📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lam Y Nữ Hiệp - Tề Phong Quân 🔒

47 trả lời, 5.574 lượt xem — Trang 1 / 2
Lam Y Nữ Hiệp
Tác giả: Tề Phong Quân
Dịch giả: Trường Giang Mạnh Vũ
Nguồn: nhanmonquan
 

Lời nói đầu
 
LAM Y NỮ HIỆP là một phần truyện trong Giang Hồ Kỳ Văn, miêu tả cuộc đời chiến sĩ giang hồ của nữ hiệp kỵ phách áo lam Chu Tú Anh dưới thời Vĩnh Lạc vương, tức vua Thành Tổ triều Minh
Nàng là người Hoa Bắc, sanh quán thuộc Tề Nam phủ, tỉnh Sơn Đông cùng bào huynh là hiệp khách Đơn Đao Chu Đức Kiệt, du hành xuống Giang Nam, Giang Đông.
Trong cuộc du hiệp đó anh em nhà Chu gia ra tay cứu độ dân lành, diệt trừ tham quan ác bá, trổ công phu võ thuật trong nhiều trận ác chiến vô cùng rùng rợn, đem phần thắng về cho Công lý
Giang Hồ Kỳ Văn vốn là một pho võ thuật trường thiên được các độc giả trung quốc ham chuộng từ năm. Tiếc thay, sau thời chiến tranh Trung Nhật bổn chánh của pho võ thuật quí báu này bị thất lạc một phần thứ nhất viết về gia đình họ Chu ở đất Sơn Đông và hai nhân vật Chu gia tại đất Sơn Đông và hai nhân vật Chu gia này kể từ lúc khởi luyện tới kinh thành tài và nổi danh ở Bắc Hiệp
Chúng tôi hiện đang sưu tầm tiếp tục hoàn tất pho Giang Hồ Kỳ Văn để lần lần sẽ cống hiến bạn đọc. Không lẽ hữu thư vô truyền, vậy nên cho in trước tập LAM Y NỮ HIỆP để độc giả thưởng lãm trong buổi trà dư tửu hậu.
TRƯỜNG GIANG MẠNH VŨ.
VÀI HÀNG GIỚI THIỆU.
Trước đây, chúng tôi có ấn hành pho truyện LÃ MAI NƯƠNG.
Quí vị đã đọc LÃ MAI NƯƠNG, hẳn QUÍ VỊ đã thích thú câu chuyện giang hồ hiệp khách hấp dẫn của tác giả Tề Phong Quân; đã say mê lời dịch lưu loát, truyền cảm của; đã vừa lòng đẹp ý lối trình bày sáng sủa của Nhà xuất bản Thế kỷ.
Nay chúng tôi xin tiếp tục cống hiến QUÍ VỊ một tác phẩm thật hay, cũng của tác giả Tề Phong Quân và dịch giả, một bộ truyện giang hồ võ thuật kỳ tình của Trung Quốc dưới triều Minh thành tổ. Đó là LAM Y NỮ HIỆP
Đọc LAM Y NỮ HIỆP để biết tài nghệ thuật tuyệt luân của các nhân vật sau:
1. ÂU DƯƠNG BÍCH NỮ - sư tổ sáng lập của Thiếu Lâm bắc phái (phái của Cam Tử Long trong truyện LÃ MAI NƯƠNG)
2. Đơn Đao CHU ĐỨC KIỆT, có đường kiếm Chu gia lưu truyền, sư tổ của phái Côn Luân
3. Lam Y nữ hiệp Chu Tú Anh, sư tổ sáng lập của phái Nga Mi sơn
Đọc LAM Y NỮ HIỆP để tìm hiểu cây kiếm báu của thời Xuân Thu, và hậu quả đau thương của người luyện kiếm Trảm Thư Hùng và Trảm Lư Hùng, đã bị Sở Bình Vương giết chết hòng giữ bí mật về thuật luyện kiếm báu...
Với nội dung phong phú, trình bày đẹp đẽ, lại thêm nét thần tình của chính dịch giả tô điểm các phụ trang chúng tôi tin rằng LAM Y NỮ HIỆP sẽ không phụ lòng Quí vị đã chiếu cố.
Kính.
Nhà xuất bản thế kỷ
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-02-19 07:46:35casau>
Hồi 1
Trấn Giang thành, Tham Hoa Quỷ lộng quyền cha cợt gái
Dương Tử giang, Đàm đề đốc mừng quốc khánh duyệt binh
 
Kể từ đời Chu Nguyên Chương đánh đuổi giặc Nguyên Mông Cổ thâu phục lại sơn hà Hán tộc, lập quốc lấy hiệu Minh Thái Tổ, thì năm nào cũng vậy, cứ tới rằm tháng Giêng là ngày Thái Tổ thể quốc, toàn thể Trung Hoa từ thành thị tới thôn quê đây đâu cũng đại hội hoa đăng mừng ngày quốc khánh.
Toàn dân nhà nào cũng yên tiếc ca múa xênh xang, treo đèn kết, cờ xí tung bay muôn hồng ngàn tía trước gió xuân tươi. Thêm vào đó, mọi người còn đang ngây ngất về tết Nguyên Đán, các tiết liên gian nhân thế được kéo dài, tưng bừng náo nhiệt vô cùng.
Tài tử giai nhân dập dìu, ngựa xe như nước, làn sóng người cuồn cuộn trên các ngã đường hướng về những nơi có chùa chiền miếu tạo dâng hương rằm tháng Giêng, trước là cầu phúc sau là dự các cuộc vui chơi buổi xuân về.
Từ mọi nơi xa gần, những tay giang hồ tài tử mãi võ cũng nhân dịp này kéo về các thị trấn phô diễn tài nghệ kiếm tiền thưởng đầu năm của khách nhàn du.
Thực khách đông nghẹt tửu quán, trà đình tiếng cầm ca vang vọng chốn ca lâu.
Thị trấn Trấn Giang, thủ phủ của đất Giang Tô, trên bến dưới thuyền, dân cư đông đảo, tấp nập phồn thịnh, nhà nào cũng chăng đèn lết hoa màu sắc lung linh.
Từ ngọn Giang Đầu sơn nhìn xuống, toàn thể Trấn Giang như là một thành hoa muôn sắc, nhất là dinh quan Thủy sư Đề đốc và quan Tổng trấn, ngoài đèn kết hoa treo còn muôn ngàn cờ xí tung bay trước gió.
Trên hai vọng lầu cao ngất, phấp phới hai lá cờ cực lớn. Cờ bên Thủy sư Đề đốc màu xanh chữ đỏ đề ba đại tự “BÌNH THIÊN HẠ”. Cờ bên Tổng trấn màu đỏ chữ kim tuyến lóng lánh “ĐẠI MINH VẠN TUẾ”...
Thủy sư Đề đốc Trấn Giang, họ Đàm tên Bá Phúc, là cháu đích tôn của Đàm Bá Thành một vị công thần theo Minh Thái Tổ từ lúc mới bắt đầu khởi nghĩa có công đại phá thủy quân Nguyên triều...
Sẵn có dòng máu trung nghĩa trong huyết quán, Đàm Bá Phúc là một tay lương đống triều Minh, lãnh trọng trách xuất mặt thủy tại Trấn Giang trên cửa sông Dương Tử, được quần thần kính nể. Tánh tình cương trực liêm khiết khoan dung nên binh tướng và toàn thể Trấn Giang rất trọng mến...
Trái lại với Đàm Bá Phúc, quan Tổng trấn họ Dương tên Trường Hỷ cậy mình là cháu vợ Thái sư Trần Chí Hòa, thường hành động khiến dân chúng phải ca thán...
Dương Trường Hỷ thấy Đàm Bá Phúc được mọi người kính mến thì có ý ghen tị, bởi vậy tuy là bạn đồng liêu, nhưng hai người không ưa nhau. Trừ những buổi gặp mặt công khai vì lẽ công vụ, họ không hề cùng nhau giao hảo với tư cách bạn đồng triều.
Thật ra thì tư cách Dương Trường Hỷ không đến nỗi nào nếu họ Dương không bênh đứa con quá lộng hành.
Nguyên quan Tổng trấn hiếm hoi, năm ấy đã trên 50 tuổi mà chỉ sanh được hai đứa con, một trai là Dương Tấn Đình, một gái là Dương Mỹ Vân nên vợ chồng Dương Trường Hỷ quí báu nuông chiều vô hạn.
Dương Tấn Đình được nương chiều quá đỗi thành ra lêu lổng ngay từ bé, không chịu học hành quen sống trong gấm lụa núi vàng đồi bạc xa hoa của hạng kim chí ngọc điệp nên đã biết mê luyến chơi bời ra vào nơi ca kỹ từ năm tuổi.
Hiếm con muốn có cháu sớm, vợ chồng Tổng trấn cưới vợ cho Dương Tấn Đình từ năm y 18 tuổi. Nhưng Dương Tấn Đình trác táng sớm nên cũng không đẻ chi cả. Tới năm 23, Tấn Đình nạp thêm hai tỳ thiếp nữa cũng vẫn không có con.
Tuy đã có tới ba bà vợ, Dương Tấn Đình mau chán, mặc vợ ở nhà phòng khuê lạnh lẽo, ngày đêm mải miết truy hoan, tụ tập một số thanh niên công tử đồng hạng và một bọn vệ tướng, tên nào cũng như hùm beo lang sói, ra đường hễ thấy phụ nữ nào sắc đẹp vừa ý là trêu ghẹo, bắt đi gian dâm hãm hiếp cho kỳ được mới hả lòng.
Cái trò quan lớn thế dư lực đủ, tiền vung như rác nên có lắm kẻ a dua xu nịnh, Dương Tấn Đình lại càng vênh vang tự đắc coi trời bằng vung không biết kiêng nể ai hết.
Hơn nữa, Dương phu nhân thương con, việc gì cũng che đậy giấu diếm. Dương Trường Hỷ thấy con tụ tập bạn bè, vệ tướng đông, lúc nào ở nhà thì lại hoa côn, múa đao quyền cước ra sức đua tài, yên trí rằng Dương Tấn Đình ưa chuộng võ nghệ nên cũng mặc không để ý tới. Chỉ khổ dân chúng bị quấy nhiễu chịu muôn cay ngàn đắng mà không dám hé miệng kêu vang nơi đâu.
Gia đình nào có vợ, con bị Dương Tấn Đình giam hãm biết điều chịu nhục im miệng thì không sao, nhưng người nào khẳng khái vào đơn khởi tố thì trước sau lá đơn cũng tới tay Dương Tấn Đình, vì lẽ các quan hạ thuộc đều được “Đại công tử” mua chuộc.
Thế là Tấn Đình phái bộ hạ đến tận nhà hỏi tội, đánh đập có khi tới vong mạng hay mang tội lao tù cũng chưa biết chừng.
Bởi vậy ở Trấn Giang, ai cũng gọi Dương Tấn Đình là “Tham Hoa Quỷ”, nghĩa là thằng quỷ hiếu sắc.
Hằng ngày tụ tập với Dương Tấn Đình có mấy thanh niên trạc tuổi ấy như Hoa Tử Năng, con của Hoa tham tướng, Diệp Phước Hoa, Huỳnh Việt Ấn là con hai tay cường hào, tiền của như nước ở Trấn Giang.
Còn một tên nữa ăn ở liền trong phủ Tổng trấn với Dương Tấn Đình, nhất nhất đều do Tấn Đình và Hoa Tử Năng, Diệp Phước Hoa, Huỳnh Việt Ấn bao, thân hình gầy ốm mặt chuột mắt ti hí, tên là Tạ Kỳ Quang chuyên môn nịnh hót.
Hắn thường la cà chỗ nọ chỗ kia, hễ thấy nơi nào có phụ nữ đẹp là về hót với “Đại công tử”, làm quân sư bày mưu hiến kế gian đoạt.
Ở Trấn Giang ai nấy đều ghét tên thầy dùi này nên đặt tước hiệu cho y là Trư Diện Thử.
Chính Trư Diện Thử đã tìm ra bốn vệ sĩ giới thiệu cho Tham Hoa Quỷ Dương Tấn Đình.
Tên thứ nhất là Ngô Định, biệt hiệu Trường Vĩ Thử, quen dùng cây côn bịt đồng.
Tên thứ hai là Triệu Quang Tân, biệt hiệu Thanh Mao Thử, thiện dùng cặp roi.
Tên thứ ba là Mai Quí, biệt hiệu Bạch Túc Thử, dùng đoản đao.
Tên thứ tư là Phàn Thuận, biệt hiệu Phong Hỏa Thử, thiện dụng cây đoản phủ.
Cả bốn tên dương dương tự đắc, cậy thế Đại công tử không coi ai ra gì cả. Chúng họp với Tạ Kỳ Quang thành năm người rất đắc lực cho Dương Tấn Đình nên người Trấn Giang gọi chúng là Dương gia ngũ thử.
Bọn Dương Tấn Đình, Hoa Tử Năng và Diệp Phước Hoa còn chung tiền lập một ngôi tửu lầu ở ngay mé sông trang nhã nhất Trấn Giang, đặt tên Xuân Phong quán.
Hàng ngày, chúng kéo nhau tới đó chè chén. Mỗi khi bắt được phụ nữ nào thì chúng đưa ngay xuống thuyền chở, ra mé sau Xuân Phong quán đưa lên ở tầng lầu trên hành lạc.
Từ khi Xuân Phong quán được thành lập, Dương Tấn Đình ủy cho Tạ Kỳ Quang làm quản lý và ở liền đó.
Tuy Xuân Phong quán trang nhã lịch sự thật nhưng người Giang không một ai tới đó ăn uống, sợ cháy thành vạ lây, vả nên họ cũng không ưa họ Dương. Cho nên tại đây khách hàng phần nhiều là những người từ xa đến.
Trái lại với anh là Dương Tấn Đình, Dương Mỹ Vân năm ấy tuổi thùy mị đoan trang, nàng đẹp dịu dàng, dáng mặt tiểu thư khuê các, suốt ngày may vá thêu thùa bên mẹ.
Dương phu nhân tuy buồn về con trai bất tử, nhưng thấy Dương Mỹ Vân ngoan ngoãn hiền lành thì cũng đỡ phiền muộn được phần nào.
Những lộng hành của Dương Tấn Đình, Đề đốc Thám Bá Phụ đều được biết rõ, nên định bụng sẽ cho chúng một bài học hay nếu chúng động tới nhân viên bên phủ Thủy sư Đề đốc.
Nhưng theo lời khuyên của Tạ Kỳ Quang, không bao giờ Dương Tấn Đình động chạm với người bên phủ Thủy sư cả cho nên họ Đàm cũng không thể căn cứ vào lẽ gì trừng phạt Dương Tấn Đình.
Theo niên lệ, sáng hôm quốc khánh, có cuộc thao diễn thủy quân trên Dương Tử giang.
Suốt mé sông dọc thành Trấn Giang, cờ xí cắm ngập trời, dân chúng kéo ra bờ sông coi cuộc biểu diễn rất đông đảo.
Quan Thủy sư Đề đốc, quan Tổng trấn và các hàng tướng tá phụ cận đứng cả trên nhà thủy tạ có chiếc nhu kiều nối liền với soái thuyền.
Các chiến thuyền nhiều như lá tre đậu thành hàng rất nghiêm chỉnh ở hữu ngạn sông Dương Tử.
Thuyền sơn đen kịt.
Quân lính từng đoàn màu cờ và màu quân phục khác nhau chia ra bốn phương bảy hướng theo bát quái. Chấn, Đoài màu trắng. Khảm màu xanh, Cấn màu đen, Tốn màu đỏ, Kiến màu tía, Ly màu xanh dương, Khôn màu vàng.
Ba hồi trống, ba hồi chiêng dứt, Đàm Bá Phục nai nịt giáp đồng màu đen, Dương Trường Hỷ mang triều phục màu đỏ xám từ thủy tạ qua nhu kiều xuống chiếc soái thuyền to lớn. theo sau là các hàng tướng tá.
Đàm Bá Phục uy nghi leo lên vọng lầu nhìn khắp cả một lượt truyền linh cho viên tướng đứng bên.
Lá cờ lệnh đuôi nheo màu trắng được kéo lên đứng dưới lá cờ “Soái” đỏ thắm.
Tức thì đoàn chiến thuyền Chấn, Đoài xạ quân áo quần trắng, cung tên đỏ theo hàng tám tiến lên đi đầu.
Chừng nào đoàn xạ quân tiến gần hết, lá cờ xanh được kéo lên cột buồm thay thế cờ trắng.
Theo màu lịnh, đoàn chiến thuyền chữ Khảm cờ và quân phục xanh từ từ tiến nối đuôi đoàn trên. Đó là Đoàn Xung phong, quân lính toàn dùng trường thương.
Lần lượt đến các đoàn Cấn Tốn hai màu đen, đỏ dã chiến quân lính dùng mộc và đoản đao. Đoàn Càn màu tía, Câu liêm sang. Đoàn Ly xanh dương, Kinh quân đoản kích. Sau cùng là đoàn Khôn màu vàng, thuyền độc mộc, Tiềm thủy quân là thứ quân lành nghề lặn dưới nước để đục thuyền địch.
Đoàn hải thuyền diễn ra trên sông Dương Tử cờ xí rợp trời, gươm đao sáng quắc, uy nghiêm tề chỉnh.
Một tiếng pháo nổ vang. Chiếc Soái thuyền đen kịt, to lớn bắt đầu chuyển lái, vô mái chèo nhịp nhàng khua nước đưa chiến thuyền khổng lồ đó theo các đoàn thuyền trước.
Xa trông toàn thể đoàn hải thuyền như một con rết khổng lồ đang lướt trên mặt nước xanh mờ.
Dân chúng trên bờ sông hoan hô vang dậy, pháo đốt rung chuyển cả khu thành Trấn Giang, xác pháo toàn hồng rụng đầy trên mặt nước như những cánh bông đào tỏa rơi trước gió...
0
Hồi 2
Giở thói trăng hoa, Ngũ thử lầm trang nữ kiệt
Ra tài võ dũng, Song hiệp phá lầu Xuân Phong
 
Dưới mấy gốc cây liễu Trà Hương quán dựng sát cửa đông ngoại thành trên bờ sông Dương Tử, đứng lẫn vơi mọi người trong quán, một trai vóc người tầm thước ngoài ba mươi tuổi, diện mạo phương phi tuấn tú, gọn gàng trong bộ võ phục màu huyền, tóc búi ngược, lưng đeo cây đao lớn và một gái mặt trái xoan, nước da hồng mịn màng như trái đào mắt phượng xếch ngược, đôi môi thắm tựa cánh hường. nàng uy nghi gọn gàng trong bộ võ phục màu lam sậm, tấm khăn nhiễu đồng màu quấn chặt lấy làn tóc mây đen lánh kết múi rủ bên tai gài chiếc ngù trắng như bông.
Thiếu nữ ấy tuyệt đẹp, đẹp tuyệt trần. bộ võ phụ gọn gàng lam sậm càng tôn nước da ửng hồng khiến nàng đẹp chẳng khác chi tiên nữ mới hạ giáng trần gian...
Nhưng cặp mắt phượng đen lánh xếch ngược long lanh như tỏa muôn ngàn hào quang kia đã biến sắc đẹp tầm thường khuê các thành nét đẹp uy dũng anh thư... Nhất là thanh trường kiếm gài tráo lồ lộ trên tấm lưng ong thắt đáy, hai giải lụa tía buộc trên đốc kiếm phớt phơ trước gió nhẹ bên sông, biểu dương vị gia nhân tuyệt sắc ấy ắt có một bản lĩnh phi thường.
Hai người đó là nhân vật nào? Cứ nhìn kỹ trên đầu đai lưng bỏ múi của họ, ta sẽ thấy chữ “Chu” thêu bằng kim tuyến trắng theo kiểu triện.
Vâng. Đó là đôi giang hồ hiệp khách, danh vang đất Bắc thời bấy giờ quán tại Sơ đông, Bình Dương huyện, du hành xuống miền Nam, Anh em Đơn Đao Chu Đức Kiệt và Lam Y nữ hiệp Chu Tuấn Anh.
Anh em Chu gia tới Trấn Giang vừa trúng kỳ lễ Quốc Khánh.
Chu Tuấn Anh nhìn mấy chiếc nhạn ban lửng trên nền trời xanh lơ, khanh khách nói :
- Miền Nam khí hậu ấm áp, cây cỏ xanh tươi, trăm hoa đua nở, cảnh sắc lung linh đẹp tệ.
Chu Đức Kiệt nhìn em, mỉm cười.
- Bởi cảnh sắc ấy nên bữa nay hiền muội có lời nói như thơ...
- Chà hiền huynh giễu làm chi. Thành Trấn Giang kia rồi, trên bến dưới thuyền sầm uất quá chừng.
- Ta vào thành hay trọ ngoài bến.
- Trọ ngoài bến tiện hơn. Tìm Quán thanh lịch vắng vẻ.
Hai người buông lỏng cương ngựa đi suốt dọc mé sông.
Thành ngoại, phố xá cũng tấp nập đông đúc. Dưới bến thuyền đậu như lá tre, trên ngọn cột buồm cờ bay phấp phới muôn màu.
Ra khỏi khu sầm uất, Chu Đức Kiệt lấy roi ngựa chỉ :
- Hiền muội có ứng ý tửu quán ở phía xa kia không. Nơi có hàng liễu rủ...
Chu Tuấn Anh gật đầu :
- Hiền huynh khéo chọn lắm, quán ấy có phần u nhã.
- Ta tới đó xem sao.
Hai người thẳng tới cổng quán buộc ngựa vào gốc liễu.
Trên lá chiêu bà đuôi nheo màu thiên thanh, anh em Chu gia thấy ba chữ thêu: “Trà Hương Quán”.
Giữa sân có hai cây trà lớn, lá um tùm xanh biếc làm nổi bật những chùm hoa đỏ ối.
Tửu bão từ trong quán chạy ra vái chào.
- Kính chào nhị vị khách quan, quán chúng tôi rộng rãi sạch sẽ lắm.
- Có phòng trọ không. Tàu ngựa có cỏ non.
- Bẩm phòng trọ trên lầu chắc sẽ được quí khách ưng ý... Còn tàu ngựa, bản quán có thứ Thanh Mã thảo rất hợp với tuấn mã từ xa tới.
- Được lắm! Cho ngựa vào, trông nom cẩn thận sẽ có thưởng.
Tửu bảo vâng dạ dắt ngựa qua sân ra lối sau.
Đức kiệt, Tuấn Anh đủng đỉnh bước vào sân, nhìn mấy cây trà, rồi vào thẳng quán.
Chủ quán đón tiếp ân cần. Trong quán ba thồi có người dùng bữa chiều.
Chu Đức Kiệt nói :
- Sửa soạn cho tôi hai căn phòng nhỏ thanh lịch liền nhau.
- Dạ có sẵn rồi xin mời nhị vị lên lầu.
Mấy người ăn hàng thấy anh em họ Chu nói giọng Bắc đều chăm chú nhìn.
Hai người theo chủ quán lên lầu vào phòng đặt hành lý xuống bàn.
Chủ quán nói :
- Nhị vị tới Trấn Giang vừa dịp hội hoa đăng. Sớm mau có cuộc diễn hải quân lớn.
Chu Tú Anh vội hỏi :
- Diễn hải quân à? Ai diễn?
Chủ quán đáp :
- Thưa đây là địa điểm lớn lên có quan Thủy sư Đề đốc đóng dinh. Cuộc diễn binh sẽ dưới quyền điều khiển của người. Sáng mai, nhị vị chỉ cần ra sau phía bản quán là sẽ thấy các đoàn thuyền chiến qua khúc sông này, không cần chen chúc như ở bến trên kia.
* * * * *
Bởi thế quí vị độc giả mới thấy anh em Chu gia đứng dưới gốc liễu trên bờ sông Dương Tử cùng mọi người trong Trà Hương quán sau cuộc diễn thủy quân như đã nói ở trên.
Chu Tú Anh hỏi Đức Kiệt :
- Hiền huynh có nhớ tên lối diễn chiến thuyền vừa rồi quan Đề đốc điều khiển không?
Đức Kiệt gật đầu :
- Đó là thế trận “Bát quái thủy long” trong binh thư của Hán võ hầu. Quả thật oai dũng quá.
Chủ quán tiến tới, nói :
- Nhị vị khách quan ra nơi trung tâm bến chơi hay là vào than cũng được. Nội thành hay ngoại thành đều vui cả. Hành lý và khí giới xin cứ để lại bản quán. Tôi bảo đảm không hề suy suyển. Chúng tôi đã bốn đời ở đất này rồi.
Hai người nhận thấy chủ quán thực thà nên nhìn nhau đồng ý, trở về phòng trao đao kiếm và hành lý gửi cho chủ quán, rồi mỗi người mặc thêm chiếc áo dài đủng đỉnh xuống lầu.
Đức Kiệt, Tuấn Anh theo đường ra bến cửa Nam trà trộn vào đám đông người xem ngắm phố phường, la cà hết đường nọ sang phố kia nhìn không chán mắt.
Tới chính ngọ, thấy đói bụng Chu Đức Kiệt :
- Ăn cơm tại đây khỏi phải về Trà Hương quán, mất thì giờ.
Chu Tú Anh mỉm cười gật đầu :
- Ngu muội cũng nghĩ vật. Hiền huynh tìm tửu lầu nào ở bên có lẽ phong cảnh đẹp mắt hơn trong phố.
Hai người lại la cà lần ra bến sông đi tới một nơi huê viên, cây lá xanh rờn mát mẻ. Nhìn lên thấy chiều bài đề lớn “Xuân Phong Quán”.
Đức Kiệt hỏi :
- Vào đây nhé.
- Dạ trang nhã lắm mà lại vắng người càng hay.
Qua huê viên, hai người lên mấy bậc thềm vào quán bày trí cực kỳ sang trọng.
Mấy tên tửu bảo vận chế phục đón khách vái chào.
Phía trong cùng, một người trạc ngoại tam tuần đầu dơi, tai chuột, mắt nhỏ xíu nhìn ngang lanh như chớp, ngồi sau chiếc quầy lớn.
Tú Anh đưa mắt nhìn Đức Kiệt, nhưng Đức Kiệt đã tiến thẳng vào dẫy hành lang phía trong, đi thẳng vào thủy đình dựng nhô hẳn ra trên mặt nước.
Tú Anh đành theo sau.
Thủy đình khá rộng rãi, xây hình lục lăng. Giữa thủy đình, hai thồi tiệc đã bày sẵn bát đĩa toàn đồ Giang Tây lịch sự.
Bấy giờ Đức Kiệt mới quay lại hỏi Tú Anh :
- Anh em ta ngồi đây xem cảnh Dương Tử giang luôn thể.
Nói đoạn kéo ghế ngồi, Tú Anh ngồi theo.
Nhưng hai tên tửu bảo đã từ nhà trong chạy ra.
Một tên tiến tới trước Đức Kiệt nói :
- Xin mời khách quan vào nhà trong, ở thờ này đã dành riêng cho Dương công tử.
Đức Kiệt hỏi :
- Thế còn thồi kia thì sao.
Tửu bảo đáp :
- Thưa Dương công tử giữ cả thồi.
Chu Đức Kiệt khó chịu :
- Thủy đình này rộng rãi có thể bày thêm hai thồi nữa cùng còn thừa chỗ. Bày thồi khác ở đây cho ta vậy nghe không.
Tửu bảo lắc đầu :
- Cũng không được. Thủy đình này dành riêng cho Dương công tử, người lạ không được vô đây.
Từ nãy vẫn ngồi im, Chu Tú Anh giận lắm nhưng mặc cho anh xử trí.
Đức Kiệt nổi giận đập bàn :
- Ủa, mi nói vô lý, nếu dành cho công tử hay tiểu tử nào thời dán giấy cấm nhập có được không? Để khách hàng vào tới đây mới lên tiếng là nghĩa gì? Bộ tưởng ra không có tiền trả như công tử nào đó của nhà ngươi sao? Biết điều ra đem rượu thịt mau ta dùng, trái lại chớ có trách ta không biết khoan dung.
Tên tửu bảo đương vò đầu bứt tai không biết làm thế nào thì người ngồi sao quầy ban nãy chạy vào hỏi :
- Có việc gì vậy?
Tên tửu bảo vội trình bày mọi sự. Người kia nhìn anh em Chu gia hồi lâu rồi đưa mắt mắng tửu bảo :
- Ngươi không biết chi cả. Khách quan đã tới đây thì cứ để người an tọa, sao dám tự ý lôi thôi không hỏi ta? Biết điều cút ra ngoài kia ngay, kêu tên khác vào đây hầu.
Nói đoạn hắn bước tới vái chào Chu Đức Kiệt nhăn nhở :
- Xin khách quan vui lòng tha thứ tên tửu bảo này mới vô làm nên không biết gì. Trăm sự hoàn toàn tại tôi không chu đáo, khách quan lượng tỉnh cho.
Hắn vừa nói vừa liếc nhìn Chu Tú Anh nhưng nàng tảng lờ nhìn ra phía sông.
Hắn nói thêm :
- Khách quan dùng thứ gì, xin truyền ngay cho tôi cũng được.
Tuy khó chịu nhưng không lẽ trả lời thế nào trước những lời xin lỗi ấy, Đức Kiệt bèn gọi lấy mấy thức ăn.
Người kia biên xong, trao thực đơn cho tửu bảo vái, chào một lần nữa mới lui ra.
Chờ cho hắn đi khuất, Chu Đức Kiệt khẽ hỏi Tú Anh :
- Hiền muội hãy ngồi đây, ngu huynh ra ngoài này một lát trở ngay.
Tú Anh gật đầu không nói gì. Đức Kiệt đứng lên ra phía ngoài lúc thấy người ngồi quầy đang thì thào nói nhỏ với một tên tửu bảo, bảo nghe xong đi thẳng ra ngoài cổng quán.
Phòng ăn ngoài lác đác có bốn năm thồi khách ăn uống. Chu Kiệt giả đò đi loanh quanh nhìn đó nhìn đây rồi trở vào thủy đình.
Chu Tú Anh mỉm cười khi thấy Chu Đức Kiệt trở vào :
- Xuân Phong quán này trang nhã lắm, nhưng có tên ngồi quầy mại ti tiện gian giảo quá đỗi. Không khéo đây là một tửu quán của vương tôn công tử nào lập ra để lấy chỗ trú chân phóng đãng.
Chu Đức Kiệt nhìn Tú Anh :
- Ngu huynh đồng ý. Vừa rồi bắt gặp tên ngồi quầy nói nhỏ với tên tửu bảo đi đâu đó. Có lẽ đi gọi “công tử” của y chăng.
- Như vậy càng hay. Để xem bọn vương tôn ấy có mấy tay mà ghê gớm thế.
Đức Kiệt cười :
- Chỉ tiếc trời và cảnh đẹp như thế này mà không được yên trí ăn uống mà thôi.
- Chà! Nếu chúng biết điều thì càng hay. Bằng không cho chúng một bài học rồi ra quán khác ngồi cần chi.
- Đâu có dễ dàng thế được. Nơi đây là trấn lớn, nếu bọn này cánh lớn, câu chuyện sẽ còn lai rai có hậu quả, chớ không ổn ngay đâu. Nhưng thôi, sẽ tùy cơ ứng biến. Đói bụng hãy ăn uống đã.
Sở dĩ anh em Chu gia dùng tiếng Sơn Đông nói chuyện này nên mấy tên tửu bảo bày thồi nhỏ gần bên lan can không hiểu chi cả.
Anh em Chu Đức Kiệt ra ngồi ở thồi nhỏ vừa bày xong.
Bọn tửu bảo đem mọi thứ cần dùng tới, hầu hạ rất thành thạo và chu đáo.
Lát sau rượu và mấy món ăn được đem lên khói thơm bốc nghi ngút như đơm vào mũi.
Chu Đức Kiệt hỏi tửu bảo :
- Rượu chi vậy?
- Dạ cúc hoa tửu ạ!
- Đổi đi, lấy Mai quế tửu lên đây. Tửu bảo vâng dạ chạy đi đổi lấy hồ rượu khác.
Chu Tú Anh lấy chiếc ly ở thồi bên rót đầy đưa cho tửu bảo :
- Uống thử ta coi.
Tửu bảo lấy làm lạ, nhưng cũng nâng ly uống luôn một hơi cạn.
- Thưa quí khách rượu này ngon nhất đất Trấn Giang.
Chu Đức Kiệt ngắt lời :
- Được rồi, cần thêm chi ta sẽ gọi.
Nói đoạn rót rượu, hai anh em mời nhau nhấm nhót uống.
* * * * *
Nguyên tên ngồi quầy hàng là Trư Diện Thử Tạ Kỳ Quang.
Lúc đầu chính hắn sai tên tửu bảo vào bảo bọn Chu Đức Kiệt ra khỏi thủy đình vì thật ra Dương Tấn Đình đã cho lệnh dành nơi đây trong mấy ngày lễ hội để bọn chúng tới uống rượu chơi.
Tới lúc đó, Tạ Kỳ Quang liền chạy vào để ý thấy Chu Tú Anh đẹp thì y bèn đổi ý, vờ xin lỗi rồi sau đó sai người đi báo cho bọn Dương Tấn Đình biết là “mồi ngon” vừa vào quán.
Âu cũng là một sự không may cho chúng vì Tạ Kỳ Quang không nhận ra sắc khí anh hùng của anh em Chu gia.
Tên tửu bảo vừa qua cửa thành phía Nam vào phố Kỳ Du thì gặp ngay bọn Tham Hoa Quỷ Dương Tấn Đình đi ngựa, theo sau là bọn vệ sĩ giai nhân.
Tửu bảo thưa lại mọi sự.
Dương Tấn Đình mừng quá bảo bọn Hoa Tử Năng, Diệp Phước Hoa, Huỳnh Viết Ấn.
- Thế này thì hay quá, mấy hôm nay đang buồn không biết làm gì cho qua thì giờ. Nào! Đi lẹ lên, xem sắc diện giai nhân ra sao.
Cả bọn cùng thúc ngựa nhấn bước không mấy chốc đã tới Xuân Phong quán.
Tạ Kỳ Quang ra tận cửa đón, vẻ mặt nịnh tâng công.
Dương Tấn Đình hỏi :
- Giai nhân đâu. Lão Tạ này khéo quá, phải hậu thưởng mới được. Ta đang nóng mặt gặp nàng.
Tạ Kỳ Quang sung sướng gãi đầu, gãi tai :
- Đó là cái hên của công tử, chứ tôi có tài cán gì đây. nhưng đừng có vội vàng, có một gã khỏe mạnh đi cùng với nàng. Hình như là hai anh em thì phải.
Dương Tấn Đình cười tít :
- Là anh thì đoạt em, là chồng thì đoạt vợ chứ sao.
- Còn cái khỏe mạnh của nó có lo gì? Các vệ sĩ hùm beo của ta không dư sức khỏe sao?
Bọn vệ sĩ được ca tụng, thích chí tên nào cũng hoa chân múa tay như muốn xô ngay vào moi gan kẻ nào đó dám cản đường công tử của chúng.
Trường Vĩ Thử Ngô Định tiến ra trước, nói :
- Một mình tôi cũng đủ đập bể sọ mười tên ấy rồi. Công tử hà tất mất công, để tôi đi đoạt giai nhân đem ngay lên lầu cho người vui đùa. Nhưng ở đâu hả Tạ huynh.
Tạ Kỳ Quang vội xua tay :
- Khoan, khoan! Hai người ấy đang dùng bữa ngoài thủy đình. Đừng có nóng nảy phải nghe tôi mới được.
Hoa Tử Năng nói :
- Ừ, thế lão ta định hành động thế nào.
Tạ Kỳ Quang chậm rãi nói :
- Bây giờ công tử và quí vị Hoa, Diệp, Huỳnh cứ thản nhiên vào Thủy đình giả đò như khách quen của quán này. Trong khi nhậu nhẹt thì cứ việc ngắm nhìn cô ả cho thỏa thích xem có vừa mắt không đã. nếu vừa ý, công tử cứ việc tống tình. Biết đâu cô ả chẳng tham giàu thấy công tử xa hoa sang trọng mê tít cù đèn! Lúc đó, ta cứ việc cho anh kia chút ít tiền để y đi nơi khác. Người ngọc sẽ lọt vào tay công tử một cách êm đềm đỡ tốn công dùng sức. vả lại đang ngày trọng lẽ, bọn ta chẳng nên làm huyên náo khinh động. thì giờ còn nhiều mà!
Dương Tấn Đình cả cười :
- À được rồi. Lão tạ chí lý lắm. Dù thèm nhỏ dĩa cũng nên theo lời khôn khéo ấy, Hoa, Diệp, Huỳnh ba nhân huynh vào Thủy đình với tôi. các vệ sĩ gia nhân nấp quanh đâu đó, nếu cần sẽ ra tay. Có khách vào ăn gì không lão tạ.
Tạ Kỳ Quang đáp :
- Dưới nhà có năm thồi, trên lầu cũng có sáu thồi. Công tử cứ vào Thủy đình đi, mọi sự sắp đặt ngoài này mặc tôi.
* * * * *
Mọi người qua huê viên vào trong nhà.
Các khách ăn hàng trên bọn người y phục sang trọng đều chú ý nhìn. Họ toàn là người giàu có ở xa tới nên không biết bọn Dương Tấn Đình. người Trấn Giang không một ai dại dột vào Xuân Phong quán ăn nhậu.
Dương Tấn Đình và ba người đủng đình vào thẳng Thủy đình ngồi bên thồi lớn đã bày sẵn bên tả.
Các tửu bảo đầu cúi chào rạp xuống tận đất. Vừa an tọa đâu đấy thì theo mưu kế Tạ Kỳ Quang, bọn tứ thử vệ sĩ cùng vào theo ngồi ở thồi bên hữu. Khí giới dựng cả ngoài hành lang.
Hai anh em Chu gia đang thong thả ăn thấy khách lạ vào, liếc nhìn thấy bốn người, diện mạo trai lơ bảnh bao, bốn người sau hung hăng côn đồ, biết ngay là bọn công tử vương tôn mất dạy, nhưng cũng thản nhiên ăn uống bình thường.
Trái lại, Dương, Hoa, Diệp, Huỳnh, bốn người thấy vị nữ lưu ngồi đó quả là một tay tuyệt sắc giai nhân chưa từng được gặp bao giờ thì láo liên, trố mắt miệng đờ người ra nhìn như muốn nuốt sống cho đỡ thèm.
Nhất là Dương Tấn Đình nuốt nước miếng ừng ực, miệng há ra như cá ngáo.
Ba tên Hoa, Diệp, Huỳnh biết điều hơn chút đỉnh vì xưa nay mỗi khi áp bức phụ nữ, chúng đều phải nhường họ Dương “xơi” trước. chừng nào “đã rồi” mới tới lượt chúng. Cái trò theo đóm ăn tàn, bào giờ cũng bị lép vế vậy. Chúng đờ người ra tiếc. Tiếc không biết bao giờ mới tới lượt mình.
Hoa Tử Năng rỉ tai ba bạn :
- Tuyệt sắc quả là không chối cãi được, nhưng giai nhân gì mà chẳng xiêm áo như phụ nữ thường.
Từ nãy chúng mải miết ngắm nhì mặt hoa da phấn họ Chu, nay nghe Hoa Tử Năng, mới nhận ra người đẹp mặc võ bào thiên thanh, quần bịt trong cặp ủng màu lam sậm mỏng gót bắc kiểu.
Huỳnh Viết Ấn nói :
- Chắc cũng biết vài ba quyền rồi lập di mang võ phục khiến mọi người phải chú ý tới nàng chứ gì.
Diệp Phước Hoa nói :
- Chắc là hai anh em khuôn mặt giống nhau lắm. Người anh cổ to vai lớn, quắc thước có thạo nghề chân cũng vận ủng võ theo lối Bắc.
Dương Tấn Đình mê tít, nói gạt :
- Chà! bề ngoài đó, tứ thử vệ sĩ còn mạnh hơn nhiều chỉ một quyền là đủ bể sọ tên đó, nếu y không biết điều.
Tửu bảo bê rượu và các đồ nhấm lên bày la liệt cả hai thồi.
Bọn Dương Tấn Đình nâng chén mời nhau.
Tứ thử vệ sĩ cũng đứng cả lên nâng chén mời bốn người. Trường Vĩ Thử Ngô Định nói lớn :
- Chúng tôi xin mừng công tử và ba vị mọi sự mau mau như ý...
Cả tám người cùng cười ầm, uống một hơi cạn ly. Chúng ăn cười nói nhiều câu xa xôi ngụ ý.
Dương Tấn Đình bã lả :
- Trời! hão tửu thiên bôi, bất hữu mỹ nhân kế!
Hoa Tử Năng nói :
- Mỹ nhân có thiếu chi! Tửu bảo đi gọi tì muội ở ái vân lâu về đây ca hát nghe.
Tửu bảo dạ vâng. Dương Tấn Đình vội xua tay :
- Khoan! ta không ưa bọn son phấn đó, nhưng chỉ mong có một giai nhân tuyệt sắc dịu dàng.
Nói đoạn, đưa mắt nhìn sang thồi họ Chu. Cả bọn bảy người vỗ tay hoan hô “Hảo ý, hảo ý”.
Vừa lúc đó, Tạ Kỳ Quang đi vào.
Dương Tấn Đình kêu lớn :
- A ha, lão tạ vào đây uống rượu cho vui nào. Hoa xuân đẹp, rượu xuân nồng, chẳng uống cũng phí cả xuân thì, ngồi đây mau.
Tạ Kỳ Quang nhăn nhở bộ mặt chuột :
- Hay! Quí vị có điều chỉ vui thế, cho phép tôi cũng xin ngồi hầu tiếp.
Họ Dương nói :
- Anh em cả mà! Ngồi xuống, uống đi! Rượu ngon, nhấm tốt, chỉ thiếu một nỗi.
Tạ Kỳ Quang vờ hỏi :
- Nỗi gì vậy Dương công tử.
Dương Tấn Đình thở dài :
- Mỹ nhân!
- Cao sang như công tử thành Trấn Giang này ai không biết tiếng, thèm muốn. Lo chi vấn đề nhỏ nhen ấy cho bận tâm.
Mọi người lại liếc nhìn sang thồi hai người, cười ầm ĩ.
Từ nãy đến giờ, Chu Tú Anh đã liệu tính khó bề tránh, gây sự nên kiên tâm cười thầm ngồi nghe những câu đơn bạc. Trên bước đường giang hồ đây đó đã nhiều phen nàng nghe các lời đơn bạc này, nhưng có thế mới phân biệt được kẻ hay người dở trừ hại cho xã hội con người chứ!
Chu Đức Kiệt cũng hiểu vậy. Thoạt tiên, chàng không mấy quan tâm, ăn uống như thường, chỉ tiếc nỗi trời trong gió mát, cảnh đẹp nhường này mà thời giờ thanh thản của anh em chàng bị bọn ô trọc quấy rầy.
Nhưng dù sao lòng nhân nhượng cũng có chừng mực. Tới lúc bọn kia lả lướt, giở giọng khinh bạc quá đỗi thì chàng nổi giận, trừng mắt nhìn bọn chúng.
Dương Tấn Đình cậy thế đông người, ha hả cười :
- Chà! Hảo mỹ nhân! Hảo mỹ nhân! Tây Thi cũng phải nhường nét ngọc.
Không nhịn được nữa, Chu Đức Kiệt lớn tiếng :
- Tửu bảo.
Tên tửu bảo hay thường xuyên thầy ấy chạy tới :
- Dạ! khách quan cần dùng thứ chi.
- Gọi chủ quán, ta cần hỏi mau.
Như đã quen cảnh cậy thế chủ và cũng đã biết trước tình hình, tên tửu bảo buông xõng.
- Chủ quán không thể ra được, còn đang bận hầu rượu Dương công tử.
Đức Kiệt giận quá, trừng mắt.
- Nếu không gọi y ra đây, ta dạy, ta bẻ quẹo mặt cẩu trệ của người ra sau lưng nghe!
Bị cái nhìn mãnh lực như điện, tửu bảo tái mặt vội lùi lại mấy bước nhìn Tạ Kỳ Quang.
Họ Tạ biết không thể đừng được nữa rồi, vội đẩy ghế đứng lên tới thồi hai người nhíu cặp mắt ti hí lại giả đò hỏi.
- Khách quan cần dùng tôi có điều chi mà hung hãn vậy. Nên nhớ Xuân Phong quán này là của nhà họ Dương, dễ vào mà khó ra đó.
Đức Kiệt thét :
- Hỗn xược.
Đồng thời vung tay tát trúng mặt Tạ Kỳ Quang “Bốp”.
Bị cái tát như trời giáng, Tạ diện thử văng người ra phái sau đập phải tên tửu bảo, cả hai cùng té nhào hộc máu miệng.
Bộn vệ sĩ đẩy ghế đứng cả lên định xô tới.
Chu Tú Anh cũng đứng lên, hai anh em vắt áo bào lên lan can.
Dương Tấn Đình vội quát ngăn bọn vệ sĩ :
- Sao nhân huynh lại hung hăng đánh người như vậy? Nhưng thôi, tứ hải giai huynh đệ trước lạ sau quen, chúng ta nên kết thân với nhau có hơn không? Nhân huynh có một mình, mà bên này thì coi kìa! Phải suy tính lợi hại. Chúng ta có thể chiều ý lẫn nhau cơ mà, hì... hì... hì...
Dương Tấn Đình vừa nói vừa đưa tay chỉ bọn vệ sĩ hung hãn đang ưỡn ngực, dang tay, miệng cười nhăn nhở khả ố, mắt tít lại nhìn Chu Tú Anh.
Đức Kiệt cả giận mắng lớn :
- Ai thèm huynh đệ chi mấy đồ cẩu trệ, thiên binh vạn mã ta cũng không cần nữa là mấy tên nhái chúng bây! Biết điều rút lui êm thắm ra khỏi nơi đây để lão gia ngồi uống rượu, trái lại thì chớ trách ta không biết khoan dung nghe!
Dương Tấn Đình mất thể diện, mặt đỏ bừng cả thẹn, quát lớn :
- À, ra con lừa này ưa nặng. Các ngươi hãy đánh táng mạng nó cho ta và bắt kỳ được con bé kia cho ta nạp làm tỳ thiếp mau!
Hoa Tử Năng cậy mình con Tham Tướng biết mấy miếng võ nghệ xông lên trước hết :
- Để ta bắt thằng này cho mà coi!
Nói đoạn, hoa quyền nhảy vào nhè mặt Đức Kiệt thoi một đấm...
Đức Kiệt mỉm cười đưa tay trái đón lấy cổ tay Hoa Tử Năng rút mạnh ra phía sau khiến họ Hoa nhào qua lan can, đầu đâm xuống sông nghe tõm một tiếng, kêu cứu rầm trời.
Tên Trư Diện Thử Tạ Kỳ Quang cũng đã lóp ngóp bò dậy núp sau vệ sĩ hô đánh.
Dương Tấn Đình và Diệp, Huỳnh định chạy ra chỗ họ Tạ, nhưng Chu Đức Kiệt sau khi kéo tay lao Hoa Tử Năng xuống sông Dương Tử, đã phóng tới xách cổ túm chân Tấn Đình nhấc bổng lên lao mạnh vào bọn bốn tên vệ sĩ... nhưng bốn tên này xông cả lên không kịp đỡ thành thử Dương Tấn Đình như cây thịt rơi trúng bàn thịt đánh “rầm” một tiếng rồi mới rớt xuống đất. Bàn tiệc mất thăng bằng đổ úp cả rượu thịt đè lên họ Dương...
Cùng lúc ấy, Chu Tú Anh nhấc bổng cả thồi tiện bên này lao mạnh vào bốn tên vệ sĩ khiến cả bốn tên bị chiếc thồi gỗ trắc nặng lao trúng ngã đồng kềnh, các thức ăn đổ đầy người be bét...
Thế đã xong đâu! Tú Anh nhấc nốt chiếc thồi nhỏ lao chồng vào đồng bọn khiến chúng chưa kịp bò dậy đã bị chiếc thồi đè bẹp xuống chuyến nữa.
Tên quân sư quạt mo Tạ Kỳ Quang và mấy tên tửu bảo chạy thoát ra hành lang kêu cứu.
Các nhân viên trong Xuân Phong quán thấy động liền kẻ dao người gậy, mấy chục người kéo ùa cả vào cứu cấp.
Bọn vệ sĩ và mấy người bị bàn tiệc đè lên đã đứng được dậy chạy tháo ra ngoài hành lang, vác khí giới xông vào trả thù. Nhưng anh em Chu gia mỗi người hai chiếc ghế đẩu múa tít đánh dồn cả bọn qua hành lang, rút ra ngoài rộng rãi dụng võ dễ dàng hơn.
Bọn kia không dám ham chiến trong hành lang chật hẹp chạy ùa cả ra ngoài.
Các khách ăn trên lầu và dưới nhà thấy động vội bỏ cả ăn, vòng trong vòng ngoài đứng xem trận hỗn chiến kỳ thú.
Dân Trấn Giang đang đi ra ngoài đường cũng kéo nhau vào trong Xuân Phong quán. Họ thấy bọn Dương Tấn Đình và lũ vệ sĩ y phục gấm vóc, lụa là bị dấy be bét cả món ăn, kẻ sưng mặt, đứa bươu đầu nhất là tên quân sư quạt mo họ Tạ, mặt vấy đậy máu miệng răng cửa gãy trụi, chỉ huy bọn tửu bảo vây đánh một trai, một gái.
Tuy bọn tửu bảo la hét om sòm nhưng chẳng tên nào dám xông vào.
Tạ Kỳ Quang nhóm nhém ôm miệng la :
- Ô hay! Đánh đi chúng bây, đồ ăn hại này nhát quá.
Cùng lúc bốn tên vệ sĩ tức khí, hoa khí giới xông vào.
Không thèm đánh, Đức Kiệt, Tú Anh nhằm tên Trường Vĩ Thử Ngô Định và tên Thanh Mao Thử Triệu Quang Tân đi đầu phóng nhanh hai chiếc ghế đẩu.
Hai tên đó tránh không kịp, ghế lao mạnh trúng mặt ngã lộn ngửa ra phía sau, máu me lênh láng.
Hai chiếc ghế nữa được phóng mạnh ra, Bạch Túc Thử Mai Quý và Phong Hỏa Thử Phàn Thuận theo số phận hai tên trước, bị trúng ghế vỡ mặt ngã nhào ra gạch, khí giới văng đi một nơi.
Bỗng có tiếng người ngựa ồn ào ngoài cổng quán, người xem vội rẽ sang hai bên nhường chỗ đi.
Thì ra, có người về phủ riêng của Dương Tấn Đình báo nên 20 gia tướng phi ngựa ra Xuân Phong quán cấp cứu.
Thấy có cứu binh hùng hổ tới, bọn Dương Tấn Đình mừng rỡ cả nhân viên trong quán xông vào anh em họ Chu.
Nghĩ bụng bọn gia tướng này chắc đã nhiều lần cậy thế chủ nhân làm hại nhiều người lương thiện, nên đánh cho chúng một trận tơi bời cho chúng biết sợ, Đức Kiệt, Tú Anh bẹn nhấc bổng các thổi lao vào đám lang sói ấy.
Những chiếc bàn nặng nề bị anh em họ Chu nhấc bổng phóng như bay vào toán gia tướng họ Dương. Hết chiếc thổi nọ đến chiếc thổi kia, bọn lang sói bị dồn cả vào góc nhà.
Dân chúng đứng ngoài xem lắc đầu thè lưỡi vì thần lực của đôi trai gái anh hùng nọ. Họ thích chí vui sướng vì tên Tham Hoa Quỷ họ Dương bị đàn áp nặng nề.
* * * * *
Bọn Dương, Hiệp huỳnh, tạ thấy các gia tướng bị thua đứa vỡ đầu, kẻ gãy tay chạy dồn vào góc nhà, thì toan chạy ra cửa ngang trốn, nhưng Tú anh và Đức Kiệt đã như hai con sư tử chồm tới.
Chu Tú Anh nhấc bổng Dương Tấn Đình lên hét :
- Dương cẩu trệ muốn sống hay muốn chết.
Tấn Đình ban đầu đã bị Đức Kiệt liệng gần chết, nay lại bị nhấc bổng lên thì sợ quá van kêu :
- Trăm lạy nữ anh hùng, tôi hữu nhãn vô châu trót phạm tới hùm, xin nghĩ lại cho tôi nhờ...
- Kêu mấy tên cẩu trệ của ngươi quỳ xuống đây, ta hỏi tội mau.
Dương Tấn Đình vội gọi Diệp Phước Hoa, Huỳnh Viết Ấn, Tạ Kỳ Quang ra quỳ ở giữa nhà.
Mấy tên này tuy mắc cỡ nhưng biết không thể đừng được nên đành dạn dày bước ra giữa nhà quỳ trước là cứu bản thân mình, sau là cứu Dương Tấn Đình luôn thể.
Chu Tú Anh quay đi một vòng khiến Dương Tấn Đình la trối chết mới đặt y xuống đấy quỳ theo mấy tên kia.
Trong lúc ấy, bọn gia tướng nhà họ Dương cùng chúi cả vào góc nhà len lét nhìn sợ hãi.
Chu Đức Kiệt bỏ chúng đó, quay lại chỗ Tứ thử vệ sĩ xem xét thấy bốn tên này bị trúng ghế bể mặt, gãy răng đau quá nằm quằn quại trên đất, máu me đầy mặt.
Chu Tú Anh bảo bọn Dương Tấn Đình :
- Các ngươi cậy giàu, cậy thế ức hiếp nhiều người gian dâm phụ nữ thành Trấn Giang này đếm không xuể. Nay ta sanh phúc tha mạng cẩu trệ cho các ngươi hối cải với các điều kiện này:
“Thứ nhất: Đóng cửa Xuân Phong quán.
Thứ nhì: Phải giải tán đồng bọn, không được tụ họp ra phối quẫy nhiễu dân chúng.
Thứ ba: Lập đàn tràng làm chay cầu cho các vong hồn bị các ngươi đã hãm hại được siêu sanh tịnh độ.
Thứ tư: bảo nhau gom góp tiền nong bồi thường cho các gia đình bị các ngươi hãm hại, mỗi gia đình lượng bạc.
Hẹn trong ba ngày phải thi hành đủ điều kiện, trái lại ta sẽ vào tận dinh Tổng trấn lấy đầu. Nghe không?”
Bọn Dương Tấn Đình kêu van xin vâng lệnh hết.
Muốn cho chúng sợ hãi thêm để giữ lời hứa, Chu Tú Anh nói tiếp :
- Các ngươi hãy mở to mắt ra coi cho kỹ có đủ sức, hãy sai lời hứa. Coi đây!
Nói đoạn, Tú Anh bước tới gần cây cột giữa nhà lớn non một ôm, vận động nội ngoại công phu co chân tả đạp mạnh.
Cây cột nhà chênh hẳn sang một bên khiến mấy chiếc dầm chính trên nóc nhà chuyển răng rắc.
Mọi người đứng xem lè lưỡi sợ hãi, tưởng nóc nhà đổ sụp xuống.
Chu Tú Anh bảo bọn họ Dương :
- Coi đó, nếu đầu các ngươi rắn hơn cây cột này thì hãy sai lời hứa. Ta hẹn cho ba ngày để thi hành, nghe chưa?
Bọn Dương Tấn Đình vâng dạ, mặt mũi tái mét không còn hột máu.
Chu Đức Kiệt đã vào Thủy Đình lấy hai chiếc võ bào vắt trên lan can, đưa cho Tú Anh một chiếc.
Hai người mặc áo vào rồi bước ra khỏi huê viên dưới những cặp mắt thán phục, hả hê của mọi người.
Bọn Dương Tấn Đình xưa nay hống hách mục hạ vô nhân quen hiếp đáp, coi mạng người như ngóe, bữa nay bị đánh một trận nhừ tử, nhục nhã trước dân chúng Trấn Giang nên thẹn uất người.
Tên nào cũng len lét không dám ngửng đầu nhìn, chờ tới lúc anh em Chu gia đi khuất mới trệu trạo đứng dậy, đứa gãy răng, sưng mặt u đầu, kẻ gãy tay trẹo chân. Đó là chưa kể từ đầu chí chân nhơ nhớp toàn những rượu thịt gớm khiếp.
Bốn tên vệ sĩ xưa nay quen thói phách lối dương oai diễu võ, bây giờ tên nào mặt cũng tím bầm, răng gãy, khăn võ sanh tụt đâu mất, tóc rũ rượi bê bết thịt cá tanh hôi, tiu nghỉu như mèo cụt đuôi...
Lũ hai mươi tên gia tướng tới sau tiếp cứu và các tên tửu bảo lúc đầu tưởng lấy số đông, cậy có khí giới đậy đủ nuốt sống địch thủ, không ngờ bị những chiếc thổi gỗ nặng nề do một sức mạnh phi thường liệng tới, khiến chúng té phải nhau có tới 7, 8 tên bị trẹo gãy chân.
Hoa Tử Năng bị rút tuột qua lan can trút đầu xuống sông ngay từ lúc khởi đầu, y vốn không biết bơi nên bị uống nước no. Nhưng may mắn được cấp cứu kịp, không đến nỗi uổng mạng. Hiềm một nỗi sai khớp khuỷu tay vì bị Chu Đức Kiệt rút mạnh quá.
Nằm dưới nhà bếp tới lúc anh em Chu gia đi khuất, Hoa Tử Năng mới líu ríu ôm tay ló lên nhà trên, trông bộ tịch thật thiểu não.
Xuân Phong quán cũng bị tai vạ lây. Trước kia lịch sự gòn gàng, trang nhã vào bực nhất thành Trấn Giang. Nay bàn ghế đổ ngổn ngang, chiếc gãy chân, chiếc bể mặt, bát đĩa tan vụn. Cây cột lớn chống trung tấm sơn son thếp vàng bọ đạp tuột từ trên bệ đá xuống, chệch hẳn sang một bên, khiến các rầm trên nóc gục hẳn xuống như muốn đổ.
Dân chúng thành Trấn Giang được xem kẻ thù chung bị đánh một trận tơi bời nên ai nấy đều hả hê hoan hỉ ra mặt.
Họ kéo nhau về, kẻ bàn, người tán thưởng khen ngợi luôn miệng về tài sức của hai vị hiệp khách từ xa tới bất thần trừ ngay được bọn Tham hoa họ Dương, tránh được nạn hiếp đáp cho toàn dân Trấn Giang.
Người này truyền người kia thế là không mấy chốc, khắp trong thành, ngoài thành ai nấy đều biết vụ Nữ hiệp khách áo lam đại phá Xuân Phong quán.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-02-19 08:20:44casau>
Hồi 3
Phong lầu, Phàn gia mộ người nghĩa hiệp
Hương quán, Song hiệp gặp bạn đồng môn
 
Anh em Chu gia vừa ra khỏi Xuân Phong quán được vài chục thước thì có tiếng người gọi giật phía sau.
- Quí khách! Quí khách!
Hai người quay lại nhận ra đó là chủ Trà Hương quán liền đứng lại chờ.
Chủ quán tiến tới vái dài hai người :
- Thật là hảo võ nghệ lực năng cử đỉnh, thế khả bạt sơn. Tôi xin chúc mừng nhị vị vừa làm một việc phúc đức tày trời cho toàn dân Trấn Giang, chúng tôi phải ghi ơn công đức đó. Nhưng xin nhị vị về quán nhà rửa mặt rửa tay cho khoan khoái rồi hãy dạo chơi. Hội hoa đăng mở luôn trong ba ngày ba đêm còn nhiều thì giờ.
Chu Đức Kiệt, Chu Tú Anh nhìn thấy nhiều người theo sau, bèn bảo chủ quán :
- Được rồi tiên sinh cứ về trước, chúng tôi sẽ về quán ngay. Xin đừng lộ hình tích của anh em tôi trọ ở Trà Hương quán, e mọi người tới thăm hỏi mất tự nhiên.
Chủ quán vâng dạ đi trước.
Anh em Chu gia rảo cẳng rẽ sang đường khác lần vào đám đông, đi vòng vèo mãi về Trà Hương quán.
Chủ quán và hai người một trai một giá vẫn võ phục đang đứng nói chuyện ở trước cổng quán.
Bên gốc liễu, buộc hai con tuấn mã màu đỏ sẫm.
Đức Kiệt hỏi Tú Anh :
- Chắc có khách trọ mới tới.
Tú Anh đáp :
- Hình như họ chờ ai... Kìa! Như là chủ quán chỉ chúng mình.
Hai người lẳng lặng không nói gì về tới cổng quán.
Đôi nam nữ tiến tới thi lễ, tự giới thiệu :
- Tiểu đệ họ Phàn tên Thế Hùng và em gái là Phàn Mộng Liên ngưỡng mộ đại danh nhị vị nên trộm phép tới đây khinh động kính chào, cúi mong thứ lỗi đường đột cho.
Đức Kiệt, Tú Anh vội đáp lễ :
- Đệ là Chu Đức Kiệt và em ruột là Tú anh đây, quán tại Bình Dương, Sơn Đông.
Phàn Thế Hùng sửng sốt :
- Ủa té ra nhị vị là Đơn Đao Bình Dương Chu anh hùng và Lam Y nữ hiệp chi gia đó. Anh em tiểu đệ có mắt không. Quí vị đại danh dội vang xuống tận Giang Nam. Hân hạnh, hân hạnh.
Chủ quán nói với Chu Đức Kiệt :
- Tôi vừa về tới quán nhà thì nhị vị Phàn gia đây phi ngựa tới. Phàn tráng sĩ đây tức là Phi Đao Thái Bảo và tiểu thư Song Đao Nữ người Thái An huyện, khắp vùng này ai cũng biết tiếng. thường qua chơi Trấn Giang và chuyến nào cũng ngụ tại bản quán.
Chu Đức Kiệt cả cười :
- Té ra chúng ta đồng đạo cả. Xin mời vào quán nói chuyện cho tiện.
Nói đoạn, đưa tay mời anh em họ Phàn đi trước.
Phàn Thế Hùng trạc tam tuổi trở lại, da ngăm đen, tai to mặt lớn, vóc dáng khỏe mạnh, lưng đeo bọc hành lý lộ cán cây đơn đao.
Phàn Mộng Liên mặt trái xoan, mũi cao mắt bồ câu đen láy, mang bộ võ phục màu tím, dáng dấp gọn gàng con nhà tướng. Vai nàng vác hành lý và bên sườn đeo cặp song đao, tuổi trạc đôi mươi.
Vào tới trong quán, Phàn Thế Hùng bảo chủ quán để cho hai căn phòng.
Chủ quán tươi cười :
- Trên lầu còn đúng hai căn phòng nữa kế cận với phòng nhị vị Chu gia đây.
Chu Đức Kiệt nói với Phàn Thế Hùng :
- Nhân huynh hãy cất hành lý lên phòng. Anh em tôi cũng cần phải sửa sang lại chút đỉnh rồi ta xuống nhà uống trà nói chuyện.
Chủ quán nói :
- Bây giờ cũng chiều rồi, nếu quí vị xơi rượu tôi sửa soạn.
Phàn Thế Hùng ha hả cười :
- Thế càng hay, Chu huynh, cho phép tiểu đệ được đứng chủ dưới này.
- Không được! Đệ tới Trà Hương quán trước là chủ, nhân huynh tới sau phải là khách mới trúng lý.
- Dạ xin tùy ý nhân huynh dạy sao tiểu đệ cũng phải cúi đầu tuân theo.
Sẩm tối, hai họ Chu Phàn, bốn người cùng xuống nhà.
Chủ quán đã dành căn phòng ăn nhỏ riêng cho bốn quí khách.
Ai nấy đều ăn uống nói chuyện rất là vui vẻ, Chu Tú Anh và Phàn Mộng Liên hai bạn gái rất thân mật.
Phàn Thế Hùng hỏi Chu Đức Kiệt :
- Chắc là Chu huynh muốn biết vì lẽ gì tiểu đệ tìm tới đây nhỉ?
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Chính vậy đó. Đệ thắc mắc lắm.
Phàn Thế Hùng cười :
- Trước là nhân huynh hơn tuổi, xin cho tiểu đệ được làm em, chứ đừng xưng hô thế trái phép. Có được không ư?
Đức Kiệt mỉm cười :
- Được lắm. Ngu huynh rất thực thà.
- Tiểu đệ từ Thái An huyện lên Trấn Giang vừa tới bến thì thấy mọi người đổ xô vào Xuân Phong quán. Vốn dĩ tiểu đệ biết quán ấy do tên Tham Hoa Quỷ Dương Tấn Đình lập nên, nay thấy nhiều người chạy vào đó, tiểu đệ nghi nay tơi việc y hay hiếp đáp người nên có ý vào xem và tiếp tay ai đó bị hãm trong quán ấy luôn thể. Không ngờ được mục kích trận đại náo Xuân Phong quán thiệt là hào hứng.
Về sau lúc nhị vị ra cứu tiểu đệ muốn theo bái yết ngay nhưng người xem đứng ngoài đông quá, tiểu đệ bị kẹt. Chen ra tới ngoài thì nhân huynh và Chu nữ hiệp đã đi đâu mất.
Hỏi thăm chung quanh người ta nói thấy nhị vị nói chuyện với chủ quán Trà Hương là người tiểu đệ cũng quen biết. Bởi vậy anh em đệ mới tìm tới đây và biết nhị vị trọ tới quán này.
Tên cẩu trệ Dương Tấn Đình cậy thế cha nó làm Tổng trấn, giam hãm phụ nữ đã nhiều lắm, trị thế cũng là còn nhẹ, đáng đời cho nó lắm...
Chu Đức Kiệt nói :
- Giết y cũng không được việc chi, tha cho y toàn mạng để bồi thường cho các nạn nhân về trước của y còn có lợi hơn.
Phàn Thế Hùng lắc đầu :
- Chưa chắc, Dương tổng trấn rất nuông chiều Dương Tấn Đình, chưa biết chừng y sẽ huy động nhiều người lục soát bắt nhị vị để trả thù. Thật ra họ Dương không biết rằng con y gây nên tội ác, nhưng Tấn Đình lợi dụng lòng thường của cha bịa đặt rằng y bị nhị vị cậy có võ nghệ náo Xuân Phong quán chẳng hạn. Tiểu đệ nghe nói Dương phu nhân thường che chở Dương Tấn Đình ton hót nhiều điều với chồng.
Chu Tú Anh cười :
- Việc đó không khó, chúng tôi sẽ có biện pháp chống lại rất dễ dàng và khiến chúng phải suy nghĩ nhiều.
Phàn Mộng Liên nói :
- Năm nào tiểu muội cũng cùng gia huynh lên Trấn Giang chơi mà may mắn không gặp bọn Dương Tấn Đình chuyến nào cả.
Chu Tú Anh nói :
- Nhị vị thừa sức đối phó với bọn chúng. Sá chi bọn côn đồ rất lạ một nỗi là thị trấn lớn như Trấn Giang này mà không có một tay võ dòng nào can thiệp để chúng hoành hành mãi thế khó chịu quá. Giang Nam đất rộng người nhiều, thiếu chi anh hùng liệt nữ.
Phàn Thế Hùng nói :
- Suy luận thế đúng lắm. Tại Trấn Giang có mấy họ võ nghệ chân môn Thiếu Lâm tự, song le mấy họ này từ đời nọ tới đời kia ở thị trấn này lâu lắm rồi, gia đình họ hàng đông nên có vẻ phần e nể quan Tổng trấn không dám thẳng tay. Hơn nữa Dương Tấn Đình cũng không bao giờ đụng chạm với họ nên họ không có dịp hành động. Nhưng lưới trời khó thoát, hôm nay gặp phải nhị vị. Trừ những hiệp khách giang hồ, người Trấn Giang này ai dám đại náo Xuân Phong quán.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Phan hiền đệ sánh quán tại Thái An huyện cách đây bao xa? Lập gia đình chưa? Đến Trấn Giang có việc chi.
- Thái An huyện lớn lắm, ở ngay dọc Trường giang cách Trấn Giang chừng 200 dặm. Thủy bộ đều có đường đi. Nếu có dịp qua đó nhân huynh cứ hỏi nhà họ Phàn thì ai cũng biết.
- Nhà còn lão mẫu. Riêng phần tiểu đệ mới lập gia đình. Sở dĩ muộn như vậy là vì tiểu đệ ưa thích tập luyện võ nghệ, giao du đây đó học hỏi thêm, về sau lão mẫu buồn phiền ép buộc gắt quá nên phải chiều ý người cho khỏi mang tội thất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại.
- Anh em tiểu đệ hàng năm lên Trấn Giang để thăm mấy người vào hàng thúc phụ cùng môn phái. Nhưng chuyến này thì sẽ đi Dương Châu thăm cô mẫu luôn thể.
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- À thế ra hiền đệ xuất thân từ thiếu lâm phái đó.
- Dạ, cũng như cố gia phụ. Phụ thân của tiểu đệ trước đây có theo học tại Tung sơn tỉnh Phúc Kiến. Bởi vậy mới truyền nghề cho đệ và Mộng Liên. Gia phục mất vừa mới mãn tang cho nên tiểu đệ vẫn có ý muốn lên Thiếu Lâm tự một phen nhưng gia mẫu không ưng thuận.
Chu Tú Anh :
- Như vậy cũng chân truyền rồi miễn là Phàn huynh thâu nhậu được tài nghệ của bá phụ.
Phàn Mộng Liên nói đỡ.
- Anh em tiểu muội chập chững gọi là theo đòi được chút đỉnh, so sánh sao được với các bực tiền bối, bởi vậy luôn luôn muốn học hỏi thêm. Như lúc ban chiều hiền tỉ đùng nội ngoại công đạp chệch hắn cậy cột lớn ở giữa Xuân Phong quán đó là một công phu không những cần phải chân truyền mà cần đòi hỏi nhiều năm tập luyện.
Chu Tú Anh cười :
- Phàn hiền muội thao thao bất tuyệt, chắc có đọc qua võ thuật từng thư giảng về công phu đó, phải không.
- Cố gia phụ có giảng qua nhưng chính người cũng chưa hấp thụ được công phu cao siêu ấy. Tiểu muội còn nhớ gia phụ một hôm nói rằng.
“Trong khắp lãnh thổ Trung Nguyên chỉ có sáu người sử dụng nổi lối “Nội Ngoại Thần Công thuật” là:
Bát Ma tổ sư ở Tây Tạng.
Huyền Vân trưởng lão ở Cửu Huyền sơn Quan ngoại.
Đức Võ đạo nhân, đồ đệ của Huyền Vân trưởng lão.
Ba vị này thì một ở cực tây, hai ở Hoa Bắc. Còn ba vị dưới đây ở Hoa Nam.
Chiêu Đức thiền sư ở Tung Sơn Thiếu Lâm tự.
Thượng Thái thiền sư ở Bạch Hạc Long Sơn, Vân Nam.
Thiết Cước đạo nhân ở Động Đình hồ.
Và bây giờ phải kể cả Lam Y nữ hiệp. Tổng cộng là bảy vị. Có thế không? Nữ hiệp tất biết rõ hơn chúng tôi”.
Chu Tú Anh nhìn Chu Đức Kiệt và anh em Phàn gia cười, và nín thinh.
Phàn Mộng Liên ngạc nhiên không hiểu.
- Tiểu muội nói sai chăng? Xin chỉ cho được biết rõ.
Chu Tú Anh nói :
- Phàn hiền muội nói rất đúng. Bát Ma tổ sư và Huyền Vân trưởng lão cùng học một thầy thì trưởng lão đã tịch rồi. Đức Võ đạo nhân hiện thay thế trưởng lão tu ở Quan ngoại, người là thúc phụ cũng là sư phụ của chúng tôi. Không phải riêng mình tôi nhưng gia huynh Chu Đức Kiệt đây cũng là thâu nhận được công phu lớn lao ấy.
Phàn Mộng Liên nghe nói, vội đứng dậy bước tới quỳ xuống trước mặt Lam Y nữ hiệp :
- Mộng Liên này có mắt mà không biết nhận xét. Chu nữ hiệp vào hạng sư phụ, tôi thiệt đáng tội xin người tha lỗi.
Chu Tú Anh vội tránh sang bên, nâng Phàn Mộng Liên dậy :
- Ấy chết, sao hiền muội lại hành động như vậy khiến tôi khó xử vô cùng. Chúng ta chẳng qua như hai chị em, còn vấn đề võ thuật công phu, tôi may mắn hơn và được bước trước nên tạm gọi là tiến xa hơn chứ có gì đáng kể.
Chu Đức Kiệt nói :
- Chúng ta đây như anh em một nhà. Phàn Muội chớ làm mất tự nhiên của bữa ăn thân mật này. Khi xưa đời Tống, Hoa hòa thượng Lỗ Trí Thâm vươn tay uốn mình nhổ bật hẳn cây liễu lên, sức lực đó mới đáng lưu danh muôn thuở.
Phàn Thế Hùng lắc đầu :
- Chư huynh nhún nhường dạy vậy thôi, cây cột chánh ở Xuân Phong quán năng nền hơn cây liễu nhỏ của Lỗ Trí Thâm nhiều vì sức nặng của mái nhà dồn cả vào cây ấy, Lam Y nữ hiệp đứng “Độc cước tấn” dùng chân đá bật hẳn cây cột lớn nhường ấy sang bên.
- Còn Hoa hòa thượng, lúc nhổ cây dương liễu, tọa bộ “Trung bình tấn” sau chuyển sang “Nghịch mã tấn” đồng thời chuyển mình mới nhổ nổi cây. Hồi còn sinh thời gia phụ có nói nhiều về công phu này. Nhưng có ghi chú rằng không phải người nào cũng đạt nổi thuật cao siêu này.
Chu Đức Kiệt nói :
- Phàn hiền đệ nhớ lắm. Bây giờ ta có thể lên Tung sơn tập luyện được. Như gia muội được theo thầy lên núi sớm không nói làm gì, còn tôi mãi năm 25 tuổi được thâu nhận đó. Rừng văn biển võ, có chí thì nên.
Anh em họ Phàn đờ người ra như nhớ tiếc hay mong muốn một sự gì khó thành công đối với họ.
Chu Tú Anh vội nâng chén vui vẻ :
- Kìa! Mải chuyện trò, quên cả uống rượu. Nào! Xin mời uống cho say, Quốc khánh hoa đăng đại hội mà.
0
Hồi 4
Bênh con hư, Dương Trường Hỷ truy nã người ngay
Vì dân lành, Đại hành khách dằn mặt kẻ quấy
 
Nói về Xuân Phong quán sau khi anh em Chu gia đi khỏi, Trư Diện Thử Tạ Kỳ Quang vội súc miệng rửa mặt, kiểm điểm lại thấy gãy tất cả trên dưới tám chiếc răng cửa, hai môi sưng mọng lên hư hai trái chuối vì họ Chu tát trúng miệng.
Khắp người ê ẩm, nhưng vì phận sự quản lý nên Tạ Kỳ Quang cố gắng làm việc để tạ ơn hậu đãi của Tham Hoa Quỷ Dương Tấn Đình.
Trước hết hắn kiểm điểm bọn gia nhân, tửu bảo xem những tên nào chạy núp kịp không bị bàn ghế đè phải.
Đoạn, Tạ Kỳ Quang cho người đi mướn kiệu đem Dương Tấn Đình và các gia tướng bị trúng thương về phủ quan Tổng trấn.
Bọn Hoa Tử Năng, Diệp Phước Hoa và Huỳnh Viết Ấn người nào được kiệu về nhà nấy.
Riêng bốn tên vệ sĩ bị ghế đẩu văng trúng bể mặt nặng hơn cả phải ở lại quán. Tạ Kỳ Quang cho rước lương y bổ thuốc cho chúng.
Trong phủ Mỹ Vân, tại tư dinh, Dương phu nhân từ lúc được cấp báo có kẻ náo Xuân Phong quán xin cứu viện, phái hai mươi tên gia tướng đi rồi thì không được tin tức gì nữa, đứng ngồi không yên.
Tiểu thư Dương Mỹ Vân phải khuyên can mẹ :
- Mẫu thân lo lắng chi nhiều thêm hao tổn tinh thần. Ngoài quán đã có nhiều người, nay lại thêm hai chục gia tướng khí giới đầy đủ, chắc thế nào cũng bắt được hai tên cường đồ ấy. Chỉ phiền một nỗi anh con làm khổ mẹ trăm chiều.
Dương phu nhân thở dài sườn sượt :
- Đã đành bên ta đông người, nhưng cũng nên nhận rằng ngoài Xuân Phong quán nhân viên không phải ít lại thêm bốn vệ sĩ dũng mãnh mà không trị nổi hai tên cướp ấy, còn phải xin cứu viện thì quả là sự đáng lo. Con, phận nữ nhi sẽ lấy chồng ở riêng, nhưng mẹ đã già còn một Tấn Đình là trai, mà lỡ nó bị cường tặc quá tay mệnh hệ nào thì mẹ sống sao nổi!
Nói đoạn, Dương phu nhân đưa tay áo chùi nước mắt.
Dương Mỹ Vân cũng khóc theo :
- Thôi mẹ cứ an tâm. Con cho sai thị nữ gia nhân ra ngoài quán xem sao nhé.
Dương phu nhân không nói gì, nước mắt vẫn giọt ngắn giọt dài.
Mỹ Vân gọi thị nữ :
- Thu Hương.
Thu Hương từ trong nhà chạy ra khách sảnh.
Ngươi xuống nhà dưới cho một gia nhân ra ngay Xuân Phong quán xem tình hình như thế nào phải về báo ngay nhé.
Thu Hương vâng dạ lui ra.
Lúc đó trời đã xế chiều, toàn thể Trấn Giang thành nội ngoại, ai nấy đều lên đèn sắc lấp lánh, sắc nọ màu kia. Người rong chơi ngoài phố đông đúc như kiến. Các ca lâu tửu quán đông nghẹt thực khách. Tiếng Tam Thập Lục Huyền lẫn với giọng ca nhu réo rắt từ trên lầu đình vọng xuống như gọi tình du tử.
Những đám múa lân rất lớn tùy theo từng phường, phân biệt bởi các màu sắc y phục riêng.
Như Phương Lão Hổ, áo quần chen vàng rằn đen, xà cạp đồng màu.
Phường Bạch hạc, quần áo trắng, đai lưng xanh.
Phường Thanh Long, y phục xanh trắng.
Phường Hồng sư, y phục đổ sẫm.
Phường nào cũng có lò võ riêng vừa múa lân lấy giải vừa biểu diễn võ nghệ, quyền cước, thập bát ban như siêu đao, trường mâu, hoa kích, đinh ba...
Cũng có Phường biểu diễn Đả lân theo các bài như Võ Tòng Đả Hổ, Na Tra Chấn Thanh Long, Đồng Tử Hí Bạch Hạc hay Hắc Bán Náo Hồng Sư.
Tiếng trống, chiêng thúc giục nhộn nhịp, ầm ĩ vẫn với tiếng pháp đỏ nổ rền, xác bung ra đường như muôn vạn cánh bông đào rớt tự không trung xuống, ánh lửa lóe tung muôn vạn hào quang nổi bật trên nền trời dần dần tối sẫm.
Trời không vẩn một sợi mây nhẹ, chị Hằng tròn vạnh sáng ngời ló bóng như muốn soi cả trần gian chia vui cùng thiên hạ... và ghen tị với muôn vạn chiếc hoa đăng.
Nói về tên gia nhân trong Dương phủ, vừa chạy ra tới Xuân Phong quán thì vừa gặp đoàn kiệu khiêng công tử Tấn Đình và các tướng trúng thương nhập thành về phủ, nên không vào tửu quán nữa, mà trước về phủ báo cho phu nhân rõ.
Dương phu nhân và tiểu thư Dương Mỹ Vân đã rút lui vào tư phòng chợt thấy thị nữ báo tên gia nhân đã về, bèn vội vàng kéo ra khách sảnh hỏi :
- Thế nào mi đã có tin tức gì chưa?
- Bẩm phu nhân, công tử và một số gia tướng đi kiệu sắp về kiệu lên đường, con không kịp hỏi rõ phải về dinh báo với phu nhân đỡ nóng ruột.
Phu nhân cho y rút lui.
Lát sau, đoàn kiệu về tới, cửa dinh mở rộng, kép cả vào trong sân.
Dương phu nhân, Mỹ Vân tiểu thư, ba vợ Tấn Đình và các thị nữ xuống cả dưới sân đỡ quí công tử vào nhà, áo gấm rách ngang vai hãy còn vương đầy thức ăn mỡ màng.
Phu nhân truyền gia nhân và phụ kiệu đưa các gia tướng vào trong trại để lương y săn sóc.
Không thấy Tạ Kỳ Quang, phu nhân liền hỏi :
- Họ Tạ đâu?
Mọi người nói :
- Họ Tạ ở Xuân Phong quán.
Đi ra quán ngay, gọi y về đây, ta cần hỏi chuyện. Đi ngay.
Nói đoạn, phu nhân quay vào tư phòng Tấn Đình.
Ba vợ đã cởi áo ngoài, tháo ủng và đặt Tấn Đình nằm trên giường, lấy nước ấm lau tạm các vét dơ ở mặt, tóc và tay.
Phu nhân khóc òa lên, ngồi xuống bên giường hỏi :
- Con có làm sao không? Mẹ đã cho gọi lương y rồi.
Quen thói được nuông chiều, Tấn Đình làm ra vẻ đau đớn lắm, thật ra y chỉ bị sưng mặt xây xát xoàng và hơn nữa ê ẩm người vì anh em Chu gia không chủ tâm giết, chỉ làm cho y khiếp sợ mà thôi.
Phu nhân cuống quít bảo vợ Tấn Đình :
- Các con xem kỹ nó có bị gãy chân tay không?
Vừa lúc ấy, lương y tới. Phu nhân truyền cho vào.
Chào lạy mọi người xong, lương y trèo lên giường xem nắn khắp người Dương Tấn Đình bắt mạch.
- Phúc đức công tử không trúng trọng thương, nhưng tinh thần bị hoảng hốt vì khiếp sợ, uống vài thang thuốc sẽ điều hòa ngay. Còn các chỗ sưng và xay xát sẽ có thuốc bôi, nên để cho công tử nghỉ ngơi.
Nói đoạn, lương y ra ngoài nhà kê đơn cắt thuốc.
Phu nhân thấy Dương Tấn Đình không sao thì cũng an tâm, nhưng căm tức lắm, dặn ba vợ Tấn Đình và bọn thị nữ hầu hạ cho chu đáo, rồi cùng tiểu thư Mỹ Vân ra khỏi phòng.
Lát sau, Tạ Kỳ Quang đi kiệu về tới phủ.
Dương phu nhân hỏi :
- Các ngươi làm ăn ra sao, đến nỗi để mấy đứa côn quang đâu tới náo Xuân Phong quán đánh đại công tử và bao người bị trọng thường như vậy.
Tạ Kỳ Quang nói :
- Bẩm chúng nó võ nghệ siêu quần coi mấy chục người chẳng vào đây. Lúc ra đi còn đe dọa, nếu là quan Tổng trấn đem binh tới chúng cũng đánh tan.
Tạ Kỳ Quang bịa đặt mấy câu khiến phu nhân phát tức nói với chồng cho lịnh truy nã hai anh em Chu gia.
- Các ngươi có biết chúng ngụ ở đâu không?
Họ Tạ gãi tai :
- Bẩm không. Theo giọng nói thì hai người đó từ Hoa Bắc tới chứ không phải người xứ này.
- Được rồi. Lát nữa tướng công từ tiệc trở về ta sẽ liệu.
Tạ Kỳ Quang lạy ra rồi vào thăm Dương Tấn Đình thuật lại câu chuyện vừa nói với phu nhân cho y nghe.
Tấn Đình đuổi mọi người ra khỏi phòng, bảo họ Tạ :
- Hai đứa ấy bản lãnh ghê gớm lắm, nếu ta không giữ lời hứa, chúng sẽ trở lại thì sao.
- Chúng có ba đầu sáu tay cũng chẳng vào nổi phủ này trong thời kỳ ấy, phu nhân nói với Tướng công cho lục soát khắp nội ngoại thành, truy tầm bắt cho kỳ được. Không lẽ hai đứa ấy chống lại binh mã cả mấy trấn này sao? Bọn ta cần phải báo thì để giữ nguyên giá trị ở Trấn Giang này chứ.
* * * * *
Khi Dương Trường Hỷ dự tiệc liên hoan với các quan bên phủ Thủy sư Đề đốc trở về tư dinh, thấy phu nhân nét mặt buồn rượi, liền hỏi nguyên cớ.
Dương phu nhân bèn kể chuyện náo Xuân Phong quán cho chồng nghe và nói thêm.
- Hai cường đạo còn đe dọa Tấn Đình phải dẹp quán lại, hẹn trong ba ngày nếu không thi hành việc đó, thì dù tướng công có cầm binh toàn trấn này chúng cũng chẳng coi ra mùi gì.
Dương Trường Hỷ suy nghĩ nói :
- Chắc thằng Tấn Đình thấy con bé đó nhan sắc trêu cợt, không ngờ gặp đúng tay bản lãnh nên mới bị đòn chứ gì.
Phu nhân thấy chồng không tin, hỏi dằng dai, liền bù lu bù loa.
- Chao ôi! Tướng công không tin lời nói của vợ con lại còn binh vực hai đứa côn quang đó thì thôi. Chỉ tiếc thay lúc ấy không có tướng công ở tại chỗ để nghe lời khinh miệt. Tôi chỉ buồn vì tướng công là một vị đường quan coi cả một thị trấn lớn như Trấn Giang này mà bị hai đứa ấy đe dọa, mạt sát trước mặt Tấn Đình và dân chúng thì còn giữ thể diện sao được với mọi người. Tiếc thay!
Dương Trường Hỷ đỏ mặt đứng lên vào thăm Tấn Đình.
Khi trở ra đại sảnh, biên mấy chữ vào giấy công vụ. Đoạn gọi mất tên gia tướng lên hỏi :
- Có bao nhiêu người trong bọn các ngươi không bị thương hay bị thương xoàng trong vụ ngoài quan chiều nay?
Một tên nói :
- Bẩm tướng công, có mười người.
- Có nhận được mặt đôi nam nữ phá quán chiều nay không?
- Bẩm nhận được ạ!
- Nếu vậy mười người trong bọn các ngươi cầm giấy này sang ngay dinh quan Tham tướng Hoa Chí Vinh. Các ngươi phải chia nhau ra đi theo các toán quân đi truy tầm hai hung thủ lục xét rất cả các nơi trà đình tửu quán.
- Chừng nào thấy được tung tích hai đứa ất, phải cấp tốc về báo quan Tham tướng đốc xuất binh tướng đi bắt ngay nghe.
Bọn gia tướng nhận thư quay trở ra sang dinh Hoa Chí Vinh.
Nói về Hoa tham tướng vừa dự tiệc về thấy Hoa Tử Năng bị nhục thì rất bực tức, chưa biết hành động ra sao. Không lẽ đang hội Hoa đăng lớn lao huy hoàng như vậy mà tự ý cho binh tướng đi lùng bắt hung thủ làm kinh động toàn thành.
Giữa lúc ấy, có quân vào báo bên quan Tổng trấn gửi công lệnh sang.
Hoa Chí Vinh đọc vụ lịnh xong, cả mừng, tức khắc cho bọn gia tướng bên Tổng trấn vào.
Đoạn huy động quân lính chia ra thành nhiều tốp, phát lịnh tiễn cho đi khắp nơi khám xét các tửu quán có khách trọ.
- Như các ngươi đã biết trong ba ngày đại hội, bốn cửa thành đều mở suốt đêm ngày. Hễ thấy hung thủ phải về đây cấp báo.
Quân vâng lịnh rầm rộ kéo đi.
Thế là dân chúng đang vui vẻ hội hè chè chén, bỗng nhiên thấy quân đi tuần tiễu khám xét lục lọi khiến mọi người nhốn nháo cả lên như thể sắp có giặc vào thị trấn này.
Khám xét kiểu cổ điển ấy đối với những bậc giang hồ kiếm khách bản lãnh phi thường xuất hiện như thần, có ăn thua chi.
Đêm ấy, sau khi đã vắng khách, chủ Trà Hương quán vào thành chơi.
Bốn anh em họ Chu và họ Phàn dùng bữa xong, bắc ghế ra dưới mấy gốc liễu phía sa quá bên bờ sông, chuyện vãn.
Trên sông, thuyền lớn nhỏ qua lại như mắc cửi, hoa đăng lóng lánh phản chiếu xuống nước như sao sa. Tiếng đờn ca từ dưới thuyền trầm bổng tuyệt vời.
Bỗng chủ quán hớt hơ, hớt hải trở về báo :
- Quan Tổng trấn cho nhiều toán quân đi khám xét các tửu quán có khách liên can tới vụ Xuân Phong quán lúc ban chiều. Tôi đoán vậy chắc không sai.
Chu Tú Anh nói :
- À ra bọn cẩu trệ ấy trở mặt như thế đó. Chúng đã không biết hối cải lại còn cậy thế lực khám xét khiến dân chúng mất vui trong mất ngày hội. Thiệt là quá đáng.
Phụ mẫu chi dân mà thế ư! Chỉ biết ăn no mặc ấm tiền nhiều, lầu vàng gác ngọc kiệu mã xa hoa, vơ vét đầy túi tham, còn vấn đề an ninh của dân chúng thì mặc, mạnh ai nấy sống. Hừ!
Chu Đức Kiệt hỏi chủ quán :
- Tiên sinh có thấy quan quân khám trên nóc nhà không?
- Không, nhưng họ lục xét trong nhà, nhận mặt từng người rất tỉ mỉ.
Phàn Thế Hùng cả cười :
- Nếu vậy thì khi nào họ tới quán này, Chu huynh và Nữ hiệp cứ lên nóc nhà tạm, mặc anh em tôi đối phó dưới nhà. Rồi mai sẽ hay.
Chu Tú Anh hỏi :
- Chủ quán có e phiền lụy không.
Chủ quán ha hả cười :
- Chao ôi! Sự hiện diện của nhị vị hiệp khách là cả một danh dự cho Trà Hương quán. Tôi có lo chi điều ấy. Phàn tiên sinh bàn như thế rất ổn. Tôi sẽ căn dặn người nhà để đối đáp cho xuôi câu chuyện khi nào quan quân tới.
Phàn Mộng Liên nói :
- Vị tất chúng tới đây đã được đêm nay. Trấn Giang thành này thiếu chi tửu quán.
Chủ quán vào nhà.
Sang cuối canh tư, trong khi mọi người đang giấc điệp mơ màng thì có tiếng gọi giật ngoài cổng quán.
Chủ quán từ trong nhà dòm ra ngoài biết là quan quân tới khám, giả đò chùng chình hỏi lớn cốt ý có trên lầu hai hiệp khách Chu gia biết :
- Ai gọi gì mà dậy sớm thế!
Tiếng nói hách dịch đáp :
- Mở cổng mau! Có việc cần.
Chủ quán chậm chạp châm đèn, lạch cạch mở cửa quán, chập choạng qua sân ra cổng ngoài.
- Làm gì mà lâu thế. Quan quân tới khám, bộ giấu cường khấu trong nhà hay sao mà bây giờ mới tới hả.
Chủ quán vờ mắt nhắm mắt mở :
- Ô! Có việc chi thế các ngài! Đềm hôm khuya khoắt thế này, đang hội hè vui vẻ tìm cường khấu nào vậy.
Tên đoàn trưởng bước vào, vẫy tay cho mười tên lính đoản đao tuốt trần vào nhà.
- Các ngươi vào nhà khám kỹ cả trên lầu dưới nhà coi.
Đoạn hắn trợn mắt nhìn chủ quán.
- Còn vờ vĩnh nỗi gì? Biết điều trao hai tên nam nữ ăn cướp ấy cho chúng ta, nếu giấu giếm thì can tội đồng lõa, hạ ngục một gông đó.
Chủ quán không hiểu hỏi :
- Có việc chi thế, ngài đội trưởng?
- Lão quả tình không hiểu... Đêm khuya sương lạnh mời ngài vào nhà xơi hớp rượu cho nóng người đã.
Mọi người trong nhà bị động đều thức dậy cả.
Bọn lính đi ra, đi vào, lên lầu xuống lầu rầm rập vang nhộn cả quán.
Lát sau, chúng dẫn một nam một nữ từ trên lầu xuống, nói với trưởng đoàn.
Trên lầu chỉ có ba căn phòng có khách, một ông già và hai anh em người này thôi.
Đoàn trưởng hỏi :
- Hai người họ gì, từ đâu tới đây.
Người con trai đáp :
- Anh em tôi họ Phàn, từ Thái An huyện tới đây xem hội hoa đăng.
Đoàn trưởng nhìn kỹ từ đầu chí chân hai anh em họ Phàn, rồi nhìn tên gia tướng bên Tổng trấn phủ, có ý hỏi thế nào.
Tên gia tướng ấy lắc đầu.
- Có chắc không?
Tên gia tướng quả quyết.
- Chắc chắn không phải, tôi biết rõ mặt hai tên ấy lắm.
Chủ quán khệ nệ bê một khay đựng rượu và đầy ly.
- Mời các ngài xơi tạm ly rượu cho ấm người, vất vả cả đêm.
Bọn quân lính đứng nguyên chỗ. Viên đoàn trưởng hất hàm bảo :
- Chủ quán có lòng tốt, các người uống đi, rồi còn khám xét nơi khác.
Phàn Thế Hùng hỏi :
- Bọn tôi lên lầu đi ngủ được chưa?
Viên đoàn trưởng mỉm cười gật đầu:
Họ Phàn bảo Mộng Liên.
- Lên lầu trước đi, hiền muội.
Bọn lính uống rượu xong rồi đi ra. Viên đoàn trưởng dịu giọng bảo chủ quán :
- Tôi làm phận sự đừng buồn nhé.
- Chúng tôi đâu dám làm buồn, sao ngài đội nói thế.
Nói đoạn, chủ quán ra đóng cửa lại cẩn thận.
Chờ chúng đi xa rồi, Phàn Thế Hùng và chủ quán lên lầu nhịp Đức Kiệt và Chu Tú Anh đứng ở cửa phòng cùng vỗ tay cười:
* * * * *
Vụ đại náo Xuân Phong quán đã được báo cáo ngay bên phủ Thủy sư Đề đốc ngay từ ban chiều do ban tình báo riêng của Đề đốc về tình hình thị trấn.
Nhưng hôm sau thì quan Đề đốc Đàm Bá Phục đang dùng trà trên đại sảnh thì có mật tin báo về vụ khám xét các tửu quán, trà lâu suốt đêm hôm qua khiến dân chúng xao xuyến nôn nao tưởng có giặc đột nhập Trấn Giang.
Đàm Bá Phục thừa biết vì lẽ gì mà có sự khám xét ấy, nhưng hành động đó đã gây nên một dư luận không hay, phương hại tới nên an ninh của toàn thể dân chúng Trấn Giang.
Mà nói về vấn đề an ninh thì quan Thủy sư Đề đốc có trách nhiệm lớn lao vì thời Vĩnh Lạc vương nhà Minh, Trấn Giang là một căn cứ quan trọng vào bậc nhất của thủy quân Minh triều.
Bởi vậy, Đàm Bá Phục liền thảo công văn gửi sang Mỹ Vân phủ như sau:
Minh triều, Vĩnh Lạc vương, Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục kính gửi quan Tổng trấn Trấn Giang thành.
Đang lúc dân chúng Trấn Giang vui vẻ liên hoan Quốc khánh, bản chức được biết bên Mỹ Vân phủ cho quân lính đi khám xét mọi nơi truy nã cường khẩu, khiến ai nấy đều hết sức xôn xao, như thế cường khấu quả đột nhập thị trấn này.
Riêng phần bản chức không hay biết chi cả và ngay cơ quan mật bên phủ Thủy sư có trách nhiệm liên can hệ tới sự an ninh của hải khấu Trấn Giang, cũng hoàn toàn không nhận xét được rõ ràng lý do hành động cuộc khám xét đêm rồi do bên Mỹ Vân phủ điều động.
Vậy yêu cầu quan Tổng trấn cho biết lý do cuộc khám xét ấy để bản chức: Thứ nhất cho điều tra lý lẽ bất an ninh. Thứ nhì khiển trách cơ quan mật vụ bên phủ Thủy sư vì bất lực. Thứ ba, báo cáo về triều.
Mong quan Mỹ Vân hiểu thấu trách nhiệm nặng nề của người thống xuất toàn thể thủy quân, thông đạt cho hay để bản chức liệu bề và kịp thời hành động.
Thủy sư Đề đốc
Đàm Bá Phục
(Thân ký)

Khi quan Mỹ Vân Dương Trường Hỷ nhận được bức công văn này liền vội vàng mở ra đọc, toát mồ hôi vì không ngờ họ Đàm đã được báo cáo sớm như vậy.
Nếu quan Đề đốc báo cáo về triều vụ này, tất sẽ có cuộc điều tra và như vậy phần bất lợi về bên Mỹ Vân phủ.
Vì thế, Dương Trường Hỷ đành phải trả lời qua loa cho bên Đề đốc phủ hay, một mặt cho phi mã quân triệu tất cả các toán quân đang lần lượt khám xét về.
Nhờ vậy, lệnh truy nã hung thủ vụ Xuân Phong quán bị dỡ bỏ và dân chúng đỡ xôn xao, an tâm dự cuộc Hoa đăng.
Ngay hôm ấy, chủ quán Trà Hương theo dõi tình hình thấy mọi cuộc khám xét đều bị đình chỉ, bèn đem tin về cho hai họ Chu, Phàn hay nhưng không một ai đoán được lý do việc dỡ bỏ cuộc truy tìm.
Đêm hôm ấy tuy trăng sao vằng vặc, hoa đăng sáng ngập trời Trấn Giang, phố phường đông nghịt những người nhưng không một ai nhìn thấy hai dạ hành khách phi biến trên các nóc nhà, chuyển vào tới dinh quan Mỹ Vân.
Hai bóng đen đó là là hai vị hiệp khách Chu gia từ Trà Hương quán vào thành.
Tới dinh Tổng trấn, đèn đuốc sáng trưng như ban ngày. Ngay cổng dinh, nào xe, nào kiệu để thành dãy dài theo dọc tường hoa. Phu xe phụ kiệu tụm năm tụm ba chuyện trò.
Chu Đức Kiệt hỏi nhỏ Chu Tú Anh :
- Họ Dương có dạ hội.
Hai người bèn từ nóc nhà bên phi thân như hai vệt đen mờ lần vào khóm lá um tùm của cây hòe ở gần cửa tư dinh.
Trong đại sảnh, các quan văn võ thuộc phủ Mỹ Vân đang ăn uống vui đùa.
Đức Kiệt rỉ tai Tú Anh :
- Người mập mạp mang áo đại triều màu huyết dụ kia chắc là Dương Trường Hỷ.
Tú Anh đáp :
- Trông kiểu cách đúng hắn không sai.
Ngoài hành lang và quanh sân trước, quân lính gươm giáo tuốt trần, canh phòng nghiêm trọng.
Chu Tú Anh ra hiệu cho Đức Kiệt, đoạn vung tay một cái. Một vết đen từ tay bay vút ra rít lên như tiếng gió, đồng thời chiếc lẵng đèn trong đại sảnh rớt xuống gạch xoảng một tiếng lớn trong nhà tối om, mọi người đang cười nói vui vẻ bị giật mình rú lên.
Đang lúc nhốn nháo, tiếng phập mạnh ở giữa bàn dài, và mọt tiếng rú thiệt lớn vang dội cả gian phòng rộng rãi.
Từ bên ngoài, gia nhân và quân lính vội vàng kẻ cầm đèn, người vác đuốc chạy ồ vào sảnh để soi sáng tạm.
Sau khi ánh sáng trong sảnh đường tạm điều hòa, gia nhân nhấc chiếc lẵng lên thấy sợi dây đồng treo lẳng bị một vật gì tiện đứt, bởi thế lẵng mới rớt.
Mọi người nhận rõ hơn nữa, thấy quan Mỹ Vân tóc rũ rượi và mũ nón lúc nãy đội trên đầu biến đâu mất rồi. Dương Trường Hỷ đờ ra trên mặt y, mặt tái xám không còn hột máu.
Chưa ai hiểu ra cả thì một người đã kêu lên :
- Chao ôi! Mũi phi đao nè!
Ai nấy đều nhìn theo tay người đó chỉ thì thấy ngay giữa thồi dài, chiếc phi đao cắm ngập nửa lưỡi chuôi dao, hai giải lụa lam có chữ trắng còn rung rinh.
Tham tướng Hoa Chí Vinh vội đẩy ghế tiến tới lay đi, lay lại rút ngọn phi đao lên thì từ cán đao tuột ra một mảnh giấy trắng có mấy hàng chữ:
“Gửi quan Mỹ Vân.
Dương Tấn Đình cậy thế làm tàng, giam hãm phụ nữ thị trấn này nhiều lần rồi.
Xuân Phong quán là nơi tụ họp của y cùng lũ côn quang du thủ du thực nên ta phá đi.
Nếu Tấn Đình và đồng bọn không chịu giữ lời hứa theo điều kiện của ta thì đêm ngày mốt ta sẽ lấy thủ cấp.
Yêu cầu không được hành động nôn nao dân chúng.
LAM Y NỮ HIỆP”.

Nét chữ rắn rỏi như rồng bay phụng múa.
Hoa tham tướng đọc xong liền đưa cho Dương Trường Hỷ coi.
Quan Mỹ Vân run rẩy đón lấy tờ giấy thì bỗng tên gia nhân đứng gần đó kêu dội lên :
- Chao ôi! Cái gì lóng lánh trên xà nhà thế kia?
Mọi người liền nhìn theo tay tên gia nhân, nhận ra vật lóng lánh ấy không phải thứ gì xa lạ mà là chiếc mũ của quan Mỹ Vân.
Gia nhân bèn bắc thang lên lấy mũ xuống.
Dương Trường Hỷ sạm mắt lại, đọc qua tờ giấy mà Hoa tham tướng vừa trao cho.
Họ Dương tự nghĩ:
“Bản lãnh người này quả thật siêu việt. Nếu định hại ta thì mất đầu rồi còn gì!”.
Nghĩ đoạn, đưa tay lên xoa gáy như để kiểm soát xem thủ cấp có còn y nguyên hay không!
Việc vừa xảy ra nói thì lâu nhưng quả thật lanh lẹ như chớp mắt.
Sau khi Chu Tú Anh dùng phi đao cắt đứt dây lẵng đèn, hai người nhẹ nhàng như đôi chim én phi thân qua hành lang vào sảnh đường.
Chu Tú Anh liệng phi đao xuống giữa thồi trong lúc Đức Kiệt lột mũ Dương Trường Hỷ phóng mình đặt mũ đó lên xà nhà. Đoạn cả hai hiệp khách lại phi thân ra ngoài như hai luồng gió đen về Trà Hương quán.
Hành động mau lẹ bí mật như ma quỷ.
Giữa Trà Hương quán, anh em họ Phàn và chủ quán đang ngồi chờ ở bàn tiệc thiêu dạ thì hai dạ khách đã nhảy vụt vào như đối én liệng nhẹ nhàng không một tiếng động.
Đức Kiệt, Tú Anh treo khí giới lên tường rồi ngồi xuống, xoa tay kể chuyện lại Tú Anh mọi người nghe.
Ai nấy đều thích chí vỗ tay cười ngấy.
Chủ quán rót hai ly rượu mời :
- Xin mời nhị vị giải lao rồi nhập tiệc thôi.
Năm người cùng nâng ly uống cạn và bắt đầu ăn uống rất vui vẻ.
Chu Tú Anh nói với chủ quán :
- Bữa mai và bữa mốt, yêu cầu tiên sinh chú ý hộ chúng tôi xem Dương Tấn Đình có bồi thường cho những gia đình có người bị y giam hãm trước đây hay không. Nếu y không giữ lời hứa, chúng tôi sẽ thẳng tay trừng trị.
- Xin vâng! Nội ngoại thành tôi cũng có quen biết vài gia đình nạn nhân, để tôi dò xem thế nào và sẽ báo cáo sau.
Chu Tú Anh thấy chủ quán nhiệt tâm, nói mấy lời cám ơn.
Chủ quán vội xua tay :
- Đáng lẽ dân chúng thị trấn này phải tạ ơn Nữ hiệp mới phải. Trừ được mối hại họ Dương, công đức ấy lớn lắm. Việc tôi làm có chi đáng kể!
Phàn Thế Hùng hỏi anh em Chu gia :
- Nhị vị đã có chương trình hành động ngày mai chưa.
Chu Đức Kiệt nói :
- Ngu huynh định sáng mai đi thuyền trên Trường Giang chơi. Nếu không có việc chi gấp mời Phàn đệ và Phàn muội đi luôn thể cho vui.
- Xin vâng. Sau cuộc du thuyền, chúng ta vào nội thành chơi, nhân tiện đi thăm mấy vị đồng học với gia phụ khi trước luôn thể có được không?
- Được lắm, âu cũng là một dịp mở rộng sự quảng giáo.
Chủ quán vội nói :
- Quí vị nên tính cho kỹ. Phải phòng bị sự trở tráo của họ Dương mới được.
Phàn Mộng Liên cười :
- Tôi tính chúng không dám lật lọng. Quan Mỹ Vân phải nghĩ tới thủ cấp của ngài đáng lẽ mất từ lúc nãy giữa bàn tiệc rồi.
Chu Tú Anh nói :
- Tôi đồng ý với Phàn muội. Nếu chúng trở mặt càng dễ cho hành động không cần dè dặt. Có một điều cần tiểu tâm là nên ra tận ngoài bến xa mướn thuyền để tránh tiếng cho chủ quán là người buôn bá thường trực tại đây.
Chủ quán vội nói :
- Quí vị khỏi bận tâm. Tôi có sẵn thuyền khá lớn neo ngay phái sau nhà và đã có người tâm phúc chèo. Khỏi khúc sông gần đây vào tới Trường Giang tấp nập ngay.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-02-19 16:02:25casau>
Hồi 5
Nhận đao Thái Bảo, táng đởm Dương tổng trấn
Nghe lời Nữ hiệp, kinh hồn Mãng Đầu Đà
 
Dòng Trường Giang nước chảy lững lờ, hai bên triền sông nhà cửa san sát, thuyền đủ các cỡ qua lại như mắc cửi. Tài tử giai nhân, y phục gấm vóc màu sắc rực rỡ, du thuyền không thiếu.
Chu Tú Anh hỏi :
- Người ta đi đầu về hướng này mà đông vậy.
Phàn Mộng Liên đáp :
- Họ ra bến Giang Đầu, lên núi chiêm bãi Lĩnh Sơn miếu và uống rượu ở Vạn Thảo mỹ điếm.
Từ phía trước, mấy chiếc hoa thuyền chèo ngược trở về. Anh lái chiếc thuyền đầu, tay đủng đỉnh chèo miệng hát:
Thuyền bồng trở lái Giang đầu.
Đáy sông mây lắng nhịp cầu chênh vênh.
Giang hồ sông nước lênh đênh.
Đò xuôi nước ngược, mênh mông tiếng hò...

Giọng hát thanh thanh lẫn với tiếng chèo khua nước tan trong gió nhẹ quyền hương xa, khiến triền sông đã đẹp lại trở nên thơ mộng tuyệt vời.
Không bao lâu, thuyền ghé bến Giang Đầu.
Nơi đây, hoa thuyền rực rỡ đậu tựa bến tre. Khách thập phương đi chiêm bái thần linh kẻ tới, người lui đông đúc.
Những vị lão trượng râu tóc bạc phơ như cước, sắc diện hồng hào, tay chống gậy trúc, theo sau những chú tiểu đồng xinh xắn tóc gọt trái đào...
Đây những mặc khách thi nhân, giải mũ xanh nhẹ bay trước gió, đủng đỉnh văn thơ đầy túi, rượu ngát lưng bầu, người nào cũng tuấn tú thanh tao...
Kìa những giai nhân tuyệt sắc, xiêm y rực rỡ, mấy giải lụa nhẹ bay như cánh bướm rỡn hoa xuân. Dáng điệu khuê các, gót sen đủng đỉnh, các nàng theo sau mấy bà lão mẫu, nét mặt vô cùng nghiêm khắc.
Linh Sơn thần miếu cổ kính quyện đầy hương khói, xây bằng ngói ống gạch hoa ở ngay chân núi Giang Đầu vách đá trắng chênh vênh, dưới những bóng tùng cao ngất.
Hai họ Chu, Phàn sau khi đã dâng hương, theo đường mòn ven núi lên tới một khu đất rộng rãi mọc đầy đào hồng, mai trắng, cúc vàng, hai đường đỏ ối và nhiều thứ bông khác nhau màu sắc lung linh, hương quyện ngạt ngào. Mấy mái đình ngói đỏ mái cong nối liền với nhau bởi những dãy hành lang khúc khuỷu mỹ miều. Giữa các huê viên kỳ lạ ấy, trồng một cây cột cao ngất trên ngọn phất phới lá chiêu bài xanh chữ trắng Vạn Thảo Điếm.
Khách ăn đông đảo. Đình nào cũng có tỳ bà muội đờn ca réo rắt nhặt khoan làm vui tai thực khách.
Chu Đức Kiệt đi trước tìm căn đình ít người chọn một thồi giáp với lan can. Chu Tú Anh chỉ tay bảo mọi người:
- Hoa Bắc non cao rừng rậm hùng vĩ, miền Nam đất rộng dân nhiều phồn thịnh, kìa trông dòng sông xanh quanh co chẳng khác chi con thanh long uốn khúc mà vẩy bạc lấp lánh là những đợt sóng nhô lăn tăn phản chiếu nắng hồng.
Chu Đức Kiệt gật gù nói tiếp :
- ... Và Trấn Giang là cả một thị trấn bằng hoa, muôn nghìn màu sắc!...
Phàn Thế Hùng cười khanh khách.
- Còn nhị vị là đôi kiếm khách có tâm hồn thi nhân.
Phàn Mộng Liên nhìn anh mỉm cười :
- Chứ không ư! Thi nhân kiếm khách khác chi nhau? Một đăng dùng bút ngọc hoa tiên ca ngợi cảnh đẹp của đất nước. Một bên lấy thần kiếm uy linh hoa lên những đường gươm chớp giật như đượm vẻ hùng khí non sông, tài an bang tế thế có thể làm nghiêng ngửa cả sơn hà.
Bốn người nâng ly mời nhau khúc khích cười.
Bỗng Chu Tú Anh đưa mắt bảo ba người :
- Coi kìa! Hai hòa thượng kia chắc không phải tay vừa.
Chu Đức Kiệt và anh em họ Phàn cùng nhìn ra phía cửa thấy hai vị hòa thượng vóc người to lớn, đầu trọc lốc nhẵn bóng, mắt lồi mày chổi xễ xếch ngược, diện mạo hung dữ. Người đi trước vận áo cà sa màu xám tro trên lưng đeo chiếc nón lá rộng trùm ra ngoài cây doãn đao cán lộ qua vai. Người đi sau chống câu thuyền trượng bằng sắt nặng nề.
Hai hòa thượng dựng nón lá và đao, trượng vào góc đình kéo ghế ngồi xuống thồi gần đó, gọi rượu uống.
Họ vừa uống rượu, vừa đưa mắt sắc như dao nhìn kháo mọi nơi, hễ thấy thồi nào có gái đẹp là trố mắt nhìn không hề ngượng nghịu.
Các thiếu nữ, thiếu phụ vô tình gặp mấy luồng nhỡn quang ấy đều đỏ mặt cúi gằm.
Hai hòa thượng nhìn tới thồi bọn Chu Đức Kiệt thấy bốn món võ khí dựng bên lan can thì thầm bảo nhau mỉm cười. Nhưng vẫn lấm lét không rời bỏ được sắc hoa nhường nguyệt của Chu Tú Anh và Phàn Mộng Liên.
Mộng Liên kín đáo hỏi :
- Gớm khiếp chắc chắn hai ông hổ mang, không sai.
Phàn Thế Hùng nói với họ Chu :
- Tôi lên Trấn Giang đi dâng hương đền chùa miếu mạo đã nhiều mà chưa hề gặp bọn này. Có lẽ họ từ xa tới.
Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Trong chốn giang hồ gặp giới tu hành kiểu này cũng khá nhiều và cũng lắm tay võ dũng công phu rất đáng kể, hiềm vì họ đi sai đường lạc lối.
Chu Tú Anh nín thinh nghe ba người đàm luận, thản nhiên như không để ý tới mọi việc chung quanh:
Phàn Thế Hùng hỏi Đức Kiệt, Tú Anh :
- Chuyến này anh em tôi đi Dương Châu thăm cô mẫu, nếu không có việc gì cần gấp, mời nhị vị cùng đi luôn thể được không?
Đức Kiệt nhìn Tú Anh hỏi ý kiến.
Tú Anh đáp :
- Anh em tôi xuống Hoa Nam chuyến này chỉ có mục đích nhàn du. Gót giang hồ bất định sẽ đặt khắp cõi Giang Nam và non nước Ngũ Hồ. Dương Châu cũng như Tô, Hàng, danh lam thắng cảnh đầy rẫy. Chúng ta cùng đi càng hay và bái yết cô mẫu luôn thể.
Phàn Mộng Liên mừng rỡ.
- Ồ! Thế thì hay quá. Tiểu muội đang lo mai mốt phải cùng Nữ hiệp chia tay, nay được cùng đi thì sảng khoái quá chừng. Mối tình chị em đã lưu luyến nay lại càng khăng khít, tiểu muội chẳng nỡ rời tay.
Chu Tú Anh đăm đăm nhìn Mộng Liên, mỉm cười :
- Thân muội đa tình, đa cảm quá rất đáng yêu. Nhưng thế nào cũng phải trổ tài Song Đao Nữ, Tú Anh xem một phen thì tôi mới chịu chứ.
Nói đoạn liếc nhìn Chu Đức Kiệt khúc khích cười. Phàn Mộng Liên sắc diện ửng hồng, e thẹn khiến nàng đã đẹp lại càng tăng vẻ yêu kiều. Chu Đức Kiệt đăm đăm nhìn cặp nhạn chắp cánh bay liệng trên nền trời xanh biếc. Chu Đức Kiệt ác nghiệt nói tiếp :
- Và bao giờ Song Đao Nữ ở riêng đây? Chắc hẳn ý trung nhân cũng phải là bực anh hùng hào kiệt mới bỏ công luyện tập của khách má hồng.
Phàn Mộng Liên đỏ ứng như trái đào chín, miệng hoa chúm chím :
- Gớm Nữ hiệp cứ giỡn hoài khiến tiểu muội cảm thấy tài hèn sức kém.
Chu Đức Kiệt phá ngang :
- Hiền muội Tú Anh quá chén say hay sao mà hôm nay nhiều lời đặc biệt. Để Phàn cô nương yên thân giây phút không được sao, giỡn hoài thôi! Nào bây giờ có say rồi, liệu trở về còn vào thành nội chứ.
Chu Tú Anh cả cười, dùng tiếng lóng giang hồ nói lớn :
- Hiền huynh nói trúng lắm. Vì say nên tiểu muội nóng máu muốn lấy thủ cấp của hai kẻ hỗn xược.
Câu nói có sức bén của một mũi kiếm khiến hai hòa thượng nghe thấy giật mình nhìn lại, nhưng gặp ngay phải luồng nhỡn quang anh thư điện tử của Lam Y nữ hiệp nên lại vội vàng quay đi nơi khác tảng lờ như không nghe thấy gì cả.
Các thực khách lân cận không hiểu câu nói lóng nên ngẩn ngơ coi khá tức cười. Phàn Thế Hùng gọi tửu bảo trả tiền, rồi bốn người nhấc khí giới đủng đỉnh ra khỏi đình trước những con mắt tò mò của mọi người.
Bọn Chu, Phàn bốn người về Trà Hương quán bỏ thuyền lại bến rồi mới vào thành, la cà thăm viếng Lâm Đạo Thành và Thái Kiến Khương là bạn đồng học trên Tung Sơn Thiếu Lâm tự của cố phụ anh em Phàn gia.
Lâm Đạo Thành lưu khách lại dùng bữa tối nên mãi khuya bọn Chu Đức Kiệt mới về Trà Hương quán.
Chủ quán chờ bốn người, đon đả nói :
- Vụ đại náo Xuân Phong quán dân chúng toàn thể Trấn Giang chỗ nào cũng đồn đại và lấy thế làm sảng khoái.
Họ Dương không hành động gì cả, có lẽ họ đã biết e sợ sau việc hành động của nhị vị kiếm khách qua đêm.
Chủ quán ngẫm nghĩ giây lát rồi nói tiếp :
- À còn việc này nữa. Người ra đồn rằng bên Đề đốc biết rõ vụ Xuân Phong quán nên trực tiếp can thiệp, bởi vậy quan Tổng trấn mới đình chỉ việc khám xét vô lối trong ba ngày Quốc Khánh đại hội.
Chu Tú Anh nói :
- Còn đêm nay nữa hết kỳ hạn định. Nếu nội ngày mai, Dương Tấn Đình không theo đúng điều kiện, tôi sẽ có biện pháp trừng trị bắt y phải theo lời mới thôi.
Chu Tú Anh có ý thử tài anh em họ Phàn nên sang đầu canh ba, bảo Thế Hùng, Phàn Mộng Liên :
- Rỗi rãi, chúng ta vào phủ Tổng trấn thám thính qua loa xem có gì lạ không?
Anh em họ Phàn nhận lời. Bốn người bèn thay y phục dạ hành, nhảy qua cửa sổ ra ngoài. Bọn Chu Đức Kiệt đã biết đường nên cứ theo lối đêm qua phóng mình như hai vệt đen. Lúc tới chân thành, anh em Chu gia nhìn lại thấy Phàn Thế Hùng và Phàn Mộng Liên bị cách một quãng dài đứng lại chờ. Phàn Thế Hùng nói :
- Nhị vị phi hành tới mực tuyệt luân, tụi tôi theo không nổi.
Chu Tú Anh nói :
- Tôi nói thiệt thà đừng có buồn. Phi hành thuật của nhị vị khá lắm rồi, không nên so sánh với chúng tôi đã mất công phu mười mấy năm trời theo thầy vào núi. Nào ta đi.
Nói đoạn cầm tay Phàn Mộng Liên nhảy vụt lên mặt thành đáp xuống nóc nhà, lẻn vào dinh Tổng trấn. Đức Kiệt, Tú Anh cố ý phi hành chậm lại, Thế Hùng và Mộng Liên theo đều.
Tư dinh Dương Trường Hỷ không có tiếp tân như đêm qua nữa nên đèn đuốc bớt sáng. Sự canh phòng tuy cẩn mật nhưng không đến nỗi náo động.
Bốn người đáp mình từ tường hoa chuyển sang cây hòe lớn trước sảnh. Cửa lớn ra vào đã đóng, song cửa sổ còn mở. Bên trong, vợ chồng Dương Trường Hỷ và Tấn Đình ngồi quanh chiếc thồi nhỏ nói chuyện. Cả ba người sắc diện đều nghiêm trọng. Chu Tú Anh rút phi đao ra nói nhỏ.
Cảnh cáo chúng một lần để khỏi quên thi hành điều kiện ngày mai.
Phàn Thế Hùng cũng muốn trổ tài phi đao đã đem lại cho chàng tước hiệu Phi Đao Thái Bảo, bèn ngăn lại :
- Để việc này lại phần tôi, giết gà cần chi đến đao mổ trâu.
Nói đoạn, Thế Hùng rút ở đai lưng ra một ngọn Liễu Diệp đao tay một cái. Liễu Diệp đao bay biến cắm phập ngay chính giữa thồi khiến vợ chồng Dương Trường Hỷ và Dương Tấn Đình giật mình kêu lên một tiếng...
Chu Tú Anh nói nhỏ :
- Thôi đi.
Thế là bốn người chuyền xuống tường ào nhảy ra ngoài, theo về Trà Hương quán.
Trong quán đã đi ngủ cả. Chu Tú Anh bảo thế Hùng :
- Lối phóng Liễu Điệp phi đao của Phàn gia hay lắm, rất đáng tước hiệu.
Thế Hùng nói :
- Tài mọn có chi đáng kể.
Chu Tú Anh lắc đầu :
- Chỗ người nhà, không cần khiêm tốn. Công phu của nhị vị khá lắm không hổ danh hiệp sĩ. Chẳng nên ví với kiếm khách, vì thật ra, trong thế gian này những nhân vật ấy có được bao người? Tuy tôi còn ít tuổi nhưng theo kinh nghiệm xét đoán không trật đâu.
Ai về phòng ấy. Đức Kiệt và Tú Anh ngồi định vận khí hồi lâu mới lên giường đi nghỉ.
Hôm say, bốn người cùng ở lại Trà Hương quán suốt ngày đàm luận cổ kim, võ nghệ. Anh em Chu gia thấy họ Phàn rất tinh thông thì có ý mừng thầm không đến nỗi uổng công giao kết.
Phàn Thế Hùng vội ôm lấy đoản đao và cặp song đao đưa cho Đức Kiệt và Tú Anh xem, lật đi lật lại, thấy trên bản đao cây nào cũng có khắc hai chữ Tung Sơn. So với cây Thất Tinh đao và cây Thái Dương kiếm của anh em Chu gia thì ba cây đao Tung Sơn này tuy không phải là báu vật đúc bằng vàng với thép luyện theo phương pháp đặc biệt của kiếm gia ứng với khí tám phương, tinh hoa sáu cõi, chém sắt như chẻ tre, lấy đầu người không vấy máu, lưỡi có ánh hào quang lóng lánh khí tỏa lạnh người, nhưng cũng là thứ khí giới tốt được lò Thiếu Lâm tự luyện lọc cẩn thận nên sắc bén vô cùng.
Phàn Thế Hùng nói :
- Cây đoản đao này của gia phụ dùng khi trước do Thiếu Lâm tự tặng khi người hạ sơn. Còn cặp song đao thì mãi về sau gia phụ nhờ lò Tung Sơn đúc hộ cho Mộng Liên dùng.
Xẩm tối hôm ấy, chủ quán cho hay rằng trong mấy gia đình quen biết mà trước kia là nạn nhân của Tham Hoa Quỷ Dương Tấn Đình thì đã có một gia đình nhận được tiền bồi thường. Theo lời đồn, Họ Dương giao việc đàn chay cho chùa Viên Sơn. Còn Xuân Phong quán thì đã hoàn toàn đóng cửa từ hôm nọ. Quán ấy hiện thời bỏ trống: Bọn Trư Diện Thử đã rút cả về dinh Tổng trấn.
Chu Tú Anh cười :
- Họ Dương khôn hồn biết điều rồi. Mai chúng ta lên đường Dương Châu chứ.
Phàn Thế Hùng đáp :
- Vâng sớm mai lên đường. Việc ở Trấn Giang thế là tạm chấm dứt.
Chủ quán vội nói :
- Quí vị hãy nán lại chơi Trấn Giang vài bữa nữa rồi hãy đi. Nhất là nhị hiệp khách từ Hoa Bắc xuống đây, cần gì vội vàng.
Chu Đức Kiệt đáp :
- Chúng tôi không bận việc thật, nhưng nhị vị Phàn gia đây cần đi Dương Châu có việc nhà, nên chúng tôi đi cùng cho có bạn đồng hành. Bữa nào có dịp qua Trấn Giang sẽ xin tới thăm.
Sáng hôm sau, bốn người từ giã chủ quán Trà Hương quán, lên ngựa thẳng đường sang Dương Châu.
0
Hồi 6
Khẩu Phật tâm xà, Hắc Đầu Đà trổ ngón
Quốc sắc thiên hương, Hà Thái Phượng lâm nguy
 
Ngày đi đêm nghỉ, vó câu dong ruổi năm hôm sau đã tới Dương Châu.
Dương Châu là một trong mấy châu lớn và phồn thịnh nhất Giang Nam. Nhà cao cửa rộng, lâu đài các ngọc, tường hoa mái ống nguy nga. Dân cư đông đúc, buôn bán tấp nập người qua, kẻ lại huyên náo dị thường.
Chu Đức Kiệt nói :
- So với Trấn Giang, thành Dương Châu cũng lớn và phần tráng lệ nguy nga có lẽ còn hơn nhiều.
Phàn Mộng Liên nói :
- Tuy chưa được đi Dương Châu chuyến nào, nhưng theo lời gia phụ và gia huynh thì thị trấn này là đất ăn chơi, ngựa xe như nước, áo quần như nêm đó, Nữ hiệp à.
Chu Tú Anh trách :
- Phàn muội! Chớ có xưng hô như vừa rồi, e lộ liễu. Tránh sự tò mò được bao nhiêu hay bấy nhiêu. vả lại chúng ta cùng bạn nữ lưu cả, mà câu nệ cái gì.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Phàn huynh đi Dương Châu nhiều lần chưa!
Phàn Thế Hùng đáp :
- Lúc còn gia phụ, cứ một hay hai năm lại được đi một lần. Từ ngày gia phụ qua đời, đưa cô mẫu trở về, tôi cũng chưa đi chuyến nào nữa, thấm thoắt đã trên ba năm rồi. Lẹ thật!
- Nhà ở đâu?
Phàn Thế Hùng nói :
- Ở phố Chiều Dương lối cửa Bắc, rẽ sang đường này.
Nói đoạn Thế Hùng giật cương rẽ ngựa sang tay hữu. Chu Đức Kiệt hỏi Phàn Thế Hùng :
- Chúng ta tìm quán trọ để rồi sẽ tới đó có nên không?
- Khỏi cần. Nhà bà cô mẫu rộng rãi đủ chỗ cho chúng ta ăn ở.
Vòng mấy phố nữ thì tới Chiều Dương lộ. lộ này khá sầm uất đầu lộ có chợ Bắc Qua nên người đi lại buôn bán khá tấp nập. Tới giữa phố gần cây hòe lớn bóng mát rợp cả một khu, Phàn Thế Hùng chỉ một căn nhà.
- Tiệm Đạt Hưng kia kìa. Tới rồi.
Phàn Mộng Liên hỏi :
- Ồ! Sao lại đóng cửa giờ này trong lúc mọi người còn đang buôn bán náo nhiệt.
- Chắc có việc gì. Không lẽ dọn đi nơi khác. Tấm bảng hiệu còn kia mà.
Bốn người cùng xuống ngựa. Phàn Thế Hùng đưa dây cương cho Phàn Mộng Liên, bước tới gõ cửa. Mọi người ở lối xóm thấy người lạ đi ngựa tới đều tò mò đổ xô ra coi. Mấy người nhận ra Phàn Thế Hùng thì chạy tới chào hỏi vui vẻ. Một người trạc năm mươi tuổi hỏi :
- Ồ!... Phàn hiền điệt đây mà! Cứ ngỡ là ai. Sao lâu nay không đi Dương Châu chơi.
Thế Hùng vái chào tất cả rồi đáp :
- Từ khi gia phụ mất, nhà vắng người không rảnh nên chẳng đi được đâu cả. Vương thúc thúc buôn bán phát tài không? Cô mẫu đi đâu mà tiệm Đạt Hưng đóng cửa sớm thế này.
Người họ Vương đáp :
- Hiền điệt tới Dương Châu vừa đúng lúc Hạ thái thái cần.
Phàn Thế Hùng biến sắc.
- À, Có việc chi vậy hả Vương thúc? Cô mẫu và Thái Phương đâu? Không có ai ở nhà sao.
Họ Vương đáp :
- Chuyện lôi thôi lắm nói ở đây không tiện... Vương thái có nói với tiện nội là đi lễ ngoài miếu đó, chắc cũng sắp về rồi. Trong nhà có người, hiền điệt cứ gọi cửa đi.
Phàn Thế Hùng không hỏi thêm nữa, chỉ ba người giới thiệu :
- Mãi nói chuyện quên khuấy đi mất, đây là Mộng Liên, em cháu đó. Còn hai vị đây là bằng hữu Chu tiên sinh và Chu tiểu thư.
Mấy người tiến tới vái chào nhau. họ Vương nói :
- Chà! Mộng Liên lớn thế này rồi à? Hồi sanh thời, Phàn đại ca thường nói chuyện luôn. Hiền điệt đi gọi cửa đi. Nếu người nhà không mở, tôi gọi lối sau hộ.
Phàn Thế Hùng liền vào gõ mạnh trên cửa gỗ. Chợt một người đứng gần đó reo lên :
- A ha! Hạ thái thái đã trở về kia kìa.
Mọi người vội nhô ra nhìn. Từ phía chợ tiến tới một chiếc kiệu có hai người phu khiêng đi khá lẹ. Không bao lâu đã đỗ ngay trước tiệm Đạt Hưng.
Một bà dáng người phúc hậu, trạc ngoài năm mươi, tay bê chiếc tráp, tay cầm mấy nén hương lớn khói ngạt ngào bước xuống. Phàn Thế Hùng vội chạy lại đỡ chiếc tráp cho Mộng Liên theo sau. Rồi hai người cùng quỳ xuống vái lạy. Hạ thái thái giật mình, chớp mắt nhìn :
- Ủa! Hai cháu từ Dương Châu từ bao giờ? Sao không vào nhà?
Nói đoạn, ứa nước mắt nâng hai người đứng dậy. Người họ Vương nói :
- Để tôi về nhà gọi lối sau cho. Đừng gõ cửa mất công.
Mọi người thấy họ Vương đi thì ai cũng về nhà ấy. Lát sau trong nhà có tiếng lệt xệt chân đi. Cái lỗ nhỏ ở cánh cửa mở ra, hai con mắt sợ sệt ló nhìn. Hạ thái thái nói :
- Ta và Phàn hiền điệt đây mà!
Tiếng rút mấy chiếc then cửa rồi hai cánh cửa mở rộng ra. Phàn Thế Hùng giới thiệu anh em Chu gia với cô mẫu. Thi lễ xong, Hạ thái thái nói :
- Quí hóa quá! Nhị vị ở đây với các cháu cho vui, nhà rộng đủ chỗ ở.
Từ trong nhà bước ra một người đàn ông trạc trên năm mươi, người đàn bà cũng trạc tuổi ấy và một cô gái ở tuổi Mộng Liên. Thiếu nữ ấy đỡ cái tráp đứng sang một bên. Ba người mới ra cùng chào Phàn Thế Hùng và mọi người. Thế Hùng bảo khẽ anh em họ Chu.
Đây là vợ chồng Lý Trung quản gia, và con gái là Tiểu Kim, ở trong gia đình này mấy chục năm rồi.
Đoạn Phàn Thế Hùng vui vẻ vỗ vai Lý Trung :
- Thế nào? Mạnh khỏe chứ lão.
- Dạ. Tôi nghe tiếng gõ cửa mạnh quá không dám ra, tới lúc Vương tiên sinh kêu tôi tới hay là cậu tới và chủ nhân về.
Nói đoạn, chạy tới dắt bốn con ngựa buộc ở cây gần trước nhà. Phàn Thế Hùng nói với anh em họ Chu.
Lý quản giá dắt ngựa ra hẻm gần đây vào vườn sau nhà có tàu ngựa hẳn hoi.
Mọi người theo Hạ thái thái vào nhà. Ngoài là cửa hàng chạp phô lớn. Nàng đi vào trong căn nhà càng nở hậu, có lầu cao. Phía sau là nhà bao và vườn rộng rãi trồng cây mát mẻ. Sân lát gạch đỏ gọn gàng tươm tất. Hạ thái thái bảo anh em Phàn Thế Hùng :
- Các cháu hãy dẫn tiên sinh và tiểu thư lên hai phòng trên lầu cất hành trang, tắm rửa thay y phục cho dễ chịu. Đi đường xa gió bụi...
Chu Đức Kiệt tươi cười :
- Chúng hiền điệt đối với Phàn gia đây là tình bằng hữu, xin thái thái coi như con cháu trong nhà cho tiện.
Hạ thái thái gật đầu, cười :
- Nhị vị hiền điệt đã có lòng ưu ái như vậy. Lão quí hóa lắm. Xin tự nhiên như ở nhà.
Nói đoạn, Hạ thái thái cắm mấy nén hương ở miếu về vào bát hương thở ở góc nhà. Phàn Thế Hùng và Mộng Liên đưa họ Chu lên lầu.
Trên lầu có tới năm căn phòng xinh xắn chạy dài từ ngoài mặt hàng vào tới sân trong. Khi bốn người gọn gàng chỉnh tề xuống nhà thì vừa vặn bữa cơm chiều. Phàn Thế Hùng hỏi Hạ thái thái.
Biểu muội Thái Phượng đi đâu mà giờ này chưa trở về.
Hạ thái thái thở dài ứa nước mắt kể chuyện cho mọi người nghe...
* * * * *
Nguyên Phàn Thế Đức, cha Phàn Thế Hùng có người em gái họ con chú, con bác là Phàn Ngọc Tiên, cùng ở Thái An huyện. Về sau, Ngọc Tiên lấy Hạ Phủ là khách thương trường đi lại Thái An huyện cất và bán các hàng hóa. Hạ Phủ làm ăn phát đạt, và lại cũng đã đứng tuổi, không muốn lưu động vất vả nữa, bèn mùa nhà đất lập nên một tiệm chạp phô lấy tên hiệu là Đạt Hưng, buôn bán rất thịnh vượng ở đất Dương Châu. Phàn Ngọc Tiên chăm chỉ giúp chồng trong việc thương mại làm nên giàu có.
Vợ chồng Hạ Phủ luôn luôn đi lễ bái cầu tự, cư xử hiền hòa với tất cả mọi người, hay giúp đỡ kẻ nghèo hèn nên được nhiều người sủng ái. Bà con lối xóm ai cùng quí mến.
Mãi tới năm ba bảy tuổi, Vợ chồng Hạ Phủ mới sanh được một gái đặt tên là Thái Phượng và từ đó Phàn thị không sanh nở lần nào nữa. Hạ Phủ rất quí mến Phàn thị nên không nghĩ tới việc nạp thiếp để kiếm con trai nối dõi.
Họ Hạ thường nói :
- Chà! Trai hay gái đằng nào cũng là con, miễn là nó phải có hiếu, ngoan ngoãn dễ bảo. Không con trai thì có con rể, sau này về già, vợ chồng nó cũng vẫn cúng lễ mình như thường cơ mà.
Vợ chồng Hạ Phủ rất đỗi yêu chiều Thái Phượng. Thái Phượng mỗi ngày một lớn, mặt hoa da phấn, hiếu dễ khôn ngoan vô cùng. Hạ Phủ, Phàn Thị nâng niu như hòn ngọc trên tay.
Không ngờ tới năm Thái Phượng mười ba tuổi thì Hạ Phủ bị cảm phong từ giã nhân thế. Mẹ con Thái Phượng thương xót vô cùng. Vì đã quen giúp chồng trong mọi việc thương mại nên Phàn thị tang ma chồng xong xuôi, lại tiếp tục sanh nhai buôn bán như khi Hạ Phủ sinh thời. Hạ Thái Phượng tuy còn nhỏ tuổi nhưng biết nghĩ, giúp mẹ làm ăn và coi sóc việc nhà. Lại có vợ chồng lão bộc Lý Trung rất tận tâm, nên mọi công việc đều được ổn thỏa. Thái Phượng càng lớn lên càng đẹp, tánh tình ủy mị đoan trang.
Trong thành Dương Châu cũng đã có nhiều người nhờ manh mối nhưng Thái Phượng không ưng ý nơi nào cả. Phàn thị cũng không nỡ ép con.
Năm ấy, Thái Phượng đã mười bảy tuổi. Vừa được ngày lành, vừa quen lệ, toàn thể thành Dương Châu ai nấy đều mở cửa hàng mồng mười tháng Giêng.
Buổi sáng hôm mười hai, mẹ con Hạ thái thái đang ngồi trong tiệm bán gàng thì chợt thấy hai hòa thượng mặt mũi dữ tợn vóc người to lớn, đi qua phố. Tới trước cửa tiệm Đạt Hưng, hai hòa thượng đó đứng lại nhìn trừng trừng hồi lâu mới đi. Mẹ con Hạ thái thái thấy họ dữ tợn, phát khiếp, không dám nhìn. Chiều hôm ấy, hai hòa thượng ấy lại đi qua phố Chiều Dương lần nữa và vẫn nhìn chăm chú vào tiệm Đạt Hưng rồi mới đi thẳng. Thái Phượng nói với mẹ :
- Mẫu thân à, người tu hành gì mà như kẻ cướp vậy.
Hạ thái thái đáp :
- Ừ, trông dữ tợn thiệt đấy, nhưng họ là người tu hành chắc trong tâm không ác như bề ngoài đâu. Mặc kệ! Hơi đâu mà để ý, hả con?
Thái Phượng im lặng không nói gì thêm e mẹ lo phiền. Về phần Hạ thái thái tuy ngoài miệng nói vậy, nhưng thật ra trong tâm rất lo ngại.
Mấy hôm sau, tới ngày Quốc khánh, tỉnh Dương Châu vào hội vui vẻ vô cùng, không có điều chi lạ cả. bốn hôm sau, Lý Trung như thường lệ mở cửa tiệm sớm. Lát sau, Hạ thái thái đi ra ngồi tới lúc mặt trời đã lên cao mà không thấy Thái Phượng xuống. Hạ thái thái ngạc nhiên bảo vợ chồng Lý quản gia và Lý Tiểu Kim :
- Quái, sao hôm nay Thái Phượng ngủ muộn thế! Tiểu Kim lên đánh thức nó dậy đi.
Tiểu Kim vâng dạ lên lầu giơ tay gõ cửa phòng Thái Phượng, thấy cánh cửa chỉ khép lại chứ không cài the trong, bèn đẩy cửa bước vào. Trong phòng vắng tanh, Tiểu Kim mở màn ra coi thì giường trống rỗng, Thái Phượng biến đâu mất rồi. Tiểu Kim tái mặt, tìm kiếm khắp trên lầu không thấy Thái Phượng đâu, bèn hoảng hốt chạy xuống nhà dưới báo cho Hạ thái thái và vợ chồng Lý Trung biết. Hạ thái thái vội hỏi :
- Có lẽ nào vậy! Người đã tìm kỹ chưa.
Tiểu Kim run rẩy :
- Dạ con tìm khắp trên lầu rồi.
Hạ thái thái lo lắng hỏi Tiểu Kim coi hàng rồi cùng vợ chồng Lý quản gia vào nhà trong chia nhau đi kiếm khắp trên lầu, dưới nhà một lần nữa thiệt kỹ. Thái Phượng biến mất dạng. Cánh cửa ra lan can lầu trông xuống sân sau chỉ khép lại.
Lý Trung vội la lên :
- Ủa! Rõ ràng tôi đóng và cài then cửa này chiều qua như thường lệ, sao bây giờ lại mở thế này? Từ sáng có ai mở cửa này không?
Hạ thái thái và vợ Lý Trung lắc đầu :
- Dạ tôi xuống hỏi con Tiểu Kim xem nó có mở không.
Nói đoạn, Lý Trung xuống nhà. Chốc lát trở nên nói với Hạ thái thái.
Tiểu Kim không mở cửa này... Hừ! Gớm thật, nếu vậy chắc có kẻ nào vào đây bắt cóc Thái Phượng rồi.
Vợ Lý Trung nói :
- Lối ngoài, lối trong đóng hết, tường lại cao ai vào đây được? Trừ phi có ma quỷ mới có thể từ trên nóc nhà xuống được.
Lý Trung bĩu môi :
- Phải! Ma quỷ à? Người có bản lãnh võ nghệ có thể chuyền qua nóc nhà này được. Đến mặt thành cao lớn như vậy mà cũng có người vượt qua được nữa là nóc nhà này thì đã vào đâu.
Câu nói của Lý Trung khiến Hạ thái thái giật mình liên tưởng tới hai hòa thượng dữ tợn đi qua tiệm mấy hôm trước buổi lễ Quốc khánh. Bèn bảo Lý Trung :
- Hay là mấy hòa thượng dữ tợn nữa nọ là thủ phạm...
Lý Trung suy nghĩ đáp :
- Có thể lắm. Trong thiên hạ này thiếu gì kẻ khẩu phật tâm xà. Nghe nó bọn đầu đà ấy mượn áo cà sa để che đậy hành vi hắc ám của chúng.
Hà thái thái ngắt lời :
- Làm thế nào bây giờ! Thái Phượng ơi!
Nói đoạn bưng mặt khóc hu hu. Vợ chồng Lý Trung đỡ Hà thái thái ngồi xuống ghế, khuyên giải :
- Thái thái phải can đảm để tính toán việc này, khóc lóc có ích lợi gì đâu?
Hà thái thái khóc lớn hơn :
- Can đảm thế nào được? Con Thái Phượng từ bé tới nay chưa từng ra khỏi nhà bước nào nay bỗng dưng bị kẻ hung đồ bắt đi... Trời ơi! Tôi có một mình nó là con, nay vừa lớn lên thì gặp phải cảnh đau lòng này. Tôi chết mất.
Hà thái thái khóc lịm người ngất đi. Vợ chồng Lý Trung lấy dầu thoa mãi mới tỉnh.
Nhà bên cạnh họ Vương nghe thấy tiếng khóc cũng vội chạy sang thăm hỏi, theo sau là mấy người lân cận. Họ Vương bàn rằng.
- Thái thái nên ra Huyền Nữ Trân Môn lễ bái xin xâm xem thần linh dạy thế nào? Ở ngay miếu có thầy tử vi thần tướng coi số hay lắm, thái thái nói cho thầy biết ngày sanh tháng đẻ, đúng giờ, đúng niên, xem số mệnh chỉ dẫn ra sao. Rồi sẽ trình báo quan sở tại ra tìm thấy manh mối vụ mất tích này. Hạ thái thái nghe phải lẽ, bèn hối vợ chồng Lý Trung tạm đóng cửa tiệm, sửa soạn lễ vật ra Huyền Nữ miếu cầu xin...
Phàn Thế Hùng hỏi :
- Thế ra, Hạ biểu muội mới mất tích sáng hôm nay hay là đêm qua đó. Tức quá, cháu qua trễ mất một ngày.
Hạ thái thái gật đầu :
- Phải! Hai cháu tới sớm một ngày thì cô đỡ lo, đỡ khổ. Trong quẻ xăm thầy nhân dạy rằng phải tìm ở hướng Đông Bắc mới thấy và có quí nhân phù trợ. Lá số tử vi của Thái Phượng, thầy tử vi thần tướng đoán thế này: “Niên hạn Kế đô của Thái Phượng, nhưng nhờ có tuần triệt đối chiếu nên tai nạn tuy nặng nề mà thân mạng không hề gì, chỉ bị sợ hãi thôi. Lại thêm có tả Phù, Hữu Bật chiếu mạng thì thế nào cũng có đại quí nhân phù trợ”.
- Thầy tử vi bảo cô đừng lo, nhưng có Thái Phượng như thế, cô không lo sao được. Còn quí nhân phù trợ biết đâu không phải là anh em cháu có tài võ dũng giúp cô tìm thấy em Thái Phượng chăng.
Phàn Thế Hùng chưa kịp đáp, Phàn Mộng Liên đã nói ngay :
- Quí nhân không phải là chúng cháu bất tài, nhưng là nhị vị đại hiệp từ Hoa Bắc xuống du Giang Nam, đang ngồi đây này.
Phàn Mộng Liên chỉ anh em Chu gia.
Hạ thái thái vội nói :
- Thế à cháu? Sao không sớm cho cô mừng...?
Nói đoạn đẩy ghế đứng lên, ra trước mặt Chu Đức Kiệt, Tú Anh quỳ xuống lạy.
- Già này có mắt không có con ngươi, nhị vị đại hiệp ra ơn cứu...
Anh em Chu gia hoảng hốt vội tránh sang bên, cùng đỡ Hạ thái thái đứng lên đưa về chỗ ngồi, vái lạy rằng.
- Hai cháu đây gốc biển chân trời, tứ cố vô thân, kết giao với Phàn gia đây, tình bằng hữu ý hạp tâm đầu. Việc nhà ta cũng như việc riêng chúng cháu, bổn phận tất phải lo, sao thái thái hành động như vậy khiến chúng cháu đắc tội muôn phần.
Hà thái thái nói :
- Nhị vị cố sức giúp tôi, không tìm thấy Thái Phượng chắc tôi cũng sẽ chết theo nó cho rồi...
Phàn Thế Hùng đứng lên vái Chu gia song hiệp :
- Xin nhị vị đừng cho là ngu đệ vẽ vời khách khí, nhưng đây là cả tấm lòng thành thực yêu cầu vì ngu đệ và Phàn Mộng Liên tự xét tài nghệ còn non nớt, trăm sự cúi xin nhất nhất tuân theo lời chỉ giáo.
Chu Đức Kiệt kéo Phàn Thế Hùng về chỗ ngồi như trước :
- Chà, Phàn ca sao lại cư xử như thế? Anh em tôi đối với người ngoài cũng không quản ngại vung ba thước kiếm diệt gian, trừ bạo đem lại công lý cho mọi người, huống chi hiện tại là việc nhà! Vả lại thế nào cũng nhờ Phàn ca và Phàn muội giúp sức mới mong thành công mau lẹ.
Phàn Mộng Liên hỏi Đức Kiệt, Tú Anh :
- Nghe thấu câu chuyện, nhị vị có ý kiến chi không?
Chu Đức Kiệt đưa mắt nhìn Tú Anh. Chu Tú Anh nghiêm nghị :
- Hẳn mọi người còn nhớ việc gặp hai tên đầu đà dữ tợn ở Vạn Thảo mỹ điếm trên núi Giang đầu bên Trấn Giang.
Anh em họ Phàn gật đầu. Chu Tú Anh nói tiếp :
- Tôi e hai tên đó tức là hai hòa thượng mà Hạ thái thái thấy đi qua đường Chiều Dương nhìn vào tiệm ta đây. Có gì lạ đâu! Chúng nhìn vì thấy Thái Phượng xinh đẹp! Có thế thôi. Sau đó cả hai cùng đi Trấn Giang bởi vật bọn ta mới gặp chúng trên Giang Đầu sơn.
Anh em họ Phàn ngẩn người ra gật đầu. Hạ thái thái, vợ chồng Lý quản gia và Tiểu Kim cùng đờ người ra nghe câu chuyện.
Chu Tú Anh nói tiếp :
- Từ Trấn Giang hai tên ấy về qua đây giở thủ đoạn bắt Thái Phượng đem đi...
Mọi người gật đầu khen phải. Chu Tú Anh nói :
- Đây là giả thuyết thôi. Tiếc một điều vì lẽ không biết hai tên đó trú ngụ tại đâu?
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Ở Dương Châu này có nhiều chùa chiền không.
Hạ thái thái nói :
- Lão đi lễ bái nhiều nhưng không bao giờ gặp bọn hung ác ấy trong các chùa nội ngoại thành Dương Châu.
Phàn Thế Hùng hỏi :
- Có lần nào cô mẫu đi chiêm bái tại Kim Cương tự không?
- Có chớ! Nhưng lâu lắm rồi, hồi còn sanh thời hạ thúc thúc có tới năm, sáu năm nay rồi. Các hòa thượng trụ trì ngôi Kim Cương tự điều rất uy nghiêm đắc đạo.
Chu Tú Anh vội hỏi :
- Kim Cương tự ở đâu, phương hướng nào.
Hạ thái thái nói :
- Không nhớ nữa, nhưng phải ra cửa Đông thành.
Lý quản gai suy nghĩ nói :
- Kim Cương tự ở hướng... Đông bắc nếu tôi không lầm...
Chu Tú Anh mỉm cười :
- Thế thì đúng với quẻ sấm, Hạ thái thái xin trưa nay ở Huyền Nữ miếu rồi. Trong xăm chả dạy tìm ở Đông bắc hướng là gì.
Hạ thái thái và anh em Phàn gia khen ngợi.
- Nữ hiệp xét đoán như thần, Thái Phượng có phước mới gặp được cứu tinh như nhị vị.
Chu Đức Kiệt nói :
- Gia muội ước đoán thôi, chưa chắc lắm, nhưng cũng nên tới ngôi chùa đó tìm kiếm dò hỏi xem thế nào. Chùa cách Dương Châu thành bao xa.
Lý quản gia nheo mắt đáp :
- Bẩm độ sáu mươi dặm trở lại. Kim Cương tự lớn lắm và rất giàu.
Đức Kiệt nhìn Tú Anh khẽ gật đầu suy nghĩ, giây lát nói :
- Nếu quả như gia muội dự đoán trúng thì Kim Cương tự không phải là nơi dễ vào. Ta phải tổ chức thám thính thăm dò đại quy mô trước khi ra tay thì mới thắng được.
Sáng mai, Tú Anh và Phàn muội cải trang giã làm khách thập phương đi lễ đem ngầm theo khí giới trong người, ngoài choàng áo dài, nên dự bị cẩn thận, nếu xảy ra chuyện gì thì chỉ có việc bỏ áo đi là gọn gàng rồi.
- Tôi và Phàn ca đi riêng ra phòng hờ, liệu tiếp tay nhau.
Chu Tú Anh hỏi Lý Trung.
- Lý quản gia có biết gần chùa có thôn xóm nào không?
- Có! Có xóm Vân gia cách chùa độ mười dặm đường.
Chu Tú Anh nói :
- Được lắm, Chu huynh, Phàn ca và chị em tôi cứ việc đi ngựa lên Vân gia thôn. Cho kiệu đi trước chờ ở thôn đó. Chừng nào tới sẽ giữa ngựa rồi dùng kiệu vào chùa cho ra vẻ khách dâng hương thiệt thọ.
Lý Trung nói :
- Khỏi cần. Vân gia thôn khá lớn có đủ kiện cho thuê. Lên tới đó rồi hãy sắm lễ vật cũng tiện. Có bán sẵn cả.
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Như vậy tiện dụng lắm rồi. Thôi Phàn ca và Phàn muội nên đi nghỉ sớm lấy sức. Mai cần tỉnh táo và biết đâu sẽ không phải dùng sức.
Cơm nước xong xuôi ai nấy đều về phòng đi nghỉ. Hạ thái thái và vợ chồng Lý quản gia thấy hai hiệp khách họ Chu tính toán đâu ra đấy sắp đặt cẩn thận công việc thì cũng an tâm. Chu Đức Kiệt nói với Hạ thái thái.
- Sáng mai thái thái cứ dọn hàng như thường, tựa như không có việc gì xảy ra trong nhà cả.
0
Hồi 7
Tàng Xuân viện, trinh nữ thoát vòng kiềm tỏa
Kim Cương tự, hiệp khách cử đại hồng chung
 
Anh em Chu gia ở hai căn phòng giáp nhau, chờ mọi người ngủ say cả rồi, mới nhón nhén nhảy xuống giường đeo khí giới ra ngoài hành lang khẽ mở cửa băng mình xuống sân sau, rồi từ sân, phi vút lên nhà không một tiếng động nhẹ. Hai người nhìn sao Mai phân phương hướng, đoạn chuyền vun vút trên các nóc nhà ra cửa Đông thành Dương Châu.
Ra tới ngoài thành, Anh em Chu gia theo các con đường đông bắc phi lanh lẹ như gió biến vào trong đêm tối. Sang đầu canh ba thì qua một nơi thôn xóm bên đường. Hai bóng đen chập chờn như ma, phi hành một lát nữa thì thấy ở bên tay tả có một con đường nhỏ rẽ tới cửa tam quan mái ngói cong cong, ẩn hiện dưới bóng cây um tùm.
Anh em Chu gia liền rẽ quặt vào nơi đó, nhẹ nhàng như én liệng, phi thân lên một cành cây là vào nóc tam quan, vận động thần nhỡn đọc thấy ba chữ “Kim Cương Tự” nằm ngay trên cửa giữa.
Nhảy xuống, Chu Đức Kiệt kéo Tú Anh ra phía tường bên phi thân lên cây nhìn vào phía trong. Là đêm cuối trăng, trên không chỉ loáng thoáng vài chòm sao lấp lánh. Anh em Chu gia vận cặp mắt dạ hình nhìn vào thấy Kim Cương tự vô cùng rộng rãi, nhà nếp dọc nếp ngang, xung quanh im lặng như tờ. Hai người liền chuyền xuống mặt đường cao liệng người vào trong, chạy vụt vào đại điện yên lặng. Những cây cột lớn hàng ôm đứng sừng sững ở hai bên như những bóng mà khổng lồ rùng rợn.
Chu Tú Anh kéo Đức Kiệt vòng vào phía sau thấy sâu đá rộng, liền đi nép vào chân tường hoa ẩn người dưới bóng tối. Đoạn hai người chạy thẳng vào nếp điện thứ hai cũng rộng rãi như trước. Chu Đức Kiệt đi trước theo hành lang đi vòng vào trong. Tới đây, sân lớn ở giữa, hai bên là hai lớp nhà chạy dọc. Giữa sân một pho tượng Kim Cương cao non một trượng ngồi trên bực đá cao hơn đầu người. Trước mặt pho tượng đặt bát hương bằng đá lớn hình lục lăng.
Đức Kiệt, Tú Anh còn đương phân vân chưa biết hành động ra sao vì bốn bề vắng ngắt, tối om, thì chợt thấy có tiếng lạch cạch chuyển động ngay ở bực đá giữa sân, hai người liền phi thân lên nóc nhà, nằm ép xuống nghe ngóng. Bên dưới có tiếng chân nhiều người đi và tiếng người léo xéo.
Một thứ tiếng hềnh hệch nói :
- Con nhãi này, ta tốn nước bọt với mi suốt ngày hôm nay mà mi cứ khăng khăng không chịu chiều chuộng đại hòa thượng...
Tiếng thiếu nữ khóc thút thít :
- Thà chết thì thôi, ta không chịu như bọn khốn kiếp chúng mi là hạng mặt người dạ thú...
Tiếng người hềnh hệch mắng :
- À! Con nhãi này gớm nhỉ! Ăn sung mặc sướng không muốn. Đại hòa thượng lại mập mạp trắng trẻo, khỏe mạnh... còn muốn gì hơn nữa! Ăn xong chỉ có việc ngồi rỗi, ưỡn ẹo tối đến lại vui vầy nhục dục... không khoái sao? Này, bà bảo cho mà biết, nếu ả không chịu thì mai đây sẽ cột ả vào “khoái lạc cơ”, đại hòa thượng sẽ tha hồ vui vầy, lúc bấy giờ thì đừng có trách ta nhé!
Cô gái nào đó vẫn khóc thút thít, một con mụ có giọng nói ồ ồ thậm tệ :
- Thôi chị ạ, trước kia chúng tôi cũng như chị đây, cứu e sợ sợ nhưng sau khi được gần hòa thượng rồi cũng quen đi, suốt ngày sống trong lụa làm chẳng phải lo toan chi cả. Nên nghe lời ưng thuận đi chị ạ, Đại hòa thượng từ bi cho trở về Tàng Xuân viện ngay. Cứ cứng cổ thế này thì đêm nay sẽ bị giam trong quả chuông thêm khổ vào thân có ích lợi chi. Mà đặng nào ngày mai cũng chiều Đại hòa thượng rồi...
- Đồ cẩu trệ một lũ chúng bay. Sống ta không giết được thì chết ta sẽ bóp cổ cho hết đời khốn nạn của bây đi.
Thiếu nữ vừa khóc vừa nói dứt đoạn, thì tiếng người đàn ông nói hôm sau sẽ hiền lành ngay. Mụ Lý dắt nó đi mau.
Tiếng chân lại bắt đầu chuyển đi vào phía nhà ngang.
Nằm trên mái nhà, Chu Đức Kiệt định nhỏm lên nhảy xuống, nhưng Tú Anh nắm kịp tay ra hiệu bảo theo tiếng chân phía dưới. Hai người nhẹ nhàng đi trên mái ngói ấy, tiếng chân tới đầu phái nóc bên kia. Ở dưới tiếng chân đã đứng cả lại. Tiếp theo là một tiếng động lạ, rồi người đàn ông nói :
- Cho nó vào đây, lẹ lên còn đi ngủ khuya rồi.
Tiếng vùng vằng giãy giụa, rồi một vật gì nặng nền rơi úp xuống rung chuyển cả mái nhà.
Lát sau tiếng chân lại đi ra lối cũ. Mụ lý nói :
- Thế là xong! Đáng kiếp đồ rắn mặt rắn mày.
Toán người đi rã chỗ bực tượng Kim Cương. Một tên hòa thượng nhảy lên mặt bóc loay hoay chỗ bát hương, rồi nhảy xuống đất.
Tự nhiên phía sau bục hiện ra một cửa lớn. Mọi người bước vào, lát sau cửa đó đóng sập lại bình thường. Trên sân chùa trở nên lặng lẽ. Anh em Chu gia trông thấy rõ bọn vừa mở cửa cơ quan vào Tàng Xuân viện. Chu Đức Kiệt ghé tai Tú Anh nói nhỏ :
- Không một người nào ở Dương Châu ngờ Kim Cương tự rộng rãi nguy nga thế này mà lại là một tổ quỷ dâm dục. Xuống cứu cô gái vừa rồi chứ.
Tú Anh gật đầu :
- Lạ nhỉ, con cái nhà ai bị bắt vào đây thế này? Hay là Hạ Thái Phượng? Nào xuống.
Nói đoạn anh em Chu gia đảo người phi thân xuống sân, tiến vào núp trong bóng tối mái hiên. Định thần nhìn kỹ thấy một cái chuông lớn úp ngay ở trên hiên đầu nhà. Chu Tú Anh lấy tay gõ nhẹ lên mặt chuông Đức Kiệt đi vòng quanh chuông xem xét.
Chắc bọn ác tăng này có cơ quan kéo chuông lên, nên ban nãy chúng chỉ có hai tên thôi mà chuyển nổi quả chuông trên ngàn cân này, lúc hạ xuống không kềm nổi sức nặng, quả chuông gieo mạnh nên mới chuyển cả nhà.
Tú Anh đáp:
Phải rồi, hiền huynh tránh ra để ngu muội nhắc thử coi.
- Thôi nhường việc này cho ngu huynh, hiền muội liệu kéo thiếu nữ ban nãy ra.
Nói đoạn, Chu Đức Kiệt sắn tay áo, chân xuống Đỉnh tấn, hít hơi vận dụng nội ngoại công phu, ghé vai gần quả chuông hai tay đẩy mạnh. Quả chuông đồng to lớn nặng nề trên ngàn cân dần dần nghiêng hẳn sang một bên.
Chu Tú Anh vội cúi sát đất khẽ gọi :
- Ai đó, ra đây mau, tôi tới cứu đây.
- Tiếng người rên rỉ vọng ra. Tú Anh chui đầu hẳn vào bên trong đưa tay kéo thiếu nữ lâm nạn ra. Chu Đức Kiệt từ từ co tay lại hạ chuông xuống êm như ru không một tiếng động. Bấy giờ mới thở phào ra như thường.
Thứ công phu này cũng giống như Chu Tú Anh vận dụng lúc đạp cây nhà ở Xuân Phong quán bên Trấn Giang. Quả chuông to lớn, kềnh càng không có tay nắm khả dĩ cầm nổi. Nếu có tay nắm, họ Chu có thể độn hẳn quả chuông ấy lên khỏi mặt đất, đứng hắn dậy gồng lên trên vai đi lai rồi ném xuống đất bởi lẽ quả chuông ấy cao tới một trượng mà bề rộng ở miệng sau thước.
Nói về công phu này, trong võ thuật tàng thư có nhắc tới đoạn Sở bá Vương Hạng Võ cử đỉnh ở trước Võ Vương Miếu thời Tây Hán.
Chiếc đỉnh đồng đó nặng một ngàn hai trăm cân (cân tạ), cao bảy thước, ngang năm thước, được đặt ngay trước miếu Võ Vương. Hạng Võ muốn trổ thần lực để thâu phục Hườn Sở, bèn dùng sức đẩy đổ và nâng chiếc đỉnh đó lên ba lượng, khiến Hườn Sở phải lắc đầu thè lưỡi phục Hạng Võ, liền sắn tay áo dùng hai tay, xuống Trung Bình tấn, nhắc bổng chiếc đỉnh lên rồi đi quanh đó ba vòng, sau đặt lại vị trí cũ, mặt không biến sắc. Sở dĩ Hạng Võ cử nổi chiếc đỉnh đó là vỉ đánh có chân, tay cầm dễ dàng hơn trái chuông vừa to lớn kềnh càng, vừa không có chỗ cầm tay chắc chắn.
Nói về Chu Tú Anh kéo được thiếu nữ đó ra ngoài rồi, liền nói :
- Chớ có khóc lóc nữa e bọn hổ mang nghe thấy. Cô nương tên là chi?
Thiếu nữ nín khóc :
- Thưa ân nhân, tôi họ hạ tên Thái Phượng, ở Dương Châu.
Chu Tú Anh ngắt tiếp :
- Được rồi, tôi cõng ra khỏi nơi sào huyệt này đã. Sẽ nói chuyện sau.
Nói đoạn ghé lưng cõng Thái Phượng, bảo bám chặt kéo tay Chu Đức Kiệt ra hiệu chạy. Hai người vừa ra tới sân thì có tiếng chân người ở phía trước đi trước. Đức Kiệt vội nắm tay Tú Anh phi thân lên nóc nhà nằm ép xuống mái nhìn xuống. Hai tên đầu đà cầm đao tuốt từ phía điện ngoài đi tới. Chúng dừng lại ngay ở dưới mái. Một tên nói :
- Rõ ràng như vừa có tiếng động đâu đây.
Nói đoạn y cầm cây đao nhìn khắp xung quanh. tên khác nói :
- Chắc sư huynh nghe lầm tôi không nghe thấy chi cả.
- Thông Thiên Nhĩ này lầm sao được! Chắc chắn có người lên đây.
- Hay là tiếng con bé ở trong trái chuông kia kìa? vào đó xem sao.
Hai tên đầu đà bèn kéo nhau đi khuất vào dưới mái.
Anh em Chu gia nhân dịp ấy bèn chạy trên nóc nhà, nhảy xuống sau đầu nhà phi như biến ra phái tiền điện, nhảy qua tường hoa phóng mình như gió ra đường lối cũ.
Hạ Thái Phượng sợ quá, gió vù vù thổi qua tai như bão, lắm lúc nàng muốn buông tay nếu không hề có chiếc dây lưng quàng chặt vào lưng Chu Tú Anh thì đã bị rớt phía sau từ lâu rồi.
Lắm lúc nàng muốn mở mắt ra nhìn nhưng gió đạp mạnh cay mắt nên đành gục đầu vào lưng Tú Anh.
Tuy ân nhân của nàng chưa xưng danh và cũng không nói Tú Anh nàng biết là đi đâu nhưng điều cần nhất là ra khỏi ngôi chùa kinh hoàng vừa rồi, mọi việc sẽ liệu sao.
Thái Phượng có cảm tưởng như người đang bay, tiếng gió vù vù lâu dần nghe quen ta, nàng ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Anh em Chu gia vào tới trong thành Dương Châu thì trời đã tảng sáng. Tuy vậy mọi người hãy còn miên man giấc điệp. Từ trên nóc nhà hai người nhảy xuống sân rồi từ từ phi thân lên hành lang đẩy cửa vào trong lầu.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-02-21 23:28:24casau>
Hồi 8
Mất người ngọc, đầu đà trở lại Chiêu Dương lộ
Trổ oai hiệp, Nữ hiệp uy hiếp Thiết ác tăng
 
Đức Kiệt, Tú Anh ai về phòng nấy.
Thái Phượng còn ngủ say. Tú Anh nhẹ tay đặt nàng nằm xuống giường kép mền đắp tử tế. Thay y phục xong, nàng nhẹ nhàng nằm xuống bên Thái Phượng nghỉ. Phía sau nhà, tiếng gà gáy sáng rộn rã đánh thức mọi người và cũng như báo một ngày đẹp trời. trời sáng hẳn. Nhà dưới, vợ chồng Lý quản gia đã dậy từ lâu sửa soạn việc nhà. Hạ thái thái ngủ ở phòng dưới cũng đã lên tiếng.
Chu Tú Anh, nhắm mắt định thần, khẽ mỉm cười vì nàng vừa nghỉ tới việc Hạ thái thái sẽ vui mừng và ngạc nhiên xiết bao khi thấy Thái Phượng, người con gái độc nhất thân yêu đã thoát nạn trở về.
Tiếng chân bước nhẹ ngoài hành lang xuống lầu. Anh em Chu gia dậy rồi. Họ sửa soạn để cùng Đức Kiệt, Tú Anh đi hành hương Kim Cương tự. Nằm lì, nghĩ liên miên, Chu Tú Anh định thần nhìn kỹ Hà Thái Phượng đang say sưa ngủ, hơi thở ấm áp nhẹ nhàng. Mấy sợi tóc mây đen lánh xõa trên khuôn mặt trái xoan mịn màng như da trái đào... Một giai nhân tuyệt sắc nguyệt thẹn hoa nhường thế này vào kẻ dâm tăng quả thiệt phí phạm.
Nghĩ tới bọn ác tăng, Chu Tú Anh bừng bừng nổi giận... Phải trừ khử hết loài dâm ác mượn cửa thiền làm chuyện tồi bại ấy mới bõ ghét. Từ trước tới nay, chúng đã làm hại bao nhiêu đời trinh nữ, làm thất tiết bao nhiêu thiếu phụ, phá hại bao nhiêu gia đình êm ấm... chỉ để thỏa lòng tà dục! Hừ! Phải giết!... giết... mới hả lòng!
Về phần Chu Đức Kiệt thay dạ hành phục xong, uống ly trà nóng, leo lên giường ngủ ngon lành lấy sức.
Dưới nhà, Lý Trung đã mở cửa tiệm. Anh em Phàn gia ngồi chuyện vãn uống trà với Hạ thái thái, có ý chờ Đức Kiệt, Tú Anh. Phàn Thế Hùng nói :
- Quái lạ! Sao bữa nay họ ngủ muộn vậy. Từ ngày quen biết nhau ở Trấn Giang, bao giờ hai vị cũng dậy sớm. Giờ này chưa dậy thì trễ cuộc hành hương lên Kim Cương tự mất, sáu mươi dặm đường chứ có gần đâu.
Hạ thái thái nói :
- Mát trời nên có lẽ nhị vị Chu gia ngủ quên. Thôi hãy để người ngủ thêm lát nữa.
- Cô mẫu dạy thế không được, chậm trễ một ngày là nguy cho biểu muội rồi...
Hạ thái thái lại rơm rớm nước mắt :
- Không biết đêm qua nó ngủ ở đâu, có xảy ra việc không hay Tú Anh ốm chăng?.. Trời ơi?
Phàn Mộng Liên đứng lên :
- Để cháu lên lầu đánh thức nhị vị ấy dậy. Muộn lắm rồi. Công việc còn nhiều.
Nói đoạn, Mộng Liên lên lầu. Vừa định đưa tay khẽ đẩy cửa phòng thì Chu Tú Anh đã nhẹ tay mở cánh cửa bước ra ngoài vươn vai như người ngủ say lắm mới dậy.
Nàng kéo tay Phàn Mộng Liên đi xuống nhà.
- Đêm hơi lạnh, ngủ ngon quá, không ngờ đã sáng bạch rồi. Mọi người dậy cả chưa hả Phàn muội?
Không ngờ Lam Y nữ hiệp lại vô tâm đến thế, Phàn Mộng Liên ngạc nhiên nói như cái máy.
- Dậy cả rồi, đang chờ nhị vị để...
- Chà! Trời mát thế này không ngủ cho khỏe dậy sớm làm chi!
- Ủa! Bữa nay chúng ta phải khởi hành sớm do thám Kim Cương tự mà! Vụ Hạ Thái Phượng mất tích đó.
- À! Thế mà quên khuấy đi mất. Tệ quá! Tệ quá! Chu huynh cũng chưa dậy à.
Phàn Mộng Liên càng ngạc nhiên, không ngờ một vị Nữ hiệp vang danh khắp chốn lại lơ đểnh đến nước ấy! Đối với con người trên thế gian này quả thiệt khó nói cho cùng.
Hai người xuống tới nhà dưới vào phạn phòng, nơi Hạ thái thái và Phàn Thế Hùng đang uống trà chờ.
Chu Tú Anh vái chào Hạ thái thái và Phàn Thế Hùng :
- Ngủ say quá để mọi người chờ thiệt là đắc tội.
Cũng như Mộng Liên, Thế Hùng rất đỗi ngạc nhiên về thái độ của vị nữ hiệp họ Chu bèn nói :
- Dạ chúng tôi chờ nhị vị để đi Kim Cương tự.
Chu Tú Anh lững lờ :
- Không đi hôm nay thì mau đi cũng được, còn sớm chán lo gì! Nếu Hạ tiểu thư bị bắt lên đó thì chắc chắn bị giữ tại nơi ấy, chứ không có đi nơi khác đâu.
Phàn Thế Hùng sửng sốt trố mắt ra nhìn, không hiểu. Hạ thái thái hiền lành không hiểu ra sao cả. Vừa lúc ấy thì Chu Đức Kiệt từ ngoài nhà bước vào, y phục gọn gàng, tay xách một gói lớn để lên mặt bàn.
Phàn Thế Hùng giật mình đứng lên.
- Ủa! Chu ca dậy lúc nào thế? Tôi tưởng còn ngủ trên lầu.
Đức Kiệt chào mọi người tươi cười :
- Không ngu huynh dậy từ sớm ra sau vườn chơi, thấy nhà chưa mở cửa hàng, nên băng qua tường sau ra ngoài, đi loanh quanh xem cảnh dân phố Dương Châu ban sáng hoạt động như thế nào? Lững thững trở về qua tiệm bánh gần đây, thấy bánh bao nhân gà và bánh hấp tôm ngon quá liền mua về nhà dùng điểm tâm luôn thể.
Nói đoạn, chàng cười khanh khách vui vẻ vô tư. Chu Tú Anh đứng lên giở gói bánh còn nóng hổi khói bốc nghi ngút. Hạ thái thái hỏi Tiểu Kim xuống nhà lấy chén bát lên. Chu Tú Anh bảo Tiểu Kim.
- Lấy thêm chén bát nhé, nhà có khách.
Hạ thái thái không hiểu :
- Khách nào hả nữ hiệp.
Khách của nhà mà thái thái không biết sao? Cháu thấy người lạ đó nằm trên lầu. Thái thái nên lên đánh thức mời người ấy xuống kẻo nguội bánh mất cả ngon.
Thấy Hạ thái thái nghi nghi ngờ ngờ. Chu Đức Kiệt nói :
- Quả vậy, cháy thấy có người nằm trên lầu. Thái thái và Phàn cô nương lên xem họ đã dạy chưa.
Nóng ruột, Phàn Mộng Liên liền nói :
- Cô mẫu lên lầu với cháu xem ai mà lạ vậy.
Hai người lên lầu. Phàn Thế Hùng cũng đứng dậy lên theo trong lúc Tiểu Kim bày bàn ăn điểm tâm. Anh em Chu gia nhìn nhau cả cười.
Ba cô cháu họ Hạ lên lầu chưa biết căn phòng nào thì thấy có tiếng thở dài và cựa mình trong phòng Chu Tú Anh. Cả ba người cùng giật mình ngừng bước. Phàn Mộng Liên bước vào nhìn lên giường quả thấy một người đắp mềm nằm quay mặt vào trong, liền vẫy tay gọi Hạ thái thái và Phàn Thế Hùng vào. Hạ Thái Phượng bị hai đêm một ngày sống trong sợ hãi kinh hoàng nay được chăn ấm nệm êm ngủ li bì.
Phàn Thế Hùng bước tới bên giường ngó đầu nhìn kỹ kêu lớn.
- Cô mẫu ơi, biểu muội đây mà.
- Thật à!
Hạ thái thái bước vôi tới nhìn thì quả là cô gái yêu thật, sướng quá, ngồi xuống bên giường định lay Thái Phượng dậy... Nhưng giật mình, Thái Phượng đã trở mình lại mở mắt nhìn mẹ tưởng gặp nhau trong giấc mộng, liền ôm choàng lấy Hạ thái thái khóc nức nở. Hạ thái thái vội ôm Thái Phượng vào lòng sung sướng ứa nước mắt, nói chẳng lên tiếp :
- Mẫu thân ơi, đây là đâu, hay trong giấc mơ hả mẫu thân.
- Nhà ta đây mà con, con về nhà bao giờ mà không cho mẹ hay. Phàn biểu huynh và biểu tỉ Mộng Liên từ Thái An huyện đến chơi đây nè.
Thái Phượng tung mền ngồi hẳn dậy dụi mắt nhìn mọi người, nhìn chung quanh. Quả nhiên là nhà nàng thật. Này mẹ, này anh, này chị... nàng định thần lần lần nhớ ra những việc đã xảy tới cho nàng. Thái Phượng đem việc đêm qua bị nhốt vào quả chuông đồng lớn và có hai người, một nam một nữ tới cứu... nói lại cho Hạ thái thái cùng Anh em họ Phàn nghe.
Phàn Thế Hùng vỗ hai tay vào nhau, nói :
- Thôi ngu điệt hiểu rồi. Chính nhị vị đại hiệp họ Chu bí mật đêm qua đi cứu Thái Phượng về, rồi sáng giả đò dậy muộn ngủ quên để dành cho chúng ta sự vui mừng bất ngờ này. Hành hiệp mau lẹ, mưu thần chước quỷ như vậy, danh bất hư truyền, đáng lắm, đáng lắm.
Mộng Liên nói theo :
- Thế mà lúc nãy, ngu muội có ý ngờ vực hảo tâm của hai nhân vật ấy! Chúng ta thực có mắt không ngươi.
Thái Phượng ngủ một giấc dài đã lại sức, bèn bước xuống giường đỡ Hạ thái thái bước ra khỏi phòng Tú Anh sang phòng mình xỏ giày, lấy áo dài mặc choàng ra ngoài rồi cả mấy người cùng kéo xuống nhà dưới.
Anh em Chu gia thấy mọi người tới liền cười khúc khích đứng cả dậy.
Chu Tú Anh hỏi lớn :
- Quí khách ngủ say, bây giờ mới dậy à?
Tiểu Kim mừng cuống cả lên chạy tới vồ lấy Thái Phượng :
- Ôi! Cô đã về đấy à.
Nói đoạn, chạy vội ra ngoài tiệm gọi vợ chồng Lý Trung rối rít. Thái Phượng tới trước mặt Đức Kiệt, Tú Anh quỳ lại tạ ơn cứu mạng, nói chẳng lên tiếng.
Tú Anh vội đỡ dậy :
- Người nhà cả mà, đứng dậy không tôi giận bây giờ.
Vợ chồng Lý quản gia vào tới nơi mừng mừng rỡ rỡ ríu rít.
Chu Đức Kiệt nói :
- Nào chúng ta điểm tâm đi, nguội cả rồi.
Lý Trung bảo Tiểu Kim ra coi hàng. Mọi người cùng ngồi xuống quanh chiếc thồi ăn uống rất đỗi vui vẻ. Phàn Thế Hùng hướng về phía Đức Kiệt, Tú Anh :
- Nhị vị ác quá, hành động không cho chúng tôi biết, đầu đuôi câu chuyện như thế nào.
Đức Kiệt mỉm cười nhìn Tú Anh :
- Việc cứu Thái Phượng cô nương đây gấp hơn cứu hỏa, nếu trì chậm để qua một đêm nữa thì danh dự ắt chẳng còn.
- Vào trúng sào huyệt bọn dâm tăng là phúc lắm của nhà ta, nếu trật thì anh em tôi cũng đành chịu, tài giỏi biết mấy cũng đành khoanh tay, tìm kiếm sau chứ biết hành động thế nào?
Nói đoạn, kể chuyện đêm qua đi cứu Thái Phượng cho mọi người nghe.
Thái Phượng cũng kể việc đêm qua rồi bị bắt mê đi không biết gì cả, lúc tỉnh dậy thấy ở trong một căn phòng trang hoàng cực kỳ xa xỉ giữa một số đông phụ nữ trai tơ... Rồi tên dâm tăng to lớn mập mạp vào bỡn cợt định giở trò mây mưa ân ái, nhưng nàng cương quyết chống cự xỉ vả... Sau đó, y truyền lệnh cho một mụ béo mập khuyên giải khuất phục nàng phải bằng lòng nếu không thì hôm sau, y sẽ cưỡng bách. Hạ thái thái và mọi người nghe chuyện đều bủn rủn chân tay, nghĩ may thay cho số mệnh của Thái Phượng.
Riêng phần Anh em Chu gia đã quen thuộc nhiều những việc tương tự như vậy trong bước đường giang hồ nên thản nhiên nhìn mọi người. Điểm tâm xong, Hạ thái thái bảo Thái Phượng đi nghỉ lấy sức rồi ra xem xét ngoài tiệm với lão quản gia.
Chu Tú Anh nói :
- Thái thái an tâm bán hàng như thường dù xảy ra chuyện gì cũng đừng sợ, đã có chúng cháu xử trí. Bọn ác tăng thấy mất Thái Phượng chắc không chịu thôi đâu.
Hạ thái thái nói mấy lời cảm ơn rồi ra ngoài. Phàn Thế Hùng hỏi Anh em Chu gia.
- Nhị vị định xử trí vụ này ra sao.
Chu Đức Kiệt nói :
- Ta sẽ hành động tùy cơ ứng biến. Có điều từ nay trở đi, Phàn muội phải tạm chung phòng với Thái Phượng phòng bị cẩn thận. Hôm rồi, Hạ cô nương bị mùi hương ngủ mê đi nên lúc bị bắt không biết gì cả. Tất cả chúng ta đều phải chú ý nghe ngóng lúc đêm khuya. Bọn đầu đà chưa thôi đâu.
Phàn Mộng Liên nhìn Anh em họ Chu :
- Bây giờ nhị vị lên lầu ngủ cho lại sức, đêm qua thức suốt rồi. Chúng ta sẽ tính việc thám hiểm Kim Cương tự.
Chu Tú Anh nói :
- Không thể gọi là thám hiểm được nữa vì ta đã biết rõ mặt trận Kim Cương tự rồi. Cần tính toán phá cái ổ dâm tà trừ hại cho dân. Tôi suy đoán thế này. Chùa đó lớn nhất thành Dương Châu, thì vị hòa thượng tất có thế lực giao du chặt chẽ với các vị đại quan xứ này mới có thể trụ trì lâu năm tại đây, lập nên các cơ quan bí mật trong chùa để sống cuộc đời vương giả núp sau chiếc áo cà sa. Nay chúng ta bước chân tới nơi đó tất thế nào cũng có xung đột rồi. Dây đứt động rừng, bởi vậy bọn ta cần phải biết tỏ tường mới liệu bề hành động chu đáo được...
Phàn Thế Hùng nói :
- Nhị vị cứ nghỉ ngơi. Tôi sẽ sang bên cạnh hỏi thăm Vương thúc thúc là người gốc ở Dương Châu, tất biết rõ ngôi chùa đó. Hoặc giả không biết thì cũng có thể giới thiệu nhiều người cho tôi tiện bề thăm hỏi. Như vậy có được không?
- Phàn ca phụ trách việc đó rất đích đáng. Hiện nay, bọn dâm tăng Kim Cương tự biết đã có người hiểu rõ mặt trái của chúng. Tất thế nào cũng cho người tới đây thăm dò việc Thái Phượng. Vậy Phàn muội nên ngồi ngoài tiệm với Hạ thái thái chú ý xem có sự chi lạ không và phải phòng bị. Chúng không bỏ qua việc này đâu.
Nói đoạn, Chu Tú Anh cùng Đức Kiệt lên lầu đi nghỉ.
Phàn Mộng Liên cũng lên lầu lấy cắp song đao giấu vào một nơi tiện tay ở ngoài tiệm và ngồi chơi ngay đó với cô mẫu. Còn Phàn Thế Hùng thời sửa soạn sang thăm Vương lão dò chuyện. Quả nhiên, hôm ấy vào khoảng giờ mùi có một đầu đà cao lớn đầu trọc lóc bóng nhoáng, lưng giắt cây đoản đao to bản, tay cầm chiếc mỏ sắt lớn hơn trái dưa tây, vừa đi vừa gõ tụng kinh.
Qua nhà nào, đầu đà ấy cũng vào quyên tiền :
- Nam mô A di đà Phật. Bần tăng từ Quế Lâm qua đây quyên tiền để xây dựng một ngôi chùa, xin quý vị tín chủ vui lòng bố thí, công đức ấy sẽ được ghi tạ bia đá, Thiết Đầu Đà này không bao giờ quên công ơn ấy...
Thấy Thiết Đầu Đà dữ tợn, mặt đỏ gay, sau lưng lại giắt cây đao lớn, nhất là chiếc mỏ sắt nặng nề như vậy mà y cầm nhẹ nhàng như không, nhà nào cũng cúng mấy quan tiền để y đi nơi khác cho rảnh mắt. Nhưng cũng có nhà thấy Thiết Đầu Đà hổ mang quá không muốn cúng tiền, bảo y đi nơi khác. Thiết Đầu Đà làm thinh đứng ra đó trơ trơ gõ mõ tụng kinh. Tiếng mõ sắt phát lên vang động chói tai. Chủ nhà đành phải cúng tiền để hắn đi cho rồi. Thiết Đầu Đà đi tới đâu, lũ trẻ con trong phố theo sau xem đến đấy, nhưng y vẫn trơ tráo như không biết chi cả.
Hạ thái thái ngồi trong quầy với Phàn Mộng Liên nhìn sang dãy nhà phía trước mặt, vội đập vai Mộng Liên :
- Này cháu, đầu đà dữ tợn kia là một trong hai người mà cô đã nói chuyện cho các cháu nghe đó.
Mộng Liên chú ý nhìn ngờ ngợ không biết đã gặp nét mặt ấy ở đâu rồi... Hạ thái thái thấy Mộng Liên đờ người ra, vội hỏi :
- Kìa, cháu sao vậy? Vào trong nhà đi, kẻo nó thấy cháu nhan sắc lại kiếm chuyện lôi thôi như Thái Phượng.
- Không! Cháu nghĩ vì tên này quen quá!... À, nhớ ra rồi, anh em cháu và nhị vị Chu gia đã gặp tên này ở Giang Đầu sơn bên Trấn Giang. Chính y rồi.
- Nếu vậy, cháu càng nên vào trong đi. Cô gọi Lý quản gia đóng cửa tiệm.
- Sao cô mẫu lẩn thẩn vậy? Liệu có đóng cửa tiệm mãi để tránh tên độc ác đó được không? Nếu nó vô đây, cháu sẽ đuổi nó cho cô mẫu coi.
- Thôi, nên tránh việc lôi thôi cháu ạ. Chừng nào anh em cháu về Thái An huyện rồi thì ai giúp cô nơi đây? Bởi vậy cứ tránh bọn hùm beo đó đi là hơn.
Phàn Mộng Liên mỉm cười :
- Chưa trừ tiệt chúng nó, anh em cháu quyết không về Thái An huyện ngay. Nếu cháu không đánh nổi tên ác tăng này cũng còn nhị vị hiệp khách họ Chu cơ mà. Với hai người ấy chắc cô mẫu hết lo?
Hai người đang nói chuyện thì Thái Phượng từ trong nhà đi ra.
Hạ thái thái hết hồn vội la :
- Có tên đầu đà đi qua đây lúc trước đang quyên tiền sắp tới nhà ta bây giờ, vào nhà lên lầu ở gần nhị vị họ Chu kẻo khốn bây giờ.
- Nhị vị ấy biết việc này rồi, hiện đang đứng trên lan can lầu nhìn phố và bảo con xuống dưới này trước.
Phàn Mộng Liên hỏi :
- Biểu muội có nhận ra được mặt tên này ở Kim Cương tự không?
- Tàng Xuân viện là của riêng tên ác tăng đại hòa thượng những người ở cấp dưới không có phép vào. Vả lại bọn chúng lố nhố đông, trong lúc hoảng hốt, ngu muội không nhớ được mặt tên nào cả. Chúng cũng mập mạp khỏe mạnh như nhau.
Nói đến anh em họ Chu ra hiên lầu nhìn xuống đường xem quang cảnh đường Chiêu Dương thì vừa lúc Thiết Đầu Đà quyên tiền.
Hai người nhận ra ngay y là một trong hai nhà sư gặp ở Vạn Thảo điếm trên núi Giang Đầu.
Tú Anh nói :
- Tiểu muội có cảm tưởng tên này dính líu tới vụ bắt cóc Thái Phượng.
Đức Kiệt cười :
- Còn cảm tưởng chi nữa! Đất Dương Châu này thiếu gì nơi sầm uất mà sao tên này lại chọn đúng Chiêu Dương lộ quyên tiền? Y dò la đó. Vào nhà đi kẻo nó trông thấy bọn ta không tiện.
Anh em họ Chu vào nhà gọi bảo Thái Phượng nhìn qua khe cửa nhận diện Thiết Đầu Đà. Thái Phượng chỉ nhận ra đầu đà này có qua phố này trước khi xảy ra vụ bắt cóc, nhưng không nhớ có gặp y ở Kim Cương tự hay không. Bởi thế anh em họ Chu mới bảo nàng cứ xuống cửa hàng xem ác tăng hành động thế nào. Tuy sợ hãi, nhưng Thái Phượng tin ở tài nghệ họ Chu nên nghe lời ngay. Chu Tú Anh bảo Đức Kiệt :
- Hiền huynh chẳng nên ra mặt. Ta xuống nhà núp phía trong tiệm hàng coi tên ấy hành động thế nào. Nếu có sự gì, cứ để mặc tiểu muội.
Mãi gần chiều Thiết Đầu Đà mới tới cửa tiệm Đạt Hưng. Hắn bỏ tiền quyên được vào một chiếc túi da đeo lủng lẳng ở cánh tay. Mắt sắc như dao, Thiết Đầu Đà nhìn vào cửa tiệm thấy Thái Phượng và Mộng Liên ngồi ở quầy hàng thì chăm chú nhìn từ người nọ đến người kia không chớp mắt. Đoạn, cũng như ở chỗ khác, y bước vào nhà quyên tiền. Mấy người khách đang mua hàng thấy Thiết Đầu Đà diện mạo hung dữ đều lảng tránh đi ra không mua nữa.
- Nam mô A di đà Phật, bần tăng xin quí vị nữ tín chủ cúng cho ít nhiều tiền xây chùa.
Tiếng nói ồ ồ khiến người yếu vía cũng phải thất đảm. Vợ chồng Lý quản gia cũng có mặt tại chỗ. Lý Tiểu Kim núp sau rèm nhìn ra. Hạ thái thái lấy tiền định đưa cho Lý Trung cúng tên quỷ để nó đi cho rồi, nhưng Phàn Mộng Liên gạt đi.
Mộng Liên bảo Thiết Đầu Đà :
- Hòa thượng có trông thấy gì không?
Thiết Đầu Đà trố mắt.
Mộng Liên nói tiếp :
- Khách hàng sợ hãi đi hết không có tiền cung phụng để... dựng chùa. Mọi việc cúng bái đều do sự hảo tâm thành kính. Bây giờ chúng tôi không có, xin hòa thượng đi nơi khác.
Thiết Đầu Đà đưa mắt nhìn hai thiếu nữ yêu kiều, đoạn đặt chiếc mõ sắt xuống đáy, im lặng như không hiểu Phàn Mộng Liên vừa nói gì.
Ngoài cửa tiệm, mọi người đứng xem ai nấy đều lo sợ cho thiếu nữ ngang ngạnh trong tiệm Đạt Hưng.
Phàn Mộng Liên bước ra khỏi quầy hàng.
- Thế nào? Sư phụ đứng đó làm chi, đi quyên nơi khác được thêm tiền có hay hơn không?
Thiết Đầu Đà, hai mắt đỏ ngầu trừng trừng nhìn cô gái cứng cổ dám hỗn xược.
Hạ thái thái và Thái Phượng sợ quá bỏ quầy hàng vào núp phía sau rèm bên cạnh Lý Tiểu Kim.
Phàn Mộng Liên khoanh tay vào sườn :
- Nếu sư phụ thấy mỏi tay vì chiếc mõ sắt thì cho phép tôi đem nó ra ngoài đường bộ.
Nói đoạn, Mộng Liên xắn tay áo để lộ hai cánh tay nõn nà trắng trẻo như da đào, cúi xuống nhắc chiếc mõ sắt nặng nề, liệng mạnh ra ngoài giữa đường. Mọi người thóc mách đứng xem dãn cả ra. Thiết Đầu Đà mỉm cười, im lặng chắp hai tay vái dài Phàn Mộng Liên khiến nàng phải lùi lại mấy bước lảo đảo như bị thổi bạt bởi trận cuồng phong vậy... Mộng Liên choáng váng chưa kịp định thần thì từ trong nhà, tiếp theo tiếng thét vang, nhảy vụt ra một người đứng chắn giữa Thiết Đầu Đà và Phàn Mộng Liên :
- Ác tăng! Không được hành hung! Đã có ta đây!
Ở ngoài đường, mọi người nhận ra đó là một vị anh thư, võ phục lam huyền, đôi mắt xếch ngược, đẹp và dữ tợn như thiên thần. Người đó không phải ai xa lạ chính là Lam Y nữ hiệp Chu Tú Anh.
Nói về Chu Tú Anh và Đức Kiệt núp trong nhà nhìn ra thấy Phàn Mộng Liên can đảm dùng sức liệng chiếc mõ sắt ra ngoài giữa đường thì khen thầm họ Phàn can đảm và đã có công phu luyện tập khá. Nhưng khi thấy Thiết Đầu Đà chắp tay vái mà đến nỗi Phàn Mộng Liên bật người ra phía sau thì Tú Anh hiểu ngay Thiết Đầu Đà có bản lãnh dày dặn, công phu tập luyện đáng kể.
Chu Đức Kiệt bảo nhỏ Tú Anh :
- Ra đi, kẻo trễ bây giờ!
Bởi vậy Tú Anh nhảy ra đứng chắn giữa Thiết Đầu Đà và Phàn Mộng Liên như mọi người thấy ở trên. Thứ công phu mà Thiết Đầu Đà vừa dùng để áp đảo Phàn Mộng Liên là thuật Thần Phong Khí.
Thiết Đầu Đà vận dụng ngoại công tập trung toàn thể sức lực ra hai cánh tay, nên lúc cúi xuống vái, sức mạnh bật thành hơi gió đến nỗi Phàn Mộng Liên phải bật ra phía sau. May thay, Thiết Đầu Đà chưa phải tay cao thủ nên Mộng Liên chỉ bị choáng váng. Trái lại nếu gặp địch thủ cao siêu về môn Thần Phong Khí thì Mộng Liên đã bị đứt hết lục phủ ngũ tạng tắt thở ngay. Chu Tú Anh nhận thấy như vậy vì chính nàng là tay siêu cao đẳng về môn Nội, Ngoại Thần công luyện từ nàng mười bốn tuổi lúc mới khởi đầu theo Đức Võ Thượng Nhân ở dãy Cửu Huyền sơn, Quan ngoại.
Chống lại Thần Phong Khí, người có công phu phải dùng môn Bắc Phái nội công, nghĩa là vận dụng ngoại lực khiến toàn thân rắn như thép, hai chân tọa bộ Mã Tử nặng nề như Thái Sơn thì Thần Phong Khí không làm gì nổi. Nhưng mấy ai đã luyện nổi hai phương pháp siêu đẳng này.
Thiết Đầu Đà giựt mình không hiểu tại sao hôm nay lại gặp nhiều thiếu nữ ghế gớm thế này. Hắn định thần nhìn thấy nàng thiếu nữ áo lam vừa nhảy ra là một giai nhân tuyệt sắc, nhưng khí sắc cân quắc anh thư lồ lộ, thì hắn hiểu ngay người này không phải kẻ tầm thường. Thiết Đầu Đà liền vận dụng nội công chuyển hết sức lực ra hai tay vái mạnh một cái nữa.
Bộ lam y bị rung động vì sức gió nhưng nữ hiệp vận nội công vẫn đứng nguyên tại chỗ, tươi cười. Thiết Đầu Đà tái mặt, không ngờ một thiếu nữ xinh đẹp nhường kia lại có bản lãnh kinh dị như vậy. Đang hoang mang tiến thoái lưỡng nan thì Chu Tú Anh đã lùi lại quát lớn.
- Ác tăng, muốn tỉ thì thì ra ngoài đường, mau...
Miệng chưa nói hết câu nàng đã phóng chân đá ngọn Âm Dương Đồng Tử cước khiến Thiết Đầu Đà vội vàng nhảy vù qua cửa ra ngoài đường để tránh ngọc độc cước ấy. Sở dĩ Chu Tú Anh phải dùng ngay đòn hiểm để áp đảo địch thủ là vì trong nhà chật hẹp, xung đột ngay tại chỗ e cửa tiệm bị ảnh hưởng lây nên nàng đánh dữ trước đuổi Thiết Đầu Đà ra khỏi nhà rồi sau sẽ hay.
Ngọn Âm Dương Đồng Tử cước là một thứ đá đôi rất dữ dội lợi hại của bài La Hán quyền một trăm lẻ tám thế.
Ngọn cước này là một thế công mà người dùng phải có công phu luyện tập chắc chắn. Lúc Chu Tú Anh quát lớn cũng có mục đích riêng làm cho Thiết Đầu Đà không chú ý về việc nàng lùi lại phía sau để lấy đà phóng người lên khởi đánh.
Thiết Đầu Đà vóc người cao lớn lúc đó lại đứng thẳng nên Chu Tú Anh lúc chồm ra phía trước, chân hữu Dương Cước đạp thuốc gót chân vào ngực đầu đà. Tiếp sau là chân tả Âm Cước phóng mũi giày vào vụn hoặc vào hạ bộ địch thủ. Cả hai ngọn cước Âm Dương cùng hiểm độc và rất mạnh, Thiết Đầu Đà dù tài giỏi biết mấy mà bị trúng thế Âm Dương Đồng Tử cước cũng phải tan xương nát thịt. Nhất là ngọn cước ấy do Tú Anh phóng ra.
Thiết Đầu Đà không còn cách gì hơn là chạy ra ngoài đường nhưng Chu Tú Anh đã ước lượng từ trước. Biết gặp tay lợi hại, Thiết Đầu Đà tuốt đao ra lăm lăm đứng chờ.
Mọi người sợ hãi dãn ra. Mới đầu, ai cũng có ý lo lắng thay cho thiếu nữ áo lam, tới khi thấy nàng tấn công trước như vũ bão, Thiết Đầu Đà phải bỏ chạy thì không ai bảo ai đau nhau hoan hô tay rầm rầm.
Thiết Đầu Đà vừa ra tới đường dao rút ra, Chu Tú Anh nhảy theo liền. trong bước chân của đối phương, đầu đà nhận ngay ra Chu Tú Anh thuộc Bắc phái, có ý khen thầm.
Thấy Thiết Đầu Đà rút đao, trong nhà Mộng Liên vội rút song đao phăng phăng chạy ra, nhưng Chu Tú Anh đã nói lớn :
- Dang ra, mặc tên trọc này cho tôi.
Nói đoạn, nàng xuống tấn Chảo Mã, tả tiền hữu hậu, bàn tay tả ngửa lên duỗi thẳng cánh tay chĩa vào hướng Thiết Đầu Đà, tay hữu úp vòng lên trên đỉnh đầu, quắc mắt nhìn đầu đà.
- Ác tăng! Vừa chết hụt rồi mà chưa biết sợ hay sao? Có giỏi vào phá thế này coi!
Thiết Đầu Đà bị mất uy dong trước mặt quần chúng, nổi giận đùng đùng thét lên như sấm sét, hoa đao nhảy bổ vào chém một ngọn Thái Sơn đao, nhằm cánh tay tả của Chu Tú Anh.
Lẹ như chớp Chu Tú Anh hạ tay tả xuống vòng ra phía sau, đồng thời thu chân tả lùi lại phía sau như tay tả, nhường cho Thiết Đầu Đà nhào vô chém hụt, Tú Anh liền đứng ngay người hạ thấp tay hữu xuống chặt mạnh cườm tay trúng tay hữu cầm đao của Thiết Đầu Đà.
Cánh tay Tú Anh hạ xuống như thép, Thiết Đầu Đà đau quá, buông đao rơi xuống đất, nhưng đã xong đâu.
Chu Tú Anh thấy cổ Thiết Đầu Đà bị hở liền thừa thế chém ngược cườm tay hữu lên cổ đầu đà. Đòn đánh lẹ quá, mọi người chỉ nghe thấy rắc một tiếng, đồng thời đầu đà kêu lớn một tiếng chao ôi. Tấm thân lực lưỡng ấy té ngửa ra mặt đất huỵch ngất lịm, tay chân duỗi thẳng.
Tả thì lâu, nhưng thật sự hai thế vừa rồi được Chu Tú Anh dùng trong nháy mắt như sau đây.
Lúc đầu tiên, đứng Chảo Mã tấn, duỗi tay tả ra phía trước là thế Diệp Đề Thâu Đào lừa cho Thiết Đầu Đà ham đòn nhằm chém vào tay Tú Anh. Nhưng Tú Anh rút tay trái về tránh đòn, chéo chân tả về phía sau nhường chỗ cho Thiết Đầu Đà chém hụt mát đà chúi người tới. Lúc bấy giờ, Tú Anh mới hạ tay đánh bàn tay Cương đao xuống trúng cổ tay đầu đà cho đao buông rớt đi theo thế Thần Sơn Trảm Mộc. Rồi tiện tay hữu đánh cườm tay róc mía lên cổ đầu đà. Thế này là Thu Phong Lạc Nhạn. Đòn vừa lẹ vừa mạnh, vừa hiểm nên Thiết Đầu Đà đành nhắm mắt chịu mà không thi thố nổi võ dũng.
Với thế Thu Phong Lạc Nhạn, Chu Tú Anh chỉ đánh cườm tay vào phía bên cổ đầu đà nên y chỉ bị ngất đi thôi. nếu nàng có ý định giết y thì chỉ án thăng vào yết hầu là xong chuyện. Trong trường hợp này, Thiết Đầu Đà bị vỡ cổ họng, đứt hơi không kêu được, chết liền.
Tràng pháo tay vang vậy hoan hô cổ vũ nhiệt liệt họ Chu. Tú Anh cúi xuống lượm thanh đao của Thiết Đầu Đà xem thấy đó chỉ là cây đao thường nên cắm đao xuống đất cạnh đầu đà. Đoạn nàng trở về nhà.
Phàn Thế Hùng đã về, cùng Phàn Mộng Liên và mọi người trong nhà xem trận đấu.
Chu Tú Anh bảo Tiểu Kim vào nhà múc thau nước lạnh. Lát sau, Tiểu Kim bê thau nước ra, Tú Anh đón lấy, cầm ra đỏ ụp vào mặt Thiết Đầu Đà. Hồi lâu, y tỉnh dậy, ngồi lên, thở phì phò như trâu nước. Đoạn y xoa bóp cổ, đứng lên rút đao tra vào vỏ, lượm mũ sắt, gườm gườm nhìn Chu Tú Anh rồi lủi mất, quên cả túi tiền.
Một người lối xóm chạy ra đường nhặt lấy túi đó đưa cho Chu Tú Anh. Nàng đỡ lấy nhờ Phàn Thế Hùng đề cử một người nào đó thay mặt trả lại mọi người trong khu phố.
Mọi người xem giải tán lâu rồi, nhưng trong tiệm Đạt Hưng còn có mấy người lân cận như bọn Vương lão. Họ mừng Hạ thái thái đã may mắn gặp được cứu tinh nên Thái Phượng mới thoát khỏi miệng cọp. Vương lão nói với Anh em Chu gia.
- Bà con khu phố này nhờ tôi chuyển lời cảm ơn nhị vị. Họ có ý muốn đặt tiệc mời nhị vị chủ tọa, trước là để làm quen và tạ ơn, sau là nhân dịp còn đầu Xuân mua vui luôn thể, mong quí vị chớ từ chối.
Chu Đức Kiệt nói :
- Rất đa tạ tấm thạnh tình ấy, nhưng trong tình hình này, thiết tưởng chẳng nên vội vàng tiệc tùng làm chi. Tên đầu đà vừa rồi tuy bại trận nhưng chưa chịu thôi đâu. Chúng tôi còn ở lại Dương Châu, vậy sẽ có dịp họp mặt đàm luận cần chi vội vàng. Nhờ Vương lão chuyển lời nói hộ nhé!
Họ Vương nghe nói có lý, không cố ép mời nữa, rủ nhau ra về.
Trời cũng đã sẩm tối. Hạ thái thái bảo Lý quản gia đóng cửa tiệm sớm, dùng bữa chiều.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-02-19 16:14:04casau>
Hồi 9
Cả lòng tin bạn, Pháp Huyền đại sư vong mạng
Coi nhẹ lời thầy, Phi Không hòa thượng lộng hành
 
