tôi âu yếm.
- Anh dạy cho con nữa đi.
Nàng vừa ra miệng hầm thì quay lại.
- À, em quên ! Anh đừng đi đâu, có người muốn gặp anh. Kìa Hoàn, hôn ba đi con ?
- Ai đó? Thôi đi tôi mệt lắm, để cho tôi nghỉ.
- Anh ở đó rồi biết.
Tôi tìm tập vở và lấy bút nguyên tử cho Hoàn. Tôi dạy nó hai tiếng Việt Nam theo bài nhạc Bình dân học vụ của Lưu Hữu Phước:
- Vơ- iệt Việt Nờ- am nam, Việt Nam là nước của tôi. A à ó ò í tờ vui quá!
Con bé nhìn miệng tôi và hát theo tôi. Con bé xinh xắn và trắng tươi giống hệt mẹ. Giá vợ con tôi là Mười và Hoàn thì đẹp biết mấy. Những mảnh mộng đời tưởng sắp trở thành sự thực lại cứ trôi đi đâu đâu Sao tôi không dám quyết định đi cho rồi ? Tôi giữ mãi tình tôi với Thu Hà không phải vì Thu Hà hơn tất cả mọi người con gái tôi gặp sau này. Kẻ được cái này người thiếu cái kia, không ai hơn ai hoàn toàn, nhưng Thu Hà có một điều mà không nàng nào có được. Đó là bàn chân của nàng dính đất cát của xứ sở tôi và mùi hương tóc nàng thoang thoảng gió mang hồn dòng sông Tân Bửu. Yêu Thu Hà, tôi có cả quê hương tôi trong nàng. Chúng tôi sẽ nói với nhau suốt đời về những tên chợ tên sông tên làng tên ấp mà hai đứa cùng biết hoặc đã cùng đến với nhau thuở nhỏ. Một nhà văn Pháp đã viết một câu quá sức đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc:
“Người nông dân không xa quê hương của họ được vì tiếng chim kêu ở đầu rào. “
Tôi lội một ngàn cây số Trường Sơn có phải để giải phóng miền Nam hay để gặp lại mẹ cha và mảnh đất Nam kỳ yêu quí? Không thể nào thống kê được bằng tỷ số bao nhiêu phần trăm cái này bao nhiêu phần trăm cái kia, chỉ biết rằng có những anh chàng sĩ quan đi nửa đường bỗng được lệnh đi xuống khu sáu, đã chống lệnh và đi tuốt về Nam. Bây giờ tôi sẽ làm gì với cái H6 xộc xệch này trước thằng Đồng Dù và thằng Trung Hòa sừng sỏ như vậy? Mười tám khẩu DKZ khiêng bằng tay, di chuyển bằng chân người chọi với cà nông 155-175 và trực thăng đủ loại. Thân xác con người đứng bên nòng pháo chỉ là hạt bụi mà thôi.
Tôi hỏi bé Hoàn:
- Ban đêm có cà nông thụt con sợ không?
- Mới đầu khóc giờ hết rồi.
- Con nghe nổ mà không sợ à?
- Con ở trong hầm đâu có sao.
- Ban ngày con chơi ở đâu?
- Ở trong nhà. Lâu lâu má mới cho ra sân. Má dặn hễ nghe cụp cụp thì phải lủi vô hầm.
- Cụp cụp là gì?
- Cụp cụp gần là pháo Đồng Dù, cụp cụp xa là pháo Trung Hòa.
- Trong sân có bị trái pháo nào không?
- Trong sân chưa có, chỉ có sau nhà và ngoài vườn chết ba cây quít.
Tôi viết mười chữ Việt Nam bằng bút chì rồi bảo nó đồ lại.
- Con học thuộc bài này ba phóng bài khác cho con. Con học mau thuộc thì ba thưởng kẹo.
- Má biểu con ở trong này với ba.
- Ba bận công việc lắm. Con phải ở với má. Để má ở một mình có pháo thụt má sợ.
Con bé nghênh mặt:
- Má lớn rồi mà sợ gì? Con còn hổng sợ nữa ?
Tội nghiệp ! Con nít coi chiến tranh như một trò vui vẻ .
Vừa đến đó thì Mười trở lại với một người đàn bà ẵm con. Đứa bé rất bụ bẫm còn mẹ nó thì cũng đẹp xấp xỉ với Mười nhưng gương mặt có vẻ đôi chút thành thị. Mười chỉ tôi và nói:
- Anh Hai đó. Nói gì thì nói đi!
Tôi ngồi dậy, hỏi Mười:
- Ai vậy em ?
- Chị Út ở gần nhà em. Chỉ muốn em dẫn chỉ tới chỉ có chuyện cần thưa với anh. Đó, thưa gì thưa đi chị Út!
Mười cười hí hí rồi lui ra. Đến mé hầm còn quay lại.
- Hoàn, con ở học với ba nghe !
- Có chuyện gì vậy…
Tôi chưa kịp nói hết câu thì Út đã cướp lời:
- Kêu em bằng em đi anh Hai.
- Ừ được, có chuyện gì vậy út? Bộ lính của anh đào mì hay bẻ dừa gì nhà em hả?
- Đâu có chuyện đó anh Hai. Em có một việc muốn thưa với anh Hai.
- Em cứ nói đi.
Út ngồi lặng thinh, thỉnh thoảng ngó sang bé Hoàn ì ạch đẩy cây bút trên mặt giấy. Út nói dèm:
- Phải con em lớn em cũng gởi nó cho anh dạy.
Tôi nghĩ thầm: nàng này chắc cũng có chồng đi Bình Giả Phước Long không về được Mười giới thiệu đến xin con nơi ông Thiên Lôi chớ gì. Khổ thật. Đàn bà con gái từ R xuống tới Củ Chi đều ham con. Họ sợ không có con trước khi chết. Từ Huỳnh Mai đến bà khu ủy, từ cô xã đội phó đến Chia, Ua rồi Mười. Và bây giờ lại đến nàng này. Chiến tranh do bọn đầu bò Hà Nội gây ra đã biến miền Nam này thành một Tây Lương Nữ Quốc tân thời, mà Củ Chi có lẽ là tiêu biểu.
Út ngần ngại một hồi rồi nói sang chuyện gia đình, nhà cửa. Nàng khoe:
- Em có đứa em gái đi văn công R.
- Làm gì ?
- Nó là đội viên của ông đờn cò Phạm Sang. Lần đó có một ông nhạc sĩ xuống đây công tác, nghe nó ca vọng cổ hay nên bắt nó về R luôn. Nó hơi rỗ hoa mè, nhưng dặm mặt rồi lên sân khấu nó ăn đèn lắm không thấy rỗ đâu.
- Cô em tên gì ?
- Ở nhà nó tên Mót, má em đặt em là Út, đến chừng có nó đặt là Út Mót, nhưng lên văn công R nó đổi ra là Thiên Lý thiên lót gì đó. Anh ở trên không nghe cái tên đó à anh Hai?
- Có xem văn công nhưng không để ý.
- Nó ngộ hơn em nhiều. Phải anh gặp nó coi !
Tôi lại nghĩ thầm: chắc cô này muốn tôi làm em rể đây chắc. Bỗng nhiên nàng nói:
- Chồng em…
Nàng òa lên khóc.
- Chồng em đi dân công hả?
- Ảnh trốn ở nhà.
- Rồi sao?
- Nhưng cô Hai Xót bảo: nếu anh không đi dân công thì em phải đi đấu tranh chánh trị. Không ai được quyền ở nhà cả vợ lẫn chồng như vậy.
Út vừa chùi nước mắt bằng tay áo vừa tức tưởi nói.
- Ở ngoài quốc gia người ta đâu có làm như vậy. Nếu đi lính thì vợ con có lương. Nếu chết thì có tiền tử tuất. Em không phải phân bì so đo nhưng chồng em ở nhà thì cũng đi đào hầm chớ có ở không đâu. Có mấy công ruộng bên An Thành lúa chín rồi mà không đi gặt được.
Tôi hơi nóng, quát.
- Rồi em muốn gì, nói quách nghe coi !
- Để em thưa hết anh nghe. Cô Hai Xót bảo không có con nhỏ mà không đi đấu tranh thì cổ nguých ngang. Cổ bảo đẻ cho lung rồi lớp bồng lớp dắt không có đấu tranh gì được hết. Ba sắp nhỏ không dám chống mà cứ trốn. Cổ bảo ông ấp đội truy bắt để đưa đi dân công. Em biết đi ngoài miệt đó, mười người không về người nào. Ông ấp đội được lịnh cổ càng làm lung. Bề ngoài thì làm vậy nhưng bề trong thì em biết hễ ba sắp nhỏ đi khỏi nhà là ông tè vè đến. Ba sắp nhỏ hiện còn ở đây mà ông còn be be nữa là !
- Ông ấp đội nào kỳ cục vậy?
- Ông Tám Lù đù con bà má Hai chớ ai.
- Thì cô báo với ông Ba Xây chớ cô nói với tôi làm gì .
Nàng làm thinh, chỉ thút thít khóc. Giống y như tình trạng nông thôn miền Bắc từ khi có cái vụ đi Giải Phóng miền Nam. Dân thường thuộc giống đực từ mười tám đến bốn mươi lăm tuổi trở xuống bị đẩy vô Trường Sơn. Ở nhà mấy ông chi ủy, xã ủy đảng ủy, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm hợp tác xã tha hồ giúp đỡ đồng chí mình. Những tên già dơ mang thẻ đảng vừa ve vãn vừa o ép cả nữ thanh. Kết quả vô cùng rực rỡ là thai nhi được sản xuất càng đông để dùng vào việc tẩm bổ cho đám lưu manh mang cái tên rất đẹp: Ban Chấp hành trung ương đảng.
Ở miền Nam này cũng y như vậy. Không có tên chi ủy, bí thư nào từ tỉnh đến quận mà không phạm tội dâm ô với nữ cán bộ hoặc vợ đồng chí mình. Phạm rồi thì đổi công tác và được đề bạt cao hơn. Một tên ấp đội mà đã biết giở ngón đó rồi thì thử hỏi tỉnh ủy quyền hạn mênh mông vô tận còn làm tới những gì nữa. Bà khu ủy viên chủ tịch quận Tân Biên trên Tây Ninh đã thủ thỉ mét với tôi:
- Mấy ông khu ủy viên ông nào cũng mò tôi cả.
Riêng ở Củ Chi này càng rõ ràng hơn. Ngài thiếu tướng Tư lệnh học tập ông đại tướng bần cố nông, cũng quơ dì Ba của cô xã đội phó mà tôi được ông cậu Tám xác nhận thêm lần nữa ở bữa tiệc nhà Sáu Phấn vừa rồi. Bọn cộng sản là một lũ bất lương và chính chúng đã đào tạo một bầy bất lương mang áo đạo đức. Chúng nó vừa hà hiếp vừa bóc lột dân còn quá cha hội tề trước kia nữa.
Út quệt nước mắt, mếu máo:
- Em muốn anh cứu chồng em!
Tôi nổi nóng quát:
- Cứu cách nào? Nói đi cứ vòng che hoài vậy?
- Anh làm ơn thu ba sắp nhỏ vô cơ quan dùm em.
Tôi cười ngất:
- Chỉ có vậy mà cứ loanh quanh.
- Dạ em sợ anh rầy.
- Chú út đâu rồi?
- Dạ ở đằng nhà chờ em xin anh.
Tôi đứng dậy bước ra hầm, quát:
- Đỏ đâu. Mày chạy lại nhà thằng ấp đội, kêu nó lại đây. Táo cần chút việc gấp!
Út hoảng hốt đứng dậy, run lặp cặp, miệng méo xệch khóc không ra tiếng. Hồi lâu mới nói được.
- Anh Hai kêu ông bắt chồng em hả anh Hai. Tội nghiệp con em rồi nó sẽ như con Hoàn anh Hai ơi.
- Cô ngồi .xuống đó đi, đừng đi đâu.
Tôi bỏ ra ngoài kiếm nước uống giằn cơn giận. Dân chúng sống giữa bom đạn chết như nháy mắt lại còn bị quấy nhiễu như thế này bảo sao họ không ra ấp chiến lược. Một khi đã ra được ngoài đó, chẳng có ai còn trở về.
Chập sau ngài ấp đội đến. Tôi bảo ngay mấy chuyện rồi cho về . Xong, tôi vào hầm bảo Út:
- Em về bảo chồng em mai đến công tác.
- Dạ!
Nàng ngơ ngác như không hiểu. Tôi nhắc lại:
- Kể từ hôm nay, chồng em là nhân viên cơ quan H6 của anh. . .
Nàng sụp lạy tôi. Tôi bảo:
- Đứng dậy.
Nàng đứng dậy nhưng đè đầu đứa bé trên tay bảo:
- Lạy cậu Hai đi con. Cậu Hai cứu ba con đó.
- Thôi lạy lục gì ! Anh sẽ giao cho nó làm trưởng tổ tự túc của cơ quan. Đi chài, đi trồng rau cải, đi tìm ruộng cấy lúa cho cơ quan. Hằng đêm được ở nhà, đi làm không phải đến cơ quan chỉ cuối tuần mới sinh hoạt với anh em và báo cáo công tác với cậu quản lý.
Út Vẫn còn như mơ, lắp bắp:
- Anh nói thiệt hả anh Hai.
- Tôi là thủ trướng một cơ quan, tôi có đủ quyền hạn thu nhận người.
- Ba sắp nhỏ không phải làm lý lịch hả anh Hai?
- Không cần. Tới giờ này mà vợ chồng còn ở đây là đủ chứng minh rồi. Mấy ông ban tổ chức đào bới gốc rể từ đời ông cố ông sơ của người ta, nhưng chính mấy ông đó lại khai láo lý lịch của mình. Ngoài ra người khác khai láo mấy ổng cũng biết đâu mà mò. Khai lý lịch là một hình thức nói láo hoặc lừa bịp.
- Em sợ cơ quan không nhận vì bà cô em có chồng đại úy Sài gòn.
- Đại tướng anh cũng thu được.
Út cười như nắng hé sau trận bão. Nàng ngượng ngùng thủ thỉ với giọng thân mật:
Anh Hai à ! Nhờ anh mà… ba sắp nhỏ khỏi đi Phước Long.
- Nhờ chồng em mà cơ quan có tôm cá ăn.
Út tỏ vẻ e thẹn, ngập ngừng:
- Em muốn trả ơn anh chút được không?
Tôi hơi ngạc nhiên nhìn nàng và tự hỏi: trả ơn? Cách gì? Giọng nàng run run mất tự nhiên:
- Con Mười nó nói . . . anh cho. . . cho nó một đứa . . .
Tôi bật trả như máy.
- Không! không! Cô Mười khác, em khác! Đừng tưởng anh chụp giựt bốc hốt như mấy người kia.
Út khựng lại nhưng nét mặt càng tươi bùng lên, nàng nói:
- Anh quả thật là một người nhơn đức. Em xin lỗi anh.
- Đứt họng hả?
Tôi nghĩ thầm: em mà chưn trơn thì anh Hai để một quả là đi đứt chớ đức gì.
- Không phải chuyện đó đâu. Em muốn kêu con Mót trên R về…




Chương 54
Hầm cá trê của ông Quận đội trưởng Tám Giò.


Một bữa thằng Đỏ dắt về văn phòng của tôi một ông khách đẹp trai đáo để. Đó lại là một thằng học trò khác của tôi. Học xong nó về làm đại đội trưởng trợ chiến Trung đoàn 3 Sư đoàn 330 đóng ở vùng Quán Giắt chợ Neo Thanh Hóa. Nó tên là Hai Khởi hiện làm Tham mưu trưởng quân đội Củ Chi. Hai Khởi chào tôi và nói ngay:
- Nghe thầy về đệ tử tới thăm và kiếm chút ưu điểm. Ở trong quân đội khô khan lắm, chắc ngoài này có chất tươi nên ra kiếm chút đỉnh chấm mút.
Tôi vui vẻ đáp:
- Ở đây nhiều lắm, nhưng cậu định bỏ mẹ hỉm ngoài Quán Giắt sao?
(Khởi bằng tuổi tôi nhưng hắn tự coi như em tôi.) Hai Khởi xua tay:
- Vụ đó thầy đừng có khui ra chết thằng học trò cưng của thầy đó.
- Có mối mai gì chưa?
- Có rồi, nhưng không biết cái ổ này có chủ không?
- Ổ nào?
Tôi móc gói Ruby bỏ ra bàn. Hai Khởi rút lấy một điếu đốt hút như điên, rồi gật gù :
- Thầy lúc nào cũng tà tà . Tôi toàn xài thứ ung muỗi mà không đủ đốt nữa… Cái ổ này có một con thôi. Con mẹ đã lắm! Không thua con gái thành đâu. Da như trứng gà bóc, cần cổ ngon hơn cổ gà luộc đó thầy, tôi đến nhà hai ba lần. Thấy con gái một con mà nhất nước miếng ừng ực.
- Rồi bỏ cái ổ ở Thanh Hóa cho ai?
- Mình tưởng ở ngoài rục xương luôn đâu có ngày về nước nên mới nhắm mắt cấy su hào. Chẳng dè mới nứt mọng lại bị xách đầu về Nam. Về trong này thấy cây nhà lá vườn hơ hớ tức muốn hộc gạch, nhưng lỡ tay trót đã cấy rồi, còn biết làm sao bây giờ? Thầy còn ô-rin chắc thầy không chịu đâu nhưng với tôi thì vừa chạng, không chèo ách chút nào! Con nhỏ em vợ Sáu Phấn thầy biết không?
Tôi biết ngay cô Mười, má bé Hoàn, nhưng làm như không quen:
- Ông ta sợ gả em vợ nghèo ba năm nên còn làm kỳ đà đó.
- Tôi còn mục tiêu thứ hai chớ thầy. Con bé này mình dây don đon, coi khó lắm, mới mười tám cái xuân lòng đang làm quân trang đóng ngoài Đồng Lớn.
- Đã đo góc kẹp TTC (ký hiệu pháo binh) chưa?
- Đo đạc gì nữa. Đã để cho mấy phát ngòi tức thì rồi. Dám có lửa lắm. Không phải như thằng Phạm Cần con cụ Phạm Thiều đâu. Tôi phập phồng bỏ mẹ . Nó mà đổ bể ra thì tôi dám bị đày đi Thủ Đức như Hai Giả lắm. Xuống đó sớm chầy cũng phủi chân lên bàn thờ.
Tôi vờ không biết tình hình dưới đó:
- Bộ ở dưới căng lắm hả?
- Ở đó không có B52, pháo như ở đây nhưng tụi Phượng Hoàng đi nghều như trấu. Bao nhiêu hầm hố tụi nó biết hết ráo. Nó chờ chuột cống nó mới khui, chuột lắt nó để cho bò lên bò xuống, tưởng là an toàn. Đến phiên chuột cống xuống là nó móc họng ngay. ông Hai Giả với thằng Ba Thanh trợ lý xuống dưới đó cũng lâu rồi, thầy có tin gì chưa?
- A… chưa ! Cậu có ý kiến gì về chương trình pháo binh nhân dân không?
Tôi lướt sang vấn đề khác. ..
- Tôi có nghe ông Tám Giò nói, nhưng không biết đầu cua tai nheo ra làm sao.
- Thì giao cối 8 1 cho du kích xử dụng chớ sao nữa .
- Ối chao ! các ông bà đó mà bắn cối thì giặc chưa trầy da mình đã phèo ruột. Bữa nay tôi đến thỉnh thầy lại đó gặp ổng chút: Đáng lẽ ổng phải đến bái thầy mới phải, nhưng riêng tôi muốn mời thầy đến để nhậu chơi một bữa cho thoả tình mong nhớ lâu nay.
Tôi cười:
- Ông tha-mu bữa nay nói cái giọng gì giống Sầu Vương Biên Ải vậy. Đi thì đi chớ tôi đâu có ngại gặp ai. Tôi còn đi đào hầm, vác gạo, đi leo cây canh địch với Năm Cội, Bảy Nê nữa kia mà . Chính tôi đưa ra chương trình pháo binh nhân dân để đi sát với thôn ấp chớ ai.
- Thầy là người đẹp thiệt!
- Thôi đừng có kêu bằng thầy bà nữa. ông Tư Khanh vô đây cũng còn kêu tôi như ở ngoài trường. Người ta không hiểu nói tôi làm phách.
Hai Khởi móc xắc-cốt lấy ra hai tấm bản đồ . Thấy vẽ khá , có tỷ lệ đàng hoàng không phải bản đồ trong sách Giáo Khoa thư Đồng Ấu, tôi bảo.
- Cái Đồng Dù nó rộng 1200 mẫu, chu vi ít nhất 11 cây số gần ba cây số mỗi cạnh. Mình phải bắn 1000 trái pháo nó mới nhúc nhích, ông hiểu chứ. Nhưng với sức trả hỏa của nó, thì mình chỉ bắn được hai quả là phải chôn súng hoặc vác chạy. Ở đây, vấn đề pháo kích không khó khăn. Cái khó là rút lui. Huỳnh Thanh Đồng đánh xong sân bay Biên Hòa tới nay chưa về đến căn cứ.. Do đó tôi phải đi làm anh hùng thay cho nó lãnh huân chương ở R, ông biết chứ?
- Biết gì đâu?
- Không biết thì không cần biết làm gì. Chỉ nên biết cái vụ mất hết mấy cây DKZ và một tiểu đội pháo trầm thây sông Bé .Tôi vừa nói vừa xếp bản đồ Đồng Dù và giờ bản đồ Trung Hòa ra. Hai Khởi trỏ tay vào mấy nơi và nói:
- Mình chỉ cần nả mấy quả vào sân bay và bãi pháo. Sân bay thì phải nhắm đúng lúc nó đổ quân xuống hoặc xúc quân đi. Còn các trại lính thì tụi nó có hầm bê tông cốt sắt, Pháo mình nả trúng nóc cũng chỉ làm nó ù tai thôi chớ ăn thua gì Nói thật với anh, làm việc với mấy ông bần cố nông này bực mình làm. Tôi cũng bần cố nhưng tôi có được huấn luyện chuyên môn nên cũng nắm được chức năng của binh chũng Pháo còn mấy chả bù trất, nhưng mấy chả lại quyết định mọi vấn đề. Ông Một Sơn (ông thứ mười một nên dân gọi ông Một tên Sơn, còn Một Sơn đội trưởng liên lạc là một mắt), bí thư quận ủy kiêm chánh trị viện quận đội là anh vợ ông Tám Giò. Hai anh em nắm hết mọi quyền hành, nhiều khi làm những cái trẹo bảng họng mà tôi nói không nghe.
Hai Khởi hạ giọng tiếp:
- Một Sơn là anh thợ thiến heo. (Tôi trừng mắt) Thiệt đấy mà. Hồi trước Đồng Khởi y giấu đút ông Huỳnh Tấn Phát hay Trần Bạch Đằng gì đó nên được đề bạt lên làm xã ủy, rồi mấy ông quận ủy bị bắt hết, ổng lên thay. Dân các xã hãy còn kêu ông là ông Một Thiến cơ mà. Còn ông Tám giò thứ trình độ cũng như ổng. Chính ổng giao cho ông Tám làm quận đội trưởng. ông này hiện nay lặn kỷ lắm. Khó ai gặp được. Tôi đã đưa chương trình huấn luyện pháo binh nhân dân của anh cho ổng xem. Ổng muốn đích thân anh đến trình bày cho ổng nghe. Xong rồi ổng mới cấp tiền cấp gạo và gởi giấy triệu tập. Trong tình thế này mà tập trung cả một lô du kích, rủi nó càn lủi đi đâu, tản lỗ mô? Các xã Phú Hòa Đông, Nhuận Đức, An Nhơn Tây, Trung Lập, Phước Thành, Phước Hiệp thuộc vùng đất cao và có địa hình xử dụng pháo, nếu được cấp pháo, du kích sẽ làm ăn được lắm.
- Ông Năm Lê bảo sẽ cho các xã quận Bến Cát sang dự. Ông có muốn vô gặp ông Thần Núi không?
Hai Khởi lắc:
- Gặp làm gì! Ai ló đầu vô hầm Đờ Cát của ông cũng bị ổng xạc cho rát mặt. Tôi đâu có dại gì mà vô đó. Tôi đâu phải là kẻ dưới trướng của ổng.
Hai Khởi có lánh ngang bướng. Quát nạt lính tráng và cự nự với cấp trên là chuyện thường tình của anh ta. Thấy Hai Khởi còn giữ tình xưa nghĩa cũ và có tinh thần xốc tới, nên tôi bảo hắn đưa đi một vòng để khảo sát địa hình. Hai đứa đạp xe tà tà . Đường đất lởm chởm như da thằng cùi.
Hai Khởi nói:
- Tụi bê-ka vô đông lắm rồi. Anh biết không?
- Tôi gặp ở Xóm Mới và gần trường Trung Sơ.
- Bây giờ chúng nó đổ xuống tới đây rồi. Từ bên Thanh An sang, từ Sóc Lào xuống. ăn ở bừa bãi. Đốn cây nhóm bếp suốt ngày đêm ì xèo không tả nổi. Bến Dược mọc thêm quán xá có tiệm hủ tiếu, tiệm sửa đồng hồ nữa. Quán bà Sáu Tiệm hốt bạc.
- Có gặp thầy trò ông đại úy Hốt ở trển không?
- Đóng đô ở đó muôn năm chớ đi đâu. Bà Sáu Tiệm bịt răng cả hàm vàng nghĩnh. Bộ anh cũng có đụt mưa ở dưới mái quán trọ bên đường của bả nữa à?
- Hồi ở R mới xuống tôi có ghé đó uống trà.
- Chỉ uống trà thôi.
- Và suýt làm em nuôi của bả.
- Thằng Tư Thêu vợ đẻ , đang đi phép. Gặp tôi, nó kêu trời quá sá. Nó bảo là ở ngoài Bắc chăn bò nông trường Lam Sơn, về trong này đánh xe bò Hậu cần R. Huề vốn. Chuyện chiến đấu tôi không có ngại. Sống chết lẽ thường. Da ngựa hay da dê bọc thây thì cũng thế thôi, chết rồi thì biết cái con bà gì nữa. Nhưng ớn nhất là sợ trật quan điểm nhân dân.
- Mò con gái người ta sao sợ trật?
Hai Khởi cười nhe hàm răng bàn nạo Bến Tre :
- Vụ đó cũng có , nhưng không quan trọng bằng dân phản đối Tôi có nghe, đó là vấn đề nan giải.
- Để chơi Đồng Dù, địa thế tốt ở Bào Cạp và Phú Mỹ. Hai điểm này cách nhau non cây số. Pháo xong điểm này mình chạy sang điểm kia để tránh phản pháo. Còn chơi Trung Hòa thì điểm tốt nhất là Gò Nổi nhưng ông Ba Tâm, xã đội trưởng An Nhơn không cho đặt pháo. Ổng bảo dân phản kháng kịch liệt. Mình bắn một trái nó trả lại một ngàn trái. Kỳ rồi, chọc cứt không nên lỗ mà chết cả chục người dân và mấy chục trâu bò.
- Rồi làm sao?
- Ổng bảo có bắn thì đem lên lô 6 sở cao su mà đặt súng. Nhưng trên đó mình 1ại không có hầm hố và địa đạo để phòng khi đổ chụp. Ở Tầm Lanh Bàu Sỏi cũng tốt nhưng rất xa, sợ bắn đạn rơi trúng dân. Bữa nào tôi dẫn anh đi khảo sát, chớ tôi làm lơ mơ vô xóm, dân dám phản cổ cò kéo chém lắm.
Tôi bật cười
- Làm như hồi mình đi công tác thuế nông nghiệp ở miền Tây Nam bộ. Vì thu nặng quá, có ông nông dân xách phản cổ cò ra quăng trước sân và hét: “Thằng nào giỏi bước qua cái phản đó rồi vô tới bồ lúa của tôi!”
Có mấy tốp lính đi qua. Hai Khởi hất hàm bảo:
- Anh coi lính nhà mình đã không? Toàn đầu chải tém đít vịt và quần ống túm như cao bồi Sài gòn. Lại còn bày đặt quàng chiếc khăn xéo trên vai như lính Trâu Điên Sài gòn.
Một người đàn bà đi qua tay dắt đứa bé gái chợt thấy tôi, kêu lên:
- Anh Hai, đi đâu vậy? Ba kìa Hoàn!
Tôi đáp rồi đạp thẳng.
- Đi công việc! Hoàn về học nghe!
- Đó, cô nường đó. Em vợ Sáu Phấn, tôi nói vôi anh hồi nãy. Coi có thua dân thành đô không? Anh có quen à ?
- Thì cô ta cũng nháng qua nháng lại cơ quan vài lẩn.
- Nháng gì mà con nhỏ kêu bằng ba?
- Thì con nít nó thấy mình thương nó, nó kêu vậy thôi.
- Kiểu này tui hết có sương mờ rơi, mơ huyền mờ rồi! – Bỗng nhiên, Hai Khởi chửi đồng -Địt bố. Nhìn con người ta nhớ con mình. Thằng cu tôi nay cũng cỡ đó ! Hồi nhỏ tới lớn đéo có biết miếng sửa Ba Vì vô miệng. Toàn xơi khoai lang tán nhuyễn. Ở đây bom đạn thế này mà con nít cũng bụ bẩm. Mình vô đây còng lưng giải phóng, giải phóng để phát phiếu mua khoai lang ấy à ! Cái gì cũng ưu việt. Ưu việt, liệt gân.
Tôi bảo:
- Cậu thấy mấy đứa bé ở văn phòng tôi đang tập đánh máy không?
- Ờ đám gà giò đó nuôi thúc chừng sáu tháng hay một năm là xé phay gọn.
- Tụi nó khôn lắm. Nó đầu quân vô cơ quan học đánh máy để khi rành rồi ra Đồng Dù làm sở Mỹ, lương sáu bảy trăm một ngày. Tôi tìm hiểu kỹ, tụi nó mới thú thiệt. Đau khổ chưa ông tha-mu ?
Tôi quay trở lại việc mở lớp pháo binh:
- Ngày khai mạc mình cố gắng làm cho long trọng một chút!
- Vô gặp ông quận ngố kỳ này anh nên lấy danh nghĩa phòng tham mưu quân khu cho ông ngán nghe! Ông này bù trất như tôi nói hồi nãy, lại co thủ, sợ khó, nguyên tắc máy móc. Chuyện gì ổng cũng không tin là mình làm được cả nên hay bẻ tới vặn lui mệt lắm. Anh cứ đẩy cây thoa mỡ bò thằng chả.
- Đẩy cũng tùy chuyện chớ !
- Thằng chả tối ngày chỉ ở dưới hầm, không dám ló lên mặt đất. Nếu có đi đâu thì ổng chạy chớ không dám đi xé. Ổng có bộ giò quấc trứ danh cho nên ai cũng gọi là Tám Giò thay vì Tám Chân là tên cúng cơm của ổng. Thằng gạc-đờ-co của ông ghét ổng lắm vì nó chạy theo mệt ứ hơi. Hồi năm ngoái thằng nhỏ chở ổng qua ngã ba Bàu Lách bị đầm già cão đùng một phát ngay chóc. Thằng nhỏ chết ngay, còn ổng mặt mũi nám đen. Chết hụt kỳ đó ổng sợ đầm già hơn cả B52. Anh biết ổng sợ cái gì kế đó không?
- Sợ gì?
- Sợ cán bộ khu và cán bộ R.
- Sao kỳ vậy?
- Vì mấy ông nội này xuống gặp ổng là hỏi hầm trước nhất Có lần ổng phát cáu quát họ trước mặt tôi: “Hầm đâu mà sẵn vậy. Tía tôi cũng không đào kịp. Có đi xuống đây kỳ sau nhớ mang theo mà xài.”
Hai Khởi lại bảo.
- Tôi nói chuyện anh nghe, anh chỉ dùng một lỗ tai thôi, còn lỗ bên kia lắng nghe đầm già. Nó phục kích im lìm trong mây. Chờ mình đi tới, nó xé mây nhào xuống phóng rốc kết, mười phát không phải một. Hì hì… để tôi nói tiếp về ông thợ thiến heo. Ông này chuyên môn bị mấy bà bành đeo.
- Có bà Hai Xót không?
- Làm sao khỏi miệng chằn nuốt. Ổng có hầm ở Bàu Lách, Bàu Trăn, Xóm Bưng, Gót Chàng và luôn luôn di động vì ở hầm cũ sợ biệt kích ném lựu đạn. Hiện ông ta bị bác Tám ở đường số 7 hăm thiến bằng dao xắt chuối. Vì ổng tò dè con gái người ta, hiện cũng là dũng sĩ.
- Là con nhỏ nào?
- Tư Bé .
- À tôi biết rồi! Hồi mới tới đây cô bé liên lạc có dắt tôi ghé nhà ông Tám xin dừa nạo uống.
- Con bé mình cọp xương voi đó mà ! Cô ta bị rủ ngủ chung một hầm sao đó. Rồi đổ bể tới tai ông già . Ổng không cho cô đi bắn sẻ nữa . Đó là chuyện tôi nghe đám con Út Nhỡ rủ rỉ kể lại chớ tôi nào biết gì. .
- Nói vậy ông tham miêu cũng đã niên nạc với các nàng dũng sĩ rồi à ?
- Mấy nàng đó đều nằm ở dưới quyền điều động của tha-mu tui mà ! Chuyện ông nào thả con be he, ông nào R trên R dưới tụi nó đều khai với tôi hết.
- Còn mấy ban chỉ huy xã đội?
- Hễ xã đội thì càng nằm dưới nữa! 1
- Ông có quen ban chỉ huy xã đội Phú Mỹ Hưng không?.
- Có cô xã đội phó coi đặng lắm. Nhưng rất khó dượt. Cô ta khoe có ông anh tập kết mới về mần chức gì lớn lắm. ..Hỏi tên gì, cô ta còn giữ kín. Tôi điều tra kỹ mà không có anh nào hết, sợ e anh nối ruột hè hè… Cái trò anh nuôi, chị nuôi, tía nuôi đó nhiều màn hiếp dẩn lắm thầy Hai ơi! Cô xã đội phó này sắp được đề bạt lên xã đội trưởng thay cho thằng Năm Thuận đang thụt lùi về vườn câu tôm bán gởi ra tiếp tế cho vợ ở ngoài Phú An. Cô ta không nhận mà lại muốn vọt qua Thanh An ở với bà già. Nghe nói bả hứa gả cô ta cho ai đó
- Ở đâu?
- Không biết. Nhưng mấy lần họp quân đội, cô ta đứng lên phát biểu ý kiến mặt quạu đeo không phải như mấy lần trước. Hay là có cái bị của anh Hai gởi về mà còn chưa nhờ ông Tư Chuyền mổ xẻ?
Tôi giật mình, nhưng lặng thinh không dám hỏi tới, sợ lộ tông tích. Cái vụ nàng bắt xác tôi vừa rồi sau khi đụng độ với nàng Ua tại quán cô Chia, dám gieo mầm sống mới lắm. Tôi đâm ra hối hận vì quá dễ bị các nàng điều khiển.
Hai Khởi cười khan một mình, rồi nói:
- Thời buổi này làm bác sĩ coi bộ khỏe anh ạ .
- Làm bác sĩ như Tám Lê bên Bưng Còng chữa cho thương binh không kịp bị rượt chạy cong đuôi sướng gì!
- Sướng cái khoản khác kia. Như lão Tư Chuyền chủ nhiệm quân y của hậu cần mình, chỉ là bác sĩ nhảy rào không có pa-tăng nhưng nó có một bầy nhền nhện bủa vây. Ngủ võng hai tầng. Đêm nay ngủ hầm này, đêm mai ngủ hầm kia, tay chân tha hồ táy máy. Thằng chả tuyên bố hầu như công khai với mấy đứa cứu thương: “Đứa nào ngủ với tao, tao dạy môn y tá sớm sớm” Ngủ có nghĩa là gì anh hiểu không?
- Ngủ có nghĩa là ngủ chớ còn nghĩa gì nữa?
- Hắc hắc hắc…
Đang đạp ngon trớn bỗng thấy có tấm bảng gỗ thô cặm giữa đường mang hình hai khúc xương tréo qua chiếc đầu lâu vẽ bằng vôi trắng, tôi rà xe chậm lại, nhưng Hai Khởi lách qua và vọt tới.
- Chẳng có mẹ gì đâu. Tôi đã dặn tụi du kích rồi. Cái này chỉ hù người lạ thôi.
Vừa qua khỏi cái đầu lâu thì gặp một ông bận quần xà lỏn áo lột da ếch phơi tấm lưng trần vàng cháy, một bên lủng lẳng khẩu K54, một bên toòng teng chiếc bi đông Trung Quốc tróc sơn gần hết, tay cầm cây roi quất quất như thầy pháp đuổi tà, còn một ông đi chống nạng, chân phải cà lĩa chấm phẩy. Hai Khởi bấm chuông leng leng. ông cầm roi quay lại. Hai Khởi giơ tay:
- Chào chú Ba .
Tôi thấy một bộ râu bó hàm, một cặp mắt trắng dã sâu hóm, Hai Khởi vừa đạp vừa hỏi:
- Còn đầy ba xi đế không chú Ba?
Người đàn ông quay lại nhìn, không kịp đáp thì Hai Khởi đã vọt khỏi.
- Anh biết hai thầy trò ông đó là ai không? Đó là ông Ba Râu và Tư Còi. Ông Ba Râu hiện giờ là thủ kho của quận. Trong kháng chiến chín năm ổng làm liên lạc bên Bến Cát, Long Nguyên, Thanh Tuyền. Ổng cầm roi quất quất như vậy đó là thói quen từ thời đó tới giờ không bỏ được.
- Tại sao vậy?
- Là vì đi đêm sợ rắn bò cạp cắn, phải cầm roi xua trước. Ổng chỉ giải khát bằng ba xi đế. Còn ông kia là tiểu đội trưởng của tiểu đoàn Ba Râu. Hai thầy trò đánh trận Bàu Lách đều bị thương. Ông thầy thì bị lủng ruột mất sức chiến đấu, còn thằng đệ tử thì bay cái bánh chè . Bây giờ cả hai làm thủ kho. Lính gặp ổng phát gạo thì kể như no cưởng. Ổng dồn nứt ruột tượng rồi bảo cởi quần dài ra buộc túm ổông đong cho đầy luôn. Ổng bảo: “ăn no đánh mạnh nghe các con! ” Thằng Tư Còi ra trận cầm cái kèn xe hơi bóp bí bo bí bo thay cho kèn xung phong. Bây giờ nó vẫn còn đeo cái kèn trong lưng thỉnh thoảng buồn tình, đang giữa trưa, nó rút ra bóp inh ỏi chó sủa và người ta chửi om: “Đồ cái thằng không bánh chè ! Vô đây tao nhồi bột đắp cho!”
Hai Khởi đạp loanh quanh vô đường ngang tắt ngoài ngoèo tôi không nhớ nổi, thì đến một cái ngõ rắp chà tre theo kiểu chỗ Năm Lê. Hắn xuống xe lôi vẹt nhánh chà qua một bên rồi bảo tôi:
- Đi đại qua, tụi nó không có gài lựu đạn đâu! Chỉ khi nào báo động tụi nó mới gài.
Đây là một vạt đất chạy dài theo bờ Rạch Sơn Từ Bến Mương đi vào. Dọc bờ rạch là bậc đất cao nhà nào cũng trồng tre gai để bao bọc miếng vườn của mình. Bên trong là khoai mì, chuối mít, mảng cầu, vú sữa. Nhờ nước rạch tưới miên man nên cây vườn xanh tươi, xóm làng rất trù phú. Chiến tranh mới đến ở ven rìa nhưng chưa thường xuyên như ở Bàu Chứa, An Nhơn hay Hố Bò .
Hai đứa dắt xe đạp đi dọc theo bờ tre gai một quảng ngắn thì thấy một làn khói mỏng bay lên từ một mái lá đứng thu hình dưới một tàng vú sữa. Hai Khởi rỉ tai tôi:
- Đây là ổ của ông quận đội. Con nhỏ nấu bếp coi khá đứa lắm, nhưng ăn nói càn ngang không kể lớn nhỏ. Không biết ông quận có tặng cho viên kẹo đầu tà nào chưa?
Hai Khởi kêu vọng vào nhà:
- Bảy Phấn có đó không, ra anh Hai biểu chút coi!
Một cô gái lùn lùn mặt tròn cầm nhọn, nước da trắng, bước ra, quát trả:
- Ai mà lớn lịnh vậy hả ?
- Có ổng trong hang không? Ổng biểu tôi mời khách đến mà có chuẩn bị đồ cầm tay chưa?
- Có chuẩn bị cho khách chớ không có cho chú đó, chú Hai.
- Chú Hai thì chú Hai sao còn chú đó ? – Hai Khởi quay sang tôi nói nhỏ – Nó kêu bằng chú để chặn họng mình thấy chưa.
- Ừ thôi không chú đó thì chú đọ . Nói theo mấy ông Bắc mới vô, chữ gì cũng bỏ dấu nặng.
- Cái con nhỏ này!
Bảy Phấn ưỡn ngực như khoe mình không nhỏ.
- Người ta vầy mà kêu con nhỏ.
- Từ rày bây đừng kêu tao bằng chú nữa nghe. Kêu vậy tao hết món ăn! – Mấy ổng ở ngoải về ông nào cũng muốn sụt chức hết á ! Mấy ông đầu bạc phếu cũng bắt con người ta kêu bằng anh. Mập béo gì dữ vậy?
Hai Khởi đứng xe qua một bên rồi quay lại hỏi cô bé :
- Như ông này bây kêu bằng gì?
- Ơ…- Bảy Phấn ú ớ không biết đáp ra sao.
- Bằng anh hay bằng chú, nói tao nghe coi! Có muốn…làm quen, tao giới thiệu cho. Ổng về thay ông Hai Giả đó nghen bây. Thôi để tao vô chầu ổng sớm sớm!
Nói xong Hai Khởi dắt tôi xịt qua bụi tre gai rất lớn ở mé hiên nhà, nơi mở ra một miệng hang ăn xéo vô dưới gốc tre. Tôi theo Hai Khởi đi hết mấy bậc đất mòn lẳn. Hắn quay lại dặn:
- Thầy coi chừng! Khom khom xuống để rể tre nó cào rụng tóc.
Bên trong hang tối om om. Tôi có cảm giác đi vô hang Chùa Trầm, hang núi ông Tịnh, hay Thạch Động ở Hà Tiên, nhưng tinh thần không sảng khoái chút nào vì ở đây đã nghe ngực hơi nặng nặng. Ông này xây ổ khôn thiệt. Ông ta lợi dụng thiên nhiên. Cái bụi tre có thể làm giảm sức lướt của trái pháo hoặc làm cho nó nổ bên trên trước khi khoan vào lòng đất. Khác hẳn với hầm Đờ Cát của Năm Lê xây trong nhà. Một tấm ni lông giăng ngang làm trần nhà (đúng ra là nóc hầm) để chặn nước mưa len theo rễ tre rơi xuống hầm. Tôi phải đi lom khom như con thuyền vô trạo của Hồ Xuân Hương vậy. Tôi biết ngay chủ cái hầm này là một ông nông dân ngay. Vì trí thức không biết cái trò chơi này. Trên một chiếc băng tựa vào vách đất, một người mặc áo bà ba đen, chân dựng lên cao ngang mép tai đang húi hoáy viết dưới ngọn đèn đầu bốc khói xám xịt. Trên mặt bàn là một xấp pơ-luya hình như mới lấy ra từ bàn máy chữ.
- Có thầy Hai tới nè anh Tám.
Người đàn ông bỏ chân xuống, ngưng viết, ngó tôi:
- Ông trưởng ban H6 mới đây hả?
- Dạ, tôi đưa ổng đến gặp anh để bàn thêm chi tiết về việc chiêu sinh cho lớp pháo binh nhân dân.
Tôi bước tới đưa tay theo phép xã giao thông thường, nhưng ông quận vẫn ngồi ngó tôi lom lom. Hai Khởi nhắc:
- Ảnh đưa tay cho anh bắt cà anh Tám!
- -Vậy hả?
Tám Giò cũng vẫn ngồi, đưa bàn tay xòe ra đủ mấy ngón rộng như những cọng quạt nan lùi xùi không còn giấy rồi nói:
- Vậy hả ! Tôi nghe bảo ổng là thầy của ông Hai Giả mà sao còn trẻ vậy?
Hai Khởi nói:
- Trẻ nhưng hồi đánh chìm mấy chiếc xà lan gạo của Tây ở bến Dòng Sỏi và đánh đồn Bến Súc năm 47 đã có mặt ổng trong Vệ Quốc đoàn rồi đó.
- Vậy à ? – Tám Giò ngạc nhiên – Lúc đó thầy Hai ở đơn vi nào?
- Tôi làm ở văn phòng anh Ba Tô Ký và anh Ba Xu.
- Dữ vậy sao? Lúc đó tôi còn chăn trâu ở Tầm Đinh, đâu có biết Việt Minh là gì.
Hai Khởi chêm thêm:
- Ổng vô đảng hồi mười bảy tuổi đó anh Tám!
Tám Giò lúc bấy giờ mới đứng dậy sốt sắng.
- Trời đất quỷ thần. Hơn tôi cả chục tuổi đảng ! Mời ngồi. Ngồi! Ta bàn công chuyện.
Tôi ngồi xuống chiếc băng gỗ đối diện với Tám Giò . Mắt tôi đã quen với bóng tối nên bắt đầu nhìn rõ mọi vật bên trong. Cái hầm quả thật sơ sài. Không có gì hết ngoài cái bàn tròn thuộc loại xếp của người Tàu và hai chiếc băng gỗ chân chôn. Nhờ có rễ tre chăn chịt nên đất mới không rơi xuống đầu cũng không sụp cho nên không có một cây nạn chống đỡ nóc hầm. Nhiều mảng ni-lông rách để lòi rể tre non tua tủa trắng như những chòm râu bạc. Phía trước mặt tôi có hai cái ngách, mỗi cái rộng đủ một người chui. Bên phải có một cái bùng binh khác. Từ đó vọng ra tiếng lắc cắc của máy đánh chữ xen lẫn tiếng người. Có cả tiếng con gái eo éo đùa cợt. Tám Giò ngó qua bùng binh bảo:
- Bên đó có đứa nào qua đây tao biểu chút. À, Hồng hả ! Kêu con Phấn pha ba ly cà phê sữa đem lên đây lẹ lẹ. Rồi đem bình trà với ba cái ly bầu.
Cô bé dạ một tiếng rồi chui qua cái ngách con biến mất như chú chuột. Phía bên trong có một cái ngách nhỏ hơn, muốn vô phải bò chớ không đi khom được. Tôi đoán chắc là đường Huê Dung ăn thông ra sinh đạo. Mấy ông chúa hầm đều thủ sẵn cái lối thoát cuối cùng đó cả. Chỉ có tôi là còn lêu bêu chưa lo nổi thôi. Không ai sống ở Củ Chi vào thời đổ chụp không lỏi ngày nào này mà lè phè cà khịa như tôi. Lo đi xin súng về trang bị cho cán bộ, lo may quần áo cho liên lạc viên, lo mua chài lưới tự túc, lo làm bố của con đàn bà góa, lo giải quyết đời sống cho nhân dân, lo chuyện thiên hạ sự còn sự của mình thì lại không lo: cả cái hầm ếch cũng chưa có Nếu có đổ chụp thì chỉ có một cách là chạy cà còng như nai trên R.
Tôi móc bọc thuốc rê trong túi ra để trên bàn rút một miếng quấn hút. rồi mời Tám Giò . Tám Giò làm một điếu và nói chữa ngượng vì không có gì mời khách để khách phải mời mình.
- Hút thử thuốc ông Thầy coi tới không? (Tự nhiên ông quận lại kêu tôi bằng thầy.) Tụi nó mua cho tôi tàng thuốc phèn bập muốn trớt mỏ.
Chợt thấy mấy khúc cao su lót dưới đất. tôi hỏi:
- Anh Tám lót nền bằng mấy cây này làm gì đi cho trợt chân?
Tám Giò trỏ lên nóc hầm:
- Cái lỗ thông hơi kia kìa, nước mưa tuôn xuống chèm nhẹp. Phải đào một cái lỗ cho nước rút xuống đó rồi lấy thùng múc đem đổ trên kia.
- Trời mưa mấy anh làm sao ngủ ?
- Căng ni-lông như ngủ ngoài rừng, còn ban ngày thì chỉ che cái bàn làm việc.
- Vậy ngủ ngoài rừng còn khỏe hơn.
- Nhưng ngủ dưới này ít sợ pháo ăn.
(Tội nghiệp! sợ rồi cũng không khỏi. Sau này Tám Giò bị pháo phang đứt cổ, cái đầu văng đi đâu không tìm được. Cơ quan chỉ chôn có khúc mình.)
Tám Giò tiếp:
- Sỡ dĩ tôi cho đốn cây cao su lót sàn là vì không còn ván, vách hoặc cánh cửa, cột kèo gì hết, nhà cửa ở đây tôi ra lệnh hạ hết rồi. Làm như không còn ai ở đây nữa. Như vậy trực thăng đầm già không để ý nữa. Nó thấy còn một nóc nhà là nó kêu pháo bắn hoặc nó phóng rốc kết chịu không thấu thầy ơi!
- Nếu nó càn bộ anh làm sao?
- Nếu Đồng Dù cho xe tăng tới suối Cây Điệp, thì ở đây mình phải gài lựu đạn, rồi chui.
- Còn cái miệng hầm tô hô nó thấy làm sao?
- Mình gài lựu đạn giáp vòng khu vườn này gài cùng khắp lối đi. Tụi Mỹ rất nhát, bắn pháo, bỏ bom thì ghê lắm nhưng đi bộ lại sợ. Hễ thấy máu là co vòi ngay. – Tám Giò đi vào chuyên đề pháo – Thầy rành pháo, vậy coi cái nóc hầm tôi chịu nổi cỡ pháo nào?
Tôi ngó quanh rồi đáp:
- Cái bụi tre này hay lắm. Nhưng nếu pháo nhểu trúng, có thể 105 trở xuống thì còn chịu được chớ 155, 175 thì tôi không chắc đâu. Còn bom cũng vậy. Bom nó có ngòi nổ nhanh, ngòi nổ chậm. Loại nổ chậm thì vùi sâu mười thước rồi mới nổ phá. Riêng bom đìa thì khỏi nói rồi!
Tám Giò ngồi điếng ngắt, tỏ vẻ không hài lòng. Một hồi lâu mới nói:
- Bề gáy nắp hầm này giỏi lắm một thước. Cái bụi tre đâu có nghĩa gì.
- Cò ỉa miệng chai anh Tám à ! Mình sống ở Củ Chi này như cá lọt kẽ đăng. Nếu nó nhểu ngay thì không có gì chịu nổi. Tụi lính trong Trung Hòa toàn ở hầm xi-măng. Nhưng mình đâu có pháo 120 ly để chơi nó. Tụi Lai Khê, Đồng Dù toàn dùng 155-175 không hè.
- Ừ, nó nổ mình ngồi trong hầm, đất rung nghe ớn quá đi!
Một cô một cậu đem cà phê và trà tới. Tám Giò nói với Hai Khởi:
- Uống cà phê mà hút thuốc rê chết bộ quá, đồng chí bảo sắp nhỏ kiếm một gói đãi khách.
Một tiếng nhỏng nhẽo vọng sang:
- Cháu còn dự trù hai gói Ruby đây chú Tám!
- Ừ được đem đây ! Nhưng để dành cho tao đãi khách. Tụi bây chớ có hút. – Quay sang tôi, Tám Giò phân trần – Tôi bảo chúng nó hút thuốc là phạm chánh sách kinh tế, nhưng tụi nó xài sang hơn tôi. Do cái thuyết hiện sinh hiện siếc gì đó ở Sài gòn ăn ruồng vào đây. Rồi đám thanh niên thanh nữ đi làm ở Đồng Dù- đem về lây ra nữa. Mỗi ngày công năm trăm đồng, nó toàn hút thuốc thơm và uống la ve hộp. Làm đi thầy Hai, làm cho trơn cổ rồi mình tính chuyện cưa vài cây đầu vuông.
Hai Khởi hỏi.
- Anh Tám định đãi khách món gì đó anh Tám?
- Có hủ mắm cá con tụi con Phấn vừa trộn đu đủ. Tôi biểu tụi nó đi mua thịt ba rọi về luộc xắc mỏng mình đi kèm với chuối khế rau thơm rồi đưa cay an iếc được không?
- Vậy thì đả tỉ rồi anh Tám. Pháo bắn nằm vỗ bụng chơi, không có ngán chút nào!
- Ý, miệng ăn mắm ăn muối đừng nói vậy đồng chí!
Tôi vừa nhắm nháp cà phê vừa giải thích đại khái môn pháo binh là linh hồn của chiến trường cho ông quận đội trưởng nghe. Nghe xong ông chắt lưỡi hít hà:
- Vậy mà xưa nay tôi tưởng pháo chỉ để dành bắn phá sơ sơ rồi rút chạy.
- Nếu ta muốn bộ binh chiếm trận địa mà không có pháo ủng hộ thì số hi sinh sẽ cao lắm. Có những chiến trường ác liệt, Tư lịnh chiến trường yêu cầu mỗi thước vuông là một quả pháo đó anh Tám ạ.
- Trời đất, dữ vậy sao thầy?
- Bắn đến nổi không một hòn đất nào còn nguyên thì xe tăng, cơ giới mới đi lên, rồi bộ binh mới đi sau cùng, chỉ còn tỉa những tên ngoắc ngoải sống sót thôi.
Tám Giò trố mắt ra nhìn rồi vỗ đánh bốp vào bắp vế đen mun của y mà kêu lên:
- Nghe đả quá ! – rồi gải đầu tóc bùi xùi – nhìn lại mình chỉ có mấy cây CKC và súng ngựa trời, chông ba lá ! Tội nghiệp ba thằng Năm Cội, Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử giờ này ở đó đào cưa bom lép để chế địa lôi đánh xe tăng. Hổng biết cái xưởng của nó đã sản xuất được mấy trái?
Tôi thì tôi tội nghiệp cho đồng chí quận đội trường của tôi. Chỉ huy một quận chống với cái Đồng Dù Mỹ hiện đại nhất thế giới mà chỉ có ba cây súng trường ! Đảng là loại lãnh đạo gà mờ, phản khoa học nên bất chấp khoa học, đưa xương máu nhân dân ra làm vật thí nghiệm cho vũ khí Liên Xô . Dân Nam kỳ chết nhiều thì càng bớt đi cái mầm mống chống đảng. Càng tốt! Nhất là trong những cái thây ma kia, không có cái nào là con cháu của bộ chính trị hay của bộ trưởng thì thôi. Một lũ dân ngu mê tín Trung ương như một bầy trâu bị đốt đuôi cứ đâm đầu húc càn rồi cuối cùng ngã quỵ vì ngọn lửa của Trung ương buộc ở đít mình. Tám Giò là một trong bầy trâu ngây thơ đó. Tôi và Hai Khởi nữa.
Tôi đã dạy ở trường pháo miền Bắc, về Nam tôi dạy trường pháo binh R. Hai cái trường này khác nhau rất xa. Ở miền Bắc, học sinh có trình độ để thu nhận bài học. Thời đó ba cái lập trường giai cấp đã phai nhạt đi rồi. Vấn đề văn hóa được chú ý hơn. Không có học viên pháo binh với trình độ lớp hai lớp ba. Nhưng vào trường R thì ông bà bần cố loạn xà ngầu. Cũng may là trường chưa mãn khóa đã đóng cửa non vì B52. Bây giờ tôi lại phải dạy du kích bắn mục tiêu che khuất và bắn ứng dụng. Bắn ứng dụng là một lối bắn du kích phá cả qui luật của pháo binh. Nhưng lối bắn này được đề ra do nhu cầu chiến trường miền Nam và bố đẻ của nó là ông Trung tướng Tàu từng tham gia Vạn Lý Trường Chinh. Có các bộ bắn đứng nằm quì ngồi ôm nòng súng mà bắn. Tôi đã đích thân dẫn bọn thằng Tôn Sứt ra bắn thử ở nền đồn Bổ Túc cũ trên R. Phương pháp này rất nguy hiểm cho pháo thủ và không bảo đảm kết quả, nhưng đói ăn vụng túng làm càn là thế đó. Năm ăn năm thua, nhưng hãy anh dũng tiến lên!
Bạn là con nhà pháo hoặc chỉ là người thường, hãy tưởng tượng một khẩu cối 81 ty phải bắn cầu vòng, mà ở đây pháo thủ phải ôm nòng pháo bắn thẳng vào đồn hoặc vào nơi cụm quân thì khác biệt với thường lệ như thế nào?
Tôi thuyết cho Tám Giò nghe toàn những triển vọng, còn những khó khăn thì tôi không nói tới cho nên Tám Giò rất thích. Nghe xong y xòe bàn tay ra đập đập trên mặt bàn làm ly cốc nhảy tưng tưng và nói:
- Kỳ này phải đè đầu tụi Trung Hòa và Đồng Dù xuống mới được. Để nó vầy hoài thì mình không có lú lên mặt đất nổi. Hà hà … Tôi sẽ dẫn ông thầy vô Đồng Chà Dơ hoặc Bàu Đưng tập cho du kích bắn thử vài phát. Ở trong đó còn cái nền lô cốt và cái lò vôi. Mình lấy đó làm mục tiêu xạ kích.. Lúc này tụi Trung Hòa ỷ có Mỹ vô Đồng Dù, nên dám thọc vô Gò Nổi, Ràng, Lào Táo, Trung Hưng nằm lại đêm, buổi sáng mình đi lơn tơn ra, nó chĩa súng bắn êm rơ. Còn dưới Phú Hòa Đông nếu tụi Đồng Dù vô Cây Sộp hoặc Phú Hiệp tôi sẽ cho du kích nã vài phát cho nó co vòi lại.
Ông quận đội hớn hở ra mặt, đưa tay vỗ vai tôi thật mạnh để kết thúc câu nói:
- Vậy mà lâu nay ông Hai Giả không chịu nhúc nhích chút nào!
Hai Khởi hớt:
- Vấn đề bắn ứng dụng này chi có thầy Hai mới biết thôi! Trước khi về Nam ổng chỉ huy một khẩu đội pháo bắn cho các ông Liên Xô và Trung Quốc xem đấy. Ổng để ba phát sập ba cái lô cốt. Ổng bắn luôn ba phát nữa cháy luôn ba cái xe tăng chạy trên đường.
Tám Giò nhảy dựng lên.
- Úy trời xe tăng ở đâu vậy?
- Xe tăng giả do xe môlôtôva kẻo chạy trên đường và lô-cốt giả mình dựng lên ấy mà anh Tám.
Tám Giò ngồi ngớ ra, điếu thuốc trên môi run bần bật. Tôi thấy tội nghiệp ông quận đội trưởng lần nữa. Ổng đâu có kiến thức quân sự tí nào. Cứ việc kên mình lên hứng bom pháo cho vui lòng trung ương thôi. TôI nhìn ông ta mà có cảm tưởng đó là cô bán sữa với chiếc bình sữa trong thơ ngụ ngôn của La Fontaine. Chỉ có điều là cô bán sữa Tám Giò không có chỗ nhảy cỡn lên để làm rơi chiếc bình vỡ tung thôi!
Kết thúc thắng lợi 500% buổi thuyết trình pháo là bữa nhậu mắm cá con trộn địa đủ kèm thịt ba rọi luộc.Ông quận đội này chê rượu aniếc uống ngọt quá , mất mùi, nên bảo lấy món đặc sản đãi tôi.
Ông trỏ chai rượu Bảy Phấn vừa đem lên đặt trên bàn, hỏi tôi:
- Ông thầy còn nhớ rượu này không?
- Hồi ở miền Tây tôi có nếm qua thứ này.
- Đây là mít nghệ, nướng rồi bỏ vô rượu. Uống có mùi thơm của mít và không mất chất cay của rượu, không như aniếc của Sài gòn ngọt như chè, uống không ghé.
Hai Khởi là loại người giống Trần Bá Xài ở miền Tây và Hoàng Thọ ở miền Đông. Chỉ khác chỗ là Khởi mặc quần áo chớ không ở trần và phá mấy bà Bành như Hoàng Thọ và không có em vợ để gả cho tôi như Trần Bá Xài. Hai Khởi sanh ở Dầu Tiếng, làng 10, nói tiếng Nam còn lòi gốc rau muống.
- Anh Tám à ! Nhậu dưới hầm bực quá, mình lên sân thượng đi anh Tám.
- Không được đâu đồng chí. Pháo nó giã thình lình mình không có nhào kịp. Nó là thằng đui. Đồng chí không nhớ ngoài ngã ba Cây Điệp một trái pháo bay luôn hai vợ chồng mới cưới, ở Hố Bò… rồi ở Bàu Lách, Gò Nổi… đều xảy ra những vụ tương tự hay sao?
Nhậu nửa chừng, Tám Giò cụng ly với tôi và hỏi:
- Các cha mùa thu về trong này đồn chuyện này chuyện nọ của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa nghe mệt quá, thầy Hai có chuyện gì mới mới nói nghe chơi cho khỏe gà chút coi!
Hai Khởi gật gù rồi nhướng nhướng mắt, nói giọng nhựa nhựa:
- Ở ngoải cũng như ở trỏng thì cũng chỉ có cái này là khỏe thôi anh Tám!
Hai Khởi giơ nắm tay lên. Tám Giò bật cười hô hố. Tôi không biết chuyện gì. Hai Khởi quay sang tôi đưa nắm tayquơ quơ: đầu ngón cái lú ra giữa ngón trỏ và ngón giữa. Tám Giò nói:
- Ở trong hay ở ngoài thì cũng chỉ có cái đó là chết người thôi. Hề… hề…
Tan tiệc Hai Khởi đưa tôi về một khúc. Trước khi rẽ sang ngã khác hắn bảo:
- Mấy cha nội này không biết pháo ghiếc gì đâu. Mà tôi nghĩ là tụi du kích này chỉ bắn vài phát lạy ông con ở bụi này. Tụi Mỹ cho xe tăng càn là mất súng.
Tôi xách theo gói mắm của Bảy Phấn cho gọi là mối thiện cảm. Nhưng theo luật tự nhiên của Củ Chi này thì cô nàng nấu bếp xinh xinh chắc chắn đã là con nuôi hay em nuôi của ai rồi.
Về tới nhà tôi ném gói mắm cho chị nuôi, rồi vác ba lô đi xuống bến tắm một phát tẩy trần. Ngồi trong cái hầm dơ dáy của ông quận, nhậu rượu mít với mắm, da như sần lên ngứa ngáy. Có lẽ lại bị ghẻ xốn như mấy cô em. Tôi bắt đầu cào bắp vế cào bên hông, ngoéo ra sau lưng chà lên cổ rồi cào tóc tai xửng lên như lông nhím.
Văn phòng tôi đóng ở ngoài rìa xóm gồm có nhà của ông ấp đội Tám lù đù, nhà vợ chồng Út và vài ba nóc nhà nữa. Tất cả người của cơ quan và dân xài chung một cái bến nước ở cuối một con dốc đá sỏi từ trên mé lộ đổ xuống nghiêng nghiêng như một cái mống cầu.
Hai bên dốc là dừa cau và cây ăn trái rợp mát. Ở bến này đậu thường trực chiếc ghe tam bản nhỏ của nhà Út dùng để qua lại sông Sài gòn chở lúa bên Thanh An về, nay H6 mượn bán thời gian để Út và thằng Đỏ đi chài cá ở con rạch Bến Mương này.
Tôi vừa đi vừa đá những hòn cuội cho nó rơi lăn lóc trước mặt tôi. Tiếng sỏi khua làm cho tôi nhớ truyện Les Etoiles của A. Daudet trong tập truyện viết ở Cối Xay Gió. Anh chàng ở đợ đem cơm lên cho cô chủ trên ngọn đồi bị mưa lũ không về được phải ở lại nhìn trời đếm sao với cô rất thơ mộng. Hai người tựa vào nhau, cô chủ ngủ yên… Bây giờ tôi cũng như gã ở đợ đó chăng. Cô chủ của tôi là ai? Tôi không mấy khi được rảnh rỗi để mà suy nghĩ mơ mộng vớ vẩn như hôm nay. Thiệt là hạnh phúc. Nhưng cái hạnh phúc vừa hiện tới bỗng biến tan ngay. Một tiếng kêu gần như thất thanh.
- Anh Hai !
- Đứa nào đó?
- Anh đi đâu vậy?
Tôi nhận ra Út. Nàng đang ẵm con đi về phía văn phòng. Thấy tôi không chú ý đến nàng, nàng đuổi theo sau bén gót. Tôi quát:
- Con nhỏ này đi đâu theo người ta vậy?
- Em đi coi ba sắp nhỏ chở lúa về chưa ?
- Lúa gì mà chở ?
- Em có năm công lúa chín bên Thanh An, ảnh qua đó gặt đập lấy hột đem về ăn.
- Bây đi vô nhà để đầm già phóng pháo chạy không kịp.
- Anh làm gì đuổi em vậy anh Hai.
Nghe cái giọng khác thường của người đàn bà, tôi quát:
- Đừng có theo tao nghe !
- Bộ anh giận em hả anh Hai?
- Giận gì! Bây lơ mơ tao mét thẳng nó đập mắc toi đó.
- Xí em không sợ ảnh đâu. – Út cứ theo sau tôi lằng nhằng – Sao anh cho con Mười đủ thứ hết vậy?
- Cho cái gì mà đủ thứ?
- Chỉ khai với em hết mà .
- Nè, đừng có bép xép cái miệng nghen. Coi vụ ông Hai Giả kia kìa. Bày đặt cho hung đó !
- Bày gì mà bày, con Hoàn nó kêu anh bằng ba trước mặt cơ quan còn gì nữa.
- Con bé nó thương tao nó đeo vậy thôi chớ ăn nhậu gì?
- Ăn nhậu sao không ăn nhậu. Chị Mười đi đâu cũng khoe anh là ba con Hoàn.
- Khoe thì khoe mắc mớ gì bây mà bây kèo nèo.
Tôi thấy sợ đàn bà thiệt tình cái một ta ơi! Hễ họ đeo thì dính. Mai Khanh, bà khu ủy, Lụa, Mười, rồi bây giờ hổng lẽ con quỷ này nữa. Nó mà chài mình thì sợ khó thoát. Cũng như Mười. Cô nàng không gạ mình tới hai câu, mà đã thế rồi. Lỡ lùm xùm ra mình trở thành một Hai Giả thứ hai.
Nghĩ vậy, tôi bảo:
- Anh tội nghiệp mẹ con con Hoàn. Bằng ấy tuổi đã mẹ góa con côi.
- Xí! Thân anh, anh không lo để lo chuyện bao đồng. Em muốn nói với anh một chuyện mà sợ anh rầy.
Tôi nghiêm sắc mặt:
- Nè, hổng có nói chuyện bậy bạ nghe!
Con nhỏ mình dây, gương mặt trái xoan có vẻ lanh lợi chớ không thiệt thà như má con Hoàn. Cả hai đều đẹp cả, nếu phải chọn lựa giữa hai người đàn bà này thì tôi phải suy xét cân đo kỹ lắm mới ngã về phía Mười. Tôi bảo:
- Em không nên nói chuyện gì hết! Để cho anh làm việc!
Út bồng con lẽ o đẽo theo tôi hoài. Đến bến nước tôi quát:
- Tao ngồi đây tao chờ thằng chồng bây về tao mét nó trấn nước bây luôn. .
Út cứ nói xơn xớt:
- Em không sợ ảnh đâu!
-Vợ mà không sợ chồng là gia đình không có hạnh phúc
- Chuyện gì thì em sợ chớ chuyện này em không sợ đâu. Em có bàn với ảnh rồi mà ! Ảnh rất đồng ý.
-Trời đất!..
Tôi chưa kịp nói hết thì Út tươm tướp:
- Ảnh bảo là phải lấy được của anh một đứa con cho dòng họ em, chớ ảnh thì con cái không khôn được.
- Thằng! Tao sẽ tống nó ra khỏi cơ quan nếu nó có ý định kỳ cục đó.
Bỗng thấy một chiếc xuồng lướt tới, tôi kêu lên:
- Nó về kìa! Tao cho hai vợ chồng bây một trận!
Thằng Đỏ ngồi ở mũi xuồng, vẫy tay la lên, tiếng của nó vang vang trên dòng sông yên lặng:
- Cá tôm quá sá ngán anh Hai ơi!
Út bơi lái cặp mũi vào chiếc cầu làm bằng một cánh cửa nhà ai lổ chổ vết đạn. Thằng Út nhảy lên còn Đỏ ở lại xuồng:
- Anh Út vải có bốn chài mà được bấy nhiêu đó !
Út leo lên ẵm con cho vợ xuống phụ với thằng Đỏ hốt tôm cá . Út vừa bỏ tôm cá vào rổ, vừa ngước lên nói với chồng:
- Ba con bé nói với anh Hai chuyện đó đi!
Út bảo vợ.
- Má mày nói đi, tui mắc cỡ miệng quá hè, má nó nói trước rồi tôi tiếp cho! Tui đồng ý lâu rồi!
Tôi nghĩ thầm: sao lại có loại đàn ông dám hi sinh vợ mình như thế. Và sao lại có loại đàn bà…
Hai vợ chồng đổ qua đổ lại không ai chịu vô đề. Còn tôi chờ chúng nói thì tôi quạt cho một mách. Cuối cùng vợ Út mở miệng:
- Con Mót không thua đứa nào ở Củ Chi này hết anh Hai ạ !
Út chồng nói thêm:
- Anh Hai chịu thì đẻ con khôn phải biết. Để chừng nào nó về phép sẽ tính. Nó lại ca vọng cổ mùi lắm anh ạ. Do đó Văn công R bắt nó lên trển.
- À ra thế!
Thiên hạ muốn lấy giống ông thầy pháo chứ chẳng phải chuyện kia. Tôi khen hai vợ chồng Út rồi bảo Đỏ đem tôm cá về cơ quan. Vợ Út đã đi còn nói với lại:
- Em có mua cục xà bông thơm giắt ở kẹt bẹ dừa tơ, anh lấy mà tắm!
Tôi nhìn theo hai vợ chống bế con đi lên dốc. Vợ đi sau đùa giỡn với đứa bé gác đầu trên vai chồng nhe mấy cái răng sữa cười và quơ quơ hai bàn tay chụp tóc mẹ. Tôi chỉ ước mơ một cái hạnh phúc đơn sơ như thế từ bao nhiêu năm nay mà không được. Cứ thấy nhấp nhoáng đó rồi mất. Giá nó đến như thằng Hùng, má cưới vợ rồi dắt lên cho…
Bây giờ chắc nó đã có con rồi. Còn mình cứ như bị án tử hình treo sắp chém nhưng chưa biết ngày nào. Yêu tất cả là chẳng yêu ai, và không được gì cả.
Tôi ra ngồi trên chiếc cầu bắc nhô ra mặt nước bên tàng cây rậm ri. Hình như chưa bao giờ được hưởng một yên tĩnh của thiên nhiên như hôm nay. Pháo phiếc, máy bay máy biếc hình như cũng chìu lòng khách chinh phu: Bắn làm gì cho nát thêm không gian vốn đã vỡ từ hàng chục năm nay rồi. Bắn làm gì, khi đã phí bao nhiêu tấn thuốc nổ rồi mà nó vẫn còn nguyên đây! Hãy nên làm lành với nhau cho con người bớt đau đớn, cho trẻ con không mất cha, cho đàn bà không mất chồng vô ích. Rồi ra đâu cũng vào đấy mà thôi, chẳng ai thắng được ai. Tôi ê ẫm, chán ngán đến cực độ. Tôi không muốn gì nữa hết. Dòng sông này yên lành trong mát quá. Tôi thèm sống lại tuổi ấu thơ với những trận thủy chiến oai hùng với những nắm bùn tung vào mặt nhau, với những phát lặn nín hơi đứt thở, đả đời. Tôi muốn ôm chiếc bộp lá thả bập bềnh theo dòng nước trôi đến ngoại càn khôn để sống ở ngoài cái vung úp của thượng đế, nơi đó tôi sẽ được yên tĩnh vui sống với cỏ cây, làm bạn với cầm thú.
Bầu trời xanh ngắt cao vút trên vòm cây in bóng dưới đáy sông lung linh. Ở dưới đó có một thế giới nào yên tỉnh không? Tôi sẽ mua vé tốc hành đi xuống. Tôi sẽ tuột bỏ hết mọi cái ở trên đời này, nào H6, nào thủ trưởng, nào đảng ủy để sánh đôi với một người con gái nào lặn xuống dưới kia . Ở đó chúng tôi có một căn nhà như cái chòi của thằng Hùng, một cái nhà như của bà khu ủy, một cái quán như của Chia… một cái giường và một cái bếp bên cạnh bàn ăn… Sao ta không chịu quyết định cho rồi nhỉ? Tôi tự hỏi tôi, nhưng không có câu trá lời nào đến với tôi cả.
Tôi nhìn những nhánh cây mắm sà sát đong đưa như hôn mặt nước. Mấy con chim lông lá sặc sỡ bay chuyền đuổi nhau âu yếm trong lúc dưới nước những bầy cá lòng tong lội nhởn nhơ trong vũng bóng xanh đen làm mặt nước gợn lên lăn tăn như hơi thở nhẹ của đất trời vốn mệt mỏi, luôn đắm mình trong giấc ngủ đầy ác mộng, chiều nay mới thấy được giây phút bình yên.
Tôi nhặt lấy mấy hòn sỏi cầm nơi tay. À, đây là những hòn sỏi của Daudet đã từng rơi trên tim tôi và gây một nỗi niềm đau khổ nho nhỏ… trong tôi. Tôi ném nó thành những vòng cầu, tiếng lõm bõm vang lên trong không gian vắng lặng. Có đến mấy tiếng đồng hồ khi chui vào cái hang cá trê tới bây giờ không nghe tiếng bom pháo nào gần. quanh đây. Giá mà có cuốn truyện.Tàu nằm ngửa ra bãi cỏ này mà đọc rồi đánh một giấc tới tối thức dậy có lẽ thành tiên mất.
Đang thả hồn theo mơ ước viễn vông thì có tiếng sỏi khua sau lưng. Tôi quay lại. Thì ra cô y tá Lam (đúng tên cô là Út Lan nhưng vì nhiều Lan quá, xin tạm gọi là Lam để khỏi lẫn lộn vì tất cả các cô Lan sẽ tái xuất hiện sau này ) Trời đất đang im lặng, bỗng xáo trộn. Làm ở C5 quân y của Tư Chuyền ở trên Phú Mỹ Hưng mới thuyên chuyển về trung đội trinh sát của H6 được vài ngày. Cô bé này thông minh nhưng chưa có trình độ học y tá, chỉ tạm công tác cứu thương. Vì hiện tại H6 không có y tá cứu thương gì cả. Nàng có nước da trắng như Mười, nhưng cao hơn tí. Nói chung là được bốn điểm Liên Xô.
-Đi đâu vậy Lam?
- Đi tìm anh chớ đi đâu? Có người cần gặp anh.
Lam vừa nói vừa bước ra cầu. Sợ có chuyện hỏa tốc, tôi hỏi.
- Bộ ông Năm Lê cho người gọi hả?
- Không! người khác? – vừa nói Lam vừa đến gần tôi – Anh uống rượu cho hung vào không tốt đâu.
- Gặp vui anh uống chơi vài ly chớ có bao giờ say đâu.
- Vài ly mà gọi là chơi à! Em từng thấy mấy chú uống đua hết chai này qua chai khác rồi còn thách nhau uống bằng lỗ mũi nữa. Sặc có cái đứng tim chớ không đùa đâu? -Lam nhìn tôi rồi nói – Anh sắp có ghẻ xốn rồi đó.
Lam giỗ áo tôi một cách tự nhiên như y tá thăm bệnh nhân.
- Sao em biết?
- Nhìn da của anh nổi lác đác vài nơi ở lưng nè. Bị lây của mấy bà Út Nhỡ, Bảy Nê rồi!
- Ba cái thứ đó lấy nước chanh pha với vôi phết sơ thi hết chớ gì !
Thấy Lam ngồi sau sát lưng, tôi bảo:
- Đi về cơ quan lấy kim ống vô chích cho chị Ba một mũi quinimax.
- Chà, coi bộ anh săn sóc chị Ba dữ he!
- Cái miệng nói bậy đi!
- Săn sóc bà chị để bắt cô em, em biết mà . Cô em dũng sĩ toàn miền Nam lại đẹp!
- Rồi sao?
- Có sao đâu ! Lam dầu mỏ làm duyên với tôi – Gia đình đó địa chủ không hợp với cách mạng đâu!
- Cô Bảy chiến đấu dũng cảm như vậy, hai người anh rể một hi sinh trong cuộc chiến tranh trước, một trong cuộc chiến tranh này không đủ thay đổi thành phần cô ta hay sao?
- Anh đưa cho em coi có ghẻ xốn không?
Thấy tôi hơi cáu, Lam đánh trống lãng.
- Đã bảo là tôi không có sợ thứ đó mà !
- Nhưng em là y tá em có nhiệm vụ săn sóc thủ trưởng.
- Để tôi tắm rồi về văn phòng đã.
Tôi vừa nói vừa cởi áo ra nhảy xuống nước lặn một hơi rồi trồi lên.
- Em định hỏi anh mấy chữ Tây chữ Tà ôn binh gì khó đọc quá hà.
- Chữ gì?
- Xích-nin, xích niết gì đó.
- Strychinine ! thuốc chích cho ăn cơm ngon.
- Còn Sa-lít-lát gì nữa?
- Salicylate để trị nhức khớp xương. Em đi lên cây dừa tơ mò trong bẹ lấy cục xà bông thơm đem xuống đây dùm.
Tôi bảo nàng và ôm cột cầu nghễnh mặt lên chờ. Nhờ vậy tôi mới thấy được một nét đặc biệt: nàng có cặp chân lư một chút. Nhưng điều đó không làm giảm đi nét duyên dáng của nàng. Lam trở lại vá vá cục xà bông chưa lột vỏ:
- Em biết của ai.
- Nói bậy đi. Nó coi tao như anh nó đó !
Lam cười hí hí:
- Thì cũng như anh ruột của chị Lụa chị Là.
- Hai vợ chồng nó định gã con em Văn Công R cho tao đó!
- Ở trên Rờ còn sao nổi mà còn?
Lam vừa nói vừa mở hộp lấy cục xà bông ra cầm tay và bảo:
- Đưa đầu anh đây cho em chà !
Không chờ tôi phản ứng, Lam ngồi xuống quay lia lịa. Vừa chà vừa nói huyên thiên:
- Chị Là với hai cô Nga nghịch nhau dữ lắm. Cô Nga nhỏ thì nghịch nhiều hơn. Anh có băng ngón chân cái của cổ phải không? Có chút vậy mà cổ đi khoe khắp cái xã Phú Mỹ Hưng. Hễ ngồi nói chuyện với bạn trai bạn gái một lát là cổ đá hất chân lên nói: “Anh Hai không có học cứu thương mà ảnh băng giỏi ghê… Tên thuốc Tây ảnh đọc chạy hơn chú Tư Chuyền.” Bà Nga lớn ghét cổ ghê lắm. Hồi trước hai chị em như hình với bóng, bây giờ như chó với mèo. Anh có cái ống dòm bỏ đâu rồi anh Hai?
- Ở nhà chớ đâu? – Tôi vừa nói, hụp xuống nước rồi trồi lên xua tay.- Thôi đủ rồi ! Đừng có chà nữa.
Lam bảo:
- Còn chà khắp người nữa chớ. Ghẻ xốn đâu có mọc trên đầu. .
Tôi nghĩ thầm: tụi y tá là chai nhất, kế đó là văn công. Y tá thì đã quen nhìn cơ thể trần truồng nên không biết mắc cỡ. Còn văn công thì quen khóc cười giả trên sân khấu nên ở ngoài đời khi họ khóc cười cũng pha sân khấu khó bề mà biết được. Má văn công, mông y tá mà!
Tôi ngại mặc quần tiều ướt mà đứng trước mặt con gái, nhưng cô nàng thì cứ nói xơn xơn:
- Thân hình anh giống chữ V.
- Đừng cho giống chữ Dê nghe cô em?
- Em đâu dám. Đưa lưng đây em chà tiếp.
- Chà lưng thôi, rồi đi tránh đi để người ta lên thay đồ.
- Thay thì thay chớ mắc mớ gì em phải đi tránh – Lam lại tiếp tục câu chuyện Chị Là khoe với em hết trơn. Lần nào em ra nhà chị Lụa xin muối nước mắm, gặp chỉ, chỉ cũng kéo xuống hầm nói chuyện dẽo nhẹo không cho về . Chỉ bảo anh ngủ trong cái ngách này, chỉ ngủ ngách bên kia. Chỉ còn khoe anh leo dừa giỏi nữa… Hí hí, có hôn? Anh có leo cây dừa bên hiên nhà không?
- Không, tôi không biết leo dừa leo cau gì hết.
- Anh thiệt chối hôn, em khai ra cho coi nè .
- Có leo thì đã sao nào?
0 Leo dừa như anh thì cũng nên leo chớ ! Chị Là rắn mắc quá trời. Chỉ làm vậy không sợ anh buông tay hay sao?
Tôi giật mình: cô xã đội phố không bị ai khảo mà khai hết. Tôi chưa kịp chối thì Lam dồn tới:
- Anh có đi với chỉ xem hầm gì ở Hố Bò phải không?
- Hầm nhiều lắm không nhớ cái nào.
- Nhưng cái nào chỉ cho anh xem anh không quên – Lam nhấn mạnh mấy tiếng cho anh xem và tiếp . Chỉ cho anh xuống thử nữa có không? Ờ, ờ, chỉ bảo là hầm của chỉ còn mới nguyên mà !
Con nhỏ này lém thiệt. Nó biết cách xài biểu tượng hai mặt của văn chương chớ phải chơi đâu. Lam lại kéo dây dài nhằng nhằng:
- Em nghe mấy bà Nga nói anh có ống dòm dòm thấu vải nữa !
- Đó là anh gạt tụi nó chơi, chớ ống dòm gì lạ vậy.
- Ống dòm thấu vải mà người ta đứng sầm sầm đó không thấy .
- Ai?
- Em chớ ai ! Bữa mấy bà Nga với ông Tư Chuyền thằng Quảnh đãi anh khoai mì luộc rồi ông Tư Chuyền xin anh đánh Mỹ lấy cho ông cây dù che hầm lúc giải phẫu, em đứng kế đó chớ đâu mà anh đâu có thèm để ý, vì mắc lo cười với hai bà Nga kia cà ! – Lam thò tay xuống đấm vào vai tôi hai ba cái và nghiến răng – Hai con nhỏ đó động trời chớ không có hiền đâu. Con lớn thì đã đành, còn con nhỏ thì làm bộ ngây thơ chớ không có con nào còn nguyên đâu, em nói cho!
- Chậc! chuyện của người ta.
- Ừ, em nói cho mà biết! để người ta mó vào rồi khóc không ra tiếng ! Thôi leo lên đi để ở dưới cá nốc nó rỉa… chết!
Nghe Lam nói, tôi hoảng hồn vọt lên cầu, vì ở miền Tây tôi có chứng kiến một anh cán bộ bị cá nốc xơi mất một miếng của quí. Lam moi ba lô lấy khăn và quần áo đưa cho tôi lau và thay. Tôi quảy ba lô đi trở lên, Lam theo bén gót.
- Anh Hai, anh ở đây nghe em nói chuyện này chút nữa.
- Thôi bỏ ba cái chuyện linh tinh đó đi !
- Thằng cha Tư Chuyền, già không bỏ nhỏ không tha. Hồi em với hai con Lan ở Q Hai Chòi tức trường Tân binh đóng ở Lộc Thuận, em mê giải phóng lắm. Đến chừng về C5 của ông già ó đâm đó thì em bắt đầu chán rồi. Thằng chả ỷ là thủ trướng quân y nên nói oang oang hầu như công khai: “Đứa nào cho tao ngủ, tao cho học y tá !”
Tôi thấy xấu hổ lây, nên gạt ngang:
- Ổng nói vậy là ngủ chung hầm cũng như anh với em ngủ chung nhà vậy thôi. . .
- Hổng phải đâu! Ổng nói: Đứa nào cho tao ngủ chớ không phải ngủ chung hầm. Mà con gái ngủ chung hầm với đàn ông cũng không được. Huống chi ngủ với đàn ông. Anh đã từng ngủ võng hai_từng chưa?
- Rồi, ủa chưa! … Đâu có ai chịu ngủ chung với anh ngoài thằng Đô.
Lam gọi với. giọng khác thường.
- Anh Hai à ! Anh không thấy gì hết à !
- Thấy gì ?
- Anh không thấy ai đây sao?
- Cô Lam !
- Cái ống dòm của anh xuyên qua vải, chắc cũng xuyên qua thịt em nữa. Anh sẽ thấy trái tim em.
Tôi quay lại. Lam ôm chầm lấy tôi và hôn lên mặt tôi như những quả pháo chụp tí hon mà mỗi phát tôi tưởng đã rút một miếng thịt. Nàng làm cho tôi phải thích nghi một cách tích cực trở lại, Sự tấn công của tôi còn mạnh bạo hơn nhiều. Đến nổi nàng. phải buông tôi ra. Lần này thì chính tôi lại quấn lấy nàng. Nàng đứng im và thở hào hển nóng bỏng vào mặt tôi:
- Em cho anh tất cả, em… em cho anh. .
Tôi dìu nàng lại một gốc cây xa đường mòn. Hai đứa đâu mặt với nhau: thủ trưởng và nhân viên. Không sợ gì cá. Kẻ không có vợ người chằng có chồng. Vũ khí đã sắn sàng, sợ gì mà không tác chiến. Tôi cúi xuống, nàng ôm miết đầu tôi vào và rên khe khẽ:
- Của anh đó . . . của anh đó .
Da thịt con gái tuyệt trần. Tôi đã thưởng thức hết bao lần hương vị cửa những đóa hoa vừa hé nụ, nhưng lần nào tôi cũng tướng chỉ là lần đầu. Tôi ngẩng lên:
- Em thương anh để làm gì vậy Lam? Anh không có sống lâu đâu.
Lam bịt miệng tôi bằng những ngón tay thơm ngát mùi xà bông. Tôi ghịt vào và nói qua kẻ tay nàng:
- Anh nói thật đấy. Yêu anh rồi em sẽ như cô Mười, cô Lụa, cô Tám Mang và bao nhiêu cô khác.
- Một đêm người ngọc dựa kề, còn hơn mãn kiếp bên thằng thất phu.
Tôi tung biệt kích xuống vùng đồi hoang. Vừa mới đụng mép địa đạo thì nàng chặn tay tôi lại và quắc mắt:
- Đừng anh! Chuyện đó phải chờ cưới hỏi xong đã.
- Anh phủi cũng lên bàn thờ nay mai nè, ở đó mà chờ cưới hỏi.
- Anh nói gỡ không hè !
- Cái H6 này xui lắm!
- Nó ít hoạt động thì có chứ xui gì đâu !
- Ông Giả đi luôn rồi!
- Hả?
- Ừ thiệt đó. Anh thay cho ổng, rồi anh cũng sẽ theo ổng thôi.
- Em mới tới nhà bả để mua rượu về thay cho cồn đây.
- Bả đâu có biết gì!
Tôi tưởng nêu cái cớ đó ra để nàng không cố thủ nữa, nhưng nàng nói:
- Vậy để em rước má em vô gấp.
- Chi vậy?
- Để biết mặt anh và làm đám cưới luôn!
Tôi nhìn nàng nàng trân trân. Mới vừa quan hệ nhau lại làm đám cưới? Quả thật lối sống yêu cuồng sống vội đã lan tràn khắp Củ Chi. Ở đâu cũng nghe nói đến những cái chết rùng rợn và những vụ phá thai ly kỳ . Người ta sợ cái chết đến bất ngờ nên quơ hốt ngay những gì có thể quơ hết, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, càng sớm càng tốt. Nàng thỏ thẻ:
- Má em phong kiến dữ lắm. Ngày em xách gói đi tân binh má em biết không cản được em nên dặn dò chớ có cho thanh niên đụng tay đụng chân. Chớ có bày đặt văn minh bắt tay người khác. Đàn ông con trai có bùa ngài quyến rũ đàn bà con gái dễ dàng. Mày đi mang cái trống chầu về tao chôn sống. Em sợ má em lắm, không dám sai lời. Cho nên khi em thấy hai con Nga bu theo anh thì em càng đứng nép trong bếp.
- Em thương anh hồi nào?
- Hồi anh ngồi ăn khoai mì luộc. Cái miệng này sao có duyên thấy trời. Em thấy muốn cắn quá đi.
- Thì bây giờ anh cho em đó.
Nàng vồ lấy tôi hôn bất kể, vừa hôn vừa nghiến răng:
- Của em, của em!
Trời chiều bóng cây sẩm xuống âm u. Chúng tôi đứng dậy để ra về, nhưng không về được. Hai đứa đứng đâu mặt nhau rất lâu. Hai đôi tay ôm hai thân mình xiết vào nhau, để cho mọi thứ vũ khí tấn công lẫn phòng ngự có dịp đối đầu nhau gầm gừ chờ sát hại nhau khi lớp giới tuyến mong manh được cuốn dẹp. Nhưng mặc dù bị con bướm bay liệng rà sát mà cái nhụy hoa nàng vẫn ém kỷ. Bỗng bùm! bùm! băm!
Tiếng nổ lạ lùng. Tai nhà pháo biết không phải bom hoặc rốc-kết. Một chiếc máy bay có vẻ như là B26. Nó như con dơi quạ khổng lồ vừa bay qua để lại một dư âm động trời rung đất. Nó bay quần hai vòng và bùm! bùm? bùm! sau những cái chớp sáng lòa rồi biến mất. Lam hỏi tôi:
- Máy bay gì kỳ vậy anh?
- Ôi, thứ đầm già cải tiến ! (Tôi nói như xe ba gác xe thồ cải tiến miền Bắc.)
- Nó làm gì nghe bùm bùm vậy?
Tôi đẩy cây tuốt luốt.
- Máy nó sắp hỏng, nó không bay về Sài gòn được nên cứ bay vòng vòng!
Sự thực thì đó là máy bay Mauhawk, bán phản lực, hai động cơ bay chụp hình ban đêm. Thứ này đến đâu thì sau đó vài ngày B52 tới. Tôi đã tỉnh giấc mơ hoa trong buổi hoàng hôn mờ ảo.
- Thôi đi về em!
Khi hai người trở về trần gian thì đã thấy chúng sinh lóc nhóc ở tại nhà ăn quanh mâm cơm đạm bạc. Mười vừa thấy tôi là bảo bé Hoàn:
- Ba về kìa con ! – rồi trách tôi – Anh đi đâu cho con đi tìm kiếm khắp nơi vậy?
- Anh đi coi cái bến.
Út cũng có mặt ở đó, nghe Mười nói thì trừng mắt:
- A/nh đi tắm mà có gạc-đờ-co đi theo thiệt là bánh ghê !
Tôi bế bé Hoàn vừa chạy tới tôi và đính chánh:
- Cái bến của mình ai thả trôi lều bều. Nó mà trôi ra tới sông thì tụi giang thuyền sẽ biết ngay trong rạch có cơ quan rồi thế nào cũng ăn bom pháo cho coi. Chắc của mấy ông cơ quan quân đội chớ không ai.
Lam bị châm chọc, sừng sộ:
- Tôi không có đi gác cho ảnh tắm đâu. Ở trên có chỉ thị trị ghẻ xốn cho các thủ trưởng cơ quan và chiến sĩ để nó lây tùm lum ra đó.
Những cặp mắt tóe ra những tia lửa căm hờn mà tôi là nguyên nhân. Út ức vì con nàng không được tôi nâng niu, còn Lam thì lại bực mình vì Mười gọi tôi bằng anh đàng hoàng trong lúc con nàng lại gọi tôi bằng ba trước mặt mọi người.
Nàng nói mát:
- Anh Hai chưa có vợ mà lại có con.
Mười không chịu thua:
- Ảnh là ba của nó đó cô y tá của ông Tư Chuyền à ! Cô kiếm đứa con đi rồi kêu ảnh làm ba nó.
Lần đầu tiên tôi thấy nàng hung dữ.




Chương 55
Những trái tim bốc lửa và những giọt nước mắt giá băng


Tôi về đến cái hầm cá trê eo hẹp thì tôi thấy trên bàn ba chiếc phong bì và một gói giấy tươm mỡ to bằng chiếc gối đệm. Tôi mở ngay các bức thư mà tôi đoán được tác giả khi liếc qua các dòng chữ. Cô xã đội phó viết:
(như quát vào tai tôi. Tôi hình dung gương ít giận dữ của nàng):
Anh Hai!
Bộ anh ngon cơm ngọt canh ở đất Bến Mương rồi hả ? nên không thấy anh về. Anh có biết là cô Tám Mang đã có chồng mà chồng bị thương cụt hai chân nên cổ bỏ luôn đó. Anh liệu mà đi vào. Chỗ đó xui lắm. Anh coi chừng đó. Em đã nhắn má về mấy lần. Má nói má sẽ về khi bên này bớt bom pháo. Anh ở dưới đó có dừa uống không? Có thèm thì cũng ráng về trèo dừa nhà chớ đừng có uống nước dừa lạ nghe anh. . .
Ua thì viết khác hẳn, với giọng của một kẻ trăn trối:
Đời em kể như đã chấm dứt từ hôm chia tay với anh. Em không còn mơ ước gì nữa ngoài việc gặp anh lần cuối cùng để em lao mình vào địa ngục. Mọi việc sẽ xảy ra y như em nói. Vĩnh biệt anh.
Chìa thì với giọng nhớ nhung nôn nóng:
Không có anh, tụi em họp nhau nhắn nhở chuyện qua. Con Nhánh con Biếc chỉ mong anh xuống để xin bắn mấy phát K54. Còn em, tôi ngày cứ đi ra đi vào cửa ngóng ngoài đường. Ai mặc áo con đỉa đi vào em cũng ngỡ là anh. Người ta mua đồ em thối tiền cứ lộn, má rầy hoài. Má bảo: “Mày ngồi đâu ngồi chết đó, làm gì quên nấy. ” Anh có biết, hồn em đã đi theo anh từ bữa ấy rồi. Em chỉ còn cái xác ở nhà. Chú Sáu nói có gặp anh, sao anh không nhắn gì với chú hết vậy. Một tiếng “thăm em mạnh giỏi” cũng không. Anh đã quên em rồi sao ? Em biết anh bận lắm, nhưng bận gì đến đổi không viết được cho em mấy chữ? Anh về thăm em sớm sớm nghen. Nếu trể chắc không còn gặp em đâu. Dì Ba đã thúc má em dời ra quận ở buôn bán khỏe hơn, nhưng má em còn chần chờ để gặp anh tính cho xong việc chúng mình rồi mới đi. Hàng ngày dì Ba thấy Mỹ đến Đồng Dù càng đông thì càng nôn nóng. Ngoại cũng sẽ đi. Anh về có thể chỉ còn trông thấy cái hầm và cái nhà hoang không có em, không có má cũng không có ngoại nữa. Không có ai ở đó hết ngoài những kỷ niệm của chúng ta… Nhưng có lẽ em cũng đã mang theo hết với em cùng với hình ảnh dấu tay và tiếng nói của anh… Em của anh.
Bất giác tôi nghe gò má nóng hổi. Tôi quệt ngang và nhủi đầu vào võng. Tôi thức dậy thì thấy ngọn đèn dầu Alcool de Menthe đã lóe lên hồi nào. Chắc thằng Đỏ đã thắp cho thủ trường. Tôi ngồi dậy móc giấy trong xắc-cốt ra làm việc.
Lớp học pháo binh mới phác qua có cái sườn. Còn giáo án thì tôi đã phân công cho các bộ, phần thảo và trình tôi duyệt. Một đơn vị pháo chuyên nghiệp gồm trên năm trăm người lâu nay còn tê liệt không hoạt động được, thì các ông bà du kích i-tờ ham súng nhưng không biết rành toán cộng thì làm sao sử dụng loại vũ khí khoa học này. Nhưng tôi phải thực hành, trước nhất là để vui lòng cấp trên. Và có lẽ chỉ để vui lòng cấp trên, ngoài ra nhìn vào kết quả và thành tích sẽ đạt được thì thật là mong manh.
Tư Kỹ, học trò của tôi ở trường pháo binh MB vừa được R điều động xuống đây là cán bộ giỏi lý luận nhất của đơn vị này, đã nộp cho tôi bản giáo án khá đầy đủ:
Thứ nhất - Phương pháp đo cự ly bằng công thức ly giác. Bài này chỉ giới thiệu sơ lược, không giảng chi tiết, vì học viên yếu toán. Nếu ai khá toán sẽ dạy riêng. Cần có thêm ống dòm để tập học viên sử dụng. Giải thích dụng cụ , phương hướng bàn cho họ làm quen.
Thứ hai - Trọng tâm là phương pháp đo thước dây, đo bằng bước chân, hoặc tầm đo ruộng, hoặc đo bằng bánh xe đạp. Tận dụng sáng kiến đo đạc của học viên. Phải đo ít nhất ba lần để lấy trung bình. Phán đoán nơi giặc đổ quân, cụm quân để đặt súng cối trước, chờ địch đến đúng cự ly thì nhả đạn v.v…
Nghĩa là coi khoa học và sự chính xác, hai yếu tố quan trọng bậc nhất của pháo binh không ra cái thá gì hết. Sai một ly đi một dậm. Câu nói đó có thể áp dụng cho pháo binh. Như đã thấy ở câu chuyện với các cán bộ Trung đoàn tại trường Trung Sơ, ông Hai Nhã Tư lệnh pháo binh R đã đấm lưng bộ binh đến nỗi trước khi ra trận, bộ binh hỏi có pháo binh yểm trợ không? Nếu có thì họ mất tinh thần chiến đấu ngay. Tôi biết vậy, nhưng không làm gì được. Nếu trình bày khó khăn thì ở trên bảo tìm cách khắc phục. Có những khó khăn không thể khắc phục bằng lập trường hoặc quyết tâm được.
Tôi bật cười to khi nhớ đến ông huấn luyện viên pháo cù lự Chín Hung. Tôi cho gọi Tư Kỹ tới, khen y và hỏi:
- Cậu giữ cấp bậc thiếu úy mấy năm rồi?
- Từ 61 đến nay.
- Như vậy không thôi.
(Tôi muốn nói tiếp: dân Nam kỳ lên được một cấp bậc cái đầu phải trọc ba lớp tóc, nhưng tôi tự chế kịp.)
Tôi quyết phá tan cái không khí xót xa kêu réo từ nhữngbức thư nên kêu sắp nhỏ nấu trà uống giữ Tư Kỹ ở lại bàn thêm công chuyện về lớp phá o binh nhân dân. Uống chưa cạn bình thứ nhất bỗng nghe có tiếng chân đi rầm rập tới gần.
Tư Kỹ bước lên khỏi hầm và quát to:
- Mấy ông thần nào tới đó?
- Có thầy Hai ở nhà không?
Tôi nghe tiếng trả lời thì biết là Ba Tố.
- Ông chánh trị viên dê tám đó hả ?
Ba Tố dắt một dọc ba người theo sau và kêu lên:
- Hầm hố thế này khác nào hộp cá mòi đứng, làm sao nhậu được?
- Tội có địa điểm tốt chớ anh Ba. Ơ kìa Tôn ! Sao lại lọt xuống đây?
- Tôi tưởng thầy quên tôi rồi chớ. Lý do lọt xuống để báo cáo sau.
Ba Tố cười hà hà :
- M79 đồn Bổ Túc nó làm dấu mày một phát trên môi, ai mà quên được.
Trong khi chờ chị nuôi làm thịt con gà do phái đoàn của Ba Tố đem tới, tôi hỏi chuyện Tôn Sứt trên R. Tôn Sứt nói:
- Bây giờ trên đó không còn thoải mái, khi Suối Dây khi Lộ Ái lúc cầu Cần Đăng nữa đâu. Bị B52 tan hết rồi. Nó rắc dưa hàng ngày mà anh. Tụi này đội mãi rồi lý ra.
- Bùi Khanh đâu?
- Ổng không chịu xuống đồng bằng như tụi tôi mà lại cho trấn nhậm Kà Tum.
- Làm gì ?
- Xã đội trưởớng thay ông Một!
- Trời đất! trung đoàn phó xuống làm xã đội trưởng?
- Cách mạng phân công thì phải làm chớ sao anh?
- Còn con Huê con Tiến?
- Loạn xà ngầu hết rồi, không ai còn biết ai là ai nữa. Lâu rồi tôi không gặp tụi nó. Tội nghiệp thằng con của con Huê kháu quá. Không có sữa đâu mà uống? Còn bà Mai Khanh thì đã lên chức chánh ủy.
- Chánh ủy gì?
- Bà chánh ủy. Nói vậy chớ bả được ông Tư Khanh cho làm chính trị viên bệnh xá của U lâu rồi. Ổng nói đó là sự đãi ngộ công trạng của một liệt sĩ là ông Chín Việt hi sinh trong trận đánh hụt đồn Bổ Túc với tôi. Nấm mộ của ổng chắc đã bị heo rừng ủi láng rồi. Nhờ công lao của ổng mà bả được cấp trên cất nhắc… giúp đỡ và huấn luyện đêm ngày!
Tôn Sứt cười làm vết thẹo trên môi giật giật, hắn hớp nước trà thấm giọng và tiếp:
-Từ sau cái đại hội mừng công, B52 đến hàng ngày. Nó đeo sát R và các công trường 5, 7, 9. Nhiều cơ quan đã vọt hẳn qua Miền, vài bộ phận còn chàng hảng giữa biên giới, hễ động thì vọt, hễ yên thì về, một kiểng hai quê.
Thằng Hùng dợm nói nhưng bị Tôn Sứt cản:
- Để tao báo cáo hết đã. Bà chánh ủy gởi lời thăm anh nghe. Bả còn nói thêm là nhờ anh lần đó cho nên bả cảm, ủa, bả hết cảm. Nếu không có anh…
Thằng Hùng cắt ngang.
- Thì chắc bả xí lắc léo rồi! Còn bà khu ủy. Bả gặp tôi bả tra hạch còn hơn công an nữa. Coi bộ bả buồn tình ghê lắm. Tôi xem qua nét mặt bả tôi lo cho anh quá hà ! Anh cắm trái dừa kỳ rồi dám lên mọng lắm.
- Bậy nào! Tao đâu có làm gì bả.
- Bả khoe cùng khắp cái huyện Tân Biên còn không làm gì. Anh nhát quá. Người ta con vòng con cỡi còn không sợ, anh o-ri-gin mà sợ ai chớ?
- Còn cái tửa của máy đi tới đâu rồi ?
- Oe oe rồi ! Ngỗng trăm phần trăm. Để êm êm tôi cho móc vô coi mặt thằng nhỏ.
- Vậy là có kẻ nối dòng…
- Cái dòng lang bang hả anh? Còn cô em nuôi Ba Phi bỏ sót trên Oàm Cỏ Đông, tiếc hùi hụi mà gùi đi không được. Chắc bây giờ nường đã lui ghe về chợ Long Hoa rồi. Thì, đại khái như vậy, anh cứ yên tâm đi. Cái gì của R trả lại cho R! À mà quên, cô em gái Huỳnh Mai Huỳnh Mốt gì của anh có thư từ gì cho anh không? Tôi rủa ông Bảy Đậu mấy ngày liền. Vợ tôi xúc hụt về cho anh là bị lão đó. Đang hội nghị bỗng xách con người ta về R. Vừa đút đầu về tới là B52 rắc ba-lông. Thầy Hai còn nhớ tụi thằng Lộc, thằng Lực, thằng Hải không? Chúng nó đem pháo Nhật 40 ly yểm trợ bộ binh ở trận Bình Giả, bị B52 rầm hết rồi. Còn thằng Chín Hung tôi mới gặp trên đường xuống đây. Hiện nó làm đại đội trường trợ chiến của D14 Tây Ninh.
Tôi tiếp:
- Nó thuộc dân bàn nạo Bến Tre cháu ông chủ tịch tỉnh. Vừa mới cưới cô vợ mười sáu tuổi. Bà già vợ mua gạo ấp chiến lược về bán cho bộ đội. Nó vẫn uống rượu bằng tô chớ không có bằng ly chén như tụi mình.
Tôn Sứt tiếp:
- Về đây thiếu gì rượu tha hồ cho nó uống. Cái mặt của nó bây giờ có nọng chớ không phải ốm nhom như hồi ở ngoài Thanh Hóa đâu. Còn về cán bộ chỉ huy thì U80 bị dân Sáu Bèo tràn lấn dữ lắm. Chắc rồi đây ông Tư Khanh nhà mình cũng bay luôn thôi. Nghe đâu thằng Huỳnh Thành Đồng còn sống sót sau trận pháo kích Biên Hòa. Chỉ mất hai khẩu DKZ và chết non một trung đội.
- Rồi sao Bùi Khanh làm xã đội trường Kà Tum?
- Ổng muốn làm như Huỳnh văn Một. Ngoài khẩu súng thể thao của ổng, với vài cây trường bá đỏ ổng có thể săn thịt rừng nuôi sống cả đơn vị bảo vệ Kà Tum của ổng. Ổng bảo chữ nghĩa quên hết rồi. Nhắn tao thăm nó, tao thương nó như em ruột.
Tôn Sứt dừng lại một hồi rồi hỏi:
- Anh có gieo mầm sống mới ở trển không mà người ta đòi đi ngã thành xuống Củ Chi tìm anh vậy?
- Đâu có sống mới sống cũ gì, tại người ta cảm tình…
- Ừ, cảm tình và tình… cảm ông ria khắp xứ, trên đó nhắc ông dữ lắm. Ông ở dưới này đâu có hay biết gì. Ông đi rồi trên đó nhậu mất ngon.
- Thôi tụi bây ơi! tao làm gì được mà đổ thừa. Ờ còn Sáu Ngọc với cái rẫy Nàng Rà ra sao?
- Dẹp hết rồi. Không biết ổng cõng vợ con đi đâu. Riêng Tư Thịnh bị đẩy về Z45 phòng không thay thế cho Tư Quảnh và Ba Tô Dê bị rụm ở Đồng Xoài, rồi cũng rụm luôn.
- Tao có nghe ! Trời ! Tư Thịnh bà con bên ngoại với tao. Còn Ba Ân Bến Tre?
- Ổng đau rề rề đi an dưỡng. Tư Răng, Bùi Đớt, Năm Chí, Sáu Việt, Hai Mạnh mỗi người một ngã.
- Vợ chồng Năm Chí còn đòi giải ngũ về miền Tây nữa hết?
- Ở trên nói để cứu xét. Nhưng cứ ngâm hoài. Bả đã tự vận mấy lần mà không chết. Anh em bảo cho hai vợ chồng giải phóng phức đi, nhưng ở trên sợ thả họ đi làm lộ bí mật địa điểm. – Tôn Sứt thở phào – Thôi, tôi về được dưới này với anh là vui rồi. Ở trển, qua mười giờ thì mới khỏe được chút chút. Nhưng gần đây thì nó chơi không còn giờ giấc quy luật như trước nên không biết đường mà tránh nữa. Cứ niệm Phật cầu Trời như ông Một vậy thôi.
Tôi cười hề hề :
- Tao có phép đỡ được bom pháo và B52.
- Phép gì vậy? Bộ ông tu… đạo gì hả?
- Người ta cho tao một lố cà rá làm bằng xương Cao Đài.
Mọi người nhảy dựng lên:
- Thầy nói nghe ghê vậy thầy Hai!
- Thiệt mà để tao đưa cho coi.
Tôi thấy thương Tôn Sứt quá trời. Cấp bậc trung úy, lớn con, nước da trắng, chân thật, hiền từ, dễ thương và… chưa vợ. Tôi đã nghĩ đến các cô Suối, Trong, Xanh, Biếc con của bà Tư Bánh Bò và cô bé Nhành, em của thằng Năm Cội. Một trong mấy cô này có thể xứng đôi với Tôn. Thằng Chín Hung xấu trai và ba mươi lăm tuổi còn quơ được cô văn công tỉnh mười sáu tuổi huống gì thằng trung úy đẹp trai này. Tình duyên của đám thanh niên tập kết toàn éo le, không có một cặp nào bình thường. Đó cũng là kết quả tình thương của Bác.
Đang nói chuyện rí rố ngon ngọt bỗng thằng Hùng hỏi ngang:
- Còn ông thầy cối Hai Giả đâu rồi thầy Hai?
- Ờ ờ ông đi công tác mới.
- Ở đâu?
- Ở dưới Dĩ An, Thủ Đức.
- Chà ! Đi gần mé Sàigòn ngon hả ?
Tôi ngồi lặng thinh. Cái xắc-cốt của Hai Giả do Năm Lê trao cho tôi, bảo đưa lại gia đình, đến nay tôi vẫn chưa dám đem lại cho chị Chín. Tội quá . Con gái của chị (con bé Thanh) hàng ngày tới đây cùng với con bé Nữ (con của vợ Sáu Phấn) để hụ trợ công tác nuôi quân, mè nhèo với tôi để được nhận vào cơ quan chính thức. Cả hai đứa đều than một giọng như nhau: “Ở nhà chán lắm, chúng cháu muốn vô với chú Hai.” . Tôi hứa lần hồi nhưng không thể nhận đám con nít làm nhân viên. Chúng vô đây chỉ làm cản trở công tác thôi. Vài bữa nữa tình hình sẽ không còn cho phép uống trà, nhậu nhẹt dụm năm dụm ba thế này nữa.
Bỗng có tiếng máy bay ù ù xớt ngang mặt sông, rồi tiếng bụp bụp. Đó là máy bay Mâu-hốc chụp hình. Cách đây mấy hôm, chúng cũng làm cái mửng đó. Đó là dấu hiệu sắp ăn dưa hấu hằng loạt. Bọn cán bộ quân sự đầu có sạn còn lạ gì. Chúng tôi nhìn nhau. Tôi trấn tỉnh ngay:
- Có khi nó chỉ dạ hành tỏ thôi.
Ba Tố bảo:
- Tuy chưa phải nó mần ngay, nhưng mình phải chuẩn bị chớ thầy Hai!
- Một đơn vị năm trăm người muốn dời đâu có phải dễ chú Ba nó !
Ba Tố tiếp:
- Hồi Củ Chi mình bị B52 lần đầu cũng thứ Mâu-hốc này ra vĩ trước. Nó bay qua bay lại xắc thành ô vuông. Cứ mỗi cái bốp là một pa. Mỗi pa chụp rộng cả cây số. Từ nay tới hai tuần nữa thế nào mình cũng bị một phát.
Hùng nói: .
- Vậy mình cho tụi nó đội đầu cối 82 mình trước đi!
- Chơi một vài chục quả ăn nhằm gì mày ơi!
- Vậy thầy định bao nhiêu?
- Đồng Dù: 1000. Trung Hòa: 500.
Hùng lắc đầu:
- Bất khả thi. Đạn ở đâu? Vò đất sét à ?
- Nếu không thì cũng một nửa. Chớ vài chục quả như gãi ngứa nó. Nhưng yêu cầu của ở trên là mấy quả cũng tốt. Miễn có nổ trong căn cứ tụi nó thì thôi. Cho nó biết rằng mình chưa có chết hết. Và cho đồng bào vô ấp chiến lược trở về vùng mình. Để tình trạng như bây giờ nó cứ lấn dần từng tấc đất lấn đất rồi xúc dân, cuối cùng mình trơ xương ra. Dân đã ra Trung Hòa xin giấy hợp pháp. Tuy làm ăn trong này nhưng cái đầu họ ở ngoài đó. Nhiều nơi nông dân đang làm đồng, bỗng trực thăng hạ xuống. Mỹ hẳn hoi. Nó xét giấy của hội tề. Ai có thì nó để cho yên, ai không có nó xúc ra ngoài ấp chiến lược. Nó cho gạo ăn, cho tôn lợp nhà, cho thuốc men. Rồi nó bảo muốn được bình yên, khi cày cấy phải cắm cờ quốc gia! Hễ nó thấy cờ đó thì nó không bắn.
Tôn Sứt ở trên R mới xuống, nghe lạ quá, kêu lên:
- Vậy tụi nó cha mình rồi !
- Nó là ông cố nội nữa chớ cha ? Đồng bào mình muốn làm ăn yên ổn nên làm theo nó. Thế là bị mấy ông đội ấp kiểm thảo, hăm dọa. Nhiều người đang ở trong này, sợ vọt ra ngoải luôn.
Hùng cào cái đầu tóc xùi lên, nhăn nhó:
- Tình hình dưới này phức tạp quá. Ở trên rừng vậy mà dễ . Sống với ba con khỉ chẳng cần chánh trị chánh trọt gì hết. Chỉ hơi khó xử với các tổ xe bò của ông Tư Ó thôi.
Tôi sực nhớ mấy người gài kỳ đà bán cho tôi và bà khu ủy nên hỏi phăng:
- Mấy tổ Hậu Cần còn đó không?
- Họ bỏ trốn ra Tây Ninh hết rồi. Bà Út khu ủy chèn ép họ quá, họ liều mạng thoát thân.
- Còn cái quán của má Hai bà Út chuyên môn mua ghi sổ?
- Vẫn còn đó, nhưng cũng sắp xếp xó. Vùng đó bây giờ lại sanh ra món bom trộm.
Ba Tố gắt hỏi.
- Ăn trộm hả? Ai ăn trộm của ai?
- Bom trộm ông ơi ! Tức là mình đang ngủ phản lực tới trút bom rồi bay thẳng không cần đầm già bắn điểm gì hết. Nó chơi cái kiểu này độc lắm. Mình không có đề phòng được. Cứ đưa cái bụng cho nó bỏ may nhờ rủi chịu. Do đó đoàn xe bò cũng thưa đi đêm.
Ba Tố trầm ngâm nãy giờ, lên tiếng:
- Vấn đề chính của mình bây giờ là vũ khí. Có pháo dệnh cho nó vài trăm quả , có pháo phòng không hạ vài chiếc máy bay thế là xoay chuyển tình hình. Chứ mình có tinh thần mà không có phương tiện thì như cua không có càng, kẹp ai? Cứ bị nó vây riết thôi.
Tôi nói:
- Hồi đình chiến bộ ở trên này mình không có chôn giấu vũ khí ở lại sao ta?
Ba Tố đáp:
- Chuyện đó mình đâu có rõ, nhưng hồi năm ngoái tôi nghe bên Bến Cát có bới được một hầm súng. Lúc đó ông Ba Kình là tham mưu trường quân khu, chỉ thị cho ông Năm Tiền và ông Hai Giả qua đó để xem xét. Quả nhiên có cà nông 20 và đại liên 13.2. Có lẽ người phụ trách cái hầm đã chết hoặc bỏ về thành, nên không biết mối mang để phăng ra nữa.
Ba Tố tiếp:
- Kế đó tôi và Năm Đùng bò sang mò tiếp với quận đội Bến Cát. Năm Đùng nhà ở ấp Bến Nhung nên rành con đường đá đỏ từ cầu Phú Bình đổ xuống ấp U Tàu. Lúc đó xóm ấp còn sung túc, dân cư đông đúc lắm. Quán xá khách khứa, bộ đội cán bộ dập dìu. Vui thiệt là vui. Qua bên đó tôi gặp cô huyện đội phó Sáu Hòa.
Tôn trợn mắt:
- Lại cũng đụng hầm chông nữa. Rồi lọt không?
Ba Tố cũng chưa vợ, cứng cạy nhất trong đám, nhưng có tính kỹ lường, đàng hoàng nên không mang tiếng. Ba Tố tiếp:
- Cô ta dắt vô một nhà cơ sở giở nắp hầm lên chỉ cho hai cây cà nông 20 ly.
- Rồi có lấy về không?
- Lấy làm gì ba cái thứ súng cà lăm của Tây để lại đó. Cứ bắn vài viên lại phải xoi lòng cả buổi. Đem về chơi với tụi Mỹ có mà bỏ mạng. Hơn nữa, nhân lực đâu mà dùng. Muốn di chuyển một khẩu phải dùng một trung đội.
- Rồi có ông nào vô ngàm được cô quận đội không?
- Cô ta là em gái của thằng tiểu đoàn trường tiểu đoàn Phú Lợi 3 của tỉnh Bình Dương cũng dân rau muống quấn hụt như mình nên biết tỏng tụi mình hết. Nó bảo tụi mình đều mắc gốc ngoài Bắc, chớ nên rớ vào. Do đó con bé đá lông nheo sơ sơ với tụi này rồi dạt ra, không xáp. Năm Đùng hi vọng nhiều nhất trên ôm vết thương lòng, đành ca sáu câu Hận sông Sài gòn rồi lẳng lặng ra về… tay không.
Tôi tiếp:
- Bên đó đất cũng cao như hai xã Nhuận Đức và An Nhơn Tây của mình. Dân ở xóm Bến Lò Than, Bến Củi, Xóm Miếu chuyên môn đi cạo mũ cao su. Người Bắc ở đó cũng nhiều. Sông Thị tính nhỏ nhưng tôm cá rất nhiều, không có tàu chạy như sông Sài gòn.
- Sao thầy rành vậy?
- Hồi chín năm tôi làm mật mã cho ông Lê Đức Anh đóng ở rừng Long Nguyên nên biết hết vùng này. Ổng gốc dân cạo mủ..
Ba Tố đất thuốc hút và tiếp:
- Tụi tôi từ Bến Nhung đi theo đường Lô cao su thẳng về Bưng Còng, rồi theo đường 14 về bến đò Đồng Sõi để qua bên này. Nhớ lại cảnh tươi vui trù phú hồi đó mà ham. Bây giờ từ cầu Phú Bình trở xuống Bến Sắn, Bến Nhung dân đã bỏ đi ra Bến Cát sống. Cũng giống y như bên này dân ra Trung Hòa và các ấp chiến lược vậy. Vùng đó bây giờ thường xuyên ăn pháo Lai Khê Bến Cát nên quận đội đã dời về đường 14 ở Bưng Còng hay Rạch Bắp gì đó.
Tôi nói:
- Mấy lúc gần đây tôi nhận thấy có hiện tượng chúng nó sắp đóng đồn Rạch Bắp.
Ba Tố lắc đầu:
- Nó mà đóng Rạch Bắp thì mình kẹt cứng! Dù Rạch Bắp ở phía bên kia sông Sài gòn nhưng đường chim bay cách đồn Trung Hòa không xa. Địa bàn hoạt động của mình sẽ bị thu hẹp vô cùng!
Bỗng Hùng bật ra câu hỏi:
- Pháo tụi Đồng Dù và Trung Hòa thì dễ rồi, nhưng hạ máy bay thì làm sao?
Tôi bảo.
- Cũng dễ thôi. Máy bay ở đây như trấu. Nhất là trực thăng thì với tay nắm được cái đuôi nó. Chỉ cần cho vài cậu lính hóa trang nông dân ra đồng trống làm bộ cuốc đất thì nó đáp xuống xét giấy thôi.
- Nhưng ai dám làm nông dân? Lơ mơ bị lạc đạn uổng mạng.
Ba Tố nói.
- Tôi có ý kiến là nên làm vài cái bù nhìn cắm giữa ruộng là hay nhất! Như vậy khỏi sợ lạc đạn.
Câu chuyện sắp kéo lê qua chuyện bắn máy bay thì bỗng có tiếng eo éo. Tôi nhận ra giọng bé Thanh.
- Gì đó cháu?
- Má em nói có dượng em về – Bé Thanh vừa nói Vừa khom mặt xuống hầm – Cháu nói là cháu ở đằng này hồi chiều đâu có thấy đường, nhưng má em bảo là có và bảo em lại xem cho chắc.
Ba Tố lắc đầu:
- Cháu xem nội đây có ai tên Hai Giả không?
Hùng bảo:
- Chắc bả nằm chiêm bao.
Tôi thấy xốn xang trong lòng. Chiếc xắc-cốt của Hai Giả mà tôi đang giữ như một cái món nợ chưa trả được. Mỗi lần tôi nhìn thấy nó, tôi như có một niềm ân hận. Nếu tôi không về H6 thì Hai Giả sẽ không đi Dĩ An Thủ Đức. Bây giờ sự việc đã như vậy rồi, không thể nào vớt vát được. Thương cho người đàn bà hai đời chồng đều tan vỡ hạnh phúc cả hai, chỉ vì chiến tranh. Lần trước một đứa bé gái nay đã mười lăm tuổi, lần này đứa bé còn nằm trong bụng mẹ mà cha thì đã chết rồi. Tôi bảo bé Thanh:
- Cháu về nói với má là dượng chưa có về.
Bé Thanh vẫn không chịu đi. Tôi bảo:
- Cháu vô văn phòng lấy máy ra tập đánh đi, khi thuần thục chú sẽ nhận cho làm thơ ký cơ quan.
Nghe thế, bé mới chịu rút lui. Tôi còn nhớ rõ trong xắc-cốt của Hai Giả có mấy tấm hình y cho vào cuốn album con có bọc giấy kiếng rất kỹ. Đó là hình của y mang lon đại úy chụp tại Thanh Hóa, ở tiệm Ánh Sáng Miền Nam. Tấm thứ hai là hình vợ lớn đứa con trai và y. Thằng con trai đâu chừng mười ba tuổi. Bà vợ nét mặt hiền hậu chất phác. Tấm thứ ba là hình chị Chín Kiểu đứng bên cạnh y. Ở sau lưng có những dòng chữ viết rất nắn nót. Quân phục giải phóng và chăn màn còn nguyên. Có lẽ ba lô được cất giấu ở hầm khác nên không thấy bị vết đạn.
Bữa nhậu hôm nay không ngon lành như những bữa tiệc họp mặt bạn cố tri trước. Tôi thấy nó nhờn nhọn thế nào ấy, uống không vô. Tiệc xong, tôi phân công chỗ ngủ cho mọi người. Ai cũng có phần dưới hầm. Không người nào phải nằm trần trên mặt đất đưa bụng hứng pháo. Tôi nhớ hồi ở miền Bắc, trước khi lên bệ phóng, tôi có dắt một đoàn cán bộ pháo binh đi vào vùng tuyến lửa để quan sát các trận đánh ngỏ hầu về trong này đụng với vũ khí và phi cơ Mỹ khỏi bỡ ngỡ. Quả thật như câu nói của Johnson: “Đánh cho Bắc Việt trở lại thời kỳ đồ đá”. Quân xa không chạy được, phà không có, cầu sập không còn một chiếc nào. Tôi đã sống tại mặt trận Vinh một tháng và đã thấy máy bay Mỹ ném bom Cảng Bến Thủy. Pháo thủ tiếng rằng ngồi trên mâm pháo ăn cơm, nhưng cũng không bắn kịp. Chúng nó bỏ bom xong rồi vọt lên biến mất trước khi khẩu đội hỏa tiễn nổ súng. Chúng tôi hoàn toàn ăn ngủ dưới hầm.
Bây giờ về đây cũng y như vậy: ở hang! Thời kỳ đồ đá?
Sắp xếp xong tôi vào hầm lấy chiếc xắc-cốt của Hai Giả đã bọc kỹ trong một tấm ni lông, ra đi. Phen này tôi phải làm nhiệm vụ của một trưởng cơ quan đối với một cán bộ đã hi sinh. Tôi không thể đeo mãi cái món nợ vô lý này. Chồng người ta chết, tại sao mình ém nhẹm?
Thằng Đỏ chạy theo la ơi ới:
- Anh Hai đi đâu vậy? Giờ này pháo hay giãgạo miệt này lắm!
- Không sao đâu! Vô ngủ đi.
Tôi quát rồi bấm đèn pin đi một mình. Tôi thu hết can đảm, định bụng sẽ nói tất cả sự thực và tình cảm của tôi đối với anh. Chị Chín chưa ngủ. Tôi gõ cửa và gọi tên bé Thanh. Bé Thanh kêu lên:
- Dượng về đó má !
Chị Chín mở cửa. Ngọn đèn chong trên tay người đàn bà run run như xúc động. Chị Chín nhìn ra tôi nhưng không tỏ vẻ thất vọng. Chị kéo ghế cho tôi ngồi, rót nước mời và nói:
- Chắc nay mai ảnh sẽ về . Con mắt trái của tôi giật mạnh quá hà cậu.
Tôi rủn chí. Bao nhiêu ý định của tôi đều tiêu tan vì câu nói lạc quan của người đàn bà. Tôi không nỡ dội một gáo nước vào ngọn lửa hi vọng của chị. Chị lại hỏi tiếp:
- Ảnh không có gởi thơ về sao cậu ?
- Ảnh mới xuống tới dưới đó thôi. Chừng nào yên nơi yên chỗ mới ngồi viết được.
- Tôi muốn gởi thơ cho ảnh được không cậu?
- Dạ được chớ! Chị viết đi, rồi tôi chuyển cho.
Từ láo ít đến láo nhiều. Láo không còn quay lại được. Chị vào buồng rồi trở ra ngay với một tờ giấy trên tay. Chị tươi cười:
- Cậu đọc đừng có cười nghẹn. Tôi thức đêm hồi hôm viết mà nước mắt chảy hoài tôi cứ phải ngưng hai ba lần, viết hai ba chặng mới rồi đó !
Chị cứ cầm bức thư trên ta nhấp nhứ mà không chịu đưa cho tôi. Tôi thấy rối trí và xấu hổ vô cùng. Chị tiếp:
- Còn hai tháng một ngày nữa là ảnh thêm một đứa con. Phải chi chừng đó ảnh được về phép để nhìn đứa nhỏ. Còn nếu ảnh bận thì sau khi ăn đầy tháng tôi sẽ bồng nó xuống thăm ảnh.
Tôi xua tay:
- Không được đâu chị, cháu bé còn non ngày tháng đi ra sương gió không tốt.
- Đâu có sao, hồi trước tôi sánh con Thanh cũng mới đầy tháng tôi cũng bồng nó đi thăm ba nó. Kỳ này rồi cũng vậy.
Bất giác tôi nhìn lên bàn thờ. Ngọn đèn tù mù xanh lét như linh hồn người xưa còn lơ lững chưa chịu tắt. Tấm hình để tựa vách, lờ mờ trong ánh sáng yếu ớt như cố lắng nghe lời người vợ năm nào. Than ôi ! Chiến tranh lại tái diễn những màn lớp cũ.
Chị xếp tờ giấy nhỏ lại rồi với tay lên góc bàn thờ lấy chiếc phong bì vừa xếp nhỏ lá thư cho vào vừa nói:
- Ảnh dặn tôi hễ sánh con gái thì đặt tên Chi, còn con trai thì đặt tên Hùng.
- Ý ảnh muốn nói là Củ Chi anh hùng.
- Cậu nói trúng ý ảnh đó ! – Chị đưa thư cho tôi – Cậu về kiểm duyệt rồi gởi đùm tôi.
Tôi nhận bức thư và đứng phắc dậy ra về quên cả từ giã, như một kẻ trốn tội. Tôi ra đến sân thì chị kêu:
- Cậu Hai bỏ quên cái gói gì.
Tôi giật mình đánh thót, trở vào nhận cái gói. Hú vía, nếu tôi không gói và buộc kỹ thì đã vỡ lỡ câu chuyện rồi. Tôi kẹp nách cái gói và cắm cúi soi đèn pin bước nhanh. Hai Giả ơi! tôi không có đủ can đảm nói sự thực cho vợ anh. Anh có khôn vong thì ứng mộng cho chị ấy.
Tôi nghe buốt lạnh xương sống. Tôi đi một lúc lâu sau không thấy tới ngõ rẽ vào cơ quan. Thì ra tôi đã lạc vào con đường mòn dẫn đến nhà Sáu Phấn. Đó là thói quen. Đôi khi định đến chỗ khác nhưng cặp mắt cá lại sáng hơn mình. Nó dắt mình tới những nơi mà mình không định đến.
Đã hơn mười giờ nhưng Sáu Phấn còn ở ngoài sân. Bà vợ cầm đèn soi cho chồng trét chai chiếc ghe mới. Thấy tôi, Sáu Phấn phân trần ngay:
- Tình hình này mình phải sẵn sàng thầy Hai ạ. Nếu mình bận chiến đấu thì vợ con mình có ghe đi xuống Phú Hòa tạm trú. Một thân một mình như thầy mà khỏe!
- Phải ! Tôi đến bàn giao cho anh mấy công tác để ở nhà anh hoàn thành còn tôi sáng mai dắt mấy ổng đi nghiên cứu mặt trận để sửa soạn vào đợt. Chậm thì một tuần, nhanh thì năm ngày là tôi về tới.
Chị Chín nói:
- Má con Hoàn bữa nay không vô cơ quan vì con nhỏ ấm đầu .
- Vậy hả chị. Để tôi qua thăm nó chút. – Nói xong, tôi đưa cái gói lại cho Sáu Phấn – Anh giữ nó đùm tôi. Để tôi đi bỏ nó ở nhà đám nhóc lục lọi bể hết.
- Có nên nói không?
- Tùy anh.. Nói cũng được mà không cũng chẳng sao.
Tôi tiến nhanh về phía nhà Mười. Thấy ánh đèn le lói qua kẹt cửa, tôi nghe nôn nao. Lâu nay thấy bé Hoàn gọi tôi bằng ba ngọt ngào, nhân viên cơ quan đều đốc tôi xốc tới, nhưng tôi làm thinh. Sáu Phấn cũng ngỏ ý thẳng thắn với tôi làm anh em cột chèo với y. Y cho biết: “Mình sai lập trường rồi đấy thầy Hai ạ !” Tôi hỏi tại sao thì y cho biết là hai chị em Mười là con ông Cả làng An Nhơn Tây. Cả hai đều có học, không nhiều, nhưng đó là loại tiểu tư sản ở vườn, lấy công dung ngôn hạnh làm tiêu chuẩn.
Tôi cứ hoang mang trước cái sắc đẹp và tính tình của người đàn bà góa trẻ đẹp hơn con gái này. Cái suy tính của tôi là mình còn trai chẳng lẽ lại đi lấy đàn bà có con? Sự suy tính đó cứ trì níu tôi một cách ác nghiệt. Cứ mỗi lần đến với nàng thì tôi ước ao phải chi đây là gia đình mình. Đôi lúc tôi nghĩ nếu nàng có bầu thì tôi nhận ngay như một việc đã rồi và sẽ không ân hận gì hết. Hoặc như bất thình tinh Sáu Phấn đưa ra tổ chức thì tôi cũng sẽ không chối cãi một tiếng. Còn như tự tôi chủ động cưới Mười thì tôi lại không có can đảm. Không phải vì chung quanh tôi có nhiều cô gái mà là vì Mười đã một đời chồng. Tôi bước tới thềm nhà thì cánh cửa sịt mở:
- :Em còn thức à?
- Em chờ anh.
- Con ấm đầu hả em?
Tôi vừa bước vào thì nàng cài then ngay như đóng cửa lồng sợ con chim trời bay thoát.
- Đâu có !
- Sao hồi nảy chị Chín nói?
Mười chỉ cười, cặp môi son xinh như một đóa hoa hàm tiếu bình minh. Tôi chợt hiểu ra người chị cũng muốn cho con chim mắc cái bẫy nhung này.
- Em có dẫn con đến hồi chiều, nhưng thấy khách lạ đông nên em lui trở về.
- Sao vậy? Mấy người đó ở trên R mới xuống, toàn là người quen cũ.
- Nếu ở lại thì con Hoàn sẽ gọi anh bằng ba rồi mấy người đó hỏi anh cưới vợ hồi nào mà có con lớn vậy rồi anh trả lời làm sao?
- Thì anh nói là con của anh.
Mười lặng thinh. Ngọn đèn trên tay nàng xao xuyến vì một ngọn gió len qua kẹt cửa. Mí mắt buồn rũ xuống chớp chậm. Tôi cũng không biết nói gì. Nếu nói, thì câu đó phải là: “Bé Hoàn là con anh, em là vợ anh.” Câu nói đó sẽ làm cho Mười vỡ ra thành nước mắt. Nhưng tôi vẫn không có can đảm. Nàng đưa mắt nhìn tôi và nói chậm rãi.
- Mỗi lần ở đằng đó về, con Hoàn cứ hỏi em: “Sao ba không về nhà mình vậy má ?” Em trả lời: “Ba mắc công tác ! “
Con nhỏ cãi rướn lên: “Sao dượng Chín cũng bận công tác mà dưởng về nhà được?” Em vả miệng nó : “Con không được hỏi như vậy nữa. ” Đêm nào vô mùng nó cũng hỏi em ba nằm gối nào, rồi nó lấy cái gối mới trong tủ ra để trên đầu nằm mà phía ngoài rồi bảo em: “Má nằm xít vô chừa chỗ cho ba về nằm để nằm meo ba té xuống sàn như con vậy.”
Nàng nhỏ nhẹ tiếp:
- Nó ngồi ở ghế chờ anh về và viết bài của anh cho, buồn ngủ gục xuống bàn, em ẵm vô mùng. Có đêm pháo bắn, nó thức dậy.
- Con không khóc à ?
Tôi bịt miệng nàng bằng môi tôi.
- Quen rồi, nó không sợ nữa anh à. Nó hỏi ba có về không? Em nói ba vừa đi. Nó bảo sao pháo bắn vậy mà mà để cho ba đi. Con nhỏ khôn ghê đi anh. Thôi, anh đi tắm cho khoẻ.
Nàng đưa tôi ra nhà tắm. Tôi đã quen với mùi xà bông thơm ở vùng trời nho nhỏ này rồi. Tắm xong tôi trở vào thì đã có sẵn một ly sữa trắng tinh để trên bàn con bên đầu giường. Nàng bảo:
- Anh uống đi . Cứ ba cái nước nếp nước cay nước ngược của mấy ổng đốc xúi thi đua mà anh uống miết mất sức khỏe hết, nguy hơn nữa là pháo bắn chạy không kịp.
Tôi ngồi lên giường, ấm áp cho đời thằng Lê Dương đỏ quá. Đây là tài sản của miền Nam Tự Do tặng cho gã ta.
Tôi uống từng ngụm sữa mà nghe những tế bào trong người tôi ở tuổi thanh xuân. Tôi đã làm bạn tình với nhiều người, nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy no đầy hạnh phúc một cách đường hoàng và thấy mình gần như một người chồng như đêm nay. Nàng ngồi song song với tôi, nhìn tôi uống sữa như mẹ nhìn con.
- Ngón chân anh tách móng lành chưa, đưa em coi!
Tôi ngoan ngoản kéo chân lên để ở mép giường và hỏi:
- Sao em biết?
- Con Lam nó khoe om sòm rằng nó đi công tác chung với anh, nó băng ngón chân cho anh. Nó còn nói oang oang nó đem xà bông thơm cho anh tắm ở ngoài rạch.
- Chuyện đó có gì mà khoe.
- Nó còn nói nó khám cả người anh để tìm vành đai của thủ trưởng nữa.
- Anh đâu có ghẻ xốn mà khám?
Mười lấy khăn bàn lông vuốt tóc tôi cho khô rồi nói:
- Anh ốm hơn lúc mới về.
- Công việc nhiều quá em à !
- Quần áo của anh, anh cũng không chú ý nữa! Đi đâu cứ vác AK in như lính. Cán bộ người ta không có K54 cũng mượn đeo để làm oai với đàn bà con gái còn anh có lại không đeo. Ai đời trưởng cơ quan lại đi đẩy xe bò lãnh gạo lại để cho con nhỏ đó trên xe. Anh thiệt à !
Tôi đưa ly sữa cho nàng, nàng đẫy ra:
- Em ít uống sữa lắm.
Tôi hôn vào cổ nàng.
- Không uống mà da trắng thế này !
- Anh có vải sao không may quần áo để cho người ta?
- Anh thấy thằng Đỏ rách rưới quá. Nó đi liên lạc mà để như vậy, nó chạy khắp trời, chẳng khác nào bêu riếu cơ quan mình.
- May ở đâu không may lại đem ra bà Tám Mang.
- Vùng này đâu có thợ may, không lẽ đi ra Đồng Lớn.
- Ngoài đó người ta ăn hai trăm một bộ, ở đây bả lấy thêm năm chục mà còn nói ơn nghĩa đó. Mai mốt anh cần đem đây em may cho.
- Em có máy à?
- Có chớ sao không. Nhưng em giấu biệt. Em may cũng dư sống nhưng nghề đó quấn khách, em không muốn. Bộ đội có nhiều ông đàng hoàng cũng có nhiều ông hơi thiếu đàng hoàng. Để họ ra vào mang tiếng. Em ngồi bàn máy hồi mười ba tuổi chớ phải đi học lóm đâu anh.
Tôi uống cạn ly sữa. Đường cát còn đọng dưới đáy ly một lớp dày, tôi bèn rót trà vào lấy muỗng khuấy lên rồi uống nốt và bảo:
- Em đừng pha sữa cho anh nữa. Để dành cho con.
- Thiếu gì ba cái sữa. Em còn gởi đò máy đi Bình Dương mua Nestcafé cho anh kìa.
Bất giác tôi quay lại kéo bé Hoàn dậy và bồng nó lên hôn xối xả và thầm thì vào tai nó:
- Ba về nè con! Ba về..
- Ba về nề con, thức dậy đi coi thử có hay không để sáng khối tra hạch má sao ba không về.
Mười nói một hơi. Vừa nói vừa lắc vai con bé, tỏ vẻ vui sướng cực độ vì đã làm một chuyện bịa trở thành sự thực đối với trẻ thơ .
Bé Hoàn ngóc cổ lên, mở mắt tròn đen láy như hai hạt nhãn lấp lánh ánh đèn giữa khuôn mặt tròn trịa giữa mớ tóc mượt đẹp như tranh trong những quyển sách Hồng.
Mười nom sát mặt đứa bé và hỏi.
- Coi ai đây, con?
-Ba đây con!
Tôi đưa tay gộp đầu mẹ đầu con vào nhau và hôn bên kia bên này như mưa. Như trong mơ của truyện Thần Thoại mà bé là nhân vật, bé trỏ vào chiếc gối:
- Ba nằm ở đó. ..
- Ừ ba nằm ở đó.
- Má nằm xít vô .
- Ừ má nằm xít vô gần con để cho ba khỏi nằm meo té xuống sàn.
Tôi đặt bé Hoàn vào chỗ cũ và nằm xuống. Mười len vào giữa tôi và Hoàn. Tôi lấy chiếc gối tai bèo của nàng chồng lên gối tôi rồi đưa tay ra vừa đúng lúc nàng ngã xuống, làn da cổ chạm vào cánh tay tôi như một dải lụa đặt lên. Vừa nằm xuống và nghiêng qua ôm tôi, nàng nói.
- Anh Chín chị Chín em định bán một ít đất anh ạ !
- Đất gì?
- Ba má em có nhiều đất ở vùng Bến Mương này và ở ngoài đường số 1 nữa.
Tôi hơi bật ngửa ra. Đúng như lời Sáu Phấn nói: ba nàng là ông Cả. Tôi hỏi bâng quơ vì không thiết tha gì với ruộng vườn. Lâu nay tôi có hề cấy cây lúa trồng cây chuối nào đâu. Thấy ruộng lúa cháy, thấy vườn sầu riêng tơi tả thì cũng chắt lưỡi chút thôi chớ có đau đớn gì.
- Tại sao lại bán?
- Chớ anh không biết sao còn hỏi.
- Biết gì?
Bàn tay trắng buốt của nàng giơ lên đập đập ngực tôi:
- Anh Chín nói ở ngoài Bắc cải cách ruộng đất gì đó.
- À ! Nhưng ăn thua gì trong này?
- Còn không ăn thua nữa ! Họ vô trong này là chết. Một là họ lấy hết hai là họ bỏ tù chủ đất.
- Ai bảo bậy vậy?
- Anh Chín nói mà anh !
Thế là tôi hết phương cãi. Mười tiếp:
- Ảnh bảo chị Chín em bán chừng vài chục mẫu rồi thủ sẵn tiền, hai chị em về thành sống nuôi con The và con Hoàn. Hai chị em hú hí với nhau chớ ảnh chắc là không có sống qua cuộc chiến này đâu. May mà ảnh có được mụn con.
Tôi thở dài. Những cái bấm của ngón tay đàn bà khẽ thôi nhưng đau đớn. Tôi chạnh nghĩ tới cái thằng tôi. Già ngắt rồi vợ con chưa có, cứ xách xe không chạy cà tưng. Ông già tỏ ý buồn lo cho tôi, nhưng thấy tôi có vẻ bất cần nên ông không bảo ban gì cả, chỉ nói nhẹ một câu: “Má mày muốn có cháu bồng.” Nếu tôi quyết định cưới Chia thì má tôi sẽ vô ngay. Bây giờ nghe tâm sự của Sáu Phấn qua lời Mười thuật, tôi mới giật mình. Tụi thằng Hùng Cối, Hải ghẻ Trường Sơn, thằng Quân đều mang tâm sự đó cả . Chết không kẻ nối dòng !
Mười đã đưa tôi đến cái mức cuối cùng của sự can đảm mà tôi có bấy lâu nay: không chịu tiến tới với nàng. Nhưng nàng không dừng lại ở đó, nàng tiếp:
- Ông Hai Giả đã hi sinh rồi phải không anh?
Tôi nảy người lên:
- Ai đồn bậy vậy?
- Anh còn giấu em nữa à ?
Tôi lặng thinh nghiêng mình bỏ một tay qua hông nàng. Sự im lặng khá dài. Tôi có cảm tướng một ngàn ngôi sao đã rơi trên mái nhà này làm tan vỡ màn đêm bí mật. Tôi định thần lại, bảo:
- Đó là tin gián điệp!
Nàng không nói gì nữa. Tôi tiếp:
- Ảnh chỉ đi công tác xa một thời gian cho dịu bớt dư luận thôi.
- Công tác xa tận âm phủ hả anh? Anh Chín em nói với chị Chín. Chị Chín học lại với em mà gián điệp gì. Chị còn bảo em yêu anh, chị lấy anh Chín rồi hai chị em sẽ khổ hết thôi.
Vậy là chuyện Hai Giả đã vỡ ra rồi. Không biết bà ấy đã hay tin chưa? Nếu đã nghe sao còn bày trò nhờ gởi thơ? Hay là bả cũng đóng kịch để cười chê sự láo toét của mình.
Nghĩ vậy tôi bèn hỏi: .
- Bà Giả nghe chưa?
- Ai nói cho mà . . .
Tôi nghe cánh tay tôi ấm ấm. Tôi đưa tay tôi quệt nước mắt nàng. Nàng sụt sùi:
- Em lo cho anh quá hà . Bom đạn kinh hoàng, ngày nào cũng có người chết. Em còn nấn ná lại đây là vì anh. Chớ anh coi đó, em còn cái gì ở đây mà chờ mà đợi? Em về thành tái giá cho xong cuộc đời. Nếu anh về trể chừng một tháng thì đâu có gặp em. Bà con chung quanh đi hết rồi. Em chờ xem chị Chín bảo sao. Hai chị em cùng đi cho khỏi bơ vơ.
- Bỏ anh hả?
- Anh bỏ em thì có .
Tôi lặng thinh. Câu nói như suýt chọc vỡ cục can đảm của tôi. Nàng tiếp:
- Anh khinh em lắm phải không?
- Tại sao?
- Là vì khi không lại thế này. Nếu anh có khinh em, em cũng chịu. Nhưng em cũng nói cho anh biết rằng em không phải loại gái như đám dũng sĩ đâu. Có biết bao nhiêu người mở lời với em.
- Anh biết.
- Nhưng em không chịu ai hết. Từ ngày ba con Hoàn hi sinh em thấy không thương ai hết. Em định bỏ xứ Bến Mương này đi về thành để quên hết, thì bỗng anh đến. Em thấy yêu anh ngay . Em mơ ước anh là chồng em. Nhưng em biết không bao giờ anh chịu lấy em làm vợ. Anh chỉ thương con Hoàn nên đến với em thôi. Phải không? Nàng lắc vai tôi : Rồi nay mai sẽ cưới vợ, sẽ không còn nhớ đến em nữa. Mà cũng được. Anh yêu em bao nhiêu, em vui bấy nhiêu, em không đòi hỏi gì hết. Vầy cũng đã nhiều rồi.
Tôi ôm nàng úp mặt tôi vào mặt nàng và liếm những giọt nước mắt tuôn như suối chảy hai bên sống mũi nàng. Để khỏi bị day dứt về những lời cay đắng của nàng tôi hôn nàng trên môi những cái hôn dài nối tiếp nhau. Nàng run rẫy quằn quại rên rỉ. Rồi việc gì phải đến đã đến. Cuộc tình nào mà không đến đó. Thân thể nàng quả là một tuyệt tác của hóa công. Làn tuyết phơi mờ ảo dưới ánh đèn dầu, tóc như mây xoa trên gối, tương phản nhau làm cho người đàn bà giống như một bài thơ não nề không cần không vận. Tôi run từng miếng thịt. Tôi sợ hãi trước phần thưởng quá lớn dường như không dám đưa tay nhận. Một loạt pháo nổ xa xa ì ì ì…. âm vang của nó làm run khẽ ngọn đèn chong. Tôi thầm thì:
- Nó quay họng phía khác em ạ ?
- Kệ nó, yêu em đi. Anh đừng như lần trước.
- ….?
- Cho em xin một đứa con.
Bao nhiêu mơ mộng đều tan biến. Nàng ngồi dậy và bằng cử chỉ cương quyết.
- Bỏ cái thứ này ra đi. Tụi con gái lang bang mới sợ có con. Em không sợ có con với anh. Em sẽ không rêu rao một tiếng nào làm hại uy tín của anh. – Nàng nói tỉnh như sáo, như đã dự định từ trước – Khi em tắt kinh thì em sẽ cho anh hay rồi em lặng lẽ về thành.
Nàng giở mí chiếu lên cho tôi xem một cái gói và tiếp:
- Đây là số tiền bán mười mẫu đất xấu lại bị bom, chị Chín chia cho em. Còn mười lăm mẫu đất tốt, hễ ngả giá xong thì bán luôn. Anh! Nhưng số tiền dù bao to đi nữa, đối với em đều vô nghĩa, nếu không có anh.
Tôi là gã hành khách ngông đi trên chuyến xe đêm của Paoutowski chăng. Cửa hạnh phúc đã mở ra chào đón mà cứ quay lưng để sau này…




Chương 56
Có máu mới ăn tiền

Cơm nước xong lên đường. Phái đoàn có quân số một tiểu đội gồm ba thành phần: H6 phụ trách đo đạc để đặt pháo, do Sáu Đức làm tổ trưởng, D8 sẽ đóng vai yểm trợ cho pháo binh do Ba Tố phụ trách, quân đội sẽ liên hệ với du kích địa phương lo vụ hầm hố trong trường hợp bị đổ chụp do ông thổ địa Hai Khởi cầm đầu. Còn tôi chỉ huy chung. Mục đích của cuộc hành quân này là nghiên cứu chiến trường. Mục tiêu chính là đồn Trung Hòa. Sau đó sẽ nghiên cứu Đồng Dù. Vừa qua khỏi trung đội trinh sát thì tôi bị Lam chân đầu:
- Anh Hai cho em đi với.
- Em ở nhà lo sức khỏe cho anh em.
- Không có ai bịnh hết anh Hai ạ . Em muốn về thăm gia đình một chuyến.
- Anh sẽ cho em về phép một tuần lễ. Kỳ này anh đi có nhiều công tác khó khăn, phụ nữ không đi được.
Tôi biết Lam có âm mưu giới thiệu tôi với gia đình, vì chúng tôi sẽ ra Ràng là quê hương của Lam, để ngó ra Trung Hòa. Cho nên tôi cương quyết không cho cô bé đi.
Đi ngang nhà Sáu Phấn thấy y đang lui cui đóng mui ghe. Tôi bảo Sáu Đức trung đội trướng trinh sát cùng tôi ghé lại để dặn dò thêm công việc.
Vừa vào đến nơi, đã nghe tiếng reo mừng của bé Hoàn:
- Má ơi, ba về nữa.
- Ba mày về hồi nào mà nữa?
- Ba con về hồi hôm ngủ với con trong mùng.
Sáu Phấn sợ tôi ngượng nên nạt con bé:
- Đi vô lấy hộp quẹt ra đây cho dượng hút thuốc.
Con bé vừa quay lưng thì vợ Sáu Phấn và Mười đi ra. Mười ẵm con của Sáu Phấn. Con bé được ba tháng trông kháu khỉnh .ra phết.
- Dượng nó có ẵm một chút lấy hên không?
Chị Chín trêu tôi và liếc nhìn Mười. Mười đưa đứa bé cho tôi. Thiệt là sung sướng. Hìmh như lâu lắm tôi không có ẵm trẻ con. Bé Hoàn chạy lại đeo tôi như thường lệ :
- Sáng ngày con thức dậy ba đi đâu mất tiêu.
- Ba đi công tác mà con.
Mười nói, đỏ rần đôi má. Chị Chín nói rướn tới:
- Mai mốt con đừng cho ba con đi nghe !
Sáu Đức liếc tôi cười tủm và bước lại lái ghe ngó qua ngó lại và nói:
- Ghe này mới có một mình anh chèo lái hả anh Sáu?
-Ừ .
Sáu Phấn ngập ngừng y không nói tiếp cái câu mà y đã nói nhiều lần với tôi hoặc với người khác mà muốn thấu tai tôi. Ghe không kén người chèo nhưng người chèo lại kén ghe!
- Hoàn, hỏi ba đi công tác chừng nào về con?
Tôi nói thẳng với Mười.
- Anh đi chừng một tuầ n lễ .
- Anh có đem y tá theo không?
Tôi biết Mười hỏi cấn Lam, nên đáp:
- Toàn là đàn ông. Cả thằng Đỏ anh cũng không cho đi.
Tôi đưa mẫu giấy nhỏ ghi công tác cho Sáu Phấn rồi cùng Sáu Đức trở ra đường. Vì đã định trước hành trình, trạm nghỉ chân nên mỗi tốp cứ tự động hành quân. Khi đi ngang qua ngã ba Bầu Trâm, Hai Khởi tụt lại sau chờ tôi và trỏ vào ven rừng chồi, bảo:
- Trong đó có quán của vợ Năm Trầu, phó ban Hậu Cần quân đội.
Tôi cười:
- Năm Trầu là anh Bay Hốt chớ gì!
- Sao thầy biết giỏi vậy?
- Ở trên Bến Dược thì Bảy Hốt có em nuôi là Sáu Tiệm bán quán, ở đây có Năm Trầu cất quán cho vợ bán cắt họng lính chớ sao. Mao chủ tịch từng nói thằng nào làm quản lý ba tháng đem ra chém đầu không oan chút nào.
- Vậy mà thằng cha này làm Hậu Cần hai năm rồi, có ai sờ tới cái lông chân nó đâu, đừng nói chém. Vợ nó chém người ta thì có . Anh muốn vô coi chơi cho biết không? Vải ni lông giống hệt vải phát cho anh. Còn muối, gạo, khô, đường thì đầy ắp. Vậy mà lính đói trắng dã con mắt.
- Không coi cho đỡ xốn con mắt chú nó ơi.
Tôi và Hai Khởi, Tôn Sứt đi sau cùng. Tôi có ý đem theo Tôn đi kỳ này để bận về ghé xóm bà Tư Bánh Bò cho nó tìm ý trung nhân, chứ thực ra nó không có nhiệm vụ gì ở đây cho lắm. Nhà dân lưa thưa dọc theo hai bên đường. Ngoài ruộng người làm cũng thưa. Hai người du kích từ trong vườn chạy ra chận Hai Khởi, la lên:
- Ông quận, tụi em gác ở đây nên nghe tin tụi lính Trung Hòa thọc vô tới ngã ba Tầm Lanh nhưng không chắc.
Hai Khởi có tính la quát lính, nạt ngay:
- Sao không cho tốp đi trước hay?
- Dạ , tụi em không có quen.
- Chạy theo kêu họ trở lại, mau lên!
Tầm Lanh là một xóm nhỏ nằm giữa Ba Sòng đầu dưới và Đồng Lớn, gần bên Gò Nổi trên. Lính Trung Hòa thường nằm phục kích ở đây. Cán bộ đi lẻ đã bị chúng bắt sống nhiều lần rồi, nên nghe nói tôi bảo Sáu Đức và Tôn lùi lại quán vợ Năm Trầu. Nhưng toán du kích trở lại cho biết đó chỉ là tin vịt. Đoàn đi trước trót lọt, chắc không có lính. Hai Khởi kéo ngọn đi một chút thì tới giữa xóm. Hai Khởi vào một cái nhà và bảo là tìm ấp đội Hai Bụng. Bà vợ mới sanh còn non ngày tháng ngồi trên võng bế đứa con đỏ hỏn, càu nhàu rằng ông Bụng không có ở nhà. Hai Khởi bảo lính vô Tầm Lanh, thì chị nói quát ra:
- Tui có biết ai là ai. Du kích cũng như lính Trung Hòa ông nào cũng mang súng và ăn mặc giống nhau. Chừng nào có phục kích mới biết. Hễ du kích chạy thì có lính Trung Hòa vô còn hễ lính Trung Hòa chạy thì biết là bộ đội tới.
Nói xong chị hỏi tụi tôi đi đâu.
- Đi ra Ràng.
- Đi hướng đó thì dầu lính nằm ở Tầm Lanh cũng không ăn thua gì. Nếu nó ở Tầm Lanh thì sợ nó thụt cối hoặc xả trung liên chứ tụi nó đâu có chạy qua đồng trống mà rượt các anh được.
Thế là chúng tôi tiếp tục đi. Hai Khởi thầm thì với tôi:
- Nhà con bé út Hương của tôi ở đây. Mới mười tám thôi. Coi đặng lắm. Nhưng ông thầy nhớ là đừng có cho tôi lòi cái đuôi rau muống thì hết món ăn.
Đi một chốc, Hai Khởi trỏ vào một cái nhà ngói có vẻ còn nguyên và nói:
- Đây là nhà của Bảy Lập. Thằng này biết kéo cây đờn gió và chơi ghi-ta.
- Đờn gió là đờn gì cha non?
- Là cây đờn xếp ra xếp vô ôm trước ngực như cái máy đánh chữ đó mà.
Tôi ngẫm nghĩ mãi mới biết là cây đờn ắc-coọc, tôi bảo:
- Thì ăn nhậu gì mà nói ở đây.
- Thầy Hai ơi, nó có con em gái tên là Chín Hòa, mới mười chín tuổi rưởi, dạy bình dân cho con nít. Ông già bà già nó còn ở trong vùng “rảy phóng” ta. Thầy vô là nghe cái cụp ngay thôi.
- Ôg điều nghiên kỹ quá, ông tha-mu!
- Mình phải đi sâu vào loòng nhân rân và đi sát cái đáy quần . . . chúng mà thầy ! Hí hí !
Tôi nhìn màu xanh từng cụm từng dãy ở ven đồng điểm những cánh cò trắng chơi vơi trong nắng trưa. Ôi sao mà nhớ nhà nhớ cửa. Ông già vô nói chuyện chưa đâu đến đâu, tôi đã vội vã đưa về . Biết chừng nào phụ tử lại trùng phùng lần nữa. Mười năm, hai mươi năm hay lâu nữa? Sáu Đức vừa đi vừa móc sổ tay ra ghi ghi chép chép và báo cáo với tôi:
- Nếu đặt cối 82 ở đây thì phải bắn mút tầm đạn mới trúng giữa bót Trung Hòa, còn cối 81 thì phải nhích lên một trăm thước đó anh Hai.
Tôi lặng thinh vì tôi nghĩ tới nhiều chuyện khác: nếu đạn biến chất, không đi đúng tầm dự định thì sẽ rơi vào nhà dân, còn bay tới mục tiêu thì chắc gì đã đạt được kết quả? Vì tụi lính đồn thường ở hầm xây bằng bê tông. Bao cát Mỹ tăng cường chừng năm lớp trên nóc. Cối 81, 82 không chết ai.
Tới Bàu Sỏi, Hai Khởi cho toàn đoàn rẽ vào xóm phục kích và cho một tổ đi lên phía trước. Tất cả sẵn sàng chiến đấu. Hai Khởi trỏ về phía Trung Hòa, nói với tôi:
- Cái đồn này có từ thời Pháp tới bây giờ chưa bao giờ vắng lính. Bây giờ nó kiên cố vô cùng. Một trung đoàn đầy đủ binh chũng và quân số chưa chắc hạ nổi. Mình pháo kích có ăn thua chăng chỉ hai trái đầu. Đến trái thứ ba thì tụi nó chui hết xuống hầm. Quanh đồn là đồng ruộng. Mặt tiền là đường số 7. Ấp chiến lược và phố chợ bao che cho nó. Gạo, tôn, sữa, thịt hộp Mỹ đã làm nên một cái quan điểm nhân dân khỏe ru, còn mình chổng khu kêu gào tuyên truyền đe dọa vẫn không giữ được dân.
Trong lúc nhà tham mưu quận đội thuyết trình, tôi rẽ bụi rậm giơ ống dòm lên quan sát. Tôi thấy rõ tên lính ngồi trên chuồng cu đang vặn radio, chắc chắn đang nghe vọng cổ buổi trưa, thấy bùi nhùi kẽm gai từ chân đồi đến chân tường đồn không biết bao nhiêu lớp. Một trung đoàn dốc toàn lực tấn công và phải hi sinh ít nhất là một tiểu đoàn. Tôi thầm nghĩ và đưa ống dòm cho Hai Khởi xem tiếp. Hắn vừa xoay người vừa nói:
- Bắn từ hướng này thì mình không sợ trúng dân. Nếu đạn không bay tới đích thì rơi ngoài ruộng.
- Như vậy lỗ vốn thì pháo kích làm gì?
- Thì thầy bảo ở trên cần có tiếng pháo ta gầm cho chúng nó biết ta chưa chết hết.
Bỗng có tiếng vang từ hàng dừa xóm Tầm Lanh:
- Ê, làm gì đó mấy ông nội con nít?
- Qua đây biểu coi.
- Xung phong băng đồng bắt sống tụi nó bây ơi!
Hụp hụp! Tắc tắc tắc… Trung liên nổ ròn tan. Mấy trái moọc-chê bay rơi trên ruộng nước bắn tung trắng xóa.
- Chạy lùi vô , trong này có chiến hào anh Hai.
Tôi giương AK bấm cò đáp lễ và quát:
- Qua đây mà bắt sống!
Tôi nhắp cò thêm mấy loạt ngắn.
- Ê đụng chủ lực không phải dích-cu bây ơi!
Tắc tắc … tắc… Mấy tốp lính đã lao ra ruộng định băng qua đây dội lại vì mấy loạt AK. Cụp cụp cụp! … Moọc-ta liên tiếp phóng qua rơi ngay trong vùng chúng tôi đang thủ. Tôi cho tất cả lom khom chạy lùi sâu vào rừng. Chỉ vài cái tíc-tắc sau, pháo Trung Hòa lên tiếng. Chúng càng bắn, tôi càng cho đơn vị rút nhanh. May nhờ mấy đoạn chiến hào cũ của D8 bỏ lâu nay, tuy đã cạn nhưng tạm dùng để che thân qua cơn mưa đạn, mà không có đứa nào bị thương. Khi tỉnh cơn ác mộng thì chúng tôi đã thấy mình đứng giữa ấp Ràng. Kẻ mất bi đông, người văng nón, tôi sút một chiếc dép, chỉ còn một chiếc dính chân. Ba Tố xuất hiện vừa thở hào hèn vừa nói:
- Tụi này bữa nay chơi ác bỏ vòi qua tới đây. Tụi du kích Ràng ít dám ló đầu ra vì thường đụng biệt kích thằng trung sĩ Lệnh. Chúng nằm cả đêm ngoài rừng. Buổi sáng tụi du kích lơn tơn xách quần đi “bứt cỏ” , thế là đụng đầu, bị nắm chóp hết mấy thằng rồi.
Ba Tố vừa dứt lời thì có tiếng kêu:
-Hầy Hai ơi ! Hai Khởi bị thương !
Ba Tố nói tỉnh bơ:
- Đã nói mà ! Hễ không có máu là không ăn tiền!
Sáu Đức cười khặc khặc:
- Coi chừng mẹ đĩ ở ngoài Thanh Hóa không ai giúp đỡ !
Hai Khởi đi tới tay bụm mắt, máu rớt qua kẽ tay. Tôi hỏi.
- Có sao không?
- Nó xén cái chóp chân mày mất một phân tây.
Ba Tố cười:
- Chưa sao. Nếu một phân tây chỗ kia thì mới đáng sợ.
Sáu Đức bảo chạy đi kêu y tế xã. Hai Khởi lắc đầu. Tôi xem vết thương chỉ xớt qua tí da nên lấy bông băng cá nhân quấn mấy vòng rồi sai mắc võng cho nằm. Sáu Đức lại cười:
- Để tôi đi kiếm vài con gà về nhậu lấy lại tinh thần.
Hai Khởi trỏ căn nhà và nói:
- Đây là trường bình dân của Ràng do cô Chín Hòa dạy.
- Chết hụt không lo, ở đó mà chín Hoa mười Hóa.
Tuy bị thương nhưng Hai Khởi vẫn lo đầy đủ trách nhiệm của thổ địa. Y ngồi dậy cuốn võng đeo vào lưng rồi dắt cả đám đi sang một xóm gần đó, vào một ngôi nhà ba căn rộng mênh mông do hai chị em làm chủ. Cha mẹ chết vì một quả pháo cách đây vài tháng. Hai Khởi bảo Tôn:
- Chú mày vô đây bắt luôn hai con cá rô mẹ một lượt, chịu không?
- Thằng bị rau muống quấn mà đi đâu cũng trồng sua đủa không sợ trời đánh sao?
Hai Khởi cười hề hề :
- Thiếu chất nhép lâu ngày chịu không nổi bác Ba ơi!
Tôi bảo:
- Coi địa hình thuận lợi thì đo đạc và quan sát nhanh lên đi. Sau đợt pháo, nó có thể gởi bộ binh tới truy nã mình.
Ba Tố trỏ dưới đít ván:
- Ông tham mưu nên xuống đó nằm dưỡng sức ! Bây giờ tới phiên tôi làm thổ địa. Vùng này cũng đã từng nhẫm dấu chân của tôi. Ởở đằng sau vườn có một gốc xoài già . Mình leo lên đó bỏ ống dòm sang Trung Hòa thì thấy rõ nồn nội.
- Đây đó cách bao xa?
- Chưa đến hai cây số đường chim bay. Nhưng phải hóa trang thường dân.áo bà ba đen, nón lá vai vác cuốc. Nếu tụi nó nghi ngờ là ăn pháo ngay.
Sáu Đức nói:
- Ở đây tôi cũng đã mò tới. Phải mặc sơ mi trắng, nón nỉ cho giống dân chợ mới che được mắt tụi nó.
Thấy Sáu Đức nói có lý tôi bèn làm theo, nách kẹp ống dòm còn Ba Tố thì làm nông dân. Thế là chúng tôi bước từng bước men ra gốc xoài. Sáu Đức bảo:
- Cứ đi tự nhiên! Làm gì như đạo chích rình nhà vậy?
- Không đạo chích thì là cái giống gì?
Thiệt tội nghiệp cho Quân Đội Nhân Dân Việt Nam anh hùng. Từ khi lọt vào đường Trường Sơn tới nay, và không biết tới bao giờ nữa, chiến sĩ lẫn cán bộ đều sợ bị phát hiện ra là người của Bắc Việt. Tên họ thay đổi, áo quần thay đổi và phong cách cũng thay đổi luôn: anh hùng đổi thành gian hùng, vinh quang hóa ra lưu manh và quân đội vì dân chỉ còn là quân đội ăn cướp của dân.
Tội nghiệp cho quân đội nhân dân anh hùng? Đế quốc Mỹ xâm lược mà chúng đổ quân công khai vào Đồng Dù, máy hay chụp hình rầm trời. Còn ở đây cán bộ không dám ló ra khỏi hầm, và quân đội muốn thấy kẻ địch phải đóng vai thằng ăn trộm gà làm cho cái cục chánh nghĩa treo lủng lẳng ở đâu đó phải thon thót suýt teo mất. Tôi hỏi Ba Tố:
- Có phải Biệt kích của thằng Rắc không?
- Không rõ thầy ạ. Vì tụi nó nhiều loại biệt kích lắm. Nhưng tụi thằng Rắc là nguy hiểm nhất vì nghe đâu trước kia nó là du kích xã Phú Hòa bất mãn cái ông nội gì đó không biết mà nhào ra ngoài tổ chức biệt kích chơi lại mình. Nó không như tụi Mỹ nằm vài giờ mỏi lưng rồi rút về. Nó đem cả cơm nước theo ăn, có khi nó chém vè hai ngày liền. Du kích đi, nó cho lọt. Mình tưởng êm, đưa ông gộc tới là bị nó. Cũng như hồi nãy, thầy thấy không? Có thể nó chỉ rút một mớ còn một mớ ém lại cho nên nhân dân tưởng nó rút rồi.
- Vậy thì nó còn hơn tụi biệt kích Kangoroo trên đường Trường Sơn nữa!
- Ở đây nó còn mặc đồ bà ba nằm trong nhà dân nữa thầy ơi! Mình ở trong kia lơn tơn ra đụng nó là xuôi tay chớ chạy sao thoát.
-Mẹ, cái thứ này nguy hiểm lắm. Hồi tôi ở trên R, gặp mấy cha ở miền Tây lên thuật lại chuyện ở Rạch Giá có một thằng xếp đồn là Một Mun. Nó là Thổ lai…
Tôi ngó dớn dác vì nghe có tiếng cụp cụp không mấy gì hay ho. Ba Tố nghiêng tai nghe và nói:
- Không phải pháo, hình như nhà bên trẻ con chơi đập mo cau hay là đàn bà sãi gạo vỗ đít thúng đít nia. Tôi đã cho cảnh giới hai đầu rồi, thầy cứ yên tâm.
Tôi nói tiếp:
- Nó đen mun làm thiếu úy xếp đồn, nên dân gọi là Một Mun. Cũng gốc du kích không biết nó thù hận gì mà bỏ theo giặc. Nó nghe du kích bắn cạch cạch là xách súng dắt lính đuổi ngay, bắt được bắn liền.
- Thằng Rắc này chơi trò êm dịu kín đáo nhưng độc hơn.
- Mình ngồi lêu bêu thế này rủi nó chụp, chui đâu?
- Chạy thôi! Thầy đi qua mấy cái giếng tôi chỉ lúc nãy, nước lên lé đé miệng giếng. Kiểu đó, đâu có đào hầm được. Bởi vậy du kích tại đây tróc hết, chạy thụt vô Đồng Lớn, Sa Nhỏ lâu lâu mới ló ra một chuyến bắn cắc bùm rồi thụt vô…
Tôi ngồi nghe Ba Tố nói chuyện mà như dưới đít có chông. Mình đã quen sống doanh trại chính quy bên Tàu, ngoài Bắc, về rừng cũng độc lập muôn năm. Bây giờ ra tiếp cận vùng meo, nghe giống như con cua lột. Một cái gai bưởi, thậm chí chiếc tăm xỉa răng, cũng đâm lũng dễ đàng. Giống như tướng Cosaques Bạch Vệ trong Les Chemin des Tourments của A.Tosltoi, từ đồng rộng nghênh ngang bị lọt vào thành phố là cảm thấy chật hẹp khó xoay trở và bị bao vây bởi phố xá .
Sáu Đức dắt về một cô gái mặt rỗ hoa mè, miệng có duyên, tóc bới lủng lẳng sau ót.
- Đây là em Nưa, du kích ấp. Em sẽ đưa đường mình đi.
Nưa hỏi:
- Đi đâu anh?
- Ra mấy cây xoài múc sau nhà, leo lên đó ngó ra ngã ba Tầm Lanh và Trung Hòa.
Nua nhìn cách hóa trang của tôi và Ba Tố rồi gật đầu:
- Ừ làm như vậy mới được. Kỳ trước mấy ông tiểu đàn dìa đây thụt ló thế nào mà nó dùng một trái cối lọt giữa nhà bị thương tám ông bộ đội.
- Chín Nữa bị cú đì-réc! – Ba Tố tiếp theo – May thôi đi chầu Hà Bá rồi thầy ạ !
Nua trố mắt nhìn tôi có ý hỏi thầy gì? Tôi khoát tay bảo đi. Nữa đi trước, tôi và Ba Tố theo sau. Đang đi bỗng Nua quay lại:
- Bộ mấy anh muốn chọc cho nó bắn tan xóm này hả?
Sáu Đức đưa tay vuốt lưng cô em:
- Thôi mà cưng! Nó muốn bắn là nó bắn chớ đâu đợi chọc. Đừng đổ thừa cho mấy anh!
Ba Tố chêm vào:
- Thằng Đực em mày gài trái lựu đạn sét nổ bị thương hai thằng lính nên nó bắn cối trả thù chớ không phải mấy anh chọc đâu ! Nay mai quân đội sẽ cho tụi bây vài khẩu pháo để quạt lại tụi nó.
Nua quay lại hỏi.
-Thiệt hả?
Ba Tố trỏ trỏ vào tôi đang đi sau chót. Nua cuốn cặp môi mỏng:
- Hèn chi nghe kêu bàng thầy. Em nghe bà con đồn hồi sáng tụi nó bị thương hai thằng.
Ba Tố nói:
- Tụi anh chơi đó . Nó nghe AK, biết chủ lực, nên rút lui. Nếu nó nghe súng tép thì rượt bắt sống rồi.
Sáu Đức cười mơn trớn:
- Em có chịu học súng cối không Nua ? Anh cho một cây bắn… hì hì thích lắm!
- Có đâu mà thích?
Đức tán liên miên làm cô gái mê tít, cứ chốc chốc lại dừng chân hỏi:
- Thiệt hôn, có thiệt hôn?
- Nè, anh nói cho mà rõ. Kỳ này là nện thẳng tay đó. Mà đã nện là thẳng thét, không có oam oam đâu.
- Vậy cho em đi học súng cối đi!
- Các xã cử học sinh tới rồi. Em bảo xã đội giới thiệu em mau mau kẻo hết chỗ.
Bỗng có tiếng chân thình thịch ở sau lưng. Tôi quay lại: Một người mặc quần đùi, chân chữ bát, nịt thắt lưng Mỹ, K54 xề xệ gần đụng đầu gối. Ông ta nhận ra tôi bèn kêu lên:
- Ông thầy pháo! Từ ngày nhậu tép mỡ ở chuồng trâu con Sáu Trong Năm Biền tới bây giờ mới gặp đây.
- À ông Bính. Đi đâu vậy? – Nua quát hỏi – Đi đâu cũng đụng ông!
Tôi nhớ ra là Bính Chân Lư đại đội phó C3 Quyết Thắng. Bính tới bắt tay tôi và tiếp:
- Dượng Chín Nữa của ông bị pháo lũng bao tử nhưng không chết, hiện nằm ở C5 của Tư Chuyền.
Ba Tố hạch hỏi.
- Rồi ông đi theo tụi tui làm gì?
- Tôi đi theo nhìn ké cái chuồng cu Trung Hòa một chút.
Nua ra lịnh:
- Đi thì phải bỏ súng, áo bà ba, nón lá, vác cuốc. Vô nhà làm như vậy mau rồi chạy theo.
Chúng tôi tiếp tục đi theo sự hướng dẫn của cô du kích.
Đến gần cây xoài múc thì mọi người tản ruộng ra làm nông dân. Tôi thấy áo sơ mi trắng và quần dài không hợp thời trang nên chui vô bụi cởi bỏ và phơi lưng trần đi tiếp. Chung quanh cây xoài có nhiều bụi rậm cao khỏi đầu nên việc che tầm mắt lính canh từ chuồng cu bót Trung Hòa rất thuận tiện. Cây xoài này cũng như cây xoài tôi đã từng leo với Năm Cội ở Bàu Chứa hôm trước, nhưng ở đó thì khoảng cách bót Trung Hòa xa gấp ba so với đây.
Muốn đặt pháo phải biết rõ cự ly và mục tiêu căn cứ vào bản đồ pháo binh thật chính xác nhưng chúng tôi không có loại bản đồ đó nên đành phải vác thước dây thước gỗ mà đo như kẻ đạc điền thời Pháp. Vì thế nên pháo kích thường trật mục tiêu, thậm chí giết dân oan uổng. Điều đó không có gì làm lạ. Cộng Sản là chúa làm ẩu vì bất chấp khoa học kỷ thuật. Ba Tố mặt quạu đeo, làu bàu:
- Mình xuất hành không coi ngày thầy Hai ạ, nên mới đụng cú đầu đã hao quân.
Tôi cười gượng:
- Tiền hung hậu kiết, không sao đâu bác Ba nó. Ông coi cho đã đi để về đặt kế hoạch tác chiến. Tôi giao tất cả cho ông và ông Sứt điều binh khiển tướng trận này.
Tôi về nhà thì thấy Hai Khởi đang ngồi trên góc ván, đưa đầu cho một người con gái quấn băng. Cô nàng đứng quay lưng, cái ngực lê la sát mũi anh ta, như cặp mồi nhử con cá thòi lòi. Chỉ cần nhích tới một ly là ngoạm được. Cái mái tóc quăn ngắn để lắp ló da ót trắng ngần. Ba Tố buột miệng nói:
- Ước gì tôi bị thương như ông vậy nghe ông tham mưu.
Cô nàng quay lại khoe nguyên bộ mặt khả ái và nụ cười lúm đồng tiền:
- Bộ thích ăn miểng pháo lắm hả?
Hai Khởi lanh miệng đỡ:
- Ông thầy của anh đó Quắn. Kêu ảnh bằng thủ trưởng nghe em !
Cô nàng nhìn tôi ngạc nhiên một giây rồi quay lại đưa tay vỗ vỗ vai ông thương binh:
- Em đã rắc bột pê-nê-xi-lin, mau lành lắm.
Tôi hỏi.
- Có sao không cô?
- Dạ chỉ ngoài da thôi.
Ba Tố xen vào.
- Chân mày mà trụi hết chắc giống khỉ già lắm!
Quắn cười để lộ hằm răng trắng và đều:
-Dạ, hổng đến đổi đâu.
Hai Khởi quay sang tôi:
- Nhờ thầy quạt mấy loạt AK, nếu không chúng nó dám ùa qua bắt sống tụi tôi lắm.
Hai Khởi giới thiệu với tôi và Ba Tố:
- Cô Quắn y tá (đúng ra là cứu thương) của xã đội Trung Lập. Cô em có tên đẹp lắm nhưng vì tóc quăn nên ai nấy gọi là Quắn.
Hai Khởi bảo Quắn:
- Cô chạy đi kêu ông Ba Bụng hay Ba Hỉ gì cũng được, lại đây cho tôi biểu.
Quắn đáp:
- Có chị Ba Hỉ ở đây nè, anh, ủa chú !
- Mày sửa cái miệng mày được không Quắn. Ai biểu mày gắn quân hàm Chú cho tao đó?
Quắn cười to làm cái đồng tiền lún vô đủ sức chứa một lọ mực tàu của ban tổ chức. Quắn khiêu khích.
- Chú là phải rồi. Sợ lên lon Bác đó chớ !
Tôi ướm thử xem cô bé tặng cho mình cái lon sữa bò gì, bèn nói:
- Cháu biết Út Hương không?
- Út Hương quân trang ở Đồng Lớn chớ gì ! À, ủa mà trả chữ Cháu lại cho anh đó !
- Sao lại trả?
- Anh chỉ đáng anh Hai tôi thôi?
Mọi người cười ha hả. Ba Tố nói:
- Đó thấy chưa? Mới thấy mặt đã đặt tên rồi.
- Chớ không phải sao? – Quắn nghênh mặt – Coi ảnh trẻ giống như lính mùa đông chớ đâu có khằn như cán mùa thu mấy chú vậy?
- Thôi chạy tìm đùm ấp đội Hỉ, hoặc xã đội Bụng đi!
Vừa đến đó, tôi ngó ra sân thấy một thanh niên mặc quần trây-di. Tôi giật mình tưởng là lính Quốc gia. Những Hai Khởi ngoắc lia và kêu:
- Hỉ, vô mau !
Người thanh niên rảo bước vô nhà, đưa tay quệt ngang cặp mắt ti hí và hỏi Hai Khởi:
- Anh Hai tìm em có chuyện chi? Em nghe anh bị thương…
- Tôi có lòi phèo không ăn thua gì! – Hai Khởi gạt ngang – Còn ông này mà trầy da là tôi đóng gông hết các cha ấp xã đội Trung Lập Thượng này.
Bà con thấy ông quận bị thương bu tới xem. Ông quận là cán thứ dữ mà nói vậy thì cái ông này quan trọng cỡ nào? Nhất là cô y tá. Cô càng ngạc nhiên hơn mọi người vì cô là người biết cấp bậc trong quân đội. Ấp đội Hỉ đứng không có vẻ gì lo lắng lại còn tự hào:
- Anh Hai đừng lo. Có pháo thì em lấy thân em che cho ổng. Còn nếu tụi thằng Rắc vào, em rượt chạy có cờ cho coi.
Hai Khởi phán tiếp:
- Chúng tôi sẽ làm việc vài ngày tại Ràng. Vậy các anh phải lo cho chu đáo.
Ấp đội Hỉ móc ra gói Capstan hai tay đưa ra mời tôi xong lấy hột quẹt Zippo bật lửa cho tôi hút và tiếp:
- Mấy anh ở mấy ngày cũng được, sứt miếng da em chịu tội.
Cô y tá hỏi Hai Khởi.
- Còn em có công tác gì không anh Hai?
Ấp đội Hỉ hất mặt:
- Cô chạy biểu vợ tôi kiếm vài con gà con vịt gì đó làm sương sương cái đã, rồi công tác gì sẽ tính sau.
- Còn em? – Nua hỏi.
- Cô đi xách vài cây cột đầu vuông về đằng nhà con Mén. Ở đằng đó rộng hơn. Nếu không đủ chỗ thì ta triển khai qua nhà bà má Hai cách đó một bờ dừa, qua lại cũng tiện.
Phân phối công việc xong, Hỉ dắt chúng tôi đi. Ra đến đường thì đụng đầu mấy bà đi chợ về . Ba Hỉ chận lại hỏi:
- Mấy bà mấy cô qua ngang ngã ba Tầm Lanh có nghe gì không?
Một bà sồn sồn đáp:
- Mấy ông cố nội bắn mấy ông cố ngoại tụi tui sợ té đái chớ nghe giống gì?
Ba Hỉ nói trây một cách tự nhiên.
- Đái rồi thay quần chưa? Để vậy khai ngấy đó!
Các cô cười khúc khích lủi nhanh nhưng thấy người lạ thì quay đầu ngó lại. Một bà khác nói đả đớt:
- Tôi vừa đến Tầm Lanh thì thấy tụi thằng Lệnh gút ga Tung òa. Có hai thằng nằm băng-ca, bốn thằng khiêng? – Bà phẹc cổ trầu xuống mé đường, đưa tay chùi tém miệng và tiếp – Tụi nó vừa đi vừa chửi thề om sòm. Một đứa bảo tôi: “Bà về nhắn tụi dít-cu có ngon ra cầu Công Sở hoặc Tầm Lanh chơi một trận, đừng ở trong đó núp núp ống quần đàn bà , tụi tui vô nhai đầu có bữa ! “
Ba Hỉ nghênh mặt với Hai Khởi:
- Có giỏi vô đây mà nhai phải không anh Hai?
Ba Hỉ dắt phái đoàn vô một ngôi nhà nền gạch cao vách ván bổ kho lợp ngói kiểu như nhà Bảy Mô ở Gót Chàng và má Hai ở Hố Bò. Tôi nghĩ thầm: Lâu lâu mới thấy một ngôi nhà còn nguyên, nhưng chắc rồi cũng tiêu tan thôi. Bom pháo này có cái gì đứng được. Tôi bỗng nghe xót xa tấc dạ. Nhà cửa tôi cũng như thế này. Tây đốt tiêu hồi đầu kháng chiến. Không biết ba tôi cất lại hình dáng nó ra sao. Tôi đứng trước thềm nhìn ra . Hai Khởi trỏ rặng cây bảo:
- Đó là xóm Dân Hàn gần đường số 7.
Ấp đội Hỉ kêu hai người con gái trong nhà ra giới thiệu:
- Hai đứa này mồ côi. Cả nhà bị một trái pháo chết hết. May lúc đó tụi nó đi vắng nếu ở nhà cũng tiêu luôn.
Rồi Ba Hỉ chỉ dưới đít ván:
- Nó pháo thì mình chui xuống đó. Còn bộ binh vô thì mình chạy thôi.
- Chạy đâu? – Hai Khởi hỏi.
- Chạy trở vô dư xăng mà anh Hai.
Tôi thấy quanh hầm chất bao lúa sơ sài. Ở trong kia hầm hố kiên cố quen rồi, ra đây gặp hầm kiểu này nghe ớn xương sống quá! Thằng ấp đội này có vẻ gan dạ, nhưng không có kế hoạch chu đáo. Tuy vậy tôi cũng làm tỉnh, không hỏi thêm gì nữa. Biết ý tôi, Hai Khởi bảo ấp đội Hỉ:
- Mày ở đây để có gì tao sai khiến nghe !
- Dạ thì tui ở đây chớ đi đâu! Bây giờ để tôi dẫn anh và thủ trưởng ra sau mấy cây xoài già coi cái đồn.
- Tao quan sát ở đằng kia rồi.
- Ấ ra đây coi gần hơn. Nhưng phải thay đồ để che mắt tụi lính gác.
Hai Khởi lấy mấy cái sơ mi trắng đem theo từ nhà cho cả bọn tròng vô. Rồi Ba Hỉ dắt ra sau nhà. Tôi cặp nách ống dòm. Đi ngang chuồng bò thấy mấy cái nón lá và cây cuốc, Hỉ cũng quơ đưa cho tôi. Tôi nói:
- Nông dân gì vác cuốc mà mặc áo sơ mi trắng?
- Ở đây thanh niên làm ruộng cũng xài đồ trắng mà thủ trưởng. Tụi nó cuốc đất xong, liệng cuốc đi chợ uống la de, hoặc nhảy phốc lên xe lam đi Sài gòn chơi đều đều…
- Sướng vậy à?
- Dạ thì tụi nó vậy không hà ? Ảnh hưởng sống vội yêu cuồng của tụi Sài gòn hết mà !
Tôi hỏi qua địa đạo:
- Ở đây địa đạo ăn ra ngã nào?
Hỉ nhìn tôi hồi lâu rồi đáp:
- Ở đây đâu có xài ba cái thứ đó thủ trưởng!
- Vậy rồi làm sao chiến đấu?
Hai Khởi đỡ lời:
- Ấp này thuộc xã Trung Lập Thượng. Từ đây đổ ra các xã ngoài quốc lộ I đâu có đào địa đạo được thầy! Toàn chơi hầm nổi.
- Hầm nổi là hầm gì?
- Để chút nữa tôi chỉ cho thầy coi.
- Vậy sao mình cứ nói địa đạo Củ Chi thôn liền thôn xã liền xã.
Hai Khởi cười. Có lẽ da mặt căng đau nên cái miệng méo xẹo:
- Thôn liền thì có. Liền thôn cũng có nhưng xã liền xã thì còn lâu thầy ơi? Đất ở đây chọc mũi dao xuống là nước tràn lên rồi, đạo gì nổi mà đạo.
Hỉ tiếp:
- Muốn làm cái hầm bí mật cũng còn khó thủ trưởng ạ ! Phải chọn gò mối hoặc bờ tre, nhưng gặp tháng mưa thì chui xuống nước ngập tới cổ. Túng lắm mới độn thổ.
Đang nói chuyện thì nghe tiếng chân chạy phía sau. Tôi quay lại thấy một cô gái mặc áo lụa trắng: Nưa. Nưa cũng chưng diện coi khá khủm, làm mờ đi cái mặt rỗ hoa mè.
- Anh Hỉ dắt mấy ảnh đi đâu vậy?
Ba Hỉ quát:
- Con quỉ Nưa, tao biểu bây gác phía Tầm Lanh sao bỏ đi đây?
- Có thằng Đực em tui lo rồi !
- Ờ, bây sơ hở là chết đó !
Cô du kích thở hổn hển:
- Mấy anh đi coi trận địa để cối Trung Hòa hả ?
- Mày im cái miệng cá tra của mày đi có được không?
- Ừ ! Cối đi ! Mình không cối nó , nó cũng cối mình. Chậc ! phen này chắc tiêu xóm mình hết. Nhưng mà kệ…
Hai Khởi tuy bị thương, cũng cố đưa tay vuốt lưng cô bé :
- Mình không cối nó, nó cũng cối mình. Vừa rồi nó làm mình tiêu một tiểu đội của D8. Lần này mình trả hỏa, không phải vài phát đâu mà chơi nát luôn Trung Hòa lẫn Đồng Dù. Vài bữa nữa sẽ có cối tới tay mấy em.
Nưa cười hắc hắc:
- Thiệt hả anh? Em mà có cối là em quết tụi Trung Hòa này nát như tương.
Hai Khởi hạ giọng, có vẻ bí mật.
- Ông thầy cối kia kìa, ổng… đó ?
Nưa chạy vụt lên trước để nhìn mặt tôi, rồi tụt trở lại nói với Hai Khởi:
- Thầy gì trẻ vậy?
- Trẻ thì trẻ, thầy vẫn thầy. ông sẽ mở lớp huấn luyện cối. Em có đi không?
- Ai thèm giới thiệu cho mà đi.
- Để anh bảo Ba Bụng giới thiệu lên, anh nhận cho.
Nưa hỏi tiếp:
- Coi bộ khó quá chắc em không học nổi đâu anh!
Ra đến nơi, cả bọn núp ở bờ tre. Thấy đồng trống tôi bảo đừng leo cây xoài nữa. Rủi tụi nó thấy thì bể hết kế hoạch. Chưa chi đã có nhiều người nghe rồi. Nhất là cái cô du kích này. Miệng mồm chót chết, chỉ lát nữa là mọi việc đều ra đến bót. Tôi lại vô bụi và mở ống dòm ra xem. ở góc độ này địa thế thuận lợi cho việc nghiên cứu lẫn tác chiến. Cái đồn xây cao nhô lên như đỉnh núi Bà Đen ở Tây Ninh. Chung quanh, lúp xúp những dãy nhà nằm trong vòng tường trắng. Cái chuồng cu nhô lên nóc đồn như chiếc bánh ú gầy tọp, trong đó hai tên lính ngồi, mỗi đứa ngó một hướng. Hình như có cái radio treo bên cạnh của thằng ngồi phía trái.
Ông Bính vác cuốc ra ruộng đi qua đi lại giả bộ đắp bờ ranh. Nưa la:
- Ông phải đứng một chỗ chớ đi như vậy nó nghi. Nó cũng có ống dòm nữa !
Nói xong Nưa chui vô bụi bảo tôi cho xem thứ. Tôi đưa cho cô nàng và điều chỉnh độ nhìn đùm cho cô. Hơi thở của cô bé thổi vào mặt tôi thơm phưng phức. Cô Quắn không có nhiệm vụ quân sự nhưng thấy ông thầy dễ tính thì cũng nhào vô xin xem cho biết cái chuồng cu. Ba Tố núp sau bụi nghe cô bé nói thì phát cười:
- Chuồng cu không quan trọng, hai con cu ngồi kìa mới quan trọng.
- Anh ủa… chú quỉ nà. Nghiên cứu trận địa còn cà rởn.
- Ai cà rởn gì, cái tháp canh mình kêu là chuồng cu thì hai tên lính ngồi trong chuồng cu là con cu chớ con gì không phải sao?
Chờ cho Nưa xem xong, tôi hỏi:
- Thỏa mãn chưa?
- Được rồi đó thủ trưởng.
Tôi đưa ống dòm cho Quắn. Quắn kêu ngay:
- Rõ quá trời! Sức em vói đụng. Anh Hỉ ơi lại đây tui cho coi ké , đã lắm ?
Ấp đội Hỉ cũng là tay nhạy hài hước, nghe Quắn nói, tóm lấy ngay:
- Cho tui xem thiệt không?
-Thiệt. Lại đây tôi chỉ cho xem.
- Cái đó nó biết lâu rồi khỏi cần chỉ! – Bính Chân Lư ngưng tay cuốc quệt mồ hôi trán chỏ mồm vào – Xem mau mau đi để tao còn xem với chứ? Lâu gặp quá sợ quên mất mặt mũi ra sao!
Đám đàn ông cười ré lên. Hai cô mới vỡ nhẽ ra là mấy chú lớn cái đầu chọc mình. Quắn đỏ mặt quay lại chỉ chỏ:
- Chút nữa về nhà bỏ đói cho biết mặt! – rồi nàng tiếp tục dòm. Nàng kêu lên – Trời! thấy rõ quá hà. Dây chì gai mấy sợi đếm đủ. Kìa một thằng lính đeo máy ở lỗ tai. Chắc nó nghe vọng cổ. Mẹ nó sướng như tiên. Quánh với mình mà ngồi trên cao nghe vọng cổ.
Tôi ngồi ở giữa hai nàng. Quay qua bên nào cũng suýt đụng gò má, nhưng mới tới đây, chưa biết tình hình địch ra sao nên chưa dám tấn. Hai cô dành xem lôi cái ống dòm qua lại trước mặt tôi. Mấy cánh tay có vô lỗ mũi tôi cũng đủ vốn rồi. Sợ em út ghen thủ trưởng tốt số, nên tôi đứng dậy thụt lùi ra sau bụi và bảo Tôn Sứt vào giúp đỡ cho các em xem. Cái ống dòm hôm nay được mọi người nâng niu chìu chuộng. Hết các cô đến các chú. Ai cũng được xem qua cái chuồng cu và hai con cu ngồi trong đó vài ba lượt. Xong cả đoàn kéo nhau về nhà Út Mén để ăn cơm. Hai chị em cô có mòi mê giải phóng dữ dội. Hồi trưa khi chúng tôi mới đến thì các cô tóc tai bùm sùm như cây rơm, bây giờ chải rẽ , tém vén khéo rất đẹp. Ba Tố và Tôn Sứt đeo riết không hở chút nào. Vái trời cho họ có độ với nhau để mặt đất Củ Chi bớt sần sùi đau đớn.
Ăn cơm với thịt gà xé phai suông không ai được uống rượu. Cơm nước xong trời đã chạng vạng, rất tiện lợi cho công tác. Tôi bảo ông Bính Chân Lư về xách một tiểu đội ra án ngữ tại ngã ba Tầm Lanh phục kích để tụi này yên tâm đo đạc. Trận địa thứ ba này nằm trong vườn nhà của cô Nưa. Trước khi đi, Bính còn ráng nói móc:
- Ông thày dùng phương pháp hình học tam giác hả ? Hễ biết một cạnh và hai góc thì tìm được diện tích chớ gì. Tha hồ mà đo miếng đất của cô Nưa.
Nưa ngây thơ la toáng lên:
- Đất của ba em đâu phải hình tam giác!
Bọn chú lại cười ầm ỉ. Nưa hiểu ra đỏ mặt cúi gằm. Để chửa ngượng cho cô em, tôi hỏi:
- Các em ở ngoài này công tác đều không?
- Dạ khá lắm chớ. Chúng em đi đắp mô ngoài đường số 7, cầu Công Sỡ như cơm bữa. Rồi gài cà-nông lép hoặc lựu đạn ngoài đường.
- Có chết tên lính nào không?
- Lính thì không chết, chỉ chết ba ông lái xe lam với hành khách. Xe bị nổ văng xuống ruộng.
Bính Chân Lư tiếp:
- Xe lam ba bánh chớ không phải xe tăng Mỹ mười sáu bánh đâu nghe thủ trưởng.
Hai Khởi vọt miệng:
- Tôi đâu có phải nhà báo Nhã Nôm nghễnh ngảng nghe rồi phóng đại tô màu.
Nưa dắt vào vườn nhà bằng ngỏ hậu. Tôi bảo hai cậu quan trắc đóng cự ly đường đáy của tam giác. Đường đáy càng dài thì lấy mục tiêu càng chính xác. Một tam giác biết được một cạnh và hai góc kề thì tìm ra được góc đối đỉnh. Từ đó tra bảng Log của pháo binh ra hai cạnh dễ dàng. Hai cậu trinh sát được gởi đi học trên R nên rất rành công việc trắc địa. Chỉ trong vòng mười lăm phút là chúng tôi đã có cự ly mục tiêu Trung Hòa một cách chính xác theo phương pháp đồ giải tam giác lượng nhờ có khí tài phương hướng bàn để đo các góc của các điểm A B C. Cô du kích chỉ tay bốn phía nói tía lia:
- Xa mờ đó là Củ Chi. Vùng ánh điện tỏ là Đồng Dù. Đèn dầu leo lét trước mặt kia là xóm Mồ Côi. Đèn xa mờ chút là Lào Táo. Còn đèn phía bên phải là xóm Dân Hàn.
Bất giác tôi hỏi:
- Còn đâu là Hố Bò, đâu là An Nhơn?
- Bộ anh có quen ai ở đó à ?
Hai Khởi vọt miệng:
- Bồ cả đống đó sao không quen!
- Ai vậy?
- Cô đội trướng dũng sĩ.
- À, chị Bảy Mô hả? Chỉ thì xứng với thủ trưởng rồi!
Trời tối chúng tôi đi đứng tự do nên nói chuyện thoái mái. Nưa tiếp:
- Mấy anh lấy con gái ở đâu thì lấy đừng lấy con gái ế xóm Ràng của em nghe.
Tôi bật cười:
- Sao cô nói xấu xóm mình vậy?
Nưa thành thật:
- Em nói thiệt mà . Dân ở đây làm nghề đươn rế, không có ai giàu cả. Ngồi lết cả ngày đít chai ngắt và dẹp dép đâu có no tròn đẹp đẽ như con gái Gót Chàng Hố Bò. Chỉ có một nhà tường gạch là nhà thằng Tẻng. Nó cũng đi du kích. Ông già nó thầu hết rế trong xóm đem ra Củ Chi bán nên có lời. Ngoài ra đều nghèo xơ nghèo xác.
Ấp đội Hỉ dắt chúng tôi về nhà cô Quắn. Y trấn tỉnh chúng tôi lần nữa:
- Ở đây cách đồn chừng cây số ngoài, nhưng tôi cho canh gác kỹ rồi. Nếu có gì thì chúng nó bắn báo động tôi dắt các anh chạy, đừng lo.
Quắn có người anh tên Ba Quyết làm trung đội trưởng của C3 D1 Quyết Thắng nổi tiếng gan dạ. Một lần về phép với hai đội viên, Quyết đã phục kích đánh lấy được một Colt 12 của lính Trung Hòa tại cầu Công Sở trên lộ 7, nhưng biết đem về đơn vị cũng không được phép mang nên lén bán cho ông xã đội trưởng Ba Bụng lấy tiền xài chơi. Trước khi đến nơi, Hỉ dắt chúng tôi ghé một cái quán. Hỉ nói:
- Ở Ràng chỉ có con xẩm lai này là đẹp thôi. Bộ đội dòm dèm dữ lắm nhưng chưa ông nào lọt vô.
Vừa đến thì cửa quán đã đóng. Hỉ gọi to. Một anh chệt sồn sồn mở cửa với nụ cười toe toét dưới ánh đèn dầu:
-Hà hà… mời mấy ông dô nghỉ uống lướcé
Hỉ nói như ra lệnh.
- Cho ít gói cáp-tăng và hai chai anít, một kí khô mực !
Anh chệt quay vô bảo con gái lấy hàng còn mình lăng xăg đem nước ngọt ra khui mời. Hỉ xua tay:
- Mấy ông lớn này không quen ba thứ đó.
- Hà hà . . . để ngộ khui la-de .
Tôi biết cái kiểu ăn hàng của quân ta ở đâu cũng rập khuôn như bà khu ủy Tân Biên: cứ mua và ghi sổ. Giải phóng xong, trả một lần, nên bảo:
- Chúng tôi không uống bây giờ, để khi khác !
Quả thật cô bé đẹp vô cùng. Nước da trắng như bông bưởi, tóc đen, môi son. Chưa bao giờ tôi trông thấy một cô gái đẹp như thế từ trước đến nay. Ôm hàng trên tay, Hỉ hất hàm với chủ quán:
- Ghi đó mai trả nghé !
- Dạ, hổng có pao diêu mà ! Mấy ông công tác gian khổ mới diều chớ !
Chúng tôi quay ra. Nưa có lẽ ghen tức với cô xẩm lai vì những cặp mắt cú quạ các chú xoi mói tận tình, nên nói nhỏ với Hai Khởi:
- Chén kiểu coi trài trài vậy chớ bị mẻ miệng rồi.
Ba Tố hỏi.
- Tại sao vậy?
Hỉ đáp:
- Mấy con nhỏ này thấy nó ngộ rồi ganh, đồn bậy bạ là thằng trung sĩ Lệnh bắt nó vô đồn chớ đâu có.
Ba Tố gắt.
- Thằng Lệnh là thằng nào mà oai vậy?
- Nó cầm đầu nhóm biệt kích Trung Hòa này. Củ Chi có thằng Rắc. Trung Hòa có nó . Hai thằng đều là gốc du kích cả. Bây giờ mang súng lại chơi mình còn ác hơn tụi Sài gòn. Nó hút á phiện. Sáu con vợ. Đi phục kích mình, nó dám ỳ hai, ba ngày liền một chỗ, chớ không có sôt ruột nằm chưa nóng cỏ đất đã rút về như Mỹ đâu. Hồi nãy mấy anh bắn nó bị thương mấy thằng nó rút, nhưng chưa chắc nó rút hết. Nó chơi kiểu nhả bừa, còn nín lại đâu đó.
Tôn Sứt cười khậc khậc và nói tiếng Tàu ba rọi:
- Tôi muốn đụng tụi này phát nữa. Mẹ, nghe nó bắt con xẩm lai bỏ trong lồn (đồn) một lêm (đêm) ngộ tức muốn pể pụng! Con ngái của người ta mà bắt như dậy thì coòng gì !
Ba Tố cũng hùa theo giọng ba tàu:
- Pắt con người ta mà không có hửi dái (hỏi giấy) gì hết. Chừng nào hửi dái mà người ta không có mới pắt
- Người ta không có dái (giấy) thì cũng có cặc (cạc=thẻ căn cước). Ai ở vùng này mà không có dái có cặc. Không cặc xanh thì cũng có cặc lỏ chớ… Pắt ẩu người ta bỏ trong lồn như dạy một lêm chịu sao lổi. Ở ở trong lồn lông người ta, lộn xộn lâu có ngủ yên lược?
Nghe vui, Hỉ cũng hùa theo:
- Cái tụi đó nó hay hửi dái người ta lắm. Gặp ai nó cũng đòi cho coi dái coi cặc. Cặc xanh nó không chịu đâu, nó đòi cho lược cặc lỏ mới cho li. Ai không muốn bị bỏ vô lồn thì phải lóng tiền.
Nưa quát:
- Mấy anh mất quan điểm nhân dân quá trời.
- Nhân dân Ba Tàu hả?
- Ba Tàu thì Ba chớ họ đâu có nói tục tĩu như vậy.
Nhà cô Quắn ở gần đồn Trung Hòa, ớn quá. Nhưng phải đi theo. Quắn chạy ra đón chúng tôi vào. Nàng thay đổi xiêm y trang điểm trông khác hẳn lúc nãy. Tôi hỏi ngay.
- Hầm hố thế nào cô em?
Hỉ nói hớt.
- Có nhưng không bảo đảm như trong Hố Bò An Nhơn.
Vào đến nhà , tôi ngồi không yên, cứ ngó dáo dác. Không khéo lại ra đây nộp mạng cho địch. Hỉ nói cà rởn.
- Hầm ở đây đâm thủng tuốt thủ trưởng ạ !
- Hầm gì mà đâm thủng được chú em?
Quắn bảo:
- Các anh đừng lo. Tụi em ở đây cả đời có sao đâu?
- Tôi hết nhiệm vụ, giao phái đàn lại cho chị nghe.
Nưa nói rồi đi thẳng ra sau bếp. Bà má của Quắn bước ra với vẻ mặt sợ hãi, ngọn đèn dầu đỏ chạch trên tay run run:
- Mấy ông làm tôi sợ hết hồn hết vía. Tôi tưởng tụi thằng Lệnh chớ!
Hỉ đáp:
- Bác coi toàn là AK chớ đâu có AR-15.
- Tao có biết A ka a kiết gì. Thấy súng là tao sợ rồi !
- Tụi thằng Lệnh rượt tụi cháu chạy hoài. Tụi cháu có ngán đâu.
- Mấy đứa bây phải coi chừng cho kỹ. Hổng chừng nó đang ở ngoài bờ mía bây giờ nè chớ chưa có rút hết.
Nghe nói cái chiến thuật biệt kích nguy hiểm tôi hỏi phăng tới. Ông già từ trong bước ra kể tiếp:
- Cái thằng này lợi hại lắm đó mấy chú ! Đàn bà con gái đi chợ gặp nó là sợ như chuột gặp mèo, mặt nó có cô hồn. Nó không có tra khảo đánh đập gì hết. Ra vào tự do, nhưng khi đi ngang qua đồn mỗi người phải đứng lại nói cho nó nghe một vài tin tức.
Tôi hỏi.
- Tin gì bác ?
- Thí dụ ở trong này có hội họp không, có bộ đội đi tới đi lui không…
- Ăn thua mẹ gì ba cái chuyện vặt đó bác. – Hỉ gạt ngang – Tụi cháu cũng biết cái mánh lới đó, nên bảo bà con cứ nói láo cho nó nghe.
Tôi nghĩ thầm, thằng này rất nguy hiểm. Trong láo có thật. Từ láo suy ra thật. Đó là một ngón tình báo nhân dân của mình mà nó cũng biết sử dụng. ông già tiếp:
- Không biết láo hay dóc nhưng ai cũng phải nói vài chuyện thì nó mới cho đi. Có khi nó hỏi có gặp ông bí thư Đời không? Mời ông ra uống 1a-de với khô mực chơi! Vừa rồi nó pháo một phát ngay trân…
Bỗng ngoài cửa có tiếng chân. Bà má bước ra và kêu lên:
- Vợ thằng Quyết về !
Chị Ba Quyết trạc hai mươi lăm đẹp người theo kiểu đàn bà nông thôn dắt tay một thằng bé con chừng sáu tuổi. Quắn chạy lại ôm nó, hôn chùn chụt:
- Tiến, cháu vô kiếm ba hả? Đây là mấy bác khác, không phải bộ đội của ba cháu.
Thằng bé bệu bạo muốn khóc. Quắn năn nỉ:
- Để cô nhắn ba cháu một mốt về !
Ông già đến bồng thằng cháu nội từ tay cô nó, nói rủ rỉ:
- Thằng cù là lửa này giống hệt cha nó ! – rồi quay lại chúng tôi – Tôi có một chút cháu nội đây. Tôi giữ nó như trứng mỏng. Rủi cha nó có…
Bà má gạt ngang.
- Ôông nói dại không hè.. !
(Mà thật, đúng như lời ông già nói, ít lâu sau, ba thằng Tiến hi sinh trong một trận đánh ác liệt ở ngã ba Tân Qui xã Phú Hòa Đông. Đã chôn ba ngày, ông già còn đến nơi đào lên cho người khiêng về để nằm sau vườn. Đúng là ông già Ba Tri. Sẽ kể ở những chương tới )
Chị Ba xách giỏ cá đem thẳng ra sau bếp, nói với ông già :
- Con mới tát đìa được mấy cặp cá lóc cháo và cá trê nàng đem vô ba má uống rượu.
Ông già mau mắn:
- Đem làm luôn cho mấy chú nhậu với ba. Bây giờ có gì bà nó cho dọn ra làm sơ sơ trước đã.
Nhìn sắc mặt tôi, ông già đoán ra sự lo lắng nên nói:
- Thằng Lệnh không đi chập tối, nó có đi thì đi giác khuya nằm luôn tới sáng, sương mù nó lùi lũi trong vườn êm rơ, du kích ra đồng đụng đầu nó, ú ớ hết có chạy.
Bà già hỏi.
- Ông tính làm gì ba con cá?
- Nướng lửa rơm, đừng lột vỏ, ăn ngọt hơn. Ở đây mà chờ canh chờ cháo của bà đắng miệng chết.
Tôi nói:
- Món gì chớ món đó để cháu làm cho !
Tôi nói vậy để ra ngoài bờ cảnh giác. Nếu ngồi trong nhà bị bao là hết phương chạy. Ông già chỉ cây rơm ở góc mương và đưa cho tôi một mớ lụi tre vót thiệt kỹ.
(Vùng này toàn là thợ đươn nên sẵn tre trúc. Có nhà đặt tên con là Nia, Sàng, Rế. . . )
Bên bờ mương cạnh cây rơm đứng ủ rủ một bụi trúc um tùm. Mùi rơm ẩm lẫn hương lá trúc phảng phất trong sương đêm làm tôi nhớ nhà vô hạn. Quắn đem giỏ cá ra cho tôi.
Nàng nói trỏng:
- Đó nướng mấy con thì nướng.
- Cô muốn nướng mấy con?
- Bộ tui là tư lịnh hả ?
- Chánh ủy!
- Ừ nhớ nghe, chánh ủy ra lệnh gì, tư lịnh phải thi hành hết ráo.
- Ra thử coi !
Tôi thấy thân mật ngay với cô bé liếng thoắng này. Chắc là tay bướng bỉnh lắm đây. Tôi bảo:
- Vô lấy hộp quẹt đem ra mau đi bà chánh ủy.
- Hút thuốc mà không có hột quẹt trong lưng à?
- Bỏ trong xắc-cếốt ở trong. Vô mang ra đây luôn dùm.
Trong lúc Quắn đi vô nhà, tôi rút rơm chất đống, rồi trút giỏ bắt đầu lụi cá. Quắn vừa chạy ra vừa la.
- Coi chừng nó lóc xuống mương!
- Tôi chụp đầu hết, lóc đi đâu!
- Cá trê trắng đó nghe dượng thằng Tiến!
Quắn bỗng nhiên phóng tiếng dượng vào tôi như một mũi tên. Tôi nhận mũi tên một cách êm ái bất ngờ.
- Dượng thằng Tiến không có ngán cá trê gì hết!
- Làm tàng hoài, nó chém một ngạnh khóc sáng đêm không có ai dỗ đâu.
Vừa tới đó thằng Tiến chạy ra, thở hào hển:
- Ông nội biểu bác vô nhậu gụ.
Quắn cười ngất:
-Bác lát bụi tre, ba con chó què đè cắn bác. Ở đây không có bác nào hết. Chỉ có dượng thôi. Kêu ông này là dượng Sáu (Quắn thứ sáu). Để dượng Sáu nướng cá rồi vô !
Quắn xách khúc củi dừa phện mấy con cá dãy tê tê. Tôi chụp lấy xỏ từ miệng thấu ra đuôi rồi cắm thành hai hàng gần mé ao. Tất cả được chục con. Tôi bảo.
- Chỉ nướng cá lóc thôi. Cá trê đem vô nhà nướng lửa than cho ba nhậu.
- Rể thảo quá ha ! – Quắn vừa chất rơm lên vừa nói – Châm lửa đi ông tướng.
Tôi bật quẹt nhưng không châm vào rơm mà đưa cho Quắn. Quắn không cầm lấy mà nắm nguyên chân tay tôi dí ngọn lửa vào rơm. Lửa bùng lên rực rỡ soi gương mặt nàng tuyệt đẹp như trong thần thoại. Nàng vừa nói vừa nhìn tôi tình tứ
- Anh châm lửa… Lửa nhạy quá.
- Đúng ra là do tay em !
Tôi kéo nàng ngã vào vai tôi. Nàng như trái chín mùi, vừa đụng tới là rụng ngay. Tôi hôn lên má nàng. Nàng ôm choàng lấy tôi Tôi đẩy nàng ra:
- Thằng Tiến thấy mét ba chết.
- Ba không có rầy đâu. Ba nói với má, em nghe: “Hồi đó tới giờ có thằng mùa thu này coi được?”
Tình cảm đến thật bất ngờ. Đến rồi mà tôi vẫn còn ngờ. Tôi nhìn ngọn lửa nhảy múa trong mắt nàng vui thiệt vui.
- Sao em thương anh?
- Em không biết. Thấy mặt là thương liền.
- Khổ cho anh chưa?
- Khổ cho em chớ, anh khổ gì?
Chỉ trong vài câu nói tôi biết nàng là cô gái có học khá. Nàng đứng dang tôi ra và bảo:
- Ném thêm rơm vào đi anh.
- Lửa cháy to rồi ! Em không . . . nghe à ?
- Sao không ! Nhưng đây không phải là lửa rơm đâu. Đây là lửa thần đó !
Có tiếng từ trong nhà vọng ra:
- Cá chín chưa đem vô mau !
Ba Tố bưng ra một cái sàn có lót sẵn lá chuối. Tôi lấy que củi cào than ra. Quắn bảo:
- Chú Ba đi vô lo dọn rau chuối khế bánh tráng ra cho sẵn, hễ đem cá vô là cuốn liền.
Quắn ném rơm thêm vào lửa để tôi thấy đường làm việc. Ba Tố thấy hai anh chị coi bộ chịu đèn nên lẫn đi ngay. Tôi lấy một nắm rơm vo lại cạo than trên từng thân cá, thịt cá nứt ra trắng phau. Mùi thơm bốc lên ngào ngạt. Trông thấy càng thèm, tôi nuốt nước miếng ừng ực làm Quắn dòm. Tôi nói:
- Anh nhớ mùa tát đìa ở nhà quá em à.
- Đây là nhà của anh rồi còn nhớ đâu nữa?
Quắn như bà tiên của thần thoại đi một bước ngàn dặm vào vòm trời tình yêu. Nàng làm như tôi và nàng đã có gì với nhau rồi. Trong tình yêu người con gái bao giờ cũng bạo dạn hơn mặc dù có vẻ kín đáo. Ở đây nàng đã không giữ gìn ý tứ lại còn muốn cho mọi người biết nàng yêu anh cán Mùa Thu chỉ có thằng này coi được! Bỗng nhiên nàng nói bâng quơ.
- Đất chung quanh đây còn rộng lắm. Ba có thể cất cho mình một cái nhà và chia cho mình mấy công vườn có sẵn cây ăn trái!
Tôi đã cạo xong vẫy mấy con cá sắp vào sàng cho thằng Tiến bưng vào, lũ cá trê còn lại tôi đem rộng ở góc mương. Nàng bảo với theo thằng Tiến:
- Đem ra cho cô cái rổ thưa và cục gạch. Cá trê mà rộng lơ mơ thì hụt ăn. À mà thôi xách vô luôn nướng than vỏ dừa.
Rồi nàng bảo tôi:
- Anh đi lấy cái gào tát nước cho lửa tắt đi.
- Mới nhen lại dập hết à?
- Lửa bên ngoài thì tắt còn trong ruột thì không.
Hai đứa đã làm xong nhưng chưa chịu vô. Nàng bảo:
-Mình ở ngoài này cảnh giác tụi thằng Lệnh.
Sau gốc rơm, chúng tôi dắt tay nhau đến ngồi tựa lưng vào êm như nệm. Mùi rơm làm tôi nhớ lúc còn con nít chơi nhà chòi với đám bạn xóm những đêm đạp lúa trăng tỏa huy hoàng. Mùi hương rơm mới ngào ngạt. Những bó rơm là tổ ấm của chúng tôi. Chúng tôi ăn cơm, làm tiệc giả với vài trái ổi chín, vài trái quít rụng. Chúng tôi làm đám cưới với cô dâu chú rể giả. Chúng tôi uống rượu bằng nước lả đựng trong những vỏ cau tươi và đốt pháo miệng. Chúng tôi nghiêm trang nhập phòng trong lúc không biết vợ chồng là gì. Mơ ước và thực tế của tuổi thơ lẫn lộn như những trang sách quê mùa đượm hồng. Không có ai đọc nó thấm thía bằng chúng tôi, không bằng chữ nghĩa mà bằng kỷ niệm. Để rồi lớn lên, mỗi đứa một nơi. Lòng còn in đậm bóng nhau với những cuộc chơi vô tư đã vụt thành bất diệt. Một cô bạn mắt nai, một nàng tiên môi phượng, những cặp má đào và những lời nói giả làm người lớn. Ước gì còn trở lại được thời con nít .
Quắn hích cùi chỏ vào tôi.
- Anh nghĩ gì mà ngồi im vậy?
- Nghĩ đến ngày mai.
- Ngày mai không ai biết được, chỉ ngày nay mới đáng kể thôi. Ngay cả phút tới đây cũng không đáng kể, chỉ có phút này mới đáng kể thôi.
- Em nói gì vậy?
- Cái chết ở đây đến như đùa bỡn. Anh không thấy đó à? Ông quận chỉ bị sướt chân mày. Nếu viên đạn chệch đi một ly nữa thì cuộc đời ổng sẽ ra sao? Một trái pháo hay một mảnh đạn nhỏ đều làm đời mình thay đổi lớn được cả. Cuộc chiến này để lại quá nhiều trẻ mồ côi và đàn bà góa. Em về đây làm cứu thương xã để ở gần ba má. Vì em biết chắc anh Ba em đời nào bỏ ngũ về nhà và em cũng biết chắc thằng Tiến rồi sẽ mồ côi và chị Ba em sẽ trở thành góa bụa.
- Vậy em không sợ chính em sẽ trở thành góa bụa khi yêu anh sao?
- Có những khúc đường đầy gai góc mình biết trước mà vẫn cứ đi.
Một tiếng kêu vọng ra từ nhà :
- Cô Sáu dượng Sáu ơi, vô ăn cơm!
Quắn ôm choàng lấy tôi hôn một cái dài rồi đứng dậy. Nàng nói như trong sảng sốt:
- Nay mai anh sẽ đứng bên kia lề đường còn em thì đi bên này lề đường. Anh sẽ vẫy tay hoặc giơ một đóa hoa rừng chào, tặng em. Em sẽ vẫy tay đáp lại và sẽ tặng anh không gì hơn một nụ cười. Nụ cười bay lướt qua trong gió. Nhưng không tan. Em sẽ giữ mãi nụ cười ấy và anh là người độc nhất được em tặng cho.
Tôi ngồi điếng người ra nghe như kim chích xuyên tim. Tình mới yêu ly đã biệt, đó là số phận của tôi. Trái tim cứ bị cắt ra từng mẩu vụn cho đến những mảnh cuối cùng. Yêu, yêu mãi rồi chỉ được những biệt ly và ly biệt. Đã ly còn biệt.
Chúng tôi lững thững đi vào nhà. Bữa tiệc cá nướng trui đang vui. Chỉ hai chúng tôi là đau khổ, nhưng cố làm ra bình thường nên không ai biết. Quắn nói trước với ông già:
- Con nghe tiếng động khả nghi nên ngồi nín ngoài gốc rơm rình nãy giờ.
Ba Tố nhìn tôi một cách ý nhị và không nói gì. Ông già bảo Quắn:
- Con ra bàn thờ lấy chai rượu cúng đem vô cho ba . Thứ anít này ngọt quá, uống như ăn chè, nuốt không có vô.
Quắn vừa sắp lưng đi thì có tiếng tắc kè vang lên. Quắn thụt lùi lại kêu.sợ ma. Bà má bảo thằng Tiến đi với cô nó. Thằng Tiến cũng rụt cổ thè lưỡi. Tôi biết ý Quắn, bèn nói:
-Tôi chưa nhậu để tôi hộ vệ cô Sáu cho!
Rồi đi theo Quắn. Khi bước ngang qua bộ ván nhà cầu, Quắn đưa tay vỗ vỗ trên bờ đất cao ngang lưng quần, bảo:
- Đây là hầm của em!
- Hầm gì kỳ vậy?
- Anh đá vào thì biết.
Tôi làm theo lời nàng. Tôi biết ngay đó là bờ đất rỗng ruột. Tôi hỏi:
- Chui vô đó à ?
- Chớ hồi nãy ngồi ngoài mương, anh không thấy mặt nước lé đé bờ sao?
- Vậy không có địa đạo gì hết à?
- Ông địa thì có ! Đào một lưỡi cuốc là có nước rồi. Địa gì mà địa ! Ở ngoài Bàu Tròn Phước Thành cũng vậy thôi, họ cũng chỉ tìm được mô đất, bờ tre để đào. Nhưng tụi lính nó cũng biết rồi. Hễ vô ruồng là nó xóm nát hết.
Ra đến nhà trước. Tiếng tắc kè còn vang âm trong đêm tối Tôi bật hộp quẹt soi cho nàng thấy chai rượu. Nàng nhổ cây đèn cầy trên chân đèn mồi lên, rồi cầm chai rượu rút nút rót ra hai cái chun có sẵn trên bàn thờ. Xong nàng đốt nhang, rồi lầm thầm:
- Hôm nay chúng con thương nhau, xin ông bà chứng giám! – rồi quay lại tôi – Hôn em đi!
Chết chưa. Cô bé lạ lùng thật. Mưu trí của nàng quả là bất ngờ. Tôi chỉ còn biết làm theo nàng chánh ủy. Chúng tôi trở vào. Thằng Tiến lém lỉnh:
- Cô làm gì ngoài lâu vậy? ông nội chờ hoài lạt miệng.
Quắn cũng không kém:
- Bàn thờ ông bà lâu quá cô không có dịp đốt nhang nên bữa nay cô làm việc đó để tạ lỗi với ông bà !
Ông già gật gù:
- Ờ phải đó ! ông bà thời buổi này bị bom pháo cũng đi tứ tán hết chớ có ở trên bàn thờ như hồi trước đâu. Lâu lâu được một ngày êm, ông bà mới về chơi.
Quắn được trớn bắt đầu gọi tôi bằng anh Hai.
- Anh Hai thấy mấy tấm hình, ảnh hỏi hình của ai. Con nói cho ảnh nghe từng tấm một nên hơi chậm.
- Ừ! tới năm sáu tấm. Lâu quá không có lau bụi bặm gì.
Chắc ông già đoán biết tim đen chúng tôi, nhưng có lẽ ông thấy anh cán này coi được nên không có vẻ gì không hài lòng. Ông cầm chai rượu sớt vào chiếc nhạo xưa rồi mới rót
- Chú nào muốn uống gắt cổ thì uống thứ này, còn chú nào muốn húp chè thì dùng anít. Có chú nào ăn cay không? Ớt sừng trâu đây! Cắn ngang thì mới ngon. Tôi không thích ăn tương ớt.
Ông nói huyên thiên vừa bẻ cá cho người này người kia.
- Gỡ nạc, gói bánh tráng, rau thiệt nhiều, ăn phải lớn miếng thì mới ngon. Mấy chú cứ coi như đây là nhà mấy chú . Nội cái ruột cá này tôi cũng làm ngót một xị rồi.
Thằng Tiến bẻ cho tôi khúc nạc nung núc trắng phau thơm ngát và nói:
- Cháu cho dượng Sáu cái công dượng nướng nè !
Cả bàn cười ồ: tiếng dượng Sáu của nó bất ngờ quá đổi. Chị Ba đang bưng nước mắm tới rội thêm, hỏi con.
- Ai dạy mày vậy Tiến?
- Cô Sáu chớ ai má !
Quắn xấu hổ cãi ngang.
- Bậy nà, ai dạy mày hồi nào! – Bộ chị xúi nó hả chị Ba?
- Ai mà xúi cô Sáu! Con nít nó thấy gì nói nấy ai mà bụm miệng nó cho kịp.
Ấp đội Hỉ nốc một cái thiệt sâu, khổ rồi nói:
- Ai sao tôi không biết, nhưng tôi tán thành cả hai tay.
Bỗng mọi người ngưng đũa. Có tiếng cụp cụp như pháo đề-pa. Nhìn mặt mọi người nhớn nhác, thằng Tiến cười:
- Không phải hướng này đâu. Nó thụt phía cầu Công Sở.
- Sao cháu biết?
- Nếu đi hướng này, tiếng cụp cụp nghe lớn hơn.
Ba Tố khen:
- Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, thấy không thầy Hai?
Vừa dứt lời thì có tiếng chân đông người ở ngoài sân. Mọi người lại buông đũa. Tiến nhanh chân chạy ra rồi thụt vào.
- Người ta ở đâu đông quá. Không biết có phải là đội quân của bà Năm Đang không?
Tôi đang cố nhìn ra bóng tối thì một cô gái hiện lên: Nưa. Nua nói ngay:
- Anh Hai đâu rồi. Có bà con tới thăm.
Tôi băn khoăn không biết bà con nào ở đây thì một nàng khác bước vào. Lam ! Trời đất quỉ thần ơi ! Sao lại Lam? Giống y như một màn kịch gay cấn. Rồi hai ba người đàn bà con gái khác đi theo sau. Lam bước tới gần bàn tiệc kêu tôi:
- Anh Hai ! Em nè!
Hồn vía tôi lên mây. Lỗ tai tôi lùng bùng. Lam trỏ mấy người phía sau và tiếp:
- Má với chị dâu và em gái của em nè anh Hai! Em móc vô để má và gia đình gặp anh?
Lam chợt thấy Quắn thì reo lên:
- À Quắn, mày cũng đi công tác ở đây nữa à?
Quắn đáp quạu đeo:
- Nhà tao đây chớ công tác gì!
- Rể của má đó má ! – Lam cứ tự nhiên nói tới – Má coi cho kỹ đi! ảnh đó má !
Tôi ngẩn ngơ rối rắm. Phải chi nàng gọi anh Hai của con thì tôi còn chối được. Nhưng sao nàng về đây? Lúc xuất phát nàng đòi, tôi không cho kia mà . Nàng đi đường nào và với ai mà đến đây nhanh vậy? Bà má của Lam nói năng rất hồn nhiên với cả bàn tiệc:
- Tôi đưa gia đình đến gặp thằng rể, may lại nhằm lúc gia đình anh chị và anh em nó đang chung vui:. Thiệt là phước đức quá chừng. Vậy sẵn tôi có mua thịt và bánh, xin phép cho tôi dọn lên mâm, trước mời anh chị, sau là các anh em đồng chí của con gái và con rể tôi cùng dùng cho vui.
Ba Tố, Hai Khai và mọi người thảy đều sửng sốt. Tôi bị kẹt đạn, loay hoay không biết ngồi đứng nói năng như thế nào cho phải lẽ . Má quay lại bảo người đàn bà mà Lam giới thiệu là chị dâu:
- Con đem thịt và bánh mì dọn ra đi. Anh em nó vừa tới chắc đói bụng.
Lam trỏ người đàn bà và cô gái nhỏ, nhắc lại:
- Đây là chị dâu thứ sáu và em gái của em. Huệ, Huệ lại đây với chị chút!
Huệ nhỏ nhắn mặt trắng môi son, tóc kẹp. Còn người chị dâu thì trạc tuổi chị Tư Mai, chị của Bảy Mô. Nhìn nét mặt và y phục của người ở vùng tạm chiếm thấy khác dân vùng giải phóng và cách xa dân nông thôn miền Bắc giàu đẹp ba ngàn cây số. Tôi hỏi.
- Huệ có đi học không em?
- Dạ có .
Lam đùn em gái tới.
- Đi lại anh… biểu đi em!
Huệ bước lại gần. Tôi nắm bàn tay dịu nhiễu của cô bé.
- Để em đi mua la de với nước đá !
Nói xong Huệ chạy đi. Bà nói với tôi:
- Má đâu có hay biết gì. Nó về nó hối má, má bô hết công việc chạy ra đây. Gấp rút quá chỉ mua được mấy kí thịt heo quay với chục cặp bánh mì còn chị nó mua được có mấy khúc vải cho con.
- Dạ cám ơn má !
Tôi bị lỡ bộ, ‘không cãi chính được nên gọi má luôn, coi như bà là mẹ chiến sĩ.
- Sao, anh chị bên nhà cũng mạnh há con?
- Dạ, ba má con đều mạnh giỏi! Cám ơn má.
- Má nghe con Lam nó nói vừa rồi con có rước được gia đình vô !
- Dạ thưa, con chỉ rước được có một mình ba con thôi.
- Để rồi nay mai má đi tới thăm cho biết bên con.
- Dạ!
Tôi đành chịu xuôi tay. Cứ mỗi câu nói như một nuộc dây siết chặt thêm. Người chị dâu bảo Lam:
- Cô nói với dượng mời anh em cứ dùng tự nhiên. Thịt quay mua hồi sáng bây giờ da hết dòn rồi. Thấy tôi xách thịt lên xe lam, mấy người lính chọc ghẹo: “Bà nội đi thăm chồng ở trỏng hả ? Mai mốt mang cái bụng chành ảnh về đây đẻ cho Quốc gia nuôi! Tụi tui vốn làm mọi cho mấy bà.”
Bọn đàn ông chúng tôi đứng dậy nhường chỗ cho khách. Bữa tiệc đông thêm, người đứng người ngồi vui như ăn giỗ.
Sáu Đức liếc tôi ý chất vấn:
- Thủ trưởng vải chài hồi nào mà tài vậy? Tôi ở cơ quan hàng ngày mà chớ có nghe chút xíu động tĩnh gì hết ráo. .
Tôi khẽ thúc cài cho bảo im. Thì Ba Tồ lại ứng lên:
- Coi như bữa nay là đám hỏi. Vậy mà thầy kín miệng như mấy ông bà cấp ủy ngồi thum.
Tôi đánh trống lãng:
- Bót Trung Hòa này mọc rễ lâu đời khó nhổ quá !
Sáu Đức gắp miếng thịt đưa cho Tôn Sứt bảo:
- Miếng này hàn cái môi chú lành lại cái một.
Hai Khởi quấn băng trắng trên đầu đang rên, bây giờ mới ra miệng:
- Đạn nó có mắt bồ ạ ! Nếu nó đi sâu vô một phân nữa thì ổng không còn cái răng ăn cháo. Còn tôi trở thành dách cô ngạn.
- Như vậy thì khi nhắm súng ông khỏi nheo mắt! – Bính Chân Lư lọt giữa đám này chìm như đá bây giờ mới lên tiếng – Còn ông Tôn thì cười khỏi phải nhếch môi. Này, để tôi kể cho bà con nghe một làn đạn ly kỳ . Anh chàng là lính của tôi. Trận vừa rồi, hắn núp ở gốc cây, vừa la tiến thì một viên đạn xuyên qua hai gò má mà chẳng trúng xương và hai hàm răng còn nguyên. Đơn vị đặt cho hắn là thằng Rộng Họng. Hà hà, còn ông tham mưu này về ghé ông Tư Chuyền cho hai em Nga băng bó vết thương nòng chỉ vài ngày nà nành thôi.
Sáu Đức hỏi:
- Còn cặp chân của ông thì sao cong queo vậy?
- À, tại tôi đội một trái bom tấn đó mà ! Hà hà…
Ăn uống no say xong, anh em điệu đàn kéo đi tìm nhà khác nghỉ, để chàng rể bất đắc chí ở lại với gia đình bên vợ. Tôi đành ngồi ngúc ngắc với má, Lam và chị Sáu. Lam rất phấn khởi. Thỉnh thoảng nàng liếc tôi, cái nhìn tràn đầy hạnh phúc và còn hàm ý: “Đó, anh thấy chưa, em nói đâu có đó. Má thương anh lắm… Con Huệ nó thấy anh là mến liền…”
Tôi đâu có ngờ Lam lại bạo phổi như vậy. Quả thật tình yêu vạn năng. Nàng đã đơn thân độc mã ra tận đây như trò chơi. Còn tài tình hơn chúng tôi. Má bảo:
- Nhà có ba đứa, thằng anh nó cũng đi theo ở trỏng, nó không chịu ở nhà. Nó nói để nó đi chống Mỹ cứu nước. Còn con Huệ cũng nhấp nhỏm đòi đi nhưng má bắt ở nhà học.
Má nói xong, bảo chị Sáu vào buồng lấy ra một hộp nữ trang. Má mở hộp đưa cho tôi và Lam hai chiếc cà rá vàng.
- Hai con cất đi, khi nào ở trong đó có điều kiện thì cơ quan làm đám tiên bố cho nếu má không vô được. Bữa nay coi như má đã nhận hai con hứa với nhau rồi !
Xong má còn móc túi lấy tiền xỉa ra cả chục tờ giấy 500 đưa cho tôi. Tôi từ chối, nhưng Lam giật lấy trên tay má nhét vào túi áo tôi và trách:
‘ – Má cho thì cất đi để má giận!
Bữa tiệc hóa thành hai bữa một cách bất ngờ, cá nướng trui cộng thịt heo quay nhưng phải kết thúc một cách nhanh chóng, với lý do “tới giờ của thằng Lệnh cô hồn đi.”
Mọi người tản ra ở các nhà khác. Bà má, chị dâu và em gái của Lam cũng tạm biệt tôi và Lam rồi cáo lui. Chỉ còn mình tôi và Lam ở lại trong nhà. Ông già thì vô buồng hồi nào không biết. Chỉ còn bà già ở lại nói chuyện với tôi:
- À, vậy ra chú em đã có gia đình?
- ạ… chỉ mới… mới… a..a..
- Dạ mới hứa thôi thưa bác. – Lam nhanh nhảu đáp – Đây là lần đầu tiên má con biết mặt ảnh.
Tôi ngồi chết trân, chỉ đối đáp khi nào bị hạch hỏi. Bỗng tôi nhận ra Quắn cũng vắng mặt từ sau khi Lam đến nhưng không biết là lúc nào. Tôi hoang mang cực độ. Lam thấy tôi lơ láo bèn hỏi:
- Có việc gì vậy anh?
- Đâu có việc gì.
Sự vắng mặt của Quắn rất khả nghi. Tôi biết nàng yêu tôi say đắm, nhưng không vượt qua lễ giáo. Nàng bắt tôi hứa trước bàn thờ ông bà bằng một cái hôn. Hạnh phúc đang trong tay bỗng vuột bay mất, nàng có thể quẩn trí và hành động một cách điên cuồng. Trong kháng chiến chống Pháp tôi đã từng biết một anh chàng bị thượng cấp ngoài Trung ương vô cướp người yêu bèn vọt về thành dắt luôn một đạo quân thủy lục không quân Pháp vào tàn sá t một lô cơ quan đóng cố định như nhà dân. Thiệt hại về tài sản và sinh mạng vô số kể.
Trường hợp nàng Quắn có thể là sự lặp lại chuyện xưa chăng? Tôi hỏi.
- Bộ em có quen với cô… cô Quắn à?
- Con nhỏ đó là bạn học của em hồi ở Q Hai Chòi. Hơn năm rồi mới trông thấy mặt nó, định tâm tình chẳng ngờ ngó qua ngó lại, nó biến mất.
- Nó đi công tác gấp!
Bà má buông một câu lạnh lùng rồi bỏ vô buồng. Tôi cố định thần trở lại và hỏi Lam:
- Em dám vọt về vùng meo à?
- Dám chớ. Em quen đường băng nẻo tắt hết cả mà.
- Không sợ thằng Lệnh à?
- Em nhớ anh, em không sợ thằng nào hết. Nếu em không mạo hiểm thì chừng nào má mới biết mặt anh?
- Tình hình này không nên nôn nóng.
- Em đâu có nôn. Đâu cho rành đó rồi anh đi đâu em đi đâu cứ đi không đeo dính như sâm nữa làm anh mang tiếng.
Vừa đến đó thì Quắn xuất hiện. Lam kêu lên:
- Mày đi đâu mất biệt vậy Quắn?
Quắn vui vẻ :
- Đi công tác gấp của xã ủy.
- Lâu nay mạnh giỏi hả?
- Đều đều – Quắn nói rồi quay qua tôi – Anh Hai Đời, Bí thư xã ủy mời thủ trưởng đến gấp.
- Đi đâu?
- Ở cơ sở xã ủy chớ đâu !
- Bộ tình hình gì biến động sao?
- Em đâu có biết. Anh nai nịch rồi đi mau lên!
Tôi tuân lệnh của cô chánh ủy như máy. Quắn nói với Lam:
- Độ vài tiếng rồi tao dắt trả lại cho nguyên vẹn không sứt miếng da nào, mày đừng lo!
-Đi mau mau về sớm sớm. Khuya rồi!
- Xí, tao dắt đi luôn đó. Được không?
- Được ! Tao cho mày đó, con quỉ !
Tôi tạm biệt Lam bằng một cái vẫy tay không nồng nàn lắm. Nàng tỏ vẻ không hài lòng nhưng tôi ngượng không thể biểu lộ hơn nữa. Đi được một quãng, Quắn trỏ tay ra phía ruộng trống bảo:
- Mùa cấy thằng Lệnh thương dắt lính ra núp ở cái bờ dứa đó bắt nông dân vô làm xâu cho bót. Còn con suối kia là từ đâu trên Tầm Đinh chảy xuống Bàu Ràng qua cầu Trung Hưng cầu Dân Hàn rồi cầu Công Sở, tiếp đến suối Gia Bẹ, ăn thông qua suối Bà Cả Bảy dưới Bàu Chứa, rồi nối liền với Rạch Láng The bao bọc cái Đồng Dù.
Nàng nói liền miệng mà như không để tâm vào. Tôi hỏi:
- Vậy không phải vành đai thép của các cô cậu dũng sĩ bao bọc Đồng Dù à?
- Vành đai thép nào? Vành đai ghẻ xốn của bà Út Nhỡ Bảy Nê thì có.
- Anh vừa ở trên R xuống thì nghe đồn vậy nên bảo Năm Cội dẫn cho xem mà chưa có dịp.
- Nếu có dịp thì anh sẽ được xem mấy cái hang ếch. Hồi mới đào thì mấy ông mấy bả còn lúp ló bắn sẻ tụi Mỹ dắt gái ra ven rừng, còn bây giờ thì xe nó ủi láng hết rồi.
- Sao em biết?
- Em đi với đội du kích của ông Ba Bụng phối hợp toàn quận. Trận đó bị xe tăng rượt em chạy văng mất túi thuốc. Anh nghĩ coi địa đạo nào đào băng qua suối qua đồng ruộng được chớ?
- Anh còn nghe đồn miệng địa đạo ăn ra sông Sài gòn nữa kia !
- Sao không nói nó ăn thấu đáy sông Sài gòn qua luôn Bến Cát?
- Cũng có tin đồn đó nữa đa, cô em!
Đi một chập thấy đèn pha bót Trung Hòa lấp loáng trên mặt đường, tôi hơi ngại, nên hỏi:
- Ông Hai Đời ở đâu?
- Ở ngoài rừng kia cà.
- Có hầm ở ngoài hả?
-Em đã bảo là chỉ có hầm nổi thôi, đào hầm ngầm không được! Năm 63, ở dưới Cây Trùm xã Phước Hiệp thằng Rắc đã khui một cái hầm nổi do người ta chỉ điểm. Từ đó tới sau hầm gì cũng bỏ luôn. Nó đến ngay miệng hầm kêu, một ông huyện ủy, hai ông nông hội xã bò ra, nó bắn luôn tại chỗ, lấy một K54 mới nguyên. Đó là Tư Châu, anh ruột Năm Tiều ở tác huấn khu bây giờ. Ổng chết, bả còn bị bắt bỏ tù mấy tháng. Phải bán cái quán chạy lo mới ra được. Hai đứa con của ổng, Năm Tiều dắt đi theo lên đâu trên khu.
Quắn nắm tay tôi chắc cứng. Hai đứa cùng bước trên mặt đường xe bò nhấp nhô chập chờn ánh đèn pha, trật có cái muốn lọi chân. Nàng liên tiếp kể:
- Vậy mà không chịu rút kinh nghiệm. Năm sau, Mỹ vô, cụm xe tăng ở Bàu Trâu. Buổi trưa tụi Mỹ chịu nắng không nổi bèn vô xóm tìm bóng mát. Bỗng một tên nghe tiếng ho sù sụ trong hầm. Nó kêu: “Đi ra! Đi ra mau! Vi xi! Vi xi!” Bà vợ lừng khừng. Tụi nó bèn đem mìn vô đặt và dọa lần nữa. Bà vợ quì gối chắp tay lạy rồi kêu chồng: “Ông ơi ra đi khỏi chết! Không ra nó đánh mình!” Ông chồng và bảy ông nữa chui ra một dây. Sau đó lại tái diễn ở Tân Qui. Ông chồng là cán bộ tác huấn từ An Phú về thăm nhà, bị Mỹ đổ chụp, rượt nà bèn chui hầm. Mỹ theo tận nơi, kêu ra. Ổng cố nín. Mỹ tìm miệng hầm tung lưu đạn. Bà vợ dời về Lào Táo có chồng khác tên là Hai Khuông cũng bị Mỹ đuổi và khui được miệng hầm. Nó đánh mìn. Hốt không được tô thịt. Một năm hai đời chồng. Toàn chết như vậy. Anh có thấy ai như bà đó chưa?
- Sao tụi Mỹ rành vụ khui hầm vậy?
- Nó có người mách. Hầm gì mà nó không biết! Anh tưởng ai cũng mê giải phóng hết sao?
Quắn lại trỏ tay ra đồng:
- Chỗ có ngọn đèn leo lét, đó là xóm Mồ Côi có nhà ông bà già thằng Thẹo du kích. Ông bà ở giữa đồng đặt lọp bắt tôm cá. Hễ tụi Trung Hòa ra là ông treo cái nón lá trắng phếu trên vách chòi, thì mình biết không đi được. Nếu không có cái nón lá thì cứ đi. Nhưng tụi nó cũng nhờ dân mình mách, tụi nó vô chòi gỡ cái nón lá cất đi rồi phục kích. Đằng này lơn tơn đi tới, nó xộp tóc vài ông. Bây giờ hết vụ nón lá rồi.
Đang nói chuyện giặc, bỗng Quắn ngoặc sang chuyện R:
- Anh Hai à ! Em muốn hỏi anh chuyện này chút!
Tôi tưởng Quắn hạch tôi về chuyện Lam, nên gạt ngang.
- Không có chuyện gì! Đừng lôi thôi!
- Sao mấy chú mấy bác ở đây hay mò vợ con chủ nhà, làm mất uy tín cách mạng quá hà !
- Ai đâu? Đừng đặt chuyện nói xấu cách mạng nghe cô ! Bộ tính lên án tôi đó hả?
- : Anh đâu có vậy. Em nói là nói chú Năm Ngó kia. Chị Ba em về ở lại nhà em gặp lúc ổng đang đóng quân ở đó. Ổng mò. Chị Ba em định la lên. Ba em bảo: “Đừng làm vậy, xấu lá xấu nem, rồi ba thằng Tiến nó về nghe được mà sanh giặc. ” Lại còn ông Tư Hải cũng mùa thu, đóng ở nhà chị Tám Phụng. Nửa đêm ông vô buồng bị ông già xách dao xắc chuối chận ở cửa. Ổng sụp lạy ông già và tìm cách gỡ gạt: “Cháu vô đây mượn cái hộp quẹt hút thuốc.” Từ đó chị Tám không đi hội họp nữa. Chỉ suýt bỏ luôn công tác phụ nữ. Còn Tư Hải trở thành Từ Hải.
- Tại sao có tên Từ Hải?
- Từ Hải chết đứng, anh không biết tích đó à?
Tôi hơi ngượng nhưng cố gỡ gạt:
- Mấy chú đi xa nhà lâu năm thiếu thốn tình cảm.
Nàng bóp chặt tay tôi.
- Vậy anh không xa nhà lâu năm sạo? Ông già chỉ dữ lắm. Đang đêm mà ổng đốt đuốc vô Bào Trăn tìm ông Năm Tiều. Năm Tiều là dê trưởng, Tư Hải là dê chánh (Nghe Quắn xài danh từ tôi bật cười, con nhỏ lém thật.) . Ổng nói thẳng với Năm Tiều : “Làm chánh trị viên mà vậy thì còn cái chánh trị chánh trọt gì hả chú?” Ông Năm Tiều năn nỉ muốn gãy lưỡi, hứa thi hành kỷ luật ông dê … chánh, ông già mới thôi.
Quắn cứ kể chuyện này sang chuyện khác, tôi sốt ruột:
- Gần tới cơ sở chưa ? Em đi như vầy phiêu lưu quá ? Đáng lẽ anh phải đem cần vụ theo.
- Em thuộc đường và mật hiệu của đại đội ông Bính mà. Em cần vụ không được sao?
Quắn lôi tôi vào một ngả rẽ đến một căn chòi ở giữa một đám rừng chồi.
- Ông Bí thư xã ủy ở trong đó !
Tôi xem đồng hồ đã mười một giờ đêm. Quắn bảo:
- Ổng vừa đi đâu. Anh ngồi trên vạt chờ một chút!
Nói vậy rồi nàng đi thẳng ra sau chòi. Ánh trăng non soi mập mờ qua phên thưa. Một cái bếp tro lạnh ở góc chòi, bên cạnh đó lăn lóc một cái soong móp méo. Bộ vạt như hàm răng rụng đong đưa mỗi khi tôi trở bộ . Nghe nước xối róc rách ngoài sau. Tôi bước lại cửa nhìn ra. Một nàng tiên đang gội tóc bên một khạp nước bể, những làn nước lấp lánh tuôn chảy xuống tấm thân ngà. Thiệt chẳng khác cái cảnh tôi ngồi trên ngọn dừa nhìn xuống một nàng tiên khác không mảnh vải dính da hôm nào. Khi nàng lấy chiếc khăn lông trắng muốt choàng lên và bước về phía chòi thì tôi thụt vào ngồi y chỗ cũ trên vạt làm như nãy giờ không phạm tội trần tục chút nào.
Nàng ngồi bên cạnh tôi. Mùi xà bông thơm lẫn mùi da thịt tỏa sang tôi bát ngát. Nàng nói không chút e dè, nói một hơi không nghỉ như đã chuẩn bị từ lâu:
- Em không phải là đứa con gái lăng loàn đụng ai cũng quơ chụp. Em đã đi học trường tân binh Q Hai Chòi với con Lam. Sau khi mãn lớp, đám con gái được phân công đi các cơ quan. Những đứa đẹp được đưa cho mấy ông lớn làm con nuôi. Em cũng được hân hạnh làm con nuôi một ông kẹ. Chỉ một thời gian, em thấy cái trò chơi con nuôi dơ bẩn đó. Em xin nghỉ phép và ở nhà luôn. Thà ở nhà làm cách mạng mà hay hơn. Em thích cách mạng nhưng em không thể xáp với những cán bộ cách mạng đó . Về đây em cũng đã tiếp xúc với nhiều ông to. Sao họ toàn là những kẻ … hì hì… khó nói quá.
- Còn anh?
- Anh thì khác.
- Mới quen sao biết khác?
- Biết chớ! Em nhận ra người ngay từ phút đầu. Tất cả tâm tính đều hiện trên nét mặt. Em thương anh ngay từ cái nhìn đầu tiên. Giá không có vụ con Lam…
- Vụ gì đâu?
Quắn nhắc lại chuyện xảy ra vừa rồi ở nhà rồi bảo:
- Do đó em không muốn để mất anh hoàn toàn ! Em hận vì em không có cơ hội như con Lam. bây giờ đã như vậy rồi, em phải giành lấy được phần nào hay phần nấy.
Nàng lột chiếc khăn lông trải lên vạt rồi ôm lấy tôi mà quật xuống.
- Anh sẽ không bao giờ có dịp yêu em nữa đâu. Anh thuộc về người khác rồi.
Tôi muốn đính chánh nhưng nàng không để miệng tôi thốt ra lời. Nàng vồ vập làm như tôi là con mồi non. Nàng giục giả, khuyến khích, lãnh đạo tôi như một bà chánh ủy.
- Bộ anh sợ cái má văn công, cái mông y tá hả? Y tá nào uống thuốc ngừa thai, nạo thai chớ y tá Quắn này khỏi có bị đâu… Anh thấy chưa… Đó… em vậy đó. Anh tin chưa? Con Quắn này xấu hơn Bảy Mô, Ba Cấm, Tám Phụng, nhưng chưa chắc các bà đó hơn em điểm này. Rồi anh sẽ thấy!
Nàng cầm tay tôi đặt lên những vùng cấm. ánh trăng làm da người con gái thêm mát rợi, làm mắt nàng thêm lấp lánh.
- Em có đôi mắt nai đẹp lắm!
Tôi nhìn xuống mắt nàng. Nàng vít đầu tôi xuống ngực nàng, đè riết rất lâu. Tôi bảo:
- Lửa của anh đâu phải lửa rơm phải không em?
Bộ vạt yếu ớt run suýt đổ bao lần. Chúng tôi nằm yên bên nhau, ngủ. Và thức giấc mơ tiên. Nàng bảo:
-Trời còn khuya, ngủ một giấc nữa rồi hãy về.
Chúng tôi không ngủ. Ai lại có thể ngủ được khi da thịt của hai đứa mọc gai và khiêu chiến nhau ở từng góc cạnh.
- Đừng quên em nhé, đứa em liều lĩnh của anh! Em không tiếc rẻ, không ân hận một chút nào.
(Về sau khi tôi ra chỉ huy Tiểu Đoàn Thép rồi làm Tham mưu trưởng Trung đoàn Quyết Thắng Quân Khu, tôi gặp lại nàng trong mấy tháng liền lúc chiến trận rất ác liệt. Rồi sau đó tôi di quân đi xa, không còn dịp gần nhau và cũng không biết tin nàng nữa.)
Tỉnh giấc lần thứ hai chúng tôi vẫn luyến tiếc cảnh tiên nhưng tiếng gà trần thế đã gáy rộ bên tai. Chúng tôi hôn nhau điên cuồng, đôi môi đôi má không muốn rồi ra nữa. Mắt nàng hoen lệ, giọng rưng rưng.
- Thú thực, em không còn muốn lấy chồng. Có người tới hỏi nay mai, em sẽ…
Tôi vả miệng nàng rồi trám miệng nàng bằng một cái hôn cắn. Quắn đưa tôi về tới nhà đập cửa rầm rầm, quát lạc giọng:
- Lam ! tao trả chồng mày đó !
Rồi lẫn đi mất. Tôi đứng chết trân như trời trồng, cảm thấy mình có tội. Tội với ai? Không rõ. Với Thu Hà, Lụa, Là, Nga, với bà khu ủy, Mai Khanh, Thanh Tuyền, Ua, Chia. Hay với Lam đang chờ suốt đêm nay tôi đi họp với xã ủy.
Lạy Chúa. Lạy Trời xin tha tội cho con nếu yêu chân thành là tội…


Bạn đọc thân mến,
Đến đây bạn cùng đi với Lôi-Vũ khá sâu vào đất Củ Chi với trên 1000 trang sách. Nhưng chưa đến cho cực điểm hoang tàn của nó. Đây mới chỉ là một đoạn dạo nhạc trong khúc hòa tấu ác liệt, một món ăn chơi trên mâm cổ bom đạn Củ Chi. Sự chết chóc, tàn phá do bom đạn gây nên, tới đây chỉ mới là một vết xước trên làn da non.
Những trang sách tới sẽ ghi lại cái chết của trên 1000 cán bộ thuộc các cấp tại quận Củ Chi. Có những cấp ủy bầu đi bổ lại ba lần và cả ba lần đều chết rụi. Bạn còn nhớ chị nuôi nấu cơm cho Quận đội trưởng Tám Dò không? Chính cô ta lên làm quận phó sau này, rồi cũng chết. Cô Tư Bé lên rồi cũng chết.
Cả Bộ Tư Lịnh Quân Khu chết sạch. Trần Bạch Đằng, Huỳnh Tấn Phát chịu không thấu phải cuốn gói dông luôn. Võ Văn Kiệt xuống thay, chuyên môn ở dưới hang cá kèo không dám ló đầu lên một phút. Nguyễn Chí Thanh cũng bỏ mạng ở Bến Cát bên ven Củ Chi.
Chết đủ kiểu, mọi lứa tuổi. Người người đều chết, ngành ngành đều chết để cho “Hồ Chủ Tiệm vui lòng, ngủ ngon và sống lâu!”
Mặc kệ dân Nam Kỳ quốcl Miễn sao đặt được ách thống trị của dân Bắc Kỳ để biểu diễn xã hội chủ nghĩa dỏm.


Tháng 8, 1992

Lôi – Vũ




Tiếng Sét Ái Tình và Tiếng Sấm Bom Đạn
PHẦN PHỤ LỤC
Từ tên chột Nguyễn Bình đến gã mặt toét Lê Đức Anh *


-I-
Năm 1949 tôi đang học trường Đồng Tử Quân của Trung đoàn 300 Dương văn Dương tại Mũi Bần thuộc khu rừng Chà Là, xã Đồng Hòa, quận Nhà Bè cũng gọi là khu Rừng Sát, bỗng một hôm tôi được Ban Giám Đốc trường gọi lên và đưa cho tôi một bức công điện gọi tôi về văn phòng Trung Đoàn.
Bức điện khẩn này ký tên Lê Đức Anh, quyền Tham Mưu Trưởng Nam Bộ . Cầm bức điện trên tay, tôi run từng miếng thịt. Vì lúc đó nội bộ Trung Đoàn đang bị nhân viên phòng nhì Pháp cài vào khắp các cơ quan và Trung đoàn 305 do Tư Đức chỉ huy mới vừa bị tảo thanh nội bộ một cú rùng rợn. Trong lúc đó các ngành sau đây: Hai Điểu trưởng ban Quản trị Hậu Cần. ông này bị bắt ở An Thành và thủ tiêu. Tám Son, chánh văn phòng Trung Đoàn, Bảy Nghiệp tiểu đoàn trưởng Trưởng ban Đảng Vụ , Năm Sơn trường ban Quân Nhu, bác sĩ Năm Ngà, trưởng bệnh xá Trung đoàn; chị Sương, một phụ nữ rất đẹp, nhân viên Ban Quân Báo Trung đoàn, Chín Lá trưởng ban Vô tuyến điện Trung đoàn và rất đông cán bộ khác trong Ban Bào Chế và Binh Công Xướng. Thuốc của Binh Công Xường làm Tromblon và đạn cối thì nhét đầy bông gòn thay vì thuốc nổ, còn thuốc của ban Bào Chế thuốc tiêm vào áp-xe. Cả trăm người bị bắt một lượt và chôn sống ở bãi biến Đồng Hòa hoặc bị cho mò tôm ở sông Lòng Tào. Do đó mà tôi sợ Trung đoàn 300 của tôi cũng bị phát hiện như Trung đoàn 305 và.tôi đã bị ai báo và sẽ đi mò tôm chăng?
Hồn vía lên mây, tôi về đến nơi thì được gọi vào gặp đồng chí quyền Tham Mưu Trưởng Nam Bộ . Tôi đi nghe nhẹ nhỏm như chân không bén đất. Ông ta ở một cái chòi lá một mình bên cạnh đó là một cái chòi khác của tổ Mật Mã do ông trực tiếp chỉ huy lâu nay tôi chỉ thấy chữ ký tên. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mặt con khỉ già mặt rỗ này. Phải nói là ông ta giống con vượn già, tay chân nghều ngào, mặt dài, trán vuông và tóc đã bạc lốm đốm. Ông nói chuyện không suông sẻ không cười. Thiệt khó đoán ông ta là người Miền Nam, Trung hay Bắc vì tiếng và giọng của ông rất lẫn lộn pha chè.
Sau này nghe người ta đồn ông ta là người Huế hay Quảng Bình gì đó, tôi cũng không để ý. Tôi nhớ rõ lúc đó Bảy Viễn đã về thành rồi, nên cơ cấu tổ chức đều xáo trộn. Riêng phân khu Duyên Hải thì bị giải tán hơn và phòng Chánh trị phải dời về đóng tại Suối Tre thuộc ấp Nhà Mát Long Nguyên (nơi sau này ông đại tướng mặt đỏ Nguyễn Chí Thanh bỏ mạng cuối năm 1967).
Đụng mặt ông ta tôi thấy ông không phải là tướng quân sự mà có vẻ một thầy rùa, một mưu sĩ cũng như Trần văn Trà có bộ tướng loắt choắt như trẻ con, còn tên Lê Quang Đạo cốt là trung (hay thiếu) tướng hiện là chủ tịch Quốc Hội thì lại đầu đít có một tấc.
Xin trở lại Lê Đức Anh. Ông ta bảo: “Tôi gọi cậu về làm mật mã, vì ở trường không có đứa nào có văn hóa bằng cậu. Nếu có thì không bảo đảm lập trường.”
(Sự thực có nhiều đứa bạn tôi học trường Lê Bá Cang và Nguyễn Văn Khuê, nhưng không hiểu tại sao ông lại chọn tôi.)
Khi biết được ông ta muốn tôi làm mật mã thì tôi hết sợ, lại còn chống lại. Bò nghé không sợ cọp vậy. Tôi biết cái nghề này một khi đã lọt vào thì không được cưới vợ, lấy chồng, như một thứ phu cao su đã bán thân cho chủ, nên nói:
- Tôi mới 17 tuổi, chưa phải là công dân. Tôi muốn đi học văn hóa để sau này học lục quân trở thành sĩ quan.
Ông ta cười hừ hừ rồi bảo:
- Cậu là đồng tử quân phải có kỷ luật, cấp trên phân công đâu thì phải làm đó, không được cãi. Lại nữa cậu là đảng viên, cậu phải tuân lệnh đảng.
(Tôi vô đảng hồi đầu năm. Do Hà Huy Giáp kết nạp đặc biệt. )
Tôi cãi lại:
- Nhưng tôi chỉ là đảng viên dự bị.
- Dự bị thì cũng là đảng viên – ông ta trợn mắt.
Nhưng tôi vẫn không sợ, vì tôi ở gần mấy ông lớn đã quen như Phạm văn Bạch, Phạm ngọc Thuần, Hà huy Giáp, Hoàng xuân Nhị, Kha vạn Cân, bác sĩ Trần văn Du có gì mà sợ. Vả lại ông ta cũng không la hét gì, lại còn hứa cho tôi đi học lục quân khi tôi đủ tuổi.
Phòng Tham Mưu Bộ Tư Lịnh Nam Bộ bấy giờ gồm có:
Lê Đức Anh Quyền Tham Mưu Trưởng,
Nguyễn văn Lung Tham Mưu Phó kiêm trưởng ban tác huấn,
Ban Quân Báo do Phạm Xuân Hoàng làm Phó ban (tên này sau làm Trường Phòng Quân Báo cho R)
Còn Phòng Chính Trị do ông Vũ Huy Xứng và Bùi Thanh Khiết Chánh Phó.
Chung quanh hai phòng Tham Mưu cà Chánh trị có nhiều nhân vật rất ngộ . Đó là các thằng xây lố cố phục dịch cho Lê Đức Anh như thằng Lộ Đẹt và thằng Uyển mắt bị lông quặm như ông ta vậy. Năm Lâm chánh văn phòng Tham Mưu, cao, ốm, cà lăm nhưng giỏi tiếng Pháp. Tỉnh đội Gia Định do Ba Tô Ký làm Tỉnh đội trưởng cũng đóng gần đó. Ông Ký có thằng em khậc khùng tên là Tô Sung chuyên môn giữ ngựa nhảy, kiêm đội trưởng bảo vệ. Thỉnh thoảng ông Lê Đức Anh đến cỡi, nhưng gặp thằng Sung khùng không cho. Lính thấy vậy bèn giải thích chức vụ của ông ta cho nó nghe để nó ngán mà cho mượn ngựa.
- Đó là ông Tham Mưu Trưởng, chỉ dưới ông Tư Lịnh thôi.
Tô Sung vẫn coi như pha:
- Tha-mu thì tha, ngựa tôi, tôi giữ.
Ông Anh phải kêu ông Ký ra bảo mới được. Trong văn phòng, mỗi khi nói anh Ba thì phải nói rõ Ba Tô hay Ba Chè (Tô Ký Và Trần văn Trà). Anh Năm thì phải nói rõ Năm Bi hay Năm Cà Lăm, Năm Sún, Năm Ròn hay Lâm Vênh (bàn nạo). Còn anh Sáu thì phải nói rõ Sáu Nâu hay Sáu Rỗ hoặc Sáu toét (ông ta mặt rỗ hay mắt toét, tức Lê Đức Anh).
Một hôm tôi đi ngang qua láng của mấy bà, thì bất ngờ tôi thấy một lô bà bầu ở trong đó. Tôi bước vào để kiếm một mớ măng le và mắm ruốc về cho tổ ăn thì thấy bà Sáu Cẩm (cũng còn gọi là bà Sáu Bầu) là vợ ông Tham mưu trưởng, hội trưởng Hội Phụ Nữ Thủ Dầu Một, còn bà trẻ kia cũng mang cái trống chầu vĩ đại là vợ Tô Ký, còn một bà to con xinh xinh cũng có cái bụng no phình là vợ của ông Ba Khịt tức là Ba Lung Tham mưu phó. Chỉ có một bà không mang trống là vợ Ba Xu, sau này là Tư Lệnh khu Sài gòn Chợ Lớn bị đạp mìn chết ở Trảng Bàng đầu năm 1969 khi đi về R nhậm chức Thứ trưởng Quốc phòng của cái chánh phủ ma Huỳnh Tấn Phát. Riêng tên Trà thì lúc đó cũng đã cưới vợ bằng công điện tận Miền Tây Nam Bộ. Nàng ta là Lê kim Thoa, học sinh thành, con gái luật sư Lê Đình Chi bị bom chết ở khu 8. Trà tới ve vãn bà má, nhưng bà ta lại muốn thủ tiết với chồng nên đưa con ra đỡ đòn. Lúc đó có một chàng thư sinh đang tới lui tình cảm rất đậm đà với nàng, nên được điện ông Tư Lệnh, nàng khóc lóc nhảy xuống sông tự vận nhưng rồi trái tim không thắng được cường quyền, hơn nữa bà mẹ cũng muốn con thay mẹ trám lỗ trống để ông Tư Lệnh khỏi ve vãn mẹ mà có ngày mẹ rơi hầm chông. Cho nên nàng Thoa cuối cùng trở thành Bà Tư Lệnh. Bà Tư Lệnh thì không ở chung với các bà bầu mà ở chung với ông Tư Lệnh.
Cũng cuối năm 1949, xảy ra chiến dịch Bến Cát. Trà cử Lê Đức Anh làm Tư Lệnh mặt trận, Ba Tô Ký làm chánh ủy và Ba Xu (tức Ba Đình) làm Tham mưu trưởng. Chiến dịch này thành công vĩ đại là do công của Tư Lệnh Anh: tóm được mười mấy xe hàng dân sự ở Chơn Thành chở gạo đi Hớn Quản, đổi lại sự nướng sạch gần hai tiểu đoàn 302 và 304 ở mặt trận Bến Súc. Chiến thương lên đến ba trăm, nằm đặc dọc đường từ Đường Long, Thanh Tuyền về đến cầu sông Thị Tính. Quân Pháp nhảy dù ở Nhà Mát rượt Ban chỉ huy chạy ói ra máu ở Bà Tứ. Thêm vào quân nhảy dù, pháo 105 và 155 của Pháp bắn tơi bời. Hai bà bầu Ba Xu và Ba Tô Ký chui hầm, nếu không có tôi chắc bị miểng cứa lòi con. Nhờ tôi ngồi trám miệng hầm (lãnh đạn) nên các bà an toàn.
Sau chiến dịch này, Pháp phong tỏa chiến khu Long Nguyên nên toàn bộ Tư Lệnh rút về chiến khu D, ở Đất Cuốc Tân Uyên Biên Hòa. Cũng đâu vào khoảng 1949, xảy ra trận La Ngà do Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy. Trận này nổi tiếng toàn quốc Người ta ghi lại thành tích bắt được một đại tá Pháp và giết một đại tá khác. Nhưng lại bảo rằng đó là nhờ tài Lê Đức Anh. Tôi không rõ lẽ nào. Nói chung suốt chín năm, Lê Đức Anh ở hậu phương điều binh khiển tướng gì đâu đâu chớ không thấy ra tiền tuyến, trừ chiến dịch Bến Cát mà tôi có tham gia.
Trong thời gian làm việc với ông ta, tôi có nhận xét sau đây :
1. Không rõ học lực của ông ta tới đâu, nhưng chữ ông rất to tròn và khéo không bao giờ ngoáy. Ông không bao giờ nói xen tiếng Pháp trong câu chuyện.
2. Có người bảo ông ta từng làm thầy su (ở sở cao su nào đó tôi không rõ) như ông Trần Đình Xu, biệt danh Ba Xu, Ba Đình (tư lệnh Quân Khu IV) nhưng không có ai xác định được. c lãnh tụ Cộng Sản thường giấu lý lịch mình hoặc sửa nó đi như Lê Duẫn.
3. Lê Đức Anh thuộc loại người kiên trì, chịu kỷ luật, tôn trọng thượng cấp và không hay gây gỗ cãi cọ, cũng không la ó đánh lính như Tô Ký, Ba Xu. Rất nặng tư tưởng giáo điều.
4. Ông ta là kẻ áp dụng chiến lược trường kỳ của Cộng Sản một cách bền bĩ và làu thông quyển Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh. Chính ông ta biết lo xa bảo toàn căn cứ, dời căn cứ, cũng cố phát triển căn cứ trong nhiều lần tình thế hiểm nghèo.
5. Chính ông ta cũng đã chủ trương cấy người ở các trục lộ để nắm sơ hở địch ngõ hầu phục kích đánh giao thông.
Kết thúc chiến tranh, năm 1954 ra Bắc, ông ta chỉ được quân hàm đại tá giữ chức Cục phó Cục tác chiến của Bộ Tổng Tham Mưu của Văn Tiến Dũng, trong lúc Trần Văn Trà lên Trung Tướng cái rột giữ cái ghế Thứ Trường Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu phó kiêm Hiệu trưởng trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn.


-II-
Tôi quá đổi ngạc nhiên khi biết Lê Đức Anh lên đại tướng làm tới Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng và là nhân vật số hai của Cộng Sản Hà Nội. Thực ra, tôi cho về binh nghiệp, hắn chỉ làm nổi đến chức thiếu tướng và chỉ huy nổi một Quân Khu là thượng số. Vì tôi biết hắn, con người lọ mọ, rì rầm, bền chí. Những đức tính này cần thiết cho thời kỳ du kích chớ không xài được cho một giai đoạn tiến nhanh, tiến mạnh, mà yếu tố lớn nhất là khoa học kỹ thuật. Điều này có thể được chứng minh trong chín năm đánh Pháp mà thôi. Trong mười năm đánh Mỹ, Lê Đức Anh trở thành con cù lần. Ông ta không làm gì được, không rời khỏi rừng Tây Ninh Cao Miên một ngày. Trừ lúc sau, ông ta được đưa về làm Tư Lệnh Quân Khu III tức là miền Tây Nam Bộ để lo việc vận chuyển lén vũ khí từ Bắc vô Kompongsom.
Năm 1964, khi tôi về R, đóng ở Tà Bon thì tôi gặp ông, tôi nhắc lại những kỷ niệm cũ. Ông không thích thú lắm. Có lẽ ông ta tự hiểu rằng mình đã trở thành một chiếc cối xay gió trước những máy móc tối tân, nên ông không hứng thú nhắc lại nữa.
Lúc đó ông ta là trướng B2 tức là Cục Tham Mưu với quân hàm đại tá của quân đội Bắc Việt. Còn thằng bé đồng tử quân năm xưa nay đã là đại úy, giảng viên trường pháo binh Bộ Tổng Tư Lệnh Miền Bắc. Ông ngạc nhiên nhìn tôi tiến bộ nhanh. Còn tôi cũng ngạc nhiên nhìn ông già sọm, ốm yếu lem hem, ho hen, sốt rét, tóc bạc trắng mà chịu dưới quyền tên Trà, Độ, Tấn, v.v… đứa trung tướng đứa thiếu tướng nghênh ngang một cõi R.
Cái trống của bà Sáu Bầu năm xưa đã vỡ ra và cho ông ta một đứa con gái khá xinh tên là Thanh Tuyền, bây giờ cũng đã vào R ở trong cái hang hùm của bố. Ngồi chung bàn uống trà với ông, tôi không những là đại úy pháo binh mà còn là anh hùng pháo binh vừa pháo kích sân bay Biên Hòa lẫy lừng thế giới nữa. Nhưng nhìn ông Cục trưởng, tôi có cảm giác như Cộng Sản đi theo một vòng luân hồi, một cái trò luẩn quẩn. Giết người để làm thỏa mãn người rồi lại bị người giết. Đó là Nguyễn Bình thời kháng chiến chống Pháp. Còn thời này là ai? Chưa biết là Trần Độ, Lê Trọng Tấn, Hoàng văn Thái, Trần văn Trà hay Lê Đức Anh?
Ý nghĩ đó của tôi không sai lắm khi thời gian trôi qua. Trần Độ bị cho về vườn, Lê Trọng Tấn và Hoàng văn Thái chết thảm tại nhà riêng không biết lý do. Còn Lê Đức Anh? Thời gian chưa trả lời, nhưng chắc gì số phận của hắn lại khác số phận Nguyễn Bình? Bạn hãy cùng tôi phóng mắt ngược về thời điểm mà Lê Đức Anh còn là một kẻ vô danh cấp trên không biết cấp dưới không hay, cái thời mà Nguyễn Bình quảy gói quả mướp vào Nam làm nhiệm vụ Thống nhất lực lượng võ trang năm cha ba mẹ của Nam Bộ.
Đảng Cộng Sản Đông Dương bên ngoài tuyên bố tự giải tán, nhưng bên trong đeo đuổi tham vọng nắm lực lượng võ trang toàn Nam Bộ. Nhưng lực lượng này tự động thành lập mang tính cách địa phương nhưng đã làm cho giặc Pháp kinh tâm tán đởm suốt bốn năm đầu kháng chiến. Ở miền Đông có các lực lượng của các ông Huỳnh văn Một, Huỳnh Tấn Chùa, Bình Xuyên v.v… Ở miền Trung có lực lượng của giáo phái, lực lượng của Đồng văn Cống, Phan văn Phải, Romand v v.. Ở miền Tây có lực lượng của Nguyễn Hùng Phước, Ngô Hồng Giỏi, Lâm Quang Phòng… Tất cả đều tự chỉ huy lấy không nằm dưới sự lãnh đạo nào.
Khi Nguyễn Bình vô thì bàn tay của Cộng Sản bắt đầu mò mẫm tìm cách qui tất cả về một mối để chỉ huy. Nguyễn Bình thi hành chánh sách chém giết lén lãnh tụ các đảng phái như Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ và lãnh tụ Bình Xuyên Ba Dương, sau đó dụ dỗ Bảy Viễn làm Khu Bộ Phó để nắm lực lượng Bình Xuyên. Hai tiểu đoàn Hải Ngoại từ Thái Lan về, võ trang súng Thompson và các loại súng máy, không có súng trường, oai dũng vô cùng do ông Ngô Thiết Sơn chỉ huy nhưng về nước cũng bị phân tán xuống khu 8 và khu 9. Nguyễn Bình phong Huỳnh văn Nghệ làm khu trưởng, Bảy Viễn làm khu phó và Nguyễn văn Trí một tên tù Cộng Sản ở Côn Đảo về làm chánh ủy. Kế đó thành lập phân khu Duyên Hải mục đích khống chế và chiêu dụ lực lượng Bình Xuyên, vì lực lượng này đã chống đối Nguyễn Bình từ đầu không cho đặt hệ thống chính trị trong nội bộ họ. Bảy Viễn đã từng tuyên bố: “Không có một tên Bắc kỳ nào trong bộ đội tao!” Câu nói đó trở thành bất hủ. Khu này do ông Dương văn Hà, em ruột ông Ba Dương làm Tư lệnh. Nhưng lại cũng do một tên Cộng Sản là Hai Huy làm chánh ủy. Ngoài ra còn mở trường Quân Chính do sĩ quan Nhật được Bình Xuyên đem ra huấn luyện, nhưng cũng do một tên Cộng Sản là Đặng Quang Long cầm cán. Tên này năm 1964 làm Trường phòng Chánh trị Quân Khu IV (gồm Củ Chi) còn gọi là Quân khu Sài gòn Chợ Lớn, đổi tên là Tám Quang.
Sau khi bị quân Pháp đẩy lui ra khỏi thành thị, lực lượng Thanh Niên Thành Phố, Cộng Hòa Vệ Binh, Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo đã kiện toàn lại tổ chức. Cao Đài kéo về vùng Tây Ninh, Hòa Hảo xuống Hậu Giang, Bình Xuyên trở lại vùng ngoại ô Sài gòn và Rừng Sát. Trong lúc đó các lực lượng do Việt Minh nắm được đã hình thành các chi đội (mỗi chi đội có chừng một ngàn người). Riêng ở khu 7 có các chi đội sau đây:
Chi đội 1 – ở Thủ Dầu Một do Cò Trương chỉ huy, Hai Thế làm phó. Chi đội này do Nhật cung cấp vũ khí chôn giấu ở Bến Cát. Cò Trương thuộc đảng Dân Chủ, năm 47 được cấp trên đưa đi hội nghị Calcutta (Ấn Độ) rồi mất ghế luôn. Sau đó không biết làm gì.
Chi Đội 2 – Gồm một số người Bình Xuyên do Hai Sói chỉ huy.
Chi đội 3 – Gồm một số người Bình Xuyên do Hai Lung chỉ huy.
Chi đội 4 – Gồm một số người Bình Xuyên do Huỳnh văn Trí tức là Mười Trí chỉ huy. Tên này tập kết ra Bắc ngồi chơi xơi nước.
Chi đội 5 – do Tư Đức chỉ huy. Tư Đức có liên hệ với em ruột là Cao Đài ở Chùa Bà Dệt (Đức Hòa) nên bị Nguyễn Bình nghi ngờ cho người bắt, Tư Đức bắn tên Hai Giá chi đội phó để tự giải thoát nhưng không chạy khỏi, bị bắn chết ở Quéo Ba.
Chi đội 6 - Vùng quốc lộ I Củ Chi, Trảng Bàng do Tư Công (Cộng Sản) chỉ huy.
Chi đội 8 – Vùng Vũng Tàu (Bình Xuyên).
Chi đội 9 – Bình Xuyên ở Long Thành.
Hai chi đội 7 và 9 sát nhập thành Trung đoàn 397 đặt dưới quyền thống thuộc của Phân Khu Duyên Hải, do ông Nam Sơn và Sáu Đội em nuôi của Bảy Viễn chỉ huy.
Chi đội 10 – Vùng Long Thành – Dĩ An – Tân Uyên -Biên Hòa do Huỳnh văn Nghệ chỉ huy và Lê Đức Anh làm tham mưu trưởng.
Năm 1948, hai chi đội 1 và 10 sát nhập thành Liên Trung đoàn 301-310. Ba Lung làm Trung đoàn trưởng trung đoàn này ít lâu rồi được đưa về làm tham mưu phó Nam Bộ dưới quyền của Lê Đức Anh. (Lê Đức Anh được Nguyễn Bình cất nhắc vượt lên đầu ông Nghệ và Ba Lung cái rột!)
Chi đội 11 – hoạt động vùng Trảng Bàng Gò Dầu Tây Ninh do Tư Đầu (người Nam) chỉ huy.
Chi đội 12 – Do Huỳnh Tấn Chùa chỉ huy. Ông này bị nghi ngờ có liên hệ với Huỳnh Phú Sổ nên bị Tô Ký sát hại. Rồi làm đám ma rất to. Tô Ký lên làm Chi đội trưởng, dưới trướng có một bầy lâu la: Hai Búa, Đào Sơn Tây, Ba Xu. (Sau này đều là bọn mặt rằn của R)
Chi đội 13 - do ông Đặng văn Thìn tức Mười Thìn chỉ huy. Năm 47 chi đội này sát nhập với tiểu đoàn Nam Tiến từ Quảng Ngải kéo vô, thành Trung đoàn 300 mang tên Dương văn Dương và được Nguyễn Bình điều động về trấn giữ vùng Rừng Sát khống chế các lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn.
Chi đội 14 – Vùng Vàm Cỏ Đông, sau thuộc quyền của Tư lệnh Trà.
Chi đội 15 – do Huỳnh văn Một chỉ huy sau này trở thành Trung đoàn 308. Có ba tiểu đoàn: (l) Nguyễn văn Tiếp (cầu thủ Trương Tấn Bữu ở tiểu đoàn này) (2) Ngô gia Tự (3) Ký Con.
Chi đội 16 - Vùng Bà Rịa giáp giới Hàm Tân – Xuyên Mộc.
Chi đội 21 – Thuộc Bình Xuyên do Tư Quạnh chỉ huy . Năm 48 sau khi Bảy Viển bỏ về Sài gòn, ban chỉ huy chi đội bị tảo thanh, chi đội sát nhập vào Trung đoàn 300. Hầu hết cán bộ đại đội, tiểu đoàn đều bị ám hại hoặc giết công khai.
Chi đội 25 – Do Tư Tỵ chỉ huy cùng số phận với chi đội 21. Tất cả các chi đội này hoặc do Cộng Sản chỉ huy hoàn toàn hoặc bị kiểm soát, khống chế rất nặng, nhưng để nắm chắc hơn nữa các lực lượng võ trang trong hai năm 47-48 Nguyễn Bình cho tổ chức lại các chi đội thành các trung đoàn. Ở khu 7 có các trung đoàn 300, 301, 303, 305, 306, 308, 309, 310, 311, 312. Nổi tiếng nhất là trung đoàn 303 của Hoàng Thọ. Nhưng Hoàng Thọ chỉ nghe lệnh anh Ba (Bình), do đó mà khi Ba Bình bị phục kích chết trên đường về Bắc nhận chức thứ trưởng Quốc Phòng, Thọ bất phục tùng cuốc xuổng. Do đó bị anh Ba (Duẫn) xử tử ở cạnh Đền U Minh.
Do sự cất nhắc của Nguyễn Bình mà Huỳnh văn Nghệ được làm khu trưởng nên sau khi Nguyễn Bình đi, Nghệ rơi xuống làm Tỉnh đội trưởng. Dương Quốc Chính vô (1950) thì chiếc thòng lọng đã tròng vào trọn vẹn cái cổ của các lực lượng võ trang năm cha ba mẹ Nam Bộ. Tên này chia Nam Bộ ra làm hai Phân Liên Khu: Miền Đông và Miền Tây, thiết lập chế độ chánh ủy: đào tạo chính trị viên đại đội và đá hất tất cả tư lệnh, phó tư lệnh gốc Nam kỳ (kể cả Cộng Sản) ra khỏi các Bộ Tư lệnh và các cơ quan quan trọng trong quân đội đưa dân Bắc kỳ nắm lấy hoàn toàn. Phải vất vả mất năm năm mới làm được việc này chớ không phải dễ. Tội nghiệp cho tên chột Nguyễn Bình làm xong rồi thì được gọi về Bắc để khen thưởng bằng cái ghế phó nhòm, nhưng cũng không được ngồi mà đã ăn kẹo made in Deuxième Bureau của Pháp !
Rút kinh nghiệm xương máu đó, bọn Hà Nội, ngay từ đầu cuộc chiến tranh chống Mỹ đã đưa bọn tướng tá miền Bắc vô R không để một anh Nam kỳ nào dù là Cộng Sản nắm một cơ quan trọng yếu và nhất nhất phải xin chỉ thị Trung ương, cho đến năm 1964, Nguyễn Chí Thanh mò vô như một Thống đốc đỏ toàn quyền giải quyết mọi vấn đề không phải thỉnh thị Trung ương như trước nữa.
Tấm gương tày liếp còn trước mắt Lê Đức Anh đó chớ đâu đã lu mờ gì. Văn Tiến Dũng, ông đại tướng đại thắng mùa xuân xong bị cho ra rìa, không được dự đại hội 6. Lê Trọng Tấn từ R về được gởi đi Cao Miên ăn cướp, cướp xong về Hà Nội được phong đại tướng rồi bị giết ngay tại nhà không ai tìm ra manh mối. Rồi Hoàng văn Thái cũng theo chầu ông vãi bằng cách đó. Lê Đức Anh từ R về được phong vượt cấp từ đại tá lên trung tướng và được cho làm tiếp nhiệm vụ Tham Mưu trưởng của đạo quân đầu đỏ của Lê Trọng Tấn.
Trở về nước, gặp lúc Đồng Chinh Thọ về hưu, Giáp có cơ ngoi lên, anh em nhà Lê Đức Thọ bèn làm bỉ mặt Giáp cái chơi: gắn cho Lê Đức Anh bốn sao cho làm Bộ Trưởng Quốc Phòng, vừa gây thêm vây cánh cho mình vừa dìm luôn em út của Giáp. Lê Đức Anh, một tên tướng già không có thành tích gì nổi bật, xưa xách dép còn chưa được phép, bây giờ ngồi trên đầu Giáp, nhờ ai? Chẳng lẽ lại đảo chánh kẻ vừa gắn bốn sao cho hắn. Có người sẽ hỏi: bọn Yazov Liên Xô thì sao? Xin trả lời bọn Bát nhân bang đó được Gorbachev bốc lên, nhưng đồng sàng dị mộng cho nên mới có cuộc đảo chánh hụt ở Liên Xô. Còn ở Việt Nam Thọ, Thọ, Anh, Khuê, Hùng, Ngô và trung ương đảng cùng hợp tác xã chia đều các chiếu; ai cũng no phè, ai đảo ai làm gì rủi hụt chết uổng.
Về đạo đức cách mệnh, Lê Đức Anh có một điểm cũng cần phải nêu. Vì đó ít ra cũng thuộc về Cần Kiệm Liêm Chính của già Hồ. Như ở trên đã nói, Anh có vợ là bà Sáu Cẫm, hội trường Phụ Nữ Chi Quận Thủ Dầu Một, có bầu và bể bầu ở Long Nguyên. Không hiểu sao đi tập kết hắn không mang vợ con theo? Vì hoàn cảnh hay vì mưu định trước? Ra Bắc hắn cưới một nữ sinh. Đám cưới làm to nhất Hà Nội đến nổi báo Quân Đội Nhân Dân phải lên tiếng cảnh cáo. Trùng tên Anh, một tên Bắc kỳ khác là Võ Quang Anh, Tư lệnh Miền Tây cũng còn gọi là Thằng Lé hoặc Tư Lệnh Mắt Mèo. Tên này đã cuỗm được một cô bé ngây thơ ở Ông Dèo tên Thu Hồng vốn là fiancée của thuộc cấp.
Hắn đã no phè và hết xí quách rồi còn đâu mà cưới nữ sinh Hà Nội. Vậy Anh đây là Lê Đức Anh. Một bằng chứng nữa là khi hắn về Nam thì bà Sáu Cẩm vợ tào khang của hắn đang công tác Phụ Nữ Giải Phóng, đem con gái nay đã mười bảy tuổi giao trả cho hắn không nói lấy một lời, rồi quay về thành bỏ luôn công tác cách mạng.
Vậy là có bằng chứng rõ ràng hắn đã phạm điểm luân lý nặng nề trong tam cang ngũ thường. Con gái hắn cô Thanh Tuyền, tôi có quen… thân, bị mẹ bỏ vô hang hùm với cha, nhưng chẳng chịu kêu cha bằng cha mà kêu bằng ông Sáu. Ông Sáu Nam Lê Đức Anh nổi doá tát cho con một bạt tai. Cô gái không sợ mà nói to: “Tôi tưởng người Cộng Sản tốt lắm, chẳng dè thối quá !” rùm cả cơ quan R.
Cho đến lúc tôi về R lãnh huân chương anh hùng pháo binh thì hai cha con đã hòa giải hòa hợp rồi. Cô bé đã chịu gọi bố nó nhưng không biết người Cộng Sản bố nó hết thối chưa? Dù hết thối hay chưa, Lê Đức Anh cũng đã trèo lên đến bậc chót của danh vọng và quyền lực của cái thang đỏ, cũng như Nguyễn Bình xưa kia. Tóm thâu quyền lực cho đảng rồi đảng giết êm bằng tay Pháp. Cũng như Lê Trọng Tấn, Hoàng văn Thái sau này. Nguyễn Bình mắt chột, Lê Đức Anh mắt toét. Thật không khác nhau: Hai kẻ đều thiển cận. Nhưng Bình, Anh cũng đã làm vừa lòng đảng tối đa. Số phận nào giành cho hắn? Hãy chờ xem! Nhưng có điều chắc chắn mà tôi có thể nói ngay bây giờ là Tổng Thống Cộng Hòa Xã Nghĩa Lê Đức Anh sẽ làm khổ dân mình gấp bội, tồi tệ hơn năm mươi năm qua. Vì trình độ của hắn chỉ hơn anh chủ nhiệm hợp tác xã một tí. Về mặt sản xuất thì sợ còn thua!


Tháng 8 năm 1992


[*] Việt cộng vừa công bố “Lê Đức Anh sinh năm 1920. Năm nay 72 tuổi” Nói láo! Trần văn Trà trẻ hơn Lê Đức Anh. mà sanh 1918. Năm 1949, hắn mới 29 tuổi, làm Tham Mưu Trưởng Nam Bộ? Vậy nay, Lê Đức Anh trẻ lắm cũng phải 79 tuổi!


Tập 4: Cái chết bi thương của cô Văn Công R
Đăng nhập để trả lời
0
Cái Chết Bi Thương của Cô Văn Công R Chương 57
Anh Hai ơi! Em đâu có muốn mần anh hùng mà nhịn đói!

Đó là lời nói của dũng sĩ diệt Mỹ Củ Chi: Năm Cội. Người anh hùng này đã khóc và nói với tôi như vậy trong một đêm tàn trận ở vùng Bàu Lách trên đường về của chúng tôi sau khi nghiên cứu bãi bắn pháo ở Ràng. Anh hùng! Hai tiếng đó thiêng liêng cao quý cho những chiến tướng lừng danh hoặc những chiến sĩ bình thường có lòng dũng cảm hơn người. Năm Cội, Tư Gừng, Bảy Mô, Út Nhỡ, Bảy Nê và vô số chiến sĩ cán bộ khác có thừa lòng dũng cảm đó. Ai dám bảo là không , khi họ dám dùng súng ngựa trời đạp lôi thô ơ, hầm chông lạc hậu chống xe tăng và phản lực? Nhưng, sau mấy năm liền, hi sinh , chịu đựng, họ bừng mắt ra tự hỏi: Anh hùng để làm gì mà lại đói ?
Đó là lời nói của dũng sĩ diệt Mỹ Củ Chi: Năm Cội. Người anh hùng này đã khóc và nói với tôi như vậy trong một đêm tàn trận ở vùng Bàu Lách trên đường về của chúng tôi sau khi nghiên cứu bãi bắn pháo ở Ràng. Anh hùng! Hai tiếng đó thiêng liêng cao quý cho những chiến tướng lừng danh hoặc những chiến sĩ bình thường có lòng dũng cảm hơn người. Năm Cội, Tư Gừng, Bảy Mô, Út Nhỡ, Bảy Nê và vô số chiến sĩ cán bộ khác có thừa lòng dũng cảm đó. Ai dám bảo là không , khi họ dám dùng súng ngựa trời đạp lôi thô ơ, hầm chông lạc hậu chống xe tăng và phản lực? Nhưng, sau mấy năm liền, hi sinh , chịu đựng, họ bừng mắt ra tự hỏi: Anh hùng để làm gì mà lại đói ?
Trước khi giải phóng, Đồng Khơỉ, Củ Chi sung túc vui vầy. Bày đặt giải phóng đồng khởi bây giờ một hột gạo tìm không ra. Và 30 năm sau (1962-1992) vết thương Củ Chi vẫn chưa lành. Tôi xem phim thấy con cháu của những ông bà anh hùng đất tép hôm nay, 1992, ngồi đặt lờ bắt từng con cá sặc kiếm sống ở những hố bom đìa.
Anh hùng vô ích vì lãnh đạo ngu xuẩn.
Câu hỏi của Củ Chi cũng là của toàn quốc.: “Hi sinh chiến đấu để làm gì?” Để chị đói, nghèo, tủi nhục ư? Tội của Hồ to biết chừng nào.
… Sáng hôm sau tôi vẫn còn cái ý nghĩ chập chờn trong đầu: Quắn có thể căm ghét tôi mà mù quáng trả thù . Cho nên tôi ra lệnh sẵn sàng chiến đấu và rút nhanh ra khỏi vùng Ràng trở lại đường cũ để đánh lạc hướng thằng Lệnh.
Lam đi sau tôi, im lặng, không niềm nở phấn khởi. Tôi biết nàng nghĩ gì. Trái tim nàng bị thương. Tôi cũng ân hận, nhưng trước tiếng sét ái tình bất ngờ và quá ư mãnh liệt của cô y tá tôi không cưỡng nổi. Vả chăng tôi đâu có cưỡng lại chút nào. Tôi như cái lá buông trôi trên dòng suối của nàng. Lam suy bụng nàng thì cũng hiểu lòng Quắn. Nàng há chẳng biết tôi là mục tiêu đồng thời là nạn nhân của bao nhiêu cô gái ở vùng này. Và chính vì thế mà nàng liều mạng vọt về đây làm một việc táo bạo như một cái dấu chính thức đóng lên trang giấy đời tôi hãy còn trắng cho đến nay. Tôi thấy thương nàng, nên không muốn đá động tới hành động vô kỹ luật của nàng.
Tôi nghe ở phía sau, Hai Khởi rù rì với Lam:
- Bất quá ổng cắn má vuốt lưng nó chút đỉnh thôi chớ ăn thua gì?
- Không ăn thua! Con nhỏ đó quỉ lắm.
- Quỉ thì quỉ rồi cũng không đến đâu. Cô đã nhất được ổng rồi.
Trở lại Đồng Lớn, gặp cô bạn Út Hương của Hai Khởi đang nóng ruột chờ ở đó. Cô ta đẹp gái, tóc kẹp, lưng eo, quần ni-lông đen mướt. Thấy ba sấp nhỏ băng trắng toát trên đầu nàng Hương kêu:
- Có sao không anh? Có sao không anh?
Ba Tố bảo:
- Sứt chút thôi. Nhưng chỗ đó không quan trọng. Phải chỗ khác kìa mới lo.
Cả bọn cùng cười. Nàng Hương thẹn đỏ mặt:
- Mấy chú cứ vậy không hè !
- Thì vậy chớ sao.
Chúng tôi giao chàng thương binh lại cho người đẹp ôm ấp và tiếp tục hành quân. Thảo nào thằng nhỏ không quên khuấy mẹ đỉ khăn mỏ quạ váy đụp ngoài Thanh Hóa. Một chục thằng Nam Kỳ cấy rau muống về xứ đều bị dưa hấu càn lút một cách phủ phăng.
(Về sau, cô bé Hương có bầu, Khởi đưa về cha mẹ ruột bên làng 13 quận Dầu Tiếng nuôi đẻ. Còn chàng tham mưu quân đội thì rơi một sao, tuột chức. . . một cách vừa vui vẻ vừa đắng cay với bản án: Khai trừ đảng.
Riêng Ba Tố trong chuyến đi điều nghiên này cũng gặp được một ý trung nhân, nhưng Mỹ đánh rát quá không cưới xin được. Đơn vị lại phải dời. Ông Tiểu đoàn phó đành ôm hận biệt ly. Càng đau đớn hơn, chàng bị khui hầm và bị bắt làm tù binh bỏ bà vợ chưa cưới góa bụa lúc chưa có gì mí nhau hết trơn. Còn chàng Tôn Sứt cũng gặp được một. người đẹp tên là Ba Lợi tuổi độ 25. Lợi có cô em gái lấy chồng lính công trường 9, cũng đang sống cảnh phòng không chích bóng đợi đức lang quân mãi mãi không về. Ba Lợi chờ Tôn Sứt cưới, nhưng tình thế nước sôi lửa bỏng ai còn lòng dạ nào vui tiệc tân hôn. Mãi hai năm sau, Tôn chui hầm, không bị khui như Ba Tố, nhưng cũng đã hi sinh cùng với hai chiến sĩ cận vệ. Trận đó Mỹ vô, càn lớn rồi rút. Tôn không đề phòng tưởng đã bình yên. Nào ngờ khi dỡ nắp hầm chui lên thì đạp mìn. Mỹ không gài một trái. Nó gài cả một dây, một bãi, như trường hợp cả Bộ Tư Lệnh Quân khu IV bị vướng chết sạch cả đoàn gần hai chục người (sẽ kể sau). Ba Lợi trôi nổi hết cơ quan này trên cơ quan khác, sau cùng lại lọt vô hầm Đờ Cát Tri của ông Thần Núi. Ông ta gọi nàng vào kết khuy áo, vá quần cho ông. Tám Nghi bảo đảm với tôi là ông ta rất đúng đắn, chắc chắn không việc gì xảy ra. Nói xong, hắn nháy mắt rồi nghiêm sắc mặt như sắp huấn thị về đạo đức cho chiến sĩ mình.)
Ấp đội Hĩ vẫn rất mực trung thành, làm liên lạc đưa chúng tôi đi suốt dãy đất nhà . Qua một khoảng đồng trống Hỉ bảo:
- Hồi 60, công trường 9 về đây, dựng khán đài, mít tinh diễn kịch suốt đêm. Con gái mê mết chiến sĩ. Một đêm sáu, bảy đám tuyên bố. Tụi bót Trung Hòa biết mà vẫn làm lơ. Mới có vài năm mà mọi cái đều lật ngược.
Ba Tố nói và cười khẹc khẹc.
- Nó lật ngược lâu rồi chớ phải mới đây sao!
Tôn Sứt phụ họa.
- Nó lật ngược thì mình lật úp lại mấy hồi !
- Ý đừng có lật, không nên! Lật úp thì hết làm ăn!
Rồi mọi người cười xòa. Toàn những chuyện trật đường rầy như vậy suốt chuyến đi mà Ba Tố là người chủ động. Đến một ngôi nhà ngói còn nguyên, trước sân có vài gốc kiểng và mấy bụi bùm sụm xanh tươi tròn tựa như mái tóc nàng Quắn, tôi hỏi:
- Nhà ai coi bảnh vậy ông ấp đội?
- Nhà của Chín Phải, điền chủ ở ấp Ba Sòng này đó thủ trưởng. Sau trận Bàu Lách ông giở bớt và đem vợ con n ra Trung Hòa bán quán kiếm sống. (Tôi nghĩ thầm: giải phóng tới đâu dân chạy tới đó! Nào riêng ở đây. Nào chỉ ở miền Nam!)
Hỉ trở lại câu chuyện bỏ dở:
- Bây giờ nó làm khó dân chúng ghê lắm. Trước đây Hai Giả cảnh cáo chúng nó bằng mấy quả 81. Nó trả lại cả trăm. Đồng bào chửi bộ đội thục mạng. Thằng Lệnh đón đường đàn bà đi chợ giằn mặt từng người: mấy bà chứa mấy thằng Việt Cộng trong nhà, thì đừng có trách!” Thủ trưởng à ! Mình không nhổ cái Trung Hòa thì nó sẽ lấn vô tái chiếm An Nhơn và Hố Bò cho coi. Mà em nghe đâu tụi nó sắp đóng Rạch Bắp nữa. Vậy thì mình đâu còn đất sống, thủ trưởng?
Tôi bảo:
- Kỳ này mình nhóng thử cái đã chú em!.Bây giờ không phải như hồi 60 mà đồng khởi bằng kèn đu đủ được . Nó còn có Đồng Dù, Bến Cát, Trảng Bàng, Củ Chi, Trung Hòa, cái nào cũng lớn cả. Muốn hạ một cái phải có một trung đoàn hùng lực đủ các binh chủng!
Bỗng Hỉ trỏ tay ngang:
- Đó là nhà bà má Hai có con nhỏ cứng cạy rồi mà còn gác máy bay. Mấy anh có cun (conlt vô chắc được. Nhưng tướng cô ta phải cỡ anh Tôn này mới xuể.
-Bả đang thọc vú sữa kia kìa, mình vô kiếm bậy vài trái bóp nút chơi.
Rồi Hỉ kéo ngọn vô trước. Chúng tôi theo sau. Bà má thấy toàn cun nên mừng rỡ rối rít. Nhìn vào trong thấy năm sáu bà Phờ Nờó. Tư Bé chạy ra, rồi kế Tám Phụng. Sau cùng là bà Năm Cá Lẹp. Bảy Mô đứng nép ở bẹ cửa. Tư Bé la lên:
- Mấy ông tính đánh úp tụi tui sao kéo đến rần rần vậy?
Ba Tố đối đáp cấp kỳ:
- Có đánh thì phải ngửa, chớ úp đánh sao được ?
Cả nam lẫn nữ cười rần. Bà má bảo con gái lấy cái lồng trúc ra móc vú sữa cho khỏi rớt dập. Nhưng mấy cậu đực rựa đã xung phong đảm nhiệm. Cô gái, coi cũng mặn mòi, duyên dáng nhưng ngặt thân liễu bồ tượng. Cô bèn giao cái lồng, xách giỏ đi mua đồ . Một chút cô trở về , gọt vú sữa xắc miếng bỗ đầy thau, khui sữa con chim trút đường cát vào khuấy lên. Buổi trưa mà ăn kiểu này thiệt là khỏe người.
Bà Năm Đang (có biệt hiệu là cá lẹp là vì thân hình bà ốm nhom dẹp lép như con cá lẹp. Bà đang làm bí thư xã ủy Phú Hòa Đông thì bị bốc lên ém vô chức khu ủy viên như các bà Út Tức, Năm Cầu Xe) vui vẻ nói:
- Bữa nay anh hùng ngộ thuyền quyên vậy nhà pháo chọn con dâu cho rồi!
Má Hai tiếp:
- Cô Năm nói phải. Coi bộ xứng đôi vừa lứa dữ đa.
Ai nấy cười rộ, chỉ một mình Bảy Mô giữ sắc mặt nghiêm trang. Không hiểu có ai nói gì về vụ giữa tôi và Lam với nàng chưa, hay nàng chỉ linh cảm biết vấn đề, khi thấy Lam quấn quít bên tôi? Tôi đến bên nàng, hỏi han:
- Chị Tư còn ở ngoài nhà không em?
- Còn ! Má mới vừa về ! Anh chừng nào trở lại cơ quan?
- Chắc phải một tuần nữa đó em!
- Em sẽ giữ má lại để gặp anh. Một lần vô một lần khó ! Hụt lần này không biết lần nào nữa.
Tôi liếc thấy mây đen trên gương mặt của Lam. Nhưng tôi lướt qua, tiếp tục câu chuyện với Bảy Mô.
- Còn em đi đâu đây?
- Em đi hộ vệ cô Năm.
Bỗng Lam kêu lên:
- Anh Hai, anh Hai ! Anh có cất đồ nữ trang không?
- Nữ trang gì?
- Hai chiếc nhẫn của má đưa cho anh!
Tôi hiểu là cô bé muốn chọi đối thủ. May quá, tôi đang lúng túng không biết phải trả lời như thế nào thì Tám Phụng đến. Nàng là người con gái trên hai mươi nhưng coi còn rất trẻ và là mục tiêu tấn công bất thành của bao nhiêu anh hùng mùa thu mùa đông. Tám Phụng duyên dáng nói:
- Bữa nay họp mặt đông vui, tụi em muốn nấu cơm đãi mấy anh một bữa, hổng biết mấy anh có đồng ý không?
Ba Tố làm bộ e lệ:
- Dạ chúng tôi đâu dám chối từ, ngặt vì đứa nào cũng là Tạ Hầu Đôn hết, sợ e mấy em không có cái chão đụng nấu cơm cho đủ ăn đó thôi.
Tám Phụng nói nhỏ với tôi:
- Anh Hai đến coi bãi bắn chứ gì. (Tôi gật) Khi đến ông Ba Tâm, anh phải coi chừng; ông ta tuy là xã đội phó nhưng lại không thích chiến đấu. Ảnh có ông già vợ càng không thích mình. Lần trước mấy anh pháo kích đồn Trung Hòa, nó trả hỏa, ổng bị chết hai con trâu ổng qui lỗi cho mình. Vậy khi các anh gặp Ba Tâm thì bàn công việc ở ngoài đường đừng có vô nhà ổng nghe thì bể hết. Ổng dám cho lính Trung Hòa hay lắm. Ổng nói với vợ Ba Tâm: “Hễ tao thấy tụi nó vác pháo xuống đây, tao gài lựu đạn nổ banh thây. Ba cái thằng chọc cứt không nên lỗ . Giải phóng giải phiếc cái gì. Ai cần giải phóng.” Ổng dám nói vậy đó.
Tám Phụng tỉ tê tiếp:
- Vợ của Ba Tâm cũng giống cha. Bả cằn nhằn chồng bỏ bê công việc nhà. Bả giận chồng rồi đánh con chửi rủa om sòm. Cả xóm đều nghe.
Tôi thối chí vô cùng. Tình hình nhân dân như vậy đánh đấm làm sao. Kế hoạch mới thực hành bước đầu đã lộ ra tới dân rồi. Tụi nó chờ mình hành quân tới là đổ chụp tiêu diệt sạch. Với ý nghĩ bi quan như vậy, tôi cảm thấy không hứng thú ở lại ăn cơm nên bảo anh em đi sớm. Mấy bà Phờ Nờ nhất quyết giữ đám rể pháo binh ở lại cho bằng được.
Riêng tôi, ở đây thì bị kẹp giữa hai gọng kềm Lam-Mô kẹt cứng khó bề xoay trở. Trời xui đụng đầu lộp cộp lạc cạc làm chi? Chắc là đổ bể chuyện gì cho coi. Mới vừa thoát nạn lại gặp nạn. Lam biết mình thua sút Bảy Mô về khả năng, về uy tín lẫn sắc đẹp nên cứ hầm hầm, gờm gờm. Còn Bảy Mô cũng rõ điều đó nên tỏ vẻ tự kiêu ngầm, lâu lâu nói với tôi một câu để chứng tỏ rằng ta đây quen anh Hai trước hơn em Lam mà ! Tôi thấy không khí bức nóng nên lôi Ba Tố ra ngoài bàn chuyện binh bị:
- Mình chơi cái Trung Hòa trước, chọc cho Đồng Dù tiếp viện. Mình nện luôn bãi đổ trực thăng lẫn Đồng Dù.
- Thầy định xài mấy khẩu tất cả?
- 12 khẩu. 4 cho Trung Hòa, 4 cho Đồng Dù và 4 cho cơ động.
- Phải chọn pháo thủ giỏi bắn cho lệnh.
- Mỗi phút thao tác chừng 8 quả : Mình có thể bắn chừng 10 phút. 12 khẩu bắn 8 x 10 x 12 : ngót 1:000 quả. Khác nào B52. Xong rồi phải đút xuống hầm ngay và chạy. Chậm trể là nó phản pháo bít hết đường đi.
Ba Tố nói tiếp:
- Cái gì tôi cũng không ớn hết, chỉ sợ đạn pháo của mình chôn giấu quá lâu, ngòi nổ bị ảnh hưởng khó bắn cho chính xác.
- Thì đành vậy chớ biết làm sao ! Đến như pháo của ông Hai Nhã là thứ dữ mà còn đấm lưng bộ binh tơi bời. Pháo của mình là loại pháo cà lăm có từ đời Tự Đức tới bây giờ, chưa chắc đạn ra khỏi nòng.
- Hổng biết mấy ông giáo sư Liên Xô về tới bên tâu cáo xin đùm mình thứ khá khá chưa?
Vừa tới đó thì Hỉ tới báo cáo:
- Ông thần trên đầu có lỗ chạy theo kia.
Ba Tố hỏi.
- Ông thần nào có lỗ trên đầu?
- Ông Ba Tâm chớ ông nào.
Ba Tâm chạy tới, thở ra khói lỗ mũi, nói cà hục cá hồi:
- Tôi rượt theo mấy anh muốn xỉu.
Một ông già đi theo sau Ba Tâm tay xách sợi dây dàm trâu, khấc khăn đầu rìu, phang áo, mảng ngực đỏ như mặt trời. Ba Tâm bảo:
- Ba đi về đi nếu nó ra phía Gò Nổi trên thì bà con sẽ bắt buộc lại dùm, không mất đâu.
Hỏi ra mới biết ông già mất trâu đi kiếm táo tác khắp nơi mà chưa gặp. ông nói:
- Mất thì không mất nhưng còn thì cũng không chắc là còn. Mấy ông nội đụng mấy ông cố bắn nhau ngày hôm qua, con trâu đang ăn cỏ, bỏ chạy mất tiêu, đến tối không thấy về chuồng. Một bầy sáu con, còn có năm! Thằng Ba mày biểu du kích đi tìm đùm, tao thưởng.
Nói xong, ông quay lại. Ba Tâm lôi chúng tôi vào ngồi trên bờ chiến hào đào đã lâu, cạn nhách và nói ngay:
- Tình hình găng quá rồi các anh. Ngày hôm qua sau khi đụng mấy ông mình thằng Lệnh nó về Trung Hòa rồi trở vô ngay, chia làm hai cánh, một cánh thọc qua Gò Nổi trên, chọc phá cho mình chạy, một cánh nằm ở Tầm Lanh chờ hứng. Tin của đàn bà đi chợ thì chắc như bắp.
Tôi rút Capstan mời ông xã đội. Ba Tâm đốt thuốc rít mấy hơi liền, phun khói như miệng lò Hoàng Cầm rồi nói:
- Mấy bữa này xe tăng ra ủi Bào Cạp là vùng tiếp cận Đồng Dù. Mấy ông Tiểu đoàn Quyết Thắng đưa đại đội 3 của Út Sương đến đánh. Nghe súng nổ dữ lắm. Tụi Mỹ rút rồi cho máy bay tới bỏ bom na-pan, nhà cửa cháy rụi. Bà con ở Bào Tròn, Bào Trăn sợ chạy lớp xuống Phú Hòa Đông lánh nạn, lớp qua Gò Nổi, Gò Đình nương náu. Tụi lính nó sợ mình lòn chiến thương đi nơi khác nên đổ chụp bao vây bốn phía và tiếp tục dội bom.
Tôi nghe qua đã rối rắm trong bụng. Không biết cơ quan của Sáu Huỳnh Chín Lộc có bị thiệt hại gì không, cái quán của Chia như thế nào, Ua đang công tác ở đâu? Tôi hỏi:
- Còn Bào Chứa có yên không?
Ba Tâm ném cái tàn thuốc, chớp chớp mắt rồi đáp:
- Nó ủi Bào Cạp thì Bào Chứa giáp ranh đó chớ xa xôi gì. Dân Bào Tròn Bào Trăn còn chạy, Bào Chứa ở sao được. Người ta dông ngay trong bữa đánh vừa khởi sự kìa. – Ba Tâm móc thuốc rê trong túi áo ra cuộn hút rồi tiếp – Mình thua me gỡ bài cào.
- Bài cào gì ở đâu?
- Nghe mấy ông mình chận đánh được thằng Lệnh ở Ràng. Thằng đó còn nguy hiểm hơn Mỹ.
Ba Tố hầm hừ:
-Thằng nhãi nhép đó ăn thua gì. Tụi tôi chơi Trung Hòa và Đồng Dù kia! Phát này một ngàn quả !
- Trời !
Ba Tâm kêu lên, sững sờ, mặt tái xanh. Ba Tố bắt nhãn rồi hỏi:
- Ông khoái hay không khoái mà kêu trời?
Ba Tâm lặp bặp.
- Khoái chớ sao không khoái! Phần tôi thì đâu có lo gì. Dĩ bất dĩ tôi cho vợ con ra Trung Hòa trước. Chỉ sợ nhà cửa của dân thôi. Đó, mấy anh thấy, ông già tôi mất có con trâu mà bắt tôi phải đi lùng kiếm cả ngày, ổng quát tháo om sòm, phen này làm vậy chắc trâu bò chết hết, dân không chửi đâu.
Ba Tố vuốt.
- Ừ dân họ hoan hô…!
- Họ hoan hô trước mặt mấy anh, nhưng mấy anh rút đi, họ ở lại đội bom pháo họ chửi tụi tôi thục sịnh. Lần trước sơ sơ vậy mà có người vác dao tới đòi chém tôi. Tôi phải bỏ nhà đi mấy ngày đó !
Tôi hỏi.
- Vậy bà con không muốn chúng tôi đánh tụi nó sao?
- Mấy anh vô hỏi bà má thì rõ. Hễ tui nói thiệt thì mấy anh nói tui nào là xã đội sọc dưa, thỏ đế, cầu an bảo mạng, nào là ngồi thum, rút xuống hang… Nếu mấy anh có pháo thì dời xít lên, đừng đặt ở đây tụi Trung Hòa phản pháo còn độc địa hơn cả Đồng Dù . Nhà cửa cháy hết còn đâu chỗ mấy anh đóng? Đã đành là hi… sinh…
Ba Tố quơ tay hùng hổ:
- Lần này chúng tôi phối hợp hai ba trận địa một lúc, nện cho tụi nó không ngóc đầu lên nổi. Lâu nay mình chỉ thử xem lực lượng của tụi nó mạnh yếu thế nào, nay mới chơi thiệt ăn thua đủ cú này. Đồng chí lo tập trung du kích tải đạn giúp tụi tôi. Tôi sẽ cho họ thấy đạn pháo của Liên Xô còn trong thùng mới tinh, để họ tin tưởng.
Ba Tâm cầm điếu thuốc tay run run, môi dưới giựt giựt:
- Tui nghe ở trên nói đạn của Liên Xô mạnh hơn đạn của Mỹ, chắc là kỳ này tụi nó sẽ tanh banh. Nhưng mình phải pháo cho nhanh thì mới kịp.
- Phần các đồng chí chỉ lo đào cho tụi tôi một số hầm bí mật, hễ xong là đút xuống cất. Trực thăng phản lực có nhanh cách mấy cũng mất mười lăm phút mới tới, mình đã về căn cứ tréo cẳng nằm vỗ bụng khỏe ru.
Ba Tâm có vẻ như không nghe gì, cứ tiếp ý :
- Tui nói nhanh đây là vì tụi Trung Hòa có hầm xi măng cốt sắt. Ai cũng biết mà. Cho giỏi thì nó đội ba quả đầu còn mấy quả sau thì nó chui hầm.
Ba Tố hơi quạu, nói to:
- Đạn phá Liên Xô không hầm nào chịu nổi. Để rồi coi !
Ba Tâm vẫn cù nhầy, cười gượng:
- Kỳ rồi mấy anh pháo ba quả rớt vô Gò Nổi hết hai quả may không chết ai, nhưng bà con cự nự quá trời.
Ba Tố gắt:
- Đã bảo là kỳ trước làm sơ sơ thôi. Ví lại mình chưa có súng đạn tốt.
Tôi ngắt ngang không để Ba Tố nói nữa. Tôi nhỏ nhẹ với ông xã đội sọc dưa:
- Kỳ này mình chu đáo hơn đồng chí ạ ! Tôi hứa là sẽ không có quả nào lọt ngoài vòng rào. Chúng tôi không xài cối 81 nữa mà chơi cối 82. Đạn đi xa hơn được một ngàn thước Cối 81 sẽ dạt ra cho xã các đồng chí một mớ. Đồng chí liệu lãnh nổi mấy cây?
- Dạ… đâu có ai biết bắn súng đó.
- Chúng tôi sẽ mở lớp pháo binh nhân dân. Tôi thấy du kích của đồng chí hăng hái lắm. Như ấp đội Hỉ , cô Nưa, cô Quắn…
Ba Tâm nhíu chân mày, chớp mắt lia:
- Để tôi tính xem!
Như vậy là kể như đã đạt mục đích yêu cầu cho cuộc gặp gỡ ông xã đội Ba Tâm. Hỉ chạy ra báo tin cơm chín, mời vô.
(Ông xã đội này tuy vậy cũng còn khá hơn ông Ba Xây ở An Nhơn. Ông Xây không làm gì hết chỉ hiến cái nhà cho Năm Lê làm hầm cho vợ con ra vùng meo, còn ông ta ở lại đặt tôm đặt cá bán gởi tiền ra tiếp tế. )
Chúng tôi vào nhà . Mâm cao cỗ đầy đã dọn sẵn trên chiếc bàn lá bài giống như tiệc đám cưới. Cô Năm vui vẻ xoa tay:
- Bữa nay không có chi, chỉ làm hai con gà với mấy kí tôm càng do bà má hiến. Mời các anh ngồi với chúng tôi!
Bà chỉ chỗ cho từng người một như ngầm cáp đôi sẵn. Bà má ngồi ở đầu bàn trên, cô ngồi ở đầu bàn dưới, coi như hai vị trưởng thượng. Tôi ngồi ngang Bảy Mô, Ba Tố đối mặt với cô Chạnh con gái của má, Tôn Sứt ngồi ngang Tám Phụng, Tư Tây ngó ngang cô Bé, hai cậu trinh sát cũng có đôi rất xứng. Chỉ có Lam thì không chịu ngồi bên phía phụ nữ mà kèm sát tôi để kiểm soát đường mắt của tôi với địch thủ.
Cô Năm lại tiếp:
- Tôi sắp xếp ghế như vậy có xứng không các cậu?
Ba Tố được cáp với cô Chạnh rất xứng nên ngỏn ngoẻn cười, đáp:
- Dạ xứng lắm cô Năm!
- Vậy tôi tiên-bố luôn nghe. Xin bà má Hai cho một câu vô đề
Bà má thấy Ba Tố cũng đeo K54 và ra dáng chỉ huy như ai (Ba Tố đang là tiểu đoàn phó) lại ngồi ngang con gái mình nên tỏ vẻ hài lòng. Bà khai mạc:
- Mọi việc đều do cô Năm xếp đặt. Hễ cô coi được thì tôi coi được.
Cả bàn vỗ tay như pháo. Chỉ có Tám Phụng là cười gượng. Có lẽ nàng thấy Tôn Sứt quá hiền lành ít nói và không chịu chọc ghẹo ai hết, còn mình thì đẹp mà lại ăn nói lưu loát nữa.
Biết ý nàng có cảm tình với tôi từ mấy lần gặp trước, nên tôi nói quác ra dùm nàng:
- Đây là việc chơi vui thôi mà ! Còn đồng ý hay không là do mình chớ cô Năm đâu có ép ai phải không cô Năm?
Cô Năm gật đầu.
- Phải! Tuy vậy cũng do trời định nên mới có buổi liên hoan hôm nay.
Tôi cười:
- Cám ơn má và cô Năm. Nhờ má và cô Năm mà nhà pháo binh tụi con được mấy cô dâu một lúc. Thiệt là phước đức cho pháo binh tụi con.
Cô Năm đỡ lời ngay:
- Bữa nay coi như tiên-bố tạm như bỏ hàng rào thưa vậy được không?
Ba Tố ứng lên:
- Ai không biết sao chớ con thì không có dám cãi lịnh cô Năm.
Tôi giải thích dùm cho cái sắc đẹp kém khuyết của Tôn Sứt:
- Chú nó bị thương ở trận Bổ Túc đó má và cô Năm. Đạn đi xớt qua, thiếu chút nữa thì nguy rồi. Cũng nhờ Trời Phật che chở. Liên Xô đã đem tàu Bệnh viện qua đậu ở ngoài Bắc để chữa cho thương binh miền Nam. Mấy cái vết thương nho nhỏ này họ vá lại cái một.
Cô Năm hỏi ngay:
- Tàu Bệnh viện là tàu gì vậy hả chú?
- Đó là nguyên cái nhà thương trên chiếc tàu. Nói khác hơn, một cái nhà thương lưu động ở ngoài biển. Thương binh mình ra nằm trên đó yên ổn, không sợ bom pháo.
Má Hai ngạc nhiên, trợn mắt:
- Có tới vụ đó nữa sao con?
Ba Tố được trớn bồi thêm.
- Dạ, nay mai họ rề vô miệt trong này để mình chuyển thương binh ra cho gần. Chỉ lo mình chuyển ra không được thôi!
- Ờ! nếu được như vậy thì đỡ quá. Anh em đánh trận khỏi lo bị thương rồi chở về bỏ dưới hầm của ông Tư Chuyền, nắng phơi nắng, mưa dầm mưa !
Lam ngồi bên tôi gắp thức ăn cầm chừng. Nàng canh cặp mắt của Bảy Mô hơn là ăn uống. Nàng thừa biết dư luận cáp đôi tôi và Bảy Mô từ lâu, nay nghe Bảy Mô nói “má chờ anh về, thì càng xốn xang. Còn Bảy Mô, tuy nghe vụ nữ trang lúc nãy vẫn không nao núng vì so với Lam thì nàng trội hơn mọi mặt. Nàng cứ nói cười tự nhiên, lại có ý chọc tức tình địch
- Con Liên cứ nhắc dượng Bảy hoài. Chị Tư em rầy nó, nó cũng không sợ. Nó còn trả treo: Dượng Bảy cưng con! dượng Bảy cưng con!
Cô Năm vốn không biết vụ Lam với tôi nên nói rất vô tư:
- Hai người thì xứng đôi quá rồi, còn chờ gì nữa. Có tiên-bố thì nói cô làm chủ hôn đàng trai dùm cho. Cô sẽ làm lớn lắm. Để chàng rể bị cô nào bên Trảng Bàng Bến Cát bắt cóc thì uổng quá !
Tôi sợ Bảy Mô mắc cỡ và Lam thâm thù, nên nói lảng:
- Cô Năm có lo thì lo dùm mấy cậu kia, còn cháu để thong thả chút. Bây giờ công tác túi bụi, có thì giờ đâu mà làm rể Củ Chi.
- Công tác thì công chớ. Lớn tuổi rồi mấy cậu không sợ cha già con muộn hay sao?
Tôn Sứt bây giờ mới hở miệng, phun ra lời vàng ngọc:
- Dạ muộn thì đã muộn rồi. Muộn thêm chút nữa cũng không sao, cô Năm à!
Tám Phụng nhìn thẳng sang tôi. ý nói:
- Lính của anh vô duyên quá . Người ta đốc vô như vậy, không biết nói vô lại quác ra! Hèn chi già ngắt rồi mà chưa có mối nào!
Cơm nước xong chúng tôi nai nịt rồi kẻo đi. Tám Phụng lưu luyến đưa ra tận mối đường. Buổi trưa nắng đứng sửng. Cây cối chết trân không một tiếng gà gáy. Buồn đứt ruột. Nàng ngập ngừng:
- Chừng nào anh trở lại?
- Anh không có hẹn được, Tám à ? Đời anh rày đây mai đó đi khắp sông rạch mà không cắm được cây sào ở bến nào.
Thừa cơ đứng khuất bụi cây, tôi hôn nàng một cái như chớp… Chúng tôi đi nhanh. Ba Tố bảo:
- Mình ra lộ 6 qua lộ 7 đi về hướng Bào Trăn. Tới đó thì chiều tối là vừa. Nếu ở đây sáng mai nó đem xe tăng tới ủi, mình băng qua đồng nguy hiểm lắm. Mình qua đó ráp với D7, nếu động mình vọt qua Bàu Lách để đi ngả đường 15. Tình hình này chắc thằng Cội không ở lại Bàu Chứa đâu. Nó dám kéo cả đội về Bến Đình ở chung với thằng Ba Coi xã đội.
Thế là đoàn theo hướng của Ba Tố. Đi thêm được một quảng xa, Ba Tố trỏ một vạc tre xanh bảo:
- Lúc trước ở đây có một khúc địa đạo. Hậu Cần khu cất gạo ở trong rừng này. Không biết điệp ở đâu chỉ mà máy bay ném bom cháy cả rừng. Rồi từ đó hễthấy chỗ nào có rừng rậm cây cao cao một chút là nó ném. Ông Ba Râu khôn vong nên bây giờ lựa những khu rừng chồi.
Lam lẽo đẽo đi gần sau chót, có vẻ bất mãn tợn. Nhưng tôi không còn tâm trí để hỏi thăm nàng. Vì khúc này cá-rô rỉa, pháo bắn luôn. Biệt kích lại thường nằm im bắt sống cán bộ ở khu vực này.
Mặt trời sắp lặn thì tới đường số 7. Đường này dẫn ra Trung Hòa. Ngó qua bên kia cánh đồng có rặng tre là xóm Bà Huệ. Ông Thần Núi còn ở đó hay đã dông rồi? Có thể ổng phóng qua Bến Cát. Trời tối nhanh nhìn vào xóm không thấy ánh đèn. Điều đó làm cho tôi cảm thấy ớn lạnh: “Không có dân!” Không một tiếng động. Đi sâu vào, chỉ nghe tiếng gió lào xào trên ngọn tre như bước chân đi của cô hồn. Bỗng một tiếng nạt: “Ai?” chát chúa.
- Thằng nào đó, có phải…
- Dạ, em thằng Bòn đây.
Chúng tôi nhận ra nhau qua giọng quen. Ba Tố reo lên:
- Yên chí đi thầy. Gặp tụi trinh sát D7 rồi – Ba Tố hỏi tiếp – Có thằng Năm Lễ ở đó không Bòn?
- Chỉ có anh Út Hùng thôi. Trung đội trinh sát đã theo ông Bảy Nô xuống Phú Hòa Đông điều nghiên chiến trường.
Ba Tố nói:
- Chiến trường cái quán bà già vợ nó hả?
Tôi hỏi:
- Bây giờ tụi này xuống Bàu Chứa được không cậu?
- Ở đó đâu còn ai mà xuống. Ngày hôm qua C3 Quyết Thắng đụng tụi Mỹ ở Bào Tròn, bị bom napan cháy queo tay queo chân mười đứa. Tụi thằng Cội tỏ tình đoàn kết nên chôn dùm. Nhưng đâu có sức đào nổi chín mười cái lò, phải ném luôn xuống hố bom lấp lại, rồi bỏ đi luôn. Bây giờ Bàu Chứa khét nghẹt, hơi bay tới bên này. Thương binh thì chuyển về ông Tư Chuyền ở Hố Bò .
- Còn ông Chín Lộc với Sáu Huỳnh?
- Dạ, không rõ . Cả ngày nay không thấy ai bên đó qua.
Tôi bảo.
-Thôi, kiếm chỗ nấu trà uống rồi ôm bụng đói ngủ , sáng mai sẽ tính.
- Nếu các đồng chí muốn ăn cơm thì cho người đi với tui qua Bàu Lách mua gạo. Ở đây quán tiệm đóng cửa dời hàng hết rồi. Đội thằng Cội mới xin gạo tụi tôi hồi chiều, ăn xong tụi nó kéo qua Bàu Lách.
Tôi ngồi im, không muốn hỏi đến chuyện gì nữa. Đám Năm Cội đã rút đi thì dân không thể ở nổi. Thằng Bòn tiếp:
- Em nó là con Nhánh chạy theo tụi Bảy Nê, Út Nhỡ. Dân cũng chết và bị thương bộn, không rõ là ai nhưng cũng bảy tám người.
Tôi không chịu được nữa nên bật ra:
- Có ai tên Chia, Ua không?
- Không nghe tên ai hết. Chỉ biết chung chung. Nhiều gia đình mướn xe bò chở đồ chạy băng dưới làn bom đạn ra Trung Hòa. Chắc tụi Năm Cội bây giờ đang bám với đại đội 4 của Hai Nhiên sống tạm chớ xe tăng máy bay này du kích làm gì được?
Mới có mấy ngày mà tan nát hết. Dân bỏ làng, du kích tróc gốc, còn đâu vòng đai chống Mỹ. Tôi hỏi:
- Bộ tụi nó không có mang gạo theo nên phải xin?
Nói xong tôi thấy mình lãng xẹt nhưng đã lỡ lời không lấy lại được Thằng Bòn nói:
- Trời, chạy lấy sống mà đeo gạo sao kịp đồng chí? Trước kia tụi nó còn ăn chực nữa là bây giờ không còn ai. Nay mai chắc tụi nó phải kiếm kho ông Ba Râu mà moi thôi. Nhưng coi chừng lựu đạn mấy ông gài nổ tét ruột.
Tôi buông một câu chính trị pha tình cảm chân thực:
- Anh em du kích cũng chiến đấu như mình, nhưng họ không được cấp phát tiêu chuẩn mà tự lực có gì ăn nấy, quơ đụng thứ gì mặc thứ nấy, nếu các cậu gặp họ thiếu thốn nên giúp đỡ, để họ không phải tủi thân. Các đồng chí thấy không, nếu không có Năm Cội, bộ đội mình đang bận rộn đủ thứ, ai chôn tử sĩ? Dù họ vùi lấp như vậy mình cũng cám ơn họ . Nếu để mình chôn, thì mình làm được hơn không?
Đội trinh sát này tôi chưa quen, nhưng thấy Ba Tố kêu tôi bằng thầy thì họ cũng nể nên chạy lăng xăng lo nấu nước pha trà. Ba Tố hỏi:
- Đội nữ dũng sĩ của Bảy Nê đâu? Mấy cậu biết không?
- Tôi có thấy mấy cổ ở Xóm Bưng hôm trước, nhưng nay không biết ở vùng nào. Giặc giả này tụi nó đâu có đánh được thủ trưởng. Đụng với tụi Mỹ chẳng khác giấy quyến đút vô lò Riêng con Bảy Sầu Riêng thì đi hộ vệ bà Năm Cá Lẹp có đi ngang qua đây hôm qua.
Một cậu bỗng vọt miệng nói:
- Cái bà địa chủ đó bắn súng miệng giỏi nhất đó thủ trưởng !
Ba Tố nạt ngang:
- Mày đừng có hỗn. Bả không đáng tuổi má mày sao mày nói vậy?
- Bả là địa chủ có mười mẫu đất ở rạch Nàng Âm. Không biết ai đưa bả lên làm khu ủy viên!
Uống trà xong, nghe rản gối, Ba Tố bảo thằng Bòn đưa chúng tôi qua Bàu Lách. Bòn kéo nguyên cả tiểu đội theo hộ vệ. Thấy Bòn khoác khẩu garant lên vai, tôi hỏi:
- Thời buổi này các cậu còn xài loại đó sao?
-Tụi tôi là tiểu đoàn địa phương quân thủ trưởng ạ. Vũ khí đâu có sánh được với Quyết Thắng 1, Quyết Thắng 2. Cả tiểu đoàn chỉ nhận được hơn chục AK và 30 CKC, đụng M113 nó rẹc nghe mà ớn.
Vừa đi, Bòn kể lể liên miên:
- Tụi tôi chỉ hơn du kích một chút thôi. Còn Ban chỉ huy Tiểu đoàn thì gió máy rầm rầm. Các ổng mặc toàn ka-ki, ga-bạc-đin may theo lối chánh qui. Coi bảnh vậy chớ tránh né giặc hoài. Hễ nó thọc lên thì ổng cho đơn vị luồn xuống, hễ tụi nó quay xuống thì ông cho đơn vị bọc ngược lên, cả năm trời như vậy đâu có tập trung được để đánh trận nào. Anh qua đó mà xem, đại đội trợ chiến gì toàn đút súng cối, đại liên và DKZ xuống hầm còn lính thì đi tay không. Tụi em muốn về nhà nhưng về được thì cũng không có đất ở, nên ở nán lại đây.
Ba Tố hỏi như nạt.
- Bảy Nô , Tư Quân, Tư Hải bỏ đơn vị mấy ngày rồi?
- Dạ ông dê trưởng (Bảy Nô) thì dẹp cái quán của bà già vợ trên này, hộ tống về Phú Hòa Đông mở tiếp. Ở dưới đó lính đông lắm. Có tụi Quyết Thắng 2 của Gò Môn (Gò Vấp – Hốc Môn) trồi lên đó, ngày nào cũng tới quán nườm nượp. Vui hơn bên Ràng, Đồng Lớn, Sa Nhỏ. Ông Tu Hải vừa bị một vố nên bị đổi về khu, còn ông Sáu Thiệt xuống thay làm chánh trị viên. Ông này lại mê mệt bà già vợ của ông Bảy Nô . Cho nên dê trưởng với dê chánh cặp kè nhau đi hoạt động không mấy khi ở đơn vị. Tụi tôi nói lén: không khéo ông dê trưởng kêu ông dê chánh bằng tía vợ. Có lần lính gặp hai ông bà mùi ở sau vườn, bèn mét ông Bảy Nô, ổng bảo: “Kệ tía thằng… tía vợ tao.” Bây giờ coi bộ xáp chiến mạnh rồi.
- Mày đưa tụi tao đến nhà quen nghĩ đỡ đã !
- Dạ, lại nhà ông Ba Coi xã đội Nhuận Đức. Xóm này bây giờ chỉ còn nhà ông là có chủ thôi, nhưng vợ ổng cũng đã ra Trung Hòa buôn bán; ổng bám lại trong này để làm gương cho du kích. Tụi tôi túc trực ở đây. Trước kia ông Hai Khởi chỉ huy đại đội này. (Tôi nghĩ. hèn chi hắn bắt được con (ốc) Hương khớ khũm) Nay ông về trên quận, chỉ còn ông Hai Nhiên. Ông này người Bắc mà nói chuyện y như Nam, mới nghe hổng biết. Lính kêu ông là Bắc kỳ xâm lược mất gốc hoặc rau muống trá hình. Ở đây tụi tôi có căng tin bán đường cát, sữa, thuốc, xà bông, kẹo, cớm… đôi khi có rượu đế. Thường thường đi lên Bến Mương bổ đồ của Chệt hoặc qua Bàu Chứa mua của bà Tư The. Bà Tư The bán rẻ cho lính vì con gái bả có chồng lính, ủa không, cán bộ tập kết. Bả thông cảm, bán giá như ở ngoài Trung Hòa. Mấy bữa rày bả không còn ở đó nữa. Căng tin của tụi tôi cũng trống trơn.
Tôi nghe như kim chích vô tim nhưng cố ngồi làm tỉnh vì có Lam bên cạnh. Tôi hỏi:
- Cậu là người địa phương nên rành mấy chuyện địa phương phải không?
- Dạ, em ở ngoài Ràng. Anh vừa ở Ràng vô đây thì anh đã đi gần tới nhà em rồi. Ra đó thế nào cũng gặp ấp đội Hỉ, con Quắn cứu thương, con Nưa du kích.
- Ờ! có đúng y như vậy. Tụi tôi ăn cơm ở nhà cô Quắn chiều hôm qua.
- Đó là nhà bác em. Nó có thằng em cũng đòi đi nhưng bác em không cho. Bác nói phải giữ giống một thằng. Vì anh nó đi ở D1 Quyết Thắng, đáng lẽ lên đại đội phó lâu rồi, nhưng vì tánh nóng.
Ba Tố hỏi.
- Bộ đánh lính à ? Kiểu đó thì không được, có gì thì cú đầu nhè nhẹ không nên bạt tai.
Thằng Bòn cười:
- Dạ ảnh không cú đầu cũng không bạt tai, chỉ có cái là ra trận thằng nào thụt đằng sau, ảnh nắm cổ giựt tới. Hôm qua trung đội ảnh đội bom na-pan…
- Chết mười đứa phải không?
- Dạ không, đó là trung đội 3 bị trúng lệnh, còn trung đội của ảnh chỉ trúng mé nên bị thương chừng ba, bốn mạng, không có chết. Anh trung đội phó còn sống nhưng lơ lơ láo láo nghe nói thủng màng nhĩ hay sao đó.
Đi vô xóm một chặng thì đụng một xóm nhà có ánh đèn le lói. Tôi mừng vô cùng, như đi trên Trường Sơn mà gặp suối vậy. Bòn trỏ tay về phía đó nói:
- Tụi nó đang đánh tú lơ khô đó. Ăn rồi tối ngày chỉ đánh bài chớ đâu có chuyện gì làm. Bữa nào tình hình êm êm thì mới dám đi giăng câu, đặt lọp cải thiện sinh hoạt.
Thời đại phản lực mà bộ đội ta sinh hoạt giống in hồi 1950 trong cuộc kháng chiến với Tây. Ăn uống đụng gì quơ nấy, súng ống còn thua cả bộ đội thời đó. Vậy mà ông Đại tướng bảo: “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”. Ừ, có nắm được thì mới đánh được, đằng này có nắm được đâu. Từ đàng xa nó bắn cà-nông, từ trên đầu nó rắc bom, có thấy cái thắt lưng của nó ở đâu mà nắm. Thậm chí, cả thằng Mỹ cũng không thấy mặt mũi ra sao.
Thằng Bòn trỏ mái nhà có ánh sáng tỏ nhất bảo:
- Ông đại đội trưởng và quản lý ở đó. Chắc họ đang gầy sòng hoặc uống trà nên còn để đèn.
Ba Tố nói:
- Mấy thằng này tôi quen hết, để tôi vô bảo nó lo cơm nước và chỗ ở cho mình.
Thằng Bòn nói giọng cảm động:
- Thôi thủ trưởng bám với họ, tụi em lên căng tin vét vài gói trà và thuốc cáp tăng rồi trở về kẻo khuya.
Bỗng trong nhà có tiếng dội ra “Ai đó?”
Tôi nghe rõ ràng giọng quen, nhưng không rõ là ai, cái giọng thân thiết như đám du kích Năm Cội. Tôi muốn gặp ngay để hỏi tin tức bà ngoại, Ua, Chia và cơ quan Sáu Huỳnh. Giặc giả như vậy bà ngoại sống làm sao? Bà coi tôi như cháu ruột của bà . Tôi thương bà như bà ngoại ruột của tôi. Tôi bước nhanh vào cửa. Thấy lửa sau bếp, tôi kêu lên nghẹn ngào:
- Cội ơi! Có Năm Cội ở đây không?
- Ai đó ?
-Anh Hai Lôi nè em?
- Trời ơi! Anh Hai hả? Tụi bây ơi! dậy, dậy mau lên!
Cả một đám từ trong buồng nhào ra ôm tôi. Một đứa nói:
- Anh Cội bị thương nằm trong buồng!
Tôi bước vào. Mấy cái bóng đen lồm cồm ngồi dậy. Tôi lại kêu sảng sốt:
- Cội ơi,Cội anh Hai nè!
Tôi run rẫy thọc tay vào lưng quần quơ kiếm cái đèn pin nhưng mò hoài không thấy. Tôi đã cho Tám Nghi lâu rồi.
Lam đứng ngay sau lưng tôi móc đèn trong túi cứu thương xẹt lên. Ánh sáng xanh lè rọi lên những cái mặt quỉ. Thằng Ưng cà lăm, thằng Kều, thằng Ha tôi từng gặp ở Bàu Chứa bên gốc xoài múc hôm nào. Bữa nay mặt mũi chúng trông như ai khác. Đứa nào cũng bị thương xé áo xé quần băng bó ngang tay, bít trán, quấn ngang chân, cà lê cà nhắc. Chúng ôm lấy tôi mà khóc.
- Hu hu…
- Cội đâu?
- Kia cà !
Lam quay đèn gìn vào xó hóc. Một người đang ngồi dậy cố đứng lên.
- Em nè anh Hai !
Tôi bước lại ôm lấy Cội. Cội gục đầu vào vai tôi mà nức nở. Cội khóc như suối lũ . Tôi nghe rủn chí, nghe ướt nhủn cả con tim, đen mù cả khối óc của một thằng chiến sĩ đã trải qua hai mươi năm máu lửa, nhưng chưa bao giờ gặp một cảnh rùng rợn như hôm nay. Bốn bề là giặc bao vây, dân bỏ đi hết, nhà hoang vườn trống không có một người dân, chiến sĩ chết, ném xuống hố bom lấp lại, chiến thương không có quân y.
Hồ ơi ! Mi ác lắm! Vì muốn xây chỗ đứng cho mi nên miền Nam mới chịu cảnh này. Tôi chưa bao giờ khóc. Ngay cả đánh trận Hộ Phòng thời kháng chiến, 307 và các đại đội phối hợp, hi sinh 150 chiến sĩ, tôi vẫn không rơi một giọt nước mắt. Nhưng hôm nay lệ chinh nhân không cầm. Tôi cắn răng bảo cả đoàn:
- Anh em mình phải lo cho tụi thằng Cội. Đóng tại đây, không đi đâu nữa, nếu chưa giải quyết xong.
Lam thủ thỉ với đám thằng Ưng phía sau lưng tôi:
- Sao không trải chiếu mà nằm dưới đất vậy?
- Ông xã đội Coi chạy mất, vợ ổng dọn đồ đi hết ráo. Vả lại nằm dưới đất cho mát lưng. Chị coi nè, chúng em xé quần áo băng bó.
- Gạo không có. Hu hu… Trở về Bàu Chứa không được.
- Không biết gia đình ở đó ra sao?
Mỗi đứa góp một câu làm tôi càng não lòng còn thằng Năm Cội thì càng khóc to hơn. Tôi quát:
- Các em nín đi. Để anh lo hết.
Nói.vậy nhưng chính nước mắt tôi cũng đổ như mưa. Tôi cố không khóc ra tiếng. Trời ơi ! Cái thằng du kích đầu đàn đã từng đánh xe tăng, coi bom đạn là trò chơi, hôm nay khóc như trẻ con, nó vừa khóc nức hực trong cuống họng vừa nói:
- Ba má em đi hết rồi anh Hai ơi! Cả con Nhánh nữa! Mấy nhà trong xóm cũng không còn ai. .
Cội ngưng từng chập rồi tiếp:
- Xóm mình bây giờ anh về không biết đường đi.
Đây là lần đầu tiên tôi gặp Cội không nói chuyện đạp lôi, cưa bom, đánh xe tăng mà lại khóc như trẻ bị má đánh đòn.
Bỗng thằng Ưng kêu lên:
- Cái gì như cháo khét !
- : Cháo gì mà khét? Gạo đâu mà nấu vậy?
Ưng nhanh nhảu:
- Dạ gạo của quân khu cấp hề hề…
Cội quát.
- Không! Gạo của tụi em đi ăn cắp đó ! Tụi nó nói láo. Tụi nó mới đi ăn cắp chớ quân khu nào cấp! (CấpCắp chỉ khác một cái dấu thôi) Tụi em đâu có tiêu chuẩn gì. Lâu nay nhờ
gánh mướn cho bà Tư Bánh Bò với má con Chia lấy gạo ăn, thuốc hút. Bây giờ mấy bả đi hết rồi, tụi em hỏng chân.
Cội vẫn còn tủi:
- Chiều hôm qua gặp bộ đội cho một bọc gạo ăn xong còn chừa lại một mớ sáng nấu cháo, còn vài nắm chiều cũng nấu cháo. Xuống đây tính dựa ông Ba Coi, chẳng dè ổng đi mất. Chỉ bỏ lại nửa hũ mắm ruốc.
Lam đã nấu nước sửa soạn thuốc men và dụng cụ. Nàng bắt đầu lau rửa vết thương. Riêng Cội bị một vết phỏng sau lưng. Ngồi yên cho Lam băng vết thương. Cội vừa kể lể:
-Tụi em mò mẫm trong rừng moi được đầy hai ống quần gạo đem về đó. Chưa kịp nấu, nghe mấy anh đến, tụi em tưởng mấy ông Hậu Cần đuổi bắt nên giấu ngoài vườn rồi. Bom na-pan ác thiệt anh ạ. Nó nóng còn hơn lửa cháy nhà. Em lặn xuống mương nó vẫn không tắt. Nó dính vô da rồi thì vô phương dập. Bây giờ tắt rồi mà gan ruột em nóng như ran vậy. May là em nằm với Trung đội 4 chớ nếu nằm ở Trung đội 3 thì cháy queo như chuột thui rồi. Nó cháy từ trên ngọn cây, nhen xuống đất như đèn cầy, nhen tới đâu cháy lan tới đó. Nó dính da thịt, dính chân. Mấy ông bộ đội cõng thương binh lại bị cháy lây. Rốt cuộc mấy ông phải bỏ chạy. Dân công đâu có. Tụi em phải gom lại ném xác xuống hố bom, chớ để vậy coi ghê quá hà. Tụi em đang khiêng xác thì tụi nó nã cối. Tụi em bị trúng miếng bộn. Đói thắt ruột mà nó bắn rát quá, chạy ngang đám khoai mì nhà con Chia không đứng lại được để quơ ba mớ nữa. Một ngày một đêm liền tụi em mới lê xác tới đây.
Bỗng có tiếng gọi từ ngoài sân:
- Thầy Hai đó hả ?
-Ai đó?
- Hai Nhiên đây! Học trò ở lớp C13 ở ngoài thành thị xã Sơn Tây ! (C13 lóp chánh trị viên đại đội pháo binh )
- À ! Về hồi nào vậy cha?
Hai Nhiên bước vào, thầy trò đấu mép vài câu rồi tôi bảo Hai Nhiên đưa y tá tới săn sóc và tiếp tế đầy đủ cho tụi thằng Cội. Hai Nhiên thi hành ngay rồi dắt tụi tôi đến trụ sở của y.
Quản lý đại đội là một cán bộ mùa đông chừng bốn mươi tuổi, răng cỏ xếu xáo tên là Sáu Già đem đến nào khô cá sặc, trà, đường, sữa và rượu… đế quốc. Một cậu liên lạc bê đến một trái bí đao. Ba Tố hất hàm bảo.
- Vầy thì cha Tây rồi ? Có bít-tết ra-gu, thỏ hầm thuốc Bắc, cánh gà chiến bơ hoặc ếch tẫm bột rán không?
Hai Nhiên cười tóe lửa ở khóe mép:
- May là thủ trưởng đến nhằm lúc căng tin mới đi lấy hàng trên Cầu Rạch Sơn về.
Chỉ trong giây lát là khói lửa ỳ xèo, câu chuyện nổ ran. Mâm tiệc dọn trên một manh đệm rách. Cậu liên lạc mượn cái đèn pin mỏ quéo của Ba Tố ra trước sân leo lên cây me. Một chút tuột xuống đem vô một rổ vừa me chín vừa me dốt. Cậu ta nói bô lô ba la:
- Tôi biết tính mấy ông nhậu, ông nào cũng thích me. Me nhậu rượu gì cũng bắt.
- Trời, ở trên Trường Sơn mà được một trái như thế này thì làm thuốc chớ đâu dám ăn!
- Hồi trên R tôi cũng đã trèo cây me ở Trảng Bà Điếc đốn một lát ăn cả làng.
Trong lúc chờ đợi nướng khô cá sặc cá lóc, khách lẫn chủ tạm thời khai vị với me dốt mắm ruốc và mấy hộp cá mòi đứng (tức là cá nhỏ xếp đứng trong hộp bán rẻ còn có loại cá mòi nằm to hơn nhưng giá cao). Hai Nhiên cười ló răng vàng, Ba Tố chọc:
- Diện dữ hả ? Thợ nào bịt mà khéo vậy ông Bắc kỳ xâm lược?
- Dạ , em đau răng, thủ trưởng !
- Vậy không phải ông thấy con gái Bến Mương Gót Chàng đẹp rồi ông đánh bóng ông sao?
- Thú thiệt là tiền công tác phí em không có xài để dành cho mấy cái răng đó, khi về Bắc em cạy ra cho mẹ đĩ làm vốn món ăn nuôi con, chớ chừng chiến tranh xong rồi, nếu mình còn sống thì cũng đã kiệt sức có còn làm gì được? Mình coi nhà cho vợ con làm nuôi.
- Sao không đánh cà rá đeo tay cho le thể mà giấu trong mép ai thấy?
- Đeo tay dễ mất thủ trưởng ạ ! Còn em bịt trong răng chỉ có chết mới mất thôi.
Bọn Nam kỳ ngồi sửng sốt. Quả là con người biết lo xa và chân thật. Đáng lẽ y nói trớ đi cũng không ai bắt được. Đám Nam kỳ không đứa nào nghĩ tới cái nước cùng đường mạt lộ của mấy thằng lính đánh thuê đó. Cho nên chẳng đứa nào chế diễu bạn mình nữa.
(Tội nghiệp thay, năm 1968, đúng như sự ước định của câu ‘Sinh Bắc Tử Nam ” xuất phát từ miệng lính Bắc, Hai Nhiên chuyển sang làm chánh trị viên đại đội trong Tiểu đoàn của tôi, hi sinh tại trận Rừng Tre, với một ước mơ nhỏ chôn vùi cùng thân xác tại đất Củ Chi. Không biết vợ con y đã được giấy báo tử chưa. Hòng mong gì được lãnh vài ký thóc tử sĩ.)
Nhậu với đủ thứ, thứ gì cũng ngon, nhậu như trối trăn với nhau vậy. Căng tin hết rượu Ba Tố bảo y tá Ngân đem cồn y tế ra uống, nhưng tôi ngăn. Không ai bàn một câu chính trị quân sự gì ráo. Toàn nói chuyện tiếu lâm, chuyện tục tĩu và những chuyện thời sự ái tình. Ba Tố hỏi Hai Nhiên:
- Ông có kiếm thêm mẹ đĩ trong này không?
Hai Nhiên thành thật:
- Cái món đó em dở lắm thủ trưởng. Với lại nó mang tiếng làm mất thanh danh quân đội hết.
- Ông Chín Lộc cũng dở như ông vậy nhưng ổng quơ được hai bà một lúc, không nhờ ai làm mai. Ông có cần, tôi chỉ bà mối cho!
- Ai vậy thủ trưởng?
Cả bàn tiệc cười rần. Một người nói:
- Kêu dở mà mới nghe mùi hành phất qua đã hỏi tới rồi.
- Em hỏi cho biết vậy thôi chớ em nhát lắm.
- Ông biết bà Năm không? Bà đó có một bầy em út rất mướt.
- Bà Năm Cá Lẹp phải không thủ trưởng? Ối dào! Bả tò dè em đây mà em không dám ló móng hùm ra.
- Chỉ huy bà khu ủy viên không sướng tỷ hơn là chỉ huy đại đội à?
- Sướng con cu thì mù con mắt thủ trưởng ơi! Báo hại ngồi kiểm thảo hai ba đêm đau lưng lắm.
Không biết ai phụ nhĩ câu gì với Hai Nhiên mà y nhường văn phòng đại đội cho tôi và Lam. Lam cự nự:
- Bộ mấy ổng tưởng mình là gì rồi sao mà để mình ở đây?
Nhưng rồi nàng cũng lẳng lặng mắc võng cho tôi còn nàng thì được ưu tiên cấp phát cho một cái hầm của ông Ba Coi chủ nhà . Suốt ngày vất vả, lại thêm bị đồng chí đế quốc quần mệt nhừ, vừa ngã lưng lên võng là tôi bất biết trời đất, mặc dù tôi vẫn rành là lúc khuya pháo Đồng Dù thường quay họng lên miệt này. Đến lúc tôi giật mình thì nghe một bàn tay lắc lắc vai và tiếng gọi:
- Anh Hai, chui vô, tụi nó giã gạo.
Tôi như cái máy cứ chạy theo người cầm lái, chui tọt vào hầm. Tôi có cảm giác thơm tho dễ chịu chớ không ngột ngạt như những lần chui hầm khác. Tôi biết được rằng đầu tôi rơi vào chiếc bồng bột có lót chiếc khăn lông trắng rưới dầu thơm nữa. Cái mùi ác độc đó làm tôi tỉnh hẳn dậy, và không ngủ tiếp được. Lam bắt đầu hạch hỏi, đay nghiến, giận hờn đủ thứ về chuyện nàng Quắn bắt cóc tôi đi đêm qua, những tình cảm mà nàng đã phải nén chịu suốt một ngày một đêm liền.
Tôi cũng vẫn khai thiệt rằng tôi đi họp với ông Đời bí thư xã ủy chớ không có đi đâu:hết. Nàng trật áo tôi ra lật lưng tôi lên và gắt:
- Dấu trầy gì đây?
- Ban đêm anh không thấy đường chạy tuôn vô bụi bị gai quào chớ dấu gì.
- Còn dấu trên vai? gai gì quào?
- Thì gai gì anh đâu có biết.
- Gai gì giống dấu răng vậy?
Tôi bị dội, thất kinh hồn sá ngay, không trả lời nữa và giả bộ ngủ. Nàng xỉ ngón tay vào ngực tôi:
- Anh ghê lắm nghe ? Vậy mà còn chưa chịu thôi.
- Anh làm gì đâu?
- Bộ chị Bảy Mô nói gì em không nghe hả ?
- Thì người ta nói đâu phải anh nói.
- Lúc ra đường anh còn hun chị Tám Phụng nữa, có không?
- Chậc!
- Anh không được như vậy nữa ! Bây giờ anh là chồng của em.
- Ư… ư…
- Anh không được chuyện trò với ai nữa hết.
Tôi có một phương pháp thần độc nhất trị bịnh ghen của con gái là trám miệng họ bằng những cái hôn và làm cho họ quên cơn ghen đi bằng cách bỏ ngón trên những phím tơ kỳ diệu của họ. Tôi nằm nghiêng và kéo đùi nàng nàng đắp lên tôi. Không nói gì hết. Mùi mồ hôi, mùi đất ẫm, mùi tóc ướt còn đậm mùi xà bông thơm, tất cả làm thành cái không khí thiên đường tí hon dã chiến của đôi tình nhân mới. Nàng xem đây là một thắng lợi lớn nhất của nàng. Còn tôi, tôi không hiểu tôi là thằng gì, mặt mũi như ôn binh sao cứ phải bị tai họa? Luôn luôn được xem là chồng, nhưng chưa bao giờ làm chồng của ai. Nàng nằm bên tôi, thân người uốn éo như lưng đê mùa nước lũ rồi vỡ ra tràn trề ngập lụt. Còn tôi, mặc dù bị nàng kềm kẹp cũng không vâng lời. Tôi biết nếu làm theo ý muốn của nàng thì chẳng khác nào mình đã chính thức hóa đôi nhẫn vàng kia. Đó là lần đầu tiên và là lần độc nhất tôi cưỡng lại tôi!
Sáng hôm sau, khai mạc bình trà sáng, Ba Tố giả vờ:
- Đêm qua pháo Đồng Dù làm rung rinh cả đất đai.
Tôn Sứt ngây thơ trả lời:
- Đi đường mệt, lại nhậu oắt cần câu nên tôi không nghe gì hết.
Tôi bảo mọi người chuẩn bị hành quân trong lúc tôi và Lam đến thăm toán du kích của Năm Cội. Tôi gặp cả đám đứng ở trước sân, bên gốc me.. Thằng Ưng làm trinh sát leo hẳn lên ngọn me nói vọng xuống.
- Mẹ chắc nó bỏ tan xóm mình rồi. Máy bay đang quần gần Ngã ba Cây Điệp!
- Chỗ khói lên đó là đâu?
- Chắc gần nhà bà Tư Bánh Bò . Còn cụm kia chắc là ở Đồng Mã .
- Cây xoài múc còn đứng đó không?
- Có thấy con mẹ gì. Chắc tiêu hết rồi !
Cả bọn được băng bó kỹ lưỡng, mặt mũi dễ coi hơn. Nhiều nụ cười, và ánh mắt sáng sủa đỡ khổ hơn đêm qua. Tôi hỏi:
- Hồi em ở đó thấy quán bà Tư The còn mở cửa không?
- Mở gì nữa mà mở. Bả thuê xe bò chất hàng chở đi một ngày trước rồi.
- Em có gặp không?
- Em không gặp nhưng mấy đứa kia có đẩy tiếp xe bò một lúc.
- Xe tăng thấy không bắn à?
- Nó biết đồng bào chạy ra Trung Hòa, chẳng những không bắn lại còn cho lính đến bắt bánh xe bò đẩy qua suối dùm.
Tôi tự chế không để bật ra những lời biểu lộ sự nản lòng. Tôi nói những lời trái ngược lại với tình cảm của tôi:
- Chúng ta phải vượt qua gian khổ chết chóc để chiến thắng em ạ. Ngày vinh quang sẽ về ta.
Cội bật lại như máy:
- Anh Hai nè ! Mình chiến đấu cho chánh nghĩa phải không anh Hai?
- Chớ sao em!
- Đêm qua tụi nữ dũng sĩ đi ăn cắp gạo không biết có bị lựu đạn nổ hay bị cảnh vệ bắt không? Tụi nó cũng khổ quá anh ạ. – Cội ngưng lại quệt nước mắt hai ba lần – Ba em có hai đứa trai đều đi du kích và binh công xưởng, còn lại con Nhánh ở nhà lo cho ba má em, bây giờ nó cũng bắt buộc phải đi. Ai lo cho ông bả? Em thú thiệt với anh em chỉ muốn về cày ruộng không ham làm anh hùng mà đói và bỏ bê cha mẹ như vầy nữa .
Bỗng đâu từ trên ngọn me, thằng Ưng rẻ lên. Tiếng của nó như một bàn tay xóa đi mọi nét bi quan trên mặt mọi người.
- Ê ! tụi bây chọt được nhiều dữ hả . Chia tụi tao đỡ ba cá i nghe !
Tôi nhìn ra đường. Một toán nữ du kích súng ống lởm chớm vai vác gạo đi tới. Đứa nào cũng có hai ống quần no căng cặp ngang cổ. Chúng quẹo vô sân, đụng tụi tôi, hơi dội, nhưng Cội nói ngay:
- Hổng sao đâu, đây là anh Hai, anh Ba. Mấy ảnh thông cảm tụi mình lắm! – rồi quay lại tôi, giới thiệu – Đây là tụi du kích Nhuận Đức. Tụi nó cũng bị tróc, chạy tới đây tấp với chúng em đêm qua. Cũng đói dữ nên em biểu thằng Kền thằng Ha dắt cho đi moi. Con nhỏ đi đầu là con Bảy Bánh Ú, còn con cao cao đi kế là con Tư Bánh Tráng con của xã đội Năm Cọp. Tụi này đánh giặc khá lắm, ngặt không có cơ sở !
Tốp con gái được Năm Cội giới thiệu thành tích thì xẻn lẻn đi thẳng vào nhà. Ba Tổ ngó theo buông một câu:
- Vậy thì các cô các cậu cần gì phải đi moi gạo của ông Ba Râu cho nguy hiểm?
- Ai không ăn mà chiến đấu nổi anh Ba . Anh hùng không có gạo thì cũng hết nhúc nhích. . .
- Bánh tráng bánh ú thiếu gì đó, còn đòi cái gì! Cổ có tới bảy cái bánh ú lận mà ! Cái nào cũng to hết.
Thằng Ha, thằng Kền không hiểu gì nên dầu mỏ:
- Mấy bả bỏ nhà đâu còn nấu bánh ú làm bánh tráng nữa, anh Ba.
Năm Cội gạt ngang:
- Mày con nít biết gì mà xía vô !
Cả bọn pháo binh cười hưởng ứng câu pha trò của Ba ‘Tố. Thằng Ưng trên cây me tuột xuống, thở hổn hển:.
- Mấy bả biết cách moi là nhờ tụi em truyền nghề đó anh Hai !
- Cậu làm sao, nói nghe thử, để sau này bọn anh kẹt thì cũng giở trò đạo chích qua ngày.
Ưng múa tay trả lời cho Ba Tố:
- Dễ lắm. Chỉ cần một ống tre thông hai đầu. Một đầu bằng, một đầu vạc nhọn như cái nêm cày. Đầu nhọn mình thọc vào bao, nguậy nguậy mấy cái thì gạo chảy ghe ghe mình kê ống quần vô hứng. Gần đầy thì mình lấy tay bịt cái ống tre gút ống quần này lại kê ống quần kia vô nguậy tiếp. Cứ vậy chừng nào hết muốn nữa thì thôi. Mỗi thằng cõng hai ống quần đầy đem về ..
- Có bị bắt lần nào chưa?
- Chưa! Tụi em mới có sáng kiến đây thôi. Nhưng nếu bị bắt thì mấy ổng cũng cười trừ chớ không lẽ bỏ tù dũng sĩ, du kích, kiện tướng như tụi em?Ấy hổng ấy em khai anh Năm Cội xúi Mấy ông có giỏi thì bắt anh hùng chống Mỹ của gờ từng được thưởng cái huy chương !
Ba Tố cười:
- Mày đừng có giỡn, ông Ba Râu gặp bắn gụm bà chè, còn bắt được thì ông bỏ tù gục xương đó.
Thằng Kền nghênh cái mặt đen thui, vãnh cặp môi thâm sịt:
- Mấy ông đem cả gạo về cho vợ bán quán thì ai bắt? Vải kaki bộ đội mặc là của hậu cần phát, nhưng vợ mấy ổng đều có bán thiếu gì. Ai bắt? Công An Trâu cũng vậy. Ông ta cấm các quán khác không được bán với lý do chủ quán ra vô vùng địch, trong lúc vợ ông. đi Trung Hòa hàng ngày đâu có ai cấm?
Thằng Ưng hùa theo:
- Tụi em lượm được đồ hộp Mỹ bỏ lại đem bán cho mấy bả ghẻ ghề, mấy bả bán lại cho bộ đội với giá cắt họng, có ai dám nói gì!
Bọn tôi chờ đám du kích của Năm Cội nấu cơm xong rồi hành quân. Cả đoàn đi về phía Bến Đình. Sau khi bàn luận, chúng tôi thấy tình hình ở Phú Hòa Đông chắc chắn sẽ động trong những ngày sắp tới. Theo cái nết thường của Mỹ là sau trận đánh chúng thường truy kích bằng pháo binh hoặc phi cơ chớ không khi nào để quân ta có thì giờ nghỉ ngơi hoặc chỉnh đốn hàng ngũ. Năm Cội nói với tôi:
- Em quyết bám các anh. Các anh đi đâu các em đi sát theo đó. Các em bị tróc khỏi Bàu Lách rồi mất hết địa bàn hoạt động.
- Rồi tụi con Bảy Nê, Út Nhỡ làm sao?
- Mỹ tới tụi nó còn mừng.
- Sao kỳ vậy?
- Lâu nay tụi nó xụt xịt muốn rã hàng, nhưng vì ở trên ốp quá nên chưa về nhà, nay Mỹ làm mạnh, tụi nó có lý do. Tình hình này ở trên đâu có liên lạc được với tụi nó mà gom lại như hồi mấy nhà báo Liên Xô xuống.
- Ở đây bộ không có địa đạo chui được sao em?
- Không có đâu anh! Đất ở đây thấp lắm. Toàn xài hầm nổi. Nhưng từ ngày mấy cái hầm nổi ở Trung Lập bị lộ, tụi Mỹ đi ruồng xách chĩa sắt dài cả sãi tay, hễ gặp hầm trong nhà là nó xom như xom lươn vậy. Hầm hố cái củ… chi họ !
- Có ai bị xom trúng không?
- Có chớ. Bị lụi trúng la oai oái trong hầm rồi cuối cùng cũng phải chui ra cho nó bắt. Có một ông cố nín, nó đánh mìn, bay luôn cái nhà.
Sẵn dịp đi gần Bến Đình, tôi hỏi:
- Nghe nói vùng Bến Đình có hầm ăn thông ra sông Sài gòn có không em?
- Có một khúc đào xuyên qua đường số 15, nhưng bỏ lâu rồi. Và qua bên kia đường gần mé sông Sài gòn thì đất thấp đâu có phát triển được.
- Vậy anh nghe người ta nói miệng địa đạo ăn thông ra cả sông Sài gòn.
-Người ta nào vậy?
- Người ta chớ người ta nào?
- Mở miệng ra sông đặng hứng M79 của Giang Thuyền hả ? Trời, anh bị một trận M79 thì mới rõ !
- Người ta cũng đồn địa đạo chui thấu lòng sông Sài gòn qua tận Bến Cát.
Cội im lặng một hồi lâu rồi cười mũi:
- Vậy cái địa đạo này chắc phải đi tới âm phủ .
- Tôi nghe đồn cho nên kỳ này tôi quyết lòng đến xem để sau này có khi ứng dụng.
- Sợ anh không dám đi xuống đó chớ!
- Tại sao?
- Trước nhất tại vì nó không có . Thứ hai, nếu nó có thật thì anh phải bận đồ lặn như ông Tư Gạch thì mới xuống được !
- Ông Tư Gạch nào?
- Hồi em còn nhỏ em nghe đồn ở vùng Bến Sỏi có một ông già tên là Tư có tài lặn qua sông Thị Tính hay sông Sài gòn gì đó. Ổng uống nửa chai nước mắm nhỉ rồi ôm bốn cục gạch thức từ từ lội xuống sông. Chừng nửa giờ sau thì trồi qua bên kia bờ. Do đó bà con gọi ông là Tư Gạch. Ổng là ăn cướp. Mỗi lần bị rượt, ống phóng xuống sông thì kể như mất biệt. Về sau vì lặn quá nhiều, mình ổng nổi những cục u như vú chì cau, nên đồng bào cũng gọi là Tư U.
-Vậy chú cũng muốn tôi và thầy Hai trở thành Tư Gạch, Tư U nữa sao?
Năm Cội nói giọng thành thật.
- Sự thiệt là vùng này không có hơn hai trăm thước địa đạo đâu anh Hai. Nhưng không có thước nào xài được vì bỏ phế từ sau Đồng Khởi tới nay. Rễ cây mọc chéo tùm lum, hoặc lở sụp, hoặc ngập nước rắn rít ở đầy dưới đó. Anh đừng có tin mấy ông xã ủy mà chết. Mấy ông thấy anh cao cấp, mấy ông không dám nói thiệt, sợ bị nạo, cho nên thành ra nói láo chuyền láo. Chính các ông trên khu trên R cũng tin thiệt. Nhưng xuống đây có ông nào được xuống địa đạo đâu! Vậy mà về trên mấy ông khoe địa đạo thần thánh địa đạo nọ, địa đạo kia.
- Khoe hồi nào, sao em biết?
- Thì em lên đại hội dũng sĩ diệt Mỹ 62, ai cũng đeo theo hỏi em, em nói không trôi mấy ông cứ hỏi hoài em cũng ngắc ngư thì có một ông tới gạt ngang: “Địa đạo là bí mật quân sự. Ta chỉ nên biết đến đó thôi. Nếu nói rõ, địch biết nó phá hết. ” Nhờ vậy em đỡ lúng túng.
Sẵân trớn tôi hỏi luôn:
- Còn việc mượn Mỹ của mấy em như thế nào ?
- Trời ơi 1 Em lạy anh. Anh hỏi em nhiều lần rồi. Em mắc cỡ muốn chết, bây giờ em phải nói nữa hay sao. Anh tha cho em được không?
- Ở đây anh em mình không hà, em cứ nói sự thật cho anh hiểu thêm chiến trường, thực chất chiến đấu của mấy em để anh giúp đỡ khi có phối hợp tác chiến, đừng ngại gì. Anh cũng từng làm anh hùng vừa rồi ở đại hội Mừng Công pháo kích sân bay Biên Hòa. Anh nói luôn cho em biết là anh đâu có pháo kích quả nào, nhưng ở trên chỉ định anh làm phó đoàn 69. tức là đoàn pháo binh đánh sân bay và đại diện đoàn ra lãnh huân chương chiến công của chánh phủ ngoài Bắc và cờ danh dự Mặt Trận , nhưng đâu có ai biết. Tụi trí ngủ gà mờ ngoài thành mê mệt đeo theo khen ông anh hùng pháo binh như thần thánh. Đối với dân Sài gòn và ngoại quốc mình phải che mắt họ và chỉ để hai cái lỗ tai cho họ nghe mình thôi. Em hiểu không?
- Dạ, anh biểu vậy thì em mới nói như thế này. Cái vụ mượn Mỹ đó hổng biết ông sạn giả nào viết ra tuồng kịch kỳ cục vậy hả anh?
Lam vọt miệng hỏi.
- Tức là sao anh Cội?
Tôi tóm tắt vỡ kịch của Nguyên Vũ cho Lam:
- Ổng đưa ra một tổ tam tam nữ dũng sĩ. A, B và C, ý nói là Bảy Mô, Tư Gừng với Bảy Nên. Muốn đạt tiêu chuẩn dũng sĩ diệt Mỹ thì phải bắn sẽ được 5 tên. Cô A bắn được 5 tên, thế là đạt rồi. Cô B bắn được 6 tên, dư tiêu chuẩn một tên. Còn cô C chỉ bắn được có 4 tên, thế là thiếu một tên mới đủ tiêu chuẩn. Cô B sẵn sàng cho đồng đội mượn một tên dư của mình. Chừng nào C bắn được một tên thì trả lại cho B. Như vậy kỳ tới B chỉ còn bắn 4 tên nữa là đủ tiêu chuẩn hai lần. Còn tổ tam tam thì đã đủ tiêu chuẩn 15 tên. Như vậy A, B, C đều là dũng sĩ và tổ tam tam ABC là một tổ dũng sĩ.
Tôi kể rành rọt cho Lam nghe. Định đưa ra vài câu kết luận, nhưng Cội’ kêu lên oai oái.
- Anh Hai ơi, em lạy anh, anh đừng có nói thêm nữa em độn thổ bây giờ nè . Mỹ chớ phải cá kèo đâu mà dễ khía vậy. Từ ngày Mỹ vô Đồng Dù tới bây giờ toàn cái Củ Chi này chưa chắc đã bắn chết được ba thằng Mỹ. Có đánh lật một chiếc xe tăng ngoài lộ số I và Tư Gừng làm lật một chiếc xe chạy vô rừng lạc đường, Mỹ đi trong xe chắc có bị thương nhưng trực thăng chở về chớ tụi em đâu có thấy thằng nào mà cho vay cho mượn. Riêng tụi con gái thì cả năm chỉ nổ súng vài ba trận bị tụi nó trả hỏa như mưa, teo chim thấy bà đâu dám ló ra vành đai vành điếc gì nữa. Chỉ mình tụi em không thôi.
Năm Cội tuôn tiếp một hơi:
- Hồi năm ngoái tụi con Út Nhỡ đi quay phim địa đạo chiến gì đó ở Hố Bò, em có nghe. Bà Năm Đang kêu em đem đội du kích của em giàn trận địa đạo, nhưng em trốn mất biệt, em đâu có dám lên! Địa đạo chiến gì mà địa! Hổng biết bả có nghe nhà báo nào yêu cầu mà bả làm vậy. Tụi Sài gòn mà xem được thì một là nó mò theo đó nó phá hết hầm hố, hai là nó cười mình.
-Tại sao cười?
- Nếu nó thấy thì nó sẽ cho mình chơi nhà chòi địa đạo chớ địa đạo chiến gì. Đánh tụi nó rồi trốn xuống hầm được à ? Anh nên nhớ nổ súng là dễ, còn rút lui mới là khó . Nó truy tới ổ Nó cho cá lẹp phóng rốc kết, cá rô rỉa, cà nông thụt, xong rồi nó thảy bom, bom miếng xong nó rắc bom bi, bom bi xong nó quăng bom na-pan. Ở đó mà chui xuống “địa đạo an toàn, Mỹ không làm gì được!” Xí! Bà nội Nhã Nam, cái bà đó nói láo không giữ sách vở. Chuyện của tụi em, tụi em nghe trên đài giải phóng mà mắc cỡ quá trời. Anh có gặp, mần ơn anh nói bả tốp tốp cái miệng của bả chút! Đọ, cái trận Bào Lách hôm qua nếu bả tới thì chắc bả nói là tổ con Út Nhỡ bắn được mười lăm thằng Mỹ, đội của Năm Cội diệt ba xe tăng cho coi. Họ tưởng Mỹ là ếch nhái, xe tăng là rùa, ba ba muốn diệt chừng nào cũng được. Anh mà gặp tụi Mỹ nó moi hầm kìa mới ớn! Nó vạch không bỏ một cái rễ cây.
Ba Tố nói:
- Chú là dũng sĩ diệt Mỹ số 1 toàn Miền Nam mà chú nói vậy sao được. Chẳng hóa ra mình tuyên truyền bá láp hay sao?
Năm Cội cãi ngay:
- Em không nói mình tuyên truyền bá láp, nhưng em muốn tụi em làm được cái gì thì báo đài nói cái đó chớ đừng nói cái không có, thậm chí như cái kịch Mượn Mỹ. Bữa đó họp, đang lúc xã hơi, chủ tọa vặn đài giải phóng thì nghe diễn trên đài. Tụi con Bảy Nê, Bảy Mô, Út Nhỡ bỏ chạy ra ngoài. Nó bảo nó rùng mình rỡn ốc.
Thằng Ưng xía ngang.
- Thiệt là gùng mình gởn ốc hết chơn anh Hai ơi ! Từ đó, lần nào tôi gặp mấy chỉ cũng hồi: “Mấy chị có dư Mỹ không, cho tôi mượn vài thằng.” Chị Út Nhỡ nổi quạu, chỉ mặt tôi: “Mày ngạo tao, tao phệnh cho thấy một phát trường bá đỏ ! “
Nguyên Vũ là tên Bắc kỳ vốn là ca sĩ hạng ruồi ở Chiến khu D tập kết ra Hà Nội không hát được bèn chạy sang nghề kịch coọc, được cho đi Trung Cộng học ngành đạo diễn, rồi cho về Nam. Hắn toàn ở trên rừng Cao Miên nghe ngóng chuyện Sài gòn lẫn Củ Chi rồi phịa, nhưng bọn đầu bò Hà Nội xem kịch của hắn thì ngỡ là sự thực, thích lắm. Đến khi chính tôi sống và chiến đấu ở Củ Chi tôi mới thấy cái tài phịa chết người của gã kịch sĩ kiêm sạn giả.
Nhờ cuộc gặp gỡ Năm Cội bất ngờ, tôi hiểu thêm thực chất chiến trường Củ Chi, cả ta lẫn địch. Kể từ đây tôi tự phá vỡ hoàn toàn những giai thoại thần thánh về Địa đạo Củ Chi. Và tôi được thực tế năm năm chiến đấu dạy cho tôi một bài học: Cộng Sản nói láo kinh hoàng. Chúng nói láo bất cứ chuyện gì, ở đâu, với ai, ngay cả với chúng và mỗi một thằng đều tự nói láo với mình, nói láo đến đổi tường đó là thật. Lâu nay, về hoạt động ở Củ Chi, tôi thấy tội nghiệp nhất là các cô các cậu dũng sĩ, những thanh niên nam nữ xinh tươi được bọn lưu manh chính trị Hà Nội sơn phết thành anh hùng dân tộc để đưa vào các lò quay mà không biết! Kể cả tôi nữa, cái ông thầy pháo này!
Tên Tám Quang, trưởng phòng Chính trị Quân khu là đại diện cho bọn lưu manh đó. Cái trò “anh hùng quân đội, anh hùng lao động” tôi từng biết quá rồi. Chúng bốc những tên bần cố nông ngớ ngẩn ra khỏi tập thể, gán cho chúng những thành tích mà chúng không có để nâng chúng lên thành anh hùng. Rồi làm lễ tuyên dương, Rồi bác Hồ đến cài bông hoa đỏ lên ngực, Đại tướng gắn huân chương, thế là chúng trở thành anh hùng cũng như tôi là anh hùng pháo binh vừa rồi, được mụ Phùng văn Cung ôm hôn rã rít. Tôi đã từng gặp và sống chung với nhiều “anh hùng” Nguyễn thị Chiên, Tạ thị Kiều, Nguyễn văn Thọ, Sơn Ton, Phùng văn Khầu, La văn Cầu, Bùi đình Cư v.v… Sự thực tôi cũng kính phục một số người có thành tích đáng khen, nhưng cũng có lắm ông anh hùng ma. Nhưng dù thực hay ma thì họ cũng chỉ là những que củi do bàn tay đảng đút vào lò lửa chiến tranh một cách không thương tiếc mà thôi.
Chúng tôi đi đến Gò Đình thì trời xế qua. Vừa hạ trại xong thì thấy có người lố nhố ngoài đường. Lam che mắt nhìn và kêu lên:
- Lại khổ em nữa rồi!
- Cái gì vậy?
- Anh coi có phải là chiến thương khiêng tới nữa không?
Ba Tố lắc đầu nản chí.
- Chứ còn gì! Một cái võng tòng teng kìa!
Tốp người đi tới. Nắng chiều đốt da mặt họ như thui. Một anh lính hất hàm:
- Mấy chú biết gần đây có cứu thương y tá gì không, xin chỉ dùm các cháu!
Ba Tố thấy họ mặc quân phục cứt ngựa nên quát lớn.
- Y tá đơn vị đâu?
- Đơn vị em tản lạc hết rồi. Mà cũng đâu có y tá !
Tôi biết ngay là lính Bắc rất khờ nên đứng ra chận đường, bảo:
- Các cậu cho vô nhà đi rồi tôi tính cho.
Chiến thương nằm trên võng rên hừ hừ, cả người băng quấn loạn xạ không có vẻ chuyên môn. Mặt mũi các cậu còn non choẹt, thấy tội nghiệp quá chừng. Con cái nhà ai vậy? Vượt được Trường Sơn để đêm nay bác được ngủ ngon thì vô đây đụng cái Củ Chi này, các cháu của bác lại không thể ngủ, càng không thể ăn uống bình thường được. Một cậu có vẻ là tiểu đội trưởng thấy chúng tôi mang K54 thì gọi là thủ trưởng ngay:
- Chúng em bị bom đánh chẻ làm nhiều mảng, nên không biết đường nào mà chạy. Đói quá, chúng em moi củ sắn ăn, rủi bị lựu đạn. Chắc là lựu đạn gài của du kích. Ác quá ! Giặc không giết được lại bị du kích giết.
Tôi liếc sang Năm Cội, ý hỏi:
- Có phải lựu đạn của em không?
Năm Cội làm thinh. Thằng Ưng ứng lên:
- Đó không phải là lựu đạn của du kích! Du kích chạy mất hết từ sớm đâu có ai ở lại mà gài. Mà gài thì gài ở đâu chớ không gài ở dòng khoai mì. Đó là tụi Mỹ, chúng biết đu kích thường đói đi moi khoai mì ăn, nên gài bẫy mình. Để gắp miểng ra thì biết.
Lam tiến lên hỏi:
- Vết thương như thế nào mà băng bó giáp mình mẩy hết vậy?
- Lòi ruột một đùm. Tụi em hoảng quá , cứ hốt bừa nhét vô, rồi buộc lại.
Lam chỉ la một tiếng “Trời!” rồi đứng im. Trong đầu tôi vụt hiện lên ca mổ ruột thừa bằng lưỡi lam không có thuốc tê ở trên Trường Sơn.




Cái Chết Bi Thương của Cô Văn Công R
Chương 58
Lính Bác Hồ mừng Quốc Khánh với thịt chó.


Tình hình biến động càng ngày càng bất lợi cho cuộc hành quân nghiên cứu chiến trường của tôi. Tôi quyết định thay đổi lộ trình, cho về đơn vị một số cán bộ , tăng thêm một số khác và tiếp tục nghiên cứu.
Đến Ngã Ba Cây Trâm cũng còn gọi là Ngã Ba Xe Cháy thì trời nắng rát mặt, Ba Tố đề nghị vô quán bên lề đường uống nước rồi sẽ đi về Hố Bò.
Tôi hỏi chuyện cũ. Ba Tố trỏ vào rừng, bảo:
- Nó nằm trong đó. Chẳng phải là xe tăng thường đâu, M13 đó ông thầy ơi! Tôi về đây thì đã nghe chuyện đó rồi. Nó tam sao thất bổn, chẳng ai rõ gốc ngọn ra sao. Người thì bảo là mình đánh được ở ngoài quốc lộ 1, kẻ lại bảo là do xã đội Phước Thành là binh vận kiểu ở bên Bình Dương. Người ta thêu dệt rằng thằng Hai Đen xã đội trưởng cầm cờ đứng trên nóc xe ra lịnh cho thằng lính bên trong lái về Hố Bò, nhưng tới An Phú thì bị du kích bắn. Nó hoảng hồn quăng cờ nhào xuống đất tưởng gãy cổ.
- Còn thằng lính đâu?
- Ai mà biết được, chỉ thấy cái xác xe nằm trong rừng, bị chôn ngập tới nửa dây xích. Tôi cho lính vác xà beng tới nạy lấy một mớ mắc xích về để trên nắp hầm chống pháo, nhưng không nạy được vì nó liền mí với nhau. Nếu mà mình đem nó về nhà được, đào hầm rồi đẩy nó xuống, mình ở trong như hầm bằng thép, pháo nào bắn nổi?
Tôi nói:
- Vậy tôi nghe đồn rằng mình đã dùng chiếc xe tăng đã làm chỉ huy sở.
Bính Chân Lư cười khoe cả cái bàn nạo:
- Tôi còn nghe đài nói là mình lái xe vô tấn công đồn nữa chớ .
- Đài nào?
- Thì đài của bà Nhã Nam đó chớ còn đài nào. Chính bả đã bịa ra chị Năm Cầu Xe, đài tưởng chị là anh hùng thiệt của đội quân đầu tóc. Cái vụ dùng xe tăng tấn công đồn chắc cũng là do bà nhép đó cho tài liệu thôi. Do đó mà phát thanh rần ì liên tục. Tụi tui nghe muốn khùng luôn.
Tôi nói:
- Sở dĩ tôi hỏi là vì hồi năm ngoái tôi có đưa thằng nhà báo Bọ Chét đến đây quay phim. Tôi có tìm người để giàn cảnh sống như tại trận. Đại khái như là có một số lính Mỹ giơ tay lên đầu hàng trước họng súng của quân giải phóng, rồi một tổ tam tam chế đứng trên xe tăng phất cờ mặt trận. Nhưng tìm không ra Mỹ . Ông binh vận Tư Linh móc hoài mà không được thằng nào hết. Hơn nữa không có ai biết máy móc nên không làm chiếc xe tăng cục cựa được. Chỉ cần nó lăn vài chục thước thôi mà cũng không có cách nào. Cho nên thằng nhà báo chỉ quay cái xác nó và chợ An Nhơn, một vài chiếc xe lam đi đấu tranh chỉnh trị . . .
(Cộng Sản là chúa dàn cảnh để bịp thiên hạ. Năm 1960-1961 gì đó, bọn Hà Nội có tổ chức một cuộc ra mắt cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại trụ sở Quốc Hội ở Ba Đình. Khách Quốc Tê gồm Liên Xô, Trung Quốc, các nước Đông Âu, Venezuela, Argentina, Cuba v.v… Nhà báo thì có bà già Anna L. Xít-trông, Bẹc trơ răng Anh Quốc không đến được đã thân tình gởi băng ghi ăm tiếng nói ông ta đến chào mừng đại hội. Nguyễn văn Hiếu, Mã thị Chu đang nằm bệnh viện Việt Xô được xốc dậy thay quần đổi áo bò lên xe cây che kín bốn bề dông tuốt lên Lạng Sơn cho đi tàu hỏa về ga Hàng Cỏ huýt còi hoéc hoéc, đồng bào ra đón ì ì, tưởng là hai ông bà từ miền Nam độn thổ ra Hà Nội! Hai ông bà xuất hiện ở đại hội trước những cặp mắt khâm phục của “tàng thế giới. ” Họ có ngờ đâu đây chỉ là màn bịp của tụi lưu manh Hồ. Riêng phái đoàn quân sự của Mặt Trận Giải Phóng thì có một ông tên là Nguyễn văn Long tiểu đoàn trưởng quân Giải Phóng, mặc đồ nhà binh màu cứt ngựa, áo bỏ vô quần… Tôi biết ông tiểu đoàn trưởng đó là ai. Hắn tướng mạo bần cố hơi lớn con, có bộ mặt sốt rét, bị phục viên cuốc đất ở nông trường Xuân Mai của ông Ba Tô Ký. Hắn đang rầu rĩ vì tương lai mờ mịt, bỗng dưng được xúc về Hà Nội làm Tiểu đoàn trưởng. Sau khi hội nghị bế mạc, anh em không thấy ông Tiểu đoàn trưởng Giải phóng quân trở về nông trường nữa. Chúng nó dám cho ông mò tôm để diệt khẩu lắm. Cộng Sản mà, cái gì chúng không dám làm)
Tôi dặn Sáu Đức mấy điểm mang về truyền đạt cho Sáu Phấn để chuẩn bị vào đợt:
1 ) Móc súng lên lau chùi nhưng nhớ chuẩn bị chỗ giấu ngay nếu có đổ chụp đút trở lại.
2.) Liên hệ với Tám Giò lấy du kích tổ chức thành đội để vận tải đạn pháo.
Tôi dặn thêm:
- Tình hình đã meo rồi. Phải hành động càng sớm càng tốt. Khi tôi về sẽ cùng với Ba Tố nghiên cứu phục kích đánh tàu trên sông Sài gòn. Phải hạ được vài tàu, tệ lắm cũng xơi gọn vài chiếc giang thuyền khi nổ súng thì phải đồng loạt để địch không biết chính xác mặt trận chính là đâu! Rồi sẽ liên hệ với Trảng Bàng và Bến Cát. Đề nghị với quân khu cho hai quận đó tiếp ứng, cầm chân bộ binh, bịt họng pháo binh.
Giọng Sáu Đức lạc quan:
- Vậy làm ăn to hả thủ trưởng?
- Chó đạp cũng chết, trâu đạp cũng chết! Nhưng trâu đạp chết vinh quang hơn.
- Còn Trung Hòa định thế nào thủ trưởng?
- Tôi sẽ có đề án chi tiết sau.
Trong bụng tôi rất quyết tâm làm một cú cho nổi đình nổi đám, để chuyển cái thế bị động giành thế quân bình: địch đánh ta mười ta trả lại một, hai cũng được, chớ không để địch đánh mà ta không trả miếng nào. Tôi bảo Lam:
- Em theo Sáu Đức và anh em về cơ quan lo phần việc của em. Anh đã bảo quản lý cho mua bông băng thuốc men. Em về là có sẵn. Em nên soạn sẵn. Anh sẽ xin ở trên cho thêm vài cán bộ của C5 xuống H6, đi theo các khẩu đội ra tận chiến trường.
Lam phụng phịu:
- Xin ai thì xin, anh đừng xin hai bà trời con của ông Tư Chuyền.
Tôi biết Lam không thích hai cô Nga từ lâu, nên bảo:
- Anh không xin đích danh ai hết. Tùy ở trên cho ai thì cho.
- Anh không cho em theo hết chuyến này hay sao?
- Sau đây anh chỉ lấy một vài người để di chuyển cho nhanh. Công tác này liên hệ với các quận Trảng Bàng và Bến Cát em không có nhiệm vụ gì trong đó hết. Em đi Ràng kỳ rồi là …
-… Vô kỹ luật phải không?
- Cũng đâu đó !
- Em cũng biết vậy, nhưng nếu em không liều mạng thì không biết dịp nào má mới gặp được anh và em để quyết định. Về cơ quan, anh cứ tuyên bố trước quân hàng em.là vợ của anh, kỷ luật gì em cũng chịu.
Lam vừa nói vừa móc túi nhái lấy hộp nữ trang mê ra, lấy một chiếc nhẫn đưa cho tôi. Tôi liếc thấy trên mặt nhẫn có chữ L. Trên mặt chiếc kia cũng giống y.
- Em chuẩn bị hồi nào vậy?
- Em nói với má. Má đi ra thợ bạc đặt làm ngay.
- Em làm phiền má quá ?
- Má cưng anh còn hơn em. Anh đeo đi !
- Anh không quen đeo cà rá .
- Không quen thì tập. Em cũng có quen bao giờ. Anh đeo, em cũng đeo thì không còn ai dòm dèm gì anh nữa.
- Đàn ông đeo cà rá vàng coi chướng lắm.
Lam bỏ vào sắc-cốt tôi.
- Vậy anh cất đi !
Đến chỗ rẽ, cả đoàn dừng lại. Tôi dặn dò Sáu Đức vài việc nữa rồi chia tay. Lam tỏ vẻ không muốn rời tôi, nhưng nàng biết lần này nàng không thể vô kỹ luật nữa. Tôi hôn Lam. Cái hôn ngập ngừng chưa trút hết điện trước khi tạm xa nhau. Tôi, Ba Tố, Tôn Sứt, Bình Chân Lư, Hùng Cối họp thành phái đoàn kéo về phía Hố Bò. ở đây, chúng tôi sẽ nghiên cứu trận địa đánh giang thuyền vùng Bò Cạp nơi Là đã dắt tôi đến kỳ trước. Lam đã đi, còn quay lại:
- Anh đi mau mau về nghen!
Đi vô sâu vùng giải phóng, không còn sợ cặp mắt của Trung Hòa, tụi tôi tha hồ nghênh ngang và tán phéc như pháo nổ. Bình Chân Lư tấn công tôi trước nhất:
- Thầy Hai quan trắc trận địa nhanh quá ! Tụi tôi chịu thua tuốt.
Tôn Sứt hỏi.
- Anh có bùa ngải gì không? ở trên K vô trong Bộ Chỉ huy, học sinh thành bu một lúc nửa tiểu đội, về trường pháo từ con gái nông dân đến đàn bà góa cũng đeo, rồi bà khu ủy sồn sồn cũng muốn bắt xác. Rồi xuống đây hai ba xôi nhồi một chỗ.
Ba Tố bổ sung:
- Tôi ghé đội dũng sĩ Út Nhỡ, nghe cô nào cũng nhắc anh Hai. Anh Hai xúc toàn cá rô mẹ còn mình lội đục nước không vớt được con lòng tong nào kho quẹt đỡ thèm.
Bình Chân Lư tiếp:
- Đi với ổng, mình lép quá các cha!
Tôi cười:
- Kỳ này hễ chỗ nào có chất tươi, tôi lặn để các ông hoạt nghe! Riêng ông Tôn tôi sẽ dẫn đi coi mắt năm nàng công chúa tuyệt sắc một lúc.
- Tuyệt sắc cỡ bà khu ủy không?
Hùng Cối la lên.
- Ê đừng có đụng tới chị nuôi tao nghe.
- Mày hổng có ai … đụng để giành mày đ… hả?
Tôi can thiệp.
- Đừng có nghi oan cho nó. Nó có em nuôi bán quán bảnh lắm. Lúc nào rảnh rảnh tụi mình lên đó ăn hủ tiếu Tư Hẹ rồi mua kỳ đà nhậu chơi. Ê Hùng, lúc sau này mày còn gặp Tư Ó và tổ xe bò nữa không?
Hùng cười mũi:
- Cả Xóm Mới bây giờ tan tành hết rồi. Mấy cái ghe hàng đậu phía bên kia bờ sông Vàm Cỏ đã lui mất. Cô em nuôi có chồng rồi. Còn Tư Óó đã trốn ra Tây Ninh.
- Sao họ bỏ mày họ đi hết vậy?
- Thì em nuôi sợ anh nuôi trổ mòi chớ còn sao nữa! Một trăm thằng anh nuôi có thằng nào là không ló cựa đâu. Tía nuôi cũng thế nữa là anh nuôi.
- Bà má đi mất là vì chị khu ủy cứ mua đồ ghi sổ dài cả cây số mà không chịu trả tiền nên bả cụt vốn, còn tổ xe bò Tư Ó trốn là vì ở trong này đói quá. Ngoài ra còn ăn bom pháo hàng ngày. Mấy lúc gần đây B26 lại chơi cái trò bom trộm anh ạ .
- Mày có gặp thằng Cử nữa không?
- Nó còn ở trong đó ngâm thuốc rượu bao tử nhím, còn ông Một và bà Một thì vác bàn thờ Phật đi Cao Miên dưỡng lão rồi. Tôi và thằng Cử đưa ông tới Xa-mát. Ổng rưng rưng: “Chúc bây ở lại bình an vô sự! ” Bây giờ thì Bùi Khanh thay chân ổng là Xã đội trưởng vùng rừng đó.
Tôn Sứt vuốt đuôi:
- Phải có Bùi Khanh xuống đây thì đủ bộ săn mễn, vui quá !
Tôi gạt:
- Ở dưới này Bùi Khanh chịu không thấu đâu. Thằng Đồng Dù không cho phép mình giăng võng hát hơ hát hà đưa em như ở trên R. Ở trên đó chỉ sợ B52 còn ở đây sợ đủ thứ. Để chú mày sống thêm vài bữa rồi sẽ nếm mùi Củ Chi đất thép thành…
Bính Chân Lư cười hắc hắc và nhại lại:
- Củ Chi đất thép thành đồng, Củ Chi chất nhép đầy đồng.
Còn đang vui chuyện thì ở đằng kia có bóng hai người đi lại một đàn ông một đàn bà . Thì ra thằng Năm Đầu Ban và cô xã đội phó Là . Định bụng sẽ ghé nhà thăm hai chị em nàng kiều Hố Bò, thì lại gặp cô em ở đây. Vừa trông thấy tôi, Là vọt tới và lạ bài hải, rồi nghẹo ngang khóc như con nít.
- Anh Hai ! Anh Hai !
Ba Tố cười hô hố:
- Anh Hai có mua kẹo dừa đậu phộng, kẹo xí-cô-la cho cô kìa ! Nín đi ! Xã đội mà khóc mếu vậy Mỹ nó cười !
- Tui khóc thây kệ tui, ai biểu mấy ông chọc ghẹo!
- Coi bộ tướng cô em giống con sẩm lai ngoài Ràng quá, chỉ khác cái nước da dang nắng thôi. .
Là nguýt một cái sập trời, nhưng rất hài lòng vì được khen đẹp như cô sẩm.
- Mấy ông đi đâu cũng phất mùi sua đủa ra nặc nồng. Con Mầu là tư sản đó nghe. Nhảy vô kiếm ăn!
- Nóô tư sản nhưng tía nó bán la de không lấy tiền, là tư sản yêu nước… đá !
Là phụng phịu.
- Lớp học pháo gì chiêu sinh lâu vậy mà không khai mạc?
- Chờ kiếm hầm hố, địa điểm cho bảo đảm rồi mới đám khai chớ. Lơ mơ nó chụp thì chạy vô đâu? Phú Mỹ Hưng của cô đã chọn học sinh chưa mà hối thúc? Chắc xã đội của cô gởi đi đông nhất quận.
Là sìa môi:
- Danh sách thì có cả trung đội nhưng thực tế thì chỉ có tôi và Năm Đầu Ban thôi.
- Vậy các cô Năm Trong, Sáu Biền, Út Nào, Tư Ếch đâu?
- Còn rút trong hang Sa Nhỏ, Bến Chùa, Bến Súc nhưng chúng nó nói Phú Mỹ Hưng đâu có cái đồn nào mà mình phải học bắn súng cối. Cái đó để nhường mấy xã có đồn bót, cho nên thối thoát không chịu đi.
Bình Chân Lư giơ tay ra bộ.
- Đem đòn mà xeo chúng nó !
Ba Tố giải thích. :
- Nói vậy sao được ! Nếu tụi Mỹ nó đổ cụm ở Đồng Trà Dơ thì các cô vác súng cối ra phệnh chúng nó có phải là chắc ăn hơn bắn trường bá đỏ không?
Hùng Cối vốn cây hảo ngọt, thấy cô xã đội non mỡn, chưa biết là em nuôi của thầy pháo, nên bỏ vòi:
- Cối bắn giang thuyền hoặc tàu lồng cu trên sông Sài gòn rất hiệu quả đó cô xã đội.
Bính Chân Lư rót thêm:
- Thằng cha này là tay cối thủ 81 đó cô em ! Nó sẽ dạy cho cô bắn đìa rét một phát là một chuồng cu lật ngang thôi.
Năm Đầu Ban nhảy cà tưng:
- Vậy học xong, quận cấp cho tụi tôi mấy cây?
- Muốn mấy cây cấp mấy cây. Thứ đó bây giờ mình có nhiều như củi dừa vậy.
Thấy đứng giữa đường hơi lâu, Ba Tố giục:
- Thôi, mình đi vô xóm rồi hãy bàn tiếp, ở đây coi chừng cá rô rỉa.
Thế là đoàn tiếp tục đi. Ba Tố hỏi Năm Đầu Ban:
- Còn thằng Trương thằng Hiếu đâu?
- Hai đứa nó theo dòng họ đi qua Bình Dương rồi.
- Năm Thuận không trở về à ?
Là đang đi tụt hậu với tôi, nghe hỏi, vọt miệng:
- Ông nội con ít nói gạt chú Tư Thiên, bảo là đưa vợ con qua Phú An rồi về câu tôm ở sông Sài gòn và tiếp tục công tác, nhưng lặn mất tiêu rồi. Chi ủy viên mà vậy đó.
Ba Tố cười:
- Nếu vậy tôi đề nghị quận chỉ định cô làm xã đội trưởng cho luôn hệ thống với bà Phó tư lệnh miền.
Nàng vừa nói vừa nhìn tôi để thăm dò.
- Tôi lạy mấy ông! Tôi cũng sắp đi Bình Dương ở với má tôi rồi!
Tôi chụp lấy cơ hội, nghiêng qua rỉ tai nàng:
- Em với cô Lụa nên đem bé Rớt qua An Thành làm ăn càng sớm càng tốt. Tình hình sắp tới đây đàn bà con nít chỉ vướng bận công tác chớ không có làm được việc gì đâu!
Nàng tưởng tôi ngăn chặn, chẳng ngờ tôi nói xuôi theo, nên mát mẻ:
- Ừ anh nói vậy mai em đi. Sẵn có ông lớn đây, em giao xã đội Phú Mỹ Hưng lại cho ổng, ổng chỉ định ai làm thì làm.
Tôi vẫn thản nhiên. Còn nàng thì ngó ngang không nhìn tôi nữa. Tôi tìm cách vuốt giận:
- Lâu nay má có nhắn gì về bên này không em?
- Hổng có nhắn gì hết!
- Có ai đi qua bển nói đùm anh kính lời thăm má.
- Không có ai qua bển hết! .
Tôi vuốt lưng nàng, tiện thể ấn nhẹ một cái hôn bên thái dương và rủ rỉ:
- Thôi mà giận gì không biết nữa. Anh nói vậy là anh đã suy nghĩ kỹ rồi. Anh bận lắm, đáng lẽ phải đi sang Trảng Bàng ngay để bàn việc phối hợp vào đợt với bên đó, nhưng anh muốn tạt qua đây để bảo em phải đi sớm. Tụi nó đi hết rồi, em còn ở lại làm gì nữa? Đàn ông con trai mà cũng đã khôn vong tìm đường sông rồi. Em coi ở Xóm Thuốc mấy ông khu ủy còn ở đó không? Họ dông hết rồi. Tụi anh là mình đồng xương sắt mới còn bám trụ ở dây thôi. Anh biết em còn nán ở lại đây là để chờ anh. Nhưng có lẽ mình khó gặp nhau lắm, không gặp nhau nữa là khác. Các đơn vị bộ binh pháo binh du kích ba quận Trảng Bàng Bến Cát Củ Chi sắp vào đợt một lúc. Chừng đó, em muốn đi cũng khó.
Cô xã đội lặng thinh, bước chân nặng nề vất vả.
Tôi thấy thương em vô cùng. Đáng lý nàng đã có chồng, có con như những người con gái bình thường khác trong thôn xóm. Đáng lẽ Lụa có thêm đứa con, và Thơm đánh xe bò kiếm tiền hàng ngày nuôi vợ chớ không phải đi dân công bỏ thây nơi chiến trường Bình Giã Phước Long. Đáng lẽ má Hai không mất anh Điều vì cái trận đánh Bến Súc theo chiến thuật A-thần- phù năm 47 do Ba Tô Ký chỉ huy. Bây giờ má đã có cả bầy cháu nội. Ngược lại, cái gia đình này tan nát vì kháng chiến. Chồng chết, con trai độc nhất hi sinh, con gái góa chồng, con gái út chênh chông…
Nhiều đêm tôi nằm suy nghĩ không hiểu tại sao đám con Huê, con Tiến, con Hiền, con Thảo, bà khu ủy, mấy chị Năm Đang, Hai Xót và vô số học sinh thành như Huỳnh Mai, Chi Trúc, Thanh Tuyền lại bỏ đời sống yên ổn để vào đây sống lăn lóc và chết chóc? Và bị các chú bác cha nuôi chú nuôi mò, tống, hiếp, nhục nhã vậy?
Tôi đã tìm ra nguyên nhân: cái đài_Hà Nội rồi kế đó là cái loa Giải Phóng của tên luật sư mang án hãm con nít. Chúng đua nhau tô vẽ Miền Bác Xã Hội Chủ Nghĩa thành một thiên đường và bôi đen Miền Nam như một địa ngục. Ai mà chẳng mơ Thiên Đàng, trong lúc oái oăm thay chúng mình đang sống trên Thiên Đàng thực sự. Cho nên bỏ thiên đàng thật mà đi tìm thiên đàng giả, để rồi cuối cùng xuống địa ngục. Nhưng đã trễ rồi! Lũ quỉ đỏ đang xẻ thịt nhai xương!
Ba thế hệ thanh niên tươi tốt của đất nước đã bị lừa, bị bán rẻ , bị cho không, bị chà đạp dưới đôi dép lốp đạo đức giả của tên Hồ tặc. Cả tôi nữa, một tên Lê Dương mang một trái tim ê chề đau đớn nhưng tới đây chưa dám vứt súng đi để trở về đời sống bình thường, cứ đeo đuổi theo lý tưởng mà chính tôi cũng không hiểu nó là cái gì, tròn méo, đen trắng ra sao nữa? Bất ngờ cô xã đội nói:
- Bữa nay mấy ổng ăn lễ Quốc Khánh lớn lắm!
- Ai?
- Đám ông Bảy Hốt.
- Bảy Hốt nào?
- Anh quên bà Sáu Tiệm định làm chị nuôi anh rồi à?
Tôi cười:
- Lâu nay anh ở dưới kia không nghe ai nhắc hai cái tên đó.
- Anh mà quên! bà Sáu Tiệm gạ sẽ mua bình toong mới ngoài chợ Bắc Hà cho anh đó !
- Bả mua về bán cho anh chớ đâu phải cho anh. Em cứ buộc anh vô đó hoài.
Là nó lãng ra :
- Bây giờ bả có một lô em nuôi toàn bộ đội miền Bắc.
- Ở đâu có vậy?
- Họ ở đâu trển xuống đóng cùng khắp từ Trảng Cỏ tới Rừng Tre.
Tôn Sứt tỏ vẻ rành chuyện.trên R:
- Mấy ông con đó làm bể Trảng Bà Điếc rồi, bây giờ kéo xuống đây làm cho nát luôn cái Hố Bò nữa ! Lúc từ trên R xuống, tôi gặp họ di chuyển qua cầu Cần Đăng. Thấy họ mình nhớ hồi ở Trường Sơn quá !
Tôi hỏi Là:
- Ai ăn lễ Độc Lập?
- Thì mấy ông đó với các ông cơ quan bộ đội đóng ở Phú Mỹ Hưng làm rùm beng đây rồi đố khỏi ăn dưa hấu.
Bính Chân Lư chối bài bãi:
- Ai làm gì làm, tụi tôi không có tham gia nghe cô xã đội.
Là quát:
- Từ ngày B52 cày đường 15 mấy ổng trốn biệt tích đâu có dám ló mặt về đây.
- Người ta bám địch ở vùng meo mới có mần được chớ.
- Ra vùng meo để đeo cô dũng sĩ áo hồng chớ gì?
- Nó ra đó lấy lính rồi, còn đâu mà đeo !
Chúng tôi kéo về thẳng nhà Lụa. Xóm nhà bây giờ đông hơn lúc tôi ghé hồi năm ngoái. Là trỏ cho tôi và bảo:
- Cái nhà mới đó là của chú Hai Bơi, phó bí thư. Chú đi, hai tay cà bơi như hai chiếc dầm nên bà con gọi là Hai Bơi. Chú Hai dời nhà bên Bến được về trong này, một là lánh mặt tụi giang thuyền, hai là giúp chú Tư. Chị Tám, chú Hai Xe đánh xe bò vẫn còn ở đó.
Vài ba nóc nhà mới núp ở ven rừng cao su. Con đường mòn đi vào C5 đã bít ngang. Chắc các cô các cậu đã mở một cửa khẩu khác để lưu thông.
Lụa chảy nước mắt khi nhìn thấy tôi. Nàng mếu máo:
- Tưởng anh quên… con Rớt rồi chớ!
Bé Rớt mắc cỡ đứng nép bên gốc cột chớ không chạy lại ôm tôi như trước. Nó ốm và già đi chớ không thấy lớn lên. Lụa nạt:
- Sao không chạy lại mừng cậu Hai?
Bé vẫn đứng tay cào cào cây cột. Tôi bước lại bế nó lên, hôn nó. Thấy nước mắt ướt gò má thơ ngây tôi cũng nghẹn ngào:
- Nặng quá, bồng hết nổi rồi.
Chốc đây mà đã gần nửa năm, kể từ khi lập hội Ve chai chống Mỹ ở đây.
Tôi hỏi Lụa.
- Có ai làm sao không em?
- Pháo bắn gấp ba lần trước nhưng trời đỡ hết anh ạ.
Là xớt ngang:
- Không ai trầy da, chỉ có nửa tiểu đội du kích chiêu hồi hoặc ra ấp chiến lược chống Mỹ thôi!
Con Rớt chạy vụt ra cửa sau và kêu ré lên:
- Lượm ơi ! cậu Hai tao về nè!
Tôi tưởng mình là người xóm này đi xa mới về, buồn bả vô cùng, khi nhìn thấy ngôi nhà xơ xác, trống trơn. Giếng nước vẫn còn đó nhưng giàn mướp hoa vàng năm xưa đã rụi đi từ bao giờ, cái giàn mướp đã sập để cho chiếc gàu nhôm không còn chỗ nghĩ ngơi, phải nằm lăn dưới đất. Con đường mòn dẫn xuống xóm lò đường vẫn phủ đầy lá cao su khô, nâu sẫm rung rung tương tự những cái vãy con rồng chết xững lên mỗi khi có gió lướt qua, như nó muốn bay lên mây mà vẫn bị buộc nằm ở đó.
Từ con đường đó Lụa ở đằng nhà má về nhà gặp tôi một mình khi thằng Lạn đưa tôi tới đây lần đầu. Lúc đó trong nhà đã có hầm. Bây giờ cũng cái hầm đó nhưng nóc hầm đã đắp đất dày thêm gấp đôi. Lụa, Là sống nhờ miếng vườn của má với cây trái còn sót lại sau một trận bom. Nhà má đã cháy khi tôi dự hội anh hùng từ R trở về. Nhà Lụa thì được bom pháo kính trọng hơn nhưng trước sân một hố, bên cửa hông một hố điểm trang cho bức tượng Vọng Phu sống của Củ Chi.
Tôi hỏi:
- Pháo Đồng Dù hay Trung Hòa vậy em?
Là chua chát đáp.
- Trung Hòa chính hiệu, Đồng Dù cặp sườn! Còn một quả bọc hậu nữa là xong cái chiến thuật bủa lưới phóng lao của trực thăng. -Là vừa nói dứt lời thì reo lên – ông thiếu úy xe bò, mau lên, Anh Hai tôi với phái đoàn tới chờ anh nè !
Tư Thêu và một lính mới không quen, khiêng cái đùi bò toòng teng đi vào sân vòng qua cửa hông treo trong bếp. Tư Thêu bảo:
- Cái đùi sau con bò xe nặng quá, coi chừng sập nhà ! – rồi chùi tay vào vạt áo đi thẳng lại bắt tay tôi – Anh đi đâu lâu vậy ? Tưởng anh trở ra Hà Nội đi Liên Xô Trung Quốc gì rồi chớ.
- Xí Xô, Quốc nhẹp thì có ! Đùi bò đâu vậy?
Tư Thêu nghẹo đầu phân trần:
- Ở ngoài kia lái xe có khẩu hiệu Coi xăng như máu, coi xe như con còn tôi chăn bò Coi xe bò như con, coi bò cũng như con. Nhưng pháo nó lại không coi như mình. Nó làm bị thương một con. Trị lâu quá không lành. Tôi thỉnh thị lên K30 xin ông Tư Năng cho làm hàng ăn mừng 2 tháng 9. Ổng đồng ý nhưng bảo làm ra thì bán lấy vốn mua con khác cho Hậu cần tải gạo. Cái đùi này là phần của cho thương binh và nhân viên C5.
- Có phần nào cho H6 không?
- Để rồi em giải quyết cho anh.
Đám con Lượm con Rốt chạy ùa vào bu quanh tôi. Tôi lấy gói kẹo trong sắc cốt ra chia cho chúng nó. Là nạt:
- Anh cưng quá, tụi nó lừng! Đi xuống hầm đánh đủa, ăn kẹo đi, ở trên này cớn rớn người ta không làm việc được.
Ba Tố qua nhà chị Tám Khỏe nãy giờ coi bộ ngọt nước ngọt cái nên im luôn. Bây giờ chị Tám mới qua, gương mặt đỏ rần và hơi xẻn lẻn:
- Cậu Hai mới về hả?
Ba Tố lớn con, râu rậm nên khó xáp với các cô như Sáu Hòa bên Bến Cát, nhưng cỡ chị Tám thì vừa chạng. Mà chỉ đá độ thôi chớ đá ăn bắt xác thì Tố không chịu. Do đó, hắn là kẻ đầu không đội trời chân không đạp đất, cao thì không với tới mà thấp thì chê. Lỡ cỡ nửa chừng. Tôi nói:
- Lâu quá không về Hố Bò, bà con chắc quên tôi hết rồi.
- Ai mà quên cậu. Mấy đứa nhỏ cứ nhắc hoài.
- Còn người lớn thì rủa tôi hả chị’?
- Ai biểu cậu nhấp nhứ hoài không chịu tiến tới.
Ngó dáo dác không thấy Là ở đâu, chị cười:
- Mà coi chừng Tơ xe lộn mối đa nghen !
Tôi bảo:
- Bộ chị nghe cải lương Sài gòn dữ lắm sao biết tuồng đó?
- Ghiền con Lệ Thủy với con Mỹ Châu không nghe không chịu nổi. Mà mắc ba cái cà nông ôn dịch đâu có dám vặn lớn, chỉ ri rỉ thôi, không rõ mấy chữ lìu mùi rệu.
Tôi biết câu nói của chị Tám có ý nghĩa gì nên đánh trống lãng.
- Chị nghe không sợ Hai Bơi và chú Tư Thiên kiểm thảo à?
- Kiểm tôi thì ai kiểm họ? Chú Tư Thiên mê vọng cổ còn hơn công tác nữa. Chú nói, nếu trời sanh tao nhà giàu, tao nuôi một gánh cải lương hát cho một mình tao nghe. Cái Sony của chú yếu binh, chú nghe nhờ của tôi hoài.
Vừa đến đó thì nghe có tiếng ẳng ẳng ngoài đường. Tôi nhìn ra và hỏi chị Tám:
- Ai vậy chị?
- Bắc kỳ xâm lược chớ ai!
- Chị học tiếng đó ở đâu vậy?
- Của mấy ông cán chớ ở đâu!
- Đừng có nói vậy họ nghe họ buồn.
- Mấy ông Năm Đùng Tư Cai ghét đám đó lắm. Các ổng bảo nay mai nó làm cha tụi mình.
Tôi thấy ba bốn anh quần áo cứt ngựa, tóc cắt kiểu su hào, chân đi dép cao su đứt quai hậu, kéo lê lẹp kẹp làm bụi đỗ bốc lên, quẹo vô sân. Hai anh đi đầu khiêng con chó vàng bằng một nhánh cây cong queo. Con chó bị trói giật cánh khỉ, toàn thân quằn xuống lọi hai cánh chỏ và hai chân sau suýt chấm đất, chốc chốc dãy dụa và ngúc ngắc, cái mõm bị khớp kín như muốn kêu oan trong lúc cái vòi nước lại bắn tưới ra sân không sợ kẻ nào cười. Cả hai anh lính mặt mày nửa xanh nửa vàng, răng nhô ra như răng dọc, mồ hôi chảy ròng ròng hai bên thái dương. Anh đi trước trông thấy tôi bèn cúi đầu chào và hỏi:
- Thưa bác, xin bác vui nòng chỉ cho chúng cháu nhà chị xã đội phó ạ !
Ba Tố vừa vô cửa hông bước luôn ra cửa trước đáp liền bằng giọng Bác:
- Các cậu ở đâu mà đến thế?
- Dạ chúng em ở Q 16 ạ ?
Thấy Ba Tố đeo K54, cậu bé càng lễ phép.
- Bá cáo thủ trướng chúng em ở Trảng Bà Điếc mới xuống ạ.
Chú Tư vẫy tay :
- Vô nhà uống nước rồi tôi chỉ cho.
- Dạ vâng.
Hai cậu nhanh nhẹn đặt con chó xuống đất và bước vô nhà. Hai cậu đi sau cũng theo chân bạn.
- Chó ở đâu mà có vậy?
- Dạ của bà con cho để ăn nễ độc nập đấy ạ !
Con Rớt đang ở dưới hầm bỗng vọt lên. Vừa đụng đầu khách, nó dội trở lại và kêu ầm lên:
- Lên coi lính vịt xiêm bây ơi!
Lụa quát:
- Đi xuống hầm chơi đi không? Nói bậy bị đòn!
Tôi nhìn các cậu bé mà xót xa. Bác và Đảng ác thiệt. Mười sáu, mười bảy tuổi đang học lớp 8, lớp 9 bị vét sạch đưa vào trường tân binh học cấp tốc ba tuần lễ, ấn súng vào tay lùa vô Trường Sơn đi giải phóng miền Nam. Con không cha già không thương, còn lão Hồ không con nên nên lão không biết công mang nặng đẻ đau của một người mẹ, công nuôi dưỡng của một người cha, do đó lão không coi bọn cháu ngoan bằng những cái rác. Có những đơn vị tôi gặp ở Trường Sơn hoàn toàn không học thao tác súng ống một ngày nào. Vừa hành quân vừa học. Bốn cậu bé này lớn nhất chừng hăm hai tuổi, bé nhất cỡ mười sáu. Những thân hình non nớt đã bị đá tai mèo róc hết thịt, chỉ còn xương và da, áo rộng xùng xình, đáy quần có thể giấu một chú heo con.
Con chó, chân vừa chạm xuống đất đã nhảy còng lên năm sáu cái liên tiếp như một quả bóng nẩy, tỏ vẻ bất bình cực độ và muốn tự giải thoát khỏi sự trói buộc phi lý . Nhưng các chủ nhân của nó nhanh nhẩu bước ra cầm hai đầu cây giở hổng lên. Một anh dọa:
- Chốc nữa ông thiến, cổ thì đánh tiết canh.
Một cậu tiếp theo.
- Thịt thì xào dựa mận cho chúng ông chén mừng Quốc Khánh.
Là bước ra hỏi.
- Các đồng chí tìm nhà cô xã đội để làm gì?
Anh mang sắc-cốt đáp.
- Dạ, chúng em được con chó của ông Ba Nò Rèn mới vừa tặng, ông ấy bảo tìm nhà cô xã đội hay cô Nụa gì đó ở xóm Nò Đường để mua dừa về xào. Dạ nễ độc nập lăm lay chúng em được ăn tươi đấy ạ . Em quản của đại đội mà chạy thức ăn không ra. Cứ cá mòi hoài rát ruột quá ạ !
Là nẹt ngang.
- Sao không ghé quán bên Bến Dược ăn hủ tiếu? Ở dưới đó mới mọc lên mấy cái quán bán cà phê, có cả tiệm sửa đồng hồ, tiệm may đồ lính đủ hết.
- Dạ ngày tám cắc chỉ đủ mua gạo với mắm muối, nấy đâu hủ tiếu cà phê .
Tôi móc tiền đưa cho cậu ta bảo đi mua thuốc lá trà bánh đem lại niên hoan nễ độc nập rồi tôi chỉ dừa cho mà neo. Cậu bé nhận tiền và biến ngay!
- Em đi qua quán chị Sáu em.
Là hất hàm.
- Chị Sáu Tiệm phải không?
- Dạ, đúng đấy ạ. Em là em luôi của chị ấy.
Ba Tố quát.
- Thôi đi đi cho được việc cha non ! ở nhà đại đội đói rã ruột kia cà.
- Vâng! Chúng em đói suốt Trường Sơn có sao đâu! Vô đến đây mới no đấy ạ.
Cậu quản lý vừa ra khỏi cửa, Là đã lườm tôi:
- Em nói có đúng không?
- Đúng cái gì?
- Bà hạm đó nhận làm chị nuôi họ rồi.
- Thì chị ấy thấy các cậu miền Bắc mới vô lạ nước lạ cái nên nhận đỡ đầu như vậy là đúng chớ sao? Đáng lẽ em phải hoan nghênh bả mới phải.
- Xí, anh cũng cứ binh binh bà đó hoài. Lần trước em không có can thì bả làm em nuôi của anh rồi. Bả khôn lắm. Ai có K54 bả mới ngọt, còn lính quèn bả đẽo cho lát da đầu. Cậu này quản lý bả mới nhận làm em nuôi, còn mấy cậu kia có vô được không?
- Dạ không đúng đâu ạ ~ một cậu đáp – Chị ấy thương chúng em lắm ạ. Anh quản lý đôi khi hụt tiền chỉ cũng bán chịu. Còn bán rẻ là phần nhiều. Các tiệm kia không thế.
Là phát cáu đổi giọng.
- Các ông mới tới không biết gì đâu. Nay mai bả cạo cho sạch nhớt rồi bả sẽ xé thịt làm mắm, ở đó mà bán rẻ.
Thấy nhà chật lại đông người, tôi bảo các cậu:
- Nếu nghe pháo đề-pa thì phải chui xuống hầm cho nhanh nghe. Các cậu có thấy cái hố pháo trước sân không?
Cậu cao lớn có bộ mặt dễ thương (tên là Diệu) lắc đầu vui vẻ:
- Thủ trưởng không phải lo cho chúng em.
- Tôi thứ hai, gọi tôi bằng anh Hai cho thân mật, còn mấy cô này là em gái của tôi, gọi bằng chị.
Diệu trở lại câu chuyện bỏ dở.
- Ối giào, anh Hai được về quê rồi đấy nhỉ. Pháo ở đây so với B52 là pháo tép, ăn thua chi. Chúng em đội mấy trận B52 rồi. Nằm dưới làn bom mà tưởng như đưa võng kia mới rủng chí to nòng chớ còn ở đây nó bắn như thế này, em coi như pha.
Ba Tố hỏi:
- Có cậu nào xâm mình Sanh Bắc Tử Nam không?
- Có chứ ạ !
- Tôi hỏi trong mấy cậu ở đây kìa.
- Dạ có một thằng chết dọc đường rồi. Nó xâm trong háng nó kín ghê. Chết rồi vạch ra mới thấy.
Lụa, Là và chị Tám bịt miệng cười khịt khịt. Ba Tố hỏi.
- Sao không xâm chỗ thiêng niêng lại xâm ở chỗ kín?
- Dạ, nó bảo xâm ở chỗ đó mỗi lần đi đồng, xin lỗi các anh chị, thì nó thấy để nhắc nhở nó. Nhưng tội nghiệp nó sốt ác tính chết ở chặng Dakto.
Tôi hỏi:
- Các em ở đơn vị nào ngoài Bắc?
Diệu trỏ hai cậu kia:
- Thằng Luân ở ba-lên-tám (308), thằng Tứ ở F ba ba mươi (tức Sư đoàn 330 của Đồng Văn Cống đóng ở Thọ Xuân Thanh Hóa) còn anh quản lý thuộc sư ba hai nhăm, chúng em được đưa về Q16 thành nập một Trung đoàn. Vô tới khu 6 đánh hai trận Dakto và Daksuk, trung đoàn thiệt hại gần hết, lính còn không được một phần ba.
- Rồi sao vô đến đây ?
- Dạ thì ở trên sát nhập đơn vị này vào đơn vị kia nhưng vẫn để trên Q16.
- Các em được mấy tuổi quân?
- Dạ em rồi lớp học từ năm ngoái. Nay được hơn một hai tuổi. Chỉ có anh quản lý là trên ba tuổi thôi.
- Có người yêu hay bồ bịch gì chưa?
Tứ nói:
- Em học lớp 10, con một, bố em bảo học xong lớp 12 thì cưới vợ rồi hãy lên Đại học. Cô nàng là xã viên hợp tác ở gần nhà em. Nhưng đang học thì bị động viên đi giải phóng miền lam. Thế nà nên đường.
Luân lắc đầu:
- Em chẳng có gì hết. Mới để ý qua loa, em định viết thư gởi về mà không biết thư có đến không. Mà có đến chắc người ta cũng không chờ. Có sống không mà chờ? Chờ người không về hoài công vô ích.
Cậu bé triết lý bất ngờ làm tôi xót xa, tôi tạt ngang:
- Nói thế là bi quan, không được cậu ạ ! Mình phải sống để chiến thắng thằng Mỹ chớ.
- Dạ vâng.
Cậu biết không nói gì nữa. Có lẽ cậu ta biết thủ trưởng nào cũng như thủ trưởng nấy, đều lên lớp một bài đó thôi. Cũng như tôi và đám “trí ngủ” ở đại hội mừng công trên R vậy. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh huấn thị: Đội bạt bon giành lấy thắng lợi, nắm thắt lưng giặc Mỹ mà đánh. Ở trên R không biết Mỹ miếc ra làm sao nhưng cũng vỗ tay rào rào. Toàn dân đều bị một lũ bịp xua vào chỗ chết mà vẫn ngoan ngoãn nghe theo. Thảo nào một thằng bạn, hình như Tư Linh, không biết có đúng không, từng nói với tôi: “Chủng ta luôn luôn bị những thằng ngu chỉ huy! “ Tôi cũng đóng vai một thằng ngu đối với tụi con nít này.
Cậu bé nói tiếp, giọng rất chân thành:
- Đơn vị của em bây giờ năm cha ba mẹ, Ô hợp nạ nùng nắm thủ trưởng ạ ! Nhiều núc chỉ huy ra nệnh, nính không thi hành, vì ốm đau, vì nười cũng có, nhưng nười nà chính. Chỉ huy na nớn thì nó bảo nấy ne, còn giải thích thì nó bảo ný lựng nập nờ, cho lên lếu có giặc khó chiến đấu nắm. Hiện giờ thì gần như tê niệt. Nhân dịp mừng nễ độc nập mỗi đứa tìm cách cải thiện một kiểu, thứ gì cũng được, hầm bà nằn. Em thật buồn nòng nhưng không biết nàm sao, nỡ rồi, có muốn nàm bê quay cũng không được nữa.
Tôi không muốn nghe tố cáo, nên cắt ngang:
- Phải mấy em đóng ở Trảng Bà Điếc không?
Luân trả lời một cách vui vẻ.
- Dạ đúng. Tụi em trụ ở đó cũng khá lâu. Thằng nào sống sót vô đến đây đều lên cán bộ trung đội đại đội. Thậm chí lên tới tiểu đoàn. Tụi em tụt hậu nên không được gì hết.
(Nếu là cán bộ trung đội, đại đội thì các em chỉ huy đánh Mỹ làm sao ở cái chiến trường lạ lùng này?)
Đáng lẽ em không khui ra sợ làm mất mặt lính Quân đội Nhân dân, nhưng em cũng biết tôi hiểu hai tiếng tụt hậu của em vừa thốt nên em phản tỉnh luôn:
- Em là B quay anh ạ t Còn Tứ và Diệu là B rùa bị bắt trở lại rồi đưa về Ba sáu nhăm B là trường Tân Binh của Giải phóng để xào nấu lại:..
Là kêu lên với tôi:
- Ở Trường Sơn có thịt bò quay và rùa xào sao anh nói với em chỉ có hộp muối đeo lưng’?
Tôi cười hề hề không đáp. Hùng Cối nãy giờ im để quan trắc mục tiêu, bây giờ mới phóng pháo:
- Có cả bê thui nữa cô xã đội ơi!
Là tiếp.
- Hành quân sướng vậy mà còn than!Chẳng hơn tụi em ở trong này chạy ăn từng bữa.
Diệu biết cô gái miền Nam hiểu lầm (cũng như bọn tôi trước đây khi mới nhập cuộc Trường Sơn) nên cười:
- Chị có muốn ăn bê quay không?
- Bê quay ngon hay bê thui ngon?
Hùng Cối nói:
- Làm tới xã đội mà khờ quá cô em ơi ? Để tôi giải thích cho nghe. Bê quay là đi B rồi ớn quá, nửa đường quay trở lại.
- B là cái gì?
- A là miền Bắc, B là miền Nam, C là Lào. Đi B là đi Nam. Đi Nam mà trốn quay trở về Bắc gọi là bê quay.
- Còn bê thui?
- Bê thui là lính đi B bị bom napan cháy đen thui, như một số chúng em vừa rồi ở Bào Lách, chớ không phải bò thui đâu chị ! Bê thui toàn dân Nghệ Tỉnh. Trận Dakto bị luôn một tiểu đoàn. Thằng nào hụt làm Bê thui thì làm bê quay. Không Bê quay thì Bê rùa.
- Bê rùa tức là sao?
- Tức là đi như rùa, đập bệnh ở lại, đi một trạm nghỉ năm bảy ngày, trạm có giục thì đắp chăn rên hừ hừ giả sốt, hoặc tự bắn vào chân để không đi được.
Chị Tám lắc đầu nguầy nguậy:
- Tèng đéc ơi ! Lâu náy tôi cứ tường là vượt Tường Xơn vui lắm!
- Chị ra đó leo núi một ngày thì biết vui cỡ nào.
- Tội nghiệp chưa !
Diệu nói với tôi:
- Mấy thằng Nghệ Tỉnh sống sót được đề bạt vượt cấp lên mặt và đè đầu đè cổ tụi Lam Định Hà Lam Hà Lội chúng em lắm anh ạ. Chúng nó bảo chúng em nhát, bảo mạng lại còn quay, rùa đủ thứ.
Ba Tố hỏi:
~ Mấy cậu ở ba sáu nhăm A được mấy ngày?
- Dạ, chúng em không ở 365A mà ở 365B. A là.trường Tân binh miền Nam còn B là nơi thu dụng lính Bắc. Ối chào, bên B đông phải biết.
Tôi hỏi:
- Vô đến đây còn muốn quay nữa hết.
Cả ba đều lắc đầu:
- Thôi ạ. Chúng em vui lòng Sinh Bắc Tử Nam. Nếu có sống được thì cũng không về Bắc.
- Sao kỳ vậy?
- Ở trong này con nít khui sữa hộp hút đã thèm, quán chị Sáu có cả thùng mua lúc nào cũng có, đường cát thì ối giào, không cần phiếu ghiếc gì ráo, còn ở ngoài ta nâu nâu nính chúng em mua xong hai nạng ngửa cổ trút vô mồm nuôn. Chị Sáu thấy tụi em ăn sữa nhiều quá, chị bảo: “Đem nuộc đi rồi múc từng muỗng như ăn chè đặc vậy. Ăn xong uống trà. Thế là không phải bị Tào Tháo đuổi.” Quả nhiên y như rằng. Em xơi một nần cả hộp mà không sao cả.
Vừa đến đó thì cậu quản lý về tới mang một bọc bánh kẹo. Tôi bảo Là nấu nước pha trà rồi bày ra bàn tiệc mừng Quốc Khánh. Khói lửa mịt mù . Các em không dám hút thuốc thơm nguyên điếu, để đem về đơn vị cho anh em hút kiểu thuốc nào. Cậu quản lý bảo:
- Tiệm chị Sáu bữa nay có hàng mới!
- Hàng gì?
- Đồng hồ hai cửa sổ. Chậc! Thấy mà ham. Nó chỉ cả ngày tháng… không phải chỉ có giờ thôi đâu các cậu ạ!
- Cái đồng hồ Liên Xô của anh đổi ở đâu quên rồi nhỉ?
Cậu quản lý la lên.
- Không nhớ ở buôn nào nhưng được một con chó. Vừa ăn tươi vừa làm ruốc. Chết! con Oàng đâu rồi?
Diệu, Luân và Tứ đỗ xô ra cửa. Chỉ còn lại cái nhánh cây cong queo. Con Oàng đã tự giải phóng hồi nào mất tiêu. Cậu quản lý ngoẹo cổ đau khổ:
- Thế có bỏ mẹ không kia chớ? Nhân dân biểu nộ tình cá lước mình nại bỏ sổng mất.
- Chạy đi nùng tí thì được. Em vừa trông thấy nó nằm ở đó mà !
Ba Tố bảo:
~ Không cần phải nùng. Nó ở đằng nhà ông Ba Rèn bây giờ! Chó tìm về chủ chớ đi đâu.
- À đúng. Để chốc nữa chúng em ghé xin nại.
Đám con nít trong hầm ló đầu ra. Tôi ngoắc:
- Ra đây chào mấy cậu.
Chúng nó riu ríu làm theo. Tôi bảo:
- Từ rày không được kêu mấy cậu là lính vịt xiêm nữa nghe !
Cả đám “dạ” rồi rút xuống hầm. Tôi quay lại bảo các cậu:
- Các em vô đây là đất của anh. Nhiều thì anh không lo nổi, chứ một đại đội ăn tươi mừng Độc lập thì anh dư sức.
- Dạ cám ơn thủ chưởng.
Tôi bảo Tư Thêu:
- Cậu còn bao nhiêu thịt bò ?
- Còn hai cái đùi trước.
- Để cho tôi. Tôi sẽ mượn người đèo về H6, còn đùi kia tôi tặng.mấy em này.
- Dạ, anh Hai biểu vậy thì thôi, em không bán nữa.
- Em nhớ lại cảnh miền Bắc chúng mình xa quê hương, và cảnh đói khát trên Trường Sơn mà thương đồng đội của mình. Bây giờ mình không còn đói nữa, mình không nên lơ là với đồng đội, em à !
- Thầy Hai chơi điệu thật ta ! – Ba Tố nói rồi quay lại các cậu – Thôi, bỏ ba cái món dựa mận đi, theo ông chủ bò lại đằng kia khiêng một đùi về liên hoan độc lập. Thịt chó để nhậu ngày thường chớ ai dùng cho lễ lộc?
Sự giải quyết của tôi làm thay đổi thái độ của mọi người. Chú Tư Thiên hứa cho một lít rượu, chị Tám cho muối, sả, rau sống, còn Lụa thì tặng dừa khô, dừa lạo.
Mấy cậu bé rưng rưng nước mắt. Diệu nói:
- Em vô cùng xúc động và cảm thấy đây là quê hương của chúng em.
- Đơn vị có y tá không?
- Dạ không, mỗi đứa chỉ có mớ băng cá nhân và thuốc kí-nin thôi.
Tôi bảo Tư Chuyền:
- Anh nên giúp đỡ các cậu này.
(Bây giờ tôi là trưởng ban pháo binh khu, nếu gọi đúng chức vụ là Tư lệnh pháo binh, ngang cấp với Trưởng ban Hậu cần, xếp của Tư Chuyền cho nên tôi bảo như thế.)
Tư Chuyền nhận lời ngay. Cậu quản lý nghẹn ngào:
- Em chưa bao giờ gặp một sự đối xử như thế này. Em thấy có nhiệm vụ giải phóng đồng bào: . . (chắc cậu ta định nói là giải phóng Miền Nam ra khỏi sự bóc lột da man của Mỹ Ngụy như đã được học, nhưng cậu ta nhưng kịp thời và nói khác đi) . Đơn vị em cũng được bà Phó Tư lệnh ủy lạo một lần ở trên R.
- Bả có đến đơn vị không?
- Dạ bà cho mang quà và thư tới. Bà ấy nhận đỡ đầu đơn vị em. Riêng ông Ba Kiên Trung đoàn trưởng và ông Năm Dũng chánh ủy được bà ấy nhận làm em nuôi.
Luân cười:
- Ông Ba Kiên không biết đã gặp bà chị nuôi chưa, Mong rằng chị em đừng gặp.
Tư hích củi cho vào hông Luân:
- Cậu không nên nói vụ chị em bằng tuổi ra đây.
Luân cãi lại:
- Không, tớ chỉ nói nếu chị gặp em chắc chị chạy không ngó lại… Tại vì mặt mũi ông ta giống y như tướng Lê Hiến Mai Bộ trưởng bộ Điện Lực Thủy Lợi, mắt heo luộc và răng bàn nạo.
Tôi suýt bật cười vì câu nói của cậu bé gợi tôi nhớ lại một nhận định trong cải cách ruộng đất.
(Lúc đó chân ướt chân ráo mới ra miền Bắc chúng tôi được học lập trường trước nhất. Cái gì của địa chủ cũng đều xấu hết. Con gái địa chủ bóng lộn như vàng ròng, nhưng lập trường bắt buộc ta phải coi là xấu và không ai được cưới. Còn của ta cái gì cũng đẹp cả. Giảng viên là tên Nguyễn Chiến Sĩ bí thư của Lê Đức Thọ (sau này lấy Dương Đình Thảo đi hội nghị Paris trong phái đoàn Mặt Trận, sau 75 làm Giám đốc sở Văn Hóa thành phố Hồ Chủ Tiệm) Lúc đó Lê Hiến Mai (lấy tên là Dương Quốc Chính) làm Tư lệnh các lực lượng võ trang Nam Bộ mới ra Bắc. Bộ Tư lệnh toàn dân Bê Ka đóng ở định Phượng Vĩ. Tên Sĩ đứng lên bục hò hét: “Trên quan điểm giai cấp, chúng ta phải xem đồng chí Dương Quốc Chính là đẹp trai! ” Cả lớp cười bay nóc đình nhưng rồi ai cũng khôn hồn bụm miệng ngay. Thực ra, phải nói tên Chính này có bộ mặt quỉ sứ. Mắt hắn lúc nào cũng như trợn lên đầy tròng trắng còn hàm răng trên thì thay vì cụp xuống giao hòa với hàm dưới thì nó lại chia thẳng ra phía trước như cái hom lọp. Hắn cười càng trông đẹp trai.)
Tôi nói với các cậu một cách vớt vát:
- Ông ấy tuy thế nhưng có vợ đẹp ra phết đấy !
Tôn Sứt tự khai khẩu.
- Tại sao vậy ta? Nói vậy sứt mép sơ sơ như tôi còn hi vọng hả thầy?
- Trên quan điểm giai cấp thì cậu cũng đẹp trai như tướng Lê Hiến Mai!
Đám cán bộ cười rần.
Tiệc trà tạm giải tán để chuẩn bị xào nấu cái đùi bò. Tôi bảo Là dắt các cậu đi lên nhà má để bẻ dừa. Nhưng Là không chịu thi hành lệnh, không có lý do gì cả. Lụa bèn nhận lãnh công tác nhưng lại bảo cây câu liêm rớt dưới mương không mò được. Tôi biết ý nàng liên bảo:
- Sẵn dịp anh đi thăm nhà má một chút, để rồi không có dịp trở lại nữa. Luôn tiện hái một mớ vú sữa về tặng các cậu này ăn cho biết mùi trái cây Nam bộ.
Là biết tôi muốn gặp riêng Lụa. Hai chị em đã khua răng sẵn từ trước về vụ thằng anh nuôi này rồi, bây giờ vừa nói không đi chẳng lẽ lại đi nên bực tức nói oang oang:
- Mùa này vú sữa mới có bông anh hái bông à?
Tôi cười rồi đi theo Lụa. Các cậu bé Bắc kỳ lẽo đẽo theo tôi. Luân hỏi xách mé :
- Phải loại vú sữa bác tưới hàng ngày không anh?
- Ừ cây đó!
- Sao ngoài Hà Nội nó không có trái trăn gì hết vậy anh?
- Có lẽ tại trồng nơi sai thủy thổ hay sao anh không rõ .
- Các anh mang ra hồi 54 à?
- Ừ, nếu anh không lầm thì do ông Huỳnh văn Nghệ Tư lệnh chiến khu 7 mang tặng bác cùng với nắm đất miền Nam yêu quí của các anh.
(Trò hề này được nhắc nhở như một tưng trưng cao quí về tình yêu của tên lưu manh họ Hồ đối với dân Nam kỳ. Sự thực hắn lợi dụng tình cảm ngây thơ của dân Nam kỳ để lột da rồi giết họ hoặc dày đạp họ như một lũ súc vật. Ai ra Bắc mà không hận tên Hồ ? Dương Bạch Mai bị đầu độc do lệnh hắn. Huỳnh văn Nghệ được phong chức thượng tá, trong khi lũ Bê Ka từ Nam trở ra Bắc như Vịnh, Anh, Trà. . . đều đớp lon trung tướng. Tại chống Bê Ka mà Huỳnh văn Nghệ chết vì mổ ruột thừa sau 75. Dân Nam kỳ đã sáng mắt ra chưa?
Hiện nay có phong trào dân Nam Kỳ muốn nổi lên đòi độc lập (không phải tự trị) như ba xử Baltic ở Liên Xô. Bọn đầu bò Đỗ Mười, Lê Đức Anh và bè lũ rất sợ phong trào này mạnh lên thì chúng sẽ mất miếng thịt mỡ to đang ngoạm trong miệng. Những ai còn máu Nam – dù Cộng Sản hay không đều hận Bắc Kỳ mặt đỏ. Hãy vùng lên hỡi dân Nam kỳ nô lệ của Bắc Kỳ 50 năm qua. Vùng lên! Vùng lên! Đất Nam kỳ là đất Việt Nam nhưng phải của dân Nam kỳ trước nhất. Nếu có một phong trào như vậy tôi nghĩ không phải chuyện lạ. Hận sông Gianh ngày xưa cũng là một hận của dân Nam Kỳ ngày nay vậy.)
Tôi vô cùng đau đớn khi đứng trước sự hoang tàn của nhà má Hai. Một năm trước đây ngôi nhà ngói ba căn hai chái còn là tổ ấm của một gia đình. Bàn thờ, ván gỗ, bếp núc còn nguyên. Bây giờ trơ lại cái nền. Gia đình ly tán.
Giải phóng!
Ai cần ? Đù mẹ bọn tài khôn Hà Nội. Dân chúng đang yên vui no âm dưới bầu trời quê hương. Sau mười năm chiến tranh chấm dứt, người dân tôi đã an cư lạc nghiệp, sung túc phú cường. Thằng Hồ có biết đâu dân miền Nam bị đế quốc bóc lột tận xương tủy mà con nít chê sữa thùng không ăn. Con gái đi cấy mặc đồ lụa. Nhà nào cũng có radio. Đi gặt để radio bên bờ ranh để nghe vọng cổ Sàtgòn. Xe đạp: đồ bỏ! Trong khi miền Bắc Xã Nghĩa ăn độn củ chuối trắng mắt. Ai cần giải phóng mà lại đâm đầu vào ? Thanh niên miền Bắc bỏ xác dọc Trường Sơn như rạ. Vào Củ Chi này chết như ngóe. Sang quyển thứ 4 các bạn sẽ thấy các cậu bé này tan xác dưới những trận B52 kinh hồn và mất luôn Q16 sau trận Mậu Thân.
Tôi leo lên cây dừa tôi đã từng leo. Nay nó vẫn còn trái sai oằn nhưng đã bị những mảnh pháo chém ngọt một mé lá. Lụa đứng dưới gốc ngó lên, bỗng buột miệng nói:
- Dì út nó rắn mắt ghê !
Tôi vẹt lá nhìn xuống hỏi.
- Nó lại đến à ?
~ Không! ấy là em nói kỳ trước nó dắt anh đi Bò Cạp rồi về ghé bẻ dừa ấy mà !
- Rồi sao?
- Nó về thuật lại với em hết ráo !
Tôi gạn hỏi.
- Thuật gì?
- Nó nói anh leo dừa giỏi ghê . Mới ngó quanh một chút nó đã thấy anh hót lên tới ngọn. Anh ngồi trên tàu lá ngó xuống.
Tôi biết Là đã kể lại cho Lụa nghe việc nàng thoát y trong nhà tắm rồi kêu tôi hỏi: Có dừa nạo không? Nhưng tôi đánh trống lãng:
- Anh leo dừa hơn sóc mà ! Hồi kháng chiến anh trốn Tây trên ngọn dừa. Đói bụng anh ngồi luôn bẻ dừa cạp ăn như chuột.
- Không! Em nói cái chuyện con Là nó biểu anh ngó xuống cặp dừa nạo kìa . . .
- Hì hì, anh không thích dừa nạo, anh chỉ thích dừa cứng cạy thôi
Lụa xấu hổ cúi mặt:
- Anh quỷ nà !
Tôi tiếp:
- Dừa cứng cạy nước cay uống giống rượu áp-sanh pha. Uống rồi hồi lâu, môi còn the the, còn dừa nạo uống chỉ no bụng óc ách.
Bị nói trúng ý Lụa ngước lên, mặt đỏ rần:
- Em mới nghe anh nói là người thứ nhất.
- Còn em? Em thích dừa gì?
- Em hổng biết!
Hai tay tôi níu hai bẹ dừa, chân tôi đạp lia lịa vào buồng dừa khô . Trái rụng đùng đùng lớp rớt dưới mương lớp rơi trên bồ . Lụa ngước lên cười khoe hai hàm răng trắng bóng duyên dáng:
- Anh làm như B52 rắc bom.
Các cậu bé đến vớt lên. Lụa thẻo vỏ buộc chùm từng hai trái một. Tôi tuột xuống. Lụa chạy lại phủi kiến hôi và rác trên tóc trên lưng tôi.
- Anh có trầy ngực không?
- Anh leo đâu có áp bụng vô cây dừa mà trầy. Muốn bẻ dừa không có tiếng dừa rụng anh cũng làm được.
Cậu quản lý thú vị bảo:
- Em chưa bao giờ nghĩ em sẽ leo dừa được!
- Các cậu phải học những gì cần cho cuộc sống và chiến đấu ở đây
Diệu trỏ ra phía sông, lắc đầu:
- Em hãi nhất con sông đó .
Tôi sực nhớ người Bắc bơi lội rất kém. Hồi đóng quân ở Xuân Mai, Hà Đông chúng tôi thường ra sông Bài đánh cá bằng mìn, có khi vớt được cả trăm ký đem cho đồng bào. Nhiều cụ già bảo: “Con sông trước mặt đó nhưng không bao giờ tôi bơi lội.”
- Hồi ở Đồng Tháp Mười bị Tây ruồng, Tướng Lê mái Hiên suýt bị bắt ở bờ kinh La Grange cũng vì không biết bơi.Nếu Tây nó đuổi một tí nữa là nó vớ được mẽ to. Mấy ngày sau ông ta còn thất sắc. – tôi tiếp – Các em phải học bơi, để khi cần vọt qua sông. Nên nhớ, không phải bơi mình không mà mang cả vũ khí.
- Ối giáo, chúng em chịu thôi. Hồi đi ngang con sông gì ở khu 6, một thằng trong bọn em chết đuối. Nó lấy ni lông buộc túm ba lô làm phao. Qua được hai phần sông thì chiếc phao xì hơi…
Lụa cho không các cậu bốn cặp dừa, mỗi cậu xách một cặp mặt hớn hở thấy tội nghiệp hết sức.
- Em không bao giờ quên ơn thủ trưởng.
Tôi bảo cậu quản lý đưa bút giấy tôi viết cho ít chữ rồi dặn:
- Cậu đi thẳng con đường này qua Bến Dược hai chị Sáu Tiệm, chỗ làm bò ở gần đó, và đưa mẫu giấy này cho người bán thịt bò. Họ sẽ đưa cho các cậu một đùi.
- Dạ chúng em làm sao thanh toán nổi?
- Cậu viết hóa đơn gởi lên bà chị nuôi của ông Ba Kiên, bả sẽ thanh toán cho. Hì hì… Nói đùa, tôi trả rồi.
Cả bọn cười ngất !
- Thủ trưởng mà chỉ huy tụi em thì tụi em sẽ bớt vất vả !
Nói vậy rồi các cậu chào rất lễ phép, cám ơn Lụa rối rít và kéo nhau đi. Lụa nhìn theo, thở dài:
- Giặc giả gì cứ đánh hoài! Ở ngoài Bắc đâu đâu mà cũng đạp đường vô tới đây!
Rồi quay lại tôi. Tôi vẫn đứng tần ngần. Nàng bảo tôi ra sau vườn giúp nàng khiên một mớ vật dụng về nhà xài. Tôi ngoan ngoãn theo nàng. Cái nhà kho không có vách nằm ở giữa vườn rậm rạp, ván ghế chất chồng ngổn ngang. Nàng lôi mấy chiếc ghế bỏ xuống đất để lấy chỗ ngồi. Nàng nhìn tôi bằng đôi mắt vô cùng bi thiết.
- Anh về chừng nào đi?
- Mai!
- Chừng nào về?
- Không biết được em ạ . Nhưng hễ có dịp thì anh ghé thăm em và con… Rớt.
- Chắc anh không còn gặp em nữa đâu.
Tôi biết nàng sắp nói gì nên chắn ngang:
- Từ đây xuống Bến Mương cũng gần mà ! Lúc đầu nhận công tác mới nên bận rộn, nay mai anh sẽ về thăm em và con thường hơn!
Tôi nói tiếng con như đối với bé Hoàn, con của Mười, bằng tình cảm của một người cha.
- Nhưng. em đâu còn ở đây nữa !
- Em đi đâu?
- Ba con Rớt hi sinh rồi, em không về bên chồng mà em sẽ sang bên dì Ba ở với má cho con Rớt đi học. Má chồng em chưa hay chuyện gì hết. Chắc em cũng giấu luôn. Em biết chuyện đó lâu rồi, nhưng em không nói với ai, mà làm bộ vui như thường. – Nước mắt ròng ròng trên má người thiếu phụ – Bởi vậy nên kỳ rồi em mới vậy… với anh, chớ nếu ba nó còn sống em đâu có… – Nàng nghẹn ngào và bắt vạt áo lên lau nước mắt – Em nằm chiêm bao thấy ảnh về hai ba lần, mình mẩy máu me, áo quần tả tơi. Ảnh nói má con Rớt cúng cơm bữa cho anh, rồi biến mất!
Nàng òa lên khóc. Tôi nghe tan nát cả tâm can. Nhưng làm gì bây giờ? Lấy nàng làm vợ? Câu hỏi ấy thường xuyên mọc lên trong đầu tôi, nhưng không bao giờ tôi có ý định sẽ trả lời .
- Em biết anh với em có duyên mà không có nợ. Nếu anh về sớm vài năm thì em đâu có thế này.
- Bây giờ em hãy lo cho con để an ủi đời em.
Nàng ôm choàng lấy tôi và bảo.
- Đó là lẽ cố nhiên rồi . Nhưng em muốn thêm một đứa nữa, để rủi con Rớt có sẩy tay, thì em còn chút con mà em bồng, chớ không chồng mà cũng không con thì sống làm sao? Anh cho em đứa con. Rồi anh đi đâu thì đi, quên em cũng được, em không giận hờn gì hết!
Đây lại là một nỗi đau khổ đành phải chấp nhận của tôi: yêu mà không dám tiến tới. Tôi không thể từ chối một lời yêu cầu như vậy: một đứa con cho người đàn bà góa. Tôi bảo:
- Rồi em mang tiếng làm sao? Miệng đời dị nghị chịu sao thấu , Lụa?
- Em không sợ, miễn có một đứa con với anh thì thôi. Em hứa sẽ không nói con của ai. Em giữ uy tín cho anh phục vụ cách mạng.
Tôi’ hôn rồi yêu nàng. Gái một con đẹp tuyệt trần. Nàng lèo lái tôi qua mọi thác ghềnh để đến nơi mà ngọn suối trắng xóa biến cả trần gian thành mây khói, mông lung đắm đuối giữa đám cây vườn cháy trơ xương đen thui và giữa nắng trưa như thiêu. Chúng tôi dọn dẹp chiến trường, ôm nhau lần nữa định tái xuất quân thì có tiếng nạt vang:
- Bẻ dừa gì? Xí! Bẻ dừa?
Tôi hoảng hồn, nhưng nàng bảo:
- Kệ nó. Em cần cho nó biết là anh thương em.
- Chứ cổ không biết à?
- Biết nhưng chưa thấy. Em muốn cho nó thấy.
- Em liều quá !
- Em còn giữ cho ai? Nay mai em có muốn tìm anh cũng không được.
Tôi ngó chung quanh nhưng không thấy biệt kích đến. Lụa lại thản nhiên gây chiến. Trận đánh kéo dài và ác hệt hơn. Người đàn bà và gã trai lơ cảm thấy chưa bao giờ cuộc trèo núi vất vả và lý thú đến nổi khi lên đến đỉnh thì mấy ngọn tay nàng cào nát cả tấm lưng phong trần của chàng và nàng rít lên như muốn nghiền tan mọi đau khổ cửa đời nàng.
Chúng tôi xách dừa về nhà trước quan khách đông đúc. Hùng Cối lên tiếng trêu trước
- Thầy Hai trèo dừa giỏi ghê ! Chỉ một chốc đã bẻ hai ba cặp!
Tôi nhìn thấy nét mặt hầm hầm của Là thì biết ngọn núi lửa này cũng sắp phun, bèn đến để vuốt giận em cưng nhưng chợt thấy một cô gái lạ đang xắc thịt, cái lưng thon thon, mớ tóc đuôi gà bỏ suông trên lưng. Bên cạnh đó là Huỳnh Nga và Hồng Nga.
Tư Chuyền trỏ Hai Khởi, chàng tham mưu, chỉ còn băng keo dán ở trán:
- Bữa nay anh hùng hội cả nam lẫn nữ. Đây, tôi trả ông tha mu lại cho ông thầy pháo.
Hai Khởi nháy tôi hai ba cái rồi đến rỉ tai:
- Đừng có khai vụ mẹ đĩ ngoài Hoằng Hóa nghe thầy. – rồi nói to – Hương ơi, lên đây anh biểu. Sẵn buổi liên hoan quốc khánh anh với em ra công khai cho rồi. Hoạt động bí mật hoài mệt quá.
Cô gái có mớ tóc đuôi gà quay lại nhoài miệng cười rất có duyên rồi tiếp tục làm việc. Hai Khởi tươi tỉnh cười:
- Đáng lẽ tôi phải nín lại xưởng quân trang của nàng vài ba ngày, nhưng nàng sợ vết thương làm độc nên xách tôi vô cho ông Tư Chuyền trị ngay.
Tư Chuyền nói:
- Chút xíu nữa vướng lựu đạn gài ngoại vi C5 đó. Nề tôi dặn, vết thương chưa lành hẳn phải kiêng cữ nghe ông tham mưu, hễ tác chiến là nó làm độc, ở đây khó mua pê-nê-ci lin lắm đó.
Hai Khởi lắc đầu:
- Nhai cơm nó còn động đau muốn khóc đây, làm sao lấy tọa độ được mà pháo chiến?
Chú Tư Thiên bảo:
- Kỳ này nhậu đông hơn kỳ trước, nhưng không phải ăn thịt chuột hóa học, tôm ăn thây ma mà ăn thịt bò của hậu cần. Không biết nó có nhơn tay cho mình vài tiếng đồng hồ để ăn lễ độc lập không?
Tôi kẻo Hai Khởi ra sau vườn ngồi bên cạnh miệng hầm
(Bạn đọc nhớ cho là bất cứ lúc nào, sự đi đứng, ăn, ngủ đều ở dưới hầm hoặc kề cận miệng hầm: Nếu có thể, trong lúc đi công tác chúng tôi cũng vác cái hầm trên lưng.)
Hai Khởi nhướng tôi:
- Cấp tập địch có han-ớp (hands up) chưa?
- Ta han-ớp thì có .
- Em xinh mà chị cũng xinh, thầy làm sao xuể? Coi bộ cô em sắp nổi tam bành lên rồi!
- Lý do gì ?
- Thầy đi bẻ đào, ủa bẻ dừa hơi lâu!
Bị tấn công tôi quật trả lại để phòng ngự:
~ Bộ định bỏ mẹ đĩ ở ngoài rồi hả?
- Con cái đùm đề bỏ sao được? Nhưng cơn ốc Hương ngon vậy, làm lơ cũng không đành. Còn thầy? Định bỏ tôm càng xanh Bến Mương và Hố Bò để chài con cá mè ở ngoài Ràng hả ?
- Đâu có gì mà cậu nói vậy?
- Con nhỏ nó khoe vụ đi họp xã ủy ở ngoài rừng chồi…
Tôi liệu không chối được, nên khai thiệt. Hai Khởi cười hắc hắc:
- Đọ, thầy có thầy không, món lạ kề miệng bỏ sao được. Phải thầy ở nán lại vài ngày nữa cỏ lẽ còn vài ba cuộc họp xã ủy kiểu đó nữa. Hề hề… Hết họp xả ủy ngoài Ràng thì tới họp chi ủy trong Hốc Bò. Họp ở Hố Bò xong về họp ở Bến Mương, họp Bến Mương xong thì kế mít-tin ở Bàu Chứa.
- Sao ông biết vụ Bàu Chứa nữa ông nội?
- Chim cò đều biết nữa là tôi? Theo tôi thầy nên cắm cọc ủa cắm thẻ nhận ruộng cho rồi đi. Sào nào cũng đất màu hơn ruộng ngoài ta cả. Thầy cứ dạ hành tỏ hoài, không ổn đâu Tôi nghe có vụ suýt chạm súng ở quán bà Tư The phải không?
- Ờ có nhưng mà . . .
- Cô Quắn, cô Ua và cô Là đều ác xiêm lai như nhau, không cô nào kém cô nào. Thầy đã thông nòng rồi thì nạp đạn luôn đi, à mà quên nạp cả rồi! Nhưng thầy đang kẹt vụ cà rá có chữ “L” phải không?
Tôi ngồi ngớ ra. Trong trí tôi hiện lên mảnh trăng lu ở rừng chồi đêm trước… Tôi nhớ cái gốc rơm bát ngát. Từ bờ ao thơm mùi cá nướng đến bộ ván gõ trong gian nhà có tiếng tắc kè, từ chai rượu trên bàn thờ đến căn chòi xã ủy. Tất cả vụt quay lại trong đầu tôi như một đoạn phim ly kỳ.
Tôi bị cuốn hút theo con ma đang đội lớp người hay chính tôi cũng là một con quỉ? Tôi đã phóng mình theo như một mũi lao, không nghe cả tiếng gió rít hai bên thân mình, chưa bao giờ tôi mê dại như đối với nàng. Nàng cũng thế. Nàng không nói hơn ba câu:
- “Em cho anh tất cả những gì quí giá nhất của em mà em gìn giữ lâu nay.”
- “Em thấy chết thế này mới đáng chết.” (Khi pháo Trung Hòa bắn vun vút qua đầu.)
Rồi thôi. Mắt ngó . Tay chân cũng nhìn, thân thể nói năng, còn miệng thì câm hẳn. Nàng dữ dội hơn cả trong những sách mà tôi từng đọc. Một lần, một lần rồi lại một lần.
Có lẽ Sartres sống lại (hình như năm 64 ông còn hiện sinh) cũng phải sợ hãi khi nhìn thấy cảnh tượng trong căn chòi hoang này. Hoặc ông sẽ hài lòng vì thấy luận thuyết của ông đã thâm nhập vào đời, vào tận những con tim sống trong khói lửa và tù ngục.
Tuy đã thỏa thuê rời rã, nằm bên một nàng tiên, tôi lại nhớ những nàng tiên. Trái tim thằng đàn ông quả là vô liềi lượng. Trong đầu tôi lại chập chờn hình dáng cô sẫm lai tên Mầu ở quán chệt hôm nọ. Nàng quả là một tòa thiên nhiên trời đúc nên chớ chẳng phải tay phàm. Napoléon, theo lý luận của Năm Lê, mới là kẻ sống đầy đủ trên chiến trận và trong cuộc đời ông ta yêu, yêu mãi và chưa hề biết chán. Đến khi bị đày ra Ile d’Elbe hay Sĩ. Hèlène nhưng ông ta vẫn được một cô gái 16 tuổi con của viên giám thị trại tù giam ông yêu. Và trước khi ông ta chết, câu nói cuối cùng của ông ta là: “Tôi chỉ ân hận một điều: yêu đàn bà còn ít quá !”
Còn tôi? thằng pháo binh hạng bét này đã yêu đàn bà đã nhiều chưa để trước khi chết khỏi nói cái câu bất hủ của hoàng đế Nã Phá Luân?
Không biết! Tôi chỉ biết là tôi cũng hiện sinh. Tôi biết chắc chắn Củ Chi đất thép sẽ thành bùn, và thây tôi sẽ tan tành trăm mảnh hoặc sẽ vùi chôn trong một lỗ bom. Một thanh niên ba mươi lăm tuổi chưa vợ và không hề muốn một cô gái nào trở thành góa phụ vì tôi. Ý nghĩ đó dù tôi đã nói ra cho một em nào, hay tôi còn giữ trong đầu, nó vẫn là của tôi.
Tôi kể tỉ mỉi đến mức có thể cho Hai Khởi nghe câu chuyện liêu trai tân thời và kết luận:
- Chúng mình rồi sẽ chẳng có đứa nào an toàn để hưởng hạnh phúc gia đình.
- Quan niệm của tôi khác thầy ! Trong chiến tranh ác liệt, ta vẫn tìm cách hưởng thụ hạnh phúc gia đình. Tôi xa vợ con ngoài Bắc vô hạn định, nên tôi tự cho phép tôi lập gia đình trong này. Huống chi là thầy chưa có cái nào ? Thầy nên nghe tôi đi. Thầy đang ở giữa trận địa của đội quân đầu tóc nhà : tóc suông, tóc kẹp, tóc bới và bây giờ tới tóc bồng, thầy gật một phát là xong.
- Tôi có muốn đâu, ông coi đó, người ta áp-xô tôi ngay trong nhà người ta .
- Bây giờ tới cặp Thúy Kiều Thúy Vân này nữa, thầy làm sao?
- Làm sao ai biết làm sao, nhưng không phải chỉ có cặp Vân Kiều này thôi.
- Còn ở đâu nữa?
- Gót Chàng. Rồi hai nàng Hằng Nga ở đây nữa!
- Cô Bảy và chị Tư cô ta à ? Tư Mai có con rồi mà !
- Ừ thì vậy đó. Kỳ rồi tao đến, nàng bảo con bé kêu tao bằng ba.
- Thằng chồng đi công trường 9 bộ rửa chân lên bàn thờ rồi à?
-Tao nghe đâu vậy, nhưng không tiện hỏi. Ngoài ra cũng có thằng cắm thẻ nhận ruộng rồi nên tao chỉ bủa lưới phóng lao vòng ngoài với cô em rũng sĩ thôi.
- Thằng nào dám nhận ruộng trong vùng đất tôi vậy.
- Ông biết Tư Linh Phó ba địch vận khu không? Nó cũng bị rau muống quấn như ông vậy.
- Đọ thầy thấy cái chánh sách hàng hai của tôi hay không? Lớn nhỏ đều theo cả mà ! Từ Tư Khanh, Năm Lê đến Sáu Nam, kể cả Sáu Thọ, Ba Duẫn mà !
- Ông nào cấy su hào ngoài đó rồi, bây giờ về đây thấy cây nhà lá vườn thì tiếc hùi hụi.
- Con bé của tôi mới 19 nhưng găng lắm. Nó bảo phải đảng ủy tới hỏi nó mới đi R.
- Con gái đứa nào không nói vậy, nhưng nếu làm được vậy thì ông Tám Lê đâu có phải bí mật nạo thai cho các cô. .
Hai Khởi lắc đầu rồi bắt sang chuyện đánh đá.
- Thầy có chỗ đặt pháo chưa?
- Đã thấy rồi. Đo đạc xong. Tất cả các trận địa đều có xong phần tử mục tiêu.
- Mần thì dễ chui lại khó. Cũng như Tôn Văn nói: “Biết dễ, làm khó” vậy ông thầy ơi!
- Tôi cho bắn một lúc ba khẩu đặt ở ba nơi. Chúng nó sẽ không biết phản ứng phía nào. Thừa lúc thằng lính lên chuồng cu hụp xuống tránh đạn, tôi cho di chuyển pháo qua đồng trống đến gần đồn hơn.
Hai Khởi đập vai tôi.
- Hay lắm! ! Hai Giả bó tay là vì không có được cái sáng kiến này. Tôi phục ông là thầy pháo. Nhưng tôi nói ông nghe. Mình nổ xong là nó trả hỏa ngay. Rồi đổ chụp và xe tăng càn tới liền.
- Chuyện đó sẽ bàn với ông Tám Dò sau.
- Các ông nội khu ủy đang ở Xóm Thuốc, nếu mình pháo thì sẽ động ổ, mấy ông la cho coi.
- Đánh giặc mà nghe theo mấy ông đó thì thà ngồi thum cho khỏe gà. Ông Năm Lê ghét mấy ổng lắm.
- Các ông phổ biến nghị quyết thì luôn luôn thừa thắng xông lên, nhưng hễ mình xông lên thì mấy ông lại sợ động đất đai, đau lòng bà thủy.
Tôi tạt ngang:
- Cô bé coi được đến, coi chừng cậu đi theo con đường của Năm Lê, Hai Giả, Tư Khanh. Một là rơi sao hai là lên bàn thờ. Hai Giả xuống đó có hai tuần bị tụi Phượng Hoàng khui hầm. Đến nay ở trên còn nhẹm. Tôi chưa dám cho vợ y biết.
- Tới đâu hay tới đó. Thằng nhỏ có hai nhiệm vụ chiến lược. Ra miền Bắc nó chỉ làm nhiệm vụ chiến lược số 2 còn nhiệm vụ chiến lược số 1 thì lại không làm được. Bây giờ về xứ có địa bàn không lẽ cứ để nó làm nhiệm vụ số 2 như ở ngoài Bắc 8 năm trường?
Chương năm mươi tám
Lính Bác Hồ mừng Quốc Khánh với thịt chó.
Tình hình biến động càng ngày càng bất lợi cho cuộc hành quân nghiên cứu chiến trường của tôi. Tôi quyết định thay đổi lộ trình, cho về đơn vị một số cán bộ , tăng thêm một số khác và tiếp tục nghiên cứu.
Đến Ngã Ba Cây Trâm cũng còn gọi là Ngã Ba Xe Cháy thì trời nắng rát mặt, Ba Tố đề nghị vô quán bên lề đường uống nước rồi sẽ đi về Hố Bò.
Tôi hỏi chuyện cũ. Ba Tố trỏ vào rừng, bảo:
- Nó nằm trong đó. Chẳng phải là xe tăng thường đâu, M13 đó ông thầy ơi! Tôi về đây thì đã nghe chuyện đó rồi. Nó tam sao thất bổn, chẳng ai rõ gốc ngọn ra sao. Người thì bảo là mình đánh được ở ngoài quốc lộ 1, kẻ lại bảo là do xã đội Phước Thành là binh vận kiểu ở bên Bình Dương. Người ta thêu dệt rằng thằng Hai Đen xã đội trưởng cầm cờ đứng trên nóc xe ra lịnh cho thằng lính bên trong lái về Hố Bò, nhưng tới An Phú thì bị du kích bắn. Nó hoảng hồn quăng cờ nhào xuống đất tưởng gãy cổ.
- Còn thằng lính đâu?
- Ai mà biết được, chỉ thấy cái xác xe nằm trong rừng, bị chôn ngập tới nửa dây xích. Tôi cho lính vác xà beng tới nạy lấy một mớ mắc xích về để trên nắp hầm chống pháo, nhưng không nạy được vì nó liền mí với nhau. Nếu mà mình đem nó về nhà được, đào hầm rồi đẩy nó xuống, mình ở trong như hầm bằng thép, pháo nào bắn nổi?
Tôi nói:
- Vậy tôi nghe đồn rằng mình đã dùng chiếc xe tăng đã làm chỉ huy sở.
Bính Chân Lư cười khoe cả cái bàn nạo:
- Tôi còn nghe đài nói là mình lái xe vô tấn công đồn nữa chớ .
- Đài nào?
- Thì đài của bà Nhã Nam đó chớ còn đài nào. Chính bả đã bịa ra chị Năm Cầu Xe, đài tưởng chị là anh hùng thiệt của đội quân đầu tóc. Cái vụ dùng xe tăng tấn công đồn chắc cũng là do bà nhép đó cho tài liệu thôi. Do đó mà phát thanh rần ì liên tục. Tụi tui nghe muốn khùng luôn.
Tôi nói:
- Sở dĩ tôi hỏi là vì hồi năm ngoái tôi có đưa thằng nhà báo Bọ Chét đến đây quay phim. Tôi có tìm người để giàn cảnh sống như tại trận. Đại khái như là có một số lính Mỹ giơ tay lên đầu hàng trước họng súng của quân giải phóng, rồi một tổ tam tam chế đứng trên xe tăng phất cờ mặt trận. Nhưng tìm không ra Mỹ . Ông binh vận Tư Linh móc hoài mà không được thằng nào hết. Hơn nữa không có ai biết máy móc nên không làm chiếc xe tăng cục cựa được. Chỉ cần nó lăn vài chục thước thôi mà cũng không có cách nào. Cho nên thằng nhà báo chỉ quay cái xác nó và chợ An Nhơn, một vài chiếc xe lam đi đấu tranh chỉnh trị . . .
(Cộng Sản là chúa dàn cảnh để bịp thiên hạ. Năm 1960-1961 gì đó, bọn Hà Nội có tổ chức một cuộc ra mắt cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại trụ sở Quốc Hội ở Ba Đình. Khách Quốc Tê gồm Liên Xô, Trung Quốc, các nước Đông Âu, Venezuela, Argentina, Cuba v.v… Nhà báo thì có bà già Anna L. Xít-trông, Bẹc trơ răng Anh Quốc không đến được đã thân tình gởi băng ghi ăm tiếng nói ông ta đến chào mừng đại hội. Nguyễn văn Hiếu, Mã thị Chu đang nằm bệnh viện Việt Xô được xốc dậy thay quần đổi áo bò lên xe cây che kín bốn bề dông tuốt lên Lạng Sơn cho đi tàu hỏa về ga Hàng Cỏ huýt còi hoéc hoéc, đồng bào ra đón ì ì, tưởng là hai ông bà từ miền Nam độn thổ ra Hà Nội! Hai ông bà xuất hiện ở đại hội trước những cặp mắt khâm phục của “tàng thế giới. ” Họ có ngờ đâu đây chỉ là màn bịp của tụi lưu manh Hồ. Riêng phái đoàn quân sự của Mặt Trận Giải Phóng thì có một ông tên là Nguyễn văn Long tiểu đoàn trưởng quân Giải Phóng, mặc đồ nhà binh màu cứt ngựa, áo bỏ vô quần… Tôi biết ông tiểu đoàn trưởng đó là ai. Hắn tướng mạo bần cố hơi lớn con, có bộ mặt sốt rét, bị phục viên cuốc đất ở nông trường Xuân Mai của ông Ba Tô Ký. Hắn đang rầu rĩ vì tương lai mờ mịt, bỗng dưng được xúc về Hà Nội làm Tiểu đoàn trưởng. Sau khi hội nghị bế mạc, anh em không thấy ông Tiểu đoàn trưởng Giải phóng quân trở về nông trường nữa. Chúng nó dám cho ông mò tôm để diệt khẩu lắm. Cộng Sản mà, cái gì chúng không dám làm)
Tôi dặn Sáu Đức mấy điểm mang về truyền đạt cho Sáu Phấn để chuẩn bị vào đợt:
1 ) Móc súng lên lau chùi nhưng nhớ chuẩn bị chỗ giấu ngay nếu có đổ chụp đút trở lại.
2.) Liên hệ với Tám Giò lấy du kích tổ chức thành đội để vận tải đạn pháo.
Tôi dặn thêm:
- Tình hình đã meo rồi. Phải hành động càng sớm càng tốt. Khi tôi về sẽ cùng với Ba Tố nghiên cứu phục kích đánh tàu trên sông Sài gòn. Phải hạ được vài tàu, tệ lắm cũng xơi gọn vài chiếc giang thuyền khi nổ súng thì phải đồng loạt để địch không biết chính xác mặt trận chính là đâu! Rồi sẽ liên hệ với Trảng Bàng và Bến Cát. Đề nghị với quân khu cho hai quận đó tiếp ứng, cầm chân bộ binh, bịt họng pháo binh.
Giọng Sáu Đức lạc quan:
- Vậy làm ăn to hả thủ trưởng?
- Chó đạp cũng chết, trâu đạp cũng chết! Nhưng trâu đạp chết vinh quang hơn.
- Còn Trung Hòa định thế nào thủ trưởng?
- Tôi sẽ có đề án chi tiết sau.
Trong bụng tôi rất quyết tâm làm một cú cho nổi đình nổi đám, để chuyển cái thế bị động giành thế quân bình: địch đánh ta mười ta trả lại một, hai cũng được, chớ không để địch đánh mà ta không trả miếng nào. Tôi bảo Lam:
- Em theo Sáu Đức và anh em về cơ quan lo phần việc của em. Anh đã bảo quản lý cho mua bông băng thuốc men. Em về là có sẵn. Em nên soạn sẵn. Anh sẽ xin ở trên cho thêm vài cán bộ của C5 xuống H6, đi theo các khẩu đội ra tận chiến trường.
Lam phụng phịu:
- Xin ai thì xin, anh đừng xin hai bà trời con của ông Tư Chuyền.
Tôi biết Lam không thích hai cô Nga từ lâu, nên bảo:
- Anh không xin đích danh ai hết. Tùy ở trên cho ai thì cho.
- Anh không cho em theo hết chuyến này hay sao?
- Sau đây anh chỉ lấy một vài người để di chuyển cho nhanh. Công tác này liên hệ với các quận Trảng Bàng và Bến Cát em không có nhiệm vụ gì trong đó hết. Em đi Ràng kỳ rồi là …
-… Vô kỹ luật phải không?
- Cũng đâu đó !
- Em cũng biết vậy, nhưng nếu em không liều mạng thì không biết dịp nào má mới gặp được anh và em để quyết định. Về cơ quan, anh cứ tuyên bố trước quân hàng em.là vợ của anh, kỷ luật gì em cũng chịu.
Lam vừa nói vừa móc túi nhái lấy hộp nữ trang mê ra, lấy một chiếc nhẫn đưa cho tôi. Tôi liếc thấy trên mặt nhẫn có chữ L. Trên mặt chiếc kia cũng giống y.
- Em chuẩn bị hồi nào vậy?
- Em nói với má. Má đi ra thợ bạc đặt làm ngay.
- Em làm phiền má quá ?
- Má cưng anh còn hơn em. Anh đeo đi !
- Anh không quen đeo cà rá .
- Không quen thì tập. Em cũng có quen bao giờ. Anh đeo, em cũng đeo thì không còn ai dòm dèm gì anh nữa.
- Đàn ông đeo cà rá vàng coi chướng lắm.
Lam bỏ vào sắc-cốt tôi.
- Vậy anh cất đi !
Đến chỗ rẽ, cả đoàn dừng lại. Tôi dặn dò Sáu Đức vài việc nữa rồi chia tay. Lam tỏ vẻ không muốn rời tôi, nhưng nàng biết lần này nàng không thể vô kỹ luật nữa. Tôi hôn Lam. Cái hôn ngập ngừng chưa trút hết điện trước khi tạm xa nhau. Tôi, Ba Tố, Tôn Sứt, Bình Chân Lư, Hùng Cối họp thành phái đoàn kéo về phía Hố Bò. ở đây, chúng tôi sẽ nghiên cứu trận địa đánh giang thuyền vùng Bò Cạp nơi Là đã dắt tôi đến kỳ trước. Lam đã đi, còn quay lại:
- Anh đi mau mau về nghen!
Đi vô sâu vùng giải phóng, không còn sợ cặp mắt của Trung Hòa, tụi tôi tha hồ nghênh ngang và tán phéc như pháo nổ. Bình Chân Lư tấn công tôi trước nhất:
- Thầy Hai quan trắc trận địa nhanh quá ! Tụi tôi chịu thua tuốt.
Tôn Sứt hỏi.
- Anh có bùa ngải gì không? ở trên K vô trong Bộ Chỉ huy, học sinh thành bu một lúc nửa tiểu đội, về trường pháo từ con gái nông dân đến đàn bà góa cũng đeo, rồi bà khu ủy sồn sồn cũng muốn bắt xác. Rồi xuống đây hai ba xôi nhồi một chỗ.
Ba Tố bổ sung:
- Tôi ghé đội dũng sĩ Út Nhỡ, nghe cô nào cũng nhắc anh Hai. Anh Hai xúc toàn cá rô mẹ còn mình lội đục nước không vớt được con lòng tong nào kho quẹt đỡ thèm.
Bình Chân Lư tiếp:
- Đi với ổng, mình lép quá các cha!
Tôi cười:
- Kỳ này hễ chỗ nào có chất tươi, tôi lặn để các ông hoạt nghe! Riêng ông Tôn tôi sẽ dẫn đi coi mắt năm nàng công chúa tuyệt sắc một lúc.
- Tuyệt sắc cỡ bà khu ủy không?
Hùng Cối la lên.
- Ê đừng có đụng tới chị nuôi tao nghe.
- Mày hổng có ai … đụng để giành mày đ… hả?
Tôi can thiệp.
- Đừng có nghi oan cho nó. Nó có em nuôi bán quán bảnh lắm. Lúc nào rảnh rảnh tụi mình lên đó ăn hủ tiếu Tư Hẹ rồi mua kỳ đà nhậu chơi. Ê Hùng, lúc sau này mày còn gặp Tư Ó và tổ xe bò nữa không?
Hùng cười mũi:
- Cả Xóm Mới bây giờ tan tành hết rồi. Mấy cái ghe hàng đậu phía bên kia bờ sông Vàm Cỏ đã lui mất. Cô em nuôi có chồng rồi. Còn Tư Óó đã trốn ra Tây Ninh.
- Sao họ bỏ mày họ đi hết vậy?
- Thì em nuôi sợ anh nuôi trổ mòi chớ còn sao nữa! Một trăm thằng anh nuôi có thằng nào là không ló cựa đâu. Tía nuôi cũng thế nữa là anh nuôi.
- Bà má đi mất là vì chị khu ủy cứ mua đồ ghi sổ dài cả cây số mà không chịu trả tiền nên bả cụt vốn, còn tổ xe bò Tư Ó trốn là vì ở trong này đói quá. Ngoài ra còn ăn bom pháo hàng ngày. Mấy lúc gần đây B26 lại chơi cái trò bom trộm anh ạ .
- Mày có gặp thằng Cử nữa không?
- Nó còn ở trong đó ngâm thuốc rượu bao tử nhím, còn ông Một và bà Một thì vác bàn thờ Phật đi Cao Miên dưỡng lão rồi. Tôi và thằng Cử đưa ông tới Xa-mát. Ổng rưng rưng: “Chúc bây ở lại bình an vô sự! ” Bây giờ thì Bùi Khanh thay chân ổng là Xã đội trưởng vùng rừng đó.
Tôn Sứt vuốt đuôi:
- Phải có Bùi Khanh xuống đây thì đủ bộ săn mễn, vui quá !
Tôi gạt:
- Ở dưới này Bùi Khanh chịu không thấu đâu. Thằng Đồng Dù không cho phép mình giăng võng hát hơ hát hà đưa em như ở trên R. Ở trên đó chỉ sợ B52 còn ở đây sợ đủ thứ. Để chú mày sống thêm vài bữa rồi sẽ nếm mùi Củ Chi đất thép thành…
Bính Chân Lư cười hắc hắc và nhại lại:
- Củ Chi đất thép thành đồng, Củ Chi chất nhép đầy đồng.
Còn đang vui chuyện thì ở đằng kia có bóng hai người đi lại một đàn ông một đàn bà . Thì ra thằng Năm Đầu Ban và cô xã đội phó Là . Định bụng sẽ ghé nhà thăm hai chị em nàng kiều Hố Bò, thì lại gặp cô em ở đây. Vừa trông thấy tôi, Là vọt tới và lạ bài hải, rồi nghẹo ngang khóc như con nít.
- Anh Hai ! Anh Hai !
Ba Tố cười hô hố:
- Anh Hai có mua kẹo dừa đậu phộng, kẹo xí-cô-la cho cô kìa ! Nín đi ! Xã đội mà khóc mếu vậy Mỹ nó cười !
- Tui khóc thây kệ tui, ai biểu mấy ông chọc ghẹo!
- Coi bộ tướng cô em giống con sẩm lai ngoài Ràng quá, chỉ khác cái nước da dang nắng thôi. .
Là nguýt một cái sập trời, nhưng rất hài lòng vì được khen đẹp như cô sẩm.
- Mấy ông đi đâu cũng phất mùi sua đủa ra nặc nồng. Con Mầu là tư sản đó nghe. Nhảy vô kiếm ăn!
- Nóô tư sản nhưng tía nó bán la de không lấy tiền, là tư sản yêu nước… đá !
Là phụng phịu.
- Lớp học pháo gì chiêu sinh lâu vậy mà không khai mạc?
- Chờ kiếm hầm hố, địa điểm cho bảo đảm rồi mới đám khai chớ. Lơ mơ nó chụp thì chạy vô đâu? Phú Mỹ Hưng của cô đã chọn học sinh chưa mà hối thúc? Chắc xã đội của cô gởi đi đông nhất quận.
Là sìa môi:
- Danh sách thì có cả trung đội nhưng thực tế thì chỉ có tôi và Năm Đầu Ban thôi.
- Vậy các cô Năm Trong, Sáu Biền, Út Nào, Tư Ếch đâu?
- Còn rút trong hang Sa Nhỏ, Bến Chùa, Bến Súc nhưng chúng nó nói Phú Mỹ Hưng đâu có cái đồn nào mà mình phải học bắn súng cối. Cái đó để nhường mấy xã có đồn bót, cho nên thối thoát không chịu đi.
Bình Chân Lư giơ tay ra bộ.
- Đem đòn mà xeo chúng nó !
Ba Tố giải thích. :
- Nói vậy sao được ! Nếu tụi Mỹ nó đổ cụm ở Đồng Trà Dơ thì các cô vác súng cối ra phệnh chúng nó có phải là chắc ăn hơn bắn trường bá đỏ không?
Hùng Cối vốn cây hảo ngọt, thấy cô xã đội non mỡn, chưa biết là em nuôi của thầy pháo, nên bỏ vòi:
- Cối bắn giang thuyền hoặc tàu lồng cu trên sông Sài gòn rất hiệu quả đó cô xã đội.
Bính Chân Lư rót thêm:
- Thằng cha này là tay cối thủ 81 đó cô em ! Nó sẽ dạy cho cô bắn đìa rét một phát là một chuồng cu lật ngang thôi.
Năm Đầu Ban nhảy cà tưng:
- Vậy học xong, quận cấp cho tụi tôi mấy cây?
- Muốn mấy cây cấp mấy cây. Thứ đó bây giờ mình có nhiều như củi dừa vậy.
Thấy đứng giữa đường hơi lâu, Ba Tố giục:
- Thôi, mình đi vô xóm rồi hãy bàn tiếp, ở đây coi chừng cá rô rỉa.
Thế là đoàn tiếp tục đi. Ba Tố hỏi Năm Đầu Ban:
- Còn thằng Trương thằng Hiếu đâu?
- Hai đứa nó theo dòng họ đi qua Bình Dương rồi.
- Năm Thuận không trở về à ?
Là đang đi tụt hậu với tôi, nghe hỏi, vọt miệng:
- Ông nội con ít nói gạt chú Tư Thiên, bảo là đưa vợ con qua Phú An rồi về câu tôm ở sông Sài gòn và tiếp tục công tác, nhưng lặn mất tiêu rồi. Chi ủy viên mà vậy đó.
Ba Tố cười:
- Nếu vậy tôi đề nghị quận chỉ định cô làm xã đội trưởng cho luôn hệ thống với bà Phó tư lệnh miền.
Nàng vừa nói vừa nhìn tôi để thăm dò.
- Tôi lạy mấy ông! Tôi cũng sắp đi Bình Dương ở với má tôi rồi!
Tôi chụp lấy cơ hội, nghiêng qua rỉ tai nàng:
- Em với cô Lụa nên đem bé Rớt qua An Thành làm ăn càng sớm càng tốt. Tình hình sắp tới đây đàn bà con nít chỉ vướng bận công tác chớ không có làm được việc gì đâu!
Nàng tưởng tôi ngăn chặn, chẳng ngờ tôi nói xuôi theo, nên mát mẻ:
- Ừ anh nói vậy mai em đi. Sẵn có ông lớn đây, em giao xã đội Phú Mỹ Hưng lại cho ổng, ổng chỉ định ai làm thì làm.
Tôi vẫn thản nhiên. Còn nàng thì ngó ngang không nhìn tôi nữa. Tôi tìm cách vuốt giận:
- Lâu nay má có nhắn gì về bên này không em?
- Hổng có nhắn gì hết!
- Có ai đi qua bển nói đùm anh kính lời thăm má.
- Không có ai qua bển hết! .
Tôi vuốt lưng nàng, tiện thể ấn nhẹ một cái hôn bên thái dương và rủ rỉ:
- Thôi mà giận gì không biết nữa. Anh nói vậy là anh đã suy nghĩ kỹ rồi. Anh bận lắm, đáng lẽ phải đi sang Trảng Bàng ngay để bàn việc phối hợp vào đợt với bên đó, nhưng anh muốn tạt qua đây để bảo em phải đi sớm. Tụi nó đi hết rồi, em còn ở lại làm gì nữa? Đàn ông con trai mà cũng đã khôn vong tìm đường sông rồi. Em coi ở Xóm Thuốc mấy ông khu ủy còn ở đó không? Họ dông hết rồi. Tụi anh là mình đồng xương sắt mới còn bám trụ ở dây thôi. Anh biết em còn nán ở lại đây là để chờ anh. Nhưng có lẽ mình khó gặp nhau lắm, không gặp nhau nữa là khác. Các đơn vị bộ binh pháo binh du kích ba quận Trảng Bàng Bến Cát Củ Chi sắp vào đợt một lúc. Chừng đó, em muốn đi cũng khó.
Cô xã đội lặng thinh, bước chân nặng nề vất vả.
Tôi thấy thương em vô cùng. Đáng lý nàng đã có chồng, có con như những người con gái bình thường khác trong thôn xóm. Đáng lẽ Lụa có thêm đứa con, và Thơm đánh xe bò kiếm tiền hàng ngày nuôi vợ chớ không phải đi dân công bỏ thây nơi chiến trường Bình Giã Phước Long. Đáng lẽ má Hai không mất anh Điều vì cái trận đánh Bến Súc theo chiến thuật A-thần- phù năm 47 do Ba Tô Ký chỉ huy. Bây giờ má đã có cả bầy cháu nội. Ngược lại, cái gia đình này tan nát vì kháng chiến. Chồng chết, con trai độc nhất hi sinh, con gái góa chồng, con gái út chênh chông…
Nhiều đêm tôi nằm suy nghĩ không hiểu tại sao đám con Huê, con Tiến, con Hiền, con Thảo, bà khu ủy, mấy chị Năm Đang, Hai Xót và vô số học sinh thành như Huỳnh Mai, Chi Trúc, Thanh Tuyền lại bỏ đời sống yên ổn để vào đây sống lăn lóc và chết chóc? Và bị các chú bác cha nuôi chú nuôi mò, tống, hiếp, nhục nhã vậy?
Tôi đã tìm ra nguyên nhân: cái đài_Hà Nội rồi kế đó là cái loa Giải Phóng của tên luật sư mang án hãm con nít. Chúng đua nhau tô vẽ Miền Bác Xã Hội Chủ Nghĩa thành một thiên đường và bôi đen Miền Nam như một địa ngục. Ai mà chẳng mơ Thiên Đàng, trong lúc oái oăm thay chúng mình đang sống trên Thiên Đàng thực sự. Cho nên bỏ thiên đàng thật mà đi tìm thiên đàng giả, để rồi cuối cùng xuống địa ngục. Nhưng đã trễ rồi! Lũ quỉ đỏ đang xẻ thịt nhai xương!
Ba thế hệ thanh niên tươi tốt của đất nước đã bị lừa, bị bán rẻ , bị cho không, bị chà đạp dưới đôi dép lốp đạo đức giả của tên Hồ tặc. Cả tôi nữa, một tên Lê Dương mang một trái tim ê chề đau đớn nhưng tới đây chưa dám vứt súng đi để trở về đời sống bình thường, cứ đeo đuổi theo lý tưởng mà chính tôi cũng không hiểu nó là cái gì, tròn méo, đen trắng ra sao nữa? Bất ngờ cô xã đội nói:
- Bữa nay mấy ổng ăn lễ Quốc Khánh lớn lắm!
- Ai?
- Đám ông Bảy Hốt.
- Bảy Hốt nào?
- Anh quên bà Sáu Tiệm định làm chị nuôi anh rồi à?
Tôi cười:
- Lâu nay anh ở dưới kia không nghe ai nhắc hai cái tên đó.
- Anh mà quên! bà Sáu Tiệm gạ sẽ mua bình toong mới ngoài chợ Bắc Hà cho anh đó !
- Bả mua về bán cho anh chớ đâu phải cho anh. Em cứ buộc anh vô đó hoài.
Là nó lãng ra :
- Bây giờ bả có một lô em nuôi toàn bộ đội miền Bắc.
- Ở đâu có vậy?
- Họ ở đâu trển xuống đóng cùng khắp từ Trảng Cỏ tới Rừng Tre.
Tôn Sứt tỏ vẻ rành chuyện.trên R:
- Mấy ông con đó làm bể Trảng Bà Điếc rồi, bây giờ kéo xuống đây làm cho nát luôn cái Hố Bò nữa ! Lúc từ trên R xuống, tôi gặp họ di chuyển qua cầu Cần Đăng. Thấy họ mình nhớ hồi ở Trường Sơn quá !
Tôi hỏi Là:
- Ai ăn lễ Độc Lập?
- Thì mấy ông đó với các ông cơ quan bộ đội đóng ở Phú Mỹ Hưng làm rùm beng đây rồi đố khỏi ăn dưa hấu.
Bính Chân Lư chối bài bãi:
- Ai làm gì làm, tụi tôi không có tham gia nghe cô xã đội.
Là quát:
- Từ ngày B52 cày đường 15 mấy ổng trốn biệt tích đâu có dám ló mặt về đây.
- Người ta bám địch ở vùng meo mới có mần được chớ.
- Ra vùng meo để đeo cô dũng sĩ áo hồng chớ gì?
- Nó ra đó lấy lính rồi, còn đâu mà đeo !
Chúng tôi kéo về thẳng nhà Lụa. Xóm nhà bây giờ đông hơn lúc tôi ghé hồi năm ngoái. Là trỏ cho tôi và bảo:
- Cái nhà mới đó là của chú Hai Bơi, phó bí thư. Chú đi, hai tay cà bơi như hai chiếc dầm nên bà con gọi là Hai Bơi. Chú Hai dời nhà bên Bến được về trong này, một là lánh mặt tụi giang thuyền, hai là giúp chú Tư. Chị Tám, chú Hai Xe đánh xe bò vẫn còn ở đó.
Vài ba nóc nhà mới núp ở ven rừng cao su. Con đường mòn đi vào C5 đã bít ngang. Chắc các cô các cậu đã mở một cửa khẩu khác để lưu thông.
Lụa chảy nước mắt khi nhìn thấy tôi. Nàng mếu máo:
- Tưởng anh quên… con Rớt rồi chớ!
Bé Rớt mắc cỡ đứng nép bên gốc cột chớ không chạy lại ôm tôi như trước. Nó ốm và già đi chớ không thấy lớn lên. Lụa nạt:
- Sao không chạy lại mừng cậu Hai?
Bé vẫn đứng tay cào cào cây cột. Tôi bước lại bế nó lên, hôn nó. Thấy nước mắt ướt gò má thơ ngây tôi cũng nghẹn ngào:
- Nặng quá, bồng hết nổi rồi.
Chốc đây mà đã gần nửa năm, kể từ khi lập hội Ve chai chống Mỹ ở đây.
Tôi hỏi Lụa.
- Có ai làm sao không em?
- Pháo bắn gấp ba lần trước nhưng trời đỡ hết anh ạ.
Là xớt ngang:
- Không ai trầy da, chỉ có nửa tiểu đội du kích chiêu hồi hoặc ra ấp chiến lược chống Mỹ thôi!
Con Rớt chạy vụt ra cửa sau và kêu ré lên:
- Lượm ơi ! cậu Hai tao về nè!
Tôi tưởng mình là người xóm này đi xa mới về, buồn bả vô cùng, khi nhìn thấy ngôi nhà xơ xác, trống trơn. Giếng nước vẫn còn đó nhưng giàn mướp hoa vàng năm xưa đã rụi đi từ bao giờ, cái giàn mướp đã sập để cho chiếc gàu nhôm không còn chỗ nghĩ ngơi, phải nằm lăn dưới đất. Con đường mòn dẫn xuống xóm lò đường vẫn phủ đầy lá cao su khô, nâu sẫm rung rung tương tự những cái vãy con rồng chết xững lên mỗi khi có gió lướt qua, như nó muốn bay lên mây mà vẫn bị buộc nằm ở đó.
Từ con đường đó Lụa ở đằng nhà má về nhà gặp tôi một mình khi thằng Lạn đưa tôi tới đây lần đầu. Lúc đó trong nhà đã có hầm. Bây giờ cũng cái hầm đó nhưng nóc hầm đã đắp đất dày thêm gấp đôi. Lụa, Là sống nhờ miếng vườn của má với cây trái còn sót lại sau một trận bom. Nhà má đã cháy khi tôi dự hội anh hùng từ R trở về. Nhà Lụa thì được bom pháo kính trọng hơn nhưng trước sân một hố, bên cửa hông một hố điểm trang cho bức tượng Vọng Phu sống của Củ Chi.
Tôi hỏi:
- Pháo Đồng Dù hay Trung Hòa vậy em?
Là chua chát đáp.
- Trung Hòa chính hiệu, Đồng Dù cặp sườn! Còn một quả bọc hậu nữa là xong cái chiến thuật bủa lưới phóng lao của trực thăng. -Là vừa nói dứt lời thì reo lên – ông thiếu úy xe bò, mau lên, Anh Hai tôi với phái đoàn tới chờ anh nè !
Tư Thêu và một lính mới không quen, khiêng cái đùi bò toòng teng đi vào sân vòng qua cửa hông treo trong bếp. Tư Thêu bảo:
- Cái đùi sau con bò xe nặng quá, coi chừng sập nhà ! – rồi chùi tay vào vạt áo đi thẳng lại bắt tay tôi – Anh đi đâu lâu vậy ? Tưởng anh trở ra Hà Nội đi Liên Xô Trung Quốc gì rồi chớ.
- Xí Xô, Quốc nhẹp thì có ! Đùi bò đâu vậy?
Tư Thêu nghẹo đầu phân trần:
- Ở ngoài kia lái xe có khẩu hiệu Coi xăng như máu, coi xe như con còn tôi chăn bò Coi xe bò như con, coi bò cũng như con. Nhưng pháo nó lại không coi như mình. Nó làm bị thương một con. Trị lâu quá không lành. Tôi thỉnh thị lên K30 xin ông Tư Năng cho làm hàng ăn mừng 2 tháng 9. Ổng đồng ý nhưng bảo làm ra thì bán lấy vốn mua con khác cho Hậu cần tải gạo. Cái đùi này là phần của cho thương binh và nhân viên C5.
- Có phần nào cho H6 không?
- Để rồi em giải quyết cho anh.
Đám con Lượm con Rốt chạy ùa vào bu quanh tôi. Tôi lấy gói kẹo trong sắc cốt ra chia cho chúng nó. Là nạt:
- Anh cưng quá, tụi nó lừng! Đi xuống hầm đánh đủa, ăn kẹo đi, ở trên này cớn rớn người ta không làm việc được.
Ba Tố qua nhà chị Tám Khỏe nãy giờ coi bộ ngọt nước ngọt cái nên im luôn. Bây giờ chị Tám mới qua, gương mặt đỏ rần và hơi xẻn lẻn:
- Cậu Hai mới về hả?
Ba Tố lớn con, râu rậm nên khó xáp với các cô như Sáu Hòa bên Bến Cát, nhưng cỡ chị Tám thì vừa chạng. Mà chỉ đá độ thôi chớ đá ăn bắt xác thì Tố không chịu. Do đó, hắn là kẻ đầu không đội trời chân không đạp đất, cao thì không với tới mà thấp thì chê. Lỡ cỡ nửa chừng. Tôi nói:
- Lâu quá không về Hố Bò, bà con chắc quên tôi hết rồi.
- Ai mà quên cậu. Mấy đứa nhỏ cứ nhắc hoài.
- Còn người lớn thì rủa tôi hả chị’?
- Ai biểu cậu nhấp nhứ hoài không chịu tiến tới.
Ngó dáo dác không thấy Là ở đâu, chị cười:
- Mà coi chừng Tơ xe lộn mối đa nghen !
Tôi bảo:
- Bộ chị nghe cải lương Sài gòn dữ lắm sao biết tuồng đó?
- Ghiền con Lệ Thủy với con Mỹ Châu không nghe không chịu nổi. Mà mắc ba cái cà nông ôn dịch đâu có dám vặn lớn, chỉ ri rỉ thôi, không rõ mấy chữ lìu mùi rệu.
Tôi biết câu nói của chị Tám có ý nghĩa gì nên đánh trống lãng.
- Chị nghe không sợ Hai Bơi và chú Tư Thiên kiểm thảo à?
- Kiểm tôi thì ai kiểm họ? Chú Tư Thiên mê vọng cổ còn hơn công tác nữa. Chú nói, nếu trời sanh tao nhà giàu, tao nuôi một gánh cải lương hát cho một mình tao nghe. Cái Sony của chú yếu binh, chú nghe nhờ của tôi hoài.
Vừa đến đó thì nghe có tiếng ẳng ẳng ngoài đường. Tôi nhìn ra và hỏi chị Tám:
- Ai vậy chị?
- Bắc kỳ xâm lược chớ ai!
- Chị học tiếng đó ở đâu vậy?
- Của mấy ông cán chớ ở đâu!
- Đừng có nói vậy họ nghe họ buồn.
- Mấy ông Năm Đùng Tư Cai ghét đám đó lắm. Các ổng bảo nay mai nó làm cha tụi mình.
Tôi thấy ba bốn anh quần áo cứt ngựa, tóc cắt kiểu su hào, chân đi dép cao su đứt quai hậu, kéo lê lẹp kẹp làm bụi đỗ bốc lên, quẹo vô sân. Hai anh đi đầu khiêng con chó vàng bằng một nhánh cây cong queo. Con chó bị trói giật cánh khỉ, toàn thân quằn xuống lọi hai cánh chỏ và hai chân sau suýt chấm đất, chốc chốc dãy dụa và ngúc ngắc, cái mõm bị khớp kín như muốn kêu oan trong lúc cái vòi nước lại bắn tưới ra sân không sợ kẻ nào cười. Cả hai anh lính mặt mày nửa xanh nửa vàng, răng nhô ra như răng dọc, mồ hôi chảy ròng ròng hai bên thái dương. Anh đi trước trông thấy tôi bèn cúi đầu chào và hỏi:
- Thưa bác, xin bác vui nòng chỉ cho chúng cháu nhà chị xã đội phó ạ !
Ba Tố vừa vô cửa hông bước luôn ra cửa trước đáp liền bằng giọng Bác:
- Các cậu ở đâu mà đến thế?
- Dạ chúng em ở Q 16 ạ ?
Thấy Ba Tố đeo K54, cậu bé càng lễ phép.
- Bá cáo thủ trướng chúng em ở Trảng Bà Điếc mới xuống ạ.
Chú Tư vẫy tay :
- Vô nhà uống nước rồi tôi chỉ cho.
- Dạ vâng.
Hai cậu nhanh nhẹn đặt con chó xuống đất và bước vô nhà. Hai cậu đi sau cũng theo chân bạn.
- Chó ở đâu mà có vậy?
- Dạ của bà con cho để ăn nễ độc nập đấy ạ !
Con Rớt đang ở dưới hầm bỗng vọt lên. Vừa đụng đầu khách, nó dội trở lại và kêu ầm lên:
- Lên coi lính vịt xiêm bây ơi!
Lụa quát:
- Đi xuống hầm chơi đi không? Nói bậy bị đòn!
Tôi nhìn các cậu bé mà xót xa. Bác và Đảng ác thiệt. Mười sáu, mười bảy tuổi đang học lớp 8, lớp 9 bị vét sạch đưa vào trường tân binh học cấp tốc ba tuần lễ, ấn súng vào tay lùa vô Trường Sơn đi giải phóng miền Nam. Con không cha già không thương, còn lão Hồ không con nên nên lão không biết công mang nặng đẻ đau của một người mẹ, công nuôi dưỡng của một người cha, do đó lão không coi bọn cháu ngoan bằng những cái rác. Có những đơn vị tôi gặp ở Trường Sơn hoàn toàn không học thao tác súng ống một ngày nào. Vừa hành quân vừa học. Bốn cậu bé này lớn nhất chừng hăm hai tuổi, bé nhất cỡ mười sáu. Những thân hình non nớt đã bị đá tai mèo róc hết thịt, chỉ còn xương và da, áo rộng xùng xình, đáy quần có thể giấu một chú heo con.
Con chó, chân vừa chạm xuống đất đã nhảy còng lên năm sáu cái liên tiếp như một quả bóng nẩy, tỏ vẻ bất bình cực độ và muốn tự giải thoát khỏi sự trói buộc phi lý . Nhưng các chủ nhân của nó nhanh nhẩu bước ra cầm hai đầu cây giở hổng lên. Một anh dọa:
- Chốc nữa ông thiến, cổ thì đánh tiết canh.
Một cậu tiếp theo.
- Thịt thì xào dựa mận cho chúng ông chén mừng Quốc Khánh.
Là bước ra hỏi.
- Các đồng chí tìm nhà cô xã đội để làm gì?
Anh mang sắc-cốt đáp.
- Dạ, chúng em được con chó của ông Ba Nò Rèn mới vừa tặng, ông ấy bảo tìm nhà cô xã đội hay cô Nụa gì đó ở xóm Nò Đường để mua dừa về xào. Dạ nễ độc nập lăm lay chúng em được ăn tươi đấy ạ . Em quản của đại đội mà chạy thức ăn không ra. Cứ cá mòi hoài rát ruột quá ạ !
Là nẹt ngang.
- Sao không ghé quán bên Bến Dược ăn hủ tiếu? Ở dưới đó mới mọc lên mấy cái quán bán cà phê, có cả tiệm sửa đồng hồ, tiệm may đồ lính đủ hết.
- Dạ ngày tám cắc chỉ đủ mua gạo với mắm muối, nấy đâu hủ tiếu cà phê .
Tôi móc tiền đưa cho cậu ta bảo đi mua thuốc lá trà bánh đem lại niên hoan nễ độc nập rồi tôi chỉ dừa cho mà neo. Cậu bé nhận tiền và biến ngay!
- Em đi qua quán chị Sáu em.
Là hất hàm.
- Chị Sáu Tiệm phải không?
- Dạ, đúng đấy ạ. Em là em luôi của chị ấy.
Ba Tố quát.
- Thôi đi đi cho được việc cha non ! ở nhà đại đội đói rã ruột kia cà.
- Vâng! Chúng em đói suốt Trường Sơn có sao đâu! Vô đến đây mới no đấy ạ.
Cậu quản lý vừa ra khỏi cửa, Là đã lườm tôi:
- Em nói có đúng không?
- Đúng cái gì?
- Bà hạm đó nhận làm chị nuôi họ rồi.
- Thì chị ấy thấy các cậu miền Bắc mới vô lạ nước lạ cái nên nhận đỡ đầu như vậy là đúng chớ sao? Đáng lẽ em phải hoan nghênh bả mới phải.
- Xí, anh cũng cứ binh binh bà đó hoài. Lần trước em không có can thì bả làm em nuôi của anh rồi. Bả khôn lắm. Ai có K54 bả mới ngọt, còn lính quèn bả đẽo cho lát da đầu. Cậu này quản lý bả mới nhận làm em nuôi, còn mấy cậu kia có vô được không?
- Dạ không đúng đâu ạ ~ một cậu đáp – Chị ấy thương chúng em lắm ạ. Anh quản lý đôi khi hụt tiền chỉ cũng bán chịu. Còn bán rẻ là phần nhiều. Các tiệm kia không thế.
Là phát cáu đổi giọng.
- Các ông mới tới không biết gì đâu. Nay mai bả cạo cho sạch nhớt rồi bả sẽ xé thịt làm mắm, ở đó mà bán rẻ.
Thấy nhà chật lại đông người, tôi bảo các cậu:
- Nếu nghe pháo đề-pa thì phải chui xuống hầm cho nhanh nghe. Các cậu có thấy cái hố pháo trước sân không?
Cậu cao lớn có bộ mặt dễ thương (tên là Diệu) lắc đầu vui vẻ:
- Thủ trưởng không phải lo cho chúng em.
- Tôi thứ hai, gọi tôi bằng anh Hai cho thân mật, còn mấy cô này là em gái của tôi, gọi bằng chị.
Diệu trở lại câu chuyện bỏ dở.
- Ối giào, anh Hai được về quê rồi đấy nhỉ. Pháo ở đây so với B52 là pháo tép, ăn thua chi. Chúng em đội mấy trận B52 rồi. Nằm dưới làn bom mà tưởng như đưa võng kia mới rủng chí to nòng chớ còn ở đây nó bắn như thế này, em coi như pha.
Ba Tố hỏi:
- Có cậu nào xâm mình Sanh Bắc Tử Nam không?
- Có chứ ạ !
- Tôi hỏi trong mấy cậu ở đây kìa.
- Dạ có một thằng chết dọc đường rồi. Nó xâm trong háng nó kín ghê. Chết rồi vạch ra mới thấy.
Lụa, Là và chị Tám bịt miệng cười khịt khịt. Ba Tố hỏi.
- Sao không xâm chỗ thiêng niêng lại xâm ở chỗ kín?
- Dạ, nó bảo xâm ở chỗ đó mỗi lần đi đồng, xin lỗi các anh chị, thì nó thấy để nhắc nhở nó. Nhưng tội nghiệp nó sốt ác tính chết ở chặng Dakto.
Tôi hỏi:
- Các em ở đơn vị nào ngoài Bắc?
Diệu trỏ hai cậu kia:
- Thằng Luân ở ba-lên-tám (308), thằng Tứ ở F ba ba mươi (tức Sư đoàn 330 của Đồng Văn Cống đóng ở Thọ Xuân Thanh Hóa) còn anh quản lý thuộc sư ba hai nhăm, chúng em được đưa về Q16 thành nập một Trung đoàn. Vô tới khu 6 đánh hai trận Dakto và Daksuk, trung đoàn thiệt hại gần hết, lính còn không được một phần ba.
- Rồi sao vô đến đây ?
- Dạ thì ở trên sát nhập đơn vị này vào đơn vị kia nhưng vẫn để trên Q16.
- Các em được mấy tuổi quân?
- Dạ em rồi lớp học từ năm ngoái. Nay được hơn một hai tuổi. Chỉ có anh quản lý là trên ba tuổi thôi.
- Có người yêu hay bồ bịch gì chưa?
Tứ nói:
- Em học lớp 10, con một, bố em bảo học xong lớp 12 thì cưới vợ rồi hãy lên Đại học. Cô nàng là xã viên hợp tác ở gần nhà em. Nhưng đang học thì bị động viên đi giải phóng miền lam. Thế nà nên đường.
Luân lắc đầu:
- Em chẳng có gì hết. Mới để ý qua loa, em định viết thư gởi về mà không biết thư có đến không. Mà có đến chắc người ta cũng không chờ. Có sống không mà chờ? Chờ người không về hoài công vô ích.
Cậu bé triết lý bất ngờ làm tôi xót xa, tôi tạt ngang:
- Nói thế là bi quan, không được cậu ạ ! Mình phải sống để chiến thắng thằng Mỹ chớ.
- Dạ vâng.
Cậu biết không nói gì nữa. Có lẽ cậu ta biết thủ trưởng nào cũng như thủ trưởng nấy, đều lên lớp một bài đó thôi. Cũng như tôi và đám “trí ngủ” ở đại hội mừng công trên R vậy. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh huấn thị: Đội bạt bon giành lấy thắng lợi, nắm thắt lưng giặc Mỹ mà đánh. Ở trên R không biết Mỹ miếc ra làm sao nhưng cũng vỗ tay rào rào. Toàn dân đều bị một lũ bịp xua vào chỗ chết mà vẫn ngoan ngoãn nghe theo. Thảo nào một thằng bạn, hình như Tư Linh, không biết có đúng không, từng nói với tôi: “Chủng ta luôn luôn bị những thằng ngu chỉ huy! “ Tôi cũng đóng vai một thằng ngu đối với tụi con nít này.
Cậu bé nói tiếp, giọng rất chân thành:
- Đơn vị của em bây giờ năm cha ba mẹ, Ô hợp nạ nùng nắm thủ trưởng ạ ! Nhiều núc chỉ huy ra nệnh, nính không thi hành, vì ốm đau, vì nười cũng có, nhưng nười nà chính. Chỉ huy na nớn thì nó bảo nấy ne, còn giải thích thì nó bảo ný lựng nập nờ, cho lên lếu có giặc khó chiến đấu nắm. Hiện giờ thì gần như tê niệt. Nhân dịp mừng nễ độc nập mỗi đứa tìm cách cải thiện một kiểu, thứ gì cũng được, hầm bà nằn. Em thật buồn nòng nhưng không biết nàm sao, nỡ rồi, có muốn nàm bê quay cũng không được nữa.
Tôi không muốn nghe tố cáo, nên cắt ngang:
- Phải mấy em đóng ở Trảng Bà Điếc không?
Luân trả lời một cách vui vẻ.
- Dạ đúng. Tụi em trụ ở đó cũng khá lâu. Thằng nào sống sót vô đến đây đều lên cán bộ trung đội đại đội. Thậm chí lên tới tiểu đoàn. Tụi em tụt hậu nên không được gì hết.
(Nếu là cán bộ trung đội, đại đội thì các em chỉ huy đánh Mỹ làm sao ở cái chiến trường lạ lùng này?)
Đáng lẽ em không khui ra sợ làm mất mặt lính Quân đội Nhân dân, nhưng em cũng biết tôi hiểu hai tiếng tụt hậu của em vừa thốt nên em phản tỉnh luôn:
- Em là B quay anh ạ t Còn Tứ và Diệu là B rùa bị bắt trở lại rồi đưa về Ba sáu nhăm B là trường Tân Binh của Giải phóng để xào nấu lại:..
Là kêu lên với tôi:
- Ở Trường Sơn có thịt bò quay và rùa xào sao anh nói với em chỉ có hộp muối đeo lưng’?
Tôi cười hề hề không đáp. Hùng Cối nãy giờ im để quan trắc mục tiêu, bây giờ mới phóng pháo:
- Có cả bê thui nữa cô xã đội ơi!
Là tiếp.
- Hành quân sướng vậy mà còn than!Chẳng hơn tụi em ở trong này chạy ăn từng bữa.
Diệu biết cô gái miền Nam hiểu lầm (cũng như bọn tôi trước đây khi mới nhập cuộc Trường Sơn) nên cười:
- Chị có muốn ăn bê quay không?
- Bê quay ngon hay bê thui ngon?
Hùng Cối nói:
- Làm tới xã đội mà khờ quá cô em ơi ? Để tôi giải thích cho nghe. Bê quay là đi B rồi ớn quá, nửa đường quay trở lại.
- B là cái gì?
- A là miền Bắc, B là miền Nam, C là Lào. Đi B là đi Nam. Đi Nam mà trốn quay trở về Bắc gọi là bê quay.
- Còn bê thui?
- Bê thui là lính đi B bị bom napan cháy đen thui, như một số chúng em vừa rồi ở Bào Lách, chớ không phải bò thui đâu chị ! Bê thui toàn dân Nghệ Tỉnh. Trận Dakto bị luôn một tiểu đoàn. Thằng nào hụt làm Bê thui thì làm bê quay. Không Bê quay thì Bê rùa.
- Bê rùa tức là sao?
- Tức là đi như rùa, đập bệnh ở lại, đi một trạm nghỉ năm bảy ngày, trạm có giục thì đắp chăn rên hừ hừ giả sốt, hoặc tự bắn vào chân để không đi được.
Chị Tám lắc đầu nguầy nguậy:
- Tèng đéc ơi ! Lâu náy tôi cứ tường là vượt Tường Xơn vui lắm!
- Chị ra đó leo núi một ngày thì biết vui cỡ nào.
- Tội nghiệp chưa !
Diệu nói với tôi:
- Mấy thằng Nghệ Tỉnh sống sót được đề bạt vượt cấp lên mặt và đè đầu đè cổ tụi Lam Định Hà Lam Hà Lội chúng em lắm anh ạ. Chúng nó bảo chúng em nhát, bảo mạng lại còn quay, rùa đủ thứ.
Ba Tố hỏi:
~ Mấy cậu ở ba sáu nhăm A được mấy ngày?
- Dạ, chúng em không ở 365A mà ở 365B. A là.trường Tân binh miền Nam còn B là nơi thu dụng lính Bắc. Ối chào, bên B đông phải biết.
Tôi hỏi:
- Vô đến đây còn muốn quay nữa hết.
Cả ba đều lắc đầu:
- Thôi ạ. Chúng em vui lòng Sinh Bắc Tử Nam. Nếu có sống được thì cũng không về Bắc.
- Sao kỳ vậy?
- Ở trong này con nít khui sữa hộp hút đã thèm, quán chị Sáu có cả thùng mua lúc nào cũng có, đường cát thì ối giào, không cần phiếu ghiếc gì ráo, còn ở ngoài ta nâu nâu nính chúng em mua xong hai nạng ngửa cổ trút vô mồm nuôn. Chị Sáu thấy tụi em ăn sữa nhiều quá, chị bảo: “Đem nuộc đi rồi múc từng muỗng như ăn chè đặc vậy. Ăn xong uống trà. Thế là không phải bị Tào Tháo đuổi.” Quả nhiên y như rằng. Em xơi một nần cả hộp mà không sao cả.
Vừa đến đó thì cậu quản lý về tới mang một bọc bánh kẹo. Tôi bảo Là nấu nước pha trà rồi bày ra bàn tiệc mừng Quốc Khánh. Khói lửa mịt mù . Các em không dám hút thuốc thơm nguyên điếu, để đem về đơn vị cho anh em hút kiểu thuốc nào. Cậu quản lý bảo:
- Tiệm chị Sáu bữa nay có hàng mới!
- Hàng gì?
- Đồng hồ hai cửa sổ. Chậc! Thấy mà ham. Nó chỉ cả ngày tháng… không phải chỉ có giờ thôi đâu các cậu ạ!
- Cái đồng hồ Liên Xô của anh đổi ở đâu quên rồi nhỉ?
Cậu quản lý la lên.
- Không nhớ ở buôn nào nhưng được một con chó. Vừa ăn tươi vừa làm ruốc. Chết! con Oàng đâu rồi?
Diệu, Luân và Tứ đỗ xô ra cửa. Chỉ còn lại cái nhánh cây cong queo. Con Oàng đã tự giải phóng hồi nào mất tiêu. Cậu quản lý ngoẹo cổ đau khổ:
- Thế có bỏ mẹ không kia chớ? Nhân dân biểu nộ tình cá lước mình nại bỏ sổng mất.
- Chạy đi nùng tí thì được. Em vừa trông thấy nó nằm ở đó mà !
Ba Tố bảo:
~ Không cần phải nùng. Nó ở đằng nhà ông Ba Rèn bây giờ! Chó tìm về chủ chớ đi đâu.
- À đúng. Để chốc nữa chúng em ghé xin nại.
Đám con nít trong hầm ló đầu ra. Tôi ngoắc:
- Ra đây chào mấy cậu.
Chúng nó riu ríu làm theo. Tôi bảo:
- Từ rày không được kêu mấy cậu là lính vịt xiêm nữa nghe !
Cả đám “dạ” rồi rút xuống hầm. Tôi quay lại bảo các cậu:
- Các em vô đây là đất của anh. Nhiều thì anh không lo nổi, chứ một đại đội ăn tươi mừng Độc lập thì anh dư sức.
- Dạ cám ơn thủ chưởng.
Tôi bảo Tư Thêu:
- Cậu còn bao nhiêu thịt bò ?
- Còn hai cái đùi trước.
- Để cho tôi. Tôi sẽ mượn người đèo về H6, còn đùi kia tôi tặng.mấy em này.
- Dạ, anh Hai biểu vậy thì thôi, em không bán nữa.
- Em nhớ lại cảnh miền Bắc chúng mình xa quê hương, và cảnh đói khát trên Trường Sơn mà thương đồng đội của mình. Bây giờ mình không còn đói nữa, mình không nên lơ là với đồng đội, em à !
- Thầy Hai chơi điệu thật ta ! – Ba Tố nói rồi quay lại các cậu – Thôi, bỏ ba cái món dựa mận đi, theo ông chủ bò lại đằng kia khiêng một đùi về liên hoan độc lập. Thịt chó để nhậu ngày thường chớ ai dùng cho lễ lộc?
Sự giải quyết của tôi làm thay đổi thái độ của mọi người. Chú Tư Thiên hứa cho một lít rượu, chị Tám cho muối, sả, rau sống, còn Lụa thì tặng dừa khô, dừa lạo.
Mấy cậu bé rưng rưng nước mắt. Diệu nói:
- Em vô cùng xúc động và cảm thấy đây là quê hương của chúng em.
- Đơn vị có y tá không?
- Dạ không, mỗi đứa chỉ có mớ băng cá nhân và thuốc kí-nin thôi.
Tôi bảo Tư Chuyền:
- Anh nên giúp đỡ các cậu này.
(Bây giờ tôi là trưởng ban pháo binh khu, nếu gọi đúng chức vụ là Tư lệnh pháo binh, ngang cấp với Trưởng ban Hậu cần, xếp của Tư Chuyền cho nên tôi bảo như thế.)
Tư Chuyền nhận lời ngay. Cậu quản lý nghẹn ngào:
- Em chưa bao giờ gặp một sự đối xử như thế này. Em thấy có nhiệm vụ giải phóng đồng bào: . . (chắc cậu ta định nói là giải phóng Miền Nam ra khỏi sự bóc lột da man của Mỹ Ngụy như đã được học, nhưng cậu ta nhưng kịp thời và nói khác đi) . Đơn vị em cũng được bà Phó Tư lệnh ủy lạo một lần ở trên R.
- Bả có đến đơn vị không?
- Dạ bà cho mang quà và thư tới. Bà ấy nhận đỡ đầu đơn vị em. Riêng ông Ba Kiên Trung đoàn trưởng và ông Năm Dũng chánh ủy được bà ấy nhận làm em nuôi.
Luân cười:
- Ông Ba Kiên không biết đã gặp bà chị nuôi chưa, Mong rằng chị em đừng gặp.
Tư hích củi cho vào hông Luân:
- Cậu không nên nói vụ chị em bằng tuổi ra đây.
Luân cãi lại:
- Không, tớ chỉ nói nếu chị gặp em chắc chị chạy không ngó lại… Tại vì mặt mũi ông ta giống y như tướng Lê Hiến Mai Bộ trưởng bộ Điện Lực Thủy Lợi, mắt heo luộc và răng bàn nạo.
Tôi suýt bật cười vì câu nói của cậu bé gợi tôi nhớ lại một nhận định trong cải cách ruộng đất.
(Lúc đó chân ướt chân ráo mới ra miền Bắc chúng tôi được học lập trường trước nhất. Cái gì của địa chủ cũng đều xấu hết. Con gái địa chủ bóng lộn như vàng ròng, nhưng lập trường bắt buộc ta phải coi là xấu và không ai được cưới. Còn của ta cái gì cũng đẹp cả. Giảng viên là tên Nguyễn Chiến Sĩ bí thư của Lê Đức Thọ (sau này lấy Dương Đình Thảo đi hội nghị Paris trong phái đoàn Mặt Trận, sau 75 làm Giám đốc sở Văn Hóa thành phố Hồ Chủ Tiệm) Lúc đó Lê Hiến Mai (lấy tên là Dương Quốc Chính) làm Tư lệnh các lực lượng võ trang Nam Bộ mới ra Bắc. Bộ Tư lệnh toàn dân Bê Ka đóng ở định Phượng Vĩ. Tên Sĩ đứng lên bục hò hét: “Trên quan điểm giai cấp, chúng ta phải xem đồng chí Dương Quốc Chính là đẹp trai! ” Cả lớp cười bay nóc đình nhưng rồi ai cũng khôn hồn bụm miệng ngay. Thực ra, phải nói tên Chính này có bộ mặt quỉ sứ. Mắt hắn lúc nào cũng như trợn lên đầy tròng trắng còn hàm răng trên thì thay vì cụp xuống giao hòa với hàm dưới thì nó lại chia thẳng ra phía trước như cái hom lọp. Hắn cười càng trông đẹp trai.)
Tôi nói với các cậu một cách vớt vát:
- Ông ấy tuy thế nhưng có vợ đẹp ra phết đấy !
Tôn Sứt tự khai khẩu.
- Tại sao vậy ta? Nói vậy sứt mép sơ sơ như tôi còn hi vọng hả thầy?
- Trên quan điểm giai cấp thì cậu cũng đẹp trai như tướng Lê Hiến Mai!
Đám cán bộ cười rần.
Tiệc trà tạm giải tán để chuẩn bị xào nấu cái đùi bò. Tôi bảo Là dắt các cậu đi lên nhà má để bẻ dừa. Nhưng Là không chịu thi hành lệnh, không có lý do gì cả. Lụa bèn nhận lãnh công tác nhưng lại bảo cây câu liêm rớt dưới mương không mò được. Tôi biết ý nàng liên bảo:
- Sẵn dịp anh đi thăm nhà má một chút, để rồi không có dịp trở lại nữa. Luôn tiện hái một mớ vú sữa về tặng các cậu này ăn cho biết mùi trái cây Nam bộ.
Là biết tôi muốn gặp riêng Lụa. Hai chị em đã khua răng sẵn từ trước về vụ thằng anh nuôi này rồi, bây giờ vừa nói không đi chẳng lẽ lại đi nên bực tức nói oang oang:
- Mùa này vú sữa mới có bông anh hái bông à?
Tôi cười rồi đi theo Lụa. Các cậu bé Bắc kỳ lẽo đẽo theo tôi. Luân hỏi xách mé :
- Phải loại vú sữa bác tưới hàng ngày không anh?
- Ừ cây đó!
- Sao ngoài Hà Nội nó không có trái trăn gì hết vậy anh?
- Có lẽ tại trồng nơi sai thủy thổ hay sao anh không rõ .
- Các anh mang ra hồi 54 à?
- Ừ, nếu anh không lầm thì do ông Huỳnh văn Nghệ Tư lệnh chiến khu 7 mang tặng bác cùng với nắm đất miền Nam yêu quí của các anh.
(Trò hề này được nhắc nhở như một tưng trưng cao quí về tình yêu của tên lưu manh họ Hồ đối với dân Nam kỳ. Sự thực hắn lợi dụng tình cảm ngây thơ của dân Nam kỳ để lột da rồi giết họ hoặc dày đạp họ như một lũ súc vật. Ai ra Bắc mà không hận tên Hồ ? Dương Bạch Mai bị đầu độc do lệnh hắn. Huỳnh văn Nghệ được phong chức thượng tá, trong khi lũ Bê Ka từ Nam trở ra Bắc như Vịnh, Anh, Trà. . . đều đớp lon trung tướng. Tại chống Bê Ka mà Huỳnh văn Nghệ chết vì mổ ruột thừa sau 75. Dân Nam kỳ đã sáng mắt ra chưa?
Hiện nay có phong trào dân Nam Kỳ muốn nổi lên đòi độc lập (không phải tự trị) như ba xử Baltic ở Liên Xô. Bọn đầu bò Đỗ Mười, Lê Đức Anh và bè lũ rất sợ phong trào này mạnh lên thì chúng sẽ mất miếng thịt mỡ to đang ngoạm trong miệng. Những ai còn máu Nam – dù Cộng Sản hay không đều hận Bắc Kỳ mặt đỏ. Hãy vùng lên hỡi dân Nam kỳ nô lệ của Bắc Kỳ 50 năm qua. Vùng lên! Vùng lên! Đất Nam kỳ là đất Việt Nam nhưng phải của dân Nam kỳ trước nhất. Nếu có một phong trào như vậy tôi nghĩ không phải chuyện lạ. Hận sông Gianh ngày xưa cũng là một hận của dân Nam Kỳ ngày nay vậy.)
Tôi vô cùng đau đớn khi đứng trước sự hoang tàn của nhà má Hai. Một năm trước đây ngôi nhà ngói ba căn hai chái còn là tổ ấm của một gia đình. Bàn thờ, ván gỗ, bếp núc còn nguyên. Bây giờ trơ lại cái nền. Gia đình ly tán.
Giải phóng!
Ai cần ? Đù mẹ bọn tài khôn Hà Nội. Dân chúng đang yên vui no âm dưới bầu trời quê hương. Sau mười năm chiến tranh chấm dứt, người dân tôi đã an cư lạc nghiệp, sung túc phú cường. Thằng Hồ có biết đâu dân miền Nam bị đế quốc bóc lột tận xương tủy mà con nít chê sữa thùng không ăn. Con gái đi cấy mặc đồ lụa. Nhà nào cũng có radio. Đi gặt để radio bên bờ ranh để nghe vọng cổ Sàtgòn. Xe đạp: đồ bỏ! Trong khi miền Bắc Xã Nghĩa ăn độn củ chuối trắng mắt. Ai cần giải phóng mà lại đâm đầu vào ? Thanh niên miền Bắc bỏ xác dọc Trường Sơn như rạ. Vào Củ Chi này chết như ngóe. Sang quyển thứ 4 các bạn sẽ thấy các cậu bé này tan xác dưới những trận B52 kinh hồn và mất luôn Q16 sau trận Mậu Thân.
Tôi leo lên cây dừa tôi đã từng leo. Nay nó vẫn còn trái sai oằn nhưng đã bị những mảnh pháo chém ngọt một mé lá. Lụa đứng dưới gốc ngó lên, bỗng buột miệng nói:
- Dì út nó rắn mắt ghê !
Tôi vẹt lá nhìn xuống hỏi.
- Nó lại đến à ?
~ Không! ấy là em nói kỳ trước nó dắt anh đi Bò Cạp rồi về ghé bẻ dừa ấy mà !
- Rồi sao?
- Nó về thuật lại với em hết ráo !
Tôi gạn hỏi.
- Thuật gì?
- Nó nói anh leo dừa giỏi ghê . Mới ngó quanh một chút nó đã thấy anh hót lên tới ngọn. Anh ngồi trên tàu lá ngó xuống.
Tôi biết Là đã kể lại cho Lụa nghe việc nàng thoát y trong nhà tắm rồi kêu tôi hỏi: Có dừa nạo không? Nhưng tôi đánh trống lãng:
- Anh leo dừa hơn sóc mà ! Hồi kháng chiến anh trốn Tây trên ngọn dừa. Đói bụng anh ngồi luôn bẻ dừa cạp ăn như chuột.
- Không! Em nói cái chuyện con Là nó biểu anh ngó xuống cặp dừa nạo kìa . . .
- Hì hì, anh không thích dừa nạo, anh chỉ thích dừa cứng cạy thôi
Lụa xấu hổ cúi mặt:
- Anh quỷ nà !
Tôi tiếp:
- Dừa cứng cạy nước cay uống giống rượu áp-sanh pha. Uống rồi hồi lâu, môi còn the the, còn dừa nạo uống chỉ no bụng óc ách.
Bị nói trúng ý Lụa ngước lên, mặt đỏ rần:
- Em mới nghe anh nói là người thứ nhất.
- Còn em? Em thích dừa gì?
- Em hổng biết!
Hai tay tôi níu hai bẹ dừa, chân tôi đạp lia lịa vào buồng dừa khô . Trái rụng đùng đùng lớp rớt dưới mương lớp rơi trên bồ . Lụa ngước lên cười khoe hai hàm răng trắng bóng duyên dáng:
- Anh làm như B52 rắc bom.
Các cậu bé đến vớt lên. Lụa thẻo vỏ buộc chùm từng hai trái một. Tôi tuột xuống. Lụa chạy lại phủi kiến hôi và rác trên tóc trên lưng tôi.
- Anh có trầy ngực không?
- Anh leo đâu có áp bụng vô cây dừa mà trầy. Muốn bẻ dừa không có tiếng dừa rụng anh cũng làm được.
Cậu quản lý thú vị bảo:
- Em chưa bao giờ nghĩ em sẽ leo dừa được!
- Các cậu phải học những gì cần cho cuộc sống và chiến đấu ở đây
Diệu trỏ ra phía sông, lắc đầu:
- Em hãi nhất con sông đó .
Tôi sực nhớ người Bắc bơi lội rất kém. Hồi đóng quân ở Xuân Mai, Hà Đông chúng tôi thường ra sông Bài đánh cá bằng mìn, có khi vớt được cả trăm ký đem cho đồng bào. Nhiều cụ già bảo: “Con sông trước mặt đó nhưng không bao giờ tôi bơi lội.”
- Hồi ở Đồng Tháp Mười bị Tây ruồng, Tướng Lê mái Hiên suýt bị bắt ở bờ kinh La Grange cũng vì không biết bơi.Nếu Tây nó đuổi một tí nữa là nó vớ được mẽ to. Mấy ngày sau ông ta còn thất sắc. – tôi tiếp – Các em phải học bơi, để khi cần vọt qua sông. Nên nhớ, không phải bơi mình không mà mang cả vũ khí.
- Ối giáo, chúng em chịu thôi. Hồi đi ngang con sông gì ở khu 6, một thằng trong bọn em chết đuối. Nó lấy ni lông buộc túm ba lô làm phao. Qua được hai phần sông thì chiếc phao xì hơi…
Lụa cho không các cậu bốn cặp dừa, mỗi cậu xách một cặp mặt hớn hở thấy tội nghiệp hết sức.
- Em không bao giờ quên ơn thủ trưởng.
Tôi bảo cậu quản lý đưa bút giấy tôi viết cho ít chữ rồi dặn:
- Cậu đi thẳng con đường này qua Bến Dược hai chị Sáu Tiệm, chỗ làm bò ở gần đó, và đưa mẫu giấy này cho người bán thịt bò. Họ sẽ đưa cho các cậu một đùi.
- Dạ chúng em làm sao thanh toán nổi?
- Cậu viết hóa đơn gởi lên bà chị nuôi của ông Ba Kiên, bả sẽ thanh toán cho. Hì hì… Nói đùa, tôi trả rồi.
Cả bọn cười ngất !
- Thủ trưởng mà chỉ huy tụi em thì tụi em sẽ bớt vất vả !
Nói vậy rồi các cậu chào rất lễ phép, cám ơn Lụa rối rít và kéo nhau đi. Lụa nhìn theo, thở dài:
- Giặc giả gì cứ đánh hoài! Ở ngoài Bắc đâu đâu mà cũng đạp đường vô tới đây!
Rồi quay lại tôi. Tôi vẫn đứng tần ngần. Nàng bảo tôi ra sau vườn giúp nàng khiên một mớ vật dụng về nhà xài. Tôi ngoan ngoãn theo nàng. Cái nhà kho không có vách nằm ở giữa vườn rậm rạp, ván ghế chất chồng ngổn ngang. Nàng lôi mấy chiếc ghế bỏ xuống đất để lấy chỗ ngồi. Nàng nhìn tôi bằng đôi mắt vô cùng bi thiết.
- Anh về chừng nào đi?
- Mai!
- Chừng nào về?
- Không biết được em ạ . Nhưng hễ có dịp thì anh ghé thăm em và con… Rớt.
- Chắc anh không còn gặp em nữa đâu.
Tôi biết nàng sắp nói gì nên chắn ngang:
- Từ đây xuống Bến Mương cũng gần mà ! Lúc đầu nhận công tác mới nên bận rộn, nay mai anh sẽ về thăm em và con thường hơn!
Tôi nói tiếng con như đối với bé Hoàn, con của Mười, bằng tình cảm của một người cha.
- Nhưng. em đâu còn ở đây nữa !
- Em đi đâu?
- Ba con Rớt hi sinh rồi, em không về bên chồng mà em sẽ sang bên dì Ba ở với má cho con Rớt đi học. Má chồng em chưa hay chuyện gì hết. Chắc em cũng giấu luôn. Em biết chuyện đó lâu rồi, nhưng em không nói với ai, mà làm bộ vui như thường. – Nước mắt ròng ròng trên má người thiếu phụ – Bởi vậy nên kỳ rồi em mới vậy… với anh, chớ nếu ba nó còn sống em đâu có… – Nàng nghẹn ngào và bắt vạt áo lên lau nước mắt – Em nằm chiêm bao thấy ảnh về hai ba lần, mình mẩy máu me, áo quần tả tơi. Ảnh nói má con Rớt cúng cơm bữa cho anh, rồi biến mất!
Nàng òa lên khóc. Tôi nghe tan nát cả tâm can. Nhưng làm gì bây giờ? Lấy nàng làm vợ? Câu hỏi ấy thường xuyên mọc lên trong đầu tôi, nhưng không bao giờ tôi có ý định sẽ trả lời .
- Em biết anh với em có duyên mà không có nợ. Nếu anh về sớm vài năm thì em đâu có thế này.
- Bây giờ em hãy lo cho con để an ủi đời em.
Nàng ôm choàng lấy tôi và bảo.
- Đó là lẽ cố nhiên rồi . Nhưng em muốn thêm một đứa nữa, để rủi con Rớt có sẩy tay, thì em còn chút con mà em bồng, chớ không chồng mà cũng không con thì sống làm sao? Anh cho em đứa con. Rồi anh đi đâu thì đi, quên em cũng được, em không giận hờn gì hết!
Đây lại là một nỗi đau khổ đành phải chấp nhận của tôi: yêu mà không dám tiến tới. Tôi không thể từ chối một lời yêu cầu như vậy: một đứa con cho người đàn bà góa. Tôi bảo:
- Rồi em mang tiếng làm sao? Miệng đời dị nghị chịu sao thấu , Lụa?
- Em không sợ, miễn có một đứa con với anh thì thôi. Em hứa sẽ không nói con của ai. Em giữ uy tín cho anh phục vụ cách mạng.
Tôi’ hôn rồi yêu nàng. Gái một con đẹp tuyệt trần. Nàng lèo lái tôi qua mọi thác ghềnh để đến nơi mà ngọn suối trắng xóa biến cả trần gian thành mây khói, mông lung đắm đuối giữa đám cây vườn cháy trơ xương đen thui và giữa nắng trưa như thiêu. Chúng tôi dọn dẹp chiến trường, ôm nhau lần nữa định tái xuất quân thì có tiếng nạt vang:
- Bẻ dừa gì? Xí! Bẻ dừa?
Tôi hoảng hồn, nhưng nàng bảo:
- Kệ nó. Em cần cho nó biết là anh thương em.
- Chứ cổ không biết à?
- Biết nhưng chưa thấy. Em muốn cho nó thấy.
- Em liều quá !
- Em còn giữ cho ai? Nay mai em có muốn tìm anh cũng không được.
Tôi ngó chung quanh nhưng không thấy biệt kích đến. Lụa lại thản nhiên gây chiến. Trận đánh kéo dài và ác hệt hơn. Người đàn bà và gã trai lơ cảm thấy chưa bao giờ cuộc trèo núi vất vả và lý thú đến nổi khi lên đến đỉnh thì mấy ngọn tay nàng cào nát cả tấm lưng phong trần của chàng và nàng rít lên như muốn nghiền tan mọi đau khổ cửa đời nàng.
Chúng tôi xách dừa về nhà trước quan khách đông đúc. Hùng Cối lên tiếng trêu trước
- Thầy Hai trèo dừa giỏi ghê ! Chỉ một chốc đã bẻ hai ba cặp!
Tôi nhìn thấy nét mặt hầm hầm của Là thì biết ngọn núi lửa này cũng sắp phun, bèn đến để vuốt giận em cưng nhưng chợt thấy một cô gái lạ đang xắc thịt, cái lưng thon thon, mớ tóc đuôi gà bỏ suông trên lưng. Bên cạnh đó là Huỳnh Nga và Hồng Nga.
Tư Chuyền trỏ Hai Khởi, chàng tham mưu, chỉ còn băng keo dán ở trán:
- Bữa nay anh hùng hội cả nam lẫn nữ. Đây, tôi trả ông tha mu lại cho ông thầy pháo.
Hai Khởi nháy tôi hai ba cái rồi đến rỉ tai:
- Đừng có khai vụ mẹ đĩ ngoài Hoằng Hóa nghe thầy. – rồi nói to – Hương ơi, lên đây anh biểu. Sẵn buổi liên hoan quốc khánh anh với em ra công khai cho rồi. Hoạt động bí mật hoài mệt quá.
Cô gái có mớ tóc đuôi gà quay lại nhoài miệng cười rất có duyên rồi tiếp tục làm việc. Hai Khởi tươi tỉnh cười:
- Đáng lẽ tôi phải nín lại xưởng quân trang của nàng vài ba ngày, nhưng nàng sợ vết thương làm độc nên xách tôi vô cho ông Tư Chuyền trị ngay.
Tư Chuyền nói:
- Chút xíu nữa vướng lựu đạn gài ngoại vi C5 đó. Nề tôi dặn, vết thương chưa lành hẳn phải kiêng cữ nghe ông tham mưu, hễ tác chiến là nó làm độc, ở đây khó mua pê-nê-ci lin lắm đó.
Hai Khởi lắc đầu:
- Nhai cơm nó còn động đau muốn khóc đây, làm sao lấy tọa độ được mà pháo chiến?
Chú Tư Thiên bảo:
- Kỳ này nhậu đông hơn kỳ trước, nhưng không phải ăn thịt chuột hóa học, tôm ăn thây ma mà ăn thịt bò của hậu cần. Không biết nó có nhơn tay cho mình vài tiếng đồng hồ để ăn lễ độc lập không?
Tôi kẻo Hai Khởi ra sau vườn ngồi bên cạnh miệng hầm
(Bạn đọc nhớ cho là bất cứ lúc nào, sự đi đứng, ăn, ngủ đều ở dưới hầm hoặc kề cận miệng hầm: Nếu có thể, trong lúc đi công tác chúng tôi cũng vác cái hầm trên lưng.)
Hai Khởi nhướng tôi:
- Cấp tập địch có han-ớp (hands up) chưa?
- Ta han-ớp thì có .
- Em xinh mà chị cũng xinh, thầy làm sao xuể? Coi bộ cô em sắp nổi tam bành lên rồi!
- Lý do gì ?
- Thầy đi bẻ đào, ủa bẻ dừa hơi lâu!
Bị tấn công tôi quật trả lại để phòng ngự:
~ Bộ định bỏ mẹ đĩ ở ngoài rồi hả?
- Con cái đùm đề bỏ sao được? Nhưng cơn ốc Hương ngon vậy, làm lơ cũng không đành. Còn thầy? Định bỏ tôm càng xanh Bến Mương và Hố Bò để chài con cá mè ở ngoài Ràng hả ?
- Đâu có gì mà cậu nói vậy?
- Con nhỏ nó khoe vụ đi họp xã ủy ở ngoài rừng chồi…
Tôi liệu không chối được, nên khai thiệt. Hai Khởi cười hắc hắc:
- Đọ, thầy có thầy không, món lạ kề miệng bỏ sao được. Phải thầy ở nán lại vài ngày nữa cỏ lẽ còn vài ba cuộc họp xã ủy kiểu đó nữa. Hề hề… Hết họp xả ủy ngoài Ràng thì tới họp chi ủy trong Hốc Bò. Họp ở Hố Bò xong về họp ở Bến Mương, họp Bến Mương xong thì kế mít-tin ở Bàu Chứa.
- Sao ông biết vụ Bàu Chứa nữa ông nội?
- Chim cò đều biết nữa là tôi? Theo tôi thầy nên cắm cọc ủa cắm thẻ nhận ruộng cho rồi đi. Sào nào cũng đất màu hơn ruộng ngoài ta cả. Thầy cứ dạ hành tỏ hoài, không ổn đâu Tôi nghe có vụ suýt chạm súng ở quán bà Tư The phải không?
- Ờ có nhưng mà . . .
- Cô Quắn, cô Ua và cô Là đều ác xiêm lai như nhau, không cô nào kém cô nào. Thầy đã thông nòng rồi thì nạp đạn luôn đi, à mà quên nạp cả rồi! Nhưng thầy đang kẹt vụ cà rá có chữ “L” phải không?
Tôi ngồi ngớ ra. Trong trí tôi hiện lên mảnh trăng lu ở rừng chồi đêm trước… Tôi nhớ cái gốc rơm bát ngát. Từ bờ ao thơm mùi cá nướng đến bộ ván gõ trong gian nhà có tiếng tắc kè, từ chai rượu trên bàn thờ đến căn chòi xã ủy. Tất cả vụt quay lại trong đầu tôi như một đoạn phim ly kỳ.
Tôi bị cuốn hút theo con ma đang đội lớp người hay chính tôi cũng là một con quỉ? Tôi đã phóng mình theo như một mũi lao, không nghe cả tiếng gió rít hai bên thân mình, chưa bao giờ tôi mê dại như đối với nàng. Nàng cũng thế. Nàng không nói hơn ba câu:
- “Em cho anh tất cả những gì quí giá nhất của em mà em gìn giữ lâu nay.”
- “Em thấy chết thế này mới đáng chết.” (Khi pháo Trung Hòa bắn vun vút qua đầu.)
Rồi thôi. Mắt ngó . Tay chân cũng nhìn, thân thể nói năng, còn miệng thì câm hẳn. Nàng dữ dội hơn cả trong những sách mà tôi từng đọc. Một lần, một lần rồi lại một lần.
Có lẽ Sartres sống lại (hình như năm 64 ông còn hiện sinh) cũng phải sợ hãi khi nhìn thấy cảnh tượng trong căn chòi hoang này. Hoặc ông sẽ hài lòng vì thấy luận thuyết của ông đã thâm nhập vào đời, vào tận những con tim sống trong khói lửa và tù ngục.
Tuy đã thỏa thuê rời rã, nằm bên một nàng tiên, tôi lại nhớ những nàng tiên. Trái tim thằng đàn ông quả là vô liềi lượng. Trong đầu tôi lại chập chờn hình dáng cô sẫm lai tên Mầu ở quán chệt hôm nọ. Nàng quả là một tòa thiên nhiên trời đúc nên chớ chẳng phải tay phàm. Napoléon, theo lý luận của Năm Lê, mới là kẻ sống đầy đủ trên chiến trận và trong cuộc đời ông ta yêu, yêu mãi và chưa hề biết chán. Đến khi bị đày ra Ile d’Elbe hay Sĩ. Hèlène nhưng ông ta vẫn được một cô gái 16 tuổi con của viên giám thị trại tù giam ông yêu. Và trước khi ông ta chết, câu nói cuối cùng của ông ta là: “Tôi chỉ ân hận một điều: yêu đàn bà còn ít quá !”
Còn tôi? thằng pháo binh hạng bét này đã yêu đàn bà đã nhiều chưa để trước khi chết khỏi nói cái câu bất hủ của hoàng đế Nã Phá Luân?
Không biết! Tôi chỉ biết là tôi cũng hiện sinh. Tôi biết chắc chắn Củ Chi đất thép sẽ thành bùn, và thây tôi sẽ tan tành trăm mảnh hoặc sẽ vùi chôn trong một lỗ bom. Một thanh niên ba mươi lăm tuổi chưa vợ và không hề muốn một cô gái nào trở thành góa phụ vì tôi. Ý nghĩ đó dù tôi đã nói ra cho một em nào, hay tôi còn giữ trong đầu, nó vẫn là của tôi.
Tôi kể tỉ mỉi đến mức có thể cho Hai Khởi nghe câu chuyện liêu trai tân thời và kết luận:
- Chúng mình rồi sẽ chẳng có đứa nào an toàn để hưởng hạnh phúc gia đình.
- Quan niệm của tôi khác thầy ! Trong chiến tranh ác liệt, ta vẫn tìm cách hưởng thụ hạnh phúc gia đình. Tôi xa vợ con ngoài Bắc vô hạn định, nên tôi tự cho phép tôi lập gia đình trong này. Huống chi là thầy chưa có cái nào ? Thầy nên nghe tôi đi. Thầy đang ở giữa trận địa của đội quân đầu tóc nhà : tóc suông, tóc kẹp, tóc bới và bây giờ tới tóc bồng, thầy gật một phát là xong.
- Tôi có muốn đâu, ông coi đó, người ta áp-xô tôi ngay trong nhà người ta .
- Bây giờ tới cặp Thúy Kiều Thúy Vân này nữa, thầy làm sao?
- Làm sao ai biết làm sao, nhưng không phải chỉ có cặp Vân Kiều này thôi.
- Còn ở đâu nữa?
- Gót Chàng. Rồi hai nàng Hằng Nga ở đây nữa!
- Cô Bảy và chị Tư cô ta à ? Tư Mai có con rồi mà !
- Ừ thì vậy đó. Kỳ rồi tao đến, nàng bảo con bé kêu tao bằng ba.
- Thằng chồng đi công trường 9 bộ rửa chân lên bàn thờ rồi à?
-Tao nghe đâu vậy, nhưng không tiện hỏi. Ngoài ra cũng có thằng cắm thẻ nhận ruộng rồi nên tao chỉ bủa lưới phóng lao vòng ngoài với cô em rũng sĩ thôi.
- Thằng nào dám nhận ruộng trong vùng đất tôi vậy.
- Ông biết Tư Linh Phó ba địch vận khu không? Nó cũng bị rau muống quấn như ông vậy.
- Đọ thầy thấy cái chánh sách hàng hai của tôi hay không? Lớn nhỏ đều theo cả mà ! Từ Tư Khanh, Năm Lê đến Sáu Nam, kể cả Sáu Thọ, Ba Duẫn mà !
- Ông nào cấy su hào ngoài đó rồi, bây giờ về đây thấy cây nhà lá vườn thì tiếc hùi hụi.
- Con bé của tôi mới 19 nhưng găng lắm. Nó bảo phải đảng ủy tới hỏi nó mới đi R.
- Con gái đứa nào không nói vậy, nhưng nếu làm được vậy thì ông Tám Lê đâu có phải bí mật nạo thai cho các cô. .
Hai Khởi lắc đầu rồi bắt sang chuyện đánh đá.
- Thầy có chỗ đặt pháo chưa?
- Đã thấy rồi. Đo đạc xong. Tất cả các trận địa đều có xong phần tử mục tiêu.
- Mần thì dễ chui lại khó. Cũng như Tôn Văn nói: “Biết dễ, làm khó” vậy ông thầy ơi!
- Tôi cho bắn một lúc ba khẩu đặt ở ba nơi. Chúng nó sẽ không biết phản ứng phía nào. Thừa lúc thằng lính lên chuồng cu hụp xuống tránh đạn, tôi cho di chuyển pháo qua đồng trống đến gần đồn hơn.
Hai Khởi đập vai tôi.
- Hay lắm! ! Hai Giả bó tay là vì không có được cái sáng kiến này. Tôi phục ông là thầy pháo. Nhưng tôi nói ông nghe. Mình nổ xong là nó trả hỏa ngay. Rồi đổ chụp và xe tăng càn tới liền.
- Chuyện đó sẽ bàn với ông Tám Dò sau.
- Các ông nội khu ủy đang ở Xóm Thuốc, nếu mình pháo thì sẽ động ổ, mấy ông la cho coi.
- Đánh giặc mà nghe theo mấy ông đó thì thà ngồi thum cho khỏe gà. Ông Năm Lê ghét mấy ổng lắm.
- Các ông phổ biến nghị quyết thì luôn luôn thừa thắng xông lên, nhưng hễ mình xông lên thì mấy ông lại sợ động đất đai, đau lòng bà thủy.
Tôi tạt ngang:
- Cô bé coi được đến, coi chừng cậu đi theo con đường của Năm Lê, Hai Giả, Tư Khanh. Một là rơi sao hai là lên bàn thờ. Hai Giả xuống đó có hai tuần bị tụi Phượng Hoàng khui hầm. Đến nay ở trên còn nhẹm. Tôi chưa dám cho vợ y biết.
- Tới đâu hay tới đó. Thằng nhỏ có hai nhiệm vụ chiến lược. Ra miền Bắc nó chỉ làm nhiệm vụ chiến lược số 2 còn nhiệm vụ chiến lược số 1 thì lại không làm được. Bây giờ về xứ có địa bàn không lẽ cứ để nó làm nhiệm vụ số 2 như ở ngoài Bắc 8 năm trường?