Trong bữa cơm, Chu Tú Anh nói với anh em họ Phàn :
- Tôi chắc chắn hai tên đầu đà gặp ở Vạn Thảo điếm bên Trấn Giang là người ở Kim Cương tự, không thì ít ra chúng cũng từ xa tới nhưng ngụ ở chùa có. Tên đầu đà quyên tiền hồi nãy có ý tạ sự thăm dò việc Thái Phượng, nhưng có ý ngờ bọn ta ở đây.
Phàn Mộng Liên nói :
- Phải rồi, lúc tới tiệm nhà, đầu đà ngạc nhiên nhìn Hạ biểu muội không chớp mắt. Tên này bản lãnh chẳng vừa.
Chu Đức Kiệt nói :
- Bởi vậy Chu muội mới phải chạy ra chắn. Nếu y không giở món Thần Phong Khí ra thì chúng tôi cũng nhường Phàn muội đánh với y một trận xem sao. Cũng may, đầu đà chưa đạt hết môn công phu ấy đó, trái lại thì Phàn muội đã bị tan hết tim gan vì cái lạy của y rồi.
Nói đoạn, Đức Kiệt giảng qua loa về môn tập luyện ấy cho họ Phàn nghe và nói tiếp:
Các tăng, ni có bản lãnh hay luyện môn này. Từ nay, trong đời nếu gặp bọn ấy mà nghi ngờ không phải chân tu, Phàn muội không nên đứng gần. Đứng cách sáu, bảy thước không khi nào bị hại vì môn đó. Chớ quên.
Chu Tú Anh liếc nhìn Phàn Mộng Liên :
- Lẽ cố nhiên Phàn muội không quên rồi.
Mộng Liên đỏ mặt im lặng. Đức Kiệt thấy Tú Anh giễu, nói lảng hỏi Phàn Thế Hùng.
- Phàn ca đi dò tin bữa nay có được việc chi không?
Phàn Thế Hùng đáp :
- Tôi sang nhà Vương thúc thúc hỏi chuyện rồi cùng đi với người thăm mấy nơi khác để thăm dò việc Kim Cương tự, nhưng không một ai biết nơi ấy là một tổ quỷ. Theo ý tôi thì đó là lẽ dĩ nhiên, họ biết sao được mặt trái của Kim Cương tự, bởi vậy Phi Không hòa thường mới ở lâu được đất này.
* * * * *
Kim Cương tự được xây dựng từ lâu lắm rồi không rõ từ đời nào.
Chùa rộng rãi dựng trên khu đất rộng tới mười mẫu. Cây cao bóng mát nhà nếp dọc, nếp ngang xây toàn bằng gạch xanh ngói ống tiềm sứ men màu. Những câu cột lớn hàng ôm chống giữ các xà ngang, xà dọc chạm trổ rất tinh xảo.
Ngoài tiếng mõ âm vang hòa với gió nhẹ thông reo, Kim Cương tự hoàn toàn chìm lắng trong cảnh vô cùng u tĩnh.
Trên gác tam quan rộng lớn, treo một chiếc chuông đồng đúc theo hình Ngũ Long Tranh Châu từ đời Tống Chân Tông, do Tinh Hải đại sư đúc. Chuông nay cao trên một trượng. Khi đánh phải dùng chày treo lớn, đầu bịt da và do hai hòa thượng đúc chày thúc vào mặt chuông. Mỗi buổi thu không, hồi chuông ngân nga vang dội tới mười dặm đường.
Trước đây, đại hòa thượng Pháp Huyền trụ trì lãnh đạo Kim Cương tự. Pháp Huyền hòa thượng là một vị chân tu hiền đức được dân Dương Châu mến chuộng kính nể.
Một hôm trời sẩm tối, có một vị hòa thượng cao lớn khỏe mạnh, từ xa tới xin ở đậu ít bữa. Hòa thượng này đạo hiệu là Phi Không nói là từ Vân Nam tới. Pháp Huyền và Phi Không cùng một cấp bậc trong đạo gia nên chuyện trò rất tương đắc. Trong thời gian ở lại Kim Cương tự, Phi Không thường suốt ngày tung các khóa kinh, đạo hạnh khá cao, các sư trong chùa đều kính nể.
Bỗng một sáng kia, mọi người trong chùa không thấy Pháp Huyền hòa thượng ra vương sau chùa đi bách bộ như thường lệ, thì lấy làm ngạc nhiên rủ nhau vào thiền phòng coi sự thế nào. Không ngờ, Pháp Huyền vẫn nằm đắp mềm như người ngủ say, nhưng toàn thân đã lạnh ngắt, tích viên từ lúc nào. Trên đầu giường có phong thư.
Hòa thượng Tĩnh Độ cao cấp nhất trong chùa, sau Pháp Huyền, mở thư ra đọc lớn cho các sư tăng nghe.
Trong thư do bút tích của Pháp Huyền đại khái nói là hòa thượng thấy trong người chuyển khác nên biên lại thơ này phòng khi tịch viên rồi thì yêu cầu chư tăng trong chùa không nên tranh giành cấp bực, và trái lại, yêu cầu mọi người suy tôn Phi Không hòa thượng lên thay thế vì vị hòa thượng này không những ở cấp bậc trên mà đạo hạnh còn cao cả hơn mọi người. Trong khi đọc thư, Phi Không vắng mặt vì sáng nào cũng vào núi sau chùa.
Tĩnh Độ hòa thượng đọc lời di chúc xong liền cùng chư tăng quỳ xuống bên Pháp Huyền tụng kinh siêu độ. Hồi lâu Tĩnh Độ đứng lên hỏi ý kiến chư tăng về việc Pháp Huyền yêu cầu suy tôn Phi Không thay thế. Chư không đều ở cấp bực dưới, không ai có ý kiến gì cả đều phó mặc mọi sự cho Tĩnh Độ định liệu.
Năm ấy Tĩnh Độ đã ngoài tam tuần, đạo pháp tinh thông được Pháp Huyền rất quí mến nên mọi việc trong Kim Cương tự phần nhiều do Tĩnh Độ điều khiển, và chỉ hỏi qua loa ý kiến đại sự thôi. Tĩnh Độ vẫn hy vọng một ngày kia sẽ được thay thế lãnh đạo chùa khi Pháp Huyền tịch viện. Nay Pháp Huyền chuyển lời lại yêu cầu chư tăng tôn Phi Không hòa thượng lên chức đại sự, thì có ý không phục, vì Phi Không lớn hơn Tĩnh Độ có vài tuổi. Tuy cấp bực cao hơn song là người ở đâu mới tới, không có công linh chi với Kim Cương tự cả. Nhung bút tích của Pháp Huyền di chúc lại rành rành thế này, không lẽ hành động trái lại thời biết nói với chư tăng ra sao.
Còn đang phân vân chưa biết cư xử thế nào cho phải lẽ thì Phi Không bước vào, rớt nước mắt quỳ bên thi thể Pháp Huyền đọc kinh. Tĩnh Độ và chư tăng cũng quỳ theo tụng niệm. Hồi lâu, mọi người đứng dậy, Tĩnh Độ liền đưa di chúc cho Phi Không hòa thượng đọc. Đọc xong, Phi Không yêu cầu Tĩnh Độ để hai người ở lại thiền phòng tụng kinh cho người đã khuất, còn tất cả ra trai phòng hội họp.
An vị xong xuôi, Phi Không nói :
- Pháp Huyền đại sư quá yêu nên di chúc lại như vậy. Riêng tôi tự nghĩ đức độ hãy còn kém, vả lại là người mới đến, quyết không thể hành động theo lời đại sư được. Việc thay thế đó, không còn ai hơn Tĩnh Độ hòa thượng là người đã thạo việc nhà chùa.
Tĩnh Độ thấy Phi Không nhũn nhặn thì có ý phục bèn đáp :
- Trước hết theo qui tắc nhà chùa, chúng ta phải tuân theo lời đại sư quá cố, không thể thay đổi được. Tuy tôi trụ trì đã lâu tại chùa này, nhưng cấp bậc còn kém. Vậy không có gì hơn là theo lời di chức của đại sư, tôn Phi Không hòa thượng lên chức đại sư Kim Cương tự việc đã nhất quyết xin người đừng từ chối.
Tĩnh Độ và chư tăng quỳ xuống.
Phi Không vội vàng quỳ xuống đáp lễ và vẫn khăng khăng chối từ. Sau đó chư tăng kêu nài mãi Phi Không mới nhận lời. Mấy hôm sau, khi hỏa táng Pháp Huyền xong xuôi, trong chùa làm lễ chính thức suy tôn Phi Không hòa thượng lên chức đại sư Kim Cương tự.
Tĩnh Độ hòa thượng làm giấy báo cáo quan sở tại Dương Châu biết việc thay đổi.
Muốn được lòng Tĩnh Độ, Phi Không nhắc Tĩnh Độ lên cấp trên ngang hàng với mình và giao cho việc như phụ trách đại sư. Ngoài ra Phi Không còn mở cuộc khảo sát, rồi tùy nghi nhắc chư tăng lên cấp trên. Thành thử ai nấy đều hài lòng.
Trong vòng năm đầu, mọi việc trong Kim Cương tự vẫn điều hòa, nhưng Phi Không nạp thêm ba hòa thượng nữa là Lỗ Năng, Tuệ Giác và Dục Đức. Ba hòa thượng mới đến này người nào cũng lực lưỡng khỏe mạnh, có võ khí, và thường ngày luyện tập võ nghệ ở sân sau.
Sang năm thứ hai, Phi Không nạp thêm ba hòa thượng khác nữa: Bảo Tích, Pháp Cổ và Lục Độ. Cũng như ba người trước, bọn này cũng dữ tợn không kém. Sáu hòa thượng này rất thân nhau, hàng ngày luyện tập võ nghệ, gươm đao quyền cước. Ăn khỏe, ngủ nhiều chớ không chịu kham khổ như chư tăng cũ trong chùa. Phi Không làm ngơ không nói gì.
Trong hai năm đầu, Phi Không đi lại Dương Châu giao dịch với các quan sở tại và các thân chủ. Y rất khéo léo nên ai ai cũng quí trọng.
Tĩnh Độ thấy mực chi tiêu trong chùa tăng lên nhiều quá vì sáu hòa thượng mới, bèn trình bày riêng với Phi Không. Nhưng Phi Không ầm ừ qua loa rồi lờ đi. Đã nhiều lần làm như vậy, Tĩnh Độ bắt đầu nghi ngờ thiện chí của vị đại sư ấy.
Tĩnh Độ bèn bí mật họp chư tăng cũ lúc trước theo Pháp Huyền, dò hỏi ý kiến. Nhưng chẳng được việc gì vì ai nấy đều yếu đuối. Có ý sợ sáu hòa thượng mới vô dũng, dữ dội như hùm beo.
Chư tăng chán nản bỏ ra đi gần hết. Phi Không cũng không giữ ai hỏi cũng ưng thuận cho. Bọn ra đi không bao lâu có người thay thế liền.
Tĩnh Độ phẫn uất nhất định phản đối Phi Không.
Những người cũ này ai cũng có công với Kim Cương tự. Họ xuất gia từ khi còn nhỏ tại chùa, đại sư không nên để họ ra đi như thế.
Phi Không nghiêm sắc mặt :
- Tự ý họ xin đi, vậy không lẽ ta giữ lại? Ta có đuổi họ đâu.
- Không đuổi nhưng cũng như đại sư đuổi. Cảnh chùa ngày nay mất hẳn phong vị đạo hồi trước. Tiếng chân đạp đất huỳnh huỵch, gươm đao chạm nhau chan chát phải khiếp người. Chư tăng khi xưa chỉ biết âm thầm tụng kinh niệm Phật chịu sao nổi cảnh huyền náo ấy? Tiếc thay?
Phi Không biến hẳn sắc mặt không hiền lành nhã nhặn như trước nữa, quát lớn :
- À ra ngươi cũng muốn phản kháng ta? Nếu ngươi xin đi ta cũng ưng thuận ngay đứng có nói với chư tăng. Phản ta thì phải chết.
Tức giận quá, hơn nữa Tĩnh Độ tiếc nhớ cảnh xưa, liền đứng dậy nhìn thẳng vào mặt Phi Không nói :
- Ai nâng đại sư lên tới địa vị như ngày nay mà nói những lời không hay đó? Chùa này là nơi u tĩnh tu hành chứ không phải nơi sơn trại tụ tập côn đồ.
Phi Không im lặng, đứng lên đưa tay xách cổ áo Tĩnh Độ nhấc bỗng lên khỏi mặt đất, rồi liệng vào góc phòng, Tĩnh Độ ngã xoài ra mặt đất đau quá, nhưng vẫn luôn miệng mắng nhiếc Phi Không.
- Tu hành như bọn mi thì sớm xuống địa ngục...
Phi Không cười gằn :
- Thầy mi là Pháp Huyền cũng bị tay ta bóp chết nữa là mi. Được, sẽ cho mi biết địa ngục.
Phi Không bèn gọi Lục Độ đem Tĩnh Độ giam vào căn phòng như kín ở sau chùa.
Ngay hôm sau, Phi Không họp mấy người cũ còn lại nói :
- Tĩnh Độ vô lễ, nên ta đã trừng phạt. Còn các người, ai muốn lại ta cũng dung nạp. Kẻ nào muốn ra đi nơi khác, ta sẽ cấp tiền nong tử tế.
Những người khá đã đi cả rồi, còn mấy người lèo tèo làm bếp và dọn dẹp vặt vãnh trong chùa không biết đi đâu, nên phải ở lại chùa chịu lép một bề mặc bọn Phi Không lộng hành.
Từ đó, Phi Không tổ chức lại trong chùa theo cấp bực võ nghệ sức lực của từng hòa thượng một.
Pháp Cổ, Dục Đức, Lỗ Năng, Lục Độ, Bảo Tích và Tuệ Giác.
Pháp Cổ phụ Phi Không, Dục Đức giữ chân Tri khách tăng, Lỗ Năng coi kho, Lục Độ và Bảo Tích giữ phần xuất phát và xây dựng. Còn Tuệ Giác thì phụ trách cúng lễ đèn nhang trong chùa. Các tăng khác đều mỗi người mỗi việc. Ai ai cũng phải tập luyện côn quyền.
Phi Không còn chế ra các cơ quan, rồi cùng Lục Độ, Bảo Tích gọi thợ ở các nơi xa về xây dựng Tàng Xuân viện, đào đường hầm vào tận trong núi. Tàng Xuân viện xây dựng cực kỳ xa xỉ, chẳng thua chi nơi cung, qua nơi có cơ quan, chắc chắn phải tánh mạng.
Kim Cương tự từ ngày có Phi Không cầm đầu, tiền của súc tích. Riêng số tiền khách thập phương tới chiêm bái cúng, hàng năm cũng đã nhiều. Tuy vậy cũng không đủ để cung cấp sự xây dựng xa xỉ, nên thỉnh thoảng Phi Không và Pháp Cổ lại đi xa cướp một chuyến lấy tiền về chi dùng việc canh tân hóa. Phi Không cho liệng các xác bất hạnh đó vào tận trong núi sâu. Gia đình nạn nhân lâu không thấy người nhà trở về, trình báo với quan sở tại nhưng ăn thua gì!
Bên Trung Quốc cứ ra khỏi tỉnh thành là không núi thì rừng, bọn lục lâm đạo hắc điếm nhan nhản, mạng con người không có chi bảo đảm cả, nhất là những người đi xa.
Sau khi xây dựng xong Tàng Xuân viện, Phi Không và sáu hòa thượng chia nhau đi các nơi bắt phụ nữ về chia nhau hành lạc, hãm hiếp. Hoặc giả những người đi lễ, có chồng hay chưa, không để ý thì thế nào chúng cũng thăm dò, đêm đến dùng thủ đoạn sẵn có, bắt cóc về giam hãm! Người nào chịu nhục nhã theo chúng thì được ăn sung sướng, trái lại sẽ vị cưỡng bách xong rồi thủ tiêu. Tội ác bọn Phi Không đã ngập trời, nhưng chúng vẫn khéo léo gìn giữ được bề ngoài để lợi dụng tiếng tốt của Kim Cương tự sẵn có từ trước.
Đắc Đạo đại sư thường lấy làm toái chí gây được hai đồ đệ cự phách này.
Với Thiên Không, Phi Không dòng võ La Phi Sơn chắc chắn đã được lưu truyền.
Quả thế bản lãnh Thiên Không và Phi Không chẳng kém chi Đắc Đạo đại sư.
Hôm Thiên Không hạ sơn biệt thầy ra đi, Đắc Đạo trịnh trọng bảo đồ đệ :
- Tất cả tài nghệ bình sanh của Tàng Xuân viện, con đã hấp thụ không sót một thế quyền, ngọn cước nay con lên đường vân du thiên hạ, nhưng chẳng nên quên chốn cũ trở về đây luôn để thầy trò được gặp nhau. Ta trông cậy ở con sau này sẽ thế ta hương khói nơi đây để Thiên Linh tự đất La Phù được truyền mãi mãi về mai hậu.
Thiên Không quỳ xuống đất nói :
- Con đã xuất gia đầu Phật thì dù sao sẽ dừng bước giang hồ tại am thanh cảnh vắng. Cảnh đó còn đây hơn bản tự là nơi sư phụ nuôi dạy con từ hồi thơ ấu. Thế nào con cũng sẽ trở về.
Từ đó Thiên Không biệt thầy ra đi và giữ lời hứa, thường năm nào cũng về Lĩnh Nam thăm Đắc Đạo một lần. Riêng về Phi Không tính tình hung ác dâm dật, nhưng lại rất khéo léo che đậy nên Đắc Đạo đại sư không hay biết chi cả. Tuy cũng xuất gia như Thiên Không, nhưng y có ý mượn cửa Phật để thực hành sau này những tà dâm, mà y đã sắp đặt sẵn trong thời kỳ học võ nghệ ở Thiên Linh tự.
Lúc đầu, Phi Không còn về La Phù sơn thăm hỏi tin thầy, về sau thưa dần vì y rất lấy làm khó chịu phải nghe những lời dạy vô vị của Đắc Đạo đại sư. Trên mười năm đi khắp đó đây, Phi Không giao dịch với đủ hạng người là với giới phi hạnh đại đạo, đầu đà ác bá.
Qua lại Dương Châu nhiều lần, Phi Không rất ưa thích cảnh Kim Cương tự, những mong một ngày kia được trụ trì tọa một nơi u nhã như vậy giữa khu đất rộng người nhiều, rượu ngon gái đẹp. Dân Giang Nam thường ví:
“Đẹp nào bằng giá Dương Châu.
Tây Thi thua kém, Ban Siêu giật mình”.
Sau đi tính lại nhiều lần không có cách gì hơn là dùng mưu chiếm đoạt Kim Cương tự. Bởi vậy Phi Không nhất quyết thi hành mưu kế hẹn với mấy đầu đà thân tín sẽ tìm gặp nhau ở Kim Cương tự. Bọn ấy chính là sáu đầu đà được dong nạp sau khi giữ chức đại hòa thượng chùa này.
Đã toan tính sẵn, một hôm, Phi Không lẻn vào thiền phòng ép bức Pháp Huyền viết tờ di chúc nhường chức trụ trì cho Phi Không. Sau khi Pháp Huyền viết xong tờ di chúc, Phi Không đưa một viên thuốc bảo phải nuốt. Pháp Huyền nhất quyết không nuốt, định kêu cứu thì Phi Không đã lẹ tay bịt miệng bóp mũi khiến Pháp Huyền chết ngạt.
Sau khi thi hành thủ đoạn sát nhân, Phi Không đặt thi thể Pháp Huyền lên giường đắp mềm lại như người ngủ, và để phong thư thủ bút của Pháp Huyền trên đầu giường để lừa chư tăng trong chùa.
Phi Không còn toan tính nốt cả Tĩnh Độ, may thay vị này tưởng thật chịu tòng phục Phi Không nên thoát chết.
Một hôm có hai hòa thượng quen thân với Lỗ Năng, Dục Đức qua thăm Kim Cương tự.
Lỗ Năng, Dục Đức giới thiệu hai người Hắc Đầu Đà và Thiết Đầu Đà từ Hồ Nam tới với Phi Không. Hai người mới thấy Kim Cương tự được tổ chức châu đáo thì khen ngợi, vả lại được Phi Không tiếp đãi cực kỳ tử tế bèn nịnh nọt tâng công. Hắc Đầu Đà nói :
- Bạch đại sư, chúng tôi mới qua Dương Châu thấy ở Chiêu Dương lộ có con bé xinh đẹp quá...
Nghe nói tới gái đẹp, Phi Không cười tít mắt có vẻ khoái chí lắm.
Hắc Đầu Đà lại nói :
- Nếu đại sư cho phép, tôi quyết dùng thuật nhỏ bắt nó về đây để người vui chơi...
Phi Không cười hềnh hệch :
- Vui chơi thì tất cả anh em đây cùng hưởng, nhưng liệu có êm thấm không? Ta không muốn Kim Cương tự mất tiếng! Tính toán kỹ lưỡng chắc ăn hành động.
- Chắc lắm! Bắt con bé đó có khó gì mà không chắc? Ngày mai, chúng tôi khởi hành qua Trấn Giang có chút việc, khi trở về sẽ quyết đem nó về đây người dùng...
Phi Không vỗ vai hai đầu đà cười tít :
- Ờ ờ, được lắm! Đi Trấn Giang mau lẹ về đây nhé. Phải đổi món mới được, Tàng Xuân viện ngán mấy đứa cũ quá rồi!... hà... hà...!
Hôm ở Trấn Giang trở về, hai đầu đà lại qua Chiêu Dương lộ dòm ngó thì thấy cái “vưu vật” vẫn còn nguyên đó, liền tìm quán trọ ở, qua đêm hôm sau thi hành thủ đoạn.
Chiều hôm ấy dùng bữa xong, hai đầu đà trả tiền chủ quán.
Chủ quán ngạc nhiên hỏi :
- Nhị vị hòa thượng đi đâu lúc này? Sớm mai sẽ đi, tôi không tính tiền đâu.
Hắc Đầu Đà cười :
- Đâu có phải vấn đề tiền nong! bần tăng gặp người quen mời về nhà nên mới ra đi vào giờ này.
Vì trong tháng Giêng, nhà nhà đóng cửa sớm, mới đầu canh hai, phố xá vắng vẻ. Từ các nơi ca lâu trà thất, đèn thắp sáng choang chiếu ra ngoài đường phố. Tiếng đờn ca trầm bổng nhặt khoan. Trái lại các nhà khác cửa đóng then cài, hoặc đi ngủ sớm hoặc bài bạc vui chơi.
Hắc và Thiết Đầu Đà chờ ở trên nóc am Quân Âm gần cửa Tây. Trống điểm canh hai. Hắc Đầu Đà vỗ vai bạn :
- Giờ này khởi sự được rồi! nào đi!
Hai người liền đứng lên giắt tà áo vào đai lưng cho gọn ghẽ, chuyền qua nóc ra ngoài đường ẩn vào bóng tối. Hồi lâu tới Chiêu Dương lộ thấy đường vắng tanh. Hai đầu đà phi thân lên nóc nhà lần tới khu tiệm Đạt Hưng. Nhà dưới đèn đã tắt hết, nhưng trên lầu ánh sáng còn le lói qua khe cửa. Nhẹ nhàng, Hai đầu đà nhảy xuống sân rồi lại uốn mình phi thân hiên lầu, ghé mắt qua khe cửa thấy đèn sáng ở trong lầu phía mặt lộ. Hai người lại chuyền lên nóc, lăn xuống hiên trước nhìn vào.
Thiếu nữ ngồi hàng bữa nọ nằm trên giường thiêm thiếp ngủ, tay còn cầm cuốn sách. Phải Hạ Thái Phượng đang đọc sách chợt ngủ quên đi mất.
Thiết Đầu Đà rút trong ngực áo ra cây muội hương (hương mê) nhỏ xíu, bật lửa đốt rồi giắt cây hương đó vào trong khe cửa. Làn khói theo gió thổi xuôi bay thẳng vào giường Thái Phượng đang ngủ mơ màng, xinh đẹp tựa Hằng nga trên cung Quảng. Làn tóc mây đen lánh tỏa xuống bên giường phản chiếu ánh đèn như dòng suối Ngọc Tuyền...
Giây lâu, hương mê ngấm Thái Phượng ngủ say, ngón tay lơi ra, cuốn sách rót xuống mặt sàn.
Thiết Đầu Đà rút đao cậy then cửa sổ chui vào. Hắc Đầu Đà theo sau đóng cửa đó lại rồi tiến tới bên giường lấy chiếc mền mỏng quấn Thái Phượng lại đeo trên lưng. Đoạn hai người tắt đèn lần ra phía sau mở cửa lớn lẻn ra ngoài hành lang chuyền xuống mặt tường hoa. Như hai bóng ma, Hắc, Thiết Đầu Đà phi thân lên nóc nhà hòa mình với bóng tối nhằm nẻo Kim Cương tự. Tờ mờ sáng, hai đầu đà về tới chùa.
Được báo trước, Phi Không hòa thượng vội truyền lệnh đem mỹ nhân xuống Tàng Xuân viện, đặt trên giường bát bảo.
Hạ Thái Phượng hãy còn mơ màng ngủ, màu da trắng nuột như ngà khiến Phi Không thèm thuồng khoái chá, hai bàn tay xoa vào nhau trên mắt ra nhìn như muốn nuốt chửng thiếu nữ. Hồi lâu Phi Không chợt nhớ ra Hắc, Thiết còn đứng đó liền quay bảo chúng :
- Hay lắm! Thiệt là tuyệt sắc giai nhân, hai người tinh lắm, có thưởng. Bây giờ ra ngoài bảo nhà bếp dọn rượu uống đi, vất vả suốt đêm rồi.
Chờ bọn Hắc, Thiết lui gót rồi. Rồi liền vỗ tay mấy cái. Một thiếu nữ từ cánh cửa bí mật hiện ra.
Phi Không nói :
- Gọi mụ Lý, ta cần gấp nhé.
Thiếu nữ vâng lệnh lui ra.
Đoạn Phi Không ra chiếc bàn bát tiên nạm ngọc gần đó, kéo ghế ngồi, với tay lấy bầu rượu sứ men xanh, rót một ly uống từng hớp nhỏ một, mắt trố ra không hề rời khỏi thiếu nữ đang mê man ngủ trên giường.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-02-21 03:35:36casau>
Hồi 10
Loạn náo Hoàn Gia quán, quái khách anh hùng gặp gỡ
Đại phá Kim Cương tự, ác tăng đại đạo hết đời
 
Chu Tú Anh suy nghĩ giây lát hỏi Phàn Thế Hùng :
- Chắc chắc quan sở tại không có tư thông cùng ác tăng Phi Không.
- Chắc chắn! Người Dương Châu ai ai cũng ca tụng công đức của Viên Thủ Nhân và kính phục là người liêm khiết.
Đức Kiệt nói :
- Như vậy đỡ việc cho chúng ta rất nhiều. Hồi còn ở trên Cửu Huyền sơn, sư phụ tôi đã có lần nói tới Đắc Đạo đại sư và rất khen ngợi là một nhân vật hữu tài, không ngờ lại có học trò tai quái như vậy.
Chu Tú Anh bảo mọi người :
- Nếu không phá Kim Cương tự, Hạ Thái Phượng không thể ở lại Dương Châu được. Thế nào cũng phải trừ diệt bọn dâm tăng này. Không thể trì trệ được nữa... Thôi đi nghỉ, mai sẽ hay!... À Phàn muội phải ngủ cùng Hạ Thái Phượng đấy nhé. Nên tĩnh tai và cẩn thận!
Vào khoảng cuối canh ba, Chu Tú Anh đang nằm dài trên giường nhắm mắt dưỡng thần thì chợt thoáng nghe có tiếng động lạ trên mái nhà. Nàng nhẹ nhàng trở dậy xách Thái Dương kiếm bước ra khỏi phòng, thì đã thấy Đức Kiệt bước tới chỉ tay lên nóc nhà. Tú Anh khẽ gật đầu.
Giữa lúc ấy, Anh em Họ Phàn cũng xách khí giới lần tới.
Tú Anh ra hiệu bảo hai người xuống nhà dưới ra sân rồi tự sấn sẽ lên mái nhà, mắc Thái Phượng cho nàng.
Chờ hai người đi khỏi, Tú Anh ghé tai Đức Kiệt :
- Trước khi đưa họ Phàn đi Kim Cương tự, ngu muội muốn thử xem họ hành động thế nào...
Nói đoạn, nàng dắt tay Đức Kiệt vào phòng Thái Phượng đứng nấp trong tối.
Anh em Họ Phàn xuống nhà dưới, nhẹ tay mở cửa ra sân.
Mái nhà khá cao không thể nhìn thấu được, hai người bèn phi thân lên mặt tường rồi chuyền lên nóc nhà, thì bắt gặp ngay hai tên đầu đà đang ghé tai nhau nói gì không hiểu.
Phàn Mộng Liên và Phàn Thế Hùng liền nhảy xổ tới vung đao chém mạnh.
Hai đầu đà giật mình, một tên vội vàng múa thuyền trượng gạt ba thanh đao của Thế Hùng và Mộng Liên xoảng một tiếng, rồi phi thân chạy vùn vụt trên nóc trốn.
Không tha, Thế Hùng và Mộng Liên đuổi theo một quãng xa, hai bóng đen đó biến mất vào đêm tối như mực.
Anh em Họ Phàn e có phục binh nên bảo nhau quay về.
- Đức Kiệt, Tú Anh mọi người trong nhà và mấy nhà lân cận đứng chờ ở ngoài đường.
Phàn Thế Hùng nói :
- Chúng nó chạy mất rồi. Hai tên đầu đà. Một tên dáng dấp y hệt Thiết Đầu Đà lúc ban chiều.
Chu Đức Kiệt nói :
- Bọn chúng lộng hành quá! Để mãi tình trạng này không được...
Mọi người lối xóm thấy bọn đầu đà gây sóng gió tại Chiêu Dương lộ thì âu cũng có ý lo sợ vì nhà nào cũng có con giá lớn. Họ bảo nhau đi trình báo quan trên.
Chu Tú Anh gạt đi.
- Việc này để chúng tôi lo liệu. Trình quan lôi thôi lắm mà chẳng ăn thua gì! Quí vị về nhà an nghỉ đi. Việc đâu sẽ có đó.
Khi trở vào nhà, Hạ thái thái lo sợ, bảo Phàn Thế Hùng.
- Hay là cô sang Thái An huyện lánh đi ít ngày để bọn đầu đà quên việc này đi.
- Không nên! Cô mẫu tránh được mãi sao! Trừ diệt bọn ác tăng Kim Cương tự là xong việc.
* * * * *
Hôm sau Chu Tú Anh bảo mọi người :
- Trước đây tôi có ý vào Kim Cương tự lúc ban ngày, nhưng chúng biết mặt ta rồi thì phải đi đêm. Vậy nhất định đêm mai bọn ta hành động.
Mọi người khen phải. Chiều hôm ấy, bốn anh em Chu Phàn rủ nhau đi xem thành Dương Châu, la cà chỗ nọ chỗ kia mãi rồi kéo nhau vào tửu quán Hoàn Gia, lên lầu gọi rượu uống. Trong khi đang uống rượu chợt thấy to tiếng ở thang lầu, rồi một người hành khất râu quai nón, đầu bù tóc rối, áo rách tươm vá chằng chịt, chân đi dép gai tết, lưng quấn mấy vòng dây xích sắt đốt nào cũng lớn như ngón chân cái.
Người hành khất vừa đi,vừa vùng vằng lảm nhảm quay lại mắng mỏ tên tử bảo theo sau.
- Biết điều để ta ngồi yên, và lấy thịt rượu lên đây mau, trái lại lão gia vặn cổ chết cả lũ bây giờ.
Ba tên tửu bảo sau kéo vạt áo dằn lại :
- Dơ dáy thế này, đi nơi khác. Tiệm này chỉ tiếp khách sang trọng thôi. Đã ăn xin còn bộ tịch phách lối xưng lão gia với ai đó.
Người hành khất mặc kệ cứ tiến vào trong lầu lôi sềnh sệch tên tửu bảo nắm áo :
- Lấy rượu mau, lão gia khát khô cả lưỡi rồi! Quán này chỉ tiếp khách sang trọng, tại sao không đề rõ ở chiêu bài.
Thấy bạn lôi xích không nổi tên ăn xin, hai tên tửu bảo kia xô cả vào luồn bàn tay vào dây xích buộc ở lưng kéo giật lại. Như không biết gì cả, người hành khất cứ đi bừa vào tận trong lầu kéo cả ba tên tửu bảo tới một thồi gần góc lầu.
- Nào các ngươi có lấy rượu ra cho lão gia hay không? Trùng rượu đang muốn chui qua bao tử vì khát đây!
Ba tên tửu bảo nhất định đẩy lão ăn xin xuống lầu, nhưng lão ra đứng ì ra đó như mọc rễ xuống gạch, khiến ba tên tửu bảo loay hoay như ba con chuồn chuồn húc vào cây đồng trụ vậy.
Bỗng hai tửu bảo nắm dây xích ban nãy kêu rú lên :
- Chao ôi! Đau! Thằng quái này làm chi không để ta rút tay ra hả.
Lão hành khất nhe bộ răng vàng khè cười khà khà :
- Nào, các ngươi có chịu lấy rượu không! Trái lại ta sẽ thả trùng rượu ra cắn nát tay bây giờ.
Đau quá, mấy tên tửu bảo tái mặt bèn lạy xin buông tha. Nhân viên trong tửu quán thấy chuyện lôi thôi, kẻ cầm gậy, người xách dao kéo lên thang lầu. Lên tới lầu chúng thấy mấy tên tửu bảo bị kẹt trong vòng dây xích quấn ở bụng người hành khất, miệng kêu đau rầm rĩ, thì bảo hai chạy ồ đến định đánh người nọ.
Người hành khất ha hả cười :
- Có muốn mấy tên này gãy nát bàn tay thì cứ vô đây!
Vừa nói xong mấy tên tửu bảo càng rống lớn hơn, xua tay ra hiệu bảo đồng bọn đừng vào. Bọn nhân viên trong tiệm dừng bước lại. Người hành khất bèn thót bụng lại cho bọn tửu bảo rút tay ra, ôm tay xuýt xoa chạy ra chỗ đông người.
Người hành khất nhe răng vàng kềnh kệch cười khanh khách :
- Biết điều mang rượu thịt lại đây mau, nếu ngu ngốc cưỡng mãi lão gia thả trùng rượu cắn chết cả lũ đó.
Nói đoạn, người hành khất kéo ghé ngồi xuống bên thồi.
Bọn người trong tiệm liền tiến tới giơ gậy định đánh, nhưng Chu Đức Kiệt đã nhảy vào giữa dang tay ngăn lại :
- Khoan, các ngươi không nên cậy đông hiếp người cô thế. Cứ lấy rượu thịt lên tiên sinh dùng, chừng nào không trả tiền sẽ hay!
Người hành khất liếc nhìn qua Chu Đức Kiệt rồi gọi lớn :
- Lấy một cân rượu, ba cân thịt dê tái. Lẹ tay kẻo ta nóng ruột lắm rồi!
Bọn nhân viên tiệm vẫn đứng trơ trơ ra đó chưa biết hành động thế nào thì họ Chu hất hàm nói :
- Các ngươi nghe thấy chưa, lấy rượu và thức nhắm lên mau. Còn chờ chi nữa!
Bấy giờ, bọn người mới đi xuống nhà. Lát sau, tên tửu bảo bị kẹt tay ban nãy khệ nệ bê thịt lên thồi người hành khất.
- Có thế chứ! Phải biết điều mới được, nghe không?
Người hành khất nói đoạn, cầm hồ rượu tu ừng ực như người khát nước vậy.
Uống hết một hơi già nửa hồ, người hành khất mới khà một tiếng khoái chá, đặt hồ rượu xuống bán, đưa tay áo quệt ngang chùi môi :
- Chà rượu ngon quá!
Nói đoạn, tay bát đũa gắp thịt dê tái ăn nhồm nhoàm như sâu cuốn lá.
Chu Đức Kiệt đã trở về chỗ ngồi, Tú Anh mỉm cười đưa mắt nhìn Anh em Phàn gia.
Phàn Mộng Liên ít kinh nghiệm, thấy hành khất thô tục không biết cảm ơn Đức Kiệt thì có ý khó chịu.
Phàn Thế Hùng biết ý, ghé tai bảo khẽ Phàn Mộng Liên :
- Hiền muội chớ khinh thường. Có lẽ đây là một nhân vật kỳ khôi đó.
Mộng Liên không nói gì nhưng có ý không tin. Bốn người lại ăn uống như thường.
Thồi bên kia, người hành khất ngốn một lúc hết nhẵn rượu thịt, đưa tay áp lên chùi miệng dáng còn thòm thèm.
- Tửu bảo! Lấy thêm hồ rượu thượng hạng và hai cân dê tái nữa!
Tửu bảo tiến tới thồi người hành khất :
- Tất cả năm quan tiền rưỡi rồi đó.
Người hành khất trừng mắt nhìn khiến tên tửu bảo vội quay sang bàn Đức Kiệt. Đức Kiệt khẽ gật đầu.
Lúc đó tửu bảo mới trở gót đi lấy rượu thịt bê lên. Người hành khất im lặng ăn uống một loáng hết sạch. Bấy giờ mới đã miệng rũ áo đứng dậy.
Tửu bảo vội tính tiền.
- Năm tiền rưỡi với một tiền tám là bảy tiền ba tất cả.
Người hành khất nói :
- Đã có người hảo tâm trả cho ta, ngươi lo chi mà nhọc lòng tính với toán.
Nói đoạn đi thẳng xuống lầu, mấy đầu dây xích va vào nhau loảng xoảng.
Tửu bảo định chạy theo, nhưng Chu Đức Kiệt gọi y lại.
- Người ta không trả tiền thì đã có ta trả, tính cả vào thồi này, nghe?
Tửu bảo vâng dạ lui ra.
Phàn Mộng Liên nói :
- Dị nhân ăn uống khỏe quá.
Chu Tú Anh vỗ vai nàng :
- Dị nhân thiệt đó! Tiếc rằng người ấy lại đi ngay, không làm quen được.
Phàn Thế Hùng hỏi Đức Kiệt :
- Vừa rồi tửu bảo bị thuật Nhuyễn công của dị nhân nên mới đau tay phải không Chu huynh?
- Chính vì vậy! Dị nhân dùng hơi phình căng bụng ra nghiến bàn tay tửu bảo vào xích sắt. Nếu tửu bảo bị nghiến thực sự thì bàn tay sẽ dập xương.
Nhuyễn công là một nhu thuật của Trương gia ở Võ Đang sơn, dùng nhu chế cương. Pháp này nổi tiếng ở miền Hoa Nam. Như dị nhân vừa rồi lúc căng bụng ra có thể làm đứt xích sắt, khi thót lại thì bụng lép ve, như chỉ có một lần da bị sức hút của đá nam châm rút co lại.
Không hiểu tại sao dị nhân lúc nãy lại biết Nhu thuật của Trương gia vì đây là ngón bí truyền.
Chu Tú Anh nói:
Chắc chắn người vừa rồi là một hiệp khách giang hồ vân du dưới lớp áo hành khất đó. Thiên hình vạn trạng, càng đi càng thấy nhiều việc lạ.
Bốn người gọi tửu bảo tính tiền hàng, ra về.
Tới Chiêu Dương lộ, quản gia đang đóng cửa tiệm. Hạ thái thái và Thái Phượng đã vào nhà trong.
Hạ thái thái đang chờ quí vị trong nhà.
Phàn Thế Hùng hỏi :
- Ở nhà có chuyện chi lạ không.
- Không ạ! May quá.
* * * * *
Sáng hôm sau hai họ Chu, Phàn dong ruổi nhằm nẻo Kim Cương tự.
Thừa thì giờ, bốn người lỏng cương cho ngựa đi kiệu nhỏ, gần trưa tới vân gia thôn, vào tửu quán Phiến hoa lấy hai phòng trọ, đoạn xuống nhà dùng bữa. bốn người vừa an tọa thì người hành khất hôm qua chợt tới. Không ngần ngại, Chu Đức Kiệt đến trước mặt người hành khất ấy vái dài.
- Nếu tiên sinh không nề hà, xin mời dùng bữa với chúng tôi luôn thể.
Người hành khất vỗ trán ra vẻ nghĩ ngợi :
- Tôi gặp hảo hán ở đâu rồi nhỉ...? À nhớ ra rồi, hôm qua Hoàn Gia tửu điếm... Hảo hán bao cho uống bữa no say...! Bữa nay định cho uống nữa sao?
Chu Đức Kiệt niềm nở :
- Nếu tiên sinh không nề hà chê anh em tôi là kẻ hậu tiến. Xin mời ngồi.
- Chung thồi với một kẻ lam lũ hành khất khắp thiên hạ này, hảo hán không e người dị nghị sao?
Đức Kiệt mỉm cười ranh mãnh :
- Nếu nề hà như vậy thì kết nạp tứ hải chi huynh đệ sao được? Biết đâu trong bộ y phục rách nát này không ẩn một kỳ tài lỗi lạc? Nào, mời tiên sinh an vị.
Người trong quán thấy lạ đều chú ý nhìn.
Chu Đức Kiệt giới thiệu anh em Phàn gia và Tú Anh đoạn hỏi tên người hành khất. Người ấy nói :
- Tên tôi cũng như thân hình tôi đây. Quên cả tên lẫn tuổi, vô gia đình, lang thang từ nhỏ, xin ăn là nghề nghiệp... à họ Chu ở Sơn Đông đấy phải chăng là Chu gia có đường đơn đao tuyệt kỹ nổi danh đó ư... Hoặc giả hảo hán có liên lạc với Thần Đao tiêu sư Chu Đức Văn.
Chu Đức Kiệt đưa mắt nhìn Tú Anh rồi đáp :
- Tiên sinh biết vị sư tiêu đó?
Người hành khất gật đầu :
- Tôi lang thang hành khất nên có dịp được vị anh hùng cho ăn uống cũng như hảo hán bây giờ đó. Rất tiếc, lâu lắm rồi không gặp nhân vật ấy nữa!
Người hành khất giơ tay bấm đốt tính, nói tiếp :
- Có tới mười một, mười hai năm nay không được tái kiến rồi! Hảo hán có biết người đó ở đây bây giờ không?
Chu Tú Anh không cầm được nước mắt :
- Người ấy chính là thân phụ chúng tôi, quá cố đã lâu rồi.
Người hành khất giật mình sửng sốt.
- Đáng tiếc! Chu tiêu sư quả là bậc anh hùng lỗi lạc nổi tiếng một thời. Nhưng không gặp cha thì gặp con cũng được. hổ Phụ sanh hổ tử, rất đáng mừng.
Nói đoạn, Người hành khất lơ đãng nhìn lên bức họa trên tường nhà, vẻ mặt bâng khuâng như tiếc một sự gì.
- Chu tiêu sư còn có một người em ruột tên Đức Võ, một kiến khách hữu hạng hiện thời ở đâu?
Chu Đức Kiệt đáp :
- Thúc phụ và cũng là sư phụ chúng tôi, hiện tu luyện trong dãy Cửu Huyền sơn ngoài cửa Quan. Nhưng thỉnh thoảng vẫn cố vân du đây đó. Tiên sinh gặp sư phụ tôi ở đâu?
- Gặp ở Trường Sa cách đây bốn năm rồi. Vội vàng lắm nên không kịp thăm hỏi.
- Hiện nay đã là người quen cả, chắc tiên sinh không cần giấu tên? Nhu thuật của tiên sinh chỉ che mắt với những người không biết võ thuật thôi!
Người hành khất lắc đầu :
- Chuyện dài lắm, lúc khác sẽ nói. Bây giờ hảo hán đi đâu.
- Bốn người chúng tôi định lên vãng cảnh Kim Cương tự.
Người hành khất ngẫm nghĩ hồi lâu :
- Lúc sau này, tôi ở Tứ Xuyên không trở về Giang Nam, nhưng cũng nghe tiếng có sự thay đổi mới trong ngôi chùa ấy, nên cũng có ý lên thăm viếng xem sao.
Chu Đức Kiệt xoa tay vui vẻ :
- Nếu vậy hạp thời lắm, xin mời cùng đi cho vui.
- Không được, tôi lam lũ thế này đi lẫn với quí vị e người ta chú ý bất tiện, xin cứ tới đó trước.
Chu Tú Anh nói :
- Đến đó đêm nay thì lo chi mọi người để ý.
- Tại sao không chờ sớm mai?
- Vì có mấy đầu đà trong chùa biết mặt chúng tôi rồi.
Người hành khất suy nghĩ giây lát.
- Đêm nay giờ nào đi?
- Đầu canh một khởi hành. Tới đó nghỉ ngơi rồi sẽ vào thì có lẽ tiện hơn.
Người hành khất gật đầu :
- Như vậy được lắm! Tôi sẽ chờ ở đó. Nào, bây giờ uống rượu đi khát quá rồi!
Năm người xúm vào ăn uống vui vẻ.
Ăn xong, khi chia tay, Người hành khất hỏi riêng anh em Chu gia :
- Nhị vị ở đất Bắc có biết Lam Y nữ hiệp là nhân vật thế nào không?
Chu Đức Kiệt mỉm cười nhìn Tú Anh.
Người hành khất hiểu ngay.
- À ra thế đó! Đứng trước cặp hiệp khách Hoa Bắc mà tôi còn chưa luận ra, quả đáng tội muôn vàn. Hôm rồi, lẩn trong đám đông, tôi được thấy nữ hiệp đánh đuổi tên ác đầu đà nên mới cố ý làm quen. Hỏi như vậy là vì tôi muốn báo trước rằng bọn dâm tăng trong Kim Cương tự khá đông và người nào bản lãnh cũng rất khá.
- Tên đại hòa thượng không phải ai xa lạ chính là Phi Không, bảo đồ đệ của Đắc Đạo đại sư ở La Phù sơn, cõi Lĩnh Nam đó.
Chu Tú Anh nói :
- Chúng tôi cũng được nghe danh nhân vật ấy, nếu không vào hổ huyệt sao bắt được hổ tử.
Người hành khất gật đầu :
- Đành vậy, nhưng có phòng bị có hơn. Biết người biết mình trăm trận đánh, trăm trận được. Hai vị họ Phàn kia là ai.
Chu Đức Kiệt nói :
- Đó là con ruột của cố võ sư Phan Thế Đức ở Thái An huyện.
- À, Thế Đức họ Phàn xuất thân từ Thiếu Lâm tự phải không?
- Chính vậy.
Người hành khất nghe đoạn, xá một vái quay đi. Chờ người hành khất đi khỏi, hai họ Chu Phàn lên lầu nghỉ ngơi, lấy sức đêm hôm ấy nhập Kim Cương tự. Không mấy chốc trời đã ngả về chiều, bốn người trở dậy dùng qua loa thực phẩm nhẹ sửa soạn, lúc màn đêm đã bao phủ hẳn mọi vật mới nhảy qua cửa bên xuống đường lẩn mình vào bóng tối. Còn nhiều thì giờ, nên bốn người không cần vội vàng. Gần tới đầu canh hai thì tới địa phận Kim Cương tự.
Chu Tú Anh bảo mọi người noi theo đường mòn bên tả vào sát chân tường. Nhìn quanh không thấy ai, bốn người bèn nhảy lên cành cây hòe lớn gần đó chờ người hành khất. Giây lâu không thấy ai tới cả, bốn người đã bắt đầu nóng ruột thì chợt thấy hai bóng đen phi hành vùn vụt qua tường vào chùa.
Định thần nhìn kỹ nhận ra đó là hai đầu đà từ đâu trở về.
Chu Đức Kiệt nói nhỏ.
- Quá canh lâu rồi, không chờ nữa, bọn ta vào chùa thôi.
Bốn người cùng nhảy xuống đất. Vừa lúc ấy một bóng đen từ xa phi hành tới như gió.
Cả bọn vội nhảy núp vào bóng cây và nhận ra người hành khất.
Đức Kiệt hỏi :
- Tiên sinh tới trễ thế.
- Tôi ở Hàn Gia thôn ra đi thì gặp hai tên đầu đà phi hành từ xa rẽ vào khu rừng phía tây nam kia, bèn theo kiếm hồi lâu không thấy chúng đâu, tôi mới thẳng tới đây.
- Hai tên ấy về chùa lâu rồi. Chắc chúng đi đường tắt qua rừng. Thôi ra vào chùa chứ!
Người hành khất gật đầu, tháo dây xích sắt ở lưng ra, quấn vào cánh tay hữu rồi nhảy vụt lên mặt tường. Mọi người theo sau, đứng ép vào chân tường phái trong quan sát. Trong chùa vắng ngắt.
Chu Tú Anh chỉ vào quãng tối có bóng cây :
- Ta theo bóng hàng cây này vào đại điện để tránh lầu trên Tam quan e có người canh phòng.
Nói đoạn, nàng phóng đi trước qua sân lên đại điện. Trên bàn thờ Phật, ánh đèn bấc lờ mờ không đủ soi sáng căn điện rộng rãi. Đốm lửa hương vàng còn lập lòe trong bát hương lớn ở giữ điện. Anh em Chu gia đi trước, người hành khất đoạn hậu, lần qua tiền điện vào sân thứ hai. Năm người băng qua sân định vào lớp đệ nhị thì chợt có hai đầu đà cầm đao từ bóng tối trên thềm bước xuống.
Hai đầu đà giật mình đứng sững lại, quát lớn :
- Bọn này là ai, đêm tối vào đây làm chi.
Bọn Chu Phàn nhận ra tên vừa quát là Thiết Đầu Đà hôm rồi, còn tên thứ hai lạ mặt.
Hai đầu đà hoa dao xông tới đánh, nhưng người hành khất đã vung tay hữ, một vệt đen từ tay bay ra tiếp theo là một tiếng hự. Thiết Đầu Đà rơi dao ngã huỵch sân gạch, tay chân duỗi ra hết thở. Tên kia thấy bạn đã tử trận, biết đối phương lợi hại, không dám đánh nữa, trở gót chạy vào điện nhưng Phàn Thế Hùng đã phóng luôn một ngọn Liễu Diệp phi đao trúng giữa gáy. Đầu đà như một cây thịt té sấp mặt xuống gạch, cây đao văng ra một bên, tư chi co giật lên mấy cái rồi ngoài ra hết thở.
Đức Kiệt, Tú Anh khen thầm hai người hảo thủ.
Trong lúc Phàn Thế Hùng cúi xuống rút ngọn phi đao ở gáy đầu đà và chùi sạch vào áo tên này thì người hành khất cũng tiến tới xách ngực áo Thiết Đầu Đà nhấc lên khỏi mặt đất gỡ dây xích quanh cổ tên ác tăng. Thì ra, người hành khất có tài quăng dây xích sắt xiết lấy cổ địch trong chớp mắt.
Ác tăng đi với Thiết Đầu Đà là Tuệ Giác vừa ở nhà người quen tại Hàn gia thôn ra về. Vì chưa dùng bữa chiều, hai đầu đà xuống thẳng phòng ăn cơm. Ăn xong chúng rủ nhau xách đao đi tuần quanh chùa trước khi về phòng riêng nghỉ, không ngờ vừa ra tới điện thứ hai thì bị bỏ mạng bởi cái xích sắt và ngọn phi đao chớp nhoáng.
Người hành khất liệng xác Thiết Đầu Đà vào bóng tối góc điện cạnh xác Tuệ Giác.
Người hành khất nói với Chu Tú Anh :
- Tối quá, khó tìm thấy cơ quan để xuống hầm.
Tú Anh đáp :
- Cơ quan mở đường xuống hầm ở sân sau điện này. Chúng đã trông thấy rồi. Chắc chúng ở Tàng Xuân viện, nếu không thấy bị động bởi tiếng quát tên đầu đà vừa rồi.
Nói đoạn, Tú Anh dẫn đường vòng ra sân sau, phi thân lên nóc nhà nằm ép người xuống mái chỉ tay xuống chỗ pho tượng kim cương trên bục đá giữa sân, bảo anh em họ Phàn và người hành khất.
- Đường xuống hầm ở đó.
Chu Đức Kiệt đạp vai mọi người chỉ ánh lửa ở phía xa sau chùa. Năm người chuyền qua các nóc nhà lần tới chỗ có ánh đèn, khẽ kéo ngồi nhìn xuống. Thì ra đó là nhà bếp.
Hai người nấu bếp đầu trọc lốc đang ngồi trên ghế gỗ thấp làm gà. Một người nói :
- Đêm nay, hòa thượng dùng cháo gà sao không lấy sâm bỏ vỏ.
Người kia đáp :
- Có đây rồi. Lục Độ vừa đưa ba chỉ sâm lúc chiều.
- Nếu nấu dư ra cho Tĩnh Độ ăn kẻo bị giam lâu năm rồi chết mất.
- Có chứ! Lát nữa trong lúc tôi bê cháo xuống thì anh nhân cơ hội đem cho Tĩnh Độ ăn nhé!
Năm người bấm nhau chuyền về chỗ cũ, Chu Tú Anh nói :
- Trong năm người chúng ta, hai người phải ở lại chỗ này phòng bất trắc và canh giữ cửa địa huyệt. Chu huynh và Phàn muội nên lãnh nhiệm vụ này trong lúc ba người chúng tôi vào địa huyệt.
Đức Kiệt gật đầu. Chu Tú Anh vẩy tay bảo người hành khất và Phàn Thế Hùng theo, rồi phi thân xuống bên bực đá, ra hiệu bảo hai người đứng đó. Đoạn nàng nhảy lên bục cầm bát hương trước mặt tượng Kim Cương xoay sang bên hữu. Bát hương cứng ngắc, Tú Anh liền xoay ngược lại một vòng thì thấy bát hương chuyển động thật, miếng đá ở phía sau bục từ từ mở ra để lộ một lối vuông tối đen sát đất. Chu Tú Anh rút Thái Dương kiếm quơ vào trong dò đường thấy có bậc thang đi xuống.
Chu Đức Kiệt và Phàn Mộng Liên cũng đã nhảy cả xuống đứng chận hai bên cửa địa huyệt.
Chu Đức Kiệt nói :
- Cẩn thận nhé. Nếu tối quá khó đề phòng thì ra sẽ đánh ban ngày.
Chu Tú Anh gật đầu rồi cùng người hành khất và Phàn Thế Hùng chui xuống địa huyệt. ba người vận dụng cặp mắt đi đêm lần qua mười mấy bậc đá mới xuống tới mặt đất. Xuống tới nơi không thấy đến nỗi tối tăm vì có ánh sáng lờ mờ phía sau chiếu ra. Chỗ ở dưới chân thang không được rộng lắm và có lối rẽ ngay sang phía tay mặt. Người hành khất vội ra hiệu bảo Tú Anh và Phàn Thế Hùng tiểu tâm, e chỗ rẽ có cơ quan. Người hành khất đi men tường vào lối rẻ trước. Tú Anh theo sau thấy trên mặt tường có cái xích đồng nhỏ đựng dĩa đèn dầu ánh sáng leo lét. Phàn Thế Hùng bước theo chân dẫm phải cái chốt ở giữa lối... soạt.
Một chiếc lưới thép từ trên trần hầm buông xuống úp chặt lấy Phàn Thế Hùng đồng thời tiếng chuông reo leng keng...
Chu Tú Anh lẹ như chớp vung trường kiếm chặt đứt cái dây túm trên đầu lưới. Chiếc lưới rớt xuống. Người hành khất vội đỡ lấy nhấc lên cho Phàn Thế Hùng chui ra. Trong khi ấy, Chu Tú Anh dựa lưng vào tường nhìn vào phía trong, tay kiếm lăm le sẵn sàng đối phó. Hồi lâu, không thấy động tĩnh, ba người mới lần lần tiến vào trong. Lối đi mỗi lúc một rộng thêm ra và từng quãng một có đèn để trên tường. Bỗng có tiếng chân đi ở đầu phía trong. ba người đã tiến sâu vào địa huyệt, quay ra cũng không kịp bèn đứng áp lưng vào tường chờ ra tay. ngay lúc ấy, một hòa thượng tay cầm cây đinh ba rẻ thấy ba người lạ liền hai tay cầm đinh ba chạy tới đánh.
Chu Tú Anh trông kiểu ác tăng tiến tới bỗng nảy ra một ý kiến nàng đưa mắt bảo người hành khất và Phàn Thế Hùng lui bước, mặc nàng đoạn hậu...
Nguyên ác tăng ấy là Lục Độ định ra nhà bếp xem hai người hỏa đầu sửa soạn bữa cháo thế nào. Không ngờ ra tới đó thì gặp ba người. Lục Độ bèn tay hữu cầm dốc cán, tay tả cầm gần giữa cán cây đinh ba nhảy xốc tới nhằm lưng Chu Tú Anh đâm một ngọn Độc Xà Xuất Động.
Thấy Lục Độ tiến lên, Chu Tú Anh xây lưng chân líu ríu chạy, tay hữu cầm trường kiếm nâng đốc kiếm cao hơn đầu, cổ tay tả đỡ lấy lưỡi kiếm, mặt né qua vai bên tả nhìn ra phía sau. Đó là thế Hồng Hài Trá Tẩu.
Bởi thấy đối phương hoảng chạy, Lục Độ mới xả ngọn Độc Xà Xuất Động những tưởng nuốt sống ngay đối thủ, dè đâu khi mũi đinh ba đâm gần tới lưng, Chu Tú Anh vẫn để nguyên lưỡi kiếm Lục Độ vào cổ tay trái và đưa ngược cả hai tay ra phía sau lưng dùng lưỡi kiếm gạt phát ngọn đinh ba sang một bên. Đồng thời, quay ngoắt hẳn người lại theo đà kiếm chuyển bộ sang Đinh tấn, tay hữu theo thế Thái Dương Hồi Mã Kiếm, chém vật lưỡi kiếm xuống vai đối thủ. Ngọn Thái Dương Hồi Mã Kiếm tuyệt kỹ của nhà nghề này do Lam Y nữ hiệp đánh, xẹt lằn như tia chớp rít lên như tấm lụa xe, khiến Lục Độ chưa kịp há miệng kêu thì lưỡi Thái Dương kiếm sắc bén đã vạt hẳn từ vai xuống quá nách, vật xuống chết, máu tuôn ra như suối.
Sở dĩ Chu Tú Anh phải dùng độc thế hạ ngay Lục Độ là vì đấu chiến lâu kinh động bọn ác tăng, vả lại thì giờ cấp bách kéo dài bất lợi. người hành khất và Phàn Thế Hùng thấy Chu Tú Anh có đường kiếm khiếp quỷ kinh thần thì rất đỗi khâm phục.
Nguyên ngọn Hồi Mã Kiếm này là một trong những thế kiếm độc hiểm nhất của bài Thái Dương kiếm pháp do Huyền Vân trưởng lão truyền lại cho Đức Võ Thượng Nhân. Trước khi theo học Huyền Vân trưởng lão thì Đức Võ đã rất tinh thông lối đánh đơn đao gia truyền với bài Chu Gia Phong Vũ Đao. Khi đã học thành tài, Đức Võ liền nghiên cứu thử Hồi Mã của bài Thái Dương kiếm pháp và thế Phong Vũ Hồi Mã Đao trong bài đao gia truyền của Chu gia.
Đức Võ dung hòa cái hay của hai thế Hồi Mã danh tiếng ấy chân hóa ra một ngọn Hồi Mã rất hoàn toàn cho cả hai bài Kiếm và Đao nói trên và truyền lại cho hai cháu là Chu Đức Kiệt và Tú Anh, thành thử đôi hiệp khách này có một kiếm pháp và đao pháp nhập diệu ít người bì kịp thời bấy giờ. Mãi về sau, hai bài Kiếm và Đao ấy được truyền lại bởi hai võ phái Côn Luân và Nga My, các võ sư trưởng phái cũng không thể nào sửa đổi được hơn nữa.
Nói về Chu Tú Anh khi hạ sát Lục Độ rồi liền vẩy người hành khất và Phàn Thế Hùng tiến vào phía trong, tới chỗ Lục Độ rẽ hồi nãy, tường bít kín không có lối đi, nhưng ngay giữa tường bày một pho tượng Thần tướng lớn bằng người thật, miệng há hốc dữ dội mắt trợn trừng trừng.
Người hành khất chỉ pho tượng nói :
- Cửa đây rồi!
Chu Tú Anh gật đầu :
- Miệng tượng há hốc chỉ đúng ngực người đứng tất có cơ quan nguy hiểm.
Chu Tú Anh nhìn chung quanh không thấy có gì đáng ngờ. Phàn Thế Hùng chỉ mắt pho tượng. Người hành khất gật đầu. Tú Anh ra hiệu cho hai người đứng sang một bên đưa mũi kiếm ấn vào mắt bên hữu pho tượng. Bỗng kẹt một tiếng khá lớn, từ miệng pho tượng bay vụ ra ba mũi tên xa tới hai trượng mới rớt lẻ tẻ xuống đất. Chu Tú Anh vẫn đứng chệch sang bên, đưa mũi kiếm ấn vào mắt bên tả. Chưa dám vào vội, ba người nhìn kỹ chung quanh khuôn cửa một lượt, chợt thấy một vật gì lấp lánh ngay chỗ chân bước vào bậc cửa. Chu Tú Anh nhìn kỹ trần địa huyệt, không thấy gì khả nghi, bèn dùng mũi kiếm ấn mạnh vật lấp lánh nọ... xoảng.
Một lưỡi đao lớn ở phía trong bổ từ trên xuống lủng lẳng ở bên cửa, cán đao có dây xích sắt từ trần xuống. người hành khất nhảy theo sau. Bên trong rộng rãi lắm, phòng ốc ngổn ngang ở hai bên, và bên nào cũng có lối đi.
Bỗng có tiếng chân người từ phía bên đi ra. Không ngần ngừ, Chu Tú Anh vẫy hai người chạy thẳng vào phía trong rẽ sang bên hữu thấy có sân lát đá trắng quanh sân bày cây cảnh, chính giữa sân có ngọn giả sơn dựng trên mặt hồ lục lăng xây bằng sứ xanh.
Dưới cuối sân, một tòa nhà rộng rãi kiến trúc cầu kỳ, cửa cuốn, rèm điện của bực vương tước giàu sang. Trong góc phòng, một đoàn nữ nhạc công ngồi trên thảm nhung, dựa vào chiếc gối thêu lớn, đang nhịp nhàng tấu những bản nhạc huyền bí mơn trớn, mê ly.
Một đoàn vũ nữ môi son má phấn, vận đồ hàng rất mỏng trong suốt da thịt như pha lê đang vũ theo điệu nhạc, mà khán giả là sáu tên tăng mập mạp khỏe mạnh ngồi tỏng những chiếc ghế bành đệm thêu màu sắc rực rỡ.
Tên ngồi giữa mắt sắc như dao, mặt mũi phương phi nhưng không kém phần dữ tợn.
Mấy thị nữ áo xanh, rót rượu vào những chiếc ly lớn dâng lên cho sáu tăng dùng. Đoàn vũ nữ múa xong, khúc khích cười lẳng lơ tống tình, nhảy ùa vào ngồi lên đùi, bá vai bá cổ bọn dâm tăng vén xiêm kéo áo đùa nghịch trắng trợn.
Tên ngồi giữa là Phi Không. Kể ra thì thường ngày bọn đầu đà cũng có phòng riêng không được lui tới Tàng Xuân viện trừ ra khi nào Phi Không cho phép đồng hoan ẩm như hôm nay.
Hồi nãy còn có cả Lục Độ ở đây, nhưng y ra nhà bếp xem bọn hò đầu sửa soạn tiệc thiêu dạ thế nào, bất đồ bỏ mạng vì Chu Tú Anh.
Thấy bọn đầu đà lộng hành dâm dật quá đáng, Chu Tú Anh nóng mắt nổi giận đùng đùng ra hiệu bảo người hành khất và Phàn Thế Hùng sửa soạn khởi chiến. Không ngờ, cùng lúc ấy có tớ mười mấy tên tăng đồ xách gươm đao sầm sập chạy vào miệng la lớn “Lam Y nữ hiệp” inh ỏi, đánh cồng báo động rầm rầm. Trong Tàng Xuân viện, bọn đầu đà giật mình đẩy bọn vũ nữ ra... lẹ như cắt, Chu Tú Anh nhắm chiếc lẳng thắp nhiều ngọn bạch lạc treo lơ lửng ngay chỗ bọn đầu đà đang tống hoan, vung tay phóng thiệt mạnh một ngọn phi đao. Sợi dây treo bị tiện đứt, chiếc lảng đổ ụp xuống giữa đống gối đệm mà bọn đầu đà vừa rời khỏi, lửa bắt cháy bùng bùng. Bọn vũ nữ sợ hãi rú lên đồng loạt như ma reo.
Bọn Phi Không đã nhảy chồm ra giá khí giới ở phía trong nên không bị lẵng đèn rơi trúng. Phi Không xách một chiếc ghế bành lao qua cửa ra ngoài sân, rồi mới phi thân ra ngoài thì chỉ kịp nhìn thấy ba người lạ vừa đánh dạt bọn tăng đồ sang một bên để chạy trở ra.
Phi Không bèn vẫy tay bảo bọn Pháp Cổ, Dục Đức, Lỗ Năng, Bảo Tích và Hắc Đầu Đà đuổi theo...
Trong Tàng Xuân viện, lửa đã bắt vào bông đệm cháy ngùn ngụt lan rộng. Bọn vũ nữ vào định chữa lửa nhưng bị tàn lửa, bắn vào xiêm y mỏng đốt tới da thịt, chúng kéo cả ra ngoài sân kêu la inh ỏi.
Phi Không vác thiền trượng bằng đồng chạy trước. Lúc qua khỏi cửa thứ hai trông thấy xác Lục Độ bèn nhảy qua. Nhưng Pháp Cổ vướng Phi Không, không kịp tránh, giẫm ngay phải vũng máu lớn đọng ở đó, trượt chân suýt té nhào. Y bèn giơ tay trái ra hiệu cho bọn theo sau chạy nép sang bên đường,...
Ra tới gần bực thang lên mặt đất, Phi Không dừng bước gạt chiếc xích đồng để đèn sang bên, tức khắc ở mặt tường mở ra một lối đi khác. Cả bọn bèn kéo nhau đi về lối đó. Phi Không vặn cơ quan, cửa bí mật ấy khép vào như thường. Sở dĩ Phi Không hành động như vậy là vì y đoán bọn lạ mặt đột nhập Tàng Xuân viện thể nào cũng chờ ở cửa địa huyệt đợi bọn y vô tình ra sẽ bất ngờ hạ thủ Phi Không và đồng bọn theo đường hầm bí mật rồi ra lối đệ nhị điện.
Ra tới nơi, Phi Không cũng gạt cái trụ đèn ở trên tường, tức khắc mấy viên gạch lớn ở trước bàn thờ, nơi người ta thường đứng lễ, dãn ra nhường lối cho bọn Phi Không lên mặt điện. Với cơ quan này, Phi Không dùng để bắt cóc những phụ nữ có sắc dại dột đi lễ lẻ loi. Lúc vô tình đứng trên miệng hầm đang khấn vái thì một tên trong bọn đầu đà gạt cơ quan phía sau bàn thờ Phật. Tức khắc miệng hầm mở ra, và người vô phước kia rơi tọt xuống võng căng vào địa huyệt giam hãm cho thỏa thích. Chừng nào ngán, chúng đem ra sau núi hạ sát ném xuống vực là xong chuyện. Bắt cóc phụ nữ kiểu này, bọn Phi Không thỉnh thoảng mới làm một vụ nên không bao giờ nhà chùa bị ngờ vực.
Trở lại lúc bọn Chu Tú Anh ba người mới nhập địa huyệt.
Nguyên ở trên lầu Tam Quan, bao giờ Phi Không cũng cho hai tên đồ ngủ trên đó.
Chiều hôm ấy, hai tên Trí Huệ và Trí Tâm đem rượu thịt lên Tam Quan nhậu say mèm quên đi lúc nào không biết. Tới lúc chợt tỉnh, hai người cùng thấy khát nước, bèn rủ nhau xuống hỏa dầu phòng lấy bình trụ. Không ngờ lúc qua hiên trên đại điện, thấy tử thi Thiết Đầu Đà và Tuệ Giác nằm còng queo ở góc tường. Trí Huệ và Trí Tâm hoảng quá vội chạy vào sân trong định xuống địa huyệt cấp báo thì thấy cửa địa huyệt ai đã mở toang. hai tên đang phân vân nhìn quanh thì Trí Huệ bỗng giật mình đờ người ra. Một bàn tay sắt từ trên bục đá thò xuống tóm lấy cổ y nhấc bổng lên. Đồng thời, Trí Tâm bị thứ gì lạnh giá ép vào bên má.
Tiếng đàn bà ở phía sau nói :
- Biết điều đứng im, không ta lấy đầu!
Hoảng quá, Trí Tâm liếc nhìn thấy lưỡi đao sáng quắc gài ngay bên má và cổ y. Chưa kịp van xin thì Trí Tâm cảm thấy như có hai gọng kềm sắt cặp vào cổ y nhấc bổng lên mặt đất. Lúc hai gọng kềm đó nhả ra, Trí Tâm nằm cứng đờ bên cạnh Trí Huệ như hai xác chết.
Phàn Mộng Liên nhảy lên mặt bục hỏi :
- Chu huynh bóp chết hai đứa rồi sao?
- Không! Điểm huyệt cho hai đứa nằm đó, đỡ phải trói buộc. Chúng ta lên nóc nhà, ở đây thấp quá.
Nói đoạn, Chu Phàn hai người phi thân lên nóc nhà nhìn xuống cửa địa huyệt.
Lát sau có ba tên tăng đồ nữa từ địa huyệt nhảy ra gõ cồng inh ỏi. Chính ba tăng đồ này đã nghe tiếng cây đao ở cửa thứ hai địa huyệt rớt xuống, nên chạy ra xem thì thấy cửa mở. Chúng bèn chạy vội ra lối ngoài gặp tử thủ Lục Độ thân một nơi, thủ cấp và vai một nẻo. Biết là có biến, ba tên lấy cồng lên mặt đất báo động cho bọn tăng đồ ở mấy căn nhà phía sau chùa biết. nghe tiếng cồng báo động, mấy chục tăng đồ vội vàng vác gươm đao chạy ùa lên.
Chu Đức Kiệt, Phàn Mộng Liên từ nóc nhà nhảy xuống.
Ba tên đánh cồng trông thấy bỏ chạy ầm ĩ thì vừa lúc bọn tăng đồ ùn ùn vác khí giới bổ vây hai người vào giữa. Phàn Mộng Liên cho là bọn này chỉ a tòng theo mấy tên đầu đà, không muốn sát hại, thành thử trên mười tên lọt vào địa huyệt. Thấy vậy, Chu Đức Kiệt vội vàng một mình trấn cửa địa huyệt ngăn đánh không cho một tên nào xuống nữa.
Đức Kiệt đang băng thì có gọi.
- Hiền huynh lánh ra, tiểu muội đây.
Nghe rõ tiếng Tú Anh, Đức Kiệt vội tránh sang bên nhường lối.
Chu Tú Anh, người hành khất và Phàn Thế Hùng cũng nhảy vọt ra.
Tú Anh vội bảo anh em họ Phàn :
- Nhị vị áp đảo bọn này đi để chúng tôi rảnh tay đối phó với bọn Phi Không.
Nói đoạn, Đức Kiệt, Tú Anh đứng trấn mỗi người một bên cửa miệng địa huyệt. Còn người hành khất nhảy lên mặt bục chờ.
Anh em họ Phàn đã dồn bọn tăng đồ ra thiệt xa rồi, mà mãi cũng không thấy Phi Không và đồng bọn chạy vào. Ba người đang nghi ngờ thì có tiếng chân chạy rầm rập từ nhị điện vào.
Tiếng Phi Không bảo tăng đồ đốt đuốc.
- Để mấy tên ăn cướp này lại cho ta lấy thủ cấp. Các ngươi giãn ra đốt đuốc cho nhiều! Mau!
Hắc Đầu Đà nhận ra Anh em họ Phàn :
- A ha! Bọn này ở Dương Châu.
Phi Không lẩm bẩm.
- Quái, Tuệ Giác và Thiết Đầu Đà đi đâu? Hay bị sát hại rồi.
Nói tới đây, Phi Không nổi giận đùng đùng, nghiến răng kèn kẹt, hoa cây đồng trượng rít lên như gió nhảy vào giữa đám năm người.
Chợt nhận ra người hành khất, Phi Không chỉ mặt quát :
- À! Ra thằng Thiết Xích Tử Trương Tam Sơn này cũng vào đây.
Trương Tam Sơn vỗ ngực quát lại.
- Chính lão gia tìm kiếm mi đã lâu rồi đây.
Chu Đức Kiệt thấy Phi Không ra vẻ ngạo nghễ thì nổi giận, vỗ đao nhảy tới đánh.
Phi Không quát :
- Khoan! Ta không thèm giết kẻ vô danh!
- Sơn Đông Chu gia đao đây! Thử coi.
Nói đoạn, Chu Đức Kiệt hoa làn đao xanh lè khởi chiến đánh Phi Không.
Phi Không tay vung đồng trượng mừng rỡ quát: “Được lắm”. Nhảy vào đón làn đao họ Chu. Hai người quay tròn lấy nhau đánh một trận quỷ khiếp thần sầu. Trương quật đao chém, hai danh thủ quây quần đấu chiến như gió táp mưa sa, bất phân thắng bại.
Pháp Cổ cũng hoa giáo sắt nhảy vào. Trương Tam Sơn đưa cánh tay quấn thiết xích gạt đơ chan chát. Thỉnh thoảng, họ Trương lại vung dài xích ra đánh, nhưng khi rút tay thì xích lại quấn tròn vào cánh tay dùng để đỡ gạt. Trận đấu rất kỳ dị, Pháp Cổ biết gặp tay lợi hại bèn chuyển hết cả tinh thần tài nghệ đánh bại.
Hắc Đầu Đà múa tít thuyền trượng nhảy vào nhằm Phàn Mộng Liên đánh. Mộng Liên đưa song đao, tay gạt tay chém vun vút.
Phàn Thế Hùng hoa đao đánh Dục Đức. Dục Đức hơi cương tiên đánh lại. Còn Lỗ Năng xách đoản phủ, Bảo Tích hơi độc chùy đánh Chu Tú Anh.
Bọn tăng đồ thắp đuốc đứng vòng quanh sân soi sáng như ban ngày.
Năm cặp đấu, mười một đối thủ, khí giới va vào nhau chí chát, chân bước sầm sập. Thỉnh thoảng lại một tiếng hét lớn tiếp theo một đòn độc rợn người.
Một bên hiệp hành cố đánh kỳ được muốn hạ sát hết ác tăng trừ hại cho dân chúng. Một bên cố giết hết kẻ thù để bảo vệ sự bí mật đã bị bại lộ, và cũng là bảo vệ đời sống vương giả dâm đáng của chúng dưới nếp áo cà sa.
Trong năm cặp đấu này, Chu Đức Kiệt lãnh trách nhiệm nặng nề nhất. Phi Không sức đã khỏe, võ nghệ lại tinh vi. Mỗi đòn ra là một thế độc. cây đồng trượng nặng nề gạt đánh liên tiếp lượn tròn khắp quanh người, những luồng trượng múa vun vút chẳng khác chi bão táp mưa sa, quả xứng danh hảo thủ miền Nam. Không chịu kém, Đơn Đao Chu Đức Kiệt mạnh mẽ nhịp nhàng như con báo, làn Thất Tinh đao xanh lè bao phủ quanh người rít lên từng hồi như mưa sập gió gào. Lối Bắc Cước thần diệu lúc đi lúc nhảy nhót lẹ làng như Sư tử hí cầu, và cũng có khi quằn quại chẳng khác chi Mãng Xà Tỏa Địa, thiệt không hổ danh anh hùng đất Bắc. Hai bên cùng tự hiểu là gặp danh thủ nên thận trọng từng thế, cân nhắc từng đòn. Chỉ hớ hênh một chút, vong mạng dễ như chơi. Bởi vậy trận đánh mỗi lúc một gay go hào hứng.
Nhẹ nhàng hơn hết có trận Thiết Xích Tử Trương Tam Sơn đánh cùng Pháp Cổ và trận Lam Y nữ hiệp đánh cùng hai đầu đà Lỗ Năng, Bảo Tích. Tuy trong chốn giang hồ, Pháp Cổ đã có thể liệt được vào hạng cao cường, nhưng chưa dày công luyện tập. Trái lại, Thiết Xích Tử Trương Tam Sơn là một quái hiệp công phu cao siêu không chịu nhường Phi Không, lẽ cố nhiên Pháp Cổ dù đem tận lực bình sanh ra chiến đấu cũng không thể nào lại với chuỗi dây thiết xích vừa lạ, vừa lợi hại xuất hiện như ma quái, đòn xa đã nguy hiểm đòn gần độc hơn thập phần...
Còn Lỗ Năng, Bảo Tích tuy vóc người to lớn, võ nghệ cao cường nhưng ví sao được với Lam Y nữ hiệp bề ngoài trắng trẻo nhưng thật ra là một con người toàn thép, tập luyện từ thuở lên ba, và theo thầy học nghề chân truyền mười mấy năm trời, ra tử vào sinh trong chốn giang hồ hành hiệp, kinh nghiệm đầy đủ. Ngoài cây trường kiếm Thái Dương nhập thần linh diệu làn múa vi vu sáng loáng, Lam Y nữ hiệp còn có bộ cước thập phần lợi hại có thể gọi là ngọn đá kinh hồn đất Bắc, thể đạp khiếp đởm miền Nam. Bởi vậy lúc mới nhập trận, Lỗ Năng, Bảo Tích như cặp mãnh hổ xô vào những tưởng cũng thừa sức bắt sống cô gái anh thư này đem xuống viện Tàng Xuân cho thỏa lòng căm giận!
Không ngờ vừa mới nhập trận được một hiệp, hai đầu đà kẻ phủ người chùy giáng xuống nặng nề, Lam Y nữ hiệp thâu kiếm lại chuyển bộ sang bên lánh đòn đồng thời lẹ như chớp, co chân hữu đá một ngọn Đoản Mệnh Cước trúng sườn Lỗ Năng... Một tiếng rắc rùng rợn tiếp theo là một tiếng rú lên đau đớn kinh hồn, Lỗ Năng bật người sang bên, va phải Bảo Tích khiến tên này lảo đảo mất thăng bằng đưa tay tả ôm vội lấy cổ Lỗ Năng, chỉ còn là cái xác không hồn, xương sườn gãy vụn, Bảo Tích còn đang kinh ngạc về sức mạnh và tài nghệ của con người khuynh thành thì lưỡi Thái Dương kiếm đã bay vụt tới sau gáy hắn hớt vẹt hẳn đầu Bảo Tích như tiện củ chuối, máu phun ngược lên tựa suối. Hai xác đầu đà to lớn lấy nhau lăn huỵch ra mặt đất trước sự kinh sợ của bọn tăng đồ.
Dục Đức sáp chiến với Phàn Thế Hùng và Hắc Đầu Đà đánh với Phàn Mộng Liên, cờ gặp ngang tay thành hai cặp này cùng ra tài trổ sức rất ngoạn mục. Cây đao của Phàn Thế Hùng tỏ ra khá lợi hại, quấn lấy ngọn Trúc Tiết Cương của Dục Đức. Song Đao Nữ Phàn Mộng Liên cũng vậy, cặp đao như đôi giao long uốn khúc, chiếc gạt, chiếc chém lanh lẹ dị thường. Tuy Phàn Mộng Liên không được chuyên luyện về các môn công phu siêu đẳng, nhưng quyền cước và mười tám món binh khí nàng sắt tinh thông đủ sức tự vệ hoặc tìm cơ hội lấn át đối phương.
Hắc Đầu Đà không phải tay vừa, thiền trượng giường đông kích tây, thử trên đánh dưới, thoăn thoắt mạnh mẽ, gặp cặp song đao của Phàn nữ gạt đánh nhiều lúc bật tia lửa, khiến hai đối thủ nhảy ra xem khí giới để rồi lại ráp chiến dữ dội hơn trước.
Rảnh tay trước nhất, Lam Y nữ hiệp nhảy lên bục tượng Kim Cương ở giữa sân quan sát các trận đấu. Hai tăng đồ bị Chu Đức Kiệt điểm huyệt vẫn nằm trơ ra đó. Lam Y nữ hiệp bước tới coi, đưa tay nắm gáy hai tên. Giây lát chúng cử động được, nhận ra tình hình hiện tại, chúng hoảng quá, nhảy xuống sân chạy ra chỗ đồng bọn. Lam Y nữ hiệp quay lại nhìn trường chiến đấu. Thiết Xích Tử thấy Lam Y nữ hiệp đã hạ hai đầu đà rất nhanh chóng, có ý khen bèn vung xích sắt đánh thực sự. Pháp Cổ biết gặp tay lợi hại, đánh rất cẩn thận, dè dặt nhưng mũi giáo nào cũng bị cánh tay quấn xích sắt của đối phương gạt đỡ cả.
Nhân dịp Pháp Cổ tiến lên thích hai mũi giáo lẹ như chớp vào hai bên sườn, Thiết Xích Tử không đỡ nữa nhưng nhảy lùi lại ba bước để tránh Pháp Cổ thấy lợi đất tiến lên thúc cán giáo vào mặt đối phương...
Như vậy chỉ chờ có thế thôi. Thiết Xích Tử né mình hét lên một tiếng, vung tay quật xích sắt vào chân tả Pháp Cổ và đồng thời rút thiệt mạnh. Pháp Cổ chỉ kêu rống lên một tiếng đau đớn, thân thể to lớn giật bổng lên khỏi mặt đất tung lên như trái cầu rớt giữa bọn tăng đồ, chân tả gãy lìa, lăn ra sân bất tỉnh. Bọn tăng đồ xúm lại khiêng ra góc sân. Hạ xong địch thủ, Thiết Xích Tử nhảy lên đứng cạnh Lam Y nữ hiệp xem ba trận đấu còn lại.
Phi Không vừa đánh, vừa quan sát toàn trận, thấy chỉ trong chốc lát, ba đồng bọn đã bị loại khỏi vòng chiến, hai chết, một bị thương nặng, thì nổi giận đùng đùng Lam Y nữ hiệp, hét như sấm sét, múa đồng trượng đánh rất dữ muốn báo trận. Nhưng ác tăng này không thể nào lọt ra khỏi vòng chiến vì cây Thất Tinh đao của Chu gia quấn chặt lấy không hở một thế nhỏ. Lam Y nữ hiệp và Thiết Xích Tử đứng bậc trên thấy Phi Không quả rất xứng danh đệ nhị đồ đệ của Đắc Đạo đại sư.
Nói về Hắc Đầu Đà vừa đấu với Phàn Thế Hùng vừa nhìn thế trận, thấy cơ sự đã hỏng bèn nghĩ thầm :
- Ta không phải là người ở chùa này, nếu không tìm cách tẩu thoát há chẳng dại lắm ư? Nghĩ đoạn Hắc Đầu Đà vừa đánh vừa lùi dần dần vòng ra chỗ cửa địa huyệt rồi trong lúc mọi người đang chú ý tới Phi Không, y nhảy xuống địa huyệt. Giữa lúc ấy bọn vũ nữ cùng ở địa huyệt chui ra lẫn lộn thành thử Phàn Mộng Liên bị vướng chân không theo kịp. Tới lúc nàng xuống được địa huyệt thì Hắc Đầu Đà đã biệt tích nơi đâu rồi.
Lam Y nữ hiệp sợ Phàn Mộng Liên bị mắc mưu bèn nhảy vào theo.
Khói từ Tàng Xuân viện bốc ra mù mịt khiến Lam Y nữ hiệp bị sắc ho lên mấy tiếng.
Phàn Mộng Liên cũng vậy. Hai người rủ nhau trở ra. Lam Y nữ hiệp nói :
- Khói thế này vào sao được! Hắc Đầu Đà cố đi cũng bị chết ngạt thôi.
Mộng Liên gật đầu :
- Chắc có đường thông ra ngoài, nhưng khói thế này chúng ta tìm sao được lối đi.
- Thôi, tha cho nó, lần khác sẽ lấy thủ cấp.
Hai người trở ra ngoài.
Trên sân lúc đó chỉ còn hai cặp đấu rát dữ dội. Phàn Thế Hùng đánh lâu nóng rượt liền nghĩ ra một kế. Trong khi Dục Đức đang ham chiến, họ Phàn giả đò trượt chân loạng choạng lùi lại mấy bước rồi té ngửa ra sân. Dục Đức mừng quá chồm tới giơ Trúc Tiết Cương Tiên dùng tận lực nhè đầu địch thủ đánh xuống. Không dè, Phàn Thế Hùng vung tay một cái, ngọn liễu diệp phi đao bay vụt cắm phập trúng yết hầu Dục Đức. Dục Đức này thét lên một tiếng đau đớn ngã vật ra sau lưng, chân tay co quắp giãy chết.
Huyết ở yết hầu rỉ tuôn ra loang lần lần đầy cổ áo.
Phi Không thấy mọi người chân tay bị tử chiến cả, mồ hôi toát, liều chết mang tận lực bình sanh đánh, nhất định không chịu nhường bước. Chu Đức Kiệt cũng nóng ruột vì trận đấu kéo dài. Nhiều lần chàng định chém cụt đồng trượng của địch nhân, nhưng Phi Không khôn lắm, đoán biết Đức Kiệt có báu đao, nên y rất giữ gìn không để cho đao chém vào trượng. Mỗi lần gạt đỡ, Phi Không đều gạt vào bản đao hay động đao. Đánh lâu, Chu Đức Kiệt nhận thấy địch nhân rất thận trọng phía sau lưng không bao giờ dùng thế quay tròn người hay đưa lưng ra sau phía địch. Bởi vậy, họ Chu nghĩ thầm tất Phi Không có nguyên cớ gì nên mới hành động như vậy.
Nhiều lần Đức Kiệt muốn dùng thế Phong Vũ Hồi Mã Đao nhưng Phi Không biết họ Chu có đường đao gia truyền nên rất thận trọng pha thế độn, hoặc nhảy xa ra khiến đối phương lại phải chuyển sang thế khác. Trận đánh quả thiệt hùng dũng phi thường. Phi Không vừa đánh vừa gầm thét như con hổ điên...
Sau một thế tấn công, Phi Không lùi ngay trở lại mấy bước có chân hữu lại chuyển từ Trảo Mã tấn sang Độc Cước tấn đứng thế Độc Trụ Nghinh Phong nhường Chu Đức Kiệt tiến vào... Bỗng Phi Không nhoài người ra phía trước mặt, chân ra Đinh tấn, cất đốc trượng thúc thẳng vào mặt đối phương một thế Đại Bàng Thám Trảo. Chu Đức Kiệt ngồi thụp xuống tránh đòn thì Phi Không đã theo thế Kỳ Lân Chuyển Giác rút đốc trượng về bên tả, quật tréo ngọn trượng xuống đầu.
Quyết hạ kỳ được đối thủ, Phi Không hùng dũng lẹ như chớp đánh luôn hai đồn độc này, Chu Đức Kiệt vừa thụp xuống tránh đốc trượng thì bị luôn ngọn trượng giáng xuống đầu. Chàng bèn gác tréo lưỡi đao lên đấu hất ngọn trượng trượt sang bên, rồi thừa thế lúc Phi Không chúi người xuống theo ngọn trượng đánh trượt, Chu Đức Kiệt nhảy vút lên qua đầu Phi Không theo thế Anh Hùng Độc Lập giáng mạnh gót chân hữu như chiếc chày sắt xuống trúng gáy Phi Không.
Phi Không đau đớn thét lên mộ tiếng rùng rợn, cổ gãy lìa, toàn thân chúi đi mấy bước, té xoài úp sấp mặt xuống đất, hồn lài khỏi xác. Đồng trượng văng đi một nơi.
Thế là hết đời tên ác tăng!
Ngọc cước Anh Hùng Độc Lập là một thế hiểm trong bài Thái Tổ quyền. Người dùng thế này phải dày công luyện tập có thể nhảy vút lên cao qua đầu địch thủ trong bất cứ trường hợp nào, rồi tùy theo sở trường hoặc đá thích mũi giày vào thái dương hoặc đạp vào đỉnh đầu, sau gáy địch thủ, hai tay dang ra như cánh con đại bàng, một chân co, chân đạp duỗi.
Thế đá này rất nguy hiểm cho đối phương nếu người sử dụng nó được luyện đến nơi, đến chốn. Trái lại nếu không biết tính toán cho đúng lúc, người dùng sẽ bị lỡ thế, nguy hại ngay tới bản thân.
Bởi vậy, Đạt Ma sư tổ người đầu tiên truyền Thái Tổ quyền vào Trung Quốc có chế hóa ra một ngọc cước Anh Hùng Độc Lập đá thành hai độ. Lối thứ hai này thấp nhưng cũng không kém hiệu nghiệm, sẽ nói tới trong một dịp khác.
Nói về bọn tăng đồ thấy Phi Không bị táng mạng, định rùng rùng chạy, nhưng Lam Y đã nói lớn :
- Các người có muốn chạy cũng không thoát được! Cứ trông thấy các người đây thì biết. Chi bằng biết điều đầu hàng, bọn ta sẽ tha chết cho cải tà quy chánh về quê làm ăn lương thiện. Tên nào muốn chạy, đừng có trách ta tàn ác!
Bọn tăng đồ nghe đoạn, bảo nhau liệng khí giới xuống sân, đứng gom cả lại một chỗ.
Lam Y nữ hiệp nói tiếp :
- Người nào đầu đoàn ra đây ta hỏi.
Một tên sắc diện vàng khè như đất sét tên là Triều Nguyệt, run rẩy bước ra.
Lam Y hất hàm hỏi :
- Có bao nhiêu người trong chùa này?
- Bẩm có Phi Không đại hòa thượng, sáu vị hòa thượng đã bị chết cả còn hai người mới đến thì một chết, còn một trốn rồi. Bọn chúng tôi có tất cả bốn mươi bảy người...
- Ai là người cũ trước khi Phi Không tới chiếm Kim Cương tự thì đứng sang một bên.
- Có bốn người có tuổi y phục ra lối người hầu đứng sang một bên.
Lam Y nữ hiệp hỏi :
- Các ngươi làm gì trong chùa?
Một người đáp :
- Thưa nữ hiệp, chúng tôi là bọn hỏa đầu vì còn phải nuôi Tĩnh Độ hòa thượng nên cố tâm ở lại đây.
- Hòa thượng nào vậy?
- Tĩnh Độ là người trước đây theo Pháp Huyền đại hòa thượng bị bọn Phi Không giam từ mười năm nay rồi trong nhà kín.
Lam Y bèn gọi Triệu Nguyệt :
- Người cùng mấy người hỏa đầu này vào nhà giam mời vị hòa thượng đó lên Phương trượng ngay.
Bọn hỏa đầu đi khỏi, Lam Y truyền cho mấy người khác lên thắp đèn lửa trên phương trượng và đại điện.
Nàng quay về phía anh em họ Phàn :
- Nhị vị đốc thúc nội bọn xuống địa huyệt xem có thể chữa cháy được hay không. Nếu còn cơ quan nào phá cho kỳ hết.
Anh em họ Phàn tức khắc thôi thúc các tăng đồ lấy các dụng cụ cần dùng xuống địa huyệt.
Lam Y nữ hiệp hỏi bọn vũ nữ đang run rẩy khép nép gần đó :
- Các ngươi từ đâu tới đây? Nói cho minh bạch!
Một đứa nói :
- Chúng tôi bị bắt ở các miền quanh đây độ vài dặm đường. Thực ra, chị em chúng tôi cũng không muốn trụy lạc như thế này nhưng nếu không ưng ý bọn ác tăng như cậy thí đằng nào cũng bị nhục mà còn bị thủ tiêu là đằng khác. Bởi vậy chúng tôi đành liều nhắm mắt đưa chân... Xin nữ hiệp cứu mạng cho chúng tôi được về quê quán, ơn tái tạo ấy lớn bằng trời biển.
Lam Y nữ hiệp nhìn quanh :
- Mụ Lý đâu?
- Dạ, mụ sợ hãi quá, đang núp ở sau tường nhà kia để tiện nữ đi gọi về.
Lát sau, một mụ béo mập mạp tròn vạnh như chiếc dĩa lớn, mắt lươn híp lại, núng na núng nính, sợ sệt líu ríu đi theo vũ nữ.
Lam Y nữ hiệp thấy mụ Lý đáng ghét quá, nhìn thẳng vào mặt mụ hồi lâu khiến mụ luống cuống sờ đầu gãi gáy, nặng nề quỳ xuống trước mặt Lam Y nữ hiệp lạy như tế sao.
- Trăm lạy Lam Y nữ hiệp, con bị oan... bị oan.
Nghe tiếng oan, Lam Y điên tiết, tuốt kiếm ra chỉ xác mấy tên đầu đà năm co queo trên sân.
- Tội ác của mụ cũng ngập trời như mấy đứa kia. Cùng bạn phụ nữ với nhau, những người bạc nhược bị ác đầu đà bắt về đây, mụ không tìm cách giúp đỡ họ thì thôi, nhưng còn xúi giục hành hạ, cậy thần thế coi mạng con người rẻ hơn rác để cầu lợi riêng!... Tội ác mụ cũng đáng xử tử như ác đầu đà. Cho mụ về chầu Diêm vương để quỷ sứ liệng mụ vào vạc dầu cũng không quá đang, nghe chưa!
Mụ Lý sợ quá, nhưng vẫn già miệng kêu oan.
- Đêm hôm nọ, mụ theo bọn ác đầu đà giam người con gái họ Hạ trong một chiếc chuông lớn kia, mụ đã nói những gì còn nhớ không?
Nói đoạn, Lam Y nữ hiệp liếc lưỡi kiếm lạnh giá lên cổ mập ú của mụ Lý. Mụ hoảng quá ngất đi, cây thịt đổ ngoài vào chân Lam Y.
Lấy chân hất mụ Lý sang một bên, mỉm cười tra kiếm vào vỏ, nhìn Chu Đức Kiệt và Thiết Xích Tử, Lam Y nữ hiệp nói :
- Chúng ta đi tra cứu xem vốn liếng hành trang của mụ mập này có báo hiệu và tìm kho tàng của bọn hổ mang luôn thể.
Chu Đức Kiệt nói :
- Hiền muội nên vào Phương trượng xem Tĩnh Độ hòa thượng thế nào, liệu coi có thể giao phó Kim Cương tự cho người ấy được không? Việc tra xét của cải này mặc ngu huynh đảm nhiệm... Trương tiên sinh nên vào Phương trượng luôn thể...
Thiết Xích Tử cười ha hả :
- Thôi! Để tôi đi cùng Chu hiệp cho vui.
Lam Y nữ hiệp mặc hai người tùy nghi sở thích, bỏ lên Phương trượng.
Khi nàng đi rồi, Chu Đức Kiệt bảo bọn vũ nữ đang loay hoay quanh mụ Lý.
- Các ngươi không đi thay y phục cho kín đáo tử tế sao, còn chờ chi nữa. Mặc mụ Lý nằm đây cũng không chết đâu mà sợ.
- Nếu điều tra ra thì chính các ngươi cũng nhiều đứa đáng tội lắm! Xiêm y mỏng dinh hầu như khỏa thân thế kia không biết ngượng ngập mắc cỡ hay sao? Thay y phục xong, mấy người ra đây hướng dẫn ta đi coi, nghe!
Nói đoạn chàng cùng Thiết Xích Tử đi quanh sân xem các đầu đà đã chết hẳn hay chưa? Xác nào còn nằm đờ, riêng có Pháp Cổ bị Thiết Xích Tử giật xích sắt gãy lìa ống chân hãy còn cựa quậy rên rỉ.
Giữa lúc ấy, anh em Phàn gia và bọn tăng đồ ở địa huyệt lên.
Phàn Thế Hùng nói :
- Trong Tàng Xuân viện cháy hết vì dầu đèn, cũng may dập tắt kịp nên không bén sang kho của cải, còn các phòng của đầu đà cũng y nguyên như cũ.
Chu Đức Kiệt nói với Phàn Thế Hùng.
- Tôi đem theo tên Triều Nguyệt và mấy tăng đồ xuống Tàng Xuân viện thu thập của cải. Phàn ca ở lại đây coi chừng mấy tên này nếu tên nào trốn thì cứ việc giết đi.
Hai vũ nữ ban nãy đã thay y phục xong ra sân,. Chu Đức Kiệt bảo.
- Các người theo ta.
Nói đoạn, Đức Kiệt cùng Thiết Xích Tử và Phàn Mộng Liên theo bọn Triều Nguyệt viếng địa huyệt.
Nói về Lam Y nữ hiệp khi vào phương trượng, đã thấy đèn nến thắp sáng choang. Một vị hòa thượng gầy như hạc, râu tóc bạc phơ mọc dài lượt thượt, run rẩy trùm chiếc mền mỏng ngồi trên bực đá. Còn mấy người hỏa đầu thì đang sửa soạn cho hòa thượng ăn. Thấy Lam Y nữ hiệp bước vào, vị hòa thượng ấy định đứng dậy nhưng nàng đã xua tay ra hiệu bảo ngồi xuống.
- Mô Phật, xin người cứ ngồi xuống ăn cho lợi sức, đừng câu lại cho người điều khiển, tu bổ lại như trước, có được không?
Tĩnh Độ tuy bị giam cầm nhiều năm nhưng không đến nỗi yếu lắm vì được bọn hỏa đầu lén lút cho ăn uống. Riêng có cặp giò vị tê bại bởi lẽ thiếu hoạt động.
- Ác giả, ác báo, Kim Cương tự này đội ơn Nữ hiệp nhiều lắm. Mô Phật!
- Chúng tôi chỉ yêu cầu hòa thượng đảm nhiệm việc trình báo giao dịch với quan sở tại về vụ này. Địa huyệt, Tàng Xuân viện cơ quan là những bằng cớ cụ thể chứng tỏ rằng bao năm nay Kim Cương tự sống ngoài vòng pháp luật.
Tĩnh Độ chắp hai tay :
- Mô Phật! Nữ hiệp dạy điều chi bần tăng xin nhất nhất tuân theo.
Lam Y nữ hiệp nói tiếp :
- Bọn vũ nữ và tăng đạo cũng không nên cho về vội. Hòa thượng chờ quan sở tại làm biên bản xong xuôi, sẽ trao những người đó cho nhà chức trách định đoạt. Điều cần nhất là thâu hồi Kim Cương tự tôn kính như xưa. Tiền bạc, kho tàng, yêu cầu hòa thượng sử dụng cho thiệt thích đáng vào công cuộc trùng tu nhà chùa, cấp phát ít nhiều cho những kẻ hồi hương.
Lam Y nữ hiệp nói xong, chú ý nhìn Tĩnh Độ thấy hòa thượng chắp tay cúi đầu lẩm nhẩm tụng kinh.
Một người hỏa đầu nói với Lam Y :
- Quí vị hiệp khách đã vất vả suốt đêm, tiện đây trong bếp, chúng tôi có đủ thức ăn, xin Nữ hiệp cho phép chúng tôi được bày bữa giải lao.
Lam Y nữ hiệp vui vẻ :
- Thế thì còn chi bằng. Chúng tôi đang đói bụng đây. Hình như có cháo gà nấu sâm thì phải! Lấy nhiều rượu lên nhé.
Bọn hỏa đầu vội vàng xuống bếp sửa soạn bữa ăn đặc biệt đêm đó.
Lam Y nữ hiệp lên đại điện đi vòng quanh chùa xem xét... Lúc trở về thì mọi người đã tề tựu đông đủ ở Phương trượng. Mấy rương lớn đầy vàng bạc châu báu để gần đó.
Chu Đức Kiệt nói :
- Kể ra thì Phi Không cũng đã tốn nhiều công mới thâu thập được số của cải kếch sù này, Tàng Xuân viện còn có một đường hầm thông ra tận trong núi. Hắc Đầu Đà đã thoát bằng lối đó.
Thiết Xích Tử nói :
- Lưới trời lồng lộng, thoát sao được!
Người hỏa đầu lên báo :
- Bàn đã bày rồi, mời quí vị xuống thiền phòng dùng tạm bữa cháo đỡ đói lòng.
Thiết Xích Tử vỗ bụng phành phạch :
- Cơm với cháo gì! Trùng rượu đang quấy trong bao tử đây.
Lam Y nữ hiệp mỉm cười :
- Thưa tiên sinh, tôi đã cho người đi mua rượu tận Dương Châu về. Tiên sang sẽ được toại ý. Nào! Xin mời xuống thiền phòng giải lao.
Khi mọi người đã an vị quanh chiếc bàn tròn, Lam Y nữ hiệp nói :
- Tôi muốn về Dương Châu trước, báo quan sở tại cho người lên đây chứng kiến tình hình hiện tại ngôi nhà này. Chờ Tĩnh Độ hòa thượng e mất nhiều thì giờ, lỡ bọn tăng đồ sinh biến thì sao?
Phàn Thế Hùng vội nói:
- Nữ hiệp đừng lo. Khi ta ở Dương Châu ra đi, tôi đã ngầm báo quan quân rồi. Độ canh năm họ sẽ tới đây. Ta rán chờ tới lúc đó, nếu họ không tới sẽ hay.
- Chà! Phàn huynh chu đáo quá. Đáng khen.
Thiết Xích Tử rót rượu cho mọi người, tự ý rót một ly lớn nâng cao lên mời, uống ừng ực như trâu vọc nước.
- Khà! Rượu ngon tuyệt! Tu hành như bọn đầu đà này quả thiệt đế vương. Nếu uống rượu không phạm ngũ giới thì bỉ nhân cũng thế phát từ lâu rồi.
Nói đoạn, Thiết Xích Tử rót thêm một ly nữa nốc một hơi cạn. Khi tàn bữa, vừng hồng đã rạng chân trời. Vó ngựa dồn dập phương xa vọng lại.
Phàn Thế Hùng đứng lên.
- Có lẽ quan quân đã tới! Để tôi ra xem thế nào?
Nói đoạn, họ Phàn chạy vội ra cổng chùa, phi thân lên cây cao nhìn. Quả nhiên xa xa cát bụi bay mù, một đoàn người ngựa khá đông đang phi tới.
Phàn Thế Hùng chuyền xuống tường vào chùa.
- Quan quân đã tới.
Mọi người cùng đứng dậy. Lam Y nữ hiệp nói :
- Phận sự của chúng ta đến đây chấm dứt. Mọi việc dã có Tĩnh Độ hòa thượng cáng đáng. Tình trạng trong Kim Cương tự đủ tư cách dẫn chứng trước pháp luật triều đình. Bọn ta rút lui đường hầm ra phía núi xem sao, rồi về thẳng Vân gia thôn. Nào! Ta đi.
Năm vị hiệp khách ra khỏi thiền phòng kéo nhau xuống địa huyệt. Chu Đức Kiệt, Phàn Thế Hùng và Thiết Xích Tử mỗi người mang theo bó đuốc. Ra tới phái sau núi, năm người phi hành vùn vụt như gió về thẳng Vân gia thôn. Gần tới thôn, Thiết Xích Tử bái biệt.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-02-22 00:09:51casau>
Hồi 11
Tứ tuần đại khánh, Trương viên ngoại thết dị nhân
Bí truyền Nhuyễn thuật, Trương Lãng Tử thu đồ đệ
 
Chu Đức Kiệt vội hỏi :
- Ủa! Tiên sinh không đi cùng chúng tôi sao? Đi bây giờ, bao giờ lại tái kiến?
- Tôi đi cùng quí vị không tiện. Chiều nay gặp nhau ở Chiêu Dương lộ được không?
- Tưởng tiên sinh định đi thẳng. Thế nào cũng đúng hẹn nhé. Đừng để chúng tôi mỏi mắt trông chờ.
- Xin vâng. Thế nào tôi cũng tới thăm.
Thiết Xích Tử rẽ sang đường khác.
Bọn Chu, Phàn về tới Phiên Hoa quán, trời vừa hửng sáng.
Lớp sương lam hãy còn lẩn quẩn trên đầu cây ngọn cỏ như luyến tiếc cảnh đêm huyền bí mau tàn.
Thay y phục xong, Chu, Phàn bốn người xuống hàng, gọi uống qua loa, trả tiền quán lên ngựa về Dương Châu.
Chủ quán ân cần đưa ra tận cổng :
- Không hiểu có việc chi, hồi đầu canh năm quan quân phi mã qua đây, quí vị nghe thấy gì không?
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Vì bị tỉnh giấc nên chúng tôi mới dậy sớm. Ngủ lại không được nữa. Họ đi đông lắm phải không?
- Độ hai mươi ngựa thôi.
Bọn Đức Kiệt vẫy tay chào, thúc ngựa lên đường.
Gần trưa hôm ấy mới về tới Chiêu Dương lộ.
Mẹ con Hạ thái thái thấy đông đủ, vui mừng theo cả vào trong nhà.
Phàn Mộng Liên nói :
- Xong việc rồi cô mẫu ạ. Từ nay khỏi lo nạn đầu đà Kim Cương tự nữa.
Hạ thái thái thở phào :
- Phúc đức quá. Suốt đêm, cô lo lắng không an giấc, thắp hương cầu cho các cháu thành công. Thiệt bất dung gian. Trừ được bọn ấy, công đức lớn lao vô cùng. Sự thể đêm qua thế nào?
Vương lão thấy mọi người đã về cũng chạy sang hỏi thăm. Anh em Phàn gia kể chuyện lại cho mọi người nghe. Ai nấy đều lắc đầu le lưỡi, không ngờ ngôi chùa danh tiếng ấy lại ghê gớm đến thế. Chu Đức Kiệt yêu cầu họ Vương kín tiếng vụ này, tránh mọi điều phiền toái.
Kể chuyện xong, bốn người lên lầu đi nghỉ, mãi tới xế chiều mới dậy vừa lúc Thiết Xích Tử tới ngoài cửa hàng. Hạ thái thái thấy Thiết Xích Tử kỳ dị đã có ý lo ngại.
Phàn Thế Hùng vội chạy ra đón vào, nói riêng với Hạ thái thái :
- Cháu quên không nói riêng để cô mẫu biết. Vị này là một hiệp khách giang hồ hữu danh đó. Đêm qua, người cung dự vào vụ phá Kim Cương tự. Bản lãnh cao siêu đáng bậc dị nhân quái khách.
Hạ thái thái nghe nói mới an tâm :
- Cháu cứ tự nhiên, quen cháu tức là người nhà rồi, nhưng nên cho cô biết trước kẻo cô yếu tim. Thấy lạ là lo sợ cháu ạ.
- Dạ, vị này đáng bực sư phụ của cháu đó. Họ Trương tên Tam Sơn, quán ở Võ Đang sơn, giới giang hồ thường gọi là Thiết Xích Tử...
- Thảo nào! Coi cái xích sắt trên lưng, cô phát hết hồn! Thôi! Vào nhà kẻo khách chờ.
Phàn Thế Hùng mỉm cười :
- Cháu muốn giữ quái khách nán lại nhà mấy ngày. Người này nhậu khỏe lắm, cô ạ... Dám nhậu hết năm cân rượu một bữa chưa kể bốn, năm cân thịt tái.
Tuy tròn mắt ra ngạc nhiên, Hạ thái thái cũng gật đầu :
- Được rồi! Cháu hiếu khách nhất thành Dương Châu... Thôi, vào nhà trong đi!
Phàn Thế Hùng cười nheo mắt bước vào, nhưng thái thái đã gọi giật lại :
- Lúc nãy cháu nói quái khách uống bao nhiêu, cô quên rồi?
- Dạ ông nhậu tới năm cân rượu một bữa và cũng độ bấy nhiêu thịt tái.
Tuy tròn mắt ra ngạc nhiên, Hạ thái thái cũng gật đầu :
- Được rồi! Cháu hiếu khách là cô mừng. Chợ Bắc Qua gần đây có Đoàn lang nấu rượu ngon nhất thành Dương Châu... Thôi, vào nhà trong đi!
Phàn Thế Hùng cười nheo mắt bước vào, nhưng thái thái đã gọi giật lại :
- Lúc nãy cháu nói quái khách uống bao nhiêu, cô quên rồi?
- Dạ ổng nhậu tới năm cân rượu một bữa và cũng độ bấy nhiêu thịt tái.
- Được rồi, để cô mua sẵn một lu!
Phàn Thế Hùng vào nhà trong quây quần ngồi cùng mọi người chuyện trò. Phàn Mộng Liên cùng Hạ Thái Phượng xuống bếp giúp con Tiểu Kim sửa soạn cơm nước.
Lam Y nữ hiệp cũng lảng vảng xuống bếp thấy hai thiếu nữ loay hoay làm lụng nấu ăn thì buồn cười :
- A ha! Thế này mới đáng mặt nhi nữ chứ. Cung kiếm hay, thêu thùa giỏi, còn kiêm cả việc bếp núc nữa, đức lang quân nào lấy được vợ đảm đang tề gia như này cũng sướng một đời!
Phàn Mộng Liên hai má đỏ ửng như trái đào :
- Gớm khiếp! Chu hiệp cứ giễu mãi, chị em tôi không bén gót, kể cả sắc lẫn tài...
Lam Y nghiêm sắc mặt :
- Tề gia nội trợ kém lắm, chỉ biết ăn mà không biết làm... Nói thiệt đó!... A, tôi phải làm mai mới được... Này, nhưng liệu có chê chồng nhiều tuổi không đấy?
Mộng Liên, Thái Phượng bẽn lẽn không trả tiếp :
- Thôi! Giỡn hoài, để cho hai cô thái thịt lại bầm vào tay bây giờ!... Sửa soạn đồ biếu bà mối ngay từ bây giờ đi nhé!
Nói đoạn, Lam Y khúc khích quay lại nhà trên. Chu Đức Kiệt, Phàn Thế Hùng đang cùng Thiết Xích Tử ôn lại chuyện đánh Kim Cương tự đêm qua.
Phi Không dũng mãnh lắm, đỡ được những ngọn đòn của y, tôi thấy rung chuyển cả hai tay. Nếu không nhờ y nóng giận muốn thắng lẹ sau khi đồng bọn của y táng mạng thì chưa chắc ai đã ăn ai.
Thiết Xích Tử nói :
- Ngoại trừ Thiếu Lâm tự, và Thiên Không sư huynh của y, Phi Không chưa biết nhường một người nào về sức cũng như về tài nghệ ở Hoa Nam này. Y có một điểm yếu ở gáy, bởi vậy tôi định đón đánh y ngay từ lúc đầu:
Chu Đức Kiệt gật gù :
- Thảo nào, tôi thấy y giữ gìn phía sau đầu của hắn cẩn thận lắm nên tôi cũng đoán Phi Không yếu về mặt đó. Không ngờ lại có dịp đánh trúng huyệt yếu của y.
Thiết Xích Tử khua cả hai tay cả cười :
- Nói vậy thì Chu hiệp quá nhũn nhặn. Lúc hạ xong Pháp Cổ, tôi quan sát rõ ràng lắm. Lối đánh của Phi Không rất kỵ với cước bộ của Bắc phái, mà y lại gặp trúng một tay kiệt liệt đất Bắc có lối đá và đạp vừa mau lẹ vừa nguy hiểm, linh động khác thường thì dù có hớ hênh trong chớp mắt cũng đã táng mạng rồi. Còn một điều đáng chú ý nữa là, Phi Không tuy hữu dũng nhưng trác táng, dù có chịu khó tẩm bổ biết mấy cũng không giữ được nguyên khí như hồi y chưa hạ san.
Phàn Thế Hùng hỏi :
- Tiên sinh biết Phi Không từ lâu?
- Phải. Lúc đó y trạc hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi, tại Quý Dương bên Quý Châu...
Lam Y nữ hiệp hỏi :
- Đệ nhất đồ đệ của Đắc Đạo đại sư hiện nay ở đâu?
Thiết Xích Tử suy nghĩ giây lâu :
- Đắc Đạo đại sư trước ở Vân Nam, sau mới thiên về ở Thiên Linh từ trên La Phù sơn cõi Lĩnh Nam. Hiện nay đã trọng tuổi. Còn Thiên Không thì sau mười mấy năm giang hồ, hiện đã trở về núi La Phù tu luyện thay thế Đắc Đạo truyền dạy võ nghệ. Thiên Không chăm chỉ tu luyện, tài nghệ của đáng bậc siêu đẳng.
Phải một nỗi kém điềm đạm, không chịu lựa chọn học trò nên mỗi khi nhắc tới người của Đắc Đạo hay Thiên Không, giới giang hồ Hoa nam có ngay cảm tưởng là bọn gian ác rồi. Thật ra không phải tất cả người nào xuất thân từ La Phù sơn cũng vậy. Trên bước đường giang hồ, nếu gặp Thiên Không cũng nên tiểu tâm. Nhất là Phi Không bị táng mạn về tay Chu hiệp, Hắc Đầu Đà lại chạy thoát, tôi e không khéo gây thành một tử thù.
Lam Y nữ hiệp suy nghĩ gật đầu :
- Tiên sinh dạy chí phải! Thiên Không biết sao được hành vi xấu xa của sư đệ y? Hắc Đầu Đà trong khi lập lại vụ đánh Kim Cương tự sẽ bịa đặt thêm ra với mục đích tạo thành một mối tử thù!... Nhưng tôi mong được gặp Thiên Không một chuyến để bái lãnh tài nghệ của y, biết đâu không học hỏi được ít nhiều? Chẳng thân thì thù, lỗi đó không khởi xuất từ bọn ta. Cái nghề giang hồ hành hiệp của chúng ta là như thế đó? Phải không hả tiên sinh?
Lam Y nữ hiệp khoái luận lắm. Tôi rất đồng ý. Chính tôi cũng muốn thử sức Thiên Không xem y tài nghệ tới mực nào. Nếu y cương thì ta lấy nhu trị, lo chi!
Chu Đức Kiệt cười :
- Về nhuyễn thuật mà có sức mạnh như Thiết Xích Tử, kể cũng hiếm có!
- Tôi có sức là do lẽ tự nhiên trời sanh, nhưng ngu đệ Trương Tam Vân mới thật sự là người của nhuyễn thuật.
* * * * *
Thuộc Tiểu Anh có ngọn Võ Đang sơn.
Ngay chân núi ấy có bốn thôn ở liền nhau: Trương, Sái, Liêu, Đồng, duy có Trương gia thôn lớn nhất và đông người hơn cả, nên họ Trương được ba thôn kia bầu làm Đại thôn trưởng. Còn một lẽ nữa đã khiến dân vùng ấy phục Trương gia vì Trương viên ngoại có hai người con trai võ nghề siêu quần xuất chúng. Viên ngoại họ Trương tên Tam Chấn, tự là Quang Huy, vốn người hiền lành phúc đức hay làm việc thiện. Trương Tam vốn có hai vợ là Đậu thị và Trần thị, mỗi người sanh một con trai. Đậu thì sanh ra Trương Tam Sơn, Trần Thị sanh Trương Tam Vân và một con gái là Trương Tam Nương. Ba người này được cha mẹ yêu chiều, đón thầy về nhà dạy học. Trương Tam Sơn nước da bánh mật, có sức khỏe, ngoài giờ học hành nghiên bút, thường hay cùng trẻ trong thôn đùa nghịch, đánh quyền múa gậy, chẳng mấy chịu ngồi yên. Trái lại, Trương Tam Vân người mảnh khảnh nước da trắng trẻo như con gái, vóc người nhỏ bé gầy yếu, tính tình trầm lặng.
Trương Tam Nương cũng vậy, mới sáu, bảy tuổi mà đã ra dáng thùy mị đoan trang.
Năm ấy, Trương viên ngoại làm lễ tứ tuần đại khánh thì Trương Tam Sơn vừa đúng mười một tuổi, Tam Vân lên chín và Tam Nương lên tám.
Bốn thôn và mấy nơi lân cận đưa lễ mừng rất đông, thực khách đầy nhà luôn luôn trong mấy ngày. Tới hôm thứ bảy anh em Tam Sơn, Tam Vân đang chơi đùa ngoài cổng trang, thì bỗng có người hành khất đã già thân hình gầy đét, nước da đen bóng, chống gậy đi qua. Tam Sơn đang quay cuồng múa gậy với mấy đứa trẻ trong thôn. Tam Vân ngồi xem trên phiến đá dưới gốc liễu rủ xanh tươi, thỉnh thoảng lại thích chí vỗ tay tán thưởng.
Người hành khất dừng lại nhìn Tam Vân hồi lâu, rồi lại ngắm Tam Vân không hề chớp mắt. Tuy gầy ốm nhưng người hành khất có cặp mắt như muốn bật ra tia lửa.
Tiến lại gần Tam Vân người đó hỏi :
- Này chú bé, nhà ở đâu?
Tam Vân ngửng đầu nhìn người lạ, chỉ vào trong thôn :
- Nhà tiểu nhi ở trong này.
Đoạn chỉ vào Tam Sơn :
- Đây là anh của tiểu nhi.
Người hành khất cười, đưa bàn tay gầy guộc xoa đầu Tam Vân :
- Chú bé ngoan quá! Sao không chạy ra kia nô đùa đánh gậy với anh?
- Tiểu nhi không biết đánh gậy. Anh Tam Sơn cũng không biết đánh gậy.
- Chú bé có muốn học đánh gậy không?
- Có chứ! Nhưng không có thầy.
Tam Sơn bỏ bầy trẻ, kéo chiếc gậy dài lê thê chạy tới hỏi người hành khất :
- Ông nói chuyện gì thế? Đã ăn cơm chưa?
Người hành khất mỉm cười chưa trả lời, thì một gia nhân từ trong chạy ra.
Tam Sơn bảo gia nhân :
- Ông này chắc chưa ăn cơm, mời vào nhà ăn luôn thể.
Gia nhân lắc đầu trả lời :
- Không được! Tiệc thọ, trong nhà có quan khách đông, mời người này vào nhà ngồi với ai? Thôi! Hai cậu về nhà đi kẻo viên ngoại mắng tôi.
Nói đoạn, y dắt tay Tam Sơn và Tam Vân định đi vào cổng trang. Nhưng cả hai cùng vung tay ra. Tam Vân nói :
- Nếu anh không dám vào thì mặc tôi vào nói với phụ thân... Nhà có tiệc nhiều không mời người ăn để làm chi?
Nói đoạn chạy vụt vào trong cổng. Tên gia nhân định đuổi theo không cho vào nhưng bị Tam Sơn níu chặt lại. Y càu nhàu :
- Các cậu làm thế này, thế nào chủ nhân ông cũng rầy tôi thôi! Thiệt là trẻ nít quá!
Tam Vân vùn vụt chạy một mạch lên sảnh đường.
Trương viên ngoại đang quanh quẩn tiếp khách thấy con vào lấy làm lạ, chưa kịp hỏi thì Tam Vân đã nói :
- Phụ thân à, ngoài cổng có người hành khất đi qua, gầy yếu lắm, mời người ta vào nhà ăn đi. Nhà có tiệc vui mà.
Trương viên ngoại cau mày nói :
- Con bé dại biết gì việc người lớn. Vào trong nhà đi!
Tam Vân dùng dằng :
- Phụ thân vẫn dạy con làm điều lành, nay mời người ta ăn lại không bằng lòng ưng thuận.
Ôn tồn giảng giải, Trương viên ngoại nói :
- Ta sợ mất lòng quan khách thôi, nhưng ta có cấm con gói thực vật cho y đâu?
- Không, phụ thân cứ ra đây coi.
Vừa nói vừa níu áo, Tam Vân kéo Trương viên ngoại đi. Chiều con, viên ngoại đành xin lỗi mọi người, đi xem Tam Vân làm gì. Lát sau ra tới cổng trang, Trương viên ngoại thấy Tam Sơn đang nói chuyện với người hành khất, còn tên gia nhân đang băn khoăn quạu cọ.
Người hành khất cái lạy :
- Kẻ bần hàn qua đây đói, ngừng bước xin ăn làm rộn viên ngoại, người vui lòng xin bố thí.
Nghe tiếng nói sang sảng như chuông đồng, nhìn cặp mắt sáng ngời, Trương viên ngoại nghĩ thầm: “Hành khất chi mà giọng tốt thế! Mắt sáng như sao, không khéo đây là dị nhân đội lốt hành khất đó thôi! Hai thằng bé nhà mình kể ra cũng ranh mãnh thật”.
Trương viên ngoại vội vàng đáp lễ :
- Trong thiên hạ ai cũng là anh em cả, mời tiên sinh vào nhà dùng bữa cùng mọi người luôn thể. Lễ tứ tuần của tôi, xin chớ chối từ.
Quan sát thấy viên ngoại biết nhìn người, người hành khất tuy vậy cũng giữ kẻo e quan khách hiểu lầm :
- Xin bố thí mà được viên ngoại cho vào nhà ăn còn gì hơn nữa, nhưng thôi, cho phép tôi được ngồi cùng hai chú bé này là điều tôi mong muốn nhất.
- Thế cũng được, xin tùy tiện, mời tiên sinh vào.
Anh em Tam Sơn, Tam Vân mừng quá bèn mỗi cậu một tay kéo người hành khất vào cổng trang.
Trương viên ngoại bảo gia nhân :
- Đưa vị khách này vào nhà trong, cơm rượu cho tươm nhé!
Viên ngoại nói với người hành khất :
- Tiên sinh cứ vào hậu đường trước với các cháu, lát nữa tôi sẽ vào sau.
Người làm trông thấy lạ đều trố mắt nhìn, nhưng thấy chủ nhân lễ phép với người hành khất không dám phê bình. Tới chiều, sau khi mọi người đã ra về, Trương viên ngoại mới vào nhà trong thì thấy người hành khất nằm co ro trên kỷ ngủ ngáy khò, trên thồi còn để ba hồ rượu rỗng tuếch.
Anh em Tam Sơn, Tam Vân ngồi gần đấy. Viên ngoại bèn hất hàm ra ý hỏi hai con thế nào. Anh em Tam Sơn chưa kịp nói thì người khách là đã thức giấc ngồi nhỏm dậy :
- Viên ngoại cho ăn no uống say quá không đi nổi nữa đành mạn phép, ngủ tới bây giờ.
Nói đoạn y đứng lên, đeo khăn gói tay cầm gậy...
- Tiên sinh định đi đâu? Chiều tối rồi. Xin mời nán lại đây, sớm mai sẽ lên đường cũng vừa.
- Quấy quả nhiều quá, chỉ phiền cho mọi người trong trang thôi.
- Tiên sinh yên trí, không sao! Trang rộng rãi thế này thiếu chi chỗ ngủ tốt...
Nói đoạn, viên ngoại đích thân đưa người hành khất xuống nhà khách vào căn phòng riêng xinh xắn. Anh em Tam Sơn, Tam Vân lon ton theo sau...
- Đây, tiên sinh ngủ ở đây, lát nữa dùng bữa chiều. Cần dùng chi cứ gọi.
Nói đoạn, Trương viên ngoại quay ra.
Sẩm tối hôm ấy, người nhà bê thức ăn vào bầy trên thồi.
Người hành khất bảo :
- Này! Lấy thêm cho tôi hai hồ rượu nữa, uống thế này chẳng thấm vào đâu cả.
- Gia nhân quay đi lấy rượu, nghĩ thầm:
“Gớm, cha hành khất này đã được mời ăn lại còn thêm nghiền rượu như trâu uống nước vậy. Đưa ra hồ nào uống luôn hồ ấy, không còn biết ngượng là chi cả!”.
Tuy gầy ốm, người hành khất ăn ăn uống uống như hùm đói.
Tam Sơn, Tam Vân cứ loanh quanh đất nghe hành khất kể chuyện mãi, tới lúc mẹ cho người gọi về mới lên nhà, có luyến tiếc.
Người hành khất tức cười, bảo.
- Các chú cứ ngủ kỹ nhé. Mai lại gặp nhau lo chi.
Lát sau, Trương viên ngoại tới phòng.
- Người nhà hầu hạ có được châu đáo không? Suốt mấy hôm bận rộn tiếp khách, nhiều công chuyện dồn lại không đích thân ngồi tiếp được, tiên sinh hiểu cho nhé.
- Tôi rất cảm động tấm thịnh tình hiếm có này, còn e không có ngày trả được đó.
Thấy người hành khất nói năng lễ độ, viên ngoại càng nghi ngờ cho là mình xét người không sai.
- Chẳng hay quí tánh danh là chi, vui lòng cho biết, lỡ sau này gặp nhau còn biết đường gọi chớ.
Người hành khất mỉm cười :
- Danh tánh tôi không có chi đáng kể, viên ngoại hảo tâm hỏi thì tôi cũng xin nói. Tôi vốn họ Trương, mồ côi từ nhỏ, không biết quê quán ở đâu, tới khi biết suy luận thì đã thấy mình đi hầu người ta rồi!... Năm ngoài hai mươi tuổi, chủ nhân tôi quá cố, chính thân rồi không biết nghề sanh sống nên đi lang thang hành khất đó đây. Phải cái tật nghiền rượu, xin được đồng nào, uống mất đồng ấy, thiên hạ quen gọi là Lãng Tử. Lúc nhỏ chủ nhân tôi kêu là Trương nhi. Bởi vậy, tôi không biết tên của chính tôi là gì cả. Viên ngoại kêu tôi như mọi người cũng được Trương Lãng Tử.
- Tôi cũng họ Trương, chúng ta đồng danh với nhau rồi, chắc có họ xa.
- Viên ngoại quá thương dạy lời vàng ngọc, tôi lấy làm hổ thẹn.
Trương viên ngoại đứng dậy :
- Nếu ngày mai, không có việc chi, Trương tiên sinh cứ ở lại đây chơi ít ngày, không cần phải đi gấp.
Trương Lãng Tử cũng đứng lên chắp tay vái :
- Viên ngoại cho phép tôi suy tính đã, sớm mai sẽ định đoạt sau.
Trương viên ngoại cho là người này quen lanh bạt tự do nên không ép, cúi chào đi ra.
Suốt bảy hôm ròng, Trương gia thôn làm tiệc đãi khách, đêm ngày nhộn nhịp bận công việc, gia nhân đều mỏi mệt, bữa nay ai nấy đều dọn dẹp qua loa đi ngủ sớm, nên mới đầu canh hai mà trong trang đã im lìm ngủ say cả rồi. Trương Lãng Tử cũng choàng chăn nằm ghé bên giường thiêm thiếp ngủ. Bọc hành trang để trên mặt kỷ. Sang đầu canh ba, tiếng mõ canh vừa dứt, bỗng có tiếng ầm ầm ngoài cổng thôn. Mọi người trong nhà tỉnh dậy nhìn ra thấy đuốc thắp sáng như ban ngày, người ngựa lố nhố khá đông, biết là có cướp, sợ hãi gọi nhau inh ỏi. ngoài cổng thôn tiếng phá cửa ầm ầm. Từ trước tới nay, khu vực này vẫn bình an chưa hề xảy ra vụ trộm cướp nào. nên nội trong bốn thôn Trương, Sái, Liêu, Đồng, không dám nghĩ tới việc tổ chức phòng vệ. Nay bỗng dưng có cướp, ai nấy đều xanh mặt run sợ.
Hai vợ chồng Trương viên ngoại, Đậu và Trần thị thì cho rằng chồng dễ dàng quá, tiếp người hành khất lúc trưa. Bởi vậy cả hai cùng có ý trách chồng. Trương viên ngoại ở trong tình cảnh này cũng không biết nói gì hơn, nghi nghi, hoặc hoặc. Giặc cướp tới nơi, tình hình cấp bách phải mở cổng trang ra điều đình nộp tiền bạc cho chúng đi khỏi phá phách, sát hại sinh linh là điều cần phải làm trước nhất. Đứng ỳ ra đây, suy nghĩ có ích lợi gì! Nghĩ đoạn, Trương viên ngoại chạy thẳng xuống căn nhà xô cửa phòng Trương Lãng Tử thì thấy phòng trống không. Ngọc bấc dầu hãy còn leo lét trên bàn.
Viên ngoại ngẩn ngơ ra đi :
- Hừ! Thế này thì gớm thật! Nuôi ong tay áo. Đáng buồn Tú Anh nhân tình thế thái.
Họ Trương còn đang nghĩ ngợi thì bọn Sái, Liêu, Đồng, qua cổng sau tới.
Người nào cũng run rẩy mặt tía không còn hột máu :
- Làm... làm thế.. thế nào... hả Trương đại... đại ca?
Trương viên ngoại xua tay :
- Lo sợ cũng vô ích, mở cổng cho chúng vào rồi mặc chúng vơ vét, miễn là không hại tới sanh mạnh thì thôi!... Để tôi tự ra mở cổng trang.
Nói đoạn, họ Trương đi thẳng ra phía cổng. Mọi người trong trang thấy Trương viên ngoại can đảm, đều líu ríu theo ra.
Họ Trương ra tới cổng trang, nói lớn :
- Các người không phải phá phách, la ó vang động khiến đàn bà con trẻ kinh sợ. Muốn lấy của ta sẽ mở cổng ra cho mà lấy, với điều kiện là không được xâm phạm tới bất cứ một ai trong trang. Có ưng thuận hay không?
Bên ngoài tiếng phá cổng thôi hẳn, nhường chỗ cho thứ tiếng cộc cằn thô bỉ :
- Được lắm! Thế mới biết điều. Mở cổng ra đem hết vàng bạc châu báu ra đây. Thiếu một chút, ta xét thấy cũng không xong.
Họ Trương đáp :
- Vàng bạc châu báu chẳng có là bao, ở đây chỉ có thóc gạo là nhiều thôi.
- Cứ mở ngay cổng ra, mau!
Không ngần ngại, Trương viên ngoại mở then cổng kéo tung hai cánh cổng ra.
Bọn cướp y phục đen tuyền, độ năm mươi tên mặt mũi dữ tợn võ trang gươm giáo. Ba tên đứng hầu, trừ một tên non tuổi, còn hai tên kia đều sức vóc to lớn nở nang, hung hãn. Tên mặt đen cầm long đao. Tên mặt xám cầm xà mâu, và tên trẻ tuổi cầm giáo.
Họ Trương từ từ bước ra ngoài cổng, bắt đầu run sợ trước thái độ côn đồ hung hãn của tên cướp. Mọi người trong trang sợ hãi, đứng núp trong cổng nhìn ra.
Tên mặt đen, nhảy tới trước mặt Họ Trương.
- Quỳ xuống mau! Biết lão gia ở đây mà chưa biết quỳ lạy sao?
Nói dứt cây, y hoa đao như muốn chém. Mọi người trong cổng kêu rú lên...
Nhưng một tiếng “choang!” kêu dội lên ngay lúc bấy giờ, một bóng đen mờ mờ từ trên ngọc cây gần đấy nhảy là xuống. Cây đại đao của tướng cướp bỗng văng ra một nơi.
Mọi người định thần nhìn kỹ, bóng đen ấy không phải ai xa lạ, chính là Trương Lãng Tử, người hành khất. Y đứng chắn giữa tên cướp và Trương viên ngoại.
- Viên ngoại lui bước, mặc mấy tên này cho tôi phân xử.
Tên cướp nhìn thấy Trương Lãng Tử thân hình ốm nhom lại có tuổi rồi, đứng gần như con diều hâu trên cột đá thì có ý khinh thường. Nhưng trông chiếc xích sắt nặng nề của Trương Lãng Tử cầm trong tay và cây đại đao bị buộc ra khỏi tay y vừa rồi, y đâm ra nghi hoặc không biết nên xử trí ra sao cho hạp thời. Dù thế nào, bị mất thể diện trước mặt thủ hạ và đối phương, tướng cướp cũng tức lắm, la hét đùng đùng, nhảy chồm tới nhặt cây đại đao. Lẹ hơn, Trương Lãng Tử chỉ trong chớp mắt đã tới trước lấy một chân chặn lên cây đại đao. tướng cướp dùng sức cầm cán đao định nhấc bổng đối phương sang bên, nhưng kỳ thay, cây đao như bị sức nặng ngàn cân đè chặt không nhúc nhích. Trong trang, mọi người thấy tướng cướp loay hoay mãi không nhắc được đao lên thì cười ầm ầm, khiến y nổi hung tống mạnh một trái thôi sơn vào mặt đối phương.
Lẹ như cắt, Trương Lãng Tử hắt cây đao ra xa, né người sang một bên, đưa tay đón lấy cổ tên tướng cướp rút mạnh ra phía sau. Tướng cướp mất đà và bị một sức mạnh ghê gớm của bàn tay gầy guộc nhưng cứng như thép của Trương Lãng Tử kéo tuột ra phái trước mặt, khiến y chúi nhào xuống đất lộn đi mấy vòng, nằm xoài ra mặt đất như con nhái bén. thấy bạn lâm nguy, hai tên kia cầm mâu và vác giáo hò hét đồng bọn xúm lại vây đánh Trương Lãng Tử. Còn mấy đứa khác thì vực tướng cướp mặt đen lên ngựa đứng sang một góc.
Trương Lãng Tử bị vây tròn vào giữa, mọi người trong trang thấy lo ngại, nhưng chỉ một thoáng không đáng kể vì chỉ trong giây lát, Trương Lãng Tử vung xích sắt múa tròn vù vù như đạo hắc quang.
Binh khí của bọn cướp bị xích sắt quấn tung ra tứ phái, bỏ chạy tán loạn. Tên mặt xám la hét như hùm đói múa mâu đánh tới tấp, không ngờ bị xích sắt quấn tròn lấy chân giật tung lên trên không, đầu lao xuống trước trúng mô đá “bốp” bể sọ chết tươi. Tên trẻ tuổi biết không thể nào địch nổi Trương Lãng Tử bèn hô đồng bọn cướp xác chạy bán tử. Không cố ý sát hại, Trương Lãng Tử mặc chúng chạy hỗn loạn, không đuổi theo.
Mọi người bấy giờ mới hiểu người hành khất kỳ dị ấy là một tay võ dũng cự phách đều theo, Trương viên ngoại chạy ra lạy tạ ơn cứu thoát bốn thôn trang khỏi vòng nguy hiểm.
- Trương tiên sinh quả là thần tướng nhà trời sai xuống giúp chúng tôi, thế mà bọn tôi mù quáng không hiểu biết, thất lễ rất nhiều.
Thâu xích sắt lại cho vào trong bọc đeo lưng, Trương Lãng Tử đáp lễ :
- Xá chi việc nhỏ mọn này, khuya rồi mời quí vị về đi nghỉ sang mai sẽ nói chuyện sau.
Anh em Trương Tam Sơn, Tam Vân cũng được mục kích tài nghệ của Trương Lãng Tử, vui sướng quá líu ríu níu chặt hai tay dị nhân đó đi vào trong trang.
Trương Lãng Tử xoa đầu hai tiểu nhi.
- Hai chú bé về phòng đi ngủ cho ngoan, mai sẽ gặp nhau nói chuyện nhiều nhé.
Hôm sau, Trương viên ngoại đặt tiệc ăn mừng mời cả ba viên Sái, Liêu, Đồng họp mặt, tôn Trương Lãng Tử lên làm thượng khách kính trọng vô cùng.
Rượu đã ngà ngà, Trương viên ngoại hỏi :
- Làm thế nào mà tiên sinh biết có cướp, tới cứu chúng tôi vậy.
Nhắc ly rượu lớn uống một hơi cạn, Trương Lãng Tử nói :
- Đây cũng là một sự tình cờ thôi! Cách đây năm bữa, tôi từ Tiêu Anh phủ đi về lối khu vực này, tới một quán rượu bên đường, khát quá bèn rẽ vào đó gọi rượu uống. Không ngờ gặp ba tên cướp đang ngồi nhậu ở thồi trong góc nhà chung đầu với nhau nói chuyện. Thoạt trông, tôi biết ngay chúng là tay đạo tặc chớ không phải người hiền lương, bèn cố sức nghe xem chúng nói gì. Chúng nói lớn không cần giấu diếm vì cả ba cùng dùng tiếng lóng của bọn hắc đạo giang hồ.
Tên mặt đen cầm đao hôm qua đó nói rằng :
- Này hiền đệ, tôi mới được tin Trương gia thôn ở Võ Đang sơn vào tiệc tứ tuần đại khánh ăn uống luôn trong nhiều ngày, ta liệu tổ chức đến đó làm một mẻ, Hồ hiền đệ và hiền điệt nghĩ sao.
Tên mặt xám cầm mâu trả lời :
- Được lắm! Từ đại ca nghĩ rất phải. Đã lâu lắm bọn ta chưa làm được vụ nào ra hồn cả. Tôi cũng nghe thấy nơi thôn trang ở Võ Đang sơn khá giàu.
Đoạn hắn quay sang phía tên ít tuổi.
- Lưu hiền điệt có đi cùng không?
- Có chứ! Đã lâu không hoạt động, cháu ngứa ngáy cả tứ chi rồi. Bao giờ thì hành động, hả bá phụ?
Từ tặc nói :
- Chúng ta cùng về sửa soạn đi. Kể cả bữa nay, canh ba đêm hôm thứ tư thì đánh Trương gia thôn.
Kể tới đây, Trương Lãng Tử uống ly rượu nữa, gắp thức nhắm rồi nói tiếp :
- Tôi ngồi đó, vừa ăn uống vừa để ý nghe chúng nói chuyện. Thì ra sào huyệt của chúng không xa lắm. Ở Hổ Đầu cốc cách Võ Đang sơn hơn một ngày đường.
Trương viên ngoại ngạc nhiên.
- Hổ Đầu cốc? Nơi đó bây giờ có cướp ở sao.
Trương Lãng Tử gật đầu :
- Phải, mới đầu tôi cũng ngạc nhiên như viên ngoại, vì cuối năm kia tôi qua Hổ đầu cốc không thấy ở đó có giặc cướp nào cả. Chắc hẳn bọn giặc cỏ này mới tới đó thôi.
Hạ Liêu nói :
- Nếu vậy, ta nên trình báo quan đại hạt đánh đuổi chúng đi nơi khác họa chăng thôn ta mới an ổn được.
Trương Lãng Tử lắc đầu :
- Trình báo lôi thôi mất thì giờ lắm. Thế nào tôi cũng qua đó đánh đuổi chúng đi cho kỳ hết.
Sau bữa tiệc hôm ấy, Trương viên ngoại bàn với hai vợ việc muốn mời Trương Lãng Tử ở lại truyền thụ võ nghệ cho Tam Sơn và Tam Vân.
- Tôi có ý này từ lâu nhưng chưa biết tìm ai giỏi giang. Nay gặp Trương tiên sinh là việc hạn hữu. Hai đứa trẻ nhà mình cũng mến người ấy lắm, chi bằng yêu cầu người ấy ở lại cho hai con làm lễ bái sư. Chỉ sợ Trương tiên sinh không nhận lời thôi.
Đậu thị nói :
- Phu quân nghĩ rất phải, thiếp phận nhi nữ chỉ biết phục tòng... Nhưng phu quân đã nói ra thiếp dám phát biểu ý kiến.
- Bốn thôn trang này hợp lại khá lớn, người nhiều. Làm ăn được tất phải có bọn đạo tặc manh tâm nhòm ngó, thì việc cho các con theo học võ nghệ là sự cần thiết rồi, phu quân khỏi phải đắn đo. Chỉ mong sao các con sau này tài sức hơn người, dù chẳng ra trận chém tướng cướp cờ gì nhưng ít ra cũng bảo vệ được chính thân chúng không đến nỗi bị thua kém anh em trên đời... Ý nguyện của thiếp là như vậy đó.
Trương viên ngoại mỉm cười :
- Tôi cũng nghĩ như vậy nên mới bàn luận. Thôi được, để tôi nói với người ta xem sao.
Họ Trương liền đứng lên đi xuống phòng Trương Lãng Tử, ngỏ ý mời nán lại Trương gia thôn truyền võ nghệ cho Tam Sơn và Tam Vân.
Trương Lãng Tử đáp :
- Tôi tới đây không phải là việc ngẫu nhiên. Trước hết giữa đường gặp sự bất bình không thể bỏ qua được, nên tới tiếp cứu thôn trang này, không ngờ gặp anh em Tam Sơn và Tam Vân thấy mến ngay, bởi vậy chính tôi có ý truyền dạy võ nghệ cho chúng. Tới tuổi này, tôi chưa từng thâu dạy đồ đệ, nhưng thiết nghĩ cũng là lúc cần phải ngừng bước giang hồ truyền lại cái vốn học bình sanh...
- Các trẻ được tiên sinh thương mến thâu nhận làm đồ đệ thì còn chi hay bằng!
- Nghề võ này bạc bẽo lắm, viên ngoại ạ. Đã theo học, phải luyện cho tới khi thành tài, công phu và thì giờ rất nhiều. Học dở dang chẳng qua chỉ chuốc lấy cái nhục mà thôi, chẳng hay viên ngoại có ưng thuận cho hai trẻ theo học tập luyện trong nhiều năm không?
- Tôi không hề mong mỏi gì hơn là được tiên sinh chịu phí thì giờ dạy chúng...
- Được lắm, sáng nay tôi lên ngọn Võ Đang sơn, địa thế rất đẹp, muốn yêu cầu tiên sinh cất cho tôi một cái am nhỏ lưng chừng núi, sau này tới trình độ phải vào núi các trẻ sẽ có chỗ luyện tập, như vậy có phiền nhiễu lắm không?
- Tưởng chi, chớ việc đó không đáng quan tâm. Tiên sinh chọn địa thế đi, tôi sẽ khởi công ngay. Và nhân thể chọn ngày tốt làm lễ bái sư cho ba cháu. Tôi có ý cho cả con Tam Nương theo hai anh nó tập luyện luôn thể, được không?
- Tôi xin vì viên ngoại dạy bảo ba anh em nó thành tài, truyền hết tài học bình sanh...
Trương viên ngoại cả mừng, đứng dậy vái tạ ơn Trương Lãng Tử rồi cáo lui.
Hai hôm sau, lễ bái sư được cử hành long trọng, và từ đó ba anh em Tam Sơn, Tam Vân, Tam Nương theo học Trương Lãng Tử ngay trong thôn trang. Trương Lãng Tử chọn một nơi trên sườn Võ Đang sơn cạnh suối. Nửa năm sau xây xong chiếc am khá khang trang rộng rãi. Từ am trông thẳng xuống thôn trang, bao quát cả một vùng. Trương Lãng Tử đặt tên là Trương gia am.
(Chiếc am này, sau khi Trương Lãng Tử tạ thế, được Trương Tam Vân coi sóc, truyền hết con đến cháu nhưng cũng vẫn ở trong giới hạn gia truyền. Tới đời Trương Tam Phong cháu bốn đời của Trương Tam Vân, môn võ Nhuyễn thuật của Trương Lãng Tử lấy tên là Võ Đương vang dậy như sóng cồn dưới thời vua Càn Long và Khang Hy nhà Thanh, không kém chi mấy võ phái Nga My, Côn Luân, Thiếu Lâm, Bạch Hạt.
Võ Đương phái đã đào tạo ra rất nhiều tay anh hùng cự phách nổi tiếng cả một thời. Chiếc am cất từ đời Trương Lãng Tử đã được sửa lại, chữa lại nhiều lần và tới lúc tác giả viết mấy dòng này, am đó cũng hãy còn, danh tiếng Trương vẫn cũng không vì thời gian phai lợt trong lòng khách mộ điệu. Con cháu họ Trương cũng vẫn nêu cao dòng họ tài nghệ công phu điêu luyện đặc biệt của họ).
Nói về Trương Lãng Tử từ ngày thâu nhận ba anh em họ Trương làm đồ đệ thì hết lòng truyền nghệ. Tam Sơn, Tam Vân, Tam Nương rất chăm chỉ, thông minh lỗi lạc, học tới đâu biết tới đó, thâu nhận được hết cả tài học bình sanh của Trương sư phụ. Trương Tam Sơn bắt chước sư phụ họ đánh xích sắt. Trương Tam Vân và Tam Nương mỗi người được sư phụ cho một cây nhuyễn đao sắc như nước. Đầu và đốc đao có móc, có thể quấn tròn lại móc hai đầu vào nhau thành thứ đai lưng dị kỳ. Lúc cần dùng tới, chỉ việc mở móc đó ra, vung mạnh tay một cái là lưỡi đao thẳng tắp dùng được ngay.
Sở dĩ Trương Lãng Tử có được thứ Nhuyễn đao quí báu này là vì sư phụ của họ Trương trước đây là một vị hòa thượng Tây Tạng lúc lâm chung trao lại cho mấy thứ bảo vật này. Bởi thế hình thể hai cây Nhuyễn đao đó không giống thứ đơn đao của Trung Quốc. Chuôi ngắn hơn, lưỡi hẹp ngang, nhưng dài hơn lưỡi đơn đao đôi chút.
Lúc mới khởi đầu, Trương Lãng Tử dạy ba anh em họ Trương ngay ở trong thôn trang. Nhưng khi lập xong Trương gia am, cả bốn thầy cùng lên ở hẳn trên Võ Đang sơn tập luyện. Trương Lãng Tử đem hết cả tài nghệ bình sang những món sở trường truyền hết cho ba đồ đệ thân yêu.
Mười hai năm sau...
Trương Tam Sơn hai mươi ba tuổi, Tam Vân hai mươi mốt và Tam Nương mười tám, cả ba người đều hấp thụ được tất cả các công phu đặc biệt siêu quần của sư phụ. Trương Lãng Tử cũng tự hào rèn luyện nổi ba đồ đệ tài ba.
Thấy các con đã trưởng thành, Trương viên ngoại lần lần trao hết công việc làm ăn trong trang trại cho ba anh em Tam Sơn, rồi thường ngày lên Trương gia am uống rượu đánh cờ tiêu dao ngày tháng cùng Trương Lãng Tử, đàm đạo việc thiên hạ. Tam Sơn càng lớn càng thô kệch, tánh tình tàng tàng y hệt sư phụ. Trái lại, Tam Vân vóc dáng thanh tú, nước da trắng trẻo như một thơ sinh nhàn nhã ít nói cười. Mi thanh mục tú, môi son, không ai có thể ngờ được con người ấy lại có công phu võ thuật tiềm tàng đáng liệt vào hàng cự phách ở Hoa Nam thời ấy. Trương Tam Nương cũng vậy, mặt hoa da phấn còn có tài võ nghệ, cho nên các thanh niên trong khu vực Võ Đang sơn không một người nào dám rắp tâm bắn sẻ, biết rằng dù có hỏi, nàng cũng chẳng ưng thuận nào.
Đọc nhiều cổ thư anh hùng truyện, Trương Tam Nương vẫn ước mong được đi khắp đó đây hành hiệp giống như Hồng Tuyết Nữ, Nhiếp Ẩn Nương thời xưa.
Nói về bọn cướp Hổ Đầu cốc sau khi bị Trương Lãng Tử đánh cho một trận thất điên bát đảo, bèn rút cả về sào huyệt, chôn cất họ Hồ. Không ngờ ít lâu sau, họ Từ cũng bị Trương Lãng Tử đánh ngã, bị ứ huyết thác nốt. Tên trẻ tuổi là cháu gọi Hồ bằng cậu ruột, tên Lưu Nghị bèn giải tán đồ đảng khăn gói lên đường tầm sư học nghệ với ý tưởng một ngày thành tài sẽ trở lại Võ Đang sơn báo thù. Lưu Nghị đi khắp đó đây suốt mấy năm trời. Trong bước giang hồ, y gặp cũng nhiều võ sư nhưng xét về tài nghệ không có một ai khả dĩ thắng nổi Trương Lãng Tử theo ý đoán của họ Lưu.
Mãi đi xuống miền Quảng Tây mới nghe thấy nói với La Phù sơn, Lưu Nghị giật mình chợt nhớ ra đã từng nghe thấy bọn hắc đạo nói về Đắc Đạo đại sư ở cõi Lĩnh Nam trên La Phù sơn thâu nhận đồ đệ với điều kiện dễ dàng, bèn tìm đường đến đó. Qua Liễu Châu, Lưu Nghị thẳng tiến xuống miền Nam, tìm đường đột nhập La Phù sơn lên Thiên Linh tự.
Đắc Đạo đại sư thâu nhận ngay.
Sở dĩ, Lưu Nghị không dám xin nhập học Thiếu Lâm tự là vì nghe thấy chùa này qui luật rất nghiêm ngặt, e vào thì còn dễ nhưng lúc ra rất khó, nên họ Lưu mới cố tìm nơi khác là vì thế. Theo học Đắc Đạo đại sư được trên năm năm, bản lãnh của Lưu Nghị đã khác trước một vực một trời. Họ Lưu bèn xin phép Hạ Sơn. Đắc Đạo ưng thuận ngay. Lưu Nghị sung sướng xuống núi. Lúc đó Thiên Không và Phi Không chưa lên núi nhập học.
Cậy có bản lãnh cao cường, phi thiềm tẩu bích nhẹ nhàng, Lưu Nghị thường trổ thủ đoạn lẻn vào lấy của các nhà giàu chi dùng, giao kết với bọn tà đạo lục lâm. Cũng vì lang thang la cà chỗ nọ nơi kia, nên hai năm sau, Lưu Nghị mới qua Tiêu Anh phủ và thẳng đường đến Võ Đang sơn.
- Các thôn trang ở đây đã khác hơn mười năm trước nhiều, được mở rộng thêm ra, nhà cửa san sát, người nhiều.
Mặt tiền Trương gia thôn vẫn như cũ. Mấy cây liễu xanh cành lá rườm rà rung rinh trước gió. Đây đó, mấy mô đá vẫn y nguyên. Ngau cả mô đá nhỏ mà người mấy năm trước, họ Hồ bị Trương Lãng Tử kéo tay mạnh quá đến nỗi húc đầu bể sọ vào đó cũng vẫn còn kia. Nếu khác họa chăng chỉ còn cụm cỏ quanh thay vì vũng máu năm xưa... Nhận xét tới đây, bỗng nhiên Lưu Nghị cảm thấy bừng bừng nổi giận tiến thẳng tới cổng trang.
Tên gia nhân đang quét cổng thấy một mãnh hán trạc ngoại tam tuần vận võ phục, vai quẩy bọc hành trang, tay cầm cây giáo sắt sầm sầm đi tới mặt đỏ ngầu thì vội ngừng tay chổi, lạ lùng nhìn.
Lưu Nghị hất hàm hỏi tên gia nhân.
- Lão già có nhà không.
- Tên gia nhân này mới vào hầu trong thôn được hơn năm nay nên không hiểu chuyện xưa.
- Hảo hán hỏi lão già nào? Đây không có lão già nào cả! Chỉ có Trương viên ngoại.
Lưu Nghị trừng mắt nhìn dữ dội, khiến tên gia nhân lo sợ lùi lại một bước.
- Trong thôn này có mấy lão già.
- Ta muốn nói về lão già nhỏ bé, hom hem gầy ốm hơn mười năm trước đó! Ngươi hiểu chưa? Gọi hắn ra đây ta dạy!
Đoạn Lưu Nghị chống cây giáo sắt xuống đất đứng chờ trả tiếp :
- Tôi mới làm ở đây có mấy năm nên không hiểu biết chi cả về việc mười mấy năm về trước, lúc tôi còn nhỏ. thôn trang này có nhiều lão trượng lắm...
Lưu Nghị phì cười vì nét mặt ngớ ngẩn của tên gia nhân trẻ tuổi.
- Ta muốn nói đến lão già nhỏ bé biết võ nghệ đó. Y có ở đây không?
- À ra thế! Có, Trương tiên sinh ở đây, nhưng hảo hán muốn hỏi chi? Quý danh là chi để tôi vào báo.
- Mi cứ nói là có người hỏi, vào gọi y ra đây chịu chết, nghe.
Tên gia nhân lùi lại mấy bước lắc đầu :
- Không xưng tên thì tôi xin chịu không dám vào trình, e Nhị lang tôi quở mắng.
Lưu Nghị trợn mắt hoa giáo tiến tới nạt nộ. Tên gia nhân vội chạy vào trong cổng trang qua sân lên tới hành lang trên sảnh đường.
Trương Tam Vân vừa ở trong nhà bước ra thấy y hớt hải liền hỏi :
- Bảo Tứ! Có việc chi sợ hãi vậy?
Bảo Tứ chỉ tay về phía cổng trang.
Thưa Nhị lang, có một mãnh hán cầm dao sắt nạt nộ tôi ngoài cổng rang. Y nói tìm một người già nhỏ bé, gầy ốm, con chắc là Trương tiên sinh vào đây trình báo.
- Được rồi. Ngươi cứ đi làm việc khác để ta vào thưa với Trương tiên sinh và viên ngoại.
Tam Vân vào nhà khách. Trương Lãng Tử và Trương viên ngoại đang uống rượu đánh cờ.
- Bẩm sư phụ có một người nào đó tới gây gổ ngoài cổng trang, hình như muốn tìm sư phụ để đồ đệ ra xem y muốn việc chi.
Không chờ trả lời, Trương Tam Vân quay ngoắt ra ngoài trang thấy mãnh hán khoanh tay đứng chờ. Trước mặt, một cây giáo sắt cắm ngược dưới đất. Bọc hành trang treo trên nhành liễu gần đó. Lưu Nghị đang chờ kẻ thù thì thấy nho sinh bước ra, ngọa nghễ nhìn từ đầu chí chân chàng thanh niên tuấn tú ấy nhếch miệng cười im lặng. Trương Tam Vân ngạc nhiên, không nhận ra tên cướp trẻ tuổi mười mấy năm về trước nữa.
Quả vậy, Lưu Nghị nét mặt đượm phong trần, đẫy đã quắc thước hơn trước nhiều.
- Hảo hán muốn tìm kiếm ai trong bản trang. Đây là Trương gia thôn. Có lẽ hảo hán lầm đường chăng?
- Lầm sao được! Ta muốn kiếm tên lão tặc giết người trên mười mấy năm trước đây. Y còn ở đây hay không? Nếu y sợ hãi, biểu ra đây tạ tội, ta cũng không hẹp hòi gì mà không tha thứ.
Thấy Lưu Nghị hỗn xược, kiêu ngạo Trương Tam Vân cười lạt.
- Nếu tôi không lầm, hảo hán là một khách giang hồ, nhiều từng trải cũng cần có lẽ độ đôi chút mới được! Lão trượng đó là sư phụ tôi, hảo hán muốn hỏi gì?
Bảo Tứ đã nói chuyện cho mọi người trong trang biết, nên họ kéo ra ngoài trang xem sự gì.
Trương viên ngoại và Trương Lãng Tử cũng theo ra. Trương Tam Sơn vắng mặt vì có việc lên Tiêu Anh phủ. Trương Tam Nương ở hậu đường thấy động bèn xin phép mẹ ra xem.
Giữa lúc ấy, Lưu Nghị nghe Tam Vân ôn tồn như vậy thì ha hả cười :
- Thiếu niên chớ có xen vào việc người lớn, có mất mạng lại kêu oan...! A ha! Thằng già kia rồi.
Trương Lãng Tử nhận ngay ra tên tướng cướp mười mấy năm trước, bèn lững thững tiến lên. Nhưng Trương Tam Vân đã nhớ lại, hiểu ngay đây là hậu quả trận đánh cướp trước kia, lúc chàng còn nhỏ dại, bèn cởi áo dài ném cho gia nhân, tiến lên trước...
Lưu Nghị đứng nguyên chỗ cũ chưa hiểu thanh niên hành động như thế nào, thì Tam Vân đã lẹ như chớp nhảy tới rút phắt cây giáo sắt lên, khiến họ Lưu phải nhảy lui lại vài bước, tưởng thanh niên dùng cây giáo đó đánh mình.
Trương Tam Vân cười ha hả liếc nhìn Trương Lãng Tử :
- Giết gà cần gì đến dao mổ trâu! Sư phụ mặc kệ đệ tử.
Nói đoạn, chàng dang tay cầm hai đầu cây giáo dắt uốn cong lại hình móng ngựa rồi liệng giáo trước mặt Lưu Nghị quắc mắt nhìn như tia ra lửa.
- Tên bại tặc này không biết tự lượng sức mình dám tới đây khua môi múa mép. Có gì uốn lại cây giáo này ta coi!
Thấy Tam Vân tuấn tú mảnh khảnh như nho sinh không ngờ lại có sức khỏe công phu dày dạn nhường ấy. Lưu Nghị toát mồ hôi, biết rằng lần này lại gặp phải tay công phu siêu quần nhất chúng. Tuy vậy, họ Lưu vẫn tin ở sức mình, bèn nhặt cây giáo lên, xuống tấn vận tất cả sức lực ở hai tay kéo mạnh, những tưởng vuốt thẳng được cây giáo sắt ra ngay, ai ngờ như chuồn chuồn húc thạch trụ, đỏ mặt tía tai mà chẳng ăn thua chi cả.
Bọn gia nhân và một đoàn người ngựa đi qua đó thấy lạ ngừng lại xem đều cười vang vỗ tay rầm ran, khiến Lưu Nghị mắc cỡ ném cây giáo xuống đất.
- Được lắm! Ta sẽ trở lại trả lời các ngươi về vụ này.
Nói đoạn, Lưu Nghị bước lại chỗ cây liễu lấy gói hành lý đeo lên vai định đi.
Trương Lãng Tử tiến lên nói :
- Lão phu biết hảo hán đã có công luyện tập lại, nhưng công phu đó không được chuyên luyện mà dám tới đây báo thù ư? Đi ăn cướp bị đánh thua. Một kẻ trong khi giao đấu bị té, đầu đập vào đá bể sọ chết.
- Lão tha cho đồng bọn chạy, các người không biết ơn thì thôi, nay còn tới báo thù, còn trời đất nào nữa? Một người còn đối địch không lại huống chi trong thôn này có tới bốn người như vậy, hảo hán định giỡn với tử thần chăng?
Trương Lãng Tử đưa mắt nhìn Trương Tam Nương, tay chỉ vào ngọn giáo trên mặt đất.
Tam Nương hiểu ý bỏ áo dài, bước tới nhạt ngọn giáo kéo thẳng ra như trước, đoạn nàng dang tay lao vút ngọn giáo ra phía đường đi trước mặt xa tới hai trăm bộ.
Mọi người kinh ngạc hoan hô vang động.
Lưu Nghị tái mặt, vác khăn gói đi thẳng. Lúc qua chỗ ngọn giáo cắm ngập xuống đất tới một nửa. Lưu Nghị hai tay cầm cán rút lên không được...
Đang loay hoay chưa biết xử trí ra sao thì bỗng sau lưng có tiếng nói :
- Đừng mất công vô ích, để lão giúp cho.
Lưu Nghị quay lại nhìn thì ra Trương Lãng Tử đã tới sau lưng từ lúc nào, đưa tay trái cầm cán giáo rút phắt lên nhẹ nhàng như không cần phải dùng sức.
Đưa cây giáo cho Lưu Nghị, Trương Lãng Tử cười :
- Thôi, chúc hảo hán lên đường may mắn. Bữa nay nếu có Nhất lang ở nhà thì hảo hán mất mạng rồi đó...
Lưu Nghị đón ngọn giáo, lẳng lặng rảo bước đi.
Trương Lãng Tử mỉm cười lững thững quay về. Tới cổng trang, có một thiếu niên trạc hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi vóc người tầm thước, vận võ phục, lưng đeo cung tên, cắm cây thiên phương họa kích xuống đất chạy tới vái chào...
0
Hồi 12
Múa lê thương, Trương Tam Nương thử thách anh hùng
Phát thần tiễn, Hoàng Hoa Chiếm phục gái thuyền quyên
 
Trương Lãng Tử đáp lễ, chăm chú nhìn thanh niên diện mạo khôi ngô nọ, chưa kịp hỏi thì chàng đã nói :
- Bá phụ quên cháu rồi sao? Chẳng hay người còn nhớ họ Hoàng ở Trường Sa không?
Trương Lãng Tử giẫm chân, vỗ vai thiếu niên nói :
- Vậy mà ta cứ nghi hoặc mãi. Lúc qua Trường Sa, cháu mới mười bốn tuổi, nay đã nghiễm nhiên là một trang hảo hán oai phong nhường này. Hổ phụ sanh hổ tử, cháu quả xứng danh với tước hiệu Trại Lữ Bố! Qua đây lúc nào vậy mà ta không trông thấy? Lệnh thân có mạnh không?
Tráng sĩ họ Hoàng rơm rớm nước mắt :
- Thân phụ cháu mất vừa mãn tang.
Trương Lãng Tử ngắt tiếp :
- Ủa! Tiểu Bá Đương mất rồi sao? Vì lẽ gì?
- Dạ, thân phụ cháu chỉ bị nóng lạnh xoàng mà mất thôi.
- Tiếc quá! Tiếc quá! Mười năm nay ta không đi đâu xa nên không qua thăm phụ thân cháu được, ai ngờ nay đã kể mất người còn. Bây giờ cháu đi đâu?
- Cháu vẫn tiếp tục ngôi bảo phiêu cục của cố phụ. Bữa nay đi cùng mấy người bán sang Hà Khánh phủ, không ngờ được gặp bá phụ ở đây. Lúc nãy cháu không dám gọi vì e cản trở cuộc trổ tài...
- Thôi, ra đây ta giới thiệu với Trương gia, âu cũng là một dịp tốt quen biết thêm mấy trang anh hùng hào kiệt. Nán lại đây ít ngày sẽ lên đường có được không?
Tráng sĩ họ Hoàng suy nghĩ.
Trương Lãng Tử vỗ vai họ Hoàng :
- Ra đây ra giới thiệu đã.
Nói đoạn kéo tay tráng sĩ đó cùng đi.
Họ Hoàng với tay nhổ cây phương thiên hoa kích, đi theo Trương Lãng Tử tới chỗ cha con Trương viên ngoại đứng chờ.
Trương Lãng Tử chỉ Trương viên ngoại bảo họ Hoàng :
- Đây là bạn ta, Trương viên ngoại. Còn hai thanh niên đây là con của viên ngoại, Trương Tam Vân và Trương Tam Nương.
Tráng sĩ vái chào ba người.
Trương Lãng Tử nói tiếp :
- Còn tráng sĩ đây họ Hoàng, con trai của Tiểu Bá Đương Hoàng Thiếu Kỳ bên Trường Sa, tước hiệu Trại Lữ Bố Hoàng Hoa Chiếm, sử dụng cây phương thiên họa kích như thần và tài xạ tiễn bách phát bách trúng không kém chi Lữ Ôn Hầu thuở trước.
Trương viên ngoại và anh em Tam Vân đáp lễ.
Viên ngoại nói :
- Xin mời tráng sĩ vào chơi bản trang.
Trương Tam Vân cũng nói :
- Hoàng nhân huynh nán lại tệ trang chơi vài ngày cho tiểu đệ được lãnh giáo ít điều hay dở rồi sẽ lên đường cũng không muộn.
- Hiện tiểu đệ đang đi cùng mấy người bạn, nán lại đây có lẽ không tiện. Xin để khi khác sẽ đích thân lại hầu.
Trương Tam Vân níu tay Hoàng Hoa Chiếm đi ra chỗ đoàn người, ngựa :
- Nhân huynh cho phép tiểu đệ mời tất cả vào thôn trang, hôm nay cũng trễ rồi.
Hoàng Hoa Chiếm giới thiệu hai người họ Tôn và họ Điền với Trương Tam Vân rồi bảo họ :
- Hôm nay đi Hà Khánh phủ cũng trễ rồi, âu là nghỉ lại đây sáng mai sẽ lên đường.
Tôn, Điền hai người thấy Trương Tam Vân nhã nhặn hiếu khách bèn nói :
- Trương huynh quá yêu thì chúng ta cứ ở lại, mai sẽ lên đường cũng được. Chỉ e cỗ xe ngựa cùng hai gia nhân đây thêm rộn quý trang chăng?
Trương Tam Vân xua tay :
- Không, không, tứ hải gia huynh đệ, nhị vị nhân huynh bất tất phải câu nệ. Nào chúng ta vào trang.
Hoàng Hoa Chiếm nói với Trương Tam Vân :
- Lúc nãy tiểu đệ đi qua đây thấy đông người mới ngừng bước lại tò mò xem có chuyện gì, không ngờ được coi nhân huynh trổ tài thần võ, tiểu đệ rất cảm phục.
- Việc nhỏ mọn đó không ngờ lại làm vướng mắt Hoàng huynh. Trương tiên sinh qua chơi bên Trường Sa với gia phụ, ngu đệ đã được nghe nói và được trông thấy tài biểu diễn tài nghệ. Quả rất đáng phục. Tiểu đệ không ngờ người lại qua ở hẳn nơi đây.
- Dạ, Trương sư phụ ở lại đây truyền dạy võ nghệ cho ba anh em tiểu đã trên mười năm nay rồi. Chẳng hay lệnh tiên phụ có liên lạc thế nào với người?
- Trương tiên sinh và gia phụ là hai anh em bạn thân thiết từ thuở còn thiếu thời. Hiền huynh còn một người anh hay em nữa, sao không thấy ra đây?
- Đó là gia huynh Tam Sơn lên Tiêu Anh phủ có việc nhà, một vài bữa nữa sẽ trở về. Ngu đệ là thứ hai, Tam nương thứ ba. Hoàng huynh nán lại chơi vài ngày, thế nào gia huynh cũng về. Vui tính lắm nhưng cũng rất hay rượu. Uống bao nhiêu cũng vừa.
- Ủa, thế thì giống Trương tiên sinh rồi. Khi trước qua Trường Sa, Trương bá phụ cùng gia phụ mỗi bữa nhậu tới vài cân rượu.
Vào tới trong trang, Tam Vân thân hành đưa Hoàng, Tôn, Điền ba người về phòng riêng.
Trước bữa cơm chiều, sau khi Hoàng Hoa Chiếm đã tắm rửa thay y phục sạch sẽ, Trương Lãng Tử tới phòng riêng.
Hoàng Hoa Chiếm vội vàng đón vào.
- Công việc của cháu ở bảo tiêu cục có phát tài không?
- Dạ cũng được ạ. Hiện nay ở Trường Sa có thêm mấy bảo tiêu cục nữa, nhưng bên cháu nhờ ở tên tuổi của gia phụ nên khách hàng có phần đông hơn. Trừ ra mấy tiêu sư cũ, bây giờ cháu có thêm mấy người bạn nữa hợp tác... Chuyến này sang Hà Khánh phủ gần đây cũng có mục đích mở thêm chi nhánh tiêu cục ở bên đó.
- Cháu nhiều khách hàng bên đó lắm sao?
- Thưa bá phụ, vâng.
- Thường thường cháu hay đi đường nào mà ít khi qua đây?
- Cháu thường qua lối Lôi Gia Trấn, Tần Bình huyện. Nhưng cũng qua Võ Đang sơn luôn, không ngờ bá phụ lại cư ngụ ở hẳn đây. Những năm về sau này, gia phụ thường nhắc tới bá phụ luôn, có ý tiếc không được gặp mặt.
Trương Lãng Tử chép miệng lắc đầu :
- Lang thang bước giang hồ cũng đã nhiều, nên ta lưu lại đây truyền dạy cho ba anh em Trương gia võ thuật, bình sanh mong rằng sẽ lưu lại được chút gì gọi là ích lợi cho hậu thế. Bởi vậy ta không rảnh đi xa như trước được. Không ngờ Hoàng hữu lại quy tiên sớm vậy. Rất đáng tiếc và ân hận biết chừng nào.Hoàng Hoa Chiếm cúi nhìn mũi hài im lặng. Giây lát, Trương Lãng Tử hỏi :
- Hiện nay cháu bao nhiêu tuổi rồi? Đã ở riêng chưa?
- Năm nay hai mươi bảy tuổi. Trước kia thì còn tập luyện. Mấy năm sau này, đại tang vừa mãn lại có công việc bảo tiêu thành thử cũng chưa hề nghĩ tới việc đôi bạn... Mối lái nhiều, nhưng người tâm đầu ý hợp hiếm lắm. Cháu e bị gò bó nên cũng không quan tâm tới vấn đề đó.
Trương Lãng Tử đăm đăm nhìn Hoàng Hoa Chiếm hồi lâu :
- Hiện giờ, chương trình hành động của cháu thế nào, cho biết được không?
- Dạ, bá phụ cũng như cha, được gặp thế này, cháu vui mừng khôn xiết tưởng như phụ thân cháu hoàn sanh vậy, lẽ nào cháu không thưa hết chuyện. Chuyến này sang Hà Khánh phủ xem xét địa thế nơi đặt tiêu cục, để bọn Tôn Chấn, Điền Khánh Thọ ở lại đó. Xong xuôi, cháu về Trường Sa và phái thêm hai người bạn nữa sang đó điều khiển.
- Hiện ở Tiêu Anh phủ không có một Tiêu cục nào cả, nếu sau này công việc ở Hà Khánh phủ hoàn thành, cháu nên tính đến việc mở một chi nhánh nữa ở Tiêu Anh phủ. Công việc làm ăn sẽ vững như đinh ba chân, thâu cả một vùng lớn vào trong tay...
- Cháu đồng ý với bá phụ về điểm này, nhưng còn vấn đề nhân viên cũng hơi khó, cần phải có bạn tâm giao mới được, đó là chưa kể võ nghệ.
Trương Lãng Tử mỉm cười, nheo mắt nhìn Hoàng Hoa Chiếm :
- Lấy một người vợ tài đức song toàn há không hơn một người bạn tâm giao ử?
Hoàng Hoa Chiếm cả cười :
- Thưa bá phụ, thế còn nan giải hơn nữa, tìm đâu ra một nhân vật như thế bây giờ.
Trương Lãng Tử vỗ vai họ Hoàng :
- Cháu lớn tuổi rồi mà ngô nghê như vậy. Thế ra chỉ biết có đường cung múa kích thôi hay sao? Thiếu nữ đảm đang ấy hiện thời đang ở trong khu vực này và cháu cũng đã biết mặt cũng như đã thấy tài lực của nàng...
Hoàng Hoa Chiếm chợt hiểu, nhớ ra Trương Tam Nương, một vị cân quắc anh hùng mà chàng vừa may mắn được mục kích tài nghệ hồi nãy. Chàng nghĩ thầm: “Số phụ nữ tập luyện võ nghệ ở Trường Sa không phải ít, chẳng qua chỉ để biểu diễn cho đẹp mắt thôi. Chớ Trương Tam Nương đây là đồ đệ của bá phụ thì sự chuyên luyện chân truyền tất không còn chối cãi được nữa rồi. Vả lại, sắc kiều diễm của bậc giai nhân cân quắc ấy...”
Trương Lãng Tử thấy Hoàng Hoa Chiếm đờ người ra nghĩ thì mỉm cười hỏi :
- Thế nào, chịu không? Nếu ưng ý ta sẽ làm mai tác hợp cho. Nghĩ chi thừ mặt ra vậy?
Hoàng Hoa Chiếm đỏ mặt đáp :
- Với người tài ấy, cháu lại e rằng họ không ưng cùng cháu phối hợp thôi. Bá phụ dạy thế nào, cháu cũng phải nghe chớ.
Suy nghĩ giây lát, Trương Lãng Tử hỏi :
- Cháu khỏi phải lo. Vả lại, từ ngày ta chia tay cùng Hoàng hữu, cháu vẫn luyện tập điều hòa thâu nhận được võ nghệ bình sanh của thân phụ cháu đấy chớ? Cháu đừng ngại.
- Vâng... Mọi sự nhờ bá phụ tác thành cho. Sớm mai thế nào cháu cũng phải lên đường cho kịp kỳ hẹn với bên Hà Khánh phủ, hai mươi ngày nữa nhất định cháu sẽ trở lại đây. Như vậy bá phụ có thừa thì giờ nói chuyện với Trương viên ngoại.
- Được lắm!
Nói đoạn, Trương Lãng Tử đứng dậy cầm cây phương thiên họa kích dựa bên tường coi.
- Dạ, với cây cung và ngọn kích thiên phương này, chưa bao giờ cháu để nhục họ Hoàng Hoa.
- A, được rồi. Để ta nói chuyện trước với Trương viên ngoại và tổ chức cuộc gặp gỡ cho hai người. Tam Nương là con ngựa hay nhưng bất kham, cháu cũng phải là tay hảo kỵ mã mới được.
Vừa lúc ấy, Trương Tam Vân đi tới, bước vào phòng...
Trương Lãng Tử hỏi Hoàng Hoa Chiếm :
- Ngọn kích này của Hoàng hữu để lại phải không?
- Dạ chính vậy.
Trương Lãng Tử đưa họa kích cho Tam Vân xem.
Trương Tam Vân đón lấy cầm đốc kích đưa tay ra phía trước khen nhẹ nhàng mà đầm tay, mũi kích sáng loáng.
Trương Lãng Tử nói :
- Ta biết món khí giới này được đúc công phu lắm. Toàn thép tốt lọc đi lọc lại tới năm lần, lúc khởi công lại trộn với bốn cân bạc. Toàn thể chỉ nặng có hai mươi bốn cân. Với ngọn kích này, bạn ta đã ngang dọc một thời.
Với lấy cây Điện Tử treo trên tường, Trương Lãng Tử nói tiếp :
- Còn cây cung sắt này nữa, sức mạnh có tới vài ba tạ, mũi tên họ Hoàng chưa bao giờ bắn trật.
Trương Tam Vân dựng họa kích vào góc nhà, đón lấy cung, rút mũi tên sơn vàng có đề chữ “Hoàng” máu đỏ, đặt lên dây căng thử, thấy dẻo dai mạnh mẽ thì tấm tắc khen ngợi :
- Thế nào tiểu đệ cũng xin Hoàng huynh trổ tài võ dũng và lối xạ tiễn bách phát bách trúng mới được.
Hoang Hoa Chiếm tươi cười :
- Xin tuân lệnh, nhưng phải để chuyến sau. Sáng sớm mai, ngu ngu đệ tạm biệt sang Hà Khánh phủ đã, khi trở về thế nào cũng qua đây lãnh giáo.
Trương Lãng Tử nói xen vào :
- Ta đã bảo Hoàng lang rồi, Chắc y sẽ trở về đây.
Trương Tam Vân vui vẻ :
- Có thế chứ! Bây giờ mời sư phụ và Hoàng huynh lên sảnh đường dùng bữa.
Ba người ra khỏi phong mời Tôn Chấn và Điền Khánh Thọ cùng đi.
* * * * *
Hôm sau, khi bọn Hoàng Hoa Chiêm đi khỏi rồi, Trương Lãng Tử ngỏ ý với Trương viên ngoại về việc hôn nhân của Tam Nương.
Trương viên ngoại nói :
- Tiên sinh coi cháu cũng như con, hơn nữa đối với Tam Nương còn có tình sư đệ thì lẽ cố nhiên, tiên sinh cũng để tâm kén chọn khách đông sàng cho cháu cũng như tôi. Vợ chồng tôi thế nào cũng xong, chỉ e con Tam Nương tánh nết càng cường, để tôi bảo mẹ nó hỏi ý nó xem sao.
Trương Lãng Tử gật đầu!
- Lẽ cố nhiên là phải vậy rồi. Bọn già chúng ta đau nỡ ép duyên. Viên ngoại thử hỏi ý kiến Tam Nương xem thế nào, ít ngày nữa Hoàng Hoa Chiếm về đây thì vừa.
- Xin vâng, tôi sẽ bàn với tiện nội tức khắc.
Tối hôm ấy, Trương viên ngoại đem việc Trương Lãng Tử muốn làm mai Tam Nương cho họ Hoàng nói với Đậu thị và Trần thị.
- Phu quân thấy họ Hoàng thế nào?
- Y quả là một trang hảo hán đáng mặt con nhà văn võ đầy đủ. Cứ một điều nó là con một của ban tâm giao với Trương tiên sinh cũng đủ bảo đảm rồi.
- Sao phu quân không giữ y nán lại đây thử tài xem sao, có chắc chắn không?
- Y có việc gấp sang Hà Khánh phủ mở thêm chi nhánh bảo tiêu cục. Sẽ trở về đây.
Trần thị hỏi :
- Tam Nương đã biết mặt họ Hoàng chưa?
- Hai đứa trông thấy nhau rồi, hôm qua lúc tên cướp tới và gây sự đó.
- Thế thì được rồi. Phu quân lánh đi, mặc chị em tôi nói chuyện với Tam Nương, nó đó e lệ.
Trương viên ngoại đứng dậy :
- Các bà nên lựa lời cho xong việc. Họ Hoàng đáng mặt giai tế lắm. Vả lại con Tam Nương cũng lớn tuổi lắm rồi, nếu cứ chiều để nó chọn lựa kẻ ngang tài thì biết bao nhiêu năm nữa!
Đậu thị nguýt chồng :
- Đó là lỗi phu quân. Hai đứa con trai đã vậy, nhưng chính phu quân cho phép con Tam Nương theo học võ nghệ nên nó mới đâm ra bướng bỉnh như đó! Đời thuở nhà ai mà con gái lại múa gươm đao loang loáng, bẻ sắt đập đá thì còn chồng nào mà dám lấy nữa! Tới bây giờ chưa có người nào hỏi lấy nó đấy. Lỡ nó đòi đấu với họ Hoàng thì sao?
- Thì cho nó đấu chứ sao! Bà tưởng như chỉ có con bà là đệ nhất thôi, phải không. Thời buổi này cho con theo đòi võ nghệ để nó tự phòng thân. Nếu nó căn cứ vào bản lãnh để lấy chồng thì phải lập “Tuyển phu đài”. Hai người liệu lời dạy cho nó hiểu, nghe chưa?
Nói đoạn, Trương viên ngoại đi ra.
Trần thị cho nữ bộc gọi Tam Nương vào. Tam Nương đang lâu cây Nhuyễn đao ở phong riêng thấy mẹ gọi liền cất đao, tất tưởi chạy đến thấy cả Đậu thị, Trần thị ở đó.
- Thưa mẫu thân kêu con có việc chi?
Hai người nhìn kỹ Tam Nương từ đầu đến chân. Quả nhiên, nàng đã nghiễm nhiên là một thiếu nữ xinh đẹp, hồng hào khỏe mạnh.
Thấy hai mẹ chăm chú nhìn mình, Tam Nương lấy làm lạ, nhưng không dám hỏi thêm, đành đứng im bên chiếc kỷ.
Trần thị nói :
- Cho con ngồi xuống ghế. Năm nay con bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?
- Ủa, mẫu thân quên tuổi con rồi sao? Con tuổi Đinh Mùi, năm nay đúng hai mươi tuổi chẵn.
Đậu thị nói :
- Chao ơi! Con giá hai mươi tuổi lớn lắm rồi như gia đình khác thời đã lấy chồng có con rồi đó.
Nghe nói tới việc chồng con, Tam Nương thẹn, mặt đỏ ửng trông càng xinh đẹp bội phần.
Đậu thị nói tiếp :
- Trước kia ta kết bạn với phụ thân con từ năm mười lăm tuổi, phận dâu con phải đầy đủ rồi, nay con đã đôi mươi mà hàng ngày chỉ lo việc gươm giáo côn quyền hiểu việc tề gia nội trợ, cũng sướng thật! À, đoàn người ngựa nào đó đã đi chưa?
- Bẩm mẫu thân, họ đi sáng sớm nay rồi ạ.
- Bọn ấy là những ai, con có biết không?
- Tất cả năm người, ba người chủ và hai mã phu. Hình như đều có võ nghệ, vì họ mang võ khí. Thấy nhị huynh nói có người họ Hoàng kêu sư phụ con bằng bá phụ, quen biết lâu rồi thì phải...
- Họ Hoàng người thế nào?
- Con không rõ lắm, hôm qua con về nhà trước, chớ không theo dõi câu chuyện cho tới cùng.
Đậu thị nhìn Trần thị cùng mỉm cười :
- Mẹ nói thiệt cho con hay, phụ thân họ Hoàng là bằng hữu của Trương tiên sinh, bởi vậy người muốn làm mai hỏi con cho y. Con nghĩ sao?
Tam Nương đỏ mặt nín thinh.
- Kìa, mẹ hỏi ý con thế nào?
- Xin mẫu thân chớ rầy con, nhưng con cần phải biết tánh tình và tài nghệ người ấy thời mới trả lời được.
- Miễn người ta hiền lành, con nhà gia giáo là đủ rồi, chớ bộ con định thử đấu võ với họ sao?
- Thưa mẫu thân, chính vậy đó? Nếu họ thua thì cứ việc đào tẩu, đừng nói tới việc hỏi han cho phiền!
- Ngang ngược thiệt! Con nhất định thế chứ?
- Dạ, nhất định rồi.
Đậu thị cả cười đứng dậy vuốt tóc Tam Nương :
- Con tôi bướng bỉnh thế này khéo không bị ế chồng mất.
- Thưa mẫu thân, ế cũng đành vậy, nhưng con quyết không thể làm khác được.
- Liệu nhé! Mẹ nghe thầy nói họ Hoàng võ nghệ cao cường lắm. Khéo không thì thua đó.
Mẫu thân vững tâm, con tin ở nơi con lắm. Còn một điều nữa là con không muốn xa nhà.
- Được rồi ta sẽ nói chuyện lại với phụ thân con. Bây giờ cho con về phòng an nghỉ đi.
Trương Tam Nương đĩnh đạc lạy hai mẹ lui ra.
Trần thị cười, bảo Đậu thị :
- Con bé này cứng cỏi như con trai vậy.
Mấy hôm sau, Tam Sơn ở Tiêu Anh phủ về. Trương viên ngoại đem việc Trương Lãng Tử muốn làm mai hỏi Tam Nương cho Hoàng Hoa Chiếm nói lại cho Tam Sơn, Tam Vân nghe, Tam Sơn chưa biết họ Hoàng nên đưa mắt nhìn Tam Vân hỏi ý kiến.
Tam Vân nói :
- Nếu việc ấy thành tựu là một sự hay. Theo như ý con, Hoàng Hoa Chiếm là người tài ba lỗi lạc rất xứng đáng với Tam Nương. Nếu em con đòi đấu võ, cũng nên ưng thuận, may ra vì thế họ hiểu và phục nhau hơn. Theo ý mẫu thân, khi nào họ Hoàng về đây, thân phụ nhờ Trương tiên sinh hỏi rõ ngày sanh tháng đẻ của y để xem có hạp không rồi mới nhận lời sau.
Trương viên ngoại gật đầu :
- Điều đó ta nghĩ tới rồi, hà tất phải thắc mắc.
- Còn một việc nữa. Mẹ con có một Tam Nương là gái không muốn nó xa nhà, nghe nói họ Hoàng hiện nay cha mẹ mất cả rồi, liệu y có thể ở rể được không?
Y còn trông nom bảo tiêu cục ở Trường Sa. Chuyến này sang Hà Khánh phủ cũng không có việc chi khác là sửa soạn mở thêm chi nhánh bảo tiêu tại đó. Công việc hoạt động như vậy, ở rể sao được? Trương tiên sinh cũng đã dự tính việc ở rể. Để ta liệu sau. Nói cho mẫu thân biết khỏi lo phiền.
Quả nhiên, hai mươi hôm sau, Hoàng Hoa Chiếm một người một ngựa trở lại. Trương Tam Vân mừng đón. Giới thiệu với Tam Sơn và cho gia nhân lên Võ Đang sơn báo Trương viên ngoại và Trương sư phụ biết. Hoàng Hoa Chiếm thấy gia đình họ Trương niềm nở quý mến mình thì rất đỗi cảm kích. Trước kia, Trương Tam Nương rất tự nhiên, chuyến này nàng gìn giữ không chạy ra vào nữa. Tuy vậy, nàng cũng kín đáo nhìn xem họ Hoàng kiểu cách thế nào. Chàng quả không hổ danh con nhà võ, cử chỉ đàng hoàng, giọng nói dõng dạc, vóc người tầm thước, sắc diện khôi ngô tuấn tú, đeo cung, cầm thiên phương họa kích coi y hệt Lã Phụng Tiên đời Hán.
Trương Tam Nương nghĩ thầm :
- Bề ngoài oai dũng lắm, nhưng không hiểu tài nghệ ra sao. Đời này thiếu chi kẻ tốt mã mà thiệt ra hèn kém tệ hại.
Nghĩ tới đây, Tam Nương tự cải chính :
- Không lẽ Trương sư phụ lầm người! Dù sao phải thử tài lực người mới được.
Được tin Hoàng Hoa Chiếm trở lại, Trương Lãng Tử và viên ngoại về thôn trang, tay bắt mặt mừng.
Họ Hoàng giữ lễ độ lạy chào.
Trương Lãng Tử hỏi riêng ngày sanh tháng đẻ của Hoàng Hoa Chiếm rồi báo cho Trương viên ngoại biết. Thầy số cho biết hai tuổi rất hạp nhau, có thể thành vợ thành chồng được. Tối hôm ấy, Trương viên ngoại làm bữa tiệc gia đình ở sảnh đường, cửa mở lớn.
Đậu thị và Trần thị đứng ở trong rèm nhìn ra thấy họ Hoàng mặt mày sáng loáng, cử chỉ đĩnh đạc thì có lòng mừng.
Trương viên ngoại nói :
- Tráng sĩ thiệt xứng đáng là bực đại trượng phu biết giữ chữ tín, lão hủ sửa soạn bữa rượu này để tỏ lòng ái mộ anh hùng.
Hoàng Hoa Chiếm chắp tay nói :
- Cháu là bực con cháu trong nhà được viên ngoại quá thương trọng đãi, thiệt là cảm kích muôn vàn.
Mọi người nhận tiệc ăn uống rất đỗi vui vẻ. Hoàng Hoa Chiếm kể chuyện lập xong bảo tiêu cục bên Hà Khánh phủ cho mọi người nghe. Rượu được vài tuần, Trương Lãng Tử khởi đầu :
- Công việc của Hoàng điệt bận rộn như vậy, lập gia đình cho có người giúp đỡ có hơn không?
Hoàng Hoa Chiếm đỏ mặt :
- Cháu đi đây đó luôn luôn nên cũng chưa nghĩ tới việc kén chọn bạn trăm năm.
Trương viên ngoại đưa mắt nhìn Trương Lãng Tử, rồi nói với họ Hoàng :
- Tiện nữ Tam Nương nghe đại danh tráng sĩ, nay nhân dịp tráng sĩ qua đây, ý muốn lãnh giáo vài đường họa kích của khách anh hùng, ước ao không nỡ chối từ.
Biết rằng Tam Nương muốn thử tài, Hoàng Hoa Chiếm nhã nhặn chối từ :
- Cháu tài hèn sức mọn, đâu dám đương đầu cùng tiểu thư và nhị nhân huynh đây là người đã từng hấp thụ công phu chân truyền của Trương bá phụ. Xưa kia, chính ngay phụ thân cháu cũng còn phải nhường bước huống chi cháu ngày nay?
Trương Lãng Tử gạt đi :
- Hơn với kém nói làm chi! Người nhà tập dượt với nhau cho vui mà... Tài đánh kích phương thiên và xạ tiễn bách phát bách trúng của họ Hoàng khét tiếng Hồ Nam, hảo hán giang hồ ai còn không biết, thử đấu vài hiệp chơi cho bàn tiệc vui thêm nào!
Trương Tam Vân bèn sai gia nhân đốt đuốc thắp đèn ở sân cho thiệt sáng. Người trong trang biết sắp có cuộc đấu võ giữa Tam Nương và họ Hoàng, kéo cả ra đứng quanh sân xem, Trương viên ngoại sai giai nhân mời Tam Nương ra. Một mặt Trương Lãng Tử cũng cho người xuống phòng riêng lấy họa kích và cung tên lên thảo đường.
Hồi lâu cửa rèm vén mở, một thị nữ xách đèn lồng đi trước. Trương tiểu thư gọn gàng trong bộ võ phục gấm thiên thanh băng trắng, ngoài choàng chiếc áo khoác xanh dương, tha thướt theo sau. Đi sau cùng là một thị nữ nữa, vác ngon Lê Hoa thương đầu nhỏ nhọn hoắt sáng loáng, gù đỏ. Tam Nương dịu dàng tiến tới bàn tiệc bái kiến Trương sư phụ, phụ thân và hai anh. Đoạn, nàng nghiêng mình chào họ Hoàng.
Hoa Chiếm kín đáo nhìn Tam Nương, thấy nhan sắc kiều diễm nhưng oai dũng anh thư, đáng mặt trang nữ kiệt tài đao kiếm.
Trương Lãng Tử đứng lên nói :
- Đôi bên muốn so tài cao thấp, phải làm thế nào cho phân rõ được thua, chớ không được chém giết nhau chí mạng, cần phải lựa tay không được gây thương tổn.
Trương Tam Vân biết ý, sai gia nhân vào nhà trong lấy một giải lụa xanh dài và một cái ngù bông màu hường ra.
Tam Vân đưa giải lụa xanh cho Hoàng Hoa Chiếm buộc lên mớ tóc búi ngược, và đưa ngù bông cho Tam Nương gài bên mái tóc mây huyền.
Trương Lãng Tử nói :
- Đôi bên khá giữ gìn giải lụa và ngù bông cho cẩn thận. Ai để mất sẽ bị coi như là thua... Nào xin mời ra sân.
Trương Tam Nương bỏ áo ngoài ném cho thị nữ để lộ ra cây Nhuyễn đao mắc vòng quanh thắt lưng như một chiếc đai. Nàng cầm cây Lê Hoa thương lững thững bước ra sân dịu dàng uyển chuyển.
Hoàng Hoa Chiếm rất đỗi cảm phục, lĩnh ý đứng dậy cầm phương thiên kích theo gót Tam Nương đi ra kiêu hùng như Lữ Bố. Ai nấy đều khen thầm đôi trai tài gái sắc.
Ngoài đèn đuốc, đêm ấy trăng sao vằng vặc. Chị Hằng lơ lửng giữa bầu trời lấp lánh như kẻ tò mò muốn được xem rõ đôi hào kiệt anh thư nỗ sức đấu trận thư hùng.
Trương Tam Nương cầm ngang cây thương Lê hoa đứng bên tả. Hai a hoàn đứng hầu ngay phía sau. Hoàng Hoa Chiếm xách họa kích đứng bên hữu, giải lụa xanh gài trên tóc phất phơ trước làn gió nhẹ. Chàng nhận thấy người đẹp có bản lãnh tuyệt vời đã thọ giáo được của Trương sư phụ. Tam Nương liếc nhìn lên hành lang thấy hai mẹ cũng ra coi trận đấu, thì khẽ mỉm cười.
Trương Lãng Tử vỗ tay ra hiệu :
- Nào, hai bên nhập cuộc đấu so tài...
Hoàng Hoa Chiếm tiến lên một bước khẽ nghiêng mình :
- Xin mời tiểu thư đi trước.
Trương Tam Nương cúi đầu đáp lễ, miệng hoa tươi tỉnh :
- Tráng sĩ tha lỗi...
Đoạn, nàng hoa một đường thương nhẹ nhàng xông thẳng khai trận. Không dám khinh suất, Hoàng Hoa Chiếm điều động họa kích nhập trận vùn vụt như mây giục gió vần, đón đỡ những đường thương tuyệt diệu vô cùng kỳ ảo của Tam Nương. Ngọn thương Lê Hoa lượn trên rẽ dưới biến ảo như giao long quẩy khúc, rít lên từng chập nghe rợn gáy kinh hồn. Nhưng ngọn kích phương thiên của Hoàng Hoa Chiếm cũng không vừa, dữ dội hung hãn tựa mãnh hổ lìa non, lấp lánh như muôn vạn ánh sao rơi quấn sát đường thương của người đẹp, khiến Tam Nương đem hết tài năng chuyên luyện cũng không sao thủ thắng ngay được. Quả là kỳ phùng địch thủ tướng ngộ lương tài.
Hai bên vừa tranh đấu vừa khen thầm nhau hảo võ nghệ. Một bên được Trương sư phụ hết lòng truyền dạy, một bên sẵn ngón võ gia truyền diễn nên những hiệp đấu rùng rợn kỳ ảo, khiến người xem nhiều lúc kinh sợ bàng hoàng đến nghẹt thở. Thấy đánh lâu, ngọn Lê Hoa thương đã biến nhiều ngón tài tình chân truyền mà không áp đảo nổi đường kích của địch thủ, Tam Nương nóng ruột quyết đem đường thương bí truyền ra đàn áp kỳ được. Nàng đưa cán thương vụt mạnh ngang hông họ Hoàng rồi nhảy lùi lại phía sau...
Tráng sĩ không gạt đốc thương nhưng cũng lùi lại tránh, biết ngay Tam Nương dùng thế trá Thâu Mã Hồi Trào.
Né nhìn không thấy họ Hoàng rượt theo Tam Nương mỉm cười, nhưng quay ngoắt lại nhún bật người lao ra phía trước mũi thương đưa thẳng ngực đối phương... Đó là thế tối độc Triệu Tử Phiên Thương trong bài thương gia truyền nổi tiếng của họ La đời Đường.
Mọi người toát mồ hôi lo thay cho Hoàng Hoa Chiếm trước lối đánh vừa mềm mại vừa dữ dội của Tam Nương.
Trên hành lang, Trương Lãng Tử, Tam Sơn, Tam Vân tấm tắc khen thầm đường thương của Tam Nương quả thật đã nhập diệu. Nhưng Hoàng Hoa Chiếm lanh lẹ dị thường né mình sang một bên tránh mũi thương nguy hiểm ấy, đồng thời tay tả cầm đốc kích rút vào sườn bên hữu, tay hữu đưa thẳng ra phía trước lạng mũi kích hớt vào đầu Tam Nương theo thế Phụng Tiên Bạt Kích. Đòn này cũng là một thế tối hiểm trong bài Mã Bộ Phương Thiên Kích Ngũ Thập Bát Thế mà xưa kia Lữ Ôn Hầu thời Hậu Hán ưa dùng nhất.
Trên hành lang, Trương Lãng Tử giậm chân lo lắng. Tam Sơn đập hai bàn tay vào nhau hét lớn: “Tối nguy!”
Đồng thời mọi người không ai bảo ai mà cùng thốt kêu: “Chao ôi”... Nhưng, cùng lúc ấy, Tam Nương cúi đầu lánh kịp, chiếc ngủ bông màu hường bị mũi kích nhập thần hớt bắn xuống sân như chiếc hoa rụng. Tiếng vỗ tay rầm rầm hoan hô vang dội và dội lớn hơn lên khi họ Hoàng chưa kịp thâu kích về thì hiểu ngay giải lụa xanh gài trên tóc chàng vừa bị mũi thương tài tình của Tam Nương quấn lấy giựt mất rồi giữa lúc chàng hớt đứt ngủ bông.
Trương Lãng Tử vỗ tay cười ha hả :
- Quả là anh hùng tương ngộ! Hay quá! Hay quá! Thôi, ngừng đấu, Dữ lắm rồi. Huề.
Hoàng tráng sĩ đưa mắt nhìn người thục nữ anh thư. Hai nụ cười kín đáo nở nhẹ trên đôi môi, hai con tim cùng thấy run lên một điệu yêu đương ngây ngất, Hoàng Hoa Chiếm thâu kích lại, cúi xuống lượm ngù bông đưa trả lại Tam Nương. Đồng thời nàng cũng dốc mũi thương xuống gỡ vải lụa trao lại cho tráng sĩ họ Hoàng. Tràng pháo tay lại nổ vang dậy.
Tam Nương sắc diện hồng hào kiều diễm lạ thường. Nàng trao cây Lê Hoa thương cho thị nữ vác vào hậu đường, nghiêng mình chào Hoàng Hoa Chiếm, rồi nhón nhén đi thẳng lên hành lang vào nhà trong. Họ Hoàng cầm ngang ngon kích đáp lễ mỉm cười đa tình, rồi cũng tiến lên thềm. Trương viên ngoại sai gia nhân đón lấy cây phương thiên kích dựng vào sảnh đường, rồi kéo họ Hoàng tới chỗ Đậu thị và Trần thị giới thiệu.
Hoàng Hoa Chiếm vái lạy, hai phu nhân đỡ dậy.
Trương viên ngoại nói :
- Tráng sĩ ra dùng rượu giải lao đã.
Hai người trở ra bàn tiệc.
Trương Lãng Tử rót một ly rượu đầy đưa cho Hoàng Hoa Chiếm.
- Ta xin mừng hiền biệt ly rượu anh hùng. Uống cạn!
Hoàng Hoa Chiếm cảm tạ tiếp lấy uống một hơi cạn!
Trương viên ngoại cũng mời một ly :
- Lão hủ cũng kính mừng tráng sĩ.
Hoàng Hoa Chiếm đỡ lấy uống cạn.
Tam Sơn, Tam Vân mỗi người cùng mời thọ Hoàng một ly.
Hoàng Hoa Chiếm nhân uống hết. Đoạn chàng cũng rót rượu kính mời Trương viên ngoại :
- Tiểu sinh xin mừng viên ngoại đã sanh lệnh nữ tài ba như bực tu mi.
Trương viên ngoại vui vẻ uống cạn.
Họ Hoàn lại rót ly khác dâng Trương Lãng Tử.
- Cháu mừng bá phụ có một nữ đồ đệ tài sắc song toàn.
Trương Lãng Tử ha hả cười, uống cạn rồi nói nhỏ vào tai Hoàng Hoa Chiếm :
- Bằng lòng không?
Hoàng Hoa Chiếm không trả lời, mỉm cười, rồi rót hai ly nữa mời anh em Tam Sơn :
- Mừng nhị vị hiền huynh có lệnh muội cân quắc anh thư.
Tam Sơn vỗ vai họ Hoàng nói :
- Chà! Mời tôi thì phải một tô rượu chớ dùng ly này nhỏ quá.
Tam Vân nhìn Tam Sơn cười :
- Đại huynh lúc nào cũng nói giỡn. Uống đi chớ.
Hai người uống cạn. Hoàng Hoa Chiếm định quay về chỗ ngồi thì Tam Sơn đã tóm chặt lấy tay :
- Nhân huynh đi đâu đấy? Còn ngón xạ tiễn nữa, định giấu nghề chăng? Nhân lúc này đông đủ, biểu diễn cho xem chớ!
Mọi người cùng tán thưởng. Trương Lãng Tử nói :
- Phải đó. Hiền điệt trổ tài Lữ Bố xạ kích Viên môn xem nào.
Xưa kia Hoàng Hữu bắn tên hay chẳng kém chi Dưỡng Do Cơ thuở trước.
Hoàng Hoa Chiếm nói :
- Xin tuân lệnh, nhưng nếu có bắn trượt cũng chớ cười nhé!
Nói đoạn, chàng lấy miếng giấy trắng dán vào khôn mũi kích rồi bảo một gia nhân vác kích ra cuối sân, dựng cây kích xuống gạch giữ lấy cho thẳng. Chàng lại lấy hai ngon bạch lạp lớn thấp lên đưa cho hai gia nhân khác bảo đứng gần chỗ người giữ kích. Xong đâu đấy, Hoàng Hoa Chiếm đeo ống tên cầm cung Điện Tử bước ra sân.
Thấy nói họ Hoàng xạ tiễn, Đậu thị, Trần thị và Tam Nương cũng kéo ra xem. Đứng kín đáo sau hai mẹ ở góc hành lang, Tam Nương nhận kỹ thấy Hoàng Hoa Chiếm uy dũng rất xứng đáng với tước hiệu giang hồ Tiểu Lữ Bố của chàng.
Hoàng Hoa Chiếm quay lại hỏi Tam Vân :
- Từ đây tới cây kích có được trăm bộ không hả hiền huynh?
- Được lắm chớ! Ít nhất cũng dư trăm bộ.
Hoàng Hoa Chiếm bảo tên gia nhân quay lưng lại thảo đường cho khỏi sợ. Đoạn chàng khẽ dang hai chân, tay tả cẩm cung giương thẳng, tay hữu rút tên đặt vào dây cung sắt uốn tròn như vành trăng đẩu đầu tháng...
Tách! Tiếng dây cung bật khô khan. Mũi tên vút đi như lằn chớp đen xiên qua ổ kích rạch đôi miếng giấy dán ở đó. Tiếng vỗ tay hoan hô nổi dậy... Bỗng, Hoàng Hoa Chiếm rút luôn hai mũi tên một lúc, cặp một mũi vào ngón tay tả còn một mũi đặt lên dây... Mọi người đang mải miết theo dõi thì hai tiếng dây cung bật khô khan liên tiếp nhau. Hai ngọn bạch lạp đang cháy leo lét bị hai mũi tên cắt đứt bấc tắt ngụp. Hai tên gia nhân không kịp kinh ngạc nữa thì phận sự của chúng đã rồi.
Đó là lối bắn liên châu của họ Hoàng. Tiếng hoan hô khen ngợi lại vang dậy.
Hoàng Hoa Chiếm hạ cung trở lên thềm nhà vào thảo đường. Trương Lãng Tử rất đắc ý về công phu gia truyền luyện tập của họ Hoàng, bỏ công giới thiệu.
Còn viên ngoại và anh em Tam Sơn, Tam Vân khen ngợi tài xạ tiễn bách phát bách trúng luôn miệng. Mọi người trở lại bàn tiệc, gia nhân đem các thứ ăn nóng lên và ai nấy ăn uống rất vui vẻ. Trương viên ngoại đưa mắt nhìn Trương Lãng Tử, khẽ gật đầu.
Biết ý, Trương Lãng Tử bảo Hoàng Hoa Chiếm :
- Viên ngoại đây có mình Tam Nương là gái nên vẫn có ý kén chọn bực giai tế anh hùng. Cháu chưa có vợ, tôi đứng giữa quen thân cả đôi bên, muốn tác thành mối duyên lành này, chẳng hay cháu nghĩ thế nào?
Lòng đã xiêu xiêu, Hoàng Hoa Chiếm cung kính đáp :
- Bá phụ có lòng thương tác thành cho thì còn chi bằng, chỉ e viên ngoại và Trương tiểu thư chê bất tài không xứng đáng thôi.
Trương viên ngoại nói :
- Sanh con lớn lên, cha mẹ nào cũng mong các con thành vợ nên chồng. Tuy mới quen biết, nhưng vì Trương tiên sinh đây thân tình cả hai họ, thì cũng kể như hiểu biết nhau từ lâu rồi. Túc hạ có lòng mến không chê tiện nữ, tôi rất hoan hỉ về việc này...
Trương Lãng Tử cả cười :
- Hai bên cùng bằng lòng thuận ý, hay lắm rồi, cháu Hoàng hãy tới lạy tạ ơn nhạc phụ. Và Trương viên ngoại cũng nên nhận lễ đó làm tin...
Hoàng Hoa Chiếm liền đứng dậy tới trước mặt Trương viên ngoại quỳ lạy :
- Xin nhạc phụ hãy nhận lễ này cho tiểu tế từ nay được coi như người nhà.
Trương viên ngoại đỡ họ Hoàng dậy.
- Hiền tế đứng lên, các con nên đôi giai ngẫu khiến ta rất vui lòng và hãnh diện ở nơi hiền tế là một trang hiền tài.
Hoàng Hoa Chiếm lại quay sang thi lễ cùng Tam Sơn và Tam Vân gọi hai người là trưởng huynh và nhị huynh.
Tam Sơn, Tam Vân kêu Hoàng Hoa Chiếm là tam đệ.
Họ Hoàng tới trước Trương Lãng Tử cung kính lạy tạ.
- Chà! Ta cũng như phụ thân cháu. Tác thành việc chồng vợ cho cháu là bổn phận của chính ta. Cha mẹ cháu linh thiêng chắc cũng vui lòng.
Trương Tam Sơn cười lớn :
- Cả nhà phải mời ông mai ly rượu để tạ công chứ!
Mọi người chuốc chén ăn uống rất vui vẻ. Họ Hoàng tháo viên ngọc đeo ở cổ của mẫu thân chàng làm sính lễ. Thị nữ đang đứng sau rèm cửa biết chuyện, vội chạy vào thưa lại hai phu nhân. Tam Nương cũng đang ngồi hầu chuyện mắc cỡ vội đứng lên về tư phòng.
Đậu thị nói theo :
- Có ý trung nhân rồi, không có được nhõng nhẽo nữa, nghe?
Trương viên ngoại chọn ngày lành tháng tốt sửa soạn tư trang cho Tam Nương, làm lễ thành hôn cho đôi trẻ. Tiệc cưới rất linh đình mời tất cả bốn thôn như hội tới mấy ngày. Ai ai cũng khen đôi trai tài gái sắc, lễ vật đem tới chật cả một phòng.
Từ đó, vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm ở luôn tại Trương gia thôn hơn một tháng. Mấy anh em ngày đàm luận, luyện tập võ nghệ rất tâm đầu ý hạp. Một hôm, Hoàng Hoa Chiếm nói với vợ chồng Trương viên ngoại :
- Hiện thời cha mẹ tiểu tế đã mất cả, thì chúng con ở lại đây hầu nhạc phụ, nhạc mẫu là một việc rất phải. Nay con muốn cùng Tam Nương qua Trường Sa trước hết để chào hỏi giới thiệu cùng bà con quyến thuộc bên ấy, sau là thu xếp cắt đặt lại việc bảo tiêu cục. Như vậy, chúng con có thể an tâm lập căn cứ bên gia đình tại đây và đi lại kiểm soát công việc tại hai nơi như thường lệ được.
Trương viên ngoại ưng thuận :
- Hiền tế bàn luận xác đáng. Chuyến này là lần đầu Tam Nương đi xa, các con nên chọn ngày lành cho cẩn thận.
Trương Tam Sơn cũng muốn sang bên Trường Sa chơi bèn xin phép cha mẹ đi cùng vợ chồng Tam Nương.
Đậu thị và Trần thị bảo riêng cùng con gái :
- Từ tấm bé tới giờ con chưa từng đi xa. Vậy nên tiểu tâm cho mẹ an tâm nhé.
Tam Nương cung kính vâng lời :
- Con đi một mình cũng còn chẳng sợ nữa là có trưởng huynh và nhà con đồng hành. Xin mẹ cứ bình tâm chẳng nên lo nghĩ e hao tổn tinh thần.
Mấy hôm sau, vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm, Trương Tam Sơn lưng đeo hành lý vào lạy chào cha mẹ, từ biệt cùng Trương Lãng Tử, và Tam Vân lên ngựa ra đi. Thiên phương họa kích và Lê Hoa thương được gài vào bao da dọc theo sườn ngựa. Họ Hoàng đeo đoản kiếm, Tam Nương đeo Nhuyễn đao vòng quanh đai lưng, Còn Trương Tam Sơn thì chỉ thắt quanh lưng chiếc xích sắt của sư phụ nhường cho. Ba người qua Tiêu Anh phủ và từ đó mới thẳng đường đi Trường sa.
Công việc bảo tiêu cục họ Hoàng ở Trường Sa rất thịnh vượng. Hoàng Hoa Chiếm phải gọi thêm tiêu sư và chỉ định vị tiêu sư lão thành hơn hết làm quản lý...
Ở Trường Sa hơn hai tháng, công việc điều hòa, vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm lại cùng Trương Tam Sơn qua Tần Bình huyện, Lôi gia trấn tới Hà Khánh phủ. Nán lại Hà Khánh phủ non một tháng rồi ba anh em mới trở về Võ Đang sơn. Vừa đi vừa về mất ngót bảy tháng trời là vì không cần đi gấp, nơi nào phong cảnh đẹp cùng nán lại ngao du. Về tới nhà, ba người mới biết là có tin mừng. Trương viên ngoại hỏi con gái họ Liêu cho Trương Tam Vân, sang Xuân sẽ cưới. Đậu thị và Trần thị thấy Tam Nương trở về rất mừng rỡ. Tam Nương lấy mấy quý vật mua được ở Trường Sa về biếu cha mẹ, và kể chuyện dọc đường cho hai mẹ nghe.
Mùa Xuân năm sau, Trương Tam Vân cưới Liêu thị, tiệc tùng rất linh đình. Thỉnh thoảng vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm lại đi Trường Sa và Hà Khánh phủ xem công việc. Chuyến nào đi cũng mau lẹ chớ không la cà như lần đầu. Trương Tam Sơn thích ngao du nên lần nào cũng đi cùng. Tới khi Tam Nương có nghén, Hoàng Hoa Chiếm bận thường nhờ Tam Sơn đi thế.
Cuối năm ấy, Tam Nương hạ sanh đôi hai con trai rất bụ bẫm kháu khỉnh đặt tên là Hoàng Hoa Long, Hoàng Hoa Hổ. Trương Tam Vân cũng sanh con trai, Viên ngoại đặt tên cho là Trương Tam Võ. Dâu có, rể có, cháu nội, ngoại đông đủ, họ Trương sống trong hạnh phước êm đềm đầy đủ.
Trương Tam Sơn không chịu lập gia đình, chỉ thích ngao du đây đó hoặc rượu chè tập hợp bè bạn. Có khi sang ở cả năm bên Trường Sa và áp tải nhiều đoàn khách thương. Nhờ vậy, Trương Tam Sơn giao dịch rất rộng trong giới giang hồ. Tước hiệu Thiết Xích Tử cũng có từ đó.
Về sau, Trương Lãng Tử quy tiên, phần mộ để trên Võ Đang sơn.
Trương Tam Võ và hai anh em Hoàng Hoa Long, Hoàng Hoa Hổ mỗi ngày một lớn, khỏe mạnh ra dáng con nhà võ. Trương Tam Vân và vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm theo phương pháp riêng luyện tập cho bọn trẻ từ lúc mới chạy nhảy, ngày ngày tắm bằng nước sắc ngâm thuốc nên năm chúng mới tám, chín tuổi mà đã có sức khỏe khác thường. Trương Tam Vân sanh thêm một gái nữa đặt tên là Nhị Nương. Rồi từ đó, cũng như vợ chồng họ Hoàng không sanh thêm lần nào nữa.
Ít năm sau, Trương viên ngoại mất, mộ phần cũng để trên núi Võ Đương gần mộ Trương Lãng Tử. Tam Sơn chịu tang xong liền đi vân du khắp nơi. Trong lúc giang hồ, Tam Sơn bắt chước Trương Lãng Tử giả hành khất ngang tàng đi không thiếu sót nơi nào hành hiệp.
Anh em Hoàng Hoa Long, Hoàng Hoa Hổ cùng lớn càng khỏe mạnh. Ngoài thì giờ học chữ ở trường học trong thôn, hai trẻ phải tập luyện võ nghệ cùng Trương Tam Võ và Nhị Nương. Sau mỗi phiên tập cả bốn trẻ đều phải chịu môn Thiết luyện.
Trong võ sảnh, cả bốn trẻ cũng phải nằm dài cả lên bàn để cha mẹ chúng thoa bóp các thớ thịt đầu xương, chà xát bằng rượu ngâm sắt và thuốc. Lần lần dùng roi dần khắp người, tùy theo trình độ từ đánh nhẹ tay tới đánh mạnh. Sau đó, vợ chồng họ Hoàng thay thế roi cây bằng roi sắt dẹp và mềm. Năm chúng lên mười tuổi thì không có thứ roi gậy nào đánh chúng biết đau nữa.
Môn Thiết Luyện này do Đạt Ma thiền sư sư tổ các võ phái truyền lại, muốn theo đúng cho có hiệu quả phải mất nhiều công phu và tốn ải nên không được phổ thông, ngoại trừ mấy dòng võ chân truyền cả Bắc lẫn Nam thời bấy giờ. Trẻ nào được thiết luyện lúc lớn lên tập môn Nội, Ngoại công vừa mau lên vừa thâu nhân được nhiều hiệu quả hơn, và trong khi tập hỗn đấu, chúng dạn đòn xông xáo dữ dội mạnh mẽ không khác chi mãnh hổ vùng vẫy giữa quần hồ.
Mấy anh em họ Trương và Hoàng cũng vậy. Trước còn đi võ hài vải, lần lần dùng thứ bằng gai tết lại, sau cùng đến thứ võ hài bịt thép ở mũi và gót. Aùo quần cũng dùng toàn võ phục. Thành thử mỗi khi phải mặc lồng chiếc áo dài ở ngoài theo cha mẹ đi đâu chúng lấy làm bứt rứt khó chịu.
Khu Võ Đang sơn ngày một đông đúc hơn, nhà cửa được dựng lên như bát úp hai bên đường, buôn bán tấp nập chẳng khác chi một tiểu thị trấn. Trẻ lớn bé trong toàn khu đứa nào cũng sợ bọn anh em Trương, Hoàng vì thường bị đánh sứt đầu xẻ tai.
Mỗi khi xảy ra chuyện tương tự như vậy, Trương Tam Sơn và vợ chồng họ Hoàng lại phải dàn xếp hoặc xin lỗi, hoặc đền tiền để khỏi mất lòng mọi người. Được cái là ai ai cũng kính nể hai họ Trương, Hoàng nên việc lớn đâu cũng thu xếp xong. Hơn nữa, danh tiếng võ dũng của gia đình ấy vang lừng khắp nơi, bọn lục lâm thảo khấu không dám bén mảng tới đó làm ăn, nên tương đối toàn khu sống hoàn toàn trong an ninh.
Giang hồ hảo hán mỗi khi qua Võ Đang sơn, quen biết hay không, cũng rẽ vào Trương gia thôn thăm hỏi hoặc yết kiến, hay tìm đường giao dịch với Trương, Hoàng. Họ cung kính gọi Trương Tam Vân với tước hiệu Bạch Long và kêu Trương Tam Nương là Nhiếp Ẩn. Cũng bởi vậy, các hảo hán thấy bốn anh em Trương, Hoàng còn ít tuổi mà đã quyền cước tinh thông, thập ban võ nghệ đều thạo, nhất là mấy món gia truyền đơn đao, thương, kích, cung mã và thuật phi hành thì lại càng có đặc điểm, lớn lên chắc thế nào cũng nối chí được nghiệp nhà, nên họ gọi Trương Tam Võ là Tiểu Bạch Long, Trương Nhị Nương là Trại Nhiếp Ẩn.
Còn hai anh em họ Hoàng thì được gọi là Hoàng Hoa thái tử. Hai trẻ cùng tầm thước phương phi như nhau, nhiều khi người nhà cũng phải lầm không phân biệt đứa nào là Long thái tử đứa nào là Hổ thái tử. Tam Nương bèn xâu tai đeo cho Long thái tử chiếc vòng nhỏ bằng ngọc kim sa màu đỏ, và Hổ thái tử thì đeo chiếc ngọc thấu lục xanh biếc, cho dễ nhận.
Hoàng Hoa Chiếm làm ăn ngày một phát đạt, bèn mở thêm một bảo tiêu cục nữa ở Tiêu Anh phủ để cho các tiêu sư quen thuộc trong nom ăn huê hồng. Chàng chỉ có việc đi lại trông nom ba nơi. Trương Tam Nương theo chồng đi. Mỗi khi vắng nhà, hai người lại nhờ Trương Tam Vân trông coi tập luyện hai cháu.
Từ năm mười hai tuổi trở đi, Hoàng Hoa Long và Hoàng Hoa Hổ chuyến nào cũng được theo cha mẹ, Vợ chồng Hoàng Hoa Chiếm dạy bảo hai con cách thức đi đường, phương pháp điều khiển các mã phu tải hàng hóa, thậm chí dạy cho cả cách lên và giữ thồ hàng. Hai trẻ rất thông minh thâu nhận được hết kinh nghiệm cần phải có của một hảo hán giang hồ. Hoàng Hoa Long sở trường đánh thiên phương họa kích giống cha. Hoàng Hoa Hổ ưa dùng Lê Hoa thương giống mẹ. Cả hai cùng giỏi nghề cung tên. Ngoài ra, Trương Tam Nương còn truyền cho hai con các công phu sở trường về Nhuyễn thuật đặc biệt đã học được của Trương Lãng Tử khi xưa.
Từ khi Trương viên ngoại quy tiên, Trương Tam Sơn dong ruổi giang hồ, thì Trương Tam Vân một mình cáng đáng cả mọi công việc trong thôn trang.
Tam Vân cho người nhà lên ở trên am Võ Đang sơn dọn dẹp sạch sẽ, giữ nguyên nếp cũ với ý định là sau này có tuổi sẽ rút lui lên đó di dưỡng tính tình. Tam Vân ít đi chơi xa, thường chỉ quanh quẩn trông nom việc trang trại, vui thú điền viên, phụng dưỡng hai bà mẹ.
Đậu thi và Trần thị tuổi hạc an nhàn rất yêu thương bốn đứa cháu nội ngoại.
Trương Tam Võ và Nhị Nương chuyên dùng Lê Hoa thương và đơn đao theo nghề nhà và lẽ cố nhiên môn Nhuyễn thuật, quyền cước được Tam Vân đặc biệt chú ý chuyên luyện cho hai con. Nhị Nương còn sở trường riêng môn phi đạn sắt bách phát bách trúng, khiến nhiều hảo hán qua chơi Trương gia thôn được xem bầy trẻ biểu diễn võ thuật cũng phải ghê hồn...
0
Hồi 13
Vô tình kẻ cũ gặp thù xưa
Hội ý Dị nhân trừ đạo tặc
 