Cái Chết Bi Thương của Cô Văn Công R
Chương 59
Đối thoại của những ngón tay.


Sau buổi tiệc tưng bừng tở mở mọi người tìm nơi trú ẩn. Kẻ có cặp thì bày bàn cờ người, người lẻ loi thì chơi trò hú tim. Ai nấy đều có việc làm. Riêng tôi thì nối gót hai nàng tiên Nga vô C5 vô thăm dượng Chín Nữa.
Là háy nguých tôi cái nào cái nấy như dao cạo:
- Mới đi bẻ dừa, bây giờ đi C5.
- Dù cho dượng Chín không cho mình cái radio Sony mà dượng bị thương mình cũng phải đi thăm. Sao em không đi với anh mà quạu ?
- Có hai con đó giữ ma cho anh rồi, có em đi là thừa.
Tôi đi với hai nàng. Không biết hai nàng có thoả thuận với nhau điểm gì chưa mà lại có vẻ hiền hoà với nhau. Hồng Nga nhường cho Huỳnh Nga đi cặp kè với tôi. Nếu không, ắt thân này phải xẻ làm đôi. Huỳnh Nga không xốc tới như Quắn, Là, nhưng cũng không dịu dàng như Mười, Lụa . Nàng có cảm tình với tôi kỳ rồi và bị Là ghen trắng trợn, đến nay mới có cơ hội gặp lại. Nàng phiền trách:
- Anh để ý mấy đứa con nít chớ có bao giờ ngó đến con nhỏ già này!
- Em đừng nói vậy, hăm hai tuổi mà già sao?
- Chắc anh nghe cô xã đội phó thêu dệt nên cho em ra rìa chớ gì?
- Thêu dệt gì?
- Đố khỏi cô ta nói với anh là em ngủ chung hầm với ông Tư Chuyền.
- ….!?
- Ông ta không có rớ tới em được. Nếu anh yêu em sau này anh sẽ biết.
Tôi hơi ân hận vì sự thực tôi trót tin lời Là. Nam nữ ngủ chung hầm ở đất Củ Chi này là thường sự, và do đó sự mang bầu phá thai cũng chẳng làm ai ngạc nhiên nữa. Nga tiếp:
- Ổng hứa cho em đi học y tá. Mà hai ba năm rồi ổng không cho đi. Thì anh biết em đối với ổng thế nào!
- Sao vậy?
- Ổng bần tiện lắm. Em cực chẳng đã phải ở đây thôi. Ổng nói công khai: “Đứa nào cho tao ngủ, tao cho đi”. Cơ quan kiểm thảo ổng, ổng cười hề hề : “Cho tao ngủ chung hầm để khi có pháo bắn tao về hầm tao không kịp, có nghĩa là tôn cán ái binh, thì đã sao nào?”
Đi gần đến trại, nàng dừng lại, bảo:
- Lần đó, em cho biết hầm của em và con Nga nhỏ, hai đứa ngủ chung, để anh hết nghe lời cô em yêu qúi của nh mà anh cũng không hiểu ý em sao ?
Tôi lặng thinh. Nàng cầm tay tôi đứng lại bên ven rừng và chìa má:
- Anh hôn em đi. Một cái thôi. Ừ, như thế đủ cho em nhớ anh cả đời rồi. Em mong cho anh bị thương nhưng nhẹ thôi, kiểu như ông Hai Khởi, để anh vô đây nằm em săn sóc anh!
- Cám ơn em. Anh chưa bao giờ bị thương nhưng hễ bị thương chắc là tàn phế hoặc chết .
- Nghe anh nói, em tội nghiệp anh Năm Hoa, anh ruột của con Nga nhỏ quá trời. Ảnh bị thương cụt hết hai chân cho nên chị Tám Mang bỏ luôn. Em không làm như vậy đâu.
Tôi ôm nàng hôn say đắm. Nàng có văn hoá, nghe đâu thi tú tài rớt gì đó, không hiểu ai quyến rủ vô đây để làm hộ lý cho một ông thủ trưởng bầy hầy như thế.
Tôi vào thăm dượng Chín tôi, đưa cho dượng một ngàn của ba tôi cho. Dượng không lấy, Dượng dặn dò:
- Tao sắp lành rồi. Dì Chín mày sẽ vô, tao có thiếu gì. Ra miệt Ràng phải cẩn thận đừng có cặp kè với đám nữ du kích. Chúng nó chỉ xạo xạo cho vui thôi! Nay mai sẽ chui như cá chạch. Tao ra viện chắc sẽ làm ở cơ quan chớ không về đơn vị chiến đấu nổi nữa. Mẹ nó, xui quá trời! Lúc tối không dám ngủ. Hừng đông đang ngủ ngon, nó dệnh cho một trái ngay giữa trung đội, chết và bị thương tám đứa . Tao nhờ ông bà phù hộ nên bị nhẹ nhất.
Dượng hỏi tham ba tôi, hỏi thăm chòm xóm và cuối cùng đề cập tới vụ thằng em tôi mà tôi vừa thuật cho dượng tôi nghe khi mới đến đây. Tôi nói:
- Mọi việc tôi đã gật hết cho Chín Lộc rồi. Các ổng làm gì thì làm!
- Đâu có khoán trắng cho họ được. Ít nhất mày phải gặp nó nói cho rõ cái ý định của mầy. Coi chừng mấy ông nội đó chọc cứt không nên lỗ mà hại cả gia đình mầy đó.
Rời khỏi chiếc hầm thương binh của dượng, tôi thấy cả tương lai mù mịt của tôi. Tôi rồi cũng sẽ đến đây, nếu may mắn. Tình hình bom đạn này khó thoát.
Trời đã nhá nhem, tôi vội vã ra về vì đây là giờ Đồng Dù, Trung Hoà lẫn Bến Cát giã gạo chày ba. Tôi vừa đi ra con đường lớn thì đụng đầu nhà báo Nhã Nam. Nàng xuống xe và nắm tay tôi bảo:
- Anh không thấy gì hết sao?
- Tôi om, ai thấy gì?
- Trong tối anh thấy mới tài, chớ ở giữa thanh thiên bạch nhựt ai chẳng thấy ?
Cô bé Sàigon này muốn xài văn chương với ông võ biền chăng. Tôi đâu có chịu thua.
- Anh hùng đoán giữa trần ai mới tài phải không?
- Từ ấy trong em bừng nắng hạ…
- Mặt trời chân lý chói qua tim!
Tôi cười thầm. Cô em trúng tủ thơ Tố Hữu của tôi rồi. Tôi thuộc tất cả thơ Tố Hữu, không sót một bài nào, từ 1946 tới nay chưa có dịp đem ra xài. Tôi tuôn ra một dây làm cho cô em ngầy ngật.
- Em chưa thấy ai thuộc thơ nhiều như vậy.
- Chép không, anh đọc cho!
- Một bài thôi, bài hay nhất!
- Tặng nàng trinh nữ. Tôi đọc luôn:
Anh muốn đưa em đến cổng trường
Cho đời em hiểu nghĩa yêu đương
Yêu nhau nếu chỉ vì sum họp
Anh đã dừng chân giữa gió sương.

- Nghĩa yêu đương là nghĩa gì anh?
- Anh thấy hoàng hôn trong mắt em.
Nàng áp người sát và ngã đầu vào vai tôi, thầm thì:
- Anh là người văn võ song toàn. Anh dạy em viết báo với.
- Anh chưa viết báo bao giờ.
- Thì bây giờ anh viết một bài cho em.
Tôi không còn thì giờ để đi đúng ba giai đoạn: Phòng ngự, Cầm cự, Tổng phản công như đồng chí Trường Chinh dạy nữa, tôi phản công ngay. Nàng kêu the thé và chống trả một cách nhẹ nhàng có nghĩa là đồng tình hơn chống đối ….
Nhưng bỗng có bóng người thấp thoáng. Tôi giật mình bước lùi ra. Tôi sợ cô xã đội phó. Không hiểu tại sao tôi lại sợ cô nhỉ. Có lẽ tôi sợ cô ta bù lu bù loa rồi tôi mang tiếng…
Và nhà báo nữa, cô cũng lùi ra một bước,và nhanh trí nói:
- Bài báo em viết về anh dự đại hội mừng công trên R vừa xong, em tìm anh mãi để anh duyệt qua.
- Thôi, tôi van cô! Tôi không muốn lên đài!
- Anh khiêm tốn hoài!
- Tôi không phải anh hùng, thật mà!
- Không phải anh hùng thật thì giả à?
- Anh hùng là anh hùng rơm. Xin cô cho mũi lửa hết anh hùng!
Tôi vừa nói vừa quay lưng đi. Nàng kéo tay tôi lại:
- Anh chưa hôn em!
Tôi hôn nàng một cái rất khẽ như không.
Không thấy bóng người kia tới gần, nhưng tôi không dám xáp chiến. Không sợ pháo Đồng Dù lẫn cối Trung Hoà, chỉ sợ cây chông ba lá của cô xã đội phó.
Tôi chào tái ngộ cô phóng viên rồi đi thẳng về nhà, trong bụng phập phồng lo sợ. Chắc mây đen vần vũ gió giật cấp 13 sắp có bão. Nhưng tôi đã dự đoán sai thời tiết . Là đứng ở cửa chào tôi bằng một nụ cười tươi như hoa dâm bụt nởi dưới ánh đèn dầu.
- Em tưởng anh lạc đường về rồi chớ !
Lụa ngồi ở miệng hầm hai tay bó gối, mặt rầu rĩ làm cho tôi bất nhẫn. Là trêu ngay:
- Chỉ nhớ anh đó. Anh mà ở lâu chút nữa là chỉ đi tìm.
- Con nhỏ ăn nói lãng dang!
Là rổn rảng :
- Chớ không phải hả? Chớ phải chị xứng với anh Hai thì em nhường ảnh cho chị.
Tôi nạt:
- Em đừng nên nói vậy Là ạ!
- Chỉ thương anh! Em biết từ lần trước mà.
- Lụa chỉ coi anh như anh Điều thôi.
- Chỉ coi anh như ai thì chỉ coi, còn em không coi anh như anh Điều bao giờ.
Sợ mây khói đèn kéo tới làm nên cơn bão tôi không đối đáp mà bỏ đi tắm rồi lẳng lặng xuống hầm dạy con Rớt học.
Lụa đang nằm gác tay lên trán, nghe tôi xuống thì lôi con Rớt qua nhường chỗ cho tôi.
Lụa đã từng thẳng thắn tâm sự với tôi: “Anh không có cưới em đâu, em biết, em không giành giật với con Là ! Nhưng rồi anh cũng không lấy nó làm vợ. đâu. Tánh tình của nó không hợp với anh. Nó không phải trẻ con, cũng không phải người lớn.” Thật là một tình cảm chân thành, một nhận xét chí lý. Tôi vừa mở tập ra thì Là cũng xuống theo. Nàng cười ngỏn ngoẻn:
- Em biết mà . Ba vô anh đã thưa với ba về vụ của anh với em rồi phải không? Rồi ba cũng đã đồng ý phải không?
Bị tấn công bất ngờ, tôi chới với, không biết đối đáp ra sao. Ai bảo nàng vậy? Nàng ngồi trên mép giường và móc túi lấy một cái hộp nhỏ để trên lòng bàn tay. Tôi giật mình thon thót. Ở đâu mà nàng có cái hộp nữ trang của Lam? Thì ra khi chiều, vô C5 thăm ông dượng, lúc đi tôi đã tiếp tay giúp hai cô Nga bưng phụ thức ăn nên không mang chiếc xắc-cốt đầy đồ bí mật quân sự lẫn bí mật cá nhân theo cho đỡ cồng kềnh. Hơn nữa giờ đó cũng không sợ chụp dù. Cho nên ở nhà, nàng lục được. Nàng mở hộp cầm hai chiếc nhẫn. nói:
- Cả hai đều có khắc chữ “L” tên anh và tên em phải không? Em biết ba đồng ý ngay.
Tôi càng không biết nói sao. Làm thinh thì không ổn mà đính chánh thì càng không ổn. Tôi bèn chối ngang:
- Của gia đình một cậu chiến sĩ trong H6 gởi cho anh cất dùm nó chớ không phải của ba đâu.
- Sao có hai chiếc, mà chiếc nào cũng có chữ “L” ?
Tôi nói hàng hai:
- Không tin thì thôi!
Lụa ngồi dậy liếc qua và nằm vật xuống. Là trừng mắt:
- Ngón tay của chị xỏ không vừa đâu!
Tôi xem con Rớt viết bài rồi nằm im như luật trời đã định, chỉ cách Lụa có con bé. Là cũng không ngại gì trong việc chiếm phần. Nàng nằm ngay sát tôi. Thành thử chiếc giường chật nức như cá mòi đứng trong hộp (ở đây cá mòi nằm).
Với hai chiếc nhẫn mà nàng đề là của ba cho, coi như ba đã đồng ý nên nàng càng mạnh dạn xem tôi như của nàng.
Nàng quyết lôi con Rớt đút vô ngách để được rộng rãi hơn.Chiến trường cài răng lược khít như nêm nên không dichuyển được quân sĩ, các đối phương chỉ ghìm nhau, không phe nào gây hấn trước. Tôi cũng mong sống một đêm hòa bình cho khỏe thân. Vì mệt mỏi, vì rượu trà, nên tôi thiếp đibên hơi thở nhẹ nhàng của hai địch thủ. Không biết tôi ngủ được bao lâu thì tôi nghe có bàn tay đập trên ngực. Tôi lắng nghe. Thì ra hai bàn tay từ hai phía. Chúng chạm nhau và lấy mảng ngực tôi làm chiến trường. Một bên có vẻ chịu lép vế nên không tranh giành đất đai trên miền Bắc mà di chuyến xuống miền Nam. Bên kia đuổi theo chộp được và cầm lấy ném ra xa với sự giận dữ, ý bảo: nơi này không phải của mi.
Nhưng khi đối phương vừa buông ra thì nó lại phóng lên ngực tôi lần nữa và lần này thì bám riết. Bàn tay kia lập tức nhổ nó lên và xô mạnh như một hòn đất. Lần này nó không chịu thua. Và hai bên choảng nhau như một cặp gà nòi, cắn đánhau chan chát trong đêm tối.
Tôi bật cười, không can gián mà cũng không hòa giải. Quyền lợi bị xâm phạm nặng nề, ai dễ nhường ai? Tôi nhưnghe từ những va chạm của hai bàn tay yếu mềm này, bật ra những lời gay gắt, những lời mà chỉ có tôi mới hiểu thôi.
- Ba ảnh đã mua nhẫn cưới cho em rồi, chị không thấy sao mà còn hòng?
- Ảnh thương tao chớ không có thương mày đâu.
- Ảnh chưa có vợ, không đời nào lại đi lấy đàn bà có con.
- Ảnh thương con Rớt như con ảnh.
- Anh Thơm mới chết mà chị lấy chồng không sợ ảnh bắt chị sao?
- Ảnh chết đã hai năm, người ta giấu.
Sự xô đẩy tiếp tục trên vùng ngực tôi rồi lên đến mặt. Tôi hôn mỗi bàn tay một cái như thầm bảo: “Thôi, đừng nhau. Anh sẽ giành cho mỗi em một phần bằng nhau:” Bất ngờ tôi nghe một cái đồn Bạch Hạc rơi lên người tôi, rồi một cái nữa rơi chồng lên cái kia làm cho tôi nghe như bị hai mãng núi mềm mại đè.
Rồi một cuộc chòi đạp tranh giành không nhân nhượng lại xảy ra trên người tôi. Để xoa dịu sự phẫn nộ, tôi bèn giăng tay ra, ở mỗi bên, chiếm một mục tiêu. Như những ngọn đồi nóng bỏng bị nước tưới lên, hoặc những ngọn đồi lạnh được chuyền điện vào, bây giờ cả hai nằm im chờ đợi. Sự im lặng bị khuấy lên bằng những hơi thở ngắn và gấp.
Trong hầm mỗi tiếng động được khuếch đại gấp trăm lần, cho nên tôi nghe từng tiếng thở phì phì. Tôi không thể ém đám quân háo hức chiến đấu của tôi trên những ngọn đồi trọc lâu hơn. Tôi thả cho chúng luồn qua vành đai thép, lỏng lẻo hoặc bỏ ngõ tự bao giờ để thọc xuống vùng đồng bằng xanh tươi hoa cỏ.
Lụa khôn ngoan. Nàng đã có kinh nghiệm. Trong trường hợp này, làm kẻ đi sau có lợi hơn, vì thời gian vô tận cho sự chiếm hữu và chiến đấu viên sẽ đánh trường kỳ chứ không tốc chiến tốc thắng như ở trận đầu. Cho nên nàng làm lớn thì làm láo, nhường cho cô em tiến trước.
…. Khi tôi nằm dưỡng quân thì nghe một làn hơi thở ấm thổi vào mang tai tôi. Tôi biết đó là ai. Tôi không ngần ngại chuộc tội đối với nàng.
Chúng tôi hoàn toàn là của nhau trong lúc đối phương hưởng xong giọt nước cam lồ của gã kỵ sĩ phiêu lưu đang nằm ngáy khò khò. Nhưng tôi vừa kiến trúc xong trận địa.pháo suýt khai hỏa thì tôi nghe bịch, bịch trên lưng tôi liên hồi như B52 dội bom, rồi tiếng vùn vằn:
- Tôi mét má cho chị coi.
- Tao cũng mét má cho mày coi.
- Mét mét tui hổng sợ.
- Mét mé…
Tôi cúi xuống bịt miệng nàng bằng một cái hôn đồng thời cho tên biệt kích khui miệng địa đạo mà ít ra hắn đã biết dấu đôi lần.
Mấy hôm sau tôi dắt Tôn Sứt, Ba Tố trở về H6. Trên đường tôi sẽ ghé ông Năm Lê với ý định trình bày kế hoạch pháo kích và sẽ gặp Tám Dò xin một người khác thay cho Hai Khởi, nhưng sự thực là để tạt qua thăm hai em Ua Chia.
Dọc đường tôi hỏi Ba Tố:
- Vô đợt được không?
- Được chớ thầy! Tôi chỉ sợ ông bác sĩ hay, tụi mình bị thương vô nằm, ổng cưa chân cưa tay bỏ mẹ !
- Không có vậy đâu ! Ở đời muôn sự của chung mà ! Hơn nữa em út của ổng thiếu chi.
Ba Tố cười khắc khắc:
- Hôm qua qua nói qua qua mà qua hổng qua, còn bữa nay qua hổng nói qua qua mà qua qua ha ha ha…
- Qua qua mà qua có hái hoa được không kia chớ, còn qua qua rồi qua xách xe không qua dìa thì qua qua mần chi?
Ba Tố bảo:
- Ông thầy lo là lo cho thằng em kia kìa, chớ còn tôi đã quậy cái đất thép này thành bùn lâu rồi, chỗ hóc bà tó nào mà tôi không lạo qua? Ngặt vì hốt ổ thì tôi không chịu nên đành chờ cơ hội may mắn mà nắm cái mọng dừa như Hai Khởi thôi. Sắc diện hắn đâu có gì hơn tôi, còn về gia thế thì hắn lại lận lưng một củ su hào, nhưng hắn quơ được con bé quân trang là chó dắt thôi.
- Tôi sẽ đưa hai ông đến một nhà toàn là con gái từ 16 đến 19 và rất mơ cán gáo mùa thu.
- Trời trời! con nít vậy về nhà nó nhỏng nhẽo chịu sao nổi?
- Thằng Chín Hung cưới một cô văn công tỉnh có 16 nghe cha nội. Nhà vợ lại ở trong ấp chiến lược nữa mà đâu có bị kỹ luật gì.
Tôi dẫn hai cậu về căn cứ của Chín Lộc ở Bào Chứa. Mục đích của tôi là cho hai cậu làm quen với các cô Suối và Trong, con của bà Tư Bánh Bò . Hai cô Xanh Biếc và Nhành, em gái của Năm Cội thì còn trong tuổi thiếu nhi không thể gạ gẫm. Mà có gạ gẫm chắc cũng không thành công, vì chúng đã tỏ ra rất cảm ông thầy pháo, còn Ba Tố thì nhan sắc hơi kém Tôn Sứt than phiền về công tác:
- Mình thiếu phương tiện dữ quá anh ạ. Anh còn nhớ trên trường pháo, mình đi thực nghiệm dùng kính ngắm pháo Pháp gắn qua pháo Nhật để bắn trực xạ không?
- Không chó bắt mèo ăn cứt chớ làm sao bây giờ chú em!
- Mấy công trường đều than phiền pháo mình đấm lưng bộ binh hơi nặng.
- Nhưng làm gì được bây giờ. Nội cái việc đạn pháo phơi nắng phơi mưa, lòng pháo chôn dưới hầm thì cũng đủ chết người rồi. Pháo thủ có tài đến đâu cũng không thể bắn chính xác được Ngoài ra còn vấn đề quan trắc. Cậu xem ngoài Bắc mình bắn ban đêm và bắn mục tiêu di động mười phát trúng cả mười.
- Còn ở đây, anh độ bao nhiêu phần trăm?
- Không biết được. Chuyện nghiên cứu này chưa đủ 50% yêu cầu.
- Anh định bắn bao nhiêu quả?
-Ít nhất 500 cho Trung Hòa, 500 cho Đồng Dù.
- Dữ vậy?
- Đó là tối thiểu. Đồng Dù rộng độ bốn cây số vuông có hầm bê tông cốt sắt, có bao cát tấn rất dày. 81 mình chỉ làm nó trầy da thôi. Một trăm quả như muối bỏ biển ăn nhằm gì. Nhưng mình có đủ thời giờ để bắn hay không? Vì nó trả hỏa chậm lắm là trong vòng năm phút. Mỗi phút mình chỉ bắn được mười quả là cùng. Cậu biết đó, nếu bắn nhanh quá, lòng pháo sẽ không nguội kịp đạn đi không chính xác. Như vậy nếu mình đặt năm khẩu bắn chụm vào Đồng Dù trong vòng năm phút thì mỗi khẩu bắn được tối đa là 50 quả. Năm khẩu dự chi 250 quả mà thôi. Vậy mình phải rót tập trung vào một điểm. Thí dụ: kho đạn, sân bay, trại lính. Cái nào thì một cái thôi. Thà chặt lìa một ngón tay còn hơn đập dập cả bàn tay như chiến thuật Mao Trạch Đông dạy.
Ba Tố xen vào.
- Các sách của ông ấy khó áp dụng ở đây lắm ông thầy ơi! Tôi lấy ví dụ: Chiến thuật vẫy chài và gom chài nhanh của ông ấy là hoàn toàn không xài được ở đây. Vì sự cơ của ta quá chậm còn của Mỹ thì quá nhanh, nhanh gấp một trăm lần mình.
- Kinh nghiệm đánh vận động ở Phong Phú của 307 hồi 1948, đánh đồn Pắc Sa Ma của 308 hồi 1950 không thể áp dụng cho tình hình này một mảy may nào. Mình phải sáng tác chiến thuật lấy thôi. Võ đại tướng vô đây mà chạy chụp tlù vài trận thì ổng sẽ biết cái Đồng Dù này không phải là lòng chảo Điện Biên, nơi quân ta ưu thế hơn quân giặc nhiều. Ta bao vây giặc khống chế bằng pháo binh, giặc biết mà lkhông làm gì được. Đường tiếp tế lương thực và đạn dược của địch bị pháo binh ta cắt tối đa ! Còn ở đây chúng ta hoàn toàn bị ở trong nhược thế về mọi mặt: Khó tập trung đơn vị, không có pháo binh hiệu nghiệm, không có đường tiếp tế bảo đảm, đạn dược rất hiếm hoi. Chúng ta hoàn toàn bị động với pháo binh của giặc. Đó là chưa kể các trận đổ chụp phối hợp với xe tăng chớp nhoáng. Bên cạnh đó những cuộc đào xới tìm địa đạo thường xuyên.
(Bạn đọc sẽ thấy những tổn thất của quân giải phóng ở quyển 4 trong chiến dịch Geration Crimp. Tôi sẽ kể cho các bạn nghe về cuộc tự sát của một nữ văn công R: cô Thiên Lý.)
Ba Tố xen vào:
- Thầy bi quan quá, chớ hồi hôm này cả Đồng Dù lẫn Trung Hoà đều bị pháo ta nện tơi bời.
- Giỡn hoài ông dê tám (D8).
- Thiệt chớ. Quân ta có độc một khẩu pháo cụt nòng mà xơi tái cả hai trận địa làm nó rêm mình quá là quá tay.
- Ông ở đây, ai chỉ huy pháo kích?
Tôn Sứt cười:
- Ổng nói anh đấy !
Tôi chợt hiểu ra. Ba Tố tiếp:
- Thầy làm sao pháo cho nổi hai cái đồn Bạch Hạc một lượt thầy Hai?
- Ổng có bùa, nên đi đâu cũng cá cặp không thôi. Trên R còn đi cặp ba cặp bốn nữa kìa chớ.
Tôi cười:
- Nhưng rốt cuộc chẳng được gì !
- Tôi không hiểu tại sao thầy mới ra Ràng có một ngày mà đã có cô bắt ghịt thầy như vậy?
- Tôi có gây hất gì đâu. Tự nhiên người ta đến bắt cóc tôi.
- Còn vụ cô Lam móc gia đình vô và tặng nhẫn vừa rồi là ông sắp đặt trước à?
- Tôi có biết ất giáp gì đâu !
- Vậy ông phải tính sao cho khỏi phụ lòng cô ta?
- Chưa biết! Nhưng trước nhất là phải hoãn binh chớ từ chối ngay thì tội nghiệp cô ta.
Chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện chiến đấu xen lẫn chuyện ái tình, chuyện lọt hầm chông của ông này ông kia. Gần một ngày trời, xuyên qua Đồng Chà Dơ, Bào Đứng, Bào Trăn, Bào Tròn mới tới Bào Chứa, nơi đặt căn cứ quân báo, của Chín Lộc, nơi có cây xoài mút trạm gác của Năm Cội, nơi tôi vừa đào dưới bụi trúc của nhà ông Tư ất… nơi ghi nhiều kỷ niệm trong một thời gian ngắn của quảng đời Củ Chi của tôi. Bào Chứa vẫn còn y nguyên nhưng một sự im vắng đông đặc trùm lên vùng quen thuộc này. Nơi đây tôi đã từng đón ba tôi vô,. Đã từng nhậu với Sáu Huỳnh, Chín Lộc, Tư Minh tại nhà ngoại, tại nhà bà Tư Bánh Bò . Tối nay thế nào cũng có một bữa tiệc liên hoan tại quán em Chia. Lòng tôi nôn nao như sắp về đến quê nhà. Bao nhiêu năm rồi, tôi lấy quê người làm quê nhà và lấy người lạ làm bà con của mình một cách hồn nhiên, tự nguyện..
Đường mòn vào quán hơi thu hẹp lại. Cỏ hai bên bò ra gần giao đầu nhau. Là đã từng đến đây và đã gây sự với Ua, Chia suýt nổ to nếu không có Sáu Huỳnh dọa bắt bỏ tù.
Tôi vừa đi vào sân vừa nhìn ngôi quán thu hình bên bụi chuối và dưới những tàu dừa tơ rậm rạp. Tôi bước lên thềm, không một dấu vết của khách khứa tới lui. Hai cánh cửa đóng khít im ỉm như cửa chùa, trên thanh gỗ có dấu dao cạy.
Tôi thất vọng nhưng còn gượng gạo đập cửa gọi.
Không ai đáp. Chia đã cảnh cáo tôi mấy lần trước khi hai đứa tạm biệt: “Dì Ba thúc giục má đem ngoại ra ở với dì lo buôn bán ở Củ Chi” và “Anh về kỳ tới có thể sẽ không gặp ai. ” Vậy là chuyện nàng tiên đoán đã xảy ra. Gia đình đã dời đi. Tôi bảo Tôn và Ba Tố.
- Mình đi thẳng lại nhà ngoại xem sao.
Nhà Năm Cội ở trịt phía bên dưới, cây xoài mút vẫn còn đứng đó. Tôi đã từng leo lên ngọn bỏ ống dòm nhìn trộm bót Trung Hòa. Ở đây tầm xa gấp ba lần so với Ràng.
Giá Năm Cội xuất hiện lúc này thì bọn tôi đỡ cô đơn hơn. Phần sợ pháo, phần sợ lựu đạn gài của du kích. Không biết chuyện gì xảy ra ở đây mà đường sá thì không có bóng người, biết hỏi ai bây giờ? Tôi như nghe tiếng nói của ba tôi còn vang trong ngôi quán, nơi tôi gặp lại ba và chỉ một đêm. Tôi đưa mắt nhìn ra phía Đồng Mã, con đường mòn cát nâu mà Ua đèo ba tôi hôm đó ra Củ Chi để về nhà. Tôi ân hận sao mình không kéo dài được giây phút trùng phùng? Tôi hình dung buổi chiều hôm đó ba tôi về đến nhà kể lại chuyện gặp tôi cho má tôi nghe, má tôi sẽ khóc hết bao nhiêu nước mắt. .
Con đường Sáu Huỳnh dắt tôi từ nhà ngoại sang quán của Chia bây giờ cây mì cũng xơ xác. Du kích của Năm Cội đào ăn rồi vứt cây bừa bãi không cặm lại. Đây là con đường tình của tôi và Ua-Chia. Nó khởi đầu tốt đẹp và kết thúc bi đát cũng như Romeo Juliette, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài.
Tôi đi vào con đường nhà ngoại. Ngoại đã nhận tôi là cháu rể. Bà cũng đã nhận xét thẳng thắn trước mặt tôi về hai đứa cháu: con Chia đằm thắm dễ dạy hơn còn con Ua lốc chốc và khó bảo!” Ngoại là chủ nhà nhưng với sự trú đóng cơ quan cuối những tên Bắc kỳ xâm lược, thì bà trở thành đứa ở . Họ cho ngoại làm quân báo, con gái lập mạng lưới lấy tin ngoài Củ Chi mà ngoại không biết. Ngoại đâu có ngờ đó là một việc làm nguy hiểm đến tánh mạng.
Lần đầu tôi đến, Sáu Huỳnh đã nài con gà mái ấp, con vật thân yêu độc nhất còn lại trong nhà, để đãi thằng đồng hương tái ngộ.
Cửa nhà trước trống hốc. Tôi gọi to. Không ai đáp. Tôi đi thẳng vào. Không thấy ai. Tôi đi vọt ra sau bếp rồi ra luôn sân sau nơi có cái giếng tôi đã từng đứng nói chuyện với Ua.
Tôi giật nẩy người và sụt lại. Hai cái xác nằm dài dưới đất Tôi nhận ra ngoại ngay, còn người kia, đàn ông không rõ là ai.
- Coi chừng biệt kích thằng Rắc ngoài Củ Chi hay thằng Lệnh ngoài Trung Hòa vô . Lúc này coi bộ chúng nó làm lộng . Có thể nó còn ẩn náu đâu đây. Mình phải đề phòng.
Ba đứa móc súng lên đạn và xuống cò nhỏ cầm tay. Tôi bảo Ba Tố và Tôn cảnh giới bốn phía để tôi quan sát vết thương nạn nhân. Tôi nhận ra người đàn ông là Tư Minh – người có vợ làm thợ may ở Sài gòn, cơ sở chứa cà súng đạn liên sau này bị cảnh sát khám phá . Cả Tư Minh lẫn ngoại đều bị thương ở đầu và ngực.
Có lẽ chỉ điểm cho biết nhà này là nơi đóng cơ quan, Tư Minh bị chúng bắn đã đành nhưng tại sao ngoại cũng bị. Có lẽ ngoại bị lạc đạn chăng? Hoặc lúc tối, hoặc hừng đông, chúng không phân biệt già trẻ, cứ thấy bóng đen bóng người là xã súng. Bên cạnh ngoại một chong dầu lửa ngã đổ và cái tim đèn cháy lan đến hết dầu thành tro. Soong gạo lật ngang tung tóe quanh ngoại. Chắc là hừng sáng ngoại ra vo gạo nấu cơm nấu cháo. Còn Sáu Huỳnh, Chín Lộc, Sáu Cúc đi đâu, chỉ có Tư Minh và ngoại ở nhà? Còn Ua đi đâu? Tại sao cả xóm_không đến đây? Chúng nó bắn bằng súng gì? Có lẽ súng : hãm thanh, loại súng biệt kích thường dùng.
Chúng tôi đến nhà bà Tư Bánh Bò và Năm Cội để tri hô lên. Chẳng ai hay biết gì cả . Ai nấy đều bảo Sáu Huỳnh, Chín Lộc đều đi công tác chỉ có Tư Minh và ngoại thủ trại. Còn con Ua thì đi đâu lâu lắm không thấy về.
Chúng tôi gọi hàng xóm đến chôn cất qua loa rồi rút lui với lòng thương cảm vô cùng. Mình mới thọc ra Ràng mấy loạt trầy da chúng. Chúng đã dùi vào giữa rốn mình đâm một nhát sâu hoắm. Không biết chúng có vào nhà lục lạo lấy được những tài liệu quan trọng nào không? Đây là một tổn thất nặng nề, nhưng chẳng biết nặng đến mức nào. Có thể nó gây nên một sự tan vỡ cơ sở quân báo ở thành và các căn cứ trong này sẽ bị phát hiện.
Nhiều cán bộ bị chúng giết hoặc bắt sống biệt tăm một thời gian dài mới tìm thấy xác hoặc tông tích. Vùng đất Ràng, Bầu Sỏi, ngã Ba Tầm Lanh, Gò Nổi Trên, Gò Nổi Dưới đều sợ tụi thằng Rắc. Lại thêm thằng Lệnh. Thằng này cũng không kém thằng Rắc về cái ngón phiêu lưu bất ngờ, không thể đề phòng được. So với Commando của Pháp thì tụi này là bậc thầy.
Hồi trẻ mới ra trường Lục quân, tôi xuống công tác các đơn vị địa phương quân ở Ô Môn (Cần Thơ) tôi cũng từng bị commando đột kích, nhưng chỉ một lần là chúng tôi lẩn tránh được và đã phục kích đánh trả lại, nhưng tụi Rắc-Lệnh này thì vô phương lẫn tránh hoặc đánh trả. Vì chúng thay đổi sắc phục, súng ống, chiến thuật, địa bàn như mưa nắng không theo một qui luật nào. Kiểu như Một On ở An Hóa Bến Tre hồi chín năm vậy. Sau mỗi lần chết hụt, chúng càng có những hành động mạo hiểm hơn trước. Trên trời có trực thăng, phản lực, B52, dưới sông có tàu lồng cu và giang thuyền, các con đường giao thông có đồn bót, pháo, xe tăng, và biệt kích. Thế cài răng lược với giặc không giống như thời đánh Tây, thế ta yếu, bị địch tràn lấn hoàn toàn.
Cho nên sau những trận đánh có tiếng vang của hai công trường 5 và 9 của Năm Truyện và Sáu Khâm ở quốc lộ I, ở Bàu Lách Bàu Đưng, phong trào chìm lỉm. Quận Sài gòn đã phản công lấy lại những gì chúng mất trong Đồng Khởi và còn lấn thêm. Nay lại có Mỹ và đồng minh của chúng kết hợp, thế của Giải Phóng bị núng hoàn toàn về mọi mặt.
Năm 1966 là năm mà lực lượng Giải Phóng bắt đầu sa sút cố gắng tăng cường tiềm năng để vươn lên nhưng không thể nắm thế chủ động. Cứ đi xuống dốc. Bao nhiêu hi sinh cũng không lấp được lỗ trống do Mỹ gây nên. Và mùa xuân Mậu Thân là cái cột mốc đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của đoàn quân xâm lược phương Bắc lẫn bọn chư hầu phương Nam là Mặt Trận Giải Phóng. Nếu không nhờ Hiệp định Ba Lê thì toàn bộ lũ cướp này sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. Nhưng thói đời là thế: Pháp cứu Việt Minh ở Điện Biên bằng Hiệp Định Genève, Mỹ cứu Cộng Sản bằng Hiệp Định Paris. Việt Nam tiêu tùng, chẳng những vì Cộng Sản mà còn vì các ông đồng minh vàng.
Tôi không còn biết làm gì nữa . Tôi có cảm giác đây chính là quê hương tôi, nhà tôi và thân quyến của tôi bị tàn phá giết chóc. Hình bóng của ba tôi ngồi sau poọc-ba-ga của Ua như còn thấp thoáng trên con đường lởm chởm ven Đồng Mả . .
Khi trước vui vẻ rộn rịp bao nhiêu, bây giờ lạnh lùng bấy nhiêu. Tôi ra gốc cây xoài múc của Năm Cội. Đáng lẽ hắn đeo tôi về luôn đây, nhưng vết thương hành, nên đành trú lại dọc đường.
Cây xoài vẫn đứng nhưng không còn nguyên. Một bên tàng lá cháy sạm. Những cành chúng tôi ngồi bắt ống dòm xem bót Trung Hòa đều gãy đổ xuống đất. Nó như một thương binh cụt tay, cháy tóc.
Phía Bàu Lách từng cụm khói bốc lên tận trời. Có lẽ Mỹ còn cụm bên đó cho nên trực thăng cứ bay trên đầu rặng cây thỉnh thoảng lại chúi xuống phóng rốc kết.
Tôi thấy đau xót khi nhớ đến chuyện Năm Cội ném những xác người cháy đen xuống hố bom. Đó có thể là một bộ phận của Q16 của đám con nít quảy chó hôm qua. Con cái của ai mà Sanh Bắc Tử Nam vậy? Không biết cậu thương binh kia còn sống thêm được mấy ngày nữa? Tôi đã chỉ đường cho các cậu ấy đi lên C5 của Tư Chuyền, nhưng chắc cậu ta không cần đến sự săn sóc của những bàn tay Hằng Nga nữa, bởi lẽ rất đơn giản là cậu đã chết trước khi đến đây.
Tôi đã từng chứng kiến những chuyện quái gở nhất thế gian ở trên lưng Trường Sơn. Bây giờ tôi lại được mục kích thêm những chuyện quái gở hơn chuyện Trường Sơn trong việc đối xử với người sống và người chết. Trong ngôi nhà sụp đổ của ngoại, tôi tìm được một cái cuốc cùn. Có lẽ là dụng cụ dã từng được xử dụng đào hai trăm miles địa đạo chăng?
Hôm nay, tôi dùng nó để cuốc đất vung lên nấm mộ của ngoại và của Tư Minh cho cao hơn chút rồi lẳng lặng rút đi giữa buổi chiều ảm đạm.
Đến đây chắc độc giả đã sống ít nhiều cái không khí bình thường của Củ Chi. chưa có gì ghê gớm..Thỉnh thoảng lãnh vài trăm trái pháo, đăm ba trận bom, biệt kích đột nhập, và đào vài thước địa đạo rồi bỏ, sửa soạn vài cái hầm bí mật để phòng chụp. Đi chài lưới kiếm ăn, nhậu nhẹt, trai gái, mở lớp uẩn luyện pháo, pháo kích Đồng Dù, Trung Hòa v..v… Đó là đất sét chưa thành bùn.
Bây giờ đến giai đoạn mới: Đất sét thành bùn.
Để mở màn, xin mời bạn đọc liếc sơ qua cái bảng phong thần của Bác Đảng tặng cho Củ Chi, những tên tuổi mà tôi còn nhớ được sau một phần tư thế kỷ .
Đứng đầu bảng phong thần là ngài Tư lịnh Quân khu tên Trần Đình Xu, bí danh Ba Đình, người tình của dì ba cô Là xã đội phó, em nuôi của tôi… Ông Tư lệnh vốn là phu cao su làm tới chức thầy, nên dân cạo mủ gọi là thầy Xu, thứ ba nên cũng còn gọi là Ba Xu chớ không phải đồng xu ta xài hoặc tiểu thuyết hai xu một cuốn. Trong kháng chiến chống Pháp, Ba Xu làm tới Trung đoàn trưởng, tập kết ra Bắc được gắn lon Thượng tá. Về Nam, đánh trận Bình Giả. Với thành tích rực rỡ nướng quân cao nhất, chỉ thua Tướng Giáp ở Điện Biên, Ba Xu được giao cho làm Tư lệnh Quân khu IV với quân hàm Đại tá.
Tháng ba năm 1969, với thành tích nướng còn nóng hổi ởTổng công kích Mậu Thân, Ba Xu được Trung ương xách chóp cho làm Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng của cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời của Huỳnh Tấn Phát. Thiên bất dung gian, trên đường về R nhậm chức, Ba Xu đạp nhằm bãi mìn của Mỹ Ngụy (?) tan xác, không nhặt được lóng xương miếng thịt nào. Trinh sát Quân khu và Công trường 9 mò mấy tháng liền vẫn không tìm ra một manh áo, một chùm tóc của ông Đại tá . Chắc Tư lịnh Ba Xu xuất phát không có xem quẻ thầy bói nên chẳng những Tư lịnh bị cụm mà còn lôi theo cả ban bầu cua: Chính ủy, Phó Tư lịnh và đám lâu la điếu đóm hơn một trung đội.
Chính ủy Nguyễn Xuân Trường, tục gọi là Tư Trường, dân gốc Rau vào Nam cũng cạo mủ với Ba Xu, sau năm 1945 làn ở Liên Hiệp Công Đoàn Nam bộ . Không có tập kết, được đưa về làm Bí thư Khu ủy thay Trần Bạch Đằng, kiêm Chuẩn úy Quân khu. Một tên chưa biết bắn súng mút-cơ-tông nhưng Đảng đặt đâu ngồi đó, nhưng Đảng không bảo đạp mìn mà lại đạp. Cái xác vĩ đại của hắn tan thành bụi bón cây rừng.
Bên cạnh Tư Trưởng là Tám Lê Thanh, tên cúng cơm là Tám Dọn vì lúc ở trên R làm Trung Đoàn trường bảo vệ căn cứ R, đi kiểm tra, bất cứ thấy cái gì hắn cũng bảo “Dọn vô cho rén khéo kẻo B52 nó trông thấy.” Vì thế lính tặng cho hắn cái tên bần cố nông đó. Khi tên Tướng mặt sắt Nguyễn Chí Thanh vô trấn nhậm Nam kỳ thì giải tán luôn ba cái râu ria hiếu hỉ của triều đình đỏ R: nào đội bảo vệ, nào tổ thợ săn thịt, nào ban đào hầm, ban công binh chuyên cất nhà cho mấy tên kẹ v..v… Do đó Tám Lê Thanh cũng bị dọn luôn về đây làm Phó Tư lịnh, cũng oai ra phết và cùng theo chầu ông vãi trong chuyến đi này. Cũng nên biết là ông Phó Tư Lịnh gốc phu đánh xe ngựa ở Hốc Môn, không biết đi theo cách mạng hồi nào mà thăng quan tiến chức ghê vậy. Thường thường dân Nam cờ không mấy khi là đến chức này.
Đó là bộ ba ông Táo thượng đẳng của Quân khu IV. Ngoài ra trong bộ ban điếu đóm có tên Huyện đội trướng Trảng Bàng Mười Trường chịu trách nhiệm đưa đường, còn đám cò ke lục chốt thì không biết hết tên.
Sau khi Ba Đình chết thì không có ai làm Tư lệnh. Chỉ có vài tên Việt gốc Rau làm phó Tư lịnh thôi. Như tên Nguyễn Văn Kiên tự là Ba Kiên,. Trung đoàn trưởng Trung đoàn Q16 từ ngoài Bắc vào nên dấu tên thật, nhưng tôi biết đó là Trung đoàn thiện chiến nhất của Sư đoàn 325 trong chiến dịch Điện Biên. Đơn vị này vào đến miền Nam năm 1964, chỉ còn phân nửa quân số gồm toàn lính ốm đói như đã mô tả ở chương trước. Đơn vị này được một vinh dự lớn lao là bà Phó Tư “Nệnh” R đứng ra đỡ đầu và nhận Ba Kiên làm em nuôi (nhịp nhàng với phong trào em nuôi, con nuôi từ R xuống khu). Trước khi chiến dịch Mậu Thân bùng nổ, tên Bê Ka này đã giả dạng thường dân, áo dài khăn đóng đi quanh hàng rào Tân Sơn Nhất, tay cầm bó nhang, giả bộ đi tìm mộ con. Sau khi nướng gần hết số lính còn lại trong lò lửa cách mạng Mậu Thân, hắn được phong quân hàm Thượng tá , giữ chức phó Tư Lịnh, nhưng chẳng được bao lâu, ông phó Tư nịnh lại đi theo vết chân của ông Tư lịnh, nghĩa là lớ huớ lại bị mìn ở Lộc Thuận, còn tên gác-đờ-co thì bị đứt ngang lưng như con cá lóc khứa đôi. Tội nghiệp, làm anh hùng Điện Biên rồi lại làm quỉ Củ Chi bỏ vợ con không biết có đồng chí đảng ủy nào giúp đỡ không?
Kế Ba Kiên là Nguyễn Xuân Dũng, tự Năm Dũng, cũng còn có tên là Năm Nheo, vì mắt bị bù lạch ăn trụi hết lông nheo, cứ hấp háy như chói mặt trời, là chánh ủy của Q16. Năm Nheo là dân trọ trẹ nói toàn dấu nặng, là một cặp bài trùng với Ba Kiên. Sau khi đồng chí Thủ trưởng nướng gần hết Trung đoàn, Năm Nheo định thua me gỡ bài cào, nên đi nghiên cứu lò mới để nướng nốt những tên còn sống sót. Vừa ở trong rừng cao su Bàu Nỗ (Bến Súc) ló ra thì bị cá rô trông thấy Nó rỉa một phát cả hai thầy trò đều tiêu dênh. Ngoài ra còn một cán bộ tác huấn là Thượng úy Hai Hiến cũng ngủm theo. Mỹ đáp trực thăng lấy hai súng K54 và một AK gọn ơ.
Còn một ông tên là Bảy Dũng đâu ở bên dân sự đưa qua cầm cán Phó Chánh ủy, nhưng không sống nổi ở Củ Chi, phải rút về Long Nguyên chuyên môn ngồi thum một thời gian rồi đau tim (có lẽ vì sợ chiến trường) và đi vào nhị tỳ .
Sau ông Năm Dũng, Bảy Dũng, tới lượt Bảy Phán, cũng dân Việt gốc Rau, cấp Thiếu tá không đánh đấm gì nhưng lại được cấp trên cho làm Tham mưu phó. Đi công tác ở Trảng Bàng bị Mỹ đổ chụp bắt sống tại Cầu Xe (quê chị Năm Cầu Xe được nhắc tới ở các chương trước. ) Người ta nghi ông móc với lính Sài gòn trong vụ dàn cảnh đổ chụp này. Nghĩ cũng có lý, vìThượng tá Tám Hà (tức Trần Văn Đắc) Chánh ủy mặt trận tiền phương còn hồi chánh nữa là Thiếu tá.
Từ nãy giờ bạn đọc thấy đủ loại mặt hàng: tham mưu chính trị, quân sự. Bây giờ nói tới mặt hàng mới: Quân Báo .
Sáu Cúc không có trình độ, cũng không phải là tay mưu lược nhưng nhờ thành phần bần cố nông được phong làm phó phòng tham mưu khu, phụ trách quân báo, cũng bày trò móc nối tinh Sài gòn để làm binh biến. Biến đâu chưa thấy mà một hôm Mỹ đổ chụp bất ngờ (kết quả của công tác quân báo) hốt luôn cả cơ quan gồm có một điện đài dùng để báo cáo thường xuyên về Cục tham mưu R. Việc này chứng tỏ cái đầu óc cù lần của một anh bần cố nông. Loại công tác này ít nhất phải thông thạo một ngoại ngữ, còn Sáu Cúc viết chữ quốc ngữ còn đánh vần.
Xong vụ Sáu Cúc, đến vụ Huỳnh Thành Đồng. tên gì kỳ vậy? Có lẽ hắn quơ trọn cái danh dự rơm của Bác tặng cho dân Nam kỳ chăng? Đồng chỉ huy trận pháo kích sân bay Biên Hòa… rồi chạy thụt mạng, vứt súng xuống sông Sài gòn, không về R được, nên tôi phải đóng vai anh hùng giả gạt các ông bà trí ngủ ở Sài gòn ra tại triều đình R. Đồng được khen thưởng và cho về khu IV làm Tham mưu phó. Ở trên nghĩ rằng với kinh nghiệm chỉ huy tiểu đoàn pháo Z35 của U80, nay về đây sẽ làm trụi cái Đồng Dù, nhưng chẳng được mấy ngày thì bị lính Giang thuyền đổ bộ lên ấp Phú Yên xã Trung An bắn bỏ xác trong đám mía năm 1960.
Nhưng dù sao Huỳnh Thành Đồng cũng làm pháo nổ được vài quả ở Biên Hòa, còn Ba Châm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Quyết Thắng chủ lực khu đầu tiên thăng chức Tham mưu phó khu người gốc Rau ở Bắc mới vào, đầu đã bạc một nửa, nhưng chưa có ai nâng bi sửa dế, một hôm trời trưa nắng xuống tắm dưới suối Cát (còn gọi là suối Xay-nô gần Bến Súc) rồi về hầm treo võng nằm mơ tiên nữ bị biệt kích đến lúc nào không hay ria cho một loạt vào ngực. Các đồng chí ta đến thấy tận mắt, nghĩ rằng hầm này có cô hồn, chẳng ai dám chui vô nữa, nên lấp đất chôn luôn.
Ở gần cuối bảng Phong Thần cấp Quân khu có lẽ là Năm Sĩ được mệnh danh là con hùm xám Điện Biên, Trung đoàn trưởng một Trung đoàn thuộc Sư đoàn 308. Trung đoàn này xuất phát từ Phùng (Sơn Tây) làm mũi nhọn thọc vào Sài gòn trong Tết Mậu Thân. Được ghép vào Công trường 5 của Sáu Khâm. Xuống đến ấp Sa Nhỏ thuộc xã Trung Lập Thượng, đụng Mỹ đổ chụp tan nát rồi bị pháo Đồng Dù bồi tiếp tơi bời không còn manh giáp, lại bị pháo cụm Chà Rầy, Trảng Bàng đánh cú vét. Trung đoàn phó và Chánh ủy chết trong loạn binh. Chỉ còn ông Trung đoàn trưởng sống sót trở về một thân một mình. Nghĩ rằng được Phật che chở nên ngài Trung đoàn trưởng Mác-xít cạo đầu trọc lóc để thầm tạ ơn Phật. Ngày ngày đi tới đi lui và giải sầu bằng ba xi đế, hoàn toàn không uống nước. Và cũng như ngài Tư lịnh phó Hai Phón đã phón chiến trường Củ Chi nên bị ông Tư lệnh Ba Xu trả về R như một cái xác chết.
Tạm bấy nhiêu để bạn đọc thấy sự ác hệt của chiến trường. Những ai từng đi kháng chiến chống Pháp thử nhớ lại xem, suốt chín năm có Bộ Tư lệnh nào sứt mẻ như vậy không? Chỉ ở Miền Tây, ông Huỳnh Phan Hộ vì quá anh hùng nên ra trận và tử trận, và khu bộ phó là Nguyễn Hùng Phước vì quá phiêu lưu mạo hiểm mà hi sinh, ngoài ra các Bộ Tư lệnh khu 7 Huỳnh văn Nghệ , Nguyễn văn Trí, Huỳnh Kim Trương; khu 8 Trần văn Trà, Nguyễn văn Vịnh, Nguyễn văn Quan, Khu 9 Nguyễn văn Trấn, Trương văn Giàu, Phan Trọng Tuệ đều còn nguyên. Chỉ có cán bộ chiến trường mới chết thôi . Nhưng cũng không nhiều như thời kỳ chống Mỹ .
Nhất là ở Khu IV, Nguyễn văn Bảo Chánh ủy Sư đoàn 330 ở miền Bắc được bổ nhiệm làm Chánh ủy Quân khu IV vừa đút đầu về tới sông Sài gòn đã bị Biệt kích Mỹ cho chầu Hà Bá. Lê Quốc Sản, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Hải Ngoại về nước thời chống Pháp được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu II (khu 8 cũ) vừa về đến nơi bị xe tăng Mỹ càn chết ở Tháp Mười. Nguyễn Hoài Pho, Huyện đội trưởng Ô Môi sau lên làm Tỉnh đội phó Cần Thơ, tập kết ra Bắc khai láo là bần cố nông được cho đi học Trung quốc, về nước được phân cấp vượt bực: Trung tá !! Về làm Tư lệnh Quân khu III (khu 9 cũ) tới nơi chưa làm gì đã bị trực thăng bắn chết. Không Bộ Tư lệnh nào còn nguyên như thời kháng Pháp. Bọn Hà Nội ngủ say trên chiến thắng Điện Biên nên nghĩ rằng Mỹ cũng xêm xêm như Pháp cho nên Tướng Giáp tự phụ gởi hai Trung đoàn trứ danh của Sư đoàn 325 và 308 vô giải phóng miền Nam, để rồi “một ra đi là không .trở về. “
Bây giờ xin nêu tiếp Bảng Phong Thần.
Phòng Tham mưu của Thần núi Năm Lê đã góp phần lớn nhất, có trên năm chục cán bộ lãnh đạo. Đứng đầu là Thiếu tá Ba Kính, Phó ban Tác huấn bị Giang thuyền bắn chết trên sông Vàm Cỏ Đông. Năm Tiều, Trung đoàn trường Trung đoàn Quyết Thắng, người có vợ trẻ nhưng muốn thiếm xực cô Sáu Tỉnh ở Bến Dược, đạp mìn banh xác ở sở cao su Phú Hòa năm 1970. Cùng chung số phận với Năm Tiều có Đại đội trưởng Mười Việt, xung phong lãnh nàng Sáu Nga nhỏ ở C5 đi R đào tạo Y sĩ. Nàng mang chiếc bầu, ông anh cụt chân bảo phải phá, vì cái bầu đó là bầu rau muống. Thương thay cho nàng lấy Mười Việt mà chưa có bầu mới chàng đã phủi cẳng lên bàn thờ!
Chín Nữa bị thương lũng ruột vì một trái pháo nổ vào lúc hừng đông đơn vị đang nằm ngủ ngon. Sau khi chữa lành, tưởng là sẽ có cơ sống sót về với vợ con, nào dè bị xe tăng càn sập hầm (xin hiểu khi tôi nói hầm, thì đó là hầm bí mật hoặc chớ không phải địa đạo) chết ở Bàu Lách năm 1968 với chức vụ Đại đội trướng Trinh sát. Cùng xuống địa ngục với ông có cả tổ vệ binh của Phòng Tham mưu Khu. Cơ quan đã thi hành chánh sách nhân đạo của Đảng: Tử đâu táng đó.
Sau vụ Chín Nữa sập hầm tới vụ Sáu Lễ, Phó ban Quân báo Khu. Lễ bị pháo bắn ngay hầm ở căn cứ Bàu Khai năm1968. Cách đó không lâu, Tư Thuật, đại úy Trưởng ban Quân lực đội B52 chết ở Đồng Cà Tông, Dầu Tiếng năm 1966. Cùng đội chung quả bóng này có Thượng úy Ba Giỏi. Còn ông Thượng úy Tám Đương, Phó ban Quân lực dũng cảm hơn nên ôm một mình một quả. Rồi Hai Giả, đại úy Trưởng ban Pháo binh (tức H6, tôi vừa về thay thế) bị lính Đại Hàn khui hầm tung lựu đạn ở Dự An năm 1965. Nhưng chưa hết vận đen của H6. Sáu Phán, đại úy Chính trị viên bị Biệt kích Mỹ thọc vào bất ngờ đánh úp trong khi họp liên cơ quan với Tham mưu Quận. Trên một chục cán bộ quân sự chết dưới hầm Gót Chàng gần nhà Bảy Mô cuối năm 1967, trong đó có Đào Hải, Tham mưu trưởng Quận đội. Lúc đó tôi đã ra chỉ huy bộ binh. Nếu không thì cũng đã lúa rồi. Nếu vậy thì Ban chỉ huy H6 đều tiêu tùng.
Cái tin tử và táng tập thể này đang làm rúng động cả Củ Chi thì Đại úy Cao Hoàng Phủ, tức Năm Phủ, là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn pháo 89 bị pháo bắn trúng miệng hầm tại căn cứ H6 ở Bến Mương năm 1967. Đóng góp vào cái chết của Phủ, có một số nhân viên từng làm việc dưới trào Dương Đình Lôi như Ba Thu, quản lý ; Ba Tâm, Đại đội trướng Cối; Mười Lùn, Đại đội trướng DKZ; Cô Thu, chị nuôi, người đã cứu Lôi chết ngộp dưới địa đạo năm 1965; thằng bé Dở, liên lạc bị gảy gió ; Tư Kỹ, đại đội trưởng Trinh sát pháo. Thật mỉa mai, pháo Giải phóng được Đồng Dù tặng chỉ một quả dưa hấu đầu nhọn mà banh chành. Chưa hết, kế đó đến Tám Thanh, Thượng úy chính trị viên Tiểu đoàn 89 của Năm Thủ bị pháo bắn ngay miệng hầm ngủ tại căn cứ Bưng Còng năm 1967. Cùng hợp xướng bài ca Pháo này có một chị nuôi tên Huệ và một số pháo thủ. Rồi họa vô đơn chí, Năm Dị, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn này bị trực thăng phát hiện bắn chết cũng ở Bưng Còng cuối năm đó.
Trong số cán bộ trung đoàn 268 bị Ngọc Hoàng giủ sổ có thêm anh chàng Hai Đồng (Huỳnh văn Đang). Hắn mất tinh thần từ sau trận đánh phối hợp với Tiểu đoàn I Quyết Thắng tập kích quân Mỹ cụm ở Bàu Trâu xã Phước Thành 6/67. Hai Đồng lúc đó là Tiểu đoàn trường Tiểu đoàn 7 của Trung đoàn Q16, lại bỏ ngũ đi lêu bêu cặp với cô nương Tám Mang ở quân y quận Củ Chi. Tám Mang có bầu bỏ về hồi chánh ở chợ Củ Chi sanh một bé trai. Hai Đồng lang thang ở Bến Chùa nhớ người tình, nhưng tình hình khan hiếm cán bộ, quân khu lại điền hắn làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 268 vừa kiện toàn rút Tiểu đoàn 7 Củ Chi về Trung đoàn này để làm nồng cốt. Hai Đồng chưa làm nên trò trống gì lại nối gót theo Tư Quân, Hai Khởi, nhưng hắn bị xe tank Mỹ khui hầm tại Trảng Cỏ bắt sống cùng đám cán bộ, nhân viên tham mưu cả ban bệ hơn chục mạng.
Sau đây là các mặt hàng trong các chuyến tàu chu du Thủy Cung: Ba Thụng, đại úy, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn đặc công Gia Định 4, thuộc Trung đoàn Quyết Thắng, bị moi hầm bắt sống tại ấp Gò Nổi (trên) xã An Nhơn đầu năm 69. Kế đó là Thượng úy Tư Lịnh, bạn của Lôi từ trường Lục quân Trấn Quốc Tuấn ở Miền Tây Nam Bộ năm 1950, Trưởng ban địch vận (người đã gạt tên nhà báo Bọ Chét), bị khui hầm bắt cùng ngày cùng tháng cùng năm với Ba Thụng.
Bây giờ Bảng Phong Thần xin ghi tiếp các ngài ở Phòng Chính Trị của ông Tám Quang.
Đứng dầu nhóm này là Thượng tá Tám Hà, Phó phòng Chính Trị Quân Khu. Ông không bị pháo bắn, tăng càn, cá rô rỉa, biệt kích ném lựu đạn nhưng ông không ở trong hàng ngũ lũ cưóp mặt đỏ: Ông hồi chánh vào tháng 5-1969 sau khi thấy bọn Hà Nội lợi dụng, phung phí xuơng máu của bộ đội, của đồng bào và của cán bộ Mùa Thu cho mục đích dơ bẩn. Về Sàigòn, Tám Hà đã tích cực hợp tác với Quân đội Mỹ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong mục đích giúp họ tiêu diệt Cộng Sản.
Tin Thượng tá Phó Phòng Chính Trị Quân khu kiêm Chính Ủy Mặt trận Tiền phương đã hồi chánh trong chiến dịch Mậu Thân đã làm cho Quân khu hoang mang xáo trộn và mất tinh thần. Đây là cán bộ cao cấp nhất đã hồi chánh trong chiến tranh Việt Nam lần thứ hai. Tùu một vị trí phục vụ Cộng Sản, ông quay lại kịch liệt chống Cộng Sản. Quân Lực VNCH và Quân đội Mỹ đã dành cho ông những cảm tình đặc biệt và một công tác hợp với khả năng của ông.
Chín Mành, Đại úy, Trưởng ban Tuyên huấn Khu, dưới quyền Tám Hà, bị máy bay cá rô rỉa cùng với tên gác-đờ-co tại Đường Long là nơi tên Tướng Mặt Sắt chết trước Mậu Thân.
Năm Liên, Bắc kỳ xâm lược Phó ban Tổ chức Khu được đưa xuống làm Chính ủy Trung đoàn Quyết Thắng, chuyên môn ngồi thum, bị xe tăng càn bắt sống cùng với tên cận vệ.
Đi theo sát gót Năm Liên là Tư Trường, trung úy, phụ trách dân vận bị trực thăng bắn chết ở làng 14 thuộc sở cao su Dầu Tiếng sau Mậu Thân.
Để cho đoàn du hành xuống cõi dưới có chất lượng hơn, Diêm Vương bèn giũ sổ một loạt cán bộ trung cấp khác: Sáu Thưa, Sáu Sánh, Hai Khởi (Hai Khởi trợ lý chính trị) cùng một đoàn bảo vệ chị nuôi ra Bến Chùa lãnh gạo, bị lính Mỹ phục kích đánh mìn , xác phơi đầy đường đá đỏ, bảy ngày nhặt chưa hết.
Tết Mậu Thân chẳng những không mở đường cho Bác ( !) vào thăm Miền Nam mà trở thành cảnh tượng bi thảm nhất trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp Mỹ . Út Tòng, Đại đội phó bị moi hầm bắt sống và Út Thành, cùng cấp, trợ lý ban Quân lực Khu hồi chánh.
Sau đây mới là một hoạt cảnh khiến cho cấp chỉ huy khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt.
Ba Tố, Trưởng ban Tài vụ Khu (kẻ nắm yết hầu toàn thể Quân Khu) ôm một bao bạc đi… ra Sài gòn và lên đài Truyền hình nói những chuyện thối tha của vua quan triều đình đỏ. Cả Quân Khu ngất ngư chưa biết hồi sinh bằng cách nào thì Tư Minh, Thiếu tá, trưởng ban hậu cần dân Việt gốc Rau, một mình đội một quả dưa gang 500 kí. Phó Phòng Ba Ân chạy đến chia gánh nặng với đồng chí, bị vỏ dưa phang đứt tiện cổ và Hai Nhơn cùng cấp với Ba Ân bị gảy giò, đem qua Bưng Còng cho Tám Lê y sĩ dùng cưa sắt cưa và trút hơi thở cuối cùng.
Nhưng tổ tam tam ở trên rửa chân lên bàn thờ không bi thảm bằng bác Năm Râu từng là Chỉ huy phó trường Huấn luyện tân binh R (với Lê Xuân Chuyên, em nuôi Trần Độ) bị trực thăng chụp chết cả thầy lẫn trò. Trò là một cô gái mườisáu tuổi, em út của Út Bột cán bộ R. Sau cái chết của đứa con gái, cả gia đình hồi chánh tập thể ở Dầu Tiếng.
Một ông già ăn trầu có tên là Năm Trầu, bị cá rô rỉa tại Bến Chùa, cái ổ êm ấm của bọn đầu sỏ khu ủy. Sau vụ này lũ quỉ chạy tuốt qua Bình Dương rồi chuồn sang Cao Miên ăn hút, thỉnh thoảng chỉ đạo về bằng mồm.
Bây giờ xin nói đến các cuộc phong thần tập thể.
Đứng đầu sổ là Trung đoàn Quyết Thắng. Trung đoàn này bị chôn vùi mất hẳn tên ở vùng Quới Xuân (Thành Lộc) trong những hố bom, gồm có: Trung đoàn trưởng: Lê Minh Nhất tự Tám Luồng; Chính ủy: Hoàng Phái; Phó chánh ủy: Tám Lệ; Trung đoàn phó Năm Xướng (sống sót và hồi chánh); trưởng ban Hậu cần: Hai Tiến; Tiểu đoàn trường Ba Đức; Chính trị viên Tiểu đoàn: Út Sương. Toàn bộ các ban chỉ huy Tiểu đoàn, đặc công, cối DKZ 12ly8, trinh sát… Một trăm lính sống sót ra hồi chánh trong đó có Đoàn Chính, Bùi Thiện, Cao Huynh v..v… sau này đã hành nghề ca hát tại Sài gòn.
Nối gót theo đàn anh là Trung đoàn 268. Trung đoàn này thành lập vào tháng 2 năm 68 nghĩa là một sự tập hợp đám tàn binh mất hồn sau Tết Mậu Thân, gồm Tiểu đoàn 14 của Tây Ninh và một Tiểu đoàn Bắc kỳ xâm lược. Nhưng chưa ra quân đã bị Sư đoàn 25 Mỹ đánh phủ đầu. Các tên chỉ huy đều vĩnh viễn ra đi mỗi tên một cách.
Trung đoàn trưởng Út Lịa cùng một đám tùy tùng bị Biệt kích Mỹ bắn chết toàn bộ tại rừng Lộc Thuận năm 1969. Sáu Nam, chánh ủy, bị pháo bắn chết tại Sa Nhỏ. Hai Khởi (ông bạn bị thương khi đi nghiên cứu trận địa pháo ở Ràng với tôi) Tiểu đoàn trưởng bị Mỹ moi hầm bắt sống ở Trảng Cò. Còn lại hai trăm tàn binh, cấp trên xách ra đánh bót Tân Thông và Cầu Ván nướng luôn. Tiểu đoàn trưởng Hai Hằng gốc Rau, mất tinh thần bỏ đơn vị ra làm dân, cấp trên phải cho cảnh vệ bắt về nhét vào Phòng Tham Mưu cà nhỏng chống Mỹ.
Ở trên R đưa một ông Thiếu tá Bến Tre (Hoàng Chí Thanh) xuống chỉnh đốn lại đơn vị, nhưng vừa nhậm chức đã mất tinh thần, xin trả chức vụ để trở về R, không dám hó hé xuống Củ Chi nữa.
Tư Quân, Trung đoàn phó (mới) bị phục kích chết ở Bàu Tre cùng với một Tiểu đội trinh sát. Quản lý trung đoàn: Út Đầu Đỏ (tên lạ thật!) chuyên ngồi thum, nhưng cuối cùng cũng bị bắt tại bìa rừng áp Sa Nhỏ, giáp Bàu Đúng.
Đoạn này xin mở ngoặc Ngọc Hoàng giủ sổ hụt. Chính Năm E, Quận đội phó Nam Chi người đã phụ trách đội ghe xuồng máy đuôi tôm đưa lực lượng Trung đoàn mũi nhọn Quyết Thắng xuống vùng Bình Mỹ từ Bến Đá Phú Hòa Đông chạy dọc theo sông Sài gòn qua Vàm Sông Thị Tính để đổ quân lên ấp Nhà Việc. Từ đó vượt qua đường số 8 theo lộ 9A để tiếp cận xuống Gò Vấp. Năm E mặt rỗ vui vẻ kể chuyện khi gặp tôi tại Đồng Lớn, hắn đi rước số quân Bắc Việt bổ sung cho Quyết Thắng mà Hai Khởi Tham Mưu trướng của Tiểu đoàn tôi nhận về, hắn đòi lại để đưa xuống Bình Mỹ. Hắn cõng cho tôi một bồng đồ hộp Trung Cộng: có bánh tây, thịt kho hộp, bột trứng gà. Hắn vừa kể quen miệng chửi thề:
- Đ M. xuống tới Bầu Trâm ổng nghe Pháo Bình Dương nện tởn quá nên liền thối lui, biểu tôi đưa ổng trở lên Bến Ông Cộ để theo đường 14 lộn trở về.
Tôi hỏi:
- Ông nào vậy?
- Ông Tướng chớ ông nào? Dân Bê Ka sao mà nhát quá !
Tôi biết ngay bảo.
- Ổng chỉ giỏi lý luận nên mới thủ cái Cục Chánh Trị R chứ ông đâu có gan đội bom đội pháo như mình.
- Mẹ bà, vậy mà tụi Sài gòn nói là giết được Trung tướng Trần Độ, thằng lính lấy được ba lô moi ra thấy lon vàng nghệ tưởng là lon Trung tướng, không dè đó là lon Trung tá của Năm Sài gòn tức Năm Truyện, Tư lịnh công trường 9 Mũi Nhọn.
Năm E cười hô hố:
- Vậy là Ngọc Hoàng gỉủ sổ hụt, chứ ôngTrần Độ mà dám băng qua đường số 8 thì đã phủi cẳng cùng theo Tư Nhút, Năm Sài gòn, cả đám Mũi Nhọn lúc vào đợt một rồi.
Sự tan rã của Trung đoàn Bắc kỳ xâm lược có tên Q16 đã nêu trên kia cũng không thể bỏ qua. Sau Mậu Thân, chỉ còn vài chục mạng, Quân khu không có lính mới bổ sung nên trả về R không đủ cho bà chị nuôi nấu nồi xúp.
Còn đám cán bộ cá kèo, huyện đội xã đội không thể nào nhớ hết, nói chi đến du kích con. Một Sơn, anh vợ Tám Giò, và Tám Giò huyện đội trưởng đều chết. Một Sơn, bí thư quận bị đánh tung hầm năm 67. Tám Giò bị ăn pháo tại Bàu Trâu năm 68, một tay sợ pháo kinh hoàng, rốt cuộc chết vì pháo. Bảy Đạo, Tham mưu trưởng Quận đội bị đổ chụp moi hầm bắt sống tại Sa Nhỏ năm 1968. Ba Luân, bí thư quận ủy Nam Chi (Củ Chi bị Đồng Dù cắt đôi thành hai mảnh Nam Chi và Bắc Chi) bị pháo cho đi tàu lặn năm 68 tại Phú Hòa Đông. Cũng cùng năm này Hai Mỏ bị pháo cho leo thang mây tại Đồng Lớn (chỗ Hai Khởi gặp cô em Út Hương).
Kế đó Út Thành quận đội trưởng Nam Chi bị Biệt kích bắn chết cùng một trận ruồng với Hai Thành chính trị viên kiêm quận đội phó. Chỉ vài tuần sau Năm E bị Giang thuyền cho mò tôm càng xanh hiện đại trên sông Sài gòn gần An Thành năm 67. Trên xuồng đuôi tôm qui địa phủ còn có mặt huyện ủy viên Nam Chi là Ba Lá. Ba ngày sau, Đào Hải dân Bắc kỳ xâm lược, tham mưu trướng quận đội, bị Biệt kích dàn chào ngay tại miệng hầm, rồi chỉ một tuần sau Ba Cà (có tật cà lăm) huyện ủy Nam Chi chết vì đụng biệt kích trên đường công tác ở Phú Hòa Đông. Đi theo Đào Hải còn có Thiếu tá Mười Thứ, dân Bê Ka chánh gốc, ở ngoài mới vào Củ Chi chưa tới một con trăng.
Bạn đọc hẳn còn nhớ cô Tư Bé cho Lôi cặp dừa xiêm thiệt lúc cô Ua chở Lôi về cơ quan Chín Lộc? Năm 68 quận đội chết hết, Bé lên làm huyện đội phó. Nào biết chiến thuật gì, lớ quớ như nai tơ bị Mỹ đổ chụp. Cô ta chạy lấy thân, bị bắn chết ở Đồng Lớn. Tội nghiệp, tuổi xuân hơ hớ chưa biết mùi đời mặn lạt ra sao. Cô Bảy Nê , một trong những dũng sĩ diệt Mỹ lên thay, chỉ vài tuần, bị phục kích trong ấp chiến lược Cây Bài, không lấy xác về được. Đứa em trai độc nhất buồn tình ôm nguyên quả mìn Claymore lên mây tìm chị.
Chín Khánh, quận đội phó Nam Chi phụ trách quân báo, bị đánh tung hầm năm 1969. Út Đức, tham mưu phó Bắc Chi bị khui hầm bắt sống ở Tân Thành Đông cuối 67.
Bảy Phúc, quân y sĩ bệnh xá Củ Chi bị pháo chơi trò cò ỉa miệng chai banh xác. Nhưng không rùng rợn bằng cả phòng tham mưu Quận bị xe tăng càn sập địa đạo chết ở trại Bà Huệ cuối năm 67. Đó là khúc địa đạo, mồ chôn hơn mười lăm người. Tác dụng độc nhất của địa đạo là làm huyệt mộ khỏi phải đào một nhát cuốc.
Trong bộ hồi ký này tôi có nêu lên một điểm và nhắc đi nhắc lại rằng: “Cái địa đạo Củ Chi dài hơn hai trăm miles, chung ngang đít và bao quanh cả Đồng Dù là không có ở thực địa, chỉ có ở trên đài Giải Phóng rồi đài Hà Nội phóng đại tô màu một trăm ngàn phần trăm.
Nêu bảng Phong Thần một cách cụ thể như trên là tôi muốn nhắc lại vấn đề: Cái địa đạo kia chỉ có vài trăm thước ở chỗ này, vài chục thước ở chỗ khác, không xài được. Có gan chui một lần, không dám chui lần thứ hai.
Nhà báo Bọ Chét đã về bên Tây nên Tư Linh và tôi không cần dàn cảnh địa đạo chiến nữa . Trong những chương sắp tới, bạn đọc sẽ còn dịp thấy nhiều cái chết còn rùng rợn hơn cái chết tập thể của phòng tham mưu quận kể trên.
Ngoài ra tôi còn muốn thưa với độc giả rằng trong năm năm chỉ huy Pháo binh lẫn Bộ binh quần thảo với Mỹ, không có hang cùng ngõ hẻm nào trên đất Củ Chi mà tôi không lội tới kể cả Trảng Bàng Bến Súc. Sau đây là tên của những xã đội mà tôi đã trực tiếp chỉ huy trong thời gian tôi làm quận đội trưởng (1967). Hầu hết đã chết được thay nhiều lần hoặc hồi chánh.
Thị đội (tức xã Tân An Hội):
Ba Cẩn, Tám Thiện.
Phú Mỹ Hưng:
Tư Thiên, Út Là
Anh Phú :
Hai Bội, Út Cương (hồi chánh)
Anh Nhơn Tây:
Ba Tâm, Ba Xây, Tám Lợi.
Nhuận Đức:
Hai Xóc, Năm Bướng.
Phú Hòa Đông:
Năm Dang, Ba Trăng, Tám Vọt.
Trung An:
Tám Thùng, Tư Bương.
Tân Thành Đông:
(quên).
Trung Lập:
Hai Đời, Út Xiêng (nữ), Út Chạy.
Phước Thành:
Hai Minh, Hai Hùng, Hai Đen,Năm Minh.
Thái Mỹ:
Hai Bình, Sáu Thinh.
Phước Hiệp:
Bảy Điếc, Hai Khứ, Năm Rổ.
Phước Vinh Ninh:
Bảy Thung.
Tân Thông Hội và Tân Phú Trung:
Hai Lùn.
 
Lúc đó tôi còn kiêm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Thép Củ Chi và là huyện ủy viên nữa. Như vậy tất cả xã đội đều phải báo cáo cho tôi các địa đạo trong xã để lúc cần tôi sử dụng cho Tiểu đoàn, hơn nữa tôi có quyền chỉ thị cho họ đào ở đâu lấp địa đạo nào, cho đường nào thông vào đường nào. Trong năm năm ở Củ Chi, trong vị trí chỉ huy tối cao của quận, có thể nói là tôi biết tất cả địa đạo và nhân sự từng tổ du kích một.
Sau Tết Mậu Thân, bộ đội tập trung bị tiêu hao phân nửa lực lượng, có đơn vị mất tên vì không đủ tân binh bố sung, tôi đã cho vét tất cả các đội du kích dồn vào lỗ hổng của Tiểu đoàn Thép. Từ năm 1965-67 trở đi, vì nạn B52 và xe tăng, du kích không dám chui địa đạo.
Suốt năm năm ròng, tôi cực chẳng đã phải sử dụng địa đạo một lần và bị chết ngộp. Như vậy tôi khẳng định rằng không có cái địa đạo hai trăm miles mị thuật đó. Cái địa đạo mà quan khách ngoại quốc tới xem như một kỳ quan hiện nay là một sản phẩm kinh hoàng của bộ óc Đảng bịp, không phải đào bằng máy… mà bằng hai hàm răng của anh du kích cụt cả hai tay hai chân Lê Thanh Vân. Láo vừa thôi bây! ! Đảng Cộng Sản bọn chúng sống vì nói láo mà chết cũng vì nói láo, sống để làm bậy và chết cũng vì làm bậy…
Bạn đọc thân mến,
Có lẽ bạn đọc sốt ruột vì đã đọc trên một ngàn trang Củ Chi mà chưa thấy “Cái hệ thống địa đạo thôn liên thôn xã liền xã” ở đâu hết ráo. Như chúng tôi đã thưa từ đầu, rằng cái địa đạo đó chỉ có trên đài Giải Phóng, đài phát thanh Hà Nội và mồm mép của cái đám gọi là bộ Chính trị Việt Cộng ở Hà Nội chứ làm gì có ở Củ Chi. Ngay cả cái tên Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã mò vô tới Bến Súc mà lại chết vì bom thì thử hỏi sao chúng không đem “giú’ hắn xuống địa đạo cho chắc ăn ?
Từ chương này về sau, bạn sẽ thấy cái địa đạo “thôn liền. . . “ đó .


Cái Chết Bi Thương của Cô Văn Công R Chương 60
Pháo tép của ta và pháo bầy của Mỹ


Khi hai cánh quân xuất phát thì tôi cũng bí mật kéo Bộ chỉ huy tiền phương của tôi đặt tại nhà của cô Chia tại Bàu Chứa. Đây là trung tâm điểm đường chim của Đồng Dù và Trung Hòa. Dời ra đây tuy có gần tuyến lửa hơn nhưng tôi nhận định rằng sau khi chúng tôi nổ súng thì Đồng Dù lẫn Trung Hòa sẽ bắn nát vùng tam giác sắt trại Bà Huệ (căn cứ của Năm Lê), Bến Mương (căn cứ của tôi) và Xóm Bưng (ổ chuột của huyện ủy). Trong cái tam giác này có cái Gót Chàng là tư dinh của nữ hoàng dũng sĩ Bảy Mô vang danh khắp Miền Nam vì thành tích diệt Mỹ mà các anh hùng hào kiệt từ trẻ tới già, từ tỉnh lên R, từ R xuống ấp đều đến để chiêm ngưỡng dung nhan, thập thò gởi vài dòng thương mến, một nơi thị tứ không kém cái chợ An Nhơn cách đó không xa.
Ngoài ra còn có cái Rạch Bến Mương mà máy bay Skyhawk Mỹ chụp hình vừa rồi. Hơn nữa còn có căn cứ của ông Huyện đội trường Tám Giò, ông Tham mưu trưởng Huyện đội Hai Khởi, thì pháo và máy bay Mỹ đâu dễ dung tha.
Cái quán hàng cô bạn Chia và nhà của Ngoại bây giờ chỉ còn là hai mô đất, tức là hai cái hầm mà bọn Chín Lộc đóng cơ quan quân báo khu, nơi tôi từ khu về gặp mối tình của hai nàng Kiều cách đây ít lâu.
Tụi thằng Năm Cội và đám lính vịt xiêm bị xe tăng và bộ binh Mỹ càn, chạy xuống Phú Hòa Đồng gặp tôi khóc hu hu và đòi trả chức anh hùng mấy hôm trước. Nhân dịp này tôi phân công cho nó đi theo cánh A để rửa thù.
(Than ôi! Thù không rửa được mà sau đó lại bị xe tăng càn bắn chết ở Bào Cạp trên đất quê hương của mình. Xong đời một anh hùng rơm uổng công cha mẹ nuôi.)
Chỉ huy sở của ông Tư lịnh pháo gồm có: ông Tư lệnh, Ba Tố cán bộ tham mưu, thằng Đỏ liên lạc, thằng Bọ Ngựa liên lạc, cô nữ du kích Tư Lan được ông Tư lịnh đề bạt ngang xương làm y tá và nấu bếp. Ngoài ra còn có Hai Kim cán bộ thông tin xử dụng máy bộ đàm (tức là máy lô-phôn không có dây Việt Cộng xin của Liên Xô hay Trung Quốc gì đó được chục rưởi cái, đem vô đây còn xài được và i ba cáo, ở trên đặc ân cho Thiên Lôi xài thí nghiệm).
Tôi bảo tất cả dọn dẹp căn hầm của Chia, còn tôi và Ba Tố vác chiếc cuốc cùn đến vun thêm ngôi mộ của Ngoại và của Tư Minh. Hôm nọ tạt sang đây để gặp Chia, nhưng lại đụng nhằm hai cái xác. Vì quá gấp rút, chúng tôi chôn vội. Bây giờ trở lại đây, thấy mình có lỗi. .
Trời chiều ảm đạm cỏ cây xơ xác. Xóm làng vắng ngắt vắng teo. Một người tuổi tác chết, chôn như vậy sao? Nếu là Ngoại của tôi?… Tôi bảo Ba Tố:
- Phải có vắt cơm, chong đèn, mấy cây nhang mới trọn lễ
- Nhưng ở đây đâu còn nhà ai? Quán tiệm càng không có, thầy à .
- Biểu con Lan nấu cơm vắt sáu vắt đem lại đặt ở đầu mỗi nấm mã ba vắt.
- Dạ , thầy để đó tôi lo. Còn thầy tính chuyện pháo kích đi . Máy bộ đàm có hoạt động thì mình mới liên lạc được với hai cánh Trung Hòa và Đồng Dù.
Hai thằng đào đất đắp mộ cho Ngoại và cho đồng đội mà nước mắt ròng ròng. Tôi nghĩ rồi đây thì tới phiên mình thôi. Mà có thể là ngày mai chớ không lâu la gì.
Chúng tôi trở lại hầm chỉ huy đã được dọn dẹp. Tôi đã từng sống ở đây, nhưng bây giờ tưởng một nơi nào khác. Tất cả của cải, hàng hóa, như Năm Cội thuật lại cho tôi nghe, thì hai mẹ con đã chất gọn lên một xe bò và thẳng xông ấp chiến lược Cây Bài. Chỉ còn một vật còn nguyên: đó là cây xoài ở sau nhà. Nhưng thân nó cũng mang nhiều vết tét lòi xương máu mủ chảy ròng ròng tới nay chưa đứt. Tàu lá xanh bị cháy xém một bên.
Ba Tố không vô hầm với tôi mà ra ngoài gốc xoài la hét với thằng Bọ Ngựa đang ở trên ngọn. Bọ Ngựa là con của Tám Đột công an xã An Nhơn, nhỏ con, nhỏ tuổi hơn thằng Đỏ nhưng chạy nhanh trèo giỏi hơn thằng Đỏ. Do đó anh chị em trong cơ quan tặng cho nó cái tên Bọ Ngựa, lấy từ cái tên Súng Ngựa Trời.
- Canh cho kỹ nghe. Hễ có máy bay tới thì phải báo động liền. Đừng có ngủ gục trên đó. Có thấy gì không?
- Dạ em thấy Rạch Bắp. Thấy quán bà Sáu Tỉnh ở Bến Dược nữa !
- Có thấy chuồng cu của bót Trung Hòa không?
- Khuất Ba Sòng không thấy được. Chỉ thấy Sa Nhỏ. Thấy nhà Tám Thung ở lộ 6, thấy lộ 7. Thấy sông Sài gòn nước trắng xóa hà.
- Có thấy mấy con bù nhìn ngoài phía đồng mã không?
- Dạ thấy.
- Mày phất cờ đỏ ra lệnh cho du kích giật cho nó nhúc nhích thử coi. Phất đi!
- Dạ phất rồi!
- Bù nhìn có nhúc nhích không?
- Dạ không.
- Vậy thì tiểu yêu đó ôm nhau ngủ trong rừng, không thi hành mệnh lệnh gì hết. Rủi trực thăng xuống ai điều khiển đám bù nhìn kia để nhử cho chúng bắn?
Bỗng nghe cụp cụp… cụp. Thằng Bọ Ngựa la lên:
- Pháo mình nện rồi!
Ba Tố kêu:
- Thầy Hai ơi! Ra đây nghe.
Tôi vọt ra khỏi hầm. Lại… cụp cụp. Tôi quát:
- Pháo Đồng Dù ! Chui vô ngay !Đi xuống, Bọ !
Nhưng Bọ Ngựa vẫn ở trên ngọn cây:
- Khói lên quá tay cậu Hai ơi !
Tôi ở trong hầm ló cổ ra quát, rồi bảo Ba Tố quét đèn pin kêu nó xuống. Tôi biết đó không phải là pháo ta mà là của Mỹ. Nó không biết phân biệt tiếng đề-pa cho nên tếu mà la bài hải trên ngọn xoài. Mãi đến lúc một quả rơi gần thằng nhỏ mới tuột bạt mạng và còn chừng ba bốn thước thì buông tay chạy bò càn lủi vô hầm. Ba Tố bốp tai nhẹ, bảo:
- Chết tía mày chưa.
Thằng Bọ Ngựa cười và xuýt xoa sờ cái đầu gối:
- Cháu tưởng pháo của anh Chi anh Mười chớ !
- Bộ tụi nó có cánh sao bay tới ngoài mau vậy?
Toán nhân viên nhường cho tôi và Ba Tố cái giường lớn ở giữa hầm. Hai Kim thủ máy bộ đàm thì nằm ở cái ngách sát bên tôi, còn bao nhiêu thì chen chúc ở các ngách khác hoặc trải ny-lông nằm dưới đất. Toàn thể chỉ huy sở đều ở trong hầm. Tôi bảo Ba Tố:
- Mình chuẩn bị như vậy là chu đáo quá rồi. Nhưng chiến trường chuyển động có bao giờ theo kế hoạch của mình.
- Thầy có phương án nào nữa không?
-Muốn đề ra phương án phải có phương tiện cậu à ! Mình không có gì hết làm sao có phương án khác. Tôi chỉ mong chuyển quân tới điểm đã định trước thôi. Được như thế thì mình cũng đã đạt được 50% kế hoạch rồi.
Tụi Cộng sản thường rí rố nào là Quan điểm nhân dân nào là dân vận, nào là ba cùng, nhưng chẳng có cái nào thi hành được ở Củ Chi này cả. Quan điểm nhân dân của chúng là dỡ nhà dân làm hầm, làm củi, bẻ dừa bẻ cau, hái quít hái cam. Đi đến đâu dân chạy tét đến đó không dám quay mặt lại. Còn ba cùng ôi chao, cái chánh sách ăn mót của Tàu đem về xài trong Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc đã đem lại một hậu quả vô cùng hài hước là một lũ cán con vô thừa nhận rải rác khắp nông thôn mà dân Miền Nam chúng tôi nói lén, chẳng biết họ gì, nên cho chúng cái họ Hồ.
Mỹ không tuyên truyền quan điểm quan điếc gì cả, chúng cứ phát tôn, gạo, thuốc men, quần áo cho dân trong các ấp chiến lược, không cần một tiếng cám ơn. Chúng không bảo dân làm gián điệp, lấy tin kiểu bọn Chín Lộc dùng gia đình bà Ngoại, mà tự nhiên dân trong ấp chiến lược thấy Việt Cộng lọ mọ tới là đánh mỏ chổi trời. Tôi sợ kế hoạch chuyển pháo bị mắt khóm của dân trông thấy. Hễ họ thấy là bể.
Trước ngày tôi về, Ba Châm, người gốc Rau mới vô chân ướt chân ráo muốn làm một cú để lấy danh. Nhưng tội nghiệp, y đã già lại không thuộc đường đất, không hiểu nhân tâm, thế mà dám dắt Tiểu đoàn vào ấp chiến lược Cây Trâm để võ trang tuyên truyền. Vừa múm vô rào thì đạp mìn. Nên nhớ mìn Claymore Mỹ thì không bao giờ gài một quả mà là một bãi liên hoàn. Hễ nổ một trái là nổ cả dây. Đó là trường hợp cả Bộ Tư lệnh Quân khu IV và đoàn tùy tùng gần ba chục mạng tan xác sau Mậu Thân. (xin kể ở chương tới). Ông tiểu đoàn trưởng Châm thoát (nhưng chết ở một trường hợp lãng nhách sau đó). Đội xích hầu chết gần hết. Nhân dân tự vệ bắn báo động. Trực thăng Đồng Dù cất cánh bao vây. Lính trong các tháp canh của ấp chiến lược cứ bắn vét hai bên vệ đường. Quân ta bỏ xác sáu mạng và khiêng về được chín chiếc băng ca. Từ đó ông Tiểu đoàn trưởng cứ dắt Tiểu đoàn hành quân từ Phú Hòa Đông lên Bàu Lách, rồi từ Bàu Lách xuống Phú Hòa Đông, suốt cả năm trời không đánh trận nào. Cho đến hôm nay thì hắn được giao cho án ngữ chặn lính Đồng Dù và Trung Hòa bọc hậu các khẩu đội pháo nhà.
Mãi đến chín giờ tối, cô Tư Lan mới dọn cơm chiều. Tôi cầm đủa lua sơ vài chén rồi ra ngoài hầm ngồi hút thuốc với Ba Tố.
- Thầy liệu bây giờ có cánh nào tới nơi chưa?
- Có thì cánh B tới Gò Nổi. Vì đường đi dễ dàng hơn. Còn cánh A nếu không gặp trở ngại ra tới Bàu Cạp thì ít lắm cũng mười một giờ.
Ba Tố không muốn tôi ngồi ở ngoài hầm lâu, nhưng tôi cứ lần lựa không chịu vô . Thực ra tôi sợ vào hầm, nhất là nằm trên chiếc giường mà trên đó đã từng ghi biết bao nhiêu kỷ niệm yêu đương. Tôi không muốn nhìn lại chiếc giường còn nguyên những thanh gỗ và những trụ giường thân yêu đối với tôi. Tôi nhớ lại những câu nói, tiếng cười, và những tiếng đặc biệt biểu lộ hạnh phúc của chúng tôi với nhau. Chiến tranh là kẻ thù của loài người. Không hiểu tại sao bọn Hà Nội cứ thích gây chiến tranh? Mãi về sau tôi mới tìm ra chân lý thật đơn giản nhưng vì mù quáng mà không thấy được Đó là trong những kẻ hi sinh không có đứa nào là con cháu của Bộ Chính trí, của Ban Chấp hành Trung ương đảng, của các ông bà Bộ trưởng Thứ trường cả. Kêu gọi hi sinh dễ hơn hi sinh. Con cháu của các ông các bà đều bị đưa đi giải phóng miền Nam bên Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc v .v… Ở miền Bắc, trong một buổi nhậu, một thằng bạn tôi đã phát ngôn vô kỷ luật như sau:
- Bây giờ muốn giải phóng miền Nam sớm thì cứ túm hết vợ con của tụi thằng Duẫn, thằng Đồng, thằng Chinh ném vô miền Nam là chúng hoảng vía ngay. Còn bây giờ vợ con chúng ở ngoài này, ai chết mà chúng nó lo?
Thực là cụ thể . Tập kết, chúng đâu có phải khóc giọt nước mắt nào. Ngược lại chúng được villa, volga và phiếu bơ sữa. Rồi đến Trường Sơn “vinh quang” bần cố nông đi chớ con cháu chúng đâu thèm vào. Rồi bây giờ ở chiến trường miền Nam bom đạn tơi bời đâu có đám con ông cháu cha ló mặt vô. Dân miền Nam chịu cảnh bất hạnh từ kháng chiến chống Pháp tới bây giờ chỉ nhận được những tiếng khen dỏm: Thành Đồng thành đất, Đi trước về sau…
Đám con nít thì thằng Đỏ, thằng Bọ Ngựa phải xông pha bom đạn, đám trẻ như con Rớt, con Hoàn, con Lượm mồ côi là kết quả của tình thương bác Hồ vĩ đại.
Bất thình lình Ba Tố nói.
- Tôi ớn nhất là tụi thằng Lệnh và thằng Rắc!
Câu nói như cây que chọc trúng tim tôi. Nhưng tôi làm thinh. Chuyện gì xảy ra trong này ở ngoài Trung Hòa và Đồng Dù đều biết hết. Hai tên biệt kích chúa là thằng Rắc và thằng Lệnh vốn là du kích, bây giờ là hai tên vô cùng nguy hiểm. Đến hôm nay sau khi tìm hiểu thì tôi có thể kết luận rằng chính chúng giết Ngoại và Tư Minh. Sáng nào chúng cũng đón đàn bà đi chợ trêu tức chúng tôi:
- Ê tụi thằng Một Sơn và Tám Giò còn gạo ăn hết, mấy bà bảo tụi nó ra đây tôi cho vài bao.
Hoặc:
- Mấy con lủng xỉn 1.. . có giỏi ra đây cho Mỹ đen nó bắn tỉa cho mà tét 1… !
Vừa rồi thằng Lệnh bị thương ở Ràng. Nó điều tra, .nó biết ai chỉ huy cú đánh đó, nên nó treo giải mười ngàn đồng cái đầu thằng trưởng ban H6. Có lẽ cái đầu… khó xực nên
còn ế tới hôm nay. Tôi đang nằm, thì Hai Kim kêu lên:
- Ở ngoài Đồng Dù gọi về anh Hai !
Rồi trao máy cho tôi. Tôi cầm lấy đưa lên tai và hỏi:
- Đại Bàng hả?… Hà Nội đây. Thế nào, đặt xong chưa? Đạn có chuyển tới đủ không? Trời sắp mưa, che kỹ ! Tốt lắm. Cố gắng bắn cho trúng mục tiêu… Hả… Miễng rơi vào trong vòng rào thôi. Chuẩn bị đi. Tôi cho cánh B rồ trước để coi Đồng Dù phản ứng ra sao, rồi sau đó cậu mới cho nổ.
Tôi trả máy cho Kim và nói với Ba Tố:
- Vậy là cánh Đồng Dù đã bố trí ở Bào Cạp, còn vị trí Phú Hiệp nữa mới xong. – Rồi quay sang Kim ~ Cậu bắt liên lạc với cánh B cho tôi.
Tôi hỏi Ba Tố:
- Cậu biết mình tung bao nhiêu quân đánh Điện Biên không?
- Bao nhiêu thầy?
- Bốn chục ngàn. Trong đó có hai sư đoàn chủ lực mạnh nhất miền Bắc là F304 và F325.
- Rồi sao?
- Tớ nghe ông Năm Lê phụ nhỉ chớ đâu biết gì. Tớ nói cậu nghe, cậu giữ kín nghe ? Mình xài chiến thuật biển người theo sách cụ Mao. Nhưng bây giờ thì khác. Mỹ nó không đối phó bằng bộ binh. 90% thương binh của mình là do pháo và B52.
- Thầy thấy tụi Đồng Dù thế nào?
Tôi làm thinh. Tôi không muốn nói về sự hùng mạnh của kẻ địch trong lúc này. Hai Kim đã bắt liên lạc với cánh B do Năm Chi chỉ huy. Chi còn trẻ, học sinh miền Nam, cấp bực thiếu úy pháo binh gốc Bến Tre. Định xong trận này đề bạt nó lên trung úy và làm đám cưới cho nó . Vì nó quá trẻ so với các sĩ quan trong đơn vị, nên tôi vẫn quen miệng gọi Chi bằng thằng. Tôi nói với nó trong máy bộ đàm:
- Xong rồi hả… Tốt lắm… Tôi rất tin tưởng ở cậu. Đúng giờ thì cho nổ. Không phải đợi lệnh tôi nữa. Liên lạc rất khó khăn. Cậu nổ xong, cánh A mới nổ… Xong trận này ghé lại nhà má Hai, tao ra chủ hôn cho đám tuyên bố của mày… Còn tao hả?… Chưa biết được… (chúng tôi cười vang trong máy)
Bỗng làn điện bị cắt ngang. Tôi đưa máy cho Kim. Kim điều chỉnh một chốc rồi trao cho tôi.
- Bắt được rồi ! Thủ trưởng !
Tôi cầm lấy máy quát:
- Hà Nội đây! Hà Nội đây. Đại Bàng đó hả? – Cụp cụp… . – Nổ tiếp cho hết đạn…
Làn điện bị cắt ngang. Tôi ném cái ống cho Kim.
- Mẹ tổ, nổ rồi!
Hai Kim lui cui sửa rồi đưa tôi:
- Đồng Dù còn liên lạc được, thủ trưởng.
Tôi lại cầm lấy hét:
- Cửu Long hả ? Hà Nội đây ! Phóng cho hết 100 quả . . .Hả . . . Chưa phản công à ? Cứ bắn !
Tôi nghe trong máy “oàng, oàng muốn vỡ cả màn tai. Đồng Dù đã bắn trả. Liên lạc lại bị cắt. Tôi đưa ống nghe cho Ba Tố:
- Ông nghe đi. Tôi chẳng còn phân biệt gì nữa ! Ở ngoài đó tha hồ chúng nó tự động chớ mình có chỉ huy được cái gì !
Nhân viên trong hầm ngồi bật dậy vỗ tay reo. Thằng Bọ Ngựa và thằng Đỏ chui ra khỏi hầm, rồi thụt trở vô, quần áo ướt mèm. Trời mưa. Thảo nào khó bắt liên lạc. Thằng Bọ ‘ Ngựa nôn nao muốn leo lên ngọn xoài để coi, nhưng Ba Tố cú đầu nó và quát:
- Mày vô kỷ luật tao trả về cho tía mày !
Tiếng pháo nổ như bắp rang ở cả hai phía Đồng Dù và Trung Hòa rồi tứ tung, tôi chẳng còn biết đâu là đâu nữa. Hồi lâu tôi mới hỏi Ba Tố:
- Hình như Trung Hòa tịt rồi phải không?
- Dạ , để lắng nghe một chút coi, thầy.
- Nó có bốn khẩu 105 ký quay họng bốn hướng. Nếu mình bắn hỏng khẩu này cũng còn khẩu kia chớ? Có lý nào mình diệt được cả bốn khẩu hay sao? Tôi không tin ở sự chính xác đến mức đó của pháo mình.
Ba Tố nhướng mắt:
- Dám lắm chớ thầy!
- Mình nghiên cứu trắc địa sơ sài quá, chỉ mong đạn nổ bên trong vòng rào thôi!
Tiếng cụp cụp đã chấm dứt. Chỉ còn tiếng oàng oàng. Có nghĩa là lính mình đang cuốn vó chạy, trốn, chôn lấp, rồi lủi. Tất cả những động tác này đều làm trong mưa và mưa pháo của Đồng Dù . Xưa nay khi voi gầm xong thì cứ đứng đó trong vòng bảo vệ của đàn em, chớ cái thân xác to sồ nặng nề của nó làm sao chạy nhanh được. Nhưng ở đây thì voi phải chạy mới mong sống sót. Với trận mưa pháo này chẳng biết sự hi sinh sẽ tới đâu? Quả thật, chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang. Đánh được người rồi thì mặt vàng như nghệ .
Tôi ngồi trong hầm nghe pháo Đồng Dù nổ rồi pháo Bến Cát, Trảng Bàng, Chà Rầy đáp ứng họa điệu. Bào Cạp, Xóm Mới, Ba Xa, Bầu Điều, Gia Bẹ , và dọc theo đường Một Làng, đồn điền Balancie, Phú Hiệp v.v… Chỗ nào mình liếc thấy tốt để đóng quân, đặt pháo, nó đều biết, đều bắn. Một lần du kích bắt được một bản đồ của chúng đánh rơi đưa cho tôi. Tôi biết ngay đó là bản đồ pháo binh. Trong những ô vuông còn chi tiết hóa ra đồng ruộng, đồn điền cao su, rừng già, rừng chồi, con rạch nhỏ nhất, một khóm đất hoang như những vùng Đồng Mả, hoang tàn như Ngã Ba Cây Điệp, chợ An Nhơn cũng không sót. Pháo của chúng là pháo đặt cố định trên nền xi măng với phương tiện đo đạc, bảo trì tuyệt hảo, đạn dược được cất trong kho có máy điều chỉnh độ lạnh độ nóng. Cho nên, chúng có thể bắn trúng bất cứ điểm nào chúng muốn, không sai một ly. Về cái nghiệp pháo thì phải nói đến khoa học tối đa, không thể xài quyết tâm thừa thắng xông lên mà được Nhưng quân ta thì bất chấp khoa học, cứ việc vác cái cục quyết tâm của cấp trên ra mà xài như một bửu bối tất thắng. Tội nghiệp cho chiến sĩ của tôi, giờ này đang chạy trong rừng lửa đạn để rút lui an toàn. Kim vừa sửa được máy đưa cho tôi. Tôi chuyền cho Ba Tố và bảo:
- Ông kêu tụi nó rút lẹ đi!
Ba Tố chụp lấy ống nghe:
- Allô! Allô! Đại Bàng! Đại Bàng!
- Có không?
- Dạ ở cánh A không thấy đáp.
Tôi nghĩ thầm đã rút hay bị diệt hết? Ba Tố quát muốn vỡ nấp hầm.
- Allô! Cửu Long! Cửu Long! Hà Nội đây… Xung phong ! Xung phong !
Tôi hét Ba Tố:
- Sao ông bảo nó xung phong? Bộ điên hả?
- Dạ , mật hiệu của mình xung phong là rút lui.
Tôi ngồi nhếch xuống ghế, rọi đèn lên bản đồ dò xem con đường rút lui mà tôi đã vẽ . Nhưng cũng tùy tình thế. Nếu bị bắn chận thì phải rút đường khác. Những chấm nhỏ li ti, những làn bút chì xanh đỏ lẫn những nét in chằng chịt nhau, ngày thường mắt tôi nhận rõ tất cả, nhưng bữa nay lại không thấy gì tất cả Mọi đường nét đều di động .xáo trộn như một bầy kiến vỡ tổ còn đôi mắt tôi thì như có một làn khói che.
- Bây giờ tụi nó rút tới đâu rồi cậu?
- Các khẩu ở mặt trận A thì chắc về tới Đồn điền cao su Bà Hộ, còn mặt trận B thì về tới Ngã Ba Sòng.
- Trung Hòa vẫn im à?
- Chắc nó tịt rồi thủ trưởng.
- Mẹ, sao Đồng Dù giã dai thế!
- Thì mình chọc vô ổ kiến lửa mà thủ trưởng. Nó phải bu mình chớ sao.
- Ít nhất 1000 trái – Tôi lằm bằm rồi móc thuốc hút để tự trấn tỉnh – Không có máy bay à?
- Dạ, chắc chắn tụi cá nhái sẽ tới.
Tôi quên hẳn cái thằng tư lệnh trong tôi mà cứ hỏi Ba Tố mọi chuyện.
- Sao tụi nó phản ứng chậm thế?
- Chắc bị mình chơi sứt cánh quạt phải kêu tụi Sài gòn nên hơi lâu.
- Thứ này đuổi theo đường rút lui của mình thì mệt lắm.
- Xã đội đã lo hầm hố kỹ hết.
Nghe vun vút bên ngoài mà tưởng như thấy đạn đạo đan vào nhau thành lưới chụp trên đầu các chiến sĩ tôi càng lúc càng dày.
- Có thủ trưởng ở đây không?
Bất ngờ tôi nghe tiếng quen nên vọt ra liền, nhưng Ba Tố lôi tôi lại ấn tôi xuống ghế. Trời đã sáng hồi nào. Tôi đã qua một giấc mê lẫn mơ. Ba Tố thò đầu ra cửa hầm quát:
- Cận vệ đâu không canh gác gì hết vậy? Rủi biệt kích tới làm sao?
Ba Tố quên rằng chỉ huy sở chỉ có mấy ngoe làm gì có cận vệ .
- Tôi đây mà anh Ba. Đâu có biệt kích nào dám thọc vô tới đây?
Như lửa cháy trong lòng, tôi gạt phăng Ba Tố, chui ra ngoài. Một đoàn người lôi thôi lếch thếch, kẻ mang súng, người tay không, kẻ bịt khấc khăn rằn người lại đội mũ tai bèo, dẫn đầu là một anh chàng cao lớn, áo quần đen xốc xếch, mặt rỗ hoa mè. Tôi nhận ra Ba Đức, đại đội trướng Bộ Binh có nhiệm vụ án ngữ chận đường vào của lính Trung Hòa. Y có đến dự thính lớp pháo binh nhân dân của tôi.
- Tôi đây, Ba Đức! : Sao các cậu về, lỡ tụi nó đổ chụp pháo làm sao chạy?
- Thầy Hai khỏi lo. Tôi đã bố trí đánh máy bay, bộ binh cả rồi. .
- Kết quả thế nào?
- Đã lắm thầy ơi! Pháo mình bắn kỳ này coi mát mắt. Tụi Trung Hòa êm rơ không trả lời được tiếng nào!
Ba Đức vừa nói vừa nhào xuống hầm ôm tôi hôn lia lịa..
Ba Tố xen vào.
- Có chớ !
- Ừ phải ! Nó có làm được mấy phát. Nhưng mình nện tiếp. Tới bây giờ nó chưa bắn tiếp. thì chắc là câm luôn rồi.
- Chưa chắc!
Tôi đưa Đức vô trong ngồi vào bàn và tiếp.
- Nó chờ coi Đồng Dù bắn ở đâu rồi mới tiếp! Mình không nên chủ quan.
Hầm chật như nêm, người ướt như chuột, mạnh ai nấy hỏi, nấy nói nghe nực cả tai. Ba Đức vừa uống trà hồng hộc vừa kể tiếp:
- Tụi em về tới Xóm Trại Giàn Bầu dừng lại coi cho đã.
- Cánh nào bắn trước?
- Dạ, đầu tiên em nghe thì cánh đầu Đồng Lớn bắn trước Rồi tụi Trung Hòa phản pháo ở phía dưới Ba Sòng. Tôi nghe rõ chỉ có 4, 5 phát rồi câm luôn. Sau đó cối mình ở Ràng và Tầm Lanh nổ liên tục. Tôi thấy rõ ràng khói phủ bít cái chuồng cu Trung Hòa. Rồi cối mình ở Ba Sòng nện tiếp. Tôi nghe tiếng nổ lụp bụp liên tiếp ở Trung Hòa. Dám trúng kho đạn lắm. Một chập, khói tan, mưa tạnh tôi không còn thấy cái chuồng cu nữa.
Ba Tố hất hàm.
- Có thiệt không?
- Thiệt mà ! Mắt tôi nhìn nóc chuồng cu mấy năm nay như một cái gai xốn xang không gỡ được, nay nó bay đi, khỏe nhẹ quá chừng, lẽ nào nhìn không thiệt. Đồng bào ở Ba Sòng ra ngoài đường đứng coi vỗ tay quá sá ! Tiếp theo là trận địa Bàu Tròn bắn tiếp. Rồi đến cụm Bà Hộ thụt bồi ầm ầm cả 15 phút mà không thấy nó trả hỏa gì hết. Tiếng lụp bụp kéo dài chưa dứt. Tôi đoán chắc kho đạn nổ và trại lính cháy.
Ba Đức rốc một chén trà rồi chép miệng hả hê.
- Pháo của thủ trưởng chơi kỳ này trùm cả bộ binh tụi tôi rồi. Có đế không? Trà lạt quá không ấm bụng, thủ trưởng !
Thằng Mười trinh sát từ ngoài mặt trận cũng vừa về tới góp ý kiến xác định những lời Ba Đức kể là đúng, còn thêm:
- Đồng bào không còn đứng dưới đất như hồi nảy nữa mà leo lên ngọn cây coi cho rõ.
Một tiếng kêu thất thanh từ trên ngọn xoài vọng xuống.
- Cậu Hai!…
Ba Tố quát.
- Gì vậy Bọ Ngựa? Bộ kinh phong giật mày hả ?
- -Đầm già xuống!
- Phất cờ vàng cho mấy tổ du kích giật đám bù nhìn.
- Đầm già tới gần rồi.
- Phất cờ đỏ mau ! Rồi tuột xuống.
Thằng Bọ Ngựa la:
- Tôi phất muốn gãy tay mà mấy con bù nhìn đâu có nhúc nhích. Mấy ông mấy bả xà nẹo với nhau nên quên giật giây để nhử đầm già rồi.
- Mày tuột xuống mau !
Thằng Bọ Ngựa la lớn.
- Ủa, con đầm già ngoặc ngang băng qua đường 13 bay về phía Chơn Thành.
Ba Tố khoát ni-lông ra ngóng một hồi rồi trở vào xác nhận lời của Bọ Ngựa. Tôi bảo:
- Có lẽ mặt trận Phước Long hay Đồng Xoài nổ hút máy bay ra ngoải nên mình mới được yên. Nếu không thì nãy giờ ít nhất cũng có vài lượt dưa tạ rơi xuống đầu. Kìa sao con mắt tôi cứ giật giật hoài!
Tôi vừa nói vừa vuốt mí mắt. Ba Tố cười:
- Thầy mà cũng tin dị đoan nữa à?
- Tôi nghe trong bụng không yên ổn. Mọi khi súng nổ tôi đâu có như thế này. Nó hồi hộp, trái tim rung rung muốn sứt cuống.
Ba Đức chào tôi với tác phong chính qui rồi dắt đám bộ binh của y đi. Ba Tố tựa đầu vào vách hầm và nói:
- Đất rung dữ lắm thầy! Mình ở xa không nghe tiếng động, nhưng sức chấn động rõ lắm.
Tôi không nói, cũng không tính toán gì hết. Trong phút này không thể làm được gì hết. Chỉ huy sở và tiền phương không liên lạc được với nhau thì biết tình hình ta và địch như thế nào mà hạ lệnh? Tôi vụt nghĩ tới ông già vợ của xã đội trướng Ba Tâm . Ổng mất trâu, có thể bất mãn vô báo bót Trung Hòa. Nó không thèm giã pháo mà đem bộ binh chặn hậu mình không còn đường rút. Làm chỉ huy mà cứ nghĩ tới chiến thắng, không tính đường rút lui hoặc đặt ra những tồi tệ nhất có thể xảy đến, thì chỉ có Hoàng Thọ thời chống Pháp thôi . Hoàng Thọ đã chiến thắng nhiều trận làm cho Pháp kinh hoàng, còn bây giờ với Mỹ, nếu không bị Lê Duẫn gạt, giết ở Cạnh Đền thì Hoàng Thọ không thể đụng Mỹ ba trận. Chỉ đến trận thứ hai là bỏ mạng rồi. Tình cá nước bây giờ khác xa thời đó. Nhân dân đang làm ăn yên ổn, bỗng đâu Giải phóng về quậy lên đục nước, cho nên cá cũng ngất ngư. Nước cũng không ưa cá. Ba Tố cười hì hì:
- Thằng lính nào ngồi trên chuồng cu nghe vọng cổ Sài gòn buổi sáng chắc không còn miếng thịt.
Cô Tư Lan, y tế kiêm liên lạc lẫn chị nuôi của cơ quan, ở sau ló đầu vô, hồ hỡi:
- Anh Hai anh Ba có ăn khô mực không, em nướng cho. Trời tạnh mưa, em ra ngoài nhúm lửa được rồi.
Ba Tố cười ngất:
- Khô mực của em hả ?
- Chớ còn của ai nữa! Anh Ba hỏi lạ không?
- Khô mực của em ăn vô mất đầu thai!
- Nói bậy không hè ! Đây là của con Minh, con chệt Tư ở ngoài chợ An Nhơn.
- Của em Mình hay em nào cũng vậy thôi !
Tôi gạt ngang:
- Nướng thì nướng đem lên mau mau kẻo nó đổ chụp mất ăn. Ở đó mà trả treo.
Ba Tố coi đồng hồ rồi bảo.
- Nấu cơm ăn luôn thể. Trưa rồi. Tụi nó ăn rượu bít-tết, mình làm bậy ba cái mắm kho và khô mực.
Bỗng tiếng thằng Bọ Ngựa vang lên từ ngoài miệng hầm. Nãy giờ nó ở ngoài canh gác chớ không leo lên cây, cũng không chịu vô hầm.
- Có trinh sát mình về nề cậu Hai.
Tôi bật dậy tuôn ra hầm.
- Ai đó ?
- Út Đỏ, Sáu Đức (không phải Ba Đức), trung đội phó trinh sát của tôi. Đức ngoẹo cổ mếu máo:
- Thằng Chi chết rồ i . Hu hu . . . hít hít . . . Em về báo cho anh hay để anh ra thấy mặt nó.
Tôi kêu lên, nghe như ai bắn trúng tim mình.
- Trời đất ơi !
Ba Tố hớt hải thò đầu ra cửa hầm.
- Sao vậy? Chết ở đâu? ở gốc cây xoài hả?
Đức quẹt nước mắt lẩn nước mưa.
- Dạ không! Khẩu đội ở gốc cây xoài do tôi và thằng Thành giữ, còn thằng Chi với anh Đành thủ khẩu 81 ở vườn cao su con. Chiều hôm qua khi tải đạn tới, ông Năm Tiều (Phó ban tác huấn khu) có đến kiểm tra. Khi ông Năm đi, thằng Chi lại tự động thay đổi sự bố trí của anh. Nó sang khẩu đội ở cây xoài và bảo Thành sang chỉ huy khẩu ở vườn cao su con.
- Sao vậy?
- Dạ, ảnh nói ở gốc cây xoài gần Trung Hòa hơn. Ảnh muốn tự tay bắn chúng nó. Mình nổ phát đầu tụi nó trả hỏa ngay. Chi vận động đưa khẩu pháo sang vị trí khác. Chính trái pháo đó đã trúng nó.
- Nó bị thương ở đâu?
- Ngay sau ót. Nó đang chạy, bị miểng đạn phang té sấp.
- Nó có trối gì không? Có nhắn lại gì không?
- Dạ, nó bảo anh Đành ráng bắn cho hết 30 trái đạn..
- Nó không nhắn nhủ gì về gia đình à?
- Dạ không. ảnh bị đạn, ngã xuống chỉ nói được câu đó .
- Không nhắn con Chạnh nữa à?
- Chỉ nói có một câu đó thôi. Rồi không nói được nữa.
- Bây giờ nó nằm ở đâu?
- Tụi em đưa về tới Ngã ba Ba Sòng để ở nhà má Hai.
- Còn cậu nào bị thương nữa không?
- Xã đội trường Ba Tâm, anh Đành và vài cậu du kích…
- Nặng không?
- Dạ chỉ anh Đánh và Ba Tâm nặng còn mấy người kia chỉ trầy da. Còn ở cánh cao su con nghe nói có mấy người bị thương và vài người chết mà em chưa rõ là ai. Em định cho khiêng Chi thẳng về Bến Mương nhưng bà già chị Chạnh bảo để ngoài đó cho hội mẹ lo.
Ba Tố chép miệng:
- Thằng nhỏ sắp làm rễ má Hai. Sau trận này đám cưới, mà không kịp!
Thằng Bọ Ngựa hét vang từ trên ngọn cây.
- Máy bay đi Chơn Thành dìa!
Ba Tố chạy ra quát vọng lên:
- Quất cờ đỏ cho du kích giật mấy con bù nhìn nhử nó. Đừng cho nó đâm xuống đây.
Bỗng Kim đưa ống nghe cho tôi. Tôi quát:
- Cửu Long ! Cửu Long . Nghe ! Trả lời . . . Hả hả . . . Cá i gì . Rớt cái gì? Máy bay? Tụi bây bắn rớt máy bay. Máy bay gì?. .Hả .. . B26?… Trời đất, nói rõ lại coi ? B26. Rớt… Cá lẹp ở Đồng Dù lên hả? Nó lượn quanh xác con diều hâu sẽ phóng pháo để hủy diệt. Tụi bây im đừng bắn nữa lộ mục tiêu, nó bắn chạy không thoát.
Trong máy vang lên tiếng của Đồng Đen, đại đội trưởng phòng không, báo về cho tôi, xen lẫn tiếng súng:
- Cá lẹp lên dắt theo hai con HU. Nó bắn điểm ở cách xa tụi tôi. B26 rớt tại Đồng Chà Dơ. Cá lẹp đang ở ngoài tầm súng. Hễ nó vô tới là tôi mần. Trời mưa mù mịt khó thấy xa. Nó phóng pháo vào xác B26. Mấy toán du kích xung phong không biết có lấy được súng không.
Tôi quát.
- Xung phong ! Xung phong mau ! Nghe rõ chưa ? Xung phong !
Nhưng trong máy vẫn oang oang:
- Tụi tôi bắn hai con cá lẹp. Chúng đảo ra xa, dông qua Bến Đồng Sõi phóng hỏa tiễn vào trận địa của Sáu Lúc. Một chiếc Cá Nốc bay tới, tụi tôi bắn, nó lồng lên không dám hạ thấp. Nó bay nhanh quá. Trời mưa to không thấy gì hết. Tụi du kích chạy ra xác B26. Tôi không cho, tụi nó cứ nhào tới..
- Xung phong ! Xung phong !
Tôi quát muốn vỡ máy nhưng ngoài đó không thi hành cứ báo cáo dai nhách:
- Một chiếc gì mình trắng như nhôm bay đứng sửng trên đầu tụi tôi Không phải phản lực, không phải khu trục.
- Coi chừng nó liệng bom.
Tôi đành phó mặc chúng nó, không ra lệnh xung phong nữa. Tới đâu tới. Tha Hồ !
Trận chiến chưa dứt, nhưng tôi sốt ruột muốn biết cụ thể về cái chết của thằng Chi, cán bộ trẻ , thông minh có văn hoá nhất của tôi. Cái thằng dễ thương hết sức. Con gái chọc ghẹo cũng không dám ló mòi gì hết. Học trường miền Nam, con gái thiếu gì. Có con bé thiệt ngộ mê nó, nó cũng lãng ra. Con nhỏ lọt về Sở Điện Ảnh bị mấy chú xơi tái. Chi là bạn của thằng Liêm và thằng Đe con trai Đồng văn Cống. Đe học lái MIG ở Liên Xô, về Việt Nám lái MIG đánh với Thần Sấm bị Thần Sấm bắn hạ, thằng Chi học trường pháo binh vô đây đụng pháo Mỹ cũng đi luôn. Còn thằng Liêm đi săn mễn bị thằng Huỳnh Châm bắn lầm. Dân miền Nam chết như rạ, đi lót đường cho tụi Hà Nội vô làm cha. Bác Hồ thâm độc lắm dân Nam kỳ ơi! Mở mắt ra chút!
Tôi bảo Ba Tố ở lại chỉ huy sở, tôi co vác máy bộ đàm và dắt cán bộ đi vô C5 để thăm hai Đảnh hỏi thăm cho rõ diễn tiến mặt trận. Vô đến nơi gặp Tư Chuyền đang băng bó cho Đảnh và Ba Tân. Hắn la lớn:
- Cám ơn thầy Hai! Nhờ thầy du kích giật được cho tôi được cái dù to tướng. Đây nè ! – Hắn chỉ lên nóc hầm – Phải đào hầm rộng gấp ba mới đủ giăng cây dù này. Tha hồ mổ xẻ . Đất nóc hầm không rớt vô vết thương nữa. Dữ ác ! Hai năm trời mơ ước.
Tôi không để ý những lời khen ngợi của hắn. Thấy Đảnh bị băng bít cả đầu, chỉ chừa cặp mắt, tôi hỏi hắn:
- Vết thương có nặng không ông?
- Không chạm thần kinh!
- Còn ông xã đội?
- Dạ ổng bị ở chân, cũng nặng nhưng không hề gì.
Tôi hỏi Đảnh đang ngồi dựa vách hầm:
- Cậu biết tôi là ai không .
- Hục hục… Sao không biết, thầy?
- Thằng Chi thế nào?
- Tại ảnh cãi lệnh thầy. Nếu ảnh ở bên khẩu đặt ở cao su con thì đâu có sao.
. Tôi móc xắc-cốt đưa cho Tư Chuyền 5000, bảo:
- Nhờ bác sĩ chăm sóc dùm các chiến thương của tôi.
- Ông Tư lệnh pháo khỏi bảo. Đó là nhiệm vụ của tôi mà .
- Tôi phải lo bao nhiêu chuyện khác, không ở đây được lâu ông bác sĩ thông cảm cho!
Tôi chào thương binh rồi đi. Trời mưa như trút, nhưng tôi phải ra Ba Sòng. Pháo đã im. Máy bay cũng đã biến mất hết. Chỉ còn nghe tiếng trời gầm. Ra đến nơi thấy xác thằng nhỏ nằm ở trước hàng ba. Trong nhà đông nghịch những người..
Năm Tiều thấy tôi, chạy ra nói nhỏ:
- Theo phong tục của mình, người lạ không được đem vô nhà . Mình phải để nó nằm ngoài như vậy thôi. Đám mình chết được nằm ghé ở hàng ba là phước đức ông bà rồi !
Năm Tiều là phó ban Tác Huấn Quân khu, lớn hơn tôi mười tuổi Năm Tiều nói suông suông, không giới thiệu tôi với một người nào:
- Đây là ông chỉ huy của thằng Chi.
. Tôi chào mọi người và bước lại giở tấm vải bạt phủ trên người Chi. Mặt nó tái xanh. Tôi vuốt mắt rồi nghiêng đầu nó qua xem vết thương. Cuộn băng trắng quấn vòng sau ót ra phía trước cổ máu đã khô . Vết thương ác quá . Cô Chanh người yêu của Chi đứng ở bẹ cửa, cặp mắt sưng vù. Tôi nói mấy lời an ủi chung chung. Năm Tiều bảo tôi:
- Má Hai đã coi ngày giờ xong xuôi hết rồi. Mười hai giờ liệm. Chín giờ sáng mai làm lễ hạ huyệt.
Trong nhà đã luộc hai con vịt để trên bàn thờ. Một cái khay trầu với hai cái ly, nhạo rượu và một lư hương đặt trên một ghế nhỏ đặt ngay đầu thằng bé. Trông thấy cái cảnh sơ sài giành cho người chiến sĩ hi sinh mà não lòng.
Mọi kế hoạch tiến hành như đã định. Trong bụng người nào cũng lo sợ pháo và trực thăng soi. Mong mọi sự bình an . Năm Tiều coi cái chết như trò đùa. Anh đã trông thấy quá nhiều cảnh như vầy từ chống Pháp tới bây giờ. Chôn một lúc vài chục cái hòm là thường. Nhiều lần không có hòm rương gì hết. Chôn mau lấp vội rồi đi. Cho nên bây giờ anh không có vẻ gì buồn, lại cứ đùa với tôi:
- Nó chết như thế này sướng quá trời. Có hội mẹ, hội phụ nữ, cán bộ đủ mặt. Tới phiên tụi mình chưa biết ra sao có khi lại chẳng được manh chiếu.
Riêng tôi cũng đã từng dự lễ truy điệu không biết bao nhiêu lần. Trận Nhật Nguyệt tiểu đoàn 307 của tôi phối hợp với đại đội địa phương Bạc Liêu do Lê Quốc Sĩ làm đại đội trưởng (em của Lê Quốc Sản tư lệnh I.2 vừa chết ở Tháp Mười) đụng với BMEO và bộ đội Ba Gà Mổ, hi sinh 150 (có ít nhất 50 dân Bến Tre). Xác đem về chôn ở Cái Nước, bít cả nghĩa trang. Lúc đó tôi còn trẻ quá, và không phải là thủ trưởng cơ quan, nên nỗi buồn chỉ thoáng qua. Còn bây giờ là chỉ huy trưởng, đứng trước cái chết của cán bộ, tôi thấy cái trách nhiệm thật to lớn. Đành rằng chơi với súng đạn thì sự nguy hiểm có thừa, nhưng cũng tại mình nên nó mới chết. Tôi nghĩ vậy nên cứ day dứt trong lòng.
- Mày biết gia đình nó ở đâu không?
- Dạ, Bến Tre.
- Làm sao mà cho hay được?
- Dạ. Chắc thằng Hùng Cối biết.
- Mà thôi! Tụi nằm trên Trường Sơn có ai biết mà nhắn nhe.
Một đêm dài như những đêm dài khác. Một cái chết như bao cái chết khác. Tôi thức sáng trắng. Chiếc hòm làm bằng những mảnh gỗ thô không biết nhặt nhạnh ở đâu, tôi cũng không buồn hỏi nữa, nhưng rõ ràng những mảnh gỗ khác nhau ghép lại. Rồi tôi và Năm Tiều đích thân đặt thằng bé vào liệm. Không có gì ngoài mấy cái áo cái quần lính lớp mới may lớp cũ nát. Có một cái lụa Hà Nội mà nó nói để giành gởi về cho ba má . Cái hòm lỏng lẻo phải chèn thêm hai khúc chuối cây để lúc khiên đi nó không lúc lắc bên trong.
Chín giờ sáng. Chúng tôi đưa thằng bé ra nơi yên nghỉ cuối cùng. Chiếc hòm nhỏ và nhẹ . Chỉ cần bốn người kê vai khiêng. Một lúc lại thay phiên. Một đoàn người đi theo sau. Nam phụ lão ấu chừng hai chục. Tôi và Năm Tiều mỗi người vác theo một cái chân ngựa để tiện hạ huyệt. Năm Tiều chủ động mọi việc vì tôi không biết phong tục tập quán trong việc chôn cất. Anh bảo:
- Nó là dân Bến Tre đặt cho nó quay đầu về xứ. Con người ta đi đâu cũng phải về xứ!
Anh thay mặt quân khu nói vài lời trước khi hạ huyệt. Xong anh lại bảo:
- Để hai đứa ở lại lấp đất thôi. Còn bao nhiêu giải tán hết đi kẻo đầm già tới. Để mai mốt mở cửa mã sẽ đắp nấm. Bây giờ thì như vầy cũng đã mỹ mãn lắm rồi !
Tôi cố cầm nước mắt:
- Thôi nằm đây nghe em Chi!
Năm Tiều gạt ngang:
- Khóc mẹ gì. Nay mai rồi tới mình ra nằm bên cạnh nó .
Trời mưa lắc rắc. Má Hai đốt mấy tờ giấy vàng không cháy, khói lên lè tè đầu ngọn cỏ. Hai Chanh gục đầu vào vai một nàng du kích khóc không ra tiếng nữa. Tôi nói mấy câu để an ủi nàng nhưng càng làm cho nàng khóc to hơn. Nhìn nắm mộ thấp, bùn đất nhoe nhoéc tôi càng nản lòng. Trong lúc mọi người trở về nhà má Hai, Năm Tiều lôi tôi đi hướng khác:
- Kiếm cái quán nào làm một xị cho ấm coi mày !
Vừa đi anh vừa nói tiếp:
- Mày về chuẩn bị phòng ngự hoặc di quân đi.
- Tôi cũng đang nghĩ đến chuyện đó.
- Trận pháo kích này là một lời tuyên chiến. Tụi Đồng Dù bắn bấy nhiêu trái đó chưa đủ đâu. Thế nào rồi tụi nó cũng mở một chiến dịch để truy lùng vũ khí của mình. Bởi vì lâu nay mình chơi bộ binh. Lần này mình xài tới pháo. Củ Chi này chỉ có mấy khu rừng rậm thôi, nó sẽ đào tới Hố Bò trước nhất. Mày ghé Năm Lê, kêu y ra lịnh cho tụi C5 của Tư Chuyền di chuyển thương binh qua sông Sài gòn, nếu không sẽ không kịp.
Tôi công nhận ý kiến của anh là sáng suốt nhưng không thể nào phòng ngự cũng không thể nào di chuyển thương binh. Tới đâu hay tới đó.
Đang đi bỗng Năm Tiều lôi tay tôi.rẽ sang một đường mòn. Tôi không hiểu gì cứ đi theo. Được một quãng xa, anh quay trở ra, trỏ tay:
- Mày thấy gì đó không?
Tôi nhìn thấy hai ba cái võng lôi thôi lếch thếch đi tới. Năm Tiều nói:
- Không biết dân ngoài Ràng hay Phú Hiệp bị thương . Họ đi tìm y xá đó. Gặp mình mình mang K54 thì sẽ họ rút đòn khiêng phệnh lên đầu mình.



Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.03.2013 10:29:59 bởi hai1957>
Chương 61
Bữa tiệc cuối cùng của Bộ Tư Lệnh Quân Khu IV


Về tới cơ quan thì trời sẫm tối. Mình mẩy đau nhừ. Tinh thần đi đâu mất hết. Tôi không muốn làm thêm một việc gì nữa. Lạy Trời cho con được yên ổn. Nhưng nhà báo lại đến. Trời ơi! Tôi chạy đâu cho thoát. Cái mặt của cô nữ phóng viên sao mà đáng ghét thế. Nhã Nam cười toe toét:
- Kính chào ông Tư lệnh pháo binh Quân Khu.
Tôi uể oải cười:
- Chào nhà báo.
- Chúc mừng chiến công của… anh.
-Mời cô ngồi.
- Cô à?
- Mời đồng chí phóng viên ngồi.
- Đồng chí à ?
- Mời em!
- Hứ! Anh chóng quên thế!
Tôi gọi bâng quơ.
- Đứa nào đem nước lên chút bây!
Nhã Nam ngồi đối diện với tôi và chìa tay:
- Thay mặt tờ báo Quân Khu chúc mừng anh.
Tôi hờ hững bắt bàn tay lạnh ngắt của nàng. Nhã Nam nguých yêu và bóp mạnh tay tôi:
- Đây là lần đầu tiên từ đồng khởi tới nay, quân khu lập được chiến công oai hùng bằng bàn tay của H6, cụ thể của anh.
Tôi chưa kịp nói gì thì Nhã Nam móc trong sắc-cốt một tập giấy mở ra và nhìn tôi một cách nghiêm chỉnh:
- Nhờ anh nghe và bổ túc nhé ! Em mới thảo sơ sơ, cần anh chuốc lại dùm.
Tôi muốn chui xuống lỗ nẻ để thoát đi buổi tao ngộ chiến này. Giá nàng đến thăm suông hoặc cho tôi một cái kẹo còn thích hơn, vì tôi quá biết cái bản tin của nàng rồi. Cái con quỉ có chiếc mồm rộng như miệng địa đạo này đã tán phéc suốt mấy năm nay về hệ thống địa đạo thôn liền thôn, xã liền xã . Chính nàng phịa ra nữa anh hùng Chị Tư Cầu Xe để dâng lên bác Hồ vô vàn kính yêu, cũng chính nàng ta đã vẽ nên chân dung của các nàng dũng sĩ Củ Chi này, rồi từ đó đài Gìải phóng và đài Hà Nội phóng đại tô màu thêm lên, làm cho thế giới phải lé con mắt. Cụ thể là tên nhà báo Bọ Chét lặn lội tới đây quay phim địa đạo chiến của đội dũng sĩ Bảy Mô . Bây giờ chắc chắn cái trận pháo kích này sẽ được nàng ta mô tả như một cái Đồng Xoài hoặc một cái Điện Biên Phủ con con. Nàng móc túi lấy bút:
- Xin anh vui lòng thuật lại diễn tiến của trận đánh.
Tôi lắc đầu:
- Tôi không có mặt ở chiến trường. Em có thể lội vô C5 gặp các cán bộ chỉ huy trận đánh đang nằm trong đó, tha hồ mà nghe tường thuật rồi viết.
Cô nàng cười mỉm chi:
- Nhưng anh là linh hồn của trận đánh!
- Linh gì mà linh dữ vậy. Tôi ngồi nhà mà.
- Em nghe các cán bộ cho biết rằng anh là người xây dựng kế hoạch và chỉ huy tác chiến.
- Dễ ợt, ai mà không làm được, vấn đề là điều động pháo và đạn ra đến đó thôi.
Tôi chối cách gì cô bé cũng không tha. Tôi gọi Ba Tố lên giúp tôi gỡ rối tơ lòng với cái nàng nữ sĩ lô-can này. Nhưng Ba Tố không có nhằm nhía gì cô ta hết vã lại đám ma thằng Chi vừa xong, có vui gì mà trả lời phỏng vấn. Tôi bèn bảo:
- Em đi tìm bà con hỏi xem họ phấn khởi như thế nào, có lẽ hay hơn.
Nhã Nam quơ tay:
- Nhất định là bà con phấn khởi lắm.
- Ông có gặp ông già vợ của xã đội trưởng Ba Tâm chưa?
- Dạ chưa.
- Nên đi gặp để lấy đề tài hay lắm… Ổng mất mấy con trâu chưa tìm được.
- Tại sao mất? Và tại sao mất trâu mà phấn khởi?
- Mình pháo. Địch cũng pháo. Trâu sợ chạy lung tung. Một con trúng đạn chết. Ổng gặp ông Năm Tiều ông bảo đơn vị có mua thịt trâu ông bán rẻ cho!
Nhà báo biết ông tư lịnh pháo xỏ ngọt bèn trở lại bài báo và nhờ chuốc dùm. Tôi còn bao nhiêu công việc phải làm, nhưng đành ngồi nghe văn chương của nhà phóng viên. Trong hầm thiếu ánh sáng. Nàng bấm đèn pn lên soi vào trong vở, rồi như để thưởng công tôi về việc chịu ngồi nghe tác phẩm nóng hổi, nàng móc chai dầu Nhị thiên đường:
- Anh Hai quẹt chút cho ấm.
Rồi cất giọng đọc:
Tin chiến thắng lớn.
Tin chiến thắng lớn của Mặt Trận Giải Phóng khu Sài gòn Gia Định. Hưởng ứng chiến dịch Thu Đông toàn miền Quân dân Quân Khu IV đã lập công đầu to lớn. Các lực lượng du kích võ trang đã đột nhập các ấp chiến lược Cây Bài, Bàu Trâm, Phú Hòa Đông, Tân Qui trên trục lộ 15 và lộ số8, ấp chiến lược Bàu Tre, Cây Trôm trên Quốc lộ I, quân ta đã luồn vào tận sào huyệt địch, diệt bọn ác ôn làm chủ một vùng rộng lớn, phát truyền đơn kêu gọi ngụy quân, ngụy quyền suốt đêm . Văn Công đã biểu diễn trước sự hoan nghênh nhiệt liệt của.đồng bào. Hàng trăm thanh niên nam nữ đã ghi tên gia nhập giải phóng quân, hàng chục lính ngụy đã bỏ ngũ về nhà làm ăn. .. Hôm sau, địch đang chới với chưa kịp trở tay, du kích võ trang vành đai thép đã dùng pháo cối 81-82 bắn vào các đồn lớn của địch trong đó có cả căn cứ Đồng Dù của Mỹ, làm hư hại 9 khẩu pháo, 105, 155 và 175 tê liệt hoàn toàn lực lượng pháo binh của Sư Đoàn 25 Tia Chớp Nhiệt Đới của Mỹ vừa từ Pleiku vào Củ Chi. Tin còn cho biết thêm ta đã tiêu diệt hai trực thăng sâu rọm, bốn trực thăng HUIA, bắn cháy bốn xe tăng, thiêu hủy một kho đạn pháo và cháy một bồn xăng. Ngọn lửa đỏ rực cả một góc trời. Đồn Trung Hòa đóng trên trục lộ số 7 đã thiệt hại nặng: hai súng cối 106, bốn khẩu 105 bị phá hủy hoàn toàn, địch chết và bị thương trên một trung đội. Bọn địch ở Sài gòn cho phi cơ B26 tới bỏ bom để cứu vãn tinh thần bọn ngụy, bị đại đội phòng không của du kích bắn hạ hai chiếc thu toàn bộ vũ khí văn quân dụng trên máy bay…
Tôi giơ tay tốp nàng phóng viên quân khu.
-Đủ rồi em!
Nhã Nam cười lớn lên:
- Anh có thêm bớt gì không?
- Em nên nói rõ nơi xảy ra trận đánh là cách Sài gòn….
- … Hai mươi cây số.
- Không! Nói là… trước cửa ngỏ Sài gòn! Như vậy mới ăn giơ với thông cáo của Mặt trận là đất đai Giải phóng chiếm 3/4 diện tích và dân chúng trong vùng Giải phóng chiếm 4/5 dân số Miền Nam.
Nhã Nam không hiểu tôi xỏ ngọt nên mừng rỡ. Cô ta gật đầu lia và rút bút hí hoáy thêm vào. Cô bé sắp chuyển qua gam mi nơ, giá ngày thường thì chắc tôi sẽ chiếu cố nhưng tôi đang rầu rỉ, không ham hố chi cái sự đó. Cũng may có thơ hỏa tốc đến.
Tôi mở ra đọc. Ông Tham mưu trưởng lẫn ông Trưởng phòng Chính trị đều muốn tôi đến trực tiếp báo cáo kết quả đồng thời mang tất cả chiến lợi phẩm đến nộp. Tôi giật mình. Mãi lo vụ thằng Chi và chiến thương mà quên khuấy đi. Tôi bèn gọi Ba Tố bảo kiểm tra giúp tôi. Ba Tố nói ngay:
- Chiếc dù thì ông bác sĩ Tư Chuyền quơ ngang trên tay du kích rồi. Còn hai cây súng ngắn hiệu Con ngựa bay bằng thép trắng thì D18 lấy được một khẩu, con Là xã đội phó Phú Mỹ Hưng lấy được một khẩu.
Tôi bảo cho người đi thu về cấp tốc để mang lên nộp cho Bộ Tư lệnh. Ba Tố lui ra thì Nhã Nam bắt vô ngay:
- Anh thấy thế nào?
- Thế nào cái gì?
- Bản tin ấy mà.
- Em viết sao thì viết. Đó là quyền của nhà báo. Anh đâu biết dùng chương gì.
- Nhưng em muốn hỏi là con số trong bản tin so với sự thực… Anh thấy trận pháo kích này có thể so sánh với trận pháo kích sân bay Biên Hòa không? Anh đã dự cả hai mà.
- Khó so sánh lắm vì Biên Hòa là sân bay, còn Đồng Dù là căn cứ Bộ binh.
- Anh thấy có cần đề cao chiến sĩ hoặc cán bộ nào không? Em thấy anh xứng đáng…
Tôi xua tay lia lịa.
- Để tôi hỏi ý kiến các đơn vị rồi sẽ cho cô biết!
Sáng hôm sau tôi với Ba Tố cùng thằng bé Đỏ và Bọ Ngựa lên khu. Hai thằng nhóc được tôi cho mang hai cây colt chiến lợi phẩm thì sướng quá, cứ nói chuyện rố ráo suốt dọc đường. Tôi ghé ông Tham mưu trưởng Năm Lê thỉnh thị trước. Ông này chỉ coi trọng ông Ba Xu vì ông Ba Xu có nhiều thành tích hơn nhưng về mặt kiến thức quân sự thì lại coi Ba Xu là một anh cù lần. Những ông Phó tư lệnh và chánh ủy quân khu thì Năm Lê xem thường vì ông Phó tư lệnh nhát như cáy nên có biệt danh là Hai Phón. Còn Tư trưởng thì lấy đảng tính ra đánh Mỹ chớ chẳng biết súng mút, súng ngựa trời là cái gì sất. Thậm chí ông ta sợ súng… của quân ta là đằng khác.
Tôi vừa vào thì Năm Lê mời uống trà rồi vỗ vai tôi:
- Cậu khá lắm. Đánh thế giặc hết dám tung hoành chớ!
Tôi báo cáo chiến lợi phẩm. Năm Lê gạt ngang:
- Đem hết cho mấy chả đi!
- Anh không đến họp sao anh Năm?
- Họp hành để cho thằng Tám Quang. Hắn đánh giặc miệng giỏi hơn tao. Sao? Vấn đề thương binh tử sĩ mày làm có chu đáo không?
- Dạ xong hết rồi anh Năm.
- Biểu thằng Tư Chuyền đừng có dùng cưa sắt mà cưa chân con người ta.
- Sắp tới anh Năm có kế hoạch gì chỉ thị cho H6 chúng tôi không anh Năm?
- Để tao hỏi tụi quan khí coi còn đạn không cái đã ! Mấy cha thường hạ lịnh mở chiến dịch mà không cần biết lính mình có bao nhiêu viên đạn trong cạc-tút-se. Thậm chí đơn vị không đủ lính đánh giặc mà phải chiết ra một đại đội canh gác cho mấy ông nội.
Từ giã Năm Lê. Tôi dắt đoàn lên hầm nhà ông Tám Quang. Ông đang chuẩn bị chờ tôi tới để đi lên Bộ Tư lệnh. Chúng tôi cuốc bộ tới xế thì tới vùng an toàn của mấy ông nội. Tám Quang nói nhỏ với tôi:
- Mấy ổng khôn ghê . Ngồi thum ở xóm thuốc này thì muôn năm khỏi bị nạn B52. Nói thiệt với cậu, bây giờ tôi chỉ ngán B52 thôi. Phản lực tôi coi thường. Đối với tụi này miễn mình trốn cho kỹ, đầm già không phát hiện được là sống..muôn năm. Toàn bộ đất Củ Chi bây giờ chỉ còn có cái Xóm Thuốc này là lọt ngoài vò)ng B52. Vừa rồi đó rải thảm một cây số ngang, hai cây số dài, cày nát đường số 15, nhưng Xóm Thuốc này nằm ngoài rìa.
Tám Quang trỏ tay vào khóm nhà trước mặt:
- Mấy ông ở đó sát bìa Rạch Lở.
Chúng tôi đi vào rìa xóm thì đụng một chiến sĩ mang AK đứng ngóng cổ về phía đường 15. Anh ta biết mặt Tám Quang nên chào mời ngay. Tôi ngó lên ngọn cây thì thấy một anh ngồi chong ngóc trên cháng ba. Tôi bảo Bọ Ngựa:
- Bạn của mày đó !
Tám Quang hỏi anh lính:
- Mấy ổng có lệnh gì không?
- Dạ chú Ba dặn hễ có mấy chú tới thì mời vào. Chú Ba, chú Mười và chú Hai… đang ở đó.
Bỗng một chiếc xe đạp vọt qua rồi thắng kéc bên cạnh. Một bàn tay vỗ vai tôi. Thì ra Nhã Nam. Cô bé này có mặt khắp nơi. Nàng vui vẻ:
- Đi theo em nè …
Nhã Nam xuống xe dắt đi chầm chậm với chúng tôi trên đường mòn giữa hai bờ tre trúc rợp mát.
Tám Quang nói:
- Mấy ổng khôn quá. Ở đây nếu có động, các ông nhảy xuống xuồng chạy qua bên An Thành. Ở bên hầm hố vừa đào xong thì bị hóa học, cây cối queo hết không ở được nên mấy ổng còn ở đây. Hội nghị kỳ này mấy ổng sẽ dời qua An Thành, lên Thanh Tuyền. Có thể đi qua sông Thị Tính lên thẳng Long Nguyên ở như hồi đánh Tây. Chỉ mình chú mày bám trụ Củ Chi thôi.
Tới cái chòi bên trong có mấy cái băng thì cả bọn dừng lại. Một anh lính khác ra chào. Tám Quang hỏi:
- Mấy ông có la ó gì tụi tao đến trễ không?
- Dạ mấy chú đang đánh cờ và câu cá ở trong đó.
Tám Quang bảo chúng tôi:
- Các cậu ở đây chờ. Để tôi vô báo cáo xin chỉ thị trước. Mấy ổng khó lắm. Vô đột ngột mấy ông cự!
Tôi ngồi trên băng móc thuốc rê ra hút. (Đến với mấy ôm lớn phải gương mẫu kiểu bác Hồ). Ba Tố đi tới đi lui, có vẻ bực dọc nhưng không dám nói ra.
Lại cũng một thứ triều đình như ở trên R. Các ông lớn tự đặt cho mình một chế độ, ăn uống, canh gác, hầm hố, hành quân và em út. Không có ông nào đàng hoàng, nhưng cái số không đàng hoàng của họ, dù nhan nhản ra đó, không ai được phép nói tới. Rờ nào cọp rlằn ấy!
Nhã Nam có dịp tiếp tục cuộc phỏng vấn hôm qua.
- Theo anh nhờ đâu có chiến thắng vừa qua?
- Nhờ ba xỉ đế!
- Anh giỡn hoài. Em hỏi thiệt đó . Anh trả lời để em viết báo mà !
Ba Tố tiếp.
- Hì hì… vậy thì nhờ học gồng!
Nhã Nam nói phom phom.
- Theo em nghĩ thì nhờ ba yếu tố: Thiên thời, địa lợi và nhân hòa.
Ba Tố càng đâm hơi:
- Thiên thời là hôm qua trời mưa không thấy đường đi, địa lợi là chui vô rừng giấu súng, nhân hòa là chiến sĩ chết cho nằm hàng ba và dân bị thương chửi nát.cha giải phóng.
Nhã Nam nguýt một phát yêu đến rụng rún và tiếp:
- Mấy anh ngồi đó để em vào tâu.
Ông Tám Quang sợ mấy ổng như sợ cọp.
- Ừ đi mau mau nghe nhà báo!
Nhìn cặp bím tóc chệt vung lại cặp mông run run của cô em biến xa dần, Ba Tố nói:
- Coi bộ cô ả cũng mết ông Tư lệnh pháo binh lắm!
- Thôi đi ông nội ơi ! Vô đợt này xong, mấy ổng coi khá chắc bảo vô đợt khác. Nghĩ mà tội nghiệp thằng Chi. Con trai hơ hớ, chưa biết cay đắng mùi đời. Con Chanh mê nó như điếu đổ nhưng cái dây đang leo bỗng thân cây vụt ngã. Xứ Củ Chí này phải được chính phủ tuyên dương về số đàn bà góa chồng.
Ba Tố thêm:
- Đi chỗ nào cũng gặp. Nhất là Quốc lộ 1, hồi công trường của Năm Sài gòn xuống đóng, tuyên bố một đêm cả chục đám. Bây giờ lũ con gái đó khóc không ra tiếng. Mê giải phóng nữa thôi! Hì hì….
Nhã Nam xuất hiện đứng xa xa ngoắc. Tôi móc tiền cho ‘ thằng Đỏ và thằng Bọ Ngựa, bảo mua bánh ăn rồi ở ngoài này chơi, không vô chỗ người lớn được. Tôi và Ba Tố mỗi người xách một khẩu con chiến lợi phẩm vào nộp.
Nhã Nam tỏ ra thành thạo, nói với tôi:
- Vô trong hang, hễ thấy hai ông ngồi đánh cờ dưới gốc vú sữa đó thì phải bái nghe ông nhà pháo. Ông ngồi bên phải mặc đồ lụa lèo, còn cổ cao, mặt đỏ như Tây lai là ông Mười Thơ
- Mười Thơ? Tên gì lạ hoắc vậy?
- Ai biết đâu. Nhưng đó là em của Lê Đức Thọ ở ngoài Hà Nội, còn ông mặt mày xanh lét là ông Phó tư lệnh Quân khu của anh, bộ anh cũng không biết à?
- Có gặp lần nào mà biết.
- Người ta kêu ông là Hai Phón đó !
Tổng hành dinh của mấy ông thật là cha Tây. Nhà trung nông nhưng không biết bàn ghế lấy của nhà địa chủ nào, toàn là thứ ác: gỗ mun hoặc căm xe, cà chất. Nền hầm lót gạch tàu Nóc hầm che ni lông, đất dày hai thước, cửa ra cửa vào. Lại còn đèn điện sáng choang chói mắt.
Ngoài ông Ba Xu, tôi không biết ai cả . Thấy tôi đến, ông nào cũng trố mắt dòm. Tôi nghĩ bụng: không ai biết mình, mình cũng không biết ai nên tôi có lý do để không chào ai hết. May sao ông Ba Xu ở sau bếp đi ra. Ông ta bận tham gia công tác nấu thịt chó với Ba Tiếu là chánh văn phòng Quân Khu, cấp thượng úy nhưng cũng làm công tác điếu đóm chạy rong như Tám Nghi đối với Năm Lê .
Ba .Xu biết tôi hồi kháng chiến chống Pháp. Ra Bắc có gặp một lần lúc ông ta làm Tư lệnh Công binh của Bộ Tổng với quắm hàm thượng tá, đóng quân ở Quảng Oai Sơn Tâm. Ổng cho tôi một gói thuốc Trung Quốc và bảo: “Đền ơn mày đó nghe!”
Cái ơn của tôi là ngồi áng miệng hầm và lãnh một miểng bom thay cho vợ ổng và vợ ông Tô Ký. Trước khi về Củ Chi tôi lại gặp ông ở Ụ, coi bộ ông bèo nhèo thất thần vì vừa thoát chết ở Bình Giả . Lần đó ông Tư Khanh tiễn ông xuống Củ Chi mà không có thịt để làm tiệc. Thời may tôi và Bùi Khanh săn được một con mển tôi cắt cho ông một đùi. Lần này ổng đãi tôi thịt chó và máu chó gọi là Hépathémo do bác sĩ Tám Lê pha chế (không phải Năm Lê), Tám Lê là nhân vật được Việt Cộng tuyên dương anh hùng quân đội với quân hàm đại tá và được mấy tên ký giả tô vẻ thêm bằng những thần thoại ly kỳ hơn cả chuyện trên cung trăng: “Bác sĩ Tám Lê giải phẩu thương binh, đỡ đẻ cho nhân dân dưới địa đạo”. Tôi phải nói thẳng rằng những thằng nhà báo có lấy lương tâm của nghề nghiệp làm nùi giẻ lau chân cho bọn Hà Nội thì mới viết lách như vậy. Đàn bà chửa làm sao xuống địa đạo ? Miệng địa đạo bao to mà đưa thương binh xuống được? Dưỡng mệnh xong còn có nơi an dưỡng và xem văn nghệ. Sao nhân loại vẫn cứ ngây thơ? Bởi vậy đế quốc đánh Công Sản cả trăm năm cứ thua hoài là vì nhà bất lương này.
Vừa thấy tôi Hai Thơm đoán tôi là chỉ huy cuộc pháo kích nên hỏi ngay:
- Chiến lợi phẩm đâu đưa coi đồng chí.
Sáu Dân và Mười Niên cũng là kẹ mặt rằn trong khu ủy, nhưng thuộc thành phần dân chánh nên thấy súng thì ham. Sáu Dân la lên:
- Súng gì mà trắng xát vậy?
Ba Tố đáp với giọng mát mẻ:
- Dạ súng Mỹ t!
- Nhưng mà loại gì chớ?
- Dạ, loại súng ngắn.
- Súng ngắn, đúng rồi nhưng sử dụng ra sao?
- Dạ, nó cũng như K54, P38 vậy thôi, nhưng đây là súng của phi công Mỹ.
Ba lão già giềng chuyền nhau xem, trầm trồ và ướm thử vào người, khen chỗ này, chê bộ phận kia. Cuối cùng Hai Phón bảo:
- Để tôi xài cây này. Còn cây kia cái bá bị cháy, đem về làm phần thưởng cho du kích.
Ba Tố đáp.
- Dạ du kích họ không biết cách xử dụng.
- Vậy thì bỏ cho cảnh vệ xài.
Hai Phón nói xong thì nịt luôn cây súng tốt vào lưng và đưa cây xấu cho Ba Tố. Ba Tố nói với giọng nén bất mãn:
- Anh Hai để lại làm phần thưởng cho các đơn vị, chớ tụi tôi chỉ thích AK và không có dịp xài thứ bắn ruồi này.
Sáu Dân và Mười Niên đang căng chiếc dù, chiến lợi phẩm do cần vụ của Tám Quang mang tới. Mười Niên nói với Sáu Dân:
- Ê dù này rọc ra làm tấm đắp và ngụy trang thì số dách.
Hai Phón vừa nịt xong súng vào mình lên tiếng.
- Không được đâu nghe cha ? Bác sĩ Tám Lê xin một cây để che nắp hầm giải phẫu mấy năm nay mà có đơn vị nào đánh lấy được đâu. Để nguyên đó tôi đưa cho thằng chả . Còn các cha thì chờ chuyến tới.
Sáu Dân gốc địa chủ Bạc Liêu bô bô cái miệng:
- Thu lúa ruộng mà đi nghe lời tá điền hẹn nay hẹn mai thì có mà sạt nghiệp!
Chánh ủy Tư Trường đang đánh cờ thấy chiến lợi phẩm hấp dẫn quá nên bỏ cuộc đi tới xen vào:
- Đừng có ló đuôi địa chủ ra nghe ta !
Sáu Dân trả thù.
- Ừ đuôi địa chủ nên cụp vô đít, còn đuôi công nhân thò ra cho người ta xem hả ? Vậy cái đuôi công nhân có biết uống rượu Tây và Ovomaltine không?
Tư Trường không rõ thành phần gì nhưng nghe nói y có chân trong Ban chấp hành Liên hiệp Công Đoàn Nam Bộ. Từ ngày Trần Bạch Đằng đi khỏi Quân Khu IV hắn xuống làm chánh ủy. Một ông chánh ủy quân khu chưa từng đánh giặc làm cản trở mọi kế hoạch quân sự, chỉ xúi giục nhân dân đấu tranh chính trị theo kiểu các mụ Hai Xót, Năm Đang và mụ Định… Hắn kên cái mặt thịt lên, cười liên hiệp:
- Ừ thôi chia thì chia mau đi, cắt ra làm sáu miếng bằng nhau nghe ? Hai Phón quơ cây súng sáu rồi thì không có phần vải dù.
- Nói vậy sao được anh Tư?Bộ anh Tư muốn lấy hai phần để đem tặng bà Năm Đang hả ?
Cả bọn cười hô hố. Tư Trường nói với giọng đặc sệt rau muống:
- Chị Năm cá lẹp thì chỉ xứng với Sáu Dân nhà mình thôi!
- Ừ phải, cái thân bồ tượng của anh Tư bả không đấu tranh nổi đâu.
Mười Niên gốc đánh xe ngựa ở Gò Vấp không biết phất vô khu ủy hồi nào, gạt ngang:
- Cha nào có kéo, cho mượn cắt chút coi.
- Kêu thằng Tám Lê lên bảo nó lấy dao kéo giải phẩu ra xài.
- Hổng được, nó thấy cây dù thì nó sẽ giựt lấy mình không phương giành lại.
- Vậy thì kêu Ba Xu cho mượn lưỡi cạo râu. Nó đánh hơi mắm trở của mụ Hai Xót sắp tới nên nó đang cạo gọt cái bộ mặt dính mủ cao su ở sau gốc khế kia kìa.
- Bậy nào, đồng chí Xót đã bị thằng Mắt Bù Lạch đóng nỏ, ủa đóng đồn lâu rồi. Nó là quân báo nguy hiểm lắm đừng có chấm mút của nó mà mang họa.
- Ba Xu có dì Ba con Là ở bên Bén Chùa nâng chuông sửa trống rồi? Đừng để nó nòi gương anh Ba nhà mình!
Xảy đâu cậu lính cần vụ chạy vào báo có hai đồng chí phụ nữ tới. Mười Niên nháy nháy:
- Thấy chưa ! Tôi nói linh như miễu mà !
Tư Trường quát:
- Cho hai đồng chí ấy oào!
Mọi người nghiêm sắc mặt trở lại. Tư Trường bảo:
- Các bố lui đi để mấy bả tới vô đây tôi tiếp!
Nghe nói hai bà khu ủy tới, hồn vía lên mây, tôi vội vàng lui xuống bếp, để tránh sự chạm trán bất tiện. Ông bác sĩ Tám Lê đang pha chế dược phẩm phục vụ hội nghị, thấy mặt tôi kêu lên:
- Ông Thiên Lôi ! Lại đây tôi cho nếm thử cái món máu chó… mực này.
Tôi với Tám Lê quen nhau từ nhiều năm trước, tôi bị thương vác cái thân tàn đến cho y chạy chữa đã mấy keo và tôi cũng đã hứa cho y cây dù phi công như đã hứa với Tư Chuyền trớt da me mấy lần rồi, lần này lại đi tuốt! Tôi nói ngay:
- Dù thì có…!
Tám Lê xua tay:
- Thôi được rồi. Lọt vô đó thì tao chịu thua !
- Đợi tôi bắn rơi vài chiếc khác.
Tám Lê lắc mạnh cái chai lít đựng máu đỏ ngầu, rót đưa cho tôi một tí trong ly bầu.
- Bệ hạ làm một ách, lên gà dữ lắm.
Tôi cầm lấy ly máu, kê vô lỗ mũi rồi lắc đầu:
- Tanh bỏ bà, tớ không quen uống máu!
- Mấy chả bảo phải tìm cho được mực tuyền để bào chế món này. Mày nghĩ coi, thời buổi này dân đâu còn mà kiếm chó dễ như xưa kia. Tôi phải cho đám đệ tử của tôi đi lùng khắp Bưng Còng mới được một con. Tưởng vận tải nó từ bên đó vượt sông Sài gòn qua đây dễ à? Suýt bị tụi giang thuyền lấy họng đó nghe. – Tám Lê rỉ tai tôi – Tớ cũng học sách treo đầu dê bán thịt chó chớ đâu có để máu mực tuyền cho mấy chả nhậu hết. Tớ cho mấy chả uống máu mèo mướp còn thứ thuốc trường sanh bất lão thì tớ để dành đây.
- Rủi thằng Ba Tiến nó biết rồi ông mang khốn!
- Tớ với nó chia nhau nữa. Nó trấn giữ cái trạm 66 của đền Rồng. ở đây, cũng có nhiều cung nữ dữ lắm. Hắn cần bồi lưỡng. Tớ nghe mày cũng đang tuyển chọn thứ phi vậy phải bồi…
Vừa đến đó thì ở trên nhà có tiếng reo mừng. Tôi lách mình lên xem. Tôi giật mình đánh thót. Không phải hai mà ba bà . Đúng kiểu Tam Cung của nhà Rồng. Cả ba bà tôi đều quen. Bà thì quen sơ sài không sâu… sắc lắm, bà thì sâu đậm quá mức ghi vội. .
Bà Hai Xót tôi mới đèo xe đạp hôm nào. Bà ta không chịu làm chị tôi mà lại bắt tôi làm anh. Bà Năm Đang thì không đòi tôi làm anh nhưng cũng có quan hệ đồng chí hồi tên Bọ Chét tới Củ Chi quay phim địa đạo chiến của các nàng dũng sĩ đất thép. Bà thứ ba ! Bỏ mạng sa tràng rồi ? Đó là nàng Út Tuất ở quận Tân Biên của Tây Ninh, người đã cùng tôi xây tổ uyên ương trong khói lửa vùng sông Bà Hảo. Tưởng không bao giờ tái ngộ, chẳng dè lại gặp ở đây? Tôi sực nhớ lại lời nàng thủ thỉ với tôi: “Em muốn có con với anh. Em sẽ về nhà nuôi con… Mấy ông khu ủy ông nào cũng mò em hết á !” Trời xui đất khiến sao mà nàng gặp tôi cùng một lúc với các ông khác. Vậy ra tụi già ghềnh này đều có bỏ ngón trên cây đàn muôn điệu kia, nhưng tất cả đều đến sau gã Thiên Lôi này. Tám Lê nói nhỏ:
- Ông biết tại sao tôi làm vậy không?
Tôi lắc. Tám Lê nói:
- Đó là duy vật liệu chứng pháp. Ăn ba cái thứ đó vô các chả đồng khởi mạnh. Mấy chả càng đồng khởi mạnh thì tôi càng… chạy kiếm chó, mệt ghê !
- Mệt gì?
- Cứ tháng nào cũng vài ba em sang khóc khóc mếu mếu: Chú Tám ơi! Chú nạo giúp em!
Tôi bật cười:
- Cha nội trở thành ông thầy nạo dưới địa đạo rồi hả?
Tôi không bao giờ sụp hầm chông nghe ông Thiên Lôi. Người ta đi có bài bản phòng trước ngừa sau, còn mấy chả cứ pháo bừa nên bị dính hoài nên thằng già này cong lưng nạo.
Thấy Ba Tiến ló đầu vào, tôi lãng sang đề tài khác:
- Tôi định lấy cây dù này giao cho ông phục vụ thương binh, nhưng mấy ổng sung công rồi.
- Bố khỉ! miệng nói tôn cán ái binh nhưng tay thì quơ hốt bỏ túi. Kỳ rồi có thương binh nặng không? Sao không thấy chở qua cho tôi?
- Nghe đồn ông đem xuống địa đạo mổ, thương binh són đái còn dám qua à?
- Tụi nó đồn bậy chớ bộ thương binh bằng nhái hay sao mà đem xuống địa được?
- Thằng Bọ Chét và mấy thằng giáo sư Liên Xô đòi qua coi cái phòng mổ của ông dưới đất cái đấy.
Tôi nói với Ba Tiến:
- Ê coi miếng nào gói một miếng cho tớ lận lưng đem về nhậu mừng chiến thắng nghe !
- Ở đây nhậu rượu Tây mà chê à?
- Tớ lợm lắm.
- Có chất nhép mà lợm nổi gì?
- Ai đó ?
- Nhà nữ phóng riên và hai ba nữ rũng sĩ Củ… chi chi..
- Sao mấy ả mò vô hang hùm được?
- Các nàng là con cưng của ông Thầy Tám vành đai thép cậu không biết à? Ổng đem mấy ả vô đây để giới thiệu cho các ổng tài bắn tỉa Mỹ của các dũng sĩ, và cái vành đai thép quanh Đồng Dù.
- À vậy hả? . . .
- Nhưng các ả còn ở ngoài trạm, không được vô trong nồi gọ này đâu. Chốc nữa khi tàn tiệc kìa mới có cuộc trình bày kỹ thuật tỉa, xạ địch trong đêm tối.
Ba Tiến dứt ngang câu chuyện:
- Để tôi đi lo dọn yến kẻo hoàng thượng kêu đòi chém đầu.
Hai ba chiến sĩ chạy lên chạy xuống chân không bén đất.
Mùi mỡ hành, nước cốt, nồng ngát gian nhà. Một chốc tôi và Ba Tố được mời vào hầm ngồi ở một chiếc bàn dài trên đó đã dọn sẵn những tô lớn dĩa bàn đầy vung bốc hơi nghi ngút .
Bữa tiệc làm cho tôi nhớ lại sự tiếp đãi thằng nhà báo Bọ Chét hồi năm ngoái cũng thịnh soạn như vầy. Chúng nó là một lũ đạo đức giả , từ thằng Hồ Chí Minh sát nhân đến thằng Lê Duẫn lưu manh, thằng Võ Nguyên Giáp loạn luân, thằng Phạm Văn Đồng ngủ với bà nấu bếp… không sót một thằng nào. Thế nhưng chúng vẫn là lãnh tụ tối cao đạo đức gương mẫu. Bây giờ trong cảnh chiến tranh lửa bỏng dầu sôi, lính không đủ gạo ăn, chúng lại xực mâm cao cổ đầy lãnh đạo nữ dũng sĩ giải phóng trong hầm đèn điện sáng choang như ở khách sạn Sài gòn.
Ba Xu đưa tay lấy chai rượu đưa cho Ba Tiến. Ba Tiến móc trong lưng cái khoan khui chiếc nút chai bật ra kêu đánh bốc. Tiếng cười cũng vang theo đưa đà:
- Rượu Mỹ hay rượu Tây đó, Tiến?
- Dạ rượu Tây.
- Ừ uống rượu Tây đánh Mỹ mới khoái.
Bốc! Bốc! Bốc!
- Có nặng không?
- Dạ sâm-banh không nặng lắm !
- Coi chừng lạt nhách uống không ghé .
Mười Niên không chú ý tới rượu, vừa gắp một cục thịt tổ chảng bỏ vô chén:
- Thôi làm mau đi kẻo B52 tới thành ma đói bây giờ.
Tư Trường hỏi tên trướng ban quân báo.
- Ê! Chín Lộc! Bữa nay chắc không có dưa hấu rụng chớ?
- Dạ , bảo đảm với anh Tư là không có quả nào.
- Nếu có ít nhất mình cũng hay trước vài ngày phải không?
- Dạ, thường thường là mình được tin trước 24 tiếng.
- Sao vừa rồi trên Bộ chỉ huy R không hay gì hết. Bị cú đó mình mất uy tín với ba thằng trí ngủ Sài gòn bộn.
- Dạ cũng có khi bạn mình không hay nên không cho mình biết.
Ba Xu vui vẻ:
- Sẵn thằng thầy pháo đây, để tôi bảo nó trình bày về cái chiến thuật rải thảm của B52 cho mình nghe. – Ba Xu xoay sang tôi – Vừa nhậu vừa nói chuyện công tác và kế hoạch sắp tới. Hễ ăn xong là xong luôn chớ ngồi la cà ở đây không bảo đảm an ninh. .
Mười Niên chọc.
- Bộ dì Ba con Là ốm nghén sao mà gấp vậy?
- Bắt đầu đi mày, Lôi. – Ba Đình quay sang mấy bà khu ủy – Mấy chị nghe để rút kinh nghiệm mà chạy ngang hay chạy dọc nghe.
- Tụi tôi níu áo mấy ông, các ông chạy đâu tụi tui chạy đó.
- Rủi tụi tui chạy vô hầm, các chị cũng dô theo sao?
Cả bàn tiệc cười rần. Máy bà mắc cỡ đập lia mấy lão ngồi bên cạnh. Sáu Dân bồi thêm:
- Khi cấp bách thì chui xuống địa cũng chui.
- Có chui lần nào chưa?
Ba Đình xua tay:
- Các ông các bà dân chánh chui xuống đó làm gì làm, chỗ binh lính thì tui cấm tuyệt đối không được chui xuống mấy cái hang chuột đó !
Mười Thơ thủ khẩu như bình từ đầu, bây giờ mới hé môi:
- Nói chung địa bây giờ không nên xài nữa. Vũ khí của Tây vừa ít vừa yếu nên ngày trước minh còn lợi dụng cái thế con chuột khoét đất đào hang mà sống chớ bây giờ thì không ăn tiền. Mười cái miệng địa đạo nó khui hết tám. Còn một cái thì ăn pháo, một cái ăn B52. .
Mười Niên nói:
- Tại ông to xác nên xuống đó khó trở xoay chớ tôi nhỏ con tôi thích lắm. .
- Ông có chui chưa mà thích?
- Hề hề . . . chưa ! Để mai mốt tôi rủ mấy chị chui chung cho vui.
Ba Đình bảo:
- Lôi mày trình bày vụ B52 đi, để mấy bà mấy ông nói tùm lum loãng vấn đề hết.
Tôi thấy mấy ông mấy bà đâu có chú ý cái gì hơn mấy dĩa thịt chó nên tôi chỉ nói qua loa:
- Dạ, theo tôi biết thì B52 bỏ bom không cần chỉ điểm. Bản đồ của nó kẻ Ô vuông một cây số bề cạnh. Nó cứ bay đến nơi rồi cắt bom. Nó hoạt động có điểm giống như pháo binh. Dạ, muốn hiểu cơ bản phải mất nhiều thì giờ lắm!
Mười Dân hỏi.
- Chừng bao lâu?
Đúng ra đối với các đầu bò như mấy lão đánh xe ngựa và phu cao su này thì phải cả tháng nhưng tôi cứ nói theo kiểu đếm gốc cao su và chạy ngựa cho dễ hiểu. Tôi rời ghế, móc bản đồ trong sắc-cốt đem gắn lên vách, rút bút chì chỉ những điểm chính Củ Chi, Quốc lộ, sông Sài gòn v.v.. rồi giải thích:
- Người ta thường cho B52 là đui, bỏ bom tầm bậy, nhưng sự thực nó không đui. B52 là loại máy bay chiến lược dùng để hủy diệt hàng loạt công sự vững chắc của đối phương như pháo đài Bunker, thành lũy kiên cố, chớ không nhắm đánh một vài cái lô cốt. Bom của nó nặng nhất là một tấn có sức xuyên cây 12 thước, phá 100 thước đường kính, nhẹ nhất 250 kí xuyên từ 6 đến 9 thước, phá 50 thước đường kính.
Ba Xu bật lên khỏi đít ghế:
- Đó thấy chưa mấy cha ! Giỏi chui xuống địa nữa đi !
Tôi tiếp:
- Còn nói về độ chính xác của nó thì không chê được. Đây là đường 15. và sông Sài gòn. Đây là vàm rạch ông Lỡ. – Tôi dừng bút chì và bảo – Mình đang ngồi ở chỗ này. Cây vú sữa nơi hai anh đánh cờ là ở đây. Chú Sáu ngồi câu ở đây. Cây khế, trạm gác hỏa tốc là những chỗ này. Bên kia là bến đò Đồng Sỏi. Đây là ngã tư Bò Cạp, bên cạnh là Nhà Mủ, vật chuẩn máy bay phản lực thường dùng để bỏ bom vùng này. Nhưng B52 không cần vật chuẩn như phản lực. Nó bỏ bom theo tọa độ. Đây, xin mời các anh xem bản đồ miền Nam, và bản đồ Củ Chi. Nó chia thành ô, mỗi ô là hai phân vuông . (Các ông các bà ngưng gắp thịt ngóng cổ nhìn) Đây là bản đồ tỷ lệ l/50.000:
Hai Phón hỏi. .
- Nghĩa là sao? Còn tọa độ là cái giống gì nữa? :
- Dạ cứ 2 li trong bản đồ là một cây số ở ngoài thực địa. Mỗi tọa độ của nó dài hai cây số, ngang một cây số, nghĩa là tấm thảm rộng hai cây số, ngang một cây số các chú lại đây mà xem thì rõ hơn. (Tôi khoan từng vòng) Loạt bom trước nhà là đúng trong hai ô này. Còn hai ô này bao gồm khu vực chợ An Nhơn dính với một khúc địa đạo Xóm Trại Bà Huệ gồm một vạt đất sát hầm anh Năm Lê. Vì nó đi theo tọa độ nên hầm của anh Năm Lê nằm bên ngoài chớ không phải nó đui đâu Còn đây là hai ô khác từ Hố Bò chạy thẳng qua nhà thờ Rạch Kiến rồi ngưng lại ở đó. Bom có thể rơi trên mặt đất trong vườn, ngoài ruộng hay dưới sông chớ không phải nó nhắm trật mục tiêu. Mục tiêu của -trận đánh đó là tiêu diệt toàn bộ cơ sở ta từ Bến Dược đến chợ An nhơn chớ không phải chỉ nhắm vào một điểm nào..Kết quả là nó cày nát đường 15 làm cả một vùng của chúng ta bị tê liệt. Đò không cặp bến, xe bò không còn chở gạo… chúng ta không còn đường đi và dân tản cư mất hết.
- Tại sao xóm Phú Trung này hú vía vậy?
- Dạ vì Phú Trung nằm ngoài tọa độ của nó .
Mười Thơ ít nói cũng mở miệng:
- Thằng nhỏ này nói y như nó ngồi trên máy bay.
- Dạ nhờ sử.dụng pháo mà tôi tìm hiểu chiến thuật của B52 thôi chú Mười ạ !
- Mình đi cày còn lõi, mà nó bỏ bom không sót chỗ nào.
- Dạ đó lại là chiến thuật khác của nó . Khi thì nó triển khai bề dọc, khi nó lại triển khai bề ngang. Tụi Mỹ rất linh động. Nó không xài một chiến thuật nào cố định. Đó là do nó rút kinh nghiệm ở trên R hoặc ở đây (các ông ‘bà nhảy dựng lên). Nếu khai triển bề dọc chiếc thứ nhất nó rải từ Hố Bò tới chợ An Nhơn thì ngưng, chiếc thứ hai bắt đầu từ chợ An Nhơn tới Láng Cát v.v… Còn nếu nó khai triển bề ngang thì nó rải từ Hố Bò vô C5, từ Hố Bò ra sông Sài gòn hoặc từ đường 15 nó rải vô đồng Trà Dơ, từ đường 15 ra Xóm Thuốc tức là ngay chỗ mình đang đứng đây.
Sáu Dân giật mình:
- Ý! miệng ăn thịt chó nhậu sâm-banh đừng nói bậy mày nhỏ !
Ba Xu cười phun cả rượu ra bàn, chùi mép bảo:
- Vậy để các ông hết hở hở cái là chui xuống địa an tàng. Mê tín địa đạo, tử ư đỉa đạo đó !
- Dạ một li trên bản đồ là 50 thước ngoài thực địa cho nên pháo binh bắn sai một ly trên bản đồ là ra nhà dân hoặc trường học là vậy đó. Nếu bản đồ mà bèo nhèo nhăn nhó đo đạc cũng sai. Có trường hợp phải dùng hệ số lượng giác lô-ga-rít để tìm các cạnh rồi mới dám bắn. Đó là cự ly tính trên mặt phẳng, đôi khi phải dùng hình học trong không gian. Tây gọi là géometrie plane géometrie dans l’espace!
Bất ngờ tôi nói mấy tiếng Pháp tôi xin lỗi. Ông đánh xe ngựa Mười Niên đang nốc sâm-banh nuốt vội bị sặc ho một giây và xua tay. . .
- Thôi thôi ! Đủ rồi, dẹp ba cái tiếng tây tiếng u đó đi. Bà cơn mình nâng ly, đừng có nghe nữa mà mất hết tinh thần.
Ba Xu có cơ hội trả lời về các cuộc nướng quân ở Đồng Xoài Bình Giả, nên hễ hả nói:
- Nghe như vậy, các ông biết cái khoa học quân sự của Mỹ để mỗi lần thua, các ông càu nhàu tại sao không vận dụng lý thuyết Mác Lê. Hồi Pháp tôi đánh cả trăm trận chưa trận nào như Đồng Xoài. Đúng là bom nó bỏ như mưa, vuốt mặt không kịp. Công tác chính trị bao nhiêu với chiến sĩ, bị một trận B52 tiêu hết.
Mười Niên luôn luôn là tay hoạt náo của bàn tiệc. Hết đâm người này lại thọc người kia. Y bảo Ba Xu:
- Ê dẹp ba cái chính trị một bữa, mình ngã mặn thì nhậu thịt chó mới ngon.
- Ông có một bụng đó cứ xổ ra đi !
- Tôi kể các cha nghe hết rồi.
- Bữa nay có các bà không tiện đâu.
- Chỉ kể một chuyện bác Tôn làm lính thủy đi vô các khu vực Các các-xồnMông-pạc-nách ở bên Tây thôi!
- Ê cái gì mà nghe mông với nách không vậy ta?
- Tôi cũng nghe lóm anh Ba Tô Ký kể lại chớ tôi đâu có được tới nhà tướng râu kẽm Thanh Sơn. Trời ! ở đó có cái câu lạc bộ bất mãn của dân Nam Kỳ nghe các cha. Sáu Giàu, Tô Ký, Tạo Nhót.
Mười Thơ hỏi.
- Tạo Nhót nào?
- Bộ trưởng mà không có chân trong Ban chấp hành đảng Lao Động đó! Các chả họp lại ăn bánh xèo, tha hồ xổ nho chửi xéo, chửi lén bác Hồ và Trung ương.
- Dám chửi à ?
- Trời! Công khai thì không dám chớ bí.mật thì sợ gì ai! Có lần bác Tôn tới gặp chả giò nhậu với đế ở Xuân Mai đem ra. Ông Ba Tô Ký nhậu sần sần rồi chắp tay trước mặt bác Tôn. Ai nấy tưởng ông sắp nói điều gì quan trọng có liên hệ tới ghế đẳng của dân Nam Kỳ trong chánh phủ và đảng nên vênh lỗ tai ra chờ chẳng ngờ ông nội nói ăn trét:
- Thưa bác Tôn. Cuộc đời cách mạng của bác khởi sự từ đi lính thủy ở Bắc Hải treo cờ búa liềm chào mừng cách mạng tháng mười ở Xế-bát-tô-rô-pôn phải không ạ?
Bác Tôn gật gù khoái chí:
- Đó cũng do chủ nghĩa mác Lê hướng dẫn chớ bác là dân cu-li có biết cái cuống của nó trở lên hay lộn xuống gì!
- Dạ xin bác vui lòng cho cháu biết bác có lên nước Nga không ạ !.
-Có chớ. Tôi đi Pháp, Hoà Lan, Nhật, Nga… quê hương của cách mạng tháng mười chỗ nào có bến cảng là tôi tới. Kỳ đó đâu hồi năm một ngàn chín trăm ho ho.:. mười bảy. Tàu về đậu ở Hắc Hải, nghe tin cách mạng tháng mười thất bại, bị Nga Hoàng đàn áp, tụi này đang nhậu bỗng nổi hứng xé cái xì-líp đỏ treo lên cột cờ tượng trưng cho cờ búa liềm phản đối Nga Hoàng.
- Xì líp đâu mà sẵn vậy bác?
- Mỗi lần lên bờ, khi trở xuống tàu thế nào cũng có một kỷ niệm của các em đem theo cho đỡ nhớ… đất liền ho ho…
- Hắc Hải chắc chắn là nước đen, xì-líp thì đỏ, còn lông con gái Nga màu gì bác?
Cả bàn tiệc cười rần rần như máy nổ. Bác Tôn cũng cười theo.
- Bác hổng có thấy… gì hết. .
- Chắc bác chỉ thấy cái gì xì-líp đỏ kỷ niệm thôi hả bác?
Cả bàn tiệc lại cười ầm ầm. Ông nội Tô ký chưa chịu thôi còn tiếp.:
- Nghe người ta nói con gái Nga hôi thịt trừu lắm, có hôn bác’?
Bác Tôn đáp trả liền.
Mười Nên chọc vào mồm Sáu Dân.
- Bác Tôn đáp liền à?
Cả bàn tiệc lại cười. Tư Trường nghiêm sắc mặt:
- Đừng có nói lái ác vậy nghe !
- Bác Tôn làm ậy, hay lắm chớ sao!
Ba Xu tiếp:
- Ông nội Tô Ký thiệt cả gan. Nhưng bác Tôn không quạu. Bác hỏi lại Tô Ký : “Chú vừa qua nghỉ mát bên đó thấy có mùi gì, chứ tôi không biết. Tại vì lúc đó tôi bị nghẹt mũi.”
Mọi người vui vẻ ăn nhậu và nói chuyện văng tê. Mười Thơ, Tư Trường là hai tên dốn bà cũng bập bẹ tiếng Nam Kỳ và cười hùn cột lựa. Ba Xu tiếp:
- Ông nội Tô Ký không ngóc đầu dậy được là vì cái tánh ngang ngược và ghét Bắc kỳ ra mặt của ổng. Ổng không như Đồng Văn Chuột dạ dạ vâng vâng. Ổng lên tướng trước ông Chuột nhưng rồi cứ một sao. Một lần tôi lên Bộ Tư lệnh sư 38 của êng. Nhằm ngày chủ nhật nên ổng đem vợ con ngoài Hà Nội vô. Thằng nhỏ chạy chơi ngoài sân trợt té, kêu: “Bố ơi ! bố, con ngã ! ” Ổng chỉ mặt bảo: “Mày nói lại: Tía ơi, con té, thì tao đỡ vậy còn Bố ơi, con ngã thì nằm đó ! ” Bà vợ ngồi gần cười: Anh sống giữa miền Bắc mà không chơi với Bắc kỳ thì chơi với ai? Ổng bảo: “Chỉ có Bắc kỳ cái là chơi được thôi bà ơi?”
Mười Thơ và Tư Trường không cười . (Tôi xin đánh dấu hỏi ở đây để trở lại nói về cái chết của Ba Xu sau này.)
Cuộc họp quân khu ủy mà tôi được dự chỉ có thế. Sau buổi tiệc không biết các ông còn bàn việc gì nữa ở đâu tôi không rõ . Ba Xu (với tư cách một người anh và là một chỉ huy của tôi, từ thời tôi làm mật mã cho Lê Đức Anh ở chiến khu 7) đi với tôi một quãng đường ra trạm gác. Anh than thở:
- Đánh với Mỹ khó lắm em à ! Anh đã qua hai chiến dịch rồi anh biết. Hồi xưa mình đánh Pháp bằng sự dốt nát và liều mạng mà thắng. Khoa học không dự phần vào đó bao nhiêu. Anh sang Trung quốc học mấy năm, nhưng cái của Trung Quốc dạy, mình không thể áp dụng vào đây… một chút nào. – Anh xua tay – không được một chút nào.
- Dạ .
- Ừ em cũng có sang bên tập huấn pháo binh phải không? Họ đâu có dạy mình tận tình. Chỉ cho mình xơi ba cái bầy nhầy thôi, còn thịt nạc họ cất trong tủ . Nhưng binh chủng pháo của em còn dùng đỡ được. Năm ba cây pháo tép bắn vài chục quả rồi vác chạy. Đó là phản khoa học ngành pháo binh. Nhưng anh ra lệnh cho em đánh dù biết trước kết quả thế nào rồi. Đánh cho vui lòng mấy ông nội này nè. Chớ không phải vì thời cơ tốt cho trận đánh. Em thấy trực thăng vận và pháo binh của Mỹ chưa? Vậy mà Trung Quốc dạy cho anh Trì Cửu Chiến, Thiên thời địa lợi nhân hòa là những điều xưa như trái đất rút từ du kích chiến tranh ở Diên An. Không một bài học nào đem dùng được ở miền Nam này. Nhất là Củ Chi: Kế hoạch của nó là bào láng Củ Chi để giữ sạch cửa ngõ vào Sài gòn. Mình lấy ai để mà nhân hòa? Hai hôm nay tụi Đồng Dù và Trung Hòa hầu như không bắn pháo. Chi vậy ? Để mình nghĩ rằng pháo chúng nó bị phá hủy hết rồi và lạc quan tếu. .
- Dạ Chín Lộc cho em biết Trung Hòa đã kéo ra bốn cây pháo. Vậy là hư…
- Thằng mắt toét đó có thấy gì. Mặc dù nó đi học Liên Xô nhưng mắt nó vẫn toét. Nó đâu có biết được những cục trùm kín mít là cái gì. Mỹ sẽ mở chiến dịch ngay sau đây. Theo tin anh nhận được thì cuộc càn lớn tên là Operation Crimp sẽ xảy ra vào cuối tháng tới nhưng vì bị pháo kích, nó sẽ làm ngay. Em về nhà mà chuẩn bị càng nhanh càng tốt chôn giấu các khẩu pháo thật kỹ.
Tôi liếc thấy anh như có điều gì không tiện nói. Anh đi với tôi thêm một quãng nữa rồi dừng lại bắt tay tôi, thở dài:
- Ở trên bảo nắm thắt lưng Mỹ mà đánh, nhưng chỉ cho bấy nhiêu thôi đó.
Tôi từ giã ông anh của tôi mà lòng bùi ngùi. Tôi biết anh đang ở vào cái thế trên đe dưới búa. Người ta đánh giặc bằng lập trường không phải bằng khoa học.
Tôi đã thấy điều đó ở trên Trường Sơn, ở R và giờ đây ở Củ Chi. Hai Giã, đại úy pháo binh chết vì một chuyện cỏn con. Thằng Chi chết vì đánh pháo 175 bằng pháo chuột. Biết bao giờ Trung ương mới hiểu được chiến trường Miền Nam và cái Củ Chi đất thép này? Trong những ngày tới các bạn sẽ mục kích cái chết của một đại tướng Việt Cộng bốn sao. Một cái chết lãng xẹt. Ai giết?
Tôi và Ba Tố đi song song bên nhau không đứa nào nói gì. Bỗng một tiếng kêu thất thanh chát chúa.
- Anh Hai ?
Tôi nhìn ra con Ua. Nó đang giằn co to tiếng với anh trạm trưởng vì anh không cho nó vô. Nó mừng quýnh chạy lại ôm lấy tôi
- Anh cũng đi họp trong này hả?
Ua bây giờ khác hẳn. Đầu quăn, áo mỏng, guốc cao gót.
- Nhìn gì dữ vậy, tía non?
Tôi vã miệng nó. Nó phân bua:
- Mấy anh này không cho em vào gặp chú Sáu Huỳnh.
- Không có Sáu Huỳnh ở trỏng. Chỉ có Chín Lộc thôi !
- Chín Lộc càng tốt? Tin khẩn cấp không trễ được !
- Tin gì dữ vậy?
- Em không thể nói với ai khác ngoài ông Lộc.
Gã trạm trưởng kêu tên gác trên ngọn cây bảo chạy vô cấp báo. Ua quay lại tôi:
- Bộ lạ lắm hả?
- Giống cao bồi gái quá? Con Chia đâu?
- Nó sắp có chồng.
- Vậy à? Mau hả?
- Tại ai không phải tại nó !
- Ngoại chết em có về không?
Ua òa khóc tức tưởi.
- Về gì được mà về. Tụi thằng Rắc bắn chớ ai. Nó khoe rùm ngoài Trung Hòa mà ! Đời em kể như tiêu. Anh không biết gì hết. Thôi anh đi đi, để người ta chờ. Nè, trung tá Mã Sanh Nhơn Tỉnh trường lên giá cái đầu anh 20,000 rồi nghe. Liệu mà lội cho hung.
Tôi cười:
- Vậy là cái đầu anh lên giá gấp đôi. Thằng Lệnh vừa treo giá mười ngàn bây giờ được hai chục.
Cô bé được lệnh vào, nên từ giã tôi:
- Anh về ở H6 chờ em. Có chuyện lạ, nói cho nghe.
Rồi nàng vọt xe đạp. Mùi dầu thơm phất lại sau quất vào mặt tôi. Tôi trở lại. Ba Tố hỏi:
- Có chuyện gì khẩn cấp không mà ông.tư lệnh phụ nhỉ thầy lâu và con nhỏ quân báo hớt hãi vậy thầy?
- Ôi thì cũng ba cái chuyện nắm thắt lưng Mỹ mà đánh của ông Sáu Vi chớ có gì !
Ba Tố bật cười, cái mặt thịt run run:
- Hố hố. . . há há .
Thằng Bọ Ngựa và thằng Đỏ cũng cười theo. Ba Tố nói:
- Chiến thuật đó hay thật thầy ạ. Nhưng chỉ có nữ du kích, nữ cán bộ quân báo như con nhỏ đầu quăn đó thi hành được thôi Hễ các cô thừa thắng xông lên thì nắm được thắt lưng của tụi Đồng Dù ngay. Nhưng vừa nắm được thì tụi nó tuột luôn chớ không để các cô nắm lâu. Bởi vậy các cô thích quá cứ tìm Mỹ mà nắm thắt lưng hoài. Mấy cô đang ở trong này cũng tìm ra đó để nắm. Nhiều cô nắm riết rồi khoái không chịu buông ra, còn một số cô khác thì mang bầu non bầu già về tặng cho giải phóng. Báo hại thầy nạo Tám Lê…
- Thôi cha nội! Ổng khai hết với tôi rồi! Bỏ cái vụ nắm níu đó đi. Vợ cán bộ đại đội của mình còn lén đi nắm. 500 đồng một ngày, không nắm cũng uổng ! Bây giờ mình ghé Tư Chuyền thăm thằng Đảnh luôn tiện nhậu miếng thịt chó này, rồi ông tắp vô bà Tám Khỏe còn tôi ghé thăm cô xã đội phó. . .
Hai đứa cười ngặt nghẹo với nhau. Bỗng từ trong gốc cây ven đường bước ra một người đàn bà tay xách giỏ đầu quấn khăn rằn, chận đầu tôi.
~ Anh Hai đi về hả ?
Tôi nhìn lại thì ra bà Út Tức. Tôi nháy Ba Tố. Ba Tố dắt hai thằng nhải đi trước.
- Sao không họp tiếp mà ra đây… a… em?
- Họp gì nổi mà họp! Mấy ông biểu em ở lại thảo kế hoạch đấu tranh chính trị của đạo quân đầu tóc.
Tôi gạt ngang.
- Đầu tóc đâu còn cái nào mà đấu tranh! Tụi Mỹ xài quân đầu tóc đánh đánh tại mình thì có.
Nàng càu nhàu:
- Anh đi đâu mất biệt không gởi một chữ cho em!
Tôi trách ngược lại:
- Còn em có gởi lá nào cho anh không?
Tội nghiệp nàng vô cùng. Tôi không có ý nghĩ mỉa mai bà khu ủy như trước kia nữa mà thương hại thật tình. Đeo đẳng làm chi ba cái lý tưởng này rồi lỡ thời con gái, nông dân không dám rớ còn cán bộ thì lại chê … chỉ có ba lão già dềnh là mó tới. Mà chỉ qua đường. Tôi hỏi lảng
- Khẩu K54 còn nằm trong giỏ trầu không?
- Cái nợ đời đó có lúc em muốn quăng xuống sông Bà Hảo cho rồi.
(Tôi nghĩ thầm: Đàn bà có mấy ai ? Nhưng cũng tại nó mà bà hỏng cuộc đời) Tôi hỏi:
- Tình hình trên quận Tân Biên lúc này ra sao? Chắc cơ sở của em vững lắm hả ? Bà má còn ở đó không? Em còn bắt con Tám ghi sổ hết? Lão Tư Ó ra Tây Ninh rồi hả?…
Tôi hỏi một hơi. Út khóc sụt sịt.
- Tụi xe bò trốn ra ấp chiến lược Mỏ Công hết rồi. Bà má với con Tám cũng dọn đi. Ở trên tan hoang hết rồi chợ Long Hoa đâu có còn nhóm nữa. Còn em thì thuyên chuyển đi vùng khác. Em biết anh ở đây mà không thể nào tới được . Em còn biết anh sắp cưới vợ nữa mà.
- Cưới ai?
- Ai thì anh biết, hỏi em làm gì. Nếu em có được đứa con với anh thì em đã về nhà lâu rồi.
- Bậy nào! Cách mạng sắp thành công. Đừng bỏ uổng!
Út cười miệng méo xệch, mắt đỏ chạch:
- Thành công gi! Khu ủy sắp chạy qua Bến Súc bỏ Củ Chi cho anh đó. Anh liệu mà làm anh hùng! Người ta bàn sẽ đưa anh ra chỉ huy bộ binh vì mấy ông Ba Châm, Năm Tiều già, chậm lụt không đánh được. Chỉ có ông Ba Xu là muốn gửi anh lại H6 thôi.
- Rồi sao?
Út lưỡng lự một giây rồi tiếp:
- Anh có người em thủy quân lục chiến đại úy phải không? Ông Chín Lộc báo cáo với khu ủy là anh cứng đầu không chịu móc. Cho nên tới nay vẫn không tìm ra mối.
(Tôi nghĩ ngay: Tình hình này họ đưa mình ra bộ binh là họ muốn muợn tay Mỹ giết mình)
Bao nhiêu lửa yêu đương tắt ngấm. Thình lình, thằng Đỏ chạy tới hớt hãi:
- Anh Hai, giang thuyền đổ bộ. Chạy mau đi!
Tôi giục nàng trở lại căn cứ, còn tôi quay về với Ba Tố. Ba Tố cười khè khè:
- Xin lỗi thầy . . . nhé . . . Tôi thấy thầy dính với bà già trầu, sợ thầy siết bù lon với bả mà không về kịp nhà cô xã đội phó chớ giang thuyền gì ! Há há . . .
 
[font="verdana; color: #ff0000"]Chương 62
[font="times new roman; color: #ff0000; font-size: medium"]Mại dô!!
Đây là Địa Đạo Củ Chi ba tầng đào bằng răng dũng sĩ

Bản tin quân báo:
Về sự vận chuyển của quân đội Mỹ và Sài gòn.
Một lực lượng cỡ ba Trung đoàn bộ binh Sài gòn từ Dĩ An qua Phú Lợi không rõ phiên hiệu. Trung đoàn 28 kinh binh Mỹ, Lữ đoàn 3 sư đoàn Anh Cả Đỏ từ Trảng Lớn Tây Ninh xuống Củ Chi, Tiểu đoàn 16 Sài gòn, Trung đoàn thiết kỵ 1 Sài gòn, Trung đoàn Hoàng gia Úc Đại Lợi từ Pleiku về đóng dọc sông Sài gòn phía Bình Dương. Sư đoàn Mỹ 25 ở Đồng 1 Dù được tăng cường thêm ba tiểu đoàn bộ binh hóa học đóng trại ở Ngã Ba Trùm Tri.
Tôi buông tờ giấy xuống áp tay đè trên ngực rồi ngủ thiếp đi từ lúc nào không hay. Đến chừng trở mình thì nghe có người nằm bên cạnh ấm ấm. Tôi đưa tay sờ đầu thì nghe mái tóc 1 chuyển tỏa mùi thơm.
- Anh Hai ngủ hả ? Em thấy anh làm việc mệt nên đem cà phê lên cho anh.
Đàn bà, đàn ông, nhưng cũng chính đàn bà là thuốc tiên trị bá chứng, ngay cả chứng tương tư thất tình. Tôi đang buồn vì mất thằng Chi, vì nỗi niềm của thằng anh đối với đứa em ở bên kia, thì Lan đến. Lâu nay nàng làm đủ mọi công tác H6. Phụ bếp, y tá, đi lấy tin… Nàng có dáng dấp của một gái ở chợ nên ra vào thành không khó lắm. Và nàng cũng xếp vào bảng danh sách của các cô muốn xin anh Hai tí con. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, anh Hai quên từ chối. Có ai từ chối được một lời trao tặng mà không thốt ra như vầy? Cái đất Bến Mương này quả thật là đa tình với con nhà pháo.
Chúng tôi thức dậy sớm để tránh những cặp mắt chớ không phải tránh những ý nghĩ. Vì lâu nay nhân viên trong cơ quan đã nghĩ “Sao tới nay vẫn chưa xảy ra?” Thì nay đã xảy ra. Có lạ gì! Tôi uống được nửa tách cà phê nguội, đi duyệt lại lần cuối cùng thành tích của thằng Chi thì thằng Đỏ nhào xuống phi báo: Du kích ngoài Ngã Ba Cây Điệp cho hay xe tăng Mỹ càn. Quả y như ông Ba Xu nhận định, nhưng tôi vẫn tỉnh bơ:
- Càn thì càn chớ làm sao nó qua suối Bà Cả Bảy được?
Nói vậy nhưng vẫn uống lẹ lẹ rồi bước lên miệng hầm hỏi thằng Đỏ:
- Có Sáu Đức ở ngoài đó không?
- Dạ có.
Bỗng trên đầu oang oang tiếng loa:
- Nghe đây Allô !
Tôi ngước mặt lên. Con đầm già bụng trắng toát liệng một vòng rồng từ Hố Bò xuống chợ An Nhơn rồi vòng qua Bến Lách trở lên Đồng Chà Dơ. Nó vừa loa vừa rải truyền đơn. Mới sáng mà nó đã làm cái kiểu này thì chắc có chụp to . Thằng Đỏ lượm được tờ giấy đưa cho tôi. Tôi vừa đưa lên mắt định đọc thì tiếng loa oang oang, rúng động cả gốc cây ngọn cỏ. Tiếng loa này tôi cũng đã từng nghe trên Trường Sơn nay lại bị nó xói màng tai ở đây, nghe rõ từng câu một
Thưa đồng bào An Nhơn, An Phú, Phú Mỹ Hưng, Nhuận Đức… Bọn Sư đoàn Q16 Hà Nội đã dẫn xác tới Củ Chi vài tuần nay. Chúng đã bỏ lại dọc đường trên 2/3 quân số ở Đắc Tô, Daksuk và suốt dãy Trường Sơn vì sốt rét và B52. Đám tàn quân này đang tìm cách lẫn lút trong thôn xóm của đồng bào, vùng các xã trên đây. Vừa rồi có trên hai mươi binh sĩ, bốn cán bộ trung đội và hai cán bộ đại đội của Q16 đã tìm về chánh nghĩa quốc gia. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh yêu cầu đồng bào, một là không chứa chấp chúng trong nhà hoặc ruộng vườn của đồng bào, hai là đồng bào hãy mau mau ra vùng quốc gia kiểm soát để xa lánh chúng trong một thời gian. Hỡi cán binh Việt Cộng! Các người chỉ có hai con đường, hoặc Tử Thần hoặc tìm Tự Do!. Hãy sớm về với chánh nghĩa quốc gia!
Tiếng loa dứt một chút thì tiếng đàn tranh nổi lên nghe mọc gai ốc cùng mình. Tiếng theo là một giọng ngâm nữ:
Vào đây thì ở lại đây
Bao giờ mộ mọc xanh cây thì về.

Chính tôi đã đọc hai câu này trên một mẫu giấy con gắn trên thân cây ven đường mòn Trường Sơn bên cạnh một mô đất có hai bàn chân thòi ra. Bây giờ nó đuổi theo tôi tới đây như một ám ảnh kinh hoàng. Tiếng loa như những loạt đạn bắn chụp xuống đầu. Giữa vùng bom đạn bời bời cỏ cây cháy rụi, đất đai còn nóng bỏng, nghe hai tiếng Tử Thần thật vô cùng khủng khiếp. Cả cơ quan từ nhân viên văn phòng, anh chị nuôi, y tế đều ngóng cổ nghe. Tôi quát:
- Đi làm nhiệm vụ ! Nghe gì, ba cái thứ nhảm đó.
Nhưng chính tôi cũng lắng nghe xem có quân ta ngồi chong ngóc trên đó kêu gọi các đồng chí ở dưới này không?
Ở Trường Sơn tôi đã từng nghe. Tiếng loa vừa dứt thì bỗng rầm rầm rầm. Đất run như sàn gạo. Một tiếng người la lên thất thanh.
- B52! B52!
Lụp bụp lụp bụp như phá o chuột nổ nguyên dây. Tôi quát:
- Ở đâu ngồi đó. Không ai ra ngoài hầm.
(Một cái lệnh rất vô thưởng vô phạt, nhưng ông chỉ huy còn biết ra lệnh gì, đối với B52 chỉ thum cổ lại chờ đợi, hoặc phình bụng hứng thôi. Trên R có lúc bày đặt thực tập phòng chống B52. Chống ? Rõ đồ ngu! Vậy mà bộ chỉ huy R cũng ráng chỉ thị. Riêng bọn đầu bò thì thằng nào cũng bắt lính đắp cho một cái hầm Đờ-cát.)
Lại rầm rầm rầm. Tôi lại quát. Nhưng không còn tiếng nhộn nhạo nữa. Không ai cần chỉ huy lúc này. Tôi hét to: .
- Nó bỏ ở đâu vậy Đỏ ? (Tôi hỏi vậy thôi chớ cũng dư biết.)
- Hố Bò !
Tôi thầm nghĩ. Q16 lãnh đủ rồi. Tụi lính vịt xiêm nhan nhãn tối ngày, nó không liệng cho vài trăm dưa cũng uổng.
Rầm rầm rầm! Kỳ này nghe gần quá. Ly tách trên bàn nhảy khua nghe leng keng. Tôi không còn nghe tiếng la, tiếng chân chạy nữa. Tất cả đều như chết hết. Nó chơi đúng bài bản cổ điển ba loạt, mỗi loạt cách nhau hai phút. Vậy là dứt. Tôi quát:
- Lên lo công chuyện đi ! Nó đánh Hố Bò . .
Tôi cố trầm tỉnh. Tôi là thằng đánh giặc khá nhiều. Mười lăm tuổi đã lén vác mìn đi đánh xe tăng. Nhưng với B52 và pháo Mỹ, thằng nhỏ không dám cà rởn. Tôi móc giấy thảo công văn xin ông Năm Lê xin người thay thế thằng Chi. Cầm bút mới biết tay mình run. Đâu phải cánh tay mà tim run đó chớ ! Tôi gọi Ba Tố nhưng Ba Tố đi kiểm tra tình hình. Thời may Sáu Đức trung đội phó trinh sát đến. Tôi nói:
- Hôm nay là ngày mở cửa mã cho thằng Chi, cậu lo dùm tôi việc ấy.
- Dạ… nhưng mà tình hình động quá thầy à. Làm sao đi ra ngã Ba Sòng cho được. Muốn mở cửa mã cho nó thì phải mua một cây mía lau, một cặp gà giò. Bây giờ biết tìm đâu ra mía và gà. À mà còn nhang đèn vàng bạc nữa. Nếu làm thì phải làm cho đủ lễ.
Tôi không biết Đức đúng hay tôi đúng. Nhưng trong lúc dưa rơi lụp bụp ở Hố Bò thì ở đây ai còn dám đi lêu bêu trên mặt đất. Sáu Đức tiếp:
- Nó chết mà được vậy là ấm cúng lắm rồi. Tháng trước anh Ba Đông đại đội trường chết ở ngoài quốc lộ I đâu có lấy được xác Chỉ tội nghiệp cho con Chanh thôi. Phải thằng Chi bị cụt giò như chồng Tám Mang, lên R an dưỡng cũng tốt.
Bỗng thằng Bọ Ngựa chạy về, mồm thở ra khói, nói cà lăm:
- Cậu cậu Hai! Mỹ vô Cây Điệp.
- Tới nhà Bảy Mô chưa?
- Dạ hổng biết? Du kích bắn báo động ba phát liền nhau chớ không phải ba phát rời, đó là có bộ binh và xe tăng.
Tám Lù ấp đội trưởng ở đâu lại nhào tới:
- Anh Hai ! Mỹ vô tới Cây Điệp rồi. Đông lắm.
Rồi Ba Tố chạy về hớt hãi:
- Mỹ vô Xóm Trại, thầy à ! Tôi đang ở đằng nhà Ba Xây điều đình mua mấy cái nắp hầm, bỗng thấy tụi Tiểu đoàn 7 chạy túa ra.
Bốp! Bốp!… Hai tiếng súng CKC nổ thật gần. Tôi quát cậu quản lý và cô Thu, chị nuôi.
- Mau giấu nồi niêu để nó tới phá tiêu hết, trở về không có đồ nấu cơm.
Bà con trong xóm chạy ra rần rần ngoài đường. Tôi nghe một người nói rõ:
- Mỹ đổ ở Sở Đất Thịt kéo vô tới xe nước mía rồi.
Tôi vọt ra đường, đụng Tám Đột công an xã .
- Mỹ có vô thật không anh Tám?
- Tôi không thấy nhưng nghe Ba Xây nói tụi nó đi êm rơ, súng cầm tay, không bắn phát nào. .
Tiếng trực thăng xành xạch trên đầu. Hai chiếc bay sát ngọn cây đảo vòng từ Ngã Ba Cây Điệp ra Bến Mương. Tụi này dắt và yểm trợ cho bộ binh. Thói thường hễ chúng đi đến đâu thì bộ binh theo đến đó . Tám Đột nép vào bụi chuối bên đường. Chờ trực thăng qua, y vọt luôn không cho tôi bám. Đó, nói nắm thắt lưng Mỹ, Mỹ tới, nắm đi ông Đại tướng bần cố.
Tôi trở vào hầm. Thằng Mười, thằng Đỏ liên lạc và cận vệ của tôi đã cởi quần dài và áo túm vào bọc ni lông, mặt mày xanh lét, nói không ra tiếng. Thằng Đỏ lôi tay tôi.
- Anh Hai! chạy đi! Em biết miệng… địa.
Tôi đang loay hoay thì bỗng có tiếng kêu lãnh lót:
- Anh Hai !
Tôi quay lại: thì ra cô xẩm lai ở chợ An Nhơn, một người em gái rất cảm tình ông thầy pháo. Hơn nữa cũng muốn có một đứa con với anh Hai! Khổ cho cái ông thầy pháo. Giờ này lại còn bị cô em gái níu kéo.
Cô bé đưa cho tôi một bọc nilông và xâu chìa khóa để mở cửa tiệm. Cô nàng vỗ vỗ cái bọc:
- Tiền ở trong này, có cần gì anh ra mở cửa tiệm cứ việc lấy đồ xài. Anh với em chắc hết gặp nhau rồi.
Nàng ôm hôn tôi mà òa lên. Cái cảnh chia ly còn hơn cả Đường Minh Hoàng biệt Chiêu Quân. Sông Sài gòn trở thành sông Hồ Hớn chăng?
Tôi nghe tê tái cả tâm thần nhưng lấy hết can đảm đẩy nàng ra:
- Em về đi để Mỹ tới !
Cô bé chạy vụt đi, vấp ngã đứng dậy chạy rồi biến mất. Tôi vừa nhét gói bạc và chìa khóa vào sắc cốt thì thằng Đỏ hồng hộc chạy tới:
- Em đã tọng hết bàn máy đánh chữ và tài liệu xuống hầm rồi. Đi anh Hai!
Cậu quản lý và cô Thu cũng giục tôi:
- Chạy mau anh Hai!
- Người ta nói nó ra tới quận đội rồi đó !
(Tức là cái hầm của Tám Giò dưới gốc tre tôi và Hai Kỳ tới nhậu mắm tôm hôm trước.)
Tôi đã nghe tiếng cây gãy rôm tốp ở trước nhà má Hai. Một tràng tiểu liên làm cho không khí càng nóng bức. Thằng Đỏ bảo:
- Anh quản và chị Thu dắt anh Hai chạy qua hầm gạo đi . Ở đấy có miệng ngách ăn vô địa đạo.
Cô Thu còn cố quơ mấy chiếc chiếu ném xuống hầm, để lát nữa trở về không có đồ ngủ. Tôi thực sự hoang mang và mất hết trầm tỉnh khi nghe tiếng Mỹ xù xì. Không biết cô xẩm của tôi đã về tới nhà chưa? Cậu quản lý run như thằn lằn đứt đuôi:
- Nó tới rồi ! Chạy, anh Hai ! Theo tôi !
Ông chỉ huy trướng H6 bây giờ bị cậu quản lý chỉ huy. Hắn bảo gì tôi nghe nấy. Đến nước này rồi chạy đi đâu được? Trực thăng bắn trước mặt sau lưng. Bộ binh rờ đụng. Tôi có bao giờ nghĩ rằng mình phải chui hang. Hễ bị chụp thì chạy, không chạy thì đánh trả chớ chui thì, than ôi, như ông Ba Xu dặn:
- Chỉ có thua, ít khi huề .
Tụi nó hành quân không bao giờ có qui luật. Ngã Ba Cây Điệp, Xóm Trại Bà Huệ, Ngã Ba An Nhàn, Bến Mương đều có giặc. Thì đành phải chịu. Chẳng lẽ điểm của nó là H6. Nếu không phải là H6 thì là Quận đội của ông Tám Giò. Hai cơ quan cách nhau không đầy hai cây số. Thằng Đỏ chạy lấy tin rồi không thấy về. Có lẽ bị chận. Chỉ còn cậu quản lý (chúng tôi kêu là cậu Quản) và Cô Thu theo bảo vệ tôi. Hai người dắt tôi ra hầm gạo rồi cậu Quản giở nấp hầm, la:
- Xuống mau anh Hai! Nó tới rồi.
Thu nhảy xuống trước, tới tôi rồi Quản xuống sau cùng. Tôi nghe một tiếng phập nghe rợn người. Tôi đâm ra ân hận. Tại sao mình tự tìm cái chết? Tại sao không nghe lời ông Tư Lệnh? Thấy tôi chần chờ không chịu đi theo Thu mà muốn trồi ngược lên, Quản đuổi tới và thầm thì:
- Không lên được đâu anh. Phải luồn vô mau.
Tôi lần theo Thu. Bỗng Thu quay lại hỏi Quản:
- Mình đi theo ngánh nào?
- Rẽ sang trái!
Tôi bò được chừng năm thước thì cùng đường. Tối đặc. Mồ hôi ướt đẫm áo. Tôi bắt đầu thấy ngột ngạt. Đây là lần đầu tiên tôi nếm mùi địa đạo thực sự, nghĩa là có giặc trên đầu chớ không phải xuống địa đạo, đào địa đạo và giỡn với các cô dũng sĩ như trước kia. Thu kêu lên.
- Bít đường rồi anh!
- Mò tìm tảng đá chắn! – Quản bảo -Đụng chưa?
- Có rồi. Tấm đá tròn phải không?
- Đúng rồi đó ! Móc lên, để qua một bên. Anh Hai, đưa cái sắc cốt cho nó bỏ xuống rồi mình đu người xuống sau.
Cô Thu nói:
- Ghê quá anh à !
- Ghê thì lùi lại đây, tao xuống ! – Quản nạt.
- Em nghe lạnh quá hà .
- Người ta nực muốn chết mày lại lạnh. .
Cô Thu thòng chân rồi bám vào vách đất tụt xuống dần . Cô rên rĩ:
- Anh Chi ơi ! Anh về phù hộ anh Hai mình nghe anh Chi !
Tôi nghe lạnh buốt tiên gan vì câu van vái của Thu. Tôi tiếp theo sau Thu, chui xuống như cá bị bỏ lọt qua hom giỏ. Cậu quản lý chui sau cùng và rướn người lên nhấc tấm đá đậy miệng hầm lại. Phập Tôi quay lại hỏi:
- Bộ mình xuống tầng hai rồi hả?
- Dạ, đây là tầng hai. .
Tôi nghe trong người bức rức khó chịu như ngặt mình sắp chết. Mồ hôi ra như tắm, tai nghe e e, tay chân lọng cọng còn hai mắt thì cố trợn lên muốn nổ tròng mà không thấy gì hết
- Cái gì xì xào trước mặt vậy?
- Dạ người ta.
Tôi nổi nóng ngang:
- Bỏ dạ đi! Dạ cái con mẹ gì… Người ta nào?
Quản líu ríu.
- Dạ người ta… xuống địa đạo… Người ta… trong xóm.
- Có cái vụ đó nữa sao?
- Dạ đây là đường Thống Nhất của xã . Xã đội họ hướng dẫn dân ẩn trú dưới này. Cái ngách của mình ăn thông ra đây.. Tụi em đào hồi năm ngoái với anh Hai Giả !
Quản nói một hơi. Một tiếng kêu vang dội lòng hầm:
- Dồn mau vô. Nó bơm hóa học xuống rồi. Ngộp quá. Chắc chết hết mấy người ơi!
Một tiếng người bảo.
- Đậy nắp tầng hai kỹ lại !
Tôi ngồi tựa lưng vào vách hầm. Tôi có cảm giác như con gà nằm trong giỏ ở chợ Đồng Xuân, cứ ngẩng cổ lên là đụng nấp giỏ. Quả thật tôi quơ tay là đụng nóc hầm. Nó ở ngay trên chỏm tóc mình, cách chừng một sải tay. Tôi đã từng đào với các em. Tôi còn lạ gì. Lòng hầm chỉ cao chín tấc. Thế mà tôi và Tư Linh đã đẩy cây thoa mỡ bò với thằng Bọ Chét: Chúng ta đi dạo quanh địa đạo suất ngày, mà nó cũng tin. Nhân loại ngây thơ cũng dễ tin hắn như hắn đã tin chúng tôi vậy. Bây giờ thì Trời trả báo. Cho mi giỏi đi dạo, nghe Lôi!
Bỗng nghe có tiếng con nít khóc ri rỉ và tiếng kêu ngộp vang vang. Bộ mấy người này chưa từng xuống đây sao? Một lũ bị chôn sống. Chắc ai cũng ân hận. Chính mình tự chôn mình. Muốn lên cũng không được. Nhiều người réo Tám Đột mà chửi. Tôi chợt nghe thèm điếu thuốc. Tôi mò túi quần lấy thuốc nhưng hộp quẹt xẹt hoài không cháy. Thu hỏi tôi:
- Anh xẹt hộp quẹt làm gì?
- Hút thuốc.
Quản kêu lên:
- Bộ anh muốn chết ngộp hay sao? Dưới hầm đâu có đủ dưỡng khí mà lửa cháy được!
À, tôi sực nhớ. Lần nọ tôi xuống địa đạo với cô xã đội Là . Tôi cũng bật lửa để xem xét trong hầm nhưng không cháy. Tôi quờ vào vách hầm, đụng mấy thân tre láng láng. Tôi hỏi :
-Thu à, ai trồng tre trúc gì dưới hầm vậy?
- Ở đâu?
Tôi quờ tìm tay Thu, cầm lấy và ấn vào những thân tre trên vách hầm. Thu nói: .
- Đó là tre chắn miệng thí chớ ai trồng tre dưới hầm!
Trời ! Sao tôi ngu vậy. Tâm trí tôi cũng đen như đáy hầm này rồi sao? Cô xã đội Là đã giải thích cho tôi và chính tôi cũng đã tham gia đào miệng thí với các cô rồi mà nay không nhớ. Ở phía sau có tiếng người giục:
- Ai ở phía trước bò vô cho người lết tới, ở ngoài này hửi hóa học gần chết rồi.
Thu bò vô nhưng dội lại. Tôi hỏi:
- Sao không vô?
- Ở đàng trước không chịu nhúc nhích.
- Sao kỳ vậy?
Có tiếng đàn ông ồm ồm phía sau:
- Bộ muốn người ta hỏi hóa học chết hết hả?
Tôi ôm chặt cái sắc cốt và đẩy lưng Thu:
- Em xô họ tới đi.
- Xô gì được Họ ngồi chắn ngang bít chịt.
- Em chen đại qua.
- Chen sao được mà chen?
- Tại sao?
- Thì cái hang có bơ lớn, chen ngả nào?
Tôi hét:
- Ai ở đằng trước chui mau tới. Ở đằng sau họ đạp tống vô lưng người ta đây!
Vừa nói tôi xô Thu. Nhưng Thu kêu lên:
- Em rờ đụng cái giò của ông nào lông lá không, ớn quá trời.
Một tiếng đàn ông đáp lại:
- Đàn bà chửa ở trước, không bò được các cha ơi!
Một tiếng khác:
- Đem thứ trống chầu đó xuống đây làm chi hở trời!
- Vậy để trên đó chết cháy hả?
- Xuống đây thì phải ráng mà chui chớ chắn ngang vậy người mới xuống làm sao vô?
- Vẹt qua cho người ta bò tới.
- Vẹt rồi đó, bò đi.
- Bò đại đi!
- Chết tôi trời ơi !
- Cái gì vậy má nó?
- Ai ép chắc chết quá !
Huỳnh huỵch, huỳnh huỵch xen lẫn các mẫu đối thoại bình thường tới đối thoại nho chùm.
- ép lọt con người ta rồi hết nghe.
- Trời ơi, đàn bà có chửa mà ông. Tám Đột lùa xuống đây làm chi?
- Thôi biểu bả nằm xuống cho người ta bò qua.
- Đè lọt con người ta sao?
- Thằng nào ngu quá , vợ có chửa mà lại nhét xuống đây ?
- Đù bà thằng nào nói đó. Chốc nữa lên tao đập nát óc.
Tôi phát cáu cũng xổ nho luôn:
- Thôi các cha ! Cãi lộn Mỹ nghe nó xoi thấy mẹ !
- Thằng nào giỏi thì lên đánh Mỹ đi, sao chui vô 1… đàn bà.
Tôi thấy nhột và nhục vì câu nói vô tình, nhưng không đủ sức để quát tháo nữa. Vã lại trong sự hỗn độn này có ai nghe ai? Tôi úp mặt vào lòng Thu. Trời, con nhỏ ác thiệt, nó xức dầu Hồng Lạc, mùi dầu pha với mùi đất ướt, mùi người, mùi quần áo và các thứ mùi uế tạp khác, làm tôi muốn mửa. Tôi nghe cơm cá cà phê sắp trào lên họng rồi. Tôi cố nuốt gặm. Tôi nghiêng mặt chúi mũi vào thành đất. Đất cũng tanh nhưng dễ chịu hơn. Người đàn bà chửa di động được một quãng. Thu bò theo. Tôi lết tới. Quản tiếp sau. Một tiếng reo phấn khởi sau lưng tôi.
- Cái lỗ thông rồi! Bò vô bà con!
Tôi bỗng nghe mùi thum thủm quái gỡ, giống như thây ma sình. Bộ có ai chết? Tôi thầm nghĩ “Dám lắm’ Tụi nó bơm hóa học xuống rồi. ” Tôi ân hận tràn lòng. Sao mình chui xuống cái cửa tử này? Xoay trở phía nào cũng không được . Chẳng khác nào con chuột trong chiếc xà-vi tre. Lui không được còn tới thì chật như nêm. Tung nắp lên ư? Mỹ đang trên đầu. Chui xuống? Ngã nào? Tầng thứ ba luồn qua đít Đồng Dù, nghe Bob Hope hát?
Tôi quờ tìm cái gì không biết nữa. Ờ, tìm ánh sáng. ánh sáng đâu giữa lòng đất. Nếu là hầm bí mật thì dễ chịu hơn vì có một mình, nhiều lắm là hai đứa. Còn ở đây không biết bao nhiêu người. Tôi cảm thấy họ hít hết không khí trong hầm . Ngực tôi nghe nhức như bị ép. Thu và Quản thở nghe phòm phòm như trâu bị cắt cổ.
Tay tôi quờ đụng vật gì trên vách hầm rả rợt. À… rễ cây mục. Vì mình móc hết đất, nó không còn đất để ăn, nên chết và thối ra. Chao ôi! Cái gì chết cũng thối và mùi thối khó chịu vô cùng. Cứ mỗi lần hít thở như bưng cái lỗ mũi. Tôi đưa tay bịt mũi, nhưng bịt mũi càng khó chịu. Cuối cùng vẫn phải hít cái mùi bất hủ đó. Tôi hỏi .
- Mình lên tầng một được không?
- Không đâu anh ạ ! – Quản đáp – Nó bơm hóa học xuống rồi.
- Ở dưới này ngộp chắc chết.
- Nó đang đánh hầm nữa!
- Sao cậu biết?
- Em nghe tiếng bung bung tự nãy giờ mấy lần.
Tôi lắng nghe. Bùng! Bùng! Đất rung rinh. Lồng ngực dội. Quản có kinh nghiệm chui địa, nói:
- Nó đánh bằng chất nổ như mình đánh bộc phá. Anh nghe tiếng nổ không?
Lúc nhỏ tôi thường chui vô những vực hẩm để bắt cá trê. Nghe bùng bùng thì biết là trống nhà làng đánh. Bây giờ tiếng vang này cũng y như vậy.
Tôi nghe lạnh buốt, răng đánh bò cạp kềm không lại. Thì ra nãy giờ mình toàn lê lết dưới bùn sền sệt, nhiều chỗ nước đọng ngập lên đến khỏi mắt cá. Ông cụ non đã biến mất không còn là gánh nặng đá đeo của bà Hồ Xuân Hương nữa. Thu cũng có kinh nghiệm ở hang, bảo tôi:
- Anh ngồi chồm hổm mà lê tới như vịt đi đừng ngồi bẹp. Nhích tới đi anh. Ôm lưng em nề cho ấm. Ôm đi, em nghe anh run lặp cặp rồi kìa.
Tôi làm theo lệnh cô bé như máy. Không thấy gì hết ngoài cái đầu của Thu mà tôi nhìn bằng cái mũi của tôi chớ không phải bằng mắt, Nhờ tóc quẹt vào mũi tôi nhột nhột. Có lẽ những người trám bít phía trước đã nhích lên nên Thu lết hơi nhanh. Tôi cố theo, tôi đến đâu Quản đến đó và còn xô tôi tới nữa .
- Anh mệt không?
- Không ?
Thu mò sột soạt trong túi thuốc mà Lan đi vắng giao cho. Tôi nghe đánh rắc một tiếng như màn tai tôi bị vỡ. Một tiếng ho dưới địa đạo vang to như tiếng bom nổ. Tôi không biết là tiếng gì thì mũi ngửi thấy mùi dầu nhãn.
- Anh đưa bàn tay đây… Ngửa ra… Rồi đó, đưa lên mũi cho khỏe.
- Tay bùn không.
Thu im lặng một lát.
- Nè anh hửi cái khăn. Em vừa xịt dầu vô đó.
Tôi nghe lời, áp chiếc khăn vào mặt. Cái khăn có mùi dầu nhãn. Tôi hít hai ba cái thấy cũng dễ chịu.
Xê xít như vậy mấy thế kỷ không rõ, thì Thu la lên.
- Tới đường xuống rồi anh!
- Xuống đâu?
- Tầng hai.
- Vậy nãy giờ mình bò ở tầng mấy?
- Em nghĩ là tầng hai, nhưng té ra không phải. Mới tầng một thôi. Ở trên chỉ là cái ngách.
Tôi phát cáu:
- Thôi, thôi tao không có xuống nữa !
- Ở trên này nó bơm hóa học mình chết đó anh. Nàng đính chánh lia về sự nhầm lẫn của mình – Hồi nãy mình mới xuống cái ngách giở tấm đá chui xuống em tưởng là tầng hai, ai dè không phải.
Tôi suy nghĩ và chần chờ. Xuống hay không xuống? Đã đến mức này rồi. Lên không được thì chỉ có nước xuống thôi.
Tôi có cảm giác là mắt tôi đã mù. Tôi thử móc chiếc mù soa trắng trong túi đưa lên trước mặt. Không thấy gì hết. Vậy mà lâu nay mình cũng tự lừa mình (để yên tâm) là địa đạo rộng như ường cái, đi xổng lưng, địa đạo chiến oai hùng. Cả tiểu đoàn chạy rần rần từ ấp này sang ấp khác, từ xã này sang xã khác, để bọc hậu đánh lại địch. Đây là tôi chui mình không. Nếu có cây súng ngắn thì còn vất vả nữa. Hồi đi học trường làng, trong giờ thể thao, thầy giáo thường cho tập cái môn đi theo kiểu vịt nghĩa là ngồi chồm hổm, tay khuỳnh chống hai bên hông rồi vừa đi vừa la cạp cạp như vịt. Môn này tuy khó mà vui. Có đứa thừa lúc thầy ngó lơ chỗ khác thì đứng xổng dậy chạy một khúc rồi ngồi xuống đi theo vịt tiếp. Nhưng than ôi, bây giờ xí quách đã khô trên Trường Sơn, về đây chạy long tóc gáy cả năm trời thì cái trò đi theo kiểu vịt đâu còn vui vẻ nữa. Ngoài ra, lòng hầm hẹp đâu có huỳnh tay ra được, và phải lết trên bùn, con vịt Dương Đình Lôi này chỉ muốn nhảy vô nồi nước sôi chết phức cho đỡ ngặt mình.
Nếu hai cây thịt vĩ đại Ba Tố và Tôn Sứt xuống đây chắc sẽ biến thành cái nút nhét chặt mà bọn này sẽ làm lũ cào cào chết dưới đáy chai. tôi đành phải nghe lời cô quân sư mà tụt xuống tầng hai. Ở dưới này cũng nghe tiếng người la í ới, con nít khóc càng to, những câu đối thoại đầy nho hộp nho chùm xổ ra tứ tung.
Tôi cảm thấy lạnh hơn và ngột ngạt hơn. Thằng nào đào địa đạo không đào lỗ hơi. Có thể nó có xoi lỗ ở tầng một nhưng ở tầng hai nó lại quên, hoặc có xoi mà nhỏ không đủ cho không khí tràn vào hầm, hoặc có lỗ hơi lớn mà đất sụp bít đi, hoặc nữa vì sợ rắn chun xuống người ta nhét lại và khi xuống hầm lính quýnh không ai giỡ nút ra. Nhưng bất cứ như thế nào, dầu cái lỗ thông hơi có bằng ống khói tàu thì không khí cũng không đủ cho những buồng phổi sắp cháy có thể tươi trở lại được Tệ hơn nữa là tầng hai không rộng rãi như tầng một. Khi đào tầng một phải chừa cái gáy hầm ít nhất là 9 tấc để xe tăng chạy qua không sập, 9 tấc kế đó là lòng tầng một, phải bỏ 6 tấc cho gáy hầm rồi tối 8 tấc cho lòng tầng hai. Như vậy từ mặt đất xuống đáy hầm tầng hai là : 9 + 9 + 6 + 8 = 32 tấc, là 3 thước 20. Kéo một ki đất nặng 30 kí lô từ một độ sâu 3 thước 20 thì phải đổ bao nhiêu mồ hôi? Do đó mà nhân công không đủ để đào tầng hai rộng bằng tầng một. Bạn thử làm một con toán xem thì rõ sức nào đào nổi. Và chỉ tính trong hoàn cảnh bình thường không có bom pháo và biệt kích. Bỗng Quản kêu lên:
- Anh Hai ơi ! Lạc rồi !
- Tại sao?
- Lúc nãy đáng lẽ mình quẹo phải mình lại quẹo trái. Nếu quẹo phải thì sẽ đụng vào ngách độc lập của H6 do anh Hai Giả, Ba Thanh và thằng Đỏ đào hồi trước. Ba người đào mất nửa tháng mà có 15 thước thôi. Nhưng chỉ đủ cho năm người ở một ngày. Hồi nãy mình quẹo trái là ra đường Thống Nhứt của xã , cho nên người ta mới đông, trẻ con đàn bà chửa tùm lum như thế này.
- Bây giờ mình trở lại ngách mình được không?
- Dân ở phía sau dồn tới rồi chật nức, mình đâu có lùi được?
Nhân dân mà xuống ào ào thì miệng hầm Mỹ sẽ thấy ngay không cần phải dùng chó đánh hơi. Hai Giả chết cũng vì loại hầm quốc tế này (nghĩa là loại hầm dùng cho các loại cán bộ khách. Người đào hầm đó không bao giờ xài. Có khác gì chôn sống họ )
- Vậy mình sẽ bò tới đâu?
- Tôi cũng không biết.
Xuống tầng hai này không còn ngồi chồm hổm đi kiểu vịt cũng không ngồi bẹp mà lết được nữa. Phải cụp cổ xuống hai đầu gối để đầu khỏi đụng nóc hầm. Thu bắt đầu cau có với ông thủ trưởng của nó:
- Anh Hai đừng nói chuyện nữa, để dành hơi thở.
Tôi không hiểu cái khoa học gì kỳ vậy nhưng vẫn nghe lời mà ngậm miệng. Tôi có cảm giác đã chết một nửa người nhưng Thu cứ giục:
- Rán tới anh.
Tôi cố lê theo, chẳng hiểu tới là tới đâu nữa. Tội nghiệp tôi chẳng bao giờ chú ý tới cô bé . Tôi đi nhỡn nhơ với ai đâu đâu còn cây nhà lá vườn thì để hoang lạnh. Bây giờ tôi mới thấy cần một người em gái tận tình hơn là một người yêu. Các cô chưa chắc còn yêu mình khi mình lâm nạn như vầy.
Thu đang đi tiên phong dọn đường còn cậu quản lý thì chặn hậu bảo vệ tôi. Tôi đi cách mỗi người chừng một thước tây nhưng tôi sợ lạc mất, nên cứ chốc chốc lại rên rỉ:
- Hai em còn đó không?
- Em không có bỏ anh đâu mà !
Thu bao giờ cũng đáp lời tôi trước Quản. Còn Quản không nói gì chỉ xô vào lưng tôi. Tôi biết đó là cậu ta chớ không ai khác, bởi vì hầm chật không ai chen qua được. Có bao giờ ai đóng thêm một cái nêm vào răng cối?
Bây giờ hầm lại trở nên chật hơn. Rễ cây thấm nước trận mưa vừa rồi từ trên nóc hầm nhỏ xuống ngay lưng, ngay xoáy ngọ, mỗi giọt như một mũi kim châm buốt tận óc. Thu quay lại bảo:
- Không lết được nữa anh ạ !
- Tại sao vậy?
- Đường bóp lại nhỏ xíu vì một rễ cây nằm ngang. Phải nằm xuống trườn mới lọt.
- Trời đất !
Tôi kêu than nhưng vẫn phải nghe lời vì đầu tôi đã cụp xuống giữ hai đầu gối mà không qua lọt khúc nghẽn. Quản lằm bằm:
- Đéo bà thằng chó đẻ nào đào cái địa này. Đường Thống Nhất cái củ c… !
Tôi nằm sấp và quơ đụng hai gót chân Thu ngay trước mũi tôi. Tôi bảo:
- Anh bò hết nổi rồi em!
- Anh nắm cườm chân em để em bò tới.
Pùng? Pùng! Pùng ? Tiếng động vang âm trong lòng hầm, dội vào lồng ngực muốn vỡ ra. Chúng nó vẫn tiếp tục đánh, moi và bơm chất hóa học. Tôi nghĩ. Chui xuống đây là bị động hoàn toàn. Tôi vô cùng ân hận. Không bao giờ chơi với địa nữa. Hồi ở Hà Nội tôi có xem cái phim của Ba Lan, du kích thủ đô Vác-sô-vi đánh với Phát-xít Đức cùng đường phải chui xuống cống thành phố rồi lạc đường không biết phải theo đường nào để trở lên mặt đất. Nhưng hệ thống cống rất dài và lòng cống to đi xổng lưng vác súng vẫn rộng thênh thang. Ước gì mình được đi trong lòng cống Vạc-sô-vi để đánh Mỹ.
Bỗng Thu reo lên:
- Được rồi anh Hai !
- Được gì?
- Em đụng nắp lên tầng một.
- Mở mau cho anh chun lên.
Thu đội nắp hầm đứng lên. Tôi ngỡ một luồng sinh khí sẽ tràn xuống đầu tôi làm cho những tế bào sấp chết trong người tôi được hồi phục. Nhưng không ! Không có gì hết. Thu đã đặt chiếc nắp qua một bên nghe phịch một tiếng, nhưng tôi vẫn thấy ngột ngạt như trước mà mắt tôi vẫn mù . Tôi quát.
- Tại sao kỳ vậy Thu?
- Sao anh?
- Tầng một cũng như tầng hai.
Và người ngợm, tiếng chí chóe vẫn rầm rầm như ở tầng hai. Có lẽ dân bị Mỹ đuổi nỗi nên Tám Đột lùa đại xuống hầm một mà không tìm ra cửa xuống tầng hai nên họ luồn vào đây mà không có sự hướng dẫn nào hết, mạnh ai nấy nấy la nấy chửi loạn cả lên như một giỏ gà chật cứng. Quản nhanh trí bảo:
- Chúng tôi phải lên để chiến đấu. Các ông các bà, ai muốn xuống tầng hai thì chui qua lỗ này.
Hàng chục người làm theo lời chỉ dẫn ác ôn của Quản. Nhờ vậy có nhiều không khí cho chúng tôi hơn. Tôi hỏi:
- Đường còn dài không?
- Em đâu có rành. Họ đào, đâu có cho mình phối hợp. Cho nên mình chỉ đào khúc của mình thôi. Họ cho ăn thông ra nhưng không cho mình rõ sơ đồ.
Ở tầng một có cái đỡ là nghe rõ tiếng cánh quạt trực thăng và tiếng mìn nổ , tiếng bom dội xa gần và ngửi được mùi thuốc TNT, do đó cảm thấy mình còn sống. Bây giờ mồ hôi không tuôn ra nữa. Còn đâu mà tuôn. Toàn thân nghe như biến thành một que củi khô đang hơ khói trên giàn bếp như ở nhà mà má tôi vẫn thường làm mỗi khi mưa dầm vào tiết tháng năm. Mặc dầu không biết đi đâu và sẽ tới đâu, nhưng Thu cứ giục tôi bò tới. Lòng hầm tầng một có rộng hơn nhưng tôi chẳng thấy khỏe lại, bởi vì bao nhiêu sức khỏe đã phí ở tầng hai rồi. Tôi nghe những cảm giác của tôi đều mờ nhạt, nghe tiếng nói lao xao mà không hiểu nghĩa gì, tay chân tê dại và mắt hoàn toàn không nhìn thấy gì. Tôi đang sống trong trạng thái của một người sắp chết.
- Anh Hai! Anh Hai!
- Ư… ư…
- Anh có khỏe không? ?
Tôi nghe Thu nắm tay lôi tôi và Quản nắm chân đẩy tôi như điều động một chiếc xe bò chở nặng mà không có bánh hay đúng hơn, như một tấm trạt kéo mạ trên ruộng lầy. Chốc chốc tôi nghe tấm trạt ấy dừng lại và chiếc khăn có mùi dầu nhãn áp trên mũi tôi.
Tôi mơ màng thấy Ba tôi đứng ở giữa quán con Chia khi tôi vừa tới. Ông nói có mấy tiếng, rồi nghẹn ngào.
- Con đó hả ?
Tôi thấy con Ua chở Ba tôi khuất dần trên con đường mòn ven Đồng Mã và tiếng văng vẳng của Ba: “Má mày muốn có cháu để bồng!”
Tôi chợt nghe Con Chia sắp đám cưới. Không biết chồng nó là ai? Ngoại đã chết rồi, nếu còn sống, chắc Ngoại cũng không vui lòng. Trời! Tại sao mình tối dạ vậy? Một chuyện nhỏ mà cũng không giải quyết được. Có gì đâu, kỳ đó mình cứ làm lễ tuyên hôn rồi cho cô nàng theo Ba về nhà. Ba sẽ bảo má : “Con vợ thằng Lôi đây nè . Tôi vô trong khu tôi cưới cho nó đó. Như vậy còn hơn thằng Hùng Cối, má nó cưới vợ đem lên cho nó thì sao?”
Có lẽ minh sợ con Ua buồn chăng? Chắc nó sẽ hờn giận ghê gớm nếu mình làm đám cưới với con Chia. Không đúng như vậy đâu. Mình đang nghĩ tới Thu Hà , cặp mắt đẫm lệ sau gốc bằng lăng cứ theo dõi mình hoài.
Tôi mơ hồ nghe tiếng bùn sền sệt khua ột ột theo mỗi bước nhích tới của Quản và Thu. Mắt tôi nhắm hay mở tôi cũng không biết. Những vòm tròn trắng mờ nhạt lao xao tan vỡ trước mặt tôi. Đó là linh hồn sắp lìa khỏi xác. Nó còn bám vía lại như một tơ vương, sợi tơ mong manh mà bất cứ một cử động nhẹ nào cũng làm đứt đi.
Vĩnh biệt niềm vui! Vĩnh biệt tình yêu!
Vĩnh biệt mọi người yêu dấu. Tôi không bao giờ còn có thể trở về dòng sông Tân Bửu của tuổi thơ để gặp lại Duyên nữa . Dòng sông lấp loáng trong dầu tôi như một dãy ánh trăng với chiếc xuồng hai đứa đang bơi lên. Chơi vơi, chơi với….
Không! không phải dòng sông Tân Bửu mà là sông Sài gòn. Sông Sài gòn có giang thuyền, có Bến Dược nơi tôi đứng xem tàu cặp bến. Tôi bị cô xã đội phó nhốt trong vòng. Ồ con sông rộng mênh mông, mênh mông tan loãng ra trong trí tôi Một trái, một loạt M79 bay như những trái vú sữa nhà Tám Phụng hôm nào rơi mà không nổ. Bảy Mô ơi hầm của đội em đã xong chưa? Má vô lần này sẽ không gặp ai . Lan đâu rồi, hãy băng vết thương cho anh. Anh bị một mảnh đạn trúng sau ót, ồ mảnh đạn của thằng Chi. Anh gục xuống rồi. Anh bị thương khắp người. Anh bị cụt chân như thằng Hoa, anh của con Nga, nên Tám Mang chê không làm đám cưới. Anh trở thành thương binh chống hai cây nạng đi khập khểnh trên R. Ông Sáu Nam quát: “Sao mày bỏ con Thanh Tuyền để nó khóc sưng cả mắt?”
Ông Cục trưởng ơi! Ba Lê đẹp lắm nhưng tôi phải về vì trên đời này tôi còn có Củ Chi, Củ Chi là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, nơi tôi sống và chết nơi này. Kìa cái hòm của thằng Chi bỗng nhiên bật nắp văng tung hai khúc chuối cây. Nó ngồi dậy. Năm Tiều đè nó xuống. Con Chanh chạy lại gào lên. Năm Tiều bảo: “Mày có thương thì chui vô với nó.” Trời! cây xoài múc cao quá, ngộp quá. Ngực tôi như có đá đè . Ừ cái tấm đá tròn nắp địa tầng hai, con Thu nó ném trên ngực tôi. Tôi muốn la lên muốn vùng dậy mà không nổi. Ai bóp cổ tôi, ai ngồi trên ngực tôi? Con quỉ! con quỉ!
Tôi vùng lên. Tôi phá tan cái địa đạo. Tôi bắn thằng Mỹ đang lui cui moi nắp hầm. Ha ha ha… con phóng viên lại tới.mở sắc cốt lấy ra một trái tim máu đỏ ròng ròng. Ô ! miếng thịt chó của Ba Tiến. Ồ! nàng Út! cho em xin một đứa con! Em sẽ bỏ cái chức khu ủy này. Mấy bà Hai Xót Năm Đang còn họp suốt đêm ở đó với mấy lão già dềnh. Sông Sàigòn trắng xóa vỡ ra thành biển…
 
[font="verdana; color: #ff0000"]Chương 63
[font="times new roman; color: #ff0000; font-size: medium"]Cái chết của ông Tư Lịnh Pháo Binh Quân Khu
Tôi nghe có người ôm lấy tôi dựng tôi ngồi dậy.
- Anh Hai ! Anh khỏe không. Ráng chút nữa, tới rồi.
Mùi dầu nhãn đã nhạt. Chỉ còn mùi tanh của đất và bùn. Ba Tiến đưa tôi cái gói cầm tay. Miếng sườn chó y tặng cho tôi mừng chiến thắng. Thịt mèo xui mà thịt chó cũng xui. Bỗng thấy một vầng ánh sáng trước mặt. Tôi nhắm tít mắt lại trong một cảm giác sợ hãi và kêu lên như sau một trận đá ve chai.
- Cái gì vậy Thu?
- Hổng biết, để em trườn tới coi.
Thu vụt bò nhanh tới trước rồi bỗng kêu lên thất thanh.
- Chết rồi anh Hai ơi !
- Mỹ khui bật nắp hả?
Tiếng chết trong không khí này làm tôi bừng tỉnh cơn ác mộng.
- Không. Đây không phải là miệng địa mà là cà nông!
- Cà nông gì? Sao nó nổ mà mình không nghe?
- Đây là trái cà nông nổ ngay xương sống địa.
- Rồi làm sao?
- Mình vọt lẹ rồi chui qua phía bên kia.
Hèn gì nãy giờ tôi nghe tiếng trực thăng khá to. Đó là do cái quãng trống này. Cũng nhờ cái khúc đứt, không khí tràn xuống mà tôi tỉnh lại. Địa đạo như con rắn bị chém đứt ngang lưng. Thu bảo:
- Mấy người đi trước mình chắc đã chui qua đây rồi lủi qua tuốt bển.
- Thôi mình lên luôn đi. Tao không còn muốn đi đường Thống Nhất nữa !
- Không được. Em nghe mùi Mỹ khắp ở đây anh ạ . Mình phải chui thôi.
- Cái sóng địa bị lộ ra như vầy, nó biết hướng nó phăng theo hoặc đánh hóa học mình cũng chết. Thà lên mặt đất chạy mà còn hi vọng sống hơn.
Quản không nói gì, cứ đẩy tôi vào lỗ . Tôi nghe lạnh xương sống, tưởng tượng mình là rắn mối, bò qua khúc đứt, thằng Mỹ đứng sẵn đó, giương lưỡi lê ra đâm phập vô lưng. Cái hố cà nông sao mà mênh mông, tôi lóc mãi mà chưa qua được.
Ánh nắng, mùi khét, tiếng trực thăng tràn xuống địa đạo. Tôi trườn tới. Khúc địa này rộng rãi và khô ráo hơn. Nếu thằng Đỏ không chạy lạc thì giờ này mình nằm yên trong ngách của mình chớ đâu phải cuốn theo nhân dân. Càng đông nhân dân càng dễ lộ, dễ chết. Còn dân thì không thích cán bộ lẫn lộn vì nếu bị khui hầm sẽ liên lụy. Cá với nước không còn yêu nhau nữa. . .
Tôi bị Thu l6i và Quản đẩy băng qua lỗ cà nông và lại chuồi vào lòng địa. Nhưng Thu lại bảo:
- Tầng một bị cắt như vầy mình phải trở xuống tầng hai anh ạ .
Nghe Thu nói tôi rã rời chân tay. Phía sau tôi mấy người khác cũng băng theo. Tôi nghe mơ màng họ bàn tán với nhau và hiểu rằng họ sợ Mỹ thấy cái quãng đứt này và chúng đang đào xới. Quả thật tôi nghe có tiếng sực sực. Tôi cố sức lết theo Thu. Thu đi tiên phong được một quãng thì tìm được miệng xuống tầng hai. Cũng một tấm đá xanh như lúc nãy.
Tôi thọc hai chân tuột xuống. Thân mình tôi rơi xuống lòng hầm như một khúc gỗ . Tiếp tục cuộc hành quân bò trườn. Nơi nào không có ánh sáng vào, thầy thuốc phải tới. Ở đây không có ánh sáng nhưng thầy thuốc nào? Dầu nhãn đã hết mùi. Và có lẽ nó không làm cho tôi khỏe lại nổi. Mắt tôi đã thấy như vòng trắng đục nở ra và tan như bọt xà phòng.
Tôi đưa cái sắc-cốt cho Quản như trối:
- Hai em cất kỹ . Kế hoạch tác chiến và tiền của người ta vừa cho anh. Khi nào về làm liên hoan cho anh em. Nhớ đem giấy tờ đưa cho anh Năm Lê.
- Em biết mà .
- Anh đừng lo. Ráng tới chút nữa ! Chắc đường này dài lắm.
- Chừng bao xa thì mút? Có nắp trổ lên không?
- Chừng… chút… nữa thôi. Chắc đến ba, bốn trăm thước thì có đường lên.
Tôi không còn nghe gì nữa hết. Tôi nằm vật ngửa ra, tai nghe Quản bảo Thu:
- Cô ở đây với ảnh, để tôi dò đường coi sao.
Tôi nghe Quản bò qua mình tôi, cả tiếng khua lạch bạch của quần áo đẫm bùn. Chiếc sắc-cốt kéo lê trên ngực trên mặt tôi. Tôi gắng gượng hỏi.
- Bây giờ mấy giờ rồi Thu? Em đi đi để anh nằm tại đây !
- Chắc đúng trưa.
Rồi tôi mơ hồ nghe tiếng của Thu:
- Mấy ông mấy bà cứ bò qua, ảnh bò hết nổi rồi nên nằm đó. Đừng có quì trên ngực ảnh.
Tôi nghe những cái đáy quần nặng trĩu bùn đất phớt qua mặt tôi, những cái đầu gối ấn lên chân, lên bụng, lên ngực, nghe cả một câu nói ác mồm ác miệng như lúc tôi sốt rét ở Trường Sơn, liên lạc đến võng giá mùng lên xem mặt rồi bảo:
- Thằng cha này chắc chết!
- Cứ tết qua đi má sấp nhỏ. Thằng cha này hết thở còn nằm cản đường.
- Lẹ đi, bò theo tía mày!
Tôi nghe Thu kê đầu tôi lên bắp vế nàng. Nghe mùi dầu nhãn thoang thoảng. Nghe giọt dầu lẫn bùn sệt rơi vào nhân trung lẫn môi mũi tôi. Nghe tiếng kêu, bàn tay nắm tóc tôi lắc lắc và tiếng the thé:
- Anh Hai ơi! anh Hai! Anh sao vậy? Anh đừng chết! Anh ở đây thì em cũng ở đây với anh!
Tôi nghe tiếng cả má tôi, giọng nói của ba tôi vọng lại từ lòng đất âm u!
- Má mày muốn có cháu bồng…
Trái tim tôi bị đè nặng và ngưng đập…
Hỡi nhân loại ngây thơ đui mù và ngu muội!
Ta đã bảo mi biết bao nhiêu lần rằng cái địa đạo Củ Chi Xóm liền xóm, thôn liền thôn, xã liền xã là một trò bịp tại sao mi vẫn cứ đâm đầu vào xem và để cho bọn nó móc túi? Đây, ta xin nói lại một lần nữa. Hồn ta sẽ bay đi đập cửa từng nhà, nói vào lỗ tai từng người rằng địa đạo Củ Chi chỉ là những hang chuột. Từ năm 65 trở đi, khi loạt bom B52 rắc xuống đường 15 thì nó mất tác dụng dần và đến năm 67 thì chẳng còn ai mong sự che chở của địa nữa, có chăng nó dùng làm mồ chôn tập thể cho nhân dân Củ Chi.
Đây, hồn ma của Dương Đình Lôi, Tư lệnh pháo binh Quân khu IV, Tiểu đoàn trường Tiểu đoàn Thép Củ Chi, Quận đội trường Củ Chi, Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn Quyết Thắng Quân khu IV, người đã lăn lộn với Củ Chi năm năm liền không vắng mặt một ngày nào kể từ 1965 đến 1970, vẽ lại bản đồ của địa đạo Củ Chi để trình cho nhân loại ngây thơ một lần nữa: Bắt đầu từ Rừng Cả Chúc trở xuống:
  • Ở rừng Lộc Thuận có hai đoạn ngắn không thông nhau, hình chữ L cộng chung chừng 1000 thước.
  • Ở Xóm Dược, gần căn cứ Hậu cần nằm lọt giữa chữ U của sông Sài gòn chưa được 1000 thước.
  • Ở tả ngạn rạch Thai Thai, cách bờ sông Sài gòn 2 cây số có một đoạn chừng 1000 thước.
  • Ở cách rạch Hố Bò non một cây số (nơi mệnh danh là mật khu) có một đoạn 1000 thước.
  • Ở đồn điền cao su Phú Hòa gần xóm Sa Nhỏ (tôi có đào) có một đoạn 1000 thước.
  • Ở hữu ngạn rạch Hố Bò, giữa căn cứ của tiểu đoàn Quyết Thắng và nhà cô Là có một đoạn hơn 1000 thước.
  • Ở Xóm Thuốc (căn cứ khu ủy) nơi tôi vừa họp với khu ủy có một đoạn chừng 2000 thước.
  • Ở quá Xóm Chùa có một đoạn ngang đường 15 có một đoạn chừng 1500 thước.
  • Ở rừng làng An Nhơn (tôi đã tham gia đào với đội du kích Bảy Mô) có một đoạn 1000 thước.
  • Ở xóm Trại Bà Huệ (tôi cũng có tham gia đào với đội du kích Bảy Mô) có một đoạn 1000 thước.
  • Ở gần căn cứ Tiểu đoàn 8 vùng Sa Nhỏ có một đoạn ngắn đào rồi bỏ dở 700 thước.
  • Ở rạch Bến Mương gần căn cứ H6 (nơi tôi đang thọ nạn) có một đoạn chừng 500 thước.
  • Ở gần nhà Bảy Mô (tôi có cho lính và tôi đích thân đào) có một đoạn chừng 1000 thước.
  • Ở gần Ngã Ba Cây Điệp (tôi cũng cho lính tôi đào tiếp) có một đoạn chừng 1000 thước.
  • Ở Bàu Lách (nơi Năm Cội chết hụt, tôi có đào với đám du kích Phương, Nề, Lan) 1000 thước.
Vài ba chỗ khác đào rồi bỏ vì bất lợi hoặc đụng mồ mả. Cộng với những địa đạo thời chống Pháp đem được cả trâu bò xuống v.v. . . Tất cả tới 200 miles tức là một đường dài bằng năm lần Vũng Tàu – Sài gòn?
Hỡi nhân loại văn minh cực điểm, hãy dùng máy điện toán làm dùm bài toán cộng của học trò mẫu giáo!
Những hang chuột gần đồn Trung Hòa nhất (cách bốn cây số) là địa đạo Gò Nổi. Địa đạo gần Đồng Dù nhất (ba cây số) là Bào Cạp, nhưng cả hai đều bị xe tăng ủi láng rừng năm . 1966 và mở rộng phạm vi kiểm soát gài mìn nên du kích không dám bén mảng tới nữa.
Ở ven đường 2 Làng có một đoạn chừng một ngàn thước, một đoạn khác nằm kẹp giữa hai bót Hương Chính chỉ đào không kịp dùng rồi bỏ luôn vì sợ xe tăng ủi.
Đi quá về hướng Bến Đình gần Một Nước Nhỉ có một đoạn cắt ngang đường 15 nhưng cũng không ai dám dùng, nên không rõ là dài hay ngắn.
Đó là tất cả hệ thống địa đạo Củ Chi thôn liền thôn xã liền xã của đài Giải phóng được đài Hà Nội tô thêm thành ra một cái chiến lũy Maginot của Việt Cộng ăn xuyên cả căn cứ Đồng Dù. Một điểm cần nhớ là không có đoạn nào dài được hai cây số và không có đoạn nào thông thương với đoạn nào. Tôi đã từng đi kiểm tra, được du kích xã đội đưa đến tận nơi để xem xét.
(Khi gặp bước đường cùng vô kế khả thi, thì cũng đành vô kỹ luật mà nhét lính của mình vô bụng địa vậy, như hôm nay).
Tôi đã nói ở trước rằng ông Tư lịnh Ba Đình (tức là Ba Xu) đã nghiêm cấm lực lượng võ trang (tức là bộ đội và du kích) không được chui xuống địa đạo từ sau trận B52. Do đó người ta ngoảnh mặt dần với địa đạo: không đào cái mới đã đành cũng không chăm sóc cái cũ cho nên mới có tình trạng toàn dân là trong bùn như vừa thấy. Ngoài ra lại còn những đường hầm tốt, nhưng lại có ông bà du kích theo gia đình ra ấp chiến lược, nên không ai dám dùng. Đã có trường hợp quân ta ra đầu quân nó rồi dắt quân nó trở về khui hầm quân ta rồi. Ê chề, phức tạp và hãi hùng lắm bà con ơi. Chỉ có ba thằng nhà báo bất lương mới mô tả địa đạo như những phòng có máy điều hòa không khí thôi!
o O o
Tôi từ từ mở mắt ra sau một chuyến công du âm phủ. Ánh sáng lờ mờ. Mùi đất tanh rình. Tôi nghe da mặt nóng hổi, nghe tiếng người lao xao: Và nghe toàn thân rêm rẫm như một trái chín bầm rập, tứ chi không còn dính vào người. Nếu ai lôi mạnh chắc chúng sẽ rã ra từng mảnh. Mũi tôi nghe mùi gì hăng hắc là lạ. Một giọng con gái vang bên tai tôi.
- Anh Hai !
Tôi mở mắt ra to hơn. Tôi nhận ra Thu chập chờn như một ảo ảnh. Môi tôi mấp máy nhưng không ra tiếng. Tuy vậy cũng ráng sức:
- Thằng Đỏ chạy đi đâu chưa về?
- Còn… thằng Bọ…
- Cũng đâu mất biệt!
- Mỹ rút, nhưng còn cụm quân đâu đó chớ chưa về Đồng Dù .
- Khỏe chưa anh Hai?
Tôi lại nhận ra tiếng Thu. Tôi nhướng mắt thay cho cái gật đầu. Tôi thấy Tám Đột ngậm điếu thuốc trên môi, tôi le lưỡi ra dấu. Tám Đột rút điếu thuốc cắm vài môi tôi. Tôi mấp máy rồi phun ra. Tám Đột cười ngất:
- Đòi cáp tăng hả thầy?
Tôi lại nhướng mắt. Quản sực nhớ, nói ngay:
- Để tôi ra tiệm con xẩm lai lấy.
Nói xong móc chùm chìa khóa run run trước mặt tôi rồi lùi ra. Thu đỡ tôi ngồi dậy. Một ly sữa trắng được đem tới. Thu cầm đưa vào miệng tôi. Tôi khẽ hớp, nuốt tới đâu nghe ấm tới đó. Tôi khỏe dần. Nhưng tôi vừa ngồi dậy thì lại ngã xuống.
- Khoan đã ông thầy. Thầy biết đây là đâu không?
Tôi lắc. Tám Dột bảo:
- Còn ở dưới hầm. Mỹ rút hết rồi. Tôi cho gỡ nắp hầm để bà con bò lên và thầy có không khí thở. Nếu nó chốt trên đầu chắc tụi mình chết hết. Thôi, đi lên, thầy!
Tôi cố bò theo Tám Dột ra cửa hầm. Tám Dột đã lên trước chờ tôi đưa tay. Y nắm tay rồi lôi tuột tôi lên như bắt một con nhái từ trong hang ra. Tôi nằm dài. Không biết đây là đâu. . Mặc kệ, miễn ở trên mặt đất. Tôi thấy cây cối quay như vụ.. Tôi nhắm mắt lại để bớt chóng mặt. Tôi thấy như tôi ôm lấy gốc cây. Gốc cây cũng xoay vần như sắp đổ. Tôi ngã vật theo. . Không! tôi đang nằm trên mặt đất cũng xoay tròn.
Tôi nghe nắng rát da mặt. Không biết bao lâu thì ngồi dậy rồi đi được. Những người quanh tôi: Thu, Quản, Tám Dột …kẻ mang đồ người dắt tay tôi, rí rố luôn mồm. Như một người bịnh dậy tôi cố lê chân, đầu nặng chịt. Tôi đi giữa những bụi tre trúc khét lẹt, nám đen. Căn cứ của quân đội hình như bị ăn bom hay cà nông, tan tành. Không biết đường sinh lộ Tám Dò có ăn thông ra địa đạo hay không? Bảy Phán, cô nấu bếp chạy ngã nào? Biết bao tan vỡ sau một trận ruồng.
Một chiếc trực thăng loại chỉ huy bất thần xuất hiện từ phía Bến Mương đâm tới, đây không phải là lần thứ nhất. Thu ấn tôi vào một bụi chuối cháy xém ! Bất thần tôi hôn nàng và thầm thì :
- Không có em chắc anh chết.
- Em sợ anh chết quá trời. Em tưởng anh chết rồi.
- Anh chết bao lâu hả Thu?
- Hồi rồi ở tầng hai anh nói như trối.
- Anh trối thật chớ như gì !
- Anh chết thì em cũng chết theo.
Tôi lại hôn nàng thay lời đền ơn cứu mạng.
Quần áo muối bùn. Bùn từ đầu đến chân, mặt mũi, như bắt cá dưới đìa mới lên. Đường sá vắng hoe. Nếu gặp người quen chắc ông Tư lịnh Pháo binh mắc cỡ chết. Chiếc trực thăng liếc sơ một vòng rồi biến mất về phía đường 15. Thu lại nắm tay tôi như mẹ dắt con đi chợ. Qua một giấc mơ kinh khủng, tôi bước chập chờn như đi trên sóng đại dương. Tôi hãy còn say sóng y như khi bước lên bãi cát Sầm Sơn lúc tàu Liên Xô đưa tôi ra miền Bắc mười năm trước. Tôi gượng đi theo nàng lòng dạ nôn nao, cổ họng lợm tanh, bụng cồn cào, tôi phải nuốt gặn để tránh một cơn nôn. Đây lại cũng là một loại La nausée quyển sách của cô xẩm lai bán nước đá cho tôi mượn hồi năm ngoái ở chợ An Nhơn?
Qua ngang nhà vợ chồng Út tôi hỏi Thu:
- Lúc mình chui hầm em có thấy vợ chồng nó chạy đâu không?
- Em đâu có gặp. Chắc chỉ tránh né đâu đó còn ảnh đi qua Thanh An gặt lúa. Anh hỏi chi vậy?
Tôi biết bụng cô nàng, nên gạt ngang:
- Nó có chồng con, em đừng nghi oan cho nó .
- Nghi oan gì !
Tôi bị chọc trúng tim đen nên im luôn. Quả tình nàng Út cũng có ý xin tôi một tí con. Nàng than thở với tôi: “Chồng em khờ quá hà ! Em không muốn có một người chồng như vậy! “Củi tre dễ nấu… em ơi!” Tôi dọa mách cho chồng nàng, nàng có hơi sợ nên né ngang “Em nói với má em rồi! Má vô đây để kêu con Mót về gả cho anh.” Tôi đâu có để ý gì và cũng không biết cô Mót ra sao nữa. Thu bảo:
- Má Hai đang ở trong nhà đó. Bả từ ngoài ấp chiến lược về thăm con, không biết đã trở ra chưa? Vùng này người ta ra ra vô vô . Em chắc cơ quan mình bị lộ .
Về đến nhà , tôi mừng quá . Tưởng đã ngủ Giấc Ngủ Mười Năm của Trần Lực. Nhà cửa hầm hố còn y nguyên không bị đánh phá chút nào. Mỹ chỉ moi hầm, khi nào chúng tìm được miệng hầm thì mới đặt mìn hoặc bơm chất hóa học đến kỳ cùng, chớ không chơi trò đốt nhà và bắn ẩu như tụi Pháp hồi trước. Trong thời kỳ kháng chiến, mỗi lần Pháp ruồng, bà con xóm ấp chạy trốn, đến khi về, nhà cửa ra tro. Có xóm chúng đốt rụi không còn nhà nào hết. Chúng thi hành chánh sách tiêu thổ dùm cho cụ Hồ. Bất thần thằng Đỏ ló đầu ra cửa hầm, kêu lên chát chúa rồi vọt lên ôm lấy tôi rồi khóc òa.
- Anh Hai ! Em lo cho anh Hai quá trời !
Đám nhân viên của tôi mặt mày còn thất sát hồn kinh cũng ùa tới mừng thủ trường chết đi sống lại. Thằng Đỏ nhìn bộ đồ và mặt mũi bắt hôi đìa của tôi chắc nó cũng hiểu. Có lẽ nó ân hận vì đã bỏ thủ trưởng chạy lạc. Nó quệt nước mắt:
- Anh về ăn đồ hộp, em lượm nhiều quá tay.
Tôi bước từng bậc đất xuống hầm, nằm vật ra chiếu ai trải sẵn. Cái mùi đất tanh nồng ở địa đạo trở lại mũi làm cho tôi nôn thốc nôn tháo cả ly sữa. Đám thằng Mười thằng Lộc trinh sát và Năm Di (vừa về thay cho Chi) rí rố điếc tai. Chúng khoe sự khôn ngoan tránh né hoặc về kinh nghiệm chui địa đạo của mình. .Thằng Mười nói:
- Sao anh để quần áo y nguyên vậy mà xuống địa đạo?
Tôi gắng gượng đáp:
-Vậy ở truồng à?
- Xuống địa đạo thì phải như tụi em như vầy nề chớ mặc quần áo chịu sao nổi? Đàn bà ở trần được họ cũng cởi. Ở dưới không có đủ hơi cho mình thở anh mặc như vầy không khác nào bịt mũi của anh. Anh hổng chết là may lắm!
Đó là một kinh nghiệm bất ngờ về việc xuống địa đạo mà bây giờ tôi mới hiểu ra bằng khoa học: ở dưới hầm không đủ dưỡng khí nên bật hộp quẹt không cháy và ở trần thì da mới thở được! Do đó lúc đầu mồ hôi tôi vã ra rồi sau đó thân thể khô ran như bị sấy. Quản sừng sộ:
- Tụi bây bỏ anh Hai mà chạy, vậy là phải kiểm thảo ghi lý lịch nghe chưa. Đừng có nói láp đáp để chạy tội.
Thằng Đỏ nghênh mặt:
- Em đã biết tội rồi… Nhưng tại Mỹ nó đổ chặng giữa. Em đang chạy lấy tin rồi trở về không được. Nhưng em đã chỉ đường đi nước bước hết rồi. Chỉ cũng biết cái miệng ngách của mình, chớ bộ mình em sao?
Tôi gạt phắc:
- Thôi, rút kinh nghiệm kỳ sau ! Bây giờ Mỹ cụm ở đâu?
Thằng Đỏ hớt:
- Tụi nó đang cụm ở Sa Nhỏ, Bào Lách, Hố Bò !
Thằng Đỏ lôi một cái bao ni lông loại Mỹ dùng đựng cát đắp công sự, nắm đít bao dốc ngược. Nào hộp, nào lon đổ túa ra đất. Nó huênh tay:
- Mỹ đãi tiệc mình đó anh Hai, cái này là thịt bò, cái này là thịt heo, cái này là thịt nhồi, ăn đã lắm. Chỉ thiếu bánh mì. Nhưng ăn với cơm nguội cũng ngon. Ăn rồi thì uống cà phê nè, hút thuốc nè. Ủa mà quên trước khi hút, mình còn ăn la-sét trái cây hộp cái đã chớ!
Thằng Đỏ tỏ ra là chuyên viên đồ hộp. Nó giơ một hộp tròn to cho Thu rồi lấy một hộp vuông nhỏ bảo.
- Còn cái này là mỡ heo cho chị Thu. Cái này là bơ dùng chiên cá hoặc rang đậu phộng cũng được.
Rồi nó khui đưa cho tôi một hộp, nói:
- Cái này là thịt heo nạc, anh ăn hết một hộp no cả ngày. Ủa, mà còn bánh Tây nữa. Chắc là ăn chung với thịt heo. Quên nữa còn cái hộp này là lạp xưởng hay cái gì em không hiểu nhưng cũng là thịt!
Nó đưa vành hộp lên nhe răng cắn và khui ra:
- Thấy chưa, nó có lọn có lọn như đạn cà nông 37 ly vậy. Quất một viên là no tới họng. Nè anh coi, mỗi thứ em đều thử qua, cái bụng phát ách. Chậc ! ăn hút xong, còn nước cam, xá xị nữa chớ.
Thằng Đỏ nhặt một hộp, khui cái pách bọt sôi trào, đưa cho tôi:
- Anh Hai làm vài hớp cho hết mắc ói.
Tám Lù chạy đến, vẻ mặt phấn khởi:
- Tụi Mỹ ra Bàu Đưng hết rồi. Không có ai chết hết. Mình thắng trăm phần trăm. Ủa, có một người chết không biết là ai.
Thu để tay lên ngực:
- Vậy mà làm người ta hốt hền. Ủa, hết hồn.
Tám Lù buông cây AK rồi hai tay trút cái bao ni lông.
- Mình nằm tréo cẳng ăn hút khỏe ru ! Mỹ nó tiếp tế cho mình đây!
Tám Lù làm ấp đội trưởng trước kia ve vãn con Út, định tống chồng nó đi Phước Long để ở nhà kiếm chát nhưng từ khi tôi nhận thằng Út vào cơ quan làm trưởng tổ tự túc và phát cho AK thì Lù đâm ra đàng hoàng và tích cực công tác . Tám Lù khoe:
- Ở ngoài Ngã Ba Cây Điệp đồ hộp còn vô số kể. Giống như mình rãi lúa cho gà ăn ! Tụi dũng sĩ của thằng Cội và con Bảy Mô đang giành lộn ở ngoải.
Tám Lù lại tiếp:
- Tôi leo lên ngọn cây quan sát thấy rõ hết… Nhưng có một cái xác chết anh ạ.
- Ở đâu?
- Ở sân nhà ông Ba Giáo.
- Ai vậy?
- Không biết. Tôi chạy ngang thấy chớ không có vô coi mặt. Dám lính D7 lắm.
Tôi quát:
- Không D7 thì H6 mình chớ không ai vô. Chạy ra coi mau !
Mấy cậu nhỏ chạy vụt đi. Một chốc trở về. Một cậu nói:
- Tụi Mỹ chơi ác thật anh Hai à . Nó xúc đồng bào đem đổ ra ấp chiến lược ráo trơn. Bây giờ không còn ai ở nhà hết. Và phá lúa, đổ dầu xăng vô gạo.
“Nó đôn mình tận gốc” tôi thầm nghĩ nhưng không dám nói ra. Ba Tâm, Năm Dị trở lại báo cáo:
- Thằng Đức trinh sát của mình anh Hai à.
Tôi nhảy dựng lên, Ba Tâm nói:
- Tay chân đã cứng đờ.
Năm Dị nói:
- Có lẽ nó chui xuống địa đạo rồi bị hóa học.
- Sao tôi không bị?
- Vì anh xuống tầng hai. Nếu ở tầng một thì bị rồi. Hóa học có thể xuyên qua đất cát hoặc đất cát pha chớ không xuyên qua đất thịt được.
Thu bảo:
- Anh lấy rượu cồn xoa bóp tay chân ảnh cho ngay ra.
- Đem nó vô nhà. Thằng này… chạc… Thằng Chi mới chết, nấm mả chưa khô !
Tôi đứng phắt dậy, lảo đảo lại ngồi xuống:
- Để tôi lại nhìn mặt nó chút rồi hãy chôn.
Năm Dị cản:
- Anh còn yếu lắm để tụi tôi lo.
Rồi cả đám chạy đi. Tôi dựa vào vách hầm, mắt hoa lên, đầu như con vụ, thì Quản chạy vào:
- Anh Hai ơi, có bà nào muốn gặp anh.
Tôi hét:
- Không có đàn bà nào hết, Đàn bà, lúc nào cũng đàn bà. Để tao nghỉ.
Quản lùi ra rồi chạy vào, lắp bắp:
- Người ta dắt con đòi gặp anh.
Tôi nghĩ chắc là Mười dắt con bé Hoàn tới. Đàn bà nào chớ đàn bà này đuổi sao nổi. Nàng đã cho tôi cả trái tim, cả cuộc đời chưa biết chừng một đứa con. Nàng tự xem nàng là của tôi và tôi cũng coi tôi là của nàng, không biết chuyện gì làm cho tôi ngại ngùng tiến tới một bước nhỏ để hợp thức hóa vợ chồng. Tôi bảo:
- Ừ cho vô đi !
Quản trở ra dắt người đàn bà vào. Đi theo sau là ba đứa con nít. Bà ta lại mang cái bụng chửa gần ngày. Đâu phải nàng nào của tôi. Người đàn bà van lơn khi vừa trông thấy mặt tôi.
- Ông chỉ huy ơi, ông làm ơn làm phước cho tôi xin ít lít gạo nuôi con.
Trước cái cảnh thảm thương, tôi chưa kịp nói thì bà ta tiếp:
- Em là Sáu Bầu xin lạy ông tha cho. Xin ông chỉ huy đừng bắt tội.
Bà ta lặp lại tiếng tội làm tôi bực mình.
- Tội gì hả?
Người đàn bà nói:
- Tội đã vô phép.
- Tôi gặp bà ở đâu mà bà vô phép?
- Dạ ở dưới địa đạo. Tôi đã bò qua mình ông chỉ huy.
Tôi nhớ ra lúc tôi ngất xỉu dưới đó . Có người đàn bà chửi ở trước mặt tôi chớ có bà nào ở phía sau tôi đâu mà bò qua mình tôi. Bà ta nói tiếp liên miên:
- Dạ tôi ở trước mặt ông, trám bít đường hầm, người ta la ó, tôi phải bò tới và lôi mấy đứa nhỏ đi theo. Tụi nó khóc la thiệt là khổ. Hồi nào tới giờ tôi có biết địa đạo là gì nên không chịu xuống. Người ta bảo ở trên này Mỹ hãm lọt con, tôi sợ nên mới xuống. Chẳng dè xuống ngộp quá mà lủi trở ra để lên mà không được người ta cứ đẩy tới. May sao tôi đụng một cái ngách ba mẹ con nép vào cho người ta bò qua. Một lát thấy ngộp quá tôi bèn lôi mấy đứa nhỏ đi tiếp. Do đó mới bò qua mặt ông.
- Sao chị biết là tôi?
- Tôi nghe cô Thu kêu thủ trưởng thủ trưởng.
- Chị quen với cô Thu hồi nào?
Chị Sáu bắt đầu xưng em.
- Dạ cổ qua quán Chệt Tư mua đồ hoài hà . Em ở mướn cho Chệ Tư. Hồi sáng trước khi Chệt Tư dắt con gái chạy ra Trung Hòa, Chệt Tư có bảo em mua xin gì vô ông chỉ huy. Chệt Tư đã bán cái quán và giao chìa khóa cho ông chỉ huy rồi. ông chỉ huy làm ơn cho em xin ít lít gạo.
- Được rồi, chị theo tôi.
Tôi đứng dậy liền không ai can được nữa. Tôi đến chỗ thằng Đức chết. Nó là dân Hà Nội, mới 19 tuổi vừa hết lớp 10. Thấy thằng nhỏ lanh lẹ và có văn hóa tôi cho nó ở bộ phận trinh sát đôi khi dắt nó đi làm quan trắc pháo vì nó tính toán nhanh. Trời ơi, con ai vậy?
Năm Dị và Ba Tâm đang phun rượu phèo phèo vô mình nó, vừa phun vừa bịt mũi nhăn mặt kêu:
- Thúi rồi, thúi rồi !
Ba Tâm đang sửa tay nó ngay ra cặp hai bên hông. Thấy tôi vào Năm Dị hỏi:
- Làm sao chôn hả thủ trưởng? Thằng Chi chết vậy mà sướng!
- Sao nó chết vậy?
Bỏ cho Ba Tâm làm việc với cái xác, Năm Dị dắt tôi vào nhà, giải thích:
- Chắc thằng nhỏ thấy Mỹ , chạy vô đây chui hầm nhưng không kịp, bị nó bắn. Cái nắp hầm mở tác hoặc. Chắc nó bắn rồi lôi xác để ngoài sân để bơm hóa học xuống hầm. Không biết dưới ngách này có ai chết không?
Tôi quay trở ra, bụng không biết tính cách nào chôn thằng bé cho tươm tất. Nếu biết cái thảm cảnh này, cha mẹ nó dù có nhận được một thúng Huân Chương Sao Vàng cũng vứt đi. Rồi đây còn ai nhớ mồ mả của nó. (Thật vậy, đám chôn nó hôm nay, rồi cũng không còn người nào.)
Tôi bảo Ba Tâm theo tôi ra tiệm Chệt Tư lấy chiếu và ni-lông vải về quấn thằng bé rồi chôn sau vườn nhà, cái nhà bỏ hoang lâu rồi, một tổ trinh sát của tôi đóng ở đó. Đào hầm moi ngách ở đó. Và thằng bé cũng chết vì cái ngách đó.
Chị Sáu Bầu lại xuất hiện. Tôi bảo:
- Chị lấy gạo đi.
Chị ta kêu tôi bằng anh.
- Anh Hai cho bao nhiêu?
- Chị muốn xúc bao nhiêu xúc !
- Tôi xin chục lít thôi anh Hai à. Của người ta mà lấy như vầy khó coi quá !
Tôi nhìn chị, bụng nghĩ thầm: “Sao có con người không tham lam thế này?”
- Chị cứ lấy về nuôi sấp nhỏ. Chẹt Tư đã bán cho tôi rồi. Tôi cho chị chớ không phải chị lén lấy mà sợ.
Chị chần chờ không chịu xúc gạo, có vẻ e ngại thật chớ không phải làm bộ. Chị cười cười:
- Chắc anh Hai chê em lắm hả ?
- Thôi xúc gạo đi bà ơi, để tôi khóa cửa. Tôi còn nhiều việc lắm.
- Chồng em hồi trước cũng đi vệ quốc đàn như anh vậy.
- Rồi ổng đâu?
-Hy sánh hồi có bầu con nhỏ lớn của em mới mấy tháng. Bây giờ nó 17 tuổi rồi! Nó đó!
Nghe nhoi nhói trong tim, tôi bèn nán lại hỏi tiếp:
- Vệ quốc đoàn mà bộ đội nào?
- Anh Hai có nghe nói ông Sáu Khâm không? Ổng về đây đóng quân hồi năm kia. Trong kháng chiến ông làm tiểu đoàn trường còn ba sấp nhỏ là tiểu đội trưởng.
- Vậy thì ảnh ở Tiểu đoàn 302, có đánh trận Bến Súc! Ảnh bị thương hay tử trận?
- Ủa, sao anh Hai biết rành vậy?
- Tôi còn biết mấy chiếc xà lan của Tây chở gạo tiếp tế cho Dầu Tiếng bị đánh chìm ở Bến Đồng Sõi trên sông Sài gòn. Nước sông thúi rùm, bà con không dám xài cả tuần
- Hồi đó anh Hai chừng mười mấy tuổi chớ gì!
- Tôi làm liên lạc cho ông Ba Tô Ký, ông Ba Xu và ông Sáu Khâm nữa.
- Hồi đó em ở bên Đường Long, mới vô Thanh mở cứu quốc đi khiêng thương binh ở Bến Súc về cho bác sĩ Hoa. Ba sấp nhỏ bị thương ở trận đó nhờ vậy mà hai người mới thương nhau. Em mới con thai thì nghe tin ảnh hy sanh trên Bàu Cá.
- Vậy chị chỉ có con bé . . .
Người đàn bà mau miệng:
- Dạ tính gộp con bé lớn và cái bầu trong bụng hiện giờ là sáu đứa cả thảy.
- Ông già của mấy đứa sau là ai?
Chị Sáu hơi cúi mặt.
-Dạ… dạ…
- Bộ giải phóng hi sinh nữa chớ gì, phải không chị?
- Dạ giải phóng nhưng không có hi sinh. Nói ra thì xấu hổ nhưng anh Hai cũng là người trong bộ máy, nên em không giấu làm chi. Anh Hai có biết anh Năm Ngó (tên này sau chứa Võ Văn Kiệt) nhà ở Xóm Chùa bây giờ nghe đâu làm trợ lý dân quân ở chung với ông Sáu Nâu, Năm Cai không?
- Vậy cũng tốt, như chị Chín Kiểu ở với ông Năm Giả chớ gì?
- Phải được như vậy thì báu.
- Chớ sao?
Tôi vốn nghe mấy ông nội Mùa Thu về sụp hầm chông lễnh nghễnh nên hỏi phăng tới. Chị Sáu kể lể:
- Ổng đóng quân nhà em, rồi đêm đêm ổng vô mò em. Em hăm em la, ổng bảo vợ ông ra ấp chiến lược rồi để ổng xin phép đảng cưới em. Nghe vậy em hơi xiêu lòng. Thôi cũng được, để cho ổng vô, mình dựa ổng mới chống lại du kích nổi.
Tôi giựt mình hỏi.
- Sao chống du kích?
- Trời ơi, anh không biết hay sao? Em không có sợ lính Sài gòn và Mỹ bằng du kích đó anh Hai à.
- Sao vậy?
- Mỹ càn qua cơn rồi xong, như lúa bị nước tràn, mẹp rồi đứng dậy, còn du kích như con rầy đậu hoài trên lá, rồi như con sâu đục vô trong ruột. Họ xin hủ mắm, mình cho, mai họ tới xin con gà. Mình cũng cho luôn, bữa kia họ mượn gạo mình không có, họ chửi. Đờn bà góa khổ lắm anh Hai ơi!
- Chị đụng Năm Ngó cũng tốt, có sao !
- Ổng ở với em có hai đứa rồi đi đâu mất không ló về nữa. Em không có gì nuôi con, bèn dời về chợ An Nhơn ở mướn cho Chệ Tư. Thằng này cũng không có vợ. Nó bắt em làm vợ nó. Em lọt ra một đứa nữa. ông Tám Đột thấy vậy bèn kêu em đến điều tra, hỏi sao không có chồng mà đẻ hoài? Ổng dọa họp dân lập biên bản. Em sợ ra đó người ta mắng mang nhục. Tưởng sao, ông cũng như Chệ Tư, Năm Ngó . Em đẻ một đứa với ông và cái bầu trong bụng này cũng của ông. ..
Tôi hỏi:
- Bây giờ Chệt Tư đi rồi chị ở đây làm sao sống?
- Ông Tám Đột biểu ở trong này ổng lo.
- Rồi ổng có lo gì không?
- Cái thân ổng còn vác không nổi còn lo cho ai? Nhưng nếu em ra Trung Hòa thì làm sao sống? Nghèo quá nên em mới tắp bậy tắp bạ tìm chỗ nhờ cậy ai dè người nào cũng xài xễ em chớ không có giúp đỡ chút nào. Em nghe bà con nói anh là người nhơn đức nên em liền tới xin.
- Chính quyền có biết chị là vợ tử sĩ không?
- Biết chớ sao không? Ông Tám Đột biết cả chồng em nữa! Em thấy tủi vong linh cho chồng em lắm, nhưng ngộ biến phải tùng quyền. Ổng bảo cãi ổng, ông cho mò tôm.
- Bây giờ chị muốn ra Trung Hòa không?
- Em muốn lâu rồi mà để bụng.
Tôi móc sắc cốt lấy xấp bạc của cô xẩm lai cho hôm qua, xỉa đưa cho chị ba ngàn:
- Chị cầm lấy ra Trung Hòa làm ăn nuôi sấp nhỏ đừng có về đây nữa.
Chị nhìn tôi, không tin đây là sự thật.
- Dạ, thiệt sao anh Hai?
- Chị về nhà tối nay sắp sửa, mai tôi cho người đưa ra Ràng rồi từ đó chị theo người đi chợ ra Trung Hòa. Nhưng chị đừng cho ai biết. Nếu ai hỏi, chị nói chị ra Ràng thăm bà con rồi về.
Chết! Chết! Đàn bà góa! Trẻ mồ côi! Đó là cách mạng kiểu bác Hồ. Tôi giải quyết xong khó khăn cho người vợ tử sĩ, thấy bớt nhục, định quay đi thì chị Sáu bảo con:
- Lạy cậu Hai đi con. Cậu Hai cứu mẹ con mình đó.
Cô bé nghe lời mẹ quì xuống, tôi xua tay. Chị Sáu nói:
- Hay anh Hai muốn đem nó đi theo, em cho đó.
- Cơ quan còn bề bộn lắm chị à .
- Nó theo em ra ngoài em ráng cho nó đi học để lớn khỏi dốt.
Chệt Tư để lại cho tôi cái quán, nhờ đó mà tôi giải quyết được bao nhiêu chuyện cấp bách. Tôi trở lại chỗ đám thằng Đức thì Ba Tâm và Năm Dị đã chôn xong. Ba Tâm nói:
- Tôi lấy tảng đá xanh để trên đầu mộ làm bia. Sau này sẽ tính.
(Sau này là bao giờ? Chẳng bao giờ cả. Chôn người để đội người đem chôn mình. Ở Củ Chi này, cái chết như nháy mắt. Vừa mở cửa mả cho thằng cán bộ đại đội lại chôn thằng tiểu đội trưởng. )
Tiện đường ghé thăm Sáu Phấn, nhưng trong bụng thì có ý xem mẹ con nàng Mười ra sao. Vừa vô tới sân đã nghe tiếng nói râm ran trong nhà như có đám tiệc. Tiệc gì lúc này? Hay là có người chết nữa? Tôi nghe ơn ớn xương sống. Nhưng khi vô nhà thì rõ ra là Sáu Phấn mần heo. Y có con heo bồ sợ Mỹ bắt.nên làm hàng chia cho các cơ quan trong vùng.
Thấy tôi vào, Sáu Phấn vui vẻ:
- Thầy Hai ngồi đó nghe. Chiu xíu có tiết canh đem về lai rai.
Tôi gắt.
- Thằng Đức chết rồi ông không hay à ?
- Chết hồi nào? Chết ở đâu? Tôi không hay gì hết?
Tôi lặng thinh, ngồi phịch xuống ghế:
- Chôn xong rồi ?
- Trời đất !
Chú Tám Cần xuất hiện với bộ tóc bù xù và râu tua tủa. Chú sìa môi lắc đầu, chậm rãi nói:
- Tao hết chê nổi thằng Mỹ rồi mày Hai.
- Sao vậy chú Tám?
- Thằng Tây chẳng bằng cái lai quần của nó !
- Bây giờ chú mới biết à?
Chú ngồi đối diện với tôi. Chính nơi đây tôi đã ăn bánh xèo khi mới bước chân về H6 và làm quen với dì Mười nó !
Chú Tám chưa kịp nói gì thì Mười bước ra gục đầu ỵâo vai tôi khóc nức nở, nghẹn ngào, làm như tôi là chồng nàng:
- Con bị Mỹ xúc rồi… hu hu…
Tôi nghe như sét đánh bên tai. Nhưng chú Tám cười:
- Mỹ xúc là chuyện mừng, sao lại khóc?
Tôi chưng hửng với cái điệu giải thích của chú, nhưng chú vẫn tự nhiên:
- Tao muốn Mỹ xúc tao mà nó chê… tao không còn…răng! Há há… Nói vậy chớ nó sợ không đủ đế cho tao tẩm gân cho nên nó không xúc đó chớ!
Chú Tám nói rồi kẻo tay tôi ra sân, chỉ chỏ:
- Thằng Hai mày là nhà binh biết cái gì đó không?
Tô để ý .thấy dấu giày đinh lâm nhâm trên mặt đất. Chú Tám nói:
- Nó đáp xuống ba chiếc, cái quạt của nó quơ một phát chắc sập nhà. Tao núp ở sau vườn tao thấy rõ hết trơn. Nó lùa dân trong xóm tới đây rồi cho lên trực thăng. Trời! Nó bay trên trời mình tưởng nó bằng chiếc xuồng, không dè nó đáp xuống sân, to bằng cái nhà. Nó mở cửa ra, cả dọc người đi vô mà còn lỏng lẻo. Dân cả xóm này chỉ đủ một chuyến. Không sót một gia đình nào. Ai muốn đem cái gì theo Mỹ nó mang vác dùm lên máy bay, nào rương hòm, thúng rổ, mùng mền không bỏ thứ gì. Nhiều người đem theo giỏ gà, người lại dắt cả chó, kẻ ôm bàn máy may. .. Mỹ đen Mỹ trắng dềnh dàng như thổ thần, nó ẵm người mình như ẵm con nít. Tao thấy nó bồng con xẩm lai con Chệt Tư nữa. Trời đất ! Cỡ con nhỏ mà bị nó đè nén chắc nhẹp ruột.
- Sao tụi nó ẵm con nhỏ vậy chú?
- Con nhỏ trẹo giò đi cà nhắt. Bộ nó chạy trợt té ở đâu chắc. Hai chuyến đầy nhóc cất cánh. Đến chuyến thứ ba, nó xúc vợ chồng Sáu Phấn. Con nhỏ không chịu đi. Nó đem thông ngôn tới trâm tiếng Mỹ, rồi thông ngôn giải thích. Con nhỏ chỉ bầy heo con và con heo nái. Thằng Mỹ đen cười nhăn răng trắng hạn rồi ra dấu bảo mấy thằng khác bắc ván lùa bầy heo con lên máy bay.
- Làm sao nó lùa được cả bầy heo con?
- Một thằng Mỹ ra dấu bảo con vợ thằng Phấn lên máy bay trước kêu ột ột nhử heo nái lên. Bầy heo con thấy mẹ nó đi, bèn lốc thốc chạy theo. Thằng thông ngôn bảo: “Về bên Phú Lợi, Mỹ nó cho heo của bà uống sữa. Nếu bà muốn bán tôi chỉ chỗ cho bà bán.” Thuở nay tao mới thấy heo nái đi máy bay là một.
Nghe chú Tám mô tả cái cung cách của đế quốc Mỹ tôi nhức lỗ tai quá, nên tôi xách xe đạp của Sáu Phấn chạy đảo một vòng trận địa, cố nhiên không quên tạt qua nhà Bảy Mô để thăm các em dũng sĩ. Vườn sầu riêng hằng chục gốc với hương sầu riêng tản mác khắp nơi, ngôi nhà đã giở đi, nếu không trái pháo nổ ngay nền hôm nay cũng làm bay cả nóc. Bảy Mô và bầy tiên nữ ùa ra khi vừa thấy mặt anh Thiên Lôi. Bảy Mô hỏi.
- Anh Hai đi địa nào?
-Địa ông Đột!
- Xì ! Sao không ra địa tụi em?
Bảy Nề gắt yêu, còn út Ngỡ thì dìa môi:
- Địa của ông Tám Đột là đường cùn không có miệng trổ.
- Ổng bỏ cả năm không kiểm tra. Ai dám xuống?
- Vậy mà ổng lùa con người ta xuống đặc nghẹt. Anh chết dưới hầm.
Bảy Mô có vẻ chuyên gia địa, hỏi:
- Anh xuống tầng hai thì bảo đảm an toàn hóa học nhưng lại không đủ hơi thở. Để rồi anh xem, có vài người chết dưới đó móc lên khó lắm.
- Sao em chắc vậy?
- Em không chắc nhưng nếu để miệng hầm mở ra thì ngày mai sẽ biết. Nếu không có mùi thúi thì mới chắc là không có người chết dưới đó. Sau trận ruồng phải kiểm tra dân số ngay. Nếu ai vắng mặt thì mình phải đánh dấu hỏi.
- Nếu có mùi thút thì làm sao móc xác lên?
- Phải đi tìm ngay. Nếu gặp xác thì buộc dây lôi ra. Chứ nếu chờ cho có mùi thút thì có môn lấp luôn hầm. Cái vụ này trước đây có bị hoài mà.
Nghe nói tôi ớn xương sống bèn hỏi sang chuyện khác.
- Còn mấy em trốn đâu mà coi bộ tươi rói vậy?
-Tụi em có một khúc đặc biệt để phòng thân. Anh muốn biết không?
- Anh thề… tới chết cũng xin bái luôn ông địa.
Út Nhỡ đứng núp sau lưng Bảy Mô và Bảy Nề đưa tay che miệng và nói:
- Địa tụi em đặc biệt lắm. Nhưng chỉ có năm đứa tụi em. và chịu nổi một ngày thôi.
- Sao ít vậy? Thương binh của ông Tám Lê nằm luôn cả tháng mới lên kia mà . Còn bà Nhã Nam viết báo, anh có đọc nói rằng ông Năm Thuận xã đội trướng Phú Mỹ Hưng ở luôn dưới hầm năm tháng liền không lên mặt đất ngày nào.
Út Nhỡ cười mũi:
- Dóc tổ mẹ. Thằng cha đó trốn nhiệm vụ đi câu tôm bán cho cơ quan lấy tiền gởi cho vợ ở ngoài ấp chiến lược, ổng bị con Là chửi cho thục mạng, ở đó mà năm tháng!
- Nếu Mỹ chốt trên đầu rồi làm sao? Không phát huy địa đạo chiến như hồi thằng Bọ Chét chụp hình mấy em à?
- Anh với anh Tư Linh rắn mắc tổ bà ! Tội nghiệp thằng cha già bị gạt mà không biết.
Tôi chú ý môi trên của Út Nhỡ sưng vù và mắt trái hơi bầm. Có lẽ Bảy Mô thấy cái nhìn của tôi hơi xoi mói nên nàng nói:
- Kỳ này chị Út Nhỡ đạt danh hiệu dũng sĩ lần thứ hai.
- ….với thành tích lủi nhanh hả?
- Giỡn hoài anh Hai. Chỉ hạ được một tên Mỹ…
- ….bằng địa đạo chiến hả?
Bảy Mô lùi lại và bảo Út Nhỡ:
- Chị Út thuật lại cho ảnh nghe đi.
- Thôi mà, có tí tẹo đó nói ra bà Nhã Nam nghe được, bả tới phỏng vấn và bả viết tùm lum phát thanh nghe mắc cỡ chết đi ông ơi !
Bảy Nê chen vô:
- Vậy để em thuật dùm.
- Ừ thuật đi rồi tôi bổ túc.
Tôi cười:
- Hạ được thằng Mỹ rồi cho ai mượn?
Út Nhỡ buông tay xuống, không che miệng nữa, nói:
- Ba cái vụ mượn Mỹ đó là do mấy nhà báo R đặt ra chớ tụi em đâu có ai mượn mà cũng đâu có ai giết được tên nào để cho ai mượn.
- Vậy em là người thứ nhất của đất Củ Chi giết được Mỹ.
Út Nhỡ xua tay lia lịa:
- Em đâu có giết được thằng nào.
Tôi nhìn Bảy Mô. Nàng nói:
- Thì coi như giết đi. Thằng bị chị quào về thế nào cũng nằm nhà thương và mất tinh thần xin về Mỹ luôn. Còn tụi Mỹ thì phải ớn cái đất Củ Chi này.
Út Nhỡ tiếp:
- Rủi cho em là em đi chợ An Nhơn mua tương chao về ăn bị nó đổ ở Ngã Ba Cây Điệp không về được. Em chạy trốn lại đụng đầu, bị bắt chung với mấy ông nông dân. Có cả ông xã đội Ba Xây nữa. Khu rừng gần Ngã Ba Cây Điệp bị tụi nó quần xới nát hết. Nó tìm được một cái miệng hầm. Đó là của ông Ba Xây. May quá ông chưa chun. Và nó tưởng ổng là nông dân xóm. Nó dắt mọi người tới miệng hầm, trỏ mấy trái mìn và mấy thùng vuông màu cứt ngựa, chắc là đồ hóa học, xù xì em không hiểu gì hết. Nó bèn gọi thông ngôn . Thằng này bảo em chui xuống để thằng Mỹ chui theo. Cái miệng hầm nhỏ , còn nó to hơn thằng Bọ Chét nên mắc ngang . Nó cạy tung nắp rồi đùn em xuống. Em nghe lời làm theo . Nó tuột xuống, tay cầm dao găm, tay rọi đèn pin. Em ngồi nép qua một bện, thừa lúc nó bò lom khom em giật chiếc đèn đập vào mặt nó, rồi bò tuốt. May nó cầm dao nếu súng nó bắn em rồi.
- Sao em biết được mà bò?
- Hầm của ông Ba Xây, tụi em có đào chung, đặc biệt để giành cho tụi em và xã đội thôi. cho nên em thuộc đường. Em bò một lúc đụng cửa hầm hai. Em chui tọt xuống. Bò một lúc thì gặp Mô và Nê.
-Tụi nó không theo à?
- Có chớ, tụi nó đánh ầm ầm. Bơm hóa học kịch liệt chớ đời nào tha. Như em nói lúc nãy, địa của tụi em là địa đặc biệt.
- Nghĩa là sao?
- Nghĩa là năm đứa có thể ở cả ngày không sợ ngộp. Có sẵn cơm khô và nước.
- Có chỗ đi đồng không?
Út Nhỡ đấm vai tôi.
- Anh quỉ nè ! Ngoài ra còn có ngách trổ không phải một mà ba ngách. Trường hợp bị bể thì phải xét đoán tình hình rồi mới trồi lên cái miệng nào an toàn nhất. Nhờ đó tụi em mới thoát.
- Vậy là bỏ luôn cái địa?
- Nếu không có vách trở thì chúng em bị nó moi tới nơi hoặc chết vì hóa học. Tụi nó đánh mìn nát hết. Nay mai tụi nó dám bỏ bom lắm!
Tôi bắt tay út Nhỡ và nói:
- Thay mặt lực lượng võ trang Củ Chi, anh xin tỏ lòng khâm phục em. (Út Nhỡ, Mô, Nề đều ngạc nhiên) Vì nếu không có cú đánh của em thì trong trận ruồng này không có thằng Mỹ nào rụng một cái lông chân đừng nói đổ một giọt máu. Quân ta không nổ một phát súng chống càn!
Tôi đạp xe về gần tới nhà thì gặp Chín Lộc. Hắn chớp chớp cặp mắt bù lạch ăn:
- Mẹ kiếp! Quân báo báo trật chạy muốn sút quần! Tin nó đánh Hố Bò. Mà nó lại chơi cả Hố Bò lẫn Bến Mương. Con Ua hỏa tốc tới bữa đó. Tao cho mấy ổng hay. Mấy ổng giải tán hội nghị rồi phò Nhị Tẩu sang bên Bến Chùa rồi. Còn tao về đây, chẳng ngờ lại dính.
- Bả đâu?
- Nhị Tẩu tẩu luôn với các ổng rồi.
- Tụi nó đánh Hố Bò có gặp được gì không?
- Nhà in, kho gạo của ông Bảy Hốt. Q16 bị pháo nặng. C5 của Tư Chuyền ăn bom. Không biết y có giấu, chuyển thương binh đi được không?
- Tụi nó chỉ cụm quân chớ chưa rút. Cuộc hành quân này kéo dài ít nhất một tuần lễ, nó đặt tên là Operation Crimp.
Chín Lộc phát âm rất đúng tiếng Mỹ. Tôi cười:
- Tiếng Mỹ khó nhớ, tôi tạm gọi nó là Xông Vô Nhị Tỳ và Tôm Rim nghe!
- Khè khè chú mà y liệu đi . Pháo phiếc phải chôn cho sâu Nó vừa đem tới Đồng Dù cả chục con chó. Riêng trực thăng thì tăng cường mười chiếc.
- Ông có tin gì về kết quả trận pháo kích của tôi không?
Chín Lộc nhìn tôi với cặp mắt lo âu
- Hỏi con Nhã Nam rành hơn tao. Tao cho mày biết tín này nhưng mày đừng phổ biến ngay cả cấp chỉ huy nghe.
Tôi cười phá ngang:
- Bộ bà Hai Xót sắp mang trống, hay tin gì mà ông làm ra vẻ quan trọng vậy?
- Đừng có giỡn thằng cu con! Tụi Mỹ càng dô mạnh. Riêng Củ Chi Bến Súc nó đã khoanh trên năm chục vùng oanh kích tự do.
- Giỡn hoài cha !
- Bố tiên sư thằng nào nói láo. Vùng cực bắc Củ Chi gồm có : Đồn điền Sim ma, Hồng, Bến Dược…, vùng cực nam gồm có: Bưng Tre, Cầu Bến Nảy, Bến Đình v.v… hai điểm cách Đồng Dù có ba, bốn cây số là Phú Hiệp, Bào Cạp. Cái điểm cách Trung Hòa ba, bốn cây số như Xóm Mới, Xóm Bưng, Lào Táo, Ngã Ba Sòng cũng nằm trong diện oanh kích tự do. Còn cặp hữu sông Sài gòn như Bến Mương của mày, thì Gót Chàng của em Mô của mày, chợ An Nhơn bên sông Sài gòn đối diện với Xóm Thuốc là Rạch Bắp, một là bị hủy diệt, hai là bị hốt.
- Vậy ông chạy đâu?
- ???!
- Bỏ cái rờ-moọc cho ai kéo?
- Bả sắp vô Trung ương rồi! ở Hà Nội cần thêm ủy viên gốc dưa mày..
- Tôi nghe đồn Trần Bạch Đằng vô lâu rồi mà !
- Ba mụ đó , khu ủy sẽ chọn một để Trung ương chỉ định. Kỳ rồi các ông có thảo luận nhưng chưa ngả ngũ . Ông thì bảo bà Út Tuất gan lỳ, ông lại cho bà Hai Xót và Năm Đang biết tổ chức quần chúng đấu tranh chánh trị.. Bà nào cũng lập trường cứng rắn cả ! Hí hí…
- Theo ông thì ông bắt bà nào?
- Bà nào dễ bảo thì mấy ổng cho dô . Càng dễ bảo càng lên mau. Tao biết mẹ gì !
 
[font="verdana; color: #ff0000"]Chương 64
[font="times new roman; color: #ff0000; font-size: medium"]Địa đạo: Mồ chôn tập thể
Bỗng nhiên một câu hỏi dựng đứng lên giữa bữa cơm chiều quanh ngọn đèn lờ mờ:
- Vợ chồng thằng Út đâu?
Mọi bữa hai vợ chồng nó ăn chung với anh chị em trong cơ quan rồi mới bồng con về nhà . Từ bữa trưa tới giờ đa đoan việc người chết, việc người sống, bây giờ mới nhớ ra từ sáng tới giờ không thấy mặt chúng nó. Thằng Đỏ nói trước tiên:
- Có má Hai ở Trung Hòa về thăm chắc ảnh chỉ ở nhà.
Quản bác bỏ cái lý lẽ đó:
- Ở nhà thì ở. Khi dứt cuộc ruồng hai người cũng phải đến cơ quan chớ?
Thu lơ mơ:
- Em nghe nói anh Út đi bên An Thành gặt lúa đó mà.
Thằng Đỏ rướn cổ lên:
- Ảnh nói đi nhưng có má Hai vô nên đình lại.
Út là trưởng tổ tự túc nên cứ thong dong với chiếc xuồng câu lưới có khi vài ngày mới xuất hiện một lần, chẳng ai để ý đến sự vắng mặt của anh ta.
- Ăn cơm xong thằng Đỏ chạy lại đẳng coi, luôn tiện đem cho má Hai một ít thịt hộp.
- Má Hai đem vô cả giỏ xách cho ảnh chỉ kia cà.
Thằng Đỏ nói vậy rồi lua riết chén cơm, buông đũa chạy đi như để lấy công chuộc cái tội bỏ thủ trưởng.
Bữa cơm chưa xong thì nó chạy về, mặt mày ngơ ngác:
- Không có ai ở nhà hết á !
Quản gặn:
- Mày đi gì mau vậy Đỏ? Mày có vô nhà hay chỉ đứng ngoài sân ngó vô?
- Em không có… vô nhà!
- Thấy chưa, mày bắt được con cá lóc dáo tổ nái rồi đó !
Thằng Đỏ ngập ngừng, chớp chớp mắt:
- Em không dám vô. Trong nhà có mùi gì lạ lạ.
Tôi linh cảm thấy vấn đề. Tôi bảo:
- Cậu nào chạy lại coi.
Quản và Mười chạy đi. Tôi hỏi thằng Đỏ:
- Em biết trong nhà nó có hầm hố gì không?
- Ảnh đi chài với em, ảnh thường khoe, ảnh không sợ Mỹ chụp. Hễ nghe nó đổ quân là ảnh biến mất tiêu. Ảnh chỉ lo cho chỉ và đứa nhỏ thôi. Từ ngày ảnh được tuyển vô cơ quan ảnh mở rộng cái ngách ra có thể chứa ba, bốn người.
- Mà em có nghe mùi thiệt không?
- Thiệt mà ! Mùi lạ lắm. Em sợ quá em chạy về liền.
- Thằng Út không có đi An Thành thật chớ?
- Dạ ảnh nói chờ má Hai về Trung Hoà ảnh mới đi!
Thôi vậy thì nguy to rồi. Tôi tất tả chạy đi. Một dọc người theo. Ra đến đường thì đụng đầu Tám Dột. Tôi chưa kịp nói gì thì Tám Dột đã nói:
- Các anh phải dời điểm ngay. Ông xã đội Ba Xây bị Mỹ bắt rồi.
Tôi giật mình thon thót, Ba Xây bị bắt thì cả Phòng tham mưu của ông Năm Lê cũng phải dời.
- Ổng trốn ở đâu mà bị bắt?
- Trong hang của ông.
Tôi bàng hoàng nhưng cố trấn tỉnh, hỏi sang chuyện khác:
- Anh cho bà con lên hết chưa?
- Tôi còn để ngửa nắp hầm. Chắc bà con lên hết rồi.
- Anh có nghe mùi gì không?
- Tôi chưa trở lại đó . Mà nếu có ai chết thì sáng mai mới có mùi nặng.
- Vậy anh trốn ở đâu?
- Tôi chui hang riêng, thầy ơi !
- Té ra anh không chơi với địa à?
- Cố nhiên rồi. Khè… khè… thằng nào cũng vậy chớ không phải mình tôi. Chỉ huy đào nhưng không bao giờ xuống.
- Sao lùa dân xuống?
- Để họ ở trên Mỹ xúc ra ấp chiến lược hết, mình lấy gì bám trụ .
- Anh có thấy lính tôi xuống không?
- Tôi chỉ giở nắp hầm rồi dông chớ đâu có đứng ở đó.
- Vậy ai đậy nắp hầm?
- Người nào xuống sau cùng thì đậy. Chớ nếu tôi đứng đó chờ cho người ta xuống hết rồi mới chạy thì làm sao kịp?
- Sao anh không bám với nhân dân?
Tám Đột ngần ngừ một giây rồi đánh trống lãng:
- Hồi sáng nếu tôi gặp thầy, tôi đâu có cho thầy chun. Bởi vậy nghe Ba Dị nói chắc thầy chun là tôi đi tìm đến.
- Anh có biết một trái cà nông nổ cắt sóng địa đạo không?
- Tôi có nghe nói nhưng chưa tới ! Đây là nhiệm vụ của ông Ba Xây mà ổng lúc nào cũng đi câu tôm chớ có ngó ngàng gì tới. Hễ tôi phàn nàn thì ổng bảo: “Tao hi sinh cái nhà tao cho cấp trên (Năm Lê) ở, để tao kiếm tiền nuôi vợ con tao với chớ?”. Mà Thầy có cáp-tăng đó không?
Tôi móc điếu thuốc chìa ra. Tám Đột rút hai ba điếu và giải thích:
- Lại đằng đó tôi mới hút. Phải thuốc thơm mới được.
- Sao vậy?
- Tôi học kinh nghiệm ở trên Hố Bò hồi nẵm. Hễ dưới hầm có người chết thì khói thuốc thơm phát hiện ra ngay. Đốt một điếu đứng trên miệng hầm hút. Hễ có mùi hôi thì khói khét nghe liền. Muốn chắc hơn đốt một điếu quăng xuống dưới địa. Một chốc cũng nghe khói khét.
- Quăng xuống là tắt liền.
- Tắt là chỉ khi nào mình đậy nắp hầm kín lại kìa, chớ mở nắp ra thì thầy nấu cơm dưới đó cũng được mà’!
Tôi nhớ lúc ở dưới địa quẹt hộp quẹt không cháy, nên thấy kinh nghiệm của Tám Đột có thể đúng. Tám Đột lại tiếp:
- Tôi đã từng tìm được xác du kích bằng một điếu Ru-by rồi kia mà.
Lúc nãy nghe chuyện chị Sáu Bầu tôi rất bực mình Tám Đột, định gặp sẽ trách móc y, nhưng bây giờ thấy y ăn ở có nghĩa với mình, vã lại thằng chi uy xã, thằng huyện ủy, tỉnh ủy, khu ủy và trung ương nào cũng như Tám Đột thôi, nên tôi không mở miệng phê bình y được. Tám Đột lại tiếp:
- Kỳ tới, có gì thầy bám tôi nè . Một mình thầy thôi. Tôi bảo đảm ăn hút khỏe re. Đó, thầy coi, tụi Mỹ nó xúc mấy chuyến Râu Rọm thưa hết dân. Nó mà làm vài trận nữa cái Bến Mương này trụi lơ, lấy đâu mình xây đựng cơ sở?
Sẵn dịp tôi hỏi luôn.
- Bộ anh có địa riêng sao?
- Tất nhiên rồi. Thằng nào cũng vậy không phải riêng tôi. Thầy nghĩ coi cả bầy nam phụ lão ấu như vậy xuống hầm . May mà Mỹ không tới chớ nếu tới thì nó có lọt tròng cũng thấy miệng hầm mà. Cái miệng hầm phải sạch sẽ gọn ghẽ như miệng con gái chớ tùm lum như miệng già trầu móm thì bí mật con mẹ gì được?
Tám Đột bỗng quay ngoặc lại nói sang vấn đề khác:
- Cái vụ thầy sống lại là ơn nghĩa lắm đó nghe.
Tôi nghĩ chắc y định kể công với mình nên nói ngay:
- Nhờ anh tôi mới thoát chết.
Tám Đột xua tay:
- Không phải nhờ tôi đâu. Chính nhờ cô Thu đấy.
- Cổ cho tôi hửi dầu nhãn nhưng có ăn thua gì.
- Dầu nhãn thì không ăn thua gì nhưng mùi kia thì kết quả ngay. Không ai nói cho thầy biết à?
Tám Đột đúng sát lại rỉ tai tôi rồi cười hắc hắc:
- Đó là thuốc thần hiệu nhất. Tôi đã dùng rồi. Hễ có người chết dưới hầm thì cứu cấp kiểu đó kết quả trăm phần trăm, nhưng phải nhớ là của các cô chưa chồng thì mới tốt. Tôi đã phổ biến tại hội nghị quận rồi mà ! Ngày thường là đồ bỏ, nhưng gặp việc là linh dược đó nghe thầy!
Tám Đột vừa nói vừa cun cúc lủi đi. Tôi chạy trở về . Vừa đến mối đường vào nhà má Hai thì nghe tiếng nói xôn xao. Tôi bèn quăng xe đạp quát:
- Có tìm thấy gì không?
Năm Dị nói tiếng nặng chịt nghe càng đứng tim.
- Chệt hệt anh Hai ơi! Vợ chồng con cái thằng út chệt hệt.
Tôi chạy càn vào, vấp ngạch cửa chúi lúi sắp ngã. Tôi móc đèn pin rội lên. Trong vệt ánh sáng xanh lè hiện ra hai ba đứa mặt mày cũng xanh lét như mặt quỉ.
- Nó ở sau vườn.
Tôi chạy vọt ra. Năm Dị giật chiếc đèn pin trên tay tôi chạy ra phía ngọn đèn leo lét ở góc vườn. Nắp hầm mở toang hoác. Tôi nhìn xuống. Bất giác tôi lùi lại và quay ra. Một bàn tay trắng bợt như giấy đưa lên hồi nào dán dính vào vách hầm như quờ quạng tìm lối thoát, chỏm tóc con nít áp trên ngực mẹ. Chẳng ai khác hơn là hai mẹ con con Út. Tôi hỏi.
- Còn thằng Út đâu?
Năm Dị trỏ xuống .
- Nó ở dưới kia. Phải nhìn xéo xéo kìa mới thấy.
Tôi nghe mùi bốc lên nồng nặc. Hít nó vào người phải bệnh. Tôi bảo Năm Dị và mấy cậu trinh sát:
- Thôi lấp lại đi. Ở phía đó lần trước người ta cũng làm vậy chớ không cách gì khác.
- Anh Hai bảo vậy thì chúng tôi thi hành.
Chập sau mặt đất bằng phẳng với những lát đất mới. Tôi lạnh lùng khoác tay:
- Thôi đi về !
Chớ còn làm gì được, một cấp chỉ huy không có phương tiện gì hết như tôi trong hoàn cảnh này? Thật là tàn nhẫn. Như để giảm nhẹ tội lỗi của mình tôi tiếp:
- Mai trở lại đắp nấm, mốt mở cửa mả cho tụi nó.
Bỗng nhiên vợ chồng con cái chết hết và chung một hầm. Ngôi nhà đang ấm cúng, vợ chồng con cái hàng ngày vui thú hạnh phúc đơn sơ tuy mong manh trong vòng bom đạn. Họ không mong gì hơn được sống lây lất qua ngày, chồng đi chài cá cho cơ quan, vợ tới lui phụ giúp nhà bếp. Mùa này lúa trúng, hai vợ chồng vô bồ được hơn một trăm giạ. Vợ nghĩ tới việc mua áo mới cho chồng con, chồng tính sắm thêm miệng chài mới. Giấc mộng chỉ có vậy mà cũng không thực hiện được .
Tôi nhảy lên xe đạp, một tay rọi đèn một tay cầm ghi-đông chạy một mạch đến cái dốc thả xuống rạch thì quẹo vào Chiếc xe lao nhanh băng qua những lỗ hổng và những hố cà nông nhiều lần lao đao suýt ném tôi xuống mé lề . Cây dừa tơ bên đường nơi Út từng nhét cục xà bông thơm cho tôi tắm, nơi nàng bế con đứng trên bến chờ chồng đi chài hoặc cắt lúa bên Thanh An về . Hai vợ chồng líu lo rồi vợ giao con cho chồng ẵm.
Cũng nơi bến này dân trong xóm đến giặt giũ , tắm rửa và gánh nước về nhà . Một bụi dừa rậm ri đứng ở ven sông, tàng lá râm ri che bít cả bầu trời, bít mắt phi cơ cho cả nhân gian yên tâm tắm rửa bơi lội. Những chùm rễ dài thòng xuống tận mặt nước như một ngàn bộ râu của người khổng lồ . Dưới bóng mát của nó bắc tạm bợ một chiếc cầu làm bằng cánh cửa ván lỗ chỗ vết đạn.
Đây là vùng trời nước mơ mộng của tôi. Vùi đầu trong những kế hoạch phương châm dự án, những gì gì khác nữa, tôi không còn được những giờ phút nghỉ ngơi của một người thường phải có. Đôi khi đang ăn phải buông đũa chạy, lắm lúc giữa giấc ngủ say có công văn khẩn cấp tới, cả trong lúc yêu cũng có lệnh thiên tử gọi tới chầu.
Lâu lâu, lén trốn cái cuộc đời hùng hục của tôi ở cơ quan, tôi ra đây ngồi xem cá đớp trái dừa chín rụng lõm bõm xuống nước, nhìn những con chuồn chuồn vô tư bay là sà như một bầy tiên nhởn nhơ bất cần mưa nắng, cũng có những buổi tối nhìn trăng dưới đáy sông mà tưởng mình sẵn sàng nhảy xuống lội mò cùng Thái Bạch. Cái dốc thân mến êm đềm xiết bao đối với tên Thiên Lôi này.
Nhưng than ôi! hôm nay nó trở thành vùng trời tang thương đau đớn. Tôi không dám để chiếc đèn pin cháy trên bờ sợ trực thăng bay qua hoặc Mohawk chụp hình thì mang đại họa. Tôi bấm tắt, nhảy xuống nước tắm thầm qua loa rồi vọt lên mặc quần áo, tất cả mọi việc không quá ba phút, xong lên xe đạp ngược dốc. Ngang gốc dừa tơ tôi ngảnh mặt như sợ thấy lại bàn tay của người đàn bà nhét cục xà bông trong bẹ dừa hôm nào, nay chắc vẫn còn đó. Về đến hầm, tôi nằm vật ra trên chiếc võng mấy đứa nhỏ mắc sẵn, nghe rã rời thể chất lẫn tinh thần. Chết! chết và chết! Chiến sĩ ra trận chết đã đành, thường dân ở nhà cũng không sống nổi. Chui hầm để tránh bom đạn nhưng lại chết dưới hầm. Bàn tay trắng bợt một cách kinh dị của người đàn bà cứ chập chờn trong trí tôi. Tại sao chúng nó lâm nạn? Không có dấu bắn, không có vết máu ở miệng hầm. Tôi hỏi Năm Dị vừa về tới:
- Cậu thấy nắp hầm đóng hay mở?
- Dạ đóng! Nhờ mùi thum thủm và nhặng đánh vù vù nên tôi tìm mới ra rồi nạy bật lên chớ hầm đâu có bị khui!
- Theo cậu có phải nó bị hóa học không?
- Dạ không đâu. Miệng và vách hầm không có dấu vết gì hết. Em chắc chắn là hai đứa bị ngộp. Hình như thằng chồng bò vô rồi chịu không nổi nên trở ra, còn con vợ muốn trồi lên một tay ôm con, một tay mở nắp hầm, nhưng vì kiệt sức mà nắp hầm lại nặng nên không bật lên nổi. Thằng chồng lúc đó cũng hết hơi muốn trồi lên lại bị con vợ trám bít lối nên gục luôn dưới chân vợ. Em đoán vậy không biết đúng hay sai.
Tôi lặng thinh.
Làm chỉ huy đôi lúc phải hạ những lệnh mà chính lòng mình không muốn nhưng phải làm vì nhu cầu của chiến trường hoặc vì phải thi hành lịnh của cấp trên. Như trận pháo kích Đồng Dù và Trung Hoà vừa rồi. Sau gần ba chục năm bây giờ tôi ngồi nhớ lại, tôi mới thấy rằng nếu tôi là một tư lệnh chịu mệnh lệnh của thượng cấp thì chẳng bao giờ tôi ra lệnh cho pháo kích như vậy. Tôi chắc chắn rằng tôi bắn không có quả nào rơi ngoài ấp. Dầu hèn cũng thể chớ đâu có đến đổi, căn cứ rộng như Đồng Dù, Trung Hoà mà bắn không trúng thì còn dạy ai? Nhưng tôi biết trước hậu quả thảm khốc, nhất là cho nhân dân. Chiến sĩ và du kích hi sinh, bị thương như thế quả là pháo Mỹ còn chê thịt giải phóng dữ lắm! Tôi đã bí mật bảo Tư Chuyền chuẩn bị cho năm chục cái hầm cho thương binh nằm. Đổi lại sự tích cực đó, tôi sẽ cố lấy cho y một cây dù! Nhưng sự thực không có đào cái nào cả. Nhân công đâu? Củ Chi chỉ có một anh du kích Lê Thanh Vân dùng răng cạp đất thôi !
Chỉ sau vài ngày pháo kích, Mỹ đã phóng ra cái Operation Crimp để đáp lời sông núi. Bộ đội rút ra ngoài vòng hoặc chui hang còn dân thì bị thương chết hoặc bị xúc ra ấp chiến lược. Số chui địa còn sống thì cũng lẳng lặng bỏ nhà đi.
Vợ chồng thằng Út chết một cách vô lý. Nếu chúng ở trên mặt đất thì bị xúc ra ấp chiến lược rồi trở về như bắt cóc bỏ dĩa. Nhưng cũng tại ba cái thằng lãnh đạo tuyên truyền làm cho dân mê tín địa. Vợ chồng nó đào sẵn hầm để đó, chờ Mỹ vô thì chui… khoẻ ru. Chúng chưa bao giờ ướm thử nên khi chui, không có kinh nghiệm gì hết!
Tôi đâm ra ân hận vì đã thu nhận thằng chồng. Cho nên bây giờ cả nhà chết hết. Nếu để nó đi Bình Long, Phước Long có chết chỉ mình nó. Vợ nó là goá phụ như bà Tám Khoẻ, Mai Khanh, Lục, Mười, Hai Xót, Chín Kiểu…. và hàng trăm cô gái ở ven Quốc Lộ lấy lính công trường 9. Chớ có đâu cả nhà chết thảm khốc như thế này.
- Lấp lại!
Cái lệnh của tôi lúc nãy như vang lại trong đầu tôi. Cái lệnh quá dã man chăng? Sao tôi không để chậm chậm đã!
Cái lệnh đó không phải là của tôi xuất bản đầu tiên mà tôi chỉ tái bản của những người khác. Đứng trước một ban tham mưu quận đội bị bom vùi, ông bí thư bảo lấp. Đứng trước một phòng cơ yếu bị pháo dập, ông trưởng ban bảo lấp… Lấp, lấp và lấp. Lấp là phuơng pháp nhanh tốt và rẻ nhất vvà là cách làm cho người chết ít đau đớn nhất.
Thì ngựa ơi đi nhịp đằm chớ nhảy,
Kẻo thân đau chưa quên nệm giường đời.

Người chết được nằm trong hòm ngựa kéo ra nghĩa trang mà nhà thơ còn bảo ngựa đi nhịp đằm để người khỏi đau. Còn ở đây những cái xác nát, thối hoặc thiếu đầu, sứt tay phải moi lên ráp lại thì đau đến mức nào? Thôi thà để vậy mà lấp luôn. Rồi đây bạn đọc sẽ được thưởng thước cái lệnh lấp lại đó lặp lại không biết bao nhiêu lần trên đất Củ Chi này. Và rồi bạn cũng sẽ quen đi, không cho tôi là tên chỉ huy tàn nhẫn nữa. Và nếu chẳng có cô Thu và cậu Quản thì hôm nay Tám Đột cũng đã tái bản cái lệnh đó với tôi rồi. Tôi nằm luôn trong lòng… đất. Không biết có bà con nào nằm lại dưới đó không?
Đang nhớ lan man những chuyện vừa qua thì lại nghe tiếng ồm ồm ngoài miệng hầm.
- Thằng Thiên Lôi của mày có ở nhà không?
Tôi biết đó là Năm Tiều nên ngồi bật dậy. Gặp tri âm trong lúc buồn. Tôi bước ra vội vã mời thì lại đụng đầu cả Bảy Nô. Hai ông thần này thường đi có cặp. Lính sợ hai ông đã đành, cấp trên cũng ngán luôn.
Năm Tiều mở đồ nai nịt ra bỏ ở bàn làm việc của tôi. Thấy Bảy Nô còn xựng xựng tôi hỏi:
- Bộ anh Bảy còn tính đi đâu sao?
- Đi thăm má nó chút.
- Chị Bảy ở đâu?
- Tao mới cho dời nhà lên con Mô hồi hôm. Tụi Mỹ làm cỏ xong Bến Mương của mày thì sẽ cày Phú Hoà Đông của tao, nên phải né trước.
Năm Tiều bảo:
- Ở nhậu ba sợi rồi đi không được sao?
- Để tôi ra coi bả tới chưa rồi trở vô.
- Bộ sợ người ta đổ lọp hả anh Bảy?
(Vì không thích tính khí của Bảy Nô, nên sau này ở trên đã điều động Bảy Nô ra khu Rừng Sát. Trên đường đi bị tàu bắn chết trên sông Sàigòng, bỏ bà vợ trẻ không con)
Năm Tiều thêm:
- Ếch bắt cặp thì trời mưa chớ không có bắt cặp trời nắng nghe cha nội!
Bảy Nô để nguyên súng ống ngồi vào bàn. Tôi kêu trẻ nhỏ pha trà. Định hỏi về tình hình đánh đá của các đơn vị vừa qua thì ông phó ban tác huấn lên tiếng trước.
- Nghe nói mày suýt bị địa đè hà?
- Ai nói với anh vậy anh Năm?
- Mày sống lại nhờ ai, tao còn biết nữa kia!
- Thôi ông nội ơi, ông đừng có móc chuyện đó ra tôi ngóc đầu lên không nổi.
Năm Tiều cười ngất nói oang oang như chỗ không người :
- Tao còn muốn kêu con nhà báo Nhã Nôm đến đây nó phóng… sự mày đó. Chuyện ngửi nước đái con gái có gì xấu? Hồi nhỏ ở nhà tao còn thấy người ta uống nữa kia. Đâu, con nhỏ nào tặng mày món thuốc đó, cho tao biết coi.
- Chi vậy anh Nam?
- Để nay mai hoặc lính tao chết ngộp dưới địa thì xin cho nó một tô chớ chi.
Vừa lúc đó Thu bưng nước tới. Năm Tiều cứ hỏi tự nhiên:
- Mày cho tao biết, tao sẽ xin nó một chai lận lưng để dành.
Bảy Nô cười hắc hắc:
- Đựng vô chai không linh ông ạ. Phải xài ô-rin kìa.
Tôi cắt ngang vì sợ Thu biết:
- Mấy đơn vị mình có lập thành tích gì không anh Năm?
Năm Tiều nói:
- Tít gì mà tít . Chạy như gà mắc đẻ. Mỹ ở trong này mà đi lẫn ra Đồng Lớn bắn lạch chạch, tụi Trung Hoà kêu pháo giã, Đồng Dù tiếp theo. Ban đêm tụi Mỹ cụm ở Bào Đưng, thằng Ba Đức xách C2 từ Rừng Làng định ra tập kích ai dè bị pháo sáng lòi lưng, tụi Mỹ quạt, khiêng về mười ba đứa.
- Nghe nói trên Hố Bò, Bùng Binh làm ăn khá lắm anh Năm!
- Ai nói? trên đó Mỹ có xe tăng bảo vệ bộ binh, Dakôka bay vòng vòng thả pháo sáng, đám em nuôi bà Định, mới vừa mon men tới bị pháo Chà Rầy và Trảng Bàng giã chày đôi 12 khẩu 102, chịu sao xiết.
Bảy Nô tiếp:
- Mỹ biết đánh giặc lắm chớ không phải như đài giải phóng của mình tuyên truyền gạt con nít đâu. Nó đóng quân ở giữa, xe tăng ký bốn tên, chiếc nào cũng âm xuống đất, chỉ ló cái tháp súng lên thôi. Bên ngoài nó còn thả bùng nhùng dây chì gai. Đụng tới cái thét lưng của nó mệt khước, chú em ơi. Mà có đụng rồi cũng không dễ gì ném được. Hổng biết mấy cô dũng sĩ của ông Tém Quang có đụ…ụng được chưa ?
Năm Tiều cười khục khục trong cái cần cổ như gà lôi kêu:
- Để mai mốt bà Năm Đang và Hai Xót họp khu ủy về, tao với mày chận đường hỏi bả dùng mũi chánh trị giáp công để đụ…ụng được cái….
- Hai bà đó thì chỉ nắm thắt lưng của mấy lão già thôi.
- Mấy lão nắm dây lưng rút của mấy bả thì có!
Bảy Nô trở lại vấn đề:
- Nói cho ngay tao định xách d… của tao ra định chơi một trận, nhưng ngó đi ngó lại đại đội này rã hàng, đại đội kia tản khai, đại đội nó phân tán mỏng trong dân , có một số lẩn theo đân chui xuống địa, móc không lên.
- Ông Ba (Xu) có lệnh nghiêm cấm chui rồi mà anh Bảy!
- Ổng bị kẹt thử coi ổng có chui không ?
(Quả tình ít lâu sau chính ông Tư Lệnh cùng đường cũng chui địa bị Mỹ chốt. Dương Đình Lôi phải đem quân liều chết giải vây. Nếu không thì ổng cũng bị lấp!)
Bảy Nô nhấp trà rồi tiếp:
- Mất cả một ngày mới tập trung được hai đại đội, quân số lỏng lẻo, đem ra mới bắn vài loạt, trực thăng tới bu đen, cùng dắt nhau chạy về, bỏ lại hai đứa.
Năm Tiều cười:
- Ông coi vậy mà thua tụi D8. Nó kết hợp với du kích An Phú, Hố Bò pháo kích cụm Bến Dược. Nghe nói có trực thăng đáp xuống hai ba chuyến. Chắc lấy thương binh.
- Cái đách! Nó chỉ chở đĩ xuống cho lính Mỹ đó cha nội. Ở ngoài mình pháo, ở trong nó cũng pháo.
Năm Tiều nói xụi lơ:
- Tụi Mỹ hành quân kiểu này chưa chắc thằng già Sáu Khâm dám xách công trường 9 xuống đây chơi nữa là ba cái đám lính vịt xiêm Q16 và D1 của thằng cọc cạch Ba Châm.
Vừa đến đó thằng Bọ Ngựa đi lấy công văn trên phòng chính trị về. Tôi mở ra đọc còn Năm Tiều xem báo Quân Khu. Anh đập lưng tôi:
- Nghe nè! nghe nè ông thầy pháo với ông dê trưởng! Tin chiến thắng lớn!
Rồi anh đọc luôn:
“Kết quả cuộc càn liên tiếp bảy ngày của 8 ngàn quân Mỹ ở hữu ngạn sông Sàigòn, đặc biệt nhắm vào quận Củ Chi đã kết thúc. Quân dân ta bảo tồn được lực lượng…”
Tôi xua tay:
- Tôi đọc rồi anh Năm ơi!
- Báo mới ra lò, mầy đọc hồi nào giỏi vậy?
- Tôi đọc hồi chưa in.
- Sao kỳ vậy?
- Cô ấy viết xong đem lại cho tôi chuốc dùm một hai điểm.
- Sao chuốc có hai còn điểm kia để cho ai?
Bảy Nô hất hàm với tôi trong lúc Năm Tiều vẫn nhướng lên nhướng xuống đọc cho hết mẫu tin. Anh để tờ báo lá cải trên bàn, đập đập tay:
- Vậy cũng nên thưởng con nhỏ này chớ. Điểm thứ nhứt: mình cõng thương binh thấy mẹ mà nó nói Mỹ thua. Điểm thứ hai. – Bảy Nô xoè bàn tay to tướng như cái quạt nan – Điểm này còn đáng thưởng hơn: Mỹ mới càn có hai ngày mà nó nói cuộc càn liên tiếp bảy ngày của Mỹ đã kết thúc. Điểm thứ ba: thằng mắt toét Chín Lộc còn không biết có bao nhiêu Mỹ mà nó dám nói là tám ngàn lại còn liệt kê rành rẽ các binh chủng. Đây, các ông nghe cho kỹ: “Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn Anh Cả Đỏ, Lữ đoàn Dù 174 và Trung đoàn bộ binh Hoàng gia Úc. Chúng được yểm trợ bằng xe tăng M113, pháo các loại. Ngoài ra còn đủ các loại phản lực, trực thăng đổ quân, trực thăng chiến đấu, trực thăng quan sát. Trước đó một tuần lễ vùng đất thép Củ Chi đã hứng chịu hàng loạt bom B52 nhưng nhân dân ta đã anh dũng giáng cho địch những “đoàn” sấm sét khiến cho địch…”
- … phải cúi đầu nhận tội.
Cả ba cùng cười. Năm Tiều tiếp:
- Chưa hết. Các cụ nghe thêm đoạn nữa thì dầu có rửa chưn leo lên bàn thờ cũng mát cái ruột già. “… Ngay từ ngày thứ nhất, lữ đoàn 1 đã đổ quân xuống các xã các vùng Nhuận Đức, An Nhơn, Sở Đất Thịt, Bào Lách, Bào Đưng, Trung Lập Thượng, Phú Hoà Đông nhưng đều bị các đơn vị địa phương và chủ lực vây đánh cho xiểng niểng. Đặc biệt các đội nam nữ dũng sĩ với truyền thống anh hùng của đất thép Củ Chi đã bám thắt lưng địch mà bắn (ủa) mà đánh làm cho “****” phải co cụm.”
Bảy Nô xua tay:
- Ê, đừng phát âm nguy hiểm vậy nghe!
Năm Tiều quay lại tôi nháy nháy:
- Tôi là dân Nam cờ mà ta! Mày chuốc, mày bào kiểu nào mà nó hứng dữ vậy Lôi?
- Tôi chuốc cái điểm pháo kích của tôi chớ có rớ tới cái điểm khác.
- Mày chuốc hai điểm trên đâu có đủ, nó đem lên cho mấy chú mấy bác chuốc tiếp.
Bảy Nô cười chành bành cái miệng rộng:
- Chú Ba chuốc, chú Mười bào rồi anh bác sĩ Tám Lê nạo. Đó là ba giai đoạn liền tù tì.
Ba thằng uống trà đổ xác như núi, hút thuốc phun khói như đống ung trâu và cười rung hầm. Như vậy cũng xoá được cái nỗi buồn chiến binh biên ải.
Tôi nhắc Bảy Nô đi thăm bà. Năm Tiều nói:
- Lọp của nó còn mới nên nó sợ người ta đổ rồi xách mất. Còn tao nè, tao có sợ không?
- Anh bị đổ cái này còn cái khác, anh đâu có sợ.
Năm Tiều bị xoi trúng tim đen làm thinh.
Vừa đến đó thì Năm Dị chạy về kêu là bài hãi:
- Thầy ơi thầy! có chuyện nữa!
- Chuyện gì vậy?
- Má Hai chết rồi!
- Tầm bậy! Bả vô thăm vợ chồng thằng Út rồi về Trung Hoà bữa hổm…
- Tôi thấy tận mắt nên về báo cáo với thầy mà.
Tôi chạy vọt ra hầm:
- Cậu nói thiệt hả Năm Dị?
- Sau khi đắp hai cái nấm lớn và một cái nấm con tượng trưng cho gia đình thằng Út, tôi vô nhà tìm gỗ để cắm trên đầu mả. Tôi nghe mùi hơi nặng hơn ở bên ngoài. Tôi đi lần vô kẹt bồ lúa thì thấy một đống mền chiếu. Mùi thúi bốc ra từ đó. Tôi bèn giở từng lớp một. Càng giở càng thúi. Đến lớp cuối cùng thì đúng là bà má. Bà gục đầu xuống và hai tay ôm chân như sợ bom nổ điếc tai! Ở chỗ này thì không lấp được . Phải đem má ra chôn ở ngoài.
Tôi nhớ con Út có lần nói với tôi rằng lúc ba Hai còn sanh tiền ba đã xây sẵn kim tỉnh cho hai ông bà, nên bây giờ sẵn chỗ cho má nằm. Chỉ còn liệm và chôn. Không phải đào. May quá! Tôi nói cho Năm Dị nghe. Năm Dị bảo:
- Vậy thầy cho người ra tiệm Chệt Tư lấy một cây ni lông đem về đây mình đậy chụp lên, gói lại, xong đem ra ngoài bó rồi chôn. Chớ bây giờ làm sao đóng hòm được. Mỹ xúc dân đi hết rồi, tìm đâu ra thợ mộc?
Tôi tán thành ngay. Tôi nói với Năm Tiều:
- Anh nằm võng nghỉ đi anh Năm để tôi đích thân đến lo công việc mới được. Lúc còn sanh tiền má cho lúa gạo gà vịt chúng tôi ăn hoài. Vợ chồng thằng Út coi tôi như anh ruột.
Năm Tiều thở ra:
- Nghỉ mẹ gì được mà nghỉ. Mày đi tao cũng đi lại đó tiếp với tụi bây một tay. Chịp! Mới chôn vợ chồng thằng Út xong lại tới má.
Tôi cho người ra tiệm Chệt Tư lấy ni lông và vải mang về. Mang ơn Chệt Tư biết bao. Tôi, Năm Dị, Năm Tiều đích thân đem xác má ra, tẩm liệm và bó lại trên một cánh cửa khiêng ra huyệt. Cái huyệt bằng xi-măng đã đổ cát đầy một nửa. Anh em xúc lên xong thì trời tối. Chúng tôi đặt xác má xuống dưới ánh sáng mấy cây đuốc lá dừa. Nhìn bên trái, ba nấm đất còn mới nguyên. Bây giờ thêm một mô nữa. Thế là gia đình này tuyệt tự rồi bác Hồ ơi! Tôi gắng gượng nói mấy câu vĩnh biệt má mà không ra tiếng. Năm Tiều cứng cõi hơn, nhưng anh cũng phải nuốt gặn mấy lần:
- Thôi, má nằm đây với ba cũng ấm! Dưới đó cả nhà sum họp đại đoàn kết!
Rồi anh quay ngang. Chắc anh cũng khóc, mặc dù nói miệng cà rởn:
Tàn đuốc rơi lả tả,
Lửa cháy xèo xèo
Lòng người cũng nát như tro than.

Năm Tiều không về hầm tôi nữa. Anh kéo tôi ra xa, bảo:
- Mày chuẩn bị dời đơn vị đi. Tao đến đây để cho mày hay đó!
- Sao vậy?
Anh vỗ vai tôi:
- Ở trên sắp đưa mày ra chỉ huy tiểu đoàn 1 thay cho thằng Ba Châm. Anh em mình còn gặp nhau nhiều. Mày đừng buồn. Mày cứ nghĩ như thế này là mày cứ vui hoài. Coi như mình chết hồi chín năm rồi. Thiệt chớ mày! Đánh tàu, đánh xe, bắn máy bay cả trăm trận mà không chết. Ra Bắc rồi về. Tưởng bỏ xác ở Trường Son vì muỗi mòng đói khát mà cũng không sao. Về R đ
ội bao nhiêu bom pháo mà cũng còn sống nhăn, không sứt miếng thịt nào, xuống Củ Chi hai năm bao nhiêu thằng lên bàn thờ, mình vẫn còn đây. Vậy mình tư coi mình như con buôn. Cái sống này bây giờ là lời, còn vốn thì đã lấy lại gấp ba bốn lần rồi. Lắm lúc tao hay nói càn, thấy ai đang buồn tao lại đâm hơi cho bao nhiêu người khó chịu coi tao là thằng ba trợn. Sự thực tao muốn che lấp nỗi buồn bên trong. Thôi về đi… nay mai, há há… họp đại hội ve chai ở nhà thằng Bảy Nô hoặc ở đâu đó hoặc dưới âm ty hổng chừng.
Tôi về hầm chúi mặt vào võng, nằm chờ chết.
 
[font="verdana; color: #ff0000"]Chương 65
[font="times new roman; color: #ff0000; font-size: medium"]Lá thư của người đàn bà yêu gã Lê Dương
Chúng nó nơ sạch kho gạo của ông Bảy Hốt ở Hố Bò. Chúng chở bằng trực thăng về cho dân ấp chiến lược (ở trong này mới bị xúc ra), kế đó chúng đụng kho quân trang ở Bến Dược, rồi kho y tế ở Bàu Đưng và kho vũ khí ở Lộc Thuận. Bản tin chiến thắng của cô Nhã Nam bỏ sót mấy vụ này. Quân Mỹ càng moi càng gặp của quí nên chưa chịu rút. Ban đêm cụm lại ban ngày bung ra. Tiểu đoàn 8 của Năm Thủ (Cao Hoàng Thủ sau này về thay tôi) nổ được năm, sáu quả pháo như ru cho Mỹ ngủ ngon hơn.
Trinh sát mon men lại gần cụm Bàu Đưng nghe các em Sàigòn nói mi-cơ-rô ỏm tỏi. Các em đòi theo Mỹ vô oánh thấy mẹ mấy thằng Việt Cộng. Mấy cậu về thuật lại, ai cũng tức nhưng không dám bắn. Nếu nổ một phát là nó quạt cho nửa giờ và câu vài trăm trái pháo.
Từ sau ngày hai vợ chồng Út chết, cơ quan buồn hẳn đi. Đám trẻ con mặt mày dàu dàu không dám trửng giỡn nhu trước vì sợ pháo lẫn xe tăng. Mấy cái bàn máy đánh chữ bỏ luôn dưới hầm nên không còn nghe tiếng lọc cọc vui cửa vui nhà. Nói chung mọi người sống trong bầu không khí chuẩn bị chạy. Vợ Sáu Phấn bị xúc, mấy đứa nhỏ nheo nhóc ở với chú Tám Cần. Sáu Phấn cố cầm chú ở lại chăm sóc nhà cửa nhưng coi mòi chú đã chân trong chân ngoài. Dân không dám ở lại với giải phóng nữa. Nói cho cùng thì ai cũng sợ chết. Cho nên đào địa để trốn. Nhưng trước cái chết của gia đình má Hai và của tôi, thì địa đạo trở nên một điều ghê tởm.
Mấy ông già ghềnh khu ủy đã qua bên kia sông ăn hút không nhắn một lời. Có vẻ mạnh ai nấy tẩu.
Một buổi chiều Mười tới. Nàng nói ngay với tôi:
- Em phải đi tìm con mới được. Vắng nó ba ngày em chịu hết nổi rồi.
- Ừ, em đi thì đi.
- Có ai nói gì anh không mà coi bộ anh buồn vậy?
- Vui sao được mà vui em?
- Anh xuống địa mà còn lên được thiệt là may hết sức.
Tôi nói cứng:
- Bộ ai xuống đó cũng chết hết sao?
- Không phải chết hết nhưng mà có nhiều người xuống rồi không thấy lên.
- Sao em biết gỉỏi vậy?
- Ông Tám Đột lại nhà anh Sáu Phấn với ông Sáu Bửng, bí thư xã, ba người bàn với nhau về vụ địa đạo. Ông Tám Đột nói ông Ba Xây bị bắt thiệt rồi.
- Chuyện đó đúng. Có người bị bắt chung với ổng chạy thoát về nói lại cho anh.
- Ai vậy anh?
Tôi thuật lại vụ Út Nhỡ quào mặt thằng Mỹ rồi chui mất cho Mười nghe, Mười cười:
- Em hổng tin mấy cô dũng sĩ đó đâu.
- Sao vậy?
- Mỹ gì khờ như vậy. Trước kia có lần em đi chợ, em gặp một thằng mặt như có cô hồn, em bước chân nọ đá chân kia, bụng run muốn chết. Từ đó em nghỉ đi luôn.
Tôi hỏi:
- Mấy ổng bàn vụ địa điếc ra sao?
- Anh Sáu em nói kiểu này thì phải dời tức tốc, sợ ông Ba Xây dắt Mỹ về.
- Có vụ đó nữa sao?
- Có chờ sao không anh? Ở ngoài Ràng đã bị rồi mà. Không ai ngờ nên bị dính hết.
- Còn ông Tám Đột và ông bí thư nói sao?
- Ông Tám Đột nói là ông Ba Xây không có đầu hàng Mỹ dễ dàng như vậy đâu. Ổng nói ông Ba Xây vô đảng hồi trước hoà bình lận. Nhưng anh Sáu em nói vô hồi nào thì vô chóo Mỹ nó cho uống nước hoá học là khai hết. Ông bí thư phụ hoạ với ông Tám Đột nói thằng Xây là xã đội, nó dư biết trong mình gài mìn và lựu đạn tùm lum, nếu nó dắt Mỹ về thì Mỹ để cho nó đi trước thế nào cũng đạp mình hoặc lựu đạn banh xác trước. Nó đâu có dại.
- Rồi anh Phấn nói gì nữa?
- Anh Sáu em nhứt quyết phải dời và còn kêu ông gì hiện ở hầm trong nhà ông Ba Xây phải dời đi nữa! Thằng chả không dẫn Mỹ vô thì chỉ cho máy bay bỏ bom rồi làm sao?
Tôi giật mình tự nhủ: có lý nào Năm Lê chưa biết Ba Xây bị bắt? Mười tiếp:
- Ông Tám Đột nói từ rày ổng sẽ không dùng cái đường Thống Nhất nữa.
- Đường Thống Nhất nào?
- Thì cái đường anh chui xuống rồi chết ngộp ở dưới đó chớ còn đường Thống Nhất nào nữa ?
- Sao ông ta tin tưởng Ba Xây không dắt Mỹ về mà ổng lại bỏ con đường đó?
Mười ngập ngừng hồi lâu mới nói:
- Em đã biểu là có nhiều người xuống rồi không lên nữa ma!
- Bậy nào!
Mười vỗ vai tôi:
- Thiệt! Hổng tin anh gặp ông Tám Đột hỏi thử coi. Một con chó chết sình ở dưới sông còn thúi lên tới trên này huống chi người ta.
- Sao em biết có người chết ở dưới đó?
- Em nghe ông Tám Đột nói chớ sao nữa. Ổng tới xin mấy cái đinh dài đóng ghe của anh Sáu em để khoá nắp hầm lại luôn.
- Chuyện gì em cũng biết hết.
- Em còn biết đường Thống Nhất có mấy ngách trổ ra đâu và dài bao nhiêu nữa.
- Dài bao nhiêu?
- Không quá 500 thước.
- Sao chắc vậy?
- Anh Sáu em chỉ huy lính đào phối hợp với xã đội mà. Chú Hai Giả cũng có đem lính đi đào mấy lần. Như vậy ông Tám Đột mới cho lính của anh chun chớ tưởng khi không mà ổng cho à! Trời ơi! Thằng cha đó ghê lắm!
- Ghê làm sao?
- Thôi, em không có dám nói đâu. Bà Sáu Bầu phải để cho ổng ở trong nhà mà êm rơ đó! Chị Sáu em biểu anh Sáu em có muốn chui hầm thì đào riêng mà chun, chớ đừng có chun với mấy ông đó. Thấy chưa, nếu ảnh chun vừa rồi thì cũng như anh. Mấy thằng cha đó làm hùm làm hổ bắt dân chun chớ mấy chả đều có hầm riêng hết á. Từ rày có gì …
- Thôi từ rày anh không chun nữa. Em định đi tìm con mấy ngày thì về?
Mười lặng thinh, chốc chốc lại thở dài, rồi lắc đầu nhìn tôi:
- Chắc em không còn gặp anh nữa quá!
- Sao vậy?
- Ở trong này sao được mà ở. Em chông chênh một mình khó quá hà anh à. Lâu nay sở dĩ em còn nắm níu lại đây là vì em thấy con Hoàn nó mến anh, em đi không đành. Người lớn thì dễ chớ con nít đòi thì khó từ chối lắm. Kỳ này chị Sáu em bị xúc ra ngoải chắc chỉ ở luôn. Thế nào cũng mang tiếng chồng giải phóng mà vợ quốc gia, nhưng mà hoàn cảnh như vậy biết làm sao bây giờ? Đất đai của ba má em để lại cho hai chị em đã bán trước chớ để tới bây giờ đâu có ai mua n ữa. Hai chị em đã tính hết rồi .
Mười ngưng một lúc:
- Để em dọ ngóng thêm coi con ở đâu, nếu vài ba bữa nữa mà không có tin gì hết thì em phải đi.
- Ừ, em ở luôn ngoài đó cho khoẻ.
- Anh sợ mang tiếng vì em phải không?
- Em mang tiếng vì anh thì có, chớ anh sợ gì? Nhưng anh không muốn cản em. Ở trong này không ổn. Lại nữa con lớn rồi mà không có trường học. Còn em thì còn trẻ đẹp. Em phải lấy chồng. Thiếu gì người theo em, em vẫy tay là họ tới chớ gì.
- Đã một đời chồng rồi em ngao ngán lắm.
- Một đời hay hai đời ba đời gì em cũng phải lấy chồng. Em không ở vầy hoài được đâu.
Mười mếu máo như trẻ con:
- Sao anh không về sớm sớm để em gặp anh?
- Bây giờ gặp rồi cũng như không! Mình yêu nhau thôi chớ có sống với nhau được đâu.
- Sao anh nói kỳ vậy? Người ta đeo anh nhiều quá phải không?
- Không đâu em! Em lầm rồi. Anh chưa bao giờ trao trái tim cho ai trọn vẹn nhanh chóng và hoàn toàn như đã trao cho em.
- Vậy em còn lấy chồng làm gì nữa?
- Chồng là một chuyện, còn yêu lại là một chuyện khác em à. Lấy anh rồi em sẽ hết yêu anh.
- Bộ anh có bà nào ngoài Bắc mà anh giấu em hả? Hổng chừng có một bầy con nữa đó!
- Lính Lê Dương mà vợ con đâu sớm vậy? Vợ anh là em, con anh là bé Hoàn chớ còn ai nữa. Em không nghe anh xưng ba với con sao?
- Sao nãy giờ anh không hôn em vồ vập như mọi lần?
- Vì ngồi cách nhau…
- Có hai tấc mà cách gì? Thôi, anh lại ngồi đây cho gần em đi anh, để mai mốt còn xa nữa!
Tôi ngồi sang cạnh Mười:
- Nè, hôn đi, giận hả?
- Không giận hờn gì hết, nhưng buồn.
- Vì sao?
- Vì anh sắp rời đơn vị này, vùng đất này và… em nữa!
- ….
- Anh đi đâu?
- Đời thằng lính Lê Dưong, người ta khiến đâu đi đó. Xin lỗi em nghe, anh sắp bận công tác rồi. Anh có hẹn nên phải đi . (Tôi phải cho Năm Lê hay vụ Ba Xây bị bắt.)
- Hẹn gì? Anh từ chối không được sao? Em không cho anh đi. Em muốn anh ngồi đây với em tới sáng.
- Không được em à!
Tôi đứng dậy hôn trên má Mười. Mười không nói gì nữa. Da mặt lạnh ngắt. Tôi lấy hết can đảm, lùi ra quơ súng nịt vào và bảo.
- Anh đi nghe. Tới giờ rồi.
Mười vẫn ngồi yên, cơ hồ không cảm xúc. Mắt nàng long lanh. Tôi quay lưng bước đi một quảng lại trở lại hôn nàng. Đáng lẽ hôn môi không hiểu sao tôi lại hôn trán. Tôi đi xa còn ngó lại. Nàng vẫn ngồi đấy. Nàng có biết đâu niềm đau nỗi khổ của tên Lê Dương được một người đàn bà yêu, tình yêu say đắm hơn tất cả các mối tình trước đây của hắn gộp lại, nhưng số của hắn là lê dương cho nên thân phận hắn phải nổi trôi và không định cư được ở một trái tim người đàn bà nào, dù là người đàn bà yêu hắn nhất.
Tôi đạp xe một hơi lên hầm. Trời đã ngọ mặt. Tôi gặp Tám Nghi đang lọ mọ kéo mấy cái chà tre rắp cửa. Tôi nói:
- Ba Xây bị bắt rồi, hay chưa?
- Ơ kìa, mày đã cho thằng Đỏ vô cấp báo rồi, quên hả? Từ rày có tới đây phải kêu người ta ra rước, đừng có xông đại vô nghe mày! Ổng sai gài lựu đạn và mình hai vòng rồi đó.
- Công việc quá lu bu, tao lộn hồn lộn vía. Sao còn ở đây?
- Ổng bảo để khu ủy đi trước rồi ổng sẽ dông sau!
- B52 quất trúng quân y của quận Bến Súc hay C3 của Tám Lê mầy biết không?
- Biết rồi! Chạy đàng mồ mắc đàng mả!
Tôi muốn trở về gặp Mười. Không biết hồi nãy sao tôi không bảo Mười ngồi chờ. Mà cũng phải, đi công việc biết có về sớm được không mà bảo người ta chờ? Chờ một cái gì không đến.
- Thôi coi như ổng đã hay tin Ba Xây rồi, tao về nhá.
- Mày vô đi, ổng đang cần gặp mầy đấy.
Nói xong Tám Nghi dắt tôi lách qua con đường mới vào ngỏ mới, cái gì cũng đổi chỗ hết.
- Mày ngồi đây nghe, tao vào tâu, bệ hạ có cho thì mới vào chầu được.
Tôi sốt ruột muốn trở lại với Mười. Tôi như thấy vẻ mặt âu sầu của nàng, hờn dỗi trách móc, nhưng một công việc chết sống như thế này, tôi không thể phó tách cho thằng Đỏ được. Biết vầy thì mình đã ở lại với Mười tới sáng chớ vô đây làm chi? Tám Nghi trở ra:
- Sửa lại áo mão rồi vô chầu, bạn!
Tôi theo ánh đèn pin (cái đèn quáu tôi cho hắn thì phải) vào tận cái ngách sau cùng. Năm Lê pha trò mở đầu câu chuyện.
- Sao? Mày thấy âm phủ có vui không?
- Dạ.. anh Năm cũng hay chuyện em chết dưới địa à?
- Tao còn biết mày nhờ hửi “bia” mà sống dậy nữa.
Tôi cười hồn nhiên khi thấy nét mặt chì của xếp mình tươi tắn. Anh là người đánh Tây ngon như rau, lính phải kêu anh là ông Thần Núi (lấy tiếng từ Sơn Tiêu). Đáng lẽ anh càu nhàu hay hạch hỏi chuyện này kế hoạch nó, nhưng anh cứ đùa:
- Chai bia đó khui còn bọt không mậy? Hà hà… Mày đi đâu cũng gặp số may.
Thấy anh vui tôi cũng đối đáp gọi là:
- Dạ cũng đại khái vậy anh Năm à!
- Chai này khác chai kia chớ chú em!
Rồi anh bắt qua chuyện tác chiến với giọng nghiêm trang:
- Mình không nên chạy bỏ dây. Mình ở đây thì dân bị xúc còn về, nếu mình đi thì mấy thằng mặc áo bà ba mang guốc vông (huyện ủy) này hút gió không kêu ngay, vì không có mình dân sẽ không về. Dân không về thì quán không bán, gạo không có xe bò chở, nước mắm cũng không có mà húp nữa là nhậu nhẹt hàng ngày! Tụi D8, D7, Đ không thấy D nào làm được cái gì! Mày có gặp thằng Châm, thằng Nô, thằng Thủ thì bảo là tao không có bảo tụi nó liều mạng nắm thắt lưng (có lẽ anh sợ phạm húy nên nói né qua) đừng có liều mạng làm tiêu hao lực lượng. Còn vấn đề của mày, mấy chả muốn đưa mày ra chỉ huy tiểu đoàn thép Củ Chi. Tao bảo con nhà pháo không làm vậy được. Hiện không thể có hai thằng như mầy ở quân khu này. Nhưng mấy cha mặc áo bà ba mang guốc vông quyết định chớ không phải tao, cũng không phải ông Ba Xu, nên nếu mày rời H6 về chỉ huy D thép thì chớ có trách tao.
- Dạ, em đâu có trách gì anh Năm! Thượng cấp đặt đâu em ngồi đó.
Tôi mong ổng ngưng câu chuyện để vọt về, nhưng ổng lại lấy úych ky và kêu Tám Nghi đem tôm khô ra nhâm nhi. Tôi ngồi uống rượu mà không biết mùi gì.
Xong tiệc, tôi ngó đồng hồ. Đã quá mười giờ. Tám Nghi đưa tôi ra ngõ. Tôi hỏi:
- Bữa trước mấy cha lủi đâu?
- Ngách đặc biệt. Chỉ tao với ổng thôi.
- Không thông ra đường Thống Nhất chớ?
- Không có thông đâu cả. Địa đạo mà chui như bầy vịt thế kia chém chết cũng ăn hoá học. May mà mày nhờ thùng bia nà! Hề hề…
Tôi vọt lên xe, đạp bán thân mẹo dậu. Pháo sáng của Dakota mắc quanh các cụm quân ở Bàu Đưng, Bàu Lách, Rừng Lộc Thuận đẹp như sao sa. Tôi về tới hầm, quăng xe đạp nhào vô. Trên băng một người con gái đang ngồi. Tôi ôm lấy hôn tràn lên mặt và thầm thì:
- Anh xin lỗi em nghe! Anh bỏ em anh đi em ngồi một mình. Từ rày anh không đi như vậy nữa. Anh từ chối tất cả. Em đã nấu gì cho con ăn chưa?
Tôi có thể nhai ngấu nghiến nàng ra như một miếng cá chiên dòn. Nhưng bỗng tiếng cười vang hầm. Tiếng cười không phải của Mười. Cô gái hỏi:
- Thủ trưởng đi đâu lâu vậy?
- Mấy tiếng mà lâu?
- Bốn tiếng! Mấy anh trinh sát đi kiếm thủ trưởng tự nãy giờ.
- Tôi đi tìm một người chớ có cần ai đi kiếm tôi đâu.
Tôi cảm thấy chới với như người chết đuối vừa vớ được cái bập lá vuột mất. Đầu óc tối đen. Hồi lâu mới bật ra câu hỏi:
- Mười về lâu chưa Thu?
- Chỉ mới vừa đi.
Tôi vội nhảy lên quất đèn pin theo và gào lên:
- Mười! Mười!
Trả lời cho tôi là tiếng của tôi vang đi dội lại trong đêm. Dakota lại ném pháo sáng. Một chiếc Mohawk bay dọc rạch Bến Mương chụp hình nghe ầm ầm. Thu quát:
- Anh Hai vô mau.
Tôi vừa bước xuống hầm thì Thu trao cho tôi một gói giấy nhỏ rồi bỏ đi như ghen tức.
- Của chị Mười đó, không phải của em đâu.
Tôi cầm lấy cái gói còn ấm hổi mà bàng hoàng. Tôi không kịp đốt đèn. Cứ soi pin tay mở cái gói. Tiền và một bức thư. Tôi ném xấp tiền lên bàn và nằm vật ra võng tay soi, mắt đọc. Cho đến bây giờ gần ba mươi năm, mỗi khi nhớ lại tôi vẫn còn mường tượng nét chữ và nhớ cả bức thư như một bài học thuộc lòng.
Anh yêu,
Đêm qua thấy anh về với con và vuốt tóc em. Chừng thức dậy thì chỉ quơ đụng chiếc gối lạnh ngắt cho nên bữa nay em hỏi anh coi có về thật hay chỉ là chiêm bao.
Em phải đi ra Cây Trâm, Cây Bài để tìm con. Chắc anh không gặp em nữa đâu. Em chỉ ước ao sao một ngày nào yên ổn sẽ dắt em đi ngắm cảnh đẹp ở miền Bắc và giải thích cho em nghe chuyện hay chuyện lạ, nhưng chắc không được rồi. Tình chia đôi ngả kể từ đây.
Tiền này anh cất xài. Anh không nên uống rượu đua với mấy ổng rồi bịnh hoạn nằm một đống không ai thăm, cười khóc một mình nghe.
Hôn anh trên giấy.
T.B. – Em gởi anh sợi tóc của em để làm kỷ niệm
Chữ của nàng chân phương tròn trịa không thiếu nét. Chữ Đ ở đầu thư viết theo kiểu học trò nhà quê lớp ba.
Thôi vậy là trọn một cuộc tình. Nàng đã tặng tôi cả trái tim. Tôi cũng dâng nàng trọn vẹn, những cái hôn thực của da thịt lẫn mơ.
Tôi nhét lá thư vào túi áo đặt tay lên ngực như ôm một con chim trời sợ nó bay mất, như ôm một tấm huy chương của tình yêu, như ôm vết thương của chính mình.
Chương 65
Lá thư của người đàn bà yêu gã Lê Dương
Chúng nó nơ sạch kho gạo của ông Bảy Hốt ở Hố Bò. Chúng chở bằng trực thăng về cho dân ấp chiến lược (ở trong này mới bị xúc ra), kế đó chúng đụng kho quân trang ở Bến Dược, rồi kho y tế ở Bàu Đưng và kho vũ khí ở Lộc Thuận. Bản tin chiến thắng của cô Nhã Nam bỏ sót mấy vụ này. Quân Mỹ càng moi càng gặp của quí nên chưa chịu rút. Ban đêm cụm lại ban ngày bung ra. Tiểu đoàn 8 của Năm Thủ (Cao Hoàng Thủ sau này về thay tôi) nổ được năm, sáu quả pháo như ru cho Mỹ ngủ ngon hơn.
Trinh sát mon men lại gần cụm Bàu Đưng nghe các em Sàigòn nói mi-cơ-rô ỏm tỏi. Các em đòi theo Mỹ vô oánh thấy mẹ mấy thằng Việt Cộng. Mấy cậu về thuật lại, ai cũng tức nhưng không dám bắn. Nếu nổ một phát là nó quạt cho nửa giờ và câu vài trăm trái pháo.
Từ sau ngày hai vợ chồng Út chết, cơ quan buồn hẳn đi. Đám trẻ con mặt mày dàu dàu không dám trửng giỡn nhu trước vì sợ pháo lẫn xe tăng. Mấy cái bàn máy đánh chữ bỏ luôn dưới hầm nên không còn nghe tiếng lọc cọc vui cửa vui nhà. Nói chung mọi người sống trong bầu không khí chuẩn bị chạy. Vợ Sáu Phấn bị xúc, mấy đứa nhỏ nheo nhóc ở với chú Tám Cần. Sáu Phấn cố cầm chú ở lại chăm sóc nhà cửa nhưng coi mòi chú đã chân trong chân ngoài. Dân không dám ở lại với giải phóng nữa. Nói cho cùng thì ai cũng sợ chết. Cho nên đào địa để trốn. Nhưng trước cái chết của gia đình má Hai và của tôi, thì địa đạo trở nên một điều ghê tởm.
Mấy ông già ghềnh khu ủy đã qua bên kia sông ăn hút không nhắn một lời. Có vẻ mạnh ai nấy tẩu.
Một buổi chiều Mười tới. Nàng nói ngay với tôi:
- Em phải đi tìm con mới được. Vắng nó ba ngày em chịu hết nổi rồi.
- Ừ, em đi thì đi.
- Có ai nói gì anh không mà coi bộ anh buồn vậy?
- Vui sao được mà vui em?
- Anh xuống địa mà còn lên được thiệt là may hết sức.
Tôi nói cứng:
- Bộ ai xuống đó cũng chết hết sao?
- Không phải chết hết nhưng mà có nhiều người xuống rồi không thấy lên.
- Sao em biết gỉỏi vậy?
- Ông Tám Đột lại nhà anh Sáu Phấn với ông Sáu Bửng, bí thư xã, ba người bàn với nhau về vụ địa đạo. Ông Tám Đột nói ông Ba Xây bị bắt thiệt rồi.
- Chuyện đó đúng. Có người bị bắt chung với ổng chạy thoát về nói lại cho anh.
- Ai vậy anh?
Tôi thuật lại vụ Út Nhỡ quào mặt thằng Mỹ rồi chui mất cho Mười nghe, Mười cười:
- Em hổng tin mấy cô dũng sĩ đó đâu.
- Sao vậy?
- Mỹ gì khờ như vậy. Trước kia có lần em đi chợ, em gặp một thằng mặt như có cô hồn, em bước chân nọ đá chân kia, bụng run muốn chết. Từ đó em nghỉ đi luôn.
Tôi hỏi:
- Mấy ổng bàn vụ địa điếc ra sao?
- Anh Sáu em nói kiểu này thì phải dời tức tốc, sợ ông Ba Xây dắt Mỹ về.
- Có vụ đó nữa sao?
- Có chờ sao không anh? Ở ngoài Ràng đã bị rồi mà. Không ai ngờ nên bị dính hết.
- Còn ông Tám Đột và ông bí thư nói sao?
- Ông Tám Đột nói là ông Ba Xây không có đầu hàng Mỹ dễ dàng như vậy đâu. Ổng nói ông Ba Xây vô đảng hồi trước hoà bình lận. Nhưng anh Sáu em nói vô hồi nào thì vô chóo Mỹ nó cho uống nước hoá học là khai hết. Ông bí thư phụ hoạ với ông Tám Đột nói thằng Xây là xã đội, nó dư biết trong mình gài mìn và lựu đạn tùm lum, nếu nó dắt Mỹ về thì Mỹ để cho nó đi trước thế nào cũng đạp mình hoặc lựu đạn banh xác trước. Nó đâu có dại.
- Rồi anh Phấn nói gì nữa?
- Anh Sáu em nhứt quyết phải dời và còn kêu ông gì hiện ở hầm trong nhà ông Ba Xây phải dời đi nữa! Thằng chả không dẫn Mỹ vô thì chỉ cho máy bay bỏ bom rồi làm sao?
Tôi giật mình tự nhủ: có lý nào Năm Lê chưa biết Ba Xây bị bắt? Mười tiếp:
- Ông Tám Đột nói từ rày ổng sẽ không dùng cái đường Thống Nhất nữa.
- Đường Thống Nhất nào?
- Thì cái đường anh chui xuống rồi chết ngộp ở dưới đó chớ còn đường Thống Nhất nào nữa ?
- Sao ông ta tin tưởng Ba Xây không dắt Mỹ về mà ổng lại bỏ con đường đó?
Mười ngập ngừng hồi lâu mới nói:
- Em đã biểu là có nhiều người xuống rồi không lên nữa ma!
- Bậy nào!
Mười vỗ vai tôi:
- Thiệt! Hổng tin anh gặp ông Tám Đột hỏi thử coi. Một con chó chết sình ở dưới sông còn thúi lên tới trên này huống chi người ta.
- Sao em biết có người chết ở dưới đó?
- Em nghe ông Tám Đột nói chớ sao nữa. Ổng tới xin mấy cái đinh dài đóng ghe của anh Sáu em để khoá nắp hầm lại luôn.
- Chuyện gì em cũng biết hết.
- Em còn biết đường Thống Nhất có mấy ngách trổ ra đâu và dài bao nhiêu nữa.
- Dài bao nhiêu?
- Không quá 500 thước.
- Sao chắc vậy?
- Anh Sáu em chỉ huy lính đào phối hợp với xã đội mà. Chú Hai Giả cũng có đem lính đi đào mấy lần. Như vậy ông Tám Đột mới cho lính của anh chun chớ tưởng khi không mà ổng cho à! Trời ơi! Thằng cha đó ghê lắm!
- Ghê làm sao?
- Thôi, em không có dám nói đâu. Bà Sáu Bầu phải để cho ổng ở trong nhà mà êm rơ đó! Chị Sáu em biểu anh Sáu em có muốn chui hầm thì đào riêng mà chun, chớ đừng có chun với mấy ông đó. Thấy chưa, nếu ảnh chun vừa rồi thì cũng như anh. Mấy thằng cha đó làm hùm làm hổ bắt dân chun chớ mấy chả đều có hầm riêng hết á. Từ rày có gì …
- Thôi từ rày anh không chun nữa. Em định đi tìm con mấy ngày thì về?
Mười lặng thinh, chốc chốc lại thở dài, rồi lắc đầu nhìn tôi:
- Chắc em không còn gặp anh nữa quá!
- Sao vậy?
- Ở trong này sao được mà ở. Em chông chênh một mình khó quá hà anh à. Lâu nay sở dĩ em còn nắm níu lại đây là vì em thấy con Hoàn nó mến anh, em đi không đành. Người lớn thì dễ chớ con nít đòi thì khó từ chối lắm. Kỳ này chị Sáu em bị xúc ra ngoải chắc chỉ ở luôn. Thế nào cũng mang tiếng chồng giải phóng mà vợ quốc gia, nhưng mà hoàn cảnh như vậy biết làm sao bây giờ? Đất đai của ba má em để lại cho hai chị em đã bán trước chớ để tới bây giờ đâu có ai mua n ữa. Hai chị em đã tính hết rồi .
Mười ngưng một lúc:
- Để em dọ ngóng thêm coi con ở đâu, nếu vài ba bữa nữa mà không có tin gì hết thì em phải đi.
- Ừ, em ở luôn ngoài đó cho khoẻ.
- Anh sợ mang tiếng vì em phải không?
- Em mang tiếng vì anh thì có, chớ anh sợ gì? Nhưng anh không muốn cản em. Ở trong này không ổn. Lại nữa con lớn rồi mà không có trường học. Còn em thì còn trẻ đẹp. Em phải lấy chồng. Thiếu gì người theo em, em vẫy tay là họ tới chớ gì.
- Đã một đời chồng rồi em ngao ngán lắm.
- Một đời hay hai đời ba đời gì em cũng phải lấy chồng. Em không ở vầy hoài được đâu.
Mười mếu máo như trẻ con:
- Sao anh không về sớm sớm để em gặp anh?
- Bây giờ gặp rồi cũng như không! Mình yêu nhau thôi chớ có sống với nhau được đâu.
- Sao anh nói kỳ vậy? Người ta đeo anh nhiều quá phải không?
- Không đâu em! Em lầm rồi. Anh chưa bao giờ trao trái tim cho ai trọn vẹn nhanh chóng và hoàn toàn như đã trao cho em.
- Vậy em còn lấy chồng làm gì nữa?
- Chồng là một chuyện, còn yêu lại là một chuyện khác em à. Lấy anh rồi em sẽ hết yêu anh.
- Bộ anh có bà nào ngoài Bắc mà anh giấu em hả? Hổng chừng có một bầy con nữa đó!
- Lính Lê Dương mà vợ con đâu sớm vậy? Vợ anh là em, con anh là bé Hoàn chớ còn ai nữa. Em không nghe anh xưng ba với con sao?
- Sao nãy giờ anh không hôn em vồ vập như mọi lần?
- Vì ngồi cách nhau…
- Có hai tấc mà cách gì? Thôi, anh lại ngồi đây cho gần em đi anh, để mai mốt còn xa nữa!
Tôi ngồi sang cạnh Mười:
- Nè, hôn đi, giận hả?
- Không giận hờn gì hết, nhưng buồn.
- Vì sao?
- Vì anh sắp rời đơn vị này, vùng đất này và… em nữa!
- ….
- Anh đi đâu?
- Đời thằng lính Lê Dưong, người ta khiến đâu đi đó. Xin lỗi em nghe, anh sắp bận công tác rồi. Anh có hẹn nên phải đi . (Tôi phải cho Năm Lê hay vụ Ba Xây bị bắt.)
- Hẹn gì? Anh từ chối không được sao? Em không cho anh đi. Em muốn anh ngồi đây với em tới sáng.
- Không được em à!
Tôi đứng dậy hôn trên má Mười. Mười không nói gì nữa. Da mặt lạnh ngắt. Tôi lấy hết can đảm, lùi ra quơ súng nịt vào và bảo.
- Anh đi nghe. Tới giờ rồi.
Mười vẫn ngồi yên, cơ hồ không cảm xúc. Mắt nàng long lanh. Tôi quay lưng bước đi một quảng lại trở lại hôn nàng. Đáng lẽ hôn môi không hiểu sao tôi lại hôn trán. Tôi đi xa còn ngó lại. Nàng vẫn ngồi đấy. Nàng có biết đâu niềm đau nỗi khổ của tên Lê Dương được một người đàn bà yêu, tình yêu say đắm hơn tất cả các mối tình trước đây của hắn gộp lại, nhưng số của hắn là lê dương cho nên thân phận hắn phải nổi trôi và không định cư được ở một trái tim người đàn bà nào, dù là người đàn bà yêu hắn nhất.
Tôi đạp xe một hơi lên hầm. Trời đã ngọ mặt. Tôi gặp Tám Nghi đang lọ mọ kéo mấy cái chà tre rắp cửa. Tôi nói:
- Ba Xây bị bắt rồi, hay chưa?
- Ơ kìa, mày đã cho thằng Đỏ vô cấp báo rồi, quên hả? Từ rày có tới đây phải kêu người ta ra rước, đừng có xông đại vô nghe mày! Ổng sai gài lựu đạn và mình hai vòng rồi đó.
- Công việc quá lu bu, tao lộn hồn lộn vía. Sao còn ở đây?
- Ổng bảo để khu ủy đi trước rồi ổng sẽ dông sau!
- B52 quất trúng quân y của quận Bến Súc hay C3 của Tám Lê mầy biết không?
- Biết rồi! Chạy đàng mồ mắc đàng mả!
Tôi muốn trở về gặp Mười. Không biết hồi nãy sao tôi không bảo Mười ngồi chờ. Mà cũng phải, đi công việc biết có về sớm được không mà bảo người ta chờ? Chờ một cái gì không đến.
- Thôi coi như ổng đã hay tin Ba Xây rồi, tao về nhá.
- Mày vô đi, ổng đang cần gặp mầy đấy.
Nói xong Tám Nghi dắt tôi lách qua con đường mới vào ngỏ mới, cái gì cũng đổi chỗ hết.
- Mày ngồi đây nghe, tao vào tâu, bệ hạ có cho thì mới vào chầu được.
Tôi sốt ruột muốn trở lại với Mười. Tôi như thấy vẻ mặt âu sầu của nàng, hờn dỗi trách móc, nhưng một công việc chết sống như thế này, tôi không thể phó tách cho thằng Đỏ được. Biết vầy thì mình đã ở lại với Mười tới sáng chớ vô đây làm chi? Tám Nghi trở ra:
- Sửa lại áo mão rồi vô chầu, bạn!
Tôi theo ánh đèn pin (cái đèn quáu tôi cho hắn thì phải) vào tận cái ngách sau cùng. Năm Lê pha trò mở đầu câu chuyện.
- Sao? Mày thấy âm phủ có vui không?
- Dạ.. anh Năm cũng hay chuyện em chết dưới địa à?
- Tao còn biết mày nhờ hửi “bia” mà sống dậy nữa.
Tôi cười hồn nhiên khi thấy nét mặt chì của xếp mình tươi tắn. Anh là người đánh Tây ngon như rau, lính phải kêu anh là ông Thần Núi (lấy tiếng từ Sơn Tiêu). Đáng lẽ anh càu nhàu hay hạch hỏi chuyện này kế hoạch nó, nhưng anh cứ đùa:
- Chai bia đó khui còn bọt không mậy? Hà hà… Mày đi đâu cũng gặp số may.
Thấy anh vui tôi cũng đối đáp gọi là:
- Dạ cũng đại khái vậy anh Năm à!
- Chai này khác chai kia chớ chú em!
Rồi anh bắt qua chuyện tác chiến với giọng nghiêm trang:
- Mình không nên chạy bỏ dây. Mình ở đây thì dân bị xúc còn về, nếu mình đi thì mấy thằng mặc áo bà ba mang guốc vông (huyện ủy) này hút gió không kêu ngay, vì không có mình dân sẽ không về. Dân không về thì quán không bán, gạo không có xe bò chở, nước mắm cũng không có mà húp nữa là nhậu nhẹt hàng ngày! Tụi D8, D7, Đ không thấy D nào làm được cái gì! Mày có gặp thằng Châm, thằng Nô, thằng Thủ thì bảo là tao không có bảo tụi nó liều mạng nắm thắt lưng (có lẽ anh sợ phạm húy nên nói né qua) đừng có liều mạng làm tiêu hao lực lượng. Còn vấn đề của mày, mấy chả muốn đưa mày ra chỉ huy tiểu đoàn thép Củ Chi. Tao bảo con nhà pháo không làm vậy được. Hiện không thể có hai thằng như mầy ở quân khu này. Nhưng mấy cha mặc áo bà ba mang guốc vông quyết định chớ không phải tao, cũng không phải ông Ba Xu, nên nếu mày rời H6 về chỉ huy D thép thì chớ có trách tao.
- Dạ, em đâu có trách gì anh Năm! Thượng cấp đặt đâu em ngồi đó.
Tôi mong ổng ngưng câu chuyện để vọt về, nhưng ổng lại lấy úych ky và kêu Tám Nghi đem tôm khô ra nhâm nhi. Tôi ngồi uống rượu mà không biết mùi gì.
Xong tiệc, tôi ngó đồng hồ. Đã quá mười giờ. Tám Nghi đưa tôi ra ngõ. Tôi hỏi:
- Bữa trước mấy cha lủi đâu?
- Ngách đặc biệt. Chỉ tao với ổng thôi.
- Không thông ra đường Thống Nhất chớ?
- Không có thông đâu cả. Địa đạo mà chui như bầy vịt thế kia chém chết cũng ăn hoá học. May mà mày nhờ thùng bia nà! Hề hề…
Tôi vọt lên xe, đạp bán thân mẹo dậu. Pháo sáng của Dakota mắc quanh các cụm quân ở Bàu Đưng, Bàu Lách, Rừng Lộc Thuận đẹp như sao sa. Tôi về tới hầm, quăng xe đạp nhào vô. Trên băng một người con gái đang ngồi. Tôi ôm lấy hôn tràn lên mặt và thầm thì:
- Anh xin lỗi em nghe! Anh bỏ em anh đi em ngồi một mình. Từ rày anh không đi như vậy nữa. Anh từ chối tất cả. Em đã nấu gì cho con ăn chưa?
Tôi có thể nhai ngấu nghiến nàng ra như một miếng cá chiên dòn. Nhưng bỗng tiếng cười vang hầm. Tiếng cười không phải của Mười. Cô gái hỏi:
- Thủ trưởng đi đâu lâu vậy?
- Mấy tiếng mà lâu?
- Bốn tiếng! Mấy anh trinh sát đi kiếm thủ trưởng tự nãy giờ.
- Tôi đi tìm một người chớ có cần ai đi kiếm tôi đâu.
Tôi cảm thấy chới với như người chết đuối vừa vớ được cái bập lá vuột mất. Đầu óc tối đen. Hồi lâu mới bật ra câu hỏi:
- Mười về lâu chưa Thu?
- Chỉ mới vừa đi.
Tôi vội nhảy lên quất đèn pin theo và gào lên:
- Mười! Mười!
Trả lời cho tôi là tiếng của tôi vang đi dội lại trong đêm. Dakota lại ném pháo sáng. Một chiếc Mohawk bay dọc rạch Bến Mương chụp hình nghe ầm ầm. Thu quát:
- Anh Hai vô mau.
Tôi vừa bước xuống hầm thì Thu trao cho tôi một gói giấy nhỏ rồi bỏ đi như ghen tức.
- Của chị Mười đó, không phải của em đâu.
Tôi cầm lấy cái gói còn ấm hổi mà bàng hoàng. Tôi không kịp đốt đèn. Cứ soi pin tay mở cái gói. Tiền và một bức thư. Tôi ném xấp tiền lên bàn và nằm vật ra võng tay soi, mắt đọc. Cho đến bây giờ gần ba mươi năm, mỗi khi nhớ lại tôi vẫn còn mường tượng nét chữ và nhớ cả bức thư như một bài học thuộc lòng.
Anh yêu,
Đêm qua thấy anh về với con và vuốt tóc em. Chừng thức dậy thì chỉ quơ đụng chiếc gối lạnh ngắt cho nên bữa nay em hỏi anh coi có về thật hay chỉ là chiêm bao.
Em phải đi ra Cây Trâm, Cây Bài để tìm con. Chắc anh không gặp em nữa đâu. Em chỉ ước ao sao một ngày nào yên ổn sẽ dắt em đi ngắm cảnh đẹp ở miền Bắc và giải thích cho em nghe chuyện hay chuyện lạ, nhưng chắc không được rồi. Tình chia đôi ngả kể từ đây.
Tiền này anh cất xài. Anh không nên uống rượu đua với mấy ổng rồi bịnh hoạn nằm một đống không ai thăm, cười khóc một mình nghe.
Hôn anh trên giấy.
T.B. – Em gởi anh sợi tóc của em để làm kỷ niệm
Chữ của nàng chân phương tròn trịa không thiếu nét. Chữ Đ ở đầu thư viết theo kiểu học trò nhà quê lớp ba.
Thôi vậy là trọn một cuộc tình. Nàng đã tặng tôi cả trái tim. Tôi cũng dâng nàng trọn vẹn, những cái hôn thực của da thịt lẫn mơ.
Tôi nhét lá thư vào túi áo đặt tay lên ngực như ôm một con chim trời sợ nó bay mất, như ôm một tấm huy chương của tình yêu, như ôm vết thương của chính mình.

Đăng nhập để trả lời
0
Chương 66
Hồng nhan bạc mạng trên dòng nước xanh.
Tôi ngồi bật dậy. Thằng Đỏ nhào vào. Tôi còn đang ngơ ngác thì nó kêu lên:
- Ma! Ma anh ơi!
- Ma cỏ gì ở đâu, nói bậy mầy!
Tôi vừa nói vừa ngã lưng xuống võng. Nhưng nó dựng tôi dậy và la lên:
- Ma thiệt! Anh ra bến nước coi!
Năm Dị và mấy cậu nữa cũng chạy đến. Thằng Đỏ tiếp:
- Ma từ nhà má Hai đi ra bến nước. Nó bỏ tóc xoã, có ẵm con nữa. Nó đứng ở đầu cầu kêu má ơi và than khóc nghe nổi ốc cùng mình. Mau đi ra coi. Ủa ra vớt chớ! Em sợ nó nhảy xuống rạch quá hà.
- Mày nói láo tao phạt mày nghe!
- Dạ, anh Hai cứ phạt.
Thằng Đỏ lôi tay Năm Dị, rồi cả đoàn chạy theo nó. Tôi hơi nghi ngờ tụi gián điệp làm trò. Hồi chín năm, vụ Cọp ba móng ở chiến khu Đ làm cán bộ không dám đi công tác vùng Long Điền. Tôi vừa lếch thếch bọ hậu vừa hỏi thằng Đỏ:
- Mày đi đâu ra bến vào giờ này mà gặp ma?
Thằng Đỏ chạy chậm lại gần tôi và kể lể:
- Em với anh Lộc lén anh đi lại nhà anh Út để lấy miệng chài đi bắt ít con tôm về ăn. Em có tánh sợ ma nhưng cũng gồng mình đi. Vừa vô tới sân thì nghe tiếng khóc ri rĩ. Em lắng tai một chút thì nghe giống y tiếng chị Út. Lại có tiếng con nít khóc oe oe nữa. Em bèn kẻo anh Lộc đứng nép qua cây vông nem ở cửa ngỏ. Tiếng than khóc dứt một chút thì có bóng người trong nhà lọt ra băng qua sân. Tóc xõa sau lưng em thấy giống y chị Út.
Thằng Đỏ vấp ổ gà suýt té, dứt ngang câu chuyện. Tôi hỏi:
- Mày thấy nó bồng con thiệt không?
- Cái đó em không chắc, nhưng tóc xõa và giống chị Út lắm.
- Mày nghe nó than khóc như thế nào?
- Em lạnh xương sống, răng đánh bò cạp mà nghe gì được Chỉ nghe hu hu thôi.
- Hổng lẽ con Út còn sống?
- Không phải chị Út đâu. Bữa khui hầm em thấy rõ đầu tóc và bàn tay của chị mà . Nếu chỉ có thành ma thì cũng phải lâu lâu chớ, lẽ gì sớm vậy?
Năm Dị tới trước, cầm gói ni lông to bằng ba lô, nhưng không phải ba lô, quay lại đưa cho tôi, giải thích:
- Tôi lượm được ở đầu cầu.
Tôi rọi đèn pin khắp nơi để tìm nhưng không thấy dấu vết chung quanh chỉ thấy nước ướt cầu.
- Có thể nó nhảy xuống sông?
- Không chắc đâu thầy ạ!
Tôi rọi đèn vào bụi dừa um tùm, bụng nghĩ có thể người ta thắt cổ. Nhưng chỉ thấy cây lá và những đìm rễ lòng thòng sà xuống mặt nước. Tôi hỏi gắt thằng Đỏ:
- Sao mày không kêu nó lại?
- Trời ơi trời! Em sợ muốn gụng gún còn biểu kêu!
Tôi bàn với Năm Dị một lúc rồi quyết định bằng một thứ linh tính lạ kỳ :
- Thằng Đỏ và thằng Lộc bơi chiếc xuồng dọc theo mé rạch còn bao nhiêu lội xuống mò tìm. Có thể người nào tự vận chớ không phải con Út đâu ! Đỏ, bơi xuống ra chân ở vàm rạch. Ủa mà khoan tất cả xuống xuồng ra vàm giăng hàng ngang mò ngược vô. Nước ròng chảy mạnh ngọn có thể bị trôi ra sông Sài gòn.
Theo kế hoạch của tôi, tất cả thi hành. Ra đến vàm Rạch mọi người nhảy xuống nước ùm ùm. Ai cũng thích thú được bơi trong nước một cách tự do không có phi pháo trên đầu.
Tên chánh thức của dòng sông này là Rạch Sơn nhưng vì nó chảy qua ấp Bến Mương nên dân địa phương cũng gọi là rạch Bến Mương. Hai bên bờ dân cư đông đúc, lòng rạch chứa rất nhiều tôm cá. Từ ngày Út về làm trưởng tổ sản xuất thì cơ quan H6 ăn uống không đến đổi sáng tương chiều chao như những cơ quan khác. Ngoài ra dòng nước Bến Mương làm cho con gái H6 trắng da dài tóc đẹp hơn các xã khác chăng?
Tôi vốn là con cá ráy từ thuở còn đi học trường làng. Không buổi trưa nào là vắng thằng Thiên Lôi cùng lũ bạn đánh giặc dưới sông. Môn chơi hấp dẫn nhất là bịt mũi hụp xuống coi đứa nào chịu được lâu. Thiên Lôi thắng cũng có mà ăn gian cũng có.
Tôi lặn hai ba hơi không đụng gì hết. Chắc chắn không phải ma. Còn đàn bà con gái thì ở ấp này tôi quen hết. Không ai đau buồn gì đến nổi tự vận?
Bỗng Năm Dị kêu lên:
- Đụng rồi anh Hai.
- Đụng cái gì?
Năm Dị vừa vuốt mặt vữa nói qua làn nước:
- Tôi chắc là tóc.
- Coi chừng rong đá hoặc rễ lục bình.
- Để tôi hụp một phát nữa coi. Rạch sâu quá, bịt mũi nín 1 thở muốn nổ lỗ tai.
Tôi và mấy cậu kia đeo be xuồng chờ Năm Dị. Chốc sau hắn vọt lên la oai oải:
- Đúng thiệt rồi. Đúng… thiệt.
- Cái gì?
- Tôi sờ đụng tay chân mặt mũi.
Tôi bảo:
- Tất cả lặn theo Năm Dị. Hễ gặp là đưa lên.
Tôi đi một hơi. Quả thật thấy ma tóc dài. .Bốn đứa quơ đụng tay nhau và cùng nâng lên. Một tay tôi nắm chân, một tay tôi quờ chụp be xuồng. Tôi quát:
- Đỏ nắm lấy cái chân.
Thằng Đỏ nhanh nhẹn chụp liền trong lúc mấy cậu kia cũng vừa trồi lên, nâng cả thân người đưa lên ngang mặt nước. Thằng Lộc nắm lấy tay tiếp với thằng Đỏ để giữ cho cái thây khỏi rơi xuống. Tôi bảo:
- Coi chừng chìm xuồng. Đỏ và Lộc lôi lên từ từ? Còn cả bọn mình thì nâng lên cho vô xuồng. Hè ! Một.. hai… ba…
Cái thây tóc dài được đem lên xuồng.
- Thầy leo lên luôn đi. .
- Cậu nào sợ vọp bẽ thì leo lên đi còn tôi và các cậu khác đeo be hoặc bơi theo xuồng.
- Thầy lên rọi đèn coi ai vậy?
Tôi chuyền theo be xuồng lần ra sau lái rồi cân mình leo lên. Thằng Đỏ đưa chiếc đèn pin. Tôi bấm. Tôi giật mình đánh thót: mặt mũi giống y con Út, vóc dáng cũng bằng nhau chỉ khác mớ tóc dài. Con gái Bến Mương đâu có đứa nào đẹp như vậy. Tôi xem kỹ thì không phải là Bảy Mô . Bảy thì tôi mới gặp, có việc gì u ẩn mà phải mượn giòng nước xanh làm mồ ? Cũng không phải Tám Mang ! Nàng Mang lại cho vị hôn phu thương binh hận tủi chớ nàng có tủi hận điều gì? Vậy thì đây là ai? Nếu người ở xa tới thì làm gì vô nhà má Hai khóc lóc? Năm Dị ở dưới nước thò đầu lên hỏi.
- Thầy không biết là ai à?
- Không ! Nhưng chắc chắn là một cô gái chớ không phải đàn bà.
Thằng Đỏ bơi rào rào cũng ráng nói:
- Hồi nãy em tướng là ma, té ta là người thiệt!
Xuồng về đến bến. Tôi bảo hai cậu chạy lấy tấm ván khiêng về cấp cứu. Năm Dị can:
- Không được đem vô nhà, thầy ạ ! Đem vô nhà là chết ngay. ..
- Sao vậy? ?
- Tôi không hiểu, nhưng hồi ở nhà, đi cứu lụt ở Quảng Bình tôi học được kinh nghiệm đó ở các cụ. Thầy cứ để ngoài bờ chạy chữa may ra.
Chúng tôi đem cô gái đặt trên một mặt đất phẳng bên cạnh gốc dừa tơ độc nhất trên đường xuống bến. Thằng Đỏ thằng Lộc chạy về cơ quan một chốc trở ra với cả ôm màn quần áo trong khi Năm Dị quơ lá dừa nhóm lửa lên. Tôi rờ ngực nàng:
- Trái tim còn máy nhẹ .
Năm Dị nói:
- Mình cứ hơ lửa giúp cho cơ thể ấm, máu chạy đều là cô ấy sống lại.
- Xốc nước cái kiểu cấp cứu thôn quê được không?
- Tôi biết, nhưng làm như vậy nước trào ra mũi cô ta không thở được. Kiểu đó không chắc ăn.
Thu bảo đám đực rựa dang ra để cô thay quần áo cho nạn nhân rồi tất cả ráp lại kẻ quơ cũi đốt lửa to lên, người hơ quần áo áp vào người nạn nhân theo lối dây chuyền.
Thấy bụng cô nàng to chướng, tôi lấy tay nhấn nhè nhẹ thì nghe nước kêu óc ách. Nhấn mạnh thêm thì nước trào ra mũi. Tôi bèn kê miệng vào hút một cái thật mạnh. Nước tuôn ra có vòi tràn xuống cổ và ngực.
Sau độ nửa giờ hơ hóng và xoa bóp bỗng nghe một tiếng “ư” và nạn nhân từ từ mở mắt. Tôi quát Thu:
- Em tiêm cho cổ một mủi thuốc khỏe và một mủi trợ tim. .
Thu lắc:
- Dầu nhãn ở dưới địa đạo chỉ còn có một mủi giành cho anh đó thôi. Ngoài ra không còn thuốc gì hết.
Nước từ trong miệng nàng chảy ra như suối. Bụng xẹp dần. Tiếng của Năm Dị cũng nặng chịch mà tôi nghe như chim líu lo:
- Được rồi đọ… Nhưng phải tiếp tục xoa bóp. Chết như vậy có thể thần kinh bị tê liệt một bộ phận hoặc toàn bộ. Nếu không xoa bóp nhanh thì người sống lại có thể bị liệt tay hoặc chân hoặc mắt, miệng và chịu tật suốt đời. Cho nên phải tích cực xoa bóp cho đến khi các giác quan cô ấy trở lại thì mới ngưng.
Năm Dị nói như một y tá kinh nghiệm đầy mình. Tôi hỏi:
- Bây giờ mình làm gì tiếp?
- Yên tĩnh! yên tĩnh tuyệt đối và tiếp tục nắn bóp tay chân. Không được ai hỏi cô ta một câu gì. Vì hiện giờ ta chưa biết hệ thống thân kinh của cổ có phục hồi chưa. Nó rất mong manh, như cái fi-la-măng trong bóng điện, ta vặn công tắc bất ngờ có thể bị đứt và không thể nối lại được. Để cho cổ tự động hỏi, nói hoặc cử động thôi. Có nghĩa là khi cổ làm được cái gì hay cái nấy, rồi từ đó ta mới giúp cổ khá dần lên.
Năm Dị đã trở thành chuyên gia cứu cấp. Chúng tôi khiêng nạn nhân về để nằm tại hầm làm việc của tôi, là hầm rộng và chắc nhất, cho Lan và Thu thay nhau canh chừng và tiếp tục nắn bóp.
Trời đất này còn hay đã tan vỡ hết? Một ngày hay thiên thu? Bao nhiêu chuyện chết chóc ghê gớm, đắng cay, nước mắt hòa máu xây tới dồn dập cho cái sân khấu bé nhỏ Bến Mương này mà tôi luôn luôn đóng vai kép chánh. . .
Đêm đã hầu tàn. Tôi lên võng nằm mà nghe cả trời đất rung chuyển lắc lư. Tôi chỉ sợ một vài quả pháo nện gần làm cho tàn cuộc cứu cấp của chúng tôi trở thành vô nghĩa. Cũng may không có tiếng súng pháo kích nào của các ông bà dũng sĩ nên đế quốc Mỹ cũng biết điều.
Nạn nhân đã sống dậy nhưng không ai biết cô ta là ai. Tôi xuống bếp làm việc nhường hầm cho cô ta nằm. Tối hôm sau họp xong về nhà định lấy đồ đi ngủ ké với trung đội trinh sát, khi về đến cửa, bỗng tôi nghe tiếng người ri rĩ trong g hầm như mạch nước chảy qua vùng đất lỡ. Tôi lắng tai nghe. Tiếng khóc than hầu như bình thường. Nàng ca hát, điệu này bắt quàng sang điệu kia nhưng ý tứ lại rất mạch lạc như một đoạn hồi ký viết bằng thơ có nhiều chỗ không ăn vần.
Sông Sài gòn chảy xuôi về Thủ
Nước Rạch Sơn chảy tận Bến Đình
Bến Mương với Bà Thiên cách một nhịp cầu
Em qua đó móc đất sét về nắn chén
Có khi em cùng bơi qua sông coi anh nhổ mạ
Em và chị bị đòn vì không nghe lời má
Em biểu chị mua măng cụt ra bờ sông ngồi ăn
Rồi em lên đi theo văn công học ca vọng cổ
Em hát ở Ràng, Đồng Lớn, Sa Nhỏ ai cũng khen nức nở
Nói con nhỏ ca có thua ca sĩ nào đâu?
Rồi trên R về nài nỉ xin em
Em thương má thương anh chị thương cháu mới lọt lòng.
Má vui có cháu ngoại.
Em hát ngọt ngào như hoa Thiên lý.
Má cho em đi để sau này đua cùng Lệ Thủy
Nhưng than ôi . . . . má ôi anh ôi chị ôi chị…
Hu hu hu. . . .

Tôi đã nhận ra nàng là ai rồi. Giống như một màn kịch đang đi tới lúc mở gút cuối cùng mà bàn tay đạo diễn không ai khác hơn Hóa Công. Tôi rón rén bước vào, vai nàng văn công run run. Bên mép ván, Thu gục đầu chiếc khăn bàn lông rơi .
- Sao má cũng chết, anh cũng chết, chị cũng chết, cháu cũng chết. Phải còn sống một người cũng được. Bây giờ em không còn người thân trên cõi đời. Má ơi!
Nàng nói rất sõi, không có vẻ gì mê sảng cả. Nhưng tôi nhớ lời ông bác sĩ Năm Dị dặn nên không dám hỏi gì mà lẳng lặng trở ra.
Vậy ra nàng là ca sĩ Thiên Lý của đoàn Văn Công Giải Phóng R. Nàng là đứa em gái mà Út hứa gã cho tôi. Có phải má Hai từ Trung hòa vào đây và sự trở về của nàng là một sự hẹn ước để Út thực hiện lời hứa của mình?
Đời vừa gỡ xong cuộn tơ vò lại phải cảnh rối ren. Tôi tìm chỗ mắc võng. Tôi lại ngủ thiếp đi trong một giấc ngủ chập chờn mây khói lẫn lộn trần gian. Khi tôi mở mắt thì nắng đã nhuộm vàng mặt đất. Nghe một sự yên tĩnh lạ lùng chung quanh. Tôi bật dậy trở về hầm rón rén bước vào.
Nàng đang ngồi xếp chăn, tóc rối dài xõa kín cả lưng. Tôi định trở lui, sợ làm tiếng động nhưng bỗng nàng quay lại. Bốn mắt nhìn nhau bỡ ngỡ. Tôi thấy trong cặp mắt nàng có lửa, một thứ thần lực mà tôi chưa từng trông thấy bao giờ.
Nàng nhìn tôi sửng sốt, cái nhìnđứng ngọ của mặt trời.
- Anh… anh…
- Em là… .
- Ở ở đây là đâu?
- Bến Mương.
- Anh Dương Đình…
- Má Hai Út… Út…
- Anh Dương Đình Lôi.
- Em em. . .
Phải chăng đường dây đứt đã nối lại. Mạch máu đã chảy thông suốt tâm trí của nàng. Nàng ré lên:
- Anh!
Rồi gục đầu xuống ngựa khóc nức nở.
Thu bừng tĩnh nhìn tôi rồi nhìn người con gái lạ như hỏi Hai người quen nhau hồi nào? Rồi chạy đi báo khắp cơ quan. Mọi người mừng rỡ líu lo. Những cặp mắt kinh ngạc trước một người chết đi sống tại và một người con gái cũng vừa chết đi sống tại. Họ trở thành tương tri trong cái chết lạ lùng.
o O o
Bây giờ nàng đã trở lại tình trạng bình thường. Nàng ngồi kể lại mọi chuyện cho anh chị em trong cơ quan nghe:
- Em cùng với đoàn đi diễn ở ấp Chánh xã Lộc Hưng bên Trảng Bàng. Định đi xuống Củ Chi một lèo nhưng nghe Mỹ ruồng nên đình lại, ém quân tại đó . Mỹ vừa rút đi thì đoàn biểu diễn cho đồng bào coi luôn hai đêm. Diễn xong em xin phép đoàn về thăm nhà, luôn tiện em liên lạc với địa phương chuẩn bị cho đoàn xuống diễn. Nghe nói Mỹ xúc quân ra ấp chiến lược nên nóng lòng muốn về xem gia đình ra sao?
Tôi hỏi.
- Từ ngoài ấp Chánh xã Lộc Hưng vô đây xa lắm. Bom đạn cày nát, người ta dùng đường ngang ngõ tắt em biết lối nào mà đi?
Nàng đáp:
- Hồi ở Văn Công huyện với chú Phạm Sang, em đi khắp từ Quốc lộ 1 xuống Phú Hòa Đông, lên Trảng Bàng, qua chợ Thanh An, Dầu Tiếng… chỗ nào cũng có dấu chân em. Chiều hôm qua về tới Sa Nhỏ em ghé quán bà Chín Khuân mua mấy cái bánh ú vừa đi vừa ăn. Thời may gặp anh Lạn.
- Lạn?…liên lạc phải không?
- Dạ, ảnh đèo em tới Ngã Ba Cây Điệp mới thả xuống. Hồi đi học ảnh ngồi trên em ba lớp. Ảnh than với em: “Tưởng vô đây công tác vài tháng rồi đi Liên Xô, ai dè đạp banh mấy chục cặp vỏ xe vẫn còn đạp”. Từ Ngã Ba Cây Điệp em đi một mình về đây. Đường sá vắng teo, em sợ quá, nhưng vì sốt ruột muốn biết tin nhà nên em lội càn. Đến Lò Chén em mới gặp người quen trong xóm đi ra.
- Ai vậy?
- Ông Ba Lễ.
- Ờ ! ông Ba Lễ anh ông Tư Giáo ! Địa đạo qua trước nhà ổng .
- Ổng bảo em về riết coi gia đình có chuyện gì đó. Em hỏi chuyện gì ổng không chịu nói bảo về đó thì biết. Em hồ nghi chắc gia đình bị nạn rồi. Hồi ở trên R em cứ nằm chiêm bao thấy má em hoài. Em lại thấy rụng một cái răng nữa. Hồi nhỏ em nghe má em nói hễ chiêm bao thấy răng rụng là có người chết trong gia đình. Em càng nôn nóng. Quả thật, đến nơi thì . . .
Nàng nghẹn ngào và dứt ngang. Thằng Đỏ xen vô:
- Em thấy chị ôm gói ni-lông tưởng chị Út ẵm cháu bé.
Mọi người im lặng. Tôi không muốn làm cho nàng xúc động nên gạt ngang:
- : Chiến tranh thì phải vậy. Người chết đã yên mồ yên mả rồi. Bây giờ phải lo cho người sống. Đơn vị của anh vừa hi sinh hai cán bộ. Một cậu sắp cưới cô Hai Chinh ở ngoài Sòng em biết không? Người con gái chưa lấy chồng đã thành góa phụ . .
Tôi đem những đau buồn của người khác để cân bằng những đau buồn của nàng ngỏ hầu nàng bớt bi lụy nhưng nàng cứ than vắn thở dài:
- Bây giờ nhà cửa còn đó mà cha mẹ anh chị chết hết rồi. Em không thiết sống nữa. Đêm em về thấy mả ba em bốn cái mả mới em ngã xuống chết giấc không biết bao lâu mới tỉnh lại. Ông Trời độc địa quá, bắt gia đình em chết cả. Em còn sống làm gì nữa.
Tôi liếc Năm Dị. Năm Dị tiếp lời an ủi đại khái:
- Cô không nên bi quan như vậy . Đây là do đế quốc xâm lược gây nên chớ không phải do Trời. Là chiến sĩ cách mạng, còn sống một ngày nào là ta còn phấn đấu.
Tôi thấy không nên xoáy sâu vào vết thương còn tươi máu, bèn nháy cho anh chị em giải tán, rồi bảo nàng:
- Bây giờ em nghỉ ngơi dưỡng sức, chừng nào thấy khoẻ thì tiếp tục trở lại đoàn.
Nàng nhìn quanh thấy không có ai bên cạnh tôi, nên nói:
- Em mở cửa mả xong cho má em, cho anh chị em và cháu em rồi em đi ra…
- Em đi đâu? ở Đồng Lớn bây giờ Mỹ đang cụm quân.
Tôi dọa để bắt nàng ở lại dưỡng sức ít hôm, chứ thực ra ngoài đó không có Mỹ.
- Em không đi ra đó được thì đi ra Trảng Bàng.
- Em nói đoàn vừa biểu diễn ở Trảng Bàng, trở lại đó làm gì nữa?
Nàng lặng thinh, nhìn quanh quất lần nữa như tìm kiếm ai, rồi hỏi:
- Cái túi ni lông của em đâu rồi?
- Em để trên ván kìa !
Nàng bước lại mở cái túi ra có vẻ hấp tấp, miệng liên tiếp kêu “ủa, ủa, đâu rồi” và cuối cùng tìm được miếng giấy, nàng xếp lại bỏ túi rồi cười, hỏi tôi:
- Anh có tình cảm với chị Kim Chi lắm hả?
- Sao em biết?
- Em thấy anh lột đồng hồ tặng chỉ.
Tôi giật mình kêu lên như bị điểm trúng hiểm huyệt.
- Em ở đâu?..
- Anh không nhớ buổi văn công biểu diễn mừng thành tích Biên Hòa à? Lúc diễn xong, anh vô buồng tìm người quen.
- Sao anh không nhớ em?
- Lúc đó chưa quen. Với lại… anh đang chú ý mấy người khác Em đứng sau lưng chú Bảy Thiểu. Anh cho chị Kim Chi cái đồng hồ rồi tặng luôn cây P38 cho chú Bảy. Anh thiệt là ngon !
- Người quen mấy chục năm mới gặp không có gì kỷ niệm thì lột súng cho chớ ngon gì.
- Chú Bảy lâu gặp thì phải, chớ còn chị Kim Chi mà mấy chục năm gì hả?
Thấy cô bé vặn bẻ gắt gao, tôi bèn trớ qua:
- Bữa đó em biểu diễn tiết mục nào anh quên mất!
Nàng bật cười, rồi đưa tay che miệng.
- Cô gái Lục Bình!
- Àà ! nhớ rồi, Cô Gái Nhị Bình chống Mỹ!
- Rồi em đóng vai dũng sĩ trong vở kịch Mượn Mỹ của Nguyễn Vũ nữa, anh không nhận ra em à?
Tôi lúng túng không biết tránh né cách nào thì nàng tiếp:
- Bị mắc mấy cô Thanh Tuyền, Huỳnh Mai… bao và chặt quá nên đâu có nghe hát xem kịch gì. Em đứng trên ngó xuống thấy rõ hết trơn. Các cổ suýt chút nữa ngồi trên bắp vế anh.
Cặp mắt nàng lườm tôi với ngọn lửa dữ dội. Tôi đấu dịu:
- Tại có một tấm ni lông mà cả chục người ngồi chung nên phải chen như vậy.
- Em còn biết chị Thanh Tuyền chạy theo anh nữa nhưng bị cảnh vệ bắt lại. Có không?
- Ừ, thì có !
- Nhưng nếu bây giờ anh trở lại thì chẳng còn ai.
- Sao vậy?
- Anh quên trận B52 rồi sao? Chú Bảy Thiểu với hai đứa con trai chết hết.
- Ừ ! Lúc đó anh đang dự lớp chỉnh huấn ở trường Trung Sơ với chú Bảy Đậu, có cô Huỳnh Mai đi theo đánh máy. Khi không lại phát thinh dắt nhau về đút đầu vô hứng B52.
- Chết hết rồi anh ạ . Tội nghiệp ghê ! Nếu đoàn em nán lại vài ngày cũng bị luôn cú đó. Đoàn em ở cách một ngày đường mà đất rung nghe ghê người.
- Nhưng rồi cũng tới phiên em .phải không?
- Phải! Nhưng nó rãi trúng tiểu ban văn nghệ của ông Sáu Lăng, còn đoàn của em thì nằm ngoài mí thảm. Trận đó ông Tư Trang, ông Bảy Thinh, ông Ngọc Cung chết.
- Sao em biết hết vậy?
- Thì đó là cơ quan của em, sao em không biết. Sau khi bị bom dời qua Cao Miên. Và ở trên xuống dạy cho tiểu ban phòng chống B52.
- Nghĩa là khi có B52 thì đội bằng cách nào hả ?
- Mấy ổng bảo không được nói ra ngoài tin ông Tư Trang chết. Vợ mấy người kia có vô tận nơi nhưng ông Sáu Lăng nói là họ đi công tác. Trời ! ông Ngọc Cung ở Hà Nội mới về, gia đình lên cho cả bọc vàng chưa kịp xài mà văng mất hết. May phước cho mấy ông nhà văn kia.
- Ông nào?
- Vừa ăn.B52 xong thì ba bốn ông ở Hà Nội lót tót vô. Hai ba ông gốc Nam Kỳ, một ông rau muống luộc. Phải vô sớm vài ngày thì ăn chia đã đời.
Bỗng nàng đổi giọng:
- Em sẽ cho anh xem một bức thư.
- Thư của ai ?
- Thư trên R. Ý mà thôi. Em không muốn ai coi thư này hết.
- Thư gì mà quan trọng và bí mật dữ vậy?
- Em chỉ cho anh xem cái phong bì thôi nhé . Nhưng anh phải hứa là không được đòi xem lá thư.
- Ừ, đưa đây.
Nàng móc túi lấy lá thư rút ruột cất và đưa phong bì cho tôi Xong nàng quay mặt lại thở dài. Tôi cầm lấy cái phong bì nhàu ná t, chữ viết bằng bút Bic xanh dương nét gò nắn nót. Miệng phong bì nổi cộm lên mấy hột cơm trét không kỹ. Chữ đề:
Người gởi: Nguyễn thị Út. Xã An Nhơn. Quận Củ Chi
Thân gởi: Em Thiên Lý (tức Út Mót)
Đoàn Văn Công giải phóng R.

Góc bì thư có chữ Đã kiểm duyệt viết bằng tay ngày tháng và con dấu của công an xã. Tôi nhìn nàng sâu tận đáy mắt:
- Anh biết rồi !
- Biết gì?
- Xem vỏ biết ruột chớ biết gì. . .
Đôi gò má của cô nàng bỗng ửng lên.
- Vậy còn đòi xem làm gì nữa?
- Má vô đây, anh có đến thăm! Má có nói với anh chuyện mình.
Nàng làm thinh. Tôi đến ngồi gần bên và vuốt tóc nàng:
- Má bảo chị Út viết thơ kêu em về phải không?
- Biết rồi còn hỏi. .
Nàng lườm tôi rồi gục đầu vào vai tôi nức nở. Tôi cũng không biết nói gì. Chẳng ngờ anh hùng pháo binh lãnh huy chương lên bục đọc diễn văn vậy mà vương vấn biết bao mối tơ (và mối nào cũng đứt hết). Còn mối này chắc rồi cũng…
Tôi hỏi:
- Bây giờ em tính sao?
- Anh tính sao thì tính.
Tường vậy là:
Hai bên tơ tóc bền trời đất.
Một gánh cang thường nặng núi sông.

Nhưng không! không có gì cả. Ai đi đường nấy. Đã bảo đời thằng lính Lê Dương cứ trôi nổi bềnh bồng như thuyền không bến không cắm sào được ở ven sông nào cả mà !
Tôi đang dỗ dành nàng thì nghe ồn ào ngoài miệng hầm:
- Có ông trưởng ban ở nhà không Đỏ ? (Tôi biết ngay là ông Tám Đột.)
Để lấy cảm tình ông công an kiêm tân Xã Đội trưởng, ông tư lệnh pháo không đợi liên lạc dắt khách vào, mà lên tiếng và bước ra đón ngay:
- Mời anh Tám vào nhà uống nước.
- Tình hình găng quá thầy Hai. Chúng nó đổ thêm quân xuống Hố Bò. Có thể nó quay trở lại đây.
Chợt thấy cô gái, hắn kêu lên:
- Ủa Mót, tao nghe đồn bây ở R mới về rồi… rồi… uất ức Mỹ giết cả gia đình mình thì mình phải căm thù chúng, phải nắm thắt lưng mà đánh chớ sao lại làm cái chuyện mất lập trường như vậy?
Tôi biết hắn tìm cách ăn ké cái bồ lúa và cái nhà của má Hai nên đỡ ngay:
- Cổ đâu có làm gì mà mất lập trường anh Tám?
- Nhảy xuống sông tự vận còn gì nữa ?
Tôi cười còn ăn khách hơn cả đào kép trong vở kịch Mượn Mỹ của Nguyễn Vũ xạo:
- Cô ấy tự vận hồi nào?… Đó là cổ đi tắm. Ban đêm không đèn đuốc nên lọt xuống sông. Cổ chẳng biết lội nên bị nước trôi suýt ra sông Sài gòn. Chớ tự vận hồi nào? Nếu không nhờ thằng Đỏ đi chài về trông thấy thì cổ chết trôi anh phải chịu trách nhiệm đó. Cổ là dân của anh mà !
Tám Đột vỗ đùi, kêu:
- Vậy mà tôi nghe đồn nó tự vận?
- Không trúng đâu!
- Tôi định đến bàn vấn đề bảo quản tài sản (?!) cho gia đình cô: Cô đi công tác thoát ly. Còn bà má và anh chị đều vắn số, chánh quyền phải a…a… bảo quản. (Mô Phật! Công an Việt Cộng mà chăm sóc tài sản nhân dân thì phước đức ông bà để lại.)
Tôi bảo:
- Cô ấy vừa lấy lại sức, mai tôi đã cho trinh sát đưa cô ra Đồng Lớn để liên lạc với địa phương lo việc tiền trạm đón đoàn văn công R xuống.
Tám Đột hăm hở xin giúp một tay nhưng tôi bảo tôi đã lo xong. Sáng hôm sau, y như lời, tôi cho tổ trinh sát đi dò đường, tôi với nàng đi sau. Nàng thở dài. Tôi buông lời áo não:
- Em với anh như…
- Thôi anh đừng nói thêm gì nữa ! – giọng nàng đầy nước mắt – Khi em đọc thư của chị Út em sung sướng vô cùng. Gương mặt của anh trong buổi mừng công hiện lên trong đầu em. Em thầm nghĩ anh đi khắp thiên hạ mà không thuộc về cô nào hết,-nay lại đến Củ Chi của em và gặp em. Quả là duyên trời định.
Thiên Lý hôm nay là một Thiên Lý khác. Cách đây ba hôm một Thiên Lý u sầu và vui buồn bất chợt, đang kể chuyện vui lại chợt buồn như trời đang nắng sụp mưa, một trạng thái .bất bình thường của một người con gái đứng trước những biến thiên ghê gớm.
Trời âm u hứa hẹn một trận mưa phủ phăng như ngày tôi chôn thằng Chi ở nghĩa trang Ba Sòng. Thì hôm nay tôi và nàng đang đi vào nghĩa trang, nghĩa trang của tình yêu tuyệt tích. Thiên Lý âu sầu:
- Em nói hết ý nghĩ của em cho anh nghe để rồi không bao giờ còn có dịp được nữa. Mong anh đừng cười và chê em nhe.
- Em nói đi. Em là…
Thiên Lý xua tay:
- Cám ơn anh, nhưng anh đừng nói nữa. Em định về gặp má. Má sẽ… sẽ…
Thiên Lý ngưng lại giây lâu, sụt sịt rồi tiếp:
- Thành hôn xong em sẽ ở nhà luôn nấu cơm cho anh ăn.
- Cô gái Nhị Bình anh dũng chống Mỹ mà thế à ?
Tôi pha trò nhưng nàng cười buồn. Nàng lắc đầu nguầy nguậy:
- Em không ở được với cách mạng một ngày nào nữa! Ý nghĩ này em có từ lâu.
- Tại sao?
- Rờ là gì anh?
- Rừng, rét, run rẩy…
Nàng cắt gọn. :
- RờRợ.
Tôi giật mình như bị cứa vào tim nhưng cố trấn tĩnh:
- Cách mạng thì phải gian nan vậy chớ sao em!
- Em không nói về sự thiếu thốn vật chất. Em hiểu cách mạng là phải hi sinh nhưng không thể là mọi rợ.
Tôi kêu lên như chim bị tên:
- Sao? Cách mạng là mọi rợ?
Thiên Lý quắc mắt nhìn tôi.
- Đúng!
Tôi vô cùng kinh ngạc. Chưa bao giờ tôi nghe ai phê phán cách mạng bằng những tiếng kinh hoàng này. Mà lại là của một cô gái chưa đầy hai mươi tuổi. Cô ta chỉ sống với cách mạng trong một thời gian ngắn.
Như đọc được ý nghĩ trong đầu tôi, nàng tiếp:
- Em thấy hết tất cả sự thực. Giấc mơ của em tan vỡ hoàn toàn. Em biết anh không như em. Do đó nếu chúng ta có là người yêu của nhau hay là vợ chồng thì cũng chỉ đồng sàng dị mộng. Cho nên em quyết định bỏ tất cả, cả anh, để đi nơi khác .
- Nghĩa là sao?
- Em xin lỗi anh nhé . Anh cho phép em nhe!
- Em cứ nói đi anh nghe.
- Em mới vừa quyết định về thành hôm qua.
- Còn trước đó?
- Em vẫn còn có ý định kết hôn với anh. Với anh, em sẽ tìm được hạnh phúc trong một gia đình mới.
- Tại sao em thay đổi nhanh vậy?
- Là vì em thấy anh say mê cách mạng ghê gớm quá. Xông tên đục pháo như bỡn. Trong lúc anh đi họp với ông Năm Lê ở nhà, xuống bếp nấu cơm, em nghe các anh các chị thuật lại công tác của anh. Anh quả là một anh hùng giải phóng. Hai lần mang đanh hiệu anh hùng pháo binh phải không anh?
- Rỡm thôi ! Anh có nhận đâu mà !
Nàng xua tay:
- Nhận hay không thì anh vẫn là anh hùng. Có thể nào một anh hùng như anh lại có một người vợ chán ghét cách mạng? Em biết chắc chắn anh không thế nào bỏ cách mạng (nàng lầm, vài năm sau tôi cũng đi) để đi theo em. Còn em thì không muốn làm phiền lòng anh vì sự có mặt của em trong cuộc đời cách mạng từ tấm bé của anh. Em sẽ trở thành gánh nặng của anh.
Ghê gớm thật, cô bé này. Không biết cô ta nhìn thấy những gì ở trên đó mà cô lên tiếng ngọt ngào chỉ trích cách mạng như thế. Tôi không thấy được như cô hay sao? Đúng ra tôi cũng có thấy, thấy nhiều chứ. Nhưng mỗi một lần thấy một vết nhơ sau chiếc áo đẹp đẻ của cách mạng thì tôi lại tự xóa đi bằng cách ngụy biện bao che cho cách mạng. Riết rồi thành thói quen. Những chuyện mọi rợ trở thành bình thường không làm cho tôi phản ứng tự nhiên nữa. ..
Như vụ vợ Nguyễn Chí Thanh vô R bằng máy bay và bọn Lê Đức Anh, Trần Độ, Trần văn Trà cho lính đem võng kiệu chị Sáu, băng rừng về gặp anh Sáu. Như vụ tổ săn thịt phục vụ cho bọn triều đình, việc chúng hay tin B52 sắp bỏ bom lẳng lặng chạy sang Cao Miên để phần lớn cán bộ nhân viên ở lại mà tôi nghe Thiên Lý kể hôm nào. Và biết bao nhiêu chuyện khác nữa. Tôi tự nhủ: Cách mạng phải thế. Như thế mới là cách mạng. Đến đổi như tên Hồ bỏ thuốc độc cho Dương Bạch Mai uống chết ngay tại Quốc hội mà tôi cũng coi là một sự bình thường. Vâng, cách mạng phải dã man mọi rợ như thế. Mọi rợ dã man chính là cách mạng. Nếu không, không phải là cách mạng. Thiên Lý bất ngờ làm tấm gương cho tôi soi. Tôi nói với Thiên Lý:
- Anh đã đi theo cách mạng từ thuở bé em ạ .
(Tôi định nói tiếp: Đi đã quá xa trên đường quá nhiều đoạn lầy lội và trước mặt cũng không khô ráo gì, nhưng không thể bỏ vì sợ phí uổng sự hi sinh đã qua của mình.)
Nhưng tôi ngập ngừng không nói tiếp. Thiên Lý bảo:
- Thì anh cứ đi. Còn em thì một bước cũng không. Dù mai đây cách mạng thành công em cũng không.
- Em không tìm được một sự dung hòa nào giữa bản thân em với cách mạng sao?
- Đó là sự thành hôn với anh.
- Em sẽ vì anh mà biến đổi. Nói tóm lại, em hi sinh cho anh.
- Em yêu anh nhưng không thể làm vợ của anh.
- Tại sao lạ vậy?
- Yêu đương là điều mơ mộng. Yêu trên giấy, trong hồn, trong gió, trong mây. Còn vợ chồng là một thực tế va chạm hàng ngày. Trước một cảnh tàn phá quê hương anh căm thù đế quốc Mỹ, em lại đổ lỗi cho bác Hồ. Một chiến sĩ hi sinh, anh cho rằng Tổ Quốc sẽ ghi công, còn em bảo là ngu dại. Hai con người mang những ý nghĩ đối ngược với nhau như thế có thể nào sống chung ăn chung ngủ chung không anh?
Tôi đành im lặng. Đây là một chị Sáu Bàu không biết là thứ mấy của Bến Mương. Chị Sáu bắt buộc phải ở với giải phóng. Khi có điều kiện, chị tung hê không luyến tiếc. Đó là kết quả của sự chịu đựng. Nóng quá phải quạt. Lửa cháy đến nơi phải chạy. Ngộp quá phải tung ra. Chị Sáu Bàu không có nhận xét Rờ là Rợ về cách mạng như Thiên Lý . Nhưng cả hai cùng nhìn cách mạng bằng một cặp mắt. Cái này là cái kia. Cái kia chính là cái này.
Chúng tôi đi song song nhau dưới một bầu trời ảm đạm điểm vài nụ cà nông vui vẻ ở xa xa và vài cánh hoa trực thăng gần gần, nhưng cơ hồ những hiện tượng đó không làm đứt quảng câu chuyện.
- Em ra ngoài có bà con gì không?
- Em sẽ tìm người cậu em ở Châu Đốc. May ra thì gặp. Còn không thì cũng may.
- Em không thể nấn ná để anh tìm cách phục vụ cách mạng hay sao?
- Không ? Anh đừng bận tâm. Còn em thì không muốn ân hận về sau. Tức là có cơ hội bỏ mà không bỏ để đeo đẳng suốt đời Thôi anh về, đi xa thêm nữa chỉ đau lòng. Xin anh nhận em là người yêu vĩnh viễn của anh.
Thiên Lý hôn tôi rất khẽ cơ hồ như gió thoảng. Rồi quay đi đuổi theo tổ trinh sát. Tôi đứng nhìn theo mà tưởng đất sụp trời nghiêng. Tôi thét lên một tiếng:
- Thiên Lý !
Rồi vụt chạy theo. Nàng đứng lại. Chúng tôi lại hôn nhau. Không nỡ rời. Nhưng phải chia tay. Trong cái hôn môi đẫm nước mắt cuối cùng, nàng thầm thì:
- Giá anh đừng cứu sống em!
o O o
Năm 1970 tôi theo gót chân nàng về Sài gòn. Tôi đi lên Châu Đốc để tìm nàng, nhưng giữa cảnh xa lạ, nào ai biết tôi là ai và tôi đi tìm ai? Không phải tôi đi tìm nàng để nối lại đường tơ, mà để biết rằng nàng đã có chồng có con và đang sống một cuộc đời bình thường ở một nơi mà nàng thích. Tôi xuống bến chợ ngồi nhìn ghe qua lại, nhìn tàu cặp bến, kẻ xuống người lên như nước chảy. Không có ai là Thiên Lý. Trên mặt đất này không biết có còn tiếng Việt Nam nào có nghĩa là Thiên Lý nữa không? Có người con gái nào mang tên Thiên Lý nữa không? Chỉ có trong lòng tôi một đóa hoa phong nhụy, một thực thể, một dư âm, một đường tơ tưởng đứt mà không bao giờ.
 
Chương 67
Chiếc thắt lưng Mỹ: Vành khăn tang Việt Nam..
Sự hoang vắng lan đần khắp Củ Chi sau trận khai quang Crimp, với hàng ngàn dân bị xúc ra ấp chiến lược, nhiều khúc địa đạo bị phá, nhiều nơi bị lộ, mộ dân mã lính mọc lên đó đây thương binh chật binh xá. Những bề bộn đổ nát sau một trận ruồng dọn hoài không hết. Nó cứ lòng thòng như nỗi ngao ngán thất vọng của người dân. Cuộc chiến tranh này có mòi vô tận. Nhà cửa, ruộng nương, cuộc sống của người dân trở thành mục tiêu tàn phá của súng đạn hai bên. Mỹ phá có chu kỳ , du kích phá triền miên. Thử xem một nhà nông không cày được ruộng vì trực thăng soi. Thử nhìn một con trâu chết vì lựu đạn gài của du kích v.v… Người chủ ruộng bị xúc ra ấp chiến lược được cho tôn làm nhà, gạo ăn thuốc men, nhưng đó không phải là tất cả. Còn nếu ở lại, Việt Cộng lùa họ xuống địa đạo như cá , nếu cuộc ruồng kéo dài năm bảy ngày thì mạng họ sẽ ra sao? Từ hai phía người dân như cá bị cặp gấp kê trên lửa. Cả hai bên chỉ nghĩ đến chiến thắng mà không cần đếm xỉa đến thân phận con người.
Chúng tôi dọn dẹp nhà cửa cho má Hai, chuyển lúa thóc ra ngoài, đắp cao những nấm mộ và cúng kiến, như những đứa con trong gia đình. Nhà Sáu Phấn bây giờ cũng vắng hoe. Chú Tám định chở lúa của Mười đi bán dùm rồi ra Phú Hòa Đông ở luôn. Chú Tám đã đóng xong chiếc ghe nhưng vợ con đã bị xúc ra ấp chiến lược nên không có ai dùng phải kêu người tới bán rẻ . Y không thể ở nhà mà không có vợ con. Chị Sáu có nhắn về cho chồng biết chị đã bán được con heo nái và bầy heo con. Đó là vốn liếng cắc củm bấy lâu nay của chị.
Sáu Phấn nhờ anh em tới khiêng tủ ghế thảy xuống mương để khi hòa bình rồi có xài. Nhưng anh chết trong cuộc hội nghị tham mưu quận đội gần mười hai người ở tại Bến Mương, đâu có trở lại mái nhà xưa. Vợ góa con côi giống y như trường hợp Hai Giả . Rồi đến Tám Mang, cô mụ kiêm thợ may, dẹp tiệm. Bà già cô ra Trung Hòa tá túc với người em còn cô dính lem lem với giải phóng không dám đi theo. Cô ở lại xin đầu quân vào H6 làm chị nuôi, nhưng được vài tuần thì Sáu Phấn bảo như vậy không tiện. Nên tôi phải thương lượng với phòng y tế quận nhận cô vào công tác. Tôi phải chở cô đến. Dọc đường cô cằn nhằn:
- Anh Hai không để ý gì đến em hết á !
- Em có chồng rồi, anh đâu dám!
- Em đâu có hứa gì với ai….
Trước khi chia tay nàng cũng như nhiều nàng khác muốn anh Hai giúp đỡ...
Biết bao công việc đa đoan, việc lớn việc nhỏ, việc nước việc nhà , vui buồn lẫn lộn, hạnh phúc và đau khổ. .. Ngày này qua ngày khác đến, đều một công thức như nhau.
Lụi hụi mà tôi về H6 đã được một năm. Tết sắp đến. Đây là cái Tết thứ mười tám tôi không được lạy bàn thờ ông bà . Tên lính Lê Dương dẫn xác đi khắp Việt Nam, trừ mảnh đất chôn nhau cắt rốn thì không về được.
Bao giờ kháng chiến thành công
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào
Tết này ta lạm xa nhau
Chắc rằng ta sẽ Tết sau xum vầy.

(Hồ Chí Minh 1946)
Năm 1966. Hai chục năm chẵn. Rượu đào đâu? Thành công đâu? Còn xa nhau bao nhiêu năm nữa. Tết sau là tết nào? Cái Tết ngày mai ăn khỏi trả tiền chăng? Rõ cù lần! Cách mạng khởi đầu là mặt trời. Dần dần trở thành mây đen và bây giờ thành địa ngục. Lộ mặt tất cả:
Hồ: Ác;
Đảng: Cướp;
Cách mạng: Rỡ;
Giải phóng: Ngu.
Tuy mùi cháy khét còn nồng nặc nhưng ai còn sống cũng chuẩn bị ăn Tết như thường. Một hôm Sáu Phấn đến gặp tôi với nét mặt phấn khởi:
- Thầy hay tin gì không?
- Tin bả được heo hả ?
- BBC cho hay Tết này ngưng bắn 24 tiếng. Tôi đến cho thầy hay liền để mình chuẩn bị kế hoạch ăn Tết!
Tôi lơ đảng đáp
- Ngưng 24 tiếng thì làm được cái gì?
Việt Cộng lợi dụng ngưng chiến để chuyển quân, tiếp tế vũ khí chuẩn bị chiến tranh. Đó là cái mừng của chúng chớ chẳng phải chúng thực tâm muốn có một bầu không khí yên ổn để dân chúng ăn Tết. Ai mà quên được cái chết Mậu Thân 1968? (Tôi sẽ kể tới đó.)
Bây giờ thi hành lịnh ngưng chiến chúng cũng kèm theo một chỉ thị kêu gọi toàn dân toàn quân đề cao cảnh giác!
Nhiều người gởi bánh tét, bánh phồng đến ủy lạo H6. Bà Hai ở Ngã Ba Sòng, nhạc mẫu của thằng Chi cho cô Chạnh đem vô một gánh bánh tét và gạo nếp như đem trả của cho đàng trai. Hội Phụ nữ Quận do Tám Phụng đại diện đến cho mắm muối, bòn bon thèo lèo. Các nàng dũng sĩ cũng đến chúc mừng ông thầy pháo.
Tôi bảo Năm Dị sang nhà má Hai đốt nhang cúng vái trước những ngôi mả mới. (Bàn thờ đã ngâm dưới ao.) Sáu Phấn đại diện H6 đi thăm mả thằng Chi, thằng Đức và vô C5 ủy lạo thương binh.
Tôi nằm nhà lắc lư trên võng và ăn bánh phồng bánh tráng với thằng Đỏ. Tôi không muốn sang nhà má Hai để trốn những hình ảnh đau lòng. Trước khi đi Thiên Lý có yêu cầu tôi giúp nàng mở cửa mả cho má, anh chị và cháu bé của nàng. Nàng ngất xỉu mấy lần. Khi tỉnh dậy nàng nói:
- Em nhờ anh săn sóc mộ má, anh chị và cháu. (Nàng không dùng tiếng “của em”) ở ngoài đó em sẽ đi chùa và làm tuần bách nhật.
Bây giờ sang đó, cảnh vắng người buồn không chịu nổi nên tôi không đi. Tôi yêu Thiên Lý như một tia chớp lóe lên rồi tắt, yêu cả những ý tưởng căm ghét cách mạng của nàng . Đời này ai có chân lý và tình cảm riêng tư nấy. Từ nay tôi sẽ đau đớn mỗi khi nhớ nàng. Sao chúng tôi không thành chồng vợ được? Tôi không có cách gì cầm nàng ở lại. Hay chính tôi cũng tán thành hành động của nàng? Tôi không biết. Nhưng khi nàng đi rồi thì tôi chỉ tiếc vì đã để mất một người con gái đẹp yêu mình chứ không ân hận vì đã giúp nàng đi thoát.
Tám Đột không hay biết gì về kế hoạch bí mật của tôi nên sau khi tôi trở về, gặp lại anh ta không hạch hỏi. Nhất là tôi thay mặt Thiên Lý bảo: “Ngôi nhà nàng giao cho công an quản lý.” Mồm con khỉ đột dù to mấy cũng bị trám dễ dàng.
Nhiều người say. Dân say, anh cũng say, nhà cửa của mình mà những tên cha chài chú chóp nào ở đâu kéo tới đánh nhau rồi cho mình hai chữ bình an trong 24 tiếng? Vậy mà mừng húm. Hồi chín năm vui lắm, liên hoan có cả múa lân vui mút mùa, đâu có hạn chế như bây giờ. Nhưng nghĩ cho cùng nếu tôi còn ở ngoài Bắc, thì hoặc ở Ba Vì, hoặc ở Lam Sơn Tết rưới nước mắt, lấy rượu làm vui có hơn gì ở đây? Nông trường Lam Sơn có mười ngàn lính cuốc đất uống rượu bằng hai triệu dân Thanh Hóa thì ngẫm ra câu Dụng tửu quân giải phá thành sầu cũng hữu lý lắm vậy.
Bây giờ anh chàng Huế Nghệ Năm Dị lâm vào cảnh của dân Nam kỳ trước đây ở ngoài Bắc. Hắn uống rượu như nước. Mặt đỏ như gà chọi, cất giọng mỉa mai:
- Hồi trước khi các ông buồn, các ông thường ngâm câu:
Đất Bắc anh gìn con tí ngẳn
Trời Nam em giữ cái bề hê

Bây giờ tôi thấy câu đó thắm thía vô cùng và xin đối lại:
Đất Bắc em gìn con cá lẹp
Trời Nam anh giữ Củ Chi chi.

Tôi cạn ly với hắn và nói:
- Bến Mương này thiếu gì đàn bà giá . Ai biểu ông trung với nước hiếu với dân hoài chi rồi la!
- Thằng nhỏ có hai nhiệm vụ chiến lược, bây giờ cái nhiệm vụ quan trọng nhất lại không làm được mà cho làm nhiệm vụ thứ hai! Khẹc… khẹc…
- Tụi tôi mười năm, ông chỉ mới chịu hai năm thôi mà !
Bỗng thằng Đỏ từ đâu chạy về cấp báo:
- Anh Hai ! anh Hai !
Mọi người nhảy dựng lên, tưởng Mỹ tới. Thằng Đỏ nói cà lăm:
- Thím Hai . . . thím Ba tới ! Có . . . chị Ba nữa .
- Thím Hai thím Ba nào?
Thằng Đỏ đến rỉ tai tôi. Tôi đến miệng hầm nhìn ra thấy một tốp đàn bà con nít đi hàng ngang, đầu người nào cũng quấn khăn trắng lốp. Vợ Hai Giả , vợ Ba Thanh! Chết rồi ! Tôi muốn chui trốn để khỏi đối diện với hai bà vợ tử sĩ này. Cho đến nay tôi vẫn còn cất cái sắc-cốt của Hai Giả dưới hầm, và vụ anh bị khui hầm cùng với Ba Thanh vẫn còn được giữ kín. Hầu như không ai còn nhắc tới Hai Giả và Ba Thanh đi công tác ở Dĩ An nữa. Chính tôi cũng quên đi. Hôm nay lại bật ra.
- Mấy bả đi tới kìa !
Thằng Đỏ như hiểu tâm sự tôi. Nó nhìn tôi lo lắng và bảo:
- Em ra nói anh đi vắng được không anh?
Bất giác tôi xua tay:
- Không! Để anh gặp, mấy bả có chửi thì anh chịu.
Các bà đã tới nơi. Thấy bếp đang lên khói, các bà quẹo xuống đó . Thu báo cho tôi. Tôi cho mời mấy bà đến hầm làm việc của tôi. Năm Dị, Thu và mấy cậu khác thấy khách đến thì nhường chỗ cho các bà ngồi.
Người đàn bà trạc bốn mươi tự giới thiệu là vợ Hai Giả, giới thiệu luôn vợ Ba Thanh và các bà khác. Chị Hai nói:
- Nhân dịp ngưng bắn, tôi đem sắp nhỏ vào thăm… cơ quan. Còn cô này là người có chồng ở công trường 9 gốc Bến Mương vừa hi sinh, nên đi với tôi cho có bạn.
Tôi nói ngay:
- Tôi là người thay cho anh Hai. Rất tiếc chị vô mà anh Hai lại đi công tác xa… .
Vừa nói tôi liếc nhìn các bà và mấy đứa trẻ . Những chiếc khăn tang trắng chứng tỏ họ đang chịu tang. Tôi thầm nghĩ. Nhưng tôi cũng cố chối. Ngồi hầm này vừa chứng kiến những giọt nước mắt lâm ly bây giờ lại ngập màu trắng của những chiếc khăn tang buồn thảm. Tôi ngỏ lời mời khách ở lại ăn Tết, nhưng chị Hai nói:
- Chị em tôi muốn mời Ban chỉ huy đến nhà chị Chín Kiểu dùng một bữa cơm đạm bạc!
Tôi nghe nguy cơ sắp đến rồi. Như vậy là bà lớn biết gốc của bà nhỏ . Các bà đánh ghen và muốn có sự chứng kiến của cơ quan mà tôi là người chịu trách nhiệm chăng?
Đầu năm xui thật. Tôi làm mặt tỉnh nhận lời:
- Dạ ! Hổng mấy khi chị Hai vô thăm, đáng lẽ anh em chúng tôi phải đến đó chớ đâu dám nhọc lòng chị, mấy cô và mấy cháu mời. (vợ Ba Thanh chừng hăm lăm; còn cô có chồng lính công trường 9 chừng hai mươi tuổi.)
Nghe tôi nói, phái đoàn đứng dậy kiếu từ. Đối phó với các bà còn mệt hơn thảo kế hoạch pháo kích Đồng Dù . Nhưng đã trót thì phải trét. Tuy làm gan mà bụng dạ rối bời. Tôi tự đặt ba giả thuyết: Thứ nhất: Hai bà đánh nhau to. Giả thuyết này có khả năng nhất. Tôi sẽ tùy cơ ứng biến. Thứ hai: Chỉ khẩu chiến sơ sơ. Tôi sẽ dùng lý luận ba phải xử chìm xuồng. Thứ ba: Hai bên hòa thuận với nhau! Khả năng này chắc không có. Tôi vừa đi ra đường thì đụng Năm Tiều.
- Ê! ngưng chiến 24 tiếng mày định triệu tập hội nghị ve chai chưa thằng cu?
- Rối như tơ vò đây bác nó ơi !
Tôi thuật chuyện vợ Hai Giả vô cho anh nghe. Anh đã vô đế ở đâu rồi, hơi thở nặc men cay, nghe tôi nói anh la luôn:
- Đù mẹ mấy thằng chánh trị. Chánh trị cái con mẹ gì kỳ vậy. Chồng người ta chết cả năm nay không có giấy báo tử Làm ăn cái kiểu đó, coi không được.
Tôi bỏ nhỏ :
- Anh Năm Lê bảo tôi cho bà lớn lẫn bà nhỏ của ảnh hay, nhưng tôi ngại quá, tôi ém luôn.
- Mày ngại, để tao nói cho !
Tôi mừng như vừa chiến thắng một trận giặc lớn. Năm Tiều hâm hở đi trước. Tôi theo sau. Vào đến nhà tôi mới bật ngửa ra. Nhang đèn trên bàn thờ sáng choang. Khói bay xốn mắt. Nhìn lên bàn thờ thấy đến ba tấm hình: Hình chồng trước của chị Chín Kiểu đứng nghiêng và hình Hai Giả với Ba Thanh chụp chung. Chị Hai, chị Chín, chị Ba mắt đỏ hoe.
Vậy là họ biết cả rồi. Năm Tiều vọt miệng nói ngay:
- Chú Hai Giả và chú Ba Thanh hi sinh ở Dĩ An, nhưng Hai Lôi sợ ba thím buồn hai chú nên giấu để lựa cơ hội sẽ nói ra chớ không phải ém luôn.
Vợ Hai Giả vốn quen với Hai Tiều trong những lần trước chị vào thăm chồng, nói:
- Dạ, ba sấp nhỏ hi sinh hôm trước thì hôm sau tôi hay liền nhờ người cậu của nhà tôi làm ở Sở Hỏa Xa cho tin. Ngoài ra mấy ông Phượng Hoàng có đem mấy tấm hình cũ (chị trỏ lên bàn thờ) cho cậu tôi nhìn.
- Chết chưa ! Tụi nó biết gia đình thím hả ?
- Dạ vì trong ba lô có giấy tờ nên mấy ông coi và tìm ra. Nhưng mấy ông không làm khó dễ gì.“Chúng tôi không thù người chết. “ Mấy ông nói: “Tụi Đại Hàn gặp miệng hầm là ném lựu đạn liền, nếu đụng Mỹ thì chồng chị chỉ bị bắt đưa ra Côn Đảo thôi.”
Tôi và Năm Tiều sững sờ. Vậy mà lâu nay cứ giữ bí mật . Hai đứa đốt nhang vái. Năm Tiều còn pha trò:
- Mày chết dưới hầm mà còn sống lại được là nhờ thằng Hai Giả với thằng Ba Thanh phù hộ đó . Mày phải xá bàn thờ tụi nó đi !
Tội nghiệp chị Chín, hai đời chồng, một thời chống Pháp, một thời chống Mỹ. Cả hai đều yểu mệnh. Đứa con của Hai Giả có với chị mới một tuổi mà đã quấn khăn tang. Riêng chị Hai thì được hai đứa con trai, thằng Nhơn mười hai tuổi, thằng Nghĩa bốn tuổi. Chị nói:
- Thằng Nhơn ra đời hồi ảnh đánh trận Trảng Bom bị thương về nhà dưỡng bịnh. Còn thằng Nghĩa thì ảnh ngoài Bắc về mấy năm nó được mấy tuổi.
Năm Tiều sẵn trớn nhắc chuyện đánh Tây hồi trước còn tôi thì nhắc kỷ niệm ở Hà Nội, chiều thứ bảy nào hai đứa cũng đạp xe qua cầu Ái Mỗ ra thị xã Sơn Tây uống bia, đôi lúc hứng ra luôn Hà Nội coi hát bóng.
Chuyện gì rồi cũng qua. Hai người đàn bà cùng mất chồng thấy không còn lý do để ghen nên (bên ngoài) đối xử với nhau rất thuận thảo. Thức ăn đầy tràn nhưng tôi và Năm Tiều nuốt không vô. Thấy cổ họng nghèn nghẹn, nói năng thèn thẹn nên chỉ uống rượu suông rồi từ giã ra về. Về đến nhà, Năm Tiều kêu đói. Sẵn AK treo trên vách anh xách ra làm nửa loạt và xách hai con gà tự túc của tổ nuôi quân đem vô bảo:
- Mày kêu tụi nhỏ xé phay đem lên làm sương sương rồi tối sẽ tính.
- Anh nổ súng vi phạm lệnh ngưng bắn đó !
- Cái đếch! Mình lòn về Nam bằng đường Trường Sơn còn không sợ vi phạm lại sợ bắn mấy phát AK? Tao hỏi mày: ông Sáu Vi ngồi một đống trên R đó, có vi phạm không? Vi vi cái củ … chi tao nè ! – Được trớn Năm Tiều ria luôn – Cái 1 sự mình đi về đây, ở đây, mặc quần áo quái gở như thế này và đánh trận này trận kia có phải là vi phạm không?
Tôi lặng thinh. Nỗi buồn xa quê xâm lấn tâm hồn hai thằng Lê Dương tha hương đã hai chục năm, gia cư bất biết. 1 Năm Tiều bỗng nhiên thở dài:
- Thằng Hai Giả chết lãng nhách, cũng vì sự phân công không hợp lý. Nó chết bỏ lại hai con vợ và một bầy con nít. Con nhỏ Văn công của mày giải quyết có ổn không?
- Chúng tôi giúp đưa cổ ra Đồng Lớn để chuẩn bị biểu diễn.
- Thằng ! Mày nói gạt anh Năm hả Lôi?
Liệu bề chối không khỏi ông Phó ban Tác Huấn, tôi khai thiệt. Anh gục gặt đầu:
- Bỏ thì thương vương thì tội. Tao biết hồi nó nhảy cóc nhảy nhái ở đoàn Văn công của thằng Năm Sang. Nhờ nó có giọng ca thiên phú nên được bắt về R.
- Tội quá anh à !
- Ừ thì tội ! Nhưng mày phải giấu nhẹm nghe. Mấy thằng xã ủy hay được thì nguy to.
- Nó lại thù tập thể của nó anh à !
- Tại sao?
- Nó gọi R là Rợ.
- Chắc mấy thằng chú, bác nó mò nó và hứa cho vô đảng chớ gì. Chú khác với chó có một chữ u và dấu nặng thôi. Đâu đâu cũng vậy chớ không riêng gì R.
- Nếu có thì đó cũng là việc nhỏ. Vấn đề là nó nhận xét đám Ba Kê hách dịch. Lúc nào cũng làm như ta đây là đàn chị. Nó bảo thằng Thanh Hùng và con Ngọc là đồ ngu, và nó cũng ngu tuốt. Nó có gặp Lưu Hữu Phước và mấy chú mấy bác văn nghệ sĩ lớn. Chú bác nào cũng nhếch nhác ích kỹ và ti tiện so bì từ hột đậu phộng trở lên. Lại còn có chế độ trung táo đại táo nữa. ở rừng với nhau là gian khổ đáng lẽ phải chia xẻ nhau từng miếng khô từng vắt cơm chớ đâu có bắn được con khỉ về giao cho nhà bếp, thịt nạc dành cho trung táo xương quăng cho đại táo gặm. Cùng chống Mỹ mà ngồi riêng mâm, ăn riêng khẩu phần coi thiệt mọi rợ.
Năm Tiều gạt ngang:
- Thôi bỏ đi mày. Bây giờ để tao trải bản đồ ra mình xem các cụm quân Mỹ và bàn thảo kế hoạch. Tụi nó làm cái kiểu này chưa có rút đâu.
Năm Tiều rút bản đồ trong xắc-cốt ra trải lên bàn. Hai thằng mọp đầu vào nghiên cứu. Năm Tiều lấy bút chì đỏ khoanh vòng mấy điểm nói:
- Độ chừng mười ngàn quân tham chiến. Mẹ, nó chuẩn bị đưa thêm linh nên mới làm hung vậy. Nó có hai điểm xuất phát:một là Phú Lợi, hai là Đồng Dù. Đù mẹ, chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ nó vây kín Hố Bò và Bến Dược. Nó đánh có diện có điểm đúng bài bản ghê, mày thấy chưa. Diện là Củ Chi, còn điểm là Phú Mỹ Hưng và An Nhơn Tây. Ở Phú Mỹ Hưng nó đào xới Hố Bò Bến Dược. Người ta bảo nó dùng chó đánh hơi, nhưng đâu có . Nó chỉ bới ở những vùng nó nghi ngờ là gặp. Điểm thứ hai là An Nhơn Tây, trọng điểm là Bến Mương và Trại Bà Huệ. Nó đánh tiêu căn cứ tụi thằng Tám Giò và Một Sơn và H6 mày nữa. Cơ giới, không quân, thủy quân, lục quân của nó triển khai nhanh chóng và phối hợp nhịp nhàng. B52 rải thảm, phản lực bắn phá, trực thăng tỉa . Đất còn nghi ngút khói là trực thăng đã thả bộ binh, thủy quân lục chiến đã lên bờ. Xe tăng từ Đồng Dù thọc vào Xóm Đưng rồi chia làm hai mủi chĩa thẳng vô Bà Thiên và Xóm Mới. Rồi từ Xóm Mới đánh thẳng lên Bào Đưng, từ Bà Thiên đánh lên Bến Mương trong lúc đám xe tăng trên Hố Bò chia làm sáu mũi như bàn tay sè chụp, đánh cùng một lúc sáu mũi, mũi một đánh Sở Cao su Phú .Hòa, mũi hai đánh đồn điền Simma, mũi ba đánh Trại Gian Bầu, mũi bốn gặp mũi từ Xóm Mới đánh lên, ở Bào Đưng, mũi năm đánh xuyên đồn điền Solirenes thẳng tới Cổng Bông Giấy, mũi sáu đánh thẳng Xóm Thuốc. Nếu không nhanh chân các ông như mình bị xe tăng cán nhẹp ruột. Cùng một lúc với các mũi tấn công của xe tăng và bộ binh, B52 rải thảm ở An Điền bên kia sông Sài gòn vùng cực nam Củ Chi, và Trảng Cỏ vùng cực bắc Củ Chi. Vậy là tụi mình bị nút kín trong cái ve ba-xị-đế. Nó để một cửa thoát cho mình là Quốc Lộ 1 . Nhưng nếu láu táu thì bị hốt ngay vì đó là cái hom chứ không phải là cái lỗ rách của chiếc giỏ.
Năm Tiều nhìn tôi. Có lẽ ông Phó ban Tác Huấn bị ở trên xạc cà rây nên đổ quạu với tôi. Tôi cười giả lả :
- Thắng lợi của ta kỳ này là các chả chạy thoát, thắng lợi của H6 là thằng Tư lịnh pháo chết đi sống lại, thắng lợi của đội dũng sĩ là con Út Nhỡ quào rách mặt một thằng Mỹ.
- Địt bà thằng đài giải phóng và đài Hà Nội, lúc nào cũng cười lính Mỹ gà tồ ra trận chưa rành động tác cơ bản. Tao đã nghiên cứu nhiều trận rồi, tao muốn bịt mồm mấy cái đài này lại, để nó tuyên truyền láo toét, thanh niên mình ham đầu quân giết Mỹ, đến chừng đụng trận nó bắn không ngóc đầu lên được rồi mất tinh thần bỏ về nhà hết ráo. Tao nghe có một buổi phát thanh về Nam, đài Hà Nội dám nói đại khái như thế này: linh Mỹ nghe quân ta nổ súng thì đâm đầu chạy, còn một số khác thì giơ súng lên, từ từ ngồi xuống lăn qua như học ở trường, rồi mới lắp đạn. Đạn lắp xong thì quân ta đã tới kêu giơ tay lên!
Năm Tiều cười mũi:
- Bởi vậy cho nên trận nào quân ta cũng diệt cả trăm, bắt sống cả chục Mỹ. Mẹ kiếp bắt sống Mỹ còn dễ hơn bắt cá trong giỏ, ai nghe mà chẳng ham.
Tôi đưa đà :
- Bởi vậy cho nên thằng giết kịch bất lương tên là Nguyễn Vũ mới viết ra cá i kịch Mượn Mỹ diễn ở đại hội Mừng Công trên R có đám trí ngủ ở Sài gòn vô coi. Chúng tưởng đó là thật nên nhào vô kiếm chát rần rần. Có hai ba con đĩ lũng nữa. (Bây giờ mấy con này đã biết mình ngồi phải cọc thì quá muộn)
- Quăng tụi đó xuống Củ Chi này vài bữa tiếp tay bắt Mỹ với đám con Bảy Mô để trở thành dũng sĩ! Tao mà biết đài giải phóng ở đâu thì tao đến tao dộng bá súng vô miệng tuị đó cho gãy răng.
- Không phải tụi đài giải phóng nói ẩu, cũng không phải thằng Nguyễn Vũ viết càn như vậy đâu anh Năm, đó là do Trung Ương chỉ thị.
Năm Tiều vỡ lẽ ra bèn khom xuống bản đồ lằm bằm:
- Nhưng nói cho cùng mình cũng không trách được tụi thằng Ba Châm, Út Lịa, Bảy Nô không đánh được trận nào.
- Tai hại nhất là cái kho của Bảy Hót bị hốt sạch.
- Đù mẹ ai ngu quá, giao cho cái thằng tên Hốt làm hậu cần nên bị hốt sạch.
- Vậy ông phó tư lịnh của mình tên Phón thì sao?
Năm Tiều bật cười. Tôi tiếp luôn:
- Còn ông phó ban tác chiến và huấn luyện khu thì lại tên Tiều. Chẳng trách gì lính tráng lẫn cán bộ chạy tuột dênh chỉ còn có cái quần tiều.
Năm Tiều cười hô hố rồi hết quạu luôn. Anh xếp bản đồ nhét xắc-cốt rồi ngồi lắc lư, cái đầu vuông như cái gối đệm:
- Năm nay là năm Ngọ cho nên mình chạy là phải. Mình còn mặc quần tiều là quới lắm nghe mậy. Năm tới mặc xi-líp lội sông Sàigòn cho coi.
Tiệc dọn lên. Hai thằng Lê Dương, một già, một sồn sồn ngồi cạp giò gà nhậu rượu đế. Đột nhiên Năm Tiều hỏi:
- Hồi ở ngoải mày có ra Hà Nội ăn Tết lần nào không?
- Năm 62, năm con trâu già.
- Có gì lạ không?
- Có ba cái đèn xanh đỏ quanh bờ hồ và ở trên đầu Tháp Rùa. Và nghe pháo chuột nổ trên đài, nghe thơ chúc Tết của Bác vào lúc giao thừa nữa chớ!
Năm Tiều đang bưng ly rượu bỗng buông xuống bịt mũi:
- Thôi, thôi mày đừng nhắc tới thơ của ổng. Hôi ê lắm! Chỉ có ba thằng triều đình và đám rau muống xực được thôi. Tao không bao giờ nghe.
- Sao vậy cha? Thơ của bác đọc vào giờ thiêng liêng mà không nghe thì phí của giời quá!
- Thơ trật vần nghe chối tai còn hơn heo kêu.
(Tôi đã nói lính sợ Năm Tiều như sợ cọp đã đành. Cấp trên cũng ngán anh. Anh muốn nói là nói, không biết nể nang ai, không ai bụm họng kịp. Nhưng không ai dám phê bình cảnh cáo anh, vì đó là trực tính của một người lương thiện. Anh nói đúng, chớ không sai chuyện gì. Hơn nữa về thành tích chiến đấu anh không thua ai trong quân khu này, nhưng vì cái tật phát ngôn tự do mà không ngóc đầu lên nổi. Người ta thành phần bần cố nông được đề bạt vượt cấp, nhiều người cùng lứa lên tới thượng tá giữa chức trưởng phòng, còn anh lẹt đẹt chỉ ôm cái phó ban hàm)
Tôi rót rượu cho anh và nói:
- Anh ở đây với tôi nghe pháo chuột nổ và thơ bác!
- Ngày mai yên ổn, mày không có kế hoạch gì sao? Tao định về nhà thăm vợ.
- Vợ nào?
Năm Tiều cười phì, nhìn tôi:
- Cái thằng! Vợ còn hỏi vợ nào?
- Tôi hiểu anh mà anh Năm! Há há!
Năm Tiều bị tôi điểm trúng yếu huyệt làm thinh. Tôi rủ anh đi Hố Bò. Anh gật. Tôi nói:
- Nếu Mỹ rút thì bà Sáu Tĩnh trở về rồi. Anh không lên tụi em nuôi vịt xiêm Q16 chốt mất.
- Q16 vô rồi, thế nào cũng có cu 17 cu 18 xuống cho mày coi. Toàn là cu, cu bầy!
- Tiện dịp tôi hỏi thăm cái hầm ông Ba Xu tôi đào hồi năm ngoái với cô Là.
- Mày mà đào hầm! Có em mày mới đào phải không? Nhưng ông cấm lính chui hầm sao ông lại đòi hầm?
- Hầm chớ không phải địa nghe cha non!
- Địa là tía của hầm, hầm là con của địa. Ổng bảo chịui xuống địa là mất tính chiến đấu, sao ông lại đòi hầm để chui ?
Năm Tiều quăng cái xương gà một cách giận dữ – Bây giờ tao mới hiểu. Các ông ra kỹ luật là để cho người khác chớ không phái để mấy ông thi hành, rõ chưa? Tao vô đảng mấy chục năm đâu có thấy thằng ông nội nào có vợ bé mà bị kỷ luật? Kể cả đồng chí Tổng bí thư Lê vòi đi khắp nước mà Hồ chủ tịch có rầy rà gì không? Thậm chí thảy năm, bảy lỗ một lúc cũng cứ là lãnh tụ như thường. Gần nhất là các tên R, rồi ở ngay bên cạnh mình là Năm Lê, vợ lớn làm rùm beng nhưng ban tổ chức Trung ương có dám làm gì mấy chả không? Nhưng hễ tụi mình ngủ với đàn bà góa thì bị kỷ luật sắt Một đại úy chết lãnh nhách. Hai người đàn bà góa, một lũ con nít bịt khăn tang trong ngày Tết vì mất cha mất chồng là do kỷ luật sắt mà ra đó mày ạ !
Năm Tiều ngưng ngang nốc hai ba hớp rượu giằn mạnh ly xuống bàn và tiếp:
- Tao nói thiệt với mày. Gặp mặt mấy bả trước bàn thờ Hai Giả tao muốn chui đi cho đỡ nhục. Vậy chớ bây giờ một ông kẹ nào chui vô cái địa đạo của bà Chín Kiểu thì mọi sự êm rơ thôi, chẳng có kỷ khỉ gì cả.
Năm Tiều vừa dứt lời thì liên lạc hỏa tốc đến. Tôi cầm thơ xem, không biết của ai. Mở ra thấy chỉ có một dòng:
“Cậu Lôi, được thư theo chân liên lạc tiên gặp tôi. B.X “
Tôi đưa cho Năm Tiều xem. Năm Tiều liếc qua rồi bảo:
- Ông kẹ gọi chắc bảo mày giàn trận mới. Thôi đi đi. Tao về thăm cái lọp nhà… Coi nó xệu xạo vậy chớ bỏ lâu không thăm cũng có thằng rình, đổ mất. Ba cái pháo chuột, năm tới nghe.
(Nhưng Năm Tiều chết trước khi nghe pháo chuột Tết năm Mùi.)
 
Chương 68
Giang tả cầu hôn hay liêu trai tân thời:
Bà Chánh ủy của ông Tư lệnh
Thằng Lạn đạp như bay. Tôi hỏi:
- Ổng ở đâu em?
Lạn vung tay.
- Tuốt ở trển.
- Lâu gặp em quá, có gì lạ không?
- Em đi Liên Xô mới về , hì hì . . . hà .
Chiếc xe sụp lỗ suýt lật ngang.
- Lần nào gặp em cũng đi Liên Xô về . Có gặp con Thanh không?
- Em bỏ đường đó lâu rồi. Tụi nó mất hang dời đi đâu không rõ.
- Còn thằng Chín Hung, Hai Nhị đi Tây Ninh?
- Đám dê đó sát nhập vô đâu mất tiêu không thấy nữa. Lần chót em gặp con Thanh nó khóc quá tay. Tôi hỏi sao khóc Nó nói chú nó (là tên quân báo Nguyễn Duy Nam) bắt nó ra Đồng Dù lấy tin. Nó phải mặc quần áo kiểu thành thị, uốn tóc và học nhảy đầm nữa.
Tôi chợt nghĩ tới con Ua, tay chân của Chín Lộc. Lạn tiếp:
- Nó có nhắn anh, gởi lời thăm anh. Nó than với em đời nó kể như tiêu tùng rồi.
Tôi gượng gạo:
- Hoạt động cách mạng mà tiêu tùng cái gì?
- Trời ơi! Anh không biết thằng chú nó muốn cắm nó vô Đồng Dù hoặc các nơi có nhiều Mỹ tới lui để lấy tin sao? Kỳ trước gặp anh, nó có than về vụ đó mà. Láng cháng với Mỹ thì tàn đời thôi.
- Anh biết rồi, thằng tía nó là Phạm Xuân Hoàng nòi quân báo mà. Chú nó đi theo tía nó rồi hi sinh nó chớ sao?
Đến bến đò Đồng Sõi thấy có chiếc thuyền bằng nhôm giống như ca nô sơn đen bóng loáng. Tôi hỏi:
- Xuồng ở đâu mà đẹp vậy?
- Cái bọng B26 anh hạ kỳ rồi đó.
- Tụi D8 hạ chớ phải tao đâu.
- Ừ! thì nhờ vụ pháo kích của anh, mấy ổng mới ăn có nếu không, bơ mỏ chớ làm nên gì. Nhưng mấy ổng dở cái là không bắt được phi công.
- Trời ơi ? Phi công mà bắt sao được? Máy bay rớt là tụi nó tới liền. Ở miền Bắc kia, tụi nó còn cứu được phi công huống gì ở trong này phi cơ rơi ngay bên rào bót.
Vọt qua sông Sài gòn dễ dàng vì nhằm ngày hưu chiến không có giang thuyền, nếu ngày thường thì lên ruột. Cậu liên lạc đẩy thuyền dấu trong bụi rồi chỉ đường cho chúng tôi đi. Lạn vác xe đạp, tôi theo sau, băng một hơi lên đường 14, lại đèo tiếp .
- Anh định chừng nào tuyên bố?
- Tuyên bố ma họ !
- Anh giấu em hoài, em biết hết trơn.
Tôi lấy làm ngạc nhiên. Mấy cô phao tin chắc. Nhưng cô nào? Cô Bảy dũng sĩ hăm rước má vô coi mặt. Cô Lam thì dắt ra Ràng gặp gia đình rồi, cô Là cầu nhàu vì má qua không gặp. Ua, Chia còn lững lơ đó, nhưng bà Ngoại đã hứa gả… cả hai. Tôi nào biết gì đâu… Tôi bèn hỏi Lạn.
- Còn em có chỗ nào chưa?
- Em thì trong veo như cua sáng trăng, có lẽ chừng nào em lạn mòn một trăm cặp vỏ xe mới có người yêu như anh.
Tôi cười:
- Mòn tới cặp thứ mấy rồi?
- Mới tới hai chục thôi. Còn tám chục cặp nữa. Hì hì. Anh đã thiệt, con gái xã, huyện, tỉnh, khu bu anh vậy mà anh phủi hết, kỳ này lên tới R… Q hục hục…
- Thôi mày ơi ! R râu râu rụng R rún rún rung rinh, R Q mà sướng ích gì.
- Người ta kể cho em nghe hết trơn rồi.
- Kể chuyện gì?
- Cô gái Nhị Bình với ông thầy pháo đẹp đôi phải biết?
Tôi giật mình.. Sao thằng này biết chuyện đó? Tôi chưa kịp hỏi thì Lạn tiếp:
- Con Thiên Lý học cùng trường với em ở quận mà.
- Rồi sao?
- Vừa rồi đoàn của nó diễn ở Trảng Bàng…
Tôi sốt ruột gạt qua:
- Tao biết rồi….
- Thì nó khai hết với em chớ. Ban đầu em hỏi nó ở trên R có mối nào chưa? Nó chê một nhánh so đũa có cả chục con dê chồm tới, dê cụ cũng lăm le. Nó có hỏi thăm anh.
- Mày đặt chuyện chớ làm gì nó biết tao.
- Em biết gốc ngọn đâu mà đặt được. Em hỏi sao nó quen với anh thì nó bảo diễn tuồng ở đêm mừng công anh lên đọc diễn văn có đúng không?
- Có ! Rồi sao nữa?
- Nó nói nó đứng gần anh lúc anh cởi đồng hồ cho cô Kim Chi nào đó và lột cây P38 cho ông già kéo màn. Có không? Nó bảo khi nó ca bài Cô gái Lục Bình (Tôi cười: Cô gái Nhị Bình) nó dòm xuống nó thấy mấy cô ở văn phòng ngồi vây chung quanh anh làm nó ca suýt trật nhịp.
Tôi chối ngang. Tôi không muốn nghe lại chuyện đau lòng. Nhưng thằng Lạn vô tình cứ lãi nhãi rồi kết luận:
- Thiệt bất ngờ hả anh?
- Bất ngờ cái gì ?
- Bất ngờ là người trong mộng của cô gái Nhị Bình lại đóng quân ngay bên cạnh nhà mình. Nếu không có trận ruồng này thì bây giờ anh không có sang sông đâu. Chừng nào làm anh cho em hay em về dự tiệc trà với!
Thằng Lạn chân đạp miệng nói tía lia.
- Chừng nào có thì tao cho hay.
- Mà chừng nào?
Tôi thấy cay cay mắt nên hỏi.
- Không biết! Mày có nghe gì là lạ trong không khí không Lạn?
- Lạ gì mà lạ . Em quen ba cái mùi hóa học này rồi. Anh nhớ hồi năm ngoái em đèo anh qua Trảng Cỏ không? Nó vừa rắc thuốc khai hoang ở vùng này. Ngoài ra nó còn rải thảm ở An Thành. Không khí khó thở, cỏ cây khô cháy, đường sá lởm chởm!
Lạn đạp tới đâu thuyết minh tới đó không ngớt miệng như coi phim.
- Công sự này là chỗ bà Huyện đội phó Sáu Hòa và ông Năm Đùng đặt pháo phòng không lúc D8 bắn hạ B26 bên Đồng Chà Dơ. Nếu hụt bên đó, qua tới Bến Súc thì cũng sẽ hạ mã… Đây là ngã ba Rạch Bắp. Tụi Mỹ định chốt ở đâu để chọn đường liên lạc qua sông của mình, nhưng không hiểu sao tới nay chưa đóng. Từ đây lên tám cây số thì đụng… còn đạp thẳng thì tới sở cao su… Đây là Bưng Còng trong đó có quân y của ông Tám Lê và quân y quận. Từ Bưng Còng đi lên năm cây số thì có cái nhà thờ còn nguyên. Bộ đội mình thường đóng quân trong đó vì Mỹ không oanh tạc. Người ta gọi là nhà thờ Rạch Kiến. Lên một cây số nữa là Suối Cát, qua cầu Xung Nô cách ngã ba Đường Long vài trăm thước . Từ đó lên Long Nguyên, ấp Lâm Vồ… Từ Bến Súc đi ba cây số là Sở cao su Bào Nổ và ấp Bến Chùa. Phòng Hậu Cần K30 của Năm Minh và Hai Nhơn đóng trong đó. Lên tuốt nữa là ấp Đòn Gánh, ấp Suối Tre. .. (tên đại tướng mặt đỏ chết ở vùng này sẽ kể sau. )
- Ở đâu mày cũng đi tới hết!
- Em là con ngựa bà mà anh. Ai cỡi bảo đi đâu là đi đó.
Đến xế chiều thì chúng tôi đến ấp Bến Chùa. Nhà cửa san sát còn nguyên, quán xá tua tủa, rợp hai bên mép đường. Quân ta dập dìu như ở thị xã Sơn Tây Thanh Hóa ngày chủ nhật. Có những ông bạn tôi gặp ngoài Bắc bây giờ lại đụng đầu ở đây đứa quen đứa chỉ biết mặt, lướt qua không chào hỏi. Thằng Lạn pha trò:
- Anh coi chừng đạp bể bánh tráng của người ta không có tiền đền nghe!
Lạn dắt tôi đến một đường mòn trỏ vào nóc nhà lẩn khuất trong vườn và bảo nhỏ :
- Ổng ở trong đó, anh vô đi!
Tôi móc năm trăm đồng đưa cho Lạn và dặn:
- Ở ngoài này chờ anh.
Rồi đi theo hướng nó chỉ.
- Em ăn Tết với ông Trần Hưng Đạo đủ rồi!
Tôi thấy cảnh trí sinh hoạt mà rùng mình. Tụi Mỹ nó nuôi cho mập rồi thịt chớ đâu phải nó đui. Tôi vừa quẹo vô đường mòn là có người chặn lại. Tôi nhận ra quen quen mà không biết là ai. Thì người kia chào hỏi và nói:
- Anh Lôi phải không?
- Phải.
- Chú Ba dặn hễ anh tới là cho vô liền.
À, anh lính gác ở bên Rạch Lỡ, Xóm Thuốc hôm trước. Tôi đi vào mảnh vườn cây ăn trái còn nguyên chưa có dấu vết đạn bom. Bụng nghĩ mà thương cho cái vườn sầu riêng của Bảy Mô. Cách một con sông mà hai cảnh đời.
Tới cổng nhà tôi dừng lại. Hai cột cửa ngỏ bông giấy leo đan chằn chịt rợp mắt, trên đầu bông tím lẫn trong lá xanh. Không biết bao lâu rồi mắt tôi không được nhìn bông hoa mà toàn ngó máy bay, hố bom và hầm, địa? Cảnh nhà im vắng tĩnh mịch. Tôi bước qua sân gạch tàu đỏ au bốn phía có gân xi măng bao bọc. Dăm ba bụi cỏ xanh tươi mọc ở kẻ gạch bị nứt. Một giàn bầu râm mát che mặt tiền ngôi nhà ngói xưa. Trước cửa có một chiếc bàn tròn với bốn chiếc ghế đẩu như chực hờ đón khách tới ngồi nghỉ chân. Bên hiên nhà một hàng mái vú chạy dài tới tận phía sau. Ắt hẳn là những mái nước mưa. Nhà tôi cũng có một hàng mái bên hiên nhà như vậy. Mùa nắng cả xóm đều tới xin nước uống. Tôi nhớ nhà đứt ruột đứt gan.
Tôi kéo ghế ngồi và móc thuốc rê hút (không dám hút cáp-tăng sợ mất đạo đức, còn quân khu ủy uống rượu Tây thì cái chùm nho đạo đức không rụng trái nào). Tôi vừa bật lửa thì có người đẩy cửa bước ra. Đó là một người lính (gác tầng hai). Anh ta mà tôi vào ngồi ở bên chái nhà.
Tôi nhìn quanh chưa khắp nhà thì mùi nước hoa từ bên trong bay ra báo hiệu một sự xuất hiện bất ngờ. Quả thật một nàng mặt hoa da phấn bước ra, miệng tủm tỉm cười:
- Mời anh Hai uống nước !
Tôi như tỉnh mộng nhìn thấy trên bàn để sẵn chai bia lẫn nước ngọt và mấy cái ly pha lê trong trắng lạ thường. Tôi ngỡ rằng đây là một trời nào khác không phải trong vùng đất chiến tranh. Tôi bàng hoàng tưởng lạc Thiên Thai, giây lâu mới định hồn.
- Em tên là Khánh. Anh gọi em là Khánh nghen! Anh Hai uống la-de hay nước ngọt?
Giọng nói này hình như tôi đã quen ở đâu. Tôi chưa xác định được thì từ bên trong một bà mệnh phụ bước ra, tươi cười, hai cánh tay mũm mĩm như hai thỏi ngà . Bà vui vẻ :
- Cháu Hai về đó hả?- rồi bà bước lại bên tôi nâng mặt tôi lên và nói một hơi – Đâu để dì xem thử coi mặt mới ra sao mà mười bốn tuổi đã đánh xe tăng tây. Trời đất, con trai đất này dễ được mấy đứa. Mưu trí và gan dạ cỡ nào mới chiến đấu như vậy được.
Tôi ngồi chết trân không hiểu. Bà bảo cô gái:
- Con đi vô coi mấy món đã chín chưa?
Khánh vâng lời mẹ biến nhanh. Bà đăm đăm nhìn tôi, giọng càng thân mật:
- Ngồi uống nước tự nhiên đi cháu Hai rồi chốc nữa dượng Ba dậy sẽ làm việc với cháu.
Tôi càng ngạc nhiên. Giấy ông Tư lệnh gọi sao hai mẹ con bà nào ra tiếp mình. Kẻ gọi bằng anh, người kêu bằng cháu ngọt như mía lùi. Không khéo mình lại rơi vào ổ Phượng Hoàng chết như Hai Giả, Phượng Hoàng này móng nhung. Tôi vừa đối đáp cầm chừng với bà ta mà bụng thì thầm trách mình hấp tấp không tham khảo ý kiến Năm Tiều mà nhảy lên xe đi liền. Có thể thằng Lạn bị lừa. Tôi móc túi lấy mẫu giấy ra xem. Chữ ký tắt “B.X” có gì bảo đảm đó là của ông Tư lệnh Ba Xu đâu. Nhưng tôi cố giữ nét mặt bình tỉnh trước mặt người đàn bà . Còn bà thì cứ nói không ngớt miệng:
- Cháu về đây thì coi như nhà của cháu. Đừng có ngại gì. Quần áo gì mà mốc cây mốc cời vầy nề ? Trời đất dép xe hơi nặng như sắt mang sao cho nổi. Còn cái nón nữa, người ta ra trận phải đội nón sắt chớ dùng nón vải làm sao đỡ đạn.
Bà nhìn quanh lưng tôi rồi kêu to.
- Người ta chỉ huy đeo colt hoặc K54 hoặc tệ lắm cũng P38 còn cháu sao mang AK?
Bà xét nét từng điểm một rồi hỏi tới:
- Cận vệ của cháu đâu?
- Dạ cháu cho ở nhà coi cơ quan hoặc về thăm gia đình.
- Để dì thay hết mấy thứ này cho !
Bà gọi vào trong.
- Đứa nào đó đem thức ăn ra cho anh Hai bây dùng. Cỗ bàn gì mà lâu lắc vậy?
Khánh bước ra với dĩa bàn hột vịt lộn và dĩa nhỏ muối tiêu. Đi sau Khánh là một cô bé khác bưng dĩa rau và dĩa chanh. Khánh giới thiệu ngay là em của nàng, tên Ngọc.
Bà chủ nhà bảo:
- Cháu Hai dùng đi kẻo đói bụng!
Tự tay bà khui bia trong lúc Khánh trở vào rồi ra ngay với chiếc xô nhôm đầy nước đá với cái gắp đúng kiểu thành thị. Nàng gắp từng cục nước đá nhẹ nhàng bỏ vào ly cho tôi.
Bà chủ tiếp:
- Dì có tất cả ba đứa. Con chị nó còn đang bận nấu : nướng. Cháu ngồi đây ăn tự nhiên nghe… Hai đứa bây ngồi tiếp chuyện với anh!
Bà đứng dậy đi vào. Cô bé Ngọc cũng đi theo mẹ bỏ cô chị ở lại với tôi.
- Em học lớp mấy, Khánh?
- Dạ, em vừa đậu tú tài.
- Rồi đi ban gì?
- Dạ, ban ông táo!
Khánh pha trò và cười ngặt nghẽo tự nhiên làm rung rinh mớ tóc quăn, nàng đưa những ngón tay mủi viết che hàm răng trắng đều và tiếp:
- Má (không nói má em) bắt ở nhà không cho đi nữa.
Tôi chưa đụng đến món ăn thì nàng nhanh nhẹn và lịch thiệp cầm lấy một quả trứng đập khẽ vào mép dĩa, khảy mấy mảnh vỏ bể rồi bằng hai tay chúm quả trứng sóng sánh nước đưa mời tôi. Tôi đưa tay nhận lấy và chợt nhận thấy sự tương phản của hai bàn tay Thiên Lôi xù xì với hai bàn tay ngọc.
- Anh phải ăn cho hết dĩa hột vịt, không má rầy.
- Rầy ai?
- Rầy em.
Tôi vừa húp nước trong quả trứng mà nơm nớp lo sợ, cảnh giác. Đây là viên đạn bọc đường của tư sản chăng? Hồi chỉnh huấn cải cách ruộng đất đơn vị tôi có nghe một bài học phụ (tức là truyện, thơ, nhạc, bài báo bổ túc, củng cố cho bài học chính trị) nói về một chủ tiệm tạp hóa ở Hàng Đào. Ông ta để cán bộ vào kiểm kê tài sản. Cán bộ vào kho thì đụng nhằm nàng tiên lõa thể ngồi trên võng tơ lụa, và anh cán thay vì kiểm tra tư sản, về cơ quan lại làm bản kiểm thảo và sút cán luôn.
Khánh là cô gái Hàng Đào? Tôi không đến nổi yếu đuối như anh cán kia và cô Khánh cũng đâu có giở trò gì. Hơn nữa bên ngoài bộ đội cán bộ đang đi nghễu nghến đầy đường, Phượng Hoàng đâu có dại gì lót ổ ở đây. Tuy tự biện luận như vậy nhưng vẫn không yên tâm. Tôi vừa ăn xong một hột thì Khánh lại mời. Tôi mời lại nàng. Nàng vui vẻ nhận lời nhưng nói:
- Em cũng ăn nhưng chỉ thích cái tròng đỏ béo béo và cái mề đòn đòn, còn nước thì anh phải húp và con thì anh phải ăn dùm nhé ! Em sợ lắm!
- Được !
- Vậy thì chia hai.
Đến đó thì bà mẹ lại xuất hiện. Sau lưng bà thấp thoáng một bóng hồng. Đi gần tới cửa bà tránh qua và khẽ đẩy cô gái tới:
- Con ra chào anh đi:.Mắc cỡ gì ! Con gái lớn rồi… Đây là con Mai, chị hai đứa kia.
- Chào cô Mai. Mời cô ngồi ăn hột vịt với chúng tôi.
- Chỉ không sợ gì hết, anh khỏi phải ăn dùm. Anh chỉ ăn dùm em thôi.
Khánh vừa dứt lời thì bà mẹ bổ túc:
- Nó nấu nướng nên mặt đỏ lơ đỏ tưởng chớ không phải thoa son đâu. Ở đây chớ phải Sài gòn sao mà dám xài son phấn !
Rồi bà hỏi tôi:
- Bữa hổm cháu pháo kích ở bển phải không?
- Dạ anh em khác, không phải cháu.
- Cháu có lên R lãnh huy chương phải không?
- Dạ phải.
- May cháu về chớ ở trên luôn thì. . . chíp chíp. . . Mỹ nhiều bom quá hà. Nó bỏ ở An Điền người ta đếm đúng một ngàn hố, hố to một trăm thước bề kính, sâu chín thước. Con đừng có chun xuống địa đạo nghe con. Dì nghe nói vừa rồi con chết ngộp dưới đó dì khóc cả đêm.
Bà bảo Khánh:
- Con đi vô lấy thêm húng cây, lựa mấy ngọn không có sâu Rồi hấp lại ba cái hột vịt cho nóng.
-Dạ!
Khánh vừa nhổm dậy thì… Một giọng ồm ồm rồi một người đàn ông mặc pyjama màu hột gà bước ra.
- Thôi, không phải lấy thêm gì nữa!
Thảo nào!’Tôi kêu lên:
-Anh Ba!
Rồi đứng dậy chào kính. Anh xua tay và đưa cho tôi bắt. Thì ra ông Tư lệnh.
- Cậu mới đến hả? Hai dì cháu tâm tình đã đời chưa .
- Ngọc, Khánh, đứa nào lấy rượu cho Dượng chút, con!
Ngọc bước đến bên chiếc tủ búp-phê lấy chai rượu như bầu linh dược có nút bằng pha lê và một cái ly nhỏ xíu miệng niềng vàng đem lại để trước mặt anh Ba.
Anh vừa mở nút vừa nói:
- Tao nhờ ba cái này, nếu không sụm luôn chớ lội sao nổi!
Coi bộ ông Tư lệnh hơi bèo nhèo, sụt sịt, không được hoạt bát lanh lẹ như ở buổi tiệc thịt chó hôm nào. Anh vừa rót rượu vừa nói:
- Ở trên Cục Hàng Quí mới gởi cho tao một hộp sâm. Nhưng không có hổ cốt. Ở trển nhờ có Tư Khanh cho bao tử nhím và gạc nai ngâm thập cẩm với sâm. Xuống đây chỉ có sâm. Lớp tao ngâm rượu, lớp tao xắt lát ngậm thường xuyên. Sao? Sau trận pháo kích lính tráng lẫn dân chúng phấn khởi chớ?
- Dạ, phấn khởi dữ!
- Mẹ, tụi chín Lộc không nắm được tin, suýt chút nữa bị hốt cả đám! Mỹ dọn sạch Củ Chi để đưa Tia Chớp Nhiệt Đới vào Tình hình sắp tới căng hơn nữa. Uống bia đi Lôi, rồi tao nói chuyện cho nghe!
Ông Tư lệnh dùng ngôn ngữ thân mật của người anh đối với thằng em suốt buổi nói chuyện. Tiếng đồn quả không sai. Hồi kháng chiến Lê Đức Thọ cắm mốc ở nhà địa chủ Bạc Liêu và lấy luôn con gái, Lê Duẫn quơ bà Nga học sinh thành, Phạm Hùng cưới con gái hội đồng, Trần văn Chè suýt tóm cả cả mẹ lẫn con luật sư Lê Đình Chi, Nguyễn Hương Vũ cướp vợ chưa cưới của thằng Lượng Thanh Niên Cứu Quốc Cần Thơ, Võ Quang Anh đớp con Thu Hồng bồ của thằng Sơn Lâm. Bao giờ các ông kẹ cũng giữ đúng lập trường giai cấp địa chủ . Bây giờ sang thời kỳ chống Mỹ , ông Tư lệnh đi không lệch chút nào. Ông liếc bà, ý muốn bà đi vô để ông nói chuyện công tác nhưng bà cứ ngồi tự nhiên bắt buộc ông Tư lệnh phải bảo:
- Bà vô coi mấy món xào kẻo khét.
- Xí có con Ngọc ở trong khét sao được mà khét?
Tuy nói vậy bà vẫn vâng lời.
Anh Ba vô đề ngay. (anh nói tiếng Pháp)
- Mày có nghe nói Vl, V2 không Lôi?
- Dạ, hồi kháng chiến tôi có nghe nói mình dùng Bazooka chớ chưa nghe nói Vl V2. Có phải là loại vũ khí mà Hitler bắn qua biển Manche để đánh quân ăng-lê không anh Ba?
- Ừ, phải! Vậy là mày có biết. Còn hỏa tiễn Kachín Sa của Liên Xô?
- Dạ , đó là pháo từ hành, nói theo tiếng bình dân là hỏa tiễn giàn mướp, đặt một bệ hai tầng mười hai trái, do xe mười bánh kéo như pháo 122 ly. Nhưng nó không phóng xa được như pháo 122 ly, nó chỉ xài cho mục tiêu gần từ mười cây số trở lại thôi.
- À, mày biết cũng khá.
- Dạ, hồi ở ngoải tôi có dùng. Kỹ sư mình nghiên cứu tháo ra đặt trên bệ DKZ75 dùng kính ngắn 75 để câu điện bắn đìa-réc vào mục tiêu cố định như DKZ. Tụi pháo viên tôi ở khu Xuân Mai đã bắn thử cho đồng chí Lê Duẫn xem tại Ba Thá, với sự tham quan của pháo binh các quân khu. Cự ly từ tám trăm thước đến một cây số thì bắn rất kết quả, kỹ sư đặt cho nó cái tên H12.
Anh Ba gật đầu:
- Nếu vậy thì tốt lắm. Trên R đã hứa cho xuống đây một tiểu đoàn. Nay mai sẽ xuống tới. Tao đặt cho nó là Tiểu đoàn 9, trực thuộc H6 của mày.
- Dạ, thứ đó bắn gián xạ như 105-122 ly thì độ tản mác rất lớn (tức là sai mục tiêu xa). Tôi sợ mình bắn chết hết dân ấp chiến lược chung quanh Trung Hoà và Đồng Dù quá anh Ba!
Bất thần bà ở trong bẹ cửa lên tiếng oang oang:
- Bộ ông muốn đưa thằng Lôi về đánh Sàigòn hả?
Ông quắc mắt:
- Cái bà này!
- Tôi nghe nói ba cái V1, Và (bà cũng nói tiếng Pháp) thì tôi biết rồi. Đó là loại vũ khí lợi hại chớ không phải như mút co tông, mi trai dơ đâu (Bà phát âm tiếng Pháp rất đúng) .Còn ba cái chim-sa, chim-siếc gì tôi không biết nhưng chắc cũng là đồ ác hiểm . Ông tính đem về để giết hết dân sao? Tôi nghe bà con ở ngoài Sàigòn thán oán dữ lắm.
- Than oán gì? Người ta bắn trúng sân bay Biên Hoà, Đồng Dù, Trung Hoà chớ trật hay sao?
- Trúng một trái, trật mười trái. Trầy da một thằng Mỹ, chết một trăm dân. Sao không giỏi đánh lại tụi đỗ dù đó?
Bà vung tay và sấn tới gần. Anh gạt tay bà ra:
- Đừng có nghe miệng đàn bà, Lôi! Đừng có thèm nhìn giọt nước mắt của họ. Làm tướng cầm quân ra trận ,chỉ biết có chiến thắng. Nếu cứ nghĩ tới số thương vong không thể đánh được giặc. Khi cần hi sinh, ta dám hi sinh hằng trăm mạng, lúc không cần, một giọt máu cũng không cho rơi.
- Xí! Một giọt máu không cho rơi! Cả trăm mạng con người ta rắc chung quanh đồn Bến Súc hồi năm 1946 là đáng hi sinh hay không đáng? Đánh giặc gì ngu vậy mà cũng cầm quân! Xí , xí , xí!
Ông Tư Lệnh xám mặt, môi ông giật giật. Ông đưa tay cầm bầu rượu rót. Tôi thấy tay ông run run. Chắc ông tức lắm. Vì trận đó chính ông chỉ huy cùng với Tô Ký. Bà chưa thôi:
- Cháu Lôi nghĩ coi! Đồn Bến Súc có mấy chục lính Tây, mình hi sinh cả trăm mà không lấy được. Tưởng đào địa đạo vô giữa đồn rồi tung lên, ai dè khi tung lên thì miệng hầm còn cách rào bót cả trăm thước. Báo hại thằng Điền con chị Hai chết. Chỉ còn có hai đứa con gái, không ai nối dòng, ông thấy chưa?
Tôi suýt kêu lên khi nghe nhắc lại tích xưa. Và chẳng ngờ bà là dì Ba của cô xã đội phó, em của má Hai ở bên Hố Bò.
Ông Tư Lệnh bị bà Tư Lệnh kiêm Chánh Ủy rẹc cho mấy loạt ngồi im, điềm tĩnh nhâm nhi rượu nhân sâm. Nhưng bà Chánh ủy chưa chịu tha. Bà nói hăng hơn:
- Ai cần mấy ông giải phóng mà tài khôn? Mấy ông lấy được một khúc xương thì ôm đó mà cạp. Còn tụi Nam Kỳ người ta an phận rồi, mấy ông lại chui về khuấy phá. Có phải tại các ông mà bom đạn bời bời không? Hễ Mỹ bỏ bom chỗ nào thì các ông tránh xa chỗ đó, các ông chạy sang nơi yên ổn có dân để núp ló. Nay mai rồi cái vùng này cũng sẽ nát bấy như bên Củ Chi. Giảo phóng rồi mấy ông ở với ma.
- Bịt tai lại mầy, Lôi! Đừng có nghe đàn bà nói, mệt lắm! – Rồi ông chỉa hai ngón trỏ vào hai bên tai – Trình độ của bả ấu trỉ lắm. Bả là cán bộ Phụ nữ hồi chín năm, rồi về thành bị Mỹ Ngụy hủ hoá.
Bà Chánh ủy như ngồi phải cọc, nhảy dựng lên:
- Ông thiệt nói tôi hủ hoá không ? Còn ông , ông đạo đức hả? Mấy ông của ông đạo đức dữ hả? Thiệt hôn, tui khai hết cả đám đạo đức của ông ra cho coi. Đừng tưởng tôi không biết!
Tôi đâm sợ hãi. Bỗng dưng Tư lệnh và bà Chánh ủy choảng nhau. Nếu không can sợ mấy cái lập trường cứng rắn của hai bên sẽ thất nghiệp, nên tôi lôi tay bà Chánh ủy:
- Dì Ba vô coi món gì ở trỏng kẻo em Ngọc làm khét.
Bà Chánh ủy đứng dậy nguých ông Tư lệnh một cái như trời sập rồi đi rèn rẹc khua guốc côm cốp trên nền gạch làm tôi suýt đau tim. Ông quay qua tôi:
- Hứ! Đàn bà! – rồi tiếp – Cậu đừng có bị nhiễm quan điểm tư sản. Đánh giặc là đánh giặc. Bảo vệ nhân dân là bảo vệ nhân dân. Nếu khi đánh giặc mà ta có làm hại sanh mạng nhân dân thì đó là chuyện bất đắc dĩ, không nên coi đó là tội của chúng ta. Đàì BBC la ầm ĩ về cái vụ pháo kích sân bay Biên Hoà do đó tụi trí thức mới lũ lượt vào quì dưới chân ông Sáu Vi, kể cả tên sư hổ mang, mà xin chức tước đó chớ! Nếu không ai bẫy lũ đó ra đông như vậy ? Đồng Dù và Trung Hoà vừa rồi đã khuếch trưong chiến quả của ta.
- Tôi nghe nói có mấy ông mình phải đem võng tới khiêng, có không anh Ba?
- Có! Nhưng chỉ vài tên thôi. Chứ cả bầy như bầy… quân ngũ nào khiêng nổi và cám sú đâu cho đủ ăn cho ăn?
Ông Tư Lệnh nói một hơi, có vẻ lấy lại oai phong, nên tiếp:
- Do đó tôi đã nhận tiểu đoàn mới này về giao cho cậu. Cậu có đọc quyển Đại Tướng Va-Tu-Linh của Liên Xô chưa? Làm tướng phải thế.
- Dạ ông ta hi sinh một lúc cả sư đoàn, ủa, cả một cánh quân!
- Để cuối cùng lấy được Bá Linh! Làm tướng phải vậy!
Ông đề cập tới trận ruồng Operation Crimp:
- Cậu coi đó, nó đóng quân trong ruột mình bảy ngày, trong lúc đó có ba tiểu đoàn của ta và trung đoàn Q16 mà chớ gở được một cái vãy của nó. Để cho nó tung hoành đào xới tung địa đạo hốt hết gạo, quân trang và thuốc men. Vì sao? Vì cán bộ già nên chậm lụt, còn tụi Mỹ thì cơ động nhanh chóng. Cán bộ trẻ ở trong này chỉ có gan dạ và quyết tâm nhưng không có kiến thức quân sự. Đánh Mỹ không thể xung phong như Hoàng Thọ ngày trước mà thắng được. Phải có khoa học. Nhưng khu ủy cứ xét lập trường. Cho nên … đây là tao nói riêng với mày thôi. Tao đề nghị đặc cách mày lên chỗ Sơn Tiêu, đưa Sơn Tiêu lên làm Tư Lệnh phó giúp tao, nhưng mấy ổng chê Sơn Tiêu kém đạo đức, còn mày có em đại úy ngụy. Những thằng đạo đức như gà thiến không làm gì được hết lại giữ chức vụ tối cao quyết định tất cả. (Ý ông nói Chánh ủy Tư Trường và mấy ông mặc áo bà ba mang guốc vông).
Ông Tư Lệnh thở dài, rót rượu mời tôi bằng cái ly của ông vừa uống, rồi tiếp:
- Chiến trường này cần cán bộ, tao nhất định đưa mày thay Sơn Tiêu. So với Hai Thán, Sáu Cúc, Hùynh Thành Đồng, Năm Sĩ, Ba Châm mày có kém thằng nào? Mày còn hơn xa một số Tham mưu phó đó nữa chớ!… Tao vừa được chấp nhận cho thêm nhiều mìn, B40, AK để trang bị lại cho các tiểu đoàn. Vũ khí của mình xài từ đời Minh Mạng tới bây giờ, tội cho lính quá. Mày có dự trên Đồng Xoài rồi mới thấy thương thằng nông dân cầm súng CKC đánh với súng máy của Mỹ!
Bà Chánh Ủy bước ra hai tay bưng hai dĩa xào thơm bát ngát, nét mặt hầm hầm:
- Ông muốn dụ dỗ con tôi hả?
- Cái bà này! – rồi ông dòm thẳng mặt bà – Tôi hỏi, bà có bức tranh quý, bà đặt nó ở phòng khách hay đút nó vô buồng?
Bà Chánh Ủy không trả lời mà ngồi xuống bên tôi, kêu vọng vô trong:
- Con Khánh hay con Ngọc có đó không, lấy miếng chanh đem ra đây. Ăn đi con! Về đây coi tụi nó như… em của cơn vậy. Còn chuyện dượng Ba nói, đừng có nghe. Ổng lúc nào cũng đánh đá thoi thụi, đêm nằm chiêm bao la lối om sòm bắn bắn! Ở đó mà treo bức tranh. Tôi hổng biết, treo ở đâu thì treo, miễn nó còn đó cho tôi thì thôi.
- Bà này ! Đâu phải ai đánh giặc cũng chết hết ! Nó đánh Tây từ hồi mười bốn tuổi tới bây giờ ba mươi mấy… rồi Lôi?
- Dạ, hôm nay thêm một tuổi là ba mươi bốn.
- Ừ hai mươi hai năm còn sống nhăn! Đàn bà có tánh…
- Tánh gì? Mấy ông có đẻ được đâu mà biết thương con người ta !
Bà quay sang ôm tôi rồi khóc hu hu:
- Con ơi là con! Đi cách mạng gì quên cả gia đình. Ba mươi bốn tuổi chưa vợ con. Cách mạng giỏi sao không lo vợ cho con, chỉ nói miệng tài.
Ông Tư lệnh đập hột vịt lộn côm cốp vô cạnh bàn, lột húp nghe rồn rột tỏ vẻ giận dữ, xơi hai hột liền không dám chọc bà Chánh ủy nữa, đứng dậy bắt tay tôi:
- Thế nhé Lôi! – rồi quay lưng vô. Đi được vài bước, ông còn trở lui – Bà vô bắt gió dùm chút coi. Ba cái hóa học này làm tôi rêm mình quá trời.
Bà Chánh ủy lau nước mắt, và gắp thức ăn bỏ vô chén tôi rồi thình lình hỏi:
- Má nghe con định việc hôn nhơn với con xã đội phó hả ?
Tôi đang nuốt miếng thịt xào bỗng nghẹn ngang: Thì ra cô ta đã nói thiệt với gia đình nên dì Ba mới hay, nhưng đã hay, sao dì còn xưng má với mình?
Tôi hoang mang chưa biết trả lời cách nào thì dì tiếp:
- Dì là bạn của mấy bà Hai Mặn, Ba Cầm (vợ Ba Xu, Lê Đức Anh hồi chín năm). Ba của sắp nhỏ cũng là cán bộ, hi sinh hồi 47 nên dì phải về nhà nuôi con. Dì biết vợ ổng là đầm lai đẹp lắm. Hai ông bà chỉ có một đứa con gái thôi hiện ở trên quân y R K71-B chớ đâu. Dì biết rành mà. Phải ổng có con trai thì hai bên làm suốt với nhau rồi. (Tôi cười thầm ông suôi trai ngủ với bà suôi gái cũng tốt thôi.) Dì đâu có muốn mang tiếng giựt chồng người ta . . .
Dì ngưng lại cố nén xúc động hồi lâu.
- Mấy ổng đi theo cách mạng hư hỏng hết, không có ông nào đàng hoàng… Ăn đi cháu. Bữa nay hưu chiến, ăn cho no, mai mốt rồi sẽ không còn cái Xóm Chùa này nữa để cho cháu tới thăm dì.
Tôi ăn mà không thấy ngon, trong bụng nôn nao nhớ tới Thiên Lý. Duyên tình hoàn cảnh gì trớ trêu oái oăm kỳ cục vậy? Vừa từ giã người yêu lại sang sông Sài gòn thăm (hai) bà già vợ chắc má Hai tương kế tựu kế nhờ ông (em rể) Tư Lệnh gọi tôi sang đây để má coi mặt chớ gì. Tôi lại cười thầm trong bụng: Lưu Bị giang tả cầu hôn, còn tôi vượt sông Sài gòn để cho người ta coi mặt. Dì Ba gọi vọng vào trong:
- Con Mai có đó không đem thêm nước đá ra đây con !
Dì Ba gấp nước đá bỏ vào ly tôi rồi trở lại câu chuyện:
- Ở cái vùng này đàn bà góa có ba đứa con gái lớn như dì khó sống lắm con à . Nếu không dựa vào một người quyền thế làm sao chịu nổi với ba ông xã ủy quận ủy tỉnh ủy kia. Nay xã ủy tới lạc quyên, mai quận ủy tới yêu cầu ủng hộ cách mạng, mốt ông tỉnh ủy tới xin lúa nuôi quân. Không có ngày nào ngớt. Con Khánh học hết Tú Tài mà phải đi dạy bốn lớp từ lớp vỡ lòng tới lớp ba. Con Ngọc thì tỉnh đội muốn bắt đi làm thơ ký, còn con Mai giỏi Anh ngữ nên thằng Tư Linh muốn đem về cơ quan làm địch vận. Dì không cho đứa nào đi đâu hết. Đi theo cách mạng là hư thân mất nết cầm chắc trong tay. Dì nghe nói ngoài Bắc con cái tố cáo cha mẹ nữa mà .
Tôi ngồi lặng thinh, nhai nuốt muốn không vô. Mong dì sớm dứt chuyện để tháo lui, nhưng hình như dì ấm ức lâu nay nên gặp tôi dì tố khổ. Dì trở lại chuyện cô xã đội phó:
- Dì nghe chị Hai dì nói về vụ của cháu với con Là lâu rồi. Nó đang làm xã đội trưởng thay cho thằng Năm Thuận sọc dưa chớ gì? Vừa .rồi, máy bay rớt bên Đồng Chà Dơ nó xung phong lấy được cây súng colt hiệu Ngựa bay, người ta đòi tịch thu, nhưng dượng Ba thưởng cho nó luôn, nó đeo nhỏng nhảnh làm oai với mấy ông cán không có colt. Ở đây là vậy đó con. ông nào có colt thì dân mới dòm, đi mình trơn không ai ngó tới. Còn mang AK thì họ coi là tèng xí chuột, ngó có nửa con mắt thôi.
Dì Ba lại tiếp luôn:
- Dì nghe chị Hai dì nói, dì cũng mong gặp con. Dì có nghe dượng Ba nói về con nhiều lắm. (Dì đã chính thức coi ông Tư lệnh là dượng Ba của tôi rồi) Dượng Ba khen con trí thức và biết đánh giặc. Chị Hai của dì bữa nay đi Bình Dương công tác (quân báo của Chín Lộc) – Dì bật cười khan – Sẵn dịp bả dám mua đồ sửa soạn đám cưới lắm à ! Con đã xin phép nghỉ chuẩn bị đám cưới chưa?
-Dạ cháu có biết gì đâu thưa dì!
Dì Ba gật gù và nói thẳng:
- Vậy tốt lắm. Theo dì chỗ đó không xứng với con đâu. Nó là cháu kêu dì bằng dì ruột, đáng lẽ dì phải nói vô, nhưng dì thấy không được thì dì nói không được. Nó lóc chóc lắm. Con gái mà không lo công dung ngôn hạnh lại mang súng rểu rểu đi phá làng phá xóm. Được cái tích sự gì ba cái ngử ấy?
Tôi thấy bị chạm tự ái, nên cười:
- Xin lỗi dì, nếu nói như dì thì ai giải phóng đất nước thưa dì?
Dì Ba cười nhạt:
- Con muốn dì trả lời hay dì im lặng?
- Xin dì cứ nói, con xin nghe.
- Câu nói này dì đã từng nghe hàng ngàn lần từ cửa miệng của những cán bộ tới đây họp với dượng Ba và ngay cả từ cửa miệng dượng Ba nữa. Dì dượng đã từng cãi lộn với nhau về cái câu này. Ai có lý lẽ nấy, không ai chịu thua ai. Dì biết hai dượng cháu chỉ học một sách của lão Hồ thôi nên dì xin hỏi dượng: “Dân Nam kỳ có cần đám Bắc kỳ giải phóng để ăn độn khoai một năm tám tháng không?”
Bà Chánh ủy này độc địa thật, tôi thầm nghĩ, hèn chi bả khẩu chiến với ông Tư lệnh không kém một tiếng nào. Tôi đành chịu thua. Bà quay sang tôi:
- Má nói thiệt với con. Má thấy con má thương. (Bây giờ bà lại xưng má với tôi) Dượng Ba con cũng đồng ý từ lâu nhưng chưa có dịp. Bữa nay má nói thiệt. Má có ba đứa con gái. Con Mai thì thùy mị giỏi việc tề gia nội trợ, con Khánh thì giỏi ngoại giao và giáo dục, con Ngọc còn nhỏ nhưng gả cũng được rồi. Vậy con thấy vừa ý đứa nào má gả không cho con, má không đòi hỏi một xu. Sẵn có dượng Ba ở đây, con chỉ hứa là được. Con xem sắp nhỏ như vậy mà gả cho ai? Con cũng biết ở đây đâu có mặt nào xứng với chúng nó.
Tôi không biết đáp lại bằng cách nào. Đành phải hoãn binh một cách cổ điển:
- Dạ, cháu xin cám ơn dì Ba. Vấn đề hôn nhân là trọng hệ, xin phép dì Ba cho cháu suy nghĩ một thời gian.
- Thời gian là bao lâu? Một ngày, một tuần hay một tháng?
- Dạ cháu bận công tác quá dì à !
- Bận thì dượng Ba sắp xếp cho cháu nghỉ. Dượng có thể rút con về văn phòng với dượng luôn cũng được mà . Con ở bên cạnh dượng Ba giúp cho ổng việc tham mưu còn hơn lăn xã vào chiến trường. Con không nhớ câu của Khổng Minh nói với Lưu Bị hay sao? “Làm tướng không nhất thiết phải ra trận. Ngồi trong trướng gấm mà quyết thắng ngoài ngàn dậm. Đó mới là tướng tài.”
Bà Chánh ủy không phải là tay vừa. Đúng dì là Chánh ủy của Quân khu chớ không phải lão Từ Trường cù lần không biết bắn súng cũng không nói được câu gì nghe lọt lỗ tai như dì. Dì kêu vô trong:
- Con Ngọc mời dượng ra đây chút!
Tôi mọc ốc đầy mình, không biết xoay trở ra sao. Ba mặt một lời. Nếu ông Tư lệnh đồng ý mọi đề nghị của bà Chánh ủy thì ông trưởng ban H6 này chẳng khác trong vòng đổ chụp.
Nhưng may quá, Ngọc trở ra nói:
- Dượng Ba nói buồn ngủ, biểu má vô cạo gió. Việc đó để tính sau!
- Xí nhỏ em dữ không? Bơ lớn còn nhỏng nhẻo! Đứa nào ra đây tiếp chuyện với anh bây nè !
Nói vậy rồi bà đứng dậy
- Con ở lại đây chơi vài ba bữa cũng được mà. Giặc giả còn hoài chớ đã hết đâu mà vội.
 
Chương 69
Chắc rằng ta sẽ Tết sau… mút mùa
Ngồi trong nhà bà Chánh Ủy mấy tiếng đồng hồ tôi cảm thấy mệt như đánh một trận giặc và khoẻ như được hửi dầu nhản ở dưới địa đạo hôm nào. Mệt vì bị bà Chánh Ủy bao vây tấn công tơi bời, còn khoẻ vì được đối diện với ba nàng công chúa trong cái ốc đảo Hoà Bình của Quân khu IV này. Khoẻ hơn nữa vì có một nàng đã tỏ tình hêu với tôi, hôn tôi. Tôi không từ chối nhưng cũng không dám nhận hoàn toàn. Đó là tình yêu bất chợt của chàng lãng tử với ba cô nương trên Chuyến Xe Đêm nửa dân gian nửa thần thoại của Paoutowski . Cô nào cũng tỏ tình với chàng nhưng chàng lại lạnh lùng quay lưng, để rồi sau đó hối tiếc!
Về chiều, khu vực này càng rộn rịp hẳn lên. Lớp dân đi lại đón xuân, lớp quan lớp lính đi công tác ghé các quán tìm hương hoà bình. Tôi gặp đủ mặt hết. Ba Châm, Ba Hùng, Bảy Gấm, Sáu Thiệt, Năm Dũng, Bảy Ưng, Hai Phán… Toàn dân đạo chích Trường Sơn chui về đây bôi mặt thay tên đổi họ. Ông nào cũng K54 kè kè bên hông như muốn các cô nàng trông thấy cho rõ ta là ai. Tuy rằng câu chuyện Suối Máu vừa mới xảy ra còn nóng hổi. Trước một ngày hưu chiến, quân ta bị một cú nặng nề. Giang thuyền Bình Dương đổ lên Suối Gâu bắn rầm rầm một lúc rồi rút. Một đoàn cán bộ từ trên R, có lẽ được phân công về đây công tác, nghe tình hình êm bèn kéo nhau qua suối. Có ngờ đâu chúng chơi theo lối nhả bừa, rút một số lớn, chừa lại vài ngoe… toàn súng máy. Bên ta chết nằm chật suối. Bây giờ Suối Gâu trở thành Suối Máu.
Tôi vừa đi vừa ngẫm nghĩ: Hôm nay mình thêm một tuổi, xa nhà thêm một năm, đeo thêm một nỗi buồn và một niềm vui. Khổ thì thực mà vui thì mơ hồ.
…Sắp ra đường 14, Lạn đón tôi, vui vẻ:
- Nhờ Đức Thánh Trần em ăn Tết đã đời.
Tôi lên xe ôm eo ếch cậu thanh niên nghe dây xích nghiến mới biết mình phí sức nhiều và thấm mệt. Bỗng thấy bên ven đường mấy chiếc võng giăng giữa những khoảng cây cau, cây xoài ở mé đường, người nằm võng đầu băng trắng lốp.
- Thương binh ở đâu hả Lạn?
- Em không rõ . Mấy bữa nay mình có đánh trận nào đâu !
- Vậy sao thương binh nhiều vậy?
- Em chắc là tồn kho hồi trận ruồng trước.
Tôi nhớ cái vụ lính Q16 ăn kỷ niệm Quốc Khánh bằng thịt chó hôm nọ và vụ cái võng khiêng anh thương binh lòi ruột đi tìm quân y nên tôi đoán đây lại là mấy ông lính vịt xiêm ngơ ngơ ngáo ngáo không biết đường đang tìm quân y của Tám Lê bên Bưng Còng.
Ở đây có đến hai Bưng Còng. Cũng như bên Củ Chi có đến ba cái Gò Nổi chung quanh Trung Hòa: Hai Gò Nổi trên, một Gò Nổi dưới và Gò Nổi giữa. Lính ta thường đem danh từ này ra mà pha trò : “Gò Nổi nào cũng hấp dẫn cả. Miễn ta khiêng pháo tới đặt được ở đó thì bắn trúng hồng tim thôi.”
Bên này thì Bưng Còng trên là quân y của Tám Lê, Bưng Còng dưới là Rừng Bưng Còng. Chắc đám này không biết đường. Nghĩ vậy tôi bèn bảo Lạn ghé lại. Tôi bước vô thấy một tiểu đội lính ngủ ngáy như sấm, đứa dựa lưng vào gốc cau, đứa nằm dài trên cỗ. Súng ống thì gối đầu hoặc treo lên nhánh cây. Cái kiểu này rủi gặp biệt kích thằng Rắc thằng Lệnh thì hốt xương.
Tôi đập cậu nằm bìa. Cậu ta bật dậy hốt hoảng. Tôi hỏi.
- Tìm quân y hả ?
Anh lính giụi mắt giây lâu mới tỉnh hồn nói như máy:
- Đây là những trường hợp nặng, bên C5 không giải quyết được. Ông Tư Chuyền bắt tụi em vô khiêng đi. Ông ta dời chỗ khác, nếu bỏ nằm đó, ông không chịu trách nhiệm.
Tôi định hỏi cậu ta ở đơn vị nào thì cậu reo lên:
- Em nhớ thủ trưởng rồi. Thủ trưởng cho em cái đùi bò và hai cặp dừa. Chúng em là em nuôi của chị Sáu Tĩnh đây.
Rồi cậu đập một cậu khác – Diệu, Diệu đến nơi rồi.
- Các cậu ở Q16, D2 của Tám Bá hả?
- Dạ đó là thủ trưởng của em. Ông nằm trên võng kìa!
- Có nặng không?
- Dạ không nặng mà cũng không nhẹ ! Tụi Mỹ khó đánh ác ghê thủ trưởng ạ! Chúng em mãi nghe đài Giải phóng và đài Hà Nội mà nầm.
- Nằm gì ở đâu?
- Dạ nầm, tức nà nầm nẫn, nẫn nộn đấy ạ !
- Vậy lầm gì?
Thấy câu chuyện kéo dài tôi móc thuốc hút và mời cậu lính rồi bảo Lạn dựng xe nghỉ chân. Cậu lính vừa rít thuốc vừa xuýt xoa:
- Đồng chí tiểu đoàn trướng của em dắt chúng em đi tập kích đám Mỹ cụm ở gần Bến Dược. Sau trận mới biết chúng cụm quân khiếp lắm. Bên ngoài là hai bãi đổ trực thăng có thả chó kỹ thuật, kế đó là dây kẽm gai rồi tới xe tăng. Xong ở trong cùng mới tới bộ binh ạ . Chúng nó niên hoan với điếm ở bên trong có nhạc và rượu nữa ạ ! Sau khi nó rút chúng em lượm được bao nhiêu là tàn dư!
- Rồi trận tập kích ra sao?
- Dạ chúng em ở xa xa bắn vào. Tức thì chúng trả hỏa. Ối giào, kinh khủng. Toàn súng máy. Rồi máy bay tới tung hỏa châu, rồi pháo bắn chận đường, trực thăng tới rà trên đầu bay cả mũ. Thế mà đài bảo là lính Mỹ gà tồ ra trận chưa thuộc động tác cơ bản. Ở trên R em nghe dũng sĩ Củ Chi như thần thánh, xuống đây em có gặp bà nào ông nào đâu.
- Thong thả rồi cậu sẽ gặp Võ thị Mô, Tư Gừng, Út Nhỡ. Cậu không biết chớ vừa qua nữ dũng sĩ Út Nhỡ đã diệt được một tên Mỹ dưới địa đạo kia đấy !(Từ quào tôi nâng cấp diệt.)
- Em thấy khó lắm thắt lưng Mỹ nắm thủ trưởng ạ ! Mình còn ở xa mãi đâu nó đã quạt rồi, nàm sao nại gần mà lắm.
Tôi cắt đứt câu chuyện cù nhầy nhức tai, bảo:
- Cậu khiêng thương binh lên thẳng đường nầy nhé . Chịu khó vừa đi vừa hỏi ai cũng biết điểm của Tám Lê .
- Các đồng chí này cần giải phẫu sớm. Có hai cậu bị chạm vỏ não cứ nói nhảm, nói gì không nói lại cứ la: Bác Hồ bú bôi tao. Đảng muôn năm… cắn… cu tao? Thất chính trị bỏ mẹ nhưng tụi em đâu có bịt miệng kịp.
Tôi lên xe kêu Lạn phóng như chạy trốn. Lạn nói:
- Lính cứt ngựa hiền chớ gặp lính nhà mình nó rượt Tư Chuyền nó bắn cho tét đít.
- Tám Lê còn bị nữa là Tư Chuyền. Cái kiểu khiêng thương binh tới mà cứ xét tiêu chuẩn mới nhận hoặc không nhận thì sẵn súng nó rẹc thôi.
- Cái vụ tiêu chuẩn hồi trước không nghe nói, chỉ thấy từ hơn năm nay.
- Đó là do đạp cứt Ba Tàu. Bệnh nhân trước khi vô nhà thương phải được khám lý lịch. Bần cố nông mới được vào, cậu biết không?
- Ở bên Tàu hả anh?
- Ở Hà Nội, hồi cải cách ruộng đất đã xài cái công thức ấy đấy chú ạ .
- Vậy xuống địa đạo phải công thức gì?
Sông Sài gòn buổi sáng phẳng lặng như tờ, nhưng đừng tưởng đó là thơ. Giang thuyền sẵn sàng chờ đón bạn nếu bạn lơ tơ mơ không chịu vọt nhanh.
Trở lại Quê Hương yêu dấu Củ Chi tôi mới thấy Hòa Bình là quí giá biết bao. Trong mấy chục tiếng đồng hồ bình thường người dân dắt nhau đi chơi, nhậu nhẹc, đi tảo mộ. Dù không làm gì hết cũng vui đời. Thế mà tụi thằng Hồ thằng Duẫn không chịu thấy điều đó. Chúng cứ gào Anh dũng tiến lên trong khi chúng ngồi mát ăn bát vàng nhìn dân miền Nam anh dũng tiến lên trong mưa bom bão đạn. Cái mã mẹ chúng nó ! Nếu giải phóng quân Miền Nam gồm vợ lớn vợ bé , dòng họ nội ngoại chúng nó chẳng có gào thét hi sinh đâu. Kêu gọi hi sinh thì dễ , nhưng hi sinh thì khó .
Lạn vác xe đạp băng ruộng, lên đường 15 thì mới chạy. Tôi đã từng đến đây nghiên cứu địa hình đánh Giang thuyền với cô xã đội phó nên nhận ra nhà của Sáu Mã Tử ở giữa đồng. Hắn có học lớp pháo binh Nhân Dân của tôi, nhưng từ khi Năm Cội bị thương ở Bào Lách thì Mã Tử lẫn Năm Đầu Ban đều thụt mất. Sau trận này, lòng đất Củ Chi chứa cả trăm bom pháo lép nhưng có ai dám đào?
Đang đi xảy gặp Tư Lan, cô bé du kích có lần tôi xung công phục vụ ở chỉ huy sở của tôi. Lạn nói với cô nàng:
- Ngồi buồn lại gặp chiếu manh. Tôi giao ông Tư Lệnh pháo cô dắt về B.M. dùm, tôi phải đi công tác hỏa tốc.
- Ảnh đi đâu cũng trở về B.M. Xí. Bộ hết chỗ rồi sao?
- Thì cơ quan của ảnh mà bà nội. Giữ B.M. nên kêu tắt là B.M chớ sao!
- B.M. là Bảy Mô chớ Bến Mương à !
- Chưa chi đã bể ghè rồi!
Nói vậy rồi Lạn phóng thẳng. Tôi hỏi Lan.
- Xã em bị thiệt hại nặng hay nhẹ vậy em?
- Nó lùa xúc hết trơn dân An Phú rồi anh ạ . Ba em cũng bị, chỉ lọt mình em thôi.
- Bộ em xuống địa hả?
- Địa gì? Xuống đó để rắn hổ mổ à? Em xuống hầm.
- Hầm không thông ra địa à?
- Có cái thông, có cái không. Nhưng từ ngày B52 cày đường 15 ai còn dám nữa. Anh có gặp ông Chín Tống cho em hỏi thăm.
- Thân mến dữ hả ?
- Thân gì! Kỳ rồi em dắt đại đội của ổng đi pháo kích cụm Mỹ ở gần Nhà Mũ. Ổng cho đi có hai khẩu cối thôi, chớ phải đem nhiều thì quăng mất hết. Mới chuẩn bị lấp chân cối không hiểu sao tụi nó hay nó xổ cho điên đầu. Đạn ghim vô thân cây nghe pực pực ớn quá trời. Em với con Là chạy chưa ra khói vòng vây thì pháo Trảng Bàng câu tới. Con Là bị miểng sơ sơ. Còn em mất… khăn rằn đầu tóc.
- Bọn Tư Chuyền có né khỏi không?
- Ổng cho thương binh đi trước. Còn nhân viên thì chui hầm. Cũng may nó tìm được kho ông Bảy Hốt ở Bến Dược nên nó chăm chú vào đó, chứ nếu nó xuống xóm nhà chú Tư Thiên thì nó khui không sót một cái nào.
- Ở đó là ổ địa sao không xài?
- Ông Tư Chuyền bây giờ mới ló lên, Tết không có đồng bào, tụi con Nga thằng Quỷnh ăn bánh tráng cầm hơi trong đó. Mấy ông già nào lạ hoắc mới tới gần bên nhà con Là cất trại gọi là cơ sở sản xuất khu cũng bị xúc hết. Hồi hôm em mò lên đó. Xóm nhà vắng hoe nghe lạnh mình. Bà Tám Khỏe, chú Tư Thiên, chú Hai Bơi, bác Bảy Xe chui hầm nên không bị xúc.
Tư Lan có vẻ lo âu. Nàng nói tiếp:
- Ba em bị xúc, bỏ lúa chín không ai gặt. Em không có đồng xu dính túi. Em định kêu người ta đến bán lúa đứng nhưng đâu ai mua, nhiều người bị xúc ra ấp chiến lược trồi về tom góp đồ để trở ra chớ không ở nhà nữa. Họ nói ở ngoài Mỹ nó cho gạo, quần áo, và tôn lợp nhà. Họ rút cột nhà ra ngoài đó dựng chòi ở đó, nếu làm ăn được thì ở luôn.
- Du kích có bị xúc không?
- Hai đứa con chú Năm em mới vô bộ đội, quọt quẹt ba cái không biết cơ sở nhiều. Sợ nhất là ba em, nếu có người chỉ chọc ông là bí thư chi đội thì đi Côn Đảo chết luôn. À quên nữa, ông Sáu Mã Tử lấy được đồng hồ phi công…
- Máy bay rớt tụi nó tới vớt phi công tức thì, đồng hồ đâu mà lấy?
Lan kỳ kèo cho tôi ghé bằng được nhà nàng, ngôi nhà còn nguyên nhưng bên trong hoang tàn. Nàng bắt tôi phải ở lại ăn cơm với thịt gà, như bữa cúng ông bà mồng hai Tết. Không có cây nhang, không một ly rượu, không cả trà.’
Mà chắc ông bà cũng đi qua bên kia sông Sài gòn lánh nạn chớ có ở nhà đâu mà hưởng. Ăn xong tôi khoác AK sửa soạn đi. Tư Lan lột ra, nguých:
- Anh Hai không để ý để tứ gì hết á !
- …?
Tôi nhìn nàng như muốn bảo. “Thì bây giờ để ý cũng chưa muộn. Được không?”
- Hôm bữa ở trong chỉ huy sở em nằm kế bên mà anh cũng không gì…
- Anh muốn điên đầu vì trận địa sắp nổ súng, đâu còn tình cảm nào khác..
- Xí lúc nào cũng vậy… Hứ! Thôi, nghỉ anh đi…
Tôi lên đến văn phòng D8 của Ba Tố thì gần đúng trưa. Hai chân kéo lê hết muốn nổi.
- Còn ngưng bắn không già Tố?
- Kệ mẹ nó thầy, ngưng không ngưng cũng vậy thôi. Thầy vô đây ăn Tết với tụi tôi cái đã.
Năm Dùng nói tía lia.
- Tụi tôi nghe tin thầy tử vì đạo, định cử phái đoàn tới thăm, nhưng chưa kịp đi vì bận họp đội đại hội ve chai, thì thầy tới vậy xin mời thầy chủ tọa luôn.
Sáu Đồng Đen (có nước da lãnh đạo) tiếp:
- Nghe nói thầy được tiên cô cho hai bầu linh dược mà tái sanh hả? Mùi đó hấp dẫn không cho tụi này biết với?
Cả bọn cười rần rần . (Đám cán bộ đại đội gồm Ba Tố. Năm Dùng, Sáu Uya, Chín Tông, Sáu Lức, Út Thành, Sáu Đồng Đen sau này chết hoặc bị bắt hết.) Ba Tố là người ít ăn ít nói và kề cận trong công tác với tôi nhất, đỡ cho tôi: .
- Các cha muốn biết linh dược mùi gì thì xuống địa, giả bộ chết, tôi sẽ kiếm cho hửi.
Sáu Uya nói:
- Nó đòi các cô tiên sản xuất linh dược kia chớ đâu cần linh dược. ..
Sáu Đồng Đen cười cạch cạch như súng thụt lòng:
- Tôi không cần cô tiên cũng không cần linh dược chỉ cần cái bầu đựng linh dược thôi.
- Cái bầu của chị hĩm ở Thanh Hóa bể rồi cha nội ơi!
Thấy Sáu Lức vẻ mặt buồn xo, tôi hỏi tại sao. Lức nói:
- Tết nhớ nhà quá thầy Hai ơi !
Bàn tiệc bỗng nhiên tắt tiếng cười, mặt thằng nào thằng nấy méo xẹo, Năm Dùng đập tay xuống bàn:
- Lê Dương coi bốn biển là nhà lấy rượu làm cơm, thằng nào buồn bị phạt.
- Cách mạng sắp thành công rồi, buồn gì? Nè, tôi chứng minh cho coi.
Út Thành cầm cái hộp khui ra, trút cục thịt vô dĩa rồi nói.
- Kỳ thầy Hai mới xuống Củ Chi, mình thành lập hội ve chai ở nhà con Là, mình nhậu thịt chuột nhiễm hóa học với bác sĩ Tư Chuyền, kỳ này mình nhậu thịt Mỹ, còn đòi gì nữa?
Chín Tống lắc đầu:
- Thôi cha non ơi! Chút xíu nữa tôi rửa chân leo lên bàn thờ ông bà rồi.
Sáu Uya cười ha hả:
- Ông biết tại sao không? Tại ông nhờ hai tiên cô Là và Lan dắt đường mà không được tiên cô cho hửi trước lấy hên.
Cả bàn tiệc cười rần phát nữa, hứng thú trở lại. Sáu Lứccũng cười theo. Năm Đùng vỗ vai tôi:
- Thầy Hai qua sông trở về sao coi bộ bèo nhèo vậy?
Sáu Lức đáp thay:
- Chắc thầy cần thêm… Ráng về BM tôi xin linh dược dũng sĩ cho thầy.
- Em Bảy Mô chui giỏi nên chưa bị xúc. Bầu linh dược chắc còn đầy.
- Không !Linh dược của dũng sĩ Út Nhỡ mới cực mạnh!
- Ý đừng ngạo nó nghe, nó quào trầy mặt Mỹ chớ tụi mình có làm được gì!
Một bầy lãng tử lưu linh ăn uống nói năng văng mạng coi trời bằng vung. Nhờ vậy gạt phăng đi được nỗi buồn vạn kiếp xa nhà. Nhậu xong tôi vác AK một mình ngất nghễu đi về Bến Mương thân yêu. Xa cái mảnh đất nhất thần thổ này có một đêm mà sao nhớ. ước gì gặp một em cặp kè vừa đi vừa hú hí đỡ buồn. Tôi nghe nôn nao trong lòng. Không biết việc gì đang chờ đợi ở nhà.
Mỗi một đoạn đường của đất Củ Chi đều ghi một kỷ niệm của tôi: chiến đấu, tình yêu, bạn bè, sống chết, vui buồn lẫn lộn. Ở đây tôi gặp ông Ba Râu kháng chiến hai mùa đi liên lạc hồi chín năm, bây giờ là quản kho. Ở kia, cặp Chín Lộc, Hai Xót ăn sầu riêng với nhau. ở gần chợ An Nhơn được Tám Phụng, Bảy Mô đãi nước mía khi tôi mới về nhậm chức H6, đoạn đường này nàng Lia đèo tôi đi, ở khúc quanh đó là rẽ vào cái hầm cá trê của ông Tám Giò. Nhà má Mười, vườn bà Tám, lò chén, cây dừa cây cau bụi chuối ở Bến Mươngđền quen mặt tôi như tôi sánh đẻ ở đây vậy. Riết rồi trẻ con cũng gọi tôi là Thầy Hai, cái tên thân mến cho cả vùng.
Về đến chợ An Nhơn thì chân bước ngập ngừng. Ở đây tôi thuộc từng mái phố lá. Tôi đến đây cô sẫm lai còn ung dung bán xi-rô và cho tôi mượn quyển Buồn Nôn. Tên Bọ Chét quay phim cảnh Đấu Tranh Chính Trị với Ngụy Quyền với chục rưởi con nít tham gia, cũng ở tại đây tôi nhậu với Tư Linh tại chiếc quán cóc xơ xác mà đã vô cùng. Bây giờ không còn gì, không có ai lui tới.
Cái quán Chệt Tư bán cho tôi với giá không xu nào, lại gả cho tôi cả đứa con gái xinh đẹp tên Mính (mà tôi không dám nhận) bây giờ đã tan tành. Sau khi tái sanh tôi đã làm Bao Công mở cửa tiệm chẩn bần cho dân để tạ ơn trời đất. Lớp cho vợ Bảy Nô đem về Phú Hòa Đông, lớp cho Tám Nghi cung phụng Năm Lê, lớp tặng người nghèo như bà Sáu Bầu. Tám Đột cũng ăn có một phần. Nhờ cái quán này tôi có vải liệm thằng Đức và má Hai, may quần áo cho nhân viên H6, chu cấp tiền cho Tư Lan, Lụa, Là, Tư Chuyền v.v…
Một sự giàu có bất ngờ, tôi hiểu ngay đó là của trời cho nên tôi trả lại cho thế gian. Gã Lê dương nằm xuống cũng chỉ được như thằng Chi là quí rồi. Dăm bảy người đưa ra nghĩa trang, vài dòng nước mắt. Một cái hòm đóng bằng gỗ tạp, quần áo lỏng lẻo phải độn thêm hai khúc chuối cây. Thế đó . Vinh quang ra phết.
Đi một mình, tôi lại nghĩ dại. Nếu bất ngờ một trái pháo mồ côi rơi xuống đây, mình chết, cha mẹ ở nhà đâu biết mà cúng cơm? Bất giác nước mắt tuôn trào rồi chảy xuống môi. Tôi quệt ngang, như sợ có ai trông thấy. Bỗng có tiếng kêu:
- Anh Hai đó hả?
Tôi quay lại và nhận ra tên thiếu úy chăn bò Tư Thêu.
- Mày đi đâu vậy Thêu?
- Đi kiếm chỗ làm kho, cái ở dưới Phú Mỹ Hưng tiêu tùng rồi.
- Cái bên Bưng Còng cũng tiêu. Gạo đâu lính ăn?
- Tại tụi Mỹ chớ phải tại tụi em đâu. Giấu ở ngách nào nó cũng bới ra đốt hết. Hầm hố nó cũng đào dập hết. Anh biết trên Bến Mương này có chỗ nào làm kho được không?
- Lên đó tìm chớ tao không rành.
Đột nhiên Thêu ngoẹo cổ mếu máo:
- Làm thế nào chớ kiểu này chắc chết quá anh !
Tôi làm thinh. Trong bụng lại vang lên lời ông Tư Lệnh chỉ thị :
1- Bám theo dân, đưa chiến tranh vào ấp chiến lược.
2.- Đưa ác liệt vào đô thị.
3.- Địch ngụy vận làm tan rã ngụy quân ngụy quyền.
4.- Diệt từng đơn vị quân đội địch.
Bốn điểm đó, làm sao thi hành nổi với tình hình này?
Tôi hỏi một câu vô nghĩa:
- Mày thấy tình hình ra sao Thêu?
- Anh thấy chớ em có thấy gì khác ngoài mấy cặp bò xe và mấy cái kho.
- Hầm và địa không ở được nữa à?
- Thứ đó bây giờ lạc hậu hết rồi anh à !
Tôi lặng thinh, bước đi nặng chình chích. Thêu than thở:
- Hầm Hố đâu còn anh Han Hố Bò bây giờ thành Hố chuột rồi anh không biết sao? Sau Xê-đa-phôn, em không còn gặp ai hết. Con Là lãnh được cây côn của thằng phi công Mỹ rồi biến đâu mất với chú Xã đội trưởng chỉ huy hai ông Mã Tử và Đầu Ban.
- Còn chú Tư Thiên đâu?
- Ổng cũng thăng thiên độn thổ đâu biệt tăm rồi.
Tư Thêu nhìn tôi cười hí hí. Tôi gạt ngang:
- Thôi mày!
- Anh đâu có túng thiếu gì mà phải…
Thấy tôi vẫn làm thinh, Tư Thêu chồm qua mặt bàn liếc chừng mấy người khách ngồi bàn bên cạnh rồi đưa tay che miệng nói nhỏ rí:
- Bà Tư Lệnh có tới ba tiểu thư hả anh? Anh qua bên sông chuyến này sa hủ nếp rồi.
Tôi gạt ngang nhưng bụng nghĩ thầm: sao nó nói trúng bon? Tư Thêu tiếp luôn:
- Cô nào cũng đẹp. Nhưng con út thì mới quá dò. Xé phai cũng được nhưng tội gì ăn thịt gà dò trong lúc có gà tơ. Theo em thì con giữa đẹp sắc sảo nhất, lanh lợi và biết tâm lý khách, nhưng anh muốn cưới làm vợ thì phải chọn con chị. Con chị đoan trang nhu mì, ít hay cười với khách.
- Sao mày biết rõ vậy?
- Thì em cũng có tới quán đó uống la-de để rửa sơ cặp mắt. Ngó hoài mấy bà cố nội dũng sĩ nịt xanh-tuy-rông của Mỹ, vác AK ăn nói rổn rảng cũng chán chớ anh. Nên em tới đó để thưởng thức mớ tóc bồng, cái áo ni-lông mỏng thấy dây xú-cheng… hớ hớ. Anh thấy chung quanh ổ của ông Tư Lệnh có nhiều quán cóc ghê chưa? Nhưng cái quán của bà Tư Lệnh là đắc khách nhất. Có thể nói là không có ông lớn ông bé nào không đến trình diện.
-Thì ổng ở đó.
- Không…! Trình diện các nàng Kiều kia. Nhưng tôi chắc không ông nào vô nổi cái cửa tò vò đó đâu. Các nàng có học thức, không có chịu cỡ thiếu úy chăn bò như em. Còn thượng úy thì… già cóp bình thiếc, các cô toàn oánh phủ đầu bằng hai tiếng chú, bác. Nghe các nàng hô như vậy quân ta đâu có tinh thần mà xung phong bịt lỗ… châu mai nữa.
Bụng nghĩ tới Lụa, người góa phụ trẻ một con yêu tôi và hiến dâng cho tôi cả thể xác lẫn tâm hồn. Tôi luôn luôn nghĩ tới sự bất hạnh của những người đàn bà chết trận. Lụa, Mười, Tư Mai, chị Chín Kiểu. . . Có người đã chịu cảnh phòng không gối chiếc hai mươi năm. Và dì Ba, mẹ của Khánh Ngọc nữa. Đến bây giờ con gái đã đổ tú tài mới đi bước nữa với ông Tư Lệnh mà cũng oánh du kích chớ đâu dám ra mặt vì ông còn có bà lớn. Trí óc tôi vướng vít vào chuyện ông Tư Lệnh. Ông ở đây quá lộ liễu . Cái vùng này rồi sẽ tan hoang. Mỹ nó nuôi béo để mổ thịt chớ nào phải nó đui mù gi!
(Quả thật chỉ một tháng sau, ông Tư Lệnh phải vọt sang Củ Chi để tránh B52 và tôi phải mang quân đánh giải vây cho ông thoát khỏi địa đạo.)
Tư Thêu giục:
- Về Hố Bò đi anh Hai ! Coi con Là có đó không?
Tôi ngẫm nghĩ một chút rồi lắc đầu.
- Để tao về Bến Mương coi công việc ra sao.
- Thì mai về ! Bến Mương cũng còn đó chớ có dời đi đâu mà anh sợ.
- Không được.
Nói xong tôi quay đi. Tư Thêu kêu tôi hai ba tiếng nhưng tôi làm như không nghe, cứ lũi đi. Vì nếu quay lại nó sẽ cám dỗ tôi. Chỉ một câu thôi tôi cũng xiêu lòng.
Trời chiều vàng ối buồn tênh. Nhà cửa ruộng đồng không một bóng thấp thoáng. Con đường bị B52 cày năm nào vẫn còn lởm chởm, có nơi đứt như thân rắn bị chặt ngang, nhiều hố bom dưới ruộng đã thành đìa, ai thả chà, cá úc lưa thưa trên mặt nước. Một chú chim thằng chài từ đâu bay sà xuống đậu trên cành cây khô để rình xớt cá… nhưng chợt thấy tôi vọt bay đi. Đất ruộng khô nẻ. Vài nơi đã gặt. Còn cả đồng lúa chín rạp sao chủ bỏ đi đâu không thấy ngó ngàng tới? Tết nhất mà cũng không về nữa sao? Ly hương ngay trên quê hương ! Cảnh trời chiều làm cho tôi não ruột và nhớ nhà. Tôi sực nhớ ra là tôi có ý định rước má tôi vào từ lâu mà chưa thực hiện được. Định lợi dụng mấy ngày hưu chiến (hình như có 24 tiếng đồng hồ thì phải) nhưng lại có lệnh khẩn… Bây giờ đã sắp hết hạn rồi. Tôi đi bươn về cơ quan. Cái Tết này thật là y như lời của Bác.
Xuân này khác hẳn mấy Xuân qua.
Thắng lợi tin vui khắp nước nhà.

(Đám lính đọc xong ứng khẩu họa lại)
Xuân này bỏ hết mẹ cùng cha.
Nhà mình không ở, ở nhà người ta!