Thiết Xích Tử Trương Tam Sơn kể truyện tới đây, Phàn Thế Hùng rót một ly rượu lớn đưa mời :
- Tiên sinh giải lao đã rồi sẽ kể nốt.
Thiết Xích Tử đón lấy ly rượu, tặc lưỡi nói :
- Chà! Khát thiệt đó, nhưng hết chuyện rồi còn kể chi nữa?
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Hiện nay, Bạch Long Trương Tam Vân vẫn ở Võ Đang sơn?
Thiết Xích Tử uống một hơi hết ly rượu, gật đầu đáp :
- Y vẫn ở Võ Đang sơn. Các cháu Tam Võ và Nhi Nương cũng đã đi lâu rồi.
- Còn nhị vị mẫu thân?
Thiết Xích Tử lơ đãng nhìn ra cửa sổ. Hiện còn Trần mẫu lên ở Trương gia.
Lam Y nữ hiệp hỏi?
- Gia đình Trại Lữ Bố Hoàng Hoa Chiếm ra sao?
- Về sau này vị tiêu sư có tuổi quản lý tiêu cục bên Trường Sa mất, không lựa chọn được người điều khiển có khả năng, vợ chồng họ Hoàng buộc lòng phải về ở Trường Sa. Cháu thứ hai Hoàng Hoa Hổ ở với cha mẹ nó, còn cháu lớn Hoàng Hoa Long thì ở Tiêu Anh phủ tập sự điều khiển công việc bên đó. Năm nay, chúng ngoài hai mươi tuổi cả rồi phải làm việc chứ ngồi nhà mãi sao? Cả hai cùng có bản lãnh khá lắm không kém chi cha mẹ chúng. Chừng nào có dịp qua Võ Đang sơn, Tiêu Anh phủ hay Trường Sa, mời quý vị đến chơi. Cứ hỏi họ Trương hoặc bảo tiêu cục họ Hoàng thì ai cũng biết.
Mọi người đang nói chuyện thì Phàn Mộng Liên bước vào phòng :
- Cơm xong rồi, cho phép bầy bàn chứ?
Lam Y nữ hiệp mỉm cười :
- Đã đành, bà nội trợ cho ăn ngay đi, đói meo cả bụng rồi.
Đỏ mặt, Phàn Mộng Liên lẳng lặng xuống bếp.
Lát sau, cả nhà xúm vào nhấm rượu rất vui vẻ.
Chu Đức Kiệt nóng ruột, hỏi Thiết Xích Tử :
- Tiên sinh gặp Phi Không trong trường hợp nào?
Thiết Xích Tử tớp ngụm rượu rồi nói :
- Hồi đó tôi ngoài ba chục tuổi.
* * * * *
... Trên con đường đất gồ ghề từ Lý Bình trấn đi Quế Dương thủ phủ Quý Châu, một chiếc xe ngựa chậm rãi đo...
Hai người một trẻ, một già ngồi cầm cương. Ông già Đặng Tam tay vung vẫy chiếc roi tre. Chàng thiếu niên là con ông, tên Đặng Quyền cầm cương ngựa. Trong xe có hai người ngồi và vài bọc hành trang. Đó là vợ chồng nho sinh họ Thạch tên Kỳ, tự Quang Chiếu mới đỗ tú tài về quê cưới vợ là Hàn Mỹ Vân, xin phép mẹ sang Quế Dương thăm bà bá mẫu họ Viên.
Trưa hôm đó, xe đang đi trên đường vắng vẻ, hai bên núi đá lởm chởm. Thạch Kỳ hỏi Đặng Tam :
- Chiều nay bọn ta nghỉ ở đâu?
Ông già ngoái cổ lại nhìn nho sanh :
- Chúng ta sẽ nghỉ ở thôn Tiểu Bằng. Tiên sinh chớ nóng ruột, tôi biết rõ con đường con đường này lắm. Tuy khó đi nhưng không sợ trễ đâu. Thế nào cũng tới :
- Hỏi vậy là vì tôi thấy mây đen u ám e trời sẽ mưa lớn, xe bị lầy không đi được phải nằm giữa khu hoang vắng này thì khốn...
Đặng Tam cười khì khì :
- Khu vực này lạ lắm. Mây dồn lại vậy mà không mưa đâu, trừ phi có gió lốc mạnh. Lát nữa sẽ tan ngay...
Xe đi tới một chỗ rẽ, hai đang người mãi nói chuyện thì chợt thấy một người râu quai nón, trạc ngoài bốn mươi tuổi, áo đầy bụi, ngồi trên phiến đá dưới gốc cây bóng mát, cây giáo sắt dựa một bên. Da mặt người ấy dám nắng màu đồng. Thấy chiếc xe lọc cọc đi qua, người ấy giương mắt nhìn trừng trừng. Chờ xe đi khỏi trước mặt, người ấy nhìn thốc vào phía sau mui vải thấy Hàn thị thì đờ ra nhìn theo không chớp mắt. Hàn Mỹ Vân thấy vậy bèn kéo buông chiếc rèm vải sau xe xuống.
Thạch tú tài vội hỏi vợ :
- Sao hiền thê lại kéo rèm? Để hở cho mát có được không?
Hàn thi chỉ tay về phái sau :
- Người ngồi ở phiến đá kia nhìn thốc vào xe, coi như dữ tợn quá, em thấy ghê rợn nên buông rèm xuống cho họ đỡ ngó. Lát nữa sẽ vén lên cũng được.
Thạch tú tài không nói gì. Nhưng Đặng Tam quay người lại mỉm cười :
- Tôi chở xe thuê trên con đường này từ khi thằng con tôi đây mới lên mười tới nay nó ngoài hai mươi mà chưa bị cướp lần nào. Đường trường thỉnh thoảng gặp người lạ là thường, lo sợ làm chi? Vả lại bọn đạo tặc đón những khách thương mới có tiền hay hàng hóa, chớ bọn ta thì có gì đáng để chúng phải mất công!
Đặng Quyền thúc ngựa đi lẹ hơn :
- Thái thái khỏi lo, để đi qua chặng đường xấu này, tôi sẽ cho ngựa chạy, như vậy mau lẹ hơn.
Thạch tú tài bảo vợ :
- Hiền thê an tâm. Đặng tiên sinh thuộc đường này rồi. Ta phải tin mới được chớ!
Hàn thị im lặng, khi vén rèm vải nhìn lại phía sau thì tái mặt, buông vội rèm xuống :
- Kìa kìa, cứ nói không việc gì. Người mặt dữ tợn đó đang vác giáo đi theo cách không bao xa...
Thạch tú tài kín đáo nhìn qua khe rèm quả nhiên thấy người ấy theo thật, cách xe độ non trăm thước.
Tuy vậy, chàng cũng nói cho vợ an lòng :
- Mình đi đường người ta cũng đi đường, làm thế nào biết họ theo dõi xe này được.
Đặng Tam bảo con :
- Thúc ngựa cho xe chạy lẹ hơn nữa con, kẻo thái thái lo sợ...
Nói đoạn Đặng Tam cầm roi vút gió mấy cái. Đặng Quyền giật cương. Ngựa bước lẹ hơn trước nhiều, nhưng vì đường xóc mạnh.
Lát sau, Hàn thị lại bước ra phía sau, bảo chồng :
- Phu quân nhìn xem, lạ lắm. Xe ta đi lẹ hơn trước nhiều, nhưng người ấy cũng đi lẹ hơn. Hắn vẫn theo kia kìa! Không theo xe này còn theo ai nữa?
Đặng Tam ngả người sang phía hữu nhìn ra sau. Thach tú tài cũng nhìn qua khe rèm.
Quả nhiên, người ấy vẫn đi cách xe độ non một trăm thước như ban nãy tuy xe đi lẹ hơn.
Thạch tú tài nói :
- Ờ, kỳ thiệt! Tôi cũng có cảm tưởng thế nào ấy!
Đặng Tam nói :
- Nhị vị không quen đường trường nên hơi có sự lạ là lo sợ rồi. Nếu người này là đạo tặc, họ cướp xe từ nãy, chờ chi tới bây giờ. Chẳng qua họ thấy có người thì cố gắng đi theo cho đỡ buồn, đỡ nóng ruột trên đường xa đó thôi.
Nói đoạn, thúc ngựa đi lẹ hơn nữa. Kỳ thay, xe đi lẹ bao nhiêu, người kia cũng đi mau chừng ấy thành thử xe và người vẫn cách nhau có bấy nhiêu thôi, Vợ chồng Thạch tú tài lo lắng ra mặt. Nhưng lúc xế chiều, tới quãng đường tắt, đặng Tam cho ngựa chạy lẹ, Thạch Kỳ nhìn ra phía sau, không thấy người râu quai nón đi theo nữa mới khoan khoái bảo Hàn thị biết.
Hàn Mỹ Vân nhìn theo, thở phào nhẹ nhõm :
- May quá! Người đó làm thiếp sợ vô cùng.
Đặng Tam nói;.
- Nhị vị coi tôi nói có sai đâu!
Chiều hôm ấy xe đi tới một làng lớn, nhà cửa san sát ở cả hai bên đường, mái ngói tường hoa, rất nề nếp khang trang. Ngay đầu làng, dưới bóng cây xanh mát, có một tửu quán sạch sẽ, chiêu bài bay phấp phới đề Kim gia quán.
Đặng Tam nói với họ Thạch :
- Đây là làng Miêu Hoa, giàu có lắm. Kim gia quán lớn nhất. Ta phải quá đêm ở đây thôi.
Thạch tú tài đáp :
- Nếu vậy, đỗ lại đây mai sẽ đi.
Đặng Quyền rẽ ngựa vào sân tửu quán.
Thấy có khách tới, tử bảo vai vắt khăn chạy ra đón rước. Chủ quán mập ụ đứng trên thềm chờ...
Thấy Đặng Tam, tửu bảo tươi cười :
- A, Đặng lão, chuyến này lâu lắm mới qua đây, mạnh khỏe không?
Đặng Tam vừa xuống xe vừa nói :
- Cảm ơn, lão vẫn như thường. Quý khách đây ghé nghỉ đêm nay, mai lên đường.
Tửu bảo và Đặng Tam xách mấy bọc hành lý vào quán. Họ Thạch tự tay đỡ vợ xuống xe vào theo. Đặng Quyền lái xe ẩn dưới gốc cây rồi bắt đầu tháo cương cho ngựa nghỉ ngơi, dắt ra tầu ở phía sau quán.
Chủ quán chắp tay chào vợ chồng Thạch tú tài và Đặng Tam :
- Trên lầu có phòng rộng rãi mát mẻ, xin mời quý khách lên cho...
Nói đoạn, chủ quán kêu tửu bảo đem hành lý đỡ Đặng Tam lên lầu theo vợ chồng họ Thạch.
Thạch tú tài dặn với chủ quán :
- Cho chúng tôi ăn cơm ở trên lầu nhé. Đi đường mệt lắm... Đặng lão và lệnh lang lát nữa lên lầu dùng bữa luôn thể.
Đặng Tam nói :
- Xin để tự nhiên. Tôi phải ở dưới này uống rượu và hàn huyên cùng chủ quán.
Lát sau, cha con Đặng Tam đang ngồi nhắm rượu thịt nai với chủ quán thì Đặng Quyển bỗng đá nhẹ vào chân cha rồi hất hàm ra hiệu bảo Đặng Tam nhìn ra đường. Đặng Tam thấy người râu quai nón gặp trên đường ban nãy đi cùng một hòa thượng trẻ tuổi vóc người vạm vỡ, bắp thịt vai và gáy nổi ụ lên như thừng chão.
Hòa thượng đó vác thiền trượng bằng đồng lớn như miệng chén. Hai người chuyện trò ra vẻ đắc ý lắm. Khi đi ngay cửa quán, người râu quai nón thấy chiếc xe ngựa ở gốc cây lớn trong sân quán, ngừng bước lại nhìn rồi đi thẳng.
Đặng Quyển hỏi cha :
- Người theo xe ta lúc nãy đó phải không? Chẳng hiểu phụ thân nghĩ thế nào, riêng phần con thấy đáng ngờ lắm.
- Ờ, ta cũng nghĩ vậy, nhưng không tiện nói ra, e vợ chồng Thạch tú tài lo sợ.
Chủ quán nghe chuyện, hỏi :
- Bằng hữu định nói về người vác cây giáo sắt vừa đi qua đây phải không?
Đặng Tam gật đầu :
- Chính thế. Bằng hữu biết y sao?
- Biết nhưng không quen. Y thường đi qua khu vực này và đã vào bản quán uống rượu vài lần. Nhiều tiền lắm. Trả tiền rất hào phóng. Còn vị hòa thượng đi với y thì lần này tôi mới trông thấy lần đầu.
Nghĩ ngợi giây lát, chủ quán nói tiếp :
- Chắc thế nào họ cũng trở về đây uống rượu vì quán này có nhiều món nhậu vừa ý tất cả mọi người. Sao bằng hữu có vẻ mất vui thế?
Đặng Tam đem chuyện gặp người nọ ở đường kể cho nghe.
- Nói ra thì cũng đáng ngại thiệt nhưng đi đường trường biết nói sao cho cùng. Tại sao bằng hữu không nhập bọn khách thương đi cho đông người và có cả tiêu sư có hơn không?
- Chờ tới mấy ngày không có bọn nào đi đường này cả mà vợ chồng Thạch tú tài lại muốn đi gấp nên tôi phải lên đường không thể trì hoãn được Vả lại hành trang cũng chẳng có gì đáng chú ý.
Chủ quán cười khẩy :
- Bằng hữu chở xe mướn già đời rồi mà còn hớ! Món hàng quý không phải mấy bọc hành lý vô dụng ấy, mà chính là cái nhan sắc vợ tú tài. Tuy chẳng khuynh quốc nghiêng thành nhưng cũng đủ khiến cho bọn tặc đạo dâm bôn chú ý tìm cách bẻ nhụy hái hoa chứ sao! Thời buổi này đi đường trường không có bản lãnh không nhập bọn, có nhan sắc mà không biết hóa trang nguy hiểm biết chừng nào. Lỗi ấy tại đặng hữu chớ vợ chồng họ non dại nhà nho biết gì.
Đặng Tam bị chủ quán dồn cho một hồi đờ người ra lo lắng :
- Bằng hữu giảng giải bây giờ tôi mới nghĩ ra. Việc đã trót rồi bây giờ làm thế nào...
- Chỉ còn có cách nằm lì ở đây chờ xem có bọn nào đông người đi qua nhập bọn thì có phần nào may mắn.
Ba người đang bàn bạc nói chuyện thì từ khu rừng phía trước mắt, một người đi tới. Giây lát, người đó tới đầu thôn Tiêu Bằng đứng ngó trước xuôi thấy làng Miêu Hoa khang trang gật đầu mấy cái, tần ngần đi mấy bước nữa, nhưng trở ngay lại đi thẳng vào Kim gia quán.
Chủ quán và cha con Đặng Tam chú ý nhìn thấy người lạ nọ trang phục ra dáng hành khất, da mặt rám nắng đỏ lừ, râu ra tua tủa, lưng quấn chiếc xích sắt, mỗi đốt lớn như ngón chân cái. Bên sườn lủng lẳng đeo chiếc bầu rượu lớn có thể đựng được tới bốn, năm cân rượu.
Chủ quán lẩm nhẩm một mình :
- Gớm khiếp, sao hôm nay chiều rồi mà nhiều khách lạ quỷ quái qua khu này thế.
Đặng Tam lo lắng hơn :
- Y dữ quá hay là đồng bọn với tên râu quai nón ban nãy tới dò dẫm chi đây.
Chủ quán chép miệng.
Người lạ qua sân trước vào quán. Tửu bảo chạy ra đón chưa kịp hỏi gì thì người ấy liệng mười tiền xuống mặt thối :
- Lấy ba cân thịt nai tái, bốn cân rượu thượng hạng, còn bao nhiêu cho nhà ngươi.
Tửu bảo vội thưa :
- Tất cả mười hai tiền cơ ạ.
Người đó cau mặt lại hỏi :
- Nơi này mà cũng mắc mỏ thế à? Chưa bao giờ ta dùng bấy nhiêu thứ quá giá mười tiền! Gớm thật. Nhưng cũng lấy lên đây. Rượu thiệt ngon, thịt thiệt tươi, nghe!
Nói đoạn, liệng thêm ba tiền nữa cho Tửu bảo. Tửu bảo mừng quýnh chạy thăng vào bếp gọi thức ăn. Y không ngờ ông khách lam lũ này mà lại ăn uống sộp đến thế. Người đó nhìn qua bọn Đặng - Tam rồi kéo ghế ngồi dựa lưng vào vách nhìn ra sân.
Lát sau, tửu bảo bê một khai đựng đĩa thịt lớn và một bồ rượu mấy cân, bày ra mặt thồi rót rượu.
Người nọ bỏ chiếc ly nhỏ sang bên :
- Lấy chiếc ly lớn.
Tửu bảo vội thay ly khác rót đầy.
Người ấy uống luôn một hơi hai ly, khà một tiếng :
- Chà! Rượu này ngon lắm. Lâu chưa?
- Thưa quý khách, thứ này cất được năm năm rồi, nên rất dịu.
Tháo chiếc bầu rượu sắt đưa cho Tửu bảo, người ấy nói :
- Rót đầy bầu này cho ta. Đúng năm cân đó. Bao nhiêu?
- Dạ bảy tiền ạ.
Trả tiền xong, người ấy bắt đầu ăn uống như hùm đói. Giữa lúc ấy, một tửu bảo khác chạy tới hỏi chủ quán :
- Chừng nào đem cơm lên lầu cho vợ chồng khách trọ?
Chủ quán đáp :
- Chừng nào rồi thì đem lên. Hỏi xem quý khách ấy cần dùng thứ chi khác nữa không nhé!
Tửu bảo vâng dạ quay đi.
Mấy người trong thôn kéo nhau ra gọi rượu uống. Đồng thời, người râu quai nón và hòa thượng cũng vào quán. Hai người dựng khí giới vào góc tường, kéo ghế ngồi kêu tửu bảo lấy rượu thịt. Trong khi chờ đợi, họ nhìn mọi người trong quán một lượt và nói chuyện với nhau bằng thứ tiếng mà không ai nghe hiểu cả.
Chủ quán thấy đông khách xin lỗi Đặng Tam, đứng lên ra quầy hàng ngồi.
Người râu quai nón bảo hòa thượng :
- Sư đệ coi tên hành khất ngồi thồi bên kia chắc là bọn cướp cải trang. Nếu không, nó lấy đâu ra nhiều tiền ăn nhậu thế kia!
Hòa thượng cười :
- Ăn cướp hay không, chẳng cần biết. Đồ vô dụng ấy thì Phi Không này chỉ nuốt chửng, Lưu sư huynh nghe chưa?
Người râu quai nón họ Lưu nghiêm nét mặt :
- Sư đệ chẳng nên khinh thường. Cách đây trên hai chục năm, ngu huynh đã từng gặp một hành khất nhỏ bé hơn tên này võ nghệ cao siêu vô cùng, Y cũng dùng cái xích sắt y hệt cái xích sắt tên này quấn ở lưng. Lối sử dụng thật kỳ dị. Tên này là đồ đệ hay là con cháu nó cũng chưa biết chừng.
Phi Không cười khẩy :
- Lưu sư huynh chẳng nên quá tự hạ. Trừ sư phụ và Thiên Không sư huynh, tôi chưa biết nể ai hết.
- Ngu huynh nói như vậy không phải vô căn cứ. Chính hai người họ với ngu huynh đã bị tên hành khất đó đánh thua dễ dàng như bóp hột gà vậy. Bởi thế, ngu huynh mới theo sư phụ trên La Phù sơn học nghệ báo thù. Nóng ruột, ngu huynh hạ sơn ngay, tìm tới Trương gia thôn ở Võ Đang sơn, không ngờ lại bị đồ đệ của tên hành khất ấy làm nhục. Nghĩ bây giờ còn căm hờn... Nếu tên ngồi kia là bọn chúng thì chắc bản lãnh không tầm thưởng như sư đệ tưởng đâu.
Tửu bảo đem thức ăn lên.
Họ Lưu và Phi Không rót rượu ăn uống.
Phi Không nói :
- Sư huynh còn muốn báo thù nữa hay thôi?
- Ngu huynh không đủ sức nên từ hồi ấy chịu, không dám bén tới Trương gia thôn nữa. Với tài nghệ của sư đệ may ra còn có hy vọng khiến chúng phải kiêng nể. Nhưng chúng đông người hơn thì vị tất đã làm nổi chuyện gì. Ngu huynh nói thiệt chớ không tâng bốc người đâu.
- Được rồi, đã thế, tôi sẽ đi cùng sư huynh đến Võ Đương tìm chúng phân tài cao thấp một phen.
- Việc đó sẽ bàn tới sau, còn nhiều thì giờ. Bây giờ, ngu huynh muốn nói tới bọn đi xe ngựa gặp lúc ban trưa... Hai người một già, một trẻ trong cùng kia là chú chủ xe. Còn vợ chồng tên thuê xe không thấy ở đây.
- Thế thì chắc chúng ở trên lầu rồi sáng mai sẽ lên đường. Thiếu phụ đó nhan sắc không?
Họ Lưu tặc lưỡi ra vẻ thèm thuồng lắm :
- Chao ôi! Khá đẹp. Coi dễ thương lắm.
- Sư huynh định thế nào? Làm đêm nay đi, chờ tới mai nóng ruột lắm.
- Ờ, ăn uống xong, ta đi chỗ khác, canh ba sẽ hành động.
Nghe Phi Không và họ Lưu nói chuyện, người hành khất im lặng ăn uống, nghĩ thầm :
- À ra tên này là tên bị Tam Vân uốn cong cây giáo sắt, hôm ta lên Tiêu Anh phủ vắng mặt. Còn ác tăng kia chắc là anh em môn đệ của y. Oan gia phùng oan gia. Được lắm!
Về phần Đặng Tam rất lo lắng từ lúc trông thấy người khách lạ và hai người râu quai nón và hòa thượng vào tửu quán.
- Con lên lầu báo cho vợ chồng Thạch tú tài đừng có xuống đây, hay đứng ngoài lan can, e bọn này trông thấy thời chỉ có hại thôi.
Đặng Quyền đứng dậy vào bên trong.
Trời đã hoàng hôn. Sương chiều bắt đầu xuống rắc lên mọi vật lớp phấn nhẹ lam mờ.
Trương Tam Sơn ăn uống no nê, xách bầu đầy rượu, đứng lên đi thẳng.
Lát sau, họ Lưu và Phi Không cũng trả tiền hàng rồi đi nốt.
Như ta đã biết, họ Lưu đây chính là Lưu Nghị. Từ ngày y thất bại ở Võ Đang sơn thì lưu lạc giang hồ, sống quen nghề cũ, cướp bóc lặt vặt tại các nẻo đường xa hoang vắng. Y thay đổi khu vực làm ăn luôn nên không ai quen mặt. Một hôm, Lưu Nghị vào một chiếc am nhỏ bỏ hoang trên đường Lý Bình Trấn ngủ đêm.
Độ quá canh tư, Lưu Nghị chợt thấy tiếng động ngoài cửa am, tưởng rằng có con thú nào đi ăn đêm qua đây. Không ngờ, tiếng cửa am cọt kẹt từ từ mở ra... Lưu Nghị nằm trên bục cao ở trong cùng núp sau lưng mấy pho tượng đổ lỏng chỏng, khẽ nhỏm đầu nhìn xuống, thấy lồng giữa khung cửa am, ánh trăng rầm vằng vặc bên ngoài, một bóng người đẫy đà, trên lưng đeo một bọc lớn. Người đó vào trong am, hạ bọc lớn xuống đất, rút đá lửa đánh bùi nhùi, nhìn qua loa thấy am đó bỏ hoang đã lâu đời, bèn dập tắt lửa, mở toang cả hai cánh cửa xiêu vẹo cho ánh trăng lùa chếch soi sáng vào trong am. Lưu Nghị bấy giờ đã nhận rõ người ấy là một đầu đà trẻ tuổi. Y xách bọc lớn để lên bục đá thấp ngay trước bàn thờ, mở ra...
Lưu Nghị giật mình. Vật trong bọc đó là một thiếu nữ đang thiêm thiếp ngủ mê mệt.
Đầu đà lấy ở túi áo ra một viên thuốc bỏ vào miệng thiếu nữ, Chỉ trong giây lát, thiếu nữ cựa quậy, thở dài, vươn vai tỉnh dậy.
Thiếu nữ quờ tay sang hai bên, chạm phải đầu đà ngồi ở bên bệ đá, giật mình thốt hỏi :
- Ủa! Đây là đâu? Ai thế này?...
Nàng định nói hay kêu lớn nữa, nhưng đầu đà đã bịt miệng nàng lại, khẽ bảo :
- Biết điều thì im miệng, giữa nơi rừng núi hoang vu này nàng có kêu cũng vô ích.
Nghe ta thì sống, có tiền nhiều, trái lại chỉ một lát đao là đi đời. Đấy, kêu la đi ta coi! Nói đoạn, đầu đà bỏ tay bịt miệng thiếu nữ ra.
Thiếu nữ sợ hãi ngồi nhỏm dậy quơ lấy cái bọc vải dầy ôm vào người run rẩy, lập cập.
Đầu đà nhãn nhở cười :
- Ái nương ơi, làm trò chi vậy cho mất công? Ta thấy ái nương nhan sắc nên mới đem nàng về đây cùng nhau ân ái mà. Chịu khó nghe ta thì muốn gì cũng có. Sớm mai, hai ta sẽ đi nơi khác. Ngoan nào.
Dứt lời, đầu đà vuốt má thiếu nữ định kéo nàng lại gần.
Thiếu nữ vội gạt tay mắng lại :
- Tu hành như nhà ngươi không sợ bị tội Diêm Vương địa ngục sao! Biết điều thì đem ngay ta về nhà...
Đầu đà ngắt lời :
- Chà! Ái nương trung trinh nết na quá! Nhưng chớ có dọa nạt ta thêm uổng công nghe! Thằng này chưa bao giờ biết sợ ai cả. Ái nương không thuận, ta sẽ áp bức thẳng tay. Lúc đó không còn nhẹ nhàng nữa đâu!
Thiếu nữ sợ hãi vùng dậy định chạy ra ngoài cửa am, nhưng đầu đà cười khẩy kéo tay lại bế thiếu nữ đặt vào lòng :
- Ái nương định đi đâu đêm hôm khuya khoắt giữa nơi rừng rú này, không sợ cọp, beo ăn mất xác sao?...
Thiếu nữ đập tay vào mặt, vào ngực đầu đà, giãy giụa định thoát thân, nhưng chẳng khác chi con chuồn chuồn hút cột đá...
Hai cánh tay cứng như hai gọng kềm thép ghì chặt thiếu nữ vào lòng :
- Ái nương nên biết điều chiều chuộng ta... có hơn không? Nào, đêm xuân một phút ngàn vàng, chớ có phí phạm. Ta... mến ái nương quá!...
Nói đoạn, y cuối xuống hun vào má thiếu nữ... tay bắt đầu cởi áo... Thiếu nữ tuy kháng cự nhưng ăn thua gì. Nàng sợ quá ngất lịm trong tay đầu đà...
Tên này bèn đặt nàng xuống bục đá, trải tấm vải bạc ra và tiếp tục cởi xiêm y...
Từ nãy, Lưu Nghị vẫn nằm yên xem đầu đà hành động như thế nào. Bây giờ, đã hiểu rõ, thấy thiếu nữ nhan sắc kiều diễm thì tà dâm cũng nổi dậy.
Lưu Nghị thì thầm :
- Tên hổ mang này cũng có mắt thẩm mỹ lắm. Vưu vật đẹp nhường kia để lọt vào tay nó cũng uổng, chi bằng đánh cho nó một trận rồi phỗng tay trên có hơn không. Nghĩ đoạn, Lưu Nghị cầm cây giáo sắt đặt bên cạnh, nhảy vụt qua bệ dưới đứng chắn ngang giữa cửa am ha hả cười :
- Đây là đâu mà thằng trọc này dám bắt người giở trò dâm ô. Biết điều bước ngay, ta sẽ tha toàn mạng, trái lại chớ trách ta không dạy trước...
Đầu đà đang tình xuân phơi phới định ra tay bẻ nhụy hái hoa thỏa mãn tình cẩu trệ, không ngờ Lưu Nghị nhảy xuống đất qua mặt bệ, tiếng gió động, đầu đà biết ngay có biến vội bỏ thiếu nữ, đứng phắt dậy thủ thế thay không vì khí giới của y dựng trong góc am phía ngoài gần nơi Lưu Nghị đứng.
Giữa nơi hoang vắng đêm tối này mà còn bị kẻ ngăn cản, đầu đà nổi giận đùng đùng, đứng vững trong bóng tối chờ cơ hội tấn công.
Lưu Nghị thét lên :
- Ta quyết lấy mạng mi.
Đầu đà cười gằn nghe phát ghê rợn :
- Cẩu tặc! Thử coi.
Thiếu nữ chợt hồi tỉnh thấy có người cứu liền bò lánh sang một bên.
Lưu Nghị đứng giữa cửa am nhằm ngực đầu đà đâm mạnh một mũi dao.
Đầu đà sẽ né sang bên nhường cho ngọn giáo đi qua, vung tay tả cặp chặt cán giáo vào nách, xô người lên điểm hai ngon tay Song Long Thủ Châu vào mắt đối phương.
Lưu Nghị vôi bỏ rời cây giáo sắt, nhảy giật lùi ra ngoài cửa am :
- Ủa! Học trò La Phù sơn phải không?
Đầu đà vẫn cặp cây giáo nhảy theo ra :
- Mi vừa nói chi vậy?
- Người là môn đồ của Đắc Đạo thiền sư ở Thiên Linh Tự cõi Lĩnh Nam phải không?
- Sao mi biết được như vậy? Hay là sắp chết đến nơi nên ba chuyện tìm cách trốn tránh.
- Ai dạy ngươi lối bắt giáo này? Phải chăng Đắc Đạo sư phụ?
Lưu Nghị cười ha hả :
- Đánh nhau vỡ đầu mới biết nhận nhau. Chúng ta là anh em một nhà cả. Tôi hạ sơn trước khi sư đệ nhập môn theo học. Chẳng hay quý tánh cao danh là chi, hạ sơn từ bao giờ? Tôi họ Lưu tên Nghị, biệt sư phụ ngót hai chục năm nay rồi.
Đầu đà nghe vậy, liệng cây giáo trả Lưu Nghị cười lớn :
- Té ra chúng ta là bạn đồng môn! Tôi là Phi Không mới hạ sơn được ngót ba năm nay. Trước đây, sư phụ thỉnh thoảng có nhắc tới sư huynh, không ngờ lại gặp nhau ở chốn này. Chẳng hay sư huynh “đồng” hay “phản” với tôi?
- “Đồng” chứ. Thấy cô ả khá quá, ta định phỗng tay trên hiền đệ.
Phi Không cả cười :
- Sao không nói trước để tốn bao nhiêu thì giờ quý báu. Tôi xin nhường “vưu vật” ấy cho huynh đó, của này thiếu chi, bắt lúc nào cũng được.
Lưu Nghị xua tay :
- Đâu lại có thể thế được. Sư đệ mất công, cứ tùy tiện, ta nằm chờ trên cây lớn kia.
Liệu mau lẹ cho rồi việc, đem cô ả trả về chốn cũ, đừng sát hại vô ích. Ngu huynh “làm ăn” trên con đường này, cần phải tránh kẻ dòm ngó mới được...
Lưu Nghị rút cây giáo lên, nói tiếp :
- Hừ! Nếu không nhận ra lối bắt giáo sở trường của sư phụ truyền lại thì có lẽ không bao giờ bọn ta biết nhau nữa... Vô đi! Ngu huynh chờ!
Phi Không phì cười, quay vào am. Thiếu nữ thoạt đầu thấy cứu tinh thì đã mừng, tưởng thế nào cũng thoát khỏi miệng lang sói, không ngờ thấy hai người nói chuyện, nhận nhau là sư huynh sư đệ, nàng hiểu ngay cả hai cùng loài mèo mả gà đồng, bèn tìm lối thoát. Nàng thấy am có cửa sau liền chui ra nhằm rừng cây chạy thục mạng, nhất định dù làm mồi cho thú dữ cũng còn hơn bị ô nhục. Giả phỏng mấy tên đạo tặc đó có đuổi theo bắt được, nàng quyết húc đầu vào đá hay vào cây tự vẫn cho rồi. Nàng len lỏi qua các bụi rậm bất cần gai góc chạy miết. Thiếu nữ chạy liều, xuyên hết bụi nọ qua bụi kia. Không dám chạy thẳng, nàng đi vòng vèo lâu lắm... lâu lắm. cho tới lúc nghe thấy tiếng ai đó chặt cây chan chát trong rừng. Thiếu nữ mừng qua, nhìn ra trước mặt trông thấy hai tiều phu đang đốn củi. Nàng định giơ tay vẫy, hé miệng kêu cứu, nhưng mọi vật bỗng nhiên quay cuồng đảo luôn rồi mờ hẳn trong mắt nàng như bị đám sương mờ che phủ.
Nàng té lăn ra mặt đất đầy lá khô, ngửng đầu nhìn. Người có tuổi nói :
- Con, ta chạy tới xem người con gái nào lại từ trong rừng chạy ra thế kia. Bị thú dữ rượt chăng! Tiếp cứu mau!
Người tiều phu thanh niên khỏe mạnh nói:
Phụ thân cứ ở đây để con tới đó xem sao.
- Không! Ta cùng đi.
Thế là hai cha con vác rìu chạy phóng tới chỗ thiếu nữ vừa té.
Trong khi ông già xem xét thiếu nữ, người con trai lăm lăm cầm rìu nhìn khắp xung quanh phòng bị thú dữ rượt tới.
Không sao cả. Nàng chạy mệt quá nên ngất đi đó thôi. Chắc không phải bị thú đuổi. Nếu có thú thì nó đã chồm tới rồi.
Nói đoạn, ông già vác thiếu nữ lên vai đem tới chỗ đốn củi, đặt nàng nằm trên đống lá. Thanh niên tháo bầu nước tra treo ở cành cây gần đó tới. Ông già nâng gáy thiếu nữ, kề miệng bầu vào miệng nàng đổ cho mấy hớp nước. Trao bầu trả lại cho thanh niên, ông già vén mấy mớ tóc xõa trên mặt thiếu nữ.
- Ủa, ai như là Vương Muội Muội bên làng Thái Phước, con của lão Vương Lục phải không?
Thiếu niên cúi nhìn :
- Dạ phải rồi! Vương Muội sao lại lạc trong rừng như thế này?
Thiếu nữ lần lần tỉnh mở mắt nhìn cha con người tiều phu. Ông già gọi :
- A, tỉnh rồi, Vương Muội Muội lai tỉnh mau.
Vương Muội lờ đờ mệt nhọc chớp mắt mấy cái, hỏi :
- Đây là đâu? Trần gian hay địa ngục? Ác tăng thiệt quá lắm!...
Nói đoạn, nàng lại nhắm mắt thiêm thiếp.
Ông già chà xát hai thái dương thiếu nữ vừa gọi :
- Vương Muội Muội, lai tỉnh, lai tỉnh! Khương lão đây mà!
Vương Muội Muội lại lờ đờ mắt nhì hồi lâu tỉnh hẳn.
- Vương Muội Muội có nhận ra ta không? Khương lão tiều đây! Sao con lại lạc vào rừng?
Thiếu nữ nhận ra người quen, ngồi nhổm dậy, láo liên sợ hãi :
- Khương lão ơi, chạy mau, vệ nhà mau, ác tăng đuổi tới nơi chết cả lũ bây giờ.
- Kìa! Điên sao? Ác tăng nào ở đây?
Thiếu nữ đứng hẳn lên :
- Cháu không điên đâu! Chạy về nhà đã, sẽ nói chuyện sau. Nó đuổi tới thì chỉ nguy đó.
Thiếu niên nói với cha :
- Chắc có nhiều điều bí ẩn. Thà rằng đưa nàng về ngay, chẳng lẽ để nàng ở đây sao?
Khương lão gật đầu :
- Thế thì con sửa soạn ra về, để ta đỡ Vương Muội Muội.
Thiếu nữ đã tỉnh hẳn tuy sắc mặt còn tái nhợt điểm vẻ kinh hoàng :
- Khương lão à, cháu đi được. Lẹ lên. Đường còn xa không?
- Không xa. Gần đây là đường cái. Qua đường về tới làng Thái Phước rồi. Cứ an tâm. Đứa nào tới đây thì đã có rìu này sợ chi. Nào đi.
Khương lão nghĩ sao nói vậy, thực thà, có biết đâu nếu ác tăng đuổi tới thì cả ba cùng tang mạng ngay, Lão tiều đi trước, Vương Muội Muội đi giữa, thiếu niên đoạn hậu.
Ba người theo đường mòn lẹ bước trên lá khô sột soạt. Thiếu nữ nóng ruột, lo sợ, thỉnh thoảng ngó lại phía sau, e có người đuổi.
Hồi lâu, ra tới cửa rừng, lão tiều nói :
- Hãy ngừng bước để ta coi xem có chi lạ trên đường không đã. Nói đoạn, Khương lão ngồi thụp xuống bò ra khỏi cửa rừng nhìn hai đầu đường...
Từ phía làng Thái Phước có hai người đi tới. Lão tiều nhìn kỹ, nhận ra hòa thượng và một người râu quai nón...
Lão toát mồ hôi, bò thụt lại vào, rằng :
- Nguy rồi có hai người, hòa thượng và râu quai nón đi tới. Rút lui mau chui vào lùm cây rậm rạp ở phía tả kia kìa... Mau!
Cả ba người vội vàng chạy tới bụi cây chui trốn vào giữa lùm lá cây, nín thở. Thiếu nữ mặt cắt không còn chút máu, nghe rõ tiếng chân đi ngoài đường.
Bỗng tiếng chân ngừng lại, tiếng hai người nói chuyện ồm ồm :
- Lưu sư huynh, tôi thấy có vật gì như người bò ở đúng chỗ này, không sai... Kìa có đường mòn vào rừng!... Ta vô coi đi?
Người khác trả lời :
- Chắc sư đệ lầm rồi. Nhiều thú nhỏ trong rừng bò ra bên đường thiếu chi! Hễ thấy người đi qua, thú lại chạy trở vô. Con đường mòn này là của bọn tiều phu đốn củi, vô làm chi cho phí công! Con bé đó chắc lạc vào rừng sâu toi mạng rồi. Từ am đó đi vòng trong rừng biết sao được phương hướng mà về tới đây? Ngay như anh em ta cũng còn có thể bị lạc nữa là!
Hòa thượng không nói gì, vác đồng trượng bước vào cửa rừng mấy bước, ngó qua một bên giây lát mới trở ra.
- Lưu sư huynh nói phải. Thôi đi. Ta đem các thức ăn và rượu này về am đêm rồi nhậu chơi. Có thì giờ ta sẽ lùng kiếm con khác.
Hai người lại tiếp tục đi thẳng. Bọn lão tiều nghe rõ chuyện Đầu đà và tặc đạo vừa rồi nói mồn một. Cả ba lo sợ, mồ hôi toát ra như tắm.
Chờ một hồi khá lâu ước chừng chúng đi đã xa, thiếu niên nói :
- Phụ thân và Vương Muội Muội ngồi yên đây, tôi ra xem tình hình thế nào đã.
Thanh niên nhẹ nhàng bò ra tới cửa rừng ló đầu nhìn, nghe ngóng. Bốn bề yên lặng. Tiếng gió xào xạc lá cây và tiếng chim rừng véo von từng hồi.
Chúng đi rồi. Về làng mau.
Khương lão tiều và thiếu nữ chui ra khỏi bụi cây. Ba người đi nép bên đường mải miết về làng Thái Phước. Không mấy chốc đã tới nơi. Họ đi lối sau thẳng tới nhà họ Vân, nên trừ mấy nhà lối xóm, không một ai trong làng hay biết gì cả.
Vợ chồng Vương Lục và người nhà đang khóc lóc vì Vương Muội bị mất tích, bỗng nhiên thấy con gái về thì ai nấy đều mừng rỡ, mừng mừng, tủi tủi hỏi han câu chuyện.
Vương Lục mời cha con lão tiều vào nhà. Vương Muội kể việc xảy ra đêm rồi cho mọi người nghe.
Lão tiều bảo Vương Lục :
- Tuy Muội Muội đã thoát nạn nhưng chưa chắc tên hổ mang đó đã chịu thôi, vậy chẳng nên cho Muội Muội ra khỏi nhà, kín tiếng và đừng cho ngủ trên lầu nữa. Chừng nào tình hình êm dịu hẳn sẽ hay.
Vợ chồng lão Vương khen phải, giữ cha con lão tiều lại làm rượu tạ ơn.
Vương Muội Muội vào nhà trong thay y phục và buộc các vết thương.
Khương lão bảo con trai :
- Con nên về qua nhà nói cho mẹ biết là cha ở đây, kẻo thấy lâu không về ở nhà nóng ruột.
Vợ Vương Lục là Lâm thị ngăn lại :
- Hà tất cháu phải mất công, để ta cho thằng Vương Định tới nhà mời Khương bà qua đây cũng được.
Vương Định khoác áo đi ngay.
Làng Thái Phước cũng ở trong Tiểu Bàng thôn, giàu có khang trang như bên Miêu Hoa vậy. Nhà nào cũng vách gạch mái ngói, dân số đông đảo hoặc làm nông nghiệp, hoặc thương nghiệp trù phú vô cùng.
Nói về Phi Không lúc trở vào trong am yên trí sẽ thỏa mãn lòng dục, không ngờ chẳng thấy thiếu nữ đâu cả. Y bèn lục lọi khắp trong am, thấy ngay sau bệ đá lớn có cửa nhỏ, thì đoán ngay rằng “mồi ngon” trốn chạy bằng lối đó. Phi Không trở vào lấy thiền trượng đi ra lối sau, tìm khắp các bụi rậm phía sau am hồi lâu, không thấy tăm hơi thiếu nữ đâu cả. Cố tìm ra lối đi nhưng toàn là dây rợ chằng chịt, chính y đi cũng còn khó nữa là thiếu nữ ấy chân yếu tay mềm.
Phi Không nghĩ thầm :
- Hay là Lưu Nghị manh tâm có đồng lõa, dụ ta ra phía trước nói trí trá, rồi một tên ở trong am núp đâu đó đem thiếu nữ đi?
Nghĩ đoạn, Phi Không vác thiền trượng đi vòng ra phía trước am gọi lớn :
- Lưu sư huynh.
Không có tiếng trả lời, Phi Không nổi giận đùng đùng hoa trượng vụt mạnh vào thân cây ở ngay tầm tay.
- Rắc! Cây đó gãy đôi cành lá đổ xuống rào rào.
Bỗng Lưu Nghị từ trên cây lớn cách đó vài trượng nhảy xuống ngơ ngác hỏi :
- Ủa! Sư đệ làm chi vậy khiến qua đang thiêm thiếp ngủ phải giật mình. “Vưu vật” đâu rồi. Mau lẹ vậy?
Phi Không hằn hộc :
- Quay vào am thì con bé biến đi đâu mất rồi! Có lẽ trong lúc bọn ta phân trần, nó thừa dịp trốn ra lối sau.
- Có trốn cũng chẳng đi được xa, rừng cây rậm rạp thế này. Chờ sáng rõ sẽ tìm.
Hai người cùng trở vào trong am đốt lửa lên.
Lưu Nghị nói :
- Tại ta cản trở mới dở dang thế này, nếu không mọi việc đã xong rồi!
Phi Không đáp :
- Nói tới việc đó làm chi? Điều cần nhất là con bé thoát khỏi nơi này sẽ nói lộ hình tích của ta.
- Chẳng kiếm ăn nơi này, đi nơi khác lo chi! Thiên hạ rộng rãi mênh mông. Qua thay đổi nơi làm ăn luôn luôn. Cón bé ấy không thoát được miệng thú dữ, nếu nó luồn lối sau am vào rừng sâu.
Nói đoạn Lưu Nghị trèo lên bệ đá cao lấy bầu rượu và hai chiếc ly sứt mẻ đầy rượu đưa cho Phi Không một ly :
- Sư đệ uống chút ít rượu cho ấm người chờ sáng sẽ tìm kiếm lần nữa xem sao À, sư đệ bắt nó ở đâu?
- Ở nơi thôn lớn cách đây mười lăm dậm.
Đầu thôn hay cuối thôn? Lối nào đi lại?
- Lối Quế Dương đi lại, tôi ngừng lại đó dùng bữa trong tửu quán, chợt thấy con bé này đi qua, liền theo biết nhà, đêm mò tới dùng muội hương bắt. Cõng nó qua đây định vào rừng vầy cuộc mây mưa, xong việc sẽ hạ sát cho mất xác tiêu tan, không ngờ thấy am này vừa vào thì gặp sư huynh.
- Lối Quế Dương tức là làng Thái Phước. Chờ sáng bọn ta tìm kiếm nếu không thấy, sẽ qua đó thăm dò nếu không thấy động tĩnh gì thì tức là con bé chui vô miệng thú dữ rồi.
Hai người khề khà uống rượu suông tới sáng rõ bèn vác khí giới ra phía sau em tìm hồi lâu, không thấy dấu vết chi cả đành bỏ dở.
Phi Không nói :
- Thôi, về am, mất công vô ích, chắc nó chết trong rừng rồi.
Chúng ta về thẳng làng Thái Phước xem thế nào.
Hai người nhân lúc trên đường vắng người bèn trổ thuật phi hành đi cho mau lẹ. Thấy Phi Không chạy lướt như gió, thuật phi hành đã đạt tới mực tối cao, Lưu Nghị tấm tắc khen thầm. Về phần Phi Không hiểu bản lãnh họ Lưu còn sút kém nên thoạt đầu trổ tài cho Lưu Nghị phải kiêng nể. Sau thấy y theo không nổi, bèn chậm bước lại.
- Sư đệ theo sư phụ bao nhiêu năm?
- Trên mười bốn năm.
- Thảo nào công phu y hệt sư phụ. Ngoài ra còn ai nữa không?
- Còn sư huynh Thiên Không nữa nhập môn đúng mười hai năm, được thầy coi như môn đồ trưởng...
- Ủa! Sao lạ vậy? Công phu của y còn kém sư đệ ngót ba năm sao được coi là trưởng tràng?
Biết mình đã nói lỡ, Phi Không vội chữa :
- Vì Phi Không hơn tuổi tôi và ở lại trụ trì hầu thầy ở Thiên Linh Tự.
Hai người im lặng phi hành, không mấy chốc tới nơi. Bèn đi lảng vảng quanh mấy phố buôn bán nghe ngóng cũng không thấy sự gì lạ. Phi Không kéo Lưu Nghị vào tửu điếm điểm tâm.
Lưu Nghị lắc đầu :
- Thôi, chẳng nên ở lâu nơi đây. Chúng ta qua bên Miêu Hoa có tửu quán tốt lắm sẽ vào ăn uống thanh thản hơn.
Hai người ra khỏi khu vực Thái Phước thẳng tới Kim gia quán. Ăn xong, Lưu Nghị mua thêm rượu và mấy thứ thức ăn gói lại thành bọc quẩy về am. Bởi vậy khi qua cửa rừng, bọn Khương lão tiều mới trong thấy và trốn thoát, về tới am Lưu Nghị hỏi Phi Không :
- Sư đệ có cần đi đâu gấp không?
- Bước giang hồ bất định, còn việc chi gấp nữa!
- Nếu vậy, sư đệ nán lại khu này ít ngày, ta đón làm một mối tốt rồi sẽ đi. Qua sẽ đi cùng. Trên đường này có khách thương trường qua lại.
Phi Không cười :
- Thế cũng hay. Ta sẽ đi Võ Đang sơn xem họ Trương có ba đầu sáu tay hay không mà khiến sư huynh ca tụng dữ dội vậy?
Hai người ở với nhau với hôm thứ tư. Ngày ngày, cả hai cùng ra đón núp bên sườn núi, thì gặp xe Đặng Tam và Thạch tú tài đi qua.
Sở dĩ, bọn người trong xe chỉ trông thấy có Lưu Nghị là vì Phi Không lánh mặt ngồi cách xa chỗ phiến đá. Tới khi Lưu Nghị trông thấy Hàn Mỹ Vân xinh đẹp, bèn báo cho Phi Không biết. Phi Không nhẹ nhàng chuyền qua các cành cây núp nhìn thấy Hàn thị nhan sắc bội phần thì nhểu nước miếng, trố mắt cá ngáo ra nhìn không biết chớp.
Chờ xe ngựa đi khỏi, Phi Không bảo Lưu Nghị :
- Tôi không muốn ra mặt, sư huynh theo xem chúng đi đâu, đêm nay hành động.
Sao không thấy người đẹp, tôi đã ngứa ngáy cả người rồi, nhưng không thể hấp tấp được. Trước hết coi bộ xe này, ngoại trừ cô ả nọ, chắc không có nhiều tiền bạc. Như vậy có hạ sát thêm ba người trên xe cũng không được việc chi hay hơn. Chi bằng đến đêm sẽ bắt cô ả về am hành lạc rồi phi tang. Rồi chờ bọn khách thương khác làm một “chầu tiền ăn đường” chớ.
Lưu Nghị thấy Phi Không tính toán đâu ra đấy cũng khen phải :
- Sư đệ thật túc kế đa mưu, chắc thế nào cũng đạt được địa vị cao cả.
Vì thế Phi Không và Lưu Nghị mới gặp Thiết Xích Tử, Trương Tam Sơn trong Kim gia quán như đã nói ở đoạn trên.
Đêm hôm ấy, cũng như mọi đêm, Tiểu Bằng thôn vắng vẻ, mọi nhà đều đóng cửa sớm đi ngủ. Toàn thôn chìm trong bóng tối. Ngoài tiếng chó thỉnh thoảng sủa từng hồi như xua đuổi những hình bóng ma quỷ, toàn thôn yên lặng. Từ phía rừng trước mặt vọng ra những tiếng thú săn đêm hoặc tiếng cú rúc rợn người.
Như hai bóng ma chập chờn, Phi Không và Lưu Nghị xuất hiện từ cửa rừng, phi hành vùn vụt tới Kim gia quán. Hai bóng ấy nhảy lên tường rồi chuyền xuống sân núp trong bóng tối nghe ngóng. Bỗng tiếng chó sủa vang phía sau quán... Phi Không bấm Lưu Nghị chạy ra sân, nhảy vút lên nóc nhà nhẹ nhàng không tiếng động nhỏ. Hai người nằm ép xuống mái nhà như hai con thằn lằn, nghe ngóng.
Canh ba rồi! Từ xa vọng lên mấy tiếng mõ cầm canh. Trong tửu quán, ai nấy đều ngủ say, yên lặng như tờ và không một bóng lửa.
Hai người nhảy vào hành lang trên lầu áp tai vào cửa sổ nghe ngóng. Phi Không chỉ tay vào trong ra hiệu cho Lưu Nghị biết là trong phòng đó có người ngủ. Phi Không rút ở ngực áo ra cây muội hương, dắt tay Lưu Nghị nhảy xuống mặt tường chuyền ra ngoài đánh lửa thắp, rồi lại phi thân trở vào chỗ cũ. Lưu Nghị đang loay hoay tìm khe cửa gài muội hương vào phía trong, thì bỗng nhiên bị một vật gì rắn chọi trúng lưng đau điếng người. Vật đó rớt xuống sàn đánh bộp một cái.
Phi Không đứng bên Lưu Nghị thấy vậy toan cuối xuống nhặt vật đó lên xem là cái gì, nhưng chợt nghĩ đây là một sự bất thường nên kéo vội Lưu Nghị đứng sát vào vách coi động tĩnh. Hai người vừa quay mặt ra thì chính ngay Phi Không bị vật rắn từ phía trước liệng vào chọi trúng trán rồi rớt xuống gạch lăn lông lốc. Kéo vội Lưu Nghị dời chỗ dựa lưng sang vách bên kia. Phi Không đưa ray lên sờ trán thấy rướm máu, Lưu Nghị cúi xuống nhặt vật đó lên coi thì ra là viên đá lớn bằng nửa nắm tay. Tuy Phi Không bản lãnh cao siêu và có nội công nhưng trong khi bất ngờ bị viên đá củ đậu chọi trúng trán cũng phải đau chảy nước mắt. Phi Không đứng im định thần nhìn ra sân xem động tĩnh. Hoàn toàn im lặng.
Dù cho kẻ nào đứng ở dưới sân cũng không thể liệng đá lên lầu như vậy được. Kết luận, người ném đá phải núp trên cây ở giữa sân kia. Làm thế nào nhìn thấu suốt đám cành lá um tùm kia được? Trong đêm tối, kẻ liệng đá vừa mạnh vừa trúng như vậy tất phải là người có bản lãnh. Ai? Ai đã đoán biết được hành tung của mình theo dõi trêu chọc thế này? Phi Không suy luận cố nhớ ra xem đã gặp ai. Chỉ có chiều nay trong Kim gia quán, mấy người không đáng kể trừ hành khất ăn uống như ma đói... À, chính tên này rồi! Phi Không chợt hình dung ra cái xích sắt mà tên hành khất quấn ở lưng. Chắc nó rồi?
Nghĩ đoạn, Phi Không vội kéo Lưu Nghị qua dãy hành lang trên lầu vào trong, phi thân lên nóc nhà nằm ép xuống bò ra phía trước nhìn xuống sân. Nhưng y quay vội lại né sang bên thì vừa kịp tránh một viên đá nữa do bóng đen từ phía sau liệng tới. Viên đá trúng mái ngói ngay nơi Phi Không tì đầu vừa rồi. Chát! Mấy viên ngói bể tung ra, viên đá theo chiều dốc lăn lộc cộc xuống mái dưới khiến người trong nhà giật mình gọi nhau kéo cả ra sân nhìn lên. Phi Không nhận ra kẻ liệng đá trêu chọc không phải ai xa lạ mà chính là người hành khất ban chiều...
Nguyên Trương Tam Sơn lúc chiều ở Kim gia quán nghe rõ câu chuyện bằng tiếng lóng giữa Phi Không và Lưu Nghị. Họ Trương nhớ ra cách đây trên mười năm trong khi chàng lên Tiêu Anh phủ vắng mặt, Lưu Nghị về tận Trương gia thôn định báo thù, không ngờ gặp Trương Tam Vân và Tam Nương trổ mấy thuật nhỏ, nên sợ bỏ đi mất.
Trương Tam Sơn nghĩ thầm :
- Thì ra tên này vẫn đầu trộm đuôi cướp không biết hối cải làm ăn lương thiện. Mười mấy năm nay, chắc y đã hại nhiều người rồi.
Chàng kín đáo nhận xét Phi Không, biết ngay không phải tay xoàng :
- Nếu lúc này ta không ra tay ngăn cản hành động của bọn hắc đạo này đêm nay thì còn chờ chi nữa. Hừ! Được lắm, ta sẽ dành cho hai tên này nhiều sự bất ngờ!
Nghĩ đoạn, Trương Tam Sơn đeo bầu rượu vờ ra đi. Thực ra, chàng đi lang thang ra chỗ vắng người tìm cây to nhảy lên cành lớn, đánh một giấc ngủ thiệt ngon lành đến tối mịt mới tỉnh dậy. Nhìn bóng đèn đây đó le lói trong Tiểu Bằng thôn, chàng chắc hãy còn sớm. Trương Tam Sơn chờ tới khi mọi người trong thôn tắt hết lửa đèn mới dậy vươn vai, mở nút bầu rượu tu một hụm lớn rồi nhảy xuống đất. Vừa lúc tiếng mõ trong thôn cầm canh hai.
Trương Tam Sơn đủng đỉnh đi vòng tới Kim gia quán. Bốn bề im lặng như tờ. Tam Sơn tìm chỗ thiệt tối vượt qua tường vào trong sân núp nơi gốc cây nghe ngóng. Chàng lượn mấy viên đá rồi nhảy lên cành cây cao ngồi chờ... Quả nhiên sang đầu canh ba, bọn Phi Không tới... Chàng bèn liệng đá chọi chơi.
Tới lúc Phi Không kéo Lưu Nghị theo hành lang vào phía trong, Trương Tam Sơn bèn nhảy xuống sân, phi thân lên lầu theo hút hai người.
Một bên Phi Không và Lưu Nghị chú ý đến phía sân. Một bên Trương Tam Sơn đoán được ý định của bọn Phi Không nên theo hút ngay phía sau khiến hai người không ngờ. Nhưng tới lúc Trương Tam Sơn liệng viên đá thứ ba thì Phi Không như con báo rình mồi biết ngay nên tránh kịp.
Lẳng lặng không nói gì, Phi Không chồm tới hoa thiền trượng đánh liền, Lưu Nghị cũng múa giáo nhảy tới. Trương Tam Sơn chống tay hai bên sườn ha hả cười :
- Ủa! Hai tên tặc đạo, ác tăng này còn dám đánh người nữa? Không chạy cho mau, mọi người bật hông đốt đuốc nhận được mặt thì hết làm ăn bây giờ.
Vừa dứt lời, ngon trượng đã vụt tới ngay đầu.
Trương Tam Sơn đưa cánh tay đã quấn sẵn xích sắt gạt bật cây trượng sang một bên.
Phi Không kinh ngạc nghĩ thầm có lẽ tên hành khất này mình đồng xương sắt chăng.
Ngọn giáo của Lưu Nghị đâm tới cũng bị gạt bật sang bên, họ Lưu thấy buốt cả tay.
Trương Tam Sơn ha hả cười:
Phi Không đùng đùng nổi giận. Từ hai năm nay, y chưa hề bị ai khinh miệt coi thường như bây giờ. Bên múa trượng vụt luôn mấy đòn dữ dội khiến Trương Tam Sơn phải lùi lại mấy bước. Mọi người trong quán thắp đuốc đứng dưới sân xem sáng rực như ban ngày. Người lối xóm cũng kéo ra xem đông nghẹt. Tiếng chó, bị động sủa ầm ĩ. Chủ quán, cha con Đặng Tam và Thạch tú tài nhận ra người râu quai nón và Đầu đà uống rượu tại quan lúc ban chiều. Nhưng họ không hiểu tại sao người hành khất bợm rượu lại cùng hai tên nọ chờ đêm tối đem nhau lên mái tửu quán đánh nhau ghê gớm vậy.
Trên nóc nhà, ba người quây vào tranh đấu rất dữ dội. Từ nãy giờ, Trương Tam Sơn chỉ gạt đỡ hoặc né tránh, chưa hề trả đòn. Bỗng trong chớp mắt, thừa dịp Lưu Nghị ham đòn tiến lên, Phi Không chỉ kịp nhìn thấy Trương Tam Sơn vung tay, một vật gì đen kịt vùng ra như con rắn quấn chặt lấy cổ chân Lưu Nghị.
Tam Sơn giật mạnh, Lưu Nghị thét lên một tiếng đau đớn, hai chân bị hất tung lên trời lao đầu xuống đất. Cây giáo rời khỏi tay Lưu Nghị lăn theo chiều mái xuống sau, cắm phập mũi xuống sân, khiến mọi người rú lên chạy dãn sang cả hai bên sân.
Lúc bấy giờ, Trương Tam Sơn mới vung xích sắt tấn công như gió bão. Dây xích lợi hại lúc vươn ra như con hắc long quẫy khúc, lúc thâu lại quấn tròn quanh cánh tay họ Trương xuất hiện hất thường...
Trương Tam Sơn vừa đánh vừa nói :
- Ác tăng đã biết võ thuật Trương gia tại Võ Đang sơn chưa. Khỏi phải tìm kiếm đâu xa, Lão gia chính là Thiết Xích Tử Trương Tam Sơn ở Trương gia thôn!
Phi Không nổi giận :
- Ai sợ họ Trương chớ Phi Không này coi thường!
Nói đoạn, Phi Không vận dụng hết tài lực hoa trượng đánh như mưa sa bão táp, mỗi thế đánh ra là một đòn trí mạng, mỗi biến thế là một tuyệt kỹ của nhà nghề, chỉ hở chân tơ, kẽ tóc, đối phương cũng đủ hoảng mạng rồi. Trương Tam Sơn khen thầm Phi Không tài nghệ quả xứng danh tuyệt kỹ, tiếc rằng y sai đường lạc lối, nếu không với công phu võ thuật ấy, làm chi y không nổi danh hiệp khách trong chốn giang hồ, tên tuổi ghi chép sử xanh. Hai người quấn lấy nhau đấu một trận thư hùng. Trận tuyến thay đổi hết ở mái nhà lên đỉnh nóc, từ mái trên xuống mái dưới, say đòn y hệt cặp gà chọi. Một bên quyết chí phục thù, trổ tài vô địch những mong hạ kỳ được đối thủ để thoát thân. Tành ra trận đấu đã kịch liệt lại quyết liệt thêm.
Nói về Lưu Nghị té từ trên mái cao xuống đất, đầu xuống trước bị gãy cổ chết tươi. Thật ra nếu họ Lưu không bị dây xích sắt của Trương Tam Sơn giật gãy lìa cỗ chân thi khi té y có thể uốn người cho chân xuống trước theo phương pháp phi hành thuật được. Trái lại, lúc này Lưu Nghị đau quá mất bình tĩnh nên táng mạng. Âu cũng là số trời, tới lúc y phải đền tội ác đầy dẫy trong cuộc sống gian tà của y.
Người nọ bảo người kia thành thử dân hai khu Miêu Hoa và Thái Phước ai nấy đều đốt đuốc kéo đầy cả ra đứng vòng trong vòng ngoài Kim gia quán xem người lạ bắt giặc. Trong bọn có cả cha con Khương lão tiều và cha con Vương Lực.
Lúc Lưu Nghị té xuống đất, họ xúm vào xem. Khương lão tiều nhận ngay ra Lưu Nghị bèn nói với chủ quán mọi người :
- Chính tên đạo tặc này đi với ác tăng tìm bắt Vương Muội Muội hôm đó. Nếu nó mò tới tửu quán này tất phi dâm tặc đạo.
Đặng Tam gật đầu nói :
- Phải rồi! nói tới đây chắc chắn với ý định bắt cóc khách hàng thuê xe của tôi đó. Trưa nay, nó theo dõi xe tôi đến tận khu vực này, khiến tôi đã lo cho cuộc lên đường ngày mai.
Mỗi người một câu, bàn tán ồn ào cả phía dưới. Phi Không và Trương Tam Sơn đấu ngay tay vừa về võ thuật lẫn sức lực. Thiết xích và đồng trượng hoa múa tạo nên những luồng gió rít lên như tiếng ma hú rùng rợn giữa đêm trường. Biết là gặp đối thủ cao siêu, Phi Không tính bề khó thủ thắng. Lưu Nghị té xuống nằm thẳng không cựa quậy thế kia chắc táng mạng rồi, thì không có lý do gì nán lại nơi đây để đón lấy nguy hiểm nữa. Vừa đánh vừa nhận xét thấy người trong thôn ra đông nghẹt đuốc đốt sáng trưng, tình hình nguy ngập, chi bằng chạy là hơn, chờ dịp khác gặp họ Trương sẽ báo thù, đánh nhau một trận phân thua hơn kém. Nghĩ sao làm nấy, Phi Không tiến vụt mấy đòn chí tử khiến Trương Tam Sơn buộc lòng lùi lại vài bước.
Thừa thế, Phi Không hét :
- Coi thần đạn của ta đây!
Trương Tam Sơn vội ngồi thụp xuống tránh luồng đạn do tay địch thủ vung lên nhưng không thấy chi cả, định thần lại thì Phi Không đã chuyền sang nóc nhà bên, vác trượng phi hành như én bay... Biết có đuổi cũng vô ích, Trương Tam Sơn thâu xích sắt lại quấn lưng đứng nhìn cho tới khi Phi Không khuất hẳn vào trong đêm tối mới nhảy xuống đất trước nét mặt hân hoan của mọi người.
Họ Trương nhảy lên mặt tường nói lớn :
- Hai tên tặc đạo này dòm ngó bàn nhau từ hồi chiều định bắt cóc phụ nữ trọ trong tửu quán này. Nghe biết nên tôi là khách qua đường tới giải cứu. Đầu đuôi câu chuyện có vậy thôi. Hiện có một tên bị táng mạng, nếu nhà chức trách sở tại cần hỏi, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Chủ quán đứng ra nói :
- Hiệp khách ra tay trừ bạo, cứu cho Tiểu Bằng thôn này khỏi nạn đạo tặc là may cho chúng tôi lắm rồi. Mọi việc cúng tôi lo liệu lấy, xin người chớ quan tâm. Nay mời hiệp khách vào nhà đã cho chúng tôi được giãi bày tâm sự.
Trương Tam Sơn từ trên tường nhảy xuống theo chủ quán vào trong tiệm. Mấy người nhà đã được chủ quán dặn bảo nên gọi thêm mấy người trong làng Miêu Hoa khiêng xác Lưu Nghị đi nơi khác. Trương Tam Sơn vừa vào tới trong quán lại ra sân nhảy lên cây lấy bầu rượu treo trên đó xuống, và rút cây giáo cắm ở sân đem vào nhà, giơ bầu rượu cho mọi người trong quán xem :
- Quên thứ gì, chớ thứ này không bao giờ Trương mỗ quên được!
Ai nấy đều vui vẻ cười rộ lên. Thạch tú tài tiến đến trước mặt họ Trương vái lạy.
- Thạch mỗ xin một lạy tạ ân nhân. Hai tên tặc đạo vừa rồi tới đây không ngoài mục đích bắt cóc tiện nội. Vợ chồng tôi lo lắng từ trưa tới giờ, không ngờ được ân nhân tiếp cứu. Trái lại thì đã nguy rồi còn chi nữa. Xin người cho biết quý tánh cao danh để chúng tôi được ghi nhớ ơn sâu mãi mãi...
Trương Tam Sơn đỡ Thạch tú tài dậy :
- Chúng ta nam nhi chi chí, sá chi điều nhỏ mọn ấy mà nói tới ơn với huệ. Anh em bốn bể một nhà giúp nhau được phần nào hay phần đó. Tôi là khách giang hồ lãng tử màn trời chiếu đất, đâu cũng là nhà, thế nào anh em ta chẳng còn có phen hậu hội? Cứ gọi tội là Thiết Xích Tử là được rồi. Còn quý khách là chi?
Thạch tú tài xưng danh vừa xong thì chủ quán đã sai tửu bảo bày một bữa thịnh soạn lên thôi lớn ở giữa nhà.
Chủ quán mời :
- Sau trận đánh này, chắc hiệp khách cần giải khát, mong người vui lòng nhập tiệc cho.
Nói đoạn, chủ quán mời cả Thạch tú tài và cha con Đặng Tam.
Trương Tam Sơn cười :
- Rượu thì mỗ không bao giờ chối từ.
Mọi người xúm vào ăn uống vui vẻ. Tiệc tan, trời đã mờ mờ sáng. Thạch tú tài lưu Trương Tam Sơn lại chơi :
- Nhân dịp này, tôi còn lưu lại đây, e tên ác tăng đón đường cướp bóc chăng. Chi bằng mời hiệp khách cùng nán lại đây, đã ra tay tế độ thì cứu giúp luôn thể. Vài ngày an tĩnh sẽ lên đường.
Trương Tam Sơn vui vẻ nhận lời ở lại Kim gia quán.
Ngày ngày cùng Thạch tú tài uống rượu đàm đạo, Tam Sơn thấy họ Thạch tứ thư, ngũ kinh thuộc như nước chảy thì có ý khen thầm con người này chắc thế nào chả đắc lộ thanh vân.
0
Hồi 14
Đả Vô Thường Xích Quỷ, Đức Kiệt cứu người hoạn nạn
Đôi vòng ngọc Thấu Lục, Lam Y răn kẻ gian tham
 
Kể chuyện tới đây, Thiết Xích Tử tự rót một ly rượu đầy uống cạn rồi nhìn mọi người.
Lam Y nữ hiệp hỏi :
- Từ hồi ở Tiểu Bằng thôn tới nay có chuyến nào tiên sinh gặp y nữa không?
Thiết Xích Tử lắc đầu :
- Không, nhưng bạn tôi có gặp y, kể lại tôi mới hiểu y có yếu điểm ở gáy.
Phàn Thế Hùng hỏi :
- Thế còn ngọn giáo sắt của Lưu Nghị?
- Lẽ cố nhiên tôi để lại Kim gia quán hiện nay hãy còn đó.
Chu Đức Kiệt nói :
- Khi nào qua Võ Đang sơn tôi sẽ tới bái kiến lệnh đệ Tam Vân mới được.
Thiết Xích Tử niềm nở :
- Các vị sẽ là thượng khách của Trương gia. Gia đệ ít đi xa, nhưng lại ưa thích tiếp đãi hảo hán giang hồ. Các cháu bây giờ cũng lớn cả rồi.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Vợ chồng Trại Lữ Bố vẫn ở Trường Sa?
- Cơ sở bảo tiêu của y lớn lắm. Khắp đất Giang Nam, ai cũng biết tiếng. Cờ họ Hoàng đi tới đâu, bọn bắc đạo cũng phải nể nang. À thế còn việc dò hỏi xem quan sở tại hành động thế nào về vụ Kim Cương tự, vị nào đảm nhiệm đây? Nên dò hỏi cho đích xác phân minh trước khi ta rời khỏi đất Dương Châu.
Phàn Thế Hùng nói :
- Việc đó xin mặc tôi đảm nhiệm. Nhưng tiên sinh còn lưu lại đây chơi ít ngày đã?
- Vâng, kẻ lãng tử giang hồ như tôi đi lúc nào cũng được, hiện không có việc chi gấp nhưng cũng chẳng muốn ở đâu quá lâu.
Hạ thái thái bảo anh em họ Phàn :
- Từ hôm tới Dương Châu gặp việc lôi thôi ngay. Trương tiên sinh và nhị vị Chu hiệp đây cũng chưa rảnh thì giờ nhàn du, chi bằng các cháu mời quý vị đi du ngoạn Thanh Dương hồ có hơn không?
Phàn Thế Hùng :
- Cô mẫu không nhắc cháu quên khuấy đi mất. Hôm nọ, Vương lão có nói tới Hải Hồ tửu điếm mới được thành lập tại đó. Quý vị đồng ý không?
Thiết Xích Tử cười lớn :
- Được lắm chứ! Chúng ta tới Dương Châu cũng không ngoài mục đích nhàn du, nhưng...
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Nhưng sao?
Thiết Xích Tử chỉ vào mặt và bộ áo lam lũ của mình :
- Nhưng diện mạo và y phục thế này mà đi theo quý vị thì khó coi quá!...
Lam Y nữ hiệp mỉm cười :
- Thiên hạ biết ngay là Quái hiệp chứ sao?
Ai nấy đều tủm tỉm cười theo Lam Y.
Hà Thái Phượng nói với mẹ :
- Mẫu thân cho phép con cùng đi nhé!
Hạ thái thái lườm con :
- Đi với biểu huynh, biểu muội và quý vị thì còn gì chắc chắn bằng, nhưng quý vị đây chỉ qua chơi Dương Châu rồi lại đi nơi khác. Nếu bị kẻ lạ chú ý xảy ra chuyện lôi thôi nguy hiểm khi mọi người lên đường rồi thì còn xử sự ra sao?
Hà Thái Phượng cúi đầu nín thính.
Lam Y nữ hiệp nói :
- Thái thái cứ an tâm cho phép Thái Phượng cùng đi. Chúng cháu chú ý, nếu có kẻ theo dò thì sẽ biết ngay. Xin đừng lo.
- Nếu vậy, tôi hoàn toàn tin cậy ở người.
Thái Phượng vốn dĩ chẳng được đi đâu. Nay được phép cùng đi với mọi người thì mừng rỡ ra mặt.
Sáng hôm sau, đầu giờ thìn, trong khi mọi người đang sửa soạn đi chơi thì Vương lão sang chơi hỏi Phàn Thế Hùng :
- Việc Kim Cương tự đồn đại khắp Dương Châu rồi đó. Quan sở tại đã lập biên bản, cho chôn các xác chết, giả tán bọn phụ nữ bị bắt về quê quán, trao toàn quyền hành động cho Tĩnh Độ hòa thượng sửa sang lại chùa cho được như cũ.
Phàn Thế Hùng hỏi :
- Thúc thúc nghe tin đó ở đâu vậy?
- Một người có tín nhiệm làm việc trong dinh quan sở tại học lại như vậy.
- Quan sở tại Dương Châu tên họ là gì, thúc thúc có biết không?
- Biết chứ một Họ Phùng tên Đình Sơn người Sơn Tây, Thái Nguyên phủ. Từ ngày bổ nhiệm tỉnh này liêm chánh lắm.
Lý quản gia hầu trà.
Vương lão dùng trà xong cáo từ ra về. Phàn Thế Hùng cảm ơn, đưa khách ra tận cửa.
Lúc trở vào thì mọi người đã đông đủ chờ ở nhà khách rồi, trừ có Thiết Xích Tử chưa xuống lầu.
Chu Đức Kiệt nói cợt :
- Trương tiên sinh chậm trễ, có lẽ còn đang trang điểm.
Có tiếng ở ngoài vọng vào :
- Phải rồi, Trương tiên sinh trang điểm xong rồi và xuống đây nè...
Mọi người nhìn ra cửa ngạc nhiên.
Người vừa nói đó là Thiết Xích Tử gọn gàng trong bộ võ phục, tay vắt áo bào dài, râu tóc gọn gàng, sắc mặt đỏ gay như Cầu Nhiêm Công thuở xưa vậy.
Ai nấy đều trầm trồ khen ngợi.
Chu Đức Kiệt nói :
- Thế mà tôi cứ tưởng Quái kiệt chỉ biết uống rượu thôi chớ không biết trang điểm!
Thiết Xích Tử vuốt bộ râu quai nón :
- Chà! Trước khi đổi dạng hành khất, dễ thường người ta không là Nhất Lang nhà Trương đó hả?
Mọi người ổ lên.
Lam Y nữ hiệp lên lầu lấy Thái Dương kiếm, Thất Tinh đao đưa cho Lý quản gia cất đi.
Lý Trung cười :
- Nữ hiệp cẩn thận quá vậy?
- Bản tánh tôi vậy. Anh em tôi chừng nào rời hai thứ bảo vật ấy ra thì phải trao cho người thân tín kín đáo giữ gìn mới an tâm.
Lý quản gia lãnh hai võ khí bỏ vào rương trong phòng khách, rồi hỏi anh em Phàn gia :
- Khí giới quý vị đâu, đưa tôi cất đi luôn thể?
Phàn Mộng Liên nói :
- Võ khí của chúng tôi là thứ thường dễ kiếm không đáng kể. Cất làm chi mất công?
Hạ Thái Phượng đẹp lộng lẫy trong bộ xiêm y mới.
Lam Y nữ hiệp nhìn không chớp mắt :
- Tuyệt mỹ! Chẳng như tôi võ biền! Nếu tối là đầu đà bữa trước thì Ngọc mỹ nhân này chẳng còn về đây nữa!
Mọi người lại cười ồ lên. Hạ Thái Phượng thẹn đỏ mặt. Phàn Thế Hùng nhắc lại câu chuyện về vụ quan sở tại phân phối tại Kim Cương tự cho anh em Chu gia và Xích Tử nghe.
Ba người cùng hài lòng.
Lam Y nữ hiệp nói :
- Ta ra phố chứ. Gần hay xa?
Phàn Thế Hùng nói :
- Ở hướng Tây. Đi la cà qua các phố ra tới Thanh Dương hồ cũng không bao xa.
Lam Y nữ hiệp nhìn Hạ Thái Phượng nói :
- Xa hay gần chúng ta có lo chi! Tôi hỏi vậy vì nghĩ tới đôi chân nhỏ bé của Thái Phượng, e đi đâu không được.
Hạ Thái Phượng thỏ thẻ :
- Tôi rán theo, chừng nào đi không được nữa sẽ hay.
Dương Châu thành đất rộng người nhiều, phố xá rộng rãi, nhà cửa khang trang rất xứng danh với một trong những đô thị hữu danh cõi Giang Nam. Sáu người đủng đỉnh đi qua các khu buôn bán nhìn xem hàng hóa. Anh em Phàn gia mua mấy thứ hàng tặng Hạ Thái Phượng.
Phàn Mộng Liên nói :
- Phàn huynh và Phàn tỉ xử như thế ngu muội không dám nhận đâu, gia mẫu thế nào cũng quở.
- Chị em với nhau, thấy hàng đẹp mua tặng, cô mẫu trách cứ sao được. Hiền muội cứ nhận, chừng nào cô mẫu trách mắng, chị sẽ nhận cho.
Hạ Tái Phượng nhùng nhằng chưa kịp đáp thì Lam Y nữ hiệp đỡ lời :
- Phàn tiểu thư dạy thế đúng lắm rồi, Hạ muội nên vui lòng mới phải.
Hạ Thái Phượng không dám chối từ nữa, đành nhận vậy.
Lam Y nữ hiệp lại nói :
- Tôi cũng muốn mua thứ hàng tặng Phàn tiểu thư để... làm duyên, chẳng hay có ưng cây gấm màu xanh bông trắng trong góc quầy kia không?
Phàn Mộng Liên đỏ mặt :
- Ôi! Chúng ta là bạn đồng hành cả mà sao Chu hiệp lại hành động thế?
Lam Y nữ hiệp tặc lưỡi, lắc đầu :
- Vừa trách cứ Thái Phượng chối từ quà biếu, nay chính mình lại lâm vào lỗi ấy. Muốn từ chối tôi chăng?
Phàn Mộng Liên lặng thinh không dám nói gì nữa.
- Thế nào? Phàn tỉ có ưng hàng và màu sắc ấy không?
- Đẹp lắm. Tôi muốn may bộ võ phục bằng thứ đó.
Lam Y nữ hiệp vỗ vai Phàn Mộng Liên nói :
- Có thế chứ lị!
Nói đoạn, nàng bảo người bán hàng lấy sút gấm bông xuống bọc lại, và bảo Chu Đức Kiệt :
- Hiền huynh trả tiền hộ đi.
Đức Kiệt lẳng lặng lấy tiền trả nhà hàng.
Mua mấy thứ hàng xong, năm người vừa ra cửa tiệm thì thấy một người trạc ngoại sáu mươi khăn áo lếch thếch chạy trước, một thanh niên chạy sau. Người nào vẻ mặt cũng hoảng hốt sợ hãi, vừa chạy vừa ngoái lại phía sau như sợ có người đuổi vậy. Chu Đức Kiệt lấy làm lạ liền dang tay chắn hai người lại định hỏi thăm chuyện gì.
Lão trượng thất sắc thở hổn hển, vội chắp tay lạy :
- Xin tha cho tội, tôi không dám đòi nữa đâu...
Ngạc nhiên, Chu Đức Kiệt hỏi :
- Lão trượng nói chi lạ vậy? Tôi có đòi hỏi gì đâu? Vì lẽ gì lão trượng và thanh niên kia chạy như vậy?
Thấy Chu Đức Kiệt lời lẽ ôn tồn, lão trượng mới hoàn hồn, chỉ thanh niên nói :
- Lão họ Kỳ tên Đức người Hạ huyện. Còn đây là con lão tên Kỳ Thái. Hai cha con lão lên Dương Châu, cách đây hơn một tháng có mua mấy thứ cần dùng, không ngờ vào quán trọ, đêm tối bị kẻ đạo tặc nào không rõ lấy hết cả tiền bạc. Không đủ tiền trả quán trọ và lộ phí lại phải tìm tiệm cầm đồ cầm tạm chiếc vòng ngọc thấu lục của tổ tiên để lại lấy mười lượng cho đủ chi dùng rồi sẽ chuộc lại sau.
Hôm qua lão tới Dương Châu ban chiều, chờ sáng nay lên tiệm cầm đồ chuộc chiếc vòng gia bảo đó.
Người quản lý tiệm đưa trả lại chiếc vòng. Trả tiền vốn và lời xong xuôi lão đeo vòng vào tay ra đi. Ra ngoài sáng nhìn kỹ lại lão nhận thấy đây là chiếc vòng giả.
Lão bèn trở vào phân trần phải trái e rằng viên quản lý lầm lẫn với vòng của người khác chăng.
Không ngờ người này nhất định nói đây là chiếc vòng mà lão đã đem cầm, ngoài ra không còn vòng ngọc nào khác nữa.
Lão không chịu, Viên quản lý đó cũng nói là lão đòi gian vì cẩm thạch thấu lục là thứ đắt tiền, không ai dại gì mà chỉ cầm có mười lượng bạc thôi.
Lão lớn tiếng đòi vòng thiệt, lý luận với y thì y quát tháo đánh đuổi cha con lao và thách đi trình quan.
Bởi vậy lão chạy tới đây định lên phủ đường kiện lấy lại vật gia bảo đó.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Chiếc vòng gia bảo lão trượng có dấu tích gì khác thường không?
- Có chứ! Ngọc xanh thẩm, trong suốt, có một vết gân đỏ ở mặt trong. Đáng giá hàng vài trăm lượng, nhưng nó vô giá ở chỗ đã truyền lại trong dòng họ Kỳ được sáu đời nay rồi.
- Tiệm đó ở đâu, tên gì?
Kỳ Đức chỉ tay ra đầu phố :
- Ở chỗ quẹo tay tả kìa. Tên tiệm là Bảo Thành.
Từ lúc Chu Đức Kiệt ngăn cha con Kỳ Đức lại thì số người chạy theo xem cũng đứng cả lại xem tình hình biến chuyển thế nào. Chủ tiệm bán tơ lụa vừa rồi cũng đứng tò mò nghe.
Khi nghe tới tiệm cầm đồ Bảo Thành thì y nói với bọn Đức Kiệt :
- Tưởng chi, chớ tôi biết rõ sự tham lam của chủ tiệm ấy lắm. Hễ thấy báu vật là thế nào y cũng tìm cách lừa, đổi tráo cho kỳ được.
Lam Y nữ hiệp hỏi :
- Không có nạn nhân nào dám trình báo quan cả sao, mà y dám lộng hành như vậy?
Chủ tiệm tơ lụa lắc đầu :
- Chủ Bảo Thành giao du rất rộng, giới nào y cũng quen thuộc hết trình báo cũng chẳng ăn thua. Hơn nữa, trong tiệm có ba tay võ sĩ khỏe mạnh, võ nghệ tinh thông. Hễ có việc chi là khách hàng bị đàn áp ngay, viên quản lý cũng là tay vũ dũng, hung ác, tham lam hay đánh người nên người ta đặt trước hiệu Xích Quỷ Vô Thường...
- Y tên họ chi?
- Họ Hồ tên Bảo Tích.
Lam Y nữ hiệp nói với Thiết Xích Tử và bọn Phàn gia :
- Có lẽ chúng ta phải bỏ dở cuộc phiếm du này để giúp Kỳ lão trượng lấy lại của gia bảo.
Chủ hàng tơ lụa vội hỏi :
- Ủa! Quý vị định gây sự với tiệm đó sao? Không nên, chúng khỏe lắm.
Lam Y nữ hiệp cười, cám ơn người ấy, rồi bảo Kỳ Đức.
- Lão trượng theo chúng tôi sẽ dẫn đường đi trình quan cho.
Kỳ Đức và Kỳ Thái thấy bọn năm người vẽ mặt hiền lành liền vâng dạ đi theo.
Những người qua đường lò mò đứng lại xem cũng tản đi.
Lam Y nữ hiệp nói với anh em họ Phàn :
- Vì con phải giúp cha con Kỳ lão trượng, bọn ta đi đông thế này không tiện, vậy nhị vị nên hộ tống Hạ tiểu thư về nhà trước. Nếu muốn coi việc này ra sao, xin cứ tới tiệm cầm đồ Bảo Thành ở nơi vừa rồi.
Phàn Thế Hùng nghĩ Lam Y nữ hiệp hành động phải lẽ, vui vẻ nhận lời ngay :
- Giúp người là việc gấp, chúng ta phiếm du thì lúc nào đi cũng được. Để tôi gọi kiệu đưa Thái Phượng về rồi trở lại đây ngay. Nhân tiện cầm hàng về cho khỏi vướng tay.
Chờ bọn họ Phàn đi khỏi, anh em Chu gia và Thiết Xích Tử bảo Kỳ Đưc dẫn tới tiệm Bảo Thành :
- Kỳ lão trượng hay đưa cho tôi mượn chiếc vòng ngọc vừa rồi.
Kỳ Đức tháo vòng đưa cho Lam Y nữ hiệp.
Thiết Xích Tử hiểu ý, bèn nói :
- Chu hiệp, cha con Kỳ lão và tôi vô tiệm nước gần đấy trong chừng, ta đi thế này, chúng để ý không tiện.
- Thế thì hay lắm. Phiền tiên sinh ở lại với Kỳ lão trượng. Còn Chu huynh đi với tôi cho có vẻ thiệt hơn...
Thiết Xích Tử chỉ tửu điểm xê cửa tiệm Bảo Thành, kéo cha con Kỳ Đức cùng vào. Anh em họ Chu vào thẳng tiệm cầm đồ.
Khách hàng vắng, Tiệm Bảo Thành khá rộng lớn... Phía trong quầy, một người trạc ngoài năm mươi tuổi, mắt lươn ti hí, sắc mặt tái lợt đang cặm cụi bên sổ sách. Một người khách lực lưỡng, nét mặt hung bạo, ngồi trong chiếc ghế bành kê sát bên tường gần cửa.
Thấy anh em họ Chu vào, người lực lưỡng ngửng đầu nhìn qua rồi lại lơ đãng nhìn thẳng ra đường. Người ngồi trong quầy ngừng tay bút, đứng lên :
- Quý khách cần việc chi?
Nghe giọng nói líu ríu như tiếng chim của y, anh em họ Chu đã phát ghét.
Lam Y nữ hiệp nói :
- Tôi muốn cầm một món đồ lấy tiền xài gấp, mai mốt về qua Dương Châu sẽ chuộc.
Nghe giọng nói Bắc của Lam Y nữ hiệp, người kia biết ngay không phải ở đất này nhưng cũng ra vẻ niềm nở hỏi :
- Quý vị từ đâu đến Dương Châu vậy?
- Tôi từ Khai Phong phủ đến thăm bà con ở đây, nhưng họ dọn đi nơi khác rồi, thành thử không đòi được nợ, thiếu tiền xài.
- Tiểu thư định cầm thứ gì?
Chỉ Chu Đức Kiệt, Lam Y nữ hiệp đáp :
- Anh tôi muốn cầm viên Hồng Ngọc.
Chu Đức Kiệt lẳng lặng tháo dây đeo cổ ra viên Hồng ngọc lớn bằng ngón tay cho người đó coi.
Viên ngọc đỏ chói, trong vắt đẹp lạ lùng.
Người kia cầm xem nheo mắt ngắm :
- Xin chờ một chút, tôi gọi quản lý ra định đoạt. Chuyên làm sổ sách nên tôi không rành.
Chu Đức Kiệt gật đầu, mỉm cười nhìn người ấy đi vào nhà trong.
Nguyên anh em họ Chu mỗi người có hạt Hồng ngọc đeo ở cổ, giấu dưới nếp áo. Đôi ngọc này quý giá lắm do Chu Đưc Văn khi thiếu thời đi bảo tiêu, một hôm cứu được người chuyên môn đi lấy ngọc ở Vạn Kim Sơn tỉnh Cam Túc thoát khỏi tay cường đạo. Người này bèn tặng Chu Đức Văn cặp Hồng ngọc hiếm có này để đền ơn cứu mạng. Tới khi Chu Văn Đức lấy vợ, lấy một hạt ngọc làm sính lễ. Từ đó, hai vợ chồng mỗi người đeo một hạt tới lúc hàn sanh Đức Kiệt và Tú Anh, rất đỗi quý báu chiều chuộng, vợ chồng Đức Văn bèn đeo cặp ngọc ấy cho con.
Anh em họ Chu vẫn giữ gìn đôi ngọc kỷ niệm của song thân không hề rời khỏi người. Bởi vậy Chu Đức Kiệt lấy làm lạ khi thấy Chu Tú Anh bảo đưa viên Hồng ngọc vô giá nọ cho người cầm đồ xem. Tuy vậy, Đức Kiệt vẫn chiều ý em, tháo dây đeo đặt hạt Hồng ngọc lên mặt quầy.
Lát sau, một người lực lưỡng mặt đỏ gay, lông mày chổi xễ đi ra. Người làm sổ sách theo sau.
Anh em Chu gia nghĩ thầm chắc đây là Xích Quỷ, Vô Thường Hồ Bảo Tích mà người bán tơ lụa ban nãy nói tới.
- Đây là Hồ tiên sinh, trông nom tiệm cầm đồ này, quý khách cứ việc nói chuyện với ông ta.
Nói đoạn, y trở lại chỗ ngồi cũ biên chép như trước.
Hồ Bảo Tích hỏi Chu Đức Kiệt :
- Quý khách muốn cầm bảo vật?
Y vừa nói vừa chăm chú nhìn hai người như muốn dò xét tâm trạng anh em Chu gia qua nét mặt. Y cũng không khỏi ngạc nhiên khi thấy sắc kiều diễm của Lam Y.
Lam Y biết vậy tảng lờ rất tự nhiên.
Chu Đức Kiệt gật đầu chỉ viên Hồng ngọc trên mặt quầy :
- Tôi muốn cầm hạt ngọc này...
- Quý khách muốn cầm bao nhiêu tiền?
Hồ Bảo Tích cầm dây đeo nhắc hạt Hồng ngọc lên coi.
- Tùy tiên sinh đặt giá theo sự đáng giá của hạt ngọc này.
Hồ Bảo Tích lật đi lật lại coi hạt ngọc với cặp mắt sành sỏi :
- Tôi đem vật này vào nhà trong lấy kính soi lại.
Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Nếu cần thì đem kính ra đây. Một người biết... xem ngọc và... thích ngọc tốt như tiên sinh cần chi phải coi nhiều mới biết?
Hồ Bảo Tích trừng mắt nhìn họ Chu :
- Nếu vậy, tôi không muốn cầm hạt ngọc này nữa, quý khách đi nơi khác.
Chu Đức Kiệt lẳng lặng đeo hạt ngọc lên cổ, rồi cài nút áo lại cẩn thận trước cặp mắt dữ tợn của Hồ Bảo Tích.
Người áo đen ngồi bên cửa, vẫn chú ý theo dõi câu chuyện từ nãy, liền lại đầu quầy tì tay lên mặt quầy nghe và đăm đăm nhìn Chu Đức Kiệt.
Lam Y nữ hiệp lấy chiếc vòng ngọc của Kỳ Đức ra để trên quầy, hỏi Hồ Bảo Tích :
- Tôi muốn cầm vật này tiên sinh tính bao nhiêu? Đem vào nhà rọi kiến cũng được!
Hồ Bảo Tích nhìn qua chiếc vòng đó, biến sắc, nhưng trấn tĩnh được ngay :
- Chiếc vòng giả này vô giá trị, tiệm này không cầm đâu. Xin cô nương cất đi cho.
Nói đoạn, y nhìn trừng trừng Lam Y.
Lam Y nữ hiệp quắc mắt nhìn lại khiến họ Hồ chớp mắt nhìn xuống mặt quầy :
- Vòng này bằng ngọc thấu lục chỉ thiếu có gân đỏ nên thành vô giá trị phải không?
Hồ Bảo Tích nhếch mép cười gằn :
- Cô nương tới đây để cần bán hay gây sự? Tới đất Dương Châu này đùa giỡn không được đâu!
Lam Y nữ hiệp cố nhịn ra vẻ không hiểu :
- Ủa! Tiên sinh nói chi lạ vậy? Tôi muốn cầm vòng này lấy ba trăm lượng bạc mà!
- Nói trẻ nít nghe cũng không nổi, mấy tiền cũng không đáng huống chi ba trăm lượng! Xin đi nơi khác cho!
Hồ Bảo Tích phì cười gạt chiếc vòng trên mặt quầy sang bên, không ngờ mạnh tay quá, chiếc vòng rớt xuống gạch bể tan ra từng mảnh.
Lam Y nữ hiệp nổi giận :
- Làm bể vòng ngọc của ta không thường ba trăm lượng không được đó!
Hồ Bảo Tích cũng nói lớn :
- Được, ta sẽ thường cho chiếc vòng như vậy, nhưng phải ra khỏi nơi đây ngay, kẻo không xong đâu!
Nói đoạn, y hất hàm cho tên viết sổ...
Hiểu ý, tên này đứng vào nhà trong lát sau cầm chiếc vòng khác ra đặt trên mặt quầy.
Hồ Bảo Tích đẩy chiếc vòng đó ra phía Lam Y.
- Vòng thường lại cho đây! Thế là xong, hả?
Lam Y nhìn thấy y hệt chiếc vòng trước, bèn mày ngài xếch ngược, mắng họ Hồ :
- Thế ra tiệm này chuyên môn xài thứ ngọc giả này! Nạt những người già cả lẩn thẩn thực thà, chớ qua mắt ta sao được!
Tên áo đen đứng tì tay lên mặt quầy từ nãy, đủng đỉnh tới gần Lam Y :
- Này, cô em, khôn hồn thì cầm vòng ra khỏi nơi này, nghe!
Bốp!
Vừa nói dứt câu thì chiếc tát trái đã lẹ như chớp đập trúng mặt, khiến y bật hẳn người lên vằn cây thịt vào tường, máu mũi, máu miệng phun ra như suối. Đồng thời, Chu Đức Kiệt với tay qua mặt quầy túm ngực áo nhấc bổng Hồ Bảo Tích ra phía ngoài, quật xuống đất, dậm trên lên ngực quát :
- Xích Quỷ Vô Thường chi cái đồ ăn cướp vô dụng này! Chiếc vòng thấu lục có gân đỏ ngươi đã đánh tráo của Kỳ Đức đâu? Lập tức trả lại ngay kẻo mất mạng bây giờ!
Nói đoạn, Chu Đức Kiệt khẽ nhận chân đè lên ngực họ Hồ, Hồ Bảo Tích có cảm tưởng như sắp bị cả tảng đá lớn chèn bể ngực, cố ôm cổ chân Đức Kiệt đẩy sang bên mà chẳng nhích được chút nào cả. Trái lại bàn chân càng ấn mạnh khiến Hồ Bảo Tích van lạy rối rít. Giữa lúc ấy thì hai tên vệ sĩ lực lưỡng nữa cầm đoản đao chạy ra, theo sau là tên viết sổ tay cũng cầm chiếc gậy.
Thì ra ngay tự lúc đầu, tên viết sổ đã chạy vào nhà trong gọi vệ sĩ tiếp cứu. Hai tên mới ra, một tên áo xanh, một áo vàng, thấy đồng nghiệp áo đen ôm mặt máu chảy linh láng nằm vật chúi xuống bên tường rên khừ khừ. Còn tên quản lý đang nằm ngửa dưới bàn chân sắt của người lạ, van kêu luôn miệng. Gần đó, một thiếu nữ xinh đẹp đứng gần đó khoanh tay nhếch đôi môi trái tim mỉm cười:
Chúng không ngờ thiếu nữ ấy lại có sức mạnh phi thường! Còn đang phân vân chưa biết nên hành động thế nào thì Lam Y nữ hiệp đã co chân nện xuống sàn gạch khiến mấy viên gạch bể nứt như mặt đất rung chuyển.
Tên nào có sức rắn chắc hơn thì cứ vào đây ta coi!
Chúng giật mình, sợ tái người, không ai bảo ai, chùn lại mấy bước.
Trong khi ấy, Chu Đức Kiệt hỏi Hồ Bảo Tích :
- Ngươi có thuận trả lại chiếc vòng ngọc của cha con Kỳ gia không?
- Bẩm có... xin... xin hảo hán... nhấc chân ra cho tôi... đi lấy.
Hồ Bảo Tích vội vã móc túi lấy chùm chìa khóa liệng cho tên viết sổ, rên rỉ bảo lấy vòng ngọc của họ Kỳ.
Lát sau, tên đó mặt mày tái mét cầm một cái hộp nhỏ đựng vòng ra, run rẩy không dám lại gần.
Lam Y quát :
- Mau! Đưa đây!
Tên nọ giật nẩy người lên, vội vàng khúm núm hai tay đưa hộp đựng cho Lam Y. Nàng đón lấy mở ra coi thấy chiếc vòng thấu lục quả xứng danh bảo vật, trong xanh như lá mạ sẫm màu, phía trong có một đường gân đỏ như tiết. Nàng bảo tên đó :
- Mi sang tiệm nước kế cửa mời họ Kỳ tới đây.
Nhưng, ngoài cửa tiệm cầm đồ người đứng xem đã vòng trong vòng ngoài chật ních. Thiết Xích Tử đã rõ đám người dẫn cha con họ Kỳ vào...
Lam Y nữ hiệp đưa chiếc vòng cho Kỳ lão :
- Đây, lão trượng thử coi xem có phải vòng thiệt hay lại giả nữa.
Kỳ Đức lật đi lật lại soi ra cửa sáng nhận xét :
- Đúng chiếc vòng của lão rồi, xin nhị vị tha mạng cho họ.
Lúc bấy giờ Chu Đức Kiệt mới buông chúng ra. Hồ Bảo Tích lồm cồm đứng lên, xấu hổ với đám đông người Dương Châu đứng coi. Nhân dịp ấy, Thiết Xích Tử đã giải thích cho mọi người nghe câu chuyện bọn gian thương tiệm Bảo Thành đánh tráo chiếc vòng họ Kỳ. Ai nấy đều xôn xao phỉ báng bọn gian lận.
Lam Y nữ hiệp nhìn ra thấy người bán tơ lụa cũng có mặt tại chỗ, đang huyên thuyên nói những chuyện gì không rõ...
Thiết Xích Tử nói :
- Thôi, ta về chứ?
Nói đoạn dắt cha con Kỳ Đức ra cửa trước.
Chu Đức Kiệt bảo Hồ Bảo Tích :
- Nếu nghe tiếng nhà người gian lận bất cứ ai một lần nữa, ta sẽ trở lại lấy đầu nghe.
Đám đông người rẽ ra nhường lối cho bọn Chu Đức Kiệt đi...
Qua được mấy phố, Chu Đức Kiệt nói với cha con họ Kỳ :
- Chúng ta chia tay. Lão trượng nên về Hạ huyện ngay. Chuyến sau có tới Dương Châu, cũng chẳng nên qua lại khu vực tiệm này e bọn tiểu nhân hãm hại báo thù.
Cha con họ Kỳ vâng dạ, cảm ơn, nhưng bọn ba người đã đi biến lẫn vào đám đông mất hút rồi.
Trên đường về Chiêu Dương lộ, bọn Chu Đức Kiệt gặp Phàn Thế Hùng đang tất tưởi đi ra lối tiệm Bảo Thành.
- Câu chuyện dàn xếp xong rồi sao? Tôi định đi đón đây.
Chu Đức Kiệt nói :
- Ta về nhà đi. Xong việc rồi. Bữa nay trễ quá, mai sẽ du ngoạn Thanh Dương hồ.
Về tới nhà, Phàn Mộng Liên và Hạ Thái Phượng xúm lại hỏi chuyện.
Lam Y nữ hiệp kể việc lấy lại chiếc vòng thấu lục của cha con Kỳ Đức cho nghe. Phàn Mộng Liên lấy làm thích thú.
0
Hồi 15
Thanh Dương hồ, Mộng Hoa Vương mang nhục
Thiếu Lâm tự, Thiết Phiến Cô xuất thân
 
Thanh Dương hồ ở phía Đông bắc ngoại thành Dương Châu.
Hồ rộng nước chảy quanh co. Bên bờ giáp với thị thành trồng toàn liễu xanh rờn, nhánh lá mềm mại, nhiều khúc là hẳn xuống mặt nước trong veo. Giữa những hàng liễu mềm yếu thướt tha ấy, thỉnh thoảng có một khóm cây dương cao ngất, thân cây lớn hàng ôm cổ kính không biết đã mọc từ bao đời nay rồi.
Các trang trại rộng rãi liên tiếp nhau ẩn hiện suốt dãy bờ hồ...
Dương Châu là một đô thị lớn nên du khách chơi hồ hằng ngày đông đảo. Một phần từ xa tới, một phần là các vương tôn, công tử, văn sĩ thi nhân từ thành nội kéo ra các tửu điểm ở dọc bồ hồ, uống rượu phiếm đàm, bình thơ, hoặc mướn du thuyền thả chèo, buông lái mặt cho con thuyền bồng bềnh lênh đênh theo đợt gió.
Bờ hồ bên kia bao bọc bởi mấy ngọn núi đá thấp và rừng cây, cùng những xóm chài lưới chuyên đánh cá câu tôm. Thanh Dương hồ rộng, dài tới vài ngàn mẫu, có rất nhiều tôm cá, nổi tiếng nhất có cá lý ngư và tôm càng vỏ xanh. Bởi vậy, du khách nào đã qua Dương Châu mà chưa ra Thanh Dương hồ thưởng thức hai món cá, tôm đặc biệt đó chưa thể nói là đã biết du ngoạn đất Dương Châu. Cũng bởi số du khách qua đông đảo nên có sự cạnh tranh giữ các điểm. Họ phát tài đua nhau xây dựng mở mang rộng rãi, bày trí cực kỳ trang nhã, điểm nào cũng mong chiều được đủ thị hiếu của tất cả khách quan.
Gần đây có một đại phú gia thành Dương Châu xuất vốn xây dựng quán Hải Hồ, tầng tầng, lớp lớp, đáng kể vào bực nhất thời bấy giờ. Sự tiếp đãi được canh tân hóa, nồng hậu, giá cả phải chăng, nên ăn khách nhất.
Bốn anh em hai họ Chu, Phàn, Thiết Xích Tử và Hạ Thái Phượng cũng tới Hải Hồ quán đặt tiệc trước, rồi mướn chiếc hoa thuyền lớn thả rong chơi...
Thiết Xích Tử lơ mơ nói :
- Cuộc sống ở ba châu Dương, Tô, Hàng thế này, lắm lúc mềm lòng khách tu mi!
Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Mềm lòng khách tu mi vì không nghe thấy tiếng loảng xoảng chiếc xích sắt của tiên sinh phải không? Nghe tiếng ấy, bỉ nhân chỉ thấy gợi cảm có thép và đồng.
Mọi người cùng phá lên cười.
Thiết Xích Tử vỗ vai Đức Kiệt cười ha hả :
- Gác cái đó sang bên kẻo làm tan mất hồn thơ của Tam Sơn này bây giờ! Con người hào hoa như Chu hiệp, ai ngờ được tới tuổi này vẫn phòng không gối chiếc, mượn kiếm làm vui, bạn bè cũng trăng thanh gió mát!
Chu Đức Kiệt làm thinh, nhìn rặng liễu xa xa...
Lam Y nữ hiệp ranh mãnh :
- Tuy vậy, nhưng gia huynh cũng ngấm ngầm lắm đó!
Nói đoạn, nàng ý nhị nhìn Phàn Mộng Liên khẽ nhếch nụ cười khiến Mộng Liên sắc mặt bỗng đỏ ửng im lặng nhìn sóng nước lăn tăn.
Phàn Thế Hùng vội nói để Mộng Liên đỡ e thẹn :
- Cảnh sắc này gây nhiều mỹ cảm, nên hôm nay ai nấy đều vui vẻ... Tiếc rằng, chúng ta chẳng phải thi nhân để đua nhau nhã ngọc phun châu...
Thiết Xích Tử nói :
- Chà, làm thơ tốn rượu lắm, Trương mỗ này chuyên làm thơ con... cóc thôi!
Ai nấy lại phá lên cười vui vẻ...
Bỗng Phàn Thế Hùng chỉ tay ra phía trước :
- Này, hình như có chuyện gì ở kia kìa.
Mọi người nhìn theo phía tay họ Phàn thấy cách nơi đó độ trăm sải tay, ba chiếc thuyền, hai lớn một nhỏ bơi sát vào nhau và người đứng lên lố nhố, hoa chân múa chân múa tay có vẻ khác thường. Chu Đức Kiệt vội bảo phu thuyền bơi lẹ tới đó xem sao...
Khi tới gần cùng chỗ các thuyền khác đã nán lại đó xem việc gì, thì Thiết Xích Tử chỉ tay sang thuyền nhỏ nói :
- Kìa, Thiết Phiến Cô Âu Dương Bích Nữ!
Mọi người cùng nhận thấy trên chiếc hoa thuyền nhỏ có một thiếu nữ mặt hoa da phấn, vận võ phục màu hường viền nhung đen đang đứng gác một chân lên thành thuyền, dáng điệu lẫm liệt, chỉ tay mắng bọn người lố nhố trên hai chiếc thuyền lớn :
- Các người biết điều đi ngay, ai bơi sóng nước bắn lên thuyền ta mà còn thích chí cợt đùa. Để ta nổi giận thì không hay cả lũ bây giờ!
Trên hai thuyền lớn có tới mười người. Trong bọn có hai thiếu niên y phục xa hoa có vẻ vương tôn công tử, còn các người khác vận phục như kẻ theo hầu vậy.
Phu thuyền nói với mọi người :
- Cô gái kia dại dột quá! Dám trêu vào Mộng Hoa Vương thì không xong rồi?
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Mộng Hoa Vương là ai?
Và là người áo bào đỏ kia kìa, tức là con quan Đốc binh Diệp Thủ Thừa.
- Mộng Hoa Vương tên chi?
- Dạ, Diệp công tử tên là... là... Thoại Tấn, một tay ăn chơi khét tiếng đất Dương Châu ai ai cũng biết.
Quả nhiên, mấy người trên thuyền lớn đều cười cợt ra vẻ khinh bạc.
Thanh niên vận bào đỏ Diệp Thoại Tấn lả lơi nói :
- Thuyền đó nhỏ quá, chúng tôi mời tiểu thư sang cả đây cho vui, cớ sao lại cho là giễu cợt?
Âu Dương Bích Nữ dựng ngược mày ngài quát lớn :
- Đồ tặc tử, mi đã mời, ta đây đâu có chối từ. Được lắm, coi đây!
Nói đoạn, tay cầm cây giản nhảy vụt sang thuyền lớn khiến thuyền này chòng chành như muốn lật nghiêng.
Năm người trên thuyền phải bám lấy cạnh thuyền cho khỏi rớt xuống hồ.
Âu Dương Bích Nữ đưa khí giới gạt mạnh đẩy mấy tên vận võ phục xuống nước.
Tên áo bào xanh sợ quá chạy ra mũi thuyền níu lấy tay lái.
Diệp Thoại Tấn vội cởi áo dài, rút bơi chèo chỉ mặt thiếu nữ, nạt nộ :
- Con tiện tì này gớm thiệt, dám gây hấn, hãy coi đây.
Dứt lời, Diệp Thoại Tấn vụt ngang lưng địch thủ một chèo.
Âu Dương Bích Nữ cười khanh khách hơi giản gạt văng cây chèo tuột khỏi tay Thoại Tấn, đoạn nàng bỗng xòe cây giản đó ra thành vật gì như chiếc quạt khổng lồ nhắm mặt Diệp Thoại Tấn quất mạnh. Thoại Tấn chỉ kịp nhảy xuống hồ bơi chạy.
Năm bộ hạ trên chiếc thuyền thứ hai vội bơi thuyền tới gần, rút khí giới ra đánh chặn trong lúc mấy người té xuống nước leo lên mạn thuyền bên kia. Cả tên áo bào xanh cũng cùng nhảy xuống nước lúc nào không biết, lóc nhóc ướt như chuột.
Âu Dương Bích Nữ cười khanh khách, gập chiếc quạt khổng lồ lại thành cây giản, phi thân sang thuyền đó áp đảo đánh tơi bời. Bọn người đó không địch nổi nhào cả xuống nước. Mấy tên mới bò được lên thuyền cũng nhào theo.
Các người ở thuyền khác vỗ tay cười ầm!
Âu Dương Bích Nữ chỉ bọn dưới nước nói lớn :
- Có muốn báo thù cứ tìm Thiết Phiến Cô ở Tô Châu. Ta sẵn lòng chờ!
Dứt lời, nàng nhảy về thuyền nhỏ ban nãy vẫn neo gần đó chờ. Phu thuyền chèo đi.
Thiết Xích Tử vội bước ra mui thuyền gọi lớn :
- Thiết Phiến Cô!
Quay lại nhìn, Thiết Phiến Cô nhận ra Thiết Xích Tử, liền bảo phu thuyền chèo tới gần.
Khi hai mạn thuyền giáp nhau, Âu Dương Bích Nữ khoanh tay lại cung kính vái chào :
- Trương tiên sinh nhàn du Thanh Dương hồ có khác, bữa nay đổi y phục nên thiếu chút nữa cháo không nhận ra, thiệt đáng tội.
Thiết Xích Tử hỏi :
- Có công chuyện chi gấp không? Nếu không, xin mời sang thuyền này.
- Cháu đi tìm gia huynh Âu Dương Tòng Đức. Tiên sinh có gặp không?
- Không. Trả tiền thuyền đi. Sang cả đây.
Bích Nữ trả tiền cho phu thuyền, đoạn nhảy sang thuyền lớn.
- Vào đây, ta giới thiệu...
Thiết Xích Tử giới thiệu từng người một.
Âu Dương Bích Nữ nhìn kỹ anh em Chu gia :
- Thế ra đây là Song hiệp đất Bắc, Bích Nữ này đứng trước Thái Sơn mà không biết, quả đáng tội vô cùng:
Chu Đức Kiệt và Lam Y nói vài lời khiêm tốn.
Thiết Xích Tử nói :
- Còn một điều nữa mà cháu không ngờ. Hai hiệp khách đây chính là cháu ruột và đồ đệ của Đức Võ thượng nhân, đã có lần tới nhà ta bên Tô Châu đó.
- À ra vậy!
Thiết Xích Tử nói với anh em Chu gia :
- Đã có lần, tôi qua thăm phụ thân của Bích Nữ là Âu Dương Tòng Thiện bên Tô Châu thì được gặp lệnh thúc phụ ở đó chơi.
Vì bữa ấy, anh em Phàn gia đứng chủ tiệc ở Hải Hồ quán, nên Phàn Mộng Liên lên tiếng mới Thiết Phiến Cô du hồn xong, về quán uống rượu.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Thư thư cho ăn uống, ngu muội đâu dám từ nào, chỉ e không gặp gia huynh thôi.
Thiết Xích Tử hỏi Bích Nữ :
- Tòng Đức hẹn cháu ở đâu?
- Gia huynh đi sớm kiếm người bạn, nhắn cháu tới Thanh Dương hồ. Nếu không thấy thì chính ngọ cứ tới quán Hải Hồ, gia huynh sẽ chờ ở đó.
- Nếu vậy tiện lắm. Lát nữa, chúng ta cùng trở về quán ấy. Khỏi mất công tìm kiếm vô ích... Chuyến này các cháu đi đâu mà qua Dương Châu?
- Ủa! Thế bá phụ không nghe thấy việc Thuận Vương mở hội kỵ mã bên Kim Lăng sao? Gia phụ cho phép anh em cháu sang đó xem hội và gia huynh có ý muốn dự thi luôn thể.
- Chuyến này ta ở Ba Thục tới thẳng đây nên không biết chi cả.
Thiết Xích Tử nói với anh em Chu, Phàn :
- Thuận Vương mở kỵ mã hội ở Kim Lăng chắc hào hứng lắm, quý vị nên tới đó coi.
Lam Y hỏi họ Phàn :
- Chúng tôi chắc chắn đi Kim Lăng rồi, nhị vị thế nào?
Phàn Thế Hùng đáp :
- Bọn tôi phải về Thái An huyện trình qua để gia mẫu khỏi mong chờ, rồi mới có thể đi Kim Lăng được. Chỉ e không kịp thì giờ.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Còn tháng rưỡi nữa mới vào hội nhằm trúng ngày rằm tháng ba. Nếu đi ngay thì thừa kịp thì giờ.
Phàn Mộng Liên nói :
- Hay là mời quý vị qua tệ xá chơi rồi sẽ đi Kim Lăng?
Lam Y gạt đi :
- Qua Thái An huyện yết kiến lệnh mẫu tất phải cần nhiều thì giờ, chi bằng chúng ta hẹn gặp nhau ở Kim Lăng, rồi sẽ cùng về Thái An huyện sau, được không?
Phàn Thế Hùng nói :
- Như thế gọn lắm. Nhưng biết họp nhau tại đâu ở Kim Lăng để tránh sự mất thì giờ tìm nhau?
Lam Y nhìn Thiết Xích Tử hỏi ý kiến.
Thiết Xích Tử nói :
- Hẹn đúng ngày mười bốn tháng ba phải tề tựu ở Cẩm Hương đình gần phủ Thuận Vương. Từ Dương Châu này, mạnh ai nấy đi đừng câu nệ, cho tiện.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Ở trên Bắc, chúng tôi nghe nói Thuận Vương nghịch với Vĩnh Lạc hoàng đế, bề ngoài tuy vẫn giữ lễ vua tôi, nhưng thiệt ra thường chiêu binh mãi mã, thâu nhận nhiều tay võ dũng bằng cách mở hội thi tài ra sức trá hình để tuyển lựa vây cánh hòng mưu bá đồ vương sau này, phải không?
Thiết Xích Tử gật đầu :
- Lời đồn đó quả không ngoa. Dưới trướng Thuận Vương hiện có khá nhiều tướng tá. Trong đó có Ngũ hổ tướng rất dũng mãnh mà Thuận Vương vẫn tự hào là thiên hạ vô địch, và viên tướng tiên phong bách chiến bách thắng. Bọn lục lâm cường đạo đều được thâu dụng. Muốn che mắt triều đình, Thuận Vương khôn khéo nghe lời quân sư Thần Cơ chân nhân, phân phối đồng đảng đi khắp nơi hoặc tu hành trá hình, hoặc lập sơn trại cho tiện việc đồn binh. Nghe đâu chính Phi Không trước đây cũng đã đầu bọn Thuận Vương rất được tin dùng. Kim Cương tự là một chi nhánh quân đội của Thuận Vương. Hạ sát các đầu đà chùa đó đã khiến bọn ta trở thành kẻ tử thù của vị vương giả nguy hiểm đó... Nói tóm lại, chẳng qua Vĩnh Lạc hoàng đế nhu nhược, quá tin dùng bọn gian thần siểm nịnh. Tôi e rằng cuộc dấy loạn tiếm ngôi sau này khó lòng tránh được. Chẳng qua đó cũng là mệnh trời...
Dứt lời, Thiết Xích Tử đăm chiêu nhìn ra phía rừng xa xa ở bờ bên kia Thanh Dương hồ...
Nghe Thiết Xích Tử nói một hồi, ai nấy đều trầm lặng suy nghĩ. Bên ngoài mũi thuyền hai chú lái lẳng lặng, tay lơ đãng đưa nhẹ mái chèo, con thuyền đủng đỉnh lướt trên mặt nước xanh xanh.
Một chiếc thuyền nan nhỏ đi ngược chiều, lão trượng râu tóc bạc phơ vừa chèo, vừa hát điệu Giang hồ điệp khúc:
“Bãi xa nắng giải tơ vàng
Tiếng chài đâu đã sớm tàn thanh âm
Lạnh lùng một chiến nan không,
Buồn trông mái tóc bạc sương Giang hồ”.

Tiếng ca lanh lảnh tựa chuông đồng như có hiệu lực thức tỉnh mấy người trên thuyền lớn.
Lam Y hé đầu ra ngoài khuôn cửa bên mui thuyền ngó trời cao :
- Thái dương gần đứng bóng rồi, ta trở về Hải Hồ quán thì vừa.
Phàn Thế Hùng gọi chú lái :
- Trở mũi thuyền về quán đi!
Không bao lâu, thuyền ghé bến Hải Hồ. Trước cổng quan, dưới gốc tòng cổ thụ một mãnh hán trạc ngót tam tuần vận bộ võ phục màu nâu tía, tay vắt áo bào, đứng sững, vẻ mặt mong đợi.
Âu Dương Bích Nữ chỉ tay :
- Kìa, gia huynh Tòng Đức chờ kia rồi, chắc nóng ruột lắm.
Mãnh hán thấy Bích Nữ nhảy xuống bờ trước, nhiều người theo sau thì có vẻ ngạc nhiên, nhưng khi nhận ra Thiết Xích Tử liền vội vàng tiến tới lạy chào vấn an.
Thiết Xích Tử vui vẻ vỗ vai người ấy hỏi :
- Tòng Đức hiền điệt chờ lâu chưa? Ta gặp Bích Nữ đánh bọn Mộng Hoa Vương Diệp Thoại Tấn ở đầu kia Thanh Dương hồ nên rủ về cả đây...
Nói đoạn, giới thiệu Tòng Đức với mọi người. Tất cả tám người cùng kéo vào quán nơi bàn tiệc đã đặt sẵn ở ngăn trong cùng an tĩnh.
- Thực khách đã khá đông, thấy đám khách hàng mới vào người nào cũng dũng mãnh quắc thước lại thêm mấy gian nhân tuyệt sắc đi theo thì đều chăm chú nhìn...
* * * * *
Nguyên bên Tô Châu, họ Âu Dương ai nấy đều biết tiếng là một họ giàu có, ruộng đất thẳng cánh cò bay, thóc lúa đầy nhà, tiền bạc chật rương. Ngoài ruộng đất, họ Âu Dương còn có nhiều cổ phần trong nhiều hội doanh thương lớn. Cha truyền con nối, hết đời nọ đến đời kia chỉ chuyên việc kinh doanh. Tới đời Âu Dương Tòng Thiện thì lại ưa chuộng võ nghệ từ bế. Cha mẹ chiều con mời danh sư về thôn trang truyền dạy.
Năm Tòng Thiện mười lăm tuổi, xin phép song thân xuống Phúc Kiến theo học Thiếu Lâm tự ở luôn một mạch tới năm hai mươi mốt tuổi mới hạ sơn. Nhờ sẵn có sức khỏe và trí thông minh, Tòng Thiện thâu nhận được hết món võ thuật tinh hoa của môn võ danh tiếng ấy. Tuy thập bát ban võ nghệ đều tinh thông, nhưng Tòng Thiện chuyên dùng đoản đao và lá chắn.
Từ khi hạ sơn, Tòng Thiện giao dịch nhiều quen biết rộng và rất thích kết nạp các hảo hán giang hồ, thành thử đâu đâu cũng biết tiếng. Ngoại trừ tỉnh Tô Châu, họ Âu Dương, kể từ đời Tòng Thiện, còn danh vang khắp nhiều nơi lân cận. Trong trang trại lúc nào cũng tấp nập bạn bè, luôn luôn có tới hàng trăm thực khách, văn nhân thi sĩ, giang hồ hảo hán đủ mặt. Ngay cả đến các vị hòa thượng hoặc động bọc đồng môn, hoặc quen biết cũng thường tới lui Âu Dương trang cùng Tòng Thiện đàm đạo. Bởi vậy khách giang hồ đặt tước hiệu Trại Mạnh Thường cho Âu Dương Tòng Thiện, nghĩa là giống như Mạnh Thường Quân họ Điền thời Chiến Quốc, lúc nào trong nhà cũng nuôi tới vài ba ngàn thực khách.
Ai biết tiếng Trại Mạnh Thường, khi qua Tô Châu vào Âu Dương trang cũng được Tòng Thiện, vắng mặt hay có nhà cũng vậy, tiếp đãi rất châu đáo hậu hĩ.
Về sau, Âu Dương Tòng Thiện lấy con Tô Viên ngoại người cùng tỉnh và cũng là một gia đình giàu có. Vợ chồng Tòng Thiện hạ sanh được hai trai là Tòng Cát, Tòng Đức, và một gái là Bích Nữ. Cũng yêu chuộng võ nghệ như cha, ba anh em họ Âu Dương được cha tập luyện ngay từ hồi còn nhỏ. Vì Tòng Thiện là tay võ nghệ chính tông Thiếu Lâm tự, nhà lại giàu có nên thiết lập võ sảnh rất đầy đủ, chuyên dạy võ thuật cho ba con rất có phương pháp và theo đúng kỷ luật chùa Thiếu Lâm.
Hơn nữa, các tay hảo hán giang hồ, dị nhân, hòa thượng qua lại Âu Dương trang luôn, thấy ba đứa con nhỏ của bạn thông minh đỉnh ngộ, bèn đem ngón hay thế lạ truyền dạy thêm. Thành thử ba anh em Âu Dương đã được chân truyền môn Thiếu Lâm tự, lại còn học ngoài được nhiều đòn hay chẳng khác chi hổ dữ thêm cánh, gấm đẹp thêm bông. Tuy vậy, năm hai anh em Tòng Cát, Tòng Đức ngót hai mươi tuổi vẫn được Tòng Thiện gởi đi ở hai năm tại Thiếu Lâm tự, theo học Đại hòa thượng Chiêu Đức thiền sư vừa là Sư trưởng chùa, và cũng là bạn thiết đồng thời của Tòng Thiện.
Khi Tòng Cát và Tòng Đức trở về Tô Châu thì đã nghiễm nhiên ngồn ngộn như hai con giao long, dũng mãnh, võ nghệ được liệt vào hạng đệ nhất môn đồ của phái võ Thiếu Lâm danh tiếng ấy.
Anh em Âu Dương tuy mới thành nhân nhưng nhờ danh tiếng của cha, nên cũng giao thiệp với đủ mặt anh hùng già có, trẻ có. Những khi cao hứng thường cùng họ giao đấu và chưa hề nhường bước người nào.
Tòng Cát và Tòng Đức đều ưa dùng đoản đao, trường khí thì dùng bát xà mâu. Cả hai anh em cùng kỵ mã rất tài tình. Ngựa thả sức phi nước đại mà lên xuống rất dễ dàng, hoặc luồn qua dưới bụng ngựa, hoặc né người ngồi một bên bàn đạp trong lúc ngựa phi như bay. Bởi vậy Tòng Cát nổi danh với tước hiệu Cái Thiên Ô Vân. Còn Tòng Đức thì hiên ngang với mỹ danh thần Mã Truy Phong.
Trong khi hai anh lớn lên Thiếu Lâm tự, Âu Dương Bích Nữ hãy còn nhỏ tuổi không tiện đi theo, nhưng tới năm mười bảy tuổi, Tòng Thiện cho Bích Nữ vận giả trai cho gọn tiện và cũng ưng ý gửi lên Thiếu Lâm tự. Luật phép trong chùa rất nghiêm khắc, các môn đồ phải nhất nhất tuân lệnh như trong trại quân, vì thế thời gian hai năm tập luyện công phu trên núi Tung Sơn đã đổi Bích Nữ thành một chàng thanh niên mỹ mạo. Cử chỉ của nàng đều mạnh bạo y hệt con trai.
Chiêu Đức thiền sư rất quý chuộng dạy nàng sử dụng thứ võ khí lạ tự Thiền sư chế ra. Đó là cây Thiết phiến có sáu dóng đầu nhọn. Khi chụm lại y hệt cây giãn vuông bằng sắt. Lúc thuận tiện muốn lấy đầu đối phương bất thần xòa sáu dóng đầu nhọn ra, cổ địch thủ sẽ bị tiện đứt như bị cưa vậy. Bích Nữ thâu nhận được cách sử dụng món võ khí ấy rất tinh vi riêng biệt nên mọi người thường gọi nàng là Thiết Phiến Cô.
Trong nhà cũng như ngoài đời, Bích Nữ xử sự như một trang nam nhi đến nỗi nhiều lúc vợ chồng Tòng Thiện quên hẳn mình có một cô con gái. Cũng như hai anh, Bích Nữ có tài kỵ mã đặc biệt, vừa phi ngựa vừa bắn tên. Nàng bắn cài lại phía sau ba lối. Cầm cung tay trái, bắn ngược lại phía trái. Cầm cung tay hữu, bắn ngược lại phía hữu. Nằm ngửa người ngã đầu xuống mông ngựa, nàng bất thần bắn vụt về phía sau bách phát bách trúng, rất nguy hiểm cho địch thủ.
Ba anh em họ Âu Dương còn luyện một lối chuyền tên rất đỗi tài tình. Tòng Cát, Tòng Đức, Bích Nữ mỗi người đeo vào cỗ tai trái một cái biển gỗ hình tròn lớn bằng cái đĩa, sơn trắng. Đứng hình tam giác, cách nhau độ một trăm bộ, Tòng Cát giơ tay đeo chiếc biên đó lên trên đầu. Tòng Đức nhắm bắn một mũi tên cắm trúng biển đó. Tòng Cát nhổ mũi tên đó ra nhắm bắn chiếc biển của Bích Nữ. Bích Nữ nhổ mũi tên ấy bắn chuyền cắm vào biển của Tòng Đức. Cứ như vậy bắn luân chuyển vòng tròng mãi mà chỉ dùng có một mũi tên. Tập luyện lối này rất có lợi trong cuộc chiến đấu trong rừng núi. Lỡ một người hết tên, người kia có thể chuyền tên tiếp tế cho người đó.
Ba cây cung của anh êm Âu Dương bằng gỗ trai do Chiêu Đức thiền sư trao tặng khi ba người hạ san. Thứ gỗ trai này rất dai dẻo và nhẹ nhàng. Từ hồi mới thành lập Thiếu Lâm tự trên ngọn Tung Sơn, Đạt Ma Sư Tổ lấy giống cây trai từ Thanh Hải trên con đường từ Tây Tạng sang Trung Hoa đem về trồng ở Tung Sơn. Rồi từ đời nọ sang đời kia, các sư trưởng gầy mãi giống cây trai, trồng lan ra khắp Tung Sơn. Chi riêng Thiếu Lâm tự dùng gỗ trai làm các khí giới và cung tên.
Người nào có đại lực dùng khí giới toàn thép còn phần đông thì chỉ dùng võ khí cán bằng gỗ trai. Không phải là vì bằng gỗ trai mà các cán võ khí mau bị hư hay là yếu đâu.
Khi hạ một cây trai già xuống, chặt hết lá bỏ đi. Các cành lớn, nhỏ đều được lựa chọn cẩn thận rồi đem ngâm xuống suối trong một thời gian từ bảy đến tám năm. Vỏ cây mục nát buông theo nước, nhưng gỗ còn lại rắn chắc lại. Bấy giờ mới được đem ra dùng hoặc làm cung tên, hoặc làm cán các trường khí. Khi đã bào gọt sạch sẽ, các thứ đó còn được ngâm vào trong dầu tới ba năm mới được thiệt sự đem dùng vĩnh viễn. Tới thời kỳ đó, gỗ trai chét lại rắn chắc như sắt, và lợi ở chỗ nhẹ hơn sắt rất nhiều.
Những tay võ dũng hay dùng đồng côn, thiết côn, nhưng mộc côn của Thiếu Lâm tự dù đấu với đồng côn hay thiết côn cũng chưa hề kém sút về lượng cũng như về phẩm chất. Bởi vậy, cây mộc côn có khắc ba chữ Thiếu Lâm tự nổi tiếng trên chốn giang hồ về phẩm cũng như về lượng, không nhường bước đồng hay thiết côn, vì thứ gỗ trai vốn dĩ đã rắn chắc, lại được ngâm nước và ngâm dầu trong mấy chục năm nên các thớ gỗ quánh lại rắn chắc như thép. Khi sử dụng còn lợi hơn đồng côn thiết côn, vì mộc côn dẻo dai hơn.
Hai đấu thủ cùng xử dụng côn trên đấu trường, một dùng thiết côn, một dùng mộc côn Thiếu Lâm tự. Nếu hai người ngang tài, ngang sức, đấu thủ dùng mộc côn lợi hơn, lanh lẹ đỡ tốn sức dễ bề thủ thắng.
Trong thời kỳ môn đồ theo học Thiếu Lâm tự, Chiêu Đức thiền sư theo đúng quy tắc nhà chùa bắt tất cả môn đệ tập luyện với các võ khí hợp lệ của nhà chùa. Riêng về cây côn, Thiền Sư cho phép môn đồ tùy ý sử dụng đồng hay thiết. Nhưng rốt cuộc, khi đạt tới một trình độ cao, phần đông đều nhận thấy sự lợi hại của cây mộc côn đặc biệt của Thiếu Lâm, nên dùng trở lại. Môn đồ nào chuyên học côn và cung tên, khi hạ sơn cũng được Sư trưởng tặng hai cây mộc côn, mộc cung riêng biệt của nhà chùa. Cũng bởi thứ gỗ trai ấy do Tung Sơn phát xuất nên hảo hán giang hồ đặt tên hai cây mộc côn, mộc cung của Thiếu Lâm tự là Tung Sơn côn và Tung Sơn cung.
Gỗ lên nước đỏ lừ như tiết sẫm nên còn có nhiều người gọi tắt hai thứ khí giới ấy Hồng côn và Hồng cung.
Âu Dương Tòng Thiện rất thân với Chiêu Đức thiền sư, năm nào cũng đi Phước Kiến lên Tung Sơn viếng mộ phần thầy cũ và ở lại một tuần trăng đàm đạo cùng Chiêu Đức.
Năm ấy, như thường lệ, Âu Dương Tòng Thiện cùng Bích Nữ vận giả trai đi Thiếu Lâm tự. Hai cha con đem mấy thứ đồ quý lên tặng Chiêu Đức thiền sư, kỳ đi đó vào hồi cuối năm ngoái. Tòng Cát và Tòng Đức ở lại nhà trông nom công việc.
Hai cha con Âu Dương Tòng Thiện đi đường bộ, rảnh rang, ngày đi đêm nghỉ qua Kim Lăng, Hàng Châu, Chiều Hưng, Lâm Kỳ, Viên Châu rồi vào nội địa Phước Kiến thẳng đường lên Tung Sơn. Không bao lâu đã trông thấy ngọn Tung Sơn hùng vĩ bao bọc bởi rừng trai xanh um. Đi khuất nẻo xóm làng, hai cha con Âu Dương rẽ ngựa vào con đường nhỏ mà cả hai cha con cùng rất quen thuộc. Hai bên đường có lác đác những phiến đá lớn và hai rặng cây trai thân lớn hàng ôm, cành lá rườm rà, ngọn cao ngất.
Tòng Thiện giơ roi ngựa chỉ những thân cây cao lớn :
- Xưa kia, ta thường được theo hầu Trí Dũng thiền sư (tức là sư phụ của Âu Dương Tòng Thiện và Chiêu Đức thiền sư) tán bộ trên con đường này những khi người nhàn rỗi. Các cây trai cao lớn này chính tay Đạt Ma sư tổ trồng từ khi người mới thiết lập ngôi Thiếu Lâm tự.
Bích Nữ lẳng lặng ngước đầu nhìn ngọn cây cao ngất thẳng tắp như thách thức cả trời xanh. Lúc đó đã gần chính ngọ, vầng thái dương chói lọi chiếu sáng mà ánh nắng cũng không lọt qua những nếp lá vừa dày vừa lớn, thành thử cha con Âu Dương có cảm tưởng như đang đi trong dãy hành lang lợp lá cây.
Ngoài tiếng gió vi vu thổi rung đợt lá dày cộm và tiếng chim kêu vượn hót, xa xa chỉ có tiếng vó ngựa đạp trên lá khô xào xạc và những cành khô răng rắc là tỏ ra hiện đang có người, vật đi trong khu hoàn toàn vắng vẻ yên tĩnh này.
Cha con Âu Dương lẳng lặng buông lỏng dây cương mặc cho ngựa theo đường lên núi, mỗi người theo đuổi một bóng hình dĩ vãng khi nào theo học nghệ trên chùa.
Hai người chợt nghe đâu đó có tiếng gọi :
- Âu Dương tiên sinh!
Tòng Thiện và Bích Nữ nhìn quanh, thấy bọn người đốn củi ở rừng bên gánh về chùa. Họ đang ngồi nghỉ cả ở khúc rẽ tay hữu chợt nghe thấy tiếng chân ngựa từ xa đi tới, một người nhiều tuổi nhất trong bọn nhìn ra thì nhận thấy cha con Âu Dương nên mới gọi.
Tòng Thiện vui vẻ vẫy tay :
- A! Miêu lão! Mạnh khỏe chứ? Lấy củi ở rừng bên về, phải không?
Nguyên trên chùa Thiếu Lâm lúc nào cũng có mười người chỉ chuyên môn phụ làm các việc vặt vãnh và đi lấy củi về chùa xài. Tất cả các việc khác trong chùa đều do các hòa thượng và môn đồ chia phiên nhau làm.
Miêu lão râu tóc bạc phơ nhưng da dẻ rất hồng hào tiến tới, nói :
- Dạ, ở rừng bên mới về tới đây ngồi nghỉ. Tôi đã tưởng có người tới xin theo học, khi nghe thấy tiếng chân ngựa từ xa đến.
Cha con Âu Dương nhảy xuống ngựa vắt cương lên yên.
Bích Nữ vui vẻ chào hỏi mọi người.
Tòng Thiện hỏi Miêu lão :
- Thiền sư có nhà không?
- Dạ có, năm nào vào tháng này mà Sư trưởng chẳng chờ đợi tiên sinh qua vãng cảnh chùa? Hiện người cũng đang có khách. Tiên sinh lên núi đi kẻo trễ.
Cha con Âu Dương lại lên ngựa đi đường vòng quanh núi, không bao lâu đã tới cổng giữa tam quan. Từ trên vọng lầu Tam quan, một tiếng kiểng vang lên báo có khách tới. Âu Dương Tòng Thiện liền ngửng đầu nhìn vẫy tay ra hiệu chào vị thiếu niên hòa thượng đang đứng trên lan can nhìn xuống. Hòa thượng ấy chắp tay cúi đầu chào lại chỉ tay vào phía trong tỏ ý mời khách cứ vào.
Cha con Tòng Thiện xuống ngựa đủng đỉnh qua cổng thứ hai vào thẳng sân chùa. Ở đây đã có Tri khách tăng và mấy hòa thượng khác đón rước.
Nhận ra Tòng Thiện và Bích Nữ, vị Tri khách tăng niềm nở đón chào :
- Sư trưởng ở hậu thiền sảnh, mời người cứ vào. Tiên sinh và tiểu thư chắc chưa dùng bữa trưa. Người còn đợi đó.
Hai người định dắt ngựa ra lối sau, thì một chú tiểu đã chạy ra đón lấy dây cương định dắt hai con ngựa đi nẻo khác. Bích Nữ vội tháo bọc hành lý trên lưng ngựa xuống vác lên vai.
Vừa qua tiền điện thì đã thấy hai vị hòa thượng, một nhỏ bé, một cao lớn đi ra.
Chiêu Đức thiền sư, người nhỏ bé, tươi cười chắp tay nói lớn :
- Mô phật, đang nóng ruột trông chờ, quả nhiên sư huynh tới thăm.
Bích Nữ vội chạy tới quỳ lạy :
- Đồ đệ xin có lời vấn an.
- Cho phép hiền đồ đứng dậy.
Bích Nữ đứng lên rồi lại khép nép quỳ lạy vị hòa thượng cao lớn :
- Điệt nữ xin kính lạy sư thúc.
Vị đó nói :
- Đứng lên con, vị tất hành đại lễ như vậy.
Hòa thượng ấy không phải là người xa lạ, chính là môn hữu của Âu Dương và Chiêu Đức thiền sư hiện đang trụ trì tại Tam Vân Tự, chi nhánh của chùa Thiếu Lâm ở Quãng Châu tỉnh Quãng Đông tên là Ngũ Chấn thiền sư, đứng vào hạng đệ nhị chùa Thiếu Lâm, sau Âu Dương và Chiêu Đức.
Sau mấy lời thăm viếng thường lệ, Âu Dương hỏi Ngũ Chấn :
- Sư đệ từ Quãng Châu qua đây hôm nào? Sau lâu lắm không ghé qua Tô Châu chơi?
- Ngu đệ định nán lại Tung Sơn ít ngày rồi đi Tô Châu thăm sư huynh, nhưng Chiêu Đức sư huynh bảo rằng thế nào sư huynh cũng qua đây đừng đi mất công, thì quả nhiên như vậy. Tới Thiếu Lâm được bảy hôm rồi.
Chiêu Đức nói :
- Bọn tôi đang chờ sư huynh mới dùng bữa. Ta vào hậu sảnh đi kẻo muộn.
Bích Nữ vác bọc hành lý vào thiền sảnh trước. Tòng Thiện và Chiêu Đức, Ngũ Chấn đủng đỉnh vào sau.
Lúc vào tới nơi, Chiêu Đức thấy Bích Nữ để một bọc lớn lên án thư thì có vẽ ngạc nhiên.
Tòng Thiện vội nói :
- Gọi có chút quà biếu sư đệ.
- Năm nào sư huynh cũng cho. Thứ chi vậy?
Bích Nữ mở gói bày ra chiếc áo cà sa bằng nỉ nâu và bộ ấm, chén uống trà, cùng một gói trà lớn.
Tòng Thiện nói :
- Thứ trà Tô Châu này ướp thủy tiên hoa mà sư đệ vẫn ưa thích. Nhà ướp lấy, hương đậm lắm.
Chiêu Đức sai dọn hai căn phòng thường lệ cho Âu Dương Tòng Thiện và Bích Nữ ở. Hai cha con vào rửa mặt thay áo sạch sẽ rồi mới ra dùng cơm chay cùng Chiêu Đức và Ngũ Chấn. Lâu ngày mới gặp nhau, mừng rỡ, chuyện trọ rất vui vẻ.
Hai vị hòa thượng hỏi thăm đến Tòng Cát, Tòng Đức. Tòng Thiện và Bích Nữ hỏi thăm tình hình trong chùa hết chuyện tới chuyện kia.
Cơm nước xong xuôi, cha con Âu Dương đi xem khắp chùa chào hỏi mọi người thì trời vừa hoàng hôn. Chiêu Đức, Ngũ Chấn lên chùa tụng niệm tới giờ tuất mới xong khóa kinh trở xuống thiền phòng. Cha con Âu Dương đã chờ đợi ở đó sửa soạn pha trà uống...
Ba người nhấm nhót uống trà, mùi hương thủy tiên thơm nực cả căn phòng. Bích Nữ ngồi hầu một bên.
Chiêu Đức thiền sư nói :
- Nghe thấy nói năm tới Thuận Vương lại tổ chức đại hội thi kỵ mã phải không hả sư huynh?
Âu Dương Tòng Thiện gật đầu :
- Có nhiều hảo hán qua Tô Châu cũng nói vậy. Vì thế vừa rồi khi qua Kim Lăng, tôi có ý quan sát thì thấy có thợ đang sửa sang lại võ trường. Có lẽ sẽ dùng vào mục đích chăng nào?
Ngũ Chấn nói :
- Chắc chắn là thế rồi. Võ trường Kim Lăng lớn vào bực nhất Giang Nam, nếu dành để đua kỵ mã cũng chẳng lấy gì làm lạ. Nhị sư huynh đã biết thể lệ cuộc đua ra thế nào chưa?
Tòng Thiện và Chiêu Đức lắc đầu :
- Chưa, nhưng rất tiếc là chuyến nào Thuận Vương mở hội đua tài là y như có một số hảo hán táng mạng vì tai nạn. Trái lại, cũng có người được thâu vào làm việc cho Vương phủ.
Ngũ Chấn chép miệng :
- Hoặc trừ khử bớt, hoặc thâu nhận để sau này lợi dụng, đó là hai mục đích tương đối của vị vương giả nguy hiểm ấy! Chắc thế nào bản thể lệ cuộc đua cũng sẽ thông Trương Tam vẫn nay mai đi các nơi để thí sanh con sửa soạn cuộc tranh đua, vả lại họ còn để thì giờ kéo về Kim Lăng chớ! Như vậy các nơi xa chắc phải có thông Tư rồi mới phải lẽ.
Bích Nữ từ nãy vẫn im lặng ngồi nghe, liền nói xen vào :
- Nếu có đua kỵ mã, phụ thân cho phép anh em con dự thi xem anh hùng thiên hạ tài cao tới mực nào!
Âu Dương Tòng Thiện cau mặt mắng át :
- Chà! Con biết chi việc người lớn nói mà vô lễ xen vào? Thi kỵ mã do Thuận Vương tổ chức chẳng phải là cuộc dự thi kén chọn kẻ anh tài, nhưng chính là cuộc mưu mô sát hại anh hùng hảo hán mới đúng nghĩa đó. Sau này sẽ hay, chớ bây giờ chẳng nên háo thắng trong chốc lát gây thù oán để Thuận Vương chú ý tới có ích lợi chi?
Bích Nữ rắn rỏi nói :
- Nếu ai ai cũng lập luận như phụ thân thì anh hùng hảo hán nào còn dám tới võ trường Kim Lăng hưởng ứng cuộc đua nữa. Ta đã biết độc tâm của ban tổ chức phe Thuận Vương thì phải phòng bị đánh bại mưu mô thâm độc, đánh ngã các tướng tá của Vương phủ cho người cầm đầu của chúng biết tay mới gọi là thượng sách chớ!
- Con đừng ngụy biện! Tập được chút ít võ nghệ, con đã tự phụ vô địch coi mục hạ vô nhân hả?
- Thưa phụ thân, con đâu dám cãi lời phụ thân. Xưa nay có học tất phải hành, không lẽ đứng ngoài yên lặng coi bọn hùm beo trong Vương phủ sát hại kẻ hiền lương sao? Như vậy trái với nguyên tắc hành hiệp như phụ thân vẫn khuyên anh em con.
Chiêu Đức và Ngũ Chấn thấy Bích Nữ hùng biện, nhìn nhau cười.
Âu Dương Tòng Thiện bảo Bích Nữ :
- Ta đồng ý với con, nhưng vì sau này triều đình còn cần dùng tới các bực anh tài, vậy ta chẳng nên lộ hình tích. Chừng nào tới lúc các con phải cầm thương lên ngựa, đem tài nghệ sở trường ra giúp Quân vương trừ gian, sát tặc đem lại hòa bình cho muôn dân, khi ấy ta sẽ bằng lòng cho các con ra đi. Nhưng hiện thời còn sớm quá. Nếu anh em con muốn đi xem cuộc thi, ta sẽ bằng lòng cho đi, nhưng dự thi quyết không khi nào! Nghe chưa con!
Bích Nữ im lặng, châm thêm nước sôi vào bình trà rối ngồi sang bên.
Chiêu Đức thiền sư hỏi Bích Nữ :
- Ba anh em con vẫn luyện thuật kỵ mã như trước đó chứ?
Bích Nữ chưa kịp đáp thì Tòng Thiện đã nói :
- Chao ôi! Sư đệ còn nói vậy nữa sao? Chúng luyện tập còn dữ dội hơn lúc đang theo học nhiều. Chế hóa ra nhiều thuật thượng mã, phi mã lanh lẹ nguy hiểm tài tình, chẳng kém chi Mông Cổ trong bộ đội kỵ mã xung phong của Thành Cát Tư Hãn thời trước.
- Nếu vậy đáng phục lắm! Nhưng Bích Nữ con nên nghe lời thân phụ dạy bảo. Lúc này kín tiếng bao nhiêu hay bấy nhiêu. Say này còn nhiều trường hợp đụng độ, các con sẽ có nhiều dịp trổ tài giúp triều đình. Như vậy nghịch vương mới bị nhiều khó khăn bất ngờ. Hiểu lời ta nói không con?
Bích Nữ đứng lên vái :
- Bẩm sư phụ, con hiểu rồi.
- Ta rất nóng xem tài kỵ mã của con. Vậy sáng mai hãy có mặt trên võ trường biểu diễn ta coi.
- Xin vâng lệnh.
- Bây giờ cho phép con đi nghỉ sớm để sáng mai tinh thần tỉnh táo hơn. Mặc anh em ta ngồi đây đàm đạo.
Bích Nữ vái lạy trở về phòng riêng.
Sớm hôm sau, Âu Dương Tòng Thiện, Chiêu Đức và Ngũ Chấn lên võ trường. Võ trường Thiếu Lâm tự là một khu sân đất nền rộng tới non ba mẫu, chia ra nhiều khu cho người mới tập luyện, quyền cước, binh khí, xạ tiễn, cử tạ và kỵ mã. Các môn đồ, thường dân có, tăng đồ có, người áo chẽn người cởi trần, ai nấy đều chăm chỉ hăng hái tập luyện dưới quyền chỉ huy của các hòa thượng phụ trách từng khu vực một.
Quyền múa vù vù, cước đạp thình thịch, tiếng các võ khí song đấu đỡ gạt chan chát lẫn với tiếng hét thỉnh thoảng bật lên ghê rợn.
Khi cử tạ, môn đồ nào cũng cởi trần, tập xách, cử những đòn cây hai đầu lồng bánh xe đá vừa cao vừa dày rất nặng nề, hoặc tập liệng xa hai tay hay một tai những phiến đá lớn. Mỗi lần đá rớt là một lần rung chuyển cả võ trường.
Khu kỵ mã hôm đó, môn sanh luyện phi mã lao giáo vào người bằng rơm tết lại.
Một người ngồi trên ngựa phi như bay, cầm cương một tay, tay kia lăm lăm cầm ngọn giáo lúc cách người rơm chừng ba mươi bộ, lao mạnh cây giáo cắm phập vào đích. Tiếng vó ngựa phi như mưa rào.
Người nào cũng quắc thước gáy to, ngực nở, vai rộng, bụng chét, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn như thừng chão.
Cũng có người gầy guộc. Tuy gầy nhưng toàn thân họ cứng như sắt nguội.
Thấy Sư trưởng tới, các môn đồ đều ngừng tập, cúi đầu chào rồi lại người nào việc ấy luyện tập tiếp tục như thường.
Âu Dương, Ngũ Chấn theo Chiêu Đức đi quan sát từng khu một, xem xét cách luyện và cách chỉ dẫn của các hòa thượng phụ trách.
Ba người đang mãi chú ý tới sự tập luyện của môn đồ, thì Âu Dương Bích Nữ phóng ngựa như bay tới.
Nàng cột ngựa vào khu kỵ mã rồi chạy đi chào khắp mọi người.
Trừ những môn sanh mới tới, còn những người cũ đều quen biết Bích Nữ nên ai lấy đều vui mừng chào hỏi Trong bọn cũng đã có nhiều người hạ sơn rồi. Trông thấy bạn bè ra công luyện tập trong khung cảnh cũ, mà cách đây hai năm, chính nàng cũng như họ vùng vẫy, ganh đua, thi tài, đấu sức, Bích Nữ bỗng bùi ngùi cảm thấy như nhớ tiếc một sự gì đã qua.
Bỗng Chiêu Đức thiền sư vỗ tay ra hiệu gọi Bích Nữ.
- Nàng vội vàng chạy tới khu kỵ mã.
- Con thử phi ngựa ta coi nào!
Bích Nữ xin vâng. Nàng chạy tới chỗ buộc ngựa tháo con Bạch Hồng mã của nàng giắt tới trước mặt Thiền Sư.
Các môn đồ bảo nhau chạy tới khu kỵ mã đứng vòng quanh xem cho thỏa tánh hiếu kỳ.
Ai nấy đều khen ngợi con Bạch Hồng mã khỏe mạnh.
Quả vậy, con tuấn mã hai màu trắng, đỏ này là giống ngựa Hoa Lưu nổi tiếng bên Trung Quốc. mồm nhỏ, cổ vồ, ức lớn, bốn chân mạnh móng dày mà gọn, bờm và đuôi trắng như cước.
Giống tuấn mã này khỏe và dẻo dai, ngày đi ngàn dặm không biết mệt, cao lớn dị thường.
Họ nhà Âu Dương rất sành sỏi về ngựa. Tòng Thiện mua được con Bạch Hồng mã này từ nhỏ và cho Bích Nữ tự nuôi dạy lấy. Bởi vậy nó khôn như người, nhất cử, nhất động đều theo hiệu lệnh của Bích Nữ.
Nàng vỗ nhẹ vào cổ tuấn mã chỉ tay ra phía sau đầu sân bên kia, nói mấy câu.
Bạch Hồng như hiểu tiếng người gật đầu, gõ móng cồm cộp xuống nền đất rồi chạy kiệu nhỏ sang đầu sân.
Bích Nữ theo ra đứng lưng chừng sân, huýt gió.
Bạch Hồng mã phi trở lại như bay... Bích Nữ chờ ngựa chạy ngang qua, liền phi thân phóng theo tay tả nắm bờm, tay hữu nắm đầu yên nhảy lên lưng ngựa ngồi dễ dàng như không.
Bạch Hồng mã vẫn phi như bao vòng qua trước mặt Chiêu Đức thiền sư, Bích Nữ rẽ ngựa sang bên tả phi vòng quanh sân. Nàng nhổm người lên. dồn cả hai chân sang một bên bàn đạp, tay nắm chắc đầu ngựa. Thân con tuấn mã che khuất hẳn chủ nó y như nó chạy mà không có người cỡi vậy.
Bích Nữ thay đổi cả hai bên rồi mới lại ngồi lên lưng ngựa như tức thì vừa vặn về tới trước mặt Chiêu Đức thiền sư, ghì cương lại.
Bạch Hồng mã chồm hai chân tới trước bỏ lên cao đứng bằng hai chân sau, hất mồm hú lên mấy tiếng đắc thắng trước pháo tay của mọi người.
Bích Nữ nhảy xuống ngựa chạy tới trước mặt sư trưởng cúi đầu, con tuấn mã cũng chạy theo cúi đầu gật gật mấy cái, gõ móng xuống đất như bắt chước chủ nó chào lại Thiền sư vậy.
Chiêu Đức và Ngũ Chấn khen ngợi vô cùng :
- Hảo chủ, hảo mã.
Bích Nữ vào giá binh khí, chọn lấy một cây cung và năm mũi tên. Đoạn nàng trở ra nhảy trên mình ngựa thả lỏng cương cho Bạch Hồng mã phi thân lẹ vòng qua chỗ đích bắn tên rồi chạy ngược trở lại...
Nàng rà người sang bên tả sang bên hữu bắn ngược lại phía sau. Hai mũi tên trúng giữa hồng tâm trước sự hoan hô ầm ầm của mọi người.
Nhưng chưa xong! Bích Nữ nằm ngửa trên lưng, đầu ngã xuống mông ngựa, dương cung phát một mũi tên thứ ba ngược lại phía sau. Mũi tên đó trúng giữa hông tâm tách hai mũi tên trước sang hai bên. Bích Nữ ngừng lại như chường kéo cương ngựa cho chạy kiệu nhỏ về tới trước mặt Chiêu Đức, Ngũ Chấn và Âu Dương Tòng Thiện. Nàng nhảy xuống sân vỗ mấy cái vào má Bạch Hồng mã như ban khen. Con tuấn mã gật đầu hí lên mấy tiếng rồi chạy ra đứng bên cọc ngựa. Bích Nữ cất cây cung vào giá khí giới rồi trở ra khép nép đứng vào một bên.
Các môn đồ giải tán, người nào về chỗ ấy tập luyện như thường ai cũng có vẻ phục Bích Nữ kỵ mã thuật và xạ tiễn đã tới mức tuyệt luân.
Chiêu Đức bảo Bích Nữ :
- Ta khá khen con chịu khó điêu luyện nghệ thuật kỵ mã và cung tên. Mức độ còn cao hơn lúc con còn ở chùa nhiều. Nếu môn đồ nào cũng như con thì rạng rỡ cho chùa ta biết là nhường nào! Thôi cho con về nghỉ.
Bích Nữ cúi đầu chào rồi lên ngựa ra khỏi võ trường.
Ngũ Chấn nói :
- Bản lãnh và nghệ thuật kỵ mã như thế, thảo nào Bích Nữ muốn dự cuộc kỵ mã hội sắp tới đây ở Kim Lăng.
Chiêu Đức gật đầu im lặng.
Âu Dương Tòng Thiện nói :
- Nhưng nó có là tay vô địch độc nhất đâu, Tòng Cát, Tòng Đức tài nghệ cũng như nó mà hai đứa trai ấy không đòi dự thí. Chỉ riêng nó bướng bỉnh đòi đi hoài.
Chiêu Đức thiền sư nói :
- Sư huynh an tâm, để tôi khuyên nhủ nó tất phải theo lời. Có những tay lương đống ấy, triều đình cũng đỡ lo một phần lớn, vì binh tướng của Hạn Vương không phải hạng vừa.
- Có một điều mà ngu huynh thắc mắc là không hiểu bọn tay chân tài ba của Thuận Vương do môn phái nào xuất nhân?
- Điều chắc chắn hơn cả là tôi đã cho dò xét, không có một môn đồ Thiếu Lâm nào trong hàng ngũ ấy. Đó cũng là một ưu điểm rồi.
Ngũ Chấn nói :
- Nghe đâu phần đông của bọn Thuận Vương xuất thân từ La Phù sơn và Động Đình hồ. Rất đáng tiếc. Một thí dụ cụ thể là bọn Phi Không bên Dương Châu cũng theo với Thuận Vương từ lâu rồi.
Âu Dương Tòng Thiện lắc đầu chép miệng :
- Những con chó ghẻ ấy làm ô uế cả cửa phật. Nếu gặp, nên thẳng tay tẩy trừ cho kỳ hết.
Ba người vừa đủng đỉnh về hậu sảnh vừa nói chuyện... Cha con Âu Dương ở chơi trên chùa Thiếu Lâm tự có tới mười ngày rồi mới trở về Tô Châu. Lúc bấy giờ đã sang hạ tuần tháng chạp. Từ đó đến sang xuân, bọn giang hồ hảo hán qua Âu Dương trang ai cũng bàn tán tới đại hội kỵ mã ở Kim Lăng, người muốn dự thí, người muốn đi coi.
Âu Dương Tòng Đức có một người bạn tên Tào Chí bên Dương Châu cũng là một tay kỵ mã đại tài nên có tước hiệu là Thiên Lý Mã. Họ Tào tinh thông quyền cước và thập bát ban võ nghệ đầy đủ, chuyên buôn bán, có nhiều tiện buôn bên Dương Châu. Nhờ đó có nhiều tiền ở trang trại riêng và nuôi một tầu tám con ngựa quý tự hào gọi là Bát Tuấn. Tào Chí rất sành về ngựa từ cách nuôi dạy đến xem tướng ngựa hay, ngựa phản. Trong sảnh đường treo la liệt nhiều bức danh họa mã đồ, mỗi bức một kiểu.
Thiên Lý Mã Tào Chí còn trẻ tuổi, nghe thấy bên Kim Lăng sắp có kỵ mã hội bèn lập tức viết thư sang Tô Châu mời anh em Tòng Cát, Tòng Đức sang chơi và đi xem hội luôn thể.
Tòng Đức đưa thơ của Tào Chí cho Tòng Cát xem.
Tòng Cát nói :
- Ngu huynh chờ cùng đi với phụ thân. Nếu hiền đệ muốn sang Dương Châu chơi và cùng đi với Tào Chí thì nên vào trình bày người hay trước kẻo trễ.
Tòng Cát liền vào bày tỏ mọi sự với cha xin phép sang Dương Châu tìm Tào Chí. Bích Nữ biết chuyện cũng đòi đi theo.
Tòng Thiện yên trí các con có bản lãnh nên ưng thuận ngay nhưng cũng khuyên :
- Hai con muốn sang Dương Châu rồi xuống Kim Lăng xem hội cha không cấm, nhưng cha chỉ yêu cầu các con nhất nhất phải tuân lời giáo huấn không được tự ý dự cuộc thi e lộ hình tích, vả lại các con đâu có cần công danh dưới trướng Thuận Vương đâu mà cần thi thố tài năng để được trọng dụng? Trong khi xem cuộc thi, vạn sự nhất nhất nên lưu ý dò xét cách hành động của bọn tùy thuộc Thuận Vương ra sao, các con sẽ hiểu ngay tâm địa phản nghịch của vị Vương giả ấy. Nhớ đem theo khí giới phòng thân cho đầy đủ. Có lẽ cha cũng xuống Kim Lăng cùng mấy vị bằng hữu. ta sẽ gặp nhau ở đó. Nói tóm lại chẳng nên nóng tánh nơi dọc đường thì cha mới an tâm, nghe chưa?
Anh em Tòng Đức sung sướng được cha ưng thuận, nhất nhất tuân lời. Tối hôm đó vào trình bày với mẹ, xong xuôi hai anh em sửa soạn hành trang để hôm sau lên đường.
Nguyên họ Âu Dương cũng là tay thạo nghề kỵ mã nên trong trang Tòng Thiện nuôi một tầu ngựa có tới trên hai mươi con. Con nào cũng khỏe mạnh và được chọn lọc trong những giống ngựa tốt có tiếng trong Trung Hoa. Cũng như Bích Nữ, bọn Tòng Cát, Tòng Đức mỗi người dạy riêng một con ngựa theo đúng phương pháp. Tòng Cát có con Hắc Phong, đen tuyền dọc mũi trắng và bốn vó trắng, da bóng lộn như bồ hóng, hợp cách Tứ Tuấn Mai Hoa. Tòng Đức có con Long Câu đỏ thẫm, bờm và đuôi màu vàng tơ hai vó trắng, đúng cách Mao Hồng, Bạch Cước, Hảo Long Câu. Còn Tòng Thiện thì cỡi con Hoàng Thổ, lưng mông và bụng lốm đốm hoa trắng.
Hai con Hắc Phong và Long Câu mua tận Ký Châu về. Riêng con Hoàng Thổ thì cùng giống ngựa Hoa Lưu với Bạch Hồng mã của Bích Nữ.
Từ biệt mọi người xong, Tòng Đức và Bích Nữ cưỡi ngựa lên đường sang Dương Châu.
Hôm tới Dương Châu, trời vừa tối, hai anh em vào thành tìm quán trọ, sáng hôm sau mới đi kiếm Tào Chí và hẹn gặp nhau ở Thanh Dương hồ...
0
Hồi 16
Duyên kỳ ngộ, Thái Phượng đẹp duyên cùng Tào Chí
Sầu chia ly, Bích Nữ ngơ ngẩn biệt Chu lang
 
Âu Dương Tòng Đức nói chuyện đi tìm Tào Chí cho Bích Nữ nghe. Tòng Đức đã chuyển tất cả hành lý đến Tào gia trang, có lẽ lát nữa họ Tào cũng theo giấy chàng đã để lại tới quán Hải Hồ tìm hai anh em. Tiệc rượu đang vui vẻ, bỗng mọi người thấy có tiếng ồn ào và người quát tháo phía ngoài :
- Các người vào kêu con tiện tì ra đây hỏi tội, nếu nó không ra ta sẽ kéo vào thì quán này ra trọ nghe!
Lam Y nói :
- Chắc bọn Mộng Hoa Vương dò biết Âu Dương tiểu thư đến đây nên tìm tới báo cái nhục ban nãy.
Quả nhiên, chủ quán hớt hơ hớt hải chạy vào.
- Hình như có vị nữ quý khách nào làm phật lòng Diệp công tử hồi lúc du thuyền nên họ kéo tới đây gây chuyện đe dọa phá quán tôi, quí vị nghĩ sao?
Bích Nữ đẩy ghế đứng lên :
- Phải! Chính tôi đã cho tên cẩu trệ ấy uống nước Thanh Dương hồ ban nãy. Tiên sinh an tâm. Tôi ra ngay xem chúng muốn chi nữa.
Nói đoạn Bích Nữ gài cây thiết phiến vào dây lưng, ra khỏi bàn tiệc.
Âu Dương Tòng Đức cũng đứng lên :
- Vì anh em tôi, tiệc rượu mất vui, quý vị lượng thứ cho.
Mọi người đẩy ghế đứng cả dậy, Thiết Xích Tử nói :
- Hai cháu bất tất phải quan tâm. Trên bước giang hồ những chuyện này thường có. Bọn ta sẽ ra theo.
Bích Nữ nói :
- Bất tất phải thế. Sá chi lũ chuột nhắt ấy.
Bên ngoài tiếng ồn ào quát tháo lớn thêm. Các khách ăn phòng ngoài người nào cũng nhớn nhác không hiểu chuyện gì. Ra tới ngoài thềm trước cửa quán, Bích Nữ thấy một toán người đông tới bốn, năm chục tên tay cầm khí giới, hùng hổ dữ tợn, mím môi trợn mắt.
Đứng đầu là Mộng Hoa Vương Diệp Thoại Tấn vận võ phục, tay cầm đao. Tên áo bào xanh ban nãy cũng đã thay đổi y phục cầm kiếm. Nguyên bọn Diệp Thoại Tấn cậy thế cha xưa nay hay hiếp đáp người, dân chúng Dương Châu ai ai cũng gớm mặt. Họ Diệp cùng tên áo bào xanh con nhà trọc phú tên là Thôi Toàn giao du thân mật, tụ họp bè đảng, quanh năm ngày tháng lúc nào cũng rượu chè be bét tìm gái hái hoa, trác táng. Nên dầu có tập võ nghệ cũng không đạt được đúng nghĩa của hai chữ công phu. Chúng hoàn toàn trông cậy vào lũ vệ sĩ tùy tòng là bọn du thủ du thực, con quan cậy có đôi chút sức lực, năm ba miếng quyền hiếp đáp dân lành... Đối với hạng võ nghệ bình thường, lực lượng mấy chục tên vệ sĩ ấy có khí giới trong tay thì cũng đáng kể thiệt, nhưng trái lại, đứng trước những võ thuật gia điêu luyện lành nghề như anh em Âu Dương thì nhóm người ấy chẳng khác chi châu chấu đá xe không đáng kể.
Diệp Thoại Tấn chỉa đao vào Bích Nữ mắng lớn :
- Con tiện tì còn chờ chi nữa mà chưa biết xuống đây nạp mình xin lỗi, ta sẽ chấp thuận nạp vào hàng tì thiếp trong ít ngày. Bây giờ đừng hòng thoát tay ta nghe?
Thấy tên khốn kiếp dùng toàn giọng khinh bạc, Bích Nữ cố dằn nộ khí, với tay lượm viên đá nhỏ gần đấy nhằm ngực họ Diệp chọi mạnh. Diệp Thoại Tận vội đưa đao gạt nhưng sức chọi mạnh quá nẩy lửa, cây đao văng sang một bên. Thoại Tấn cánh tay te buốt lùi lại mấy bước, nhăn nhó hô bọn tùy tòng xông lên thềm bắt Bích Nữ.
Các thực khách lấp ló ở cửa quán xem, thấy bọn lang sói ào tới thì vội chạy lùi vào phía trong e bị đòn lây. Bích Nữ đứng chắn ngay ở bực lên thềm nhà.
Một tên lực lưỡng hung hăng, cầm côn nhảy lên trước đồng bọn ào theo sau. Tên đó hoa côn quật ngang lưng Bích Nữ. Nàng giơ tay đón, cặp chặt cây côn rút mạnh lại phía sau theo thế Phượng Hoàng Đào Dực. Bị rút mạnh, tên nọ nhào bắn hẳn người lên thềm, Âu Dương Tòng Đức đứng ở phía sau đón lấy, một tay xách ngang thắt lưng, một tay túm cổ áo nhấc bổng lên nhằm bọn vệ sĩ chạy theo sau, lao mạnh. Bị trúng viên nhục đạn nặng nề ấy, bọn chạy theo té nhào đứa nọ chồng lên đứa kia, vấp phải nhau kêu dậy trời lẫn với tiếng cười thỏa thích của khán giả. Tên bị Tòng Đức liệng đau quá nằm xoài rên siết. Đồng bọn xúm lại khiêng ra một chỗ.
Diệp Thoại Tấn kinh hoàng nhưng vẫn thôi thúc tùy tòng xông vào đánh. Một loạt khác nhào tới, Bích Nữ cười khanh khách, vung tròng một làn côn khiến khí giới của chúng tuột khỏi tay, sáu, bảy tên ngã bật về phía sau. Bích Nữ thừa thế nhảy theo, hoa côn gạt mạnh tứ phía, khí giới của bọn kia bay tung lên như lá rụng. Chúng sợ quá, không ngờ một thiếu nữ xinh đẹp nhường ấy mà lại có võ lực phi thường, kéo nhau rùng rùng chạy xô cả xuống mấy chiếc thuyền lớn đậu ở bờ hồ, hô lái chèo mau, đứa nọ chen đứa kia lác đác lăn cả xuống nước. Luýnh quýnh, Diệp Thoại Tấn và Thôi Toàn bị Tòng Đức và Bích Nữ tóm được vạt áo. Cùng quá, Diệp, Thôi hoa đao, kiếm chém lại nhưng chỉ một cái gạt nhẹ là hai món khí giới tuột khỏi tay chúng ngay.
Bích Nữ vờ giơ côn nhắm đầu hai tên vụt mạnh... Diệp Thoại Tấn, Thôi Toàn sợ quá bủn rủn cả tứ chi quỳ xuống vang lại như tế sao, xin tha mạng :
- Trăm ngàn lạy nhị vị sanh phúc tha mạng cho, chúng tôi có mắt không ngươi, từ nay trở đi không dám lộng hành nữa...
Tòng Đức trợn mắt nạt :
- Tin sao được lời nói của lũ chuột này. Xưa nay, các ngươi chuyên hiếp đáp dân lành, tội ác đã nhiều chẳng giết đi còn để bây sống làm chi cho dơ bẩn cả thế gian này. Nhưng thôi, chúng ta tha cho toàn mạng, chỉ tạm mượn mấy cái tai kia để các ngươi lấy đó làm bài học làm người, hiểu chưa?...
Nói đoạn, chàng nhặt lưỡi đao liếc đi liếc lai trên bàn tay, Diệp, Thôi hai tên hoảng qua, mặt tái mét, lạy lia lịa, nói chẳng ra tiếng.
Bích Nữ biết ý kéo tay Tòng Đức :
- Thôi, hiền huynh tha cho chúng được nguyên vẹn, bây giờ bắt chúng phải làm tờ cung khai tội lỗi, nếu sau này phạm pháp để dân chúng ta thán thì sẽ lấy thủ cấp luôn thể.
Được lời như cởi tấm lòng, hai tên Diệp, Thôi luôn miệng vâng dạ, quên cả lúc đó đang có bao cặp mắt hờn ghét chúng đã ỷ thế gây tai bay vạ gió cho dân lành, nay lại thêm khinh bỉ chúng về thái độ hèn nhát hiện thời. Tòng Đức bèn gọi tửu bảo lấy nghiên bút và giấy để Diệp Thoai Tấn viết tờ cung tội. Tửu bảo đem mấy thứ đó ra, cầm luôn chiếc ghế đẩu để Diệp Thoại Tấn trải giấy lên đó viết.
Giây lát tờ cung tội đã xong. Tòng Đức bắt hai tên ký vào đó, rồi mới cho chúng đứng lên. Hai tay lạy tạ bèn lẻn bước xuống thuyền chèo đi...
Anh em Âu Dương đủng đỉnh bước lên thềm nhà, chủ quán chạy ra vái :
- Nhị vị anh hùng đã làm một việc đại nghĩa cho chúng tôi ở vùng này. Hai tên ấy từ nay chắc không còn dám lộng hành như trước nữa, ơn đức ấy chúng tôi không bao giờ quên.
Tòng Đức gạt đi nói :
- Sanh sự, sự sanh hậu quả của mấy tên mạt vận ấy là thế, có chi mà nói chuyện ơn huệ hả tiên sinh?
Bọn Chu Đức Kiệt đứng cả đó xem anh em Âu Dương xử sự đều lấy làm hả hê.
Mọi người đang cùng nhau định bước vào quán thì có tiếng người gọi ở bến thuyền.
- Âu Dương huynh!
Mọi người cùng quay lại nhìn thấy một người trạc hai mươi bảy, hai tám tuổi, dong dỏng cao, nước da ngâm đen vận áo bào màu lục vừa ở trên chiếc thuyền nhỏ nhảy xuống bên.
Âu Dương Tòng Đức vui vẻ kêu lên :
- A! Tào huynh! Sao đến trễ vậy?
Thiên Lý Mã Tào Chí vừa bước lên bực đá, vừa nói :
- Về với tệ trang, nhận được giấy thì vội vàng đến đây ngay. Đại ca vừa đánh bọn Mộng Hoa Vương, phải không?
Tòng Đức và Tào Chí tay bắt mặt mừng.
Tào Chí thấy mọi người đong, nhìn Tòng Đức có ý hỏi, nhưng Tòng Đức đã giới thiệu từng người một.
Thi lễ xong xuôi, tất cả cùng kéo vào trong quan. Thiết Xích Tử nói :
- Chao ôi! mấy tên cẩu trệ tới làm nguội cả tiệc rượu ngon lành.
Chủ quán đứng gần đấy đỡ lời :
- Không sao, tôi đã cho dọn tiệc khác nóng hổi rồi, xin mời quý vị tái nhập ngay cho kẻo nguội.
Thiết Xích Tử vỗ vai chủ quán cười ha hả :
- Có thế chứ! Chiều khách như vậy trách nào chẳng đắt hàng!
Rượu nồng, bạn mới, câu chuyện trong bữa tiệc rất hào hứng và thiên về kỳ hội sắp tới ở Kim Lăng. Nói tới ngựa Tào Chí thao thao bất tuyệt nói đủ các chi tiết, kinh nghiệm về ngựa. Mọi người đều thán phục Tào chịu khó xem xét khảo cứu các môn nuôi dạy giống vật đáng quý.
Thiết Xích Tử nói giỡn :
- Nghe Tào hiền điệt bàn luận về môn kỵ mã, tôi có cảm tưởng rằng hiền điệt chỉ ưa thích có giống hảo vật đó thôi!... Chẳng hay đã lập gia đình chưa!
Tào Chí mỉm cười :
- Bá phụ dạy chí phải, từ lúc biết học kỵ mã tới nay, lúc nào chàng cũng bận rộn vì giống hảo vật ấy, nên chưa... có rảnh để nghĩ tới việc gập gia đình, tuy gia mẫu đã nhiều phen thôi thúc cháu về việc đó.
Nhà có lão mẫu mà tới tuổi này chưa lập gia đình, hiền điệt không nghĩ tới câu “bất hiếu hữu tam...” sao? Cho phép lão hủ này làm mối nhé.
Tào Chí cười khà :
- Một phần nữa cũng vì diện mạo xấu xí nên ai cũng chê. Bá phụ định làm mối, che lấp sao được điểm ấy cho cháu?
Mọi người cùng cười ồ lên.
Thiết Xích Tử nói :
- Diện mạo đáng kể chi! Cần nhất là có tài mới là điều đáng để cho các cô gái đức hạnh chú ý tới. Thiệt nhé, ta đứng môi nhân, hiền điệt không được từ chối nhé?
- Bá phụ có lòng yêu như vậy thì còn chi bằng. Cháu xin... nhận tiếp.
Thiết Xích Tử phân bua :
- Họ Tào nhận lời rồi có quý vị hiền điệt làm chứng nhé. Tôi sẽ làm mối cho y một bà nội trợ đức hạnh và tuyệt sắc giai nhân.
Chu Đức Kiệt cả cười :
- Thế thì tân lang còn chờ chi nữa không tạ ơn môi nhân một ly rượu cho bọn tôi uống theo với!
Ai nấy cười rộ lên khen phải.
Tào Chí chưa biết hành động ra sao thì Âu Dương Tòng Đức đã giục.
- Kìa, Tào đại ca còn ngần ngừ định thất hứa sao đó? Tạ ơn môi nhân đi chứ. Còn nghĩ ngợi chi nữa?
Tào Chí đỏ mặt, đành phải đứng dậy rót ly rượu đầy đưa mời Thiết Xích Tử.
Đỡ lấy ly rượu. Thiết Xích Tử nói :
- Xin mời cử tọa và tân lang cùng uống để lấy may chứ.
Hạ Thái Phượng thỏ thẻ :
- Cháu không uống được rượu, xin bá phụ cho phép uống chút ít thôi...
Thiết Xích Tử ghé tai Phàn Thế Hùng ngồi bên nói nhỏ mấy câu. Họ Phàn mỉm cười gật đầu lia lịa lẳng lặng nhìn Hạ Thái Phượng.
- Không được! Đây là ly rượu duyên tình của Tào anh hùng, không ai có quyền từ chối cả. Nào xin mời.
Nói đoạn Thiết Xích Tử uống một hơi cạn ly. Mọi người cùng uống theo.
Hạ Thái Phượng da mặt hồng ngập ngừng mãi mới uống hết ly rượu.
Phàn Thế Hùng mỉm cười bảo Thái phượng :
- Biểu muội rán uống thế là phải lắm. Biết đâu rồi gần đây chính biểu muội cũng như Tào đại ca, sẽ chẳng phải mời Trương tiên sinh uống ly rượu... biết ơn?
Hà Thái Phượng đỏ mặt :
- Hư! Biểu huynh hay nói quấy lát nữa về nhà, ngu muội sẽ mách cho!...
Phàn Thế Hùng cười khà :
- Ngu huynh đâu có lo sẽ bị cô mẫu quở mắng. Những điểm mà ngu huynh sẽ nói có lẽ sẽ khiến người vui mừng và... đỡ lo!
Anh em Chu gia hiểu ý nhìn Phàn Thế Hùng và Thiết Xích Tử rồi mỉm cười.
Bữa tiệc hào hứng vui vẻ kéo dài tới xế chiều, mọi người mới ra về. Phía nữ có vẻ chếch choáng nên Phàn Thế Hùng gọi tửu bảo thuê kiệu để mọi người cùng về nhà. Ra tới cổng quán, Tào Chí và anh em Âu Dương xin cáo biệt. Thiết Xích Tử nói :
- Kìa! Vội vàng thế? Mời quý vị về chơi cho biết nhà, định chia tay ngay bây giờ sao?
Phàn Thế Hùng cũng vồn vã mời ba người cùng đi. Tào Chí khoanh tay nói :
- Nếu tôi không quên thì ban nãy có hỏi tới địa chỉ bên nhà ở Chiêu Dương lộ, tiệm Đạt Hưng gần chợ Bắc Qua. Vậy sớm mai thế nào bọn chúng tôi cũng sẽ tới hầu và mời quý vị đến tệ trang dùng bữa luôn thể.
Chu Đức Kiệt nói :
- Tào đại ca dạy như thế cũng được. Chúng ta nên tùy tiện.
Sáng mai sẽ tái kiến rồi sang bên Tào gia trang.
Thiết Xích Tử nói :
- Như vậy cũng được, nhưng cho phép lão hủ này nói riêng với Tào Chí một lời...
Nói đoạn, Thiết Xích Tử bảo riêng họ Tào ra một nơi thì thầm mấy câu, Không hiểu Thiết Xích Tử đã nói những gì nhưng mọi người thấy Tào Chí kín đáo nhìn Hạ Thái Phượng. Chờ cho bọn Thiết Xích Tử lên kiệu trước đi khỏi rồi. Tào Chí và anh em Âu Dương mới ra về.
Âu Dương Tòng Đức hỏi Tào Chí :
- Có việc chi bí mật mà Trương tiên sinh cùng Tào ca thì thầm dữ vậy?
Tào Chí mỉm cười :
- Có gì đâu! Trương tiên sinh muốn làm mối Hạ tiểu thư cho ngu huynh. Hiền đệ và hiền muội nghĩ có nên không?
Tòng Đức nói :
- Sao không nên! Hạ tiểu thư tuy không là người có võ thuật, nhưng thùy mị nết na, sẽ là người nội trợ giỏi. Bá mẫu có người con dâu đó chắc chắn hài lòng, đại ca chớ bỏ qua dịp tốt. Chẳng lẽ ở vậy mãi sao.
Bích Nữ cũng xen vào :
- Tào đại ca và Thái Phượng rất đẹp đôi. Bá mẫu đã trọng tuổi, đại ca ít khi ở nhà, chắc người cũng buồn. Chi bằng kết duyên luôn cùng họ Hạ để bá mẫu sớm tối có người hầu hạ là phải lắm rồi.
Tào Chí khẽ gật đầu :
- Ngu huynh về thưa lại với gia mẫu rồi sẽ liệu sau, Còn nhiều thì giờ mà!
Về tới nhà, Thiết Xích Tử nói riêng với anh em Chu gia :
- Tối làm mối cho hai họ Tào, Hạ. Lát nữa nói chuyện với Hạ mẫu, nhị vị liệu lời tương trợ hộ nhé!
Lam Y nói :
- Tiên sinh hành động phải lẽ lắm. Chắc thế nào cũng thành.
Hạ thái thái thấy mọi người đã về, vui vẻ hỏi thăm cuộc du hồ, Thái Phượng đem chuyện Âu Dương, Bích Nữ đánh bọn Mộng Hoa Vương kể lại cho mẹ nghe.
Hạ thái thái lắc đầu :
- Khiếp quá! Thời buổi này con gái không có bảo lãnh ra đường kể cũng đáng sợ thật. Mà ngồi nhà cũng có chuyện, như vụ mấy tên đầu đà vừa rồi, nếu không nhờ nhị vị Chu hiệp và họ Phàn thì nguy hiểm cho con biết chừng nào. Mỗi khi nghĩ tới, mẹ còn thấy rùng mình lo sợ, con ạ.
Thái Phượng lẳng lặng không nói gì. Thấy dịp tốt, Lam Y nói xen vào :
- Bá mẫu dạy chí phải, như Hạ muội đây chỉ có việc xuất giá lấy được người chồng có bản lãnh, thế lực là giải quyết xong mọi điều lo lắng của bá mẫu.
- Những người như vậy đâu có dòm ngó tới Thái Phượng?
- Ai lấy vợ cũng mong kiếm được người hiền hậu nết na. Hữu duyên thiên lý ngộ, Bá mẫu chớ lo, người thức thời chỉ căn cứ vào đức hạnh con người chớ không khi nào phân giai cấp. Lát nữa, Trương tiên sinh sẽ nói với bá mẫu một việc, chắc sẽ hài lòng...
- Việc chi vậy?
Lam Y mỉm cười, bí mật :
- Việc đó cực hảo, lát nữa bá mẫu sẽ biết, vội chi! Muốn biết ngay, bá mẫu cứ hỏi Thái Phượng :
- Việc chi vậy, con?
- Con có biết chi đâu! Chắc Chu nữ hiệp nói giỡn đấy.
Người ấy đâu có nói sai.
Từ nãy Phàn Thế Hùng vẫn nghe chuyện, bèn xen vào :
- Cháu hiểu rồi. Cô mẫu vào trong nhà cháu sẽ trình bày rõ ràng nhưng chỉ nói riêng với cô mẫu thôi. Biểu muội lên lầu thay y phục đi.
Lúc chỉ có hai cô cháu, Phàn Thế Hùng đem việc Thiết Xích Tử muốn làm mai cho hai họ Tào, Hạ, nói cho Hạ thái thái nghe.
- Họ Tào thế nào, cháu có nhận xét điều gì không?
- Có con người ấy làm rể thì còn gì hay bằng! Võ giỏi, giàu có giao du rộng, hơn nữa y lại là người sanh quán tại Dương Châu, Hai nhà đi lại với nhau tiện lắm. Năm nay y hai mươi tám tuổi Nhâm Ngọ. Hơn Thái Phượng những mười một tuổi, chỉ sợ biểu muội chê y lớn tuổi quá thôi. Diện mạo không đẹp như Chu hiệp, nhưng tốt tướng. Sớm mai y sẽ tới đây mời mọi người sang Tào gia trang uống rượu, cô mẫu sẽ có dịp biết mặt.
- Nếu vậy, con Thái Phượng còn chê cái nổi gì? Được, để cô giảng giải nó phải nghe. Bây giờ cần so đôi tuổi đã.
- Thái Phượng có chê bai gì đâu? Đây là cháu lo biểu muội nghĩ tới sự tuổi tác chênh lệch thôi...
- Khi xưa thúc thúc hơn cô gấp đôi tuổi mà vợ chồng cũng còn thương mến nhau khăng khít nữa là!... Chẳng bao giờ cô không thương tiếc người chồng kiểu mẫu ấy.
Nói đoạn, Hạ thái thái gọi lão bộc Lý Trung bảo :
- Quản gia sang bên thầy Thái Ất nhờ so tuổi Nhâm Ngọ hai mươi tám với tuổi Thái Phượng xem sao. Lúc trở về nói riêng tôi biết thôi nhé.
Lý quản gia vâng dạ quày quả đi ngay.
Hạ thái thái hỏi Phàn Thế Hùng :
- Theo ý riêng cháu nghĩ thế nào về vụ này?
- Dạ, cháu ưng ý lắm. Nếu cô mẫu cho phép, cháu sẽ nói với Trương tiên sinh là cô mẫu đã ưng ý để ông ta khỏi phải nói lại.
- Được, nhưng chờ Lý quản gia về xem kết qua cuộc sao đôi tuổi ra sao đã. Bây giờ cháu đi thay áo sửa soạn ăn bữa tối.
Hãy còn no nguyên, cô mẫu ạ.
- Nếu vậy cô bảo nấu cháo con ăn vậy.
Bữa tối hôm ấy chỉ có Hạ thái thái và gia đình Lý Trung ăn cơm. Bọn đi chơi Thanh Dương hồ về chờ bữa cháo. Phàn Thế Hùng bước vào phạn phòng.
Hạ thái thái biết ý, gật đầu :
- Việc coi Thái Ất lúc nãy kết quả tốt lắm cháu ạ. Có thể trả lời Trương tiên sinh được rồi.
- Xin vâng, cháu sẽ để ý thu xếp việc này, cô mẫu an tâm.
Nói đoạn chàng trở ra tìm Thiết Xích Tử nói riêng :
- Cháu đã thưa lại với cô mẫu việc tiên sinh muốn tác thành cho Tào Chí và Hà Thái Phượng. Ổn thỏa rồi. Biểu muội Thái Phượng thành vợ thành chồng, cô mẫu cũng an lòng được phần nào.
Thiết Xích Tử vỗ vai họ Phàn :
- Chính vì lẽ ấy nên tôi mới nghĩ tới sự làm mai cho đôi bên. Tác thành cho hai họ ấy sống trong an vui không phải là nghĩa cử sao?
- ... Và cũng là một dịp để uống cho thật say!
- Hà, hà, cháu nói trúng ý ta lắm!
Hôm sau vào quãng đầu giờ thìn, Tào Chí và anh em Âu Dương cỡi ngựa tới thăm mọi người bên tiệm Đạt Hưng. Ba người vào chào lạy Hạ thái thái.
Phàn Thế Hùng đưa mắt ra hiệu cho cô mẫu biết Tào Chí. Thấy họ Tào nghiêm trang, dáng điệu anh hùng, Hạ thái thái rất đỗi mừng thầm cho Hà Thái Phượng lấy được chồng khí khái. Trong khi mọi người nói chuyện trong phòng khách, Phàn Thế Hùng lẻn ra hỏi Hạ thái thái.
- Cô mẫu có ưng cho Tào Chí làm giai tế cho họ Hạ không?
- Phúc cho Thái Phượng lắm rồi, cháu ạ. Chỉ e người ta chê biểu muội của cháu thôi.
- Không đâu, Tào Chí có vẻ chú ý tới Thái Phượng nhiều lắm. Thế nào cũng thành.
- Sớm ngày nào hay ngày ấy, trước khi các cháu trở về Thái An huyện, cô càng đỡ lo.
- Đã đành, hai họ cùng ưng thuận cả thì không lẽ nào để hôn lễ chậm trễ.
- Thôi cháu vào nhà trong tiếp khách đi. Mọi việc cô cho cháu toàn quyền hành động, bất tất phải hỏi ý kiến cô nữa.
Phàn Thế Hùng vào nhà trong thì bọn Tào Chí, theo sự hướng dẫn của Phàn Mộng Liên, đang đi xem vườn cảnh. Tào Chí khen ngăn nắp rộng rãi quá cho một gia đình ít người.
- Nếu quý vị không tới đây chắc trong nhà lặng lẽ lắm nhỉ?
Thiết Xích Tử nói khẽ :
- Bởi vậy nay thêm có một giai tế như hiền điệt, gia đình sẽ vì đó mà vui vẻ hơn lên! Bên này ta dàn xếp xong rồi, còn phần hiền điện đã nhất quyết chưa?
- Anh hùng chỉ nói có một lời thôi. Bá phụ đã có lòng tác thành cho lẽ nào cháu lại từ chối. Vì thế nên cháu tổ chức bữa rượu hôm nay tạ ơn môi nhân đó...
- Vậy thì nên cử hành hôn lễ ngay trước khi bọn chúng ta đi Kim Lăng, nghĩ có nên không?
- Cháu rất đồng ý, vì lúc này đang có đông đủ mọi người, vả lại chuyến này nếu không có vợ, gia mẫu cũng không muốn cho cháu đi xa.
Bọn Tào Chí ở lại nhà họ Hạ chờ mọi người y phục chỉnh tề sửa soạn sang chơi bên Tào gia trang. Khi sắp ra đi Thiết Xích Tử tuyên bố việc đứng làm mai cho hai họ Tào, Hạ. Ai nấy đều vui vẻ hoan hô.
Thiết Xích Tử nói :
- Tào hiền điệt nên tới lạy nhạc mẫu đi cho tiện bề lo liệu ngay Tào Chí bèn tiến tới quỳ lạy Hạ thái thái ba lạy và kêu là nhạc mẫu.
Hạ thái thái đỡ Tào Chí dậy :
- Nay đã là người trong nhà, hiền tế cứ tùy tiện. Riêng phần tôi rất sung sướng có rể như con. Chỉ e Thái Phượng còn non nớt không biết cách làm dâu, nên trăm sự ta trông cậy ở con dạy bảo nó sau này.
Thiết Xích Tử nói đỡ cho Tào Chí :
- Hai bên cùng xứng đáng lắm rồi, vị tất Hạ thái thái phải nghĩ nhiều.
Hạ thái thái vui vẻ :
- Hôm nay, đáng lẽ tôi phải làm cơm đãi rể nhưng quý vị đã trót hẹn nhau sang bên Tào gia trang, vậy xin tới ngày mai.
Thiết Xích Tử nói :
- Hay lắm! Nhân tiện tôi sẽ đạt lời mời Tào mẫu ngày mai sang đây chơi để hai bên thông gia quen biết nhau.
Mọi người đều hoan hô hảo ý của Thiết Xích Tử. Vợ chồng Lý quản gia vì Tiểu Kim thấy đại sự thành đạt mau lẹ như vầy thì đều mừng rỡ, đứng sau rèm nhòm ngó chú rể mới. Mọi người xin phép Hiền mẫu lên đường.
Phàn Thế Hùng nói :
- Chúng ta tám người mà chỉ có bảy con ngựa, vậy Mộng Liên nên nhường ngựa cho Trương tiên sinh, đi kiệu vậy.
Tào Chí nói :
- Tiểu đệ đã nghĩ tới việc đó nên sai gia đình giắt theo mấy con ngựa, có lẽ giờ này nó tới nơi rồi.
Moi người cùng ra cửa xem, quả nhiên hai gia nhân bên Tào gia trang đã đứng chờ dưới gốc liễu với mấy con tuấn mã cực kỳ lớn.
Chu Đức Kiệt mỉm cười, nói giỡn :
- Chú tân lang này được, chu đáo lắm. Ông mối bằng lòng nhé và bữa nay phải say mới được.
Thiết Xích Tử gật đầu lia lịa :
- Được! Bữa nay Trương mỗ nhất định uống một bữa quần thiên, náo địa, say cho quý vị coi.
Ai nấy đều cười ồ lên.
* * * * *
Nói về Thái Phượng, ngay từ tối hôm qua, nàng có cảm tưởng như có việc gì lạ mà mọi người cố ý giấu không cho mình biết. Tuy nhiên, nàng rất tinh ý, nên cũng đoán ra được phần nào câu chuyện. Bởi vậy sáng nay, nàng hỏi dò Lý quản gia, mới biết việc Hạ mẫu cho đi so đôi tuổi nàng với tuổi người nào đó bên thầy Thái Ất. Do đó, những câu nói đầy ngụ ý của mọi người lúc ban ngày ở Hải Hồ Quan, lần lượt hiện lai trong tâm trí nàng và nàng hiểu ngay cái người tuổi Nhâm Ngọ ấy không phải ai xa lạ, mà chính là người họ Tào. Vì thế, Thái Phượng tự nhiên cảm thấy e lệ, thẹn thùng trước mặt mọi người. Tới khi bọn Tào Chí và anh em Âu Dương đến nhà thì Thái Phượng ở lì trên lầu không xuống nhà nữa tuy nàng rất mong được gặp Thiết Phiến Cô.
Mọi người cũng hiểu tâm trạng Thái Phượng nên không gọi nàng xuống nhà dưới. Một lúc sau, trong khi Thái Phượng còn đang mung lung nghĩ ngợi, xa gần thì Tiểu Kim lén lên. Thái Phượng vô cớ giật mình thót một cái, trách :
- Gớm! Tiểu Kim làm gì vậy? Sao lại nhón nhén đi khiến ta hết hồn!
Tiểu Kim tươi cười bước vào phòng tiểu chủ nhân :
- Xin chúc mừng cô nhé. Hay lắm cơ...
- Ô hay! Chúc mừng gì? Việc chi mà hay lắm?
- Mọi người ai nấy đều rõ cả rồi, cô cứ giấu giếm làm chi! Đời người, ai chẳng qua một ngày vui mừng ấy?
- Tiểu Kim! Lạ thiệt, ta có biết việc gì đâu. Sao cứ úp mở mãi vậy! Ngồi cạnh đấy nói ta nghe.
Thường ngày, Thái Phượng và Tiểu Kim rất thân mật, coi nhau như chị em ruột nên Tiểu Kim ngồi ghé bên thủ thỉ kể lại chuyện Thiết Xích Tử làm mai và việc Tào Chí đã chánh thức lạy chào Hạ mẫu.
- Đấy! Công việc như thế không đáng gọi là vui mừng sao?
Thái Phượng xa xôi nhìn qua cửa sổ giây lâu mới nói :
- Lạ nhỉ! Sao mẫu thân không cho ta biết trước mà lại tự tiện nhận một việc can hệ tới đời ta như vậy!
Tiểu Kim đon đả :
- Dễ hiểu lắm. Cô và Tào lang đã biết mặt nhau từ ngày hôm qua. Tới khi trở nhà, tôi thấy Phàn công tử nói riêng với thái thái, chắc là hai người bàn tính về việc đó rồi. Vả lại, dõng dạc hiên ngang như Tào lang xứng đáng với cô lắm rồi, còn chọn lọc đâu hơn nữa. Thái Phượng im lặng suy nghĩ, nàng cảm thấy nỗi vui, buồn buồn đang tràn ngập tâm trí nàng. Nàng vui vì Tào lang quả xứng đáng là một nam nhi đội trời đạp đất mà nàng được sửa túi nâng khăn, nhưng nghĩ tới khi xuất giá, lão mẫu ở nhà còm cọm một mình sớm tối không người thân hôn định tĩnh, Thái Phượng thấy không đang tâm.
Giá hẳn như Tào lang chịu ở rể thì còn chi bằng, trong nhà thêm người thêm vui, sớm tối nàng được hầu hạ mẹ già. Nhưng có ngôi nhà họ Tào giàu lớn, chàng lại còn có lão mẫu chắc hẳn sự ở rể không bao giờ thành.
Hay là từ chối cuộc lương duyên này để được suốt đời ở nhà với mẹ, rau cháo cho qua ngày tháng, mẹ con lúc nào cũng có nhau.
Nếu từ chối chắc hẳn mẹ không bằng lòng vì đã hứa hôn với họ Tào rồi, quyết không thể nào nói hai lời. Hơn nữa, sau vụ đầu đà Kim Cương tự, mẹ chẳng lo lắng về tương lai cho nàng, nay gặp người xứng đáng tài ba võ nghệ có thể đảm bảo sự an ninh cho nàng được, nên nàng quyết định thành hôn mau lẹ để được an tâm.
Tiểu Kim thấy Thái Phượng tự lự vội hỏi :
- Cô nghĩ chi vậy? Có thể cho tôi biết được không?
Thái Phượng như người tỉnh giấc mơ, cầm tay Tiểu Kim rơm rớm nước mắt :
- Tiểu Kim ơi, ta với em như tình ruột thịt cần chi phải giấu giếm. Lấy được người chồng như Tào lang quả không có điều chi chê trách nhưng, em còn lạ chi, ta là con một nay xuất giá, để mẹ già ở nhà thui thủi một mình, đau đớn cho ta biết nhường nào, không nghĩ ngợi buồn rầu sao được!
- Không còn cách nào điều chỉnh sự thiếu sót này được hay sao.
- Đã đành vợ chồng quý mến nhau ta yêu sách gì mà chàng chẳng ưng theo, nhưng ta đâu dám quên bổn phận dâu con? Tào lang cũng còn có mẹ già ở trang trại, cần có kẻ hầu hạ sớm hôm, chàng còn mắc bận kinh doanh chớ?
Hai người đang nói chuyện trò thủ thỉ thì Lý quản gia lên :
- Thái thái gọi Thái Phượng, xuống ngay nhé!
Tiểu Kim vội xuống lầu trước, Thái Phượng sửa lại mái tóc xuống sau.
Hạ thái thái ngồi ở trong phòng nhà dưới chờ.
- Thưa mẫu thân cho gọi con có việc chi.
Hạ thái thái lặng lẽ nhìn kỹ Thái Phượng, thấy nàng quả là cô gái đương thì xuân xinh đẹp bội phần. Quen lệ thường, Thái Phượng ngồi xuống bên mẹ.
Hạ thái thái mỉm cười :
- Lớn rồi, con còn làm nũng như thuở còn thơ nữa sao? Hôm nay, mẹ có một điều hệ trọng muốn bàn bạc cùng con.
- Biết mẹ sắp sửa nói tới việc hôn nhân, Thái Phượng đôi má ửng hồng, vân vê tà áo, im lặng.
- Nói gần, nói xa, chẳng qua nói thiệt, nay con đã lớn, mẹ muốn lo bề gia thất cho con để mẹ được an tâm. Trương tiên sinh làm mai, hỏi con cho Tào Chí, vậy hôm qua con đã nhìn rõ diện mạo Tào lang rồi chớ? Sáng nay, y qua đây mời mọi người sang Tào gia trang uống rượu, mẹ đã nhận xét kỹ thấy y là một nam tử tu mi đáng trọng...
Thái Phượng sắc diện đỏ gay gắt, im lặng.
- Kìa, sao lại im lặng? Trong phòng này chỉ có hai mẹ con, nên tỏ ý cho mẹ nghe.
Thái Phượng rưng nước mắt cầm tay mẹ :
- Phận làm con, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Điều chi thuộc về họ Tào không đáng kể, vậy hà tất phải bàn luận, thưa mẫu thân!
- Thế, con thắc mắc điều chi. Mẹ cần nói cho con nghe là mẹ đã nhận lời vì Tào Chí và con rất xứng đôi. Con được nâng khăn sửa túi cho người ấy, mẹ thấy an tâm một phần nào.
- Mẫu thân dạy chí phải, con đâu dám cưỡng lời, nhưng mẫu thân đã quên hẳn một điều mà bổn phận riêng con phải nghĩ.
Hạ thái thái cầm tay con, vội hỏi :
- Điều chi vậy con?
- Con là con một, khi xuất giá rồi, ai người thân hồn định tĩnh. Từ tắm bé lúc nào mẹ con ta cũng chưa hề xa nhau, nên trước đây con đã quyết định ở nhà hầu hạ mẹ sớm hôm... chớ con không đang tâm để mẫu thân ở lại nhà đâu!
- Mẹ cũng nghĩ tới việc đó rồi, nhưng cần đặt tương lai của con lên trên mọi tình cảm, vả lại họ Tào là người Dương Châu, mẹ nghĩ rằng con không phải đi xa nên cũng an tâm, bởi vậy mẹ ưng thuận ngay.
Thái Phượng lắc đầu :
- Dù chàng là người đồng tỉnh nhưng làm dâu con người ta không lẽ con luôn luôn về nhà được, như vậy tức là mẹ con ta xa nhau rồi... thôi con chẳng chịu đâu!
Nói đoạn, Thái Phượng úp mặt vào vai mẹ thổn thức. Hạ thái thái vuốt ve con gái yêu, cố dằn tâm, nói :
- Nói như con không được. mẹ nào có muốn xa con, nhưng thử nghĩ lại xem vụ Kim Cương tự bữa nọ khiến mẹ hết hồn, nếu con có người chồng anh hùng như Tào Chí rồi thì đâu xảy ra nông nổi ấy... Con nên suy xét lợi hại, đừng để cảm tình chi phối. Vả lại, con gái lớn phải lấy chồng, ở nhà mãi không nên.
- Mẫu thân dạy con phải chịu nhưng thiệt tình con không muốn xa mẹ chút nào cả.
- Thôi, con đừng buồn, thế nào cũng có sự dàn xếp ổn thỏa, chẳng nên nghĩ ngợi vô ích. Thiếu nữ nào xuất giá cũng hoang mang, rồi sẽ quen đi. Khi xưa lấy thân phụ con, mẹ cũng dùng dằng như vậy đó. Con an tâm, mẹ sẽ lo liệu sau, tuần tự nhi tiến mới được. Mẹ chắc Tào Chí không phải là người không biết chu đáo đâu.
* * * * *
Chiều hôm ấy, bọn Thiết Xích Tử trở về, nói việc Tào mẫu ngày mai sẽ sang thăm Hạ mẫu để bàn định việc cưới xin.
Hạ Thái Phượng đang ngồi đó thấy nói tới hôn nhân, vội bỏ lên lầu. Lam Y nữ hiệp mỉm cười, gọi Thái Phượng lại nói rằng :
- Chúng ta là người nhà cả, xấu hổ nỗi chi? Ngồi đây, tôi nói cho nghe điều này vui lắm.
Lam Y nắm tay Thái Phượng kéo xuống ngồi cạnh mình.
Thái Phượng muốn rút tay ra lên lầu nhưng không được, đành phải ngồi xuống cạnh Lam Y.
Nghiêm nét mặt, Lam Y nói với Hạ thái thái :
- Trưa nay, sau khi công việc làm mai của Trương tiên sinh đã xong xuôi, cháu chợt nghĩ tới một điều nên đã thưa chuyện riêng với Tào mẫu, gọi là góp phần xây dựng đôi chút cho cuộc hảo hôn nhân này.
Mọi người ngạc nhiên không biết là điều gì nên chăm chú nghe.
Lam Y nói tiếp :
- Cháu trình bày rõ ràng cho Tào mẫu biết tình hình trong gia đình nhà ta, Hạ tiểu thơ là con một, mà Hạ mẫu thì cũng có tuổi cần người săn sóc sớm hôm... Tào mẫu hiểu ngay nói rằng người cũng nghĩ như vậy nên sau khi cưới xin, có ý muốn mời Hạ mẫu sang ở cả bên Tào gia trang để sớm tối hai vị lão mẫu có bè bạn, và để Thái Phượng được tròn chữ hiếu với cả mẹ chồng lẫn mẹ đẻ... Còn cửa tiệm này, Tào tiên sinh sẽ trao cho Lý quản gia đứng lên quản lý, thái thái nghĩ vậy có ổn không?
Lời nói của Lam Y nữ hiệp có hiệu nghiệm của trận mưa rào trên khu đất đang bị hạn hán.
Hạ thái thái và Thái Phượng tươi hẳn lên. Ai nấy đều khen ngợi Lam Y quyết định công việc rất mau lẹ, hạp thời.
Thiết Xích Tử cười lớn :
- May quá! Tôi cũng đã nghĩ tới điểm này nhưng chưa biết xử trí ra sao, định sau khi cưới sẽ nói cho Tào lang hay rồi thu xếp sau, nay nữ hiệp lo xong điểm ấy thì mọi sự có thể coi là giải quyết xong rồi. Hai họ chỉ còn việc sửa soạn cho bọn ta uống rượu thôi!
Lam Y nói :
- Ngày mai sang đây, Tào mẫu sẽ ngỏ ý đó với Hạ mẫu, Tào mẫu bổn tánh thiệt thà chất phác, vậy Hạ thái thái cũng nên nhận lời chớ đừng giữ ý nữa.
Hạ thái thái cảm động :
- Ơn của Trương tiên sinh và nữ hiệp, mẹ con tôi chẳng bao giờ dám quên.
- Thái thái dạy chi nặng lời vậy? Chỉ xin một điều là khi chúng tôi “náo tân phòng” thì Thái Phượng đừng giận dỗi nhé!...
Mọi người cười ồ lên vui vẻ. Thái Phượng thẹn quá chạy vút ra ngoài lên thẳng lầu, an tâm, sung sướng hơn lúc ban sáng nhiều. Nàng không ngờ lại may mắn đến thế, lấy được chồng anh hùng mà vẫn được gần mẹ già sớm hôm được đích thân phụng dưỡng.
Hạ thái thái cùng vợ chồng Lý Trung cũng rất mừng cuộc hôn nhân bất thần đó được kết thúc mau lẹ và đẹp đẽ vô cùng.
Hạ thái thái nói với mọi người :
- Bây giờ tôi sửa soạn để mai tiếp đãi họ nhà trai, tuy vậy sự tiếp đãi đều nhờ ở quý vị trông nom giúp cả nhé.
Ai nấy đều nhận lời. Phàn Thế Hùng nói :
- Cháu và Mộng Liên là con cháu nhà rồi, đứng đắn và hiểu biết hơn cả chỉ có Trương tiên sinh và nhị vị Chu hiệp, vậy cô mẫu bất tất phải lo.
Nhìn Mộng Liên, Lam Y nữ hiệp nói :
- Phàn thư thư coi, Hạ tiểu thư cho chúng tôi uống rượu rồi đó. Chừng nào đến lượt thư thư? Mau lẹ lên chớ? Mọi người còn đang tựu họp đông đủ cả đây.
Phàn Mộng Liên đỏ mặt cúi đầu đi ra.
Thiết Xích Tử nói :
- Lại để mỗ làm mối cho!
Lam Y mỉm cười, ranh mãnh :
- Mộng Liên thuộc giới kiếm cung của chúng ta, tiên sinh phải dò hỏi cẩn thận kẻo làm mai không trúng chỗ thì nguy hiểm lắm đó, chăng như Hạ tiểu thơ là con người của phòng the đặt đâu ngồi đấy!
- Thế thì chịu thôi, việc tâm tình Trương mỗ này vốn dĩ vẫn kém ngay từ hồi còn niên thiếu...
Ai nấy đều lẳng lặng cười. Tối hôm ấy, Hạ thái thái sửa soạn phòng thư để hôm sau tiếp đãi họ Tào. Thái thái xưa nay là người ngăn nắp, nhà cửa tuy rộng rãi nhưng rất gọn gàng sạch sẽ, thứ gì cũng trữ sẵn cả trong nhà, nên khi hữu sự không mất công nhiều.
Hôm sau, giờ Tỵ, bên Tào gia tới. Tào mẫu đi kiệu, Tào Chí và anh em Âu Dương đi ngựa. Hai tên gia nhân cũng đi ngựa theo mang mấy thứ tặng vật sang biếu Hạ gia. Hạ thái thái cùng mọi người ra tận cửa tiếp đón nồng hậu. Người trong phố thấy nhà họ Hạ có nhiều khách sang trọng tới thì có ý chăm chú xem.
Hạ mẫu và Tào mẫu chuyện trò tâm đầu ý hợp, ngồi chung với Lam Y nữ hiệp, Âu Dương Bích Nữ và Phàn Mộng Liên, Thiết Xích Tử, Chu Đức Kiệt, Phàn Thế Hùng, Âu Dương Tòng Đức và Tào Chí ngồi riêng.
Hạ thái thái cho gọi Thái Phượng xuống ra mắt, Tào mẫu thấy con dâu kiều mị, dịu dàng thì rất mừng, đỡ nàng dậy cho ngồi một bên. Thái Phượng giữ ý đứng hầu.
Thời bên nam, câu chuyện ngã về võ nghệ, giang hồ nghĩa hiệp, tửu nhập ngôn xuất, chuyện nở như gạo rang. Tào Chí và anh em Âu Dương hỏi Chu Đức Kiệt cho xem Thất Tinh đao và cây Thái Dương trường kiếm. Chu Đức Kiệt lên lầm lấy hai bảo vật ấy đưa cho ba người coi. Ai nấy đều tấm tắc khen ngợi là hai thứ bảo vật hiếm có trên đời...
Tào mẫu và Hạ mẫu nhất định xúc tiến mau lẹ hôn lễ nên cho mời thầy Thái Ất đến nhà lựa chọn ngày giờ tốt. Sau khi bàn xét kỹ lưỡng, hai bà nhất định ngày mùng sáu tháng hai sính lễ và ngày mười thì cưới. Ngay từ hôm sau, Hạ thái thái lo việc sửa soạn tư trang cho Thái Phượng về nhà chồng, và Tào mẫu cũng xúc tiến việc đón dâu. Hai họ cũng quen biết nhiều nên lễ mừng để chật nhà. Hôm nhận sính lễ, nhà gái khách khứa chật nhà, yến tiệc linh đình. Hạ Thái Phượng ngỏ ý nhờ Lam Y và Phàn Mộng Liên cùng mấy người bạn trong khu phố phù dâu.
Lam Y cười :
- Tôi rất quý mến hiền muội, nhưng rất tiếc không thể làm việc đó được. Trước hết cô dâu và phó dâu cùng phải sàn sàn tuổi nhau mà tôi thì ngoài hai mươi rồi. Đã nhiều năm nay, tôi đã không dùng tới xiêm y, dáng điệu võ biền rất khó coi. Vậy Mộng Liên và các cô bạn khác phò dâu thừa đủ rồi. Nên coi tôi như người chị chạy việc ngoài có lẽ được việc hơn.
Phàn Mộng Liên được dịp báo thù :
- Chao ôi, Chu thư chối từ khéo quá! Nếu nói đến tài, sắc thì bọn tôi chưa bén gót. Chẳng vậy mà khi tới Trấn Giang, Tham Hoa Quỷ Dương Tấn Đình đã chẳng mê say đến nỗi bỏ nát cả tòa Xuân Phong quán đó ư?
Lam Y ừ hử không nói gì. Mộng Liên thừa dịp nói nữa. Hạ Thái Phượng thấy Lam Y từ chối không dám nài thêm nữa.
Nói về bên Tào gia trang, quan khách ăn uống linh đình trước ba ngày, rồi mồng mười mới rước dâu.
Hôm đó, Hạ mẫu và Lý quản gia ở lại nhà. Tiểu Kim theo hầu cô dâu. Bọn Thiết Xích Tử, anh em Chu gia, Phàn gia cùng cả bên trang trại họ Tào. Tào Chí giao du rộng, bạn hữu nhiều nên cuộc tân phòng khá náo nhiệt, vui vẻ đến cực độ. Mãi khuya, chú rể mới chuệch choạng nhập phòng. Thị nữ đã bày một bàn tiệc khác ngay trong tân phòng cho tân lang và tân giai nhân song ẩm.
Hạ Thái Phượng e thẹn, phủ mặt ngồi trong góc phòng thấy Tào Chí vào, vội đứng lên nhưng thẹn thùng đứng nguyên chỗ.
Tào Chí tiến lại khẽ nói :
- Các bằng hữu phá quá nên tôi chậm trễ, chắc hiền thê mong đợi nhiều...
Thái Phượng bẽn lẽn im lặng...
- Đã nên nghĩa phu thê, còn e thẹn nỗi chi! Nào, mời hiền thê uống với tôi ly rượu bách niên nào...
Thị nữ biết ý rót ly rượu bưng đến. Tào Chí đón lấy, vẫy tay bảo thị nữ ra ngoài, đóng cửa lại...
Tào Chỉ bỏ tấm nhiễu hường phủ mặt Thái Phượng sang bên, lùi lại một bước chăm chú nhìn :
- Chao ôi, hiền thê xinh đẹp hơn bữa ở Thanh Dương hồ bội phần, không hiểu tôi tu hành từ kiếp nào mà bây giờ được diễm phúc dường này!... Nào, xin mời hiền thê cùng uống nào...
Thái Phượng bấy giờ mới dám ngửng đầu nhìn chồng, thỏ thẻ :
- Thiếp chỉ e vụng về không được vừa ý nâng khăn sửa túi cho khách anh hùng, vậy có phạm lỗi chi mong phu quân liệu bề dung thứ.
Giọng oanh vàng thỏ thẻ, mùi hương sực nức. Tào Chí say sưa cười ngất :
- Tình nghĩa vợ chồng mà!... Hiền thê nặng lời làm chi khiến tôi vô cùng thắc mắc.
Nói đoạn, chàng lần tay kéo Thái Phượng lại gần :
- Mời hiền thê uống.
Thái Phượng đỡ lấy ly rượu, hai tay nâng gần miệng chồng :
- Thiếp xin mời người anh hùng uống trước.
Tào Chí sung sướng ghé môi uống nửa ly và đưa mời lại Thái Phượng...
Chờ Thái Phượng uống hết, Tào Chí quàng tay lưng nàng dìu ra bàn tiệc :
- Nào, bây giờ đến lượt hai ta đồng ẩm.
Tào Chí vỗ tay gọi thị nữ vào hầu.
Từ sáng đến giờ, may nhờ Tiểu Kim lấy mấy chén yến nhỏ cho ăn, Thái Phượng mới đỡ đói bụng. Bây giờ tuy ngồi yến ẩm với chồng, nàng vẫn thấy là lạ, lo sợ vẩn vơ thế nào ấy.
Riêng phần Tào Chí từ trước tới nay chỉ ưa tập luyện võ nghệ, cung mã, vẫn giữ được nguyên khí, nhưng nay rượu say ngà ngà, ngồi trước một người vợ tuyệt sắc giai nhân, chàng thấy lòng xao xuyến rung động bởi một cảm giác kỳ lạ... Rượu được vài tuần, Thái Phượng vừa lạ, vừa nhớ mẹ, nhớ nhà, nàng ăn qua loa chút đỉnh rồi ngồi ỳ ra đó vân vê tà áo. Tào Chí biết ý, hối thị nữ dẹp bàn tiệc. Thị nữ dâng khăn bông nóng ướp hương lan cho hai người dùng rồi cáo lui.
- Hiền thê đừng buồn, vài hôm nữa, tôi sẽ đích thân sang bên nhà rước nhạc mẫu về đây như đã thỏa thuận từ trước. Đêm xuân của vợ chồng nhất khắc thiên kim, hiền thê phải vui vẻ mới được.
Nghe lời nói như cởi tấm lòng, Thái Phượng ngước mắt nhìn chồng, biết ơn...
* * * * *
Bọn Thiết Xích Tử, Chu Đức Kiệt sau khi mãn tiệc kéo nhau ra về bên Chiêu Dương lộ. Hạ thái thái còn ngồi chờ mọi người về kể lại hôn lễ bên Tào gia trang cho nghe. Hôm sau, vợ chồng Tào Chí về nhà nhị hỉ có anh em Âu Dương đi theo.
Trong bữa tiệc gia đình, Thiết Xích Tử nói với mọi người :
- Mọi việc đã hoàn hảo, mai mốt, tôi xin phép lên đường. Hẹn gặp nhau tại Kim Lăng ngày rằng tháng ba. Chuyến này vô tình nán lại Dương Châu nhiều ngày rồi...
Tào Chí vội nói :
- Không được! Mấy bữa nay toàn bận rộn không được tiếp bá phụ đàng hoàng, vậy thế nào cũng xin nán lại ít ngày cho cháu được nghe lời dạy bảo.
- Thấy cháu thành gia thất ta rất mừng. Còn việc tiệc tùng cũng đã nhiều rồi, hiền điệt chẳng nên ép, chúng ta còn gặp nhau nhiều sau này... Lần sau qua Dương Châu, mong rằng được bế cháu ta mới hả lòng...
Thấy Thiết Xích Tử nhất quyết, Tào Chí hiểu biết tâm tình khách giang hồ thường như vậy, nên cũng không dám nài ép nữa.
Chu Đức Kiệt cũng nói :
- Anh em tôi lần thứ nhất du Giang Nam nên xin phép lên đường, và cũng xin hẹn sẽ gặp nhau tại Kim Lăng.
Phàn Thế Hùng vội ngăn :
- Sao Chu huynh vội đi vậy, nán lại Dương Châu mấy bữa cùng về Thái An huyện, rồi ra đi Kim Lăng luôn thể.
Bọn Tào Chí và Âu Dương Tòng Đức cũng ngăn giữ :
- Từ bắc xuống nam, nhị vị nên ở lại chơi Dương Châu và quá tệ trang cho chúng tôi được thù tiếp cho thỏa lòng khát vọng, rồi cùng đi cả Kim Lăng có vui không?
Chu Đức Kiệt đáp :
- Các vị nhân huynh có lòng quý mến, anh em tôi rất đa tạ tấm thạnh tình ấy, nhưng Tào đại ca vừa lập gia thất xong, việc nhà chắc còn nhiều điểm cần phải thu xếp cho gọn gàng trước khi lên đường đi Kim Lăng, vậy chúng tôi xin khất tới kỳ sau, thế nào chẳng có phen qua nơi thị thành hoa lệ này nữa...
Từ nãy Lam Y vẫn lẳng lặng quan sát mọi người, thấy Âu Dương Bích Nữ đăm chiêu kín đáo nhìn Chu Đức Kiệt, nay Đức Kiệt cáo biệt lên đường, nét mặt nàng bỗng mất vui...
Lam Y nhận thấy rõ rệt như vậy nên có ý ngạc nhiên. Tại sao Bích Nữ buồn khi nghe nói anh em nàng ra đi? Đây là một mối buồn tự nhiên khi cùng bằng hữu chia tay hay là có lẫn ý chi khác thường...
Nhìn kỹ, cô gái Âu Dương quả đẹp thiệt, thứ đẹp sắc xảo mạnh dạn của một thiếu nữ có tài võ nghệ tuyệt luân. Nàng đã chẳng phải là tay đồ đệ chân truyền của một phái võ nổi danh vào bực nhất thời đại này đó ư? Hai lần đánh bọn Mộng Hoa Vương ở Thanh Dương hồ và tửu quán, Bích Nữ đã tỏ ra nàng là một người có nghị lực, cả quyết tiến ở tài nghệ mình.
Ngay từ lúc đầu, Lam Y đã nhận thấy ngay anh em Âu Dương thọ hưởng được công phu chân truyền, sức lực tiềm tàng. Kẻ hữu tài thường đa tình, để nhận xét nhau, vì thế Bích Nữ có cảm tình ngấm ngầm riêng đối với Chu huynh chăng? Nghĩ tới đây, Lam Y đưa mắt nhìn Đức Kiệt.
Từ trước tới nay, trên bước giang hồ, gặp đã nhiều người, đẹp có, dữ dội có, và ngay hiện tại nơi đây, Đức Kiệt tuy tuổi ngoại tam tuần nhưng quả là một trang hảo hán phương phi tuấn tú có dáng điệu rất dễ gay cảm tình với mọi người, kể cả nam lẫn nữ.
Đức Kiệt có sức hấp dẫn lạ thường, ngay tới trai hai mươi vị tất đã vượt nổi chàng!... Ờ, thiệt vậy, có lẽ vì thế mà Bích Nữ, anh hùng mộ anh hùng, mến chàng chăng?
Lam Y đưa mắt từ Đức Kiệt, nhìn lại Bích Nữ thì vừa gặp đôi mắt của Bích Nữ nhìn mình.
0
Hồi 17
Giữa tiệc, Đức Kiệt Lam Y biểu diễn Phong Vũ đao
Ngoài sân, Thế Hùng Mộng Liên trổ tài Liên Châu pháp
 