Cô Thu nấu bếp, người con gái quê mùa, đã cứu tôi dưới địa đạo và chồng là cậu quản lý đi móc gia đình để xin tiền làm đám cưới, đã về. Thằng Đỏ thủ trại luôn ba ngày Tết.
Gặp lại tôi như gặp lại gia đình. Cả ba chạy ra mình tôi ríu rít. Tôi mệt nhừ, chui xuống hầm ném cây AK nằm vật ra.
Thu đứng ở miệng hầm hỏi thăm lăn xăn, còn thằng Đỏ thì càu nhàu:
- Cán bộ tiểu đoàn người ta đi có cận vệ còn anh đi đâu cũng vác AK đi một mình. Xe đạp cũng không chịu dùng!
Bỗng cậu Quản chạy vô báo cáo:
- Có mấy ông D8 đến tìm anh. Tôi nói anh vừa về mệt lắm, để anh nghỉ.
Tôi ngồi dậy bảo.
- Cho vô.
Tôi nghe có tiếng trọ trẹ của Sáu Uya.
- Thầy Hai lên lon lên gáo rồi? Phải đãi anh em chớ!
Tôi chui ra hầm. Cả một đám võ tướng súng ống khua lộp cộp: Sáu Uya, Năm Thủ, Tư Tây, Chín Tống, Tôn Sứt, Năm Thủ và ông chánh trị viên Sáu Phấn của tôi. Sáu Uya nói tiếng nặng chình chích:
- Kỳ này thầy Hai ra chỉ huy Bộ Binh thì D8 mình mới ngóc đầu lên nổi.
Tôn Sứt cười, với cái môi chưa vá :
- Chuyện đó tính sau. Bây giờ anh Sáu có gì ngon làm một bữa tiễn chân thầy Hai.
Cô Thu bắt hết ba con gà tự túc luộc xé phai. Sáu Phấn về nhà lấy rượu đem lại. Thằng Đỏ và vợ chồng cậu Quản sửng sốt nhìn nhau. Thằng Đỏ hỏi:
- Anh Hai được thuyên chuyển hồi nào?
Tôi được Tám Hà, Phó Phòng Chính Trị Quân Khu, đề bạt quyết định của Bộ Tư Lệnh bằng miệng. Anh giải thích cho tôi nhiệm vụ sắp tới của Quân Khu và bảo rằng chỉ có tôi mới đưa Tiểu đoàn I lên được. Để mấy ông già lụm khụm Ba Châm, Út Lịa, Hai Phái chỉ huy thì chỉ có chết lính v.v… Nói xong ông Phó Phòng đãi cho tôi một ly nước lá ổi và hai cục kẹo mè rồi tiễn tôi ra khỏi miệng hầm không quá ba thước tây. Tôi là con ngựa chiến. Tướng nào cũng cỡi được. Trận nào cũng xông lướt, cuối cùng là ngã quỵ, nhưng chiến công được ghi và sử sách thì bảo đó là của tướng nọ, tướng kia chớ đâu có ghi tên con ngựa. Nhưng công bình mà nói tướng không có ngựa không đánh giặc được. Bộ binh hay pháo binh cũng đều là những con ngựa chiến mà thôi. Nhưng tôi ra chỉ huy bộ binh thì có khác: Chết dễ hơn ở pháo binh. Thế thôi! Tôi biết trước việc thuyên chuyển này sẽ làm cả H6 buồn và quyến luyến nên tôi cố giữ nhẹm đến phút chót là hôm nay.
- Sắp thành lập Trung Đoàn rồi đó các cha !
- Cái tai hại là ở trên giao cho ông cụ Ba Châm làm E trưởng!
- Thôi chuyện đó còn lâu. Bây giờ hãy nói chuyện Mỹ vô đông quá làm cho nắp hầm bí mật lên giá đây nè ! Thằng Mã Tử ăn 500 một cái.
- Các cơ quan lo, chớ mình ăn thua gì?
- Giỡn hoài cha, có khi mình cũng xuống hang trầm chớ !
- Chỉ thị của Bộ Tư Lệnh là lính tuyệt đối không có xài hang
- Phải tùy cơ ứng biến chớ cha nội! Nguyên tắc cứng ngắc sao được.
Cả bọn đấu khẩu bạt mạng bỗng bật cười. Sáu Uya trọ trẹ toàn dấu nặng:
- Nguyện tặc thị cọ khi cựng ngặc, nhựng cọ khị phại mệm dẹo mợi được chợ.
Đang thiếu đề tài lại nghe ông Triều Đình bỏ một hơi cả chục cái dấu nặng cả bọn Nam kỳ xoay vào chọc ghẹo. Tôn Sứt bảo:
- Bữa nay tiễn chân thầy Hai, nhưng tôi xin hỏi đồng chí Uya, anh em mình nhậu như vầy đã đủ chưa?
Sáu Uya nhấp miếng rượu rồi gật.
-Đụ rồi! Đụ rồi!
(Mọi người bụm miệng) Chín Tống hỏi gằn:
- Tôi thì chưa đủ , còn anh đã đủ rồi à ?
- Thời kỳ chiến tranh, Mỹ vô Đồng Dù mà mình còn ngồi đây nhậu như vầy là đụ lắm rồi.
- Anh thấy đã thiệt hả?
- Đụ rồi ! Đụ rồi ! Đạ lặm đặ lặm !
Mọi người không nhịn được nữa bèn buông tay ra, kẻ ngửa cổ, người đập bàn, cười rần lên một hồi. Sáu Uya không hiểu tại sao, cứ gật gù nhâm nhi:
- Đụ rồi? Các cha còn đòi gì nữa?
- Ai có đòi gì đâu?
Tư Tây là tay tắn mắt nhất trong hàng cán bộ đại đội vẫn chưa chịu thôi. Tư Tây bảo cô Thu cho xin một chén nước mắm và một muỗng mỡ heo. Tư Tây cầm dĩa nước mắm hỏi Sáu Uya:
- Nước gì đây?
- Nược mặm chợ nược gị!
Tư Tây lại đưa muỗng mỡ và hỏi.
- Còn cái này?
- Đọmợ lợn.
Tư Tây bảo:
- Chút nữa nhậu xong mình phải ăn vài chén cơm để giằn bụng. Bữa nay quản lý không chạy đồ ăn kịp vậy tránh ăn đỡ món này nghe anh Sáu!
- Mọn gị!
Tư Tây đổ muỗng mỡ ra dĩa rồi khuấy lia, bảo:
- Món này nè .
Sáu Uya kêu lên:
- Nược mặm độ lộn mợ ăn thì tuyệt rồi!
- Anh nói cho đúng dấu đích-tê nghe coi anh Sáu? Nói vầy nề: Nước mắm đổ lộn mỡ.
-Nược mặm độ … – Sáu Uya ngưng lại và cười -Các cha phá tôi hoài!
Nhưng Năm Thủ còn chưa tha. Năm Thủ móc túi ra một tờ giấy bạc và hỏi:
- Cái này gọi là gì?
- Giấy nặm động.
- Một phần mười của năm đồng là bao nhiêu?
- Nặm cặc !
Cả bọn lại cười rộ lên. Tư Tây bảo:
- Anh đã đem nước mắm đổ 1… mợ rồi lại còn nắm c…người ta nữa. Như vậy thì mất quân phong quân kỹ . Phạt một ly bầu!
Sáu Uya nín mũi uống.
- Các cha chơi ác quá. Thôi, đụ rồi đó nghe.
- Lại đụ ! Tại sao anh cứ ham bỏ dấu nặng vậy? Đâu anh nói đủ coi.
Sáu Uya vẫn phát âm y như trước.
-Đụ!
- Lại cũng đụ. Mới đây mà làm hai ba phát không bỏ dỡ phát lào.
Sáu Uya chùi mép bằng tay áo và bảo:
- Thì tại trời bảo vậy mà: Anh yêu em vì bởi chữ u, Bỏ thêm dấu nặng chữ đ đứng đầm
Từ đó Sáu Uya có biệt hiệu là Sáu Đổ Lộn Mỡ.
Ngày hôm sau cậu trinh sát Tiểu đoàn đến dẫn tôi về đơn vị. Cậu bé tên Thung. Nói là bé nhưng cũng đã hai mươi tuổi. Thung sanh đẻ ở Sa-nhỏ nên thuộc đường các vùng ven Quốc Lộ I và Tỉnh lộ số 7. Trước khi về nhậm chức, tôi được một tuần lễ nghỉ phép. Tôi bèn bảo Thung dẫn tôi ra Ràng để tìm cây móc móc gia đình. Ai muốn móc cũng phải ra đây. Nhưng cái số tôi là số không thoát khỏi những bộ móng mềm của cọp cái. Tôi vừa ra tới Bàu Đang gần mã thằng Chi chết trong trận pháo kích Trung Hòa thì gặp cô Nga nhỏ đi lơn tơn một mình, coi có vẻ bạt mạng lắm.
- Em đi đâu vậy Nga?
- Em đi móc má em bên Bình Dương, còn anh?
- Anh đi móc má anh dưới Thầy Gòn !
Nga cười khoe hai hàm răng rực rỡ:
- Hồi hôm em hổng có nằm chiêm bao mà sao sáng nay lại gặp, kỳ chưa?
- Em hổng nằm chiêm bao thì anh nằm.
- Không hẹn…
- …mà gặp mới hay chớ ! Bao lâu rồi em không gặp má ?
- – Gần hai năm. Còn anh?
- Hai chục năm!
- Trời đất !
Thiệt chớ đùa sao?
- Em đâu có nói anh đùa, nhưng lâu quá hà ?
Tôi nhắc chuyện băng bó cái móng chân của em hồi năm lúc tôi mới về Củ Chi và bảo:
- Ước gì em vấp chảy máu cho anh băng như hồi tối hôm đó!
- Chị Là thiếu chút nữa ăn thịt em ! Nhớ không? Anh vô C5 có một lát mà chỉ đi vô bắt anh về.
Thằng Thung điệu đàn. (Nó cũng biết Nga ở quân y của Tư Chuyền. Cả Củ Chi biết nàng Hằng Nga này mà!) nên khi thấy anh hùng ngộ thuyền quyên mết nhau nó bỏ đi xa phía trước và không ngó lại. Thỉnh thoảng tôi nắm tay nàng rồi buông ra chớ không dám nắm luôn, sợ thằng bé có mắt ở sau lưng. Nga nói với giọng châm chọc lẫn hờn mát:
- Anh ra ngoài đó chắc gặp chị Chín Hòa. Chỉ cũng thường đi móc gia đình dùm các anh.
- Sao em biết?
- Em có lính tính như vậy?
- Linh linh thường khi trật lất!
- Chị nào nghe nói về anh cũng nôn nao muốn gặp. Còn người đã gặp anh nhiều lần rồi anh cũng bỏ xó !
- Ai vậy?
Nga lặng thinh quay mặt ngó bên lề đường. Một chốc nói:
- Nhưng em không có gặp chị đó mà em nhờ người khác móc.
- Nếu tiện anh nhờ chung cây móc với em cho đỡ tốn tiền.
- Anh biết chị Tám Lệ không?
- Anh không có quen với ai vùng đó hết.
- Còn không quen?
- Thiệt. Anh có ra vùng Ràng nghiên cứu kỳ đó rồi về.
- Vậy mà để khổ cho người ta.
- Anh làm gì mà để khổ?
- Anh biết ai tên là…. Nhưng ở xóm đó kêu là Quắn!
Tôi giật nẩy người. Chết rồi. Nga khui trúng tủ. Nga tiếp:
- Quắn là cứu thương ấp. Nó vô quân y học và xin thuốc… gặp em hoài mà.
- À, à …có Cô ấy băng cho ông Quận Hai Khởi kỳ đó.
Nga điềm nhiên tiếp:
- Cổ bảo là quen thân với anh lắm phải không?
Tôi chưa biết nên chối hay nhận, nếu chối thì chối cách nào. Nhưng cũng may, Nga trỏ về phía Trung Hòa và bảo:
- Uổng công cho anh pháo kích!
- Tại sao?
- Anh bắn bay cái chuồng cu, nay nó cất cái mới cao hơn. Đi nhanh qua khoảng trống, núp vào bụi cây để nó trông thấy
Thằng Thưng đứng nép bên bụi cây chờ tôi tới, bảo:
- Mình ghé quán Ba Cô xã chút đi anh!
- Quán nào nghe lạ vậy? ở vùng trại Giàn Bầu này chỉ có quán cô Chín thôi mà.
Thung tuôn luôn một tràng làm như nó đã sắp trước mọi chuyện và tôi không biết gì hết.
- Ba Cô ở trên An Phú mới tản cư ra coi nới lắm. Anh vô thì chắc như bắp. Còn nếu không khoái thì tạt qua quán con Khuân. Con nhỏ này là cháu của tôi. Tôi kêu má nó bằng chị… Con nhỏ này hơi đô nhưng mặt mày coi khá lắm. Dô nó thì anh khỏi lo tài chánh, hút cáp-tăng trớt mỏ. Má nó làm tổ trưởng tổ xe bò của ông Bảy Hốt mỗi đêm tải gạo được bảy ngàn đồng lận. Gia đình nó không liên hệ gì ngoài thành hết. Anh khỏi lo bị qui mất lập trường. Mất gì thì kiếm lại dễ chớ mất lập trường thì muôn năm kể như đi luôn. Đó, như con Bảy Mô dũng sĩ số 1 trên R gởi nhà báo nhà quay phim tới gặp nó, Liên Xô cũng đòi gặp nó, nhưng nó chỉ làm tới đội phó thôi, chớ không lãnh đạo được.
Thằng Thưng đi ngang tôi và nói liên miên. Tôi làm như không rành, nên hỏi:
- Tại sao vậy cậu?
- Tại vì nó là địa chủ. Ba mẫu sầu riêng. Cả trăm mẫu ruộng.
Tôi cười thầm:
- Cái thằng này lém ghê !
Nó trỏ vô xóm:
- Tiểu đoàn mình đóng vùng này. Văn phòng tiểu đoàn và C4 đóng ở đầu trên kia. Cl và C2 đã kéo xuống Phú Hòa Đông do ông Ba Châm, TuưNhựt và Út Lịa chỉ huy có ông Tư Công tổ trưởng trinh sát đi theo.
Ngang mấy nhà có lính, vài cậu trêu chọc phóng ra:
- Ê ! mày dắt em tao đi đâu đó mậy? Đừng có làm bậy bạ nghe !
- Mày dắt đùm bà xã tao đi qua nhà bà già vợ tao nhé !
Thưng quạt trả:
- Người ta là mèo của thủ trưởng đó. Tụi mày vác sào quơ còn chưa tới.
(Tôi nghĩ bụng: sao nó biết giỏi vậy? Trong lúc Nga che mặt quay ngang.)
Tôi bảo:
- Nè, Thưng, nếu có ai hỏi anh, em nói anh tên là Hai Hà nghe !
- Tên gì nghe con gái vậy?
- Trước là Hai Lôi. Giờ đổi ra Hai Hà. Hết làm Thiên Lôi lại hóa thành Hà Bá!
- Tụi Mỹ vô Đồng Dù đông nghẹt. Dân đi chợ Bắc Hà về nói đó là Tía chớp nhiệt nhót hay Anh Cả Kiết gì đó. Tui nói thiệt với anh Hai, là nếu nó đừng chơi B52 với pháo bầy, chỉ xài Bộ Binh thôi là tui chấp nó bắn một chục la phan, tui chỉ bắn một viên.
- Em không ngán cá lẹp, bù nốc à ?
Thằng Thưng ngẫm nghĩ giây lâu rồi gật đầu:
- À quên! còn hai món này nữa. Cá lẹp bắn dai như trâu đái còn bù nốc xoáy bay nóc nhà quăng lựu đạn xuống miệng hầm… ờ ờ cũng ngán chớ.
- Em không ngán xe tăng à ?
- Dạ ngán chớ thủ trưởng. Nó vừa bắc cầu Bến Mương để rượt mình đó. Nó càn dẹp hết miệng địa, miệng hang.
- Em không ngán chó đánh hơi hầm à ?
- Áy dà dà… Nghe mấy bà đi chợ Bắc Hà về nói trong Đồng Dù có nhiều chó lắm. Con nào con nấy bằng con bò, em ớn quá ! Thứ đó đánh hơi thì trúng phóc, làm sao mình phục kích được anh? Nhưng em ngán nhất là…
- Là gì?
Thằng Thưng cười:
- Nói vậy em không ngán cái gì hết. Chỉ ngán mấy cô y tá cưa dò ! Rồi Mỹ chụp không chạy được!
Nga bật cười.
- Cái anh này !
Thưng cười hắc hắc:
- Mấy ngón tay của mấy cô mềm nhưng ác lắm, rờ tới đâu rụng tới đó ! Thôi ghé vô C3 kiếm ba hột bỏ bụng rồi đi tiếp anh chị ! Đường còn xa !
Thưng dắt tôi vào xóm đóng quân. Người tôi gặp đầu tiên là Hai Phái chính trị viên D (lính gọi là CTV dê). Thực ra Hai Phái không dê ai có kết quả cả mà chỉ mang tiếng thôi. Hắn là người gốc rau, uống rượu thì nhăn mặt như khỉ già ăn bần, hút thuốc thì chỉ phà khói ra, đến gần nghe mùi quần áo đến phát ói. Hành quân thì để lính lội bộ còn hắn đi xe đạp. Thằng Thung và thằng Khánh, liên lạc viên của y, bảo:
- Em chẳng thấy ông tắm nguyên con bao giờ mà chỉ cởi áo nhúng nước lau khúc trên rồi mặc áo vô. Vậy là xong. Lâu lắm mới thấy ông giặt đồ. Em bảo: Thủ trưởng đưa em giặt cho, ông xua tay: Thôi… thôi… chưa cần. Theo ông Chín Câu, phó chính trị viên Tiểu đoàn, nói thì ổng không có sổ sách gì hết. Toàn nhớ tuồng bụng. Tiền phụ cấp mỗi tháng 500, không xài một xu với lính, chi để đãi các cô dũng sĩ. Có cây K54 nhưng không bao giờ chùi, người sao của vậy, nhưng được cái là em nào mượn ổng cũng cho.
Hai Phái dắt tôi đến nhà của Ban chỉ huy đại đội 3, gặp lúc các ông đang uống trà úp, nghĩa là dùng cái chén úp lên cái tô châm nước rót uống chớ không có bình. Hai Phái nạt:
- Thấy Tiểu đoàn tới sao không chào hỏi?
- Dạ, tụi này không được báo trước.
- Dạ, đang mặc quần tiều mà đứng dậy bất tiện quá thủ trưởng à !
Hai Phái xua tay.
- Ờ phải ! Thôi miễn.
Rồi giới thiệu:
- Ông răng hô này là Út Sương, chánh trị viên C; ông gà mờ này là C Trưởng, ông chăn bò này là C Phó.
Rồi quay lại tôi:
- Cho các đồng chí biết đây là Tham mưu Trưởng Tiểu đoàn.
Ban chỉ huy C đều biết tôi cả nên thân mật mời uống trà.
Bỗng một người ở đằng sau nhà bước vô. Hai Phái giới thiệu luôn:
- Ông này ở trên mới đưa về tên là Ba Nhẫn CTV phó đại đội
Kể từ đây về sau, xin viết theo ký hiệu bộ đội Việt Cộng dùng trong thời chiến theo kiểu Trung Cộng:
F : Sư đoàn
E : Trung đoàn
Et : Trung đoàn trưởng
Ef : Trung đoàn phó
Ev : Chánh Ủy Trung đoàn
D : Tiểu đoàn
Di : Tiểu đoàn trưởng
Df : Tiểu đoàn phó
Dv : Chính tri viên Tiểu đoàn
Dvf : Phó chính trị viên Tiểu đoàn
C : Đại đội
Ct : Đại đội trưởng
Cf : Đại đội phó
Cv : Chính trị viên Đai đội
Cvp : Phó .chính trị viên Đại đội
B : Trung đội
B t : Trung độ i trưởng _
Bf : Trung đội phó
A : Tiểu đội trưởng
Af : Tiểu đội phó.
Ba Nhẫn nói:
- Mới thấy thầy Hai ở bên kia sông Sài gòn bây giờ về đây lại gặp.
Tôi ngạc nhiên nhìn Ba Nhẫn.
- Ủa, đồng chí thấy tôi ở đâu?
- Trong quán ba con Thỏ Bạch chứ đâu!
- Quán Ba Cô hồi nảy hả?
- Không… Quán bên Bến Cát kìa. Người ta uống nước đá bằng ly. Còn anh uống nước đá trong lòng bàn tay em bụm. Tôi ngồi trong góc nhà chớ đâu. Anh mút mấy ngón tay của người ngọc mà! Đã thiệt!
Hai Phải lỏ con mắt:
- Thỏ Bạch ở đâu vậy?
- Má mấy cô đó cáp với ông chánh trị viên D thì vừa.
- Hề hề ! Vậy để bữa nào ông Tham mưu trưởng dẫn tôi qua coi mắt chút nghe!
- Ngặt một điều là chắc mấy cô ấy phải kêu ông bằng bác!
- Sao vậy?
- Tôi nói là má của mấy cổ kia mà ! Nhưng má của mấy cổ cũng bị người ta đỡ đầu đỡ luôn cả đuôi rồi ! Mà tôi khuyên cho mấy cụ nhà mình, có qua bên đó thì chỉ uống nước đá rồi bịt mắt ra đi chớ có liếc qua liếc lại nghe chưa. Có ông kẹ nằm_trong buồng.
Định ghé nghỉ chân rồi đi móc, chẳng dè lại dính vô công tác. Hai Phải cho tôi biết kế hoạch tác chiến. Sau vụ pháo kích Đồng Dù và Trung Hòa quân Mỹ truy lùng gấp mười lần trước đây. Củ Chi, Bến Xúc, Bến Cát v.v… đều trở thành những vùng oanh tạc tự do (Destroyed zones). Không một cơ sở nào đứng được. Cả đến du kích cũng chạy lang thang. Đám dũng sĩ của Bảy Mô, lớp nhảy vô cơ quan, lớp vào bộ đội hụ hợ kiếm cơm, còn phần lớn bỏ ngũ về nhà. Khu ủy đã lẻn qua sông sau tiệc thịt chó ở Bến Chùa. Quân y của Tư Chuyền cũng rục rịch sang sông.
Trước tình thế nguy ngập đó Quân Khu chủ trương thọc mạnh thọc sâu ra vùng địch tấn công để phòng ngự. Tấn công vùng địch thì có bộ binh. Chứ pháo binh thì khó ăn. Do đó đưa tôi ra bộ binh, nhưng cũng đồng thời đưa Huỳnh Thành Đồng xuống Trung An để gây một cuộc sóng gió khác như trận pháo kích sân bay Biên Hòa.
Tôi về nhận chức Tham mưu trưởng DI chưa ngồi nóng đít (qua buổi uống trà úp) là phải bắt tay vào chiến đấu. Hai Phải đưa cho tôi thêm một cậu trinh sát tên là Thuận và một b phó trinh sát tên là Xướng. Xướng chừng hai mươi tuổi. Còn Thuận mới mười sáu. Thuận đầu quân lên R nhưng bị chê là vịt đẹt không vác đạn nổi, lại thêm tật nói đớt. Tuy xấu trai nhưng được Hai Phái khen nức nở:
- Nó theo anh vài năm, nó sẽ chỉ huy nổi một đại đội.
Tôi nhận lãnh công tác một cách tự nguyện. Và đành bóp bụng để cho Nga đi một mình. Tôi đưa tiền cho Nga móc cả hai bên gia đình và hẹn sẽ gặp nhau ở nhà Tám Lệ với sự có mặt của hai bà già.
Như vậy là tôi có tới sáu con mắt trinh sát trong chuyến này. Vừa kết hợp cả công lẫn tư. Thằng Thuận quả là một trinh sát viên chẳng những rành đường mà lại thuộc từng nhà . Nó dắt tôi cắt xéo ra Đồng Lớn Phía đầu Cỏ ống mà không đi thẳng đường xe dứa ra Bàu Trâm qua ngang bờ tre nhà Chín Thành tới nhà ông Hai. Nó nói liền tù tì không nghỉ:
- Ông già này không biết tên gì, nhưng người ta gọi là ông Hai Bắc, di cư năm 54, có con trai tên là Hai Thân làm ấp đội trường. Bà Hai đi buôn gà. Bà vác giỏ đi mua gà ở vùng quanh vài nhà thì nhảy xe lam đi Sài gòn một chuyến. Bây giờ có nhà gạch ba căn, trâu cả bầy. Ông Chín Nửa thường nhờ bà Hai móc gia đình ở Phú Xuân. Vợ ổng làm cô giáo tóc quăn còn ổng C phó mà lem luốc như thằng chài tép…. Đó là nhà Út Siêng. Chồng bả đi Côn Đảo, có con gái gả được rồi mà bả còn ngựa lắm. Mấy ông Hai Phải, Ba Châm, Ba Râu đều có ghé nghỉ lưng tại đó. Nghe nói ông Năm Trầu cũng vừa lò mò tới xin nước uống. Cán côn, cán gáo đụng đầu lộp cộp.
Thấy rặng cây như hòn đảo giữa ruộng, tôi hỏi:
- Đó là đâu?
- Dạ, là suối Tầm Đình. Cái xóm bên kia suối thuộc Trảng Bàng. Bên đó có cụm pháo Chà Rẫy rót qua Củ Chi mình ác lắm. Suối đó chảy ra Bàu Ràng thành suối Trung Hưng rồi chảy luôn ra cầu Công Sở Lộ số 7.
Qua khỏi Bàu Đồng Lớn, thấy có một xóm nhỏ đông đúc. Thuận nói:
- Đây là xóm Bàu Sỏi, con nít 14-15 đông lắm. Mấy ông Năm Tân, Tư Trường thường đóng quân ở đây để rủ tụi nó đi theo. Tư Trường, chánh trị viên Cl, có vợ ở ấp chiến lược Cây Bài có em vợ lấy Mỹ ở Đồng Dù, đẻ sanh đôi có hai đứa con gái thiệt ngộ. Tôi có tới nhà ngó thấy rõ ràng. Ối trời tụi nó uống toàn là sữa bò không ngộ sao được. Đẹt ngắt như em vầy là tại hồi nhỏ ăn toàn cua đồng ốc bưu.
Tôi chặn ngang hỏi thêm vụ này, Thuận vung tay:
- Mỹ vô đông, người mình càng đi làm cho Đồng Dù mạnh. Lương ngày 500-1000. Dại gì không đi. Ở nhà đánh xe bò có bữa pháo ăn mà cả đêm chỉ được 800 ông Bảy Hốt cho tới 1000. Vợ Chín Tiền, cán bộ K20, anh em cột chèo với ông Út Sương cũng đi làm trong đó. Lâu lâu vô thăm chồng mang theo một thùng đồ hộp.
Đi tới một đoạn nữa, Thuận lại tiếp:
- Đây là nhà má Chín, má của chị Chín Hòa. Cô giáo dạy Bình Dân vừa thay cho cô Tám Lệ. Bà nội này phòng không cỡ 75 ly. Cán bộ không đeo colt bả không có ngó, lính tải tụi tôi bả đâu thèm dòm. Nói cho ngay tại vì bả trẻ đẹp lại học giỏi. So với cô gì đi với anh hồi nãy (Nga) thì một chín một mười.
- Ai chín, ai mười?
- Cô Hòa mười.
Đi một quãng nữa qua một khu vườn cây ăn trái không nhiều vết đạn bom, Thuận lại tiếp:
- Đây là nhà chị Tư Rẻ . Bà này có chồng làm tới Tiểu đoàn trưởng Công Binh trên R. Có đứa con trai 4-5 tuổi mà ổng không thấy về. Ông Năm Tiền thường ghé đây dữ lắm. Hai đứa em gái là Sáu Niêm và Bảy Lợi cũng có chồng lính Công trường 9 của ông Năm Truyện hay Binh Vận gì đó cũng không thấy về . – Thuận vừa chỉ chỏ vừa thuyết minh – Qua khỏi Trảng Đồng Găng là đụng đầu Đồng Lớn, ở đó có cô bồ.tèo Út Hương của ông Quận Khởi. Nàng đã làm ông bị rớt sao mất đảng tịch vì cái bầu bất hợp pháp. Ở đây còn có cơ quan quân báo, kêu là cụm Quân báo Quốc lộ I, đóng tại nhà cô giáo Tám Lệ. Cô cũng có con nhưng chồng bà Sáu Huỳnh hình như phục vụ cơ quan đóng trong nhà .
- Sao em rành hết vậy?
- Em bị R chê , về nhà xấu hổ, nên tắp đại vô DI, đi làm trinh sát dẫn đường Phú Hòa. Em hứa với anh từ Bàu Lách xuống Bàu Tròn, từ Phú Hòa ra Trung Hưng, ra Bàu Trâu, Dân Hàn, Lào Táo tới Mít Nài anh hỏi nhà ai trâu bò ruộng mạ ra sao em biết hết.
- Ở xóm Ràng người ta làm nghề gì?
- Họ đươn rổ thúng. Có nhà đặt tên con là Rổ, Rá, Bàn, Nia. Chị út Quắn ở xóm đó . Chị có người anh tên là Ba Quyết ở C3 vừa rồi suýt coi đồng hồ ở trận Bàu Lách.
- Coi đồng hồ là sao?
- Là bị bom napan cháy tay cong lên như coi đồng hồ. Ảnh quánh giặc gan lắm! Một mình dám đánh một xe jeep ở cầu Công Sở. Trận đó có em tham gia một chân.
Đến một ngôi nhà lớn, ở trước ngỏ có để khạp nước dưới tàng cây vú sữa làm phước cho người đi đường. Thuận nói.
- Đây là nhà của má Mười. Bả vô đạo Cao Đài, thường đi đọc kinh cái Thất ở ngoài lộ số 1 nên bả bố thí nước ! Mình lại đằng kia uống nước trà rồi đi tiếp.
Đi vài công đất, nó dừng lại bảo:
- Đây là nhà của chị nuôi em.
Chủ nhà là một người đàn ông nấu nước trà Huế đãi khách. Người chủ nhà hỏi:
- Bữa nay sao mày không đi với Út Sương?
Thuận cười hề hề :
- Tôi lên Tiểu đoàn rồi !
- Giỡn hoài tụi !
- Thiệt mà ! Hồi trước tôi là trinh sát đại đội ông Út Sương, bây giờ lên làm trinh sát tiểu đoàn, không lên tiểu đoàn là gì? Đây là… – Thuận thấy tôi nháy mắt nên ngưng lại và nói trớ qua – đây là ông bạn của tôi.
Nốc cạn tô trà Huế, tôi giục Thuận đi. Thuận hỏi chủ nhà :
- Lâu nay thằng Lộc có thọc vô đây nữa không anh?
- Nó đi ai mà biết được! Nếu rủi nó đang ở ngoài hè cũng không ai hay.
Trên đường đi tôi nhớ cái khạp nước của nhà má Mười mà buồn lòng. Trong kháng chiến chống Pháp vào khoảng 1947 Trung đoàn 300 của tôi hành quân từ Ba Thu về khu rừng Sát Nhà Bè. Khi đi ngang qua xóm Phong Được, ngoại ô Sài gòn, trời mưa tầm tả, trời tối như mực, đường sá sình lầy ngập tới gối, hành quân rất khổ nhọc (không có được tâm ni lông mà choàng như bây giờ) nhưng tình đồng bào làm cho chúng tôi tiến bước không sờn chí. Ông già bà cả, chị em phụ nữ cầm đèn chai soi đường cho chúng tôi đi. Các bà mẹ trao tận tay chúng tôi những chiếc bánh ú bánh tét, Chúc anh vệ quốc đoàn kỳ khai đắc thắng, mã đạo thành công. Riêng đám con nít lóc cóc chúng tôi thì được các anh thanh niên cõng chuyển đi từng chặng. Cả Trung đoàn trên một ngàn người đi qua mà đồng bào vẫn đứng chờ thâu đêm tới mút đuôi mới thôi. Bởi vậy bọn chúng tôi hát bài Đoàn Quân Đi Chiến Sĩ Vô Danh một cách say mê.
Đoàn quân đi thấp thoáng trong đêm không một vì sao. . .
hoặc
Khi ra đi đã quyết nuôi chí căm hờn…
Lòng yêu nước trước kia là tự nguyện còn bây giờ là yêu nước bắt buộc. Bây giờ cũng kháng chiến mà dân bỏ nhà bỏ cửa, mình đi tới đâu dân trốn hết ráo, gạo phải đi tìm mua từng hột. Nhưng tôi không muốn kể cho đám trẻ nghe. Nếu chúng nó nghe, tôi khó bề mà giải thích cho thông. Bất ngờ, thằng Thuận hỏi:
- Anh liệu B52 nó chơi ra tới đây không?
Tôi không biết trả lời thế nào thì Xướng hớt:
- Vùng này meo quá, chắc nó không dám chơi cầu âu vậy đâu
Tôi bảo:
- Nó dám rắc bom cách vách bót năm trăm thước đó nghe em! Đừng có tưởng nó không làm được!
 
Chương 70
Một phen lên ruột vì “ngầu với em “
Lại duyên em tình chị?

Tôi nhớ lúc vô gặp Năm Lê lần trước anh có nói với tôi hai chuyện lịch sử: một là chiến lũy Maginot bên Pháp và Nã-phá-luân. Nã-phá-luân, ai cũng biết, là một võ tướng đại tài Về mặt tình ái ông cũng nổi tiếng không kém trên chiến trường. Nhưng đời ai lại khỏi gặp rủi ro. Ông đã lấy được một người đàn bà đẹp nhất Paris thời bấy giờ là Joséphíne Beauharnais. Người thường không có con thì..cũng quan trọng nhưng có thể giải quyết bằng cách xin con nuôi. Nhưng làm vua mà không con thì nguy khốn cho chiếc ngai vàng. Bà Joséphine đã có con trai và con gái với người chồng trước nhưng với Nã-phá-luân thì lại trơn lu. Sau một thời gian mà không thấy người đẹp mang bầu ông bèn quyết định ly dị. Bà ta cũng đành ngậm đắng nuốt cay để cho chồng ôm cầm thuyền khác. Nhưng người ta đàm tiếu rằng ngoài lý do không con, đức lang quân của bà còn nghi ngờ cái tiết hạnh của bà . Bà là tay bay bướm của Paris hoa lệ lúc bấy giờ làm sao chịu nổi những đàn ong bướm vo ve trước ngỏ sau nhà và ông chồng đang chinh chiến miền xa cũng được báo cáo khá đầy đủ. Cho nên cuối cùng ba xôi nhồi một chỏ, người đẹp đành phải cầm bút ký tờ ly dị với chồng. Nã-phá-Luân ly dị xong cưới ngay công chúa nước Áo tên là Marie Louise. Năm sau một hoàng tử ra đời. Người cha mừng rỡ cho đại bác bắn chào mừng và sau đó lén vợ đem hoàng tử về cho cựu hoàng hậu xem mặt.
Joséphine vẫn yêu Nã-phá-luân tới chết không lấy ai khác. Khi ông bị đày đi đảo Sainte Hélène thì Joséphine xin theo nâng khăn sửa trấp. Thư đến tay ông làm ông đau đớn lắm. Nhưng giới chức bắt buộc ông phải trả lời rằng “không thể được !”. Thư chưa về đến thì Joséphine đã qua đời.
Cả một trang.tình sử bi thương cho một đời danh tướng. Tuy vậy lúc ông bị đày ở đảo Sĩ Hélène ông vẫn được người con gái của viên chủ trại giam yêu và ông này rất lấy làm hân hạnh con gái mình được một vị hoàng đế như Nã-phá-Luân yêu…
Đời tôi không sợ nỗi bất hạnh nào bằng không con. Tôi không biết bịnh tật ở Trường Sơn có diệt mầm mống sinh sản của con người hay không, hơn nữa cũng đã ngoài ba mươi rồi, trẻ trung gì nữa. Tôi cần có vợ có con. Thấy con nít tôi rất ham, nghe vợ lính có bầu tôi rất mừng. Nhân viên xin tuyên bố tôi cho phép và giúp đỡ đầy đủ, thấy đàn bà chửa tôi rất kính trọng, thấy đàn bà bế con tôi cho là hạnh phúc nhất đời.
Tại sao tôi chưa lấy vợ ? Chỉ có tôi mới hiểu tôi thôi ! Chiến tranh! Chiến tranh ở Nga chống Phát xít Đức làm cho đàn bà sợ không dám đẻ con, còn nông dân thì không dám cất nhà.
Sáng hôm sau tôi vừa thức dậy thì Bảy Sơn cho biết tôi sẽ làm việc với một nhân viên của cụm I Quân Báo Quốc Lộ . Bảy Sơn là Trưởng ban Quân báo huyện Củ Chi, lại kiêm luôn thợ vẽ các tấm địa đồ. Nói là vẽ nhưng thực ra y vẽ thì ít, cóp thì nhiều. Cóp các bản đồ của Pháp bỏ lại, cóp những bản đồ của Mỹ hành quân đánh rơi… chớ y làm sao vẽ nổi?
Bảy Sơn ra đây đóng quân ở nhà người anh ruột là Sáu Sắc. Đã biết nhậu từ lúc Hai Khởi dắt tôi vô yết kiến ông Quận đội trường Tám Giò ở dưới hầm đào luồn dưới gốc bụi tre nóc ni-lông, và tôi được đãi một bữa nhậu mắm chua, nên Hai Sơn không dè dặt như với người khác dù là anh em đằng mình. Đàng mình thì đàng, cũng có thứ ma-bôn lắm. Bảy Sơn để cho tôi ở với y, còn Xướng, Thung và Thuận thì chỉ tới ăn cơm, còn ngủ ở một nhà gần đó.
Y đem cho tôi một ly cà phê sữa và giải thích.
- Anh chuẩn bị mục đích yêu cầu cho kỹ đi rồi đi làm việc. Đây là cà phê của Mỹ hành quân bỏ lại con nít lượm bán cho tôi chớ không phải xa xí phẩm đâu anh Hai.
Tôi nói ngay:
- Thứ này thằng Đỏ cận vệ của tôi lượm cả thùng sau trận càn Cedar Fall.
Tôi uống xong ly cà phê, y đưa tôi xuống hầm. Nhà chỉ có một cái hầm. Ban đêm tôi và Bảy Sơn phình bụng ngủ ở trên. Vùng này pháo ít lắm. Tôi vừa chui vào thì dội ngửa, ú ớ không ra tiếng:
-Mai…?
- Anh…?
Cả hai người đều sửng sốt nhìn nhau. Đó là Năm Mai, chị ruột của dũng sĩ Bảy Mô. Lần đầu tiên Tư Linh dẫn tôi đến nhà nàng dũng sĩ cho biết mùi Hoa Củ Chi, tôi gặp Mai. Nàng ở thành về thăm em gái. Con bé Liên lúc đó mới ba tuổi. Tư Linh có ý gạ cho tôi nàng dũng sĩ, còn cô chị thì phần y. Quả thật Bảy Mô rất mến tôi. Nàng đem đàn măng-đô ra cho tôi đàn. Hai đứa tâm tình với nhau trong vườn sầu riêng thơm bát ngát. Từ đó tới nay tôi chỉ gặp Tư Linh đâu một hai lần. Lâu nhất là lần dàn cảnh cho thằng Bọ Chét quay phim Địa đạo chiến. Không hiểu Tư Linh đã hòa điệu với nàng bản Tân Cổ nào rồi… Sao hôm nay lại gặp đây. Mai là quân báo? Năm Mai nói:
- Nghe anh Bảy Sơn nói em sẽ làm việc với anh, em…
- Em thế nào?
- Em hồi hộp quá trời !
- Tại sao?
- Em cũng không biết tại sao nữa.
Trời ơi! Gái một con. Tôi sẽ vương tơ người đàn bà này nữa ! Má con Hoàn cũng đẹp nhưng là cái đẹp hiền hậu chất phác, còn má con Liên đẹp sắc sảo mặn mà, trong mắt lấp lánh đa tình và khôn ngoan. Lụa và Là không sánh nổi với Mai và Mô. Khổ nổi là chị lại đẹp hơn em. Và Mô tuy là con gái nhưng không đẹp bằng Mai. Nếu phải lấy một trong ba em (3M: Mai, Mô, Mười) để làm vợ thì tôi phải suy nghĩ rất nhiều mới quyết định được.
Mùi nước hoa thành thị.tỏa ra từ Mai làm cho tôi ngây ngất và hơi mất tự nhiên. Tôi cũng không ngờ là phải công tác trong một cái hầm với một người đàn bà đẹp như vậy. Có lẽ Mai cũng như tôi nên nàng tìm cách tự trấn tĩnh. Nàng lôi chiếc giỏ xách bằng ni-lông tím đặt trên bàn chắn ngang hai đứa và moi ra những bánh kẹo trà thuốc lá, hai ổ bánh mì.
- Em mua chi tốn tiền vậy?
Tôi không gọi nàng bằng chị như những lần có mặt Bảy Mô nữa. Nàng cũng gọi tôi bằng anh tự nhiên.
- Chị Ba mua cho anh để cám ơn anh.
- Cám ơn về chuyện gì?
Nàng trách yêu:
- Anh mau quên quá ! Chị Ba vô thăm nhà (có lẽ nàng muốn tránh nhắc tới Mô trong không khí này) bị sốt rét, anh cho y tá vô tiêm.
- Trời vậy mà cũng cám ơn! Vậy anh ăn cơm, ăn sầu riêng ở nhà và lính của anh tới xin đủ thứ thì anh có phải cám ơn không? (Tôi cũng cố tránh tiếng Mô.)
Mai chỉ lườm và cười mà không nói, làm lộ chiếc răng duyên viền vàng ở khóe mép.
- Ba má và chị Ba đều mạnh hả em?
- Má thì khỏe nhưng Ba bịnh hoài. Ba lo đủ thứ. Trận ruồng vừa rồi ba không ăn ngủ được. Ba lo cho… (có lẽ không tránh được tiếng Mô) dì Bảy con Liên, lo cho nhà cửa vườn tược
- Chiến tranh là như vậy, biết làm sao bây giờ.
Nàng ngồi thờ thẫn, đôi mắt tràn ngập buồn lo. Đột nhiên nàng hỏi:
- Anh có quen với ai là Mai…
Tôi cướp lời nàng.
- Chỉ có em là đóa mai độc nhất…
- Khanh. Mai Khanh!
Tôi suýt bật ngửa ra nhưng tự trấn tĩnh kịp. Nàng tiếp:
- Chỉ cũng công tác như em, nhưng ở trên R.
- Sao em biết ở trên R.
- Thỉnh thoảng có gặp nhau. Chỉ nói chỉ là chị nuôi của anh và là vợ của ông gì trên R.
- À, à chị Mai Khanh ở trên trường pháo binh anh dạy hồi trước lâu rồi.
- Chỉ nói Tết vừa qua chỉ có xuống tìm anh.
- Ờ! ờ nhưng anh bận công tác không có ở nhà.
- Chỉ cho em biết tin bí mật. Nhưng với anh em cứ nói.
- Tin gì mà bí… dữ vậy?
- Trên đó bị B52.
- Ối ! Chuyện đó mà bí cái gì. Anh biết rõ hết trơn.
Tôi sực nhớ tới bắp chân trắng ngần của Huỳnh Mai bị đĩa đeo. Rồi nhớ tới Thanh Tuyền đeo cổ tôi lội qua suối, nhớ Ba Ánh, và các cô trên R gặp tôi trong lễ mừng công. Huỳnh Mai bị B52 chết rồi. Bữa chiều hôm đó thằng Hùng nhường nhà cho tôi làm tổ uyên ương với Mai nhưng nàng bị ông Bảy Đậu xách luôn về R đút đầu cho B52 ăn. Huỳnh Mai,… Rồi lại Mai Khanh, bây giờ lại cũng Mai. Mai hỏi.
- Anh suy nghĩ gì vậy?
- À anh nhờ em xem địa hình dùm từ Tua Đồng Chùa đến quá chợ Suối Cụt.
- Đến chỗ khúc quẹo phải không?
- Phải, nhưng phải xem cho kỹ từ địa hình, không được nói đại khái.
- Ối tưởng gì chớ ba cái đó em nằm lòng. Từ Đồng Mã vô Vườn Cau, đến lò bánh mì, rạp hát, cây xăng, Thất Cao Đài nhà máy xay lúc em kể anh nghe không sót thứ gì hết.
Mai nói xong, móc trong giỏ xách ra một ổ bánh mì.
- Hai ổ kia khác, ổ này khác.
Nàng moi ruột bánh mì lấy ra một lọn giấy bằng ngón tay út rồi mở ra.
- Anh cần cái này?
Đó là tấm bản đồ Củ Chi đủ chi bết tỷ lệ 1/25.000.
- Trời ! ở đâu em có được?
- Anh muốn là em phải tìm.
- Sao em biết anh muốn?
- Biết chớ.
- Anh còn muốn cái khác nữa.
Tôi vừa nói, mắt nhìn vào mắt nàng, tay vừa đặt trên tay nàng đang vịn góc tấm bản đồ không cho cuốn vô . Thấy nàng để yên tôi bóp nhẹ rồi bóp mạnh. Nàng cười mắt lấp lánh như sao. Tôi lần bóp đến cổ tay, nàng vẫn cười, đôi môi nở như nụ hoa đẹp vô cùng. Tôi bèn nâng lên rồi chồm qua mặt bàn hôn khẽ một cái. Nàng rút lại nhưng tôi kềm chặt, nàng không rút ra được. Tôi lôi mạnh, nàng phải trườn người lên bàn và chạm mặt nhau. Tôi hôn lên gò má nàng. .Làn da nóng rực như hơ lửa. Hơi thở nàng ngắn và nhanh. Tôi hôn liên miên khắp mặt rồi dài xuống cổ. Cái cổ trắng nõn từ nãy giờ tôi ngồi ngó lom lom chắc nàng cũng nghe xốn xang vì tia mắt. Tôi lôi nàng qua phía tôi, nhưng nàng lấy tay ghi mép bàn chống lại. Tôi bèn rời chỗ và sang ngồi bên cạnh nàng. Đó là chiếc giường ngủ của chủ nhà chớ không phải ghế. Tôi hôn tiếp như một kẻ nhịn khát nhiều năm chưa được uống. Tay tôi bắt đầu di chuyển qua làn áo ni-lông hường mỏng.
Nàng chặn lại, thỏ thẻ:
- Tới đây thôi anh à!
- Em không yêu anh sao?
- Không yêu mà vầy.
Ngọn đèn leo lét trên bàn như cũng ngã nghiêng chấp chới theo hơi thở mạnh của nàng. Da thịt đàn bà thiệt là tuyệt trần. Chiếc áo của nàng thơm phức. Tóc bết mồ hôi nghe cũng ngọt ngào. Nàng vuốt mặt tôi quay lại nhìn và lắc đầu:
- Anh yêu em rồi cũng không đi đến đâu.
- Tại sao vậy?
- Anh biết mà .
- Anh biết em nói tới dì Bảy?
- Em quen anh sau mà đến trước !
- Cũng sẽ hiểu thôi. Em đẹp quá, anh không cầm lòng được
- Em đã có một đời chồng rồi. Anh còn trai. Hơn nữa em của em nó đã yêu anh. Em làm chị, như vầy có lỗi với nó. Anh yêu nó phải hơn. Nó còn trinh tiết. Em của em, em biết. Đã có bao nhiêu người trên R xuống cầu hôn với nó, có cả nhạc sĩ, kịch sĩ, cũng đẹp trai, có học nhưng không hiểu sao nó không ưng ai mà lại yêu anh.
- Sao em biết?
- Con nhỏ đó ngang bướng lắm. Vậy mà nó lấy đờn cho anh đờn, rồi nói chuyện với anh ngoài vườn cả buổi. Sau này nó còn đem sầu riêng tận cơ quan cho anh, không gặp anh kỳ đó nó về buồn lắm. Em hỏi tại sao, nó không nói nhưng em biết.
- Em thiệt là một người đàn bà lạ lùng.
- Ba con Liên tử trận ở Đồng Xoài, em hay nhưng em không nói ra để mọi người đừng có ve vãn em. Nhưng không hiểu sao bữa nay em hồi hộp quá. – Ngập ngừng một chút – Hôn em đi anh! Một lần thôi và không bao giờ nữa.
Mai hôn tôi, ghì đầu tôi siết vào mặt nàng, một cái hôn dài thật dài. Rồi nàng buông tôi ra, nhìn tôi, thờ thẫn:
- Em biết dì Bảy con Liên yêu anh, nên những lần anh đến nhà, em tránh né. Em cố giằn lòng. Nhưng hôm nay em đành có lỗi…
Nàng sụt sịt hồi lâu.
- Anh phải hứa với em:là không bao giờ cho dì Bảy biết.
- Anh hứa .
- Còn một điều nữa anh cũng phải hứa.
- Điều gì?
- Đừng bao giờ tìm em, hỏi thăm em, nhất là đừng bao giờ cho em gặp mặt.
- Nhiều điều quá, anh không hứa nổi.
- Anh nên quên em như…
Tôi trám miệng nàng bằng đôi môi nóng hực của tôi.
- Không! anh không quên em được! Anh không quên em được Mai à !
- Chừng nào anh cưới dì Bảy?
- Không bao giờ.
Mai la ré khe khẽ:
- Hả, tại sao?
Vừa tới đó thì bé Liên gọi. Nàng sửa lại tóc tai, xốc lại áo, quệt nước mắt vào vai áo tôi, lau mắt kỹ lại rồi bảo:
- Thôi đi lên, anh!
Con bé đang chơi với đám con gái chủ nhà cũng bằng tuổi nó. Thấy tôi và má nó bước lên, nó khoe với bạn:
- Dượng Bảy tao đó nhỏ à!
- Vậy hả?
Tôi ẵm bé Liên lên hôn. Nhưng nó mắc cỡ cứ quay mặt né, tôi phải hôn tóc nó. Mai bảo:
- Liên quay lại cho dượng Bảy hôn… Hôn má nó đi anh!
Con bé con chủ nhà la ré lên:
- Á ngộ ! á ngộ ! chú Bảy ơi ! chú Bảy ơi!
Bảy Sơn chạy tới dớn dác. Con bé chỉ chỏ:
- Ông gì ổng hôn má con Liên.
Mai đỏ mặt, ngượng nghịu trước mặt Bảy Sơn. Nàng bình tĩnh bảo:
- Tôi bảo dượng Bảy hôn má con Liên.
Đứa bé cãi.
- Ờ thì tôi nói ổng hun má con Liên chớ tôi có nói gì.
Tôi tức cười vì sự hiểu lầm (cũng không lầm) của đứa bé một cách thú vị nên không đính chánh. Chỉ có Mai cãi lại:
- Tôi bảo dượng Bảy hôn gò má con Liên chớ không phải hôn má con Liên tức là tôi.
Bảy Sơn cười:
- Hôn gò má con Liên hay hôn má con Liên cũng không sao hết phải không cô Năm?
- Anh quỉ này, bày chuyện cho con nít. Anh Hai sắp làm em rễ tôi rồi đó.
Bảy Sơn vẫn xơn xơn nói tiếp:
- Cô kêu ảnh bằng em rễ hay Bảy Mô kêu ảnh bằng anh rễ ? Tôi coi bộ cô chị xứng hơn cô em đó !
- Anh nói chơi hoài anh Bảy !
- Trong chơi có thiệt!
Mai nói:
- Công tác xong rồi, tôi xin kiếu nghe mấy anh!
- Ờ ăn cơm rồi hãy về cô Năm!
Nhìn Mai dắt bé Liên đi tôi nghe buồn trĩu lòng. Mai ra gần đường lớn tôi mới tỉnh hồn.
-Để tôi ra hỏi thêm vài chi tiết.
Vừa nói tôi vừa đi theo Mai. Bảy Sơn đứng ở bẹ cửa nói với theo:
- Cái chỗ đó, con gái không sánh được đâu anh Hai!
Tôi đi theo khỏi đầu bờ tre mới gọi một tiếng. Mai quay đầu lại, nước mắt dầm dề chưa kịp lau, mắt đỏ hoe. Tôi bước nhanh tới bế bé Liên đi song song với nàng. Hồi nhỏ thấy vợ chồng người ta đi với nhau ở ngoài đường, tôi mắc cỡ, bây giờ muốn được như vậy vô cùng mà không được. Tôi lặng thinh đi bên nàng. Cả hai không nói gì hết. Nàng cứ sụt sịt. Tôi đưa nàng ra khỏi ấp Mây Đắng (cái tên nghe mới lạ lùng!) để ra Quốc lộ I về nhà. Tới mé đường nàng dừng lại:
- Thôi anh trở lại đi, để người ta dị nghị !
- Em về mạnh giỏi, ráng cho con học nghen!
Tôi hôn bé Liên rồi trao bé cho nàng. Nàng bế con, nước mắt ròng ròng. Nếu ai trông thấy chắc bảo rằng vợ chồng từ biệt nhau. Đời tôi toàn biệt ly. Hết biệt ly lại ly biệt. Tôi đứng sững sờ nhìn Mai dắt con đi trên ven lộ cho tới mờ hẳn. Sao tôi không nói câu này, câu kia để an ủi nàng. Để nàng đi xa rồi mới nghĩ ra.
Nhìn ven vườn trước mặt, từng làn khói bay lên đầu rặng cây xanh. Đó là khói cơm chiều báo hiệu gia đình sum họp. Tôi hình dung những đứa trẻ nhảy nhót trước sân, bà mẹ đang nấu nướng, người cha đang tưới rau chờ cơm. Hạnh phúc đơn sơ như vậy mà tôi không có.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 71
Cô quân báo trẻ: Anh muốn ăn dưa hấu non không?


Sáng hôm sau anh du kích xã Phước Thành tên là Ngọc chở tôi đi quan sát trận địa đường số 7. Đây là lần chót trước khi bố trí trận đánh. Đây có thể gọi là trận tập kích theo chiến thuật của Hoàng Thọ thời kháng chiến chống Pháp, nghĩa là trận địa nằm giữa, ba phía là địch, trước mặt là Quốc lộ .Lính nào gan thì xung phong diệt địch băng qua lộ là về khu giải phóng, anh nào nhát, chậm chân, địch khóa đít khóa đầu thì chịu chết. Nhưng phải đánh để trả đũa trận càn Cedar Fall vừa rồi. Trận này nó vừa đánh, vừa bắt sống, vừa các đồng chí ta đầu hàng, tổng cộng cả ngàn. Gọi là trả đũa nhưng trận này nếu thành công cũng không thấm thía gì so với số thiệt hại kể trên.
Ngọc là một thanh niên mười tám tuổi, trắng trẻo đẹp trai và gan dạ, nghĩa là gặp lính mặt không biến sắc. Bảy Sơn đưa cho tôi bộ đồ tây, đôi giầy đen, cái kiếng mát, cái nón nỉ xám tra vào cho có vẻ thành thị, y dặn tôi ba điều bốn chuyện rồi tôi lên xe. . . đạp cho thằng Ngọc đèo ra Quốc lộ I. Từ ngày tôi bỏ học tới giờ là hai mươi năm, mới trở lại thành thị Nam bộ, tôi thấy cái gì cũng khác, có vẻ văn minh, cơ giới hơn trước xa. Ở tận ấp nhỏ mà cũng có rạp hát và nhà máy xay lúa, lò bánh mì. Xe cộ như nước.
- Anh cứ bình tỉnh nghe .
- O K ! (Tiếng OK tôi mới vừa học ở Bảy Sơn để khi cần lấy le với thiên hạ thì bật ra.)
Đôi giày của Bảy Sơn hơi chật cho nên mang một lát thì nghe hơi đau. Có lẽ vì lội bộ nhiều quá mà bàn chân của tôi trở thành chân vịt chè rè, chớ trước kia đôi giày cỡ này thì tôi mang vừa đúng. Vừa đạp, Ngọc nói tía lia:
- Con Út ganh lắm! Nó muốn xã. đội phân công cho nó đèo anh đi, nhưng xã đội bảo nó chưa quen công tác này. Ra lộ rủi gặp lính nó đái trong quần mà mang khốn.
- Coi bộ cổ vô ấp chiến lược hồi hôm cũng dạn dĩ mà !
- Ở trong bóng tối anh đâu thấy cái mặt nó xanh hay tím. Nó thích mang trường bá đỏ nịt bao đạn như các bà dũng sĩ vậy đó anh. Kỳ rồi xã đội gởi nó đi học lớp bắn nhân dân, ủa bắn pháo nhân dân, nhưng lên tới quận thì bị gạt sổ.
- Sao vậy?
- Ở trên coi chim coi cẳng sao đó mà chê, tống trở về. Nó ức lắm. Anh có biết cơ quan nào nhét nó vô dùm! Mình sắp ra khỏi ấp Mây Đắng, Quốc lộ trước mặt kia nghe anh. Ở trên dặn em đạp qua Tua Đồng Chùa, băng qua lộ, vòng ra sau cho anh biết bề dài bề ngang của ấp rồi qua vườn cau mới ra lộ trở lại. Em sẽ cho anh qua cửa bót đường số 7 cách lộ chừng một trăm thước.
- Gần vậy lính gác trông thấy làm sao?
- Thấy thây kệ nó. Buổi sáng chợ họp kế bót, người ta đen nghẹt, nó đâu có để ý.
- Em đạp chậm để tôi quan sát.
-Đạp chậm nó nghi anh ạ.
- Ừ thôi đạp nhanh nhanh.
- Kỳ này có máy bay tới mình chơi như Đồng Lớn bữa hỗm không anh?
- Thứ gì cũng chơi. Nhưng anh đi thăm bà con chớ đâu có làm gì mà em hỏi?
- Thôi mà anh Hai. Anh giấu ai chớ giấu cả tụi dính cu em được sao. Chị em là Tư Lan xã đội phó xã Phước Thành này mà !
Tôi cười dã lã :
- Nhưng anh chỉ là trinh sát thôi, ở trên biểu đi thì đi chớ đâu có biết gì!
- Thôi mà cha nội. Ông là thầy chỉ huy pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù kỳ rồi mà ai không biết!
Không thể chối được nữa, tôi tìm cách đánh lạc hướng trận địa, nhưng thằng nhỏ cứ mổ tới:
- Em biết anh điều tra đánh tụi Cọp Đen mà anh Hai. Tôi không lộ bí mật cho ai đâu.
Tôi làm thinh, nghĩ bụng: Con nít mà cũng biết, thì đánh quái gì ! Mấy thằng cha Ba Châm, Tư Nhứt, Út Lịa làm ăn như vầy cho nên đem lính ra đây là bỏ xác không lấy được.
Tôi vẫn tiếp tục đánh lạc hướng thằng bé:
- Có khi nào em sắp đi đánh người khác mà em cho hay trước không?
- Cố nhiên là không rồi !
- Vậy nếu em biết các anh sắp đánh tụi Cọp Đen là các anh thành công một nửa rồi đó.
- Tạ i vì . . . hì hì . . . thanh đông kích tây !
Rồi tôi kiếm chuyện hỏi vớ vẫn:
- Hình như đất ở đây thấp hơn ở Tua Đồng Chùa hả em?
Ngọc không đáp mà cười hắc hắc:
- Anh cao kiến thật. Anh vừa mới nói ra là em biết mục tiêu của anh rồi.
- Em biết rõ Tua Đồng Chùa không Ngọc?
- Tụi đó chừng trung đội. Có bà con em ở trỏng nữa. Bữa nay nhà em có đám giỗ để em chở anh về ăn giỗ hỏng chừng anh gặp vài thằng ở đó.
- Thôi em ơi! Anh không quen ngôn ngữ của họ, mình nói lở một tiếng ló đuôi là nó nắm đầu ngay. Anh nói cho em biết, hồi trước tụi Pháp nó chỉ xét cái gót chân thôi. Hễ gót chân nứt là nó bắt. Tụi nó tinh vi lắm.
- Sao vậy anh?
- Nó nói Việt Minh lội sình nên gót mới nứt chớ người ta đi giày đi dép làm sao nứt? Cái gì đó Ngọc?
- Đó là xóm Cây Da. Kia là xóm Tháp. Còn cụm nhà kia là xã Thái Mỹ. Chỗ đó có cái rặng cây nhô ra giữa đồng. Nếu bảo Củ Chi là bàn tay thì xã Thái Mỹ là ngón tay cái. Tre trúc anh thấy kia là vườn của dân trong gấp Mây Đắng mới dọn ra. Chừng một hai năm nữa dân trong ấp Mít Nài cũng ra đây hết!
Dứt lời Ngọc chạy một hơi rồi quẹo vào một đường mòn. Tôi la lên:
- Đi đâu vậy Ngọc?
- Ghé nhà em ăn giỗ no bụng rồi đi đâu thì đi.
Lỡ rồi, không trở ra được. Tôi đành để cho nó đèo vô nhà . Nhà chật phải dựng thêm rạp. Hai ba ông già ngồi uống trà nói chuyện. Ngọc thắng xe dựng vào cọc rạp rồi xớn xa đi vô.
- Heo làm rồi chưa Ba?
- Má mày chỉ làm gà vịt ca-ri, hầm,.còn heo thì đặt bên chợ heo quay cho nó gọn con à ! Mày chở ông nào về đó, mời ổng vô chơi.
- Ông thầy giáo dạy ở Hốc Môn, ủa ở Sài gòn! Thầy của con đó ba không nhớ sao. Nhưng ông bận lắm. Không ở lâu được. Có gì ăn bỏ trong giỏ xách thầy trò con cầm theo.
Bà má ở sau nhà bước ra:
- Đi vô đây lấy. Có liền đây nè.
- Không ở uống rượu được sao thầy giáo?
- Dạ cám ơn bác, để khi khác. Bây giờ em Ngọc phải đưa cháu xuống Hốc Môn gấp.
Tôi móc thuốc ra mời các cụ rồi đốt thuốc để lấy sự bình tỉnh. Đánh giặc không sợ mà ăn giỗ lại sợ, mới kỳ. Thế mới biết có tịch thì nhúc nhích.
Ngọc tay xách một giỏ đầy, không từ giã ai hết cứ lửng thững đi ra. Hai thầy trò vừa phóng được một lúc khá xa gần đến Ngã Tư Quốc lộ và Lộ 7 thì thấy có chiếc xe máy ở phía sau. Một chiếc xe đò đi Trảng Bàng-Suối Sâu chạy qua mặt bụi bay mịt mù che lấp chiếc xe máy. Trong bụng tôi nôn nao, bảo Ngọc:
- Anh thấy hình như chiếc xe máy đuổi theo mình.
- Xe ngoài này như kiến chớ phải có một chiếc đó sao mà anh lo.
Tôi thọt tay vào áo đụng bá cây P38 lạnh ngắt.
- Hình như anh có tính tính là nó rượt mình!
Ngọc quay lại và nói ngay:
- Con nào dám rượt, em kêu bằng …Tía.
Tôi cười ngất. Nhưng chiếc xe có vẻ như mở hết tốc lực. Bụi xoắn sau xe như rồng phun khói. Tôi hơi lo:
- Dám nữ Nhân Dân Tự Vệ lắm nghe em!
- Ối, tụi đó hả… ờ mà dám lắm. Con nhỏ bận áo hồng. Nó lại giơ tay ngoắc nữa kìa.
Ngọc buông giọng hơi lo, hết còn cà rởn.
-Ờ, nó ngoắc thiệt.
Thì chiếc xe kia đã tới sát đít. Mẹ kiếp, đúng nó rượt mình rồi, chỉ còn cách là móc cây K54 đã lên đạn sẵn, hễ nó kêu đứng lại thì bắn rồi mạnh thầy chạy, mạnh trò trò dông, chơi theo kiểu cao bồi xứ Mẽo, họa may thoát thân.
- Thắng xe, Ngọc.
- Hổng được anh! Anh lãi cho nó một phát. Em giựt xe phóng luôn.
- Chạy đường nào?
- Chạy bừa chớ biết đường nào.
- Anh Hai !
Có tiếng kêu the thé xuyên qua tiếng máy nổ rồi chiếc xe vọt qua mặt, rồi hãm máy lại rà sát chân tôi. Nàng áo hồng tóc quăn như rễ đứng lại đưa tay vỗ đầu gối tôi. Ngọc quát:
- Con quỉ hà nàm, làm tao hết hồn.
Tôi cũng hoàn hồn nhìn ra… con quỉ… Ua!
- Trời, em làm trò gì vậy Ua?
- Hề hề… anh Ngọc ngừng lại.
- Tao công tác gấp.
Ua vừa rà xe theo, vừa thở hổn hển vừa nói đứt quãng:
- Ở trên bảo em kiếm anh Hai nè!
- Sao biết đây mà kiếm?
- Ông Bảy Sơn. Dừng lại mau. Bộ muốn đứt đầu hả?
Thằng bé đành thi hành lệnh của nàng Ua. Ua cũng dừng lại và quát:
- Anh Hai lên ngay, em chở.
- Chuyện gì vậy?
- Ngồi lên ngay không được chậm trễ một phút nào. Đây là lệnh trên.
Tôi nhìn thằng bé. Nó hất hàm:
- Chắc có chuyện khẩn cấp, anh Hai đi với nó đi anh.
Tôi hơi rối trí, nếu là ở đơn vị thì tôi không thể nghe lệnh kẻ dưới cấp của tôi như vầy đâu, nhưng ở giữa lòng địch, mạng sống của tôi tùy thuộc lũ nhóc này. Vã lại tôi cũng biết nàng Ua là người của Quân Báo Khu thuộc Sáu Huỳnh. Chớp nhoáng suy nghĩ, rồi nhảy lên ngồi cho em mang đi lên non xuống biển gì thì đi !
Ua rồ máy vọt cái ồ qua mặt Ngọc. Tôi còn nghe tiếng Ngọc phóng theo:
- Quỉ vặt con nhỏ hà bá này !
Ua quay lại vẫy tay:
-Báy bay !
Tôi hỏi:
- Sao em biết anh ở đây?
- Ôm cho chặt kẻo té gãy họng bây giờ nghe ông Ngố!
Một tay tôi ghì mép poọc-ba-ga một tay tôi lòn qua eo ếch nàng hoành ra trước bụng quặp chặt, nhưng tâm trí hoang mang, gặn hỏi:
- Sao em biết anh ở đây chớ?
- Anh lên trời thử coi em có bắt được không!
Tôi ớn quá, bụng hơi ân hận vì đã nộp mạng cho chằng. Tôi biết rành con bé này: gan dạ, nhưng rất xốc nổi, liều mạng. Hai nàng hận tôi không cưới nàng. Mẹ kiếp, đi trăm sông ngàn núi sống nhăn, về đây chết úp mặt… lỗ chân trâu. Giữa nàng và Chia, nàng biết tôi ngã hẳn về Chia. Nàng hận tình mà trả thù kẻ bội bạc chăng? Trước mặt là Củ Chi, sau lưng là Đồng Dù, quanh đây là đồn bót lớn nhỏ . . . Mạng mình như chuông treo chỉ mành. Nghĩ vậy, tôi hạ giọng thống thiết:
- Ua à ! Em giận anh sao?
Giọng nàng nhát gừng.
- Giận gì mà giận?
- Anh công tác lu bù đâu có thời giờ mà tìm em.
- Xí, không có thì giờ tìm em sao có thì giờ đi với em khác?
- Em nào đâu?
- Anh qua tìm mấy con nhỏ ở Bến Súc có không?
Tôi giật mình nhưng chối phắc:
- Ông Tư lệnh kêu gấp không ở nhà ăn Tết được chớ đâu phải anh ham!
- Xí uống nước đá còn mút tay người ta !
- Tầm bậy. Ai nói với em vậy?
- Anh tưởng anh vô quán Ba Con Thỏ đó có một mình anh sao?
Ai chịu cha ăn cướp? Tôi tiếp tục giải thích. Nhưng nàng gạt ngang:
- Vậy ai vừa đi vừa móc gia đình với anh đang ở trong Ràng kia?
Tôi rướm mồ hôi hột, nên dã lã:
- Đó là chuyện tình cờ chớ anh đâu có hẹn hò gì.
- Anh mà lơ mơ em chia hai trái da láng (lựu đạn Mã Lai) với anh, nói cho anh biết.
- Chạy đi đâu vậy Ua? Em định giết anh sao?
- Để anh sống anh cũng bỏ em. Em giết anh rồi tự tử luôn cho coi!
- Anh không có dịp gặp em chớ anh đâu có bỏ em!
Tôi úp mặt vào lưng nàng hít hít và ôm chặt eo ếch nàng hơn rồi đưa tay ngược lên. Ua rùng mình kêu lên:
- Anh làm em té gảy cổ cả hai đứa bây giờ nè.
- Gảy cổ chết sướng hơn, sống làm quái gì không được ai yêu!
- Xí, ghét anh lắm. Nhiều lúc em muốn vô cho anh nửa loạt AK rồi em rẹt luôn vô ngực em, nhưng em nghĩ chết rồi đâu còn yêu được?
- Giết thì giết ngay bây giờ đi, thương tiếc làm gì?
- Bộ anh không muốn gặp má hả ?
- Má nào?
- Má ở Sài gòn lên chớ không phải má con Nga đâu.
- Hả?
- Má đã xuống chờ anh ở Ràng. Có má thằng Thức nữa.
- Thằng Thức… à, cái thằng chồng tí tẹo của em đó hả?
Ua bật cười. Má thằng Thức là vợ Sáu Huỳnh. Tôi chưa kịp hỏi gì thêm thì Ua tiếp:
- Chị Tám Lệ công tác chung tổ với em, đi rước má chớ ai. Con Nga nhờ móc bà già nó. Em xin chú Sáu đi móc má, nhưng chú bảo con gái đi Sài gòn không tiện, để chị Tám ẵm con đi. – Ua tiếp ngay – Má lên kỳ này anh phải quyết định đó. Kỳ trước ba lên, ngoại đã hứa gả em cho anh. Ba cũng đồng ý, nhưng ba bảo còn chờ ý kiến của má. Bây giờ anh tính sao?
Tôi đáp:
- Thì để về trỏng anh với em cùng gặp má.
- Má chịu em là chắc rồi.
- Ừ thì hễ má chịu… ý ý em chở anh đi đâu đây, Ua?
- Đừng có hỏi gì lộn xộn hết. Em là người hiểu anh nhất. Em biết trong tình cảm anh cần gì? Trong công tác anh cần gì. Anh đừng lo. Em chạy là đúng chóc yêu cầu của anh. Tới bót Suối Cụt kìa! Coi đó. Mang kiếng mát vô ông Ngố!
Tôi nôn nao muốn về nhanh để gặp má tôi. Đã hai mươi năm trời xa cách, không biết má giờ ra sao. Nhưng lỡ ngồi trên lưng cọp cái rồi, tôi đành làm oai:
- Em chạy đâu đây Ua?
- Thì về Ràng gặp má !
- Đi công tác cho xong đã, việc công phải trên việc tư.
-Ừ được, vậy để em cho anh cong đuôi một chuyến!
Ua vọt như bay, tôi nghe gió rát mặt. Một chốc, Ua bảo:
- Tới bót Suối Cụt rồi đó. Muốn vô thăm thằng xếp bót không?
- Đừng có giỡn.
- Em nói thiệt. Ở đây lính nào em cũng biết. Xếp nào em cũng quen !
Nói xong Ua quẹo về hướng bót. Tôi cào lưng Ua bảo quay lại. Ua cười ngặt nghẹo:
- Vô chợ uống cà phê chút mà sợ sao, người tình cũ, ủa, người tình trên chiến trận của em!
Tôi sực nhớ hồi kháng chiến chống Pháp công tác thành lái xe thẳng vô bót Ca-ti-na nộp ông trung tá Nguyễn Văn Thi nhà mình mà rởn ốc. Ở trong rừng tôi là con hổ, nhưng ra chợ tôi là con chuột, con chạch. Tôi cảm thấy trơ trọi và bị đe dọa từ bốn phía. Ua bớt ga rồi rà xe vào lề, bảo:
- Ra đây anh phải ngầu mới được, đừng có lớ ngớ mà lộ tịch đó ông mảnh.
- Ngầu là sao?
- Nghĩa là anh dắt tay em đi, ôm eo ếch xà nẹo, anh ôm em quýu trước mặt thiên hạ như người ta ngoài này, lột bỏ cái con ma nhà quê ở trong kia đi.
- Tưởng gì chớ cái đó, anh dư sức.
- Xuống cho em đổ xăng.
Tôi nhảy xuống thọc tay túi quần đi bọc ra phía trước ôm ngang hông Ua, miệng hút gió oeo oeo. Ua nhìn tôi:
- Bản gì nghe lạ tai vậy?
- Shine no Yoru.
- Là cái gì?
Tôi xoay mặt Ua sang hôn một cái:
- Ngầu như vầy được không?
Rồi hất mặt bảo chị bán nước đá còn trẻ:
- Cho hai ly si-rô đá đi người đẹp.
- Chị Ba, bịt của em nè…
Chị bán nước đá ngớ ra tái mặt. Ua tiếp:
- Người tình không trận tuyến của em nè . Ủa người tình trên trận chiến…
Người đàn bà kêu lên:
- Ơ! ơ!… đồ con quỉ!
Ua đưa một ngón tay lên môi ra dấu bảo chị Ba im rồi tiếp:
- Chị cho nước đá uống chơi cái đi. Trời nắng quá hè !
Rồi rút khăn trong túi quần quay sang lau mồ hôi cho tôi.
- Ảnh đi dạy học ở Sài gòn mới về thăm em. Em sẽ đưa ảnh lên đó bây giờ nè.
Chị Ba đã nhận ra tôi và tôi cũng không lạ gì chị. Tôi hỏi :
- Chị Ba đã hết sốt rét hẳn chưa?
- Ờ ! ờ! hết lâu rồi cậu à.
- Bánh mì chị gởi cho em dòn lắm.
- Ờ!ờ…! chị gởi cho con Mai đem cho em.
Tôi chợt thấy chiếc xe máy đèo lính trờ tới. Trên vai áo đều mang phù hiệu Đầu Cọp. Cây P38 trước bụng tôi như trở mình. Thép chạm vào da lạnh ngắt . Mấy người lính cũng uống nước đá. Chị Ba bào sột sột, tay luýnh quýnh. Ua nhảy vô hăng hái bảo:
- Chị đưa em phụ cho.
Rồi cắt chanh, xúc đường tay quậy lia, miệng tiếp chuyện với khách:
- Nghe nói gánh Hùng Cường Lệ Thủy tối mai diễn ở đây hả các anh?
- Cái rạp này nhỏ quá họ hát bể rạp làm sao?
- Em ở đâu tới hay ở đây mà coi mặt lạ vậy?
- Tôi ở Sài gòn với anh tôi. Đây là quán của chị Ba tôi.
- Ủa, chị Ba sao lại già hơn anh Hai?
- Ở Sài gòn dạy học trong mát có máy lạnh nên coi vậy chớ không trẻ đâu.
- Còn em thứ mấy?
- Thứ… a a… Tám.
Một chàng quay lại chìa tay cho tôi:
- Rua cái đi anh Hai. Em cũng. .. thứ Tám nè!
Cả bọn cùng cười. Rồi trả tiền mở máy xe. Chàng thứ Tám còn nói với:
- Nhà em ở Phú Nhuận, mời anh Hai và em Tám khi nào rảnh ghé chơi .
Tôi móc điếu thuốc cắm lên môi, chưa kịp móc hộp quẹt, thì Tám bật zippo cho tôi đốt. Tôi rít một hơi và nói:
- Merci.
Ua hỏi.
- Mẹc-xi là gì?
- Cám ơn. Tiếng Pháp.
- Anh phải nói thanh kêu mấy ảnh mới hiểu.
Ba người lính vụt đi. Tám ngồi sau xe còn giơ tay hôn gió trở lại. Tôi nâng ly nước đá mà bủn rủn tay chân. Ua bảo:
- Anh thấy lính nó ngầu với em chưa? Ghẹo gái rất nhã nhặn chớ không phải chung vô mùng người ta rồi bị la, ông già xách dao vô như như…
Tôi giục.
- Thôi trả tiền rồi đi.
Bỗng tôi thấy một bé gái đứng sau xe nước đá. Bé Liên!
Không biết nó đến đây hồi nào. Bé Liên trố mắt nhìn tôi. Nó không kêu tôi bằng dượng Bảy một cách mừng rỡ nữa. Thấy tôi nhìn, nó vụt chạy. Vừa chạy vừa khóc mờ:
- Má ơn có người nào hun dượng Bảy!
Chị Ba gọi nhưng nó không quay lại. Tôi không ngờ Ua lại đưa tôi đến đây. Mới từ giã hôm qua, định bụng là sẽ không bao giờ tái ngộ để làm khổ nàng hay tôi tự làm khổ tôi, thì nay lại gặp. Ua lôi tay tôi:
- Làm cái gì đứng chết trân như bị ai hốt hồn vậy anh?
Quả tình tôi đang mất hồn. Từ trong nhà Mai bước ra với bé Liên. Chợt thấy tôi, nàng biến sắc, còn bé Liên trỏ vào Ua:
- Người đó hun dượng Bảy.
Rồi nép mình vào Mai, lại thút thít. Ua thừa biết chữ dượng Bảy nghĩa là gì. Bèn móc túi trả tiền nước đá. Ua mua cây kẹo mút đưa cho bé Liên. Rồi thấy xe đạp cà lem, Ua ngoắc lại mua luôn đưa cho bé. Vừa xoa đầu, vừa nói:
- Đây là cà lem sầu riêng ngon lắm. Để dì… Tám mượn dượng Bảy đi công chuyện rồi đem về trả chớ không có mất đâu!
Nói xong, Ua hôn bé rồi quay ra hôn tôi, bảo như ra lệnh:
-Đi dượng Bảy! Chụt!
Ua dắt tay qua phía cây xăng. Vừa đi vừa rù rì:
- Có nghe mùi gì không?
- Mùi gì?
- Em hôn cháu dượng Bảy rồi ngầu dượng bảy, ắt dượng Bảy phải nghe mùi dì Bảy chớ.
Chắc Ua không biết chuyện giữa tôi và Mai. Mặc dù vậy tôi vẫn ngờ. Nên không dám quay lại. Và mặc dù không quay lại tôi vẫn thấy Mai đứng trông theo với hai giọt lệ, cố nén nhưng không cầm được. Đó là lần cuối cùng tôi gặp Mai.
Ua vẫn châm chọc:
- Bà đó bén lắm. Anh mà liên hệ công tác với bả thì sẽ dính nhiều nữa đó. Duyên chị mà tình em. Đó là tuồng cải lương. Còn ở đây thì duyên em tình chị há há.
Tôi theo Ua qua cây xăng. Ở đây lại cũng đụng đầu…Cọp . Một anh chàng cười với Ua:
- Đi đâu cũng gặp cô. Bộ nhà cô ở đâu đây hả?
- Đổ đầy cho tôi cậu Bình.
Thấy Ua không trả lời, Cậu thiếu niên tên Bình rút vòi xăng ra khỏi xe của mấy người anh rồi châm qua xe Ua, vừa châm vừa nói:
- Chị này là cháu vợ bé thứ 11 của Trung sĩ Lịnh đó thưa thiếu úy.
- Vậy à ? Vợ bé gì mà đông dữ vậy, tui kiếm một bà lớn mà đỏ con mắt.
- Ổng còn hơn Trung tá Tỉnh trưởng (Mã Sanh Nhơn) nữa đó. Ông Trung tá chỉ có hai, ba bà thôi còn ông Trung sĩ, một chục có đầu.
- Vậy cho tao làm Trung sĩ thích hơn Trung tá… há há !
Viên Thiếu úy rồ máy xe vọt đi. Ua bảo cậu Bình:
- Từ rày không được cho ai biết chị là cháu vợ… bé của ông Trung sĩ nghe chưa?
- Oai vậy mà chị không muốn khoe à?
- Nếu tao có làm thì phải làm bà đại úy, đại tá kìa.. . phải không thầy pháo ủa… ông thầy giáo?
Ua rồ máy xe và nói trong tiếng nổ.
- Úy, tá em coi thường, chỉ cần ông Thiên Lôi thôi!
Tôi lại ngồi lên. Nàng vọt.
- Đi đâu nữa?
- Lên Thiên Đàng!
- Ừ! muốn lên thì cho lên.
Nàng chạy thẳng quốc lộ, loanh quanh qua các phố rồi tuốt vô chợ quận Củ Chi. Chợ quận mà nhỏ xíu. Tuy vậy địa thế hiểm trở vô cùng. Muốn đánh cái thị trấn này phải có hai trung đoàn bộ binh và một trung đoàn pháo binh và phải hi sinh to lớn. Cái đầu cọp trên vai anh lính làm tôi rùng mình.
Đánh Mỹ dễ hơn đánh Sài gòn. Vì Mỹ không có lý tưởng ở Việt Nam. Có chăng cũng tạm bợ. Ua trỏ sang phải:
- Đó là sân tê-nít của tụi cố vấn Mỹ .
- Mấy thằng?
- Không rõ. Anh có muốn gặp người tình cũ không?
- Sao em luôn kiếm chuyện châm chích anh hoài, không để anh yên vậy?
- Không phải em kiếm chuyện mà tại anh có chuyện. Em để cho anh yên, nhưng chính anh lại không để cho em yên.
- Anh làm gì mà không để em yên?
Ua vỗ pạch pạch vào túi quần sau.
- Anh không làm gì em? Anh nói vậy mà nghe được? Cái khăn in mấy đốm máu em còn giữ đây ! Anh tưởng đó là trò chơi hả? Cả đời em đã giao phó cho anh rồi. Em không lấy chồng nào khác ngoài anh.
Tôi rỡn ốc lên từng cục. Cô bé này ghê gớm thật! Ua tiếp:
- Em nói cho anh biết kẻo sau này anh trách tại sao không nói trước. Bất kỳ anh cưới người đàn bà hoặc con gái nào, ở chỗ khác em không biết thì thôi, chớ còn ở đất Củ Chi này, như con Mô, con Cấm, con Lam, con Thảo, con Là, con Lan, con Nga lớn, con Chia, con Nga nhỏ, con Khánh, con Ngọc bên Bến Súc… chị Mười, chị Mai… thì đám cưới của anh sẽ ăn AK hoặc da láng. Và anh, em, và người vợ chưa kịp hưởng tân hôn của anh sẽ chồng xác lên nhau tại buổi tuyên bố đó… Anh nên nhớ rằng đời con gái chỉ có tiết trinh là quý nhất. Em đã mất với anh. Ngoại đã hứa với Ba gả em cho anh. Bây giờ Ngoại đã chết vì thằng Giắc. Em thề sẽ giết nó để trả thù cho Ngoại xong rồi sẽ tuyên bố với anh.
- Bây giờ định chở anh đi nạp cho Mã Sanh Nhơn để lãnh mười ngàn hay đi đâu?
- Một triệu em cũng không thèm. Nhưng nếu anh phản em, thì cái đầu anh chỉ đáng một xu thôi. Em nói thiệt đấy! Bây giờ anh sẽ gặp người tình…
- Ai vậy?
- Con Chia, quên à ? Má nó với má em bán vải ở chợ này. Nó cũng ở đó.
- Thôi, thôi ! Anh không có thì giờ !
- Ý mà quên. Bữa nay nó không có ở nhà. Xe jeep đã tới chở nó đi ngày hôm qua rồi. Hừ! thề non hẹn biển, chụp ảnh chụp hình tặng nhau, khóc lóc như đám ma… Bây giờ ra sao?
Đang chạy thẳng bỗng nàng quẹo gắt làm tôi suýt té nhào. Nàng quay ra phóng một hồi lâu, có hơn một tiếng đồng hồ rồi trỏ bên tay phải, hỏi tôi.
- Anh biết cái gì đó không?
- Đồng Dù .
- Anh muốn tới gần đó không?
- Bất cứ cái gì ở xa nhìn rõ hơn lại gần.
Ua cười:
- Đối với em, ở gần hay ở xa anh đều không nhìn rõ hết. Anh chỉ thấy bề ngoài con Ua là một đứa con gái cao-bồi, lung lăng, liều mạng, chớ anh không thấy trái tim của nó đâu. Anh lớn hơn em gần mười tuổi, nhưng em yêu anh. Vì em cảm thấy anh có đủ khả năng lèo lái đời em. Còn thằng Thức con chú Sáu Huỳnh, trẻ con, biết gì mà chú định cưới em cho nó. Em gặp anh lần đầu tiên là yêu liền. Nhớ không?
- Em chở anh ghé nhà Bảy Mô . . .
- Chị Bảy cũng yêu anh đấy, nhưng không bằng em đâu. Tất cả những đứa em vừa kể tên gộp lại không bằng con Ua đối với anh, nói cho anh biết.
- Anh hiểu em rồi.
- Chúng nó thấy anh có tài, có địa vị nên muốn chiếm làm của riêng. Chúng nó không đời nào dám chết cho anh. Con Ua này, khi cần, dám!
Ua chạy tới ngả ba Trùm Tri rồi dừng lại:
- Đây là cổng trước Đồng Dù. Mình không qua được. Nó xét ngặt lắm!
- Vô làm gì đó?
- Em nói là đi qua không phải đi vô ! Con Chia đang ở trong đó !
- Hả?
- Anh có nghe em nói chứ?
- Nghe rồi .
- Nó lấy thằng thông dịch viên cho Mỹ . Thằng này thỉnh thoảng lấy xe ieep chở nó về nhà đem đồ nọ đồ kia cho má nó bán. Có lần em gặp nó ở nhà, em rủ nó công tác. Nó có điều kiện hơn em ở ngoài này. Nhưng nó bảo nó sợ lắm. Tức là nó quên tất cả những gì nó nói với anh trong hầm nhà nó. Có em thấy, em nghe. Và em cũng hứa với anh nữa. Nhưng em khác nó. Nó quên. Em thì không. Em không quên gì cả.
Tôi nghe như chín nẫu cả tâm can. Ua vẫn nói liên miên:
- Rồi anh sẽ thấy con Ua này làm gì. Anh pháo kích Đồng Dù bằng đại pháo. Em sẽ đánh tụi nó bằng một hộp cô ca. Hộp cô-ca nhỏ tí, nhưng tiếng nổ sẽ to lắm.
Tôi bẽ tay lái cho cô nàng sang lãnh vực khác. Tôi trỏ bên này bên kia và hỏi nàng. Nàng giải thích rành rọt:
- Đã đi thì đi luôn một chuyến để biết hết địa hình. Nay mai biết đâu anh sẽ cần tới. Biết đâu em sẽ bỏ xác ở vùng này anh sẽ biết chỗ mà tìm. Đây là con đường 15 đi thẳng vô Phú Hòa Đông. Khúc trên từ Hố Bò đến An Nhơn bị B52 cày nát hồi trước. Xóm nhà đó là ấp Cây Trâm. Bên trái, tuốt ở trong sâu là xóm Ba Xa có con đường nhỏ từ Bàu Điều đi thẳng xuống đây. Sâu hơn nữa là xóm Gia Bẹ rồi tới Truông Viết và Trảng Lắm. Anh biết bên kia xâm Gia Bẹ là đâu không?
- Là suối Xóm Mới, kế đó là Bàu Chứa có nhà ngoại chớ gì?
- Anh giỏi lắm. Anh đừng quên Bàu Chứa là quê vợ của anh nghe!
Tôi hôn lưng nàng thắm thiết, úp mặt hồi lâu:
- Anh nghe trái tim em rồi, Ua ạ ! Quê vợ anh !
- Ờ ! tốt lắm. Lâu nay em mới nghe được một tiếng nói của anh. Anh đừng quên nhé !
Tôi hỏi tiếp:
- Còn vành đai thép ở đâu Ua?
- Cái vành đai đó chỉ nghe thôi, anh à. Không có thật đâu. Ông Tám Quang bảo chị Nhã Nam viết bài vậy thôi. Từ Phú Hòa Đông vòng qua đường số 1 toàn là đồng trống du kích làm sao mà đào hố đào hầm? Để chút nữa em chạy trên đường số 8, anh sẽ thấy xe tăng nó ủi láng hết xóm Phú Hiệp rồi. Trên nhà mình Bào Cạp, Bào Tròn, Bàu Chứa du kích Năm Cội bị càn tróc hết, còn vành đai nào nữa? Du kích ở Xóm Mới, Gia Bẹ , Trung Viết, Trảng Lắm cũng bỏ hầm chạy tứ tán. Nhiều người lẫn ra ấp chiến lược, em có gặp.Ông Xã đội trưởng xã Phú Hiệp ở Gia Bẹ, nhưng ổng không dám về nhà!… Cách Đồng Dù chừng vuông vức mười cây số mỗi cạnh, tính ra bốn chục cây số vuông châu vi, du kích nào đào nổi một đường hầm để bao quanh nó? Cái vành đai đó phải sáu, bảy chục cây số!
- Còn cái bót gì kia?
- Bót Cây Trâm.
- Em rành hơn thằng Đức nhiều.
- Nó là dân mới, không biết bằng em đâu.
Thấy mấy cụm đen đen giữa đồng, tôi hỏi:
- Phải xe tăng Mỹ không?
- Tụi nó cụm quân đó. Trực thăng lên xuống đều đều là Mỹ chớ không phải Sài gòn. Trực thăng chở đồ ăn, nước tắm và gái điếm cho tụi nó. Nó cụm ở đâu con gái tới đó. Có khi nó cụm sát ven lộ, em chạy xe thấy chúng nó ló đùi lòi mông trên xe tăng. Mới đầu em mắc cỡ, thấy riết rồi quen đi.
Bỗng Ua hỏi tôi: :
- Anh Hai ơi ! Anh muốn ăn dưa hấu không?
- Dưa hấu qua Tết rồi đâu còn mà ăn!
- Dưa hấu mùa nghịch… Dưa hấu non đấy mà ! ăn đỡ khát nước!
Nàng chở tôi đi một hồi nữa rồi rẽ vào một đường mòn và nói:
- Bên phải là ấp Bầu Tre, bên trái là sở cao su Ba Lăng. Tụi thằng Giắc thường phục kích ở sở cao su này. Có khi nó dám băng qua suối bên Gò Mã rồi tới nhà Ngoại mình đó. Năm Cội không ngán xe tăng Mỹ mà lại sợ biệt kích thằng Giắc.
Xe đổ xuống dốc. Đường đất lồi lõm, Ua thắng xe bảo tôi:
- Mình đi chỗ khác.
- Để làm gì?
- Ăn dưa hấu !
- Thôi, để khi khác đi em!
- Khi khác là khi nào nữa? Sợ không còn kịp. Dưa này không dễ kiếm. Sợ cả đời anh tìm không ra nữa đâu.
Tôi đẩy xe tiếp nàng, trở lại đường cái. Nàng lại chạy. Qua Ngã Ba Tân Qui tới ấp Bầu Trâm, thình lình nàng rẽ sang trái rồi cho xe tuột dốc. Lần này dốc êm hơn, Xe chạy trên dấu xe tăng đã lì. Hai bên đường là ruộng dưa xanh um nhưng không thấy trái. Giữa màu xanh nhô lên mấy túp chòi lợp bằng rạ xiêu vẹo ngã nghiêng.
- Nghe như mùi hóa học hả em .
- Thuốc xịt rầy chớ không phải hóa học đâu anh. Kìa anh xem dưa mới ra bông vàng tươi đẹp ghê không?
Vừa nói nàng rẽ vào một con đường mòn nhỏ.
- Anh muốn hái không?
Tôi lấy làm lạ, thì nàng tắt máy, dựng xe bên chòi rồi vào trong:
- Anh ơi vào đây có dưa… non nè!
Tôi mon men vào. Bên trong không thấy dưa. Chỉ có bộ vạt tre xiêu vẹo giống y như bộ vạt mà nàng Quán bắt tôi đi họp xã ủy tới nửa đêm mới thả cho về với Lan kỳ đi nghiên cứu trận địa ngoài. Ràng.
- Anh ngồi nghỉ đi. Hết mệt em lái cho về .
Tôi ngây thơ cứ ngồi móc thuốc hút và ngó ra các hướng . Kia là cây trụ cao của Đồng Dù. Trực thăng đáp xuống cất lên như chuồn chuồn trên mặt nước. Tôi nghĩ tới các trận đánh sắp tới mà nao nao trong lòng. Chiến sĩ hi sinh, vợ góa, con côi. Nhưng ông. Sáu Vi bảo: “Cứ nắm thắt lưng Mỹ mà đánh” thì phải nắm mà đánh, còn đánh trúng hay trật và nó đánh mình thiệt hại ra sao thì không đáng kể.
Ua đi tìm nước để rửa mặt. Thời may gặp khạp nước uống hay nước tưới dưa bên góc chòi. Ua nhúng nước khăn lau mặt tôi rồi ngồi như cởi ngựa trên đùi tôi áp ngực nàng vào mặt tôi
- Dưa non nè!
Tôi ngước lên nhìn nàng. Nàng đè đầu tôi xuống, ấn nó vào nơi kẽ hở giữa hai quả dưa non. Tôi đưa hai tay ôm quàng sau lưng nàng và siết chặt hai thân người vào nhau. Nàng kêu the thé :
- Ái uôi, đau… gãy xương sống em!
- Coi có ai đi ngang không?
- Ai đi thì đi , thây kệ họ. Nhớ em không?
- Nhớ… chớ sao không?
- Nhớ mà cặp với con Thiên Nga bay ra Ràng rước má chung ha !
- Anh đã bảo đó là chuyện tình cờ không phải hẹn hò gì hết !
- Tới Tết nữa kia nó mới rước được bà già nó vô đây.
- Nghe nói vùng đó mới có trận đánh, chắc bả tản cư.
- Ai nói cho anh biết? Cha chả chắc hai người than thở với nhau suốt đêm hả? Chị Tám Lệ không có đi tới đó đâu mà hòng! Móc quác rồi!
- Tại sao em biết?
- Em bảo chị đừng đi mà cứ đặt chuyện nọ kia chớ sao ! Để bả vô coi mặt anh hả?
- Em ác vậy?
- Chớ còn nó định chiếm anh trên tay em thì có ác không? Anh có .yêu em không, nói một tiếng đi? Không có chối quanh chối quẹo.
Tôi đưa tay cởi ra hàng nút áo và chiếm luôn một bên trận địa bằng tay, còn bên kia thì tấn công bằng lối khác một cách thô bạo nhưng chủ nhân không phản đối mà lại tỏ vẻ hài lòng. Nàng rên khe khẽ và gục mặt xuống đầu tôi, rồi đưa hai cánh tay ôm siết như muốn ép nát hai quả dưa non.
Thấy tôi cứ nhởn nha như bò gặm cỏ non buổi chiều, nàng giục:
- Làm gì thì làm nhanh đi để người ta tới.
Tôi cũng sợ người ta tới, nhất là nhân dân tự vệ, nên không còn lòng dạ đâu để làm gì. Nàng bèn thoát y tôi và tự thoát y rồi đàn áp tôi một cách độc đoán.
- Ai dạy em cái kiểu này vậy?
- Xí, Mỹ nó làm vậy em thấy hoài, chớ ai mà dạy. Tụi con gái bảo là xay lúa!
Tôi để cho nàng chủ động, tha hồ mà hành hạ tôi như một tên nô lệ ở dưới… quyền sinh sát của nàng. Nàng yêu tôi với tất cả sự ham muốn hằn hộc và giận hờn.
- Anh không yêu em như trước nữa sao?
- Yêu chứ!
- Sao anh không tỏ vẻ gì hết vậy?
- Em là tư lệnh kiêm chánh ủy. Anh là lính chỉ có việc tuân hành! Nghe chưa?
Rồi nàng âu yếm:
- Chúng ta đã thành hôn với nhau rồi ! Từ nay em là vợ anh. Ngôi chòi rơm xơ xác này chính là Lâu đài tình ái của chúng ta là một kỷ niệm bất diệt của chúng ta.
Ua kéo lê tôi đi trên con đường phiêu lưu vô tận.
- Mình đi Sài gòn luôn nghe anh!
Ua cúi rạp mình nói trong hơi thở hổn hển.
- Không được!
- Nhát hít như thỏ đế!
- Thằng cha Hai Tốt nó đứng ở Cầu Bông nhìn mặt giao liên hợp pháp của mình đó em ơi !
- Thì mình đi qua ngã Bình Dương.
- Không được ! Anh còn công tác khẩn ở nhà .
- Mình mướn phòng ngủ ở với nhau vài ngày. Em đang trong thời kỳ rụng trứng. Chắc thế nào cũng có thai. Hồi nảy em làm vậy để không cho anh xài chứng minh thư nhân dân, Ủa hì hì… áo đi mưa. Em muốn có con với anh. Em sẽ về nhà má ở và nuôi con. Không đi công tác nữa.
- Bỏ luôn à?
- Em yêu anh. Em không muốn phải rơi vào tay mấy ổng hoặc tụi Mỹ.
- Ổng nào?
- Ối trời! Anh không biết hay sao còn hỏi? Toàn là con nuôi, em nuôi, cháu nuôi. Mấy ông nuôi bao nhiêu, ông Tư Chuyền nạo mệt bấy nhiêu.
- Yêu anh rồi em sẽ ôm hận Chinh Phụ Ca !
- Sịt! trước khi chết em chỉ gọi tên anh.
- Chớ không hô bác Hồ muôn năm à?
- Tại sao phải hô như vậy?
- Hồi kháng chiến chống Pháp, chiến sĩ ta ra trận, trước khi xung phong, hoặc lao đầu vào lỗ châu mai đều hô như vậy.
- Em không biết bác Hồ là ai?
- Vậy em đi công tác này có nghĩa gì?
- Em thích phiêu lưu khác người. Việc gì người ta sợ thì em làm.
- Như hồi nãy vậy hả?… Ai dạy em vậy?
- Ối tụi Mỹ ! … Tụi nó bảo gái điếm làm như vậy. Em có coi hình nữa. Còn nhiều lắm.
Ua nói một cách tự nhiên không chút ngượng miệng.
- Chuyện gì mình muốn làm mà làm được thì cứ làm ngay! Để mai một không có dịp rồi hối tiếc. Bữa nay nếu không cho anh ăn dưa hấu non thì biết bao giờ nữa?
- Em ghé quán nước đá uống một ly rồi về .
- Cha! muốn gặp tình nhân cũ hả? Duyên em tình chị cũng đẹp chớ! Em cho anh biết không một người nào chung thủy được khi họ ở ngoài này đâu. Vợ mấy ông cán bộ đi làm trong Đồng Dù đều dâng dưa cho tụi Mỹ hết ráo!
Ua vẫn chưa giải phóng cho tôi.
- Chốc nữa chạy qua xe nước đá em bớt tốc độ để anh ngó qua chút cho đỡ khổ! Gái một con trông mòn con mắt phải không ông thầy… giáo?
Tôi lặng thinh, mắt nhắm nhưng vẫn thấy Mai bế con, nước mắt hai hàng chiều hôm trước.
 
 
Chương 72
Mẫu Tử trùng phùng
Anh em ruột: em Quốc Gia, anh Cộng Sản.



Ua đưa tôi về nhà Tám Lệ. Ba Xuyên, một người đàn ông sồn sồn, vẻ mặt khắc khổ, nước da đen đúa chạy ra khi Ua vừa tắt máy xe ngoài sân. Bắt tay tôi xong, quay sang Ua:
- Sao về trễ vậy nhỏ?
Ở ngoài đó bữa nay lộn xộn quá chú Ba.
- Chuyện gì vậy?
- Cọp Đen về đầy Bầu Tre. Thằng Rắc chận xe xét gắt quá Cháu phải chờ cho tụi nó rút mới vọt được.
Ba Xuyên quay sang tôi:
- Bà già xuống rồi. Ua dắt anh Hai qua luôn nhà má vợ Bảy Lập đi cháu.
Ba Xuyên là cán bộ của Sáu Huỳnh chỉ huy cụm quân báo này nên rất nể tôi. Ua nói:
- Để cháu tắm rửa sạch sẽ rồi qua trình diện má cháu luôn thể?
- Mày nói cái gì Ua?
Ua chạy thẳng vô nhà . Ba Xuyên nhìn tôi để tìm câu giải đáp Nhưng tôi vẫn đứng lặng thinh. Ba Xuyên tế nhị nên không hỏi. Anh mời tôi vào nhà cho biết những chi tiết quan trọng về Đồng Dù. Chưa dứt câu chuyện thì Ua đã trở ra với bộ mặt tươi tắn, quần áo khác màu, thơm phức, đứng trước mặt Ba Xuyên:
- Chú Ba cho phép cháu đi bao lâu chú Ba?
- Cháu đưa anh Hai sang đó ở chơi một chút rồi về nhận công tác mới.
Ua đưa tôi theo con đường quanh co qua các nương rẫy tươi xanh. Nàng bảo:
- Ở đây có hai mỹ nhân. Anh gặp người ta phải nghiêm chỉnh nghe. Chị Tám Lệ là cán bộ của chú Ba, có một con rất đẹp không kém Tư Mai đâu. Người thứ hai là Chín Hoà làm cô giáo, em của Bảy Lập, chủ nhà. Anh gặp người ta đừng có ngúc ngắc cái đuôi nghe chưa? Anh léng phéng thì anh chết…
Nàng véo lưng tôi một cái rất đau.
- Còn điều này nữa!
- Điều gì?
- Khi gặp má thì anh phải nói rằng em là vợ anh nghe chưa?
- ….
- Nghe chưa?
- Nghe rồi!
- Để cho mấy bà đó dạt ra hết đi đừng có gắm ghé với anh nữa. Nhất là con bé Nga y tá. Cho nó vỡ mộng nghe chưa!
- Nghe rồi.
- Có em, anh mới công tác rất tiến bộ được, còn với con nhỏ đó thì anh ngóc đầu lên không nổi.
Tôi nôn nao gặp lại má tôi. Tôi ra đi khỏi nhà hồi mười ba tuổi bây giờ băm ba. Má tôi chắc đã già lắm. Vừa bước tới giữa sân, Ua đã la lên:
- Má ơi! Má! Anh Hai về tới nè!
Tôi chạy vọt vô cửa. Nhìn thấy… không nhìn thấy gì hết. Chỉ một vầng hào quang. Miệng tôi kho khan kêu lên và nghe tiếng đáp lại:
- Má!
- Con!
Má tôi ôm chầm lấy tôi. Không như ba tôi lúc gặp lại tôi ở quán dì Ba. Ông chỉ đứng lặng im và nói:” Mày đó hả, Lôi?” như không có vẻ gì xúc động. Còn má tôi khóc như mưa. Ướt cả vai áo tôi. Tôi thấy bé trở lại như ngày còn ở nhà. Ba tôi có đôi lần đánh tôi bằng roi, nhưng má tôi không bao giờ.
Phút trùng phùng thiêng liên. Tôi không muốn một tiếng động nào xảy ra. Nhưng ….
- Anh!
- Anh Hai!
Má tôi bảo:
- Mấy đứa em của con đó!
Tôi quay lại. Một người đàn ông trung niên bước tới:
- Em là thằng Gấu nè, anh Hai!
Một người đàn bà đứng bên cạnh một người đàn ông khác và một lũ con nít:
- Em là con Sáu nè, anh Hai. Đây là chồng con của em.
Cả gia đình chủ nhà, nhân viên cơ quan đóng ở đây và cô y tá Nga đều có mặt. Má tôi nhìn quanh một thoáng, rồi hỏi tôi:
- Mấy cô ở đây, đứa nào là dâu của má vậy con?
Tôi đang lựng khựng thì Ua bước tiến lên trước nắm tay má tôi, giật giật và dõng dạc tuyên bố:
- Con đây má! Mấy người kia không phải!
- Ủa, vậy sao con?
Má tôi nhìn tôi như hỏi: Vợ gì trẻ dữ vậy con?
Ua như hiểu cái nhìn chất vấn của má tôi, nàng rất thông minh và nhanh nhẹn như một người trải đời, và đáp ngay:
- Vợ chồng không câu nệ tuổi tác má ạ. Miễn yêu nhau thì thôi. Có nhiều cặp vợ chồng rất xứng đôi vừa lứa, môn đăng hộ đối, ruộng đất trâu bò, quan huyện suôi gia với quan phủ nhưng… vợ chồng không yêu nhau má à! Con với anh Hai thương nhau và công tác phối hợp với nhau. Con tìm thấy nơi anh Hai một thủ trưởng dìu dắt con, còn con được anh Hai xem như cánh tay đắc lực của anh. Như vậy thì đúng như lời ông bà mình đã nói: Đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn má à ?
Má tôi ngạc nhiên trước sự lưu loát của cô bé còn mọi người thì ngẩn ngơ. Những người quen với Ua thì không ngờ cô bé loắc choắc nổi danh cao-bồi này lại khôn ngoan như vậy. Má tôi không nói gì, chỉ nhìn tôi chờ câu trả lời. Nhưng tôi cũng không nói gì. Tôi ở thế kẹt… bốn phía. Càng nhúc nhích càng kẹt nặng.
Thằng em trai tôi vốn là một đại úy Việt Nam Cộng Hòa, thấy thế bèn phá vây cho tôi:
- Thôi bây giờ mời má cùng tất cả bà con dùng bữa chiều. Mâm cỗ đã dọn ra từ lâu rồi chỉ chờ anh Hai về là nhập tiệc Còn việc lớn lao kia má sẽ định liệu sau.
Mọi người quay sang bộ ván đầy thức ăn bày biện rất mỹ thuật. Ắt hẳn có bàn tay đàn bà trong đó.
Má tôi vẫn chú ý đến Ua. Bà hỏi:
- Sao trong khu mà tóc tai con lại quăn queo thế này?
Ua nhanh tay chộp lấy chõm tóc giở tung lên và gật đầu một cái. Mái tóc dài tự nhiên của Ua xõa dài xuống vai. Rồi nàng vén lên chụp cái đầu tóc giả lên.
- Tóc con đâu có quăn đâu má !
Mọi người vui vẻ, kẻ đứng người ngồi. Bộ ván chật nứt, chủ và khách thân mật như bà con lâu ngày mới gặp lại. Ua nói năng duyên dáng hơn bao giờ hết. Tôi thấy rõ nàng lanh lợi hơn lúc tôi mới gặp rất nhiều. Riêng Nga thì buồn xo. Tôi để ý thấy nàng gắp có một miếng thịt nhỏ mà ăn hoài không hết. Còn tôi thì ruột rà như tơ vò . Tôi chỉ gợi chuyện nhà với em trai và em gái tôi . Vừa nói vừa nghĩ kế thoát thân. Chưa thấy tí ánh sáng lóe lên ở cuối đường hầm thì bỗng có tiếng chân người. Tôi nhìn ra thì thấy Ba Hỉ, bí thư xã. Ba Hỉ hăng hái đi vào, phía sau là hai nàng còn trẻ măng. Ba Hỉ hỏi:
- Má chú Hai là ai đâu? Tôi nghe nói bà vừa tới nên đem hai món quà hiếm có cho bà.
Ba Lập hỏi:
- Quà gì? cứ đem vô dọn luôn ra cho bà con dùng luôn một thể.
Ba Hỉ cười:
- Quà này không dọn lên mâm dược. Hì hì !
- Quà gì mà lạ vậy?
Ba Hỉ nửa cà rỡn nửa nghiêm chỉnh nói một hơi:
- Quà này có hai chân hai tay. Nó biết cười và biết khóc. Thưa bác, không nói giấu gì bác và xin bác xá lỗi cho. Đây là hai cô gái. – Ba Hỉ quay lại – Cô áo tím tên là Miền, cô áo xanh tên là Điền. Cô Miền có người anh là nông hội xã còn ba má cô Điền là điền chủ. Cả hai cô chưa quá hai mươi. Đây, bác và anh Hai xem mắt. Bác đành bụng cô nào làm dâu bác thì xã tôi sẽ đứng ra làm lễ tuyên bố. Sẵn dịp bác vô đây, đám cưới xong bác dẫn thím Hai về trình diện bác trai.
Hai.cô thẹn thùng đưa tay che mặt và đứng núp sau gốccột. Má tôi lại nhìn tôi. Trước sự việc bất ngờ tôi càng bị kẹt cứng. Tôi chưa hề quen hai cô. Mấy lần trước liên hệ công tác với Ba Hỉ, anh có hỏi việc vợ con tôi, tôi nói thật tôi còn chân trơn, thì anh bảo: “Để tôi kiếm dùm cho, không đòi đầu heo đầu gà gì hết.” Nào ngờ anh làm thật.
Anh đưa đến như vầy, không dò xét trước, rủi ro lỡ duyên người ta rồi ai chịu trách nhiệm. Thằng em trai tôi lại gỡ rối tơ lòng cho tôi lần nữa:
- Trước nhất tôi thay mặt gia đình cám ơn anh đã có lòng tốt đối với anh Hai tôi. Quả là chuyện xưa nay tôi chưa từng biết! Vậy mời anh Ba nhận ly rượu mọn của tôi cái đã, rồi sau đây má tôi và anh Hai tôi sẽ quyết định.
Tôi tưởng nàng Ua nổi khùng lên, nói vung vít bể bạc thì tôi chỉ có nước độn thổ. Nhưng tôi rất đổi ngạc nhiên. Nàng không tỏ vẻ bất mãn gì hết. Ngược lại nàng rất tự nhiên:
- Chà! Bác vô bữa nay gặp chuyện vui quá. Nhưng có nhiều cô dâu ứng thì thế này mà cô nào cũng đẹp chắc anh Hai khó chọn lựa, vậy em đề nghị bắt thăm. Trời khiến sao, anh phải chịu vậy. Anh Hai thấy sao?
Tôi đáp:
- Để má quyết định.
Má tôi rất văn nghệ. Bà nói:
- Bây giờ để má thường các con dâu của má trước đã. Đưa chén đây, má bỏ thịt và bánh mì cho.
Nhưng không thấy chén nào chìa ra cả . Thằng em trai tôi bảo:
- Các chị Hai của con mắc cỡ má à ! Má cứ gắp bỏ vô chén mấy chị là được. Bắt đầu từ đâu? Cứ theo thứ tự ABC cho công bình. Chị Điền, chị Miền, chị Nga rồi chị Ua.
Ba Lập lên tiếng phản đối.
- Rồi con Hòa em gái tôi mất chỗ hay sao?
Ua bảo:
- Em đứng chót nhưng quay ngược lại thì em đứng đầu.
- Sao kỳ vậy được?
- Trong quân sự người ta gọi lấy đuôi làm đầu mà.
Má tôi nhìn Ua. Có lẽ bà ngạc nhiên trước sự ứng đáp của con nhỏ tóc quăn. Sợi dây căng thẳng suýt đứt lại tan đi với sự pha trò càng lúc càng ròn rã của mọi người dưới sự dẫn đầu của thằng em tôi.
Tiệc xong, nàng Ua hối hả trở về vì đã trễ giờ phép hơi lâu. Còn các mỹ nhân khác thì lúi húi dọn dẹp giúp chủ nhà.
Tôi đến hỏi thăm má tôi về việc gia đình một lúc và lôi thằng em trai về hầm nói chuyện riêng cũng là chuyện quan trọng nhất của cuộc trùng phùng này.
Lúc tôi về R thay mặt đoàn pháo binh 69R để nhận huân chương, tôi có gặp anh Ba Thành là người bản sở và là thủ trưởng cũ của tôi trong kháng chiến chống Pháp. Lần đó tôi có báo cáo với anh rằng tôi có một đứa em trai làm đại úy Thủy Quân Lục Chiến ở Sài gòn. Ba Thành bẩm lên trên và ở trên đã cho tôi về Củ Chi công tác đồng thời móc em tôi ra vận động cho nó làm Binh Biến như Phùng Văn Mười ở Bình Dương. Việc này được giao cho Quân báo Chín Lộc mắt toét, người đã từng sang học nghề tình báo ở Liên Xô. Móc tới ngoéo lui cà trật cà duộc gần hai năm em tôi mới ra gặp tôi. Đây là lần gặp gỡ giữa hai anh em ruột rất nguy hiểm cho sinh mạng của cả hai đứa. Có điều lạ lùng là cả hai anh em đều là đại úy cả, nhưng kẻ đứng bên này, người ở bên kia.
Lúc còn nhỏ, ba má tôi thấy nó èo uộc nên gởi cho một nhà hàng xóm nuôi dùm. Nhà này nuôi con rất khỏe và đặt tên con rất oai hùng. Hùm, Cọp, Beo. Tới phiên nó thì lãnh tên Gấu. Còn tôi, má tôi đang đi cấy thì nghe sét đánh thì chuyển bụng. Bà bỏ về nhà và sanh ra tôi, nên bà ngoại tôi bảo đó là nhờ Thiên Lôi nên đặt tên tôi là Lôi. Lôi 33.
- Gấu à ! Anh muốn nói với em một chuyện quan trọng.
- Em biết rồi ! Có bà gì cứ đến nhà em hoài.
- Ừ chính là vì bà đó mà anh nói với em hôm nay.
- Em không thể làm Phùng Văn Mười đâu anh à.
Tôi vỗ vai nó:
- Đúng! Như vậy anh không cần phải nói gì thêm với em nữa.
- Anh theo lý tưởng của anh, em không phản đối mà cũng không trách. Em có lý tưởng của em.
- Anh cũng không trách mà cũng không phản đối. Có điều là em phải thận trọng kẻo cấp chỉ huy của em hay được thì nguy to.
Đại úy Gấu cười:
- Anh tưởng em đi lén sao? Em xin phép đại tá Trung đoàn trưởng của em đấy.
- Em nói thiệt?
- Đại tá sếp em đã báo cáo lên Tướng Tư lệnh Sư Đoàn và vị Tư lệnh thích lắm.
- Em có giỡn không?
- Không! Em nói thiệt đó mà.
-…nghĩa là sao?
- Ông ấy gọi em lên. Em run quá. Kiểu này chắc mất chức và tù, nhưng không. Tất cả dự đoán của em đều sai.
- Cái thằng!
Đại úy Gấu móc thuốc ra. Hai anh em cùng hút. Trong khói thuốc mịt mù, Gấu bảo:
- Tướng Tư lệnh cho phép em đi thăm anh bảy ngày.
- Thiệt à?
- Nếu không thì sao một đại úy như em lại bỏ đơn vị mà đi được anh. Nói thật với anh, anh đừng buồn nghen! Ổng giao cho em sứ mạng biến anh làm một Phùng Văn Mười trong hàng ngũ Việt Cộng đấy.
- Không thể được!… Em về báo cáo láo với ông ta.
- Không! Em sẽ nói sự thực. Trước khi em đi, ổng còn căn dặn: Cộng Sản là những người cuồng tín và thú tính, khó nói sự thực cho họ nghe. Lại càng khó dùng tình cảm để lay chuyển họ . Vậy nếu không đạt được kết quả chính trị thì coi như cậu đi thăm anh ruột của cậu như những cặp anh em khác cùng hoàn cảnh với cậu trong Sư đoàn của mình mà tôi biết. Điều này càng cho họ thấy rõ chúng ta là những con người quyết tử chống họ, nhưng là những người có trái tim.
Đại úy Gấu phà một làn khói bát ngát. Tôi thầm phục ông tướng đó. Tuy vậy vẫn tìm cách nói quanh, phủ nhận những cái tốt của người khác, như một thói quen của các cấp chỉ huy giáo dục tôi và nay đã trở thành quán tính của tôi, không biết từ bao giờ.
- Ông ta lừa cậu đó . Cậu về mà không kết quả, chắc cậu sẽ không yên thân đâu.
- Ở bên anh chuyện đó đã xảy ra sao?
Tôi lặng thinh. Đại úy Gấu tiếp:
- Tôi sẽ về báo cáo mọi việc như đã thấy, cả việc anh Ba Hỉ tặng quà cho má.
Đêm đã khuya. Hai anh em ngồi bên nhau. Khói thuốc như mây bao bọc hai mái đầu. Tàn thuốc chừng như đã vun thành núi. Tôi muốn nói với em tôi một điều mà không nói được Tôi muốn nhờ em tôi một việc nhưng rồi cũng không nhờ. Việc ấy tôi giấu kín trong tim.
Hai anh em cùng một dòng máu nhưng kẻ bên ni, người bên tê. Gần nhau gang tấc mà xa ngàn dậm, không phải cái xa của mặt trời mặt trăng cả ngàn năm ánh sáng mà là xa cách giữa hai nhịp tim đập.
Tôi vào giăng võng ở miệng hầm. Má tôi đã ngủ. Tôi không muốn má tôi thức dậy. Tôi muốn tôi trở thành tên lính canh cho giấc ngủ của má tôi. Mới đây mà đã hai mươi năm.
Lúc tôi vác nóp đi kháng chiến với ba tôi thì má tôi còn trẻ. Nay má tôi đã bạc đầu, có cháu ngoại cháu nội. Tôi bằng tuổi má tôi thời đó mà chưa có con cho má tôi bồng. Muộn mất hai mươi năm. Ba má tôi muốn đứa cháu đích tôn. Tôi cũng muốn có vợ có con bình thường, hường một thứ hạnh phúc bình thường của những cặp vợ chồng nông dân. Tưởng dễ nhưng lại khó.
Tôi có một ngàn chuyện chứa trong đầu. Chuyện giữa tôi và thằng Gấu coi như đã giải quyết xong. Đường ai nấy đi. Thấy cách suy nghĩ nói năng của nó. Tôi hiểu nó hơn tôi tưởng. Nó không phải là tên lính đánh thuê như người ta thường huấn luyện tôi và rồi sự nhồi nhét đó trở thành nếp suy nghĩ của tôi từ lúc nào không rõ. Bây giờ thì tôi đã hiểu rằng mình lầm.
Còn chuyện vợ con? Đó là cây gươm linh treo lơ lững trên đầu tôi Tôi như một Thúy Kiều. Sống làm vợ khắp người ta. Hại thay! thác xuống làm ma không chồng. Tôi không sống lâu đâu mà hòng vợ con. Bom đạn Củ Chi này không phải như bất cứ chiến trường nào tôi đã từng biết. Không ở đâu cán bộ hi sinh nhanh chóng dễ dàng và nhiều như ở đây. Tôi sống ngày nào may này ấy. Thì vợ, con mà làm gì? Vợ góa, con côi. Nấm mồ trăn trở. Tôi như thấy trước mắt cái gương mặt thằng Chi trắng bệt, xanh như lá . Nó mới hai mươi hai tuổi. Vợ chưa cưới. Vợ cưới rồi có nỗi khổ của vợ cưới rồi, vợ chưa cưới.có niềm đau của vợ chưa cưới. Thu Hà ! Gương mặt nàng đầm đìa nước mắt núp sau cây bằng lăng ở Trường Sơn. Hứa đó nhưng chắc gì đã tới đâu . Tôi nghe đầu võng lắc lắc rồi tiếng thầm thì:
- Anh Hai ngủ hay thức?
- Ai vậy?
- Em! Anh ra đây em băng cái móng chân tách cho anh!
Trời ! Nga. Từ chiều tới giờ tôi quên khuấy đi nàng Hằng Nga của tôi. Trăng mọc giữa đêm đen và chỉ rọi ánh sáng xuống cho tôi. Bên cạnh một nàng Ua xông xáo, hoạt bát, duyên dáng, Nga chỉ im lặng, một sự chịu đựng vô biên, cũng như nàng đã từng chịu đựng khi tôi băng cái móng chân chảy máu của nàng. Nàng chịu đựng những tai tiếng mà những bậc chú bác kính mến đã vu oan cho nàng vì không được nàng hạ xuống cho cấp anh. Tôi hiểu cái móng chân tách của tôi ở đâu.
Tôi bật dậy đi theo nàng. Trong đêm tối mịt và giữa sự im lặng tuyệt đối, tôi nghe tiếng tim đập và hơi thở của nàng. Tôi ngửi thấy mùi hương của tóc và da thịt trinh nguyên. Nga là một Hằng Nga của gã Thiên Lôi lạc xuống dương trần.
Tôi quơ đụng và nắm cườm tay tròn mát rợi của nàng như đã cầm được hạnh phúc cụ thể vô cùng. Tôi ngoan ngoãn đi theo nàng. Tôi thầm nhủ.
- Coi chừng lại vấp tách móng chân.
Nhưng đi đâu? Ra cái hầm lúc chiều đi ngoài vườn tôi trông thấy. Ngó tìm hầm, đó không những là thói quen của các nhà quân sự mà là thói quen của tất cả mọi người ở đây. Hễ ra khỏi nhà thì dáo dác tìm hầm, hoặc hỏi thổ địa hầm đâu. Hai Giả xuống Thủ Đức chết vì lựu đạn Đại Hàn ngay dưới hầm. Vì đó là cái hầm quốc tế. Ai cũng có thể bị cán bộ địa phương vô trách nhiệm nhét xuống đó.
Cái hầm ngoài vườn là loại hầm tấn tức là hầm có vách đất dày bốn phía chớ không có nắp che trên đầu. Nếu đại bác rơi ngay theo kiểu cò ỉa miệng chai thì lãnh đủ.
Tôi dắt Nga ra đó bấm đèn pin lên. Thiệt là buồn ngủ lại gặp chiếu manh. Mùng giăng chiếu trải lại có cả một cặp gối, một chiếc rách lòi gòn. Nga mang cả ba lô theo. (Nàng đựng dụng cụ để băng cái móng chân tách của tôi chăng?)
- Em định trả ơn cho anh hả?… Móng chân anh đâu có tách đâu. Chỉ có trái tim anh rách thôi.
- Trái tim anh chỉ còn cái cuống thôi. Còn bao nhiêu thì anh đã cắt ra từng mảnh chia cho người ta hết rồi, chớ có đâu mà rách!
Tôi khẽ vỗ ngực.
- Còn nguyên cho em đây nè Nga à !
- Em không mong nhận được nguyên trái tim anh, chỉ xin được một mảnh nhỏ thì em cũng đủ hạnh phúc lắm rồi.
Tôi sửa soạn tổ ấm xong rồi kéo tay Nga ngồi bên mép chiếu trải dưới đất, không có giường. Tôi vuốt lưng nàng và nói:
- Không rước được má xuống chắc em buồn lắm hả Nga?
- Không có má xuống thì có má lên, em đâu có buồn. Dù sao em cũng có má !
Nga là một người thùy mị thâm trầm khác hẳn Ua sôi nổi liếng thoắng. Nàng nói cười đều chậm chạp nhưng ý tứ được trau chuốc trước khi thành lời. Tôi hỏi tiếp:
- Em thấy má có thích em không?
- Hồi tối lúc anh nói chuyện với chú Năm (Gấu) má kêu em lại nói chuyện tới khuya em mới dọn giường cho má ngủ . Má biểu em nằm với má nói chuyện tiếp.
- Má với em nói chuyện gì?
- Má hỏi thăm gia đình bên em.
- Chuyện gì nữa. Má hỏi thăm chị Ua. Em nói em mới biết chỉ lần thứ nhất.
- Má có nói gì chị Ua không?
- Má nói con gái mà hoạt động thành thiệt là giỏi!
- Má nói có bấy nhiêu thôi à?
- Má còn nói đi như vậy ai nấu cơm cho chồng ăn, có con ai nuôi cho!
Tôi hỏi chơi vậy thôi chớ tôi biết ý má tôi, em trai lẫn em gái tôi ngả về ai. Nếu chọn dâu bất cứ bà già nào cũng ngán nàng Ua hết.
Tôi tưởng cái chuyện Ba Hỉ tặng hai món quà cho má tôi là hi hữu ở thế gian thời này, chẳng dè sau khi mọi người tản ra, vào lúc chạng vạng thì… Ba Hai (ba chiến sĩ) bất ngờ tới. Ba Hai đầu bạc trắng, trước kia từng làm Đại Hương Cả trong làng. Ba nói với má tôi, giọng sang sảng:
- Tôi nghe tiếng chú em này lâu rồi. Nay mới gặp. Hân hạnh hơn nữa là được biết chị là mẫu thân của chú. Vừa rồi chú Ba Hỉ có nói với tôi việc đem hai đứa nhỏ cho chị xem mắt. Chị thương thì nó nhờ, còn không thương thì của đâu còn có đó, không mất mát đàng nào. Riêng tôi cũng có một đứa, tôi muốn chị xem qua. Số là tôi có đứa con gái út đã gã cho thằng Bảy Lập kéo đờn Tây trong Văn Công quận là chủ nhà này. Anh suôi tôi tức là ông già ruột của nó còn một đứa con gái tên là Chín Hòa. Con nhỏ đang dạy lớp bình dân ấp này, dung nhan coi cũng mặn mòi chớ không đến nổi xấu xí chi. Tôi xin mạn phép anh suôi tôi đến đây thưa với chị. Nếu chị cho phép thì mai tôi sẽ dẫn nó đến ra mắt và nếu chị thương thì chắc anh suôi tôi cũng mừng lắm.
Má tôi lấy làm sung sướng thấy bà con thương con mình rất nồng hậu, nhưng bà không biết quyết định như thế nào, đành mượn kế hoãn binh:
- Nó thương ai tôi cưới nấy.
Tôi hỏi tiếp Nga:
- Má có gì về các cô Miền, Điền và Hòa không?
- Coi mòi má thương chị Tám Lệ nhất, ngặt chỉ có con.
Nga khôn khéo loại ra ngoài vòng chiến tất cả các đối thủ bằng một đối thủ của nàng. Nhưng đối thủ này lại có nhược điểm vô cùng to lớn nàng không cần đánh cũng thắng. Làm thế nào bà già cưới đàn bà có con cho con trai mình được? Tôi nói:
- Anh biết ý má thương em nhất chớ chẳng phải cô Tám đâu!
Vừa nói tôi lôi tay nàng ngã xuống gối đầu lên cánh tay tôi. Vẫn biết việc Nga đi với tôi ra đây là nghĩa gì rồi, nhưng tôi không muốn để cho nàng có tư tưởng tôi là nước lớn đối với xứ nhược tiểu. Tôi tiếp:
- Riêng anh thương em nhất!
Vừa nói tôi xoay mặt nàng qua và hôn môi.
- Em thấy chị Ua văn minh quá lại công tác giỏi nữa.
- Nhưng không sánh với em được. Má nói em công, dung, ngôn, hạnh vẹn toàn.
- Mới gặp em sao má biết được?
- Trời ! mấy bà già coi dâu tinh vi lắm. Mấy bả chỉ cần xem cái bếp là biết hết.
- Em thấy chị Miền cũng đẹp quá trời.
(Viết đến đây tôi thấy tim gan quặn thắt. Tết năm 66 tôi đứng ra làm chủ hôn cho Xướng và Miền. Xướng đã lên B trưởng trinh sát của tiểu đoàn. Năm sau vào mùa khô, trực thăng Mỹ đổ quân ngay rún căn cứ của tiểu đoàn ở rừng làng An Nhơn đánh ngay trung đội trinh sát và quân y của tiểu đoàn. Hai bên cận chiến bằng tiểu liên. Quân Mỹ ở trên mặt đất chạy khơi khơi bị bắn chổng gọng bởi súng của trinh sát từ dưới hầm và công sự kiên cố quạt lên. Do đó Mỹ rút và kêu pháo giã gạo.
Xướng và chú bé Thưng cận vệ của tôi hi sinh cùng một số y tá của tiểu đoàn. Em Miền lúc đó mới 19 tuổi. Mái tóc xanh mướt của người vợ trẻ đã phải quấn vành khăn trắng trong khi đứa bé con của liệt sĩ còn nằm trong bụng mẹ. Nàng lấy xác chồng đem về chôn ở quê nhà. Còn chú bé Thưng thì cha mẹ đem về Sa Nhỏ nơi bé chào đời.
Tôi còn cậu bé Thuận đi theo, tôi đánh bao nhiêu trận Thuận có mặt bấy nhiêu. Sau này thành lập Trung đoàn Quyết Thắng Quân Khu, tôi làm Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng, tôi đề bạt Thuận lên Trung đội phó và đưa nó về Tiểu đoàn của Út Sương lúc bấy giờ đã lên Phó Chính trị viên Tiểu đoàn. Thuận hi sinh trong Tết Mậu Thân không rõ ở đợt I hay đợt II.
Bộ ba Xướng, Thung, Thuận đều chết. Chết thay cho tôi. Nếu tôi cưới vợ thì đất Củ Chi lại thêm một người đàn bà góa, bạn của Miền! Than ôi! Đất Củ Chi có là đất thép hay đất bùn thì nó cũng đã vùi chôn không biết bao nhiêu con người đổ máu và hi sinh vô ích cho nhóm lãnh đạo phương Bắc.)
Tôi nói.
- Đối với anh, không ai bằng em! .
- Anh không sợ Má văn công, Mông y tá sao?
- Ăn không được thì khuấy cho hôi. Đó là tâm lý người đời Cho nên họ phao đồn như vậy.
- Yêu em thì sau này đừng có ân hận nghe ông thầy pháo.
- Tại sao anh phải ân hận?
- Em không biết… Rủi anh nghe về em như thế này mà em ra thế khác thì anh hận chớ sao!
- Thế khác là thế nào? Anh chỉ thấy em như thế này. .
- Các chú các bác đến quân y nhiều quá , chú Tư Chuyền phát cáu đòi đuổi em vì em quến khách, lộ bí mật địa điểm. Có lần chú nói thẳng: “Đây là quân y không phải chỗ mấy ông uống trà. Có uống trà thì ra quán Sáu Tĩnh mà uống”‘
- Trong số khách đó có chú Lôi phải không?
- Anh chỉ đến có hai lần. Lần đầu đang ăn khoai mì nấu thì bị chị Là vô kéo về. Lần sau anh vô thăm chiến thương sau trận pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù.
- Thôi, anh không vô đó nữa. Từ biệt luôn Quân y!
- Tại sao?
- Vì em ở đây rồi, anh vô đó làm gì nữa . Anh có bị thương thì cũng ráng lết qua Bưng Còng chớ không dám vô C5.
- Có em săn sóc cho anh, không hơn người khác à?
- Đám y tá y tướng của em biết em yêu anh, chúng nó ghen, chúng cưa giò anh bỏ mạng!
- Anh nghĩ chuyện gì đâu không hà !
- Tình đời là thế đó em. Bất tài người ta khinh. Có tài người ta ghét. Anh được em yêu nhưng sẽ bị cả trăm người ghét, cả ngàn người thù.
Nga lặng thinh. Hồi lâu nàng nói:
- Em vừa nghe anh nói một lời quý báu. Nhờ đó em hiểu thêm đời.
Nga mở mắt thau láu ngó tôi. ánh trăng khuya lọt kẻ nóc chòi xơ xác lắp lánh trong mắt nàng. Tôi không ngờ đêm nay chị Hằng trên trăng lại làm cho Nga dưới đất đẹp đẽ bội phần.
Nàng quàng tay vào cổ tôi như vuông lụa phất qua và rủ rỉ:
- Em yêu anh quả là bất ngờ, không suy nghĩ. Kể từ gặp anh đến nay đã hơn một năm rồi. Lúa nào em cũng thầm ước gặp lại anh để nói với anh một lời. Em yêu anh như một người thầy, một người bạn và một người chồng.
Nàng hôn tôi thắm thiết. Cái hôn trút hết những tình cảm đè nén lâu nay. Tôi bảo:
- Em cho anh nhiều quá sợ anh không có gì để đáp lại.
- Anh chỉ yêu em là đủ.
- Anh yêu em suốt đời…
-…suốt đời, không phải chỉ suốt đêm nay nhé.
Tôi hôn nàng như một lời hứa.
- Nhưng em xin anh một điều.
- Em sợ có con?
- Không. Chính là ngược lại. Em muốn có một đứa con với anh. Vì thế lúc yêu, em không muốn có sự ngăn cách nào.
- Em nghĩ rằng anh nghĩ tới ai khác?
- Không! Đố anh biết em muốn gì?
Tôi ngờ nàng ghen với cô nọ nàng kia. Thực ra tôi yêu ai cũng yêu với tất cả trái tim, không nửa vời không lừa lọc nhưng chưa bao giờ tôi hứa sẽ cưới ai. Tôi đang suy nghĩ tìm câu trả lời thì nàng quơ tay vào túi tôi, bảo:
- Đưa em cái bóp của anh coi.
Tôi hiểu ý nàng.
- Anh bỏ trong sắc… Em định xét chứng minh thư nhân dân của anh chớ gì.
Nàng tát nhẹ má tôi, rồi cụng trán tôi, cười rút rích.
Nàng lần tay bấm từng nút áo bóp. Tiếng nút áo bật ra rắc rắc như tiếng pháo tí hơn. Tiếng khua xào xạo của vải vóc làm tôi ngây ngất. Đã nghe mùi da thịt và tràn ngập trong lòng hầm. Nàng lấy trong ba lô một tấm khăn trắng lót trên gối nằm lên, rồi bảo:
- Đêm nay chúng mình thành hôn. Em có lỗi với má vì không thưa qua một lời, nhưng nếu má biết em yêu anh thì chắc má rất vui lòng. Yêu em đi anh, chàng. trai lý tưởng của đời em! Nếu một trái pháo rơi ngay vào hầm trong lúc này em vẫn tìm thấy hạnh phúc chết trong tay anh.
Nàng nói những câu giống như tiểu thuyết. Mà tiểu thuyết thật! Củ Chi này là pho tiểu thuyết đẫm máu và nước mắt hãi hùng nhất của dân tộc Việt Nam. Chưa một tiểu thuyết nào của nhân loại hãi hùng hơn Củ Chi, hai tiếng Củ Chi. Góa phụ mười tám tuổi . Vợ chồng con cái chết chung một hầm. Đôi tân hôn nhận một món quà bất ngờ trong lúc giao hoan: một quả đạn pháo 105. Đau thương hơn nữa, đôi vợ chồng mới cưới dắt nhau về quê vợ đạp lựu đạn gài, người chồng tử thương !
Nghe đến cái hạnh phúc chết trong tay anh tôi như bị một luồng gió lạnh chạy qua xương sống, sửng sờ. Tự nãy giờ pháo Đồng Dù và Trung Hòa thay nhau nhịp trường canh cho dân Củ Chi ngủ yên hơn ở những nơi khác. Ánh sáng hỏa châu lọt tận góc địa đàng này. Tiếng oanh thỏ thẻ.
- Sao anh ngồi trân trân vậy?
Tôi giật mình đáp như máy:
- Em như đóa hoa đẹp, anh muốn ngắm thật lâu trước khi hái.
Thật vậy, thân hình nàng đẹp như một bức tượng pha lê sợ đụng mạnh sẽ vỡ tan. Ánh trăng mờ chiếu làm cho làn da ngà càng nổi bật. Tôi bắt đầu cúi xuống nụ hồng, nhưng nàng ghì đầu tôi xuống môi nàng, thầm thì:
- Hôn em trước. Em muốn nhận cái hôn đầu tiên của vợ chồng trước khi em…
Tôi không có kiên nhẫn nghe gì thêm.
Chúng tôi đã gặp nhau trong một phút liêng liêng ở đỉnh núi cao nhất của tình yêu. Tôi trong tay nàng. Nàng trong tay tôi. Những phút câm lặng. Những hơi thở và những tiếng tim đập nghe rõ như tiếng trống khải hoàn. Một cuộc chiến chinh, cả hai đều thắng. Đã toại hưởng, tôi vẫn còn say mê nhìn thân thể của nàng lấp lánh trăng. Tôi lại hôn nàng, hôn khắp. Nàng vụt ngồi dậy rút chiếc gối ra như giật mình.
- Coi chừng dính gối người ta biết!
Rồi nàng cầm lấy chiếc khăn trắng nâng lên, đưa cho tôi với tất cả tự hào.
Lúc ba tôi vào thăm tôi ở cơ quan Chín Lộc thì tình hình còn yên ổn, nghĩa là pháo vẫn giã gạo hằng đêm rung mặt đất, nhưng chợ An Nhơn vẫn còn xe nước mía, tài tử giai nhân qua lại dập dìu. Nhưng tôi đã phải gấp rút đưa ba tôi về vì sợ rủi ro thì tôi sẽ ân hận không biết dường nào. Bây giờ tình hình căng lên gấp mười lần. Pháo giả gạo không kể giờ giấc. Ngoài ra biệt kích còn thọc mạnh vào khu, hơn nữa xe tăng càn. Lần này lại có vợ chồng đứa em gái, em trai, cả một gánh nặng, cho nên tôi không muốn gia đình tôi ở lại lâu hơn.
Hai mươi năm xa cách, một lần thấy mặt mẹ và các em, như vậy cũng đủ rồi. Nếu muốn hơn thì biết bao nhiêu cho cùng? Trước khi chia tay với đứa con trai tưởng đã vùi thân nơi nào rồi, má tôi nhờ người đi chợ mua đồ về cúng. Má tôi bảo tôi lạy bàn thờ như thuở nhỏ tôi ở nhà mỗi lần có đám giỗ . Má tôi không vui khi biết tôi luôn luôn xông pha lằn tên mũi đạn. Má tôi bảo:
- Họ có làm gì mà con giết họ? Má ở nhà mấy chục năm nay đâu có ai động đến gia đình mình.
Thằng em tôi nhìn tôi. Tôi cũng nhìn nó trong làn khói hương lờ mờ . Hai anh em ruột nhưng mỗi đứa một đường cùng đứng bên mẹ ruột, còn biết nói năng gì với mẹ và với nhau! Thằng nào cũng có lý tưởng để tôn thờ. Thôi thì mạnh anh anh đi, mạnh em em bước. Má tôi vái cô hồn các đảng và những người khuất mặt khuất mày phò hộ cho tôi, chớ không vái câu nào cho em tôi. Hình như chỉ có tôi mới gặp tai nạn còn em tôi thì không. Má tôi dặn tôi:
- Con là chỉ huy, con đừng đánh lính như ông Tô Ký hồi xưa nghe. Con có thương họ, họ mới thương con. Con có nhớ tích Hán Cao Tổ bị giặc chém mà có người tướng là Kỷ Tín nhảy ra đỡ ngọn giáo không?
Câu dặn dò đó đối với tôi còn thắm thía hơn ngàn lần bài học chính trị của đời tôi.
Rồi phút chia tay phải đến. Tôi đưa má tôi và các em ra đường lớn. Tôi đứng nhìn theo bụng nghĩ thầm không biết bao giờ gặp lại má và các em. Bất thần tôi quỳ xuống đất gục đầu lạy má tôi hai lạy bụng thầm bảo:
- Con bất hiếu xin lạy má đền ơn sanh thành dưỡng dục.
 
 
Chương 73
Trở lại Năm Lê, con cọp trong hang.
Người xưa cảnh cũ còn đâu nữa.



Có lẽ tôi phải dùng một quyển sách riêng để ghi lại những trận đánh của Dương Đình Lôi từ mười bốn tuổi tới bây giờ thì mới phải. Không nhiều lắm, chỉ chừng non trăm trận thôi. Và bảy, tám lần bom đạn đã chiếu cố đến thân thể gã Thiên Lôi này, đã ban cho gã những nụ hôn có máu. ở trong bộ hồi ký này tôi chỉ xin ghi lại vài ba trận có liên hệ tình cảm, tình đất, tình người và tình yêu thôi.
Cho nên trận Suối Cụt do tôi chỉ huy xin gác lại, hẹn với độc giả ở một lần khác. Tiện đây tôi cũng muốn những ai là kẻ thù của tôi trước kia và là bạn bây giờ xin hãy quên đi những trận đọ súng so gươm cốt nhục tương tàn. Những trận chiến khốc liệt giữa những người cùng nòi giống.
Ai thắng ai bại thì đất nước cũng tan nát.
Sau trận Suối Cụt tôi lại được lệnh khẩn cấp về gặp Năm Lê, Tham mưu trưởng Quân Khu. Đời chiến binh của Thiên Lôi luôn luôn nhận được những lệnh khẩn cấp. Lúc nào tôi cũng chạy, chạy và chạy chớ không có đi đứng bình thường trên cái đất Củ Chi này, càng về sau càng chạy, cho đến ngày chạy tuốt ra Sài gòn mới dừng lại xã hơi và biết mình còn sống.
Xế ngày hôm tiễn biệt gia đình, tôi và mấy cậu tùy tùng giục ngựa băng ngàn. Chúng tôi đến nhà Năm Minh Xã đội trưởng xã Phước Thành, nhờ du kích đưa qua lộ 7 để xuống Phước Hiệp. Tới nơi thấy mấy chú du kích đang gầy sòng tu lơ khơ (một loại bài cào nhập cảng từ Trung Cộng mà suốt đời tôi không chơi). Tô chén uống trà lăn cù trên ván. Cô út Mít Nài (tôi gọi vậy vì cô ở ấp Mít Nài) nhìn tôi tình tứ. Cô là nữ sinh tập tễnh theo du kích và có ý định gia nhập đội nữ của Bảy Mô để làm dũng sĩ, nhưng không được chấp nhận, bèn xoay qua đi học trường pháo binh nhân dân của ông Thiên Lôi, nhưng Xã đội trưởng Năm Minh lại bảo: “Con gái gì đi thụt pháo!” Út Mít Nài tò vè xin súng của thằng Thuận lấy được trong trận Suối Cụt vừa rồi. Nhưng Thuận bảo: “Tụi bây đánh mà lấy, súng gì mà súng cho?”
Xã này chỉ còn mấy cái nhà hoang du kích lấy làm trụ sở với ba người Năm Minh, Tư Lan Xã đội phó và Út Nài. (Sau đó ít lâu Năm Minh bị khui hầm bắn chết
còn Tư Lan thì trôi dạt nơi nào tôi không rõ. Có lẽ cô nàng đã gia nhập đội công tác tình báo luồn vào thành, được trả lương, để làm hột nhưn cho cuộc đánh Tết Mậu Thân sắp tới.)
Út Lan dắt bọn tôi vào nhà anh Bảy Điếc bí thư. Vợ chồng không con, anh bị cà nông làm vỡ màn nhĩ không nghe gì hết chỉ ra dấu. Chi bộ còn năm người mà cũng rục rịch bỏ xứ vì không chịu nổi cà nông nữa. Tư Lan chỉ tôi một nóc nhà , bảo:
- Đó là nhà anh Lắm B phó B6.
Lắm chết ở trận Mỹ đổ quân ở Gò Nổi trên, sau khi chúng tôi pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù . Thiệt vô cùng đau đớn. Khi vào nhà thì tôi được biết bà già đang làm tuần ba tháng cho con trai. Bà mời lũ tôi ở lại ăn cơm. Tôi đốt nhang cắm lên bàn thờ thằng cán bộ của tôi mà cảm thấy mình có phần trách nhiệm về cái chết này, nhưng tôi lại nghĩ: “Rồi đến phiên mình phủi chân leo lên bàn thờ như nó, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?”
Đêm đó, bọn tôi ở lại nhà anh Bảy, được chị Bảy đãi cháo gà. Sau Tết Mậu Thân, Bảy Điếc bí thư xã Phước Hiệp, Tám Thiện bí thư xã Tân An đều bị moi hầm bắn chết. Hai Khứ lên thay Bảy Điếc lãnh đạo cái chi bộ không còn đảng viên, nhưng chỉ hai tháng sau lại cũng bị khui hầm.
Rời nhà Bảy Điếc, Tư Lan dắt bọn tôi đến nhà cô Hai Cảnh ở ấp Bàu Điều, cô Hai có đứa con gái sáu tuổi cũng không biết mặt cha như bé Hoàn, bé Rớt, bé Tiền mà tôi đã gặp trên đường chinh chiến. Khổ nỗi là cô không biết chồng chết trận nào, ngày nào để làm giỗ, mà cũng không biết chắc chàng đã ngã gục hay chưa để lập bàn thờ. Cứ lơ lững như thế mấy năm nay. Đêm đó tôi không ngủ được, trước mặt chập chờn bóng dáng má tôi và các em trên nẻo đường chia tay. Mãi gần sáng tôi mới chợp mắt.
Sáng sớm Tư Lan lại dắt chúng tôi đi tiếp. Nàng không cho hút thuốc vì sợ biệt kích bắt mùi. Nàng bảo một lần mấy ông mảnh đi phục kích nằm hút thuốc bị biệt kích phát hiện suýt bị chúng bắt sống ở Truông Viết.
- Truông Viết ở đâu? (Tôi chỉ biết trên bản đồ chớ chưa đạp đất vùng này.)
Tư Lan bảo:
- Cứ thẳng đường xuống xóm Ba Xa rồi qua một cánh đồng là tới Truông Viết. Từ Truông Viết anh về Bàu Tre gần lắm. Chỉ băng cánh đồng chừng hai cây số. Nhưng rất may rủi . Vì hễ gặp bà nốc thì nó xớt liền, không thể nào trốn được !
Tôi và nàng đi tụt hậu nên nàng than thở.
- Dân ở Bàu Điều ra ấp chiến lược hết rồi anh ạ. Từ đó xuống Ba Xa nhà cửa không còn. Không biết rồi du kích chúng em ở với ai? Trước kia có dân thì chúng em được báo tin truyền, bây giờ toàn cây cỏ lấy ai mà nhờ cậy?
Đi ngang một ngôi nhà ngó i, nàng bảo:
- Đó là nhà của ông nội anh Lắm. Ông giở vách phía đồng trống vì trước kia bà nốc cứ rà sát. Thằng Mỹ ló đầu ra kêu Vixi! Vixi? Từ ngày ông đưa ruột gan ra cho nó xem, nó không quần nữa.
- Ở đây mấy em thường dùng hầm bí mật không?
Tư Lan xua tay:
- Hổng được đâu anh Hai ơi.Ông Bảy Điếc nghe nói các xã khác đào địa đạo trốn đã lắm, ổng cũng muốn chơi với địa nhưng đất này chỉ đào hầm bí mật cũng không được rồi, nói chi địa đạo. Mực nước lên đụng nắp hầm ló lỗ mũi lên, xuống đó có mà chết ngộp.
Đột nhiên tôi hỏi:
- Lâu nay em gặp Năm Cội không ?
Lan thẹn thùng đập vai tôi:
- Anh Hai hỏi em làm gì chuyện đó. Tụi em chưa có gì đâu. Từ ngày phối hợp nhau ở Cây Trắc đến nay tụi em đâu có gặp nhau nữa.
- Thằng Cội nó khen em lắm! Nó bảo tụi dũng dĩ Bảy Mô không có đứa nào bằng em. Chúng nó chỉ được cái tiếng thôi còn thực chất không có gì.
- Anh Cội cũng như tụi em, sáng bữa nào cũng dắt một tổ xuống Bò Cạp leo lên cây xoài mút canh chừng xem tụi Mỹ ở Đổng Dù có vô không? Tuy cũng khổ nhưng mấy ảnh còn có khoai, mì đào lên để luộc ăn thay cơm, còn tụi em thì đi đâu cũng gói cơm theo. Có khi ăn khín của mấy đứa nhỏ chăn trâu từ ngoài Cây Trôm thỉnh thoảng ló vô trong này! – Nàng vừa nói vừa liếc tôi, rồi đột nhiên hỏi – Sao anh không tìm chị Hai đi?
- Bận rộn thế này, có thì giờ đâu mà tìm, em?
- Anh lựa chọn kỹ quá, hay anh có hứa với ai?
- Hứa…thì cũng có hứa, nhưng phải chờ ngày dứt chiến tranh mới thực hiện được.
- Xin lỗi người ta nhé. Anh hôn em một cái kỷ niệm đi.
Tôi chỉ nắm tay nàng nâng lên và khẽ đặt một cái hôn:
- Anh hôn bàn tay em để em bóp cò súng chính xác cho Năm Cội nhờ!
Nhìn ra phía Quốc Lộ I tôi hãy còn thấy mấy chiếc xe đò lù mù trong sương sớm. Tôi hình dung má tôi đang trên đường vềé Tôi nghe hai giọt nước mắt rơi. Tôi vội gạt nhanh và quay mặt đi, không cho Lan thấy. Lan nói:
- Anh nên nhớ mấy nơi em chỉ, để sau này giàn quân thì biết đường tiến thối. Kia là xóm Gia Bẹ, còn đó là Truông Viết rồi kế là Sở Ba Lăng sát với Bàu Tre. Đường Hai Làng chạy ra Gia Bẹ thẳng xuống Cây Sộp trước cổng Đồng Dù, đụng Ngã Tư Trùm Tri tức là lộ 8.
Tôi đã từng xuống Phú Hoà Đông một lần (gặp Bảy Nô) nên biết đường Một Làng, đường Hai Làng còn phía trên là Bò Cạp, Bàu Chứa, Bàu Tròn. Các xóm này đều ngăn cách Đông Dù bởi con suối Bà Cả Bảy. Con suối này chảy từ ngả Ba Sòng đổ xuống Gò Nổi, Trung Hoà ra rồi mới cắt ngang cánh đồng Bàu Chứa với hương lộ số 2. Nó bao vòng phía Bắc Đồng Dù rồi giáo ranh Tổng Thế trước khi đổ ra sông Sàigòn. Tôi hỏi Tư Lan:
- Em có tham gia xây dựng vành đai thép không?
- Đai thép là cái gì hở anh?
- Hồi mới đến đây công tác anh được cấp trên phổ biến rằng Đồng Dù bị siết trong vòng đai thép. Lính Mỹ không dám ló đầu ra vì sợ súng du kích tỉa!
- Hổng biết có ở đâu không ! Chớ em cầm súng đã bốn năm mà em chưa nghe ông du kích nào nói đến cái đó cả.
Các xóm Phú Hiệp, Cây Sộp, rừng cao su, Sở Bà Hộ đài lên Bò Cạp, Bàu Chứa, Bàu Tròn cả Bàu Trăn của xã Phú Hoà Đông và Nhuận Đức đều bị xe tăng càn ủi trống trơn. Còn phía trên Quốc Lộ 1 thì các xóm Gia Bẹ, Xóm Mới, Truông Viết, Trảng Lắm cũng bỏ ra Trung Hoà và ấp chíến lược Cây Trôm. Du kích Phước Hiệp còn phải ly hương chạy tuốt lên Bàu Điều thì vành đai nằm ở đâu? nếu không ở trên đài Giải Phóng và đài Hà Nội hoặc trong sự tưởng tượng của ông Tám Quang? Đột nhiên Tư Lan hỏi:
- Anh có muốn mạ vàng không?
- Trời! cái thây anh như vầy, lấy vàng ở đâu ra mà mạ.
- Anh khỏi lo. Anh chỉ cần đào một cái hầm bí mật rồi chun xuống đó chỉ một ngày, leo lên, cả người anh sẽ vàng như nghệ.
- Tại sao vậy?
- Đất ở đây ngập nước và phèn đọng dữ lắm!
Chúng tôi ghé nhà má Hai, má của chị Cảnh xin cơm ăn. Lan cho biết ở cái xóm Bàu Điều nhỏ bé này cũng có vài ba ông mùa thu về đóng chốt. Ở nhà kế bên là nhà bà Bảy, má của Tư Nở. Sau mấy trận đụng Mỹ ở Sa Nhỏ, Lộ 6… cán bộ của đại đội 3 tiểu đoàn Quyết Thắng chết nhiều quá. Tư Nở ở trên R về làm đại đội phó C3 cũng bị thương. Sau khi lành, được về nhà ở Bàu Điều hơn mười ngày thì làm đám tuyên bố và chỉ một tháng sau bị thương ở Suối Cụt phải cưa giò, được cho về R an dưỡng nhưng ổng từ chối. Ổng về ở nhà vợ, chống nạng gỗ đi khắp xóm.
Ngoài bom, pháo, Nở không sợ gì nữa. Bên Việt Cộng không xài, còn bên Quốc Gia thì cũng không đánh làm gì một phế binh. Người trong xóm bảo:”Cụt giò như Tư Nở thế mà sướng. Khỏi chui hầm bí mật mà cả hai bên đều chê, không dám đụng tới! Thiệt là khoẻ vô cùng!”
(Sau năm 68 chính mảnh đất nước mặn đồng chua này đã chôn vùi thân xác lẫn tên tuổi của Ba Kiên, anh hùng Điện Biên. Vô đây được phong chức Tư Lệnh phó Quân Khu.
Sẽ kể chi tiết ở quyển sau)
Cũng ở đây, người em ruột của Năm Tiền (Trung đòan trưởng của bộ tác chiến Quân Khu) tập kết mới về mấy ngày cũng chết, bỏ lại một vợ hai con là thằng Cào 14 tuổi, con Thanh 18 tuổi. Năm Tiền đem đi theo hụ hợ.
Goá bụa cho đàn bà, chết chóc cho đàn ông. Không ở đâu như ở Củ Chi. Lại cũng ở xóm này thằng Rắc biệt kích chết hụt vì mình Trung Quốc. Nó vừa đi qua thì một tên lính bước tới đạp trúng, nổ tan xác. Nó về đồn lập một cái miếu nhỏ để thờ Thổ Địa đã không vùi hắn dưới đất.
Tôi ghé vào quán bên đường mua một chai đế, một chục rê thuốc giồng, mấy cuộn giấy quyến trao cho Tư Lan như một món quà đền ơn nàng đưa đường.
- Em về nói anh tặng cho ông già.
- Sao anh biết ba em ghiền rượu?
Tôi chỉ cười, phút chia tay không một hứa hẹn. Từ đó tôi không gặp lại nàng nữa.
Từ đây trở vô rún Củ Chi thì đi với hai cậu trinh sát của tôi khá an toàn. Tới quán Chín Khuân tôi tấp vào kiếm cái gì bỏ bụng rồi lội tiếp. Gặp nàng, tôi chưa kịp nói gì thì đã bị nàng a-lát-xô. Nàng hôn tôi túi bụi, vừa hôn vừa làm bàn:
- Quỉ mắc dịch đâu á. Hổng hun em thì em hun đại.
Nàng hôn như mưa rồi buông tôi ra. Thằng Thuận và thằng Thưng vỗ tay cười ha hả. Chín Khuân kêu thằng Thưng bằng chú lớn.
- Mày làm gì vậy con nhỏ?
- Hun anh Hai chớ làm gì?
- Bộ mày thương ổng rồi sao?
Chín Khuân vênh mặt:
- Ừ đó! Rồi sao?
- Thương thì thương chớ đâu có sao?
Đang ngồi ăn bánh ú thì liên lạc chạy tới, thở hồng hộc:
- Anh ở đây mà tôi tưởng anh còn ở ngoài Mít Nài với chị Út.
Rồi hắn đưa cho tôi một lúc hai cái thơ hoả tốc. Lại hoả chạy bay tóc. Một cái của D phó Chín Câu, một cái của E trưởng Ba Châm. Tôi mở ra.
Anh Hai,
Về mau. Mình làm một bữa tiết canh rồi kéo xuống quê hương Bảy Nô nghĩ dưỡng quân vài ngày. Tôi đã cho C3 và C4 hành quân. Còn đợi anh nữa thôi.
Chín Câu.
Thơ của Ba Châm chỉ có mấy chữ, nguyên văn như sau:
Đ/c Lôi,
Được thư tôi, đồng chí đìu động xuống Phú Hào (Hoà!) lặp tức. Mọi kế hoạc đã xẵn xàn. Chờ đồng chí.
Ba Châm.
Tôi giục mấy cậu trinh sát đi thẳng lên đầu trên xóm Sa Nhỏ gặp Chín Câu ăn tiết canh xong sẽ bàn kế hoạch hành quân. Chắc Ba Châm cũng xáp vô đó. Chín Câu là dượng rể của dũng sĩ Bảy Mô. Anh tập kết về được vài năm. Vợ con cả bầy đứa nhỏ nhất đã 10 tuổi. Nghe tôi nói, Khuân bảo:
-Ông Chín Câu chết rồi!
Thưng hét:
- Con nhỏ nói bậy đi! Thư hoả tốc mời anh Hai về nhà ổng ăn tiết canh nè. Coi hôn?
- Ừ! thì về đó đi đám ma luôn! Ổng bị một trái pháo mồ côi Trung Hoà hồi hôm qua. Ổng ghé đây mua một chai đề và vài món lặt vặt. Tôi hỏi ổng đãi ai. Ổng nói đãi bạn. Té ra là anh Hai. Ổng còn nói đi về nhà bắt hai con vịt.
Tôi đứng sững sờ không còn biết nóigì. Chín Khuân tiếp:
- Tới tối thì y tá C3 đến mua đồ nói ổng chết rồi. Bị trúng có cái miểng nhỏ xíu sau ót mà chết.
(Giống y như trường hợp thằng Chi ở Gò Nổi lúc di chuyển pháo bắn Trung Hoà, bị Trung Hoà bắn trả, giết một D phó)
Chín Khuân còn nói thêm:
- Anh Hai kỳ này đi đánh Tân Qui phải cẩn thận đó.
Thưng quát:
- Bậy nào! Ai bảo mà mày biết!
- Ở đây đồng bào hay hết rồi! Nghĩa trang đã đào sẵn huyệt kia kìa!
Thưng càu nhàu.
- Con nhỏ này nói chuyện nghe ghê bỏ mẹ!
Quả thật ở đây cái chết là vậy,
Mới thấy đó bỗng nhiên liền rụm đó
Hỏi ở đâu? Chỉ ở Củ Chi.

Bảy Chính C phó có lần đùa với cô Hai Lơn ở ngoài Đồng Lớn. Mẫu chuyện đã thành giai thoại.
- Ở đời này em muốn cái gì anh cũng cho em dc!
- Em chỉ muốn tiền.
- Anh cho em cả người anh, không trừ cái giống gì hết, em có nhận không ?
- Cho tiền thì em nhận, cho người thì không. Vì mắc công lập bàn thờ.
- Em ơi! Cho anh ngủ với em một đêm để sau này em có Bảng Vàng Danh Dự mà treo trong nhà hãnh diện với người ta .
- Thôi đi anh ơi. Thời buổi này lấy chồng đánh xe bò, làm ruộng chắc ăn hơn.
- Đánh xe bò cũng không chắc nghe mậy! Ông Hai trong tổ đánh xe bò của má mày cán mìn của du kích banh xác cả người lẫn bò thì sao? Ông Mười cũng vận tải gạo bằng xe bò bị pháo cũng chết. Có cái gì chắc đâu mậy!
Mà thật, sau đó ít lâu Bảy Chính chết trong trận đánh xe tank càn vào Bàu Đưng. Không một cán bộ đại đội nào còn sống sót sau khi chiến tranh kết thúc. Cái đáng nói là chết vì bom đạn rất nhiều mà chết vì mìn lựu của quân ta cũng không ít. Ở trong vườn thì quân Mỹ không đi tới, nó chỉ cho xe tăng ủi và bắn pháo, do đó du kích đem mình và lựu đạn ra gài ở ngoài đồng, chiến sĩ, cán bộ ta hay đi tắt còn nông dân thì đi làm ngoài đồng đạp phải. Có anh du kích gài xong luýnh quýnh đạp trái mìn của mình gào. Có anh lại đạp lựu đạn gài của đồng đội. Tội nghiệp thay có anh đi đồng cũng đạp mìn. Đau đớn hơn nữa có anh không rành cách xử dụng làm mìn nổ trước khi gài. Nhất là mình Trung Quốc, loại mình này (do Tám Nhiên trên R xuống chỉ dẫn cách xử dụng) đã giết quân ta bộn.
Đau buồn nhất và cũng trớ trêu nhất là Năm Tiều là người thông thạo các thứ vũ khí và là cán bộ trung đoàn lại chết vì một trái mìn Trung Quốc do bộ đội gài, cũng trên cánh đồng trứ danh Sa Nhỏ.
Tôi phải đến vĩnh biệt Chín Câu. Cảnh tượng thấy hết dám nhìn. Bà vợ và bầy con đứng bên quan tài, đầu bịt khăn trắng lớp. Chín Câu nằm im trong hòm gỗ. Tôi không kịp vuốt mặt anh nữa. Củ Chi mênh mông với bàn chân vạn dặm lội bộ của tôi nhưng vô cùng bé nhỏ trước họng pháo và dưới cánh B52. Chúng tôi chôn Chín Câu ngay trong khu vườn của anh. Như vậy cũng toại nguyện cho vong hồn anh vì lúc ở Bắc, chúng tôi thường nói với nhau, có chết thì ráng lết về Nam mà chết.
Trên đường về lúc đi ngang Ba Sòng, tôi ghé lại nghĩa trang để đốt nhang trên mộ thằng Chi và khấn vái vong hồn nó phù hộ chúng tôi. Lúc nó nằm xuống thi mảnh đất này mộ còn thưa thớt, bây giờ thì đồng đội ta chen chút với nhau. Gai mắc cở cùng cỏ hoang tràn lan hầu như phủ che kín mít. Tôi phải tìm hồi lâu mới nhận được mộ thằng Chi.
Chúng tôi đi vào Bàu Đưng rồi cặp theo rừng Làng Chắt qua sở Đất Thịt tới xóm Trại Bà Huệ. Dấu xích xe tăng còn hằn sâu hoắm trên mặt đất. Tre trúc trong vườn cháy đen còn bốc mùi khét khắp cánh đồng. Không còn một nóc nhà nào ló nóc trong vưòon như cách đây mấy tháng. Sư đoàn 25 của Mỹ vào dẫm nát Củ Chi.
Chúng tôi đến hầm Maginot của Năm Lê để nhận lệnh mới. Sự rào rắp hòng ngự càng rườm ra và trắc trở thêm lên. Chu vi an toàn càng mở rộng thêm ra. Không biết ông xã đội trưởng Ba Xây bị bắt trong trận tổng ruồng Junction City nay ở đâu. Đã đi đày hay được trở về câu tôm tiếp tế cho gia đình ngoài ấp chiến lược? Tôi không dám đi đến gần hầm Năm Lê chỉ đứng xa xa réo to lên. Có tiếng quát trả:
- Ông nội nào la um vậy?
Nhận ra tiếng quen, thằng Thưng chỉ cười gằn:
- Ông cố nội tụi bây chớ không phải ông nội đâu!
Một chốc có người xuất hiện bên hàng khoai mì còn xanh. Hai gã bảo vệ trông thấy tôi reo lên:
- Anh Hai mà tụi này tưởng ai!
- Tụi bây rào chà tre như lưới cá, tao không biết ngã nào mà vô.
- Biệt kích xe tăng dám tới đây lắm anh ơi.
- Tụi bây làm vầy chẳng khác nào bảo chúng nó: Lạy ông con ở bụi này!
- Ông lớn bảo, không làm được sao?
Tôi nhìn ra Tám Nghi, thượng úy, tay xạ thủ trứ danh từng chiếm huân chương ở Đông Âu trong cuộc thi bắn tám nước XHCN, vẫn còn ở đây. Mái tóc bơ phờ như đám tre bị bom, còn cái mặt thì dài ra, trông không giống thuở nào nữa. Hai đứa ôm mừng nhau trào nước mắt. Tôi hỏi Nghi về ông Ba Xây. Hắn bảo:
- Ngày nào cũng nơm nớp lo sợ ổng dắt Mỹ và biệt kích về. Du kích thì chạy ra Bến Mương không còn đứa nào ở đây để nhờ cậy nữa.
Tám Nghi dắt tôi lách qua những ngách hang vẫn như trước để bệ kiến ông Thần Núi rồi hắn lui ra ngay. Lần này Năm Lê có thêm nhiều nếp nhăn trên trán và ở hai bên khoé miệng. Dưới ánh đèn cầy lờ mờ hiện rõ lên nước da vàng ngoách của anh. Năm Lê bắt tay tôi và hỏi ngay:
- Bà già mạnh hả?
- Dạ cám ơn anh, tôi gặp má tôi mà tôi tưởng là bà ngoại tôi hồi ở Tân Bửu.
Câu nói hồn nhiên của tôi làm cho anh sững sờ một thoáng. Anh nói:
- Đã hai mươi năm rồi chớ phải hôm qua sao mậy?
Làm việc với tôi, anh luôn coi tôi như là em út hơn là cán bộ cấp dưới của anh. Và tôi cũng cảm thấy anh là một người anh đầy kinh nghiệm và mưu lược ở chiến truờng hơn là cấp trên của tôi. Bằng một giọng xúc động anh nói:
- Bà già tao ở dưới Bạc Liêu còn sống hay chết, tao cũng không biết.
Lần này không ngồi lâu trong hầm, mà anh dắt tôi ra ngoài, ngồi ở gần bờ tre. Tôi có cảm giác anh là cái cây sống trong chậu úp, là con cọp chỉ ở trong hang. Chỉ ở trong hang thì cọp đâu còn là cọp? Anh vô đề ngay.
- Mày rành địa hình ở Tân Qui không ?
- Dại chỉ biết trên bản đồ.
Anh bẻ nhánh chà tre vẽ dưới đất và giải thích:
- Đây là đường số 8. Đây là đường 15. Gần ngã ba là chi khu Phú Hoà. Tụi Sàigon đang đóng dã ngoại trong vườn cao su ở phía Tây chi khu. Còn đây là Đồng Dù. Phía bên kia là thị xã Bình Dương. Trinh sát báo cáo tụi nó đang căn lều trong vườn, không có công sự gì cả. Nhưng tao không tin lời báo cáo ẩu đó. Mày nhớ hồi 46 đánh đồn Bến Súc không?
- Dạ nhớ chớ anh Năm.
- Cũng do sự tiên liệu ẩu của ban chỉ huy, mình đào hầm chưa tới đồn mà tưởng là ở giữa đồn rồi nhô đầu lên là bị nó tiêu diệt gần hết đơn vị. Người chỉ huy hiện giờ trong tình trạng bán du kích bán chính quy chỉ có một cách tiết kiệm xương máu anh em là phải rõ địa hình trước khi giàn trận. Sở dĩ mày đánh Suối Cụt chớp nhoáng gọn gàng là nhờ nắm chắc địa hình. Đừng bao giờ tin ở trinh sát 100%, thậm chí 50% nghe tụi nó báo cáo, phải kiểm tra mới chắc- Rồi anh tiếp- Đánh trận này chậm nhất là nửa giờ phải rút ngay, nhanh là mười phút. Pháo Bình Dương sẽ câu qua chớp nhoáng. Trên đường rút lui sẽ bị sát thương nhiều hơn ở trận địa.
Anh từng là Tư Lệnh pháo Sư đoàn nên nói rõ thêm chức năng của pháo:
- Pháo là linh hồn trận địa. Liên Xô bị Đức tấn công bất ngờ là một yếu tố, nhưng còn một yếu tố nữa. Đó là nó bắn đến mật độ một quả cho một thước vuông. Xong cho xe tăng càn nhẹp hết rồi mới tới bộ binh. Tụi Sàigòn bây giờ cũng chơi kiểu đó! Nó giã cho nhừ đất rồi mới đổ quân.
Anh ngừng một chốc rồi tiếp:
- Mình biết cái chiến thuật của nó nhưng không có cách phá. Chỉ có một cách là ráng gồng mình đội bom pháo chờ tụi nó đổ quân tiếp cận mà đánh bằng súng bộ binh thôi.- Anh thở dài – Xương máu đầy đồng. Hi sinh nhiều quá!
Anh có vẻ suy tư. Trán anh nhăn cộm lên như giồng khoai:
- Tao không hiểu nếu bỏ Napoléon vô Củ Chi này thì nhà quân sự thiên tài đó sẽ xoay sở ra sao? Chắc chắn đây là một Waterloo thứ hai của ổng.
Rồi anh vỗ vai tôi:
- Cố gắng nhé. Tôi đã chỉ thị cho Ba Châm rồi, nhưng y già, chậm lụt và quen kiểu đánh Pháp, sợ không thích hợp với Mỹ đâu. Tôi cũng đã bảo Năm Tiều xuống góp ý với Ba Châm! Bây giờ còn sớm, cậu ở ăn cơm chiều với tôi.
- Dạ cám ơn anh Năm, để khi khác! Bây giò tôi phải dông ngay cho kịp đơn vị.
Anh kèo nào:
- Tao có lít rượu nếp than đây mà chưa uống, mày ở lại làm vài ly!
Biết tôi không muốn ở lại, anh bảo một cậu bảo vệ đem chai rượu ta. Màu rượu tím than ngon lành. Thứ này uống ngọt và say đằm chớ không hỗn như đế. Anh rót cho tôi một ly bầu, và bảo:
- Uống hết đi, cho nóng máy.
Tôi rốc cạn một hơi rồi đứng dậy. Anh bước theo tôi:
- Còn vụ vợ con mày ra sao rồi?
- Dạ, tôi chưa tính gì hết anh Năm.
Anh ngần ngừ một giây rồi nói:
- Băm mấy rồi?
- Dạ 34 ta, 33 Tây.
- Đây rồi cha già con muộn. Khổ lắm em ơi!
Anh vỗ vai tôi lần nữa, rồi ôm chầm lấy tôi. Chúng tôi chia tay lặng lẽ trong ánh chiều vàng vọt yếu ớt rơi trên những đọt khoai mì lắc lư trong gió nhẹ.
Tám Nghi đích thân dắt tôi ra khỏi vành đai bố phòng. Năm Lê đã sấp lưng vô hầm còn quay lại bảo Tám Nghi:
- Cậu dắt tụi nó, kẻo lớ quớ đạp mìn lãng nhách.
Tám Nghi nói:
- Lần này mày đi Tân Qui là đụng Trung đoàn 7 của Sư đoàn 5. Tuị nó xơi gần rụm Tiểu đoàn Phú Lợi mầy biết chớ?
Chúng tôi bắt tay nhau. Tám Nghi nói nhỏ rí:
- Chúc mày thành công.
Tôi và mấy cậu trinh sát nhắm Bến Mương trực chỉ. Xa H6 đã khá lâu, tôi nhớ như nhớ nhà. Đó là quê hương thứ hai của tôi. Nó mang nhiều thành quả trong một năm trời tôi chỉ huy H6. Nay trở lại xem nó ra sao. Đường đất bây giò hoang tàn. Trước kia mỗi lần vào làm việc với Năm Lê tôi đều đi xe đạp. Bây giờ thì không được nữa. Đường bị bom cắt đứt như thân rắn bị chặt ra nhiều khúc. Lòng tôi xao xuyến như thưở bé đi học về gần tới nhà gặp má.
Tới nhà Năm Giáo và Sáu Lễ, nơi cái địa đạo băng xuyên qua vườn, nơi tôi chết ngộp và được cứu sống bằng mảnh vải tẩm nước tiểu của cô Thu nuôi quân.
Cây cối ngã liệt địa, vườn tược trống trơn. Tôi sững sờ nhình thấy bên kia vườn má Hai: Bốn ngôi mộ song song. Cả gia đình má nằm đó: Má, vợ chồng thằng Út và đứa con năm tuôi vì xuống hầm mà chết ngộp. Ngôi nhà ngói của má đã dời đi đâu rồi. Chỉ còn lại cái nền với một miệng hố ở giữa toang hoác như cái mồm gớm ghiếc của Sáu Vi khi hắn ra lệnh tấn công (nướng quân) “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh “.
Ngôi nhà của má Mười chỉ còn một chái gần cây vú sữa phiá mặt trời lặn. Vắng hoe không một tiếng người . Gốc cau thân dừa đều mang vết thương. Còn tôi thì mang vết thương trong tim. Một cảnh điều tàn bày ra trước mặt tên lê dương khiến hắn chạnh lòng trong giây phút. Tôi bước đến dãy mồ bỏ ba-lô xuống, lấy bó nhang ra bật lửa đốt và cắm lên các đầu mộ. Bọn thằng Thưng, Thuận và Xướng ngó tôi với cặp mặt lạ lùng . Chúng nó không ngờ tôi làm như vậy. Tôi khấn vái:
- Xin vong hồn má Hai, vợ chồng em Út và cháu bé phù hộ cho chúng con…
Tôi nghẹn ngào không nói được nữa. Tôi quệt ngang nước mắt rồi xốc ba-lô lên vai. Xướng nói:
- Anh Hai còn nhang cho em ít cây để cắm mộ má.
Tôi đi ven theo bờ, bước lên những mô đất còn nguyên đi xuống bến sông nơi đã ghi biết bao kỷ niệm êm đẹp của tôi ở H6 này. Gốc dừa to còn đứng đó, chưa bị thưong nhưng chừng nó gầy đi đôi phần. Cái bẹ dừa nơi vợ thằng Út nhét cục xà-bông thơm để anh Hai tắm, đã rụng từ lâu. Cục xà-bông còn bằng ba ngón tay tôi cất vào đó để tắm lần sau, chắc đã bị mưa tan lâu rồi, nhưng mùi hương vẫn còn phảng phất đâu đây. Cây dừa um tùm nghiêng ra mặt nước , trước kia chim chóc đều ăn trái chín vẫn còn đó, nhưng không còn một tiếng chim. Nơi cái bến hạnh phúc này tôi đã hôn Lan, đã tập cho nữ phóng viên Nhã Nam bơi… Nhưng nó lại trở thành cái bến oan nghiệt của một đoá hồng nhan: cô văn công R Thiên Lý. Nàng trở về thăm nhà và đã nhảy xuống sông tự vận khi thấy cả gia đình đều năm dưới mộ. Chính chúng tôi đã cứu sống nàng và tôi đã đưa nàng ra Quốc Lộ để nàng đi ra sống với bà dì ngoài thành, vĩnh biệt ánh sáng sân khấu R. Cho tới này tôi vẫn nhớ như in nét mặt của nàng. Má Hai đã từ ngoài ấp chiến lược về để xem mặt tôi và chị ruột nàng âm thầm nuôi ý định xe duyên cho tôi với nàng.
Tất cả những cuộc tình duyên đậm đà của tôi đều tan vỡ. Dòng nước chảy mạnh từ Cây Điệp ra và Rạch Sơn như cuốn băng đi những mảnh tim tôi tung ra sông lớn chảy ra khỏi thành bọt biển tan tác bốn phương.
Bỗng có tiếng gọi:
- Anh Hai! Anh Hai!
Tôi quay lại thì thấy thằng Đỏ. Nó là liên lạc, là cận về và là bạn tâm tình của tôi. Hai anh em đã nằm khoanh bên nhau dưới cái hầm không nóc, nhưng có lớp rơm mà ngủ những giấc tuyệt vời, ngày tôi về nhậm chức ở H6.
Đột nhiện tôi buông tiếng hỏi:
- Tám Lù còn ở đây không?
Tám Lù là ấp đội trưởng ở bên cạnh cơ quan, có ý định đưa chồng Út đi dân công để ở nhà ve vãn vớ Út, nhưng tôi thu nhận cả hai vợ chồng Út vào tổ sản xuất cho H6. Rồi Tám Lù đã trở thành công tác viên và đồng hành dưới địa đạo của tôi trong trận tôi chết hút. Thằng Đỏ đáp:
- Không rõ ảnh đi đâu mất tiêu.
Trên chiếc băng gỗ tôi thấy chiếc quần cũ. Chắc là thằng Đỏ đang vá quần.
- Mày có về thăm ngoại không Đỏ?
- Dạ không?
Tôi vừa đến văn phòng cũ của tôi thì thấy vợ chồng Thu-Quản. Chắc họ đã móc được gia đình. Tôi thấy Thu đeo ba-lô ngược. Nàng đã có bầu. Trời ơi! Có bầu ở đây rồi đẻ ở đâu hỡi Trời. Có lẽ họ cũng nghĩ đến chuyện đó. Kệ nó! Đó cũng là đường lối của đảng. Tôi không còn biết hỏi thăm ai nữa. Vì hầu hết đều văng mặt, thay đổi từ ngày Năm Thủ về thay tôi. Năm Thủ với vẻ mặt không hào hứng lắm dắt tôi đến nhà Sáu Phấn, người chánh trị viên thời Hai Giả, thời Thiên Lôi và bây giờ vẫn còn là chánh trị viên H6. Mặt Sáu Phấn tóp lại, hàm răng trên nhô ra, nhìn tôi với cặp mắt mừng rỡ.
- Thầy Hai!
Rồi y oà lên khóc. Một thằng đàn ông trên bốn mươi tuổi đầu mà khóc như vậy làm tôi bỡ ngỡ không biết nói sao. Cái mặt của y méo xệch trông thật thảm thương. Tôi hỏi:
- Chị Sáu đâu anh?
- Ra Phú Hoà Đông hết ráo rồi. Dì Mười và con bé Hoàn không có trở về. Chỉ nhắn thăm.
Tôi nhìn qua nhà Mười, tổ ấm của chúng tôi mới hôm nào này xiêu vẹo hoang tàn. Tim nghe đau nhói. Còn biết nói gì khi chẳng có người nghe những lời âu yếm của tôi.
Sáu Phấn đánh tan sự im lặng:
- Thầy ghé đây rồi ra Tân Qui hả?
Tôi không đáp, bụng nghĩ thầm: Sao ai cũng hay tin hết vậy? Từ quán Chín Khuân vô tới đây. Thì ra ngoài đó chắc cũng rõ. Đánh làm sao?
Tôi và Năm Thủ ở lại nhậu với Sáu Phấn. Y than:
- Từ sau trận Mỹ xúc cả heo nái lên trực thăng tới nay, đồng bào xuống tinh thần quá thầy Hai.
- Để dần dần rồi họ lên thôi anh à!
Tôi trở lại căn phòng thì thấy thằng Đỏ đang ngồi chăm chỉ vá cái quần cũ. Hình tượng đó chẳng khác nào quân khu đang cố gắng vá cái quần rách Củ Chi này vậy. Nó đã mục, vá thì cũng tạm lành nhưng rồi sẽ rã nguyên con. Đỏ hỏi:
- Anh Hai không đem em theo được sao, anh Hai?
Tôi lắc đầu.
- Ở H6 bây giờ buồn quá anh ạ. Anh Quản và chị Thu tối ngày ở trong hầm. Cả đơn vị không biết làm gì. Chiếc xuồng đã bể không còn đi chài bắt tôm được nữa.
Bất ngờ, Tám Đột xã đội trưởng đến, tay xách con gà.
- Thầy phải ở lại nhậu rồi có đi đâu thì đi. Thầy rời khỏi H6 rồi cả Bến Mương này buồn hiu. Ông Ba Châm đánh Cây Trôm, khiêng về năm cái băng ca. Trong đó có cái của ông Ba Hà đại đội trưởng nữa. Ông Ba Châm giao cho chúng tôi chôn. Tôi bảo không có ván đóng hòm. Ông bảo: “Không có thì khắc phục làm sao đó thì làm! Du kích du kiếc gì ra trận khiêng chiến thương thì bỏ chạy về hậu phương không chôn được tử sĩ thì còn làm được việc gì?” Tôi. Tôi đành nhận rồi đào lỗ dập chớ biết làm sao? Không có một người dâh. Tôi chạy đi tìm chị Hai Xót thì chỉ cũng đi biệt tích lâu rồi.
Ngẫm nghĩ một hồi rồi y tiếp:
- Anh Hai! Anh tính sao thì tính chớ tụi Mỹ thế nào nó cũng chốt ở An Nhơn. Từ đó vô đây chỉ tàn điếu thuốc. Tụi tôi phải vọt qua sông thôi. Hỗm rày ngày nào xe tăng cũng cà rịch bên Bà Thiên, ngồi ở đây mà nhức xương. Còng cọc nó dội nát dốc cầu Bến Mương. Cường độ chiến tranh tăng lên quá mức.
- Sao nó đánh dốc cầu?
- Nó sẽ san bằng rồi bắc cầu mới đề xe tăng chạy chớ không phải nó bỏ chỗ này đâu.
Chờ khách đi hết Thu mang cái bụng bầu lạch bạch xuống hầm rồi đem lên cho tôi một cái gói bằng chiếc gối đệm.
- Của ai vậy?
- Đố anh biết của ai?
Tôi không đoán nổi.
- Anh mở ra thì biết.
Tôi bóc nhanh lớp ni-lông bên ngoài rồi lớp giấy dầu bên trong. Một bộ đồ và một chiếc khăn trắng có đốm như những chiếc hoa hồng khô. Bên trong chiếc khăn là cái đồng hồ và một bức thư. Tôi đọc nhanh. Dưới cùng ký tên :Mính!
Mính đã yêu tôi và cho tôi hết tất cả trong một đêm Mỹ sắp đổ quân và gia đình chuẩn bị bỏ cái tiệm ở chợ An Nhơn mà về Bình Dương an cư lạc nghiệp.
- Cô Mính có trở lại đây sao?
- Không anh à! Cổ gởi cho người ta.
Như máy, tôi tự bảo thầm: Lại một chữ M dứt đường tờ. Mai Khanh, Mai, Mô, Mính …. Tôi bảo Thu:
- Em đưa anh xem bàn tay nào đã cho anh hửi mùi huile camphée étherée hôm ở dưới hầm.
Thu ngần ngại. Tôi quát:
- Đưa anh xem!
Rồi bước tới cầm tay Thu tròng chiếc đồng hồ vào. Thu la lên:
- Anh Hai! Của người ta tặng anh.
- Anh tặng lại em.
Quản cũng chạy tới:
- Cái đồng hồ đó giá mười ngàn đó anh Hai.
- Còn cái mạng anh bao nhiêu? Không có em anh nằm dưới địa đạo rồi.
 
 
Chương 74
Kim Anh: Nàng tiên bên lề cuộc chiến


Hai đại đội do Tư Nhựt dẫn đi đến Tân Qui bằng con đường gập ghềnh xa: toàn những cây cầu khỉ cheo leo, khiêng vác súng nặng té lên té xuống, trấn nước cả người lẫn súng. Nhưng điềm gở báo trước sự thất bại thảm hại của trận đánh này, Tổ trinh sát tiểu đoàn đụng biệt kích Mỹ. Tưởng rằng chúng đã rút hết về ở sở cao su Bà Hộ dè đâu còn nín lại hai chiếc xe tăng phục kích tại Mội Nước Nhỉ, đường 15. Hai trinh sát viên bị bắn chết dọc đường. Tư Nhựt bảo khiêng giao cho địa phương rồi tiếp tục hành quân.
Hai đứa đó là thằng Ức nhà ở đồng Lớn, đứa kia là thằng Lợi, em trai của dũng sĩ Bảy Nê. Tội nghiệp thằng Ức ham súng, mới mười sáu tuổi, đầu quân mới được ba ngày. Cái tuổi đến nhà trường lại bị tung ra chiến trường chết oan uổng. đó không phải là lỗi của Ba Thâm mà là tội của tụi Hà Nội. Hàng vạn thiếu niên đã bỏ mình như thằng Ức. Út Sương C trưởng C3 đi sau tôi thở dài:
- Chắc chết tôi quá anh Hai!
- Gì vậy ?
- Lần này về Đồng Lớn, ghé quán má thằng Ức, tôi biết ăn nói làm sao đây?
Tôi lặng thinh. Trong đầu tôi hiện lên cái nghĩa trang ở Ngã Ba Sòng với những nấm mộ nhấp nhô chỉ có những đoá hoa mắc cỡ tô điểm. Cái mả thằng Chi chưa cháy hết nhang nay lại thêm hai thằng bé. Sau trận Tân Qui này không biết nghĩa trang này sẽ đặc thêm bao nhiêu.
Trong bụng tôi lại gợn lên một nghi ngờ. Sao ở ngoài quán Sáu Khuân lẫn trong bếp ông Năm Lê, người ta đều biết bô đội đi đánh Tân Qui? Làm sao đánh được khi địch đã hay? Tuy vậy tôi vẫn tiến tới và đã cho Ba Quyết đi tiền trạm. Ba Quyết là anh ruột của Sáu Quăn. Cô nàng đã lần bắt cóc tôi ra họp xã ủy ngoài rừng lúc tôi đi nghiên cứu trận địa pháo kích Trung Hoà và Đồng Dù. Ba Quyết có vợ và có một thằng con trai rất kháu. Hắn là một tay súng dũng cả. Đáng lẽ hắn được đề bạt lên C phó, nhưng vì tính nóng nảy nên cứ ở lỳ chức B trưởng. Ra trận đứa nào không xung phong hắn đánh và xách đầu phóng tới. Nhưng trong công tác thì hắn là một cán bộ rất đáng tin cậy.
Đến Mội Nước Nhỉ, chỗ hai cậu trinh sát vừa bị bắn chết, tôi đã ngửi thấy mùi thuốc TNT trong không khí. Cũng may Tư Nhựt cho lượm xác và tẩy vết máu, nếu không bộ đội đi qua thấy sẽ mất tinh thần làm sao đánh được giặc? Đêm nay không nghe tiếng pháo, nhưng sự im lặng này còn đáng sợ hơn là tiếng súng vì tôi biết đó là sự im lặng của bầu không khí bị nén, rồi sẽ nổ ra.
Tôi gặp Tư Nhựt D trưởng lần đầu tiên ở đây. Hắn không có vẻ gì xúc động khi nghe báo tin hai trinh sát viên bị phục kích. Âu đó cũng là một đức tính tốt của một người chỉ huy. Lắm lúc phải lạnh như tiền để tránh sự xao xuyến cho đơn vị. Tư Nhựt bảo tôi:
- Chín Câu xui xẻo quá! Mình ở đây nghỉ rồi mai họp trung đoàn.
Tôi hỏi:
- Hai Phái (chính trị viên D) đâu rồi?
Tư Nhựt cười nhếch mép, ló cái răng vàng ở góc miệng:
- Ổng đang thả dê đâu đó không biết.
Tôi nghĩ thầm:
- Quái lạ! Sắp xuất trận thì ông D phó chết. Trên đường ra trận hai trinh sát viên bỏ mình. Còn ban chỉ huy tiểu đoàn thì mỗi kẻ một nơi!
Vào nhà dân nghỉ ngơi, Tư Nhựt tâm sự với tôi:
- Kỳ này mình tấn công cấp trung đoàn nhưng phương tiện chỉ huy hẽo quá thầy .(Tư Nhựt gọi tôi bằng thầy mặc dù tôi là Tham mưu trưởng D). Không biết rồi ông Ba Châm chỉ huy các cánh ra sao.
Tôi mới về không rõ hiện tình của Trung đoàn. Đúng ra từ trước tới nay nó chưa phải là một Trung đoàn về mặt vũ khí, phương tiện thông tin lẫn quân số. Nó chỉ là một sự tập hợp đầu gà đít vịt của ba tiểu đoàn non nớt về mặt quân số và vũ khí mà thôi.
Tôi đáp lấy lệ:
- Chắc là ở trên đã lo cả rồi. Mình chỉ chịu trách nhiệm cánh mình thôi.
Tư Nhựt hỏi:
- Thầy có quen với ông Năm Tiền sao tôi nghe ổng nhắc tới thầy luôn?
- Tôi biết ảnh hồi chín năm. Lúc đó tôi mới mười sáu tuổi. ảnh chỉ huy đại đội thuộc Trung đoàn 308, còn tôi chỉ là lính lải ở Trung đoàn 300.
Tư Nhựt nói:
- Ổng là anh nuôi của tôi. Ổng là Lê Minh Tiền, còn tôi là Lê Minh Nhựt. Thực ra tên cúng cơm của tôi là Lê Văn Luông.
(Sau này VC lấy tên Lê Văn Luông đặt tên cho một con đường ở Sàigòn)
Tôi lại hỏi Tư Nhựt:
- Kỳ này U của ông Bảy Nô có phối hợp với tiểu đoàn mình không anh Tư?
-Ổng đâu có thích ông Bắc kỳ Châm. Hai ông ấy như nước với lửa. Ổng chỉ hứa tối mai lúc mình nổ súng thì ổng sẽ cho D7 đột nhập chợ Phú Hoà để kiềm chết và thu hút một phần các họng pháo mà thôi.
Rồi Tư Nhựt cho trinh sát dắt tôi đến một cái nhà gần đó nhưng không vào, lại bảo:
- Mấy ổng ở trong đó, thầy vào đi!
Tôi ngó vô nhà trống vách thì thấy cái đầu bạc thì biết là Ba Châm, nhưng sẽ chỉ huy trận đánh này. Kế đó là Út Lịa và Hai Phái, ngồi giữa Ba Châm và Út Lịa là một cô gái đầu quăn đang cười ngã ngớn với các chú bác. Tôi hỏi cậu trinh sát, cậu đáp với giọng không phấn khởi:
- Đó là cô Kim Anh, con của má Hai. Hai mẹ con đang làm công tác gì quan trọng lắm trên R. Hỗm rày bữa nào tôi cũng thấy cổ đạo xe ra chợ Phú Hoà Đông. Chắc mấy ổng nhờ làm chuyện gì . Thầy vào đó thì biết. Cỡ tụi tôi cổ đâu có thèm ngó.
- Chắc là thứ dữ.
- Cô ta làm em nuôi tất cả mấy ông lớn ở đây. Chị Bảy Nô ghen muốn sập trời. Thôi anh vô để mấy ổng đợi và hư tiết canh hết.
Tôi bước vào thì thấy đủ mặt bá quan văn võ. Có cả Bảy Nô và Tám Thiệt, chính trị viên D7 của Bảy Nô. Hai ông này là cột chèo với nhau nhưng không phải lấy hai chị em mà là…hai mẹ con. Út Lan là vợ của Bảy Nô, còn Tám Thiệt lại cuỗm má Út Lan. Cho nên lính bảo: ông dê trưởng là rể ông dê chánh. Toàn .
Đã nghe mùi mỡ hành bay từ sau bếp bay lên tới trên này.
Cuộc bàn cãi về trận đánh kết thúc rất nhanh. Không có ý kiến gì trái ngược. Rồi Bảy Nô nói:
- Bữa nay vợ tôi đãi mấy ông một bữa tiết canh.
Hai Phái buột miệng:
- Tiết canh xui bỏ mẹ, lại tiết canh!
- Nhưng đây là tiết canh của chị Bẩy không phải của Chín Câu!
Ba Châm cào cào mấy sợi tóc loe hoe trên cái đầu hói, cười:
- Vái trời bữa tiết canh hôm nay cho trót lọt!
Năm Tiều đập vai Bảy Nô:
- Vợ mày mà đãi tiết… canh ai ăn thì ăn chớ tao không dám.
Bảy Nô phản ứng:
- Chắc ông thích tiết canh của bà Hai Nguyện phải không?
Cả bàn cười rần. Bảy Nô lại tiếp:
- Tiết canh của bả có rắc đậu phọng dòn dòn, dĩa to bằng hai bàn tay xoè.
Cả bàn lại cười to hơn nữa.
Hai Nguyện là vợ bé của Năm Tiều. Năm Tiều có hai con đã lớn, nhưng lúc Năm Tiều ở ngoài Bắc không biết hiền thê bị con ong bầu nào bé cái nhầm mà khi đức lang quân phản hội cố quán thì bà có thêm một thằng con trai năm tuổi. Năm Tiều không bỏ mà cũng không ở hẳn. Cứ đi đi về về thăm con nhưng đồng thời nại cớ để qui thêm một bà để lau colt chùi súng cho ông. Lính cười ông lâm cái cảnh con vòng con cởi thì ông cười hề hề:’Thời buổi chiến tranh này, sống chết nhấp nháy, vui được ngày nào hay ngày nấy.’ Cấp trên thấy ông đã già, vả lại vợ ông cũng xé rào nhà nên cũng làm lơ cho ông.
Út Lan nhỏ hơn chồng chừng hai chục tuổi. Không rõ chị yêu Bảy Nô ở chỗ nào. Có lẽ cây súng đeo tòong teng đó chăng? Đàn bà con gái mấy ai hiểu nổi. Thấy mấy cha già chế diễu, chị bèn ra miệng:
- Tiết canh của ai chớ của tôi thì hên và bổ lắm. Mấy ông bạc đầu ăn một dĩa tóc đen lại liền! Còn đi ra trận thì oánh đâu thắng đó!
Đám trẻ cười, nhưng không dám cười lớn tiếng, chỉ liếc nhẹ Năm Tiều và Ba Châm. Năm Tiều gỡ gạc:
- Nếu vậy thì sao thằng Nô tháng nào cũng ăn mà đầu nó cứ bạc ra như lông chó cò vậy hả bà dê trưởng?
Ba Châm phản công tiếp:
- Tại nó ăn không đủ liều lượng nên tóc nó chưa đen.
dê trưởng nổi cáu nhưng cố dịu giọng:
- Mây ông không ăn thì thôi!
Rồi quay sang tôi:
- Anh Hai xuống phụ em bưng lên. Anh đừng có bắt chước mấy ông già đó tối ngày cứ tu ba cái đế mà xuống dốc.
Năm Tiều lại bắt mánh:
- Tu đế mới lên tinh thần chớ … hả mày Nô?
Út Lan đã quay lưng đi xuống bếp. Năm Tiều rỉ tai Bảy Nô:
- Mày có nghe câu này không? L.. rằng l.. chẳng sợ ai – Rồi nói to lên – chỉ sợ thằng say rượu …hé hé…
Tôi bị chỉ định làm phụ bếp, nên đi ra sau tiếp tay với chị Bảy.
Chị hỏi ngay:
- Anh có nghe tin con Mười không?
- Dạ không?
- Nó lấy sĩ quan Sàigòn rồi!
Tôi chống chế:
- …à!..Tôi có nghe chuyện đó! Nhưng tôi nghĩ cũng phải thôi. Đàn bà không có đàn ông, ở một mình sao được, nhất là ở giữa chợ.
Tôi nghe đau điếng trong lòng, nhưng cố giữ bình tĩnh, nói đỡ gạt cho qua.
- Anh không nên bi lụy vì nó! Đàn bà là vậy hết thảy…
Rồi đột nhiên chị nói to lên:
- Tôi đây cũng vậy nữa là nó!
Tôi nhìn chị, không hiểu chị muốn nói gì. Chị tiếp ngay:
- Tôi cũng chán đời lắm, anh Hai ơi! Anh Bảy có tôi bên cạnh kè kè đây mà ảnh cũng quơ quạng bắt hụt cô này cô nọ hoài hoài. Anh thấy con nhỏ đầu quăn đó không ?
Tôi bưng ngay mâm tiết canh lên bàn rồi không trở xuống nữa. Vì cảm thấy bà dê trưởng sắp mở màn…. Không khéo ông dê trưởng nổi cáu thì hỏng bét. Đàn ông là vậy. Mình có mèo thì được nhưng vợ mình thì không được ngó ông nào.
Bàn nhậu vui vẻ. Mấy ông thần vừa ăn vừa khen tiết canh của vợ Bảy Nô ngon. Còn tôi làm thinh cứ nốc rượu hết ly này đến ly khác, đến mức tôi uống như nước lã. Tôi cảm thấy buồn tình… đời.
Bảy Nô khuyên tôi:
- Mày không nên buồn! Đàn bà nay thằng này mai thằng khác. Mày ra trận nó còn vái cho mày cum để nó kiếm cây pháo mới. Con Mười đã có con còn mày là trai lơ mà! Các bà hĩm ở Thanh Hoá còn ngon hơn con nhỏ đó nhiều. Mấy con dũng sĩ không bằng nó hay sao mà mày buồn?
Năm Tiều bảo:
- Thây kệ nó. Cho nó uống say để nó quên đời. Vua chúa ngày xưa xiêu thành đổ quách cũng vì mỹ nhân. Thằng này cũng không thoát khỏi cửa tò vò đó.
Bỗng nghe tiếng véo von ngoài cửa:
- Chị Bảy, ở đằng này có đế không cho em mượn đỡ một chai . Ở đẳng hết cạn rồi! Mấy ổng hò hét dữ quá!
Tôi nghe tiếng quen quen bèn ngó ra. Chập chờn trước mắt tôi một mái tóc quăn. Tôi vẫy tay:
- Quắn! Em đi đâu đây?
- Em đi phục vụ các anh chớ còn đi đâu nữa. Em vừa gặp anh Ba (Quyết) em!
Rồi nàng sà đến bên tôi. Vợ Bảy Nô bước lên thấy tôi đang nắm tay cô gái bèn nạt:
- Con nhỏ này đi đâu tới chỗ người lớn uống rượu?
Năm Tiều cười khè khè:
- Nó đem tiết… canh lại cho thằng Lôi nhậu, mắc mớ gì mà bà dê trưởng cự nự?
Tôi lôi tay nàng vừa nói vừa hát lan man:
- Quắn, ngồi xuống đây uống với anh một ly coi nào… Tân Qui! Tân Qui về đi thôi. Địch Trương Lương nghe gió âm thầm than. Tân Qui nơi đó mồ chôn ai. Tân Qui ơi chờ ta xuống nơi tuyền đài….
o O o
Khi tôi tỉnh dậy thì thấy một vầng ánh sáng lờ mờ gần mặt. Tôi không biết đây là dương gian hay âm phủ bèn đưa tay quờ. Thì ra không phải là ánh sáng mà là vách mùng. Tôi nghe như vừa chết chìm mới được vớt lên xốc nước. Tôi nhớ nàng Thiên Lý trầm mình dưới rạch Bến Mương. Chắc cũng như thế này. Tôi nôn oẹ nhưng không ói ra gì hết. Tôi nghe cả người ê ẩm cổ khô rát mà lòng thì não nề vô hạn. Đột nhiên tôi nhớ thời còn thiếu nhi đi theo đoàn Tuyên Truyền của E300. Một lần đoàn đi ghe băng qua cửa sông Soài Rạp bị tàu bắn chìm. Mấy chục đứa chết. Vài ba đứa nhờ ghe thương hồ cứu sống sót. Trong đó có tôi. Lúc đó, khi mở mắt ra thì tôi có những cảm giác in hệt như trong lúc này. Tôi cố gắng cất giọng kêu mà mí mắt nặng nề nhắm khít:
- Thuận! Cho anh miếng nước !
Không nghe tiếng, chi thấy mơ màng một vật gì mềm mại đụng vào da mặt. Tôi cố đưa bàn tay lên xua đi. Tôi lại nghe cườm tay tôi bị bóp chặt và tiếng thỏ thẻ:
- Anh Hai đã bớt chưa?
Tôi cố mở mắt. Một mái tóc quăn đang nghiêng xuống mặt tôi. Cái bóng in trên vách mùng rung rinh. Tôi khẽ kêu:
- Quắn! Em giúp anh đó hả Quắn?
- Dạ, em là Quắn đây.
Tôi hồi tỉnh lại dần và chợt nhớ ra giọng nói là lạ không phải của Quắn – em Ba Quyết ở Dân Hàn. Rồi tôi ngửi thấy mùi thơm của tóc như mùi tóc của các cô nữ sinh bên kia sông Sàigòn.
Tôi lại kêu:
- Khánh hả em!
- Dạ, em là Khánh đây. Anh nằm nghỉ đi, đừng lo gì hết.
Trong im lặng vang lên tiếng muỗi vo ve, tôi lại nghe giọng nói không phải của Khánh. Cái giọng kia lại thỏ thẻ:
- Thằng Thuận về bên văn phòng tiểu đoàn. Nó nhờ em săn sóc anh đây.
Bây giờ tôi biết không phải Quắn cũng không phải Khánh. Tôi cố ngóc dậy. Nàng đỡ tôi ngã vào vai nàng bằng một cử chỉ âu yếm, không phải bình thường. Vốn là kẻ đa tình, nhưng không phải là mù quáng, nên tôi giật mình tỉnh táo trở lại để nhận ra đây là đâu và nàng là ai? Mớ tóc quăn loà xoà quẹt nhẹ trên mặt tôi làm cho tôi càng tỉnh hơn và nghe rờn rợn khắp châu thân.
Phải chăng đây là Liêu Trai Chí Dị, con yêu hiện lên ăn ở với chàng thư sinh? Phải chăng đây là gia đình bà goá phụ cùng ba người con gái xinh đẹp chận đường cám dỗ thầ trò Tam Tạng ở lại cùng họ hưởng lạc? Nàng lại thỏ thẻ:
- Em không phải là Quắn cũng không phải là Khánh nào hết.
Tôi sực nhớ ra buổi nhậu nên hỏi:
- Đây là đâu?
- Đây là nhà má Hai, còn em là Kim Anh con của má Hai. Lúc nãy em thấy mấy ổng nói xầy quá nên em bỏ về. Chập sau cậu trinh sát đưa anh lại đây nhờ má em săn sóc.
- Tôi nằm giường ai đây?
- Giường của em. Má ở dưới hầm ngựa đây này!
Kim Anh gọi má chớ không nói má em. Chạy đàng mồ mắc đàng mả. Sao đàn bà con gái cứ săn đuổi tôi và toàn những chuyện bất ngờ không vậy? Tôi đã tỉnh giấc Nam Kha . Tôi đã nhận ra nàng Kim Anh tóc quăn, da trắng, môi đỏ, tay ngà lúc nãy. Tôi bảo:
- Để tôi về văn phòng, kẻo sáng thấy cảnh này mấy ổng bảo tôi hủ hoá.
- Hủ lu gì! Mấy ổng còn tổ trời kia, phê bình ai?
Ngần ngừ một giây Kim Anh bảo:
- Anh còn yếu không đánh trận được đâu. Anh nên ở nhà dưỡng sức. Giặc giã còn hoài chớ đâu phải hết mà anh hối hả.
- Không được đâu em!
Tôi nói với giọng cương quyết rồi cố ngóc đầu dậy khỏi bờ vai mềm mại và thơm phức của nàng. Nhưng da thịt đàn bà hay dính với da thịt đàn ông. Tóc đàn bà tuy nhuyễn vậy mà buộc chân tráng sĩ dễ dàng, những ông cán to cán nhỏ bỏ đảng rời đơn vị về nhà làm ruộng, vui thú điền viên?
Nàng không cản tôi nhưng bảo:
- Anh ở đây chút xíu rồi em đưa cho về. Ngồi đó nghen.
Tôi có phải sắt đá đâu mà không vâng lời. Nàng đi một chút, đúng một chút rồi trở lại với chén cháo còn bốc hơi.
- Anh ăn đi cho khoẻ. Hồi hôm anh uống hết cả rượu Phú Hoà Đông kia đấy. Say rồi lại còn kêu:”Muời ơi! Mười hỡi, em bỏ anh sao!”
Tôi hơi xấu hổ vì nàng đã biết được tẩy của tôi. Nàng là con gái. Còn Mười đã qua một đời chồng. Nàng biết nàng đang có tôi trong tay.
- Chim đậu không bắt để bắt chim bay!
- Anh đâu có bắt chim chóc gì đâu?
Tôi lua xong chén cháo thì nàng lấy hai viên aspirin đưa cho tôi. Những ngón tay trắng và nhọn đặt hai viên thuốc cũng trắng vào lòng bàn tay đen sì, sần sùi của tôi như một búp măng bên cạnh một rễ cây gìa cỗi, làm tôi suýt rụt tay lại. Nàng quay lại rót nước trà đưa tôi.
Ôi ! Hai viên thuốc của nàng tiên ban cho thật là kỳ diệu. Nàng vén mùng rộng ra rồi ngồi bên mép giường bảo tôi như ra lệnh:
- Anh quay lưng lại em cạo gió cho!
Nói xong nàng nắm hai vai tôi xoay qua và vén áo tôi lên. Tôi nghe mùi dầu Nhị Thiên Đường bát ngát. Rồi những phát cào từ vai xuống tận lưng quần, cả hai bên bắp thịt nuộc lưng. Nàng vừa kéo áo tôi xuống vừa ra lệnh:
- Quay lại!
Nàng lại tiếp tục cạo gió ở cổ, bắt gió hai bên màng tang và giật gió giữa trán. Nàng lẩm bẩm:
- Gió ra bầm đen hết trơn!
Tôi nghe khoẻ người trở lại, định xin bà cho con đi nhưng nàng lại bảo:
- Anh nằm xuống đắp mền lại cho mồ hôi ra, ủa mà quên …
Nàng chạy đi rồi trở lại với nồi nước xông. Tôi bị trùm kín mít như Thái Thượng Lão Quân nhốt Tôn Hàng Giả trong lò Bát Quái. Nhưng cái lò của Kim Anh thì thơm bát ngát lá ổi, lá sả và rau húng. Có cả mùi dầu Nhị Thiên Đường nữa. Tôi tưởng tôi cũng tan theo khói.
Nàng giở mền ra. Mồ hôi tuôn như suối khắp người tôi. Tôi có cảm giác tái sanh. Tôi khác hẳn tôi lúc nãy. Tôi nói:
- … Tôi có lỗi với … cô!
- Xin đứt anh tiếng cô! Anh không có lỗi gì! Chắc anh lấy làm lạ phải không? Nhưng em thì không lạ với anh đâu. Đố anh biết em là ai?
Tôi lắc. Nàng kê má vào mặt tôi, giọng tự nhiên:
- Anh hôn em đi, rồi em nói cho nghe.
Tôi muốn hôn nàng tự nãy giờ nhưng nghe nàng bảo thì tôi làm bộ e dè. Nàng cười khoe hai hàm răng ngọc, giọng nhõng nhẽo:
- Không hôn không nói đâu.
Nhớ lời cậu trinh sát với tôi lúc nãy, tôi bắt mối, hỏi:
- Em làm liên lạc hợp pháp cho cơ quan nào hả?
- Anh ở trên R về đây phải không?
- ờ !
- Anh có dự lễ mừng công đoàn 69 ở R phải không?
- Phải!
- Anh đọc diễn văn phải không?
- Ủa sao em biết hết vậy, bộ em có mặt ở đó à?
- Em không có mặt nhưng em rước mấy ổng bả vô khu. Rồi sau đó nghe đài Giải Phóng. Ai không biết anh là ông anh hùng!
- Vậy làm sao em biết mặt anh?
- Trường pháo của anh đóng gần cơ quan ông Ba Đình phải không? Đó là cơ quan B6. Anh lui tới đó hoài mà!
Tôi mơ màng đáp:
- Ờ ! ông Ba Đình ở ban Binh Vận R.
- Em còn biết các chị Tiến, Huê và cả chị Mai Khanh nữa. Chị Mai Khanh có tâm sự với em. Hà hà… Lần đó anh nấu nước xông cho chị, bây giờ em thay chỉ trả ơn lại cho anh.
Tôi giật mình thon thót. Sao nàng biết cái tẩy đó của mình vậy? Tôi hỏi trớ ngang:
- Phải ông Ba Đình người Bắc không?
Nàng kể lể:
- Ổng làm trưởng ban chống càn liên cơ quan, sau khi B52 rắc bom gần đó. Ông Ba là thủ trưởng của em và má em! Hồi năm 60 má em đi liên lạc thành cho ông Tư Hoan.
- Tư Hoan nào?
- Ông Trần Bạch Đằng, bí thư khu ủy khu IV. Khi ổng rời khu IV ổng giao co má em công tác với ông Ba Đình. Ổng có xuống nhà này. Ổng với má em đi cặp như vợ chồng, có thẻ bọc nhựa lận lưng ai mà biết cho nổi. Ông Ba Đình thấy em bèn tỉ tê má em cho em công tác, ổng cung cấp tiền ăn và tiền di chuyển. Công việc dễ ợt. Chỉ cầm lá thư giao cho người khác hoặc nói miệng ba cái bí số gì đó mình phải học thuộc lòng. Có khi một tháng mới đi một lần. Khoẻ như vậy mà có tiền xài, nên má em nhận luôn. Vậy thôi chớ em đâu biết gì khác.
- Bao lâu rồi em không gặp ông Ba Đình.
- Từ sau ra trận ăn hụt B52 không biết ổng đi đâu, còn em cũng không có trở lại đó nữa mà cứ ở đây nhận công tác… Thôi, vậy anh đủ hiểu cái gốc của con nhỏ này rồi. Đừng hỏi thêm em khai lộ bí mật, phạm kỷ luật. Thôi, hôn em đi.
Nàng ép gò má nàng vào mặt tôi. Tôi hít một cái thật sâu vào phổi. Nàng nói trúng phóc không sai chút nào. Ba Đình là một lão già năm mươi tuổi, mang kính trắng nói năng rất bặt thiệp. Cơ quan ông ta đóng ngay sau lưng trường pháo của tôi, ở sát mé sông Vàm Cỏ Đông để được nhờ sự che chở chống biệt kích. Một lần tôi và Tư Thịnh, Ba Ân sang đó công tác, lão mời uống ca-cao và hút Ruby Queen. Tôi cấp cho cơ quan lão nửa tiểu đội súng trường. Một lần khác khi đi đốn cây cất nhà, tôi tạt vào đây xin nước uống, bất ngờ gặp nhân viên của ông ta chỉnh huấn tài liệu Trung Ương, tôi thấy có nhiều người mà người nào cũng che mặt bằng một miếng vải có khoét hai lỗ mắt rồi đội nón lên. Kẻ thì bới tóc, người lại kẹp đuôi gà, toàn giới nữ. Tôi hỏi:
- Hồi đó em có che mặt không?
Tôi đã dắt các bạn đi quá xa trận Tân Qui rồi chăng? Sự thật thì nó chẳng hấp dẫn chút nào so với mối tình Liêu Trai này. Nàng đáp:
- Ai cũng bịt hết. Không ai biết ai. Để rủi có bị bắt thì không khai báo được.
- Có ai bị bắt không?
- Bị thiếu gì!
- Bị bắt nữa à?
- Lần đó em được lệnh vô Chợ Lón gặp một bà sồn sồn nấu bếp cho một ông tướng Sàigòn tên là bà Phi Yến. Nhà có con chó tây sủa to làm em giật mình. Em mắng chó bằng mật hiệu: “Đừng có sủa! Đừng có sủa, nghe không?” hai lần. Thế là có một bà rước em vào dẫn ra sau bếp. Em đưa cho bà ta bức thư.
- Thư em giấu ở đâu?
Kim Anh đập vai tôi, liếc nhanh:
- Hỏi tới nơi à! Lúc đó cảnh sát xét và chiêu hồi như ông Hai Tốt tài chánh Quân Khu chận đường nhìn mặt dữ lắm. Lôi thôi là bị thộp ngay thôi, cho nên em phải giấu …trong một chỗ đặc biệt.
- Trong đòn bánh tét hả?
- Không! Đó là thường.
- Trong gót giày?
- Xoàng lắm!
- Trong đầu tóc?
- Kiểu đó bị bắt cái một!
- Vậy ở đâu?
- Ở trong chỗ … không thể nói được. Thôi mà đừng có điều tra em nữa!
Nàng chúi mũi vào mặt tôi. Tôi ôm cổ nàng. Chúng tôi hôn nhau. Tôi thủ thỉ:
- Anh biết rồi. Và chỉ có anh biết thôi!
- Anh quỉ nà. Anh nghịch lắm!
Nàng cắn khẽ gò má tôi và chuyển sang chuyện khác:
- Em tưởng anh là quân nhân thì cứng cỏi lắm nào dè cũng mềm như…
Vừa nói nàng vừa ép cặp vú sữa vào ngực tôi và ôm quàng lấy tôi. Tôi đâm rợn người, tự nhủ: hay con nhỏ này chơi trò đòn xóc hai đầu móc ruột mình đây?
Tôi đẩy nhẹ nàng ra và hỏi:
- Sao em biết anh mềm. Em không thích mềm, vậy chắc thích sự … ngược lại.
Nàng đỏ mặt, trông xinh quá:
- Anh quỉ thiệt. Nói năng cũng nghe ghét ghê. Em để ý anh lâu rồi. Mấy cô Huê, Tiến đều có chồng. Bà Mai Khanh chồng chết, có con lớn gần bằng em rồi. Hiện giờ bả là cộng tác viên đắc lực của ông Chánh ủy Tư Khanh ra vô thành như đi chợ… Anh đi đâu cũng quến đàn bà con gái.
-Không vậy thì sao em yêu anh?
- Ơ ơ.. ai nói với anh vậy?
- Cái gối, cái mùng, cái viên aspirin, nồi nước xông và…
- Ờ đúng, em yêu anh thiệt. Rồi sao?
- Đâu có sao!
Tôi phóng tay vào cặp gò nổi của đất Củ Chi anh dũng. Nàng kêu ớ ớ vài tiếng rồi im hẳn. Tôi đã khoẻ, tinh thần Đồng Khởi lên cao vót, định đi đến cao điểm cuối cùng, nhưng nàng chặn tay lại, rên rỉ:
- Khoan đã anh ạ!
- Biết còn gặp lại nhau nữa không?
- Em yêu anh trong hồn em!…
Tôi ém miệng nàng bằng một cái hôn. Nàng sắp xuôi tay bỗng vùng dậy:
- Coi chừng, má nghe hết rồi…ừ… ừ.. mà má cũng thương anh nữa… ơ… ơ… bả như vậy mà mấy ổng cáp với ông Bắc kỳ Châm. Má em là chủ đồn điền cao su còn ổng là dân cạo mủ. Chủ đồn điền đi tái giá với dân phu à?
- Thôi để anh về văn phòng lo công việc.
- Em không muốn anh đi trận này đâu.
- Em đâu phải là cấp trên của anh.
- Cấp trên cũng tùy, có nhiều ông ngu bỏ mẹ. Đánh trận nào cũng bỏ xác, tụi Sàigòn bêu rêu khắp chợ Phú Hoà, Trung Hoà.. nhiều xác nằm bên lề đường hai ba ngày không ai lấy. Nhất là sau trận Cây Trắc.
o O o
Trời sáng lúc nào không hay. Bộ đội đã rí rố ngoài đường (vậy mà gọi là bí mật kế hoạch đó) . Bắt đầu hành quân. Các ban chỉ huy D họp lần nữa để nghe Út Lịa phổ biến kế hoạch lần chót. Út Lịa là Ef nhưng có văn hoá hơn Ba Châm Et. Ba Châm nói không rành và chỉ hướng trên bản đồ còn trật.
Tôi thả trinh sát đi trước còn tôi đi sau cùng. Năm Tiều đi theo tôi một quảng xa. Anh tỉ tê dặn dò:
- Mày đừng có vì con nhỏ đó mà liều mạng ở chiến trường nghe mậy!
- Con nhỏ nào? (tôi tưởng anh nói Kim Anh)
- Con Mười, em vợ thằng Sáu Phấn ở Bến Mương trúng hôn? Nó lấy chồng sĩ quan thây kệ nó. Mày còn thiếu gì. Con nhỏ này nó cũng mết mày rồi đó.
Tôi lắc đầu:
- Thôi anh ơi! Tôi hết muốn rồi|
- Giởn hoài mầy tụi. Tao mà còn trẻ được như hồi chín năm thì tao bán trời không mời thiên lôi. Hồi đó tao làm đại trưởng thì cũng như mầy bây giờ vậy thôi nên tao thông cảm với lính. Nó rủi có nhảy dù đứt dây tao ngó lơ cho hết thảy, kẻo ngày mai nó chết, không biết mùi đời, tội nghiệp!
Đi một quảng xa nữa anh ngó dáo dác, thấy đứt đuôi đơn vị hơi xa, anh bảo:
- Kỳ này cẩn thận nghe.
- Anh có gì bảo tôi không?
- Thằng Châm nó tính chơi mầy đó.
- Em biết anh Năm à! Nhưng ổng là cấp trên.
Năm Tiều ngẫm nghĩ một hồi và tiếp:
- Nó không cho mầy đánh chính diện mà cho cánh phụ, mày biết chi không?
- Để em đội pháo chớ gì anh Năm!
(Thì cũng như Bắc Kỳ Hà Nội xúi dân Nam Kỳ nhào vô và phơi thây chặt đầu như trong Tết Mậu Thân)
- Bộ binh còn tránh né, phản công được nhưng pháo bắn mà mình đang rút lui thì chỉ có một cách là đội nó mà thôi. Bình Dương sẽ câu qua cả ngàn trái cho mà coi. Cả pháo nòng dài 155 nữa.
Vừa đến đó thì nghe văng vẳng phía sau:
- Anh Hai! Anh Hai!
Tôi quay lại thì thấy mái tóc bồng bay trong gió.
- Nữa rồi, dưng dưa hồi hôm chưa đủ, bây giờ còn chạy theo dưng dừa … nạo.
Năm Tiều vỗ vai tôi:
- Đánh mạnh rút nhanh nghe! Đi cho khoẻ!
Rồi quay lại. Kim Anh thở hổn hển:
- Mấy ổng bảo mời anh trở lại chút.
Tôi quát.
- Sao không bảo trinh sát mà bắt em chạy vậy?
- Trinh sát đi tiền trạm hết rồi.
Tôi nghe có lý nên dừng lại. Nàng đưa tôi một gói ni-lông trong đó có hai ổ bánh mì thịt, nói là của má bảo chạy theo đưa cho anh. Rồi dắt tôi đi:
- Mấy ổng đã ra khỏi văn phòng và đóng dã ngoại ngoài rừng kia cà!
Rồi nàng rẽ ngang băng xuống dốc đi vào một sở cao su mới lớn lá xanh non tươi, mát mẻ. Một lúc nàng dừng lại. Tôi không thấy ông nào hết bèn tỏ vẻ bất mãn. Nàng hồn nhiên vỗ ngực:
- Ông này nè! Không bằng mấy ổng sao? Hà hà… em gạt anh đó. Ông Ba Châm, Út Lịa còn ở đằng nhà cà rề ba cái đế.
Tôi cau có:
- Đang hành quân, lại bị em làm trở ngại, mất thời giờ.
Nàng ghịt tôi vào gốc cây cao su như trói và bảo:
- Xí! Em không muốn anh đi trận này đâu. Mấy đêm trước em nghe cú kêu ngoài vườn sau nhà em.
- Nó kêu mặc kệ nó chớ!
Nàng tát khẻ vào má tôi:
- Anh không biết! Má bảo cú kêu là điềm gở. Nó báo hiệu trong nhà sẽ có tai hoạ. Bây giờ anh là rể trong nhà, đi trận má lo lắm. Mấy ổng nhậu, nói oang oác lộ bí mật hết. Anh giả bệnh ở lại đi cho má yên tâm và em sẽ không phải khóc…
- Không được đâu em! Làm vậy mất cả uy tín với anh em. Sau này chỉ huy ai?
- Chú Năm Tiều nói với má sợ anh thất tình mà liều mạn.
Tôi gở nàng ra:
- Anh không phải là loại nhưng mê muội đến hủy hoại thân mình.
Nàng tò vẻ suy nghĩ một chút rồi bảo:
- Ừ ! thôi cũng được nhưng anh phải hứa rằng anh yêu em!
Nàng lại quấn tôi rồi chúi mặt vào ngực tôi mà hôn tôi như điên.
- Anh! Anh là người yêu lý tưởng của em. Em không muốn rời anh một phút nào. Anh đừng quên em nhé. Em sẽ nghỉ công tác ngoài đó để về trong này đi bên anh luôn. Anh chịu không?
Đến đây thì tôi phát sợ.
- Không được đâu em. Về trong này bom đạn em không chịu nổi. Anh không muốn em phải chịu nhọc nhằn nguy hiểm như anh.
- Đó mới là tình yêu thực sự.
Nàng nói một hơi dài như tiểu thuyết.
 
Chương 75
Đánh Tân Qui: Thoi vào không khí
Bảy Mô băng vết thương lòng tôi



Ba Quyết đầu chít khăn rằn hai mối quật ra sau. Đi qua mặt tôi hắn bảo:
- Tối nay anh Hai coi con gà của em nó gáy nghe!
Gần tới Tân Qui thấy lính phòng không D8 đang đào hầm công sự dưới sự đốc thúc của Ba Châm. Tôi đi trờ tới, hỏi:
- C1 vô chưa anh Ba?
- Vô rồi. C2 đã triển khai.
Ba Châm ra lệnh cho Tư Công, B trưởng trinh sát.
- Chú đưa ông Tham mưu trưởng vô C3 rồi trở ra báo cáo. Khi giàn trận xong thì bảo bộ đàm gõ máy cho tôi biết. Mấy chú nhanh lên, không thì C1 nó nổ trước làm lộ hết.
Tân Qui ở trước mặt. Đó là một cứ điểm lớn do địa phương quân đóng giữ, đôi khi có sự yểm trợ của Trung đoàn 7 Sư đoàn 5. Từng dự nhiều trận đánh đủ loại, nhưng chưa lần nào tôi hồi hộp như kỳ này. Trời mờ tối. Tôi theo một tổ trinh sát, vượt qua một bờ đê, đi vòng theo bờ tre rồi đến một con đường mòn sâu hóm vết xe bò. Những địa hình này đều không có trên bản đồ. Chúng tôi cà hục cà hửi và té lên té xuống lạch ạch như lội Trường Sơn. Tôi bảo Xướng:
- Cậu đi tới phía trước coi có vật gì che khuất, chớ nằm đây lòi lưng sao?
Xướng và Thuận chạy đi một chốc rồi trở lại dắt tôi đến một cái chòi hoang ở bìa rừng cao su. Xướng nắm tay tôi giật giật.
- Máy bộ đàm bên cạnh anh đây. Trung đội của Ba Quyết đang bố trí trước mặt mình.
Nghe có Ba Quyết tôi vững bụng lắm. Tôi ngó bốn phía thì thấy toàn đồng trống. Khu Tân Qui im phăng phắc không một ánh đèn. Tôi nghĩ thầm:
- Năm Tiều nói đúng. Pháo Bình Dương sẽ nhểu sau lưng mình. Đù mẹ, Ba Châm chơi xỏ. Ông ta đưa mình vô giữa hai gọng kềm lửa.
Tôi bảo Thuận tìm Út Sương hỏi xem toàn C đã giàn xong chưa để tôi báo cáo lên E. Thông ở đâu vọt đến thì thào:
- Tụi nó không canh gác gì hết anh ạ.
- Sao mày biết?
- Không nghe một tiếng mỏ, không có một ngọn đèn. Tụi nó đang ngủ. Mình cho nó ngủ luôn. Nè, anh Hai.
Thưng lại đập lưng tôi.
- Anh coi con Chín Khuân có vừa miếng lũm không?
- Mới mười sáu mà làm cái gì? Thôi, đừng đùa. Chú ý kìa.
Tiếng Út Sương.
- Anh Hai đâu? Xong rồi anh, báo cáo lên E đi.
Hắn là CV mà xông xáo hơn cả CT. Tôi kêu bộ đàm mở máy. Máy kêu xè xè. Chừng ba giây, hắn gõ vào máy năm cái. Tôi nghe tiếng gõ đằng kia đáp lại Cộc, cộc, cộc... Hắn báo cáo:
- Ê, nhận được rồi anh Hai!
Vừa đứt tiếng thì tạch… tạc… tạch… M16 ở cánh mặt nổ. Tôi nghĩ lộ rồi. Rồi AK nổ loạn xạ. Cl rồi C3 cũng nổ tiếp. Tôi bảo Út Sương. Tôi quát.
- Cho B thằng Bảy thọc nhanh để Năm Tân quất ngang sườn tụi nó! Ba Đức đâu, xốc tới ép tụi nó vào!
Ba Đức vọt lên.
- Yên chí đi anh Hai!
Tôi lại quát:
- Xướng, lên chiếm cái nhà trước mặt. Từ đó đánh thẳng vô trung tâm.
Đạn xẹt đan lưới tứ tung. Tiếng nổ ròn như pháo… Chịch, chịch... đạn ghim vào đất. Út Sương hét:
- Ngọc, Lạng chạy lên kêu Ba Quyết dồn lên.
Cối 60 của thằng Huyền thằng Đô thụt bung bung. Khẩu trung liên của trung đội 2 rạch màn đêm bằng một thỏi sắt đỏ lòm. Xướng xông lên rẹt một loạt AK vào nhà và quát:
- Thưng vô chiếm nhà .
Con nít khóc thất thanh. Xướng nhào vô quất đèn pin.
- Chủ nhà đâu?
- Dưới hầm hè ông ơi !
- Thuận, tung lựu đạn xuống !
Tôi la.
- Đừng tung để người ta lên.
- Lên mau để tôi lấy hầm làm chỉ huy sở.
Chưa đầy năm phút…
Cùm, cùm, cùm…
Pháo Bình Dương đề-pa…
Xòe xòe…. ùng ùng ùng... ngay sau lưng trận địa.
Tôi quát đám còn lụt thụt đàng sau:
- Chạy sát vào nhà !
Tôi giật đèn pin rọi xuống hầm. Toàn ông già đàn bà con nít. Tôi quát lính:
- Chạy lên. Không được ở đây, pháo ăn.
Ùng ùng… Pháo Bình Dương tiếp tục giã. Tôi quát:
- Tất cả chạy theo Xướng, đánh vào Sở.
Đạn tua tủa như pháo bông. Có tiếng rên la.
- Ai đó?
- Thằng Lạng, trinh sát C3.
- Hừ hừ hừ, hu hu hu. Em gãy chân rồi anh Hai. Nhà đó có lính.
- Thuận Xướng chạy lên tung lựu đạn vào!
Tróc… tróc… ầm!…
M79 bắn ra. Một vệt lửa nhoáng ngay trước mặt tôi. Tôi nghe nóng bỏng bên đùi phải và cả mặt mày như lửa táp. Bộ đàm, trinh sát và tôi té sấp. Xướng ria tiếp. Hai bóng đen vụt qua. Thuận tiếp nửa băng. Một thằng chết.
- Anh Hai chạy vô nhà.
Xướng ném một trái lựu đạn vô nhà. Lửa lóe lên.
- Nhà có ai, ra mau!
- Anh Hai có sao không?
- Không!
Tôi lê cái chân, biết vết thương không nặng lắm. Xướng giật đèn pin trong tay tôi quơ qua khắp nhà.
- Có hầm! Tống lựu đạn xuống.
Tôi quát.
- Mày là Đại Hàn hả. Gặp hầm là tông lựu đạn! Tao cấm!
Từ dưới hầm phọt ra tiếng nói lẫn tiếng khóc của đàn bà . Vết thương ngấm tôi không đứng được nữa, ngã khuỵu xuống mấy bao cát ở miệng hầm.
- Đừng liệng để tôi lên.
Một cái đầu quăn nhô ra, tay cầm cây đèn dầu. Xướng thét lên.
- Chị Chín, sao chị ở đây?
Tôi hỏi.
- Chín nào?
- Vợ Chín Tiền ở K20. Anh Hai, vợ anh Chín đây nè !
Người đàn bà thất thanh:
- Ai vậy Thuận? Ảnh bị thương chảy máu đầy mặt kìa !
Người đàn bà bước lại soi đèn vào tôi. Tôi quẹt tay đưa lên xem. Máu! Nãy giờ mặn mặn tôi tưởng mồ hôi.
- Em của chỉ là vợ anh Út Sương mình.
- Dưới hầm có lính không?
- Không. Họ thường ngủ ngoài trước nhưng hồi tối này không đến.
- Anh Út đâu kêu lại tao bảo.
Bộ đàm nói:
- Anh Lịa bảo kêu anh báo cáo !
Tôi vừa chụp máy vừa quơ tay:
- Xướng, Thuận mau chạy ra mang thương binh vào đây.
- Hừ hừ hừ. . .
- Thằng nào rên lớn vậy?
- Thằng Lạng bị gãy giò nằm ở ngoài !
Người đàn bà kêu:
- Má ơi, lên phụ con! Út, lên đi. Đằng mình!
Tôi nghe tiếng già Châm run run trong máy.
- Hai Lôi tới đâu rồi ? Tụi mày không vô được hả?
- Cánh tôi đã vô tới giữa Sở, không đụng ai hết. Chỉ còn nổ ở cánh phải.
Tiếng già Châm quát.
- Cho rút nhanh !
- Sao vậy? Tụi tôi đang chuẩn bị xung phong.
Không có tiếng trả lời nữa. Tôi đưa ống cho cậu bộ đàm. Đù mẹ, mình còn ở đây, mấy ông nội đã rút. Tôi chưởi thầm. Còn một lô thương binh bị ăn pháo nằm rên kia. Vợ Chín Tiền cầm cái khăn lông màu cứt ngựa của lính Mỹ, đến bên tôi trải xuống đất.
- Anh Hai nằm lên đây để em coi vết thương. Em có học cứu thương ở Hố Bò .
Tôi nghe lời nằm xuống.
- Anh đừng mắc cỡ. Em có chồng rồi, em không mắc cỡ.
Người đàn bà mặt mũi đen đúa nhưng có duyên. Giọng run run:
- Anh Hai thông cảm em. Em đi làm Đồng Dù mới có tiền nuôi anh Chín và má ảnh, có tiền đi thăm ảnh. Chớ em cũng biết…
- Tôi hổng nói gì đâu !
Bà già lóp ngóp bò ra, theo sau là một đứa gái chừng mười lăm tuổi.
- Ai vậy Chín?
- Má anh Chín. Kia là em út của tôi.
Bà già rên rỉ.
- Trời ơi ! Đánh thế này chết dân hết !
Chị Chín múc một chậu nước lạnh lau rửa vết thương đầy bùn của tôi. Nàng vừa băng vừa nói liền miệng:
- Em làm ở Đồng Dù ăn cắp bông băng gởi vô cho quân y ông Tư Chuyền hoài.
Có tiếng la lối ngoài trước:
- Khóc cái gì như con nít vậy Lạng?
- Hừ hù… Bỏ tôi xuống. Cái chân tôi muốn rụng rồi. Ông có bị thương đâu mà biết đau.
Chị Chín băng xong cho tôi quay sang Lạng. Chị lắc đầu:
- Chắc không được quá ! Gãy xương. Phải đưa về quân y!..
Ùng!…
Một tiếng nổ chát chúa bên hè nhà. Lỗ tai lùng bùng, nghe o o trong con ráy. Mùi thuốc .khét nghẹt. Cô gái la hoảng:
- Má ơi xuống hầm.
Cả nhà nhốn nháo. Tôi quát:
- Ở đâu ở đó đừng chạy lộn xộn chết.
Tôi khoát tay nhưng lạ chưa ‘ Tôi nghe đau buốt. Cánh tay tôi bỗng xụi lơ, không giơ lên được. Út Sương chạy tới:
- Anh Hai có sao?
- Không . Tình thế. . .
- Tôi cho lượm hết thương binh rồi. Mẹ , chừng một trung đội.
- Cho rút.
- Còn anh? Ông già Châm chơi ác quá !
- Tôi đi được. Bộ đàm bỏ máy gọi trung đoàn.
Hắn lắc đầu:
- Không có trả lời. Ổng rút lâu rồi.
Người đàn bà khuyên.
- Khoan đã anh. Chờ tụi nó quay họng pháo qua phía khác .
Một tiếng hỏi.
- Vợ Út Sương đâu?
- Dì ấy ra nhà bà già dượng Út để đẻ… ngoài ấp… Cây Bài.
Út Sương đứng tần ngần nãy giờ, có lẽ bàng hoàng trước cảnh này. Hắn buông một câu:
- Đẻ đâu không được mà phải ra ấp chiến lược Cây Bài.
Người đàn bà móc túi nhét mớ bạc vào tay Út Sương:
- Vợ dượng nhờ chuyển cho dượng mà lâu nay tôi chưa đi được.
- Sao hổng để lo đẻ mà đưa tôi chi vậy?
Mọi câu đối thoại ngắn dài đều mờ lấp trong tiếng pháo. Tôi ôm vai thằng Xướng đi ra lộ phía trước nhà . Mặt đất bằng phẳng nên bước dễ hơn. Pháo vẫn bắn, nhưng ai cũng chạy, không nằm lại nữa. Nằm lại thì đội thêm. Tôi mơ màng hỏi.
- Bộ có trăng hả Xướng?
- Dakota thả pháo sáng chọn đường mình.
Ra được một khúc tôi thấy máy bay quần trên trời.
Uồng uộc!…. Uồng uộc!..
Nó ria những loạt dài nín thở mà chưa dứt. Một tiếng non choẹt reo mừng:
Nó rọi đèn cho mình đi đã…
Uỵch. .. Tiếng nói bị cắt ngang. Thây người đổ. Không rõ pháo hay đạn máy bay trúng anh ta. Những bóng đen lố xố nhôn nháo lếch thếch bên đường. Một vai hai, ba súng. Lom khom khiêng vác. Hai người kè một. Ùng oàng ! Pháo vẫn rớt trên lộ. Mẹ, nó bắn ngay chóc. Đèn rọi sáng rực kiến bò ngó thấy. .
Ùng!...
Trước mặt tôi một cái băng ca bỗng biến mất. Tôi chạy lê qua hố đạn nóng hầm hập, khói nghi ngút. Bỗng thấy một cậu vác một người dịu oặc trên vai chạy qua mặt tôi.
- Ai vậy?
- Thằng Quyết.
Ờ ! Quyết. Ba Quyết, anh con Quắn ở Dân Hàn.. Lóe lên trong đầu tôi như tia chớp. Vợ nó hai mươi hai tuổi, con nó lên ba, tên Tiến.
- Có sao không?
- Bị thương…
- Sao?
- Vỡ sọ…
Trời ! Tôi nghe như lãnh thêm một vết thương. Thằng nhờ cậy nhất C3. Tôi định trận này xong cho nó lên C phó. Dù tính nóng nảy, đánh lính, vẫn là cán bộ tốt. Một cậu đi ngang giải thích:
- Nó bị ngay từ phút đầu.
- Anh em bị thương bao nhiêu?
- Gần hết đại đội.
- Út Sương hả?
- Tư Đông! Anh cũng bị? Trung đoàn đâu?
Út Sương nạt.
- Mình lo mình đi. Tiểu Trung cái gì nữa. Thưng chạy trở lại phụ cõng thằng Lạng. Đừng bỏ nó. Mau lên!
Những quả 155 xòe xòe qua đầu. Ùng ùng… trước mặt.
Sau lưng đuổi riết. Tới một nhà có cây rơm đằng trước, tôi bảo tạt vào đó. Tôi không còn lê chân nổi nữa, nghe ướt cả ống quần và áo.
- Thằng Bụng hả ?
- Anh Hai bị ở đâu ?
- Có gặp Tư Công không? Thằng Tân (C trưởng C1) đâu không thấy?
Tôi thấy Tư Nhựt cũng bị, tay quấn băng trắng đeo trên cổ. Tư Nhựt mếu máo:
- Tôi tin ông Ba Châm nên mới như vầy. Rụm mẹ nó hết tiểu đoàn rồi. Tụi đóng dã ngoại trong rừng cao su rút hồi nào không rõ. Mình tới, nó bên ngoài nhào vô. Bây giờ làm sao anh Hai?
Tôi gắt.
- Anh đi trước đi, để tôi lo.
- Đi gì được, còn mấy xác của C3 bỏ sát hàng rào dinh quận. Tôi đang chờ Tư Công cho trinh sát trở lại lấy.
Rồi hắn động viên tôi.
- Anh về trước đi. Đến Phú Hòa Đông có thêm dân công khiêng. Có chị Năm Đang ở đó.
Tôi bảo Xướng kè tôi đi tiếp. Đánh giặc chỉ nhờ cặp chân, lại bị thương chân mà là chân phải, như xe không có bánh. Tiến càu nhàu:
- Đánh chác con mẹ gì thế này !
Tôi quát:
- Cậu nào nói thế hả ?
Im. Lại càu nhàu:
Lịnh lọt không thấy? Tiếp viện cũng không!
- Im !
- Anh Hai bây giờ mới rút. Ông Ba Châm, Út Lịa đã vọt từ khi Dakota mới tới.
Tôi nhìn lại thì đó là lính Phòng không của D8.
- Ổng còn ra lịnh tôi ở lại chờ phản lực tới đặng bắn.
Rầm rầm rầm…
Bắn… Đại liên từ máy bay. Đại liên từ dưới đất. Pháo bông đan chéo. Một người nhảy lên công sự: Đồng đen! C trưởng C2.
- Anh có sao không anh Hai?
- Sơ sơ ở giò và vai.
- Phải tôi biết vầy, tôi cho Tư Lan theo cõng anh.
- Đến nước này còn đùa.
- Lính gì bị. thương khóc như con nít.
Tôi quát.
- Không con nít là gì? Mới mười sáu tuổi. Các cậu rút đi. Lệnh của tôi.
Pháo Bình Dương vẫn chưa dứt. Đạn nổ tối tăm mặt mũi. Khói mịt mù , khét lẹt, ho. Không còn thấy rõ mặt nhau. Nhiều cặp cán thương tung lên. Cả thương binh. Bị thương lại bị nặng thêm. Hừ hừ… Tiếng đù mẹ om trời.
- Tối quá anh Hai.! Làm thế nào?
- Chờ đây chút. Tao bảo tụi D8 tới khiêng.
- Ờ ! anh nói thì may ra. Chớ ông Tư Nhựt bảo họ trấm trơ.
Tôi ráng lê qua khỏi rừng tràm Láng The, sình lầy ngang đầu gối dài chừng hai cây số. (Bây giờ nhớ lại mà rởn ốc.) Không hiểu sao tôi sống được, đi được với hai vết thương đùi, vai và khắp người lốm đốm vết lớn vết nhỏ. Về tới bìa ruộng đường Hai Làng. Một đám đông đang đứng dưới lùm cây chờ khiêng thương binh. Một tiếng eo éo:
- Còn anh nào nữa không?
Xướng bảo.
- Còn nhiều lắm. Có ai khỏe tiếp khiêng ông này. Tôi đuối quá rồi.
- Ông nào vậy chồng Hai Nên?
Tôi hỏi.
- Ai đó, con Lan con Quắn hả?
- Có chị Bảy khỏe nhất. Ông nào chỉ cũng cõng nổi hết.
Tiếng cười khúc khích. Tiếng đấm lưng nhau làm tan không khí chết chóc. Một giọng quen quen:
- Ông nào vậy anh Xướng?
- A! Bảy Mô hả. Anh Bảy nè. Ra đây chị Bảy!
Mắt tôi đã mờ nhưng bỗng sáng lên ngay. Đúng là Bảy Mô. Nàng nhảy xuống ruộng:
- Trời ơi ! Có nặng không anh?
Tôi lắc:
- Em có sao không?
- Anh Hai ơi, dượng Chín (chín Câu) em hi sinh rồi !
- Anh biết. Đừng khóc.
Nàng nhào tới ôm tôi, nức nở. Tôi nói:
- Cũng may không trúng xương và mắt.
Mô kêu:
- Phượng ơi ! Trải võng ra, đem đòn xuống đây.
Tôi lắc:
- Đằng sau còn nhiều. Anh đi được. Các em ở đây chờ.
Mô kề vai vào dìu tôi thay cho Xướng. Xướng ngã uỵch xuống không ngồi lên nổi, không rõ bị thương hay kiệt sức.
Tiếng pháo vọng lại từ đường số 8. Nó chận mình từ xa. Mô dìu tôi và đưa tay lên bờ:
- Phượng, Lan kéo tao lên!
- Chị ẵm ảnh lên không nổi sao?
- Ở đó mà giởn, con quỉ!
- Thiệt chớ giởn. Ẵm ảnh lên đi. Hun ảnh vài cái là ảnh hết đau.
Phượng, Lan hai cô dũng sĩ đã có lần đào địa đạo với tôi sau nhà cô Tư Bé ở Bàu Trăn đụng cái nắp hòm.
- Thôi các em ở đây chờ lo cho tụi nặng. Anh còn đi được.
- Anh bị ở đâu vậy?
Tôi cố nhếch môi cười.
- Ở tim!
- Quỉ anh còn đùa.
Mô không cười. Mặt nàng xanh lướt. Mắt hõm sâu nhìn tôi. Máu, bùn, băng trộn quết lẫn nhau. Không biết là cô nào đó nói:
- Ông Hai Hổ cho đào có mười cái hố trong vườn cao su. Bây giờ không đủ số ông hắt đào thêm. Ai ở đó mà đào cho nổi. Lấp xong hết rồi. Còn năm thây để đó.
- Có thằng Quyết không?
- Hả? Ai?
- Ba Quyết ổ Dân Hàn!
Một tiếng gào lạc giọng.
- Anh Ba em !
- Nó hi sinh từ lúc mới vô.
- Ảnh đâu rồi?
- Không biết đứa nào vác đã tới chưa?
- Hu hu…
Tôi biết giọng con Quắn, em Ba Quyết. Quắn chạy hoảng xuống ruộng tới mấy nhóm đang khiêng vác.
- Anh Ba ơi ! anh Ba ! . . . chị Ba ơi , anh Ba chết rồi !
Não nề quá. Cảnh chiến tranh tôi coi thường nhưng kỳ này nghe em gái kêu anh mà đứt ruột.
- Út Nhở đâu? Bảy Nê đâu?
- Dạ hai chỉ ở nhà đi nghiên cứu trận địa đánh xe tăng trả thù cho thằng Lợi.
(Trả thù không được lại bị Mỹ đổ quân bắn chết. Thảm thương càng thêm thê thảm)
Phượng, Lan thấy Mô kè tôi nên lãng ra, cười trêu chọc:
- Thôi chị Bảy đưa anh Bảy về nhà đi!
Mô dìu tôi một mạch từ Phú Mỹ về đến xóm Ba Gia rồi từ đó theo đường 15 tới Rừng Làng. Tựa vào nàng tôi hầu như quên hết nỗi đau đớn. Tôi nhắc:
- Từ bữa ăn xôi sầu riêng của chị Ba nấu ở nhà em, tới bây giờ mình mới gặp nhau.
- Em không nhớ. Nhưng riêng em lúc nào cũng ở bên cạnh anh. Ngay cả trong giấc ngủ.
- Thiệt hả Mô?
- Ở đây chỉ có anh và em thôi. Em thấy không nên giấu anh nữa .
Tới khu Bến Đá , sông Sài gòn hiện lên. Mặt nước lấp lánh, bàng bạc. Nước dâng lên ngập nửa thân cây bần. Lòng nàng chắc cũng tràn đầy thương cảm đối với tôi. Lâu nay tôi vẫn biết nhưng cố quên đi. Tôi đối với nàng không như những em khác. Nàng: Một cái bóng. Một trái tim. Một tâm hồn. Có yêu thì nên trong mơ tưởng.
- Ai được cô nào dìu khỏe quá ta!
- Mấy anh kia… bị pháo đuổi các cô quăng chạy hết trơn. Bỏ nằm dưới ruộng khóc lóc.
- Người ta sắp tuyên bố đó !
- Chị Bảy thong thả đi sau nghen. Tụi này phải về tới Sa Nhỏ lận.
Tôi nói với Mô :
- Anh rất mến dượng Chín em !
- Chị Năm em cũng biết rồi.
Nghe nàng nhắc tới Năm Mai, tâm trí tôi hơi rờn rợn. Mới hôm nào… Mai dặn tôi đừng cho dì Bảy con Liên biết. Mai khỏi dặn tôi cũng không dám cho ai biết. Mô hỏi:
- Chị Năm bảo bé Liên kêu anh bằng Ba phải không?
- Ờ! ờ!.
- Thôi cũng được. Chỉ có con nhưng đẹp hơn em!
- Em đừng nói thế!
- Chị Năm với anh ra sao, Má đều biết hết! (Nàng dùng tiếng “má” suông)
- ????
- Chính chị Năm nói mà.
Té ra thế. Nước mắt nàng ướt vai tôi.
Hức..hức !…
Tôi không hiểu hay tôi không chịu hiểu nguồn cơn của những giọt nước mắt này. Khi tôi ẵm bé Liên tiễn chân nàng ra quốc lộ. Nàng bảo tôi:
- Dừng lại đi anh. Đừng đi xa hơn nữa.
Câu khuyên đó bây giờ lại vang bên tai tôi. Bảy Mô nói:
- Em yêu anh nên phải tạm xa anh!
- Sao vậy?
- Người ta đang tranh đua nhau để chiếm anh.
- Trời! Em theo dõi anh ghê quá.
- Em phải trông chừng anh chớ. Nhưng không bao giờ em cho ai biết.
- Tại sao?
- Em thành phần địa chủ mà. Yêu anh sẽ làm khổ anh hơn và anh sẽ không tiến bộ.
- Trời !
Cải cách ruộng đất! Nó lại xâm nhập vô tới đây để phá phách con người, tình cảm con người. Nàng tiếp:
- Cách đây vài tháng dượng Chín có thưa với má em và bảo em dượng sẽ làm mai cho em một người xứng đáng.
- Ai vậy?
- Ai thì anh biết đấy! Dượng không biết ai đó đã yêu anh và chắc cũng được anh yêu lại. Khi gặp anh ở xe nước mía gần An Nhơn thì người ta đã để ý anh rồi. Có nhiều ông ở R về theo đuổi em… ủa, theo đuổi người ta nhưng gia đình không ủng hộ.
- Người ta là ai vậy?
Hai đứa rù rì với nhau về tới Rạch Sơn thì trời sáng bạch. Tám Đột đã cho du kích bắc lại cầu. Mô dìu tôi đi qua không vất vả lắm. Có lẽ tang gia bối rối ở Tân Qui nên địch không quậy phía này. Bến Mương và An Nhơn yên ổn .
- Hồi gặp anh với chú Tư Linh ở quán cô xẩm, vui quá hả anh?
Tôi giật mình. Lúc đó tôi chưa quen cô xẩm nhưng sau này chính là Mính.
- Nay thì đìu hiu ghê rợn.
Tôi ngậm ngùi khi nghe mấy tiếng ấy từ môi một người con gái. Tôi tạt ngang:
- Bao lâu rồi, chị Mai không về nhà nữa?
- Nhà đâu còn mà về, anh!
- Em ở đâu?
- Ở hang với tụi nó. Phải anh ghé ngang nhà coi. Một cây sầu riêng cũng không còn nguyên. Không còn một tiếng chim chìa vôi hót. Hoa lá tan tành.
- Nhưng còn trái tim anh… và em!
Mô hất tóc ra sau vai rồi nhìn tôi đăm đăm:
- Hôm nay trời cho em gặp anh ở đây, quả là bàn tay người phàm không bố trí được.
Tôi nói với sự xúc cảm sâu xa như chưa hề nói với ai.
- Em ! Anh yêu em !
- Và chắc có lẽ mình lại xa nhau rồi !
- Anh vẫn còn ở Củ Chi, thì anh đâu có xa em nữa.
- Hôm nay em cảm thấy hạnh phúc vô cùng.
- Em muốn gì nói anh nghe.
- Điều em muốn, em đã đạt rồi.
- Gì?
- Đó là mấy tiếng em yêu anh vừa thốt ra.
- Mô !
- Mặc dù em biết anh đang theo đuổi…
- Không… anh chỉ gần gũi chớ không theo đuổi ai hết! Đó là sự thực.
Mô nhìn tôi. Nàng là một người con gái khác thường: có học, kín đáo, thâm trầm chớ không như những người khác mà tôi biết. Nàng muốn chiếm tôi, nhưng không bằng vũ khí thường mà bằng sự im lặng, chịu đựng và đau khổ.
- Hôm nay em được anh quàng vai em và nói với em những lời hiếm có, em thấy đủ rồi. Em không muốn gì hơn nữa.
Hai đứa nhìn nhau, im lặng. Tôi thấy nàng như một nữ thần đứng ở trên cao xa tắp. Qua ngã ba An Nhơn, nhìn thẳng lên Láng Cát, Mô bảo:
- Mình đi thẳng vô cổng Bông giấy đi anh. Rồi về Hố Bò đến C5 ông Tư Chuyền. Còn đi đường An Phú, đường trống sợ gặp đầm già . ‘
- Đi ngả nào chỉ có mình em và anh. Anh muốn đi với em ra ngoài trái đất mọi rợ này. Em cứ bơi lái trên sông Ngân Hà. . .
Mô nhìn tôi, cười. Nàng ngập ngừng:
- Sợ rằng:.. . .
Tôi nói tiếng Pháp.
- Sợ gì em? Muốn là được
- Sợ chúng ta chỉ đi bằng thuyền hồn thôi.
- Nghĩa là . . .
- Anh với em không có cơ hội yêu nhau trên cái đất này đâu. Mặc dầu… Bởi vì…
- Mặc dầu gì . Bởi vì gì?
- Bởi vì còn bé Liên…
- Anh là dượng Bảy của nó, nhưng mong sao anh không như Chín Câu dượng của anh!
- Em mong như vậy nhưng em sợ .lắm. Thôi bỏ chuyện đó đi. Em thấy anh mệt. Máu ra nhiều quá. Ghé vào cái bức tường đổ kia nghỉ chút.
Đây là nơi tôi cũng đã từng dạy cho du kích An Phú bắn cối và AK. Nàng dìu tôi tới gốc cao su, tàng lá xanh um phủ trên đầu. Vắng lặng ghê rợn chung quanh. Xác chiếc máy bay rớt đâu hồi nào, những mảnh nhôm vụn còn vương vãi chung quanh.
- Thành tích của anh đó !
- Anh thiết gì ba cái danh tiếng rởm kia. Thật ra anh chỉ muốn làm anh hùng trong tim em.
- Anh nói ! Người ta mong được đi R lãnh huân chương như anh mà không được.
- Đó là thành tích của Huỳnh Thành Đồng, không phải của anh. Anh nhận nó mà xấu hổ thôi.
(chương tới tôi sẽ kể cái chết lãng xẹt của Huỳnh Thành Đồng. )
Đột nhiên trong một cử chỉ bất ngờ và mạnh dạn, nàng ôm đầu tôi áp vào lồng ngực no nê của em. Tôi nghe tất cả địa ngục hóa thành thiên đàng. Nàng rủ rỉ:
- Anh có nghe tiếng trái tim em không?
- Có ! Anh hiểu em, Mô ! Nhưng mà… chúng mình rồi…sẽ như em vừa nói. Thế thôi !
Tôi hôn Mô.
Đó là cái hôn độc nhất của tôi đối với nàng. Cái hôn phi phàm, trong ngần như hoa như mây không gợn gì khác. Một tâm hồn. Hai tâm hồn xa mãi nhưng gần mãi, cho tới giờ đây Một tiếng: Mô ! Một cái hôn yêu cũng là cái hôn vĩnh biệt.
Còn trận Tân Qui? Đó là một trận đánh vô tổ chức, không có chỉ huy, lộ bí mật, binh sĩ không quyết thắng trước khi nổ súng, và mất tinh thần sau trận đánh.
Bảy Mô đưa tôi vào nhà Tư Chuyền. Nàng thủ thỉ:
- Anh nằm dưỡng bịnh. Em sẽ vào thăm anh.
Mặt nàng buồn nghiến. Tôi biết nàng yêu tôi, một thứ tình yêu rất tiểu thuyết.
Vết thương chiến tranh dễ trị. Vết thương lòng mới khó.
Chỉ sau mười ngày, tôi lại được giấy hỏa tốc. Lúc nào cũng hỏa tốc. Mà lại do chính tay Tư Nhựt cầm vào. Lệnh của Năm Lê. Tôi mở ra đọc xong, Tư Nhựt nói:
- Chuyến này mình thọc sâu xuống Trung An thầy ạ !
Tư Nhựt là D trưởng, tôi là Tham mưu trưởng D nhưng y lại xưng hô như vậy. Tôi cản nhưng y thành thật nói:
- Tôi so với thầy sao được, nhưng ở trên giao cho tôi nắm D là vì tôi thuộc đường đất. Còn thầy đã qua chiến tranh chín năm lại học trường quân sự…
- Mình học lẫn nhau thôi!
Tư Nhựt là một nông dân, gan dạ và có nhiều đức tính. Sau này ở trên chỉ định làm anh hùng giải phóng quân. Y nhường cho tôi. Tôi không nhận (tôi đã biết cái hư vị đó một lần rồi).
Khi gần Tết Mậu Thân, Tư Nhựt được đưa lên làm Trung đoàn trường mũi nhọn đánh vô Sài gòn đợt 1. Trước khi xuất phát y giao vợ con lại cho tôi. Y biết sẽ chết. Thiệt là lâm ly bi đát. Tôi sẽ kể sau.
 
 
Chương 76
Cái chết của đặc công Huỳnh Thành Đồng
và sợi dây lưng quần của cô nữ dân công.



Vừa đi Tư Nhựt vừa than thở.
- Thiệt hại nặng quá thầy Hai. Thiệt lãng quá ! Đánh như vậy lính đâu còn mà đánh nữa.
- Trên 40?
- Thằng Hai Hổ xã đội vô trách nhiệm. Y cứ dập, không có cả bó chiếu, nói chi hòm!
Hai đứa kéo vô quán làm sơ vài con khô mực. Cô bé bẽn lẽn nhìn tôi như nhắc lại những cái hôn táo bạo của cô hôm trước. Chính nơi đây tôi được nghe cô nói: “Sắp đánh Tân Qui.” Đó là nguyên nhân của sự thất bại nặng nề.
Tôi và Tư Nhựt đi ngất nghễu trên đường vắng lặng. Lúa hai ven đường xơ xác. Không một bóng người. Đồng bà thưa thớt Những bà mẹ, những bác nông dân tự cho mình cái quyền chạy ra ấp chiến lược bám thắt lưng Mỹ mà không ai được nói gì. Ai nói gì kia chớ? Trực thăng nó xúc cả heo nái heo con lẫn người ra ngoài đó, heo được uống cả sữa bột. Ai đút miệng vô đâu mà nói.
- Tôi quá tin ông Ba Châm thầy Hai à! Tôi nghe ở trên sắp phân tán E2 thành D độc lập. C3 mất sức chiến đấu.
- Nó chịu nặng nhất.
Bỗng từ đàng sau có tiếng người. Tôi quay ngó lại. Hai người khiêng toòng teng một cái võng. Tôi nghĩ thầm: Chắc bị pháo lẻ đêm qua. Không có ngày nào Củ Chi không đổ máu, không có ngày nào thế giới không bị lừa gạt về cái Củ Chi đất thép này (đến nay 1994). Chúng nó gạt thiên hạ đã đành, chúng nó còn gạt cả đồng chí chúng và tự lừa mình.
- Ai đó phải anh Hai không?
Hai đứa tôi đứng lại. Chiếc võng trờ tới. Trên chiếc võng một bọc ni lông dài màu xanh. Tưởng ai, ai dè con Quắn.
- Ai vậy Quắn?
- Anh Ba em !
Thằng Quyết. Đêm trước thấy lính nhà vác xác nó qua mặt tôi đã rụng rời tay chân. Tôi còn đau đớn. Quắn đi song song với tôi và Tư Nhựt giải thích:
- Ba em bảo em đi tìm cho được xác ảnh đem về chôn ở đất nhà. Em ra Phú Hòa tìm ông Hai Hổ một ngày. Ổng mới dắt tới vườn cao su. Mấy chục nấm đất mới, không biết cái nào? Em nói tên Ba Quyết. ông bảo: “Tôi nhớ rồi. Mới lúc chiều chú Ba có mượn tôi kiếm cho cây đòn để khiêng thương binh. Chẳng ngờ tối lại khiêng chú.” Ổng chỉ: “Cái mã kia kìa. Nhưng phải coi kỹ, bể sọ đầu mới đúng, bị chỗ khác thì không phải Ba Quyết.”
Tôi rợn xương sống. Nếu tôi bị dập ở đó ba má tôi làm sao biết được? Cái cuộc chiến tranh ái quốc ái quần này giết không biết bao nhiêu sinh mạng để làm gì ngoài những trò khỉ cho thế giới khinh miệt và cười chê.
Nước chảy ròng ròng xuống đất, tanh hôi lạ lùng, nhưng tôi và Tư Nhựt cố giữ vẻ thản nhiên. Những con ruồi bay theo đáp trên ni lông, trên chiếc đòn. Tôi và Tư Nhựt đứng nép qua, cúi đầu. Tư Nhựt giơ tay, giọng nói rưng rưng.
- Chào mày nhe Quyết!
Còn tôi không muốn nhìn cái võng lẫn cô em gái đi sau chiếc võng. Quắn nói:
- Đây là bộ đồ ảnh bỏ lại nhà, em đem tới mặc cho ảnh nhưng không mặc được.
- Cho anh gởi lời chia buồn tới gia đình.
Tôi và Tư Nhựt đứng lại chờ cho chiếc võng vượt xa mới đi tiếp Tư Nhựt nói:
- Chuyến này mình đi Trung An thầy ạ !
- Đừng kêu tôi vậy, lính cười cả anh lẫn tôi.
- Anh, thầy cả đại tá, tôi ăn thua gì.
- Về Bộ binh tôi phải học anh.
- Giỡn hoài ! Tôi nghe Tư Linh nói anh đánh Tây hồi mười bốn tuổi. Tôi chỉ là… không chó bắt mèo ăn cứt: Học thì không, kinh nghiệm thì ít. Chỉ quen đường đất vùng này.
- Kỳ này hai đứa mình phải gở lại cái Tân Qui.
- Hai ông Ba Châm, Út Lịa làm bể lính hết. Phải vùa một tụ cho tụi nó lấy lại tinh thần anh ạ. Kỳ này luồn xuống một đại đội thôi. Trước khi đi mình phải kiểm thảo trận đánh. Ông Ba Châm bị gọi về gặp ông Năm Lê . Cho ổng xanh mặt phen này. Ờ, chân anh đã lành hẳn chưa?
- Lành, nhưng đi còn sượng.
- Nghe đàn bà đi chợ về nói tụi Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 mở tiệc ăn mừng ngoài đó. Tụi nó ngạo mình đấm vào lỗ không! Tức ói máu!
Tôi hỏi Tư Nhựt:
- Cái tay anh hết rồi hả ?
- Miễng sớt qua ngoài da thôi. Mấy bữa này xe tăng Mỹ cà rịch từ Lồng Cu 3 tới Bàu lách, lên tuốt Bến Đình. Nó vừa moi được một hầm 6 ông 2 bà ở An Phú .Chúng nó đang thăm dò để bung tới đường số 7 vào sâu Lô 6. Rồi luôn Ba Sòng nữa. Cha cha! Nó cắm nọc giữa rún mình rồi anh!
- Có ai ở trên xuống kiểm thảo mình không?
- Chưa biết. Nhưng ở trên bảo là mình có khả năng đánh cấp tiểu đoàn. Mặc dù vậy, trận Tân Qui cũng cho một số kinh nghiệm.
Tôi làm thinh. Hồi chín năm tôi ở D307 của Nguyễn Văn Tiên, có trận nào đánh cấp tiểu đoàn mà xộc xệch về mọi mặt thế này đâu. Hồi đó chiến thuật vững hơn, cán bộ tài ba hơn bây giờ nhiều. Những người lứa tuổi đó bây giờ như Ba Châm, Năm Tiều… đã lụt, chỉ còn làm được Tham mưu thôi. Nhưng đánh Mỹ bây giờ họ cũng đã lạc hậu. Các chiến thuật Lấy thịt đè người, Dao mổ bò giết ruồi, Công đồn đả viện đã phải rách nát trước các chiến thuật Trực thăng vận, Bủa lưới phóng lao, Phượng hoàng vồ mồi. Nhưng mình bắt buộc phải đánh. Chấp nhận.mọi hi sinh.
Thế là tôi và Tư Nhựt đi Gò -Môn (Gò Vấp và Hốc Môn nhập lại) để thi hành nghị quyết cấp trên. Bên cạnh cái chiến thuật “Nắm thắt lưng của Mỹ mà đánh” do “nhà văn” Nguyễn Chí Thanh (tác giả tùy bút “Cây đa bến cũ con đò khác đoan đăng trên 12 kỳ báo Nhân Dân để ca ngợi hợp tác xã) sáng tác bây giờ lại được bổ túc bằng một cái sự đời mới nữa “Đưa ác liệt vào lòng địch” mà chúng tôi là mũi nhọn tiền phong.
Theo kế hoạch thì chúng tôi gặp ông vua con Châu Thái Hùng, huyện đội trưởng huyện Gò-Môn. Hùng cho mấy chiếc tam bản rước một đại đội chúng tôi đến Trung An, một xã nằm sát sông Sài gòn, ở hai xã Tân Trạch Đông và Phú An Đông. Nếu cho tỉnh lộ 8A là cây đòn gánh một đầu gánh ấp chiến lược Cây Bài, một đầu ghim vào thị xã Bình Dương bên kia sông Sài gòn thì Ngã Tư Tân Qui và bót Cây Keo (cũng còn gọi là bót Thầy Mười vì ở gần đó có nhà thầy giáo Mười) là những điểm giữa của chiếc đòn gánh này. Tân Qui nằm ở phía ấp chiến lược Cây Bài, bót Cây Keo nằm về phía thị xã Bình Dương.
Hai cứ điểm này nằm trên trục lộ 8A cách nhau chừng bốn cây số đường chim bay. Quốc lộ I dẫn về Sài gòn gặp nhau với tỉnh lộ 8A ngay ấp chiến lược Cây Bài. Nói tóm lại muốn luồn Cl vào vùng Gò-môn chẳng khác nào bắt một con cá chui qua những mắc lưới đồn bót trên bộ và đặc biệt Giang Thuyền Bình Dương lúc nào cũng có thể đổ bộ trên hữu ngạn sông Sài gòn tấn công vào các vùng đất hẹp té được Mặt Trận Giải Phóng hóa phép thành khu Giải Phóng chiếm 3/4 đất đai Miền Nam nói chung và vùng giải phóng Quân Khu IV chạy dài tới cửa ngỏ Sài gòn! Trong khi trên thực tế, thì Củ Chi chạy tới Sài gòn là một nan lưới đồn bót cố định và được xây cất thêm càng ngày càng đông đúc vào thời điểm này. Có đến hàng trăm cái bót lớn nhỏ. Tân Qui chỉ là một cứ điểm trung bình có chừng 2C địa phương quân trấn giữ.
Riêng tôi và Tư Nhựt được một chiếc xuồng con rước vào căn cứ của Hùng, còn Cl và các tổ trinh sát thì phải hành quân qua rạch Nàng Âm vào lúc chiều tối để đóng ở ấp Phú Yên sát bờ sông Sài gòn chờ lệnh chúng tôi. Tôi hỏi Tư Nhựt:
- Anh có quen với Ba Hùng? (tức Châu Thái Hùng)
Tư Nhựt lắc .
- Nhưng nghe nói ông cũng là dân tập kết. Rất khó tính.
Chiếc xuồng con do hai người bơi theo con rạch quanh co, đổ ra sông Sài gòn một hồi rồi lại chui vào một con rạch khác. Hai bên bờ toàn là cây bần, cây mắm và lá dừa nước. Chừng một tiếng đồng hồ mới đến một khu vườn dừa cao và cây ăn trái. Tôi ngó lên thấy có một sợi dây phơi quần áo đen tím giăng giữa hai cây cau. Heo gà rải rác bên mương vườn. Tư Nhựt lên giọng lạc quan:
- Thế nào bữa nay mình cũng có bữa cháo gà .
Không ngờ gặp Hùng, chúng tôi thối chí: hắn có bộ mặt gà mái ấp, lạnh như tiền. Bàn bạc với hắn cả buổi, không có một miếng nước lã thấm giọng. Chúng tôi chủ quan nên không mang bình ton theo, đành chịu khát bàn chuyện cứu nước. Hắn làm như chúng tôi là Bộ Tư lệnh Quân Khu phải giải quyết tất cả mọi khó khăn cho hắn, nên bàn kế hoạch tác chiến nào hắn cũng than không khắc phục được mong các đồng chí thông cảm. Tư Nhựt hơi quạu:
- Phần tác chiến chúng tôi đảm trách, xin đồng chí cấp gạo cho chiến sĩ.
- Ở đây không có chế độ cấp gạo. Cơ quan nào cũng lãnh lúa tự xay lấy mà ăn.
- Tụi tôi là D cơ động làm sao xay lúa?
Hùng nhăn răng cười:
- Tại nó vậy tôi biết làm sao? (Nó là ai, có trời hiểu.)
Nếu gặp Năm Tiều chắc thằng cha quận đội này ăn đạp hoặc được thường vài ba chục đù mẹ. Mặt hắn có vẻ sáng sủa hơn Tám Giò quận đội Củ Chi. Nhưng Tám Giò còn đãi tôi và Hai Khởi một ly cà phê, trà và thuốc hút. Cuối cùng là nhậu mắm chua cá con, nhưng thằng này thì luôn luôn quác ra, làm như chúng tôi tới đây phá rối cuộc ăn hút của hắn.
Tư Nhựt hỏi tới vấn đề tải thương. Hùng lắc đầu:
- Ở đây chỉ có vài que du kích. Nhưng lâu rồi họ lặn mất hết. Nếu các đồng chí cần (cần thật chớ nếu con mẹ gì!) tôi sẽ liên lạc với xã đội Tân Thành Đông may ra kiếm được vài mạng. Nhưng xay lúa giả gạo thì may ra họ còn giúp, chớ tải thương thì e khó động viên. Có bắt họ đi ra trận, họ cũng trốn trước khi nổ súng.
Khác hẳn với những gì (rất lạc quan) mà ông Tám Quang Trưởng phòng chính trị Quân Khu thay mặt Bộ Tư lệnh phổ biến trước khi chúng tôi xuất quân. Cấp chỉ huy nào của Việt Cộng cũng có một cách lãnh đạo nhằm mục đích xua lính vào cái chết. Trước lúc vượt Trường Sơn, Nguyễn Văn Vịnh, Chủ nhiệm ủy ban Thống Nhứt thay mặt Trung ương Đảng báo cáo “Trường Sơn có quân y viện, có bếp nuôi quân, có cả mậu dịch bán với ba thứ tiền Việt Miên Lào!” Lũ binh sĩ và cán bộ nghe xong tưởng như đi dạo Bờ Hồ. Vô đó rồi hộc máu ra từng cục, lính chửi bác Hồ đểu. Nhưng đã vô lò sát sinh rồi. Cửa đóng then gài, chuồn trở ra không được. Tám Quang cũng lãnh đạo cái kiểu đó. Hùng nhìn tôi một giây rồi hỏi:
- Thấy anh hơi quen, hình như có ở 338 của ông Tô Ký .
Tôi gật, bụng không khoái lắm.
Cuối cùng tôi và Tư Nhựt cáo lui, chỉ nhờ hắn cung cấp xuồng ghe cho chúng tôi chở súng nặng đi trong rạch. Ở đây ruộng lầy, không thể vác đi được. Hắn đồng ý nhưng với điều kiện là phải báo trước một ngày thì mới có.
Hắn ngồi trong nhà nhìn chúng tôi đi chớ không thèm đưa ra bến. Tư Nhựt là kẻ rất đàng hoàng, nhưng bây giờ cũng không giằn được. Y đù mẹ và văng tục chửi thằng quận đội là đồ chó đẻ, đồng chí con gì vậy v.v….
Chúng tôi nhìn mấy người trong xóm có vẻ là du kích nhưng không dám ra mặt hơn, để hỏi thăm tình hình. Họ bảo xã Trung An này trống trơn, dân đi tứ tán hết, nhà cửa thưa thớt, chỉ có một con đường từ ấp Phú Yên ra ấp Nhà Việc gần đường số 8. Còn ngoài ra thì lội. Nếu đóng quân thì phải coi chừng trực thăng ở Đồng Dù đáp xuống hốt. D2 đã bị chụp mấy lần rồi! Chúng tôi chỉ được biết có thế. Ngoài ra thì mò mẩm tìm hiểu lấy.
Sau khi lên bờ tôi gặp Tư Công C trưởng Cl vừa lên thay cho Năm Tân bị thương nặng ở Tân Qui, Tư Công cho một tổ trinh sát đón chúng tôi đến bờ rạch xóm Bưng Tre (tức là con rạch Láng The). Con rạch này bắt nguồn từ đâu không biết, nhưng nó chảy qua cầu Phú Hiệp ở đường Một Làng, cách Đồng Dù chừng sáu, bảy cây số và đổ ra sông Sài gòn. Nói là rạch nhưng nó rộng lớn hai bờ rậm ri, nếu không có xuồng thì không tài nào lội qua được. Cuộc hành quân “đưa chiến tranh vào lòng địch” này quả là một cuộc đ đứng thiên nan vạn nan còn hơn cả Trường Sơn vinh quang.
Ở Trường Sơn có sốt rét, đói và leo núi, nhưng không có địch, còn ở đây thì nước ngập, bốn bề là địch và pháo. Nguy hiểm nhất là nước ngập cả vườn, nhà dân chỉ có cái nền là khô ráo. Không làm sao nấu cơm được ngoài vườn. Khổ nữa là củi ướt nhiều khói, bót bên kia sông Sài gòn hễ thấy khói là bắn qua. Lính lội sình móng chân nhét bùn, móng bị thối làm sưng hết cả bàn chân không đi được, chúng tôi kêu thằng quận đội mua cho vài chục cái cắt móng tay để lính dùng, và vài cái rề-sô để nấu cơm. Hắn bảo: “Các đồng chí tự túc lấy. “
Trên đường đi, tôi hỏi cậu liên lạc quận đội:
- Đồng chí Hùng ở đây hoạt động chắc mạnh lắm hả em?
Cậu bé bảo:
- Ổng đâu có ra khỏi nhà đó. Mấy ông được mời vô nhà là ưu đãi lắm rồi.
Tư Nhựt lại văng tục om sòm:
- Không có miếng nước uống, ưu đãi c… gì?
- Vậy mà hễ mấy ông về là ổng chơi toàn cà phê, Nestlé thôi Mấy con nhỏ áo hồng, áo xanh đỏ đi chợ mua đủ thứ về là đeo sát với ổng.
Tư Nhựt lại qua sông nghiên cứu trận địa vì y rành vùng này. Y bảo:
- Đơn vị mình cắm xuống đây là thất thế lắm thầy Hai, nhưng đó là ý muốn cấp trên. Nhưng thế này cũng chưa sao đâu khi lọt qua đường số 8 xuống vùng Bình Mỹ rồi thầy sẽ biết. Mình sẽ phải nấu cơm trên mặt nước . Một đứa treo soong trên tay, một đứa cầm lửa dưới đít soạng.
Đồn Thầy Mười xa xa kia. Nó chốt một trung đội để chận đường liên lạc băng qua đường số 8. Du kích bị nó đánh tan còn liên lạc thì phơi thây cũng nhiều. Do đó ở trên muốn chúng tôi bứng nó đi. Tư Nhựt qua sông xong, tôi ở lại lo chỗ trú quân và kiểm tra vũ khí chuẩn bị chiến đấu, không để xảy ra một trận Tân Qui của ông Ba Châm nữa.
Tôi và thằng Phước trợ lý cấp dưỡng Tiểu đoàn đi lãnh lúa. Lãnh cho được lúa cái đã rồi sau đó hãy tính đến việc xay. Có bộ đội chủ lực nào sinh hoạt như vậy chưa? Nếu có thì đó là bộ đội Việt Cộng. Lạ thay, trong trang thời đại nguyên tử này, nó phải đánh với một quân đội võ trang tối tân như quân đội Sài gòn và Mỹ. Và nên nhớ rằng “phải nắm thắt lưng mà đánh. ” Cái chiến thuật này đã đẻ ra vô số nghĩa địa và cái to nhất tên là Mậu Thân với nửa triệu nấm mồ vô chủ, trong đó có một cái mã to sù mang tên Lăng Bác!
Ông chủ nhà chúng tôi đóng quân mặt xanh như lá tràm. Ông không dám từ chối, chỉ muốn chúng tôi đi nhanh, nên mách cho chúng tôi chỗ lãnh lúa. Đó là anh Tư ở ấp Phú Yên. Chị Tư bán quán ở sát sông Sài gòn. Ra đây có nghĩa là vuốt râu cọp vì Giang thuyền Bình Dương thả trôi lều bều, không biết nó sẽ đổ bộ lúc nào, khoảng nào. Nhưng bụng đói thì đầu gối phải bò.
Chúng tôi vào quán thấy ba bốn ông nông dân sồn sồn mặc quần tiều, người áo vắt vai, kẻ ở trần đang ngồi uống trà. Tôi hỏi thăm thì họ chỉ ngay ông Tư trong đám. Anh là cán bộ kinh tài xã. Thằng Phước nói nhỏ.
- Ớn quá anh Hai. Rủi giang thuyền đổ bộ mình chạy đâu?
Tôi nói mà bụng cũng run.
- Có anh Tư đây lo gì !
Một người đàn bà cỡ bốn mươi tuổi, đầu tóc bới bánh lái, bước ra ngó hai đứa tôi với cặp mắt lạ lùng, lạ vì cách ăn mặc: đồ vải thô trên rừng không giống ở đây toàn xài vải ni lông. Chị bảo:
- Ông coi phát lúa cho mấy chú đi.
Tôi biết đó là chị Tư. Anh Tư nói ngay:
- Anh Ba Hùng có báo cho tôi hôm qua.
Thằng Phước ra miệng ngay:
- Anh Tư làm ơn cấp gạo cho tôi, chớ chúng tôi làm sao xay lúa? Chúng tôi là đơn vị lưu động đâu có vác cối trên vai được Vai chỉ để vác súng… cối thôi.
Tưởng đâu câu nói thống thiết đó làm anh động lòng, nhưng ngược lại, anh cười lạt lẽo:
- Mấy ông ở Hố Bò không quen vác cối xay, nhưng xuống đây phải tập rồi quen. Một vai vác cối xay, một vai vác súng cối. Có cối xay, súng cối mới nổ được.
Tôi muốn đá vô bảng mặt thằng đồng chí kinh tài, nhưng rừng nào cọp nấy, nên giằn lòng:
- Thôi được, anh Tư cho tôi lãnh lúa.
Chị Tư xía vô:
- Cái ông này, mấy chú kia (tức là D2 của Tám Lê) ở đây lâu quen rồi, còn mấy chú này mới xuống, ông phải giúp người ta chớ! – rồi quay sang tôi với cặp mắt cảm tình – Mấy chú đem lúa đổi. Một giạ lúa lấy 18 lít gạo. Dân xay lúa lời được trấu và cám cho heo gà ăn.
Tôi mừng thầm. Cái miệng nhân đạo của chị đã biến lúa ra gạo giúp chúng tôi.
- Cám ơn chị !
Tôi và Phước đi lãnh mấy chục giạ lúa. Giấy đều có chữ ký của anh Tư. Tôi hỏi anh:
- Ở đây không có kho sao anh Tư?
Anh lắc:
- Kho nước ngập, với lại mình làm kho Sư đoàn 5 nó nhảy xuống đốt hết. Chúng tôi bị cháy mấy cái ở Cầu Lớn rồi !
Sau khi lãnh lúa xong, tôi quay trở lại quán mua thuốc hút. Anh Tư mời tôi:
- Mấy chú mới xuống phải bám chắc Ba Hùng. Thôi, làm vài ly đón gió. Lạ phong thổ dễ bị chói nước lắm.
Tôi ngồi nhâm nhi khang mà mắt láo liên vì lạ nước lạ cái không biết bị tấn công, bao vây, đổ chụp lúc nào. Bỗng một nhóm ba người đầu bờm xồm, mặc áo ni lông đen cầu vai, quần tiều vào quán. Tôi đâm đứng dậy thủ thế, thì có tiếng kêu:
- Ê, Lôi !
Tôi ngó trân trân vào người vừa kêu.
- Tao là Vĩnh, Lục quân Trần Quốc Tuấn ở ty tiểu đội của mày nè.
Rồi hắn chạy tới ôm tôi hôn chùn chụt, buông ra rồi lại hôn như mưa. Chị Tư lẩm bẩm:
- Làm coi như vợ chồng !
- Tụi tôi còn hơn vợ chồng nữa đó chị Tư! – Rồi nói với tôi- Đây là chị nuôi của tao, còn đây là bạn của tôi từ mười năm trước đó chị Tư. Tưởng không gặp nữa.
- Mười năm mà còn nhớ, giỏi thiệt!
- Chết cũng không quên nữa là mười năm!
Anh Tư rót rượu, chị Tư nướng khô mực ra. Vĩnh cụng ly với tôi.
- Tao có gặp mày ở Quảng Oai Sơn một lần rồi từ đó biệt luôn. Thằng Phạm Hai không đi tập kết, nó ở lại kinh 6 Biển Bạch với con Út. Phải nó đi thì giờ này cũng như mình. (Tôi không hiểu Vĩnh nói như mình là sao. Anh dũng như mình, cực như mình hay ở trên coi mạng mình như kiến?) Nay gặp lại mày ở đây coi như tụi mình đã về Biển Bạch. Phải nhậu một bữa.
- Tao bận ghê lắm.
- Tao biết! tao biết! Nhưng bận gì cũng phải say một trận. Mày phải bám ông thần này (Vĩnh vỗ ngực) chớ không nhờ cậy thằng Châu mèo đái đó được đâu.
- Châu… nào?
Vĩnh rỉ tai tôi:
- Thằng Châu Thái Hùng! Ở đây bọn tao và Tám Lệ, Năm Dây kêu nó vậy, vì nó giúp gì cho mình cũng ri rỉ còn với các em thì nó rộng rãi như công tử Bạc Liêu. Mày tới cơ quan nó chưa? (Tôi gật) Có thấy mấy con gà mái tơ láng mướt trong nhà không? Đó là cái ổ… cách mạng to nhất của Gò-Môn. .. đóng tại làng Trung An. Mày cứ ở đây, bảo gì, cần gì tao làm cho. Thằng đó kể như mình nghỉ chơi đi ! Tao biết nó là Cf ở 338 nhưng đéo thèm nhắc. Mày không thấy cái mặt lưỡi cày, bộ răng chuột của nó à . Tướng đó khó chơi lắm. Nhờ nó cái gì nó cũng bảo tự túc, hoặc hứa mà không có ! Tao lo hết ! Tao lo hết cho mày! – Vĩnh đấm ngực – Tao sẽ cho lính tao tới phụ với mày.
- Đừng có hứa cuội nghe Vĩnh!
- Ê, giỡn hoài mày, ai chớ thằng này hổng chơi kiểu đó !
Tôi cười, giơ ly rượu lên:
- Vậy mày không hứa ra Bắc hai năm về là gì, Vĩnh?
Vĩnh cụn ly với tôi, nốc cạn rồi hai thằng tri kỷ ngã đầu vào vai nhau cười sặc sụa. Nó lè nhè:
- Không biết cô nàng Biển Bạch của tao nay đã thành hủ mắm chưa ?
- Tao cũng có một hủ….
Chị Tư vọt miệng:
- Mấy chú đừng lo, mắm để lâu càng ngon!
Chúng tôi lại uống, lại nhắc tích cũ. Nhưng không dám uống say dù cần phải say. Tôi bảo:
- Ngồi ở đây tao rét quá Vĩnh à !
- Mình ở Bạc Liêu Cần Thơ quen chém vè rồi. Ở đây cũng vậy. Tao chết, mày mới chết! Tao đã sống ở đây hai năm rồi!
-Trời đất, lão làng cỡ đó sao!
Vĩnh hứng tình, chu mõ hút gió queo queo vang cả quán. Anh Tư chị Tư đều khen tài của hắn. Tôi châm thêm:
- Nó ca vọng cổ mùi còn hơn mít nghệ chín cây nữa đó chị Tư. Nhờ vậy mà con Út đội giường thờ theo nó. Rồi con Sáu cũng mê nó luôn. Để khi rỗi, anh biểu nó vừa hút gió vừa diễn bài Khổng Minh tọa lầu cho anh coi cười lộn ruột.
Vĩnh nốc một phát quẹt miệng rồi gật gù:
- Tao sẽ về gặp lại em tao.
Hắn móc bóp lôi ra tấm hình nhỏ đã loang lở đưa cho tôi.
- Mày nhớ cái bờ kinh này không.
- Chẳng biết bờ nào?
- Bờ kinh 6 Biển Bạch chỗ tướng mình đóng.
- Ờ! ờ!
Tôi hình dung lại những hình ảnh xa mờ sau những lớp bụi chiến chinh, vẫn còn chưa biến dạng trong đầu. Vĩnh tiếp:
- Tao với mày đừng có đứa nào sẽ như anh Bảy Đồng của mình nghe mậy !
- Bảy Đồng nào?
- Huỳnh Thành Đồng tham mưu phó Quân Khu mày quên à?
- À! à ! Hắn ở Công binh F338 ông TÔ Ký đóng ở Xuân Mai. Ảnh ở đâu?
- Ảnh đang… ở sau bờ mía kia kìa.
Tôi mừng như tái sanh.
-Thiệt hả?
Huỳnh Thành Đồng Tiểu đoàn trưởng Z35, người đã chỉ huy pháo kích sân bay Biên Hòa. Tưởng đã chết ở Sông Bé. Súng ống quăng cả ở sông Sài gòn chạy lấy thân. Cái huân chương của ảnh tôi thay mặt lãnh ở đại hội mừng công R có mặt ông Sáu Vi, Nguyễn Hữu Thọ v.v… Nay lại gặp ở đây. Ảnh sẽ giúp mình cả tinh thần lẫn vật chất trong lúc gian nan này. Tôi hỏi:
- Có thể cho tao gặp ảnh được không?
- Ảnh nằm đó chớ đâu mà không được? Cái thằng!
- Tao muốn gặp càng sớm càng tốt !
- Khoan đã, để cưa thêm xị nữa rồi gặp không muộn gì. Ảnh đóng ở đó chớ không dời đi đâu hết. Đã ba, bốn tháng nay rồi.
Tôi yên trí nên nốc nhanh nốc mạnh. Xị rượu lưng rồi đầy lượt nữa. Vịnh vẫn cà kê. Tôi sốt ruột:
- Thôi đủ rồi Vĩnh. Làm quá mức không chạy được.
- Ừ đi thì đi. Nhưng đừng có gặp mà khóc như tao gặp mày lúc nãy nghe!
Vĩnh dắt tôi ra bờ. Qua một dãy mía sau quán. Đến một khoảng đất trống bằng chiếc đệm bốn bên là cây nua, cây bù xít um tùm. Đứng xa xa Vĩnh trỏ tay:
- Đó chả nằm đó.
Tôi nghĩ thầm:
- Chỗ này đào hầm được à?
Nhưng Vĩnh nói, giọng tỉnh queo:
- Mày không thấy chỗ đất mô mô đó à ?
- Nắp hầm mà làm vậy lộ chết!
- Nắp hòm chớ nắp hầm gì ?
Tôi điếng người. Lặng câm hồi lâu. Tai ù mắt hoa.
- Mày nói gì Vĩnh?
- Thì ảnh nằm đó chớ nói gì ?
Tôi hiểu rồi. À! thì ra thế.
- Thôi, đi vô mày. Tụi Giang thuyền đổ bộ êm lắm.
Bàn rượu vẫn còn nguyên, chưa dọn.
Huỳnh Thành Đồng? Con người to lớn. Đại đội trưởng Công Binh F338. Về Nam lúc nào không biết: Đánh sân bay Biên Hòa. Rồi được phong làm Tham mưu phó khu IV. Vợ ở Mõ Cày, Bến Tre. Rước vợ vô 1963 ở Tà Băng. Gặp vợ ở đò máy anh ta ẵm lên tay. Vợ dãy dựa suýt rớt xuống sông… Bây giờ nằm ở đây, im lìm như đất, dưới đất. Bốn bên không một đóa hoa. Không một cọng nhang.
Huỳnh Thành Đồng! Tham mưu phó Quân Khu IV!
Vĩnh không còn cái giọng châm biếm pha bi lụy nữa. Nó ngồi đờ ra.
- Thôi uống đi mày rồi lo công việc! Tao không muốn cho mày biết nhưng có thể sau này tao với mày gặp nhau dưới đó rồi mày trách tao.
Đột nhiên một tia sáng lóe trong đầu tôi:
- Khoan đi đã Vĩnht Mày hỏi chị Tư có gà vịt gì không cho tao một con.
Rồi chị bắt gà làm thịt, luộc để trên dĩa đem ra cho tôi.
- Đi Vĩnh ! Theo tao .
Vĩnh biết ý tôi, lấy bó nhang. Hai đứa ra mộ. Nấm đất lè tè vàng úa như một gò mối loạn trong rừng Tây Ninh. Tôi đốt nhang, cúng vái. Khói tỏa mênh mang. Lòng tôi tan nát bi thảm. Huỳnh Thành Đồng học cùng khóa pháo binh ở Sơn Tây với tôi về Nam lội khắp nơi. Biên Hòa, Bình Giã, Phước Long đều in dấu chân anh. Bây giờ nằm ở đây bẹp dí!
Chúng tôi quay trở lại. Tôi hỏi Vĩnh:
- Sao vậy?
- Ổng xuống đây thằng mèo đái không cho ở chung. Lạ cảnh lạ người !
- Sao không bám mấy ông xã đội?
- Xã mẹ gì. Chị Tư biết rõ. Ở đây làm gì có xã xiếc Ảnh tự đào hầm ở sau quán đâu đó. Giang thuyền đổ bộ lội vô quán ngồi im. Có lẽ ảnh bị ngộp nên tung lên chạy. Chẳng ngờ có hai tên ở sau bờ ngồi ăn mía. Nó rẹt một băng M16 rồi rút xuống tàu. Không biết đó là ai!
- Trời !
- Nó tưởng là thường dân.
- Có báo cáo về khu không?
- Thằng mèo đái nhẹm luôn vì đó là trách nhiệm của nó.
Đại úy Hai Giả bị cài xuống Thủ Đức cũng chết oan ức như vậy. Đó là kết quả chiến thuật nắm thắt lưng của Sáu Vi !
Tôi vẫn tưởng anh còn ở đâu trên R. Dè đâu lại chết ở ấp Phú Yên xã Trung An bên bờ sông Sài gòn. Hạng Võ không biệt Ngu Cơ ở Ô Giang mà ở bờ sông Sàigòn. Ngu Cơ hỡi, nàng ở Mõ Cày nào có hay!
Tôi gặp anh sau khi anh ở Bình Giả về. Mặt mày trầy xước, tóc tai bù xù, chúng tôi nhậu ở Suối Dây với thịt nai của Bùi Khanh săn được. Mấy đứa làm cạn năm lít đế mua ở Xóm Mới. Tám Tiến, Năm Minh, Tư Tây, Tôn Sứt, Bùi Khanh, Đồng và Lôi. Mọi người hãy còn, mất một mình Đồng. Hồn thiêng hãy về báo mộng cho chị ở Mõ Cày!
Cũng may nhờ gặp Vĩnh bạn chí tình. Nó cho lính bắc thêm, sửa chữa mấy cây cầu Rạch Cây Da, Rạch Kè để chúng tôi vận chuyển DKZ và súng cối! Nếu đi cầu khỉ thì quăng cả người lẫn súng xuống sông.
Tư Nhựt móc được người em cột chèo là Sáu Sanh, trợ lý tham mưu quận Gò-môn. Sáu Sanh tìm được vài ông du kích xã Tân Thành Đông. Tôi vẽ sơ đồ và đặt kế hoạch. Muôn năm vẫn một chiến thuật: Đánh nhanh rút nhanh để tránh pháo Bình Dương. Chúng đã gây tổn thất cho chúng tôi ở Tân Qui hơn cả trận chính diện. Bây giờ chúng tôi rất ngại, nhưng với pháo, không cách gì chống được trong lúc rút lui.
Đêm xua đánh đồn thầy Mười. Tưởng hạ nhanh, không dè lằng nhằng tới ba giờ sáng. Lính bị thương nặng nhẹ trên mười. Chết năm cậu. Đồn chính vẫn còn đề kháng ác liệt. Dakota thả hỏa châu, tàu lá chuối cũng không che được thân kiến. Gà cồ Bình Dương lại gáy ầm ầm sau lưng và hai bên sườn chúng tôi. Ba lô cốt đã bị chiếm để làm bàn đạp diệt cứ điểm trung tâm. Tư Nhựt hét như muốn đập máy:
- Công! Ôm thủ pháo nhào đại vô cho thằng Bụng lên.
Ở Tân Qui cối của Ba Trác vẫn canh không cho tiếp viện. Lát sau nghe thằng Trung báo:
- Anh Công quỵ rồi.
Công là em nuôi Tư Nhựt mới lên C trưởng được mấy ngày. Tư Nhựt hỏi tôi.
- Bây giờ làm sao anh Hai? Pháo Bình Dương nó dập sau lưng mình rát quá !
Tôi giựt máy:
- Bụng! Bụng ở đâu?
- Tôi với thằng Bính ở trong lô cốt bên tay phải.
- Sao không bò lên bịt lỗ châu mai trung tâm?
- Trống trơn. Bò lên đứa nào ngã đứa nấy. Ba bốn đứa nằm trước mặt tôi đây chưa lôi ra được.
Tư Nhựt lại hỏi tôi:
- Cho đám trinh sát nhào vô đại được không thầy?
- Không được !
Quả tôi thấy khó . Đánh kiểu này y như chiến thuật a thần phù của Trần Bá Xoài ở Cần Thơ và Hoàng Thọ ở khu 7 hồi chín năm. Nghĩa là cứ đánh rồi tùy tình hình mà liệu. Chắc sẽ bị pháo dập nát ngoài hàng rào trước khi hạ được cứ điểm trung tâm.
Bỗng nghe tiếng rí rố sau lưng. Tôi bảo Xướng ra coi cái gì vậy. Xướng báo cáo:
- Ba Trác pháo kích Tân Qui về tới.
- Kêu nó vô đây.
Ba Trác Cf cối, người Hải Phòng, mập mạp trắng trẻo.
- Báo cáo Tham mưu trường, tôi Ba Trác…
Tôi đưa tay ra hiệu bảo ở đó chờ rồi đập thằng Thuận:
- Mày chạy lên coi thằng Bụng thế nào?
Thằng nhỏ vọt lên như con chuột, lủi nhanh dưới lửa. Tôi tiếc thầm: Phải đem một bộ phận công binh của thằng Vĩnh theo thì đỡ quá . Thận chạy về thở hồng hộc, tiếng khao khao:
- Nó chỉ còn một khẩu đại liên ở trung tâm. Mình ló con nào nó quét con nấy. Ba Bụng đang ở trong lô cốt bên phải nhưng không vô trung tâm được.
Tôi lẩm bẩm.
- Làm sao bịt họng đại liên?
- Cối mình đâu? Anh nói anh từng bắn thẳng…
Thằng con nít bất ngờ gỡ rối cho tôi, kẻ đã tập cho đơn vị Tôn Sứt bắn trực xạ ở nền đồn Bổ Túc nơi chồng của Mai Khanh chôn thây bên gò mối loạn. Lúc rối trí tôi quên chính tôi đã sáng tác ra cái lối cối bắn thẳng. Thằng Thuận nói:
- Ở phía sau có mấy bà du kích do anh huấn luyện pháo…
Đang nói bỗng thằng Thuận quát.
- Anh Hai hụp xuống.
Khào… Làn đạn bay qua trên đầu tôi!
- Mời Tư Nhựt lại đây Thuận.
Tư Nhựt chạy tới, giọng run run:
- Pháo nó nã rát quá anh Hai.
- Để tôi! Ba Trác! Pháo còn mấy quả?
- Dạ mỗi khẩu còn một cặp!
- Đem lại đây một khẩu chuẩn bị bắn thẳng.
Hắn ngần ngừ, vì chưa từng bắn kiểu đó. Thằng Ty liên lạc nói:
- Anh Hai để em bắn cho!
- Mày học ở đâu.
- Em có học của anh hồi trước. Nhưng hiện giờ không có que và dây giật.
-Tại sao?
- Dạ bắn ở Tân Qui xong bỏ hết, anh Trác định về nghỉ, nhưng nghe đây còn nổ nên anh tạt vô coi.
- Chạy ra sau chặt ít khúc sậy hay dây gì cũng được !
Một chốc Ty về:
- Sậy dòn không buộc cò được.
- Anh nào có dây lưng quần cởi ra.
- Đâu có ai bận quần lưng rút, toàn là quần tây gài nút, còn quần cụt thì dây thun không xài được.
Ba Trác đã đem khẩu cối tới. Nhưng không có dây. (sau khi pháo kích y đã vứt hết mọi thử râu rìa, cho mang đê cối và nòng về thôi ) Thằng Ty la lên:
- May ra mấy bà du kích có anh Hai.
Tôi tuột quần dài ném cho Ty:
- Mày ra đổi mấy cổ lấy sợi dây lưng rút và chặt hai ba khúc sậy đem vô cho tao.
Tiếng pháo Bình Dương vẫn nhịp trường canh sau lưng chúng tôi tới cả trời rung rinh suýt sụp cả đất.
- Anh Hai tụt xuống.
Chéo! Chéo! Chéo! Thuận lôi tay tôi. Đạn qua trước rồi tôi mới hụp sau. Thằng Ty trở lại đưa hai sợi dây lưng và bốn, năm khúc sậy, mỗi khúc dài khoảng một thước tây.
- Ở đâu có đến hai sợi lận.
- Một ông già có sợi dàm trâu buộc ngang lưng đề phòng lội nước tụt quần tiều.
Thế là tôi có hai sợi cho hai que sậy. Tôi bảo Tư Nhựt:
- Anh kêu thằng Trung, thằng Bụng thu hút đại liên về phía nó để ở đây tôi bố trí bắn thẳng.
Rồi thằng Thuận dẫn đầu, thằng Ty vác đạn, Ba Trác vác lòng, tôi xách đế cối khòm khòm đi lên phía trước. Trung và Bụng đã làm đúng lệnh của tôi. Thu hút cả hỏa lực về phía chúng nó. Xướng báo cáo.
- Anh Hai xong rồi .
- Xong cái gì?
- Có chỗ đặt pháo rồi.
Ba Trác thì bảo Ty:
- Chạy tìm cho tao hòn đá để kê nòng súng.
- Trời, đá đâu ở đây? Đá bèo thì có.
Tôi quát:
- Tìm mau, ở đó mà giởn.
Ty chạy đi rồi trở lại:
- Có gạch thôi không có đá .
Ba Trác giật lấy hòn gạch. Tôi chụp lấy khẩu cối đặt lên nhưng nòng cối để nằm gối lên hòn gạch cứ lăn qua lăn lại. Tôi bèn giật chiếc khăn choàng tắm trên cổ thằng Ty chêm dưới nòng súng. Tôi đo từ mặt đất đến nòng cối đúng một gang tay. Theo thường lệ thì chẳng có ai bắn pháo cối như tôi. Trường dạy đặt nòng cối trên đế và bắn vòng cầu. Cho nên khi lấy hướng và độ xong thì pháo thủ ôm đạn cối thả vào nòng. Viên đạn chạy tọt xuống, hột nổ ở đuôi pháo sẽ chạm kim hỏa và vọt ra khỏi nòng bay đến mục tiêu.
Còn tôi thì khác. Tôi sáng tác ra cách bắn thẳng. Thay vì đứng trên đế, nòng pháo được đặt nằm theo chiều dài, họng cối chỉ cách mặt đất một gang tay nghĩa là chừng 20 độ. Như vậy thả trái pháo vào nó không chạy xuống. Do đó phải dùng que sậy đẩy nó xuống chừng 113 nòng pháo. Ở một đầu que sậy buộc sợi dây còn đầu kia thì chọc vào đầu trái pháo đã nằm sẵn trong nòng. Khi có lệnh thì người cầm sợi dây sẽ giật, que sậy đẩy trái pháo rơi xuống đáy nòng cối.
Tôi chỉnh hướng, tầm độ xong thì trong lỗ châu mai của cứ điểm trung tâm phụt ra những dây lửa quét qua quét lại phía thằng Bụng. Tôi nằm dài theo lòng cối và quát:
- Xong chưa ?
- Xong !
-Bắn!
Thằng Ty giật mạnh. Cụp! Trái đạn vọt ra. Tôi ngó theo. Một vầng sáng lóa xanh lè. Đạn đã chạm tường và xuyên thủng vào nổ bên trong. Tôi không thấy đạn súng máy phụt ra nữa thì biết trúng mục tiêu nên quát.
- Bắn tiếp!
Thằng Ty nối dây, Ba Trác nạp đạn. Ầm! Không còn tiếng súng bắn trả. Tôi hô: “Xung phong!” Một chiến sĩ đưa máy bộ đàm cho tôi. Tôi hét:
- Tư Nhựt! Cho trinh sát vô khiên chiến thương. Toàn đơn vị thu dọn chiến trường.
Xác lính hai bên lẫn lộn nằm chồng, nằm bên nhau. Phải rọi đèn pin để nhận mặt. Xác Tư Cường Ct nằm bên góc lô cốt trái với bốn xác chiến sĩ.
- Cho rút nhanh, Tư Nhựt.
Chỉ năm phút sau Dakota đã tới thả pháo sáng và ria vòng ngoài. Tư Nhựt chống nạnh, quát:
-Thằng Châu mèo đái đâu, vô đây mà hôi ! Đù mẹ thằng quận đội chó đẻ !
Đồng hồ tay tôi chỉ bốn giờ. Trời đã hừng đông. Nhờ sợi dây lưng của cô nữ dân công và sợi dàm trâu của bác nông dân mà cối bắn được hai quả. Nếu không, sẽ phơi xác cả trung đội chớ chẳng ít. Hạ một đồn chỉ có một trung đội nghĩa quân đóng giữ mà chết một Ct., một bt và mười một chiến sĩ. Nhưng hãy còn khá hơn trận Tân Qui. Nhờ sợi dây lưng quần chớ không phải nhờ tài trí của Tư Nhựt và Thiên Lôi. Nếu không có cái sợi dây phép đó thì chắc…
… Đường về nhà má vợ Tư Nhựt nước ngập lội lõm bõm. Vườn nhà măng cụt, sầu riêng nước lên tới gốc. Tư Nhựt cứ đi một quãng lại chửi rùm:
- Đù bà thằng mèo đái. Bây giờ tới phiên nó đi hôi !
Cái nhà ngói ba căn. Hai bộ ván gỏ hai bên. Chính giữa là cái bàn thờ. Bồ lúa đứng ở sát vách. Tôi quơ manh chiếu ném vô kẹt (bảo đảm miểng pháo văng) ngã ạch xuống, tay chân rã rời, hồn bay khỏi xác. Không biết qui phủ được bao lâu thì có người lắc chân lôi dậy:
- Anh Hai, dậy ăn cơm.
Dòm mặt trời đúng ngọ. Tôi bước lại bàn. Đồ ăn vung chùng. Thấy có hai chị em giống mặt nhau, tôi đoán là vợ và em vợ Tư Nhựt. Tôi đùa:
- Ông không sợ nghèo ba năm sao?
- Ông muốn chèo thì vô, sợ gì?
Thấy tôi bận quần tiều, bà già bảo:
- Mất quần như chú vậy cũng nên mất.
Tư Nhựt tiếp :
- Không biết cô dân công đó ở đâu má ạ ! Để con thưởng cô ta hoặc bắt làm dâu cho tiểu đoàn.
Vợ Tư Nhựt đem hai trái sầu riêng để trên bàn khui ra thơm bát ngát.
Tối hôm đó đánh luôn lô cốt Rạch Tra do Nhân Dân Tự Vệ thủ. Không có phát súng kháng cự nào.
Lính tôi hăm hở xông vô định lấy súng. Tôi quát:
- Nó gài mìn trong đó. Vô chết banh xác.
Tư Nhựt thừa thế quát to:
- Trở ra, rút mau. Nó tới bây giờ. Rút nhanh !
Nhưng pháo đã động tới. Ngay lô cốt. Đất đá bay như mưa. Tôn Võ Tư có dạy: “Địch lui ta không nên đuổi. Địch bỏ thành chớ nên vào.” Thấy chưa?
Về tới nhà thằng nào thằng nấy mặt mày không còn hột máu, thè lưỡi dài cả gang.
Tôi, Tư Nhựt và một số trinh sát Ct, Cf tiếp tục nghiên cứu. Chúng tôi cho 1A trinh sát qua sông Rạch Tra, luồn xuống chợ Nhị Bình trong đêm đó, qua luôn sông Bà Hồng, vùng đất không một bóng người, nhà không vườn trống. Hoang vắng lạnh người. Chúng tôi mắc võng ngoài vườn cau. Rồi tìm ổi ăn đỡ dạ, mà lại uống nước lã. Ruột sôi như sấm, không ngủ được. Thuốc hút ướt mềm. Rượu không có, không có cái gì ngoài trên răng dưới dế và những câu chuyện khào. Tôi mơ màng, nghe Ba Đức hỏi Tư Nhựt:
- Về nhà tấp nập vậy, ông có bắn được quả nào không?
- Súng K54 bắn ruồi chớ bắn gì.
- Thì bắn ruồi chớ bắn gì? Hí hí… Con ruồi nhà ấy mà ?
Tư Nhựt hiểu ý, gãi đầu đáp:
- Khách khứa đầy nhà , lại lu bu công việc. Tôi lôi bả ra sau vườn thừa thắng xông lên làm cú đứng. Mẹ ! Nước ngập tới mắt cá. Đỡ ghiền vậy chớ mất hứng quá cha!
Tôi cười, chõ mồm sang:
-Đứng cũng tốt chớ tía nó! Hắc… hắc!…
Tư Nhựt trả đũa .
- Bộ thầy cũng có kinh nghiệm hả?
- Trực xạ có khi hay hơn bắn vòng cầu. Tuy có hơi vất vả nhưng mục tiêu kề.
-Đúng ông gầy… thầy… pháo!
- Nhưng không cơ động bằng ông đặt dưới nước bắn thẳng bon!
- Hề hề… Tôi nghe mấy bữa trước, quân y rung rinh… hầm mấy em tơi bời khói lửa hết ráo.
Tôi tưởng thật, nên ngạc nhiên hỏi.
- Pháo nào? Sao tôi ở đó mà không biết?
Tư Nhựt cười đắc chí:
- Còn pháo nào nữa ông thầy ? Một quả , rơi hai con chim Thiên Nga !
Tư Nhựt cười đắc chí. Ba Đức tiếp:
- Nhưng cái cú trực xạ của anh không thể sánh nổi với cái miếng xay lúa của ông thầy pháo đâu nghe anh Tư!
Ba tên lê dương đầu đỏ cười sục sục giữa sự im lặng phập phồng của những tiếng súng vừa im.
 
 
Chương 77
Cái chết rùng rợn của tên cướp đầu đỏ bần cố nông Nguyễn Chí Thanh:
Điềm gở Mậu Thân.



Sau trận Thầy Mười, tình hình trở nên cực kỳ sôi động. Các cơ quan quân khu đều chạy tuột quần qua sông Sài gòn để tìm đất cắm dùi ở Bến Cát, Bến Súc, C khu đói và đau (Đ) cũ. Tôi không gặp lại Năm Lê trước khi anh rời cái chiến luỹ Maginot của Xã đội trưởng Ba Xây ở Xóm Bà Huệ . Cô Hiến, cô Thanh nấu bếp và Tám Nghị bị moi hầm bắt ngay ở đó. Tám Quang, cô Thảo cũng dông qua sông không ai tìm được. Mặt mấy ông lớn méo xẹo như những cái lò bị bão. Cho đến giữa năm 67 thì quân khu tả tơi này giải tán để chia thành 5 phân khu, chuẩn bị tổng tấn công Sài gòn vào Tết Mậu Thân.
Ở chương này tôi sẽ kể cho các bạn nghe về sự liều mạng nướng quân của bọn Hà Nội, đặc biệt là cái chết rùng rợn của tên giặc đầu đỏ Nguyễn Chí Thanh, một tên lính không có cấp bậc bỗng nhiên lại vọt lên thành Đại tướng rồi đứng lên đầu cả Võ Nguyên Giáp. Hắn là cháu cưng của Hồ nên Hồ đưa hắn vào Nam với chức Toàn quyền xứ Nam kỳ, tiền trảm hậu tấu, với cái tên ăn trộm Sáu Vi. Sáu Vi có cái bảng mặt vuông như khay trầu, bên má trái có cái sẹo to, có lẽ đó là dấu vết của một thời dao búa. Thợ ảnh chụp để treo trong đám lãnh tụ Hà Nội phải lấy nghiêng 3/4 để dấu cái thẹo đó và chải tóc hắn lưỡi mèo để che bớt cái trán dồ, còn bộ răng như cưa cá mập của hắn thì không sao núp kín dưới cặp môi thâm, dù rất dày, dày như hai múi bưởi của chị em ta.
Trận đánh đồn Thầy Mười đánh dấu một chặng đường lịch sử của Củ Chi: Nó cho biết rằng muốn đánh một cứ điểm do một trung đội địa phương quân phải dùng một tiểu đoàn chủ lực và phải hi sinh trên mười chiến sĩ, 1 Bt, lCt. Như vậy muốn đánh Sài gòn (đánh thôi, chưa nói hạ được) gồm có hằng chục sư đoàn trấn giữ thì phải có bao nhiêu quân đội và hi sinh bao nhiêu? Vậy mà bọn Hà Nội dám tấn công với những lực lượng tập hợp năm cha ba mẹ., rồi đặt ẩu cho những cái tên công trường 5, công trường 7 với sự hợp đồng chệch choạc, sự chỉ huy hầu như không có thì chẳng khác nào vác một cái vỏ trứng chọi vào một tảng đá. Chủ nghĩa Cộng Sản luôn luôn áp đặt và bành trướng. Nhưng bây giờ nó đã teo như mãnh da lừa và nhủn như cái c… c…
o O o
Tôi gắt tiểu đoàn chạy suốt không nghỉ. Chạy hộc máu, chạy cháy phổi, chạy bằng chân bằng cả đầu gối và hai tay. Chạy chết. Chạy cho thoát khỏi. Nhưng….ầm… ầm…
Mưa dưa hấu. Không nhiều, ba đợt trải thảm thôi. Tôi bò lên không nhớ mình tên gì, không biết mình còn sống hay chết. Dựa lưng vào gì cũng không biết. Ngủ hay thức cũng không biết. Bỗng nghe tiếng kêu văng vẳng:
- : Thiên Lôi ! Thiên Lôi đó hả ?
Tôi mở mắt ra thì thấy Tư Linh. Hắn cà gật cái đầu. Hắn thở như trâu cắt cổ. Hai thằng sống sót gặp nhau. Hắn cố nín thở để nói.
- Tin quan trọng.! Tin quan trọng!
- Quan trọng cái đếch!
Tôi quát và lại gục xuống… ngủ tiếp. Hắn rỉ tai tôi. Tôi kêu lên. Hắn lại bảo.
-Thiệt đó mày!
Tôi bàng hoàng sửng sất có đến mười phút mà không biết nói gì, không hiểu gì, cứ ngó hoài vào khoảng không đen đặc.
- Thiệt vậy sao? Thiệt vậy sao hả mậy?
Tư Linh ngồi soải bẹt hai chân ra như hai khúc gỗ, đầu nghẹo sang bên, không đáp. Tôi gắt:
- Sao không thấy ai báo cho tao biết?
Hắn gầm lên:
- Người ta đang dấu. Đù mẹ, báo cho mày?Mày là cái củ gì mà người ta phải báo cho mày?
- Xui quá ta ơi…
- Đừng có lộ ra. mất đầu ! Chút xíu nữa anh Ba Xu mình cũng phủi càng leo lên bàn thờ rồi.
- Ở đâu?
- Thì tại căn cứ đường 30 ở Long Nguyên.
- Trời, chỗ đó mà chết thì còn chỗ nào sống nổi!
- Hữu sanh hữa mạng mà mày. Tao bị trực thăng phang biết bao lần, và đội B52 mấy chập mà không sứt tí bòi nào hết. Còn ổng ở hầm sâu tới âm phủ nhưng chừng tới số thì cũng chết. .
- Xui quá là xui. Mẹ ! Sắp xuất chinh, nguyên soái lại chết, còn hơn cái kỳ bị gãy cụp. Đó là điềm xấu vô cùng.
- Đầu cu ở đó mà văn hoa ! Mày biết tụi thằng Hai Ninh ở đâu không?
- Chi vậy?
- Bảo nó điện cho Tư Cường điều động trực thăng vô Mi Mốt.
- Cấp cứu hả ?
- Cấp gì được mà cấp?
- Miễng hay sức ép?
- Trúng ngay trên giữa đỉnh đầu.
- Ổng có trối lại gì không?
- Không. Chỉ la một tiếng thất thanh rồi nằm dài, bất tỉnh luôn. . .
- Chậcc! Khổ quá, ổng ở trên R yên rồi, sao đi xuống dưới này làm gì cho bị vậy?
- Ở trển cũng ăn B52 liên tục nên ổng xuống dưới này chỉ huy và lánh nạn luôn. Không biết lẽ nào.
- Lánh nạn mà lại thọ nạn. Đù mẹ, chẳng ai biết được.
Tên tướng đầu đỏ đi xuống I/4 xem xét tình hình về vụ Tổng công kích Mậu Thân 1968 để bàn với Tư lệnh Ba Định.
Để chuẩn bị cho cuộc tấn công quan trọng này vô số công việc được tiến hành như: giấu kín hằng tiểu đoàn xe thồ trong rừng, mở đường băng rừng và quan trọng nhất là căn cứ cũ Bộ Tư lệnh Nam Bộ hồi chín năm của Trần văn Trà (một tên bất tài nhờ gặp dịp may mà lên đến Trung tướng). Năm 1950 Trà dời về Chiến khu Đ Đất Cuốc, Tân Uyên, Biên Hòa, tại đây Nguyên Bình giao quyền hành lại cho Trà để về Trung ương và chết dọc đường, người ta nghi là Lê Duẫn đã báo tin cho Phòng Nhì Pháp, đem lính commando phục kích.
Năm 1967, Bộ chỉ huy quân Giải Phóng đã biệt phái Trung đoàn Đặc Công-công Binh 429 do Tư Cường chỉ huy, xuống vùng Long Nguyên để thiết lập căn cứ.
Cả đơn vị thay phiên nhau xúc tác ngày đêm không lúc nào ngưng. Những gốc cây rừng to cả hai ba ôm được ngã xuống, cắt mỗi khúc dài sáu thước, bốn năm người khiêng mới xuể, dùng làm đà nắp hầm. Hầm đào sâu ba thước. Kiến trúc theo hình chóp nón với trụ chống đỡ có thể chịu đựng sức ép của B52 và bom từ 200 đến 250 kí-lô nổ trên nắp. Đường kính của các khúc gỗ dùng để làm nắp hầm phải từ hai đến ba tấc Tây. Ngoài ra trên nắp hầm còn có những lớp tre trúc đập dập xấp lớp để cản sức khoan xoáy của bom pháo. Đồng thời cũng có cả nắp đậy để chống bom hóa học.
Lòng hầm gồm có nhiều ngăn: nơi làm việc của Bộ chỉ huy, hầm ngủ của cán bộ, hầm quân y, hầm nhà bếp, hầm lương thực, hầm hội trường, hầm tù binh Mỹ. Đặc biệt có cả máy điện cung cấp điện cho các hầm về đêm. Có thể nói đó là một cái hang Pắc-pó nhân tạo thiết kế hiện đại như một thành phố tí hon dưới lòng đất.
Ở trên qui định là phải hoàn thành trước cuối năm 1967.
Khi hoàn thành xong thì Nguyên Chí Thanh xuống xem qua hệ thống hầm hố này và bỏ mạng tại đó.
o O o
Tôi đang ngồi bên cạnh Tư Lệnh cùng dựa chung một gốc cao su ngủ thiếp đi lúc nào không hay thì cậu cần vụ đập tôi dậy. Trời mưa lâm râm càng làm cho cảnh tượng thê thảm hơn là cảnh hai anh Hồng Quân Liên Xô trong Chiến Bại (La défaite) của Fadeev. Thằng Tặng, cận vệ của Tư Linh, giăng võng đã mắc xong. Tôi gọi Tư Linh vào. Thằng Tặng đưa cho hắn cốc nước trà, hắn chỉ hớp mấy hớp rồi nằm vật xuống võng ngáy pho pho. Tôi cũng uống nước, uống hết cả cốc và hỏi thằng Thuận cận vệ của tôi:
- Đơn vị đâu?
- Dạ, không biết.
- Trời đất, sao mày không biết đơn vị ở đâu, hả?
Thằng Thuận bứt đầu bứt tai lơ lơ láo láo. Tôi sực nhớ ra rằng hai thầy trò vừa tách đơn vị đi điều nghiên địa điểm để đặt pháo bắn vô Đồng Dù lần nữa. Dọc đường thì bị B52. May có nó bên cạnh, nếu không, chẳng ai biết tôi ở đâu mà tìm. Và cũng may thần kinh tôi chưa đứt sợi nào, nên tôi chưa quên cái tiền kiếp một giờ trước của tôi. Tôi bảo:
- Em biết chỗ nào còn quán xá gì không?
Thuận gan lỳ theo sát tôi! Nó là cậu cần vụ thứ 5 của tôi kể từ khi chỉ huy Bộ Binh. Cứ mỗi đứa lên vài tháng lại rụng, lâu lắm là ba tháng, nhanh nhất hai ngày. Tôi là kẻ bị đạn chê. Hồi chín năm, Nguyễn văn Trên, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 lừng danh toàn quốc gồm toàn lính ác chiến gốc Vĩnh Trà Bến, cũng kể là bị đạn chê như tôi bây giờ. Liên lạc và cần vụ của ông ta hi sinh đến cả chục mạng trong kháng chiến chống Pháp. Nghe tôi hỏi, Thuận lắc đầu:
- Bây giờ không biết ngả nào mà mò nữa anh Hai ạ !
- Lấy đèn pin mà đi.
- Dạ, mắt em sáng còn hơn mắt mễn nhưng bom cày cây ngã bít đường hết, nhà cửa không còn, đâu có chỗ nào để làm mốc chuẩn.
- Anh nhớ hình như đây là ngã ba . . .
- Dạ đâu để em đi thử.
Thuận vừa bấm đèn, tôi đã quát:
- Đi thầm nó !
Tôi sợ máy bay trông thấy. Giống như tên ăn trộm sợ ánh sáng. Đó là cố tật của Việt Cộng mà. Làm cái gì cũng bịp bợm lén lút sợ người ta bắt gặp. Thằng nhỏ đành phải đi mò.
Tôi lên võng nằm, mệt đừ nhưng không sao ngủ được. Khói thuốc TNT nồng nặc. Tôi cứ ho hoài. Câu hỏi tự nhiên nhá lên trong đầu tôi: Có thể nào xui xêo như thế sao? Hắn chết rồi ai thay? Không có ai bằng ổng. Một con người lạ lùng, một ông tướng mặt sắt. Nghe hắn đến là tướng tá sợ đái trong quần, tỉnh ủy tỉnh quéo mặt xanh như gà cắt tiết. Ngay cả Võ Nguyên Giáp cũng phải nể sợ vì hắn là con người ít mang tiếng lem nhem về đàn bà nhất trong Đảng, hoặc có mà tôi không biết. Xin nói cho công bằng: Nguyễn Chí Thanh không có đ. . . bậy bạ , không bao giờ mặc quân phục đại tướng hoặc có mà tôi không trông thấy. Mấy lần hắn đến huấn thị chỉ mặc sơ mi thường, không có cần vụ đi theo tò tò mang cơm mang nước. Linh gọi hắn là Đại tướng bần cố nông. Không biết hắn học hành tới đâu nhưng bộ đáng của hắn trông hệt một anh xã viên hợp tác xã nhưng nét mặt có phần hung ác mặt vuông, trán đồ, miệng quai xách. Hồ đã chọn đúng người để đưa vào Nam làm Toàn quyền đỏ khi Mỹ đổ bộ vô Sài gòn. Nghe đồn trước khi hắn vô Nam, Hồ đã tiếp riêng. Trước khi chia tay, Hồ đưa tặng cho một bao thuốc con Mèo Đen Craven A và bảo:
- Vận mệnh Miền Nam trong tay chú.
Tại sao Nguyễn Chí Thanh mà không phải Võ Nguyên Giáp, Phạm Hùng hoặc Lê Đức Thọ? Như đã nói trên, Hồ chọn Nguyễn Chí Thanh rất đúng. Giáp đã bị rơi đài phải về ẩn sĩ một thời gian học chơi dương cầm ở Hồ Tây. Thời gian này lẹo tẹo với bà thầy đờn xinh đẹp, mang tai tiếng cả Hà Nội. Giáp lại còn có đầu óc chính qui hiện đại, muốn biến quân đội thành một quân đội nhà nghề. Cuối cùng là tấm thân phì nộn bộ vó tài tử xi nê Tàu xì của Giáp không thể che dấu được bộ mặt xâm lược của Bác trên đường Trường Sơn. Do đó Giáp không được chọn vào ghế Toàn Quyền đỏ mà là Thanh mặt sắt.
Lê Đức Thọ thì không biết tí gì về quân sự mà chỉ lý thuyết suông sợ e không điều khiển nổi đám tướng đầu bò như Hoàng Văn Thái, Trần Độ, Lê Trọng Tấn, Trần Văn Trà, Đồng Văn Cống v.v…
Còn Phạm Hùng? Hùng làm Phó cối cả chục năm đội đít “Phạm Văn Vều”, tuy nổi đanh là tay xốc vác, phản ứng nhanh, tuyệt đối trung thành với Mác Lê, nhưng lại cũng như Thọ không biết tí gì về quân sự và tai hại hơn nữa là gốc dưa hấu ! Nên nhớ rằng bên ngoài Bác làm bộ đặt tay trên ngực và khóc mếu nói ” Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi,” thực sự bác là chúa ghét và nghi ngờ dân Nam kỳ và biệt đãi dân Trị Thiên Nghệ Tỉnh, kế đó là dân Rau Muống rồi Năm Eo, dân Dưa Hấu thì đội sổ muôn năm. Do đó dân Nam kỳ Thành Đồng Tổ Quốc vẫn không được xơ múi gì ráo sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh Tây, vác thây ra Bắc để “gặp Bác, bắt tay Bác.” (vô khám và đày lên núi đôn củi thì có. Dân Nam kỳ đã tởn tình yêu của Bác chưa?) Nói trắng ra, Bác sợ Hùng trở cờ.
Do đó, Nguyễn Chí Thanh tên trùm đỏ họ Hồ giao cho nắm vận mệnh miền Nam trong tay. Hắn vào đây như một Toàn Quyền có quyền bày đặt ra chánh sách mới, thay đổi chánh sách cũ và hành động một cách hoàn toàn độc lập không phải thỉnh thị Trung ương.
Tướng tá, ủy viên trung ương, dân theo đóm ăn tàn ở Sài gòn ra khu, nghe hắn vào thảy đều khiếp vía. Sự có mặt của hắn coi như chấm dứt mọi sự ăn hút, cấm câu ăn tiền của đám này. Vào đến R, Nguyễn Chí Thanh thay đổi ngay Chế độ cần vụ mà các ông to bà lớn ở trong này tự đặt ra cho mình. Với hắn, nói là làm, không có dằn dai chờ đợi.
Trước nhất hắn dẹp bỏ ngay chế độ huynh trưởng. Anh Ba, anh Tư quen miệng gọi nhau rồi dần dà trở thành nề nếp gia đình hồi nào không hay. Nhưng chính hắn lại thích làm huynh trưởng của đám đầu bò. Kế đó, hắn sắp xếp lại ba hệ thống quân dân chánh Đảng, mà hắn cho là trống đánh xuôi kèn thổi ngược, cho ăn rơ với nhau. Tiếp đến hắn nói rõ với mấy bọn xôi thịt Sài gòn rằng công cuộc cứu nước là việc chung, không ai được từ chối hoặc được biệt đãi hơn ai. Mấy ông bà sồn sồn, mấy tên nhà tu nhảy rào, mấy tên thầy chùa lỗ mũi trâu, mấy thằng kỹ sư ba xạo, lũ nhà văng và trí thức tịt ngòi, mấy gã tư sản yêu nước không có đồng xu dính túi thảy đều ngơ ngác nhìn anh Sáu Vi có bằng nửa con mắt. Sợ và ghét chớ không phục! Nhưng chẳng ai dám hé môi.
Tệ hại này là do chánh sách dụ dỗ, tâng bốc của Năm Quang tức Trần Bạch Đằng từ trước tới nay. Mỗi ông bà xôi thịt Sài gòn có cả tiểu đội hoặc một bán đội phục vụ . Các đàn bà như Dương Huỳnh Hoa và chồng là Hai Nghị sướng như tiên. Có lẽ ở thành, chúng nó cũng không được như thế. Tối rượu sâm-banh sáng sữa bò đều đều. Giải phóng quân phải giặt quần áo cho mụ nói gì chuyện nấu bếp rửa chén xách dép? Cặp uyên ương này vì cần phải có chỗ kín đáo để làm tình nên giải phóng quân phải cất nhà dựng vách bốn phía và làm phòng tân hôn cho chúng, trong lúc giải phóng quân thì ngủ võng muối cắn sốt rét thấy mẹ .
Còn Trịnh Đình Thảo thì đi đâu giải phóng quân phải khiêng như quan thái thú đi kiệu ngày xưa. Chuyện phục dịch cái đám trí thức này không tả xiết.
Nhưng dưới trào của đại tướng bần cố nông thì tất cả đều xuôi râu xếp giáp không dám ho he khi bị cắt hết các đặc ân. Ông đại tướng tuyên bố một câu xanh dờn:
- Các vị ra đây tiếp tay cứu nước, dân tộc ghi công. Nhưng trong lúc tình thế khó khăn chúng ta phải cùng chịu gian nan như nhau, cán bộ cũng như chiến sĩ, trưởng cơ quan cũng như anh nuôi chị nuôi. Nếu các vị không chịu đựng nổi, chúng tôi sẵn sàng và vui vẻ để các vị trở về sống lại cuộc đời cũ đáng hổ thẹn như những ai kia còn ngủ mê !
Bố bảo thằng nào dám phản ứng. Về lại Sài gòn ư? Có mà uống mật gấu mới dám!
Do đó thời kỳ này Lữ Phương (thứ trưởng Bộ Văn Hóa sau này) được đưa về tiểu ban Văn Nghệ R và công việc văn hóa duy nhất của hắn là nghiên cứu cách làm cho mấy con gà tự túc của hắn đẻ… trứng vàng. Còn Thanh Nghị thì được ở trên phát cho một chiếc xe đạp phế thải để chạy lọc cọc lán này qua lán khác và bị cả anh nuôi khi dễ như chó. Mỗi khi bưng cơm đến cho hắn, họ ném lên bàn rồi quay đi, không mời một tiếng. Họ cho là tụi này nghe hơi nồi chõ rồi nhào vô một lũ theo đóm ăn tàn, theo voi hít bả mía…
Dưới trào ông bần cố nông cán bộ từ đại tá trở xuống không được phép có cần vụ. Tướng chỉ được một. Còn từ thượng tá trở xuống phải ôm AK (có kèm K54) để chiến đấu khi có biệt kích tấn công bất ngờ. Lê Đức Anh bấy giờ đã đóng lon thiếu tướng, thừa lệnh Sáu Vi đã khui kho súng AK phát cho cán bộ dân quân chánh R.
Có một cú Sáu Vi chơi rất ngoạn mục. Cả dân R ai cũng biết và tán nhuyễn ra cười ngã nghiêng trong lúc uống trà. Đó là vấn đề ông trời con Tư Huệ . Chánh ủy kiêm tỉnh trưởng Tây Ninh. Tư Huệ trong kháng chiến tên là Nguyễn Việt Hồng, Chánh ủy Trung đoàn 300. Hồi chống Pháp, Tư Huệ sống như vua R. Vợ chồng y có một trung đội phục vụ . Nghe Sáu Vi đến, Tư Huệ trà nước tiếp đãi anh Sáu, anh Sáu không màng. Tư Huệ đem các món ngon vật lạ mua ngoài vùng Ngụy dâng đãi anh Sáu, anh Sáu cũng không ngó. Tư Huệ thừa cơ hội anh Sáu đến lều vua bèn than phiền rằng:
- Các đồng chí dưới cấp tôi được tập kết, từ ngoài đó trở về đồng chí nào cũng trên cấp tôi. Tôi lãnh cấp đại tá thì hơi hẹp bụng nhưng trung tướng thì hơi cao!
Ý anh Tư nhà mình đòi một sao với cành dương liễu như Lê Đức Anh. Anh Sáu bảo:
- Cấp bậc chỉ là tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, không phải nấc thang để bám lấy mà hưởng lạc…
Anh Sáu đả thông một hồi. Tư Huệ thụt cổ rùa luôn. Đó là mồm mép lãnh đạo Cộng Sản thôi. Thực ra chúng ganh ăn giết nhau như ngóe. Bọn nào giết hai đại tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái và hai trung tướng Đinh Đức Thiện, Trần Bình?…(!)
Mấy hôm sau, Ban chỉ huy tỉnh đội Tây Ninh được lệnh đi nghỉ mát. Riêng Tư Huệ đại vương thì từ giã hoàng hậu để trở về R làm lâu la dưới trướng của lũ đầu bò Bắc Kỳ. Đau đớn thay cuộc đời cách mạng lên voi xuống chó của tên Nam kỳ này. Tất cả các cơ quan R đều hả hê và tỉnh Tây Ninh được nhận một bộ chỉ huy mới là Ba Tới và Hai Dương. Ngoài ra ông xã đội Kà Tum tức là Trung đoàn trưởng Huỳnh Văn Một có công từ thời chín năm ở mặt trận Rừng Sát, sau 54 phải trốn chui trốn nhủi trong rừng, sau Đồng Khởi rút về Kà Tum thành lập lực lượng võ trang và trấn giữ vùng này suốt năm năm (đúng ra Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa coi như đồ bỏ không thèm để ý) nay lại được Sáu Vi cất nhắt cái vù. Nghe đâu Sáu Vi phong cho đại tá, nhưng Một không nhận, chỉ xin 100 AK phát cho bọn lục lâm săn nai săn thỏ kiếm ăn, để ruồng bắt đảng Rồng Xanh, một đám lính bất mãn đào ngũ do một tên Dt lãnh đạo và để chống các đồng chí Khơ-me đỏ thường lẻn
sang ăn cướp hoa màu của rẩy mình.
Với sự cải cách của Sáu Vi, các cơ quan R đã được giảm chính nhẹ nhàng và gom được một trung đoàn bổ sung cho công trường 9. Và đưa luôn trung đoàn Bảo Vệ căn cứ R của Tám Lê Thanh ra công đoàn bổ sung cho Công trường 5, thuyên chuyển Lê Thanh về I/4. Đám này bị nướng sạch với cái tên nghe rất hách “Mũi nhọn 1 và 2.”
Các bạn hẳn còn nhớ trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, tức là chiến tranh Quốc-cộng, cũng còn được gọi là chiến tranh chống Mỹ, có một bà Thiếu tướng?
Đó là mụ Định, dân Bến Tre, hồi chín năm chống Pháp làm đoàn trưởng Phụ nữ Tỉnh. Chính Sáu Vi đã cất nhắc mụ Định một cách bất ngờ.
Trong một cuộc hội toàn bọn xôi thịt Sài gòn, bọn đầu sỏ các tỉnh, bọn tướng đầu bò Bắc kỳ, Sáu Vi đã tuyên bố quyết định đề bạt “đồng chí Ba Định giữ chức Phó Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam.”
Các tên đực rực, các mụ nái xề mang danh trí thức yêu nước của Miền Nam, các tên lưu manh đội lớp thầy tu, các tên khoác áo cà-sa mang dép râu dùng cánh sen nhà Phật che bộ mặt đỏ, các tên luật sư thất nghiệp, lũ nhà văn tịt ngòi, có cả tên can phạm hãm con nít được xách đầu lên ghế chủ tịch Mặt Trận nữa v.v. .. Tất cả, tất cả đều gục mặt không dám ngó lên.
Bọn này đứa nào cũng mơ tưởng Sáu Vi sẽ cất nhắc mình vào ghế cao chức lớn, nào ngờ hắn ta lại cho một mụ đàn bà chữ không đầy lá mít ngồi trên đầu chúng. Có thể điều này làm cho chúng bất mãn kinh hồn. Bằng chứng là sau Tết Mậu Thân một trong những thành viên Trung ương của Mặt Trận là kỹ sư Hồ Văn Bữu đã dông về thành thú tội với chánh phủ Sài gòn.
(Sau năm 75, Hồ Văn Bữu đã bị bắt cải tạo tám năm và khi được thả ra, sống không hộ tịch. Nghe nói đã vượt biên, không biết đúng không?)
o O o
Đường dây hồi ức miên man của tôi bị cắt đứt vì có tiếng chân người đi tới. Tôi chồm dậy như máy, tay chụp vào khẩu K54, quát. Một ánh đèn nhoáng lên rồi tắt phụp. Thằng Thuận đã về.
- Có gì không?
Thằng bé ném một bọc xuống đất, nghe chừng nặng. Nó biết ý tôi nên không bấm đèn nữa. Tôi lấy mũ tai bèo che và móc hộp quẹt bật lên. Thằng bé móc ra và ấn vào tay tôi, nói:
- Cái quán bay đi đâu rồi thủ trưởng! Chi còn có mấy cây cột và xâu bánh này.
Miếng bánh tét đầu tiên nhai trong miệng thiu nhớt, chứng minh lời thằng bé nói. Tôi đập hai thầy trò Tư Linh dậy. Chúng tôi ăn bánh tét phế phẩm uống trà nguội, ăn luôn cả xác trà vì không dám nhóm lửa. Tôi hỏi:
- Tỉnh hồn chưa?
- Ngủ được một phát đỡ quá . Tao ngủ lâu chưa mày?
- Chừng hai tiếng ! Nào, mày tỉnh rồi phải không?
- Tao mê hồi nào mà mày bảo vậy?
- Hết mê rồi thì nói lại lần nữa cho tao nghe.
- Nói cái gì?
- Ông Sáu Vi đã chết thiệt à?
- Cái thằng! Mày mê thì có! Tao đã bảo là thằng Ba Tiến hỏi tao con đường đến thằng Hai Ninh để đánh điện cho thằng Tư Cường Công Binh đem máy bay vô sân bay Mi Mốt chở xác ổng về Hà Nội.
- Ba Tiến là thằng nào?
- Là Bí thư của ông Sáu Vi. Trời ơi ! Khổ quá sao mày không biết cái giống gì hết vậy?
- Miễng trúng đâu?
- Trúng ngay chóc cái đầu. Thôi đừng hỏi nữa. Bữa nào khỏe tao kể tiếp. Còn nhiều vụ ly kỳ nữa cơ. Bây giờ mệt lắm…. Mà không phải miễng bom.
Hắnchết thiệt rồi ! Một chuyện rất thường tình trong chiến tranh. Những cái chết mà chính tôi trông thấy tận mắt chớ không phải bằng báo cáo nhân dân hay bằng cái loa Giải phóng . Ở Trường Sơn chúng nó đem con bỏ chợ thật tình. Không có cách gì để sống ngoài cái sức còm cõi còn sót lại trong người. Tên tướng mặt sắt này đi vào Nam không mất một lạng thịt. Vô đến đây hắn còn chất nhờn đầu gối, lội hết chỗ này đến chỗ khác, chứ đâu có biết đến sự tàn phá của cái vòi bé tí của con muỗi đòn xóc.
Hắn có tiếng là người “đi sâu đi sát thực tế, phát hiện vấn đề rất nhạy bén, giải quyết mâu thuẫn rất kịp thời.” Điều đó đã được chứng minh ở sự giản chính các cơ quan R, nhưng nếu hắn lội bộ Trường Sơn thì hắn sẽ thấy rằng tiết kiệm được hai trung đoàn cần vụ và bảo vệ căn cứ R không thấm gì với hàng vạn sinh mạng con người đang sống dở chết dở suốt con đường mòn quái ác mang tên Bác Hồ kia! Tôi gạn hỏi:
- Bị B52 à?
- Chớ còn gì nữa !
- Mà xác còn nguyên à?
Tư Linh gào lên:
- Đừng hỏi nữa. Để tao kể cho nghe . Nghe xong rồi quên đi rõ chưa? Còn các cậu nữa? Không nên nói đi nói lại với ai ! – Hắn nghiến răng với hai cậu cần vụ – Tụi bây mà lép nhép cái miệng là bỏ bố nghe con! Chắc chắn ổng chết rồi. Thằng Ba Tiến chạy đi tìm Hai Ninh Phó ban Thông Tin mà không gặp nên hắn theo liên lạc hỏa tốc cùng với đội bảo vệ từ đường 30 chạy về ngang cầu Phố Bình, không biết đường đi bèn lũi đại vào rừng, gặp tao. Trông mặt mũi hắn mất sắc tao hỏi chuyện gì. Hắn bảo ông Sáu Vi đã chết nên chạy đi tìm Hai Ninh để đánh điện về R.
- Thôi vậy là hỏng rồi. Bị có nặng không?
- Căn cứ ở đường 30 chuẩn bị cho chiến trận sắp tới đã bị sụp gần hết. Nhưng ổng không có việc gì. Xong đâu đấy, ổng mới lên miệng hầm, đứng quan sát. Bất thần một nhánh cây gãy phóng xuống ngay đầu ông như búa tầm sét của Thiên Lôi.
- Trời đất !
- Thiệt là kỳ cục.
- Cây gì lại gãy kỳ vậy?
- Thì cây cối trên rừng chớ cây gì!
- Nhưng sao trước đó không gãy lại chờ ông lên mới gãy?
~ Trời ơi! ông nội hỏi những câu như vậy làm sao tôi trả lời. Chậc! Xui quá! Cả nhóm ba bốn người đứng chung quanh đó mà nó lại rơi trúng ngay ông. Thằng Ba Tiến đứng sau lưng ông có mấy tấc, không sao cả. Ổng vừa ngã xuống nó liền xốc ông dậy, nó nói ông đã xụi lơ và không có nói được tiếng nào hết. Ông Ba Xu đứng cạnh cũng không trầy chút da.
- Rồi mày có dẫn cho Ba Tiến gặp Hai Ninh không?
- Có chớ! Hai Ninh điện cho Tư Cường đem xe thồ xuống chở xác ông đi. Cũng may là tụi thằng Hai Ninh bị B52 dập mấy lần mà không chết. Nó cứ bám trụ ở Đường Long nên Ba Tiến mới gặp và cũng may là máy còn phát điện được. – Tư Linh hắc hơi hai ba cái liền — Tư Cường cho tụi xe thồ đến chở đi. Trời đất! thằng Ba Tiến nói là nó phải bó xác ông lại rồi chở bằng hai chiếc xe thồ. Một chiếc thì làm sao mà đi! Ổng đâu ngồi trên poọc-ba-ga được.
- Tao không tưởng tượng được là tụi nó thồ cách nào.
- Có lẽ đã tới Mi Mốt rồi. Ở đó có trực thăng sẽ đưa nhanh về Nam Vang rồi ra Hà Nội. Cấp cứu gì được nữa ?
- Đại tướng mà chết lãng nhách.
- Đại tiểu gì thì cũng chỉ một viên thôi.
- Mà ổng đi đâu dưới này chớ?
- Chắc là ổng đi xem tình hình để có chỉ thị cho Quân Nhu. Nhưng thằng Ba Tiến thì bảo với tao là đi lánh nạn. Một công hai việc.
- Trời đất! Lánh nạn gì ở I/4? Bom đạn như vầy mà xuống đây lánh nạn?
- Nó bảo trên R ăn B52 dữ quá, chịu không xuể.
Nguyễn Chí Thanh là ông tướng cao cấp nhất mà tôi được tiếp xúc nhiều nhất. Cho nên khi nghe hắn chết như vậy, nhất là một cái chết không đáng, lúc đó (1967) tôi cũng nao nao trong lòng.
Tháng 4 năm 1964 khi tôi mới về tới U-80 thì được cử lên R để nhận phần thưởng và cờ Lưu Luân của Mặt Trận tặng cho chiến công pháo kích sân bay Biên Hòa. Tôi được tôn vinh như một anh hùng. Sự thực thì tôi không có tham gia trận pháo kích này. Lúc xảy ra trận đó, tôi ở Phước Long với cô em Thu Hà (đã thuật ở phần trước) nhưng vì tôi là thầy dạy pháo cho nên ở trên bắt tôi làm anh hùng ngang. Tôi được ngồi ở hàng ghế đầu. Trong buổi lễ có mặt đông đủ các tướng tá Bắc kỳ: Trần Độ, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn v.v… Nguyễn Chí Thanh đứng lẫn trong quan khách nói chuyện rất hào hứng với đám xôi thịt Sài gòn đang lu bu theo hắn như ruồi bu c… ngựa. Bỗng Trần Văn Trà nắm tay tôi lại bên Nguyễn Chí Thanh và hỏi tôi:
- Biết ông nào đây không?
Tôi rút chân thẳng thế đứng nghiêm theo quân phong quân kỷ.
- Báo cáo Đại tướng…
Ông đưa một ngón tay lên miệng và suỵt:
-B.M.
Da mặt hắn vẫn sạm đen, không có vẻ gì bệnh hoạn. Áo len nâu sậm, cổ cao, tay dài. Hắn đưa tay ra cho tôi bắt và không nói gì. Khai mạc lễ chính thức, tôi đại diện cho đơn vị chiến thắng ở sân bay Biên Hòa bước lên diễn đàn phát biểu cảm tưởng: Kính thưa các đồng chí õm tõi, trong đó có cả đồng chí chủ tịch Mặt trận, Phó chủ tịch Mặt Trận và bà Phó tịch nữa. Đặc biệt là có một cái ông gọi là Maurice Tư Thiên, đại diện Bình Xuyên là cái nghĩa gì, tôi không hiểu được nhưng ở trên bảo là phát biểu là cứ phát ào. Mà thực ra nó có phải là cái cảm tướng của tôi đâu. Từ I/4 lên R, trung tá Ba Hải, trưởng phòng Chính Trị của U80 đã gà sẵn cho tôi rồi. Ban đầu tôi còn từ chối, nhưng Ba Hải bảo:
- Ông Cục trưởng Cục Chính Trị Quân Giải Phóng có biết mặt mày. Tao nghĩ là trong đám đặc công ở R không có thằng nào có văn hóa bằng mày, lại nữa mặt mũi chúng nó trông rất ác tướng không nên ló ra trước mặt đám trí thức thành thị mới vô v.v….
Do đó, cuối cùng tôi phải nhận mần một cái cảm tưởng. Tôi đủ sức mần, nhưng Ba Hải sợ trật đường lối nên thảo sẵn dàn bài cho tôi. Tôi cười cười chấp nhận, nhưng bụng nghĩ có quan trọng mẹ gì. Hồi ở Hà Nội, có nhiều lần thầy Lôi đi với em suốt buổi tối chủ nhật, sáng thứ hai vô trường đâu kịp soạn giáo án mà vẫn cương tuồng bụng re re học sinh từ cấp thiếu úy đến thượng tá ngồi nhóc mỏ cá kèo nghe, sá gì cái cảm tưởng này. Còn khỏe hơn nữa là lên tới R, ông Cục Trưởng Cục Chính Trị Quân Giải Phóng đã soạn sẵn cho ba, bốn trang lâm ly rồi. Cứ đó mà đọc. Ông ta cũng soạn cho bốn, năm người khác trong đó có mấy ông bà trí thức gà mờ ở thành mới vô . Do đó tất cả cảm tưởng trong buổi lễ đều rất ăn khớp với nhau không có điểm nào chệch choạc hoặc râu ông này cắm cằm bà kia.
Tôi được ông Cục Trướng Cục Chính Trị giới thiệu với hội trường như một anh hùng vừa lập xong cái chiến công Biên Hòa. Cả hội trường vỗ tay vang dậy hồi lâu. Tôi đọc cảm tưởng một cách chậm rãi và rất hùng hồn.
Mấy mụ sồn sồn ngó tôi lom lom. Mấy tên mặc áo nhà sư đầu bóng lưỡng thì chậm rãi gật gù. Hóa ra một đám Lỗ Trí Thâm lên cổng chùa vào đây ngã mặn. Chứ không, sao lại hoan nghênh kẻ sát nhân như tôi. Cán bộ đến dự gồm toàn thứ cao cấp của Cục Tham Mưu, Cục Hậu Cần, Cục Chính Trị ngồi như cá mòi ở cuối hội trường không có dịp ngửi hương phấn của Sè thành e lệ. Tôi liếc thấy một cô đào Hát bóng ở Hà Nội. Cô nàng đẹp lắm nhưng tiếc thay cái bông hoa lài đã cặm bãi cứt trâu, bây giờ vô đây không biết món gì mà lại lọt vào hội trường này?
Tôi đọc tới đoạn quan trọng thì lên gân:
- Quân đội là con em của nhân dân, phải tận trung với nước, tận hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành (lặp lại hai lần), khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng! (tôi nghĩ là: kẻ thù nào cũng đánh bại chứ sao lại đánh thắng?)
Tôi biết câu này là do ông Sáu Vi sáng tác nên vừa đọc xong, tôi ngó xuống ngay hắn. Hắn gật gù và giơ nắm tay lên trước ngực tỏ ý hài lòng, trong lúc hội trường ào ào đứng bật lên như đạp phải lửa. Mỉa mai thay những tên đặc công đánh trận Biên Hòa, sau khi nổ súng rồi bị trực thăng nhảy chụp không có đường rút lui, phải nơ ba cây DKZ 25 lủi như chuột còn kẹt ở bờ sông Bé, nghe nói gần phân nửa bị bắn chết, hai khẩu DKZ rơi xuống sông không mò được…
Tất cả đám xôi thịt không.phân biệt gái trai già trẻ đều ngồi phải cây cọc Nguyễn Chí Thanh một cách hết sức êm ái nên tha hồ nhún nhảy và vỗ tay khoái cảm rã rít. Khi tôi hoàn thành bài cảm tường thì các ông to bà lớn động cởn lại một phen đứng dậy vung tay múa chân hoan hô giải phóng quân anh hùng.
Kế đó là ông chủ tịt Mặt Trận Nguyễn Hữu Thọ lên sân khấu tặng huân chương Quân Công Hạng Ba cho đội đặc công (gọi là Đoàn Pháo 69). Tôi thay mặt Đoàn lãnh Huân Chương. Tiếp đến vợ chồng bác sĩ Phùng Văn Cung trao cờ Luân Lưu (Phùng Văn Cung là tên bác sĩ thiến heo, vô rừng chích toàn gây áp-xe cho bệnh nhân). Tôi lại cũng tiến ra thím xực luôn lá cờ rồi quay ra trình cho hội trường xem. Bà ta cảm động ôm quàng lấy tôi mà hôn. Tôi nghe ớn quá trời vì bả già cóp. Tôi chỉ đáng con bả. Giá được con gái bả hôn thì thích hơn.
Hội trường lại thêm một phen cảm động quá sá ngán. Máy ông phó nháy chớp lia, mấy ông phó nhòm thì quay ống kính theo tôi bấm máy chạy rè rè. Tôi nghe cái cục vinh quang chạy lên tận cổ. Tôi dõng dạc oai phong bước xuống sân khấu đến ngồi vào ghế của mình. Ông đại tướng chồm lên vỗ vai tôi, rồi đưa tay ra cho tôi bắt:
- Cậu khá lắm! Quân đội phải thế!
Phần lễ chính thức tối đó coi như chấm dứt để bước sang phần văn nghệ do đoàn Văn Công Giải Phóng của chị Ba Thanh Loan phụ trách. Trong lúc ngồi xem, ông đại tướng cứ hỏi chuyện tôi hoài. Mình ở trong rừng thiếu chất tươi, xem Văn Công được một đêm còn hơn uống thuốc La Vạn Linh Bổ Thận nhưng tôi đâu dám bất mãn với ông đại tướng, cứ phải luôn miệng trả lời. Ông hỏi thăm tình hình của đoàn Pháo 69 mà Cục Chính Trị lếu láo giới thiệu với hắn tôi là Đoàn Phó. Vốn là người đi sâu đi sát với lính nên hắn hỏi thăm tôi ngay về tổ chức của đoàn. Làm sao đột nhập vào vùng tạm chiếm. Vấn đề chuyên chở nòng pháo. Vấn đề rút lui v v Chẳng lẽ mới nhận huân chương đó, bây giờ lại nói không biết gì, tôi bèn bịa và trả lời xuôi rót nên ông ta tin tưởng tôi là Đoàn Phó đoàn 69 và đã chỉ huy trận pháo kích thật. Hóa ra mấy tên đầu bò bịp tên đầu bò. Tôi không ngờ chúng nó lại thủ đoạn với nhau như thế. Do cái loại báo cáo tô hồng này mà Cải cách ruộng đất bét nhèo ra rồi lão Hồ mới hay.
Nhưng Sáu Vi không dừng lại ở những nét chung chung đó. Hắn hỏi sát đáy quần chúng cơ.
- Anh em ăn có no không?
- Dạ no. (Gạo mục và đói thấy mẹ. Trồng khoai sắn tự túc Mỹ đánh tan hoang hết)
- Có trộn khoai sắn gì không?
- Dạ không ? (Không trộn khoai sắn, chi ăn khoai sắn vì không đủ cơm. )
- Mỗi tháng khẩu phần bao nhiêu?
- Dạ 30 lít chẵn. (Lắm lúc không có lít nào phải đi ăn chực ngoài ấp chiến lược hoặc trong xóm. )
- Tiền thức ăn bao nhiêu, có tạm đủ không?
- Dạ, 8 cắc cho sơ cấp và lính, một đồng hai cho trung cấp (sự thực ít khi lãnh đủ. )
- Không được, phải hủy bỏ ngay cái chế độ đó. Phải đồng cam cộng khổ. Sinh hoạt phí có phát đều không?
- Dạ có ! (không mấy khi có.)
- Anh em có thắc mắc gì không?
- Dạ không ạ . (Anh em chỉ chưởi cha mấy tháng quản lý tham ô và cấp trên hưởng lạc thôi chứ không dám thắc mắc.)
- Anh em có ra ấp chiến lược mua sắm không?
- Dạ đơn vị cấm ngặt ạ ! (Sự thực thì cán bộ ăn hút mê man ngoài ấp chiến lược lấy vợ luôn ngoài đó)
- Chế độ sinh hoạt Đoàn Đảng có duy trì tốt không?
- Dạ có ! (chỉ họp để thi hành kỷ luật các ông dâm ô ngoài ra ai cũng ớn họp.)
- Có kết nạp đoàn viên đảng viên mới không?
- Dạ có ! (sự thật thì không ai vô đoàn, còn đảng viên thì bị khai trừ nhiều hơn kết nạp. )
- Anh em miền Nam về được quê hương có phấn khởi không?
- Dạ phấn khởi lắm. (Mừng thấy bố nữa là khác.)
- Đồng chí có gia đình chưa?
Dạ chưa ! (Làm sao đứng lại để cưới vợ được mà có ?)
Ông ngưng một chút để cho tôi coi Văn Công. Tưởng gì ai dè kịch Đánh Mỹ của các dũng sĩ Củ Chi. Nào là Bảy Bê, Bảy Nề, Bảy Mô, Út Nhỡ, Tư Gừng, Năm Cội v.v… Đến cái màn Mượn Mỹ (tôi đã kể ở phần I) tôi mắc cỡ quá chừng. Vì sự thực không có gì hết ngoài cái tổ chức gọi là Đội Nữ (gồm toàn Nữ Du Kích của các xã) nhảy cóc nhảy nhái võ trang bằng súng trường bá đỏ đâu có làm ăn được gì. Tôi biết rành mà chúng lại đem diễn láo cho tôi xem.
Ông đại tướng lấy làm thú vị, vừa coi vừa gật gù khen ngợi:
- Thành đồng phải thế! Thành đồng phải thế!
Khi vở kịch Mượn Mỹ chấm dứt ông lại hỏi tôi một loạt nữa.
- Cậu có gặp mấy cô này không?
- Dạ có gặp luôn ạ . (Gặp cả ở dưới hằm.)
- Có đúng như trong vở kịch không?
- Dạ đúng, nhưng vở kịch còn kém so với thực tế.
- Là thế nào?
- Dạ đội nữ anh dũng hơn nhiều. Vở kịch không diễn tả được cảnh trực thăng bắn.
- À ! đúng, cái đó thì khó đem lên sân khấu. Mỹ có vẻ khờ lắm phải không?
- Dạ không.
- Sao tôi nghe đài Giải Phóng nói thì tôi mường tượng đó là những thằng người làm bằng sáp.
- Dạ tôi chưa bắt được thằng nào nhưng máy bay của nó thì rất… ác.
Tôi không dám đẩy cây thoa mỡ bò với ông đại tướng về cái khoảng Mỹ khờ vì tôi đã đánh với nó nhiều trận. Phải nói khi xáp chiến thì 50/50 nhưng lúc rút lui thì nó cho trực thăng và pháo truy kích gây số thương vong gấp năm, mười lần tại trận địa.
Hết vỡ tuồng Mượn Mỹ (*) thì tới vỡ Gái Bán Bar hay US go home (*).
(*) Hai vở kịch này của tên bồi Nguyễn Vũ, tên cúng cơm là Ngô Y Linh.
Cô đào hát bóng đóng vai gái bán bar. Lính Mỹ đến nhậu và bị dán truyền đơn ngay cả trên lưng mà không hay… Con nhỏ rã rê với tên Mỹ, chân trắng nõn suông như ống chỉ, cặp mông ngún nguẩy làm tướng tá tao nhân mặc khách đều mê tơi, nhưng ông Đại tướng lại quèo tôi hỏi tiếp:
- Này, đơn vị bộ binh mỗi khẩu súng trường được bao nhiêu đạn? Du kích được bao nhiêu?
- Dạ súng trường 100, tiểu liên 150-200, trung liên 500-600. Du kích 100-200. (sự thực du kích đào bom lép nổ tan xác thiếu gì.)
- Còn pháo?
- Dạ nếu 105 ly thì 10 quả. Cối 120 ly cũng cỡ đó. DKZ-75, cối 81 thì 10-12 quả.
- Đạn 105 vác cách nào?
- Dạ thì thanh niên xung phong vác theo bộ đội.
- Làm sao vác nổi?
- Dạ hai người một quả, thay phiên nhau.
Ông đại tướng ngẫm nghĩ một chốc rồi lại hỏi tiếp. Tôi hơi phiền trong bụng vì không được thoải mái xem kịch. Các tên Lê Trọng Tấn, Trần Độ, Trần Văn Trà ngồi trơ trơ đó, sao hắn không hỏi mà cứ hạch mình. Tôi biết hắn muốn đi sâu đi sát . Bị một vố Cải Cách Ruộng Đất rồi ê càng, Bây giờ không dám nghe các ông bà trung gian tâu lên bệ hạ nữa.
- Đơn vị cậu mỗi ngày sốt rét bao nhiêu? Có sốt ác tính không?
- Dạ chừng một vài người thôi. (Sự thực trên 2/3.)
- Ngoài sốt rét ra còn bệnh gì khác nữa không?
- Dạ phù thủng, kiết lỵ, quáng manh, gan, lá lách, dạ dày, sốt ác tính cũng lai rai.
- Nhiều vậy sao?
Tôi bị ló đuôi, bèn trở cờ:
- Dạ đó là hồi năm kia, anh em chưa quen nên bịnh nhiều, bây giờ thì không thế nữa.
- Đoàn của đồng chí có cứu thương không?
- Dạ có . (Thực ra là không, chỉ một vài anh y tá vườn bắt theo đơn vị băng bó thương binh ẩu tả để chở đi bệnh xá cưa cắt thôi. )
- Bệnh xá có phương tiện khá không?
- Dạ tôi nghe nói khá. (Sự thực chẳng có thuốc men gì. Một giáo sư Liên Xô đã vào thăm cái gọi là Bệnh Xá của Quân Khu ở Bưng Còng. Y tá phải biểu diễn một màn cưa chân thương binh bằng cưa sắt như kiểu chín năm chống Pháp. Ông giáo sư lắc đầu chịu thua. )
Cái tính đi sâu đi sát với lính và dân của ông đáng cho cán bộ thuộc cấp sợ xanh mặt lắm chớ không có đùa đâu. Ba tên tướng ngồi bên cạnh ông nghe tôi trả lời chắc phải nhấp nhổm như ngồi bàn đinh. Biết đâu nay mai ông gọi ba trự này sạc-cà-rây một mách?
Tôi viết chương này để mọi người Việt Nam biết rằng cái chết của tên tướng đầu đỏ báo hiệu xấu cho Tết Mậu Thân thảm bại. Sự thảm bại này kéo theo cái chết của Hồ. Đó không phải là một chuyện thường mà là hình phạt của Thượng Đế ban cho thầy trò tên cướp và bọn lâu la.
Cám ơn nhánh cây rừng có mắt đã hủy diệt dùm dân tộc Việt Nam một cái mầm Staline.
o O o
Tôi và Tư Linh ngủ ngoài rừng giữa cái đêm kinh hoàng đó. Đến sáng mới mò đường (mò thật chớ chẳng phải nói đùa vì bom B52 đã thay đổi toàn bộ địa vật). Chúng tôi mò được quán cô Sáu Tỉnh (hoặc Sáu Tiệm). Cô Sáu là người rất mến tôi ngay từ lần đầu tôi bước chân xuống Củ Chi.
Cái quán bay cả nóc chỉ còn một cái chái xiêu xiêu, lòi cả miệng hầm. Bên trong hai ba trự đang ngồi uống trà tán nhuyển về trận B52 và mừng cho sự sống sót của mình.
Thấy tôi và Tư Linh, ông thiếu úy đánh xe bò mừng rỡ:
- Lại đây trụng lòng trà đế quốc vài chung thầy Hai.
- Ê ! ổng lên E phó rồi nghe mậy!
- E, Ê gì cũng một viên thôi.
Tôi và Tư Linh sà vào. Khói thuốc thơm mịt trời. Thấy quanh bình trà toàn là những ông kẹ con nên tôi không ngại gợi lại chuyện đêm qua!
- Chuyện đó đã đành rồi t Nhưng đem về tới sân bay Mi Mốt bằng cách nào?
Tư Linh nói.
- Mình chỉ dùng xe đạp thôi chớ xe mô-tô làm sao đèo được? Ban đầu tôi cũng không hiểu thồ cách nào. Vì thồ xe đạp thì chỉ thồ người sống chớ làm sao mà thồ người chết? Nói xin lỗi, chẳng lẽ trói rùn ông lại rồi ràng trê n poọc-ba-ga?
Bảy Hốt hớp ngụm trà và gật gù:
- Đây là nghề của tôi rồi. Để tôi nói cho hai ông nghe. Ba cái vụ Thồ này là gốc từ ngoài Bắc nhất là trong chiến dịch Điện Biên. Ông ba Kiên trung đoàn trưởng Q16 vô hồi nẳm, ổng có phổ biến kỹ thuật thồ, trong đó có cách thồ chiến thương bằng võng ở những đoạn đường phẳng. Chẳng khó khăn gì. Lấy một cái đòn dài buộc vào sườn xe trước luồn tận xe sau.
- Nghĩa là hai xe đạp.
- Ngoài đó gọi là thồ đúp hoặc thồ gia công. Giữa hai chiếc xe ta treo cái võng trên cây đòn. Chiến thương nằm trên võng. Xe chạy êm ru!
Tư Linh nói:
- Nhưng từ căn cứ 30 đến sân bay Mi Mốt đâu có phải gần như hồi Bộ Chỉ Huy đón ổng vô. Ít nhất cũng phải đạp mất một ngày. Đó là nói trường hợp đường suông sẽ, không bom pháo, đổ chụp!
Tư Linh thở dài sườn sượt ra vẻ chán nản cực độ.
- Đù mẹ, giữa trận mạc thì lính lãi cũng một phát mà đại nguyên soái cũng chỉ một phát thôi.
Tôi bảo:
- Nhưng đám ma lính lãi thì chỉ có cóc nhái ễnh ương tiễn đưa, còn Nguyên Soái thì có kèn trống mày ạ !
Tư Linh rút thuốc bật lửa hút mấy hơi dài rồi nói.
- Phải rồi ! Nhưng nằm trong hòm có nghe gì? Nhớ hồi ổng mới vô sân bay Mi Mốt, tụi tao đi đón.
- Ủa, mày được danh dự thế à ?
- Danh dự gì ! Tao đi trong đám bảo vệ, toàn cấp úy trở lên, nhưng đến nơi chỉ đứng xa xa vòng ngoài. Bữa đó không biết được điện hồi nào, mà anh Ba Chè nhà mình hớt hãi tập họp các ông tướng. Chín Vinh, Lê Trọng Tấn và mấy ông Thượng tá Cục Trưởng, Cục Phó B1, B2, B3. Chỉ trong vòng hơn một tiếng đồng hồ chuẩn bị là cả đoàn xuất phát. Tao còn nhớ ông Ba Chè có chọn tám dũng sĩ khỏe nhất thuộc Bộ Chỉ Huy. Không biết ổng định làm gì. Ổng bảo đi là đi. Cả đoàn vừa đi vừa chạy. Chỉ băng qua biên giới một tiếng đồng hồ là đến sân bay. Đây là cái sân bay của thằng chủ đồn điền cao su chứ không phải sân bay hành khách. Tao là cái thằng cầm đóm điếu nên được phân công đứng sau mấy ông tướng để sai vặt. Chờ chừng mười lăm phút thì trực thăng tới.
Tôi hỏi.
- Từ Hà Nội vào gì mau vậy?
- Không! Từ Nam Vang.
- Ủa, ông đi từ Nam Vang à?
- Chớ sao. Mày không biết ông già Ca Văn Thỉnh làm đại diện của mình đang ở đó à? Mình oánh xí cú mứng nên thằng vua Thổ phải chịu. Nó là học trò của ông Thỉnh ở Chasseloup Laubat mày biết không? Người Á Châu trọng nghĩa thầy trò nên ổng muốn gì cũng được. Nó cho ông tướng nhà mình xuống Mi Mốt bằng trực thăng có khó khăn gì. Ổng bước xuống thang tươi rói, không mất giọt mồ hôi.
- Vậy tao gặp ông trên đường Trường Sơn là nghĩa gì?
- Ổng đi quan sát một vài trạm để đề xuất vấn đề , chỉnh đốn nọ kia vậy thôi. Mày biết ổng mà . Ổng đi đến đâu là thay đổi rần rần đến đó. Ông ba Chè mình giới thiệu qua các ông khác rồi quay lại vẩy tay cho tao. Tao đã được dặn dò kỹ lưỡng, nên thấy ổng vẫy tay là biết thời cơ lập công dâng đảng đã đến. Tao chạy ra sau đuôi máy bay giơ tay ngoắc, lực sĩ chạy tới vòng qua trước cửa. Ông Ba Chè khúm núm:
“Thưa anh Sáu, anh Sáu đi đường xa mệt mỏi, mời anh Sáu lên kiệu.”
Tôi gắt.
- Kiệu?
- Ừ, ổng kêu là cái kiệu vì nói võng nghe hèn hạ, hoặc sợ phạm húy của ai đó tao không rõ. Tao thấy ông đại tướng rõ hơn hồi ở Hà Nội. Nước da ổng cũng mầu đồng điếu. Chẳng phải vì ông dầm mưa dãi nắng mà đó là nước da lãnh đạo. Ông mặc áo len màu nâu, quần kaki xanh chân đi dép lốp. Ổng lấy làm ngạc nhiên khi bốn lực sĩ của tao xỏ võng vào đoàn và kề lại trước mặt ông chờ ông bước lên. Ổng xua tay lia lịa:
- Không không có như thế được !
- Dạ dạ…
Ông Ba Chè lắp bắp tiếng được tiếng không. Ông Lê Trọng Tấn cũng phụ họa:
- Dạ mời anh Sáu…
Ông càng xua tay mạnh hơn.
- Không ! Không ! Tôi còn khỏe, tôi đi bộ được. Chiến sĩ ta lội núi vượt rừng khổ cực, tôi không thể nằm võng cho các đồng chí khiêng như vậy. Đến đổi Bác Hồ đi công tác còn phải xăn quần lội suối… (vài chục thước thôi!)
Thiếu úy xe bò chắn ngang.
- Ổng không nhận thật à?
- Không ! Đó là sự thực chính tao thấy. Ổng không nằm võng cho tụi nó khiêng thiệt mà.
Tôi nghĩ bụng:
- Ối! Những chuyện đạo đức như vậy tôi biết thiếu gì. Đó chỉ là một lối mị dân, gạt lính. Bác Hồ đang đi xe hơi, thấy xã viên tát nước bèn dừng lại tát vài gàu (Báo Nhân Dân la ỏm tỏi). Bác về dinh Toàn Quyền uống sâm đặc và hút thuốc Mèo Đen (không báo nào nói), bác đập ruồi (các báo chụp hình đăng lên) nhưng bác giết Dương Bạch Mai tất cả lại câm như hến.
Thì cũng như tướng mặt sắt này giả bộ đạo đức không chịu nằm võng cho lính khiêng, nhưng cứ ba bốn tháng thì mụ sề vác cái bề hê vô trong này phục vụ cho con tì ngẩn của hắn. Ngoài ra các mụ tướng khác cũng tùng dấu theo đó mà vô thăm chồng. Mỗi lần các mụ tới Mi Mốt thì lính khiêng về R còng xương sống, có ai dám nói gì đâu ! Và mỗi lần các mụ ra về thì chở theo vô số vải vóc, đồng hồ, bút máy, radio cả xe đạp đem về miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Nhưng, mặc dù được vợ thăm viếng như thế, hắn ở trong này vẫn tòm tem như thường! Các bạn hẳn nghe danh anh hùng Nguyễn Văn Trỗi chứ? Tên đặc công đặt bom ở cầu Trương Minh Giảng bị cảnh sát Sài gòn bắt được và đồng bào cầu này gọi là tên ăn trộm gà ấy mà ? (vì hắn bị đuổi phải chui trốn trong chuồng gà) Trời có cô vợ xinh xinh tên là Q. Sau khi Trỗi bị xử bắn thì đảng ta ra lệnh cho Mặt Trận rước cô nàng vô khu để “Bác Sáu huấn luyện tinh thần yêu nước cho cháu gái, để cháu gái nối bước theo chồng! “ Do đó thị Q. được bác Sáu cho ở chung một nhà để tiện việc huấn luyện, đến nổi ( bọn cần vụ rỉ tai nhau: “Bác Sáu cưng vợ ông anh hùng này quá sá ? , Huấn luyện được kết quả 500%. Nên sau đó có tiếng xầm xì: “Bác Sáu gởi bà anh hùng về Sài gòn để nạo.”
Chuyện này chỉ có bác Sáu biết. Có lẽ tư tưởng Mác Lê duy vật không cho phép bác dùng chứng minh thư nhân dân.
Chuyện này ít ai hay, nhưng sở dĩ tôi rành là vì chính thằng bạn của tôi tên là thằng T. nó quê ở Gò Công có đi học trường Mác Lê Moscowa đàng hoàng, khi về Hà Nội nó viết cái luận án Phó Tiến sĩ trình Ban Tuyên Huấn Trung Ương bị Tố Hữu ngâm tôm hoặc vứt sọt rác gì đó, nên không được trở qua nữa mà lại bị đưa về Nam. Nhưng cái chức Phó Tiến sĩ hàm của hắn vô Nam thì xài ở đâu? Bèn cho hắn xách dép Nguyễn Chí Thanh. (Tôi có gặp hắn làm nhiệm vụ trên đường Trường Sơn vài trạm. Nguyễn Chí Thanh muốn xem tình hình “mậu dịch bán bằng ba thứ tiền Việt Miền Lào” ra sao chắc. Chỉ được vài ngày thì hắn biến mất. Thì ra hắn tách riêng đi xe hơi.)
Thằng Phó Tiến sĩ đang làm tên nâng cu sửa dế cho ngài đại tướng trong thời kỳ ở R chung với bọn Lê Đức Anh, Trần Độ, Lê Trọng Tấn v.v… Hắn ở một nhà còn thằng bí thư ở nhà khác: Hai cái cách nhau xa xa. Nếu cần, bác Sáu gọi. Kỳ dư thì không được tới chầu.
Bữa đó vì có chuyện gấp nên thằng T vô chiếu triệu mà lại lò dò vô tới. Chuyện không ngờ nó thấy bác Sáu nằm trên võng còn cháu Q thì ngồi dưới đất nhổ tóc ngứa. Nó rình một hồi thì cháu Q được bác Sáu đề bạt lên bụng bác. Chập sau bác Sáu lên giường cỡi áo ra nằm sấp cho cháu Q cạo… gió. Nó chỉ dám ngó có bấy nhiêu thôi vì ngó lâu sợ cụ Hồ nổi giận thì khổ thân ! Những chuyện như vậy sống để bụng, chết đem theo mới phải. Nhưng thằng bí thư đã xì ra với tôi trong một đêm ngã mặn ở Tiểu ban Văn Nghệ R. Trước khi kể, nó bắt tôi thề độc “Không được nói với ai!”
Con quỉ đỏ mặt vuông này bị búa Thiên Lôi đả nát sọ là một việc may mắn cho dân tộc Việt Nam vô cùng. Chính hắn là tên có nợ máu trong Cải Cách Ruộng Đất, nhưng hắn là con cưng của lão Hồ nên lão ta đưa tên Hồ Viết Thắng ra đỡ đòn. Nếu hắn còn sống thì dân tộc ta còn phải điêu đứng hơn so với ba tên chăn bò hiện nay nhiều.
Đọc trên một ngàn trang sách, không thấy địa đạo Củ Chi đâu cả. Xin thưa: Củ Chi đâu có địa đạo như trên đài Giải Phóng và đài Hà Nội. Củ Chi đâu có địa đạo như một nhà báo ngoại quốc ngây thơ bị Việt Cộng gạt và đem ngòi bút tuyên truyền không cho chúng.


HẾT QUYỂN 4
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 78
Vài trận “Bảy Món Ăn Chơi”
với “Anh Cả Đỏ” và “Tia Chớp Nhiệt Đới”



Nói chuyện đánh Mỹ trên đất Củ Chi thì không cùng. Vả lại chúng tôi cũng không thể nào nhớ hết trong 2000 ngày đêm trấn thủ vùng đát từ “thép” đến “bùn” này. Bởi vì đêm bảy ngày ba, trưa cũng không nghỉ. Có khi đang ngủ vụt ngồi dậy thấy xe tăng đã lúc nhúc như bọ hung, lính Mỹ vàng đồng, trực thăng đen trời, chỉ quơ lấy súng vừa núp vừa bắn. Có khi đang ăn cơm pháo nó giã, buông đủa vô hầm. Có khi đi ven đồng bị “cá rô” rượt, chỉa AK bắn mà chạy thoát thân, lại có trường hợp hai thằng cùng đi bị Mỹ đuổi bất ngờ, cắm đầu chạy, chừng dừng lại thấy thằng bạn mình đâu mất, nó đã bị bắn gục phía sau lưng.
Vì thế trong chương này tôi chỉ xin kể dăm ba trận mà tôi còn nhớ rõ để cống hiến độc giả. Nếu độc giả nào có tham gia kháng chiến chống Pháp và có cầm súng trong bộ đội sẽ thấy sự khác nhau giữa hai anh chàng Pháp và Mỹ như thế nào. Chính vì không hiểu được sự khác biệt này mà bọn Hà Nội đã nướng quân một cách vô tội vạ, nướng luôn cả hai trung đoàn đã từng là anh hùng trong trận lịch sử Điện Biên Phủ. Chỉ nội pháo binh của Mỹ thôi, tôi tin chắc Võ Nguyên Giáp cũng không hiểu tí gì, đứng nói chi các loại cơ giới khác như xe tăng, trực thăng, tàu chiến…
Các bạn có khi nào bị pháo bắn mà đạn pháo nổ rồi mới nghe tiếng đạn pháo đi không? Các bạn có khi nào bị pháo bắn mà đạn pháo nổ hàng loạt dòn như tiểu liên không? (Tiếng nổ to gấp ngàn lần, nhưng nổ loạt). Đó là pháo siêu âm của Mỹ, thường gọi là pháo nòng dài tức là 175 ly và cà nông 40 ly mà Việt Cộng quen gọi là cà nông quarante. Đánh với Pháp chúng chỉ xài 105 và bắn từng quả. Một trái nổ xong, ta có thể ăn trầu hút thuốc đã đời hoặc ngủ một giấc rồi mới đến trái khác.
Pháo Mỹ khi đụng trận rồi không nổ như thế bạn ạ. Nó nổ, mình không quen, túm giò không chạy được. Trong một trận đánh mà tôi sẽ kể sau đây, ông Hai Phái, chính trị viên của tôi đã bò lăn xuống đất, tôi tưởng y bị thương, bèn tới xốc y dậy, y bảo y không bị thương, chỉ mất tinh thần không chạy được thôi.
Muốn cho các ông lớn Hà Nội hiểu rõ vũ khí của Mỹ, không gì giản dị bằng ném họ vào Củ Chi này chơi với Mỹ một trận nho nhỏ, cho họ đội pháo Đồng Dù thôi, không cần chi tới B52, thì họ sẽ hiểu bom đạn của Mỹ như thế nào.
Trong mấy chương trước, tôi có thuật lại trận đánh đồn Paris Tân Quy, 95% binh sĩ thương vong là do pháo. Trận pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù cũng thế. Đơn vị chúng tôi không ngán chạm mặt trực tiếp với lính Mỹ mà chỉ sợ lúc rút lui. Số thương vong tại trận có khi chỉ một phần mười so với số thương vong lúc ra khỏi trận địa. Nhiều khi nổ súng xong là chúng đem trực thăng tới xúc quân về và gọi pháo giã nát đất. Phần lớn cán Bộ Chỉ Huy ở miền Nam, cao lắm là chỉ học được chiến thuật Mao Trạch Đông và xài đại bác “cà lăm”, “không giật” Liên Xô, Trung Quốc. Thậm chí nhặt nhạnh ba cây pháo tép của Pháp từ thời Pétain làm trùm vứt lại, đem ra đối đầu với pháo siêu âm của Mỹ. Đứng trước các chiến thuật trực thăng vận “bủa lưới phóng dao”, “phượng hoàng vồ mồi” của Mỹ thì than ôi, cụ Mao quả là danh hề quân sự. Cụ Mao dạy, và chúng tôi cũng đã gạo rất kỹ, rằng phải “đánh gọn rút nhanh”, “dao mổ bò giết ruồi”… Rút nhanh . Nhanh sao bằng pháo bắn, nhanh sao bằng trực thăng bay? Dao mổ bò có nghĩa là tập trung một lực lượng lớn để tràn ngập một đồn nhỏ. Ví dụ đồn nhỏ như đồn Thầy Mười do một trung đội Nghĩa Quân đóng, thế mà muốn hạ được nó chúng tôi đã phải hy sinh đứt một tiểu đội, một C phó, và một B trưởng. Nhưng nên nhớ rằng trong cái Củ Chi nhỏ bằng bàn tay nằm dưới cánh các loại máy bay thám thính của Mỹ, không dễ gì tập trung được một lực lượng lớn. Hơn nữa có lực lượng lớn đâu mà tập trung. Chưa bao giờ tập trung được một trung đoàn. Có lần Q16 Bắc Việt sắp sửa dàn trận, Mỹ cho pháo giã tan tành. Chưa đánh đã thua. Đó là trận tập kích bộ binh và xe tăng Mỹ cụm ở trảng Dầu Bà gần đường số 6 tại ấp Bùng Binh xã Đôn Thuận đầu năm 67. Cả ba tiểu đoàn 7, 8, 9 của Q16 Bắc Việt định ăn chắc, hốt gọn một tiểu đoàn của Mỹ. Nhưng mới vừa tới, khai triển đội hình chưa xong thì đụng một trung đội Mỹ án ngữ đường 15. Chúng kêu pháo dã chiến Chà Rầy và pháo tầm.xa 155 Đồng Dù. Cả hai dàn pháo câu vô ngay chóc. Tiểu đoàn của ông Bá Lùn bị bắn tan tành không sót một ngoe nào. Lần đó tính ra chúng bắn chừng năm ngàn trái pháo trong vòng hai tiếng đồng hồ để diệt một tiểu đoàn Bắc Việt. Ba Kiên, anh hùng trận Điện Biên, E trưởng, sống sót về gặp tôi ở Củ Chi hôm sau, ôm tôi khóc nức nở và lắc đầu: “Mỹ chơi ác quá đồng chí Hai Lôi ơi ! Tụ i Tây mà đóng kiểu này, chúng tôi ăn gỏi ngay!” Tôi tìm lời an ủi ông anh hùng và hứa sẽ kết hợp với nhau để trả thù. Nói cho đồng chí ta mát bụng vậy thôi, chớ đánh Mỹ thì chỉ thủ huề chớ không dễ gì diệt gọn. Ba Kiên lúc này như con gà chết, bi quan với câu “Sanh Bắc Tử Nam” của lính Bắc Việt mới vô Trường Sơn coi trời chẳng bàng vung. Nhưng khi vô đụng Mỹ thì teo lại, mất tinh thần.
Đó là vào khoảng năm 1967 là lúc có đủ mặt hai sư đoàn “Anh Cả Đỏ” “Tia Chớp Nhiệt Đới” ở đất Củ Chi. Và lúc này tôi cũng đã tổ chức lại tiểu đoàn hoàn chỉnh hơn gồm có bốn đại đội tác chiến và một đại đội văn phòng gồm trinh sát. liên lạc, văn thư, chính trị, tham mưu, hậu cần v.v… Gà hai bên đã biết tiếng gáy nhau và cũng đã từng nạp nhau vài ba đòn sơ vấn cho nên đã biết mặt nhau rồi. Bây giờ chỉ còn buông đuôi ăn trót tại trường đá Củ Chi.
Nói là “chỉnh đốn hoàn bị” thực ra bởi vì quân số hao hụt mà không có nguồn bổ sung nên đó chỉ là giật gấu vá vai, nhổ râu ông nọ cắm cằm bà kia thôi. Nhất là các ban chỉ huy đại đội chết quá nhiều, không có cán bộ, tôi đành bắt cán bộ trung đội lên làm đại đội phó, đại đội trưởng. Chỉ huy một B còn không xong, lại chỉ huy một C? nhưng “gặp thế thì thế thời phải thế” chớ biết làm sao! Lính thì toàn lính mới toanh, động tác cơ bản chưa rành, còn lính cũ thời Đồng Khởi thì đã chết hoặc lên cán bộ B, C.
Riêng vũ khí bộ binh thì lấy súng trường bá đỏ bắn phát “một cắc một chùm” làm chính, trung liên cũng xài đồ cũ thời kháng chiến chống Pháp.
Trung liên mới RPD của Liên Xô, một băng năm mươi viên gọn nhẹ, nhưng ở trên để dành cho hai công trường 5 và 9 chớ ít lọt xuống tới chúng tôi. Ngoài ra mỗi tiểu đội chỉ một khẩu B40. Ở mỗi đại đội có một trung đội hỏa lực gồm ba súng cối 62 ly, một đại liên. Ở mỗi D thì có một BDKZ 57 ly gồm ba khẩu và một B cối 82 ly gồm bốn khẩu và một B phòng không gồm hai khẩu 12 ly 8. So với hỏa lực của Mỹ thì chẳng khác nào ta đem con gà tre chọi với gà nòi.
Nhưng theo chỉ thị của ông Sáu Di thì phải “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh!” ông đã chết rồi nhưng huấn thị của ông được các ông lớn nhắc đi nhắc lại luôn miệng. Đánh với Mỹ bom pháo ngút trời, nếu chậm chạp hoặc lộ bí mật địa điểm là chỉ trong vòng 15 phút thì đã có phi cơ, trực thăng hoặc pháo tới.
Chúng tôi phải thiết lập nhiều căn cứ đóng quân ở Phú Hòa, ở Rừng Làng, Ràng, Sa Nhỏ, Đồng Lớn, Gót Chàng. .. và ở khắp Củ Chi. Hễ chuyển quân tới là công sự đã sẵn sàng, giặc đổ quân là đánh ngay chứ không phải xài “địa đạo chiến” theo kiểu găn gỏi ba thằng Mỹ như chúng tôi đã từng giàn cảnh cho tên nhà báo gà tồ Burchett hồi mấy năm trước. Người lính chúng tôi phải luôn luôn trong tư thế sẵn sàng đánh giặc trong lúc hành quân hay đóng quân .
Trận đánh đầu tiên như gà mới vào nước nạp là trận chúng tôi đụng một tiểu đoàn biệt kích Mỹ đổ xuống Đồng Lớn và tiến về phía Ba Sòng. Trời đã về chiều, đáng lẽ theo lệ thường thì chúng cho trực thăng xúc về Đồng Dù, nhưng lần này chúng lại cụm ở Gò Nổi Trên (nơi chúng tôi đặt súng cối pháo kích đồn Trung Hòa lần trước). Lúc đó tôi và ban chỉ huy C3 đang nghiên cứu trận địa Dân Hàn, định đánh tụi lính tại cầu Công Sở trên đường chúng đi từ Suối Cụt vào Trung Hòa.
Tư Nhựt (tiểu đoàn trưởng) cho cấp tốc gọi tôi về để tổ chức tập kích Mỹ. Đó là lệnh của Quân Khu chớ không phải của tiểu đoàn trưởng.
Mưa tầm tã, trời tối đen như mực, người đi sau không thấy người đi trước, phải quơ tay để giữ liên lạc. Ra tới trường học thuộc lộ số 6 (cao su) thì gặp Tư Nhựt cùng hai ông đốc chiến Ba Châm và Năm Tiều, cán bộ tác huấn Quân Khu. Cả hai đều mang cấp bậc trung đoàn. Ba người đang dụm đầu vào ngọn đèn dầu lờ mờ đặt trên tấm bản đồ trải dưới đất ướt chỗ lồi chỗ trũng. Gió thổi ù ù, mưa tạt như xối nước.
- Lôi, mày về đó hả ! Vô đây mau!
Năm Tiều thấy tôi vào nên lên tiếng trước. Tôi ngồi xuống giữa Năm Tiều và Tư Nhựt, móc gói thuốc Capstan ném ra. Chỉ phút chốc khói tỏa ấm áp và làn khói phủ mờ bản đồ.
Trong xó nhà, một cậu liên lạc bị thương không biết từ lúc nào, đang rên khóc hù hụ. Ba Châm bực mình quát:
- Đem bắn mẹ nó đi ! Lính gì bị thương khóc như con nít.
Ở vòng ngoài tôi thấy có Năm Tân C trưởng Cl, Năm Dầy C trưởng C4 hỏa lực của tiểu đoàn. Thấy tôi về, Tư Nhựt nhìn sang hai ba lần có ý ngầm hỏi: “Đánh thế nào đây thầy Hai?”
Tư Nhựt, con người kiêu hãnh nhưng chân thật. Lúc tôi mới về, anh thấy tôi mảnh khảnh có vẻ thư sinh, nhưng nghe tôi là “thầy pháo” chắc y cho rằng tôi chỉ biết dạy học trò trên sách vở thôi, còn thực nghiệm chiến trường thì không có bao nhiêu. Nhưng qua nhiều đợt điều nghiên mặt trận, bố trí hỏa lực, và sau các trận đánh Suối Cụt, hạ đồn Thầy Mười và tập kích đồn Paris Tân Quy thì anh tỏ vẻ phục tôi, nên anh cũng bắt chước các cán bộ C gọi tôi bằng “thầy” và mỗi lần quyết định một việc quan trọng anh đều chờ ý kiến tôi. Nhưng tôi không bao giờ lấn lướt quyền hạn tiểu đoàn trưởng của anh, mà ngược lại tôi tìm mọi cách nâng uy tín của anh lên đối với các cán bộ C và B để anh dễ dàng làm việc.
Tôi đã biết địa thế Gò Nổi Trên, nhưng không rõ tụi Mỹ đội hình ra sao nên chưa phát biểu ý kiến, mà để chờ mấy ông kẹ lên tiếng trước. Ba Châm rít một hơi thuốc lào rồi bảo:
- Thằng Lôi mày đi chính diện còn mấy đứa kia thì chỉ đánh xuyên hông.
Tôi nhìn điểm Gò Nổi và hỏi:
- Anh Ba có nắm được đội hình tụi nó chưa?
- Bị đánh một phát nó ré lên thì mình biết chớ gì. Để sáng nó rút mất không đánh được, ở trên khiển trách.
- Anh Ba đừng nóng ! Để đợi trinh sát đủ các mặt về đã !
Tư Nhựt biết khi tôi nói như vậy là chưa khai hoả được nên vuốt nhẹ Ba Châm.
Năm Tiều đồng cấp với Ba Châm, nói mạnh miệng hơn:
- Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng nghe cha! Biết địch gồm có các điểm: quân số, hỏa lực và bố phòng của địch. Quân số của nó thì ta đã biết, một tiểu đoàn. Súng ống thì chắc các loại mình đã chơi rồi. Còn cách bố phòng thì ta chưa biết. Bắn phát đầu phải diệt được hỏa lực chính của nó, ví dụ như đại liên, trung liên của nó thì mới xung phong được. Chứ nếu chỉ diệt được một vài cây ARI5 mà xung phong lên thì sẽ bị nó quét sạch.
Ba Châm ngồi im, bộ râu mép quặp xuống, nhúc nhích lia:
- Các cha làm sao đó thì làm. Chớ để tụi này rút về Đồng Dù mà không sứt mảy lông thì cả bọn mình “không còn chỗ đội nón”.
Năm Tiều gật:
- Tôi đưa đầu cho các chả chém! Đánh Mỹ chớ phải đánh u sao mà dễ vậy?
Còn đang cãi cọ, bỗng trinh sát về báo cáo:
- Tụi nó bố trí hình tam giác. Ba đại đội tựa lưng vào nhau để phòng ngự. Một đại đội hướng về Ba Sòng, ta đã phát hiện nó khoảng nhà tía vợ xã đội Ba Tâm, một đại đội hướng về lô cao su lộ 6, một đại đội hướng về đường số 7.
- Như vậy được rồi, Tư Nhựt quyết định đi. -Tôi bảo.
Tư Nhựt bị trận Tân Quy cũng dưới quyền ông E trưởng Ba Châm mà C3 bị nhai hết một B nên lần này hơi ngán cái lối “đánh võ rừng” của già Châm. Anh định gạn hỏi thêm trinh sát vài điều, nhưng tôi biết già Châm sẽ gầm lên.
Bọn tôi chỉ huy tiểu đoàn rất hợp lý hơn có hai ông già đốc xúi này, nhất là ông già Châm thì ông ta đi trận nào kể như lính mất tin tường trận nấy. Tôi nháy Tư Nhựt bảo:
- Vừa đi mình thảo luận thêm.
Tôi nhìn đồng hồ. Đã 2 giờ sáng. Hết giờ rồi. Phải kết thúc nhanh, để trời sáng càng thuận lợi cho máy bay, tai hại cho mình.
Tôi bảo:
- Tín hiệu: khăn trắng buộc ở tay. Cứ ra lệnh và gọi tên nhau bằng tiếng Việt Nam, không cần ám hiệu vì Mỹ không nghe ra.
Tư Nhựt ra lệnh hành quân chớp nhoáng. Xướng, B trưởng đội trinh sát dắt “tai mắt” đi đầu. Tôi dắt C3 và C4 đi kế. Ba Trách, C phó điều khiển một đại liên và một DKZ đi cặp hông tôi dọc theo bờ ruộng bên phái, hai C đi phía bên trái. Sau cùng là C phó Năm Dầy điều khiển hai cối 82 ly của D và hai cối 62 ly của C3.
Tôi dặn Năm Dầy khi biết hướng địch thì cứ để cự ly 200, 300 mà bắn vào giữa đội hình chúng.
Trời vừa dứt mưa, không khí còn ẩm ướt, nếu để xa có thể đạn đi không chính xác sẽ vỡ mặt quân của Ba Đức chốc nữa sẽ tấn công từ phía đường số 7 lên.
Trời tối om, đường lầy lội, tôi bảo mọi người nhón chân để không khua nước. Xướng dừng lại. Tôi biết gần tới khu địch đóng quân. Không rõ chúng nằm ngồi thế nào mà êm ru. Không có tiếng động, cũng không có một đốm lửa thuốc lá. Tôi khẽ bảo Năm Dầy cho anh em dàn hàng ngang và sẵn sàng xung phong. Bỗng nghe một tiếng ầm. Tôi biết là Ba Trác đã nổ DKZ. Tôi nghe tiếng Tư Nhựt lẫn Út Sương thét lên xung phong. Tôi quát Năm Dầy:
- Nổ mạnh vào!
Tum! Tum! Tum! Ành, ành, ành!
Cối giã dòn tan. Bộ binh xông lên.
Xáp lá cà với quân Mỹ. Chúng kêu, la rống, không biết nghĩa gì. Cứ bắn, đâm, la hét áp đảo tinh thần. Chúng chạy đùn cục xuống ruộng nước. Tôi không cho đuổi chúng để Năm Dầy phóng pháo. Trong vòng mười phút, tiếng Ba Trác vang lên:
- Xơ ren đơ! Xơ ren đơ! Đụ mẹ mày ba thằng Mỹ chó đẻ !
Xơ-ren-đơ là tiếng của Tư Linh ban địch vận dạy để khi ra trận kêu gọi lính Mỹ đầu hàng (surrender). Nhưng không thấy thằng nào giơ tay giơ súng lên cả. Tôi biết cái lối đánh của Mỹ nên ra lệnh rút ngay, không chậm một phút.
Đơn vị vừa ra khỏi trận địa là pháo Trung Hòa rót vào rung đất. Kế đó pháo Đồng Dù giã vào xóm Ba Sòng để chận đường rút lui của chúng tôi.
Tôi la:
- Rút mau. Tụi nó hủy diệt trận địa rồi.
Tôi ù cả tai không còn nghe gì nữa. Chỉ nghe loáng thoáng tiếng Ba Đức chửi thề và tiếng chiến sĩ bị thương kêu cứu.
Pháo bắn điên đầu. Tiếng nổ lụp bụp như đại liên chớ không rời ra từng phát đâu bà con ơi. Pháo của Tây là trò chơi con nít. Bắn một phát, uống ly cà phê rồi bắn phát nữa. Pháo Mỹ bắn cò điện tự động, không đếm được. Khói pháo đen bít cả đường đất địa hình, không biết lối nào mà chạy. Rất tiếc Võ đại tướng không vô đây cỡi ngựa xemhoa .
đội cắt ngang lộ 6 rồi cặp theo lộ 7 về xóm trại Bà Huệ. Về đến nơi thì biết Nam Tân, C trưởng Cl bị thương sọ não; Chín Xe Đò, B trưởng chết; Chín Nữa, C phó bị thương, C3 mất đứt một A vì trúng mìn clay-mo. Nhưvậy ngót mười chiến sĩ lẫn cán bộ thương vong.. Khôngbiết Mỹ chết bao nhiêu. Chúng tôi thu được sáu khẩu M79, ba máy PRC25, mười bốn khẩu ARI5, một súng bắn hỏa tiễn (như B40) và hai ống kính hồng ngoại tuyến.
Sau này ban tác huấn Quân Khu mới đoán là một tiểu đội bị diệt gọn trong bãi mìn vì Mỹ có kính hồng ngoại tuyến nhìn thấy người trong ban đêm. Không biết trúng hay sai, nhưng mười hai chiến sĩ đã tan xác không hốt lại được một miếng thịt. Do đó chúng chết mà không mồ mả chi hết.
Chúng tôi kéo về Thuận Đức gần cầu Rạch Sơn nằm liệt địa, định nghỉ vài tiếng đồng hồ rồi di quân vì đây là điểm pháo của Đồng Dù. Nhưng nằm chưa thẳng lưng thì trực thăng lại đổ quân và xe tăng tới ủi rừng. Không biết chúng được điệp báo mà đuổi theo chúng tôi hay là tao ngộ chiến. Nhưng dù thế nào chúng tôi cũng phải nghênh chiến vì không thể tránh né được. Một tốp trực thăng đổ quân xuống đầu Rừng Làng. Chúng đụng ngay đội quân y và trinh sát. Một trận đánh cận chiến giữa hai bên xảy ra ở ngay bìa rừng.
Thương binh ở trận Gò Nổi vừa được băng bó xong đã phải cầm súng đánh tiếp, bắn được phát nào hay phát nất hơn là nằm chờ bị bắt.
Bảy Phúc, quân y sĩ, trước kia là phụ tá của Tư Chuyền ở C5 vừa mới được chuyển về phụ trách quân y cho tiểu đoàn đã bị bắn chết ngay từ phút đầu dưới hầm. Mỹ phát hiện được cứ điểm của chúng tôi nên thả xe tăng càn tiếp. Ủi xong, chúng rút ra để nhường chỗ cho pháo dập. Bạn có thể tưởng tượng là pháo từ Đồng Dù, Trung Hòa và các cụm pháo dã chiến từ Trảng Bàng, Bình Dương câu liên tiếp hai tiếng đồng hồ! Một con dế cũng không thể sống sót thì công sự bằng bê tông cũng không thể đứng nổi. Nhưng chúng tôi vừa cầm cự vừa rút chạy về Sa Nhỏ cho nên tránh khỏi bị tiêu diệt toàn bộ ở Rừng Làng.
Chiến thuật của Mỹ là “tìm và diệt” cho nên chúng tôi đi đâu thì có “cá rái cá nhái, cá lẹp, đầm già, cồng cộc, thần sấm” theo đến đó và cuối cùng là dưa hấu bầy rơi lả tả như mưa.
Chúng tôi đóng thành thế phòng ngự tam giác. C1 ở Đồng Lớn, C3 ở Cỏ Ống, C2, C4 và C5 ở Sa Nhỏ. Chắc chúng đã nắm được sự bố phòng của chúng tôi nên mới 10 giờ sáng (hôm sau) chúng đã cho trực thăng phóng pháo sơ sơ rồi đổ quân thành hai cụm, một ở giữa đồng Sa Nhỏ, một ở đầu ấp Cỏ Ống cách C3 không đầy một cây số.
Tôi đang ngủ trong nhà ông Mười ở cuối ấp Sa Nhỏ, thì ông đập vai tôi: “Con ơi! Mỹ đổ quân rồi. Hai! Mau lên!” Tôi bật dậy, ló đầu ra cửa sổ thì cánh quạt trực thăng quạt xước cả nóc nhà làm da mặt và tóc tôi muốn bị lột ra. Tôi rút đầu vô và ngó theo thấy thằng Mỹ ghìm đại liên bên hông máy bay.
Văn phòng D đóng ở trong nhà cô Tư Thêm má con Tiền, chỉ cách có mấy bờ dừa mà tôi không vọt về được để dùng điện thoại chỉ huy các đơn vị. Tôi bèn quơ súng và chạy ra tiền duyên của C2 nhào xuống ổ đại liên của Năm Hỏi, B trưởng. Y mừng rỡ:
- Phen này mình trả thù cho Bảy Phúc ! Kìa, anh coi, tụi Mỹ đi ngay vô họng đại liên kia cà. Có thằng bỏ ống dòm khoát tay chỉ huy.
Tôi ngóc lên nhìn thấy lố nhố áo vàng tiến gần họng đại liên, còn một tốp đi cặp đường xe lửa từ Đồng Lớn vào Sa Nhỏ. Tôi hỏi:
- Ba Đức ở đâu?
- Dạ, ảnh bên tay mặt tôi. Còn anh Bảy ở phía trái. Tôi ở giữa.
Tôi yên trí vì ở hai đầu có hai cán bộ đại đội mà tôi tin cậy đang chỉ huy. Mỹ đã tới rất gần nhưng tôi bình tĩnh vỗ vai Năm Hỏi:
- Đợi cho nó tới gần chút nữa!
Năm Hỏi là B phó tôi mới đề bạt lên B trưởng. Hắn cũng gan như Ba Quyết (hy sinh ở Tân Quy), nhưng trầm tĩnh hơn Quyết và không chửi bới nạt nộ lính khi gặp mấy chú nằm lỳ không dám xung phong.
Từng đánh nhau với Mỹ bộn rồi, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhìn rõ hình thù chúng nó. Mẹ, to con thật. Đèo đẹt như lính mình thì phải bốn chú mới khiêng nổi một thằng ! Những bộ đồ vàng ghìm súng lom khom đi thẳng vào đại liên. RPD là loại súng mới Liên Xô nổ ác như đại liên. Xạ thủ run run tay nối dây đạn. Một tên Mỹ mang kính dâm ngóng cổ quay nhìn lại và bắt đầu ra hiệu cho bọn sau đi tới.
Năm Hỏi cất giọng run run:
- Bắn chưa anh Hai?
- Chưa. Chờ thằng mang kiếng đi qua khỏi bụi cây.
- Gần quá rồi anh!
- Gần vậy mình xông lên lấy súng rồi trở về chiến hào mới kịp.
Tuy miệng nói tỉnh, nhưng bụng tôi cũng run. Hai chiếc trực thăng võ trang bay sà trên ngọn cây, quạt lá cây lật ngược cả lên như bão tới. Tôi nom rõ mặt thằng phi công đỏ lòm. Năm Hỏi ôm khẩu AK, còn anh xạ thủ RPD thì đã xỏ ngón tay vào lòng cò, má miết sát vào thước ngắm. Năm Hỏi không nói nữa. Y nhìn tôi rồi hất hàm về phía trước, ý bảo: “Nó tới gần rồi, bắn nghe anh?”
Tôi xua tay: Chưa!
Bỗng thằng Mỹ mang kiếng la lên. Không rõ nó nói gì. Tôi quát:
- Bắn!
Khẩu RPD nổ dòn. Ở hai đầu chiến hào súng cũng nổ vang.
- Xung phong!
Tiếng thét dậy lên. Trước mặt không còn bóng tên Mỹ nào, chỉ thấy khói và rần rật lính mình. Tiếng nổ liên tục, rinh tai.
Tôi quát:
- Đừng bắn bậy. Lấy súng mau trở lại chiến hào!
Năm Hỏi tay cặp AK, tay lột súng Mỹ. Tôi tháo được một Colt 12 và lột được hai khẩu M16. Năm Hỏi quơ được hai M79. Nghe tiếng trực thăng trở lại, tôi quát:
- Trở lại hầm! Bắn nó!
Tôi không xuống hầm kịp. Chỉ cách có hơn chục thước nhưng máy bay đã ria trên đầu. Tôi phải nằm bẹp bên xác một thằng Mỹ thật to bị bắn bể đầu. Ba Đức nhào tới, hét:
- Thầy Hai xuống mau. Nó còn xạ vòng ngoài.
Tôi vọt một phát xuống hầm và ngó lên trời. Mẹ , thằng phi công ở ngay trên đầu, sức với tay đụng. Tôi quát:
- Đại liên đâu không lia?
Tành tành… tành. Chiếc máy bay đảo nghiêng rồi vọt thẳng, khói bốc mịt mù như cái đuôi xoăn tít.
- Bắn vét đuôi nó! -Ba Dục quát tiếp.
Chiếc trực thăng này sau đó rớt ở rìa ấp Sa Nhỏ gần Bờ Sa. Còn một chiếc (bao giờ chúng cũng đi cặp) nhưng không chịu chạy thẳng, nó quay lại rà sát mặt đồng, ý chừng muốn cứu phi công.
Nhưng bị đại liên nổ rát quá mới bay thẳng. Chập sau, máy bay “trái chuối” (chinook) có hai cánh quạt tới ném lựu đạn cay xuống hầm chúng tôi. Chúng tôi phải rời hầm và di động vào vườn. Nhưng trong vườn cũng bắt đầu ăn bom và pháo.
Một đám Mỹ sống sót chạy dạt ra giữa Đồng Lớn mong trực thăng xúc lên an toàn, nhưng Năm Bụng, C phó cho súng bắn đuổi và cho một tốp xung phong bắt sống.
Chúng nằm xuống, dùng bờ ranh làm công sự đánh trả .
Thế trận lộn ẩu không có ranh giới giữa hai bên nên pháo và máy bay ngưng dập. Lợi dụng khoảng khắc đó, tôi cho đơn vị rút. Tới chiều tối xác lính Mỹ vẫn nằm phơi ngoài đồng, chúng không dám xuống lấy vì sợ chúng tôi trong vườn bắn ra. Chẳng ngờ chúng tôi đã về tới Phú Hòa lau súng nghỉ ngơi.
Sáng hôm sau xe tăng ở Đồng Dù mới lọ mọ ra lấy xác. Trận này cũng không biết Mỹ chết bao nhiêu. Nhưng đây là trận tiểu đoàn chúng tôi thiệt hại nhẹ nhất. Nghĩa trang Ngã Ba Sòng chỉ đào thêm có mười hai huyệt và hai mươi mốt lính lẫn cán bộ A, B, C vô nằm chật quân y Tư Chuyền.
Riêng du kích thì lên tinh thần vì họ lấy được nhiều súng, cởi được nhiều đồng hồ, lột được nhiều quần áo, nói chung, trúng “mùa hôi” nhất từ trước tới nay. Các anh chàng du kích lâu nay đói khát nay quơ được vô số đồ hộp, tha hồ làm tiệc rí rớ ăn mừng chiến thắng. Nào thịt heo, thịt bò, bơ sữa, cà phê, nước ngọt khui ra ăn uống và tán tỉnh nhau cả mấy ngày trời vẫn chưa hết tếu.
Chính trong trận đó chúng tôi mới nhìn thấy những đồng đô-la xanh móc được trong túi áo lính Mỹ . Ngoài ra còn có năm, sáu cái bóp và giấy tờ nhà binh Mỹ, chúng tôi đem nộp cả cho ông Tám Quang.
Riêng nữ du kích Ba Xưa thì chôm được một cây Colt 12. Cô ta giấu biệt cả tháng trời mới xì ra. Có lẽ cô không biết sử dụng và sợ hãi không dám giữ làm của. Nếu gặp ai khác như Tư Bé, Bảy Mô, Út Nhỏ, Út Là thì ém luôn rồi.
Út Chạy, bí thư xã Trung Lập, chơi ngon, xúc mười giạ lúa đem tới nhà cô Ba Xưa năn nỉ đổi lấy. Đi đâu anh ta cũng mang kè kè.
Chúng tôi cứ để anh ta mang cho oai, không thu làm gì mất cảm tình, sau này còn nhiều dịp nhờ bàn tay anh ta bắt dân công phục vụ chiến trường cho tiểu đoàn tôi.
Thu lượm xác chết đồng bọn tụi Đồng Dù mới cho bom pháo san bằng vườn tược ở Cỏ Ống và Sa Nhỏ. Chúng bắn không nhiều, cả một ngàn đạn 105 và 155 ly thôi. Sau ba trận liên tiếp ở Gò Nổi, Cỏ Ống và Sa Nhỏ, “Anh Cả Đỏ” “Tia Chớp Nhiệt Đới” bắt đầu theo riết chúng tôi. Chỉ vài hôm sau, trong lúc chúng tôi đang dưỡng quân ở ấp Ràng thì xe tăng được trực thăng dẫn đường bọc sau lưng ấp Ràng vây kín một khu rừng nhỏ (nơi cô Quắn đã đưa tôi tới “họp xã ủy” tay đôi với cô trong một cái chòi hoang giữa đêm khuya).
Anh chàng xạ thủ B40 Tô Văn Đực đã hạ liên tiếp ba chiếc xe tăng tại bờ rào trường học của cô giáo Chín Hòa, em gái Bảy Lập ở VC quận. Một chiếc trực thăng rụi nằm mẹp tại chỗ, hai chiếc được trực thăng móc đem về.
Tôi cho đơn vị rút nhanh.
Tôi vỗ vai thằng Đực bảo:
- Kỳ này tôi cho cậu đi R dự đại hội anh hùng.
Tội nghiệp thằng bé, mới 21 tuổi, tôi cũng không hỏi lai lịch nó quê quán ở đâu, cha mẹ là ai, có hứa hôn với cô nào chưa? Tánh nó lầm lì ít nói, ăn khỏe và ngủ mê man, có đập mới dậy, không đập là ngủ lu bù. Lính là vậy: đi xóm ghẹo gái và ngủ là hai công tác chính.
Thấy nó không nhanh nhẹn, tôi định cho nó sang tổ đại liên làm nhiệm vụ tiếp đạn (chớ không làm xạ thủ), chẳng ngờ anh chàng rất gan dạ. Thế mới biết thời thế tạo anh hùng. Nếu không đụng xe tăng thì Tô Văn Đực sẽ nằm trong danh sách những chiến sĩ vô danh.
Tôi vác bớt đạn cho nó, hai thầy trò cùng chạy. Trực thăng tới bắn như mưa bấc. Chỉ chạy liều mạng thôi chớ không chắc thoát, nhưng nếu nằm lại thì thế nào cũng ôm một trái cà nông. Tụi Mỹ khi đã bắn thì không có cái mục “tiếc” và tiết kiệm đạn. Hơn nữa, đây là vùng “oanh kích tự do” đã ghi trong bản đồ hành quân của Anh Cả Đỏ Tia Chớp Nhiệt Đới.
Nghĩ cũng lạ, cặp chân của mình, bình thường thì nó lặc lìa, sau mỗi trận đánh nó như không còn tuân lệnh chỉ huy nữa, nhưng khi chạy đua với trực thăng thì nó tự động, trực thăng ria hung bao nhiêu thì nó bật nhanh bấy nhiêu.
Hai thầy trò chạy một chập thì lạc đơn vị, không biết đường nào mà mò nữa. May gặp Sáu Khoắn, xã đội trưởng. Anh ta nghe bộ đội đụng trận thì núp xa xa để chờ cơ hội nhào ra “hôi” súng và quần áo Mỹ. Lần này không được cây nào mà chạy suýt chết. Thầy trò tôi bèn đeo dính y. Y chạy cũng có hạng nên cố theo kịp y là thắng trực thăng. Nhưng lần này đành chịu thua. Y vừa thở dứt vừa bảo:
- Không được, anh… Hai… ơi! Phải kiếm hầm chui.
May quá, bên đường có một cái hầm cũ từ đời cố lỷ cố lai nào. Thế mà ba cây thịt cứ phóng đại xuống cho đỡ khổ. Đạn ghim xuống đất cắm vào thân cây nghe lạnh mình.
Sáu Khoắn nhanh chân lủi xuống trước, tôi đẩy thằng Đực vào rồi không còn chỗ chui. Tôi cứ đứng chong ngóc bên miệng hầm. Chỉ huy, làm lớn phải làm láo, chớ lủi trước lính coi ra gì? Nếu đứng trơ trơ như thế này, pháo dập e bất tiện, nhưng cũng may, Sáu Khoắn trồi lên kêu om:
- Không được! Kiến bù nhọt cắn chịu không nổi.
Tôi quát:
- Hầm đâu mà chạy?
Sáu Khoắn tông thằng Đực ra và trồi lên, mặt như quỷ sứ:
- Kệ mẹ cứ chạy. Ôg giỏi thì xuống đây.
Bất chấp sự hoang mang của tôi, Sáu đâm đầu chạy, vừa chạy vừa phủi đầu, cổ. Cả ba lại chạy, phen này không gặp hầm nên nhảy xuống mương cau. Cứ quay ngó theo trực thăng, liệu bề mà né. Đạn bay ren rét ghim chịt chịt chung quanh.
Cũng nhờ Trời Phật phò hộ nên trận đó không bị thương. Hôm sau tôi đang ngất ngưởng vừa nhậu đế vừa tán dóc với Tư Nhựt trong quán thì Sáu Khoắn lù lù xuất hiện:
- Anh Hai ơi! ! Anh Hai !
- Cái gì vậy?
- Tôi vừa đi trở lại mặt trận tìm coi tụi du kích có bỏ sót “cun” (colt) không.
- Có sót không?
Sáu Khoắn lôi tay tôi tới chỗ hầm hôm qua. Tôi rùng mình. Cái hầm bay mất. Một lỗ sâu và to bằng nửa chiếc đệm. Một trái 155 rơi vào đó. Sáu Khoắn đưa tôi bó nhang, rồi đốt lên, bảo:
- Anh Hai vái thánh thần đã đỡ trái cà nông cho mình đi!
Tôi cười:
- Thần kiến lửa hay kiến bù nhọt?
Sáu Khoắn ngoẹo đầu:
- Không có ổ kiến thì ba thầy trò mình bay không còn miếng thịt.
- Từ rày trước khi nhậu, mình phải cúng ông thần Kiến một ly rồi mới uống nghe anh Hai.
Sau trận Ràng, xe tăng Mỹ hết dám nghênh ngang. Trước kia chúng muốn cắt vào chỗ vườn nào tùy ý, như vào chỗ không người. Mỗi lần chúng đi qua là cây vườn ngã liệt địa, chủ vườn thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng bây giờ không thế nữa. Chúng ở ngoài đồng trống, muốn vào vườn phải dọn đường rất lâu. Như vậy có đủ thì giờ cho bộ đội, cơ quan di chuyển, du kích bố trí địa lôi hay chạy trốn. Cho nên mỗi khi vào vườn chúng đều thiệt hại.
Dần dần chúng cũng “rút kinh nghiệm” khá chính xác. Chúng thả biệt kích sục sạo trước hoặc cho một vài chiếc tăng đi trước để nhử du kích, nhưng ít khi an toàn. Sau cùng chúng thay đổi chiến thuật. Chúng chạy ngoài ruộng để tránh B40. Loại này chỉ bắn xa 100 mét, sau đó chúng tôi được trang bị B41 bắn xa 500 mét. B40 bắn đạn ra đụng gì cũng nổ, còn B41 bắn xuyên cả bùng nhùng lưới chì gai vẫn không nổ, đến khi húc vào vách tường hoặc xe tăng mới nổ.
Đến phiên chúng tôi đổi chiến thuật. Mỹ ít vô vườn thì chúng tôi đào công sự giữa ruộng, phủ rơm lên. Đợi chúng đến gần mới bắn. Bắn xong vọt lên chạy. Nhưng chạy sao thoát được lưới lửa của xe tăng? Chúng tôi phải bố trí trung liên, đại liên phục sẵn trong vườn để bịt miệng súng của xe tăng cho bồ nhà vác B40 tháo chạy. Nếu không, mỗi lần hạ xe tăng là mỗi lần bỏ mạng thì ai còn ham làm “anh hùng diệt tăng” để lãnh huân chương? (mà bụng đói meo như anh hùng Năm Cội).
Ngoài B40 ra, chúng tôi có một thứ bửu bối khác. Đó là mìn địa lôi, cũng còn gọi là mìn 8 kí lô hoặc 10 kí lô của Trung Quốc. Mìn kết hợp với B40 thì đánh tăng mới thắng to. Nhưng mìn rất tai hại. Nhiều khi chính quân ta lại giết quân mình bằng mìn còn gọn hơn bom pháo Mỹ. Số là chiến sĩ ta mang vác hành quân nặng nề nên đem chôn tạm đâu đó, tự hứa sẽ có ngày móc lên xài, nhưng rồi quên luôn.
Các bạn thử nghĩ con nít 15, 16 tuổi ở nhà bị pháo bắn, ruộng nương không làm được, lêu têu chết cũng uổng mạng nên gia nhập du kích hoặc bộ đội. Đâu có đứa nào lớn con, chỉ độ 35, 40 kí lô là nặng nhất, lại ăn khoai mì, cơm gạo thiếu thốn, đã lê cái thân còn không nổi lại còn vác trên 10 kí lô nên chôn nhẹ gánh là điều không đáng trách.
Cái việc này tôi đã từng chứng kiến ở trên Trường Sơn. Lính cụ Hồ ốm tong như nhái bén, chân như cái cọc màn mà lại vác đạn pháo, đế cối, nòng pháo nặng cả 50, 60 kí lô. Cho nên họ ném bỏ dọc đường cỏ mọc phủ lên, không ai ngó ngàng tới. Việc bồi dưỡng quân lính, Trung ương không hề nghĩ tới . Họ chỉ tìm cách khai thác đến giọt máu cuối cùng của lính mà thôi.
Tôi cũng chết hụt một lần vì trái mìn của fu kích “bỏ quên”. Hồi ấy đầu năm 70, khi đánh Mậu Thân xong, tàn quân năm cha ba mẹ khắp Quân Khu tập họp lại thành một trung đoàn gọi là trung đoàn Quyết Thắng do ông Năm đốc chiến, tức là Năm Tiều, làm E trưởng. Tôi làm E phó kiêm tham mưu trưởng và Mười Việt làm D trưởng D1. Chúng tôi đi về Quân Khu xin thêm vũ khí và lính bổ sung. Đi lên tới khu vực Bời Lời thì gặp một chiếc xe bò chở gạo. Người đánh xe bò thuộc lính cũ của Năm Tiều, gặp lại thủ trưởng mừng quá, hai bên ôm nhau hít hà rồi trao đổi văn hóa thuốc rê với nhau, vừa đi bên xe bò vừa tâm sự.
Tôi bất ngờ đạp miếng bom đứt chân nên ngồi xuống tự rịt lấy. Hai người đi một khúc chưa đầy 50 mét thì nghe một tiếng “ầm” rung đất. Tôi nhìn lên thấy đất đá bùng lên như núi lửa phun. Thôi bỏ mẹ rồi. Tôi dư biết đó là “ông địa”. Quả y như rằng, người và con bò cùng với chiếc xe đầy gạo mất hết. Sức tung của nó có thể làm lật gọng một chiếc xe tăng Mỹ thì bấy nhiêu đó thấm thía gì! Tội nghiệp bác Năm bầy trẻ bỏ lại hai bà vợ, còn Mười Việt vĩnh biệt cô vợ mới cưới chưa đầy ba tháng.
Nếu tôi có điều kiện thì tôi cũng lập miếu thờ “ông địa” như thằng Rắc thờ “ông địa” (trái địa lôi của du kích đã gầm hụt) ở trước cửa bót nó vậy.
Đánh Mỹ như trò chơi nguy hiểm, thấy cái chết như đồng xu lật sấp lật ngửa, chỗ nào cũng là mặt trận, giờ nào cũng đánh được, không kén nơi không chọn giờ gì ráo.
Đang hành quân bị trực thăng đuổi thế là chong đại liên bắn. Chúng đổ quân bao vây. Thế là thành trận đánh. Cán bộ tiểu đoàn gặp nhau hút thuốc uống rượu một hồi nóng máu rủ nhau đi tìm Mỹ đánh. Một lần tôi phát hiện được chỗ Mỹ đóng quân ở Bàu Đứng, tôi rủ Bảy Nô xách cối tới pháo kích. Chẳng ngờ tụi Mỹ có kiếng hồng ngoại hồng nội gì đó (hồng ngoại tuyến) phát hiện được, chúng cho xe tăng xả cà nông 40 ly, cả hai ban chỉ huy tiểu đoàn chạy tuột quần. về đến căn cứ, Bảy Nô văng tục om sòm và “thề” không chơi với Hai Lôi nữa. Nói vậy chớ đêm sau lại rủ nhau đi, bắn được sáu trái cối rồi rút về an toàn, sáng dậy nhìn mặt nhau cười. Tôi hỏi Bảy Nô:
- Trông kìa, Mỹ đã cho trực thăng lấy xác mấy chuyến rồi?
- Củ cặc, tụi bay còn trẻ giỏi giò chạy mau, tao chạy không kịp, rủi có bề gì bỏ chị Bảy lại cho ai?
(Bảy Nô là một người vui tánh xuề xòa, đánh giặc như đùa. Tuy lo mà cũng không khỏi. Sau này anh được phân công về Rừng Sát thành lập Quân Khu mới do Tám Quang làm chánh ủy. Qua sông Lòng Tào bị giang thuyền bắn chết cả hai thầy trò).
Căn cứ của chúng tôi ở Rừng Làng, Lộc Thuận, Rừng Tre v.v… mới cũ gì Mỹ cũng đều phát hiện được, chúng cho bộ binh có xe tăng và máy bay yểm trợ tấn công vào. Ở Lộc Thuận, Cl tử chiến với chúng. Ở Rừng Tre đụng C3, chúng bắt sống được vài cậu lính trẻ. Ở gần trại Bà Huệ, chúng bắt được cả thượng úy Tám Nghi, bạn tôi (tay xạ thủ hữu hạng trong cuộc thi xạ kích ở Đông Âu), chánh văn phòng của Năm Lê. Ở Sở Đất Thịt gần Bàu Đứng chúng đụng tiểu đoàn 7 của Bảy Nô, ở Cầu Xe đụng D9 của Q16 Bắc Việt do Hai Đồng chỉ huy. Trận này năm ăn năm thua, sau đó Hai Đồng lên Sóc Lào lại đụng Anh Cả Đỏ. Hai Khởi bị thương, Hai Đồng bị bắt sống trong trận này, bỏ vợ là cô Tám Mang mới có bầu. Cô dông ra Củ Chi lập nhà bảo sanh, rồi sau đó không rõ tông tích. Một trận khác ở Bàu Trâu, tôi dắt đơn vỉ tập kích một cụm quân “Tia Chớp Nhiệt Đới”. Tôi cho pháo dập rồi xung phong. Chúng không chống cự, kêu trực thăng tới bốc rồi cho pháo trả đũa. Hai Phái mất tinh thần không chạy được, tôi phải kéo xểnh như thây ma. Về đến nhà y bịnh luôn, xin về cơ quan làm chính trị, không ra trận nữa. Ở trên đưa một ông gốc khu 5 tên là Sáu Đoàn Tâm, cán bộ cũ của sư đoàn 305 Bắc Việt xuống thay. Chỉ một thời gian ông này cũng chết.
Tình hình chiến trường càng ngày càng trở nên ác liệt. Hầu như ba bữa một trận nhỏ, bảy bữa một trận lớn. “Người không rời súng, ngựa chẳng rời quân”, chúng tôi phải di động tránh né luôn ở khắp Củ Chi, sang cả bên Trảng Bàng ăn nhờ ở đậu. Ở đây tôi gặp Ba Tới, quen hồi chín năm. Ông ta mới về làm tỉnh đội trưởng Tây Ninh thay cho ông vua con Nguyễn Việt Hồng bị Sáu Di cách chức. Tôi rủ Ba Tới cho kết nghĩa tiểu đoàn 14 Tây Ninh và tiểu đoàn Quyết Thắng của tôi.
Ban chỉ huy D14 là Năm Sơn, Ba Nhị và Chín Hung (cháu ông Mười Huệ ở Bến Tre) rất chịu chơi. Chúng tôi bèn rủ nhau phục kích đánh một đoàn xe tăng Mỹ kẻo từ Suối Sâu lên Trảng Dầu. Sáng chúng kéo lên, chiều rút về Đồng Dù. Hai bên phối hợp nghiên cứu chiến trường, đồng ý bố trí hỏa lực xong, vào giờ chót D14 nghỉ chơi, rút lui.
Tôi và Tư Nhựt vẫn đánh, bắn cháy hai chiếc xe tăng tại Suối Sâu. Phản lực, Dakota, trực thăng tới làm mưa làm gió.
Chúng tôi rút về Cầu Xe. Phản lực tới ném bom ngay giữa đội hình của C2 làm chết một tiểu đội, sáu chiến sĩ bị thương vì bom Mỹ và đạn B40 nổ trong hầm. Tưởng thắng hóa ra không thắng.
Chúng tôi chôn cất thương vong liền tay, riết rồi cũng không còn sức, mà cũng không có thì giờ tẩm liệm, gói ghém và đào huyệt. Cứ dồn xuống công sự, tay lấp đất, miệng lẩm bẩm: “Thôi nằm đỡ đó chịu lạnh nghe tụi bay, tàn cuộc chiến tụi tao sẽ trở lại xây mồ mả và lập miếu thờ!” Rồi dông ngay trong lằn đạn của phi pháo. Nếu quyến luyến ở lại đó thì sẽ chết chùm. Chiến tranh lôi cuốn mãi, con đường đã đi qua có bao giờ trở lại, còn nói chi mồ mả , miếu đền?
Nay ngồi viết những dòng này, hiện lên trong trí tôi những xóm làng, vườn tược ở khắp Củ Chi, nơi đó chúng tôi đã để lại những mô đất lè tè, những chiến hào toang hoác, nơi yên nghỉ nghìn thu những bạn bè thân thiết của chúng tôi xưa đã từng đi suốt ba miền trong cuộc kháng chiến chống Pháp, và cùng nhau vượt Trường Sơn, về đây nằm nghỉ tại quê nhà… một cách vô lối.
Là người cầm súng, bất cứ ở trên trận tuyến nào và chiến đấu vì mục đích gì, cũng phải là người dũng cảm. Chắc bạn đọc tưởng chúng tôi là những gan lì tướng quân nên mới đánh với Mỹ như vậy nổi. Sự thực cũng có tí gan lỳý đó, nhưng có lúc người ta lại bắt buộc phải gan lỳ để tìm cái sống. Hồi chín năm Hoàng Thọ là tay nổi tiếng nướng quân. Y bố trí trận địa chỉ chừa một cửa sống. Thí dụ sau lưng là sông, trước mặt là cơ giới địch đang di chuyển trên đường. Muốn sống phải diệt địch vượt qua lộ về khu giải phóng chớ không thể lùi lại phía sau.
Chúng tôi ngày nay cũng bị Hà Nội lãnh đạo chỉ huy theo lối đó. Họ ném chúng tôi vào Trường Sơn với một lon muối và vài kí lô gạo để hành quân trên con đường không có dấu chân người dài hàng ngàn cây số. Phải tìm cách để sống nếu không muốn chết. Dù có trăm phương ngàn cách lính Trường Sơn cũng chết như rạ .
Về đến miền Nam, họ quăng chúng tôi vào những chiến trường cũng với phương châm đó: tự tạo điều kiện đánh giặc để sống còn. Nếu lười nhát sẽ bị giặc tiêu hủy. Giặc đây là Mỹ, một quân đội trang bị tối tân nhất thế giới, còn chúng tôi trang bị lạc hậu cũng nhất thế giới: súng ngựa trời và các loại súng mút thời Nga Hoàng mà cũng không có đủ nói chi súng máy.
Đứng trước một tình thế sống chết như trở bàng bàn tay, chúng tôi phải tìm cách sinh tồn. Đánh cũng chết mà chạy cũng chết. Người cầm súng có bao giờ chọn lấy con đường nhục nhã là chạy trốn địch? Cho nên sự gan lỳ của chúng tôi là một sự gan lỳ bắt buộc như anh lính Hồng Quân Liên Xô trong phim Bài ca người lính chiếu ở Hà Nội mà tôi đã xem. Đơn vị anh ta bị lính Hitler tiêu diệt sạch, chỉ còn một mình anh ta chạy trốn. Xe tăng đuổi theo. Anh ta quay lại thấy họng súng của nó to lớn vô cùng và đã sát sau lưng, nếu tiếp tục chạy thì họng súng kia sẽ nhả đạn. Anh ta bèn quay lại rút thủ pháo ném. Quả pháo rơi vào lòng xe tăng diệt cả bon địch… Và anh ta đã trở thành anh hùng một cách bất ngờ. Trong lúc ném quả thủ pháo anh ta không nghĩ gì cả, như một cái máy bật một cách tự nhiên.
Chúng tôi đánh Mỹ ở Củ Chi cũng gần như trong trạng thái tinh thần đó chứ không nghĩ rằng Củ Chi đất thép đất bùn gì cả. Đánh để tìm đường sống hơn là lủi trốn để rồi chết. Cho nên ai khen chúng tôi gan dạ, anh dũng là lầm.
Hồi khoảng 1949-50 gì đó, Đồng Tháp Mười bị một trận tổng ruồng kinh hồn. Trận này do trung tướng Pháp Bondis chỉ huy. Lúc đó tôi còn là một cậu bé mười bảy tuổi. Một biển cả mênh mông mà chỉ có vài chục chiếc xe lội nước (tank amphibie) và chưa đến chục máy bay, còn dưới sông thì có độ chục tàu há mồm (chaland de débarquement). Riêng bộ binh thì có chừng vài trung đoàn. Như vậy chẳng khác nào muối bỏ biển. Thế mà Bộ Tư Lệnh chiến khu VIII của Trần Văn Trà chạy tướt bơ, không dám quay mặt lại. Đại đội phòng không chỉ bắn rơi có một chiếc máy bay Skyraider ở Dốc Binh Kiều mà đã được nhạc sĩ Hoàng Việt cho vào bài ca bất hủ.
Có lẽ đó là trận ruồng lớn nhất của quân Pháp ở Nam Bộ. Vài trận đụng độ lẻ tẻ với Vệ Quốc Đoàn đã xảy ra. Số thương vong của hai bên chưa tới con số 10. Riêng ở miền Tây, Pháp dùng hai cây cà nông 105 và 90 ly trên đường Tầm Vu và Sóc Xoài đã bị Vệ Quốc Đoàn đánh lấy, kéo về chiến khu bằng hai con trâu mà Pháp không đuổi theo kịp.
Tôi nhắc lại vài ba sự kiện trước kia của các bậc đàn anh, không phải để đánh giá họ mà là để thấy thằng Tây so với thằng Mỹ ngày nay không bằng một phần mười.
Nếu Pháp dùng một trái bom thì Mỹ dùng đến một ngàn trái.
Nếu Pháp bắn một viên đạn thì Mỹ bắn đến một trăm ngàn viên.
Nếu Pháp dùng một phi cơ thì Mỹ dùng đến một, hai trăm phi cơ chưa kể B52.
Nếu Pháp dùng một xe tăng thì Mỹ dùng năm trăm xe tăng
Nếu một chục cây số vuông thời chín năm bị một phần mười quả bom 50 kí lô thì mỗi cây số vuông ở Củ Chi lãnh mười quả bom 100 kí lô và một quả bom đìa.
Nếu mỗi trận đánh cấp đại đội thời chống Pháp có một đến năm chiến sĩ hy sinh thì ở Củ Chi một trận đánh thường bổ đồng có mười chiến sĩ thương vong.
Trong kháng chiến chín năm, ba Bộ Tư Lệnh chiến khu VII VIII IX đều còn nguyên vẹn.
Trong kháng chiến chống Mỹ, ba Bộ Tư Lệnh đều bị tiêu diệt hoàn toàn. Nguyễn Văn Bảo, chánh ủy sư đoàn 330, anh ruột của Nguyễn Hộ, được đưa về làm chánh ủy Quân Khu IV chết năm 1965 ở Củ Chi trong trận bom B52 đầu tiên dội xuống An Nhơn.
Nguyên soái đầu đỏ Nguyễn Chí Thanh chết ở Long Nguyên cuối năm 67, còn Nguyễn Bình chết năm 49 là bị đồng đội phản thùng. Lê Quốc Sản, tư lệnh Quân Khu II, Nguyễn Hoài Pho, tư lệnh Quân Khu III đều chết vì bom đạn Mỹ.
Chúng tôi không phải là những nhà thống kê chuyên môn, chỉ xin nêu tên vài con số ước đoán với tư cách của những kẻ đã sống và cầm súng trong suốt hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Và sở dĩ chúng tôi cho những trận đánh kể trên là “bảy món ăn chơi” là vì trận tổng nướng quân Mậu Thân mới là món ăn thiệt mà chúng tôi sẽ kể ở những chương sau đây.
Xin trở lại tặng độc giả một “món ăn chơi” ở Cây Trắc.Trận đó D Quyết Thắng của tôi đụng với cụm quân Mỹ ở đường Một Làng xã Phú Hòa Đông. Ở đây có một cây trắc thiệt to nên có địa danh là Cây Trắc. Mỹ mở cuộc càn với 30 ngàn quân có B52 dọn bãi, gồm sư đoàn “Tia Chớp Nhiệt Đới” ở Đồng Dù và trung đoàn 11 kỵ binh thiết giáp. Mục đích chính là đánh vào khu vực Tam Giác Sắt Bến Cát và các xã ven sông Sài Gòn từ Nhuận Đức đến Hố Bò
Chúng tôi được lệnh Quân Khu phải cấp tốc hành quân bôn tập cụm quân Mỹ tại Cây Trắc. Năm Dầy C trưởng C4 của tôi cũng vừa bị tử thương vì pháo bắn sập hầm cùng với năm cán bộ và chiến sĩ. ớ trên bổ sung cho một C trưởng là Chín Tống, người Bến Tre tập kết. Chín Tống chuyên sử dụng súng cối, trình độ khá hơn Năm Dầy. Nhưng về kinh nghiệm chiến đấu, y chỉ là một tân binh. Trời mưa nên y dắt đại đội đi lạc đường suýt làm trễ giờ tấn công, nhưng nhờ có y bắn hai trăm quả cối trúng đích mà ba đại đội xông vào trận địa Mỹ dùng B40, thủ pháo, AK mà đánh với xe tăng và bộ binh Mỹ. Cánh Cl bị phát hiện và bị mìn clay-mo nổ bay gọn một trung đội. C2 và C3 đánh thủng một tuyến xe tăng nhưng không xung phong vào sâu được nữa, phải nằm cầm cự và bắt được bốn thông dịch viên.
Chỉ huy sở của D đặt trong một cái quán có hầm vững chắc do Ba Trắng, xã đội phó Phú Hòa Đông dẫn tới. Xong ông ta chuồn mất làm chúng tôi rất khó khăn trong việc định hướng. Xung phong không được mà chưa biết rút lui cách nào.
Trong hầm có ba người, Tư Nhựt, Đoàn Tâm và tôi. Đoàn Tâm vừa xuống thay cho Hai Phái mất tinh thần về làm chính trị ở quận đội. Đoàn Tâm hằng ngày hay giựt le về lập trường, đây là lần đầu hắn đụng trận với Mỹ trên đất Củ Chi, lại rơi vào tình thế nguy ngập nên cứ thở dài hỏi:
- Như vậy thì mần răng?
Tư Nhựt phát cáu, quát:
- Chết đến nơi, ở đó mà răng cỏ gì!
Trong lúc đó Cl, C2 báo cáo chiến sĩ bị thương nằm la liệt. Tôi cũng chưa tính ra cách giải quyết. Ba Thắng đã chuồn, dân công cũng lén trốn hết mà thương binh thì đông. Tôi biết nếu ở đây càng lâu sẽ có nguy cơ bị xe tăng càn hoặc pháo giã thì không đường rút lui, nên bảo Tư Nhựt:
- Để tôi lên C2 xem tình thế rồi cho mở đường máu.
Tư Nhựt đồng ý. Tôi vọt ra hầm. Nãy giờ ngồi trong hầm tối om, mới ra khỏi hầm mắt chói lòa như mặt trời mọc, tôi tưởng sáng rồi. Nhưng không phải. Đó là hỏa châu của Dakota, chúng quần khắp trận địa bắn pháo sáng như đèn điện giăng trên trời.
Mấy cậu trinh sát ngồi tựa lưng vào vách hầm chờ lệnh. Thằng Thuận hỏi:
- Anh Hai chạy đi đâu. Thương binh nằm đặc trước sân kia cà !
Tôi mọp trong lằn đạn, cố ra sân. Kẻ rên, người la. Tôi choáng váng.
- Dân công đâu hết rồi?
- Họ ở bên cái nhà đó, nhưng không còn người nào.
Đúng ra còn được năm, sáu người. Tôi cho tải thương binh nặng đi trước, rồi bảo thằng Thuận dắt tôi chạy lên chỉ huy sở của C trưởng Ba Đức. Ba Đức kêu lên:
- Nguy quá anh Hai. Tôi cho một trung đội đánh thốc vô trung tâm. Không thấy trở ra đứa nào hết.
Tôi bảo gọi Út Sương. Út Sương thở phào trong máy:
- Nguy quá anh Hai!
Tôi quát:
- Mở đường mà ra !
Đang tiến thối lưỡng nan thì trinh sát báo cáo:
- Anh Hai, em nghe có tiếng xe tăng từ phía Bà Hộ . Coi chừng tụi Đồng Dù ra tiếp viện.
Một trái pháo nổ rầm gần đó. Miểng phang nghe lạnh mình. Tôi quát:
- Tất cả tự lực chạy hoặc nằm tại đây…
Bỗng một giọng quen chọc ngang:
- Một giò cũng rán chạy đua với xe tăng tụi bay ơi!
Đang cơn nguy biến mà ai lại cà rỡn? Đó là ông Chín Nữa, C phó C3, dượng của tôi chớ không ai lạ. Ông ta là người rất “hút” đạn. Trận lớn nhỏ gì cũng bị thương. Không nặng, vai, đùi, sém tai v.v… Thế nào cũng lãnh một ít về nằm quân y rồi ra đơn vị. Đánh trận, lại bị thương trở vào viện.
Tôi nghe dượng nói như gợi ý, bèn bảo:
- Cậu nào bị gãy giò thì được cáng, còn bị thương tay, mình, phải rán đi chầm chậm chớ không còn dân công. Nằm đây chờ sẽ không có ai khiêng. Xe tăng nó tới rồi kìa.
Mà thật, động cơ nghe rõ dần, đất rung khe khẽ. Biết mình ra lệnh như vậy là quá ư dã man đối với chiến sĩ, nhưng còn cách nào khác? Chần chờ chỉ có chết thôi. Đoàn quân sứt tay gãy gọng vừa rên vừa lê chân cất bước trong tiếng pháo, tiếng động cơ xe tăng và dưới lằn đạn.
Nhiều chiến sĩ bị thương nặng quá nằm lại và chúng tôi cũng đành bỏ họ ở lại chết ờ đó, sau này xã đội sẽ chôn giùm. Chiến trận càng ngày càng tồi tệ về phía chúng tôi. Đầu năm 62-63, chiến sĩ chết còn được truy điệu, có hòm bằng gỗ tạp chôn, có nấm mả, có mộ bia. Năm 64-65 không còn truy điệu nhưng còn nấm mả. Năm 66 chỉ còn cái lỗ tun hút, cuộn ny-lông rồi dập, may có nấm, rủi khỏa bằng.
Bây giờ thì, chết không được chôn, cứ nằm đó cho rã thây để cho đất Củ Chi trở thành đất “thép”. Cái mả mẹ mày thằng Hồ tặc. Thành đồng tổ quốc làm cái đéo gì! Dân Nam Kỳ chết đau chết đớn vì tham vọng bá chủ của chúng mày.
Tôi và Ba Đức chờ cho người thương binh sau cùng băng qua đường mới gọi Tư Nhựt:
- Allô !… Tôi đã giải quyết xong công tác hậu cần.
- Đồng chí lo cho họ đi, để mặt trận cho tôi tính.
m ầm ầm! Một loạt pháo nổ gần. Khi dứt, tôi gọi Tư Nhựt. Không có tiếng đáp. Tôi biết là dây điện đã bị cắt đứt.
m ầm ầm! Loạt nổ kéo dài hơn một hơi thở. Lần này không phải pháo mà là B52. Tôi la lên trong hốt hoảng:
- Ở đâu nằm đó. Đừng chạy bậy!
Trong khói mù mịt, tôi ngóc đầu lên. Pháo sáng còn hơn đèn điện thành phố Hà Nội.
Cây vườn ướt sương lấp lánh đẹp như tranh. Nhưng kìa xe tăng đã tới. Bom B52 nổ cách chúng nó chừng vài trăm thước. Tôi nhổm dậy, tay quờ đụng một vật âm ấm. Ai vậy?
- Anh Hai!
Tôi nhận ra Bảy Mô. Trời đất, tường gặp nhau ở dưới âm ty.
- Sao em ở đây?
- Em nghe tiếng anh quát thương binh thì chạy tới tìm anh. Em bị thương ở đùi. Tụi em tải đạn cối cho Chín Tống, rồi chia nhau đi với Cl và C3 tải thương. Ông Năm Tần C trưởng bị thương sọ não, Năm Bụng C phó bị thương ở hông, trung đội của Năm Trung chết gần hết vì mìn Clay-mo ở trước hàng rào, ông Tư Linh (không phải Tư Linh binh vận bạn tôi) bảo tụi em nhào lên lôi thây. Em lôi được hai cái, đến cái thứ ba thì bị thương.
- Không ai võng à?
- Có còn ai mà võng!
- Vịn anh đi.
- Đánh gì kỳ vậy anh?
- Trận này D anh bị nặng nhất.
Chúng tôi dìu nhau ra khỏi trận địa. Bom pháo thưa dần. Chúng tôi đi chậm lại.
Tôi la to:
- Hết B52 rồi các cậu! Rán về tới Cây Diệp thì mới khỏe.
Bảy Mô kêu:
- Chân anh sao vậy?
Tôi ngó xuống, ống quần bên trái ướt dầm. Tôi tưởng là bùn đất, không ngờ là máu. Mô xé khăn quấn cổ buộc cho tôi rồi hai đứa cùng đi.
- Sao anh đi đâu cũng gặp em hết vậy?
- Sao em đi đâu cũng gặp anh hết vậy?
Hai đứa cùng cười. Về đến Sở Đất Thịt là trạm quân y dã chiến Quân Khu của Tám Lê. Ông bác sĩ này móm xọm. Nhìn mặt ông ta không thấy cái miệng, chỉ thấy cái cằm nhô ra như bánh lái ghe. Lần này nó càng nhô ra vượt mức.
Ông ta lắc đầu:
- Nhiều quá làm sao cho xuể hả ông Lôi? Ông coi kìa, thương binh nằm trắng lớp trong rừng cao su mà chỉ có một mình tôi. Nếu tôi biết trước tình thế này tôi bắt Tư Chuyền và Năm Hồng theo tiếp tay. Trước nhất ông phải cho khiêng họ đi ra khỏi rừng này. Tôi nghi B52 sẽ rắc bom xuống đây nội sáng nay. Vì nó dư biết đường rút của mình.
- Tôi không còn tên lính nào trong tay. Cả dân công cũng không có. Ông cứ để họ nằm đó đi. Sáng mai tôi sẽ cho đơn vị tới giúp…
Bỗng có tiếng người vang lên:
- Rán bò lên tụi bay. Nhất là mấy thằng mới có mèo. Đừng nằm đây hứng B52 uổng thân lắm. Còn thằng nào muốn sang Mỹ nếm mùi đầm Mỹ thì chờ xe tăng, trực thăng tới xúc.
Tôi nhìn lại thì ra dượng Chín của tôi. Ổng bị thương, tay treo cần cổ. Tôi và Bảy Mô kết bè với dượng đi về tới Sa Nhỏ, tạt vô quán Ba Trắng nghỉ chân. Chỉ có bà vợ bán hàng, còn đức lang quân xã đội phó thì vắng mặt. Bà vợ đóng kịch:
- Ủa, còn ba sắp nhỏ đâu, không thấy về?
Chín Nữa thừa biết sự anh dũng của ông Ba, nên vọt miệng đáp:
- Kỳ này ông xã đội của chị sẽ lãnh huân chương anh hùng.
- Sao vậy anh Chín?
- Ổng ôm thủ pháo xông vô xe tăng Mỹ diệt luôn ba chiếc chớ sao!
- Úy trời đất, rồi ảnh có sao không?
- Xe tăng nó tung mà ảnh không trầy miếng da!
Chị chủ quán biết mình bị tháu cáy nên lẩn ra sau. Chắc Ba Trắng nằm trong buồng nghe rõ lời Chín Nữa nói.
Mỹ vẩn còn càn tới càn lui ở Hố Bò, An Phú nhưng ở đây, những chàng lính đi trận về đã bắt đầu mua rượu và tép mỡ làm tiệc. Yêu cuồng sống vội còn hơn thanh niên Sài Gòn. Họ nhấc chuyện chết hụt đêm qua và cười.
Một cậu nhắc lại câu nói bất hủ của Ba Tố hay Năm Dầy gì đó:
- Em ơi! Cho anh ngủ một đêm rồi sẽ có “bảng vàng danh dự”‘ treo trong nhà, (hoặc) muốn có bảng vàng danh dự treo trong nhà thì cho anh ngủ một đêm thôi.(Câu này đã trở thành câu đầu môi của chiến sĩ mỗi khi đùa).
Cơ quan của ông đốc chiến Năm Tiều cũng rề tới rề lui vùng này. Nghe tôi về, anh đến thăm. Anh lôi tôi ra ngoài
- Mẹ, còn tệ hơn Tân Quy nữa hả tụi mày?
Tôi lặng thinh, anh tiếp:
- Tao ở nhà nghe tiếng súng thì biết. Mỹ đông quá mà lại súng nhiều. Mình có một D, như thằn lần ôm cột đình, làm sao chuyển nổi.
Tôi lắc đầu:
- Cái khổ là không có dân công tải thương anh à.
- Thằng Châm nó nghe tụi bay thua trận này, nó sẽ khoái chí lắm. Nó bảo: “Sao không giỏi chạy xe Honda nghiên cứu như kỳ Suối Cụt nữa đi!”
Thấy Bảy Mô trong quán, anh tiếp:
- Mày đi đâu cũng đeo cái của nợ đó theo. Trận Tân Quy xui là tại vì con Kim Anh, trận này là con “dì Bảy” nó.
- Cô ấy là dũng sĩ chớ có phải đầu quăn sao anh?
Năm Tiều dắt tôi và Chín Nữa về căn cứ của anh. Từ sau cuộc kiểm thảo, anh không còn trách nhiệm chỉ huy nữa, anh được cho làm tham mưu phó Quân Khu(dưới trướng Năm Lê). Anh lập một cơ quan riêng gồm ba nhân viên toàn là cháu anh: thằng Nừng khỏe mạnh chuyên vác ba lô và đào hầm cho anh, thằng Cào có bộ giò cuốc thì làm liên lạc. Con Thanh gọi anh bằng bác ruột thì nấu cơm, pha cà phê. Đi đâu cũng kéo một dọc bốn trụ. Bà con gọi là “gánh hát Tiều”.
Hôm sau Năm Tiều rỉ tai cho tôi biết, ở trên đưa về nhiều cán bộ miền Bắc, nhiều vũ khí tối tân của Liên Xô, Trung Quốc: Chuẩn bị giải phóng miền Nam trong vòng hai tuần lễ. Dễ như trở bàn tay.
Năm Tiều khoái chí làm tôi cũng mê man, nhưng nhớ lại trận Cây Trắc vừa rồi, sơ sơ thấy gần nửa đại đội thương vong. Còn phải mệt lắm mới tìm đủ số tân binh lấp lỗ trống.
Q16 lính dép râu (dân gọi là lính vịt xiêm) anh hùng Điện Biên của Năm Dũng và Ba Kiên thì cũng tiêu hao bộn rồi mà chưa đánh trận nào coi cho được, để lấy uy tín với đám em út miền Nam.
Dù sao thì cấp chỉ huy của chúng tôi cũng gồm những ông Hoàng Thọ đánh giặc liều mạng không cần khoa học. Lính phải tìm lấy sinh lộ. Nhưng Hoàng Thọ khác với những vị chỉ huy của chúng tôi bây giờ.
Ở chỗ Hoàng Thọ ra trận, xung phong trước lính chớ không ở sau lưng, trong hầm đốc xúi nướng quân.
Đang uống trà ngon miệng, bỗng Năm Tiều bảo:
- Thằng Nữa ở lại đây chơi, còn thằng Lôi thì về bên quán đi. Con dũng sĩ nó đang đợi mày, nhưng nhớ đừng có gầy trận nghe. Vết thương làm độc, vô quân y, mẩy em nhỏtrong nó đang ghen, nó cưa chân mày đó.
 
 
Chương 79
Những “bàn cờ thế” trên đất Củ Chi

 Sau một thời gian đánh liên tục của tiểu đoàn Quyết Thắng, Quân Khu cho Tám Quang xuống làm một cuộc tổng kiểm thảo những trận đánh điển hình thắng và thua: Suối Cụt Tân Quy, Cây Keo (đồn Thầy Mười). Năm Lê, tham mưu trướng Quân Khu, đáng lẽ phải có mặt nhưng vì “đau xương sống” nên không đến dự. Đúng ra, ông ta ngại ra khỏi hầm.
Ít nhất trong vòng hai năm tôi đến làm việc với ông hai lần trong hầm này (nơi mà xã đội trưởng Ba Xây, ông Xây bị bắt trong cuộc càn Operation Crimp, nhưng Năm Lê vẫn không dời địa điểm). Và vì một lý do ngầm: Năm Lê không ưa cái mép của Tám Quang.
Cuộc kiểm thảo được tổ chức trong vườn chuối sau nhà cô Ba Lợi, có đủ mặt cán bộ tiểu đoàn và đại đội của tiểu đoàn và nhiều tai to mặt lớn của Quân Khu như Ba Hải, trưởng ban tác huấn khu; Ba Kỳ Nam, cấp chính ủy trung đoàn; Út Lịa, trung đoàn phó đang tại chức; Ba Châm, trung đoàn trưởng; Năm Tiều, trung đoàn trưởng cán bộ đốc chiến cố vấn của tiểu đoàn.
Mở đầu, Tám Quang, trưởng phòng chính trị, báo cáo tình hình thế giới, trong nước và Quân Khu. Ông cho biết lão Khơ xét lại đã bị hạ bệ, Kốt-xi-ghin lên, hoàn toàn ủng hộ chủ trương giải phóng của đảng. Cho nên đã có vũ khí mới viện trợ, chấm dứt thời kỳ tiếp trợ bằng những khẩu mút cơ tông “oảnh tầm sào” dựng cao hơn đầu lính ta.
Miền Nam có ba công trường 5, 7, 9, một sư đoàn pháo và một sư đoàn đặc công. Hai sư đoàn Mỹ “Anh Cả Đỏ” và “Tia Chớp Nhiệt Đới” đã có mặt đầy đủ tại Đồng Dù, Lai Khê và Dĩ An. Ngoài ra còn có một trung đoàn thiết kỵ và lữ đoàn Dù 179 tăng cường cho hai sư đoàn này khi có hành quân lớn. Sư đoàn 25 Sài Gòn đã rảnh tay để đánh phá vùng hậu cứ của Mặt Trận Giải Phóng. Cụ thể là hiện giờ nó được rải dài từ Hậu Nghĩa đến Tây Ninh để canh giữ trục quốc lộ I, trong lúc lữ đoàn Dù 173 Mỹ đang thiết lập căn cứ Trảng Lớn dưới chân núi Bà Đen ngay trước cửa ngõ căn cứ của R. Ở trên nhận định rằng sau cuộc hành quân ở vùng Tam Giác Sắt và tả ngạn sông Sài Gòn hồi đầu năm 1966, chúng sẽ mở cuộc tấn công lớn vào căn cứ R trong năm nay.
Do tình hình biến chuyển như vậy, Quân Khu xét thấy các đơn vị cần phải nhẹ gọn để luồn vào đô thị đánh các vùng an toàn của Ngụy. Bộ Tư Lệnh quyết định tạm thời giải tán trung đoàn. Tám Quang không nói ra nhưng ai cũng biết đó là trung đoàn của Ba Châm, một trung đoàn đánh đâu thua đó và chuyên môn bỏ xác lính tại trận. Bộ Tư Lệnh chỉ giữ lại trung đoàn Q16 của R tăng viện cho Quân Khu tức là trung đoàn (của hang Pắc Pó) anh hùng Điện Biên của Ba Kiên và Năm Dũng, và tiểu đoàn Quyết Thắng của Củ Chi, nay được Quân Khu nâng lên thành tiểu đoàn chủ lực cơ động của Quân Khu. Tiểu đoàn này sẽ được đưa vào sát nách Sài Gòn và Q16 sẽ thay thế nó ở địa bàn Củ Chi trong những ngày sắp tới.
Khi Tám Quang dứt lời, mọi người đều im lặng. Không một ai giơ tay lên. Ba Châm ngó xuống. Tư Nhựt và Hai Phái liếc sang tôi. Năm Tiều móc thuốc hút một cách ung dung. Không khí nặng nề bứt rứt vì ai cũng cảm thấy tình hình chẳng sáng sủa tí nào. Tôi nghĩ: tiểu đoàn Quyết Thắng còn quá ư xộc xệch, về mặt chiến thuật, kỹ thuật, quân số và trang bì làm sao luồn vào giữa lưới đồn bót mà đánh địch hữu hiệu? Sợi dây lưng của cô dân công đã giúp chúng tôi thoát nạn ở đồn Thầy Mười là một bằng chứng hùng hồn về sự xộc xệch đó. Một phương diện khác cũng không kém quan trọng, đó là nghệ thuật lẫn phương tiện chỉ huy. Trận tập kích Tân Quy thất bạ một phần lớn là do lỗi ở chỉ huy.
Thấy không ai có ý kiến gì, Tám Quang hỏi thẳng Hai Phái, đảng viên.
Hai Phái đáp xụi lơ:
- Dạ ở trên chỉ đâu chúng tôi đánh đó.
Còn Tư Nhựt gãi đầu gãi tai:
- Dạ, tinh thần chiến sĩ rất cao, ngặt vì vũ khí của ta không đáp ứng nổi cho chiến đấu.
Tám Quang ngắt lời:
- Chiến tranh do đảng lãnh đạo lấy con người làm yếu tố chính. Vũ khí cũng quan trọng nhưng tinh thần quyết định chớ không phải vũ khí. Nếu các đồng chí không có tinh thần quyết thắng thì đã không có sáng kiến dùng sợi dây quần của cô Tân cô… ô… -ông Tám Quang tằng hắng mấy cái liền, nuốt gặng rồi nói tiếp- Các đồng chí đã từng xem phim anh hùng Liên Xô Ma-tơ-rô-rốp, Đồng Tổn Thụy của Trung Quốc và Bế Văn Đàn, Phan Đình Giọt lấy thân mình lấp lỗ châu mai để giải quyết thắng lợi cuối cùng về ta. Những tấm gương đó có nghĩa là gì? Đó là tinh thần quyết định chứ không phải vũ khí. Đồng chí Hai Lôi nghĩ thế nào? Đồng chí đã tỏ ra là một người chỉ huy vừa dũng cảm vừa sáng suốt xin cho biết ý kiến.
Tôi nghĩ: ổng đã nói thế rồi, bố thằng nào dám nói khác, nên gật đầu, nói bọc xuôi:
- Dạ đồng chí trưởng phòng chính trị dạy chí phải ạ !
Tám Quang nói tiếp:
- Tuy vậy không phải là đảng coi thường sinh mạng chiến sĩ (đảng coi chiến sĩ như chó thôi chớ không coi thường). Các đồng chí Liên Xô rất khâm phục chúng ta đã biết khắc phục hoàn cảnh thiếu thốn để đánh Mỹ. Nhưng trong vài bữa nữa, các đơn vị sẽ thấy ông Ba Giỏi, Tám Dương phát cho các đồng chí vũ khí mới của Liên Xô hơn hẳn vũ khí của Mỹ . Hiện trên R mới có chín khẩu, sẽ trang bị cho các đồng chí cả. (chưa tới mười khẩu vũ khí mới, chưa biết là vũ khí gì mà đánh với hai sư đoàn Mỹ tối tân. Vậy là ghê gớm lắm đó các đồng chí “ngựa trời” của Năm Cội, anh hùng diệt tăng của đất Củ Chi ơi!).
Đến phần kiểm thảo các trận đánh, Ba Châm thua me gỡ bài cào. Sau khi Út Sương báo cáo về trận Suối Cụt, y lên tiếng trước nhất:
- Đồng ý là trận Suối Cụt có nhiều ưu điểm, nhưng có một sự vô kỷ luật căn bản.
Mọi người chưng hửng nhìn ông trung đoàn trưởng già (một loại Đạt Đức lão tướng lạc hậu trong kịch Tiền Tuyến của Liên Xô trong thời đánh Hitler. Do đó bộ tổng tư lệnh Hồng Quân đã đưa tướng Cu-nhiếp đến thay thế). Ba Châm nhìn thẳng vào tôi:
- Ai cho phép cán bộ tiểu đoàn ra vùng địch nghiên cứu trận địa?
Tôi giật mình. Không ngờ y vạch lá tìm sâu như vậy. Trận Tân Quy, Ba Châm đã có ác ý cho đơn vị do tôi trực tiếp chỉ huy (C3 của Út Sương) nằm vòng ngoài để đội pháo Bình Dương nhưng tôi bỏ qua, nay y lại bắt tội tôi ra vùng địch.
Nhưng Tám Quang chận ngay:
- Đó không phải là một hành động vô kỷ luật mà là một sự linh động. Vả lại Bộ Tư Lệnh chưa có một chỉ thị nào cấm cán bộ ra vùng địch để thi hành công tác. Hơn nữa, nhờ sự nghiên cứu tận tường nên trận Suối Cụt đã đem lại kết quả tốt đẹp nhất trong các trận đánh địch cụm quân từ trước tới nay. Ngược lại, trận tập kích Tân Quy đã không đem lại tiếng vang là vì sự nghiên cứu còn có chỗ thiếu sót
(Tám Quang đã đụng tới Năm Lê nên không dám nói mạnh. Thực ra phải nói là vác búa đánh vào khoảng không thì mới đúng).
Tuy vậy lão tướng Ba Châm vẫn còn ức. Ông ta chưa chịu im nên cố bới lông tìm vết để đổ lỗi cho tôi:
- Trong nguyên tắc bố trí hỏa lực pháo binh điều tối kỵ là bố trí “pháo giao đầu” thế mà đồng chí tham mưu trưởng D đã phạm khuyết điểm đó.
Tám Quang biết tâm lý của Ba Châm: ông ta là cán bộ trên tôi ba cấp thời kháng chiến chống Pháp mà bây giờ tôi lại tỏ ra linh động hơn ông. Nên Tám Quang an ủi ông bằng cách vuốt nhẹ:
- Trong chín năm ta có những nguyên tắc không thể đem áp dụng vào thời kỳ này. Hơn nữa, có khi ta lại làm ngược lại. Thí dụ hồi trước ta đóng quân trong vườn và nhà nhân dân, bây giờ nếu ta cứ chui rúc trong vườn và nhà nhân dân thì ta làm mồi cho pháo. Trong lãnh vực pháo binh, đồng chí tham mưu trưởng tiểu đoàn có đủ trình độ để bố trí hỏa lực hợp lý. Qua hai trận pháo kích Đồng Dù và Trung Hòa, kỹ thuật bắn pháo của đồng chí ấy chứng tỏ cho Bộ Tư Lệnh thấy rõ . Và trong trận Tân Quy, pháo binh ta đã không gây thiệt hại gì cho bộ binh ta. Đó là một thực tế chúng ta đều phải công nhận.
Ba Châm đành im.
Sự thực tôi không có thành kiến gì với Ba Châm lẫn Năm Tiều, là hai cán bộ có thành tích chống Pháp. Nhưng bây giờ các ông ấy đã già yếu và không chịu rời bỏ những kinh nghiệm lỗi thời xưa. Thời đó đánh Pháp phần lớn là bằng kinh nghiệm chớ không bằng kiến thức khoa học. Nói vấn đề ra trận, các ông không chạy nổi thì cũng đủ chết rồi. Chạy đua với pháo, trực thăng phải là đám trẻ chúng tôi, còn sồn sồn cỡ Hai Phái, Đoàn Tâm, Út Lịa cũng không kham nữa là Ba Châm. Chẳng những chạy, mà vừa chạy vừa đánh.
(Sau khi trung đoàn giải tán, Ba Châm được rút về làm tham mưu phó Quân Khu, dưới trướng Năm Lê. Chỉ ít lâu sau, trong một đêm, ông và cậu cần vụ vào nhà dân ngủ. Sáng thức dậy cuốn võng lơn tơn ra hầm bị biệt kích Mỹ phục kích ở ven rừng bắn chết cả hai).
Để vỗ an cán bộ, Tám Quang nhân danh Bộ Tư Lệnh khen (miệng) D Quyết Thắng của chúng tôi và nhấn mạnh:
- Quyết Thắng được Bộ Chỉ Huy R công nhận là một trong bốn tiểu đoàn đánh giỏi nhất miền Nam.
Rồi ra lệnh cho ban chỉ huy D đề nghị thăng cấp cho cán bộ và chiến sĩ do y duyệt xét ngay không cần trình lên Bộ Tư Lệnh.
Tan hội nghị tôi về văn phòng với Tư Nhựt và Hai Phái, định bàn việc tổ chức lại tiểu đoàn để đáp ứng nhu cầu mới của chiến trường. Nhưng cơm nước xong, thì nữ phóng. . .viên tới yêu cầu làm việc với ban chỉ huy để cô ta tường thuật trận Suối Cụt. Tư Nhựt từ sau trận này, tỏ ra điệu đờn với tôi nên nháy tôi và bảo:
- Thầy Hai có văn nghệ hơn tụi tôi, thầy nên tìm chỗ yên tĩnh mà “làm ăn”, ủa, làm việc với nhà báo đi! Còn công việc “dê” (D) chúng tôi ở nhà lo thay cho đồng chí.
Tuy đoán mò rằng tôi và cô nhà báo có xăng tăng với nhau từ trước, nhưng Tư Nhựt cũng không biết rằng trong lúc kiểm thảo, tôi ngồi cặp kè với nàng và trao đổi bang giao với nhau cụ thể rồi. Còn Hai Phái thì biết mình không dấm dớ được nên cũng không phản đối.
Ra khỏi văn phòng, tôi hỏi nàng:
- Đi đâu bây giờ em?
- Anh là tham mưu mà !
- Nhưng em là “dê trưởng”.
- Quỷ không hà !
Thế là tôi nhảy lên poọc-ba-ga. Nhờ chiếc xe Peugeot còn mới nên nàng phóng một hồi, qua không biết bao nhiêu bãi bom pháo (đi cho thật xa cái thế gian ồn ào này mà), từ Bàu Đưng vô Phú Hòa, tôi bảo dừng lại, nàng đều không nghe, cứ mải miết đạp, qua khỏi Lộc Thuận tới nhà Mủ nàng mới tốp. Trời đã xế dài. Hai đứa vào cái trường học ngả tó ngả xiêu, gần chỗ bãi B52 nơi Tư Linh báo cáo cho tôi cái chết của Sáu Di đêm nào. Nàng ngồi xuống chiếc băng gãy, lột chiếc nón hướng đạo rộng vành quạt lia.
- Anh làm như em là cần vụ của anh vậy.
- Tại sao?
- Em mỏi rụng cả hai chân.
- Thì anh đã bảo dừng lại từ Bàu Đưng kia mà ! -Tôi vừa nói vừa sụp xuống bóp chân nàng.
- Em ghét mấy ông “dê” (D) của anh lắm. Thế nào nay mai họ cũng đồn rùm. Anh không nghe ông “dê trưởng” của anh nói hai tiếng “làm ăn” rồi “ủa” sao?
- Anh ấy nói nhầm rồi sửa lại liền là “làm việc”, em không nghe à?
- Ông ta cố ý, tưởng em không biết.
- Nào, hết mỏi chưa?
- Còn!
- Chừng nào hết thì mình làm… việc… nhé ! -Tôi ngước lên nhìn nàng.
Nàng tát khẽ má tôi:
- Anh nữa! Anh cũng trong ban chỉ huy “dê“. Làm vi…ệc!?
- – Thì làm việc với em như em yêu cầu. Chứ chẳng lẽ em làm… việc một mình được?
- Cái miệng của anh có ngạnh. Nói đâu dính đó.
- Dính gì ?
- Kìa, mặt anh sao thờ thẫn vậy?
- Tại anh nhớ lúc mới gặp em lần đầu cũng ở vùng này.
- Lần đó anh bị bà xã đội phó nắm hồn thư nên không dám ngó em phải không?
Tôi làm thinh, chỉ cười trừ nhưng hai cái tay không nghỉ và càng lúc càng Bắc tiến.
- Anh không sợ bị trả thù à?
- Ai?
- Bắc kỳ thù dai chớ không phổi bò như dân Nam Kỳ anh đâu.
- Ai thù và thù ai mới được chớ?
- Ông già Kốt-ta-bít đó chớ ai.
- Anh có làm gì ổng đâu mà ổng thù?
- Anh đánh giỏi hơn ổng.
- Ổng còn chỉ huy anh đâu nữa mà thù.
- Ổng gần mặt trời, ổng tâu vô tâu ra, anh biết đâu được.
- Đạn có mắt em à! Những thằng cứ chạy tránh lại leo lên bàn thờ nhanh hơn những đứa liều mạng. Anh cứ kể như anh không sống. Thế là anh yên tâm. Em không thấy người ta lấy vợ rần rần, còn anh thì không sao?
- Ai yêu anh mà lấy?
- Có chớ !
- Ai?
Tôi ngước mất lên nhìn nàng.
- Anh ghê gớm lắm. -Nàng khom xuống ôm đầu tôi.
- Dám lừa em xuống Bến Mương để tập bơi.
- Tập bơi chớ đâu có làm… gì mà em gọi là lừa?
-.. Còn không nữa?
- Sao em biết… mà vẫn để anh lừa?
- Sau lần gặp tại bữa tiệc của Bộ Tư Lệnh ở Xóm Chùa anh còn gặp những ai nữa? Khai thiệt đi, không em vặt tóc anh
- Không có gặp ai hết!
- Anh ngủ ở nhà nào, anh Ba Tố ngủ ở nhà nào, em nói cho anh nghe.
- Thì nhà người ta chỉ có một cái hầm, anh ngủ bên ngoài pháo ăn anh làm sao?
- Anh bị thương mà đi suốt từ Tân Quy về tới đường Một Làng với ai?
- Thì đó là tình cá nước quân dân mà em!
- Tình quân dân ngọt như quả dưa hấu non của cô bé tình báo vậy hả?
- Đó là công tác chớ anh đâu có yêu cầu ai.
- Ứ công tác một mình với người ta trong hầm ở nhà Bảy Sơn, thích nhỉ?
- Chứ việc bí mật không lẽ đem ra bàn giữa gia đình?
- Bí mật nên “xã ủy” mời anh ra chòi họp giữa ban khuya phải không?
- Anh hoàn toàn bị động.
- Vậy mua cà rá trạm chữ “L” là do ai chủ động?
Tôi thấy cô nhà báo thu thập tin tức quá chính xác và đầy đủ nên không chối quanh nữa, mà bịa chuyện: Tuy vậy anh chỉ yêu có một người.
- Người nào?
- Em biết rồi mà còn phải hỏi.
- Nếu người ấy muốn cùng anh thay đổi cuộc sống thì anh nghĩ thế nào?
Không ngần ngại, nàng bật ra câu nói như đã kềm ở môi từ lâu:
- Em thấy em không thể sống ở đây anh à !
Tôi giật mình nhìn nàng trân trân, không ngờ nàng có ý nghĩ đó :
- Nghĩa là sao?
Nàng thở dài:
- Anh thấy chị Hằng có đẹp không?
- Người ta bảo “đẹp như Hằng Nga”, mà sao em lại hỏi thế?
- Nhưng em thấy mặt chị ấy rồi.
- Mặt chị ấy ra sao?
- Mặt rỗ nhằng rỗ nhịt thôi anh ạ.
Tôi biết cô nàng ngụ ý : cuộc kháng chiến này mới nghe thì lý tưởng lắm, nhưng đi vào thì vỡ mộng. Cô nàng là sinh viên đại học chắc ăn phải bả ông trí thức Tư Ánh rồi.
Bao nhiêu lửa dậy trong lòng tôi đều hạ xuống tiêu tan trong giây lát. Tôi bảo:
- Mình nên dời chỗ đi em ạ.
- Tại sao?
- Anh có linh tính là giang thuyền thả xuống sẽ bắn lên hủy diệt cái trường học xiêu vẹo còn lại này.
Nàng đứng dậy ôm ghì lấy tôi, thầm thì:
- Nụ cười của em đã rơi xuống lòng sông Bến Mương cho anh rồi, nên anh không yêu em nữa phải không?
- Không phải đâu. Chính vì thế mà anh càng yêu em.
- Hay vì em nói ra ý nghĩ của em?
Tôi lặng thinh. Chỉ hôn khẽ trên trán nàng. Rồi chia tay, không biết đây là người thứ mấy rủ tôi trốn về thành (thay đổi cuộc sống). Từ sau cuộc gặp gỡ này, tôi luôn luôn tránh né nhà báo. Cho đến năm 1992 (25 năm sau) tôi mới trông thấy lại nàng trên báo.
… Ít t lâu sau, Quân Khu đưa một tham mưu phó xuống làm cố vấn cho chúng tôi. Đó là ông Vũ Ba, thời kháng chiến ông đã từng chỉ huy tiểu đoàn ở Thị Vãi, Bà Rịa cùng với Hai Bứa và Ba Ngọt (Nguyễn Chí Sinh). Ông Sinh hiện là cục trưởng cục tác chiến R, người đã từng sang đánh giúp Pathet Lào. Sau này chỉ huy một trung đoàn vào Sài Gòn và bị Nhân Dân Tự Vệ bao bắt ở Gò Vấp vào Tết Mậu Thân ở tại chuồng heo..Và chính ủy Lê Hiền, Lê Hiền sau Cải Cách Ruộng Đất được phong đại tá chính ủy sư đoàn F350 bảo vệ thủ đô Hà Nội.
Thấy tiểu đoàn quá ư vất vả trong chiến đấu lẫn ngày thường, ông bèn đưa ra kế hoạch nghiên cứu trước chiến trường và có sẵn ý niệm bố trí quân, hỏa lực. Vì quân Mỹ cơ động quá nhanh, nên chờ cho chúng đổ quân xong, ban chỉ huy mới họp bàn kế hoạch chiến đấu thì không kịp. Có khi bàn xong, chúng đã rút hay đã thay đổi đội hình. Tôi là người được ông chỉ định đi khắp Củ Chi để vạch ra những phương án cụ thể này, lý do là tôi đã đến nhiều xã và có cảm tình với các xã đội nhất trong ban chỉ huy D.
Tôi sắp sửa lên đường thì liên lạc báo cho biết có hai ông già lem nhem nhưng có gác đờ co có mang AK tới xin gặp ban chỉ huy tiểu đoàn. Tôi không biết là ai, trong bụng sợ tụi thằng Lệnh, thằng Rắc giả dạng đột nhập căn cứ, nên bảo thằng Thuận ra xem xét cho kỹ. Thuận trở vào báo cáo:
- Dạ, mấy ông già khọm và nói tiếng trọ trẹ, lại mặc đồ cứt ngựa, mang dép cao su.
Tôi quát:
- Tụi nó không biết ngụy trang hay sao?
Vừa dứt tiếng thì tôi nghe tiếng Ba Đức vọng vào:
- Không phải đâu anh Hai. Đây là ban chỉ huy Q16 bồ tèo của mình đó.
Tôi biết rồi. Đây là các anh hùng Điện Biên Phủ. Tôi cũng đã từng nghe trung đoàn này được chị Ba Định đỡ đầu và hai ông trong ban chỉ huy E là em nuôi của chị Ba.
Tôi bước ra niềm nở chào hỏi, nhưng Tư Nhựt không xuất hiện, chỉ để một mình tôi tiếp khách. Thoạt trông thấy tôi hơi buồn. Các ông ấy già không kém gì Năm Tiều và Ba Châm, 1954 đã là anh hùng thì đâu có được 30 tuổi. E trưởng Nguyễn Văn Lực đổi ra là Ba Kiên có bộ răng Bến Tre, gầy tọp, nhỏ thó như ông tướng Dương Quốc Chính hồi năm 1950 từ Bắc vào Nam. Còn ông Năm Dũng, chánh ủy trung đoàn thì cũng nhỏ thó như vậy, đặc biệt có cặp mắt toét rất nặng. Ông ta hấp háy luôn và nhìn nghiêng.
Tôi cho làm một con cầy tơ để thết đồng đội từ phương xa tới. Năm Dũng hỏi tôi có phải là Hai Lôi, người đã cho một cái đùi bò cho lính ông ta năm trước nhân ngày Quốc Khánh không? Trong lúc chén thịt chó chúng tôi trao đổi kinh nghiệm tác chiến.
Sự thực các ông đến học kinh nghiệm của D Quyết Thắng. Trong khi D chúng tôi tập kích quân Mỹ ở Cây Trắc thì Q16 cho một tiểu đoàn (D7) đánh cụm bộ binh cơ giới Mỹ ở rừng Cả Chúc ở gần Bùng Binh (Bến Được). Tiểu đoàn này bị pháo ở Chà Rầy từ Trảng Bàng bắn bị thương vong hơn một trăm. Từ sau các trận Bàu Trâm, Trường Gà, Cỏ Ống và Rừng Cả Chúc đã mất hào khí Điện Biên. Không bao giờ dám tập trung, đánh cấp E mà chỉ chơi lẻ tẻ với lực lượng D là cùng.
Tôi .biết lính Q16 suốt Trường Sơn đã mất sức khỏe, bịnh sốt rét dây đưa, vô tới R không được bồi dưỡng, xuống Củ Chi không được nghỉ ngơi, ăn uống có khá hơn ở R nhưng vẫn chưa lấy lại được sức lực cần thiết cho những tay súng đối đầu với Mỹ, lại nữa chiến trường lạ lùng, bom pháo kỳ cục, không giống như Điện Biên. Rất nhiều lính Q16 bỏ đơn vị đi lang thang trong dân, sau những trận sống sót B52 họ càng chán nản.
Tôi nói với Năm Dũng và Ba Kiên:
- Chiến trường dạy chúng tôi thôi các đồng chí ạ. Thứ nhất phải nhanh nhẹn, thứ hai phải dùng công sự, thứ ba phải có gan đội bom pháo. Thế thôi, chứ nói về thành tích và kinh nghiệm thì so với các đồng chí, chúng tôi là những kẻ sanh sau đẻ muộn.
Năm Dũng tỏ vẻ rất hiểu đời và khiêm tốn:
- Bao nhiêu phương pháp công tác chính trị tốt thời đánh Pháp đi vô tới Trường Sơn bớt ngay hậu quả . Vô tới đây thì vô ích. Chỉ có một việc nắm vững quân số, chúng tôi cũng không làm được. Xin hỏi thật, lính các đồng chí có đào ngũ hoặc “dinh tê” không?
- Đào ngũ thì chuyện đó chúng tôi coi thường. Vì họ về nhà rồi không thể ở yên được lại trở về đơn vị. Còn “dinh tê” , là gì?
- Tức là bỏ về thành ấy mà.
- Ồ, chuyện đó cũng thường. Ở đây sát quốc lộ, họ chỉ vọt một cái là về Sài Gòn ngay. Cán bộ đại đội cũng đi.
Ba Kiên nói:
- Mình đánh với một tên vừa nhà giàu vừa có “võ”! Gay lắm. Ngày xưa chúng tôi áp đảo thằng Pháp ở lòng chảo Điện Biên khỏe ru. Chúng tôi vào tận hầm Đờ Cát cũng không gay go bằng đánh một trận nhỏ cấpp D như trận Rừng Cả Chúc vừa rồi. Thương vong trên một trăm! Rồi lấy lính ở đâu mà điền vào?
Hai ông anh hùng Điện Biên nhậu thịt chó rất phấn khởi. Hẹn sẽ hợp tác với chúng tôi và sau một trận chiến thắng nào đó sẽ làm lễ kết nghĩa anh em Nam Bắc một nhà. Trước khi hai ông ra về, tôi bảo anh nuôi gói mấy sườn chó và mua một lít đế hai ông cầm tay ra về.
Hai ông vừa đi khỏi, tôi tìm chỗ ngả lưng thì có trinh sát báo cáo: Sáu Huỳnh tới. Sáu Huỳnh lúc này đã lên làm trưởng ban quân báo khu thay cho Chín Lộc. Nghe ông già này tới, tôi ngồi bật dậy, chạy ra ngay. Vì ông ta đến chắc có tin B52 bán dưa hấu.
Ông ta đến báo cho mình tránh né kịp thời!
- Anh Sáu !
(Sáu Huỳnh là bạn kháng chiến của ba tôi, nhưng tôi quen miệng gọi bằng anh).
- Thằng Lôi! Mày còn đó hả?
- Còn chớ mất đi đâu anh? Sao coi bộ tơi bời hoa lá vậy bố vợ?
- Đội dưa chớ sao nữa?
- Binh tôm tướng cá của anh đâu hết rồi?
- Chết sạch. Thằng Chín Bù Lạch (Chín Lộc) về R làm phó chánh ủy quân báo R, Sáu Cúc về làm phó cối cho Năm Lê. Sáu Lễ và mấy thằng kia rụm hết. Có gì cho tao bỏ vô bụng chút rồi tao nói hết cho nghe. Đụ mẹ, tụi Mỹ kỳ này chơi tới gáo.
Tôi kêu thằng Thích, anh nuôi. Nó biết ý đem lên một tô hột gà bột và bình trà. Tôi rót nước còn Sáu Huỳnh múc hột gà đổ vô miệng theo kiểu uống thuốc một hơi hết nửa tô. Vừa ăn vừa uống vừa nói, mỗi câu mở đầu bằng hai tiếng con cặc hoặc đụ mẹ.
- Kỳ này ngoài Mỹ, tụi nó còn thêm trung đoàn Hoàng Gia úc Đại Lợi nữa. Nó quần nát bên kia sông rồi mới sang tới bên này. Đụ mẹ chạy như gà mắc đẻ. Chạy tới đâu đụng B52 tới đó. Nó đã bào láng An Thành, An Điền, Thanh Tuyền, nay nó lên tới Long Nguyên, Dầu Tiếng. Mấy thằng K20 của Tám Quang vừa ở bên này vọt qua bên đó. Rồi đám công binh Tư Thuật, Ba ân, Sáu Gấm phó ban tuyên huấn như đám cá vô rọ, bị một phát B52, không biết thằng nào còn thằng nào mất.
Nghe nói tới Long Nguyên, tôi giật mình bèn hỏi nhỏ:
- Vụ ông Sáu Di ra sao, anh rõ không?
Sáu Huỳnh ngó quanh rồi đưa tay lên miệng rù rì:
- Vụ đó thằng nào cũng biết nhưng không thằng nào dám nói ra, sợ đứt đầu.
- Nhưng anh có chắc không vậy?
- Còn gì nữa mà không chắc!
-Tụi công binh tệ quá. Hầm hố gì bết vậy? -Tôi làm bộ nói trớt ra.
Sáu Huỳnh bảo:
- Công binh làm căn cứ như chiến lũy Maginot mày còn đòi gì nữa. B52 bỏ có trúng chó gì, chỉ rung rinh đất thôi chớ đâu có sụp.
- Rung rinh thì sao đến đỗi?
- Ổng với ông Ba Xu mình thấy dứt loạt rồi nên bò lên.
- Trời! Bò lên đi đâu cho bị? Ở dưới đó là yên rồi.
- Ma xui quỷ giục mày à. Cả chục người đứng sau lưng và hai bên tả hữu của ổng mà không ai trúng cả.
- Đạn à?
- Không biết miểng đạn hay nhánh cây. Đứa nói cái này thằng bảo cái khác, không biết đâu mà rờ. Chỉ biết ông bể sọ chết ngay không nói được câu nào. Ông Ba Xu đứng kế ổng mà không hề hấn gì. Chính ông Ba Xu đỡ ông nằm xuống đất rồi kêu lên, nhưng ổng không trối trăn gì hết.
- Rồi cái xác làm sao?
- Mày hỏi tới hoài mậy. Mày muốn tao đi vô Hỏa Lò hả ?
- Tôi chỉ lo cái xác không đem về Hà Nội được.
- Đầu Củ Chi họ! Chuyện đó có cấp trên lo.
- Đã đành rồi, nhưng tôi nghe Hai Ninh nói xác ổng gói trong ny lông và thồ xe đạp bằng cách thồ gia công qua Mi Nốt để chở lên Nam Vang rồi về Hà Nội.
- Tao không biết cái vụ đó. Nhưng cái tin này giữ kín lắm. Không ai được biết. Thôi bỏ đi ông Thiên Lôi ơi.
- Kỳ này anh không có cho tụi tôi tin B52 sao?
- Có tin nhưng chưa chính xác. Mày nên nhớ bám gần đồn bót và xóm còn dân, đừng có bung ra các destroyed zones mà ăn mập luôn đấy. Nhất là dọc đường số 6 trở lên Sóc Lào, tụi Q16 bị nhiều cú rã bành tô rồi -Sáu Huỳnh nói nhỏ lại- Tụi D8, H6 xui quá, ba thằng cán bộ D Năm Thủ, Tám Mao, Tư Tây vừa ăn một trái bom đìa ở An Phú .
Tôi nhảy dựng lên, hỏi:
- Anh có nghe du kích thiệt hại gì không?
- Sao mày lo cho du kích dữ vậy?
- Vì tôi có hầm chung với tụi nó.
- Chớ không phải có dính với mấy con “phòn” đó à?
Sự thực tôi lo cho em Tư Lan. Nhớ hồi Tết khi đi Giang Tả cầu hôn về gặp em, tôi ghé. Nhà có một mình em ở nhà. Em giữ tôi ở lại.
- Bây giờ anh một thân một mình, tính đi đâu. Hay ở lại với tụi tôi một thời gian đi.
- Ở với tụi mày để ăn pháo hả?
- Vậy đi tìm thum của bà Hai Xót, Năm Đang xin “ngồi ké” chớ gì?
- Bời Lời nó chơi hóa học rụng hết lá rồi. Bây giờ nó đem xe tăng ủi từ Trảng Sa lên tới Suối Nhánh rồi lên tận sông Bà Hảo đó ông con. Bà khu ủy Út Tức của mày cũng chạy tuột… mất cái giỏ trầu có đựng cây Colt, chớ còn chỗ đâu mà ngồi thum? Hiện Mỹ đang xài tới hai mươi hai tiểu đoàn giăng ngang từ Lộ ủi Trần Lệ Xuân đến Lò Gò Xóm Giữa, Sóc Xoài lên tận biên giới. Chín Lộc biên thư cho tao bảo trên R bây giờ từ trung tá trở xuống phải mang AK chiến đấu chống càn bảo vệ tướng. Đụ mẹ, tướng thì cũng một phát như ông Sáu Di thôi chớ giỏi gì? Mà các ổng còn ở bên này đâu, mấy ổng chạy tuốt qua bên Miên hết rồi. Tha hồ xơi mắm bò hóc và “thuốc rượu không đau lưng”.
- Thuốc rượu không đau lưng là thuốc rượu gì anh?
- Cái thằng ngây thơ quá vậy. Như mày hiện giờ là cần thuốc rượu đó lắm. -Sáu Huỳnh vừa nói vừa nháy và ra dấu- “Vầy nè“, hiểu chưa?
- Hiểu rồi! Nhưng biết chừng nào tôi mới được sang đó?
- Ở đây còn Vườn Trầu, Sa Nhỏ, Phước Thành để mình ngồi thum. Qua đó thằng Khiêu Som Phan nổi khùng nó vác chà gạc lụi cho phèo ruột. Đụ mẹ kỳ rồi đoàn 69 bị khiển trách nặng vì tụi Mỹ đi thênh thênh mà không cắn được nó miếng nào.
- Sao vậy anh?
- Thằng Huỳnh Thành Đồng chết thì còn ai? Với lại Mỹ đổi chiến thuật. Trước đây nó đổ quân ngoài trảng trống rồi tiến vô rừng nên bị mình khìa. Bây giờ nó cho B52 dọn bãi trong rừng rồi đổ bộ binh và xe tăng xuống, mình gặp trở ngại trong hành quân và phục kích nên không đánh được. U60, U80 đều bị… nặng. Gạo muối chôn giấu ở khu vực Suối Dây, Suối Tha La bị hốt hết. Bà Út Tức của mày chắc phải xách giỏ trầu chạy ra Mõ Công Trại Bí ôm cái lá trầu héo ngồi thum chờ B52 thôi. Còn lão Huỳnh Văn Một không biết còn làm xã đội trưởng Kà Tum hay đi theo ông Sáu nắm thắt lưng Mỹ mà đánh ở dưới kia.
Thằng Phích dọn cơm với cá trê kho và canh khoai có rắc tiêu. Sáu Huỳnh ăn ngon lành, vừa ăn vừa nói liên miên.
- Binh tướng giờ còn mình tao, tao có hơn gì Tào Tháo ở Huê Dung đạo. Tao muốn ra quốc lộ I gặp Ba Xuyên tổ chức lại đường dây. Nhân viên chính của tao bây giờ chỉ còn con Ua.
- Tôi mới gặp nó . . .
Sáu Huỳnh cười:
- Gặ… ập? Hì hì!… Mày chém chạy coi chừng nó. Con nhỏ đó mê mày như điên. Nó khai với tao hết. Bà già lên đã hứa cưới nó cho mày. Mày lẹo tẹo với mấy con dũng sĩ xã đội, coi chừng nó chia hai lựu đạn với mày. B52 thì thoát chớ mày không có tránh né nó được đâu… Nè, điểm thứ nhất là đừng làm cho nó phì ruột, tao mất nhân viên.
- Nó muốn có con để có lý do về nhà đó tía vợ ơi .
Sau bữa cơm, Sáu Huỳnh từ giã. Tôi đứng ngó theo ông trường ban quân báo khu một mình một ngựa bôn ba từ Bến Cất qua Củ Chi, rồi từ Củ Chi đi đâu nữa?
Mới ngày nào kháng chiến chống Tây, anh làm huyện đội trưởng, trẻ khô. Tôi còn là con nít. Bây giờ tóc anh đã bạc, còn tôi thì sồn sồn. Chốc đây mà đã hai mươi năm. Hai mươi năm không bình thường. Hai mươi năm bom đạn. Hai mươi năm của tuổi thanh xuân đã mất đi.
Thế là tôi đi nghiên cứu trận đồ. Tôi mang theo một tiểu đội vừa bộ binh và trinh sát, có cả B40, gặp xe tăng cũng chơi được.
Trước khi tôi đi, ông Vũ Ba còn đả thông tư tưởng tôi : “Đây chỉ là ém quân thôi. Bộ Tư Lệnh có khiển trách, tôi chịu trách nhiệm!”
Có ông tham mưu phó che dù, tôi không lo gì nữa, cứ thẳng một lèo ra Đồng Lớn, tới ngay căn cứ của quận đội Tám Giò.
Tám Giò đã rời cái hầm dưới bụi tre ở gần Bến Mương, nơi tôi được ông tham mưu quận đội Hai Khởi đưa tới và được đãi một bữa mắm chua. Ra Đồng Lớn ông Tám cũng thủ một cái hầm vĩ đại và vô cùng bí mật, có rất nhiều ngách. Tôi trình bày những nhu cầu của tôi, ông quận đội nói:
- Tôi giới thiệu cho các xã đội thì họ chỉ thi hành nửa chừng, vì quyền hạn nằm trong tay xã ủy. Vậy đồng chí phải đến huyện ủy xin giấy giới thiệu mới chắc.
Tôi định rút lui.Nhưng tôi không biết ông Một Sơn ở đâu.
- Ờ dưới âm phủ chớ đâu.
- Hồi nào vậy?
- Trong cuộc càn Cedar Fall, ổng bị khui hầm ở Xóm Bưng. Mỹ đánh chất nổ, Hai Xót, Tư Bé, Tám Phụng chê hầm thối và sợ mấy ông nội táy máy tay chân, nên có bốn mạng rụi tèng heng thôi, nếu không thì tới bốn ông bà. Bây giờ ông Hai Mõ lên thay chức bí thư. Cả ban bộ đều dời chớ không dám ở trong Xóm Bưng xã Thuận Đức nữa.
Tám Giò cho liên lạc dắt tôi đến sào huyệt ông Hai Mõ ở Bàu Sót. Vô gặp được ông bí thư còn khó hơn gặp ma. Chỉ một mình tôi vào thôi. Hai Mõ người nhỏ thó, cỡ bốn mươi ngoài, đầu trọc giống như cái gáo dừa. Có lẽ vì thế có tên Hai “Mõ”. Ông nói giọng nhỏ rí, dường như sợ cóc nhái nghe:
- Anh Hai muốn gì tôi giúp nấy, còn về địa đạo thì tôi xin nói rõ để anh Hai khỏi tìm kiếm mất thì giờ… Dân Hàn trở vô ấp Ràng, Đồng Lớn, Sa Nhỏ không có địa đạo. Chỉ có một khúc sau nhà cô Hai Chạnh ở Ba Sòng và một khúc gần lộ 6 ờ An Nhơn. Mỗi khúc chứa được ba mươi người. Ở Xóm Trại, Gót Chàng, Bến Mương (nơi tôi chết ngộp, do ông Tám Đột quản lý), Xóm Bưng, Bàu Lách, mỗi nơi còn một khúc nhưng cũng chỉ chứa được cỡ đó. Không có nơi nào ém được một đại đội. Ngay ở Phú Hòa Đông địa đạo còn tốt nhất, nhưng cũng chỉ ém từng trung đội ở mỗi khúc mà thôi. Anh và Bảy Nô đã từng xài địa đạo đó nên biết rất rõ…
Tôi thấy hơi bi quan, nhưng ông ta làm sao đẻ ra thêm được? Đã vậy ông còn dặn:
- Anh đến họ cho xem, anh phải coi cho kỹ. Bởi vì địa đạo cũ đào từ Đồng Khởi (1960) tới bây giờ không xài, không tu bổ, không gì ráo hết, bây giờ chun xuống đó, lỡ có việc gì chúng tôi khổ tâm lắm đó nghe anh Hai.
Nghe ông bí thư nói, tôi rất thương tâm. Đó là lời thành thật. Người sống và chiến đấu thực trên đất Củ Chi thì không bao giờ tếu về “địa”. Chỉ có những người bên ngoài không biết gì mới tưởng tượng Củ Chi là thần thánh.
Rời cơ quan huyện ủy, tôi dắt cả bọn ra Ba Sòng và Gò Nổi để xem mấy khúc địa đạo, vì tôi nghĩ rằng có thể dùng nó để phục kích lính ở Đồng Dù hoặc Trung Hòa bung ra.
Lần ra đây quan sát địa hình để pháo kích, tôi còn thấy xóm làng trù phú, nhà cửa y nguyên. Chỉ một năm sau, tất cả hoang tàn xơ xác, chỉ còn những mái chòi lụp xụp ở mé ruộng của những người dân cố ở lại làm ruộng. Còn bao nhiêu đều chạy ra các ấp chiến lược Cây Trôm, Lào Táo, Suối Cụt. Pháo nện liên miên vào các khu vườn đã được khoanh từng ô trong bản đồ pháo binh. Chúng muốn bắn xóm nào, thậm chí ngôi nhà nào, cũng thảy ngay chóc nhất là các ngã ba, các con đường mòn giao liên thì nát như tương.
Tôi ghé nhà má Hai, nơi xác thằng Chi được đặt ngoài hàng ba trước khi đem chôn ở nghĩa trang Ba Sòng, vì Chi là chồng chưa cưới của cô Chạnh, con má Hai. Hai Chạnh đã thành hôn với Tư Đông, cán bộ của tôi. Cô đang mang bầu. Tội nghiệp Tư Đông được rút về trên bổ sung cho F100, đánh vô Sài Gòn bỏ xác không biết ở đâu, lúc con chưa biết mặt cha. Em Nhành là em út của Chạnh, mười ba tuổi, nhưng đã trổ mã con gái rất đẹp. Tôi định bụng chừng vài năm sẽ cưới cho thằng Thưng hay thằng Thuận trinh sát của tôi. Nhưng chỉ vài tháng sau cả hai theo trung đoàn mũi nhọn vào Sài Gòn rồi không thấy về nữa!
Dấu vết đạn pháo Trung Hòa giết thằng Chi còn đây, trên thân những cây cao su èo uột. Ba Tâm, xã đội phó, bị thương trong trận Tân Quy nhờ Tư Chuyền cứu chữa lành lặn, nay cả vợ chồng đến cám ơn tôi rồi bà vợ hối thúc chồng về, và khuyên tôi:
- Ban ngày mà ở trên mặt đất ớn quá. Các anh nên tìm hầm mà làm việc trong đó, đừng ở ngoài.
Chị vừa đi khỏi thì ông già của Ba Tâm tới. Ông bị mất con trâu vì pháo bắn kỳ trước, lần này thấy bọn tôi, ông sụp lạy:
- Các chú có đánh thì vô Đồng Dù đánh, để ngoài này cho bà con làm ruộng làm rẫy kiếm hột lúa củ khoai độ nhật.
Nghe ông già nói giọng rơm rớm nước mắt, tôi bủn rủn hết tay chân, không còn ham đánh đá gì nữa. Quân đội nhân dân, đánh giặc để bảo vệ nhân dân, giải phóng nhân dân, cái gì cũng nhân dân cả , nhưng đến đâu nhân dân đều sợ xanh mặt mà không thèm đếm xỉa tới.
Ba Tâm gượng gạo chống đỡ:
- Mấy ảnh đi móc gia đình chớ không có việc gì đâu ba ơi!
Ông già bắt buộc phải “tin” lời thằng con, nhưng còn nói rán:
- Chú coi đó, tôi có mấy con trâu, con thì bị pháo bắn xẻ thịt, con thì ăn lựu đạn gài, rốt cuộc tôi không còn làm ruộng được, hổng lẽ tôi kéo cày thay trâu?
Ba Tâm bảo thằng Cu du kích dắt tụi tôi đến chỗ ở. Cu hãnh diện:
- Các anh đừng lo. Vài chục thì ngại chứ mười người trở xuống, tôi có đủ chỗ.
Tôi nghĩ bụng: Ba Tâm không dám cho mình ở chung mà giao cho du kích. Nhưng không theo du kích thì theo ai ? Hai Giả xuống Thủ đức cũng được ở hầm “quốc tế”. Đó là loại hầm dành cho khách tỉnh, khu, ai đến chưa tậu được hầm đều được “đãi” cho loại hầm này. Do đó mà hầm bí mật trở thành hầm lộ bí mật hết ráo.
(Cũng tại đây năm 1969, Ba Thụng, trưởng ban đặc công khu và Tư Linh, trưởng ban binh vận khu, bạn tôi, đến công tác cũng được nhét xuống hầm “quốc tế” nên bị lính Trung Hòa hành quân chơi, khui hầm nắm đầu lôi lên hai ông trưởng ban gọn bơ).
Bữa nay thằng Cu chơi cắc cớ. Nó dắt một cậu trinh sát của tôi đi ém một chỗ khác, rồi đem giao tôi vào một cái nhà khác với thằng Thuận.
- Em đừng cho anh ở hầm “quốc tế” bị khui lãng nhách nghe !
- Không có đâu anh.
Nó đưa tôi đến một cái chòi ở ngoài mé ruộng. Ở đây có địa thế chui vô vườn và ngó ra ruộng đều tiện cả. Nếu xe tăng từ ngoài ủi vô thì mình có thể tẩu như phi. Nó không dừng lại kêu chủ nhà mở cửa, mà dắt tuốt vào trong:
- Chị Tám ơi! Có khách nè! -Rồi nó đẩy cửa bước vô buồng.
Trong bóng tối lờ mờ tôi thấy hai gương mặt trắng trẻo và ngửi mùi tóc đàn bà.
- Ai vậy?
. Chị Tám, chị Chín cho tôi gửi ông này nghe!
- Hầm chật rồi mà.
- Chật thì cho ém một ông! -Thằng Cu nói như ra lệnh, rồi quay lại cũng với giọng ấy- Thuận, theo tao!
Thằng thuận ngần ngừ. Cu bảo:
- Anh Hai ở đây bảo đảm, mày đừng lo! -Rồi lôi tay Thuận ra.
Thằng này chơi ác thật. Hay là có sự lãnh đạo của Ba Tâm.
Hai nàng kẹp tôi là Tám Phụng và Chín Tá . Cá hai đều quen với tôi trong nhiều cuộc tao ngộ tập thể với bà Năm Đang và bà Hai Xót. Riêng Tám Phụng thì có cảm tình đặc biệt với Thiên Lôi. Nhưng chỉ có dịp hôn nàng trong một lần gặp ở nhà má Hai ăn vú sữa ngâm nước đá.
- Anh Hai đến đây công tác hả? -Tám Phụng hỏi trước.
- Tôi chỉ đến… a… a… móc gia đình thôi.
- Móc gì mà móc hoài vậy? -Chín Tá chất vấn- Bộ kỳ trước móc bà già vô bỏ hàng rào thưa, kỳ này vô làm đám “tiên bố” hả?
- Giặc giã rần rần, vợ con gì cô Chín ơi!
- Anh đi đường mệt, ngồi trên giương nè nghỉ! -Tám Phụng vừa nói vừa nép sát vào bên trong, còn Chín Tá thì sà xuống võng bên cạnh đó.
- Hầm tốt không a… a… em?
- Đến địa phương thì nhờ mấy ổng chớ đâu biết tốt xấu gì anh!
Vài ba trái pháo nổ sau hè, miểng văng vô thân.chuối phực phực ghê quá. Nhưng đó là sự thường. Đạn nổ xong sự đời đâu lại vào đấy.
Ngồi hơi lâu, tôi ngả lưng ngoài mép giường. Chín Tá bỗng đứng dậy:
- Để em đi đằng quán chút nghe chị Tám.
- Chi vậy?
- Để mua ít đường về làm kẹo chuối ăn như kỳ trước vậy – Rồi cô Chín Tá đi ra.
- Nhớ mua gói trà . Anh Hai thích uống trà! -Tám Phụng dặn vói theo vừa dứt tiếng thì tôi lăn vào bên chân nàng, hôn hai bàn chân lia lịa.
Nàng không nói gì mà còn ôm miết đầu tôi vào hai ống quyển mịn màng, vừa thơm mùi đất vừa thơm mùi da thịt. Tôi hỏi:
- Sao em không lấy chồng đi Phụng?
- Em chờ anh! -Nàng đáp hồn nhiên.
Tám Phụng là người con gái có sắc đẹp, có học khá và có đạo đức nên kén chồng. Cán bộ dòm ngó cũng nhiều nhưng chưa ai lọt mắt xanh của nàng. Nghe nàng nói tôi bàng hoàng. Quả thật, hai đứa rất xứng đôi. Ai cũng tưởng rằng chúng tôi sẽ thành hôn như mây gặp gió. Riêng tôi cũng có lúc nghĩ: nếu thời bình mà kiếm vợ thì Tám Phụng là người con gái lý tưởng của tôi.
Nhưng bến đợi mà thuyền cứ mấp mé chứ không cặp bờ. Tôi luôn luôn nghĩ không trận này thì trận tới mình sẽ “rửa chân leo lên bàn thờ”, không nên để khổ cho người ta. Cô Chạnh là một ví dụ, thằng Chi chết lúc hai đứa chưa cưới nhau.
(Ở một chương khác tôi sẽ ghi ra một trăm danh sách đàn bà cơn gái góa bụa của đất Củ Chi này).
Bạn đọc thấy tại sao tôi cứ đụng hết cô này đến cô kia . Đó là sự thực, nhưng tôi chỉ ghi ra đây một phần… nhỏ. Sớm muộn gì cũng chết. Không tính chuyện một mái ấm vợ hiền con ngoan gì hết ráo.
Sống, yêu được bao nhiêu hay bấy nhiêu, để khỏi chết thèm. Đó là quan niệm của tên Thiên Lôi này trong thời gian sống ở Củ Chi.
Chín Tá đi mua đường tới xế không thấy quay về, chiều cũng không trở lại. Tám Phụng đi ra đi vào ngong ngóng:
- Con quỷ này đi đâu biệt tăm vậy cà?
Đêm nay là đêm trời cho tôi với nàng. Nàng khóc ướt cả cánh tay tôi. Lòng chinh khách cũng mềm đi tí chút.
- Chiều mai anh đi! -Tôi bảo.
- Biết còn bao giờ gặp lại anh nữa?
Nàng dúi vào tay tôi chiếc khăn tay, thầm thì:
- Anh giữ làm kỷ niệm. Em đã cho anh cả đời em…! – Rồi nàng nức nở gục đầu vào bẹ cửa.
Tôi bước đi, hai chân nghe như ngã xiêu. Ra tới khỏi sân, vọt qua một hố đạn đất nám đen còn mới. Nó là dấu nhạc đệm cho cuộc tình chúng tôi đêm qua mà chúng tôi nào hay. Tôi quay lại, dắt nàng trở vào buồng:
- Phụng à ! Anh đau khổ cho đến chết vì không sống được với em.
Nàng càng òa to lên, tức tưởi, nghẹn ngào.
- Em muốn gì anh cũng cho em được hết.
- Một đứa con!
Lạy trời, xin được như ý nàng. Xin trời cho nàng được những gì nàng ước mong cho nàng và cả cho tôi!
Rồi chúng tôi chia tay.
- Bao giờ anh trở lại? -Nước mắt ròng ròng, nàng nhìn tôi
- Biết bao giờ mà hứa? -Tôi dùng văn chương tiểu thuyết- Có thể ngày mai, cũng có thể không bao giờ!
Tôi cúi xuống hôn chân nàng và nơi đóa hoa hồng vừa hé nhụy chào xuân đêm qua.
Tôi còn gặp nàng sau này nhiều lần. Lần cuối cùng, tôi biết nàng có chồng. Mà tôi còn sống. Niềm đau cho một mối duyên tan. Đó là cuộc đời của tên Thiên Lôi.
Thằng Thuận và thằng Thưng đến, chúng tôi lại lên đường. Ba Tâm cho xem mấy cái miệng hầm ở Gò Nổi Dưới vào chập tối. Tôi rọi đèn pin xuống thấy nước, rễ cây chằng chịt.
Tôi không buồn bảo trinh sát chui thử nữa. Hầm này mà chui ư? Thà chết sướng hơn. Nhưng thằng Thuận cố làm gan:
- Để em do thám thử coi – Nói xong lột quần áo cầm đèn pin tụt xuống. Rồi trồi đầu lên liền, mặt nhăn như quỷ- Cái gì thú quá. Nước bùn chèm nhẹp. Ông nội tôi cũng không dám đút đầu vô.
Thăng Thưng đứng ở trên thọc đầu xuống:
- Thằng nhát quá, để tao thử coi.
Thuận leo lên:
- Hổng được đâu anh Hai! Chuột chết nổi lình bình. Mình ở dưới này vài giờ mà có ló lên cũng không chạy nổi, nói chi cả ngày.
Thằng Thưng lỡ miệng nói tài nên không dám rút lui, đành bặm môi tụt xuống. Nhưng vừa chui vô nó liền trồi ra và vọt lên, vuốt mặt lia:
- Mẹ, con gì chết sình, thúi muốn bể lỗ mũi.
Ba Tâm đậy nắp lại và giải thích:
- Từ hồi đào tới giờ tôi không có xài lần nào.
- Vậy làm chi cho mất công?
- Thì ở trên kêu đào thi đua với các xã khác thì tôi cho đào. Chớ tụi tôi chỉ xài hầm bí mật hai, ba người vô một cái thôi. Còn cái nạn hầm chông nữa.
- Sao?
- Có sụp thằng nào đâu, chỉ dính gà nhà. Hồi đánh Tây, giặc đi bộ, bây giờ tụi nó chơi toàn trực thăng nhảy cóc.
Cậu Thành lãnh trách nhiệm đi thám thính. Thời may hầm còn khá nên Thành ở dưới đó. Tôi ngồi hút thuốc với Ba Tâm trên miệng hầm.
Ba Tâm than từ ngày Ba Xây bị bắt, du kích tán lạc, anh ta phải cáng đáng mọi công việc. Du kích không nghe lệnh xã đội, mạnh chú nào chú ấy tìm cách sống riêng biệt, gặp mặt họ là chuyện khó, đừng nói kêu đi dân công. Bỗng có tiếng của Thành ở tuốt đằng kia kêu:
- Anh Hai ! Anh Hai!
Tôi và Ba Tâm chạy lại. Thành trồi lên.
- Sao giỏi vậy? -Tôi hỏi.
- Em tìm được ngách lên ở đây.
- Bộ có một khúc đây sao anh Ba?
- Dạ chỉ được chừng một trăm thước.
- Tốt lắm.
Thành leo lên, lấc đầu:
- Có con rắn tổ nái, đen ngời.
- Rắn gì?
- Ai biết rắn gì. Cũng may, em sợ nó mà nó cũng sợ em. Hai bên cùng lủi.
- Bậy quá. Phải bắt được nấu cháo tẩm bổ!
Ba Tâm vui mừng vì đã cho tôi được một khúc “địa” còn xài được. Anh lại dắt tôi đi coi tiếp:
- Khúc này ở giữa bãi hoang. Hồi trước tụi tôi đào gặp nhiều xương dữ lẩm. Nhưng lỡ đào một quãng rồi, không thể bỏ nên đào luôn.
- Xương gì?
- Xương Cao Đài. Cả chục bộ.
- Cao Đài ở đâu đây?
- Mấy ông già bảo là hồi kháng chiến, ông hai Bứa (tức Nguyễn Hồng Lâm, phó tư lệnh ban chỉ huy R, hiện nay là em nuôi ông Ba Tô Ký) xử tử Cao Đài ở đây. Ổng xỏ mỗi xâu cả chục người đào lỗ, đâm rồi xô xuống lấp đất. Nhiều người còn sống rên la dưới đất, trong xóm nghe lồng lộng cả đêm. Sáng hôm sau, ổng cho dân quân vác xà-beng ra xom cho thiệt chết.
Tôi lắc đầu:
- Như vậy không được.
- Tại sao?
- Mình chui “họ” sẽ mách cho lính đào bắt.
- Họ chết lâu rồi mà anh.
- Nhưng hồn họ còn thù.
- Anh nói gì kỳ cục vậy?
Còn đang dang ca, bỗng có tiếng réo thất thanh:
- Chú Ba ơi ! Chú Ba !
- Cái gì vậy ?
Tôi ngó về phía có tiếng réo. Thì ra cô Chạnh. Cô ta mang cái bụng bầu lạch bạch tới:
- Anh Hai có y tá đi theo không?
- Cái gì mới được chớ? -Tôi quát.
Chạnh nói tức tưởi:
- Con nhỏ trong xóm trại Giàn Bầy, chăn trâu bị lựu đạn nổ nằm ở bờ đập.
- Lựu đạn gì ?
- Lựu đạn gài… Anh Hai mau đi tới coi còn cứu được không? Miểng ghim vô đầu còn ngáp ngáp, còn con trâu chết tươi ơ… ơ….Tan xác.
Ba Tâm bảo tôi:
- Không phải lựu đạn đâu anh Hai. Nếu lựu đạn thì con trâu không chết. Đó là đạn 105.
- Trung Hòa bấn sao mình không nghe?
- Cà-nông lép, mấy thằng ông nội đào về “cải tiến” rồi đem gài.
Tôi ớn quá. Mấy thằng ông nội sẽ giết cả tôi chớ không chơi. Tôi nói với Ba Tâm:
- Một khúc “địa” đó cũng được rồi anh Ba, để tôi đi xã khác.
(Phải ớn mấy thằng ông nội mới được. Tụi nó gài dính bồ nhà không ít. Chính Năm Tiều đã chết vì tay tụi nó. Riêng tôi năm 69 cũng suýt lãnh một quả nguyên. Ông Ba Kiên E trưởng Q16 và gạc đờ co tên Ngọc ẵm một quả mìn. Rồi năm 70 cũng một em bé gái chăn bò chết vì một quả DH10 gài trong lùm tre ấp nhà việc xã Trung An, con bò chỉ còn cái bọng, cả người em tan nát bay dính đầy bụi tre, thịt xương gom lại không được một bao bàng).
Tiếp tục cuộc dò xét địa hình, tôi dắt cả đoàn đi xuống Gò Đình, Bàu Tròn và Bàu Lách. Thăng Cu tiếp tục đưa đường. Nó hỏi tôi bằng giọng giễu cợt, đớt đát:
- Cái hầm em giấu anh có “gọng”… không anh Hai?
- Mày là thằng quỷ à nghen ? Báo hại cô Chín bỏ đi mất.
- Vậy còn anh Hai với chị Tám, hầm “gọng” dễ thở chớ sao! -Rồi nó nói- Anh đừng có qua Bàu Lách vội!
- Sao vậy?
- Bên đó bây giờ đâu còn ai.
- Thằng Năm Cội đâu?
- Rụm rồi.
- Tại sao? -Tôi bàng hoàng cả người, tưởng như vừa bị thương.
- Xe tăng hay cà nông gì đó không “gõ”.
- Cà nông Trung Hòa hay Đồng Dù?
- Nghe nói của ảnh chế biến. Gài rồi đạp.
- Hừ… sao kỳ vậy?
- Em đâu biết tại sao? Mà chuyện đó cũng xảy ra hoài chớ bộ mới ảnh sao!
Cu là lính công trường 9 hẳn hòi bị thương, suýt cưa giò, vết thương lành cà thọt từ R về đây được Ba Tâm sắc phong là du kích. Nhưng bà con không biết thành tích của nó tưởng là lính đào ngũ, nên gọi nó là “dích cu” chớ không phải nó tên Cu. Có lần chỉ huy đám du kích đêm không xong, nó nổi dóa bảo.
- Tao là xạ thủ RPD của B1, Cl nghe tụi bay, không phải “dích cu” đâu mà lấp lửng.
Từ đó nó mới được du kích tín nhiệm.
- Về đây có tính chuyện với cô nào chưa? -Tôi hỏi Cu.
- Nhà em ở Gò Nổi Trên, em bỏ vòi qua Gò Nổi Giữa, cũng sắp xong rồi, nhưng ông già con nhỏ lại ra ấp chiến lược Lào Táo nên nó phải đi theo.
- Vậy là sút vòi à? Thằng Thuận chen vào.
- Nó thỉnh thoảng cũng có về trong này.
- Ở ngoài đó bị tụi thằng Rác cặm dùi rồi.
- Mày phải dời nhà xuống “Gò Nổi Dưới” thì mới rình tóm nó được, chớ ở “Gò Nổi Trên” không có địa hình. – Thuận tiếp.
o O o
Cuộc nghiên cứu này kéo dài một tháng, bàn chân tôi dẫm khắp Củ Chi. Tôi đã vẽ năm chục sơ đồ, dự án trên các xã Trung Lập, An Nhơn, Nhuận Đức, Phú Mỹ Hưng, An Phú, Lộc Thuận, Đôn Thuận đem về trình cho ông tham mưu phó Vũ Ba được ông khen:
- Cậu khá lắm!
Đó chẳng khác nào những bàn cờ thế. Người thế cờ đã dàn quân trước: “Trận địa của tôi như vậy đó, ai muốn chiến thì nhào vô!”
Ai thuộc tủ thì thắng. Đối Mỹ cũng vậy, nhưng ít khi chúng nó hành quân rơi đúng thế cờ của mình, mà ngược lại mình luôn luôn bị động vì cái thế cờ luôn luôn luân chuyển bằng cơ giới của chúng.
Nhưng cái chuyện đáng buồn nhất, như “dã tràng xe cát biển Đông, nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì”, là khi đệ trình lên ông Ba Xu, tư lệnh thì mười lăm ngày sau tôi được một mẩu giấy viết tay phê với những chữ:
Công tác chuẩn bị chiến trường rất tốt, nhưng tuyệt đối không được cho bộ đội ém hầm bí mật hoặc xuống địa đạo.
Chữ “tuyệt đối” gạch đít hai lằn đậm, và cuối cùng mẩu giấy có câu tái bút:
“Đồng chí tham mưu trưởng D sang gặp tôi ngay”.
Thế là ông Thiên Lôi lại băng sông Sài Gòn, bụng nghĩ mãi không ra chuyện gì.
Tư Nhựt cười hề hề :
- Ổng kêu thầy sang làm phò mã đấy! Đi mau lên!
 
 
Chương 80
Cấm xuống hầm, nhưng chính ông tư lệnh lại chui hầm và chết dưới hầm
 
 Tôi sang sông đang cong lưng đạp xe thì có tiếng kêu từ ven rừng:
- Anh Hai!
Tôi chạy chậm lại và ngoảnh nhìn sang. Một bầy tiên cô vừa vẫy tay vừa chạy, trong số tôi nhận thấy Thảo, cô bé nấu cơm cho K20, tức phòng chính trị của Tám Quang và Tám Hà. Thấy Thảo quen với tôi, mấy cô kia dừng lại và tản ra hai bên chớ không tới gần tôi nữa. Sau vài câu thăm hỏi, tôi dắt xe tạt vào ven rừng. Thảo nói ngay:
- Tụi em vừa qua bên này bị một trận B52 suýt chết.
Thảo là con gái Bình Dương, đất nổi tiếng có nhiều gái đẹp. Thảo cũng mê giải phóng, tưởng vào khu sẽ mang túi dết đi tuyên truyền, đứng nói trước mi-cờ-rô cho đồng bào nghe nên bỏ trường theo ông Thọ. Chẳng ngờ vô đây bị giao cho tuyên truyền các cụ táo quân. Buồn tình ca, Thảo muốn về, nhưng các chú dọa “tử hình”. Rồi chú Tám nhận làm con nuôi. Lần tên Thiên Lôi gặp mấy ông lớn ở đó, Thảo tỏ tình và muốn Thiên Lôi tháo cũi xổ lồng nhưng làm sao nổi. Thảo đang ở trong hang cọp.
Tôi kéo nàng ngồi xuống mép giao thông hào cạn nhách, thủ thỉ :
- Anh qua An Thành là nhớ em.
- Còn ở bên Củ Chi không nhớ há?
- Ở đâu cũng nhớ hết.
- Nhiều đêm em khóc. .. Anh còn giữ chiếc khăn kỷ niệm của em không?
Nhiều khăn kỷ niệm quá, tôi đâu có nhớ khăn của ai, còn hay mất, nhưng cũng ừ đại:
- Anh xếp cất trong ba lô.
- Đâu đưa em coi.
- Cái ba lô kia cà, cái này anh chỉ đựng ít đồ để vượt sông cho nhẹ.
- Lâu lâu anh có lấy ra xem không? Đừng có giặt nghe!
- Giặt mất mùi sao?
Đâu có thời giờ mà nói chuyện nọ chuyện kia. Thảo bỗng nổi giận:
- Anh tệ lắm.
- Sao?
- – Bảo móc em ra mà cứ hứa cù lần.
- Ở đâu cũng công tác cách mạng chớ khác gì, em.
Thảo sụt sùi khóc. Tôi biết cái ngón con nuôi của các bố chú rồi. Ông nào cũng bỏ cái ngón “tồn liu”, “liu tồn” đó thôi.
- Con Thanh bị bắt với ông Tám Nghi rồi, anh có hay không ?
- Trời đất !
- Xe tăng càn rồi lính moi bắt ở trại Bà Huệ.
- Còn ông Năm Lê?
- Ổng đi hội nghị trên khu nên thoát. Ông Sáu Gấm bị B52 chết ở Dầu Tiếng, ông Hai Phần (Trần Hải Phụng) đau tim về R… Anh cứu em đi. Không thôi mai mốt chú Tám Quang về Rừng Sát, chú bắt em theo là hết gặp đó.
- Cách mạng thành công, mình gặp nhau trong vinh quang.
- Vinh quang gì, mấy chú kỳ thấy bà.
- Chú nào, có chú, chớ chú nào cũng kỳ hết sao?
- Chú nào cũng như chú nào!
( “Chú ” chỉ khác “chó ” có chữ “u” thôi)
- Sao anh không hứa với em đi? -Thảo gắt.
- Em không sợ “chú Tám” bỏ tù anh sao?
- Hứ! Em muốn có con với anh ngay bây giờ nè.
Mép bờ giao thông hào phút chốc hóa thành thiên thai. Khi vác xe đạp ra tới đường, tôi tưởng đã xa trần gian một thế kỷ. Thảo cứ nắm chặt lấy tay tôi:
- Em không cho anh đi ! Em không cho anh đi. Em sẽ theo anh luôn!
Nắng chiều vàng nhạt lấp loáng trên mặt sông. Đường trần gian lồi lõm gập ghềnh. Trần Thị Thanh Thảo của ba mươi năm xưa giờ còn sống hay chết? Gót Chàng, Phú Trung, Bến Chùa, Bến Súc và… là những mảnh đất từng in bóng hình em bên anh.
Ra khỏi thiên thai lại vào thiên thai khác. Cái sân gạch của dì Ba ấm nắng, tôi đã bước qua vài lần. Lần này không ngại chân. Khánh đã đứng ở cửa tươi cười:
- Em đợi anh từ hôm qua tới nay. Dượng bảo ra đón anh.
Bàn ghế, mọi trang trí trong nhà vẫn còn y nguyên. Chỉ có Khánh là thay đổi. Nàng chưng diện hơn lần trước tôi đến.
Khánh nắm tay tôi lôi vô và ríu rít nói:
- Anh không nhớ em gì hết… Anh ở lại đây chơi vài ba ngày coi có được không… Nhà em cũng là nhà anh… Má em thương anh lấm, bộ anh không biết hay giả đò không biết?
Tôi đáp:
- Chỗ tổng hành dinh tư lệnh mà em nói như đùa.
- Xí tổng hành… Chòi chớ dinh gì! Đây là nhà của em! Ổng ở đậu chớ nhà gì của ổng.
- Nói ngang như em thì mười cái đầu anh cũng bay.
- Anh sợ ổng chớ em hổng ngán ổng đâu. Ổng có vợ có con, vợ ổng là bạn của má em, vậy mà ổng còn lem nhem với má em. Tại tui em thương má nên mới để ổng ở đây chớ nếu không thương má thì tụi em tống ổng ra rồi.
Tôi đưa tay bịt miệng nàng. Nàng cắn tay tôi. Tôi để yên cho nàng cắn. Mấy khi da thịt trần tục được răng ngọc nàng tiên ngoạm, êm dịu phải biết.
Nàng kéo ghế cho tôi ngồi, rồi kề sát mặt thủ thỉ:
- Mỗi khi đi ngang qua giường liếc thấy hai cặp chân ló ra vách mùng, em tự hỏi: sao anh với em không được làm như vậy. Em ao ước được nằm kề bên anh. Cuộc đời ngắn ngủi, nhất là trong chiến tranh. Anh có nhìn thấy chung quanh đây không, tất cả đều bị sát phạt – nàng pha tiếng Pháp- Chỉ còn cái lõm này thôi. Nay mai rồi tới phiên nó. Lần tới anh về sẽ không biết mộ em ở đâu mà tới khóc.
Khánh rời ghế, nàng bước lại ngồi trên đùi tôi, áp mặt sát mặt tôi:
- Anh hứa đi, anh yêu quý của em!
- Ừ… ờ…
Bỗng có tiếng guốc từ trong buồng đi ra, rồi tiếng nói:
- Sao dám chặn khách của tôi vậy cô?
Khánh quay lại:
- Ai gặp trước làm việc trước chớ ông Tư Lệnh.
Tôi nâng Khánh dậy và đứng lên chào kính:
- Anh Ba khỏe?
- Sao coi cậu hốc hác vậy?
- Da, sáng tới giờ chỉ có nấm mối với lá lốt dồn bụng.
- Hậu cần đâu?
- Họ bị B52 tán hoán hết rồi!
- Thằng Đồng chết lãng nhách! -ông Tư Lệnh vừa nói vừa ngồi đối diện tôi- Con vô nấu món gì cho anh con ăn – rồi quay lại tôi- Tháng Châu Thái Hùng này lộng quá lắm. Nó bắt chủ lực quân xay lúa giã gạo ăn như du kích à? Thôi việc đó để tao tính sau. Bây giờ tính việc trước mắt.
Ông Tư Lệnh vừa dứt lời thì bà “chánh ủy” xuất hiện. Áo lụa trắng, da thịt nõn nà, tóc tai không mấy vén khéo. Bà bước lại ôm chầm lấy tôi rên rỉ, khóc lóc:
- Sao con ốm tong ốm teo vậy con. Tụi nó ăn hết gạo để con húp cháo phải không con? Quần áo con sao rách rưới vầy há con? Hu hu…
Bà khóc thiệt, không phải bôi cù là vào mắt như Hồ Chủ Tiệm khóc Dương Bạch Mai.
- Đánh giặc mà chịu đói chịu khát, còn ông ngồi nhà ngày nào cũng cơm bưng nước rót mà không biết lính sống cực khổ ra sao. Mà hở cái là hò hét “xung phong lên” ! Lại còn xúi con người ta vác mút cơ tông đánh đồn xây bằng gạch đá. Súng gì không bắn được phải tháo dây lưng quần con gái giật cò.
Bà “chánh ủy” bù lu bù loa, tố khổ giùm cho lính. Tôi nghe thiệt mát bụng. Nếu trong cuộc kiểm thảo với Tám Quang thì chúng tôi không đời nào dám hé môi nói về những đòn tàn nhẫn đó. Ông Tư Lệnh ngồi nghe, cặp môi giựt giựt. Có lẽ ông biết bất cứ chống đỡ cách nào ông cũng bị bà “chánh ủy” cả vú lấp miệng… ông ngay, nên quay sang:
- Con Khánh, con Ngọc, đứa nào vô buồng lấy cái sắc cốt ra cho dượng chút. Hồi còn trẻ, tôi cũng đánh giặc phong trần như nó vậy thôi.
- Nhưng hồi đó bom đạn ít.
- Bà đi vô nấu món gì đặc biệt cho nó ăn.
Bà “chánh ủy” coi hung dữ nhưng cũng biết phục thiện, nhưng trước khi đi vào bà còn ra lệnh cho ông Tư Lệnh:
- Ông để nó ở đây cho tôi, đừng có xua nó đi sớm nghe !
- Chuyện người ta khẩn cấp chớ chuyện nấu cơm sao!
-Xí! Chuyện gì các ông cũng khẩn cấp hết á ! Tụi nó chết chớ mấy ông tư lệnh tư lọt có trầy miếng da nào.
(Bà “chánh ủy ” rủa vậy nên sau này ông Tư Lệnh tiêu dên không hốt được miếng thịt).
Tôi định thừa lúc rỗi sẽ hỏi anh Ba về vụ ông Sáu Di thọ nạn ở Long Nguyên cho ra ngô ra khoai như thế nào, nhưng cuối cùng tôi nghĩ lại, không nên hỏi làm gì.
Một chốc yến tiệc dọn ra. Thôi thì đủ thứ đồ ăn do ba em Mai, Khánh, Ngọc chế biến dưới sự điều khiển của dì Ba, ngoài ra còn đồ hộp Sài Gòn. Dì Ba thương tôi thiệt tình chớ không phải lợi dụng. Thật ra tôi có gì để dì lợi dụng? Dì muốn tôi ăn “rắp ben” cả những ngày thiếu thốn vừa qua, nhưng có hai nàng ngồi bên cạnh nên tôi cũng chỉ “hử như mèo” tỏ ra đây cũng là kẻ hào hoa phong nhã chẳng kém dân Sè Goòng.
Cơm nước xong, chỉ còn tôi và Tư Lệnh. Anh móc bản đồ trong sắc cốt trải ra. Chỉ rất nhanh bằng mũi viết chì. Mắt tôi thu nhận chưa kịp thì anh đã xếp lại và bảo:
- Về nhà kiện toàn ngay đơn vị. Đường hành quân rất dài. nhưng kỳ này vũ khí thật tối tân sẽ tới tay các cậu. Đây là trận chiến cuối cùng.
Tôi tưởng sẽ có một cuộc pháo kích Đồng Dù quy mô hơn, chàng ngờ đó là trận tổng công kích vô cùng đẫm máu chỉ còn vài tháng nữa, mà cái chết của tên đại tướng bần cố nông là điềm gở báo trước cho lão Hồ. Trời nhá nhem tối, tôi đứng dậy cáo từ.
Dì Ba níu kéo, Mai Khanh khẩn khoản. Ngọc đứng ở cửa buồng lặng thinh. Ông Tư Lệnh bảo:
- Thôi để cho người ta đi, khóc lóc cái gì?
- Ông cô con đi lính đâu mà ông thương?
Khánh thực tế hơn, để cho ông bà đấu khẩu, nàng lôi tay tôi ra trước sân, đứng bên bụi bông trang trong bóng tối vừa phủ xuống.
- Anh hứa đi rồi em cho anh đi.
- Hứa thì dễ lắm em à ! Nhưng giữ lời hứa là chuyện khó.
- Sao lại khó? Chỉ khi nào anh không yêu em thì lời hứa mới khó khăn thôi.
Tôi nói nước đôi (như Nixon nói trong bài lễ nhậm chức tổng thống mà đài BBC Luân Đôn nhận định là một cách nói nước đôi tài tình. Nghĩa là người nghe có thể hiểu thế nào cũng xuôi cả):
- Anh yêu em hay không yêu em, em biết rồi. Còn việc. . . đó thì phải từ từ.chứ không thể nhanh chóng được.
- Em chỉ muốn em là hôn thê của anh thôi.
Có lẽ Mai đứng bên trong nghe tới câu đó nên sợ “cuộc chiến kết thúc bất lợi cho phe ta” nên lên tiếng… ho. Và đó là cơ hội giúp tôi trì hoãn.
- Có người tới.
- Tới tới! Chị Mai cũng yêu anh nhưng má định gả em cho anh.
Mai lớn tuổi hơn Khánh. Mai đằm thắm hơn. Còn Khánh thì “à la Saigonaise” nên cử chỉ rất là hiện sinh.
- Thôi đành hẹn kiếp sau vậy -Tôi nói thầm trong bụng- Anh là một tên lính lê dương không biết đâu là nhà, sanh vô gia cư, tử vô địa táng, em yêu làm gì cho khổ.
o O o
Chiến trường ngày càng trở nên ác hệt. Đất Củ Chi, cửa ngõ của Sài Gòn không còn chỗ nào yên ổn để dưỡng quân. Chúng tôi phải dạt qua Trảng Bàng ở đậu Chín Hung (cháu ông Mười Huệ, Bến Tre), lắm lúc phải lên tận Rừng Tre, Cầu Xe, Trảng Cỏ để dung thân. Anh Cả ĐỏTia Chớp Nhiệt Đới liên tục “bủa lưới phóng lao” chúng tôi. Không ngày nào là không có tiếng bom pháo nổ bên tai.
Một hôm tôi và Tư Nhựt ngồi ngoài rừng uống trà bàn về chuyện hai cặp oan ương Đoàn Tâm, Út Siêng và Vũ Ba, Năm Đang.
- Tội nghiệp hai ông Tâm và Ba, bốn mươi tuổi đầu mới lên xe hoa.
- Giỡn cha ! -Tư Nhựt nói- ông Vũ Ba góa vợ, còn Đoàn Tâm mới trai lơ. Trai lơ mà gặp cái “mang cá mè nhóp nhép” của bà út Siêng thì mê tít!
- Cá mè gì! Chồng bả đi Côn Đảo cả chục năm rồi. Để cái mang cá mè nó nhóp nhép hoài tội nghiệp.
Tư Nhựt nói:
- Thôi thì xáp được cặp nào mừng cặp nấy cho đời đỡ lạnh. Để như tôi đây “cám treo để heo nhịn đói”! Một năm trời về hạ được cái đồn Thầy Mười rồi làm “cú đứng” ngoài vườn.
- Ê tôi không có kinh nghiệm nên thua ông.
- Bộ phò mã mà cũng gian nan vậy à?
- Phò mã chưa có áo mão nên còn đứng dựa bụi bông trang! Ê, cú đứng có hay không ta?
Tư Nhựt trút chung trà vào miệng nuốt ực, rồi vừa sặc ho liên miên vừa nói rướn:
- Làm bậy đõ ghiền chớ đã điếc gì!
Bỗng thằng Thưng chạy vô hớt hãi:
- Tụi tôi bắt được một con “canh tơ” (indicateur: tên chỉ điểm).
Tư Nhựt đứng dậy gầm lên:
- Lôi đầu đem bắn nó đi. Mình bị B52 là vì tụi này.
- Đâu đem vô đây coi! -Tôi bảo.
Nó ngất xỉu ngoài ven rừng.
Tôi chạy theo Thưng. Được lệnh Tư Nhựt, Thưng vừa đi vừa lên đạn AK rong róc. Ra tới nơi, thấy một nàng nằm dựa gốc cây, mắt trợn ngược. Tôi kêu lên:
- Là! Em đi đâu đây?
Không thấy tiếng đáp, tôi bảo Thưng:
- Đi kiếm chút nước. Không phải “canh tơ” đâu em ! Xã đội phó xã Mỹ Hưng đó.
Sẵn bi đông bên lưng, Thưng vạch miệng Là rót nước, còn bao nhiêu rưới lên mặt. Giây lâu Là hồi tỉnh. Mắt nàng nhìn tôi trân trân:
- Anh đi cứu dượng Ba mau.
- Dượng Ba nào?
- Dượng Ba tư lệnh chớ dượng Ba nào?
- Ở đâu?
- Ở chỗ cái hầm… hầm… – Là quơ tay và tắt tiếng.
Tôi hiểu ngay đó là cái hầm ở gốc cây… kỷ niệm khi tôi về Củ Chi lần đầu tiên, nàng dẫn tôi đi “nghiên cứu” trận địa.
Tôi trở lại gặp Tư Nhựt. Chỉ trong vòng 15 phút, đích thân tôi dắt một đại đội đi cứu chúa. Tư Ếch và Năm Đầu Ban cùng đi với Là nhưng bị cảnh vệ giữ lại ở ngoài rìa rừng. Bây giờ kéo ngọn dắt chúng tôi chạy.
Một cuộc chạy đua mù mịt, liền sáu tiếng đồng hồ. Tôi không cần biết có bao nhiêu lính rụng lại phía sau. Chúng tôi theo con đường cũ của Là vừa vạch ra. Sau này Là cho tôi biết nàng đã ra Sa Nhỏ, qua Cỏ ống thì đồng bào bảo đơn vị đã đi về hướng Cầu Xe. Nàng tới Cầu Xe thì người ta lại cho biết chúng tôi đã biến về phía Trảng Cỏ. Nàng phóng tới Cây Da thì gặp C3 đang đào công sự ở đó. Họ cho biết ban chỉ huy D ở trên Trảng Sa.
Băng qua lộ 6 xuống Rừng Tre, chúng tôi đến nơi, ghé quân y Tư Chuyền bắt thêm một y sĩ mang theo bình dưỡng khí .
- Ổng ở dưới đó mấy ngày rồi? -Tôi hỏi Là.
- Hơn hai ngày.
- Ai đưa ổng tới đó vậy?
- Còn hỏi nữa!
- Cách đây mấy hôm anh gặp ổng ở bên kia sông.
- Ổng mới chạy B52 qua đây. Đến nhà mình lúc nửa đêm, đập cửa hỏi hầm. Em dắt ông đi ngay ra đó, chớ đâu có hầm nào nữa.
- Ai xuống với ổng?
- Một cần vụ thôi. Ổng vừa xuống thì sáng hôm sau tụi nó chụp ngay trân. Đóng chốt luôn không rút. Anh phải quạt tụi nó thì mới móc ổng lên được.
Tôi kêu thằng Xướng chặt tre làm cáng. Lúc đi hối hả không nhớ gì hết. Chỉ có “con buồi” là không quên bỏ lại thôi.
Trời lại mưa mới khổ chớ!
Trực thăng quần trên đầu. Chúng còn chốt ở đó. Tư Ếch và Năm Đầu Ban thổ địa dắt đường. Tôi bàn kế hoạch qua loa rồi cho pháo. Cứ bắn già vào đội hình của chúng chớ không cho bộ binh xung phong. Tụi Mỹ chỉ phản công yếu ớt không có pháo Đồng Dù trả hỏa. Tôi có linh tính là ông Tư Lệnh đã thối ra ma rồi. Ba ngày ở dưới đó chịu sao thấu. Cũng may chiều tối hôm đó chúng rút toàn bộ. Trực thăng Chinook tới câu luôn cả bùng nhùng và công sự xi măng. Đại bác được câu lên sau cùng. Như vậy chúng đã bỏ chốt, chứ nếu chúng thay quân, chốt tiếp, thì ông Bốn, Năm, Mười Xu cũng lìa đừng nói Ba Xu.
Cho trinh sát tới trước dò xét an ninh rồi tôi ra lệnh công binh tới tìm miệng hầm. Trời mưa lầy lội lại thêm xe tăng càn nhẹp cây cối, dấu tích cũ không còn nguyên nên mãi một tiếng đồng hồ sau cả tiểu đội bới móc mà cũng không tìm ra. May nhờ Là nhớ cái cây có chừng hai bên miệng hầm kỷ niệm nên tìm thấy khung gỗ ló cạnh. Cũng may là xe tăng càn ngang mà không sụp. Cái nấp hầm thật chắc.
Thằng Xướng tay móc được cái khoen dây chì rồi ra sức lôi bật lên. Một tiếng “ồ” vang lên. Đó là không khí tràn xuống hầm.
Tôi rọi đèn pin. Thằng Xướng vọt nhanh xuống hầm, rồi trồi lên, nhắm mắt hả họng “ngộp quá!”. Nó lại một hơi dài rồi giật cái đèn pin trên tay tôi chui xuống. Chừng vài chục giây nó lại trồi ra, báo cáo:
- Hai người nằm dưới bùn. Chỉ mặc quần tiều.
- Em coi còn cái ngách nào dưới đó không?
- Có nhưng ổng chỉ xuống có hai người thôi.
Xướng lại nói:
- Ngộp quá, hôi thối chịu không nổi.
- Vô coi ông còn thở không?
Xướng lại chui rồi ló lên. Tôi quát:
- Còn thở không?
- Còn.
- Lôi ra miệng hầm ngay. Lôi anh Ba trước.
- Chân ổng quay ra ngoài.
- Cứ nấm lôi đại. Mau lên kẻo trực thăng trở lại thấy đèn, nó bắn bỏ mạng.
- Anh kêu đại liên chuẩn bị, hễ nó tới thì chơi .
Xướng ném trả tôi cái đèn pin rồi thụt vô hang. Ỳ ạch lui ra, chui vô hai ba lần, nó lắc:
- Nặng quá, bùn trơn nắm trợt lớt không lôi được. Anh tìm cho em sợi dây.
Nhờ sợi dây nịt da (như sợi dây lưng quần cô dân công) thằng Xướng lôi được chân ông Tư Lệnh ra miệng hầm. Tôi rọi đèn thấy hai bàn chân xanh lét. Thằn Xướng leo lên rồi hai ba đứa nắm sợi dây nịt rút lên, làm như con nít đẻ ngược, hai chân ra trước, cái đầu ra sau.
Thân người ông lên tới đâu chúng tôi nâng đỡ tới đó và xếp hai tay ông vào bên hông để khỏi vướng miệng hầm vốn rất hẹp, chỉ vừa thân người lách nghiêng’ mới lọt. (Vậy mà những tên nhà báo bất lương dám viết rằng ông Tám Lê giải phẫu thương binh, đỡ đẻ dưới hầm, làm sao đàn bà chửa và thương binh xuống hầm được. Bọn này ở đâu, hãy trả lời giùm).
Lên được trên mặt đất rồi thì mọi chuyện đều dễ dàng. Ông Tư Lệnh đã tái sanh.
Nằm trên mặt đất, ông Tư Lệnh… thật thảm thương!
Ông đã sống sót bên cạnh ông Sáu Di, nay lại chết hụt lần nữa. Nhưng lần sau Mậu Thân ông chết thật. Không như cô Thiên Lý chết dưới sông được chúng tôi cứu sống và về thành.
Y sĩ làm việc một chốc, dượng Ba tỉnh dậy. Tôi cho khiêng đi ngay về Trảng Cỗ để quân y tiếp tục săn sóc.
Húp xong muỗng sữa đầu tiên, ông hỏi:
- Ai đưa tôi xuống hầm vậy?
Tôi đứng cạnh đó không biết trả lời sao cho tiện. Vì có lẽ ông chưa lãng trí để có thể quên ai là người đã ký lệnh. . . với hai lằn gạch đậm đen mới hôm nào.
 
Chương 81
Những người con gái mang danh hiệu anh hùng rởm và đạo quân đầu tóc Củ Chi
được treo bảng vàng danh dự trong nhà .