Bích Nữ bỗng có cảm giác là Lam Y quan sát nàng từ lâu rồi nên sắc diện từ hồng hào chuyển sang hồng tía, quay nhìn ra phía cửa sổ.
Lam Y không còn ngờ vực nữa. Sự nhận xét của nàng đã có phần nào xác thực rồi! Phàn Mộng Liên dịu dàng bao nhiêu thì Bích Nữ kiêu hùng bấy nhiêu. Hai người tuy cùng đẹp nhưng hai sắc đẹp ấy khác nhau xa. Trong khi Lam Y quan sát, suy nghĩ về Âu Dương Bích Nữ và Đức Kiệt, thì mọi người hẹn hò nhau, bàn tán việc đi Kim Lăng.
Dùng đồ ngọt xong, mọi người ra phòng khách uống trà. Nhân lúc ấy, Lam Y bấm Bích Nữ cùng ra huê viên...
* * * * *
Hai người lẳng lặng ra tới huê viên. Lam Y chỉ phiếm đá sau ngọn giả sơn :
- Ngồi kia hóng gió đi. Mấy bữa tiệc tùng liên miên, uống nhiều rượu quá nhức cả đầu...
Nhìn hai chiếc chim sát cánh bay trong bầu trời xanh ngắt, Bích Nữ nói :
- Tụ họp thì như vậy, nhưng mai mốt đây chia tay lại mỗi người một phương trời chẳng biết ngày nào mới tái hội!
Nói đoạn, nàng khẽ thở dài.
Lam Y vội nói :
- Đâu có! Chúng ta còn tái hội ở Kim Lăng mà!...
Bích Nữ nhìn thẳng mặt Lam Y :
- Sau kỳ hội ở Kim Lăng thì cũng vẫn thế, chúng ta có khác chi cá nước chim trời không? Thiên hạ rộng mênh mông, thư thư và Chu huynh lại tiếp tục bước giang hồ hành hiệp vô địch, biết ngày nào chúng ta mới được liên miên uống những bữa rượu đến nhức đầu như ngày nay nhỉ?
Lam Y xây người lại cầm tay Bích Nữ ôn tồn :
- Chúng tôi sẽ sang Tô Châu bái yết bá phụ và tái kiến cùng hiền muội. Chúng ta sẽ có nhiều thì giờ đàm đạo cơ mà.
- Thấy Trương tiên sinh nói nhị vị sẽ từ Kim Lăng đi Thái An huyện qua thăm Phàn gia phải không?
- Có thể vì đã hứa trước với Phàn Thế Hùng và Mộng Liên rồi. Từ Thái An huyện, chúng tôi sẽ sang thẳng bên Tô Châu.
- Nếu vậy, Phàn thư thư có phúc được gặp trước nhỉ?
Lam Y mỉm cười :
- Trước sau có chi đáng kể! Như chúng tôi từ miền Bắc xuống Giang Nam chưa bao lâu thì đã hữu duyên được kết giao cùng kỳ nữ xứ Tô Châu rồi đó! Thiên hạ tuy rộng lớn thiệt nhưng theo ý riêng tôi vẫn còn chật hẹp cho bọn võ biền chúng ta, phải không? Đường xa vạn dặm, bọn ta trùng phùng vẫn chẳng khó khăn gì.
Bích Nữ lẳng lặng suy nghĩ.
Lam Y nói tiếp :
- Trong đám đông người loạn đã gươm đao sáng quắc, hiện muội vẫy vùng dữ dội như giao long trên mặt nước, lúc bình thản này lại đa cảm đa sầu chẳng khác thiếu nữ phòng the, tôi thấy mến hiền muội vô cùng!...
Bích Nữ thấy Lam Y đoán trúng tâm lý mình thì cả thẹn, đánh trống lấp :
- Thiệt nhé, ngu muội trông chờ thư thư bên Tô Châu nhé?
Lam Y gật đầu :
- Xin hứa, hiền muội yên trí, chừng nào tiện dịp chúng tôi còn muốn mời hiền muội về sanh quán ở Sơn Đông thăm tệ trang luôn thể...
- Ủa! Thư thư và Chu huynh giang hồ hành hiệp như thế này, ai trông nom trang trại?
- Đã có Vương quản gia. Gia huynh nhiều tuổi rồi mà chẳng chịu lập gia đình, lúc nào cũng bắt chước người xưa du hiệp. Nghĩ tới dòng họ chưa người nối dõi nhiều lúc tôi cũng thấy nao tấc dạ...
- Đi cho biết đó biết đây, viếng giang san đất nước một thời gian rồi trở về cố hương cũng chưa muộn...
Hai người đang chuyện trò chợt có tiếng chân và tiếng người gọi :
- Hai người đi đâu rồi mà kín tiếng vậy.
Nhận ra tiếng Phàn Mộng Liên, Lam Y và Bích Nữ cùng ra khỏi hòn giả sơn thấy Phàn Mộng Liên và Hạ Thái Phượng dắt tay nhau đi tìm.
- Chúng tôi đây, đang ngồi hóng gió.
Phàn Mộng Liên nói :
- Hóng gió mà chẳng gọi chúng tôi với.
Lam Y đáp :
- Chúng tôi là khách mời có quyền nhàn rỗi thế này, chớ hai người là người nhà phải trông coi mọi việc dọn dẹp chớ! Cũng đòi rong chơi sao?
Bốn người cùng cười vang.
Ở trong nhà, Tào Chí nói với Thiết Xích Tử và Chú Đức Kiệt :
- Tiên sinh và Chu huynh đã nhất định lên đường tôi không dám cản, nhưng ngày mai xin mời quý vị qua Tào gia trang cho chúng tôi được nâng ly rượu tiễn hành.
Thiết Xích Tử và Chu Đức Kiệt cùng nhận lời. Đến xế chiều, vợ chồng Tào Chí và anh em Âu Dương mới ra về, Thiết Xích Tử cũng bái biệt Hạ thái thái đi cùng bọn Tào Chí sang Tào gia trang trước.
Hạ thái thái tiễn Thiết Xích Tử ra cửa :
- Tiên sinh đã góp phần trừ bọn đầu đà Kim Cương tự lại còn gây dựng cho tiểu nữ thành vợ nên chồng, ơn này tôi xin ghi xương khắc cốt. Chừng nào qua Dương Châu, thế nào cũng mời tiên sinh tới nhà cho chúng tôi được thù tiếp.
Thiết Xích Tử nói mấy lời từ biệt mọi người rồi ra đi.
Hôm sau, anh em Chu gia cũng cáo biệt sang bên Tào gia trang để hôm sau lên đường. Hạ thái thái và vợ chồng Lý Trung rất quyến luyến hai người. Phàn Thế Hùng và Mộng Liên còn ở lại Dương Châu ít ngày giúp cô mẫu thu xếp việc nhà, nhưng vì có lời của Tào Chí nên cùng đi với anh em Chu gia sang Tào gia trang uống rượu.
Xế chiều hôm ấy, rượu được vài tuần, Tào Chí và anh em Âu Dương ngỏ lời yêu cầu Chu Đức Kiệt và Lam Y biểu diễn mấy đường đao kiếm để mọi người được thưởng thức tài nghệ.
Nói về tài nghệ của họ Chu thì Thiết Xích Tử và họ Phàn hiểu biết quá lắm rồi, nhưng Tào Chí và họ Âu Dương mới quen, không lẽ từ chối. Vả lại cũng muốn cho anh em Âu Dương biết về mình hơn nữa. Lam Y nữ hiệp nhận lời ngay, khiến Đức Kiệt không kịp chối từ. Đức Kiệt kín đáo nhìn Lam Y tỏ vẻ trách nhưng lại mỉm cười ngay, vào nhà lấy Thất Tinh đao và Thái Dương kiếm ra.
Hai người đeo khí giới gọn gàng, ra trước bàn tiệc bái tổ rồi cùng nhảy lùi lại tuốt báu đao, báu kiếm ra khỏi vỏ dùng lối song đấu của bài gia truyền Chu Gia Phong Vũ Đao tận tình biểu diễn. Ngọn Thất Tinh đao tỏa ra luồng sáng xanh lè vun vút bay lượn bốn phương tám hướng biến hiện vô chừng, quây lấy Lam Y vừa đánh vừa đỡ toàn những thế hay, đòn hiểm bí truyền. Không kém, cây Thái Dương kiếm hoa lên tỏa ra luồng sáng trắng mờ mờ như khói tỏa sương tan, đâm chém tơi bời, tiến thoái, biến hóa thiên hình vạn trạng xoắn láy ngọn Thất Tinh đao, không chịu nhường bước. Tiếng đao, kiếm va vào nhau chan chát nẩy nửa, rít lên như tiếng lụa xé rợn người quỷ khiếp, thần sầu, luồng sáng tỏa ra gió lạnh vi vu hay tới bàn tiệc.
Anh em Âu Dương và Tào Chí mải miết xem rất lấy làm thích thú. Trong lúc bất ngờ, bỗng mọi người giật mình cúi đầu xuống nhau linh tính báo tránh nguy hiểm.
Thật vậy, Lam Y và Chu Đức Kiệt bỗng lùi lại vung tay liên tiếp hai cái. Hai luồn sáng xanh và trắng vút qua phía trên bàn tiệc bay vụt lên xà nhà...
“Phập, phập“.
Mọi người định thần nhìn lên chiếc xà ngang thì thấy Thất Tinh đao và Thái Dương kiếm đã cắm ngang hàng tại đó.
Chu Đức Kiệt và Lam Y từ chỗ đứng phi thân lẹ làng tựa hai bóng đen qua bà tiệc rút đao kiếm ra, móc hai chân vào xà ngang chổng ngược đầu xuống như hai con voi, đoạn buông chân ra lộn đi một vòng thả người xuống hai chân đậu xuống mặt đất như cặp én liệng, mặt không biến sắc, hơi không thở mạnh. Tháo bao ra, tra đao, kiếm vào vỏ để lên mặt án thư gần đó, Chu Đức Kiệt và Lam Y trở lại bàn tiệc giữa tiếng vỗ tay ca ngợi của mọi người.
Âu Dương và Tòng Đức nói :
- Chúng tôi xuất từ Trương Lãng Tử mục kích tuy đã nhiều, nhưng đường đao thế kiếm của nhị vị thiệt đã nhập thần danh bất hư truyền, xin bái phục. Nhất là lối phóng đao kiếm như vừa rồi quả chưa từng thấy.
Anh em Chu gia nói mấy lời khiêm tốn.
Tào Chí rót rượu mời hai người giải lao.
Lam Y nói :
- Nghe Trương tiên sinh nói ba vị là tay kỵ mã đại tài vậy xin biểu diễn trước là mua vui, sau đó cho bọn tôi học hỏi đôi chút.
Tào Chí sai gia đinh thắng hai con Phi Vân, Thần Phong của chàng và hai con Long Câu, Bạch Hồng Mã của anh em Âu Dương dắt ra sân rộng trước sảnh.
Lát sau gia đình dắt bốn con tuấn mã tới, Chu Đức Kiệt và Lam Y ngắm kỹ mấy con ngựa dũng mãnh, tấm tắc khen thầm.
Tào Chí xin phép biểu diễn trước xốc áo bước ra sân. Mọi người theo ra xem Tào Chí coi lại yên cương cẩn thận, vỗ về hai tuấn mã nói mấy câu như là nói với bạn vậy, đoạn chàng vỗ mạnh vào mông ngựa quát lớn :
- Chạy mau!
Hai con Phi Vân và Thần Phong chồm lên, hí vang, và song song phi nước đại vòng quanh sân. Chờ tới lúc hai tuấn mã phi đến gần, Tào Chí chạy theo nắm trụ yên nhảy vụt lên cưỡi con Phi Vân, Thần Phong vẫn phi nước đại bên cạnh. Bỗng Tào Chí bỏ bàn đạp, co chân nhảy vụt sang cưỡi con Thần Phong. Hai tuấn mã vẫn phi song song như vậy. Tào Chí cứ nhảy đi nhảy lại đổi ngựa như vậy năm lần. Sau cùng chàng cầm dây cương cả Phi Vân và Thần Phong rồi đứng hẳn lên mỗi chân một bên yên trong lúc hai tuấn mã vẫn phi như bay, tới vòng thứ ba qua gần chỗ mọi người, Tào Chí mới nhảy xuống đất, thả cương cho hai tuấn mã chạy ra chỗ bọn gia đinh đứng mới dừng lại.
Thiết Xích Tử, Chu, Phào khen ngợi Tào Chí kỳ tài về môn kỵ mã.
Tào Chí khiêm nhượng, nói với anh em Âu Dương :
- Nghề của tôi chỉ có thế thôi, đến lượt đại ca và hiền muội.
Tòng Đức, Bích Nữ vâng lời. Tòng Đức chạy vào nhà lấy hai cây cung và hai ống tên ra đưa cho Bích Nữ một cây cung và một ống tên. Đai nịt gọn ghẽ, anh em Âu Dương bảo gia nhân kiếm cho hai miếng gỗ cỡ lớn bằng hai chiếc đĩa. Đoạn hai người hút gió gọi hai con Long Câu và Bạch Hồng tới.
Biết hiệu của chủ, hai tuấn mã chạy đến sát chỗ hai người đứng. Tòng Đức nhảy lên Long Câu còn Bích Nữ lên Bạch Hồng Mã, rồi thúc ngựa đi rẽ sang hai bên cách nhau đọ tám trượng, ghìm ngựa lại đứng đều nhau, Bích Nữ vẫy tay ra hiệu.
Hai người liền đồng thời thúc ngựa phi thiệt lẹ sang cuối sân bên kia rồi quay ngựa lại vẫn phi thiệt lẹ. Tòng Đức cầm tấm gỗ giơ lên khỏi đầu, Bích Nữ giương cung lắp tên bắn liên tiếp tám phát, mũi tên nào cũng trúng tấm gỗ thì vừa vặn ngựa phi tới chỗ mọi người đứng.
Tòng Đức liệng tấm gỗ đó xuống chân Thiết Xích Tử rồi lại thúc ngựa sang cuối sân cùng Bích Nữ như lúc đầu. Nhưng lần này đến lượt Bích Nữ giơ tấm gỗ lên. Tòng Đức bắn luôn tám phát trúng đích thì vừa vặn ngựa phi tới trước sảnh. Hai người kềm ngựa lại nhảy xuống. Bích Nữ đưa tấm gỗ có tám mũi tên cắm cho mọi người coi.
Thiết Xích Tử, Chu, Phàn xúm lại xem thì thấy bảy mũi tên quay lại thành hình tròn và một mũi tên cắm ngay chính giữa. Cả hai tấm gỗ cũng y như nhau không sai mảy may. Ai nấy đều khen ngợi Tào Chí và anh em Âu Dương có tài vô địch về kỵ mã phóng tên. Bích Nữ sung sướng nhìn Chu Đức Kiệt, nhưng chợt gặp cặp mắt sáng như sao của Lam Y nên nhìn lảng đi nơi khác.
Lam Y mỉm cười vỗ vai Bích Nữ.
- Chu thư thư và Đức Kiệt đại huynh trước đây không ưa môn kỵ mã hay sao?
Tòng Đức nói theo :
- Ủa! Tôi cứ tưởng nhị vị cũng chuyên luyện về môn này, vì hai con Ô Mã và Bạch Tuyết của nhị vị đâu có phải giống ngựa thường.
Chu Đức Kiệt nói :
- Vâng, con Ô mã là giống ngựa Sơn Đông do tôi nuôi ở tệ trang từ hồi chưa cất bước giang hồ. Còn con Bạch Tuyết của gia muội đây là giống ngựa Mông Cổ. Cả hai con này cùng khỏe lắm, thuần thục nhưng không được đặc biệt chuyên luyện như các tuấn mã Tào gia và Âu Dương gia. Hơn nữa, Ô mã Bạch Tuyết cũng trên mười ba tuổi cả rồi, còn độ vài năm nữa sẽ bắt đầu yếu. Nếu chỉ dùng trên đường lúc chạy, lúc đi thì còn có thể dùng được trong một thời gian nữa, còn như xông trận chắc chắn không bằng những tuấn mã đương tơ của quý vị.
Theo lời các bực lão thành, giống ngựa Sơn Đông và Mông Cổ tốt ngang Kỳ Kỳ và Hoa Lưu. Có thể dùng được tới năm mười tám tuổi, nhưng phải chọn lọc.
Bích Nữ nói :
- Chu huynh và thư thư thử cỡi Bạch Hồng và Long Câu xem thế nào.
- Không tiện chối từ, Đức Kiệt và Lam Y nhận lời. Bích Nữ hút gió gọi hai con tuấn mã tới.
Lam Y hỏi :
- Chúng có chịu người lạ lên yên không?
- Tự nhiên thì không được, nếu có chủ nhân giữ cương thì nó chịu.
- Khôn quá nhỉ!
Anh em Âu Dương mỗi người giữ cương một con ngựa.
Lam Y có ý đi trước nhảy lên Long Câu nhường Chu Đức Kiệt lên Bạch Hồng mã do Bích Nữ giữ cương.
Lúc trao cương, Bạch Hồng mã lùi lại một bước nên Chu Đức Kiệt chạm phải tay Bích Nữ giữ cương khiến nàng hai má đỏ ửng.
Lam Y lanh mắt trong thấy, mỉm cười quay đi nơi khác.
Anh em Lam Y thúc ngựa chạy song song. Thừa dịp, Lam Y khẽ nói :
- Chúng ta tập thử lối liệng và bắt phi đao như vẫn tập trước đây xem sao.
Chu Đức Kiệt gật đầu, phóng ngựa chạy ra cuối sân, trong khi Lam Y quay ngựa lại đầu sân bên này.
Mọi người đang ngơ ngác chưa hiểu anh em Chu gia định làm gì thì đã thấy cả hai cùng giơ tay ra hiệu rồi thúc ngựa phi vùn vụt ngược chiều nhau. Tới lúc hai ngựa còn cách nhau độ ba trượng. Lam Y vút một ngọn phi đao vào mặt Đức Kiệt bay tới. Đức Kiệt giơ tay bắt lấy gài phi đao vào dây lưng. Ngựa phi tới đầu sân, hai người vòng trở lại tới gần nhau, Lam Y vung tay ném luôn hai ngọn phi đao một lúc. Đức Kiệt né tránh một ngọn và quày tay lại bắt một ngọn cài vào dây lưng. Tới vòng ngựa thứ ba, Lam Y dùng lối liên châu ném luôn ba mũi phi đao cùng một lúc. Đức Kiệt né tránh cả ba nhưng liệng trả lại một ngọn nhằm mặt Lam Y. Lam Y vươn người lên hé miệng cắn chặt lấy cái tua xanh buộc ở chuôi ngọn Liễu Diệp đao nhỏ xíu. Anh em Chu gia liền quay ngựa lại trở về chỗ mọi người đang vỗ tay hoan hô.
Tào Chí nói :
- Thế mà nhị vị giấu nghề mãi.
Âu Dương Bích Nữ nói xen :
- Lối phi ngựa phóng và bắt đao đến thế là nhập diệu rồi, giản tiện hơn cung tên.
Chu Đức Kiệt cười :
- Hiền muội quá khen, dùng cung tên lợi ở chỗ bắn xa hơn nhiều. Chúng tôi cũng có luyện tập môn xạ tiễn nhưng lối bắn chân phương chứ không tài tình biến hóa như Âu Dương đại ca và hiền muội.
Lam Y nói :
- Long Câu và Bạch Hồng mã kiệu êm như ru, đang thời sung sức có khác.
Bích Nữ nói :
- Dạ, mấy con ngựa này được luyện ngay từ nhỏ nên thuần lắm. Bên Tô Châu, chúng tôi gặp được cả một tầu ngựa luyện tập thuần thục. Chừng nào Chu huynh và thư thư qua chơi, sẽ xin biếu một cặp ô và bạch cao lớn không kém chi ngựa Sơn Đông, Mông Cổ.
- Đa tạ. Chúng tôi xin nhận và cứ giữ đó. Ô mã và Bạch Tuyết còn đắc lực được mấy năm nữa. Chừng nào cần phải đổi sẽ xin bái lãnh.
Quay sang chỗ anh em Phàn gia, Bích Nữ nói :
- Phàn huynh và thư thư cũng nên biểu diễn cho vui.
Phàn Mộng Liên nói :
- Chúng tôi tài mọn biết biểu diễn chi bây giờ?
Phàn Thế Hùng vẫy tay gọi Mộng Liên :
- Biểu diễn tập luyện chơi cho vui. Anh em nhà cả, có dở cũng không ai chê mà! Giấu dốt, hiền muội học hỏi sao được?
Nói đoạn, Phàn Thế Hùng vào bàn tiệc lấy sáu trái mận, cho Mộng Liên ba trái, và ba mũi phi đao. Mộng Liên đứng cách Thế Hùng độ hai trượng, tung một trái mận lên cao. Lẹ như cắt, Phàn Thế Hùng phóng một mũi đao cắt đôi trái mận ra rơi xuống đất. Mộng Liên tung luôn một lúc cả hai trái mận lên không trung, Thế Hùng phóng luôn hai mũi phi đao cắm đúng hai trái mận rớt xuống. Đồng thời, Thế Hùng tung liên tiếp ba trái mận lên cao. Mộng Liên cũng phóng liên tiếp ba mũi đao rất lẹ làng, không mũi nào trật ra ngoài. Mọi người vỗ tay vang ầm khen ngợi.
Lam Y cười lớn :
- Trước đây tôi cứ yên trí chỉ có Phi Đao Thái Bảo Thế Hùng biết phóng đao bách phát bách trúng, ai ngờ Song Đao Nữ Mộng Liên cũng luyện được nghề riêng này. Khá quá! Khá quá!
Chu Đức Kiệt nói :
- Có thế mới gọi là bất ngờ chứ?
Phàn Thế Hùng lượm đao bỏ vào túi, nói :
- Gia muội có luyện nhưng ít dùng tới trong trận đấu.
Lam Y nói :
- Gia huynh cũng vậy, có luyện mà không bao giờ dùng. Theo thiện ý thì môn ngoại luyện này giúp ta rút ngắn trận đấu lại, nếu cần. Hoặc có thể thắng kẻ địch ngang tay một cách bất ngờ. Gọi phi đao thuật là một môn đánh không chánh đáng thì tôi nhất định phản đối. Mỗi người một ý thích, nói không hết được.
Ai nấy đều trở vào bàn tiệc.
Thiết Xích Tử nói :
- Quý vị người nào cũng có tài nghệ riêng biệt, riêng Trương mỗ này không biết gì cả, đành xem không vậy.
Âu Dương Tòng Đức mỉm cười :
- Nghề riêng của bá phụ độc quá nên không thể biểu diễn được. Ai lại dại dột đưa cổ cho bá phụ liệng xích sắt thắt gãy cổ để biểu diễn bây giờ!
Mọi người cười vang.
Lam Y bảo Thái Phượng :
- Tào phu nhân cũng nên nói với đức phu quân dạy võ nghệ cho nhé. Sư phụ ở liền bên cạnh mà không chịu luyện tập thì có thể liệt vào hạng lười biếng được đó!
Ai nấy lại cười vang khiến Hà Thái Phượng thẹn thùng đỏ mặt.
Thiết Xích Tử nói :
- Mấy bữa nay phải y phục chỉnh tề theo gót quý vị thấy bó buộc bực bội quá vì áo dài quần cùng quá. Mai lên đường tái lốt hành khất nhẹ nhàng dễ chịu biết chừng nào.
Âu Dương Tòng Thiện hỏi :
- Bá phụ định đi đâu trước khi đến Kim Lăng?
- Trước kia, định đi Phong Dương, nhưng nay đổi ý đi Tô Châu thăm Trại Mạnh Thường rồi cùng xuống Kim Lăng.
- Cháu sẽ viết một phong thư nhờ bá phụ đưa cho gia phụ.
- Được lắm. Ta sẽ kể chuyện bên Dương Châu này cho thân phụ nghe.
Bích Nữ vội nói :
- Bá phụ nhắc rằng anh em cháu sẽ mời nhị vị Chu gia về chơi Tô Châu.
Phàn Mộng Liên ngạc nhiên, nhìn Lam Y có ý hỏi.
Lam Y biết ý nói ngay :
- Từ Kim Lăng, chúng tôi qua Thái An chào Phàn mẫu như đã hứa rồi từ đó sẽ qua Tô Châu.
Tào Chí nói :
- Từ nãy tới giờ chỉ nói tới chỗ nọ chỗ kia mà không nghĩ tới đường đi. Nhị vị Chu hiệp chuyến này du Giang Nam thì phải từ Kim Lăng đi Tô Châu, rồi từ Tô Châu đi Thái An huyện mới không ngược đường chớ. Đỡ công trình đi lợi biết nhường nào!...
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Tôi đồng ý với Tào đệ, trước hay sau đằng nào cũng một chuyến đi, nhưng nên đi cho phải đường có thuận tiện không?
Câu nói vô tình của Chu Đức Kiệt khiến Mộng Liên không vui. Trước sự thật rõ ràng về cuộc hành trình, nàng đành nhượng bộ :
- Nếu vậy, nhị vị Chu hiệp sẽ đi Tô Châu sau sẽ xuống Thái An huyện cho tiện đường.
Sáng hôm sau, Tào Chí, anh em Âu Dương, anh em họ Phàn tiễn Thiết Xích Tử, Chu Đức Kiệt, và Lam Y ra tận ngoài thành Dương Châu mới chia tay. Thiết Xích Tử đội lốt hành khất như trước, lưng đeo xích và bầu rượu, tay chống gậy tập tễnh theo đường hướng tây bắc đi Tô Châu. Anh em Chu gia chờ Thiết Xích Tử đi khuất mới lên ngựa đi nẻo Kim Lãng.
0
Hồi 18
Sơn Phu điếm, Chu song hiệp lầm tiệc thịt người
Nơi địa huyệt, Mẫu Dạ Xoa tới ngày tận số
 
Anh em Chu Đức Kiệt ngày đi đêm nghỉ, qua các thôn xóm trù mật trong địa phận tỉnh Dương Châu, nơi nào cũng dừng lại thảnh thơi.
Hôm thứ tư hai người đi tới quá trưa thì đến chỗ ngã ba đường. Một đường về Dương Châu, một ngã theo hướng Bắc, một ngã hướng Tây nam.
Lam Y nói :
- Sáng nay lúc ra đi quên không hỏi thăm, thành thử bây giờ không biết rõ lối nào. Chúng ta hãy vào ngồi nghỉ trên phiến đá dưới gốc cây kia một lát, xem có ai đi qua sẽ hỏi thăm.
Hai người bèn rẽ ngựa vào chỗ cây lớn ngồi nghỉ.
Quãng đường này khô khan quá, đồi núi gồ ghề hơn quãng đường trong địa phận Dương Châu. Ngựa lâu không được uống mà không có suối.
- Hiền muội lấy lương khô ra ăn, ngu huynh đi quanh xem có nơi nào có nước không nhé.
Nói đoạn, Chu Đức Kiệt đi vòng ra phía sau đồi tìm suối.
Hồi lâu trở về, Chu Đức Kiệt lắc đầu :
- Không có lấy một khe nước. Cũng như không có lấy một người nào qua đây. Thôi, ta cứ theo con đường hướng Tây nam mà đi, ngồi chờ đây thêm mất thì giờ chẳng được ích lợi gì.
Chu Đức Kiệt ăn qua loa mấy miếng lương khô, mở bầu nước uống, rồi hai người cùng lên ngựa rẽ vào con đường dưới. Tuy lâu không được uống nước, nhưng được nghỉ hồi lâu dưới bóng mát, hai con Ô mã và Bạch Tuyết cũng vẫn còn khỏe lắm, giống ngựa Sơn Đông và Mông Cổ dai sức có tiếng.
Hai người càng đi, càng tiến vào nơi cây cối rậm rạp hơn, Chu Đức Kiệt nói :
- Cây cối nhiều hơn chắc có nước. Khu này hoang vu là phải.
Sang đầu giờ thân, hai người mới gặp hai cha con lão tiều.
Anh em họ Chu xuống ngựa chào hỏi :
- Lão trượng cho chúng tôi biết gần đây có thôn xóm nào khả dĩ có thể nghỉ qua đêm nay không?
Cha con lão tiều nhìn anh em Chu gia hồi lâu, Lão tiều nói :
- Cứ theo đường này đi xế chiều thì tới làng Sơn Phu... Nhưng hảo hán và cô nương đi đâu lại qua đây.
- Chúng tôi đi Kim Lăng.
- Thế thì lầm đường rồi. Đáng lẽ phải theo con đường trên ở khu ngã ba mới là đường chánh.
- Thế chúng tôi cần phải trở lại sao?
- Trở lại cũng không kịp. Bây giờ cứ thẳng tới làng Sơn Phu, rồi từ đó cứ theo độc đạo này đi mãi bằng giờ ngày mốt sẽ bắt gặp đúng con đường chánh.
- Gần đây có suối nước nào không, lão trượng làm ơn chỉ giúp.
Lão tiều nhìn mép hai con tuấn mã sùi bọt trắng xóa.
- Cách đây độ nửa dặm có khe nước ở kẽ đá bên đường khả dĩ cho ngựa uống được. Ngay bên đường!
Anh em Chu gia cảm ơn tặng lão trượng mấy tiền rồi nhảy lên ngựa tiến thẳng. Độ chừng nửa dặm, quả nhiên có tiếng nước chảy róc rách. Một khe nước nhỏ từ vách đá cao độ ba trượng rót xuống một phiến đá mòn trũng như lòng chậu.
Gần đó, một người quần áo đen, đi giày cỏ, chít khăn mỏ diều, tuổi trạc ngoài ba mươi, mắt sắc như dao, đang ngồi dựa lưng vào phiến đá nhỏ. Chu Đức Kiệt và Lam Y xuống ngựa, đến vũng nước vớt lên rửa mặt, đoạn chụm tay hứng nước mát lạnh uống.
Chu Đức Kiệt uống xong, khen :
- Chà! Nước mát lạnh, thiệt ngon!
Nói đoạn, chàng dắt ngựa tới uống.
Người nọ ngồi gần đấy hỏi :
- Nhị vị từ xa qua đây? Rán đi một thôi đường nữa thì có chỗ nghỉ ngơi rồi. Con đường này không nơi nào có nước, ngoại trừ nơi đây. Hành khách không biết trước phòng bị thì mệt lắm.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Độ bao lâu nữa tới chỗ nghỉ?
- Mặt trời lặn thì tới. Có quán rượu lâu năm, tốt lắm. Tôi cũng đi về đó.
Nói đoạn, người ấy đứng dậy phủi áo quần, vác cây đòn gánh lên vai ra đi.
- Nhị vị đi sau nhé. Tôi đi chân nên phải đi trước kẻo trễ.
Chờ cho người ấy đi xa rồi, Lam Y nói :
- Hai cha con lão tiều không nói làm gì, nhưng thằng cha này bộ dạng khả nghi. Đôi mắt sắc như dao ấy luôn luôn nhìn trộm hai bọc hành lý trên lưng ngựa. Hay y là tên hướng mã của bọn cường đạo nào đó.
- Ngu huynh cũng đồng ý với hiền muội. Hướng mã kiểu này lừa người thường thôi. Qua mắt bọn ta sao được. Nào, lên ngựa kẻo trễ.
Nguyên bọn giặc cướp tụ họp chuyên cướp của người đi đường, thường hay cho đồng bọn trá hình thành khách bộ hành đón ở các ngả đường. Chừng nào gặp người qua thời kiếm cách hướng dẫn họ tới chỗ đồng bọn đón đường để cướp bóc. Bởi vậy mới thành tên Hướng mã.
Lối “Hướng mã” này khởi thủy từ đất Sơn Đông, Trực Lệ là nơi rất “nghịch” có tiếng trong chốn giang hồ, bởi vậy thiên hạ gọi luôn là Sơn Đông hướng mã. Thật ra không phải tay hướng mã nào cũng là người Sơn Đông mà chỉ là một danh từ người ta quen miệng gọi như vậy. Sở dĩ anh em Chu gia chỉ dùng hai chữ “Hướng mã” gọi người áo đen vừa rồi vì chính họ là người Sơn Đông giang hồ kiếm khách lão luyện. Không phải bất cứ ai cũng cáng đáng nổi vai hướng mã. Một Sơn Đông hướng mã chính tông phải là một tay hắc đạo có bản lãnh, tinh tường, tế nhị mới mong hướng dẫn nổi đoàn người vào trong cạm bẫy để đánh phá bóc lột được. Trái lại, nếu vụng về kém gan dạ, gặp phải tay hảo hán giang hồ thì toi mạng ngay.
Chu Đức Kiệt và Lam Y cho ngựa chạy kiệu nhỏ để mau tới làng Sơn Phu. Hai con Ô mã và Bạch Tuyết vừa được uống nước, ăn cỏ xong nên rất tỉnh táo, hồi sức. Chạy được vài dặm đường, Chu Đức Kiệt nói :
- Người áo đen vừa rồi đi trước ta không bao lâu mà sao không gặp y ở đây? Trừ phi y biết phi hành!
- Hay là y đi đường tắt?
- Vô lý, ngu huynh đã để ý, không thấy con đường mòn nào cả.
- Mặc y, nghi ngờ làm chi cho mất công. Con đường này dữ dội chẳng kém chi đất Bắc, chỉ khác có núi đá không cao và thiên hiểm thôi.
Hai anh em vừa đi vừa nói chuyện, tám vó ngựa đạp xuống đất rắn cồm cộp vang động cả khu vực yên tĩnh. Không bao lâu, mặt trời đã lặng khuất sau rặng đồi nhấp nhô. Chim hôm ríu rít bay từng đoàn gọi nhau về tổ.
Tới một khúc đường rê tay hữu, cách mặt đường độ mười trượng, hiện ra một tửu quán khang trang rộng rãi, chiêu bài đề ba chữ Sơn Phu quán hay phất phới trước ngon gió chiều.
Dưới gốc thông lớn trước cửa quán, hai tiểu nhị đang đứng chuyện vãn thấy khách tới thì vội chạy ra đón rước :
- Mời quý khách vào quán nghĩ. Quán này độc nhất rộng rãi sạch sẽ, nhiều món ăn ngon, chắc quý khách sẽ vừa lòng.
Anh em Chu gia mỉm cười, xuống ngựa, đeo hành lý lên vai.
Một trong hai tiểu nhị đón lấy cương ngựa, còn tên kia vội nói :
- Khách quan đi đường xa mệt nhọc để tôi xách hành lý kẻo mệt.
Chu Đức Kiệt nói :
- Được rồi, mặc chúng ta. Có phòng tốt không?
- Bẩm có, phòng rộng rãi chắc khách quan sẽ vừa lòng.
- Tàu ngựa ở đâu? Có mái không?
- Dạ, tàu ngựa ở phía sau, mái lá, xin khách quan an tâm, chúng tôi rất thạo chăm nom ngựa tốt.
- Vậy thì tháo yên cương đem vào phòng cho ta. Phải cho hai con ngựa mệt nhọc này ăn thóc mới, uống nước trong, ta sẽ trả tiền đàng hoàng, đừng ngại.
- Dạ, dạ. Xin theo đúng lời.
Tiểu nhị dắt ngựa vòng ra lối bên, còn tên kia cúi mời anh em Chu gia qua cổng.
Lam Y nhìn quanh, hỏi :
- Không có làng mạc thôn xóm nào gần đây sao?
- Bẩm có chứ. Làng Sơn Phu ở trong kia cách đây độ vài trăm thước. Tửu quán này thuộc về làng đó, nhưng cần đón khách nên lập ngay ở gần đường cho tiện.
Lam Y gật đầu, cùng Đức Kiệt vào quán.
Thấy có khách, một người đàn bà vận áo ngắn trạc ngoài bốn mươi tuổi, vóc người thô kịch, răng vồ, hai mắt ốc nhồi, da bánh mật, từ trong quầy bước ra, cất tiếng ồm ồm vái chào :
- Xin chào quý khách.
Anh em Chu gia chào lại, bước thẳng vào trong quán chọn một bàn sạch sẽ kê bên tường để hai bọc hành lý lên.
Từ trong nhà bước ra một thiếu nữ trạc đôi mươi, mặt trái xoan, mắt lá răm sắc sảo, cất tiếng lanh lảnh gọi tiểu nhị lấy thứ này thứ nọ và bảo chúng sửa soạn phòng ngủ. Thiếu nữ chăm chú nhìn Chu Đức Kiệt và Lam Y.
Người đàn bà có tuổi chỉ thiếu nữ, nói với hai người :
- Thưa quý khách, đây là tiện nữ Đới Ngọc Hoàn giúp tôi trông quán này. Nếu cần thứ chi, quý khách cứ việc sai bảo.
Đới Ngọc Hoàn liếc mắt nhìn Chu Đức Kiệt và cúi đầu chào hai người. Anh em Chu gia khẽ gật đầu chào lại, kéo ghế ngồi.
Lam Y hỏi :
- Tửu quán ở nơi vắng vẻ thế này mà chỉ có nhị vị trông coi thôi sao?
Người đàn bà xấu xí đáp :
- Có nhà tôi nữa, hôm nay có việc ở trong làng nên không ra trông coi được.
- Quán này coi bộ vắng khách nhỉ?
- Cũng tùy từng bữa. Hôm qua có mấy người khách trọ mới lên đường sáng sớm hôm nay.
Đới Ngọc Hoàn quay vào nhà trong hối tiểu nhị bê nước nóng ra cho hai người rửa mặt.
Chờ Chu Đức Kiệt, Lam Y rửa mặt sạch sẽ xong xuôi, tiểu nhị hỏi :
- Quý khách dùng thứ chi? Quán này có đủ các món thịt nai, thịt thỏ rừng, heo, bò và rượu bồ đào nấu đã lâu năm rất nổi tiếng, uống ngọt giọng vô cùng...
Lam Y đưa mắt nhìn kín đáo Đức Kiệt.
Chu Đức Kiệt giả đò nghĩ giây lát :
- Lấy bốn đĩa thịt gà xào nấm đông cô, hai đĩa bốn chiếc tỏi gà chiên hành thiệt vàng, cơm trắng và một hồ bồ đào tửu lên đây.
Tên tiểu nhị ngẩn người hỏi :
- Nhị vị không ưa dùng thứ sơn hào như thỏ rừng, thịt nai... sao.
Chu Đức Kiệt lắc đầu :
- Không! Ta ưa dùng kê nhục. Lấy thêm một dĩa hột gà ướp muối nhé.
Tiểu nhị vâng dạ, bê hai chậu nước vào.
Hồi lâu đem các thực vật ra bày trên thồi và rót rượu. Lam Y nâng cốc đầy rượu ngửi thấy men thơm bốc ngào ngạt, bèn sai tiểu nhị lấy một chiếc Lam Y khác, tự rót đầy, bảo :
- Cho phép người uống ly rượu này.
Tên tiểu nhị nâng Lam Y uống một hơi cạn.
- Thưa quý khách, rượu này ngon lắm, uống một lại muốn uống hai. Chừng nào hết sẽ lấy thêm.
Lam Y nói :
- Được, cho người lui ra, cần thêm thứ chi ta sẽ gọi sau.
Chờ tiểu nhị đi khỏi, Chu Đức Kiệt bảo Lam Y :
- Những nhân viên tửu quán này kỳ lắm, rất đáng ngờ...
Lam Y nhắp một ngụm rượu.
- Ngon thiệt nhưng chẳng nên quá chén. Đêm nay cần tỉnh táo coi chừng.
- Bọn này có vẻ biết võ nghệ. Nhất là mụ già xấu xí như quỷ cái. Vợ mà như vậy chắc anh chồng phải gớm ghê!
Lam Y đảo đĩa thịt gà xào lên nhìn kỹ rồi mới gắp ăn.
- Đúng thịt gà đó, ăn được.
Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Đang đói ngấu mà phải ăn dè dặt thế này, bực mình thiệt.
Chợt thấy Đới Ngọc Hoàn từ nhà trong đi ra. Nàng đã thay đổi trang phục, vận xiêm y sặc sỡ, thoa phấn tô son, xức hương thơm nực mũi. Trên mớ tóc mây đen lánh cấm hai ngọn trâm dát ngọc lung linh. Ngọc Hoàn yểu điệu lả lơi, tiến tới thồi anh em Chu gia đang ngồi ăn, đứng sát gần Đức Kiệt :
- Quý khách từ đâu tới đây?
Chu Đức Kiệt chưa hiểu Ngọc Hoàn có ý định gì, ngước mắt nhìn thì bắt gặp ngay cặp mắt rất dâm đãng của thiếu nữ lờ đờ tống tình. Chàng nhìn đi không nói gì.
Đới Ngọc Hoa kéo ghế ngồi xuống bên :
- Để thiếp ngồi hầu rượu. Kìa, quý khách không trả tiếp.
- Từ Dương Châu tới đây.
Ngọc Hoàn liếc nhìn Lam Y, hỏi Đức Kiệt :
- Đây là quý phu nhân phải không? Xinh đẹp quá!
- Không! Đó là gia muội.
- Ồ! Anh em có khác, cả hai cùng đẹp khiến ai ai... cũng phải chú ý. Để thiếp rót rượu hầu... chàng nào!
Nói đoạn, thiếu nữ cầm lấy hồ rượu định rót vào ly của Đức Kiệt.
Đức Kiệt gạt tay nàng ra, nghiêm trang nói :
- Để tôi tự rót lấy, Cô nương nên tự trọng đừng quấy rầy chúng tôi trong bữa ăn.
Đới Ngọc Hoàn đẩy ghế đứng dậy :
- Gớm, người gì mà trơ ra như đá vậy! Chẳng biết luyến ái là chi cả! Nét mặt đẹp thế kia, ngờ đâu tâm tánh lại khô khan như vậy!
Dứt câu, thiếu nữ quay phắt đi vào, nhưng không khỏi liếc nhìn Đức Kiệt một cái nữa cho... đỡ thèm.
Lam Y tủm tỉm cười :
- Hiền huynh làm người đẹp nổi giận nơi đây bất lợi quá. Giả đò mê luyến nàng đôi chút, có phải đêm nay được yên trí dưỡng sức mai lên đường không?
- Ủa! Hiền muội nói chi lạ vậy! Nếu chúng không biết điều thì làm cỏ quán này chớ lo gì!
- Giỡn hiền huynh vậy thôi. Có lẽ vào lầm hắc điếm rồi! Ngu muội đang lo chúng cho thuốc mê trong món ăn chớ không cho vào rượu. Nếu thấy khác trong người, ta phải nuốt luôn viên thuốc giải độc của thúc phụ cho, hiền huynh còn giữ không?
- Có chớ! Gói thuốc luôn luôn ở trong túi.
Nói về Đới Ngọc Hoàn giận dỗi đi và nhà trong, mụ già thấy vậy vội hỏi :
- Chúng nó không uống rượu sao?
Thiếu nữ hằn hộc :
- Thằng cha đó xuẩn quá, không biết ái tin là gì cả. Thấy con mê luyến nên nó ra vẻ làm tàng! Nhưng đúng ra thì y cũng... mỹ nam tử quá, trông đang yêu tệ! Con người ấy, gái nào thấy cũng phải say.
Người mẹ nghe vậy quay lại bảo bọn tiểu nhị :
- Nếu thế, lát nữa trói cả lại giết đi cho rồi. Coi bộ mấy bọc hành trang đó nặng lắm.
Đới Ngọc Hoàn vội xua tay :
- Không! Tên mỹ nam tử ấy phải để lại cho ta. Còn con bé ấy, các người muốn làm gì thì làm. Thịt nó chắc mềm ngon lắm.
Mụ già quạu cọ :
- Nó đã không mê luyến mình thì cứ thích nó làm chi? Thằng ấy mập mạp thế chắc được nhiều thịt lắm. Coi chừng có bản lãnh đấy!
- Chừng nào con ngán nó sẽ giết cũng chẳng muộn cơ mà! Cứ để nó đấy, mặc con tùy nghi sử dụng. Dù có bản lãnh cũng chẳng sợ chi hai đứa ấy.
Mụ già im lặng trở ra ngoài quầy hàng. Anh em Chu gia ăn mấy miếng thịt gà thấy mỡ xào, mỡ chiên gây gây nên bỏ dở.
Chu Đức Kiệt nói :
- Gớm, mỡ gì mà gây quá! Chưa biết chừng mỡ người đó.
- Hiền huynh nói vậy khiến ngu muội lợm giọng. Thôi, ta ăn hột gà muối vậy, nhưng cũng nên giả đò mệt không ăn được kẻo chúng để ý.
- Hiền muội có thấy chiếc xe ngựa để ở góc sân kia không? Đó là thứ xe chuyên chở hành khách, mà sao không thấy người nào ăn trong quán này chiều nay?
- Có lẽ họ đến đây trước ta và trúng gian kế bị sát hại cả rồi cũng chưa biết chừng.
Lát sau, hai người buông đũa, Chu Đức Kiệt lấy nậm nước hứng ở khe núi ban nãy ra uống chớ không gọi nước trà.
Tiểu nhị chạy ra dọn bàn, lắc thấy hồ rượu đã cạn và hai thực khách có vẻ say sưa.
- Thịt gà ngon thế này, quý vị bỏ phí không dùng sao?
Chu Đức Kiệt giả đò mệt nhọc, quá chén :
- Đi đường xa mệt quá không... ăn được chỉ uống thôi! Rượu... rượu ngon quá! Liệu dọn phòng! ta đi nghỉ sớm nhé.
- Dạ. Nhưng nhị vị không dùng trà?
Chu Đức Kiệt vươn vai, ngáp dài :
- Không. Ta ưa dùng nước suối có... có sẵn đây cho mát. Chà mát quá!
Anh em Chu gia ngồi nán thêm lát nữa rồi đứng dậy, xách hành lý.
Mụ chủ quán chạy tới cất giọng ồ ồ :
- Đêm tối, quý vị cần gì, xin cứ gọi.
Lam Y cười :
- Đêm nay mệt lại hơi say rượu chắc ngủ say sáng mai mới có sức đi đường.
Mụ kia cũng nhe bộ răng vồ khấp khểnh cười, mắt luôn nhìn trộm hai thứ khí giới của hai người.
Vào tới trong phòng đóng cửa lại, mỗi người để hành lý lên một giường.
- Hiền muội ở đây để ngu huynh ra nhìn coi Ô mã, Bạch Tuyết có được tử tế không nhé.
Nói đoạn, chàng đẩy cửa bước ra.
Lam Y cởi áo ngoài giũ bụi, lấy nước rửa mặt, chân tay sạch sẽ, rồi lại mặc vào trèo lên giường nằm. Ra tới phòng ăn, Chu Đức Kiệt gặp tiểu nhị liền hỏi :
- Dẫn ta ra tầu ngựa coi.
Tiểu nhị vâng dạ, đi trước vòng hiên ngoài nhà, ra sau vườn vào căn tầu ngựa lợp lá.
- Thưa quý khách, tầu ngựa đây. Tôi đã cho ngựa ăn no rồi.
Chu Đức Kiệt nhận thấy Ô mã, Bạch Tuyết đứng gần nhau ở trong một góc tầu phía đông. Ngoài ra còn có bốn con ngựa khác nữa. Chàng bước chuếnh choáng vào vỗ về hai con tuấn mã, xem xét cẩn thận rồi đi ra lối cũ thì vừa gặp Đới Ngọc Hoàn đang đứng ở hiên nhà.
Nàng nguýt yêu một cái hỏi :
- Oan gia đi đâu thế này?
- Tôi ở tầu ngựa về.
- Đã có tiểu nhị, ra làm chi ngoài đó?
- Không có chi lạ cả, nhưng đó là thói quen.
Đới Ngọc Hoàn đưa tình, đến gần :
- Chăm chú săn sóc ngựa như vậy, mà với... thiếp thì chàng hờ hững.. Thôi, thiếp tha thứ sự sỗ sàng ban nãy, đêm nay... ngủ ở phòng thiếp để... chuộc tội đi!...
Dứt câu, thiếu nữ định cầm lấy tay Chu Đức Kiệt.
Nén giận, Chu Đức Kiệt lánh sang bên :
- Đến... mai nhé. Bữa nay say rượu mệt lắm... Mai nhé.
Nói đoạn, chàng vào nhà về thẳng phòng.
Đới Ngọc Hoàn hậm hực quay đi, lẩm bẩm :
- Đã vậy sẽ biết tay gái này! Đồ ngốc.
Lam Y nằm xuống mặt quay vào tường. Chu Đức Kiệt xem xét lại hai bộ yên ngựa, rồi bỏ ủng ngồi xếp tròn trên giường tham thiền nhập định. Ngoài trời đã tối hẳn. Chu Đức Kiệt lắng nghe bên ngoài hãy còn tiếng người nói và đi lại dọn dẹp. Tiếng Lam Y thở đều đều. Chó sủa đêm từ làng Sơn Phu vọng ra từng hồi.
Canh một, sang quá canh hai, Lam Y nhỏm dậy dụi mắt, Chu Đức Kiệt vẫn ngồi dưỡng thần lù lù như pho tượng ở trên giường. Ngọn bấc dầu khêu nhỏ để dưới chiếc bàn thấp che lấp, nên trong phòng lờ mờ gần như tối hẳn.
Lam Y bước xuống đất lẹ làng tới gần Chu Đức Kiệt :
- Hiền huynh nằm nghỉ đi. Ngu muội canh chừng.
Im lặng, Chu Đức Kiệt ngả mình xuống gối. Lam Y trở lại giường mình ngồi xếp tròn dưỡng thần, nghe ngóng.
Vào quãng đầu canh ba, chợt có tiếng động ngoài cửa như tiếng chuột gặm. Lúc có lúc không. Lam Y nghi ngờ nhưng chợt có tiếng hai con chuột cắn nhau chí chóe. Nàng mỉm cười tự nghĩ quen thói nên nghi ngờ cả những cái không đâu.
Trên bước giang hồ, tiểu tâm phòng bị là đầu chốt của mọi nết, không thế không được, mất mạng dễ như chơi.
Bỗng Chu Đức Kiệt nhỏm dậy, buông chân xuống đất đi ủng, với tay lấy Thất Tinh đao đeo vào người. Chàng nhón nhén ghé tai nói nhỏ :
- Khuya rồi, ngu huynh ra ngoài coi xem chúng thế nào.
- Hễ có động, thì ra tay liền.
Chu Đức Kiệt để ngon đèn bấc vào góc nhà che lấp hẳn ánh lửa đi sửa soạn mở cửa phòng đi ra thì có tiếng chân ngựa từ phía đường vọng vào. Lam Y cùng bước xuống đất lắng nghe. Tiếng mở cổng quán và có nhiều người vào sân. Những tiếng ấy tuy nhỏ, người thường không hề để ý tới, nhưng đối với thính giác đặc biệt của kiếm khách thì khác hẳn.
- Có nhiều người mới vào sân quán, hiền muội thấy không?
- Chúng ra cả phía sau quán và tiếng đó mất hẳn. Hiền huynh ra xem thế nào.
Chu Đức Kiệt lẹ tay mở cửa bước ra ngoài. Yên lặng. Tối om.
Vận dụng cặp mắt nhìn đêm, Chu Đức Kiệt nép người vào tường nghe ngóng. Đoạn, chàng lẹ làng tuốt đao ra khỏi vỏ cầm ngược ép sát lưỡi đao vào cánh tay để che lấp ánh sáng xanh lè tỏa từ lưỡi đao ra. Lần vào phía trong, tới căn phòng trong cùng, ánh đèn le lói chiếu sáng qua khe cửa. Đức Kiệt nghe thấy tiếng nói nhỏ vọng ra, áp tai vào vách ván nghe.
Tiếng mụ chủ quán nói :
- Giờ này chắc chúng ngủ say rồi, chủ nhân cho lệnh bắt chúng đem cả về nhà trong, nhưng cứ giết luôn cả đi, ta chịu trách nhiệm...
Đới Ngọc Hoàn nói :
- Con đã nói không được giết thằng cha đẹp trai đó, còn con mụ xinh đẹp kia thì tùy ý mẫu thân sử dụng.
- Thiệt là bố nào con ấy. Thấy trai đẹp, gái non híp mắt lại, Cha mày vừa nghe nói con ấy xinh đẹp là hạ lệnh đem nó về nhà liền. Hừ! đồ dâm đãng có khác. Có ngày, ta họa lây...
Chu Đức Kiệt nghĩ thầm “Họa tới nơi rồi, còn có ngày chi nữa!”.
Tiếng người đàn ông lạ nói :
- Bây giờ chúng tôi ra xem thế nào rồi hạ thủ nhé?
Tiếng Đới Ngọc Hoàn :
- Ờ! Phải cẩn thận kẻo hỏng việc. Cả hai đứa ấy cũng có thủ đoạn cả đấy, chớ khinh thường.
Tiếng khí giới rút ra khỏi vỏ...
Chu Đức Kiệt vội vàng quay ra về phòng bảo nhỏ Lam Y :
- Chúng sắp tới bây giờ...
- Vào đứa nào giết đứa ấy. Tiêu diệt cho kỳ hết mới thôi.
Hai anh em đứng sang cửa phòng chờ. Chợt có tiếng động nhỏ ở gầm bàn. Hai người chú ý nhìn, thì ra đó là miệng hầm. Miếng ván từ từ do bàn tay bí mật nào mở ngược xuống như một cánh cửa. Ánh sáng mờ mờ từ dưới hầm thoát lên.
Lam Y nhẹ nhàng tiến tới gần miệng hầm bỏ chiếc bàn sang bên. Lát sau, một lưỡi đao từ từ nhô lên quơ nhẹ chung quanh, rồi một người đầu lên khỏi miệng hầm.
Có lẽ tên này chưa quen với bóng tối trong phòng, không trông thấy gì, theo hẳn lên mặt sàn. Lam Y buông kiếm, giơ tay tả chém bàn tay Cương đao trúng gáy tên đó, đồng thời đưa tay hữu túm lấy lưng áo nhấc bổng đặt nhẹ sang một bên. Tên đó chết không kịp ngáp. Liền lúc ấy, một tên khác nhô đầu trèo lên. Lam Y lại hành động như trước, đặt xác thứ hai xuống cạnh tên thế nhất.
Lát sau, có tiếng chuột kêu nhè nhẹ từ dưới hầm vọng lên. Lam Y mỉm cười nghĩ thầm có lẽ mấy tên đồng bọn chờ ở dưới không thấy hai tên vừa bị đánh gãy xương cổ chết hành động gì, nên giả tiếng chuột gọi nhau.
Nàng bèn đứng hẳn lên khẽ ló mắt nhìn xuống. Quả nhiên, ở dưới hầm còn ba tên nữa đang đứng ngay dưới chân thang... Nhưng ngay lúc ấy có tiếng động nhẹ ở cửa phòng. Cánh cửa từ từ mở ra... một người ló đầu vào...
Chu Đức Kiệt hạ một lát đao phập, chiếc thủ cấp lăn cồng cộc xuống mặt sàn, còn cái thây thì đổ xuống nằm ngang bực cửa, máu phun ra như suối. Bên ngoài thốt lên một tiếng chao ôi đồng thời tiếng chân chạy thình thịch.
Lam Y biết là mọi sự đã vỡ lở, bèn lao luôn hai xác chết xuống hầm trúng ba tên đứng ở dưới. Một tên tránh không kịp bị xác chết rớt trúng đầu, té úp mặt xuống đất, nhưng lại đứng lên được ngay. Chúng la hò vang động gọi đồng bọn.
Lam Y nói vội :
- Hiền huynh tự liệu ở trên này. Mặc ngu muội đối phó với chúng dưới hầm.
Dứt lời, nàng không lần theo thang, nhảy vụt xuống hầm... Chu Đức Kiệt thấy Lam Y đã xuống hầm, bèn đạp tung hẳn cánh cửa phòng rồi nhảy vụt ra ngoài, thì vừa vặn có tiếng chân chạy từ phía trong ra, đuốc đốt sáng ngời. Mụ chủ quán cầm song đao đi đầu, theo sau là mấy tên tiểu nhị, tên nào cũng có gươm đao, hăng hái chạy theo mụ chủ. Chu Đức Kiệt cầm ngang đơn đao chờ.
Mụ chủ quán chỉ đao vào mặt Chu Đức Kiệt hét :
- Hay cho tên ăn cướp này, dám vào quán trọ giết người hôi của...
Chu Đức Kiệt mắng lại :
- Đồ cẩu tặc, mở hắc điếm hại người lương thiện còn già họng. Coi đao ta đây!
Nói đoạn, chàng nhảy vào hoa đao đánh mạnh. Mụ chủ quán múa đao đỡ trả đòn tới tấp. Mấy tên đồng bọn cũng bổ vây tròn Chu Đức Kiệt vào giữa. Họ Chu khen thầm mụ chủ quán võ nghệ khá cao cường và có dũng lực. Chỉ trong chớp mắt, hai tên giặc đã mất đầu, xác quật xuống sàn gạch, máu phun thành vòi như tưới.
Mụ chủ quán thấy vậy càng nổi giận hét lên như sư tử, hoa cặp song đao lợi hại vùn vụt như gió quấn chặt lấy địch thủ. Mụ dùng thế Mãnh Hổ Cầm Dương nhảy chồm tới chém một đao ngay hông và một đao bổ thượng nhằm đầu đối phương. Thế này rất lợi hại trong lối dùng song đao vì địch thủ cùng một lúc thọ địch hai đòn trong lúc còn phải chống đỡ đồng bọn giặc đánh tới. Đoán trước đòn hiểm của mụ chủ quán, Chu Đức Kiệt cũng xô ngay tới phóng chân đá trúng tay địch thủ làm bật cây đao chém ngang hông ra một góc nhà, đồng thời tay hữu đưa Thất Tinh đao chém mạnh khiến lưỡi đao bổ thượng bị tiện đứt đến gần chuôi.
Vừa phá xong hai đòn ấy thì hai người cũng vừa vặn xô vào gần nhau. Tong khi mụ chủ quán chưa kịp trở tay thì Chu Đức Kiệt đã quay phắt người lai đánh ngược cùi chỏ bên tả Phượng Dực trúng sườn đối phương... rắc một tiếng.
Mụ chủ quán sức lực to lớn nhường ấy khôn kịp tránh cánh tay Phượng Dực đánh quá gần, xương sườn bị gãy vụn như vỏ trứng óp, té bật ngửa người ra phía sau, hộc máu miệng, hai chân giãy đành đạch lên mấy cái, rồi mới tắt thở về chầu Diêm La điện.
Thế đòn mà Chu Đức Kiệt dùng để phá ngọn Mãnh Hổ Cầm Dương của mụ chủ quán là thế Long Phi Phượng Vũ và tiếp luôn cùi chỏ Phượng Dực đánh gãy xương sườn địch thủ là thế Hổ Tướng Hồi Quân đánh rất gần và bất ngờ, ít khi đối phương tránh kịp trong khi vừa bị mất khí giới hoang mang. Cả hai thế này đều là ngọn đòn chí tử của bài Phong Vũ Đao gia truyền của họ Chu danh vang đất Bắc.
Thấy chủ đã thọ tử, hai tên còn lại vội vàng xô nhau chạy, nhưng chạy sao kịp với cặp giò điện tử của họ Chu! Tên thứ nhất bị một dao xén đứt cánh tay hữu, còn tên thứ hai thì bị Chu Đức Kiệt tóm được cổ áo ấn xuống.
Tên đó hoảng quá vội buông khí giới rên la, lạy như tế sao :
- Trăm, ngàn lạy hảo hán, xin tha mạng cho con là tiểu tốt vô danh còn mẹ già, vợ dại, con thơ...
Chu Đức Kiệt cười gằn khiến tên đó rợn tóc gáy.
Tên đó run lẩy bẩy :
- Bẫm... bẩm...
- Bẩm với báo gì! Biết điều dẫn ta xuống địa huyệt, kẻo mất đầu bây giờ!
- Dạ... dạ... xin vâng... ạ.
- Lẹ lên mau!
Tên đó giật mình đánh thót bật cả người, dẫn Chu Đức Kiệt đi thẳng vào căn phòng trong cùng mà chàng đã nghe lén hồi nãy.
- Có mấy lối xuống địa huyệt?
- Bẩm... có ba... ba lối ạ. một một lối ở... ở phòng của hảo... hảo hớn, một lối ở... ở dưới bếp và một... lối ở... ở trong phòng... phòng này ạ.
... Nói về Lam Y khi nhảy xuống địa huyệt, thấy có năm tên đạo tặc cầm khí giới chạy lại bao vây đánh.
Lam Y quát lớn :
- Loài chuột, coi kiếm của cô nương nè!
Nàng hoa kiếm thành vòng sáng ngời như chiếc tán.
Khí giới của đối phương bị lưỡi Thái Dương kiếm chém trúng tiện đứt, rơi loảng xoảng xuống mặt địa huyệt lát gạch vuông đỏ.
Năm tên giặc sợ quá chưa kịp né chân chạy thì đã bị làn bạch quang rít lên như gió lia tròng trúng cổ. Năm chiếc thủ cấp rụng lộp độc xuống gạch như trái sung. Năm thây cụt đầu đổ vật xuống đất, chân tay co giật lên rồi mới nhoài ra, máu phun thành vũng... Giữa lúc ấy, Đới Ngọc Hoàn cùng hai tên tặc đạo râu quai nón từ khúc rẽ trong địa huyệt chạy ra.
Ngọc Hoàn vận quần áo chẽn, cẩm kiếm. Hai tên kia vác côn và đinh ba.
- Con ác nữ này dám đột nhập nơi đây giết thủ hạ của ta, hãy coi kiếm đây!
Lam Y không nói không rằng đón đánh luôn. Hai tên kia cũng nhập trận rất hăng hái. Đới Ngọc Hoàn thấy kiếm của Lam Y và lối nhập trận dũng mãnh, biết ngay gặp tay cao thủ, nên thận trọng dùng tận lực bình sanh đánh, cố ý tránh chớ không đỡ những lát kiếm của đối phương. Lam Y vừa đánh vừa nhận xét thấy bản lãnh của họ Đới rất khá, nên đoán rằng xó lẽ đã nhiều người thường và ngay cả hảo hớn giang hồ ít kinh nghiệm hoặc bản lãnh kém, bị táng mạng tại hắc điếm này.
“Soạt!”
Cây côn của tên tặc đạo bị tiện đứt làm đôi. Tên đó hoảng sợ nhảy lùi lại mấy bước, không ngờ Lam Y đã phóng một ngọn cước trúng ngực tên cầm đinh ba, bật ra khỏi vòng chiến, đầu va vào mặt tên đồng bọn đánh bốp một cái khiến y ôm mặt lảo đảo. Còn tên bị đá thì lăn ra sân gạch nằm không cựa quậy tim phổi vỡ nát, miệng ứa huyết.
Sợ đối phương thừa dịp ngay tới sát hại nốt bộ hạ, Đới Ngọc Hoàn chặn đường chém một kiếm ngang đầu gối địch thủ, Lam Y nhảy vọt lên cao duỗi chun đạp mạnh gót vào mặt Đới Ngọc Hoàn, Đới Ngọc Hoàn nhận thấy Lam Y có cặp giò lợi hại, vừa lẹ làng vừa nặng nề nên chú ý đề phòng. Nàng ngồi thụp xuống nhường cái đạp ấy trượt ra ngoài, và nhân dịp nhắm hông địch thủ thúc mạnh một mũi kiếm theo thế Xuyên Thiện kiếm.
Đòn nguy hiểm này mau lẹ lắm nhưng Lam Y thấy kịp gạt mũi kiếm của họ Đới sang bên. Chân vừa xuống tới đất, Lam Y thoái luôn hai bộ. Đới Ngọc Hoàn mừng lắm, thừa dịp xông lên chém một lát ngang cổ đối phương... Bất thần, Lam Y ngồi thụp xuống nhường cho lưỡi kiếm vụt qua đầu, dùng chân tả đá quét một ngọn Kim Cương Tảo Địa.
Chém hụt bị mất đà trong khi đang rượt theo đối thủ. Đới Ngọc Hoàn không kịp tránh ngọn cước vừa mạnh mẽ vừa bất thần đó nên trúng đòn. Chân nàng như bị chiếc chầy sắt đánh trúng tê buốt vô cùng, toàn thân nàng bật lên khỏi mặt đất nhào đi một vòng, thanh kiếm trong tay bị văng ra một nơi. Đới Ngọc Hoàn nằm ngất lịm trên mặt đất, hai chân xoạc ra, cổ chân chỗ trúng đòn vẹo sang một bên. Thì ra ngọn đá quét dũng mãnh ấy đã làm gãy lìa hẳn xương ống chân cô gái lẳng lơ họ Đới.
Nói ra thì lâu, mấy thế đánh liên tiếp này đã diễn ra rất mau lẹ.
Tên tặc đạo bị chém đứt cây côn hồi nãy đã liệng khúc côn còn lại trong tay, đi lượm cây chỉa ba của tên đồng bọn bị Lam Y đá chết, nhảy tới nhắm bụng Lam Y thọc một ngọn cốt ý cản không cho đối thủ hạ sát Đới Ngọc Hoàn, Lam Y đứng yên tại chỗ chém ngang một lát kiếm tiện đứt mũi cây chỉa ba. Tên nọ nhào tới mất đà chúi đầu vào ngực Lam Y. Nàng khẽ tránh sang bên đưa chân gạt ngược một cái, tên nọ bị lộn nhào, đầu dốc xuống đất bốp, bể sọ chết tươi, Lam Y nhìn quanh không thấy tên nào khác nữa, gần đó có hồ nước, bèn tiến tới múc nước đổ vào mặt Đới Ngọc Hoàn.
Bị nước lạnh ngấm, Đới Ngọc Hoàn tỉnh lại rên siết tỏ vẻ đau đớn lắm, nhưng đôi mắt căm hờn vẫn gờm gờm nhìn kẻ chiến thắng như muốn vùng ngay dậy, nuốt sống ăn tươi mới hả dạ.
Lam Y liệng chiếc chậu đồng sang bên, cười gằn :
- Các ngươi đã hạ sát bao nhiêu người trong điếm này rồi?
Đới Ngọc Hoàn hằn hộc quay đi, nhắm mắt lại, Lam Y bỏ Đới Ngọc Hoàn đó định đi xem xét các nơi trong địa huyệt thì thấy tiếng chân đi. Nàng nhảy đứng nép vào tường chờ. Người đi đó chính là tên tặc đạo và Chu Đức Kiệt từ góc tường phía đông ló ra.
Nhìn thấy mấy xác chết nằm ngổn ngang dưới đất liền hỏi :
- Xong cả rồi chứ? Có tên nào thoát không?
- Những đứa ở dưới này thì đây cả rồi. Trên nhà thế nào?
- Cũng vậy. Còn sống sót tên này dẫn đường.
- Có một điều lạ là không thấy lão chủ điếm đâu cả.
Chu Đức Kiệt nạt tên giặc.
- Lão chủ điếm họ Đới đâu? Nói cho thiệt!
Tên kia thấy đồng bọn đứa mất đầu, đứa vỡ mặt, bể sọ, nằm ngổn ngang trên mặt đất, khiếp sợ quá, sắc mặt tái mét, run rẩy nói ngắt đoạn :
- Chủ nhân con không có ở đây, nhưng lát nữa sẽ tới!
- Nhà y ở đâu? Tại sao không ở đây?
- Dạ, ở cách đây năm dặm, cứ theo hướng tây đi thì tới, nhà ở ngay bên đường. Chủ nhân tôi không ở hẳn đây vì nhà có... có...
Tên đó ngập ngừng không nói nốt.
- Có gì?
- Dạ... có nơi nhốt người kín đáo hơn ở đây ạ. Thường thường thì đánh thuốc mê bắt người ở đây. Nếu không dùng tới ngay, bắt nhốt về nhà đằng kia nuôi cho ăn khỏe mập, chừng nào cần dùng, đến đêm sẽ trói lại đem lại đay làm thịt cho khách hàng ăn. Các việc này đều do chủ nhân con tự làm lấy, chúng con đi làm lấy lương chỉ có phụ tá sai gì thì làm nấy thôi...
Lam Y cười lạt :
- Nghĩa là các người không có tội tuy vẫn giết người hiền lương như giết nghé hả? Tên chủ nhân người là chi?
- Dạ, tên là Xích Hoa Xà Đới Vĩnh Khang. Bà vợ là Mẫu Dạ Xoa Đổng Kim Hoàn còn cô con gái là Hoa Cô Nương Đới Ngọc Hoàn.
- Các ngươi dùng thịt người làm những món ăn gì?
- Dạ, làm nhân bánh bao, giả làm thịt thỏ rừng, thịt nai, heo rừng. Gan tim, phổi xài được hết. Người nào mập thì lọc mỡ ra xào, chiên...
Nhớ tới lúc ban chiều ăn phải mấy miếng thịt gà xào gây gây, Lam Y cảm thấy lợm giọng muốn mửa.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Các bộ phận của các nạn nhân mà các ngươi không xài tới bỏ đi đâu?
- Chủ nhân con bắt chôn ra sau núi gần đây.
- Hạ sát bao nhiêu người rồi?
Con tới sau không biết rõ.
- Chiếc xe ngựa chở hành khách để ở ngoài sân quán là của ai?
Tên đó xám mặt đáp :
- Dạ, xe ấy của hai vợ chồng chàng thanh niên mới qua trọ cách đây được vài hôm.
- Hai người ấy đâu rồi?
- Hiện còn bị giam ở nhà đằng kia với cha con người xa phu.
- Người đàn ông đó đẹp trai nên Hoa cô nương giữ làm của riêng để nài ép... vui đùa...
- Con dâm tặc ấy hành động như vậy mà Đới Vĩnh Khang ưng chịu sao?
- Hoa cô nương được cha mẹ nuông chiều muốn sao làm vậy, không bao giờ ngăn cấm. Hiện đã có mấy người tuấn tú bị bắt. Hoa cô nương bắt họ hành sự ngày đêm nên họ đâm ra lao lực ốm yếu, họ không đủ sức đứng dậy được nữa. Thấy họ vô dụng. Hoa cô nương chờ đêm tối đem họ vào rừng hạ sát cả rồi. Cũng có khi Hoa cô nương chán người nào, mà còn khỏe mạnh thì đem về điếm này làm thịt bán hàng, rồi cho người khác thay thế hành sự vui đùa.
- Đáng lẽ đêm nay Hoa cô nương về nhà với thanh niên mới bắt được hôm rồi, nhưng vì có hảo hán tới trọ, cô ấy thấy hảo hán tuấn tú khỏe mạnh nhiều nên quyết tâm bắt cho kỳ được để thỏa mãn dục tình, không ngờ cớ sự vỡ lở ra như vầy.
- Khi nào bắt được phụ nữ đẹp thì chính chủ nhân tôi lãnh riêng giống như Hoa cô nương lãnh các thanh niên vậy.
Chu Đức Kiệt vội hỏi :
- Thế vợ chàng thanh niên mới bị bắt hôm rồi đâu?
- Còn bị giam giữ cả ở nhà, không hiểu đã bị chủ nhân... đùa bỡn chưa.
- Dẫn ta tới chỗ làm thịt người coi.
- Tên kia vâng dạ quay người định đi trước thì Hoa cô nương Đới Ngọc Hoàn mở mắt ra, miệng rên siết, khiến y giật bắn người lên, mắt mở tròn xoe kinh ngạc :
- Ủa! Hoa... Hoa cô nương còn sống?
Lam Y gắt :
- Đi! Hay muốn ta xẻo tai bây giờ?
Tên đó mồ hôi toát ra đây mặt, trệu trạo bước đi trước.
Lam Y nói với Chu Đức Kiệt :
- Hiền huynh đi trước, ngu muội lục soát xem con dâm tặc này có gì trong người không đã.
Nói đoạn, Lam Y bước lại chỗ Đới Ngọc Hoàn lục xét khắp người, không có chi lạ, ngoài mấy thứ nữ trang thường dùng hằng ngày và một gói giấy nhỏ, Lam Y mở gói đó ra thấy thứ bột gì trắng như phấn mùi thơm thoang thoảng, lật đi lật lại tờ giấy gói, Lam Y thấy đề: Khởi dục phấn.
Dự đoán Hoa cô nương dùng thứ phấn này hòa vào nước hay rượu cho đàn ông uống để khởi dục. Lam Y nổi giận, rắc cả gói bột đó vào đầy mặt nữ tặc, rồi đứng dậy đi theo Chu Đức Kiệt vừa ra.
Hoa cô nương nhắm mắt lại cho bột khỏi vào mắt, miệng vẫn rên la không ngừng vì ống xương chân gãy gập lại.
Bước khỏi chỗ góc tường, quẹo sang hữu, Lam Y thấy Chu Đức Kiệt đang đứng ở cuối địa huyệt giữa một khung cảnh rùng rợn đến buồn nữa.
Treo lủng lẳng ở cây xà ngang mấy cái đùi, cánh tay người đã lóc thịt dở dang, hai trái tim, bộ gan, phổi thứ nào cũng đã khuyết mất một phần. Mấy cuộn dây thừng vấy máu treo vào móc sắt. Trong góc, mấy chiếc sọt tre đan đựng mấy cái thủ cấp đã bị đập bể nát có lẽ để lấy óc dùng nấu ăn. Mấy bộ xương sườn lóc thịt trơ ra trắng hếu.
Gần đó hai cái bục đá nhẵn hoen máu đã khô. Kế bên, là hai chiếc cột cây có lẽ dùng để trói nạn nhân vào đó khi mổ bụng moi ruột. Quanh đấy, ngổn ngang nào chậu sành, nào nồi đất. Sau chót, là mấy chiếc chảo bắt trên mặt lò than đun nước hãy còn bốc khói. Mùi hôi tanh bốc lên sặc sụa!
Trong bước giang hồ, anh em Chu gia hành hiệp, hạ sát cũng đã nhiều kẻ gian phi tặc đạo, quen thấy cảnh chém giết, đầu rụng máu phun, nhưng mỗi chuyến vào lầm hắc điếm, hai người vẫn cảm thấy ghê tởm trước cảnh người lương thiện bị phân thây, thịt nát xương tan bởi bọn tặc đạo khát máu giết người vô tội kiếm lời, cướp của.
Chu Đức Kiệt đùng đùng nổi giận, liếc lưỡi đao vào gáy tên giặc hỏi gằn :
- Riêng phần ngươi đã mổ bụng bao nhiêu người rồi? Có sướng tay không? Hả? Nói mau?
Bị lưỡi đao áp vào gáy lạnh giá như tuyết băng, tên đó rợn tóc gáy, mặt cắt không còn hột máu :
- Bẩm... bẩm con không được... được mổ bụng người... bao... bao giờ, đã... đã có... có đổ tể chuyên... chuyên môn...
Chu Đức Kiệt quát :
- Lúc nãy người cầm khí giới theo mụ Mẫu dạ xoa, nếu bọn ta thua thì người có làm thịt không?
- Dạ, con... con... con...
Ghét quá, Chu Đức Kiệt gài đao vào vỏ, nhắc bổng tên đó lên lao vào chiếc sọt lớn nhễ nhãi những xương thịt người.
Đầu cắm xuống trước, hai chân chổng ngược, tên giặc giãy giụa, la hét, lúng túng thế nào, chiếc sọt đổ kình ra úp hẳn lên người y đầy dơ dáy nhầy nhụa, gớm khiếp.
- Mặc nó đấy, ra khỏi nơi đây đi hiền huynh.
Hai người theo lối cũ lên khỏi địa huyệt. Vừa nhô lên mặt đất trong bếp, bỗng có một bóng đen chạy vụt từ lu nước ra cửa sau bếp.
Lam Y đuổi theo túm được áo bóng đó lôi xềnh xệch ra nhà ngoài.
- Trăm lạy ngàn lạy nữ đại vương, con tên là Trần Nhị nghèo khó phỉ đi ở, không ngờ xin làm đúng nơi nguy hiểm này. Chúng hãm giết, muốn thôi cũng không được, con đành nương náu qua ngày tìm cách trốn khỏi địa ngục này. Ban nãy trong khi sát phạt, con sợ quá chui vào lu nước trốn. Ngấm lạnh, không chịu nổi, con vừa ra khỏi lu nước, thì nhị vị đại vương lên khỏi miệng hầm... Xin nhị vị tha chết cho con là người lương thiện vào lầm nơi đây...
Trần Nhị vừa nói vừa run vì sợ có, mà vì lạnh cũng có. Lam Y phát tức cười.
Nhận xét thấy Trần Nhị diện mạo thực thà, hiền lành Lam Y hiểu ngay y nói sự thật bèn hỏi :
- Người từ đâu tới đây? Được bao lâu rồi?
Bẩm, nữ đại vương...
Lam Y phì cười :
- Ta có đi ăn cướp đâu mà gọi nữ đại vương? Ta mới giết tặc đạo hắc điếm này để cứu... người đó. Trả lời đi!
- Bẩm ân nhân, con từ Lâm huyện qua đây thấy Sơn Phu tửu điếm cần người làm, con xin ở, không ngờ lầm phải nơi giết người này. Tất cả được ngót ba tháng rồi, trốn không nỗi.
- Điếm này có bao nhiêu người?
- Tại điếm thì không có bao nhiêu. Nhưng tại sào huyệt của chúng khá đông, toàn kẻ có võ nghệ. Ngay trước canh ba vừa rồi, chúng định bắt sống nhị vị nên có phái thêm người tới đây, không ngờ bị nhị vị giết cả. Thật là thiên bất dung gian.
- Ngươi có biết sào huyệt chúng ở đâu không?
Trần Nhị gật đầu :
- Dạ có, cách mấy dặm đường, nhưng không cho tới đó bao giờ cả...
- Hắc điếm này làm bậy như vậy mà viên chức sở tại trong làng Sơn Phu không nói chi sao?
- Dạ, nói thế nào được? Bọn họ Đới hai vợ chồng, cô con gái và thủ hạ rất giỏi, võ nghệ tinh thông, sức mạnh ít người địch nổi, viên chức tại làng này có muốn nói cũng e sợ chúng giết hại, nên đành câm miệng làm thinh, còn đâu dám nói tới việc trừng phạt nữa!
- Cho người đi thay áo đi, sửa soạn hành lý rồi ra đây ta bảo.
Trần Nhị lạy tạ đứng lên toan vào nhà trong thay áo, nhưng chợt nhớ tới việc gì, y nói với Lam Y :
- Giờ này mà Đới Vĩnh Khang không thấy vợ con y cho người về sào huyệt báo tin thì chắc y sẽ tới đây, nhị vị nên phòng bị kẻo bị đánh bất ngờ.
Lam Y mỉm cười :
- Được rồi! Tháo áo rồi ra ngay.
Anh em Chu gia khám xét trong các phòng không có gì lạ, Nhưng lấy được ở phòng Mẫu dạ xoa một số vàng ngọc, tiền nong, đếm được trên một trăm lượng bạc.
Lam Y bỏ riêng ra ba mươi lượng, còn thì cất cả và bọc hành lý để khi cần thì giúp đỡ kẻ khó.
Chu Đức Kiệt tìm bút mực đề mấy hàng chữ lên tường:
“Cùng các viên chức sở tại,
Nhân đi qua đây, thấy điếm Sơn Phu là nơi tặc đạo trá chân hoành hành giết người cướp của khách trọ, nên phải ra tay trừ gian. Chứng cớ hành động bọn giặc còn nguyên dưới địa huyệt. Yêu cầu đừng bắt bớ dân lành tra xét oan uổng.
Lam Y nữ hiệp, đề”.

Lam Y nhìn nét chữ rắn rỏi, cười :
- Đã lâu lắm, hiền huynh không viết đại tự mà nét chữ còn tốt lắm.
Chu Đức Kiệt liệng cây viết lông vào góc nhà.
- Hiền muội có biết ngu huynh đang nghĩ ý không?
- Xin chịu! Lam sao mà đoán được?
- Còn nhớ người mặc đồ đen gặp ở khe nước bên đường không?
- Có chứ.
- Chúng ta đã ngờ y là tay hướng mã, vậy mà y vắng mặt nơi đây.
- Việc ngờ cứ ngờ chứ, còn trúng hay không là một việc. Trên bước giang hồ, lúc nào cũng cần phải phòng bị. Cẩn tắc vô ưu!
- Đã đành! Nhưng ngu huynh ngạc nhiên không thấy tên đó trong hắc điếm này.
Hai người còn đang nói chuyện thì Trần Nhị tới, lưng đeo khăn gói, tay cầm chiếc gậy.
Lam Y đưa cho Trần Nhị ba mươi lượng bạc.
- Đây! Cầm tiền này về sanh quán làm vốn sanh nhai lương thiện. Đêm nay nếu ngươi lọt vào tay người khác thì mất thủ cấp rồi đó, nghe?
Trần Nhị cảm động, đón lấy gói bạc bọc lại cẩn thận, quỳ lạy tạ ơn anh em họ Chu.
Lam Y xua tay :
- Bất tất phải hành động như vậy, người có biết thắng ngựa không?
- Dạ, có. Con thạo nghề ấy lắm.
Lam Y gật đầu nói :
- Được lắm! Trong tầu có hai con Ô mã, Bạch Tuyết, vô dắt ra đây cho ta.
Trần Nhị vội vàng vào tầu dắt hai con tuấn mã ra.
- Được, để chúng đó. Trở vô trong tầu tìm yên cương thắng lấy con ngựa nào mà ngươi ưa nhất, lẹ tay lên!
Khi Trần Nhị đi khỏi, anh em Chu gia xem xét lại Ô mã, Bạch tuyết cẩn thận rồi thắng yên cương. Đoạn, đeo hành lý lên lưng, hai người bước ra sân quán thì đã thấy Trần Nhị dắt ngựa đứng đó rồi.
Chu Đức Kiệt bảo Trần Nhị :
- Vào tắt mấy ngọn đèn trong quán đi, lẹ lên.
Trần Nhị tuân lời vào nhà tắt đèn, nhưng vẫn nhớn nhác trông mấy tử thi nằm ngổn ngang ra vẻ sợ sệt vô cùng. Lúc trở ra, không quen nhìn tối, Trần Nhị vấp phải xác chết té nhào ra phía trước. Hoảng qua, Trần Nhị vội vàng trở dậy chạy ùa ra sân như kẻ bị ma đuổi.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Sao thế?
- Con vấp phải tử thi nên té nhào. Ghê quá!
Lam Y phì cười :
- Nào, bây giờ người hướng dẫn chúng ta tới sào huyệt của Xích Hoa Xà. Hay ngươi muốn lên đường ngay bây giờ cũng được.
- Dạ không! Con đi theo nhị vị, chừng nào trời sáng hẳn mới dám tự kỷ đi. Trời tối đi đường một mình, sợ lắm.
- Nào đi. Cho ngươi đi tiên phong.
Ba người cùng lên ngựa ra khỏi hắc điếm.
Trời tối như mực.
Sương rừng, khí núi bốc lên mờ mờ.
Gió lạnh phây phẩy thổi.
Trần Nhị rùng mình hắt hơi luôn mấy tiếng, thả lỏng dây cương mặc ngựa phóng theo con đường mờ mờ trắng đục trước mặt.
Trái lại, anh em Chu gia vận dụng cặp mắt luyện nhìn đêm nên phân biệt được mọi vật rất rõ ràng.
0
Hồi 19
Duyên gặp đạo sĩ, Đới Vĩnh Khang luyện võ thuật
Dong ruổi trên đường, kết duyên với Đổng thị
 
Ba con ngựa đang chạy nước kiệu trong sương mờ đêm tối, bỗng có tiếng vó ngựa phi từ phía trước tới. Chú Đức Kiệt và Lam Y vội bảo Trần Nhị rẽ theo vào núp sau mấy hốc đá lớn bên đường. Tiếng vó ngựa mỗi lúc một gần. Anh em Chu gia nhìn rõ hai người kỵ mã phi vùn vụt qua khúc đường đó tiến về lối làng Sơn Phu. Nghe ngóng giây lát không thấy gì lạ, ba người lại rẽ ngựa ra mặt đường nhắm sao huyệt của Xích Hoa Xà Đới Vĩnh Khang tiến. Không bao lâu, anh em Chu gia nhìn thấy ánh đèn lấp ló xa xa ở lề đường bên hữu.
Lam Y hỏi Trần Nhị :
- Sào huyệt họ Đới ở bên kia phải không?
- Có lẽ, vì từ Sơn Phu quán tới đây cũng được năm, sáu dặm đường rồi... Con chưa được đến đây lần nào cả.
- Thôi được, theo chúng ta vào đây.
Trần Nhị theo hai người vào trong khe núi cách lề đường bên tả độ vài chục trượng.
Chu Đức Kiệt, Lam Y xuống ngựa trao dây cương cho Trần Nhị :
- Ngươi cứ núp ở đây giữ ngựa, đừng sợ hãi chi cả. Lát nữa, chúng ta sẽ trở về đây tìm. Nghe không?
- Dạ, xin tuân lệnh. Nhị vị ân nhân bình tâm.
Như hai vệt đen, anh em họ Chu phi hành như biến vào trong đêm tối. Trần nhị chưa kịp nhận xét gì cả thì đã thấy hai người biến đâu mất rồi.
Hắn lắc đầu lè lưỡi.
Hai người này biến ảo như ma quỷ chẳng trách mẹ con chủ quán táng mạng vì tay họ.
Nghĩ tới ma quỷ, Trần Nhị cảm thấy rờn rợn giữa khu rừng núi vắng vẻ âm u này. Hắn nhìn quanh quẩn, mắt láo liên sợ hãi, muốn đi ra gần đường cho khỏi sợ, nhưng đã trót hứa với hai người nên cố gắng lấy sức, mím môi, nghiến răng, tay cầm chắc cây gậy, quay đi quay lại vài vòng để lấy lai can đảm. Quả nhiên, Trần Nhị thấy dễ chịu thiệt. Đởm lượng đã trở lại với hắn. Chống gậy xuống đất, hắn mỉm cười tự ngủ cho mình là nhát quá nên đâm bủn nhủn tứ chi chớ thiệt ra có gì đáng sợ đâu! À, chuyến này về quê nhà quyết mở ngôi hàng buôn bán rối tìm thầy học võ mới được! Có bản lãnh, tinh thần sẽ vững vàng hơn, chớ đâu có bỗng dưng lại run rẩy như vừa rồi? Nghĩ tới đây, Trần Nhị mỉm cười đắc chí. Bỗng mấy tiếng thở phì phì và tiếng đập vào đá cồm cộp. Hắn giật bắn người lên, hai hàm răng cũng theo đà run lập cập. Trần Nhị lấy gân, gồng người lên hoa gậy quay lại nhìn. Thì ra, nào có gì đâu! Ba con ngựa cột vào cụm cây gần đó thở phì và đập móng xuống đất...
Mồ hôi toát ra như tắm, nhưng Trần Nhị hết run rẩy, dễ chịu, lẩm bẩm một mình :
- Hừ! Được lắm! Nhất định chuyến này ta học võ cho mà coi!
Hắn ngồi xuống phiến đá nhỏ kế bên ba con ngựa, cây gậy để ngang trên đùi, nhưng thỉnh thoảng mắt vẫn láo liên nhìn mấy phiến đá lớn hay mấy cây to xù sì, lá rườm rà như mớ tóc quỷ rối, cành vươn lên khúc khuỷu chẳng khác chi những cánh tay khổng lồ đang vươn ra định vồ lấy hắn...
Nói về anh em Chu gia phi hành như gió, nhắm thẳng về phía có đóm lửa tiến tới. Thoạt nhìn từ xa, hai người tưởng như ánh lửa ấy ở ngay bên đường. Nhưng trái lại, lúc hai người tới ngang ánh lửa thì nhận ra có con đường mòn bên hữu dẫn đến một trang viện lầu các nguy nga xây dựng giữa một khu vừa sân vừa huê viên rộng rãi. Tường cao, hào sâu bao bọc xung quanh :
- Phía trong tường, trồng nhiều hàng cây lớn che gần khuất hẳn lầu các bên trong.
Lam Y nói với Chu Đức Kiệt :
- Hai tên kỵ mã gặp trên đường hồi nãy chắc là người của Đới Vĩnh Khang sai đến hắc điếm xem động tĩnh thế nào. Từ đây tới đó không xa mấy, lát nữa hai tên ấy trở về, nội vụ sẽ đổ bể, thêm khó bề hành động cho chúng ta.
- Hơn nữa, trời cũng không bao lâu nữa thì sáng để Trần Nhị nơi khe núi ấy kế cận nơi đây quá, e xảy ra chuyện chi chăng? Nơi trang viện lớn như vầy, do tay tên cường tặc điều khiển tất nội bọn phải đông, e trong lúc anh em ta hành động, chúng chạy tản mác ra mọi nơi, bắt gặp Trần Nhị thì hỏng cả.
- Hiền muội nói phải, ngu huynh cũng nghĩ vậy. Bây giờ cũng gần canh năm rồi, chi bằng chúng ta trở lại đón đường hai tên vừa rồi xét nếu là đồng đảng của Xích Hoa Xà Đới Vĩnh Khang thì hạ sát đi cho đỡ vây cánh. Đoạn cùng Trần Nhị đi trú tạm nơi nào quanh đây, chờ đêm tối này đủ thì giờ hành động, có lễ tiện lợi hơn.
Lam Y đồng ý.
Hai người phi hành trở lại lối cũ, lúc gần tới chỗ rẽ vào nơi Trần Nhị chờ, thì nhảy lên cành cây lớn bên đường ngồi chờ.
Lát sau, quả nhiên có tiếng vó ngựa phi vọng tới.
Anh em Chu gia sửa soạn hành động.
Nhưng chỉ có một người phi ngựa đến. Chu Đức Kiệt nói :
- Chắc tên kia ở lại điếm vì con Đới Ngọc Hoàn chưa chết. Muội mặc tên này cho ngu huynh.
Chờ tên nọ phi ngựa vừa tới phía dưới cành cây. Chu Đức Kiệt lao người xuống, gạt hắn té xuống ngựa.
Tên nọ còn đang bàng hoàng chưa hiểu việc chi cả thì một bàn tay sắt nắm lấy cổ tay hắn bẻ quẹo ra sau lưng.
- Biết điều đi vào bên đường, trái lời sẽ gãy tay bây giờ.
Tên nọ vội vàng tập tễnh đi theo sức đẩy của người đi phía sau. Có lẽ hắn bị té ngựa bị thương nên kêu đau đi không được lẹ.
Trong lúc Chu Đức Kiệt hành động, Lam Y cũng không bỏ phí thì giờ.
Tên nọ vừa té xuống ngựa, thì nàng đã từ cành cây phi thân xuống đất, chạy theo con ngựa đang phi nước đại, túm được đuôi kéo mạnh lấy đà phóng người qua mông ngựa ngồi lên yên rồi kéo cương ghìm ngựa đứng sững lại.
Lam Y cho ngựa quay lại chỗ Chu Đức Kiệt thì vừa lúc anh nàng đang chất vấn tên kia :
- Trong trang viện có bao nhiêu người?
Tên đó trù trừ không nói. Chu Đức Kiệt khẽ giật cánh tay khiến y kêu rống lên như heo bị chọc tiết.
- Nếu mi không chịu nói sẽ gãy tay.
- Tôi xin nói. Tất cả có hai mươi lăm người, thì ở Sơn Phu điếm đã bị chết trên mười người rồi.
- Trong trang viện có cơ quan không?
- Có!
- Sào huyệt thọ Đới lập ra lâu đời chưa?
- Lâu rồi, từ hồi chủ nhân tôi còn thiếu thời, tính đến nay được ngót ba mươi năm.
- Có những ai lui tới đó?
- Thỉnh thoảng có vài người bạn chủ nhân tôi tới chơi Xích Hoa viện.
- Hiện nay có ai không?
- Có hai người mới đến được vài bữa nay nên họ Đới bận thù tiếp không tới tửu điếm đêm nay được.
Thấy không cần hỏi chi thêm nữa, Chu Đức Kiệt đưa mắt nhìn Lam Y, Lam Y gật đầu, Chu Đức Kiệt nói :
- Hạng đạo tặc như mi chuyên giết người lương thiện, nay sợ vì đau mà phản chủ, để sống cũng vô ích!...
Tên đó sợ quá, hé môi định nói, thì Chu Đức Kiệt đã đưa hai ngón tay thọc trúng sau óc. Tên giặc không kịp kêu, gục đầu xuống chết hẳn.
- Bất tất phải liệng xác tên này vào núi làm chi. Cho nó về, nhân thể cảnh cáo tên giặc họ Đới luôn thể.
Nghe Chu Đức Kiệt nói, Lam Y nhảy xuống ngựa, Chu Đức Kiệt đặt xác tên giặc nằm vắt ngang lên lưng ngựa rồi buông cương.
Con ngựa quen đường về đi Xích Hoa viên...
Anh em họ Chu chạy về chỗ để ngựa, tới sau Trần Nhị đưa tay vỗ vào vai y.
Trần Nhị đang ngồi nghĩ cách sắp đặt tiệm hàng tương lai của y, một bàn tay bí mật vỗ lên vai y khiến giật nẩy người lên bổ nhào ra phía trước hoa gậy múa lung tung... đánh gió.
Chu Đức Kiệt, Lam Y phì cười :
- Kìa, Trần Nhị làm trò chi vậy.
Nhận ra tiếng ân nhân, Trần Nhị mới hoàn hồn, ngừng tay gậy lại bẽn lẽn :
- Con tưởng có giặc tới nên đánh.
- Để giặc... sờ vào vai mới giở võ đánh thì mất đầu rồi còn chi?.. Nè, gần đây có nơi nào khả dĩ tạm trú được qua ngày hôm nay không?
- Ủa! Nhị vị chưa vào sào huyệt bọn giặc sao?
- Chưa! Vì gần sáng rồi, hành động không tiện. Bữa nay phải nán lại quanh đây, tối sẽ đánh cũng không muộn.
- Từ đây về làng Sơn Phu, vào quãng giữa đường có một lối nhỏ dẫn vào lều của cha con người tiều phu... Nếu nhị vị không ngại chật hẹp thì con xin dẫn lộ tới đó.
- Độ bao nhiêu xa!
- Ước độ trên mười dặm mới tới lều. Từ lều ấy vào làng Sơn Phu dẫn đường tắt độ ba, bốn dặm đường.
- Hay lắm, người đi trước dẫn lộ, mau.
Ba người cùng lên ngựa, kiệu trở về lối cũ. Được nửa đường, Trần Nhị tìm đường mòn rẽ sang tay hữu.
Càng đi sâu vào, cây cối càng rậm rạp hơn. Anh em họ Chu chú ý nhận xét đường đi.
Trời tảng sáng, ba người tới chỗ chòi cỏ dựng giữa một khu có cây lớn, bóng lá âm u.
Hơi rừng trắng xóa bốc lên là là mặt đất tạt đi, tạt lại như khói.
Chòi vách phên tre, nóc cỏ có hàng hiên khá rộng, dựng trên nhiều khúc thân cây lớn...
Đánh hơi thấy lạ, con chó lớn lông dài màu vàng như màu lửa cháy đang nằm trong góc hiên, vụt trỗi dậy đứng ló đầu khỏi lỗ lan can sủa ầm ĩ.
Trần Nhị nhảy xuống ngựa, hút gió mấy cái gọi con chó ấy.
- À, con Hoàng Hỏa này không nhận ra người quen sao mà sủa hoài! Đi vô mau!
Trong chòi có tiếng vọng ra :
- Ai như tiếng A Nhì đó phải không?
Trần Nhị nói lớn :
- Kính chào Củng lão, A Nhì tới thăm đây. Gớm, sáng nay lạnh quá!
Một lão hán tuổi trạc sáu mươi, da dẻ hồng hào vóc dáng nở nang khỏe mạnh dưới lần áo nỉ, từ trong lều bước ra.
Lão hán hơi ngạc nhiên khi thấy Trần Nhị cùng đi với hai người lạ mặt. Anh em Chu gia nhảy xuống ngựa khoanh tay thi lễ. Lão hán chào lại, khiêm tốn...
Trần Nhị giới thiệu :
- Đây là nhị vị hiệp khách qua khu vực này trọ ngoài Sơn Phu tửu điếm vô đây có việc nhờ lão hán. Và đây là Củng lão, tục danh Thuận, chuyên ở trong khu Đại lâm này đã lâu năm.
Củng Thuận vội vàng xuống thang chòi ân cần mời :
- Xin mời quý vị lên chòi có lửa sưởi ấm. Ngoài trời, sáng nay sương mù lạnh quá chừng!
Anh em họ Chu và Trần Nhị cột ngựa vào gốc cây nhỏ gần đó rồi trèo thang tre lên sàn chòi.
Con Hoàng Hỏa cứ chĩa ra phía ba con ngựa sủa mãi. Củng Thuận phải lên tiếng nó mới chịu vào nằm im trong góc hiên.
Trần Nhị hỏi :
- Nhất Lang đâu? Sớm thế này đã vô rừng rồi sao? Chăm quá nhỉ.
Củng Thuận đáp :
- Không phải! Thằng A Hoành nhà tôi vừa nhóm lửa sàn xong. Có lẽ nó đang đun nước phía sau.
Nói đoạn, Củng Thuận gọi lớn :
- Nhất Lang ơi, A Nhì đến chơi đây nè.
Một chàng trai vạm vỡ trạc hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi da bánh mật phía cửa trong bước ra, thấy hai người lạ liền khoanh tay vái chào.
Củng lão bảo con :
- Đây là nhị vị hiệp khách có việc qua khu này, con pha trà uống cho ấm đi.
Củng Hoành giương cặp mắt đen láy nhìn thấy anh em Chu gia dùng dũng, oai vệ, tướng mạo phi phàm trong bộ võ phục, trên lưng đeo hai cây đao kiếm càng làm nổi bật hẳn tư cách giang hồ mã thượng, thì có ý rất cảm phục.
- Thưa phụ thân, trà nước sẵn sàng rồi để con vào bưng ra.
A Nhì cùng theo A Hoành vào bếp.
Củng lão kéo mấy chiếc ghế tre thô sơ tới kế bên lò lửa đắp ngay trên sàn, mời ngồi. Anh em Chu gia cảm ơn, theo hành lý và khí giới, để dựa vào một góc phên, rồi kéo ghế ngồi giơ tay sưởi.
Lò lửa đây là thứ đất sét đắp theo hình tròn lớn bằng mặt thôi. Một cành cây lớn một đầu gác vào giữa lò đang âm ỉ cháy đã thành than. Như vậy, tàn than rụng xuống mặt lò, người trong nhà chỉ có việc đẩy lần lần khúc cây vào giữa lò cho tới khi nào cháy hết. Một cành cây lớn và dài tới một trượng có thể xài được trong vài ngày. Trong nhà có lửa suốt ngày đêm thành thử lúc nào cũng âm ấm dễ chịu tuy ngoài trời lạnh.
Củng Hoành bưng khai trà lên. Trần Nhị bê khúc cây tròn thay bàn tới bên lò lửa để đặt khai trà. Củng Thuận rót nước mời anh em Chu gia, Trần Nhị tự mình rót hai ly, đưa cho Củng Hoành một ly.
Lam Y đưa mắt nhìn khắp căn nhà sàn thấy khá rộng rãi, ngăn nắp. Giường ghế toàn bằng tre già, bàn là những khúc cây tròn đều đặn mặt bào nhẵn. Từ đồ đạc đến xà ngang, xà dọc trên mái lợp lá đều lên nước đỏ thẫm bóng loáng. Trần Nhị kể chuyện đánh hắc điếm đêm rồi cho cha con họ Củng nghe. Nghe đến đâu, hai cha con tươi hẳn nét mặt lên tới đó. Khi Trần Nhị đã kể rõ mọi sự., Củng Thuận đứng lên vái anh em Chu gia :
- Nhị vị hiệp khách đã cứu sống lại toàn thể dân chúng khu vực này. Đã bao năm nay, họ Đới hoành hành tại đây, nhưng làng Sơn Phu là nơi hẻo lánh, dân chúng chẳng biết trông cậy vào đâu nên đành nhắm mắt làm ngơ trước những hành động phi pháp bất nhân của bọn tặc đạo ấy. Hơn nữa, chúng khá đông vây cánh nhiều, tên nào cũng có võ nghệ nhất là hai vợ chồng họ Đới và đưa con gái Ngọc Hoàn.
Chu Đức Kiệt đỡ Củng Thuận ngồi xuống :
- Cứu khổ phò nguy, giúp đỡ người hèn yếu là thiên chức của bọn giang hồ du hiệp chúng tôi, lão trượng bất tất phải nói tới ơn huệ làm chi khiến anh em tôi khó nghĩ vô cùng. Bữa nay tới đây phiền toái lão trượng qua ngày hôm nay, chờ tối đến để hành động dò thám trang viện của Đới tặc, mai lại lên đường đi Kim Lăng...
Nơi đây rất u tĩnh, ít khi có người lạ tới quấy nhiễu, xin nhị vị hiệp khách tự nhiên, nếu cần ở lại nhiều ngày cũng không hề chi. Cha con tôi ở trong khu Đại Lâm này đã lâu, chuyên nghề kiếm củi và săn bắn vừa sẵn có ở vườn sau, thịt săn phơi sẵn không hiếm, rượu nhà cũng cất lấy. Thằng A Hoành khéo lắm làm đủ mọi việc... A, để tôi bảo cháu nấu cháo nướng thịt nai nhị vị điểm tâm...
Chu Đức Kiệt nói :
- Được lão trượng quý mến, anh em tôi rất đỗi cảm kích. Nay muốn nhờ lệnh lang ra làng Sơn Phu mua vài thứ vặt vãnh và nhân dịp dò thám tình hình hắc điếm thế nào.
Củng Hoành nói ngay :
- Nhị vị cứ việc sai khiến, tôi ra chợ làng luôn thể.
Trần Nhị cũng nói xen vào :
- Củng đại ca cứ yên trí ra đi, tôi sẽ thay đại ca làm việc ở nhà để bá phụ rảnh tay thù tiếp nhị vị hiệp khách đây.
Củng Hoành đứng dậy lấy chiếc áo lạnh mặc vào và đeo chiếc giỏ mây lên.
Chu Đức Kiệt móc túi lấy năm lượng bạc đưa cho Củng Thuận :
- Lão trượng vui lòng nhận ít tiền đây chi dùng. Lòng thành thực, xin chớ nghĩ xa gần.
- Nhị vị sẵn lòng giúp đỡ nhà nghèo, chúng tôi đâu dám chối từ, nhưng quả thiệt là cho nhiều quá.
- Không sao, lão trượng cứ vui lòng nhận bạc.
Củng lão nhận năm lượng bạc đem cất vào trong nhà...
Chu Đức Kiệt lại đưa cho Củng Hoành ít nhiều tiền lẻ :
- Củng huynh tự tiện mua mây thứ cần về làm rượu uống chơi, Còn việc do thám hắc điếm, tôi chắc Củng huynh có sự tính rồi?
- Dạ, nhị vị an tâm, lát nữa trở về chắc có tin rõ ràng về quán Sơn Phu.
Dứt lời, Củng Hoành bước ra khỏi nhà.
Trần Nhị cũng đứng lên vào bếp.
Củng Thuận nói :
- Cháu biết các thứ ở đâu rồi chứ?
- Dạ, cháu quen rồi, bá phụ an tâm.
Lát sau, Trần Nhị bưng lên hai chậu nước nóng, mời anh em Chu gia rửa mặt, Chu Đức Kiệt và Lam Y rửa mặt xong, bước vào phía trong nhìn quanh. Bếp núc gọn gàng. Đứng trên lan can hàng hiên trông xuống khu vườn nhỏ trồng đủ mấy thứ rau cần thiết. Giữa vườn, có chuồng gà cao ráo sạch sẽ. Kế bên khu vườn là một căn nhà trống nền đất cao, để những khúc cây lớn đã khô và nhiều bó củi chẻ sẵn.
Sau khi đã đặt nồi cháo lên bếp, Trần Nhị dắt ba con ngựa vào sân nhà đó tháo yên cương, lấy nước ở suối nhỏ gần đó cho ngựa uống và lấy cỏ khô cho ăn. Lam Y khen cha con họ Củng ngăn nắp lạ thường.
Trần Nhị cho ngựa ăn xong quay lên nhà thấy hai người đang tựa lan can bèn nói :
- Con đã đem sẵn nồi nước nóng lớn để nhị vị tắm cho sảng khoái. Suốt ngày hôm qua đi đường, tới đêm lại chiến đấu không ngủ, dùng điểm tâm xong, nhị vị nên tắm táp nghỉ ngơi kẻo mệt. Đêm nay cần dùng sức nhiều.
Chu Đức Kiệt mỉm cười, im lặng.
Mùi thịt nai nướng trên bếp thơm phức. Củng lão sửa soạn mâm bát xong rót một bình rượu và mấy chiếc Lam Y bày trên nhà trên. Lát sau, Trần Nhị bưng nồi cháo bốc khói nghi ngút lên nhà, múc cháo ra bát.
Củng Thuận mời :
- Xin mời nhị vị dùng điểm tâm và chút ít rượu nhà cất cho ấm bụng.
Đêm qua ăn ít, anh em Chu gia thấy đói bụng liền và vào ăn uống rất tự nhiên. Rượu nhà cất lấy men nồng thơm phức, thịt nai khô nướng vàng chấm tiêu muối lạ miệng, hai anh em Chu gia ăn ăn, uống uống như hùm đói. Củng Thuận ngồi tiếp, Trần Nhị ngồi kế bên cùng ăn.
Ăn một chặp no lòng, Chu Đức Kiệt buông chén muỗng :
- Ngon quá! Thịt rượu thơm ngon đặc biệt. Cháo ngọt vô cùng. Củng lão ở đây chẳng khác chi tu tiên vậy.
- Dạ, ở đây được các thú rừng thường về, hươu nai, thỏ, cầy đủ cả. Hôm rồi có dấu chân báo về quanh đây rồi lại dông mất.
- Lão trượng săn bằng tên thường hay có tẩm thuốc?
- Cả hai thứ. Tên thuốc dùng bắn thú lớn.
Củng Thuận với hai cây cung treo trên vách phên đưa cho anh em Chu gia coi.
Lam Y giương thử :
- Lão trượng sức còn mạnh lắm. Cây cung này có sức một trăm cân?
Củng Thuận gật đầu :
- Nữ hiệp dạy đúng lắm. Sức mạnh cây cung này quả đúng một tạ.
- Cây cung của thằng cháu A Hoành một tạ rưỡi. Ơn trời ban cho cha con tôi sức khỏe, nếu không, ở trong rừng cũng vất vả lắm.
Chuyện vãn hồi lâu, anh em Chu gia thay phiên nhau đi tắm, thay y phục mới.
Củng lão và Trần Nhị trải giường tre để hai người nghỉ. Lúc Lam Y ở suối giặt quần áo trở về thì Chu Đức Kiệt đã thiêm thiếp ngủ say. Nàng cũng leo lên giường bên ngủ lấy sức.
Ngoài trời, sương mù lần lần tan dưới ánh thái dương. Tuy vậy tiết trời vẫn lạnh hơn mọi ngày.
Trần Nhị đẩy lùi cành cây vào giữa lò, than bốc nổ lách tách. Đúng Ngọ thì Củng Hoành đeo rọ đựng đầy thức ăn mua ở chợ Sơn Phu trở về. Củng lão đón sẵn ở hàng hiên ra hiệu cho con biết là hai người khách đang ngủ ở sau rèm. Củng Hoành nhón nhén vào nhà đi thẳng tuốt xuống bếp, lấy các thứ trong rọ ra, rồi cùng Trần Nhị sửa soạn cơm, rượu. Trần Nhị nóng ruột muốn hỏi thăm tin tức nhưng thấy Củng Hoàng không nói, có vẻ chờ anh em họ Chu, thì cũng đành nén lòng chờ theo.
Đến cuối giờ mùi, anh em Chu gia mới tỉnh giấc.
Chu Đức Kiệt nói với Củng Thuận :
- Mấy hôm hành trình mệt nhọc, đêm qua lại không được nghỉ ngơi thành thử bữa nay ngủ say, bê đi cũng không biết trời đất là chi nữa.
Củng Thuận cười :
- Giá chúng tôi cứ trói nhị vị lại đem nộp cho Đới Vĩnh Khang thì có được thưởng nhiều tiền không!
- Đâu có! Bọn giang hồ chúng tôi còn kiêm cả môn tâm lý nữa chớ!... A Hoành đã về rồi có lượm được tin tức gì không?
Nghe tiếng Chu Đức Kiệt gọi, Củng Hoành bảo Trần Nhị :
- Có muốn nghe chuyện thì ra ngoài nhà.
Nói đoạn, Củng Hoành bước ra khỏi bếp. Trần Nhị theo sau bưng ấm trà nóng mới pha.
Mọi người quay vào ngồi uống nước ở quanh lò lửa.
Củng Hoành bắt đầu kể chuyện :
- Từ nhà, tôi đến quán Sơn Phu trước, đi đường trong chớ không đi đường cái. Cũng vì trời lạnh và hãy còn sớm nên không có ai qua lại trên đường trước cổng quán.
Tôi bèn đi vòng qua khu núi trước mặt tửu quán núp trong bụi rậm quan sát, Vừa lúc ấy có hai chiếc xe ngựa từ phía Xích Hoa viện đi tới vào thẳng trong sân quán.
Đới Vĩnh Khang và hai người lạ mặt, một đàn ông trạc ngoại tứ tuần dáng người dong dỏng râu ba chồm, một nữa là lão phụ tóc bạc như cước lanh lẹ khỏe mạnh, từ chiếc xe đầu nhảy xuống. Xe thứ hai chở mấy tên bộ hạ.
Có một tên ở trong quán ra đón. Bọn người đều vội vàng vào cả bên trong. Hồi lâu, bọn thủ hạ vác những bọc lớn, mà tôi đoán là vác bọn tặc đạo bị tử thương đêm qua, ra để vào trong xe thứ hai.
Chính tay Đới tặc bê một bọc nữa đặt vào trong xe thứ nhất.
Bọn chúng thắng ngựa vào chiếc xe khác vẫn để ở góc cây trong sân từ trước. Đoạn lão phụ tóc bạc bế một người ra đặt vào xe. Đó là Hoa cô nương Đới Ngọc Hoàn.
Xong xuôi, cả ba xe đó đi ngay về phía Xích Hoa viện. Đới tặc và hai người lạ ấy cầm cương ba xe ngựa.
Một số thủ hạ ở lại khép cổng quán và cửa quán bên trong lại.
Tôi chờ hồi lâu không thấy động tĩnh chi nữa nên lén đi vòng ra lối đường cái, tới thẳng cổng quán gọi :
- Có ai trong quán không? Không bán hàng hay sao mà đóng cổng thế này?
Một lúc sau, có một tên vẫn làm tửu bảo mở cửa ló đầu ra nhịn. Y thấy tôi bèn nói :
- À, A Hoành phải không? Củi còn nhiều, chưa cần vội. Mười hôm nữa sẽ đến nhé!
- Không phải! Rét quá nên tôi muốn mua ít rượu uống cho ấm người.
- Mua rượu hả? Này, tớ nói thiệt, bữa nay có việc nên nghỉ, quán không bán hàng, vui lòng vào trong làng mà mua, Đành để bữa khác vậy nhé.
Tôi giả đò lẵng nhẵng :
- Đóng cửa thì đóng, việc bán rượu cứ bán chớ. Có hại gì đâu! Này, tớ chỉ ưa dùng thứ rượu lâu năm của đằng ấy thôi. Có bán cho tớ nửa cân nào!
Nói đoạn, tôi thò tay làm ra vẻ mở cổng để vào. Tên tửu bảo cau mặt :
- Tớ đã nói là bận, không bán hàng. Đằng ấy cứ lằng nhằng thế này, lỡ chủ nhân tớ hay thì bị quở mắng đó. Vô trong làng mua tạm uống. Chuyến sau mua một cân, tớ biếu đằng ấy một cân là hai.
Biết là chúng không muốn cho tôi vào, có lẽ vì phải dọn dẹp lau chùi các vết tích cuộc chiến đấu đêm qua và hủy những tang vật về lò làm thịt người nên đồng bọn cùng ở cả dưới hầm, chỉ riêng tên tửu bảo này canh chừng ở trên thôi, tôi bèn trở gót.
Nhớ nhé! Chuyến sau phải bán một thành hai, nghe chưa?
Tên tửu bảo vẫy tay chào, rồi thụt vào trong nhà đóng cửa lại.
Còn tôi quảy rọ đi vào làng Sơn Phu.
Củng Hoành kể một hơi, châm thêm nước sôi vào bình trà.
Lam Y hỏi :
- Làng Sơn Phu có ai hay về vụ này chưa?
Củng Hoành lắc đầu :
- Dạ chưa. Ra chợ mua bán, lang thang nghe ngóng, tuyệt nhiên không nghe thấy bàn tán chi cả. Trong lúc bình thường, dân làng Sơn Phu cũng không hay ra lối tửu quán vì không ưa bọn họ Đới.
Chu Đức Kiệt nhìn Lam Y :
- Ngu huynh đoán thế này. Khi Đới tặc thấy ngựa đem xác bộ hạ của y về trang viện sáng nay, biết là có biến nên cấp tốc phi tới hắc điếm xem sao. Sau đó, y mới cho người về trang viện lấy xe ngựa chở xác các bộ hạ đi tiêu hủy, đem xác Mẫu dạ xoa và Đới Ngọc Hoàn về trang viện chôn cất và chữa thuốc bó chân bị gãy. Một mặt, y sai người dọn dẹp trong tửu quán, bôi xóa hết các vết tích, hòng sau này lại tái lập cửa tiệm như thường...
Lam Y tiếp :
- ... Vì Xích Hoa Xà yên trí rằng bọn ta đã đi thẳng sau trận chiến đêm qua?
Chu Đức Kiệt lắc đầu :
- Không đâu! Hiền muội quên rằng tên giặc mà ngu huynh không giết, nhưng chỉ lao đầu vào cái sọt bầy nhầy máu người ở trong lò làm thịt người sao? Chính tên đó đã khai ra trang viện. Mà Đới Vĩnh Khang không thấy chúng ta tới đó, tất y phải tự vấn và ngạc nhiên!... Còn việc y cho dọn dẹp hắc điếm chỉ cốt ý che mắt mọi người đó thôi.
- Kết luận, theo ý hiền huynh thì y phòng bị chờ bọn ta tới tìm y ở Xích Hoa viện?
- Đúng thế! Nếu chúng ta là họ Đới thì cũng hành động như vậy.
Lam Y suy nghĩ giây lát rồi bảo A Hoành :
- Củng đại ca cho ăn chớ? Ăn bây giờ tối đến hành động đỡ nặng nề.
Củng Hoành đáp :
- Thưa nữ hiệp, cơm nước sửa soạn xong cả rồi, chỉ có việc dọn lên là ăn thôi.
Dứt lời, Củng Hoành, Trần Nhị cùng đứng lên xuống bếp dọn cơm.
Lam Y lo lắng nói riêng với Chu Đức Kiệt :
- Hiền huynh à, ngu muội chỉ lo chúng hạ sát hay làm ô uế mất vợ chồng thanh niên mới bị bắt hôm rồi. Lại còn cha con người phu xa nữa!... Tiếc quá! Tiếc quá! Không hành động kịp sáng nay.
Chu Đức Kiệt ngẫm nghĩ đáp :
- Chắc Đới tặc chưa có thì giờ nghĩ tới bọn ấy đâu. Đêm qua, y bận có khách và chờ có kết quả cuộc bắt chúng ta ở hắc điếm hai người, mà sáng hôm nay A Hoành trông thấy đi cùng với họ Đới chắc là hai người khách của y đó.
Cơm rượu xong, Trần Nhị và A Hoành xuống nhà dưới trong nom mấy con ngựa. Anh em Chu gia ngồi chuyện vãn cùng Củng lão quanh bếp lửa.
Trời lạnh nên tối lẹ lắm. Gió thổi vi vu từng đợt qua rừng Đại lâm, thỉnh thoảng rít lên như tiếng quỷ giận ma hờn. Mây xám từ đâu kéo đến che lấp cả bầu trời.
Lam Y bước ra mái hiên nhìn quanh :
- Có lẽ trời mưa chăng?
Củng lão thổi mồi lửa giấy, rít một hơi thuốc lào nhả khói, khoan khoái :
- Năm nào cũng vậy, cứ tháng này thường có nhiều ngày lạnh bất ngờ, gió thổi, mây che nhưng không mưa. Đêm tối như mực không có trăng sao... Rất tiện cho anh em tôi nhập Xích Hoa viện đêm nay.
- Nhị vị có nhớ đường ra không? Nếu cần, tôi sẽ cho A Hoành dẫn đường.
- Nhớ chứ! Xin khỏi phiền. Làm rộn Củng lão thế này là quá nhiều rồi.
* * * * *
Đới Vĩnh Khang vốn người gốc tại Linh Viễn phủ thuộc miền Nam tỉnh Tứ Xuyên. Y có sức khỏe, tánh tình tàn bạo ngay từ lúc còn nhỏ.
Năm mười bốn tuổi, y theo hầu một đạo sĩ hình dung cổ quái tóc vàng như râu ngô. Không rõ tục danh đạo sĩ đó là chi, nhưng thường đi lại khu vực Linh Viễn nên ai cũng gọi là Hoàng Mao đạo sĩ. Hoàng Mao thấy Đới Vĩnh Khang còn ít tuổi mà đã có dũng lực, chăm chỉ nên rất mến cho theo hầu.
Một hôm, đạo sĩ bảo Đới Vĩnh Khang :
- Ta sắp bỏ xứ này, xuống Vân Nam du ngoạn, chắc người chẳng muốn đi theo, vậy cầm ít tiền đây, chừng nào ta qua đây, sẽ tìm ngươi.
Đới Vĩnh Khang quỳ lạy nói :
- Bẩm lạy sư phụ, con tứ cố vô thân từ năm còn nhỏ dại, chẳng biết cha mẹ là ai nữa. Hiện ở nhờ một người chú họ xa, vậy sư phụ có lên đường, con nguyền quyết tâm theo, dầu góc biến chân trời cũng không hề quản ngại, sư phụ đừng bỏ con tội nghiệp.
Đạo sĩ nhìn thẳng vào mặt Đới Vĩnh Khang hồi lâu :
- Thiệt vậy không?
- Bẩm thiệt, con đã quyết tâm rồi.
Hoàng Mao mỉm cười gật đầu, bảo Đới Vĩnh Khang đứng dậy :
- Được lắm, ta ưng thuận cho người theo. Mọi sự nhất nhất phải tuân theo lời ta nghe không?
- Dạ, không bao giờ con dám trái.
Từ đó, hai thầy trò Hoàng Mao cất gánh lên đường, qua toàn vùng núi non hiểm trở, rừng cây rậm rạp nhắm hướng Tây nam thẳng tiến.
Trên đường du hành, giặc cướp lục lâm đại đạo nhan nhản, nhưng hoặc tránh hoặc đánh, Hoàng Mao đạo sĩ trổ bản lãnh khiến nhiều bọn cường đạo phải khiếp sợ. Đới Vĩnh Khang thấy sư phụ bản lãnh cao cường thì cảm phục vô cùng.
Một hôm, Hoàng Mao hỏi :
- Vĩnh Khang, con có muốn học võ nghệ không?
Đới Vĩnh Khang chỉ mong có thế, được lời như cởi tấm lòng bèn quỳ xuống lạy :
- Xin sư phụ nhận cho con mấy lễ bái sư này.
Hoàng Mao đỡ Đới Vĩnh Khang dậy và từ đó bắt đầu truyền dạy võ nghệ cho y. Hoàng Mao đến thẳng am Quan Âm tìm bạn là Chương Dương đạo sĩ, Am Quan Âm rất rộng rãi ở sát Tây môn dưới nhiều chặng đa cổ thụ cành lá rườm rà che kín cả một vùng rộng lớn.
Lúc hai thầy trò Hoàng Mao tới nơi thì trời đã xế chiều. Cửa am đóng kín.
Hoàng Mao gõ cửa :
- Mở cửa cho tôi với.
Tiếng chân lẹ làng bên trong bước ra mở then cửa, cánh cửa từ từ hé ra.
Một đạo đồng tóc gọt trái đào bước tới vái chào :
- Thưa sư phụ gọi cửa có việc chi?
- Chương Dương đạo hữu có nhà không?
Tiểu đồng nhanh nhẩu đáp :
- Dạ, sư phụ con vào trong dinh quan Tổng đốc từ trưa, có lẽ cũng sắp về. Mời sư phụ vào am.
Hai thầy trò Hoàng Mao bước vào, theo đạo đồng lên điện ngồi chờ. Đạo đồng pha nước trà bưng lên. Đới Vĩnh Khang đặt bọc hành lý xuống bục đá, nhìn đây đó.
Trên khuôn cửa vòng ở giữa điện, một tấm lớn sơn son thếp vàng đề ba chữ đại tự khắc kiểu triện vuông vắn cực lớn:
“Quan Âm Am”. Trên bục đá ở bên trong cửa võng sừng sững một pho tượng Quan Âm chạm khắc rất tinh xảo, cao tới ngót hai trượng.
Thấy Đới Vĩnh Khang ngơ ngác nhìn. Hoàng Mao mỉm cười bảo :
- Con nên theo đạo đồng đi xem địa thế am này... Thầy trò ta nán lại đây còn lâu.
Đạo đồng nghe vậy bèn rủ họ Đới ra ngoài cửa điện đi thăm hết mọi chỗ trong am.
Gần tối hôm ấy Chương Dương đạo sĩ mới về, thấy Hoàng Mao thì tay bắt mặt mừng :
- Đạo huynh tới lâu chưa? Sao không vào phòng thay áo nghỉ ngơi cho đỡ mệt sau cuộc hành trình vạn dặm?
- Chờ chốc lát không hề chi. Đạo hữu đi đâu về trễ vậy?
- Quan Tổng đốc mời vào uống rượu hầu chuyện người. Từ tạ hai ba lượt bây giờ mới được về.
Hoàng Mao chỉ Đới Vĩnh Khang nói :
- Đồ đệ của tôi đây... Ra lạy sư thúc đi con.
Đới Vĩnh Khang vội bước tới trước mặt Chương Dương lạy ra mắt và kêu là sư thúc.
Nguyên Hoàng Mao và Chương Dương là bạn đồng môn. Về sau, Chương Dương kế vị sư phụ ở lại Quan Âm am. Còn Hoàng Mao hay du hành đây đó, thỉnh thoảng bất thần về chơi. Chuyến này Hoàng Mao đi quá lâu, Chương Dương thâu đạo đồng mới nên đạo đồng không biết mặt Hoàng Mao.
Hai vợ chồng ông già vừa nấu bếp vừa làm việc vặt trong am, nghe nói Hoàng Mao đã trở về, cùng dắt nhau lên chào.
Chương Dương nói :
- Căn phòng riêng của đạo huynh vẫn để như cũ, không có gì thay đổi cả. Mới vắng mặt có mấy năm mà đạo huynh về am nhà như một người lạ vậy!
Hoàng Mao mỉm cười không nói gì, vẫy Đới Vĩnh Khang bảo vác gói hành lý sân sau xuống căn nhà ngang về phòng riêng. Từ đó trở đi, Hoàng Mao ở liền trong am truyền võ nghệ cho họ Đới, không đi đâu xa nữa, trừ vài lần đi chơi quanh vùng thì lại cho Đới Vĩnh Khang theo hầu. Họ Đới luyện tập rất tấn tới nhờ sức khỏe sẵn. Thập bát ban võ nghệ thứ nào cũng thạo, càng lớn tánh tình càng nóng nảy và ngả về hung ác.
Năm năm sau, Đới Vĩnh Khang vừa đúng hai mươi tuổi, chiều cao chưa đầy bốn thước, nhưng rất đỗi to ngang, toàn thân mình mẩy vần đỏ, vai u, ngực lớn, bắp thịt nổi cuồn cuộn chẳng khác chi thừng chão.
Sư phụ Hoàng Mao và sư thúc Chương Dương rất mực khen họ Đới có sức vô địch, nhưng rất ngại về tánh nóng nảy hung hãn của y.
Trong thời kỳ Đới Vĩnh Khang học tập tại Am Quan Âm thì Chương Dương đạo sĩ cũng truyền dạy võ nghệ cho đạo đồng là Lưu Tuấn và một đồ đệ nhỏ tuổi hơn Lư Tuấn là Hứa Khải Liêm.
Một hôm, Hoàng Mao bảo họ Đới :
- Tài học bình sanh của ta, con đã nhận hết rồi. Hơn nữa, đến tuổi trưởng thành, thiết tưởng con chẳng nên lưu luyến ở lại nơi đây mai một chí anh hùng. Ta khuyên con nên lên đường về cõi Giang Nam, đất rộng người nhiều dễ bề tiến thủ sau này ta cũng được thơm lây. Con nghe chưa?
Bề ngoài tuy vâng dạ nhưng Đới Vĩnh Khang thấp thỏm mừng thầm, sẵn có tài nghệ trong tay, được thoát ly khỏi nơi khổ ải này sớm chừng nào hay chừng ấy, tự ý chọc trời khuấy nước muốn làm chi thì làm không ai ngăn cản. Hoàng Mao cho đồ đệ một cây đơn đao, một túi tiền ăn đường và may thêm y phục cho. Vài bữa sau, Đới Vĩnh Khang từ biệt thầy và mọi người ra khỏi Côn Minh phủ theo đường về Tứ Xuyên. Là trai mới lớn lên đầy nhựa sống, Đới Vĩnh Khang cảm thấy ham muốn nhiều thứ sau nhiều năm chịu kham khổ theo hầu Hoàng Mao.
Trên đường về Tứ Xuyên, mỗi khi qua làng mạc hay thị trấn nào Đới Vĩnh Khang cũng rẽ vào quán rượu nhậu nhẹt say sưa và tìm những thú vui xác thịt với bọn đào nương ca kỹ. Thành thử số tiền sư phụ cho làm lộ phí đi mới được nửa đường đã cạn nhẵn.
Nhịn đói hơn một ngày trời, chiều hôm ấy, họ Đới vừa tới làng Thọ An trù mật, dân cư người nào cũng có vẻ giàu có, nhà ngói tường hoa. Tiếng gọi là làng nhưng cũng có phố xá buôn bán tấp nập chẳng kém chi một trấn nhỏ giữa một khu rừng xanh thăm thẳm, núi đá nhấp nhô. Bụng đói, dạ khát, Đới Vĩnh Khang chưa biết tính thế nào, thì đi tới khúc đường có mấy tửu điếm khách hàng đông đúc kẻ ăn người uống tấp nập. Liếc nhìn, Đới Vĩnh Khang nước miếng trào ra miệng, càng cảm thấy đói cồn cào. Vừa đi vừa suy tính, Đới Vĩnh Khang rẽ sang tay hữu, đi một quãng nữa thì chợt nghe tiếng ai cười lanh lảnh. Giựt mình, ngước mắt nhìn, thấy ở trên lầu căn nhà lớn kế bên đường, một thiếu phụ tì tay trên cửa sổ xây cuốn đang xây mặt vào trong nhà cười :
- Làn tóc mây đen láng tựa huyền là nổi bật làn da trắng mát như mỡ đọng, đôi vai nàng rung lên vì tiếng cười...
Đới Vĩnh Khang đứng sững lại mê mẩn nhìn quên cả đói. Thiếu phụ chợt quay mặt ra đường thấy một người ngũ đoản vai rộng ngực lớn, sắc mặt vẫn đỏ dỡ tợn đang giương đôi mắt trố ra nhìn một cách thèm thuồng...
Thiếu phụ đỏ mặt buông rèm cửa, quay ngoắt đi vào.
Chao ôi! Con người đâu mà đẹp tuyệt, chẳng khác chi tiên nữ giáng trần! Mái tóc huyền tết lững lờ sao mà hợp với khuôn mặt trái xoan thế! Đới Vĩnh Khang nuốt nước miếng đánh ực lần này không phải vì đói cơm, nhưng vì thèm muốn cái vưu vật vừa buông rèm xuống kia. Khẽ gật đầu, họ Đới chợt nghĩ ra một điều khiến chàng mỉm cười quên cả đói. Nhìn trước nhìn sau, chàng nhận đường rồi thẳng ra phía cuối làng tìm nói cây cối rậm rạp, phi thân lên một cành lớn, cởi hành lý, ngả lưng vào thân cây nghỉ ngơi, thiêm thiếp ngủ.
Lúc tỉnh dậy, Đới Vĩnh Khang đeo hành lý, nhảy xuống đất ngó quanh. Khuya rồi, trời tối như mực, bốn bề vắng ngắt, xa xa tiếng chó sủa từng hồi. Tuy đói lắm, nhưng Đới Vĩnh Khang còn thừa sức khỏe, phi hành trở về khu phố lúc ban chiều.
Nhà nào cũng cửa đóng then cài kín mít. Nhẹ nhàng như bóng ma, phi thân lên mái nhà, Đới Vĩnh Khang nhìn sao đêm lờ mờ ước lúc này độ canh ba, thì quả nhiên tiếng trống canh ba ở đầu làng vừa vặn điểm hồi. Lần tới mấy tửu điếm, chàng ngó xuống sân vắng vẻ. Nằm áp xuống mái, Đới Vĩnh Khang nhẹ tay giở viên ngói nhìn xuống. Trong nhà leo lét ngọn đèn dầu, tiếng người ngủ say thở phì phò nghe rõ mồn một. Lấp viên ngói lại như cũ, Đới Vĩnh Khang nhảy xuống sân áp lưng vào tường nghe ngóng. Yên lặng. Lần vào nhà trong mà chàng đoán là căn bếp, một người đắp mền nằm trên tấm phản, quay mặt vào tường ngủ say. Trong cùng là bếp, ánh lửa ủ nhẹ bốc. Trên bếp kê một cái quả hấp lớn.
Không một tiếng động nhỏ, Đới Vĩnh Khang nhón nhén bước tới mở nắp quả hấp, thấy bên trong để toàn bánh bao.
Mừng quá, chàng cởi khăn quàng cổ bọc luôn mười mấy chiếc bánh nóng hổi, đậy nắp quả hấp lại, đi ra. Lúc bấy giờ mới chợt nhìn thấy trên chiếc ngăn đóng ngang trên tường bày nhiều chai lọ.
Chọn lấy một chai nhắc xuống. Đới Vĩnh Khang ngửi qua mỉm cười, bỏ liền vào bọc bánh, bước thẳng ra ngoài sân, phi thân trên nóc nhà chuyền ra đầu đường ngồi cheo leo trên cao, lấy chai ra tu một hơi dài.
Chà! Rượu ngon thơm thiệt!
Đới Vĩnh Khang lấy bánh ra ngốn một hồi như hùm, hết nhẵn.
Liệng chai rỗng đi một nơi, họ Đới võ bụng thỏa mãn. Nhảy xuống đường, Đới Vĩnh Khang lần đến căn nhà có thiếu phụ cười lúc ban chiều, chàng phi thân lên mặt tường, từ tường lên nóc rồi nhón nhén vào phía trong nằm áp xuống mái quan sát hồi lâu.
Ngay dưới mái có hai lớp hành lang chạy dọc và chạy xuôi. Đới Vĩnh Khang trở lại đầu nhà rút ngói nhìn xuống. Bên dưới là một căn phòng rộng rãi bày trí trang nhã. Ngọn đèn khêu nhỏ để trên án thư góc phòng. Ở cuối phòng kê giường bát bảo buông mùng kín mít. Ngay dưới chân giường lộ ra một đôi hài thêu nhỏ xíu. Đới Vĩnh Khang lần lượt giở ngói cho một chân xuống trước, buông tay để rơi nhẹ xuống sàn gạch ngay trước nơi cửa sổ xây cuốn.
Trong góc phòng, kế bên giường, có cửa lớn đóng kín ăn thông vào phòng trong. Nhẹ nhàng, Đới Vĩnh Khang rút đao ra tiến tới bên giường vén mùng lên...
Thiếu phụ lúc ban chiều mền kéo lên tận ngực đang thiêm thiếp giấc nồng. Nàng đẹp như đóa hoa xuân trong khung cảnh tranh tối, tranh sáng, thở đều hòa hai trái đào dưới mền nhô lên hạ xuống nhịp nhàng...
Mải miết ngắm bức tranh thiên tạo này, Đới Vĩnh Khang thấy một cảm giác tê tê, buồn buồn khắp thể xác mình.
Như có linh tính báo nguy, thiếu phụ bỗng mở choàng mắt ra, nhận thấy người lạ, nàng hé miệng định la, thì lẹ như cắt, họ Đới đã bịt chặt lấy miệng nàng, áp lưỡi đao lạnh toát lên cổ, khẽ nói :
- Biết điều nằm im kẻo mất đầu!
Sợ quá, thiếu phụ tê liệt cả tứ chi chưa biết phải hành động thế nào thì Đới Vĩnh Khang đã nhét khăn vào đầy miệng nàng cứng nhắc.
Tay đao vẫn kề vào cổ, còn tay kia tung mền ra kéo tuột chiếc xiêm lụa mỏng xuống chân giường...
Bị lộ thể, thiếu phụ định đưa hai chân che đậy nhưng không kịp! Một sức nặng nề đã đè lấn lên người nàng, hai tay ghì chặt...
- Nằm im, không thì ta cắt cổ.
Sức đè nặng quá, thiếu phụ ngạt thở, hai mắt lờ đờ rồi nhắm hẳn mặc tình cho tên cường đạo mưa gió phũ phàng...
... Đới Vĩnh Khang bước xuống đất xốc lại y phục. Thiếu phụ mê man nằm thẳng như xác chết...
Đới Vĩnh Khang lấy mũi đao khẽ cạy cánh tủ nhỏ kê giáp tường. Cánh tủ hé ra để lộ mấy món nữ trang bằng vàng và bốn lượng vàng thoi đỏ ối...
Tên cường tặc bỏ bốn lượng vàng vào túi, quay lại giường rút phắt chiếc khăn ở miệng nạn nhân ra, chạy mở cửa sổ phi thân ra ngoài trời trong lúc thiếu phụ bàng hoàng không kịp la lối cầu cứu!...
Đới Vĩnh Khang chạy một mạch tới chỗ cây lớn, nhảy lên cành ngồi nghỉ khoan khoái, chờ trời hừng sáng lên đường.
Nhờ có bản lãnh, từ đó Đới Vĩnh Khang trở thành tay giang hồ hắc đạo chuyên hãm hiếp phụ nữ, giết người cướp của, gây không biết bao nhiêu cảnh tang tóc thương đau.
Về tới Linh Viễn, Đới Vĩnh Khang tìm đến nhà chú họ khi xưa, nhưng người chú đã mất, căn nhà cũ sang tay người khác, họ hàng thân thích chẳng biết lang bạc nơi đâu. Đới Vĩnh Khang không quan tâm, vào trọ nơi tửu quán, nán lại ít ngày, tiền vung ra như rác chẳng bao lâu mấy lượng vàng đoạt được ở nhà thiếu phụ trước đây tiêu tan hết. Đới Vĩnh Khang lại nhằm một đại phú gia, giở nghề phi thiềm tẩu bích vào đoạt của rồi bỏ Linh Viễn, theo chiều Dương Tử giang ra khỏi địa phận Tứ Xuyên, phiêu bạt khắp đó đây chuyên nghề độc thân đại đạo.
Suốt mười năm đầu, Đới Vĩnh Khang đặt gót đạo tặc cũng đã nhiều nơi, giao du với bọn lục lâm cường đạo không biết bao nhiêu mà kể. Vì trên mặt lúc nào cũng có những đường vằn đỏ, tính nết nham hiểm hung bạo, giết người không biết ghê tay, nên đồng bọn gọi y là Xích Hoa Xà.
Năm ấy, Đới Vĩnh Khang đã ngoài ba mươi tuổi, một ngày kia đi tới Hoàng Giang, một nhánh nhỏ của sông Dương Tử thuộc địa phận Dương Âm huyện, thì trời đã quá Ngọ.
Ngồi dưới gốc cây nhìn ngọn lau phất phơ trước gió, Đới Vĩnh Khang chờ đò.
Hồi lâu, nóng ruột, Đới Vĩnh Khang gọi lớn :
- Có lái đò đâu đây qua sông không? Chở tôi sang với...
Im lặng, trừ tiếng cụm lau sột sạt bên bờ sông vắng, không có lấy một tiếng người.
Chờ mãi, Đới Vĩnh Khang nóng ruột lẩm nhẩm một mình :
- Gớm thiệt! Không ngờ khúc sông này lại vắng thế! Không một con đò! Mà cũng chẳng một bóng người?
Giữa lúc ấy, bỗng có tiếng ca chầm chậm từ đâu vọng tới lẫn với tiếng chèo khua nước :
- Sớm chèo, tối lội vui thay,
Ngày ngày hứng gió, đêm chầy nhìn trăng,
Bến Hoàng Giang, bãi Dương Âm,
Thênh thênh chài lưới, biết đâu bến bờ...

Mừng quá, Đới Vĩnh Khang đã tuyệt vọng phải trở lại đường cũ, liền đứng phắt dậy, nghểnh chân, ngó trước ngó sau. Không thấy gì. Tiếng hát im bặt. Nhưng con thuyền của ai đó vẫn bì bõm chèo tuy che lấp bởi ngàn lau vậy. Đới Vĩnh Khang định phi thân lên cây nhìn xem thì từ từ một chiếc thuyền cỡ trung bình đang đủng đỉnh từ bụi lau gần giữa sông ló ra.
Bắt tay thành loa quanh miệng, Đới Vĩnh Khang gọi lớn :
- Chú lái ơi! Cho tôi qua sông với!
Trên chiếc thuyền xa chỉ có một người đội nón, quần ngắn, lững lờ khua mái chèo.
Như không nghe thấy tiếng gọi, người lái đò chèo thuyền đi thẳng, nghêu ngao hát :
- Nghinh ngang nay vũng, mai hồ,
Riêng mình một cõi, ngọn cờ tung bay.
Kinh luân đã sẵn trong tay,
Nghêu ngao mặt nước, gươm bay giữa trời.

Giọng ca vừa ấm áp vừa hùng vang xa xa, Đới Vĩnh Khang nghe rõ mồn một.
Tên lái đò này điên sao! Nó hát ta nghe thấy, mà gọi nó lại lờ đi!
Nghĩ đoạn, họ Đới lại gọi lớn :
- Bớ chú lái! Bớ chú lái! Có khách quá giang nè. Vào bờ mau, vào bờ mau!
Tiếng gọi rất lớn vang động cả một vùng.
Lúc bấy giờ, người lái đò mới ngừng tay chèo, vểnh chiếc nón mây đan, quay đầu lại nhìn vô bờ :
- Ai gọi ta thế?
- Cho tôi quá giang với, lẹ lên kẻo trễ ngày giờ của tôi.
- Có mấy người tất cả?
- Một mình tôi thôi, nhưng muốn lấy bao nhiêu tôi cũng trả.
- Thuyền này chở được mười người, mỗi người ba quan, vị chi là ba mươi quan, có chịu không?
Họ Đới nghĩ bụng :
- Thằng cha này bắt bí người ta thiệt, ai lại qua một chuyến đò bắt người ta chịu ba mươi quan tiền bao giờ không? Được lắm! Sang tới bờ bên kia, ta chỉ trả ba quan thôi xem y làm chi ta!
Tiếng người lái đò hỏi với vào bờ :
- Thế nào? Có chịu không để tôi còn đi. Nghĩ ngợi... gì mà lâu vậy?
Đới Vĩnh Khang vội đáp :
- Chịu chứ! Nào ghé thuyền vào đây! Lẹ lên!
Đủng đỉnh, lái đò quay mũi thuyền vào bờ... tiếng ca lại vang dậy :
- Thuyền lan một chiếc thảnh thơi,
Dầm mưa, dãi gió bên trời Hoàng giang,
Không đi khắp chốn lang thang,
Vùi đầu áng sách, uổng trang hải hồ...

Đới Vĩnh Khang nóng ruột lẩm bẩm :
- Thằng này quả điên rồ! Ca hát trên sông vắng này cho quỷ nó nghe!.
Thuyền gần tới bờ, Đới Vĩnh Khang nhận thấy chú lái là một lão trạc ngoại tứ tuần, sắc mặt đỏ tía cháy nắng, bắp chân và tay nở rắn chắc, tỏ vẻ ưa hoạt động.
Người lái đò đăm đăm nhìn Đới Vĩnh Khang lái thuyền vào hẳn bờ, cười khanh khách :
- Hảo hán nghĩ chi đờ người ra vậy? Cười lão điên rồ ca hát nghêu ngao hả?
Họ Đới giật mình nghĩ thầm :
- Quái! Thằng này đoán được ý nghĩ của ta?
Nghĩ vậy, trả lời ngay :
- Đâu có! Tôi nghĩ rằng người lái đò bến Hoàng giang tốt giọng quá.
- Có cần tôi đẩy lui thuyền vào bờ cho dễ đáp xuống không?
Đới Vĩnh Khang lắc đầu :
- Khỏi cần. Tôi xuống được.
- Bằng cách nào?
- Nhảy xuống chứ sao?
Người lái đò nguây nguẩy :
- Trời ơi! To ngang, nặng nề như hảo hán, nhảy xuống thuyền tôi thì chìm hay bể mất chứ còn gì!
- Không đâu! Coi nè!.
Họ Đới nhảy vụt từ bờ lên mũi thuyền nhẹ nhàng, chiếc thuyền chỉ hơi chòng chành chút xíu.
Lái đò vỗ tay khen ngợi :
- A ha! Giỏi quá! Giỏi quá! Thế mà lão cứ lo phải lội nước đẩy thuyền ghé sát vào bờ.
- Sá chi cái trò nhỏ mọn đó! Thôi mất thì giờ nhiều rồi! Chèo đi thôi!
Vẫn đủng đỉnh, chậm rãi, người lái quay mũi thuyền chèo trở ra.
- Hảo hán từ đâu qua đây?
- Từ miền Tây tới định đi thăm người bà con miền Giang Nam...
Chăm chú nhìn khách qua đò một lần nữa, lão lái im lặng nhìn ra giữa sông. Lát sau, thuyền ra tới giữa dòng sông, Đới Vĩnh Khang ngồi ở đầu thuyền nhìn phong cảnh.
- Bến đò này vắng quá, mỗi ngày chở được mấy mạng qua sông?
- Nếu làm nghề này có lẽ tôi giải nghệ mất!
Lão lái đủng đỉnh :
- Ấy thế mà không! Thỉnh thoảng vớ được món bở... ra phết?
- Thế nào là.. bở ra phết?
- Như ngày hôm nay chẳng hạn. Chở một mà được những mười, không bở là gì?.. À hảo hán cho xin tiền...
Nói đoạn, người lái đò ngừng tay chèo, đưa tay ra chờ tiền.
- Tới bờ bên kia sẽ trả cũng được, chạy đi đâu mà sợ?
- Lão đâu có sợ chạy không trả tiền? Nhưng lấy tiền trước là lệ luật ở khu này. Thiệt ra, lão cũng chẳng muốn!
- Đã vậy thì lát nữa tới bờ trả cũng được. Tôi đây không phải hạng người... tiếc ba mươi quan tiền!
- Nhưng trái với luật lệ thì không được!
Tức mình, Đới Vĩnh Khang hỏi :
- Ai ra lệ luật đó, ngặt quá!
Vỗ vào ngực, lái đó đáp :
- Ở đâu cũng vậy, cứ xuống thuyền là phải trải tiền liền tay!... Khu vực Hoàng Giang này tự lão đặt ra lệ luật, ngoài vòng cương tỏa... Tuy vậy cũng chẳng khác chi mọi nơi. nói không đưa tiền trước thì lão quay thuyền lại, trả khách vào bờ.
Tức lắm, Đới Vĩnh Khang cười khẩy :
- Nếu vậy, Đới mỗ này cũng tự ra luật lệ, bắt mọi người sống trong ảnh hưởng khúc sông này phải tuân theo. Đó là lệ lấy tiền quá giang sau.
Không nói không rằng, lái đò quay ngay mũi thuyền lại chèo vào bờ.
Đới Vĩnh Khang chỉ tay vào mặt người lái :
- Này! Ta nói cho mà nghe! Biết điều thì chở ta sang bên kia ngay, thủ cấp nhà ngươi sẽ được đứng yên trên cổ. Mất nhiều thì giờ rồi, Xích Hoa Xà này không biết đùa dai đâu đó, nghe?
Buông mái chèo, người lái đò dùng chân đẩy nhẹ tấm ván ở cuối thuyền, cúi xuống lẹ như vượn lấy ra một cây đoản đao, chỉ Đới Vĩnh Khang, mắng lại :
- Xích Hoa Xà hay Bách Sắc Hoa Xà ta cũng chẳng sợ! Dọc ngang hồ hải trên ba mươi năm nay, ta chưa hề nghe lệnh của thằng nào, hơn nữa, chở hàng ở khu này cũng đã nhiều năm, hạng người như ngươi thì chỉ đáng cho xuống Thủy phủ. Biết điều để hành lý lại, ta sẽ cho ăn “bánh chay”. Cưỡng lời ta thì ăn “bánh trôi”. Lúc đó chớ trách ta là ác!
Nộ khí xung thiên, Đới Vĩnh Khang tuốt đao mắng lại :
- Muốn lấy hành lý, cứ thử hỏi đao này xem nó có ưng không?...
Gớm thiệt. À, ra hạng cướp cỏ như nhà ngươi mà cũng loạn ngôn thế! Coi đao của gia gia này!
Nói đoạn, Đới Vĩnh Khang nhảy vụt tới hoa đao lia ngang cổ người lái đò. Không kém, người lái đò múa đao gạt phắt sang bên rất mạnh mẽ, nhắm bụng họ Đới thọc một mũi đao thiệt mạnh.
Hai đấu thủ cùng khỏe, đao pháp vù vù, xây đi, nhảy lại đỡ đỡ, đánh đánh, lưỡi đao va chạm nẩy lửa, kinh hồn.
Nếu trận đấu xảy ra ở trên đất liền hay thuyền lớn thì có lẽ tưởng gặp tay ngang, nhưng đây là chiếc ghe nhỏ, hai địch thủ nhảy đi, nhảy lại đánh đỡ liên tiếp khiến thuyền chòng chành nhiều lúc như muốn úp lật.
Từ trước tới nay, Đới Vĩnh Khang vốn ghét nước và sợ nước, không biết bơi, nay cùng người lái đò chiến đấu ở trên thuyền nhỏ vừa hẹp, bộ cước vừa bồng bềnh không vững, phải gắng gượng nhiều lắm mới giữ nổi thăng bằng. Trái lại, lão lái đò không những đao pháp đã hay mà còn quen với cuộc sống bình bồng trên mặt nước, thành thử càng đánh càng hăng lanh lẹ dị thường như đấu chiến trên đất bằng vậy.
Bị dồn luôn mấy đòn độc, Đới Vĩnh Khang tức bực vô cùng vì một kẻ địch võ thuật chẳng hơn chi mình mà cầm cự nổi trong bao lâu. Càng nghĩ càng tức, Đới Vĩnh Khang dồn tất cả sức lực ra cánh tay nhè lưỡi đao của đối phương chém thiệt mạnh. quả nhiên, lát đao đó có hiệu lực tức thì. Lão lái đò bất ngờ đưa đao ra đón lát chém ấy, thanh đao bật ra khỏi tay rớt xuống nước, cánh tay tê buốt đau đớn. Đới Vĩnh Khang cả mừng, nhằm vai địch thủ chém một lát nữa chí mạng. Nhưng không kịp vì dự đoán trước, lão lái đò đã như con nhái bén, nhào xuống sông lặn mất tích...
Đới Vĩnh Khang đứng trên thuyền nhìn quanh chẳng thấy tâm hơi địch thủ đâu cả. Không lẽ đứng lì ra đó nhìn mãi, họ Đới cài đao vào vỏ, cầm chèo định bơi sang bờ sông bên kia thì lúc đó mới nhận thấy thuyền đang trôi theo dòng nước mỗi lúc một nhanh. Cầm chèo cố ghìm thuyền lại, Đới Vĩnh Khang loay hoay thế nào mà con thuyền cứ quay tròn rồi lại trôi thẳng... Giữa lúc ấy thì lão lái đò nhô đầu lên mặt nước, miệng ngang thanh đoản đao buông xuống nước ban nãy.
Đới Vĩnh Khang rất phục tài lặn của đối phương, đã ngụp xuống nước lấy lại được cây đao, nhưng cũng mắng át :
- Tên giặc kia có giỏi lên thuyền này đấu trăm hiệp nữa!
Lái đò cười ha hả :
- Ta và mi chưa biết tên nào là giặc bị các phủ huyện treo hình tróc nã. Nên hiểu qua khúc sông này, đừng hòng vượt mặt Hải Đề Giao Đổng Kính Thiên, nghe chưa! Mi sẽ biết tay ta. Coi đây!
Dứt lời, lão lái đò nhào lộn ngược hai chân trồi lên mặt nước, rồi toàn thân lặn hẳn xuống nước biến mất.
Đới Vĩnh Khang chưa kịp suy tính thì chiếc xuồng bỗng dưng quay tròn như chong chóng khiến y phải ngồi xuống bám chặt lấy mạn thuyền cho khỏi té nhào xuống nước.
Biết là Đổng Kính Thiên trổ tài nghề quay thuyền cho đối thủ sợ, Đới Vĩnh Khang bèn rút đao, một tay giữ chặt mạn thuyền, một tay đưa đao chém lùa xuống dưới nước.
- Đổng Kính Thiên! Có tài thì lên đây cùng ta giao đấu phân thua cao thấp, chớ làm trò trẻ ấy ta khinh thường!...
Dứt lời, chiếc thuyền không quay nữa nhưng lại nghiêng ngửa cơ hồ như muốn úp lật bởi những ngọn sóng nước lớn tự nhiên nổi dậy ầm ầm...
Đới Vĩnh Khang hoảng quá buông đao ra, bám chặt lấy mạn thuyền cho khỏi té xuống nước, tuy vậy cũng nhìn thấy rõ Hải Đề Giao đang nhào lộn quanh chiếc thuyền gây lên những ngọn thủy ba thiệt lớn... Họ Đổng vùng vẫy chẳng khác chi con giao long trên mặt biển...
Đới Vĩnh Khang vừa sợ hãi, vừa thầm phục, hai tay vẫn bám chặt lấy mạn thuyền, hoang mang không biết xử trí ra sao, thì bỗng nhiên Đổng Kính Thiên nhào vụt đến gần, túm chặt vai áo lôi tuột họ Đới xuống nước, Đới Vĩnh Khang cố vùng vẫy, nhưng chìm lỉm, sặc sụa, uống nước ừng ực, nghẹt thở...
Bỗng một bàn tay vô hình nâng y lên mặt nước. Chưa kịp thở, bàn tay ấy lại buông ra khiến Đới Vĩnh Khang chìm lỉm như trước. Lần này thì ghê gớm quá, họ Đới cảm thấy nước trào cả vào mắt, tai mũi, miệng. Không thở được nữa, y nấc lên mấy tiếng, tứ chi duỗi ra ngất hẳn, trôi là dưới mặt nước rồi lật úp chìm từ từ...
Nhưng, Đổng Kính Thiên, từ nãy vẫn hơi ở bên cạnh nắm lấy thắt lưng lôi họ Đới lên mặt nước, đặt nằm ngửa trên lưng, tay tả cặp ngược lại giữ họ Đới cho khỏi lật, tay hữu và hai chân bơi vùn vụt đuổi theo chiếc thuyền đang lững lờ trôi cách đó bẩy, tám sải tay... Hai tay nâng bỏ Đới Vĩnh Khang vào trong thuyền, Đổng Kính Thiên cũng nhảy lên thuyền vuốt quần áo qua loa cho bớt nước, rồi cúi xuống cởi cây lưng và nút áo họ Đới ra, đoạn cầm hai chân dốc ngược đầu y xuống. Xốc đi, xốc lại giây lát, Đới Vĩnh Khang ọc nhiều nước ra miệng.
Đặt họ Đới xuống ván thuyền, cởi hẳn áo y bỏ sang bèn, Đổng Kính Thiên lật ván ở đuôi thuyền lấy chiếc mền đắp lại cho y. Tự cởi áo mình ra vắt hết nước, Đổng Kính Thiên bắt đầu chèo thuyền ngược lại phía sau, lách vào đám lau sậy mà đi.
Hồi lâu, lau sậy thưa dần, thuyền ghé vào một cù lao nhỏ, mặt đất toàn bằng sỏi trắng rất sạch sẽ, đẹp mắt.
Tiếng chó sủa vang lên.
Đổng Kính Thiên huýt gió mấy cái, một con chó bông đen trắng từ phía trong cù lao chạy ra. Tiếp theo là tiếng ồ ồ vang lên :
- A ha! phụ thân đã về! Có được mẻ lưới nào không?
Một... thiếu nữ tóc như rễ tre, nước da đen sạm, mũi sư tử, mắt trố, răng vồ đội hẳn đôi môi dầy như cặp chả, chạy lạo xạo trên sỏi, theo sau cách con chó bông độ mười bước.
Đổng Kính Thiên nhảy xuống đất cột thuyền vào thân cây gần đó, chỉ tay xuống thuyền bảo thiếu nữ :
- Đấy! Con cá lớn chui vô lưới đó. Con hãy xách bao hành lý của y và hai cây đao vào nhà. Mặc ta với nó.
Thiếu nữ nhìn cha :
- Có hỗn đấu hay sao mà cha ướt át như vậy? Thủy chiến à? Sao không giết phắt y đi, mang về đây làm chi?
Đổng Kính Thiên vỗ vai con gái, mỉm cười :
- Gớm, con gái gì mà đa sát thế! Không lẽ động một chút cũng giết người sao?
- Phụ thân đem y về đây thêm lộ liễu, có ích lợi chi?
- Thằng này là tên độc thân tặc đạo nổi danh bị nhiều nơi dán lệnh truy nã. Ai bắt sống được y sẽ có thưởng năm trăm lượng bạc. Trình thủ cấp, được hai trăm lượng.
- Xích Hoa Xà Đới Vĩnh Khang là nó đó.
- Thế sao phụ thân không trói y lại. Để tự do thế sao tiện?
- Ai lại cướp bắt tặc đạo bao giờ! Cha con ta há không phải đồng nghề với y đó sao? Tuy cách kiếm ăn khác nhau! Thôi, sẽ nói chuyện sau, Kim Hoàn ạ. Cất các thứ ấy vào nhà, lẹ lên con. Đốt lửa lên sưởi nóng cho Đới Vĩnh Khang tỉnh dậy. Y ngất khá lâu rồi.
Thật ra thì Đới Vĩnh Khang đã hồi tỉnh từ lúc có tiếng chó sủa. Hé mắt nhìn sơ sơ, y biết là đã bị đem tới một nơi nào lạ nên cứ vờ ngất xem Đổng Kính Thiên hành động thế nào. Mẫu chuyện mà cha con họ Đổng vừa trao đổi vừa rồi đều lọt vào tai họ Đới nên y rất lấy làm cảm kích lòng tốt của lão lái đò. Đang định đứng vùng dậy tạ ơn thì Đổng Kim Hoàn xúi xuống gần lượm hai cây đao và bọc hành trang vác lên vai.
Trong khi cô... gái họ Đổng vô tình, Đới Vĩnh Khang hé mắt nhìn trộm, đoạn nhắm mắt lại nghĩ thầm: gớm, con gái chi mà xấu như ma! Rợn cả người! Nhưng chợt nghĩ ra mình cũng chẳng đẹp đẽ chi, họ Đới cười thầm, nằm im.
Chờ Đổng Kim Hoàn đi khỏi, lão lái đò mới ghé người vào mạn thuyền ôm xốc họ Đới lên vai đi theo vào sau.
Con chó bông đen trắng thấy ngươi lạ thì cứ sủa dóng một ầm ĩ.
Đổng Kính Thiên nạt :
- Im đi! Về nhà mau!
Như hiểu tiếng chủ nhân, con chó cố sủa thêm mấy tiếng nữa rồi mới vẫy đuôi, tung tăng chạy về nhà trước.
Không người kiểm soát, Đới Vĩnh Khang mở mắt nhìn kỹ. Qua khỏi chỗ cát trắng gần mé sông, hai bên lồi đó có trồng bờ cây gai thắp hoa đỏ rung rinh trước gió coi khá đẹp mắt. Đi vằn vèo giây lát thì tới nhà rộng rãi cất bằng cây lợp lá ngay dưới mấy gốc đa cổ thụ cành lá um tùm. Phía trước nhà có mấy mảnh vườn trồng các thứ rau thường dùng.
Tiếng Kim Hoàn lại ồ ồ cất lên :
- Vác nó làm chi cho mất công. Trói gô nó lại rồi xách có hơn không, hả phụ thân?
Nhắm nghiền mắt lại, Đới Vĩnh Khang cười thầm: “Cô ả này ác thiệt! Xấu như quỷ có khác!”.
- Con đốt lửa chưa?
- Dạ, có sẵn rồi. Phụ thân lẹ chân vào thay áo, uống rượu cho ấm người...
- Phải cho họ Đới tỉnh đã. Quái! Y ngất lâu quá! Xưa nay chưa ai như thế cả!
Đới Vĩnh Khang mỉm cười, vùng từ vai họ Đới nhào xuống đất, lăn đi hai vòng rồi trỗi dậy rất lẹ làng.
Hai cha con họ Đổng giựt mình, nhảy né sang bên thủ thế...
Nhưng họ Đới đã tươi cười tiến tới quỳ lại Đổng Kính Thiên.
- Tiểu tử hữu nhãn vô người, đứng trước bực tiền bối đáng kính mà không biết, xin muôn vàn thứ lỗi.
Mỉm cười, vuốt râu, Đổng Kính Thiên đỡ Đới Vĩnh Khang dậy :
- Đánh nhau chán tay rồi mới giao tình là thường trong bọn giang hồ chúng ta. Hảo hán chớ lấy thế làm lạ. Vào nhà thay áo kẻo lạnh, sẽ nói chuyện sau.
Đổng Kính Thiên dẫn họ Đới vào căn phòng nhỏ, để bọc hành lý lên giường :
- Hảo hán thay y phục đi. Phải nán lại đây ít ngày, lão sẽ nói chuyện sau.
Nói đoạn, họ Đổng ra khỏi phòng.
Đới Vĩnh Khang thay áo, càng nghĩ càng cảm kích tánh tình quảng giao của lão lái đò... nhưng nghĩ đến Kim Hoàn thì lại giật mình thon thót :
- Người đâu mà xấu tệ! Giá xinh gái thì ta có thể ở đây vài tháng cũng được!
Có tiếng gọi ở nhà ngoài :
- Đới hảo hán đã rồi chưa? Ra đây sưởi ấm, uống vài ly rượu nào!
Thiệt trúng tâm lý, Đới Vĩnh Khang đang vừa đói vừa khát, thèm rượu bả cả miệng. Đẩy cửa phòng, bước ra ngoài, Đới Vĩnh Khang nhận thấy trong nhà rất ngăn nắp sạch sẽ.
Đổng Kính Thiên ngồi bên lửa sưởi cạnh chiếc bàn gỗ nhỏ bày bầu rượu, mấy cái Lam Y và một đĩa thức nhắm.
- Ngồi xuống đây cho ấm. Mời hảo hớn xơi rượu đi. Kim Hoàn sẽ đem cơm lên sau, trời gần tối rồi.
Đới Vĩnh Khang kéo ghế ngồi xuống, lơ đãng nhìn ra lối cửa ánh sáng bên ngoài mờ mờ trong cảnh hoàng hôn tại một nơi cô tịnh.
Cuộc nhân sinh quả thiệt éo le không biết thế nào mà ngờ được. Trong cảnh giang hồ lạc bước, Đới Vĩnh Khang tưởng gặp đò sang sông đi cho rồi, ngờ đâu đánh nhau trối chết với người lái đò, rồi cả hai cùng về căn nhà trên tiểu đảo vắng vẻ u tịch này, đối diện chè chén phiếm đàm.
Mới đây, tôi lên huyện thấy hình hảo hớn dán khắp nơi cùng phiếu truy tầm, Đồng cảnh, đồng thuyền, nhận ra hảo hớn nên mới bày chuyện trêu cợt thử tài làm quen. Đi lang thang như vậy không sợ sa lưới pháp luật sao?
Đới Vĩnh Khang cảm kích vô cùng, thưa rằng :
- Làm thế nào được! Bao nhiêu năm vùng vẫy hải hồ đã quen, nay chẳng lẽ vì bị truy nã mà dừng chân ẩn lánh mai một cùng thời gian? Bởi vậy tiểu tử cứ đi, nếu bị cản đường sẽ đánh, sá chi lũ quan quân hèn yếu...
Đổng Kính Thiên xua tay lắc đầu :
- Luận đàm như vậy hãy còn thanh niên tính, không được. Tôi đã qua giai đoạn ấy rồi! Hảo hớn võ nghệ cao cường và có dũng lực thiệt, nhưng anh hùng thiên hạ không phải hiếm. Sách có câu “Cao nhân tắc hữu cao nhân trị”, một ngày kia thế nào cũng sẽ gặp người có bản lãnh cao hơn mình, lúc đó có muốn thoái cũng không kịp.
Con người thức thời anh hùng phải biết tiến, thoái hợp thời, cứ khư khư chấp nệ cậy mình tài giỏi, không trước thì sau thế nào cũng bị táng mạng vì lẽ khinh thường.
Như tôi đây, lúc thiếu thời cũng đã từng sanh nhai trong đám giang hồ hắc đạo, ấy thế mà khi bị truy tầm cũng phải tìm cách ẩn thân, tìm lẽ sống trong cảnh bình thường an nhàn, lập gia đình, xoay nghề, đổi nghiệp... Nhưng thôi! Nói nhiều e hảo hớn bất khuất giận dỗi...
Đới Vĩnh Khang khoanh tay cung kính :
- Gặp được bực lão thành chỉ bảo, tiểu tử như người đui được thấy ánh sáng, chưa biết nói thế nào để cảm ơn, huống chi còn giận dỗi nữa sao? Xin cứ dạy bảo.
- ... Từ đây đến khắp dọc sông Dương Tử trong vùng Giang Tây này, hảo hớn chừng nào đi, chú ý thử coi cái danh Hải Đề Giao cũng hãy còn làm khiếp đởm giới thương thuyền, vậy mà con giao long ấy hiện thời nằm tròng trong vũng nước này, để rồi bữa nay gặp hảo hớn đó.
Nghĩ lại trận đấu ban nãy, Đới Vĩnh Khang thấy cảm phục võ nghệ và tài thủy chiến của con người trước đây đã một thời chọc nước khuấy trời.
- Giờ đây nên hành động thế nào, xin lão anh hùng dạy cho đôi lời...
Nhắm hụm rượu, Đổng Kính Thiên mời họ Đới :
- Nói chuyện quên cả uống sao?.. Hảo hớn đã hỏi, Đổng mỗ cũng chẳng tiếc lời. Hiện nay, vị Thiếu Vương mới bị triều đình đày xuống Kim Lãng đang cần chiêu nạp nhiều tay võ dũng để làm bộ hạ, vây cánh, tại sao hảo hớn không tới đó tìm kiếm công danh có phải là sẽ được trọng dụng an thân biết chừng nào không? Với tài nghệ dũng lực ấy, hảo hớn lo chi cuộc đầu hôn ấy sẽ không mở rộng một con đường mới cho kẻ tài ba sau này?
Đới Vĩnh Khang suy nghĩ :
- Lão anh hùng định nói tới Thuận Vương ở Kim Lãng đó phải không?
Chính vậy đó. Tôi dùng chữ đày với vị Vương gia ấy vì tuy cùng dòng máu với Vĩnh Lạc hoàng đế hiện thời, nhưng Thiếu vương rất nghịch với nhà vua. Bởi vậy triều đình mới phái người xuống trấn thủ Kim Lãng cốt ý đày cho ra khỏi nơi triều chánh.
Có lẽ vì vậy nên thiếu vương lo xa, thâu nạp hảo hớn tứ phương cốt ý gây một sức mạnh phòng thân sau này. Theo ý tôi, hiện thời không còn đâu hơn nơi đó để cho những người sống ngoài vòng pháp luật của triều đình tìm lối dung thân. Thiết tưởng hảo hớn chẳng nên ngần ngại.
Đổng mỗ không có con trai, sanh được một gái mà sắc diện lại xấu xí quá chừng, chẳng ai buồn hỏi.
Được cái nó có sức khỏe và thâu nhận được võ nghệ cũng khá, nên đôi khi cũng muốn bỏ nơi cô tịch này dẫn nó về Kim Lăng đầu bôn mong sau này kiếm được chút ít danh phận, chớ không lẽ để nó chết già trên tiểu đảo này sao?
Hai người đang đàm luận thì Đổng Kim Hoàn bưng khay thức ăn lên, khói bốc nghi ngút, mùi thơm rực nức, bày ra bàn. Lắc thấy bầu rượu đã cạn, Kim Hoàn bèn cầm bầu vào nhà trong đổ thêm cho đầy.
Thừa dịp, Đới Vĩnh Khang liếc nhìn kỹ nhận thấy Đổng nữ nét mặt thô kịch xấu thiệt, nhưng thân hình khỏe mạnh, gọn gang, rắn rỏi, bước đi thoăn thoắt, nhất cử, nhất động đều tỏ ra con người dũng mãnh có tài. Họ Đới thầm nghĩ: “Trên mười năm nay, hai cánh tay này cũng đã từng ôm ấp không biết bao nhiêu là phụ nữ đẹp có, xấu có. Vậy về vấn đề kiều diễm mỹ miều cũng chẳng còn thèm muốn nữa. Nay tuổi đã lớn, Đổng Kính Thiên là người biết quý chuộng ta chứ không như mọi người thù ghét ta là tên tặc đạo dâm hôn hại dân hại nước... Gặp lúc đồng cảnh, đồng thuyền thế này, chi bằng xin với Kính Thiên cưới Kim Hoàn rồi cùng nhau đi Kim Lăng đầu bôn thiếu vương cho rồi. Như vậy, có lẽ ổn hơn cả”.
Đổng Kim Hoàn trở ra để bầu rượu lên bàn, Đới Vĩnh Khang nhìn lại một lần nữa. “Ừ! Nàng khỏe mạnh thiệt! Nàng tuy xấu nhưng ta thì có hơn chi? Nếu trên mười năm nay không xài lối cưỡng bức phụ nữ thì có lẽ bây giờ ta hãy còn trai... tân!”
Đổng Kính Thiên thấy Đới Vĩnh Khang thần người ra nghĩ ngợi thì chỉ mỉm cười vuốt râu, tôn trọng sự im lặng cá nhân của khách lạ.
Đổng Kim Hoàn nói :
- Mời phụ thân và khách quan dùng rượu đi kẻo nguội cả món ăn. Đổng Kính Thiên nói :
- Người nhà cả, xin mời cô nương dùng bữa.
Kim Hoàn quày quả vào nhà trong lấy thêm đũa bát lên ngồi ăn.
Bữa cơm nhà chài lưới toàn tôm với cá, rau dưa, nhưng nhờ bàn tay khéo léo của Kim Hoàn nên món nào cũng ngon chẳng khác chi bữa thịnh soạn. Cơm nước xong xuôi, Đổng Kim Hoàn dẹp bát chén xuống nhà dưới.
Đới Vĩnh Khang nhân dịp ấy, ngỏ ý xin lấy Kim Hoàn.
Đổng Kính Thiên cười ha hả :
- Hảo hớn có lòng yêu thương nó. Tôi rất vui mừng. Chỉ cần chọn ngày lành, làm mâm cơm lễ gia tiên là xong ngay. Cầu kỳ vô lối không phải là lý lẽ của bọn chúng ta.
Đới Vĩnh Khang bèn đứng lên lạy họ Đổng ba lạy kêu là nhạc phụ.
Đổng Kính Thiên đỡ Đới Vĩnh Khang dậy, đoạn gọi Kim Hoàn lên nói cho nghe việc chấp thuận Đới Vĩnh Khang làm rể. Tuy thô kịch, Kim Hoàn cũng biết bẽn lẽn, mắc cởi đỏ mặt, Nàng nghĩ thầm: “Thế mà hồi nãy ta giục phụ thân ta hạ sát oan gia đi cho rảnh chuyện. Ngờ đâu duyên tiền định lại se ta với y nên vợ chồng”.
- Đưa cho ta coi cuốn niên lịch, con.
Kim Hoàn với lấy cuốn lịch màu đỏ trên bàn thờ gia tiên xuống đưa cho cha. Kính Thiên hỏi tuổi Đới Vĩnh Khang mở lịch ra so tuổi, rồi chọn ngày lành liệu bề thành hôn. Họ Đới ba mươi bốn tuổi, Kim Hoàn mười chín tuổi. Sang đầu hạ tuần tháng ấy ngày tốt.
- Sang hạ tuần sẽ thành hôn cho hai con. Vậy trong khi chờ đợi Đới Vĩnh Khang nên ở lại đây, để ta lên huyện mua sắm vài thứ lặt vặt.
Từ đó, họ Đới ở lại nhà Đổng Kính Thiên theo giúp nhạc phụ trong việc chài lưới. Lúc nhàn rỗi, ba cha con cùng nhau tập luyện võ nghệ. Nhân dịp, Đới Vĩnh Khang yêu cầu Đổng Kính Thiên dạy môn bơi lặn.
Sẵn có căn bản về võ thuật, sáu tháng sau, Đới Vĩnh Khang đã trở thành tay bơi lội đại tài dù hình vóc nặng nề.
Đới Vĩnh Khang ngỏ ý về việc đi Kim Lăng đầu bôn Thiếu Vương.
- Ta cùng nghĩ vậy, không lẽ cứ ở lì khu cô tịch này sao? Như hiện giờ còn đang rét mướt mưa phù. Chờ sang Xuân đẹp trời hãy lên đường cũng chưa muộn.
Cuối tháng hai năm sau, Đổng Kính Thiên và vợ chồng Đới Vĩnh Khang thu xếp hành lý khóa cửa nhà lại cẩn thận xuống thuyền sang sông bên kia. Giấu thuyền vào đám lau lách, ba người ngày đi đêm nghỉ theo đường lối đi Kim Lăng cuối hạ mới tới nơi.
Trong khi đang cần kẻ võ dũng, Thuận Thiếu Vương thấy ba người võ nghệ cao cường nên thâu nhận trọng dụng ngay. Cha con họ Đổng ở trong vương phủ được ngót một năm, Thiếu Vương thấy có thể tin cẩn được nên theo lời Thần Cơ quân sư phái Đổng Kính Thiên và vợ chồng Đới Vĩnh Khang ra lập tửu quán ở góc đường làng Sơn Phu cho dễ bề chiêu nạp thêm bọn giang hồ hảo hớn. Ngoài ra, Đới Vĩnh Khang còn nhận được mật lệnh thủ tiêu tất cả những người nào có ý ngả về phe triều đình. Chính trong thời kỳ ở Kim Lăng, bọn tùy tướng của Thuận vương đã gọi Đổng Kim Hoàn với tước hiệu là Mẫu Dạ Xoa.
Lúc ba người tới Sơn Phu lập tửu điếm thì Đổng thị đang có bầu. Mấy tháng sau hạ sanh Đới Ngọc Hoàn, Ngọc Hoàn xinh đẹp chứ không xấu như mẹ. Được một tuổi, Đổng Kính Thiên bị bạo bệnh chỉ có vài ngày mất.
Thuận Vương rất thương tiếc, truyền tặng thiệt hậu khiến vợ chồng Đới Vĩnh Khang cảm kích đặc biệt.
Xích Hoa Xà Đới Vĩnh Khang vốn dĩ tính tình ác nghiệt, cha vợ chết đi không còn ai kềm giữ y nữa, nên mặc tình thao túng, đổi Sơn Phu tửu điếm ra thành hắc điếm, một phần chiêu nạp người về đầu bên Vương phủ cũng có, một phần sát hại cướp của cũng nhiều.
Tuy thô kệch dữ dội, Đổng thị mọi sự đều nhất nhất nghe theo và chiều chồng. Đới Vĩnh Khang bèn xây dựng trang viện lập thành cơ sở riêng, hòng sau này nếu cần sẽ về đó ẩn náu. Trang viên rộng rãi có đủ các cơ quan bẫy người phòng kẻ lạ vô thám thính. Sơn Phu tửu điếm trao cho Đổng thị điều khiển. Bởi vậy Đới Vĩnh Khang mới rộng rãi thì giờ, thỉnh thoảng lại hẹn hò cùng bạn bè tặc đạo đi xa đón đường cướp khách thương hay đánh phá các nhà hào phú vơ vét vàng bạc châu báo về chia nhau. Cho dù Xích Hoa viện ở nơi vắng vẻ, Đới Vĩnh Khang cũng thường có bạn hữu ngoài mặt qua chơi, nhưng thiệt ra, đồng bọn đã có hẹn trước rủ nhau đi ăn cướp.
Mỗi chuyến hành động, Đới Vĩnh Khang thường dùng khăn bịt mặt nên không bị lộ hình tích. Nạn nhân chỉ biết là một người trong bọn đạo tặc, hình dáng lùn mập và cũng không thể đoán được bọn cướp căn cứ ở đâu, bởi lẽ Đới Vĩnh Khang không bao giờ hoạt động ở gần khu Sơn Phu.
Công việc làm ăn của họ Đới cứ đều đều như vậy, rất an ổn cho tới khi Đới Ngọc Hoàn khôn lớn, Đới Vĩnh Khang và Đổng thị truyền võ nghệ cho nàng.
Nhờ trí thông minh, Đới Ngọc Hoàn thâu nhận được hết tài nghệ của cha mẹ. Càng lớn, nàng càng đẹp ra, đẹp lẳng lơ, biết dâm dật ngay từ năm mười sáu tuổi.
Nàng là con một, được vợ chồng họ Đới nuông chiều nên lộng hành. Những khi theo cha mẹ đi Kim Lăng đem lễ vật về biếu Thuận Vương, Đới Ngọc Hoàn thừa dịp thông gian với các hàng tướng tá tùy thuộc trong Vương phủ, nổi danh là Hoa cô nương. Mỗi chuyến cha con họ Đới về Kim Lăng, mọi người luân phiên đua nhau mời dự tiệc, nô đùa phóng đãng, dâm dật.
Đã có lần đầu đà Phi Không về thăm Thuận Vương, gặp Hoa cô nương tại dinh Nguyên soái Phi Thiên Hổ Hoàng Bách Thắng, hai bên đi lại với nhau hàng mươi, mười lăm ngày. Một đàng, Phi Không ưa chuộng lối lẳng lơ của Hoa cô nương. Đàng khác, Đới Ngọc Hoàn rất thỏa mãn vì Phi Không đầu đà nhiều kinh nghiệm và hữu dũng. Hết ở vương phủ, Đới Ngọc Hoàn lại mời Phi Không về Xích Hoa viện chơi, công khai dan díu hàng tháng trời, Phi Không đầu đà mới dứt ra về Kim Cương tự được.
Bởi vậy, việc Lam Y nữ hiệp và Chu Đức Kiệt đại phá Kim Cương tự, tàn sát bọn Phi Không và bảy tên đầu đà Pháp Cổ, Dục Đức Lỗ Năng, Lục Độ, Bảo Tích, Tuệ Giác, Thiết Đầu Đà làm chấn động cả phủ Thuận Vương.
Riêng đối với nhà họ Đới, Ngọc Hoàn rất đỗi cảm xúc khi nhận được tin Phi Không táng mạng.
Theo lời Hắc Đầu Đà là tên độc nhất thoát khỏi trận Kim Cương tự, tả hình dáng năm người đêm hôm ấy, Ngọc Hoàn cố ghi nhớ và thường nói :
- Nếu gặp và nhận ra được bọn chúng sau này, ta sẽ báo thù cho Phi Không.
Không ngờ gặp thiệt. Anh em Chu gia lúc vào hắc điếm Sơn Phu. Đới Ngọc Hoàn chăm chú nhìn, nhưng vì hình dáng dũng mãnh, vẻ mặt tuấn tú giang hồ mã thượng, Đới Ngọc Hoàn mê tít, quên cả thù hiềm, trí óc vẩn vơ tính chuyện quyến rũ, mong sao được cùng anh chàng mỹ mạo nam tử ấy hành lạc ngay đêm ấy thì mới thỏa mãn. Vì thế, Đới Ngọc Hoàn chỉ chú trọng đến Đơn Đao Chu Đức Kiệt mà quên khuấy đi mất Lam Y nữ hiệp.
Hai hôm trước khi xảy ra vụ anh em Chu gia đánh hắc điếm Sơn Phu, cả sát Mẫu Dạ Xoa và đồng bọn, Đới Vĩnh Khang có hai người khách từ Quý Châu đến thăm. Hai người này cũng thuộc về bọn hắc đạo, chuyên nghề cướp lột khách qua sông trên khúc Võ Giang thuộc Xuyên Vỹ huyện bên Quý Châu.
Một người họ Lã, tên Ứng đăng trạc năm mươi tuổi nổi danh trong giới giang hồ với tước hiệu Hắc Sát Thần Ngư, bơi lội như cá vẫy vùng ngoài biển cả, chuyên dùng cây dùi nhọn mũi bằng sắt. Người nữa là một lão phụ, mẹ ruột Lã Ứng Đăng, tên là Tần Tô Hằng, đã bảy mươi tuổi, gầy như hạc, tóc bạc như cước mà sức còn mạnh lắm. Tần thị thường dùng cây gậy sắt có đốt trúc, khiến nhiều hảo hán giang hồ phải thán phục gọi là Bạch Mẫu Ngô Công.
Tần thị tuy đã cao niên nhưng tánh tình ác nghiệt, kiết dóng, đa sát. Răng còn tốt nguyên như lúc thiếu thời, ăn khỏe, uống nhiều. Lã Ứng Đăng rất sợ mẹ, bảo sao nghe vậy.
Hồi ấy, khu vực Võ Giang kiếm ăn không được dồi dào, lại nhân biết tin bạn là Đới Vĩnh Khang làm ăn rất khá giả, nên hai mẹ con tính chuyện sang Xích Hoa viện theo họ Đới hoạt động một phen.
Gặp bạn cũ, Đới Vĩnh Khang rất mừng rỡ, giữ lại chơi và bảo Lã Ứng Đăng :
- Hiền đệ muốn ở lại Xích Hoa viện cũng được, trang viện rộng rãi thừa chỗ ở, thỉnh thoảng ra kéo nhau đi ăn hàng một chuyến thừa tiêu pha cả năm, bằng không ngu huynh biên thư giới thiệu với Thuận Vương bên Kim Lăng, với tài nghệ của lão bá mẫu và hiền đệ chắc chắn sẽ được trọng dụng!... Nhưng dù sao, cũng phải ở chơi ít lâu đã, việc không cần gấp mà...
Mẹ con Lã Ứng Đăng lưu lại đó. Đới Vĩnh Khang đang tính chuyện đi cướp khách thương ở vùng xa, thì bắt được hai vợ chồng thanh niên và cha con người mã phu vào lầm hắc điếm, đem về giam tại Xích Hoa viện vì thịt người hãy còn thừa dùng.
Kế tới hôm thứ ba, Mẫu Dạ Xoa báo về trang viện rằng có một cặp trai gái tới trọ, hành lý nặng nề có nhiều vàng bạc, không cần phải tiếp tay, mặc mẹ con y hành động đủ rồi. Vốn tin ở bản lãnh của Mẫu Dạ Xoa và Hoa cô nương, Đới Vĩnh Khang ở lại trang viện hàn huyên cùng Lã Ứng Đăng và Trần thị. Tuy vậy, y cũng sai thêm bộ hạ tới hắc điếm tiếp tay. Theo thường lệ, mỗi khi bắt được người Mẫu Dạ Xoa cho đem ngay về trang viện giam dưới hầm, rồi lần lượt bị bắt trước đưa làm thịt.
Đêm hôm ấy mãi gần sáng cũng không thấy tin báo tiếp, Đới Vĩnh Khang cùng mẹ con là Lã Ứng Đăng ngồi bàn luận uống rượu chờ tin nóng ruột, bèn sai hai tên kỵ mã đến hắc điếm xem công việc được tiến hành đến đâu. Không ngờ, tới canh năm thì tên tráng đinh canh cửu thấy tiếng chân ngựa lộp cộp ở ngoài phía cổng, bèn trèo lên vọng lầu nhìn xuống nhận ra người nhà, nhưng không hiểu vì lẽ chi, y lại nằm úp trên lưng mấy ngựa, hai tay và hai chân rũ sang bên hông ngựa. Gọi hỏi cũng không thấy trả lời, nên tên gia đinh vội chạy vào báo cho chủ nhân biết.
Đới Vĩnh Khang, Lã Ứng Đăng và Tần thị vội vàng xách khí giới chạy ra leo lên vọng lầu nhìn, quả nhiên thấy như vậy, liền truyền lệnh mở cổng. Cổng vừa mở, con ngựa quen đường tiến vào trong. Gia đinh cầm cương giữ lại, đặt tên nằm úp mặt xuống thì ra đó chỉ là cái xác không hồn.
Ba người vội nhảy từ vọng lầu xuống xem, Đới Vĩnh Khang nói :
- Sai hai tên đi, nay chỉ có một tên chết cứng đơ nằm úp trên lưng ngựa trở về là thế nào?.. Chắc có biến cố ở tửu quán rồi!...
- Bây! Sửa soạn đao mã cho ta đi, mau! Gióng cả hai xe nữa phòng hờ.
Đới Vĩnh Khang tự tay khám xét khắp tử thi tên bộ hạ không thấy qua một vết thương lấy làm lạ :
- Quái! Không có thương tích là thế nào?
Lã Ứng Đăng cũng lắc đầu chịu.
Tần thị đích thân úp sấp tử thi xuống, rọi đèn xem ở vai và sau gáy... Giây lát Tần thị đứng dậy nói :
- Có thương tích. Tên này bị điểm trúng huyệt cân não nên ngay phía trên gáy chỉ có hai vết bầm nhẹ, không xem kỹ không thấy rõ. Thủ phạm tất là một tay võ thuật cao siêu mới dùng nổi thuật điểm huyệt hạ sát lẹ làng như thế này. Thì thể nạn nhân còn mềm và ấm tức là cơ sự mới xảy ra gần đây chưa lâu! Biến cố chắc chắn ở ngoài tửu quán rồi. Ta nên cấp tốc kẻo phí thì giờ!...
Ngựa và xe đã sẵn sàng ở sân.
Đới Vĩnh Khang bỏ ngựa cho gia đinh cỡi theo sau, tự mình thảy lên xe ngựa lái đi trước, Lã Ứng Đăng và Tần thị lên chiếc xe thứ hai phóng chạy theo sau.
Không mấy chốc tới tửu quán. Tên bộ hạ kỵ mã thứ hai đã đón sẵn, chạy vội ra mếu máo nói với Đới Vĩnh Khang :
- Thưa, Mẫu chủ nhân bị sát hại rồi... còn cô nương thì...
Đới Vĩnh Khang trợn mắt, hỏi vội :
- ... Cô nương thì sao? Ngươi không nói lẹ lên một chút nữa hả?
- Cô nương bị gãy giò, đau đớn lắm, Chúng con đã khiêng cô nương từ địa huyệt lên trên phỏng rồi... Trừ ra hai người, còn tất cả đã táng mạng...
Không nghe hơn nữa, Đới Vĩnh Khang gạt tên bộ hạ sang một bên đi thẳng vào trong quán, thấy xác Mẫu Dạ Xoa hãy còn nằm ngửa trên mặt đất, chân tay co quắp, mặt nhăn, mắt trợn trừng trừng tỏ vẻ đau đớn lắm khi sắp tắt thở. Đau đớn, phẫn nộ, Đới Vĩnh Khang ngồi quỳ xuống bên tử thi vợ xem xét vết thương, thấy sườn bên tả bị nát nhừ y hệt kẻ bị phiến đá lớn đè trúng. Họ Đới bèn bế xốc xác Mẫu Dạ Xoa lên tay đem đặt vào căn phòng trong. Có hai giường. Giường bên kia Hoa cô nương đang nằm rên rỉ.
Thấy cha vào, Đới Ngọc Hoàn quay đầu ra, nhăn nhó, nước mắt dàn rụa, miệng thều thào :
- Đau đớn, nhục nhã lắm phụ thân ơi! Bao giờ trả được hận này!
Đới Vĩnh Khang ngồi xuống bên giường vuốt mấy đợt tóc lòa xòa xuống trán Đới Ngọc Hoàn, khẽ gật đầu :
- Cha sẽ trả thù, con an tâm...
Nói đoạn, họ Đới cúi xuống xem vết thương ở chân con gái. Ống chân bị gãy lìa, chỗ gãy xương nát nhừ. Rút con dao găm gài ở đai lưng ra, Đới Vĩnh Khang từ từ cắt miếng vải quấn cổ chân bị gãy, bỏ chiếc võ hài ra và để nguyên chiếc vớ trắng cho sạch sẽ. Tuy họ Đới làm việc rất nhẹ tay, nhưng cũng tránh khỏi sự đau đớn cho Đới Ngọc Hoàn mỗi khi động phải chỗ có chân gãy.
Đới Ngọc Hoàn nghiến răng cố chịu đau :
- Con nữ tặc! Ta thề cùng mi chẳng đội trời chung!...
- Nữ tặc nào, con?
Đới Ngọc Hoàn chỉ tay ra ngoài nhà, Đới Vĩnh Khang đứng phắt lên đi ra cửa phòng thì vừa gặp Lã Ứng Đăng và Tần thị vào.
Lã Ứng Đăng nói :
- Đới đại ca, tôi đã thâu gọn các tử thi vào trong bao để tùy ý đại ca định đoạt. Hừ! Con Lam Y ghê gớm thiệt!
- Lam Y nào?
- Chưa đọc mấy hàng chữ do con sát nhân ấy để lại trên tường sao? Đại ca ra ngoài nhà mà coi!
Đới Vĩnh Khang vùng vằng, đau đớn, bước thẳng ra khỏi phòng.
Tần thị tiến tới bên giường Đới Ngọc Hoàn vén ống quần lên nhìn qua vết thương, khẽ nói :
- Cháu đừng lo. Bà có thuốc bó rất hay và kinh nghiệm. Chỉ hai mươi ngày lành xương, bốn mươi ngày đi lại được. Sáu tháng sau cháu sẽ tập luyện được như cũ mà nơi bị thương còn có phần rắn chắc hơn trước. Đừng lo!... Hình dáng con Lam Y thế nào?
Đới Ngọc Hoàn kể rõ :
- Nó xinh đẹp lắm bà ạ, quắc thước anh thư. Nước da hồng hào như da đào, tóc đen lánh búi trần, vóc người tầm thước nhưng chắc chắn lăm. Tay kiếm siêu diệt. Cước bộ Bắc phái linh động và tối ư nguy hiểm... Cháu mới nhận được có thế thì đã bị gãy chân rồi!
Dứt lời, nàng hu hu khóc. Tần thị vuốt ve tìm lời dỗ dành, Lã Ứng Đăng lấy tấm khăn lớn phủ lên thi thể Mẫu Dạ Xoa, rồi ra nhà ngoài với Đới Vĩnh Khang.
Sau khi đã đọc mấy hàng chữ trên vách và hỏi tên bộ hạ còn sống sót, Đới Vĩnh Khang suy nghĩ giây lát, truyền lệnh cho bộ hạ giữ kín việc này, lấy nước lau rửa sạch các vết máu, quét vôi tường, thu dọn tửu quán lại cho sạch sẽ như trước.
Khi Lã Ứng Đăng bước tới, Đới Vĩnh Khang nói :
- Tên gia đinh cho ngựa trở về hồi nãy bị đối phương gặp và sát hại ở giữa đường, chớ không phải tại đây. Cho ngựa chở xác về tỏ ý chúng khinh thường ta và có ý cảnh cáo. Như vậy, chắc tên gia đinh đó đã bị đối phương điều tra, biết rõ nơi trang viện. Ta phải ráo riết phòng bị và liệu kế bắt chúng báo thù mới được!
- Đúng là mối tử thù! Đệ xin ra sức giúp đại ca một phen.
Đới Vĩnh Khang bảo gia nhân đem các tử thi bỏ vào một xe ngựa. Đoạn, y vào phòng bế xác Mẫu Dạ Xoa ra xe do y cầm cương. Tần thị cũng nhẹ nhàng bế Hoa cô nương ra xe riêng. Lã Ứng Đăng tự ý lái chiếc xe chở tử thi đi trước về trang viện. Hai xe kia theo sau. Còn các bộ hạ khác ở lại dọn dẹp tửu quán. Đoàn xe ghê rợn về tới trang viện, Đới Vĩnh Khang truyền lệnh gia nhân đem các tử thi vào chôn trong rừng sâu. Riêng có xác Mẫu Dạ Xoa thì để lại sẽ mai táng sau.
Đới Vĩnh Khang hỏi lại Hoa cô nương :
- Con có nhận ra cặp trai gái đêm qua là bọn đánh Kim Cương tự bên Dương Châu không?
- Đúng rồi! Bây giờ con mới nghĩ ra! Chắc nó còn muốn do thám trang viện?
- Việc đó mặc cha lo liệu, con an tâm nghỉ ngơi để Tần lão bà phục thuốc cho.
Ngay hôm ấy, Đới Vĩnh Khang cắt đặt bộ hạ đêm đến người nào cũng có phận sự phải canh phòng, hễ thấy động thì đánh phèng la lên báo động. Thế là Xích Hoa viện trở thành một pháo đài kiên cố.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-02-21 03:48:10casau>
Hồi 20
Thiên bất dung gian, Xích Hoa viện bị hỏa thiêu
Đến Mã Thạch cương, Hán Thọ Đình Hầu báo mộng
 