 Cái việc làm bịp bợm của tên tướng đầu đỏ Nguyễn Chí Thanh “phong cho Nguyễn Thị Định là phó tư lệnh Quân Giải Phóng” và danh hiệu dũng sĩ (rởm) do ai bày đặt không rõ đã kéo theo được tử sĩ đàn bà con gái. Tội nghiệp thay cho những cô em ham làm tướng ếch, tướng nhái mà vỡ bụng nối đuôi nhau rửa chân lên bàn thờ. Sau đây là một số chị em ta tôi có biết hoặc có nghe “danh”
Đứng đầu bảng vàng rởm là nàng Tư Bé, huyện đội phó, 19 tuổi, một cô gái cộc kệch quê mùa ở Bàu Trân đánh xe bò, cha mẹ không cho đi theo du kích, nhưng bé ham danh hiệu dũng sĩ, nên một đêm trốn gia đình thoát ly. Trong lúc đám dũng sĩ rởm tan hàng, bọn huyện ủy không còn ai để làm “công tác chính trị” nên đã bơm cô bé chăn bò lên làm huyện đội phó. Tội nghiệp thay, nào biết gì chiến thuật quân sự, nên lớ ngớ đã bị Mỹ đuổi bắn chết ở Đồng Lớn năm 1968 ít lâu sau Mậu Thân.
Mang số hai, ngay sau cái ngày kỷ niệm đó, cô Bảy Nê, đội trường du kích Củ Chi được tên trưởng phòng chính trị Quân Khu Tám Quang, tay lẻo mép số một, phong cho danh hiệu “đội dũng sĩ” đã bị Nhân Dân Tự Vệ bắn chết trong trận đột nhập ấp chiến lược Cây Bài thuộc xã Phước Vĩnh Ninh năm 1969, sau khi lên thay cho cô Tư Bé trong chức vụ huyện đội phó. Cô có ý trả thù cho em trai là thằng Lợi trinh sát tiểu đoàn của tôi bị xe tăng bắn chết trên đường đi đánh trận Tân Quy, nhưng thù em không trả được mà lại gặp em ở tuyền đài.
Cầu thủ số ba là xã đội phó tên Là, người bạn gái thân mến của ông Thiên Lôi, sau khi Năm Thuận rút êm đi câu tôm bán lấy tiền nuôi vợ con ở ngoài ấp chiến lược Suối Cụt thì Là được ông bí thư Tư Thiên. phong chức xã đội trưởng. Nàng con gái mới hai mươi tuổi bị xe tăng ủi nhẹp hầm cùng với một số du kích xã nhà Phú Mỹ Hưng, không biết mồ mả ở đâu, cũng như chồng của chị ruột của nàng (Lụa) đi dân công Bình Long biệt tích không biết ngày giỗ quải. Với cái chết của nàng cùng ông bí thư Tư Thiên coi như xã Phú Mỹ Hưng không còn người lãnh đạo.
Kế theo là cô em Út Thành (số bốn), trẻ hơn Là một tuổi quê ở Trung Lập Thượng, được ở trên khen thưởng thành tích khiêng thương và cũng chết trong lúc tải thương trận Suối Cụt năm 1967.
Số năm thuộc về cô gái tên Năm, quê ở Bến Cỏ, thị xã Phú Hòa Đông không chết, nhưng bị thương tàn tật suốt đời bỏ Củ Chi về Sài Gòn (sau có gặp lại tôi ở Châu Đốc) . Đây là một người con gái đẹp, nước da trắng, có đôi chân vũ nữ, nhưng tiếc thay…
Tiếp theo dòng nữ nhi lên bàn thờ là cô Thu (số sáu), y tá 20 tuổi bị pháo bắn chết.
Cô Hiền (số bảy) bị Mỹ khui hầm bắt sống.
Cô Lan (số tám) nhân viên điện đài phòng tham mưu bị Mỹ đánh chất nổ.
Cô Huê y tá (số chín) bị pháo bắn chết.
Cô Lan chị 18 tuổi (số mười) và cô Lan em 16 tuổi (số mười một) bị chôn sống cùng với mười hai nhân viên ban tham mưu quận trong xóm Bà Huệ trước cô Út Hương vài tuần. Út Hương là nhân viên văn phòng K30 hậu cần Quân Khu bị biệt kích bắn chết trên đường tải gạo Bến Chùa xã Thanh An, mười hai người chết chụm.
Út Mến chết chung với xã đội trường Là, nhưng mười ngày sau mới biết, trong lúc đó bé Hạnh, cứu thương quận Nam Chi (Củ Chi phía Nam) bị thương rồi bị bắt sống.
Duộc “dũng sĩ” này còn dài dằng dặc, nhưng đại khái cái chết cũng giống nhau, nên xin tạm ngưng… (pháo bắn chết, xe tăng, biệt kích, lựu đạn du kích…) để sang các bức tượng vọng phu bằng đất bùn của Củ Chi.
Cô Lụa, chị cô Là, con của má Hai ở Phú Mỹ Hưng, có chồng đi dân công Bình Long mất tích. Chị Tám Khỏe cũng đồng số phận nhưng chị có tới bốn đứa con. Mặc dầu con đông, nhưng chị còn đẹp gái. Thầy chú ngắm nghé cũng bộn, nhưng chỉ có chàng Ba Tố- D phó – à lọt mắt xanh của chị thôi. Ăn ở với nhau không chánh thức (vì giấy báo tử ông chồng đi dân công Bình Long chưa về, hoặc không bao giờ về), nhưng ai cũng coi đó là một cặp uyên ương. Lửa đang nồng, duyên đang đượm thì D phó Ba Tố cùng toàn bộ ban chỉ huy D8 lãnh một trái bom đìa tại An Phú. Chi Tám vừa khóc chồng chưa khô nước mắt lại phải khóc chồng. Phải chăng đàn bà con gái Củ Chi có nhiều nước mắt nhất thế giới?
Đau khổ nhất là chị Út Việt có chồng là đại đội trưởng cối 120 ly của D8. Vợ chồng mới cưới chưa hết tuần trăng mật thì anh Út lãnh một quả dưa hấu của cô hàng B52. Tội thay cô vợ trẻ ở xã An Nhơn Tây trở thành góa bụa mà không xây được mộ chồng.
Cô Mười có chồng là đại đội phó công trường 5 xác bón cây rừng ở Bình Long, trong lúc nàng là gái một con, còn hơ hớ thanh xuân, biết bao nhiêu ông cán tò vè… mà không ưng để về Sè Goòng lấy lính.
Chín The, chị ruột Mười, chồng chết hồi chín năm, sau lấy Sáu Phấn chính trị viên D H6 rồi cũng đến phiên theo ông theo bà năm 67, vì Mỹ đánh hầm ở Xóm Bưng. Đời bà hai lần làm vọng phu, lần trước chỉ tám năm, lần sau muôn năm !
Chín Kiểu cũng có chồng chết trong chín năm, nhưng gặp đại úy Hai Giả. Đau khổ thay, Hai Giả bị kỷ luật về chuyện tình ái lăng nhăng với bà, nên bị đày đi Thủ Đức rồi chết ở đây, trong hầm bí mật quốc tế, do lính Đại Hàn khui và ném tặng một cặp vú sữa made in USA banh xác.
Trong lúc chị Ba và chị Năm (chị ruột của Bảy Mô) đều chịu cảnh phòng không chiếc bóng, nhưng anh Ba chết trong chín năm, chịu cảnh góa bụa tới già, còn Năm Mai thì ôm con nhỏ lúc tuổi thanh xuân. Anh Năm lên bàn thờ không biết ngày nào.
Chị Hai Nguyện cùng quê với Năm Mai là Gót Chàng, chồng E trưởng Năm Tiều. Hai vợ chồng chê đất Củ Chi khó ở nên chỉ trong năm 70, kẻ trước người sau cách nhau vài tháng, rủ nhau xuống xin nơi xây tổ ấm đất Diêm Vương.
Hai Xót, Hai Tràng đều ca bài Hòn Vọng Phu chín năm. nhưng Hai Tràng thì yên phận thường dân, còn Hai Xót thì bị cách mạng phong cho chức khu ủy cặp bồ với Chín Lộc mắt toét, trướng quân báo khu.
Tám Mang có chồng chưa cưới là Năm Hoa, sắp cưới thì Hoa bị thương cụt cả hai chân. Cô nàng sợ cách mạng quy cho mất lập trường nên không dám từ hôn, nhưng không xáp vô nữa. Chàng ta buồn tình “dông” lên R. Hai năm sau cô em đẹp duyên cùng Hai Đồng, tham mưu trưởng 68 (to lắm), nhưng lại ở góa vì đức lang quân bị Mỹ bắt sống ở Sóc Lào.
Như vậy, kể ra cũng chưa bi thảm bằng nàng Hai Chạnh ở Ba Sòng. Chồng sắp cưới là thằng Chi, trung đội trưởng của D tôi, bị pháo Trung Hòa bắn chết trong trận pháo kích do tôi chỉ huy, tại Gò Nổi Trên. Sau đó lại tái giá với Tư Đồng ở F100 (công tác thành). Anh chàng này cũng văng dên trong Mậu Thân ngày Tết.
Hai chị em Ba Lội và Tư Thêm đều góa bụa. Chị Ba có chồng là Tôn Sứt, cán bộ của tôi, chết năm 67 lúc hai người đang sắp hát tình ca phối ngẫu. Còn anh Tư đã có một con với chị Tư nhưng anh không giận hờn vợ con gì hết mà lại đi Bình Long không về.
Ba Cấm, Bắc Kỳ di cư ở xã Trung Lập, rất đẹp, có chồng là Tư Bình, C phó của tôi, anh chàng chết ở trận Rừng Tre (tôi cũng suýt chết) trong lúc cô nàng mới 20 tuổi, chẳng bằng Bảy Lợi được một cục “để trên đầu trên cổ với người ta” rồi chồng mới thăng thiên.
Tuy vậy cũng còn biết ngày để giỗ quải còn hơn là chồng cô Hai Điển, 22 tuổi, có một con nhưng chồng công tác trên R, không rõ công tác gì (có lẽ đi săn thịt rừng phục vụ các tên đầu bò chăng ?) mất tích luôn (hay bị voi dày chết ?)
Cô Tám Lệ ở Đồng Lớn xã Trung Lập, có chồng là Bảy Phúc làm quân báo khu bị khui hầm năm 66. Xin độc giả nhớ tên người con gái xinh đẹp này để về sau còn tái ngộ.
Đặc biệt nhất là cô Út Xè, 22 tuổi mà đến ba đời chồng. Cứ ông này rơi càng tỏm, ông khác lại xung phong bịt lỗ châu mai, lại rụng luôn ống điếu, đến ông thứ ba là Út Hùng – B phó trinh sát D8-, quê ở Xóm Ràng xã Trung Lập cũng rớt giò heo luôn. Mỗi ông cách nhau trên dưới một năm.
Cô Hai Lớn, 23 tuổi nhà ở Xóm Ràng xã Trung Lập, chồng là Hai Huyền chết trong trận Bàu Dưng.
Cô Hai Chân, một con, xóm Trung Hưng, chồng là biệt động thành F100 chết trong trận Mậu Thân.
Đau đớn nhất là vợ ông Chín Câu – phó chính trị viên D -, cậu của Bảy Mô, tập kết về gặp vợ (đã ba con, thêm một thằng cu nữa) nhưng lại bị pháo bắn chết ngay sân nhà.
Cô Ba Lóng có chồng là Ba Hỹ bị biệt kích Lệnh bắn chết trong nhà năm 66.
Ba Bảnh, hai con, bán quán ở Sa Nhỏ chồng bị Mỹ bắt.
Út Siêng, hai con, ở Đồng Lớn chồng bị bắt, sau đụng ông chính trị viên D Đoàn Tâm trong lúc ở Xóm Thuốc.
Cái gáo Hai Hương đã sút cán từ lâu, bỏ trống nhưng không có “cán” mới tra vào.
Hai Cảnh có chồng ở công trường 9 chết mất tích.
Vợ Bảy Sơn và vợ Hai Khứ âm thầm chia buồn với nhau. Bảy Sơn xã đội trưởng Phước Hiệp chết trận ở Suối Cụt năm 68. Hai Khứ lên thay chết năm 69 vì lính E69 sư đoàn 5 khui hầm bắn chết trong lúc Hai Định, ấp đội trưởng Vườn Trầu bị Mỹ bắn chết năm 68 bỏ lại vợ và một bầy con
Thằng Ngọc, 20 tuổi, chết ở Tua Đồng Chùa bỏ vợ chưa cưới, là anh ruột của Lan đầu quăn. Ngọc có lần đèo xe đạp cho tôi đến Suối Cụt (ghé nhà ăn giỗ )
Cô Tư Lan, người yêu của “dũng sĩ” Năm Cội chết không rõ nguyên do năm 1966. Cội chết 67.
Hai Lắm – B phó C3 Dl – chết trận ở Suối Cụt năm 67 bỏ vợ hưởng tuần trăng mật một mình.
Năm Lê gốc ở Xóm Chùa xã Tân An Hợi, C trưởng C3 D7 chết ở Rừng Tre năm 68, bỏ lại một vợ một con. Tuy vậy cũng còn “vinh quang” hơn ! Thà là chết ở chiến trường còn hơn chết ở trên giường thê nhi như câu hò lơ trong kháng chiến. Ông Mười Thương chính trị viên xã đội Tân Phú Trung đi về thăm vợ là Tư Nguyễn ở xóm Cỏ Ống xã Lộc Hưng dẫm phải lựu đạn gài của đồng chí ta mà phèo ruột.
Út Hùng B trưởng thông tin chết chồng. Bảy Kỉnh chết năm 68. Ba Xưa có chồng là B trưởng trinh sát chết tại Rừng Làng. Cùng hàng B trưởng của Dl tôi có Ba Quyết, anh của nàng út Quắn ở xóm Dân Hàn. Quyết ra trận rất gan dạ. Vào trận Tân Quy bị bắn vỡ sọ ngay phút đầu khai chiến bỏ vợ và con trai ba tuổi. Nàng tái giá với Sáu Cương, vui duyên với ông C phó này được ngót một năm thì ông lại chết trong một chuyến về thăm vợ.
Cô Mỹ Linh, 20 tuổi ở Bến Cỏ, có chồng đi công trường 9 biệt tích.
Đau đớn nhất là chị Út Lan, chồng là Bảy No, D trưởng D7. Chị mới 21 tuổi rất đẹp, chưa có con, bị cấp trên ghen ghét nên điều anh ra Rừng Sát bỏ vợ phòng không. Anh bị giang thuyền bắn chết trên sông Lòng Tào năm 67.
Nhưng chưa đau khổ bằng Tư Nhựt và Sáu Thưa D trưởng Dl (tôi là tham mưu trưởng). Hai anh em cột chèo chết hết để hai chị em ruột nhỏ lệ canh chầy khóc phu quân bất tái lai vào lúc nửa chừng xuân thắm. Tư Nhựt bị bọn đầu bò phong chức E trưởng và phóng vào Sài Gòn, còn Sáu Thưa bị biệt kích bắn chết ở Bến Chùa.
Vợ Năm Thơm C trưởng và vợ thằng Mẫm C phó cùng chịu tang một lúc vì hai đức lang quân chết cùng một loạt FM ở trận Vườn Trầu.
Độc giả chịu khó đọc thêm một giờ đồng hồ nữa. Trí nhớ của tôi còn khá, tôi cố gắng ghi lại giùm cho bọn vô ơn Việt Cộng, kẻo chúng cho đám tử sĩ này vô một “túi mất tích” không thèm gửi giấy báo tử cho gia đình vợ con họ
Kẻ sợ pháo nhất thế giới là ông huyện đội trường Tám Giò, nhưng oái oăm thay ông lại chết vì một trái pháo lẻ (còn gọi là pháo mồ côi), nghĩa là chỉ bắn có một trái mà trúng ngay ông ta, ở Bố Heo xã Lộc Hưng. ông bỏ lại vợ và một bầy còn. Còn ông bí thư quận ủy là Một Sơn (tự là ông Thợ Thiến vì ông bí thư là cùng nghề với đồng chí tổng bí đao ngày nay), lại bị xe tăng đào hầm đánh chất nổ. Không nhớ anh đi trước hay em.
Trong các bà góa có một bà lớn… nhất. Đó là Út Lịa, chồng làm tới trung đoàn trưởng, nhưng mà bom đạn nào có nể ai. Ông quan năm đầu bò phơi xác ở trận Rừng Tre trong một cuộc ác chiến với Mỹ. Mỹ đâu có gà tồ phải không ông? Đến đại tướng kỳ lô nó còn chơi gục nữa là cỡ nhép như ông!
Sáu Uya (cái tên Huế kỳ quặc) chính trị viên D D8 chết năm 68. Ông quan năm chết ông quan tư cũng nối gót theo sau. Đó là Năm Thủ (người thay tôi chỉ huy H6), một anh chàng gan phủ mình, dám sô lô một mình một quả bom đìaAn Phú
Buồn tình nhất là Tám Lệ, một thằng bạn thân thiết của tôi ở Hà Nội. Về Nam, cưới vợ đẹp, giàu, có xe Peugeot cỡi nhong nhong khắp Phú Hòa Đông . Hắn đẹp trai như tài tử xi nê ma. Trước khi vào Mậu Thân ở trên phong chức hắn phó chánh ủy trung đoàn Mũi Nhọn do Tư Nhựt làm E trưởng. Cả hai cùng bị nướng ròn. Lệ bỏ vợ đẹp con ngoan: không biết có đồng chí cán nhớn nào “giúp đỡ” hay không ?
Năm 68 là năm Lửa Thiêu đám giặc Đỏ. Quan năm, quan sáu chết lổm nhổm. Tư Quân- E trướng E268- chết ở Bàu Tre. Vợ Năm Re có đến nhưng mả nhiều quá mà không có mộ bia không biết mộ chồng, nên khóc giọt nước mắt quốc tế ca rồi trở về. Vậy cũng trọn nghĩa tào khương.
Quan lính chết nhiều đã đành, đám xã đội cũng góp phần không nhỏ. Ở trên độc giả thấy dăm bảy trự, sau đây một số khác, tôi suýt quên. Sau Tám Giò huyện đội, đến Hai Khứ, bây giờ đến Ba Coi xã đội trưởng Nhuận Đúc, Năm E thay Tám Giò, đến Bảy Đạo, Ba Cà, Ba Lá quận ủy viên, Hai Đời bí thư xã Trung Lập, Tư Mạnh trợ lý tham mưu quận (biết quái gì mà tham mưu). Đám quận đội và quận ủy chết sạch. Sau này phải chia Củ Chi làm hai: Nam Chi và Bắc Chi.
Chị út, vợ của út Đầu Đỏ (tên thật lạ) quản lý D7 Củ Chi bị Mỹ bắt ở Xóm Trại Giàn Bầu. Kế đó là nàng Út Hương (chúng tôi gọi là ốc Hương) vợ Hai Khởi tham mưu quận đội, sau lên D trưởng của D268. Khởi cấy rau muống ở ngã tư Quán Giắt, Thanh Hóa. Về trong này thím xực thêm nàng ốc nên bị khai trừ đảng nhưng chàng không nao núng, chỉ sợ Mỹ xơi tái thôi. Mà thật, sợ cũng không khỏi. Khởi bị khui hầm năm 69.
Vợ Năm Cao ở Ba Cụm. Cao là C phó C3 D1 của tôi. Cao chết năm 66 ở Cỏ Ống xã Lộc Hưng. Đến đây tôi đã kể được 64 sự tích “vọng phu Củ Chi”, xin rán kể đến chẵn một trăm thì ngưng.
Vợ Út Sương ở ấp chiến lược Cây Bài, Sương là C trưởng, sau vì ban chỉ huy D khuyết được đề bạt là phó chính trị viên D, chết năm 68.
Vợ Năm Thơi ở Trảng Cỏ, Thơi là D trưởng D2 E Quyết Thắng chết năm 67 ở Bàu Lách.
Vợ Ba Nhẫn ở Trung Hưng, Nhẫn là D trưởng E Quyết Thắng chết năm 67 ở An Nhơn Tây. Nhẫn có vợ con ở Trung Hưng nhưng còn quơ con bé Trang (con gái Hai Tràng ở Gót Chàng). Sở dĩ hắn xơi tái được cô bé này là vì hai đứa thường trốn chung hầm bí mật ở Gò Đình. Hắn già rơ nên bỏ ngón hoài, con nhỏ chịu hết nổi đành xuôi tay cho chàng nuốt. Một bữa Mỹ ruồng, con nhỏ xuống hầm không được vì cái bụng to chừng đó má nó mới hay, thì sự đã rồi. Nhẫn chết lãng nhách. Lần đó hắn kéo tiểu đoàn về An Nhơn, Mỹ càn vừa rút, hắn cùng một C trưởng, một quản lý đi moi tìm đồ hộp. Chẳng ngờ bị lựu đạn nổ chết cả ba. Đó là cú phục hậu của du kích An Nhơn đối với hắn, kẻ đã cậy quyền ỷ thế quơ mất cây nhà lá vườn của bọn địa phương. Thời kỳ này tôi làm E phó kiêm tham mưu trưởng.
Vợ Tám Thôn. Thôn là phó chính trị viên D đặc công của Gia Định 4, chết năm 69 ở Gò Đình xã Nhuận Đức.
Vợ Út Xiềng ở bến Chùa xã Thành An. Xiềng là C phó chết ở Bàu Lách năm 67.
Vợ Sáu Ly ở Bàu Trâu xã Phước Thành, Ly là C phó chết năm 68.
Vợ thằng Quảng du kích Trung Hưng xã Trung Lập, chết năm 66.
Vợ Tư Linh (người Hà Nội), Linh bạn tôi, trưởng ban binh vận khu bị bắt 69.
Vợ Ba Thụy ở Thủ Đức, Thụy trưởng ban đặc công H11 phân khu 1, bị Mỹ khui hầm bắt năm 69 ở Gò Nổi.
Vợ Năm Thêm ở Sài Gòn. Thêm cấp bậc đại úy E Mũi Nhọn chết năm 68.
Vợ Sáu Nam ở Trảng Cỏ xã Đôn Thuận , Nam phó chính trị viên E368 bị pháo chết ở Sa Nhỏ.
Vợ Sáu Đồng ở An Phú, Đồng C trưởng C4 D7 chết năm 68 trận phá vây Vườn Trầu.
Vợ Năm Rỗ xã Phước Hiệp, Rỗ là xã đội trưởng (thay cho Hai Khứ) mới cưới vợ xong, ẵm vợ không ẵm lại ôm cà nông 155.
Vợ Bảy Điếc, Điếc bí thư xã Phước Hiệp bị Mỹ bắn chết năm 68.
Vợ Tám Thế, Thế vốn là C trưởng C3 D7 về làm quận đội phó Nam Chi bị bắn chết 68.
Vợ Út Thành, Thành quận trưởng Nam Chi, Thành theo gót Năm E, sau này tới tên Năm Ngó làm quận đội trưởng.
Chín Nữa, có vợ là cô giáo, là dượng của tôi. Ông là C trưởng C trinh sát Quân Khu bị xe tăng bắn chết dưới hầm cùng năm đội viên trinh sát ở Bàu Lách, bỏ vợ và hai con, trai 10 tuổi, gái 7 tuổi.
Mười Long, trợ lý D Quyết Thắng, mới cưới vợ là cô Nguyệt cứu thương, chết năm 68 ở Hóc Môn. Nguyệt là con nuôi của “hạm” Năm Lê (sẽ kể tiếp).
Sáu Lễ phó ban Quân Khu chết ở Bàu Nổ xã Thành An năm 68.
Cô Sáu Niêm (chị của Bảy Lội) có chồng là đặc công F100 chết 68.
Ba Xây xã đội trường An Nhơn Tây bị bắt sống năm 66 bỏ vợ và một bầy con.
Huỳnh Thành Đồng, tham mưu phó Quân Khu chết lãng nhách ở Trung An vì thằng Châu Mèo Đái, có vợ ở Bến Tre, chưa có con.
Cô Hai Việt, nhà ở xóm Cỏ Ống, chồng đi công trường 9 chết ở Bình Long.
Vợ Bảy Theo ở Phú Hòa Đông, Theo là C phó chết ở Rừng Tre năm 68.
Cô Thu và Ba Quản Lý (hai vợ chồng đã cứu tôi dưới địa ở H6) chết vì một trái pháo Đồng Dù lúc cô Thu đang có thai năm 66.
Vợ chồng thằng Út và con gái nhân viên sản xuất của H6 chết dưới hầm năm 66.
Độc giả thân mến! Tôi xin kể tiếp mười trường hợp nữa cho chẵn một trăm.
Vợ Sáu Gấm, Gấm là cán bộ phòng chính trị Quân Khu chết năm 66 ở Đồng Cà Tông, Dầu Tiếng vì B52.
Vợ Sáu Mành và Hai Bi, Mành và Bi bị cá rô rỉa năm 65 cùng một lúc.
Vợ chồng Bảy Phúc, quân y sĩ, bị Mỹ bắn chết năm 66 tại Rừng Làng.
Út Đức, trợ lý tham mưu quận về thăm vợ ở Tân Thành Đông bị lính bót bắn chết năm 66.
Vợ Năm Nhân ở xóm Cây Dương xã An Tịnh, Nhân là quận đội trướng quận Trảng Bàng bị bắn chết năm 67.
Trường, quận đội trường Trảng Bàng bị mìn nổ chết năm 69 (không rõ Trường quê quán ở đâu).
Sau đây là ba trường hợp đặc biệt: Hai tên to đầu nhất Quân Khu, nói rõ hơn là toàn Bộ Tư Lệnh Quân Khu chết chung một lỗ trên đường về nhậm chức gì đó chánh phủ ma của Huỳnh Tấn Phát.
Trần Đình Xu, tự Ba Xu, tự Ba Dính, tư lệnh Quân Khu IV Việt Cộng.
Nguyễn Xuân Trường tự Tư Trường, không biết tí nào quân sự, chính ủy Quân Khu. Cả hai đạp trúng bãi mìn. Cả đoàn tùy tùng gồm hai mươi người đều tan xác, không nhặt được một miếng thịt.
Nhưng trường hợp sau đây mới là đặc biệt nhất: Anh chàng Tám Lùn, đội trưởng đội liên lạc hỏa tốc của quận Nam Chi. Anh ta bị lính trong tua Cầu Rạch Láng The bắn văng mất “cây súng ngắn K54 và hai viên đạn”. Anh ta không chết, vợ anh ta không góa chồng. Nhưng đối với vợ anh ta thì anh ta có khác gì đã chết. Còn chị Tám không góa chồng có khác gì góa chồng?
Trường hợp thứ một trăm này thật khó phân xử. Không biết có nên xếp chị Tám vào chung với đội Vọng Phu Củ Chi hay không? Xin độc giả cho biết tôn ý. Và còn rất nhiều, nhiều lắm, nếu kể ra phải nguyên một quyển.
Cán bộ chết sạch đến nỗi phải đưa một cô bé nấu bếp không biết bắn súng lên làm quận đội phó. Đó là cô Bảy Phán từng nấu cơm cho Tám Giò. Một cậu thanh niên mới vô đảng là Mười Nguyên, lên làm bí thư quận ủy. Cậu chiến sĩ bị trúng thương ở trận Gò Nổi, bị Năm Tiều hăm bắn bỏ (tên là Cao Hoài Nở) được đưa lên làm trưởng ban chính trị trung đoàn. Bộ Tư Lệnh Quân Khu chỉ còn có Hai Phón (tức Trần Hải Phụng) nhờ trốn ở Cao Miên nên mới sống sót.
Tôi viết chương này để mọi người thấy sự hy sinh dã man dân miền Nam của bọn Hà Nội, nhằm đạt kỳ được tham vọng của chúng. “Chúng mày chết bao nhiêu mặc kệ để đón bác Hồ dzô!” Và miễn trong những xác chết thê thảm đó không có cái nào là con cháu vợ chồng, ông nội ông ngoại của bọn thằng Duẩn, thằng Chinh, thằng Giáp… thì chúng mày tha hồ đi vô nghĩa địa Giải Phóng Miền Nam.
 
 
Chương 82
Mất đất, mất dân, mất mạng và mất tinh thần.

 Sau khi duyệt qua đạo quân đầu tóc Củ Chi, xin mời các bạn trở lại chiến trường Củ Chi. Từ khi ông tư lệnh Ba Xu chết hụt dưới hầm của cô xã đội phó, D1 Quyết Thắng của tôi càng ngày càng tổn thất. Nhưng sự tổn thất nặng nề nhất là mất đất. Nói rõ ra là không còn chỗ đóng quân. Dù giữ bí mật đến đâu cũng không dám ơ lại ba ngày. Bom, pháo, xe tăng, B52 đến liền liền. Trước đây ba ngày một tiệc nhỏ, bảy ngày một tiệc lớn, bây giờ ngày nào cũng có tiệc… máu. Nếu dân đi hết ra ấp chiến lược mà vườn ruộng còn nguyên thì chúng tôi vẫn sống khoẻ ru, đằng này dân đi mà đất đai cũng mất. Cuối cùng là mất tinh thần và mất tin tưởng.
Qua hai cuộc càn vĩ đại Cedar Falls và Manhattan, sư đoàn 25 Mỹ (Chớp Nhiệt Đới) chỉ mới khai quang từ rạch Thai Thai (tức Bến Được) thuộc xã Phú Mỹ Hưng tới xã Nhuận Dức (quê hương của Năm Cội) và xã Phú Hòa Đông biến khu vực này thành vùng tử địa không còn dân cư. Thời gian đó tình hình của Củ Chi hãy còn kha khá, nhưng bây giờ, cuối năm 67 (sắp vào Mậu Thân), thì tình hình rất tồi tệ. Mỹ đã đánh lên tới bắc Lộ 6 tức vùng Trảng Cỏ, Bời Lời.
Còn bên kia sông Sài Gòn thì sư đoàn 1 (Anh Cả Đỏ) kẹp Bộ Tư Lệnh Quân Khu 1 trong hai quận Bến Cát, Dầu Tiếng. Mỹ từ Dầu tiếng đánh xuống, từ Bưng Còng đánh lên và từ sông Thị Tính đổ qua bằng mọi thứ chiến thuật, xe tăng càn ủi, thả biệt kích, cụm quân ở Rạch Kiến hoặc Bưng Còng, có khi một cuộc càn quét kéo liên miên hàng tháng liền trên vùng đất Thanh Tuyền làm cho Bộ Tư Lệnh Quân Khu IV như một bầy chuột bị cháy đồng.
Trước kia Quân Khu gồm bảy tỉnh, đất đai quá rộng lớn, một Bộ Tư Lệnh không chỉ huy nổi. Liên lạc chậm trễ còn hơn thời vua Minh Mạng. Ngày xưa chạy ngựa nhưng không bị bom pháo chọn đường, còn bây giờ “ra ngõ đụng bom”, cho nên Quân Khu phải chia thành năm Phân Khu. Phân Khu 1 gồm các quận Củ Chi, Trảng Bàng, Bến Cát, Dầu Tiếng, Gò Vấp, Hóc Môn và phần đất nội thành Sài Gòn gồm cả từ quốc lộ 1 đi xuống. Phân Khu 5 nằm phía bên kia sông Sài Gòn dọc theo quốc lộ 13 bao gồm Thủ Đức, Dĩ An, Lái Thiêu, Nhơn Trạch. Phân Khu 4 là địa phận Rừng Sát, do tên lẻo mép Tám Quang về làm chánh ủy.
Chúng tôi vẫn còn ở nguyên đất cũ dưới quyền ông Năm Lê, nay được đề bạt phó tư lệnh kiêm tham mưu trướng. Trước kia ông thụt trong hầm Đờ Cát Tri ở trại Bà Huệ (nhà của xã đội trướng Ba Xây bị bắt trong cuộc càn Cedar Falls), bây giờ ông phải vọt qua sông cùng với đám bầu cua của ông với các cô con cháu nuôi, trừ Tám Nghi và cô Hiền bị moi hầm bắt sống.
Bây giờ tình hình cấp bách và “chết như nháy mắt” không còn có thể nhởn nhơ nhậu nhẹt thành lập hội ve chai chống Mỹ như năm ngoái. Làm việc gì cũng như giật chạy, kể cả làm tình. Chỉ dăm ba câu nhiệt đới, hôn nhanh hít chớp chứ không có ở đó tình ca liên khúc mùi mẫn được.
Nếu ngày xưa trong Cải Cách Ruộng Đất, đảng ta hô to khẩu hiệu tiếu: “Tựa hẳn vào giai cấp bần cô nông, đoàn kết với trung nông lớp dưới, lôi kéo trung nông lớp trên, cô lập phú nông và tiêu diệt địa chủ” (một đảng do những thằng ngu đứng đầu, ngày nay còn sót lại một thằng thợ thiến heo làm tổng bí thư) thì ngày nay ở cái đất Củ Chi này, chúng tôi cũng phỏng theo đường lối của đảng mà nêu lên khẩu hiệu “Tựa hẳn vào gạo để nấu cháo húp, đoàn kết cá mòi hộp, lôi kéo đậu phộng kho, cô lập thịt heo thịt bò, ra sức tìm thịt rừng và triệt để khai thác đồ hộp Mỹ vứt lại sau các cuộc ruồng”.
Ban đêm các cơ quan phải đi tìm gạo mà mua lấy của dân vì ông Bảy Hốt, tổng cuộc lúa gạo Quân Khu đã bị Mỹ hốt, con đường vận tải gạo qua sông Sài Gòn bị giang thuyền chặt đứt, may lắm một tháng mới có một chuyến, nhưng gạo chỉ để các ông lớn xơi chớ đâu tới đám cò con. Cơ quan nào cũng tự tổ chức lấy những chuyến vượt sông qua Củ Chi đến các vùng quen cũ như Sa Nhỏ, Trung Hòa, Cỏ Ống v.v… để làm những cú vét và lén lút tha về ổ giữa đêm. Nhiều cô gái không biết bơi cũng phải buộc phao ni lông thả xuống sông, đeo chắc rồi nhờ các chàng trai lôi qua. Để đền ơn đáp nghĩa, các cô phải bù lại bằng nọ kia…
Nhiều khi không may, bơi qua mới nửa sông lại đụng giang thuyền. Thế là làm ma đói. Nếu thoát khỏi giang thuyền thì trên đường cõng gạo về lại gặp biệt kích, bộ binh, Mỹ cụm, hoặc pháo, hơn nữa, lãnh dưa hấu bầy. Thời buổi này B52 như cơm bữa. Ban ngày ban đêm gì đất đai cũng gồng mình hứng dưa hấu, đất rung khe khẽ xa xa hoặc đất sàng như sấp sụp dưới chân là chuyện không phải khó tìm chung quanh đồn điền Michelin dài xuống đồng Cà Tông, qua Long Nguyên, Bà Tứ v.v… Vì lẽ đó mà ở Hà Nội có cái đám ma lén lút của ông đại tướng và một cái hòm chôn không có xác và có một ông đại tướng khác thay vì khóc lại cười vì nhờ ai mà địch thủ của ông ta vắng mặt trên cõi đời này, nhất là trong các hội nghị của Bộ Chính Trị.
Hẳn ta từ Hà Nội đi máy bay vô Nam Vang. Ngồi trực thăng xuống Mi Nốt, đi theo con đường đạo chích vô đất R. Và từ R xuống Long Nguyên kiểm tra công tác chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân. Cái hầm của hắn trú ẩn còn kiên cố hơn cả hầm của Đờ Cát mà trước kia hắn chỉ huy cuộc tấn công ở Điện Biên. Cái hầm Đờ Cát do máy móc đào và xây cất. Còn cái hầm của hắn do một trung đoàn công binh (do Tư Cường chỉ huy) kiến thiết, có thể chống cả bom B52. Thật vậy, B52 rắc bom gần đó, hầm không hề hấn gì. Chờ khi ngài đại tướng (cướp) ló đâu ra khỏi miệng hầm thì búa sấm sét của Thiên Lôi mới giáng xuống ngay sọ. Hắn chết không kịp nói một tiếng. Quả thật hoàng thiên đoản mạng tên gian hùng.
Ở ngoài Hà Nội, trước khi Hồ chủ tiệm á khẩu vì nghe tin thảm bại Mậu Thân, “người” đã kêu vợ “chú nó” tới ăn cơm tối với bác gọi là đền đáp cho sự hy sinh đức lang quân mẹ đĩ trong lúc báo Nhân Dân báo tin rằng tên cướp chết ở viện 108 (tức bệnh viện Đồn Thủy cũ) vì đứt mạch máu.
Trong tình hình sôi bỏng này, Sáu Đoàn Tâm- chính trị viên quê D đi Quân Khu mang chỉ thị về. Hắn trình bày cho tôi và Tư Nhựt nghe. Hắn nói lòng vòng làm cho tôi sốt ruột, quát:
- Đồng chí nói thẳng cho chúng tôi biết ý đồ ở trên là gì?
Hắn cười nhăn răng như khỉ ăn bần:
- Thì cứ xốc tới ! Nắm thất lưng Mỹ mà đánh!
- Xì! Chuyện đó xưa rồi! – Tư Nhút ngoách ra nói với giọng bất mãn.
Sáu Đoàn Tâm tiếp ngay:
- Nhưng qua các trận Cây Trắc, Bàu Trâu , Lộ 6 v.v.. mình đều thấy đâu dễ gì nắm thắt lưng “Anh Cả Đỏ” ! Nếu cứ tập trung D mà đánh thì thất bại.
Tư Nhựt nói như than thở:
- Quân số của mình hao hụt nặng quá. Sau các trận Dầu Bà, Rừng Tre, Cầu Xe, Trảng Cỏ ở trên chỉ thị bổ sung cho mình có chục rưỡi lính cò mửa thì làm sao? Lính bị thương hơn hai phần ba không phải vì chiến đấu mà vì bom pháo trực thăng. Hằng ngày các đại đội báo cáo quân số, đều ở trong tình trạng súng thừa lính thiếu. Năm ngoái CKC không đủ cho lính cầm. Còn năm nay đến AK mà cũng dư, không có người cầm. Tệ hơn nữa loại trung liên dĩa của Liên Xô mà phải chôn, vì loại này cần đến hai người tiếp đạn. Nay mình chỉ còn xài có RPD vì nó chỉ cần có một xạ thủ chính và một xạ thủ phụ kiêm tiếp đạn thôi. Tôi đành phải chấp thuận cho họ chôn bớt chớ làm cách nào khác được.
Những điều Tư Nhựt than thở tôi đều biết cả. Làm tham mưu trưởng mà không biết cái tình trạng đó thì còn biết cái gì nữa. Tôi đau lòng lắm. Mỗi khi cho chôn một khẩu súng thì chẳng khác nào chôn một chiến thương. Chôn sống! Đúng vậy. Chôn súng là chôn sống chứ còn gì nữa. Chỉ có bọn Hà Nội mới không biết nên cứ hò hét: thừa thắng xông lên. Có thắng đâu mà thừa!
Càng ngày càng phải chôn thêm súng phóng lựu (trom blom), mìn, chỉ trừ B40 là còn giữ lại. Nếu chôn cả loại này nữa thì lính chỉ còn trên răng dưới dế gặp xe tăng chỉ còn cắn nó thôi.
Tôi nói đỡ vớt:
- Mình còn D7 của Bảy Nô cũng có bạn!
Tư Nhựt chửi thề rùm trời và bảo:
- Thằng cha đó mắc con vợ bà chằng không dám ra trận. Thầy không nhớ lần mình rủ nó đánh trận Bàu Đúng, nó đồng ý rồi sau chạy rót sao? Còn D2 của Ba Thụy thì ém lút ở Gò Môn (Gò Vấp – Hóc Môn) phân tán ra thành du kích. Lính tráng trở thành lại cái hết rồi đánh đá gì ! Nay chỉ còn có D1 mình với Q16 thôi, nhưng Q16 là lính Bắc vô đây không xoay trở như mình được. Thầy không nhớ trận Bàu Trâu họ phối hợp với mình mà rút chạy trước, đến chừng kiểm thảo toàn trận, thằng Ba Đức của mình nổi nóng đập lộn với họ hay sao? Đó là đơn vị anh hùng Điện Biên mà còn vậy, huống gì ba thằng du kích mình lôi đầu lên cho cầm súng AK trong đơn.vị.
Sáu Đoàn Tâm sợ Tư Nhựt nổi khùng bới móc thêm mà lở lói cái danh hiệu anh hùng Điện Biên nên móc túi lấy ra một tờ giấy quyết định của khu cho tôi về làm trưởng ban chính trị quận đội Củ Chi và đồng chí Tư Nhựt đi dự đại hội thi đua R, và các đồng chí Út Đức, Hai Mạnh cũng có quyết định thuyên chuyển.
Tôi ngồi chết trân.
Tình hình này mà mất một số cán bộ như vậy thì còn làm ăn gì được nữa!
Đoàn Tâm mỉa mai tôi:
- Tôi nghe cấp trên chuẩn bị thành lập trung đoàn và giao cho “thầy” chỉ huy đó!
Tôi suýt xài nho “con cặc” nhưng tốp kịp. Đụ mẹ, tiểu đoàn chỉ cỏn hơn 150 lính mà nói chuyện thành lập trung đoàn, chắc bắt mấy gốc cao su cầm súng?
Tôi biết trong ruột Đoàn Tâm. Từ ngày nguập với bà Út Siêng thì tìm cách xin ra khỏi ban chỉ huy D. Út Siêng là bí thư xã Trung Lập, lại là em út của các bà Năm Đang, Hai Xót, đang có chân trong khu ủy lại cho các anh vái lỗ tai thì xin gì mà chả gật. Thế nên cuối cùng một thằng chính trị viên D của quận đội lại ra làm trưởng ban chính trị quận đội với lý do là “đau dạ dày”!
Tôi biết cả, nhưng không thèm nói ra. Hắn ra khỏi D, tôi và Tư Nhựt càng dễ làm việc và lính càng khoái. Hắn chế tôi, tôi cũng đâu cớ chịu im. Tôi nói:
- Nay mai, đội dũng sĩ diệt Mỹ toàn miền thành lập, sẽ mời đồng chí về làm chánh ủy đó đồng chí à !
Tư Nhựt nói công khai:
- Nếu chọn chiến sĩ thi đua thì thầy Hai xứng đáng hơn tôi. Vậy tôi đề nghị ở trên xét lại.
Tôi đã ớn ba cái danh hiệu anh hùng, chiến sĩ thi đua này từ ngoài Bắc kia, cây kim bỏ vô hộp quẹt cũng báo công chấm điểm.
Tôi cũng đã từng đeo bông hồng to tổ bố cấp sư đoàn, rồi về R làm anh hùng phá sân bay Biên Hòa, nay không ham nữa nên nói:
- Anh nên đi đi anh Tư à. Ở trên sáng suốt chỉ định anh là đúng đó. Anh đã chiến đấu bảy năm qua trên đất Củ Chi này rồi, còn tôi chân ướt chân ráo mới có ba năm.
Tư Nhựt ngắt lời:
- Ba thì ba, nhưng công lao huấn luyện, tác chiến, tham mưu, tổ chức của thầy ở D1 này là số một, tôi không bì kịp đâu. Tôi là D trưởng nhưng có biết mẹ gì công tác quân sự, chỉ đánh càn ăn may thôi. Thằng lơ xe đò này nay có khả năng ít nhiều chỉ huy D1 là nhờ thầy nhiều lắm. Tôi mà đại diện Quân Khu đi R thì tôi mắc cở với anh em cán bộ A, B, C và lính lắm.
Tôi nhất quyết gạt ngang:
- Anh làm anh hùng thì đó là danh dự cho D1, mỗi đứa góp cho anh một chút và anh là tiêu biểu cho D mình. Anh đừng từ chối nữa.
Tư Nhựt không có học trường nào nhưng rất thông minh và gan dạ, lại gương mẫu không lem nhem bất cứ thứ gì. Nhiều lần giữa đêm thanh vắng y tâm sự với tôi và gọi tôi bằng thầy. Tôi bảo đừng xưng hô như thế anh em cán bộ không đồng ý. Y bảo:“Thử hỏi thầy không đáng tôi gọi bằng thầy hay sao? Thằng nào dám thắc mắc?”
Một con người như vậy mà bị cấp trên đút vô lò lửa Mậu Thân đành đoạn. Đi dự đại hội về, Tư Nhựt được phong làm trung đoàn trưởng trung đoàn mũi nhọn của Quân Khu (cũng là của R) đánh vào Sàigòn. Thử hỏi sống sao nổi? (sẽ kể sau). Chính tôi làm báo công (tôi biết cách) cho Tư Nhựt mang đi R. Làm xong, tôi đọc cho y nghe. Y ôm tôi khóc ròng. Nhựt là lơ xe đò, học ít, càng không biết khoa học quân sự. Không biết ai đưa Nhựt lên làm tiểu đoàn trưởng ngang xương nắm sinh mạng cả mấy trăm chiến sĩ. Khi tôi về làm D phó kiêm tham mưu trưởng, Nhựt hơi gờm tôi, sợ tôi vượt hơn y. Nhưng công tác một thời gian, y mếntôi và thú thật, tôn tôi lên làm thầy. Tôi thật tình không dám nhận. Khi ở trên kêu bầu chiến sĩ thi đua, y đề cử tôi, nhưng tôi từ chối và đề cử ngược lại và làm báo công cho y. Y nói:
- Tôi chưa từng thấy ai cao thượng như thầy đó, thầy Hai. Ở cái xứ này người ta toàn tranh công và dẫm lên đầu nhau để lên chức, chứ không ai như thầy tự hạ mình xuống để nâng bạn mình lên.
Y biết những trận nào do ý kiến của ai mà thắng, nay trong báo công đều bồi cho y. Tôi hiểu con người thành thật của Tư Nhựt nên không nói nhiều:
- Anh cứ yên tâm! Chúng ta là một! Thành tích của tôi là của anh, anh Tư à!
Tư Nhựt đi xong, tôi dắt tiểu đoàn sang đất Trảng Bàng để mong tìm thấy một vài ngày an bình mà chấn chỉnh tổ chức. Một mặt tôi cho người về kiến trúc căn cứ ở Rừng Tre, Lộc Thuận. Cái việc bị xe tăng Đồng Dù đẩy lên tận Trảng Cỏ, Sóc Lào, Bà Nhã chỉ còn là thời gian. Xe tăng hằng ngày thọc lên tận Hố Bò, rề xuống An Nhơn coi như chỗ không người. Chúng đã ủi láng hết rừng rú từ Cổng Bông Giấy vô tận Bàu Đưng, quân y của Tư Chuyền đã bỏ Hố Bò vọt lên Lộc Thuận hay Rừng Tre gì đói tôi không còn liên lạc. Mạnh ai nấy tìm đường sống.
Chạy qua đất Tây Ninh để tựa lưng hai thằng Năm Sơn và Chín Hung D14, nhưng sang đây lại gặp Ba Tới kêu giọng ve sầu:
- Cho ở đậu đất nhưng không phát gạo đâu nhé. Tụi này cũng đang lâm nguy. Tụi Mỹ đánh liên miên. Ban ngày chưa đủ, nó còn tranh thủ ban đêm.
Hắn cười nhe bộ răng xếu xáo trông càng bi quan:
- D14 của tao (ông ta lớn hơn tôi chừng một con giáp dân kháng chiến chín năm) bị sát nhập vô E268 rồi, đâu còn phối hợp với mày. Riêng tao bị thiến nửa cái bao tử, ngày ăn có một chén cơm!
- E268 ở chỗ nào?
- Ở ngoải vô. E này cũng anh hùng Đê Bê (Điện Biên) thuộc nòi 308.
- Thôi đi ông nội, Q16 cũng anh hùng Đê Bê nhưng chán lắm. Ở trên cho tôi một cán bộ làm D phó là Năm Triêm. Ông này cũng là dân kháng chiến hai mùa hết xí quách rồi, lại vừa vượt Trường Sơn vô tới, mặt mày vàng lườm như nghệ. Nếu đụng một trận với Mỹ là bành tô ngay.
Tôi hiểu tâm lý nên cho anh đi móc vợ vô sum họp để rửa chân leo bàn thờ nay mai không gặp mặt. Thật vậy, mười năm, bà chỉ đã ăn trầu, trở thành mẹ chiến sĩ. Còn Năm Triêm chỉ đánh có vài trận là vô nhị tỳ.
Tôi cho D bố trí thành thế phòng ngự vòng tròn. C1 giữ mặt đồng ruộng Lộc Thuận, ngó qua Sa Nhỏ và Cỏ Ống; C2 giữ mặt Cầu Xe và Lộ 6; C3 ngó qua Ba Cụm; C4 giữ phía sau đường 15 và Bùng Binh, còn quân y, trinh sát, liên lạc văn phòng ở giữa rún.
Phân Khu bổ xuống 80 tân binh miền Bắc, cho D khác nào đó húp cháo loãng. Nghỉ dường quân nhưng nào có nghỉ dưỡng được ngày nào. Mỹ đuổi theo, chúng tôi phải nghinh chiến, bắn cháy ba xe tăng, trực thăng tới đánh luôn tại Trảng Dầu. Chúng bắn hỏa tiễn. Chợ Suối Sâu gồm phố xá sầm uất, nhà máy xay lúa, tất cả cháy rực trời. Đồng bào chửi cha giải phóng báo đời.
Kéo về Bà Nhả, bị dân đuổi đi không cho đóng quân, không bán gạo. Không kể tình cá nước mẹ gì ráo trọi. Chúng tôi ở ngoài rừng không có nước nhưng không dám vô xóm xin sợ lộ bí mật, gặp Phượng Hoàng kêu Mỹ tới là chết cháy, nên đi tìm đầm hoặc suối trong rừng thời may gặp một cái giếng lạng, thò đầu xuống thấy lấp loáng trắng nhưng sâu lắm. Tôi cho trinh sát tuột xuống xem xét. Trời ơi! Đó là xương người. Xương của Cao Đài, hồi 45 các ông nội Tô Ký và Hai Bứa giết họ ném xác xuống đây. Quả báo! Bây giờ lính các ngài tới, có nước mà không dám uống.
Nhờ có thằng Đức, C trưởng C2, là dân Trảng Bàng thuộc xóm làng nên dắt đi tìm dân gặp Tám Bụng, làm xã đội trưởng không nhớ là xã nào. Bụng là em ruột của Năm No, E phó thuộc công trường 9 của Năm Sài Gòn. No mất tinh thần sau các trận Bình Long, Bình Giả bỏ về nhà làm vườn, bị khu đòi lên hạ chức còn C phó hụ hợ ở trường huấn luyện tân binh, ăn nói trật đường rầy không kể gì Đảng Bác.
Tôi hứa cho Bụng một cây AK còn CKC có sức vác bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu. Nhưng Bụng chỉ lấy AK chớ du kích đâu có ngoe nào mà đòi CKC?
Ở đâu cũng không yên vì không còn nhân tâm. Dân ghét giải phóng ra mặt. Tây Ninh chỉ còn rừng có dân mà cũng như không, bộ đội của dân mà dân bỏ đói, giải phóng đi tới đâu dân chạy tuột quần đến đó. Dân không che chở quân nên quân cứ ăn dưa hấu liên miên.
Một lần trôi dạt luôn năm địa điểm liền trong ba ngày. Rừng Tre, Trảng Cỏ, Trảng Sa, Sóc Lào. Vừa đến Sóc Lào thì phải đi ngay vì có đầm già tới liếc. Phải cấp tốc hành quân. Từ chạy đến chạy.
Chạy lòi mắt cá
Chạy lả xương mông
Chạy không gạo nấu
Chạy đứt ruột cùn
Chạy tàn chạy mạt
Chạy khạc ra tro
Chạy ho ra bụi
Chạy lủi vô bờ
Chạy lờ con mắt
Chạy thắt ống chân
Chạy sưng cần cổ
Chạy lỗ máu đầu

Đến đóng ở Xóm Suối ngang Trảng Dầu Bà. Xe tăng không đến mà phản lực rắc bưởi ngọt, C2 của thằng Đức bị trúng giữa đội hình. Lính chết chung một hầm. Một hầm khác không trúng nhưng bị sức ép, đạn B40 nổ dưới hầm. Thật là họa vô đơn chí. Phải dùng hơn một B để tải thương, một B đào hầm… chôn tử sĩ. Còn lính đâu mà đánh giặc. Trời ơi, bom napalm nó cháy không có nước nào tưới tắt được.
Xác chiến sĩ đen thui “tay coi đồng hồ”. Có những chiến sĩ tay chân cong queo, mặt mày cháy đen, tóc tai trụi lủi, mà cặp mắt còn nháy lia, miệng mấp máy: “Thủ trưởng ơi! Xin bắn em một phát cho sướng cái thân!”
Hai dòng lệ lăn tròn. Mùi da thịt khét nghẹt.
Củ Chi có hơn 200 miles địa đạo và bác sĩ Tám Lê giải phẫu dưới hầm hiện ở đâu. Đụ mẹ thằng Duẩn, thằng Giáp nói láo. Chúng giết dân Nam Kỳ tươi tốt như thế đó. Dân Nam Kỳ hãy nhớ những hình ảnh này.
Có 200 miles địa đạo mà Củ Chi không liên lạc nhau được, phải chia thành hai quận Nam Chi, Bắc Chi, ngay cả xã cũng không còn nguyên.
Trung Lập đẻ ra Thượng và Hạ, An Nhơn nứt ra Đông và Tây, Phú Hòa Đông thêm Phú Hòa Tây. Hố Bò, An Phú, Phú Hòa, Bến Mương, Rừng Làng, Bàu Lách, Bàu Đúng xưa là tổ ấm của các hội ve chai chống Mỹ, là nệm êm của các cặp dũng sĩ nam nữ mùi mẫn, nay là bãi ỉa của lính Mỹ.
Mỗi lần vặn đài lên nghe: “Củ Chi đất thép thành đồng”, lính làu bàu chửi lại. Một hôm thằng Đồng Đen đá luôn cái radio bay lên ngọn cây. Lính dọa kỳ này gặp cô nhà báo Nhã Nam sẽ bắt trói, nấu chì đổ vô miệng cô ta. Đám lính khác đòi thọc ma trắc vô suối bà Cả… Bảy. Nhưng có đứa bảo cô ta lại… đực, có suối đâu mà thọc.
Tình hình đã bi đát lại càng bi đát thêm. Con ngựa chiến Thiên Lôi này chỉ được chủ ném cho vài cọng cỏ cháy mà cứ ủi chạy không ngừng. Một buổi sáng tôi nằm mê man vì đêm qua đào hầm quá mệt, thì thằng Thuận đập võng tôi:
- Anh Hai! Anh Hai. Dậy có khách.
- Khách nào? Kốt ta pít I hay II?
- Em không quen.
Tôi nghĩ thầm chắc là Ba Châm hoặc Năm Tiều mà trẻ nhỏ thường gọi là ông già Kốt ta pít là tên nhân vật bảo thủ trong phim Liên Xô.
Tôi uể oải ngồi dậy. Thằng Thuận giục:
- Anh cho ổng vô không? Cảnh vệ đang giữ ở ngoài.
Tôi gật. Một chập sau, quả thật nó dắt một ông già đầu trọc lóc lún phún xám tro vô tới. Tôi vọt xuống võng, chạy lại nắm tay:
- Anh Tám ! (Tám Hà chớ không phải Tám Quang).
- Thầy Hai khỏe chớ? Lâu nay không gặp nhau.
- Anh xuống đây chắc có chuyện gì quan trọng lắm.
- Cần tới chú mày đây!
(Tôi nghĩ bụng: Việc gì cũng được, xin chớ bắt con làm anh hùng giả, đọc diễn văn thiệt như năm trước. À, trà ông Sáu Di đâu còn mà khen tôi!)
Tám Hà mặc quần tiều, mình mẩy lấm mem. Tôi kêu trẻ xách nước cho ông rửa chân rửa mặt. Dù hèn gì cũng thể, dù bể cũng còn kêu cạch cạch, tôi kêu trẻ pha trà và chạy đi kiếm đồ nhậu. Anh Tám cười với cái miệng móm sọm và cặp mắt hom hem:
- Chú em được tôi đãi mấy mắt me chua trước khi lên đường ra bộ binh, bây giờ cứ lấy me chua mà đáp lễ, chớ làm to chuyện.
- Me cũng không còn, để tôi bảo chúng đi bắt con dọc về nấu với măng le.
- Chà ! Sắp Tết Mậu Thân nên chú đãi tôi thịt khi hả? Ăn thịt khi xui lấm đó chú em! (mà xui thật chớ chẳng đùa)
Uống trà được vài tuần, anh móc trong cái sắc vải lấm mem một tờ giấy xếp nhỏ :
- Còn đây, tưởng mất rồi chớ ! -Anh nheo nheo cặp mắt rồi lấy kiếng đeo lên cười hóm hỉnh- Thời buổi này cái gì cũng có thể đánh rơi được hết, kể cả bản thân mình chú em à!
Tôi mời anh điếu Capstan thứ hai. Anh xua tay, đùa:
- Xa xí phẩm! Hì hì... Để chút nữa tôi sẽ lấy nguyên bao bỏ túi về dọc đường. Thuốc này hút cho sang chớ không ăn nhập gì hết. Thuốc Cẩm Lệ xứ tôi kìa mới đã, kéo một hơi là tê cả mình.
Nói là xa xí phẩm là anh chế giễu tụi thượng cấp thôi, chớ anh cũng rút một điếu.
Tôi bật Zippo cho anh đốt. Anh vừa phì phà vừa bảo:
- Cậu đọc cái quyết định này rồi thi hành ngay.
Đọc xong, tôi kính cẩn:
- Thưa đồng chí phó phòng…
Anh xua tay:
- Lên chức rồi! Lên chức rồi, chú không hay sao? Tám Quang đi làm chánh ủy, tôi “bị” đôn lên làm trưởng thay cho y.
Anh Tám lại mỉa mai. Tám Quang hồi kháng chiến chống Pháp cấp dưới của anh, ra Bắc được đi Trung Quốc về nước thăng trung tá, trong lúc anh đã là trung tá từ lâu (1956), nhưng khi về Nam, Tám quang lại được phong trưởng phòng, anh là phó . Lúc nào anh cũng có giọng châm biếm rất tế nhị. Anh nói:
- Tôi đang làm sĩ quan liên lạc đó ông thầy pháo à !
- Ban chỉ huy D như vậy là chỉ còn có Hai Mạnh và Năm Triêm thôi sao anh? Hai Mạnh già yếu, còn Năm Triêm mới về còn đeo con ma sốt rét Trường Sơn.
- Cậu cứ lo cho thân cậu đi. Mấy vụ khác ở trên đã tính toán xong cả rồi. Ngoài Bắc đưa vô một lô úy, tá, có cả vầy… vầy nữa mà. Bộ Tư Lệnh Quân Khu đã được tăng cường. Phó tư lệnh có đến hai, ba ông mới. Tham mưu phó cũng bốn, năm. Phó phòng cũng sáu, bảy ông. Phó nhiều lắm. Toàn là thứ dữ học bên Tây bên Tàu mới về.
Bỗng anh hỏi bất ngờ:
- Sao chú không lập gia đình đi. Hừ! Chú giấu tôi hoài. Nữ dũng sĩ cáp với anh hùng pháo binh đẻ ra dũng sĩ anh hùng con phục vụ quân đội. Sao! Chừng nào tôi được uống “chung rượu đào” của chú?
- Chắc chưa đâu anh Tám à !
- Băm bốn, băm lăm rồi còn chưa thì chừng nào, không sợ cha già con muộn sao?
- Già rồi, còn sợ già gì nữa anh Tám. Lấy vợ thời buổi này…
Tôi thuật lại việc Tư Nhựt về nhà sau trận hạ đồn Thầy Mười… Anh Tám cười hắc hắc.
- Thì Mỹ chơi phản lực mình cũng phải chớp nhoáng chứ chú em!
Sau bữa nhậu đạm bạc, anh Tám bắt tay tôi từ giã. Anh bảo:
- Tình hình sắp tới vô cùng ác liệt. Anh em mình thử xem thời vận thế nào. Cậu đi sớm nhé!
Rồi chia tay. Tưởng đó là lần cuối cùng của hai anh em tôi.
Anh em nghe tôi được quyết định đi nhận nhiệm vụ khác thảy đều buồn. Chúng nó đến than thở, rầu rĩ, hứa hẹn, đủ thứ tình cảm buồn vui.
Thằng Đức, C trưởng, ôm tôi khóc ròng. Tôi cũng không cầm được nước mắt. Nó nói:
- Thầy đi thì Quyết Thắng sập tiệm luôn đó thầy ơi!
Quả thật trong Tết Mậu Thân, cả tiểu đoàn chết sạch, cả ban chỉ huy lẫn liên lạc cần vụ cận vệ quản lý nuôi quân.
Dù tôi còn ở lại cũng chẳng cứu nổi mà cũng chết luôn. Vì cái chiến thuật đui mù của tụi Hà Nội. Thằng Võ Nguyên Giáp may mà không vô đây, chớ nếu vô tì nó sẽ không còn manh giáp.
Từ pháo binh ra bộ binh, bây giờ lại trở về pháo binh. Sau ba năm dẫm nát đất Củ Chi “Anh Cả Đỏ”“Tia Chớp Nhiệt Đới” đã bủa lưới phóng lao cả trăm lần nhưng phóng hụt tên Thiên Lôi, đã cho Phượng Hoàng vồ cả ngàn lần nhưng tên Thiên Lôi vẫn còn sống sót.
Tên Thiên Lôi đã quất ngược lại thủng lưới Anh Cả Đỏ và đập con Phương Hoàng Nhiệt Đới quẹo cổ bao nhiêu lần từ Cây Trôm dài lên Suối Cụt, Suối Trâu, Trảng Dầu, từ quốc lộ 1 vào các ấp chiến lược Cây Trâm, Cây Bài, xe tăng cháy khắp Củ Chi. Ở Cây Trắc, Phú Hoà Đông, Lộ 6, Sa Nhỏ, Cỏ Ống, Ràng, Bàu Trâu, Rừng Làng, Trảng Cỏ máu tên Thiên Lôi đổ ở Tân Quy, ở Cây Trắc, Cây Trâm v.v… Khắp người Thiên Lôi đều mang “huân chương” của Bác Đảng, kể cả trong háng, trừ chỗ “quý nhất” của con người. Đôi lần chết hụt, một lần hết thở dưới địa….
Cả trăm địa danh có bom nổ, đạn cháy, dấu chân Thiên Lôi, Đôn Thuận, An Phú, Lách Bàu Đưng, Bình Mỹ, Thạnh Lộc, Trung An, An Phú Đông, cầu Bà Bắp sát thị xã. Từ Hậu Nghĩa sang Bình Dương, Tây Ninh đến biên giới Miên Việt… Từ B52, pháo 105, 155, 175, rốc-kết, cà nông 37, lựu đạn, mìn…thứ nào Thiên Lôi cũng có nếm qua ít nhiều hoặc đội chính diện.
Cây cỏ cháy khôn không còn cái lá, đất tun hút hố bom đìa, xóm làng bào láng, đi đứng toàn ban đêm, không còn địa hình địa vật, chỉ xem hương với sao trời.
Kể không hết gian lao chết chótc của đơn vị, của quê hương và của bản thân, nhưng tên Thiên Lôi này không màng “thành tích”. Một đêm vứt súng bỏ đi …(1970).
Xin trở lại thực địa tang tóc bi thương của Quân Khu IV trước thềm Mậu Thân 68. Tôi được đưa trở lại chỉ huy H6 kiêm luôn D89 của Quân Khu.
Tôi nhớ mãi lời động viên của anh Tám Hà:
- Cậu về đó (H6 và D89) bây giờ vui lắm. Nhưng nhớ đừng có “nhởn phố” Bến Chùa nghe. Tụi Mỹ nuôi cho mập rồi giết thịt đó chẳng phải nó đui đâu. Không khéo lại bị hốt một cú như ở chợ Long Hoa năm 64 đó.
Tôi thấy lính còn thưa quá thưa nên không đem thằng Thuận làm cận vệ nữa, chỉ lấy một AK hộ thân rồi một mình một ngựa đáo lai Củ Chi đất bùn. Tôi gặp Năm Tiều đốc chiến và ban bộ ở gần nhà Tư Thêu, má con Tiền. Bé Tiền bất ngờ gặp tôi kêu la bài hãi:”Má ơi! Cậu Hai về!”.
Tư Thêu ra cửa thẹn thùng. Năm Tiều bảo:
- Kìa, trông nó về! Nay nó về sao đứng đó không chạy ra hun nó một cái!
Tôi được đàn bà goá yêu cũng đông như con gái. Trời ơi! Vợ con đồng chí bất hạnh bỏ lại cho mình, thì làm sao mình từ chối?
Sau này, trước khi lao vào lò lửa Mậu Thân, Tư Nhựt cũng trối trăn giao vợ con lại cho tôi. Thảm não vô cùng.
Đêm đó Tư Thêu than thở với tôi:
- Anh qua bên đó, chắc em phải dắt con qua ấp chiến lược, chớ ở đây còn ai? Mẹ con em làm sao sống nổi (với bom đạn)?
Tôi lấy đi một ít quần áo, còn để lại mấy bộ, ý cho nàng hiểu rằng tôi còn trở về. Bụng tôi không đành để nàng đi, tuy rằng tôi chẳng dám hứa chắc điều gì, bởi vi không có cái gì chắc chắn trong cao điểm chiến tranh này.
Nước mắt, cái đó tôi đã quen nhìn, quen nếm rồi, nhưng lần này hơn cả lần mẹ con nàng Mười và bé Hoàn, mẹ con Tư Mai và bé Liên, tôi vô cùng bịn rịn, vì linh cảm ra đi là không có dịp trở về gặp mẹ con nàng nữa.
Nấn ná rồi cũng phải chia lìa.
Mất một đêm, hai cần vụ của Năm Tiều mới đưa tôi băng qua Rừng Tre, ra đường 15 ra Bùng Binh. Thời may gặp đuôi tôm của hậu cần. Nghe tiếng léo nhéo, tôi nhận ra Tư Thê, anh thiếu uý chăn bò, đến nay sau năm năm tải gạo cũng chưa lên được trung úy, mà có lên thì cũng chỉ huy cái đuôi tôm mà vẫn không xoá được danh hiệu thiếu úy chăn bò.
- Ê, cho thầy Hai đeo đuôi tôm được không? – Thằng Gàu cận vệ hỏi Tư Thê.
- Gạo bị cháy khét ngú, ăn không vô, lính chửi tắt bếp.
Nghe Tư Thê trả lời ăn trét, Gàu lại quát:
- Thầy Hai có công lệnh gấp, cho đi ké được không ông thiếu uý?
- Tụi nó bỏ bom napalm cháy cả kho.
Cả bọn cùng cười. Một anh lính trong ban vận tải giải thích:
- Ổng ăn bom đìa ở An Phú chết hụt nhưng bể màng nhĩ đó các ông ơi! Có đi thì nhào xuống đi, gấp cũng như huỡn thôi.
Hai cậu cận vệ dưa tôi sang sông và hỏi:
- Thầy biết chỗ Sáu Phấn ở không?
- Ở Đường Long chớ đâu. Tao rành hồi chín năm lận mà.
- Nhưng bây giờ B52 phá hết rừng, thầy không tìm ra đường đâu. Phải qua Bến Súc lên Phú Bình qua sông Thị Tính rồi lên Long Nguyên chưa qua suối Xuy Nô phải không? Tụi H7 (thông tin) mới ăn B52 trên đó. Củ Chi minh bây giờ Mỹ chê rồi nên nó qua bên này sông.
Thằng Gàu nói:
- Nhưng ông Sáu Phấn vừa dời tuốt lên Thanh Điền. Phải qua suối Xuy Nô, qua lộ 7. Đám ông Tám Lê bị B52 trong trận càn Manhattan đã vọt lên Bàu Nổ tới nay không biết có đi nữa không? Chú Năm dặn tôi đừng có dắt thầy đi ngã Bến Chùa mà thầy ghé lại là nguy lắm!
- Sao vậy? – Tôi hỏi chơi chứ dư biết tại sao.
Vì đi ngang đó tôi sẽ ghé vào quán nước đá ba con thỏ bạch Mai, Khánh, Ngọc và quán thịt nướng má con Rớt. B52 nó rắc mầm sống mới không biết giờ nào mà né.
Hai cậu đưa tôi đến hang cọp Năm Lê rồi trở về. Cái hang này còn mới toanh không được hoàn chỉnh như cái hầm nhà Ba Xây ở Trại Bà Huệ. Tới đây mà không gặp Tám Nghi để tâm sự thì thật buồn. Cô Hiền cũng bị moi hầm bắt chung với nó.
Năm Lê lên chức tư lệnh phó Quân Khu kiêm tham mưu trưởng nhưng cái mặt càng xanh lướt và càng dài ra. Tay chân nghều ngoào như tay vượn sở thú. Cái hầm của ông ta ở ắt phải sâu tới âm phủ và nắp phải cao tới ngọn cây.
Ông có vẻ không vui. Đãi cơm và rượu tôi, ông nói:
- Vừa ăn vừa làm việc. Bây giờ không có rảnh rang như hổi ở bển được. Mày về làm lại cái H6 và chỉ huy luôn cái D89 giùm tao chút. Tụi nó phá nát hết công lào của mày ở H6. Mày ra bộ binh, tao biết là thằng Năm Thủ về thay không được nhưng phải bắt mày đi. Bắt đi rồi trả về. Tao chỉ huy cũng chẳng ra thằng chỉ huy máu đẻ gì hết – ông thần giận dữ- Thằng Hai Giả không làm gì được trong ba năm trời nhưng còn khá hơn thằng Năm Thủ. Thôi bỏ chuyện đó đi, bây giờ tao cho mày biết là trung đoàn 15 của Anh Cả Đỏ đang xẻ Bến Cát như xẻ khô. Dọc hai bên Suối Cát nói ủi hai con đường rộng cỡ một cây số y như đường ủi dọc đường 9 sông Bến Hải vậy đó. Tụi liên lạc hoả tốc của mình bị cá rô rỉa lúc cắm đầu băng qua khoảng trống đó. Mười lăm phút thôi, nhưng là mười lăm phút cảm tử. Ban đêm trực thăng vừa soi trên mặt sông Sàigòn vừa soi trên hai con đường đó để kiểm soát những cuộc hành quân của mình từ Dầu Tiếng xuống. Xẻ ngang xong nó đang cắt dọc như vẽ bàn cờ theo kiểu Nhuận Đức bên Củ Chi. Nó bỏ Củ Chi vì bên đó nó coi như đã làm cỏ xong rồi, thỉnh thoảng có ngọn cỏ nào lú lên, nó phát qua là xong. Bây giờ nó sang bên này!
Anh thở dài:
- Ở trên đưa xuống một lô úy tá nhưng họ lớ quớ không quen chiến trường, chỉ tổ làm mồi cho B52 thôi. Đám này vô tới đây mới thấy chiến tranh không phải giơ cái lập trường ra mà chọi được. Nhiều cậu đã mất tinh thần ngay. Đấy như cái anh Mười Thứ cũng đi học Liên Xô về vô đây chỉ D1 bộ binh không xong, cho về làm quận đội trưởng càng nát bét. Mấy cậu bên Củ Chi vừa qua đây báo cáo, cậu ta về nhậm chức bèn gửi công văn triệu tập tất cả xã đội trưởng đến để y huấn thị như kiểu chánh quy. Cả tháng sau không có ma nào tới cả. Tới sao được với tình hình này. Cậu ta nổi xung gửi công văn thúc giục rồi quở trách nhưng chẳng ông xã nào tới . Liên lạc cho cậu ta biết là đường giao thông giữa các xã, và giữa các xã với quận đã bị chặt đứt hết. Cậu ta đổ quạu:”Sao không ‘nuồn’ dưới tầng ba địa đạo xuyên qua đít Đồng Dù?” (tôi bịt miệng quay ra cười). Cậu thấy tai hại chưa? Chính Trung Ương cũng hiểu như anh Mười Thứ hiểu (và toàn thể thế giới cũng như vậy), chớ đâu biết rằng địa đạo chỉlà một thứ bịa đặt. Còn địa đạo thiệt thì bỏ ngập nước, sụp lỡ từ bốn, năm năm nay rồi. Cậu đã từng hiểu địa đạo trong vườn nhà ông Hai Lễ và Năm Giáo ở Bến Mương một lần rồi và chính ông Tư Lệnh cũng đã nếm mùi địa rồi phải không? Nếu cậu cứu trễ vài tiếng đồng hồ thì ổng sẽ ra sao?
Có lẽ cảm thấy đi hơi xa đề, nhưng Năm Lê vẫn nói tiếp:
- Cả ban chỉ huy pháo binh (H6) vừa rồi lãnh nguyên trái bom đìa ở An Phú là vì không chịu di dân qua sông. Mày thấy địa đạo hầm hố đào sâu mấy thươcmà bám trụ? Là cán bộ quân sự không lẽ tụi nó không chịu hiểu bom đìa khoan chín thước, bom 250 bốn thước? Đánh địch phải hiểu thằng địch nó có nanh, có càng ra sao, chớ không phải giơ cái lập trường cải cách ruộng đất ra mà được. Anh B (tư lệnh) bảo hiện giờ chỉ có mày là xây dựng lại được H6 để ứng dụng cho chiến trường sắp tới thôi. Pháo binh sẽ đóng một vai trò quyết định. Mày có xem phim “Đánh chiếm Bá Linh” của Liên Xô chắc mày thấy vai trò của pháo binh Liên Xô?
- Dạ , em hiểu.
- Nay R cho thêm hai CH12 tức là hoả tiễn dàn mướp của Nga, Sáu Phấn không sử dụng được. Thằng Đặng Quanh Long (tức Tám Quang) ít có khen vậy mà nó khen mày. Tao biết D1 mến phục mày và mày cũng thích ở đo, nhưng tình hình này trong hàng cán bộ huấn luyện tác chiến không có ai bằng may. Thôi, nói vậy là mày rõ rồi. Lo về chỉnh đốn lại cái H6 và D89.
Tôi nói vài câu quyết tâm rồi rút lui. Ra ngoài gặp đám bầu của ông tham mưu trưởng, trong đó có Sáu Thân cấp thượng úy tới thay điếu đóm cho Tám Nghi. Sáu Thân mặt vàng lườm, bụng bin rỉn như chói nước.
Y kêu vài ba cậu lại giới thiệu:
- Đây là thằng Hai Lôi. Tôi biết nó hồi 53. Lúc đó nó mới ra trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn, về tiểu đoàn 307 của tôi – Sáu Thân hỏi tôi- Còn cây cạc-bin của con trai Bảy Viễn tặng cho cậu đâu rồi?
- Ra Bắc người ta tịch thâu.
- Nhớ lại hồi 52, trận đánh Hoà Hảo mình chết như rạ, mà nó cũng trắng đồng, ghê quá. Nhưng so với bây giờ là… chẳng nghĩa lý gì!
- Sao anh bịnh mà không nghỉ trị bịnh lại về đây, anh Sáu?
- Về đây dưỡng bịnh đó chú em. Chứ ở trên đó bịnh gì cũng có một thứ thuốc thôi.
- Rễ bồ hòn hả?
- Không, vitamin “B” ! há há …!
- “B12″ gửi mua thiếu gì. Để tôi tìm mối mua cho anh.
- Không, B52 khỏi phải mua!
Một cậu liên lạc bảo tôi:
- Chú Năm (Lê) bảo anh vô chú dặn gì thêm.
Tôi trởi lại, Năm Lê đưa cho tôi cái bản đồ Sàigòng tỷ lệ 1/2500, dặn ba điều bốn chuyện và bảo:
- Mày không được nói với ai một câu nghe chưa! Tuyệt đối, tuyệt đối và tuyệt đối.
- Dạ.
Tôi xếp nhỏ tấm bản đồ lại nhét vào xắc-cốt rồi quay ra.
 
 
Chương 83
Lại bị đưa trở về Củ Chi chuẩn bị bàn đạp vọt vào lò bát quái Mậu Thân 68
Tôi về H6, anh em sống sót đều ôm tôi khóc ròng. Nhất là Sáu Phấn, anh không nói ra lời. Còn tôi, tôi tưởng anh đã già hàng trăm tuổi. Mới xa nhau một năm mà đầu anh bạc ráo trơn, má cóp, mắt trũng sâu như hai hố bom đìa.
Một anh nào nói:
- Anh Sáu bữa nay ra khỏi hầm là mặt trời sắp bể hai rồi đó anh à .
-Sao vậy?
- Ảnh không có lên. Cần gì ảnh gọi liên lạc hoặc tụi tôi tới báo cáo xin chỉ thị.
Tôi biết sáu Phấn là người mộc mạc, chân chất, nhưng không có khả năng tác chiến hoặc lãnh đạo một tiểu đoàn. Ở trên giao thì anh không dám từ chối. Anh thích ở nhà làm việc lặt vặt hơn tới cơ quan H6.
Từ ngày Mỹ lùa cả heo lên trực thăng Chinook anh càng thất thần. Xa vợ con anh càng như mất hồn.
- Anh có được tin gì chị Sáu và cháu bé không anh Sáu?
- Bặt luôn từ ngày tôi qua sông.
- Chú Tám (Cần) có gặp anh không?
- Ổng cũng đi đâu mất luôn. Chắc ra ấp chiến lược chớ gì! – Biết tôi hỏi lòng vòng để dò xem tin tức mẹ con bé Hoàn, anh nói luôn- Cả dì Mười nó tôi cũng không gặp mà cũng không có chút tin tức gì.
Có lẽ anh biết mà giấu tôi đó thôi, nên tôi cũng vờ như không biết, chứ thực ra trong lúc hội bàn đào trước khi xuất phát đánh Tân Quy, người ta đã cho tôi biết cô nàng đã lấy sĩ quan Sài Gòn.
Và Năm Tiều đã khuyên tôi: “Đừng vì con nhỏ đó mà liều mạng!”
Sáu Phấn lôi tay tôi về hầm. Hầm của anh là một cái núi con. Tôi có cảm tưởng là anh đã đào một ngàn thước khối đất để móc cái lòng và đắp nấp hầm này. Nhưng trớ trêu thay, Sáu Phấn không chết vì bom đạn mà vì những quả lựu đạn con con sau này.
Sáu Phấn lụm cụm một hồi mới lôi ra hai ba món gói rất kỹ. Một chai đế, hai cái ly cối và một gói vuông vuông ràng rịt rất kỹ.
- Đây là chai rượu gốc và cặp ly ở nhà, vợ tôi bảo tôi mang theo trước khi bả từ giã đi xuống Phú Hòa Đông. Bả dặn chừng nào gặp thầy Hai mới được uống. Trời, vợ tôi nó cũng mến thầy và mong thầy trở thành tía con Hoàn cho bả vui, nhưng mãi tới nay, đôi chim con Bắc con Nam, biết bao giờ gặp lại. Bụng tôi cũng muốn thầy ừ một tiếng để dì Mười nó có nơi nương tựa.
Sáu Phấn nghẹn ngang, mà tôi cũng rưng rưng. Quả thật có lúc tôi cũng muốn bước tới cho xong, để lang bang mãi khó lòng qua! Mười không có văn hóa cao nhưng làm vợ thì chắc là vẹn toàn.
Tôi nói như bao nhiêu lần tôi nói với các cô bạn:
- Tình hình này có vợ con vướng bận quá anh Sáu à ! Để dứt chiến tranh đã.
- Cái cuộc chiến tranh này kéo dài còn hơn chín năm nữa đó thầy Hai.
Sáu Phấn vừa nói vừa mở cái gói ra. Bên trong là những chú tôm khô đỏ au, bóc vỏ thật sạch.
- Tôi cất đã…lâu lắm. Có đến cả năm cũng nên. Dầu cực ăn mấy cũng không ăn.
- Để lâu vậy nó mốc hết anh Sáu.
- Lâu lâu tôi đem ra phơi rồi gói lại.
Hai anh em ngồi nhâm nhi tôm khô rượu đế.
- Đế Sa Nhỏ sao sánh kịp, thầy Hai ! Cái này là của vợtôi kháp lấy. Thầy đi mệt, uống cho đã đi rồi ngủ. Lạy trời đêm nay đừng có B52 để hai đứa mình ngủ chung và tâm sự và bàn công tác.
Tôi nghe lạnh lẽo quá chừng. Dù uống nửa chai lít mà cũng không đánh tan được cái khí âm bao chặt lấy hai đứa.
- Tụi nó chết hết rồi, chỉ còn có mình tôi thôi thầy ạ . Trời, bốn đứa: Năm Thủ, Sáu Uya, Ba Tố, Ba Dứa lãnh một trái bom đìa, không lượm được một miếng da. Kỳ đó họ phân công tôi ở nhà, xong công tác về sẽ múa ve chai một bữa. Dè đâu có đi mà không có về ! Mồ mả cũng không biết đâu. Nhưng phải vậy thôi đâu, để mai tôi dắt thầy ra thăm mả thằng Tôn Sứt và hai cậu cận vệ của nó. Ba thầy trò nằm bên nhau, chết như một tổ tam chế. Thầy coi đó, thầy vắng có một năm mà trở về trống bao nhiêu chỗ (còn tôi, chết hụt bao nhiêu lần?). Thầy đi có vài bữa thì hai vợ chồng Ba Tâm và con Thu (cứu tôi dưới hầm) lãnh một trái 155 của Đồng Dù. Năm Dị chết và thằng Đỏ cụt hai giò. Tôi tội nghiệp nên cho nó đi R chữa bệnh (tôi không buồn hỏi cụt hai giò bằng cách nào). Khi qua đây, Tư Kỹ- C phó trinh sát, với thằng Tâm, thằng Lan qua trắc pháo đi nghiên cứu Dầu Tiếng bị phục kích chết mất xác ở Làng 8. Thằng Đức – B phó trinh sát, mất tinh thần xin về hậu cần. B trinh sát nay chỉ còn bốn đứa. Tụi Mỹ đánh rát quá tôi phải vọt qua sông. Cả D8 cùng đi theo. H6 chia làm hai bộ phận: ông Năm Thủ ở bên Củ Chi, thằng Tôn (Sứt) ở bên Bến Cát, nhưng rốt cuộc cũng chết hết. Mười mạng đi dứt trong mấy tuần lễ. Bên này thằng Tôn và Năm Đùng nhờ quận đội Bến Cát cho đất từ Rạch Bắp lên Bưng Còng nên còn ngoi ngóp thở được. Cuộc càn sơ sơ của tụi Mỹ vừa rồi lại giết luôn thằng Tôn và hai cận vệ. Rồi thằng Tám Mau phó chính trị viên D, một chị nuôi và hai thằng liên lạc bị một trái pháo mồ côi của Lai Khê bắn qua. Cả cái H6 bây giờ chỉ còn tôi và Năm Đùng. Còn D8, thằng Mười và Tư Cư làm sao gánh nổi?
Sáu Phấn nói một hơi như tụng kinh sám hối không dứt đuôi. Nghe Sáu Phấn “báo công một năm thành tích của H6″ mà tôi bủn rủng cả tay chân. Nhìn cái mặt gầy trờ xương và dài sọc của hắn tôi càng tê tái tâm can. Tôi được Năm L6e xách cổ ném về đây là để củng cố lại H6, nhưng chính cái gốc cây đã tróc thì làm sao vun xới cho nó lên xanh? Muốn đứng vững phải có đất chắc dướ chân. Ở đây đã mất đất, mất người và người còn lại (như Sáu Phấn) thì mất tinh thần, thì tôi làm gì được? Tôi bảo Sáu Phấn:
- Bây giờ anh đang làm gì?
- Ngày nào cũng chỉ đôn đốc đào hầm để trốn B52 chớ còn làm gì nữa thầy?
Tôi nghĩ: B52 bây giờ là một cái dịch. Nó bỏ không sót chỗ nào. Trước kia còn có cái lệ buổi sáng chống B52, trưa chống pháo , còn bây giờ không có lệ gì nữa. B52 bỏ cả lúc nửa đêm.
Tôi ngồi uống rượu với Sáu Phấn mà bụng rối như tơ vò, nhưng bên ngoài cố làm tỉnh như kiểu Khổng Minh toạ lầu. Tôi nói theo công thức Sáu Di để an ủi bạn:
- Ở trên đã có kế hoạch đánh lớn. Anh đừng lo!
Rồi tôi hỏi thăm vợ con anh. Sáu Phấn lắc đầu:
- Thầy với dì Mười nó thì không biết còn gặp lại không, chớ vợ tôi thì kể như hết mong rồi!
(Mà thật! đó là lời trối của Sáu Phấn, viên đại úy 42 tuổi mới có con oe oe)
Đang nói chuyện liên miên, bỗng có tiếng oang oang từ trên trời vọng xuống, từng tiếng nghe rõ như radio:
“Nghe đây! Nghe đây! Tôi là Võ Văn Phán, cấp bậc thiếu tá, nguyên là trung đoàn phó tập kết trong sư đoàn 338 của thiếu tướng Tô Ký ở Xuân Mai, về Nam năm 1964, nhận lãnh chức vụ tham mưu phó Quân Khu I…”
Gió tạt nghe không rõ, một lúc máy bay mới quay trở lại, tiếng loa lại tiếp:
“Hỡi.. anh em giải phóng hãy trở về với chính nghĩa Quốc Gia!”
Tôi thấy mặt mày Sáu Phấn tái ngắt. Anh lắp bắp:
- Bỏ mạng rồi thầy Hai ơi!
- Cũng thường thôi anh Sáu. Cái mửng này tụi nó cứ chơi hoài ở ngoài Trường Sơn chứ phải mới đây sao?
- Nhưng mà thằng Bắc Kỳ này có tới đây. Nó làm tham mưu trưởng mà ! Phải dời đi mau mau không thì B52 tới ngay. Loa dứt là bom tới đó.
. Nếu nó tới thì mình đi cũng không kịp.
- Thầy có nên nó ở ngoài Bắc không?
- Có chớ. Mặt nó đen sì, môi thâm. Kên lập trường dữ lắm Mẹ kiếp lập trường bây giờ hành lập bò . Hôm trước tôi nghe nó bị trực thăng chụp ở Cầu Xe, tôi có đánh dấu hỏi. Tại sao chụp ngay chóc hầm nó và không có bắn dọn bãi? Đó là con vợ nó báo cho lính tới thôi.
Sau này cũng có một vụ khu hầm tương tự. Đó là trường hợp Hùynh Minh Đạo, tham mưu trưởng kiêm quận đội phó Củ Chi. Lính đổ ngoài đồng rồi đi thẳng vô ngay nắp hầm cạy lên trúng phóc, móc anh chàng lên mặt mũi thật sạch sẽ.
Nghe dứt lời của loa, Sáu Phấn hỏi tôi:
- Bây giờ tính sao thầy Hai?
- Chạy không kịp đâu anh Sáu. Rủi nửa chừng mà B52 tới hoặc pháo giã mình không có công sự, cứ lêu bêu trên mặt đất thì càng nguy. Chi bằng bám trụ ở đây. Rủi ro thì “cò ỉa miệng chai” ai nấy lãnh. Tử sanh hữu mạng thôi chớ biết làm sao bây giờ anh Sáu!
Thấy tôi có vẻ tỉnh táo, Sáu Phấn cũng bớt hoảng hốt. Sự thực ra tôi đâu có gan gì đến nỗi nhưng bên ngoài cứ làm tỉnh. Mình là chỉ huy mà tỏ ra rối ren thì cả đơn vị mất tinh thần.
Tiếng loa tạt đi xa dần rồi biến mất. Tôi bảo Sáu Phấn gọi hai cậu cận vệ tới chia bài đánh tu-lơ-khơ để bớt lo lắng. Thấy mấy cậu bé tôi càng nhớ thằng Đỏ. Tội nghiệp một trái pháo ban mai giết hai vợ chồng cô Thu và tiện mất hai chân cậu bé. Trong các cậu cận vệ, nó thương tôi nhất.
Tôi đã có ý chờ con Thanh, con Nữ, con của vợ Sáu Phấn và chị Chín Kiểu lớn lên sẽ cưới một đứa cho nó. Nhưng bây giờ tật nguyền như vậy ai mà ưng. Cũng như Năm Hoa bị Tám Mang ngó lơ vì mất cặp chân.
Ván tu lơ khá giả tạo không có tinh thần, nhưng cũng trấn tĩnh phần nào được bốn thầy trò. Rồi tới khuya, lăn ra ngủ quên mất pháo và B52.
Nhưng tới sáng thì trực thăng đáp tới ầm ì. Sau này người ta còn đồn rằng có hai anh lính của K30 tức hậu cần Quân Khu bất mãn vì cấp trên bắt vác gạo, chạy đuôi tôm qua sông Sài Gòn và đánh xe bò liên tục ba năm, chết hụt không biết bao nhiêu lần mà không được lên chức nên “mần một cú” cho bõ ghét.
Nhưng phần lớn dư luận cho rằng chính Bảy Phán là nhân vật chính của tấn thảm kịch này. Bảy Phán mới biết rõ cơ sở kho tàng và hầm bí mật cùng nhân viên, xã đội trong vùng Bến Chùa.
Trận này lính Dầu Tiếng phối hợp quân Mỹ đánh cú rất độc địa. Nhà nào có hầm cũng bị sục sạo không sót một gốc cột. Nhiều cán bộ thuộc K1O, K20, K30 tông nắp hầm chạy ra bìa rừng bị trực thăng bắn chết hết. Xác đếm được đến cả trăm, nằm lển nghển ngoài bìa rừng, sình thúi năm sáu ngày sau không hết. Lần đó quận đội phó Sáu Hòa, cô nàng xinh đẹp nổi tiếng vùng Bến Cát, cũng bị thương, nghe đồn là chết ngoài bìa rừng. Đau đớn thay cho… ông Thiên Lôi!
Đó là mặt trên bờ. Còn dưới sông thì có giang thuyền Bình Dương, rải dài từ Bến Chùa tới Thanh An, một đoạn đường dài ba cây số, như đăng chận cá. Ngoài ra, Mỹ còn đổ quân trên đường 14 từ Thanh An đến suối Gò Gấu, xa xa có cụm canh chừng, ai ló ra đều bị chúng vớt hết. Trong lúc đổ thì trực thăng đổ quân giữa rún cho lính lục soát từng nhà, bù-nốc rà sát ven rừng tỉa từng phát.
Các kho gạo, kho thuốc men bị khui và thiêu hủy. Hại thay lại là thời điểm quan trọng. Các nguồn dự trữ này là để phục vụ cho Tết Mậu Thân.
H6 ở ngoài vòng nhưng cũng có thiệt hại vì một số nhân viên đi dạo phố Bến Chùa để rửa mất, bị kẹt trong vòng vây mất năm, sáu chú.
Sáu Phấn lo âu bạc hết cả đầu là phải. Sau khi các thứ quân rút, B52 tới. Vui vẻ như thế nào, dù các bạn không nếm mùi cũng tưởng tượng ra. Những trái bom nổ chụp xuống đầu với độ là những miếng bom “giao” với nhau thành một tấm lưới mênh mông chụp xuống mặt đất rộng vài cây số vuông, và mỗi lần chụp cách nhau chừng 30 giây hoặc không cách nhau giây nào.
Một con dế nằm trong lưới này không trúng miếng cũng tức thở mà chết nữa là người. Mà dù có sống sót thì cũng điếc Nhiều anh chàng đã phát điên vì đứt thần kinh hệ.
Tôi ở với Sáu Phấn độ ba tháng. Việc đầu tiên là tôi cho xây ba căn cứ khác nhau, mỗi căn cứ cách nhau từ một đến hai ngày đường. B52 chỉ bay mất năm phút. Hễ có tin B52 là chuồn sang căn cứ mới. Có cơ quan (không nhớ là K nào) cũng được tin Liên Xô cho, hộc tốc chạy. Không hiểu tin vịt hay mật mã sai “cốt” mà vừa đến nơi lại lãnh B52 nguyên gói. Có đám què quặt lê lết ở sau lại không sứt miếng da! Thiệt buồn cười ra… nước đái!
Một hôm trong một bữa nhậu đế tôm khô, Sáu Phấn tâm sự với tôi:
- Thầy biết tại sao thầy lại trở về đây không?
- Tại nhu cầu cách mạng!
- Không phải đâu! Tại thăng Phấn này.
Tôi trố mắt nhìn anh. Anh tiếp:
- Tôi đã làm đơn gởi cho ông Năm Lê. Tôi đã nói thẳng nếu ở trên không trả thầy về H6 tôi sẽ từ chức.
- Giỡn hoài anh!
- Tôi nói láo cho pháo ăn tôi. Thầy có muốn coi bản lưu không? Ký tên Sáu Phấn chính trị viên D rõ ràng!
Rồi bỗng anh nghẹn ngào:
- Nếu tôi có bề gì thì thầy săn sóc giùm vợ con tôi. Con bé mới một tuổi rưỡi.
Tôi kêu lên:
- Có việc gì mà anh trối trăn như vậy, anh Sáu?
- Tôi linh tính là lần xa vợ con này tôi không còn gặp lại nữa!
Trước đây mấy hôm tôi bảo mấy cậu trinh sát tìm mua cho tôi ba con gà để tôi cúng mộ ba thầy trò Tôn Sứt, một việc làm nhân nghĩa và đúng tục lệ ông bà, như tôi đã làm đối với Huỳnh Thành Đồng ở Trung An khi xuống đánh đồn Thầy Mười.
Tôn Sứt, Bùi Khanh, thằng Sâm ở trên R có biết bao kỷ niệm với tôi. Nó đánh trận Bổ Túc bị thương sứt tí mô , nên thành danh Tôn Sứt. Nhưng các cô vẫn yêu cái chỗ sứt duyên của nó. Nhưng chưa kịp cưới nhau thì đã mạng vong bỏ vợ góa lại trần gian.
Mặc dù có ý định cúng tế như vậy nhưng thấy Sáu Phấn bi quan quá mức, tôi không dám bày ra nữa. Sợ làm cho anh rầu, sụp luôn không ngóc dậy nổi, nên dẹp bỏ ý định đó.
Tôi thấy lúc nào anh cũng đăm chiêu hoặc thở dài sườn sượt. Tôi có cảm giác anh là con rùa không dám ló đầu ra khỏi vỏ. Tôi bảo:
- Để tôi đến ở với anh cho vui và dễ bàn tính công việc.
Anh mừng rỡ chấp nhận ngay:
- Lâu nay tôi cũng muốn đề nghị với thầy như vậy mà không dám nói ra.
Nhưng tôi chỉ ở với anh một thời gian ngắn. Trong thời gian này tôi ra lệnh cho mỗi chiến sĩ đào hố cá nhân hình chữ L mỗi cạnh năm thước, sâu một thước rưỡi. Bảo đảm sống trước đã rồi sau đó mới chiến đấu. Ngoài ra tôi còn chỉnh đốn kiện toàn lại ban chỉ huy D và các ban chỉ huy C, B, A và các trợ lý bảo vệ, tham mưu, hậu cần, và phỏng theo kiểu tổ chức của 307 hồi xưa mà tôi học được hồi còn .
Một hôm lại có lệnh khẩn gọi tôi đến gặp Năm Lê. Đi ngay không có thì giờ chuẩn bị. ở đó mà rù rờ, B52 từ Guam tới mất 28 phút, từ Utapao mất có 15 phút. Chậm chân sao kịp? Gặp tôi, Năm Lê nói ngay trong tiếng cười hề hề :
- Tao đâm ra sợ mày đó Lôi.
- Sao vậy anh Năm?
- Mày như con ngựa bà chạy khấp. Bây giờ tao nói ngay nhé. Các bà già trầu và mấy lão guốc vông áo bà ba lại đòi trả mày về Củ Chi cho mấy ông bả nghỉ ngơi ăn trầu xỉa thuốc.
- Đơn vị nào anh Năm?
- Quận đội.
- Trời đất?
- Vì mày rành đất Củ Chi và nhân dân các xã. Chớ để ông Bắc Kỳ Thứ thì hỏng cả. Ổng kêu mấy chục xã đội trưởng lên trình diện, chẳng thằng nào léo tới làm ổng nổi cáu. Mẹ kiếp, chỉ huy du kích, xã đội còn khó hơn chỉ huy một binh đoàn. Muốn triệu tập một ban chỉ huy xã đội phải bò dưới gầm giương nó coi nó đéo vợ nó mấy cái đêm đó. Nếu nó làm tới hai ván liền thì đừng hòng nó đi họp vì nó lỏng đầu gối, nhưng nó đổ thừa là nó bận việc nọ việc kia toàn là việc đảng không hè. Còn nằm trong hang mà đánh công văn triệu tập thì tới năm Tý năm Dần nó mới tới cho. Lôi à ! Mày đừng có phiền anh Năm mày nhé ! Không phải ý kiến của tao điều động mày, mà là mấy bà già trầu ngoáy và mấy lão xỉa thuốc ông Tề kia, nhưng kể ra họ cũng sâu sắc lắm. Họ biết hiện giờ chỉ có mày mới khiển nổi đám dũng sĩ Năm Cội, Bảy Mô, Bảy Nê và giúp luôn cả cái Q16 bết bát nữa. Như tao đã nói với mày lần trước là hiện giờ ở trên đang sửa soạn… vậy đó. Và Củ Chi sẽ là bàn đạp cực kỳ quan trọng, Nếu không có Củ Chi vững mạnh thì không nhảy vọt được. Nếu thằng Tám Giò chưa chết thì tao cũng đề nghị khu ủy thay thế nó. Chứ chiến trường mới nó không kham. Cứ lọ mọ với ba cái hầm và bom lép thì Mỹ nó ăn gỏi hết.
Tôi còn nói được gì? Năm Lê tiếp:
- Mày không phải trở lại H6. Cần gì tao cấp cho đủ hết, rồi thằng Nông và thằng Quyết đưa mày đến anh Ba (Xu) ngay. Ảnh cũng cần gặp mày để chỉ thị cho việc gì đó. Chỉ có hai cậu này mới được dẫn khách vào căn cứ của ảnh mà thôi. Và khách phải do tao chấp thuận. Thôi, vậy đi, không còn nhiều thì giờ nữa.
Thế là tôi đi theo hai cậu liên lạc đi đến căn cứ ông Tư Lệnh.
Chắc ổng đã rời khỏi cái nơi êm ấm của dì Ba rồi từ sau lúc Hai Phán leo lên trực thăng.
Tội nghiệp các nàng thỏ bạch của tên Thiên Lôi. Tay ngọc chân ngà môi son má phấn giờ này không biết còn ở đó hay là trôi dạt nơi nào. Ra rừng làm sao mà kham nổi?
Đã hai lần gặp Năm Lê. lần nào tôi cũng định hỏi về cái tai nạn của ông Sáu Di, những lần nào sắp hé môi rồi cũng ngưng. Có hỏi ông cũng không nói thật mà lại quở mình là đằng khác.
Nhưng thời may trên đường đi gặp Hai Ninh ở H6, anh này là một trong các nhân vật rõ cái tai nạn trên kia.
Tôi bèn mời anh ta điếu Capstan và lôi tay ngồi lại trên một thân cây bị xe tăng ủi lật.
- Sao coi bộ không vui vậy bồ nhà?
- Vui mẹ gì được. Mới đội một phát lát da đầu coi đây !
Hai Ninh mọp xuống vò vò đầu.
- Ê, vụ đó có thật không ta?
Tuy tôi không nói “vụ đó” là vụ gì nhưng Hai Ninh cũng hiểu là vụ gì. Hai Ninh ngó dáo dác. Thấy hai cậu liên lạc đứng xa xa bèn rỉ tai tôi:
- Thật 100% rồi chớ còn gì nữa.
- Tôi không tin chút nào.
- Tao đích thân gói uy lông.
- Rồi làm sao đưa về Hà Nội?
- Tao chỉ chịu trách nhiệm đưa về tới Minốt thôi, còn từ đó ra Hà Nội ai biết được.
Tôi thầm nghĩ: mấy ông nội Miên đỏ dám chê thúi vứt bờ vứt bụi lắm!
Hai Ninh đứng dậy bắt tay tôi và dặn:
- Đừng có nói tùm lum nghe cha nội. Đứt đầu rán chịu lấy.
- Ai mà nói ra làm gì để đứt cái đầu… Nhưng đầu nào?
Hai Ninh cười nhưng không dám cười bình thường, chỉ một nửa, như cửa vừa hé bỗng khép lại. Bây giờ tôi mới để ý thấy cái miệng của hắn hơi méo méo, bèn hỏi:
- Ê cái miệng của cha sao vậy? l
- có sao đâu?
- Bộ cha không có rọi kiếng sao?
- Chạy đứng lại không được mà ở đó rọi kiếng.
- Góc mép trái hơi lệch đó nghe cha. Có cần điều chỉnh thì tôi lấy thước lô-ga-rít của pháo binh tôi sửa lại cho đúng hướng đúng tầm, chớ để vầy phóng trật mục tiêu hại thường dân lắm !
- Giỡn hoài nhà pháo, thôi để tôi đi.’ -Nói xong hắn quay đi.
Nhưng tôi níu lại thầm thì:
- Ê cái vụ “nhánh cây” có thiệt không tía nó?
- Nhánh cây gì? -Hai Ninh gắt.
- Lịch sử Việt Nam sẽ ghi cái nhánh cây đó, mà ông là một trong mấy người chứng kiến! Ngồi xuống nghỉ chân chút nữa đi. Tôi có đế và tép khô nề, bẻ nhánh lá giang chua làm đỡ vài hớp cho nóng máy. Bây giờ còn sớm, ông qua suối Xây Nô cá rô nó rỉa tiêu trên như Chín Mành đó.
Nghe tôi “dọa” Hai Ninh cũng lưỡng lự. Tôi bèn lôi tay hắn rề lại gốc cây bật rễ có cái lỗ tun hút.
- Có gì thì hai anh em mình chui xuống đây cũng đủ mà ! -Vừa nói tôi vừa móc tép khô ra đưa cho hắn ba con.
- Ở đâu có thứ ngon này?
- Ở đâu có thì thôi.
- Mày đi đâu cũng no như cưỡng. Em út bu đen phủi không hết. Vụ con gái ông Ba mày định ngâm tới chừng
- Tôi có định gì đâu?
- Người ta đồn rùm, nói mày sẽ cưới con nhỏ giữa.
- Không có đâu cha nội. Chỗ quan quyền người ta sang trọng, mình là bần cố nông vô đâu xứng.
- Mày là “bần cố nội” tao chớ bần cố nông! Bần cố người ta lên chức rần rần sao bần cố nội mày đứng chựng ở đó?
- Thôi đi ông.. . Nè , làm hết bình toong này mới đi nghe.
- Làm hết nhiêu đó có lết chớ đi sao nổi.
- Có ba cái đế vô rồi, B55 cũng không ngán nữa là B52, B53.
Hai Ninh không có chân trong hội ve chai chống Mỹ của tụi tôi nên mới làm sơ sơ mặt đã đỏ ké ! Tôi một ngụm, hắn một ngụm chớ đâu có ly tách gì. Mỗi lần cầm chiếc bình toong, hắn sục sạc coi còn bao nhiêu rượu, rồi lắc đầu hai ba cái mới uống, uống xong nhăn mặt quẹt miệng lia.
- Mày chơi ác quá !
- Hừ, uống rượu mà làm như uống thuốc Bắc vậy cha nội. Đây là vũ khí chống B52 kết quả nhanh nhất. ê… Trận đó đất đã “gung ghinh” tới ông chưa?
Hai Ninh nhìn tôi mắt đỏ ké, ngẫm nghĩ một hồi mới nói:
- Thằng Mỹ nó đui, chớ nếu nó rắc tới chút nữa là cái hầm của Tư Cường tiêu hết. …
- Tư Cường nào? -Tôi biết mà còn làm bộ hỏi.
- Tư Cường công binh. Chính ổng chỉ huy làm cái hầm đó .
- Vậy à? Để làm gì mà… dữ vậy?
- Hừ, mày cứ dụ khi tao làm bộ hỏi bí mật hoài.
- Tôi làm bộ chớ tôi biết hết trơn rồi cha ơi. Chưa chắc cha biết rõ băng tôi. .
Hai Ninh trợn mắt:
- Mày biết cái con củ cặc họ! Tao ở ngay đó mà biết thua mày à?
- Ông biết thằng bí thư của “ổng” là ai không?”
- Là ai?
- Nó là bạn tôi, đậu phó tiến sĩ bên Liên Xô mới về.
- Mày nói nó là thằng Ba T… chớ gì?
- Còn ai vô đó.
- Trật lất. Xuống đây ông có “bí” mới rồi.
- Không có bí mới nào hết. Cũng thằng T… đó thôi. Ông cần biết thì tôi nói rõ tên cúng cơm và lý lịch của nó cho ông nghe. Xuống đây nó có gặp tôi nhậu một đêm nữa mà ! -Tôi tháu cáy hắn một hơi luôn.
Hắn đành chịu thua:
- Nếu vậy thì chắc tôi lầm. Vì trong đám tùy tùng có đến năm bảy đứa cả Nam lẫn Bắc, tôi không biết đứa nào.
Tôi thắng thế bồi thêm:
- Thằng nào trắng trẻo mặt tròn, đẹp giai giống như ông cụ Mao là bí thư của ổng đó. Nó là thành phần địa chủ, nhưng đầu hàng bần cố nông sau Cải Cách Ruộng Đất nên được ổng cho đi gần để ổng truyền lập trường cho sau này có thể làm chánh ủy một Quân Khu như ông Trần Độ vậy. Tướng Trần Độ ngày xưa cũng chỉ là kẻ xách dép cho đồng chí Trường Chinh thôi. Nhưng khi về Hà Nội, ổng làm tới chánh ủy đại đoàn 308 và sau 1955, làm tư lệnh kiêm chánh ủy Liên Khu 3. Hễ gần mặt trời thì sáng láng, ông ơi!
Thấy tôi nói thông suốt, Hai Ninh lơ mơ nói:
- Chắc vậy tôi hiểu lầm.
Tôi thừa thắng đẩy tiếp:
- Đi bên cạnh ổng có hai thằng bí. Bên trái là thằng T… bạn tôi, bên phải là một anh Bắc Kỳ. T… là bí thư chính trị văn hóa, thằng kia là bí thư quân sự.
- Vậy là đúng rồi! -Hai Ninh vỗ đùi đánh bép- Hôm bữa đó ổng đứng ở giữa, bên cạnh ông là anh Ba mình, còn bên trái là ai tôi quên mát, nhưng ngay đằng sau là hai cậu bí thư. Vậy mà nhánh cây không xọt ai hết, nhè ổng mà xọt ngay chóc. Tôi nghe một cái “pực” thì thấy ổng ngã ngửa ra đất. Anh Ba mình xốc ổng lên. Tôi cũng bu lại nhưng bị ảnh quát nên lùi ra . Chung quanh “ổng” có chừng năm sáu người thôi chớ không nhiều. Anh Ba hoảng hốt la lên mà đâu có ai hiểu ổng ra lệnh gì. Không có y tá y tướng gì bên cạnh ráo hết. Vì mới dưới hầm bước lên bịnh gì mà đề phòng. Trời! Óc của ổng dính đầy tay anh Ba. Chính tôi cởi cái áo của anh Ba bọc cái đầu ông lại chớ ai. Trời! ổng không nói được tiếng nào rồi đi xuôi. Tôi lén bước lại nhìn, mặt ông ngày thường nước da đồng điếu mà đã đổi ra xanh lét như da rắn lục cườm thấy ghê hết sức.
Tôi lắc đầu:
- Ông nội định đẩy cây thoa mỡ bò với tôi hả?
Hai Ninh sửng cồ:
- Tao đẩy mày té vàng té bạc gì hả thằng Thiên Lôi?
Tôi cười nhạt:
- Đi bên cạnh ổng phải là tư lệnh hoặc chính ủy. Ổng đến đâu như vua xuất cung nhất đẳng quân thần phải nghinh tiếp. Tướng nhèm chưa được tới gần ổng nữa là thiếu tá cỡ ông. Thôi đi ông nội con nít, ông đừng có đặt chuyện kể cho oai.
Hai Ninh cười khè khè mà không có vẻ giận dỗi, nói:
- Đúng thiên Lôi, mày nói đúng. Cỡ tao còn lâu mới được đứng cách ổng một cây số chớ làm gì được nhìn thấy mặt rồng. Nhưng tao cho mày biết nếu không có tao sẽ không nên việc gì cả.
- Khỉ khô ! Thiếu tá Ninh ổng coi như rác.
- Nè. tao nói cho chú em mày biết là chỉ có tao vô được cái hầm đó thôi. Để chi mày biết không?
- Để hốt rác và chùi đít ổng ỉa?
- Tầm bậy! Mày nên nhớ là trong đó có điện. Nhưng điện không quan trọng bằng điện đài -Hai Ninh vỗ ngực- Tao gắn, tao dựng, tao thử phát đi, tao thử bắt tin, bắt mật mã từ Hà Nội đây cu con ơi. Đây là tổng hành dinh của bộ tổng tư lệnh mày nghe rõ chưa? Không có thằng Hai Ninh này, tư lệnh tư lọt đều điếc và câm chớ làm được mẹ gì, chỉ huy được ai?
Tôi vẫn lắc:
- Ổng vô đây là toàn quyền quyết định như nguyên soái trấn biên cương, không cần phải xin chiếu chỉ triều đình. Ổng cần gì mà phải liên lạc với Hà Nội?
- Tao hổng biết. Nhưng chính điện đài dưới hầm bắt được mật mã Hà Nội. Nhưng nếu không cần xin lệnh ở ngoải thì ông phải liên lạc với R.
- R nào nữa? Ổng là tía của R, lại phải xin lệnh của mấy ông Chín Vinh, Sáu Nam à ?
- Củ cặc họ ! Mầy nói ngang tao không nói nữa.
Thấy Hai Ninh hơi tự ái, tôi vuốt nhẹ:
- Tôi công nhận là ông có xuống đó gắn điện đài, nhưng ông nói ông Sáu xin lệnh ở Hà Nội và liên lạc với R là không đúng, nên tôi phải cãi chớ.
- Không liên lạc với R thì ổng cũng liên lạc với các cánh quân để chỉ huy chớ!
- Cánh quân nào? Tôi thấy ở đây có cánh quân nào có mật mã đâu, chỉ có bộ đàm thôi.
Hai Ninh hơi giật mình nên rút lại:
- Tao hổng biết! ừ thì tao nói láo. Nãy giờ tao nói láo hết thảy. Mày đừng có nhớ làm gì. Mày có kể lại với ai thì đó là do mày biết, chớ không phải tao nói nghe chưa. Mày đổ thừa cho tao, tao chối đấy.
Tôi làm thuận, sợ ông bạn già giận nên hồi lâu mới tìm cách trấn tĩnh hắn:
- Nói thiệt chớ tôi không biết gì hết. Tôi chọc anh kể nghe chơi.
- Chơi! Chuyện vậy mà mày cho là chơi à?
- Chiến tranh mà anh Hai. May ai nấy nhờ, rủi ai nấy chịu, chớ ai muốn ông Sáu thọ nạn làm chi. Mà rủi ổng chết rồi, cũng không nên giấu làm gì. Trước sau rồi thiên hạ cũng biết, không phải ở trong Nam này biết mà thôi đâu mà ngoài Hà Nội người ta cũng biết. Và biết rồi.
Hai Ninh ngớ ra:
- Sao mau vậy được?
- Tôi không biết bằng cách nào, nhưng ngoài đó đã biết hết rồi. Hiện Củ Chi cũng biết. Cái gì mình càng giữ bí mật thì càng bật mí. Anh có nghĩ rằng Bảy Phán nó biết không? Nếu nó biết thì Mỹ cũng biết. Mỹ biết thì cả thế giới biết chớ bịt sao được?… Hiện giờ có cả lô trung tá, đại úy từ ngoài Hà Nội vào để tăng cường cho Quân Khu mình. Tôi có dịp gặp một vài người ở Q16 và E268 mới tới bổ sung. Trong câu chuyện chuyên môn họ trao đổi với tôi, họ có ló mòi, do đó tôi đoán là ngoài Hà Nội trong hàng tướng tá đã biết cái tin này.
(Quả thật tôi đoán không sai, chừng sáu tháng sau cái chết của Sáu Di, báo Hà Nội đăng cáo phó đại tướng Nguyễn Chí Thanh đau tim, đảng hết lòng cứu chữa nhưng không khỏi. Rồi sau báo Nhân Dân đăng tin Hồ chủ tịch một cơm bà Nguyễn Chí Thanh. .. Hai cái tin này đủ xác nhận chuyện gì rồi! Bọn Công Sản thường hay giấu như mèo giấu… Nhưng chúng giấu rồi chính chúng bới ra!)
Tôi cố phục rượu ông trưởng ban H7 (tôi trưởng ban H6, ngang cấp nhau mà ! Nên ông ta không ngại lắm). Tôi bảo:
- Hồi nãy anh nói Mỹ đui là sao anh Hai?
- Thôi thằng cu con, đừng có dụ nai tơ lên nó đục gân.
- Ông mà “nai tơ” hả? ông đục gân tôi thì có. Thôi dẹp cái vụ kia đi, ông kể cho tôi trận B52 nghe để tôi rút kinh nghiệm chút.
- Rút kinh nghiệm cái con… bà gì. Nó rắc trúng thằng nào thằng ấy chịu chớ kinh nghiệm gì. Bộ mày chưa đội sao mày hỏi tao?
- Đội nhưng mới vỡ lòng chừng ba bốn trận thôi, sao bằng anh đã lên đại học.
Hai Ninh nổi quạu ngay:
- Thằng Sáu Huỳnh gần đây cho tin vịt hoài.
- Sao vậy anh?
- Nghe theo nó chạy hộc gạch, rồi chẳng có đếch gì cả . Tệ hơn nữa, chạy đến nơi lại đút đầu ngay trận cho nó nện trúng ngay chóc. Mới vừa rồi đây, tụi tao bị một cú rục tùng. Còn chút nữa tao cũng xí lắt léo rồi.
- Hèn chi cái miệng của anh hơi lệch cán cân.
- Giỡn hoài mày! Kỳ đó nếu thằng Mỹ nó rải tới thêm một tấm.thảm nữa thì rụm cả hầm. Nhưng không hiểu sao nó lại rải ngang.
- Anh nói sao tôi không hiểu gì hết.
Hai Ninh ngồi xổm xuống đất lấy que vẽ nguệch ngoạc :
- Vậy nè! Thay vì kéo dài ra nó lại mở rộng mày hiểu chưa? Trước đây thì nó cũng rải liền mí như đợt trước rải xong, đợt bắt từ mí mà rải tới, đợt ba rải tới nữa, như vậy thành tấm thảm hình chữ nhật dãy dọc. Không biết sao mấy chục trận gần đây nó lại rải bề ngang. Nghĩa là ô đầu tiên ở đây, ô kế là bên phải, ô kế là bên trái hoặc bên phải không ai đoán được. Rồi ô kế cũng không biết bên nào để mà chạy. Chạy nhanh cũng có thể kịp. Hoặc chạy tới, chạy lui hoặc tạt qua phải, hoặc qua trái. Có khi liều mạng, ‘chạy tới chỗ nó vừa “trải xong, mình ngồi”. Nhưng bây giờ nó rải loạn xị không có lề lối nguyên tắc gì nữa, nó rải.cả trên ô nó vừa rải. Cho nên tốt nhất là năm mím dưới hầm mà cầu Trời khẩn Phật thôi.
- Thằng Mỹ nó linh động lắm anh Hai à ! Đánh với nó bằng bộ binh cũng vậy chớ không riêng gì B52 mà thôi đâu. Pháo binh còn ác nữa. Có khi nó bắn cả trăm, cả ngàn, cả chục ngàn trái. Có khi chỉ một trái. Một ngàn không trúng ai mà một trái lại chết cả hầm.
- Thôi tao đi nhé Trễ rồi !
- Gì mà gấp vậy anh! Còn chút dưới đáy bình toong và mấy con tép, anh làm một cái cho ngọt rồi chia tay. Coi như mình ăn Tết con khỉ già rồi đó anh Hai.
- Đường dây vừa làm xong, nó bỏ tiêu hết rồi.
- Nó nào?
- B52 chớ nó nào. Ở trên bảo phải làm nhanh cho kịp.
- Kịp gì?
- Kịp gì ai biết kịp gì. Nhưng không có cái đéo gì trong tay hết trơn, báo cáo lên, ở trên bảo khắc phục. Dây điện chớ phải dây chuối đâu mà khắc. Tao cần năm chục ngàn thước mà chưa có thước nào.
- Vậy anh chọc cho Mỹ ném xuống cho anh như Khổng Minh lấy tên của Tào Tháo vậy.
Trời chiều ráng mọc đỏ ối. Rừng thẫm lại trông rất thê lương. Một thằng bạn già trông càng thê lương hơn. Hai Ninh cắm cúi đi. Tôi ngó theo. Tưởng đó chính là mình, mình sẽ như thế, không lâu.
Hai cậu liên lạc Nông và Quyết mắc võng toòng teng dưới một thân cây đổ nằm ngủ ngon lành. Ở đây vào thời điểm này là vậy. Ăn nhậu, chơi bời, hò hét, ngủ nghê được phút nào hay phút ấy, để rồi biết đâu trong nháy mắt tan xương.
Ai ngờ một ông đại tướng hét ra lửa như Sáu Di mà chết như một con vịt bị phang vỡ sọ ngay trong ao nhà .
Ba mươi năm qua, 1967-1995, bây giờ khi ngồi viết những trang hồi ký này tôi vẫn còn nhớ nguyên câu chuyện kể của Hai Ninh và lời dặn “đừng cho ai biết”. Thiên hạ đã biết cả rồi. Nhưng có lẽ còn một điều chưa ai biết. Một cái dấu hỏi nghi ngờ. Có bàn tay bí mật nào theo dõi hắn ta từ Hà Nội vào tận đây để thừa cơ hạ thủ chăng?
Cái gì mà Cộng Sản chẳng dám làm. Chúng giết Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn và những ai khác nữa, thì sợ gì mà không chơi tên Sáu Di. Tên này nhờ Hồ nâng đỡ có vẻ lấn lướt ông đại tướng Quảng Lạc kia. Thù hận của những kẻ có súng ống em út trong tay bộc phát ghê gớm. Staline giết Kirov bằng tay một tên Bolchevik khật khùng, ám sát đại tướng Frunze trên bàn mổ. Mao Trạch Đông giết Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài bằng tay mụ đàn bà.
Thì Việt Cộng ngán gì ai mà không dám làm. Nhất là ở giữa rừng sâu, chỉ có cóc nhái mới rõ được. Nhưng đau đớn cho mụ góa răng đen mỏ quạ ở Hà Nội ăn cơm với Hồ chủ tiệm mà chẳng rõ được nguyên do cái chết của chồng mình . Nhưng cũng đáng đời cho một tên cướp. Cái xác hắn không biết có về tới Hà Nội không? Theo nhiều luồng dư luận xầm xì thì hai cái xe thồ xác ông đại tướng đã không đến được Minốt.
Bạn đọc hãy giở bản đồ ra xem sẽ thấy từ Long Nguyên (nơi có cái hầm của Sáu Di) về tới Tây Ninh, qua biên giới Việt Miên là bao xa? Rồi từ đó qua tới Minốt là bao xa nữa. Ít nhất 100km, mà là đường rừng. Và đường rừng nát bét vì B52. Phải qua những điểm nóng và luôn luôn bị trực thăng soi, đuổi, canh chừng không hở của sư đoàn 5 Sài Gòn. Từ Long Nguyên muốn qua biên giới Cao Miên phải qua suối Ván Tám rồi suối Bà Chiêm, xong phải vượt sườn núi Cầu sát đường 14 là cái chốt thường trực của sư đoàn 5. Nếu không qua được núi Cầu phải trở về suối Bà Chiêm để đi lên suối Ngô. Từ đó dưới có thể lên Bổ Túc (chỗ tôi và Tôn Sứt thực tập DKZ). Từ Bổ Túc mới đi Kà Tum. Xong đoạn đường này mới mong qua được Minốt.
Riêng từ Bổ Túc đến Minốt cũng phải mất hai ngày nếu xe đạp êm xuôi không bị bom pháo, lính ruồng ngăn cách. Còn từ Long Nguyên đi Minốt nếu đạp xe trong rừng và không bị bom đạn cũng mất ít nhất bốn ngày. Nên nhớ lúc Sáu Di bị nhánh cây thọt bể đầu là vào cuối năm 1967, tất cả các mặt trận đều sôi động hằng giờ hằng phút. Nếu cố công thồ thì ít nhất phải một tiểu đội xe đạp chạy băng dưới bom đạn.
Một cái xác bó ny lông, phơi sương phơi nắng trong bốn ngày thì sẽ ra sao? Cho rằng cái xác này có được ướp như xác Lê nin đi nữa thì cũng không tránh khỏi ruồi nhặng bu theo và khi đến Minốt thì chắc là…
Một cái nhánh cây lạ lùng!
Nhưng dù ai giết hoặc trời hại tên giặc đầu đỏ mặt vuông miệng quai xách này thì có cũng là một sự may mắn vô vàn cho dân tộc. Vì nếu hắn còn sống thì chính hắn sẽ là tổng bí thư thay cho me xừ Duẩn, chớ không phải anh gà tồ Nguyễn Văn Linh đâu. Hắn là tên tội phạm trong Cải Cách Ruộng Đất và chủ trương ép nông dân vào hợp tác xã . Hắn sẽ còn tàn bạo hơn cả Lê Duẩn chớ không thua chút nào. Hắn thù trí thức, văn nghệ sĩ, nhất là dân Sài Gòn, hắn chửi thẳng vô mặt hồi tôi làm “anh hùng rởm” đọc diễn văn ở đại hội Mừng Công trên R năm 1964.
Viết đến đây tôi bỗng nhớ một chuyện nhỏ về hắn ở Hà Nôi. Hắn có hỗn danh là tên mặt sắt vì mặt hắn đen sì. Trong một buổi tiệc tùng chi đó có các bà phu nhơn thiếu tướng trung tướng đến dự nữa. Bà nào cũng khăn mỏ quạ răng đen mút chỉ, riêng bà Phạm Kiệt lại son phấn quần áo sang trọng. Phạm Kiệt là dân khu 5 được phong thiếu tướng chỉ huy lực lượng công an võ trang đóng tổng hành dinh gần bờ sông Hồng.
Hắn vô sau cùng. Cả buổi tiệc đứng lên. Hắn mặc áo sơ mi lụa trắng cho phản xì nước da lãnh đạo của hắn, không đeo lon gáo gì cả. Huấn từ xong, hắn đảo mắt qua các bà phu nhơn. Bà của hắn thì cú sụ như bà cán gáo già cóp. Bên cạnh đó lại là bà Phạm Kiệt mặt hoa da phấn rực rỡ tương phản vô cùng. Hắn bèn trỏ mặt bà ta và bảo tướng Phạm Kiệt:
- Vợ anh ăn mặc như một con đĩ!
Cả bữa tiệc sửng sốt vì lời “thân ái” của một ông đại tướng và là lãnh tụ đảng. Riêng bà Kiệt xấu hổ bỏ đi ra khỏi phòng tiệc, trong lúc hắn vẫn tiếp tục xỉ vả bà ta và rêu rao bốn đức tính cần kiệm liêm chính.
Hắn cũng ghét Võ Nguyên Giáp, đến không nhìn mặt nhau. Hắn càng ghét văn nghệ sĩ, nhất là Nhân Văn Giai Phẩm, cho họ là những tên phá đám. Trong lúc Nhân Văn Giai Phẩm bùng nổ to, một lần hắn đến huấn từ cho văn nghệ sĩ ở viện mạ kền của Hoài Thanh hô hào chống Mỹ , hắn cương:
- Dù phải chống Mỹ đến một triệu năm chúng ta cũng chống.
(Hồ chủ tiệm có nói… “năm năm, mười năm hay lâu hơn nữa “, còn hắn lên tới một triệu năm ! Ghê gớm thay ông đã đại tướng bần cố).
Văn nghệ sĩ tức cười nhưng bụm miệng.
Ra về, đạp xe song song với tôi, Nguyễn Tuân hỏi:
- Ông có nghe đồng chí ấy nói gì không?
- Dạ có chớ.
- Quelle notion de chiffres! Ông ta có khái niệm thế nào về những con số?
- Dạ, triệu năm là một triệu năm!
…. Những chuyện lãng xẹt như thế cũng còn nhiều nhưng ghi ra đây càng thêm mất mặt bầu cua của đảng. Xin trở lại chuyện Củ Chi. Ủa, không phải! Củ Chi đã mất sạch rồi. Bây giờ tôi đang ở Bến Cát trên đường về yết kiến ông tư lệnh Ba Đình, tức là Ba Xu, nghĩa là “Ba Đình giá có Ba Xu”. Đâu mà rẻ hơn cá ươn thế, ít nhất cũng năm, sáu xu, một cắc chớ?
Thằng Nông và thằng Quyết dẫn tôi đi, vì B52 càn tan tành, tôi không nhận ra đây là đâu. Thằng Quyết bảo:
- Đây có thể là Đường Long.
- Tại sao?
- Vì mình chưa băng qua trảng Suối Cát. Qua suối đó mình mới lên thẳng Phú Bình.
Mặc cho nó dẫn đi đâu tôi theo đó. Hồi chín năm tôi đã từng ở vùng này và còn trẻ như hai đứa nó, bây giờ trở lại già ngắt mà cách mạng chưa tới đâu. Vậy hồi đó nghe mấy câu chúc Tết của cụ Hồ, các ông to bà nhỏ đọc rung đùi muốn đứt võng. Ai cũng mơ tưởng:
Chúng ta cùng đồng chung một ly đào
Tết này ta tạm xa nhau
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy

Rượu đào không. Sum vầy cũng không mà chỉ có máu đào con khỉ Mậu Thân và ly tán tang thương thôi cụ ạ !
Tôi sốt ruột về Củ Chi nên thay vì chờ tối để băng qua Suối Cát như Năm Lê dặn, tôi bảo hai cậu cứ dắt tôi chạy càn. Chỉ chừng hai cây số trống thôi mà mệt muốn đứt hơi như lúc đoàn ăn trộm vượt ngọn sông Bến Hải. Qua cú chạy việt dã này tôi mới thấy sức lực của tên Thiên Lôi bắt đầu sa sút như Chí Phèo sau một trận say đã cảm thấy mùa thu của đời mình.
Lúc mặt trời sắp lặn thì chúng tôi tới bìa một khu rừng. Đứng lại lấy hơi, xong tôi hỏi đây à rừng nào? Thằng Quyết lắc đầu:
- Rừng nào cũng như rừng nào, em không biết. Anh coi đó cây không còn lá làm sao nhớ tên được.
Tôi mới nhận ra. Cành cây khẳng khiu, chơ vơ không có lá. Dưới gốc lá khô đơm vun mà không có dấu chân người.
- Nó rải hóa học hồi nào vậy tụi bay?
- Em đâu biết. -Thằng Quyết nói- Anh đứng đây, em và thằng Nông vô báo với trạm gác.
- Đi mau kẻo biệt kích nó chơi tao.
- Ở đây là bảo đảm anh không có thứ đó. Nhưng anh phải đứng xích lại đằng kia, đừng đứng ở mối đường làm lộ bí mật.
- Cái thằng!
Nó dạy tôi. Nhưng tôi cũng nghe lời nó mà di chuyển cách đó chừng một trăm thước. Vừa đứng yên thì gặp mấy cô tíu tít đi qua. Một cô reo lên:
- Anh Hai đi đâu lạc đây?
- Nhỏ nào đó?
- Em đây, anh không nhớ à?
- Em nào cái bụng thè lè vậy?
- Trời ơi? Anh không nhận ra em sao? Lam nè!
(Nói vậy chớ sao tôi không nhận ra. Hai chiếc nhẫn có khắc chữ “L” má nàng đem vô cho hai đứa ở Ràng mà! Quên sao được, nhưng thấy nàng đang mang bầu tâm sự nên tôi đóng kịch cho qua đi cái tâm sự não nề).
Lam đứng lại quay ngang, còn cô kia thì vui vẻ:
- Bộ anh Hai quên em rồi hả?
- Thảo, ủa không… Đứa nào anh nhớ mài mại.
- Quỷ anh chớ nhớ mài mại nữa!
- Anh oánh giặc riết rồi chỉ còn nhớ Mỹ.
- Đào hầm chung với em mà quên được à nghen.
- Em Lan hả? Nhiều Lan quá…
- Không, em là Phượng.
- À nhớ rồi ! Kỳ đào hầm gặp xương Cao Đài ở dưới gốc trúc. Vậy mà anh tưởng em… Mai ở trên trảng Đồng Rùm.
- Đồng Rùm ăn B52 nát tan hết rồi.
- Sao đi qua đây chỗ nào cũng nghe cũng thấy cũng đội B52 hết vậy cà? Chắc anh phải lộn về Củ Chi quá ! Mà em vô cơ quan hồi nào vậy?
- Lâu rồi. Em có lên R mới biết Đồng Rùm bị B52 đó chớ. Sông Bà Hảo bây giờ không qua được. Lò Gò Xóm giữa Kà Tum Kà Tiếc gì em đều có đi hết. Bây giờ em mới ở luôn trong cơ quan, khi nào em mời anh ghé chơi.
Còn một cô nãy giờ đứng ngó tôi, thấy cô Phượng dứt lời mới xen vô:
- Còn em nữa, nhớ hay quên, ủa ủa nữa coi! Quỷ anh đâu á !
- Anh xin lỗi là quên tuốt rồi.
- Anh mà nhớ ai làm chi.
- Ai đâu tự giới thiệu coi.
- Thơm nè.
- À Thơm…
- Thơm nào? Để em nhắc cho. Hồi anh trên R về, vô K29 gặp chú Tám Quang và chú Tám Hà ở Gót Chàng. Vừa tới nơi bị đầm già liếc bắn rốc kết nhớ chưa?
- Nhớ rồi. Còn Thảo đâu?
- Nó theo chú Tám Quang đi Rừng Sát rồi. Còn em mắc đi học y tá trên R, nếu không chắc cũng dính vô đó.
- Không dính vô đó thì dính chỗ khác.
- Thôi đi tụi bay ơn -nàng Lam giục.
- Ừ đi thì đi !
Lam không chào hỏi tôi thêm câu nào. Có lẽ nàng đau khổ. Nhưng tôi hiểu nàng. Kỳ đó sau khi về H6 nàng được phân công đi cơ quan khác. Ít lâu sau tôi ra chỉ huy bộ binh, coi như đã đứt đoạn tơ lòng. Rồi thời cuộc dồn dập ào ạt xua tới, tôi đâu có nghỉ ngơi phút nào. Hơn nữa tôi là con ngựa bà không muốn trao dây cương cho riêng một ai cầm giữ… Bây giờ thì nàng đã yên nơi. Có lẽ chiếc nhẫn nàng đang đeo kia, có chữ “L” là tên Lam (thay vì tên Lôi), còn chiếc kia cũng mang chữ :’L” là tên “Lôi” (thay vì tên “Lam”) hiện đang trên tay của Là (cũng là “L”) chớ không có trên tay nàng mà cũng không có trong túi tôi.
Thôi vậy cũng là êm đẹp. Nàng đã có chồng và sắp có con. Tôi càng mừng chớ không buồn và trách móc gì hết (tại duyên phận chúng mình nó như thế Lam à !)
Hai thằng nhóc trở ra. Một cậu đi trước dắt đường. Còn đứa đi sau thì vừa đi vừa sụt lùi khỏa lá cây nguyên lại như cũ. Nhưng làm sao tránh được dấu chân trên lá nát. Biệt kích Kangoroo ở Trường Sơn đi bằng gậy, nó phóng những bước da ba, bốn thước, chớ còn bước thường như mình đây thì lá nào còn nguyên? Tụi Mỹ nó tinh vi lắm, thấy một lá nát là nó dò tìm dấu ngay.
Cây rừng trụi. lá. Không khí hắc mùi hóa học. Tôi đoán chắc chúng khai quang khu này ngót một năm nên mùi hóa học hơi phai đi, chớ nếu còn mới thì thở vào sẽ nghe khô phổi như ở Trảng Cỏ mấy năm trước.
Thằng bé chỉ khỏa sơ một khúc đường rồi đi xõng lưng. Con đường mòn càng sâu vào trong càng rõ rệt, không có quân ngũ nào khỏa lá cho kịp. Kẻ ra người vào liền xì chớ có phải một hai người thôi đâu.
Một cái giếng được đậy nắp gỗ rất kín. Chắc là đề phòng hơi hóa học. Tôi biết gần đến nơi rồi.
Ông Tư Lệnh từ sau ngày được bọn tôi cứu khỏi “địa đạo”, ở Phú Mỹ Hưng càng lặn sâu, lặn kỹ. Ông không còn đóng chốt ở nhà dì Ba nữa là phải lắm. Nếu diên trì ở đó thì chắc chắn không thoát trận chụp của Võ Văn Phán vừa rồi. Ông ấy có tính cẩn thận và phòng xa, tôi biết từ hồi chín năm. Tuy ít khi bị bom, nhưng bao giờ ông cũng bắt nhân viên đào hố cá nhân. Cả hai bà phu nhân (vợ ông và vợ Tô Ký) cũng phải đào. Hai bà mới được một cái hố cạn như mèo quào, cho nên kỳ đó thằng bé Lôi mới ngồi chắn miệnghầm mà bị miểng bom chạm vai cũng ở vùng Long Nguyên Bà Tứ này. Bây giờ ông đâu có được nghênh ngang cưỡi ngựa đi từ đây xuống tận Bến Súc để quan sát trận địa như hồi 1947 nữa.
Đối với Mỹ ngày nay, thằng Tây hồi chín năm chỉ là một đám trẻ con. Nếu Mỹ bây giờ là Tây thời đó thì nó đã bị chúng tôi xơi tái dễ dàng. Nhưng khổ vậy, Mỹ là Mỹ chớ không phải là Tây, càng không phải là con hổ giấy như Mao xếnh xáng nói.
Gặp lại anh Ba mình kỳ này coi bộ ảnh xuống gà quá cỡ. Vừa gầy vừa xanh và cặp mắt mất thần, bộ râu quai nón rất đẹp ngày xưa nay đã thành cái chổi xể rối ren như đầu óc của ông vậy, còn tóc thì một bên trắng một bên tro. Làm tướng như ông khổ thật mà rồi chết uổng thân, lon gáo ai mang, ông chỉ được đứng ở Ngã Ba Chú Ía gác đường cho các đồng chí “nhớn” đến thăm em (có đường đeo bảng hiệu Trần Đình Xu ở Sè Goòng thay đường Phát Diệm cũ).
Anh nói ngay:
- Khu ủy (chớ không phải Quân Khu) điều động cậu về làm quận đội trướng Củ Chi, và thường vụ khu ủy đã đồng ý.
Tôi không hỏi lý do lý diếc gì, chỉ hỏi cho có lệ:
- Anh Ba chỉ thị tôi về đó phải làm gì trước nhất?
Anh không trả lời mà hỏi lại tôi:
- Cậu có rành loại hỏa tiễn giàn mướp Liên Xô không.
- Dạ, tôi có dùng nó gác trên bệ DKZ 75 để bắn từng phát thẳng vào mục tiêu cố định. Đó gọi là trực xạ. Chớ không bắn vào mục tiêu rộng lớn. Đó gọi là gián xạ, nghĩa là bắn vòng cầu vào các khu quân sự, như sân bay hoặc kho quân nhu.
- Vậy không dùng để pháo kích Đồng Dù hoặc Trung Hòa được à?
- Dạ, đó không phải là loại vũ khí để pháo kích. Chỉ dùng nổ để bắn xe tăng, tàu, lô cốt…
- Sao vậy?
- Dạ, bắn gián xạ thì độ tản mác của nó rất lớn. Có thể sai biệt từ 800m đến 1000m, cho nên chúng tôi chỉ bắn mục tiêu trong vòng một cây số, còn xa hơn thì không bảo đảm chính xác. (Nói rõ ra là pháo kích trật lại chỉ chết dân).
- Vậy thì mình hì hục tải xuống đây, cất giấu chỉ toi công.
Nhưng có lẽ ông Tư Lệnh cảm thấy không nên nói vậy trước mắt thuộc cấp, nên trớ qua bằng một giọng hằn học :
- Các cậu quan niệm vũ khí vô sản còn nặng mùi tư bản lắm, phải sửa đổi mới được, còn không sẽ đi chệch lập trường.
- Dạ!
Tôi nói nhỏ rí. Bụng nghĩ không nên cãi lại. Có lẽ ông Tư Lệnh cũng không rõ khả năng và tác dụng của loại hỏa tiễn này. Ông Tư Lệnh đã vượt qua được cơn chới với, ngon trớn tiếp ngay:
- Các cậu cầm quân không nên chỉ thấy có tiếng nổ và xác địch. Có khi không có tên địch nào chết mà một tiếng nổ có tác dụng hơn cả trận đánh lớn. Cậu thử tướng tượng một trái hỏa tiễn phóng vào đô thị, dù không trúng cứ điểm quân sự, nhưng tiếng nổ của nó ảnh hưởng tới tinh thần đồng bào bao lớn? Dù phải hy sinh vài người, vài chục người dân thì cũng tốt như thường. Chiến tranh vốn là như thế mà ! Kỳ rồi cậu pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù hy sinh một B trưởng và vài cậu du kích phải không? Không tính sự tổn thất của địch là bao nhiêu, đạn cà nông nổ tung, trực thăng, xe tăng bị cháy v.v… Chỉ có cái vang âm của những trái pháo của cậu mà thôi. Nó to lớn cỡ nào cậu có biết không? Nó bay vô tới Sài Gòn và sang tận nước Mỹ kia đấy. Rồi ba thằng kép Mỹ, ba con đào Mỹ phản chiến nó sẽ nhao nhao lên… Cậu có biết con đào lủng của Mỹ nó sang tận Hà Nội chiêu hàng phi công Mỹ ở Hỏa Lò không? Hàng chục triệu dân Mỹ đang chống chính phủ Mỹ. Mình đánh bao nhiêu trận, chết bao nhiêu lính cũng không đạt được kết quả đó cậu ạ. Cậu rõ chưa nào?
- Dạ rõ ạ !
- Vậy thì giàn mướp giàn bầu giàn bí gì cũng chơi ráo. Miễn cho nó nổ được trong đô thị thì đó là thắng lớn. Chiến tranh là giết người. Bên nào giết nhiều thì bên đó thắng.
Tôi làm thinh. Từng sử dụng các loại pháo ở Hà Nội tôi biết rõ… Nhưng còn dám nói gì khi ông Tư Lệnh đã bảo như thế. Nghĩa là còn có nước thi hành. Bố thằng nào dám lý luận khác với ông.
Ông Tư Lệnh nói thêm:
- Bây giờ cậu về Củ Chi làm quận đội trưởng nhưng tôi giao quyền cho cậu điều động các D của Quân Khu hiện ở Củ Chi, kể cả Q16, nhằm phục vụ một việc. Là pháo kích một lần nữa Trung Hòa và Đồng Dù. Nhưng lần này dùng hỏa tiễn giàn mướp chơi tụi nó.
- Dạ!
Ông giơ tay chặn ngang:
- Cậu phải đem nó vào ấp chiến lược Cây Bài để bắn tụi trực thăng, hạ tại trận ít nhất vài ba chiếc. Cây Bài ở sát Đồng Dù không xa hơn một cây số. Vậy bắn trực xạ được chứ?
- Dạ được ạ !
(Được nhưng không về được đứa nào. Cũng như pháo kích sân bay Biên Hòa xong, đội đặc công 69 của Huỳnh Thành Đồng sống mây thằng, súng vác về được mấy cây?)
Ông lại tiếp:
- Đó là việc thứ nhất. Còn việc thứ hai là tập trung tất cả du kích, dũng sĩ tái lập lại D7 Củ Chi theo biên chế chánh quy, cũng do cậu chỉ huy luôn. Ngoài cậu ra tôi không thấy có ai làm hai việc đó kết quả. Cậu nghe rõ chưa?
- Dạ rõ ạ!
- Việc thứ ba là giúp cho hậu cần Quân Khu cất giấu đạn pháo và một số đầu đạn hỏa tiễn DKB để chuẩn bị kế hoạch mới của R do Quân Khu đảm nhiệm phần lớn, trong tương lai rất gần. Cậu lập lại cho tôi nghe cả ba công việc đó xem nào.
Tôi lập lại ron rót như trả bài.
Vừa đến đó thì một cô gái xuất hiện. Cô đến đeo vai ông Tư Lệnh, nhõng nhẽo:
- Ba, ba ăn cơm chưa để con dọn lên?
Ông trỏ vào tôi bảo:
- Con hỏi anh này thì rõ ? Con biết ai đó không?
Cô bé lắc đầu. ông bảo:
- Không có ảnh, con không ra đời được, đừng nói chi ngày nay làm y tá.
Rồi quay lại tôi, ông tiếp:
- Con nhỏ hồi má nó có bầu, nhờ mày đỡ miếng đạn đó Lôi. Bây giờ bây lớn đó.
- Dạ .
- Nó vừa học xong lớp y tá tao kêu về đây. Để ở trên đó B52 nhộn nhạo quá trời.
Cô bé bưng cơm lên. Vừa cầm đũa, ông hỏi tôi:
- Còn vợ con mày chưa tính sao Lôi? Tình anh em tao hỏi thiệt, mày đừng phiền tao nhé !
- Dạ,. bận công tác luôn, có lúc nào nghỉ đâu anh Ba!
- Còn vụ mấy đứa nhỏ cửa dì Ba (ông kêu bằng dì Ba, sợ lộ bí mật với con gái), mày không chấm đứa nào à?
- Dạ, em đâu dám chê, anh Ba, nhưng người ta chân guốc chân giày chớ đâu có đi dép cao su uống nước giếng như mình mà vô được, anh Ba!
- Vậy tao nghe chúng nó nói với nhau, con Khánh nó nói mày đã hứa với nó rồi.
- Dạ, em đâu có hứa.
- Mày giấu tao hoài!
- Dạ, em không có hứa, chớ em đâu có dám giấu anh Ba.
- Vậy tao hỏi thiệt, mày không có để ý đứa nào sao? Nếu có, con nhỏ ở cơ quan nào, tao tạo điều kiện cho hai đứa ở gần nhau.
- Dạ, thưa thiệt anh Ba, em không có ý định gì hết.
- Mày đã 34, 35 gì rồi mà chần chờ hoài sao được. Cha mẹ già cần có cháu bồng. Mày rước bà già vô kỳ đó có vui không?
- Dạ vui chớ, thưa anh Ba.
- Còn vụ thằng em mày, thôi dẹp đi. Không có bày đặt vận động cái gì hết. Thằng Chín Lộc chọc cứt không nên lỗ ở đây nó có làm ra trò gì đâu. Tao cho nó về trên R rồi.
Tôi sợ thon thót khi ông nhắc tới thằng em đại úy Thủy Quân Lục Chiến của tôi, may quá ông gạt sổ rồi. Nhẹ cái thân tôi.
Trước khi từ giã, ông bất tay tôi, còn căn dặn:
- Rán cẩn thận nghe “em”! (một lần duy nhất ông gọi tôi bằng tiếng ấy). Nếu có để ý nơi nào cho tao hay, tao giúp được gì sẽ giúp.
Tôi bước lên khỏi hầm, đầu óc lâng lâng. Một ông tư lệnh Quân Khu ở dưới hầm sâu hai thước trong một khu rừng trụi lá vì hóa học. Bên cạnh có một đứa con gái đẻ ra và lớn trong chiến tranh. Hình ảnh đó không bao giờ phai nhạt trong đầu tôi. (Không biết sau cái chết bất ngờ của ông Sáu, anh Ba cho con gái về coi sóc món ăn thức uống cho cha, hay vì bể ổ với dì Ba mà chị Ba cho con gái về đây kiểm tra ông bố?)
Tôi bảo thằng Nông và thằng Quyết tìm chỗ cho tôi nghỉ tạm qua đêm. Chúng bảo:
- Đêm là giờ của đám cô hồn tụi em mà nghỉ gì anh . Anh ra Bến Chùa có thủ trưởng chúng em ở đó chờ!
Thế là ba chân bốn cùng tôi theo chúng ra Bến Chùa. Cái khu phố tử địa nhưng đối với những kẻ gan cóc tía thì coi đó là khu nghỉ mát hòa bình và tình ca tươi mát. Chín Nữa đã phục kích sẵn ở đó.
- Hề hề… Tao bảo tụi nó, mày làm xong việc với anh Ba thì đưa về đây cho tao.
Tôi có ông dượng thiệt bảnh. Đi đâu cũng gặp. Đánh trận nào cũng bị thương, nhưng không chết, cũng không cưa cắt gì hết. Và chuyện gì dượng cũng giễu cợt được hết.
- Mày có định làm rể ông Tư Lệnh không?
- Thôi dượng ơi! Đầu quăn tóc rối đâu có hợp với cách mạng.
- Không! Tho nói là con gái ruột của ông kia chớ không phải Tam Nương trong quán nước đá. Này! -Dượng vừa nói vừa chỉ tay vào nhà dì Ba- Mày có muốn ghé thăm em này không?
Tôi lắc.
- Vậy thì em kia! -Dượng trỏ tay về phía quán em Lụa.
Tôi làm bộ:
- Em nào ờ đó, dượng?
- Thằng? Mày giấu tao hoài may. Tao đánh giặc thua mày chớ cái món đó mày phải tôn tao làm sư phụ nghe mày!
Liệu bề không chối được, tôi bèn khai thiệt.
- Duyên chị tình em. Vậy khỏi lo thất nghiệp mày ạ. Cũng như tao vậy thôi, hai chị em con B. con T. tao tém luôn một lúc.
Tôi nói;
- Đúng ra thì tôi gặp con em trước rồi cô chị sau.
- Không, tao nói là tao tém cùng “một lúc”, mày nghe rõ chưa, nghĩa là…
- Vậy mà… được sao dượng?
- Vậy mới tài chớ may… Hì hì, tao hỏi thiệt nghe, mày có thấy rõ tiểu thư của ông Tư Lệnh chưa? Nó giống bả nên y hệt đầm lai. Nhưng mà ở gần ổng, bố thằng nàocũng không dám mó.
- Dượng nói vậy chớ tới chừng nó lên cữ thì nó theo, như con gái ông Sáu Nam trên R chạy theo tôi, chớ cần gì phải o.
- Vấn đề là mày có OK Sa lem nó hay không thôi. Tao chắc ông Tư Lệnh gật liền.
Vừa nói hai dượng cháu đã tới gần quán cô Lụa. Chín Nữa kéo tôi đứng lại rù rì:
- Bây giờ còn sớm, lính mình còn bồi dưỡng trong đó, mày vô cái là lộ mặt địa ra ngay. Để tao đi xích hầu. Tao móc con Rớt ra. Rồi mày liên lạc với má nó, đặt kế hoạch nội công ngoại kích đêm nay úp đồn.
- Bây giờ là hơn 10 giờ rồi dượng.
- Ờ thì càng khuya gà “vô đĩa” càng êm chớ sao mày tụi!
- Trời? Dượng biết cả con Rớt nữa sao?
- Mày quên rằng tao hiện là trưởng trinh sát của ông tham mưu trường, tai mắt tao ở khắp nơi nghe mày.
- Vậy dượng đặt kế hoạch cho tôi đi.
- Kế hoạch mẹ gì. Mày đã có nội ứng sẵn rồi. Si nhan là nó úp vô cái một, còn tao cũng lo hạ cái lô cốt của tao.
- Vậy à?
- Chậc! Mày nên nhớ là đời chiến chinh vui nhờ cái “lá xanh” ấy (bản nhạc nổi tiếng “Lá Xanh” của Hoàng Việt sáng tác năm 1948 ở Tháp Mười). Nếu không oánh Mỹ sao vô? Nhưng mà mày có sẵn “chứng minh thư nhân dân” đó không. Nếu không, tao cho.
Tôi có trong bóp nhưng làm bộ ngây thơ:
- Dạ chứng minh thư tôi bỏ lại ngoài Hà Nội rồi.
- Nè, tao cho một hộp để phòng thân. Nếu muốn khỏi bi nắm đầu thì đi đúp-li-ca-ta nghe chưa? -Dượng vừa nói vừa móc sắc cốt- Đây là loại đờ luých, tao gởi mấy con nhỏ quân báo mua ngoài Sè Goòng đó nghe mày… Thằng Tôn chết ở đó. Còn Út Lịa, Năm Thủ, Sáu Uya nằm bên kia… Tao cũng nằm đây thôi -Dượng bất thần trỏ tay nói-Không biết ở dưới kia tụi nó có cần không tao gởi cho vài lố.
Mấy hôm sau tôi về tới Củ Chi. Một mình đổ bộ xuống Đồng Sởi băng qua Xóm Chùa. Nhờ Sáu Mã Tử và Năm Đầu Ban của cô Lan xã đội kiêm bí thư (thay cho ông bố) đưa tôi ra Sa Nhỏ.
Tôi vô quán đãi các cậu một bữa khô mực la de rồi chia tay. Chẳng ngờ chủ quán là má Bảy ở xóm Thuốc Súng sống sót sau một trận B52 cùng với ba cô con gái ra đây bán quán sống vất vưởng qua ngày. Chỉ cách có mấy tháng mà nay gặp lại thấy mà đầu bạc trắng. Má mừng rỡ.
- Tao tưởng mày về bên Bến Cát ỡ luôn với con Sáu Hòa rồi !
- Quê hương con là đất Củ Chi. Đi đâu rồi cũng về chớ má !
Sáu Mã Tử nhạy miệng:
- Ảnh bây giờ là… (nhưng bị tôi trợn mắt nên tốp).
Sáu Mã Tử và Năm Dầu Ban đưa tôi luôn tới văn phòng quận đội ở Đồng Lớn. Đó là một cái chòi xơ xác. Từ ngày Tám Giò chết, Mười Thứ lên thay, du kích tản mác không làm sao chỉ huy được.
Thấy tôi về, anh em mừng lắm. Năm Đầu Ban nói ngay:
- Đây là ông Quận mới của mình.
- Người ta nghe trước chú mày rồi.
- Có đường “dây luộc” nào oánh mau vậy?
- Hễ ảnh vừa được quyết định là tụi tôi biết ngay. -Hai Văn tiếp.
- Ông Mười Niên Xô vừa mới hui nhị tỳ.
Tôi kêu lên:
- Ổng chết vì nghiệp gì? Bom hay pháo?
- Ổng không chết vì bom pháo nhưng đối với tụi tôi ổng không phải là người chỉ huy.
- Các cậu đừng nói vậy. Ổng quen chỉ huy quân chánh quy chớ không chịu tác phong du kích. Nay ở trên cho ổng ra làm tham mưu trưởng E268, rồi ông sẽ chơi tụi Mỹ cho coi.
Dù tôi có lời ngăn chặn như vậy, các nhân viên vẫn chế giễu ông quận Thứ. Cô Bảy Phán, người nấu bếp thời Tám Giò, bây giờ đã lên chức y tá, ôm chầm lấy tôi, áp mặt vào ngực tôi rủ rỉ:
- Nghe anh sắp về, em không ngủ nghê gì được.
- Em chuẩn bị nấu món gì cho anh bồi dưỡng kẻo qua bên đó thiếu chất quá.
- Em có nhốt sẵn một chục con chuột ú núc. Em sẽ quay chão đãi anh.
- Chuột ăn hóa học, mình ăn vô bị cùi cả đám.
- Lâu nay tụi em ăn, cù hết rồi sao?
- Bố náo! Bố náo! Ai nại đãi thủ trưởng thịt chuột như thế.
Tôi ngoái nhìn lại thì thấy cậu Hồng liên lạc của quận đội . Mọi người cười cái rần. Rồi mạnh ai nấy góp chuyện chế giễu ông thủ trướng cũ của họ. Nàng y tá Phán bắt đầu:
- Anh Hai nghĩ coi, em nớn thế lầy mà ông kêu em bằng con nủng lầy nủng lọ.
Hai Văn tiếp theo:
- Ổng chửi địt bố mấy thằng Mặt Trận.
- Tại sao vậy?
- Ổng triệu tập ban chỉ huy xã đội cả tháng không ông nào đến. Ổng kêu em đến hỏi ný ro. Em bảo là đường liên lạc bị Mỹ cắt không ai đi được. Ổng trợn mắt: “Sao mở đài ra tôi nghe Củ Chỉ địa đạo thôn niền thôn xã niền xã, mà ngay cả ở An Nhơn An Phú chúng nó không sao nuồn tới đây được nà gì? Nại còn nói địa đạo xuyên qua sông Sài Gòn nữa cơ. Rõ bố náo. Địt bô mấy thằng Mặt Trận Giải Phóng nừa chúng ông. Nghe mê ny. Khi vào tới đây nó bỏ chúng ông, cá rô cá nẹp, bù nóc bay tua tủa trên đầu, xe tăng chạy hàng đàn trên mặt đất, cả cái Đồng Nớn không có một cái hố để chui, mà bảo nó địa đạo thần thánh! Thần thánh cái mả mẹ chúng nó!”
Hai Văn vừa “tường thuật” vừa ra bộ, cả bọn cười lăn chiêng.
Cậu Minh thư ký đánh máy chêm thêm:
- Tên ổng là Nguyễn Văn Thứ mà ông chỉ ký số 10 và chữ Thứ bằng tiếng gì em không đọc được, em hỏi, ông bảo đó nà tiếng Niên Xô, các cậu các cô còn khướt mới sang được bên đó . Ổng kêu chị Phán là con lủg, còn chúng em thì xây nố cố no nẩn quẩn trong nhà chẳng nàm ra cái tích sự gì. Chị Phán tức nên có cự lộn với ổng: “Nè chú Mười, chú là người lớn, chú ăn nói nên cẩn thận một chút, dân Củ Chi này dữ lắm đó, chú chạm tự ái họ, họ không chịu đâu. Còn vụ địa đạo, không phải tụi tôi nói trên đài, chú có thắc mắc thì gởi thư lên luật sư Nguyễn Hữu Thọ chớ đừng mắng mỏ bông lông thằng này thằng nọ trước mặt chúng tôi”.
Tôi cũng tức cười. Nhưng đáng cười nhất là đám lãnh đạo Hà Nội. Chúng không hiểu cuộc chiến tranh này nên xài phí cán bộ một cách oan uổng. Tội nghiệp cho cả lô úy tá được gởi vô đây chuẩn bị cho Tết Mậu Thân. Họ có biết gì đâu, ngờ nghệch trước vũ khí tối tân của Mỹ và chết mất xác. Ba trăm ngàn cán bộ và cán binh mà chúng nhìn nhận là có thật và chính là do sự ngu xuẩn, tàn bạo của chúng.
Tối hôm đó tôi ngồi làm việc với Hai Văn về tình hình các xã đội và lực lượng du kích. Hai Văn tỏ ra rất bi quan, nhưng tôi bây giờ lại đóng vai thượng cấp, cũng như Năm Lê, Ba Đình đối với tôi, nên tôi nói đủ cách để kẻo níu tinh thần hắn lại để khỏi sa hầm.
Sáng thức dậy, tôi cũng chưa dám ra sân. Em Phán nằm bên cạnh còn ngủ mê mệt. Đêm hôm qua em khóc hưng hức trách móc đủ thứ: nào là anh không thương em, nào là anh ngó đâu đâu không thèm ngó đây v.v… Nên tôi phải ngăn dòng lệ thảm của nàng. Trời hỡi, ngủ một hầm ba, bốn người, lại nằm võng mà tên Thiên Lôi này cũng rán sức già phụng sự em trong không khí hãi hùng, sợ lộ bí mật các em khác hay (mà chúng hay hết), thì còn gì uy tín của ông tân quận trướng cái Củ… Chi! (nhưng chắc cục uy tín vẫn còn nguyên, không sứt mẻ tí nào).
Cho nên sáng dậy hơi uể oải. Sức khỏe tên Thiên Lôi này bắt đầu xuống chút đỉnh. Tôi vừa ló đầu lên thì nghe giọng rau muống om xòm:
- Mấy thằng nởm kia, có nhanh nên không? Cá nóc (trực thăng OH6A) nó rà bên Ba Sòng mà chúng bay cứ tà tà đi rạo bờ hồ thế.
Bảy Phán vọt lên cười khéc khéc:
- Bờ hồ nào chú Mười?
- Tao nói nà Bờ Hồ ngoài Hà Nội kia, con nủng!
Đoán chắc đây là Mười Thứ nên tôi niềm nở:
- Anh đi đâu về sớm vậy anh Mười?
- Ông nà ông Nôi đấy phải không?
- Dạ phải.
Mười Thứ bắt tay tôi. Tôi lôi y vô nhà. Nghe tiếng mà chưa gặp lần nào. Tội nghiệp! Đúng là dân chánh quy, đầu đội nón cối của quân đội miền Bắc, chân đi dép râu, quân phục cứt ngựa xốc xếch, áo sút nút còn quần ống cao ống thấp. Mười Thứ lắc đầu:
- Bố tiên sư, mình đi cho sớm để khỏi bị chúng rà, thế mà mới nú ra nà đã đụng đầu.
- Anh đi đâu, tôi cho giao liên dắt đường, đi một mình rủi bị nó rượt biết đâu mà chạy. Ở bên Bến Cát nó dám đáp xuống bắt người kia đấy.
Mười Thứ chưa hết giận mấy thằng nhóc và Bảy Phán, cứ lầu bầu:
- Tôi nói nà nói cái Bờ Hồ ngoài Hà Nội chứ ở đây nàm đếch gì có bờ hồ. Những bàu nà bàu. Bàu Trâm, Bàu Nách, Bàu Tròn, Bàu Vuông… bàu nào cũng có bù nóc tới, chán bỏ mẹ! Ông Năm Dũng, anh hùng Điện Biên, biệt danh Hùm Xám, vô đây chưa chi đã bị cá rô rỉa chết ở Bến Cát.
Mười Thứ béo tròn, trắng mưa như công chức Sài Gòn. Có lẽ anh ta đi chuyến đặc biệt vô đây nên còn nguyên cái mã du học Liên Xô.
Anh ta quay lại tôi:
- Cậu về năm nào? Đi băng tầu nặn hay sao mà áo quần còn tươm tất, súng ống còn mới nguyên vậy? Cậu trông tớ này, mới vô có mấy tháng mà quần áo mặt mũi không còn cái thể thống gì nữa.
Tôi cười:
- Có anh đi tàu lặn, chớ tụi này làm gì có tàu mà đi! Mang gạch bốn tháng đó anh ơi!
Mười Thứ cười giả lả:
- Nói chung trong này bị chiến tranh nhưng sinh hoạt cao quá. Tớ mua được mấy thước vải tê-tô-rông kia để về cho mẹ đỉ. Gớm, hàng đế quốc tốt quá ! Nhưng nếu mình nói ra thì bị quy mất nập trường. Cậu biết quán con Sẩm nai Ba Mầu không? Ối giào, nếu tớ chưa có vợ thì tớ sẽ cua con nhỏ này. Nhưng tớ có con rồi! -Hắn rỉ tai tôi rồi cười ha hả- Nó đẹp còn hơn con đào xi nê Trà Giang của mình ngoài đó… đó.
Trước khi rời chức vụ, Mười Thứ bàn giao công việc cho tôi. Anh ta đóng cửa thật kỹ rồi bảo:
- Đám nhân viên này chả có ý thức giữ bí mật gì hết… Trước nhất mình cho cậu biết nà hiện có hai cơ sở nữ công tác bí mật, một ở Trung Hòa, một ở Củ Chi. Hai cơ sở này nằm im để báo cáo tình hình địch cho ta thôi. Còn hai cơ sở nữa ở Đồng Dù, chờ quân báo Bảy Sơn huấn truyện xong sẽ đánh chất nổ vào câu nạc bộ sĩ quan. Kế đó nà khu ủy chỉ thị cho tôi cung cấp một nực nượng du kích để chuyển một trăm quả DKB xuống Nhuận Đức. Công tác chót nà tập trung du kích xã để kiện toàn D7 và củng cố nại đội nữ dũng sĩ Củ Chi của ông Tám Quang, Tám Queo gì đó !
Tám Quang là trưởng phòng chính trị Quân Khu đó nghe ông bạn!
- Trưởng phòng gì bố náo bỏ mẹ! Địt mẹ, tôi đến đây gọi chúng nó họp, chẳng ma nào tới cả, dũng sĩ cái gì. Trước đây ông nàm ăn với đám này ra sao mà nay chúng bỏ về nhà cả! Chúng coi nệnh nọt của cấp trên chẳng ra cái thứ gì!
Mười Thứ vừa nói vừa “địt” luôn mồm. Đây là lần đầu trong đời tôi nghe một anh Bắc Kỳ có chức cao ăn nói bạt mạng như Mười Thứ. Người thứ nhất là ông Hoàng Thọ. Hoàng Thọ bị Lê Duẩn xử tử lén ở rừng Cạnh Dền. Còn Mười Thứ thì cho ra làm tham mưu trưởng trung đoàn 268 Bắc Việt, nhưng tôi chắc anh ta cũng không thọ hoặc lại cũng kêu than như khi làm quận đội trưởng Củ Chi.
Quân lính ở Củ Chi này là thứ quân hồi vô phèng, thách đại tướng thử vô đây chỉ huy một trung đoàn hoặc cái quận đội này trong vài trận đánh Mỹ rồi ổng sẽ hết kêu gọi thừa thông xông lên!
Mười Thứ giao xong công tác cho tôi như trút được một cái nợ đời. Tôi hiểu anh ta nên không phiền hà cũng không chế giễu gì cả , lại còn xuất quỹ quận đội, lúc đó còn 5000, tặng anh 2000 bỏ túi xài chơi, như một lời cám ơn cụ thể.
Tôi vô cùng nao núng, nhưng chẳng lẽ xin về D1 với Tư Nhựt? Bỏ cái cục nợ này cho ai? Chuẩn bị đánh Sài Gòn, lấy Củ Chi làm bàn đạp quan trọng nhất. Tất cả công việc chuẩn bị cơ sở giao cho Thiên Lôi mà chẳng giao cho một thứ phương tiện gì cả . Trong lãnh vực quân sự, lệnh phải đi đôi với phương tiện: Máy bay xe tăng, tàu chiến, súng đạn v.v.. còn ở đây chẳng có thứ gì ngoài mấy cái địa đạo chết người và đám du kích bất trị!
Bí thư quận ủy: Một Sơn; quận đội trưởng: Tám Giò, hai cái đầu sỏ của quận đều chết. Hai Mỏ thay Một Sơn, Mười Thứ thay Tám Giò, Hai Lôi thay Mười Thứ. Tình hình từ xấu đến tệ. Củ Chi phải chia thành Nam Chi và Bắc Chi vì đường đi lại bị cắt nát.
Bắc Chi gồm các xã : An Nhơn Dông, An Nhơn Tây, An Phú, Phú Mỹ Hưng, Thái Mỹ, Trung Lập Thượng, Phước Thành, Phước Hiệp, Tân An Hội, Tân Thông Hội và Tân Phú Trung.
Nam Chi gồm các xã: Nhuận Đức, Trung Lập Hạ, Phú Hòa Đông, Phú Hòa Tây, Phước Vĩnh Ninh, Trung An, Tân Thành Đông, Tân Thành Tây.
Như ngay một xã cũng phải chia đôi: Trung Lập (Thượng và Hạ), Phú Hòa (Đông và Tây), An Nhơn (Tây và Đông)…
Các bà già trầu Năm Đang, Hai Xót nghe tôi về cũng kéo phái đoàn xách gà vịt tới ăn mừng và khoe công trạng: “Nhờ tụi tôi ông mới về được đây!” Hai nàng Tám Phụng và Tư Bé đòi ở luôn với quận đội cho bảo đảm, chứ đi với hai cô cứ chạy cà còng hoài có ngày bỏ mạng. Khổ cho ông Thiên Lôi này, một nàng y tá Bảy Phán đủ làm cho Thiên Lôi sút cán búa rồi, giờ lại thêm Phụng và Bé, nàng nào cũng mến anh Hai sắp nhỏ hết trơn.
Có đêm nằm giữa hai em, tay chân muốn táy máy mà đâu có dám, cứ hễ vừa thanh đông thì lại bị kích tây. Bị kẹp giữa hai cái đồn Bạch Hạc, súng đã lên đạn mà kẻ thù vẫn ung dung trước mặt kia, không bóp cò được. Thiệt tức dội. Trước đây bị hai chị em Lụa Là, Ua Chia đóng chốt, nhưng tôi còn xoay trở hạ được cả hai.
Đã bị đưa vào thế kẹt, bữa sau lại càng kẹt thêm. Trời đang mưa tầm tã, chỉ có nàng Tư Bé ở nhà, còn Tám Phụng và cô Phán đi công tác. Tôi sai mấy đứa liên lạc đi quán “mua nước mắm bằng cái dài nhôm”. Chúng nó biết âm mưu của ông thủ trưởng nên thi hành lệnh ngay.
Tư Bé thổ lộ với tôi rằng nàng đã để ý “chàng” từ ngày nàng Ua đèo tôi về Củ Chi ghé nhà nàng xin nước uống và được ba nàng đãi dừa nạo.
Thiệt là ngồi buồn lại gặp chiếu manh. Trời mưa giúp cho tôi cơ hội trổ tài thầy pháo. Hai đứa đưa nhau xuống hầm.
Lòng hầm ẩm ướt vì mưa dột nên phải mắc võng. Trời càng mưa không khí càng ấm áp. Mấy gốc cột lung lay, ngôi nhà chuyển động răng rắc như sắp đổ với sức nặng trăn trở của hai tay chơi cờ hiếu chiến. Chàng vừa định thọc xe vào cung, còn nàng thì cũng đã ngả sĩ sẵn sàng tiếp đón thì có tiếng kêu:
- Có anh Hai nhà không?
- Không!’ Anh Hai đi công tác Phú Hòa Đông -Tư Bé nhanh miệng.
- Anh Hai ơi ! Anh Hai… quận đội.
- Anh Hai… đi Phú…
Nhưng bước chân đã vào nhà với tiếng quần áo ướt khua rột rẹt đến gần miệng hầm. Tư Bé vội hất tôi qua và sửa sang lại bộ vận vừa quát:
- Anh Hai không có ở đây!
Rồi vọt lên.
Qua đối thoại giữa hai người “nữ dũng sĩ”, tôi nhận ra giọng Bảy Mô. Chết một cửa tứ. Hầm không có ngách, chui ngã nào?
- Văn phòng đi đâu hết hả cô Tư?
- Ờ… ờ Đi công tác hết rồi.
Tôi bí quá đành nằm im. Nhưng tôi biết Bảy Mô thông minh, nếu tôi nằm nín dưới hầm thế nào nàng cũng lục lạo, bất gặp. Tôi bèn bước lên, cố giữ sự bình tĩnh:
- À em. Em đi thi đua R về hồi nào vậy?
- Mới dzìa! Sao cô Tư nói anh đi công tác?
- Trời mưa sợ tụi thằng Lệnh đột nhập bất ngờ nên vừa nghe tiếng hỏi là anh lủi xuống hầm.
- Hầm này em biết không có ngách mà !
- Thì lủi đại vậy thôi…
- Xí biệt kích gì dám vô đây?
Thấy mặt nàng “dũng sĩ” hầm hầm, tôi nói lướt ngay:
- Em lên R có vui không? Chắc được bầu anh hùng… dũng sĩ diệt Mỹ rồi hả? Oai ghê. Để anh kêu bầy trẻ mua bánh ăn mừng. Thay quần áo đi em, kẻo lạnh…
Tôi xổ luôn ra phan, nhưng cô em cứ đứng im, tay chân run lẩy bẩy không biết vì mưa hay vì gì khác.
- Kìa em Bảy, xuống hầm thay đồ đi.
Mò xuống hầm một chốc rồi trở lên, mặt nàng càng hậm hực. Bao nhiêu chứng tích của cuộc cờ còn ít nhiều dưới đó đâu đã kịp phi tang.
Nàng nói:
- Má vô lần nào cũng không gặp anh.
- Anh bận chớ phải anh tránh né gì sao em. Mà em cũng đâu có cho anh biết trước.
Tôi kiếm lời dỗ ngọt, rồi cũng qua truông. Đâu phải lần đầu nàng nghi tôi. Của đáng tội, nàng nghi đâu đúng đó.
- Em lên R, hội nghị có đông vui không?
- Cũng được được.
- Có ông nào tên Sáu không?
- Không. Chỉ có ông Mười Khang.
- Mười Khang là ông nào?
- Em không biết, nhưng nói tiếng Bắc lai giọng Nam (tức phó thủ tướng Phạm Hùng), anh ở ngoải mà không biết à?
- Trời ! Biết sao nổi em. Họ thay tên đổi họ liền xì !
Tôi biết ngay cơn bão chính đã qua nhưng còn cái đuôi quất lại:
- Biết vầy em ở luôn trên đó làm gạc đờ co cho cô Ba.
- Cô Ba hào? -Tôi biết là Ba Định nhưng giả bộ hỏi.
Mô làm thinh. Tôi cũng có cách đối phó chớ. Bề gì cũng tham mưu trưởng mà ! Tôi bảo:
- Em về đây thủ văn phòng giùm anh vài ngày, anh có công tác gấp liền bây giờ.
Bảy Mô trừng mắt:
- Anh đi đâu?
- Anh đi vô… Tư Chuyền bàn công việc chuẩn bị nơi chỗ cho chiến thương.
- Gấp gì gấp dữ vậy?
- Sắp vào đợt rồi, em không hay gì sao.. Phải có hầm cho một trăm thương binh kia đấy. Kỳ này nổ to chớ không phải lem nhem như mấy kỳ trước.
Bảy Mô thừa biết trong quân y có hai cô Nga rất bén nhạy, nên hạ giọng:
- Để mai, em đi với.
Thời may, Năm Hồng, quân y sĩ của quận đội ở đâu lót tót tới . Theo sau là hai cô y tá tay xách một con gà.
- Dạ, kính chào anh Hai quận đội.
- Xách gà đi đâu vậy chú em?
Năm Hồng là người Hà Nội, trẻ măng, ở đâu trên R mới đưa xuống nhưng vì sợ súng đạn nên đáng lẽ đưa ra D1, xin về đây.
Năm Hồng sốt sắng:
- Em nghe nói anh Hai ở bên Bến Cát mới về, nên em xách con gà trống này lại.
Tư Bé đứng yếu xìu nãy giờ, chộp được cơ hội lên tiếng ngay:
- Mình liên hoan mừng em Bảy đi R về.
- Úy ! Không được đâu chị Tư. Đây là gà y tế chớ không phải gà nấu cháo!
- Gà y tế là gà gì?
- Em sẽ lấy máu nó tiêm vào người bồi dưỡng cho anh Hai.
Mọi người đều sửng sốt, không biết chuyện gì lạ vậy. Năm Hồng giải thích ron rót:
- Đây là phát minh mới của Trung Quốc, mình đã tiếp thu và thực nghiệm ở Hà Nội rồi. Trong hoàn cảnh thiếu thốn của chiến tranh miền Nam, mình sẽ áp dụng nó với chiến sĩ.
- Em đã thực hành chưa? -Tôi hỏi.
- Dạ, em đã làm cho một số chiến thương cấp cứu rồi. Thay vì truyền bioplasma hoặc nước biển, em tiêm máu gà cho họ. Nhưng phải là gà trống cái mào thật đỏ tươi như con gà này.
Năm Hồng trao con gà cho tôi xem.
- Nó phải khỏe, không có bệnh hoạn gì, như vậy máu mới tốt, tiêm vào chiến sĩ mới mau lành bệnh.
- Kết quả có khả quan không?
- Rất tốt ạ. Máu gà trị được nhiều bệnh lắm, nhất là bệnh thiếu máu. Mỗi con gà có một số lượng máu tiêm cho năm người. Bây giờ em đề nghị anh Hai chọn năm cá nhân xuất sắc của văn phòng để em tiêm ạ.
Tôi ngẫm nghĩ hồi lâu. Trời ơi ! Thời kháng chiến không biết ai phát minh ra cái vụ chích nước dừa xiêm. Sau đó lại lấy phát mình của Liên Xô cấy phi la tốp (Filatov) tức nhau đàn bà đẻ xắt nhỏ phơi khô, mỗi viên to bằng mút đũa, rạch da đem cấy vào. Nó sẽ làm sung sức người già và biến người trẻ thành thần đồng. ở miền Tây Nam Bộ rất thịnh hành vụ cấy này. Nhà báo Phạm Anh Tài (tức Sơn Nam) đã từng viết một bài bút ký “Rủ nhau đi cấy” để tuyên truyền cổ động cho filatov của Liên Xô. Bây giờ lòi ra cái vụ tiêm máu gà cồ vô mạch máu ! Không biết có kết quả gì không?
Tôi bảo Năm Hồng một cách ba phải có vẻ hòa hoãn:
- Khoan đã đồng chí. Bây giờ không có đủ năm người.
Tư Bé nói:
- Ai tiêm thì tiêm, em không dám.
- Đây là phát minh của Trung Quốc chớ phải đùa sao?
- Em sợ tiêm xong em mọc mòng rồi gáy e e thì chết dở !
Cái vụ tiêm máu gà cồ bị đùa cợt bất kể nó là của Trung Quốc, cho nên cuối cùng rồi sanh mạng con gà cũng tiêu tùng nhưng một cách thực tế hơn; mọi người được húp cháo gà ngọt lịm.
Tôi bảo Năm Hồng:
- Lần này, cậu phải lo chỗ cho một trăm chiến thương đó nghe.
- Tay chân đâu mà em đào nổi một trăm cái hầm?
Rùng ! Rùng !
Mặt đất rung rinh nhè nhẹ. Mọi người ló đầu ra cửa ngóng về phía Bến Cát. Bóng dáng B52 xuất hiện mờ trong mây. Những trái bom nhỏ bằng hạt tiêu đen rơi xuống hàng loạt. Tôi liên tưởng đến H6 của Sáu Phấn. Không biết nó nện ở đâu? Những cái mả vừa đắp xong lại bị bới tung lên, còn người sống thì không hốt xác được mà chôn.
Từ một tháng nay ngày nào cũng có vài ba trận giã gạo ở phía Bến Cát. Chúng nó biết vùng đó đã trở thành hậu cứ của Bộ Tư Lệnh và các cơ quan Quân Khu. Củ Chi đã bị bào láng rồi thì tới Bến Cát.
Tội nghiệp cho ông Ba Xu, mới vừa ở trong nhà có bàn tay dịu dàng bắt gió, bây giờ ra rừng bị thở không khí hóa học cay xè. Sau vụ chết hụt dưới địa ỡ Củ Chi, chắc ông không dám chui nữa.
Năm nay là năm khói lửa mịt trời ở Củ Chi, Trảng Bàng, Bến Cát, không có một ngày yên tĩnh. Anh Cả Đỏ và Tia Chớp Nhiệt Đới đuổi riết Q16, E268 Bắc Việt, D1, D7 của Quân Khu. Truyền đơn nở trắng đồng thay bông lúa.
Tôi cần có một quận đội phó để giúp đỡ nhưng không biết đề bạt ai. Bảy Mô đã được đề nghị một lần, nhưng mấy bà già trầu gạt tên nàng trước nhất với lý do: thành phần địa chủ. Việc này làm tôi nhớ lại một người bạn tôi quê ở Hưng Yên, cấp thượng úy, xin kết hôn với cô Đào, con tư sản. Đảng ủy không đồng ý. Hai người lén rủ nhau ra Bãi Cháy hưởng tuần trăng mật rồi tự vận, ngư phủ vớt được xác cả hai.
Ở KI7B cũng có một cặp trai gái tự sát vì không được lấy nhau. Họ tìm hạnh phúc bằng cách chia đôi quả lựu đạn. Cũng vì “đảng quỷ” không cho phép. Nhưng bí ẩn bên trong ít ai biết, đảng ủy có một tên muốn cô nàng mà cô nàng không muốn, chính tên này không cho phép.
Bây giờ tới Bảy Mô. Tôi biết có một đám mây đen phủ trên đầu nên không dám…
B52 cày Bến Cát trong lúc trực thăng quần đảo từ Cầu Xe xuống Ba Cụm, Trường Gà, Cỏ Ống, Ba Sòng, Đồng Lớn như cơm bữa. Có một lần chúng đáp xuống đất và xúc ông thiếu tá Hai Phán, tham mưu phó Phân Khu 1, ở vùng gần nhà “nữ anh hùng Năm Cầu Xe”. Rồi ngày hôm sau, trực thăng lại đổ bộ ngoài đồng Sa Nhỏ, lính đi thẳng vào rừng đến ngay chóc miệng hầm, khui lên nắm đầu gọn hơ đồng chí Hoàng Minh Đạo, tham mưu trưởng quận đội và Ngô Phước Tòng, trợ lý ban cán bộ phòng chính trị K20.
Đồng bào xầm xì cho đó là một cuộc dàn cảnh do vợ các ông này đạo diễn cho khỏi mang tiếng là chiêu hồi; xấu mặt chút đỉnh.
Nhưng vẫn chưa hết, một cuộc khui hầm khác được diễn ra không kém phần ngoạn mục. Đó là cuộc khui hầm ở rừng Đồng Lớn, Mỹ bắt được trên mười ông lớn bà bé của hậu cần R. Tuy đó là những màn bi kịch không lạc quan chút nào (Liên Xô có một vở kịch dở ẹc tên là “Bi kịch lạc quan ” mà bọn văn nghệ liếm Hà Nội khen hết mức, coi như đây là mẫu mực sân khấu).
Ban ngày không yên, ban đêm cũng chằng được ổn. Đơn vị hành quân thường được Dakota bắn pháo sáng soi đường, hoặc trực thăng xẹt đèn “ló” sáng trưng, con kiến bò trên mặt đất cũng trông thấy. Đã vậy người ngủ trong hầm cũng đâu có chợp mắt được. Máy bay phát loa kêu gọi dân chúng còn cố bám ở lại các vùng Cỏ Ống, Sa Nhỏ, Đồng Lớn, Lộc Hưng ra ấp chiến lược để tránh bom đạn.
Lính Trung Hòa càng lộng hơn. Chúng kéo cả pháo 105 ra khỏi bót, qua Ba Sòng. Sa Nhỏ tập tễnh theo chân ăn cổ bọn “Tia Chớp Nhiệt Đới”. Bây giờ Củ Chi là một cánh đồng trống láng te, thỉnh thoảng có vài khóm cây lưa thưa không đủ xây căn cứ.
Một hôm tôi gặp Mười Thứ ở bên Đồng Lớn. Tôi mừng rỡ bắt tay y:
- Sao, ông ra chủ lực thấy phấn khởi chứ?
- Phấn cái mẹ gì! Sư nhà nó, giao cho tôi toàn công tác quái gỡ.
- Công tác gì thế anh Mười?
- Mình phục kích ở Xóm Suối chưa đánh đã bị nó phát hiện (nó trước khác nó sau), nó pháo bay một đại đội. Hiện giờ mỗi C chỉ còn năm mươi tay súng. Bố thằng tham mưu trưởng nào cũng không đánh được.
Tôi giật mình, E268 là chủ lực của khu, trước khi xuất phát lớn lại bị tiêu hao như vậy thì làm sao? Tôi đành tìm cách an ủi anh Mười sắp nhỏ:
- Không sao đâu. Có người về R cho tôi biết cán bộ ta ngoài Bấc vô đông lắm. Mấy trăm cấp úy, trên trăm cấp tá. Có cả tướng, mà tướng lớn nữa đó anh Mười, chớ không phải tướng trung đâu!
- Ông nào lớn hơn ông …
- Ông nào?
- À, tớ chỉ nói thế thôi.
- Này, ở đại hội mừng công nă m 64 tô í có hân hạn h được bắt tay anh…
Mười Thứ không nói gì, vội vã phang ngang:
- Cao lắm là ông Mười Khang chớ gì!
- Mười Khang nào? -Tôi hỏi.
Mười Thứ rỉ tai tôi, rồi bảo.
- Vào thay ông kia đấy.
- Ổng về Bắc công tác nông thôn tiếp… Ổng giỏi về hợp tác xã mà !
Mười Thứ lại rỉ tai tôi:
- Đừng có nói với ai hết nhá.
Tôi gật đầu, làm bộ ngạc nhiên không biết gì về vụ Sáu Di chết ở Long Nguyên.
Cán bộ ngoài Bắc mới vô, lạ nước lạ cái kiểu như Mười Thứ, đến đất Củ Chi, lại phụ trách công tác phức tạp là quận đội, phần lớn không làm được việc gì. Họ đâm ra bất mãn hoặc chê dân Nam Kỳ vô kỷ luật. không chỉ huy được. Một số xin thôi công tác, một số chết lãng nhách trước sự mỉa mai của đồng bào “sinh Bắc Tử Nam”.
Chết cho Nam Kỳ , nhưng chết như thế nào cho đáng cái chết. Chỉ một số ít thích nghi được với chiến trường, chịu khổ, chịu nguy nhưng rồi cũng lớ ngớ nên cũng bị bắt, bị khui hầm hoặc chết mà không ai báo cáo về trên.
Thử tưởng tượng một em bé 16, 17 tuổi đang học cấp hai ở miền Bắc, bỗng nhiên bị lùa vào Trường Sơn đi giải phóng miền Nam. Chúng có biết gì là bom pháo, sốt rét, nên chết thảm thương. Khi gần xảy ra Mậu Thân, những đơn vị thiếu niên này bị đưa vào Trường Sơn, không có súng. Chỉ tay không, hộc tốc đi đêm đi ngày, vô cho kịp Tết. Nhiều đơn vị vô tới trường tân binh của Lê Xuân Chuyên (em nuôi Trần Độ, hồi chánh Mậu Thân. Năm 1975 Việt Cộng vô Sài Gòn bắt đem ra Hà Nội xử bắn, gởi trả ba lô về cho vợ ở Hàng Xanh). Vô tới đây chỉ học động tác cơ bản vài tuần rồi bổ sung cho các đơn vị, phần lớn là đến Củ Chi, lò nướng BBQ vĩ đại nhất của Bác Hồ.
Nhiều cậu cầm súng không nổi vì ốm yếu, bệnh hoạn nhưng vẫn phải đi. Tôi đã xin được hai trăm “tay súng” kiểu này để trấn thủ Củ Chi trong tết Mậu Thân.
Ông Mười Thứ tâm sự với tôi:
- Quân đội ở đây là thứ không nghe lệnh cấp trên, coi cấp trên như thảo giái!. Mình vừa ra lệnh vừa lạy mà chúng vẫn không thi hành. Chỉ huy một anh du kích còn khó hơn chỉ huy một đại đội chính quy. Tôi xin chịu! ông đến lãnh chức quận trưởng thay tôi bằng cho tôi cục vàng.
Lôi tôi còn biết khuyên dứt làm sao được. .
Hôm tôi tổ chức tiệc tiễn anh Mười rời cơ quan. Tôi nói cho anh em cơ quan đỡ buồn:
- Ở trên vừa thành lập trung đoàn, đồng chí Mười Thứ được đưa ra làm tham mưu trướng trung đoàn. Chúng ta sẽ sát cánh chiến đấu với trung đoàn mới này và luôn luôn coi đồng chí Mười Thứ là cố vấn của quận đội ta.
Sự thực Mười Thứ ra trung đoàn 168 vừa thành lập, quân số chừng chục rưỡi anh lính vịt xiêm như độc giả thấy ở chương trước. Rồi cái trung đoàn này tan biến đâu mất không nghe đánh đếm ở đâu.
Còn Mười Thứ kể từ đó tôi cũng không gặp lại nữa.
 
 
Chương 84
Tâm sự những con thịt sắp bi đút vào lò quay Mậu Thân
DKB là loại vũ khí gì, do Tàu hay Nga cung cấ

Tôi được ông Ba Xu tư lệnh cho về làm quận đội 1 trưởng Củ Chi là vì tôi thuộc địa hình vùng này. Mục đích của ông là giao cho tôi chôn giấu “vũ khí mới”. Bây giờ ngồi viết lại những dòng này tôi mới thấy khiếp đảm cái tâm địa giết người của nhà Hồ. Chúng giết người không ngán tay bằng bất cứ phương cách nào, kể cả thuốc độc, giết bất cứ ai, kể cả đồng chí của chúng. Nhưng sở dĩ người ta lầm bọn Bộ Chính Trị và Trung Ương đảng Cộng Sản là vì mồm chúng luôn luôn rêu rao: Phục vụ dân tộc, giải phóng nhân loại, “Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi” (Hồ tặc)… Lầm, lầm to nếu ai tin chúng. Sau năm mươi năm nói láo bịp dân Nam Kỳ, ngày nay bộ mặt thật nham hiểm của chúng đã rơi xuống. Và một trong những nguy cơ sụp đổ mà chúng phải đối phó rất là khó khăn, là vấn đề Nam Bắc, ngay cả trong đảng cướp mặt đỏ. Dân Nam Kỳ đã sáng mắt ra với câu nói trên kia của “Bác” rồi. Họ sẽ lật đổ Cộng Sản Hà Nội chớ không phải đế quốc nào cả.
DKB là chữ viết tất “đạn khoan bê tông” cũng như SKZ là “súng không giật” hoặc DKZ là “đạn không giật” vậy. Chính ở ngoài Bắc chế tạo đạn này chớ không phải
Nga Tàu gì ráo.
Được lệnh ông Ba Xu, tôi tiễn Mười Thứ xong, thì hộc tốc đi xuống Phú Hòa Đông để tìm địa điểm chôn giấu. Theo tôi nghĩ thì đạn này đưa bằng tàu từ ngoài Bắc đổ lên bãi Cồn Chim, ở quận Thạnh Phú tỉnh Bến Tre. Không phải chỉ trong thời điểm Mậu Thân mà suốt mấy năm tên Phạm Ngọc Thảo là tỉnh trưởng Kiến Hòa.
Xin phép dừng lại ở đây một đoạn khá dài để nói về tên gián điệp nguy hiểm này, đã được ông Diệm cho làm tỉnh trưởng Kiến Hòa.
Thảo là ai? Tôi xin nói ra một ít những gì tôi biết về tên này. Hắn còn có tên là Thảo Lé vì hai mắt hắn bất đồng. Hắn hơi gầy, khuôn mặt giống y Phạm Ngọc Thuần, anh ruột của hắn. Thuần làm phó chủ tịch ủy Ban Kháng Chiến / Hành Chánh Nam Bộ kiêm Miền Nam Việt Nam nghĩa là có quyền hành cả miền Nam Việt Nam chớ không riêng ở Nam Bộ trong thời chống Pháp, cùng với Phạm Văn Bạch là chủ tịch.
Tôi biết Thảo Lé ở Bến Tre, lần đầu tiên gặp tại quận Sóc Sài, tại nhà chị Sáu Thôi là đoàn trường Phụ Nữ Cứu Quốc, trong một bữa tiệc rất lớn, tiễn chân Thảo lên Nam Bộ nhậm chức trưởng ban đặc vụ trực thuộc ủy Ban Kháng Chiến / Hành Chánh Nam Bộ. Tại sao có bữa tiệc này? Vì mụ Sáu Thôi có chồng tên là Phan Thêm, bí thư tỉnh ủy Bến Tre. Tên này được đưa về làm chính trị viên của “ban đặc…vụ” này. Lúc bấy giờ tôi là ủy viên Thiếu Nhi Cứu Quốc trong ban chấp hành Thiếu Nhi Cứu Quốc tỉnh (hình như là năm 1947, 48 gì đó), đang đi tổ chức Thiếu Nhi ở các quận, cùng với cô Thu Ba. Một người bạn của tôi tên là Hồ Hoàn Kiếm đang là tình nhân của cô bé này. Kiếm đang làm bí thư riêng cho Phan Thêm. Kiếm có rủ tôi đi theo ban này. Hồi đó dễ dàng lấm, muốn vô cơ quan nào chỉ cần một người giới thiệu, không khảo tra lý lịch ba đời cụ kỵ gì cả, thế là thành cán bộ rồi. Tôi cười với Kiếm :“Cái ban gì lại ‘đặc… vụ ‘ thì tao không chơi” nên không đi theo. (Thực chất của nó là chỉ huy gián điệp toàn miền Nam của Cộng Sản).
Sau buổi tiệc đó, ban đặc vụ đi công tác “đặc vụ”, còn tôi thì đi tổ chức thiếu nhi. Mãi đến năm 49 thì phải, quân UMDC (Unités militaires démocratiques Chrétiennes?) của Le Roy chiếm đóng tỉnh Bến Tre, tôi chạy xuống miền Tây và vô làm phóng viên cho tờ báo Tiếng Súng Kháng Địch. Năm 1950, tôi đi theo chiến dịch Long Châu Hà với Sơn Nam (tức là Phạm Anh Tài) lên Ba Thê, Bảy Núi và các vùng Định Mỹ, Ba Dầu. Bất ngờ tôi gặp Thảo Lé là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 410 thuộc trung đoàn Tây Đô do Huỳnh Thủ làm trung đoàn trưởng. Nguyễn Văn Sa (anh thằng Điếc, bạn tôi) làm chính trị viên. (Hồi đó chưa có chức chính ủy, sau này Lê Đức Thọ vô mới bày đặt chức này).
Thảo Lé lầm lì, ít nói, đánh giặc rất gan. được lính kính phục. Vợ y là bà Phạm Thị Nhiệm, em của giáo sư Phạm Thiều (giám đốc đài phát thanh Nam Bộ phân sở A; Huỳnh Văn Tiếng, chồng ca sĩ Xuân Mai (sau ly dị) phụ trách phân sở B).
…. Tôi đọc thấy tài liệu nói là Thảo Lé đã cứu Đức Cha Thục ly kỳ như phim kiếm hiệp, được Đức Cha nhận làm con đỡ đầu và tiến dẫn với ông Diệm. Ông Diệm dùng Thảo liền lập tức. Có người phản đối, thì ông Diệm hỏi:
- Các người hiểu Thảo bằng Đức Cha không?
Thế là ai đó hết ý kiến.
Sở dĩ tôi đá động đến Thảo Lé một chút là vì tôi nghĩ là những chuyện đổ vũ khí miền Bắc lên bãi Cồn Chim có dính với cặp mắt bất đồng của hắn không nhiều thì ít, chớ không phải tôi muốn đặt vấn đề “Thảo Lé là cái gì”. Vì hai lẽ:
* Ván bài đã lật ngửa rồi, khách thua, thua phộc túi; khách ăn, ăn no phè, sòng bài đã tỏ tịa, còn nhắc làm gì nữa.
* Biết đâu sẽ chẳng có người hỏi vặn tôi: “ông biết Thảo Lé bằng Đức Cha không?” thì tôi… Nhưng cũng xin nói rằng trong lịch sử gián điệp tôi chưa biết hoặc đọc thấy trong sách ghi tên gián điệp nào thành công dễ như Thảo . Vậy xin để cho những ai “biết Theo Lé bằng Đức Cha” nói, còn tôi xin trở lại vũ khí DKB.
Tôi dắt ba cô cậu “dũng sĩ” đi xuống Phú Hòa Đông (bây giờ chia hai vì tình hình quá căng thằng, thành Phú Hòa Đông và Tây). Ở trên bảo đặt DKB trong ấp chiến lược Cây Bài bắn vô Đồng Dù, thì lại cũng ở trên không cho phép. Một người là tư lệnh Ba Xu kiêm phó bí thư khu ủy, một đàng là mụ Hai Xót, ủy viên khu ủy. Mụ ta vểnh mỏ chửi Ba Xu mà tôi phải dẩu tai nghe:
- Tư lệnh gì ngu vậy. Đặt trong ấp chiến lược bể hết cơ sở của tôi sao? Dẹp đi ! Thứ đồ ba cái hỏa tiễn.
Tôi suýt cười:
- Dạ, cái “ấp… chiến lược” của chị có bể cũng có cách hàn lại mà chị Hai!
- Tôi nói không được là không được. Cãi tôi là bị kỷ luật.
Gà mái đá gà cồ. Tôi đang lưỡng lự không biết phải làm sao, thì may quá, tôi nảy ra ý kiến chôn mớ vũ khí đó bằng những cái hầm của các lò chén lò nồi ở đây.
Số là dân xã này đào đất sét để nặn chén, nên có những cái hầm sẵn thất nghiệp, nghĩa là không có chứa đựng gì hết. Đào một cái hầm để cất giấu mười trái DKB thì phải dùng cả chục nhân công chớ không ít. Bây giờ có sẵn, thiệt là trời cho.
Mụ Hai Xót hầm hầm dọa tôi:
- Cậu muốn làm gì phải cho tôi biết.
Tôi nghĩ thầm: Con mẹ này ghê thật. Tôi sẽ cho bà chạy một bữa sút trứng non cho coi…
(Cách đó vài hôm, xe tăng càn, tôi kêu đám em út của tôi giở nắp hầm, nhưng mấy đứa nhỏ bảo hầm không đủ chỗ. Tôi bảo mụ: ” Vậy thì chỉ có nước chạy đua với xe tăng thôi chị Hai. ” Thêm chị Hai bầy trẻ đeo cứng tôi. Tôi phải lôi mụ ta qua một cánh đồng trông càn trên lúa chín, hang hố, chướng ngại… Vô đến mé vườn, mụ ngã lăn ra, giang tay giang chân thở như trâu cắt cổ. Cho bà bỏ cái thói làm tàng).
Chiều hôm đó, tôi được giấy của ban tham mưu quận đội Đào Hải, trưởng ban cho tôi biết có việc gấp. Tôi phải về ngay.
Thì ra DKB đã tới. Hai anh chàng Bắc Kỳ từ trên R mới xuống. Chúng nó phụ trách sử dụng DKB. Một thằng tên Lũng, một thằng tên Lanh (tên cúng cơm, không phải bí danh Trường Sơn). Tưởng xa lạ gì, chẳng dè đó là học trò pháo binh của tôi ở Sơn Tây, cả hai đều cấp bậc B trưởng.
Gặp tôi, hai đứa mừng suýt chết. Tôi kêu chị nuôi nấu nướng đãi hai chàng một bữa no nê, xong uống trà, hút thuốc thơm.
Lanh trình bày với tôi:
- Đây là vũ khí mới thầy ạ . Lúc thầy bắn thực nghiệm ở Xuân Mai thì chưa có loại này.
Năm 1963, tôi đã bắn thực nghiệm loại hỏa tiễn từ hành (H12) Kachiusa của Liên Sô bắn xa 8kum. Nhưng quân giới Việt Cộng thùng bệ và nòng DKZ 75 ly (không có chó bắt mèo…) để thí nghiệm. Thay vì bắn vòng cầu, với sự “sáng tạo” phi thường của các ông quân giới, thì bắn thẳng chỉ xa được 1km. Nó có sức nóng rất cao (2000 độ ?), có thể xuyên sắt thép, cho nên dùng bắn xe tăng tàu chiến rất hiệu quả .
Nhưng vì nó nặng nề, cồng kềnh nên không thể dùng cho du kích chiến được, nên Liên Xô chế tạo B40 và B41 gọi là hỏa tiễn tay như Pháp gọi là Tromblon VB nhưng tầm bắn xa của B40 chỉ trong vòng một trăm tới 200 thước. Còn B41 thì đi được năm trăm thước và phá bùng nhùng lưới chì gai hoặc xuyên thép, bê tông. Sau này Việt Cộng có đủ B40 để trang bị cho mỗi tiểu đội để đánh xe tăng Mỹ .
Tôi đã từng học và dạy trường pháo binh, nên tôi sử dụng hầu hết các loại pháo mặt đất của Liên Xô, Tàu, Nhựt, Đức, Pháp, Mỹ, nhưng chưa hề nghe tên DKB.
Lanh cho tôi biết Quân Khu này sẽ có đến 80 quả DKB . Tôi bảo hắn cho xem thử hình thù ra sao.
Vừa đi hắn vừa nhắc lại chuyện cũ:
-Hồi đó em chưa biết gì về pháo phiếc hết. Thấy thầy bắn ngay tệnh chiếc lô-cốt, em phục quá.
Thằng Lũng tiếp thêm:
- Tội nghiệp con chó mực của ai bị làm vật hy sinh, bỏ trong lô-cốt bị cháy thui.
- Đồng chí Lê Duẩn còn phải vỗ vai khen thầy, và các cố vấn Liên Xô đều đến bắt ta mời thầy hút thuốc lia lịa. Sau đó lại còn cái màn bắn mục tiêu di động, thầy bắn chiếc rờ moọc giả lôi sau đít xe môlôtôva cũng tan luôn.
Tôi nói:
- Ở ngoài đó có đủ thứ phương tiện nên bắn dễ lắm. Còn vô đây không có gì hết. Ngay cả ống bót pháo để đo mặt đất thăng bằng cũn gkg có. Tai hại hơn, bắn pháo mà không có bản đồ dùng cho pháo binh thì khác nào thằng mù tuị bây ơi!
Hai đứa dắt tôi đến chỗ DKB nằm. Tôi thấy mấy cái thùng gỗ, mỗi cái dài một mét, ngang bốn tấc. Bên ngoài thùng đạn của Trung Cộng, Liên Xô đều có in chữ đen rất đậm tuy tôi không đọc được, nhưng bụng vững tin hơn, còn các thùng này thì trơn lu không có chữ nghĩa gì hết. Thằng Lanh lấy vít và búa xeo ván ra.
Bên trong hai trái đạn trám bít lòng thùng gỗ. Chúng đen thui như thổ táo, trên thân cũng không có chữ nghĩa, số siếc gì hết ráo, chỉ có mấy chữ DBK bằng sơn trắng nhưng có vẻ người in cũng run tay (vì làm điều bất chính) nên các chữ cũng không ngay thẳng. Trên hai đầu đạn có hai ống nhôm. Tôi biết đó là để tô (ngòi nổ) nên không hỏi làm gì. Hai cái đuôi dài có khía như đuôi đạn cối đặt bên cạnh đầu đạn, trong đó có chứa thuốc phóng.
Tôi hỏi thông Lanh.
- Đây là vũ khí mới hả?
- Dạ.
- Bắn cách nào? Ai sản xuất vậy? Trung Quốc hay Liên Xô ?
- Dạ của mình. Mát-anh Việt Nam đó thầy.
Tôi ngẩn người ra, nhưng không để lộ vẻ ngạc nhiên, sợ tụi trẻ mất tin tưởng ở vũ khí mới. Chính tôi đã mất tin tưởng trước chúng nó.
Thằng Lanh giải thích tiếp:
- Đây là do ông kỹ sư méo mồm sáng chế đấy thầy.
- Kỹ sư méo mồm à ai?
- Dạ, em cũng không biết, nhưng tụi pháo binh cùng đi với em rỉ tai em như vậy thì em cũng biết vậy chứ không gặp ông kỹ sư đó bao giờ. Hình như ông ta là cục phó Cục Quân Giới, làm trưởng khoa sáng chế, điều khiển một nhóm kỹ sư ở đại học Bách Khoa, trong đó có thằng thiếu úy Trần Quang, con trai trưởng của ông Trần Độ (tức Chín Vinh. Cha: Vinh, con: Quang).
Lanh tiếp thêm:
- Đám kỹ sư này hiện ở trên đất Miên, lập Binh Công Xưởng chuyên môn sản xuất cho mình xài.
Thăng Lanh lại tiếp:
- Súng này dễ bắn lắm thầy ạ !
- Súng đâu?
- Dạ, ủa… quên, ở đây chỉ có đạn thôi, em chưa lãnh súng. Nhưng em thấy súng rồi. Nó như cái máng cho lợn ăn vậy. Muốn bắn, ta chỉ cần đặt trái đạn lên máng. Chiếc máng kê trên hai chân gác tréo như gàu sòng tát nước. Phía sau đuôi có hai sợi dây điện hai cực, mỗi mối gắn vào bình điện đặt xa đuôi chừng năm đến bảy thước, khi được lệnh bắn ta kéo công tắc. Hột nổ bốc cháy thuốc tống phóng đầu đạn đi.
- Rồi sao nữa?
- Dạ, thì đạn đi vòng cầu hoặc đi thẳng.
- Rồi sao nữa?
- Dạ nếu cái hạt nổ gắn ở đằng đầu rơi cắm xuống đất hoặc có vật gì cứng cản ngang thì nó mới nổ, còn nếu đạn rơi đánh phịch xuống đất thì nó câm luôn.
Tôi bảo:
- Tao hiểu rồi. Đậy nắp “hòm” lại, đem “chôn” đi!
Thằng Lanh và thằng Lũng ngó tôi hồi lâu rồi chậm rãi thi hành lệnh. Có lẽ chúng lấy làm lạ vì những tiếng tôi dùng, không phải vô tình. Đạn dược như vậy thì bắn làm sao?
- Các cậu biết “độ tản mác” của nó là bao nhiêu không? -Tôi biết nhưng vẫn hỏi.
- Dạ từ 800m đến 1 000m ạ !
Tôi không hỏi cũng không nói gì thêm. Vũ khí mà đơn sơ như ống thụt bố trẻ con chơi thì bắn chính xác làm sao được (độ tản mác tức là cái sự không chính xác của viên đạn. Việt Cộng thường dùng danh từ né đi để che lấp sự ẩu tả của mình).
Thằng Lũng lại nói:
- Ở đây em thấy có nhiều tre trúc, vậy tiện cho việc sử dụng súng lắm.
- Nghĩa là sao?
- Dạ chiếc lòng máng bằng sắt rất nặng, muốn di chuyển phải hai người khiêng. Để đỡ tốn sức người, ở trên đơn giản hóa bốn cái chân bằng sắt nặng trên hai mươi ký.
Nghĩa 1à ….
- Dạ khi cần bắn thì chặt gỗ rừng làm chân chống chiếc máng lên ạ.
- Rủi gỗ mềm bắn nó gẫy cây làm sao?
Nghe tôi hỏi, cả hai lặng thinh. Súng ống giết người mà làm như trò chơi. “Cứ bắn! Nghe tiếng nổ là được rồi. Bên Mỹ tụi phản chiến sẽ ào ào đứng lên chống đối. Một phát súng, dù bắn trật mục tiêu, rủi chết dân chúng, nhưng vẫn có tác dụng chính trị rất lớn!” . Đó là lối lãnh đạo chiến tranh của Việt Cộng, do chính miệng ông tư lệnh.Ba Xu truyền đạt cho tôi.
Trong vài chương sắp tới, bạn đọc sẽ chứng kiến “tiếng gầm” của DKB. Nó như thằng câm bay lộn trên trời rồi nhào xuống đất, cũng câm luôn.
Năm 1965, đại tá Nguyễn Văn Bảo (anh ruột của Nguyễn Hộ vô Cộng Sản hồi 17 tuổi, ông này đáng lẽ vô Trung Ương khóa 1, nhưng vì là dân Nam Kỳ nên chỉ được lãnh chức hàm, mãi tới nay mới biết mình ăn bánh vẽ và lên tiếng phản đối). Bảo về Nam bằng tàu ngầm, đổ bộ lên bãi Cồn Chim cùng một số ăn trộm trâu đeo hàm trung tá, thiếu tá . Từ đó bò về khu VI rồi lên R tản đi ăn trộm khắp nơi. Bảo về tới Củ Chi thì ăn loạt B52 đầu tiên vùi xác, chưa kịp đào hầm khoét vách nhà nào. Lúc đó Nguyễn Hộ đang “lãnh đạo” công nhân ở Sài Gòn chuẩn bị nổi dậy.
Bảo đem theo chuyến tàu ăn trộm kể trên được bốn khẩu pháo Liên Xô 120 ly. Súng này bắn xa được 6km, nhưng mỗi khẩu nặng 500 ký lô. Ở ngoài Bắc phải dùng xe môlôtôva để di chuyển, về Củ Chi làm sao khuân vác. Tuy vậy chúng cũng lọ mọ cõng về tới đây để rồi vùi xác luôn với chủ, chưa bắn được phát nào. Những chuyện đó tôi biết rõ vì tôi là người sử dụng chớ ngoài ra không ai khác. Cùng “đi” với anh Cả Bảo và bốn khẩu pháo Liên Xô còn có một số “tá” trẻ chưa vợ, trong đó có thiếu tá Út Việt.
Mãi ba năm sau, không có pháo nào ở miền Bắc vô bằng ngõ Cồn Chim nữa hết. Có lẽ vì tên Thảo Lé đã văng dên nên không ai mở cửa biển cho vào. Khi tôi trở về Bến Tre năm 1965-66 gì đó, tôi có đến Cồn Chim thì thấy xác một chiếc tàu vùi chôn giữa bãi cát. Nó bị Không Quân Việt Nam Cộng Hòa đánh chìm và bốc hết vũ khí.
Xem thấy mặt vũ khí mới rồi về văn phòng, tôi nằm ngay chừ như chết. Đám nhân viên văn phòng tưởng tôi ốm, chạy lăng xăng lo thuốc men và tẩm bổ. Tôi đau thật, nhưng bệnh của tôi chúng làm sao chữa được, vì là bệnh nội tâm, “bệnh DKB”. Thấy vũ khí ở trên cho luồn về để chuẩn bị “ăn to”, tôi mất tinh thần thật chứ không phải chơi. Thà cứ để như trước kia đánh chập chùm năm ăn năm thua với Anh Cả Đỏ và Tia Chớp Nhiệt Đới mà có khí thế hơn, chớ vác ba trái DKB này tận ven đô mà pháo vô Sài Gòn thì thiệt là trò hề, chẳng khác nào súng cà lăm của triều đình Huế hồi xưa vậy. Nhưng ở trên bảo thì cứ làm. Làm tới đâu hay đó. Bác bảo đi là đi, nhưng bác không bảo lủi cũng cứ lủi.
Bỗng thằng Ngọc, liên lạc hỏa tốc, chạy về báo cho tôi biết có “ba ông kẹ” muốn gặp tôi. Tôi ngồi bật dậy, khoác súng và sắc cốt vọt ngay. Bụng nghĩ chắc là ông Ba Xu hay ông Năm Lê xuống kiểm tra công việc chăng?
Đi dọc đường gặp Đào Hải, trường ban tham mưu của tôi. Hải nói hụt hơi:
- Có ông Tư Chi tới.
Tôi nghĩ bụng “Tư Chi là Trần Văn Trà, ông Trà xuống tận đây là chuyện không nhỏ”. Rồi cả đoàn chạy bạt mạng tới nơi hẹn, băng qua đường số 7 cắt ngang nhà cô Tám Chá cũ, đi cặp Lộ 7 men theo rừng cây mua đến một lối mòn nhỏ. Cậu liên lạc dắt tôi đi vào đường mòn một quãng khá xa thì thấy mấy cái đầu lố nhố, rồi lộ ra mấy cái lưng áo cứt ngựa của quân chính quy Bắc Việt.
Thằng Ngọc bảo:
- Đó là toán bảo vệ mấy ông lớn, còn mấy ổng ở trong sâu.
- Ông lớn nào? -Tôi gắt.
- Tôi nghe nói Năm Sài Gòn, Tư Chi và ông gì nữa.
Năm Sài Gòn là Năm Truyện, sư trưởng công trường 9, Sáu Khâm sư trưởng công trường 5. họ tới đây là có chuyện to rồi!
Đến chỗ đám người lúm khúm, chúng tôi ngồi bệt xuống đất để nghỉ lấy lại sức, và thở cho khỏi đứt hơi.
Thằng Ngọc dẫm nhằm một cặp chân từ trong bụi ló ra. Nó kêu oai oái:
- Chân thây ma nào đây?
- Đây là căn cứ của tao, thây ma nào? -Đào Hải bảo- Đây là thằng Mười Long ở văn phòng ông Năm Lê mới cưới vợ không có chỗ giao duyên nên tới đây mượn hầm của tao làm đỡ đỡ. Kệ nó, để cho hai vợ chồng nó yên thân. Mai thằng Long phải luồn vô ven đô bỏ vợ lại đây. Mẹ, cưới chưa kịp… gì hết đã đi công tác. Các chả chơi ác quá.
Vợ Long là cô Nguyệt nấu bếp của Năm Lê. Thay vì gởi cô ta sang Bưng Còng cho Tám Lê (quân y sĩ) nạo, thì ông lại gán cho Mười Long. Thằng Long nào biết gì, tưởng là ân huệ của cấp trên nên đớp ngay cô bé, dắt đi trăng mật. Năm Lê phong cho chức B phó, vào ven đô đợt một, nằm lại luôn, không về với vợ nữa.
Nghỉ khỏe một chút, cả bọn chúng tôi do Đào Hải kéo ngọn, chạy việt dã bạt mạng. Đến lúc lỗ tai hơi lùng bùng, Hải dừng lại trỏ tay, bảo tôi:
- Các chả ở trong đó, anh Hai vô đi, tụi em ở ngoài này canh gác chờ anh.
Tôi vừa đi trên lối mòn vừa dớn dác ngó. Bỗng một giọng nói vang ra:
- Thằng Lôi đấy à? Vô đây!
Giọng ai không phải của Tư Chi (Chi là Lê Đình Chi, luật sư, đi kháng chiến bị phi cơ Pháp bắn chả ở Tháp Mười. Trà định nơm bà vợ lão ta. Bà vợ muôn thủ tiết với chồng nên đưa con gái là Thoa ra đỡ gạt. Thoa lúc đó đang mùi với gã Thiên Lôi… Bây giờ ông ta lấy tên Tư Chi để làm kỷ niệm với bố vợ chăng?)
- Mày số dách đó nghe Lôi ! Nhớ “moa” là D trưởng 303 Hoàng Thọ không?
Nghe đến đó tôi biết là Năm Sài Gòn. Hồi đó Hoàng Thọ bị Lê Duẩn mạo thư Nguyễn Bình gạt xuống miền Tây, bất giết ở Cạnh Đền, Năm Truyện lên thay. Tôi chỉ là mật mã viên trong văn phòng Lê Đức Anh.
Tôi đáp:
- Giỡn hoài anh Năm, em có gì mà anh gọi là số dách?
- Mày vừa là thầy pháo, vừa là D trưởng, vừa là quận trưởng. Hỏi ai được như mày! Tao kể ra còn thua mày đó. Mày có đổi chức tao, tao đổi liền!
- Chọc quê em út hoài anh Năm!
Tôi ngó chung quanh không thấy ai là Trần Văn Chè cả . Thì bỗng một người lên tiếng:
- Tao cũng là Tư Chi, nhưng Chi này phải lấn rách áo mới xúc được chén cơm chớ không phải Tư Chi kia, ăn cơm xong có người rửa chén.
Năm Truyện tiếp:
- Đó là tham mưu trưởng của tao. Ông kia, mày lạ à?
Tôi nhìn lại. Thì ra Tư Nhựt.
Hai đứa nhào lại ôm nhau. Tư Nhựt hôn tôi như mưa, vừa hôn vừa kêu:
- Nhớ thầy quá thầy Hai ơi! Về tới đây mà không gặp thầy buồn còn hơn không gặp vợ. Thầy mạnh giỏi chớ?
- Mạnh. Còn ông?
- Sốt rét li bì.
Năm Truyện nói:
- Tư Nhựt được danh hiệu anh hùng miền Nam và thăng cấp E phó, quyền E trưởng.
Tư Nhựt lắc đầu:
- Đó là nhờ thầy Hai. Không có thầy tôi không làm nên giống gì hết. Kỷ niệm nhiều quá hả thầy Hai?
Bỗng có tiếng súng đoàng đoàng. Thằng Ngọc chạy ào vào kêu:
- Xe tăng càn, xe tăng càn, anh Hai.
Tôi bình tĩnh bảo:
- Em coi rõ hướng địch rồi vô báo cáo.
Chập sau nó vô. Tôi bảo:
- Mình chuyển sang căn cứ dự bị. Em ghé quán gùi một két bia và khô mực. Mà này, có đứa nào bảo nó đi theo, mua gà rồi đem vô sau.
Thằng Ngọc dạ một tiếng rồi chạy vù. Tôi còn dặn:
- Nhớ lấy nước đá !
- Mày vậy là cha Tây rồi! -Năm Truyện vỗ vai tôi.
Tôi dắt cả phái đoàn về căn cứ dự bị. Cũng phải chạy chớ không dạo mát được. Tới nơi cũng đã xế chiều. Càn vô rừng tìm chỗ bẽ nhánh cây mà ngồi, nằm chớ đâu có giường ghế gì, có hầm là quý rồi. Tôi bảo Đào Hải cảnh giới bảo vệ bốn bề. Đào Hải là người Bắc, rất quý tôi. Tôi cũng rất thương hắn. Tôi định kiếm vợ cho hắn. vừa kiếm xong, chưa kịp cưới thì hắn chết thui dưới hầm (sẽ kể tới).
Năm Sài Gòn và Tư Chi oải gân (lớn tuổi hơn Tư Nhựt) nên ngả xuống lá cây ngủ liền, giao phó thân xác cho thằng Thiên Lôi. Còn tôi và Tư Nhựt tri âm, xa nhau hơn một năm, nay gặp lại, Nhựt hỏi ngay:
- Sao chưa vô đề cho rồi, ông nội?
Tôi lặng thinh. Trong lòng ngổn ngang trăm mối trăm bề. Biết vô đề nào bây giờ?
Tư Nhựt tiếp:
- Con nhỏ lên trên R được hoan nghênh nhiệt liệt và được danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ toàn miền Nam. Cô bé bị sốt rét nặng, nhờ bà Định đem về nhà riêng nuôi một thời gian mới mạnh. Cô bé đâu rồi?
- Đang đi với bà Năm Đang chuẩn bị cơ sở xuống đường.
- Còn lấn cấn vấn đề gì?
- Cô ta là địa chủ, ông không biết à?
- Địa thì địa chớ, dũng sĩ hai lần không bù lại được sao?
- Bà Năm Đang đã kết nạp cô ta vô đảng, bị Hai Mõ phản đối. Ổng cho là sớm và sai nguyên tắc đảng. Tôi đề nghị cô ta làm quận đội phó, ổng cũng gạt. Trong lúc đó lại phong cho Tư Bé… Thôi bỏ đi, nói chuyện khác vui hơn.
Tôi hỏi Tư Nhựt:
- Ở gần mặt trời có đánh hơi được gì sắp tới không?
- Thì chắc dưới này thầy cũng hay rồi.
- Mù tịt, hay cái gì?
- Đánh toàn miền Nam. Nếu thuận tiện, lật luôn Sài Gòn. Nếu bất lợi cũng sẽ gây được thanh thế với dân Sài Gòn. Vì lẽ đó, ông Năm xuống đây.
- Còn ông Tư (Nhựt)?
- Tớ sẽ đi mũi nhọn vô ven đô trước nhất.
Tôi nhìn nét mặt Tư Nhựt không vui. Hắn là người hồn nhiên, chân thật, không bao giờ giấu dốt với tôi. Đặc biệt gan dạ, lính rất kính nể.
Tư Nhựt nói:
- Anh Năm muốn ghé đây bắt thầy đi theo làm sĩ quan tham mưu cho ổng trong trận tới này. Theo tôi thầy phải là tham mưu trưởng E mới đúng. Thầy nghĩ thế nào?Nếu thầy đồng ý, tôi đề nghị anh Năm xin với anh Ba cho thầy đi theo cho vui. Một mình tôi, thiếu thầy, tôi thấy lạnh lạnh thế nào!
Tôi lặng thinh:
- Ở trên đã coi chưn coi cẳng cả rồi. Đặt đâu thì mình ngồi đó chớ đâu dám cãi. Hễ lãnh nhiệm vụ thì làm hết khả năng thôi. Cứ ở đây cà lơ với Anh Cả Đỏ hay Tia Chớp Nhiệt Đới cũng được rồi.
Năm Truyện đang ngáy pho pho bên cạnh, bỗng lên tiếng:
- Giỡn hoài mày nhỏ. Thằng Tia Chớp Nhiệt Đới là thằng chuyên môn đánh du kích ở Phi Luật Tân, Thái Lan, Nhựt Bổn cho nên Westmoreland mới trấn nó vô Củ Chi đó đừng có giỡn! Qua mấy trận Gò Nổi, Cây Trắc, Bàu Trâu chưa ớn nó sao? Để tao nhắn Tám Hà tới sau sẽ bắt mày theo.
Năm Truyện tỉnh ngủ luôn, ngồi đậy nói chuyện râm ran. Tôi hỏi bật mí:
- Anh đi sâu xuống “đó” à?
- Chớ không đi thì làm sao về Sài Gòn thăm nhà được mày? Quê mày ở Nhà Bè phải không? Thằng Năm No nói với tao như vậy. Nó đang tu dưỡng tại trường Trung Sơ.
Tôi biết “tu dưỡng” nghĩa là gì nên không hỏi. Năm Truyện nhìn cái ba lô tôi. Tôi biết ý:
- Anh đi xuống dưới đó, mà mang cái bao tử trâu của anh coi bộ bất tiện quá !
- Mày kiếm đâu được cái ba lô Mỹ bảnh vậy?
- Thì oánh Mỹ lấy của Mỹ chớ đâu anh Năm? Để tôi đổi cho anh.
Nói xong tôi trút đồ ở trong ba lô của tôi ra. Năm Truyện cũng làm như vậy đối với cái ba lô của anh. Tôi thấy ngoài mấy cái áo cũ mèm và chiếc võng ny lông không còn món gì có giá trị hết. Trà thuốc cũng không có. Chỉ có một cái hộp nhôm méo mó. Tôi nhặt lấy định vứt đi. Anh chận tay lại:
- Của quý trong đó, đừng dục của tao.
Tôi mở ra, đó là quân hàm trung tá hai sao. Vô đợt, anh chết ngay ở ven đô vào ngày đầu trận. Lính Sài Gòn bắt được ba lô, tướng là trung tướng Trà hoặc Hoàng Văn Thái.
Anh buồn rầu nói:
- Hai chục năm có bấy nhiêu đó mày ơi! Mai mốt còn sống đem về cho má bầy trẻ coi chơi chớ ăn uống gì được.
- Phải thêm hai sao nữa cho anh thì mới đúng chớ.
- Sao ở đâu mà thêm? Trọc đầu còn chưa được. Rụng bớt thì có !
Tôi chợt nhớ đầu mùa kháng chiến ở miền Đông, tôi bỏ nhà ra đi vào trại Đồng Tử Quân, rồi vào Rừng Sát, xong xuống Tháp Mười và dạt xuống miền Tây học Lục Quân, tập kết đi khắp miền Bắc, trở về đây trụ lại bốn năm ! Già lúc nào không hay! Đọc trong mắt Năm Sài Gòn, tôi thấy nỗi buồn man mác. Tuổi này phải ở nhà bế cháu nội cháu ngoại, trồng rau nuôi gà, hưởng thú thanh nhàn, chớ có đâu mà ăn bờ ở bụi khổ sở như vầy. Tôi muốn đánh tan đi nỗi buồn đang tụ hội trong lòng người lính già đang bật lên trong đáy mắt:
- Đồng Xoài, Bình Giả có gì vui, kể cho em út rút kinh nghiệm với, anh Cả !
- Vui mẹ gì! B52 cào đứt mẹ nó nửa trung đoàn chủ lực của tao, côn hai trung đoàn què quặt cả ba tháng chưa lợi nghĩnh. Một thằng trung tá của tao bị đứt thần kinh tới nay còn điên điên khùng khùng chưa bình thường trở lại.
Năm Truyện móc thuốc vấn hút và lại tiếp:
- Lứa tao còn Hai Búa, Ba Ngọt, Ba Thành, Tô Ký. Còn cán bộ của tao thì rụi tèng heng hết ráo rồi.
- Còn anh Năm Lễ nữa chớ anh!
- Anh chàng đó “chơi bời” kỹ lắm nên chưa trầy da.
- Kỹ gì kỹ anh Năm ơi! Con người có số. Tới số rồi thì “cò ỉa miệng chai” tránh đâu cũng không khỏi. Anh Tám Châu quận đội trường quận này, chuyên môn ở hang, mà rồi vừa ló ra, bị một trái pháo mồ côi. Còn tôi đi lạch xạch chỗ nào cũng lội cũng càn, đường nào cũng đi, không biết ngán, liên lạc trinh sát đi bên cạnh tôi ngã tất cả tám đứa, mà tôi chỉ bị thương lễu sơ sơ hai lần. Anh thấy có phải là cái số không. Lần đó tôi với xã đội trưởng Ba Bụng ở Ràng, chui hầm đụng ổ kiến bù nhọt thối trở ra chui hầm khác, một chút đi ngang thấy cả ổ kiến lửa bị pháo tan tành. Không phải số thì là gì? Còn ông Bảo, ông Sáu Di đi đâu có hộ vệ như vua mà chỉ một phát B52 rơi ngay chóc. Ai đội thay được?
Thằng Ngọc về tới, mang theo một bòng đủ thứ thập vật. Lấy đất làm thảm, lấy lá cây, nhánh cây làm chén đũa. Khai vị bằng bia và khô mực. Tôi muốn đánh tan nỗi buồn của Năm Sài Gòn, nhưng không biết khơi chuyện gì. Nói xà quần một lát lại rơi vào vụ mấy chục cô dâu của công trường 9 nay chích bóng lẻ bạn vào tuổi hai mươi.
Năm Truyện càng buồn. hơn. Anh nói:
- Biết làm sao bây giờ. Chúng nó muốn nhau thì cưới hỏi. Có thằng cưới xong ra đánh trận đầu đã nhảy lên bàn thờ ngồi.
- Có thằng vợ chửa thì bỏ đi. Có thằng con khóc oe oe không biết mặt cha. Vì vậy tôi không dám tiến tới anh Năm à ! Lỡ để khổ cho người ta. Mắt tôi thấy đã nhiều nên sợ quá.
Tư Nhựt càng động lòng trắc ẩn. Chị Tư có bầu gần ngày sanh nở. Đi R thì còn ngày về chớ xuống Sài Gòn, sợ e khó gặp mặt vợ con. Tôi nghĩ thầm trong bụng. Trung đoàn mũi nhọn tức là thọc sâu đánh mạnh. Bom đạn của Mỹ Ngụy như hốt nắm lúa vảy vô bụi tre, có thể nào sót được. Ở Củ Chi mà còn khó sống, xuống Sài Gòn sống sót làm sao?
Tôi cũng buồn cho Tư Nhựt. Tuy là được mang danh hiệu anh hùng và đề bạt lên cao, nhưng tất cả những cái đó đâu có thay được tiếng khóc tiếng cười của cháu Thơ. Phải chi Tư Nhựt có được một đứa con trai cũng còn đỡ khổ chút ít.
Tôi tuy chưa vợ con, nhưng cũng mơ ước cuộc sống gia đình bình thường. Mỗi khi về nhà gặp con bé Tiền, bé Rớt, bé Liên, bé Hoàn tôi đều thấy hạnh phúc dù không phải là vợ con mình. Do đó tôi cũng đoán được nỗi sầu của Tư Nhựt, nhưng không tiện nói ra. Tư Nhựt nốc bia liên tục trong cái đít bình toong Mỹ, lầm lỳ không nói.
Năm Truyện bảo:
- Bữa tiệc này thiệt là đặc biệt.
- Tôi mừng các anh đi, mang chiến thắng trở về.
- Chuẩn bị mà hốt dưa hấu, dưa leo chớ chiến thắng thì hơi khó! -Tư Nhựt ăn nói tự nhiên- Nhưng không sao, dù có thế nào thì mình cũng được chết nơi quê nhà, vẫn hơn là nằm nơi chốn mưa phùn gió bấc.
- Anh nói gì vậy anh Tự -Tôi gạt nhẹ.
Năm Truyện và Tư Nhựt ngồi lặng lẽ. Tư Nhựt rót rượu thêm ra dĩa nhôm châm ngọn lửa. Ngọn lửa xanh lè nóng nảy dưới những thân khô mực queo quắt trên tay của Tư Nhựt. Mấy cái râu cong quắn vô như những chiếc nhẫn to.
Đột nhiên Tư Nhựt xé đôi con khô đưa cho tôi, tay kia nâng ca bia lên trước mặt tôi và nói giọng run run:
- Thầy Hai uống miếng cho ngọt rồi tôi sẽ nói chuyện này với thầy.
Năm Truyện cười:
- Nhựt! Chú làm cái gì như tráng sĩ Kinh Kha sắp sang Tần vậy?
- Không phải đâu anh Cả à! Tôi với Hai Lôi là bạn tâm giao. Tuy mới biết nhau, nhưng tôi thương thẩy còn hơn ruột thịt và phục thẩy là người thầy. Tôi nói không khách sáo tự đáy lòng của tôi. Tôi là tên lơ xe đò, học hàng chẳng có chi, quân sự chính trị càng dốt. Nếu không có thầy Hai tận tình thì tôi làm sao chỉ huy nổi một tiểu đoàn gần một ngàn con người ta với đủ loại vũ khí, binh chủng để đánh một đạo quân Mỹ trên đất Củ Chi này. Tôi chưa từng thấy ai cao thượng như thầy Hai. Cái danh dự anh hùng này chính là của thầy, nhưng thầy nhường cho tôi đấy chứ. Nay tôi xin tặng lại thầy!
Tư Nhựt móc trong túi ra một chiếc huy hiệu. Nhưng tôi chặn tay Nhựt lại:
- Anh đừng làm vậy anh Tư. Anh xứng đáng đeo huy hiệu đó.
Bằng một giọng cực kỳ xúc động, Tư Nhựt nói tiếp:
- Trước khi tôi đi vào chiến trường, tôi xin gởi vợ con tôi lại cho thầy. Tôi biết thầy là người tốt. Nếu tôi có mệnh hệ nào xin thầy dìu dắt giúp đỡ mẹ con nó. Tôi rất tiếc thầy không về sớm sớm để tôi gả dì Ba nó cho thầy, bây giờ tôi đỡ lo. Nhưng chuyện đời ai mà biết trước được. Cũng như nơi chiến trận, ai biết mình sẽ sống để trở về. Một sợi dây lưng quần đã chuyển bại thành thắng. Tư Nhựt, Hai Lôi kẻ chân trời người góc bể ngờ đâu lại là tri âm?
- Đừng nói thêm gì nữa Tư Nhựt. Chúng ta đã hiểu nhau – Tôi nói không suông lời và nghe khoé mắt nóng ran.
Tư Nhựt quệt nước mắt:
- Tôi đã nhắn vợ tôi ra Bến Chùa để tôi gặp lại con tôi. Tôi sẽ xin phép ở lại đây đêm nay.
- Được rồi Tư Nhựt, cậu không phải lo! – Năm Truyện nói – Nhưng cố gắng đừng cho thê nhi biết sự mềm yếu của lòng mình. Anh hùng cỡ Từ Hải mà còn ngã vì một lời than của Thúy Kiều, thì chúng mình cũng có khi mềm lòng, mình có phải là sắt đá đâu.
Tư Nhựt lại tiếp:
- Anh đừng có uống rượu nhiều như trước đây nữa, Hai Lôi à! Lúc nãy chạy qua đồng tôi thấy sức khoẻ anh đã sút nhiều. Đánh với Mỹ chân phải nhanh, tay phải khoẻ, đầu phải cứng.
- Anh cứ yên tâm mà đi làm nhiệm vụ. Tôi xin hứa trước anh Cả của chúng ta tôi sẽ làm theo lời anh dặn.
Trời chiều , lại chuyển mưa. Tiếng gầm như súng nổ, mây đen hốt hoảng chạy tán loạn trên đầu. Tôi bắt tay Tư Nhựt, Năm Sàigòn, Tư Chi. Tư Nhựt ôm tôi hôn rất lâu. Rồi chia tay.
Kể từ chiều hôm đó tôi không còn gặp Tư Nhựt nữa. Cả ba danh tướng chiều nay tôi đãi tiệc ở đây đã đi vào tử địa của Hà Nội dành cho họ.
Năm Sàigòn chết ngay ở trận đầu ngày đầu đợt đầu. Còn trung đoàn mũi nhọn của Tư Nhựt rụi tèng heng hết cả ban chỉ huy, trong đó có Tám Lệ, quyền E phó, bạn của tôi, một thanh niên tuấn tú khôi ngô như tài tử xi-nê của vùng Bình Dương. Chết vừa cưới vợ chưa kịp có con nối dòng.
Ác không, Hồ tặc!
Những người vợ trẻ con côi của họ nay ở đâu, có được bình yên không? Cháu Thơ của Tư Nhựt nay đã trên ba mươi tuổi, có biết chăng lòng chú Lôi khi viết những dòng này. Nó tơi bời đau đớn vô cùng khi nhớ tới ba cháu. Chị Tư ơi ! Khi nghe tin anh Tư chết, chị phát điên, chị ẵm cháu bé đi lang thang khắp cùng Trung An, gặp ai cũng hỏi có thấy anh Tư ở đâu không? Nào ai biết được mà trả lời. Chỉ có một kẻ trả lời được cho chị, nhưng hắn đã á khẩu khi nghe thảm bại Mậu Thân. Rồi hắn cũng chết. Đó là cái hình phạt Trời dành cho hắn vì cái tội hắn dùng bom đạn giết dân miền Nam vô cùng thảm khốc.
 
 
Chương 85
Âm mưu thiêu sống toàn bộ cán bộ người Nam để đưa Bê Ka vào nắm quyền. Hại thay nằm dưới mồ dân Nam Kỳ mới rõ ra thì đã muộn

 
Tôi đến gặp Năm Tiều. Bây giờ anh là tham mưu phó Quân Khu dưới quyền Năm Lê. Năm Lê vừa lên chức tư lệnh phó. Phó là cái ghế của dân Nam, bất cứ ở ngành nào. Riêng Ba Xu thì được chức tư lệnh, nhưng cái chết của anh lại không rõ ràng. Cho đến nay tôi vẫn chưa hiểu nổi. Nói chuyện này nhớ chuyện kia, đôi khi lạc đề phải dùng phản lực quay lại.
Năm Tiều nói nhỏ với tôi:
- Ở trên giao cho mày nhổ hết tất cả đồn trên quốc lộ I và đường số 8. Kể cả đồn Trung Hòa và Thái Mỹ.
Tôi ngơ ngác:
- Giỡn hoài anh Năm!
- Lệnh đó nghe mày nhỏ, không thi hành thì đứt đầu chớ giỡn !
Tôi nghe mồ hôi ướt lưng. Hai tháng qua về làm quận đội cặp giò tôi suýt bong gân mà chưa xong công việc nào khả quan. Tiểu đoàn Quyết Thắng, sau khi Tư Nhựt đi R và tôi trở lại H6, rồi từ H6 sang quận đội Củ Chi, thì xệ luôn, bóc không lên phải dẹp danh hiệu Quyết Thắng. Bây giờ trước tình hình nhiệm vụ mới (lúc nào cũng mới), ở trên bắt tôi phải tẩm quất cho nó xừng trở lại. Quân số tiểu đoàn chỉ còn hơn một đại đội, súng ống xộc xệch, gặp Mỹ thì lủi trốn để “bảo toàn lực lượng”. Tôi phải gom du kích các xã lại lấp lỗ hổng. Ông Mười Thứ đã làm nhưng như bắt cóc bỏ đĩa nên ổng gọi dân Nam Kỳ là vô kỷ luật, và trên cho ông đi chơi chỗ khác.
Bây giờ Quyết Thắng trở thành D7 Củ Chi, gồm hơn phân nửa là du kích, dũng sĩ, lính vịt xiêm, hầm bà lằng. “Binh quý hồ tinh, bắt quý hồ da”, nhưng với tôi, “hồ” gì cũng tốt trừ Hồ chủ tịt. Xã đội trưởng làm đại đội trưởng, chính trị viên xã đội làm chính trị viên đại đội. Hai anh du kích của An Nhơn Tây và Phú Mỹ Hưng là Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử biết chỉ huy cái giống gì mà tôi cũng đưa lên làm đại đội phó, phát “colt” cho đeo đàng hoàng.
Công kiêng chiến là một chiến thuật quan trọng của bộ binh, cần có sự yểm trợ của công binh và pháo binh, còn du kích bắn “cắc bùm” chơi, mệt nghỉ khỏe bắn, biết gì mà bắt hạ đồn?
Thái Mỹ là một đồn của nghĩa quân Sài Gòn có từ đời Pháp tới nay chưa bao giờ bị tấn công. Với một tiểu đoàn như D7 của tôi, lính tráng năm cha ba mẹ mà làm sao hạ? Và hàng chục đồn khác trên quốc lộ phải được quét sạch để dọn đường cho đại quân tấn công Sài Gòn, một ông tư lệnh khùng cũng không hạ một quân lệnh như thế.
Thấy tôi ngồi thừ ra, Năm Tiều vỗ về:
- Chuyện đó để tính sau, bây giờ lo vụ Tết nhất cái đã.
- Ủa, Tết rồi sao anh Năm?
- Cái thằng! Mày mớ ngủ hả? Bữa nay là đưa ông Táo về trời, mày không hay à?
Tôi thở dài:
- Trời, lại thêm một tuổi!
- Mày tuổi con gì?
- Con chó !
- Tao con… -Năm Tiều cười méo xệch cái miệng- phải được con trâu, con heo còn khỏe. Đằng này là con… cặc!
Tôi đang rầu mà cũng bật cười:
- Tết năm nay là Tết con gì, anh?
- Con khỉ! Khỉ già dòm giếng! Khỉ già ăn bần, khỉ già ăn ớt, khỉ già bạc đầu.
- Hôm qua tôi gặp anh Năm Sài Gòn, Tư Nhựt và Tư Chi luồn xuống dưới.
- Dưới nào?
- Dưới Sài Gòn chớ dưới nào anh ! Coi bộ Tư Nhựt phấn khởi lấm.
- Sao vậy?
- Ảnh mới được huy chương anh hùng giải phóng và lên chức E phó.
- Đầu cặc! Nó mà mừng mày cạo đầu tao bằng búa!
- Không mừng thì rầu à?
- Trời kêu ai nấy dạ mày, Lôi ơi.’ Chỗ anh em tao nói cho mày biết tại sao họ “chê” mày, mày biết không?
- Tại sao?
- Không phải chê mà cũng như chê. Cái này không phải tao nói mà Năm Lê nói với tao. Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Năm Sài Gòn có xin mày cho đợt một cho công trường 9 chủ công, nhưng ông Ba Xu bảo mày là “con heo nái”.
Tôi giật mình. Năm Tiều cười khà khà:
- Heo nái chớ không phải heo… gì đâu! Là vì mày đào tạo cán bộ nọ kia. Như heo nái đẻ heo con, hiểu chưa. Đem tế thần mày còn ai dạy học trò pháo, cối v.v… Mà thời gian tới chiến tranh kéo dài, binh chủng pháo rất cần, rõ chưa?
- Chưa rõ !
- Cái thằng tối dạ quá mậy ! Còn một lý do nữa, trận mở màn này chỉ là một cú đấm thăm dò xem lực lượng địch phản ứng ra sao. Nếu nó yếu thì mình bứt dây oánh tuốt, nhược bằng nó mạnh thì mình “a lê dông”: Tiền tuyến có thể nhẹ bom đỡ hơn trung tuyến là cái cửa ngõ Củ Chi này. Mấy con trâu già để sống dai nuôi mệt, nên người ta lùa vô lò mổ cho sớm. -Năm Tiều ngó dáo dác- ê, đừng có học lại ai nghe, tao chối đó. Riêng con trâu già Năm Tiều thì lội hết nổi rồi nên còn ở lại chuồng chớ không phải người ta thương xót gì. Mày thấy Năm Sài Gòn không? Tóc bạc rồi. Xí quách còn bao nhiêu mà chạy đua với trực thăng nổi.
- Tư Nhựt đâu phải trâu già, anh Năm.
- Trâu cổ cũng cho vô lò mổ luôn với lý do khác. Tao nói mày cứ ngẫm ra thì rõ. Bây giờ trên R, trên khu rau muống mọc đầy. Con chuột cống và mụ đàn bà đái không cao hơn ngọn cỏ là phó tư lệnh R, nghe oai ghê, nhưng họ cho nằm ở ghế số 6 và số 7. Thôi, mày thông minh nói vậy mày hiểu rồi. Lo nhang đèn cúng đưa ông Táo đi.
Tư Thêm, má con Tiền, đã về hồi nào. Nàng núp trong buồng nghe hết câu chuyện bèn bước ra:
- Sao có chuyện kỳ vậy chú Năm?
- Chuyện gì, con nhỏ biết gì mà xía vô.
- Lâu nay cháu tưởng Nam Bắc một nhà chớ?
- Một mà hai, hai mà một.
Tư Thêm có chồng công trường 9 hy sinh ở Bình Long, nàng là người có văn hóa cao nhất so với các “nàng thân mến” của Thiên Lôi. Cán bộ nói chuyện có khi bị nàng chọc vô bản họng trợn trắng. Thấy nàng muốn cãi lý với ông Đốc Chiến, tôi bảo:
- Đó là suy luận thôi em à!
- Nếu suy luận đó đúng thì sao?
- Không đúng đâu, em đừng lo. Bác Hồ nói “Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi”. Thôi đừng cãi! Vô lo đưa ông Táo về trời.
Tết buồn hiu. Hơn hai mươi năm xa nhà. Năm nay vẫn xa nhà. Nhà ló nóc, thấy đó mà không về được.
Bỗng thằng Ngọc hớt hãi chạy vào:
- Anh Hai ơi, có hai ông già nào tới. Cả hai đều hỏi anh.
- Ai vậy cà? -Tôi vừa nói vừa bước ra sân.
Thì ra ông Mười Niên và Tám Dọn. Mười Niên là khu ủy viên, còn Tám Dọn (bí danh Tám Đánh Xe Ngựa ở Hóc Môn hoặc Tám Lê Thanh) là phó tư lệnh Quân Khu. Tôi mời hai ông đi vào. Cả hai biết Năm Tiều đã lâu nên tôi không phải giới thiệu. Nói chuyện qua loa một chốc rồi họ kéo đi đâu không biết. Tôi đoán là đi tìm hai mụ Năm Đang và Hai Xót chuẩn bị phóng tay phát động quần chúng xuống đường yểm trợ quân đội.
Năm Tiều cười mỉa:
- Đó cũng là hai con trâu già Nam kỳ được đưa đi thịt, nhưng hai tên này có biết mẹ gì về quân sự. Chỉ nói mép thôi.
Tư Thêm dọn bánh tét, nước trà ra đãi tôi và Năm Tiều. Nàng lại thắc mắc:
- Theo như chú Năm nói lúc nãy thì… Mấy chú bác người Nam bị lót đường cho người Bắc hay sao?
Tôi bảo:
- Anh đã nói đó chỉ là suy luận thôi mà !
Nàng không chất vấn Năm Tiều nữa, nhưng tỏ ra không thông.
Đây là thắc mắc của một người đàn bà nông dân, có lẽ nào những ông già kháng chiến hai mùa không biết thắc mắc.
Bỗng một đám linh lạ ăn mặc ny lông đen, ba lô đen, chân đi dép cao su đúc trắng (loại của lính Miên xài), nai nịt AK hẳn hoi, bao đạn còn đỏ chói, lố nhố trước sân. Một chú lùn lùn, đầu trọc bước vô hỏi:
- Dạ, ở đây có phải văn phòng của anh Hai Lôi không?
Tôi nhận ra ngay thằng Hòn, cần vụ của anh Tám Hà. Tôi hỏi ngay:
- Anh Tám ở đâu mà mày đi đây, Hòn?
- Dạ. Bác đứng ngoài bờ tre.
Tôi chạy ra lôi tay anh Tám vô và bảo đám lính canh chừng máy bay. Tôi biết phái đoàn này đi đâu và sẽ dừng chân ở trạm nào sắp tới, nên nói ngay với anh Tám:
- Bây giờ không đi ra Bàu Dưng được đâu anh Tám. Vô đây nghỉ chút đã.
Tám Hà luôn luôn tỏ ra thân ái với tôi. Đặc biệt anh có lối nói chua chát, móc ngoéo cấp trên. Đáng lẽ anh phải là phó chánh ủy Quân Khu mà lại chỉ là phó phòng chính trị, dưới Tám Quang vốn là cấp dưới của anh trước kia.
Anh vô nhà giở nón tai bèo quạt lia và nói:
- Gần Tết rồi mà khí trời nực quá . Đôi dép thằng Miên bó mấy đầu ngón chân chặt cứng, băng qua vùng Cỏ Ống mệt muốn đứt hơi. Cho tôi cởi dép để mấy ngón chân thở một chút!
Năm Tiều rót nước mời. Anh nói:
- Trời đã bức lại uống nước nóng chịu sao thấu.
Tám Hà tuột luôn áo ngoài và nói:
- Xin lỗi nghe… Mẹ, ở trên đó cả bầy cán bộ mà toàn là thứ ho lao ho tổn nên người ta mới đùn tôi xuống dưới… Phải còn thằng Năm Dốn Bà dom đem (tức là Năm Dũng, chánh ủy Q16 Bắc Việt) thì nó sẽ đi thay tôi. Rủi nó bị “cá rô rỉa” ở Bàu Nổi rồi nên tôi phải đi. Tư Trường bí thư khu ấy mà không chịu đi hưởng vinh quang lại chỉ định tôi.
Nghe nói tôi đoán có cái gì không ổn trong lòng anh, và thấy thắc mắc của Tư Thêm rất bén nhạy. Tám Hà cũng là dân Nam. Anh hỏi tôi:
- Tụi Năm Sài Gòn, Tư Nhựt đã tới đâu rồi?
- Dạ, chắc họ xuống khỏi Rạch Tra.
- Rạch Tra chỗ cậu đánh đồn Thầy Mười đó hả? Có ai bắc cầu cho lính qua sông chưa?
- Dạ… không biết.
Tám Hà cười cái miệng móm mém và vỗ ngực:
- Tôi bây giờ không còn là phó phòng nữa nghe chú em. Chánh ủy tiền phương mặt trận A, đợt một đây! Oai ghê chưa! Chánh… quỷ!
Từ ngày biết anh, tôi chưa bao giờ nghe anh đùa kiểu đó Anh rất khiêm tốn và không bao giờ cho ai biết chức vụ của mình. Không hiểu tại sao hôm nay anh có lối pha trò kỳ lạ vậy. Nhưng anh thuộc loại cây cao bóng cả nên tôi không dám nói gì.
Tôi đáp:
- Tôi đã cho sửa cầu Rạch Kè và sẵn ca nô đón bộ đội tại ngã ba sông Thị Tính. Đơn vị sẽ đi từ Thanh An theo đường 14 xuống cầu Ống Cộ.
Nghỉ ngơi giây lát rồi anh Tám ra đi . Tôi đứng nhìn theo ruột gan quặn thắt. Ổng làm sao chạy nổi? Đánh với Mỹ là tất yếu phải chấp nhận chạy đua với trực thăng.
Chiều hôm đó, một tiểu đoàn cán bộ lại tiếp tục xuống luôn. Họ xuống lo căn cứ để ém quân vùng ven đô. Theo cấp trên hứa hẹn thì bộ đội sẽ ăn Tết ở Sài Gòn. Họ đi rồi, tôi cảm thấy lòng trống hoang. Mặc dầu Năm Tiều đã khai thông về việc tại sao ở trên không dùng tới tôi, nhưng tôi vẫn không tin hoàn toàn. Hay là mình có thằng em đại úy Thủy Quân Lục Chiến? Cũng được. Vậy càng khỏe thân!
Tôi ngồi hút gần nửa gói thuốc mà không muốn đi ngủ. Đến lúc thắng Tiền lôi tay tôi bắt lên võng mắc sẵn tôi mới biết là khuya lơ.
Tôi chợp mắt mà không sao ngủ được. Đêm Củ Chi vắng lặng, ghê rợn lạ thường. Nếu có pháo nổ, hỏa châu, trực thăng soi, máy bay mâu hốc chụp hình thì đó cũng là chuyện bình thường, coi như không có chuyện gì xảy ra. Nhưng đêm nay im vắng lạ thường, cái ỉm vắng ngột ngạt nặng nề, cái im vắng của vùng không khí nén trước giờ bùng nổ . Người tôi cảm thấy bứt rứt khó chịu như sắp bệnh.
Trước mắt tôi chập chờn bao nhiêu hình ảnh ghê rợn. Một bộ mặt máu me đỏ lòm, một cánh tay lung lơ ngoắc vẫy. Bỗng tôi thấy Bảy Nô hiện lên, mình mẩy ướt mem:
- Hề hề! Khoẻ hả mày nhỏ?
- Anh Bảy, anh đi đâu về vậy?
- Tao ở sông Lòng Tào mới tới đây. Mày cho vợ tao hay giùm.
- Hay cái gì anh Bảy?
- Biểu nó cúng cơm cho tao. Bảo vợ Sáu Phấn nữa!
- Trời ơi! – Tôi kêu ré lên và vùng ngồi dậy.
Mấy đứa trong văn phòng hỏi:
- Anh Hai nói chuyện với ai vậy?
- Bảy Nô!
- Anh Bảy được phân công đi Phân Khu 4 Rừng Sát với chú Tám Quang lâu rồi mà.
- Tao mới gặp! Thôi ngủ đi, không có việc gì hết. Tụi bay ngủ đi.
Sáng hôm sau, tôi đang dò đường trên bản đồ ven đô để ước đoán xem căn cứ nào sẽ bị quân ta tấn công trước, thì liên lạc tới. Đây là sự thường, nhưng không hiểu sao tay tôi nhận xấp công văn mà run lẩy bẩy. Tôi đùa một số bao thừ ra, không khui, và cuối cùng nhặt lấy một chiếc, xé phăng ra. Thôi rồi, đúng y trong mộng. Công văn của Ba Kỳ Nam ở Rừng Sát gởi quận đội Củ Chi:“Đồng chí Bảy Nô cấp bậc trung đoàn trưởng đã anh dũng hy sinh trong lúc chiến đấu trên sông Lòng Tào… Nhờ cho vợ con đồng chí hay dùm”.
Trời! Qua sông bị tàu bắn chớ anh dũng cái gì. Tôi đút thư vô túi không biết làm gì nữa. Tôi bảo thằng Tiền và thằng Gàu theo tôi đi Phú Hoà Đông cho chị Bảy hay, đồng thời tìm thêm địa điểm giấu DKB trên R nói gởi xuống thêm.
Người xưa cảnh củ còn đâu. Nhớ lúc anh đóng quân ở đây xóm làng vui nức, lính tráng ngập đường. Nhà cửa phong quang. Nay tiêu điều xơ xác. Bom đạn lẫn vết xe tăng cày nát đất đai. Kim Anh, nàng bây giờ ở đâu? Có nhớ chăng đêm thần thoại Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai, có nhớ chăng gốc cao su hẹn thề còn ghi lời hứa của chinh phu? Đời không có niềm vui nào trở lại hai lần.
Tôi đến nhà bà má của chị Bảy. Ngôi quán đã dẹp đi vắng hoe. Giữa nhà một chiếc bàn thờ tang còn mới. Một người đàn bà mặc áo hồng, tóc quăn hiện ra nhìn tôi trân trân rồi kêu lên:
- Anh Hai hả ?
- À tôi chị Bảy.
- Anh Bảy đã hy sinh rồi. -Chị kêu lên.
Tôi khựng lại hồi lâu.
- Sao chị biết?
- Ảnh hiện hồn về mà !
- Mộng mị không đúng đâu chị?
Bà má trong nhà bước ra. Trông bà già tóp đi như đến trăm tuổi. Bà run run nói:
- Thằng Nô chết rồi con ạ !
Chị Bảy tiếp:
- Ảnh hiện về nói rõ với em, đầu ảnh bị thương, ảnh bị tâu bắn trên sông. Ảnh biểu em cúng cơm và khuyên em lấy chồng.
Tôi lặng thinh. Mắt người đàn bà đỏ hoe nhưng trong ánh mắt có tia hy vọng rọi thấu tim tôi. Tôi biết Út Lan (chị Bảy Nô) không yêu chồng. Có lần chị than thở với tôi, nhưng tôi gạt ngang. Chị cố bước tới, bao nhiêu lần tôi né tránh. Cho đến hôm nay, cơ hội đến hoàn toàn thuận lợi cho chị. Út Lan mới 22, 23, rất đẹp và đa tình. Nhưng không thể nào tôi chấp nhận một mối tình như vậy được. Lúc sinh tiền anh Bảy và anh Năm Tiều coi tôi như em út, hai anh kêu tôi bằng thàng chớ không kêu bằng chức vụ. Tôi không móc bao thư trong túi mà nghe ngực cộm lên nhột nhạt. Chuyện đã rõ rồi, mình còn đứng đây làm chi nữa.
- Chào má, chào chị Bảy! Con đi có việc gấp.
- Ở chơi ăn cơm mà, anh Hai.
- Để khi khác.
- Anh thiệt vô tình.
Ít lâu sau, út Lan lên tận văn phòng quận đội. Tôi chạy trốn lấy cớ đi công tác gấp. Tôi biết nếu tôi ở lại thì không thể nào qua khỏi đoạn cầu tình ái này. Lương tri đã giúp cho tôi chiến thắng trong một trận đánh gay go khốc liệt hơn cả đánh Mỹ . Làm đĩ chín phương cũng chừa một phương lấy chồng, chính là tôi đối với Út Lan vậy.
Hôm sau từ Phú Hòa về văn phòng, đụng nhằm Hai Văn, chánh vãn phòng. Trông thấy tôi, Hai Văn kêu lên:
- Chết hết rồi anh Hai ơi!
Tôi như chim bị đạn, sững sờ:
- Ai chết, ở đâu?
- Ban tham mưu của mình, Đào Hải, Sáu Phấn, con Mặn, con Lan, hai cán bộ DKB trên R cùng chui một hầm bị súng phun lửa của Mỹ cháy hết.
- Còn ai nữa không?
- Tất cả mười hai người.
- Có Sáu Phấn thiệt hả?
- Xác nhận rồi, có anh Sáu.
- Ổng lơn tơn đi đâu cho bị vậy?
- Ảnh đi tìm chỗ chôn DKB.
- DKB đồ ăn hại, chưa làm gì đã phá.
Tôi ngã người xuống hầm không còn biết gì nữa. Mười hai người ban tham mưu quận đội của tôi. Đào Hải là trưởng ban, thằng Bắc Kỳ dễ thương và lanh lẹ vô cùng, tướng cậy của tôi. Trời nỡ đoàn mạng chúng nó khác nào chặt tay chân tôi. Tôi bật dậy bảo mấy đứa nhỏ đi kêu ban chỉ huy đến.
Mộ tập thể này là thứ mấy chục rồi? Mộ tập thể cho ban chỉ huy D8 chưa xanh cỏ: Sáu Uya, Năm Thủ, Ba Tố, Sáu Đực và nửa tiểu đội cận vệ. Củ Chi nổi tiếng địa đạo rởm, nhưng nổi tiếng hơn vì những nấm mồ tập thể thật.
Hai ông xã đội và bí thư An Nhơn, Tư Quân và Ba Thắng đến. Sáu Bương và Tám Đột cũng thất thểu tới. Tám Đột nói:
- Kỳ này khủng khiếp hơn kỳ tụi mình chui địa mà thầy chết ngộp đó thầy Hai. Buổi sáng tôi nghe xe tăng rù rù bên suối Bà Cả Bảy rồi im luôn. Tôi tưởng là không quan trọng gì. Trưa trưa tôi nghe súng nổ. Tôi ngóng chừng thì đoán ra căn cứ của Đào Hải tham mưu, cho nên chiều lại tôi vội mò sang. Trời ơi! Thấy trận càn mà hồn vía lên máy. Xe tăng nó ủi sập nhà cửa, cây cối tre trúc mẹp như cỏ Chung quanh miệng hầm chừng một công đất soong nhôm chai lọ bị cán nhẹp bể nát, quần áo văng dính đầy gốc cây. Miệng hầm hả ra toác hoác.
- Hầm gì?
- Hầm cá trê kiểu hầm ông Tám Dò ở dưới gốc bụi tre hồi năm ấy mà.
Hai Khởi chen vô:
- Cái hầm của ông Tám Dò chứa được ít nhất hai chục người. Tôi có xuống dưới nhậu mắm chua với thầy Hai.
Bảy Phán tiếp:
- Hồi đó em nấu bếp cho ổng chớ ai.
Tám Đột nói:
- Tôi cũng có xuống hầm đó một lần, do ổng kêu tới phân công tác chớ không phải tự động mà tới được đâu. So với cái hầm của Đào Hải thì kín và chắc hơn nhiều. Đào Hải cũng dựa địa hình xây hầm nhưng không kín bằng ông Tám. Do đó mà tụi xe tăng quần kiếm thấy ngay.
- Không có địa à?
- Địa bây giờ đâu còn nữa thầy Hai. Ai còn dám xài địa như hồi nẵm. Có tôi da đồng xương sắt mới dám chui lần đó với thầy. Và thề tới chết không chơi với địa nữa.
Tôi bảo:
- Mấy cha nội đó chui hầm cá trê vậy thì phải thủ trước. Hễ .thấy bị lộ là nhào lên chơi liền. Có chết cũng nổi danh, để nó thui như vậy mất danh quá.
Tám Đột lắc đầu:
- Tụi nó gặp miệng hầm là phun lửa ngay đó thầy Hai. Ở dưới hầm trở tay không kịp đâu. Đây đâu phải là lần đầu tiên tụi nó chơi đồ độc.
Tôi biết tôi giận mà la bậy vậy thôi, chớ một khi đã chui xuống hầm thì đã xuống tinh thần đến 80%, có khi tên mình là gì cũng không nhớ. Lần đó sống sót nhờ linh dược cô Thu tôi cũng thề không chơi với địa nữa.
Những tên nhà báo bất lương chưa biết địa đạo và quân Mỹ hung ác ra sao, chuyên nói bậy để thần thánh hóa Củ Chi. Sự thật đó chỉ là những cái hang chuột. Một số lính và quan Mỹ chủ bại sống sót về xứ quay lại ca ngợi đường hầm Củ Chi ghê gớm hơn cả chiến lũy Maginot là để nói rằng: “Việt Cộng chúng nó tài ba ghê vậy nên chúng tôi thua là phải!”
Nếu thực sự có địa đạo thôn liền thôn xã liền xã và có cả bệnh viện, nhà kho, nơi giải trí dưới đó thì mười hai mạng của ban tham mưu quận đã không chui xuống hầm cá trê để bị súng phun lửa thiêu rụi.
Hỡi những tên bất lương nói láo nên dẹp bút và câm mồm lại để thiên hạ khỏi bị lừa một cách đê tiện vì sách vở của chúng bay.
Tôi đưa tiền tác chiến phí cho Tư Quân và Ba Thắng.:
- Tôi ủy nhiệm các đồng chí lo mồ yên mả đẹp cho anh em. Nhớ mua nhang đèn cúng vái vong hồn họ về phò hộ chúng mình trong những ngày sắp tới.
Hai Khởi an ủi tôi:
- Đây là chuyện thường xảy ra chớ đâu có đặc biệt gì thầy Hai. Miệng hầm không nghi trang kỹ thì xe tăng nó càn lòi ra ngay chớ đâu phải lỗi của thầy. Mấy ông đó cũng đã từng ở hầm chớ đâu phải tay mơ.
Tôi tội nghiệp Sáu Phấn vô cùng. Khi tôi rời H6 ra chỉ huy D Quyết Thắng, ảnh khóc lóc than thở: “Thầy đi chắc tôi chết chớ không chỉ huy nổi đâu!” Ngày tôi gặp anh bên Bến Cát tới nay, cách nhau chưa đầy một năm mà trông anh già cả chục tuổi. Một bước cũng không ra khỏi hầm. Lúc nào cũng sợ biệt kích ăn thịt. Tội nghiệp, nghe tôi về cùng chỉ huy H6 với anh, anh mừng khôn xiết. Đem rượu và tôm khô để dành cho thầy Hai đầy! Hai đứa uống cạn chai. Một bước cũng không dám ra khỏi hầm mà rồi cũng chết. Tử sanh hữu mạng. Ở xứ Củ Chi này sống chết nháy mắt.
Hồi Hai Giả xuống Thủ Đức bị lính Đại Hàn ném lựu đạn, ba lô gởi về, tôi nhẹm một thời gian, bây giờ làm sao giấu được. Tin ban tham mưu quận đội bị cháy chết chắc đã đồn đi khắp nơi rồi!
Tôi kêu Ba chỉ huy C công binh tới:
- C có mấy cây B40?
- Dạ, mười cây. -Hai Khởi đáp.
- Ông về lựa cho tôi một trung đội trang bị toàn B40, RPD và AK.
- Không được đâu thầy Hai.
- Tôi thề diệt đám xe tăng này, không để chúng nó tung tăng nữa.
- Thầy chưa nghiên cứu làm sao đánh được?
- Hồi đánh Pháp, Hoàng Thọ chèo xuồng cho vợ đi trên sông Vàm Cỏ bị Tây bắn chết, ổng nổi đóa, hôm sau đem cờ ra treo ở mé sông nhử máy bay tới bắn. Ổng hạ được một chiếc đầm già để trả thù cho vợ. Bây giờ anh em mình chết thảm như vậy, chẳng lẽ mình ngồi im, không bằng Hoàng Thọ? Đừng có ai có ý kiến gì thêm. -Tôi la to.
Ba giờ chiều hôm sau, tôi dắt trung đội ra Ràng rồi qua Bàu Điền băng qua Lộ 7. Đi suốt đêm tới gần sáng mới tới nơi. Tôi bố trí đội hình từ đầu chợ Bắc Hà tới ngã tư Đồng Dù. Tôi ngồi trong bụi ăn miếng bánh mì với mẩu đường thẻ của một em gái cho giắt theo lưng. Tôi vừa nuốt vừa chạy một lượt khắp mặt trận, nhắc nhở anh em quyết trả thù cho đồng đội. Sáu Hoàng, C phó và thằng Bọ Ngựa liên lạc của tôi nay cho làm A trưởng. Sáu Hoàng tì bá B40 vào ngấm thử và nói:
- Ở đây khúc quanh, hễ nó tới là tôi bửa ngay tam tinh.
- Ờ anh ngắm đầu, đừng ngắm đuôi huốt mất. Nếu có xe Jeep đi đầu, cho nó qua, đừng bắn.
Năm Đầu Ban mới vô bộ đội, cũng rất hăng:
- Anh cứ tin đi ! Tôi nhất định hạ ít nhất một chiếc.
Anh chàng Mã Tử ở đâu bò tới, thầm thì:
- Đèn pha nó rọi kìa anh Hai !
Bảy Nê cũng sẵn sàng. Thằng Bòn nằm bên Nê nhắc chừng:
- Chị đừng có run. Ý… ai kìa cỡi xe Honda giống bà Ua.
Quả thật Ua tới. Nàng bạo gan, táo tợn. Dừng xe bên tôi, chõi chân xuống đất, bảo:
- Anh sẵn sàng nhé. Nó tới rồi!
Tôi nhắc Nê và Bòn:
- Bắn xong chạy băng qua đường về địa điểm, coi chừng lạc xuống ấp Bào Hóc bị bót Tân Thông nắm đầu!
Xe tới lù lù năm sáu chiếc. Tôi hét “Nổ!”
- Xung phong!
Bảy Sơn, Sáu Hoàng, Nê, Bòn và toàn đội hình vừa bắn vừa hô xung phong. Khói lửa mù mịt. Những khối thép đen thù lù như quái vật bị trúng đạn dừng lại quay ngang, lủi vô lề, không còn vẻ hung hãn như trước đó mấy phút.
Tôi hét:
- Băng qua đường!
Bảy Sơn đẩy tôi chúi lủi:
- Anh Hai đi sát vào phố, lô cốt nó bắn xỉa chọn đường.
Nhanh như chớp, cả đơn vị rút về phía Cây Sộp lên Trảng Lấm. Phía Đồng Dù bắt đầu giã cấp tập.
- – Bắn cháy một M41.
Tôi lột được cây colt cửa thằng Mỹ đen. Tôi đá cho nó một cái, nó rên ò ò.
Tôi quát:
- Rút nhanh vô sở Ba Lăng, mau lên.
Hai chiếc bù bốc HUIA rà sát mặt đường số 8 rọi đèn quay vòng tìm kiếm và bắn liên tục về phía rừng Bào Hóc.
Tư Quân lén cho vợ theo (mà tôi không hay), cô vợ trẻ làm y tá của tiểu đoàn. Còn Tư Quân làm D phó. Sau Mậu Thân, Quân lên E phôó cũng ăn quen về thăm nhà ở đây, khinh địch bị biệt kích thăng Rắc gài giết chết lãng nhách.
Bảy Sơn khen tôi:
- Anh đánh cú này còn thần tốc hơn cả Suối Cụt.
- Đó là nhờ con Ua vẽ bản đồ cho tôi.
- Vậy anh thưởng cho cô nàng cái “cán búa” Thiên Lôi đi!
Về tới cơ quan, Năm Tiều ra đón:
- Thăng quỷ, mày vẫn ẩu tả như hồi mày 14 tuổi đánh xe tăng Pháp. Đánh ngay cửa Đồng Dù chớp nhoáng ba mươi phút. Ông Ba Xu sẽ cảnh cáo cho coi.
Bữa sau Ba Xuyên cho nàng Ua vô, cho tôi biết tin sơ khởi: bốn xe M41, bốn xe tăng bị cháy tiêu. Hai M41 hư nặng. Chừng bốn mươi lính Mỹ chết và bị thương.
Hôm sau tôi bảo Tư Quân:
- Cậu dắt một đại đội lên mộ tập thể của anh em mà cúng vái lần nữa như mở cửa mả vậy.
Tư Quân chưa kịp quay đi thì một ông già áo quần lếch thếch, khấc khăn đầu rìu bước vô, khúm núm:
- Dạ thưa đây có phải là dinh sở của quận trưởng Hai Lôi không?
- Chi vậy ông già? -Thằng Tiền trinh sát hỏi xẵng.
- Dạ, có việc tôi mới đến, chớ ở không đâu mà đi chú em !
- Ổng kia kìa. -Thằng Tiền chỉ vào tôi.
Ông già run run nói:
- Dạ thưa quận trưởng, tôi là ông nội của con Mận. Tía nó đi công trường 9 tử trận, tôi cho nó đi cơ quan, chẳng may vừa rồi nó bị Mỹ đốt cháy. Tôi nghe được tin, vô đến nơi thì đã chôn tập thể rồi.
Ông già nghẹn ngào, ngưng hồi lâu. Ông cố nuốt ực và tiếp:
- Hôm qua tôi đi chợ, thấy mấy ông phục kích trước cổng Đồng Dù, tôi bèn trịt ngang không đi chợ nữa, nín trong bụi cây chờ mấy ông hạ xe tôi mới ra giết tụi Mỹ trả thù cho con và cháu tôi.
Nói xong ông buông chiếc gói ny lông đánh phịch xuống đất và đá luôn một đá. Cái gói tròn tròn lăn lăn rồi dừng lại. Ông già cúi xuống nắm mép ny lông giở lên. Một vật đen ngòm đỏ sậm be bét văng ra dưới đất.
Thằng Tiền la lên:
- Cái gì vậy ông già?
-Ghê quá !
- Thúi òm!
Tôi nhìn lại, mới nhận ra là một cái thủ cấp Mỹ.
Ông già nói:
- Mấy ông có đi tới mộ tập thể cho tôi đi theo với, để tôi tế anh em và đứa cháu tôi. Còn mẩy thăng râu chổi chà trong Củ Chi nữa, tôi phải giết chúng nó thì tôi chết mới nhắm mắt.
Anh em trong văn phòng kẻ bịt mũi quay đi, người che mắt liếc dòm, còn tôi thì ngơ ngẩn không biết nói gì. Tôi như bị một búa Thiên Lôi giáng xuống đầu.
Tụi Mỹ mang văn minh tới đây đồng thời nung nấu chí căm thù của dân Việt đối với chúng. Thời chống Pháp cũng vậy có những nông dân theo bộ đội tối đi phục kích, hoặc sau trận phục kích bộ đội đã rút, họ mổ lấy tim gan lính Pháp về xào ăn, uống rượu để trả thù chúng đốt nhà hãm hiếp vợ con họ. Dã man chống đối văn minh, ai cản được, ai hiểu được?
Trước Tết, ông già kể trên lại theo D7 chúng tôi đánh quận lỵ Củ Chi để tự tay giết Mỹ, nhưng bom đạn tàn bạo giết ông trước khi giấc mộng trả thù cho cháu được hoàn thành. Người ta gọi ông là ông già Củ Chi cũng như ở Bến Tre có ông già Ba Tri thời xưa và ông già B52 ở Bến Tre thời nay vậy (tức là ông già bị hai trận B52 mà còn sống).
Sau trận đánh hạ tám xe tăng ở ngã tư ngay trước cửa Đồng Dù, bà con kéo đông nghẹt trên các đường đi. Tưởng họ đến tặng quà và hoan hô chúng tôi, nào ngờ kéo nhau ra vùng “ngụy” để lánh nạn. Hỏi tại sao? Họ đáp thẳng: “Đi trốn B52! Chừng nào êm rồi về!”
Họ đã thấy sự tàn phá của loại máy bay bỏ bom tấn này ở đường 15 từ Hố Bò đến Láng Cát, nay hãy còn dấu vết nên họ kéo đi, không có cái mồm chính trị nào ngăn được.
Mụ Hai Xót, Năm Đang méo mặt ngồi im. Hai Mõ, bí thư quận ủy hỏi:
- Làm sao bây giờ chị Hai, chị Năm?
Mụ Hai Xót đổ quạu:
- Sao chú không tự hỏi chú mà chú hỏi tôi?
Thế là huề cả làng. Cứ để họ đi.
Nhớ hồi nẵm, khi tên nhà báo bất lương Bọ Chét tới đây đòi quay phim “Địa đạo chiến” mà nực cười. Bọn nhà báo ngoại quốc, không rõ vì ngây thơ hay vì bị mua chuộc đã hàng chục năm ròng (nay vẫn chưa hết) đi tuyên truyền không công cho phe Cộng. Thời kháng chiến có tên chủ tịch công đoàn Pháp tên là Léo Figuère sang chiến khu Bắc Việt gặp cáo Hồ rồi về Paris viết báo ca ngợi Việt Minh, chống quân đội Pháp. Sau đó mới có mấy cái vụ Henri Martin và Raymondienne cởi truồng năm ngăn xe lửa chở vũ khí xuống Marseilles để đưa sang Việt Nam.
Thời nào cũng có những thằng ngu, bán lương tâm cho quỷ đỏ như vậy, hay chính chúng nó là quỷ sa tăng cũng nên.
Tên Bọ Chét thấy sự thực Củ Chi không có địa đạo “thôn liền…” gì hết chắc xấu hổ vì điểm Bọ Chét bị điếm Hồ lừa. Nhưng chưa chịu bỏ tật nói láo bèn xoay qua đòi quay phim đấu tranh chính trị của đội quân đầu tóc. Chính hai mụ già trầu này chạy sút quần mà chỉ quy tụ được chục rưỡi bà má hom hem, bắt được thêm dăm bảy chị nông dân đang cấy dưới đồng, lưa thưa như vậy mà đấu tranh chính trị cái gì? Bọ Chét bèn bỏ tiền ra mua cà lem nước đá ở chợ An Nhơn (hồi đó còn nhóm) để rủ rê con nít tới đấu tranh chính trị với “ngụy”, rồi bắt ép mấy chủ xe lam vùng “ngụy” vào chở khách đi “đánh trâu’. Xe cắm cờ đỏ, cờ xanh lèo tèo chạy quanh để Bọ Chét quay phim đem về trình quốc tế “cuộc đấu tranh anh hùng” của dân miền Nam chống Mỹ .
Quốc tế ngu. Quốc tế mù. Quốc tế uống máu què, cong lưng tin sự thực là như vậy nên hơn năm mươi phái đoàn từ Nam Mỹ đến Anh Quốc, từ mụ A.L. Sướng đến lão già dềnh Russel vác mặt đến Hà Nội hoặc gởi băng thu tiếng nói của mình đến ủng hộ mặt trận côn đồ bịp của tên luật sư có tiền án lem nhem.
Bây giờ năm 1967, trước Tết con khỉ già, hai mụ khu ủy viên này ngồi ngó đạo quân đầu tóc, đầu trụi vác mùng vác chiếu ra trú ngụ vùng ngụy mà không dám hó hé nửa câu.
Đó là kết quả của những cuộc đánh trâu, đánh bò lên đường xuống đường do đảng lãnh đạo.
Vài hôm sau, dường như để cho đảng ta khỏi bể mặt, có một phái đoàn “dân quân chánh đảng” từ Hố… Bò ra thăm tôi. Gồm có chú Tư Thiên, bí thư xã ủy, cô Là, xã đội phó mới lên xã đội trưởng, chị Tám Khỏe, phụ nữ giải phóng hụ họ, chú Tám Xe, chuyên gia đánh xe bò của tổ hậu cần khu của ông Bảy Hốt, bồ tèo của mụ quán Sáu Tỉnh, chị nuôi của hàng tá lính vịt xiêm.
Phái đoàn này do cô bé xã đội phó, em nuôi của tôi dẫn đầu. Cô nghe tôi được phong chức quận trưởng quận đội thì ra “yết… kiến”. Cô thuộc hệ thống chỉ huy của tôi. Cô hăng say chống Mỹ vừa hăng say săn đuổi ông anh nuôi. Cô đã từng “lựu đạn chiến” với cô Ua tại quán cô Chia năm trước. Tôi tưởng họ từ “địa đạo âm phủ” mới chui lên.Mặt mày hốc hác, áo quần te tua như bầy cô hồn. Chỉ vài ngày sau Tết, bốn người bị xe tăng càn nhẹp dưới hầm cá trê làm cho Củ Chi nổi tiếng thêm vì một nấm mồ tập thể.
Hai ông già Tư Thiên và Tám Xe gợi cho tôi một cảm giác thương tâm. Sao người ta không để họ an hưởng tuổi già với con trâu cày lạc hậu mà bắt họ xây dựng thế giới đại đồng văn minh cho nhân loại?
Nàng xã đội thấy trong văn phòng của ông quận có nhiều áo tím áo hồng phất phới, nào dũng sĩ Bảy Nê, nào quận đội phó Tư Bé, nào các em các cháu, đứa kêu bằng “anh”, đứa gọi bằng “ba” thì có vẻ sôi máu căm thù.
Tôi thừa biết nàng ra đây để làm gì. Kiểm soát con ngựa bất kham này sao nổi. Bốn phía quân vương tiền hô hậu ủng, cung phi mỹ nữ muốn nhiêu có nhiêu mà .
Tôi đưa nàng sang nhà bên cạnh để giao “công tác” cho xã đội. Vừa ngồi, nàng hỏi ngay với giọng cộc lốc:
- Anh sang bên dì Ba có gặp má hông?
- Có chớ. Anh đến thăm má chớ gặp gì!
- Má có nói gì với anh không?
- Má thấy anh bận quá nên má chưa kịp nói.
- Em biết ba con hồ ly tinh đó hốt hồn anh rồi. Áo trắng, đầu quăn, ăn nói theo Sài Gòn ngọt xớt nên anh quên hết .
- Anh đâu biết hồ ly tinh nào mà em nói vậy.
- Người ta đồn là dì Ba gả một trong ba con Mai, Khánh, Ngọc cho anh. Anh chịu đứa nào gả đứa nấy. Có không, khai thiệt đi!
- Tầm bậy! Anh sang đó để nhận chỉ thị của dượng Ba. Ổng là tư lệnh, ổng kêu thì phải tới chớ! Làm việc xong là anh dông liền.
- Ờ, dông liền qua quán bà Lụa phải không?
- Không qua đó làm sao gặp má mà thăm, em nói kỳ !
- Anh đừng có né. Bà Lụa cũng bắt hồn anh rồi. Em biết, không phải mới đây đâu ! -nàng nói một hơi- Em thương anh trước. Em cho anh hết lúc em dẫn anh đi coi hầm… Cái hầm sau này được dượng Ba chui suýt chết, em đi kêu anh về giải vây đó, nhớ không? Kỷ niệm vậy mà quên hả? Em nói thiệt kỳ này ra đây em xin làm ở văn phòng quận. Xã đội trả lại cho chú Tư, chú giao cho ai thì giao.
- Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử vô D7 rồi, còn ai mà giao.
- Kệ chú. Để anh đi lung tung lâu nay không ai săn sóc, anh ốm nhom ốm nhách thấy không? Côn em cũng ăn ngủ không được, hễ thức giấc là kêu tên anh. Chị Tám nói em điên. Lần này em ở lại đây chừng có bầu mới về, mà không về nhà, qua bên sông ở với má, nuôi con.
- Sắp đánh lớn rồi, em nói vậy mất đảng tính hết.
- Đảng tính, tính sau, bây giờ em phải lo cho em trước đã.
Nàng òa lên khóc mùi mẫn làm tôi rối loạn tinh thần. Nàng quệt nước mắt vào vai tôi rồi tiếp:
- Chồng chị Tám chết rồi anh không hay sao?
- Chị Tám… ơ…ơ…
- Không phải chồng dân công chết ở Bình Long đâu. Chồng mới cưới cơ!
- A… ai?
- D phó bạn anh mà anh không biết à? Kỳ anh về lần thứ hai uống rượu với thịt chuột bị hóa học, mấy anh thành lập hội ve chai chống Mỹ đó quên sao?
- Hội ve chai chống Mỹ chết hết rồi, chỉ còn mình anh, biết đứa nào?
- Chỉ than với em: “Phần số chị rủi ro quá em ạ. Trong ba năm chết hai người chồng. Con lớn rồi không thấy cha về. Có cha ghẻ cũng chết luôn”. Anh ấy linh tính thế nào mà một lần ăn nằm với chị, ảnh bảo: “Mình làm đám cưới đi em à”. Chị nói chị đi bước nữa, còn anh trai tân mà cưới hỏi rình rang người ta cười anh chết. Ảnh nói làm vậy mới chánh thức để sau này con mình (con chỉ chớ không phải con ảnh) có quyền lợi của chánh phủ cho. Thấy ảnh nói vậy chị cũng đồng ý. Ảnh chị thương nhau ở buổi nhậu thịt chuột đó. Ảnh nói với chú Tư Thiên đại điện chi ủy, còn bên ảnh thì mấy anh em xách rượu đem trà tới đám cưới . Chỉ có vậy thôi với sự chứng kiến của chú Tư. Chị không còn cha mẹ, chú Tư cũng như cha: Đêm đó ảnh với mấy người bạn uống rượu tới khuya. Rồi anh với chị thành vợ chồng.
- Ai cưới chị Tám? Nói ra nghe, cứ lòng vòng hoài.
- Anh Ba Tố chớ ai.
- Nó chết rồi!
- Chớ còn gì nữa. Cả ban chỉ huy D8 lãnh một trái bom đìa ở An Phú, anh không biết à? Chị Tám ra đó tìm lượm từng miếng xương… Mà không biết xương ai.
- Anh biết vụ bom nhưng không biết Ba Tố cưới chị Tám. Sao nó không cho anh hay?
- Anh đang ở bên sông với ông Sáu Phấn.
Tôi ngồi lặng thinh. Bạn bè quanh tôi lần lượt leo lên bàn thờ hết ráo rồi. Bây giờ ngồi nhớ lại mới thấy cô đơn. Mà thật, lâu nay tôi uống rượu khan bậy bạ một mình, không có tri âm tri kỷ, không còn những buổi nổ trời rung đất nữa.
Sáu Phấn đã chết. Tư Nhựt trối lại hôm nào nhờ giúp đỡ vợ con. Hai Phái, thằng keo kiệt khó thương, cũng trăn trối “coi sóc giùm các em nuôi” cho tao. Bảy Nô ứng mộng.
Toàn là dân Nam Kỳ . Tới phiên tôi trối gì, trối với ai ngoài cô Là?
- Em muốn có đứa con với anh, anh không nên từ chối nữa. Anh thấy anh Ba Tố và chị Tám không. Chỉ nói hai người ăn ở với nhau mới có một lần rồi ảnh vậy đó Anh! Anh đừng làm khổ em nữa.
Nhưng tôi làm sao cưới? Mậu Thận đợt một sắp nổ ra. DKB, quận Củ Chi, nhổ đồn hạ bót trên quốc lộ, chặn xe tăng… cả chục thứ chiếm hết đầu óc tôi còn tâm trí đâu mà cưới? Tôi bèn làm vừa lòng nàng, còn việc cưới .thì khất lại sau Mậu Thân. Đó là chánh sách muôn thuở của đảng. Cứ hứa rồi quên.
- Mày có tin rằng sau khi nổ súng, mình trụ lại nổi ở ven đô không? -Câu hỏi của Năm Tiều vang lên trong đầu tôi.
- Mày là con heo nái… -lại một câu nói khác của Năm Tiều.
Tôi bảo:
- Đừng giận anh nghe Là ?
Giao “công tác” của quận đội xong cho nàng xã đội. Công tác hơi nhiều nên tới nửa đêm tôi trở lại văn phòng.
Vừa ngả lưng thì có tiếng bắn ầm ầm trên trời. Không phải trực thăng soi, cũng không phải pháo. Đó là tiếng máy bay mâu hốc bắn để chụp hình. Nó tới đâu là B52 theo ngay sau đó. Đồng bào từng đội B52 quen rồi nên ngửi thấy những tràng dưa hấu lúc chúng chưa bay tới. Nó như một con ác điểu xòe cánh đen bao trùm từ mé sông Sài Gòn vô tận Phước Vĩnh Ninh. Nó sẽ trả thù cho tám chiếc xe tăng và bốn mươi lính Mỹ vừa ăn B40. Ăn một trả ngàn. Đó là Mỹ (Mong rằng Mỹ cũng sẽ làm như vậy trong hòa bình, đừng ăn rồi ngậm nuôi luôn, làm cho những binh sĩ Mỹ trăn trở, không nằm yên trong lòng đất).
Chiếc mâu hốc vừa biến đi thì có tiếng ò e trên nền trời càng lúc càng to. Mấy đứa cần vụ chạy ào xuống hầm trốn pháo. Đó cũng là thường lệ thôi. Bài bản Mỹ chơi có khi đổi nhạc cụ nhưng vẫn những bản cổ điển đó. Trực thăng soi, pháo, bom B52… Nhưng bữa nay không có gì hết ngoài tiếng “đờn cò” rồi bật ra:
“Tôi là Bảy Hốt, không phải là Bảy Hốt hậu cần mà Bảy Hốt tự Tám Bụng, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn mũi nhọn do Tư Nhựt và Hai Lôi chỉ huy và Q16 công trường 9 sắp tấn công nay mai. Tôi đã trở về với chánh nghĩa Quốc Gia. Kêu gọi cán binh trung đoàn mũi nhọn ra hồi chánh. Hồi Chánh hoặc Tử Thẩn”.
Mụ Hai Xót từ trong hầm chui ra, quệt ghèn hỏi tôi:
- Thằng nào vậy đồng chí Lôi?
Bảy Hốt. Nó là cán bộ C phó của Quyết Thắng khi tôi là tham mưu trưởng. Tài ba trung bình, thành phần: con của chủ nhà máy xay lúa ở Phú Hòa Đông, nhưng hắn ăn rất khỏe, tám chén một bữa ăn. Do đó hỗn danh Tám Bụng và mấy mụ già trầu lầm tưởng, một tên ăn no vác nặng như hắn chắc phải là bần cố nông nên trước khi vào ven đô, cấp trên phong cho y chức tiểu đoàn phó.
Tám Bụng vừa dứt tiếng thì tới một giọng khác:
Tôi là Hai Phán, tham mưu phó phân khu…”
Mụ Hai Xót cự tôi:
- Để nó nói hoài vậy nghe được sao đồng chí? Vác bá đỏ ra mà khen nó chớ !
Tôi cười:
- Mình vừa đánh nó phải để cho nó trả lại, nếu không nó chẳng chịu êm đâu. Chị bắn có một phát là Đồng Dù trả quả một trăm trái pháo chạy không kịp.
Mụ đành im.
Sau này tôi tìm hiểu thì mới biết rằng lúc đó anh Tám bầy trẻ dẫn đơn vị xuống đường, đi tới Rạch Tra thì quèo một cô y tá tên Thu Hà rồi trịt ngang vì thấy đơn vị quá chệch choạc, lính gồm trẻ con miền Bắc và du kích xã , còn cán bộ thì gồm Tư Nhựt, E trưởng, Hai Phán chính trị viên E, Năm Tân, Ba Đức, Sương và hắn. Những anh chàng dốt như vậy mà cầm sinh mạng lính thì hắn làm sao tin tưởng được. Chuồn là thượng sách. Quả thật, cả đám này chết rụi ở đợt một. Riêng Hai Phán thì dông trước ba, bốn tháng. Hắn cho vợ ra Sài Gòn móc trước, nên trực thăng đổ quân ngay miệng hầm xớt hắn đi, khỏi mang tiếng chiêu hồi.
Hai Phán dứt lời “chào các bạn” thì tới Tám Bụng, hai ông cán bộ D thay nhau nhắn nhe “cán binh Việt Cộng” gần tới sáng mới thôi.
Để chấm dứt bản tình ca Củ Chi pháo Đòng Dù và Trung Hòa xướng sơ sơ vài chục quả gọi là lót lòng cho chúng tôi mạnh chân mạnh công chạy đua giựt cúp Mậu Thân anh hùng
Tôi nghĩ: Ta chưa ra quân mà địch đã biết trước. Đó là một trong những nguyên nhân thất bại của cuộc tổng tấn công tàn bạo.