Màn đêm dày đặc, gió lạnh âm u rít lên từng đợt như tiếng ma hờn quỷ khóc...
Chu Đức Kiệt và Lam Y nữ hiệp phi hành như biến trong đêm tối, không mấy chốc đã tới gần Xích Hoa viện, Lam Y trở ra phía sau, Chu Đức Kiệt hiểu ý, cả hai cùng chạy vòng ra phía sau trang viện, phi thân lên cây cao dòm vào quan sát. Qua tường là vườn cây rộng lớn, ở giữa và quanh vườn có mấy khu nhà nhỏ bằng gạch lợp bằng lá. Chu Đức Kiệt nói nhỏ :
- Thế này thì có đường gạt chúng rồi!
Lam Y chưa kịp trả lời thì có tiếng chó sủa vọng tới.
- Chắc bọn này nuôi chó canh phòng! Thính hơi lắm.
- Ta cứ vào sẽ liệu sau. Hiền muội đáp xuống mặt tường trước đi!
Hai bóng đen nhảy theo nhau xuống mặt tường hoa lẹ làng không một tiếng động. Nhưng có hai bóng trắng từ xa chạy tới...
Đó là hai con chó trắng thiệt lớn, chạy gần tới chân tường thì dừng ngay lại, gầm gừ tìm tòi. Anh em Chu gia nằm dài trên mặt tường như hai pho tượng không nhúc nhắc. Đánh được hơi người, hai con chó tiến tới gần hơn, chưa kịp sủa báo hiệu thì Lam Y đã lẹ như chớp vung luôn hai mũi phi đao theo lối liên châu trúng yết hầu hai con vật. Cùng hộc lên được một tiếng, hai con chó lăn ra giãy giụa vài cái chết liền.
Sở dĩ hạ sát ngay được hai con vật tinh quái ấy vì Lam Y có hai thứ phi đao. Một thứ thường, một thứ có tẩm thuốc độc rất mạnh do Đức Võ Thượng Nhân chế hóa và truyền cho hai đồ đệ. Thứ thuốc đó ngấm vào máu thì kẻ bị trúng đao táng mạng ngay trong khoảnh khắc. Thuốc độc ngấm thẳng vào tim, lưỡi rụt lại, da mặt xám ngắt, chân tay co quắp. Bởi vậy, hai con chó lớn vừa rồi chỉ kịp hộc lên một tiếng lăn ra giãy chết liền.
Anh em Chu gia chưa đứng dậy vội, đưa mắt nhìn tứ phía. Bỗng có tiếng nói léo nhéo, rồi hai người từ gian nhà gạch ở giữa vườn cầm đèn bước ra. Chúng huýt gió gọi chó ba bốn lần.
Một tên nói :
- Lạ nhỉ! Rõ ràng nghe hai con chạy ra phía này, vừa chạy vừa gầm gừ, thế mà mất biến.
Tên khác nói :
- Ta cũng nghe thấy đúng như vậy. Mọi khi chỉ huýt gió nhẹ một tiếng là chúng tới ngay... Hừ! kỳ thiệt! Hay là ta thẳng lối kia xem sao?
- Ờ phải đó, nếu có động ta đánh phèng la báo hiệu ngay.
Hai tên cùng cầm đèn, xách đao, chuệnh choạng đi ra lối hai con chó vừa trúng thương.
- Hai bữa nay trời lạnh quá! Mất cả giấc ngủ. Nếu bắt được bọn tặc đạo ở tửu điếm đem qua, tôi quyết bằm chúng ra thành trăm mới hả giận.
Không mấy chốc, hai tên gia đinh ra tới chỗ hai con vật chết lăn trên mặt đất.
- Ủa! Mấy con quái phải gió hay sao thế này.
Một tên để đèn xuống bên sờ vào bụng chó :
- Mình nó hãy còn ấm, vừa mới bị chết xong.
Lật xác chó lại, y trông thấy giải phi đao màu lam lòng thòng ngay chỗ yết hầu con vật, máu ri rỉ chảy. Xem xác con chó kia cũng vậy.
- Có động rồi mày ơi, đánh phèng la, mau!
Nhưng, mau cũng chẳng kịp, cả hai tên cùng rợn tóc gáy vì từ phía sau lưng, có vật gì lạnh giá áp vào gáy chúng.
- Biết điều câm miệng ngay kẻo về chầu tổ bây giờ!.
Hai tên sợ toát mồ hôi, cứng cả lưỡi, đứng đờ người ra, buông khí giới rớt xuống đất.
Lam Y thâu hai chiếc đèn để lấp vào cây.
Chu Đức Kiệt hỏi một tên :
- Thằng Đới tặc ở đâu?
- Dạ... ở trên... nhà lớn ạ.
- Có ai nữa không?
- Dạ có... có hai ngườị. nữa ạ.
- Mấy gian nhà trong vườn này là nhà chi?
- Nhà... lợp ngói là... tầu... ngựa, còn thì... là... là nhà để rơm và... và thóc gạo ạ...
Không cần biết thêm, anh em Chu gia lấy thắt lưng của chúng trói chặt lại, cắt miếng vạt áo nhét đầy miệng chúng.
Đoạn Lam Y lấy lại hai ngọn phi đao chùi sạch vết máu lên áo tên gia đinh.
- Bỏ xác hai con chó và hai tên này ra ngoài tường, hiền huynh ạ.
- Khỏi cần! Đằng nào cũng nhốn nháo ngay bây giờ. Ta phóng hỏa đốt nhà lá khiến chúng cứu hỏa hoang mang rồi đánh thẳng lên nhà trên.
Anh em Chu gia cầm đèn giấu ra phía sau lưng chạy ra chỗ mấy căn nhà lá phi thân lên nóc dốc dầu xuống mái lá. Dầu lửa gặp mái lá bốc cháy ngay, không mấy chốc ngọn lửa đã bốc lớn ngùn ngụt. Bọn gia đinh thấy cháy hò nhau kẻ lấy thang, người lấy nước chạy ra vườn cứu hỏa ầm ầm. Các tên khác có phận sự canh phòng phía trước trang viện, trông thấy ngọn lửa bốc cao ở vườn sau và tiếng reo hò ầm ĩ bèn chạy vào đại sảnh cấp báo.
Đới Vĩnh Khang đang ngồi uống rượu, đàm đạo với Tần thị và Lã Ứng Đăng, chờ động tĩnh. Họ Đới nói :
- Giờ này mà bọn Lam Y chưa tới, chắc chúng có ý kéo dài đòn cân não, làm ta chờ đợi mệt mỏi rồi mới tới đánh. Vậy, từ mai trở đi ta thay phiên nhau thức canh phòng cho khỏi mất sức.
Tần thị lắc đầu :
- Dự đoán như vậy sai lạc cả rồi. Hẵng hỏi trang viện này có thể ví được với Kim Cương tự không? Có kiên cố và nhiều người bằng ngôi chùa ghê gớm của Phi Không chăng? Chắc không? Vậy, nếu chúng không tới thì chắc là đi thẳng nơi khác rồi. Việc đề phòng cứ đề phòng, lúc phải đánh cứ đánh, chớ chẳng nên quá tin ở lực lượng của ta. Căn cứ vào trận Kim Cương tự, ta đủ biết bọn Lam Y bản lãnh hẳn không vừa!
Đới Vĩnh Khang tỉnh ngộ đâm ra lo lắng :
- Làm thế nào được bây giờ?
Tần thị quắc thước nói :
- Bây giờ mới hỏi làm gì được thì ta trả lời sao nổi? Cắt đặt đề phòng đã chu đáo lắm rồi, không có chi đáng trách. Ta chỉ so sánh lực lượng của ta và của địch đó thôi. Không nên tự phụ nguy hiểm tới tánh mạng. Trái lại, nên ra công đánh và phải biết tiến thoái tùy theo trường hợp. Câu nệ, háo thắng khinh thường kẻ địch là nguyên nhân thất trận. Hai người nên cố tâm nghe lời lão phu này mới được!
Giữa khi đang bàn luận, tên gia đinh hớt hơ hớt hải chạy vào.
Ba người tưởng có động, đứng phắt dậy.
- Bẩm chủ nhân, mấy căn nhà để thóc và rơm ở sau vườn bốc cháy. Cho chúng con ra chữa lửa?
Đới Vĩnh Khang ngần ngừ chưa quyết định ra sao thì Tần thì nói ngay :
- Mấy gian nhà sau vườn tự dưng bốc lửa, đáng ngờ lắm! Chắc địch thủ gây rối để đột nhập nơi đây. Được! Để hai tên bộ hạ ở lại phía trước với ta, còn hai người liệu đốc thúc tất cả ra chữa lửa ngay kẻo muộn.
Thấy Tần thị sáng suốt, cắt đặt đâu vào đấy, Đới Vĩnh Khang cả mừng, để lại hai gia đinh cho Tân thị sai bảo, còn thì cùng Lã Ứng Đăng đốc thúc nội bọn ra cả phía vườn sau.
Đới Vĩnh Khang vừa chạy vừa hút gió gọi chó.
- Quái! Hai con vật này đâu mà gọi cũng không tới.
Lã Ứng Đăng nói :
- Có lẽ nó ra chỗ đám cháy.
Một tên gia đinh thưa :
- Hồi nãy, hai con chó còn lảng vảng ở quanh đại viện, không lẽ chúng ta ra chỗ cháy thấy lửa bốc, bóng người nhấp nhô mà im lìm không sủa.
Nói về anh em Chu gia phóng hỏa xong, bèn phi thân ra ngoài tường chạy vòng ra mặt tiền, thoáng thấy bóng người canh phòng trên vọng lầu, hai người phi thân lên cây lớn gần đó. Chu Đức Kiệt bắt chước tiếng chuột.
Tên gia đinh trên vọng lầu vội ghé đầu ra ngoài ngó ngàng, nhìn dọc, lẩm bẩm :
- Chuột chi kêu ở đâu mà như ở trên cây vậy?
Vừa nói hết câu, bỗng một bàn tay sắt túm tóc y giật ngửa đầu ra phía sau rắc một tiếng. Tên đó bị gãy cổ chết không kịp ngáp. Lam Y vẫn túm tóc để xác chết nằm xoài ra đó. Thì ra, trong khi tên kia ngơ ngác, nàng đã phi thân từ cây sang vọng lâu, như một vệt đen mà tên gia đinh không trông thấy nên bỏ mạng. Thấy Lam Y hành động đã xong. Chu Đức Kiệt phi thân sang vọng lâu nhìn vào trang viên. Giây lát, thấy gia đinh chạy tới tấp theo Đới Vĩnh Khang và Lã Ứng Đăng đi cứu hỏa.
- Trúng kế rồi!
Lam Y nói :
- Chưa chắc hiền huynh ạ, nếu A Hoành nói đúng thì còn một nhân vật thứ ba nữa, Vừa rồi mới thấy có hai người cùng bọn gia nhân đi ra phía vườn sau thôi.
- Phải! Còn thiếu lão phụ!
Chờ cho bọn Đới Vĩnh Khang đi khuất, anh em Chu gia liền tuốt khí giới, đáp xuống đất lần theo bóng tối chạy băng qua sân gạch lớn đứng sát lưng vào tường trang viện. Ngó qua, các cửa mặt tiền đóng kín, Chu Đức Kiệt cầm tay Lam Y đi lẹ ra lối cửa giữa. Nhìn kỹ thấy hai cánh cửa chỉ khép lại chớ không đóng kín.
Lam Y nói nhỏ :
- Cửa chính không đóng chặt, vô lý quá!
Nhận xét trên tường cẩn thận, hai người đứng nép lưng vào tường ở hai bên cửa, đoạn Lam Y lấy mũi Thái Dương kiếm đẩy bật cánh cửa vào phía trong... “soạt!” một tiếng, ngay ở trong ngưỡng cửa, một miệng hầm tối om mở rộng ra bằng chiếc chiếu lớn. Cũng may, nếu không thận trọng thì hai anh em đã trúng cơ quan đối phương rơi cả xuống hầm rồi. Nhìn vào, phía trong khá rộng rãi, bày biện đơn sơ, không có thắp đèn, nhưng ánh sáng lọt từ phòng trong qua các khuôn kính ra ngoài. Chu Đức Kiệt ra hiệu cho Lam Y rồi phóng mình nhảy vụt vào trong nhà. Lam Y nhảy theo. Trong cuối căn này có hai cửa ở hai bên đi vào phòng trong. Trong khi Chu Đức Kiệt đứng canh chừng, Lam Y nhảy lên xà ngang phía dưới mái nhìn qua các khuôn kính quan sát bên trong. Căn này hình như là đại sảnh nên bày biện gọn gàng, trang hoàng đẹp đẽ. Vắng ngắt không có một bóng người. Lam Y nhảy xuống bảo cho Chu Đức Kiệt biết tình hình gian trong.
Hai người tiến đến gần cửa nhận xét, thấy không có then cũng chẳng có khóa nên có ý nghi ngờ, Lam Y nhìn lên bức tường thấy có một vật bằng đồng thau lồi ra khỏi mặt tường như chiếc ly nước lớn. Nàng bèn lấy mũi kiếm ấn mạnh vào miếng đồng đó, thì ở ngay kế bên mở rộng ra một khuôn cửa lớn khác thông vào gian trong. Ánh sáng đèn theo khuôn cửa tràn ra ngoài.
Thì ra, đó mới là cửa thật còn hai khuôn ngờ là cửa ở hai bên, có lẽ lại là một cơ quan lừa kẻ lạ.
Anh em Chu gia theo nhau nhảy vọt vào phòng trong, chân vừa tới đất thì từ miệng con sư tử lớn bày ở giữa nhà vọt ra một mớ đến bảy, tám chiếc nhắm thẳng chỗ hai người đứng bay tới. Không ai bảo ai, hai người vội nhảy sang hai bên tránh khỏi luồng tên. Mớ tên đó phát vụt ra ngoài cửa giữa, Lam Y nhảy tới bên con sư tử chém mạnh một lát kiếm.
Sư tử bằng cây sơn đỏ đứt đầu rớt cộc xuống gạch. Thân rỗng chưa mấy thứ cơ quan phát tên.
Lam Y nói :
- Chắc con sư tử này có cơ quan liên lạc với cánh cửa giữa, nên khi mở cửa thì tên phát xuất ngay một cách bất ngờ.
Giữa lúc ấy thì có tiếng lanh lảnh quát :
- Giỏi thay cho hai tên này, đang đêm dám đột nhập nhà người, phi dâm tắc đạo! Con nào là Lam Y hãy ra đây nếm mùi trượng của bà!.
Anh em Chu gia nhận ra chủ thứ tiếng lanh lảnh vừa rồi là một bà lão tóc bạc như cước, thân hình gầy guộc, đôi mắt sáng quắc như tia ra lửa, vận áo dài tới đầu gối, quần bị ống, tay cầm một cây thiết trượng có đốt, coi hùng dũng lạ thường, đang đứng chắn ở cửa giữa.
Lam Y bấm tay Chu Đức Kiệt rồi đáp lại :
- Lam Y chính là ta đây, ngươi là ai trọng tuổi rồi sao không biết ngồi một nơi niệm Phật may ra sau này được siêu sinh tịnh độ, còn vác gậy ra đây tranh tài đua sức nữa sao! Nơi trang viện này là nhà của người hiền lương hay sào huyệt của tên tặc đạo Xích Hoa Xà họ Đới và đồng bọn?
Lão phụ trợn mắt hét :
- Khỏi nhiều lời! Hãy coi trượng của Bạch Mẫu Ngô Công. Rán mà đỡ con ạ!
Tần thị nói dứt lời, hoa trượng vùn vụt bật lên những tiếng gió ghê hồn, nhắm Lam Y đánh tới tấp. Lam Y cũng múa kiếm gạt đỡ, trả đòn. Đỡ thử mấy ngọn đầu, nàng khen thầm lão phụ quả có sức mạnh, bản lãnh đáng liệt vào hạng cao siêu. Lam Y dùng sức, tận tâm đánh lại mở trận đấu bằng những ngọn kiếm tối độc khiến Tần thị phải kinh ngạc về tài nghệ siêu đẳng của người thiếu nữ xinh đẹp nhường kia, mà bản lãnh chẳng vừa.
Tần thì vừa đánh vừa nghĩ thầm :
- Thảo nào con này dám đương đầu với Kim Cương tự và Đổng thị. Đường kiếm này trông quen thuộc lắm, không biết đã gặp ở đâu rồi!
Hai người, một già một trẻ đánh nhau kịch liệt. Luồng trượng, luồng kiếm phát ra lạnh cả tứ phía. Khí giới va vào nhau chan chát nảy lửa rùng rợn.
Chu Đức Kiệt tiếc cho lão phụ bản lãnh cao cường mà đứng về bên hắc đạo.
Tần thị biết gặp phải cây kiếm khách nguy hiểm nên cố tránh chớ không đỡ e hao tổn cây trượng sắt.
Nhận thấy vậy, Lam Y tấn công ráo riết, đánh lối liên hoàn kiếm khiến Tần thị chưa kịp tránh đòn này thì thế kia đã áp tới vùn vụt. Dù tài nghệ siêu việt và hữu dũng, nhưng Tần thị gặp phải tay võ nghệ chân truyền điêu luyện, lực năng cử đỉnh, thế khả bạt sơn, hơn nữa lại có những thành tích giang hồ như mới tới Giang Nam mà đã tàn sát bọn đầu đà Kim Cương tự, gây nhiều nỗi hoang mang cho gian vương nên không dám khinh thường. Còn sự kiện nữa là Lam Y đang thời sung sức, trăm trận đánh, trăm trận được, tinh thần vững chãi hăng hái. Tài nghệ ấy, dũng lực ấy lại thêm cây trường kiếm Thái Dương là một bảo vật thì dù Tần thị có ghê gớm tới đâu mà vấp phải nhà nữ kiếm khách hữu hạng ấy, với thời khắc ngọn trượng oanh liệt cũng bị lưỡi kiếm áp đảo tơi bời.
Tần thị vừa đánh vừa mong bọn Lã Ứng Đăng và Đới Vĩnh Khang trở về tiếp cứu.
Quả nhiên, hai người này đang đốc thúc gia đinh cứu hỏa ở vườn sau, thì hai tên bộ hạ chạy ra cấp báo có thích khách đột nhập trang viện đang hỗn chiến với Bạch Mẫu Ngô Công. Tuy lửa bốc vào rơm thóc bốc cháy ngùn ngụt hết gian nhà nọ truyền sang gian nhà kia, bao nhiêu nước đổ cũng không vừa, nghe cấp báo, Đới Vĩnh Khang cũng phân đôi nội bọn.
Một phần để cứu hỏa, một phần theo họ Đới và Lã Ứng Đăng rầm rộ kéo ra phía trước nhập chiến. Nghe nói tới Lam Y, kẻ thù sát thê đả tử, Đới Vĩnh Khang nổi giận xung thiên, chỉ muốn bắt ngay được Lam Y xé vụn xác ra mới hả dạ căm hờn.
Hai người đi trước, lục bộ hạ vác khí giới theo sau, kéo thẳng vào sảnh đường, nơi Tần thị cùng Lam Y đan hỗn chiến. Chưa vào tới nơi Đới, Lã hai người đã nghe thấy tiếng trượng bay, kiếm rít thì đoán biết ngay là đối phương chẳng phải tay vừa.
Từ lúc khởi chiến tới giờ, Chu Đức Kiệt vẫn đứng rảnh tay áp trận phòng vệ những sự bất ngờ.
Từ ngay hai anh em Chu gia cất bước giang hồ đem tài lực và lưỡi gươm thiêng ra hành hiệp cứu khốn phò nguy, thì tiếng là hai người nhưng hành động rất hạp khớp như một. Trong khi hành động trí óc hai anh em như có một hệ thống liên lạc vô hình nhất cử, nhất động đều theo một khuôn khổ hạp với tình thế, lúc tiến khi thoái răm rắp. Cây Thất Tinh đao, ngọn Thái Dương kiếm liên kết hạp pháp như hình với bóng, chưa bao giờ gạt bậy một đòn hay đánh thừa một thế. Không những hai người có tình cốt nhục mà còn đồng môn đồng đạo, ngang tài bằng sức. Hai khối võ lực siêu diệt ấy hạp nhau lại thì trên trường chinh chiến dù có vào giữa đám quân trăm vạn cũng chẳng khác chi nơi không người vậy. Cho nên, khi bọn Đới Vĩnh Khang vào tới nơi, Chu Đức Kiệt đã sẵn sàng ra tay đánh cản, và Lam Y cũng không cần phải tiểu tâm phòng bị đối phương tấn công bất ngờ.
Vừa vào tới ngưỡng cửa, Đới Vĩnh Khang nhận ngay ra Lam Y là một thiếu nữ nhan sắc tuyệt trần giữa làn kiếm trắng sáng ngời. Tên tặc đạo hiếu sắc đổi ngay mối hận thù ra tình thèm muốn, ao ước bắt được nàng, áp bức vui vầy cho thỏa mãn.
Áp trận đấu là một chàng mãnh hán kiêu hùng, tóc búi ngược, khuôn mặt đầy đặn, mũi cao, mắt xếch, dáng dấp oai dũng chẳng khác chi Triệu Tử Long thời Hậu Hán. Chàng đó đứng thẳng người, hai tay chống nạnh lên hai bên sườn, vẻ mặt thản nhiên nhưng thách thức lẫn đôi chút khinh thường.
Phần Chu Đức Kiệt nhận thấy họ Đới có nét mặt lưu manh đặc biệt của một tên tặc đạo coi mạng người như mạng ngóe. Mắt dài mà nhỏ, lông mày chổi xuể giao nhau, quai hàm bạnh ra như mang rắn. Cổ lớn, vai rộng, bắp vai u lên, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn dưới làn áo. Tuy người thấp lùn nhưng với bề ngang ấy, họ Đới phải có sức mạnh đáng kể dù tuổi đã ngoài năm mươi. Tay cầm cây đoản đao to bản. Người đi kế bên Đới Vĩnh Khang, chít khăn mỏ, râu ba chồm ngắn, áo cào vát, chân quấn xà cạp hướng mã, dận giày vải mỏng gót. Tay cầm cây xiên bằng sắt. Theo sau, lũ bộ hạ tên nào cũng đai nịt gọn ghẽ cầm võ khí trường hay đoản. Một tên, có lẽ là trưởng đoàn bộ hạ, trông thấy Chu Đức Kiệt, vội tiến lên mấy bước tay chỉ miệng nói :
- A há! Thưa chủ nhân, chính tôi đã gặp hai người này bữa nọ ở trên đường và hướng dẫn chúng về Sơn Phu tửu quán đó.
Vừa dứt lời thì tên đó đã bị Chu Đức Kiệt phóng cho một cước trúng bụng bật ngửa vào Đới Vĩnh Khang, hộc máu tươi chết ngay.
Họ Đới thấy địch thủ đang đứng thản nhiên như người chờ chịu trận, mà chỉ trong chớp mắt đã lẹ như con báo, chồm tới phóng cước hạ sát luôn tên trưởng đoàn bộ hạ một cách rất dễ dàng, thì giật mình gạt xác nạn nhân sang một bên quát lớn.
- Hạ sát tên bộ hạ có chi đáng kể, coi đao ta đây!
Chẳng nói chẳng rằng, Chu Đức Kiệt đứng chắn ngang cốt ý không cho bọn mới tới nhập trận đánh giúp Bạch Mẫu Ngô Công.
Đới Vĩnh Khang múa đao xô vào đánh Chu Đức Kiệt, Lã Ứng Đăng cũng hoa cây dùi sắt nhảy vào đánh giúp. Bọn bộ hạ kẻ giáo người đao đổ xô vào hãm họ Chu. Thanh Thất Tinh đao loang loáng, chỉ đông đánh tây, tả xung hữu đột, cặp chân linh động lúc đá, đạt khi chèn, gạt khiến bọn bộ hạ trúng đòn, gãy chân, dập tay, bể ngực, vỡ mặt... Hai bên mới giáp chiến được vài hiệp mà có tới bảy tên bị tử thương rồi. Đới Vĩnh Khang tức giận vừa đánh vừa hét như sấm động.
Nói về Tần thị đấu cùng Lam Y đã ngót trăm hiệp biết khó bề thua thắng. Cũng vậy, Lam Y đánh đỡ như thường xem bản lãnh đối phương đi tới mức nào. Tới lúc thấy bọn Đới Vĩnh Khang kéo đến đông, nàng bèn đổi kiếm pháp tấn công ráo riết khiến Tần thị phải liên tiếp hồi hộ luôn sáu bảy bước. Tần thị giận lắm, tiến trở lại một bước đánh gần thúc mạnh đầu trượng sắt vào mặt địch thủ theo thế Quải Sơn Trượng. Hai người thủ sát nhau quá, Lam Y lẹ như cắt, né đầu tránh đòn độc, vòng tay lên bắt lấy cây trượng cặp vào nách, đồng thời tay hữu thúc đốc kiếm vào mặt Tần thị. Đòn gần, đánh vừa mạnh vừa lẹ khiến Tần thị dù bản lãnh biết mấy cũng không tránh nổi thế Cầm Long Phục Hổ của Lam Y.
Tần thị hoảng sợ kêu lên một tiếng vội buông rời cây trượng sắt ra ngã người ra phía sau lộn đi hai vòng, trước là để tránh cái đốc kiếm kinh khủng ấy, sau là cây trượng vừa bị đoạt rồi tránh xa đối phương được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
Lam Y đang định tiến tới kết quả luôn tánh mạng lão nữ tặc, thì chợt thấy Tần thị vung tay luôn hai cái... Hai viên thiết đạn nhằm Lam Y bay tới. Nàng vội né đầu tránh đạn bay vụt ra ngoài trúng ngay chiếc độc bình Giang Tây lớn bày trên chiếc kỷ trạm thấp trong góc sảnh, vỡ tan tành. Thừa dịp, Tần thị liệng luôn hai thiết đạn nữa, Lam Y tay tả cầm trượng gạt rớt xuống gạch.
Lã Ứng Đăng biết Lam Y là tay lợi hại, sợ mẹ bị nàng rượt theo hạ sát, vội vàng bỏ Chu Đức Kiệt cho Đới Vĩnh Khang đối phó, tự mình nhảy tới cản đường Lam Y. Hét lên một tiếng lớn, Lam Y lao cây trượng sắt vào giữa ngực Lã Ứng Đăng. Họ Lã giơ đùi sắt gạt trượng rớt sang bên xoảng một tiếng, nhưng Lam Y đã lao người tới hớt lưỡi kiếm trúng đầu, cổ Lã Ứng Đăng lăn lông lốc trên gạch như chiếc sọ dừa. Tử thi đổ xuống, huyết vọt ra như tưới.
Rảnh tay, Lam Y quay lại tìm Tân thị, lão phụ biến đi nẻo nào mất rồi.
Nàng nhìn qua trận thế, thấy vỏn vẹn Đới tặc còn có hai tên bộ hạ đánh vùi cùng Chu Đức Kiệt, thì tủm tỉm cười.
Cánh cửa ở phía tường bên tả đại sảnh còn mỡ hé, Lam Y dự đoán Tần thị trốn qua lối đó vào hậu đường.
Nghi ngờ có cơ quan, nàng tới tay chiếc ghế liệng thẳng vào đó, cánh cửa bật tung ra, Lam Y nhảy ùa vào theo, tầm ngang trường kiếm nhìn quanh :
- Đó là căn phòng lớn rất trang nhã. Có hai chiếc giường, một buông mùng và một vén mùng. Lam Y đến gần giường có mùng dùng mũi kiếm vén cửa mùng lên... Bỗng nàng giựt mình lùi lại một bước, nhưng mỉm cười, nói một mình :
- Tử thi Mẫu Dạ Xoa mà cứ tưởng ai! Ta nhát qua!
Ngờ có kẻ núp sau mùng, nàng chém đứt cột giường cho mùng ụp xuống, nhưng không có ai cả. Nhìn đó đây, Lam Y tiến sang giường bên kia, nhìn cách thức đoán ngay là giường của Hoa cô nương Đới Ngọc Hoàn. Chăn đệm hãy còn in dấu người, vậy người đi đâu? Trong góc phòng, cánh tủ nhỏ mở rộng, quần áo trong đó bị đảo lộn vỡ tung như có người nào đã vội vàng tìm kiếm lấy vật gì.
Lam Y đi luôn vào căn phòng kế bên, Căn này rộng lớn hơn phòng ngoài. Cách trang hoàng bày trí tỏ ra đây là căn phòng của phụ nữ. Phải rồi! Đây mới là phòng của Hoa cô nương. Hai chữ Ngọc Hoàn thêu trên gối còn kia. Nhưng Bạch Mẫu Ngô Công vừa mới chạy vào đây đã biến đâu mất cùng Đới Ngọc Hoàn?
Chợt một cơn gió lạnh thổi tung màn cửa sổ xây cuốn lùa vào phòng... Lam Y dùng kiếm gạt tấm màn cửa sang bên. Cánh cửa mở ra phía ngoài che lấp bởi tấm màn cửa, nên Lam Y mới không nhận ra là cửa mở. Nàng lẩm bẩm :
- Có lẽ lão phụ đem Hoa cô nương trốn ra lối này. Nếu vậy, chắc nó đi xa rồi, chẳng cần tìm kiếm mất thì giờ.
Lam Y bèn quay trở ra đại sảnh. Tuy Đới Vĩnh Khang võ nghệ cao cường và có sức mạnh, nhưng không phải là đối thủ của Chu Đức Kiệt.
Tần thị thua chạy, Lã Ứng Đăng tử trận, bộ hạ còn vỏn vẹn có hai người, các sự kiện ấy khiến Đới Vĩnh Khang đã kém địch thủ lại còn hoang mang hơn, thành thử đao pháp rối loạn trước những thế đánh vô cùng biến ảo của Chu gia. Biết tình hình nguy hiểm trầm trọng, suy đi tính lại không liều không được, Đới Vĩnh Khang dồn toàn sức vào hai tay lăn xả vào liều mạng đánh, gầm thét dữ dội như lão hổ. Chu Đức Kiệt Mỉm cười chống trả lại. Họ Đới lao thẳng người đâm mũi đao vào bụng Chu Đức Kiệt. Lẹ làng né sang bên, họ Chu dùng dọng đao gạt mạnh. Bị cái gạt nặng nề ấy, Đới Vĩnh Khang tê buốt cả cánh tay, cây đoản đao rời khỏi tay y văng ra đánh xoảng một tiếng gần chiếc cột nhà.
Họ Đới vội vàng chạy tới định nhặt đao lên, nhưng Chu Đức Kiệt đã phóng tới trước giẫm chân lên lưỡi đao :
- Đới tặc! Chết đến nơi rồi không biết quỳ xuống xin hàng sao!
Căm hờn lộ ra trên nét mặt sần sùi, Đới Vĩnh Khang chạy ngược lại phía sau lượn hai mũi giáo của mấy tên bộ hạ đã bị tử thương, hầm hè :
- Chết thì thôi, không khi nào chịu hàng cái thứ mi. Chết bây giờ, chỉ hai mươi năm sau ta sẽ thành hảo hán để moi ruột mi ra báo mối tử thù! Coi đây!
Dứt lời, Đới Vĩnh Khang nhằm ngực địch thủ phóng một ngọn đáo thiệt mạnh, nếu trúng thì đối phương bị ngọn giáo xiên qua ngực gài luôn vào chiếc cột lớn ở ngay sau lưng. Nhưng đâu có dễ dàng thế!
Chu Đức Kiệt khẽ né sang bên nhường cho ngọn giáo lướt qua bên cho ngọn giáo cắm phập vào chiếc cột cây.
- Chà! Phương pháp phóng giáo của nhà ngươi hay quá! Thiếu chút nữa thì trúng!
Nói đoạn cười vang. Tức giận đùng đùng, Đới Vĩnh Khang muốn bắt ngay được địch thủ mỗ bụng phanh thây moi gan nhắm rượu mới hả giận. Nghiến răng kèn kẹt, y nhắm thắp xuống chút nữa phóng luôn ngọn thứ hai, mạnh hơn.
Ngọn giáo lướt qua khoảng trống nhắm ức Chu Đức Kiệt lao tới. Điềm nhiên, họ Chu chờ ngọn giáo gần tới đưa Thất Tinh đao gạt phắt văng ra một chỗ.
Đoạn lẹ như chớp, chàng lượm cây đoản đao đang dẫm ở chân, nhằm ngực Đới Vĩnh Khang phóng mạnh. Cây đao bay xẹt như làn chớp...
Họ Đới chưa kịp nhận xét tình hình khi Chu Đức Kiệt cúi xuống lượm cây đao lên, thì đã bị trúng thương, lưỡi đao xuyên qua ngực suốt ra phía sau lưng. Rú lên một tiếng lớn, Đới Vĩnh Khang trào máu miệng, lảo đảo quay té úp mặt xuống đất, thành thử đè chặt cán đao đâm sâu thêm lút tới cán... Hai chân co vào duỗi ra mấy cái, rồi nằm thẳng đờ...
Từ lúc chủ nhân bị đối phương gạt mất đao, hai tên bộ hạ còn sống sót lại kinh sợ đứng nép cả vào góc tường run bần bật. Nay lại thấy họ Đới đã táng mạng, chúng tưởng sẽ bị hạ sát luôn thể nên vội vàng buông khí giới quỳ xuống van xin không ngớt miệng. Giữa lúc ấy, Lam Y từ nhà trong bước ra. Đồng thời, tám tên gia đinh chữa hỏa ở vườn sau chạy về cấp báo với chủ nhân, nhưng khi tới đại sảnh thấy cảnh máu đổ đầu rơi thì chúng đứng sững cả lại, biến sắc kinh sợ định quay ra chạy.
Chu Đức Kiệt quát lớn :
- Đứng cả lại! Tên nào định chạy, ta lấy thủ cấp tức thì! Vào cả trong này. Mau!
Tám tên gia đinh líu ríu kéo nhau vào đại sảnh quỳ xuống gần hai đồng bọn.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Bây đang cứu hỏa vào đây làm chi?
Một tên nói :
- Không chữa được, lửa thiêu hẳn cả mấy căn nhà lá nên chúng con chạy về báo cho Đới chủ nhân hay.
Chỉ xác họ Đới, Chu Đức Kiệt nói :
- Chủ nhân các ngươi đây này, để ta cho các người theo nhau xuống suối vàng mà báo cáo cho y biết.
Dứt lời, Chu Đức Kiệt túm tóc một tên lôi ra cạnh tử thi Đới Vĩnh Khang, giơ đao... định chém.
Tên đó sợ quá, tái mét, chắp tay lại kêu van :
- Chúng con... nghèo... nghèo nàn... nên phải theo rồi... chủ... chủ nhân con bắt... bắt hành động như... như vậy...
- Chà! Các ngươi ngụy biện! Bao năm theo Đới tặc làm thịt người không biết ghê tay, nay còn viện lẽ nọ kia van xin cái chi!
Chu Đức Kiệt cốt ý dọa nạt cho chúng sợ thôi, nên chàng tra đao vào vỏ, buông tóc tên kia cho nó chạy quỳ chỗ đồng bọn.
Lam Y chạy vào nhà trong, giây lát trở ra với một cuộn dây thừng lớn.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Tên nào thuộc hết đường trong trang viện này?
Một tên có tuổi hơn cả giơ tay :
- Thưa, con ạ.
Hai anh em Chu gia trói giật cánh khuỷu chín đứa kia lại để đó.
Lam Y bảo tên nọ :
- Có bao nhiêu người bị giam cầm trong trang viện này.
- Dạ, hiện có bốn người, mới giam được mấy bữa nay.
- Họ ở đâu?
- Ở dưới hầm ạ.
Chỉ tử thi Lã Ứng Đăng, Lam Y nói :
- Trừ tên kia và mụ Bạch Mẫu Ngô Công, còn ai khác ở đây không?
- Bẩm không, Tần thị và Lã Ứng Đăng đây là mẹ con. Cả hai cũng mới tới chơi nơi trang viện được vài ngày nay.
- Có bao nhiêu cơ quan tại đây?
Tên nọ chỉ con sư tử gỗ bị chém đứt đầu và hai cánh cửa giả ở hai bên đại sảnh :
- Có nơi phát tên ở con sư tử này. Còn hai cửa kia mở ra được thì có hai lưỡi dao lớn cài trong tường rớt thẳng xuống khiến kẻ gian tế đột nhập đại sảnh có thể bị xả dọc suốt từ đầu tới chân được.
- Làm thử ta coi. Từ trước tới nay đã có ai táng mạng vì cơ quan đó chưa? Nói thiệt!
- Làm để phòng bị thôi, chớ chưa từng có ai vô đây.
Nói đoạn, tên ấy đi đến góc tường cầm cái giá để đèn đóng trên tường lắc mấy cái. Cánh cửa giả vẫn y nguyên không nhúc nhích.
- Quái! Con thấy chủ nhân đã có lần vặn cái giá đèn này thì cửa mở, dao bập xuống mà bây giờ thì...
Không chờ tên đó nói nốt, Lam Y tiến đến cầm giá đèn kéo dọc xuống. Quả nhiên cánh cửa mở bông ra, đồng thời lưỡi dao to bỗng choán hết bề ngang cửa rơi phập xuống ngưỡng cửa.
Lam Y gạt ngang cái giá đèn. Lần này vận chuyển được. Lưỡi dao rút hẳn lên vào trong tường, hai cánh cửa tự đóng lại như cũ.
- Tụi tặc đạo này khéo bày ra thứ máy chém này kể cũng tân kỳ!
Tên nọ dẫn anh em Chu gia đi ra phòng ngoài chỉ miệng hầm vẫn mở từ lúc hai người nhập đại sảnh :
- Miệng hầm này không có lối xuống. Ở dưới là chiếc địa võng có móc sắt. Ai vô tình nhập chánh môn mà không bấm nút đồng ở kế bên khung cửa thì sẽ sà xuống hầm ngay. Lúc người sa xuống địa võng, chuông sẽ rung động vào đại sảnh và tư phòng của họ Đới ngay.
Dứt lời, tên đó bước tới gần bức tượng bằng đồng đúc hình Hồng Hài Nhi kê ở bên tường xoay đi xoay lại mấy cái. Tự nhiên miệng hầm đóng sập lại như cũ. Anh em Chu gia bước tới gần, nhìn kỹ lắm mới nhận ra vết khác thường quanh miệng hầm.
Lam Y nói :
- Xưa kia, Gia Cát Lượng chế ra mộc nhân mộc mã kể đã ghê gớm, như những cơ quan này thiết lập còn tinh xảo hơn nhiều. Hiền huynh có đồng ý không?
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Hiền muội xét đoán trúng. Không hiểu thứ mộc nhân mộc mã trên Thiếu Lâm tự chế ra để khảo sát môn đồ trước khi hạ sơn thế nào? Có dịp, chúng ta sẽ qua yết kiến Sư trưởng Chiêu Đức, vãng cảnh Tung Sơn luôn thể.
- Dạ, ngu muội cũng mong được tới đó lắm. Họ Âu Dương vốn xuất thân từ Thiếu Lâm tự. Để rồi ngu muội nhờ Âu Dương Bích Nữ dẫn đường đi Phúc Kiến có lẽ hay hơn?
Nói đoạn, Lam Y ý tứ nhìn anh, miệng tủm tỉm cười, Chu Đức Kiệt cũng cười theo im lặng.
Để tránh cặp mắt ranh mãnh của Lam Y vẫn nhận xét chàng, Chu Đức Kiệt nói lảng bảo tên gia đinh :
- Còn cơ quan nào nữa không?
- Chỉ có vậy thôi ạ. Còn lối xuống hầm ở phía sau, nơi kế bên cửa sau.
Lam Y nói qua Chu Đức Kiệt biết tình hình các phòng trong.
Chu Đức Kiệt nói :
- Chắc chắn mụ Bạch Mẫu Ngô Công đem Hoa cô nương chạy trốn xa rồi. Tiếc thay hiền muội không ra tay ngay từ lúc khởi trận, thành thử mụ ấy mới có dịp trốn thoát...
Dùng tiếng lóng giang hồ riêng biệt của vùng Sơn Đông, Trực Lệ, Chu Đức Kiệt nói tiếp :
- Trong khi ngu huynh xuống xem xét dưới hầm, hiền muội nên lục soát trong các phòng tìm của cải nhà họ Đới bọc lại cẩn thận đem đi. Để của đó ở đây cũng không được việc gì.
Lam Y gật đầu quay vào, còn Chu Đức Kiệt theo tên gia đinh ra lối sau. Tên gia đinh lấy bó đuốc đốt lên đi trước dẫn đường theo dãy hành lang bên hữu vòng ra mặt sau trang viện.
Chỉ vào chiếc khóa đồng lớn vài ngang cửa, tên gia đinh nói :
- Cửa này khóa ngoài mất rồi, phải vào tìm chìa khóa mới mở được.
Chu Đức Kiệt nói :
- Không cần, ta đã có cách mở.
Chàng tiến tới gần cầm chiếc khóa đồng nhìn kỹ, thấy chốt khóa lớn bằng ngón tay cái lay đi lay lại mấy cái rồi vặn mạnh.
Chiếc khóa bị vặn cong bung hẳn ra lôi theo một mảnh gỗ cánh cửa.
Tên gia đinh giật mình lắc đầu thè lưỡi nghĩ thầm :
- “Nếu ta kiếm cách trốn bây giờ mà bị bắt thì bàn tay thép kia chỉ khẽ vặn cũng đủ gãy cổ chết tốt rồi!”
Liếc nhìn thấy tên nọ thần mặt ra, Chu Đức Kiệt nghi ngờ :
- Nghĩ chi mà thộn mặt ra vậy? Định lừa ta hả? Coi chiếc khóa đồng vừa rồi thì nên liệu cái thủ cấp của nhà ngươi, nghe?
Tên gia đinh nhăn mặt gãi gáy :
- Dạ. Con đâu dám nghĩ hỗn, nhưng giật mình trước bàn tay thần lực của đại vương... à hiệp khách.
- Các ngươi là bè đảng của tặc đạo nên quen dùng danh từ Đại Vương hả!
Tên gia đinh không dám nói nữa, mở hai cánh cửa nặng nề, bước vào phía trong, chỉ pho tượng Phật lớn bằng người thật đặt trên bục gạch sát tường :
- Họ Đới vẫn vận dụng pho tượng này mở cửa xuống hầm, con không thuộc cách sử dụng ra sao cả.
Nghi ngờ, Chu Đức Kiệt đi quanh pho tượng nhìn nhận thấy chỗ pho tượng ngồi không được khép kín với bục gạch nên kết luận rằng có thể xê di dịch lại được.
Chàng bèn đứng bên hữu đẩy ngang thấy cứng ngắc. Vòng sang bên tả. Chu Đức Kiệt đẩy nữa. quả nhiên, pho tượng hơi chuyển độ nửa tấc, đồng thời bức tranh Bạch hổ ở phía trước mặt pho tượng mở hẳn vào phía trong tường, lộ ra một cái cửa lớn hai người chui lọt. Tên gia đinh cầm đuốc theo bực thang xây gạch xuống hầm trước. Chu Đức Kiệt theo sau. Trong hầm không tối lắm nhờ ánh sáng của mấy ngọn đèn dầu mà tối nào Đới Vĩnh Khang cũng cho bộ hạ thắp sẵn, treo trên cột chống các xà ngang trên trần hầm. Nhận xét kỹ, Chu Đức Kiệt thấy hầm sâu tới gần hai đầu người và dài theo chiều dọc của trang viện nhưng có phần hẹp ngang hơn. Mặt hầm và khắp chung quanh đều lát gạch và đắp đá tổ ong. Trong góc bên tả, bốn người nằm trên tổ rơm đều nhỏm cả dậy: vợ chồng người hành khách thanh niên và cha con xa phu.
Thấy có vẻ lo sợ, Chu Đức Kiệt nói :
- Chớ có sợ! Các người thoát nạn rồi. Tôi xuống cứu đây, vậy sửa soạn theo tôi ngay.
Nói đoạn, họ Chu đi khắp quanh hầm xem xét. Có tới vài trăm chiếc khí giới như thương giáo, đao, chỉa hai, chỉa ba... bôi mở cẩn thận cho khỏi han, dựng la liệt trên mặt tường... gần mấy chiếc quan tài. Bỗng một luồng gió lạnh từ đâu thổi tạt vào quanh hầm. Thì ra, góc trong cùng còn có một cửa nhỏ nữa.
Chu Đức Kiệt hỏi tên gia đinh :
- Cửa kia ăn thông đi đâu?
- Ăn thông ra phía tả trang viện lên tới mặt đất là sườn núi rồi ạ.
- Hừ! Đới tặc dự bị lối thoát đó! Trữ nhiều khí giới thế này, chắc y còn định bành trướng nơi trang viện này, chiêu tập binh mã lên... ngôi Đại vương đây!
Tên gia đinh nín thinh, cúi mặt nhìn xuống. Thấy bốn người kia đã thu xếp xong rồi, Chu Đức Kiệt bảo tên gia đinh đi trước rồi cùng mọi người theo sau.
Không đóng cửa hầm nữa, đoàn người đi ra phía trước trang viện. Bảo bốn người vào đại sảnh trước, Chu Đức Kiệt hỏi tên gia đinh :
- Chiếc xe và ngựa của cha con tên xa phu để đâu?
- Dạ, ở trong tầu ngựa, phía hữu trang viện gần đây thôi ạ.
- Trang viện này có bao nhiêu ngựa?
- Tổng cộng mười bốn con tất cả.
Chu Đức Kiệt gọi hai cha con xa phu ra bảo đi theo. Ra tới tàu ngựa, Chu Đức Kiệt bảo họ sửa soạn, lựa con nào tốt thắng vào xe. Đoạn chàng lựa hai con khỏe mạnh bảo tên gia đinh đóng yên cương lại, rồi dắt ra cửa trang viện. Cha con phu xa cũng đánh theo sau.
Nói về lam Y vào nhà trong khám xét các phòng, cạy các rương tủ ra coi lấy được vô số đồ châu báu, vàng thoi, bạc nén. Trong một chiếc hộp bằng vàng chạm trổ tinh vi, Lam Y mở ra xem thấy để hai viên ngọc một xanh lè màu lục, một đỏ như lửa, ở trong tối mà sáng lòe như có đèn chiếu. Nhấc lên xem, viên ngọc nào cũng lòng dây xích bằng vàng đeo được. Một miếng giấy đỏ đặt trong đáy hộp để sáu chữ: Tỵ Thủy châu, Tỵ Hỏa châu, Lam Y đoán viên ngọc màu xanh là Tỵ Thủy châu, còn Tỵ Hỏa châu là viên đỏ. Nhìn quanh có thùng nước trong gần đó, nàng bèn cầm dây vàng, thả từ từ viên Tỵ Thủy châu xuống nước. Lạ thay, tự nhiên nước rẽ sang hai bên như kỵ với viên ngọc.
Nàng cầm hẳn viên ngọc vào trong tay rồi nhúng tay xuống nước. Cũng vậy, nước rẽ hẳn ra khiến tay Lam Y tuy để xuống qua mặt nước hẳn hoi mà không ướt chút nào cả. Mừng qua, Lam Y bỏ ngọc vào hộp rồi cất hộp vào túi áo cẩn thận. Nàng kiếm một chiếc thùng bỏ tất cả vàng bạc châu báo vào đó, cắp ra đại sảnh, thì vừa vặn Chu Đức Kiệt cũng về tới nơi. Hai vợ chồng thiếu niên và cha con xa phu được cứu thoát khỏi miệng hùm, quỳ lạy anh em Chu gia tạ ơn.
Hai người đỡ họ dậy :
- Cứu khốn phò nguy là thiên chức của chúng tôi, hà tất phải lạy tạ như vậy. Các vị từ đâu qua đây?
Thanh niên nói :
- Thưa ân nhân, vợ chồng tôi từ Bằng Lang phủ định đi Dương Châu, không ngờ lầm đường đi vào ngã này nên gặp nạn, nếu không gặp được ân nhân thì mất mạng rồi. Tiền bạc bị chúng lấy mất cả, chỉ có quần áo là nguyên vẹn thôi.
Lam Y hỏi :
- Mất bao nhiêu?
- Dạ, mười một lượng bạc ạ.
Người xa phu cũng khai mất hơn hai lượng bạc.
Lam Y bèn lấy trong rương ra hai nén bạc đưa cho vợ chồng thanh niên và một nén cho xa phu. Ngoài ra Lam Y còn chọn một chiếc vòng thiệt đẹp đưa tặng vợ thanh niên.
Bốn người mừng rỡ tạ ơn không ngớt miệng.
Chu Đức Kiệt hỏi tên gia đinh :
- Ở hắc điếm còn mấy tên coi ngoài đó?
- Dạ, còn bốn người.
Chu Đức Kiệt kéo Lam Y ra một chỗ nói nhỏ :
- Bọn bộ hạ của Đới tặc kể ra cũng có tội, hiền muội có ý kiến chi hay định đoạt số phận chúng không?
Lam Y suy nghĩ giây lát :
- Hiện giờ chúng đã bị trói chặt rồi. Chi bằng đem bọn chúng ra cả ngoài tầu ngựa rồi phóng hỏa trang viện này. Hiền huynh biên giấy dán lên tầu ngựa, kể tội họ Đới và đồng bọn, mặc cho viên chức sở tại giải chúng lên huyện điều tra...
Chu Đức Kiệt tiếp lời :
- Số vàng bạc lấy ở trang viện này cũng khá nhiều, ta nên trích ra một phần lớn sớm mai phát tặng cho những gia đình nghèo làng Sơn Phu. Còn thì chôn giấu đi biết đâu sau này có ngày cần tới. Nếu trao cho bọn quan lại, kim ngân hắc thế nhân tâm, chắc chi họ đã hành động đứng đắn, hay là lại chia nhau cười thầm anh em ta xuẩn ngốc. Phải không?
- Hiền huynh dạy chí phải.
Vì bọn bộ hạ bị trói ghì cả chân tay lại, nên anh em Chu gia xách từng cặp một bỏ ra tàu ngựa. Trong khi Chu Đức Kiệt viết tờ cáo trạng dán lên xà ngang tàu ngựa. Lam Y đốc thúc tên gia đinh chỉ đường xuống hầm hồi nãy lấy các vật phóng hỏa ra chất đầy trang viện gần những nơi dễ bắt hỏa nhất. Cha con người xa phu và chàng thanh niên cũng giúp một tay. Họ còn kiếm trong kho thực vật lấy một ít lương khô để phòng bị ăn đi đường.
Lam Y nói :
- Vì lầm đường nên mới xảy ra tai nạn này, quý vị chẳng nên tiếp tục đi nốt quãng đường còn dài. Chi bằng trở lại, tìm ra khúc đường chánh rồi hãy chỉ nẻo Dương Châu. Bây giờ nên ra khỏi khu vực Xích Hoa viện nghĩ lại bên đường, chừng nào sáng bạch hãy đi. Thôi, chúc quý vị hảo hành.
Bốn người cám ơn và từ tạ anh em Chu gia ra ngựa.
Lam Y cầm tay thiếu phụ :
- Đường xa dặm thẳng giặc cướp như rươi, hiền tỉ nên hóa trang thành xấu xí để tránh mọi con mắt dòm ngó của bọn lưu manh. Ai lại xinh đẹp dường này đi đường trường mà không có bảo vệ bao giờ không?
Thiếu phụ rớt nước mắt theo chồng đi xa.
Chờ cho bốn người ra khỏi cổng trang, Chu Đức Kiệt bảo tên gia đinh :
- Đồng lõa đạo tặc tức là chống lại triều thần, tội nặng lắm. Đáng lẽ ta cũng trói ngươi lại như những tên kia mặc nhà chức trách địa phương phân xử. Nhưng ta tha cho ngươi, vậy ngươi có liệu đường cải tà quy chánh hay là rồi lại cướp sẽ thành giặc?
Tên nọ quỳ xuống lạy, nước mắt ròng ròng :
- Hiệp khách rộng lòng thương, thanh phước giải thoát cuộc đời tăm tối cho con, lẽ nào con dám tái phạm? Con xin chưa trở về quê nhà tìm cách làm ăn lương thiện để khỏi phụ lòng ưu ái của nhị vị ân nhân.
Nói đoạn, y quỳ mọp dưới đất.
- Quỳ thế có ích lợi chi cho việc ăn năn tội lỗi của ngươi! Ngựa còn dư nhiều ở ngoài tầu, cho ngươi thắng lấy một con dắt ra trước sân này, lẹ lên!
Tên kia vâng dạ chạy thẳng ra tầu ngựa, giây lát dắt một con ngựa khỏe mạnh vào trước thềm nhà.
Chu Đức Kiệt lấy mấy lượng bạc đưa cho y :
- Cầm tiền này ăn đường. Ta phóng hỏa trang viện rồi cùng đi ngay. Cho ngươi đi trước.
Tên kia mừng rỡ, líu ríu vái chào anh em Chu gia rồi mới lên ngựa đi thẳng.
Chu Đức Kiệt, Lam Y liệng đèn, đuốc vào các đồ bắt hỏa, không bao lâu, ngọn lửa cháy bùng bùng bắt lên nhà mỗi lúc một lớn... Lam Y bỏ riêng một phần vàng bạc bọc lại đeo lên vai để phát chẩn cho dân nghèo làng Sơn Phu, đoạn cột chiếc rương nhỏ lên mình ngựa lấy một cái cuốc gài vào bên chiếc rương.
- Bây giờ hiền muội theo đường cũ tìm nơi kín đáo chôn chiếc rương này đi rồi về thẳng nhà Củng lão. Ngu huynh còn qua hắc điếm bắt nốt mấy tên kia để hoàn tất vụ này.
Lam Y lên ngựa đi trước. Lửa gặp gió bắt cháy mau lẹ. Ngọn lửa lem lém qua các khuôn cửa lớn cửa sổ, tiếng nổ răng rắc, sáng rực cả một góc trời. Chu Đức Kiệt lên ngựa, vòng ra phía sau căn nhà đồ sộ đó, nhìn qua rồi thúc ngựa băng qua cổng trang nhắm phía hắc điếm tiến thẳng. Được độ hai dặm đường, Chu Đức Kiệt bỗng rẽ vào khe núi, nhảy xuống cột ngựa vào gốc cây cẩn thận.
Chàng trở ra phi thân vùn vụt trở về lối ánh lửa đang bốc ngập trời, vòng sang phía hông trang viện, vượt tường vào trong lầu theo bóng tối bủa các bụm cây, tiến về phía tàu ngựa. Thấy lửa cháy lớn, mấy con ngựa còn lại khó chịu vì mùi khói đứng không yên, đập móng xuống gạch cầm cộp, mồm thở phì phào. Chu Đức Kiệt nhảy lên nóc tầu ngựa nằm ép bụng xuống nhìn qua kẻ ngói.
Bọn người bị trói rên siết, chửi rủa luôn miệng. Chu Đức Kiệt cười thầm :
- Mình sanh phước không giết chúng mà chúng còn oán thù... là mình đã cản phá không để chúng tiếp tục nghề phi nghĩa đạo tặc! Hừ, không biết cư xử thế nào cho vừa lòng đủ mọi người được!
Nghĩ vậy, họ Chu vẫn nằm ép mình trên mái, đưa mắt nhìn khắp nơi như có ý chờ một sự gì... Giây lát, quả nhiên có tiếng vó ngựa phi từ cổng trang vọng vào... Chu Đức Kiệt mỉm cười đắc ý nhìn ra phía trước... Lồng trong ánh lửa cháy sáng rực, một người phi ngựa qua cổng trang chạy thẳng tới tàu ngựa... Người đó không phải ai xa lạ, chính là tên gia đinh mà anh em Chu gia đã tha cho đi lúc trước khi phóng hỏa trang viện. Tên đó nhảy xuống ngựa, chạy vội vào trong tầu, rút con dao trong đống cỏ, tiến về phía đồng bọn bị trói còng queo nằm trong góc tầu.
Một tên kêu lớn :
- A, anh em ơi, Lương Cửu đã trở lại, chúng ta thoát rồi.
Lương Cửu, tên gia đinh, vôi suỵt miệng :
- Nói nhỏ chứ! Chúng ta phải mau thoát khỏi nơi đây về Kim Lăng thuật lại mọi sự thì sẽ được Vương gia trọng dụng...
Chu Đức Kiệt nghe rõ mồn một, đắc ý là đã lượng đúng tâm lý tên đạo tặc Lương Cửu. Bởi vậy chàng giả vờ ra đi rồi mới trở lại sau để bắt quả tang tên phản phúc. Quả như vậy, Lương Cửu manh tâm nhờ dịp không bị kiểm soát trong khi y được phép xuống tàu thắng ngựa, bảo với đồng bọn là y sẽ trở lại đánh tháo cho mọi người. Lương Cửu núp sau hốc đá đâu đó, chờ anh em Chu gia đi khỏi mới trở vào trang thi hành ý định... Tay cầm dao, tay lựa chỗ, Lương Cửu sắp sửa cắt dây, thì bỗng giật nẩy mình, đờ người ra, trời lạnh mà mồ hôi toát ra như tắm. Một bàn tay vô hình vừa đặt lên vai y... Bỗng Lương Cửu quay lẹ người lại đâm ngược lại một dao... nhưng cổ tay y đã bị một gọng kềm thép khép chặt lại vặn nhẹ. Lưỡi dao rớt xuống gạch nghe cộp một tiếng.
Lúc bấy giờ y mới nhận ra người có bàn tay thép kia không phải ai xa lạ, mà chính là người hiệp khách đã đại phá Xích Hoa viện hồi nãy...
Lương Cửu vội quỳ xuống nhãn nhó :
- Trăm ngàn lạy hiệp khách, con trót dại phạm...
Nổi giận đùng đùng khi thấy tên phản phúc còn dám leo lẻo van xin, ngụy biện :
- Mi chỉ là một con độc xà chuyên hãm hại người, không bao giờ cải nổi tánh tình. Để ngươi sống thêm làm chi cho nhơ bẩn cái xã hội cũng đã đảo điên này!
Dứt lời, Chu Đức Kiệt xách bổng Lương Cửu lên khỏi đầu lao mạnh vào cột gạch gần đó. Bốp!. Đầu Lương Cửu va trúng cột nát như trứng óp, óc lẫn máu phun ra tung tóe... Thế là hết đời tên phản phúc.
Chỉ xác Lương Cửu, Chu Đức Kiệt nói :
- Các người coi đó làm gương, nếu muốn theo thằng này thì cứ việc tìm cách trốn về Kim Lăng...
Chưa nói dứt lời, bỗng lẹ như cắt Chu Đức Kiệt tuốt đơn đao quay vụt lại thủ thế.
Chàng vừa thoáng nghe thấy tiếng bước nhẹ trên nóc tàu ngựa.
Một bóng đen từ trên cao nhảy xuống trước cửa tàu ngựa, tiếp theo một chuỗi cười ròn rã.
- Hiền muội trở về đây làm chi? Ngu huynh đã tưởng là mụ Bạch Mẫu Ngô Công trở lại.
Lam Y người vừa nhảy xuống cười dòn :
- Thế hiền huynh cũng đã đi khỏi nơi này rồi mà còn trở lại làm chi? À! Chúng ta đồng ý thiệt đó!
Chu Đức Kiệt tra đao vào vỏ bước ra khỏi tàu ngựa, chỉ xác tên Lương Cửu :
- Ngu huynh trở lại vì tên phản phúc kia kìa!
Trông mặt y không thật, ngu muội cũng nghi ngờ nên sau khi làm xong... việc kia, ngu muội thắc mắc trở về đây coi động tĩnh thế nào.
- Hiền muội để ngựa ở đâu?
Cách đây một dặm đường.
- Thôi, ta cùng ra chỗ hắc điếm xem sao.
Hai anh em dùng thuật phi hành, chạy ra lối cổng trang. Tới chỗ buộc ngựa, Lam Y rẽ vào. Chu Đức Kiệt vẫn phi hành như biến đến chỗ sau phiến đá lớn, dắt ngựa ra ngoài mặt đường, thì Lam Y cũng vừa vặn phi ngựa tới.
Chỉ tay về phía Xích Hoa viên, Chu Đức Kiệt bảo Lam Y :
- Hiền muội coi kìa, ngọn lửa gặp gió bốc cao quá, Có lẽ ở hắc điếm và dân làng Sơn Phu mọi người phải ngạc nhiên về vụ hỏa thiêu này. Đi mau mới kịp!
Lam Y ngoái đầu lại nhìn qua, rồi cùng Chu Đức Kiệt cho ngựa phi nước đại. Không bao lâu, tới gần hắc điếm.
Lam Y nói :
- Để ngựa lại đây kẻo chúng nghe thấy tiếng ngựa phi, chạy trốn mất.
Cột ngựa lại bên đường, anh em Chu gia chạy lén tới hắc điếm nghe ngóng. Quả nhiên, bốn tên bộ hạ của họ Đới đang đứng ở giữa sân bàn tán. Hai người chạy vòng ra lối sau vượt tường lên nóc nhà lần ra phía trước nhìn xuống sân.
Một tên nói :
- Quái sao lại có đám cháy lớn thế này! Đúng phía trang viện rồi.
- Anh nói như là trang viện bị hỏa thiêu vậy? Cháy rừng hay sao đó!
Một giọng khàn khàn cất lên :
- Tôi nhập bọn ở đây bảy năm rồi, chưa từng thấy cháy rừng vào mùa này!
- Không phải cháy rừng, chắc có chuyện chi, thú thực tôi thấy nóng ruột lắm ngay từ lúc mới chặp tối.
- Chao ơi! Hay tin nhảm. Muốn đột nhập trang viện không phải là việc dễ dàng. Ngoài Đới chủ nhân còn có Bạch Mẫu Ngô Công bản lãnh vô địch và Hắc Sát Thần Ngư cũng là tay kiệt liệt. Người đông hơn, phòng thủ cẩn mật, lại thêm hai con chó săn lớn. Cặp trai gái hôm qua có đột nhập cũng còn mệt chớ đừng nói tới việc phóng hỏa trang viện!
- Thôi, để tôi trèo lên cây ở sân nhìn rõ hơn xem sao.
Tên đó thăn thoắt bò lên cây ở sân, giây lâu, nói vọng xuống :
- Đúng cháy ở trang viện anh em ạ. Không còn ngờ nữa! Một người phải về trang viện do thám xem sao.
Tên đó tụt xuống đất nói tiếp :
- Bây giờ, Lý Ngũ phi ngựa về trang xem sao. Nếu sự thực bị cháy nên mau lẹ trở về đây báo cho anh em còn liệu đường rút lui...
Bỗng có tiếng từ trên nóc nhà vọng xuống khiến bốn tên nọ giật mình đứng đờ ra như phỗng đá :
- Trang viện sào huyệt của bọn tặc đạo các ngươi bị phá rồi, định chạy đâu cho thoát? Biết điều trói tay nạp mình thì còn có cơ sống sót.
Hai bóng đen từ nóc nhà nhảy xuống sân nhẹ nhàng không một tiếng động nhỏ.
Lam Y cười khanh khách vang trong đêm tối :
- Thế nào! Định chiến hay hàng mà còn đứng sững như vậy?
Như mới sực tỉnh, bốn tên run rẩy quỳ xuống lạy xin tha tội. Nghĩ tới trận đánh hắc điếm đêm qua, chúng hãy còn ớn cả xương sống?
- Lạy lục chi! Vào cả trong nhà, mau!
Bốn tên riu rít đi vào. Anh em Chu gia theo sau.
Chu Đức Kiệt kiếm dây trói gò tất cả lại, đoạn kiếm bút mực viết lên tường, dưới ký Lam Y nữ hiệp.
Bốn tên lo sợ bị hạ sát, cho tới khi anh em Chu gia ra khỏi cửa hồi lâu không thấy động tĩnh mới đỡ sợ, nhưng không hiểu họ sẽ hành động thế nào.
Hai người ra khỏi điếm, lấy ngựa phi theo đường cũ về rừng Đại Lâm. Khi còn cách nhà sàn của họ Củng độ trên một dặm đường, Lam Y rẽ ngựa vào sau một phiến đá lớn.
- Hiền huynh để ngựa ở đây, lên coi chỗ chôn thùng vàng bạc.
Chu Đức Kiệt theo Lam Y chuyền lên sườn núi, đi tới một chỗ khuất có nhiều cây dương cổ thụ cao lớn.
Lam Y chỉ gốc cây lớn nhất nói :
- Chôn ngay dưới gốc cây kia, dưới phiến đá lớn.
- Hiền muội mới đặt phiến đá vào đó phải không?
- Dạ, đánh dấu cho dễ nhớ. Thôi, ta về nhà Củng lão đi. Thấy anh em ta đi lâu, họ mong lắm.
Về tới nhà sàn, Cha con Củng lão và Trần Nhị còn thức. Nghe chó sủa, ba người chạy ra đón. Chu Đức Kiệt nói :
- Xong việc rồi. Tiếc rằng ở đây khuất không trông thấy ngọn lửa thiêu trọn Xích Hoa viện.
Trần Nhị đỡ dây cương dắt ngựa đi ra phía nhà sau. Lam Y chỉ hai con ngựa nói :
- Tôi lấy đỡ dây cương dắt ngựa đi ra phía nhà sau. Lam y chỉ hai con ngựa nói :
- Tôi lấy về hai con tuấn mã này tặng Củng lão và A Hoành. Nếu ai hỏi chi, cứ nói do Lam Y nữ hiệp tặng.
Củng Thuận nói mấy lời cám ơn. A Hoành nhanh nhẩu :
- Kê cháo nấu sẵn rồi, mời nhị vị thay y phục rồi uống chút rượu cho ấm.
A Hoành và Trần Nhị, hầu hạ rất chu đáo. Thứ gì cũng sẵn sàng...
Trước khi thay áo, anh em Chu gia nhìn kỹ y phục không thấy vết máu nào cả.
Nói đến vấy máu, trong bộ Võ thuật Tùng thư có ghi một đoạn như sau đây :
- “Trong trận chiến đấu, một đấu một hay một đấu với nhiều người, người có bản lãnh không phải là chỉ cần có trổ tài võ dũng đâm chém bừa bãi tàn sát đối phương mà thôi. Khi hạ xuống một lát đao, phóng ra một mũi kiếm, ta phải dự liệu trước việc địch thủ khi lãnh đòn ấy, máu sẽ phun vọt về hướng nào để liệu đường tránh. Kẻ chiến thắng đứng giữa các thây xác địch thủ vừa hạ xong, quần áo, mặt mũi, chân tay vấy đầy máu, tất không phải là đã có bản lãnh siêu đẳng.
Trong trận loạn chiến chém văng thủ cấp địch thủ, nhưng xác không đầu ấy ngả ngay vào hướng mình, máu từ cổ xác chết phun ra như tưới đầy mặt, đầy ngực mình ta rất có thể bị một hay nhiều địch thủ khác nhân cơ hội ấy nhào tới giết chết ngay mà không kịp trở tay. Không những thế mà thôi, ra khỏi một trận đấu, máu me bê bết đầy người, hẳn cũng kém về vấn đề mỹ quan. Không lẽ mỗi lần, sau khi lâm trận là mỗi lần phải thay y phục, tắm rửa sạch các vấy máu trên người?
Bởi vậy, khi còn theo học, môn đồ cần phải chăm chú nhận xét học hỏi cho tinh vi những phương pháp lánh né, dùng tay gạt hoặc dùng chân đạp xác địch thủ bị tử thương.
Trên đây nói về bộ chiến.
Về mã chiến thì khác.
Hổ tướng trên yên ngựa, giáp trụ nặng nề, xông xáo giữa đám quân trăm vạn, muôn tên ngàn giáo, đâm chém luôn tay, máu nhuộm ướt chiến bào từ bắp đùi trở xuống là một sự thông thường. Hơn nữa, viên hổ tướng chỉ có từ mặt trận trở về doanh trại, vấn đề mỹ quan, tiện hay không tiện đều gác bỏ ra ngoài. Chỉ cốt sao sát, sát thật nhiều đem lại phần thắng cho quân nhà.
Nói tóm lại, cùng một chữ “Sát”, mà một Giang hồ Kiếm khách sát để bảo vệ công lý vẫn không được xao lãng vấn đề mỹ quan về thực tế cũng như về tinh thần, khác hẳn viên tướng lâm trận sát theo tư cách nhà nghề.
Sau trận lưu huyết, người Kiếm khách đắc thắng, không mang một vấy máu nhỏ nào trong người, chắc chắn người ấy đã có công phu tập luyện cao siêu”.
Bởi vậy, anh em Chu gia rất thận trọng về phương diện này.
Ngoài trời lạnh, trong nhà lửa ấm, rượu nồng, cháo gà thơm ngon khói bốc nghi ngút, năm người xúm vào ăn uống thiệt ngon lành. Anh em Chu gia kể chuyện chiến đấu ở Xích Hoa viện cho mọi người nghe, ai nấy cũng làm thích thú.
Củng lão nói :
- Thế là từ nay làn Sơn Phu tránh được cái ách tai ương họ Đới. Như vậy, dân lành mới có cơ làm ăn hàn gắn, gây cho khu vực này một nếp sống trong thái bình thịnh vượng.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Các hương chức ở đây là ai có khá không?
- Đứng đầu Sơn Phu có Tô Tử Kiện năm nay đã ngoài lục tuần.
- Họ Tô có đức độ, mọi người trong làng ai cũng kính mến.
- Tuy vậy trước đây cũng chẳng quyền hành chi cả vì sự hiện diện đàn áp của Đới Vĩnh Khang từ mấy năm nay. Từ nay trở đi, có lẽ làng này mới được cải tổ sống theo nếp thường được.
- Nhà Tô Tử Kiện ở khu vực nào, tôi muốn tới đó.
- Nếu vậy để A Hoành dẫn hiệp khách tới nơi có tiện hơn không?
- Như thế cũng được. Tôi muốn đi một mình đến đó, cốt ý tránh tiếng cho Củng lão mà thôi!
Lam Y nói :
- Hiền huynh thảo qua mấy lời nhắn Tô Tử Kiện dùng tiền bạc ta giúp vào việc công ích xây dựng mở mang làng Sơn Phu. Ngu muội đến đó ngây bây giờ cho tiện việc.
Củng Thuận nói :
- A Hoành dẫn Nữ hiệp đi lối tắt có vài dặm gần lắm.
Dứt lời, Củng Thuận đứng lên đi lấy cây bút lông và thoi mực hãy còn mới nguyên.
- Làm việc lao động không bao giờ cầm tới bút nghiên thành thử mua về từ nhiều năm nay rồi cũng không dùng tới.
Trần Nhị đỡ lấy đi mài mực giây lát cầm lên. Chu Đức Kiệt lấy giấy thảo mấy hàng:
“Gửi Tô Tử Kiện tiên sinh,
Từ nay làng Sơn Phu thoát tay đàn áp của Đới tặc. Yêu cầu tiên sinh dùng gói bạc này xây dựng mở mang Sơn Phu và một phần ba giúp đỡ những người nghèo khó trong làng nâng họ lên bậc đủ tư cách tự lực sanh sống.
Dưới địa huyệt Xích Hoa viện có nhiều khí giới sở dĩ có thể tổ chức một đoàn Dân quân phòng vệ trong làng. Trong tầu, ngựa tốt còn mười hai con, tiên sinh hãy lấy về dùng vào việc công.
Mong tiên sinh nhất nhất thi hành đúng lời yêu cầu trong thư này.
Lam Y nữ hiệp, đề”.

Chu Đức Kiệt thảo xong bức thư thì Lam Y cũng đai nịt xong. Gài thư trong bọc bạc đeo trên vai, nàng theo A Hoành đẩy cửa bước ra. Hai người theo đường tắt băng qua rừng không mấy chốc đã tới nơi. Tiếng chó sủa ầm ĩ! Thấy bất tiện, Lam Y bảo A Hoành :
- Tô Tử Kiện ở nhà lầu cao nhất làng, mái cong cong kia phải không?
- Dạ, chính phải?
- Nếu vậy phiền đại ca chờ tôi ở ngoài kia. Tôi sẽ trở ra ngay.
A Hoành chưa kịp đáp thì Lam Y đã băng mình trong đêm tối biến đâu mất rồi. Hắn lẩm bẩm :
- Khiếp quá! Người chi mà biến hiện như ma vậy!
Lam Y phi thân qua các nóc nhà vào tới khu nhà lầu cao nhất. Nhảy lên lan can lầu, nàng tìm nơi cửa chánh, buộc gói bạc và lá thư lủng lẳng ngay giữa xà nhà.
Đoạn nàng gõ cửa mạnh. Giây lâu có tiếng chân lệt sệt đi bên trong và giọng say ngủ hỏi :
- Đêm hôm thế này, ai gõ cửa ngoài hiên lầu thế?
Lam Y dõng dạc đáp :
- Tôi đây. Mở mau có việc cần.
- Ủa! Ai đó? Vào nhà bằng lối nào mà lại đứng ngoài hiên lầu thế này?
Lam Y bưng miệng nén cười :
- Ta là đồ đệ của Nam Hải Quan Thế Âm từ trên Trời xuống mang gói này lại cho Tô Tử Kiện, vậy mau mau ra mà nhận lấy.
Dứt lời, nàng nhảy xuống vườn, chuyển qua mặt tường, phi thân lên nóc các nhà khác ra khỏi làng, tiến tới sau lưng A Hoành khẽ nói :
- Xong rồi! Ra về kẻo lạnh!
Tuy mạnh bạo, A Hoành cũng rỡn tóc gáy thốt câu :
- Chao ôi! Giật cả mình!
Lam Y phì cười, cùng A Hoành theo đường cũ về nhà kể chuyện cho mọi người nghe. Ai nấy đều tức cười :
- Củng lão nói :
- Nhị vị hiệp khách nán lại đây vài bữa xem Tô Tử Kiện hành động ra sao rồi sẽ lên đường. Vả lại cũng nên nghỉ ngơi lấy sức, hai đêm nay thức gần suốt sáng rồi. Chờ sáng cho A Hoành đi dò la tin tức.
Chu Đức Kiệt nói :
- Anh em tôi giang hồ bèo nước không có việc gì cần gấp. Chỉ em làm rộn cuộc sống an tĩnh của lão trượng thôi.
- Nhị vị hành hiệp thay mặt Công lý, đem lại an ninh cho thiên hạ hết năm này sang năm khác còn được nữa là thân già này sống y tĩnh trong khu rừng hoang vắng thì có gì đáng kể. Trái lại, sự hiện diện của quý vị ở nơi đây làm hãnh diện cho cha con lão vô cùng.
Hôm sau, anh em Chu gia dậy muộn. Đứng trên hiên nhà nhìn xuống thấy Trần Nhị quẩy một gánh cỏ lớn từ đâu về cho ngựa ăn.
- Nhị vị ân nhân dậy sớm vậy? Con lấy cỏ non ở khe núi đằng kia về cho ngựa ăn chóng mập lắm.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Cha con Củng lão cùng đi ra làng Sơn Phu à?
- Không! A Hoành đi một mình, Củng lão ở nhà mà!
Hai người trở vào trong nhà, bình trà đã pha sẵn, nóng hổi bèn rót uống.
Vừa được một tuần, thì Củng Thuận vác rìu trở về.
- Lão trượng đi đâu về vậy?
- Hồi gần sáng, mấy con ngựa cứ xô nhau và đập chân hoài, tôi e có sự lạ nên vừa rồi vác rìu đi vòng quanh coi.
- Thấy chi lạ không?
Dạ có, ở phía bắc, cách nhà độ mươi trượng có dấu chân lão hổ.
- Có lớn không?
- Khá lớn! Nhưng có điều lạ là tôi nhận xét kỹ chỉ thấy ba vết chân in rõ trên mặt đất ướt còn một vết thì nhẹ quá!...
Lam Y ngắt lời :
- Nếu vậy, con hổ đó thọt hay là bị thương rồi!
- Dạ chắc là thọt. Nếu bị thương ở chân phải có vết máu. Hổ thọt độc lắm. Mời nhị vị ra coi...
Nhân khi vắng Trần Nhị, Lam Y nói :
- Được! Nhưng chúng ta cần nói chuyện riêng này với lão trượng đã.
Dứt lời, nàng lấy ở trong bọc ra hai đỉnh bạc :
- Lão trượng vui lòng nhận số bạc này để mở mang nơi đây.
Có vậy, chuyến sau qua khu Sơn Phu, anh em tôi mới trở lại thăm.
- Biết là từ chối cũng không được, Củng lão nhận bạc nói mấy lời cảm ơn.
Lát sau, Trần Nhị theo ba người ra chỗ có vết chân mãnh thú. Anh em Chu gia nhìn nhận kỹ, dấu chân hổ rành rành, cứ ba vết nặng có một vết nhẹ trên khoảng đất trống và mất hẳn trên cỏ ở chung quanh :
- Chu Đức Kiệt nói :
- Kỳ cục nhỉ! Sao đây lại có khoảng đất thiệt trống như thế này?
- Từ trước chỗ này vốn vẫn thưa cỏ. Đến lúc cha con tôi dựng nhà ở đây, thường đưa củi ra đây chẻ, nên cỏ bị chà đạp không mọc được nữa. Khu vực này tuy có hươu nai nhưng thú lớn ít về kiếm mồi lắm. Lão hổ thọt về đây là lần thứ nhất.
Lam Y nói :
- Ở rừng thì không nói thể nào cho cùng được. Loài hổ báo thường từ các nơi xa đến ít lâu sau lại đi nơi khác. Không gì hơn là ta nên phòng bị. Con hổ thọt này thế nào cũng trở lại. Vậy, một mặt phải đóng dóng tre vót nhọn chung quanh khu nhà để ngựa, hay là toàn thể khu nhà sàn thì mới an tâm được.
Chu Đức Kiệt nói :
- Tôi thấy trên nhà có hai cây cung và mấy ống tên rất tốt, chắc lão trượng và A Hoành xạ tiễn khá lắm, phải không?
- Dạ, trước kia tôi là cựu đội trưởng đoàn Xạ Quân dưới trướng quan Thống đốc lục quân tại Kim Lăng. Sau thấy vị quan đó hùa theo Thuận Vương có ý nghịch lại triều đình, nên tôi chán nản bỏ về đây... Còn thằng A Hoành có tập võ và bắn cũng tạm được.
- Sáng hôm nọ khi vào đây, gió lùa trong lá phát ra những tiếng cọt kẹt y hệt tiếng các lóng trên cọ vào nhau, nên đoán là có rừng trên ở gần đây, phải không?
- Hiệp khách đoán trúng. Dưới hốc núi kế bên Đại Lâm quả có một khoảng mọc nhiêu tre cật... Lấy tre đó về đeo nhọn đóng quanh nhà có lẽ tốt lắm.
- Chính thế, lão hổ rất sợ tre nứa bén nhọn. Củng lão nên phòng vệ thì hơn.
Từ nãy, Trần Nhị im lặng nghe mọi người nói chuyện, nay nhân dịp bèn nói xen vào :
- Lúc này, ngoài việc về quê, cháu không có việc chi cần gấp, nếu Củng bá phụ ưng thuận cháu sẽ xin tình nguyện ở lại giúp, chừng nào rồi việc sẽ lên đường cũng được.
Lam Y cười :
- Trần Nhị có hảo ý ấy, làm gì Củng lão chẳng hoan nghinh!
Củng Thuận đáp :
- Chính tôi cũng đang có ý nhờ Trần điệt nán lại giúp. Hay là nán lại đây bầu bạn cùng A Hoành thì càng hay.
Trần Nhị vui vẻ :
- Họ hàng thân thích chẳng còn ai, bá phụ chấp thuận cháu ở lại đây ngày ngày theo Củng đại ca vào rừng kiếm củi hay săn bắn cũng được.
Anh em Chu gia cùng Củng Thuận đi loanh quanh trong rừng cây lớn hàng ôm, quằn quèo khúc khuỷu. Nhiều lớp lá dày đặc, ánh sáng chỉ lọt qua tùy từng nơi, nên bóng rừng âm u đượm màu rùng rợn. Thêm vào khung cảnh ấy, tiếng vượn hót chim kêu nhắc nhở cho hai người cảnh rừng rậm núi cao thoát tục hồi theo Đức Võ Thượng Nhân học đạo...
Cảm thấy mối buồn lâng lâng choán tâm hồn mình, Chu Đức Kiệt thở dài :
- Thấm thoát đã bao năm qua rồi! Mỗi chuyến nhàn rỗi ngắm cảnh núi rừng, ngu huynh không thể nào ngăn nỗi mối u buồn cảm xúc nhớ thời khắc đã qua!...
Cùng một ý tưởng, Lam Y đôi mắt huyền chìm đắm nhìn thẳng vào khu rừng âm u... Nàng nhớ lại mới thuở nào còn bé, sống trong khung cảnh êm dịu của gia đình trìu mến... Luyện tập võ nghệ chỉ tưởng để phòng thân thôi, ai ngờ chính vì thế mà mang lấy nghiệp du hiệp giang hồ bồng bình trôi nổi, dấn thân trong trường cung kiếm dầu dải phong sương đua cùng tuế nguyệt!...
Phàm khách hữu tài thường hay đa tình. Trái hẳn với những lúc hào hùng xông pha trong muôn nguy vạn hiểm, đưa ba thước kiếm thần lấy đầu cường hào ác bá, cứu khổ phò nguy. Nữ hiệp uy nghi dũng mãnh, biến ảo không lường như vị thiên thần thay trời hành đạo... Nhưng, lúc này Lam Y đây là hiện thân của nàng Chu Tú Anh kiều diễm, với một tâm hồn man mác dào dạt của thiếu nữ đương xuân mơ mộng, được sống trong khung cảnh dịu dàng của gia đình bên người chồng trìu mến thương yêu, và giữa bầy trẻ ngây thơ xinh xắn đang u ơ vòi cha nũng mẹ...
Thần người ra nghĩ, bỗng ngước mắt lên thấy Chu Đức Kiệt đang mỉm cười nhìn mình, Lam Y hai má bừng đỏ như cành hoa anh đào.
- Hiền huynh nhìn chi dữ vậy?
Chu Đức Kiệt mỉm cười :
- Ngu huynh nghĩ rằng sao nàng Tú Anh dịu hiền kia lại là một nhân vật Giang Hồ Kiếm khách mà không là một người vợ ngoan hay người mẹ hiền sống nơi màn buông, trướng rũ, êm ấm biết nhường nào!.
Bị đoán trúng tâm lý, Lam Y nói :
- Tiểu muội đang nghĩ tới trang trại của nhà ta ở Bình Dương huyện, và tự vấn chừng nào mới được ẵm đứa cháu kháu khỉnh nối nghiệp dòng họ Chu?.. Hỏi thiệt hiền huynh đã “chịu” đám nào chưa? Kể gặp đã nhiều thiếu nữ, tài có, sắc có, chẳng lẽ chưa một ai lọt vào mắt xanh của hiền huynh chăng?
Bất ngờ bị cô em tấn công liên tiếp, Chu Đức Kiệt khen thầm em mình hoạt bát tinh khôn, đủng đỉnh trả lời :
- Một duyên, hai nợ, ba tình, không lẽ gặp người là yêu ngay, thấy đẹp mà mê “đại” hay sao? Ít nhất cũng phải đủ thì giờ tìm hiểu nhau, khắc phục lẫn nhau thì sau này tình chồng vợ mới đượm đà nồng ấm chứ! Bất hiếu hữu tam, cô hậu vĩ đại, ngu huynh không quên đâu.
- Chà! Hiền huynh khó tánh quá thành ra khắc khổ... Rồi đây sẽ có một người đẹp tài cao khắc phục hiền huynh như khắc phục một tuấn mã... nhưng bất kham!
Nói đoạn, nàng bưng miệng khúc khích cười rất hồn nhiên.
Chu Đức Kiệt tuy cố nghiêm nét mặt cũng phải phì cười, nói lảng :
- Củng lão và Trần Nhị về từ lúc nào rồi, thôi ta dông dài mãi, về đi. Có lẽ đêm nay thức nữa phòng mãnh thú đến quấy nhiễu cũng chưa biết chừng...
Anh em Chu gia lững thững trở về nhà sàn thì vừa vặn gặp Trần Nhị bước xuống thang.
- May quá! Nhị vị trở về vừa kịp. Củng lão sai con ra mời nhị vị về xơi rượu.
Chu Đức Kiệt nói :
- Thơ thẩn trong rừng cây quên cả giờ giấc. A Hoành về chưa?
- Dạ, vừa về xong ạ.
Trong khi uống rượu, A Hoành đem việc tai nghe mắt thấy ở Sơn Phu kể cho mọi người nghe.
Sáng sớm, trong khi chợ đang họp đông. Tô Tử Kiện đánh trống theo thường lệ mỗi khi có việc quan trọng, họp tất cả mọi người lại kể chuyện vị Lam Y nữ hiệp treo bọc tiền đêm qua ở hiên lầu, và đọc bức thư gài trong bọc đó cho mọi người trong làng nghe. Ai nấy đều mừng rỡ khi rõ việc Xích Hoa Xà Đới Vĩnh Khang đã bị hiệp khách diệt trừ, Xích Hoa viện đã bị hỏa thiêu. Sau đó, các tráng đinh trong làng đều tình nguyện tụ họp dưới quyền sử dụng của Tô Tử Kiện để áp giải nội bọn họ Đới lên Huyện. Tô Tử Kiện nhân lúc đông đủ mọi người liền hẹn ngày mời các bô lão hội họp tai nhà để bàn định về việc sử dụng món tiền do Nữ hiệp giúp vào việc mở mang làng Sơn Phu và trù tính việc phát tiền cho người nghèo...
Hiện thời, Tô Tử kiện đã cũng các tráng đinh đến Xích Hoa viện bắt tất cả lũ tặc đạo về giam giữ tại hắc điếm, cắt người canh phòng rất cẩn mật. Các khí giới ở dưới hầm và trên mười con ngựa khỏe đã được đưa về cả trong làng. Hiện thời Xích Hoa viện chỉ là đống tro tàn khói lạnh. Các tử thi trong viện cháy thành than nhận ra được từng người, nhưng lạ một điều là không thấy bà Lão phụ và Hoa Cô Nương đâu cả.
Lam Y nói :
- Bạch Mẫu Ngô Công đem Hoa cô nương trốn đi rồi làm sao thấy xác chúng được!
Chu Đức Kiệt tiếp :
- Bọn Đới tặc là người của Thuận Vương, chắc lão phụ đem Hoa cô nương về Kim Lăng rồi.
Củng lão sợ hãi :
- Nếu vậy e Thuận Vương sai về Sơn Phu đàn áp cả làng thì sao?
Chu Đức Kiệt lắc đầu :
- Muốn thế nào, Thuận Vương cũng chưa dám hành động công khai tới nước ấy. Hiện thời, chúng chỉ hoặc chiêu nạp hoặc sát hại anh tài để chờ dịp tốt khởi binh dấy loạn... Nếu đoán trước việc vị Vương gia ấy báo thù, chúng tôi đã hành động khác để tránh cho làng Sơn Phu khỏi bị vạ lây... Công việc thế là ổn rồi. Chúng tôi bình tâm lên đường.
- Nhị vị hiệp khách giúp tôi trừ con ác thú nữa chứ?
A Hoành giật mình hỏi ác thú nào. Củng Thuận nói lại việc tìm thấy dấu chân lão hổ ở quãng đất trống cho con nghe và nói luôn việc Trần Nhị tình nguyện ở lại giúp.
Lam Y gật đầu :
- Việc chúng tôi ở nán lại một hai ngày bất thành vấn đề. Trừ được con mãnh thú này con khác sẽ đến thì tính sao! Ở rừng đã lâu chắc Củng lão và A Hoành còn rành hơn chúng tôi về vấn đề này. Theo ý riêng tôi, dùng tên thuốc độc là đắc sách hơn cả.
Củng lão nói :
- Nữ hiệp dạy chí phải. Từ đây xuống chỗ nhà để ngựa vừa tầm phát tên. Cha con tôi và Trần Nhị thay phiên nhau ngồi ở hàng hiên canh phòng chờ mãnh thú đến cứ việc xả tên. Trừ ra khi nào mãnh thú hung hãn làm dữ, nhị vị sẽ ra tay giúp.
- Trúng ý tôi. Thiệt ra tôi cũng muốn xem cách săn lão hổ của quý vị ra sao.
Cơm rượu xong xuôi, cha con Củng Thuận và Trần Nhị vác đao quắm ra khe núi đẵn tre.
Thừa dịp ấy, Lam Y mở hộp vàng lấy viên Tỵ Hỏa châu hai tay cung kính đưa cho Chu Đức Kiệt :
- Ngu muội kính biếu hiền huynh bảo vật vầy.
Chu Đức Kiệt đón lấy sợi dây vàng nạm ngọc xem xét hồi lâu :
- Ngọc này đẹp thật! Sao hiền muội lại vẽ vời thế? Mua ngọc này ở đâu và lúc nào.
Lam Y nghiêm nét mặt :
- Ngu muội nhấn mạnh hai tiếng “bảo vật” tất hạt ngọc đó phải có tánh chất riêng, nếu chỉ “đẹp” không thôi đối với chúng ta cũng bằng thừa.
Chu Đức Kiệt lật đi lật lại viên ngọc xem xét rồi nhìn Lam Y mỉm cười, nghi ngờ.
- Hiền huynh không tin sao? Coi đây.
Dứt lời này cầm lấy viên ngọc, dắt Chu Đức Kiệt đến bên lò lửa đầy than hồn.
Chu Đức Kiệt chưa hiểu cô em định làm gì thì Lam Y đã cầm đầu sợi dây vàng thả viên ngọc xuống giữa đống than hông... Chu Đức Kiệt giật mình vì... lạ thay! Đống than hồng như bị dội nước tắt hết. Lam Y nhắc hạt ngọc lên đưa cho Chu Đức Kiệt xem. Hạt ngọc vẫn long lanh trong suốt không vẫn một chút bụi nào.
Mừng rỡ, Chu Đức Kiệt hỏi :
- Báu vật này quả là độc nhất vô nhị, trên đời kiếm đâu ra thứ Tỵ Hỏa châu vô cùng linh nghiệm này! Hiền muội có thể nói rõ cho ngu huynh biết được không? Nên giữ lấy mà đeo, hạp với hiền muội hơn.
Lẳng lặng, Lam Y đeo hạt ngọc lên cổ Chu Đức Kiệt :
- Hiền huynh chê phải không?
- Ngu huynh đâu dám chê. Nhưng món trang sức quý báu đó hạp với hiền muội. Nếu có hai hạt, ngu huynh xin vui lòng bái lãnh ngay...
Lam Y kéo Chu Đức Kiệt vào gian phòng xếp để lu nước, tháo ở cổ ra một sợi dây dát hạt Tỵ Thủy châu, nhúng thẳng vào trong lu.
Chu Đức Kiệt thấy nước rẽ hẳn ra chung quanh không vấy vào hạt ngọc mảy may.
Chàng cầm lấy báu vật ngắm nghía khen ngợi luôn miệng.
Lam Y kể lại chuyện vô tình tìm ra hai Tỵ Hỏa, Tỵ Thủy châu tai Xích Hoa viện cho Chu Đức Kiệt nghe. Nàng đưa luôn cả chiếc hộp bằng vàng chặm bên trong có mảnh giấy đề tên hai hạt ngọc quý.
Nhờ mấy chữ này, ngu muội mới để ý tới báu vật, nếu không cũng bỏ qua rồi. Thử luôn viên Tỵ Thủy châu trong bồn nước Xích Hoa viện thấy hiệu nghiệm, ngu muội bèn lấy riêng ra để anh em ta dùng.
Ngẫm nghĩ giây lát, Chu Đức Kiệt nói :
- Cổ thư có nói tới bẩy hạt trân châu truyền từ đời Tống Nhân Tôn trong đó có hai hột Thủy, Hỏa quý nhất, không hiểu tại sao lại lạc vào tay Đới Vĩnh Khang? Đó là cả một sự bí mật!
- Dễ hiểu lắm! Xích Hoa Xà vốn là tên tặc đạo, hẳn là y trộm, cướp được ở đâu đó chứ gì!
- Suy luận thế sai. Bảo vật để trong kho tàng của nhà vua cơ mà.
- Hiền huynh nghĩ kỹ xem, từ Tống Nhân Tôn đến nay, thế sự thăng trầm, biến chuyển bao lâu rồi. Giặc Mông Cổ vào cướp phá Trung Quốc lấy của cải kho tàng thiên đô về Yên Kinh. Sau đó, Minh Thái Tổ dấy binh trải qua mười năm chinh chiến mới thâu phục được giang san Hán tộc, thế thì chắc gì mấy bảo vật nhỏ bé này vẫn nằm gọn trong kho tàng của triều đình?
- Chưa dám nói chắc. Nhưng Đới tặc đoạt được cặp trân châu này là cả một sự bí mật.
Anh em Chu gia trở ra nhóm lại lò lửa, Chu Đức Kiệt và Lam Y để ý thấy ngọn lửa cứ bị dạt về một bên mỗi khi Chu Đức Kiệt đến sát bên lò.
Chu Đức Kiệt nói :
- Ngu huynh vẫn phân vân về hạt Tỵ Thủy châu. Không hiểu dưới trận mưa lớn hiền muội có bị ướt không? Còn khi ở dưới nước, hiền muội bới lội như cá thì cần chi tới hạt châu này?
Lam Y phản đối :
- Chắc hữu ích chứ! Chừng nào có dịp sẽ thử coi mới xác định được công dụng của báu vật ấy.
Hai anh em phiếm đàm, chẳng mấy chốc trời đã xế chiều. Cha con Củng lão và Trần Nhị về tới nơi, mỗi người vác một bó tre lớn, Trần Nhị đèo thêm mớ cỏ non cho ngựa.
Cơm nước xong xuôi thì vừa vặn tới giờ lên đèn. Củng Thuận nói với anh em họ Chu :
- Bọn chúng tôi canh phòng mãnh thú được rồi, nhị vị chẳng cần thức theo thêm mất sức. Lúc nào có động chúng tôi kêu dậy cũng vừa.
Đêm hôm ấy, Trần Nhị không thạo nghề săn bắn, canh phòng cùng Củng lão, thay phiên với A Hoành. Ba người trải mền chiếu ngủ ngay tại hàng hiên, nơi trông thẳng xuống nhà để ngựa. Hai ngọn giáo và cung tên để sẵn tầm tay.
Trời vẫn lạnh, tối như mực, gió nhè nhẹ thổi run lá cây xào xạc. Thỉnh thoảng, cú rúc từng hồi rợn gáy. Xa xa vọng tiếng thú săn mồi.
Ở nhà dưới, có lẽ năm con ngựa đã ngủ yên nên không đập móng lộp bộp xuống đất nữa. A Hoành trùm mền ngủ say. Củng Thuận và Trần Nhị thức canh phiên đầu từ canh một tới canh ba. Hai người choàng mền, dựa lưng vào phên vách. Củng lão thò tay vào phía trong cửa châm đóm lửa trên ngọn đèn dầu rít một hơi thuốc lào, khoan khoái. Trần Nhị cũng lắp mồi hút theo.
- Bá phụ à, quá canh hai rồi mà không động tĩnh chi cả.
Đăm nhìn quanh khu nhà dưới, Củng Thuận nói sẽ :
- Chính giờ giấc này mới tới lúc nghiêm trọng, cần phải để ý hơn cả.
Trần Nhị im lặng, đăm chiêu nhìn ngọn đèn dầu lồng kiến treo ở đầu nhà dưới. Ngọn lửa tuy yếu, nhưng giữa rừng khuya đêm tối, ánh đèn leo lét ấy cũng đủ sức sáng ra xung quanh...
Soạt!... Soạt!
Trần Nhị giật mình ngơ ngác nhìn quanh. Củng Thuận mỉm cười vỗ vai Trần Nhị :
- Con cầy hay nhím nào đó chạy xen qua bụm cây đó mà! Nếu là lão hổ rình mồi, bước đi không có một tiếng động...
Trần Nhị nín thinh, vớ lấy điếu nhồi thuốc định châm lửa hút nữa... thì bỗng Củng lão gạt tay Trần Nhị bảo đừng hút nữa...
- Coi kìa! Coi kìa?
Ngồi nhích sát vào Củng lão, Trần Nhị hỏi :
- Đâu? Gì thế, hả bá phụ? Đâu?
- Phía hữu kia kìa, hai mắt thù lớn phản chiếu ánh đèn, đúng mắt... nó bỏ rồi!
Cùng lúc ấy ở nhà dưới, tiếng ngựa thở phì phì, xây đi, xây lại tháo động như sợ hãi tai họa tới bên... Hai bóng mắt vẫn đứng nguyên chỗ. Củng lão cầm cung khẽ tay A Hoành. Tuy ngủ say, nhưng A Hoành rất tỉnh, lẹ làng ngồi dậy nghe Củng lão thì thào... Trần Nhị run rẩy, dựng cả tóc gáy.
Téc!... Téc... Téc...
A Hoành nói nhỏ :
- Đúng lão hổ rồi! Trần ca vào gọi nhị vị hiệp khách, mau!
Một tiếng nhè nhẹ từ trong cửa vọng ra :
- Chúng tôi ngồi đây nãy giờ mà không biết à? Cứ chờ mãnh thú tới gần sẽ bắn, chớ hấp tấp!
Anh em Chu gia bước không một tiếng động ra ngồi cạnh Trần Nhị khiến Trần Nhị thấy ấm cúng hơn. Hai mắt sáng hồi nãy biến mất, nhưng lát sau lại mở ra nhìn cách chỗ cũ độ hai trượng gần hơn.
Téc...! Téc... Téc...
Vận dụng thuật nhìn đêm, anh em họ Chu nhìn rõ ràng con lão hổ cực lớn ngồi bên bụi cây, không rõ màu gì. Thuật nhìn đêm chỉ giúp khách dạ hành nhận ra mọi vật mờ mờ xám, chớ không phân biệt màu sắc rõ ràng như lúc có ánh sáng đèn hay mặt trời.
Củng Thuận nói khẽ :
- Ác thú thay đổi phương hướng, tới gần đó. Tinh khôn như vậy, chắc nó quen bắt nhiều người và thú vật nuôi trong nhà rồi.
Quả nhiên, mãnh thú lại đổi chỗ tiến tới gần hơn nữa. Ở nhà dưới mấy con ngựa xôn xao sợ hãi thở mạnh, móng đập cũng mạnh.
Cha con Củng Thuận đứng dựa vào lan can, cung lắp tên sẵn sàng. Giây lâu, cặp mắt sáng biến mất. Họ Củng và Trần Nhị hồi hộp chưa biết nhìn về phương hướng nào thì con mãnh hổ vằn đen lông cực lớn đã lù lù xuất hiện ra dưới ánh đèn. Mãnh thú đi có ba chân, một trước, hai sau. Chân trước bên tả co lên như có tật, tuy vậy nó chuyển động rất lẹ làng... Đàn ngựa sợ hãi quá xô nhau huỳnh huỵch vào căn nhà, nhưng Củng lão và A Hoành đã phát luôn hai mũi tên.
Tách!... Tách!... Cả hai mũi tên cùng trúng bả vai lão hổ.
Mãnh thú gầm lên vang vội cả khu rừng xây hẳn mình lại nhìn lên chỗ mọi người đứng như vừa đánh được hơi người Cha con Củng lão vội vàng lắp tên định bắn loạt thứ hai nữa, nhưng không kịp, mãnh thú đã gầm lên, chồm tới, chồm tới phía có người.
Củng Thuận, A Hoành sợ hãi, lùi lại bắn nữa, trượt!
Nhưng cùng lúc ấy, một tiếng phập dội lên, lão hổ lăn lộn dưới đất gầm gừ kinh khủng. Thì ra trong khi mãnh thú chồm tới, Lam Y đã cầm lấy cây giáo nhằm đúng ngực phóng mạnh. Trúng thương, lão hổ nhào xuống đất quay cuồng. Dưới sức nặng, cán giáo bị gãy đôi. Tuy vậy, nó vẫn gầm vang quay đi mấy vòng rồi chuệnh choạng định chạy... Chu Đức Kiệt sợ mãnh thú chạy, mất công đuổi, bèn nhắm bụng phóng luôn một ngọn giáo nữa. Ngọn giáo xóc qua bụng mãnh thú sang bên kia. Lần này, vừa bị ngấm tên độc, vừa bị hai vết tử thương, lão hổ gục xuống, máu chảy lênh láng, cố gượng dậy đi vài bước lại gục xuống.
Tiếng gầm nhẹ dần... và im hẳn.
Củng lão nói :
- Ác thú chết rồi! Trần điệt thắp đuốc mau!
Không thấy trả lời, mọi người quay lại chẳng thấy y đâu cả.
A Hoành gọi lớn :
- Trần ca! Trần ca! Đâu rồi?
Tiếng Trần Nhị run rẩy ở trong nhà nói ra :
- Tôi đây! Mãnh thú đã “dông” chưa.
- Nó chết rồi, còn chạy đi đâu nữa! Đại ca thắp đuốc ra đây, mau.
Mọi người phì cười vì tánh nhát của Trần Nhị. A Hoành cũng vào châm đuốc cùng Trần Nhị bước ra. Mọi người nhảy cả xuống đất tiến lại gần xem xác hổ. Mãnh thú lớn bằng con bò. Mùi hôi nồng nặc. Nhận kỹ ra chân trước bị thọt tự nhiên chớ không phải vì bị thương mà thành tật. A Hoành đưa đuốc cho cha, rút hai cây giáo ra vấy máu đỏ lòm :
- Thoát một con này, vẫn phải đề phòng con cái. Quý vị và phụ thân đi ngủ đi, để con canh phòng tới sáng cho.
Chu Đức Kiệt nói :
- A Hoành cũng yên tâm đi ngủ được rồi. Hổ thọt không bao giờ đi đôi và có đôi.
Nói đoạn, chàng cầm chân lôi xác hổ ra phía trước nhà sàn để tránh cho ngựa khỏi sợ suốt đêm. Hôm sau, anh em Chu gia từ tạ Củng Thuận lên đường. Củng lão cố mời hai người nán lại vài ngày nữa rồi sẽ khởi hành. Chu Đức Kiệt nói :
- Trên bước giang hồ, bỗng dưng gặp nhau thế này là hữu hạnh lắm rồi. Chúng tôi có hẹn với nhiều bằng hữu ở Kim Lăng, đường còn dài, trì trễ e lỡ nhật kỳ. Vậy xin tam bái biệt, biết đâu chẳng có ngày hậu hội?
Hai anh em bái từ Củng Thuận, A Hoành, Trần Nhị quỳ lạy.
Chu Đức Kiệt đỡ dậy, bảo Trần Nhị :
- Từ nay nên thận trọng, chớ có lầm đường lạc lối như trước nữa nhé!
* * * * *
Hai bên đường đi, núi đá lởm chởm, cây cối thưa thớt, không như khu Đại Lâm rừng rậm cây cao. Anh em Chu gia dong ruổi đến xế chiều hôm thứ ba mới gặp con đường chánh đi Kim Lăng. Nhìn quanh không thấy thôn xóm nào cả, nhưng ở ngay chân núi phía xa có làn khói lam từ một mái tranh tỏa ra trong nền trời chiều.
Cầm roi ngựa chỉ, Chu Đức Kiệt nói :
- Trời sắp tối, hỏi ngủ nhờ nhà kia vậy.
Hai người bèn thúc ngựa lẹ bước tới đó.
Căn nhà không đến nỗi hẹp lắm như hai người tưởng tượng lúc ban đầu. Có lẽ vì thấy khách lạ tới nên một người đàn ông trạc ngót năm mươi tuổi đứng ngẩn ra nhìn.
Anh em Chu gia xuống ngựa vái chào :
- Chúng tôi lỡ độ đường, muốn phiền tiên sinh cho ngủ nhờ đêm nay, sáng mai đi sớm.
Người đó vui vẻ chất phác trả lời :
- Tôi rất hân hạnh được viễn khách chiếu cố nơi lều tranh vách là này. Mời tráng sĩ và cô nương vào nhà.
Dứt lời, người ấy gọi lớn :
- Thái Vân con!
Một thiếu niên trạc mười bảy, mười tám tuổi từ trong nhà chay ra vái chào anh em họ Chu.
Quý khách nghỉ lại nhà đêm nay. Con khá dắt ngựa vào nhà sau cho uống nước, ăn cỏ nhé.
Chu Đức Kiệt và Lam Y tháo yên ngựa đem vào nhà. Người chủ nhà gọi vợ ra chào, bảo làm cơm thết đãi và tự xưng danh là Thái Phong. Mai lên đường sớm nên mới vào khoảng qua canh một, anh em Chu gia đi nghỉ ngay, sau khi chuyện vãn với chủ nhà.
Chu Đức Kiệt nằm cạnh cửa sổ gióng tre nhìn ra ngoài trời trăng sao vằng vặc không vẩn lấy một gợn mây nào. Chàng khoan khoái nghĩ tới vụ phá hắc điếm và hỏa thêu Xích Hoa viện ở Sơn Phu, rồi tình cờ đoạt được hai hạt trân châu đặc biệt quý giá... Bỗng có bóng người, một người to lớn sắc mặc xám xanh, râu quai nón đâm tua tủa như rễ tre, mắt lớn xếch ngược, mũi sư tử, tử xa chạy tót dòm vào cửa sổ nhu có ý tìm kiếm người nào trong nhà...
Thấy vẻ mặt người ấy dữ tợn Chu Đức Kiệt quát hỏi :
- Ô hay! Người là ai! Dòm ngó vô đây làm chi?
Không trả lời, người mặt xám nhe răng ra cười, dữ tợn vô cùng, có vẻ khiêu khích.
Họ Chu nổi giận đùng đùng quát lớn :
- Đồ vô lễ! Chớ có chạy, coi đao ta đây.
Dứt lời, chàng với tay lấy Thất Tinh đao gối ở đầu giường, đạp tung ống tre nhảy ra ngoài đánh người nọ.
Thấy Chu Đức Kiệt nhảy ra, người ấy chạy lùi lại bảy, tám bước, cau mặt mắng :
- Thằng thất phu này vô lý thiệt! Ta trêu chọc chi nhà ngươi muốn gây lộn? Được có giỏi ra đây! Sợ chi!
Chu Đức Kiệt nhận thấy người ấy là một mãnh hán, vai to ngực lớn vận đoản giáp bằng đồng đen, lưng đeo bảo kiếm thì khen thầm hùng dũng, nhưng nhìn kỹ lại thấy quen mặt không biết đã từng gặp ở đâu rồi...
- Mi tên chi? Chu Đức Kiệt này không thèm giết kẻ vô danh :
- Mãnh hán tuốt kiếm ra, cười ha hả :
- Sơn Đông Đơn Đao Chu Đức Kiệt hả? Được! Đánh một trận đã rồi mới cho biết tên. Ra chỗ rộng này, mau!
Chu Đức Kiệt giựt mình không hiểu tại sao mãnh hán lại biết rõ danh tánh mình như vậy. Trước sự thách thức của mãnh hán, Chu Đức Kiệt không nói thêm nữa, đuổi theo hoa đao chém trước. Mãnh hán múa kiếm đỡ và trả đòn. Nhưng Chu Đức Kiệt đã dồn dập tấn công luôn mấy thế rất hiểm, đao pháp nhập siêu quần xuất chúng. Mãnh hán hùng dũng chống trả lại hồi lâu, binh khí va vào nhau chí chát gây nên một trường chiến đấu vô cùng ác liệt. Nhưng Chu Đức Kiệt lấn đòn khiến gã kia phải dần dần nhượng bộ lùi mãi ra xa.
Không chịu bỏ, chàng đuổi theo tới một chân núi cao, cây cối rậm rạp, mãnh hán quay lại cười vang :
- Chu Đức Kiệt, ta với người đồng họ mà không nhận ra anh em sao?
Nói đoán, y chạy vụt vào trong rừng cây.
Chu Đức Kiệt tức giận vì lối ỡm ờ của mãnh hán, bèn chạy theo vào rừng tìm nhưng chẳng thấy chi cả. Gã kia mất hút. Chàng gọi lớn :
- Tráng sĩ nào đó, có giỏi tài ra đây so kiếm phen nữa cùng ta nào!...
Im lặng. Rừng đêm hoàn toàn im lặng.
Sợ mắc mưu kẻ địch, Chu Đức Kiệt quay trở ra. Vừa ra tới rừng thì trăng sao đã bị mây đen từ đâu ùn ùn kéo đến che lấp cả vòm trời. Gió lớn nổi lên đùng đùng, bụi cát bay mù. Chu Đức Kiệt đưa tay che mặt tránh bụi khỏi vào mắt, định phi hành trở về căn nhà tranh thì bỗng có tiếng vó ngựa lộp cộp từ xa phi tới lẫn với tiếng ngựa leng keng.
Chàng nghĩ thầm :
- Chắc tên giặc vừa rồi dụ ta đến đây để phục binh. Hừ! Gớm thiệt! Binh trăm vạn ta nào có sợ, thế thì chưa biết Đơn đao họ Chu chút nào cả!
Cầm ngang cây đao Thất Tinh, Chu Đức Kiệt ngạo nghễ chờ khách. Nhạc ngựa mỗi lúc một gần, từ góc rừng hiện ra một viên tướng dũng mãnh, mặt đỏ như chu sa, râu ba chòm đen lánh, hàm én mày ngài, đầu đội khăn xanh giáp trụ, nửa văn nửa võ bào lục, chân dận ủng Tây Xuyên. Viên tướng đó cầm cây long đao yểm nguyệt cưỡi con tuấn mã cao lớn, màu da đỏ tía, cổ rộng, ức rộng vó thon đặc biệt kiêu hùng... Theo sát hai bên ngựa là hai bộ tướng. Người bên tả mặt đẹp như mặt ngọc, bào hoa chít đáp da thú màu nâu, tay bưng bọc ấn. Đai lưng gài trường kiếm. Còn người bên hữu thì không phải ai xa lạ, mà chính là gã mãnh hán trêu cợt thách chiến ban nãy. Lúc này y đã gài kiếm vào vỏ hai tay vác cây cờ xanh nheo đỏ thêu bốn chữ đen kiểu đại tự “Hán Thọ Đình Hầu”.
Chu Đức Kiệt khen thầm viên đại tướng đó uy nghi dũng mãnh. Bộ ba tiến tới trước mặt Chu Đức Kiệt cách đó hơn một trượng ghìm ngựa lại. Chu Đức Kiệt vẫn đứng nguyên chỗ cũ mắt nhìn trừng trừng.
Cất tiếng vang như chuông đồng, tướng mặt đỏ hỏi :
- Võ Khúc Tinh Quân có biết ta là ai không?
Chợt nhớ ra bốn chữ thêu trên cờ “Hán Thọ Đình Hầu”, Chu Đức Kiệt giật mình nghĩ đến Quan Vân Trường đứng đầu Ngũ Hổ thời Hậu Hán.
- Phải rồi! Người bên tả là Quan Bình còn viên bộ tướng bên hữu là Chu Xương! Thảo nào y nhận đồng họ với ta! Nhưng Vân Trường tới đây làm chi?
Tuy nghĩ vậy, Chu Đức Kiệt cũng cung kính tra đao vào vỏ, cúi đầu vái chào :
- Hán Thọ Hầu có điều chi muốn dạy cho tiểu tử?
- Thấy Tinh Quân và Kim Tinh Nữ qua khu vực ta ngự trị, nên xúc phạm thần oai mới tới đây dự tính một đôi cơ điều...
“Lẽ ra ta chẳng nên dính líu tới việc phàm trần nữa nhưng Tinh Quân nội điệt có tình bằng hữu, ta đành phạm tội tiết lậu thiên cơ, biết Tinh Quân vài điều chớ có xao lãng”.
“Vận nước loạn ly sắp tới, Tinh Quân và Kim Tinh Nữ còn phải gian lao một thời gian, vậy trong bước giang hộ gặp sao Hỏa Đức Nữ là duyên, và trên trường chinh chiến chẳng nên sát hại Nhạc Lan Anh...”
“Còn Kim Tinh Nữ là chất võ, hồn thơ nhưng thôi, tiết lộ đã nhiều!... Hẹn gặp nhau ở Mã Thạch cương. Ta đi đây...”
Dứt lời, Hán Thọ Hầu rẽ Xích Thố quay lại, cả ba cùng phi như bay.
Chu Đức Kiệt không kịp hỏi thêm nữa tức mình đuổi theo, không ngờ trượt chân té ra mặt đất...
Giật mình, Chu Đức Kiệt ngồi dậy ngơ ngác nhìn thì ra là giấc chiêm bao.
Cơn gió lạnh thổi lùa bay tung rèm cửa khiến chàng nhớ lại lúc lên giường, chàng có đóng chặt cánh cửa gỗ, cài chốt cẩn thận. Chu Đức Kiệt bèn với tay ra ngoài đóng cửa như cũ, lúc quay lại thì đã thấy Lam Y thức ngồi dậy từ bao giờ ở trên giường bên.
Chàng hỏi nhỏ :
- Hiền muội mở cánh cửa sổ này đó à?
Lam Y lắc đầu, vẫy anh sang ngồi bên :
- Tiểu muội vừa mơ thấy Quan Võ đời Hậu Hán, y hệt trong tranh vẽ thờ.
- Ủa! Ngu huynh cũng vậy, mơ thấy Hán Thọ Đình Hầu, định đuổi theo, trượt chân té trỗi dậy đây.
Chu Đức Kiệt nói nhỏ, kể lại cho Lam Y nghe giấc mộng kỳ lạ ấy.
- Y hệt giấc mơ của tiểu muội, Quan Vân Trường thiêng lắm, tất phải có lý do chi đây! Cô nào là sao Hỏa Đức Nữ có duyên cùng hiền huynh. Đẹp hay xấu? Tài hay kém? Thiệt là duyên tiền định nhé!... Còn Nhạc Lan Anh là ai?.. Khó hiểu quá! Chất vẻ hồn thơ như ngu muội là thế nào? Hừ! Kỳ quặc!
- Ta nhớ để ngẫm xem sao. Thôi, ngủ đi, mai còn lên đường. giữ sức mới được!
Sớm hôm sau, đóng ngựa xong xuôi, Lam Y đưa tặng Thái Phong mấy lượng bạc.
- Bất quá trọ một đêm đáng là bao, cô nương cho nhiều quá.
- Chúng tôi tặng tiên sinh chớ không phải trả công. Xin vui lòng nhận.
Chu Đức Kiệt hỏi Thái Phong :
- Thái tiên sinh có biết Mã Thạch cương ở đâu không?
- Với sức tuấn mã của tráng sĩ, chiều nay sẽ tới Mã Thạch cương. Chân núi Mã Thạch có Quan gia bảo. Tráng sĩ nghĩ lại đó đêm nay, mai sẽ lên đường.
Nghe nói đến ba tiếng Quan gia bảo, Chu Đức Kiệt đưa mắt nhìn Lam Y, rồi hỏi vội họ Thái :
- Chủ nhân Quan gia bảo là ai vậy?
Nhận thấy thái độ nghi ngờ của anh em Chu gia, Thái Phong đáp :
- Người đó là Kim Đao Quan Long, dòng giống của Quan Vân Trường thuở trước, gia đình tôi ở khu vực này đã ba đời rồi nên biết rất rõ các vùng lân cận. Vị danh tướng thời Hậu Hán ấy linh thiêng lắm, thường hiển thánh trên Mã Thạch sơn và các vùng lân cận.
Năm tôi mới ngoài hai chục tuổi, có việc qua lối núi Mã Thạch cùng gia phụ. Hôm đó trời đang nắng chang chang giữa buổi trưa hè mà bỗng dưng mây đen kéo đầy trời, gió thổi ào ào. Cha con tôi vội núp dưới gốc cây lớn chờ tránh cơn mưa, thì có tiếng nhạc ngựa vang từ không trung xuống.
“Nhìn lên, hai cha con tôi cũng nhận ra rõ ràng Ngài cưỡi Xích Thố, cầm long đao, hai bên có Quan Bình và Chu Xương vác cờ theo hầu. Hồi lâu, cả ba vì thánh ấy đi xa rồi biến lẫn vào các đám mây đen lớn”.
“Chúng tôi mục kích cảnh tượng ấy nên mới tin việc Hán Thọ Đình Hầu hiển thánh không phải ngoa truyền. Người trong vùng này nhà nào cũng thờ vị danh tướng hiển linh ấy”.
Gia phụ có nói lại câu chuyện này.
“Cách đây trên bốn mươi năm, hồi đó tôi mới độ chừng sáu, bảy tuổi, có một bọn thảo khấu bị quan quân rượt chạy trên quãng đường từ đây đi Mã Thạch cương. Vì trời tối, quan quân không dám hăng hái đuổi lẹ mà bọn thảo khấu cũng khinh thường nên đủng đỉnh đi dưỡng sức”.
“Không ngờ, sau một trận cuồng phong có tiếng nhạc ngựa rung rinh và tiếng chân ngựa phi tới”.
“Tưởng bị quan quân chặn đường, bọn tặc khấu bèn dàn quân định liều mạng sống mất một trận”.
“Nhưng chưa kịp trở tay thì bộ ba Hán Thọ Đình Hầu đã lướt tới dũng mãnh oai hùng. Mắt hùm xếch ngược, Ngài cầm ngang thanh long đao, dừng ngựa Xích Thố, đứng chặn giữa đường, oai phong, sát khí khiến bọn thảo khấu giật mình kinh sợ không dám tiến, cũng chẳng dám lùi”.
“Chúng như bị một sức lực huyền bí gì thâu hút hết cả thần trí nên đâm ra hoang mang chần chờ...”
“Hồi lâu, viên tướng ấy quay ngựa lại phi lẹ như biến vào trong đêm tối. Bọn thảo khấu vui mừng tưởng được mở đường, bèn sửa soạn tiến bước”.
“Không ngờ, quan quân đã đuổi kịp bao vây và bắt được toàn bọn”.
“Cũng nhờ oai linh của Hán Thọ Đình Hầu nên bữa ấy quan quân mới lập được kỳ công. Bởi vậy Phủ quan cho dựng nơi đó chiếc bia đá lớn đề ba chữ “Cầm Thảo Khấu” để kỷ niệm công Ngài hiển linh chận đứng bọn giặc lại cho quan quân tới kịp bắt”.
“Chừng nào qua khu ấy, nhị vị sẽ trông thấy ngay chiếc bia đá đó ở bên đường, dưới gốc một cây đa lớn cành lá um tùm tươi tốt”.
“Các khách thương đi lại buôn bán trên con đường này, xây thêm một cây hương ở sau bia đá. Mỗi chuyến qua nơi ấy, họ đều dừng bước thắp hương cúng vái cầu cho được đi đến nơi, về đến chốn, làm ăn phát tài...”
“Nhị vị nên cầm theo bó hương chiêm bái như mọi người cầu bình an tưởng cũng chẳng phải là việc thừa”.
Lam Y nghe đoạn hỏi Thái Phong :
- Nơi đây không có hàng quán chi cả, mua hương ở đâu bây giờ?
- Cô nương khỏi lo! Nhà có sẵn, xin cầm theo một bao.
Nói xong, Thái Phong bắc ghế lấy một bao hương mới trên bàn thờ Quan Vân Trường xuống, đưa cho Lam Y.
Lam Y đón lấy bao hương rồi cùng Chu Đức Kiệt từ tạ gia đình họ Thái lên ngựa ra đi.
Còn sớm lắm, khí núi tỏa ra mờ như lớp phấn lam nhạt. Gió thổi nhẹ tiết trời vẫn lạnh căm căm se môi người lữ khách. Cảnh vật hai bên đường rất đẹp, hoa rừng cỏ dại rung rinh lướt theo chiều gió, ngàn cây xanh bát ngát tận chân trời, hương rừng tản mạn ướp muôn ngàn tiếng hót của chim muông vừa thức giấc líu lo đồng ca một bản nhạc rừng xanh.
Lam Y nói :
- Cũng rừng, cũng núi mà nơi đây đẹp huyền hoặc như bức thủy mặc của một tay danh họa, trái ngược hẳn với khu Sơn Phu man dại khô khan.
Nghe vậy, Chu Đức Kiệt chỉ mỉm cười không nói gì.
Nhìn anh, Lam Y hỏi :
- Cảnh này không đẹp ý hiền huynh sao mà cười?
Chu Đức Kiệt cười vang :
- Giấc mộng có lẽ đúng thật! Con người chất võ, hồn thơ!
- Trình độ võ nghệ của hiền muội như vậy thiết tưởng khó gặp được một trang nam tử khả dĩ lọt nổi mắt xanh. Họa chăng phải là một nhà thơ tánh tình khoáng đạt, phong tú tiêu sái, thông việc cổ kim, ngày ngày chồng ngâm thơ vịnh phú, Chà! Cuộc sống êm đềm hào hiệp của đôi trai gái tài sắc vẹn toàn đẹp đẽ là dường nào!
Nghe Chu Đức Kiệt nói một thôi dài Lam Y cũng phì cười :
- Văn nhân hào hoa phong nhã vị tất đã so sánh nổi cùng hiền huynh, lúc tao mặc thì chẳng ai bằng, mà khi xung phong vùng vẫy thì có kém chi giao long quẫy khúc?
- Nếu ngu muội lấy chồng, người chồng ấy ít nhất phải được như hiền huynh... Nhưng không! Điều mà ngu muội ước mong hơn cả là có đứa cháu kháu khỉnh mang họ Chu, nối chí được Cha và Cô nó sau này. Có vậy mới toại nguyện. Cho nên đã nhiều lần muốn hỏi qua loa hiền huynh về vấn đề hôn nhân... Hôn nhân là vấn đề bất khả ép. Hữu duyên thiên lý ngộ, nói thế nào trước được! Trên thế gian này có được mấy người phụ nữ kham nổi cuộc đời Giang Hồ Du Hiệp, cùng ngu huynh kết bạn và cùng anh em ta vung lưỡi kiếm phong trần hồ hải?
Lam Y phản đối :
- Có chứ! Theo ngu ý thì đã thấy một người...
- Ai đó vậy?
- Hiền huynh bất tất phải hỏi, việc nó tới sẽ tới. Hữu duyên thiên lý ngộ mà!...
Nàng ranh mãnh nhìn anh cười Hai anh em rong ruổi tới khi đã đứng bóng thì ở xa xa phía trước mặt có một cây cao lớn rườm rà.
Cầm roi ngựa chỉ, Lam Y nói :
- Có lẽ cây đa cổ thụ nơi trồng trụ đá kia kìa! Ta thúc ngựa chạy mau tới đó xem.
Lát sau đã tới nơi.
Bia đá cao bằng đầu người, khắc ba chữ triện “Cầm Thảo Khấu” rất vuông vắn rõ ràng.
Cây đa lớn hàng mấy chục ôm, rễ mọc xù sề, bóng lá che khuất hẳn một vùng rộng lớn.
Một đoàn trên một trăm người ngựa, thồ đầy hàng hóa, nán lại đó nghỉ, ăn bữa trưa.
Mấy người ra dáng khách thương cùng với bốn người nữa, vận võ phục màu vàng khè, võ trang chặt chẽ đang giải tấm vải dầu lớn ra trên mặt đất, hạ mấy thứ lễ vật vừa chay vừa mặn bày trước bia đá xuống sửa soạn đánh chén.
Mấy món võ khí trường để dựa cả vào gốc rễ đa gần đó.
Bọn người thấy anh em Chu gia từ xa tới thì chú ý ngưỡng đầu nhìn...
Lam Y nói với Chu Đức Kiệt :
- Bọn tiêu sư này vận đồng phục đồng sắc với màu cây cờ hiệu cắm ở thồ ngựa đầu đoàn kia kìa, hiền huynh coi!
- Ờ, chắc bọn này từ Kim Lăng qua đây đi Dương Châu. Bảo tiêu cục nào đó lấy màu vàng để diễn tả chữ Kim, phải không? Coi nào, chữ gì treo trên lá cờ hiệu kia... À, chữ Vân.
- Họ chăm chú nhìn ta quá!
- Lẽ cố nhiên rồi. Nhìn vì trên đường gặp khách lạ ngược chiều. Nhìn vì anh em ta có cặp tuấn mã khỏe mạnh lại võ trang, nghi ngờ biết đâu chúng ta không phải tay Hướng Mã. Nhìn vì thiếu nữ xinh đẹp gì mà lại kềm kiềm đeo cây trường kiếm gớm khiếp ở sau lưng...
Lam Y lẳng lặng mỉm cười. Anh em Chu gia xuống ngựa buộc cương vào chiếc rễ đa nhỏ. Lam Y rút bao hương ở bọc hành lý ra đánh lửa thắp lên cắm cả vào bát hương lớn đã đầy hương cháy dở, khói nghi ngút tỏa theo hướng gió nhẹ. Hai anh em đứng thẳng người trước bia đá cúi đầu lễ ba lễ. Lúc xoay lưng trở lại thì đã thấy các tiêu sư và mấy khách thương đứng cả gần đó cúi đầu chào rất lễ độ.
Hai người đáp lễ. Một tiêu sư râu quai nón, đeo cây thiết cương tiên, tiến lên mấy bước nói :
- Chúng ta là khách qua đường cả, nếu không nệ hà, xin mời nhị vị dùng bữa đã bày sẵn cho vui.
Chu Đức Kiệt vui vẻ nhận lời ngay. Chàng tự giới thiệu :
- Anh em tôi họ Chu, người Bình Dương huyện bên Sơn Đông...
Liếc nhìn cây đơn đao cán nhô ra trên vai Chu Đức Kiệt, vị tiêu sư tươi hẳn nét mặt nói :
- A! Có phải Chu Đơn Đao, lệnh lang của cố tiêu sư Chu Đức Ván nổi danh đất Bắc với đường đao gia truyền vô địch đó không?
Chu Đức Kiệt khiêm tốn, chỉ Lam Y đáp :
- Túc hạ quá khen! Gia muội Tú Anh đây. Làm sao túc hạ biết gốc tích anh em tôi?
Người đó hớn hở nói :
- Hữu nhãn vô châu tôi quả đắc tội muôn ngàn. Lam Y nữ hiệp đây phải không? Đứng trước Thái Sơn mà không biết.
Tiêu sư đó vái Lam Y. Nàng nghiêm chỉnh đáp lễ.
Tiêu sư nói tiếp :
- ... Hiệp danh của nhị vị vang lừng thiên hạ, làm chi chúng tôi trong nghề bảo tiêu mà không biết cho được! Hơn nữa, còn một điều này nhị vị không ngờ tới. Tôi họ Vân tên Báo, em của gia huynh hiện làm giáo đầu ở Bình Dương huyện Vân Bưu tước hiệu Trại Dực Đức đó.
Chu Đức Kiệt vui vẻ :
- Thiệt không ngờ. Thế ra là anh em nhà cả. Trước đây, trong những lúc gặp nhau hàn huyên chè chén, Vân giáo đầu thường nói có một bào đệ hành nghề tiêu sư ở Hoa Nam, ngờ đâu lại gặp đại ca ở nơi đây.
Vân Báo mừng rỡ gọi mấy tiêu sư khác đến giới thiệu từng người một :
- Đây là các tiêu sư giúp việc trong bản tiêu cục ở Kim Lăng, Tiêu Tấn tước hiệu Kim Đạn Tử, chuyên bắn đạn bách phát bách trúng. Hứa Thần Lang, hiệu Kim Sang Tướng, sử dụng cây sang rất tài tình. Còn đây là Hoàng Đầu Sư Tử , Lưu Quới Nguyên, thiện dụng lang nha bổng, gan dạ vô cùng.
Vân Báo nói với các tiểu sư :
- Nhị vị đây là hai nhân vật hữu danh trong giới Giang Hồ Kiếm Khách mà đã có lần tôi kể chuyện cho các hiền đệ nghe rồi. Sơn Đông Chu Đơn Đao và Lam Y nữ hiệp đó.
Các tiêu sư đều giật mình không ngờ lại được diện kiến hai nhân vật vẫn từng nghe danh. Họ chú ý nhìn tướng mạo phi phàm, cảm phục ra mặt dáng điệu anh hùng cân quắc của hai người.
Vân Báo nói :
- Nào xin mời nhị vị dùng bữa ăn nguội với chúng tôi.
Mọi người đều xúm vào ăn ăn uống uống rất vui vẻ.
Rượu mạnh ấm lòng, thịt gà, vịt quay kèm xôi nếp đỡ đói, bữa ăn giữa trời tuy võ biền nhưng thân mật ấm cúng vô cùng.
Vân Báo hỏi Chu Đức Kiệt :
- Nhị vị từ đâu qua đây?
- Từ Trấn giang lên Dương Châu, bây giờ đi Kim Lăng.
- Lúc ở Dương Châu, đại ca có nghe thấy chuyện gì về Kim Cương tự không?
- Không. Có chi lạ vậy?
Nghe đồn các đầu đà trong chùa ấy bị một bọn kiếm khách đến hạ sát hết, trừ ra có một tên thoát khỏi. Vụ này hậu quả lớn lao vì ở Kim Lãng ai cũng biết các hòa thượng Kim Cương tự là người thân tín của một vị Vương gia rất thế lực hiện thời. Chuyến này sang Dương Châu, tôi có ý dò la tin tức đó xem thiệt hư thế nào.
Lam Y nói :
- Riêng phần anh em tôi nghe nói bên Kim Lăng sắp có cuộc thi kỵ mã rất hào hứng nên sang đó xem cuộc thi và viếng đô thị luôn thể.
Vân Báo lắc đầu chép miệng :
- Gay go thì có gay go nhưng có một điều...
- ... Điều chi?
- Chẳng tránh được thịt nát máu rơi.
- Ủa! Thi kỵ mã mà sao lại có thịt đổ máu rơi?
- Nói ra không hết được. Nữ hiệp sẽ mục kích việc tôi nói trên đấu trường.
Chu Đức Kiệt nói :
- Ở Dương Châu, nếu đại ca có thì giờ nên tìm đến Tào gia trang kết giao cùng Thiên Lý Mã Tào Chí. Đó là một nhân vật đáng thâm giao. Luôn thể, anh em tôi có lời hỏi thăm.
- Chu đại ca dạy như vậy tôi rất vui lòng. Quảng giao bao nhiêu có lợi cho bọn tôi bấy nhiêu. Phiêu cuộc của tôi ở An Hà lộ bên Kim Lăng, đại ca có dịp quá bộ qua chơi cho tôi thu xếp lên đường.
Vân Báo chờ anh em Chu gia lên ngựa đi khuất nẻo đường mới ra lệnh cho đoàn ngựa tiến bước chỉ nẻo Dương Châu.
Xế chiều hôm ấy, anh em họ Chu đi tới một nơi có ngọn núi khá cao, chân núi là rừng cây rậm rạp. Thế núi in hẳn trên dòm trời, như hình con ngựa đang lặn mình trên cỏ biếc.
Lam Y chỉ tay :
- Hiền huynh coi kìa, Mã Thạch cương.
Một dòng suối lớn róc rách chảy, phát xuất từ chân núi, vòng vèo như con rắn bạc khổng lồ bò ra sát bên đường đi. Hai bên bờ suối cỏ dại hoa ngàn màu tím phớt, hồng ngả bóng soi lên trên mặt nước trong veo.
Mấy chú tiều còng lưng dưới bó củi nặng đi hàng một bên đường, nghe tiếng vó ngựa lộp cộp dằn trên đất đá, củng cố quay đầu lại nhìn xem người kỵ mã là ai.
Lam Y hỏi :
- Bớ chú tiều, đây có phải là Mã Thạch cương không? Chúng tôi muốn kiếm quán trọ làm ơn chi giúp.
Mấy chú tiểu không ai bảo ai cùng chỉ tay lên ngọn núi :
- Mã Thạch sơn đây. Gần đây, phía này là Quan gia bảo, có tửu quán.
Lam Y cảm ơn thúc ngựa cùng Chu Đức Kiệt tiến nhanh, vượt qua bọn tiều phu, vòng theo chân núi sang tay tả. Giây lát đi tới một cổng trang, mái lá, rào hoa, anh em Chu gia thấy một mãnh hán mặt đỏ như gấc, mày ngài xếch ngược, râu ba chòm đen lánh dài tới bụng, cổ lớn, vai to. Chàng ta vận chiếc áo bào màu lục, chân vận ủng võ.
Giật mình, Lam Y nhìn Chu Đức Kiệt nói nhỏ :
- Kìa, Hán Thọ Đình Hầu.
Chu Đức Kiệt nghiêm nét mặt :
- Chúng ta thức chớ có mê đâu! Nhưng kỳ thật! Cháu mà sao từ nét mặt đến khổ người y hệt tổ tiên. Chắc là Kim Đao Quan Long đây...
Mãnh hán mặt đỏ cũng nhìn trừng trừng anh em Chu, tới lúc hai người đi qua trước mặt, bèn chắp tay vái dài :
- Kính mời nhị vị nán lại tệ trang. Trời gần tối rồi...
Đang toan tính làm quen, bỗng được lời mời, Chu Đức Kiệt cả mừng, cùng Lam Y xuống ngựa vái chào đáp lễ :
- Anh em tôi đang tính xin vào bái yết, không ngờ lại gặp Quan anh hùng đứng hóng mát ngoài cổng trang, thiệt là may mắn vô cùng.
Mãnh hán ngạc nhiên :
- Ủa! Nhị vị Chu đại hiệp biết tiện danh sao? Tôi cốt ý đứng đón nhị vị chớ không phải hóng mát. Đêm qua, tổ phụ tôi báo mộng, vào giờ này sẽ có nhị vị Chu hiệp đi qua, dạy phải mời về nhà để kết giao. Bởi vậy, mới được biết tôn tính đại danh.
- Chúng tôi cũng vậy, đêm qua mộng thấy lệnh tổ phụ dẫn đường cho biết Mã Thạch cương để vào kiến anh hùng.
Quan Long cười ha hả :
- Chúng ta là con nhà võ, nhất kiến vi thâm giao, chẳng nên câu nêu trong sự xưng hô. Ta nên theo thứ tự của tuổi tác mà gọi nhau bằng anh em. Năm nay tôi ba mươi chẵn.
Chu Đức Kiệt vui vẻ nói :
- ... Tôi ba mươi hai, còn gia muội nhỏ tuổi hơn cả.
- Thế thì cho phép tôi kêu bằng Chu đại ca và Chu muội có được không?
- Sao lại không! Quan hiền đệ dạy chí phải.
Quan Long vỗ tay gọi gia nhân ra dắt ngựa vào tầu, và mời anh em Chu gia vào trong trang, lên thảo sảnh. Thảo sảnh rộng rãi, phía trong cùng, ngay chính giữa, một bức họa vẽ hình Quan Vân Trường đọc thư, có Quan Bình, Chu Xương đứng hai bên, hình lớn bằng người thật, nét bút rất linh động. Bức họa đó treo ngang trên tường, sau chiếc án thờ rộng lớn bày trong vòng chạm trổ vàng son chói lọi. Trên án thờ bày một lư hương bằng đồng đen.
Cây Thanh long yển nguyệt đao, lưỡi đao bọc trong vải xanh, cắm trong giá kê bên án thờ. Anh em Chu gia tiến đến trước bàn thờ lẩm nhẩm khấn vái hồi lâu rồi mới ra khách sảnh phân ngôi chủ khách cùng ngồi.
Quan Long nói :
- Tôi đã dành sẵn một căn phòng ở hậu đường, vậy xin mời đại ca và Chu muội vào thay y phục sửa soạn gọn ghẽ rồi ta sẽ hàn huyên, như vậy có lẽ dễ chịu hơn.
Chu Đức Kiệt và Lam Y cảm ơn, vác khăn gói theo Quan Long vào trong nhà.
Chỉ hai căn phòng bày biện trang nhã, Quan Long nói :
- Nhị vị cứ tùy tiện như ở nhà. Lát nữa tiện nội sẽ ra mắt.
Nói đoạn chàng đi ra.
Lam Y bảo Chu Đức Kiệt :
- Nếu gặp Quan đại ca cỡi ngựa cầm đao ở giữa đường, chắc chắn ngu muội tưởng là Hán Thọ Đinh Hầu hiển thánh đó!
- Ờ, giống thật, càng nhìn càng thấy y hệt người trong bức tranh. Hai căn phòng liền vách, có cửa sổ xây cuốn trông ra hoa viên trồng đầy hoa thơm, cỏ lạ. Sửa soạn xong, hai người trở ra đại sảnh thì đã thấy Quan Long đang ngồi dựa án thư đọc sách.
Quan Long bảo thị nữ :
- Vào mời phu nhân ra đây!
Lát sau, một thiếu phụ trạc hai mươi lăm, hai mươi sáu nét mặt thùy mị, dắt một tiểu nhi lối năm tuổi, dịu dàng bước ra.
Quan Long chỉ anh em họ Chu, bảo vợ :
- Đây là nhị vị Chu đại hiệp mà Tổ phụ báo trong giấc mộng đêm qua. Và đây là tiện nội và gia nhị Quan Hổ.
Thi lễ xong, bốn người cùng ngồi nói chuyện. Quan phu nhân thấy anh em Chu gia phong thái khác thường, cử chỉ anh hùng, đĩnh đạc, thì rất khâm phục, mừng thầm chồng mình có thêm mối hảo giao.
Lam Y bế Quân Hổ đặt ngồi lên đùi rồi nói chuyện với Quan phu nhân.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Quan hiền đệ ở khu Mã Thạch cương này lâu chưa?
- Đã chín đời nay rồi, kể từ đời tổ phụ tôi là Quan Thắng cùng các vị anh hùng trên Lương Sơn Bạc được triều đình chiêu an. Theo việc triều chính ít lâu, tổ phụ tôi từ quan đi ngao du.
Khi qua Mã Thạch cương này, thấy cảnh trí u nhã vừa mắt nên người xây dựng khu Quan gia bảo mướn người trồng trọt, chăn nuôi phá rẩy làm nương.
Lần hồi những người ấy lập gia đình sanh nở mỗi lúc một nhiều, hết đời nọ sang đời kia. Ngày nay, tại Quan gia bảo có tới trên một ngàn nhân số, sanh cơ lập nghiệp tại chỗ lập nên các tiệm buôn bán, tửu lầu, họp chợ đủ cả.
Các đoàn khách thương qua đây thường nán lại nghỉ ngơi hoặc buôn bán hàng hóa, hoặc mua mấy thứ thổ sảng đem đi. Bởi vậy sơn dã này cũng có phần tấp nập.
Đại ca và Chu muội hãy ở lại đây ít bữa cho tôi được thỏa tình thừa tiếp...
Chu Đức Kiệt đáp :
- Ngu huynh đi Kim Lãng xem cuộc đua kỵ mã có hẹn với nhiều người quen lắm. Cần đi cho kịp hạn kỳ.
- Đúng ngày rầm tháng ba mới khai hội, từ Mã Thạch cương đến Kim Lăng chỉ còn bốn ngày đường, vậy đại ca có thể nán lại tệ trang vài bữa.
- Hiền đệ không đi Kim Lăng xem hội sao?
- Tiểu đệ biết mặt trái của những kỳ hội do Thuận Vương tổ chức rồi. Gian vương nhằm mục đích sát hại những ai đương đầu với y. Chứng ta là hạng người có tâm can không chịu khuất tất, trông thấy vậy thêm tức, chi bằng không đi là hơn. Gian vương đã nhiều lần cho người về đây dụ dỗ tiểu đệ. Lần nào cũng bị chối từ nên y có ý khó chịu. Nếu y cho người đến đây kiếm chuyện, tiểu đệ định tâm sẽ cho chúng một bài học xử thế.
- Tài ba thao lược như hiền đệ không ra giúp triều đình, mai một ở nơi sơn dã này há chẳng phí công học tập hay sao?
- Tiểu đệ cân nhắc kỹ lắm rồi. Vĩnh Lạc hoàng đế nhân từ hiền hậu, nhưng nhu nhược thành thử chiều lúc gần như bất công, thà rằng ẩn náu nơi nương lúa vườn rau này còn hơn là xuất thân để mua lấy sự tức bực!...
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Hiền đệ suy luận chí phải. Nhiều vị anh hùng hiện cũng đợi thời, chờ dịp thuận tiện ra giúp nước...
- Nghĩ đến thân thế lắm khi quả cũng thấy buồn!...
Chỉ Thanh Long đao yển nguyệt cắm trên đá, Quan Long nói tiếp :
- Thanh đao kia đã bao đời nay giúp cha, ông nhà họ Quan lập nên không biết bao nhiêu là công lao hản mã, mà bao năm nay chịu đứng gọn trong đã kể đáng bực thiệt.
Chu Đức Kiệt hỏi :
- Thanh Long đao ấy từ đời nào?
- Từ Hậu Hán truyền lại. Vẫn còn tốt nguyên.
Nói đoạn Quan Long bước lại đã lấy đao bỏ bao ra đưa cho Chu Đức Kiệt coi.
Đón lấy cây đao, Chu Đức Kiệt thấy cầm rất vừa tay, lưỡi đao sáng loáng như nước, khen ngợi :
- Ngờ đâu ngu huynh được cầm cây long đao của viên danh tướng cầm đầu Ngũ hổ đất Ba Thục bao giờ!
Chu Đức Kiệt đưa đao cho Lam Y coi hồi lâu trả lại cho Quan Long. Gia nhân đã bày xong bữa tối, mời bốn người vào ăn.
Sáng hôm sau, Quan Long mời anh em Chu gia đi xem trong trang. Nhà cửa bếp nọ, nếp kia rất gọn gàng sạch sẽ. Quan Long sai gia nhân thắng ngựa để mời họ Chu đi vòng quanh khu Mã Thạch cương và Quan gia bảo. Thấy con tuấn mã của Quan Long cao lớn ra dáng ngựa trận, màu đỏ tuyền, bờm đen mà dài. Chu Đức Kiệt hỏi :
- Con ngựa này màu sắc chẳng khác chi Xích Thố tả trong sách, chẳng hay có được khỏe bằng không?
Quan Long vỗ vào cổ ngựa :
- Không biết có khỏe bằng ngựa của Hán Thọ Đinh Hầu không, nhưng ngu đệ đã thử cưỡi nó hàng ngày mà không biết mệt. Đại ca coi đây, vó cất cao và nhẹ lắm.
Nói đoạn, Quan Long nhảy lên mình ngựa, tay buông lơi dây cương :
- Xích Thố! Đi ta coi!
Như hiểu lời chủ, Xích Thố đi vòng quanh sân, đầu cất, ức dồ, hai vó trước cất cao mà chẳng coi thiệt kiêu hùng.
Quan Long khẽ vỗ tay vào cổ ngựa :
- Phi mau!
Xích Thố phi nước kiệu lẹ như tên bắn êm ru.
Lam Y vỗ tay khen :
- Con tân Xích Thố này hay quá, Quan đại huynh mua được ở đâu?
- Ngu huynh vào tận Tây Xuyên mới mua được con ngựa này. Nó vốn là ngựa rừng... nhưng lát nữa kể chuyện cũng được. Bây giờ mời đại ca và hiền muội lên ngựa đi xem phong cảnh Mã Thạch cương và Quan gia bảo đã.
Anh em Chu gia lên ngựa, Chu Đức Kiệt đi giữa cùng rong ngựa đi hàng ba ra khỏi cổng trang.
Quan Long nói :
- Hai con Ô Mã và Bạch Tuyết này cũng hay lắm đấy! Giống ngựa Bắc Sơn Đông còn có khi mạnh hơn ngựa Tây Xuyên.
Quan Long dẫn anh em họ Chu đi vòng khắp mọi nơi. Phong cảnh tuyệt đẹp.
Chu Đức Kiệt nói :
- Quan hiền đệ ở đây thật riêng một mình san hà, độc lập và an nhàn, chẳng còn ai dám tới quấy nhiễu nữa!.
Những người gặp trên đường thấy Quan Long đều cung kính vái chào.
Khu Quan gia bảo rất rộng lớn, nhà cửa xây toàn bằng gạch, đường lối vuông vắn khang trang. Tới một khu trồng nhiều cây đề xanh tốt, Quan Long chỉ lá chiêu bài đề Mã Thạch Quán.
- Anh em ta vào đây uống nước đã.
Chủ quán là Chúc Đạt đến định cư ở đây cũng đã được ba đời rồi. Y có nghề cất rượu tuyệt ngon. Toàn thể khu này ai cũng nghiền rượu do y cất nên đặt thành tên “Chúc gia tửu” mà Chúc Đạt thì có tước hiệu là Tửu Đại Vương.
Thấy Quan Long cùng hai người khách lạ đẹp ngồn ngộn như đôi hạt trắng tới quán mình, Chúc Đạt từ trong quán chạy ra vái dài chào hỏi rất đỗi niềm nở :
- Kính mời nhị vị quan nhân và tiểu thơ vào nghỉ chân.
(Thời đó dùng hai chữ Quan Nhân để tỏ ý kính trọng một người giàu có, hay thế lực trong vùng, chớ không cứ gì làm quan mới có danh từ ấy).
Quan Long vỗ vai Chúc Đạt :
- Tôi bận việc nhà, ít qua thăm, chẳng hay tiên sinh có phát tài không?
- Dạ buôn bán cũng nhĩ nhẵng đủ ăn. Nhị vị đây là khách viễn phương.
Quan Long gật đầu :
- Phải, nhị vị đây từ Hoa Bắc... Có chi nhậu tối không?
- Dạ có thịt heo rừng mới bẫy được đêm qua.
- Lấy ba hồ rượu hảo hạng và vài món ăn chơi.
Lam Y nói :
- Chúc tiên sinh cho hai hồ thôi, tôi uống chung với gia huynh được rồi.
Chúc Đạt vâng dạ quay vào, lát sau tiểu nhị đem rượu và mấy món nhắm ra khói bay nghi ngút, mùi thơm dễ chịu.
Quan Long nâng Lam Y rượu mời.
Lam Y nóng ruột hỏi :
- Việc bắt tân Xích Thố ra sao, Quan đại huynh kể cho chúng tôi nghe với nào.
Quan Long uống một hơi cạn ly rượu, khà một tiếng :
- Rượu thơm quá!... Vâng, tôi xin kể. Việc đó cách đây bốn năm rồi...
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-02-22 10:25:39casau>
Hồi 21
Tìm dấu ngựa rừng trong Xuyên Lâm ổ
Hàng phục Hồng mã, Kim Đao Tướng trổ tài
 
Tuy trong trang có cả tầu ngựa tốt, nhưng Quan Long không ưng ý về màu sắc của một con nào cả. Chàng muốn có một tuấn mã màu đỏ thẫm như chu sa, nghĩa là đúng màu sắc của Xích Thố thuở xưa.
Kể từ trước tới nay đã trải bao đời rồi, nhưng chỉ có Đại đao Quan Thắng đời Tống và nay đến Kim đao Quan Long là giống y hệt nội tổ Quan Võ. Cũng vì lẽ ấy, Quan Long cầu kỳ chọn một con ngựa giống Xích Thố để dùng.
Trong mỗi năm các lái buôn ngựa cũng có đi qua Quan gia bảo vài chuyến. Họ buôn đủ các giống ngựa hay như ngựa Châu Tượng, Kỳ ký, Hoa Lưu, Lý Cân... Quan Long thường dặn họ kiếm cho một tân Xích Thố, đắt bao nhiêu tiền cũng mua.
Đã vài lần, bọn lái đem ngựa tới. Quan Long không ưng ý con nào cả. Hoặc lợt quá, sẫm quá, có con được màu thì bờm và lông đuôi lại không dài và đen, hoặc có điểm một vài đốm khác nhau. Kiếm sao được con ngựa đầu cất cao, cổ dồ, ức nở, mình ngắn, vó thon, mao trường và đen tuyền bây giờ!
Mỗi khi tập luyện, Quan Long cảm thấy y hệ nội tổ với cây Thanh Long Yển Nguyệt đao mà cỡi ngựa màu sắc khác nên mất hẳn hứng thú hào hùng. Bởi vậy chàng có ý buồn.
Một hôm có người lái ngựa quen thân từ đất Thục chăn đoàn ngựa ra khu vực duyên hải bán. Người ấy nán lại Quan gia bảo, vào yết kiến Quan Long.
Họ Quan mừng rỡ chào hỏi :
- Sao hơn một năm nay mới thấy qua đây hả Thái tiên sinh?
Người lái ngựa họ Thái tên Đình Hoàng nói :
- Cũng vì Trang chủ nên lâu nay tôi mới đi được một chuyến này đó! Tiếc quá! Tiếc quá!
Quan Long ngẩn người ra, không hiểu :
- Tại sao lại tại tôi? Mà tiếc chi mới được chứ?
Thái Đình Hoàng vỗ đùi đét một cái và tặc lưỡi :
- Tại con Xích Thố của Trang chủ, vậy không phải là tại Trang chủ thì là gì nữa, hả trời.
Quan Long vẫn ngơ ngác :
- Kỳ thật! Tôi đã làm chi có Xích Thố mà nói tại tôi, oan uổng quá!
- Tại con Xích Thố ở trong thung lũng vùng Xuyên Lâm kia... Tôi muốn bắt nó cho Trang chủ nên mới mất nhiều thì giờ thế này đó. Ngót một năm trời cũng không bắt nổi.
- Nó là giống ngựa rừng?
- Dạ, bọn lái ngựa chúng tôi thì vừa gây giống ngựa nuôi lớn để bán, nhưng cũng phải bắt ngựa rừng nữa để khỏi phải tốn công nuôi. Giống này sống có đoàn hàng mấy trăm con, tùy theo đoàn nhiều, đoàn ít, bắt được thì có lời nhiều hơn giống ngựa nuôi...
- Vùng Xuyên Lâm thuộc về đâu?
- Cách Trùng Khánh phủ độ ba trăm dặm thung lũng hoang vu ấy ở dưới chân Phi Long lãnh. Tháng sáu năm ngoái, có người mách cho tôi là trong Phi Long lãnh có bày ngựa rừng lớn, chúng tôi bèn kéo nhau tới đó định bẫy, nhưng đoàn này khôn lắm, mất nhiều thì giờ chưa có kết quả chi cả.
Quan Long ngẫm nghĩ giây lát hỏi :
- Như vậy thì can chi tới tôi?
- Sao lại không? Con mãnh mã đầu toàn màu đỏ tía, bờm và đuôi đen tuyền, rất xứng danh là Xích Thố. Bởi vậy tôi cốt ý bắt nó cho Trang chủ dùng.
Nghe Thái Đình Hoàng nói tới đâu, cặp mắt Quan Long sáng long lanh lên đến đấy, mừng rỡ ra mặt chàng hỏi :
- Đúng như vậy chứ? Chắc chắn không?
Thái Đinh Hoàng tặc lưỡi :
- Đó là nghề của tôi mà Trang chủ còn nghi ngờ đến như vậy! Từ trước tới nay tôi đã bán cho Trang chủ con ngựa nào hư hay phản chưa?
Quan Long cả cười, vỗ vai họ Thái :
- Hỏi vậy cho chắc chắn, tính tôi cẩn thận. Đừng giận nhé, Thái tiên sinh?
Họ Thai cũng mỉm cười :
- Tôi đâu dám giận Trang chủ, nhưng chỉ tiếc không bắt nổi con mãnh mã hung hãn ấy thôi.
- Đoàn ngựa rừng ấy có đông không?
- Độ trên một trăm con đủ các màu sắc, coi sướng mắt lắm.
- Con mãnh mã ấy hung hăng như thế nào?
- Tôi cho quây lưới bắt mà hai lần nó bỏ hai vó trước phá rách toang lưới chạy mất. Lần thứ ba, đặt lưới thép. Trang chủ có đoán được nó làm thế nào thoát thân không?
Mắt sáng ngời, Quan Long đáp liền :
- Nó phóng qua đầu lưới!...
Thái Đinh Hoàng gật đầu :
- Chính thế! Nó lùi lại mấy bước phóng qua đầu lưới như tên bắn, rồi tìm chúng tôi cắn đá. Bữa đó hai tên công nhân của tôi bị táng mạng về cặp vó của con mãnh mã ấy bổ trúng đầu bể nát như hột gà óp. Mọi người sợ hãi, mạnh ai nấy chạy. Con ác mã ấy quay lại nhào bừa cho đỗ lưới đánh tháo cho đồng bọn đi mất... Tiếc quá!
Dồn chúng lại vào khu có lưới rất khó khăn. Bắt đã chẳng được, hiện giờ cả đoàn “dông” đi đâu mất rồi. Tôi tính đi chuyến này, trở về sẽ tìm bắt kỳ cho được mới nghe.
Quan Long chậm rãi nói :
- Tôi bàn thế này. Tiên sinh bán xong bầy ngựa trở về đây. Tôi cũng vào Tây Thục và cùng đi đến Phi Long lãnh tìm bầy ngựa rừng đó với tiên sanh. Bao nhiêu tổn phí tôi chịu cả. Được không?
- Vấn đề phí tổn không cần nói tới vì Trang chủ chỉ cần có con Xích Thố. Nếu bắt được Xích Thố, thế cả đoàn ngựa kia thuộc về tôi cả, phải không?
Qua Long gật đầu :
- Chính vậy. Tùy ý tiên sinh muốn sao cũng được, tôi chỉ cần có Xích Thố thôi.
- Đã vậy, tôi sẽ trở về đón Trang chủ đi Tây Xuyên một phen.
Quan Long mời Thái Đinh Hoàng ở lại uống rượu, hôm sau mới kéo bầy ngựa ra vùng duyên hải bán.
Hơn hai tháng sau, Thái Đình Hoàng trở lại. Quan Long đã sửa soạn sẵn, từ biệt vợ con lên ngựa cùng bọn lái ngựa đi đường bộ qua Hán Dương vào đất Ba Thục, thẳng đường đi Trùng Khánh phủ. Nghỉ lại thị thành đó mấy ngày xem phong cảnh. Thái Đình Hoàng cho đồng bọn về trước sửa soạn cuộc săn ngựa, rồi sẽ về sau cùng Quan Long. Họ Thái cư ngụ tại Phù Linh huyện đã lâu và hành nghề lái ngựa gia truyền.
Ở Phù Linh huyện cũng có mấy tay lái nữa nhưng họ Thái lành nghề hơn cả nên hầu như là giữ độc quyền buôn sỉ, bán lẻ đủ cả các ngành. Đến đời Thái Đình Hoàng, công việc sanh nhai còn phấn chấn hơn cha ông khi xưa, nên Đình Hoàng còn lập thêm một cơ sở dạy ngựa thiệt thuần thục để bán ngựa dạy săn cho các khách hàng không thạo về môn giáo mã và kỵ mã. Bởi vậy khu nhà của họ Thái nếp nọ, nếp kia rất rộng rãi, sân trước sân sau, tầu ngựa hàng dãy chia ra nhiều loại. Loại mới bắt hay mới mua. Loại đang luyện tập, loại đã thuần thục, loại đem bán ra phần nhiều đã được luyện qua loa. Những con nào có tướng phản chủ đều được chọn lọc rất kỹ lưỡng và loại ngay. Khi nào tải hàng một trăm con đi xa bán theo lời yêu cầu của khách hàng thì Thái Đình Hoàng mới thân chinh đi. Còn thì phần nhiều các lái nhỏ tìm đến mua sỉ tại chỗ chở đi nơi khác bán ăn tiếp.
Trong khu trang trại của Thái Đình Hoàng trừ gia đình họ Thái ra, còn có những tay chuyên môn phụ tá với Đình Hoàng. Người nào cũng khỏe mạnh, sành sỏi và đều biết dăm ba miếng côn quyền. Những lúc đi xa, giao dịch buôn bán với người ngoài, họ thường dùng tiếng lóng riêng của lái ngựa để nói với nhau. Thái Đình Hoàng dọn một căn phòng thật chu đáo cho Quan Long ở, tiếp đãi vào bực thượng khách. Trừ một vài người theo Thái Đình Hoàng đã có dịp qua Quan gia bảo biết mặt Quan Long không kể, còn những người khác khi thấy họ Quan giống hệt Hán Thọ Đình Hầu, thì đều chăm chú nhìn ngạc nhiên hiện ra mặt. Họ ngạc nhiên là phải, vì người xứ Ba Thục nhà nào cũng lập bàn thờ vị danh tướng nhà Thục ấy.
Thái Đình Hoàng mời Quan Long đi xem các sở do y lập ra. Họ Quan khen ngợi vô cùng và rất cảm phục Thái Đình Hoàng đã có sáng kiến canh tân hóa cách thức nuôi ngựa trong trang trại.
Trong khi nghỉ ngơi mấy hôm, Thái Đình Hoàng sai người vào Phi Long lãnh kiếm dấu vết bầy ngựa do Xích Thố dẫn đầu.
Người đi không lại về rồi chẳng thấy chi hết, về báo cho họ Thái hay.
Quan Long hỏi họ Thái :
- Phi Long lãnh gần hay xa?
- Cách Phù Linh huyện này độ năm mươi dặm đường.
- Nếu vậy ta phải đem lương thực cho đầy đủ, đóng trại ngay tại thung lũng Xuyên Lâm, hoặc đi sâu vào các hóc hiểm Phi Long lãnh may ra kiếm được vết tích đoàn ngựa chăng? Mất dịp bắt Xích Thố thì uổng công và đáng tiếc quá! Sớm mai ta lên đường.
Thái Đình Hoàng đồng ý, truyền lệnh cho các người phụ tá sửa soạn lưới dây và lương thực cho thiệt đầy đủ.
Quan Long nói :
- Muốn mang lưới theo thì tùy ý, nhưng riêng tôi chẳng cần dùng tới. Tôi có bửu bối lợi hại hơn nhiều.
TháiĐình Hoàng ngạc nhiên :
- Ủa! Bảo bối chi vậy?
Quan Long mỉm cười, lẳng lặng về phòng lấy ra một cuộn dây thừng tết rất kỹ, vừa mềm vừa chắc, lớn bằng ngón tay út, một đầu thắt nút lại, còn đầu kia thì buộc chiếc móc sắt đầu tròn.
- Sự ích lợi của sợi dây này như thế nào?
- Tiên sinh cứ cho một con ngựa không yên cương ra sân, tôi thử cho mà coi.
Thái Đình Hoàng bảo người nhà ra tàu lấy ngựa. Lát sau, tên gia nhân dắt ngựa vào sân. Con ngựa này còn dở dang nên chưa được thuần lắm. Quan Long khoác cuộn dây vào tay trái còn tay mặt thì cầm đầu dây có móc sắt.
Thấy người đến gần, con ngựa đứng không yên, bắt đầu cất vó xoay đi, xoay lại, hí lên mấy tiếng.
Quan Long lựa chiều đi vòng quanh, rồi bắt thần, cầm đầu dây có móc sắt hoa lên mấy vòng. Con ngựa hoảng quá, vùng chạy hai vó sau luôn luôn đá hậu. Quan Long, tay vẫn vung tròn đầu dây, lấy đà liệng mạnh. Cuộn giây tung ra ra như một vệt chớp dài, đầu giây quấn tròn lấy cổ con ngựa, chiếc móc sắt móc chặt lấy sợi dây thành ra buộc nút lấy cổ ngựa. Quan Long lựa tay rút dây khiến đầu nút siết chặt lại. Sợi dây do tay họ Quan đến cổ ngựa căng thẳng. Mới đầu, con ngựa còn vùng vẫy giật mấy cái, nhưng càng giật nút dây càng thắt chặt, nên nó đành đứng im. Quan Long lần đầu dây tiến đến sát con ngựa một tay vỗ vào cổ nó, một tay tháo chiếc móc sắt. Con ngựa được thả lỏng vùng ra chạy xuống phía cuối sân. Thái Đình Hoàng và mấy người đứng trong sân xem hoan hô lối bắt ngựa tài tình của họ Quan.
Quan Long cuộn dây lại theo một phương pháp riêng :
- Tôi chỉ lo đoàn ngựa rừng ấy bị động kéo đi miền khác thôi. Nếu chúng còn ở vùng này thế nào tôi cũng bắt kỳ được con mãnh mã đáng giá đó.
Hôm sau, Quan Long theo bọn Thái Đình Hoàng vào Phi Long lãnh. Mãi trưa, đoàn người ngựa mới tới thung lũng Xuyên Lâm. Thung lũng này khá rộng lớn, cây cao bóng mát, cỏ xanh mướt cao không quá bắt chân. Một bên là Phi Long lãnh, núi đá gồ ghề cao ngất, một bên là dãy đồi thấp thoai thoải, rừng cây lan tràn khắp mặt đồi làm biến vòng vèo như một đoàn trâu khổng lồ nằm úp xếp theo hàng chữ nhất. Gió thổi nhè nhẹ, mùi hoa rừng cỏ nội bốc thơm ngào ngạt.
Thái Đình Hoàng chỉ chân ngọn Phi Long lãnh :
- Có một làn suối lớn phát xuất từ dãy núi Phi Long băng qua đầu bên kia thung lũng, chảy theo dãy đồi bên tả, thành thử quanh năm khu nội cỏ này đều có nước, vì vậy nơi đây cỏ xanh mướt như tấm thảm nhung.
Quan Long cho ngựa đi ngang với Thái Đình Hoàng, chăm chú nhận xét xem có vết tích gì trên mặt cỏ không :
- Thái tiên sinh gặp đoàn ngựa rừng ở khu nào? Lâu rồi, dấu tích chắc bị cỏ lấp hết.
- Lần đầu ở gần ngọn đồi thứ ba bên kia, chuyến sau thì ngay gần chân núi chỗ rẽ sang bên hữu có gốc cây cao lớn kia kìa. Tại đây, dù đoàn ngựa lớn đi đến đâu dầy xéo đến đó, nhưng chỉ trong vòng mươi ngày là cỏ mọc lấp ngay.
Lát sau, đoàn người đi tới gốc cây cao lớn, bóng lá um tùm. Quan Long nói :
- Tiên sinh cho đóng trại ở đây vừa có bóng mát, vừa ở bên suối tiện dụng hơn cả.
Thái Đình Hoàng đồng ý, ghìm ngựa lại bảo mọi người :
- Hạ trại đi và sửa soạn cơm nước. Ta đi cùng Quan trang chủ, lát nữa quay về.
Quan, Thái hai người cho ngựa kiệu nhỏ đến chỗ thấy đoàn ngựa năm trước. Nơi đó, cỏ mọc xanh rì, không một chút dấu vết nào cả.
Hai người lại phi ngựa chạy vòng khắp thung lũng Xuyên Lâm, chú ý tìm kiếm, nhưng phí công, nơi nào cũng cỏ rậm cây xanh, như từ ngày xưa chưa có một kẻ phàm trần nào bước tới.
Thái Đình Hoàng lắc đầu nói :
- Tôi e bầy ngựa này đi nơi khác mất rồi.
Hai người ghì ngựa lại đi trước một. Quan Long nghĩ ngợi giây lát :
- Vừa rồi chúng ta vừa chạy vòng cả hai bên đồi núi, Thái tiên sinh có để ý tới sự gì lạ không?
Thái Đình Hoàng ngẩn mặt, nhìn họ Quan có ý hỏi sự lạ đó là gì.
Quan Long giải thích :
- Trong khi đi đường, tôi nhận thấy núi non hiểm trở, rừng cây bát ngát rậm rạp, ắt hẳn không phải là nơi trú ẩn của bầy ngựa hoang ấy, vậy chúng không do lối đi độc nhất đó vào nơi thung lũng có nội cỏ ngon lành này.
- Ngoài ra, ba bề thung lũng đều bị núi đồi bao bọc, vậy bầy ngựa đã đến và biến mất bởi lối nào?
Thái Đình Hoàng nghe Quan Long phân tích rõ ràng, đành im lặng không tìm được câu trả tiếp :
- Quan Long nói tiếp :
- Phi Long lãnh đây là cả một dãy núi trùng trùng, điệp điệp bắt đầu từ Xuyên Lâm ổ này. Hồi nãy, tôi nhận thấy nơi đầu trong thung lũng chỗ đồi và núi giáp với nhau, hình như có một con đường mòn, tuy chênh vênh, nhưng khả dĩ đi được, vậy tiên sinh đã thử vượt qua lối đó bao giờ chưa?
Chưa! Vì tôi không hề nghĩ rằng ngã đó có lối đi. Ngay lúc đầu tôi vẫn nói phía trong thung lũng bị núi rừng vít chặt.
Quan Long nói :
- Bây giờ, ta về trại, cơm nước xong xuôi, nếu tiên sinh không mệt nhọc, ta sẽ cho mấy người đi theo thám hiểm lối đi đó xem thế nào.
Thái Đình Hoàng cười :
- Như Trang chủ đã biết, tôi đi luôn đường trường phong sương dầu dải đã quen rồi, mới đi thế này đã mệt sao được!
Dưới bóng cây lớn, mấy căn lều vải được dựng lên rất gọn gàng. Đoàn người lăng xăng làm những việc cần thiết. Bầy ngựa tháo yên cương tung tăng ăn cỏ non bên bờ suối. Có con đứng hẳn xuống lòng suối uống một hơi dài, rồi cất đầu lên hí vang lừng.
Cơm nước xong, trời đã xế chiều. Quan Long nhìn trời mây rồi nói với Thái Đình Hoàng :
- Xét lại thấy trễ rồi. Để tôi vào thăm qua loa xem thế nào, sớm mai sẽ hay. Tuy đêm nay có trăng, lỡ phải ngủ trong núi cũng chẳng ích lợi chi.
Thái Đình Hoàng đứng dậy, thắt lại đãi lưng :
- Tôi cũng đi với Trang chủ.
Hai người lên ngựa phi một mạch tới chỗ giáp giới Phi Long và dãy đồi rừng cây rậm rạp.
Đá lởm chởm, lối đi hẹp. Những cành gai dóng sậy vươn ra ngáng cả khúc đầu đường. Móng ngựa sắt đạp trên đá lộp cộp vọng vang cả khu hoang vắng. Quan Long đi trước tuốt kiếm phạt đứt các cành cây, mở đường. Vất vả mất vài trăm bước đầu, nhưng đường mòn dốc lần lần, bụi rậm ven rừng không vươn tới nữa, lau sậy mỗi lúc một thưa, nhường chỗ cho vách đá nhấp nhô...
Thái Đình Hoàng nói :
- Đường mòn này ven theo sườn núi lên cao, bầy ngựa rừng có lẽ không qua đây!...
Quan Long suy nghĩ, chưa biết nói thế nào thì chợt trông thấy vật gì, ghìm ngựa lại quan sát kỹ.
Thái Đình Hoàng toan hỏi, thì Quan Long đã nói :
- Tiên sinh nhìn thử xem có phải dấu móng ngựa in trên đám cỏ này không?
Dứt lời, họ Quang xuống ngựa tiến đến chỗ có rêu phía trước nhận xét. Thái Đình Hoàng cũng bỏ ngựa đến xem.
Trên đám rêu lớn quả nhiên có nhiều vết chân ngựa tuy đã mờ đi nhiều.
- Đúng dấu móng ngựa đây, nhưng mờ quá. Kỳ thật, không ngờ bầy ngựa qua đây!
Quan Long cười lớn :
- Thế mà chúng đã qua đây thiệt. Tất thế nào cũng có dấu khác rõ rệt hơn.
Hai người lại lên ngựa đi rất chậm. Đường mòn mỗi lúc một rộng thêm và dốc thêm.
Tới một quãng có nhiều cát sỏi, Quan Long reo to :
- Kìa! Lại vết móng ngựa! Rõ rệt lắm không còn nghi ngờ chi nữa!
Quan Long và Thái Đình Hoàng cùng châu đầu nhận xét. Thái Đình Hoàng nói :
- Có vết ngược lẫn vết xuôi. Các vết ngược phủ hẳn lên vết xuôi ta có thể kết luận rằng bầy ngựa đã qua lối này xuống Xuyên Lâm ổ, và chúng cũng ra khỏi thung lũng ấy do đường này, phải không Trang chủ?
- Lập luật như vậy đúng, tôi đồng ý. Bây giờ chỉ còn có việc trở về trại vì sắp tối rồi. Sáng mai, ta cứ theo đường này đi sâu vào xem sao.
Hai người vui mừng trở về trại.
Thái Đình Hoàng nói :
- Nếu không nhờ sáng ý của Trang chủ thì có lẽ không bao giờ tôi vào tới đây kiếm bầy ngựa quý kia.
- Chưa đáng mừng đâu, tôi còn e chúng đã dò đường đó đi nơi khác mất tích.
- Dù sao tôi cũng quyết theo dấu vết tìm cho kỳ thấy cả bầy mới nghe!
Đêm hôm ấy trăng sao vằng vặc, trong vòm trời lam huyền vẫn nhẹ, mấy đợt mây trắng lơ lửng bay về phương xa. Ngọn Phi Long lãnh ngạo nghễ vươn mình trong trời khuya. Nhờ ánh trăng vàng độn phía sau núi, ngọn núi ấy quả giống hệt đầu con rồng đang vươn mình trong không trung. Đoàn người tùy tòng kẻ ngồi, người nằm quanh đống lửa trại chập chờn...
Như đã quen với cuộc đời du mục, một người đem theo cả cây đờn tỳ bà, dựa lưng vào đống yên ngựa, gãy lên những điệu nhạc mê ly. Một người nữa gõ ống bương thay trống bậy bùng, man dã nhịp theo điệu đờn lãng tử lả lướt êm ru.
Hai anh em du mục tốt giọng đồng ca. Tiếng ca tuy nhè nhẹ nhưng cũng đủ vang vội cả khu Phi Long hoang vắng:
“Lạc vào Xuyên Lâm ổ,
Hồn bay theo tiếng gió,
Chênh vênh vành trăng bạc,
Cỏ thơm độn gối nằm...
Mái lều hoa đương lợp,
Bầy tinh tú chơi vơi.
Gío reo trên mặt suối,
Chim đêm hót xa vời,
Anh hùng tay kiếm chống,
Vó ngựa đập vang vang...
Bốn phương hồn lặng về đâu tá?
Lặng lẽ non sâu, vắng bóng người!”

Sáng hôm sau, để lại hai người coi trại, còn thì tất cả theo Quan Long, Thái Đình Hoàng vào thám hiểm con đường mòn mới tìm ra. Đoàn người ngựa đi tới chỗ tìm thấy dấu chân ngựa hôm qua và tiến sâu vào trong núi. Đường đá vẫn gồ ghề, vách núi chênh vênh, chỉ khẽ trượt chân là lao xuống vực. Được cái là con ngựa nào cũng khỏe mạnh, leo đường núi rất vững chắc.
Khởi hành từ đầu giờ Mão sang đến giữa giờ Thìn, đường không dốc nữa và mỗi lúc một rộng lớn hơn khúc đầu. Nơi nào có rêu hay cát sỏi nhiều thì cũng có in dấu chân ngựa như đã thấy. Đường đi bằng phẳng được khúc dài rồi lại bắt đầu lên dốc. Quan Long dừng ngựa nhận xét kỹ ngay ở khúc này có một lối xuống dốc khả dĩ đi được, bèn nói với Thái Đình Hoàng.
- Không lẽ leo dốc mãi! Đây có lối xuống, chắc bầy ngựa theo ngã này.
Thái Đình Hoàng nói :
- Trong bọn bộ hạ theo đây, có người sành leo núi và kiếm dấu vết lắm. Để tôi cho y đi tiên phong, chúng ta có thì giờ nhìn phong cảnh hơn.
Nói đoạn, họ Thái gọi :
- Lý Thôi! Bỏ ngựa cho người đoạn hậu dắt theo. Ngươi theo lối nhỏ này đi tiên phong, cố tìm các dấu chân ngựa nhé!
Lý Thôi vâng lệnh lanh lẹ tiến lên trước.
Đoàn người ngựa lại bắt đầu chuyển động theo sự hướng dẫn của Lý Thôi.
Đi được một quãng đường dài, Lý Thôi nói lớn vọng về phía sau :
- Có nhiều vết chân ngựa trên cát.
Quan Long và Thái Đình Hoàng mừng rỡ nhìn nhau.
- Hay lắm! Cứ tiến đi.
Đường đi lại bắt đầu vướng bởi lau sậy và các bụi cây nhỏ. Lý Thôi đi trước dùng đao phát mở đường. Thái Đình Hoàng cho thêm một mục tử nữa lên trước giúp họ Lý. Đường xuống dốc dần dần, sang đầu giờ Tỵ thì mọi người xuống tới chân núi, và bắt đầu nhập một thung lũng cây cỏ tươi tốt y hệt bên Xuyên Lâm ổ.
Quan Long đắc ý nói :
- Có thế chứ! Cuộc đi này chẳng uổng công!
Bỗng đoàn ngựa, con nào cũng cất đầu, cất vó cao, thở mạnh như cảm thấy sự chi lạ.
Thái Đình Hoàng nói :
- Ngựa đánh hơi thấy lạ.
Mọi người ai nấy đều chăm chú nhìn khu đất mới tới hãy còn che khuất bởi sườn Phi Long lãnh. Bỗng nhiên có tiếng chuyển động, ầm ầm nhu muôn vạn tiếng sấm nổ tuy nền trời vẫn xanh lơ quang đãng.
Thái Đình Hoàng vội nói lớn :
- Nép cả vào sườn núi. Có bầy ngựa chạy.
Mọi người vội vàng rẽ ngựa núp cả vào các hốc đá và bụi cây um tùm. Tiếng ầm ầm mỗi lúc một lớn khiến mấy con ngựa phải xôn xao, đứng không yên chỗ.
Thế rồi, từ góc núi bên kia, một bầy ngựa độ năm mươi con phi như gió, cỏ rạp cả xuống đất, bụi cát bay mù, tiến ra theo địa thế vòng vèo của thung lũng. Dẫn đầu là một con Bạch Mã cao lớn bờm và đuôi đen mướt.
Quan Long nói :
- Kìa! Sao lại Bạch Mã dẫn đầu?
Thái Đình Hoàng cũng ngạc nhiên :
- Chắc là con mãnh mã màu đỏ làm sao rồi. Ta tiến theo bầy ngựa này xem sao.
Mọi người vừa thúc ngựa ló ra thì tiếng ngựa đạp đất ầm ầm lại từ xa vang tới thành thử ai nấy phải vội vàng núp vào chỗ cũ xem sự thể thế nào. Một bầy ngựa nữa tiếng ra, đông hơn bầy trước, hồng mã bờm đen dài sượt dẫn đầu. Xích Thố cao lớn phóng như bay, hùng dũng bốn vó như chỉ chạm nhẹ xuống mặt đất lại cất lên liền. Bầy ngựa chạy theo cũng không kém, con nào cũng khỏi mạnh dị thường.
Xích Thố chạy theo lối của đoàn Bạch Mã hồi nãy.
Mọi người mãi nhìn, chờ bầy ngựa hoang chạy khuất mới nhô ra.
Thái Đình Hoàng nói :
- Bầy Xích Thố đấy. Thì ra, bây giờ lại có hai bầy khác nhau! Con Bạch Mã cũng đẹp lắm.
- Nhưng hỏng vì bộ bờm và đuôi đen. Tôi ưa bạch tuyền. Nào! Bây giờ phải mạo hiểm mới được. Ta theo xem chúng chạy đi đâu chứ?
Không chờ trả lời, Quan Long thúc ngựa chạy trước theo ven sườn núi, phòng khi cần cấp sẽ có thể núp ngay vào sau các phiến đá lớn. Ta khỏi góc núi, thung lũng rộng lớn không kém chi bên Xuyên Lâm ổ, và một cảnh lạ kỳ đang diễu ra ngay trước mắt mọi người. Bầy Bạch Mã choán phía bên kia thung lũng, còn phía bên này là bầy Xích Thố. Cả hai bầy, con nào cũng quay đi nhảy lại lăng xăng, cất vó trước, đá vó sau, hí vang rầm như những kiện tướng ra trận dương oai, diệu võ lúc sắp giao đấu. Xích Thố và Bạch Mã đứng tách hẳn đoàn ra như hai viên chủ tướng, rung bờm, vắt đuôi, bốn vó thon cao xoay đi xoay lại thật kiêu hùng.
Bọn Quan Long, Thái Đình Hoàng vẫn theo sườn núi đi lần ra khúc giữa quan sát hai bầy ngựa. Thái Đình Hoàng nói :
- “Các bầy ngựa rừng kỳ cục lắm. Mỗi bầy theo sự hướng dẫn của một con đầu đoàn. Con đầu đoàn phải luôn luôn tỏ ra mình có sức mạnh. Nếu con đực nào trong đoàn quật cường thì con đầu đoàn phải đàn áp bằng cách cắn, đá cho tới lúc con kia phải chạy chịu thua hay bị táng mạng mới thôi. Những con cái của con ngựa bị chết sẽ thuộc về phần con chiến thắng.
Trong một bầy ngựa có nhiều con đực. Mỗi ngựa đực có tới bốn, hay năm hay sáu con cái, thuộc quyền sở hữu của nó. Nếu “gia đình” nào không phục con đầu đoàn thì cứ việc tách khỏi đoàn sống biệt lập. Nhưng sống biệt lập là cả một sự phiêu lưu nguy hiểm mỗi khi gặp loài hổ báo mà con đực không chông trả nổi. Bởi vậy, ít “gia đình” dám lìa đoàn.
Khi con đầu đoàn già yếu, thường bị các “tay em” đang thời, đang sức cưỡng lại và thách thức. Trong trường hợp này, con đầu đoàn dù biết sức mình kém yếu cũng vẫn can đảm nhận đấu và đấu cho đến lúc kiệt sức không đứng nổi nữa nằm dài xuống đất đưa đầu ra cho đối thủ cất cao hai vó trước bổ mạnh xuống bể sọ, chết tại chiến trường một cách can đảm anh hùng.
Sau khi đã hạ sát xong con đầu đoàn, con chiến thắng vẫn đứng giữa chiến trường lộng hí, nhào, nhảy, quẫy đuôi, tung bờm, như có ý thách thức kẻ nào dám ra tranh đấu “chức” đầu đoàn với nó nữa không.
Nếu không còn con đực nào nhận đấu nữa, tự khắc chức đầu đoàn về con chiến thắng, và no vừa phi vừa hí quanh bầy ngựa mấy vòng, và từ đó lãnh đạo dẫn đầu như con đầu đàn cũ vừa táng mạng.
Khi một đoàn ngựa rừng đang chiếm cứ khu đồng cỏ nào mà có đoàn khác đến tranh giành thì thế nào cũng phải có cuộc tương tranh giữa hai con đầu đoàn.
Cuộc tương tranh phải một mất một còn. Con đầu đoàn nào bị chết thì đoàn ấy tự ý sát nhập vào đoàn chiến thắng và chịu theo trưởng đoàn mới như không có sự gì xảy ra cả.
Đó, có lẽ là trường hợp của Xích Thố đang sắp sửa tranh đấu với Bạch Mã bây giờ!”
Quan Long nghe Thái Đình Hoàng dẫn giải một hồi về tư chất của ngựa rừng, rất phục họ Thái hiểu rộng biết nhiều về môn này.
- “Thái tiên sinh, trong hai con Xích Thố, Bạch Mã đồng lực đồng tài, tôi e cho Xích Thố quá.
Trang chủ nhận xét kỹ lại, Xích Thố nhỏ con hơn nhưng ức lớn, bốn vó tròn thon rất mạnh và lẹ hơn. Còn Bạch Mã, mới thoạt trông, ai cũng tưởng lớn hơn Xích Thố, kỳ thật chỉ có lớn eo, bốn vó lại to, tất thế nào cũng chậm chạp hơn Xích Thố. Theo tướng ngựa, điểm này bất lợi lắm. Dù sao, con Bạch Mã cũng là đẹp lắm.
Chúng ta nên nép cả vào đây chờ xem kết quả trận đấu ra sao đã. Bây giờ nhất định không thể hành động thế nào hơn là đóng vai khán giả tạm thời...”
Giữa thung lũng, hai đoàn ngựa càng hí vang động như cổ võ chủ soái ra quân.
Bạch Mã quay cuồng chồm lên mấy cái rồi nhắm hướng Xích Thố phi thẳng đến mạnh mẽ vô cùng.
Bên này, trái lại, Xích Thố không vùng vẫy, nhưng oai dũng đứng chờ, cất mũi cao thở mạnh.
Khi nhận thấy Bạch Mã cất vó phi thì Xích Thố cũng bật lên vùn vụt như tên bắn nhắm thẳng Bạch Mã phóng tới... Ai cũng tưởng hai con mãnh mã ấy sẽ va mạnh vào nhau và cũng té bật ngửa ra phía sau. Nhưng không! Chúng chồm đứng hai chân sau, bổ hai vó trước vào ức vào cổ, ghé đầu đẩy mạnh cho đến lúc Bạch Mã mất thăng bằng phải đứng hai vó xuống đất. Nhè lúc ấy, Xích Thố nhắm đầu Bạch Mã bỏ cả hai vó trước thiệt mạnh. Bạch Mã né sang bên tránh kịp. Trượt đòn Xích Thố phải động hai chân trước xuống đất.
Thừa thế, Bạch Mã cất vó hậu đá vô bụng Xích Thố. Lanh lẹ, Xích Thố nhảy tránh sang bên và chồm luôn hai vó trước lên cao bổ xuống sống lưng Bạch Mã, Bạch Mã né kịp. Cả hai con cùng chạy xa nhau ra mấy bước rồi quay ngoắt lại chồm lên nhau như lúc ban đầu. Trận đấu rất ác liệt, bụi bay mịt mù. Tiếng chân dậm thình thịch xuống đất, vó đập trúng nhau cồm cộp, hơi thở phì phò. Chờ Bạch Mã nhào xuống trước, Xích Thố quất luôn đuôi vào mắt địch thủ, đồng thời phóng luôn hai vó sau trúng cổ Bạch Mã. Trúng đòn cổ Bạch Mã bị toạc ra máu bắt đầu chảy. Rống lên, Bạch Mã quay cuồng chống trả mãnh liệt, nhưng Xích Thố lanh lẹ vô cùng tránh hết đòn. Hụt nhiều đòn, Bạch Mã đâm ra mệt nhọc chậm chạp hơn, tuy cũng hãy còn đủ sức khỏe trả đòn.
Ngọn đuôi của Xích Thố rất lợi hại, luôn luôn quất trúng mắt địch thủ khiến Bạch Mã tối mắt lại, bị trúng luôn hai vó hậu vào bụng té lăn ra mặt đất. Chưa kịp đứng hẳn dậy thì bị luôn hai vó trước của Xích Thố chồm cao lên dộng mạnh xuống như hai cái chày... bốp. Trúng đòn nặng vào giữa gáy, Bạch Mã rống lên đau đớn... Xích Thố hí lên mấy tiếng đắc thắng, chồm cao lên thực mạnh hai vó trước xuống nhằm đầu đối thủ. Không còn sức lánh nữa, Bạch Mã nằm êm chịu đòn, đầu bể nát, máu phọt ra như suối giãy chết. Đắc thắng, Xích Thố chạy quanh xác Bạch Mã, hí vang, nhào lên, nhào xuống mấy cái như muốn thách bày ngựa bên kia, nhưng kỳ thay, bày ngựa đối phương đã đứng im chứ không xôn xao như trước nữa...
Thái Đình Hoàng nói :
- Bầy Bạch Mã chịu hàng thuận rồi, Xích Thố sắp dồn hai bầy vào với nhau cho mà coi.
Quả vậy! Xích Thố phi như bay chạy quanh bầy ngựa mới chinh phục được mấy vòng.
Đoàn Bạch Mã chuyển động chạy sang tự sát nhập vào đoàn Xích Thố, Xích Thố phi vòng quanh thung lũng cho bày ngựa trên một trăm con chạy theo. Lát sau chúng ngừng lại, ăn cỏ như không có việc gì vừa xảy ra cả.
Quan Long nói :
- Đến lượt tôi làm quen với Xích Thố đây. Con này có miếng quất đuôi hay thật.
Dứt lời, chàng phóng ngựa ra giữa thung lũng, tay tả cầm sẵn cuộn thừng, tay hữu cầm đầu dây có móc sắt, điều khiển ngựa bằng vế đùi. Quan Long cho ngựa chạy nước kiệu trước mạnh, sau nhỏ quanh Xích Thố, cách tới chín mười trượng. Bầy ngựa cùng cất đầu lên đánh hơi, nhưng giây lát lại cúi xuống ăn cỏ như thường, trừ có Xích Thố vẫn cất đầu cao, hí nhẹ, bờm và đuôi bay theo chiều gió, trông như bực thần mã.
Quan Long mỗi lúc một gần tới Xích Thố. Trước còn đứng yên nhìn, tới lúc thấy cặp người ngựa lạ đến gần, Xích Thố bèn vùng lên phi thiệt lẹ.
Quan Long cũng thúc ngựa rượt theo. Con tuấn mã của họ Quan cũng hay lắm phi như tên bắn không nhường bước Xích Thố chút nào cả. Chạy vòng khắp thung lũng, lúc quặt tả, khi quặt hữu, có lúc đứng dừng hẳn lại, Xích Thố cố điều khiển cuộc chạy như có ý tinh khôn muốn làm cho ngựa lạ lỡ bước để bỏ xa.
Quan Long cũng tinh ý dự đoán được lối chạy của Xích Thố nên chàng điều khiển ngựa không bỏ lỡ bước nào hết. Tuy vậy, chàng vẫn để phòng phi ngựa cách Xích Thố độ hai trượng để phòng bị miếng đòn đuôi lợi hại. Rượt như vậy một hồi khá lâu, Quan Long nhắm hai vó sau của Xích Thố, tung dây quấn chặt. Đang phi mạnh, bị dây chằng vướng vó sau, Xích Thố mắt đà, té lộ đi mấy vòng.
Quan Long giật mạnh cho móc sắt tuột ra, thâu dây lại và thừa dịp ấy tiến lên, chờ Xích Thố đứng dậy, chàng phóng dây quấn chặt cổ con mãnh mã và đồng thời từ ngựa mình nhảy vụt sang lưng Xích Thố siết chặt dây lại. Xích Thố vùng lên hí vang, dữ tợn, cất hai vó trước thiệt cao cố ý hất Quan Long xuống đất.
Nhưng, cầm chặt mối dây, hai đùi như hai gọng kềm cặp chặt lấy bụng ngựa, nên không bị té. Dộng hai vó trước xuống đấy, Xích Thố vùng ra phi nước đại như muốn làm Quan Long mất thăng bằng. Nắm chắc mối dây và bờm ngựa, Quan Long cúi xuống cổ ngựa mặc cho nó chạy. Bỗng Xích Thố dừng hẳn lại, cúi đầu xuống đất, hất hai vó sau lên cao nhiều lần muốn quật Quan Long ra phía trước, nhưng vô ích, họ Quan dính liền trên lưng Xích Thố, hai đùi cặp chặt như chiếc đai vào bụng ngựa, tay siết chặt mối giây. Hồi lâu người và vật thử sức nhau, Xích Thố không thể nào hất Quan Long té nên đành chạy thẳng. Phần bị Quan Long không nới tay, Xích Thố khó thở, chạy yếu dần, không quật cường hung hãn như lúc ban đầu.
Mặc cho mãnh mã chạy, Quan Long nới dần mối dây tay kia vỗ nhẹ vào cổ ngựa, miệng thét mấy tiếng :
- Xích Thố! Xích Thố! Không được hung hãn!
Tuy vẫn từ từ nới mối dây, Quan Long thúc nhẹ chân vào hông ngựa, Xích Thố phi lẹ hơn, kiệu rất êm như một con ngựa được luyện tập thuần phục rồi. Quan Long nới hẳn mối dây hai đùi điều khiển đường chạy, Xích Thố theo đúng như ý muốn. Quan Long mừng rỡ không ngờ hàng phục được Xích Thố theo đúng như ý muốn, mau lẹ như vậy. Chàng điều khiển ngựa chạy từ từ quanh bầy ngựa rừng mấy vòng rồi rẽ Xích Thố ra chỗ bọn Thái Đình Hoàng, Xích Thố đi bước một như ngựa đã thuần, không hề tìm cách bạo động. Chưa tin hẳn, Quan Long cho ngựa đi thong thả, quanh nơi co người mấy vòng rồi mới nhảy xuống đất.
Bọn mục tử thạo nghề đã tháo yên cương con ngựa cũ của Quan Long cầm ra đóng cho Xích Thố, trong khi Quan Long vẫn giữ mối dây nới lỏng trên cổ nó, Xích Thố xoay đi, xoay lại muốn cưỡng. Quan Long vỗ vào cổ, nói mấy câu, nó đứng yên ngay như họ Quan là chủ nó đã từ lâu rồi. Thái Đình Hoàng đứng ngoài cũng phải lấy làm lạ nghĩ thầm có lẽ Quan Long và Xích Thố là hiện thân của Quan Vân Trường và con bảo mã thời Tam Quốc, chớ không khi nào một con ngựa rừng đã thuần tánh mau lẹ như vậy. Yên cương đã đón xong Quan Long nhảy lên ngồi buông lỏng cương cho Xích Thố chạy kiệu nhỏ, kiệu lớn nhiều vòng rồi mới trở về chỗ mọi người đứng.
- Thái tiên sinh ạ, trời gần tối rồi, đêm nay đốt lửa ngủ lai đây sáng mai hãy trở ra Xuyên Lâm ổ sớm.
- Tôi cũng nghĩ như vậy, chúng ta ngủ ở dưới hốc đá kia kìa.
Dứt lời, Thái Đình Hoàng bảo bộ hạ tìm suối lấy nước cho ngựa uống. Đoàn mục tử, kẻ việc nọ, kẻ việc kia, lanh lẹ vô cùng, không bao lâu, chúng đã gây được đóng lửa, nấu ăn với các vật dụng đem theo. Để nguyên cả yên cương, Quan Long buộc Xích Thố vào cây nhỏ và nằm liền ngay gần đó.
Sáng hôm sau Quan Long cưỡi Xích Thố len lỏi vào giữa đám ngựa rừng sau đó chàng rẽ ngựa vào đường núi. Quả nhiên bầy ngựa chạy theo Xích Thố và khi tới đường hẹp trong núi chúng nối đuôi đi hàng một. Bọn Thái Đình Hoàng đi áp hậu. Trưa hôm ấy về tới Xuyên Lâm ổ.
Thái Đình Hoàng ra lệnh nhổ trại, cùng Quan Long đi trước, dẫn bầy ngựa rừng về Thái gia trại ở Phù Linh huyện. Thái Đình Hoàng gọi thợ chuyên môn trong trang trại sửa lại bờm, đuôi và lông hai vó sau cho Xích Thố.
Thấy người lạ Xích Thố không chịu, cắn đá, thợ không dám lại gần. Quan Long phải đứng bên giữ, vất vả lắm người thợ mới làm xong phận sự. Sửa sang xong, Xích Thố đẹp và kiêu hùng hơn trước nhiều, lông bóng mượt, sắc đỏ thẫm như chu sa, ức to, cổ rộng, người trong trại cũng trầm trồ khen ngợi.
Thái Đình Hoàng nói với Quan Long :
- Chúc mừng Trang chủ thâu phục được con thần mã trúng ý. Tôi có một bộ yên cương mới đồng màu với sắc Xích Thố và có lẽ rất vừa xin kính tặng Trang chủ.
Nói đoạn, họ Thái sai gia nhân vào nhà trong lấy bộ yên đỏ ra đóng thử cho Xích Thố thì vừa vặn như in.
Quan Long rất lấy làm đắc ý, nói mấy lời cảm ơn.
Thái Đình Hoàng cười :
- Sá chi món quà nhỏ mọn ấy! Trang chủ vừa cho tôi cả bầy ngựa rừng trên một trăm con đó sao?
Tối hôm ấy, Thái Đình Hoàng bày tiệc ăn mừng cuộc thâu phục Xích Thố và cũng là mừng một chuyến buôn lời nhiều mà không mất vốn.
Nghe lai lịch và chuyện thâu phục Xích Thố, anh em họ Chu rất lấy làm thích thú, Ba người uống rượu ở Mã Thạch Quán đến trưa mới về nhà. Trong bữa tiệc tối hôm ấy, anh em Chu gia yêu cầu Quan Long vâng lời, xắn áo, truyền hai tên gia nhân vào vác cây đao thờ ra trước bàn tiệc, Quan Long xách đao bái tổ, thoái bộ lại ba bước, đem tận lực bình sanh ra biểu diễn bài Long Đao lịch sử ấy. Lưỡi đao lượn khắp bốn phương, tám hướng, làn đao quay trong vùn vụt như chớp giật mưa gào dương đông kích tây, dữ trên đánh đuổi, Quan Long xông xáo chẳng khác chi mãnh hổ, người và đao quyện lấy nhau, trông vừa ngoạn mục vừa dữ dội vô cùng, quả không hổ danh con nhà tướng.
Anh em Chu gia khen ngợi không ngớt miệng.
Biểu diễn xong bài đao, Quan Long trở lại bàn tiệc, mặt không biến sắc, hơi thở vẫn đều hòa nhẹ nhàng như thường.
- Chu đại ca thực thà thấy bài đại đao họ Quan thế nào?
Chu Đức Kiệt cả cười :
- Hiền đệ còn khách khí hỏi ngu huynh như vậy sao? Quả rất xứng đáng danh tướng môn, tài đánh đao của hiền đệ liệu trên đời này có được mấy người? Chẳng trách khi xưa lệnh nội tổ lấy đầu Nhan Lương, Văn Xú không đầy nháy mắt.
- Ấy cũng nhờ ở tay đao lẹ hơn chớp giật và hộ vó Xích Thố lướt như bay đó sao? Chừng nào quốc gia hữu sự, Quan hiền đệ ắt phải tay phò Vua, giúp nước, với tay đao bách chiến bách thắng ấy, hiền đệ thế nào chẳng thừa sức ghi nhiều chiến công hiển hách chốn sa trường?.. Ngu huynh xin mừng hiền đệ làm ly rượu bái phục này.
Dứt lời, Chu Đức Kiệt cung kính hai nâng ly rượu lớn đưa mời Quan Long.
- Đại ca cho thì uống, võ nghệ của ngu đệ chẳng qua chỉ là việc múa rìu qua mắt thợ trước lòng bao dong của đại ca thôi!
Quan Long đỡ lấy ly rượu uống cạn.
Chu Đức Kiệt nghiêm nét mặt nói :
- Ngu huynh thiệt tình ca ngợi đó! Nói tới hai chữ võ nghệ thì quá rộng nghĩa với sự bành trướng tiến triển về khí giới trường đoản, và quyền cước cùng các môn nội ngoại công phu của thời đại này. Nhưng trên chiến trường tung hoành trong đám quân trăm vạn, hổ tướng ngàn viên, thì hiền đệ tất là một viên mãnh tướng khiến địch quân phải kinh hồn táng đởm. Ngu huynh không dám nói sai.
Lam Y nghe hai người đàm luận thì có vẻ suy nghĩ.
Quan Long thấy vậy hỏi :
- Chu muội nghĩ chi vậy? Ý kiến của hiền muội thế nào?
Nàng mỉm cười đáp :
- Bất tất phải bàn cãi về tài dũng tướng của Quan đại ca nữa. Ý kiến của gia huynh đã đầy đủ. Vừa rồi, ngu muội nghĩ về hai thứ khí giới trường và đoản thôi.
- Nhị vị hành hiệp, thường dùng đoản khí, vậy có sở trường về khí giới trường không?
- Có chứ. Như gia huynh ưa dùng đại đao và rất phục Hán Thọ Đình Hầu. Còn ngu muội thích đánh bát xà mâu như Trương Dực Đức hay Lâm Xung thuở trước.
- Nhà có đủ khí giới, chắc cây mâu không vừa tay hiền muội. Chi bằng sẵn cây Yển Nguyệt Long Đao tốt đây, mời Chu đại ca biểu diễn thử cho ngu đệ được học hỏi thêm về môn đao pháp.
Mỉm cười, Chu Đức Kiệt đứng lên :
- Xin vâng, nhưng chớ cười tài hèn múa rìu qua mắt thợ nhé!
Hai gia nhân hãy còn dựng cây đao chờ đó. Chu Đức Kiệt đón lấy, nhảy ra trước bàn thờ Quan Võ biểu diễn bài Yển Nguyệt Long Đao của họ Quan. Làn đao loang loáng như tuyết tỏa, sương tan, bật thành tiếng gió rít như lụa xé. Múa một bài đao gia truyền của họ khác mà đạt tới mực ấy thì quả thế gian này ngoại trừ Quan Long, chỉ có một mình chàng.
Quan Long giật mình ngơ ngác không hiểu tại sao bài đao gia truyền của họ Quan lại được Chu Đức Kiệt biết biểu diễn một cách bảo công phu không sai mảy may nào cả. Hay là họ Chu có trí nhớ, thâu nhận được hết bài đao tuyệt kỹ ấy trong lúc chàng phô diễn đao pháp hồi nãy?
“Không!”.
Dù sáng trí đến mấy cũng không thể nhìn một lần mà theo nổi một bài đao như vậy được. Tất có nguyên do gì. Liếc nhìn thấy Quan Long vẻ mặt nghĩ ngợi. Lam Y hiểu ý chỉ mỉm cười rất tự nhiên. Biểu diễn xong bài đao, Chu Đức Kiệt bái tổ trước bàn thờ, cắm đao vào giá, rồi mới trở lại bàn tiệc.
Quan Long vội hỏi :
- Đại ca có thể cho tiểu đệ biết nguyên do việc học đao pháp nhà họ Quan ra sao không?
- Trước khi trả lời, ngu huynh muốn biết ý kiến của hiền đệ về lối biểu diễn vừa rồi ra sao đã.
- Nếu có một danh sư nào trông thấy đao pháp của chúng ta khi sử dụng bài Yển Nguyệt Long Đao, chắc phải lầm đại ca là con trưởng nhà họ Quân này rồi.
Chu Đức Kiệt nhìn thẳng vào mặt Quan Long giây lát rồi nói :
- Chính gia thúc phụ và cũng là sư phụ của ngu huynh đã truyền lại bài Long đao này. Người có cho ngu huynh biết đó là đao pháp của Quan Võ thuở trước, chớ không nói vì lẽ gì. Người sử dụng nổi bài đao ấy, ngờ đâu bữa nay lại gặp Quan hiền đệ là chân chủ lối đao pháp huyền diệu ấy, Hay là...
Chu Đức Kiệt chợt im lặng, sự nghĩ ngợi hiện trên nét mặt.
Lam Y mắt sáng long lanh chăm chú nhìn anh.
Quan Long nóng ruột hỏi :
- Hay là... sao hả đại ca?
Chu Đức Kiệt trầm ngâm :
- Hay là mấy đời về trước chúng ta đã có họ xa với nhau? Trong cuốn gia phả nhà họ Chu có ghi nhủ danh bà nội tổ của ngu huynh họ Quan tên Thái Cẩm, nhưng không ghi sanh quán ở nơi nào! Gia phụ và gia thúc có nói rằng nội tổ là một trang cân quắc võ nghệ tuyệt luân. Biết đâu hồi xưa Người không phải là một nhân vật có liên hệ với họ Quan của hiền đệ?
Quan Long vui mừng ra mặt, đứng lên vái Chu Đức Kiệt :
- Thế ra biểu huynh và biểu muội đây mà ngu đệ không biết! Chúng ta có họ với nhau chắc chắn rồi.
Dứt lời, Quan Long đến bàn thờ lấy xuống một chiếc hộp bằng gỗ trầm chạm trổ rất công phu đem lại đặt trên chiếc kỷ, mở ra lấy một cuốn sổ mở ra đưa cho anh em họ Chu coi.
- Biểu huynh và biểu muội xem kỹ, Quan Thái Cẩm là chị ruột của tứ đại nội tổ. Bà xuất giá năm mười tám tuổi, kết duyên cùng người họ Chu tên Đức Điền người Bắc Trực Lệ. Không ghi rõ hơn nữa.
Anh em Chu gia cũng mừng rỡ vô cùng.
Chu Đức Kiệt nói :
- Tên và thế hệ trùng nhau là chắc chắn đúng rồi. Cũng vì anh em ta có mối tình liên lạc nên Hán Thọ Đình Hầu linh thiêng báo mộng xui giục cho ta gặp nhau đó.
Lam Y cười ròn rã :
- Ngu muội kết luận thế này: Tứ đại nội mẫu là người họ Quan, xuất giá năm mười tám tuổi mà là vị cân quắc anh thư, tất hẳn phải biết bài Yển Nguyệt Long Đao gia truyền của dòng họ mình. Sau đó, bà mới truyền lại cho con và từ con đến cháu là thế. Như vậy họ Chu sở trường cả hai môn Đao pháp gia truyền trường và đơn, phải không nhị vị hiền huynh?
Chu, Quan hai người cùng gật đầu khen phải. Quan Long cất cuốn gia phả vào hộp rồi sai nữ tì vào mời phu nhân ra. Lát sau Tôn thị dắt Quan Hổ đi ra. Quan Long đem chuyện vừa rồi nói cho vợ nghe. Tôn Thị vốn người hiền thục, nghe chồng nói cũng vui mừng, cùng anh em Chu gia giao bái nhận họ.
Lam Y nói :
- Bây giờ đã là người họ rồi. Chắc Quan tẩu tẩu chẳng hiềm chúng tôi là võ biền, cùng ngồi đàm đạo cho vui...
Quan Long bảo Quan Hổ quỳ lạy anh em Chu gia kêu là bá phụ và cô mẫu. Tuy mới lên sáu tuổi, nhưng Quan Hổ đã rất đĩnh đạc, khỏe mạnh không hổ dòng dõi tướng môn.
Chu Đức Kiệt hỏi Quan Long :
- Vài bữa nữa biểu đệ nên cùng ngu huynh đi Kim Lăng chơi, xem đấu mã luôn thể.
Tôn thị cũng nói :
- Anh em mới gặp nhau, phu quân nên đi chơi một phen. Xong hội lại mời biểu huynh biểu muội về Quan gia chơi vài tháng sẽ hay.
Lam Y nói :
- Vì đã trót hẹn với mấy người bằng hữu nên phải đi, tuy vậy thế nào gia huynh và ngu muội cũng sẽ có dịp trở qua Mã Thạch cương và khi đó ở nhiều ngày, chị em ta sẽ có nhiều thì giờ đàm đạo...
Trước kia, Quan Long không muốn đi Kim Lăng xem hội một mình, nay có thêm anh em họ Chu nên chàng đổi ý muốn đi một chuyến xem sao. Hơn nữa, chàng sẽ kết giao với các anh hùng bằng hữu của họ Chu luôn thể. Chàng bảo Tôn thị :
- Được! Tôi đi cùng biểu huynh, biểu muội đi Kim Lăng ít ngày, việc nhà hoàn toàn trông cậy ở sự điều khiển của hiền thê. Nhất là chớ chiều thằng Hổ dong túng nó vào trong thôn đánh nhau với trẻ khác nhé!
Quan Long hỏi với anh em Chu gia :
- Sáng ngày một, chúng ta lên đường mới kịp. Biểu huynh hẹn tụ hội với các vị anh hùng ở khu nào tại Kim Lăng?
Chu Đức Kiệt nói :
- Nơi chỉ định cho cuộc tụ họp là Hoa Vương Lầu. Hiền đệ có thuộc Kim Lăng không?
- Tửu lầu đó gần phủ Thuận Vương, rộng lớn, sang trọng lắm. Theo ý ngu đệ, ta chẳng nên tụ hội tại nơi quá ư lộ liễu ấy.
- Ủa! Tại sao vậy?
- Nghe nói Thuận Vương tổ chức một hệ thống do thám khá lớn láo để dò xét những nơi trà thất, tửu lầu. Chi bằng đến ngụ tại nhà một người bạn của tiểu đệ, kín đáo hơn.
Lam Y nói :
- Hôm ở Dương Châu mọi người cũng đồng ý họp nhau ở Hoa Vương lầu cho dễ tìm. Sau đó sẽ kiếm tửu quán nào vắng vẻ để trọ. Số bạn bè có tới mươi người, liệu đến nơi tư gia có tiện không? Chưa kể ngựa nữa đó.
Quan Long cười vang :
- Biểu muội đừng lo. Nơi mà chúng ta sẽ tới đây là một trang trại có thể chứa được nhiều thực khách. Chủ trang là Cao Thiệu Đàm tự Lăng Quân năm nay ngoại tứ tuần, vốn nhà nho nhã, tánh tình hào sảng rất ưu thích kết giao với anh hùng, quân tử trong thiên hạ. Giàu có từ bao đời rồi, ruộng nương thẳng cánh cò bay, Cao Thiệu Đàm ưa làm việc nghĩa cho nên được lòng rất nhiều người, ai ai cũng kính nể. Chúng ta ở đó yên trí lắm. Năm ngoái, họ Cao đi Dương Châu có nán lại đây ít ngày, mà lần nào đi Kim Lăng, ngu huynh cũng ở nhà y.
Chu Đức Kiệt nói :
- Được rồi, tới Kim Lăng sẽ hay. Trong bọn anh hùng, chuyến này có Trại Mạnh Thường Âu Dương Tòng Thiện là một tay lão bối anh hùng, quảng giao, danh vang thiên hạ, chưa hiểu người ấy định ở đâu.
Quan Long vội hỏi :
- Có phải vị tiền bối anh hùng đó người Tô Châu không?
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Chính người ấy đó.
Nếu vậy chắc chắn lão anh hùng sẽ đến Cao gia trang rồi. Tiểu đệ chưa được gặp mặt nhân vật ấy chuyến nào, nhưng Lãng Quân nói tới người ấy nhiều lần. Lần nào Âu Dương Tòng Thiện lên Kim Lăng cũng ngụ lại nhà họ Cao.
- A há! Thế thì còn chi bằng!
0
Hồi 22
Nhập chốn thâm cung, si mê Hoàng hậu
Mưu đoạt ngôi trời, nạp tướng đồn binh
 
 Thuận Vương tục danh là Chu Vĩnh Thái, vốn là em họ đương kim Minh triều Hoàng đế Vĩnh Lạc.
 Khi trước Tĩnh Vương Chu Trường Đức thân sinh của Thuận Vương vốn là một người đa tình, thấy Mai Hương hoàng thái hậu nhan sắc hoa nhường nguyệt thẹn nên phải lòng thường ước ao được cùng người ngọc chung vui một đêm, hôm sau dù có chết cũng hả lòng.
 Lợi dụng tình thân mật gia đình và quyền cao chức trọng, Tĩnh Vương luôn luôn ra vào nơi cung cấm, tìm cách gặp mặt người yêu kỳ được mới nghe.
 Mai Hương hoàng hậu (lúc đó là Hoàng hậu) tánh tình đoan trang thùy mị nhận thấy Tĩnh Vương là kẻ si tình không đúng đắn, lợi dụng đức tánh thẳng thắn của Hoàng đế trong những buổi yến tiệc gia đình nơi thâm cung, đã một đôi lần thử lời ong bướm. Lần nào Tĩnh Vương cũng bị Mai Hương hoàng hậu nghiêm nghị cự tuyệt, và nhắc cho y khỏi quên bổn phận quân thần.
 Hoàng hậu cũng không dám mách thẳng với Hoàng đế việc đó, e xảy ra sự xích mích giữa hai anh em có phương hại cho Hoàng gia và triều chánh. Dù sao, Chu Trường Đức cũng là Thân Vương, bề ngoài cần phải giữ uy tín với bách quan. Nhưng ái tình chẳng thuốc mà say, càng bị Mai Hương hoàng hậu lãnh đạm cự tuyệt bao nhiêu, Tĩnh Vương càng mê luyến si ngây bấy nhiêu, nhất quyết tìm cách gặp mặt người ngọc để tỏ tình một lần chót. Nếu nàng vẫn khăng khăng cự tuyệt, Tĩnh Vương quyết bạo hành thỏa mãn lửa tình bồng cháy khó bề dập tắt.
 Hoàng đế vốn giàu tinh thần thượng võ, hơn nữa là một tay thiện xạ thường cùng bách quan tổ chức các cuộc săn bắn ngoài khu vực Yên Kinh. Chuyến săn nào cũng có Tĩnh Vương Chu Trường Đức túc trực bên nhà vua.
 Một hôm biết trước dự định cuộc săn bắn của Hoàng đế, Chu Trường Đức cáo lỗi không dự viện lẽ bất an. Nhà vua cũng không ép và truyền ngự y đến Vương phủ chẩn mạch hốt thuốc. Khi ngự y tới, Tĩnh Vương nói rằng trong người mệt mỏi xoàng, không cần phải dùng thuốc uống mấy chỉ nhân sâm sẽ mạnh ngay. Vô tình ngự y ra về, Tĩnh Vương vội vàng vào Hoàng cung quyết thi hành ý định. Không qua chánh môn, Tĩnh Vương đeo đoản kiếm nhập thâm cung theo cửa riêng. Quen với lối đi lại thân mật của vị thần vương ấy, ngự lâm quân và bọn thái giám chỉ hỏi qua loa và để cho Tĩnh Vương vào nội cung, nơi Hoàng hậu Mai Hương ngự.
 Thấy Tĩnh Vương một mình nhập cung, trưởng đoàn cung nữ lạy chào xong, hỏi :
 - Chẳng hay có việc chi cấp bách mà Vương gia vào nội cung không báo trước cho Hoàng hậu hay? Chắc Ngài sẽ không bằng lòng.
 Tĩnh Vương xua tay :
 - Chà! Nếu việc không cơ mật thì ta vội vã vào đây làm chi cho mất công? Hoàng hậu đâu?
 Trưởng đoàn cung nữ tên là Phượng Bình Nhi vốn là một người túc trí đa mưu. Xưa nay, nàng đã nhiều phen để ý đến thái độ ngạo mạn của Tĩnh Vương, nhưng nàng cũng thấy Hoàng hậu, người đoan trang đáng kính, nên tự hiểu ngấm ngầm theo dõi Tĩnh Vương mỗi khi y vào cung, viện lẽ nọ điều kia để được Hoàng hậu tiếp đón.
 Chuyến này, Hoàng đế đi săn vắng, Tĩnh Vương túc trực bên vua trong cuộc ngự xa, nay bỗng nhiên thấy y đột ngột vào cung tìm gặp Hoàng hậu thì lẽ cố nhiên Phượng Bình Nhi phải dự đoán và nghi ngờ ngay. Nàng hỏi :
 - Tiện thiếp tưởng Vương gia theo Thánh hoàng ngự xạ hôm nay?...
 Đã vội vàng lại bị Phượng Bình Nhi cản hỏi lôi thôi, Tĩnh Vương giận lắm, nhưng cố nén tâm cười :
 - Chuyến này có khác những lần trước đâu mà người lấy làm lạ! Ta thân thể bất an. Đang nằm nghỉ, chợt nhận được mật báo, nên ta muốn trình bày với Hoàng hậu trước khi quyết định. Ngươi vào ngay báo với Người rằng ta xin triều kiến. Gấp lắm nhé!
 Nhìn cặp mắt Tĩnh Vương, Phượng Bình Nhi lượng đoán ngay vì Vương gia này không nói thiệt.
 - Xưa nay, Hoàng hậu ít khi tự tham dự việc triều trung mà không có Thánh thượng ở bên, khá xin Vương gia, hoặc đình vụ này lại chờ Thánh thượng trở về, hoặc xin Ngài sang bên Tể tướng phủ hiệu triệu chư quan thường trực quyết định, như vậy danh chánh ngôn thuận hơn. Tiện thiếp có trách nhiệm tra cứu sự xuất nhập trong cung Hoàng hậu, vậy cũng xin Ngài lượng tính hiểu cho.
 Đã gấp gặp mặt người đẹp cho thỏa tình mong ước thi hành loạn kế, lại bỗng dưng bị một tên Trưởng đoàn cung nữ vô danh tiểu tì cản trở làm mất bao nhiêu thì giờ vàng ngọc. Tĩnh Vương nổi giận đùng đùng, tay mân mê chuôi kiếm. Tuy vậy, y thấy cặp mắt phượng lanh lanh cương quyết của Phượng Bình Nhi thì cũng chột dạ vì Phương nữ có quyền nơi cung cấm của Hoàng hậu, dù quyền cao chức trọng biết mấy mà không có sắc lệnh của Hoàng đế hay Hoàng hậu thì cũng chẳng qua nơi cấm phòng này.
 Tĩnh Vương dịu giọng :
 - Phượng Bình Nhi! Ngang bướng làm trì trễ công việc người có biết là đắc tội không. Ta mệt mỏi cần xong việc rồi mau mau về phủ nghỉ. Khá vào báo cho Hoàng hậu nghe.
 Phượng Bình Nhi nghĩ thầm:
 “Y muốn gặp Hoàng hậu cũng được, ta sẽ đứng đó, dù y bạo dạn biết mấy cũng chẳng dám càn dở. Nếu nhất quyết ngăn cản như vầy, lỡ ta đoán sai, làm trì trễ quốc sự, e mang tội tầy đình”.
 - Xin tuân lệnh. Vương gia hãy nán chờ tiện thiếp vào báo ngay, xem Hoàng hậu định đoạt thế nào.
 Nói đoạn, nàng bảo mấy cung nữ ở lại đó mặc nàng tự kỷ vào hậu cung báo.
 Xưa nay, Mai Hương hoàng hậu vẫn quý mến Phượng Bình Nhi vì tánh tình cương trực trung thành của nàng, được coi như một người em, Phượng Bình Nhi càng ra sức phụng sự, công việc trong hậu cung răm rắp đâu vào đấy, trên được Hoàng đế và Hoàng hậu sùng ái, dưới được bọn cung nữ và thái giám kính nể.
 Hôm ấy, Mai Hương hoàng hậu đang ngồi tựa kỷ đọc cuốn Xuân Thu Chiến Quốc, thì Phượng Bình Nhi vào quỳ tâu :
 - Muôn tâu mẫu hậu, có Tĩnh Vương xin vào hầu.
 Mai Hương hoàng hậu dịu dàng :
 - Phương Bình Nhi! Đã bao lần ta cho phép em được tự nhiên, đừng có ra quỳ vào lạy. Chị em ta thường ngày trông thấy nhau, thủ lễ như vậy mất cả tự nhiên. Vậy từ nay, em bằng nghe lời ta. Trừ phi có Thánh thượng nhập cung, nghe chưa?
 Phán xong, chợt nghĩ đến Tĩnh Vương xin yết kiến, Mai Hương hoàng hậu hơi căn đôi mày liễu :
 - Thân Vương có nói chi thêm không? Người xin yết kiến với tư cách gì?
 - Bẩm thưa Hoàng hậu, Tĩnh Vương nói có việc cơ mật quốc sự cần trình qua với Hoàng hậu vì Thánh thượng ngự xa chốn kinh thành.
 Ngẫm nghĩ giây lát, Mai Hương hoàng hậu truyền :
 - Mời Thân Vương vào phòng ngự, chúng em cũng nên quanh quẩn kín đáo gần đó, không được đi xa nghe?
 - Dạ xin tuân lệnh.
 Mai Hương uể oải đứng lên ra trước gương, sửa lại mái tóc mây đen huyền làm nổi hẳn khuôn mặt trái xoan xinh đẹp với nước da trắng như ngà của nàng.
 Hai cung nữ lấy chiếc lam bào thêu long đem đến. Mai Hương xỏ tay áo chờ cung nữ cài khuy xong, nàng nghiêm chỉnh bước ra ngự phòng, hai cung nữ theo sau.
 Một cung nữ khác đã chạy ra báo trước cho khách biết có Hoàng hậu tới. Ngự phòng trang hoàng theo thể thức điện Ngự triều của đức Vua.
 Cung nữ hô lớn :
 - Hoàng hậu đã tới.
 Rèm gấm hồng đều vén lên, Hoàng hậu đủng đỉnh bước ra vừa lộng lẫy uy nghi với chiếc lam bào xanh biếc.
 Trông thấy người ngọc, Tĩnh Vương sung sướng hồi hộp, tim đập như trống trận.
 Tĩnh Vương vái dài (Các thân vương khi ra vào nơi cung cấm được miễn lạy) đưa mắt nhìn Mai Hương :
 - Kẻ hạ thần vào đây làm rộn chốn thâm cung trong lúc Hoàng hậu đang nghỉ ngơi, thiệt đáng tội muôn vàn. Chẳng hay Ngài có được khang an không?
 Khẽ gật đầu chào lại, Mai Hương hoàng hậu khẽ cười để lộ hàm răng trắng ngà, cất tiếng nhẹ nhàng uyển chuyển.
 - Nhờ ơn Thánh thượng, quốc gia thái bình, tôi cũng được hưởng lây sự bình an khang hảo. Vương gia có việc chi cần dạy bảo? Xin mời an tọa.
 Dứt lời, Mai Hương hoàng hậu uyển chuyển tiến ngự trên long ỷ.
 Tĩnh Vương ngồi xuống chiếc ghế ở bệ dưới :
 - Muôn tâu Hoàng tỉ, việc mà kẻ hạ thần trình bày đây tối ư cơ mật, thiết tưởng...
 Tĩnh Vương ngừng nói, đưa mắt nhìn mấy tên cung nữ đang đứng hầu.
 Hiểu ý, Mai Hương hoàng hậu mỉm cười, bảo cung nữ :
 - Cho các ngươi lui bước. Chừng nào cần, ta sẽ gọi :
 - Bọn cung nữ vội vàng kín đáo đi lùi, biến vào sau các rèm cửa nặng nề bằng gấm thêu hoa.
 Chờ cho bọn cung nữ đi khỏi, Tĩnh Vương nói :
 - Hôm nay đáng lẽ phải theo Hoàng Huynh săn bắn, nhưng thần bất an, cáo bệnh ở nhà.
 Dùng lối xưng hô thân mật như vậy. Tĩnh Vương dụng ý để Mai Hương cũng phải gọi mình với danh từ thân hơn. Nhưng nàng rất bình tĩnh, nghiêm nghị :
 - Vương gia đang lúc không được khang kiện, nhập cung, tất có điều hay dạy bảo, vậy xin cứ tùy tiện kẻo phí thì giờ quý báu.
 Trước nét mặt đẹp nhưng cương nghị của Mai Hương hoàng hậu, Tĩnh Vương thấy ngài ngại, nhưng tên đã đặt lên dây rồi, không bắn cũng chẳng được, nên đánh bạo :
 - Bữa nay kẻ hạ thần vào đây không với tư cách của Tĩnh Vương xin ra mắt Minh triều Hoàng hậu, mà với tư cách của Chu Trường Đức sau bao đêm tương tư hồn mộng, lửa tình nung nấu can trường, thương nhớ một Mai Hương khắc khoải sầu lạnh lẽo chốn thâm cung.
 Nghe giọng nói si tình đốn mạt của Chu Trường Đức Mai Hương đỏ mặt nghiêm nghị dằn giọng :
 - Ta yêu cầu Vương gia ra khỏi nơi này ngay và khuyên Ngài đừng mơ tưởng hảo huyền kẻo sau này hối không kịp đó.
 Trước thái độ cứng rắn nghiêm nghị đoan trang của Mai Hương, Chu Trường Đức nhận thấy đang đứng trước một tình thế tiến thối lưỡng nan, không bạo động không được.
 Nghĩ vậy, Chu Trường Đức đứng lên tiến tới bực điện bày long ỷ, nơi Mai Hương hoàng hậu đang ngồi. Nhưng khi vừa đặt chân lên bực thứ nhất thì có tiếng lanh lảnh vang lên ở phía sau.
 - Muôn tâu Hoàng hậu có lệnh chỉ truyền dạy?
 Giật mình, Chu Trường Đức quay lại thì không phải ai xa lạ, người vừa nói đó là Phượng Bình Nhi gọn gàng trong bộ võ phục, đeo bảo kiếm bên sườn. Sau Phượng Bình Nhi có mười cung nữ đồng phục, kiếm tuốt trần sáng loáng.
 Tuy có học qua năm, ba thế võ, nhưng vốn người trác táng, tự lượng không địch nổi đoàn cung nữ phòng vệ của Mai Hương hoàng hậu, Chu Trường Đức không ngờ con người tuyệt sắc như Mai Hương kia mà lại quyết liệt, thờ ơ, lãnh đạm trước mối tình say đắm của mình như vậy. Biết tính sao bây giờ!
 Liều thân, bạo hành với Mai Hương không nổi vì sẽ vấp phải bức trường thành cung nữ phòng vệ kia, mà ra về thì chắc chắn hậu quả sẽ không hay. Mai Hương sẽ tường trình với Hoàng đế vụ này, tránh sao khỏi đổ vỡ?
 Tĩnh Vương đang băn khoăn khó nghĩ, thì Mai Hương hoàng hậu đã mỉm cười, bảo phượng Bình Nhi :
 - Vương gia bàn việc cơ mật đã xong, các ngươi khá tiễn Người ra khỏi Hoàng cung để mau về nghỉ kẻo nhọc thể bất an.
 Trước sự đuổi khéo và kín đáo của Mai Hương hoàng hậu, Tĩnh Vương không biết làm thế nào hơn là xá dài, bái từ Hoàng hậu ra về.
 Phượng Bình Nhi đưa Tĩnh Vương ra Hoàng cung, trở về phục lệnh.
 - Em thừa biết cái dã tâm của Tĩnh Vương nhưng cũng nên kín đáo, nếu để Hoàng thượng biết việc này thì hậu quả không hay cho y. Gây một mối thù giữa người trong Hoàng tộc là một việc chẳng nên làm. Em hiểu chưa?
 Phượng Bình Nhi nhất nhất vâng tiếp.
 Từ đó Tĩnh Vương bẽ mặt thường cáo lỗi không dự các bữa yến thân mật trong Hoàng cung, hơn nữa còn đem lòng thù oán cho rằng chính nhà Vua là bức tường phân cách mình với Mai Hương. Nếu không có nhà Vua, vị tất Mai Hương kia đã hững hờ với mối tình si mê của mình.
 Về phần Mai Hương cũng rất tâm lý, nàng lo sợ Tĩnh Vương đem tâm hãm hại Hoàng đế, nên nàng bịa lời khuyên Vua bổ nhiệm Tĩnh Vương xuống một trọng trấn miền Nam, Như vậy, Tĩnh Vương có một phận sự trước triều đình, và với thời gian cùng với sự cách trở quan san vạn dặm, lửa lòng y sẽ tắt và tắt hơn cả mối thù bất chánh.
 Không hề nghi ngờ, Hoàng đế khen phải hạ chiếu chỉ bổ Tĩnh Vương xuống đất Giang Nam. Tĩnh Vương ra đi, căm tức, hậm hực, cho rằng nhà Vua đày mình xuống miền Nam để báo thù vụ mạo thượng trong cung bữa nọ. Vị Vương gia đó thề chỉ trở về Yên Kinh với tư cách một vị tân Hoàng đế chớ không chịu kém nữa. Mối thâm thù mà Tĩnh Vương tự tạo ra đối với nhà Vua ngày một sâu rộng và cũng là đầu mối vu hoán ngôi tạo phản sau này.
 Lúc đó vào giữa thời toàn thịnh của Minh triều. Tĩnh Vương có mưu phản cũng không phải dễ dàng. Trước hết, cân được lòng dân và các quan lại trong triều, sau nữa phải đầy đủ binh hùng tướng mạnh. Tạo được một lực lượng đầy đủ như thế giữa lúc quốc gia đang vững chắc, muôn dân đang hưởng đời sống an bình, quả là điều vạn nan. Bởi vậy, hết năm nọ sang năm kia, Tĩnh Vương cũng chẳng mưu đồ nổi đại sự, cho đến khi tuổi đã cao thì dự tính kia hoàn toàn vô vọng. Tĩnh Vương có ba người con trai là Chu Vĩnh Thái, Vĩnh Bình, và Vĩnh An, cùng ở cả với cha tại Kim Lăng.
 Chu Vĩnh Thái khá nhất được Tĩnh Vương tin cậy hơn cả. Tĩnh Vương bịa ra một chuyện thâm thù với dòng trên họ Chu tức là nhà Vua dạy lại cho các con mưu đồ hoán ngôi sau này báo huyết hận. Hoàng đế băng hà truyền ngôi cho Thái tử Trường Chinh lấy hiệu là Vĩnh Lạc hoàng đế. Ít lâu sau, Tĩnh Vương cũng quy tiên, Chu Vĩnh Thái được tập ấm thay cha lãnh tước Thuận Vương. Chu Vĩnh Binh được bổ nhậm phủ Trường Sa, còn Chu Vĩnh An thì bổ nhậm Hàng Châu.
 Sở dĩ Thuận Vương vận động cho hai em đi hai nơi đó là có mục đích gây thanh thế tiện việc chiêu binh tướng cần dụng cho sự mưu phản sau này. Không được thượng võ, cương quyết như Tiên Đế, Vĩnh Lạc hoàng đế hiền đức quá đến nỗi thành nhu nhược. Nhất là từ khi Mai Hương hoàng hậu quy tiên, các bầy tôi trung thành cứ về già, kẻ mất, người cáo lão điền viên, triều chánh thay đổi rất nhiều.
 Gian thần chuyên quyền, thành thử con các bầy tôi trung thần trước kia được tập ấm phò Vua đâm ra chán nản. Kẻ bực tức từ quan, người bị quyền gian hãm hại. Quan Thái Sư Trần Chí Hòa cậy thế con gái sung quý phi được Thiên tử sủng ái, lộng hành chuyên quyền, yểm nhẹm nhiều việc mà Vĩnh Lạc không hay biết chi hết. Các quan trong triều và ở các nơi, ai chịu luồn lọt Trần thái sư thì giữ vững được tước vị. Trái lại, kẻ trung can thì hoặc bị đuổi đi những nơi xa xôi nguy hiểm hoặc bị cất chức đuổi về.
 Dân chúng bị sách nhiễu lầm than cùng cực, trong nước giặc cướp nổi lên như rươi, xưng hùng, xưng bá, chiếm cứ nhiều khu thiên hiểm anh hùng giang sơn nhất khoảnh.
 Nhân cơ hội ấy, Thuận Vương Chu Vĩnh Thái một mặt thâm giao với Trần thái sư và bọn quyền thần trong triều, một mặt liên kết với các quan hàng tỉnh, bè lúc của gian thần, và ngấm ngầm chiêu nạp bọn lục lâm tặc đạo để lấy chỗ đồn binh, nạp tướng. Thế lực Thuận Vương ngày càng lớn mà trong triều Vĩnh Lạc hoàng đế vẫn u mê không hay biết gì hết, tưởng muôn dân được hưởng Thái bình với lòng hiền đức của nhà Vua. Tuy vậy, cũng còn một số trung thành nhờ có sẵn binh quyền trong tay hành động gần như tự trị, và cũng nhờ có lực lượng ấy nên bọn gian thần không dám ư thao túng. Đó là quan Bình Bắc đại nguyên soái Mã Thành Long đóng đại binh theo hình tam giác ở miền Bắc tại Đồng Quan, Cư Dung quan và Nhạn Môn quan.
 Mã Thành Long vốn dòng dõi tướng môn cháu của Mã Địch Quốc một trong những vị khai quốc công hầu khi xưa đã từng theo Minh Thái Tổ đánh đuổi quân Nguyên đem lại nền tự do độc lập cho Hán tộc. Người thứ hai là quan Trấn thủ Tứ Xuyên Hà Thiên Hùng, nội điệt của tướng tiên phong hồi lập quốc Hà Thiên Hùng. Người thứ ba tức Thủy sư Đề đốc Đàm Bá Phục đóng thủy trại tại Trấn giang thành, dòng dõi của vị công thần thủy lực Đàm Bá Thành khi xưa.
 Từ ngày Thái Minh Tổ lập quốc đến nay, ba họ Mã, Hà, Đàm đời nào cũng dày công hãn mã, triều đình sủng ái nhất mực. Nguyên soái Mã Thành Long có hai con trai là Mã Thành Hổ, Mã Thành Báo va một con gái là Mã Kim Loan.
 Cả ba anh em họ Mã cùng đang thời niên thiếu, dòng dõi tướng môn, người nào cũng võ nghệ cao cường, sức khỏe trấn áp tam quân.
 Mã Thành Hổ hai mươi bảy tuổi, thiện dụng ngọn giáo sắt, mặt đẹp như ngọc, da trắng, môi đỏ tựa thoa son, nên trong quân ai cũng gọi là Ngọc Diệp Hổ. Tuy lớn tuổi rồi, Mã Thành Hổ chưa lập gia đình, chỉ suốt ngày luyện tập võ nghệ cùng hai em và chư tướng, hoặc săn bắn trong rừng rậm, núi sâu. Trái lại với anh, Mã Thành Báo da ngăm đen, râu quai nón mọc tua tủa như rễ tre, mắt to mày xếch, tánh tình nóng nảy, vóc ngươi lực lượng, hai cánh tay mạnh tới bẩy, tám trăm cân. Mã Thành Báo thiện dụng cây đại phủ nặng nề, trên chiến trường xông xáo giữa đám địch quân trăm vạn như vào chỗ không người. Không bao giờ chịu vận đai giáp. Mã Thành Báo chỉ ưa vận chiếc áo bào đỏ tím hoa đeo lớn như chiếc bát. Bởi vậy, ba quân mới tặng chàng tước hiệu Hoa Ban Báo. Hoa Ban Báo năm ấy hai mươi bốn tuổi mà cũng như Ngọc Diện Hổ, chưa có bạn sửa túi nâng khăn. Mã Kim Loan là con út mười bảy tuổi, mặt hoa da phấn, xinh đẹp bội phần, nhưng vì con nhà tướng nên từ cử chỉ đến cách đi đứng y hệt con trai. Năm mười ba tuổi, Mã Kim Loan được cha cho phép theo một ni cô đạo hiệu Chiêu Vân, trụ trì tại Ngũ Phật tự ở Lai Bình Loan, bên kia cửa ải Cư Dung, vào núi học tập kiếm pháp và phi hành thuật. Ba năm sau, nghệ thuật đã tinh vi, ni cô Chiêu Vân ban cho đồ đệ cặp song kiếm và dẫn nàng về tận nơi doanh trại trả lại cho vợ chồng Mã nguyên soái.
 Một hôm, Mã Thành Hổ và Mã Thành Báo cùng theo cha ra võ trang xem chư tướng luyện tập võ nghệ. Như thường lệ, Mã Kim Loan cũng được Nguyên soái cho theo xem.
 Thấy con gái từ ngày ơ Ngũ Phật tự trở về ít nói hơn trước và cũng chỉ luyện tập như thường chớ không trổ tài nghệ chi đặc sắc cả, Mã nguyên soái bèn nhân dịp ấy, bảo Mã Kim Loan :
 - Bữa nay, nhân trước mặt tam quân, con đã học được võ thuật gì đặc sắc thiết tưởng cũng nên trổ tài một phen trước là cho cha anh xem, sau là để chư tướng cùng tam quân biết tài lực chớ? Con chẳng lạ gì thông lệ trong quân: nếu tướng bất tài thì khó điều khiển chúng!... Ta trông cậy ở con để gây thêm uy tín dòng họ Mã đó.
 Nghe cha nói, Ngọc Diện Hổ và Hoa Ban Báo nhìn Mã Kim Loan, mỉm cười :
 - Từ ngày theo sư phụ Chiêu Vân luyện tập lối công phu nhà nghề của bực kiếm khách, Mã Kim Loan đã luyện luôn được cả đức trầm tĩnh, kín đáo.
 Nhưng hiện tại nàng vẫn theo cha hàng ngày ra vào nơi hổ tướng, biết đâu một ngày kia nàng sẽ chẳng theo cha anh xông xáo chốn sa trường? Chi bằng cũng nên tiện dịp này trổ tài nghệ thuật riêng cho mọi người hiểu nàng chẳng phải là kẻ hữu danh vô tài!
 Nghĩ đoạn, Mã Kim Loan thưa :
 - Cha đã dạy, con đâu dám trái lời. Vậy xin cha cho mấy đại đội xạ quân ra ngay trước võ đài để con sử dụng.
 Mã nguyên soái mừng rỡ, ra lệnh cho phát âm viên truyền gọi ba đại đội cung thủ và báo cho ba quân biết Mã tiểu thư biểu diễn võ nghệ.
 Phát âm viên vâng lệnh cầm loa hô lớn :
 - Bớ tam quân! Mã tiểu thư được lệnh Mã nguyên soái biểu diễn võ nghệ. Cần ba đại đội cung thủ chỉnh tề hợp ngay dưới khán đài.
 Ba quân nghe lệnh, vui mừng, vỗ tay hoan hô, cổ võ vang động cả võ trường. Chỉ trong khoảnh khắc, ba đại đội cung thủ đã đứng thành hàng trước khán đài.
 Mã Kim Loan gài song kiếm chéo trên lưng, ra trước hổ trường vòng tay vái Mã nguyên soái, rồi chuyển đi ra trước khán đài, nhảy phóng xuống trước đoàn quân cung thủ. Mọi người mục kích nàng liệng mình xuống võ trường, lẹ làng như chiếc lá rụng. Tràng pháo tay lại vang động. Ai nấy đều chăm chú xem viên nữ tướng tương lai ấy lại hành động thế nào. Mã Kim Loan dàn đám quân cung thủ thành hình tròn, loạt quỳ, loạt đứng.
 Khi trên đài ra lệnh, các người cứ nhằm ta mà bắn. Bắn chừng nào hết cả ống tên thì ngừng tay, nghe?
 Ba đại đội dạ rân.
 Mã Kim Loan đứng ra giữa, tuốt song kiếm đứng thẳng, mặt hướng lên khán đài nơi Mã nguyên soái ngồi cùng các vị tướng quân và mấy vị văn quan. Hai lưỡi kiếm phản chiếu ánh mặt trời lóng lánh. Mã Kim Loan nhìn Ngọc Diện Hổ gật đầu. Biết ý, Mã Thành Hổ bảo phát âm viên ra lệnh bắn.
 Đoàn cung thủ nhằm đúng người Mã Kim Loan bắn như mưa rào, nhưng nàng đã hoa kiếm múa vùn vụt, làn kiếm sáng loáng bao bọc lấy nàng như tuyết tỏa, sương ta, như muôn ngàn cánh hoa lê rụng tơi bờị. Giây lát, đoàn cung thủ đã bắn hết tên đều tản cả hai bên. Mọi người đang chú ý nhìn, Mã Kim Loan đã ngừng tay kiếm. Quanh chỗ nàng đứng, tên bị gạt xuống chất thành một đống tròn như vẽ. Tiếng hoan hô lẫn pháo tay nổi dậy khắp tứ phía. Trên đài, Mã nguyên soái hân hoan nghe những lời ca tụng của chư tướng.
 Gài kiếm vào vỏ, Mã Kim Loan cất mình chạy vùn vụt ra tới chân cột cờ, nhún mình phi thân đứng hẳn lên ngọn, chân co chân duỗi, hai tay xòe ra như con đại bằng, quay khắp bốn phía rồi mới liệng mình xuống đất lướt như chiếc én buổi đầu xuân. Đoạn nàng phi hành như bay lên khán đài, nghiêm chỉnh đứng trước mặt Mã nguyên soái, hơi thở nhẹ, mặt không biến sắc.
 Mã nguyên soái sung sướng vui mừng nói :
 - Cho con về chỗ.
 Sau cuộc biểu diễn ấy, trên thì chư tướng dưới có tam quân, ai nấy đều khâm phục tài nghệ của Mã Kim Loan, và cũng từ đó suốt trong quân, cô gái họ Mã có tước hiệu Phi Vân Yến. Thời gian này cùng chặp với cuộc Nam du của Lam Y nữ hiệp và Đơn Đao Chu Đức Kiệt.
 Từ ngày phải thuyên chuyển xuống Kim Lăng, Tĩnh Vương hoàn toàn không hành động được theo ý muốn, vì hồi ấy Minh triều toàn thạnh.
 Theo lời trăng trối của cha lúc lâm chung, Thuận Vương Chu Vĩnh Thái mới dùng của cải súc tích, lợi dụng tình thế đã vững chắc của mình giao dịch rộng, và nhất là dân tình oán hận đám quan tham, lại nhũng để bành trướng thế lực nạp tướng chiêu binh.
 Chánh sách dùng người của Thuận Vương là chỉ cần người có dũng lực, võ nghệ cao cường, gác bỏ ra ngoài vấn đề đức độ. Cho nên, những tay lục lâm thảo khấu cũng được dong nạp. Thuận Vương thường hứa với chúng chừng nào chiếm được thiên hạ, lên ngôi cửu ngũ, sẽ phong cho chúng quyền cao tước hậu. Trái lại, bọn cường khấu, anh hùng đại đạo dựa vào thế lực lớn của Thuận Vương, hành động công khai, cướp của giết người mà vẫn được quan lại làm ngơ.
 Vị Vương gia khôn ngoan ấy lập cả một chương trình hành động rất lớn lao.
 Lập lôi đài hoặc ở Kim Lăng hoặc ở nơi nào có bè cánh để thâu nạp người tài, hay tìm cách hạ sát những anh hùng ra mặt đối lập với mình. Luôn luôn mở các hội vui có tính cách đua tài về võ thuật để câu anh hùng tứ xứ. Phái bộ hạ thân tín đi các nơi lập chùa chiền miếu mạo, giả tu hành để lấy chỗ đồn tướng tụ binh. Chiêu nạp bọn cường khấu sơn lâm, hay phát bộ hạ đi lập trại đồn quân dưới hình thức tặc đạo.
 Trong mấy chục năm trời, vây cánh của Thuận Vương mỗi ngày một lớn, tích thảo đồn lương ngày một nhiều. Một số lớn quan lại miền Giang Nam đều quy thuận Thuận Vương, chờ ngày khởi binh chống lại triều đình đoạt ngôi cửu ngũ.
 Thấy thanh thế đã mạnh, Thuận Vương ngang nhiên cho xây dựng lại Vương phủ theo thể thức cung nhà vua tại Yên Kinh, đi kiệu Cử Long, tán vàng, long bạc, dùng nghi vệ của một bực Hoàng đế.
 Thuận Vương còn cho may sẵn cả bào long cổn, mão cửu thiên, chỉ chờ dịp khởi binh thâu phục thiên hạ là chánh thức lên ngôi Hoàng đế.
 Các quan tùy tòng và tướng tá tay chân cũng được phong trước sẵn. Tuy chưa ra mặt, nhưng họ được ưu đãi ngang hàng với các quan tại triều.
 Phần văn quan không phải ai xa lạ, chính là mấy viên quan vẫn ăn lương cao lộc hậu của Yên Kinh được bổ nhậm Kim Lăng, nay mưu phản ngầm theo Thuận Vương hòng sau này chiếm phần ngôi cao cả với tân vương: Thủ phủ quan, Bành Giang Hiếu, Thống đốc Kim Lăng, và hai phụ quan Ôn Hành Nhân, Võ Phong Thuần.
 Bên võ tướng mới là phần tử đáng kể.
 Thuận Vương rất tự hào đã thâu dụng được nhiều nhân tài, nên thường nói trong khi tửu hứng :
 - Với những con người sắt ấy ở quanh Cô gia thì triều đình Yên Kinh đứng vững sao nổi! Bộ Ngũ Hổ Tướng của ta có thể gọi là vô địch. Ngay đến Ngũ hổ của Ba Thục hay Tống triều thuở trước cũng chẳng bằng!
 Thuận Vương nói câu này có ý khinh thường cả Ngũ Hổ Tướng Ba Thục là Quan, Trương, Triệu, Mã, Hoàng đã từng phò Lưu Huyền Đức định lập lại triều Hán, và Ngũ hổ đời Tống Nhân Tôn: Địch, Thạch, Trương, Lý, Lưu, đã từng đánh bại quân Tây Hạ, chinh phục Tây Liêu lấy Chân Châu Kỳ về cho vua Tống, phá tan Nam quân Nùng Chí Cao đem lại an cư lạc nghiệp cho miền Hoa Nam. Mà thiệt vậy, Ngũ Hổ Tướng của Thuận Vương toàn là những tay hảo hớn giang hồ hắc đạo có công phu luyện tập rất đáng kể bản lãnh liệt vào hạng siêu việt khuấy nước, chọc trời, coi binh tướng trong triều Yên Kinh chẳng vào đâu. Đó là :
 - Phi Thiên Hổ Hoàng Bách Thắng, đứng đầu Ngũ hổ lãnh ấn Bình Bắc đại nguyên soái.
 - Quá Sơn Hổ Triệu Đại Bằng.
 - Cẩm Mao Hổ Dư Đông Bích.
 - Thanh Diện Hổ Tống Võ Cường.
 - Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo.
 Hoàng Bách Thắng năm ấy ba mươi sáu tuổi, vóc người to lớn đầu gấu lưng hùm, hai cánh tay có sức khỏe ngàn cân, thiện dụng cây trượng bát xà mâu mã, chiến cũng như bộ chiến đều hay. Y là đệ nhất đồ đệ của Thiên Không hòa thượng trên La Phù sơn cõi Lãnh Nam.
 Quá Sơn Hổ Triệu Đại Bằng thiện dụng cây đại đao ba mũi, và Cẩm Mao Hổ Dư Đông Bích thiện dụng đinh ba là hai đồ đệ siêu đẳng của Thiết Cước đạo nhân trong Động Đình hồ.
 Hai người này cùng ba mươi hai tuổi nổi danh trong giới hắc đạo miền Nam, đi tới đâu gieo rắc khủng khiếp đau thương đến đó khiến dân chúng cứ nghe tên không thôi cũng khiếp sợ như tử thần đã tới sau lưng.
 Thanh Diện Hổ Tống Võ Cường ba mươi tuổi, mặt mũi sần sùi nổi những lằn gân xanh lè, cao lênh khênh, gầy đét, nhưng toàn thân cứng như thép, thiện dụng cây Ngô Công côn bằng sắt rất nặng nề. Ít nói, tánh nóng như lửa, giết người không biết ghê tay. Không ai hiểu lai lịch của họ Tống, chỉ biết y gốc tích người Trung Quốc, nhưng lúc bé lưu lạc sang Tây Tạng. Mãi đến sau này mới trở về đất nước xứ sở chuyên bảo vệ cho các đoàn khách thương mang hàng hóa từ miền Tây Trung Quốc vào đất Tây Tạng bán.
 Về sau, Tống Võ Cường theo lời Tôn Hoàn là quân sư của Thuận Vương về Kim Lăng đầu bôn và được trọng dụng ngay.
 Khi mới về Kim Lăng ra mắt Thuận Vương, các bộ hạ khác thấy tướng mạo y xấu xí gầy ốm nên có vẻ khinh thường.
 Họ Tống biết vậy nhân thể muốn trổ tài cho Thuận Vương coi và làm khiếp đởm các người khác, y bèn nhằm chiếc khánh bằng đá lớn như mặt bàn nhảy lên đấm một trái Thôi sơn...
 Chiếc khánh đá dày dặn bị bể tan ra từng mảnh khiến mọi người đều khen Tống Võ Cường thần lực. Thuận Vương cũng mừng rỡ biệt đãi y ngay.
 Đệ ngũ hổ là Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo năm ấy hai mươi lăm tuổi, vốn là con trai cả của tay thảo khấu anh hùng Hầu Văn Lượng, tước hiệu Thác Tháp Thiên Vương, chiếm cứ cả một vùng Thập Vạn Đại Sơn ở ranh giới Lưỡng Quãng.
 Hầu Văn Bảo thiện dụng cặp song phủ nặng mười hai mươi cân, xông vào giữa muôn quân như vào nơi không người. Sắc mặt đen sì, râu quai nón dìm ra như rễ tre, cổ to, ngực lớn, hai cánh tay bắp thịt nổi lên như thừng chão. Hầu Văn Bảo ra quân không chịu mặc giáp, chỉ vận chiếc áo đen hở ngực, ngắn tay, chân quấn xà cạp, dận hải xảo.
 Bạt Sơn Hổ còn có tài phong búa bách phát bách trúng. Cây búa nặng nề ấy do cánh tay sắt của Hầu Văn Bảo phát ra bổ trúng người, thì địch thủ dầu có anh hùng sức khỏe biết mấy cũng phải táng mạng ngay tức thì...
 Thuận Vương từ ngày thâu nạp được Hoàng Bách Thắng, Triệu Đại Bằng, Dư Đông Bích, Tống Võ Cường thì có ý lập Ngũ Hổ tướng đã lâu, song còn thiếu một người đệ ngũ, bèn bàn với Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn.
 Lúc đó Phi Không cũng đã đầu bôn Thuận Vương rồi, hàng ngày đi lại thân thiết với quân sư.
 Tôn Hoàn đem chuyện Thuận Vương muốn thành lập Ngũ Hổ tướng. Phi Không nói :
 - Tôi có quen một người võ nghệ siêu quần sức lực có thể liệt vào hạng vô địch, trong giới cường khấu ai cũng biết tiếng, nếu được người ấy phò tá thì hay lắm.
 - Y năm nay bao nhiêu tuổi? Ở đâu?
 - Y năm nay ngót năm mươi rồi, hùng cứ ngọn Thập Vạn Đại Sơn ở giáp Lưỡng Quãng.
 - Nếu thế thì khi nào y chịu về đây ở? Ta nên tìm cách liên lạc và chiêu nạp để y đòn binh nơi đó còn hay hơn.
 Phi Không cười lớn :
 - Nếu y ưng thuận đầu bôn Kim Lăng thì ta sẽ thành công cả hai việc: tìm được Đệ ngũ hổ và gây được một vây cánh nữa ở Thập Vạn Đại Sơn...
 Tôn Hoàn nheo mắt lại không hiểu, Phi Không mỉm cười nói tiếp :
 - ... Như quân sư đã biết, Thập Vạn Đại Sơn là một nơi thiên hiểm hiện do Thác Tháp Thiên Vương Hầu Văn Lượng hùng cứ, danh tiếng lẫy lừng. Hầu Văn Lượng võ nghệ xuất chúng, lực năng cử đỉnh thế khả bạt sơn, trong giang hồ ai cũng biết tiếng. Y có người con trai lớn là Hầu Văn Bảo tài nghệ chẳng kém gì cha, thiện dụng cặp song phủ lợi hại vô cùng. Vì lẽ ấy, tôi muốn chiêu nạp Hầu Văn Lượng gây thêm thanh thế cho Vương gia và dụ Hầu Văn Bảo về Kim Lăng nhập bộ Ngũ Hổ tướng thì không còn gì xứng đáng bằng.
 Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn nghe nói cả mừng, vỗ vai Phi Không gia sẽ trọng thưởng... gái đẹp rượu ngon, muốn chi cũng được.
 Phi Không cười híp mắt :
 - Xin vâng. Từ ngày về đầu bôn, tôi cũng chưa có công lao chi cả để đền ơn tri ngộ. Chuyến này tôi sẽ cố, may ra thì thành công.
 Hòa thượng sửa soạn lên đường ngay cho kẻo chúa công trông đợi.
 Hầu Văn Lượng vẫn coi Phi Không như sư huynh, hai bên giao dịch thân mật. Phi Không chắc chắn thế nào cũng thành công, nên mới nhận đi để gây thêm uy tín với Thuận Vương. Kể ra Thuận Vương rất trọng đãi Phi Không vì lẽ y là một tay giang hồ thần võ. Và là sư thúc của Vô Địch tướng quân Hoàng Bách Thắng. Với Phi Không, Thuận Vương còn hi vọng thâu nạp được nhiêu đầu đà về làm bộ hạ cần dùng cho việc chinh phục thiên hạ sau này. Quả nhiên, như Phi Không dự tính, Thác Tháp Thuận Vương Hầu Văn Lượng nhận lời liên lạc với Kim Lăng. Họ Hầu cùng đi với Phi Không về Kim Lăng hội kiến với Thuận Vương. Hai bên đều thỏa thuận mọi điều kiện. Thuận Vương sắc phong cho Hầu Vãn Lượng chức Thập Vạn Hầu, chờ sau này bình xong thiên hạ, dời đô lên Yên Kinh, sẽ thăng thưởng sau. Hầu Văn Lượng lãnh sắc phong trở về sơn trại cho Hầu Văn Bảo xuống Kim Lăng gia nhập Ngũ Hổ.
 Thế là thành lập xong Ngũ Hổ tướng. Thuận Vương luôn luôn thân chinh ngự khán các cuộc diễn binh tập luyện ba quân tại võ trường.
 Phi Thiên Hổ Hoàng Bách Thắng tỏ ra có tài thao lược song toàn đáng mặt đại tướng. Còn bốn tướng kia, mỗi người một vẻ oai hùng sát khí đằng đằng.
 Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn hoạt bát, mưu mẹo, binh thư đồ trận làu thông, ngoài ra còn rất thạo về môn nhâm độn, tà thuật Bạch Liên giáo.
 Bạch Liên giáo là một giáo đạo chuyên về bàng môn tả đạo (tức tà thuật khởi xuất ở Trung Quốc từ Nguyên triều, tại đất Loan Thành, sanh quán của Bạch Liên giáo tổ Hàn Sơn Đồng).
 Hàn Sơn Đồng là con của Hàn Thế, tự nhận là dòng dõi vua Huy Tôn nhà Tống.
 Lập nên giáo giới Bạch Liên, Hàn Sơn Đồng có ý gây thế lực và phong trào bài Nguyên (quân Mông Cổ chiếm cứ Trung Quốc lập thành Nguyên triều) hưng Hán.
 Các giảng đường trước hết dùng để truyền giáo thuật và truyền bá tinh thần cách mạng lật đổ Nguyên triều.
 Như nước ngấm lần lần, Bạch Liên giáo được phổ thông khắp cõi Trung Nguyên, nhưng tinh thần dân chúng thấp kém, dị đoan, nên mục đích cách mạng của giáo phái bị phổ biến sai lạc. Bởi vậy, về sau giáo thuật lấn áp hẳn mục đích cách mạng, và cũng vì lẽ ấy, khi Hàn Sơn Đồng tạ thế, Bạch Liên giáo bước hẳn sang con đường tà thuật lợi dụng tính dị đoan của dân chúng làm nhiều điều hỗn loạn dâm bôn, khiến bọn Giang Hồ Hiệp Khách nhiều phen phải ra tay trừ khử.
 Khi Chu Nguyên Chương dấy quân diệt Nguyên triều, cùng các tướng Mã Địch Quốc, Thường Ngộ Xuân, Đám Bá Thành, Hà Thiên Hùng và Từ Đạt vây trận cuối cùng đoạt Yên Kinh (tức Bắc kinh ngày nay) giải phóng cho dòng dõi Hán tộc khỏi ách quân Nguyên đô hộ, họ Chu lên ngôi Thái Tổ lập triều Minh, thì con của Hàn Sơn Đồng là Hàn Lâm Nhi thay cha lên ngôi Giáo chủ Bạch Liên.
 Trong thời gian Chu Nguyên Chương và chư tướng thâu đoạt lại giang san, Hàn Sơn Đồng có đem bộ đội theo giúp họ Chu lập nên công trạng đáng kể, nhưng đất đai nước nhà vừa thâu hồi được thì Hàn Sơn Đồng lâm bệnh từ trần, Chu Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế thì Hàn Lâm Nhi, con Hàn Sơn Đồn, cũng thay cha giữ chức Giáo chủ cầm đầu toàn thể bộ đội Bạch Liên giáo. Có lẽ cũng tưởng mình là Vua có công lớn trong việc hưng Hán diệt Nguyên, nên Hàn Lâm Nhi yêu cầu Minh Thái Tổ cắt đất chia đôi để cùng trị vì thiên hạ.
 Giang san vừa thâu hồi được, còn nhiều việc cải cách phải thi hành để củng cố đất nước sau một trăm sáu mươi hai năm bị giặc Mông Cổ đô hộ, mà bị một Giáo chủ ngông cuồng đòi cắt đất xưng Vương thì quả là một việc quá sức tưởng tượng. Minh Thái Tổ bác lời yêu cầu của Hàn Lâm Nhi, một mặt phái Đại nguyên soái Mã Định Quốc cất quân diệt tan bộ đội Bạch Liên giáo, bắt Hàn Lâm Nhi xử trảm, thống nhất san hà.
 Từ đó, trong dân gian, tuy dư đảng Bạch Liên hãy còn nhưng hoạt động trong vòng tà giáo mê hoặc mọi người lấy tiền chớ không mon men vào địa phận chính trị nữa. Đến đời minh Vĩnh Lạc, Giáo chủ Bạch Liên Cố Duy Thanh có dạy được nhiều đồ đệ vừa về võ thuật vừa về tà giáo. Bọn đồ đệ ấy tản mác đi các nơi truyền giáo gây lai thanh thế cho giáo phủ. Trong đó có Tôn Hoàn là người thư nhì đầu bôn cho Thuận Vương. Tôn Hoàn còn liên kết với sư muội của y là Đường Trại Nhi hoạt động ở Nam Xương phủ, tỉnh Giang Tây. Đường Trại Nhi còn ít tuổi, mặt hoa da phấn xinh đẹp bội phần, võ nghệ khá và tà thuật giỏi nhưng rất dâm dâm dật... Đó là chuyện sau.
 Ngoài Ngũ Hổ tướng đóng ngay tại Kim Lăng, Thuận Vương còn có viên tướng tiên phong dũng mãnh dị thường họ Điêu tên Thiêu Phượng, hỗn danh Trại Nguyên Khánh vì chàng sử dụng cặp bát giác đồng chùy mạnh như cuồng phong bão táp.
 Điêu Thiên Phượng đầu bô Thuận Vương từ năm hai mươi bốn tuổi ngay sau khi thành lập Ngũ hổ tướng, được Thuận Vương rất trọng đãi sắc phong cho ấn tiên phong.
 Họ Điêu tâu :
 - Vương gia cho lãnh trọng chức thiệt hân hạnh cho kẻ hạ thần về đầu bôn. Nhưng hạ thần e ba quân không phục, nên yêu cầu Vương gia cho triệu tập đủ các hàng binh tướng tại võ trường thử sức cùng hạ thần, nếu đủ tư cách chừng đó mới dám nhận. Như vậy danh chánh ngôn thuận hơn.
 Thuận Vương nghe Điêu Thiên Phượng nói phải, vả lại cũng muốn thưởng thức xem thực lực của y thế nào, nên ra lệnh cho các hàng binh tương biết ngày thao diễn để chọn lựa tướng tiên phong, nhân tiện khai mạc giáo trường mới luôn thể.
 Võ trường cũ chật hẹp không tiện cho các cuộc thao diễn binh tướng mỗi ngày một đông của Thuận Vương, Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn dâng ý kiến xây dựng giáo trường mới ở ngoài thành Kim Lăng, theo bản đồ chính tay quân sư lập thành. Thuận Vương chấp nhận đề nghị ấy trao toàn quyền cho Tôn Hoàn cáng đáng việc canh tân đó. Tôn Hoàn đôn đốc thợ thuyền xây dựng suốt trong bốn tháng trời mới hoàn thành một đấu trường rộng lớn tân kỳ, lấy tên là Kim Lăng đại giáo trường. Tân giáo trường vừa xây dựng xong thì Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng cũng vừa tới đầu bôn. Vì lẽ đó, Thuận Vương mới có ý khai mạc giáo trường bằng cuộc tranh ấn tiên phong.
 Hôm đó cờ xí rợp trời cắm khắp chung quanh giáo trường. Trên khán đài treo đèn kết hoa rực rỡ muôn phần. Quân lính nhung trang gọn ghẽ, gươm đao tuốt trần sáng loáng giữ trật tự khắp trong và ngoài giáo đường, tránh cho dân chúng được phép vào xem khỏi hỗn độn, chen lấn. Từ cổng chính giáo trường đến cửa Bắc thành Kim Lăng, hai hàng binh sĩ nghiêm chỉnh chống giáo đứng chờ Thuận Vương và các quan tùy tùng.
 Đúng giờ ấn định, cờ mở trống rung, lính phát ngôn bắc loa báo Vương gia sắp tới. Mở đầu bằng viên tướng chỉ huy ba đại đội Ngự lâm quân cỡi ngựa đi đầu, đoàn quân đi hàng sáu rất đều và tề chỉnh, tay tả đeo khiên, tay hữu cầm đao tuốt trần. Kế đến Thuận Vương, y phục nửa văn nửa võ, tay giáp tay bào đội mũ đầu mâu, cỡi ngựa trắng đi giữa, Bên tả là Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn, bên hữu, Vô Địch tướng quân Bình Bắc đại nguyên soái Hoàng Bách Thắng lực lưỡng, vận giáp sắt, bào gấm đen hoa bạc, đầu đội mão đầu mâu ngù đỏ, chân dận ủng đen đầu hổ, lưng đeo trường kiếm oai phong lẫm liệt, cỡi ô mã to lớn. Đi sát ngay sau là hai thế từ Chu Trấn Quốc và Chu Bảo Quốc theo học võ trên La Phù sơn theo lời giới thiệu của Nguyên soái Hoàng Bách Thắng, mới hạ sơn về Kim Lăng.
 Chu Trấn Quốc đeo giáp vàng, bào vàng cỡi ngựa hoàng thổ, ba quân quen gọi là Kim thế tử.
 Chu Bảo Quốc đeo giáp bạc bào trắng cỡi ngựa trắng nên có mỹ danh Ngân thế tử. Hai anh em cùng đẹp tướng oai dũng.
 Đi tiếp sau hai Chu thế tử là bốn vị hổ tướng: Quá Sơn Hổ Triệu Đại Bằng, Cẩm Mao Hổ Dư Đông Bích, Thanh Diện Hổ Tống Võ Cường và Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo. Bốn vị tướng quân này đai nịt giáp sắt bào đen, lưng đeo trường kiếm y hệt Nguyên soái Hoàng Bách Thắng. Bởi vậy Ngũ hổ tướng mới có tên Ngũ hắc hổ. Người nào cũng oai phong hùng dũng sát khí hiện ra mặt, cỡi toàn ngựa đen con nào cũng là giống chiến mã to lớn dị thường. Hàng văn quan đi sau bốn hổ tướng.
 Sau cùng, đi sắp hàng năm, có trên sáu mươi viên tướng tá tùy tòng, người nào cũng bào giáp gọn ghẽ, cỡi chiến mã lẫm liệt. Đoàn người ngựa rất đỗi oai phong hùng mạnh kéo vào giáo trường giữa tiếng hoan hô rầm rầm của dân chúng. Đến trước khán đài, tướng nào quân ấy đã chờ ở đó đỡ dây cương dắt ngựa ra phía sau. Quan khách vừa an vị đâu đấy, thì một hồi trống vang động báo hiệu các tướng tranh ấn tiên phong đến.
 Một đoàn mãnh tướng giáp mã gọn gàng dóng ngựa đi hàng hùng dũng tiến vào giáo trường. Người ta đếm được mười sáu tướng mỗi người một màu bào khác nhau.
 Đoàn nhân mã oai hùng ấy tiến đến trước khán đài đứng hằng giơ tay chào.
 Xướng ngôn viên trên đài bắc loa giới thiệu :
 - Đây là mười sáu vị tướng quân của bản thành và các nơi về dự tranh ấn tiên phong.
 Một hồi trống, chiêng rung động chào lại chư tướng. Tiếp theo là tràng pháo tay của các từng lớp khán giả khen ngợi hoan hô.
 Xướng ngôn viên nói :
 - Mời chư tướng về trại bên đông.
 Các tướng buông tay xuống, chỉnh đốn phóng ngựa về một dãy lều vải ở phía đông giáo trường. Trên nóc lều cắm cờ hiệu theo màu sắc riêng, thêu tước vị và tên họ của từng tướng một. Mỗi lều có mươi tên quân thuộc giữ ngựa hầu hạ mỗi khi cần đến. Từ cung mã đến võ khí, thứ nào cũng có đôi, phòng hờ khi cần đến thì có ngay.
 Một hồi trống nữa vại vang động ở cổng giáo trường. Mọi người chăm chú nhìn ra, thấy một viên mãnh tướng phi ngựa vùn vụt nhập trường.
 Viên tướng đó vóc người vạm vỡ, đầu quấn khăn võ già tréo một chiếc lông chim đại bàng, mặc bào trần màu đỏ thẫm thêu bông đen, quần và ủng đen thêu bông đỏ. Tay áo săn ngược để lộ hai cánh tay chắc nịch, lông lá xồm xàm. Ngực áo cũng phanh ra hở bộ ngực nở nang, lông dai mượt như lông gấu. Mới nhìn qua, ai cũng nhận thấy viên mãnh tướng ấy có sức mạnh tiềm tàng kinh khủng. Hợp với chủ, con ngựa mình trắng loang đen, bờm và đuôi trắng toát như cước, ức dồ, đầu cất cao, yên cương đen tuyền dát bạc lóng lánh, hai bên ức gài cặp bát giác đồng chùy đúng tầm tay. Pháo tay vang dậy khắp võ trường chào đón viên hổ tướng oai hùng ấy. Đó là Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng.
 Họ Điêu phóng ngựa như bay tới trước khán đài ghìm mạnh. Con tuất mã bị ghìm bất thình lình, cất cao hai vó trước đứng dựng ngược hí vang lừng, quay đi mấy vòng mới chịu đứng yên. Nghiêm chỉnh dữ dội như pho tượng đồng, Điêu Thiên Phượng giơ thẳng tay chào Thuận Vương và quan khách trước khán đài.
 Xướng ngôn viên loan :
 - Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng, người treo ấn tiên phong thách thức cuộc tranh hùng hôm nay!
 Hồi chiêng trống vang lừng chào lại.
 Xin mời Điêu tướng quân về trại bên Tây sửa soạn.
 Điêu Thiên Phượng rẽ phắt ngựa sang hướng Tây, phi vùn vụt như bay về lều riêng giữa muôn vạn tiếng hoan hô vang dậy cả góc trời.
 Trên khán đài, Thuận Vương cười đắc ý liếc nhìn mọi người.
 - Quân sư thấy người ấy thế nào?
 Tôn Hoàn hân hoan :
 - Tâu Vương gia, nhờ hồng phúc của Ngài, Trời mới sai viên thần tướng đó xuống hạ giới giúp Ngài bình thiên hạ thâu phục san hà lên ngôi cửu ngũ đó.
 Thuận Vương vuốt râu ghé sang bên Vô Địch tướng quân Đại nguyên soái hỏi :
 - Theo mắt nhà nghề, Nguyên soái thấy Trại Nguyên Khánh thế nào?
 Nghiêm nghị, Hoàng Bách Thắng buông mấy tiếng :
 - Dám bẩm Vương gia, người này dùng được!
 Thuận Vương mỉm cười phất tay áo ra phía xướng ngôn viên.
 Người này như đã thuộc lòng chương trình bắc loa loan :
 - Xin chư vị tướng quân sẵn sàng cung tiễn. Bắt buộc phải ngự mã bắn tên. Ai bắn trúng hồng tâm luôn ba phát sẽ được chấm nhất.
 Đang ồn ào bàn tán trong giáo trường bỗng yên lặng như tờ, ai nấy đều hồi hộp theo dõi cuộc tranh đấu.
 Bầu trời xanh ngắt, gió thổi nhẹ nhưng cũng đủ bay muôn vạn lá cờ gài quanh giáo trường. Mười bảy chiếc hồng tâm dựng sẵn theo bàng chứ nhất cách mặt khán đài hai trăm bước.
 Trên đài loan :
 - Cuộc xạ tiễn bắt đầu. Mời số Một, Nam Xương Lý Tấn Thành ra đấu trường!
 Từ lều số Một bên đông, một tướng giáp bào màu nâu phóng ngựa ra như bay, lượn qua khán đài.
 Tùng! Tùng! Tùng! Ba tiếng trống hiệu vang lên. Lý Tấn Thành rẽ ngựa chạy theo dọc vạch vôi trắng cách đích số một một trăm năm mươi bước, phát luôn ba mũi tên.
 Xướng ngôn viên có trách nhiệm ghi điểm ở khu đặt hồng tâm, loan to :
 - Hai mũi trúng đích, một mũi hơi lệch sang bên tả.
 Tràng pháo tay vang dậy.
 Lý Tấn Thành ngả cung vòng qua khán đài về lều riêng.
 Trên đài lại loan :
 - Thỉnh đệ Nhị, Hàng Châu Khương Quỳnh ra đấu trường.
 Một tướng bào thiên thanh từ lều số Hai phi ngựa ra trước khán đài, và cũng như đệ Nhất chạy theo vạch vôi bắn ba mũi tên.
 Xướng ngôn viên coi hồng tâm loan :
 - Trúng đích cả ba phát, nhưng chệch, không đều.
 Tùng! Một tiếng trống ghi hảo điểm. Tiếng hoan hô vang dậy khắp giáo trường.
 Khương Quỳnh hớn hở vòng ngựa qua khán đài về lều cá nhân. Và cứ lần lượt như vậy cho đến tướng đệ Thập Lục.
 Người chệch cả ba mũi tên, kẻ chệch hai hay một. Cũng có người trúng cả, được ghi hảo hai điểm bằng một tiếng trống, nhưng vẫn lệch lạ không được đều theo điều kiện “ưu điểm”. Nhưng dù sao, với tài xạ tiễn ấy, khi ra trận cũng thừa sức bắn trúng đối phương rồi.
 Loa trên khán đài vang lên :
 - Lần chót, thỉnh Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng ra đấu trường.
 Tiếng vó ngựa đập trên mặt đất như trống rền, họ Điêu tay cầm thiết cung phi ngựa sát khán đài.
 Thuận Vương lo lắng ra mặt, nói với Quân sư và Nguyên Soái :
 - Mười sáu tướng vừa rồi mà chưa ai được lãnh ưu điểm! Họ Điêu có tài cũng chỉ đến ghi một tiếng trống thôi!
 Thần Cơ quân sư nghiêm trọng im lặng. Còn Vô Địch tướng quân Hoàng Bách Thắng chỉ khẽ gật đầu mỉm cười :
 - Điêu Thiên Phượng lướt luôn hai vòng ngựa dưới khán đài rồi bắn luôn ba phát tên vào cỡ cách hồng tâm hai trăm bước.
 Ba mũi trúng cả hồng tâm hàng ngang!
 Tiếng vỗ tay hoan hô vang dậy lẫn với ba tiếng trống đổ ưu điểm.
 Thuận Vương mừng quá, khen :
 - Cô gia biết mà! Điêu tướng quân quả là nhân tài!
 Hoàng Bách Thắng chỉ tay :
 - Kia! Vương gia coi...
 Thuận Vương vội nhìn xuống đài thấy Điêu Thiên Phượng đang phi ngựa chạy vòng, lúc gần tới khán đài, y đứng hẳn người lên hai bàn đạp luôn ba mũi tên nữa, chờ ngựa chạy qua hẳn mặt khán đài mới ngồi xuống yên.
 Xướng ngôn viên phía hồng tâm loan to :
 - Trúng theo hàng dọc cả ba mũi. Mũi tên cũ ở giữa bị chẻ đôi!.
 Tùng! Tùng!Tùng! Ba tiếng trống nữa ghi ưu điểm ưu điểm giữa tiếng hoan hô của khán giả. Điêu Thiên Phượng rẽ ngựa vào gần khán đài cúi đầu chào, rồi phi thẳng về lều cá nhân bên hướng Tây. Thuận Vương vỗ tay tỏ ý ban khen riêng cho họ Điêu.
 Về tới lều, Điêu Thiên Phượng nhảy xuống ngựa. Một tên quân đỡ dây cương, trong khi tên khác dâng chiếc khăn bông vò nước nóng. Thiên Phượng đỡ lấy lau mặt, lau tay. Một tên khác dâng ly rượu đầy giải lao. Thiên Phượng uống một hơi hết. Trong khi đó ở các lều bên Đông, mười sáu tưởng cũng xôn xao về tài xạ tiễn của Trại Nguyên Khánh.
 Khương Quỳnh nói với mấy người :
 - Phải nhận là y bắn khá hơn ta thiệt. Nhưng còn phần võ nghệ chưa biết thế nào! Sẽ xem!...
 Lý Tấn Thành hằn hộc :
 - Không lẽ chúng ta thua y cả sao? Nếu một chọi một không được thì ta họp lại quần cho y mộc trận thất điên bát đảo! Anh em chịu không?
 Tướng Trần Gia Đồ cũng ở Hàng Châu nói :
 - Không được! Theo luật lệ, một chọi một thôi. Trừ phi y thách thức cả bọn ta thì lại là lẽ khác!... Dù sao cũng đánh cho y biết tay chờ sợ chi? Một được, hai thua mà!
 Khương Quỳnh lắc đầu :
 - Được đã đành, nếu thua cả thì sẽ mất thể diện với đủ mọi người đó!.
 Mười sáu tướng đang bàn tán thì từ khán đài kêu loa vang :
 - Chư tướng tranh ấn tiên phong, hãy sửa soạn đấu với Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng.
 Ai nấy đều tản ra trở về lều lên ngựa. Quân dâng lên Lý Tấn Thành cặp roi sắt.
 Phí lều bên Tây, Điêu Thiên Phượng cũng lẹ làng lên ngựa. bốn quân bê hai ngọn chùy bát giác bưng lên, Điêu Thiên Phượng đỡ lấy cầm chập vào một tay, còn tay kia thì quấn cương ngựa quanh trụ yên một vòng.
 Xin mời Điêu tướng quân và Lý tướng quân bên lều đệ Nhất nhập trận!
 Hai viên mãnh tướng cùng thúc ngựa phi tới vòng vôi tròn trước khán đài. Tám vó ngựa đạp xuống đất rắn bật thành ầm ầm như sấm vang. Hai ngựa vừa giao nhau, Lý Tấn Thành hoa roi vụt luôn một ngọn ngang đầu họ Điêu. Thái Thiên Phượng cúi xuống tránh ngọn roi đó. Cả hai ngựa cùng chạy quá trớn ra ngoài vòng vôi... Nhưng quay lại ngay nhập trận, Lý Tấn Thành đánh hụt đòn đầu nổi giận hạ độc thủ, tay tả nhầm đầu quật tréo tay hữu nhằm co lưng đối phương quật ngang. Hai đòn đồng thời được tung ra mạnh mẽ, nguy hiểm theo thế Chung Cổ Bình Tiên.
 “Rầm!”.
 Một tiếng chát chúa vang lên. Khán giả hồi hộp nhìn kỹ. Điêu Thiên Phương chuyến này không né, vung cặp bát giác đồng chùy gạt trúng cặp roi sắt văng cao lên trên không rớt ra xa đến năm sáu trượng... Lý Tấn Thành toạc hổ khẩu vai, hai cánh tay tê buốt, nhăn nhó, vội thúc ngựa chạy về lều. Quân tùy thuộc đỡ xuống ngựa. Y sĩ phụ trách vội chạy tới săn sóc. Một tên thuộc hạ chạy ra vòng đấu lượm lặt cặp roi về. Mọi người nhận thấy hai cây roi cũng bị cong veo.
 Toàn thể giáo trường như muốn vỡ vì những đợt hoan hô liên miên vang dậy. Trên đài, các quan đều run rẩy trước hiệp đấu rùng rợn.
 Nét mặt nghiêm trọng, Thuận Vương hỏi ý kiến Vô Địch tướng quân :
 - Nguyên soái coi có nên cho tiếp tục trận đấu hay thôi? Cô gia xảy ra cuộc vong mạng thì thiệt mất một người bộ hạ.
 Hoàng Bách Thắng lắc đầu :
 - Đó là mặt trái của nghề võ tướng tránh sao được? Xin Vương gia cứ cho tiếp tục. Kẻ nào nhát gan đừng lên ngựa.
 Giữa lúc ấy, bỗng nổi lên một hồi trống vang báo có khách tới cổng giáo trường.
 Một vị nữ tướng trạc mười bảy tuổi, mặt hoa da phấn như tiên nga, đôi mày liễu xếch ngược vận bạch giáp lam bào, tay cầm ngọn thiên phương hạo kích, cưỡi con Bạch Mã tiến vào giáo trường. Theo sau là một toán người nữ binh phóng ngựa thành hàng đôi. Trên khán đài và quần chúng đều nghiêng đầu nhìn.
 Quân sư Tôn Hoàn ghé đầu, nói nhỏ với Thuận Vương.
 - Lan Anh quận chúa tới.
 Thuận Vương kinh ngạc, ghé hỏi hai Thế tử ngồi phía sau.
 - Ủa! Ta đã tưởng Lan Anh không đến dự cuộc tranh ấn tiên phong. Đến trễ thế này chắc có chuyện chi chăng.
 Phải viên nữ tướng trẻ tuổi vừa tới là Quận chúa Chu Lan Anh Điêu Thiên Phượng ngạc nhiên dừng ngựa nhìn, khen thầm vẻ cân quắc anh hùng của người mới tới.
 - Chao ôi! Đẹp! Tuyệt đẹp! Ước chi ta cùng nàng giao đấu một trận mới thỏa tình! Con cái nhà ai thế này.
 Chợt nhìn lá cờ hiệu do một nữ binh cầm, Điêu Thiên Phượng đọc “Chu Lan Anh quận chúa”. Chàng giật mình thúc ngựa về lều thì gặp ngay cặp thứ ba của thiếu niên nữ tướng đó nhìn.
 Về phần Quận chúa tới trễ, vừa ra khỏi cổng thành tiếng reo hò đã vang từ giáo trường tới tai nàng. Nóng ruột phóng ngựa phi thật lẹ nhập võ trường. Liếc nhìn thấy toàn thể giáo trường, mọi người đang chăm chú nhìn mình, và trước khán đài, một viên dũng tướng bào đỏ, tay cầm bát giác đồng chùy... Nàng khen thầm viên tướng ấy oai hùng thật, nhưng khi thấy diện mạo hung dữ như Thiên lôi của y thì nàng vội đảo mắt nhìn thẳng lên khán đài. Bởi vậy, Điêu Thiên Phượng mới vô tình được hưởng khóe phượng thứ ba của nàng Quận chúa anh thư bạch giáp lam bào đó.
 Tới trước khán đài, Chu Lan Anh liệng họa kích cho nữ binh, gọn gàng nhảy xuống ngựa, uyển chuyển theo bực thang thượng đài. Quỳ một gối trước mặt Thuận Vương, nàng thỏ thẻ giọng oanh vàng.
 - Thân mang giáp trụ không hành đại lễ được, kính mong Phụ vương lượng thứ.
 Thuận Vương đỡ nàng dậy.
 - Cho phép con tự nhiên. Ta đã ngờ là con không đến dự lễ?
 Chu Lan Anh đứng dậy :
 - Bẩm Phụ vương, con bất chợt dở chút việc tổng cung nên đến trễ, thiệt đáng tội muôn vàn.
 Thuận Vương mỉm cười :
 - Cho con an tọa bên các anh con.
 Chu quận chúa nghiêng đầu thi lễ cùng Quân sư, Hoàng nguyên soái và các hàng văn võ quan tướng tá. Mọi người đều cung kính đứng lên đáp lễ.
 Chu Lan Anh gọn gàng thẳng thắn, vòng ra hàng ghế sau ngồi bên Thái tử Chu Bảo Quốc. các tướng tá và văn võ bá quan ai cũng có lần biết mặt Quận chúa, riêng đệ Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo tuy đầu bôn được trên một năm nay, mà chưa có dịp nào được hân hạnh gặp nàng.
 Nghe tiếng đồn về nhan sắc hãn hữu và tài võ nghệ siêu quần của Chu quận chúa, Hầu Văn Bảo vẫn ao ước được gặp xem có danh bất hư truyền không?
 Bỗng dưng bữa nay thấy mặt, vị đệ ngũ hổ thiếu niên tướng quân hồn xiêu phách lạc, tự nghĩ.
 - Trời ơi, đẹp thiệt! Cái đẹp quí phái anh thư cũng đáng để tôn thờ... Hừ! Thế mà vừa rồi tên mãng phu họ Điệu dám dừng ngựa lại trâng tráo nhìn nàng! Thắng mấy viên tiểu tướng quèn kia, y đã tưởng mình là thiên tướng nhà trời, mục hạ vô nhân! Nếu không vướng chân Ngũ hổ này ta sẽ cho y một bài học song phủ xem ấn tiên phong về tay ai!...
 Càng nghĩ, mặt họ Hầu càng đỏ gay gắt, bất giác nghiến răng kèn kẹt, khiến Thanh Diện Hổ Tống Võ Cường ngồi bên cạnh ngạc nhiên hỏi nhỏ.
 - Hầu hiền đệ trúng phong hay sao mà run rẩy nghiến răng vậy.
 Như tỉnh cơn mê, Hầu Văn Bảo trấn tĩnh.
 - Ngu đệ cảm thấy như tự mình đánh trận vừa rồi, hào hùng quá nên vô tình để lộ ý tưởng, Tống đại ca chớ cười nhé.
 Tống Võ Cường lắc đầu mỉm cười, yên lặng, vì tiếng loa đã vang dậy.
 - Thỉnh Điêu tướng quân và Khương tướng quân sửa soạn nhập đấu.
 Chu Lan Anh hỏi Thế tử Trấn Quốc.
 - Điêu Thiên Phượng là viên mãnh tướng cầm bát giác đồng chùy đó, phải không hiền huynh?
 Chu Trấn Quốc gật đầu :
 - Chính y đó. Phụ vương thâu nạp được y là một việc rất đáng kể.
 Chu Lan Anh đưa mắt nhìn hai bên lều, thấy hai tướng cùng lên ngựa sẵn sàng chờ lệnh. Tùng! Tiếng trống hiệu vừa phát ra, tám vó ngựa chồm lên phi thẳng ra phía trước. Khương Quỳnh buông cương ngựa cặp chặt cây giáo sắt vào nách, phóng ngựa như bay nhằm ngực đối phương thọc tới. Điềm tĩnh nhưng dữ dội, Điêu Thiên Phượng cũng phi ngựa nhắm thẳng mũi giáo đó phi tới như thách thức... Khán giả hồi hộp, trống ngực đập mạnh hơn trống trận đang thúc giục vang dậy ở bên khán đài...
 - Choang! Ngọn giáo sắt cong gập hẳn lại dưới sức gạt nặng nền của đồng chùy. Khương Quỳnh toạc hổ khẩu văng mình lăn xuống đất.
 Con ngựa mất chủ hoảng hốt chồm lên hí vang, nhưng đã bị con Lôi Phong của Điêu Thiên Phượng chồm tới bổ luôn hai vó trước trúng ức ngã lộn sang bên, thiếu chút nữa đè phải Khương Quỳnh. Họ Khương nhăn nhó ôm sườn không dậy được. Bọn bộ hạ thuộc ở lều Nhi vội chạy ùa đến khiêng Khương Quỳnh về lều, trong lúc mấy tên khác dắt ngựa và lượm cây giáo bị cong. Thì ra, họ Khương cặp cây giáo chặt quá, cố tình xã một mũi trúng ngực đối phương, dè đâu Điêu Thiên Phượng sức mạnh như thần gạt mạnh đến nỗi bị gãy mấy lóng xương sườn.
 Khán giả thấy Điêu Thiên Phượng hạ hai tướng đối thủ dễ dàng như vậy, đều lắc đầu thè lưỡi khen họ Điêu có sức mạnh vô địch, quả xứng đáng hỗn danh Trại Nguyên Khánh.
 Thuận Vương bảo nhỏ Tôn Hoàn :
 - Khi xưa Bùi Nguyên Khánh cũng chỉ mạnh đến thế là cùng.
 Hạ xong Khương Quỳnh, Điêu Thiên Phượng liếc nhìn lên khán đài có ý tìm Lan Anh quận chúa rồi mới quay ngựa trở về lều.
 Trên khán đài, Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Báo chú ý thấy vậy nên bực mình ngồi không yên chỗ. Nhất là chàng nhận thấy Quận chúa thích chí, vỗ tay hoan hô kẻ chiến thắng.
 Sau mấy đợt hoan hô vang dậy, giáo trường bỗng trở nên nghiêm trang vì ai cũng nhận thấy cuộc tranh tài mỗi lúc một thêm hào hứng, nhưng quả rất nguy hiểm, có thể hại tới sanh mạng người được...
 “Tùng!...”
 Tiếng trống gọi đấu lại vang lên. Trần Gia Đồ nhận ra họ Điêu có sức mạnh vô địch nên không dám xem thường như Lý Tấn Thành và Khương Quỳnh.
 Chàng cũng cặp cây đinh hai vào sườn, phóng ngựa tới vòng đấu.
 Ai cũng đoán Trần Gia Đồ sẽ bị đòn theo họ Khương.
 Nhưng không! Ngựa hai bên vừa tới vòng đấu thì Trần Gia Đồ sẽ phất ngựa sang bên tả nhường ngựa họ Điêu quá trớn mấy bước.
 Thừa thế, Trần Gia Đồ đâm luôn mũi chĩa đôi vào hông đối thủ.
 Đòn đánh tuy lẹ, nhưng họ Điêu đoán được ý định của Trần Gia Đồ nên gạt nhẹ khí giới địch sang bên.
 Trần Gia Đồ bị gạt rung cả hai cánh tay, khen thầm quả đối phương dũng lực vô song, nên cố tránh không động chạm tới cặp chùy của họ Điêu mà chỉ dùng đòn lẹ.
 Nhưng Điêu Thiên Phượng không những mạnh mà còn lanh lẹ vô cùng. Trong khi Trần Gia Đồ còn đang chơi vơi vì hai cánh tay bị tê buốt, chàng áp ngựa tới sát địch thủ quất tréo một chùy.
 Đòn đánh gần vừa lẹ vừa mạnh, không dám đỡ cũng chẳng dám gạt, Trần Gia Đồ vội nhào xuống ngựa thoát thân, để con ngựa chịu đòn thế.
 Trúng một trùy nặng như núi Thái Sơn đúng giữa lưng, con ngựa khuỵu bốn vó lăn ra đất hí lên mấy tiếng, nhưng cũng vùng đứng lên được chạy vùng ra xa.
 Sở dĩ con vật không chết là nhờ ở bộ yên dày độn trên lưng, trái lại xương sống sẽ bị nát vụn.
 Còn đứng trong vòng chiến, Trần Gia Đồ nhảy tới xiên một mũi vào đùi Điêu Thiên Phượng.
 Ngọn chùy vụt xuống như chớp, Trần Gia Đồ chỉ kịp buông tay chạy ra khỏi chỗ vạch vôi tỏ ý chịu thua. Cây đinh hai bị chùy vụt trúng cong, gập lại văng tới chân khán đài.
 Tiếng trống điểm dứt cuộc đấu thứ ba.
 Trái với thường lệ, họ Điêu đứng giữa vòng chiến hướng sang bên Đông hô lớn.
 - Hỡi chư vị Tướng quân! Nếu còn muốn dành ấn tiên phong xin mời cả ra đây cùng Điêu mỗ đấu một lượt cho đỡ mất thì giờ.
 Các tướng Đông thấy họ Điêu quá ư dũng mãnh, tự liệu một đấu một tất không chịu nổi, chi bằng nhân dịp y thách thức, hợp nhau lại đấu một trận xem sao.
 Thế là tất cả cùng lên ngựa cầm khí giới kéo rốc tới trước khán đài vây tròn Điêu Thiên Phượng vào giữa.
 Các võ khí va vào nhau chí chát lắm khi tóe lửa ghê người.
 Điêu Thiên Phượng hoa cặp bát giác đồng chùy như bay dương đông kích tây, xông xáo như mãnh hổ giữa bầy hổ, đi đến đâu đối phương dạt ra đến đấy.
 Tuy hung hăng, họ Điêu cũng không muốn mất cảm tình với mọi người, gây mối thù oán vô ích lợi, nên chàng ra sức đánh, nhè khí với của đối phương, trúng cái nào, cái ấy bị văng liền ra xa.
 Trận hỗn đấu tiếp diễn kịch liệt.
 Các tướng bị loại lần đầu chỉ còn bốn người cố đánh, Điêu Thiên Phượng ra sức đàn áp khiến họ phóng ngựa chạy cả ra ngoài vòng chiến.
 Một hồi chuông trống vang lừng chấm dứt cuộc chiến.
 Các bại tướng lần lần đều kéo về bên Đông. Riêng mình Trại Nguyên Khánh Điêu Thiên Phượng đứng lại giữa đấu trường như một vị thần tướng.
 Tiếng xướng ngôn viên gọi lớn.
 - Vương gia truyền lệnh còn tướng nào bất phục muốn tranh ấn tiên phong, xin thỉnh vào cùng Điêu tướng quân.
 Giây lát, xướng ngôn viên lại nói :
 - Thỉnh Điêu tướng quân thượng đài lãnh ấn.
 Điêu Thiên Phượng gài cặp chùy vào hai bên hông ngựa, ném dây cương cho mấy tên bộ hạ đã tá túc gần đó, từ tốn lên đài, quỳ trên đệm da hổ trước mặt Thuận Vương.
 Quân sư Tôn Hoàn dâng hộp ấn và lá cờ. Thuận Vương tiếp lấy đứng dậy.
 Mọi người trên đài cũng nghiêm chỉnh đứng theo.
 Tiến lên mấy bước, Thuận Vương tuyên bố.
 - Kể từ bữa nay, thất nguyệt đệ nhị thập tứ nhất, Giáp Dần niên, Cô gia Thuận Vương, Kim Lăng Trấn thủ quan, sắc phong Tướng quân Điêu Thiên Phượng chức Tiên phong trong bộ đội Chu gia Vĩnh Thái.
 Kính cẩn, Điêu Thiên Phượng cúi đầu lãnh ấn, cờ.
 - Mạt tướng, Điêu mỗ, nguyền cùng Thiên Địa, phụng sự Chúa công cho đến cuối cùng dù thịt nát xương tan cũng cam lòng.
 Thuận Vương lùi về ghế ngồi.
 Điêu Thiên Phượng đứng dậy bái Quân sư Tôn Hoàn và Đại nguyên soái Hoàng Bách Thắng.
 Trước khi xuống đài, chàng không quên đưa mắt nhìn Quận chúa Lan Anh khiến Bạt Sơn Hổ Hồ Văn Báo nổi giận, sắc mặt đỏ gay.
 Tiếng loa loan lớn cho mọi người biết.
 - Điêu tướng quân đã chánh thức nhận lễ tiên phong.
 Ba hồi chiêng trống chấm dứt lễ khai mạc tân giáo trường và cuộc tranh ấn tiên phong.
 Sau khi Thuận Vương và đoàn tùy tùng ra khỏi giáo trường, dân chúng mới kéo nhau về lũ lượt như nước vỡ bờ. Ai nấy đều bàn tán khen ngợi thần lực của Điêu tướng quân.
 Đầu bôn dưới trướng Thuận Vương còn có hai tay giang hồ hắc đạo cự phách nữa là Ân Định và Bao Chí Cường.
 Ân Định võ nghệ cao cường có tài đánh cửu tiết nhuyễn tiên (thứ roi sắt có chín khúc nhập lại) và tài kỵ mã.
 Bởi vậy họ Ân mới có tước hiệu Phi Phong Ngô Công. Trong khi ngựa đang phi nước đại, Ân Định có thể luồn qua bụng ngựa từ bên nọ sang bên kia, phóng cửu tiết nhuyễn tiên bất người đánh trúng địch thủ rồi thu roi cầm gọn trong tay như thường.
 Thấy Ân Định có tài đặc biệt, Thuận Vương giao phó cho y nhiệm vụ tập luyện đoàn kỵ mã quân tại Kim Lăng.
 Còn Bao Chí Cường có tài đánh quyền giang hồ lão luyện theo Hầu phái ở Quý Châu được Thuận Vương cho nhậm chức Tổng Võ Sư Đoàn dạy toàn thể hai vạn cấm quân ở Kim Lăng và trông coi tổ chức các lôi đài để thâu nạp anh hùng tứ xứ về đầu bôn.
 Vì Bao Chí Cường giỏi quyền cước nên giới giang hồ tặng cho y tước hiệu Thần Quyền Vô địch.
 Về phía tăng ni, ngoài bọn Kim Cương tự ra, còn có nhiều đầu đà về đầu bôn Kim Lăng. Bọn này lãnh nhiệm vụ tuyên truyền gây thanh thế cho Thuận Vương và dụ dỗ người đồng giới, đồng đạo về quy thuận.
 Ngoài các vị tướng tá, Thuận Vương còn có ba người con đáng liệt vào giới anh hùng thượng mã.
0
Hồi 23
Núi Long Sơn tự, Thượng Thái truyền nghề
Đại hội Kim Lăng, anh hùng quần tụ
 
Tuy dòng dõi kim chi ngọc diệp, sanh trưởng ở nơi lầu son gác tía, không như cha ông quen thói xa hoa, rượu ngon hầu đẹp, hai vị Thế tử Chu Trấn Quốc, Chu Bảo Quốc và Quận chúa Chu Lan Anh có tinh thần thượng võ từ lúc nhỏ.
 Trấn Quốc, Bảo Quốc vốn là con sinh đôi, mi thanh mục tú, giống nhau như hai giọt nước, khó mà phân biệt được ai là anh, ai là em.
 Bởi vậy, Thuận Vương Phi mới xâu tai cho hai người, mỗi người mỗi bên tả, hữu cho dễ nhận.
 Về y phục cũng vậy, Vương phi cho Trấn Quốc, vận màu vàng tía còn Trấn Quốc, Bảo Quốc dùng màu trắng xanh. Thành thử ai cũng gọi là Kim thế tử và Ngân thế tử.
 Ngoài giờ học chữ, hai anh em chỉ ưa múa côn, đánh quyền, cùng các trẻ khác trong cung điện đưa nhau ra vườn Ngự uyển tập trận, đánh giặc suốt ngàn.
 Thấy hai con có khiếu võ, Thuận Vương cho võ sư vào cung với giáo sư chia chương trình dạy học, truyền võ nghệ cho hai trẻ.
 Được hai năm thì Vô Địch tướng quân Hoàng Bách Thắng về đầu bôn.
 Họ Hoàng thấy Trấn Quốc, Bảo Quốc lanh lẹ thông minh, đem lòng yêu mến, truyền võ nghệ của phái La Phù sơn cho.
 Dạy được hai năm, về sau Hoàng Bách Thắng bận nhiều việc vì quân đội Kim Lăng đang ở thời kỳ ấu trĩ cần phải bành trướng, họ Hoàng bèn khuyên Thuận Vương cho Trần Quốc và Bảo Quốc lên La Phù sơn theo học Thiên Không.
 Thuận Vương ưng ý ngay, những mong hai Thế tử sẽ anh hùng xuất chúng như Hoàng nguyên soái.
 Hoàng Bách Thắng đang sắp sửa cùng hai trẻ lên đường xuống cõi Lĩnh Nam thì mau thay Thiên Không đại sư vân du qua Kim Lăng ghé thăm học trò.
 Thuận Vương tiếp đãi rất ân cần nhân vật hữu danh ấy và ngỏ ý muốn cho hai con theo lên núi học võ.
 Thiên Không ưng thuận ngay. Sau ít ngày lưu lại chơi đất Kim Lăng, Thiên Không cho Trấn Quốc và Bảo Quốc theo thẳng về núi chớ không qua Dương Châu thăm Phi Không, cho nên đại sư không biết nếp sống hoang dâm vô độ của sư đệ ở Kim Cương tự.
 Anh em Thế tử đã được Hoàng Bách Thắng lưu ý dạy bảo trong một năm đầu nên lúc theo Thiên Không đại sư lên La Phù sơn, hai người tập luyện rất mau lẹ.
 Tới năm mười tám tuổi, tổng cộng theo học được đúng năm năm, công phu võ nghệ của Trấn Quốc, Bảo Quốc đã đạt mức độ cao siêu, Thiên Không bèn cho hai đồ đệ hạ sơn.
 Khi anh em Chu thế tử ở Kim Lăng theo thầy ra đi thì Lan Anh quận chúa còn nhỏ tuổi. Nay trở về không thấy em đâu liền hỏi tự sự.
 Vợ chồng Thuận Vương sung sướng trông thấy hai con trai đã lớn, nghiễm nhiên trở thành hai tay hảo hán, mỹ mạo ngồn ngộn như đôi hạc trắng.
 Thuận Vương hỏi :
 - Hai con lên La Phù sơn được trên hai năm, thì bỗng dưng một sang nọ Lan Anh mất tích.
 Cung nữ lượm được ở đầu giường mảnh giấy có ghi mấy chữ: “Bần đạo đem Quận chúa đi truyền võ nghệ, chừng nào thành tài sẽ cho hạ sơn về giúp Vương gia lập nghiệp Đế”.
 Vị tu sĩ nào đó không ký tên hoặc để địa chỉ, nên ta không thể cho người đi tìm kiếm được. Đành chờ xem sao. nay hai con trở về, ta và mẹ con cũng đỡ buồn được phần nào tuy còn vắng mặt em con, chớ trước đây, cung điện rộng thênh thang mà chỉ có hai vợ chồng già, buồn không kể xiết. Đã có lúc ta muốn cho người lên La Phù sơn xin phép Thiên Không đại sư cho các con trở về Kim Lăng, nhưng nghĩ đến tiền đồ của các con sẽ thay ta, nên đành nén tâm rán chịu chờ đến ngày nay, hai con thành tài trở về.
 Trấn Quốc nói :
 - Vương phụ và mẫu thân cũng chẳng nên buồn, vài năm nữa thế nào em con cũng trở về. Lúc đó sẽ nghiễm nhiên là một Quận chúa đã lớn, tài mạo song toàn có thể giúp Vương phụ trong cuộc trường chinh, thiết tưởng sự chờ đợi này cũng chẳng uổng công.
 Thuận Vương khen phải, rồi đem tình hình quân đội hiện kể cho hai Thế tử nghe.
 Công việc làm trước nhất của Trấn Quốc và Bảo Quốc là hạ lệnh cho viên quan phụ trách việc đúc võ khí, lựa chọn lấy mấy người thợ chuyên môn thiệt giỏi để đúc hai cây thuyền thương theo phương pháp riêng do Thiên Không sư phụ truyền lại, và lựa chọn mấy con chiến mã cực tốt vừa ý muốn. Sau nữa là việc sửa soạn mấy bộ khôi giáp cho thiệt vừa.
 Trấn Quốc và Bảo Quốc còn tình nguyện hàng ngày làm việc dưới trướng Hoàng nguyên soái để thêm kinh nghiệm.
 Hoàng Bách Thắng vốn sẵn lòng quí mến hai người nên dạy bảo cho cả hai thấu triệt cách thức tổ chức quân đội, luyện tập chư tướng thế nào.
 Chẳng bao lâu Trấn Quốc, Bảo Quốc đã trở thành hai viên thiếu niên hổ tướng thao lược gồm tài.
 * * * * *
 Ở phía tây tỉnh Vân Nam, thuộc Quan Đồ huyện, rừng rậm núi cao có ngọn Long Sơn sừng sững, vách đám chơm chởm, suốt tháng quanh năm lúc nào cũng có mây phủ lấp đỉnh núi nên chưa ai có ước lượng được chiều cao của núi ấy là bao nhiêu.
 Thoạt nhìn, ai cũng tưởng ngọn núi ấy đá thiêu hiểm ấy không có đường lên, nhưng trái lại thỉnh thoảng vẫn có một vài cổ ngựa thồ do thổ dân miền ấy tải mấy thứ thực vật theo con đường nhỏ khúc khuỷu quanh co từ phái sau lên một ngôi chùa xây bằng gạch xanh ở lưng chừng núi.
 Vị Thiền sư trưởng tự ấy là một vị lão ni cô, không ai ước lượng nổi đã bao nhiêu tuổi.
 Chỉ biết vị Thiền sư ấy tóc đã bạc như cước, da dẻ hồng hào, ít nếp nhăn, cặp mặt sáng ngời lóng lánh như hai vị tinh tú, tai to má dầy, thùy châu trề xuống gần chạm vai. Vóc người tầm thước, nhưng đầy đặn khỏe mạnh tỏ ra có một sức mạnh tiềm tàng đáng kể.
 Vị lão ni cô ấy không phải ai xa lạ, chính là Thượng Thái đệ nhất môn đồ của Nhất Khánh thiền sư.
 Nhất Khánh và Trí Dũng thiền sư (sư phụ của Chiêu Đức sư trưởng Thiếu Lâm tự hiện thời) là bạn đồng môn, Trí Dũng đứng hàng trên.
 Nhất Khánh đi chu du thiên hạ ưa thích cảnh Long Sơn lên thám hiểm thấy Long Sơn tự bỏ phế bèn bỏ tiền ra sửa chữa, trụ trì luôn tại đó.
 Nhất Khánh thiền sư thọ chín mươi mốt tuổi mới tịch.
 Đệ nhất đồ đệ là Thượng Thái lên thay.
 Các ni cô trong Long Sơn tự không có bao nhiêu, trên dưới mười người. Người nào cũng có võ nghệ chân truyền, tuyệt luân.
 Tuy ở riêng chùa, nhưng cùng môn phái Thiếu Lâm tự nên cách thức luyện tập ở đéo nhất nhất y hệt bên Tung Sơn.
 Theo thường lệ, sáng nào mọi người cũng tập luyện ở sân sau chùa.
 Thượng Thái thiền sư ngồi trên bồ đoàn dưới hiên chùa quan sát toàn thể.
 Bà chăm chú nhìn nữ đồ đệ trẻ tuổi và xinh đẹp nhất trên sân đang từ từ hô hấp luyện sáu mươi tư thế nội công.
 Người này trạc tuổi trăng tròn, vận võ phục màu nâu, màu của nhà chùa, tóc để dài quấn ngược lên đỉnh đầu :
 - Thượng Thái khẽ gật đầu mỉm cười, gọi bảo thiếu nữ.
 - Lan Anh con! Thử phi hành thuật ta coi nào.
 Vừa luyện xong bài tấn nội công, Chu Lan Anh vì chính nàng được Thượng Thái thiền sư đem về truyền dạy võ nghệ - chắp tay phi thân lên cành cây lớn ở gần sân.
 Thiền sư nhìn theo quan sát xem lá cây có bị rung động không?
 Từ cành cây, Chu Lan Anh phóng người chuyền xuống mái ngói, rồi từ từ chạy lại trên mái ngói, có lúc nàng nhảy vọt lên cao rơi xuống ngói như chiếc lá rụng.
 Thiền sư vỗ tay ra hiệu xuống.
 Lan Anh đáp người xuống sân ngay trước thềm nhà.
 - Được rồi. Một năm nữa con sẽ về Kim Lăng. Từ nay trở đi, bất cứ giờ giấc nào ta sẽ thử con. nên thận trọng.
 Chu Lan Anh vâng lời lui ra, tiếp tục tập luyện các môn khác.
 Đêm rằm tháng Tám, chị Hằng lơ lửng trên không trung giải ánh sáng vàng khắp vùng rừng núi nhấp nhô. Gió quanh quất lùa trong rừng thông bật lên tiếng vi vu buồn rượi...
 Ngồi dựa lưng vào thành đá bên sườn núi nơi cách cửa phòng nàng độ vài trượng, Chu Lan Anh say sưa ngắm cảnh non cao hùng vĩ, rừng biếc bao la đẹp như bài thơ dưới ánh trăng vàng lung linh.
 Bấm đốt ngón tay, nàng lẩm nhẩm nói một mình.
 - Thời gian trôi lẹ thiệt! Quanh đi, quẩn lại, mới ngày nào mà nay đã sáu thu tròn.
 Bất giác nàng mỉm cười nghĩ lại sáu năm về trước.
 Hồi đó mới lên mười, nàng chạy tung tăng đùa nghịch trong cung điện rộng thênh thang giữa đám cung nữ hân hoan đêm Trung Thu Vọng Nguyệt.
 Đêm ấy nàng thức khuya lắm, theo Vương phi ra Ngự Uyển, nơi có bày cỗ thưởng trăng, đèn treo, hoa kết muôn hồng ngàn tía làm nổi bật cung nữ áo màu xiêm trắng, giải lụa phất bay dưới làn gió nhẹ, xa trông chẳng khác chi Tiên nga nơi cung quảng.
 Thế rồi, nàng mỏi mệt ngủ thiếp đi lúc nào không biết trong tay mẹ, để sáng hôm sau bừng mắt dậy hết sức ngạc nhiên, sợ hãi trong một căn phòng thô sơ...
 Kìa đây cũng đệm cũng mền đủ ấm, nhưng không phải những thứ gấm lụa nàng thường dùng quen mắt...
 Quay sang bên định nhỏm dậy xem sao, thì thấy bên giường, một vị lãi ni sắc diện hồng hào, hiền từ như Đức Phật, đang mỉm cười âu yếm nhìn nàng :
 - Lan Anh con đã dậy đó ư?
 Nàng mếu máo muốn khóc, nhưng với một giọng ấm áp, lão ni vuốt tóc nàng :
 - Đừng sợ hãi con ạ! Gần thầy cũng như cạnh mẹ... Ta là sư phụ của con đó.
 Thấy lão ni hiền hậu nàng đỡ sợ trấn tĩnh lại, nhưng vẫn không khỏi láo liên nhìn khắp căn phòng.
 Mở mền ra bế nàng vào lòng, lão ni nhẹ nhàng nói :
 - Con sẽ mến nơi non cao am vắng thanh tịnh này như ở cung điện đất Kim Lăng.
 Vững tâm hơn lúc mới tỉnh dậy, nàng thỏ thẻ :
 - Thưa sư phụ đây là đâu? Mẫu thân đâu? Gọi mẫu thân hộ con đi...
 Lão ni vỗ về :
 - Mẫu thân ở Vương phủ không lên đây. Nơi đây là một ngôi thiền tự xa... xa lắm. Ta đem con về đây để truyền võ nghệ như các anh con vẫn học ấy mà.
 Nghe lão ni nói đến võ nghệ, nàng chợt nhớ đến Trấn Quốc và Bảo Quốc thường ngày tập luyện võ nghệ do một võ sư chỉ bảo... Chính nàng cũng tập theo hai anh, nhưng không được chuyên cần, buổi tập, buổi nghỉ.
 - Đại huynh và sư huynh không lên đây sao hả sư phụ.
 Lão ni mỉm cười lắc đầu :
 - Không. Trấn Quốc và Bảo Quốc cũng lên núi như con, nhưng không ở đây. Con chịu khó ở lại học, chừng nào trở về sẽ giỏi... giỏi hơn cả sư phụ ở Vương phủ.
 Nàng chợt nhớ một hôm võ sư nhảy lên mặt tường cao, và từ đó vẫn ước ao nhảy cao được như vậy.
 - Thưa sư phụ, luyện võ nghệ ở đây con có thể nhảy cao lên mặt tường không?
 - Con sẽ nhảy cao hơn thế nữa, bay nhẹ nhàng như con chim... Thôi, con đừng sợ nhé, ta thương quí con lắm.
 Lão ni bế gọn nàng trong tay, vuốt ve làn tóc tơ. nàng nín thinh.
 Giữa lúc ấy, một lão phụ vẻ mặt hiền lành bước vào. Người ấy nói :
 - A, Lan Anh đã dậy đó à? Nào ra đây tôi rửa mặt cho và ăn điểm tâm kẻo đói.
 Nàng lo lắng nhìn lão ni.
 - Con đừng sợ. Đây là Lý mẫu sẽ trông nom con. Muốn gì con cứ hỏi nhé. Bây giờ, con theo Lý mẫu ra rửa mặt ăn sáng nghe?
 Nàng ngoan ngoãn theo Lý mẫu ăn sáng xong rồi lại cùng lão ni tung tăng đi xem khắp trong chùa.
 Vào tới sân trong, nàng thấy chín mười người ni cô già có, trẻ có, đang tập luyện võ nghệ.
 Mọi người kính cẩn cúi chào Lão ni và xúm lại vui vẻ hỏi chuyện nàng.
 Một ni cô bế nàng đứng lên, bảo :
 - Sư muội ở lại chùa, tập võ vui lắm. À, có muốn lên kia nhìn chung quanh không?
 Ni cô vừa nói vừa chỉ nóc mái chùa.
 Nàng gật đầu, Ni cô bảo nàng nhắm mắt lại. Nàng làm theo, thấy gió vù bên tai rồi lại như thường.
 - Nào, bây giờ, sư muội mở mắt ra coi.
 Nàng mở mắt nhìn thì thất ni cô đứng chót vót trên nóc cao vời vợi. Cảnh núi rừng bát ngát hiện ra trước mắt nàng...
 Dưới sân, mọi người vẫy nàng và vỗ tay cười :
 - Ni cô hỏi :
 - Sư muội thích không? Ít nữa, sư muội cũng nhảy được như ta và chạy khắp ngọn núi này. Ngọn núi lia.
 Nàng thích quá gật đầu :
 - Ni cô bế nàng đi từ đầu nọ sang đầu kia trên nóc cho nàng xem rồi bào nàng ôm chặt lấy cổ và nhắm mắt lại.
 Lúc mở mắt ra thì đã thấy đứng dưới sân với mọi người rồi.
 Từ đó, nàng ở lại chùa. Lâu dần, nàng bắt quen, vui vẻ như thường...
 Ngoài thì giờ học võ, lão ni Thượng Thái còn dạy nàng học chữ và kinh kệ phổ thông.
 Một năm sau, nàng thấy khỏe mạnh hơn khi còn ở Vương phủ nhiều, việc gì cũng tự làm lấy, chớ không ỷ lại như trước nữa.
 Thấm thoắt sáu năm trường!
 Từ một cô gái nhỏ bé, nay nàng đã nghiễm nhiên thành một thiếu nữ xinh đẹp khỏe mạnh, trong tay sẵn có bản lãnh tuyệt vời.
 Cảnh vật nơi cung điện trong Vương phủ Kim Lăng đối với nàng, nay chỉ là một bóng hình phai lợt, tuy nàng vẫn canh cánh nhớ mẹ...
 Nàng nhớ Vương phi vì ngay từ thuở thơ ấu, nàng gần mẹ, được chiều chuộng nhiều hơn là Vương phụ chỉ thỉnh thoảng mới hỏi tới nàng.
 Hiện thời, cảnh Phật đường yên tĩnh giữa miền sơn cước hoang vu, bạn bầu với những tu sĩ tánh tình hiền đức, học thức uyên thâm, nàng cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng sung sướng hơn trên lụa dưới là, nơi cung điện lầu vàng các ngọc lộng lẫy nguy nga.
 Chu Lan Anh nhìn cảnh trăng sơn cước, trí óc liên miên nghĩ ngợi :
 - Sư phụ dặn ta nên thận trọng phòng khi người thử thách, mà quá nửa năm nay rồi cũng chẳng thấy gì. Lạ thiệt!
 Bỗng cơn gió từ khe núi thổi tới, nàng rùng mình trở vào phòng lấy áo choàng.
 Vừa đi được mấy bước thì chợt nghe có tiếng chân chạy nhẹ phía sau. Nàng vội quay phắt lại.
 Hai người bịt mặt vận dạ hành đen tay kiếm tuốt trần, từ sườn núi chạy tới.
 - Lan Anh! Hãy dừng bước, mi chạy đâu cho thoát! Coi kiếm ta đây...
 Chu Lan Anh vội vàng nhảy vụt vào phòng với thanh kiếm treo tường tuốt ra liệng bao kiếm lên giường, rồi đứng chắn ở cửa phòng :
 - Các ngươi là ai, ta có thù chi mà tới đây gây chuyện?
 Một trong hai người quát lớn :
 - Tiện tì còn chối leo lẻo để tránh cái chết. Mau ra đây cho ta lấy thủ cấp về người đã bị cha ngươi sát hại!
 Chu Lan Anh nghĩ thầm:
 “Quái! Cha ta sát hại ai? Định báo thù sao chúng không xuống Kim Lăng, mà lại tìm ta ở nơi sơn cốc này! Mặc, hãy đánh cho chúng biết tay kẻo ngạo mạn quá!”
 Nghĩ đoạn, nàng nhảy vụt ra khỏi hiên nhà.
 Người kia nói :
 - Nơi này chật hẹp quá! Có giỏi lên đây.
 Hai người phi thân lên nóc nhà loang loáng như hai bóng ma.
 Chu Lan Anh phi thân lên theo, hơ kiếm nhằm chân tình địch quơ mạnh.
 Hai người lạ vừa đặt chân xuống đỉnh nóc nhà thì bị luôn nhát kiếm lẹ làng ấy. Không nhảy tránh, một người chống kiếm đỡ, còn người kia chém luôn một nhát xuống ngang vai.
 Lan Anh thâu kiếm về gạt và nhân dịp đối phương hở trung bộ, thọc luôn một mũi kiếm vào bụng theo thế Bạch Xà Nhập Động khiến người ấy nhảy lùi mấy bước tránh đòn.
 Nhưng người thứ hai đã áp tới co chân đạp vào sườn Lan Anh.
 - Nàng hồi bộ, đưa tay tả gạt ngọ đạp ấy đồng thời tay hữu thích luôn mũi kiếm vào cổ hoạn đối phương. Đòn đánh vừa lẹ vừa nguy hiểm. Người kia vội đưa kiếm lên gạt. ba người ba cây kiếm quấy tròn lấy nhau chiến đấu rất hăng hái, không ai chịu nhường ai. Ba lưỡi kiếm hòa lên thành ba đạo hào quang rít lên như tiếng gió gào, va vào nhau chí chát lóe lửa. Trận tranh hùng ác liệt diễn ra dư trăm hiệp, bất phân thắng phụ.
 Chu Lan Anh càng đánh càng dẻo dai, tả xung hữu đột đông kích tây công kiếm pháp vô cùng nhập điệu.
 Nàng nghĩ.
 - Quái lạ! Sư phụ và các vị sư tỉ đâu mà không lên trợ chiến. Khí giới gạt vào nhau vang dậy cả toàn khu, chẳng lẽ không một ai nghe thấy sao?
 Bỗng hai kẻ lạ mặt gạt kiếm Lan Anh :
 - Khá lắm! Bấy giờ không thắng nổi nhưng lần sau chúng ta sẽ tới lấy đầu!
 Dứt lời chúng phi thân sang nóc đại điện chuyền xuống sân trước băng cổng chạy vào bóng tối mất hút. Chu Lan Anh đuổi theo ra tới đó quanh quẩn tìm kiếm một hồi rồi mới phi thân vào chùa vô phòng riêng. Chị Hằng lơ lửng giữa không trung là nhân chứng độc nhất trận đấu ác liệt vừa qua. Sương rừng khí núi bốc lên đã cao hòa với ánh trăng xuống tạo thành một lớp phần đục bao phủ khắp ngàn cây...
 Chu Lan Anh đóng chặt cửa phòng lại, tra kiếm vào bao để xuống đầu giường. Nàng vừa thay áo vừa nghĩ.
 - Hai kẻ lạ mặt nào nam chẳng ra nam, nữ chẳng ra nữ, tới tận nơi đèo heo hút này kiếm ta để báo thù là nghĩa lý gì! Cả chùa đi đâu vắng ngắt? Đành rằng ngủ sớm, nhưng không lẽ ngủ say đến nước mê mệt thế ư?
 Chợt nhớ ra điều gì, nàng lẩm bẩm.
 - Hay là sư phụ thử ta đây? Ồ, kiếm pháp của hai người hồi nãy đặc Thiếu Lâm tự. Nhưng cứ gì đồng môn, đồng phái mà chẳng thì ghét lẫn nhau.
 - Được rồi, mai chú ý xem thái độ sư phụ và các sư tỉ thế nào sẽ biết ngay khó gì!
 Chu Lan Anh nghĩ đoạn mỉm cười, tắt đèn lên giường đi ngủ.
 Hôm sau, nàng dậy sớm như thường, ra sân cùng mọi người tập luyện.
 Thượng Thái thiền sư vẫn ngồi nghiêm chỉnh quan sát, điềm nhiên như không biết chi về trận tranh đấu đêm qua trên chùa.
 Chờ mọi người luyện tập xong giải tán, Chu Lan Anh cũng xách kiếm, kích về phòng, Thiền sư gọi lại hỏi :
 - Con có biết đêm qua đấu chiến cùng thù nhân nào không?
 - Bẩm không, tự xét con lớn lên ở trên Long Sơn thì còn có thù hiềm với ai nữa! Hai tên thích khách đêm qua nói có thù với cha con nhưng không hiểu chúng làm thế nào biết con ở Long Sơn mà tìm đến nơi được.
 - Con có nhận xét việc chi khác thường không?
 Ngẫm nghĩ giây lát, Chu Lan Anh nói :
 - Họ bịt mặt nên không nhận biết được ai cả, song lối đánh như người đồng phái vậy...
 Nàng vừa dứt lời thì có tiếng quát ở phía sau.
 - Chu Lan Anh hãy ra đây cùng ta tỉ thí.
 Vội quay lại nhìn, Lan Anh thấy hai người vận dạ bành và bịt mặt đêm qua.
 Hai người đó cười khanh khách, kéo khăn che mặt xuống. Lan Anh nhận ngay ra là đệ nhất và đệ nhị sư tỉ.
 Bây giờ Lan Anh mới hiểu, nhìn hai người nguýt dài.
 - Đêm qua thiếu chút nữa ngu muội táng mạng về tay kiếm của nhị vị.
 Long Sơn tự đệ nhất môn đồ là Trí Thông cười khanh khách.
 - Sư muội trả đòn khiến tôi đỡ gạt trối chết còn muốn gì nữa.
 Đệ nhị môn đồ Trí Viễn nói :
 - Thiệt vậy đó, đời ai lại đùa nhau mà đánh nhau toàn đòn chí tử. Hiếu sát thật.
 Chu Lan Anh cũng mỉm cười :
 - Nhị vị sư tỉ đến bất ngờ khiến ngu muội hết hồn còn trách ai hiếu sát nữa.
 Thượng Thái thiền sư chậm rãi bảo Lan Anh :
 - Chính ta cho nhị vị sư tỉ thử Lan Anh. Từ nay con có thể hạ sơn được rồi.
 Nghe nói tới hai tiếng hạ sơn, Lan Anh ngẩn ngơ :
 - Bẩm sư phụ, con lớn lên giữa nơi am thanh cảnh vắng, quen với nếp sống thiền môn u tịnh, xin sư phụ cho con thế phát để sớm hôm được theo người tụng niệm trước Phật đài.
 Thượng Thái vẫy tay ra hiệu cho Trí Thông, trí Viễn lùi bước, rồi bảo Lan Anh :
 - Con ngồi xuống đây ta bảo.
 Dựng cây phương thiên kích vào bên cột hè, Chu Lan Anh chống kiếm ngồi dưới chân sư phụ.
 - Lan Anh con! Muốn gì cũng phải có duyên kiếp mới được. Duyên thiên tiên, nợ trần tục mà đối với con, nợ trần rất nặng nề thì con định khoác áo từ bi lánh trần ai sao được.
 - Cuộc đời của con nay mới kể như bắt đầu, vậy nói chuyện yếm thế chắc không hợp lúc.
 - Đành rằng nghĩa thầy trò khăng khít nhưng tình mẫu tử khó quên, thế nào con cũng phải về Kim Lăng, Võ thuật con đã thâu nhận được suốt sáu năm trường trên Long sơn này, sẽ giúp con rất nhiều trong tương lai.
 - Chồng con sẽ là một người quan cao lộc trọng cũng như con sẽ là mệnh phụ của triều đình, nếu con không trái mệnh trời.
 Lan Anh chú ý nghe.
 Thượng Thái thiền sư hỏi gặng.
 - Con nghe không! Mệnh con rất lớn sau này nếu con không trái mệnh Trời.
 - Dạ bẩm sư phụ, nghĩa là thế nào?
 Thiền sư chậm rãi :
 - Lẽ cố nhiên, ta đưa con về đây lúc con còn thơ ấu nên không hiểu chi cả về Kim Lăng, Nay đã khôn lớn, con cố ghi nhớ những lời ta dạy theo cho đúng và chẳng nên tiết lộ cùng ai.
 - Trước hết, Thuận Vương cũng đang mưu phản Triều đình, cốt ý chiếm ngôi Hoàng đề. Về tới Kim Lăng, nhác nhìn qua tình hình, con sẽ hiểu ngay...
 Chu Lan Anh giật mình biến sắc.
 - Cha con sẽ mưu phản Triều đình? Sống trong lụa là vàng bạc không thiếu có khác chi Vua, mà Cha con mưu phản để ô danh lưu lại ngàn thu.
 Thiền sư gật đầu :
 - Đúng vậy! Sự thật phũ phàng như thế đó, con ạ. Hành động này của vị Vương gia sẽ gây nên cuộc huynh đệ tương tàn, âu đó cũng là vận nước phải trải qua một thời kỳ điêu linh.
 Chu Lan Anh lo lắng.
 - Thưa, không có cách nào gián tiếp ngăn nổi cha con để tránh cuộc can qua tai hại đó sao?
 - Kim Lăng ngày nay là cả một bức thành đồng vách sắt, binh hùng tướng mạnh. Cung điện chi chít, cơ quan đầy rẫy, đặt hết vòng trong, vòng ngoài phòng thích khách. Sự đột nhập cung điện ấy không dễ dàng. Phải qua năm cửa ải do Ngũ Hổ tướng trấn giữ mới vào tới trung tâm. Dưới quyền mỗi hổ tướng còn có nhiều viên tướng khác phụ tá vô cùng mạnh mẽ. Trừ phi...
 Chu Lan Anh nghiêm trọng.
 - Trừ phi... sao thưa sư phụ.
 Thiền sư dịu nét mặt, để tay lên vai đồ đệ :
 - Trừ phi có một người tay chân của Thuận Vương hiểu rõ bản đồ nơi cung điện ấy làm nội ứng. Theo ta dự đoán, có mấy người khả dĩ biết hết đường đi, lối lại trong cấm thành. Đó là quân sư Tôn Hoàn, người đã lập thành bản đồ xây dựng ấy, anh em Thế tử Trấn Quốc, Bảo Quốc, Vô Địch tướng quân Hoàng Bách Thắng, và người cuối cùng nữa là... là con.
 Chu Lan Anh giật mình.
 - Rời Kim Lăng từ năm lên mười, cho tới nay vẫn ở đây hầu sư phụ, làm thế nào con biết được việc tối ư quan trọng ấy.
 Thiền sư mỉm cười :
 - Chừng nào hạ sơn, về tới Kim Lăng, Thuận Vương sẽ trao cho con nhiệm vụ canh phòng nơi trung tâm cung điện như Trấn Quốc và Bảo Quốc. Do đó, con sẽ biết bản đồ toàn thể năm cửa ải đó.
 Chu Lan Anh lo nghĩ :
 - Thưa sư phụ, bên Trung bên Hiếu con biết chọn bên nào? Trong trường hợp khó khăn của con, hành động thế nào cũng là phải và cũng là trái, khó nghĩ lắm. Chi bằng sư phụ cho con thế phát theo hầu người tại đây để khỏi vướng sầu tụy lục... Như vậy, có lẽ hay cho đời con, hơn là trở về Kim Lăng sống trong cảnh lưỡng nan.
 Nói tới đây, Chu Lan Anh rơm rớm nước mắt khóc.
 Thiền sư kéo nàng vào gần bồ đoàn.
 - Số là ta chưa nói hết, nếu con biết rõ sự thật về tông tích của con, chắc con không buồn nữa.
 Chu Lan Anh ngơ ngác không hiểu.
 Thượng Thái thiền sư nói tiếp :
 - Lan Anh! Con không phải họ Chu! Thuận Vương và Vương phi nuôi con từ khi còn bế ngửa, nhưng không sanh ra con.
 Lan Anh nghi ngờ hỏi :
 - Thế con họ gì? Cha mẹ con ở đâu?
 Thiền sư buông xỏng.
 - Họ Nhạc. Nhạc Lan Anh, dòng dõi Trung Hiếu Vương Nhạc Phi khi xưa...
 Lan Anh úp tay vào mặt khóc òa lên.
 Thượng Thái thiền sư vuốt tóc nàng, an ủi.
 - Dòng máu trung thần chảy trong huyết quản con, con nên vui, chớ sao lại buồn! Ta mừng cho con đó... Con còn nhớ người nhũ mẫu ở Kim Lăng không.
 Lan Anh chùi nước mắt.
 - Con còn nhớ. Nhũ mẫu của con họ Vương và lúc còn nhỏ con thường gọi là Vương Má má.
 Thiền sư gật đầu :
 - Ừ. Tên người ấy là Vương Ý Lan. Hiện còn chờ con tại cung điện Kim Lăng. Hỏi người ấy con sẽ biết rõ hết lai lịch. Con nên bí mật và hết sức thận trọng, kẻo bị hại bởi Thuận Vương đó... Sang xuân, ta sẽ cho con hạ sơn. Mọi việc sau này, con nên tùy nghi hành động theo lương tri.
 Nhạc Lan Anh toan hỏi thêm nữa, nhưng Thiền sư đã nhắm mắt lại tham thiền.
 Hiểu ý, nàng nhón nhén đứng lên xách kiếm và họa kích về phòng.
 Tháng Chạp năm ấy, một hôm trời đã xế chiều. Nhạc Lan Anh đang cùng mấy sư tỉ đang thơ thẩn ngoài cổng chùa thì có một vị đạo trưởng tiên phong đạo cốt dong dỏng cao, tóc búi ngược, lưng đeo báu kiếm, thong thả theo đường mòn lên chùa.
 Mấy ni cô vội bẩm Nhạc Lan Anh quỳ cả xuống lạy.
 - Sư bá giáng lâm, chúng con không biết xuống đón, thiệt đắc tội muôn vàn.
 Cất giọng tràm trầm, đại trưởng nói :
 - Bất tất phải dùng đại lễ, đứng cả dậy mau! Sư trưởng có nhà không?
 - Dạ có. Thiền sư ở hậu sảnh, kính mời sư bá vào.
 Vị đạo trưởng vừa bước xuống cổng chùa thì Thượng Thái thiền sư đã từ trên đại điện bước xuống sân nói lớn :
 - Lâu lắm mới gặp, chẳng hay đạo hữu từ đâu qua đây? Biết trước sẽ có khách phương xa, nhưng không đoán ra là ai cả.
 - Bần đạo từ Thành Đô tới! Chuyến này định sang thăm Đông thăm Chiêu Đức sư trưởng, nên xuống thẳng đây đón đạo hữu cùng đi.
 - Bần tăng cũng đang định sang giếng sẽ viếng Tung Sơn một phen. Âu là ta cùng đi. Đạo hữu nán lại bản tự nghỉ ngơi, qua tết lên đường luôn thể.
 - Bần đạo xin vâng lời. Chẳng mấy khi được qua Tết ở Long sơn... Hình như đạo hữu mới thâu nạp một đồ đệ nữ, phải không?
 - Dạ sang giêng này tệ đồ cũng hạ sơn.
 Dứt lời, Thiền sư gọi Nhạc Lan Anh tới, chỉ vị đạo trưởng nọ.
 - Đây là Đức Võ Thượng Nhân ở Quan ngoại tới. Con có phước lắm mới được gặp đó.
 Nói đoạn, Thượng Thái mời Đức Võ Thượng Nhân xuống thiền phòng kể lai lịch Nhạc Lan Anh cho nghe.
 Thượng nhân ở lại Long Sơn sang hạ tuần tháng giêng năm sau mới cùng Thượng Thái và Nhạc Lan Anh xuống núi.
 Thượng Thái trao việc điều khiển Long Sơn tự cho ni cô Trí Thông.
 Phải rời nơi thiền am quen thuộc, nơi mà nàng đã trưởng thành dưới bóng từ bi, để trở về sống nơi gò bó trong cung điện Kim Lăng, không họ hàng và khăn gói, tay cầm họa kích, nàng tần ngần nhìn căn phòng mộc mạc, xinh xắn, ấm cúng mà tại đó nàng đã sống sáu xuân trường. Kìa phiến thạch bàn nhẵn lì ở bên sườn búi, nọ gốc thông cổ thụ trước phòng, nơi mà nàng vẫn ưa ngồi khi nhìn trăng vàng giải ánh khắp ngàn cây hoặc lúc nghe làn gió nhẹ lùa trong lá thắm. Những thứ đó, nàng sẽ rời nó để đi tới một nơi mà nay đã hoàn toàn xa lạ với nàng. Mấy ngày trước khi hạ sơn, Lan Anh thơ thẩn khắp đó đây trong Long Sơn tự, như cố ý ghi nhớ lấy từng ly từng tí trong ký ức nàng. Chuyến này ra đi vạn dặm, biết bao giờ nàng mới trở lại chốn thiền âm u nhã này.
 Hôm theo thầy hạ sơn, mọi người ra tiễn đưa ngoài cổng chùa, Nhạc Lan Anh rưng rưng mắt lệ, nghẹn ngào nói chẳng lời từ biệt. Nàng cầm tay Lý mẫu tần ngần không muốn lên đường, đến nỗi Thượng Thái thiền sư phải quay lại giục hai người mới rời tay hẹn ngày tái ngộ.
 Kẻ đi muôn dặm quan san.
 Người chờ khuất bóng, lòng man mác sầu.
 Ngày đi đêm nghỉ ngao du, mấy tháng sau ba người mới tới Kim Lăng.
 Thượng Thái bảo Lan Anh :
 - Thầy trò ta chia tay nhau. Con cứ về thẳng Vương phủ và nhớ lời dạy bảo tức là không phụ ta. Dòng dõi tướng quân, con nên cương quyết, ủy mị theo thói nữ nhi thường tình làm chi. Thế nào thầy trò ta cũng còn hậu hội. Đi đi con! Không biết đường, hỏi thăm, ai cũng biết Vương phủ ở đâu.
 Nghe lời nghiêm nghị rắn rỏi của sư phụ, Lan Anh không dám lộ hơn tình. Nàng quỳ lạy từ biệt Thượng Thái và Đức Võ, hăng hái vào thành.
 Phố xá đông đúc, người đi kẻ lại sầm uất, nhà cửa san sát khác hẳn với cuộc sống u tĩnh trên Long Sơn.
 Lan Anh nhất định không hỏi thăm. Nàng vác kích đi lang thang, ngây ngô định ý cứ nơi nào có dinh thự lớn nhất là đến.
 Khách qua đường thấy thiếu nữ xinh đẹp vận võ phục, lưng đeo kiếm và hành lý, vai vác kích thì ai cũng lấy làm lạ chăm chú nhìn. Họ cho nàng là cô gái giang hồ mãi võ từ xa đến địa hạt Kim Lăng kiếm ăn.
 Không chú ý, Nhạc Lan Anh ngó ngàng, ngó dọc, hết phố nọ qua phối kia. Hồi lâu, nàng đi đến một nơi tường cao, hào sâu các nóc điện lầu các nguy nga nhô lên khỏi mặt đường, trùng điệp. Nhằm cổng chính, Lan Anh tiến thẳng tới đọc hai chữ “Vương phủ” đắp bằng đá xanh. Trước cổng, mấy tên lính cạnh vác dao đi đi lại lại nghiêm chỉnh. Nhưng cũng có mấy tên không phải phiên canh, bắc ghế ngồi dưới chân tường.
 Thấy Nhạc Lan Anh dòm dòm ngó ngó, một tên lính bả lả hỏi :
 - Kìa, cô em, dòm ngó kiếm... ai thế?
 Lan Anh cười thầm, giả đò không nghe thấy làm thinh...
 - Cô em xinh đẹp nhường này mà điếc hả... Kiếm ai thế? Người nào được cô em kiếm, thiệt tốt phước quá! Ngoan nói thiệt anh nghe nào?
 Dứt lời, tên lính xun xoe, suýt xoa, nuốt nước miếng ừng ực phát tức cười.
 - Hỏi ai à? Tôi muốn hỏi một người lớn ở trong này này.
 Tên kia run rẩy.
 - Ai, ai thế... hả cô em?
 Lan Anh cố nhịn cười :
 - Tôi muốn hỏi người nào phụ trách đoàn lính canh ở đây... Làm ơn...
 Ngắt lời, Lan Anh tên lính đó cười ngất.
 - Thế thì phước cho tôi quá! Hì... hì. Chính tôi đây. Cô em cứ trông sắc áo của tôi cũng đủ biết... tôi là ai rồi. Hì... hì...
 Thấy đôi mắt trợn tròn, rồi cười sằng sặc.
 - Gớm cô em này ghê quá. Nhìn cao thế. Nhị vị Thế tử đâu có quen với cô em? Ai ngờ ăn mặc như vậy mà cũng nhiều tham vọng nhỉ.
 Mấy tên lính đứng gần bức thành phá ra cười như nắc nẻ.
 Nhạc Lan Anh nghiêm nét mặt.
 - Thầy đội có trả lời tôi hay không? Nên cẩn thận kẻo có hậu quả xấu đó!
 Thầy đội cười ngất.
 - Gớm! Cô em này lại biết dạo nạt nữa! Ghê thiệt! Ghê thiệt! Đây nhé, nhị vị Thế tử ở cả trong cung, đang tiếp các tiểu thư thiên kim xa lụa là, vàng ngọc giắt đầy người. Cô em nghe rõ chưa?
 Nhạc Lan Anh mỉm cười :
 - Ồ, nghe rõ rồi, nhưng tôi vẫn cần gặp Thế tử, thầy đội vào báo giùm mau.
 Thầy đội tiến tới gần lả lướt :
 - Cô em lẵng nhẵng quá, ta đã bảo mà không biết nghe. Thế tử nào tiếp cô em? Họa chăng chỉ có ta... ưa cô em.
 Dứt lời, thầy đội đưa tay vuốt má Nhạc Lan Anh...
 “Bốp... bốp...”
 Bàn tay thầy đội chưa đụng tới người đẹp, thì bị hai cái tát như trời giáng bật hẳn người lại phía sau. Thầy đội điếng người giây lâu, không nói lên lời, hai tay ôm máu ở hai bên rỉ rỉ chảy ra.
 Mấy tên lính thấy thầy đội bị tát đau đều xô cả lại.
 Nhạc Lan Anh quát :
 - Đồ bọ, chúng bây muốn chết cứ trêu vào bản cô nương!
 Thấy một thiếu nữ nhỏ nhắn mà dám động đến cổng Vương phủ dòm ngó rồi hành hung đội trưởng, tám tên lính cùng xô cả tới.
 Viên đội trưởng tay bưng miệng đầy máu, la lớn :
 - Các người bắt con tiện tì này cho ta mau! Hỗn xược quá! Đùa có một chút thôi, mà nó dám đánh thiệt.
 Bọn lính dạ rân. Ba tên trong phiên canh vác giáo, còn năm tên kia tuốt đao xông cả tới, quát tháo om sòm.
 Nhạc Lan Anh cười nhạt :
 - Lính tráng như bọn bây chỉ là đồ giá áo túi cơm, đàn áp kẻ yếu hèn chớ cô nương đây không sợ đâu nhé. Nào, tên nào có giỏi thì vào đây. Ta chấp cả lũ! Cho vào trại gọi thêm người ra đây, mau!
 Tức quá, tám tên lính nhảy ùa vào đánh thiếu nữ, khiến mọi người qua đường dừng bước lại xem cũng phải lo thay cho con người ngọc xinh đẹp nhường kia, thì chống sao nổi bọn lính tráng như hùm beo ấy.
 Nhưng Nhạc Lan Anh đã hoa tròn họa kích phương thiên một vòng.
 Bọn lính đứa té ngửa ra đằng sau, đứa bị văng mất khí giới, ôm đầu chạy vào Vương phủ.
 Thấy thiếu nữ dữ dội quá, tên đội trưởng cũng chạy ùa vào trong cổng phủ theo bọn lính.
 Giữa lúc ấy, có tiếng vó ngựa từ trong phủ vọng ra. Ai nấy chú ý nhìn, thấy có hai người phi ngựa tới, theo sau là hai tên lính hầu.
 Bọn lính la lớn :
 - Kìa, nhị vị Thế tử.
 Các người đang đứng xem ở cổng phủ đều tản mát ra xa.
 Chu Trấn Quốc, Chu Bảo Quốc phi ngựa tới nơi thấy bọn lính tên nào cũng y phục xốc sếch, khí giới văng bừa bãi trên mặt đất, thì lấy làm lạ...
 Lạ hơn nữa là thấy một thiếu nữ xinh đẹp, khí sắc hào hùng, vận võ phục màu nâu, lưng đeo kiếm và khăn gói, tay chống kích đàng hoàng đứng nhìn.
 Trấn Quốc hỏi lớn :
 - Đội trưởng đâu! Các ngươi bỏ phiên canh sao vậy? Vì lẽ gì?
 Bọn lính vội quỳ cả xuống đất tay chỉ thiếu nữ. Viên đội trưởng nói :
 - Bẩm nhị vị Thế tử, con bé kia định xông vào trong cổng phủ, chúng con cản lại dè đâu nó dữ quá, chúng con địch không nổi...
 Hai Thế tử nhìn quan sát.
 Bảo Quốc cười lạt, bảo bọn lính :
 - Chúng bây nói gian. Nếu người ta định đánh tan bọn bây để xông vào trong phủ thì khi bây thua chạy rồi, người ta còn đứng kia làm chi? Chắc có điều gì gian dối. Ta điều tra ra sẽ mất đầu cả lũ.
 Bọn lính run sợ đứng cả lên. Trấn Quốc dặn nhỏ tên lính theo hầu. Tên này vâng lệnh quay ngựa trở vào.
 Hai Thế tử thúc ngựa ra khỏi phủ môn, cả hai cùng đăm đăm nhìn thiếu nữ.
 Nhạc Lan Anh nhận ngay ra Trấn Quốc và Bảo Quốc từ hồi nãy, vì hai chàng tuy có lớn nhưng nét mặt khống thay đổi quá nhiều đến nỗi không nhận được. Vả lại vào La Phù sơn theo học Thiên Không hòa thượng, anh em Thế tử cũng lớn rồi, Lan Anh quen mặt nhận được ngay. Trái lại, khi hai chàng rời Kim Lăng vào núi, Lan Anh mới có bảy, tám tuổi mà nay nàng lớn hẳn, từ nét mặt đến vóc người đều hoàn toàn thay đổi, thì không ai nhận ra được cũng phải.
 Thấy hai người đăm đăm, chăm chú nhìn mình, Lan Anh cười thầm, nhưng vẫn hiên ngang đứng yên, nhìn lại. Nàng nghĩ: “Hai người này đã trở thành hai thanh niên hảo hán trông bề ngoài rất có tư cách. Tiếc thay, họ đã đứng về phía phản bội triều đình!”
 Trấn Quốc cất tiếng hỏi :
 - Cô nương từ đâu đến đây? Tìm ai mà lại đánh lộn với lính canh phủ môn vậy?
 Nghiêm nét mặt, Lan Anh đáp :
 - Tôi từ xa đến đây tìm cha, mẹ và hai anh tôi ở trong này, không ngờ bọn lính canh này khinh bạc, nên tôi dạy cho chúng một bài học cần phải nghiêm chỉnh trong quân đội đó. Thiệt là không ngờ! Không ngờ!...
 - Cô nương không ngờ sao?
 Tôi không ngờ một Vương phủ lớn lao như vầy mà quân đội lại nhốn nháo, xằng bậy đến thế.
 Anh em Trấn Quốc, Bảo Quốc đỏ mặt...
 Bảo Quốc nói :
 - Kẻ làm tội sẽ bị nghiêm phạt theo quân lệnh. Cô nương là người đã biết nghề cung kiếm thiết tưởng chẳng nên căn cứ vào một kẻ xằng bậy mà xét đoán cả mọi người trong phủ này. Nếu không tin, xin mời theo chúng tôi điều tra và định đoạt tội lỗi cho bọn quân lính phạm pháp như thế nào!... Nhưng người nhà cô tên chi, tôi sẽ kiếm giùm...
 Đảo khóe mắt long lanh. Nhạc Lan Anh buông sảng mấy tiếng :
 - Người nhà tôi là chủ nhân toàn thể phủ thành cung điện này, nhờ nhị vị tướng quân vào kiếm giúp.
 Bảo Quốc nhìn Trấn Quốc và trái lại, Trấn Quốc cũng ngẩn người nhìn lại Bảo Quốc không hiểu.
 Giây lát nhận ra bộ võ phục màu nâu sẫm của thiếu nữ đầy bụi lại gói hành lý đeo trên vai rõ ra nàng từ xa lắm về đây, tiếng nói dễ nghe thanh tao quý phái, hai chàng chợt hiểu.
 Trấn Quốc hỏi :
 - Cô nương có thể cho chúng tôi biết quý tánh cao danh là gì không?
 - Tôi họ Chu.
 Mừng rỡ, hai Thế tử nhảy cả xuống ngừa lại gần :
 - Chu Lan Anh! Không nhận ra ngu huynh sao? Trấn Quốc, Bảo Quốc đây mà.
 Lan Anh giả đò ngẩn mặt ra nhìn kỹ, chỉ hai chiếc khuyên vàng ở tai hai người, rồi quỳ lạy :
 - Té ra nhị vị hiền huynh mà ngu muội không nhận ra ngay, đắc tội muôn vàn. Chẳng hay Phụ vương và Vương mẫu có được an khang không?
 Hai Thế tử cùng đỡ nàng dậy :
 - Chúng ta xa nhau từ hồi còn thơ ấu nay lớn cả rồi, từ nét mặt đến dáng người cùng thay đổi thì nhận ra sao được. Ngay như ngu huynh đây cũng đành chịu, không nhận ra được hiền muội nữa là!... Hiền muội lớn hẳn xinh đẹp bội phần, chắc song thân thấy vậy cũng vui lòng lắm. Ta vào phủ kẻ mất nhiều thì giờ quá rồi.
 Bảo Quốc dắt ngựa của chàng tới :
 - Hiền muội lên ngựa này, để ngu huynh cỡi tạm ngựa của quân hầu cũng được.
 Ba người vừa lên ngựa thì một đội quân từ trong phủ kéo ra tới phủ môn răm rắp đứng thành hàng chào.
 Trấn Quốc gọi viên tiểu tướng :
 - Tướng quân bắt toàn thể tiểu đội canh phủ môn giam về trại để ta định đoạt sau, và cắt một đội khác canh phòng phủ môn cho nghiêm chỉnh. Phạm quân luật sẽ xử trảm!
 Viên tiểu tướng vâng lệnh, cúi chào, quay đi thi hành phận sự.
 Anh em Thế tử nhìn Lan Anh mỉm cười, có ý hỏi thầm nàng đã trông thấy quân luật trong phủ nghiêm minh chưa. Lan Anh cũng mỉm cười, thuật lại việc xảy ra hồi nãy cho Trấn Quốc, Bảo Quốc nghe.
 - Ngu muội cố ý nhìn ngó hỏi thăm để xem mấy tên canh phòng nghiêm chỉnh không, ngờ đâu chúng lại hỗn xược như vậy.
 Trấn Quốc nói :
 - Quân lính như vậy đáng chém đầu!
 Lan Anh vội nói :
 - Yêu cầu huynh nghiêm phạt chúng thôi. Ngu muội không muốn có sự đổ máu ngay ngày đầu trở về nhà, hiền huynh hứa đi!
 Ngẫm nghĩ giây lát, hai anh em Thế tử gật đầu :
 - Hiền muội nói phải. Ngu huynh xin hứa theo ý hiền muội, cho chúng khỏi chết lần này.
 Mải miết nhìn các từng lớp cung điện trùng trùng, điệp điệp, Nhạc Lan Anh nói :
 - Trông Vương phủ khác trước nhiều. Hình như là mới xây cất lại, hay ngu muội hoa mắt sau nhiều năm sống trong thâm sơn cùng cốc?
 Chu Trấn Quốc nói :
 - Hiền muội nói đúng. Trong thời gian hiền muội xa vắng, Phụ vương đã xây cất và canh tận lại các điện đài rất nhiều. lạ mắt là phải.
 - Nhị vị hiền huynh có phụ trách việc gì không?
 - Có chớ! Ngu huynh và Bảo Quốc làm việc dưới trướng Hoàng nguyên soái có nhiệm vụ bảo về khu điện có Phụ vương và Vương mẫu đang ở. Chuyến này, hiền muội về, thế nào cũng được cùng ngu huynh lãnh nhiệm đó.
 Nhạc Lan Anh nín thinh, chú ý nhận xét mọi nơi. ba người cho ngựa chạy kiệu nhỏ vòng vèo theo đường gạch, qua năm khu cung điện lầu các nhấp nhô.
 Mỗi khu cách nhau bởi một thạch môn, tường cao vời vợi, có địch lâu, quân lính bồng giáo canh phòng nghiêm ngặt. Trên mỗi cổng có ghi tước hiệu cửa của từng trưởng trấn ải một.
 Cửa đệ nhất ghi Bạt Sơn Hổ. Cửa đệ nhị ghi Thanh Diện Hổ. Thứ ba ghi Cẩm Mao Hổ. Thứ tư ghi Quá Sơn Hổ. thứ năm ghi Phi Thiên Hổ.
 Qua năm cổng ấy mới vào tới khu đệ lục trên địch lâu đề Kim Ngân thế tử, là khu trong cùng có vợ chồng Thuận Vương ở.
 Nhạc Lan Anh nghĩ thầm.
 - À, ra đây là năm quan ải do Ngũ Hổ tướng trấn giữ đó. Nghiêm chỉnh, kiên cố kín đáo thật.
 Bảo Quốc hỏi :
 - Hiền muội nghĩ gì vậy.
 Tự nhiên, Nhạc Lan Anh mỉm cười :
 - Trông thấy thành quách kiên cố, lầu các mọc như nấm, ngu muội nhớ đến hồi đứng trên Long Sơn nhìn bao quát chung quanh, đồi núi nhấp nhô, trùng điệp thiết tưởng người nào sa lạc vào ấy, tất khó kiếm đường ra nữa.
 - Hiền muội ví dụ đúng đó. Trong Vương phủ này, nếu không thuộc đường lối, cứ quanh co cả năm cũng chẳng ra được.
 Trấn Quốc cười tiếp lời Bảo Quốc :
 - Và còn rất nhiều cơ quan bí mật, khiến kẻ lạ táng mạng dễ như chơi.
 Nhạc Lan Anh lè lưỡi :
 - Ôi! Nếu vậy thì ngu muội đành chịu cung cấm, không dám ra khỏi tòa... Tử Cấm thành này.
 - Không sao! Đối với hiền muội thì lại khác, cứ coi bản đồ thuộc các con đường Sinh lối Tử ngay.
 - Ai đặt ra bản đồ ghê gớm đó vậy.
 - Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn. Y thiệt là người nhà Trời sai người giúp Phụ vương.
 - Cần chi mà Phụ vương phải lập tòa cung điện ghê gớm thế.
 - Rồi hiền muội sẽ am tường...
 Nhạc Lan Anh lảng ra chuyện khác :
 - Nhũ mẫu của ngu muội trước, còn ở trong cung không?
 - Còn đủ. Cả những nữ tì. Vương nhũ mẫu thường nhắc tới hiền muội suốt ngày, u sầu buồn bã có phần hơn cả phụ mẫu thân.
 Ba anh em vừa đi vừa nói chuyện hồi lâu vào tới khu cung điện đệ lục. Qua đệ lục môn, ba người đi thẳng vào phía trong, quân hầu chạy ra đỡ lấy cương ngựa.
 Bảo Quốc hỏi :
 - Vương gia có trong cung không?
 Tên quân hầu đáp :
 - Chắc có, vì tiểu tốt không thấy người ra lệnh thắng ngựa hay kiệu chi cả.
 Lan Anh theo hai Thế tử qua lớp hoa viên thơm cỏ lạ. Nàng cố nhớ những đường lối xưa cũ...
 Gia nhân thấy hai vị Thế tử đi cùng một thiếu nữ tuy y phục mộc mạc nhưng nhan sắc kiều mị lạ thường. Hơn nữa, dáng người lanh lẹ, khỏe mạnh, lưng đeo kiếm, tay cầm họa kích, càng khiến họ ngạc nhiên hơn, tưởng đó là nữ võ sĩ nào về đầu bôn mà được hai vị Thế tử giới thiệu.
 Qua mấy lớp cung điện, hành lang, ba anh em mới vào tới lớp trong.
 Chu Trấn Quốc hỏi gia nhân.
 - Vương gia ở phòng nào.
 - Bẩm Thế tử, Người ở hậu cung.
 Lát sau, ba người vào tới nơi. Thuận Vương đang trò chuyện cùng Vương phi.
 Hai Thế tử cúi đầu vái chào cha mẹ, nhưng Lan Anh vội dựng hoa kích vào tường tiến tới trước mặt vợ chồng Thuận Vương, quỳ xuống lạy chào.
 - Lan Anh con đã về, chẳng hay song thân có được vinh an khang hảo không?
 Vợ chồng Thuận Vương vội cúi xuống đỡ nàng dậy.
 - Ủa, Lan Anh đó à! Sáu năm trời đằng đẵng khiến con khôn lớn khác hẳn nét xưa, khiến ta không nhận ra được nữa.
 Vương phi ôm lấy nàng khóc.
 - Ngày ngày, mẹ dựa cửa chờ trông... Nhiều khi đã tưởng vị lão ni nào đó bắt cóc không cho con về nên cũng đã bắt đầu tuyệt vọng. Ngờ đâu lại có cuộc trùng phùng, mẹ ở hiền gặp lành nên mới có phước được như ngày nay con trở về đó.
 Lan Anh cũng gục đầu vào vai Vương phi khóc thút thít.
 - Con bất hiếu ra đi không một lời từ biệt để song thân phải buồn bã nhớ thương, thiệt đáng tội muôn vàn.
 Thuận Vương nói :
 - Lỗi đâu ở con! Nhưng sự được theo lão sư luyện tập võ nghệ ấy biến con thành vị nữ anh hùng cân quắc hiên ngang... thôi, khóc lóc làm chi! Phải ăn mừng mới được.
 Vương phi và Lan Anh chùi ngấn lệ.
 - Thuận Vương truyền cho ba con ngồi xuống đôn gấm.
 Vương phi ngắm nghía Lan Anh :
 - Con tôi lớn quá và kiều diễm bội phần nhưng phải thay đổi y phục mới được. Phòng ốc mẹ vẫn để nguyên chờ con trở về.
 Nhận ra sự thật thà của Vương phi, Lan Anh cảm động và càng thắc mắc muốn biết lịch sử gia đình mình. Nàng bèn từ tốn đem chuyện từ lúc bị sư phụ đem đi đến ngày nay, kể cho mọi người nghe.
 Thuận Vương và hai Thế tử chăm chú nghe chuyện rất lấy làm thích chí. Riêng có Vương phi nghe Lan Anh nói tới Long Sơn thuộc huyện Quan Đồ tỉnh Vân Nam xa lắc xa lơ thì vẫn có ý thương xót Lan Anh phải cực khổ trong sáu năm trường trên chốn thâm sơn cùng cốc ấy.
 Thị nữ dâng nước sâm lên.
 Nhũ mẫu Vương Ý lan nghe nói Lan Anh đã về, lật đật cùng các thị nữ mới, cũ kéo nhau lên chào mừng.
 Lan Anh đứng lên ôm choàng lấy nhũ mẫu mừng mừng tủi tủi nói chẳng ra tiếp :
 - Trời ơi! Em tôi lớn như thế này ư! Mới ngày nào còn ẵm ngửa mà nay cao lớn hơn tôi rồi... Tôi đã tưởng em không về nữa... hì.. hì... hì.
 Tiếng khóc nức nở của Vương Nhũ mẫu trái ngược hẳn với giọng cười lúc chợt trông thấy Nhạc Lan Anh lúc ban đầu.
 Vương phi nói :
 - Vương má má đưa Quận chúa về phòng và cho gọi thợ trong cung cấp tốc may cắt các y phục cần dùng.
 Lan Anh đứng lên vái lạy Thuận Vương và Vương phi cùng Trấn Quốc, Bảo Quốc rồi cùng Vương Nhũ mẫu về phòng.
 Trấn Quốc đưa cây họa kích phương thiên cho Lan Anh :
 - Sáng nào ngu huynh cùng Nhị đệ cũng luyện tập ở võ sảnh. Chừng nào hiền muội rảnh tay, xin đến đó cho ngu huynh lãnh giáo tài nghệ Long Sơn tự.
 Lan Anh tiếp cây họa kích.
 - Xin vâng lệnh hiền huynh. Ngu muội cũng muốn thưởng thức nền võ thật danh tiếng của Lĩnh nam La Phù sơn.
 Về tới phòng riêng, Lan Anh nhìn quanh thấy cách bài trí nhất nhất vẫn như xưa, ngày cả mấy món đồ chơi mà nàng ưa thích nhất cũng hãy còn để nguyên chỗ cũ.
 - Vương má má ơi, bảy năm tròn rồi mà căn phòng này không hề thay đổi.
 Nhũ mẫu hiền từ nhìn Lan Anh :
 - Vẫn y nguyên theo lệnh của Vương phi, để chờ Quận chúa hồi gia. Chỉ riêng có già này mới được phép dọn dẹp nơi đây.
 Nhạc Lan Anh dựng cây kích vào góc phòng, treo kiếm lên tường gần đầu giường, liệng bọc hành lý xuống ghế bành đệm nhung, đoạn tiến tới cầm hai tay nhũ mẫu nói :
 - Em không muốn Vương má má xưng hô bằng hai tiếng Quận chúa nghe mất cả thân mật... Nhưng nên gọi em bằng “em bé” như trước...
 - Ý không được, tưởng còn nhỏ lắm hả? Con Vua cháu chúa xưng hô như vậy, người ngoài nghe thấy bất tiện. Ngay cả Vương gia và Vương phi cũng không ưng ý.
 - Trong chốn tư phòng này còn ai vào đây mà lo người ta không ưng hay chẳng thuận. Gọi em bằng... Nhạc tiểu thư cũng được!
 Nhũ mẫu giật mình, lùi lại mấy bước.
 Lan Anh bước theo.
 - Gọi... Nhạc tiểu thư, nghe chưa Vương má má...? Nhạc tiểu thư... hả.
 Để tay lên miệng, nhũ mẫu suỵt miệng.
 - Nói nhỏ chớ. Tai vách mạch rừng, lỡ miệng có phương hại đó...
 Nhạc Lan Anh cười vang.
 - Vương má má coi! Lan Anh này hiểu cả.
 - Trời ơi! Ai đã nói gì với Quận chúa.
 - Ai đã nói? Người đó không phải ai khác. Chính là sư phụ của em: Thượng Thái thiền sư.
 Vương nhũ mẫu ôm đầu, ngồi xuống hàng ghế đôi hàng lệ chảy ròng ròng. Nhạc Lan Anh nói :
 - Má má ơi, Sầu lệ làm chi, tĩnh trí nghĩ lại rồi kể chuyện cho em nhé.
 Có tiếng gõ cửa phòng. Vương nhũ mẫu giật mình lo sợ đứng hẳn dậy...
 Nhạc Lan Anh nói lớn :
 - Ai đó.
 Có tiếng thị nữ nói vọng vào.
 - Vương phi sai con mang xiêm y của người đến để Quận chúa dùng tạm.
 - Cho vào.
 Thị nữ Tố Hương đẩy cửa bước vào hai tay bê một bọc nhiễu đỏ lớn đặt lên mặt kỷ.
 - Con đã nấu nước trầm, mời Quận chúa sửa soạn tẩy thân.
 Lan Anh gật đầu :
 - Được rồi, cho người lui bước. Đã có nhũ mẫu ở đây rồi.
 Chờ thị nữ ra, Nhạc Lan Anh ướm thử mấy bộ xiêm y rồi sang phòng bên.
 - Trong khi em đi tắm. Má má bỏ giùm y phục vào tủ và nghĩ kỹ lại câu... chuyện rồi kể cho nghe nhé.
 * * * * *
 Mười sáu năm về trước...
 Về phía Tây nam cách Kim Lăng độ hai trăm dặm có một nơi gọi là Võ Hồ rất hữu tình. Không có núi cao, nhưng đồi nhỏ chập chùng, cây cỏ xanh biếc um tùm. Giữa những khoảng đồi cây ấy, một vũng hồ nước trong vắt như gương. Cái đặc biệt của Võ Hồ là có một thứ cáo nhị thể đen và vàng, lông dài óng ánh rất đẹp. Kế bên hồ có một khu trại nhỏ xinh xắn.
 Chủ trại họ Nhạc tên Hoành, tự Kiến Thủy chuyên trồng trọt chăn nuôi. Vợ Nhạc Hoành, Miêu thị tên Thúy lan năm ấy hai mươi bảy tuổi, kém chồng mười sáu tuổi, là người hiền đức có nhan sắc thùy mị. Miêu thị giúp chồng trong mọi công việc ở trại tỏ ra là một nội trợ rất can đảm.
 Ngoài vợ chồng họ Nhạc ra, trong trại chỉ còn một góa phụ họ Vương theo vợ chồng Nhạc Hoành từ khi còn thiếu thời, nay đã có tứ tuần. Vóc người vạm vỡ, khỏe mạnh, Nhạc Hoành ăn vận cư xử theo kiểu điền giả, yếm thế. Tuy vậy, trong các cử chỉ của họ Nhạc vẫn bộc lộ một thứ gì quí phái tỏ ra chàng có lịch sử gia đình đáng kể.
 Ngoài công việc trong trại, Nhạc Hoành thường vác cung, chống giáo đi săn nhị thể đem về lột da phơi khô bán cho vài người quen từ Thái Bình huyện về mua cất. Đó cũng là mối lợi của gia đình họ Nhạc vì thứ cáo nhị thể này khắp đất Trung Quốc chỉ có ở Võ Hồ. Giống cáo này khôn và lanh lẹ dị thường. Không đi bầy đông, chỉ vài ba con là cùng. Hơn nữa, chúng biết đánh hơi người, cho nên tiến tới gần chúng để bắn là cả một vấn đề nhiêu khê, nếu không quen thì nhà liệp hộ dù tài biết mấy cũng chỉ đi không về rồi.
 Tại Võ Hầu còn có một giống thú nữa là thỏ rừng sanh sản rất nhiều. Thiệt đúng câu trời sanh voi, sanh cỏ. Thỏ rừng là món ăn thường ngày của cáo nhị thể thì lại sanh đúng vào nơi có giống cáo này. Vì hiếm, da cáo nhị thể có giá đắt lắm, nhất là bộ da nào không bị tên xuyên thủng. Giống thú đó tuy lanh lẹ nhưng tay cung của Nhạc Hoành cũng chẳng vừa: bách phát, bách trúng. Phát tên nào cũng trúng giữa ức, nghĩa là trúng đường đao rạch khi lột da cáo. Cáo nhị thể không bao giờ đứng nguyên chỗ, mà phát tên nào cũng trúng giữa ức, đủ hiểu tài xạ tiễn của Nhạc Hoành cao tới bực nào.
 Sáng nào, Nhạc Hoành cũng dậy sớm luyện giáo pháp ngay sân sau nhà, rồi mới bắt tay vào việc khác. Ngọc giáo của Nhạc Hoành hoa văn lên vùn vụt như gió táp mưa gào, làn giáo tơi bời bao phủ tứ phía chẳng khác chi muôn ngàn hoa lê bay rụng.
 Những khi hết công việc, họ Nhạc thường uống rượu đọc sách, hoặc đàm luận cùng với Miêu thị rất tương đắc. Cảnh sống gia đình vỏn vẹn có ba người trong khu trại xinh xắn hết sức êm đềm. Nhưng Miêu thị lúc nào cũng đượm vẻ âu sầu vì muộn mằn chưa con.
 Nhạc Hoành biết vậy thường khuyên vợ, chẳng nên quan tâm đến vấn đề sớm muộn, mà thí dụ nếu không sinh nở cũng không sao. Nhưng Miêu thị vẫn thắc mắc cho rằng không con là đắc tội với tổ tiên.
 Lấy nhau từ năm mười sau tới năm ấy hai mươi bảy, Miêu thị thấy khác trong người, liền nhỏ nhẹ báo với Nhạc Hoành biết là nàng đã thọ ban. Hai vợ chồng rất đỗi mừng rỡ.
 Những khi Nhạc Hoành nhàn rỗi đọc sách, Miêu thị thường ngồi kế bên.
 - Thiếp cầu nguyện có con trai thiệt giống phu quân mới toại nguyện.
 Nhạc Hoành mỉm cười :
 - Trai hay gái cũng là huyết mạch của vợ chồng, bộ sanh con gái thì không yêu quí sao? Nếu sanh con gái ta sẽ dạy cho nó biết võ nghệ cũng mà như con trai. Xưa Hoa Mộc Lan là phận nữ nhi mà cũng tay kiếm, tay sang, xông pha nơi chiến trường lập lên biết bao nhiêu công trận hơn nam nhi. Có con gái được như vậy, há chẳng hãnh diện lắm sao?
 - Nói vậy thôi hiền thê ạ. Công hầu, vương bá làm chi? Tổ tiên họ Nhạc nhà ta đây, trước kia phò Tống vương chống giặc Kim, công lao hãn mã lớn biết nhường nào, rút cuộc cũng bị xử giáo tại Tây Hồ, oan ức biết bao! Chẳng qua thờ phải hôn quân vô đạo, nhu nhược chỉ ưa nghe sàm nịnh để trung thần uổng mạng.
 Gia đình họ Nhạc - Một vị Vương tước đã có công phạt Bắc trong nhiều năm trời - vì đó mà tan nát điều tàn.
 - Như vậy, thà sống ở nơi thôn dã, xa lánh hẳn mọi người, vui thú điều viên có hơn không? Tuy ẩn dật mà cũng còn chưa chắc đó... Giống người tham tàn ưa xâm lăng, sát hại lẫn nhau, không biết thế nào nói trước được.
 - Ta không đem tài sức ra để giành lấy một chức quan của triều đình cho vinh thân phì gia, vợ con đỡ vất vả tay chân lấm tay bùn, cũng vì lẽ thấy tiên tổ nhà mình bị hàm oan mà đâm ra yếm thế. Chắc hiền thê hiểu, không trách ta để hiền thê vất vả tối ngày giữa nơi cô quanh này?
 Miêu thị cảm động, rơm rớm nước mắt :
 - Thiếp phận nữ nhi, tam tòng tức đức xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử... thiếp đồng ý sống thế này, hạnh phúc an nhàn hơn, miễn là lúc nào cũng được nương bóng tùng quân nâng khăn sửa túi. Việc làm thường ngày là bổn phận con người, đầu đội trời chân đạp đất, sao gọi là nặng nhọc được.
 Nhạc Hoành âu yếm nhìn Miêu thị.
 - Hiền thê quả là người đức độ khiến ta quí mến vô cùng...
 Chín tháng sau, Miêu thị nở nguyệt khai hoa, hạ sanh một con gái bụ bẫm kháu khỉnh cô cùng... Nhạc Hoành đặt tên là Nhạc Lan Anh, ngụ ý quí mến Miêu Thúy Lan nên dùng chữ lan đệm tên con gái.
 Từ đó trong khu trại nhỏ nhắn ấy có thêm tiếng trẻ thơ, gây thêm hạnh phúc cho gia đình họ Nhạc. Vương Ý Lan trông nom Lan Anh giúp Miêu thị.
 Nếu cuộc sống cứ trôi theo nếp êm ấm thì làm gì có chuyện. Nhạc Lan Anh lớn như thổi, bụ bẫm xinh đẹp khác thường, được ba người lớn nâng niu chiều chuộng vô cùng... Ngờ đâu, lúc nàng được tám tháng thì một trận phong ba đã xảy ra trong gia đình họ Nhạc.
 Một hôm bình minh đẹp đẽ, gió mát phây phẩy, mặt nước Võ Hồ lăn tăn phản chiếu bóng trời xanh... Nhạc Hoành đeo cung tên cầm giáo bảo Miêu thị :
 - Bữa nay đẹp trời, hiền thê ở nhà trông con, ta thử đi xem có gặp mồi không nhé.
 Nói đoạn, họ Nhạc vuốt tóc vợ, cúi hôn con.
 Lúc ngẩng đầu lên thì nhận thấy vẻ mặt băn khoăn của Miêu thị.
 - Hiền thê sao vậy? Tinh thần bất an chăng? Nếu vậy, ngày khác đi săn cũng được.
 Miêu thị lắc đầu :
 - Thiếp vẫn mạnh như thường, nhưng đêm rồi mê thấy khu trại này cháy lớn, nên tự nhiên cảm thấy hồi hộp lo âu, e sợ thế nào ấy...
 Nhạc Hoành cả cười :
 - Chà! Mộng mị tin sao được? Hiền thê chẳng nên chú ý tới làm gì cho mệt mỏi thần trí. Ta đi bữa nay sẽ về sớm. Đẹp trời không săn uổng mồi.
 Miêu thị nhìn chồng ra đi, tuy không dám nói ra nhưng lòng vẫn băn khoăn e ngại, bế con dựa cửa nhìn họ Nhạc đi khuất ngàn cây mới trở vào.
 Người thiếu phụ trẻ đẹp đức độ ấy có ngờ đây cuộc chia tay buổi ấy là vĩnh việt chia ly...
 Chồng đi khỏi, Miêu thị càng thấy nóng ruột bội phần. Nàng trao Lan Anh cho Vương Ý Lan.
 - Bế em tôi đi làm việc cho đỡ băn khoăn. Không hiểu tại sao tôi cảm thấy có sự không hay xảy ra cho gia đình này.
 Vương Ý Lan nhìn chủ thương hại :
 - Có một nhà ta ở khu Võ Hồ thì làm gì sợ chuyện chẳng lành nữa. Chắc phu nhân quá nghĩ nên đâm ra lo lắng vô cớ đó thôi.
 Miêu thị lắc đầu :
 - Không phải! Tôi có cảm tưởng rất rõ rệt như vậy và bây giờ thì hối hận đã không cương quyết ngăn cản để tướng công ra đi. này Vương già ôi, dù sao tôi cũng dặn trước điều này: Nếu vạn nhất vợ chồng bạc phước, lâm nạn thì già trông nom nuôi nấng Lan Anh cho thành người nhé. Nó là hạt máu độc nhất của dòng họ nhà tôi. Già hứa đi.
 Vương Ý Lan khóc :
 - Phu nhân không nên ưu tư quá đáng như vậy. Tướng công đi săn như thường lệ, chốc lát được mồi trở về...
 - Không! Già hứa trông nom Lan Anh cho đến cùng đi. Hứa cho tôi an lòng!...
 Vương Ý Lan gạt nước mắt.
 - Khổ quá! Vâng, họ Vương tôi xin hứa coi Lan Anh như con đẻ, nuôi nấng nó cho đến cùng. Vạn nhất có sự không hay, Vương tôi không bao giờ rời Lan Anh dù phải thác.
 Miêu thị tháo sợi dây đeo vào cổ Vương Ý Lan :
 - Sợi dây ngọc này là món bảo vật của tướng công tặng tôi khi vợ chồng mới kết nghĩa trăm năm. Vương già hãy giữ lấy, Lan Anh lớn lên sẽ đeo nó.
 Vương Ý Lan không phản đối, cũng bị lây cái lo sợ ưu tư của chủ. Miêu thị vuốt má mọng như trái đào của Lan Anh, rồi xăn tay áo bước ra khỏi nhà lăng xăng cho gia súc ăn.
 Tới gần trưa, mọi việc xong xuôi, Miêu thị ra gốc cây cam hái mấy trái chín định đem vào nhà chờ chồng về ăn thì bỗng nàng rùng mình cảm thấy như có người lạ nhìn. Nàng nhớn nhác nhìn quanh thì quả nhiên có ba người đàn ông lạ mặt, vận võ phục đứng ở bụm cây dâu bên hàng rào nhìn mình không chớp mắt. hai người ở hai bên nét mặt hung dữ gớm ghiếc. Người đứng giữa hiền lành, trạc ba mươi lăm, ba mươi sáu tuổi, nhưng nét dâm đãng trai lơ hiện ra mặt. Cả ba người nào cũng đeo kiếm cầm cung.
 Miêu thị bỏ không hái cam nữa, quày quả đi vào nhà, thì một trong ba người gọi lớn.
 - Này, đi săn qua đây khát quá, bán cho tôi mấy trái cam nào!
 Đi thẳng vào nhà, Miêu thị đặt giỏ cam xuống mặt thồi.
 Tiếng ở ngoài rào la lớn :
 - Ô hay! bàn hay không cũng phải nói chớ. Kiều mị như vậy mà khinh người thế.
 Miêu thị bế Lan Anh bảo Vương thị ra trả lời không bán, cho bảo người đó đi nơi khác.
 Vương Ý Lan bước ra vườn cây :
 - Cam này không bán, xin quí vị đi nơi khác.
 Người đứng bên tả nói :
 - Chúng tôi đi săn cáo, lạc đường tới đây, khát quá, không bán cam thì cho uống nước vậy?
 Vương thị lắc đầu :
 - Phiền ba vị đi nơi khác, nhà này vắng đàn ông, bất tiện lắm.
 Người đứng giữa đưa mắt nhìn hai người kia.
 - Ai làm gì mà tiện với bất tiện! Phá cổng vào xem có bất tiện không.
 Dứt lời y hất hàm.
 Hai tên kia xăm xăm tiến ra lối cổng tre.
 - Vương gia truyền lệnh phá cổng. Thiệt là lỗi tại các người mùa thôn dã không biết điều nhé.
 Dứt lời, một tên co chân đạp tung cánh cổng tre đơn sơ.
 Vương Ý Lan hoảng hốt.
 - Các người phá cổng nhà người, lát nữa tướng công ta về đừng có trách.
 Ba người đi thẳng về nhà, không thèm để ý đến câu nói của Vương thị nữa.
 - Đến Vua còn chẳng coi ra gì, nữa là thứ tướng công quê mùa nhà mụ à!
 Vương Ý Lan vội chạy theo vào nhà.
 Ba người xông hẳn vào nhà, thấy thiếu phụ bế đưa hài nhi đứng giáp vào tường. Đưa cung, tháo bao tên và kiếm liệng cho hai tên nọ, người có danh hiệu là Vương gia nhăn nhở khả ố, tiến tới chỗ Miêu thị đứng.
 Miêu thị lùi lại đưa Lan Anh cho Vương Ý Lan, nghiêm nghị dõng dạc nói :
 - Các người sức dài vai rộng uy hiếp phụ nữ cô đơn không biết hổ người với hai tiếng nam nhi sao? Muốn ăn cam thì cứ việc ra vườn mà lấy.
 Vị Vương nọ cười hềnh hệch, mắt đỏ ngầu nhăm nhở :
 - Ta đâu có khát cam ngoài vườn! Họa chăng khát sắc đẹp thùy mị của thiếu phụ thôn dã thì có. Hì... hì... thôi, ưng thuận đi, muốn thứ gì ta cũng cho... hì... đẹp quá! Ái khanh ơi!... Đẹp quá!
 Nổi giận, mặt đỏ bừng bừng, Miêu thị lùi sau phía tường phía đông, rồi bất chợt với tay lấy thanh đoản kiếm trên tường xuống tuột ra cầm lăm lăm trong tay.
 Vương Ý Lan thấy nguy, tuy đang bế Lan Anh trong tay cũng chạy tới kéo tay áo người nọ.
 Tức mình, vị Vương gia ấy đẩy mạnh, Vương Ý Lan mất thăng bằng té lăn ra mặt đất tay vẫn ôm chặt Lan Anh, nhưng Lan Anh sợ quá khóc thét lên. Đau xót, Miêu thị không dè dặt nữa xông tới nhắm bụng vị Vương gia ấy đâm một lát kiếm, miệng la :
 - Đồ khốn kiếp, uy hiếp cả đàn bà lẫn trẻ thơ!
 - Dễ dàng, người đó tránh nhường tay kiếm của Miêu thị trượt ra ngoài :
 - A ha! Can đảm quá! Đâm nữa ta coi nào!
 Miêu thị thấy Vương Ý Lan đã bế Lan Anh đứng dậy, liền lùi lại nói :
 - Bế Lan nhi vào phòng, mặc chúng tôi.
 Vương thị lén lén đi vòng ra phía sau. Miêu thị, miệng kêu Trời mãi sao Nhạc chủ nhân không về?
 Người nọ từ từ tiến tới chỗ Miêu thị đứng :
 - Ưng thuận đi, chịu khó ưng thuận một lần thì chuyến sau sẽ không còn biết ngượng ngùng nữa! Báu vật thế này mà ở nơi thôn dã, phí cả sắc nước hương trời... hì... hì...
 Miêu thị lùi bước đến sát tường, nàng lộn tiết vì câu khả ố của tên nọ :
 - Đồ súc sanh khốn kiếp! Vương với giả gì chúng bay! Tuy thôn dã nhưng không sống ô nhục như chúng bao trên vàng dưới ngọc.
 Nàng cốt ý kéo dài thời gian hòng chờ chồng về, nên thỉnh thoảng lại liếc nhìn phía ngoài...
 Tên nọ vẫn tiến tới :
 - A! Chờ chồng về phải không? Y trở về thì ái khanh đã ô uế với ta rồi!
 Cùng đường, Miêu thị đành đứng yên không dám đi vòng ra phía cửa ra vào, e hai tên bộ hạ đoạt kiếm thì còn nguy cơ mau hơn nữa. Nàng run rẩy khấn thầm cho Nhạc Hoàng về mau chóng. Lúc này thời gian trôi lâu quá. Nàng cảm tưởng như qua một thế kỷ rồi mà chồng chưa về cứu nguy. Chờ tên gian ác tới gần, nàng liều mạng đâm lát kiếm nữa. Tuy khỏe mạnh quen xốc vác việc trong trại, nhưng có bao giờ nàng biết cầm kiếm đâm người thì tránh sao được nổi sơ hở.
 Tên kia lánh sang bên tránh khỏi, nàng vội thâu kiếm về và đâm luôn lát khác.
 Giữa lúc ấy có tiếng động ở cửa... Miêu thị tưởng chồng về, vô tình ngước mắt nhìn ra thì bị luôn tên gian ác tới đoạt kiếm đẩy ép nàng vào tường... vặn cổ tay kiếm rớt xuống đất xoảng một tiếng. Vương thị la lớn, Lan Anh cũng sợ quá khóc thét lên...
 Miêu thị cố la :
 - Bế Lan nhi vào phòng!
 Sức tên Vương gia gian ác đàn áp càng tăng. Miêu thị mím môi cố sức kháng cự nhưng không sao nổi tên dâm thần ấy sức mạnh tăng gấp bội... Tay hữu y ôm chặt lấy eo lưng của nàng, tay tả kéo đứt vạt áo trễ xuống mặc cho Miêu thị đấm đá và cào cấu vô ích. Lần lần, y ấn nàng xuống chiếc trường kỷ kê giáp tường...
 Miêu thị cố sức, thở hổn hển, mặt trước còn đau nhừ, sau tái ngắt... Nành cố ngước mắt nhìn ra cửa, thì ra tiếng động hồi nãy là do hai tên bộ hạ đóng cửa lại, mà nàng cứ tưởng chồng về. Nàng bị ấn mạnh xuống kỷ.
 - Đồ khốn kiếp! Thà chết chớ ta không chịu ô nhục... Nhạc lang hỡi, thiếp đã cố nhưng kiệt sức rồi, xin hẹn kiếp sau.
 Miêu thị cắn lưỡi mạnh, nhổ huyết phun bật vào mặt tên gian ác khiến hắn phải buông nàng ra để chùi mặt. Vương Ý Lan từ căn phòng trong chạy ra tay cầm dao, nhưng không kịp. Miêu thị đã lăn ra đất quằn quại mấy cái rồi nằm im hết động đậy. Vương thị òa lên khóc liều mạng xông vào đấm tên nọ, nhưng đã bị gã này bắt được cổ tay vặn tuột dao rớt xuống đất rồi té lăn vào góc nhà.
 Giữa lúc ấy, một trong hai tên bộ hạ đứng ở cửa ra vào chạy vội tới nói nhỏ mấy câu :
 - Tâu Vương gia có người vác giáo đi gần tới cổng trại.
 - Cứ hạ hắn đi, bất tất trái phải. Lẹ lên, còn ra khỏi nơi đây.
 Dứt lời tên Vương gia gian ác nọ xốc Vương thị đẩy vào trong phòng trong, khép trái cửa lại.
 Nhạc Hoành vác giáo, tay hữu cầm chùm đuôi ba con cáo nhị thể bước vào cổng trại.
 Chàng giật mình vì thấy cánh cổng mở toang. Nhìn vào nhà, cửa giữa đóng chặt chàng nghĩ thầm :
 - Có lẽ chờ lâu không thấy chàng về nên Miêu thị, Vương Ý Lan ở cả trong nhà. Nhưng tại sao lại để cổng ngỏ thế này?
 Miêu thị là người rất cẩn thận, từ bao năm nay không hề sơ suất, nhưng chẳng lẽ lại quên đóng cổng sao?
 Ôi! Cái then cửa bằng tre bị bung ra kìa! Chắc có xảy ra sự bất trắc rồi!
 Chàng tái mặt. Bao nhiêu năm nay, không hề có chuyện cướp bóc trong vùng hoang vắng này, chẳng lẽ...
 Nhạc Hoành không dám nghĩ thêm nữa, tiến vào phía trong cổng xem, nhìn dấu vết...
 - Phập! Phập!
 Hai mũi tên từ trong khe cửa bay ra lẹ như chớp trúng bụng Nhạc Hoành, ngập non một nửa.
 Trợn mắt, Nhạc Hoành liệng luôn ba xác cáo nhị thể trúng cửa giữa tung cả hai cánh ra. Đồng thời, chuyển giáo sang tay hữu, tay tả rút bật cả hai mũi tên ra liệng xuống đất máu vụt từ vết thương ra như suối. Rút khăn quấn tóc, chàng bịt chặt lấy vết thương... Vừa lúc ấy, hai mũi tên nữa bay vụt ra, Nhạc Hoành nghiến răng, cầm lấy giáo gạt tên rớt xuống đất, rồi chạy như bay vào trong nhà.
 Hai tên bộ hạ rút kiếm xông cả lại chém.
 - Ác tặc! Coi giáo ta đây!
 Nhạc Hoành vung tròn ngọn giáo gạt phăng hai thanh kiếm, đâm luôn hai nhát lẹ như chớp. Bị trúng thương ngập bụng, ruột lòi lòng thòng ra ngoài, hai tên bộ hạ đổ vật ra đất, máu phun như suối giãy chết rên rỉ nghe rợn người. Nhạc Hoành cười lớn, nhìn vào cửa phòng thấy tên Vương gia gian ác đứng sát vách tường tay lăm lăm cầm đoản kiếm.
 Trên mặt gạch, Miêu thị nằm cứng đờ, mặt mũi đầy máu, mắt mở trừng trừng như còn sống, đượm vẻ căm hờn...
 Uất hận, Nhạc Hoành hiểu cả. Chàng trút hết tinh thần để tưởng tượng việc đã xảy ra trong khu trại, trong căn nhà xinh đẹp gọn gàng của chàng. Máu từ vết thương nặng ở bụng chảy ra thấm ướt cả chiếc khăn mà chàng đang ấp vào bụng. Sau khi dùng sức chạy vào nhà và đâm chết hai tên bộ hạ, mất máu nhiều, Nhạc Hoành tái mặt hai chân bắt đầu run lẩy bẩy, và bây giờ nhận thấy vết thương nặng ấy làm chàng đau đớn vô cùng. Nhưng chàng cố nhịn không cho sự đau đớn biểu lộ ra nét mặt, mắt vẫn gườm gườm nhìn tên gian ác đang lo sợ cầm kiếm dựa lưng vào vách ván...
 Bỗng Vương thị bế Lan Anh đứng lấp ló bên phòng mếu máo :
 - Tướng công ôi, phu... phu nhân tự sát để... để giữ trọn... tiết trinh, hãy hạ tên giặc này đi để phu... nhân được thỏa vong linh... nơi chín suối.
 Sung sướng hiện ra trên sắc mặt tái mét, Nhạc Hoành cười vang khiến tên gian ác giật mình nhích ngang một bước.
 - A! Ra phu nhân giữ vẹn lòng trong trắng! Thúy Lan em hỡi, có khôn thiêng hãy trông ta hạ tên tử thù này!...
 Máu chảy nhỏ giọt xuống nơi chàng đứng, Nhạc Hoành vận dụng tàn lực giơ ngọn giáo lên ngang vai phóng mạnh và đồng thời té lăn ra đất, tay rời vuông khăn đẫm máu...
 Ngọn giáo bay vút trúng phía trên ngực xiên ra phía sau gài hẳn tên gian ác nọ vào vách ván.
 Tên đó rú lớn một tiếng, rời đoản kiếm, ngoẻo đầu sang bên, ngất lịm.
 Thiệt ra, Nhạc Hoành nhằm tim kẻ thù khi phóng ngọn giáo ấy, nhưng chàng hoa mắt lên nên đi chệch.
 Vương thị khóc vang, bế Lan Anh chạy vội ra chỗ chủ nhân nằm nghiêng, quỳ xuống :
 - Tướng công ơi! Tướng công trúng thương hồi nào vậy? Khổ quá, trời hỡi trời!
 Vương thị vội đứng lên đặt Lan Anh xuống kỷ, nhưng Nhạc Hoành đã mở mắt ra.
 - Đem... đem Lan Anh... lại... lại đây, mau!
 Vương thị khóc rưng rức bế Lan Anh đến nơi ngồi thụp xuống :
 - Tướng công ơi!
 Nhạc Hoành cố sức chống tay nhỏm người lên cố nói, lưỡi đã bị cứng :
 - ... Cố... cố nuôi... nuôi em... khôn lớn... báo thù... hứa đi!...
 Vương thị khóc nức nở :
 - Con xin hứa!
 Đưa tay run rẩy, mắt lờ đờ, Nhạc Hoành sờ má Lan Anh khiến má hài nhi vấy máu cha :
 - ... Lan Anh... con... ơi, cha... đi... đây! Thúy Lan... nàng hỡi... hãy chờ ta...
 Dứt lời, họ Nhạc khuỵu tay xuống, tắt thở, thọ bốn mươi ba tuổi. Vương thị đau đớn, gọi réo lên, lay vai Nhạc Hoành nhưng người trai cuối cùng của dòng họ trung trực ấy chỉ là cái xác không hồn. Giữa lúc ấy, bên ngoài có tiếng ngựa hí vang và nhiều tiếng người xôn xao. Vương thị giật mình bế xốc Lan Anh đứng lên thì có người đi vào sân ngoài.
 - Có ai ở nhà không?
 Vương thị sợ hãi bế Lan Anh chạy vội vào trong, hé mắt nhìn thấy mấy người quân phục đeo đao bước vào trong nhà.
 Họ chùn cả lại khi thấy cảnh tàn sát trong nhà. Một người nói :
 - Ra nói cho Vương gia biết mau!
 Tên thuộc hạ vâng lời, lanh lẹ quay gót chạy ra khỏi nhà. Lát sau, bọn người kéo vào đông, đi đầu là một người trạc tuổi tứ tuần, vóc người mảnh khảnh lưng đeo cung tên, eo gài kiếm.
 Người đó nhìn qua một lượt, rồi truyền lệnh :
 - Quân bây! Rút giáo, đỡ đệ tam Vương gia xuống. Nhẹ tay, nghe!
 Bốn tên quân hầu tiến lên, nhưng một người có tuổi, râu ba chòm đen lánh, đứng phía sau tiến tới nói lớn :
 - Hãy khoan, để tôi coi đã.
 Người đó là Đỗ y sĩ theo đoàn nhân mã này đề phòng. Họ Đỗ bước tới chỗ đệ tam Vương gia nhận xét kỹ, cầm cổ tay chẩn mạch rồi nói :
 - Hãy còn sống. Hai người đỡ chân Vương gia để tôi rút ngọn giáo ra.
 Hai tên quân vội độn tay xuống dưới đùi hẳn đỡ tam Vương gia. Đỗ y sĩ cầm cán giáo nghiến răng rút mạnh. Ngọn giáo bật hẳn ra nhưng viên y sĩ cùng té ngửa ra phía sau.
 Người bị thương vừa tĩnh la lên hai tiếng “chao ôi!” và giũ xuống nhưng hai tên quân hầu đứng gần đó, đỡ ngay, khiêng đặt nằm xuống trường kỷ.
 Đỗ y sĩ săn sóc người bị thương trong khi vị Vương gia vào sau bảo quân hầu vào khám xét trong phòng ngủ.
 Lát sau chúng dẫn Vương thị bế Lan Anh ra.
 Vương thị run sợ, mặt tái mét, láo liên đưa mắt nhìn từ người nọ đến người kia.
 Vị Vương gia đó ôn tồn bảo.
 - Nhà người không cần phải lo sợ. Ta không sát hại đâu, nhưng cơ sự thế nào? Thuật lại rõ ràng để ta còn liệu.
 Vững tâm hơn, Vương thị thong thả thuật lại những việc đã xảy ra không bỏ sót mảy may.
 Nghe chuyện tới đâu, vị Vương gia gật đầu tới đó, rồi hỏi :
 - Được lắm. Ta hiểu rồi. Việc đáng tiếc ấy đã xảy ra trong khi không có sự hiện diện của ta. Nay vợ chồng họ Nhạc đều tử nạn rồi, một mình người không ở được nơi hoang vắng này với đứa nhỏ chưa đầy năm. Vậy nên nghe ta về Kim Lăng muốn thứ gì được thứ đấy, ta xin lãnh phần trách nhiệm nuôi con họ Nhạc và gây dựng cho nó sau này. Nhà ngươi tứ cố vô thân, vậy cứ tiếp tục trông nom đứa nhỏ, ta hứa sẽ hậu đãi hai người. Kể từ giấy phút này, đứa nhỏ là con ta đổi Nhạc ra họ Chu và ai cũng phải gọi Lan Anh là Quận chúa. Nghe chưa.
 Vương thị nghĩ thầm “Ở nơi hoang vắng này một mình chắc chắn là chẳng xong rồi, chi bằng ta cứ nhận đem Lan Anh về Kim Lăng nuôi nấng, chừng nào lớn lên sẽ hay”. Như vậy ta còn có dịp dò hỏi tên kẻ thù sống sót là ai, thiệt là nhất cử lưỡng tiện.
 Nghĩ đoạn, Vương thị nói :
 - Tâu Vương gia, kẻ ngu hèn này chỉ sợ không được sống an ổn nơi Kim Lăng thôi.
 Vị Vương đó mỉm cười :
 - Ai dám xâm phạm nơi cung điện của ta mà sợ không an ổn.
 Vương thị nghi ngờ đưa mắt ra chỗ Đỗ y sĩ và các tên bộ hạ đang cho thuốc và băng bó kẻ bị thương.
 Hiểu ý, Vương gia lắc đầu :
 - Cứ nghe ta, không có chi trở ngại cả. Về tới Kim Lăng sẽ biết.
 Vương thị nghe lời, cúi đầu im lặng, nhưng trông thấy xác vợ chồng họ Nhạc, bất giác nghĩ đến tình thầy trò chung thủy thì lại òa lên khóc, khiến Lan Anh cũng nhớn nhác lại bọn người lạ mặt khóc theo.
 Vương gia vuốt má Lan Anh thấy vấy máu hỏi Vương thị :
 - Đứa nhỏ cũng bị thương sao.
 - Bẩm không!... máu vấy vào đó thôi.
 Nghĩ tới lúc chủ nhân vuốt má Nhạc Lan Anh trước khi vĩnh biệt, Vương thị lại nức nở khóc lớn.
 - Từ lúc xảy ra tai nạn đến giờ, Quận chúa đã ăn gì chưa.
 Vương thị lắc đầu :
 - Bẩm Vương gia, trước thảm cảnh này thì chỉ có lo sợ và đau buồn thôi chớ không nghĩ tới đói.
 Muốn tránh không cho Vương thị nhìn mãi cảnh tàn sát, Vương gia bảo.
 - Bế Quận chúa vào trong phòng, sửa soạn hành trang, muốn đem theo gì cũng được, chừng nào ta lên đường sẽ theo đi.
 Vương thị vâng lời, bế Lan Anh vào phòng trong, khép cửa lại.
 Gọi tướng quân hầu cận tới, vị Vương gia truyền lệnh :
 - Đào hai huyệt ở nơi đẹp nhất trong khu vườn, chôn vợ chồng chủ nhân trại này. Khâm liệm cho tử tế. Còn hai tên hạ thuộc của đệ tam Vương gia thì chôn ở ngoài mé hồ. Nghe chưa?
 - Dạ.
 Truyền lệnh hỏa đầu sửa soạn ngay thức ăn thiệt tốt cho đứa nhỏ và người nhũ mẫu. Còn Đệ tam vương sau khi buộc thuốc xong xuôi cho cáng về trại trước. Chừng nào rồi việc ở đây, ta cũng lên đường và thu xếp về thẳng Kim Lăng không tiếp tục săn nữa.
 Viên thuộc tướng vâng lệnh quay ra.
 Định đoạt mọi việc đã xong vị Vương đó mới hỏi Đõ y sĩ :
 - Vết thương thế nào.
 - Tâu Vương gia, vết thương đó nặng, nhưng không nguy vì mũi giáo không động tới phổi. Đệ Tam Vương sẽ lành mạnh như thường sau vài tháng điều trị và dưỡng bệnh, Hiện thời vết thương đã được buộc thuốc cẩn thận và hạ thần cho bệnh nhân một liều tê cho đỡ đau lúc đi đường.
 - Được lắm, ta may mắn mới có Hoa Đà tái thế phụ việc.
 - Vương gia dạy quá.
 Chờ viên y sĩ lùi bước, vị vương đó chắp hai tay sau lưng, đi vòng khu trại nhỏ xem xét. Vừa đi vừa nghĩ.
 - Tam đệ bậy quá! Không bao giờ chừa được tánh háo sắc. Nếu ta biết có đàn bà đẹp ở nơi hoang vắng thì đã không cho y đi một mình. Số y chưa đến lúc tận nên Nhạc Hoành phóng ngọc giáo khi đã kiệt lực quá rồi, nếu không chắc phải trúng tim! Tài thiệt! Bị trúng hai mũi tên trúng bụng, huyết chảy đầm đìa, tay cầm khăn bịt bung, tay cầm giáo chạy vào nhà, chỉ trong chớp mắt hạ luôn được hai kẻ thù và còn phóng giáo định giết người thứ ba! Chân tài! Tiếc rằng không có họ Nhạc đầu bôn dưới trướng! Nghĩ bao nhiêu, ta càng giận tam đệ đã làm thiệt của ta một kỳ tài! Đáng tiếc! Đáng tiếc!
 * * * * *
 .. Nhạc Lan Anh chùi ngấn lệ còn vương trên khóe mắt. Nàng mở nút cổ áo, kéo sợi dây ngọc ra nhìn, kỷ niệm độc nhất của cha mẹ nàng và cũng là món bảo vật độc nhất được chứng kiến cảnh tàn sát rùng rợn ở Võ Hồ sáu năm về trước. Nghĩ đến kẻ thù, nàng cảm thấy máu trong người sôi lên, khóe hạnh tròn xoe, mày liễu dựng ngược, hai hàm răng ngọc nghiến kèn kẹt... nàng muốn cất bước lên đường ngay chỉ nẻo Hàng Châu, bắt Chu Vĩnh An đưa về Võ Hồ mổ bụng moi gan tế trước mộ cha mẹ nàng mới hả dạ.
 Vương thị chưa kịp khuyên can hãy dẹp bớt thịnh nộ chờ dịp thuận tiện sẽ ra tay thì bất giác Nhạc Lan Anh căm hờn quá, bóp nát chiếc ly xứ Giang tây mà nàng đã uống cạn trà từ hồi nào...
 - Tiểu thư chẳng nên nóng nảy quá e lộ chuyện. Tên gian vương kia khỏe mạnh ta sẽ tìm dịp thuận tiện báo gia thì cũng chẳng muộn. Y đã vậy, nhưng Thuận Vương cư xử với tiểu thư và tôi rất đứng đắn, biết giữ lời hứa đáng khen.
 Nhờ có Thuận Vương bảo đảm cuộc sanh sống, tiểu thư mới có dịp được Thượng Thái lão ni đem về Long Sơn tự truyền thụ võ nghệ và mới có ngày nay... Thù máu phải gội rửa bằng máu là lẽ cố nhiên, dù sao cũng nên tính toán kỹ rồi sẽ hành động sau, nóng nảy không có lợi, và cũng chẳng xứng đáng với một người có bản lãnh tuyệt kỹ, cần phải điềm tĩnh như tiểu thư.
 Nhạc Lan Anh suy nghĩ hồi lâu :
 - Vương má má dạy chí phải, em xin nghe theo. Lời của má má là lời của song thân lúc còn sanh thời, lẽ cố nhiên em phải nghe theo. Ơn Thuận Vương sẽ trả, nhưng mối huyết hận kia, em thề sẽ báo bằng máu Vĩnh An. Chừng đó mới an tâm. Nhưng còn một điều.
 - Điều chi vậy?
 - Làm thế nào mà Thượng Thái sư phụ biết lịch sử gia đình họ Nhạc, đưa em lên núi truyền dạy võ nghệ? Vương má má nghĩ kỹ xem hồi trước, song thân có nói gì không? Có ai thường lui tới gia trại.
 Ngẫm nghĩ hồi lâu, Vương thị nói :
 - Hồi mới đến giúp việc trong, phu nhân có nói tới một bà cô trong họ Nhạc đi tu, không hỏi cặn kẽ nên không thể nói chắc được Thượng Thái lão ni là bà cô đó chăng? Suốt trong thời gian trên ba mươi năm, tôi nhớ rõ không có nhà tu hành nào đến khu trại ở Võ Hồ cả.
 - Có dịp tái kiến cùng sư phụ, em sẽ hỏi cặn kẽ lại mới được! Mười bảy năm nay, mộ phần song thân không người coi sóc chăm nom, đất lún cỏ cao, có lẽ mất hết dấu tích.
 Nói tới đây, Nhạc Lan Anh lại úp mặt vào tay khóc.
 Vương thị ngồi xuống bèn vỗ về an ủi.
 - Chừng nào tiện dịp, chúng ta cùng đi Võ Hồ viếng mộ phần. Dầu đất có lún, tôi cũng nhớ ra. Phần mộ ở ngay dưới gốc cây cam lớn. Tôi đã chú ý nhìn kỹ trước khi theo Thuận Vương về Kim Lăng.
 - Từ này đó kẻ thù có về Kim Lăng chuyến nào không?
 - Có y có về mấy lần nhưng tôi không gặp mặt. Nghe nói vậy thôi, y trấn thủ ở Hàng Châu. Vợ chồng Thuận Vương căn dặn tôi không được tiết lộ vụ tàn sát Võ Hồ cho tiểu thư biết, giấu hẳn tông tích họ Nhạc. Từ nay chúng ta nên thận trọng kẻo tiết lộ.
 Chùi nước mắt, Nhạc Lan Anh đứng lên đi đi lại lại trong phòng :
 - Chừng nào em phanh thây tên Vĩnh An ra tế song thân, bấy giờ mới ăn ngon ngủ yên được.
 Hôm sau Lan Anh ra hầu Thuận Vương và Vương phi như thường. Hai người này chỉ có ơn chớ không có oán với gia đình nhà nàng, vì vậy nhìn mặt, nàng không thấy oán hận chút nào.
 Thuận Vương bảo Lan Anh :
 - Nay con thành tài, thiền sư cho hạ sơn, thiết tưởng cũng nên giúp ta trong việc binh nhung, chẳng hay con ý kiến thế nào.
 Kính cẩn, Lan Anh nói :
 - Đó là một hân hạnh cho con, nếu không gọi là bổn phận. Khi còn ở Long Sơn, con vẫn hằng mong sẽ được Phụ vương tuyển dụng.
 Thuận Vương vui mừng.
 - Có ái nữ anh hùng như con hãnh diện cho ta biết chừng nào! Con sẽ lãnh nhiệm vụ canh phòng nơi cung điện này cùng với hai anh con. Trong thời kỳ con vắng mặt, ta đã sửa đổi lại và mở rộng các từng lớp trong Vương phủ. Vậy con phải nghiên cứu bản đồ cung điện với Trấn Quốc, Bảo Quốc mới được. Ta sẽ truyền lệnh cho chúng biết việc con theo lệnh ta tham dự việc canh phòng này. Ngoài ra, ta còn ban riêng cho con, một lệnh bài xuất nhập tự do bất cứ giờ giấc nào trong Ngũ Ải. Lệnh bài ấy chỉ có năm người có Trấn Quốc, Bảo Quốc, Quân sư, Nguyên soái và con, thế thôi.
 Vương phi ngắt.
 - Con gái mới về, Vương gia đã vội trao trách nhiệm bắt nó làm việc ngay. Luôn sáu năm trời xa cách, nên cứ để cho nó nghỉ ngơi hưởng sự an nhàn đã chớ, thiếp không ưng để nó làm việc ngay đâu.
 Thuận Vương vuốt râu cười :
 - Chà! Nói vậy thôi, chớ lúc nào Lan Anh muốn bắt đầu làm việc cũng tùy ý nó, ta đâu có ép Vương phi phải... binh vực ngay.
 Lan Anh tươi cười :
 - Thưa vương mẫu, Phụ vương dạy chí phải. Con làm việc đã quen e nhàn rỗi sống trong lụa là, trướng gấm màn the sẽ đâm ra ỷ lại lười biếng. Dầu sao, con cũng xin để một phần thì giờ để thần hôn định tỉnh song thân, bù lại những năm vắng nhà, cho tròn phận gái.
 Thuận Vương gật đầu lia lịa :
 - Lời trung hiếu của con ta nghe được lắm. Có thế mới không hổ là con của cha! Khá khen đó. Ta rất mãn nguyện có con gái anh thư cân quắc như con! Hà... hà...!
 Từ đó Nhạc Lan Anh tham dự vào việc canh phòng trong Vương phủ tổ chức rất kiên cố. Chẳng bao lâu, nàng đã thuộc hết bản đồ đường đi lối lại trong Ngũ Ải.
 Ngày ngày, nàng cùng hai Thế tử ôn văn, luyện võ, cưỡi ngựa bắn cung, ba anh em tuy cùng tranh tài thi sức không ai chịu nhường ai, nhưng rất tương đắc.
 * * * * *
 Nói về Lam Y nữ hiệp cùng Chu Đức Kiệt và Kim Đao Quan Long từ Mã Thạch sơn Quan gia bảo đi Kim Lăng, chẳng bao lâu đã tới phủ thành tìm đến Cao gia trang.
 Nơi trang trại này rộng lớn, nhà cửa san sát ở ngay Tây Môn. Trang chủ Cao Thiệu Đàm nghe báo Quan Long tới thăm, rất đỗi mừng rỡ, thân ra tận trang môn đón. Họ Cao thấy tướng mạo phi phàm của anh em Chu gia thì cảm phục vô cùng.
 Phần Chu Đức Kiệt và Lam Y cũng vậy. Hai người kính trọng tư cách nhàn nhã phong lưu của họ Cao.
 Quan Long nói mấy lời giới thiệu.
 Cao Thiệu Đàm vui mừng.
 - Nghe đại danh như sóng cồn, nay được diện kiến mới biết danh bất hư truyền.
 Chu Đức Kiệt vái dài.
 - Anh em tôi là bậc hậu sanh, Trang chủ quá khen như vậy khiến chúng tôi e thẹn vô cùng.
 Họ Cao cười vang.
 - Hậu sanh khả úy chớ! Lần trước du hành qua đây, lệnh thúc phụ (chỉ Đức Võ Thượng Nhân) có hẹn kỳ này năm sau sẽ trở lại, nên tôi cũng đang chờ được tái kiến... Kìa, mời ba vị vào nhà.
 Mấy tên trang đinh đỡ cương ngựa dắt vào hậu trang... Ba người đeo hành lý lững thững theo Cao Thiệu Đàm qua nhiều lớp nhà vào tới căn nhà lớn nhất ở trung tâm trang trại. Thấy trang trại rộng rãi ngăn nắp, anh em Chu gia khen thầm.
 Cao Thiệu Đàm nói :
 - Ba vị từ Kim Lăng tới, chuyến này mới có dịp xem kỹ mã hội do Thuận Vương tổ chức, vui nhưng cũng nắm chắc phần hồi hộp. Người dự thi đã khá đông, niêm yết ngay ở phủ môn cho dân chúng theo dõi trước cuộc đua.
 Quan Long nói :
 - Đáng lẽ tôi không lên Kim Lăng, nhưng nhân dịp có Chu biểu huynh và biểu muội qua Quan gia bảo nên cùng đồng hành cho vui.
 Cao Thiệu Đàm ngạc nhiên.
 - A! Thế ra ba vị là cô cửu với nhau cả. Trước đây tôi không thấy nhắc tới.
 Chu Đức Kiệt cười :
 - Có họ từ mấy đời rồi, bây giờ vô tình mới nhận nhau, Trang chủ ạ.
 Quan Long bèn đem sự liên lạc giữa hai dòng họ Chu, Quan kể cho Lăng Quân nghe.
 Ba người vào đại sảnh dùng trà, được vài tuần, Cao Thiện Đàm nói :
 - Tôi đã cho sửa soạn phòng ốc, quí vị từ xa tới, xin mời về phòng thay y phục nghỉ ngơi kẻo mệt.
 Trước khi chia tay ai về phòng nấy, Chu Đức Kiệt nói với họ Cao.
 - Chúng tôi có hẹn với mấy người anh em họp nhau ở Hoa Vương lầu, vậy thế nào cũng phải tới đó tìm mới được.
 - Tửu lầu đó là một trong những quán lớn nhất ở Kim Lăng, kế bên ngay Vương phủ. Giờ đây chiều rồi, hiệp khách hãy về phòng nghỉ ngơi, lát nữa dùng bữa tối. Sáng mai, chúng ta cùng đi tìm mọi người ở Hoa Vương lầu rồi mời cả về tệ trang cho tiện. Như vậy có được không?
 Chu Đức Kiệt gật đầu nói mấy lời cảm ơn.
 Hôm sau, bốn người đi bộ vào thành.
 Anh em Chu gia nhận thấy phủ thành Kim Lăng, tường cao, hào sâu, quân lính canh phòng rất chỉnh tề.
 Lam Y nói :
 - Thành trì này ở trong tình trạng giới nghiêm hay sao mà phòng bị cẩn mật thế này? Dân chúng có được bình an không?
 Cao Thiệu Đàm đáp :
 - Trước kia, sự cẩn mật không được phòng vệ nghiêm như hiện tại. Từ ngày Thuận Vương xây đấu trường mới và sửa sang mở rộng Vương phủ, quân đội được tổ chức chu đáo hơn thì việc canh phòng lúc nào cũng nghiêm như ở trong tình trạng giao tranh. Mới đầu, nhân dân lấy làm sợ hãi, nhưng Thuận Vương đề bản hiểu dụ, và cho nhiều người đi giải thích sự nghiêm mật là bổn phận của binh gia, cho nên dần thiên hạ đang thái bình, binh sĩ không có quyền sao lãng bổn phận, và yên tâm làm ăn như thường.
 Lam Y mỉm cười :
 - Vị Vương gia này kể cũng có tài và khôn khéo lắm đấy chứ.
 Cao Thiệu Đàm gật đầu :
 - Chính vậy! Đó là ý kiến của mọi người. Quân binh được tập luyện theo một kỷ luật thép dưới quyền điều khiển của Ngũ Hổ tướng, hai vị Thế tử và Quận chúa Lan Anh.
 Lam Y vội hỏi :
 - Quận chúa Lan Anh nào vậy hả, Cao tiên sinh?
 - Chu Lan Anh con ruột của Thuận Vương. Nghe nói nàng được theo học võ nghệ của một dị nhân...
 Cao Thiệu Đàm vỗ trán nói tiếp :
 - Già rồi lẫn có khác! Người nói Quận chúa Chu Lan Anh vào núi học võ nghệ, không phải ai xa lạ. Chính là lệnh thúc phụ đó. Lần rồi Thượng nhân có cùng một lão ni nán lại tệ trang một ngày, một đêm rồi lại lên đường ngay.
 Lam Y nhìn Chu Đức Kiệt nhắc lại ba tiếng :
 - Chu Lan Anh!
 Cao Thiệu Đàm hỏi :
 - Nữ hiệp quen biết người ấy sao?
 - Không, tôi mến mỹ danh ấy quá. Chẳng hiểu người có được kiều diễm như tên không?
 - Những người được xem cuộc tranh ấn Tiên phong năm ngoái đều trông thấy nàng, và đồng ý Lan Anh quận chúa là một tuyệt sắc anh thư.
 Quan Long hỏi :
 - Cao tiên sinh không đi coi cuộc tranh tài đó sao.
 - Không. Bởi vậy tôi rất tiếc. Bữa đó bị đau nhiều, y sĩ cấm không cho tôi đi. Nghe kể chuyện lại cuộc tranh tài và sôi nổi vô cùng.
 Anh em Chu gia chú ý ngắm nhìn cảnh thị trấn, nhà cửa đền đài, mái ngói cong cong, lầu son gác tía. Phố xá buôn bán sầm uất, người đi kẻ lại tấp nập chẳng kém gì Yên Kinh. tại các ngã ba, ngã tư đường, nhiều người xúm lại đọc những điều viết chữ đen.
 Cao Thiệu Đàm chỉ tay nói :
 - Đó là những bản danh sách các đấu thủ gần xa, sẽ dự cuộc tranh tài kỵ mã và xa mã sắp tới.
 Bọn Chu, Quan chọn chỗ ít người nhất len vào đọc.
 Bảng danh sách và điều lệ ghi đại khái có hai cuộc thi: Kỵ mã và mã xa. Hàng bên tả ghi tên các đấu thủ kỵ mã. Hàng bên hữu các đấu thủ mã xa. Các xe thì đều do Vương phủ cấp. Mỗi xe cột tứ mã. Các đấu thủ phải có ngựa riêng của mình. Mỗi công quán lớn lợp lá có nơi ăn ngủ hẳn hoi, và một tàu ngựa lớn chia ra thành từng khu có đánh số “Đệ nhất”, “Đệ nhị”, “Đệ tam”... theo số các đấu thủ ghi tên thứ tự. Đấu thủ hay các người theo đấu thủ phải tự chăm lo cho ngựa của mình.
 Ngoài ra, phần chú thích có ghi nếu xảy ra sự rủi ro, cơ quan cứu thương của Vương phủ sẽ chăm lo cho các đấu thủ bị thương tại chỗ, và trả ngay cho các người tùy tùng của đấu thủ. Nếu có sự rủi ro về sanh mạng, thân nhân đấu thủ không được vịn vào bất cứ lẽ gì để bắt đền mạng. Trái lại, các đấu thủ Nhất, Nhị, Tam đều được trọng thưởng. Những đấu thủ ưu hạng ấy nếu đầu quân Kim Lăng sẽ được trọng dụng tùy theo cấp bậc. Nhưng, dù thua cuộc, các đấu thủ muốn nhập hàng ngũ Kim Lăng cũng vẫn được thâu nạp ngay.
 Đọc xong, bỏ đám đông người đi ra, Chu Đức Kiệt hỏi Cao Thiệu Đàm :
 - Công quán riêng cho các đấu thủ ở đâu?
 - Ở ngoài Nam môn.
 Quan Long hỏi :
 - Có người của Vương phủ dự đấu không.
 - Có chớ! Trên bản danh sách, những tên nào có chấm đen ở đầu danh là nhân viên của Thuận Vương đó.
 Quan Long nhìn mọi người, cười lạt im lặng. Anh em Chu gia và họ Cao cùng mỉm cười :
 - Đi khỏi khu quán chợ, bốn người tiến về phái Đông môn tới một khu dinh thự nguy nga hết tầng nọ tới lớp kia, xung quanh tường cao bao bọc cổng có lính canh nghiêm trang. Ngang trên mái cổng đá khắc hai đại tự Vương phủ.
 Chu Đức Kiệt nhìn Lam Y.
 - Kiên cố và nghiêm mật hả hiền muội.
 Lam Y mỉm cười im lặng. Lát sau, nàng hỏi Cao Thiệu Đàm :
 - Sắp tới Hoa Vương lầu chưa.
 - Vòng qua khúc đường này ra đầu phố đông đúc kia thì tới nơi.
 Quả nhiên, Hoa Vương lầu đứng sừng sững như tòa lâu đài lớn trông ra hai mặt đường. Thực khách ra vào tấp nập và toàn là người sang trọng.
 Quan Long nói :
 - Bọn ta vào đây uống rượu, thong thả chờ coi đã có bằng hữu nào tới chưa.
 Chu Đức Kiệt khen phải.
 Lam Y hỏi :
 - Ngồi dưới hay lên lầu thượng.
 - Lên lầu chớ! Ngồi ngay ở thồi ngoài hè lầu ngắm trông phố xá cho tiện.
 Ba anh em Chu, Quan giơ tay mời Cao Thiệu Đàm vào trước rồi tự mình theo sau. Thấy người lạ vào, mọi người đều chăm chú nhìn. Viên quản lý lầu là Đặng Kim Phùng chạy ra đon đả chào họ Chu và mọi người.
 - Ít lâu nay không được thừa tiếp Trang chủ, chẳng hay có được mạnh giỏi không?
 - Cám ơn. Bận việc nhà nên ít phiếm hành. Nhân có mấy người bạn ở xa tới Kim Lăng xem kỵ mã hội, bữa nay mới được rảnh đi chơi. Đắt hàng không hả tiên sinh?
 - Ơn trời cũng khá. Phòng ốc chật hết, phần đông là các quí khách từ xa về dự hội. Xin mời quí vị lên lầu, còn chỗ ngồi tốt lắm.
 Cao Thiệu Đàm đi trước gật đầu đáp lễ mọi người ở thồi nọ, thồi kia. Anh em Chu gia khen thầm họ Cao giao du rộng rãi.
 Thực khách thấy tướng mạo phi phàm của Lam Y, Chu Đức Kiệt và nhất là diện mạo của Quan Long, thì tưởng là Hán Thọ Đình Hầu Quan Võ tái sanh nên đều kinh ngạc, nhìn không chớp mắt.
 Lên tới trên lầu rộng sau gian, trang hoàng cực kỳ lộng lẫy. Ngoài những gian công cộng còn có các cửa vòng chạm trổ trúc chi hoặc mai chi ngăn thành các phòng ăn xinh xinh duyên dáng. Đưa mắt nhìn khắp một lượt, anh em Chu gia nhận ngay ra Thiết Phiến Cô Âu Dương Bích Nữ, Thần Mã Truy Phong Âu Dương Tòng Đức và Thiên Lý Mã Tào Chí, ba người ngồi ở hè lầu bên gian thứ năm bên mấy chậu hoa phù dung. Chu Đức Kiệt giơ tay vẫy thì vừa vặn Âu Dương Bích Nữ cũng đẩy ghế đứng lên vẫy tay ra hiệu.
 Bốn mắt gặp nhau, Bích Nữ sung sướng mừng rỡ ra mặt. Chu Đức Kiệt chớp mắt mấy cái quay lại nhìn Lam Y.
 - Gì thế hả hiền huynh?
 - Ủa! Hiền muội không nhận ra Âu Dương Tòng Đức đang vẫy tay ra hiệu ở đằng kia sao?
 Lam Y mỉm cười :
 - Thiết Phiến Cô Bích Nữ đó chứ! Kìa, Tòng Đức bây giờ mới đứng lên cùng Tào Chí.
 Chu Đức Kiệt vội quay đi với Quan Long và Cao Thiệu Đàm :
 - Mời nhị vị lại đằng này. Có mấy anh em quen đang ở gian thứ năm kia rồi.
 Nói đoạn, chàng đi trước dẫn đường.
 Sau một hồi giới thiệu, Tào Chí truyền lệnh tửu bảo dọn thồi lớn.
 Lam Y cầm tay Bích Nữ ôn tồn hỏi :
 - Hiền muội tới Kim Lăng lâu chưa?
 Bích Nữ đon đả :
 - Mới chập tối hôm qua, vào trọ thẳng Hoa Vương lầu chờ hiền tỉ. Gặp nhau ngay, ngu muội... mừng quá!
 Siết chặt tay Bích Nữ, Lam Y ranh mãnh :
 - Chu huynh... và tôi mong nhớ quá chừng, nên lúc mới lên lầu thì... Chu huynh nhận ra... hiền muội ngay trước nhất!
 Bích Nữ, má hường hường như trái đào càng thêm kiều diễm, mỉm cười quay lảng đi nơi khác. Lam Y buông tay nàng kéo ghế cùng ngồi.
 Cao Thiệu Đàm ngồi khách vị theo lời mời của Chu Đức Kiệt. Hai bên tả, hữu họ Cao là Quan Long và Tào Chí, kế đến Âu Dương Tòng Đức.
 Lam Y tự ngồi xuống bên Quan Long, kéo tay Bích Nữ ngồi kế bên mình, thành thử Chu Đức Kiệt ngồi lọt vào giữa anh em Âu Dương. Chu Đức Kiệt nhận thấy những dụng ý của Lam Y, nhưng chính chàng cũng phải lạ cho mình là xưa đến nay trên bước giang hồ, chàng đã gặp nhiều phụ nữ mà chưa bao giờ chàng cảm thấy thứ cảm giác lạ lùng, khiến chàng rung động tới tâm can khi ngồi kế bên cô gái anh thư của Thiếu Lâm tự.
 Nói về võ nghệ, chàng đã có dịp thưởng thức kỹ thuật của Âu Dương Bích Nữ. Tuy nàng chưa có dịp trổ hết tài võ, thần lực nhưng với kinh nghiệm xét người, chàng biết nàng là một nhân vật kịch liệt đáng kể, có thể liệt vào hàng Lam Y nữ hiệp Chu Tú Anh.
 - Vì vậy, chàng mến tài của ba cô gái cân quắc anh thư họ Âu Dương đó chăng, nên hôm nay ngồi bên nàng, chàng bỗng dưng cảm thấy thứ cảm giác kỳ lạ rung động cả tâm hồn thể xác, mà một hiệp khách giang hồ thẳng thắn như chàng chưa hề biết tới kể từ lúc thành nhân.
 Nhác nhìn qua nét mặt anh mình, Lam Y đoán hiểu ngay tâm trạng của Đức Kiệt, nên nàng nhắc :
 - Kìa! Hiền huynh đứng chủ tiệc gọi món ăn đi chớ?
 Chu Đức Kiệt cố điềm đạm :
 - Quý vị đây đang nói chuyện vui và dùng trà, ngu huynh tưởng còn sớm.
 Nói đoạn, chàng vẫy tay cho tửu bảo lại gần :
 - Lấy mấy hồ Mai Quế lộ và các thức ăn đặc biệt nhất của Kim Lăng ra đây.
 Tửu bảo lễ phép trình thực đơn.
 - Bất tất! Ngươi cứ lấy các món đặc biệt lên, nghe!
 Âu Dương Bích Nữ vội cầm tay Lam Y hỏi :
 - Hiền tỉ có đồng ý với tôi dùng thứ rượu khác không?
 Lam Y gật đầu :
 - Phải đó. Chị em mình dùng thứ rượu nhẹ như Thanh Mai tửu chẳng hạn, có được không?
 - Xin đồng ý. Nhường Mai Quế lộ cho các ông ấy.
 Tửu bảo nghe vậy thưa ngay :
 - Hoa Vương lầu có các thứ rượu vừa nhẹ lại vừa đậm giọng chế với trái mơ vàng đặc biệt của xứ này, nhị vị khách quan dùng chắc vừa ý.
 Cao Thiệu Đàm nói :
 - Phải rồi. Ngươi lấy Hoàng Mai tửu để nhị vị tiểu thơ dùng. Còn Mai Quế lộ thì lấy thứ thâm niên, nghe?
 Tửu bảo vâng dạ quay đi. Chu Đức Kiệt hỏi thăm tin tức bên Dương Châu và tin anh em họ Phàn.
 Tào Chí nói :
 - Khi nhị vị lên đường thì tiểu đệ đón nhạc mẫu về tệ trang cùng ở với gia mẫu, nên tiện nội cũng được an tâm. Tiệm Đạt Hưng giao cho Lý quản gia điều khiển. Anh em Phàn biểu huynh ở chơi vài ngày rồi cùng về Trấn Giang. Hẹn sẽ đi Kim Lăng họp mặt mà sao bữa nay còn chưa tới.
 Âu Dương Tòng Đức nói :
 - Có lẽ ngày mai, cùng lắm sang ngày mốt, mọi người sẽ tới đông đủ. Như chúng ta cũng mới đến Kim Lăng chiều qua, can chi đại ca nóng ruột?
 Mọi người đều khen phải. Tửu bảo bê rượu và thức ăn lên, rót rượu. Bảy người nâng chén mời nhau.
 Rượu được vài tuần, Chu Đức Kiệt đem chuyện diệt trừ hắc điếm ở Sơn Phu và hỏa thiêu Xích Hoa viện kể rõ ràng cho các vị anh hùng nghe. Lam Y cũng kể tiếp thấy cơn mộng Hán Thọ Đình Hầu dẫn đường đi Quan gia bảo, hội kiến với Kim Đao Quan Long và do đó mới nhận ra sự liên hệ giữa hai họ Chu, Quan mấy đời trước.
 Nghe chuyện ai nấy đều lấy làm thích thú, Lam Y nói thêm với Tào Chí và anh em Âu Dương :
 - Quan biểu huynh là người sành ngựa và khắc phục được con Xích Thố rất đặc biệt chẳng khác gì con Xích Thố của tổ tiên khi trước.
 Và nàng bảo Quan Long :
 - Tào đại ca đây và nhị vị Âu Dương gia là nhân vật có kỹ thuật cực kỳ điêu luyện về cách nuôi, dạy kỵ mã. Ngựa của ba vị dùng toàn là giống tuấn mã phi thường.
 Quan Long đem chuyện hàng phục Xích Thố ở Phi Long Lãnh kể lại cho Cao Thiệu Đàm, Tào Chí và Tòng Đức nghe.
 Xưa nay, Âu Dương Bích Nữ thường xử sự như nam nhi, rất thẳng thắn, không hề ngượng nghịu. Vốn có sẵn bản lãnh điêu luyện, Bích Nữ có đức tin mạnh mẽ.
 Bên Tô Châu, nơi trang trại nhà nàng, các hảo hán giang hồ qua lại không ngớt, nhiều người để ý tới sắc đẹp của nàng lân la muốn cầu thân, nhưng nghĩ tới việc tất thế nào nàng cũng yêu cầu đấu võ, thì ai nấy đều ngần ngại nên lại thôi. Cũng có lẽ ngông cuồng, hăng tiết sau năm ba chén, yêu cầu được mỹ nhân đấu võ, Bích Nữ thể tình Mạnh Thường Quân nhận lời. Nhưng sau vài hiệp thử tài, đối phương tự hiểu gặp trúng tay hảo hán thủ nên tìm cách thoái lui êm ả.
 Tuy không ưa các nhân vật ấy, Bích Nữ củng cố nhẫn nại tha cho họ để giữ gìn danh tiếng Trại Mạnh Thường trọng tân khách của cha. Bởi vậy, riêng đối với nàng, nàng có cảm tưởng là giới thanh niên ngông cuồng nhiều hơn là tài ba xuất chúng. Trái lại, từ khi gặp Chu Đức Kiệt, điềm tĩnh, ít nói, cử chỉ cân nhắc đáng kính, hơn nữa, với tướng mạo phi phàm quân tử, Bích Nữ thấy có cảm tình và kính phục ngay. Khởi đầu, nàng mến Lam Y rồi từ Lam Y nàng chú ý tới Đức Kiệt, nàng ưa nghe giọng sang sảng như chuông vàng mỗi khi chàng cất tiếng và cũng thứ tiếng ấy, nhiều lúc hạ nhẹ êm dịu như tấm thảm cỏ xanh mướt buổi đầu Xuân. Căn cứ vào danh tiếng của Nữ Hiệp Áo Lam, nàng dự đoán ngay tài nghệ siêu quần bạt chúng của chàng trai đất Bắc. Thế rồi từ đó, trong nhiều buổi chung đụng, nhất cử, nhất động của họ Chu đều được Kỳ Nữ Tô Châu ghi nhận.
 Nàng còn nhớ buổi diễn võ ở Tào gia trang, khi trao cương ngựa Bạch Hồng cho chàng mượn, chẳng hiểu vô ý hay hữu tình, đôi bàn tay chỉ chạm nhẹ phải nhau mà toàn thân nàng run bật hẳn lên bởi một cảm giác đê mê khó hiểu... Chẳng hiểu yêu là thế nào, nhưng điều chắc chắn là nàng có cảm tình với con người mã thượng giang hồ ấy. Bữa nay, ngồi bên nhau, thứ cảm giác kỳ lạ kia lại đến với nàng! Và tự nhiên nàng e dè thẹn thùng mỗi khi chạm phải luồng mắt vừa dịu dàng vừa mãnh liệt của con người trầm tĩnh ấy! Nàng thẹn, đôi má đỏ hồng, chẳng khác chi một tiểu thơ khuê các kín cổng cao tường, năm, tháng chỉ biết bầu bạn cùng đường kim mũi chỉ chốn phòng the.
 Mọi người nói chuyện vui vẻ. Bích Nữ đâu có nghe. Nàng lơ đãng suy nghĩ, tự xét tâm trạng và nhận thấy cảm tình của mình hướng hẳn về Chu Đức Kiệt.
 Tuy nói chuyện, Lam Y vẫn chú ý đến trạng thái của Bích Nữ. Nàng vỗ nhẹ vào vai bạn gái :
 - Nghĩ gì mà thần người ra vậy?
 Giật mình, Bích Nữ mỉm cười chữa thẹn :
 - Nghe chuyện Phi Long lãnh, tiểu muội ước ao được du hiệp như quý vị để được vãng cảnh san hà.
 Lam Y cười :
 - Chuyện này tôi xin phép bá phụ cho hiền muội đi cùng cho vui nhé?
 - Thế thì còn gì hay bằng nữa!...
 Bảy người nhắm nhót, chuyện trò vui vẻ.
 Bỗng một đoàn người ngựa trên dưới hai mươi, từ đầu đường rẽ tới.
 Âu Dương Tòng Đức nói trước :
 - À, Thiết Xích Tử, gia phụ và các vị anh hùng thực khách bên Tô Châu tới. Để tôi xuống mời lên đây.
 Chu Đức Kiệt cũng đẩy ghế đứng lên :
 - Đi! Anh em cùng xuống mới phải.
 Phía dưới, đoàn người, Tô Châu nhìn lên hè lầu. Thiết Xích Tử, Trại Mạnh Thường Âu Dương Tòng Thiện, Cái Thiên Ô Vân Âu Dương Tòng Cát cùng vẫy tay gọi Lam Y, Bích Nữ, Cao Thiệu Đàm và Quan Long, Tào Chí đứng ở lan can nhìn xuống.
 Thấy khách tới đông, bọn tửu bảo lố nhố chạy ra đón.
 - Các vị anh hùng người nào cũng đeo hành trang và khí giới, buộc ngựa vào hàng cột dài trồng ở ven đường.
 Chu Đức Kiệt và Tòng Đức xuống tới nơi chào hỏi rồi mời cả lên lầu. Cao Thiệu Đàm gọi tửu bảo kê mấy thồi liền nhau rồi cùng bọn Lam Y ra đầu thang tiếp đón.
 Âu Dương Bích Nữ cúi xuống lạy phụ thân.
 Tòng Thiện xua tay :
 - Nơi công chúng, cho phép con bỏ đại lễ.
 Bích Nữ theo lời vái chào mọi người.
 Cao Thiệu Đàm nói với Âu Dương Tòng Thiện :
 - Dùng bữa ở tửu lầu xong, xin mời tất cả về tệ trang thuận tiện hơn.
 - Ngu huynh cũng có ý ấy, song Thiết Xích Tử muốn qua Hoa Vương lầu trước, xem có gặp nhị vị Chu hiệp rồi mới đến Cao gia trang sau.
 Bích Nữ sung sướng, đặc biệt giới thiệu Lam Y nữ hiệp và Chu Đức Kiệt với cha, anh :
 - Tòng Thiện, Tòng Cát đã được nghe Thiết Xích Tử kể chuyện Kim Cương tự và thành tích hành hiệp của anh em Chu gia, nay được cùng nhau diện kiến mới biết người thật còn hùng dũng hơn sự miêu tả nhiều.
 Âu Dương Tòng Thiện nói :
 - Ta rất mừng các con được giao tiếp với các vị hiệp khách đây. Nên theo đó làm gương.
 Về phần Lam Y và Chu Đức Kiệt cũng hoan hỉ khi thấy Trại Mạnh Thường uy nghi bệ vệ đáng mặt đệ nhất môn đồ của Trí Dũng thiền sư phái Thiếu Lâm. Hổ phụ sanh hổ tử có khác. Tòng Cát và Tòng Đức giống nhau như đúc, cả hai cùng oai hùng, dẻo dai như hai con báo tỏ ra có sức lực ghê gớm. Mắt xếch mà lớn, mũi dọc dừa, tay dài, môi đỏ, cổ to, vai rộng, eo lưng chẽn hẳn lại tỏ ra có một sức lực tiềm tàng đáng sợ. Có một điều kỳ mà Âu Dương Tòng Thiện và Tòng Cát phải ngạc nhiên là Bích Nữ giống hệt Lam Y từ khuôn mặt, sắc da đến vóc người. Kẻ lạ chẳng khỏi nhầm lẫn hai nàng là chị em sanh đôi hay ít ra cũng là chị em ruột.
 Từ xa vừa tới ai nấy đều đói ngấu, gặp rượu ngon nhắm tốt, xúm vào ăn ăn, uống uống như hùm, chuyện trò tựa pháo ran. Bữa tiệc kéo dài tận chiều.
 Tào Chí vẫn tỏ vẻ nóng ruột chưa thấy Phàn Thế Hùng và Phàn Mộng Liên tới Kim Lăng...
 - Quái thiệt! Tôi đã căn dặn hai người ấy đi sớm đến Kim Lăng trước kỳ hội vài ngày.
 Lam Y nói :
 - Còn hai hôm nữa mới tới kỳ hội. Tào huynh nóng ruột có ích lợi chi?
 Không biết trả lời sao, Tào Chí đành ngồi im, cố vui gượng theo mọi người, nhưng cũng chẳng dẹp hết nổi bồn chồn trong dạ. Tiệc đã tan, mọi người sửa soạn về Cao gia trang, Tào Chí nói :
 - Quý vị đi trước, tôi ở lại Hoa Vương lầu chờ anh em họ Phàn rồi cùng tới yết kiến.
 Dứt lời, chàng hối tửu bảo thắng ngựa của Tòng Đức và Bích Nữ dắt sẵn ra đường. Chu Đức Kiệt ra quầy lầu thượng tính tiền thì vừa lúc ấy, một bọn bẩy người lên lầu.
 Hai người đi đầu ra lối con quan, võ phục sang trọng. Người vận bào vàng ốm nhom, da mặt vàng khè như nghệ. Tuy còn trẻ, trạc ngoài ba chục tuổi, nhưng nét mặt nhăn nheo. Tóc đỏ như râu ngô búi ngược lên đỉnh đầu chụp chiếc mũ nhỏ Phụng tiên có giải buộc xuống cầm. Nếu không thấy cử chỉ lanh lẹ và cặp mắt lồi xếch ngược sáng ngời như hai vì tinh tú, thì ai cũng cho là người đó mới ốm dậy.
 Một sự nữa khiến thực khách phải kinh sợ là gã ốm nhom ấy xách nhẹ nhàng cặp Thiết chùy sơn đen to lớn dị thường! Trông hình thức cặp chùy ghê gớm ấy, nếu bằng sắt thiệt thời ít ra cũng nặng tới sáu bảy trăm cân. Không hiểu Lý Nguyên Bá thời Đường khi xưa có sức mạnh thế nào để sử dụng cặp chùy ngàn cân, nhưng cặp chùy của gã ốm ho “hoàng diện” này cũng kềnh càng ghê gớm lắm. Trông gã hình dáng tiều tụy như vậy mà xách cặp chùy quá lớn nhẹ nhàng như không, bọn thực khách thì thào với nhau nghi là chùy đó rỗng, hay bằng... cây! Chớ không ai dám tin con người ấy có sức mạnh bạt sơn như vậy!
 Như đoán biết ý nghĩ của mọi người, gã “hoàng diện” đó la lớn :
 - Tửu bảo! Bộ tửu lầu lớn như vậy mà không còn thồi nào khả dĩ chứa nổi bảy mạng này sao? Hay là muốn ta liệng quầy hàng xuống đường để lấy chỗ ngồi đây?
 Nói đoạn, gã ta để cặp chùy xuống rung chuyển cả mặt bàn, khiến mọi người sợ hãi lắc đầu, thè lưỡi công nhận chùy đó là thứ... thiệt! Ngờ đâu, con người ốm ho ấy lại có sức mạnh phi thường!
 Mấy tên tửu bảo bận khách vội vàng chạy tới khúm núm :
 - Xin công tử tha lỗi, chúng con kê thêm thồi ra chỗ rộng kia được không?
 Gã “hoàng diện” khẽ gật đầu, nhưng vẫn đưa mắt nhìn quanh :
 - Lẹ tay lên, kẻo ta phá tan thành Kim Lăng, rồi trở về Tây Xuyên cho quan dân các ngươi tới đó mà tìm ta hạch tội!
 Thiếu niên đi cùng vận áo bào điều, giắt cặp giản, khuyên :
 - Biểu huynh chẳng nên nóng nảy. Phải để thì giờ chúng mới hầu kịp. Nhà hàng đông khách tránh sao nổi sơ suất được!
 Năm người đi theo trang phục theo kiểu gia tướng, lưng tên nào cũng đính miếng vải đỏ hình vuông thêu chữ “Hà”. Thồi đã bày xong, gã thanh niên hoàng diện bảo :
 - Cho phép các ngươi ngồi ăn tự nhiên, muốn dùng gì cứ gọi :
 - Nói đoạn, thanh niên cúi xuống lượm song chùy để vào bên thồi y ngồi. Bảy người xúm lại ăn uống như hùm đói.
 Âu Dương Tòng Thiện đưa mắt nhìn mọi người :
 - Nhân vật kỳ khôi đó chứ nhỉ? Họ từ Ba Thục về Kim Lăng dự cuộc đua chăng?
 Thiết Xích Tử gật gù nói :
 - Năm tên gia tướng có chữ Hà trên lưng, có lẽ bọn này là người nhà quan trấn thủ Tứ Xuyên Hà Thiên Thọ chăng?
 Một vị thực khách có tuổi của Âu Dương trang tên Tào Gia Quế đã từng đặt gót giang hồ khắp nơi, nói :
 - Hà tổng trấn có hai con trai và một người cháu nghe nói anh hùng lắm, tôi không biết mặt.
 Bọn anh hùng nán lại xem gã “hoàng diện” hành động ra sao.
 Bầy người ăn uống một hồi như vòi voi cuốn lá. Gã ốm nhom đó ăn khỏe khiến mọi người ngạc nhiên. Giây lát ăn xong, gã gọi tửu bảo tính tiền, liệng mấy lạng bạc lên mặt thồi, đẩy ghế đứng lên.
 - Người có biết Vương phủ ở đâu không?
 Tên tửu bảo khép nép :
 - Bẩm có. Công tử đi hết con đường này, rẽ sang tay tả, độ vài trăm thước thì tới ngay.
 Lượm cây thiết chùy, gã bảo mấy người đi theo :
 - Mau vào phủ kẻo trễ.
 Bọn Âu Dương Tòng Thiện đứng cả ra lan can nhìn xuống, thầy bảy người lên bảy con ngựa đi thẳng theo đường vào phủ Thuận Vương.
 Cao Thiệu Đàm nói với mọi người :
 - Nhị vị Chu hiệp, Quan nghĩa sĩ và tôi đi chân, thủng thẳng về sau, quí vị anh hùng sẵn ngựa xin cứ về tệ trang cho đỡ mất thì giờ.
 Âu Dương Bích Nữ nhân dịp nói ngay.
 - Nhường Cao bá phụ cởi ngựa của cháu đi cùng gia phụ về nhà mới tiện. Cháu đi bộ cùng Chu nữ hiệp cho vui.
 Cao Thiệu Đàm chưa biết xử trí ra sao thì Lam Y hiểu ý, tán thành ngay. Mọi người cùng xuống lầu.
 Cao Thiệu Đàm hỏi :
 - Ngựa này của Âu Dương tiểu thư, có dữ không.
 Bích Nữ chỉ Bạch Hồng mã.
 - Con hai màu kia. Bá phụ cứ vững tâm lên yên, cháu giữ cương, nó sẽ đi ngay.
 Nàng đi tới chỗ buộc Bạch Hồng mã vỗ lên cổ mấy cái.
 - Đi trước nhé, ta sẽ về sau, nghe.
 Nàng giữ cương cho họ Cao lên đâu đấy, vỗ vào mông ngựa nói :
 - Đi.
 Bạch Hồng mã dướn kiệu nhỏ theo đoàn người ngựa về trang.
 Lam Y nói với Tào Chí.
 - Tào huynh ở lại đây chờ anh em Phàn gia. Cao gia trang ở ngoài Tây Môn hỏi thăm tới ngay.
 Tào Chí gật đầu cùng mọi người chia tay. Trời đã sẩm tối, nhà nào nhà ấy đều lên đèn sáng trưng. Bích Nữ, Lam Y, Đức Kiệt, Quan Long, bốn người đủng đỉnh qua các khu phố ra khỏi Tây Môn. Về tới Cao gia trang, anh em Chu gia mừng rỡ vì thấy Đức Võ Thượng Nhân đang ngồi ở đại sảnh cùng mọi người. Tiến tới trước mặt Thượng nhân hai người quỳ lạy.
 - Thúc phụ giáng lâm từ hồi nào và từ đâu tới đây.
 Thượng nhân đỡ hai người dậy.
 - Ta tới đây khi mọi người còn ở nội thành. Trước khi xuống Nam, ta có qua thăm nhà ở Bình Dương, mọi việc bình thường.
 Chu Đức Kiệt đem việc có liên hệ giữa hai họ Chu, Quan thư lại cho Thượng nhân nghe và chỉ Quan Long.
 - Đây là Quan biểu đệ.
 - Đức Võ Thượng Nhân.
 - Ta rất hãnh diện có một người ngoại điệt anh hùng dũng võ Hán Thọ Đình Hầu.
 Tối hôm đó, Lam Y và Chu Đức Kiệt đến trại phòng của Đức Võ trình bày vụ đánh Kim Cương tự, vụ làng Sơn phu và những điều nói về Thuận Vương.
 - Vây cánh của Thuận Vương rải rác khắp nơi, sự dụng độc còn nhiều. Do đó, oán thù càng lớn, hai con tiểu tâm phòng bị. Cuộc mưu phản đã rõ rệt, riêng có triều đình nhà vua hãy còn mơ hồ.
 Chu Đức Kiệt hỏi :
 - Thúc phụ có nghe tên Nhạc Lan Anh bao giờ không.
 - Nhạc Lan Anh hay Chu Lan Anh quận chúa cũng là một người. Môn đồ của Thượng Thái thiền sư trên Long Sơn, quan đồ huyện, Tây Bắc Vân Nam. Người ấy rất hữu ích sau này. Nếu gặp, cứ nói tên ta hay tên sư phụ của y, tức khắc có sự giúp đỡ.
 Đức Võ nhắc sơ lại tiểu sử Nhạc Lan Anh cho hai người nghe.
 Lam Y hỏi :
 - Thúc phụ qua Kim Lăng có việc chi khác nữa không?
 - Ta đi Tô Châu ghé thăm Trại Mạnh thường, không ngờ y xuống Kim Lăng rồi, nên ta theo xuống đây nhân dịp coi kỵ mã hội luôn thể. Sau đó, ta xuống cõi Lĩnh Nam hái thuốc rồi lại trở về Bắc thăm dãy Côn Luân Sơn.
 Đức Võ Thượng Nhân đứng dậy mở bọc hành trang lấy ra một gói thuộc hoàn và một cuốn sách đưa cho Lam Y.
 - Đây là thứ thuốc mỗi hoàn chữa thương tích và độc dược, thứ nào cũng đã ghi sẵn, hai con giữ lấy mà dùng. Còn cuốn sách này, ta ghi chú nhiều điều về Thái Dương kiếm. Các con nên đọc và nhận xét kỹ. nên có sáng kiến, cứ việc tham khảo rồi trình ta coi. Cuộc du hành này ta lâu tới hai năm. Các con cứ tính đúng hai mươi bốn tháng trở về Cửu Huyền sơn. Ngày đó, ta sẽ trao cho bản sao về cuốn phương pháp Linh Đan Độc Luyện mà nghiên cứu. Văn ôn, võ luyện, dầu hiện thời các con đạt đến bậc siêu đẳng cũng vẫn phải luyện tập như thường mới hòng tiến xa hơn nữa. Rừng văn, biển võ, con nghe chưa?
 - Dạ chúng con vẫn chăm chỉ như hồi còn ở Cửu Huyền sơn.
 Hôm sau, nhân dịp Chu Đức Kiệt mãi thù tiếp các hảo hán. Lam Y đem việc muốn thúc giục Chu Đức Kiệt lập gia đình để nối dõi Chu gia cho Thượng nhân nghe. Nhân tiện, nàng hỏi luôn Người về Bích Nữ.
 - Âu Dương Bích Nữ phải không? Nếu y chịu thì còn chi bằng, rất xứng đôi vừa lứa. Được, con an tâm. Để ta nói qua với Âu Dương Tòng Thiện nhờ y tác thành cho. Nhưng còn ý kiến của Chu Đức Kiệt thế nào?
 - Con chưa rõ lắm, nhưng dù sao cũng phải thành.
 - Ta sẽ nói với Trại Mạnh Thường, còn duyên phận là điều thiên định nhé.
 Đức Võ Thượng Nhân bấm đốt ngón tay lẩm bẩm nói một mình.
 - Bích Nữ Kỷ Mùi, Thiên thượng hỏa theo nạp âm ngũ hành, Đức Kiệt ba mươi ba Quý Dậu là Kiến phong kim... Hừ! Cao số thiệt.
 Tính tới đây, Đức Võ tiếp tục bấm trên ngón tay, nhưng tính thầm chớ không thành tiếng.
 Lam Y thắc mắc.
 - Thúc phụ dạy sao.
 Đức Võ chậm rãi.
 - Không sao cả!... Lấy được.
 - Anh em con muốn học môn Nhâm Độn Lục Giáp, chừng nào thúc phụ truyền dạy.
 Đức Võ mỉm cười, vuốt râu hồi lâu.
 - Các con hãy còn ít tuổi. Học môn đó quá sớm. Chừng nào tạm ngừng giang hồ hành hiệp, ta sẽ truyền dạy. Trên đời phàm làm việc gì cũng phải tuần tự đúng thời giờ của nó, tham lam vội vàng khó thành tựu lắm! Xưa kia theo Huyền Vân trưởng lão, ta không được phép tiến quá lẹ như các con đâu. Chưa quá ba chục tuổi mà các con đã thuộc và áp dụng nổi Nhân Thần Pháp (tức là điểm nổi ba mươi thứ nguyệt trên thân thể người ta) là một sự đi ra ngoài qui luật của võ thuật rồi đó! Trong lúc này, điều ta mong hơn hết ở anh em con là sự am hiểu các tánh dược, cách chế hóa và kỵ chất ghi đầy đủ trong cuốn sách ta đã cho trước khi lên đường hành hiệp. Vậy đọc hết chưa.
 - Anh em con thuộc lòng ba cuốn đó rồi.
 - Được lắm, ta sẽ truyền cho phép luyện đan.
 Hai người đang nói chuyện, Đức Kiệt bước vào.
 - Bẩm thúc phụ, có hai người bạn nữa hẹn tụ hội tại Kim Lăng mà bữa nay còn chưa tới, có lẽ họ bị cản trở chăng.
 Bấm theo lối Khổng Minh Độn Giáp, Đức Võ lắc đầu :
 - Đừng tốn công chờ vô ích! Họ không tới đâu, ta không hài lòng về quẻ này.
 - Sao vậy, thưa thúc phụ.
 - Con có nhớ ngày sanh tháng đẻ của họ không.
 - Không.
 - Thế thì nói rõ sao được! Hôm nay ngày Thất sát, chạm quẻ Vô Vong..., độc bất hảo.
 Đức Kiệt đưa mắt nhìn Lam Y lo lắng.
 Đức Võ hỏi :
 - Mọi người đâu cả rồi.
 - Các hảo hán theo Trại Mạnh Thường từ Tô Châu đến, thì đã chia nhau du ngoại rồi. Chỉ còn Cao trang chủ, Âu Dương gia và Quan Long ở nhà thôi.
 Giữa lúc ấy, một tên trang đinh tiến đến, kính cẩn nói :
 - Trang chủ con mời Thượng nhân lên đại sảnh dùng trà.
 - Được cho ngươi lui ra, ta sẽ lên ngay.
 Anh em Chu gia theo Đức Võ lên nhà. Mọi người đã ngồi chờ đó rồi. Lam Y đem việc Đức Võ Thượng Nhân vừa bói quẻ nói cho anh em Âu Dương gia nghe.
 Đức Tòng nói :
 - Chúng ta vào thành tìm Tào đại ca, nói cho y biết và mời y về đây luôn thể.
 Chu Đức Kiệt nói :
 - Ta cứ vào thành nhưng không chắc Tào đệ đã chịu nghe.
 Bích Nữ vào đại sảnh xin phép Trại Mạnh Thường theo bọn Chu gia vào thành. Anh em Chu gia, ba anh em Âu Dương, Quan Long, sáu người vận vũ phục, ngoài vận áo bào kéo vào thành, đi lang thang khắp phố phường mới đến Hoa Vương lầu. Tào Chí đứng bên lan can nhìn xuống đường lo buồn ra mặt.
 Sáu người kéo lên lầu trên, ngồi chỗ hôm qua còn trống.
 - Tôi trong chờ các quí vị quá. Từ sáng đến giờ, không dám rời khỏi tửu lầu.
 Âu Dương Tòng Đức hỏi :
 - Bộ Tài đại ca mất ngủ hôm qua hay sao mà trông sắc diện không được như thường.
 - Quả vậy suốt đêm thao thức không hề ngủ say trọn giờ.
 Chu Đức Kiệt nói :
 - Chà! Chắc tào đệ lo lắng vì anh em Phàn gia tới trễ nên mất ngủ đó.
 - Có một điều lạ lắm, muốn thưa cùng quí vị, mong giải thích giùm.
 - Ồ! Điều chi vậy.
 Ngập ngừng hồi lâu, Tào Chí nói :
 - Hôm nay khi các vị ra thành rồi, tôi đi nằm sớm. Vì mệt quá nên ngủ thiếp lúc nào không rõ.
 Bỗng cửa sổ mở toang ra, một người không rõ là nam hay nữ, tóc xòe ra che lấp mặt, máu me đầy áo, vào phòng ra đi đến bên đầu giường khóc sướt mướt, nói qua tiếng nấc “yêu cầu báo thù, tên hổ mang hại tôi rồi!”. Giật mình, tôi vùng dậy định vén màng xuống giường, thì người đó vùng ra chạy... Giật mình tỉnh dậy thì hóa ra vừa mộng mị chiêm bao, nhưng cánh cửa sổ mở toang, gió mạnh thổi bay rèm... Và ly kỳ, tôi có cảm tưởng như quả có người nào vừa mới vào phòng tôi thật. Tôi bèn xem xét khắp mọi nơi trong phòng, nhưng vô hiệu, nếu là kẻ trộm thì bọc hành trang để ngay ở mặt kỷ lấy đi rồi. Đằng này, trái lại mọi vật và tiền bạc đề còn y nguyên, từ đó tôi thao thức nghĩ vẩn vơ không chợp mắt được nữa.
 Anh em Chu gia lo lắng nhìn nhau, tuy không lộ vẻ lo âu ra mặt.
 Âu Dương Tòng Cát nói :
 - Chiêm bao, mộng mị tin sao được! Chắc hôm qua, đại ca nghĩ ngợi nhiều sau một cuộc hành trình mệt nhọc, nên mới hoảng hốt đó thôi.
 - Rõ ràng lắm, việc như có thật, tiếc nỗi không nhận nỗi người tóc xõa đó là ai, mà lại yêu cầu báo thù là thế nào? Khó hiểu quá.
 Từ khi nghe rõ câu chuyện, Anh em Chu gia và Quan Long vẫn yên lặng suy nghĩ, không ai dám đoán này nọ.
 Hồi lâu, Bích Nữ hỏi :
 - Theo ý riêng của Tào huynh nghĩ thế nào.
 Lo âu ra mặt, Tào Chí đáp như kẻ mất hồn.
 - Tôi lo tệ trang ở bên Dương Châu có xảy ra chuyện gì trong lúc vắng tôi chăng? Hiện thời, tôi rất đáng vị trách vì không suy xét rộng. Tiện nội chỉ (Hạ Thái Phượng) vừa thoát khỏi miệng cọp chưa được bao lâu mà tôi đã vội ra đi ngay thì quả là một điều rất hớ hênh. Lỡ đồng bọn ác tăng đến báo thù, ở tệ trang không ai chống lại nổi...
 Dứt lời chàng ngồi thần người ra, bất đồ đánh rơi chiếc ly rượu đang cầm trong tay bể tan từng mảnh. Tào Chí giật mình mặt buồn rười rượi chỉ sự vỡ ly là điểm gở. Lam Y nghĩ đến quẻ đoán của Đức Võ Thượng Nhân nên cũng nghi hoặc là có điều không hay đã xảy ra.
 Xưa nay, Quan Long không tin việc thần bí nhưng từ bữa mộng thấy Quan Võ báo mộng đón Anh em Chu gia đúng như hệt rồi cũng có ý tin, nhưng không dám phát biểu ý kiến. Trái với các thồi khác ồn ào, bảy người cùng im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng.
 Phá tan bầu không khí nặng nền ấy trước nhất, Lam Y nói :
 - Chúng ta ở đây cho đến chiều, rồi kéo cả về Cao gia trang. Ngày mai vào hội rồi, chờ đến chiều tối, nếu Phàn Thế Hùng và Phàn Mộng Liên vẫn vắng mặt tức là không đến nữa.
 Mọi người khen phải.
 Tào Chí nói :
 - Tôi cũng đành vậy, chớ biết thế nào.
 Giữa lúc ấy, Thiết Xích Tử đi tới.
 - Gớm, quí vị say sưa thế này mà còn quên con trùng rượu này à.
 Âu Dương Tòng Đức hỏi :
 - Ủa! Trương tiên sinh vào thành từ hồi nào.
 Thiết Xích Tử cười vang.
 - Mới tới. Các người ấy ở nhà chuyện trò chỉ dùng trà suông nhạt nhẽo quá không chịu được, nên lẻn ra đây. Mai Quế lộ đó.
 Trông bộ tịch khát rượu của Thiết Xích Tử, ai nấy đều tức cười. Chu Đức Kiệt gọi tửu bảo lấy bốn cân Mai Quế lộ hảo hạng và thịt dê tái.
 Nói đoạn, Thiết Xích Tử nhìn Lam Y cười khúc khích. Lam Y cũng hiểu ý cùng cười theo, đưa mắt nhìn Âu Dương Bích Nữ.
 Ăn uống một hồi no say, Thiết Xích Tử hỏi Tào Chí :
 - Coi bộ Tào hiền điệt giận ông mối này hay sao mà kém vui vậy.
 - Cháu đâu dám hỗn xược như vậy, nhưng quả đang lo khiến ai nấy đều buồn lây.
 - Ủa buồn điều chi.
 Âu Dương Tòng Cát kể lại giấc mơ đêm qua của Tào Chí cho Thiết Xích Tử nghe. Thiết Xích Tử cũng nhận ra rằng, Tào Chí để Hạ Thái Phượng ở lại nhà một mình là điều thất sách sau trận đánh Kim Cương tự.
 Tào Chí càng thấy nóng ruột. Hồi lâu, chàng nói :
 - Hay là tôi về ngay Dương Châu chớ không còn tâm địa nào ở lại Kim Lăng vui thú được. Hay ít ra cũng phải có tin nhà thì mới an tâm được. Ai đưa được tin lành lúc này, Tào mỗ xin lạy sống ba lạy và dâng một bữa rượu.
 Tào Chí chưa nói hết câu thì Chu Đức Kiệt đẩy ghế đứng lên, bước ra khỏi bàn tiệc, vừa đi vừa nói :
 - Để ngu huynh đem tin lành về cho Tào đệ nhé! Chờ đó.
 Chu Đức Kiệt bước vội xuống lầu trước sự ngạc nhiên của mọi người.
 - Ai nấy đứng cả ra lan can nhìn xuống đường, thấy Chu Đức Kiệt ra khỏi tửu quán chạy khỏi đó mấy nhà gọi một hảo hán, y phục đầy bụi, vai quàng khăn gói, lưng giắt cây roi sắt, đang cỡi ngựa đi lững thững bên đường.
 Hảo hán vội xuống ngựa thi lễ cùng họ Chu và dắt ngựa quay về tửu lầu...
 Lam Y nói :
 - Chuyến này chắc gia huynh đem được tin bên Dương Châu về chào Tào nhân huynh rồi.
 Nàng trở vào bàn tiệc. Mọi người theo, định nhờ Lam Y giải thích thì Chu Đức Kiệt cùng vị hảo hán nọ lên tới nơi.
 Chủ vị hảo hán đó, Chu Đức Kiệt nói :
 - Đây là Kiến Phàn Khoái Vân Báo, tiểu sư trưởng của Bảo phiêu cuộc ở An Hà lộ thành. Vân hảo hán là em ruột Vân giáo đầu bên Bình Dương, bản quán bên Sơn Đông.
 Nói đoạn, chàng giới thiệu từng người một với Vân Báo.
 Đứng trước toàn những nhân vật có thành tích cao trong nền võ thuật hiện đại, Vân Báo rất hân hoan.
 Chu Đức Kiệt nói :
 - Bây giờ mời Vân huynh xơi rượu, và tôi nhường lời cho gia muội.
 Chàng nhìn Lam Y mỉm cười.
 Lam Y thủng thẳng nói :
 - Gia huynh ác nghiệp, làm ra bộ bí mật bắt tôi nói một câu chuyện quá giản dị. Nguyên trên đường từ Làng Sơn phu đi Mã Thạch cương, chúng tôi có gặp Vân tiêu sư đi bảo vệ cho một đoàn khách thương từ Kim Lăng đi Dương Châu. Nhân dịp nghỉ dùng bữa trưa ở khúc đường có dựng tấm bia “Cầm Thảo Khấu”, chúng tôi có giới thiệu với Vân tiêu sư qua thăm Tào gia trang... Cũng vì lẽ đó nên trong khi nói chuyện hồ nãy, gia huynh nhìn xuống đường bất chợt thấy Vân tiêu sư đi qua, bèn chạy xuống mời lại để hỏi thăm tin Dương Châu cho Tào nhân huynh.
 Vân Báo nói :
 - Tới Dương Châu, tôi đến Tào gia trang thăm viếng Tào nhân huynh. Nhưng chỉ có Tào Mẫu, nhạc mẫu và phu nhân ở nhà. Các vị đó có nhắn tôi, nếu trở về Kim Lăng gặp Tào nhân huynh thì nhắn hộ là gia đình được bình an. Vì muốn trở về Kim Lăng, cho kịp ngày đại hội, tôi trao nhiệm vụ cho ba tiêu sư thuộc quyền, và phi ngựa gấp về Kim Lăng. Vừa vào thành chưa kịp về nhà, đi ngang qua đây thời gặp Chu đại hiệp.
 Nghe nói gia bình được bình an, Tào Chí mừng rỡ, tiến đến trước mặt Vân Báo vái dài cám ơn, và quỳ lạy Chu Đức Kiệt.
 Chu Đức Kiệt vội cản lại.
 - Ô hay! Việc của hiền đệ cũng là bổn phận của ngu huynh, bất tất phải lạy lục khiến ta giận bây giờ. Hiền đệ phải lo gấp khoản đãi Vân tiêu sư mới trúng lý.
 Tào Chí đứng dậy vui vẻ gọi tửu bảo bày tiệc khác khoản đãi mọi người.
 Thiết Xích Tử nhăn nhó :
 - Thế này thì Trương mỗ lại phải... uống thêm nữa, khổ thiệt!...
 Ai nấy đều vui cười theo họ Tào.
 Sẩm tối, mọi người mới ra về. Tào Chí trả tiền trọ, đeo hành trang dắt ngựa đi theo.
 Vân Báo từ giã :
 - Quý vị còn ở lại Kim Lăng du ngoạn, thế nào cũng ghé bảo tiêu cục cho Vân mỗ tôi được vinh dự lây nhé.
 - Vì mai là ngày đại hội nên cửa thành đóng trễ hơn thường ngày trái lại, sự canh phòng nghiêm ngặt hơn.
 Về gần tới Cao gia trang, Lam Y thừa dịp bên Thiết Xích Tử, hỏi nhỏ :
 - Hồi nãy, tiên sinh nói ngụ ý về vụ gia thúc Đức Võ Thượng Nhân có nói riêng về việc chi đó với Trại Mạnh Thường phải không?
 Thiết Xích Tử gật đầu :
 - Thượng nhân và Trại Mạnh Thường bàn tán công việc Chu hiệp và Bích Nữ trước mặt chúng tôi để tham khảo ý kiến mọi người luôn thể.
 - Kết quả thế nào?
 - Lẽ cố nhiên là tốt. Trại Mạnh Thường rất hãnh diện có một hảo tế như lệnh huynh và đồng ý với Thượng nhân để mặc tình cảm của ba người trai hiệp khách, gái anh thư ấy theo thời gian nẩy nở, chớ không có vội vàng hầu ép uổng... Nghe tin đó, Trương mỗ này rất mừng và cho là một việc nên tán thành...
 Lam Y và Thiết Xích Tử vội im lặng vì Bích Nữ đến gần.
 Nàng đon đả nói :
 - Ghê thiệt! Nhị vị đang bàn tán gì vậy mà khi thấy Âu Dương Bích Nữ này lại im vậy?
 Lam Y đáp ngay :
 - Nói chuyện với Trương tiên sinh thì ngoài vấn đề... uống rượu mừng ra, còn chuyện chi hay hơn nữa?
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-02-22 14:51:44casau>
Hồi 24
Vô Địch tướng quân hiện thân dạy võ
Kỳ tài kỵ mã, Trại Nguyên Bá lên đường
 