 
 
Chương 86
Lệnh hỏa tốc đưa thịt vào lò BBQ Sài Gòn

Một buổi sáng tôi chưa thức dậy thì đã có tiếng đập cửa. Tôi biết ngay giọng của con bé Thanh, vừa là cháu kêu bằng bác, vừa là “chị nuôi” của Năm Tiều. Con bé mới 15 tuổi nhưng đã trổ mã và lâu nay cũng háy nguýt tôi bàng cặp mắt ướt ướt. Năm Tiều cũng biết điều đó, nên đã chận trước theo kiểu bỏ hàng rào thưa:
- Mày kêu tao bằng bác có hơi khó coi, nhưng đời mà, biết đâu may… rủi! Vậy chớ thằng Bảy Nô D trưởng lấy con Lan, còn thằng Tám Thiệt chính trị viên D quơ bà má con Lan thì sao?
Tôi chỉ cười. Những lần tôi tới làm việc với ông Năm đốc chiến thì nàng Thanh sốt sắng pha cà phê sữa, còn tôi cũng không bỏ cơ hội để đánh du kích, tấn gọn rút nhanh.
Năm Tiều cũng biết nhưng nghi binh làm như không thấy gì. Kỳ này quả là cơ hội ngàn năm có một cho anh Hai.
Cô bé vào nhà, đám nhỏ đi công tác hết ráo chưa có đứa nào về.
- Có thư hỏa tốc nề anh Hai. -Tiếng cô bé ở miệng hầm vọng xuống.
- “Tóc” của ai?
- Của bác Năm.
- Đem xuống đây coi -Tôi nói giọng lè nhè- Đêm qua anh thức khuya họp ở ngoài đồng cảm lạnh dậy không nổi.
Tôi có sáng kiến diễn lại cái vai trò của bà ngoại cô bé một cách bất ngờ trong truyện cổ tích “Cô gái khăn quàng đỏ” của Perrault.
Tôi kéo tấm vải dù phủ mặt và rên khe khẽ.
Cô bé xuống hầm và giở tấm vải:
- Anh đau làm sao đi công tác nổi. Để em bắt gió cho.
- Ừ lấy dầu cù là trong sắc cốt treo ở đầu võng kia.
Thế là cô bé vạch lưng anh Hai cạo gió. Cạo lưng xong đến cạo ngực.
Gió hỡi gió reo lên đi
Ta vui ca mài thanh gươm chánh khí!!
Con sói già ló đâu ra hỏi cô bé. Chợt thấy cái đầu sói, cô bé giật mình lùi lại hỏi:
- Sao mặt ngoại ốm vậy ngoại?
- Ờ tại ngoại bệnh.
- Sao răng ngoại dài vậy ngoại?
- Để ăn thịt con! -Và bà ngoại tốc mền ngồi dậy vồ con bé xé xác nhai ngon lành.

Đó là chuyện cổ tích, còn ở đây bé Thanh biết “con sói” đang nằm đây mà vẫn cạo gió cho nó, không biết sợ là gì.
Cạo gió, cạo mưa xong, cố nhiên phải tới cạo mây, cạo mưa. Nàng đưa cho tôi bức thư hỏa tốc của ông tư lệnh Ba Xu
“Đi lãnh gấp hai trăm tân binh ở làng 13. Xong chân chỉnh D7 đánh Trung Hòa và Thái Mỹ. Ba Xu”.
Tôi bàng hoàng hết cả người. Tôoi bật đèn pin viết thư cho Ba Xuyên bảo con Ua vẽ sơ đồ đồn Trung Hòa và đồn Thái Mỹ, rồi hộc tốc kêu Hai Khởi đi với tôi qua sông. Hắn sẽ đi lãnh tân binh vì làng 13 là quê hắn. Vợ hắn là thợ may ở hậu cần đang ở nhà bà già ruột chờ sản xuất nhi đồng, cho hắn đi công tác này công tư lưỡng lợi, còn tôi sẽ đến yết kiến ông Ba Xu để hỏi xem hà cớ mà ông ra một lệnh ác ôn như vậy. Nếu ông không cho một cái “phản lệnh” (tức là thôi không đánh đồn nữa) thì tôi sẽ xin thêm súng đạn, chớ hiện số súng đạn tôi đang chôn cất để dành tổng tấn công, không có lệnh trên không được xài.
Hai Khởi và tôi, hai đứa nuốt cơm nguội rồi cuốc thẳng xuống bến sông bất chấp giang thuyền, đứng chờ để lính Bảy Hốt đem ghe máy đuôi tôm tới đưa qua sông. Trời chiều bảng lảng, tâm sự đầy ứ, lo âu rối ren tràn ngập trong lòng. Tôi dựa gốc cây bần nhìn mé sông rậm rạp thân cây đầy vết đạn.
Không trái bần khô khỉ bạc đầu
Câu thơ của ai chợt dội lên trong lòng càng não nùng. Tết con khỉ Mậu Thân này cán bộ chúng tôi bạc đầu trăm tuổi hoặc xuống mồ. Tư Nhựt lẫn Năm Truyện đều trăn trối mà không dám nói ra.
Bỗng chiếc đuôi tôm đâm mũi vào bờ. Khách nhanh nhẹn vọt lên đất ruộng như thoát chết. Năm Nấp, người lái đuôi tôm, la lên:
- Anh Hai qua sông hả, xuống mau!
Nhưng tôi không màng sự giục giã đó. Tôi đang bận nhìn anh thương binh cụt giò đang đeo trên lưng một người. Tôi kêu lên:
- Đỏ ! Mày hả Đỏ? Ủa, Lạn nữa.
Đúng là một thảm kịch đang diễn ra trước mặt tôi. Thằng Lan đang cõng thằng Đỏ. Bạn đọc hẳn còn nhớ thằng bé liên lạc H6 của tôi? Nó bị trái pháo mồ côi cụt hai chân, còn vợ chồng cậu quản lý (cô Thu đã cứu tôi dưới địa đạo năm nao) thì chết hết trong lúc cô Thu đang có bầu.
- Mày đi an dưỡng về đó hả Đỏ?
Đỏ cũng nhận ra tôi không khó khăn gì, hắn kêu lên:
- Anh Hai! Em đi an dưỡng ở R về.
- Mày chở nó từ đâu vậy Lạn?
- Từ mé bên này sông Bà Hảo.
- Trời đất, chân cẳng mày như vậy làm sao mày đi hả Đỏ?
- Dạ một bên cụt, một bên còn nửa cái bàn chân, em rán chõi nạng cà nhắc, liên lạc họ cũng chiếu cố.
- Bây giờ mày định đi đâu?
- Dạ về nhà ông ngoại em ở Phú Hòa Đông. Em về chăn trâu cho ông kiếm cơm cũng được.
- Cụt giò mà chăn trâu cái gì? -Tôi quay sang Lạn- Lâu nay mày đi đâu tao không gặp, hả Lạn?
- Dạ, em đi học Liên Xô mới về đây, anh Hai.
Cái điệp khúc mỉa mai chua chát nó cứ nhắc đi nhắc lại mỗi lần nó chở tôi đi, nay vẫn lập lại “em đi Liên Xô !”
Tôi móc sắc cốt cho mỗi đứa một ngàn rồi xuống ghe. Không nói gì thêm. Ghe quay mũi ra sông, tôi ngó ngoái lại Thằng Đỏ đang vịn gốc cây, còn thằng Lạn vác chiếc xe đạp lên bờ đắp rồi trở lại cõng thằng Đỏ. Nó sẽ đèo thằng bé đi về Bến Mương.
Ghe rẽ nước ào ào. Lòng tôi ngổn ngang trăm mối. Bảy Nô, Sáu Phấn, Sáu Uya, Ba Tố, Tư Nhựt… bao nhiêu bạn bè đã nằm xuống và sẽ nằm xuống. Và bao giờ sẽ tới phiên tôi?
Tôi đến gặp Năm Lê trước nhất. Anh giống như con vượn già ở trong hang núi, mặt cóp lại, răng lồi ra, hai tay dài ngoằng. Anh ở trong cái hầm đào dưới đất vuông dài như cái hòm mà nắp hòm dày chừng một thước. Đường xuống hầm tối om, phả i qua cái bếp. Bên cạnh bếp là buồng tắm và cầu tiêu, và ống hơi thông lên mặt đất. Đại khái là một hệ thống ăn ở phục vụ cho anh mà muốn hoàn thành phải tốn 200 ngày công hoặc hơn.
Về tới đây mà không gặp các em Thảo và Tám Nghi lòng tôi bùi ngùi. Hai người đã bị xe tăng moi hầm bắt hồi năm ngoái ở xóm Bà Huệ. Nếu chúng moi tiếp sẽ bắt được ông tham mưu trưởng quân khu Năm Lê.
Năm Lê khai thông mặt trận sắp mở cho tôi nghe:
- Đây là cơ hội ngàn năm có một.
- Nghĩa là sao anh Năm? -Tôi bị kẹt với những cái lệnh khó xơi, nên túng quá phải hỏi.
Anh cau mặt:
- Thì ở trên bảo vậy, mình phải nghe vậy, không nên hỏi.
- Nhưng anh còn không hiểu, bọn tôi hiểu làm sao?
- Tao cũng như mày.
Tôi bèn hỏi sang DKB:
- Loại vũ khí mới này có chắc ăn không anh Năm?
- Cái thằng, mày là thầy pháo mà sao lại hỏi tao?
- Anh là trung đoàn trưởng pháo binh mà anh Năm. Anh phải khai thông cho em út chớ.
- Trung đoàn trưởng là khi trong tay có đủ phương tiện thì mới chỉ huy được, chớ mày nghĩ đạn pháo mà chôn trong đất như vậy, thuốc phóng bị ẩm ướt, rồi đế pháo đặt không thăng bằng, bố tao cũng không dám bắn.
- Tôi đã thấy mặt nó rồi anh à.
- Ra sao tao đâu có biết.
- Đạn thì như đạn moọc chê, còn súng thì như máng heo và nạng tre chống.
- Rồi bắn cách nào?
- Đuôi đạn có hai dây điện. Muốn bắn câu nó vào bình điện và kéo công tắc…
Tôi nói tỉ mỉ cho ông tham mưu khu nghe. Nghe xong anh lắc đầu và hỏi:
- Mày định sử dụng làm sao?
- Dạ, đem bắn thử vô Trung Hòa hai quả.
- Tốt không?
Tôi lặng thinh không nói gì hết. Nhưng anh thừa biết kết quả nên nói:
- Thứ giết người mà làm đơn sơ như vậy thì sẽ giết đồng bào chớ không giết được địch.
- Dạ, anh Ba bảo miễn có tiếng nổ trong lòng địch là tốt rồi.
- Mà nó có nổ không chớ?
Tôi đành phải bẩm sự thực để sau này nếu có gì không như ý mấy ổng sẽ không khiển trách mình được.
Bữa hôm đó tôi cho hai trung đội đem hai trái ra gần Trung Hòa để thằng Lũng và thằng Lanh, chuyên viên DKB, bắn thử. Một trái xòe lửa xanh lè. Lính sợ bỏ chạy tứ tán, khè đã đời rồi nằm im, không nhúc nhích. Đó là trái tịt ngòi.
Trái thứ hai, vừa châm lửa thì điện phừng lên, trái đạn vọt đi khỏi lòng máng, cái đuôi khói đen xoay tít. Đám lính bị lửa phọt vô mặt nhào lăn, hai đứa bị cháy nám nhưng không lột da.
Anh lính quan trắc (ở phía trước đầu súng) chạy dội lại, la hớt hãi:
- Lại lép!
- Ở đâu? Tôi quát.
- Chắc nó lọt vô vòng rào bót.
- Rút nhanh? -Tôi quơ tay lia lịa- Rú… út.
Chưa bao giờ trong đời sử dụng pháo của tôi thấy mình phiêu lưu một cách nguy hiểm như vầy. Hồi ở trường pháo binh Cục R, tôi đã từng mạo hiểm lấy kính ngắm sơn pháo 75 ly của Pháp gắn qua súng DKZ 75 là loại súng bắn trực xạ để bắn gián xạ, tức là bắn vào các mục tiêu che khuất, ở trận địa không thấy mục tiêu. Như vậy là đã mạo hiểm tối đa rồi, nhưng lần đó chỉ là bắn thử ở giữa rừng, trúng trật cũng không ai chết.
Còn ở đất Củ Chi này, hiện giờ không còn một mảnh đất xéo để lính tập bắn AK, hễ nổ một phát bất cứ ở hóc hẻm nào là Đồng Dù hoặc Trung Hòa đều hay và đáp lời sông núi ngay. Cho nên cách thử DKB tốt nhất là bắn vào đồn. Cứ bắn. Trúng chợ búa, nhà dân hay trường học cũng chẳng có làm sao. Vì dân miền Nam đang ở trong tim bác Hồ chớ đâu có ở ngoài mà sợ !
Mọi người ngơ ngác không hiểu tại sao tôi ra lệnh như vậy, nhưng họ cũng cứ cắm đầu chạy, còn hai ông chuyên gia Lũng và Lanh thì tiếc rẻ cái máng heo ăn. Hai đứa nhìn tôi tỏ vẻ không hài lòng. Tôi biết, nên vừa chạy vừa nói:
- Các cậu giỏi thì ở lại mà tháo đạn lấy súng về.
Chúng nó không rõ cái tật bắn pháo của Đồng Dù và Trung Hòa. Sau này cả hai đều chết vì pháo… Một đứa vì DKB, một đứa vì pháo Đồng Dù.
Còn tôi choảng với Mỹ nhiều trận quá rồi, nên rành sáu câu. Chúng nó nghe lụp cụp ngoài này thì sẽ phản pháo tức thì. Quả thật, cả đơn vị tôi vừa vô tới Gót Chàng thì u u u vút vút vút đạn pháo của Đồng Dù lẫn Trung Hòa hợp tấu cả tiếng đồng hồ. May mà không chết đứa nào, nếu có thì thật là lãng toành!
Hai cậu chuyên “da” bây giờ mới nổi da gà. Nhớ hai trái “đạn khoan bê tông” DKB tôi cũng hơi tiếc tiếc cái thuốc nổ TNT bên trong. Phí quá , nhưng ai dám đụng tới nó nữa. Thứ đạn câm này hay gầm thình lình. Chỉ có Năm Cội mới dám đi đào móc bom lép đem về cưa ra nấu như kho cá để lấy thuốc nổ làm đạp lôi, nay cậu ấy chết cũng vì đạp lôi, quá là sanh nghề tử nghiệp, bây giờ đâu có ai dám nối nghiệp. Hú hồn hú vía DKB !
Hôm sau, hai cậu chuyên gia đang ngồi bàn tán với tôi về “tính năng tác dụng” của DKB (tính tác con khỉ), thì một người đàn ông đội nón mây to vành chạy đến, hớt hãi hỏi đây có phải là văn phòng ông Lôi không. Tôi nhận ra là ông Chệt, tía của cô Mầu ngoài Ràng, quán mà tôi đã từng đến uống bia và nhờ cô ta mua đèn pin cùng các thứ “quốc cấm” khác.
Nhìn thấy tôi, ông Chệt lột nón xá lia:
- Chào ông quận! Chào ông quận!
- Có chuyện gì vậy ông chủ?
Ông Chệt đứng dậy ngoẹo đầu qua vai, nói một hơi không kịp thở:
- Không biết có chuyện gì mà ở trong đồn lính chạy tán loạn rần rần. Bây giờ ở trong đồn chỉ có lính chứ không còn đàn bà con nít nữa.
- Họ chạy đi đâu?
- Chạy đi đâu không biết. Có người tới quán tôi nói là ông bắn hỏa tiễn vô trong đồn nhưng không trúng đồn mà trúng ngay nhà vợ lính. Một trái đen thùi lùi nằm ở trỏng nên họ sợ nổ, bỏ chạy hết.
- Còn đồng bào ở Ràng có sao không?
- Nhiều người bị thương, nhà cửa nát hết.
- Đạn lép mà bị thương cái gì?
- Người ta bị thương là tại pháo Đồng Dù, chứ không phải hỏa tiễn của mấy ông.
…. Năm Lê ngồi nghe tôi kể chuyện cố làm nghiêm. Tôi dứt lời, đốt thuốc hút được vài hơi y mới nói:
- Tao không hiểu mấy chả muốn cái gì. Đạn dược như thế mà đem ra bắn có chết dân không. Lần này lên gặp ông Ba Xu mày phải báo cáo cho rõ để ông ấy định liệu. Nhớ nói là tao đã biết tình trạng DKB rồi nghe không.
- Dạ, ổng đã chỉ thị cho tôi, miễn có tiếng nổ trong lỏng địch là tốt rồi.
Năm Lê ngồi im, không nói gì hết.
Tôi nằm vất vưởng trong quán nàng Lụa chớ không xin vô gặp ông Tư Lệnh nữa, vì ổng không rành pháo bằng ông Năm Lê. Có điều tôi ân hận về sau là tôi đã không cương quyết đề đạt ý kiến là không nên dùng DKB cho trận tổng công kích vào Sài Gòn. Vì Sài Gòn đông dân và vì DKB giết quân ta trước nhất. Quả thật về sau DKB chỉ làm được hai nhiệm vụ giết dân và giết lính. Mười trái bắn nổ hai trái, thuốc phà đui mắt một pháo thủ, trật bốn trái, tịt bốn trái. Hỡi ông kỹ sư méo mồm, ông là ai không cần biết, cứ coi đó là tác phẩm của thằng Hồ. Đám dân đen, nhất là dân Nam Kỳ chết bao nhiêu thây kệ, miễn chiếm được Sài Gòn để “rước bác Hồ” thì thôi.
Tàn dân tàn quân anh dũng thừa thắng rởm bò lên đưa ngực đỡ đạn lót đường cho Bắc Kỳ vào làm cha!
Ba hôm sau Hai Khởi dắt hai trăm tân binh về tới. Ở nhà tôi đã cho đi lãnh súng AK của Bảy Sử, trưởng ban quân khí. Về tới là tôi cho ráp vô ngay. Hai trăm tay súng gà mờ. Tôi cho chia làm ba đại đội (không đủ quân số), cho tập ngắm, bắn sơ sịa, rồi coi cậu nào lanh lợi, khỏe mạnh phong chức B trưởng, B phó, A trưởng, A phó để đưa qua sông về nhập cục với D7 thành lập tiểu đoàn Quyết Thắng (lần thứ hai) của Củ Chi do tôi chỉ huy.
Tình hình nôn tới, không côn thì giờ để học tập, chỉnh đốn đội ngũ hoặc trau dồi kỹ thuật gì nữa. Lò đã mở nắp, củi gộc, củi bởi, củi khô, củi ướt bất kể, cứ đút vào. Con ai cháu ai chớ đâu có con cháu của Bộ Chính Trị mà Bộ Chính Trị thương xót. Nhìn những gương mặt bấm ra sữa ôm AK, nịt bao đạn, tôi biết mình sẽ đưa họ đi đâu nhưng lệnh vua nào ai dám cãi.
Tôi tập họp đơn vị đọc thư chúc Tết Hồ chủ tịt, đọc nhật lệnh Võ đại tướng, thư Quân Khu ủy, thư Bộ Chỉ Huy R… Ngoài ra còn cho chặt một cây tre làm cán cờ xỏ cờ Mặt Trận nửa xanh nửa đỏ vô, cho một tổ vác đi trước, oai phong lấm lét vô cùng. Dăm bảy chục đồng bào đứng bên lề đường vẫy tay, con nít bà già vỗ tay lẹt đẹt không ra cái lễ gì. Nhưng tôi cũng rán gân cổ bảo:
- Tết này ta đón Xuân ở Sài Gòn!
Tôi thách tướng Võ Nguyên Giáp đến Văn Tiến Dũng vô đây chơi với Mỹ Ngụy một vài ván cho biết mặt. Thách cả bọn Tàu Ô, thầy của chúng, những tên đã từng giúp cho Giáp bưng mâm Điện Biên Phủ nữa. Vác ba cái binh thư “Luận trì cửu chiến” của già Mao vô đây mà phá những chiến thuật trực thăng vận, Phượng hoàng vồ mồi, Bủa lưới phóng lao, Tìm và diệt của Mỹ. Vô đây ! Xin mời vô đất Củ Chi này chơi vài ngày.
Đụ mẹ các ngài chỉ là những thằng lạc hậu nhưng đầy cuồng vọng. Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Chu Huy Mân, Trần Văn Trà, Trần Độ tiếng là Bộ Chỉ Huy R nhưng chỉ huy chỉ rùa trận nào thôi, tối ngày chỉ lo cạo râu để nhởn nhơ với các cháu gái và con nuôi chớ biết chiến tranh làm gì. Tên đại tướng bần cố nông Nguyễn Chí Thanh mới mon men xuống tới Long Nguyên cách Củ Chi 20km đã toi mạng ngay rồi kia.
Bay định xua lũ nông dân ngờ nghệch này vào miệng hùm hang rắn. Chúng bay định giết họ bằng tay Mỹ Ngụy để khỏi mang tiếng ác. Dã tâm của chúng mày nay đã bị lột trần.
Dắt đám trẻ con miền Bắc về Củ Chi, tôi chỉ mong có một điều là tìm được một nơi không có bom pháo trong vài ngày để ổn định tinh thần chúng kha khá và để luyện tập thêm một số động tác cơ bản sử dụng súng, lựu đạn và những động tác chiến đấu cần thiết ở chiến trường, chạy, lăn, bò, toài v.v…
Nhìn nét mặt non choẹt của chúng tôi thấy thương tâm. Rồi đây sẽ không còn được chục đứa trở về gia đình. Con cái của ai bị lùa vào đây vậy. Chắc chắn toàn là “cháu yêu” của bác Hồ, nhưng chắc chắn không có con cái của đám đầu nậu trong Bộ Chính Trị và chánh phủ. Bọn này “bận” đi giải phóng miền Nam ở bên Ba Lan, Tiệp Khắc, Trung Quốc, Đông Đức, Liên Xô để về nước tiếp tục vô Bộ Chính Trị, để bọn con cháu bần cố nông gánh vác nhiệm vụ vinh quang.
Tôi giao Hai Khởi huấn luyện đám tân binh này và đi lo chỗ cất giấu.DKB ở trên đưa xuống. Mặc dù tôi không tin tưởng nó sẽ “khoan bê tông” nhưng lệnh trên phải thi hành.
Một hôm về tới nhà thì thắng Tiền bảo có người muốn gặp tôi. Tôi đã chán những ông bà đòi gặp này lắm rồi. Họ từ Quân Khu hoặc R xuống để dự chiến dịch Mậu Thân, coi Củ Chi như trạm nghỉ chân, nhưng muốn cho cặp chân nghỉ được vài giờ thì không gì bảo đảm bằng hầm. Nhiều ông bà đòi địa đạo vì họ tưởng Củ Chi “thôn liền…” oai lắấm. Nhiều ông biết điều chỉ xin hầm cá trê trốn đỡ. Nhưng hầm đâu mà cung cấp cho đủ. Không thấy cả ban tham mưu quận đội chết cháy dưới hầm, mùi khét còn nồng nặc Củ Chi đó sao?
- Ông nào vậy, Tiền? -Tôi gạn hỏi thằng Tiền.
- Ông Tám Lệ.
- Sao mày biết?
- Ổng đòi vô. Em không cho. Ổng bảo “Nghe tên Tám Lệ là thủ trưởng mày rước tao liền”.
Quả thật Tám Lệ, anh chàng bảnh trai có bộ vó giống kép xi nê quê ở Bình Dương. Tám Lệ vào gặp tôi. Tôi cười:
- Coi cậu Tám Bình Dương mướt dữ he!
- Còn mày sao bèo nhèo vậy?
- Đang chạy vắt giò lên cổ đây mày ơi. Mày đi đâu qua đây?
Tám Lệ hỏi:
- Có gì nhâm nhi không, rồi tao kể chuyện cho nghe.
Tiệc nhậu chỉ có hai thằng. Lâu lắm tôi không có bạn nhậu. Nói đúng ra là uống rượu đã thành thói quen, uống trước khi ra trận để “dạn gà”, uống rượu sau trận để dập tắt nỗi buồn vì đồng đội rửa chân lên bàn thờ quá đông, uống rượu nửa đêm, uống rượu nắng chang chang, uống rượu trong bình toong, uống rượu trong chai lít, uống rượu với me, với chuối sống, không có lý do gì cũng uống. Rượu là bạn đường chống Mỹ, rượu mạnh hơn cả lập trường, cao hơn cả đảng tính. Bữa trước uống với Tư Nhựt là tri âm, mỗi ngụm là một trời tâm sự. Hôm nay với Tám Lệ mỗi chén là một nỗi niềm.
- Tao nghe mày thăng chức E phó hả?
- Ừ, phó cho Tư Nhựt. Y E phó làm nhiệm vụ E trưởng. Còn tao D trường làm nhiệm vụ E phó.
- Trung đoàn mũi nhọn?
- Ờ, trung đoàn mũi nhọn.
- Tao bị chê nên ở lại Củ Chi với các em gái hậu phương.
Tám Lệ cười nhếch mép:
- Tao mong bị chê mà không được! -Tám Lệ thở đài.
Tôi biết tâm sự của Lệ. Cũng như Tư Nhựt thôi, khác gì. Kinh Kha mà anh Tám Hà nhắc tới hôm nọ, ngày xưa chỉ là một, nay xã hội chủ nghĩa có cả trăm. Biết bao nhiêu thằng lạnh lùng vung gươm ra sa trường mà mang bầu tâm sự của Tư Nhựt và Tám Lệ.
Nhưng Tư Nhựt sắp có được một mụn con, còn Lệ mới cưới vợ chưa có con. Niềm đau khổ của Lệ là ở chỗ đó. Mà Lệ lo là phải.
- Tao đã bảo vợ tao ở lại đi lấy chồng.
- Cái thằng nói nhảm quá mậy.
- Tao nói thiệt mà. Vợ tao khóc quá tay.
- Ai lại nói với đàn bà một câu như vậy.
- Không nói vậy thì nói gì.
- Mày có biết bài thơ này của Simonov không?
Rồi tôi đọc một hơi bằng tiếng Pháp lẫn tiếng Việt.
Đợi anh về
Đợi anh về em nhé
Dù ngày có lê thê
Dù tuyết có rơi dầm dề
Em! Em ơi cứ đợi
Dù ai đến nói với em
Rằng anh chết thảm thê
Em cũng đừng tin lời họ
Hãy cứ đợi anh về. . .
Anh sẽ về

Nhờ bài thơ này mà Hồng Quân chiến thắng ở Stanlingrad. Anh Hồng Quân nào cũng chép bỏ trong ba lô Mày không muốn chiến thắng à?
Tám Lệ nốc cạn một chén và quẹt ngang môi:
- Đó là thi phú, còn đây là sắt máu.
- Nhưng mày phái tự tin chớ?
Tiệc xong, Tám Lệ bắt tay tôi, ôm tôi hôn thật lâu. Xong hắn rơm rớm nước mắt:
- Tao không còn gặp mày nữa đâu Lôi! Nè, hình vợ tao đây. Sau này nếu mày có gặp cô nàng mày bảo hãy nhớ và làm theo lời tao dặn.
Tôi biết còn một câu trọng đại trong ánh mắt của hắn mà hắn không thể nói ra nhưng tôi đọc được.
(Hắn chỉ huy trung đoàn mũi nhọn đánh vào Sài Gòn. Cả hai, Tư Nhựt và Tám Lệ đã không trở về cùng với cả đơn vị mũi nhọn. Sẽ kể tiếp).
Tám Lệ đi rồi Hai Tiến đến lôi lưng tôi:
- Tụi văn nghệ đòi xuống địa đạo nghỉ ngơi.
- Cái gì?
- Mày cứ cho tụi nó xuống dưới đó đi. Có một thằng nhà văn muốn mô tả địa đạo mà chưa có dịp xuống dưới đó còn thằng quay phim thì càng háo hức.
Tôi hỏi:
- Có thắng nào tên là Nguyễn Vũ không?
- Nó đi cánh khác.
- Nếu có nó đi ở đây, này đừng có giới thiệu tên nó ra với ai hết nghe !
- Sao vậy, bộ dưới này không ưa văn nghệ à?
- Ưa chớ sao không, nhưng ba cái kịch “Mượn Mỹ” của thằng chả làm mấy con lủng sĩ la oai oái.
- Bộ tụi nó khoái lắm hả?
- Khoái mẹ gì. Nghe radio phát thanh tụi nó đứa bụm mặt chạy, đứa tắt liền!
- ????
- Tại vì ổng phịa bỏ sách bỏ vở. Thực tế, có con nào bắn trầy da thằng Mỹ đâu. Chỉ có con Út Nhỡ là quào rách mặt được một thằng vì thằng này lủi xuống địa đuổi theo nó. Ấy vậy mà con Nhã Nam trương lên đài một cái tin là một nữ dũng sĩ hạ được bốn tên Mỹ, toàn đội hạ được hai mươi mốt tên trong trận càn Ma-hắt-tăng.
- Ủa, nói vậy không có vụ “Mượn Mỹ” à?
- Có đầu cặc. Mày ngây thơ bỏ mẹ đi, ông bí thư à !
- Vậy sao tụi kịch của bà Thanh Loan dám đem diễn ở đại hội mừng công cho ông Sáu Di coi. Ổng cười khoái chí quá trời !
- Ổng tưởng thật nên ông khoái chớ sao. Ổng hơi tao cả chục câu hỏi. Tao cũng đẩy cây thoa mỡ bò với ổng, ổng cũng khoái luôn. Mà thật, lúc đó chưa xuống Củ Chi tao cũng tưởng Củ Chi “thôn liền…” và chuyện “Mượn Mỹ” là có thật. Khi về đến nơi, tao mới vỡ lẽ “thôn” chẳng có cái nào “liền” cái nào, còn Mỹ thì tới mốt mới quờ được sợi lông chưn của nó ! -Tôi nói thầm- ổng đẻ ra cái chiến thuật “đội bạt bom Mỹ, nắm thắt lưng nó mà đánh”, ổng mới lọ mọ xuống tới Long Nguyên thì đã đội một trái rồi!
Tôi hỏi Hai Tiến:
- Sao bữa đó mày không đi với ổng?
- Người ta có cái số mày ạ ! -Tiến trầm ngâm- Bữa đó tao đang “ở cữ” (rét) không ăn cơm ăn cháo gì được hết. Tao kêu thằng y sĩ tới đo nhiệt độ đàng hoàng trình ổng, để ổng không nghi mình là dân sọc dưa. Trong đám tướng tá của mày ở Hà Nội cũng lắm thằng sọc dưa hà hà… Do đó mà ổng chọn người khác đi với ổng, tao mới được ở nhà. Nếu tao không sốt chắc cũng “đi theo” ổng rồi! -Hai Tiến tiếp- Tao tưởng ở trên R ăn B52 mệt quá, xuống Củ Chi mới thọ, nào ngờ xuống đây mới hay là chẳng có địa….
-…“Địa lu” thì có, chớ địa đạo thì không. -Tôi nháy Hai Tiến và tiếp- Để tao phân công tác các em hướng dẫn tụi văn nghệ xuống “địa…” nghe ! Một sức một. Nhưng tao cho mày biết gái Củ… Chi anh rũng tuyệt vời nghe. Mỹ tụi nó còn không ngán đó. Thiếu gì Mỹ đen con, Mỹ trắng con oe oe ở đây.
Rồi tôi họp các em đội nữ lại cáp chạng và.phân công cho mỗi cô một cán bộ văn nghệ. Để các em khỏi ngại ngùng, tôi đả thông:
- Đây là văn nghệ sĩ đi theo bộ đội lấy đề tài để quay phim, viết truyện, vẽ tranh và màn kịch. Vậy các em phải hết sức giúp đỡ các anh về mọi mục đích yêu cầu để phục vụ chiến dịch. Các anh ấy chưa quen đường đất ở đây, các em muốn các ảnh khỏi đi lạc thì phải níu thắt lưng các ảnh mà đá… ánh. Rõ chưa?
- Rõ… õ!
Phân công xong, tôi quay lại Hai Tiến:
- Rủi ổng nghi mày “liên việt” với cô bé thì sao?
- Ổng bị bà quấn rế làm một mẻ ê càng rồi nên không dám bỏ ngón “bác cháu” nữa.
- Theo mày thì hai bác cháu “bang giao” chưa?
- Lâu rồi. Nhưng sợ ông đại sứ của bác Sáu kém tinh thần diệt địch mà bác cố gắng xung phong nên sáng nào bác cũng ho hen, sổ mũi.
- Mày có xem xi nê ma được chầu nào không? Khai thiệt đi rồi tao cho mày xuống địa nghỉ mát. Có không?
- Lâm ly “gùng gợn”. -Hai Tiến tiếp- ống cũng ma mãnh lắm. Ổng sợ đi Củ Chi bỏ con bé ở nhà mấy chú Chín chú Ba đến giúp đỡ cháu, nên trước khi đi, bác đem cái cục cưng của bác gởi bên Phụ Nữ Giải Phóng. Ở bên đó yên ổn hơn.
Tôi hỏi nhỏ:
- Tao nghe nói con bé đó có đi quân y bí mật hết mấy ngày. Có không?
- Thôi mày ơi ! Kín miệng lả yêu nước, đừng có hỏi nữa. Tao ngứa ngáy tao nói tét bét ra rồi mất hết.
- Bí mật mẹ gì, ở dưới này hễ thấy có mòi tanh cơm tanh cá thì mấy chú mấy bác gởi cháu đi yết kiến thầy nạo Tư Chuyền hay Tám Lê là thắng lợi chăm phần chăm.
Hai Tiến hỏi:
- Mày từng thấy mấy bà quấn rế tả nị xẩy chưa? Tao mục kích bà Hoạn Thư này làm thịt bác trai rồi. Kể ra bác ta cũng biết điều. Tại bữa tiệc bà chị nói mát vài câu. Tướng tá lẳng lặng rút lui có trật tự. Đến khi về tới dinh ông Sáu, bà mới cà niềng cà lỗi. Bác trai sợ nhất cái gì mày biết không?
Tôi đáp:
- Sợ bả về méc bác Hồ!
- Ăn thua gì ông già đó. Méc ổng thì ổng xử chìm xuồng như các vụ anh Ba Lê Duẩn và anh Sáu Lê Đức Thọ thôi. Bác bảo: “Các chú ấy lấy vợ hai trước khi luật hôn nhân gia đình ra đời”. Mày coi bác có đanh đá, ủa đanh thép không? Phán một câu mà bao nhiêu đồng chí Trung ương có V2 đều vỗ bụng cười rần khỏe ru như cu bà bóng.
Tôi hỏi:
- Vậy bác Sáu sợ cái gì nhất ở bác gái?
- Mày là nhà văn hay mô tả tâm lý, đoán thử coi!
- Sợ bác gái nhào từ trực thăng, xuống đất thằng Thổ làm thằng vua nó “hốt hền”!
- Bác gái làm vậy, bác trai còn khoái nữa chớ sợ gì? ..
- Thôi, chịu thua! Nói nghe coi.
- Bác nói bác về ngoải đề nghị với Trung Ương đem con bé ra Hà Nội rồi cho đi Liên Xô.
- Đi Liên Xô thì học tập càng tiến bộ chớ sợ gì.
- Cái thằng, mày không hiểu tâm lý gì hết. Đi Liên Xô thì bác trai dứt đường tơ còn gì?
Hai Tiến cười khẹc khẹc:
- Đó là tao đoán vậy thôi, chớ bụng bác nào thì cũng cứt không thôi mày ơi. Ở gần mấy ông lớn rồi mày mới thấy chẳng có cái mẹ gì thiêng liêng hết cả.
Tôi cũng cười đáp lễ:
- Có một cái thiêng liêng nhất, mày muốn không, tao cho một cái. Loại USA bảo đảm chăm phần chăm.
- Thôi mầy ơi ! Mày chưa có vợ con mày tự do mần cách mạng trong bóng tối lẫn ngoài ánh sáng, còn tao có vợ con rồi. Tao không muốn noi gương anh Ba, anh Tư.
 
Chương 87
Bữa tiệc máu Mậu Thân
Tôi lại được lệnh hoả tốc viết trên mẩu giấy bằng hai ngón tay tréo. Đang úm em đã quá chời mà phải “biệt ly sầu”, để băng qua sông Sài Gòn nhận lệnh.
Khu vực Bến Chùa không hiểu vì sao lại phồn vinh trở lại với cán binh xa mã rập rình. Tôi lại vào nhà dì Ba (tổng hành dinh của ông Tư Lệnh ở trong Đường Long mới dời ra đây). Ba em Mai, Khánh, Ngọc mới hôm nào, nay vắng bóng Khánh. Cô nàng đi thoát ly theo cách mệnh.
Trong nhà đầy nghẹt những người là người. Toàn những ông mặt rằn râu quấn nha trảo của Ba Xu được lệnh về họp khu ủy. Còn tôi là báo cáo viên về chiến thắng cuộc đột kích Củ Chi vừa rồi vào đêm 30 Tết.
Dì Ba là người ra đón tôi trước nhất. Bà ôm tôi rên rỉ:
- Dì sợ quá con ơi! Hễ nghe nói đánh ở đâu là dì sợ cho con dì không ngủ được.
Tôi ló đầu xuống bếp thấy mấy em Mai và Ngọc nói chuyện gì lầm thầm, bèn bước xuống “hừ’ một tiếng. Hai em biết là anh Hai khuấy chơi chớ hổng ai dám vô trồng khoai đất này, nhưng các cô vẫn làm bộ hốt hoảng đập vai đấm ngực anh liên hồi. Anh Hai thừa cơ hội ngàn năm có một bỏ lẹ vài ba ngón “xàng xừ líu” , rồi hỏi:
- Dượng Ba đâu?
- Ổng ở dưới hầm.
- Sao tối om vậy?
- Có bình ắc cu dưới đó. -Mai đáp.
Nhưng Ngọc lại bảo:
- Ổng mới đi ra vườn với mấy ông đầu bạc.
Tôi vuốt má hai em rồi đi thẳng ra vườn. Lúc nào hễ các ông họp thì có tiệc lớn. Thiệt là một nơi lý tưởng để ăn nhậu. Vườn cây rậm rạp, trời chiều mát rượi, bàn ghế thênh thang, chén tách ngổn ngang.
Tôi liếc sơ thấy có mấy mặt quen, Bảy Tùng, Năm Đăng , Tám Lê Thanh, Tám Nghĩa, Ba Ân. Trong số này chỉ có Tám Lê Thanh là phó tư lệnh Quân Khu là lớn nhất nên tôi đến trước mặt y, dập chân chào theo điều lệnh nội vụ:
- Tôi, Dương Đình Lôi, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 xin trình diện.
Tám Lê Thanh, tức Tám Dọn, gốc là anh đánh xe ngựa ở Gò Vấp, không biết đi mần cách mạng vô sản hồi nào, được phong chức trung đoàn chịu trách nhiệm bảo vệ R, vừa bị Nguyễn Chí Thanh dẹp dọn cho lính ra đơn vị cầm súng, còn y thì xuống Quân Khu 4 lãnh chức phó cho Ba Xu . Tám Dọn bèn sửa đổi tên đánh xe ngựa ra “Lê Thanh” cho có văn hoa.
Biết tôi rành y sáu câu nên y cười xòa, tay gãi đầu tóc bờm xờm:
- Thôi mà cha! Trình diện con mẹ gì. Tôi biết cha lâu rồi ở đây có ai chánh quy chánh rùa gì mà làm cho ra vẻ !
Thấy tôi chưa chịu “tan hàng”, ông Bảy Tùng ốm yếu hom hem (khu ủy viên) khoát tay bảo:
- Thằng cha Tám nói vậy thì chú mày kiếm ghế ngồi cho khỏe cặp giò rồi nói chuyện oánh chác bên Củ Chi nghe chơi.
Ông Năm Đăng, mặt tua tủa râu chổi xể, gò má nhô cao, tức Lâm Quốc Đăng (không rõ tên thật là gì) là người mở đường Trường Sơn đầu tiên thấu tới Nam Bộ (từng làm tư lệnh vùng Mã Đà, Phước Long). Sau này vô Mậu Thân chết ở Gò Vấp, người ta tưởng lầm là Trần Văn Trà, nhưng mấy tên to đầu toàn ở sau đít dí điện cho đám em út thừa thắng xông lên chớ đâu có xung phong mà chết như vậy!
Năm Đăng kẻo ghế cho tôi ngồi và .ngó tôi:
- Kháng chiến hai mùa hả. Băm mấy đây?
- Dạ băm lăm.
- Ờ cũng cứng cạy rồi ! -ông rót trà mời- Thôi nói chuyện nghe. Đừng có xưng hô kiểu đó nữa. Lớn bé gì cũng một viên là xong. Thằng cha coi như gà chết đó là Bảy Tùng, phó chánh “quỷ”, thằng cha mặt khỉ đột là Tám Dọn, phó tư “lọt,, hồi trước đánh xe ngựa mướn… Hì hì… bị con ngựa cái đá văng nên đi theo cách mạng. Còn cha miệng móm xóm đó là Tám Nghĩa, dân ăn cướp Bình Xuyên vượt ngục Tây, bây giờ làm giao bưu, chuyên môn bắt nhân viên chạy bộ đua với trực thăng bù nốc… Có gì hay bên lề Củ Chi nói nghe chơi chớ chuyện báo cáo tôi biết rồi. Các cha đánh ít nhưng con đĩ lũng Nhã Nam đía thêm lên rồi đài Giải Phóng nhơn gấp ba, ra tới Hà Nội con số địch chết lên gấp mười.
Thằng Thành, cần vụ của tôi, nghe vậy bèn vô nhà lôi cả đống lục cục lòn hòn lớp vàng lớp xanh để một đống dưới đất. Tám Dọn nhăn mặt xua tay:
- Ê, ê! Coi chừng mày nhỏ. Làm nhẹ nhẹ tay để nổ chết bọn già này hết.
Tôi trấn tỉnh mấy ổng. Bảy Tùng nói:
- Súng gì kỳ cục vậy Lôi?
- Dạ, đây là M79 súng phóng lựu của Mỹ bắn từ 50 đến 200 thước. Cũng như trom lông của Pháp hồi trước.
Tám Dọn có biết vũ khí chút ít nên bảo:
- Lôi, mày nhắm bầy gà kia dộng một phát cho thằng chả coi.
- Gà của bà Tư Lọt, tôi không dám. Làm ẩu nghe cha.
- Bắn gà ăn thịt chớ bộ làm ẩu với bả sao mà sợ ổng la?
Tám Dọn khịt khịt mũi rồi vỗ vai tôi:
-Mày đánh thủng vô Củ Chi là giỏi lắm. Hồi trước tới giờ thằng cha Ba Châm không rờ được cái lông chân của nó.
Tám Nghĩa tiếp:
- Ê, vô trỏng có biết được phòng cố vấn Mỹ không?
- Dạ vô được, nhưng không phá được, tụi Mỹ bốn năm thằng bị thủ pháo ta chết sạch.
- Mày có gặp mấy con đầu quăn không? Gặp tao, tao bắt vài con về coi chơi.
Tôi chưa kịp đáp thì Bảy Tùng nói tướp:
- Hỏi gì cái chuyện đó cha. Mỗi thằng cố vấn ít nhứt có ba con đấm bóp. Tụi nó chuyên môn ngủ ở truồng. Chắc là các bốt nó ném tùm lum trong phòng hả mậy Lôi?
- Dạ, rưọu thì nhiều lắm, lấy không hết.
Tôi bảo thằng Thành vô nhà lấy mấy chai rượu còn nguyên, cái radio, ống nhòm, đồ hộp, xố-xích v.v.. ra để trên bàn. Mỗi ông cầm lấy săm soi trầm trồ.
Tám Dọn quơ cặp ống dòm đưa lên mắt rồi la lên:
- Ủa, sao tối thui, không thấy gì hết trọi vậy nè?
Tôi mở hai nắp da đậy mặt kính rồi vặn núm điều chỉnh, hỏi:
- Thấy chưa anh Tám?
- Ờ, ờ thấy rồi! – Tám Dọn đưa tay chụp chụp trước mặt.
Bảy Tùng hòi:
- Anh làm gì vậy anh Tám?
- Tôi bắt mấy con gà chớ làm gì!
- Gà đâu đây mà bắt?
- Trời. Gần xệu hà! Vói tay bắt được mà. Anh hổng tin thì coi nè – Tám Dọn đưa ống dòm qua Bảy Tùng. Đó thấy chưa? Ủa, gà đâu rồi… Sao bây giờ nó ở tuốt đằng kia?
Bảy Tùng nói:
- Tại anh coi ống dòm nên gần vậy chớ sao.
- À, vậy hả? Trời, có ống dòm, bữa nào tàu giang thuyền của nó chạy dưới sông, mình coi chắc đã lắm.
Thấy mấy khúc xố-xích đen đen đỏ đỏ, Tám Nghĩa hỏi:
- Ê, mấy cái gì giống như cặc bò vậy Lôi?
- Dạ, xố-xích Mỹ đó anh Tám.
- Chà, nốc rượu Tây với xố-xích rồi lật mấy con đầu quăn ra dượt. Ba thằng Mỹ này đánh giặc mà sướng như vua. Còn mình nứng cặc kiếm gò mối mà xeo chới biết làm gì. Mấy con mẹ sồn sồn thì kiếm mấy thằng trẻ như thằng Lôi nè, chứ mấy bả chê mình rậm rề. Phó tư lệnh, phó chánh uỷ nghe cho oai chớ xìu trân “oánh chác/ gì được!
Tôi mở xắc-cốt lấy hộp xì-gà mới nguyên khui ra mời, các cha thò tay rút lia lịa. Năm Đăng hỏi:
- Còn gì nữa không em Lôi?
Tám Nghĩa đốt thuốc rồi lắc đầu:
- Nhứt gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu.
- Ê, đừng nói bậy mất đạo đức nghe cha!
- Già chừng nào càng mất nết chừng nấy.
- Thuốc gì khét ngứ, còn thua thuốc Gò Vấp của tụi!
- Đem mà un muỗi quách!
Khói thuốc mù mịt, mỗi ông một câu tha hồ lếu láo.
- Thằng cha Ba Xu đâu không thấy ra họp bàn kế hoạch tấn công đợt hai?
- Ổng mắc tấn công bà Ba Trắng ở dưới hầm Đờ Cát.
- Nhảy mũi cái nào cái nấy muốn bể trời mà hễ thấy thì ham.
- Cái thứ đó trời gầm không bỏ mà. Thì cũng như ông Tám Xe Ngựa này thôi. Ở trên R, rờ bà em nuôi Út Tuất (chị nuôi của Lôi, bà khu ủy viên này đã từng rủ Lôi về nhà làm ăn) nên bị đá văng xuống đây làm “phó… lọt”.
- Ê đây không phái buổi kiểm thảo nghe cha!
- Tôi còn biết ông oánh xe ngựa tới nhà bà Út Siêng bên Đồng Lớn vào giác nửa đêm nghe cha! Ai dám kiểm thảo ông?
- Tụi lớn đầu mình nhảy dù công khai không ai dám kiểm thảo, còn lính lỡ mò đàn bà giá cũng đem ra chi bộ cảnh cáo khai trừ.
- Kỷ luật là để dành cho tụi nhỏ chớ phải cho bọn đầu vồ mình sao. Thằng cha Ba Xu đéo đàn bà giá ban ngày trong hầm kìa, thằng nào vô coi rồi kiểm… thảo!
- Các cha nói xấu gì tôi đó?
Có tiếng nhảy mũi to và tiếng hỏi ồm ồm tiếp theo.
Mọi người nhìn lại thì thấy ông Tư Lệnh kỳ này khác những kỳ tôi gặp trước. Ông coi có vẻ bảnh tẻng, râu cạo nhẵn nhụi, áo sơ mi lụa mỡ gà, quần tây đen ủi thẳng có “pli”.
Tôi đứng dậy, cung kính:
- Anh Ba khỏe?
- Ừ, Lôi hả? Mới khỏe sau khi nghe mày báo cáo đánh Củ Chi thôi. Có đem chiến lợi phẩm về không? À, kia rồi… lủ khủ có cả M79 nữa hả?
Tám Dọn vọt miệng nói ngay:
- Anh cho thằng Lôi thử M78, 79 gì đó coi! Có bầy gà đang ăn ở gốc đầu kìa. Cho nó làm một phát lượm mấy con gà làm cà ri nhậu.
Tôi bảo thằng Thành xách M79 rình pháo kích bầy gà. Đất tung tóe. Gà gãy giò, sứt cánh, văng đầu nằm lây lất bên gốc cây.
- Mấy ông làm gì ác vậy… Gà của người ta nuôi… -Có tiếng tru tréo đi tới gần.
Ông Tư Lệnh dỗ ngọt:
- Tôi bảo thằng rể quý của bà thử súng chút mà ! Chết mấy con tôi kêu thông Hai Nhơn hậu cần đền cho bà gấp ba !
- Xí, tôi không ham gấp mấy hết á ! Gà của tôi nuôi, tôi để dành.
- Để dành đám cưới mấy đứa con gái của bà chớ gì! Nhưng nếu không thử súng, ra trận thằng rể của bà sơ suất rồi nó chết, con bà cưới ai?
Tiếng tru tréo im bặt. Ông Tư Lệnh đã bấm trúng yếu huyệt của bà nên bà đổi giận làm vui, tới bên tôi, giọng thân mật chưa từng có từ trước tới giờ:
- Con ra trận rán kỹ lưỡng nghe con, má lo lắm. Lần nào con về gặp dượng Ba con rồi con đi, má cũng van vái và khóc hết nước mắt. Lỡ có bề gì…
Bà quẹt nước mắt đổ liên hồi. Bà khóc thật. Bà thương tôi thật chớ không phải màu mè. Lần này bà gọi tôi bằng “con” xưng “má ” trước mặt mấy ông lớn. Bà kéo tôi ra góc vườn bảo nhỏ:
- Lôi nè, con đánh Củ Chi như vậy là được rồi. Dượng Ba con có đưa con xuống Sài Gòn đừng có đi nghe không. Bộ ổng muốn con xuống tiếp với cánh thằng Tư Nhựt hả?
- Dạ con không biết dì à. Nhưng luật nhà binh, trên chỉ đâu phải đi đó, chớ đâu dám cãi.
- Ừ không dám cãi, nhưng đi nửa đường tắt ngang cho lính chém vè. Như vậy tụi lính còn mang ơn con nữa đó. Má nghe nói tụi Tư Nhựt gặp nguy hết rồi. Út Thời kéo xuống một trung đoàn tiếp cứu nhưng kéo tới Tân Thành Đông mắc lầy không đi được, phải trở lại, chắc còn dồn cục trên chợ Thanh An.
- Sao dì biết rõ vậy?
- Chời! Mấy bà giao liên hợp pháp nằm cả đống bên nhà con Sáu Bến Chùa kìa. Họ qua đây xin cơm, nói với má. Đâu có qua lọt Hóc Môn mà xuống Sài Gòn. Tụi Sáu Huỳnh cũng nằm ỳ kia. Tụi Sài Gòn nó bịt kín đường số 9, Thủy Quân Lục Chiến dầy đặc. Bom pháo nó phóng xuống các xã từ Quốc Xuân, Thanh Lộc tới An Phú Đông. Các nơi về báo cáo với dượng Ba con, má rình nghe hết ráo. Ổng đâu có ngồi yên, cơm nước không ăn được. Má chỉ nấu cháo cho ông húp thôi, nhưng chỉ vài muỗng là ông buông xụi không ăn nữa. Ổng nằm vật ra than: “Như vậy là đợi một rục tùng hết rồi”. Nhưng ổng kín miệng không than với ai. Bề ngoài ổng làm tỉnh vậy đó, chớ trong bụng ổng như lửa đốt!
Dì Ba ngưng một chút, quệt nước mắt rồi hỏi tôi:
- Con có biết thằng cha Bắc Kỳ lùn lùn mắt toét kêu là Ba Kiên, Ba Kiếc gì đó không?
- Có. Dạ thằng chả là trung đoàn Q16 ở ngoài Bắc vào ! Trung đoàn đó thắng ở Điện Biên nên được biệt danh là Hùm Xám Điện Biên, vô đây để tấn công Sài Gòn đó dì!
- Hùm xám hùm đen gì cũng sút móng hết rồi. Thằng chả về báo cáo với dượng Ba, đánh Tân Thông, Trảng Bàng không xong, chạy bỏ thây lềnh đường, không có dân công khiêng thương binh, thằng chả bảo khu làm sao thì làm. Thằng chả trọ trẹ om sòm: “Giặc như thế, ta như thế, đánh cái đéo gì được mà đánh! Trung ương có giỏi vô đây mà đánh!” Dượng Ba tánh nóng nhưng lúc đó lại im rơ trước sự lỗ mãng của cấp dưới. Dượng chỉ vuốt ve: “Đồng chí để tôi lo”., Dì thấy người Bắc cơm ghe bè bạn vô tới đây mà chết như vậy, thiệt tội nghiệp. Thấy thằng chả khóc mếu máo thảm thiết, dì bảo mấy đứa nhỏ khui xá xị mời thằng chả. Cũng là người mình không hè.
Tôi đứng lặng thinh, không còn biết chống đỡ ra sao. Dì Ba nghe chuyện tận gốc chớ dì đâu có đặt ra được. Dì Ba tiếp:
- Hồi sáng có một thằng cha khác cũng Bắc Kỳ, tới bàn với dượng Ba, bảo dượng Ba tính kế khác, chứ nếu nghe Trung Ương thì chết hết lính. Dì nghe nói tụi đặc công đặc kiếc gì đó đi vô Sài Gòn bốn chục năm chục trở về còn chục rưỡi thôi. Còn lính bộ binh thì từ bên Phú Hòa Đông lội sông qua đây như bão tố (dì chỉ Năm Đăng), thằng cha râu rìa như Trương Phi kia kìa thấy vậy bèn kêu thằng Chín Nữa (bảo vệ Bộ Tư Lệnh) bắt hết đem giam ở suối Gò Gấu (Suối Máu) không cho đi lang bang ngoài đường. Hồi nãy con có nghe đài không?
- Đài nào dì Ba?
- Đài Sài Gòn nói tình hình dưới đó bình thường. Còn đài Giải Phóng thì nói đài phát thanh Sài Gòn, Tòa Đại Sứ Mỹ, Bộ Tham Mưu Sài Gòn bị đánh tiêu hết. Trời đất ơi! Mấy tháng cha ngoài Bắc vô đây bày chiện hại người ta quá đi thôi. Tổng tấn công cái gì, có chục rưỡi lính mà tấn dzô Sài Gòn!… Dì nhớ lại hồi chín năm, mấy ông Tô Ký, Hoàng Thọ với dượng Ba con (Ba Xu) hì hục đánh có cái đồn Bến Súc mà không xong làm tiêu cả tiểu đoàn, anh con Là chết trong trận đó (thằng Điều) làm má Hai con cụt dòng. Bây giờ người chết như lá rụng đầy đường, lính cho xe tăng ủi qua hai bên lề rồi lấp đất lại. Chời ơi! Con cháu của ai vậy hổng biết
Dì Ba thút thít khóc. Tôi vỗ về :
- Dì đừng có lo. Con chịu trách nhiệm mặt trận Củ Chi chớ không có đi xuống Sài Gòn đâu!
Bỗng có tiếng nói ồn ồn:
- Hai má con nói gì mà lâu vậy?
Tôi bèn lôi tay dì Ba vào. Ông Tư Lệnh bảo:
- Bà vô coi trẻ nhỏ lo giùm các món. Bữa nay tôi đãi các cha dân chánh để mấy chả đãi mình hoài coi cũng kỳ.
Tôi nhìn thấy đã có thêm mấy bộ mặt mới. Toàn là thứ dữ đầu sỏ của Quân Khu. Chợt có một thằng cha già hom hem đeo mắt kiếng bước tới. Đám kia dớn dác nhìn quanh. Ba Xu đứng dậy nhường ghế:
- Mời anh Sáu ngồi.
Tôi không biết anh Sáu nào, nhưng chắc là ông kẹ lớn (sau này mới biết đó là Sáu Dân tức Võ Văn Kiệt).
Nhưng ông Tám Nghĩa Bình Xuyên đâm hơi làm không khí thân mật:
- Bữa nay có “điền chủ” Rạch Giá tới thâu lúa ruộng tụi mình.
- Phá tôi hoài cha! -Sáu Dân cười giơ bộ răng bàn nạo.
Kỳ này ông định bẻ cổ bao nhiêu đám vịt tàu của nông dân đây?
- Bậy hoài! Vụ đó do thằng Nhơn (chủ tịch Rạch Giá thời kháng chiến) chủ trương chớ phải tôi sao?
- Ông cũng trong tỉnh ủy thì cũng có trách nhiệm chớ.
- Chuyện xưa nhắc lại làm gì ông bạn ơi!
Ngoài Sáu Dân tôi còn thấy thêm một lão cái lưng dài xọc, mặt ngựa, một lão to con vai gấu ngồi bên một mụ đàn bà rất thân mật.
Đối diện với mụ ta là một mụ khác, gò má cao, môi thâm. Sau này tôi hỏi dì Ba mới biết lão lưng dài là Tư Trường, bí thư khu ủy, lão vai gấu là Nguyễn Hộ, còn mụ kia là Sáu Thiệt, vợ của Nguyễn Hộ. Riêng mụ môi thâm là Ba Tú, người Huế, không biết làm cái giống gì trong quốc hội Sài Gòn mà lại lọt ra được đây.
Hộ phụ trách công vận tức vận động công nhân. Sáu Thiệt phụ trách phụ vận tức vận động phụ nữ. Còn mụ Tú Bà thì phụ trách trí vận. Còn một tên mặt thỏ mỏ dơi là Sáu Vinh.
Sau này Vinh về R gặp Xuân Vũ cãi nhau kịch liệt. Trần Bạch Đằng phải cho người xuống dàn xếp, sau đó Xuân Vũ bỏ về Sài Gòn. Sáu Vinh phụ trách báo chí vận. Tên hắnn là Viễn Phương, cán bộ sở thông tin Nam Bộ thời Huỳnh Văn Tiếng làm giám đốc, sau lủi vào thành sửa lại là Phương Viễn, có vợ tên Lưu.
Sáu Vinh thấy tôi thì kêu to:
- Ê Lôi! Con Nhã Nam nhắc ông luôn. Nó có làm cái phóng sự ông cởi quần lấy dây lưng nữ du kích đánh đồn Thầy Mười trên đài Giải Phóng.
Ba Xu gạt ngang:
- Nói cho rõ là nó mượn dây lưng du kích để giật cò súng cối cha nội ơi ! Nói như cha người nghe tưởng nó cởi quần nữ du kích ở giữa trận hay sao?
Có mấy tên phụ trách Công Giáo vận, Hoa kiều vận nhưng dì Ba không biết tên gì.
Mặt trời vừa lặn thì thức ăn dọn ra tràn trề trên các bàn nối đuôi nhau như một cái đám cưới nho nhỏ, cà ri, gà chiên bơ, lòng gà xào củ hành… bánh mì, rượu Tây ê hề.
- Khui rượu đi Lôi! -Ba Xu bảo.
Nhưng Năm Tiều xung phong làm việc này.
Ba Xu còn dặn lại:
- Lôi bảo tụi nó canh gác mặt sông và hai đầu cho kỹ nghe.
Ba Xu ngồi gằm mặt ăn chớ không dám huênh hoang nói láo vì các nhân chứng ở ngoài thành đều có mặt ở đây. Lúc đó Tư Trường là bí thư khu ủy, còn Sáu Kiệt chỉ là thường vụ khu ủy nên mọi người đều chờ ý kiến Tư Trường.
Bỗng nhiên bà Sáu Thiệt bật lên tiếng khóc hu hu rồi nghẹn ngào:
- Tôi xin từ chức, hức hức…
Mọi người sửng sốt không biết chuyện gì cụ thể nhưng cũng đoán được sự thất bại trong Sài Gòn. Năm Hộ (không rõ Hộ thứ mấy, tôi chỉ biết anh ruột y là Nguyễn Văn Bảo tức Tư Bảo là chánh ủy sư đoàn 330 của Đồng Văn Cống, được đưa về làm chánh ủy Quân Khu IV, bị bom B52 trận đầu tiên chết ở Láng Cát, xã An Nhơn Tây. Trong trận đó, bộ phận cối 120 ly của Hai Giả cũng bị hủy diệt luôn) vuốt ve bà xã:
- Đừng bị xúc động mạnh, em! Cách mạng không phải lúc nào cũng thắng. Người cách mạng khác người thường ở chỗ là người cách mạng không thối chí, thua keo này bày keo khác.
Sáu Thiệt vẫn tức tưởi kể lể:
- Cơ sở của anh Chín Lộc là tiệm may của vợ Tư Mạnh (Bắc Kỳ di cư, Mạnh bị biệt kích thằng Lệnh bắn chết ở nhà ngoài của cô Chia và Ua) bị khui lấy hết súng, có cả DKZ nữa. Cả nhà bị bắt. Một dây chuyền bị phá vỡ khắp đô thành làm sao nối lại được!
Sáu Thiệt móc tờ báo trong giỏ xách ra trải trên bàn. Mấy cái đầu bạc dụm lại xem. Bà Thiệt vừa trỏ tấm hình vừa nói tiếp:
- Không có đơn vị nào hoàn thành được nhiệm vụ. Mấy anh thấy lính mình chết trước đài phát thanh và tòa đại sứ Mỹ không?
- Ối ba vụ đó nhàm gì. Giỏi lắm chừng vài chục mạng. Làm cách mạng là phải hy sinh. Sợ hy sinh làm sao cách mạng thành công? -Tư Trường mặt xám ngoẹt nhưng cố nói lướt- Đợt đầu mình mới thăm dò thôi. Đợt hai mình mới tấn công thực sự.
(Trung đoàn mũi nhọn của Tư Nhựt đã nát bét rồi, Tư Nhựt E trưởng, Hai Phái chính trị viên E, Tám Lệ E phó đều chết, lính chạy trồi về đây là thực tế hùng hồn chứng minh cho sự thật bại của đầu đợt một. Tôi nghe bà vợ Năm Hộ báo cáo mà nghĩ thương cho Tư Nhựt. Nhớ lúc y sắp đi Sài Gòn. y uống rượu và trối trăn lại với tôi. Bây giờ dự đoán của y trúng boong).
Tư Trường nói tiếp:
- Chúng ta dự định là khi nghe tiếng súng thì quần chúng cơ sở dưới sự hướng dẫn của cán bộ ta sẽ nổi dậy cướp chính quyền, nhưng sự thực đã không xảy ra như vậy, mà ngược lại. Tuy thế chúng ta không nên bi quan, chúng ta phải tin tưởng ở quần chúng. Các đồng chí phụ trách vận động các ngành cứ trở lại bám cơ sở tiếp tục vận động, chỉnh đốn hàng ngũ. Nên nhớ các phong trào Huỳnh Tấn Mẫm, Phật Giáo xuống đường, vụ đặt bom giết tên Mắc-ra-ma, đặt chất nổ ở kho bom Thủ Đức, vào Nha Cảnh Sát Quốc Gia, đều do chúng ta khởi động và lãnh đạo cả. Nói chung các tầng lớp nhân dân Sài Gòn đều chờ mong ta đến giải phóng họ. Đó là yếu tố quyết định thắng lợi của ta…
Tư Trường cứ nói, mụ Thiệt cứ khóc, Năm Hộ dỗ dành. Cả bữa tiệc gồm hơn năm mươi tên to đầu ngồi ngẩn ngơ không ai cầm đũa nổi. Thức ăn nguội dần. Mấy chiếc đèn măng sông tỏa ánh sáng vàng nhạt nhẽo xuống những tô cà ri và những ổ bánh mì làm cho các bộ mặt càng trơ trẽn.
May nhờ bà Tư Lệnh xuất hiện. Bà ta không có chân trong khu quỷ khu ma gì, cũng không có học công tác chính trị chính triếc gì, càng không được ông đại tướng Sáu Di “huấn luyện” như vợ “anh hùng Trỗi”, nhưng thấy buổi tiệc khựng lại lạnh tanh thì bước ra quơ tay:
- Mời các ông các bà xung phong đi chớ. Công tôi làm tôi nấu cả ngày nay, bây giờ các ông các bà ngồi ngơ ngáo không ai gắp miếng nào, rượu khui ra không ai chạm ly, vậy chẳng hóa ra uổng công tôi hay sao?
Ông Tư Lệnh như tỉnh giấc mơ hoa vẫy tay bà tới, ông vuốt lưng bà làm sợi dây quai tréo của xú chiêng càng cộm lên sau lớp áo lụa trắng, dịu ngọt bảo:
- Không phải chê tài nấu nướng của em đâu, mà chuyện quốc sự có phần gay cấn.
Bà Tư Lệnh xua tay:
- Chuyện gay cấn thì để đó lo sau. Nhưng ở đây tôi hỏi các ông các bà có con trai con gái rể dâu gì đi xuống đường dưới Sài Gòn không? Chắc là không có rồi . Vậy có gì làm buồn. Con ai chết chớ con các ông các bà còn nguyên.
- Chị nói vậy sao phải, chị Ba! -Tư Trường lắc lia cái đầu vuông như chiếc gối đệm- Chiến sĩ hy sinh, mình là chỉ huy mình đau xót lắm chớ.
- Đau xót thì thôi đừng đánh nữa. Đánh biết thua mà vẫn đánh là sao? Thua rồi đau xót là huề vốn sao?
Bà Ba quen lấn lướt ông Tư Lệnh nhà, nên coi các ông kẹ ở đây cũng là cá mè một lứa nên cứ nói xơi xơi chẳng ai bụm miệng được.
- Chời ơi chời ! Tôi mà có con trai là tôi muôn năm không cho nó đi giải phóng của mấy ông. Chị Hai tôi có thằng con trai cho đi Vệ Quân Đoàn hồi 45 chết cụt dòng rồi. Làm sao chỉ đẻ được nữa. Các ông…
- Thôi bà ! -ông Tư Lệnh nạt.
Bà Tư Lệnh cười trừ:
- Tôi có nói sai xin các ông thứ lỗi. Tôi ở nhà tối ngày ôm đít ông táo chớ có học hành gì mà hoạt bát như chị Sáu với chị Ba.
Tuy bà Tư Lệnh phạm thượng chút đó, nhưng lời nói của bà cũng phá tan được không khí bi thảm do tờ báothành và những giọt nước mất của mụ Sáu Thiệt gây nên.
Bà Tư Lệnh vui vẻ mời:
- Xin các ông các bà cầm đũa nâng ly. Cà ri bữa nay hơi ca… ay!
Mọi người như tỉnh hồn. Đúng như bà Tư Lệnh nói. Con ai chết thì dù có đau xót mình cũng chỉ sơ sơ thôi. Chỉ trong vài phút buổi tiệc lại rân ran tiếng nói cười, tiếng lè nhè nặc mùi rượu. Và tờ báo in hình chiến sĩ giải phóng hy sinh đã chất đầy xương gà cà ri lùi xùi vàng ngậy như núi.
Tư Trường vừa tiêu diệt xong miếng lườn béo thì ông Tư Lệnh kính cẩn gắp cái đùi gà chiên bơ bỏ vô chén Tư Trường:
- Anh Tư làm cái đùi gà tơ nốc một ngụm uých ky khô cho ngon đi anh Tư.
- Tôi mải tính phục thù vụ đánh Bộ Tổng Tham Mưu.
- Anh để đó tôi lo.
Phía bên kia bàn, Năm Hộ vẫn vuốt ve mụ vợ:
- Em đừng quá bi quan. Cách mạng còn dài…
Tám Nghĩa cười trêu ghẹo:
- Hai vợ chồng già mùi hả ? Tối nay pháo Đồng Dù giã sập nhà người ta đó.
Năm Đăng mới làm một ly mà râu đã xừng ra như chổi chà, giọng y khàn khàn như dĩa hát cũ chạy kim tà đầu:
- Đéo bà coi dễ ăn, ai dè khó nuốt.
Bỗng Tư Trường kêu “ơ” một tiếng kém lạc quan cách mạng.
- Gì vậy anh Từ -Sáu Dân ngơ ngác hỏi trong lúc Tư Trường tay cầm đùi gà, tay ôm cái cằm bạnh, mặt nhăn như khỉ ăn ớt.
- Gì vậy anh Tư -ông Tư Lệnh hỏi ông Chánh ủy với vẻ lo âu
- Không biết tôi đang nhai bỗng chạm miếng gì cứng như sắt, hình như mẻ răng!
Tám Nghĩa cười hô hố:
- Vậy chắc là miếng M79 rồi?
- Đừng nuốt! Đừng nuốt! Nhả ra anh Tư.
Tư Trường gục đầu xuống bàn phun đánh phèo một cái. Sáu Dân gật gù:
- Tại anh táp miếng to quá. Cạp nhỏ nhỏ vậy. Tuy đùi gà tơ vẫn có gân có miểng trong đó nữa.
Năm Đăng chen vào:
- Chẳng khác lúc Tào Thào sắp xuống Giang Nam cạp cái giò gà già !
- Bậy nào, nói vậy đồng chí ví Sài Gòn mình như Giang Nam khó nuốt sao?
- Tôi là thằng chăn trâu đâu dám nghĩ xa vậy anh Sáu.
Sáu Dân biết Năm Đăng học khá nên móc “thành phần lãnh đạo” của mình, bèn quay qua ông Tư Lệnh:
- Tại ông hết đó. Ai đời lại cho M79 bắn gà! Rồi không bảo trẻ con nó móc hết miểng đạn.
(Không phải là điềm xui xẻo mà Mậu Thân trở thành bại thân và chính Tư Trường cùng Ba Xu chết vô cớ sau Mậu Thân).
- Tại ông ham đùi gà tơ chớ tại ai? -Bà Tư Lệnh nói ngang chấm dứt mọi ý kiến.
Tôi ngồi gần mấy ông lớn không thoải mái nên tìm cách thối lui để nhậu “hậu thường” với đám bạn bè khoái hơn.
Tôi nhìn vào sau nhà thấy Năm Tiều đứng ở cửa sau vẫy vẫy. Đúng là có tiệc riêng trong nhà. Tôi đứng dậy nói với anh Ba:
- Để em chạy lo việc canh gác cho chu đáo rồi trở lại.
- Ừ mày đi đâu thì đi. Tao còn giao công tác mới cho mày.
Tôi vào nhà, thấy đầy nhà những ông kẹ con. Trời đất, lính ở đâu mà đặc nhà vậy? Ngọc cản tôi lại, bảo:
- Anh đừng vô, anh vô đó họ mần thịt anh à !
Rồi đưa cho tôi miếng giấy bìa vở học trò. Sẵn đèn măng sông chói vào, tôi nghiêng ra cố đọc:
“Chúng tôi lính trung đoàn mũi nhọn đánh Sài Gòn về có ghé quán này ăn bì bún, uống nước cam, trà, cà phê, tổng cộng bốn ngàn….
Đồng ký tên ngày mười hai Tết Mậu Thân con khỉ khô”.
dưới cùng mẩu giấy cả dọc chữ ký, nào C phó, B phó, A phó, A trưởng. Nhưng không thấy C trưởng và chính trị viên C. Những anh đại đội trưởng và chính trị viên đã bỏ xác ở mặt trận.
Tôi đứng chết điếng không biết làm gì. Bên trong nhà tiếng ồn ào bát nháo vọng ra cùng với những làn thuốc thơm nồng nặc.
- Anh đi ra ngoài đó đi! Để họ rút hết rồi anh hãy vô. Họ có súng ống đủ hết. Anh phải né đám người điên này!
- Họ là lính của Quân Khu, họ phải có kỷ luật chớ!
- Nhưng lúc này anh không nên gặp họ. Họ đang chửi bới cấp trên.
Năm Tiều mưu lược hơn tôi ở những khúc quanh ngoắt ngoéo này. Anh bảo:
- Mày không nên vô đó làm gì. Đó là đám chó điên. Gặp mày là nó ngoạp ngay.
Nhưng tôi không nghe ai hết. Tôi vẹt Ngọc lẫn ông Đốc Chiến và đi thẳng vào nhà. Thiệt là một cảnh tượng hết chê. Giò cẳng bùn đất quai dép đứt lòng thòng còn dính trong chân, gác lên những vỏ chai lăn lóc trên mặt bàn, một thân hình nằm vắt qua hai chiếc ghế đẩu giang tay giang chân, mồm há hốc trong khi một chai rượu trút vào:
- Nào thừa thắng xông lên!
- Ưc ực. Ngàn năm có một, hắc hắc…
Một bàn tay khác bốc một nấm bùn nhét vào mồm lẫn mũi anh chàng và bị phun ra tua tủa văng đầy đất. Trong lúc đó ngồi dựa vách nhà năm sáu trự, đứa ngủ đứa thức ca vọng cổ trêu chọc giọng Ngọc Hoa, Thanh Hùng phát ra từ đài Giải Phóng đang ca bài Cô Gái Nhị Bình.
- Mẹ kiếp, mùi riệu!
- Nghi… êm! -Tôi bất thần quát.
Cả bọn giật nẩy người, nhiều đứa đang ngủ gật bật choàng dậy thau láu mắt nhìn tôi.
- Gì thế nhỉ? ông thì lia cho bỏ mẹ.
- Tôi nhân danh Bộ Tư Lệnh cảnh cáo các anh. Tất cả nghe lệnh tôi. Đứng dậy ra sân tập họp thành trung đội ba hàng ngang. Cậu nào cao cấp nhất đến nhận lệnh của tôi ngay bây giờ.
Một cậu mang K54 từ góc tường đứng dậy lóp ngóp bước ra:
- Tôi trung đoàn phó trung đoàn tiếp trợ trung đoàn mũi nhọn, xin trình diện Bộ Tư Lệnh.
- Đồng chí là trung đoàn phó à?
- Vâng ạ ? Em là trung đoàn phó.
- Sao để lính tráng bừa bãi thế này? -Tôi vừa hỏi vừa nhìn dáng dấp và nét mặt anh cán bộ nói tiếng Bắc. Tôi mang máng nhớ đã gặp anh chàng này ở đâu.
Bỗng anh ta kêu lên:
- Anh Hai phải không, anh Hai ở Phú Mỹ Hưng, nhà cô xã đội Nà !
- Cậu là ai? -Đúng ra thì hắn trên tôi một bậc, nhưng vì tôi “đại diện Bộ Tư Lệnh” nên cứ vững bụng đối đáp. Hơn nữa, trông anh ta mới hơn hai mươi.
Anh chàng nhắc lia lịa vụ xin dừa “ủy lạo” nấu thịt chó năm trước.
Hồi đó cậu bé mới là A phó hay A trưởng gì đó, mà bây giờ là E phó. Chưa có quân đội nào thăng chức nhanh đến thế. Tám cấp trong hai năm!
Tôi vừa chợt nhớ ra thì Diệu ôm chằm lấy tôi khóc hu hu:
- Chúng em chết hết ráo… về được có bấy nhiêu đó anh Hai ơi! Hu hu…
Tôi cầm lòng không đậu, bệu bạo cũng muốn khóc theo, nhưng làm tướng đâu để rơi lệ trước ba quân. Tôi kéo ghế bảo:
- Cậu ngồi đó đi rồi tôi tính cho.
- Em là thằng Diệu nè. Anh cho tụi em cái đùi bò đấy, nhớ không?
- Quân số còn được bao nhiêu?
- Hơn hai mươi thắng.
- Có hoàn thành được công tác không?
Diệu gục đầu xuống bàn rú lên thảm thiết. Đôi vai gầy nhom run run hồi lâu, rồi cậu ngóc dậy:
- Ban chỉ huy trung đoàn chết hết anh ạ. Đơn vị còn sổng sót cử em thay thế chớ đâu phải cấp trên phong cho.
- Mục tiêu của trung đoàn cậu là gì?
- Em đâu có biết. Ban chỉ huy cũng đâu có .biết. Các ông ấy bảo cấp trên ban lệnh cho hành quân về phía Sài Gòn rồi sẽ cho quân báo dắt tới mục tiêu. Tụi em cứ đi, khi gần tới một nơi kêu là Quốc Xuân hay Thanh Xuân gì đó thì bị tụi Sài Gòn chận lại không đi được nữa, rồi kế bị pháo dập chạy tán loạn. Đường sá không biết, lại không có ai hướng đạo, chạy loanh quanh, ban chỉ huy hy sinh. Ban chỉ huy tiểu đoàn lên thay lại chết. Em mới là đại đội phó, nhưng là cao cấp nhất còn sống sót nên anh em đôn lên trung đoàn phó.
- Thôi được rồi, để tôi thay mặt Bộ Tư Lệnh giải quyết mọi khó khăn cho cậu. Bây giờ cậu ra hướng dẫn cho anh em tìm nhà trong xóm đóng quân tử tế, chỉnh đốn hàng ngũ, giữ lại quân phong quân kỷ . Cần gạo thóc thì cứ mua, bảo Hai Lôi sẽ thanh toán đầy đủ, chớ đừng vô quán ăn rồi viết giấy như thế này người ta chê lính cách mạng vô kỷ luật nghe không.?
- Vâng ạ! Nhưng chúng em là người Bắc, đồng bào ở đây không ưa nên gọi là lính “vịt xiêm” không có tiền, mua họ không bán.
Tôi lấy giấy bút ra viết mấy câu cho Diệu cầm làm tin mỗi khi mua hàng. Diệu mừng cám ơn rối rít:
- Anh cứu chúng em lần thứ hai ! -Rồi thất thểu bước ra.
Năm Tiều đến ngồi gần bên tôi thầm thì:
- Tao phục mày luôn. Vừa đánh vừa vuốt. Nếu mày làm hung tụi nó đám chơi mày lắm. Tao và thằng Thành cũng hờm sẵn đây, hễ có chuyện là xông ra.
- Tội nghiệp đám trẻ con này quá chú Năm. Chúng nó không biết Sài Gòn ở hướng nào, lại xông vào sình lầy sông rạch bơi lội sao nổi? Vậy là…
(Tôi muốn nói vậy là ba trung đoàn đi tuốt. E mũi nhọn của Tư Nhựt, E tiếp viện của Út Thời và E của Ba Kiên, một nửa đánh Tân Thông, một nửa đi Sài Gòn. Ba E rửa chân sạch sẽ “đi đái” xong, “leo lên bàn thờ” ngồi chong ngóc hết rồi, nhưng tôi không nói ra).
Năm Tiều nói:
- Như vậy cũng êm rồi. Dặn con Ngọc đừng có lộ ra cho ông Ba Xu biết.
Năm Tiều ở lại trong nhà và nhậu với đám cần vụ của ông. Chỉ mình tôi trở lại bàn tiệc. Tư Trường còn ê răng không gặm đùi non nữa mà ăn miếng lườn nạc trắng phau.
Năm Hộ vừa ăn vừa rù rì với bà vợ, thỉnh thoảng lấy tay chùi nước mắt cho mụ. Riêng mụ Tú Bà thì được Sáu Dân, Tám Nghĩa o bế coi bộ gần gũi trong tình đồng chí nước mặn đồng chua. Thịt cá ê hề, nhiều chai rượu khui ra nếm thử rồi bị chê hôi riềng hôi bù xít nên không ai uống.
Xì gà cháy khét ngứ, khói mù mịt. Rõ đám bần cố hỉ học làm sang, thấy món gì của Mỹ cũng đớp thử “xem nó ra sao”. Tám Nghĩa không ngại gì hết. Y mó món này sờ món khác. Nhờ Năm Tiều chỉ cách, y làm oai với Sáu Dân. Y lấy cây tăm xỉa răng xoi đít một điếu xì gà và bảo:
- Phải xoi vầy hút nó mới ra khói, anh Sáu. Anh nhớ xoi ngay đít, đừng xoi đàng đầu. Đít nó tròn um và láng lức thấy không?
Y đưa thuốc cho Sáu Dân rồi nói tiếp oang oang:
- Chà, cái hộp của nó đựng thuốc mà coi cũng khéo. Còn mình, cây viết Hồng Hà giắt túi mực chảy dính áo tùm lum!
- Đứa nào bơm đèn cho sáng lên coi bay, kẻo anh Tư mắc cổ miếng M79!
- Ảnh nhai rau muống già từ trẻ tới già, miểng B52 anh nhai cũng nát nữa là miểng M79! Ê, còn thằng cha Mười Thơ (Mai Chí Thọ) kia sao gắp hoài không nói gì hết vậy? Bộ có kế hoạch riêng phụ nhĩ với bà Tú hả?
- Đến đây để ăn chớ bộ để nói sao?
Cụp keng, cốc chát, hi hí, hục hục… khói tỏa mù trời. Rượu đổ ngập bàn. Thịt cứ rội thêm. Dưới sàn ba con chó giành xương.
Ba Xương cắt xố-xích Mỹ đưa cho Tư Trường:
- Làm khúc dồi đi anh Tư. Bảo đảm là không có miểng M79 trong đó.
Ba Xu ngoắc tôi lại, hỏi nhỏ:
- Mày vô trong đó có chuyện gì vậy Lôi? Canh gác có kỹ không? Nhớ coi chừng phía đường đất đỏ, giang thuyền nó hay đổ quân lên đó.
- Dạ không có chuyện đó đâu, anh Ba cứ yên chí.
- Thằng Chín Nữa nó vừa mê gái vừa ham nhậu, tao sợ nó quên nhiệm vụ canh gác. Mỹ nó hay nó hốt hết bữa tiệc này là Quân Khu kể như rắn mất đầu. Ăn xong còn phải họp bàn kế hoạch đợt hai.
Ông Tư Lệnh vừa nói dứt tiếng thì có tiếng chân người từ ngoài đường đâm ngang qua mấy liếp chuối xông vô điểm tiệc. Mọi người ngơ ngác nhìn ra. Bỗng trong bóng tối vọt ra một tốp người mà vừa nhìn thấy tôi thất sá hồn kinh.
Rồi một tiếng la khoái trá :
- Đám cưới tụi bay ơi! Đám cưới! Đám cưới tụi bay ơi!
Thế là ào ào một đám người xông vào như xung kích. Không nói không rằng họ ồ ạt chen vào bốc hốt quơ quào, gầm gừ la ó như một bầy thú đói không biết gì khác ngoài ăn. Cái “đám cưới” này dành cho họ! Còn những ông lớn bà lớn thì ngồi như đóng đinh xuống ghế, dớn dác nhìn nhau, không hiểu bọn hung thần này từ đâu tới.
Cũng may có tiếng Năm Tiều vang lên:
- Chủ nhà chúng tôi không biết các chiến sĩ chiến thắng ở Sài Gòn mới về nên không dọn sẵn tiệc để tiếp đón, vậy tạm đây xin mời các chiến sĩ dùng cùng chúng tôi ly rượu miếng thịt của đám cưới.
Các ông bà cũng khôn vong. Mấy hôm rày ông tư lệnh phó Lâm Quốc Đăng tức Năm Đăng đã truyền lệnh bắt cả chục tốp lính từ Sài Gòn trồi về cái kiểu này, nhưng đêm nay ông lại im lặng không dám thi hành chính sách bắt trói đem giam ở suối Gò Gấu nữa. Giữa lúc quá ư đói, họ hung hăng và bất mãn, họ có thể làm bất cứ việc gì. Câu nói bất ngờ của Năm Tiều đã nối được nhịp cầu tri âm giữa quan và lính!
Năm Đăng biết học tập Hồ chủ tiệm, lùi một bước để tiến hai bước.
Sáng hôm sau, ông kêu cả đại đội cảnh vệ của Chín Nữa đi lục hết các cơ quan đóng trong khu vực Bến Chùa gom lại và ra lệnh cho họ đi bắt các đám lính từ Sài Gòn trồi về, như để rửa cái hận đêm qua.
Tôi không dám can mà cũng không hướng ứng, lấy cớ rằng có lệnh về gấp Củ Chi để triển khai kế hoạch.
Tôi và Năm Tiều ngồi trong quán nàng Lụa uống la de, thằng Thành đứng ngoài đường cái dò xét tình hình.
Tôi nói với Năm Tiều:
- Tôi phục lăn “ông đốc chiến”. Nếu không có ba tấc lưỡi của anh chắc đêm qua xảy ra một cuộc đại chiến bất phân thắng bại.
- Ừ, nếu ông tư lệnh phó sửng cồ kêu bắt trói thì đám cọp đói dám làm loạn lắm đó. Tao thấy trong quán tao đã ớn rồi. Đụng tới nó, nó lảy cò. Bà thủy có khi nào bắt thường gà. Nó ra vành móng ngựa lãnh án thì mình cũng tiêu dên rồi.
- Hì hì, bỏ ba bà lại cho ai, phải không “chú Năm”? Tôi hỏi thiệt chú nghe.
- Mày lại định đổ mực Tàu lên lý lịch của tao đó hả?
- Kỳ này nghiên cứu chiến trường mình tạt qua An Phú chút nghe chú Năm.
- Bậy nào. Mày có đi thì đi một mình, còn tao xin kiếu cái đất đó.
- Sao vậy chú?
- Bả là vợ lính Hoàng Thọ cũ mày biết không? Tao thấy bả trống chưn nên mới nhảy vào. Bả cho tao nhảy nhưng hăm tao mẻ răng: “ông mà lẹo tẹo với ai thì tôi thiến!” Mà thiệt, bả đã từng lội qua Phước Hiệp hỏi tội bà Sáu Nguyện tại sao dám nẫng cục cưng của bả đó mày ơi!
- Còn bà lớn có huấn thị anh câu gì không?
- Mấy thằng ông nội về trước đồn tao có vợ ngoài Bắc nên bả trả thù tao, bả quơ thằng nào lọt ra đứa nhỏ.
- Còn thằng con trai?
- Thằng con trai lớn của tao với bả tên là thằng Tiên. Hồi đó tao cũng oai như mày bây giờ vậy. Tao chêm bả cựa đầu hồi bả mới mười sáu tuổi. Bả kêu như tiên nên đẻ ra bả đặt là thằng Tiên đó chớ.
- Rồi bây giờ đứt đường tơ?
- Đứt không đứt mà dính không dính lắm. Lâu lâu tao về thăm thằng nhỏ. Nó đã mười ba tuổi rồi, học ngoài Trảng Bàng. Con trai lớn xộn vậy mà tao không săn sóc nuôi nấng gì hết, bây giờ lại mắc coi chừng con Thanh.
Năm Tiều nốc ngụm bia rồi tiếp:
- Nè, sẵn đây tao nói luôn. Con Thanh nó thấy mày đá bóng với mấy con nhỏ kia tao biết nó cũng rạo rực lắm. Ở Củ Chi này nó cũng không thua đứa nào. Tao không nói gì hết. Hai đứa bây muốn làm gì thì làm, nhưng hễ nó sình ruột thì mày phải kêu tao băng chú chớ không có chạy chối được đâu !
- Hì hì… Nó mới mười sáu mà chú… ú!
- Mười thấy thì mười, ai mà ngăn cho được ? -Bỗng Năm Tiều vỗ đùi- Mày dại quá Lôi!
- Gì vậy chú Năm?
- Chiến lợi phẩm thì đem nạp cho mấy chả bấy nhiêu đủ rồi. Còn ba cái tiền Mỹ đưa cho mấy chả làm chi. Bỏ túi rồi nhờ Chệt Hứa đem đổi mình xài phải đỡ không? Trời! Gặp tao là tao ỉm.luôn đem về cho má sấp nhỏ.
Tôi sực nhớ bèn mở sắc cốt lấy ra một cọc đô la xanh, ngó quanh không thấy ai, bên để trên bàn:
- Anh tưởng tôi ngu lắm hả ? Tôi chỉ nạp một ít cho có vị .
- Còn đây bao nhiêu?
- Chừng một ngàn rưởi.
Năm Tiều nhảy cỡn lên:
- Thiệt hả mậy? Đổi ra mình sống cả đời. Đưa tao một ít tao cho mẹ đĩ làm vốn buôn bán và mua cho thằng cu một cái “xây cô” ba cửa sổ.
- Mẹ đĩ nào?
- Cả ba chia đều.
- Nói đều nhưng chắc thiên vị bà Nguyện hơn vì bả mới hai mươi ngoài, còn hai bà kia vô hội mẹ rồi.
- Cái thằng! Mày cũng vậy chớ phải riêng tao sao. Mà mấy lão già dềnh cũng khác gì. Mày thấy con mẹ bún bò Huế không? Mấy chả búng tay cái là được, nhưng có cha nào thèm. Quơ mấy em học sinh đã hơn.
Nhậu hết cả két bia, Năm Tiều ngồi sát bên tôi, lấy giọng quan trọng:
- Năm Lê đã phổ biến cho tao kế hoạch tác chiến của Quân Khu, vùng Củ Chi do mày phụ trách. Thằng chả là phó tư lệnh nhưng kiêm tham mưu trưởng. Mấy thằng cha Tám Xe Ngựa với Năm Bù Đốp (Năm Đăng) biết mẹ gì quân sự mà lãnh phó một, phó hai trên chả. Chả không thích nên trong buổi tiệc chả ngồi im rơ mày không thấy à ?
- Tại ông rơi hầm chông nên lãnh phó ba chớ so với Tám Xe Ngựa ông là sư mòng.
- Tao biết rồi! Ổng bỏ vợ lớn là tội lớn. Làm gì thì làm không được bỏ vợ tào khang mày biết chưa? Bây giờ tao vô đề nè. Thằng chả bảo tao nói lại với mày đừng buồn.
- Buồn gì mà buồn cha?
- Có chớ! Mày qua anh Năm mày sao được. Tụi thằng Tư Nhựt, Hai Phái đã lên E trưởng, E phó cả rồi mà mày còn D trưởng mà so khả năng chúng nó thua mày xa. Quận trưởng Củ Chi là đồ bỏ, chỉ huy mấy con lũng sĩ đối với mày như ăn cháo. Mấy phen về H6, ra D Quyết Thắng, ở trên đã rõ khả năng của mày, nhưng sở dĩ kỳ vô Sài Gòn mà mày không được đi là… là vì…
- Tôi biết! Tôi biết anh Năm ơi!
- Không phải vì lý do mày có thằng em đại úy Thủy Quân Lục Chiến đâu, mà là vì mấy chả muốn giữ mày lại “để nái”. Mày biết ông Ba Xu và ông Năm Lê cưng mày lắm. Cán bộ đánh đấm thì dễ tìm, nhưng cán bộ huấn luyện đào đâu ra .
- Vậy hả? -Tôi làm bộ thông suốt tư tưởng- Tôi không để ý gì hết anh Năm à. Mấy ổng kêu đâu mình làm đó. Thiên Lôi mà !
Thực ra tôi không có rạo rực đi Sài Gòn. Tư Nhựt được phong làm anh hùng đề bạt E phó quyền E trưởng nhưng hắn đâu có phấn khởi. Hai Phái lãnh chức chính trị viên E mà trối ,dài với tôi: “Mày ở lại lo giùm mấy đứa em nuôi của tao!”
Bây giờ đã rõ. Cả E một ra đi là không trở về.
Bỗng thằng Thành chạy vô thở hào hển:
- Anh Hai ơi anh Hai ! Chú Chín kêu anh ra phụ giúp.
- Giúp trói tụi lính đào ngũ hả?
- Dạ không phải.
- Gạt tao hoài. Tao là chỉ huy, tao nỡ nào trói tụi nó đem đi giam mậy! Tao không có nhẫn tâm làm như vậy được.
- Không phải đâu anh Hai à ! Chú Chín bảo tôi vô mời anh ra giùm. Có trường hợp đặc biệt.
Năm Tiều đốc chiến:
- Mày ra coi việc gì chút. Nó biết tao ở đây mà nó chỉ kêu mày, vậy là nó cần mày.
Tôi cực chẳng đã phái nịt súng quảy xắc-cốt đi theo thằng Thành.
- Gì vậy Thành?
- Anh Chín Tống…
- Tao biết, rồi sao? Kêu tao làm gì?
- Anh Chín Tống…
- Đại đội trưởng súng cối cũ của tao.
- Ảnh bị chú Chín Nữa bắt, hai người giằng co sắp bắn lộn nhau.
- Vậy à? Mày chạy dông ra trước bảo đừng làm vậy, có tao tới.
Thằng Thành chạy vút đi, tôi vừa đi vừa ngóng ra phía trước sợ nghe tiếng súng nổ. Chín Tống bây giờ chỉ là đại đội trưởng thật là tội nghiệp. Anh ta hiền và gan dạ, không khi nào kèo nèo cấp bậc. Đám cựu trào từ Bắc về đã chết hết, Tôn Sứt, Ba Tố… chỉ còn sót Chín Tống. Tại sao y trốn mặt trận về đây?
Tôi ra đến đường lớn thì thấy một đám lính áo cứt ngựa lẫn áo đen có cầu vai bị trói ngồi lóc nhóc bên lề đường, Chỉ có hai người đứng múa tay hất mặt với nhau. Tôi quát ngay:
- Hai Lôi đây Chín Tống! Đút súng vô bao!
Chín Tống quay lại. Chợt thấy tôi, quăng súng chạy tới ôm choàng.
- Hụ hụ… -Y khóc mùi mẫn như con nít bị đòn.
Tôi cũng đứng chết trân. Chín Nữa từ từ đút súng vô bao, nói nhỏ rí:
- Thằng Tống chớ phải thằng nào, tao bắn bể đầu.
- Thôi dượng Chín cho cháu xin!
- Ở chiến trường lệnh là lệnh. Ông Năm Đăng kêu tao bắt trói lính đào ngũ là tao bắt trói hết, bất kể lớn nhỏ… Tao bảo nó đưa tay cho tao trói, nó không đưa. Nó còn cự nự bảo không phải lính đào ngũ. Tao bảo đưa tay tao trói tượng trưng thôi, nó cũng không chịu. Nó bảo làm vậy nhục nó. Tao dọa bắn. Nó cũng rút súng: “Đụng tới tao, tao bắn nát óc”. Mày nghĩ coi, tao nhịn… tao nhịn…
Tôi biết hai ông trời con này dễ gì ai nhịn ai. Cả hai đều có thành tích cả. Quả thật một thằng đại đội trưởng bị bắt trói còn mặt mũi nào chỉ huy lính. Tôi đành hạ giọng năn nỉ dượng Chín của tôi:
- Dượng Chín à ! Tống đã từng là đại đội trưởng của tôi trong nhiều trận đánh bộ binh lẫn xe tăng Mỹ. Nó không hèn nhát đâu. (Chín Tông lớn hơn tôi nhưng tôi quen kêu như vậy vì Tống cũng gọi tôi bằng thầy như những người khác lớn hơn tôi về cấp chức lẫn tuổi tác) Thôi dượng cho tôi lãnh riêng nó về với tôi. Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn.
Có lẽ Chín Nữa cũng không ham bắt trói lính tráng và sĩ quan trước mặt dân chúng làm nhục họ, nhưng lệnh trên phải thi hành, nên nghe tôi nói thì gật:
- Trường hợp đặc biệt duy nhất đó . Tao không tha cho ai nữa, nhưng mày phải ký tên nhận lãnh, tao trình ông Năm Đăng,
Tôi đã ký giấy ăn chịu đêm qua, bây giờ… rột. Tôi đưa miếng giấy cho Chín Nữa. Đám lính áo đen giải phóng lẫn đám áo cứt ngựa nhao nhao lên đòi tôi lãnh. Tôi bảo:
- Các em chờ đó, chút anh trở lại giải quyết. Thôi đi, Chín Tống.
Tôi dắt chàng dũng sĩ Sài Gòn vô quán. Năm Tiều đang ngoẹo đầu trên lưng ghế ngáy như trời gầm.
- Anh Năm, dậy nhậu tiếp!
‘Tôi thuật lại mọi việc cho Năm Tiều nghe. Năm Tiều vốn tính bộc trực, nói ngay:
- Thằng cha Năm Đăng giải quyết vấn đề như vậy dở ẹc Tụi nó là gà rót rồi. Muốn cho nó đá lại, phải om, chớ bỏ cho đạp mái là bỏ luôn gà con. Tụi nó bỏ chiến trường là vì không thuộc địa hình, không nhận diện được đối phương, không cập nhật được đồn bót, điểm tấn công. Muốn tụi nó cầm súng quay lại mình phải giáo dục và hướng dẫn kỹ càng hơn chớ. Trói giam tù, làm nhục lính là biện pháp hạng bét. Tôi hổng phục ông phó tư lệnh đó chút nào.
- Anh đừng nói om, tai vách mạch rừng nghe anh Năm.
- Tôi nói thiệt chớ, tôi không ngán ai. Thằng này đánh giặc cũng vài trăm trận rồi. Đối xử với lính vậy coi sao được? Cần nghỉ tôi cũng về nhà cày ruộng chớ sợ gì mất chức tham mưu phó Quân Khu? (lúc đó anh đã được đề bạt tham mưu phó).
Chín Tống nghe nói bèn sụp quỳ xuống ôm chân Năm Tiều khóc tiếp. Tôi kéo y ngồi lên ghế, rót bia:
- Uống đi em, rồi mình tính tới.
- Tao sẽ bổ sung mày về đơn vị thằng Lôi.
Chín Tống vẫn còn ấm ức, kể lể:
- Em đánh giặc cũng đã mấy chục năm rồi anh Năm và thầy Hai! Nhưng chưa bao giờ em lại chỉ huy ở tình huống lạ lùng như vầy. Anh nghĩ coi, đơn vị xuống gần Quới Sơn thì không còn biết gì nữa. Em là đơn vị yểm trợ bộ binh nhung bộ binh đâu không thấy. Pháo kích đồn nào em cũng không biết. Liên lạc với ai để xin chỉ thị cũng không biết. Loay hoay rồi bị máy bay phát hiện. Em phải vứt súng xuống sông, không biết sông nào, lặn qua sông không còn một tên lính. Đúng là đem con bỏ chợ. Em không dám nhìn mặt mấy đứa lính sống sót của em. Vậy mà lội về tới đây lại bị bắt trói là sao? Em nói thiệt, lúc nãy thằng nào đụng tới em là bể đầu ngay. Chú Năm ơi! Thầy Hai ơi ! Lính của em chạy ra đồng bị cá rỉa chết sạch. Chính em trông thấy trước mắt em. Em ra lệnh, tụi bay cứ việc chạy. Đứa nào biết lội lặn xuống sông may còn sống sót. Tội nghiệp mấy cậu Bắc không biết lội cứ loanh quanh trong vườn rồi bị pháo ăn. Hu hu. Em nhục quá. Chỉ huy gì ra lệnh chạy và bỏ lính. Bây giờ em còn dám nói gì với tụi nó nữa.
Chín Tống vừa khóc vừa nói, hết khóc lại nói, hết nói lại khóc như một thằng điên.
Bỗng từ cửa buồng ló ra một bộ mặt: Lụa!
- Anh Chín đói bụng em làm cho tô bún thịt nướng.
Tôi bảo:
- Đem ra ngay.
Lại một bộ mặt khác ló thêm: con Sáu Bến Chùa. Nhà Sáu gói bánh dừa bán tiếp tế cho bộ đội đi tổng tấn công, có đến cả ngàn cái. Sáu nói giọng đầy nước mắt:
- Ông Xiềng, ông Điểm, ông Năm Thôi, cả văn phòng ông Tư Nhựt bị đầm già phát hiện kêu pháo Bình Dương, pháo Tân Sơn Nhứt dập chết hết. Tội nghiệp ông Hai quản lý cà thọt chân chạy không nổi, anh Hồng Văn Thư, anh Cảnh, anh Minh quân khí, ông Chín Phước đẹp trai cấp dưỡng, cả thằng Thắng em vợ chú Năm nữa cũng rụm luôn rồi chú Năm ơi, chú cho chị Sáu Nguyện biết đi! Hu hu…
Cô bé kể có dây có nhợ, đến chỗ thằng Thắng chết, Năm Tiều trợn trắng mắt ra, rồi quát:
- Con nhỏ nào đó, về đi! Kể lể khóc lóc cái gì!
- Chồng chưa cưới của nó là thằng Xỉềng ở K9.
- Chưa cưới chớ phải cưới rồi sao khóc. Chết thằng này lấy thằng khác, khóc lóc cái gì!
Năm Tiều đứng dậy lơn tơn đi tới cửa buồng. Tôi sợ ảnh đổ quạu dám bạt tai con nhỏ, nên bảo:
- Tao biết rồi bay ơi, đừng có nói nữa.
Lụa tiếp:
- Đêm qua lính về ghé quán em chật hết nên kéo qua quán con Ngọc. Họ ăn xong ghi giấy ký tên để lại đây, bảo đưa lên Quân Khu trả. Họ nói tung hê đủ thứ chuyện. Họ nói chú Hai Phái không phải bị tử thương mà do ai đó bắn ngang. Lúc chú kêu: “Đảng viên Cộng Sản tiên lên” thì viên đạn xuyên qua màng tang chớ không phải từ trước bắn lại phía mình.
Năm Tiều dằn mạnh ly bia và gầm lên:
- Mày cũng biết Hai Phái Hai Phiếc nữa!
- Dạ cháu biết chớ. Chú Hai về họp với dượng Ba ghé đây ăn bún hoài mà.
Tôi vẫy tay bảo Lụa:
- Thôi đi vô làm bún cho anh Chín đi em! Tin tức sơ khởi không chính xác đâu. Vài ngày tụi nó lục tục kéo về đủ mặt cho coi !
Nhìn gương mặt sa sầm của ông đốc chiến, tôi không còn biết nói gì. Trong buồng, tiếng khóc ri rỉ của cô Sáu Bến Chùa nghe nhức xương.
Năm Tiều đột nhiên nói bâng quơ:
- Kiểu này ông bà đâu có dám về mà Tết với nhứt.
Bỗng thấy dáng Chín Nữa ngoài đường, tôi ngoắc. Chín Nữa tạt vào.
Thấy Chín Tống đang lua bún, y nói giọng xìu trân:
- Đó là lệnh của mấy ổng, không phải lệnh của tao ra. Mày đừng giận tao tội nghiệp nghe Tống. Có giận cũng giận vài ngày thôi, đừng giận lâu.
Chín Tống cứ lua bún làm như không nghe. Chín Nữa thở dài:
- Ở trên bảo mỗi lính ta phải đeo sẵn hai mươi thước dây để trói lính Sài Gòn. Bây giờ.:. hết trơn dây rồi chú Năm!
Năm Tiều nạt:
- Thôi mày ơi, đến nước này còn cà rởn!
Tôi biết Năm Tiều sợ bà vợ bé thứ ba là Hai Nguyện nhất. Chính ông làm tài khôn dắt thắng em trai của bà ta vô bộ đội, rồi bây giờ cúng cơm không nhang đèn ở Sài Gòn nên ông ta hốt hoảng. Tôi nói ngay tim đen ông ta:
- Thì ông cứ nói dóc là xong chớ gì.
- Nói thể nào?
- Bảo là ông cho nó về R để sửa soạn đi Liên Xô, như thằng Lần đi ba năm nay vậy.
- Đi ba năm mà chưa tới Liên Xô! Nói láo vài lần thôi chớ nói hoài được sao? -Năm Tiều ngồi thở dốc- Tụi nó nói om lên mày không nghe sao? Đụ mẹ, ba cái tổng tấn công này tao coi bộ hố rồi đó nghe mày.
Bỗng ngoài đường có bóng hồng tươi tắn xuất hiện tiến về hướng quán. Năm Tiều trỏ ra:
- Kìa thần L… Tới kêu mày nữa đó.
- Ai?
- Ai thì mày biết chớ!
Cô bé xăm xăm vào quán. Tôi nhìn ra Ngọc.
- Chị Lụa, có ông Hai Lôi ở đây không?
- Không có Hai Lôi ba kéo gì hết á !
- Ơ kia kìa! Anh Hai, dượng Ba kêu anh trở lại dượng bảo.
- Bảo sao người ta ở đó không bảo, để người ta sắp qua sông lại kêu! -Tôi làm mặt giận với con bé nhưng cũng đứng dậy nịt súng và quơ xắc-cốt mang lên vai.
Ngọc quay lưng ra liền. Lụa ngó theo, làu bàu:
- Nó đặt chuyện chớ dượng Ba dượng Tư nào!
- Chuyện quân sự của người ta! -Năm Tiều gạt ngang.
- Quân sự sao không kêu trinh sát cảnh vệ đi, lại bảo con ranh đó.
Tôi vỗ vai Chín Nữa, bắt tay Chín Tống rồi nói với Năm Tiều:
- Chú Năm ngồi đợi chút. Làm vài chai nữa đi chú.
. Tôi chạy theo, con bé đã ngoe ngoảy đi ra tới đường. Tôi hỏi:
- Chuyện gì vậy Ngọc?
- Ai biết đâu nà !
Về tới nhà, thấy trong ngoài lặng trang, tôi hỏi:
- Má… á đâu?
- Bả đi Sài Gòn công tác cho ổng.
- Khánh không có về à?
- Đi vô địch vận của Tư Linh lâu rồi, không biết à ? Còn chị Mai đi nấu bánh tét cho bộ đội.
Tôi hơi nghi trong bụng. Như vậy là cô bé báo cáo “tình hình địch” quá rõ ràng. Thời cơ ngàn năm có một. Nhưng Ngọc mặt quạu đeo chớ không hồ hởi như những lần trước tôi về đây. Có điều là tôi thấy nàng lớn hơn trước nhiều. Ngọc dẫn tôi đi ra sau vườn. Qua bãi chiến trường đêm qua còn thấy chai cốc ngã lăn, bàn ghế xiên xẹo, xương xẩu đầy đất… mà ớn lòng. Ngọc dắt tôi ra luôn hậu bối tận mí vườn sát mé rừng.
- Dượng Ba chờ anh ở ngoải.
Ra đến cái chòi nhưng bên trong rất tươm tất. Giường ghế tủ kiếng… y như một ngôi nhà con. Đây là nơi nghỉ mát và ngoạn cảnh của ông bà tư lệnh đây !
- Dượng ở trỏng, vô đi.
Tôi bước vào, lạnh tanh không có bóng ai hết. Vừa quay cổ lại thì đụng nhằm gương mặt Ngọc đưa tới. Tôi chưa kịp phản ứng thì nàng đã trách:
- Anh là chồng chị Khánh hay chị Mai?
Tôi ú ớ trước một câu hỏi bất ngờ như trời sét.
- Chị Mai khoe anh là chồng của chỉ, chị Khánh cũng khoe anh là chồng chỉ. Chồng ai, nói đi?
- Không có chồng ai hết. Bạn thôi.
- Không có bạn bè gì hết. Em biết rành. Anh đừng có chối. Chị Khánh đưa cho em coi cái khăn bàng lông mới…đỏ thén. Trước khi đi, chỉ còn dặn: “ở nhà anh Lôi có đến em đừng rớ tới nghe, chồng của chị đó. Em phải kêu bằng anh đàng hoàng!” Xí, đàng hoàng sao được mà đàng hoàng. Trong nhà có ba chị em thì hai chị phải nhường cho em út chớ, phải không anh?
- Em mới có mười sáu mà Ngọc. Anh tới ba mươi lăm, vợ chồng coi sao được.
- Được chớ sao không. Bộ anh chê em hả?
- Không phải chê.
Ngọc ngồi lên giường, đầu rũ xuống khóc nức nở. Em biết anh sắp ra trận, biết anh có về nữa không. Trận này em thấy ai đi đều không về. Em muốn cho anh món quà làm kỷ niệm.
- Quà gì vậy?
Ngọc thò tay vào vạt áo mằn mằn. Tôi chưa lấy lạí hồn vía. Phảng phát đâu đây hình dáng của Mai, những lần tôi húp nước đá trong tay Mai, ôm Khánh hôn vội ở kẹt tủ trước khi ra về. Bây giờ tới Ngọc, một trái đào chưa chín. Ngọc vụt đứng dậy. Chiếc quần lãnh đen tụt xuống đất để lộ đôi chân ngọc ngà.
Tôi trở lại quán, chân còn loạng choạng, tim còn đập. Những giọt ngọc lệ còn ướt vai tôi, nhưng tôi cố làm tỉnh, nói với Năm Tiều:
- Kế hoạch có thay đổi chút ít chú Năm à !
Chín Nữa đang nâng ly, cố nốc cho cạn rồi đặt xuống bàn đánh cộp, quẹt miệng:
- Đầu cặc! Kế hoạch mới gì!
- Thiệt mà dượng, chốc nữa về bển tôi sẽ phụ nhỉ với chú Năm.
- Mày tưởng tao là con nít nên gạt. Mấy chả nhậu xong là giải tán đi liền không có mạng nào còn ở lại đó hết. Kế hoạch mới gì? Khai thiệt đi, mấy ván?
Tôi ngồi im, chịu thua ông dượng. Năm Tiều đáp thay:
- Ba ván ni… ền, không bỏ ván là… o!
Chín Nữa còn tiếp:
- Ông Ba Xu ổng đem con Thanh xuống đây, mày biết chi không?
- Kỳ rồi nó về ở chung với ổng trong Đường Long.
- Thôi mày lo kế hoạch mới cho xong đi, kỳ này làm phò mã.
Tôi trở lại vụ Chín Tống:
- Tôi cần pháo yểm trợ. Có mặt ông tham mưu phó đây, tôi xin ký lệnh điều động ảnh về đơn vị tôi được không?
Năm Tiều khoát tay:
- Lệnh lạc con mẹ gì, cần thì đưa nó về bển. Mày muốn sai khiến cách nào tùy ý mày.
Tôi đứng dậy hỏi Chín Nữa:
- Chừng nào dượng móc dì Chín vô?
- Định mấy ngày ngưng bắn. Nhưng tình hình này móc quác rồi. Đợi năm sau! Đụ bà, con cặc để xài mà chỉ xài có một khả năng, còn khả năng chính lại không có đất “dụng võ”.
- Mày là tổ sư mà than không đất. Hai chị em con Biền và con Trong đẻ một lượt mặt giống y mày cho hết chối.
Tôi bàn với Năm Tiều sẵn dịp qua đây nên ghé thăm ông “thầy nạo” (tức bác sĩ Võ Hoàng Lê, xếp quân y Quân Khu, sau này máy thằng nhà báo bất lương nói dóc là ổng đã giải phẫu óc dưới địa đạo. Có lẽ nhờ vậy ông ta được phong đại tá và tặng danh hiệu anh hùng quân đội) để xin một mớ thuốc men, bông băng, chớ bên C5 Tư Chuyền ớn lắm.
Năm Tiều vốn hết chất nhờn trong đầu gối nên la cà bên vùng “đất hòa hình” này ăn hút được càng lâu càng tốt, về bên xứ Củ ăn pháo liền xì mệt ứ hơi, nghe tôi nói chưa hết ý là đã gật đầu.
Quân y Bưng Còng ở cách “tổng hành dinh” của ông Ba Xu độ nửa ngày đường. Ở đây là “trại cưa” và là “phòng nạo” . Trại cưa giò cưa tay chiến sĩ vì không có thuốc trị, còn nạo là “nhạc phẩm” thứ nhì do các chú nuôi, anh nuôi gởi tới đã sẵn dấu nhạc biến hạ nằm trong sâu, ông bác sĩ chỉ cần móc ra thành lời. Do đó ông bác sĩ còn có tên là “thầy Nạo”.
Gặp mặt, Năm Tiều hỏi ngay:
- Mùa này nạo có khá không?
Thầy Nạo cũng nhẵn mặt với danh từ này nên không quạu đáp ngay:
- Tuần nào cũng có, ngày nào cũng có.
- Kiếm cho tao một “cái” ngâm rượu được không? Năm Tiều đấm đấm lưng- Lúc này tao hay đau lưng vặt .
- Thì tại anh có tới V3!
- Có tiếng mà không có miếng mày ơi! Chỉ có thằng “dê bảy” này là hẩu xực thôi.
Năm Tiều biết tôi vô Bưng Còng có ngầm ý khác chớ không chỉ xin băng băng mà thôi, nên quay lại bảo tôi:
- Hồi hôm mày họp khuya với anh Ba mệt, bây giờ kiếm chỗ ngả lưng, xế xế mình qua sông.
Ông thầy Nạo lắc đầu:
- Chiến thương đông quá anh Năm ơi! Anh về tâu lại với mấy ông cho giao liên hợp pháp mua giùm pini, strép…cho nhiều. Thiếu mấy thứ đó, ăn uống lại thất thường, vết thương đã không chịu lành còn khoét to ra… Đó anh coi đầy hết cả, mà không có dân công đào hầm, cứ để họ nằm tô hô ra như vậy. Mấy ông chỉ lo tiền phương, còn hậu cần thì không có gì hết ráo. Chỉ có ba cái nước sôi nấu trong soong như nước cạo heo thôi.
Tôi không muốn nghe làm gì lời ta thán của ông thầy nạo. Quân y từ thuở nào tới bây giờ cũng vậy, bởi vì mấy ông lớn và con cháu các ông có đi đánh giặc đâu mà mấy ông lo. Tôi vừa quay ra là đụng một cô bé xinh như nữ thiên thần.
- Nhìn gì? Nhớ không?
Tôi vẫn cứ ngớ ngẩn. À… nhớ ra rồi, con bé ở Bến Mương lúc tôi ở H6, nó vẫn tới chơi và thích vọc bàn đánh máy.
Hồi đó tôi vẫn quen để nó ngồi trên đùi và chỉ cho nó mổ cò chiếc bàn máy cũ mèm A, Z, E, R, T..: Máy Remington không biết ai lượm ở đâu cho tôi. Nó rất mến tôi và thường gọi tôi bằng “ba”. Chính tôi dắt nó vô gởi cho Tư Chuyền ở C5. Chứng ngờ bây giờ nó ở đây và lớn thế.
- Sao cháu ở đây?
- Cháu à? Con chớ sao cháu? Con được chú Tư gởi qua đây học y tá cấp tốc để phục vụ chiến trường Sài Gòn.
- Vậy hả?
- Ba tới hầm con nghỉ. Ba đi đâu coi bộ mệt vậy? Ba già quá trời .
Con bé nói tía lia làm tôi xúc động. Giá mà tôi có được một đứa con lớn bằng ấy. Lâu nay, tôi yêu ai người ta cũng “xin con”, nhưng tôi lại không quên xài “chứng minh thư” nên không ai được như ý. Bây giờ được một cô gái lớn kêu bằng “ba”, tôi thực sự xúc động. Tôi chán chê cái nghiệp đánh đấm này rồi, lắm lúc muốn giải nghệ về vườn sống cảnh đơn sơ mộc mạc mà không được. Cái lá đã rơi trên dòng nước thì không có cách gì xoay ngang.
Vừa rồi lại nghe Năm Tiều nhắn lời của Năm Lê đối với tôi, tôi càng ê ẩm. Thì ra cấp trên cũng không tin mình. Họ nghi tôi vì tôi không tích cực trong vụ móc thằng em Thủy Quân Lục Chiến. Ung Văn Khiêm, địa chủ Long Xuyên, bỏ sự giàu sang theo đảng từ năm 1930 mà vẫn bị đá văng như cái giẻ rách. Nguyễn Thanh Sơn cũng là địa chủ theo đảng trước cả Phạm Văn Đồng mà nào được sơ múi gì. Còn mình là thứ tép riu, họ muốn bóp lúc nào mà không được.
Kể từ khi nghe Năm Tiều nói, tôi không tích cực như trước nữa. Bố trí trận địa xong, tôi giao cho cán bộ đại đội hoặc tiểu đoàn, còn tôi lùi ra sau chỉ huy bằng điện đài. Ba mươi lăm tuổi rồi, chưa vợ con thì chừng nào mới có? Cô bé Bến Mương đã mang lại cho tôi một tình cảm bất ngờ. Lâu nay tôi vẫn ghét đám bố nuôi, chú nuôi, anh nuôi vì bọn “chứ” cũng như “chó”, cha với con cũng là giả nốt. Nên tôi không bao giờ nhận là cha chú của cô bé nào hết.
- Ba không thương con chút nào hết.
- Ừ, ba không thương ai hết.
- Trừ con !
- Ừ, có thể trừ con.
Cô bé đưa tôi xuống hầm, lấy thermos rót nước châm trà rồi pha sữa lăng xăng, rồi ngồi trước mặt tôi.
- Sao bữa nay ba buồn vậy?
- Lính chết và đào ngũ nhiều quá con! -Tôi hồn nhiên đáp.
- Chết thì con biết rồi. Mấy đêm nay con đâu có ngủ vì lo giải quyết chiến thương. Còn đào ngũ thì…
- Con không thấy được. Nhưng đó là sự thực.
- Nói chớ con cũng biết. Vì nhân viên quân y cũng bị sung công đi bắt lính đào ngũ đem đi giam, để họ nói tùm lum làm mất tinh thần chiến sĩ. Mà cần gì lính đào ngũ mới nói, mấy anh chiến sĩ nằm ở đây họ cũng nói. Họ mê man vẫn nói, vẫn chửi, vẫn gào thét như điên. Họ chửi tiếng Bắc khó nghe nhưng con vẫn hiểu… Bác Hồ là cái gì hả ba?
- Hả? -Tôi giật mình như bị lửa chích.
- Bác Hồ thì con biết rồi, nhưng con muốn biết bác là người gì mà bác đem con bỏ chợ.
- Ai nói với con vậy?
- Thì mấy ông lính “vịt xiêm” nói chớ ai.
- Tầm bậy nào. Thôi đừng có nói nữa.
Tôi không muốn nghe những chuyện “thất chính trị” như vậy nên gạt ngang. Cô bé vẫn không bị phật ý. Cô cười cười và thay đổi cách xưng hô:
- Ông nhớ lần ông bị thương trận Paris Tân Quy không?
- Nhớ chớ sao không?
- Ai rửa vết thương và tắm cho ông?
- Cô Nga nhỏ.
- Ai nữa.
- Ba không nhớ,
- Vậy mà la nhớ ! -Cô bé ngồi xích lại gần tôi và tát má tôi
(Tôi nhớ mà tôi chối. Chính cô ta tắm cho tôi và bảo: “Ông sắp ra viện vì vết thương sắp lành, bằng chứng là tôi vừa cọ sơ sơ là nó… đã lên cò. Hí hí!” Giọng cười cô bé nghịch ngợm vẫn còn vang trong đầu tôi).
Cô nói tiếp.
- Ông đánh ở đâu tôi cũng biết vì chiến thương họ về đây họ kể lại. Họ nói trận nào có ông trực tiếp chỉ huy thì họ tin chắc thắng. Do đó tôi cũng mến ông. Tôi tiếc hồi đó tôi còn nhỏ quá. Bây giờ tôi hết tiếc rồi. Tôi đã mười sáu tuổi Chẳng may bây giờ lại gặp ông.
- Sao lại chẳng may?
- Là vì sắp vô đợt hai. Người ta chụm hết củi này, sẽ lôi tới củi khác. Củi đó là ông chớ ai khác được.
- Cô đừng nói nhảm.
- Tôi yêu ông thật đấy. Hồi ở Bến Mương lận chớ không phải tới bây giờ.. Từ đó tới giờ tôi vẫn lắng nghe tin đánh trận của ông. Ông đánh thắng trận Thầy Mười nhờ sợi dây lưng của cô du kích chớ gì. Ở đây cũng có người quen với ông, ở cùng làng với ông.
Tôi nhảy tưng lên:
- Ai vậy?
- Bộ yêu ngươi ta hả?
- Biết ai mà yêu.
- Tên đẹp lắm !
- Tên gì?
- Ánh.
Trời ơi ! Tôi kêu thầm. Ba Ánh, em của Nguyệt. Cái tên đẹp, cái con người đẹp cùng quê lâu nay như biến mất trong tôi, nay lại bùng lên như ngọn lửa thiêng. Đêm đó xem văn công R xong tôi về nhà Ba Thành (tức Ba Thắng, cục phó cục chínlii trị) gặp nàng. Nàng than thở muốn rời cơ quan về nhà. Rồi tôi chia tay với nàng. Cô bé nói:
- Nhưng bây giờ chị ấy không muốn gặp ai hết.
- Tại sao?
- Không biết!
- Nói tên tôi thì cô ta cho gặp liền.
- Nghe tên anh (nàng lại đổi cách xưng hô) em chắc chị ấy càng trốn mất.
(Về sau mói biết là ông chú nuôi Ba Thắng đã tặng cho cô bé quả bầu non. Ba Thắng sắp được xuống Quân Khu IV làm chánh ủy lắp vô chỗ trống của đại tá Nguyễn Văn Bảo (anh của Nguyễn Hộ), vị Tư Trưởng sửa soạn về R làm to hơn. Để ở trên R sợ quả bầu bể ra có mùi làm hư mặt các chú các bác nuôi, trong đó có cả bác Sáu Di, nên thay vì gởi cho thầy nạo R, cô bé được đưa xuống cho thầy nạo Năm Lê)
Cô bé Bến Mương ăn nói rất dạn dĩ không sụt sè gì cả. Có lẽ cô đã từng rờ mó, nghe thấy mọi sự thực chán chường ở quân y nên không ngại miệng như những cô gái khác. Thực tình tôi chưa từng gặp một người phái nữ nào bạo dạn như thế.
- Uống hết ly sữa đi rồi em nói tiếp chuyện này cho nghe.
Tôi thấy kỳ kỳ nhưng vẫn không muốn rời khỏi nơi đây. Tôi vâng lệnh nàng một cách hồn nhiên. Tôi vừa để ly sữa xuống, ngó lại thì nàng đã tồng ngồng, lồ lộ trước mặt tôi, trên người từ đầu đến chân không một mảng da nào được che kín. Nàng xốc tôi đứng dậy, vừa đưa tay hoạt động lăng xăng khắp người tôi, vừa bảo:
- Chỉ một lần thôi, anh nghe rõ chưa? Em yêu anh rồi tới chết không yêu ai nữa. Và cũng không lấy chồng.
Tôi cứ như kẻ mất hồn để cho nàng điều động thân thể lẫn giác quan của tôi….
Cuối cùng nàng hôn môi tôi và bảo:
- Trước khi anh chết ở chiến trường, anh gọi tên “em” chớ đừng có hô ai muôn năm nghe. Còn em rủi có bị đạn em cũng hô “anh” muôn năm, chới không có hô ai đâu. Má em nói thằng cha đó ra lệnh chặt đầu ông ngoại em hồi 45.
 
 
Chương 88
Người vợ điên
và bức thư tuyệt mệnh của thằng đồng chí

Chúng tôi về tới Củ Chi thì Năm Tiều về văn phòng của y, tôi về văn phòng của tôi. Cô Tư Bé dũng sĩ từ ngày được bổ nhiệm làm quận đội phó thì bám riết theo, không về nhà nữa. Đánh với Mỹ mà bắt đàn bà con gái đưa ngực ra đỡ đạn thì thiệt là dã man. Ngực họ đâu phải là vật đem ra xài phí như vậy.
- Bé ơi, anh Hai về nè em!
Nàng nhảy ra hầm hôn tôi rối rít:
- Sao anh đi lâu quá vậy?
- Mới có ba ngày lâu gì. Ở nhà có việc gì xảy ra không ?
- Ối, thiếu gì!
- Cái gì nói mau.
- Lính từ Sài Gòn trồi về quá sá. Xe tăng ủi sạch xóm Đất Thịt rồi Cơ quan tham mưu chạy tản lạc hết… À quên, có bà già điên.&lt;
- Bà già nào?
- Em mới nghe trinh sát báo cáo. Thôi anh ngủ đi. Xuống hầm em kìa. Bốn giờ sáng rồi. Anh nhắm mắt một chút cho khỏe. Rủi sáng có chụp thì còn sức chạy.
Tư Bé đẩy tôi xuống hầm. Tôi nghe tiếng nàng làu bàu:
- Anh công tác kiểu này không mấy lúc mà sụp cho coi.
Tôi lên võng cô quận đội phó nằm ngay chân thật đã, mùi con gái còn đầy ắp trên võng làm tôi mơ màng. Mắt cay xè, cố nhắm lại yên giấc nghìn thu mà không sao ngủ được. Bao nhiêu hình ảnh xáo trộn trong đầu: kế hoạch, quân số, vũ khí, mục tiêu, rượu trà bánh trái ngổn ngang.
- Rất tiếc cô không có con gái, nếu có cô gả cho con, không đòi gì hết, để cô làm mai con gái Ba Xu cho con.
Lời bà Sáu Thiệt còn văng vẳng trong tâm tôi. (Tội nghiệp trong đợt hai, bả từ Sài Gòn ra bị cảnh sát bắt được, trong giỏ xách có cây K54 ở chợ Gia Huynh, Trảng Bàng).
Chập chờn trong đầu tôi những khuôn mặt đỏ rượu, những cái mồm đầy ứ thịt, những cái mép dày, một bên ngậm điếu xì gà, một bên ngậm cây tăm xỉa răng. Những cặp mắt trợn lên kinh ngạc và hốt hoảng nhìn những con ma đói ào vô cướp thức ăn. Những cái xương lổm nhổm trên những thân xác trên tờ báo.
Bỗng Tư Nhựt hiện ra mình đầy máu me, mặt bể nát, tay y nắm chân tôi lạnh ngắt: “Ê Lôi! Ngủ hả ? Sáng mai đổ chụp nghe, coi chừng. Đừng chui hầm. Tao bảo vợ tao đi tìm mày. Năm Sài Gòn, Tư Chi mới gặp tao. Trí O chưa xuống tới!” Nói bấy nhiêu rồi Tư Nhựt bỏ đi. Vừa lên khỏi hầm còn quay lại: “Hai Phái bị bà con nhà cho viên kẹo?”
Tôi ngồi dậy tính hỏi, còn Tám Hà đâu? Nhưng Tư Nhựt đã biến mất. Không khí trong hầm lạnh ngắt như âm ty.
Tôi la lên, tay quơ tìm cái đèn pin mà không gặp lại đụng cái gì lạnh ngắt đang thở phì phì dưới đít võng. Thì ra thằng Thành. Thằng bé thức dậy lè nhè:
- Gì vậy anh Hai?
- Tư Nhựt mới đi.
- Anh mớ rồi. Ngủ đi anh!
- Y vừa lôi chân tao.
- Ảnh chết rồi còn đâu mà lôi.
Tuy biết vậy nhưng tôi cứ nghe bàn chân tôi lạnh ngắt, rờn rợn tôi không ngủ được nữa. Cứ lăn qua trở lại hoài. Vừa mờ sáng tôi kêu trinh sát chạy cho các đại đội hay bảo chuẩn bị công sự đánh chụp dù.
Quả thật quân Mỹ có đổ xuống Sa Nhỏ nhưng rồi rút ngay, không hiểu chúng định làm trò gì, tôi sợ ăn pháo nên không cho nổ súng.
Tôi vốn tin dị đoan nên lập tức tìm ông đốc chiến để đoán bài giải mộng.
- Anh có thấy chuyện gì không?
Năm Tiều không trả lời mà cười hề hề và hỏi lại:
- Hỏi thiệt mày nghe, hôm qua tổng cộng pháo bắn mấy quả?
- Đâu có quả nào chú Năm ơi!
- Hồi bù nốc tới, tao thấy mày chạy hơi chậm. Nè mấy con Nga bên Tư Chuyền lâu nay đi đâu mất hết mậy?
Tôi đem chuyện chiêm bao bàn với anh. Anh bảo:
- Hồi hôm tao cũng gặp nó, nhưng đó là chuyện thường, có gì đâu mà lo vớ vẩn.
- Tôi chưa cho các đơn vị rời công sự.
- Cẩn thận vậy tốt, chú em. Cái điệu này là nếu có đổ dù nó sẽ đổ ở Củ Chi, nghĩa là nhảy sau lưng các đơn vị mũi nhọn của mình để chọn đường về.
- Chú có nghe đài BBC hay VOA gì không?
- Có nghe nhưng tao quên hết rồi. Đại khái nói là mình đánh vô 27 thị xã, Huế, Cần Thơ, Mỹ Tho v.v…
- Vậy là đồng loạt tấn công đó chớ anh!
- Không hạ được Sài Gòn thì dầu có chiếm được mấy cái đó cũng không ăn thua gì.
- Tại sao?
- Muốn tắt đèn vĩnh viễn thì phải phá cái nhà máy đèn !
Tôi từ giã Năm Tiều, đến D7 kêu cả ban chỉ huy D họp. Tôi bảo chuẩn bị diễn tập đánh đồn, trong vòng hai tuần lễ sẽ vô đợt hai.
+ Tập đánh bộc phá sào (là loại cổ lỗ sĩ dùng hồi đánh Tây. Trái bộc phá gắn trên đầu cây tre dài bốn, năm mét, có dây điện lòng thòng phía sau, hễ lính dựng được vào tường thì đằng sau châm điện. Đánh kiểu này không mấy khi hạ được đồn, vì anh lính vác sào không mấy khi tới được chân đồn).
+ Làm bốn cây thang tre để bắc qua chiến hào hoặc trên bùng nhùng cho chiến sĩ chạy lên đó xung phong.
Công kiên chiến là lối đánh hao xương tổn máu nhất, nhưng Bộ Tư Lệnh giao cho tiểu đoàn 7 phải “quét” sạch các đồn bót trên quốc lộ I.
Năm Tiều đã phản ứng lúc được lệnh, nhưng y chỉ nói với tôi:
- D7 toàn là lính mới và con gái… Đánh cái máu què họ chớ đánh đồn. Ba trung đoàn rã bành tô bây giờ kiếm gỡ!
Nhưng than ôi, lệnh là lệnh. Ở ngoài Bấc ông Hồ và ông Giáp có biết lực lượng của Mỹ Ngụy ra sao mà hô tổng tấn công (nếu biết sẽ chẳng có lệnh này), trong Nam vẫn phải thi hành. Ngàn năm vẫn “muối xát lòng ai nấy xót xa”. Con cháu các lão có đứa nào đi giải phóng miền Nam đâu mà các lão ấy lo!
Mấy năm trước con ngựa chiến Dương Đình Lôi này pháo một đêm hai, ba đồn, hết đạn cũng bắn, sáng ngày có chụp dù cũng chạy đua với trực thăng như chơi. Nhưng năm nay nó thấy hơi mỏi vó. Từ ba lăm sang ba sáu, gần tuổi bốn mươi rồi. Chất nhờn xài liên tục có còn nhiều đâu ở đầu gối mà vọt nhanh nữa. Năm Tiều nhận xét đúng: “Mày chạy hơi chậm!” Tôi nghe bộ xương bắt đầu rêm và tinh thần cũng bớt thừa thắng xông lên.
Tôi từ Sa Nhỏ lội về Đồng Lớn, lòng buồn rã rượi. Giấc chiêm bao đêm qua và hai sự việc với Ngọc và cô bé quân y phải chăng là điềm báo trước cho Thiên Lôi sắp về chầu trời. Ngọc và cô bé đều coi sự việc ấy là những món quà tặng cho tôi là kẻ ra đi không trở về. Có lẽ mình phải tìm đường khác mà đi thôi.
Tất cả bạn bè cùng lứa hoặc cùng chiến đấu từ 1965 (khi tôi về Củ Chi lần đầu) tới nay đều đã chết. Chỉ mình tôi là bị đạn chê.
Thằng Thành thấy tôi buồn buồn cũng tìm cách an ủi:
- Không có lẽ chú Tư Nhựt, chú Hai Phái và chú Tám Lệ đều chết một lúc sao anh?
- Ai biết đâu!
- Chết thì hai người trong ban chỉ huy E thôi chứ, rụm như vậy sao được.
- Súng đạn mà mậy!
- Trời tối rồi, ghé quán má thằng Ức kiếm bậy bánh trái gì ăn, anh Hai!
Hai thầy trò cứ thẳng đường xe bò giữa xóm mà đi, bỗng nó bảo.
- Đi tắt ngã này mau hơn anh!
Tội nghiệp thằng bé này. Đây là thằng cận vệ thứ sáu của tôi kể từ thằng Đỏ bị thương cụt chân tới nay. Cứ vài tháng rơi một cậu.
Đạn như mưa mà tôi bảo chạy truyền lệnh xuống đại đội cũng phải chạy. Có đứa ngã ngay khi mới vọt lên khỏi hầm. Tôi buột miệng hỏi:
- Bây giờ tao cho mày “ước” một điều, mày ước gì, Thành?
- Về nhà làm ruộng.
Tôi thở dài. Ai cũng muốn bình yên sinh sống, không gì đáng sợ bằng cái chết. Đứng ở ngoài xúi người ta đi vào cái chết thì ai chẳng làm được. Nhưng dám đi vào đó thì mấy ai? Tội nghiệp Tư Nhựt, bỏ vợ bỏ con. Đứa con đã đặt tên nhưng chưa biết mặt.
Khi đi ngang bờ trúc nhà Hai Tân, quản lý C3 của Út Sương D Quyết Thẳng của tôi lúc trước, thấy trong nhà đèn đuốc sáng trưng khác thường. Giờ này mà còn ai thức, lại có tiếng ồn ào, hay là có ai hy sinh chăng?
Thanh niên xóm này ít đi bộ đội. Có mấy cậu xin gia nhập D7 của tôi nhưng Bảy Ga không nhận.
Tôi thình lình bước vô nên cả đám bảy, tám mạng đang ngồi quanh bàn không đứa nào chạy thoát. Điểm mặt sơ qua, tôi thấy có Hai Tân, thằng em thứ bảy của hắn ở nhà đánh xe bò cho Bảy Hốt đã có vợ, bốn tự lính thuộc C4, thằng ấy, thằng Quý , Út Nhị (quản lý C4), thằng Tây thông tin, thằng Thơ.
Thằng Tây hốt hoảng kêu lên:
- Ổng tới cà, bây!
Trên bàn còn đầy tô, dĩa thịt gà xé phay, cháo, và lố nhố những chai la de uống dở, lớp chưa khui.
- Mấy cậu làm gì ở đây?
Hai Tân vui vẻ:
- Khuya xót ruột, nấu cháo ăn. Anh Hai làm một chén với tụi em!
- Đơn vị ở đâu mà mấy cậu về đây?
- Dạ, dạ…
- Tụi bay đào ngũ phải không?
- Dạ, dạ…
Cậu nào cậu nấy mặt xanh như chàm. Tôi bảo:
- Chiến trận còn đang tiếp diễn mà chúng mày trốn về đây là sao?
- Dạ tình hình găng quá anh Hai, chớ không phải tụi em nhát -Hai Tân thâm niên cao nhất trong bọn lên tiếng khẩn cầu như Tào Thạo kể công- Anh Hai thông cảm cho tụi em. Hồi anh Hai, tụi em xung phong rào rào. Ngặt kỳ này anh Hai không đi, mấy ông Út Sương, Ba Đức chỉ huy không xuể , phầ thì đơn vị bị pháo dập cả giờ đồng hồ tan nát hết, mất hướng chiến đấu, tụi em như vịt chạy lạc bầy, mạnh con nào này lủi, đâu có biết đường về chuồng…
- Thôi! Còn ở đâu nữa hay chỉ có tụi bay đây thôi?
Thằng Tây đáp nhanh:
- Dạ còn một tốp nữa do thằng Thượng còn dẫn ra Xóm Ràng đang đóng ở nhà con Ba Cưng, hơn mười đứa.
Tôi thấy thằng nào thằng ấy đầu bù tóc rối, mặt mày tay chân trầy trụa, quần áo tả tơi nhưng tay thằng nào cũng đeo đồng hồ sáng rực. Có đứa đeo một bên hai chiếc hoặc hai tay hai chiếc đồng hồ mặt mới toanh dây i-nốc, có đứa đeo dây chuyền vàng, ngón tay có cả nhẫn nữa.
Tôi quay lại bảo thằng Thành:
- Cậu về kêu trinh sát lại đây trói hết dẫn qua sông giao cho Năm Đăng đưa lên suối Gò Gấu giam hết cho tao!
Hai ba đứa tụt xuống sụp lạy tôi, van xin. Hai Tân kể lể:
- Tội nghiệp tụi em, anh Hai. Anh Hai nghĩ tới tình cũ nghĩa xưa chút. Nếu có anh Hai đi thì D Quyết Thắng tụi em dầu hèn cũng thể chớ đâu có ra đám tàn quân vầy nè. Anh Hai cho tụi em “đói” công chuộc tội, chớ anh Hai giải tụi em cho ông Năm Đăng chắc tụi em bị xử bắn hết trơn… Anh Hai nghĩ coi đánh giặc gì mà chỉ huy không biết mục tiêu ở đâu làm sao lính tấn công?
Hai Tân dừng lại nuốt nước bọt, Mười Thơ B phó thông tin của tôi trước đây, tiếp ngay:
- Anh từng biết tụi em ở với anh trước kia mà anh Hai. Tụi em cũng biết chạy như vậy là tệ lắm, nhưng đơn vị đâu có còn đứa nào. Út Sương chết ngay từ đầu, xác còn bỏ tại đó, đâu có bè qua sông được. Khổ lắm anh Hai ơi! Đời thằng lính không có gì khổ bằng không có chỉ huy.
- Tụi bay làm hư danh trung đoàn mũi nhọn của khu, tội thật không tha được.
Thấy tôi nghiêm khắc, mỗi đứa góp một câu năn nỉ. Đứa thì nhắc trận đánh Mỹ ở Gò Nổi, đứa gợi lại trận Cây Trắc, đứa lại “hồi ký” trận Suối Cụt… làm cho tôi dịu dần.
Thằng Tây còn tiếp lời:
- Sở dĩ tụi em bỏ chạy vì không còn ai chỉ huy hết anh Hai à ! Phút đầu tiên ông Hai Phái đã bỏ chỉ huy sở E chạy xuống Dl để tránh né. B thông tin của tụi Dl tụi em trở thành thông tin của E, vì thông tin E bị đầm già phát hiện kêu pháo bắn, rồi nó trút bom đìa đâu có hầm hố nào chịu nổi. Cả đám quân y, liên lạc, trinh sát, thông tin của anh Tư Nhựt đều rụm hết.
- Tư Nhựt chết lúc nào?
- Vô trận là ổng chết ngay, kế đó là Tám Lệ E phó, sau cùng là Hai Phái.
- Hai Phái chết thế nào? -Tôi hỏi tiếp.
- Em không rõ nhưng vết thương kỳ lắm.
Hai Tân lấy lại hơi thở tiếp ngay:
- Em thay cho Hai Tiến làm quản lý Dl, Năm Triệu làm D trưởng, Út Sương chính trị viên D, Năm Tân D phó, Ba Đức tham mưu trưởng.
Tôi kêu lên:
- Thằng Nín mà làm D phó. (Nín là Năm Tân, hồi trước là B trưởng của tôi).
- Dạ, mà y cũng đã bị thương rồi. Nói chung cả ban chỉ huy Dl và E mũi nhọn đều chết hết. Chín Tống cùng đi với D8 pháo ở phía sau cũng bỏ DKZ, trọng liên xuống sông mà chạy. Năm Sài Gòn cũng chết ngay từ đợt đầu. Nghe nói Bộ Tư Lệnh Tiền Phương chỉ còn ông Tám Hà, nhưng em không gặp. Tình hình nó như vậy đó chớ phải tụi em hèn nhát đâu.
Tôi rụng rời tay chân, nhưng còn quát gượng:
- Thôi được tội đào ngũ cửa tụi bay tạm gác lại đó, bây giờ xét tới tội ăn cướp của đồng bào, dân chúng.
Cả bọn lại sụp lạy, đầu bổ lia như chày giã tỏi, xin tha tội.
Thấy đau lòng quá, tôi bảo:
- Tao tha cho cái tội này, nhưng phải kiểm thảo.
Thằng Ty cùng quê Nhà Bè với tôi, tôi thường tâm sự với nó về một ngày nào đó mình sẽ về lội qua sông… nên nó rất mến tôi. Nó bảo mấy đứa kia:
- Thôi anh Hai chơi điệu vậy mình phải đưa ra hết tụi bay. Thằng nào đập kiếng tiệm đồng hồ, tiệm thợ bạc lấy vàng vòng và đồng hồ trút ra mau, nếu không tao khui ra hết.
Thăng Thơ vừa móc một chùm bỏ lên bàn vừa nói:
- Thắng nào đập kiếng lấy trước rồi tao mới chạy ngang hôi được có bốn cái xây cô và mấy sợi dây chuyền thôi.
- Em mở tủ lấy được một xấp tiền.
- Còn thằng nào giật bông tai, cà rá của mấy bà đi chợ? Đưa ra !
- Em chỉ lượm được có bốn cái đồng hồ nữ.
Lần lượt mỗi đứa đem một hộp chiến lợi phẩm cho tôi. Bỗng Hai Tân kêu lên:
- Dạ, em còn giữ hai ngàn tiền ăn của D1, nhưng ông Út Sương chết rồi, em giữ giùm chớ không định lấy. Anh với em cưa đôi được không?
Tôi quát:
- Mày đem về nộp cho quản lý D7 để đóng tiền ăn cho tụi bay. Thằng Tây ra Ràng kêu mấy đứa kia về đây tổ chức lại thành hai tiểu đội, tao sẽ cho người ra dắt về gia nhập D7 chiến đấu tiếp, nghe không?
- Dạ ! -một tiếng đáp đồng loạt vang lên- Anh Hai chơi điệu quá trời.
Bỗng một giọng nhi nhí:
- Dạ, còn em chưa phản tỉnh.
Tôi nhìn lại, một anh già sồn sồn tôi không nhớ mặt:
- Dạ, báo cáo thủ trưởng, em có tội.
- Tội gì?
- Dạ em đã bốn hai mà chưa có vợ (trường hợp ông Hai già quản lý Quyết Thắng tôi cáp cho bà Hai Xót) nên em túng sinh lý.
- Ông hãm hiếp người ta hả?
- Dạ không có, em chỉ đi vòng ngoại vi rồi pháo bắn gấp quá em không vô trung tâm được.
Tôi suýt bật cười vì những danh từ nhà binh của y dùng, nhưng cố làm nghiêm:
- Tôi sẽ mở cuộc kiểm thảo “do dân, vì dân, của dân” sau, bây giờ gác lại hết.
Tôi bảo thằng Thành gom ba cái chiến lợi phẩm kia về nộp cho quan đốc chiến rồi rút lui. Trước khi đi tôi còn dặn:
- Các anh là lính đào ngũ, sẽ bị đưa ra tòa án binh khu. Một là ngồi tù, hai là tử hình. Nhưng tôi tạm gác lại đó vì chiến cuộc còn tiếp diễn, nhưng tôi cho các anh biết trước là mặc dù tôi thâu nhận, nhưng không giữ được cấp chức cũ. Rõ chưa?
Hai Tân luôn luôn nhanh nhẩu:
- Dạ, chúng em không dám đòi chức gì hết ạ !
Tôi sắp quay lưng đi, bỗng thấy tâm thần bứt rứt khó chịu khác thường. Thấy trên bàn thờ của chủ nhà có đủ trang bị, tôi bèn hỏi mượn và bảo:
- Có còn chai rượu nguyên nào đó không? Đem cho tôi một chai.
- Dạ, còn cả két la de và rượu.
- Lấy ba cái ly sạch đem ra đây! Thành, em đốt nhang trên bàn thờ cho anh.
Rồi tôi mở xắc-cốt ra, lần mò tìm một tấm hình Tư Nhựt anh hùng giải phóng quân ngực đeo bông hồng to tổ bố chụp trên R trước khi lãnh chức E trưởng mũi nhọn đi vào Sài Gòn. Tôi nghiêng vào ánh đèn xem. Nụ cười buồn. Môi nhếch có một bên, có vẻ chua chát.
Tôi đặt lên bàn thờ và rót rượu. Đám lính thấy chuyện lạ cũng tự động đứng giàn ra hai bên. Tư Nhựt làm thủ trưởng của họ từ lâu hoặc trong trận này.
Tôi cố gắng cất giọng van vái. Tôi từng làm như vậy nhiều lần chớ không phải mới lần này. Năm Tiều cũng tán thành cử chỉ này của tôi.
- Tư Nhựt, trung đoàn trưởng trung đoàn mũi nhọn, tức Lê Văn Luông, sống khôn thác thiêng, xin hồn về chứng giám và phò hộ cho Dương Đình Lôi, người bạn tri âm.
Cả đám lính đào ngũ đứng im phăng phắc. Có đứa sụt sịt khóc.
Tôi quay lại bảo:
- Đứa nào đại diện rót rượu cúng vái cho ổng về phò hộ tụi bay cho qua khỏi làn tên mũi đạn!
Tôi cảm thấy Tư Nhựt, Hai Phái, Tám Lệ chết thay cho tôi. Nếu tôi được ở trên y theo lời yêu cầu của Năm Sài Gòn thì chắc chắn tôi sẽ lãnh chức E phó kiêm tham mưu trưởng E này, và tôi đã “ở lại” chơi Sài Gòn trong đợt đầu tổng nướng quân.
Tôi cúng vái xong thấy lòng nhẹ nhàng: lưng vừa quay ra lại đụng một người lù lù đi vào, mà là một người đàn bà . Dưới ánh sáng mờ mờ hắt hiu, tôi thấy bà ta bồng một đứa bé túm kỹ trong khăn, mà miệng thì lầm bầm: “Nó sai chồng tao lên đường xuống đường, chồng tao chết nó ăn luôn xác…”. Người đàn bà từ từ tiến vô giữa nhà rồi đi thẳng lại bàn thờ, nhìn vào tấm ảnh nới giọng bình thường:
- Anh Tư! Anh bảo em tới đây tìm anh Lôi. Em tới nè mà sao không thấy ảnh. Hắc hắc! Ảnh đem cây súng đánh bót Thầy Mười bắn cho nó lòi phèo…
- Tôi nè chị Tư! -Tôi bước tới trước mặt người đàn bà- Chị không còn nhớ tôi sao?
- Anh Hai ! -Vợ Tư Nhựt kêu lên rồi gục đầu vào vai tôi.
Tôi nghe hơi thở của đứa bé sơ sinh chạm vào ngực tôi. Chị nói:
- Con anh nè !
Tôi ngẩn ngơ, không hiểu mình chiêm bao hay sống thực. Chị vẫn nói thao thao bất tuyệt:
- Anh Tư về báo mộng cho em! ảnh bị thương mình mẩy máu me dầm dề. ảnh nói “Anh chết rồi, anh về thăm em và con. Em đi tìm Hai Lôi nhờ ảnh nuôi con mình. Em nên coi ảnh như cha của con mình”. Hu hu hu…
Tôi đứng chết trân như trời trồng. Nhìn lên bàn thờ thấy cặp mắt của Tư Nhựt như rướm lệ. Hắn chết đau đớn quá.
Vợ sắp sanh lúc hắn về ngang trong chuyến đi cuối cùng vô Sài Gòn, tạt về thăm trong lúc vợ đau bụng đẻ. Khuya hôm đó chuyến xuồng liên lạc chở anh ta và Tám Hà qua Rạch Tra, cũng là chiếc xuồng chở vợ hắn đi nhà bảo sanh. Trên chiếc xuồng ly biệt đó, y đặt tên cho đứa bé là Thơ mặc dù trai hay gái.
Tới bây giờ đứa bé ra đời lúc cha đứa bé nằm ở đâu?
Tôi nói lầm thầm:
- Tôi sẽ làm những gì ông mong ước cho ông thỏa nguyện dưới suối vàng.
Tôi nhẹ tay đỡ đứa bé và thì thầm:
- Từ nay con là con của ba.
Tư Nhựt như mỉm cười thỏa nguyện. Tám Phụng, chị Hai Xót bất ngờ đi vào. Bà nói với tôi:
- Nó điên, không ai nói gì nó nghe. Nó đi khắp nơi tìm cậu. Pháo bắn không chịu chui hầm. Tội nghiệp quá trời, tụi tôi phải canh giữ nó mấy ngày nay. Bây giờ gặp cậu nó mới tỉnh tỉnh lại đó.
Rồi chị quay lại chị Tư:
- Thôi đừng khóc nữa em! Tư Nhựt nó chết nhưng còn được đứa con nối dòng, cỏn nhiều người trụi lủi thì sao? Mới cưới mà chết thì sao? Mà con của nó được cậu Lôi nhận làm con nuôi là phước đức lắm rồi.
Mấy hôm sau, trong sự hồi phục bình thường, chị Tư đã cho tôi biết là người em cột chèo của Tư Nhựt là Sáu Thưa, chồng của Ba Mạnh, em gái của chị (chị tên Hai Lành) cũng chết ở Sài Gòn đợt một. Vậy là hai chị em trở thành góa phụ trong mùa xuân tổng phản công.
Chị Tư đưa bức thư ngắn ngủi của chồng viết lại cho tôi. Đã nói miệng với tôi ở rừng chiều hôm trước mà còn chưa chắc, y còn viết thư đưa cho vợ trao lại cho tôi. Trời ơi! Một mẩu giấy con, mấy dòng chữ nguệch ngoạc, một trời tâm sự đắng cay. Tới bây giờ bé Thơ gần ba mươi tuổi mà tôi vẫn còn nhớ như in từng chữ lẫn tuồng chữ của Lê Văn Luông.
Thư không đề ngày cũng không đề nơi viết:
“Hai Lôi thân mến,
Nếu tôi có chuyện gì bạn nuôi con giùm tôi. Và nếu có thể, bạn săn sóc vợ tôi như tôi. Tôi xin cám ơn bạn, một người tôi chưa thấy ai sánh bằng.
Luông”
Tôi hiểu ý Luông, hiểu rất rõ mặc dù anh không nói trắng ra, nhưng tôi chỉ nhận với anh một trong hai việc mà thôi. Còn việc kia, xin bạn dưới suối vàng hiểu cho tôi, tôi không thể.,,,
 
 
Chương 89
Nàng Kiều và đám đặc công F-100, N10
trước cổng cư xá Mỹ,
Tổng Tham Mưu
và đài phát thanh Sài Gòn

Tin Năm Sài Gòn, Tư Nhựt dẫn các E mũi nhọn, Q16 và các đơn vị đi vào Sài Gòn bị tiêu diệt sạch sành sanh lan ra nhanh khắp Củ Chi, nhất là trong hàng cán bộ, nhưng không ai dám hé môi. Người nào cũng gằm gằm cái mặt và không ham bắt đài Giải Phóng, đài Hà Nội tếu ồm ồm như trước nữa vì họ biết các đài này phóng đại tô màu 500% nên họ chỉ lén bắt đài BBC và VOA mặc dù bị cấm rất ngặt.
Tôi đem mấy chục cái đồng hồ phát cho mỗi tiểu đội trưởng hoặc các B phụ thuộc D để coi giờ canh gác hành quân, đưa cho Năm Tiều một bụm dây chuyền cà rá để ông tặng cho mẹ đĩ . Tôi giữ lại vài chiếc để phòng khi hết tiền thì đem ra đổi thuốc, rượu. Còn số tiền của Hai Tân thì tôi cho quản lý mua thức ăn gấp đôi để tẩm bổ chiến sĩ vì sắp tới ngày vô đợt. Nuôi lợn béo để giết thịt.
Cuộc tập đợt công đồn đã xong, tôi cho D hành quân qua Trảng Bàng để tiếp cận mục tiêu: Thái Mỹ. Dọc đường, tôi ghé quán, thấy mía ngon tôi mua hai lóng cho thằng Thành và tôi, vừa đi vừa xước. Mía Tây vàng tươi, ngọt gắt cổ. Tôi nghĩ chắc lính khát nước. Cả ngàn con người mà nước đâu cho đủ uống. Tôi sực nhớ đoạn truyện Tàu trong đó Tào Tháo thấy quân sĩ khát nước bèn nói gạt: “ở phía trước có vườn quýt”. Thế là quân sĩ thèm chảy nước miếng, hết khát. Hai Lôi này không làm công tác chính trị bịp kiểu đó, nên bảo thằng Thành:
- Mày chạy tới truyền lệnh dừng lại.
- C nào anh Hai?
- Toàn D, kêu các ban chỉ huy C lại tao hội ý.
Chập sau, tất cả bốn ban chỉ huy tới. Tưởng có chuyện gì khẩn cấp, các cậu ngơ ngác chờ lệnh tôi. Tôi cười bảo Sáu Hoàng:
- Cậu có thấy đám mía tây đó không?
- Dạ thấy.
- Cậu vô hỏi chủ nhà mua xác cả đám cho tôi.
- Chi vậy anh Hai? Bộ anh định làm lò đường ở đây hả?
- Cậu đi mua rồi ra đây cho tôi biết giá cả. Tôi sẽ trả tiền.
Sáu Hoàng dắt hai cậu liên lạc đi rồi trở lại báo cáo đã mua xong với giá đặc biệt. Tôi bảo các ban chỉ huy cho đốn hạ xuống chia cho lính giải khát. Trời còn sớm, ăn xong đi tiếp. Cấm không được làm tiếng động và hút thuốc.
Bỗng có tiếng gọi. Tôi quay lại thì thấy gương mặt một cô gái trong vành nón lá. Cô vừa đi tới vừa nói cười vui vẻ:
- Em đoán là anh chớ không ai.
Cô bé là Lan, nữ du kích xã Phước Hiệp do ông Bảy Điếc làm bí thư, có ông già ghiền rượu.
- Sao em ở đây?
- Cuộc đời trôi nổi vậy chớ sao anh! -Lan sụt sịt khóc. Mới cười lại khóc- Từ ngày gặp anh, em đi luôn. ở nhà không phương sanh sống nên qua đây đi làm mướn lấy tiền. Hôm trước em nghe nói anh đã trở về H6 bên Bến Cát mà !
- Ờ anh có trở về rồi lại trở qua Củ Chi.
- Anh có duyên nợ với Củ Chi.
- Không biết có hay không mà đi không dứt! -Tôi nói một hơi- Tội nghiệp thằng Cội quá trời. Phải nó còn sống thì hai đứa bay đã thành… rồi, xứng đôi biết bao!
- Cái gì cũng không qua số phần anh à… Mỗi khi em nhớ trận phối hợp với ảnh đánh xe tăng ở Bàu Chứa em ứa nước mắt.
- Nó khen em gan dạ. Đứng núp gốc cau mà dám bấn tám phát CKC. Con Nhánh, em nó, ở trong đội Nữ của Bảy Mô trong tiểu đoàn anh kia cà… Em có muốn trở lại đội không?
Lan đáp không lưỡng lự:
- Thôi anh ạ, lâu nay em cày cuốc quen rồi, cầm súng không lanh nữa ! Anh à , mấy ngày Tết lính mình chết nhiều quá. Em đi chợ Hóc Môn thấy toàn mặc đồ cứt ngựa, chân đi dép cao su trắng. Nắng sình mặt vàng, ruồi bu, em không dám ngó!
Rồi nàng móc túi đưa tôi một xấp bạc. Tôi liếc thấy 1500 đồng. Tôi gạt ngang bảo:
- Để gởi về mua rượu cho ông già. Anh cho thêm em nè!
Tôi móc xắc-cốt lấy một cái đồng hồ (chiến lợi phẩm) và 1000 đồng ấn vào tay nàng.
Tội nghiệp đã một thời con gái mang danh dũng sĩ! Cuộc gặp gỡ bất ngờ và ngắn ngủi như một kỷ niệm cứ in hoài trong trí nhớ của tôi. Và một cái tên: Cội. Thằng thanh niên nông dân cục mịch từng mang danh dũng sĩ diệt xe tăng và chết vì mìn đánh xe tăng. Thằng Lôi này loay hoay rồi cũng theo chân nó thôi. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi ! Sánh nghề tử nghiệp mà me xừ Lôi! Không nhớ sao?
Trảng Bàng là một quận giàu có của tỉnh Tây Ninh. Tôi đem tiểu đoàn tới đóng ở một xóm nhà ông đại điền chủ Tám Râu do địa phương quân giới thiệu.
- Chào chú Tám.
- Ý đừng kêu vậy tội chết. Tại tôi để râu cho già chớ sự thiệt thì tôi chưa đầy bốn mươi. Còn “toa” là Hai Lôi phải không? -Tám Râu gọi ngay tôi như thế và xưng “moa”.
- Dạ.
- Đừng dạ thưa, đừng dạ thưa với “moa”. Coi nhau ngang hàng là tốt. Moa hân hạnh gặp toa.
Tám Râu giàu có ai cũng biết, nhưng còn chơi đởm. Năm nào cũng lạc quyên cho Giải Phóng năm trăm giạ lúa. Ngoài ra gà vịt, heo cúi, những thứ giúp đỡ râu ria bất thường thì không kể.
Ngôi nhà của Tám Râu còn nguyên chưa thấy dấu vết bom đạn. Có thể nói đây là một thái ấp như khuôn viên của Hoàng Cao Khải ở Ngã Tư Sở Hà Nội. Vào trong nhà càng thấy sự so sánh đó không ngoa. Nền nhà lót gạch bông, tủ ghế cẩn sa cừ, liễn, hoành phi mạ vàng lộng lẫy.
Trên bàn đã dọn sẵn rượu và mấy cái ly chân cao. Mình lội bùn, ăn uống rừng rú, quần áo như chăn bò, thấy sự sang trọng của người ta mà mất tự nhiên.
Tám Râu rất lịch thiệp:
- Mời “toa” ngồi uống vài ly nhỏ rồi ăn cơm với “moa”. Vợ “moa” đi Sài Gòn chưa về nên trẻ con ở nhà nấu nướng không rành, xin miễn chấp.
Tôi đáp từ ngay một cách thành thật:
- Tụi tôi ăn rừng ở rú mà anh Tám. Được ngồi ghế ăn cơm uống rượu Tây như vầy là sang trọng quá rồi, đâu dám chấp nhất gì.
Tám Râu mời ly nào, tôi cạn ly nấy.
Y có vẻ như phùng tri kỷ nên nói chuyện râm ran và rót rượu mời tôi liên tục.
Khi xong tiết mục khai vị thì Tám Râu tự tay đến tủ lấy một chai Hennessy cổ lùn đem ra đưa trước mặt tôi:
- “Toa” làm thứ này được chớ?
- Dạ được anh Tám.
(Thằng Thiên Lôi này thứ cay nào lại không nuốt được. Từ Vodka Nga, Whiskey Tây Mỹ, đến đế ta, cả rượu cồn của y tá cũng nốc tuột, sá chi hen nết sy!)
-
Sec hay mix?
- Dạ anh Tám sao tôi vậy.
- Chà, coi bộ “toa” cũng chịu chơi hả?
- Dạ thì buồn buồn cũng lai rai riết rồi quen. Hành quân có trẻ quảy bi đông theo tẩm gân đều đều mới lội theo chiến sĩ nổi chớ anh Tám!
- “Toa” chắc cũng ba lăm ba bảy?
- Dạ Tết này ba sáu.
- Gia cảnh vợ con, song đường ra sao?
- Dạ còn độc thân, cha mẹ còn đủ.
Tám Râu đặt xong chiếc ly mới miệng bịt vàng trước mặt tôi, rồi gọi xuống bếp:
- Kiều a! Bưng lên đi cháu.
- Dạ ! -Một tiếng dạ xa xa vẳng thoát ra từ một cổ họng chắc có lẽ của một giai nhân.
Gã Thiên Lôi đoán phỏng như vậy cũng như lúc lâm trận nghe tiếng súng trường nổ thì biết là mút cơ tông Anh, Mỹ, Nhật hay Pháp, Manufactures d’Armes St- Etienne, thường gọi là MAS, còn nghe trung liên thì biết FM của Anh hoặc Bỉ vậy mà.
Quả nhiên, nháy mắt đã thấy một cô gái tóc quăn lơi, áo đen da ngà , hai tay bưng hai dĩa từ dưới bếp đi lên. Hình như Tám Râu có ý cho tôi ngồi vào chiếc ghế để thực khách có thể nhìn thẳng xuống bếp. Cho nên dù không cố ý, gã Thiên Lôi vẫn thấy nàng Kiều trong suốt lộ trình từ bếp lên tới phòng ăn, từ dáng đi cho đến khuôn mặt.
- Cháu đem lên cậu Hai dĩa muối và tiêu riêng ra. Sợ khách của cậu không ăn cay.
- Dạ được anh Tám. Tiêu, ớt, hành, tỏi tôi đều dùng được cả. (Đói thứ gì cũng nuốt ông điền chủ ơi).
- Vậy cháu gắp thêm một dĩa dưa tỏi. Nhớ rưới dấm lên dĩa xà lách nghe cháu.
Tôi nhìn hai con bồ câu quay vàng nghĩnh nằm há mỏ trên dĩa. Tám Râu đẩy một dĩa đến trước mặt tôi rồi lấy khăn giấy trong hộp trao cho tôi:
- Đây là văn minh Mỹ. Họ xài khăn giấy. Chớ Tây thì xài khăn bằng vải. Thời kỳ chiến tranh này mình chấp nhận cả. Còn văn minh của nước mình thì tùy theo văn minh nước người. Độc lập cũng vậy!
Tám Râu nói đến đó thì ngưng ngang.
Tôi ăn bồ câu quay mà nhớ tới Hàng Buồm Hà Nội. Ở cái phố nhỏ này chỉ còn một tiệm ăn ngon và đặc biệt còn có bồ câu quay.
Bóng nàng Kiều thấp thoáng tới lui lên xuống tùy theo lệnh của ông cậu Tám Râu. Anh chàng ăn uống rất sành, mời mọc rất bặt thiệp, chẳng kém một nhà ngoại giao sành sõi chút nào. Khi được nửa tuần rượu, nàng Kiều lại bưng lên một dĩa xào. Tôi thoáng thấy trên nét mặt của cô gái có nét bất hạnh.
- Đây là nấm rơm tươi của nhà. -Tám Râu nói- Người ta thích bán nấm tươi để mua đồ hộp ăn cho sang. Còn tôi lại khác. Thịt tươi ngon hơn thịt hộp. Sở dĩ Mỹ hành quân quăng bỏ cả đống đồ hộp là vì họ đã có đồ tươi ê hề kia rồi. Có phải không “toa”?
- Dạ đúng.
Trước khi bước qua phần tráng miệng, Tám Râu đột nhiên nói:
- Con nhỏ này kêu tôi bằng cậu nhưng nó không phải là cháu ruột của tôi. Ba năm trước ông Ba Bê, bí thư huyện ủy và Năm Nhân quận đội trường Trảng Bàng đem nó gởi cho tôi dài hạn, cho nó ăn ở và bảo bọc nó luôn, hễ có ai hỏi thì đáp là cháu học ở Sài Gòn về chơi!
Tám Râu ngưng một chút mời tôi dùng trái cây và tiếp:
- Được ít lâu thì nó dẫn về vài cô cậu nữa và hỏi tôi xin ở ngoài lẫm lúa. Tôi để cho các cô cậu tự do. Lâu lâu tôi cho tiền và gạo, còn việc làm của họ tôi không để ý. Và cũng không có ai đến đây để hỏi tôi xem họ là ai. Một bữa vợ tôi nói nhỏ với tôi rằng họ đào hầm bí mật ngoài vườn.
Tôi gạt ngang, bảo đừng có ngó vào đó. Và không được nói với ai. Kể từ hôm đó, vợ tôi không ra vườn nữa.
Tá m Râu lại tiếp :
- Bỗng một hôm, vào lúc nửa đêm có tiếng gõ cửa nhà tôi. Tôi sợ quá. Bụng nghĩ chắc lính ở trên Tây Ninh được ai mách nên xuống xét nhà tôi chớ gì. Tôi đã tính sẵn câu trả lời từ lâu, nên tôi bình tĩnh ra mở cửa. Ai dè không phải lính Quốc Gia mà là ông Năm Nhân. ông đập vai tôi tỏ vẻ mừng rỡ và nói to: “Nhờ anh mà cư xá Mỹ sập tiêu rồi!”
Tôi buột miệng nói:
- Vậy là cách đây đã bốn năm hả anh Tám?
- Sao “toa” biết rành vậy?
- Dạ đặc công thành đánh cư xá Mỹ là vào đêm Giáng Sinh 1964. Mỹ chết bốn, năm tên.
- À, té ra “toa” cũng có tham gia trận đó nên mới biết rành vậy.
- Dạ, tôi chỉ nghe tin và đọc báo thôi.
Tám Râu lại tiếp:
- Mấy ngày Tết tôi thấy nhóm người của con bé đi đâu mất hết, rồi mới hôm qua họ lại về, nhiều người băng bó nằm ngoài lẫm. Có nhiều vết thương thấy có mòi nặng đó “toa”. Nhưng sao không ai săn sóc hết. Chỉ con nhỏ thay băng sơ sài. Tôi không dám hỏi, chỉ sai người nhà đi mua bông băng cho họ.
Tôi ngồi nghe mà tâm trí để đâu đâu. Tôi biết đó là đám đặc công N10 hoặc F100 của Ba Hoàng, trưởng phòng quân báo R. Tôi đoán Chín Lộc, tên Bắc Kỳ mắt toét trước đây đóng ở nhà bà ngoại con Ua đổi về R là để tăng cường phòng này.
Tám Râu dặn tôi:
- Nếu nó nói chuyện với “toa” thì “toa” kín miệng đừng học lại những gì tôi nói với “toa” nhé.
- Anh Tám đừng lo. Tôi còn biết nhiều hơn nữa, chớ đâu phải chỉ có bấy nhiêu.
Tám Râu nhắp rượu rồi chép môi:
- Con gái mà mưu trí như vậy thật là đáng phục… Nhưng nếu tôi có con sẽ không cho đi công tác này. Tội nghiệp con nhỏ có nhan sắc… -Tám Râu ngưng ngang như lúc nãy.
Hai người im lặng nhìn nhau. Tôi thấy thương hại cô bé. Một sắc đẹp như vậy mà người ta nỡ đút nó vào miệng sói hang hùm. Thời chống Pháp cũng có biết bao nhiêu vụ “địch vận” bằng đàn bà con gái. Rốt cuộc chẳng đi đến đâu. Nhiều nữ cán bộ rất đẹp đi địch vận, đành mang quả bầu đầy tràn ân hận trở về cơ quan rồi tàn cuộc đời.
Bỗng Tám Râu hỏi tôi:
- Bây giờ tình hình Sài Gòn ra sao rồi “toa”?
- Dạ có lộn xộn rồi yên ổn trở lại rồi.
Tám Râu (làm bộ) giật mình (Y đóng kịch rất khéo nhưng tôi vẫn nhận ra):
- Ủa, sao tôi nghe nói mình… làm chủ toàn thành phố?
- Dạ… Cũng có làm chủ, nhưng chỉ vài tiếng đồng hồ thôi anh Tám ạ. Tụi nó phản công và chiếm trở lại hết.
- Còn các nơi? Tôi nghe mình chiếm đi mười mấy tỉnh.
- Dạ chỗ nào mình đánh cũng chiếm được hết nhưng rồi mình rút lui để bảo toàn lực lượng anh Tám à !
- À à phải rồi, đúng là như vậy, chớ đâu phải tụi nó mạnh phải không “toa”?
Nàng Kiều lại bưng dĩa bánh ngọt đặt trên bàn. Nàng vừa quay lưng đi thì Tám Râu gọi giật lại và nói:
- Bữa nay bất ngờ, cậu tìm được tri âm, còn cháu gặp đồng chí. Hà hà… Cậu bữa nay vui hung nên quá chén. Vậy cậu xin phép ông bạn quý rút lui sớm, cháu thay mặt cậu tiếp bạn của cậu giùm nghe!
- Dạ.
- Cháu ngồi đây này ! -Nói xong Tám Râu đứng dậy đẩy ghế bước lại vỗ vai tôi, giọng thân mật, nói bằng tiếng Pháp- Chúc “toa” đại thắng nghe!
Tôi không biết Tám Râu đùng chữ đại thắng nghĩa là gì?
Nàng Kiều thứ mười nên gọi là Mười Kiều. Có lẽ không phải tên thật. Mười đây là 10 trong “N10″ chăng? Còn Kiều thì quả thật nàng cũng là một người con gái ba chìm bảy nổi như Thúy Kiều. Nhưng Thúy Kiều bán mình chuộc cha, lớp giữa gặp Từ Hải đóng vai mệnh phụ, lớp chót tái hồi Kim Trọng. Còn Mười Kiều này… vâng lệnh đảng bán mình cho Mỹ , không tái hồi được với ai hết, sống một cuộc đời cười đau khóc hận tới chết!
Nàng thỏ thẻ :
- Lúc nọ em gặp con Thanh, con gái Phạm Xuân Hoàng, cháu của Phạm Duy Nam. Nó nói với em đã gặp ở một trạm giao liên anh trên đường từ R về Củ Chi, anh có dắt nó đi chợ, mua thịt heo ở chợ chồm hổm. Nó cũng thuật lại việc chú nó đóng cặp vợ chồng với nó đi công tác ở Sài Gòn. Và bắt nó học nhảy đầm, học tiếng Mỹ và cắt tóc ngắn uốn quăn đi chơi bời với Mỹ để làm địch vận.
- Ờ có, anh có gặp cô ấy ở Trảng Sa. Anh biết hết mấy chuyện đó.
- Nhưng có chuyện anh không biết.
- Chuyện gì?
- Nó yêu anh.
- Anh hơn nó hai mươi tuổi. Anh bằng tuổi chú nó mà.
- Vậy mà nó vẫn yêu anh. Nó thú thật với em như vậy ! Kiều tiếp- Đôi khi ở chung với nhau, nó tâm sự với em nhiều lắm.
- Kỳ Tết này cô ấy công tác ở đâu em biết không?
- Trước kia thì nó mạo hiểm lắm. Sau một chuyến công tác nào đó, em nghe nói nó tự tử nhưng cấp cứu kịp.
- Tại sao vậy?
- Đi láng cháng với Mỹ, anh nghĩ coi làm sao thoát được. Em đoán chắc nó buồn đời vì cái công tác oái oăm.
- Công tác cách mạng mà có công tác oái oăm em?
- Có chớ anh, chính em đây cũng có lần em muốn tự tử.
Tôi nhìn cô gái có nét bạc mệnh, không hỏi nữa, nhưng hiểu tại sao. Nàng lặng thinh có lẽ vì đoán được rằng tôi hiểu được những nỗi u uẩn đau đớn của một tấm hồng nhan làm công tác địch vận mà địch ở đây là Mỹ, một loại người dâm bạo.
Nàng khẽ quẹt đôi mắt đỏ hoe:
- Năm 1964, vào đêm Giáng Sinh em đã lái xe tắc xi vô đánh cư xá Mỹ.
- Làm sao vô được?
- Tụi Mỹ mà anh! Thấy gái là anh bảo nó chết nó cũng dám chết cho gái. Trên xe có sẵn trái mìn. Qua xong cổng gác là em vọt ra khỏi xe cho xe phóng vô.
- Một loại tắc xi không người lái như máy bay không người lái !
- Bây giờ nghĩ lại em còn rùng mình. Không hiểu tại sao em dám làm chuyện đó.
- Vì cách mạng chớ sao!
- Có lẽ em căm thù chúng nó hơn là vì cách mạng. Chính nó đã phá nát đời em. Em phải vào đó ngủ với chúng nó, đi chơi với chúng nó. Anh nghĩ coi, ba bốn thằng cùng dày vò em một lúc. Em quyết đánh tan xác chúng nó.
- Rốt cuộc giết được bao nhiêu?
- Ba, bốn đứa !
- Chỉ có vậy thôi?
Nàng Kiều ngồi lặng thinh.
Chỉ có vậy mà tan nát một đời hoa. Nàng đau đớn lắm, nhưng đó là công tác! Cấp trên bảo thì phái vâng. Trước khi nhận công tác, công tác viên phải thề “tuyệt đối hy sinh cho cách mạng, cấp trên giao việc gì. dù khó khăn đến đâu cũng không được từ chối”. Đó là một trong mấy điều tâm niệm của công tác viên. Đôi khi gặp những trò chơi ghê tởm của tụi Mỹ đen, Kiều kể, nàng đã muốn trốn thoát nhưng nhớ lại lời thề cao quý (?) của nàng trước cấp trên, nàng lại cố gắng chịu đựng, coi sự chịu đựng đó là một sự hy sinh cho cách mạng nên gồng mình chịu.
Bây giờ… nàng đã bị biết mặt nên không dám trở lại Sài Gòn nữa. Nàng hối hận tràn lòng. Đang học trung học, đẹp lại thông minh, bỗng dưng lại bị người ta “móc” đi làm cách mạng giải phóng. Cách mạng cần sắc đẹp con gái để đánh giặc. Thiệt lạ kỳ. Thế mà nàng cũng nghe theo một cách hết sức dễ dàng.
Bây giờ… nàng biết mình không có con được nữa. Qua những cuộc chơi bời quên cả thân xác và danh dự do bọn Mỹ đẩy vào, bộ phận sinh dục của người nữ công tác viên đã vỡ tan không còn bình thường nữa. Nhưng đó là hy sinh cho cách mạng giải phóng. Lạ thiệt , cách mạng đoạt thắng lợi bằng bộ phận sinh dục của đàn bà.
Bây giờ… cô bé đang chích hằng ngày ba hũ pini do cách mạng cung cấp không bảo đảm rằng bệnh của nàng có trị được hay không, và cách mạng cũng không hề lo cho tương lai của người nữ công tác viên đã từng hy sinh thân mình để giết bốn, năm tên Mỹ cho cách mạng vui lòng.
Nàng Kiều khóc mê man. Tôi cũng muốn khóc. Cái thân phận của nàng thì cũng như số phận của tôi. Ngẫm ra cho cùng thì cả hai đều là nạn nhân của sự yêu nước mù quáng. Chính nàng Kiều cũng kể cho tôi biết rằng “ông anh hùng Nguyễn Văn Trỗi” bị đồng chí của ông ta lừa ôm bom đi đặt ở cầu Công Lý để có dịp cuỗm cô vợ xinh đẹp của ông ta mà ông ta nào có hay. (Tôi đã viết chuyện này trong quyển “Cách mạng tháng Tám, cha đẻ còng số 8″).
Xương má u tuổi trẻ đã hy sinh tiếc uổng dưới thời Hồ không biết bao nhiêu mà kể. Nay mở choàng mắt ra, ôi thôi đã muộn. Chết ở Trường Sơn, chết ở Miên, ở Lào, ai biết hết tên tuổi những thanh niên ưu tú của đất nước để làm gì? Đó là câu hỏi quan trọng mà kẻ sát nhân cần phải trả lời.
Sáng hôm sau, do lời yêu cầu của nàng, tôi mới ra sau lẫm lúa để xem qua các cộng tác viên N10 và F100 bị thương sau khi “đại thắng ở Sài Gòn mang đầu máu về. Bọn họ độ bảy, tám mạng, kẻ nằm võng, người ngồi trên giường, tay, thân, đầu cổ băng trắng lớp. Có một anh đang nằm trên tấm ván nhỏ, tay treo trên một thanh cây rên hừ hừ. Bỗng một cậu bé ốm tong teo, mặt choắt lại, nhảy cò cò đến trước mặt tôi:
- Anh Hai, em nè!
Tôi nhìn hắn nhưng không nhận ra ai. Hắn tía ha một hơi:
- Em là thằng Tẻo nề, nhỏ như con nhái, mặt thỏ mỏ dơi, đi trinh sát thì chuyên môn báo cáo láo, cho nằm với tổ B40 thì đụng xe tăng mang đầu chạy, còn về bộ binh thì nằm mép không dám xung phong, bị Chín Nữa bạt tai mấy lần…
-Ờ, tao nhớ mày rồi. Nhưng sao mày lại về đây, oai vậy?
- Lần đó em bị thương được đưa qua Bưng Còng ông Tám Lê trị…
- Rồi sao nói hết nghe!
Thằng Tẻo ngập ngừng. Một anh chàng băng tay treo trên cổ tiếp:
- Vết thương lành xong không dám về đơn vị, rồi nghe người ta dụ dỗ… bảo rằng đi theo F100 đánh vô Sài Gòn thì được thăng ba cấp, rồi thằng Tẻo mê nên không về đơn vị mà nhập vô F100 của Chín Lộc.
Thằng Tẻo gạt ngang:
- Thôi mày! Mày không mê thăng cấp sao cũng nằm ở đây như tao?
Nàng Kiều ra vẻ chỉ huy:
- Các đồng chí không nên nói móc nhau nữa. Ai nghe thăng cấp mà không ham.
Các ông bạn không im mà lại tươm tướp. Một giọng Bắc rướn lên to:
- Mẹ, tin cấp trên kỳ này bán lúa “rống”.
Tôi lại ngồi xề bên tấm bạt xệu xạo, móc tiền bảo thằng Thành chạy đi mua vài hộp sữa, ký lô đường cát, vài bao thuốc Capstan. Chỉ chốc lát khói lửa mịt mù. Cô nàng giới thiệu tôi với anh em và nói:
- Rất may là chúng ta gặp anh Hai. Tôi yêu cầu ảnh ra gặp anh em mình để giúp đỡ. Lương thực đã cạn, thuốc men không có…
Một anh chàng chừng mười bảy tuổi nói:
- Chúng em nghe cấp trên bảo đánh được cứ điểm nào hãy cầm cự chừng một tiếng đồng hồ thì đại quân tới tiếp viện. Nhưng tụi em năm mấy tiếng đồng hồ, chịu cho tụi nó bên trong “tróc” M79 muốn nát lưng, rốt cuộc không có ma nào đến, tụi em phải rút.
Tôi gỡ gạc:
- Tại đại quân đi lạc đường nên kẹt ở Quới Xuân không vào được kịp thời.
Những cặp mắt đầy nghi ngờ đổ về phía tôi. Tôi biết họ không tin tôi nhưng họ không dám cãi lại hoặc hỏi tiếp. Xưa nay quyền nói láo tuyệt đối là quyền của cấp trên. Bọn cá kèo chỉ biết cúi đầu vâng theo.
Tôi hỏi:
- Cậu nào đánh đài phát thanh? Cậu nào đánh Tổng Tham Mưu, Tòa Đại Sứ Mỹ?
Một cậu người Bắc nhanh nhẩu:
- Chúng em chẳng biết đài phát thanh hay Tổng Tham Mưu gì cả. Mà cũng chẳng biết mục tiêu mục tiếc gì. Cả chỉ huy cũng không biết. Nghe xa xa có tiếng súng nổ, đồng chí đại đội trướng bảo bắn. Thế là cứ nhắm bóng đèn mà lia hoặc thấy nhà nào to lớn là xả súng vào.
Một anh chàng băng chéo qua mặt lấp mất một bên mắt nói giọng giận dữ:
- Đụ mẹ thằng Bắc Kỳ mắt toét (Chín Lộc) bảo tụi em rán cầm cự một tiếng đồng hồ thì có công trường 9 tới, tới mụ nội tôi chớ tới đâu.
Út Tẻo giới thiệu thêm:
- Nó tên là Bảy Tăng, chỉ huy đánh Tòa Đại Sứ Mỹ đó anh Hai. Còn em và thằng Nam Hỏi đánh đài phát thanh. Thằng Hỏi bị súng M79 bắn xẹt ngang mép rụng trụi hết hàm răng trên, băng bịt miệng nói không được nên nằm đăng kia im rơ… Cuối cùng tụi em biết thằng cha mắt toét gạt nên em bảo đánh mìn cho tụi mình chết hết, thành chiến sĩ vô danh, hoặc chui xuống cống mà ra. Tụi em lớp chết lớp bị thương. Lỡ vô rồi ra không được, em bảo bỏ xác đó tìm đường chui ra.
- Rồi làm sao bay lết về tới đây được.
- Đó là nhờ sáng kiến của bà “Thúy Kiều” này nề. Bả bỏ tụi em vô hòm đậy nắp lại, lính gác Cầu Bông mới cho qua. Bây giờ nằm đây chờ đi quân y mà không ai rước. Nhiều đứa còn miệng trong người đau nhức la om, nhất là mấy ông Ba Ke. Các ông chửi tiếng trọ trẹ em nghe không được tức cười quá tay, nhưng càng cười vết thương càng nhức. Đụ bà ! Xin lỗi anh Hai nghe! Một lần thì tởn tới già . Em không chơi trò này nữa. Em xin về bộ binh với anh Hai. Chết cỏn xác.
Một giọng Bắc nhói lên:
- Địt bố chúng nó , đem con bỏ chợ !
Tôi trở vào nhà. Bữa cơm sáng đã dọn trên bàn. Tám Râu vui vẻ:
- Mời “toa” ăn cơm. Cháu Kiều cũng ngồi đây luôn với cậu.
Tôi ngồi ăn mà buồn tênh, gan ruột rối bời. Hình ảnh vợ Tư Nhựt bế con đi lang thang chưa nhòa trong đầu tôi, bây giờ lại đến đám đặc công nheo nhóc này. Đang ăn bỗng có trinh sát chạy tới gọi tôi về chỉ huy sở. Thì ra Sáu Huỳnh. Coi bộ anh Sáu bầy trẻ không được lạc quan lắm. Anh đang ngồi nghe đài với ban chỉ huy D.
Tôi vọt miệng hỏi:
- Quân ta chiếm tới thị xã thứ mấy rồi anh Sáu?
- Thôi mày! Đừng có tếu.
- Hôm qua tôi nghe đài nói mình đã chiếm thành phố Huế rồi mà !
- Ừ chiếm Sài Gòn rồi nữa!
Nói xong Sáu Huỳnh đứng dậy bước lại lôi tôi ra góc rơm, chỗ hai con bò đang nhơi:
- Bà Sáu Thiệt bị bắt rồi.
- Ở đâu? Hồi nào?
- Mới bữa nay. Trong giỏ trầu của bả có quả tang cây K54. Bả đang luồn trở lại Sài Gòn để triển khai kế hoạch đợt hai của Bộ Tư Lệnh. Như vậy phải thay đổi toàn bộ.
- Sao vậy?
- Thì đề phòng bả khai ra hết chớ sao.
- Bả là vợ ông Hộ đảng viên kỳ cựu mà !
- Kỳ gì kỳ, nó cho uống nước xà bông cũng phải “ói” ra -Sáu Huỳnh than- Cơ sở ở Sài Gòn bị lộ hết rồi! Vợ con thằng Tư Mạnh thợ may bị tóm hết, vợ con tao cũng không dám ở nhà.
Tôi đang tự hỏi: mấy chuyện đó ăn nhập gì với mình mà Sáu Huỳnh cho biết. Bỗng Sáu Huỳnh bảo tôi:
- Cái vụ thằng em Thủy Quân Lục Chiến của mày bị thằng mắt toét nêu ra ở cuộc họp với khu ủy vừa rồi, nhưng tao đánh hơi biết. Tao hỏi thằng chả , thằng chả chối ngang.
Nghe tin B52 tôi không sợ bằng mấy cái tin hành lang này. Tôi đã báo cáo với Ba Thắng ở R hồi đại hội mừng công. Rồi Chín Lộc bàn với tôi. Tôi đã móc nó vào Ràng, nhưng đường ai nấy đi.
Thế mà vụ tổng tấn công vỡ lở, chuyện đó lại trở thành vấn đề!
Một thằng thiếu nhi đi theo kháng chiến từ 1945, ở trong quân đội hai mươi năm liền, bị thương cả chục lần, đánh cả trăm trận, chết hụt không biết mấy keo lại bị tình nghi là gián điệp. Nếu hồi đó tôi làm gián điệp thì tôi chỉ cần nói một câu là rục tùng cả Mặt Trận Giải Phóng và R.
 
 
Chương 90
Quân đội nhân dân
không lấy cây kim sợi chỉ của dân

Thằng Tăng thằng Tẻo đều là lính cũ của đất Củ Chi, nghe bọn công tác thành dụ khi “thăng ba cấp” thì mừng lắm nên cuốn gói đi theo, tưởng đóng lon thượng úy dễ dàng, chẳng dè bây giờ đứa gãy tay, đứa bể đầu mà không có một viên thuốc, thì mới sáng mắt ra. Bây giờ nằm ở trong cái vựa lúa địa chủ mà chửi cha lãnh tụ vô sản.
Tám Râu chơi thiệt điệu. Anh cho làm heo vật bò đã tiểu đoàn trên một ngàn miệng ăn. Rượu uống thả cửa. Bọn chỉ huy tiểu đoàn cùng ngồi bàn với hắn uống toàn rượu Tây, rượu Mỹ.
Sau tiệc rượu, anh mời tôi vô buồng, nhắc ghế cho tôi ngồi rồi nói với giọng trịnh trọng, tỉnh tuồng không có vẻ say sưa:
- Bữa nay là tiệc liên hoan chiến thắng bộ đội hạ đồn Thái Mỹ, đồng thời cũng là bữa tiệc tạm biệt với “toa”. Lâu nay “moa” cảm phục tài năng và đạo đức của “toa” và bộ đội “toa”. Đóng quân ở đây không có động đến tài sản của dân, không khuấy rầy dân mà lại giúp đỡ dân tận tình.
Tám Râu hé cửa sổ chỉ tay ra phía ngoài:
- Bây giờ bà con đang xách gà tới nhờ vô máu trị bịnh thiệt tài tình.
(Ở một chương trước, tôi có nói sơ qua về phương pháp vô máu gà trống tơ cho người bịnh hoặc người khỏe mạnh. Hồi thời kháng chiến chống Pháp có cách cấy nhau đàn bà đẻ được truyền từ Liên Xô gọi là cấy Phi ta tốp (Filatov). Do cũng là cách trị bá bệnh rất thần hiệu, không hiểu tại sao Tư Bản không chịu học tập lại rẻ tiền này?
Gà trống tơ được bắt trói kỹ lưỡng rồi giở cánh ra, bác sĩ Năm Hồng của quận đội tới lấy ống kim chích vào nách rút máu rồi tiêm vào mạch máu cho bà con. Theo lời truyền miệng thì nhiều bịnh đàn bà và nhất là chứng biếng ăn mất ngủ được trị có kết quả lắm. Một con gà trống tơ có đủ số lượng máu truyền cho bốn, năm người. Từ sau trận Thái Mỹ, bác sĩ Năm Hồng không hở tay. Anh ta phải truyền nghề cho mấy cô y tá mới đủ sức phục vụ đồng bào).
Nghe Tám Râu nói, tôi tiếp lời ngày:
- Đó chẳng qua là đáp đền ơn nghĩa của đồng bào ở vùng An Phú này thôi anh Tám ạ. Có đáng chi mà anh phải nhắc.
Tám Râu dường như không để ý câu nói của tôi, giọng anh cảm động:
- “Moa” sắp phải xa “toa” rồi, Hai Lôi à !
- Anh đi đâu?
“Moa” phải về Sài Gòn -Tám Râu không để tôi hỏi lý do, nói tiếp- Tài sản này tôi xin giao lại cho anh làm chủ . Tất cả ! Từ hột lúa đến ngôi nhà, từ chai rượu đến con cá dưới ao, anh thay mặt tôi mà sử dụng cho cách mạng. Ngày nào còn gặp “toa” thì “moa” sẽ tính tới.
- Anh Tám nói gì vậy?
- Tôi nói thật mà, thật tự đáy lòng chớ không đùa.
- Hay là trong lúc đóng quân ở đây, anh em có làm điều gì phật ý anh chăng?
Tám Râu xua tay:
- Bộ đội của anh thật là có kỷ luật cao. Chỉ huy làm sao thì lính làm vậy. Tôi đi là vì tình thế bắt buộc chớ không phải do sự giận hờn, phật ý các anh. Xưa nay sở dĩ tôi ở đây là vì vùng này còn nguyên lành, chưa bị một phát đạn nào. Chớ nếu có thì tôi đã không có cái hân hạnh làm quen với một sĩ quan tài ba như “toa”? Đó là thật lòng của “moa”. Xin “toa” đừng nghĩ khác!
Nói xong Tám Râu móc trong ngăn kéo lấy ra một gói vuông vắn buộc ràng cẩn thận, rưng rưng nước mắt:
- Đây là số bạc mọn. Một nửa “moa” tặng cho “toa”, còn một nửa tặng cho anh em chi dụng. Khi nào “toa” uống rượu thì nhớ uống giùm “moa” một ly nhé !
Rồi Tám Râu đứng dậy ôm tôi hồi lâu. Tôi hiểu ý anh. Ngoài tình cảm riêng tư giữa hai người, anh còn muốn tôi trở thành người trong gia đình của anh. Chẳng là lâu nay, anh có ý xe duyên cho tôi với cô Trúc Mai, cháu kêu anh bằng cậu đang học ở trường Gia Long, Sài Gòn. Ngờ đâu, Trúc Mai là chị của Huỳnh Mai, người con gái đã yêu tôi lúc tôi làm đại biểu đoàn 69 đánh sân bay Biên Hòa đọc diễn văn trong đại hội mừng công năm 1964. Huỳnh Mai đã gửi thư về nhà cho Trúc Mai biết về mối tình của chúng tôi. Rồi sau đó, R ăn B52, Huỳnh Mai chết không để lại một dấu vết gì. Khi tâm sự với tôi, Trúc Mai hỏi tôi có quen với ai tên Huỳnh Mai không. Tôi lắc đầu một cách hồn nhiên. Cũng may, lúc đứng ra đọc diễn văn trước đại hội, tôi được ban tổ chức không cho mang một tên tuổi nào, cho nên Huỳnh Mai cũng gọi tôi bằng một cái tên khác do tôi bịa ra (cũng như Chín Vinh, Tư Chi vậy .) Tám Râu mong muốn trói chân chim bằng một sợi tóc Trúc Mai. Nhưng lòng gã Thiên Lôi như lượn sóng thủy triều có khi nào chịu dừng lại ở bến bờ nhất định nào, cho nên rồi lại bỏ lỡ cơ hội trong khi cánh cửa hạnh phúc đang mở trước mặt chàng.
Trở về đơn vị, tôi nằm không yên. Không phải vì mối tình Trúc Mai chớm nở mà chính vì sự rời bỏ quê kiêng của Tám Râu. Lâu nay đất An Phú là ốc đảo hòa bình. Dân giàu có, thực phẩm sung túc phủ phê. Cách mạng dựa vào đó như một bức tường hiếm có. Bây giờ chiến trận nổ bùng. Tụi N10 của cô Kiều đóng đô ở đây kéo theo vệt máu chưa khô từ Sài Gòn, kế đó đơn vị của tôi đánh đồn Thái Mỹ. Không khí yên ổn đã bị phá tan. Rồi đây bom đạn sẽ đến. Tám Râu là người hiểu biết tình hình và biết cách đối phó. Anh đóng thuế cho “nhà nước giải phóng” cả ngàn giạ lúa, tặng chơi một kỳ lạc quyên năm trăm giạ. Đây là loại người có thể xếp vào hàng bà Nguyễn Thị Năm ở Thái Nguyên hồi đầu cách mạng 45. Thế nhưng sau khi bác đảng về thủ đô bà bị cách mạng Cải Cách Ruộng Đất đấu tố Bà “chị nuôi” cụ Hồ kêu lên “ông em” là chủ tịch nhà nước nhưng ông em nuôi ngoảnh mặt làm ngơ để cho bà chị bị xử bắn. Có lẽ Tám Râu sợ phải vướng vào cái cảnh của bà chị nuôi của Hồ nên dông trước cho yên thân, một là tránh bom đạn, hai là đề phòng bọn Ba Bê, Năm Nhân, huyện ủy Trảng Bàng chăng?
Nghĩ thêm về cách mạng tôi thật không hiểu. Như tôi, dày sành đạp sỏi hai mươi năm đi trên đường cách mạng, thế mà họ nghi tôi là gián điệp. Cũng bởi vì tôi không chịu móc thằng em đại úy Thủy Quân Lục Chiến của tôi làm một trận binh biến như Phùng Văn Mười ở Bình Dương năm 63? Ai ở cho vừa lòng cách mạng?
Đang nằm thiu thiu thì có tiếng quào quào đầu võng. Tôi ngóc dậy thì thấy một bóng người nhỏ thó.
- Anh Hai, anh… Hai, cho em báo cáo.
Tôi biết ngay đó là thằng Đá, liên lạc của tôi. Nó là người Bắc, học sinh lớp 8 bị bắt đi giải phóng miền Nam.
- Có chuyện gì vậy Đá?
- Em mới bắt được cái gói này.
- Gói gì?
- Thủ trường đi xuống hầm rồi em trình bày.
Vùng này chưa bị bom đạn nên lính ngủ trên mặt đất. Riêng tôi thì các cận vệ mến anh Hai nên đào cho anh Hai một cái hầm tạm tạm khá hơn mèo quào một chút. Thấy thằng bé nói có vẻ quan trọng tôi bèn xuống hầm, nó bò theo.
Tôi móc đèn pin rọi lên thì nó cũng vừa đưa cái gói ra. Tôi cầm lấy cái gói, chỉ bóp bóp không cần mở ra cũng biết là vấn đề gì rồi. Tôi hỏi ngay:
- Của thằng Thượng phải không?
- Trời, sao thủ trướng biết tài vậy?
- Cậu nó là Năm Thơi, trước là C phó của tao. Sau đánh mấy trận ở Cây Trắc, Dầu Bà, tao đề bạt lên C trưởng, rồi trước khi đi xuống Sài Gòn, tao bảo Tư Nhựt chọn nó lên phó chính trị viên D. Nó đánh giặc ít sáng kiến, nhưng không bỏ mặt trận, nhờ tánh lỳ.
Thằng Đá nhìn tôi ngạc nhiên. Tôi tiếp:
- Cậu nó bảo nó trốn về tìm tao xin nhập vô D7, còn y ở lại dưới đó. Mày lấy cái bọc này ở đâu vậy?
- Dạ, lúc đi hái ngó sen ngoài đầm.
- Sao mày lấy được?
- Dạ… -thằng Đá ngập ngừng- Dạ… lâu nay em chú ý thấy nó đi đâu cũng ôm tò tò cái bọc, không dám rời ra. Em nghe trong đơn vị xầm xì mấy ông đào ngũ từ Sài Gòn về bị bắt giam bên suối Gò Gấu, một số được trả về đơn vị cũ.
- Đơn vị cũ còn đâu mà về.
- Dạ thì em nghe vậy thôi. Còn một số thì bị đi tù. Ai về cũng có thắt lưng một số vàng. Có ông được cả bụm dây chuyền hoa tai.
Tôi làm bộ hỏi:
- Vàng ở đâu mà giắt lưng?
- Dạ thì họ lấy của người ta ở dưới đó.
Tôi chìa cái bọc để cắt ngang câu chuyện:
- Công mày phát hiện, tao cho mày lấy vài món, còn bao nhiêu tao báo về trển.
Thằng Đá xanh mặt:
- Dạ, xin thủ trưởng đừng báo cáo tên em trong đó. Rủi ở trên hiểu nhầm, em mất hết danh hiệu giải phóng quân. Em có đọc mười lời thề trước khi đi.
- Tao không ghi tên mày đâu!
Tôi vừa nói vừa thọc tay vào bọc lôi ra một cái đồng hồ rồi mằn mặn rút thêm một sợi dây chuyền, bảo:
- Đồng hồ thì mày đeo. Còn dây chuyền thì đem về Bắc cho em gái hoặc chị mày.
- Dạ em không có chị em gì hết.
- Cái thằng! không có thì cất đó sau này cho người yêu! Bộ mày tính không cưới vợ à?
- Dạ em đâu có chắc còn sống mà cưới vợ.
Tôi nhét đại vô túi nó rồi bước đến ngả mình trên võng.
Đây không biết là vụ trộm thứ mấy của đoàn giải phóng thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng. Lúc nãy nghe Tám Râu khen tôi hãnh diện bao nhiêu, bây giờ tôi xấu hổ bấy nhiêu. Tội nghiệp bác Hồ, “người tổ chức và rèn luyện quân đội ta” hiện giờ nằm ngoài Hà Nội cũng trên chiếc võng chờ tin chiến thắng như tôi. Chắc bác tưởng tượng cảnh các cháu bác anh dũng tiến vô giải phóng Sài Gòn để gắn tên bác lên chói lọi ánh mặt trời Đông Phương Hồng và hàng ngũ răm rắp, lưỡi lê tuốt sáng giới, đầu ngẩng cao, mũ lóe rực sao vàng, nào ngờ đâu đó chỉ là những tên ăn cướp một đám cướp được tổ chức rất chu đáo có tên là giải phóng quân. Đập tủ kiếng thợ bạc, hiệu vàng, quơ hết thiệt sướng tay. Trong chiến tranh chúng đã lòi mặt thật, trong hòa bình cái mặt nạ giải phóng càng rơi nhanh.
Chiều hôm sau tôi kéo quân về Củ Chi, các tổ hỏa đầu quân, anh nào cũng mang theo một soong thịt gà kho sả. Đó là kết quả thiết thực nhất công tác vận của bác sĩ Năm Hồng, những chú gà bị hút máu xong chết ngoẻo bị đem ra vặt lông làm thực phẩm.
Như vậy là tôi có trong sắc cốt mấy chục cái đồng hồ, còn nữ trang thì không biết bao nhiêu, tôi không đếm hết. Tôi định họp ban chỉ huy D để bàn cách giải quyết, nhưng họp hành bàn cãi thế nào cũng lọt tai chiến sĩ, sẽ có dư luận không tốt, nên tôi âm thầm chuồn cho mấy cán bộ nghèo, vợ con nheo nhóc, một số thì tôi giao cho Năm Tiều để ông tặng mấy bà vợ của ông, một số tôi cho anh nuôi, trinh sát, pháo thủ để họ coi giờ thi hành nhiệm vụ.
Cả chục chiếc dây chuyền, cà rá, lắc… thì giữ lại để cho em. Ngoài ra không quên một chiếc đồng hồ cước cạnh để dành cho Chín Nữa, người đã cho tôi radio lẫn đồng hồ. Đời tôi chưa bao giờ thấy trận nào lấy được nhiều chiến lợi phẩm của “địch” như thế! Cây kim sợi chí không thèm lấy của dân mần chi. Trận Mậu Thân thật vĩ đại!
Một đêm tôi đang ngủ có người kéo chân tôi.
- Ai đó?
- Đá . dạ Đá.
- Bộ mày chỏm được cái túi khác hả?
- Dạ không, thằng Thượng muốn gặp cậu.
- Biểu nó lại đây.
Một chập sau, Thượng gặp tôi. Tôi hỏi ngay:
- Mày tính sao?
Nó sụp lạy tôi, rên rỉ:
- Cậu Hai ơi. Cậu cứu giùm cháu.
- Ơ kìa, chuyện gì vậy nhỏ?
- Chắc phen này cậu Năm cháu giết cháu mất.
Tôi biết tỏng nhưng còn làm tỉnh:
- Mày về đây chiến đấu dưới quyền của tao, còn sợ gì nữa?
- Dạ, em làm mất một trăm ngàn, mười lăm cái đồng hồ và dây chuyền cà rá.
- Ở đâu mà y có?
Thằng Thượng im lặng hồi lâu. Tôi đốt thuốc và hỏi:
- Mày đánh mất ở đâu?
- Dạ không biết đứa nào nó khuấy chơi lúc em lặn dưới đầm để nhổ ngó sen với con Ẻng.
Tôi giả bộ đánh trống lảng:
- Mày lặn xuống đó thấy cái gì của nó không?
- Đâu có mở mắt ra được mà thấy anh Hai.
- Rồi đứa nào quơ cái bọc của mày?
- Em nghi thằng Đá với tháng Tiền nhưng chúng nó chối. Tiền thì cẩu cho em hai ngàn để xài chơi, còn lại bao nhiêu gộp với đồng hồ, cà rá, cẩu dặn em đem về đưa cho mợ Năm em làm vốn món ăn nuôi con, cẩu trối lại như vậy. Cẩu không còn trở về trông thấy mặt mợ Năm em nữa đâu.
- Mợ Năm mày ở đâu?
- Dạ ở trên Trảng Cỏ.
- Mày có thương đứa con gái nào không?
- Dạ… không… có.
- Sao không lại có?
- Dạ không có thương đứa nào hết.
- Tao biết mày thương em gái chị Ba Cưng ngoài Ràng.
- Dạ hổng có.
Tôi tra hoài, nên nó khai thật:
- Dạ em thương con Múi em chị Mầu, em gặp nó hai ba lần mà không biết nói gì. Bữa nọ em gặp, em nắm tay đại, nó giựt lại, nó còn nói nó sẽ thưa ban chỉ huy C, em sợ quá nên không gặp nó nữa.
Tôi móc xắc-cốt lấy ra sợi dây chuyền vàng có tấm lắc đưa cho nó và bảo:
- Bữa nào mày gặp nó mày cho nó sợi dây này thì nó sẽ thương mày, nó không mét ban chỉ huy nữa đâu.
- Thiệt hả anh Hai?
- Còn gói đồ của mày tao cất kia. Nhưng mày phải khai thật, ở đâu mày có nhiều đồ quý vậy. Nói láo tao không che chở được.
- Hu hu…
Thằng Thượng bật khóc. Tôi quát nó nín. Nó vừa quẹt nước mắt vừa kể lể:
- Cậu Năm em không biết sống chết, còn ông Tư Nhựt, Năm Truyện, Tư Chi thì chết hết rồi. Đoàn bộ (tức văn phòng E và các cơ quan trực thuộc như thông tin, liên lạc, trinh sát, hậu cần…) đều bị pháo dập nát hết từ phút đầu. Ai còn sống sót chạy ra ruộng đều bị “cá nhái” bắn chết sạch. Ai lội được qua bên phía bên kia sông đeo núp trong đám dừa nước thì còn sống. Nhưng tụi nó đổ quân ném lựu đạn vô bụi rậm, lớp bị thương, lớp bị tức nước nổi phình như cá bể bong bóng. Sông rộng, có đứa chết chìm.
- Sông nào?
- Sông nào không biết sông nào.
- Mày đi cánh nào, có du kích dẫn đường không?
- Dạ, em theo cậu Năm em. Ổng được thăng phó chính trị viên D, chỉ huy D2 thuộc E cửa ông Tư Nhựt, đánh vô thành Cổ La Cổ Lư gì đó .
- Cổ Loa, là căn cứ pháo binh Sài Gòn.
- Dạ, còn D1 và D3 thì đánh vô Tân Sơn Nhút. D em có một ông già với một du kích dẫn đường. Gần sáng mới tới nơi. Em bò, thấy đèn sáng trưng mà hồn vía lên mây. Hồi nào tới giờ đâu có thấy đèn như vậy. Dây kẽm gai dày bịt, không có cuốc xuống để đào công sự như hồi ở Củ Chi anh chỉ huy. Cậu Năm em trỏ vô trong bảo: “Tụi nó ở trong đó! Tụi bay nằm đây chờ lệnh”. Không có kềm để cắt dây kẽm thì làm sao vô được.
Tôi hỏi:
- Còn Tư Nhựt ở đâu?
- Dạ ở đâu em đâu có biết! Nằm dưới ruộng nước lạnh run. Trên đường xe lam, xe gắn máy chạy như tên bắn, em hụp đầu xuống cỏ chờ lệnh, ngó lại thì thấy cậu Năm em biến đâu mất. Bỗng nghe tiếng súng nổ thì em biết có lệnh trên. Lính không băng không chui qua lưới chì gai được nên phải ào vô cổng, bị tụi nó xả trung liên chết có đống ngay trước cổng, có đứa nào vô lọt được đâu. Bên trong tụi nó hạ nòng pháo bắn thẳng chọn đường mình vô. Mấy đứa vọt qua được cổng thì quay trở ra nhưng không ra được.
- Năm Thới lúc đó ở đâu?
- Dạ cậu Năm em đi đâu không biết. Tụi em còn mấy đứa lủi đại vô phố và nhà dân. Dân chạy tán loạn. Tụi em mới thừa cơ đập tủ kiếng lấy đồng hồ và nữ trang. Lúc này em gặp cậu Năm, ổng đưa cho em một bọc, bảo: “Tao lựa toàn thứ tự động”. Lệnh trên là bám trụ tại chỗ, chờ viện trợ tới. Hồi mới phát xuất cũng nói vậy. Đơn vị nào chiếm được căn cứ thì nằm tại đó sẽ có đại quân tới tiếp cứu. Nhưng nằm cả ngày đâu thấy ai. Cậu Năm em ra lệnh rút lui. Cậu bảo em rán tìm đường về Củ Chi, còn cậu rút về An Phú Đông.
- Sao mày biết An Phú Đông?
- Dạ, em nghe vậy thì hay vậy chớ đâu biết An Phú Đông là đâu. Cậu dặn em cứ đem cái bọc về cho mợ Năm em… chớ cậu chắc hết về.
- Còn tiền bạc ở đâu mà có tới cả trăm ngàn?
- Dạ đó là tiền của tiểu đoàn!
- Đưa cho mày rồi đơn vị lấy gì ăn?
- Dạ, đơn vị đâu còn ai mà ăn!
- Chết hết sao?
- Dạ, thì như em báo cáo lúc nãy. Đâu còn ai mà ăn. Mạnh ai nấy quơ hốt kiếm ăn . Nhưng em không biết đường đi cứ đeo theo cậu Năm và một tốp còn sống sót bị thương qua rạch Bến Cát. Lại bị pháo đuổi, trực thăng rượt theo nên phải trở lại.
- Trở lại đâu?
- Dạ em nghe cậu Năm nói là An Nhơn hay Gò Vấp gì đó. Ở đây lại đụng với Nhân Dân Tự Vệ, lớp bị thương, lớp bị bắt, phải cõng nhau chạy trốn. Tụi Bắc Kỳ đầu hàng hết cả đám. Tụi em gặp nhau chừng chục rưỡi, đứa ở C cối, thông tin. Cậu Năm ra lệnh mò trở lại lôi xác bỏ xuống mương lạng trong vườn lấp đất. Tưởng vậy đã êm, nào ngờ đầm già phát hiện kêu pháo bắn, phản lực tới ném bom. Cậu Năm với em lạc nhau. Em không biết đi đâu nên cứ nhắm hướng may rủi, lủi tìm đường về. Ở dưới đó sẽ chết. Em về tới sông Rạch Tra, lên đường số 8 qua lối Trung An mới chắc mình còn sống! Hu hu -Thằng Thượng lại bật khóc- Cậu Năm em không biết sống chết, ổng hy vọng có chút tiền gởi về cho mợ Năm mà em không đem về được.
Trước thảm cảnh của gia đình Năm Thới, tôi bảo:
- Tiền đó là tiền ăn của D2, tao phải giữ lại để khi họ về đây tao đưa cho họ mua gạo. Còn một mớ vàng đây mày đem về cho bả. Nhưng đừng có nói um lên rồi tụi nó nói bộ đội giải phóng là ăn cướp nghe không. Nay mai biết đâu tới đơn vị mình xuống đó, sẽ bắt chước đập kiếng của người ta.
Thằng Thượng vui vẻ trở lại:
- Thú thiệt với anh là em không có đập cái tủ kiếng nào hết, nhưng tụi nó đập thì em cũng hôi vài cái. Cậu Năm em bảo: “Có lấy thì đừng lấy hết, phải chừa lại cho người ta vài cái”.
- Rồi mày có chừa không?
- Dạ chừa gì được mà chừa? Em chừa thì tụi khác quơ sạch, chừa cũng như không, nên em không chừa. Chậc! Đánh giặc gì kỳ quá anh Hai à!
- Sao kỳ ?
- Em đánh mấy trận với anh, thì anh ra lệnh rõ ràng. Hướng giặc đi, lệnh nổ súng, lệnh rút lui, thương binh tử sĩ có người cáng, hướng rút quân… nên em không sợ hãi. Còn ở đây bắn thì mạnh ai nấy bắn, không có đội ngũ gì hết, rút thì cũng mạnh ai nấy rút, không có lệnh lọt gì ráo. Mà bắn cũng không biết bắn mục tiêu nào. Địch ra sao cũng không trông thấy.
- Vậy ông Tư Nhựt đâu?
- Em không biết.
- Có dây thông tin không?
- Lúc em chạy thì có thấy dây điện quấn trên cây nhưng không biết của mình hay của địch.
- Mày có nghe ông Năm Truyện còn sống hay chết?
- Năm Truyện nào?
- Ổng là Tư Lệnh Mặt Trận A đánh vô Tổng Tham Mưu đó. Mày đi trong cánh của ông mà không biết sao?
- Em không biết gì hết. Chỉ nghe xầm xì là ông Tư Nhựt, ông Hai Phái đều chết ngay ở trận đầu. Nhưng người ta giấu lắm.
- Tại sao Hai Phái chết?
- Dạ em không biết.
- Tao ở nhà còn biết. Ổng hô đáng viên Cộng Sán tiến lên thì bị bắn vén ót, có không?
- Sao kỳ vậy mà em không biết. Có lẽ nào lính lại bắn chỉ huy? Như cậu Năm em, có ai bắn ổng đâu. Bị rượt cùng đường, ổng bảo lính: “Đứa nào giỏi thì chui tìm đường sống. Tao hết khả năng rồi. Thằng nào muốn lên thay tao, cứ lên!”
Sau đây tôi xin nêu ra tổ chức các Bộ Tư Lệnh Tiền Phương trong đợt một đánh vào Sài Gòn để bạn đọc rõ:
Lê Đức Anh, được nâng lên hàng thứ hai trong Chính Trị Bộ, chỉ sau có Đỗ Mười. Ở R tên là Sáu Nam, bị con gái mắng thẳng vô mặt là “tên Công Sản vô liêm sĩ” vì thành tích mò các cháu gái và có vợ bé. Hắn phát cáu, tát cho con gái một tát giữa buổi tiệc rồi sau hắn lén đến xin lỗi. Nay bị trời hành thành ..Lê Ngoạ Triều. Trước nhất là căn cứ của tổng chỉ huy do các tướng đầu bò Bắc Kỳ làm chủ. Căn cứ được đặt tại Long Nguyên trong khu rừng già thuộc ấp Nhà Mát xã Long Nguyên quận Bến Cát, cách Sài Gòn chừng năm chục cây số đường chim bay, cách quận lỵ Bến Cát mười ba cây số, cách căn cứ Lai Khê của sư đoàn 5 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mười cây số về phía Tây Bắc, bên một dòng suối đổ ra sông Thị Tính. Phía dưới ấp này là Suối Tre, cũng đổ ra sông Thị Tính. Độ cao mặt đất từ 32 đến 44 thước so với mặt biển.
Long Nguyên có đường lộ đá đỏ chạy từ quận lỵ Bến Cát lên đồn điền cao su Dầu Tiếng do chủ sở Michelin Tây xây đắp từ khi có đồn điền này để cho xe chủ sở hay xe mủ chạy. Có những cầu sắt và cầu đúc xi măng bắc qua những nhánh suối ăn thông với sông Thị Tính (Việt Cộng gọi là cầu đen hoặc cầu trắng). Còn có con đường đá đỏ khác, thời các sở cao su còn hoạt động để cho xe sở chạy từ Bến Súc đường 14 qua Long Nguyên (gọi là Đường Long), phải qua cầu sắt bắc qua sông Thị Tính tại ấp Phú Bình, nhưng hai con đường này và các cây cầu đều bị Việt Minh phá hoại từ lúc kháng chiến đánh Tây. Nay chỉ có người đi bộ qua lại được thôi.

Mặt mũi trông xinh tệ. Ai đây? Tên Trần Văn Trà, bí danh ăn trộm: Tư Chi, giải phóng gọi là Tư Chè, tình địch hèn hạ của Thiên Lôi. Một tên liếm bát rất sạch cho đám Bắc Kỳ, nhưng cuối cùng, vì tranh ăn mà bị đá văng ra khỏi mâm cỗ. Năm 1949 ở Tháp Mười, luật sư Lê Đình Chi bị bom chêt, hắn tới định chôm bà goá còn măng. Bà này muốn thủ tiết với chồng nên đưa con gái ra dưng dưa để trám miệng hắn.
Trong chín năm đánh Tây, nơi này từng là căn cứ của Bộ Tư Lệnh Nam Bộ, sau khi Nguyễn Bình bị kêu về Bắc, giao lại cho Trà là tư lệnh và Lê Đức Anh làm tham mưu trưởng, xuất phát từ căn cứ Long Nguyên. Trà cho mở chiến dịch Bến Cát đánh dọc quốc lộ 3 và trên sông Sài Gòn. Lực lượng gồm có D302, 303, 304 của E Đồng Nai cũ, cùng các lực lượng địa phương của tỉnh Gia Định do Tô Ký chỉ huy. Trong chiến dịch này Trà và Anh bị quân Pháp đánh thọc vào căn cứ phải bỏ chạy khỏi Long Nguyên về Đất Cuốc quận Tân Uyên tỉnh Biên Hòa, để sau cùng phải chạy lên chiến khu Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh, rồi lên tận Sóc Xoài gần biên giới Việt Miên sau này là căn cứ R.
Bây giờ cũng chính Trà cho hồi sinh căn cứ Long Nguyên để cho Bộ Chỉ Huy R ẩn náu. Năm 67 (vào khoảng tháng Bảy) một trung đoàn Công Binh (429) do Tư Cường chỉ huy từ R xuống đây thiết lập căn cứ “vĩ đại” này, gọi là căn cứ của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương do Ba Xu đặc trách. Quyết định ở trên phải hoàn thành trước Tết Mậu Thân để kịp sử dụng trong cuộc tổng tấn công.
Tôi đã từng đến các căn cứ của Năm Lê, Ba Xu. Đây chỉ là trò chơi của trẻ con so với cái căn cứ tiền phương này.
Các bạn độc giả thử tưởng tượng hơn một ngàn nhân công (lính công binh) làm việc mỗi ngày: đào đất, cắt cây, khiêng vác… trong vòng sáu tháng. thì cái hầm Đờ Cát Tri có lẽ còn thua xa.
Hầm dưới đất hình nón, cây làm đà ngang đà dọc và trụ cột bề kính ít nhất ba tấc, bề sâu ba mét, nắp đắp đất dày ba mét, vách đất dày hai mét. Gồm có phòng ngủ cho các tên tướng đầu bò (có phòng đặc biệt cho tên Sáu Di) có phòng họp, có giếng sâu 23 thước., có bếp kiến trúc theo Hoàng Cầm, phòng chứa lương thực, quân y và vũ khí. Mỗi phòng ngủ đều có cửa lên xuống và tấm chắn dày hai mét. Các phòng ăn thông nhau bằng hầm ngầm có nắp, đặc biệt có máy phát điện nhỏ để cung cấp ánh sáng và có đường dây điện thoại giữa các phòng với nhau.
Nói tóm lại, đây là một thành phố nhỏ có thể chứa từ 100 đến 200 người do sức lao lực tay chân của bọn nô lệ da vàng gốc Nam Kỳ làm quần quật bất kể ngày đêm để cho bọn Bắc Kỳ xâm lược ăn cướp chính quê hương của mình và biến nó thành thuộc địa của đế quốc Bắc Kỳ mang danh hiệu Giải Phóng Quân.
Theo ý đồ “ở trên” thì kiến trúc khổng lồ này sẽ có thể ăn B52 mà không bị đổ nát (rõ thật ngông cuồng). Pháo 105 ly không hủy diệt được. Chúng không biết rằng chỉ vài quả pháo 175 hoặc hơn 100 ký thì nắp hầm sẽ bay tung. Còn bom đìa thì khoan sâu đến mười thước, sức phá bề kính là 100 thước, rộng bằng miệng đìa lớn, do đó nên có tên là bom đìa (mỗi quả nặng 750 pounds).
Sáu Di tức Nguyễn Chí Thanh bị một nhánh cây gãy rơi trúng đầu chết ngay không kịp ngáp ngay trước miệng hầm khi hắn vừa bước lên.
Lúc đó chưa xảy ra chiến trận. Hắn chỉ xuống đây xem qua cho biết sự tình, nào dè bị trời đoản mạng (trước khi hoàn thành hầm này).
Bộ Chỉ Huy tối cao trong trận Mậu Thân đóng trong hầm này, gồm:
1- Tổng Chỉ Huy: Trần Văn Trà; Phó: Trần Độ (Chín Vinh), Lê Trọng Tấn. Còn các tên khác như Hoàng Văn Thái (Đồng Văn Cống); Nguyễn Thị Định và Nguyễn Hồng Lâm (tức Hai Búa) không ra mặt hẳn và cũng không có ở trong này.
2- Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Phân Khu 1 : Ba Xu tư lệnh; Tư Trường chánh ủy.
Bộ Tư Lệnh biệt phái (tiền phương) do Năm Sài Gòn F trưởng công trường 9 làm tư lệnh; Tám Hà chánh ủy; Tư Chi (trung tá pháo binh) tham mưu trưởng. Cánh này đánh Tân Sơn Nhứt, Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Pháo Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Lực lượng gồm có:
+ E mũi nhọn do Tư Nhựt làm E trưởng, Hai Phái chính trị viên E.
+ Một E của công trường 9 đi tập hậu nhưng không vô được, chỉ tới Tân Thành Đông rồi quay về.
+ Một E của Năm Sĩ thuộc F304 thời Điện Biên Phủ tức E88 chỉ lọt được một D xuống khỏi Cầu Bông thì bị lính Dù chặn đánh tiêu diệt gọn. Còn hai D kia và E bộ bị mắc lầy ở Mỹ Hạnh, bị trực thăng và bom pháo xơi, kéo về Bến Chùa thì mất phiên hiệu, số tàn quân còn lại nhập qua cho Q16 của Ba Kiên (gốc 325 Bắc Việt).
+ Q16 của Ba Kiên không có xuống Sài Gòn mà làm nhiệm vụ kềm chế vùng trung tuyến Củ Chi Trảng Bàng với E268 để đánh phản kích, bị lữ đoàn Dù 173 Mỹ, xe tăng và sư đoàn 25 Mỹ xơi tái toàn bộ.
+ E268 đánh đồn Tân Thông và đồn Cầu Ván đều mang máu chạy rót, chết trên 300 lính và cán bộ A, B, C, D.
3- Cánh hữu ngạn sông Sài Gòn (tức Phân Khu 5) do Nguyễn Văn Sinh tức Ba Ngọt làm tư lệnh, (nguyên là lữ trưởng F330 về Nam làm trưởng phòng tác chiến, Cục Tham Mưu R). Theo kế hoạch thì cánh này sẽ gặp cánh của Năm Sài Gòn ở Gò Vấp để đánh chiếm Tân Sơn Nhất và tỉnh lỵ Gia Định. Gồm có các D Phú Lợi I, II, III của tỉnh Bình Dương, một E của công trường 7. Ba Ngọt thọc sâu xuống tới Xóm Mới, xã An Nhơn Gò Vấp thì bị Nhân Dân Tự Vệ bao bắt được.
4- Cánh phía Nam (tức Phân Khu 2 và 3) từ quốc lộ 4 vô Phú Lâm, Phú Thọ Hòa, Chợ Lớn do trung tá Hai Nan chỉ huy. Ông này đánh sơ sơ ba sợi vô tới Chợ Lớn rồi hồi chánh trong đợt một.
5- Cánh Rừng Sát Nhà Bè (tức Phân Khu 4) do Mười Đài làm tư lệnh, Tám Quang (chúa nói phét, kẻ tổ chức đám con gái “dũng sĩ”) làm chánh ủy. Bộ hạ gồm có Năm Kỳ Nam chánh ủy và Hai Lơn phó tư lệnh. Bọn này chỉ huy đám đặc công đánh hãng dầu ở Nhà Bè, nhưng chẳng được trò hề gì ngoài việc nã vài trái DKB (tức đạn khoan bê tông) vào hãng Shell làm cháy lam nham mấy cái bề hê Ba Tàu và cháy xà lan dầu gần cầu Phú Xuân.
Bọn đầu bò R ở trong căn cứ Long Nguyên này cho đến khoảng tháng Bảy 1968 thì cả bọn bồng bế nhau chạy lấy người qua xứ Cao Miên ở đậu. Khoảng tháng Chín 68 tôi có đến đấy để học tập về thành lập chính phủ ma do Huỳnh Tấn Phát cầm đầu và vụ đàm phán ở Paris. Vì vậy tôi mới có dịp đến đây ngó cái tác phẩm vĩ đại của Tư Cường công binh đoàn 429, nơi ghi dấu nhục nhã của chiến tranh Giải Phóng Miền Nam: cái chết của tên Sáu Di, đại tướng đầu đỏ.
Nói tóm lại, các cánh tấn công Sài Gòn đều đánh lam nham không một nhiệm vụ nào được hoàn thành 5%, 10% nhưng đài Giải Phóng và đài Hà Nội đều la ó ra rả suốt ngày đêm: đài phát thanh, cơ quan Tổng Tham Mưu, Tân Sơn Nhứt đều bị quân giải phóng chiếm lãnh hoàn toàn, các tỉnh lỵ lần lượt hết tỉnh này đến tỉnh khác được giải phóng, đồng bào ùa ra đường đón mừng quân giải phóng.
Mẹ kiếp, quân giải phóng ăn cướp đến đâu đồng bào chạy bạt mạng, không dám dừng lại dòm xuống dưới xem mặt quân giải phóng mồm ngang miệng dọc ra sao!
 
 
Chương 91
Tướng đầu đỏ tưởng bở
nhào vô Sè Goòng coi đã hết sức bà con ơi!

Một bữa trưa tôi mở đài Sài Gòn nghe tin tức để biết hiện giờ quân ta làm chủ được bao nhiêu phần đất của Sè Goòng rồi. Nào là Tổng Tham Mưu, Tổng Nha Cảnh Sát, Đại Sứ Quán Mỹ, đài phát thanh v.v… Nghe đài Giải Phóng nói thì ta đã làm chủ tình hình hết ráo rồi. Bỗng nghe đài phát ra một giọng mỉa mai:
… Tội nghiệp, có lẽ đây là lần đầu tiên thằng cháu bác Hồ thấy chiếc xe bình bịch. Chàng khoái quá bèn bảo ông chủ nhà mở máy cho chàng cỡi thử. Chàng ta leo lên khuỳnh tay, tưởng như xe đạp, mở hết ga tốc độ. Chiếc xe vọt như bay, cháu bác Hồ không biết tốp lại bằng cách nào, xe đụng vào tường nhà. Chàng ta vỡ sọ… há há
Tôi nghĩ như vậy quân ta cũng có vô được trong đó rồi. Nhưng mà vô tới đâu? Không nhất thiết ở giữa Sài Gòn mới có xe bình bịch.
Vừa tới đó thì có tiếng chân đi vào. Tôi ngó ra thì thấy hai người lôi thôi lếch thếch đi vào. Đó là Năm E quận đội trưởng và Sáu Hùm tham mưu trường quận đội Nam Chi. Mỗi người vác trên vai một bao con.
Từ ngày Tám Giò chết vì một quả pháo mồ côi ở Bố Heo thì chức quận đội trưởng cứ thay như thay tã. Cứ anh này lên được vài bữa là ngủm rồi anh khác lên, tới Năm E là người thứ tư. Còn Sáu Hùm là em Năm Hổ xã đội trưởng xã Phú Hòa Đông không biết tí nào về quân sự nhưng cũng bị bắt lên làm tham mưu trưởng quận cho có vị.
Tôi hỏi ngay hai người:
- Có việc gì hay đến thăm chơi vậy hai cha?
Năm E đáp:
- Lúc này ai rảnh mà đi thăm ai thầy Hai. Nghe nói thầy vừa làm được một cú ngon lành, tụi tôi đem đồ nhậu tới làm một bữa, sau đây cũng nhờ thầy phụ lực.
- Phụ lực việc gì. Tôi cũng bận lắm.
- Để nhậu ba sợi rồi hãy bàn. -Năm E trỏ hai cái bao và nói- Đây là hai bao, một bao là khô cá kèo, một bao là tôm khô Tôi ở dưới Phú Hòa Đông đóng đáy được khá lắm nên đem phơi khô để dành khi ngồi thum. Nhưng lúc này phải vớt đáy lên phơi rồi, vì tụi giang thuyền Bình Dương cứ thả rề lên rề xuống gặp tụi tôi là nó rỉa tiêu hết… Chịp…thà được làm chức D phó của anh, như Tư Quân mà còn sướng hơn là làm quận đội trưởng như tôi anh Hai à.
Tôi cười:
- Bộ anh tưởng tôi làm Dê trưởng khỏe lắm sao mà đòi làm Dê phó?
- Mệt thì cũng mệt có chập, còn làm “cu dê trưởng” (quận đội trưởng) mệt cầm canh anh ơi!
- Thì tại anh có mang thêm chữ “cu” (q) nên mới mệt.
- Từ nổ súng tới nay tôi chỉ làm liên lạc thôi chớ có chiến đấu trận nào.
Sáu Hùm tham gia vào câu chuyện:
- Đánh giặc như thầy, Bảy Nô nằm dưới sông Lòng Tào cũng mát bụng. Chỉ tội bà Út Lan một hai mươi ngoài !
Năm E ngó quanh thấy không có ai khác bèn nói:
- Tôi lên thăm anh chút, còn nhờ thì nhờ nhiều. Chiều nay nhờ anh cho một tổ trinh sát đi với tôi bố trí mấy chuyện. Sau đó, sẵn dịp tôi rước hai ông Tám Thế và Hai Thành về làm quận đội phó.
Tôi nói:
- Hôm nọ chính anh đưa trung đoàn mũi nhọn qua sông đi xuống Sài Gòn, nay bộ đưa mũi nhọn đi nữa hả?
- Không, kỳ này rước ông kẹ bự.
- Bự cỡ nào?
- Cỡ nào không biết mà thằng quận đội trưởng này phải đích thân lâm liên lạc. À quên, trong bao còn có một ít đồ hộp Trung Quốc nữa.
- Đồ hộp Trung Quốc ở đâu mà anh có được?
- Ông Sáu Hùm tham mưu trưởng của tôi đi chôm của hậu cần khu giấu trong rừng để dành cho công trường R, chớ cỡ tụi tôi làm gì có đồ quý đó . Bắt cóc nhái ăn cho có.
- Anh ở gần đường dây có nghe tình hình gì không?
Năm E lại dáo dác ngó quanh:
- Tình hình gì? Lính chạy vọt về thấy mà tội nghiệp. Tụi nó chửi bới, la lối với nhau tôi nghe lóm chớ tôi biết cái gì.
- Tụi nó la lối ra sao?
- Tụi “cứt ngựa” bảo là đảng bác đem con bỏ chợ.
- Đám Q16 đâu có vô đợt một, chỉ toàn mũi nhọn của Tư Nhựt.
- Có chớ. Tụi nó về nói giọng trọ trẹ địt mẹ địt bố om xòm tôi nghe mà. Còn mũi nhọn của Tư Nhựt thì tà ngay trận đầu -Năm E rĩ tai tôi- Năm Sài Gòn và ban chỉ huy rụm hết. Tư Nhựt nghe đâu cũng không còn.
- Trận nào?
- Tôi đâu biết trận nào! Nghe rõ càng xót ruột nên tôi làm bộ không nghe gì hết cho xong.
- Mình phải nhìn nhận sự thực chớ giấu được sao?
- Với ông tôi mới nói, ông đừng có lặp đi lặp lại, tôi sẽ chối nghen. Ông hứa đi tôi mới nói.
- Ừ, hứa thi hứa.
Khô cá kèo chiên và tôm khô ngâm dấm dọn ra. Chúng tôi vừa nhậu vừa tâm sự. Tôi biết Năm E sợ kỷ luật vì nói thật những tin tức bại trận (Bọn Việt Cộng thì bao giờ cũng la lối “đại thắng”) nên không dám nói hết. Tôi bèn phục rượu cho y. Rượu vào lời ra.
Cạn độ nửa chai đế, tôi mới quẹo chuyện vó Sài Gòn. Năm E hơi nóng mặt bảo:
- Tôi thấy lính lvịt xiêm về tới đây la lối bất mãn quá anh Hai ạ. Chúng nó nói là đánh giặc gì không biết giặc ở đâu chỉ huy lại không ra lệnh được. Tụi nó nói thấy đèn đuốc đường sá của lính Sài Gòn thì cóng tay cóng chân hết ráo. Nhiều đứa đầu hàng dữ lắm.
- Ai đầu hàng?
- Tụi Bắc Kỳ của lính ta chớ ai. Nam Kỳ cũng vậy… vừa xuống tới Phú Hòa Đông là đã có một ông dê phó cuỗm một bà y tá hay dân công gì đó trốn, dông thẳng ra Sài Gòn, làm cả cuộc hành quân phải đổi hướng. Ban chỉ huy lên ruột… Rồi khi nổ súng, một tham mưu trưởng trung đoàn đã dẫn một đại đội chạy vô Ngã Ba Hàng Xanh đầu hàng luôn (ông dê phó là Năm Hốt tự Năm Bụng dắt cô Hà y tá . Còn tham mưu trưởng trung đoàn là ông Phan Vân Xướng, cùng đi trong chuyến hồi chánh tập thể này có Bùi Thiện, Đoàn Chính, Cao Huynh, Nguyễn Long là học sinh Hà Nội bị lùa vào đường Trường Sơn Giải Phóng Miền Nam).
Tôi gạt ngang:
- Không có đâu ! Đó là tin phao đồn của tụi lính Sài Gòn để làm lính mình mất tinh thần. Sự thực trung đoàn mũi nhọn đang đánh và chiếm từng phần vô Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung là trường tân binh của tụi nó. Và hiện giờ sân bay Tân Sơn Nhất đã tê liệt hoàn toàn. Mình còn vô tới đề lao Chí Hòa thả hết tù chính trị, giết chết hết bọn cai ngục. Cái đài Sài Gòn đang nói ồm ồm là một cái đài khác ở địa điểm bí mật, chớ cái đài trước kia đã bị đám đặc công N10 đánh sập rồi. Tôi có gặp tụi thằng Tăng thằng Tẻo bên An Phú. Tụi nó thuật lại trận đánh cho tôi nghe đây mà, làm gì có chuyện đó.
Năm E thấy tôi nói lướt, khỏa lấp các mẩu tin của y thì hơi nhợn. Y cũng thừa biết tôi ở gần mặt trời hơn y, nhưng vẫn còn lải nhải chớ không im hắn. Y nói gượng:
- Ờ chắc không có lý đâu. Tụi Sài Gòn nó đồn bậy.
Tôi đổi đề tài:
- Anh nói đón ông bự nào?
- Ông già hớt cua đầu bạc trắng lần nào xuống đây cũng ghé chơi với anh.
- À tôi biết rồi.
- Cả Bộ Tư Lệnh Tiền Phương…
- Bây giờ tập họp trên R. Tôi mới gặp mấy ổng đi ngang qua đây!
- Còn một mình ổng thôi. Nay anh gặp không tài nào nhận ra. Râu dài như cụ Hồ, tóc xửng lên như bông gáo, mặt đen thui, y như thằng mọi.
Tôi ngồi im nhìn mấy thỏi khô cá kèo nằm trên dĩa. Năm E hỏi:
- Anh định kế hoạch vô đợt hai thế nào?
- Cá của ông quận đội nướng thật ngon.
Năm E cười ngất. Chắc y cho tôi say, nói lạc đề. Chớ y không ngờ tôi đang nghĩ tới tài nướng quân của bọn chỉ huy cao cấp. Chúng nó cầm que củi đút vào lò tay không biết nóng. Chúng nó rắc mớ cá kèo lên vỉ đỏ than. Những con cá còn ngáp ngáp dãy lia trước khi chết, chúng nó cũng không biết nóng.
Năm E đang uống ngon lành bỗng vỗ vế:
- Bọn Sài Gòn bảo đã bắt được xác Trần Độ hồi mình mới vô đợt một.
Tôi nhảy dựng lên:
- Hồi nào?
- Tôi nghe đài Sài Gòn nói rõ ràng mà. Nó bảo là trong ba-lô có quân hàm vàng chóe hắn hai ngôi sao. Hai ngôi sao là trung tướng phải không anh? Nhưng tôi cho là Năm Sài Gòn.
(Tôi nhớ lúc chia tay, Năm Truyện đổi ba lô bao tử trâu miền Bắc lấy ba lô Mỹ của tôi. Trong lúc soạn đồ anh có cho tôi xem cặp quân hàm trung tá của anh. Năm E nói đúng!)
Nhưng tôi vẫn hỏi gặng:
- Sao anh biết không phải là Trần Độ?
- Tôi hứa chắc với anh không phải là Trần Độ mà ! Trần Độ tên Chín Vinh phải không?
- Sao anh biết?
Năm E cười có vẻ tự đắc. Rồi y kể cho tôi nghe tại sao y chắc đó không phải là xác Trần Độ.
…. Chiều mùng Hai Tết tôi và Sáu Hùm đem ghe máy băng qua sông, lên bên Phú An cặp đường 14. Lính nhà mình đi xuống Sài Gòn dội về từng tốp, tôi gặp thiếu gì! Tôi buộc ghe máy xong đi tới chỗ hẹn ở gần ngã ba đường Đất Đỏ. Đây là công tác đặc biệt nên liên lạc hỏa tốc của ông Ba Xu đem lệnh thẳng xuống Nam Chi cho tôi, bảo đúng giờ hẹn ra đó để đón ông kẹ đưa qua sông đi xuống Sài Gòn. ông dặn tôi phải cẩn thận. Tôi và Sáu Hùm đi gần tới nơi thì Sáu Hùm nắm tay tôi lôi thụt lại, nói nhỏ:
- Lính Mỹ! Bỏ mẹ rồi!
Hai đứa nhảy tránh vào bụi. Tôi ngó cổ ló ra. Một tốp lính áo vàng lố nhố đang chỉ chỏ phía bờ sông. Ở chỗ này tụi giang thuyền cũng thường đổ bộ nằm im để chơi chúng tôi vì chúng biết đây là đường dẫn cán bộ, bộ đội qua sông. Tôi nhìn kỹ thì thấy đám người đội nón cối, mang B40, một người đứng gần chúng tôi nhìn đeo K54 quàng ngang ngực kiểu tập kết. Lại có vài ba bộ bà ba đen lẫn trong đám. Tôi bảo Sáu Hùm:
- Mấy chả đó ông nội ơi, không phải lính Mỹ đâu.
Rồi hai đứa đi tới. Một anh nón cối lùn bân hỏi giọng Bắc:
- Các anh có phải nà quận đội không?
- Dạ tôi đây! -Tôi đáp.
- Đúng dồi! -Anh kia mừng rỡ kêu lên.
Tôi cũng nghĩ bụng: Vậy là mấy cha này rồi. Anh Lùn dắt tôi đi tới trước mặt một ông to béo đang ngồi ở một mô đất nón cối trật qua một bên cổ, dây súng choàng trước ngực, cất giọng trọ trẹ:
- Trong hai anh có anh nào tên Năm E không? -ông ta vừa đứng lên vừa hỏi.
- Dạ tôi. Còn anh này là Sáu Hùm.
- Tôi lắm. Anh là quận đội trưởng Nam Chi phải không ?
- Dạ phải.
Trời đã chạng vạng, nhưng tôi còn trông rõ mặt ông to béo kia. Miệng ông ta hô kiểu bàn nạo Bến Tre, mắt lồi, mặt dài ngoẵng, trông rất xấu xí. Áo ông ta mở nút phanh ngực, tay lại cầm gậy cán ngoéo để một bên với xắc -cốt da. Quần áo ông cũng như đám người kia, ka-ki vàng loại phát cho bộ đội về Nam (cũng có đám mặc đồ cứt ngựa). Ông ta tự giới thiệu:
- Tôi thứ chín, kêu tôi bằng anh Chín. Tên tôi là Vinh, nhưng cứ kêu tôi anh Chín cũng đủ. Trường hợp đặc biệt lắm mới kêu tên tôi.
- Dạ!
- Nhờ đừng kêu tên nhé! Bí mật quân sự!
Rồi ông hất hàm hỏi:
- Các anh có được bao nhiêu ghe xuồng?
- Dạ, không có chiếc nào hết.
- Rồi làm sao mà công tác?
- Dạ, tụi này mượn của hậu cần khu, công tác xong thì trả ngay cho họ cất giấu để máy bay thấy đánh tiêu hết.
- Mỗi chiếc tải được bao nhiêu người gồm cả súng ống RPD, AK, B40, B41 ?
- Dạ, tụi em vừa chở E mũi nhọn, một chiếc được hai chục người, mình còn bao nhiêu nữa thủ trưởng?
- Suỵt! Anh Chín! Quên rồi sao?
- Dạ. Anh Chín.
Ông ta quay mặt lại anh lùn lùn, chắc là đội trưởng bảo vệ. Cả đội gồm trên dưới sáu chục lính.
Thấy ông có vẻ gấp rút, tôi bèn đáp:
- Có lẽ phải đi hai chuyến, anh Chín.
- Nghĩa là sao ?
- Nghĩa là mỗi chiếc chở mười lăm người. Mỗi chuyến đi được ba chục người. Chở tới nơi xong quay lại chở một chuyến nữa.
- Như vậy ai đi trước tới nơi phải chờ tốp sau đến rồi mới cùng đi.
- Dạ phải! Đi như vậy cho nhẹ chạy mới nhanh.
- Qua sông phải mất mấy phút?
- Dạ nếu vọt qua bên kia thì mất mười lăm phút thôi, nhưng mình phải chạy dọc theo sông, chừng mười phút thì mới đến bến lên bờ được.
- Là bao xa ?
- Dạ chừng một cây số rưỡi.
- Như vậy có an toàn không ?
- Dạ an toàn. Chúng tôi có bố trí du kích gác. Nếu có giang thuyền từ Bình Dương lên thì bắn báo động.
Ông ta giơ tay coi đồng hồ và nói:
- Bây giờ là sáu giờ, thôi đi cho sớm !
- Dạ, anh Chín không phải lo. Đến nơi, có quán anh Chín uống nước dừa tươi hoặc uống xá xị, la de, đợi tốp sau đến rồi đi tiếp.
- Vô quán lộ bí mật hết sao ?
- Dạ đây là quán của vợ con cán bộ xã bán. Lúc trước các đoàn của anh Năm Truyện, Tám Hà đi xuống đây và cũng ghé quán đó.
Ông ta vỗ vai tôi:
- Hỏi cho biết chớ tôi tin ở anh chớ!
Tôi cho mười lăm người xuống mỗi ghe. Anh Chín ngồi ở giữa chiếc sau. Tôi bảo xả hết tốc lực băng thẳng qua phía bên kia sông rồi cập bờ chạy xuống đổ bến thuộc đất ấp Phú Yên, ngay quán kinh tài xã Trung An.
Ông ta mừng quýnh đứng dậy chộp rộp làm chiếc ghe lắc lư. Anh tài công la:
- Ông gì ơi! Làm ơn ngồi xuống để lật ghe bây giờ.
Ông ta ngồi xuống, với giọng run run bảo tôi:
- Anh anh… Coi chừng hai đầu có tàu tới không ?
- Dạ không có đâu thủ trưởng. Ủa… anh Chín. Hễ có là du kích báo động ngay.
Tôi cho mấy cậu lính trước mũi bước lên và bảo:
- Các anh đi qua hai phía quán ngó chừng để anh Chín lên sau.
Ông ta bước thật dài rồi tới mũi ghe nhảy phóc lên bờ. Tôi nhảy theo và đẩy ông ta vào quán ngay.
Trời chiều, mặt trời vừa khuất. Mặt sông gợn lên những lượn sóng ngắn tấp vào bờ dồn dập. Hai chiếc ghe quay mũi trở lại hướng cũ, sóng cuộn sau lái như loài thủy quái dậy. Trông vẻ mặt nhớn nhác của ông ta, tôi trấn tĩnh:
- Ở đây dân chúng đang trúng mùa, cuộc sống bình yên lắm anh Chín à.
Ông ta ngồi lặng thinh không dám hỏi han gì hết. Có lẽ sợ lòi cọng rau muống ra miệng. Tôi hiểu vậy nên không gạ chuyện ông ta nữa, nhưng đám bảo vệ tán phét râm ran ngoài bờ dừa.
Mấy đứa con chủ nhà chạy ra dòm và cười khúc khích.
- Đám Bắc Kỳ này lại xuống oánh Sài Gòn tiếp với đám kia chớ gì ?
Câu nói của một cô bé làm ông ta nhìn tôi sửng sốt, ý bảo: vậy thì bến này lộ bí mật rồi!
Tôi khẽ xua tay ngầm đáp: không sao đâu anh Chín.
Ông ta không biết rằng nơi đây là đầu dây đưa nhiều đơn vị đi Sài Gòn rồi, nào phải riêng có ông ta. Tôi định bước ra nhắc nhở đám vịt xiêm bảo khép mỏ lại đừng có pa tăng nữa mà ông Chín teo… ruột, nhưng ông ta níu tôi lại.
- Anh ở đây có gì tôi. . . hỏi! -Rồi kề tai tôi- Kỳ này tôi đề bạt cậu lên cấp trung đoàn. Còn cậu kia là gì?
- Dạ, nó là tham mưu trưởng quận đội. -Tôi nói to lên và trỏ Sáu Hùm.
Nhưng ông ta vẫn xầm xì:
- Các cậu khá lắm. Cậu kia lên D trưởng nhé.
Thấy ông chủ quán để ý tới Chín Vinh hơi nhiều thì tôi cũng hơi ngại. Nhưng đó là cách ăn mặc của ông ta. Quân phục ka ki vàng ngoách, đầu đội nón cối, tay lại chống gậy, mang giày bố, nửa giống lính mã tà Tây, nửa pha nông dân miệt rẫy.
Thấy mấy cô gái bu tới xem, cô nào cũng mặc áo màu bằng lụa hoặc vải bông, quần lãnh láng mướt, ông ta hỏi:
- Bộ các cô là văn công đang diễn kịch ở đây à ?
- Dạ không phải đâu anh Chín. Các cô là con gái trong xóm, chiều chiều ra bờ sông hứng mát thôi.
- Sao ăn mặc như văn công vậy?
- Dạ họ ăn mặc như vậy hằng ngày chớ không phải chưng diện gì đâu.
Ông chủ quán chặt dừa nạo cho con gái đem ra mời ông Chín, ông ta vừa cám ơn vừa nhìn hàng dừa xiêm lùn trái sai oằn và hỏi:
- Dừa “bé ” sao nhiều trái quậy?
Đám con gái cười rần về cái tiếng “bé ” của ông, nhưng ông không hiểu tại sao. Bây giờ ông đã lòi đuôi rau muống rồi, vả lại. thấy bà con đối xử rất thân mật nên ông không giấu gốc gác nữa, nên cũng cười nói đối đáp với mọi người.
Tôi nói:
- – Đây là loại dừa xiêm, nó cũng già rồi chớ không phải bé đâu anh Chín.
- Thế hở? Nhưng sao gọi là dừa xiêm phải gọi là dừa ta chớ.
- Dạ xưa nay bà con vẫn gọi đó là dừa xiêm, còn dừa ta thì to trái, nước không ngọt.
Ông Chín uống nước dừa xong bèn bước vô quán. Ông chủ nhà kêu con gái lấy bao thuốc Capstan để trên dĩa đem tới đặt lên bàn mời khách. Thấy có hộp quẹt Zippo để trên bao thuốc, ông Chín hỏi:
- Chiếc bật lửa này mua ở đâu vậy ông chủ quán?
- Dạ, ở đây có bán thiếu chi!
- Thế à? Tôi tưởng là hàng hiếm lắm chứ.
Tôi đỡ lời ngay:
- Dạ, quán nào cũng có bán hết, anh Chín ạ !
- Vậy mua cho tôi vài cái nhé , được không ?
- Dạ, hiện giờ tôi chỉ còn có bốn cái thôi! -ông chủ quán tiếp.
- Vậy để bận về hãy mua anh Chín ạ. Mua bây giờ mang cho nặng chớ ích lợi gì !
- Sợ người ta mua hết.
. Dạ không, thứ này quán cóc nào cũng có bán hết mà!
Ông chủ quán tiếp:
- Tôi mới bán cho bộ đội xuống đường hết hai lố một lúc.
- Vậy ông chủ để dành cho tôi mười chiếc, lúc trở về tôi lấy nhe!
Ông uống hết ngụm nước dừa rồi chép miệng khen:
- Nước dừa ngọt như pha đường ấy. Tôi chưa bao giờ nếm nước dừa tuyệt vời như thế. Xã này là xã gì thế anh E?
- Dạ xã Trung An, quận Củ Chi. Nhưng bây giờ Củ Chi chia đôi thành Nam Chi, Bắc Chi. Trung An thuộc Nam Chi. Còn bên kia là Phú An thuộc quận Bến Cát. Chút nữa mình sẽ qua đường số 8 thuộc quận Hóc Môn.
Tôi mở bao thuốc mời ông và quẹt Zippo, ngọn lửa bật lên xanh lè gió thổi mạnh mà không tắt. Ông rít mấy hơi và khen:
- Thuốc ở trển khét quá, đây mới thiệt là thuốc thơm.
Rồi ông đi quanh quán hết nhìn kệ này đến kệ khác. Đến chỗ treo bình toong dây thắt lưng Mỹ vải dù, ông hỏi:
- Ở đây cũng có bán các thứ này à ?
- Dạ thiếu gì! Hễ có tiền là mua được. Trong chợ Bắc Hà bán còn nhiều hơn. Từ ngày xuống đường, loại này bán càng chạy hơn.
Ông bảo chủ quán:
- Lây hết xuống đây, tôi mua phát cho các cậu kia.
Ông lại trỏ mấy chiếc khăn trong hộp bảo chủ quán lấy ra cho ông mua luôn phát cho các cậu mỗi người một cái để làm kỷ niệm. Thấy mấy chục hộp sữa con chim lăn lóc trong góc tủ, ông hỏi:
- Sữa này có để dành cho trẻ con không? Để tôi mua luôn. Các cậu bỏ trong ba lô, khi cần thì dùng thay cơm cháo. Ơ kìa, lại có sữa Hòa Lan hộp nhôm nữa cơ. Mua hết cả cho tôi. Ối giáo! Lạ i có có cà phê, bia, rượu Tây nửa cơ à ? Để bận trở về mình ghé làm một chầu túy lúy chú E nhé, rồi hãy sang sông về trên đó.
- Bên Củ Chi cũng có thiếu chi, ông Chín.
- Thế à! Tôi xuống đồng bằng lần thứ nhất nên trông lạ quá. Sao một cái quán nhỏ bằng bụm tay thế này mà món gì cũng có. Lạ thế?
- Dạ ông Chín mua máy đuôi tôm, máy hút nước cũng có. Đưa tiền buổi sáng, buổi chiểu có máy về tới nhà.
Ông Chín còn đang vui chuyện thì tôm khô, củ kiệu, khô mực và la de nước đá đã dọn ra. Ông chủ quán vui vẻ mời:
- Ông Chín làm một ly ấm bụng rồi lội tiếp.
- Kìa, nướng khô bằng gì mà nhanh thế?
- Dạ trong cái dĩa nhôm kia. Chỉ cần chút rượu thôi!
Chuyến sau đã tới. Mũi ghe lướt lên bờ. Ông Chín bảo chủ quán kiểm điểm các món hàng tính tiền. Nhưng tôi nói:
- Đó là quà của anh Ba chủ quán biếu anh em đó anh Chín. Không có lấy tiền đầu… Tôi nói thiệt mà.
Ông Chín rất dỗi ngạc nhiên. Tôi tiếp:
- Anh Chín muốn mua món nào thêm, tôi sẽ bảo chị Ba đi mua, chuyến về sẽ có đủ.
Trời sẩm tối hai đội hợp nhất tiếp tục hành quân. Tôi bảo Sáu Hùm đi trước với một tổ tiền vệ còn tôi đi bên cạnh ông Chín.
Ông có vẻ cảm động và ngạc nhiên về cuộc tiếp xúc với dân quê Nam Kỳ mà ông cho là lẩn đầu tiên. Đi được một quãng, tôi trỏ tay vào phía vườn, nói:
- Ông tham mưu phó khu nằm ở đó anh Chín, ở trong rẫy
- Sao vậy?
- Dạ, ổng đi nghiên cứu đánh tàu, chẳng may bị lính giang thuyền bất ngờ đổ bộ bắn chết. Mà cũng không biết là tham mưu phó khu.
- Ai vậy?
- Dạ, nghe nói ông là anh hùng đánh sân bay Biên Hòa.
- Hừ! Đánh tàu, chưa đánh, lại bị tàu bắn…
Hai anh du kích xã Trung An dẫn đầu dừng lại, ra lệnh cho đoàn phải lột giày để lội sình và qua cầu khỉ.
- Cầu khỉ là cầu gì? -ông Chín hỏi.
- Dạ, cầu khỉ là cầu khỉ.
Mấy ông Bắc Kỳ con phản đối không chịu cởi, cứ để nguyên giày mà đi, tôi lôi Sáu Hùm ra sau nói nhỏ:
- Chốc nữa gặp khúc đứt mày chịu khó cõng ổng qua giùm.
Sáu Hùm vùng vằng:
- Ổng mập phệ như vậy, ai cõng cho nổi.
- Cậu xem có mấy đứa bảo vệ toàn là con nít đẻn, vác AK còn rệt bệt, làm sao cõng nổi. Coi vậy chớ không nặng lắm đâu. Tại sao mày biết không?
- Tại sao?
- Ổng ăn toàn rau muống không hè!
- Thôi đi cha nội!
- Đây là nhiệm vụ của mình mà!
- Nhiệm vụ là dắt đường chớ đâu phải cõng.
- Tao nghe Hai Lôi nói ở trên R các cha lớn di chuyển toàn bắt lính cõng như quan đi kiệu nghe mậy. Thậm chí mấy bà phu nhơn ngoài Hà Nội vô trong R thăm phu quân họ cũng bắt lính khiêng.
Chợt thấy chòm cây lù mù và nhà ngói tường vôi bên phía trái, ông Chín hỏi:
- Đó là đâu vậy ?
- Dạ đó là ấp Cầu Lớn, còn cái vết trắng trắng đó là chợ Phú Hòa Đông. Dân cư đã bỏ đi ra ấp chiến lược hoặc ra đường số 8 ở hết rồi.
- Mình không vận động họ về được sao ?
- Dạ, họ sợ bom đạn nên trốn đi.
Tới một cái rạch có cầu ván bắc qua mà không có tay vịn, ông lại hỏi. Sáu Hùm đáp:
- Đây là rạch Cây Da vì có cây da đứng bên mé rạch. Còn cái nhà kia bỏ trống vì chủ nó là một thằng du kích vừa đi chiêu hồi.
Ông Chín giật mình hỏi:
- Nó có đem tin gì cho giặc không?
- Dạ vợ nó đẻ trong này không có mụ nên ra ở nhờ mụ săn sóc chớ không hợp tác với giặc.
- Vậy là tốt.
Đi một quãng nữa tới đường đê bị trúng đạn pháo đứt nhiều nơi, trời mưa và nước lụt làm hỏng nhiều đoạn phải lội mới qua được. Nhiều cậu bị tuột mất giày kêu la oai oái. Nhiều cậu rút kinh nghiệm cởi giày máng trên cổ lội qua.
Ông Chín dừng lại ở mép bờ chờ tôi đến. Tôi bảo Sáu Hùm giúp đỡ. Sáu Hùm cực chẳng đã phải đưa lưng làm ngựa cho ông Chín cỡi. Tay ông cầm gậy, lưng ông đeo súng, ống dòm, bình toong lục cà lục cục đủ các thứ đều chất trên lưng anh tham mưu trưởng quận đội Sáu Hùm.
Tôi biết nó không khoái lắm, nhưng không thể thối thoát. Nó phải cõng ông già Chín qua bốn, năm khúc đứt. Tưởng đã được yên thân nào dè tại đụng con rạch lớn nhất trong mấy con rạch đổ ra sông Sài Gòn vùng này. Nhịp giữa là một thân cau, nó lăn qua lăn lại. Tuy có tay vịn nhưng ai không quen đi cầu khỉ sẽ rơi. Bằng chứng là mấy cậu Bắc Kỳ rơi lõm bõm xuống nước. May mà nước ròng, chớ nếu nước lớn ắt có kẻ chết chìm.
Ông Chín tới chống nẹ hỏi:
- Rạch gì thế này ?
- Dạ Rạch Kè.
- Còn cầu gì?
- Dạ cầu khỉ.
- Rạch Kè thì cầu Kè chớ sao cầu khỉ. Cầu khỉ gió không tay vịn, nhịp cầu lại lắc lư thế này làm sao đi? Anh đùa với tôi đấy à?
- Dạ không! Đó là cầu khỉ thật.
- Làm sao bộ đội vác súng lớn qua cầu được?
- Dạ được chớ ạ. Đó là nhờ họ đi quen. Đẻ ra đã đi cầu khỉ rồi, lớn lên cũng đi cầu khỉ đi bộ đội cũng đi cầu khỉ nên nhiều người đi khỏi cần tay vịn.
- Cậu bố láo!
- Dạ thưa anh Chín em nói thiệt. Không tin anh Chín lên lưng em cõng qua cho coi!
Ông Chínt chống nẹ ngó xuống dòng sông lởm chởm những gốc cừ ló lên mặt nước, ông hỏi:
- Cái gì giống hầm chông thế kia?
- Dạ đó là những chân cầu cũ trước kia, gãy không xài được nữa.
- Anh có chắc cõng tôi được không ?
- Em đi cầu khỉ hồi má em bồng em mà. Lớn lên em bò qua cầu, lớn chút nữa em đi. từ đó ngày nào em cũng đi. Em đi cầu khỉ trên ba mươi năm rồi, anh không tin em sao .
- Không khéo ngã xuống cây đâm thủng bụng.
Sáu Hùm biểu diễn một màn đi cầu khỉ với một người nằm trên lưng đeo cả bình toong, ống nhòm, súng đạn và cả cây gậy ngoéo nữa. Đám bảo vệ đứng xem như xem xiếc, đứa hoan hô, đứa hít hà sợ thủ trưởng lăn xuống rạch.
Sáu Hùm danh bất hư truyền, chân anh ta bước vững từng bước. Bàn chân đặt ngang thân cau tròn, hai tay ôm mông anh Chín, hễ thân cau lăn qua trái thì thân anh nghiêng qua phải để lấy thăng bằng (có lẽ không kém gì nghề đi dây của bác Hồ giữa Liên Xô và Trung Cộng), từng bước, từng bước anh đem cái thân phì nộn của ông Chín qua tới mút nhịp giữa, nhưng khi tay anh vừa vịn đầu cọc để bước xuống nhịp chót không có tay vịn, Sáu Hùm bảo ông Chín ôm chặt để nó chạy xuống đầu cầu thật nhanh. Chỉ còn cách một bước nữa là tới bờ thì hai thầy trò lại rơi tòm xuống nước. Hai người sợ nước trôi đeo chắc chân cầu. May quá không ai bị thương. Đám cận vệ phải nhảy xuống giúp sức thủ trưởng mới bò lên. Ông Chín nhận khuyết điểm ngay:
- Tại tôi. Tại cây cù ngoéo của tôi, nó móc ở trụ cầu giật ngược lại nên mới bổ nhào xuống sông, chớ không phải tại chú Hùm trật chân. Thôi được, tôi sẽ thưởng chú huân chương giải phóng và thăng chú lên cấp tiểu đoàn bậc trưởng.
Cả đám cận vệ thích thú phụ họa mỗi đứa một câu:
- Thích nhỉ, qua một cây cầu “khí gió ” mà bằng đánh Mỹ cả chục trận.
- Tớ sẽ học đi cầu khỉ mới lập công được!
Ông Chín ngồi thở dốc, cho phép cả đoàn hút thuốc nhưng phải che lửa thật kỹ. Ông thân mật hỏi tôi:
- Còn cầu khí gió nào nữa hết anh Năm ?
- Dạ, còn một cái nữa, nhưng ít nguy hiểm hơn cái này.
- Một ngàn năm tôi còn nhớ “Rạch Kè “.
- Qua cái kia là tới ấp Bàu Trâm, chỉ đi trên giồng cát.
Vào được trong ấp hy vọng tìm nhà nghỉ ngơi, nhưng dân đã bỏ nhà đi từ hôm súng nổ tới nay. Nhà không vườn trông lạnh lẽo rợn người. Phải vọt luôn. Từ Bàu Trâm qua ấp Nhà Việc phải qua một xóm nhà đông độ một trăm nóc. Rồi lại qua một cánh đồng vài trăm thước mới tới Đồng Mả. Đây là cánh đồng mả loạn hay đồng ma cũng thế. Giữa đêm mà ngồi giữa cánh đồng này chẳng khác ngôi giữa đám oan hồn. Vậy mà hai anh du kích bảo cả đoàn dừng lạ đây để họ vô xóm bắt liên lạc với du kích Bình Mỹ. Tôi coi đồng hồ: tám giờ. Đáng lẽ chỉ mất bốn mươi lăm phút mà đội bảo vệ ông Chín hành quân một hai tiếng đồng hồ. Tôi lại đến bên ông Chín rù rì xin lỗi việc lộn mèo xuống sông. Ông cười vui vẻ:
- Không sao! Tại cầu khỉ lại gặp cây gậy khỉ nên mới làm trò khỉ!
Rồi ông hỏi tôi có rành đường xuống Bình Mỹ không ?
- Dạ rành. Tôi đã từng làm D phó của D2 Gò Môn. Bắt đầu qua khỏi đường sô 8 thì toàn lội sình, không có đường mòn, bộ đội nấu cơm bằng rề sô, anh nào cũng thối hết móng chân. Dân di chuyển toàn bằng xuồng. Phải qua Rạch Tra lớn bằng ba Rạch Kè, giao liên chỉ có xuồng con, mỗi chiếc chở năm, bảy người.
- Vậy một trung đoàn làm sao hành quân?
- Dạ, tôi không rõ.
Ông Chín thở dài, rồi hỏi:
- Đồng Ma chôn những ai mà nhiều mả thế?
- Ở Củ Chi cũng có Đồng Mả, chôn toàn tín đồ Cao Đài bị mình biết hồi cách mạng mới nổi lên.
- Mình là ai?
- Dạ, mình là Việt Minh. Cụ thể là Hai Bứa, Ba Tô Ký. Hồi đó tôi còn nhỏ, nghe nói là mấy ông xỏ xâu cả dọc người đem ra đồng đào lỗ bắn rồi lấp đất. Những người chưa chết rống lên ban đêm; cách hai ba cây số còn nghe. Không biết Đồng Mả này có giống Đồng Mả Củ Chi không ?
Ông Chín ngồi lặng thinh. Bỗng mấy cậu bảo vệ tới báo cáo có tiếng người tới gần. Ông Chín bảo quan sát cho kỹ.
Chập sau, các cậu lại trên báo cáo tiếp:
- Dạ thưa anh Chín, lính của mình.
- Lính mình ở đâu đây?
- Dạ, họ đánh Sài Gòn về.
Ông Chín đang hút thuốc bỗng đánh rơi điếu thuốc, kêu lên một tiếng thất thanh:
- Hả?
Cậu bảo vệ nói tiếp:
- Dạ, lính mình thật, một tốp năm người lôi một người bị thương nặng vừa mới chết. Chúng em tiếp với họ đào lỗ dập.
Ông Chín kêu lên và vùng đứng dậy nhớn nhác, miệng kêu ư ử không ra tiếng gì. Hồi lâu mới bảo:
- Cậu nói lại nghe xem nào ?
- Dạ thưa anh Chín, lính mình đi Sài Gòn về. Một người bị thương chết. Bốn người kia đào đất dập. Tụi em vừa giúp sức với họ. Họ nói họ thuộc sư đoàn 304 ngoài Bắc vào.
Ông Chín lại kêu “hả hả ” cả chục tiếng liền.
- Trời ơi! 304, sư đoàn của tôi làm chánh ủy. Sao tụi nó lạc loà i chết vùi dập như vậy hả ?
- Dạ, em không biết. Em chỉ nghe chúng nó nói thế.
- Chúng nó đâu rồi?
- Dạ, chúng nó còn gục đầu trên cái mộ đất mới đằng kia. Để em bảo chúng nó tới trình diện anh Chín và nhận lệnh của anh Chín.
Ông Chín xua tay trong bóng tối như tìm một cái gì.
- Để tôi đến trình diện chúng nó. Trời ơi! Những thằng lính của tôi sao vô đây chết vô danh nhục nhã thế này. Tôi đã đem con tôi bỏ chợ.
Rồi ông Chín lọm khọm bước tới, như không còn đủ sức lê tấm thân của ông nữa. Ông vừa đi vừa khóc, nhưng cố nén tiếng rống trong cổ họng nên nó thành tiếng hục hục như cổ họng ông sắp bể ra.
… . Bỗng thình lình ánh chớp sáng lòe, đi theo tiếng nổ long trời lở đất. Xè xè xè, ầm ồm ầm, tiếng pháo 175 cực nhanh của Đồng Dù.
Tôi quen tụ i này như cơm bữa. Ngày nào đêm nào không đội dăm quả ăn cơm không ngon. Không của Đồng Dù 175 thì của trung Hòa 105, không của Trung Hòa thì của Bình Dương 155, của Chà Rầy 105 và 155, của Trảng Bàng 105, không khi nào yên.
Tôi đè ông Chín nằm xuống và lôi mấy cậu cận vệ phủ lên. Dứt loạt tôi lại hỏi:
- Anh Chín có sao không?
Rồi kế loạt khác. Từ Tết tới nay các khẩu đều bắn chụm về phía này để chặn hành quân của ta xuống Sài Gòn. Tôi tìm một mả đá ong lôi ông đến, đè ông xuống một trụ đá Chúng giã rời rời, không kéo dài nhưng không dứt loạt nên không dám chạy mà chỉ nằm bẹp dí đưa lưng cho chúng giã.
Bỗng một tiếng kêu lên:
- Thầy mẹ ơi! Chết con rồi!
Ầm ầm ầm! Đất đá miểng đạn rơi lạch bạch, đi veo véo. Khói thuốc khét lẹt cả mũi.
- Sao không nghe tiếng đề pa ?
- Dạ đạn nổ rồi mới nghe anh Chín ạ!
- Pháo gì lạ thế?
- Dạ loại cực nhanh.
Dứt một loạt tôi bảo:
- Từ nãy giờ mình bị Đồng Dù và Trung Hòa. Coit chừng pháo Bình Dương, thành pháo thủ cách mình chỉ sáu cây số thôi. Nó có 105 lẫn 155 nhưng không phải cực nhanh.
Tôi vừa dứt tiếng thì nghe cụp cụp… ầm ầm.
- Ở đâu mà nổ gần thế?
- Dạ nó bắn ở cánh đồng mình vừa qua.
- Sao nó lại bắn giữa ruộng?
- Dạ, tụi nó chận đường giao liên của mình. Có một anh D phó của mình trên đường xuống Sài Gòn cặp với một cô y tá dông ra Sài Gòn (Năm Bụng và nàng Thu Hà) và mới đây có một anh E phó dắt nguyên một C đi chiêu hồi (Phan Văn Xướng và Đoàn Chính, Cao Huynh, Bùi Thiện, Nguyễn Long. . . ).
- Bỏ mẹ rồi!
Ông Chín kêu lên nột tiếng thật thanh. Tôi tưởng như trông thấy nét mặt xám ngắt của ông. Hồi lâu ông mới nói:
- Sao ông Ba Xu không báo cáo gì với tôi hết. Như vậy thì chúng nó biết tôi xuống đây rồi. Trở lại mau, trở lại mau.
Cậu đội trưởng bảo vệ báo cáo tiếp:
- Dạ có hai cậu hy sinh, bốn cậu bi thương.
- Các cậu giải quyết lấy! -rồi quay lại tôi- Trở lại, trở lại mau.
Tôi nói:
- Anh Chín đi với Sáu Hùm, để tôi ở lại đi tìm du kích giải quyết thương binh tử sĩ.
- Không được. Cả hai phải đi với tôi và một nửa đội bảo vệ Một nửa ở lại giải quyết thương binh tử sĩ.
Tôi phải nghe lệnh ông ấy, hộc tốc trở lại đưa ông về điểm phát xuất hồi chiều. Kết quả một cuộc hành quân, Đồng Mả thêm mấy cái mả và ông tướng biết thế nào là pháo cực nhanh.
Câu chuyện trên đây do quận đội trưởng Năm E kể lại cho tôi nghe, đến nay đã gần ba mươi năm mà tôi vẫn còn nhớ nguyên. Tội nghiệp, sau chuyến đi đó, Năm E lẫn Sáu Hùm bị xe tăng càn chết ở Phú Hòa Đông, không kịp lãnh lon lãnh gáo lớn nhỏ để đeo với người ta.
HẾT QUYỂN V
 
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»