Nói về quan Trấn thủ Tứ Xuyên Hà Thiên Thọ vốn là dòng dõi Tiên phong tướng Hà Thiên Hùng, trước kia theo Minh Thái Tổ lập quốc. Cũng như ông cha khi xưa, Hà Thiên Thọ là một tôi lương đống của triều đình và cũng là một hổ tướng hữu danh nên được đặc phái trấn thủ đất hiểm Ba Thục, đóng quân ngay tại thủ phủ Thành Đô.
Từ hồi triều Minh được thành lập đến nay, họ Hà nổi danh vô địch trong chốn ba quân, với ngón chùy pháp gia truyền đã từng sát hại không biết bao nhiêu địch tướng trên chiến trường.
Hà trấn thủ có hai con trai: Hà Thiên Tường và Hà Thiên Khánh. Hà Thiên Tường hai mươi lăm tuổi, giống cha như đúc, tai to mặt lớn, dáng dấp lực lưỡng có sức khỏe ba quân phải sợ phục. Dùng cặp chùy đồng sáu mũi, Hà Thiên Tường chưa biết nhường một tướng thuộc hạ nào của cha trên diễn võ trường. Ngoài sức khỏe và tài đánh chùy ra, Hà Thiên Tường tướng mạo đẹp đẽ hùng hào, nên ba quân tặng cho mỹ hiệu là Ngọc Kỳ Lân. Trái lại với anh, Hà Thiên Khánh kém Thiên Tường hai tuổi, diện mạo và thân hình ốm nhom, sắc mặt vàng như nghệ, thành thử Thiên Tường đẹp tướng bao nhiêu thì Thiên Khánh xấu tướng bấy nhiêu.
Khi hai con còn nhỏ, Hà Thiên Thọ bảo vợ :
- Thằng Thiên Tường sau này khả dĩ nối dõi được họ Hà nhà ta, nhưng thằng Thiên Khánh thì hỏng! Nó ốm yếu quá trông chẳng còn ra hình người!... Kỳ thật, họ Hà chưa bao giờ có một người con dáng dấp lẻo khẻo như nó.
Phu nhân thấy chồng hay than phiền về Thiên Khánh, thì có ý buồn :
- Đẻ con ra cũng phải có đứa thế nọ, thế kia, phu quân chê làm chi nữa cho thêm tủi đứa con yếu hèn? Ngón tay cũng có ngón dài ngón ngắn nữa là!
Nể vợ, Hà Thiên Thọ cố tỏ vẻ tự nhiên, nhưng vẫn không khỏi buồn riêng.
Năm lên bảy tuổi, Hà Thiên Tường đã được cha cho võ sư bắt đầu dạy các môn võ thuật thường thức. Vốn tính nghịch ngợm, Thiên Tường, ngoài giờ học chữ, hoa côn múa gậy cùng các trẻ đồng tuổi, con chư tướng, chạy nhảy suốt ngày, và tỏ ra có sức khỏe hơn cả bọn trẻ. Hà Thiên Tường rất thông minh, học đến đâu, biết tới đó, võ sư rất lấy làm hài lòng ca tụng với quan Trấn thủ luôn.
Biết vậy, Hà Thiên Tường mừng thầm. Tuy cho con theo học võ sư nhưng Hà Trấn thủ rất chú ý đến chương trình học tập và sự tiến triển của Thiên Tường, chừng nào qua thời kỳ thường thức, thì sẽ tự mình truyền dạy.
Trong khi Thiên Tường cùng bầy trẻ nô đùa hay theo võ sư tập võ, Thiên Khánh chỉ đứng nhìn chớ không hề ham đua theo anh chạy nhảy. Đã nhiều phen võ sư và Hà Thiên Thọ thúc giục, dỗ dành, Thiên Khánh cũng cứ lì không buồn nhúc nhích. Cho là bản chất của đứa trẻ yếu đuối như vậy, Thiên Thọ không ép nữa mặc ý Thiên Khánh muốn làm gì thì làm, không thôi thúc như trước nữa.
Khởi đầu, Thiên Khánh còn đứng nhìn võ sư dạy Thiên Tường học, hoặc xem Thiên Tường đánh trận giả với bầy bạn, về sau Thiên Khánh lẩn không coi nữa, vào nhà mở sách học bài, như đứa trẻ không ưa võ nghệ. Hà Thiên Thọ cũng yên trí Thiên Khánh thích văn hơn võ, trái hẳn dòng máu tướng môn.
Hà phu nhân thấy Thiên Khánh hầu như bị hắt hủi, thì có ý thương và chú ý đến con hơn. Phu nhân nhận thấy con trai thứ có nhiều điểm lạ kỳ.
Tuy xấu tướng, tóc lơ thơ vàng hoa, ốm nhom. Thiên Khánh vốn ăn ngủ điều hòa, không bao giờ đau bệnh. Y còn một tật nữa là lúc lầm lì y ít nói thiệt, nhưng nếu gia nhân trái ý, y nóng nảy cáu giận như lửa. Bởi vậy, Hà phu nhân có cảm tưởng Thiên Khánh dị kỳ hơn là đứa trẻ thường.
Dinh Tổng trấn rất rộng rãi, ngay sau hậu viên có khu đất ở giáp tường. Gọi là trống là vì không có người ở, kỳ thiệt tai cây cổ thụ um tùm và có một ngôi cổ miếu ba gian, không biết được thiết lập từ hồi nào.
Khi Hà Thiên Thọ mới đáo nhậm chức Trấn thủ Tứ Xuyên thế vị quan trước, thì chỉ biết rằng theo cổ lệ ngôi miếu đó rất linh thiêng, nên từ đời nọ sang đời kia, các Trấn thủ quan vẫn tiếp tục cho gia nhân hương khói và một tháng đôi tuần cũng lễ.
Ngoài tuần rằm, mồng một, bọn gia nhân được lệnh ra miếu dẹp bày lễ vật để Hà phu nhân hành hương, thì không một ai dám lai vãng tới đó nữa, vì lẽ cây cao bóng cả âm u đượm vẻ bí mật rờn rợn... Cửa miếu treo một bức hoành chạm ba đại tự “Triệu Vương Miếu”, dưới đề bốn chữ nhỏ “Vô Địch Tướng Quân”. Trong miếu, ngay trên bệ thờ trung ương, chỉ có một pho tượng lớn bằng người thiệt, hình dung vị tướng quân, dạng người ốm yếu, tay cầm chùy lớn. Tượng mặc áo bào trận không giáp, lưng quấn lá đốp, chân dận võ hài. Thoạt trông không thấy pho tượng ấy có gì lạ, nhưng nhìn lâu người ta có cảm tưởng như tinh thần hoàn toàn bị thâu hút bởi cặp mắt mở trợn trừng trừng và nét mặt dữ tợn, đanh ác lần lần hiện hẳn ra như muốn moi tim xé ruột kẻ đang vô lễ đứng nhìn.
Có lẽ cũng vì lẽ ấy nên các gia nhân, trừ một tháng đôi tuần phải kéo nhau ra miếu dọn dẹp, ai cũng ngán không dám bước chân tới khu cổ miếu ấy nữa. vì thế khu đất tự nhiên thành cấm địa hoang vu. Các người trong dinh nói rằng, những đêm mưa gió tối trời, ở khu cổ miếu vọng ra tiếng la hét, chân bước sầm sập, tiếng võ khí va vào nhau chí chát lạnh người y hệt tiếng xung phong sát phạt trên chiến trường, và sau cùng là tiếng rên là của tử sĩ lần lần chìm đắm trong những đợt gió lùa rít trong đám lá dày nặng trĩu nước mưa... Họ bảo nhau đó là hồn tử sĩ qui tụ trong tòa cổ miếu đã diễn lại cảnh giết chóc khi xưa trong những đêm trở trời âm u rùng rợn.
Trong bọn gia nhân có tên Trương Tất có sức khỏe và bạo dạn hơn cả, cho rằng đêm tối mưa gào, gió thét, nên những anh nhác gan tưởng tượng ra việc ma quỷ xuất hiện trên khu đất cây cao lá rậm ấy, chớ thiệt ra làm gì có thứ chuyện huyền bí ấy giữa nơi thị trấn lớn như Thành Đô này, và nhất là khu đất có ma quỷ đó lại ở ngay kế cận hậu hoa viên dinh Tổng trấn. Vì ý của Trương Tất nghịch với mọi người nên mới có sự thách thức giữa đêm tối hôm nọ.
Lý Vĩnh nói :
- Trương đại ca à! Có giỏi thì đêm nay thử tài can đảm cho chúng tớ coi nào.
Dứt lời, Lý Vĩnh và mọi người cùng mỉm cười nghi ngờ, tánh mạnh bạo của họ Trương.
Nhân thấy sự trêu chọc ngầm ấy, Trương Tất xoa tay, hất hàm hỏi :
- Các chú muốn ta thử bằng cách nào.
Gia nhân Tiết Quỳ nói :
- Bằng cách nào tùy ý đại ca, miễn là tỏ táng bạo dạn cho bọn tiểu đệ xem có thiệt không hay là chỉ... đại ngôn thôi.
- Ai thèm đại ngôn với các chú, vậy các chú đánh cuộc gì nào.
Gia nhân Hồ Vạn cười lớn.
- Thì ít nhất, đại ca phải cho biết hành động thế nào đã chứ! Cha nội chưa chi đã cá.
Trương Tất cáu kỉnh.
- Đêm nay tối trời chứ gì? Ta ra cổ miếu ngủ cho coi! Nhưng trước hết phải đặt bữa rượu ta uống chơi cái đã. Cơm nước ban chiều tiêu hết rồi. Mà mỗi chú phải quỳ dâng cho ta uống một ly rượu lớn. Ha!... ha!...
- Trương mỗ này quân tử chỉ có nhất ngôn. Nếu không đem “nhậu” ra đây thì khỏi thách! Ta không có dại làm trò chơi không công cho các chú xem! Nghe chưa.
Tiểu Quỳ nói :
- Hồ đại ca khỏi tranh luận thêm mất thì giờ. Sá chi một bữa nhậu xơi! Để tôi ra phố mua mấy ngón thiệt ngon về đây mời Trương đại ca xơi.
- Được lắm! Nhậu xong, đầu canh ba mỗ cũng sang ngủ bên miếu cho mà coi ai bạo, ai nhác!
Tiểu Quỳ đứng lên xách giỏ ra phố.
Hồi lâu, y trở về lễ mễ bê một giỏ đầy thức ăn và mấy cân hảo tửu.
Mấy người xúm vào nhậu nhẹt ba hoa đến ngót canh ba.
Lý Vĩnh nói :
- Nào, bây giờ liệu Trương đại ca còn nhận lời thách nữa không? Nếu thấy ngại thì thôi cũng chẳng sao!
Trương Tất ngất ngưởng vỗ bụng lè nhè :
- Cơm no, rượu say rồi, còn ngồi đây nữa làm chi! Nếu các chú can đảm thì theo ta ra hậu huệ viên nhìn cho rõ, ta mở cửa vườn sang miếu, kẻo bảo ta lại ăn gian, nghe?
Nói đoạn, Trương Tất khoác áo, ôm mền đi thẳng ra hậu hoa viên. Bọn gia nhân theo sau cách họ Trương một quãng dài.
Lát sau, ra tới hoa viên, Trương Tất vẫn tiến, đi vòng quanh các bụi cây, nhắm lối cửa sang miếu bước tới.
Đứng xa xa, Hồ Vân bảo mọi người :
- Ủa, thằng cha Trương nó sang bên miếu! Tưởng nói chơi, ai ngờ nó làm thiệt!
Tiết Quỳ nói :
- Hay là... hay là...
- Hay là sao?
Hay là gọi nó trở lại đi, ai lại để y sang miếu như vậy trong đêm tối như trong mồ thế này?
Lý Vĩnh nói :
- Chẳng cần gọi, lúc tới cửa sang khu miếu, nó cũng phải trở lại! Các người tưởng y can đảm thiệt đó sao?
Chưa ai kịp trả lời thì ở phía trước. Trương Tất đã kéo then cửa sau vườn, bước thẳng sang khu miếu hoang vắng âm u rùng rợn. Bọn người đi sau, nghe rõ ràng họ Trương đóng sập cửa lại, trợn mắt thè lưỡi, nhìn nhau...
Đứng nguyên chỗ, chờ hồi lâu không thấy bên miếu động tĩnh gì cả, Hồ Vân cất tiếng nói trước nhất :
- Về chớ! Còn đứng ì ra đây làm chi? Sáng sớm sẽ ra đón Trương đại ca. Y đã nói là ngủ đêm nay bên miếu mà!
Không biết làm thế nào, mọi người đều kéo nhau trở về. Vừa về tới nhà, mây đen bỗng từ đâu kéo đến phủ đầy trời, sấm chớp ầm ầm, gió nổi từng cơn mãnh liệt... và năng hột nước đổ xuống như thác. Bỗng từ bên khu miếu hoang vắng, lại văng vẳng nổi lên thứ tiếng ba quân sát phạt trên chiến trường, mà bọn gia nhân vẫn nghe thấy trong những đêm mưa gào, gió thét...
Bọn Lý Vĩnh, Hồ Vân, Tiết Quỳ kéo mền lên tận cổ thì thào bảo nhau :
- Biết trước mà! Khu đất ấy có ma, Trương đại ca tự đắc, chắc được một mẻ hết hồn!
Rượu ngấm, chúng ngủ quên đi lúc nào không biết. Sớm hôm sau, bừng mắt dậy, mấy người chợt nhớ đến cuộc thách thức đêm qua, vội bảo nhau đi coi xem Trương Tất đã về chưa. Nhưng họ Trương chưa về!
Mưa tạnh từ lâu. Buổi bình minh lại quang đãng đẹp như bông hoa buổi sáng.
Bọn Hồ Vân kéo nhau ra tận hoa viên xem xét. Cánh cửa thông sang bên khu miếu mở toang. Có lẽ vì gió đêm qua thổi mạnh và Trương Tất chỉ có khép cửa lại, then cài ở bên kia tường, phía hoa viên.
Lý Vĩnh nói :
- Sáng rồi mà Trương đại ca mãi chưa buồn về, chúng ta cùng sang bên miếu xem sao và gọi y về, lỡ Tướng công hay chuyện quở thì khốn cả lũ.
Đồng lòng, mấy người kéo nhau nhón nhén qua cửa bước vào khu cổ miếu. Cỏ, đất hãy còn ẩm ướt vì trận mưa lớn lúc ban đêm. Trên mặt cỏ hãy còn đượm trắng hơi sương. Thân cây lớn hàng ôm, vỏ rễ xù xì, hết từng cặp nọ đến cặp kia, giao với nhau kết thành một bức tường kiên cố, che lấp hẳn tòa cổ miếu nằm tròn ở giữ khu đất hoang vu. Tuy bên ngoài trời đã sáng, nhưng ánh sáng yếu ớt ban mai chưa đủ rọi qua lớp lá dày đặc, nên bọn người nhìn qua các kẽ cây hãy còn thấy phía trong mờ tối...
Bọn Hồ Vân nét mặt nghiêm trọng, im lặng theo nhau đi vòng, luồn qua các kẽ cây đi sâu cào vùng đất vắng. Không ai bảo ai, nhưng người nào cũng thấy rờn rợn lạnh gáy...
Bỗng “soạt” một tiếng! Hồ Vân đi trước hoảng hốt giật mình lùi lại mấy bước, khiến hai người đi sau chửng hửng hè nhau định chạy... Hồ Vân nhìn kỹ nói :
- Không, con tắc kè đó mà! Nó bị động chạy lướt trên lá, chui vào hốc cây kia kìa!
Tiết Quỳ nói nhỏ, trách :
- Thế mà làm chúng tớ hết hồn!... Quái, không thấy Trương đại ca đâu cả.
Lý Vĩnh nói :
- Y ngủ trong miếu chớ dại gì nằm ngoài này. Lẹ bước lên kẻo bên ngoài sáng bạch rồi đấy. Tướng công biết chúng mình giỡn chơi nhau thế này thì phạt cả lũ.
Qua mấy lớp cây nữa, bọn người tiến tới khu đất trống trước tòa cổ miếu.
Dừng bước, Hồ Vân nói :
- Cùng vào miếu nhé!... Tớ không... thích vào trong ấy một mình đâu!
- Được đi trước đi! Chúng tớ theo sau.
Leo qua mấy bực thềm đá, bọn Hồ Vân cùng vào trong miếu, nhưng vội nắm chặt tay nhau chùn bước, cùng kêu lên “Ồ!”...
... Trương Tất nằm lăn trên mặt gạch cách cửa miếu độ vài bước, tứ chi dang ra, sắc mặt xám ngoét, môi mím chặt, mắt mở trừng trừng, đầu ngoẹo sang một bên. Chiếc mền đêm qua rớt ở cạnh. Trông cách nằm cứng đờ của Trương Tất, ai cũng đoán ra rằng y tắt thở rồi. Nhưng không ai dám thốt ra miệng.
Trên bệ thờ, tượng Triệu Vương lăm lăm cầm song chùy dữ dội, mắt quắc lớn trừng trừng nhìn bọn người như muốn mắng lớn, và nhào lộn xuống đập chết bọn hỗn xược dám vào miếu làm náo động.
Hồi lâu, Hồ Vân mới thốt ra lời :
- Thế kia, thì Trương Tất chết rồi còn gì! Phải thế nào chớ, đứng ì ra đây à?
Cả ba cùng nhón nhén đến gần họ Trương, mắt vẫn lấm lét nhìn tượng Triệu Vương e ngại.
Tiết Quỳ nói khẽ :
- Trương đại ca! Chúng tôi đây, dậy mau.
Hồ Vân cau mặt :
- Y hết thở rồi, còn gọi chi nữa!
Cả ba người cùng ngồi xổm sờ tay sờ mặt Trương Tất. Tử thi lạnh giá như đồng. Sợ hãi, ngơ ngác, ba người nhìn nhau thăm dò ý kiến...
- Phải nói thiệt và báo với Tướng Công, như vậy mai ra Người thương tình tha tội cho. Nói sai không được đâu.
Lý Vĩnh, Tiết Quỳ gật đầu. Ba người đứng cả dậy lẹ chân ra khỏi miếu, qua các lớp cây trở về hoa viên, vội vàng như bị ma đuổi.
Hà Thiên Thọ được báo cáo sự thể liền ra tận nơi và kết luận rằng Trương Tất uống rượu say quá, chưa lần được vào trong miếu thì đã mệt quá, nên ngất ngay gần cửa miếu, chiếc mền lăn ra một bên. Suốt đếm, họ Trương bị cảm lạnh tắt thở, chớ không có chuyện ma quỷ nào cả.
Bọn nô bộc nam, nữ trong dinh tuy không dám phản đối, nhưng cho rằng Trương Tất chẳng phải say rượu bị trúng phong, mà chắc chắn là bị ma quỷ và hồn oan của các tử sĩ lẩn quất ở các cây cao bóng cả quanh miếu bóp chết.
Vị thần miếu xưa kia sát hại nhiều người, nên hồn oan tử sĩ vẫn không tiêu tan vì thời gian, lẩn quất ở quanh miếu chờ báo oán, cho nên cứ những đêm mưa to gió lớn đều vọng lên những tiếng sát phạt ghê gớm, phải chăng đó là vị thần kia miên man chiến đấu cùng các oan hồn suốt từ bao thế kỷ cho đến nay vẫn còn tiếp tục hận thù?
Trương Tất táng mạng giữa đêm mưa gió phũ phàng, và cũng là đêm vọng lên những tiếng giao tranh của trận đấu muôn đời ấy.
Con người trần bằng xương bằng thịt lạc lõng giữa đám hồn ma say chiến, thì cứ hoảng sợ cũng đủ chết rồi, chớ chẳng cần đến bị chúng hiếp đáp nữa! Bởi vậy, bọn nô bộc còn sợ hãi hơn trước. Mỗi tháng đối tuần, chúng miễn cưỡng kéo nhau ra miếu dọn dẹp để Hà phu nhân hành hương, chớ thiệt ra chúng không hề bén mảng tới giáp tường ngăn đôi hậu hoa viên và khu đất bỏ hoang u uất đầy hồn ma gớm khiếp!
Hà phu nhân mong mánh nghe bọn tì nữ nói chuyện ma quỷ bên khu cổ miếu thì cũng biết vậy, nhưng tin rằng thần miếu linh thiêng lắm cầu được ước thấy. Mỗi khi hành hương, hai con Thiên Tường, Thiên Khánh đòi theo cùng. Hà phu nhân lắc đầu :
- Phụ thân ra lệnh không cho các con sang bên miếu, lỡ có rắn rất nguy hiểm lắm. Như trái lệnh cha, các con phải đòn và mẹ cũng bị vạ lây.
Hai trẻ nghe lời không hề đòi theo nữa, vả lại dinh thự rộng rãi, lớp nọ từng kia, hoa viên bao bọc rộng rãi, chẳng thiếu gì chỗ chạy rong chơi, Thiên Tường không còn nghĩ tới việc sang chơi bên cổ miếu.
Tuy lầm lì ít nói, Thiên Khánh lấy làm thắc mắc không hiểu vì lý do gì bị cấm đoán ngặt, không được qua chơi bên khu đất có nhiều cây cao đó. Hơn nữa, đã có lần, Thiên Khánh nghe lỏm bọn gia nhân nói chuyện nhỏ với nhau về ma quỷ bên tòa cổ miếu, nên lại càng tò mò muốn sang đó xem thế nào. Bởi vậy, buổi chính Ngọ, khi mọi người trong dinh nghỉ ngơi, Hà Thiên Khánh thường lẻn ra hậu viên thơ thẩn ngồi dưới bóng cây râm mát, đăm đăm nghĩ ngợi nhìn sang những ngọn cây đa cây đề, cây dương um tùm cao ngất bên kia tường hoa...
Ngồi chán như vậy, lúc nghe tiếng kiểng cuối giờ Mùi gọi mọi người trong dinh dậy làm việc, thì Thiên Khánh lại ba chân bốn cẳng chạy về nhà. Ngày nào cũng vậy, không ai hay biết chi cả nên một bữa nọ, Thiên Khánh quyết mạo hiểm mở lén cửa hậu, khép lại cẩn thận bước vào khu cấm địa. Thiên Khánh ngẩn người ra nhìn...
Kỳ thiệt! Chỉ cách nhau có một bức tường mà hai thế giới khác nhau. Một bên thì hoa viên gọn gàng đẹp đẽ đầy bông thơm cỏ lạ, còn bên cổ miếu thì chao ôi chẳng khác gì khu rừng già hoang vắng. Hà Thiên Khánh cảm thấy rờn rợn nhưng tính tò mò mãnh liệt hơn, nên dò dẫm len lỏi qua các kẽ cây bước trên lá khô sột sạt lần vào tới tòa cổ miếu Triệu Vương. Ngó nhìn trước, nhìn sau, Thiên Khánh tần ngần leo lên mấy bực đá nhìn qua khe cửa giữa. Bên trong tối om. Hai cánh cửa không khóa, chỉ có chiếc then cài vừa tầm tay. Thiên Khánh rút then, đẩy cửa miếu. Cánh cửa cọt kẹt từ từ mở ra. Tiếng kêu tuy nhẹ, nhưng giữa chốn hoang vu tranh tối tranh sáng nghe nó ghê rợn làm sao! Thiên Khánh đứng lì, ló đầu đưa mắt nhìn bao quát ba gian miếu và ngừng lại bức tượng thần trên bệ ở ngay chính giữa nơi trong cùng miếu.
Bức tượng coi linh động như người thật. Hai mắt bỗng đảo đi đảo lại, nét mặt đang dữ dội bỗng hiền dịu hẳn lại, miệng nở nụ cười, đứng thẳng người lên, gài song chùy vào đai lưng, giơ tay vẫy Thiên Khánh, cất tiếng nhè nhẹ ôn tồn :
- Hà Thiên Khánh! Vào đây con, đừng sợ, vào đây, ta chờ con đã lâu rồi!...
Thiên Khánh vẫn đứng sững nhìn.
- Vào đây! Ta với con có duyên thầy trò. Con muốn học võ không? Con sẽ giỏi, khỏe hơn cả mọi người! Hơn cả phụ thân, hơn võ sư, hơn cả Thiên Tường!... Vào đây... Mau!
Thiên Khánh nhớ lại lời cha thường mắng mình là lười biếng, yếu đuối kém... cả mọi người... Còn trên bệ kia, rõ ràng là một người hiền lành... một vị tướng quân thì đúng hơn!
Chắc tướng quân đó phải khỏe lắm. Không khỏe sao cẩm nổi cặp thiết chùy lớn hơn chiếc đấu kia! Lớn hơn cả cặp chùy của phụ thân. Chắc người ấy khỏe và giỏi lắm... Ờ! Phải học mới được, học cho phụ thân, võ sư, Thiên Tường phải ngạc nhiên...
Nghĩ liên miên, trong khi vẫn không rời mắt khỏi vị tướng quân đang chống hai tay lên sườn, mỉm cười nhìn mình. Thiên Khánh không do dự nữa, bước qua ngưỡng cửa miếu đi vào...
Người đứng trên bệ cũng xuống đón, xoa đầu Thiên Khánh :
- Con thông minh lắm, hãy quỳ xuống lạy sư phụ đi.
Thiên Khánh ngoan ngoãn nghe theo, quỳ xuống lạy.
Tướng quân rút trong ngực áo ra một viên thuốc đỏ như son đưa cho Thiên Khánh :
- Con nuốt hoàn thuốc này đi, sẽ có sức khỏe vô địch.
Thiên Khánh đón viên thuốc bỏ vào miệng thấy thơm thơm như mùi trầm nuốt chửng.
- Con hãy ngồi xuống bệ kia, nếu khó chịu cứ việc nằm.
Thiên Khánh nuốt viên thuốc được hồi lâu thấy toàn thân nóng ran lên, run rẩy choáng váng, muốn té, hai chân đứng không vững nữa.
Vị tướng quân vội ẵm Thiên Khánh đặt nằm trên bệ đá, thoa nắn khắp người.
Hồi lâu, cơn nóng bớt dần, Thiên Khánh thấy tỉnh táo dễ chịu lạ thường, ngồi vùng dậy.
Vị tướng quân hãy còn ngồi bên, mỉm cười chỉ tay ra cửa miếu :
- Thiên Khánh! Đồ đệ hãy nhấc con sư tử đá ngoài kia coi nào!.
Cảm thấy người mạnh mẽ lạ thường, Thiên Khánh nhảy phắt ra khỏi cửa miếu, cúi xuống nắm hai chân con sư tử đá chầu ở trước cửa miếu lay mấy cái rồi nhấc bổng hẳn lên qua đầu, đi đi lại lại mấy vòng rồi đặt xuống chỗ cũ dễ dàng như nhấc vật bằng bông hoa vậy.
Tướng quân đứng ở thềm đá cười ha hả :
- Khỏe lắm! Khỏe lắm! Đồ đệ hãy đứng sang bên, coi ta biểu diễn song chùy đây!
Thiên Khánh vội nhảy sang bên thì vừa lúc tướng quân rút song chùy phóng người ra như bay, biểu diễn chùy pháp vô cùng linh động.
Cặp chùy lượn bay khắp bốn phương, tám hướng lẹ biến như luồng hắc khí, bật thành tiếng gió vù vù táp cả vào mặt, khiến Thiên Khánh phải lùi lại thêm mấy bước. Các lá khô ở mặt đất bị luồng chùy tạt mạnh cuốn bay tỏa ra tứ phía như gặp phải trận cuồng phong vậy.
Thích chí, Thiên Khánh vỗ tay reo vang :
- Hảo võ nghệ! Hảo võ nghệ!.
Tướng quân thâu chùy lại hồi bộ, bái tổ dữ dội như thiên thần :
- Bài Triệu Vương Chùy đó. Đồ đệ muốn học không?
Thiên Khánh vội quỳ xuống đất :
- Trăm lạy sư phụ, con xin theo học.
Gài chùy vào đai lưng, Tướng quân đỡ Thiên Khánh dậy :
- Được rồi, mai chính Ngọ, đồ đệ trở lại đây, ta sẽ truyền dạy cho.
Dứt lời, Tướng quân đi thẳng vào miếu đóng cửa lại.
Thiên Khánh vội chạy theo định hỏi nữa nhưng trượt chân choàng dậy, thì ra một giấc chiêm bao, thấy mình đang nằm dưới chân sư tử đá trước cửa miếu. Đứng vùng dậy, vươn hai tay gân xương chuyển răng rắc. Thiên Khánh nhìn quanh thấy dấu tích tướng quân diễn chùy, lá khô bay tung ra chung quanh hãy còn y nguyên như trong mộng. Chống tay vào sườn, Thiên Khánh đi đi lại lại, cảm thấy mạnh khỏe nhẹ nhàng khác hẳn trước. Chợt nhớ việc cử thạch sư tử, Thiên Khánh hít mạnh hơi lấy sức nhảy chồm tới nắm chắc hai chân thạch sư tử nhấc bổng hẳn lên qua đầu, chạy quanh khoảng đất trống bốn vòng, rồi lại đặt sư tử xuống chỗ cũ. sung sướng, Thiên Khánh ngó lên cửa miếu thấy đề “Triệu Vương Miếu - Vô Địch Tướng Quân”. Hai cánh cửa miếu vẫn đóng chặt.
Thiên Khánh lẩm bẩm :
- Vô địch thiệt! Thế này thì vô địch thiệt.
Cảm thấy từ sức khỏe đến tinh thần đều khác hẳn trước, Thiên Khánh quỳ xuống lạy tạ trước cửa miếu, rồi theo đường về hoa viên, gài cửa chặt chẽ như cũ. Trong dinh không một ai hay việc Thiên Khánh lần sang khu cấm địa. Định bụng không cho nhà biết, Thiên Khánh tự nhiên như thường để mọi người khỏi nghi ngờ.
Trưa hôm sau, chàng lại lẻn ra hậu dinh, chạy như bay tới cửa dâu đưa tay định kéo then cửa thì chợt nghĩ :
- Hai chân ta lẹ làng, dẻo dai, cứng cáp quá, thử băng qua tường xem sao?
Nghĩ sao làm nấy, lùi lại mấy bước, Thiên Khánh nhảy vụt lên mặt tường hoa viên băng mình qua bên kia nhè như chim én. Sung sướng quá, Thiên Khánh len lỏi qua các hàng cây cổ thụ tiến vào khu trống trước miếu, thì thấy Tướng quân ngồi chờ trên thềm đá trước cửa miếu rồi, Thiên Khánh vội vàng quỳ lạy.
Tướng quân xua tay :
- Thì giờ ít ỏi, cho đồ đề tự nhiên.
Dứt lời, người đứng lên cầm tay học trò bảo :
- Đồ đệ nhảy theo ta và nhớ lấy phương pháp.
Nói đoạn, Tướng quân phi thân lên nóc miếu. Thiên Khánh trông cách thức nhảy theo, không sai mảy may.
Tướng quân chuyển từ nóc miếu lên cành cây lớn, Thiên Khánh sẵn sàng, theo liền. Hai người như hai con vượn chuyền từ cành nọ sang cành kia, xuống đất rồi lại đáp lên nóc miếu, cứ như vậy vài lần.
- Đồ đệ thực hành một mình ta coi nào.
Thiên Khánh tức khắc theo tiếp :
- Tướng quân đứng nhìn khen :
- Được lắm, được lắm!... Nào, bây giờ ta bắt đầu chuyền chùy pháp. Nhìn đây! Nhận xét cho kỹ!
Dứt lời, Tướng quân rút song chùy diễn giảng từng thế từ thế chuyển sang thế biến và trái lại, tổng cộng bài Triệu Vương chùy có ba mươi tư thế. Lạ thay, Thiên Khánh học tới đâu nhớ tới đó, sử dụng cặp chùy của sư phụ y hệt không sai mảy may.
Tướng quân bằng lòng nói :
- Khá lắm! Học thế này không mấy chốc. Nhưng thôi, mai lại tới, nghe?
Thiên Khánh vâng dạ, bị luôn Tướng quân đẩy mạnh rồi chạy vụt vào miếu. Bừng tỉnh dậy, Thiên Khánh vẫn thấy mình đang nằm dựa lưng vào Thạch sư nghĩ vẩn vơ :
- Quái lạ, lúc băng qua tường sang khu đất này, ta thức rõ ràng và chính mắt nhìn thấy sư phụ ngồi chờ ta ở thềm miếu sao lại nằm đây?
Cố luận cũng không ra manh mối, chợt nghĩ đến bài Triệu Vương chùy, chàng vội bẻ hai cành cây diễn lại, thuộc lòng không sai mảy may. Thiên Khánh lững thững ra về, nhảy lên mặt tường ngõ kỹ không thấy ai mới trở về phòng như trước.
Từ đó, luôn năm ngày trời, bữa nào cũng chính Ngọ, Thiên Khánh cũng sang bên cổ miếu, lần nào, Tướng quân cũng ngồi chờ sẵn ở thềm đá và lúc học xong, chàng thấy mình nằm ngủ vừa tỉnh dậy ở chân con Thạch sư. Tướng quân truyền dạy từ đầu bộ đến đấu mã và cuối cùng là song đấu cùng người Tướng gặp tay ngang.
Hôm cuối cùng, sau khi cùng nhau song đấu. Tướng quân nói :
- Đồ đệ học hết tài nghệ của ta rồi, khỏi phải tới đây nữa. Từ nay âm dương cách biệt, có nhớ đến ta thì cứ hương khói như thường lệ chớ để miếu hoang tàn. Cần nhất giữ kín không được lộ liễu việc ta truyền nghệ. Không được cậy sức hại người lương thiện. Trái lại sẽ mất hết linh nghiệm nghe?
Thiên Khánh lạy tạ, hứa xin nhất nhất vâng theo lời dạy bảo.
Từ bữa ấy, Thiên Khánh về nhà, sáng nào cũng dậy thật sớm trước mọi người, lên lấy cặp chùy của cha ra hoa viên ôn luyện. Chàng tập luyện xong, cất chùy về chỗ cũ lẻn về phòng leo lên giường ngủ say như thường. Tuần, rằm nào cũng vậy. Thiên Khánh chờ mẫu thân hành hương xong, mới lẻn sang bên cổ miếu mở cửa vào thắp hương lễ bái. Chàng thấy vị Tướng quân dạy chàng trong mộng giống hệt thần tượng nên rất đỗi cảm phục, định bụng sau này sẽ xây dựng miếu mạo thật lớn để báo ơn thầy. Tuy mặt ngoài vẫn ra chiều thờ ơ với sự tập luyện võ nghệ, kỳ thiệt trong khi đứng xem cha truyền thụ chùy pháp gia truyền cho Thiên Tường, chàng đều thâu nhận được hết. Cuộc sống cứ đều đều như vậy cho đến năm chàng mười lăm và Thiên Tường mười bảy tuổi.
Theo tục lệ Thành Đô thì năm nào tới tết Trung Thu, quan Tổng trấn cũng mở tiệc mời các hàng quan văn võ dự tiệc thưởng trăng và nhân dịp có cuộc biểu diễn võ thuật do các tướng tùy thuộc hay nhân thân của họ. Cuộc diễn võ thuật dưới ánh trăng thu trong vắt thiệt là hào hứng, cho nên ai ai củng cố luyện tập để bữa đó được phô trương tài nghệ.
Năm ấy là năm Kỷ Mão, tiệc bày ngay ở dưới ánh trăng bên Nam Hưng các ở tiền hoa viên. Dinh quan Tổng trấn cũng như mọi nhà, nơi nào cũng treo đèn kết hoa, tiếng trống múa tưng bừng, dồn dập ở khắp các nẻo đường. Chị Hằng lơ lửng trong không trung, rải ánh vàng trên mọi nẻo Thành Đô. Bữa tiệc thưởng trăng trong dinh đã tưng bừng, năm ấy còn hào hứng thêm vì hiện diện của một vị võ trang từ yên Kinh qua thăm đất Ba Thục, được Hà Thiên Thọ lưu lại dự tiệc Trung Thu. Vì Võ trạng đó họ Hoàng tên Cái, tự Vân Long tước hiệu Song Chùy tướng, hai mươi lăm tuổi, người Kế Châu, cao lớn vạm vỡ và có tài đánh song chùy. Đỗ Võ trạng nguyên năm hai mươi ba tuổi, Hoàng Cái được triều đình sử dụng vào chức Kinh Lược quan, thường được Nhà vua đặc phái đi quan sát khắp nơi trong nước. Hoàng Cái vốn là cháu vợ quan Thái sư Trần Chí Hòa, nên tuy mới đỗ mà đã được trọng dụng ngay là do Trần thái sư cất nhắc. Ỷ vào thế lực của Trần Chí Hòa, kiêu căng vì trọng trách, cậy tuổi trẻ tài cao, nên họ Hoàng rất hống hách, mục hạ vô nhân.
Tuy vậy, năm ấy vào Ba Thục, Trần thái sư đã dặn trước :
- Hà Thiên Thọ ở Thành Đô vốn là con cháu công thần khai quốc, tuy giữ chức trấn thủ nhưng thực ra là Uy Dũng Hầu, vậy chức cũng lớn mà nhiệm vụ cũng chẳng nhỏ, cháu nên thận trong từ lời nói đến cử chỉ. Kết bạn hơn gây thù, họ Hà nắm trọn binh quyền miền Tây điều khiển cả ngàn tướng, cháu liệu kết giao chẳng nên thóc mách.
Hơn nữa, Hà Thiên Thọ là tay anh hùng võ dũng danh, vang bốn bể, vậy cháu khá nghe ta bỏ chức tước và sức mạnh ra bên, chỉ nghĩ đến việc thân hữu thôi.
Ngoài mặt, Hoàng Cái vâng dạ, nhưng y nghĩ thầm :
- Dượng ta cẩn thận quá! Ta đây cũng đường đường chức quan Kinh Lược chớ có nhỏ đâu, hơn nữa còn thay mặt triều đình đi tra cứu mọi nơi trong nước, phòng thử họ Hà dù nắm trọn binh quyền miền Tây trong tay thì đã làm chi nổi ta?
Còn về lực, chẳng hiểu Hà Thiên Thọ có ba đầu sáu tay hay không, nhưng sức mạnh và tài nghệ ta đoạt nổi Võ trạng đâu có phải là của để cho y khinh thường được! Nếu y muốn thử sức, ta đâu cũng thử cho mà coi, có lo gì!
Tuy nghĩ vậy, Hoàng Cái nhận thấy Thái sư mưu cao, hiểu biết hơn mình nên nghe theo, tùy cơ biến liệu.
Phần Hà Thiên Thọ cũng thừa biết việc Hoàng Cái là cháu vợ quan Thái sư hống hách, lại đỗ Võ trạng, coi người không bằng nửa con mắt. Các sự kiện đây chỉ là việc tư. Cho nên Hà tổng trấn tiếp đãi quan Kinh Lược rất long trọng niềm nở không hề sơ hở chút nào.
Hoàng Cái thấy Hà Thiên Thọ uy nghi lẫm liệt xứng đáng dòng dõi công hầu võ tướng nên khen thầm, theo lời Trần thái sư căn dặn lúc khởi hành, nhã nhặn gây cảm tình. Với sự hiện diện của quan Kinh Lược võ trạng nguyên, bữa tiệc thưởng trăng trong dinh Tổng trấn có phần long trọng hơn mọi năm nhiều.
Hoàng Cái nói với Hà Thiên Thọ :
- Bữa tiệc Trung thu có tư cách tư gia, nếu ai nấy đều câu nệ sẽ bị mất vui. Chúng ta là bạn đồng liêu và xuất thân con nhà võ vậy xin bỏ tất cả công lệ, mới mong giữ gìn xuống vui được hoàn toàn.
Hà Thiên Thọ đáp :
- Xin vâng. Tôi sẽ báo riêng cho mọi người biết để họ được tự nhiên. Chắc họ hoan nghinh ý kiến bình dân của Kinh Lược quan lắm.
- Nghe đồn quan Tổng trấn có tài sử dụng chùy pháp danh vang như sóng cồn, nên tôi vẫn hằng ước ao được gặp để lãnh giáo cho rộng tầm học hỏi. Chính tôi cũng ưa sử dụng món võ khí ấy lắm, đi đâu cũng đem cặp chùy vừa tay. Chăng hay ngài nghĩ thế nào.
- Tôi rất hoan nghinh, chỉ e tuổi già sức yếu, lâu năm không có trận mạc, được triều đình để ở ngôi cao, nên sự luyện tập có phần trễ nãi, ví sao được với sức trẻ tam thập của Võ trạng nguyên.
Vỗ vai họ Hà một cách thân mật, Hoàng Cái cười khanh khách.
- Chà! Chỗ anh em cả mà lão huynh còn dùng lời khách khí đó sao? Lãnh hội chùy pháp cùng nhau mua vui với chư tướng, chẳng lẽ chúng ta lại ăn thua với nhau sao.
Hà Thiên Thọ mỉm cười im lặng.
Hoàng Cái hỏi thêm :
- Lão huynh được mấy vị lệnh lang và đã có ai lớn chưa.
- Vợ chồng tôi muộn mằn, hiếm hoi, chỉ có hai con trai. Thằng lớn năm nay mười bảy tuổi, và thằng nhỏ mười lăm.
- Chắc cả hai cùng theo nghề võ? Hổ phụ sanh hổ tử chứ.
- Cháu lớn Thiên Tường có võ vẽ theo đòi đôi chút khả dĩ còn dùng được, nhưng cháu Thiên Khánh thì...
Hà Thiên Thọ thở dài im lặng.
- Thiên Khánh thì sao? Bây giờ còn ít tuổi, lớn sẽ thay đổi chớ, lo gì!
- Đâu có thế, nó ốm nhom không ra hồn người, lười biếng, trói gà không nổi, chứ đừng nói chi tới sự luyện võ nữa.
Hoàng Cái ngẫm nghĩ giây lát.
- Chắc tại lão huynh thấy tạng người gầy ốm của lệnh lang nên không cho theo học đòi nghề nhà chứ gì! Được chuyên luyện y sẽ khỏe mạnh nở mang.
Hà Thiên Thọ lắc đầu :
- Nó biếng nhác không xứng đáng với con nhà tướng. Tôi xấu hổ vì đứa con bất hiếu ấy lắm. Để tôi cho gọi chúng ta bái yết, nhân huynh sẽ nhận xét thấy ngay.
Dứt lời, Hà Thiên Thọ cho lính hầu vào hậu đường mời nhị vị công tử ra. Lát sau, Thiên Tường cùng Thiên Khánh bước ra lạy chào. Hoàng Cái đỡ dậy nhìn kỹ. Quả nhiên, anh em đồng phụ đồng mẫu mà khác nhau một vực, một trời. Thiên Tường vóc người vạm vỡ, y hệt cha. Tuy mới mười bảy tuổi mà cao lớn hơn cả người đã thành niên. Trái lại, Thiên Khánh loắt choắt nhỏ bé, đã gầy ốm hom hem lại còn xấu tướng, riêng có cặp mắt sáng ngời như hai vì tinh tú.
Hoàng Cái cầm tay Thiên Khánh nói :
- Hiền điệt nên chịu khó luyện tập võ nghệ như Thiên Tường sẽ thấy khỏe mạnh dễ chịu hơn bây giờ nhiều... À, để ta xin phép phụ thân cho cùng dự tiệc đêm nay, xem chư tướng biểu diễn võ nghệ, hiền điệt sẽ thấy hào hứng muốn đua đòi ngay.
Thiên Khánh cúi đầu im lặng.
Vỗ vai Thiên Tường, Hoàng Cái khen :
- Còn hiền điệt thì khỏi phải nói, rất xứng danh dòng dõi tướng môn, hiền điệt dùng song chùy nặng bao nhiêu.
Thiên Tường đứng thẳng người :
- Dạ, ngu điệt sử dụng cặp chùy của gia phụ.
- Nghĩ là nặng bao nhiêu?
- Dạ, ba trăm năm mươi cân đúng.
Hoàng Cái cau mày.
- Ủa! Nặng bằng song chùy của ta rồi. Khen hiền điệt khá mạnh đó. Đêm nay, hiền điệt biểu diễn chùy pháp coi.
Hai anh em Hà lạy chào, lui về hậu đường.
Chờ hai thiếu niên đi khỏi, Hoàng Cái nói với Hà Thiên Thọ.
- Có một người như đại công tử cũng hiếm lắm rồi. Huống chi lão huynh còn muốn có hai! Tham quá.
Tối hôm đó, tiệc họp bắt đầu từ giờ Tuất lúc trăng đã lên được hai trượng, các quan khách về bên võ, người nào cũng vận võ phục nhẹ bên trong, ngoài khoác áo bào. Các bàn tiệc bày theo hình chữ khẩu, dành một khoảng trống lớn ở giữa để múa lân và diễn võ. ba đám múa lân đặc sắc do quân đội tổ chức được lựa chọn để biểu diễn tranh giải Kinh Lược và Tổng trấn đêm ấy. Tiếng trống, chiêng lẫn với tiếng pháo nổ rền tưng bừng náo nhiệt. Đoàn Lân Thần sư chồng cao bốn từng người rồi leo lên một tre dài đoạt giải quan Kinh Lược treo tận đỉnh nóc Nam Hương các, được chấm nhất về khéo léo và can đảm. Sau cuộc múa lân là biểu diễn võ nghệ. Các tướng có tài hay, thuật lạ đều lần lượt phô bày, từ quyền thuật đến thập bát ban võ khí thứ nào cũng hấp dẫn hứng được toàn thể tán thưởng.
Sau mỗi bài biểu diễn võ nghệ là một lần rượu chúc mừng lẫn nhau.
Hoàng Cái nói nhỏ với Hà Thiên Thọ :
- Lão huynh cho lệnh lang Thiên Tường diễn chùy pháp coi.
Hà Thiên Thọ ưng thuận ngay, truyền lệnh cho Thiên Tường ra giữa sân. Cởi áo bào liệng cho quân hầu, Hà Thiên Tường hùng dũng ra sân. Chàng vận áo ngắn già tréo vạt ngắn tay, quần chít ống chân vận võ hài mỏng gót. Cổ to, ngực nở, vai rộng, hai cánh tay bắp thịt nổi như chào, cầm song chùy lững thững bước giữa tràng pháo tay hoan hô. Thiên Tường nhã nhặn chào cử tọa, vung tay, cất chân dạo lên vài đường chùy thiệt uyển chuyển bái tổ và nhập luôn bài nghề Sư Tử Hí Cầu. Cặp chùy khá nặng nề chập chờn lên xuống lúc uyển chuyển như thanh lân vờn ngọc, lúc dồn dập chẳng khác bão táp mưa sa bật lên thành tiếng gió, uốn vù vù ghê rợn. Hoàng Cái khen ngợi luôn miệng.
Trừ quan Kinh Lược mới tới, còn khắp các hàng tướng tá lớn nhỏ ai nấy đều biết sức lực và tài nghệ của Thiên Tường từ mấy năm nay rồi. Biểu diễn xong bài Sư Tử Hí Cầu, trong khi cử tọa đang vỗ tay khen ngợi thì Hà Thiên Tường đã lên tiếng mời bốn vị tướng quân vẫn thường tập hỗn đấu ra sân cùng biểu diễn cho vui. Bốn người đó vui vẻ vác binh khí cùng ra sân vây tròn lấy Thiên Tường đấu một trần cực kỳ khốc liệt. Xông xáo như mãnh hổ giữa quần hổ. Thiếu niên họ Hà xung đông kích tây, cặp chùy vun lên gạt đỡ, đánh quật tơi bời, khiến bốn địch thủ không thể nào tới gần được. Trận đấu tuy dữ dội nhưng là cuộc biểu diễn mua vui nên Hà Thiên Tường không dùng tận lực đàn áp đánh bật võ khí của bốn tướng mà chỉ gạt đỡ nhẹ thôi.
Hỗn đấu hồi lâu, Thiên Tường nhảy ra ngoài vòng chiến nói lớn :
- Xin chịu thua quí vị, và ngừng tay nghỉ ngơi.
Bốn tướng kia cũng thâu khí giới lại, chào cử tọa rồi về chỗ.
Trông chùy pháp của Thiên Tường, Hoàng Cái nhận thấy ngay họ Hà đã đạt tới mức độ cao siêu về món võ khí. Trông con, nhận xét được cha, Hà Thiên Thọ tất chẳng phải tay vừa. Nhưng chùy là thứ võ khí nặng nền mà dù là con nhà tướng, Hà Thiên Thọ năm nay tuổi đã ngót lục tuần thì muốn khỏe giới đến đâu, chắc sức lực phải suy bại, chẳng vượt nổi tuổi tam thập của mình. Tuy Thái sư căn dặn nên giao hảo với họ Hà, nhưng thiết tưởng cũng nên nhân dịp này cho y biết mình không phải là con người xoàng. Có vậy y mới kính phục hơn và biết rằng về chùy pháp, hiện tại còn có họ Hoàng nữa chớ chẳng riêng gì một họ Hà.
Nghĩ vậy, Hoàng Cái nói với Hà Thiên Thọ :
- Trông thấy mọi người trở tài diễn võ phô bày công phu khổ luyện, tôi thấy ngứa ngáy cả người muốn cùng lão huynh ra đấu chơi vài hiệp cho vui, có được không.
Hà Thiên Thọ cười vang :
- Trên sân diễn võ, ai cũng như ai, chúng ta diễn võ được lắm chớ.
Dứt lời, Hà Thiên Thọ nói lớn cho mọi người cùng nghe :
- Quan Kinh Lược vốn là Võ trạng nguyên nên hào hứng muốn cùng bản chức đấu giao hữu bữa nay để được múa vui cùng chư tướng luôn thể.
Nghe Hà tổng trấn tuyên bố, ai nấy đều vỗ tay hoan hô vang động cả khu tiền viên. Hà Thiên Thọ sai quân vào nhà khiêng hai cặp chùy ra. Mỗi cặp nặng ba trăm năm mươi cân nên ba tên quân xúm lại ì ạch khiêng từng quả chùy ra một, coi phát tức cười. Hoàng Cái đứng dậy bước ra sân trước, Hà Thiên Thọ cũng ra khỏi bàn tiệc.
Giữa lúc ấy, Thiên Tường bước tới phía sau nói nhỏ mấy điều. Hà Thiên Thọ lắc đầu mỉm cười, ra thẳng giữa sân. Hoàng, Hà, hai người cùng cao lớn, kẻ tám lượng người nửa cân, chỉ khác nhau ở chỗ Hoàng Cái mới ba mươi tuổi đang xuân còn Hà Thiên Thọ thì đã gấp đôi tuổi. Tuy vậy sự chênh lệch về tuổi tác không có nghĩa rằng Hà Thiên Thọ bị kém sức nhất là đối với một người rất chăm chỉ luyện tập như họ Hà. Duy có một điều... Một điều mà Thiên Tường nói nhỏ với cha lúc vừa rồi.
Nguyên trước đây, khi Hà Thiên Thọ cầm quân đi dẹp rợ Tây Phương, bị trúng một mũi tên độc nơi bắp vai hữu. Tuy điều trị kịp thời, nhưng độc dược đó ngấm lẹ nên mỗi khi dùng sức quá nhiều, Hà Thiên Thọ thấy vai trái mỏi nhừ, tay chùy có phần chậm chạp hơn. Bởi vậy, Thiên Tường nhắc lại cho cha nhớ điều đó khi chàng nhận thấy Hoàng Cái là người có sức mạnh, căn cứ vào cặp chùy của y quen sử dụng.
Hà Thiên Thọ không lấy điều đó làm quan tâm, cho rằng đây là trận giao đấu múa vui... Hoàng Cái cúi xuống cầm cặp chùy sơn đo, vương tay mấy cái, gân chuyển răng rắc, rồi đứng sang phía Đông.
Hà Thiên Thọ cũng lượm song chùy sơn đen, qua đứng sang hướng Tây.
- Xin mời lão huynh ra tay trước, tôi tôn trọng người cao niên.
Hà Thiên Thọ mỉm cười :
- Nhường nhân huynh là khách hạ tay trước.
Hai bên cùng có tư cách lễ phép. Không nhường nữa, Hoàng Cái vờn qua mấy đường chùy rồi nhảy xô thẳng vào đánh chẳng khác chi mãnh hổ bắt mồi. Hà Thiên Thọ cũng nhảy tới hoa chùy gạt phắt khí giới của đối thủ sang bên. hai cặp chùy đánh trúng nhau rất mạnh, khiến mọi người kinh sợ, lo lắng... hai người cùng chùn tay, nhảy lùi cả lại phái sau, khen thầm đối phương sức mạnh... nhưng Hoàng Cái đã quay luôn trở lại quật tréo một chùy song tả, trong khi tay hữu đánh ngược trở lên một đòn nữa. Đó là thế Song Yến Quy Sào.
Lẹ như cắt, Hà Thiên Thọ nhảy sang ngang quật một đòn nhằm hông đối thủ. Hoàng Cái khen thầm họ Hà lanh lẹ, vội quay người đưa ngang chùy bên hữu gài ngọn chùy bên tả của Thiên Thọ, đồng thời quật chùy tay tả tréo xuống vai địch thủ, Nhưng bị Thiên Thọ gài lại, thành ra người đứng gần nhau quá, bốn tay chùy đều vương, dùng sức mạnh cố ý đẩy bật nhau ra. Bên nào cũng mạnh đẩy không được thành ra cả hai cũng tận lực dồn lên dồn xuống mà vẫn không gỡ nổi.
Mọi người ở bàn tiệc đều khen cờ gặp tay ngang vỗ tay rầm rầm hoan hô thật lực.
Cuối cùng, Hoàng Cái nhè lúc Thiên Thọ mãi vận tòa lực gồng hai tay co đẩy, co chân nhằm bụng họ Hà đạp mạnh khiến cử tọa đều lo thay cho chủ tướng... Nhưng không, Hà Thiên Thọ cũng mau lẹ cất chân tả co nép vào bụng dư đầu gối gạt ngang thành thử Hoàng Cái đạp trật ra ngoài bị mất đà. Thừa thế, Thiên Thọ rút chùy ra tay hữu đưa luôn một đòn ngược lên mặt Hoàng Cái, tay tả đập một đòn bổ thượng nhằm vai địch thủ.
Đó là thế Hổ Giáng Long Phi rất mạnh vô cùng nguy hiểm, hét lớn một tiếng Hoàng Cái nhảy vụt về phía sau tránh đón độc ấy.
Từ bàn tiệc vang lên những tiếng hoan hô dậy đất.
Bực mình vì thế đánh ấy, vả lại không lẽ để một đối thủ có tuổi đàn áp nổi mình thân danh Võ trạng nguyên, Hoàng Cái tức mình vung chùy đánh dồn dập nhất quyền dùng sức trẻ đàn áp đối phương. Hà Thiên Thọ biết vậy rất nên tiểu tâm, song bắp tay đã bắt đầu thấy mỏi ở vết thương cũ sau khi dồn tận lực dồn nhau với Hoàng Cái vừa rồi. Nhận thấy đối phương tự nhiên yếu và trống mặt hữu, Hoàng Cái nhìn phía đó đánh tới tấp thiệt mạnh khiến, Hà Thiên Thọ vẫn định tránh sự dùng tay hữu thì lại bắt buộc luôn luôn phải dùng trùy bên hữu gạt những ngọn đánh rất nặng nề của địch thủ. Bởi vậy, đã mỏi sẵn vai hữu phải làm việc nhiều càng mỏi thêm, nhức nhối khó chịu, mỗi lúc một yếu rất rõ rệt.
Lúc bấy giờ ở bàn tiệc, chư tướng mới nhận thấy thế. Thiên Tường biết từ lâu nên lăm lăm cầm song chùy chờ dịp quyết liệt là xông vào đỡ đòn thay cha. Tuy bị Hoàng Cái dùng sức đàn áp mặt hữu, Hà Thiên Thọ vẫn cố gắng đánh đỡ, bắp vai trái mỏi nhừ, đánh lùi dần dần quanh bàn tiệc. Mọi người hồi hộp...
Thiên Khánh cũng lần ra đứng bên Thiên Tường đăm đăm nhìn trận đấu mỗi lúc một chênh lệch, Hà Thiên Thọ vẫn lùi, tay hữu cầm chùy trề hẳn xuống và chỉ dùng có một tay tả chống đòn mạnh như Thái Sơn úp xuống của đối phương. Hoàng Cái không có ý định sát hại Hà Thiên Thọ nhưng muốn đánh văng khí giới của đối thủ đi hoặc đàn áp đến khi nào Thiên Thọ phải xin ngừng mới thôi. Họ Hà vẫn lùi, cả hai tay cùng rời rạc ê ẩm đau buốt. Miệng thở hồng hộc.
Biết là địch thủ yếu lắm rồi, Hoàng Cái quyết đánh văng chùy của đối phương để kết liễu trận đấu nên dùng toàn bộ lực bổ cao song chùy nặng nề xuống đầu Thiên Thọ, theo thế Song Long Triều Nguyệt...
Bỗng một tiếng thét vang như sấm.
- Coi đây!
Mọi người chưa kịp nhận xét ra sao vừa lo thay cho Hà Thiên Thọ, vừa ngạc nhiên tưởng tiếng thét đó do Hoàng Cái phát ra. Thiên Tường lăm lăm cầm chùy sắp sửa nhập trận thì bị luôn ai đó tuột chùy khỏi tay rồi phóng mình vào trận đấu gạt cặp chùy của Hoàng Cái chỉ còn cách đầu Thiên Thọ độ hai tấc.
- “Chát!”
Hai cặp chùy trúng nhau thiệt mạnh, tia lửa bật ra như sao sa... Hoàng Cái tê buốt cả hai cánh tay, buộc phải lùi lại mấy bước.
Lúc bấy giờ mọi người mới định thần nhận ra bóng người vừa gạt cặp chùy mạnh mẽ của Hoàng Cái chính là Thiên Khánh nhỏ bé loắt choắt như con vượn bên cạnh người khổng lồ.
Ai nấy đều ngạc nhiên vô cùng tưởng mình đang ngủ mê.
Họ còn kinh ngạc hơn khi thấy Hoàng Cái bị đao cả người về phía sau vì cái gạt vừa mạnh mẽ vừa bất ngờ. Vừa đỡ xong cặp chùy của Hoàng Cái, Hà Thiên Khánh nói luôn.
- Xin lỗi quan Võ trạng, cho phép ngu điệt đấu thay gia phụ.
Dứt lời, Thiên Khánh hoa chùy vun cút như gió nhảy theo Hoàng Cái đánh tới tấp.
Tránh sang một bên, buông chùy cho Thiên Tường lúc đó đã chạy đến cạnh, Hà Thiên Thọ đưa tay nắm vai hữu nhăn nhó.
- Thế này nghĩa là gì? Thiên Khánh mà sử dụng nổi chùy của Thiên Tường! Và dám đỡ ngọn đòn vừa mạnh, vừa hiểm vừa rồi.
Nhưng cha con họ Hà còn ngạc nhiên hơn nhiều nữa.
Nói về Hoàng Cái bị cái gạt đầu tiên rung chuyển cả hai tay, người mất thăng bằng đảo ra phía sau, nghĩ thầm.
- Thiệt không ngờ cái thằng nhỏ mười lăm tuổi ốm nhom thế này mà có sức khỏe như Lý Nguyên Bá tái sanh. Hồi nãy, cha nó đã chẳng than phiền vì nó biếng nhác yếu đuối, trói gà không nổi đó ư? Sự thật nó mạnh hơn cọp, võ nghệ tuyệt luân.
Hoàng Cái không kịp nghĩ nữa, vì Thiên Khánh đã nhào tới vụt luôn mấy chùy. Không dám khinh thường, Hoàng Cái vận dụng toàn lực đối phó, không lẽ chịu thằng ốm nhom thế này thì còn mặt mũi nào nhìn mọi người!
Chát!... Chát!... Chát!... Hoàng Cái đỡ ba ngọn chùy liên tiếp vừa mau lẹ vừa nặng nề của Thiên Khánh, toàn thân bị rung chuyển, cánh tay tê dại cơ hồ buông mấy khí giới. Không dám đứng nguyên chỗ, họ Hoàng lùi dần để kéo dài thì giờ. Thiên Khánh không tha, tiến theo vụt tráo cả hai chùy xuống hai đầu vai địch thủ. Đó là thế Bạch Viên Hiến Quả, một ngọn đòn cực kỳ mạnh và nguy hiểm trong bài Triệu Vương chùy. Định chạy vọt ra phía sau tránh đòn cho khỏi phải đỡ, Hoàng Cái lại e mọi người chê cười. Chẳng chi cũng là Võ trạng nguyên, cao lớn vạm vỡ mà phải chạy trước mặt đứa ốm nhom thì còn ra thể thống chi nữa! Đành liều mạng đứng lại, Hoàng Cái vận dụng toàn lực, liều mạng đỡ đòn. bốn ngọn chùy đập trúng nhau bật lên tiếng chát chúa rùng rợn.
Hoàng Cái kêu lớn :
- Chao ôi!
Song chùy rời khỏi tay, rách hổ khẩu, họ Hoàng vội vàng bỏ chạy.
Hà Thiên Thọ từ chỗ bàn tiệc vội quát mắng lớn Thiên Khánh :
- Súc sinh! Không được đuổi theo nữa! Đấu võ múa vui chớ mi định hại người thiệt hay sao?
Khi Hoàng Cái mất khí giới, bỏ chạy, Thiên Khánh vẫn đứng nguyên tại chỗ nhìn theo tới khi nghe thấy cha mắng quở, liền trả tiếp :
- Có có rượt theo Hoàng bá phụ đâu.
Thiệt ra thì Hà Thiên Thọ rất vui mừng không ngờ Thiên Khánh tài giỏi hơn cả cha anh, nhưng cũng giả đò mắng át đi để Hoàng Cái đỡ mắc cỡ.
Mọi người vội vàng săn sóc vết thương ở hai tay của Hoàng Cái.
- Thiệt tôi không ngờ lệnh lang có dũng lực và tinh thông chùy pháp đến thế. Đáng mặt thiên tài của Lý Nguyên Bá tái sanh chăng?
Hà Thiên Thọ đáp :
- Chuyến này là lần đầu tiên tôi được thấy y trổ tài. Quả thiệt tôi cũng không ngờ và cũng không hiểu nó học võ nghệ ở đâu nữa. Nhân huynh có nhận ra chùy pháp của y khác lối chùy pháp họ Hà tôi không?
Ngẫm nghĩ giây lát, Hoàng Cái gật đầu :
- Ờ, quả vậy đó, hai phép đanh chùy khác nhau thật!
Nhưng họ Hoàng thầm nghĩ :
- “Hay thằng cha này bịa vẻ ra việc chê trách Thiên Khánh để ta không ngờ, và nhân trước mặt mọi người làm mất thể diện ta chăng? Thiệt ra ngón chùy của Thiên Khánh mới thiệt thọ là chùy pháp nhà họ Hà. Tài thiệt, trêu vào bọn này không được!”
Mọi người không ai reo hò vì họ ngạc nhiên hơn là vui mừng.
Từ nãy, Hà Thiên Khánh vẫn đứng sừng sững ở giữa vòng chiến mỉm cười, mắt đăm đăm nhìn mọi người.
Hà Thiên Thọ gọi lớn :
- Thiên Khánh, không vào đây còn đứng đó muốn đánh ta nữa sao!
Lúc đó, Thiên Khánh mới tung cặp chùy lên cao tới bốn trượng. Cặp chùy nặng nề ấy rớt xuống đất đánh thịch chuyển cả mặt đất. Ai nấy đều kinh ngạc về thần lực của con người ốm nhom ấy.
- Chùy này nhẹ quá, xài không vừa tay, phải kiếm cặp khác mới được!
Vừa nói vừa bước tới trước mặt Hoàng Cái :
- Bá phụ tha lỗi cho ngu điệt, có ngờ đâu thế đòn tầm thường ấy là tổn thương bá phụ!
Nghĩ lại lúc mình cũng ỷ sức dồn dập Hà Thiên Thọ khi nhận thấy Thiên Thọ bị yếu vai bên hữu, Hoàng Cái bất giác đỏ mặt ngượng nghịu :
- Hiền điệt không có lỗi. Thiệt ra hiền điệt cũng đã nhân nhượng ta nhiều lắm đó. Với tài lực ấy hiền điệt sẽ là một lương đống của triều đình. Sắp có khoa thi Võ trạng, chắc chắn hiền điệt sẽ đứng đầu bảng dễ như chơi. Ta khá khen đó.
Hà Thiên Thọ vui mừng khôn xiết, cầm tay Hoàng Cái dắt vào tiệc rượu bỏ dở. Thiên Tường kéo Thiên Khánh ngồi kế bên mình hỏi :
- Ngu huynh rất mừng vì có một đứa em tài giỏi như hiền đệ, nhưng học võ bao giờ và học ở đâu mà giỏi thế?
Thiên Khánh để tay lên miệng :
- Suỵt! Không tiết lộ thiên cơ được!
Dứt lời, cười hăng hắc. Thiên Tường cũng cười theo không hỏi nữa.
Từ đêm Trung Thu năm đó, mọi người đặt cho Hà Thiên Khánh tước hiệu Trại Nguyên Bá.
Mấy hôm sau, Hoàng Cái lên đường về Yên Kinh. Khi chia tay, Hoàng Cái nói :
- Tôi sẽ đem việc nhị vị công tử trình bày với Hoàng thượng chắc thế nào cũng được trọng dụng.
Hà Thiên Thọ đáp :
- Họ Hà nhà tôi rất cảm ơn đó, song Thiên Khánh nhỏ tuổi quá, tánh tình chưa được thuần, nhân huynh cứ để tự nhiên. Nếu nó có tài còn cần phải có đức nữa mới có thể xuất chánh được. Nhân huynh thứ cho tôi dạy bảo nó vài năm nữa rồi sẽ hay.
Khách đi khỏi, Hà Thiên Thọ mới rỗi rãi bảo Thiên Khánh biểu diễn cho xem và bắt song đấu với Thiên Tường.
Tuy đã khỏe lắm, đáng liệt vào hàng hổ tướng, Thiên Tường vẫn phải nhường em về phần dũng lực, và về chùy pháp cũng kém hẳn một bực. Dùng chùy nào, Thiên Khánh cũng kêu nhẹ. Hà Thiên Thọ bèn sai thợ đúc hẳn một cặp chùy sắt vừa tay cho Thiên Khánh, nặng đúng năm trăm mười chín cân tám lượng. Trong khi tập luyện, Thiên Khánh dạy Thiên Tường bài Triệu Vương Chùy nên chùy pháp của Thiên Tường nhờ đó thay đổi tấn tới hơn trước nhiều, trong quân không một tướng nào chịu nổi quá mười hiệp đấu.
Hà Thiên Thọ hỏi Thiên Khánh :
- Bộ chiến đã vậy, còn mã chiến, chắc con chưa tập luyện.
Bí mật, Thiên Khánh đáp :
- Con chưa hề tập mã chiến, nhưng phụ thân cho phép thử coi. Có dễ không, hả phụ thân.
- Hừ! Con nhà võ mà hỏi ngớ ngẩn như thế sao? Dễ hay khó đều do sự chuyên luyện có phương pháp. Có căn bản võ thuật như con, luyện chiến mã cũng không khó.
Hà Thiên Thọ sai gia nhân đóng hai chiến mã của mình và của Thiên Tường đem tới, Thiên Tường hỏi :
- Hiền đệ muốn cỡi con nào?
- Con nào cũng được!
Thiên Tường nhảy lên con Tuyết Hoa của mình diễn quanh sân mấy vòng.
Hà Thiên Thọ bảo :
- Thiên Khánh, để cha giảng qua mấy điều về phương pháp ngự mã và tánh nết của giống thú này đã...
Thản nhiên, Thiên Khánh đáp :
- Con cứ hành động y hệt trưởng huynh là được chớ gì.
Thiên Thọ cười khẩy :
- Được, tùy ý con.
Thiên Khánh đỡ lấy cương con Đồ Lư, vỗ vào cổ con ngựa mấy cái, dắt đi quanh sân. Con chiến mã khỏe mạnh ấy cất bước cao, hất đầu mấy cái, hí vang như có ý muốn duyệt cùng Tuyết Hoa. Đi được hơn một vòng sân cho Đồ Lư quen hơi người dắt đã, Thiên Khánh mới bắt chợt chạy kiệu nhỏ quanh sân rộng. Nhớ lại phương pháp kỵ mã do Vô Địch tướng quân xuất thần dạy bảo, Thiên Khánh điều khiển con Đồ Lư một cách dễ dàng khiến cha, anh đều rất ngạc nhiên tưởng chàng là một thiên tài, chớ có biết đâu cũng phải học mới biết được! Trước chậm sau nhanh, Thiên Khánh cho Đồ Lư phi vùn vụt quanh sân đất nền rộng rãi chung quanh có trồng cây cao. Chàng điều khiển Đồ Lư chạy vòng vèo đan vào dãy cây lớn, khi hết hai vòng, Thiên Khánh quật ngay ngựa trở lại, thút gót vào bụng nhắm hòn giả sơn bổ tới... bốn vó ngựa đập xuống đất như tiếng trống rên hồi.
Thiên Thọ và Thiên Tường ngẩn người ra nhìn chưa đoán được Thiên Khánh làm gì, nhưng cũng kêu cả lên một tiếng.
- Ồ! Hãm lại, chết bây giờ!
Như người điếc, Thiên Khánh phóng Đồ Lư đến thẳng ngọn giả sơn hét lớn :
- Phi!
Con Đồ Lư chồm lên phóng mình như bay qua ngọn giả sơn sang bên kia chạy thêm vài chục thước nữa mới đứng lại.
Cha con Thiên Tường vỗ tay la lớn :
- Hay quá! Thiệt không ngờ.
Nhưng Thiên Khánh đã vòng ngựa lại vẫy gọi Thiên Tường.
Thiên Tường quặt ngựa chạy theo.
- Trưởng huynh cho phép ngu đệ theo một bài chiến mã nào.
Dứt lời, Thiên Khánh rút song chùy ra cầm lăm lăm, nhè Thiên Tường phóng ngựa tới. Biết là Thiên Khánh hỏi đấu, Thiên Tường cũng rút chùy ra đón đường... Hai thiếu niên huynh đệ ráp trận đánh rất dữ dội không ai chịu nhường ai. bốn trái chùy dồn nhau lắm lúc bật ngựa, hai con chiến mã cũng hí vang rền... Trận đấu trên mình ngựa của hai thiếu niên đáng mặt mãnh tướng, cùng dùng chùy nặng quả kinh hồn, rùng rợn chẳng khác chi hai viên tướng tử thì bất chợt gặp nhau trên đấu trường.
Hà phu nhân, được chồng bảo cho biết trước nên cũng dẫn thị nữ ra xem vừa đúng lúc Thiên Tường, Thiên Khánh cùng xung đột kinh thiên động địa. Thấy chồng con và bọn gia nhân đờ người ra mải miết nhìn trận đấu hung dữ ấy. Hà phu nhân vội nói :
- Ồ! Phu quân để anh em nó đánh nhau chết à? Cho lệnh tan cuộc đi! Ruột thịt mà thù nhau ghê quá! Quả là huynh đệ tương tàn.
Đang mải theo dõi trận tập dượt hào hứng của hai thiếu niên, bỗng nghe vợ nói bậy, Thiên Thọ quơ tay bảo :
- Nói bậy nào! Tương tàn cái gì? Chúng đang song đấu tới lúc thiệt hay thì...
Nhưng Hà Thiên Thọ không kịp nói hết câu, vì giữa lúc ấy, Thiên Tường rẽ ngựa chạy bỏ cuộc, liệng song chùy xuống đất nói lớn :
- Xin chịu thua, buốt nhừ cả hai tay.
Thiên Khánh ghìm ngựa lại cười :
- Thiệt không? Nghỉ tay đấu nữa.
Thiên Tường lắc đầu :
- Thiệt chứ lị! Ngu huynh chịu nổi hiền đệ đúng trăm hiệp cũng đáng kể là vô địch rồi. Muốn đấu nữa thì mời phụ thân.
Quay về Thiên Thọ, Thiên Khánh hỏi :
- Nào, mời phụ thân chỉ giáo cho con vài đường chùy.
Hà Thiên Thọ vuốt râu cười lớn :
- Thiên Tường còn bỏ cuộc thì thân già này với cánh tay bị bại, còn đấu với tên nghịch tử làm chi cho mệt! Thôi nghỉ tay, xuống ngựa đi! Với cặp chùy của ngươi cũng đủ làm chết con Đồ Lư của ta rồi! Thay áo đi, vào hậu đường ta có điều cần hỏi.
Nói đoạn, Hà Thiên Tường bảo vợ.
- Nào, về hậu đường. Hai thằng quỷ con đó đấu dữ dội như hai thiên tướng, hiền thê đã thấy chưa? Hà... hà!... hà!
Phu nhân mỉm cười :
- Tôi còn nhớ trước đây, phu quân thường than phiền vì thằng nhị lang yếu ớt vô dụng không xứng đáng dòng máu họ Hà! Oan con biết nhường nào.
- Ai có ngờ! Lý Nguyên Bá xưa kia bất quá cũng đến thế thôi.
- Trông thấy con, tôi lại nhớ đến trước kia hồi chưa lấy nhau, phụ thân tôi chấm phu quân làm tử tế vì phu quân đã thắng cả mọi người. Cặp chùy của phu quân đã thiệt vô địch, y hệt thằng Thiên Tường ngày nay.
Nhìn vợ, Hà Thiên Thọ nheo mắt hỏi :
- Nhắc lại cái thời xa xưa ấy khiến ta thêm bực. Chức Vô địch của ta bị hai thằng nghịch tử Thiên Tường, Thiên Khánh đoạt mất rồi còn đâu! A, nhưng hồi ấy hiền thê ngồi ở đây mà trông rõ vậy.
- Núp ở rèm, sau mẫu thân, chớ ai dám ra mặt, thẹn chết người.
Hà Thiên Thọ lắc đầu :
- Thảo nào, ta liếc lên chỗ nhạc gia ngồi mãi mà chẳng thấy người ngọc đâu cả rồi! Ghê thật, thấm thoắt đã ba mươi năm trường.
- Vâng, ba mươi năm trường.
Hà Thiên Thọ bước chậm rãi hỏi phu nhân.
- À này, ta còn nhớ các công tử, vương tôn đối lập với ta hồi ấy vừa giàu, vừa đẹp lại vừa trẻ, tại sao hiền thê lại ưng ý ở nơi ta.
Hà phu nhân cúi nhìn đất.
- Tuổi tác, giàu sang có chi đáng kể! Hồi đó tuy phu quân hơn tuổi họ nhiều, nhưng đã ai tài bằng viên thượng tướng đã từng đánh trăm trận như phu quân chưa? Lúc phu quân hùng dũng tiến vào võ sảnh, tôi biết ngay thế nào cũng được sửa túi nâng khăn, nương nấp bóng tùng của con người phi thường ấy.
Hà Thiên Thọ trách vợ.
- Ủa! Thế mà đợi tới bây giờ mới nói.
- Thì có bao giờ phu quân hỏi đâu mà dám thưa.
- Hừ! Giá được nghe cầu này từ hồi nãy thì ta quyết thượng mà đấu cùng thằng Thiên Khánh một trận đó. Tệ quá, phụ nữ làm gì cũng chậm.
Hà phu nhân mỉm cười :
- Phu quân vô lý quá và độc đoán! Nếu đấu với Thiên Khánh thì thua rồi...
- Hừ! Thua ta cũng đấu! Hiện giờ ta thấy trẻ hẳn lại như ba mươi năm về trước.
Hai vợ chồng Tổng trấn vừa thủng thẳng đi vừa nói chuyện, bất giác đã về tới hậu đường. Lát sau anh em Thiên Tường, Thiên Khánh cũng dắt nhau đến.
Hà Thiên Thọ nói :
- Cho hai con ngồi.
Thị nữ dâng trà.
- Bây giờ Thiên Khánh đã nhất định kể lại cho ta và mẫu thân con nghe trường hợp luyện võ như thế nào chưa.
Xét thấy nói thiệt cũng không có hại gì một khi mọi người ai ai cũng biết là mình có tài nghệ. Thiên Khánh bèn kể lại tỉ mỉ việc thần nhân truyền dạy võ nghệ mấy năm trước cho cha mẹ và anh nghe.
Hà Thiên Thọ gật đầu :
- Ta cũng nghi như vậy, nhưng không dám nói chắc.
Suy nghĩ giây lát, Hà Thiên Thọ nói tiếp :
- Ta sẽ tu bổ thần miếu thay con, và vẫn tôn trọng sự u tĩnh bên khu miếu như xưa... Nhưng không hiểu vì nguyên do gì lại có người lập miếu thờ Vô Địch tướng quân Lý Nguyên Bá ở Thành Đô.
Trong bộ “Thịnh Đường Anh Hùng sử” chép rằng Vô Địch tướng quân có một gia tướng chuyên hầu về chùy, mã của Ngài. Gia tướng ấy họ Thường không ghi tên gì, nhưng sao đổi ra họ Lý tên Hào.
Khi Vô Địch tướng quân mạng vong, Lý Hào vè sanh quán của y ở Ba Thục. Vậy có lẽ Lý Hão là người Thành Đô chăng? Và chính y đã xây dựng miếu mạo, thờ cựu chủ chăng? Trong khi tu bổ thần miếu, ta sẽ đích thân điều khiển công nhân để tiện bề tra cứu luôn thể.
Thiên Khánh nói :
- Thần nhân có dạy rằng “không được làm huyên náo khu miếu thờ”.
- Con khỏi lo. Đối với khu đất bất khả xâm phạm ấy, ngôi miếu ba gian vừa lớn, rồi vậy chỉ cần sửa qua loa trong miếu, cũng như ngoài miếu cho được gọn gàng hơn. Ngoài ra không hề động chạm tới bất cứ thứ gì trong khu vực ấy.
Việc cần thi hành ngay bây giờ là chọn cho con một con chiến mã. Con khá cùng Thiên Tường ra tàu ngựa lựa xem có ưng ý con nào không.
- Tuy được Vô Địch tướng quân hiện thân truyền nghệ nhưng con chưa biết phương pháp tinh vi nuôi dạy ngựa, xin phụ thân chỉ dẫn cho con được thấu đáo triệt phương pháp ấy.
- Con muốn tự đào tạo lấy một bầy ngựa chiến, nuôi chúng từ lúc chúng còn nhỏ để lớn lên mới dùng. Bây giờ cỡi tạm con nào cũng được.
Với tay lên án thư lấy một cuốn sách đưa cho Thiên Khánh, Hà tổng trấn nói :
- Trước hết hãy đọc, nghiên cứu cuốn Mã Đồ này. Chừng nào thuộc hai bài đầu, ta sẽ dạy phép thực hành. Từ kỵ mã tới xa mã đều có ghi cả trong sách đó.
- Lấy đâu ra này ngựa non bây giờ thưa cha.
- Con có để ý tới màu sắc không :
- Có chứ! Con muốn nuôi bầy Thất Mã, Ba con Hắc, Hồng, Mai hoa để cỡi và bốn con Bạch đế thắng tứ mã xa.
- Được, con khá theo Thiên Tường sang bên trại ngựa, đưa lệnh tiễn này cho Trần tướng quân, người phụ trách việc chăn nuôi và gây giống ngựa, yêu cầu lựa chọn mấy con thiệt tốt. Nếu y có đủ, cho người về báo để ta sang coi.
Trong trường hợp y không cung cấp đủ số ngựa theo ý muốn, ta sẽ biên thơ sai người sang Trùng Khánh phủ hỏi Thái Đình Hoàng chắc thế nào cũng toại ý.
Giờ đây, ta ra công đường làm việc. Các con muốn kiếm cứ việc tới đó.
Anh em Thiên Tường, Thiên Khánh đứng dậy từ tạ cha mẹ, sang trại quân. Hà tổng trấn cũng mặc áo ra soái đường.
Nói về Thiên Tường dẫn Thiên Khánh sang trại nuôi ngựa đưa trình lệnh tiễn của quan Tổng trấn cho tướng quân Trần Dự, và nói việc muốn kiếm ngựa tốt. Họ Trần vốn là tay chuyên môn về ngựa trong trại quân, xưa nay thường giao dịch với Thiên Tường nhưng ít gặp Thiên Khánh.
Niềm nở tiếp đãi hai anh em, Trần Dự nói :
- Từ bữa tiệc đêm Trung Thu tới nay, bây giờ tôi mớ có dịp mừng riêng đệ nhị công tử. Quan Tổng trấn có đại phước mới sanh nổi hai công tử anh hùng xuất chúng như vậy.
Anh em họ Hà nói mấy lời cám ơn và bày tỏ ý nguyện tìm ngựa tốt. Trần Dự cười lớn :
- Tưởng chuyện gì chớ việc đó không đáng kể. Trại ngựa trong quân há không lớn hơn tư gia của Thái Đình Hoàng bên Trùng Khánh sao? Nếu nhị vị công tử muốn dùng đến giống ngựa xứ khác, Trần mỗ này cũng cung cấp được, nhưng tại sao không dùng ngựa Tứ Xuyên? Theo tôi đi coi. Cứ nhìn cũng đủ thích mắt rồi.
Dứt lời, Trần Dự đi giữa, cầm tay anh em họ Hà, dắt đi coi khắp trại ngựa. Trại chia ra nhiều khu rất ngăn nắp sạch sẽ.
Bây giờ, nhị công tử cần một tuấn mã để dùng ngay, tôi xin hiến con ngựa vàng bốn chân trắng và dọc mũi trắng kia kìa. Nó được đúng năm tuổi, hay đủ mọi phương diện. Công tử cỡi thử coi. Không vừa ý điều gì cứ cho Trần mỗ biết.
Dứt lời, Trần Dự sai quân thắng con ngựa vàng đó cho Hà Thiên Khánh cỡi thử. Thiên Khánh nhảy lên ngựa cho chạy mấy vòng thấy nước kiệu êm ru thì mừng lắm, nói với Trần Dự :
- Tướng quân cho tôi con ngựa này, Nó có tên chưa.
- Ngựa này do tôi nuôi dạy đều có tên hết. Con này tên Hoàng Vân. Công tử giữ lấy mà dùng. Bây giờ ta ra xem bầy ngựa con.
Trần Dự dẫn anh em họ Hà đến khu nuôi ngựa nhỏ.
Trần Dự giải thích.
- Công tử coi, có ba khu Thượng, Trung, Hạ. Ngựa nhỏ, tôi cũng chia thành ba hạng đã chọn lọc. Lẽ cố nhiên khu Thượng có toàn ngựa tốt vừa về giống, vừa về tướng. À, công tử cần dùng mấy con chi.
Thiên Khánh đáp :
- Bảy con. Bốn con Bạch Mã để dùng kéo xe tứ mã, còn ba con Hắc, Hồng, Mai hoa để cỡi.
- Được. Tôi còn đủ cả. Con Mai Hoa mình vàng rất đẹp kia có cái xoáy chính giữa hai mắt. Trong sách Mã Đồ ấy là Tý Mã Ngọ và có tên nữa gọi là Thần Mã Triều Vân.
Ba người leo lên giống chuồng ngựa ngồi. Trần Dự chỉ cho quân hầu lựa từng con ngựa một bắt đem ra sân. Cổ con nào cũng đeo biển gỗ ghi ngày tháng năm sinh và giống ngựa. Trần Dự nói :
- Công tử nên làm bảy cuốn gỗ ghi các tật riêng của từng con một để rèn luyện lần lần cho chúng. Có điều chi muốn biết về mã tánh, sang đây tôi sẵn lòng chỉ dẫn.
Thiên Khánh nói :
- Tôi sẽ tới quấy rầy tướng quân luôn luôn.
Nói đoạn, hai anh em từ ta về dinh. Trần Dự cho quân dắt ngựa đi theo.
Từ đó, Thiên Khánh học hỏi về môn nuôi, luyện tập ngựa rất tỉ mỉ và trở thành một người sành sỏi. Chàng thuộc lòng cuốn Mã Đồ. Còn về phương diện thực hành thì chàng vừa học hỏi của cha, vừa theo đòi Trần Dự. Được nuôi luyện đến nơi, đến chốn, bảy con ngựa tinh khôn đặc biệt, biết theo mệnh lệnh của Thiên Khánh như người vậy. Con nào cũng cao lớn hùng vĩ khiến người sành ngựa nhìn không chán mắt. Ngoài ra, Thiên Khánh thường dóng xe tứ mã cùng Thiên Tường đi ra khỏi thành chơi. Thứ xe tứ mã này chỉ có hai bánh xe, thân xe hình bán nguyệt, vành cao lên ngang hông người đứng cầm cương.
Khi ra khỏi thành, Thiên Khánh cho ngựa chạy như gió, băng rừng vượt suối, bốn con ngựa kéo chiếc xe nhỏ hai bánh chỉ đủ chỗ cho hai người đúng nên nhiều khi xe lướt hẳn trên mặt đất như bay. Hoặc có khi hai anh em cùng cỡi rong chơi săn bắn thì thế nào Thiên Khánh cũng rủ Thiên Tường thi đua. Con Hoàng Mai của Thiên Khánh phi vùn vụt như tên, gò thấp mô cao đều băng băng nhảy qua hết. Không kém, Thiên Tường cũng theo sát không rời nửa bước, nhưng khi con Hoàng Mai nghe tiếng roi da của chủ quất gió kêu “đen đét” thì bỗng nhiên trội hẳn tốc lực phóng như biến bỏ hẳn Thiên Tường lại sau rất xa.
Anh em họ Mã luyện tập lẫn với nhau như vậy nên ngoài sức khỏe thiên phú, tài kỵ mã cũng trội hơn ba quân, không một tướng nào theo kịp. Cả hai cùng thành công về phương pháp luyện tập, điều khiển ngựa phần lớn là nhờ Trần Dự cố công dạy bảo, nên khi thấy Thiên Tường, Thiên Khánh thành công, Trần tướng quân rất lấy làm hãnh diện có hai đồ đệ kỳ tài.
Việc Thuận Vương mở hội kỵ mã ở Kim Lăng được loan đến tận Thành Đô.
Hà Thiên Khánh ngỏ ý muốn đi dự và du lịch Kim Lăng luôn thể.
Hà tổng trấn nói :
- Con còn ít tuổi chưa hiểu tình thế ra sao, nhưng Thuận Vương có ý mưu phản triều đình, nên mục đích lập hội không phải chỉ để vui chơi, y muốn thâu nhận người tài hoặc trừ bớt đi. Vậy cuộc đi đua hẳn là không công bằng và có nhiều mưu mô xảo trá hại kẻ anh tài. Con dự hội làm chi?
Thiên Khánh cương quyết :
- Nếu Thuận Vương hành động gian giảo như vậy thì nên phá tan mưu mô thấp hèn của y. Con quyết dự cuộc, nếu chúng quả muốn hại người thì con sẽ phá tan đấu trường cho chúng coi. Không lẽ để cho gian vương quá ư lộng hành coi rẻ thiên hạ như vậy sao!
Nghe con nói trúng lý và hồi tưởng khi xưa còn ít tuổi, nếu gặp những cuộc thi tài chướng tai gai mắt này tất chẳng bỏ qua, nên Hà tổng trấn suy nghĩ hồi lâu rồi nói :
- Được, con đã muốn đi Kim Lăng, ta cũng cho phép, nhưng phải để ta sắp đặt và con phải hứa để tuân theo kế hoạch của ta nghe?
- Dạ, con xin hứa.
- Chừng nào con định lên đường?
- Thưa phụ thân, sáng sớm ngày mười hai con sẽ khởi hành mới kịp hội kỳ.
- Con dự thi môn nào?
- Cả hai môn Kỵ mã và Mã xa.
- Không được. E tổn sức chăng?
- Không có gì đáng gọi là mệt cả, phụ thân.
- Thiên Tường có cùng đi không?
- Trưởng huynh cũng muốn đi, song còn đang bận việc bên trại nên bảo con sang nói trước với phụ thân.
Suy nghĩ hồi lâu, Hà tổng trấn nói :
- Cả hai con cùng đi mới được. Có thể ta mới an tâm.
Hà tổng trấn và Thiên Khánh đang nói chuyện thì Thiên Tường bước vào. Hà Thiên Thọ hỏi :
- Thiên Tường con đã nhất định đi Kim Lăng cùng Thiên Khánh chưa?
- Con về đây cũng vì việc đó.
Chậm rãi, Hà tổng trấn dằn mạnh từng tiếng một :
- “Các con đừng quên rằng các cuộc thi do Thuận Vương tổ chức thế nào cũng có sự gian lận nguy hiểm tới tánh mạng người ta. Cần phải hết sức tiểu tâm.
Trước hết, đừng ghi tên thật, e chúng biết rõ nguồn gốc và gia đình nhà ta mà manh tâm hãm hại. Người ngựa, phải chú ý kẻo bị thuốc trước khi vào đua! Trong khi đua, phòng bị kẻ hại ngầm. Dù được hay thua, không nên lưu luyến tiệc tùng với bọn chúng.
Từ đây đi Kim Lăng, đại lộ vào thẳng Tây Môn. Cách Tây Môn chừng năm dặm có một gò đất nhỏ. Ta sẽ cho ba tiểu đội nhân mã hóa trang làm khách thương đón các con tại nơi đó. Phòng khi có biến, các con cứ việc chạy qua khu gò đất ấy, sẽ có tiếp ứng.
Ngoài ra còn ba tiểu đội nữa do ba tướng Liễu Thanh, Tôn Khương và Triệu Chấn giả làm thường dân ở quanh quẩn bên Tây Môn ngay hôm đua, phòng khi có biến, bọn chúng đóng cửa thành thì quân tướng của ta sẽ tạm đoạt cửa đó mở đường cho các con chạy ra khỏi Kim Lăng.
Dấu hiệu của quân nhà ta là chiếc khăn xanh màu lục quấn cổ.
Tuy có sắp đặt phòng bị, ta khuyên các con nên gắng công tránh sự xung đột. Nên nhớ điều quan trọng này nữa: quân, tướng của Thuận Vương đều là hàng người có bản lãnh, chẳng lên khinh địch. Căn cứ của các con ở tận Thành Đô, đường xa vạn dặm, Kim Lăng là nơi cơ sở của Thuận Vương. Nói riêng về nhân số, các con đã bất lợi rồi đó.
Nghe rõ lời ta dạy bảo chưa?”
Thiên Tường thưa :
- Lời phụ thân truyện dạy, chúng con xin ghi lòng tạc dạ.
Hà tổng trấn nhìn Thiên Khánh :
- Riêng phần con không được nóng tánh như lúc còn ở nhà, nghe?
- Dạ, con hiểu.
- Nhưng còn có một điều đáng lo.
Anh em Thiên Tường ngạc nhiên nhìn nhau. Thiên Khánh vội hỏi :
- Phụ thân lo điều chi? Nguyên do sự e ngại đó có phải là hai cặp chùy nặng quá e không có cách gì đem vào đấu trường được để phòng ngộ đến thì có khí giới dùng phải không.
Hà tổng trấn gật đầu :
- Chính vậy đó. Để ta nghĩ kế. Sáng mai, đầu giờ Thìn, hai con khá sang trại quân họp mặt cùng các tướng, ta cho lệnh triệu ngay bây giờ. Thôi, hai con lui ra.
Từ tạ cha đi ra, Thiên Khánh bảo Anh :
- Kế hoạch của phụ thân rất châu đáo nhưng về khoản giấu tên họ để dự thi thì ngu đệ không chịu.
Thiên Tường gật đầu :
- Ngu huynh đồng ý về điểm ấy, nhưng chừng nào tới Kim Lăng sẽ định đoạt. Phụ thân ở xa chỉ định liệu được việc đại cương, chúng ta đến tại chỗ mới có thể tham biến được.
Sang hôm sau, Hà tổng trấn chủ tọa cuộc hội họp sáu tướng có nhiệm vụ đi cùng Thiên Tường, Thiên Khánh. Ngoài Liễu Khanh, Tôn Khương, Triệu Chấn, có Lý Thường Huy, trần Đức, Điển Chiêu là ba tướng chỉ huy ba tiểu đội ngoài cửa Tây thành Kim Lăng. Anh em họ Hà ngạc nhiên khi thấy cháu Hà phu nhân là Viên Bá Lượng cũng có mặt tại đó...
Hà tổng trấn bảo hai con :
- Các tướng quân đây đã hiểu rõ ràng bổn phận của từng người một rồi. Viên điệt đây cũng đi cùng các con, và sẽ giới thiệu cho biết một nhân vật ở Kim Lăng, tại nhà nhân vật đó chắc chắn thế nào cũng có nhiều tay anh hùng khả dĩ giúp nổi việc giấu hai cặp chùy nặng nề ấy ngay ở đấu trường được.
Thiên Tường nói :
- Được, Viên biểu huynh đi cùng càng vui.
Hà tổng trấn quay lại căn dặn các tướng :
- Sáng sớm ngày mười một, các tướng quân lên đường, giả làm khách thương như đã bàn định hồi nãy. Tụ họp nhau ở gò đất Tây Môn thành Kim Lăng chờ anh em Thiên Tường đi qua rồi hãy phân chia công tác.
Yêu cầu thi hành đúng, bản chức chúc chư tướng thượng lộ bình an. Khi trở về sẽ ăn mừng.
Chư tướng vui mừng từ tạ để sửa soạn lên đường.
Sáng ngày mười hai, anh em họ Hà và Viên Bá Lương đem theo năm gia tướng, và sáu con tuấn mã chuyên luyện thẳng đường đi Kim Lăng.
Trên đường gặp mưa lũ, bọn anh em Hà gia trễ mất ba ngày.
Gặp các tướng ở gò đấy, phân công xong mọi người vào thành.
Hà Thiên Tường nói :
- Viên biểu huynh đi cùng nhị đệ và gia tướng vào Vương phủ ghi tên dự thi nhưng chẳng nên ở lại trại của họ. Chọn hàng quán nào vắng vẻ cùng ở thi hơn. Ngu đệ ghi tên sau cho họ không nghi ngờ chúng ta cùng bọn.
Viên Bá Lương gật đầu :
- Được, ngu huynh biết rõ Kim Lăng lắm. Ở ngay Tây Môn có Hoàng Diệp tửu quán sạch sẽ vắng vẻ ở được.
Thiên Khánh nói :
- Nghe đồn Kim Lăng có Hoa Vương lầu sang trọng lắm, đang đói đây ta kéo đến đó ăn một bữa đã rồi sẽ hay.
Thiên Tường chiều em :
- Cũng được. Biểu huynh cùng nhị đệ và gia tướng cứ việc đến Hoa Vương lầu dùng bữa trước. Tôi vào Vương phủ ghi tên rồi chờ ở Hoàng Điệp quán, chịu không?
Thiên Khánh cười :
- Đi với trưởng huynh dễ chịu quá...
Thiên Tường nheo mắt nhìn em :
- Đánh nhau với ai đâu mà nóng với chẳng nóng.
Hai bên chia tay. Hà Thiên Tường rẽ ngựa theo lối chỉ dẫn của Viên Bá Lương ra Hoàng Điệp quán lấy phòng để song chùy lại đó rồi mới tìm đường vào Vương phủ trước Thiên Khánh. Bởi vậy, Chu Đức Kiệt và Lam Y nữ hiệp chỉ gặp Hà Thiên Khánh, Viên Bá Lương trên Hoa Vương lầu mà không thấy Hà Thiên Tường.
0
Hồi 25
Quyết hại anh hùng, Ân Định mạng vong
Trổ tài trùy pháp, Trại Nguyên Khánh kinh hồn
 
Bọn Âu Dương Tòng Cát, Tòng Đức, Quan Long, Tào Chí phụ trách phần Đông nhận xét không có sự gì lạ trong các tai nạn té ngựa này. Phần vì ngựa chạy đã đuối sức, phần vì mất thăng bằng trong khi tranh nhau vượt qua lối nhỏ nên kỵ sĩ bị té.
 Nghe các người ngồi trên cây la lên :
 - Ồ! Có người bị thương nặng, ngựa dẫm gãy chân rồi.
 Mọi người đứng ở hàng ngoài xô nhau chen lấn cổ nhìn xem, vừa đúng chỗ bọn Tòng Cát đứng ở vòng trong cùng. Bị lớp người ngoài thúc đẩy nhiều quá, bốn hảo hán dang hẳn tám cánh tay cứng như sắt cản lại. Đẩy không chuyển, lớp người đứng ngoài đành thôi, nhờ vậy các người đứng trong khu vực có bốn hảo hán được yên ổn theo dõi cuộc đua rất gay go hào hứng, và quan quân giữ trật tự rảnh tay không chật vật như đồng nghiệp ở gần đó.
 Bấy giờ đoàn đua chỉ còn có mười cặp người ngựa. Họ chạy rải rác lại ba con một toán chớ không quấn lại thành khối như vòng đầu. Vượt qua khu nam, ba số ba, mười sáu và mười chín thay phiên nhau dẫn đầu. Hai kỵ sĩ áo vàng số bảy và tám vẫn chạy rảnh rang sóng đôi cùng. Con ngựa nào cũng đẫm mồ hôi loang cả lông, có con sùi cả bọt mép trắng xóa. Chạy tới khu Bắc, các số dưới lần lần bắt đầu lăn, chạy ngang rồi vượt qua số ba, mười sáu và chín.
 Về gần khu Nam, chỗ rẽ vào khán đài, giựt giải, các kỵ sĩ thúc ngựa tận lực, vượt bực ăn giải, roi quật vun vút. Kỵ sĩ đeo cờ số mười một giựt cương ngựa phi như tên bắn vượt lên đầu. Kỵ sĩ số bốn theo sau cách số mười một ngót hai trượng. Trong khi đó, ba con ngựa vẫn chạy đầu từ lúc khởi cuộc đua đuối sức tụt lần lần xuống. Tới khu Nam, kỵ sĩ số mười bốn rẽ ngựa vào lố trong, với tay giựt cây cờ “Thắng” cắm ở giữa lối đi, phi thẳng về vạch vôi ăn giải trước khán đài, giữa tiếng vỗ tay hoan hô ầm ầm của khán giả như muốn làm bể đấu trường.
 - Hai kỵ sĩ số bốn và mười về nhì, ba.
 - Như từ lúc khởi xuất, hai kỵ sĩ áo vàng về đích lần với đợt cuối.
 Chu Đức Kiệt bảo Lam Y và Âu Dương Bích Nữ :
 - Hai người áo vàng không cố gắng, có lẽ họ là người của Vương phủ giám sát cuộc đua.
 Âu Dương Bích Nữ lắc đầu :
 - Tiểu muội đồng ý họ là người của Thuận Vương nhưng không phải là giám thị cuộc đua.
 - Tại sao? Ngựa của họ còn dư sức mà không chịu cố gắng đoạt giải.
 - Vì các kỵ sĩ khác đã ký giấy đầu bôn Vương phủ, nên họ không cần tranh đấu tận tâm.
 Lam Y nói :
 - Tôi đồng ý với Âu Dương muội ở điểm này. Chu huynh thua đại đa số của bọn tôi rồi.
 Từ khán đài lại vọng lên tiếng trống gọi đoàn đua thứ hai.
 Đoàn này theo hàng một nhập đấu trường. Tổng cộng có hai kỵ sĩ trong số có hai người áo vàng. Cuộc đua khởi đầu cũng như đoàn trước. Các kỵ sĩ tận tâm ganh đua. Ba số mười tám, năm, và mười ba về nhất, nhị, tam; hai kỵ sĩ áo vàng đeo cờ “Thập nhất” và “Sơ tứ” về theo đợt sau cùng. Trừ ra, một số bị té ngựa ở các nơi có ụ đất, không hề có sự gì gian dối hay đáng tiếc xảy ra cả. Các kỵ sĩ giựt giải nhất, nhị, tam đều lên khán đài lãnh thưởng hàng cuộn gấm vóc, lụa là và vàng bạc do chính tay Thuận Vương. Lần lượt như vậy cho tới vòng đua thứ năm, tổng cộng có hai mươi kỵ sĩ, trong bọn có Ngọc Kỳ Lân Hà Thiên Tường có y phục màu xanh đeo cờ “Sơ nhị”, cưỡi con Tuyết Hoa mã thập phần hùng dũng. Ngoài ra, còn có sáu kỵ sĩ áo vàng khỏe mạnh dữ dội cưỡi sáu con tuấn mã cực kỳ hung hãn. Lúc đoàn ngựa theo hàng chữ nhất để khởi đua, bọn Chu Đức Kiệt nhận thấy sau người đeo cờ “Sơ Nhất” đến Hà Thiên Tường và kế tiếp luôn có đến sáu kỵ sĩ áo vàng rồi mới tới các người khác.
 Chu Đức Kiệt nói :
 - Họ dàn ngựa vây chặt chẽ Hà Thiên Tường. Trông ngựa nào cũng khỏe, nhưng phần thắng hay gọi là thoát hiểm thì đúng hơn, sẽ về phần kỵ sĩ nào gan dạ, nhiều mánh lới và con ngựa nào được chuyên luyện hợp với chủ nhất.
 Âu Dương Bích Nữ nói :
 - Trong đoàn này, người bị bao vây nguy hiểm nhất là Hà Thiên Tường.
 Chu Đức Kiệt lắc đầu :
 - Còn kỵ sĩ đeo cờ “Sơ Nhất” hiền muội không tính sao?
 Lam Y cầm tay Âu Dương Bích Nữ ghé tai bảo :
 - Chuyến này thì Âu Dương muội thua Chu huynh rồi. Tôi đồng ý kỵ sĩ “Sơ Nhất” cùng chung số phận với Hà Thiên Tường đó. Chẳng mấy khi được đứng trung gian cho hai người, khoái quá.
 Âu Dương Bích Nữ im lặng, má đỏ ửng như trái đào.
 Nhìn lén Lam Y, Chu Đức Kiệt hỏi :
 - Phụ nữ hay thì thầm, nói chi vậy.
 - Bí mật lắm hiền huynh ạ.
 Âu Dương Bích Nữ vội nói lảng :
 - Coi kìa! Mới khởi đầu đã thấy gay go rồi!
 Quả nhiên, hai mươi con ngựa cùng chồm lên chạy. Đồng loạt, sáu kỵ sĩ áo vàng phóng mạnh trở sang bên như cố ý cản kỵ sĩ “Sơ Nhất” áo đỏ và Hà Thiên Tường. Nhưng Hà Thiên Tường ghìm Tuyết Hoa mã chồm cao lên mấy cái khiến sáu kỵ sĩ áo vàng xô trượt. Nhờ đó, kỵ sĩ áo đỏ bứt ngựa sang hữu phóng vượt lên trên đợt đầu đà đã chạy xa tới trên mười trượng. Không lẽ quay ngựa lại e quá lộ liễu, bọn áo vàng cũng thúc ngựa phóng theo. Hà Thiên Tường cho Tuyết Hoa mã chồm cao mấy lần nữa rồi mới chạy tách hẳn mười chín con ngựa chạy trước.
 Toàn thể đấu trường hồi hộp im phăng phắc theo dõi cuộc đua mà họ có cảm giác là gay go dữ dội. Tuy vậy, không ai dự đoán được sự cố ý điều khiển ngựa đua của các kỵ sĩ tương phản, ngoại trừ bên Thuận Vương và các hảo hán giang hồ.
 Đoàn ngựa phóng ra tới vòng ngoài. Ba kỵ sĩ áo vàng mải miết rượt theo kỵ sĩ áo đỏ, trong khi ba người áo vàng khác ghìm ngựa chạy chậm lại chờ Hà Thiên Tường chập lại thành đợt sau cùng.
 Kỵ sĩ áo đỏ phi ngựa như tên bắn vượt mọi người, rồi dẫn đầu. Theo sát là ba kỵ sĩ áo vàng.
 Qua ụ đất thứ nhất, thứ nhì, kỵ sĩ áo đỏ dẫn chạy trước thoát dễ dàng. Từ ụ đất thứ ba bỗng con tuấn mã đó giật mình chồm hết hai chân sau lên, khiến kỵ sĩ áo đỏ lao đao, nhưng trấn tĩnh được ngay và vượt qua lối nhỏ như thường.
 Bọn Trịnh Bái phụ trách nơi này nhận thấy một trong ba kỵ sĩ áo vàng quất ngay một roi trúng vế ngựa của kỵ sĩ áo đỏ, nên con ngựa đau quá, giật mình thiếu chút nữa hất chủ xuống đất nếu kỵ sĩ áo đỏ kém tài té ngựa đã vậy, nhưng không tránh được ba con ngựa chạy sát theo sau dẫm chết. Thoát hiểm, dũng sĩ áo đỏ phóng ngựa chạy, ba người áo vàng ráo riết đuổi theo.
 Ở phía sau, ba kỵ sĩ áo vàng cho ngựa chạy chậm lại chờ Hà Thiên Tường. Biết chúng có ý hoặc cản trở, hoặc hãm hại mình, Hà Thiên Tường vẫn là người được luyện cẩn thận về kỵ mã thuật và có nhiều mánh lời do Hà tổng trấn và tướng quân Trần Dư truyền cho, nên cũng tìm kế đối phó ngay. Chàng cho Tuyết Hoa mã chạy chậm hơn nữa, khiến cho kỵ sĩ áo vàng cũng phải ghì ngựa lại theo đà ấy. Đợt ngựa thứ nhất, đã vượt qua lối nhỏ ở ụ đất.
 Chờ ba kỵ sĩ áo vàng vừa tới ngang hàng mình, Hà Thiên Tường liền bất chợt vỗ nhẹ vào cổ ngựa. Tuyết Hoa mã liền chạy vọt lên, bỏ hẳn ba người áo vàng lại phía sau. Chàng thong dong vượt qua ụ đấy thứ nhất, nhì và thứ ba. Lúc gần chạy tới ụ thứ tư, bọn áo vàng mới đuổi kịp, Vì cần phải giữ sức ngựa nên Hà Thiên Tường cũng không cần thúc Tuyết Hoa mã chạy lẹ.
 Thấy bọn áo vàng tới gần phía sau, Hà Thiên Tường bèn chú ý đề phòng vì thế nên khi tên áo vàng chạy ở phía sau giữa giờ roi nhắm hông Tuyết Hoa mã quật mạnh, thì Hà Thiên Tường biết ngay gạt mạnh, rồi hơi ngả người, tiện tay quật lại một roi trúng mõm ngựa địch thủ đét một tiếng. Bị đau, con ngựa đó hí vang chồm ngược lên hai vó trước, quay đầu lại khiến kỵ sĩ áo vàng lộn nhào xuống đất. Thừa dịp, Hà Thiên Tường phóng ngựa qua lối nhỏ ụ đất thứ tư. Biết gặp phải đối thủ lợi hại, hai kỵ sĩ áo vàng cẩn thận đuổi theo quyết báo thù cho bạn.
 Khán giả thấy kỵ sĩ áo xanh Hà Thiên Tường, ngựa hay đèo giỏi, nên hoan hô vang dậy cả đấu trường.
 Nhưng lát sau, một tai nạn rùng rợn xảy ra, khiến toàn thể đấu trường chìm trong hồi hộp, yên lặng như khi mới khởi đầu cuộc đua.
 Nguyên kỵ sĩ áo đỏ tên Lâm Bích, con thứ của Trại chủ Lâm Thanh, người Tân Giang huyện thuộc Hồ Bắc, vốn là kỵ sĩ có tài chân chính, dự đua những tưởng đem ngựa thật hay, thuật giỏi ra tranh đấu, so sánh tài nghệ cá nhân với thiên hạ, chớ không ngờ tới mưu mô hiểm độc của Ban tổ chức Vương phủ Kim Lăng, cho nên ngoài tài kỵ mã, chàng không đủ tư cách để phòng thân đối đầu với bọn bộ hạ ác độc của Thuận Vương.
 Thúc ngựa chạy như bay thoát khỏi ụ đất thứ bảy ở vòng đầu, thì ba kỵ sĩ áo vàng đuổi kịp Lâm Bích. Hai người vượt hẳn lên trước, còn một người giữ ngang bằng với họ Lâm. Từ ụ thứ tám, ở phía Nam, hai kỵ sĩ áo vàng đồng vượt qua lối nhỏ mà bề ngang chỉ vừa cho hai kỵ sĩ hoặc một xe tứ mã chạy lọt. Lâm Bích theo sát phía sau cùng kỵ sĩ áo vàng thứ ba.
 Thừa dịp họ Lâm mải miết tranh đua, kỵ sĩ áo vàng này quật luôn một roi trúng ngay hai mắt đối thủ.
 Đau quá, Lâm Bích choáng váng chảy máu mắt, rời cương ngựa đưa hai tay lên mắt, thì bị xô mạnh té luôn xuống ngựa giữa lối nhỏ. Đợt ngựa chạy sau tránh không được, chà đạp lên nạn nhân không kịp kêu lên một tiếng.
 Chạy cách đợt ngựa thứ hai đến bốn, năm trượng, Hà Thiên Tường thấy xác Lâm Bích nát bấy nằm ngang lối đi, liền thúc lớn giục ngựa:
 “Qua!”.
 Tuyết Hoa mã phi như bay, nhảy qua ụ đấy, trong khi hai kỵ sĩ áo vàng theo sát ngựa chạy qua lối nhỏ dẫm bừa lên thây Lâm Bích.
 Lúc đó, nhân viên cứu thương mới dám kéo ra khiêng xác chết vào bên vòng đua. Tai nạn xảy ra trong chớp mắt, một số khán giả, nhất là những người leo lên cây, đều thấy rõ ràng.
 Chu Đức Kiệt nghiến răng tức giận :
 - Đây là cuộc mưu sát trắng trợn các anh tài chứ không phải là cuộc đấu mã nữa.
 Đập hai tay vào nhau, Âu Dương Bích Nữ nói :
 - Mỗi lúc chúng qua đây, nhị vị còn chờ chi không tặng mỗi tên áo vàng một mũi phi đao.
 Lam Y nữ hiệp tím mặt im lặng.
 Ám hại xong Lưu Bích, ba kỵ sĩ áo vàng bèn cho ngựa chạy chậm lại, nhập bọn với đồng bọn ở phía sau, vây tròn Hà Thiên Tường ở giữa.
 Biết chúng quyết tâm ngăn cản, hãm hại mình, Hà Thiên Tường liền áp dụng đấu pháp khác.
 Chàng buông cương ngựa, nhằm sườn bên đấu thủ chạy gần nhất bên tả đâm mạnh một trái “Thôi Sơn”, tên đó kêu lên một tiếng “chao ôi!”, té nhào xuống đất lăn mấy vòng. Kỵ sĩ áo vàng bên hữu giơ roi định quật vào mặt họ Hà, nhưng lẹ hơn, Thiên Tường thoi luôn trái đấm bên hữu nữa như chùy giáng, khiến y cũng nhào nốt, bị ngựa của tên đồng bọn chạy phái sau dẫm trúng màng tang bể sọ phọt óc chết ngay. Vừa lúc ấy, đoàn ngựa chạy tới ụ đất, Hà Thiên Tường nhường hai kỵ sĩ áo vàng vượt lối nhỏ trước.
 Tên đối thủ chạy sau thúc ngựa lên nhằm gáy Thiên Tường vụt mạnh. Cúi áp đầu xuống cổ Tuyết Hoa, nhường ngọn roi đó bay vút qua đầu, Thiên Tường chạy qua lối nhỏ, nhưng lại bị hai kỵ sĩ chạy trước đồng thời quất hai ngọn roi vào mắt ngựa. Thừa dịp ấy, Thiên Tường dụng tận lực kéo mạnh, khiến cho hai đấu thủ mất thăng bằng lộn ngược ngã ngựa. Tuyết Hoa mã chồm qua hai tên đó mà vụt tiến đuổi theo đợt ngựa chạy phía trước. Căm hờn, kỵ sĩ áo vàng độc nhất còn lại cũng giật ngựa phóng theo báo thù.
 Hết vòng thứ hai, Thiên Tường mới bắt kịp đợt ngựa trước. Kỵ sĩ áo vàng vẫn cố đuổi theo, cách Thiên Tường chừng một sải ngựa, lăm lăm tìm dịp báo thù.
 Đoàn ngựa còn đúng mười lăm con. Mỗi khi tới các ụ đất, các kỵ sĩ phải nhường nhau thoát qua lối nhỏ, nên đọt ngựa bắt buộc phải chạy dài ra. E rượt bắt theo lối bình thường, thì bị kỵ sĩ phía sau đuổi kịp, nên mỗi khi đến ụ đất. Hà Thiên Tường lại cho ngựa nhảy qua.
 Tuyết Hoa mã phóng mình luôn qua ba ụ đấy như bay, coi rất đẹp mắt!
 Khán giả hoan hô dậy đất.
 Không kém, kỵ sĩ áo vàng cũng phóng ngựa nhảy theo quyết bắt kịp địch thủ. Hai người vượt hẳn đoàn ngựa, dẫn đầu tới trên mười trượng.
 Tuyết Hoa mã tới tốc độ mỗi lúc một lẹ. Lúc về tới lối rẽ vào khán đài thì đã bỏ kỵ sĩ áo vàng đến trên bảy, tám sải!
 Hà Thiên Tường với tay rút cây cờ “Thắng”, phi ngựa vào trước khán giả đạt giải nhất, giữa tiếng cổ võ ầm ầm của khán giả. Như chạy chưa thỏa, Tuyết Hoa mã lúc bị chủ ghì cương đứng lại, còn chồm lên mấy lần, hí vang rồi mới chịu đứng yên.
 Dụ dỗ không chịu đầu bôn, mà còn hạ sát luôn mấy thủ hạ của Kim Lăng, nên Hà Thiên Tường bị Thuận Vương ghét cay ghét đắng. Tuy vậy, ngoài mặt Thuận Vương vẫn vờ vĩnh vui vẻ trao thưởng cho kẻ thắng cuộc. Phát giải thưởng xong xuôi, Thuận Vương ghé tai Thần Cơ quân sư Tôn Hoàn nói nhỏ mấy lời.
 Tôn Hoàn gật đầu thưa :
 - Xét tài lực của tên Lý Bá Xuyên thắng giải vừa rồi thì rất phù hạp với tin mật báo.
 Y đổi tên giải dự thí, thiệt ra y là anh của Hà Thiên Khánh, và cả hai cùng là con của Hà tổng trấn Thành Đô.
 Thuận Vương suy nghĩ giây lát :
 - Nếu thế thì cứ như vậy... mà hành động. Kế hoạch số hai, Quân sư lãnh nhiệm vụ đó nhé.
 - Xin tuân lệnh Vương gia.
 Tôn Hoàn tiến sang chỗ Nguyên soái Hoàng Bách Thắng nói nhỏ mấy lời rồi lui về như trước.
 Lát sau, tứ hổ Triệu Đại Bàng, Dư Đông Bích, Tống Võ Cường, Hầu Văn Bảo và tướng Tiên Phong Điêu Thiên Phượng cũng lần lượt rút xuống phía sau khán đài.
 Ngồi hàng ghế sau với hai thế nữ, Nhạc Lan Anh lắng tai nghe lỏm được lời mật bàn của Thuận Vương với Tôn quân sư. Sau đó khi thấy năm tướng xuống lối sau khán đài, thì nàng dự đoán ngay họ mưu mô hại tay kỵ sĩ tài ba vừa đoạt giải. Nhớ lời dạy của Thượng Thái thiền sư, Nhạc Lan Anh toan tính giúp chàng kỵ sĩ vừa rồi thoát hiểm... Nhưng giúp bằng cách thế nào bây giờ?
 Giữa một nơi binh tướng của Thuận Vương, hành động giúp vị hảo hán đó không phải dễ dàng! Tuy vậy, Nhạc Lan Anh trầm tĩnh nghĩ kế vì dù sao cũng còn một cuộc đua xe tứ mã nữa, chắc các tướng phải chờ cuộc đua này chấm dứt mới hành động để tránh sự khinh động của khán giả.
 Nói về Hà Thiên Tường lãnh giải thưởng xong, chàng xuống thẳng nơi nhà giải lao ở phía sau khán đài.
 Thừa dịp mọi người nhốn nháo, Thiên Tường căn dặn bộ hạ phụ trách việc giữ ngựa.
 Lau mồ hôi, cho Tuyết Hoa mã uống nước và phải để y nguyên yên cương.
 - Nếu có bạo động, chừng ta lên ngựa rồi, các người lẩn luôn vào đám người đi xem thoát khỏi đấu trường, tụ tập tại gò đấy đã được chỉ định rồi về thẳng Thành Đô.
 Bọn bộ hạ nhất nhất vâng lời.
 Tiếng trống giục đoàn xe tứ mã xa nhập đấu trường. Lát sau, đoàn dự thí xe tứ mã kéo vào. Tổng cộng hai mươi lăm cỗ xe thắng tứ mã, kiểu hai bánh. Thùng xe kín phía trước, phía sau là lối lên để trống, vừa đủ chỗ cho hai hay ba người đứng. Toàn thân xe bọc sắt sơn màu khác nhau. Cuối thành xe bên tả cắm lá cờ lớn đề số thứ tự, đủ sức cho khán giả theo dõi sự hơn kém từ xa. Mỗi xa trưởng có một bộ hạ cỡi ngựa theo sát vào đấu trường phòng khi cần dùng.
 Hà Thiên Khánh đứng xe số “Đệ Tứ” màu xanh, thắng bốn con bạch mã cực kỳ khỏe mạnh tương phản hẳn với xa trưởng vóc người dong dỏng ốm nhom, khiến khán giả vừa tức cười, vừa lo thay không hiểu con người ấy có đủ sức điều khiển bốn con tuấn mã cao lớn trong cuộc đua thập phần nguy hiểm.
 Nhất là lại so tài với Phi Phong Ngô Công Ân Định, giáo đầu huấn luyện kỵ mã thuật trong quân đội Vương phủ Kim Lăng.
 Ấn giáo đài đội mũ bịt sắt, vẫn áo trấn thủ bằng da để hở đến tận vai, hai cánh tay chắc nịch, bắp nổi lên như thừng chão. Cổ to vai rộng, mắt lồi, mũi sư tử, sắc diện đỏ gay, hung dữ như ác thần.
 Đứng trên chiếc xe sơn vàng, Ân Định vẻ tự đắc, giơ tay chào đáp lại tiếng cổ võ hoan hô của từng lớp khán giả. Lá cờ đề số “Đệ Nhất” bay phất phơ trước gió.
 Về sau khán đài, Hà Thiên Khánh giả đò cương ngựa bị trục trặc đánh ra phía sau sửa lại.
 Thiên Tường biết ý đón trước ở căn lều lá dành riêng cho Thiên Khánh. Nhân lúc không ai để ý, Thiên Khánh bỏ chiếc túi đựng hai cặp thiết chùy vào trong lều có bộ hạ coi giữ.
 Thiên Tường hỏi em :
 - Viên biểu huynh đâu?
 - Ở trại ngoài giữ Hoàng Mai mã. Nếu có động, hiền huynh phải mở đường cùng thoát ra lối cửa Nam, tới trại ngoài họp cùng Viên biểu huynh mới chạy ra hướng Tây được.
 - Bọn xa trưởng nào dùng màu vàng nghệ là người của Vương phủ Kim Lăng. Chúng dùng đủ cách để triệt hạ đối phương, hiền đệ cẩn thận.
 - Tiếng đồn ra đến ngoài rằng vòng đua thứ năm vừa rồi có mấy người tử nạn. Hiền huynh tuy đoạt giải nhưng đã hạ chúng mất năm người. Vậy ngay sau cuộc đấu xe tứ mã này, anh em ta liệu tẩu thoát ngay kẻo không kịp.
 Dứt lời, Thiên Khánh lên xe lái ra phía trước, sắp hàng cùng các đấu thủ khác trước vạch vôi.
 Phó lệnh khởi đua nổ chói tai, đoàn xe tứ mã thi nhau chạy trước, tiếng mấy trăm vó ngựa đạp xuống đất ầm ầm như sấm động.
 Xe “Đệ Tứ” của Hà Thiên Khánh chạy hàng thứ tám. Xe “Đệ Nhất” của Ân Định theo sát phía sau chạy hàng thứ chín.
 Vì lối nhỏ ở các ụ đất chỉ vừa chỗ cho một xe vượt qua, nên các xa trưởng chỉ có thể vượt qua ở khoảng giữa hai ụ để rồi lại phải tuốt dài theo hàng dọc khi vượt qua lối nhỏ.
 Cho ngựa chạy đều đều, Thiên Khánh chú ý nhận xét các ụ đất ở vòng đầu. Chàng nhận thấy ụ đất không cao, mặt ụ thoai thoải, nếu khéo léo có thể bỏ lối nhỏ vượt qua mặt ụ được. Vả lại, chàng đã quen dượt xe tuấn mã qua các mô đất ở Thành Đô, nên định tâm sẽ băng qua ụ đất nếu cần.
 Tại vòng đầu, có năm xe ham vượt và lái không khéo, mắc đầu trục bánh xe vào nhau, nên bị đổ lăng kềnh chỏng trên mặt đất. Hai đấu thủ bị xe lật đè phải gãy chân.
 Thấy nguy hiểm quá, nhiều đấu thủ không dám vượt qua, hoặc tới lúc sắp vượt thì gặp u đất nên đành bị chèn đẩy lại sau...
 Ngồi trên khán đài, Nhạc Lan Anh nóng ruột chưa nghĩ ra được cách gì báo cho kẻ đoạt giải vòng đua thứ năm tẩu thoát.
 Khi đoàn xe tứ mã hết vòng đầu, nàng chợt nghĩ ra một kế, liền hỏi hai Thế tử :
 - Bốn tướng trong Ngũ hổ và Điêu tiên phong bỏ đi đâu không thấy trở lại vậy, nhị vị hiền huynh.
 Chu Bảo Quốc nói nhỏ :
 - Hồi nãy, Tôn quân sư phái họ ra giúp chư tướng trấn các cửa đấu trường...
 - Ủa! Để làm gì vậy?
 - Có lẽ đề phòng không cho kỵ sĩ đoạt giải vừa rồi tẩu thoát. Hiền muội không nhận ra người ấy đã hại mạng mấy kỵ sĩ hoàng y sao?
 - Trong khi tranh đấu, ai tài cao người ấy thắng sao không dụ y đầu bôn có hơn không?
 Chu Trấn Quốc ghé vào tai Lan Anh :
 - Đó là lệnh của Phụ vương. Có lẽ y không chịu đầu bôn nên mới phải dùng biện pháp khác.
 Thừa dịp ấy Nhạc Lan Anh nói luôn :
 - Nếu vậy để tiểu muội ra sau đài xem nữ binh có sẵn sàng kích mã không, kẻo khi cần đến lại không kịp.
 Dứt lời, nàng đứng lên ngay, hai Thế tử định nói thêm cũng không kịp, nên để mặc nàng tự ý.
 Hai nữ binh chuyên giữ kích, mã cho Lan Anh tên Tố Vân và Tố Muội vốn là người tâm phúc do nàng đào tạo lên, có thể bảo nhảy vào lửa, chúng cũng không từ nan, nên được nàng rất đỗi tin cậy.
 Tới căn nhà để ngựa, Nhạc Lan Anh hỏi Tế Vân :
 - Ngươi có thấy viên kỵ sĩ thắng giải vòng đua thứ năm ở quanh đây không?
 - Bẩm Quận chúa, chàng ta vừa đi qua đây sang đầu dãy lều lá kia kìa.
 - Để Tố Muội ở lại giữ ngựa, còn ngươi khá bí mật tiếp xúc ngay với y nói rằng: “Liệu lẩn vào đám đông tẩu thoát ngay, chờ xong cuộc đua xe sẽ nguy tánh mạng. Đi ngay, không nên tiếc con ngựa làm chi. Hiểu chưa?”
 Tố Vân gật đầu :
 - Con hiểu rồi, xin Quận chúa an tâm thượng đài, ở lâu đây bất tiện.
 Lan Anh mỉm cười quay đi.
 Nói về Hà Thiên Tường vừa theo dõi vòng đua đầu tiên của đoàn xe tứ mã, nóng ruột quay về lều lá nhìn tình hình rồi định trở ra tiếp tục xem nữa, thì chợt thấy một nữ binh xinh đẹp đi vòng ra phía sau lều. Nghi ngờ, chàng đứng sững lại nhìn theo. Ngó quanh thấy mọi người đều đứng ở vòng ngoài mải miết xem cuộc đua xe. Trừ ra mấy tên bộ hạ giữ ngựa của kỵ sĩ thắng cuộc, Tố Vân bèn khẽ gật đầu vẫy tay ra hiệu gọi Thiên Tường. Họ Hà ngơ ngác không hiểu vì lẽ gì người con gái lạ mặt này lại vẫy tay gọi mình, nhưng chợt nghĩ ra đó là một nữ binh của Thuận Vương mà lén lút muốn gặp mình tất phải có điều gì can hệ, nên chạy tới.
 Tố Vân tay khẽ gật đầu chào :
 - Một nhân vật hữu danh muốn cứu tráng sĩ, sai tôi cấp báo cho người biết nên liệu đường trà trộn vào dân chúng tẩu thoát ngay kẻo nguy tới tánh mạnh. Hiện nay, các cửa đấu trường đều bị canh phòng nghiêm mặt. Tráng sĩ chẳng nên tiếc con ngựa quí kẻo lát nữa hối không kịp. Thôi, kính chào tráng sĩ và chúc người gặp mọi sự may mắn, tôi đi đây.
 Hà Thiên Tường gặng hỏi :
 - Đa tạ lời vàng ngọc dạy bảo xin cô nương, vui lòng cho tôi biết ơn ân nhân để ghi lòng tạc dạ sau này.
 Tố Vân xua tay :
 - Rất tiếc không thể nói được. Thôi, chúc tráng sĩ thượng lộ bình an, chẳng nên lưu luyến đất Kim Lăng này làm chi. Tôi đi kẻo e nhỉ mục quan chiêm.
 Dứt lời, Tố Vân lẹ làng lẩn vào sau các lều lá đi mất. Hà Thiên Tường đứng đờ ra đó nghĩ ngợi :
 - Hừ! Kỳ thiệt! Ai muốn giúp ta đây? Một nữ binh. Chủ nhân của y tất là người đàn bà! Người đó lại là một nhân vật hữu danh của Vương phủ Kim Lăng! Ai vậy?...
 Thiên Tường đi ra chỗ đông người xem cuộc đua xe tứ mã đã tới độ nào.
 Chàng nghĩ liên miên :
 - Một nhân vật hữu danh mà lại là người thuộc nữ phái... hay là... ta nghe đồn Thuận Vương có người con gái anh dũng, tài sắc vẹn toàn... hay là chính nàng. Không! Không có lẽ! Dù nhân từ tới mức nào, vị Quận chúa ấy cũng không thể nào phản bội cha, anh để cứu mạng một kẻ xa lạ. À, hay là thử đi suốt dãy lều này quan sát, may ra tìm được một tia sáng trong vụ này chăng.
 Vừa đi vừa chú ý nhìn kỹ từng căn một, quả nhiên Hà Thiên Tường thấy trong căn nhà lá ở đầu bên kìa có hai nữ binh, một người hồi nãy và một người lạ mặt, đang thì thầm chuyện trò. Một bạch Mã trắng như tuyết, yên cương sẵn sàng cột ngay trong lầu. Bên bạch mã, dựng một cây phương thiên họa kích gù đỏ như máu. Lần vào chỗ kín đáo, Hà Thiên Tường nhận kỹ con Bạch Mã và cây phương thiên kích giây lát, rồi trở về chỗ gần lều mình theo dõi cuộc đua xe tứ mã. Chàng thấy nóng ruột bừng bừng, giờ hành động sắp tới rồi.
 Trở lại cuộc đua xe tứ mã. Qua hết vòng đầu rồi, Hà Thiên Khánh vẫn chạy trước xe Ân Định một bực. Hai người như còn dò tài sức nhau nên chưa ai chịu thi thố mánh lới để vượt bực đoạt giải.
 Bỗng chiếc xe “Đệ Lục” sơn màu đỏ đang chạy trước xe Hà Thiên Khánh chậm hẳn lại, khiến Thiên Khánh hoặc phải vượt qua, hoặc cũng phải chậm lại nếu không muốn vượt.
 Thấy ụ đất còn xa, Thiên Khánh tính đường vượt để tách khỏi Ân Định cứ lai rai theo sau.
 Láng xe sang bên tả, chàng giựt cương thúc ngựa chạy mau. Xe “Đệ Tứ” vùn vụt lấn đường lên ngang với xe “Đệ Lục”.
 Nhưng đồng thời, Ân Định cũng thúc ngựa chạy vọt lên ngang hàng nơi xe họ Hà. Và cùng lúc ấy, chẳng hiểu vô tình hay cố ý, xe “Đệ Lục” cũng không nhường xe “Đệ Tứ” của Hà Thiên Khánh, giữ mực chạy ngang hàng, thành thử cả ba xe cùng chạy hàng chữ nhất.
 Ân Định trợn mắt nhìn Hà Thiên Khánh nhe bộ răng hềnh hệch cười ghê rợn.
 Lúc nhìn xa trưởng xe “Đệ Lục”, Thiên Khánh thấy người này nét mặt cũng hung ác. Hắn nhìn chàng nói lớn hẳn ắt hẳn tiếng vó ngựa đập trên mặt đất như sấm động :
 - Thế này thì mi chết rồi, con ạ!
 Dứt lời, hắn rẽ ngựa cho chạy tréo đến gần xe “Đệ Tứ”. Đồng thời, Ân Định cũng rẽ sát vào Hà Thiên Khánh hiểu ngay tên xa trưởng áo đỏ ở xe “Đệ Lục” là đồng bọn của Ân Định, và cả hai tên đang thi hành ác kế dùng hai xe ở hai bên chèn ép bốn con ngựa của Thiên Khánh vào giữa. Bầy ngựa sẽ hoảng sợ chồm lên làm lật xe, hất xa trưởng xuống đất.
 Không dám chậm trễ, Hà Thiên Khánh vội giựt cương, quát lớn:
 “Mau!”
 Bốn con tuấn mã như tuyết phi vùn vụt lẹ như tên bắn tiến lên trước, bỏ hẳn hai xe “Đệ Nhất” và “Đệ Lục” đến hai sải tay. Lúc đó, cả hai xe cũng vừa tới ụ đất, Hà Thiên Khánh mừng lắm, hơi lánh xe chèn sang bên hữu khiến bốn con ngựa của xe đỏ phát hoảng chạy chênh sang bên. Với tốc độ ấy, xa trưởng áo đỏ không ghìm được ngựa nữa, đành cho xe chạy vọt tréo lên ụ đất, trong khu xe “Đệ Tứ” của Hà Thiên Khánh đàng hoàng phóng qua lối nhỏ. Xe đỏ “Đệ Lục” mất thăng bằng vì chạy tréo bị lật úp trên mặt ụ đất. Xa trưởng áo đỏ nhảy ra không kịp bị úp trong xe lật ngược và bị đoàn ngựa lôi đi tới sáu bảy trượng mới dừng lại.
 Ân Định đoán được đòn của Thiên Khánh nên cho ngựa chạy thẳng lên ụ đất phóng qua bên kia. Lúc Thiên Khánh ra khỏi lối nhỏ thì Ân Định cũng vừa xuống tới bình địa, nên hai xe vẫn chạy song song ngang nhau. Hà Thiên Khánh khen thầm đối phương, nhưng tiểu tâm phòng bị, sẵn sàng đối phó vì biết Ân Định không khi nào chịu vậy. Bổn tánh ưa mạo hiểm, nên tuy phải lo đối phó với một địch thủ hữu tài và ở ngay trên đất địch, Hà Thiên Khánh vẫn cảm thấy say sưa thích thú đặc biệt.
 Trái lại, mọi người nhận rõ tình thế thì ai nấy lo lắng đều lo anh chàng xa trưởng ốm nhom.
 Hà Thiên Khánh chú ý nhận xét xem ngoài xe màu đỏ vừa bị loại khỏi vòng đua, còn có xe nào khác thuộc về đồng bọn của Kim Lăng nữa không.
 Không! Các xa trưởng khác đua như thường không có ý ác độc.
 Gần hết vòng thứ nhì thì hai xe “Đệ Nhất” của Ân Định và “Đệ Tứ” của Hà Thiên Khánh hoàn toàn dẫn đầu. Hai xe đó vẫn chạy song song không chịu nhường nhau lấy một thước nhỏ. Lúc lợi thế thì hoặc họ Ân hoặc họ Hà thay phiên nhau lọt qua lối nhỏ, và một xe thì bắt buộc phải vượt trên ụ đất để cố khỏi bị lấn đất. Mỗi lần tới ụ đất là một lần khán giả hồi hộp vì cả hai xa trưởng cùng tìm cách chèn để hại nhau mất thăng bằng, đổ nhào đến bị táng mạng như xa trưởng áo đỏ.
 Đoàn xe rầm rộ phóng qua phía Nam. Hai xe “Đệ Nhất” và “Đệ Tứ” dẫn đầu bỏ đợt chạy sau đến hai sải tay.
 Hà Thiên Khánh, Ân Định chạy sát quá, bỗng hai đầu trục xe bằng sắt xiết phải nhau bật ra tia lửa. Sợ gãy đũa xe nên cả hai đều phải nhích sang hai bên. Nhưng không! Ân Định nhích ra để lấy đà xô vào cho mạnh thêm.
 Thấy xe mình bị rung chuyển trước sức xô của xe Ân Định, Hà Thiên Khánh mới nhận ra xe của đối phương hoàn toàn bằng sắt. Chàng bèn dùng roi nhắm mặt Ân Định quất mạnh mỗi khi y định ý xô vào. Thấy tay roi của Thiên Khánh khá hay có thể trúng mắt được. Ân Định không dám khinh thường xô vào nữa, nhưng y cũng dùng roi quất lại. Hai ngọn roi da dài phóng ra nổ dòn như pháo, không ai chịu kém ai. Qua nữa dòng thứ ba, nhè lúc xe của Thiên Khánh vừa từ trên ụ đất xuống, Ân Định liền quất một roi định quấn lấy cổ con ngựa bên tả ở hàng nhì của Thiên Khánh kéo ngược lại. Nếu trúng, con ngựa đó bị mất thăng bằng có thể gây nguy hiểm có thể gây nguy hiểm cho xe Thiên Khánh.
 Tức giận, Thiên Khánh mắng lớn :
 - Đồ cẩu trệ, muốn hại cả súc vật sao?
 Ân Định trợn mắt :
 - Và hai cả mi nữa.
 - Được lắm! Sẽ biết tay ta. Coi chừng!
 Hai xe về gần hết vòng bám Hà Thiên Khánh nhè vó trước con ngựa đầu của xe Ân Định quất vòng một roi. Ngọn roi quấn chặt vào cổ chân con vật đó và Thiên Khánh giựt mạnh. Chạy không được trong lúc hai ngựa ở dưới dồn lên thành thử con ngựa đầu khuỵu vó trước. Ân Định phóng roi gạt chậm mất một chớp mắt nên không kịp đỡ... Cả đoàn ngựa mất thăng bằng vì vướng con ngựa trước bị ngã, nên nhào luôn kéo cả chiếc xe lật úp chụp lên Ân Định, thành xe va trúng đầu họ Ân bể nát chết không kịp kêu, xác bị lôi đi một quãng dài.
 Toàn thể đấu trường nhao, lên nhất là trên khán đài.
 Biết giờ phút nghiêm trọng đã điểm với cái chết của Ân Định, Hà Thiên Khánh phóng thẳng xe vào trước khán đài.
 Trên đài, Thuận Vương phẫn uất từ lúc thấy Phi Phong Ngô Công Ân giáo đầu táng mạng, nghiến rằng truyền đài quan :
 - Chừng nào tên đó ngừng trước đài, thì phát luôn trống lệnh đóng cửa đấu trường. Phải bắt kỳ được, ta mới hả giận.
 Nguyên soái Hoàng Bách Thắng, hai Thế tử và các đầu đà đứng cả dậy.
 Thiên Khánh vẫn phóng mạnh khiến mọi người phụ trách việc kiểm điểm chạy dạt cả sang một bên. Thừa dịp mọi người còn đương hoang mang, chàng phóng xe ra phía sau khán đài, Hà Thiên Tường chờ sẵn đặt cặp thiết chùy của Thiên Khánh vào trong xe, rồi tự mình nhảy lên Tuyết Hoa mã gài chùy sẵn chạy trước, Thiên Khánh theo sau.
 Nói thì lâu, nhưng việc xảy ra trong chớp mắt. Đợt xe đua về sau, lúc bấy giờ mới rầm rộ ganh nhau chạy về khán đài, thành thử lối ra cửa Nam đấu trưởng gần nhất bị nghẹt hẳn. Anh em họ Hà, kẻ trước người sau, phi thẳng ra cửa Đông... Giữa lúc ấy, từ khán đài, vang lên ầm ầm những hồi trống báo động khiến khán giả sợ hãi, hoang mang, nhốn nhác xô đẩy nhau tìm lối ra. Những kẻ yếu sức bị chà đạp la ó vang trời...
 Nói về khu Đông môn, khi hiệu báo động dóng lên thì cửa đấu trưởng đã đóng chặt.
 Quan Long, Tào Chí hai anh em Âu Dương Tòng Cát, Tòng Đức thấy họ Hà không chạy ra hướng Nam vội bảo nhau.
 Tất họ chạy ra lối này gần hơn cả.
 Khán giả mất trật tự làm vướng lối đi. Lúc bốn hảo hán tiến tới nơi thì cửa đã đóng chặt.
 Binh tướng Kim Lăng đứng trấn đầy cả khu cửa.
 Thanh Diện Hổ Tống Võ Cường cầm Lang Nha bổng và Bạt Sơn Hổ Hầu Văn Bảo cầm Song phủ hùng dũng cời ngựa đứng giữa đám bộ tướng.
 Thấy bốn người xông xáo tới định đi lối cửa, Tống Võ Cường nói lớn :
 - Mấy người định đi đâu thế này?
 Âu Dương Tòng Cát đi đầu, trả lời :
 - Đi ra cửa chớ còn đi đâu! Bộ không cho mọi người ra về sao mà đóng cửa như vậy.
 Hầu Văn Bảo trợn mắt nạt :
 - Nói năng cho có lễ độ! Lát sau sẽ được về.
 Quan Long nạt lại :
 - Nhưng chúng ta muốn về ngay thì sao?
 Tống Võ Cường quát :
 - Thì hãy để thủ cấp lại đây, chớ sao! A! Bốn tên này hỗn xược! Chư tướng bắt lấy chúng cho ta, mau.
 Như hổ báo, đoàn binh tướng Kim Lăng xông vào bắt bốn người. Anh em Âu Dương rút đơn đao, Tào Chí, Quan Long cũng rút đoản đao giấy trong áo ra.
 Vừa mới giáp chiến sau bảy bộ tướng Vương phủ đã bị trúng thương, bật cả lại phía sau.
 Hầu Văn Bảo nổi giận thét chư tướng xông vào.
 Âu Dương Tòng Đức bảo Tòng Cát và Quan Long, Tào Chí :
 - Ba vị hiền huynh chặn chúng ở đây, tiểu đệ ra phá cửa.
 Dứt lời, chàng ồ ạt tiến lên, nhảy qua đầu mọi người phóng ra lối, nhưng cũng bị quân tướng canh cửa chận lại.
 Ba tướng Thành Đô là Liễu Thanh, Tôn Khương, Triệu Chấn cùng ba tiểu đội của trang làm thường dân đi xem, cũng rút khí giới nhảy vào loạn giúp bốn bị hảo hán lạ mặt phá Đông môn. Thấy tình thế xoay chiều khác, Tống Võ Cường, Hầu Văn Bảo vội thúc ngựa dự chiến.
 Giữa lúc hai bên còn đang nhốn nháo, loạn đả, thì anh em họ Hà ra. Thấy cửa đóng chặt, quân nhà và mấy vị hảo hán đang hỗn chiến, Hà Thiên Tường e chờ lâu bất lợi, liền rẽ ngựa ra Nam môn.
 Thiên Khánh chờ xe chạy theo sau.
 Tống, Hầu hai hổ tướng nhận ra hai người, bèn hô lớn :
 - Cố bắt lấy tên giặc này, để ta đuổi bắt hai tên kia nộp cho Vương gia.
 Dứt lời, Tống Võ Cường, Hầu Văn Bảo nhảy ra khỏi vòng chiến thúc ngựa đuổi theo anh em Hà gia.
 Thật ra thì anh em Âu Dương và Quan, Tào có coi bọn hộ tướng Kim Lăng ra mùi gì. Họ chỉ cốt mở được Đông môn cho anh em Hà gia chạy thoát, nhưng tới khi thấy họ Hà bỏ ra hướng nam và hai hổ tướng Tống, Hầu cũng bỏ trận đuổi theo, cả bốn bèn đánh cầm chừng giúp quân Thành Đô mở được Đông môn, cho mọi người ở khu vực ấy ra thoát rồi mới rút lui.
 Từ Bắc và Tây môn, Cầm Mao Hổ Dư Đông Bích và Quá Sơn Hổ Triệu Đại Bằng thấy Hà Thiên Tường, Thiên Khánh từ Đông môn băng ra Nam môn có Tống, Hầu hai tướng đuổi theo thì bèn thúc ngựa chạy tới hợp lực bắt.
 Vì lẽ đó bọn Tào Gia Quế và Trịnh Bái không phải mất công nhiều.
 Nói về Lam Y nữ hiệp, Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ ngồi trên cây ở phía Nam đấu trường.
 Ba người theo dõi các cuộc đua từ đầu chí cuối và nhận xét tình hình.
 Ngay từ lúc Ân Định táng mạng, Lam Y nói với hai người :
 - Cuộc xung đột cầm chắc rồi, hiền huynh và Âu Dương muội nghĩ sao.
 Chu Đức Kiệt nói :
 - Khi phân công cho mọi người, Âu Dương bá phụ chắc đã có ý riêng nên trao nhiệm vụ Nam môn cho ba chúng ta, và Đông môn cho Tòng Cát, Tòng Thiện và Quan Long.
 Hai cửa này gần khán đài hơn cả và lẽ cố nhiên, anh em Hà gia phải qua lối cửa gần nhất.
 Hơn nữa, Nam môn là chánh môn nên hình thức có khác. Gióng sắt nặng nề, cửa rút ngược lên trời chớ không phải cửa đóng có hai gióng chặn ngang như Đông, Tây và Bắc môn.
 Nếu có động, đoàn quân đứng trên nóc cổng kia sẽ thả xích sắt hạ cổng xuống. Vậy ngu huynh muốn phân công như thế này.
 Âu Dương Bích Nữ nóng ruột hỏi :
 - Chu huynh phân công thế nào? Âu Dương Bích Nữ này nhất nhất tuân lệnh dù công tác khó khăn cũng không hề quản ngại.
 Đưa mắt nhìn Âu Dương Bích Nữ, Chu Đức Kiệt mỉm cười :
 - Ngu huynh nghĩ trong ba chúng ta nhiệm vụ nào cũng nặng nề như nhau?
 Trông hai mươi quân đứng trên mặt Nam môn cạnh cái trục lớn kia! Chúng có phận sự kéo tấm cửa gióng sắt nặng nề đó lên hay hạ xuống cũng vậy. Lát nữa, chúng sẽ hạ cửa xuống ngăn lối của anh em họ Hà. Điều khiển cái trục ấy, Thuận Vương phải dùng tới sức hai mươi tên quân lực lưỡng nọ. Vậy, Âu Dương hiền muội phải đàn áp chúng, tự lực điều khiển cái trục ấy để kéo cửa sắt lên một khi cửa đã hạ xuống. Được không?
 Âu Dương Bích Nữ gật đầu :
 - Ngu muội hiểu rồi.
 Chu Đức Kiệt nói tiếp :
 - Nếu họ Hà chạy ra lối này, tất có tướng tài đuổi theo hiệp lực cùng viên hổ tướng Tiên Phong đang ngạo nghễ trấn nơi gần Nam môn kia kìa.
 Lam Y ngắt lời anh :
 - Tiểu muội lãnh nhiệm vụ ngăn cản bọn sài lang ấy cho họ Hà thoát ra khỏi đấu trưởng phải không :
 - Đúng như vậy! Còn phần của nguy huynh thì hãy còn trong vòng dự đoán nên chưa dám nói chắc. Dù sao, cũng phải cần cố sức tiếp tay nhị vị hiền muội... Ngay từ lúc này, chúng ta cần chú ý dự phòng, chớ không đóng vai khán giả được nữa.
 Ba người liền lấy khí giới, đai nịch gọn ghẽ chuẩn bị. Tới khi trống báo động thúc liên hồi, những người xem sợ hãi kéo ùa ra lối Nam môn, binh lính giữ trật tự can không nổi, Điêu Thiên Phượng liền quát lớn hạ lệnh hạ cửa xuống bất cần sóng người cuồn cuồn kéo qua cửa ra ngoài... Thiên Phượng bị mọi người xô lấn bèn hô các tướng cản đẩy lùi cả lại, nhưng đã có một phần khán giả tràn được tới cổng giữa lúc tấm cửa gióng sắt nặng nề đang hạ xuống.
 Đang khi thập phần nguy hiểm, bỗng có ba người từ đâu phi tới như bay... Đó là anh em Chu gia và Âu Dương Bích Nữ. Chu Đức Kiệt vận nội ngoại công phu, tọa bộ chắc như Thái Sơn, giơ hai tay đỡ hẳn tấm ra nặng nề không cho hạ xuống nữa. Thừa dịp ấy, đợt người đã ra đến liền kéo nhau chạy thoát ra ngoài, trong khi Lam Y, Thái Dương kiếm tuốt trần sáng loáng, càn quét bọn bộ tướng Kim Lăng, không cho tên nào tới gần nơi Chu Đức Kiệt đang ra sức đỡ tấm cửa ngàn cân...
 Thấy hai kẻ lạ mặt dũng mãnh phi thường, Điêu Thiên Phượng nổi giận đùng đùng thúc ngựa hoa chùy xuống tới bổ thẳng xuống đầu Lam Y.
 Nói về Âu Dương Bích Nữ phi thân lên mặt cửa nam, tung song cước là văng hai tên quân luôn xuống dưới cổng phía ngoài đấu trường, đồng thời nàng hoa hai trái đấm thôi sơn đánh bật hai tên khác nhào xuống phía cổng cửa. Chỉ trong chớp mắt, bốn tên đã bị loại khỏi mặt công. Còn mười sáu tên thấy chàng mỹ mạo nam tử vì Âu Dương Bích Nữ mặc giả trai, từ đâu nhảy tới hung hãn quá, chúng bèn bỏ tay trục mặc cho tấm cửa nặng nề động xuống, khí giới ra hô nhau đánh. Nhưng không để cho chúng kịp hành động, Âu Dương Bích Nữ lẹ như cắt, bắt được tay một tên quân bẻ trẹo sa phía sau, đoạn một tay nắm gáy, một tay nắm dây lưng nhắc bổng lên lao thẳng vào đám đông. Bảy tám tên mắt thăng bằng, té nhào xuống dưới cổng. Rút cây thiết phiền, Âu Dương Bích Nữ nhảy tới hoa đánh tới tấp mấy tên còn lại.
 Biết thân không địch nổi hung tính, chúng hè nhau nhảy bừa cả xuống đất. Giữa lúc ấy, hai bộ tướng có bản lãnh cầm đao phi thân lên đầu cổng địch chống đánh. Chúng vừa đặt chân tới mặt gạch thì bị Âu Dương Bích Nữ quét luôn một ngọn đá Hoàng Sà Địa Tảo.
 “Chao ôi!”.
 Cả hai chỉ kịp kêu lên một tiếng thì bị lộn đầu té cả xuống. Nóng ruột vì Chu Đức Kiệt một mình đỡ tấm cửa sắt nặng nề giữa cuộc loạn chiến, Âu Dương Bích Nữ làm chủ tình thế trên mặt Nam môn vận động toàn lực cuốn trục xích sắt, kéo hẳn tấm cửa lên như cũ và đóng chốt lại.
 Khi đó là lúc Điêu Thiên Phượng thúc ngựa tới đánh Lam Y.
 Chu Đức Kiệt thấy hai tay nhẹ lần lần cánh cửa rút hẳn lên cao, biết là Âu Dương Bích Nữ đã làm chỉ tình thế trên đầu cổng, nên chàng vội rút Thất Tinh đao càn quét bọn quân tướng Kim Lăng không cho chúng kịp bao vây Lam Y vào giữa.
 Về phần Lam Y, nàng nhảy vút sang bên né tránh ngọn chùy và hai vó ngựa trước của đối phương.
 Đánh hụt, Điêu Thiên Phượng vội ngồi thẳng người lên, quay ngựa định giáng ngọn chùy nữa, thì Lam Y đã nhảy vọt lên cao nhằm đầu họ Điêu, chân tả đá búng vào màng tang, đồng thời gót chân hữu giáng ngược lại vào gáy địch thủ. Đó là thế đá Song Tước Đồng Phi tối ư nguy hiểm và rất khó dùng của Bắc phái. Tung Sơn Thiếu Lâm tự cũng có ngọn cước khổ luyện này nhưng đặt tên là Tả Hữu Hồi Cung.
 Không dè địch thủ lợi hại tới bực siêu đẳng về môn quyền cước ấy, Điêu Thiên Phượng vội vàng cúi rạp người xuống núp hẳn bên cổ Lôi Phong mã, nhường cho Lam Y bay vọt qua đầu. Giữa lúc ấy, hai anh em họ Hà vừa ập tới.
 Điêu Thiên Phượng vội giựt ngựa, bỏ Lam Y, nhảy vọt ra chận đường :
 - Tặc đồ chạy đi đâu, hãy coi chùy của Trại Nguyên Khánh.
 Hà Thiên Tường lầm lì vung chùy lên giáo đấu. Bốn ngọn chùy rập trúng nhau chát chúa nảy lửa. Hai con tuấn mã cũng chùn cả lại. Thừa dịp tốt, Hà Thiên Khánh lái xe tứ mã chạy bừa vào chỗ trống băng ra khỏi đấu trường. Không ham chiến, Thiên Tường cũng thúc ngựa chạy teo ra khỏi Nam môn.
 Triệu Đại Bằng, Dư Đông Bích, Tống Võ Cường và Hầu Văn Bảo cũng áp tới hiệp cùng Điêu Thiên Phượng phóng ngựa theo. Nhưng Âu Dương Bích Nữ đã rút chốt thả bừa tấm cửa gióng sắt xuống.
 Tấm cửa nặng nề gieo xuống rung chuyển cả mặt đất nhốt bọn Kim Lăng trong đấu trường.
 Lam Y, Chu Đức Kiệt phi thân lên mặt Nam môn, vẫy tay chào năm hổ tướng Kim Lăng rồi cùng Âu Dương Bích Nữ nhảy ra ngoài biến mất.
 Năm tướng tức giận quát quân sĩ leo lên mặt tường kéo cửa vượt ra ngoài đuổi theo.
 Nhưng anh em Hà gia đã đi được quãng đường dài.
 Tới chỗ Viên Bá Lương chờ, Hà Thiên Khánh hãm xe tứ mã cầm song chùy, nhường xe cho họ Viên nhảy lên Hoàng Mai mã.
 - Viên biểu huynh chạy trước ra ụ đất ở Tây môn thành, mặc bọn tiểu đệ đoạn hậu.
 Viên Bá Lương thúc ngựa chạy liền.
 Hà Thiên Khánh cười lớn :
 - May quá! Bọn ta thoát khỏi đấu trường dễ dàng là hoàn toàn nhờ ở tài xuất chúng của nhị vị Chu gia kiếm khách và cô gái Tô Châu đó.
 Hà Thiên Tường hỏi :
 - Trời chưa tối hẳn, đánh cho chúng một trận rồi mới chạy chớ.
 - Đánh cho chúng biết tay chớ sao.
 Hai người cho ngựa chạy chậm chờ đối phương.
 Giữa lúc ấy, bọn Chu Đức Kiệt ba người phi hành tới kịp.
 Chu Đức Kiệt gọi :
 - Kìa! Nhị vị công tử còn chờ chi ở đây nữa.
 Thiên Tường, Thiên Khánh cúi đầu chào :
 - Công ơn của ba vị rất lớn, chừng nào qua Thành Đô, xin ghé tệ phủ để chúng tôi được bái kiến... Anh em tôi muốn đánh nhầu với tặc tướng một trận rồi mới đi. Ba vị cứ an tâm.
 Chu Đức Kiệt cười lẳng lặng vẫy tay chào, rồi kéo Lam Y và Âu Dương Bích Nữ phi hành lẩn vào đám cây bên đường.
 Tiếng vó ngựa đuổi ở phía sau đã tới gần. Anh em Hà gia quay ngựa lại sẵn sàng nhập trận. Dưới bóng hoàng hôn chập choạng, bụi cát bay mù, một toán nhân mã phóng tới.
 Năm tướng Triệu, Dư, Tống, Hầu, Điêu dẫn đầu.
 Điêu Thiên Phượng phi ngựa lên trước :
 - Hai tên đạo này chạy đâu cho thoát.
 Hà Thiên Khánh cười gằn :
 - Như các ngươi thấy, ta chờ đó, đâu có thèm chạy.
 Dứt lời, chàng múa chùy đáp ngựa tới đánh. Hai thiết chùy nặng nền nhằm đầu họ Điêu giáng xuống.
 Thiên Phượng khinh thường vung chùy lên đỡ.
 Chát! Chát! Chùy đập trúng nhau vang dội.
 Điêu Thiên Phượng rùng mình, chồn cả hai cánh tay. Lôi Phong mã lùi hẳn lại.
 Hà Thiên Khánh giáng luôn hai chùy nữa. Không lẽ chịu thua ngay trước mặt mọi người e mất thể diện, Điêu Thiên Phượng vận dụng toàn lực đưa bát giác đồng chùy đỡ.
 “Chát! Chát!”.
 Toát mồ hôi, hai cánh tay tê buốt. Họ Điêu toàn thân run rẩy cơ hồ muốn té ngựa.
 Thật không ngờ tên ốm này lại mạnh đến nước ấy! Hà Thiên Khánh cười ha hả chùy xã luôn hai nhát nữa, nhưng Điêu Thiên Phượng không dám đỡ nữa, thúc ngựa chạy...
 Thoạt đầu, bốn tướng Triệu, Dư, Tống, Hầu cũng tưởng Điêu Thiên Phượng dư sức hạ đối phương nên cố ý trễ xem sao, sau sẽ vây bắt Thiên Tường cũng vừa. Ngờ đâu, Thiên Khánh dũng mãnh y hệt Lý Nguyên Bá thuở xưa mới dùng có bốn chùy mà họ Điêu đã đại bại, nên Hầu Văn Báo giục ngựa tiến lên hơ song chùy phủ quát :
 - Tặc tướng không được hung hãn, coi phủ ta đây.
 Hà Thiên Khánh phì cười :
 - Chấp cả bốn con nữa, mau vào đây cho cha dạy bài hỗn đấu.
 Dứt lời, chàng múa tít song chùy nhảy Hoàng Mai mã vào đánh tràn. Bảo nhảy ngựa sang bên, không đỡ hai ngọn chùy nặng nền, lia một phủ vào ngang sườn địch thủ trong khi ba tướng Triệu, Dư, Tống cũng áp tới bao vây Hà Thiên Khánh vào giữa. Thiên Khánh múa tít song chùy đánh bật cả bốn món binh khí dạt sang bên, gây nên một trường chiến đấu vô cùng dữ dội. Bọn lãm tướng đông đảo cũng hô nhau vây trong Hà Thiên Tường đánh thục mạng. Khí giới va chạm nhau chí chát, nảy lửa khủng khiếp.
 Giữa khi đó, hai đạo binh từ hai cánh tả, hữu xa xa kéo tới, tiếng reo hò vang dậy. Anh em họ Hà không chủ tâm kéo dài trận đấu e binh tướng Kim Lăng kéo đến đông bất lợi, nên quật thêm đường chùy nữa rồi thúc ngựa ra khỏi vòng chiến :
 - Cha tha cho các con nghe! Lần sau sẽ lấy đầu!
 Đoạn hai người cùng phi ngựa chạy như bay ra phía Tây. Binh mã Kim Lăng rầm rộ đuổi theo sau. Màn đêm hạ lần lần, bóng tối mỗi lúc một thêm dày đặc. Đuổi tới khu đồi đất, rừng cây bao phủ, hai anh em Hà gia biến đâu mất trong đêm tối.
 Bỗng tiếng trống chiêng hai bên rừng và tiếng quân hò reo vang dậy. Pháo hiệu nổ đùng đùng, mấy loạt tên vun vút bắn ra khiến nhiều kẻ nhiều kẻ trúng thương té ngựa. Binh tướng Kim Lăng không ngờ có phục binh nơi này nên đều hoảng sợ, không hiểu địch quân nhiều hay ít thế nào, e lạc hãm trùng Vĩnh An... Triệu Đại Bàng vội hô lớn thâu quân trở lại phía sau, phập phồng, đốt đuốc rồi mới chia ra từng toán tiến sâu vào lục soát khắp khu rừng cây, nhưng mất công vô ích, quân địch đã im lặng rút biến đi đâu mất từ lâu. Biết có đuổi theo nữa cũng chẳng ích lợi gì, các tướng đành thâu quân kiểm điểm thấy vài chục quân mã trúng thương, bèn băng bó tạm thời rồi kéo nhau rút cả về thành Kim Lăng báo cáo.
 Tuy đắc thắng, quân tướng Thành Đô yên lặng rút ra khỏi khu vực nguy hiểm, chia ra từng toán nhỏ giả làm khách thương, kéo thẳng về Tây Xuyên.
0
Hồi 26
Vào chốn thâm cung, Nữ hiệp gặp Lan Anh
Hận duyên dang dở, Phàn nữ nhắn Chu lang
 
Nói về Chu Đức Kiệt, Lam Y và Âu Dương Bích Nữ khi từ giã anh em Hà Thiên Tường, Thiên Khánh thì cả ba cùng lẩn mình trong đám lá rừng dày đặc, theo dõi trận đấu giữa hai người và các tướng Kim Lăng. Tới phần hai anh em họ Hà tháo lui, Âu Dương Bích Nữ ngỏ ý muốn theo xem, thì Lam Y gạt đi nói rằng :
 - Không cần theo cho mất công. Binh tướng Kim Lăng bị phục kích bất ngờ ở khu đồi đất nên không dám đuổi xa đâu. Lát nữa, sẽ về ra đây. Ta hãy chịu khó chờ rồi trở về Cao gia trang, kẻo mọi người mong đợi.
 Chu Đức Kiệt nói :
 - Lực lượng của Thuận Vương là mối lo đáng kể cho Yên Kinh. Cũng may triều đình còn binh tướng Tứ Xuyên của Hà tổng trấn và lực lượng Đương nguyên soái Mã Thành Long trên khu tam giác Cư Dung quan, Đông quan và Nhạn Môn quan.
 Âu Dương Bích Nữ hỏi :
 - Mã Thành Long là nhân vật thế nào?
 Lam Y đáp :
 - Mã nguyên soái là dòng dõi khai quốc công thần Mã Định Quốc, khi xưa dày công hãn mã theo đức Thái Tổ sáng lập Minh triều. Mã nguyên soái có mấy người con anh hùng lắm và binh tướng dưới quyền ngài rất tinh nhuệ.
 - Tiểu muội ao ước có dịp ngao du miền núi non hùng vĩ ấy lắm.
 Lam Y mỉm cười, vỗ vai Âu Dương Bích Nữ :
 - Mộng giang hồ ấy thành đạt dễ dàng... Hiền muội cứ nhập linh dân miền Bắc với... chúng tôi, thì ước nguyện đó sẽ thành ngay...
 Ba người mải chuyện trò lâu hơn thì có tiếng chân đoàn nhân mã kéo về.
 Lam Y hỏi Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ :
 - Chu huynh và hiền muội có muốn đoạt chiến lợi phẩm không?... Trước khi rời Kim Lăng cũng phải ghi lại chút ít kỷ niệm cho Thuận Vương chớ.
 Hai người chưa hiểu ý Lam Y định nói gì, thì nàng ghé tai nói nhỏ mấy điều... Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ mỉm cười, đồng ý.
 Đoàn nhân mã kéo tới nơi. Triệu Đại Bằng đi đầu, Hầu Văn Báo và Tống Võ Cường đi đợt nhì. Dư Đông Bích và Điêu Thiên Phượng đi cuối cùng đoạn hậu Trăng rằm đã lên cao non một trường ở hướng Đông.
 Các tướng im lìm còn đương tức tối, về trận đấu không toại ý hồi này, thì từ đâu một bóng đen phi hành vụt qua mặt như tên bắn lẩn vào các chòm cây biến mất.
 Triệu Đại Bằng ra lệnh cho đoàn quân tiến thẳng rồi tự quay ngựa lại khúc giữa hỏi Hầu, Tướng hai người :
 - Có chi lạ không hả nhị vị hiền đệ.
 Tống Võ Cường lẹ miệng nói trước :
 - Có bóng đen như con vượn lớn phóng qua mặt chúng tôi, biến thẳng vào chòm cây bên đường.
 - Ủa, ngu huynh cũng thấy như vậy, nên mới quay xuống đây hỏi. Kỳ thiệt.
 Ba người đang đứng nói chuyện thì Dư, Điêu hai tướng kiệu ngựa nước nhỏ chạy tới.
 Điêu Thiên Phượng hỏi :
 - Ba đại ca dừng ngựa tại đây làm chi, có sự lạ phải không?
 Triệu Đại Bằng nói :
 - Sao hiền đệ đoán được như vậy :
 - Tiểu đệ không đoán là vì việc vừa xảy ra cho chúng tôi đi đoạn hậu là sự thật. Vừa đi tới chỗ cành cây che lấp ánh trăng, thì bỗng vật gì như bóng ma phóng ngay trên đầu ngựa thành luồng gió quạt lạnh cả mặt.
 Triệu Đại Bằng suy nghĩ giây lát :
 - Ba hiện tượng ấy cùng xảy ra trong một lúc tại ba nơi, tất không phải là một người có thể hành động lanh lẹ như vậy được! Người hay vượn? Sao lại phi qua mặt chúng ta?... Giang hồ kiếm khách chăng?
 Chợt nhớ ra điều gì, Điêu Thiên Phượng nói :
 - Ba người! Hay là...
 Họ Triệu vội hỏi :
 - Ba tên chặn đánh ở Nam môn đấu trường cho bọn gian đạo hồi chiều chạy thoát.
 Hầu Văn Báo cười lớn :
 - Nếu là ba tên ấy, sao chúng không sát hại ta trong lúc vô ý, mà chỉ phi hành qua mặt thôi.
 Triệu Đại Bằng xen vào :
 - Thôi, bất tất phải luận bàn. Nên phòng bị và kéo quân về thành ngay cũng chẳng nên báo cáo vụ này với Vương gia, còn chi là thể diện nữa. Khinh suất có hại như thế đó. Bọn chúng cả gan, bản lãnh giỏi thiệt.
 Năm tướng liền kẻ trước, người sau kéo quân về thành.
 Chu Đức Kiệt, Lam Y và Âu Dương Bích Nữ về đến Cao gia trang thì mọi người đã tề tựu đông đủ trên thảo sảnh. Một thồi tiệc cũng đã được bày sẵn.
 Cao Thiệu Đàm nói :
 - Ba vị về phòng thay áo cho thoải mái, rồi lên dũng bữa ngay. Vừa uống rượu, vừa trò chuyện càng thú. Đói bụng lắm rồi.
 Thấy vắng hai anh em Âu Dương, Quan Long và Tào Chí, Âu Dương Bích Nữ hỏi Tòng Thiện :
 - Hai anh con chưa về sao.
 Âu Dương Tòng Thiện đáp :
 - Chúng cũng vừa về xong, xuống phòng thay áo. Đồng hành cùng Chu gia, con có đắc ý không?
 - Dạ... thưa phụ thân... Chu huynh và Nữ hiệp... hành động chu đáo lắm.
 Tòng Thiện vuốt râu mỉm cười :
 - Thôi, con khá lắm, xuống nhà thay y phục đi. Lẹ lên kẻo mọi người chờ.
 Âu Dương Bích Nữ cung kính nhìn Đức Võ Thượng Nhân ngồi kế bên Trại Mạnh Thường rồi quày quả về phòng chung cùng Lam Y.
 Lát sau, ngót ba mươi vị hảo hán giang hồ quây tròn thồi tiệc ăn uống, kể lại chuyện đấu trường rất hào hứng, mới hay là Tòng Cát, Tòng Đức, Quan Long, Tào Chí bị bốn đầu đà và Bạch Mẫu Ngô Công Tần thị rượt đuổi nhau. Sau một trận ác liệt, bốn người không ham đánh, chạy lẩn vào rừng cây cối về Cao gia trang.
 Tào Chí nóng ruột việc nhà, ngỏ ý xin phép hôm sau cáo từ về Dương Châu.
 Âu Dương Tòng Đức cười :
 - Trước kia, Tào huynh như chiếc nhạn bốn phương, nay mới biết thế nào là thể tróc tử phục nhé.
 Tào Chí nói đỡ :
 - Thiệt tình tiểu đệ thấy vắng Phàn biểu huynh, biểu tỉ nên muốn về Dương Châu xem tình hình ra sao đó thôi.
 Quan Long cũng nói :
 - Tiểu đệ cũng xin về với Tào ca. Nhân dịp kính mời quí vị anh hùng qua viếng Quan gia bảo luôn thể.
 Bọn hảo hán theo Trại Mạnh Thường, Tòng Thiện có mấy người đi Dương Châu nên nhận lời cùng đi.
 Lam Y nói với Quan Long :
 - Tôi cũng nóng biết tin họ Phàn, nên chuyến này thế nào cũng phải đi Thái An huyện trước đã. Dịp khác rỗi rãi hơn sẽ trở lại Quan gia bảo mong Quan biểu huynh thể tình cho.
 Âu Dương Bích Nữ vội hỏi Lam Y :
 - Tiểu muội có ý mới nhị vị qua tệ trang bên Tô Châu.
 Lam Y vỗ vai Âu Dương Bích Nữ, mỉm cười :
 - Chẳng mời thì chúng tôi cũng... sẽ tới yết kiến bên quý trang, nhưng đối với Phàn muội hiện vắng mặt nơi đây, tình bằng hữu thấy không an tâm, nên phải đi Thái An huyện, xem tự sự ra sao, khi đến Tô Châu mới khỏi thắc mắc. Hay là... hay là...
 Lam Y do dự im lặng.
 Âu Dương Bích Nữ chờ Lam Y nói tiếp.
 Ngồi kế bên em, Tòng Đức nghe chuyện liền nói :
 - Tôi đỡ lời Chu hiệp muội và dàn xếp thế này, liệu có được không? Gia muội cũng quen thân với bên Phàn gia, chi bằng nếu không có sự cản trở, thì cả ba người cùng đi Thái An huyện, chừng nào xong việc cùng về Tô Châu có hơn không?
 Âu Dương Bích Nữ mừng rỡ đỏ mặt, không dám nói gì.
 Lam Y vui vẻ nói :
 - Thì tôi cũng có ý ấy, nhưng e ngại Âu Dương bá phụ nên chưa dám phát biểu ý kiến.
 Đức Võ Thượng Nhân nhìn hai cháu và Âu Dương Bích Nữ, chậm rãi nói :
 - Nếu Âu Dương điệt nữ ưng thuận cùng đi với gia điệt ta sẽ xin phép lệnh phụ cho.
 Dứt lời, Thượng nhân ý tứ nhìn Trại Mạnh Thường, mỉm cười.
 Âu Dương Tòng Thiện vuốt râu nói :
 - Được theo nhị vị Chu hiệp ngao du để học hỏi thì còn gì bằng nữa. Vả lại được sang Thái An huyện thăm dò tin tức Phàn gia cũng là nghĩa bạn. Trung, Hiếu, Tín, Nghĩa là đức căn bản phàm con người ta đầu đội trời, chân đạp đất phải có. Lẽ nào lão hủ này lại cấm đoán? Chúng ta là con nhà võ, trung tâm chánh khí thông cảm lắm. Ta bằng lòng cho Bích Nữ đi Thái An huyện, chừng nào xong việc, liệu mời nhị vị Chu hiệp cùng về Tô Châu nghỉ ngơi luôn thể, Tòng Cát, Tòng Đức có muốn cùng đi không?
 Anh em Âu Dương đồng ý với nhau, thưa :
 - Chúng con có việc phải về Tô Châu cùng phụ thân. Tam muội đi Thái An huyện là đủ rồi.
 Từ nãy, Thiết Xích Tử vẫn im lìm uống rượu nghe chuyện mọi người bấy giờ mới lên tiếng :
 - Ngày mai, Trương mỗ này cũng xin phép lên đường ngao du tới Lĩnh Nam. Trên bước giang hôm vị nào qua Võ Đang sơn, xin mời ghé Trương gia trang chơi cho gia đệ Tam Vân được dịp thù tiếp.
 Đức Võ Thượng Nhân bảo Thiết Xích Tử :
 - Nếu vậy, chúng ta cùng xuống Lĩnh Nam, tôi cần vào dãy La Phù sơn. Nhưng rán chờ gia điệt lên đường rồi ta sẽ đi sau vội chi?
 - Xin vâng lệnh. Tâm thân hồ hải này có cần chi thời giờ.
 Chu Đức Kiệt thưa với Đức Võ và Trại Mạnh Thường :
 - Sáng ngày mốt, chúng ngu điệt sẽ lên đường.
 Hôm sau, mọi người chia tay. Anh em Chu gia và Âu Dương ân cần mời lời Tào Chí chào Tào Mẫu và Hạ Thái Phượng. Riêng với Quan Long, Chu Đức Kiệt và Lam Y gửi lời thăm Tôn Thị và Quan Hổ. Các hảo hán mỗi toán vài người chia tay ra đi.
 Đức Võ Thượng Nhân, cha con Âu Dương, Thiết Xích Tử và anh em Chu gia còn nán lại Cao gia trang.
 Chập tối hôm nay, Lam Y bảo Âu Dương Bích Nữ :
 - Đêm nay, hiền muội có muốn vào thăm phủ Thuận Vương cùng chúng tôi không?
 - Có chớ? Đầu canh hai đi nhé.
 - Đầu canh hai tuy còn sớm quá nhưng cũng được. Muốn gặp Nhạc Lan Anh, đi sớm mới hy vọng nàng còn thức, lẳng lặng đi thôi nhé. Một mình Thượng nhân biết là đủ, khỏi phải trình với bá phụ, e người ngăn cản.
 Đêm mười sáu, trăng tròn vạnh dải ánh vàng soi khắp nhân gian.
 Vận áo dạ hành màu sẫm, Lam Y đi đầu, Âu Dương Bích Nữ đi giữa. Chu Đức Kiệt đoạn hậu, ba người thấp thoáng như bóng ma, chạy vùn vụt đến chơn thành Kim Lăng, nhè nơi có nhiều bóng tối phi thân lên mặt thành rồi chuyền xuống nóc nhà hướng lối Vương phủ.
 Thấy Âu Dương Bích Nữ theo mình sát gót như bóng với hình, Lam Y khen thầm nàng quả xứng danh môn đồ lợi hại của Thiếu Lâm tự. Hơn nữa, hôm ở Nam môn đấu trường, nàng hành động rất tĩnh trí và quả cảm theo đúng sự tính toán của Đức Kiệt, cũng đủ tỏ rằng nàng là nhân vật hữu lực hữu tài được thọ luyện môn võ chân truyền.
 Tuy sáng trăng nhưng ba người trổ thuật phi hành băng qua các nóc nhà trong thành lanh lẹ không một tiếng động, chẳng bao lâu đã tới gần Vương phủ, tường cao hào sâu, quân lính canh phòng nghiêm ngặt. Chuyền lên cây cao, Âu Dương Bích Nữ bảo nhỏ Lam Y và Chu Đức Kiệt :
 - Hình như quân lính canh phòng Vương phủ đông hơn hôm rồi. Chúng đứng rải rác cả trên mặt tường.
 Chu Đức Kiệt nói :
 - Sự đó không lạ. Vì vụ xung đột ở đấu trường nên mới có việc canh phòng nghiêm ngặt này. Vòng ra phía tả xem sao.
 Ba người chuyền xuống nóc nhà, chạy lẩn vào bóng tối ra phía Tây. Cũng vậy, quân canh vẫn đi đi, lại lại trên mặt tường. Âu Dương Bích Nữ nhặt một viên gạch dưới mặt đất, chỉ lên mặt tường và hất hàm hỏi Lam Y. Hiểu ý, Lam Y gật đầu. Âu Dương Bích Nữ vung tay liệng mạnh. Viên gạch rớt cộp một tiếng trên mặt tường cao. Thấy động, mấy tên lính vội gọi nhau xúm lại một chỗ coi. Thừa dịp chúng vô ý, Lam Y phi hành tới chân tường và phi thân qua mặt tường vào phía trong. Vừa đặt chân tới đất, ba người đã lẹ làng nhảy lên cây ẩn mình vào đám lá dày.
 Từ phía mặt tường tiếng quân canh bàn tán với nhau còn vọng tới chòm cây.
 Một tên nói :
 - Quái thật! Rõ ràng có tiếng động ở đây mà không thấy bóng người nào cả.
 Tên khác nói :
 - Chính vậy, tôi cũng nghe thấy rõ ràng. Không lẽ ma!
 Tên thứ ba giễu :
 - Thôi đi các đại ca, thần hồn nhát thần tính! Tường cao và cách xa nơi nhà dân ở có tới ngót bốn trượng, làm chi có người bén mảng tới khu này vào giờ giấc này? Có chăng là con mèo nào đó lỡ chân làm xô vậy chi ở dưới chân tường, nên các đại ca tưởng tượng ngay là bọn đạo tặc ở đấu trường hôm qua nhập thành chứ gì! Canh phòng nghiêm mật thế này trừ phi chúng tàng hình mới thoát qua mặt nổi chúng ta.
 Âu Dương Bích Nữ bụm miệng cho khỏi phì cười. Lam Y vội bấm tay hai người, chỉ mái ngói cong cong gần đó.
 Như én liệng, ba người đáp xuống mái, rồi từ mái nọ qua mái kia chuyền lần vào khu trung tâm, lầu các nguy nga, cách nhau bởi nhiều hoa viên rộng rãi, với những ngọn giả sơn uốn éo hữu tình. Nhiều ánh đèn còn sáng choang lọt qua cửa cuốn ra ngoài, nhưng cũng lắm khu tối om hầu như không có người ở. Ba hiệp khách ẩn hiện bất thường, nhẹ nhàng không một tiếng động nhỏ. Mỗi khi gặp toán quân, ba người đều thận trọng ngừng bước nằm rạp xuống mái ngói, chờ chúng đi khỏi mới tiếp tục tiến vào.
 Lần theo đường đi vòng vèo tới dãy tường hoa mái sứ lấp lánh phản chiếu ánh trăng vàng, ba hiệp khách thận trọng nhìn quanh, rồi đáp qua mặt tường, xuống một ngọn giả sơn cao lớn nấp trong bóng tối nghe ngóng. Chợt có nhiều tiếng chân người từ góc tréo đình hoa tiến tới hoa viên um tùm cây cối, nơi có ngọn giả sơn mà ba hiệp khách đứng nấp.
 Tiếng phụ nữ nói léo xéo nghe rõ lần lần. Năm người trong bóng tối đủng đỉnh đi ra chỗ mấy góc đào uốn éo, trăng rải huyền ảo lung linh.
 Lan Anh đi trước, bốn nữ binh theo sau, đai nịt gọn ghẽ đeo kiếm bên lưng.
 Một nữ binh nói :
 - Bữa nay Vương gia say quá mà tiệc rượu chưa tàn.
 Lan Anh hỏi :
 - Nhị vị Thế tử thế nào?
 - Trước khi đi tuần phòng, con trộm ghé nhìn lên đại khách sảnh thấy hai Thế tử đã ngà ngà, nhưng có lẽ ít say hơn chư tướng.
 Lan Anh cười khanh khách :
 - Đã đành, các tướng là những con trùng rượu, chớ nhị vị Thế tử tự so tửu lượng với họ có thấm tháp gì.
 Tên nữ binh khác nói :
 - Bẩm Quận chúa, các vị đầu đà tửu lượng cũng ghê gớm lắm. Nốc hơi một từng ly hạng đại, mà lúc ngà say còn đùa cợt bầy ca vũ nữ... trần tục quá.
 - Chà! Họ đâu phải chân tu khổ luyện. Đó là những tướng trá hình cho dễ bề lưu động mỗ khi Vương giá phái họ đi công tác mật vụ đấy thôi! Cho nên ta không ưa những buổi đại tiệc đông đủ như vậy. Như đêm nay tuy có lời mời, ta cũng không tham dự :
 - Thưa Quận chúa, nhất là... là...
 - Là sao hả Thu Nhi.
 - Là... Quận chúa cho phép con mới dám thưa.
 - Ta hỏi, ngươi cứ nói đi?
 - Bẩm nhất là Bạt Sơn Hổ Hầu Tướng quân và Trại Nguyên Khánh Điêu Tiên Phong cứ nhìn... Quận chúa chằm chặp không hề chớp mắt. Con để ý nhiều lần như vậy rồi.
 Lan Anh phì cười, ngồi xuống ghế ở gốc đào :
 - Quả thật! Hai tên sất phu ấy có thái độ hỗn xược thật! Chưa có dịp nào ta cho chúng một bài học lễ giáo, bất phân thượng hạ... Hừ! Chúng hỗn xược thật! Thôi, hết phiên canh rồi, cho các người về nghỉ, mặc ta nơi đây, chốc lát sẽ nhập cung.
 - Chúng con ở lại hầu, không sao...
 - Không, ta muốn một mình thưởng trăng khuya chốc lát. Cho các ngươi tùy tiện, mai còn có việc khác nữa. A, Tố Vân, pha sẵn ly sâm để nóng ở án thư trong phòng nhé.
 Tố Vân vâng dạ rồi cùng Tố Muội, Thu Nhi, Thu Nguyệt lùi bước.
 Cho bốn nữ binh hầu cận đi khuất, Lan Anh mới ngả đầu xuống thành ghế đá, nhìn vừng trăng bạc lơ lửng trong không trung, thở dài...
 Giây lát, nàng nói nhẹ một mình:
 “Ngoại trừ những năm theo thầy khổ luyện công phu, ta bị giam hãm chốn cung vàng điện ngọc này đã mười ba năm tròn. Sống giữa bầy lang thú, biết kẻ tàn ác ở nơi đâu mà chưa có dịp trả mối huyết thù!... Nghĩ thiệt thâm gan, tím ruột... Cha mẹ ơi, có linh thiêng thời giúp con mau báo hận này... Uổng thay, công phu khổ luyện có sẵn bản lãnh mà đành khoanh tay thúc thủ hết ngày nọ tháng kia... Chà, tức ơi là tức!”.
 Bỗng nàng vùng đứng dậy, tuốt kiếm sáng loáng lên mấy đường, chém vun vút vào khoảng không như chém bóng kẻ thù.
 Lam Y ra hiệu cho Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ đứng nguyên chỗ, rồi nàng phi thân lên đỉnh ngọn giả sơn nhảy vụt ra trước mặt nàng Quận chúa u buồn.
 Giật mình nhưng trấn tĩnh được ngay, Lan Anh vung kiếm vào đánh.
 Lam Y lùi lại nói nhẹ :
 - Nhạc tiểu thư! Chớ kinh động!
 Ngạc nhiên, Lan Anh thây tay kiếm khẽ hỏi :
 - Ngươi là ai? Vào đây làm chi? Không sợ bị bắt sao?
 - Hãy tra kiếm vào vỏ, rối nói chuyện sau.
 Nghi ngờ, Lan Anh nói :
 - Gian tế lừa ta sao được! Coi kiếm đây.
 Lam Y khoanh tay đứng nguyên chỗ :
 - Báo động sẽ hối hận! Gian tế nào vào nổi nơi đây, nếu chẳng phải là người của Thượng Thái thiền sư nhờ tới.
 Nghe nói đích danh sư phụ, Lan Anh mới dịu nét nghi ngờ, tra kiếm vào vỏ :
 - Nhưng người là ai?
 Lam Y buông xõng :
 - Lam Y nữ hiệp! Thế đã đủ chưa?
 - A! Lam Y nữ hiệp! Người đã đánh Kim Cương tự, diệt trừ Sơn Phu hắc điếm, hỏa thiêu Xích Hoa viện.
 Lam Y cúi đầu :
 - Chính tôi. Nhưng đứng giữa ánh trăng chuyện trò không tiện, xin mời ra sang ngọn giả sơn này.
 Dứt lời, Lam Y đưa tay mời và đi trước.
 Nhạc Lan Anh dè dặt theo sau mấy bước.
 Vừa chìm người trong bóng tối, Lam Y nói :
 - Tôi còn muốn giới thiệu hai người nữa...
 Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ từ khe giả sơn nhẹ nhàng bước ra, khẽ cúi đầu chào :
 - Đây là gia huynh Đơn Đao Chu Đức Kiệt và bằng hữu Thiết Phiến Cô Âu Dương Bích Nữ.
 Tuy càng ngạc nhiên, nhưng thấy ba nhân vật cùng lẫm liệt hiên ngang, Nhạc Lan Anh cũng lễ phép cúi chào lại :
 - Phải chăng ba vị hiệp khách đây là người đã đại náo Nam môn đấu trường hôm rồi. Ngọn gió nào đưa người tới chốn cầm địa này, hân hạnh cho tôi biết ngần nào.
 Lam Y tiến lại gần mỉm cười :
 - Tiểu thơ quá khen... Hành động bữa đó chẳng qua là thiên chức của anh em chúng tôi... Hẳn tiểu thơ còn nhớ Đức Võ Thượng Nhân, người đã cùng lệnh sư phụ đưa tiểu thơ năm nọ từ Long Sơn tự về Kim Lăng.
 Lan Anh gật đầu.
 - Thượng nhân là gia thúc, còn Âu Dương muội đây là hảo đồ của lệnh sư bá Chiêu Đức thiền sư bên Thiếu Lâm tự.
 - Chao ôi, té ra chúng ra là người nhà cả mà... Xin mời ngồi tạm xuống phiến đá này hàn huyên cho tiện.
 Khi bốn người đã an tọa, Lam Y nói :
 - Nhạc tiểu thơ, chúng tôi...
 Lam Y vội ngắt lời :
 - Chúng ta tuy sơ giao nhưng thiệt ra là người một nhà cả, nếu hiền tỉ xưng hô như vậy, ngu muội lấy làm áy náy vô cùng.
 Lam Y cười xòa :
 - Được bà Quận chúa làm em thì còn chi hay bằng... Gia thúc có đem tiểu sử của Nhạc muội lược thuật cho nghe, nếu nhân dịp qua Kim Lăng, tôi muốn tiện cơ hội làm quen, bởi vậy mới mạo hiểm vào đây giao bái, phòng sau này cần phải liên lạc với nhau để dễ bề tìm kiếm. Chẳng hay hiền muội nghĩ thế nào?
 Cảm động, Nhạc Lan Anh đáp :
 - Ý kiến của Chu tỉ thiệt đa hảo. Ngu muội đang lo rầu bị cô thế chốn thâm cung. Khi hạ sơn, sư phụ Thượng thái có dạy rằng ngu muội có nhiệm vụ giúp đỡ các vị anh hùng bất cứ trong trường hợp nào liên can tới nơi Vương phủ được phòng vệ nghiêm cẩn này. Từ nay, mỗi khi cần tới, hiền tỉ cứ ghi cho vài lời lên giấy, dắt trong kẽ đá trên đỉnh ngọn giả sơn này, ngu muội sẽ hoàn toàn xin lãnh ý. Không sợ thất lạc đâu thường ngày tiểu muội ra đây mặc tưởng.
 Suy nghĩ giây lát, Lam Y hỏi :
 - Chí hướng phản triều đình của Thuận Vương, phần đông các tay giang hồ kiếm khách đều biết. Theo ý hiền muội, cuộc tạo phản đó đã sắp thành hình chưa?
 - Hiện thời, binh tướng đã khá đầy đủ, cơ sở đồng bọn Thuận Vương rải rác hầu khắp chốn Giang Nam, nhưng ngày quật khởi còn trong vòng bí mật.
 - Thiết tưởng các vị hào hiệp, gót giang hồ đặt khắp đó đây, cùng nên tìm phương kế báo cáo cho nhà vua hay. Hình như tại Yên Kinh, Hoàng đế bị gian thần lung lạc nên không am tường hành động của vị Vương gia nguy hiểm này chút nào cả, phải thế không Chu tỷ.
 Lam Y gật đầu :
 - Quả thế. Hiền muội dự đoán không sai. Có lẽ chúng tôi phải lên Yên Kinh một phen. May quá, đêm nay ngẫu nhiên tương phùng hiền muội nơi đây, đỡ tốn công mạo hiểm tìm kiếm rất nhiều!... Thôi khuya rồi, ta nên chia tay kẻo hiền muội ở lâu nơi đây bất tiện.
 Dứt lời, Lam Y, Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ đứng cả dậy.
 Chợt nhớ ra điều gì, Nhạc Lan Anh hỏi :
 - À, quên khuấy đi mất, hai vị hảo hán dự thí ở đấu trường bữa nọ đều thoát hiểm cả chớ.
 Nhìn thẳng vào mắt Lan Anh, Lam Y đáp :
 - Họ về Tứ Xuyên rồi. Đó là hai vị công tử con quan Hà tổng trấn ở Thành Đô. Hiền muội quen họ sao.
 Lan Anh ngập ngừng :
 - Vò võ cô đơn trong chốn Tử Cấm Thành này thì còn quen biết được ai! Thấy họ bị hại nên muốn biết cơ sự ra sao đó thôi.
 Bọn Lam Y cáo từ.
 Lan Anh tha thiết cầm tay Lam Y và Âu Dương Bích Nữ dùng dằng chẳng muốn rời.
 Lam Y mỉm cười, vỗ vai Lan Anh :
 - Non xanh chẳng đổi, nước biếc còn dài, chị em mình có ngày tái ngộ mà.
 Nói đoạn, nàng ra hiệu cùng Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ phi thân lên ngọn giả sơn, chuyền qua mặt tường hoa biến mất. Ngơ ngẩn nhìn theo, Nhạc Lan Anh tần ngần giây lát mới thong thả trở về phòng.
 Ba hiệp khách lên tới nóc lầu cao, theo đường cũ phi hành trở ra. Khi gần tới ngoài, chợt trông thấy cây cột cờ, Lam Y kéo Âu Dương Bích Nữ ngừng lại, trong khi Chu Đức Kiệt phóng mình đứng lên ngọn cột treo lủng lẳng một bọc nhỏ, rồi trở lại chỗ cũ cùng hai bạn đồng hành chạy riết, băng qua tường cao ra ngoài trở về Cao gia trang, thì đêm vừa đúng canh ba.
 Hôm sau anh em Chu gia đem việc Nhạc Lan Anh thuật lại cho Đức Võ Thượng Nhân.
 Đức Võ nói :
 - Ở Lĩnh Nam về, ta qua Yên Kinh, và sẽ tùy cơ nhập Hoàng cung, các con khỏi lo việc đó. Hôm nay chúng ta lên đường trước, các con nên hoãn cuộc hành trình đi Thái An huyện tới sáng mai, kẻo phí sức không ích lợi gì.
 Sang đầu giờ Thìn hôm ấy, Đức Võ và Thiết Xích Tử từ tạ mọi người xuống Nam. Tới gần trưa, Trại Mạnh Thường và Tòng Cát, Tòng Thiện cùng trở về Tô Châu.
 Sáng hôm sau, Chu Đức Kiệt, Lam Y, Âu Dương Bích Nữ chỉnh tề hành lý, từ tạ Cao Thiệu Đàm lên ngựa thẳng đường đi Thái An huyện.
 Nói về trong Vương phủ Kim Lăng, thường lệ, Thuận Vương dậy sớm tuy đêm hôm trước thết tiệc chư tướng say sưa. Lúc đang dùng trà độc ẩm ở tư thất thì có quân hầu từ ngoài cổng đường xin vào ra mắt. Thuận Vương truyền cho vào.
 Viên bộ tướng gác phiên ngày hôm đó bước vào thưa :
 - Bẩm Vương gia, trong lúc treo cờ sáng nay, hạ tướng thấy có vật này treo nơi trên ngọn cột cờ, nên đem vào trình Vương gia định đoạt.
 Nói đoạn, y kính cẩn dâng bọc nhỏ để lên án thư trước mặt Thuận Vương. Ngạc nhiên, Thuận Vương tiếp lấy chiếc bọc mở dây ra thất mảnh vải màu lam. Mở tung mảnh vải, bên trong chỉ vỏn vẹn có ba cái ngù bông mà các tướng vẫn gài trên mũ.
 Cau mặt, Thuận Vương nói :
 - Thế này là nghĩa lý gì! Có dấu vết gì lạ không.
 Viên bộ tướng sợ xanh mặt :
 - Bẩm không. Mạt tướng đã tra xét rất kỹ càng, tuyệt nhiên không hề có dấu tích gì cả.
 Chợt nhận ra trên góc vuông vải có mấy hàng chữ nhỏ viết bằng vôi đề “Lam Y Nữ Hiệp”.
 Đập mạnh tay xuống án thư, Thuận Vương gắt :
 - Chà! Lại Lam Y nữ hiệp.
 Viên bộ tướng tái mặt không hiểu.
 - Ngươi cầm lệnh tiễn này ra mời ngay quan Nguyên soái và chư hổ tướng khắc họp tại công đường, truyền họ đai nịt mũ, giáp gọn ghẽ, nghe!
 Viên bộ tướng vội vàng dạ lớn, lùi bước.
 Đêm trước quá chén say mèm, nay bỗng được lệnh triệu tập cấp tốc, các tướng không hiểu vì lẽ gì, vội vàng chỉnh tề mũ, giáp tề tựu trên công đường. Lúc tới đông đủ thì Thuận Vương đã ngồi sẵn đó rồi, nét mặt lạnh lùng. Chào bái xong, mọi người ngồi thành dãy hai bên án.
 Thuận Vương lẳng lặng nhận xét rồi đưa bọc ngù cho Hoàng Bách Thắng :
 - Nguyên soái thử coi tướng nào mất các vật này thì trả lại họ giùm Cô gia.
 Đưa mắt nghiêm nghị nhìn các tướng một lượt nữa, Thuận Vương dằn từng tiếng :
 - Đó là một món bảo vật do Lam Y nữ hiệp gởi tặng. Người đó đích thân vào tận Vương phủ treo bọc quà này trên ngọn cột cờ.
 Hoàng nguyên soái vội mở vải thấy ba chiếc ngù mũ trận, và khi đọc thấy hàng chữ trắng thì tái hẳn mặt.
 Chỉ mấy chiếc ngù bông trên án, Hoàng Bách Thắng hỏi năm tướng.
 Triệu Đại Bằng, Tống Võ Cường và Điêu Thiên Phượng đứng cả dậy :
 - Ngù đó của mũ chúng tôi.
 - Ba hiền đệ hành động thế nào mà đến nỗi ngù mũ lọt vào tay Lam Y nữ hiệp, kẻ thù bất cộng đái thiên của toàn thể phủ thành này? Và cũng không thấy báo cáo. Tại sao vậy?
 Triệu, Tống, Điêu nhìn nhau, chợt nhớ ra chặp tối hôm nọ khi đuổi theo anh em họ hà trở về thời có ba bóng đen phóng mình qua đầu ngựa... Bấy giờ mới hiểu ra là Lam Y và đồng bọn đã nhân dịp ấy bứt mất chiếc ngù trên mũ của ba tướng.
 Triệu Đại Bằng bèn thuật lại chuyện ấy cho Thuận Vương và Hoàng Bách Thắng nghe và lại nói thêm :
 - Vừa tối trời lại vừa bất ngờ nên không nhận xét được gian tế.
 Thuận Vương lắc đầu thở dài :
 - Tổ chức canh phòng nghiêm ngặt thế mà Lam Y còn ra vào nơi đây dễ dàng như kẻ đi dạo vậy, ngạo nghễ trả lại mất chiếc ngù, coi rẻ binh hùng tướng mạnh Kim Lăng.
 - Quả thiệt, chúng đã đánh một đòn gió vào mặt Cô gia! Mới sơ sơ cũng đã như vậy rồi, Cô gia đâu dám nghĩ tới chuyện giành thiên hạ với Yên Kinh nữa. Đối lập với ta, có nhiều nhân vật tài tình ưu tú thật! Cứ trông như hôm rồi, chúng đại náo Nam môn đấu trường cũng đủ biết ta kém họ xa về lực cũng như về tài nghệ! Đáng buồn!
 Bị Thuận Vương chửi mát, các tướng tái mặt cúi đầu im lìm.
 Hồi lâu, Hoàng Bách Thắng mới cất tiếng :
 - Tâu Vương gia, kẻ hạ thần nhận xét thấy hôm đại hội kỵ mã, ta không ngờ rằng chính con Hà tổng trấn có ghi tên dự thí, và cũng không ngờ tới việc bọn giang hồ kiếm khách Lam Y giúp họ. Sự thiếu sót sơ hở này phần lớn do ban Mật báo, nếu không thì hạ thần đã điều khiển binh tướng theo lối khác, họ có tài giỏi như thiên binh, thần tướng, ít nhất cũng phải để vài xác chết lại Kim Lăng. Còn việc mấy cái ngù mũ kia thì một bên chúng đánh trộm kẻ vô tình biết thế nào mà phòng ngừa cho được? Dù sao cũng là lỗi của bọn hạ thần lần này bất cẩn trước đòn giang hồ của đối phương. Sau này trên chiến trường tướng đấu tướng, mã giao mã, thanh thiên bạch nhựt, Vương gia sẽ nhận xét tấm lòng trung thành phục vụ nếu phải da ngựa bọc xương, bọn hạ thần cũng chẳng quản ngại phò Vương gia đến kỳ cùng.
 Tự xét thấy mình quá gắt gao với các chư tướng trong khi còn cần đến tài sức của họ nhiều về sau này, Thuận Vương giảng giải :
 - Cô gia chỉ buồn phiền vì Lam Y nữ hiệp coi thường chúng ta quá. Chư tướng là tay chân của Cô gia mà bị con nữ tặc đó giỡn cợt khinh rẻ, lẽ cố nhiên tổn tới lòng tự ái của Cô gai và toàn thể Kim Lăng. Danh tiếng Ngũ Hồ, Tiên Phong vô địch còn gì!
 Sắc mặt biến từ tái ra tím lịm, các tướng bị nói khích đều hờn giận, căm gan tím ruột, mong được gặp Lam Y và đồng bọn ngay để quyết liệt một mất một còn, moi tim nhắm rượu mới hả giận.
 Biết mức độ căm hờn của các tướng đối với Lam Y đã lên tới cực điểm, Thuận Vương dịu giọng.
 Không ai học hết được chữ ngờ, việc xảy ra đã qua, chẳng nên nhắc tới nữa. Tuy vậy nên lấy đó làm gương, cẩn thận hơn. Âu đó cũng là bài học quý giá cho ta khỏi kiêu ngạo trước một đối thủ lợi hại về một phương diện như bọn Lam Y! Thôi, tan họp Cô gia về nghỉ, rượu uống đêm qua hãy còn say... Hà... hà.
 * * * * *
 Trong khi các anh hùng hảo hán kéo tới Kim Lăng xem kỵ mã hội thì ở Thái An huyện đã xảy ra một việc chẳng ngờ. Anh em Phàn Thế Hùng, Phàn Mộng Liên sau thời gian giúp việc nhà cô mẫu là Hà Thái Thái xong xuôi, còn ở lại bên Tào gia trang chơi ít lâu rồi mới lên đường về nhà. Hai anh em ghé lại Trấn Giang hai ngày mua mấy thứ đồ vặt tải về Thái An huyện.
 Ngày thứ hai, trong khi Phàn Thế Hùng đi thăm mấy người quen thuộc trong trấn, Mộng Liên ra phố mua sắm một mình. Đang la cà xem hàng hóa, nàng chợt thấy một đầu đà, một đạo sĩ trẻ tuổi, nét mặt lầm lì cùng đi với một đạo cô đôi mắt trai lơ sắc như dao, ba người từ đầu phố đi tới. Đạo sĩ và đạo cô nhìn Mộng Liên không chớp mắt. Trái lại đầu đà đội chiếc nón tre đan lớn tìm hụp che mắt quá nửa mặt, nhìn ra hướng khác chờ không nhìn chăm chú Mộng Liên như hai bạn đồng hành. Thoạt đầu, Mộng Liên thấy khó chịu về cái nhìn của đạo sĩ, hễ gặp gái đẹp thì tánh háo sắc bốc lên choán hết cả lương tri. La cà mua các hàng xong, mướn người quảy về Như ý tửu quán nơi giáp với cửa Đông thành Trấn Giang.
 Lát sau, Phàn Thế Hùng cũng về tới quán trọ :
 - Ngu huynh mướn xong ngựa thồ của tên mã phu ở xóm chợ rồi, tám lượng bạc công. Khi trở về chắc thế nào y cũng còn có khách nữa vị chi là mười sáu lượng. Phải giá đó chứ hả.
 Mộng Liên xếp hàng vào túi vải :
 - Ngu muội có được đi xa bao giờ đâu mà thuộc giá mã phu!
 Phàn Thế Hùng cười ha hả :
 - À nhỉ, quên khuấy đi mất, ngu huynh cứ yên trí là hiền muội tháo vát như Lam Y nữ hiệp và Âu Dương Bích Nữ. Bản lãnh họ đặc biệt quá khiến khách tu mi cũng khó bì kịp.
 Nhắc tới tên các bạn mới gặp gỡ mà đã trở nên thân thiết vô cùng, Mộng Liên bỗng cảm thấy nao nao tấc dạ, mong nhớ một sự gì đó. Bất giác nàng thở dài...
 Phàn Thế Hùng nhìn em ngạc nhiên :
 - Xin lỗi, ngu huynh đã vô tình khiến hiền muội u sầu.
 Tươi hẳn nét mặt lên, Mộng Liên cười khanh khách dòn dã như họa mi :
 - Hiền huynh lầm rồi! Tiểu muội đâu có buồn vô lý như vậy? Chẳng qua đang nghĩ tới hai nhân vật ấy mang tiếng hồng quần, mà thiệt rất anh hùng lỗi lạc, ai ai cũng phải quý mến. Tài ấy, sắc ấy, khách lãng tử nào trông thấy mà không mê luyến? Mỗi người một vẻ, Lam Y hai mươi mấy tuổi rồi mà trẻ măng, mơ mơ như thiếu nữ đôi chín. Sức mạnh hơn cọp, ghê thật!
 Phàn Thế Hùng vẫn nhìn em dò la :
 - Hiền muội nói phải lắm. Có đi xa mới biết trong thiên hạ quả lắm người tài giỏi xuất chúng. Như Đơn Đao Chu Đức Kiệt chẳng hạn, nhân vật rất hoàn toàn đủ phương diện, đáng kính và cũng đáng... yêu!
 Mộng Liên kín đáo buột miệng túi vải lại :
 - Anh em Chu gia vui làm nghĩa, quên cả việc lập gia đình. Trên đời mỗi người một chí hướng chẳng ai giống ai. A, mai giờ nào lên đường? Chắc mẫu thân và tẩu tẩu mong lắm nhỉ?
 Phàn Thế Hùng gật đầu :
 - Đúng vậy, ngu huynh cũng thấy nóng ruột tệ hại, chỉ muốn có đôi cánh bay mau về tới nhà thôi.
 - Ở nhà được vài ngày là lại đi Kim Lăng rồi.
 Suy nghĩ giây lát, Phàn Mộng Liên nói :
 - Không! Hiền huynh đi Kim Lăng một mình. Có lẽ ngu muội không cùng đi đâu. Lúc này tiểu muội thấy nhớ mẫu thân và hiền tẩu hơn là nhớ bạn.
 - Hừ! Tụ họp nhau ở Kim Lăng được vài bữa rồi lại chia tay mỗi người một nơi, ghi thêm trong ký ức một kỷ niệm nữa để làm gì? Đua đòi sao được với những chiếc nhạn phương trời ấy!...
 - Chừng nào gặp sẽ hay, công đâu theo đuổi bóng khách giang hồ? Người ta một thuyền viên vạn bến, còn ta là gió nhẹ một chiều!... Theo sao nổi.
 Phàn Thế Hùng kinh ngạc :
 - Ủa! Sao bữa nay hiền muội đa cảm đa sầu? Ngu huynh không phải là người rong chơi chẳng màng tới việc nhà!...
 Mỉm cười kín đáo, Phàn Mộng Liên đáp :
 - Tiểu muội đâu có nghĩ thế? Hiền huynh là khách tu mi chí ở bốn phương, còn tiểu muội thuyền quyên nhi nữ, hẳn quan niệm phải khác nhau rồi.
 - Hiền muội quên hẳn cây đao, yên ngựa nên so bì chuyện khăn áo với mày râu đó chăng?
 Mộng Liên lẳng lặng đặt mấy túi bàng vào góc phòng.
 Thế Hùng thắc mắc :
 - Có điều chi buồn bực không? Cứ nói thật mong ra ngu huynh có thể giải quyết giùm được phần nào.
 Lắc đầu, Mộng Liên mỉm cười :
 - Không tiểu muội nhớ mẫu thân, giờ đây chỉ muốn mai lẹ hồi hương thôi... Chiều rồi, xuống tiệm dùng bữa chớ.
 - Dưới tiệm đông người xô bồ lắm. Ngu huynh đã nhắn tửu bảo hầu cơm trên phòng này rồi.
 Chiều tối hôm ấy, anh em Phàn gia dùng cơm xong, đang ngồi hàn huyên thì tiểu nhị lên phòng báo :
 - Thưa khách quan, có mã phu xin yết kiến. Hiện đang chờ dưới đường.
 - Được rồi, người bảo y chờ đó, ta sẽ xuống ngay.
 Tên tửu bảo đi khỏi, Phàn Thế Hùng đẩy ghế đứng lên bảo Mộng Liên :
 - Hiền muội liệu đi nghỉ trước kẻo mệt. Ngu huynh xuống đường xem tên đó hỏi điều gì.
 Xuống tới nơi, Phàn Thế Hùng thấy tên mã phu mướn lúc ban trưa đang đứng dưới bóng cây với một người lạ mặt, y phục kiểu đồng nghề.
 Hai người đó cúi chào.
 Phàn Thế Hùng vui vẻ hỏi :
 - Có điều chi muốn nói vậy?
 Tên mã phu đáp :
 - Thưa khách quan, mới đây vợ tôi bỗng dưng bị đau nên đến cáo lỗi cùng người, mai tôi không thồ hàng đi Thái An huyện được. Sợ khách quan mất thì giờ tìm kiếm, nên tiện đây có A Tam, bạn đồng nghiệp, có việc đi lối ấy nên xin giới thiệu với khách quan. Nhất cử lưỡng tiện, tùy người định liệu.
 Phàn Thế Hùng nhìn qua thấy A Tam diện mạo không được hiền lành như tên mã phu trước, mặt bụi bặm lem luốc, khăn quấn tóc đen bịt đến ngang mi, lưng đeo nón lá, liền hỏi :
 - A Tam mới tới Trấn Giang à?
 - Thưa tôi mới thồ quanh ngoại thành về. Người an tâm, tôi rất thuộc nghề và chịu khó lắm. Nhân tiện có việc về quê bên Lịch huyện, đàng nào cũng phải qua Thái An huyện, nên đây là dịp kiếm thêm chút ít.
 Đáng lẽ Thế Hùng không chịu vì diện mạo A Tam không được thuần. Nhưng Mộng Liên gấp muốn về nhà, nếu chần chờ thêm một ngày nữa e nàng buồn, nên đành ưng thuê tên mã phu mới vậy. Vả lại, A Tam dù có dã tâm cũng chẳng làm chi được anh em chàng. Từ Trấn Giang đi Thái An huyện có ngày rưỡi đường :
 - Được, ta ưng thuận. Sáng mai, đầu giờ thìn khởi hành. A Tam liệu đến sớm cho kịp điểm tâm trước giờ đó nhé.
 A Tam vui mừng nhanh nhảu :
 - Người khỏi quan tâm. Tôi ăn trước ở ngoài chợ, hễ đến là đi ngay...! A, khách quan có mấy thồ hàng?
 - Có bốn bọc tất cả vật dụng thường trong nhà. Nhẹ thôi!
 - Dạ, nặng nhẹ không là vấn đề, hỏi cho biết để còn tính số dây cần thiết chằng buộc.
 Dứt lời, hai mã phu vái chào ra về.
 Phàn Thế Hùng nhân lúc qua quầy hàng trả tiền trước rồi lên thẳng phòng.
 Mộng Liên đã buông xong hai chiếc mùng :
 - Có việc gì thế, hiền huynh.
 Thế Hùng đem việc mã phu nói lại cho em nghe. Mộng Liên cũng đồng ý là sự thay đổi ấy vô phạt.
 Sáng hôm sau, A Tam đến chờ ở Như Ý quán. Thế Hùng để ý thấy y thồ bốn túi hàng hóa lên ngựa rất lành nghề.
 - A Tam sao trùm khăn đến tận cằm thế.
 Lom khom buộc hàng, A Tam đáp :
 - Dạ, làm sao lao động dầm nắng đội mưa, đêm qua trái gió nên bị nóng lạnh, nhưng không sao. Lát nữa đi đường vận động chảy mồ hôi là khỏi ngay, khách quan an tâm, năm nay sương nhiều, tiết trời độc lắm. Ở Trấn Giang năm nào nhiều sương mù cũng có nhiều người đau ốm.
 A Tam hắt hơi luôn mấy tiếng, rút ve dầu quất thần ra bôi lên mũi, càng tang cổ, rồi thở phào ra vẻ ưa hơi dầu đó lắm.
 Phàn Mộng Liên đai nịch gọn gàng xem A Tam cột hàng hóa, mỉm cười nhìn anh :
 - Đi chớ!
 - Ờ, nào đi!
 Chủ quán theo ra chào :
 - Chúc mừng nhị vị hảo hành, chừng nào lên Trấn Giang, xin quá bộ lại tệ quán nhé.
 Anh em Phàn gia chào lại rồi lên ngựa đi trước.
 A Tam dắt cương ngựa, tay xách cây gậy tre, nhấn bước theo sau, khỏi thành.
 Đường Trấn Giang - Thái An huyện bằng phẳng dễ đi.
 Trừ buổi sáng sớm, còn từ giờ Tỵ trở đi, khách thương từ các huyện lên cân qua lại luôn luôn.
 A Tam đi phía sau hông ngựa của Phàn Thế Hùng :
 - Con lộ này tốt lắm, thỉnh thoảng còn gặp xóm làng, quán rượu chó không hiu quạnh như các nơi khác, cướp giặc như rưới.
 Thế Hùng hỏi :
 - A Tam đi nhiều nơi lắm, sao mà biết như vậy?
 - Dạ, nghề mã phu này ai mướn cũng đi, khu nào dữ thì khách thương họp thành đoàn nhờ tiêu sư bảo vệ. Nhờ đó tôi có dịp được mục kích các trận đánh đấu giữa tiêu sư và đạo tặc. Đẹp mắt lắm nhưng cũng nhiều phen kinh sợ.
 - Đi đường trường thế này, A Tam còn vác tre làm gì cho thêm nhọc xác? Sao không dùng đoản khí có tiện hơn không?
 - Nhờ được gần gũi các tiêu sư nên tôi học lỏm được năm ba ngọn giáo, vì thế mới thường đem gậy theo. Gậy này bằng tre đặc nên chắc lắm, gánh hàng và phòng thân luôn thể.
 Suốt ngày hôm đó, A Tam thi hành phận sự rất lanh lẹ đắc lực, song lẽ vẫn trùm khăn tùm hụ kêu sợ bị nhiễm gió. Tới hai bữa ăn cũng vậy, y không chịu cùng ăn nhường anh em Phàn gia ăn trước, trông nom ba con ngựa rất chu đáo rồi mới vào góc quán ăn qua loa tô mì, chờ lệnh là sẵn sàng lên đường ngay.
 Phàn Thế Hùng nói riêng với Mộng Liên :
 - A Tam đắc lực quản thế mà chiều hôm qua, ngu huynh định không mướn hắn.
 - Tại sao thế?
 - Coi diện mạo y không được thuần như tên mã phu trước. Thời buổi này đi đường trường phải tiểu tâm.
 - Khúc đường này làm chi có giặc cướp, hiền huynh cẩn đắc quá.
 Đến tối nghỉ lại quán trọ bên đường, Thế Hùng thương tình mướn cho A Tam căn phòng riêng nhỏ.
 A Tam từ chối, đem đồ lễ xuống bếp nằm chung với bọn tiểu nhị :
 - Sáng mai tôi thức sớm đỡ làm mất giấc của nhị vị.
 Thế Hùng cũng mặc không ép nữa. Hôm sau, ba người ra đi từ lúc tờ mờ sáng. Trên đường vắng vẻ, hai bên bờ cỏ còn đọng sương đêm. Tới lúc trời sáng bạch, đi đến chỗ có khúc đường nhỏ bên tả rẽ thẳng ra khu đồi cây thưa thớt phía xa xa, bỗng con ngựa thồ giở chứng giật dây cương chạy buột ra mé đó.
 A Tam vội đuổi theo, vừa chạy vừa om sòm :
 - A! Con súc sanh này muốn chết, tự nhiên bứt chạy thục mạng. Ta sẽ bán mày đi mới được.
 A Tam cố chạy theo không kịp.
 Phàn Mộng Liên rủ Thế Hùng :
 - Tội nghiệp, chúng ta rượt bắt giùm y đi.
 Thế Hùng khen phải, cả hai cùng thúc ngựa đuổi theo.
 Lúc chạy qua chỗ A Tam, Thế Hùng nói lớn :
 - A Tam, đừng chạy nữa! Để tôi bắt ngựa hộ cho.
 Chạy được một quãng đường dài, con ngựa thồ ngừng lại, cúi đầu ăn cỏ. Anh em Phàn gia phóng ngựa tới. Thế Hùng với dây cương định dắt quay lại thì từ bên gốc cây lớn có hai người, một nam, một nữ cầm thiền trượng và song kiếm nhảy xổ ra.
 Phàn Mộng Liên nói lớn :
 - A! Hắc Đầu Đà!
 Cùng lúc ấy, Mộng Liên nhận ra đạo cô có cặp mắt trai lơ sắc như dao gặp bữa qua ở Trấn Giang, trong lúc đi mua hàng.
 Cầm ngang thiền trượng, Hắc Đầu Đà quát :
 - Phải, chính ta đây. Oan gia phòng oan gia! Báo thù cho Thiết sư huynh, bữa nay các ngươi có chạy đàng trời!
 Phàn Mộng Liên tức mình, áp ngựa lại rút phắt song đao nhằm Hắc Đầu Đà chém mạnh.
 Cười ha hả, Hắc Đầu Đà vung đầu trượng gạt ram quật luôn mấy ngọn nhằm đùi Phàn Mộng Liên.
 Thế Hùng rút đao định áp ngựa tới đánh giúp nhưng đạo cô thét vang :
 - Mỹ nam tử, có giỏi đấu với ta một trận chơi nào!... Hay là theo phắt... ta đi nơi khác cho vui...
 Thấy đạo cô thốt ra lời khinh bạc, Thế Hùng nổi giận mắng :
 - Tu hành như bọn bây, đáng đem trầm hà cho rồi! Không biết nhục sao!
 Dứt lời, chàng phóng ngựa vào chém nhầu. Đạo cô vung song kiếm vùn vụt đánh lại, thế kiếm khá hùng dũng :
 - Đồ súc sanh non nớt không biết sống. Muốn đánh thì coi kiếm của bản cô nương đây.
 Bốn người vừa bộ, vừa mã, diễn ra trận đấu ác liệt, bên nào cũng quyết thắng. Khí giới va vào nhau chí chát rợn tai. Kể ra thì sức đấu ngang tay, nhưng anh em Phàn gia ngồi ngựa đấu với kẻ địch đánh bộ võ nghệ đồng đều, nên có bề kém lanh lợi xoay trở không được như ý muốn. Hơn nữa, vừa giữ người lại thêm giữ ngựa mất sức gấp đôi.
 Về thuật kỵ mã, hai người lại không chuyên luyện xuất chúng được nhu bọn Chu gia và Âu Dương, người ngựa hợp nhất như một gia dĩ có thể dùng rõ lực áp đảo đối phương đứng thấp hơn mình. Cho nên, trong nghề võ đã tập bộ phải luyện mã, nếu không chuyên mã tất phải đấu bộ. Chớ khinh thường đánh ẩu, gặp kẻ địch ngang tay thì bất lợi là sự kiện cố nhiên phải xảy ra.
 Nhận thấy như vậy, anh em Phàn gia nhiều lúc muốn rời ngựa để đánh bộ, nhưng Hắc Đầu Đà và đạo cô ra đòn tới tấn vụt trên, quật dưới khiến đối phương phải nhận hai ba thế tấn công mới trả được lại một.
 Đấu pháp này nếu chúng gặp phải Lam Y, Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ thì không áp dụng nổi vì ba nhân vật ấy chuyên luyện theo cả hai mặt mã, bộ áp dụng được cả chiến pháp dung hòa “kỵ mã kháng bộ”, biểu hiện như thần khiến đối phương không kịp trở tay. Tuy vậy, với sự cố gắng, anh em Phàn gia vẫn giữ được thăng bằng trận đấu, nhưng khá tốn công.
 Hắc Đầu Đà đảo bộ vừa đánh vừa lồng lên như lão hổm, thiên trượng giáng xuống nặng nề :
 - Bữa nay không có con Lam Y, bọn bây hết nghề phô tài võ nghệ hả!
 Phàn Mộng Liên rán sức gạt đòn, đánh lại.
 Bỗng một tiếng thét vọng lên từ phía sau :
 - Đánh thế này, bao giờ trả thù được cho Phi Không sư phụ ta. Coi đây! Hãy bắt con này đã rồi hạ tên kia sau.
 Phàn Mộng Liên giật mừng quay lại nhác nhận ra tên mã phu A Tam đã bỏ hẳn khăn nón trùm mặt, và chính là thanh niên đạo sĩ gặp cùng đi với Hắc Đầu Đà, đạo cô ở Trấn Giang. Đồng thời, nàng thấy chói đau ở vai tả. Mũi phi tiêu do đạo sĩ giả dạng A Tam phóng ra cắm phập trúng bắp vai Mộng Liên. Nàng vội quay ngựa chạy dài. Kinh hoảng, Phàn Thế Hùng cũng không dám ham đánh, quay ngựa chạy theo phía sau. Bọn Hắc Đầu Đà dùng thuật phi hành cố đuổi. Thế Hùng nhằm đạo sĩ mã phu phóng lại một phi đao trúng ngực.
 Đạo sĩ đau quá, mấy đà, té lộn mấy vòng trên mặt cỏ. Tên đạo cô vội ngừng bước săn sóc. Riêng Hắc Đầu Đà vẫn đuổi theo như gió. Thế Hùng phóng luôn một đao nữa. Hắc Đầu Đà gạt được, nhưng ngọn phi đao thứ hai đã bay vù tới, Hắc Đầu Đà né kịp. Mũi đao phóng lướt qua mang tai. Thấy Thế Hùng phóng đao nguy hiểm, Hắc Đầu Đà cũng bỏ luôn không đuổi nữa...
 Nói về Phàn Mộng Liên trúng thương, kịp gài song đao vào vỏ, gục xuống ôm sát cổ ngựa phi thiệt lẹ được một quãng dài.
 Phàn Thế Hùng chặn hậu thấy Hắc Đầu Đà bỏ không đuổi theo nữa mới thúc ngựa chạy lên thì vừa tới con đường chính.
 Hai anh em cho ngựa chạy chậm lại.
 - Buốt vai lắm, hiền huynh à.
 - May thay, vừa khi ấy có đoàn khách thường vừa ngựa thồ, vừa xe đi ngang qua đó thấy vậy, liềm xúm lại hỏi han.
 Thế Hùng nói :
 - Chúng tôi đi sớm gặp tặc đạo đón ở khúc này, chẳng mau gia muội trúng thương, yêu cầu quí vị cho đi nhờ xe, có được không?
 Bỗng người chủ đoàn tiến tới Lam Y :
 - Kìa, Phàn đại ca, không nhận ra tôi sao? Tôi thồ hàng về huyện nhà đây.
 Lúc bấy giờ, Thế Hùng mới nhận ra Trương Trung một thương gia ở Thái An huyện.
 - Trong khi hoảng hốt không kịp nhận ra Trương huynh, xin lỗi nhé. Tôi muốn mượn một chiếc xe cho gia muội nằm để về Thái An.
 - Được, được! Có chăn đệm tử tế, để tôi trải ra cho cô nương nằm đỡ đau. Có cả thuốc rịt tạm vết thương, về tới nhà sẽ hay.
 Trương Trung gọi xa phu đánh xe lại, lấy chăn đệm trải ra gọn gàng.
 Từ nãy, Phàn Mộng Liên vẫn ngồi trên ngựa, ôm vai đau đớn. Thế Hùng bèn đỡ em xuống ngựa rồi trèo vào trong xe. Dùng dao găm, chàng rạch vai áo Mộng Liên xem xét vết thương. Mũi tên cắm không sâu lắm, Thế Hùng rút phắt ra bọc vào khăn nhỏ. Mộng Liên đau buốt, nhưng cắn răng chịu đựng. Máu từ vết thương rỉ rỉ chảy ra. Thế Hùng lấy rượu của đoàn khách thương thấm vào khăn, lau chùi sạch sẽ, rắc thuốc bột chuyên chữa các vết thương lên chỗ đau rồi xé vải băng bó tạm thời. Rên khừ khừ, Mộng Liên kêu rét. Thế Hùng kéo chăn đắp cho nàng và ngồi luôn trong xe săn sóc. Đoàn khách thương thấy nói có cướp thì giục mã phu cho ngựa thồ lẹ bước.
 Trương Trung bảo các bạn đồng hành :
 - Trên con đường này mà nay có đạo tặc thì còn Trời nào nữa. Trông đó, anh em Phàn gia có bản lãnh hẳn hoi, mà Phàn cô nương còn bị thương nặng. Chuyến hàng sau tất phải mướn tiêu sư bảo vệ mới an tâm.
 Mọi người đồng ý.
 Trương Trung nói thêm :
 - Bị phi tiêu vào bắp vai cũng không lấy gì là nặng mà kỳ thay, Phàn cô nương có vẻ đau nhiều!... Phải thúc mã phu đi lẹ hơn nữa mới về được. Về Thái An sớm khắc nào hay khắc ấy!... Tội nghiệp Phàn cô nương.
 Đúng ngọ hôm ấy, đoàn người ngựa về đến huyện. Trương Trung cho đồng bọn tải hàn về tiệm buôn, còn tự mình theo xe đưa anh em Phan gia về nhà ở phía huyện gần bờ sông. Phàn mẫu nghe nói con về mừng rỡ lập cập ra đón. Trang thị, vợ Thế Hùng, cùng người nhà cũng chạy theo ra ngoài cổng. Mộng Liên sốt li bì. Thế Hùng phải bế vào trước sự kinh ngạc lo âu của mọi người. Đặt em lên giường trong phòng riêng, Thế Hùng kể lại việc đã xảy ra hồi sang cho mẹ và vợ nghe.
 Phàn mẫu xem xét con gái thấy mặt nàng tái mét, cặp môi thường ngày đỏ mọng nay đượm màu thâm.
 Nước mắt chảy ròng ròng, Phàn mẫu nói :
 - Lạ quá! Nóng sốt nhiều mà sắc mặt tái lại, đôi môi sạm hẳn lại. Gấp mời Tô tiên sinh chẩn mạch cho Liên nhi nhé.
 Thế Hùng nói :
 - Con cho mời ngay rồi, cũng sắp tới đó.
 Lát sau, lương y Tô Tử Yêm tới. Đó là một lão y sĩ tóc bạc như cước, da vẻ hồng hào khỏe mạnh. Tiên sinh chẩn mạch bệnh nhân rồi xem vết thương trên bắp vai tím bầm hằn lại bằng bàn tay. Tô y sĩ lấy nước nóng rửa thuốc cũ đi, cạy miệng vết thương đắp thuốc mới lên trên, rồi ra ngoài kê đơn bốc thuốc. Y sĩ đưa cho Trang Thị hai hoàn thuốc bảo ngâm nước, cạy miệng đổ cho Mộng Liên uống.
 Sau đó, họ Tô mới nói riêng với Phàn mẫu và Thế Hùng :
 - Mũi phi tiêu có tẩm thuốc độc. Thuốc tuy đã lợt phần nào rồi nhưng để tiêu cắm trong thịt lâu quá nên cũng đủ sức ngấm khá nhiều.
 - Uống thuốc này, lát nữa, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy. Thoát cơn mê đó, Phàn cô nương sẽ nôn mọc mới hòng thoát được. Hiện nay, tôi không dám nói chắc gì cả.
 - Thứ thuốc độc ngâm phi tiêu này có chất nọc độc xà, nên nơi vết thương và da dẻ bầm lại. Độc dược đã ngấm vào máu.
 Phàn mẫu ôm mặt khóc òa lên, rồi chạy vào phòng với Mộng Liên.
 Thế Hùng nói chuyện với Tô y sĩ :
 - Thường ra phi đao hay phi tiêu ít khi có tẩm thuốc độc, trừ phi kẻ địch muốn hạ sát một cách hèn hạ người thù! Bọn khốn kiếp đó ghê gớm thật! Nếu gia muội mệnh hệ nào, thù này quyết phải trả.
 Tô y sĩ nhìn quanh, nói riêng với Thế Hùng :
 - Tôi muốn nói riêng với Phàn hiền điệt việc này.
 Lo lắng, Thế Hùng hỏi :
 - Tiên sinh cứ dạy!
 - Hồi nãy, tôi không dám nói thật e Phàn thái thái lo buồn. Nọc độc xà ngấm nhiều và lâu quá rồi, nhị cô khó bề thoát chết. Nếu thuốc độc đó không lợt thì nạn nhân đã chết tại chỗ rồi... Tôi đã cho uống hoàn hồi sanh và thuốc sắc khử độc. Dù sao cũng xin tận tâm chữa đến cùng, còn nước còn tát, nhưng quả thật tôi không hy vọng chút này. Xin nói trước kẻo hiền điệt sẽ trách tôi không rõ căn bệnh.
 Người nhà sắc thuốc xong, bưng lên cho Phàn mẫu và Trang thị đỡ cho Mộng Liên uống.
 Nàng vẫn li bì gần như bất tỉnh. Thế Hùng cáo lỗi với y sĩ, vào tư phòng của Mộng Liên.
 Phàn mẫu rưng rưng nước mắt mếu máo :
 - Biết thế này không bao giờ mẹ cho các con đi xa như vầy. Ngờ đâu mua oán chuốc thù đến nông nổi này.
 Trang thị cũng thương em chồng, khóc sướt mướt. Thế Hùng cúi im mặt xuống đất im lặng. Chàng căm hờn đến cực độ, nhưng muốn bắt được kẻ thù moi gan lấy ruột mới hả lòng. Bỗng Mộng Liên cựa quật nhẹ.
 Trang thị mừng quá, gọi khẽ :
 - Nhị cô ơi, lai tỉnh, lai tỉnh!
 Phàn mẫu cũng gọi con qua dòng lệ :
 - Liên nhi con ơi! Mẹ đây mà, tỉnh mau.
 Người hiền mẫu đó vừa gọi vừa xoa nắn cánh tay không đau của con :
 - Tội tình chi mà gặp nông nổi này. Nếu số mệnh con chẳng may sao mẹ cũng đến chết mất thôi... Liên nhi ơi, lai tỉnh, mẹ đây mà.
 Mộng Liên từ từ mở mắt nhìn láo liên.
 Phàn mẫu vội khẽ gọi :
 - Liên nhi! Mẹ đây mà. Con đã về nhà rồi. Mẹ đây con nhận ra không.
 Mộng Liên rên nhẹ :
 - Đây là đâu? Mẫu thân ơi... xa nhà con mong về... với mẫu thân quá... Thương nhớ mẫu thân quá...
 Người nhà kéo lên đứng cả trong phòng. Nô tì vẫn hầu hạ Mộng Liên đứng sát chân giường. Người nào cũng lệ chảy ròng ròng.
 Phàn mẫu gạt lệ gọi :
 - Liên nhi, mẹ ngồi bên con đây mà... Lai tỉnh, con!
 Nàng mở mắt lờ đờ nhìn quanh, sắc mặt vẫn tím ngắt :
 - ... Thương nhớ mẫu thân quá... Mua quà về cho mẫu thân... cho tẩu tẩu... Đâu rồi? Quà đó đâu rồi?
 - Mẹ đây con...
 - A! Bọn tặc đạo... bây hèn mạt!... Coi ta đánh đây.
 Nàng co chân như muốn đạp giường nhưng không nổi, yếu quá lại duỗi xa.
 Phàn mẫu lo sợ bóp chấn Mộng Liên thấy lạnh, lo sợ :
 - Sao chân lạnh nhiều thế này.
 Trang thị và nô tì lấy dầu thoa nắn chân cho em chồng.
 Mộng Liên lại mở bừng mắt nhìn mọi người, miệng ú ớ :
 - Mẫu thân... hiền huynh tẩu tẩu... A, mẫu thân đây rồi.
 Nàng quơ tay định ôm mẹ.
 Phàn mẫu cúi rạp xuống áp má vào mặt con :
 - Liên nhi ơi, mẹ đây, mẹ ngồi bên con từ lâu rồi, con tỉnh hẳn chưa? Mau khỏe cho mẹ đỡ buồn... Thương con quá, mẹ có một con là gái, nuôi con từ tấm bé, Liên nhi con.
 Mộng Liên lờ đờ nhìn mẹ :
 - Thương mẫu thân quá... nhưng con chết mất, chết mất mẫu thân ơi, sao con... khó chịu, thế này...
 Phàn mẫu và mọi người khóc rưng rức. Thế Hùng gạt nước mắt căm hờn.
 Tô y sĩ cầm cổ tay Mộng Liên, chẩn mạch rồi lại ra góc phòng mở bọc lấy hai hoàn thuốc nữa đưa cho Thế Hùng hòa nước cho Mộng Liên uống.
 Thiếp đi, lát sau Mộng Liên tỉnh lại mắt nhắm nghiền, miệng lắp bắp mấy tiếng :
 - Chu lang... hỡi Chu... lang! Lúc này ta... chẳng được... thấy... nhau...
 Phàn thái thái ngạc nhiên nhìn Thế Hùng không hiểu.
 Thế Hùng đưa tay lên miệng ra hiệu bảo mẹ im lặng.
 Mộng Liên vẫn mơ màng :
 - ... Chàng hỡi chàng... ngờ đâu thiếp... cùng chàng... dang dở... Thấy mặt chàng, dù thác cũng cam tâm... Chu lang!
 Mộng Liên nói tiếng sau trong một hơi thở phào, rồi thiêm thiếp nằm im.
 Tô y sĩ chẩn mạch, bảo mọi người đứng khóc :
 - Mạch chưa đến nỗi nào. Phàn cô nương mệt quá ngủ đó thôi. Mạch chưa loạn còn hy vọng. Tôi kê một đơn nữa, cắt luôn. Cần yên tĩnh cho nàng nghỉ ngơi mới được. Nọc độc xà trên mũi tiêu rất ít, may ra thoát, nhưng tôi không dám cam đoan. Phước chủ lộc thầy, còn nhờ phần âm đức nữa mới được.
 Thế Hùng nói với Tô Tử Yêm :
 - Gia muội trọng bệnh, nhờ tiên sinh ở luôn đây cho tiện việc trông nom, ngu điệt xin hậu tạ sau.
 - Ủa, sao hiền điệt nói vậy, tôi với cố lệnh phụ là chỗ thâm giao, vây trông nom cho Mộng Liên là bổn phận của tôi. Tôi xin ngày đêm ở lại săn sóc lệnh muội. Chỉ cần bảo qua cho bên nhà biết để khỏi tiếp khách nữa.
 Suốt nửa ngày trời như vậy, bệnh Mộng Liên lúc thuyên giảm, mê sảng luôn luôn, nhưng không thổ được lần nào cả. Bởi vậy, Tô Tử Yêm mới lo ngại.
 Thế Hùng kể lại cho mẹ và vợ nghe việc gặp anh em Chu gia trên Trấn Giang, rồi cùng đi Dương Châu và mọi việc đã xảy ra tại đây, ác chiến Kim Cương tự nên thành mối thù với bọn ác đầu đà.
 Phàn mẫu tặc lưỡi tiếc :
 - Em con cũng lớn rồi, mẹ vẫn ước mong nó gặp người chồng xứng đáng, bỏ công mẹ nuôi dạy nó từ thuở còn thơ. Trời Phật thương phù hộ cho Liên nhi sống, mẹ cũng may ra được rể hiền anh hùng xuất chúng. Đó cũng là ước nguyện của cha con lúc sanh thời. Ước gì họ Chu tới đây, em con được gặp mặt may ra bớt bệnh chăng. Mẹ không câu nệ đâu, miễn là đường đường chánh chánh. Trai khôn lấy vợ, gái lớn gả chồng là lẽ tự nhiên... Anh em Chu gia ở đâu, con có biết không?
 - Đáng lẽ nhị muội không gặp hoạn nạn này, thì chúng con đã đi Kim Lăng xem kỵ mã hội cùng các nhân vật từ hôm mới về nhà rồi. Họ Chu có hẹn về Thái An huyện chơi và bái kiến mẫu thân, nhưng họ là hiệp khách giang hồ cánh nhạn phương trời, không dám thế nào nói chắc được.
 - Mẹ hỏi con có mời họ Chu về nhà không?
 - Kể từ hôm đại hội Kim Lăng đến bây giờ cũng đã mười mấy ngày trời rồi. Họ Chu có lẽ đã phiêu bạt nơi khác hoặc trừ phi Trời Phật ban phép lạ xui khiến họ tới đây... Tìm kiếm chắc không nổi, mẹ à!
 Sự tin tưởng hiện trên nét mặt, Phàn mẫu chắp tay lên ngực :
 - Vợ con ngày ngày theo lệnh mẹ đi lễ cầu xin, riêng phần mẹ đêm ngày tâm niệm đức Cao xanh ban phép lành...
 Chợt Tranh Thị hớt hải chạy vào nói với chồng :
 - Có ba người lạ mặt cỡi ngựa, võ trang đầy đủ, y phục đầy bụi có lẽ từ xa đến... đòi gặp phu quân... Một trai, hai gái nghiêm trang oai dũng lẫm liệt...
 Thế Hùng đứng phắt dậy nói với mẹ :
 - Mẫu thân ơi, anh em Chu gia đã tới, lòng thành kính của mẫu thân đã đạt tới Trời xanh...
 Quay lại nói với Trang thị :
 - Hiền thê liệu sửa soạn phòng ốc cho bằng hữu nghỉ ngơi.
 Dứt lời, Thế Hùng ra thẳng ngoài cổng đón khách. Phàn mẫu vội sang phòng Mộng Liên, còn Trang thị thì hối thúc nô tì dọn dẹp mấy căn phòng. Phàn Thế Hùng chạy vội ra cổng. Quả nhiên, Chu Đức Kiệt, Lam Y và Âu Dương Bích Nữ tới, xuống ngựa đứng chờ.
 - Chao ôi, quý vị đến Thái An vừa đúng lúc.
 Thấy Thế Hùng xanh xao, gầy ốm, ba người kinh ngạc nhìn nhau. Chu Đức Kiệt vội hỏi :
 - Phàn đại ca đau hay sao vậy?
 Vào nhà đã, nói chuyện sau, dài lắm.
 Lam Y hỏi ngay :
 - Mộng Liên đâu?
 - Gia muội đau nặng, nằm trong nhà, mong và nói tới các vị luôn.
 Lam Y thở phào, bớt được vẻ lo sợ đè nén tâm nàng từ bao lâu rồi. Vào tới nhà, ba người thấy một lão phụ nét mặt dịu hiền đứng trong cùng phòng trà, thì đoán ra là Phàn mẫu. Thế Hùng giới thiệu mẹ và vợ.
 Ba người liền tới quỳ lạy. Phàn mẫu vội vàng đỡ dậy :
 - Quý vị hiền điệt bỏ đại lễ. Lão được nghe Thế Hùng nói đến rất nhiều nên vẫn mong mỏi được gặp. Liên nhi đau nặng cũng thường trong cơn mê sảng nhắc tới tên các hiền điệt. Gặp nhau đây chắc nó mừng lắm.
 Phàn mẫu nhìn kỹ Chu Đức Kiệt, thầm khen tốt tướng. Thi lễ cùng Trang thị, Lam Y chú ý nhìn, thấy nàng hiền đức xứng đôi với Thế Hùng. Phàn mẫu mời ba người ngồi cùng dùng trà, hối gia nhân lấy nước rửa mặt.
 Lam Y thưa :
 - Chúng cháu rửa tay qua loa rồi, xin phép bá mẫu cho vào thăm ngay Phàn muội kẻo nóng ruột lắm.
 Phàn mẫu gật đầu, rưng rưng nước mắt cảm động :
 - Liên nhi gần đất xa trời, chỉ mong chờ có quý vị hiền điệt. Gia đình lão vô phúc quá!
 Thế Hùng giới thiệu Tô y sĩ với mọi người.
 Sau nhiều ngày đau ốm, Mộng Liên gầy guộc sút người. Hai má hóp lại, mắt như lờ đờ, sắc diện tím bầm.
 Ba hiệp khách vội rảo bước tới bên giường.
 Nhận ra Chu Đức Kiệt, Lam Y, Âu Dương Bích Nữ, Mộng Liên như muốn chống tay ngồi dậy, nhưng nàng run lẩy bẩy rất đáng thương...
 Lam Y, Âu Dương Bích Nữ mỗi người ngồi xuống một bên giường cầm tay Mộng Liên rưng rưng hạt lệ.
 Vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trên trán Mộng Liên, Lam Y nói :
 - Ngay từ lúc còn ở Kim Lăng, thấy nóng ruột lắm rồi, ngờ đâu ra cơ sự này.
 Lúc bấy giờ, Mộng Liên mới lắp bắp nói được mấy tiếng :
 - Cám ơn... nhị vị... và Chu huynh thương đến kẻ hèn này nhiều.
 Lam Y lắc đầu, bảo Âu Dương Bích Nữ đỡ Mộng Liên nghiêng một bên, xem vết thương và gọi Chu Đức Kiệt nhìn. Thịt bắp vai lạnh giá, tím lại, miệng vết thương đọng dính nước vàng, không liền tuy có rắc thuốc. Lam Y đưa mắt nhìn Đức Kiệt có ý hỏi. Đức Kiệt kéo áo che vai cho Mộng Liên cẩn thận rồi ý tứ vẫy Lam Y, Âu Dương Bích Nữ và Phàn mẫu, Thế Hùng ra ngoài nhà.
 Trước khi ra, chàng bảo Mộng Liên :
 - Ngu huynh ra pha thuốc mang theo đây cho hiền muội dùng nhé!
 Sung sướng, Mộng Liên mấp máy đôi môi như muốn nói gì...
 Ra tới phòng khách nơi còn để các bọc hành trang, Chu Đức Kiệt nói với Phàn mẫu và Thế Hùng cho xem mũi phi tiêu.
 Để nguyên mũi phi tiêu trên tấm khăn, chàng lật đi lật lại nhìn kỹ, lát sau chậm rãi nói :
 - Tiêu này đầy chất độc chớ không phải đã lợt thuốc như Tô tiên sinh đã dạy. Lỗi không ở tiên sinh nhưng vì người không rành về các môn độc dược của giới giang hồ đắc đạo. Tiêu này tẩm nọc độc của thứ rắn Thiết Xà ở cùng Hà Bắc. Nọc rắn độc này khi ngấm vào máu có tánh chất làm tiêu hao kẻ trúng thương cho đến chết, chớ không làm táng mạng ngay như mấy thứ độc xà khác. Có thuốc mang theo đây, nhưng chỉ chữa nổi trong vòng mười ngày. Độc chất ngấm nhiều nên Phàn muội da dẻ bị tím bầm lại là vì thế. Lam Y hiền muội lấy bọc thuốc ra đây, cho Phàn muội uống và bôi lên vết thương, nhưng e nổi đã quá cử rồi.
 Phàn mẫu thở dài, rưng rưng lệ.
 Âu Dương Bích Nữ vội móc túi trong lấy ra một gói thuốc chọn lấy hai hoàn bọc sáp màu vàng đưa cho Đức Kiệt :
 - Có phải thứ Tẩy Thiết Xà Độc hoàn này không? Bên Thiếu Lâm tự gia sư Chiêu Đức cũng đã luyện sẵn.
 Đức Kiệt đón lấy hai hoàn nhìn qua chữ đề ngoài, bóp vỡ ra ngửi hai hoàn thuốc màu đỏ sẫm.
 - Phải rồi chính thuốc này đây, nhờ nhị vị hiền muội cho Mộng Liên uống một hoàn, còn một hòa nước đặng bôi lên vết thương, sau khi đã chùi sạch sẽ. Phàn mẫu đăm đăm nhìn Đức Kiệt. Mọi người trở vào phòng Mộng Liên.
 Lam Y và Âu Dương Bích Nữ lau vết thương đã sạch, bôi lớp thuốc thiệt dày, rồi phủ áo lại.
 Những lúc cho uống thuốc, Mộng Liên cứ lắc đầu, miệng lắp bắp :
 - ... Vô ích... trễ rồi... đừng có thử nữa... gặp nhau lúc này ngu muội toại ý rồi.
 Lam Y suy nghĩ, đưa ly thuốc cho Đức Kiệt :
 - Đã biết gọi trúng bệnh, hiền huynh ắt phải biết cho bệnh nhân uống thuốc!
 Đoạn nàng đứng lên nhường chỗ bên giường cho anh.
 Đức Kiệt ngồi thế vào đó, cùng Âu Dương Bích Nữ ngồi phía bên kia nhẹ tay dỗ Mộng Liên :
 - Phàn muội! Chịu khó uống thuốc đi cho bá mẫu và bọn huynh khỏi buồn.
 Giọng trầm trầm ấm áp có hiệu lực như một liều thần dược, khiến Mộng Liên mở choàng cặp mắt nhung đen láy lờ đờ nhìn Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ.
 Âu Dương Bích Nữ nói nhẹ :
 - Chịu khó uống đi Phàn tỷ.
 Mộng Liên hé miệng, Đức Kiệt kéo mền nhẹ nhàng đắp lên ngực cho nàng.
 Chờ Mộng Liên thiêm thiếp ngủ yên, để Trang Thị ở lại săn sóc, mọi người ra cả ngoài phòng khách, Phàn mẫu dẫn Lam Y và Âu Dương Bích Nữ về phòng riêng. Trong khi Thế Hùng cùng Đức Kiệt chuyển các bộ hành trang về phòng của ba người, chàng nói :
 - Gia phụ khi xưa cũng là môn đồ của Thiếu Lâm, tiếc rằng đến lượt anh em tôi không được theo dõi đến nơi đến chốn sơ thiền nhiều, nay mới thấy tiếc.
 Chu Đức Kiệt an ủi :
 - Việc gì trên đời này cũng có số mệnh, tiếc sao được. Hiền đệ khác giữ mũi tên gian ác sau này cần tới. Còn điều này nữa, trong nhà đang có chuyện buồn, hiền điệt nói với lão mẫu chẳng nên bày vẽ cơm, rượu lôi thôi. Chúng tôi không có lòng dạ nào ăn uống đâu nhé!
 Chập tối hôm đó, Mộng Liên thổ ra mấy cục huyết đen như mực, nhưng mệt nhiều.
 Tô Tử Yêm chẩn mạch :
 - Nhược mạch! Cho uống nhân sâm ninh với nước thịt được không?
 Đức Kiệt gật đầu đưa cho y sĩ một liều nhỏ thuốc bột :
 - Nước đó hòa với thuốc này. Nhưng tôi muốn nói riêng với tiên sinh một điều. Môn thuốc trừ độc của võ phái chúng tôi chỉ có thể hiệu nghiệm khi nạn nhân mới bị thương trong vòng mười ngày. Trường hợp của Mộng Liên tôi e lắm. Độc ngấm vào máu nhiều nơi. Thật ra đường mạch thế nào?
 Tô y sĩ lắc đầu :
 - Yếu quá rồi, khó lòng lắm, trừ phi có thánh dược.
 Tối hôm ấy lúc tới phiên Đức Kiệt ngồi bên cạnh bệnh nhân, chàng mượn bộ Tính Dược của Tô Tử Yêm đọc.
 Mộng Liên mở bừng cặp mắt ra, thều thào đòi uống nước.
 Đức Kiệt rót nước sâm cho nàng uống.
 - Tay ngu muội lạnh quá. Chu huynh hãy giữ lấy một lát cho ấm đi.
 Đức Kiệt chiều ý.
 - Sức nóng của hiền huynh truyền sang dễ chịu quá. Nếu nhờ nguồn sinh lực của hiền huynh mà khỏi được bệnh, hiền huynh có cho không?
 Vuốt mấy sợi tóc mai lòa xòa trên má Mộng Liên, chàng nói :
 - Hiền muội chịu khó uống thuốc cho khỏe đi, ngu huynh sẽ xin phép bá mẫu cho đi chơi đây đó một phen.
 Nụ cười chát chúa nở trên cặp môi nhạt :
 - Khỏe à, chắc không thể được nữa. Ngu muội biết mình lắm. Hồng nhan bạc mệnh, gần được hiền huynh ngày nào là hạnh phúc ngày nấy. Có chết cũng cam.
 - Hiền muội có thương ngu huynh thì nên tĩnh dưỡng, tin tưởng, hy vọng ngày gần đây khỏi bệnh. Nếu vừa rồi cùng đi Kim Lăng, thì đâu xảy ra nông nổi này? Mấy ngày ở Kim Lăng, ngu huynh nóng ruột nên mới đi gấp ngày đêm về Thái An huyện đó.
 - Nghe lời vàng ngọc ấy, bây giờ có mệnh nào, ngu muội cũng ngậm cười nơi chín suối...
 Đức Kiệt khuyên nhủ :
 - Hiền muội nên nghĩ ngợi, nói nhiều quá mệt, hại thần trí. Nên nghe lời ngu huynh khỏi lo buồn.
 Đưa cặp mắt huyền, Mộng Liên nhìn Đức Kiệt rồi nhắm mắt lại thiêm thiếp ngủ.
 Bệnh trạng Mộng Liên lúc tăng lúc giảm tới bốn hôm sau, nàng biết mình khó sống, cho mời tất cả mọi người vào. Nàng tỉnh táo hơn lúc nào hết, nhìn khắp mọi người. Phàn mẫu và Trang thị ngồi hai bên đầu giường, cầm đôi tay gầy guộc xoa bóp cho nàng. Người nào cũng rưng rưng nước mắt.
 Nhìn mẹ, Mộng Liên nói qua hơi thở :
 - Mẫu thân ơi, đứa con mệnh bạc này không có phúc được thần hôn tĩnh định sớm hôm, đau xót cho con biết chừng nào!
 Phàn mẫu ôm mặt khóc ngất, Lam Y phải vực ra ngoài. Nhìn Trang thị, Mộng Liên nhắn nhủ :
 - Hiền tẩu và hiền huynh liệu thay ngu muội phụng dưỡng mẹ già. Bao lâu những mong có cháu bế mà chẳng được như nguyện.
 Trang thị bưng miệng khóc đứng dậy. Lam Y vội ngồi xuống ghế áp má vào trán Mộng Liên :
 - Hiền muội bi quan thế! Phải tĩnh dưỡng mới được.
 Khẽ lắc đầu, Mộng Liên chua chát :
 - Lúc này ngu muội phải nói, tiếc rằng chị em chúng ta chung sống chưa được bao ngày, mới hồi nào được theo hiền tỷ vào thăm dinh Tổng Trấn Giang, nào đánh Kim Cương tự, ngu muội tưởng được theo đòi học hỏi hơn nữa... ngờ đâu chỉ vì vụng tính sai đường nên đến nỗi này! Trên bước giang hồ gởi lời hiền tỷ thăm vợ chồng Tào Chí. Ngu muội sẽ phù hộ trên đường du hiệp. Dù thác cũng không quên nhau. Yêu cầu hiền tỷ một điều: Báo thù cho ngu muội, moi gan móc ruột nó mới hả lòng.
 Lam Y nghiêm nét mặt :
 - Lam Y này xin hứa cùng hiền muội điều đó, trước giờ phút thiêng liêng này.
 Dứt lời nàng đứng phắt dậy như chợt thấy bọn Hắc Đầu Đà trước mặt.
 Gọi tất cả các gia nhân đến trước mặt, Mộng Liên nhắn :
 - Hãy hầu bà, hầu đại huynh, đại tẩu cho hết lòng nhé, tôi sẽ phù hộ cho.
 Sau khi cảm ơn Tô Tử Yêm, Mộng Liên quay đầu sang phía hữu giường ngó Âu Dương Bích Nữ :
 - Hiền tỷ kêu hiền huynh ngồi xuống bên này. Tình bạn ngờ đâu giữa đường đứt gánh!
 Đức Kiệt nhón nhén ngồi xuống bên.
 Đưa hai tay gầy guộc run rẩy, Mộng Liên cầm tay Âu Dương Bích Nữ và Đức Kiệt kép áp vào nhau, lờ đờ nhìn hai người :
 - Âu Dương hiền tỷ hãy chăm nom chu đáo Chu huynh, đừng bao giờ xa chàng, Chu lang hỡi! Mộng Liên đi đây...
0
Hồi 27
Tiên Long trấn, Hà Tiên Cô cho thuốc
Rừng Độc Lâm, Tam hiệp bắt tà dâm
 
Nàng nói mấy tiếng sau cũng qua tiếng nấc... rồi hai tay hết cử động, im bặt, hồn trinh nữ phiêu diêu nơi Cực Lạc, Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ đặt hai bàn tay lên mặt vuốt cặp mắt nhung huyền khép kín lại... Đức Kiệt nghiến răng mặt đỏ bước ra khỏi phòng để lại tiếng òa lên khóc của mọi người.
Ngoài trời âm u đen tối, gió lùa trong cây từng đợt rít lên như oán như than. Xa xa tiếng vạc kêu sương tha thiết như đón rủ hồn hồng nhan bạc mệnh...
Chu Đức Kiệt về phòng riêng ngồi thừ ra suy nghĩ. Bất giác chàng với tay lên án lấy hồ rượu uống luôn mấy chén rồi đăm đăm nhìn lên trần nhà, suy tính một sự gì ghê gớm.
* * * * *
Từ ba hôm nay, trời mưa tầm tã, mây thấp âm u, gió thổi mạnh từng đợt, nước sông dâng cao sóng lớn bất thường vỗ bì bõm vào mạn các thuyền lớn neo gần bờ đất.
Cơm chiều xong thì trời vừa đổ tối. Trong khách phòng, ánh bạch lạp sáng chập chờn, Phàn mẫu ngồi trên kỷ, nét buồn rười rượi, đăm đăm nhìn bàn thờ Mộng Liên đặt trong góc phòng. Trang thị ngồi chiếc ghế thấp, gần mẹ chồng, cố gắng khâu chiếc áo bỏ dở từ lâu. Thỉnh thoảng nàng ngừng tay thở dài, rồi lại uể oải tiếp tục. Ngồi duỗi dài chân trên ghế bành trạm kê giáp tường, Phàn Thế Hùng rót rượu uống cạn từng ly nhỏ một. Gần đó! Chu Đức Kiệt lau lại lưỡi Thất Tinh đao sáng loáng phản chiếu ánh bạch lạp leo lét trên vách. Âu Dương Bích Nữ dựa lưng vào án thư lật đi lật lại mấy trang sách cổ, thỉnh thoảng nhìn ra ngoài trời tối như mực qua khuôn cửa kín. Hai tay chắp sau lưng, Lam Y nữ hiệp đi đi lại lại trong phòng đăm chiêu suy nghĩ. Giữa nhà, trong lò sắt lửa rực tỏa hơi ấm ra khắp phòng lạnh lẽo... Nhón nhén, nô tì đặt khay trà nóng hổi lên bàn, rồi lại im lặng rút lui vào nhà trong.
Cất tiếng trước nhất phá tan bầu không khí nặng nề, Lam Y dừng bước trước mặt Thế Hùng :
- Phàn đại ca, quanh Thái An này, có những huyện nào, trấn nào quan trọng hơn cả.
Buông ly rượu cạn xuống án, Thế Hùng chậm rãi đáp :
- Thẳng con đường cái, đi bảy mươi dặm đến Lịch huyện, đại khái giống huyện nhà. Từ Lịch huyện có hai nẻo đi, một dẫn đến Thao Lâm, một đến Tiên Long trấn.
- Hai nơi đó cách Lịch huyện bao xa?
Thao sơn ở phía Đông chừng tám mươi dặm đường còn Tiên Long trấn cũng chừng ấy độ đường về phía Bắc :
- Ngoài ra còn đường nào tới mấy nơi vừa nói không?
Suy nghĩ giây lát, Thế Hùng nói :
- Có, từ Trấn Giang về Thái An, có một đường nhỏ dẫn đến trấn Tiên Long.
Lam Y đi vòng quanh nghĩ ngợi.
Chu Đức Kiệt tra đao vào vỏ đặt lên mặt án, nhìn Lam Y hỏi :
- Hiền muội định qua đâu trước.
- Cần phải biết rõ, từ Tiên Long trấn có đường ngược lên Kim Lăng không mới có thể chuẩn được.
Thế Hùng hỏi :
- Tôi chưa ra khỏi trấn lộ nhưng nghe nói từ Tiên Long có đường vòng dắt vào đại lộ Kim Lăng và nhiều phủ, huyện khác.
Giương lớn cặp mắt huyền sáng như hai vì sao Bắc đẩu, Lam Y hướng về Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ :
- Ngày mai chúng ta đi Lịch huyện. Tới đó sẽ hay.
Giựt mình, Phàn mẫu bảo Lam Y :
- Trời mưa tầm tã thế này, chắc gì mai đã tạnh? Ba hiền điệt hãy nán lại cho già quên bớt sự đau buồn này đã.
- Thưa bá mẫu, chỉ có sự trả thù cho Phàn cố muội mới có thể dịu sự đau buồn cho tất cả mọi người trong phòng này. Điệt nữ xin hứa làm tròn phận sự ấy, chẳng chóng thì chầy nhưng phải đạt.
Phàn mẫu gạt lệ :
- Thôi! Liên nhi bạc mạng, đoản số, Thiên đình chỉ cho nó sống có bấy nhiêu năm, nói chuyện thù hiềm làm chi.
- Thiên chức hành hiệp của cháu không cho phép bỏ qua vụ này được. Chưa thanh toán xong ngày này, lương tâm còn nặng trĩu ngày đó. Nhất định ngày mai xin phép lên đường và còn trở lại đây cơ mà... Phải không hả hiền huynh và Âu Dương muội.
Âu Dương Bích Nữ nhìn Đức Kiệt.
Đức Kiệt đáp :
- Ngu huynh đồng ý. Càng sớm càng hay. Để lâu sẽ mất công tìm kiếm và có lẽ phải nhờ Nhạc Lan Anh dò la hộ.
Phàn Thế Hùng đứng vùng dậy đập hai tay vào nhau :
- Tôi cũng đi.
Chu Đức Kiệt ngăn :
- Không! Trái lại Phàn đệ phải ở lại nhà. Nên nghe lời ngu huynh, nóng nảy có ích gì.
Thế Hùng ngồi phịch xuống ghế, tì tay lên án nhìn ra cửa. Trang thị buông áo khẩu dở, rót trà đưa mời mọi người.
Hôm sau, mưa đã ngớt hạt, nhưng mây đen còn thắp, bầu trời ướt át ảm đạm. Anh em Chu gia choàng áo dạ đi mưa, đội nón lá nhẹ, lên ngựa khởi hành nhằm hướng Lịch huyện. Chiều tới Lịch huyện, ba người bỏ nón vì mưa đã tạnh từ lâu, vào tửu quán trọ.
Hôm sau trời quang mây tạnh, vừng thái dương le lói không trung.
Ba người đủng đỉnh ra phố dạo quanh. Chính ngọ thấy đói bụng, liền rủ nhau vào tửu quán lớn bên huyện đường gọi rượu uống.
Sau mấy hôm mưa tầm tã ướt át, bữa nay trời đẹp nên ngoài đường người đi kẻ lại tấp nập khác thường.
Tiểu nhị nhanh nhảu bày các thực vật lên thồi :
- Bản quán có đủ các món xào, nấu theo kiểu địa phương. Quý khách dùng thêm món gì xin cứ gọi.
Nhìn quanh, Chu Đức Kiệt nói :
- Quán này đông khách, có vẻ thịnh vượng lắm nhỉ!
- Dạ, mưa nhiều ngày nên mấy hôm nay ế. Trước kỳ mưa vừa rồi đắt hàng, làm không kịp bán, nhiều lần phải treo biển hết hàng, các quan khách mới chịu đi nơi khác. Bản quán ở đây đã lâu năm.
Đức Kiệt ngắt lời :
- Huyện này cũng không lấy gì làm lớn lắm, sao đông thực khách vậy.
Tiểu nhị gãi tai :
- Bẩm không những đông khách ăn, mà khách trọ cũng lấy hết phòng :
- Ủa, họ từ đâu tới đông vậy? Có việc chi lạ ở Lịch huyện không?
- Dạ không. Huyện nhỏ xíu này thì làm gì có chuyện hay hấp dẫn khách tứ phương. Họ chỉ qua đây trọ một hai ngày rồi lại đi. Như vậy, cũng đủ chật hết các tửu quán nơi đây rồi.
- Chắc quí vị hôm nay qua Lịch huyện cũng vì lẽ ấy chớ gì?
- Lẽ gì? Nói cho ta hay, nếu tiện thì cũng theo xem.
- Tuy con bận hầu các khách quan không có phước theo mọi người, nhưng nghe nói bên Tiên Long trấn có Hà Tiên Cô giáng phàm cho thuốc chữa bách bệnh, hiệu nghiệm vô cùng, tiếng lành đồn xa gần, nên trước còn ít, sau thì đông tín đồ đâu đâu cũng qua đây đi Tiên Long xin thuốc và cầu phước lành.
- Dịp may hiếm có, mấy khi có thần tiên giáng trần, nên không một ai bỏ lỡ việc thiên thu nhất nhỏ.
Đức Kiệt đưa mắt nhìn Lam Y và Âu Dương Bích Nữ :
- May quá từ Trấn Giang xa xôi tới nếu người không nói tất ta chẳng biết hay mà biết đường cầu phước. Đây, thưởng cho ngươi tiền nay đền công nhanh nhảu mách bảo nhé.
Móc túi lấy lượng bạc đưa cho tiểu nhị, Đức Kiệt chúm chím cười. Sướng quá, tiểu nhị cầm lượng bạc đút vội vào túi, xá đến tận đất :
- Khách quan rộng lượng quá! Cần thêm chi xin cứ gọi.
Tiểu nhị quay đi hầu thồi khác, nhưng Đức Kiệt gọi giật lại :
- Đây đi Tiên Long trấn bao nhiêu xa?
- Dạ hơn ngày đường thôi ạ!
- Được lắm, cho ngươi đi. Cần thêm chi ta sẽ gọi sau!
Đức Kiệt rót ba ly rượu đầy :
- Nhị vị hiền muội nhắm đi chớ! Nguội rồi!
Nâng ly rượu, Âu Dương Bích Nữ nói :
- Thời buổi này mà có tiên giáng trần thì lạ thật.
Lam Y mỉm cười ý tứ :
- Tiên hay phàm thì cứ đi xem chơi, nhiều thì giờ mà. Hiền muội có muốn cầu phước không?
- Có chớ! Hàng ngày vẫn mong chờ.
Ăn uống no say, ba người trả tiền hàng rồi về thẳng quán trọ tháo khí giới ra để ở đầu giường, ngủ sớm, hôm sau đi Tiên Long trấn. Trên đường rất đông hành khách. Người đi xe, kẻ cỡi ngựa hay đi bộ lũ lượt cùng tiến cả về phía trấn Tiên Long. Nhờ ba con tuấn mã, cực kỳ tốt nên sẩm tối hôm ấy, ba hiệp khách đã đến nơi, vào trọ ở Hòa An tửu lầu.
Hôm sau ngoài đường kẻ qua người lại tấp nập đông đảo khác thường. Nam phụ, lão ấu đủ mặt, xúng sính y phục mới, tay bưng tráp bày vàng, hương. Hết bọn này đến đoàn khác, họ chào, gọi nhau ríu rít :
- Đi lẹ lên! Trễ giờ thì thần tiên biến mất đấy.
Ba kiếm khách nghe vậy cười thầm. Lam Y nói :
- Dân chúng dị đoan thật.
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Bởi vậy, nhiều kẻ tinh ranh lợi dụng cơ hội tốt ấy kiếm tiền như nước...
Bỗng hai vị bô lão tuổi trạc ngót bảy mươi ngồi ở thồi gần dãy nói :
- Hẳn là ba vị là khách ngoại phương nên không biết rằng ít lâu nay ở trấn này có mấy vị địa tiên giáng thế độ dân, biến hiện bất thường, linh bùa hiệu nghiệm lắm.
- Dạ, các vị lão bối cũng tin những chuyện huyền ảo hư vô đó sao?
- Đây là chuyện mắt thấy tai nghe hẳn hoi, xin quí khách đừng nói khác e bị tội với thần tiên.
Nói đoạn, hai lão bối đem chuyện thần tiên giáng thế ở trấn Tiên Long kể cho ba người nghe.
Ở phía Đông trấn ấy có ngôi cổ miếu thờ Hà Tiên Cô, tường mái long lở, siêu vẹo, dột nát. Hàng tháng, số người đến miếu dâng hương không được bao nhiêu nên người thủ đền là Mao Tiến không tiền sửa chữa. Cách miếu độ vài chục bước, một ngọn cổ tháp xây từ đời Tống bị bỏ hoang.
Tháp tên là Cửu Trùng vì có chín từng và cao tới chín, mười trượng.
Tục truyền rằng vào cuối đời Nguyên triều có một con đại hắc xà, hai mắt như lửa, đầu lớn, mồm đỏ tựa huyết, không hiểu từ đâu đến chiếm cứ ngọn tháp Cửu Trùng ấy. Người thủ từ miếu Hà Tiên Cô không biết lên tháp thắp hương rồi mất dạng luôn. Thấy vậy, mấy tay thanh niên trai tráng khỏe mạnh hiếu kỳ ưa mạo hiểm rủ nhau lên coi, ngờ đâu mấy người đó cũng mất tích nốt. Hai hôm sau, người trong trấn ra rừng lấy củi đi qua đó thấy nhiều đốt xương người rải rác ở chân tháp.
Từ đó, không một ai dám bén mảng tới gần Cửu Trùng tháp hoặc có ý định mạo hiểm rủ nhau thám thính nữa. Trái lại, họ lấy đá và đất lấp hết lối ra vào, phòng ngừa con hắc xà nguy hiểm ấy bò xuống hại người. Các vị lão bối còn nói rằng một đôi khi trời mưa phùn, gió bấc, con hắc xà ấy vươn cổ ra cửa trên Cửu Trùng tháp, há miệng đỏ như máu, lưỡi thè dài như muốn nạt nộ người trong trấn. Vì lẽ đó, miếu Hà Tiên Cô bỏ hoang phế không một ai dám giữ chức thủ từ gần chiếc tháp quái đản đó nữa. Cho tới nay, tuy đã có Mao Tiến thủ miếu nhưng dân chúng ai nấy nghe lời truyền lại, cũng còn ghê sợ tháp hoang. Dù đã bao đời nay, mãng xà không hề xuất hiện trên đỉnh tháp, mọi người cho rằng giống ác xà đó có thể sống hàng ngàn năm, nguy hiểm tác quái vô chừng. Chẳng qua, Mao Tiến là người phương xa nghèo, đói không biết sanh nhai bằng cách nào nên mới liều mạnh thủ miếu để sống với tiền lễ của khách thập phương.
Tới một hôm kia, cách đây trên một tháng, bỗng có mấy tiều phu đốn củi ở rừng hoảng hốt vào trấn gặp ai cũng bảo :
- Có người ngồi ở cửa trên từng tháp trên cùng. Có lẽ đó là ma quỷ hiện hình.
Người trong trấn hiếu kỳ vội vàng lũ lượt kéo nhau ra xem... Quả nhiên một vị đạo cô khăn áo màu xanh, ngồi khoanh tròn hai tay chấp trước ngực, mặc hướng thẳng ra phía rừng xa xa đang ngồi chễm chệ giữa khuôn cửa trên từng tháp cao chót vót.
Dân chúng đang kinh lạ vì thiếu niên đạo cô can đảm kia làm thế nào mà lên nổi từng tháp cao ngất ấy, nghiễm nhiên ngồi không e sợ mãng xà.
Kẻ nói ra người nói vào, bàn tàn huyên thuyên. Bỗng một người quả quyết.
- Đích rồi, đúng là Hà Tiên Cô rồi, tôi biết mà.
Ai nấy đều nhìn lại đó là thầy đồ Đỗ Vạn Năng.
Thấy mọi người chăm chú nhìn mình, thầy đồ họ Đỗ nọ càng lên mặt thông thái.
- Tôi biết ngay mà! Trong bộ Bát tiên lục truyền có họa hình Hà Tiên Cô y hệt người thật chúng ta đang xem đó.
Nghi ngờ, một người nói :
- Chắc thiệt hay không hở thầy đồ?
Đỗ Vạn Năng vểnh mặt, quắc mắt :
- Xuẩn quá, sao lại không chắc? Thần tiên giáng trần ở ngay trấn mình, dân khi này có phước mới được hân hạnh ấy, không biết thành kính, thần tiên thấy ta khinh bạc đi nơi khác mấy thì uổng công.
Dứt lời, Đỗ Vạn Năng quỳ xuống trước lạy như tế sao, miệng suýt xoa lảm nhảm khấn vái, vẻ thành kính hiện trên nét mặt gầy guộc xanh lướt. Thấy vậy, mọi người không ai bảo ai cũng quỳ xuống lễ bái cầu khấn.
Tin ấy truyền đi khắp Tiên Long và các nơi lân cận, thiện nam tín nữ kéo đến lễ cầu phước rất đông.
Ngày nào cũng vậy, khi buổi sáng lúc ban chiều, Hà Tiên Cô hiện ra ngồi chễm chệ trên khuôn cửa đỉnh tháp cho dân chúng chiêm bái. Hồi lâu, khi mọi người đang lễ lễ bái bái. Tiên Cô lại biến mất, cực kỳ huyền ảo. Tháp Cửu Trùng cao tới chín trượng không có lối lên, tiên cô xuất hiện biến hóa dễ dàng như vậy, nếu không phải thần tiên thì người thường nào làm nổi? Vì lẽ đó, dân trong trấn càng tin tưởng quả là Hà Tiên Cô giáng trần cứu nhân độ thế, kéo nhau ra miếu lễ bái và ra ngoài chân tháp chờ thần tiên xuất hiện chiêm ngưỡng. Thế là một đồn mười, mười đồn trăm, tin Hà Tiên Cô giáng trần ở Tiên Long trấn được đồn đại lan tràn đến các nơi thôn, ổ và phủ, huyện lân cận, nên thiện nam tín nữ thập phương kéo đến Tiên Long trấn lễ bái, cầu phước đông đảo khác thường.
Các tiệm quán, xa phu đông khách thi nhau làm giàu. Quan lại địa phương nghe đồn, cho người ra xem chuyện thực hư thế nào, cũng hơi ngờ vực, nhưng về sau thấy không phương hại tới sự cai trị nên bỏ qua mặc cho dân chúng tín ngưỡng.
Miếu Hà Tiên Cô bao lâu nay hầu như hoang phế bỗng dưng trở nên tấp nập kẻ cúng người bái, tiền vàng hương thâu được rất nhiều khiến thủ miếu họ Mao mỏi tay xếp bạc. Ít hôm sau, Mao Toán đặt một chiếc rương lớn ở góc miếu đề mấy chữ “Quyên tiền xây dựng lại miếu”. Họ Mao nói với khách thập phương rằng đêm hôm rồi, Hà Tiên Cô hiện ra kêu không nên để miếu tồi tàn, phải xây dựng lại cho được trang nghiêm. Thế là kẻ ít người nhiều, chẳng mấy ngày rương đã đầy nhóc những bạc. Mao Toán gọi xây dựng hẳn lại miếu đường nguy nga lộng lẫy điện trước, hậu phòng ngăn nắp vô cùng. Còn lại bao nhiêu, họ Mao đã đi làm của riêng phòng bị tương lai đến tối.
Một hôm cuối tháng, Mao thủ miếu nói với khách thập phương :
- Đêm qua, Tiên Cô hiện về dạy rằng từ nay, cứ mùng một và ngày rằm, người sẽ đăng trên đỉnh tháp phát bùa linh. Chuyến đầu phát ba trăm lá. Các tín đồ phải đứng nguyên chỗ, không được tranh giành nhau. Từ trên đỉnh tháp, Tiên Cô sẽ rải linh bùa xuống, trúng ai là kẻ ấy có phước. Đem bùa về đốt hòa với nước mưa uống sẽ trường thọ bách tuế và tà ma phải sợ. Ai muốn được phước ấy phải ra chầu ở chân Tháp Cửu Trùng, cuối giờ thân, Hà Tiên Cô sẽ hiện thân trên đỉnh tháp.
Tin ấy đồn ra, khách thập phương đua nhau kéo đến Tiên Long trấn lễ bái, ăn chực nằm chờ cầu nguyện cho kỳ được linh bùa của tiên gia rơi trúng người mới hớn hở ra về.
Bữa Lam Y, Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ tới Tiên Long trấn vừa đúng ngày đầu tháng, nên dân chúng lũ lượt kéo nhau ra Tháp Cửu Trùng, lấy chỗ trước đón linh bùa rất đông đảo. Nam, phụ, lão ấu, thiện, nam tín nữ, y phục như ngày tết, xôn xao, rộn rã đi ra hướng Tháp. Ba kiếm khách nhìn nhau cười thầm, trà trộn vào đám đông quan sát.
Lúc sắp tới cuối giờ Thân, bóng kim ô ngả hẳn bóng sau rừng cây, khách thập phương chẳng ai bảo ai đều thắp hương cầm tay, quỳ xuống đất cầu khấn, mong lòng thành quyện khói nhang thơm thấu đến thần tiên ban phước lành. Bọn Chu Đức Kiệt chẳng đã, cũng đành hành động như mọi người để khỏi bị chú ý.
Lam Y nói nhỏ :
- Nào, xin mời nhị vị thiện nam và tín nữ hãy chịu khó quỳ xuống thắp hương đi. Lát nữa, Tiên cô sẽ ban... hạnh phước cho. Lẹ lên.
Chu Đức Kiệt lầm lì im lặng. Âu Dương Bích Nữ cắn môi nhịn cười.
Nhưng cả ba người cùng chăm chú nhìn lên nơi thần tiên vẫn thường xuất hiện.
Quả nhiên, Hà Tiên Cô mặc đạo bào thiên thanh từ đâu hiện ra ngồi sừng sững ngay trên khuôn cửa sổ, từng tháo trên cùng. Mọi người dưng hương lên ngang trán, rì rào cầu nguyện và khấn vái. Niềm mong tưởng hiện rõ trên nét mặt.
Lam Y đưa mắt nhìn Chu Đức Kiệt, Âu Dương Bích Nữ. Hai người hiểu ý khẽ gật đầu. Cả ba nhận xét rõ ràng những điều cần biết.
Bỗng Hà Tiên Cô vung tay áo thụng phát ra những mảnh giấy nhỏ may như bươm bướm. Khách thập phương im phăng phắc, ngước mắt chờ cầu may bùa tiên rớt trúng người mới lượm. Một cánh bùa bay lạng như bay và rớt trúng đầu Chu Đức Kiệt. Chàng lượm lấy coi, thì đó là miếng giấy vàng lợt lớn bằng hai ngón tay. Trên mặt giấy biên mấy chữ nhà tiên nhằng nhịt bằng chu sa óng ánh. Các tín đồ, người nào được linh bùa rít trúng hớn hở sung sướng. Trái lại những ai không nhận được bùa vẻ buồn rầu ra mặt. Họ rì rào lạy tạ hoặc cầu khẩn chuyến sau. Lúc ngửng đầu lên thì Tiên Cô đã biến mất.
Bọn Chu Đức Kiệt theo mọi người đứng dậy.
Chỉ vào lá bùa, Đức Kiệt hỏi một người gần đó :
- Xài linh bùa này thế nào, hả đại ca?
Anh chàng kia sửng sốt nghiêm trọng :
- Trời đất quỷ thần ơi! Có phước lớn thế này mà còn đi hỏi người ta cách xài linh bùa như thế nào? A! Mình biết xài và muốn xài thì lại không được. Đây nè, về hứng nước mưa giữa trời, ăn chay, đốt bùa hòa với thứ lộc thủy đó mà uống, thì được hưởng bách tuế và kỵ tà ma! Đại ca nghe ra hiểu chưa.
Đức Kiệt mỉm cười :
- Hiểu rồi, nhưng tôi có tật xấu là không thể nào nuốt được cơm chay, vậy xin nhường đại ca xài tạm lá bùa này vậy!
Anh chàng lưỡng bị tưởng Chu Đức Kiệt nói giỡn. Nhưng vẫn thấy Đức Kiệt thẳng thắn đưa đạo bùa ra cho, nên hắn nghĩ thầm may mắn gặp phải thằng ngốc, bèn nhìn trước, ngó sau, cầm phắt đạo bùa, bỏ vội vào túi lẩn vào đám đông biến mất, quên cả cảm ơn người đã cho y phép sống trăm năm.
Lam Y và Âu Dương Bích Nữ bưng miệng nhịn cười, rủ Đức Kiệt vào miếu xem. Trong miếu khói hương nghi ngút, tường vẽ, cột sơn huy hoàng đèn sáng rực. Khách dâng hương đã vãn vì bóng tà dương ngả từ lâu. Ba hiệp khách giả vờ dâng hương khấn vái chỗ này, chỗ nọ nhận xét hồi lâu. Trở ra, ba người ghé vào chỗ chiếc rương quyên tiền.
Mao Toán, mắt dơi tai chuột, bắt ghế ngồi gần đó, cất giọng nói the thé như tiếng chim :
- Mô Phật!
Chu Đức Kiệt vờ vĩnh vừa móc túi vừa hỏi :
- Tiền quyên bỏ vào đâu đấy? Tiên sinh là thủ miếu đức Tiên Cô.
Mao Toán đứng lên chắp tay thưa :
- Dạ, chính tôi ăn may đức Tiên Cô thủ miếu này được nhiều năm rồi ạ! Quý khách ở phương xa tới phải không?
Đức Kiệt gật đầu, đếm đúng năm tiền bỏ vào lỗ nhỏ khoét trên mặt rương. Đoạn cả ba người chào thủ miếu đi ra không để ý tới cái nguýt thiệt dài của họ Mao vì y nghĩ thầm :
- “Gớm thiệt! Mặt mũi sáng sửa, đẹp trai xinh gái thế kia mà cúng được năm tiền! Keo lạ lùng”.
Về đến gần trấn thì trời vừa đổ tối. Nhà nào nhà ấy đều lên đèn như sao sa, đường phố tấp nập sáng trưng.
Đêm ấy, Tam hiệp đang trao đổi ý kiến về quyên tiền ở miếu Tiên Cô thì chợt thấy hai người lướt ngang qua tửu quán với bộ vận khả nghi. Đức Kiệt theo dấu thì biết được tên lớn tuổi là Hắc Đầu Đà, tên nhỏ tuổi là Tiên chân nhân hiệp lực cùng Từ Thúy Nhi giả dạng Tiên Cô gạt dân lành chia tiền cùng viên thủ miếu. Và cũng chính bọn này đã bắn tên giết chết Phàn Mộng Liên. Đức Kiệt, Lam Y và Âu Dương Bích Nữ bèn đến tận Tháp Cửu Trùng xem rõ thật hư. Tam hiệp đến gần chân tháp, núp vào bóng tối chờ khá lâu, chỉ thấy một bóng đen nhỏ thoát qua hướng tháp, còn tên Hắc Đầu Đà thì không thấy tới, nên bán tín bán nghi.
Ba người đang bàn tán thì có tiếng đóng cửa trên tháp và sau đó ánh đèn mờ mờ lọt qua khe cửa.
Lam Y nói :
- Chúng dám thắp đèn, không sợ lở có người ta từ trong trấn trông thấy là vì cửa sổ trông thẳng ra khu vườn cây... Ta lên đó xem tình hình thế nào đi.
Ba hiệp khách đồng ý phóng mình tới chân tháp, nhảy vọt lên nóc thứ ba và từ đó phi thân lên đỉnh tháp, nhẹ nhàng không một tiếng động nhỏ. Thật ra thì tháp cổ, mái ngói rêu phong, sương đêm ẩm ướt trơn lắm nhưng nhờ có công phu khổ luyện, dùng Khinh thân nên thân thể nhẹ nhàng như chiếc én đi đứng vững chãi như nơi bình địa vậy. Rón rén nhìn qua khe cửa sổ, ba người ngạc nhiên thấy trong lầu tháp Cửu Trùng khá rộng rãi sạch sẽ, trướng gấm màn the, án thư, song kỷ gọn gàng. Mấy thức bánh mặn, ngọt, hồ rượu, ly lớn bày la liệt trên án.
Hà Tiên Cô quả là một đạo cô sắc sảo lẳng lơ, đầu mày cuối mắt tình tình tứ tứ chuyện trò ăn uống với một tên còn trẻ, nhưng nét mặt dữ dằn, phục sức kiểu đạo sĩ.
Hà Tiên Cô hỏi :
- Lão sư đâu?
Đạo sĩ nheo mắt ra vẻ không bằng lòng :
- Lão ta quá chén say rượu ngủ như chết rồi! Mà cần chi hắn nữa, ta đến đây với Thượng tiên không đủ sao?
Cười bả lả, Tiên Cô nói :
- Đùa giỡn chi vậy! Thượng tiên với dân chúng trấn này, chớ với Tiêu chân nhân, tôi đây chỉ là Từ Thúy Nhi!... Gớm, chưa chi đã ghen, đã giận! Phát ngán...
Tiêu chân nhân cau mặt, uống cạn ly rượu :
- Thúy Nhi đi lại với tên hổ mang ấy, còn muốn nói ta ghen. Đừng quá lắm, có ngày nó mất mạng đó. Chỉ một mũi tên độc xà là hắn chết... lần lần không phương cứu chữa.
Ba hiệp khách nghe tới câu này toát mồ hôi, nhìn nhau khẽ gật đầu.
Từ Thúy Nhi làm mặt giận dỗi :
- Cùng bọn với nhau, môi hở răng lạnh, mà nghĩ quấy vậy sao? Thúy Nhi này đâu phải của riêng một ai? Thích thì chơi, chẳng ưa thì bỏ! Tiêu chân nhân hay Hắc Đầu Đà cũng chỉ là khách qua đường! Biết giữ địa vị đừng hòng quá trớn với Thúy Nhi này... đi lại lâu dài.
Cười hềnh hệch, Tiêu chân nhân đẩy ghế đứng lên, rót ly rượu đầy đưa cho Thúy Nhi :
- Đây! Hãy uống đi, bồ đào tửu ngon lắm kẻo khuya lắm rồi! Nói giỡn vậy chớ, nếu ta thì Hắc Đầu Đà thì trước đây còn giúp nó báo thù đồng bọn của Lam Y nữ hiệp làm chi?
- Hà... hà... Đã chắc nó khỏe hơn ta chưa? Mà ta biết Thúy Nhi chỉ... chuộng có người khỏe thôi!... Hà..hà.
Từ Thúy Nhi uống một hơi cạn ly rượu bồ đào, liệng ly cạn lên tường bể tan ra từng, ảnh, dâm đãng ra mặt, tình tứ liếc tên đạo sĩ dâm bôn nọ.
- Nói thế mà là kẻ biết điều, hiểu người hiểu ta chớ! Gạt những kẻ ngu si đần độn, tin tưởng mù quáng cho bọn dân hàng ngày đến quỳ lạy cô nương đây dưới chân tháp này.
- Chúng ngu thì cho chúng chết! Ta lượm vàng, nhặt bạc cho đầy túi rồi... Hà Tiên Cô lại biến đi nơi khác ban linh bùa, cứu dân độ thế... Mặc cho tên thủ miếu ra sức giải thích với tín đồ... Nó cũng đầy túi rồi mà. Chúng ta mới là kẻ biết sống thực tế! Hẵng hỏi đã mấy ai lên nổi nơi đầy để thấy rõ đời sống của chúng ta.
Tên Chân Nhân họ Tiêu tiến đến sau lưng nữ đạo ôm ghì lấy Thúy Nhi...
Mắt lờ đờ nhìn ngược lên, Thúy Nhi thở dồn dập.
- Gớm! Bỏ áo đã chớ, ghì chặt áo thế này nghẹt thở.
Bên ngoài, Âu Dương Bích Nữ vừa giận vừa thẹn quá, định đẩy cửa vào đánh nhưng Chu Đức Kiệt ngăn cản lại kịp, vẫy tay ra hiệu nhảy xuống cả dưới chân tháp.
Ba người liền nhào xuống đất như ba con én liệng, kéo ra chỗ bóng cây hồi nãy.
Đức Kiệt hỏi Âu Dương Bích Nữ :
- Phải kiên tâm mới được, thiếu chút nữa hiền muội làm hỏng việc. Làm kinh động, tên Hắc Đầu Đà trốn mất thì sao.
Âu Dương Bích Nữ hãy còn thẹn :
- Cần phi phải kéo dài? Giết luôn hai tên dâm ô này đi rồi phục cả ở đây, Hắc Đầu Đà tất thế nào cũng mò đến xem thực hư thế nào, sẽ giết luôn... Thế là rồi đời cả ba đứa, có gọn gàng không?
Đức Kiệt điềm đạm :
- Ngu huynh đồng ý ở điểm đó, những rồi sao nữa? Còn tên thủ miếu và rất có thể đồng bọn của chúng thấy động, tẩu thoát mất thì sao?
- Việc mà chúng ta cáng đáng đây, trước hết là báo thù cho người bạn quá cố đi rồi, sau nữa là trừ hại cho cả một địa phương.
Ba tên đầu đảng ở cả đây rồi, nóng nảy có ích gì, lỡ thiếu sót điều chi, sau này lại hối hận không?
Gió phây phẩy lạnh qua mặt, nghe Chu Đức Kiệt giảng giải một hồi, Âu Dương Bích Nữ chợt nghĩ ra mình đã nổi giận trước cảnh tà đạo dâm ô, chớ thiệt ra, thường ngày nàng cũng là người biết suy xa nghĩ rộng, bèn mỉm cười, e lệ nhìn Lam Y và Đức Kiệt.
- Tại trông thấy chúng hỗn loạn quá, nên tiểu muội nộ khí xung thiên.
Lam Y vỗ vai cô gái Âu Dương Bích Nữ mỉm cười :
- Khi trước, lúc mới hành hiệp, tánh chất tôi y hệt hiền muội. Đó là lẽ thường.
- Bây giờ chúng ta hành động thế nào.
- Chờ! Theo tên Tiêu đạo tặc về trấn xem chúng ở đâu, rồi mai sẽ liệu.
Tới ngót canh tư, trên đỉnh tháp vẫn im lìm, Chu Đức Kiệt nóng ruột nói :
- Ta lên xem thế nào, hay chúng có đường ngầm nào khác tẩu thoát chăng.
Lam Y nói :
- Hiền huynh một mình lên do thám đủ rồi. Âu Dương và ngu muội chờ ở đây.
Tức khắc, Chu Đức Kiệt phi thân lên từng nhất tháp Cửu Trùng nhón nhén nhìn qua cửa sổ.
Trong ánh đèn mờ ảo, dâm nữ đang quyện chặt Tiêu đạo tặc.
Chu Đức Kiệt trở về chỗ cũ, im lìm.
Lam Y, Âu Dương Bích Nữ hiểu ngầm, cũng yên lặng không hỏi.
Từ Tiên Long trấn, canh tư điểm đã trên một khắc canh, cánh cửa sổ trên đỉnh tháp mới mở và Tiêu chân nhân nhảy qua từng đợt một xuống đất, ngó ngàng ngó dọc không thấy gì lạ hơn là tiếng chim rừng buổi sớm xào xạc trong rừng cây trước mặt hãy còn chìm đắm trong bóng tối âm u. Lam Y bèn phi hành về trấn.
Ba hiệp khách cũng như lúc đi, theo Tiêu tặc về tới khu cửa Bắc đáp xuống đứng chênh vênh giữa khuôn cửa sổ xây cuốn trong của một tửu quán rồi nhảy về phòng.
Ba người chuyền tới mái kế bên, nhận xét kỹ càng rồi phi hành về phòng trọ, thay áo dạ hành, sửa soạn lên giường ngủ một mạch tới sáng bạch, vừng Thái dương lên cao hai trượng mới trở dậy.
Nói về Hắc Đầu Đà khi theo đường hầm trốn khỏi Kim Cương tự vào sau núi ẩn nấp mấy ngày nghe ngóng, thấy mọi việc đã ổn mới dám qua Dương Châu đi Trấn Giang, định bụng xuống miền Nam ít lâu.
Ở Trấn Giang được ít ngày, y sửa soạn lên đường thì bất ngờ gặp Từ Thúy Nhi là người quen biết từ trước và theo Thúy Nhi về ở tại am nhỏ hoang phế trong khu rừng trên đường từ Trấn Giang đi Tiên Long trấn.
Thời Vĩnh Lạc Vương nhà Minh, Giáo chủ Bạch Liên giáo là Cố Duy Thanh hoạt động ở Hồ Nam, có hai đồ đệ rất đắc lực.
Người thứ nhất là Tôn Hoàn được Thuận Vương ở Kim Lăng, chiêu nạp Quân sư.
Người thứ nhì là cô gái họ Đường tên Trại Nhi, tinh thông võ nghệ, giỏi về môn tà thuật, hoạt động rất đắc lực cho giáo phái Bạch Liên, dùng nhan sắc, yêu thuật lôi cuốn được nhiều người vào hội.
Thấy vậy, Cố Duy Thanh rất tin yêu Đường Trại Nhi, đặc phái lên Giang Tây ở Nam Xương thành, bí mật hoạt động mở rộng giáo phái, thâu nhận nhiều tín đồ. Có sắc đẹp, tánh tình dâm dật, tà thuật giỏi, Đường Trại Nhi lên Nam Xương thành chưa bao lâu mà đã thu được khá nhiều tín đồ cả hai giới nam, nữ. Trại Nhi thâu nhận được năm nữ đồ đệ dạy võ nghệ truyền tà thuật cho phái đi các nơi truyền đạo. Đó là Khuất Tấn Nhi, Vũ Thu Nhi, Từ Thúy Nhi, Hà Tam Nhi và Vân Tiên nhi. Vì cũng lấy tên là Nhi nên mọi người trong giáo phái đều là Bạch Liên Ngũ Nhi. Thầy nào trò ấy, Ngũ Nhi cực kỳ dâm đãng, người nào cũng trẻ đẹp, sắc sảo hành động khá đắc lực cho Bạch Liên giáo. Chuyến ấy theo lệnh thầy Từ Thúy Nhi đi Trấn Giang xem xét tình hình để tìm cách mở rộng chi nhánh.
Ở Trấn Giang được ít lâu, Từ Thúy Nhi tìm được ngôi cổ am trong rừng tiện đường đi lại, nên dọn dẹp sạch sẽ để dễ bề dụ dỗ bọn trai háo sắc về đó luân phiên hành lạc, thỏa tình gió sớm mây chiều. Vốn quen biết từ trước đó do Thiết Đầu Đà (bị giết đêm đại náo Kim Cương tự bên Dương Châu) giới thiệu, Từ Thúy Nhi và Hắc Đầu Đà có dịp đi lại với nhau nay lại bỗng dưng tái hợp, trai hổ mang gặp gái dâm tà, sự vui mừng của hai bên quả vô bờ bến. Mải miết truy hoan, khi nào hết tiền, Từ Thúy Nhi và Hắc Đầu Đà lại trổ nghề riêng, phi thiềm tẩu bích lấy tiền của các nhà giàu tiêu xài.
Một hôm, hai người đi thuyền dạo chơi trên Trường Giang gặp Tiêu chân nhân là nhân viên Thiên Lý giáo, một giáo đạo tương tự như Bạch Liên cũng chuyên về tà thuật, Hà Thiên Thọ quen biết Tiêu chân nhân bèn giới thiệu với Từ Thúy Nhi. Vốn ngao du không có chuẩn đích, Tiêu chân nhân bèn nhập bọn, và từ đó bộ ba sống lẩn quất nơi am hoang vắng ấy. Chẳng ngờ, anh em Phàn gia từ Dương Châu về qua Trấn Giang vô tình gặp Hắc Đầu Đà.
Bất chợt gặp kẻ thù, Hắc Đầu Đà theo dõi biết Phàn Thế Hùng mướn mã phu tải về Thái An huyện, nên bàn định với Từ Thúy Nhi, Tiêu chân nhân yêu cầu giúp sức. Hai người nhận lời ngay, nhưng Trấn Giang là một thị trấn đông đảo, không tiện hạ thủ. Tiêu chân nhân bèn nghĩ luôn ra kế thiềm thừ thoát xác cho tiền tên mã phu, tự mình giả dạng tên A Tam dụ anh em Phàn gia đến khúc đường hiểm Trấn Giang - Thái An huyện, phục kích báo thù. Chẳng qua số mạng Mộng Liên cũng đến lúc chết, nên hai anh em khinh thường sơ ý, mắc vòng gian tế.
Sau khi họ Phàn chạy thoát, Hắc Đầu Đà tiếc không toại nguyện hạ gục được tại chỗ, có ý liền muốn đuổi theo, nhưng Tiêu chân nhân gạt đi nói :
- Mũi tiêu ngâm nọc độc xà, chắc chắn con nhỏ ấy không thoát chết đâu.
Từ Thúy Nhi cũng ngăn :
- Chẳng nên cố đuổi ra tới đại lộ đông người e không tiện, vả lại Tiêu sư huynh cũng bị trúng thương cần săn sóc ngay.
Hắc Đầu Đà vác Tiêu chân nhân vào nơi khuất nhiều cây, mở vết thương ra xem thấy ở gần vai, không trúng chỗ phạm, hơn nữa mũi phi đao cắm không sâu.
Tiêu chân nhân bảo Từ Thúy Nhi :
- Có đem theo thuốc phòng độc đây, sư muội mở bọc này lấy thuốc bột rắc lên vết thương và cho tôi uống một hoàn, nghỉ ngơi chốc lát là phải đi, ở đây lâu bất tiện.
Sau đó, ba tên tà đạo lên đường về thẳng nơi cổ am.
Mấy ngày sau, Tiêu chân nhân khỏi hẳn, chúng bèn kéo nhau đi Tiên Long trấn và nghĩ ra cách giả Hà Tiên Cô mê hoặc dân chúng, thông đồng vùng tên Mao Toán thủ miếu lấy tiền của khách thập phương chia nhau. Đang đói rách, Mao Toán vui vẻ ưng thuận ngay. Thấy không bị quan sở tại làm khó dễ, tiền thâu vào như nước, bọn tà đạo kéo dài thời gian bịp bợm, chẳng ngờ đến việc Lam Y nữ hiệp tìm cách báo thù cho Phàn Mộng Liên. Âu đó cũng là tác ác phùng ác, thiên hạ sự bao giờ cũng vậy.
Nói về Lam Y nữ hiệp, sau khi dò ra tông tích bọn thủ phạm hạ sát Phàn Mộng Liên, thì nàng rất mừng rỡ. Suốt ngày hôm đó, ba hiệp khách cũng ở lại Nam Hương quán, e đi ra phố lỡ lộ hình tích thời bọn tà đạo trốn mất, uổng công tìm kiếm. Chẳng đến canh hai, ba người đã lẩn đến khu Bắc, nhảy lên cây lớn núp trong khóm lá um tùm, chờ bọn Hắc Đầu Đà hành động.
Quả nhiên, trống vừa điểm canh hai, thì hai bóng đen từ tửu quán gần đó chuyền qua cửa sổ xuống nóc nhà kế bên. Lam Y nhận ra ngay là Hắc Đầu Đà và Tiêu chân nhân, hai tên tặc đạo theo đường ra khỏi Tiên Long trấn về lối miếu Hà Tiên Cô, vượt tường rào lối sau.
Lam Y nói nhỏ với Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ :
- Chúng hẹn nhau hội họp ở đây. Không hiểu con yêu tặc kia đã tới chưa! Chu huynh ra dò ngoài Tháp Cửu Trùng xem sao.
Lát sau, Chu Đức Kiệt trở lại :
- Trong tháp không có ai. Chắc con nữ tặc đó vào miếu trước rồi.
Ngó trước, nhìn sau kỹ lưỡng, ba người liền phi thân lên tường chuyền vào nóc miếu. Điện ngoài tối om, nhưng lối sau có ánh đèn le lói. Ba hiệp khách nằm rạp xuống mái nghe ngóng. Tiếng nói, cười từ phía dưới vọng lên.
Lam Y bèn nhẹ tay kéo hở ngói nhìn xuống. Quả nhiên, bọn yêu tặc và tên thủ miếu đang ngồi quây quần chiếc thồi bàn ăn, uống xô bồ. Từ Thúy Nhi ngồi giữa, Hắc Đầu Đà và Tiêu chân nhân ngồi kế hai bên tả hữu. Ba đứa cười đùa lả lơi coi như không có mặt tên thủ miếu, phần Mao Toán thì mặt mũi đỏ gay vì rượu, rung đùi, dương dương tự đắc có vẻ khoái trá lắm.
Cây thiền trượng và hai thanh đoản đao dựng ngay ở bức tường sau lưng Từ Thúy Nhi.
Hà Tiên Cô giả hiệu bả lả bảo Hắc Đầu Đà :
- Sao đêm qua không lên tháp? Thành thử Tiêu sư huynh mải gần sáng... mới về nổi. Say rượu hả? Nếu vậy, bữa nay... ta phạt đó.
Hắc Đầu Đà xoa đầu trọc lốc ngả vào vai Từ Thúy Nhi, cười hềnh hệch như con heo :
- Phạt thế nào cũng được? Hắc mỗ này đâu... có ngán!
Tiêu chân nhân kéo Từ Thúy Nhi ngã sang phái y, lả lơi.
Nguýt dài họ Tiêu, Từ Thúy Nhi nói :
- Sư huynh chuyên môn ích kỷ. Thôi không dông dài nữa. Bây giờ phải tính chuyện làm ăn, kiếm thêm ít tiền nữa.
- Từ ngày mai trở đi, Mao thủ miếu lại phao ngôn cho khách thập phương biết rằng Hà Tiên Cô muốn sửa sang tháp Cửu Trùng, và sẽ cho thuốc chữa chạy bệnh cùng trường sanh bất tử. Quyên tiền càng sớm bao nhiêu, hay bấy nhiêu.
Mao Toán gãi tai :
- Đệ tử sẽ hoàn bị việc quyên tiền...
- Tên thủ miếu chưa nói hết câu, cánh cửa bỗng bị đao toang ra khiến bọn tà đạo hoảng hồn.
Hắc Đầu Đà kêu lớn :
- “Lam Y nữ hiệp”.
Ba gian đạo vội vàng đẩy ghế nhảy ra phía tường sau lưng, chụp vội vàng khí giới. Mao Toán cuồng chân không kịp chạy, thì đã bị Lam Y nhảy tới xách gáy ném ra phía sau cho Âu Dương Bích Nữ trói gò lại. Tiêu chân nhân thừa dịp nhắm Lam Y phóng luôn mũi tiêu độc, Lam Y đưa kiếm gạt bắn ngọn tiêu vào tường “xoảng” một tiếng.
Mũi tiêu thứ hai nhắm Chu Đức Kiệt phóng luôn tới, Đức Kiệt với tay bắt lấy gài vào đai lưng.
Hắc Đầu Đà, Từ Thúy Nhi thừa dịp đạp tung cửa lòn ra phía tiền điện, Tiêu chân nhân phóng mình chạy theo.
Lam Y đuổi theo ra phía cửa ấy.
Vừa qua ngưỡng cửa, Tiêu chân nhân đã liệng luôn mũi tiêu nữa, hét :
- Chết này!
Choang! Lam Y một lần nữa, gạt bắn ngọn tiêu văng vào góc điện. Hắc Đầu Đà, Từ Thúy Nhi đá văng cửa sổ tiền điện, đồng bọn chạy cả ra khỏi miếu. Lam Y cẩn thận rượt theo.
Ba tên gian đạo vừa ra tới khu đất rộng trước miếu thì bị luôn hai bóng đen từ nóc miếu sà xuống áp đánh. Chúng giật mình nghinh chiến.
Hai bóng đen ấy chính là Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ. Đức Kiệt thấy cửa miếu hẹp, e vướng Lam Y nên kéo tay Âu Dương Bích Nữ chạy ra phía sau đánh, phi thân lên nóc miếu chờ gian đạo chạy khỏi liền áp xuống đánh. Lam Y cũng vừa xông tới. Không dám ham chiến, bọn Hắc Đầu Đà phóng chạy qua chân Tháp Cửu Trùng định lẩn trốn vào khu Độc Lâm, nhưng lẹ hơn, ba hiệp khách qua đón đường đánh bật bọn gian đạo trở lại. Tức giận, Hắc Đầu Đà liều chết, múa thiền trượng đánh Chu Đức Kiệt.
Lam Y quấn vào giao đấu với Tiêu chân nhân, còn Âu Dương Bích Nữ đấu với Từ Thúy Nhi. Biết bản lãnh của đối phương từ trận Kim Cương tự nên tuy liều đánh, Hắc Đầu Đà chỉ mắt trước mắt sau muốn chực thoát thân. Nhưng chạy sao nổi! Cây Thất Tinh đao xoắn tròn lấy tên mang, nên chỉ trong chớp mắt cây thiền trượng của y bị tiện đứt đôi và một làn dao xanh lè rít lên như gió đưa đúng cổ. Phập! Chiếc thủ cấp lăn lóc văng tới chân Tiêu chân nhân. Thây ma đổ vật sang bên, máu phun ra như tưới.
Vốn đã không phải tay đối thủ với Lam Y, Tiêu chân nhân thấy Hắc Đầu Đà tử trận lại càng luýnh quýnh sợ hãi, dè chân chạy. Nhưng chạy đâu cho thoát? Quay bên tả gặp phải luồng bạch quang của Thái Dương kiếm lợi hại chặn chém. Quay bên hữu cũng vậy, Luồng kiếm trắng xóa như trêu cợt, lúc hữu, lúc tả khi trước mặt, sau lưng, biến hiện vô chừng khiến Tiêu chân nhân đổ mồ hôi ra như tắm.
Mỗi lát kiếm, Lam Y lại cười lanh lảnh :
- Gian đạo có nhớ tới cô gái họ Phàn bị mi sát hại không?
- Hãy coi chừng, Phàn nữ, chém đây này!
- Giữ lấy thủ cấp, mau!
Tiếng nói lạnh như tiếng ma, Tiêu chân nhân ngồi thụp xuống tránh lưỡi kiếm vụt qua đầu hớt mất chiếc khăn và mảnh tóc.
Loạng choạng, họ Tiêu đứng vội lên thì bị luôn mũi kiếm nhập thần của Lam Y đã đưa luôn tới ngực, rạch toang mấy lần áo, hở phanh ngực ra.
Lam Y giơ tay tả hỏi :
- Mi có nhận ra cái gì đây không?
Lùi lại bốn, năm bước, Tiêu chân nhân định thần nhận ra mũi tiêu độc của chính y.
- Với mũi tiêu này mi đã sát hại Phàn nữ vô tội, biết không?
- Tên gian đạo sợ quá, run lẩy bẩy, mồ hôi trán vã xuống cay cả mắt... Lam Y gọi lớn :
- Phàn muội ơi, linh thiêng coi ta báo hận!
Đồng thời, nàng vung tay một cái. Ngọn phi tiêu vụt bay như làn khói đen cắm phập vào tim Tiêu chân nhân, ngập hết. Chỉ kịp kêu lên một tiếng “trời ơi!”, Tiêu chân nhân té ngửa ra mặt đất, rời tay đao quằn quại, rên xiết...
Trận đấu giữa Âu Dương Bích Nữ và Từ Thúy Nhi cũng mau lẹ vô cùng. Cô gái Thiếu Lâm tự vốn đã ghét sẵn Từ Thúy Nhi từ đêm dâm lại hôm qua, nên khi hai bên mới giáp chiến, nàng hoa cây thiết phiến đánh tận lực. Nữ yêu đạo múa kiếm đỡ được ba đòn trối cả tay, toàn thân rung lên, lùi lại mấy bước.
Âu Dương Bích Nữ rượt theo :
- Yêu nữ, chạy đâu cho thoát!
Nàng vung cây thiết phiến, các đầu nhọn xòe ra tiện đứt cuống họng Từ Thúy Nhi như lưỡi cưa vậy. Lộn nhào đập đầu xuống đất, dâm nữ quằn quại một cái rồi duỗi thẳng, hồn lìa khỏi xác.
Lam Y lấy chân gạt thây Tiêu chân nhân thấy y đã tắt thở bèn cúi xuống rút mũi tiêu trong ngực ra, cắt vạt áo xác chết gói kỹ lại dắt vào đai lưng.
Ba hiệp khách phi thân lên tháp Cửu Trùng đánh lửa đốt đen lục sách, thấy mấy cuốn sách giáo đạo Bạch Liên và rất nhiều vàng bạc, bèn gói cả lại một bọc đem trở về miếu Hà Tiên Cô. Tên thủ miếu vẫn nằm tròn như con heo.
Chu Đức Kiệt rút giẻ ở trong miệng y ra :
- Tiền bạc của khách thập phương mi giấu đâu?
Mao Toán rên rỉ :
- Con để... trong rương... trong... phòng xếp kia.
Chu Đức Kiệt vào bê ra một rương đầy. Ba người xúm lại đếm.
Lam Y hỏi Mao Toán, lấy giấy và nghiên bút thảo lá thư nhỏ.
“Gởi Quan bản trấn.
Làm quan có bổn phận an dân mà để bọn yêu đạo hoành hành lường gạt dân lành ngay trước mắt có thể gọi là phạm tội đồng lõa với tà yêu.
Số bạc còn để trong rương tại miếu Hà Tiên Cô tổng cộng năm nghìn hai trăm lượng.
Yêu cầu dùng ngay số bạc đó phát chẩn cho dân nghèo. Phải hành động thiệt quang minh để chuộc tội. Nếu khuất tất, hãy coi xác bọn tà đạo làm gương.
Muốn biết rõ sự thể phúc trình thượng cấp, cứ việc hỏi tên thủ miếu đồng lõa gian tà.
Lam Y nữ hiệp đề”.

Viết xong, Lam Y đưa cho Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ đọc.
Đức Kiệt lại nhét giẻ đầy miệng tên thủ miếu, buộc lá thư vào cổ y rồi xách y ra khỏi miếu.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-02-22 15:01:34casau>
Hồi 28
Giở thói dâm tà, họ Hồ manh tâm thù oán
Cứu kẻ hiền lương, Tam hiệp quyết ra tay
 
Ba hiệp khách trở về Tiên Long trấn, vào dinh quan sở tại treo Mao Toán lên cột cờ rồi về quán trọ. Trống vừa điểm canh tư.
Hôm sau, vụ ba tên gian đạo bị một vị nữ hiệp hạ sát được loan đồn khắp trấn. Mấy tên nhà bếp Nam Hương lâu đi chợ về cùng ba hoa thuật chuyện lại nghe tức cười. Nào là vị nữ hiệp ấy biết bay thật cao mới vào nổi trong tháp Cửu Trùng, nào là có người trong trấn được trông thấy ánh sáng lập lòe đêm qua như ma trơi ở trên tháp... Thật là tam sao thất bổn.
Chiều hôm ấy, trong khi gợi chuyện chủ quán, Chu Đức Kiệt được hay rằng, quan sở tại đã cho yết thị ngoài chợ, thần miếu và tại bốn cửa trấn, bố cáo cho dân nghèo kể từ ngày mai đến các nơi chỉ định trong tờ yết thị lãnh chẩn.
Chủ quán nói :
- Từ bao lâu nay, bây giờ bỗng dưng có việc phát chẩn tiền bạc cho dân nghèo, kỳ thật! Những khi hạn thủy, hạn hán dân chẳng được lấy một tiền.
* * * * *
Từ Tiên Long trấn, ba hiệp khách theo đường nhỏ ăn thông với đại lộ Thái An huyện. Phàn mẫu và vợ chồng Phàn Thế Hùng mừng rỡ thấy ba người trở lại.
Lam Y đem việc hạ sát bọn Hắc Đầu Đà kể lại một lượt, Phàn mẫu cũng nhẹ được nỗi đau đớn phần nào. Nàng đặt mũi phi tiêu oan trái lên bàn thờ Mộng Liên thắp hương khấn vái một hồi, cầu cho oan hồn kẻ bạc số được hả lòng nơi chín suối.
Mấy hôm sau, anh em Chu gia xin phép Phàn mẫu trở về Tô Châu.
Một hôm, qua Phong Giang huyện, ba người nán lại tửu lầu trước cửa huyện đường, định bụng dùng bữa trưa xong là lên đường ngay, chẳng ngờ trong khi ăn uống, thì thấy cổng huyện mở toang, bốn tên lính khiêng chiếc củi đứng gióng gỗ lớn bằng tay đặt ngay bên cạnh cổng.
Lát sau, hai tên lính khác tay cầm roi hò hét, lôi một người y phục tả tơi đầy vấy máu, tóc xõa xuống mặt, hai tay bị trói quặt lại sau lưng.
Tội nhân đó có vẻ bị đánh đau lắm, đi được vài bước lại té lăn ra mặt đất.
Hai tên lính la hét rầm rầm, hoa roi lên quật lấy quật để :
- Đồ súc sanh thông đồng với giặc, không chịu đi, còn định để chúng ông phải khiêng mày sao! Khiêng này...
Miệng chửi tay quất roi vun vút. Tội nhân hình như đã quá đau, da thịt ê ẩm không kêu ca, mặc cho chúng hành hạ. Bất nhẫn quá, Âu Dương Bích Nữ buông đũa đứng lên toan xông ra can thiệp, nhưng Lam Y kịp ngăn lại, đưa mắt nói :
- Mặc họ, xem tình hình thế nào đã.
- Tử tù thì đến hành quyết là cùng chớ gì, hành hạ bất nhân quá! Tiểu muội vẫn không ưa lối hành động cậy thế của lũ tiểu tốt ấy! Bực thật!
- Nhưng đừng để mọi người chú ý tới bọn ta.
Hai tên lính đã lôi tội nhân ra tới chỗ củi đứng, đẩy y vào đó, đóng xập cửa lại, rồi khóa chiếc khóa đồng lớn bằng ống chân. Một tên lính khác từ trong huyện đi ra quét hồ dán tờ giấy xanh lớn lên trên tấm biển ở phía trên cũi.
Khách qua đường xúm lại đứng vòng trong vòng ngoài, nhưng kỳ thay, nét mặt người nào cũng có vẻ ái ngại cho kẻ tội nhân tử tù đó.
Nguyên luật pháp thời bấy giờ, kẻ nào thông đồng với giặc cướp sau khi bị kết án, đều bị giam vào cũi đúng bảy ngày trước khi ra pháp trường, cho thiên hạ coi đó là tấm gương. Trong thời gian bảy ngày, cứ chính Ngọ, tội nhân bị đem ra cổng huyện nhốt cũi cho tới khoảng cuối giờ Thân lại nhập ngục. Lính canh phòng được tăng cường phòng khi đồng bọn giặc lẩn vào huyện thành cướp ngục.
Chu Đức Kiệt ra khỏi quán, đứng lẩn vào nơi đông người nhận xét.
Chàng đọc mấy hàng chữ trên tấm giấy xanh:
“Tên Dương Cảnh Thái, chân tú tài, huyện Phong Giang, đồng lõa với đám cường đạo Ma Vân cốc. Y đã nhận tội trạng liên lạc với bọn lục lâm trong vụ cướp huyện hồi tháng mười năm ngoái.
Phủ đường đã phê chuẩn hành quyết lệnh.
Nhân dân hãy trong đó làm gương”.

Qua làn tóc xõa trên mặt, Chu Đức Kiệt nhận thấy nét mặt tội nhân thanh tú, hiền lành.
Trở vào trong quán chàng đứng bên quầy hàng gợi chuyện với chủ quán :
- Gớm nhỉ! Tên họ Dương tướng người trói gà không nổi, nó làm được việc tày đình. Thế mới biết, xét người qua bề ngoài sai hết.
Chủ quán chép miệng lắc đầu, nhìn họ Chu từ đầu đến chân :
- Quý khách từ xa qua đây phải không?
- Chính phải!
- Có lẽ vì thế nên khách quan không rõ gia cảnh Dương tú tài.
- Vì y nghèo nên thông đồng với bọn lục lâm kiếm tiền xài chăng.
Một thực khách ra quầy trả tiền.
Chủ quán im lìm không dám hé môi, lát sau, nhìn Chu Đức Kiệt y chậm rãi nói :
- Xin khách quan hiểu cho. Bổn quán buôn bán ngay trước cửa huyện, kẻ ra người vào chẳng ai gian ai ngay khó, nói lắm.
Đức Kiệt mỉm cười trả tiền, cùng Lam Y, Âu Dương Bích Nữ lên ngựa đi thẳng.
Nhằm một quán vắng vẻ gần Đông Môn, ba người vào lấy phòng trọ.
Chiều hôm ấy, Đức Kiệt gợi chuyện Dương Cảnh Thái với tiểu nhị :
- Nói đến Dương hiếu tử, người huyện này ai ai cũng biết. Y bị oan khách quan ạ.
Nhưng huyện quan xử như vậy, thì biết làm thế nào :
- Lai lịch họ Dương ra sao?
- Khách quan đã hỏi, tôi cũng chẳng dám tiếc...
* * * * *
Dương Cảnh Thái nhà ở Nam Ngư lộ, mồ côi cha từ nhỏ và chí hiếu với mẹ. Nhờ gia cảnh khá giả nên họ Dương theo nghề đèn sách năm xe, bảy gánh thuộc lòng.
Dương mẫu có Cảnh Thái là con một, nên năm con trai mới mười tám tuổi đã cưới nàng dâu, người cùng huyện là Kỳ Tố Loan, nhưng mong mau có cháu bế. Tố Loan là con nhà buôn bán, có sắc đẹp hiền dịu thùy mị, hầu như mẹ chồng rất đỗi nết na, người đồng huyện ai ai cũng quí mến. Cưới dâu được hai năm, Dương mẫu mất vì bệnh già.
Từ đó, cặp vợ chồng trẻ ở một mình tại nhà, tình chăn gối thiệt mặn nồng không hề xảy ra chuyện gì xích mích. Vì muộn con, nên Kỳ thị không mượn người làm công e tốn ải, mình nàng cáng đáng hết mọi việc trong nhà. Bà con lối xóm đều có lòng quý mến và khen Cảnh Thái ở hiền gặp lành nên mới có nội trợ nết na như Tố Loan. Vợ chồng Kỳ ông cũng thường sang thăm rể và con gái.
Dương Cảnh Thái chuyên việc đèn sách thi đậu Tú tài, nhưng từ đó cũng không tiến xa hơn được nữa, có lẽ tại vận thanh vân chưa tới hay vì không biết đường lo lót nên công danh lận đận nhiều lần.
Kỳ Tố Loan không lấy thế làm buồn, thường khuyên nhủ chồng :
- Học tài thi phận, hội rồng mây cũng còn do nơi thiên số, chàng chẳng nên lấy thế làm buồn, đường công danh hữu chí cánh thành, có công mài sắt tất có ngày nên kim, gia cảnh đủ ăn, chàng đừng lo mà hao tổn tinh thần thêm hại đường kinh sử.
Thấy vợ nết na hiếu thuận, Cảnh Thái chiều chuộng thương quý vô cùng và cũng khuyên giải vợ đừng lo nỗi muộn con.
Năm Cảnh Thái hai mươi lăm, có người biểu huynh họ xa là Hồ Tích Thiện từ Phước Kiến tới ở đậu. Họ Hồ nói là đi buôn bị cường đạo bóc lột hết nên tới Phong Giang huyện ở nhờ Dương Cảnh Thái, chừng nào có cơ sở sanh nhai sẽ đền ơn và ở riêng. Thêm một người nữa chẳng qua chỉ thêm chén thêm đũa, tốn ải chẳng là bao, Kỳ thị trái lại rất mừng rỡ vì chồng có bạn tối ngày đàm luận đỡ buồn.
Tới Phong Giang huyện chưa được bao lâu, nhờ tài khéo nói, luồn lọt giỏi nên Hồ Tích Thiện quen biết nhiều người, nhất là giới đề lại trong huyện đường. Suốt ngày, Tích Thiện theo họ lúc rong chơi khi chè chén thường để cơm đợi canh chỉ tối mới lần về nhà ngủ, mai sớm lại biến mất. Vợ chồng họ Dương cũng mặc y để giữ nguyên tình hòa hảo người nhà.
Hơn một năm sau, nhờ khéo luồn lọt, Hồ Tích Thiện chạy được chân nha lại trong huyện và được quan huyện là Liễu Thoại Tân trọng dụng. Từ đó, Hồ Tích Thiện thường đi luôn hai, ba ngày mới về nhà một lần, lần nào cũng say khướt, nhiều khi nôn ộc đầy nhà khiến Kỳ thị phải dọn dẹp.
Thấy chồng không nói, Kỳ thị cũng đành nhịn không hé nửa lời.
Cực chẳng đã, một hôm Dương Cảnh Thái bảo Tích Thiện :
- Biểu huynh đi chơi đêm về trễ luôn luôn, cửa nhà trống hoắt! Xảy ra việc trộm cướp thì sao?
Tích Thiện ba hoa :
- Có ta ở đây còn đạo chích nào dám bén mảng tới mà lo? Nếu chú mày muốn ta đi nơi khác thì thủng thẳng ta sẽ đi. Không cần nhiều lời.
- Từ khi huyện này bị cướp, tôi thấy lo ngại mới nói vậy, còn thì mặc ý biểu huynh.
Hồ Tích Thiện cười xằng sặc :
- Chú mày định nói tới bọn Ma Vân cốc hả? Bắt được một tên trong bọn rồi và sẽ bắt thêm nữa. Chúng phải có tay trong mới đột nhập nổi huyện đường này, đương nhiên vào sao nổi! Ta sẽ bắt cả bọn cho mà coi.
Thấy Tích Thiện ngang bướng như vậy, Cảnh Thái mặc không nói nữa. Nhưng cơ sự đã xảy ra tai hại hơn mà Dương Cảnh Thái không ngờ tới. Trong thời gian sau này, những khi họ Dương vắng nhà, Hồ Tích Thiện thường lả lướt thả lời trêu chọc Kỳ Tố Loan. Kỳ thị giận lắm mắng y nhiều lần.
Họ Hồ không lấy thế làm xấu, nhăn nhở :
- Nàng tưởng làm vợ tú tài hãnh diện lắm sao? Như ta đây ra vào nơi huyện đường trên yêu dưới kính, muốn gì được lấy, nàng hãy chịu khó nghe lời, ta chẳng phải con người không biết yêu thương tiếc ngọc đâu! Vả lại, Cảnh Thái biết sao được mà lo? Mất mát gì cho cam.
Kỳ thị giận quá, không ngờ tên họ Hồ lại cẩu trệ đến nước ấy. Nàng vào phòng gài cửa lại.
Từ đó, tuy chẳng dám nói sự thật với chồng e xảy ra sự không hay giữa hai anh em, nhưng Kỳ thị khuyên chồng đuổi Tích Thiện nơi khác. Thấy Tích Thiện trơ tráo vô liêm sỉ, Cảnh Thái nể vợ nhận lời nói, thiệt ra chàng không muốn so lời với họ Hồ nữa.
Một hôm, Cảnh Thái đi sang huyện bên đòi tiền, vắng nhà mấy hôm. Trái với thường lệ, Hồ Tích Thiện bất chợt về nhà thấy vắng tanh cửa phòng họ Dương đóng chặt, bèn leo lên giường nhà ngoài nằm ngủ.
Vừa đặt mình xuống, y bỗng nghe thấy tiếng bì bõm vã nước trong phòng... Mỉm cười tinh quái, Tích Thiện nhón nhén đi vòng ra lối sau ghé mắt nhìn qua khe cửa sổ... Chao ôi! Y run bắn người lên, trợn mắt nhìn kỹ. Cái cảnh mà y đang co diễm phước thấy diễn ra ở bên trong thiệt là hãn hữu... Người đâu mà trong ngọc trắng ngà! Kỳ Tố Loan ngồi trong bồn nước lớn đang tắm. Nàng vô tình vớt nước lên khắp người, chà sát nào cổ, nào ngực, bộ ngực nở nang tròn tĩnh biết nhường nào. Tắm xong, nàng đứng thẳng người lên vuốt nước, lau khô...
Tích Thiện rung lật bật, nuốt nước miếng ừng ực, lóe mắt, ngây ngất như được lạc vào động Thiên thai ngắm trộm Tiên nữ khỏa thân nước giao trì.
Như có linh tính báo có kẻ nhòm ngó, Tố Loan vội trùm khăn che người, chạy vào giường hạ màn che xuống...
Sợ lộ hình tích, Tích Thiện cũng vội trở ra ngoài, bước nhẹ lên giường kéo mền giả đắp ngủ say.
Mở cửa bước ra khỏi phòng, Kỳ Tố Loan giật mình khi thấy họ Hồ nằm ngủ. Nàng nghi ngờ, hiểu một đôi phần...
Tới chiều, Hồ Tích Thiện vùng dậy, thản nhiên :
- Dương biểu đệ đi đâu không có nhà?
Tố Loan lẳng lặng xuống bếp.
Tích Thiện nhăn nhở cũng khoác áo bỏ đi nốt. Kỳ thị vuốt ngực thở phào, nhẹ nhõm. Nàng tự giận đã để chồng đi xa và không biết nói thực với chồng! Biết tính sao đây! Suy tính giây lát, Kỳ thị thu xếp tiền bạc áo quần gói vào một bọc, khóa trước, khóa sau bỏ nhà sang tạm ở với cha mẹ đẻ, chờ Dương Cảnh Thái về sẽ hay.
Tối hôm ấy, Hồ Tích Thiện lần về nhà với ý định nhất quyết ép liễu nài hoa cho thỏa lòng khao khát bất lâu nay. Chẳng ngờ, khi về tới nhà, thấy cửa đóng khóa ngoài. Tích Thiện nổi giận đùng đùng lấy dao cạy tung khóa đồng ra, đi thẳng vào nhà chờ đến lúc trời tối hẳn. Chắc chắn là Kỳ thị sợ mình, lánh sang nhà cha mẹ, chờ chồng mới trở về nhà. Tích Thiện tức bực không biết làm thế nào cho nhẹ bớt lòng dục bùng cháy từ lúc nhìn trộm thấy Tố Loan khỏa thân tắm trong phòng, y bèn rẽ sang xóm ca nhu vũ nữ. Tuy vậy, lòng ham muốn chiếm đoạt thể xác Tố Loan vẫn như nung nấu trong lòng tên Tích Thiện mà bất thiện ấy. Y coi Dương Cảnh Thái như là chướng ngại vật ngăn đôi y và Dương Kỳ thị.
Mấy hôm sau, Dương Cảnh Thái về nhà thấy khóa bị bẻ tung, cánh cửa he hé thì giật mình chạy vội vào nhà. Cửa phòng khóa cửa sau cũng vậy, Cảnh Thái đoán có việc gì trong lúc mình vắng nhà nên Kỳ thị mới bỏ nhà đi.
Chàng liều sửa lại cửa, khóa như trước rồi sang thẳng nhạc gia.
Gặp vợ, họ Dương mừng rỡ, nói giỡn :
- Tôi tưởng hiền thê bỏ đi nơi khác rồi.
- Phu quân còn giỡn sao? Nếu thiếp không lanh trí, có lẽ giờ đây vợ chồng chẳng còn nhìn thấy nhau.
Kỳ thị liền đem việc lúc đang tắm thì Hồ Tích Thiện trở về, và nàng có cảm tưởng y đã nhìn trộm qua khe cửa sổ sau nhà.
- A, thảo nào mà khóa ngoài bị bẻ gãy, cánh cửa hé mở. Chắc tên súc sanh trở lại nhà tối hôm đó với ý định bất hảo. Được! Đã vậy tôi sẽ cho nó một bài học giáo dục.
Kỳ thị âu yếm nhìn chồng.
- Từ trước phu quân không nói nó, nay mắng chửi y làm chi cho thêm thù hận.
- Chúng ta ở nhà vắng vẻ có lẽ không tiện, chi bằng hãy ở nhà bên nhạc gia ít lâu, mặc cho tên Tích Thiện ngán bỏ đi, lúc đó ta sẽ về.
Dương Cảnh Thái nói :
- Có tôi ở nhà, thẳng cẩu trệ ấy chẳng dám giở trò, ngoài ra còn có luật pháp công minh chớ, hiền thê e sợ gì nó.
- Phu quân chính nhân quân tử. Tích Thiện bẩm tánh tiểu nhân, thiếp chỉ e nó hại người sau lưng thôi. Chi bằng cứ lánh tạm ở đây là hơn cả.
Dương Cảnh Thái nhất định không nghe. Cực chẳng đã Kỳ thị cũng đành chiều ý. Luôn mười hôm sau, không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra cả. Hồ Tích Thiện cũng biệt dạng.
Vợ chồng họ Dương đã có ý mừng. Cảnh Thái bảo vợ :
- Hiền thê coi tôi nói có trúng không? Nghe mọi người bàn tán từ lâu, hình như Tích Thiện có nhà riêng. Bây giờ mới vỡ lẽ là y còn ở lại đây là vì mê luyến hiền thê. Thiệt không ngờ! Để coi y còn để y phục ở đây không.
Dương Cảnh Thái mở chiếc rương kê gần giường Tích Thiện ra xem :
- A, Tích Thiện đem hết quần áo đi rồi. Càng hay để mang tiếng ác phải đuổi đi.
Kỳ Tố Loan mừng lắm. Nhưng phước bất trùng lai, họa vô đơn chí.
Một buổi sáng sớm kia, vợ chồng Dương Cảnh Thái còn đang mơ màng ngon giấc thì bỗng có tiếng đập cửa rầm rầm. Giựt mình, cả hai cùng trỗi dậy ngơ ngác nhìn nhau chưa đoán ra được việc gì, thì tiếng đập cửa lại vang lên.
- Dương Cảnh Thái có nhà không?
Nghe gọi đích danh, Cảnh Thái vội vàng chạy ra khỏi phòng, hỏi vọng ra ngoài :
- Ai đó, sáng sớm tinh sương, hỏi chuyện chi vậy.
Tiếng người quát lớn :
- Lệnh huyện quan sai tới, mở cửa mau không ta phá bây giờ.
Tự nghĩ mình tâm địa thẳng thắn, không hề làm điều chi phi pháp, mở cửa chớ lo chi. Nghĩ đoạn, Cảnh Thái kéo then chưa mở kịp, thì hai cánh cửa đã bị đẩy tung ra. Bọn nha dịch gươm đao tuốt trần xông thẳng vào nhà, vây tròn lấy Cảnh Thái. Viên chỉ huy xuất trình giấy tống đạt cho họ Dương coi. Cho hai tên nha dịch đứng kèm bên Cảnh Thái rồi tự mình dẫn đồng bọn bắt đầu khám xét trong nhà.
Kỳ thị sợ hãi chạy vội ra nói :
- Nhà tôi làm ăn lương thiện xưa nay, người huyện Phong Giang này ai ai cũng biết, sao lại có sự ức hiếp như thế này.
Viên chỉ huy nạt lớn :
- Tội ai làm kẻ ấy chịu. Phận đàn bà biết điều câm miệng, kẻo vạ lây đó.
Ức quá, Kỳ thị ôm mặt khóc rưng rức. Bọn nha lại khám khắp trong phòng, ngoài nhà không thấy gì bèn kéo nhau ra sân sau xuống bếp ra vườn. Hồi lâu, chúng cầm một bọc hai chục đĩnh bạc bê bết đất, bảo Cảnh Thái :
- Bạc này lấy ở đâu ra nhiều như vậy? Phải chẳng là phần của nhà ngươi được bọn cướp ba nhà họ Thường, Lý, Trần chia cho, nên chôn giấu dưới gốc cây mộc lan ngoài vườn kia.
Vợ chồng Dương Cảnh Thái ức quá, không biết nói sao thì viên chỉ huy đã hô nha dịch trói Cảnh Thái điệu đi. Kỳ thị xông ra níu chặt lấy chồng khóc ầm ĩ, bọn nha dịch gạt trở lại.
Viên chỉ huy nói :
- Nàng khôn hồn hãy tạm lánh sang nhà cha mẹ kẻo Cảnh Thái nhận tội, nhà cửa sẽ bị niêm phong đó nghe? Sẽ có ân nhân gỡ tội cho.
Nói đoạn, y theo bọn nha dịch điều họ Dương về huyện.
Người lối xóm thấy động đứng vòng trong vòng ngoài xem, ai nấy đều ái ngại thay cho vợ chồng họ Dương oan uổng.
Kỳ thị khóc sướt mướt chưa hiểu xử sự ra sao, ông già họ Triệu và người phước hậu bước tới khuyên nàng vào nhà chờ xem quan trên xét xử ra sao chớ đứng mãi ngoài đường khóc lóc cũng chẳng ích gì. Kỳ thị nghe lời vào trong nhà, Nhân dịp vắng vẻ, Triệu lão nói nhỏ :
- Trong vụ này tất có kẻ âm mưu hãm hại, nhân dịp chúng vô tình lỏng tay, thái thái mau lẹ thu xếp tiền bạc áo quần lén sang nhà lão tạm lánh ít ngày xem sao. Nếu chạy sang nhà lệnh phụ, lỡ chúng biết âm mưu kết tội đồng lõa thì khốn. Lão sẽ đảm nhiệm việc thông báo cho Kỳ lão ông biết việc này, thái thái an tâm.
Kỳ thị nghe phải, tức khắc thu xếp lẻn lối sau đi vòng ra đầu xóm đến nhà Triệu lão. Một mặt, Triệu bà chờ sáng rõ sang báo tin cho Kỳ Thúc Đạo, thân sanh Kỳ thị biết rõ tự sự.
Nói về quan huyện sở tại là Liễu Thoại Tân trị nhậm Phong Giang được trên hai năm, tánh tình khắc nghiệt chuyên dùng bạo pháp tra án nên nhiều người hàm oan. Đã hồ đồ lại ưa lệnh, gặp Hồ Tích Thiện mồm mép bẻo lẻo, Liễu tri huyện lấy làm ưng ý cất nhắc cho từ chân nha dịch lên chức tư văn. Tích Thiện nói sao, huyện quan đều lọt tai hết.
Từ khi xảy ra vụ cướp lớn hồi cuối năm ngoái, nha dịch bắt được tên côn đồ họ Lỗ tên Đắc biệt hiệu Hắc Ma Vương, tình nghi dính líu trong vụ cướp. Điều tra nhiều lần, Lỗ Đắc bướng bỉnh không khai nhận chi hết, nên huyện quan vẫn cho hạ ngục y chờ bắt thêm được đồng đảng sẽ tiếp tục tra xét sau. Liễu Thoại Tân thấy Hồ Tích Thiện lanh lẹ bèn trao cho đặc vụ bí mật điều tra nội, ngoại huyện xem may ra bắt thêm được nhân chứng nào đưa vụ cướp lớn đó ra ánh sáng. Họ Hồ nham hiểm liền tính kế đưa Dương Cảnh Thái vào vòng lao lung để chiếm đoạt Kỳ Tố Loan.
Từ hôm nhìn trộm Tố Loan tắm, Hồ Tích Thiện lòng càng thêm nung nấu những muốn đoạt ngay người đẹp cho thỏa lòng dục vọng. Y bèn nghĩ ra một kế cực kỳ bất nhân, kế mà chỉ những loài nhân diện thú tâm như y mới làm nổi.
Tích Thiện liền vào trong ngục thăm Hắc Ma Vương Lỗ Đắc gông đứng bên cửa sắt, lắc đầu cười lạt :
- Vô ích! Ta không khai đâu. Đừng mất công.
Hồ Tích Thiện ôn tồn :
- Ta vào đây không phải để điều tra, nhưng để tính một việc có lợi cho ngươi và lẽ cố nhiên lợi cho cả ta, còn nghe hay không mặc ngươi.
Nghi ngờ, Lỗ Đắc nheo mắt nhìn họ Hồ hồi lâu :
- Được! Nói thử xem nghe có trôi không...
Hạ giọng, Tích Thiện mở hẳn cửa bước vào trong ngục bảo :
- Tuy ngươi không khai gì hết trong vụ cướp lớn này, nhưng bao lâu nay vẫn bị hạ ngục như thường chưa biết bao giờ mới được thả. Nay quan huyện đặc cách cho ta điều tra án tích hồ sơ đều ở trong tay ta giữ nên muốn thương lượng với ngươi một điều...
Lỗ Đắc cả cười :
- Tiền bạc hả, Hắc Ma Vương này vô gia đình lang thang nay đó, mai kia, làm gì có tiền bạc mà lo lót.
Tích Thiện lắc đầu :
- Ngươi đoán sai rồi. Ta không cần tiền bạc, nhưng ta có một kẻ thù...
Ngừng nói, Tích Thiện nhìn thẳng vào mặt Lỗ Đắc nhận xét. Hồi lâu nói tiếp :
- ... Ngươi sẽ khai là đêm hôm cướp, ngươi bất chợt đi đâu qua đó bắt gặp... kẻ thù của ta tuy bịt mặt nhưng ngươi nhận ra dáng người và giọng nói của y đang nói chuyện, chỉ nhà ba họ Thường, Lý, Trần cho bọn giặc mà ngươi nghi ngờ là bọn Ma Vân cốc. Kẻ thù của ta sẽ thế chân ngươi trong vụ này. Do đó, ngươi sẽ vô can và ta sẽ lo cho ngươi thoát khỏi vòng lao lung này sớm ngày nào hay ngày ấy. Một khi thoát khỏi nơi đây, ngươi chỉ có việc đào tẩu ngay đi phương khác là êm chuyện, cần tiền bạc ăn đường, ta sẽ đài thọ.
Hắc Ma Vương dịu nét mặt suy nghĩ :
- Nói vậy nghe được lắm! Kẻ vô phước đó là ai?
Tích Thiện ghé tai Lỗ Đắc nói nhỏ.
Hắc Ma Vương cười khẩy :
- Tưởng ai chớ con người ấy thì huyện quan nào khờ dại nghe lời lấy cung.
- Việc đó mặc ta, miễn rằng ngươi nhận lời là đủ.
Lỗ Đắc suy nghĩ hồi lâu :
- Kể ra thì táng tận lương tâm đấy, nhưng trong đời đầy rẫy sự bất công chớ riêng gì vụ này! Nằm ngục tối bấy nhiêu lâu có ai đoái tưởng tới Lỗ Đắc này không!... Được, tôi nhận lời, nếu không giữ lời hứa thì chớ trách Hắc Ma Vương này nhé.
Hồ Tích Thiện mỉm cười gật đầu, lấy trong áo ra một gói bánh bao đưa cho Lỗ Đắc :
- Đây, ăn đi! Đừng quên nghe.
Hai hôm sau, Dương Cảnh Thái bị bắt. Tội nhân vừa bị giải tới, Liễu tri huyện tức khắc cho khai trống đăng đường. Nha dịch đứng giàn hai bên răm rắp.
Viên lục sự ngồi kế bên huyện quan. Trong góc công đường, tư văn viên Hồ Tích Thiện ngồi bên chiếc bàn chồng chất hồ sơ. Viên lục sự truyền dẫn tội nhân vào. Hai nha dịch đi kèm hai bên tả hữu, Cảnh Thái tay bị trói giựt cánh khuỷu, bước vào quỳ trước án đường.
Liễu tri huyện hỏi lớn :
- Ngươi có phải là Dương Cảnh Thái không?
Họ Dương cúi đầu dõng dạc thưa :
- Da, vãn sanh phạm tội gì mà đại quan cho bắt tới đây.
- Phạm tội gì ngươi tự hiểu. Hãy nghe lục sự viên đọc trạng.
Lục sự đứng vậy đọc bản cáo trạng, đại khái nói Dương Cảnh Thái tư thông với lục lâm Ma Vân cốc, hồi cuối năm ngoái làm chỉ điểm viên cho giặc cướp phá ba họ Thường, Lý, Trần lấy của giết người. Chẳng ngờ trong khi hành động có tên côn đồ Lỗ Đắc đi đêm bắt gặp. Lỗ Đắc bị giam lâu ngày, không chịu nổi cực hình nên phải khai sự thật, nha dịch được lệnh đến khám nhà Dương Cảnh Thái là kẻ bị tình nghi, bắt được số bạc hai chục đỉnh chôn giấu dưới gốc cây mộc loan ngoài vườn. Bởi vậy, bị can bị truy tố về tội thông đồng với giặc.
Nghe viên lục sự đọc bản công tố tội trạng, Cảnh Thái lạnh toát cả người, nhìn vào trong thấy Hồ Tích Thiện nghiêm chỉnh ngồi trước đống hồ sơ, lặng lẽ nhìn mình như kẻ không quen biết bao giờ. Chàng thấy hối hận đã không nghe lời vợ tạm lánh đi nơi khác ít lâu để đến nỗi bị tai bay vạ gió.
Liễu tri huyện cất tiếng hỏi khiến chàng giật mình :
- Họ Dương nghe rõ tội trạng chưa.
Cảnh Thái ảo não thưa :
- Bẩm đại quan, vãn sanh là người sanh trưởng tại huyện nhà, ai ai cũng biết, ngày ngày chỉ biết dùi mài kinh sử, đọc sách thánh hiền, tuyệt nhiên không bao giờ phiếm đức chớ đứng nói tới việc liên lạc với tên giặc Ma Vân cốc. Vụ này quả là oan ức, cúi mong đại quang minh xét.
Đập bàn ầm ầm, Liễu tri huyện quát.
- Được ngươi chối tội! Nhưng việc tìm thấy hai mươi đĩnh bạc chôn trong vườn sau nhà, ngươi trả lời ra sao?
- Dạ, chắc có kẻ hãm hại vãn sanh nên chôn bạc đó sau nhà.
- Ủa! Ngươi đi vắng thì đã có vợ ở nhà, ai vào đó chôn nổi số bạc ấy được. Tên này cứng đầu cổ, tội trạng đã rành rành còn lẻo mép chối tội. Dùng biện pháp ôn tồn thì ngươi không bao giờ cung khai! Quân đâu! Nện cho nó hai chục hèo, mau!
Nha dịch dạ rân, nọc Dương Cảnh Thái ra mặt sàn gạch, đánh đủ hai mươi hèo tre. Chưa bao giờ bị lâm vào cảnh này, hai mông bị đòn chảy máu dầm ra đầy quần, Cảnh Thái trước còn kêu la, sau ngất lịm.
Huyện qua sai đổ nước lên mặt họ Dương cho tỉnh dậy.
Dân trong huyện được vào xem đứng quanh sân, ai cũng thương sau ái ngại thay cho Cảnh Thái mà không biết làm thế nào can thiệp được, sợ vạ lây. Dạn dĩ có người thấy họ Dương đau đớn kêu la quá phát sợ ngất hẳn trên sân. Cảnh Thái lần lần tỉnh dậy. Hai tên nha dịch đỡ cho quỳ như trước.
Liễu tri huyện quát :
- Cảnh Thái! Ngươi có nhận tội không?
- Bẩm đại quan, quá oan ức cho vãn sanh.
- Được, ta cho ngươi gặp ngươi đã trông thấy ngươi đêm cướp nhé!... Tả hữu, điệu cổ thằng Lỗ Đắc lên đây! Mau.
Lát sau, một tên vai u thịt bắp, mặt đen bóng, râu tóc lởm chởm đeo xích sắt theo lính đi ra quỳ trước sân, cách họ Dương chừng vài thước.
Lạy chào quan huyện xong, Lỗ Đắc nhìn Dương Cảnh Thái nói :
- Dương tú tài! Đáng lẽ tôi không khai sự thật là cố ý giấu diếm hộ, nhưng tôi vô tội mà bị giam cầm điều tra lâu quá nên đành phải phụ ông còn hơn là để người phụ tôi, tú tài đừng trách tôi nhé.
Nghe Lỗ Đắc vô cớ đổ tội cho mình, Cảnh Thái ức quá :
- Lỗ Đắc, ngươi có thù gì với ta mà nỡ tâm hại ta như vậy. Có nói có, không nói không, lương tâm dạy ngươi hại kẻ hiền lương sao.
Lỗ Đắc nheo mắt, nhăn nhở :
- Thôi đi, tú tài ơi! Đêm hôm đó rõ ràng đại ca chỉ đường cho Ma Vân cốc cùng đồng bọn cướp ba nhà Thường, Lý, Trần. Y gọi tên đại ca và đưa cho đại ca bao bạc lớn và nói thêm: “Lần sau sẽ cho nhiều hơn, bây giờ hãy tạm nhận hai mươi đĩnh bạc”. Đại ca nhận bạc xong đi về, thì Ma Vân cốc mới bắt đầu cùng đồng bọn đánh phá tài gia. Đại ca còn muốn nói chuyện lương tâm à! Hà.. Hà... Lỗ Đắc này bị điều tra cực hình hạ ngục tối trong bao lâu nay chì vì tình nghi đã dần đường chỉ lối cho Ma Vân cốc, có thấy mặt đại ca đến thăm hay nuôi bữa nào không. Hay là đại ca yên trí đã có đứa chịu tội thay, ở nhà hưởng tiền bạc lãnh thưởng, hú hí với vợ đẹp thâu canh...
Nghe tới đây, Liễu tri huyện hỏi :
- Nhân chứng rõ ràng tang vật hai mươi đĩnh bạc hẳn hoi, Cảnh Thái có nhận tội không.
Họ Dương lắc đầu một mực kêu oan.
- A! Tên này ghê gớm thật, không dùng cực hình không được! Quân bây! Tấn mau.
Thế là bọn nha dịch như hùm beo bắt được mồi ngon, xúm lại, kẻ cùm, người kẹp, Cảnh Thái sức vóc học trò chịu sao nổi thảm hình, ngấy đi ngất lại mấy lần. Về sau, chịu không nổi cực hình đành nhắm mắt nhận liều.
- Được, tôi nhận tội, đưa tờ cung khai đây tôi ký.
Viên lục sự lấy ra một bổn cung tội biên sẵn cầm tới đưa tận nơi đưa nghiên bút cho họ Dương ký.
Mồ hôi nhễ nhại, máu chảy đầy mình, áo quần tả tơi, Cảnh Thái mờ cả mắt, cầm bút ký liều. Hồ Tích Thiện nhìn Cảnh Thái ra chiều đắc ý.
Tin Dương tú tài bị bắt về tội thông đồng với Ma Vân cốc và bị cực hình truyền đi khắp Phong Giang huyện, Ai cũng thương xót vợ chồng họ Dương và nhất quyết là người ấy bị oan, nhưng chẳng hiểu tại sao Cảnh Thái lại liều lĩnh nhận tội như vậy. Ngay đến ba gia tài họ Thường, Lý, Trần cũng không tin Dương Cảnh Thái thông đồng với Ma Vân cốc cướp phá nhà họ. Việc Lỗ Đắc cung khai cho Cảnh Thái càng khiến họ ngạc nhiên hơn nữa.
Kỳ Thúc Đạo được Triệu lão cho hay tin nên yên lòng về phần con gái mình. Một mặt, Kỳ ông lo liệu gửi thuốc men, áo quần và thức ăn cho con rể. Nhưng Hồ Tích Thiện đã chuẩn bị không cho phép bất cứ một ai được liên lạc với Dương Cảnh Thái.
Bọn cai ngục nể nang Kỳ ông, phần thương xót Cảnh Thái, nên cũng lén lút đem thuốc và thức ăn cho họ Dương.
Ngay chiều hôm ấy, Hồ Tích Thiện về nhà cố ý gặp Kỳ Tố Loan nhưng thấy nàng đã bỏ nhà đi đâu mất. Hỏi thăm mấy nhà lân cận, không một ai biết Kỳ thị đi đâu cả, giá có biết họ cũng chẳng nói. Tích Thiện buồn rầu cho người dò xét khắp mọi nơi. Hai ngày sau, không được tin gì về Kỳ thị, họ Hồ bèn nói với huyện quan niêm phong nhà họ Dương lại. Một mặt, y làm tờ phúc trình đưa Liễu tri huyện ký gởi lên Thiên Bình xin chuẩn y vụ án Dương Cảnh Thái can tội thông đồng với cướp.
Thấy vụ án này đã kéo dài mất nhiều thì giờ, phủ quan phê chuẩn ngay sự chấp thuận án tử tình họ Dương và cho thi hành ngay theo đúng phong tục.
Dương Cảnh Thái vốn sức học trò yếu đuối, bị ốm liên miên sau đòn tra tấn khắc độc ấy. Chàng đau đớn cả thể xác lẫn tâm hồn không hiểu trong khi chính mình mắc chốn lao lung, người vợ hiền ở nhà có bị kẻ manh tâm đàn áp làm nhơ nhuốc đời nàng không? Từ huyện nha về nhà cũng chẳng mấy đỗi đường, nhưng lúc này chàng cảm thấy như cả bức trường thành vạn lý ngăn đôi hẳn chàng và Tố Loan, người vợ dịu hiền can đảm.
Thông đồng với giặc! Tội xử trảm! Tội đã nhận, khẩu cung đã ký, cái ngày máu chảy đầu rơi chắc cũng chẳng còn xa! Rồi đây đôi ngã âm dương, ôi đau đớn cho vợ chồng chàng biết là ngần nào.
Về phần Kỳ Tố Loan, nàng suốt ngày nằm trong phòng, lăn lộn đầu tóc rối bời, khóc hết nước mắt. Nàng đã đoán ra kẻ gây cơn bão táp phong ba cho gia đình nàng đang êm ấm mặn nồng. Nếu chẳng may Cảnh Thái có mệnh hệ nào, nàng quyết sẽ trả thù và tự sát để được cùng chồng chắp mối duyên xưa... Nàng không đau đớn nữa, can đảm chờ định mệnh. Theo dõi tình hình bên ngoài, Kỳ thị phì cười chua chát. Nàng có ngờ đâu Cảnh Thái đã nuôi ong tay áo.
Một tên họ xa khố rách áo ôn từ đâu đến xin nương nhờ. Nuôi ăn, nuôi mặc, cho tiền. Thế rồi tên Tích Thiện vô lại ấy bỗng dưng trở thành tư văn viên của huyện quan, tác oai tác ác, vênh vang lên mặt luật gia, ưa ai vo tròn thù ai bóp bẹp, lấy đồng tiền làm lào, sống chết mặc bọn dân hèn ngu xuẩn cổ ra mà chịu.
Những ai chẳng may phải tới nơi công đường thấy Tích Thiện áo quần bảnh bao đi qua, đi lại hoặc nghiêm chỉnh ngồi trước án thư đầy công tư văn, thì tưởng ngay y là thánh thần, lời nói có mực thước suy tính đắn đo trước khi hạ cây viết, chớ biết đâu dưới chiếc áo thụng rộng tay ấy ẩn một con người trác táng đầy tội lỗi vắt ra rượu, bóp ra khói... Con người tội lỗi và vô liêm sỉ ấy hiện đang làm tan nát gia đình êm ấm của nàng.
* * * * *
Nghe tiểu nhị kể sơ lược về gia cảnh họ Dương, Tam hiệp Chu gia trở về phòng nghỉ ngơi.
Chu Đức Kiệt bảo Lam Y và Âu Dương Bích Nữ ở nhà để chàng hỏi thăm sang nhà Kỳ Thúc đạo, hỏi rõ lại xem thực hư thế nào.
Quá giờ Thân, chàng trở về rủ Lam Y, Âu Dương Bích Nữ đai nịt gọn gàng lên thẳng huyện môn.
- Nhị vị hiền muội chờ đây xem động tĩnh thế nào, ngu huynh tự kỷ vào ra mắt huyện quan. Nếu thấy có bạo động, cứ việc phá cũi đem Dương Cảnh Thái ra khỏi huyện và chờ ngu huynh ở hướng chính tây. Sau đó sẽ hay.
Dứt lời chàng rẽ đám đông người tiến thẳng vào cổng huyện.
Bọn quan quân canh phòng liền ngăn lại.
Một tên quát hỏi :
- Đây là nơi công đường nghiêm cấm, ngươi định đi đâu mà xông xáo vậy.
Không thèm trả lời, Đức Kiệt gạt hẳn hai tên lính sang hai bên xa tới hơn trượng, rút lẹ dù trống “Đăng văn” gõ mấy tiếng vang động, rồi phăng phăng đi thẳng vào trong huyện, bọn lính đuổi theo không kịp.
Chiều hôm ấy rảnh việc, Liễu tri huyện vừa tan hầu chưa vào tới hậu đường, kinh ngạc :
- Quái! Tên nào dám dùng trống “Đăng văn”? Ta đã tuyệt đối cấm từ lâu mà kẻ nào cả gan mạt thượng.
Liễu Thoại tân lật đật đi ra.
Nào lục sự, tư văn, nào giáo đầu, nha địch lính huyện toàn thể nhân viên huyện nha đang đứng xúm quanh một mãnh hán diện mạo khôi vĩ, y phục đen tuyền hoa bóng, chân vận hổ đầu hài, lưng gài chéo báu đao, dáng điệu hòa nhã nhưng cực kỳ hiên ngang.
Thấy huyện quan đã ra công đường, mọi người vội đứng giàn cả sang hai bên, gươm đao tuốt trần.
Tráng sĩ tiến thêm lên mấy bước vòng tay vái chào, khiến mọi người trong huyện công phẫn sao y không quỳ lạy.
Phật lòng, Liễu tri huyện nói gần như gắt :
- Nhà ngươi đánh trống “đăng văn” vi phạm luật cấm. Oan khuất điều chi? Nếu cố ý náo động công đường, tội ấy quyết không tha. Phải biết bản chức đây chí công vô tư, đèn trời soi xét, trình bày ngay nỗi oan uổng nghe.
Ném thẳng vào mắt Tri huyện luồn nhỡn quang long lanh nẩy lửa khiến Liễu Thoại Tân phải chớp mắt luôn mấy cái, Chu Đức Kiệt cười khẩy :
- Đại quan đèn trời soi xét, quyết không có sự gì oan khuất, mà từ thời trong cũi đứng ngoài cổng huyện có một người oan thấu động thiên hạ, toàn dân đất Phong giang này đều phàn nàn phẫn uất vì nỗi oan của người đó.
- Là người học rộng biết nhiều, đại quan đã thấy án lệ hoặc cổ hoặc nào nói về người con chí hiếu mà thông đồng với giặc để phạm tội bất tạng chưa? Hay một bầy tôi trung nào phạm tội bất hiếu chưa? Cho nên, vụ án hiếu tử Dương tú tài, tôi e đèn trời của đại quan soi chưa thấu.
Liễu tri huyện nổi giận đập bàn quát lớn :
- Nhà ngươi tên chi, từ đâu tới hạt này? Khua môi múa võ nói bàn luật pháp? Tên Dương Cảnh Thái thông đồng với tặc đạo Ma Vân cốc tang chứng rõ rệt, cung khai đàng hoàng. Bản chức chiếu theo luật pháp nhốt tử tội vào cũi răn đe người khác. Ngươi là hạng người nào dám vào đây mạt sát phụ mẫu chi quan? Giáo đầu và chư quan bắt tên này hạ ngục cho ta coi.
Quân, tướng dạ rân xông lại, nhưng Chu Đức Kiệt nhảy lộn qua đầu chúng ta giữa sân nhấc chiếc cùm sắt bứt xích ra làm đôi liệng xuống, trước mặt bọn giáo đầu pha dịch khiến chúng chùn cả lại :
- Liệu các ngươi có cứng rắn bằng chiếc cùm sắt này thì hãy động chơi ta nghe! Nếu ta cố ý bạo động chắc có kẻ bị bay đầu từ lâu rồi đó.
Dứt lời, chàng gườm gườm nhìn theo bọn nha lại, tiến dần vào trước án.
Mọi người sợ hãi lùi bước theo.
Liễu Thoại Tân cũng vội đẩy ghế lên toan chạy.
Chu Đức Kiệt nói lớn :
- Khoan! Chạy đi đâu cho thoát? Sơn Đông Chu Đức Kiệt này đầu đội trời, chân đạp đất, không bao giờ giết kẻ hèn yếu! Hôm nay tới đây dùng lý lẽ chỉ cốt minh oan cho Dương Cảnh Thái, mời huyện quan hãy can đảm ngồi nghe.
Thấy cách cư xử đường đường chân chánh của họ Chu, Liễu Thoại Tân cũng hơi an tâm ngồi xuống như cũ.
Chu Đức Kiệt dõng dạc cất tiếng như chuông vang :
- Giang hồ hành hiệp qua đây nhận xét thấy họ Dương quả rất oan uổng. Thấy việc nghĩa đáng làm mà bỏ qua tất không phải là kẻ trượng phu.
- Đại quan bảo rằng việc họ Dương thông đồng với giặc tang chứng rõ rệt, vậy tôi xin hỏi: “Có chứng minh được số bạc tìm thấy trong nhà họ Dương là do chính tay y hay vợ y chôn không?” Hay là có người khác chôn vào đó để gieo vạ hãm hại chánh nhân quân tử? Lời khai của tên côn đồ sanh vô gia cư, thác vô địa táng như Lỗ Đắc có đủ giá trị không? Hay là tên côn quang đó đã nghe lời kẻ khác vu cáo đưa họ Dương vào vòng tử tội! Cái quá khứ Cảnh Thái không đủ bảo đảm hơn là lời khai của tên Lỗ Đắc sao. Sức trói gà không nổi như họ Dương mà bị cực hình, liệu lời cung khai của y có xác thật không, hay là bị đau quá nên nhận liều? Dù họ Dương có thật sự thông đồng với Ma Vân cốc, trong khi chưa bắt được tên chánh phạm, đại quan căn cứ vào đâu khép Dương Cảnh Thái vào tử tội? Hành quyết họ Dương rồi, lỡ Ma Vân cốc bị bắt khai không hề liên lạc với y, liệu đại quan có thâu hồi cái án tử hình và biến hóa cho họ Dương trở về nhân thế không? Khi đó, chính đại quan là người phạm tội sát nhân, làm tan nát gia đình người hiền lương.
Tuy Liễu Thoại Tân tánh tình khắc nghiệt, tàn nhẫn, nhưng trước những lý ngay lẽ cứng ấy, không còn biết trả lời thế nào, đành dịu mặt nín thinh. Nhân viên huyện nha đờ người ra nghe, phục hào kiệt họ Chu anh hùng bặt thiệp.
Riêng có Hồ Tích Thiện, mồ hôi toát lạnh cả người, lấm lét đứng lùi lại phía sau lánh mặt.
Nhận xét thấy lời nói của mình đã có hiệu quả, Chu Đức Kiệt đổi giọng ồn tồn :
- Tuy hiện nay họ Dương đã bị ghép vào tử tội, nhưng đại quan có quyền hủy lệ bỏ cũi, giam y vào ngục như mọi tội nhân khác, đình ngay hành quyết lại, cấp tốc cho nhân viên truy tìm kỳ được Ma Vân cốc, đem về đây đối chứng, lòng ngay thẳng của họ Dương sẽ được rõ ngay. Dù bất tài, tôi cũng tình nguyện thuộc quyền điều khiển của đại quan, giúp đại quan bắt tên Ma Vân cốc đem về đây điều tra trị tội. Chẳng hay đại quan có ưng thuận không.
Liễu Thoại Tân nhận thấy mình quá đáng, chưa biết xử trí ra sao truy nã Ma Vân cốc bằng cách nào, thì Chu Đức Kiệt đã tình nguyện đi bắt giặc giúp, liền tươi cười nói rằng :
- Chu tráng sĩ đã tình nguyện đi bắt Ma Vân cốc, thì bản chức cũng ưng thuận trình lên phủ xin đình cuộc hành quyết Dương Cảnh Thái để chờ bắt được tên đạo họ Ma. Một mặt bản chức tạm tha cho họ Dương được giam như thường tội chờ kết quả hành động của Chu tráng sĩ. Việc truy tìm Ma tặc đạo, tráng sĩ phải tùy hành với bổ đầu bản nha. Chừng nào bắt được tên giặc, sẽ tra xét lần nữa, lúc đó mới định đoạt về họ Dương được. Vậy tức thì hành động ngay?
Chu Đức Kiệt gật đầu :
- Lẽ cố nhiên phải hành động ngay, tôi cũng không có nhiều thì giờ la cà tại quý huyện.
Liễu Thoại Tân gọi giáo đầu Bàng Tuấn bảo :
- Giáo đầu cùng đi với Chu tráng sĩ trong việc bắt Ma Vân cốc. Nếu có sự gì khó khăn với các địa phương khác thời giáo đầu can thiệp với tư cách là nhân viên đi công vụ của Phong Giang huyện.
- Bàng Tuấn xin tuân lệnh.
Ngay từ lúc đầu, Bàng giáo đầu đã có ý khâm phục Chu Đức Kiệt nay được cùng đi với vị hiệp khách ấy, họ Bàng lấy làm thích chí lắm.
Huyện quan sai nha dịch giải Dương Cảnh Thái vào hạ ngục như thường tội.
Chu Đức Kiệt nói :
- Tôi yêu cầu đại quan cho phép nhạc phụ Cảnh Thái là Kỳ Thúc Đạo được hàng ngày vào ngục thăm và tiếp tế các thứ cần dùng cho y. Tôi xin hoàn toàn bảo đảm nếu có sự gì bất trắc.
Liễu tri huyện ngần ngừ giây lát nhưng cũng ưng thuận, tan chầu, lui về hậu đường.
Lúc Chu Đức Kiệt cùng Bàng Tuấn đi ra cổng thì vừa gặp bộ dịch áp giải Dương Cảnh Thái trở vào.
Bàng giáo đầu bèn bảo cho họ Dương biết sự thể. Cảnh Thái hướng vào Chu Đức Kiệt vái lạy.
Họ Chu nói :
- Tú tài an tâm tĩnh dưỡng, tôi sẽ cố sức minh oan cho.
Chờ bộ dịch giải Cảnh Thái đi khỏi, Đức Kiệt bảo Bàng giáo đầu :
- Tôi còn có gia muội chờ ngoài kia, giáo đầu hãy theo tôi rồi đi đâu sẽ hay.
- Xin hiệp khách tùy tiện.
Hai người ra khỏi cổng huyện.
Lam Y và Âu Dương Bích Nữ chờ ngoài cổng huyện thấy Đức Kiệt mãi không ra, thì có ý nóng ruột xem sự thể thế nào. Vừa khi ấy bộ dịch tháo cũi giải Dương Cảnh Thái trở vào huyện, hai người biết ngay hành động của Chu Đức Kiệt đã có hiệu quả.
Dân chúng đứng xem đông đảo ngay từ lúc Chu Đức Kiệt xông vào cổng huyện đánh trông “Đăng văn”. Họ nghe ngóng tin tức cho tới khi Dương Cảnh Thái được ra khỏi cũi, thì ai nấy đều mừng cho cả nhà họ Dương gặp được vị cứu tinh. Người nọ bảo người kia, không ngờ vị hiệp khách xa lạ đó lại có năng lực khiến huyện quan có tiếng xưa nay là khắc nghiệt phải hồi tâm.
Kỳ lão ông có mặt tại chỗ, vui mừng hết sức, chờ Đức Kiệt trở ra, vội tiến tới chắp tay ân cần cảm tạ. Đức Kiệt thuật cho Kỳ ông biết việc huyện quan chấp thuận cho hàng ngày vào ngục thăm con rể.
Vốn quen biết nhau sẵn, Bàng giáo đầu cũng chúc tụng Kỳ ông có phước mới gặp được hiệp khách can thiệp vụ này. Chu Đức Kiệt giới thiệu Lam Y nữ hiệp và Âu Dương Bích Nữ với hai người.
Bàng Tuấn giật mình nói :
- Lâu nay nghe tiếng đại danh như cồn, không ngờ hôm nay Bàng mỗ lại có hân hạnh lớn được diện kiến quý vị giang hồ hiệp khách tại đây.
Vùng Phong Giang này từ hồi xảy ra vụ cướp của giết người tại ba nhà, Thường, Lý Trần dân chúng cẩn thận hàng ngày, Liễu tri huyện tuy có phái nhân viên nhiều lần điều tra, nhưng vẫn không ra manh mối, nay bỗng dưng không hiểu tại sao lại bắt Dương tú tài hạ ngục điều tra, Riêng phần tôi vẫn không tin họ Dương phạm tội thông đồng với Ma Vân cốc, duy Liễu tri huyện là một người chuyên chế rất đỗi khắc nghiệt, chúng tôi thuộc hạ chỉ biết cúi đầu nghe lệnh chớ không dám phát biểu ý kiến cản ngăn. Nay được gặp quý vị anh hùng hiệp khách can thiệp, âu đó cũng là dịp để huyện quan cần suy nghĩ nhiều cho những vụ án khác nữa sau này.
Lam Y nói mấy lời khiêm nhường.
Kỳ lão ông nói :
- Nhà lão rộng rãi, xin mời ba vị hiệp khách về tạm trú để bàn việc bắt lục lâm đạo tặc cho tiện.
Chu Đức Kiệt nói :
- Chúng tôi còn để ngựa ở tửu quán.
- Nhà lão cũng có tàu ngựa xưa nay vẫn tiếp thượng khách tải hàng hóa tới, tiện lắm. Nhân thể xin mời cả Bàng giáo đầu về nhà xơi rượu và bàn kế tính cùng quí vị anh hùng đây.
Giáo đầu nhận lời.
Đức Kiệt nói :
- Mời Kỳ lão tiên sinh về trước, anh em tôi về quán trọ lấy ngựa tới sau.
Kỳ lão vâng lời, vội vàng về nhà thông báo cho Kỳ Tố Loan hay tin lành.
Tố Loan đang âu sầu khổ sở, sắc mặt lợt lạt, khóc nhiều mắt sưng húp, nhận được tin chồng gặp cứu tinh, nàng mừng rỡ vô cùng, vội quỳ xuống trước bàn thờ Quan Âm nhà Triệu lão, tạ ơn Đức Phật Bà đã thấu hiểu lời nàng cầu khẩn đêm ngày.
Chập tối hôm ấy, quanh thồi rượu tại nhà Kỳ Thúc đạo, Bàng Tuấn thuật lại cuộc đối chất giữa Lỗ Đắc và Dương Cảnh Thái cho Tam hiệp nghe.
Lam Y lắc đầu :
- Việc Cảnh Thái bị kẻ thù hãm hại hiển nhiên lắm rồi, nhưng căn cứ vào lời khai của tên côn quang họ Lỗ nói Ma Vân cốc là chánh phạm vụ cướp ba nhà Thường, Lý, Trần cũng không được. Biết đâu y khai gian cho Ma Vân cốc cũng như y đã cung gian cho họ Dương? Ma tặc đạo là nhân vật thế nào, giáo đầu có biết không :
- Tôi chỉ biết y qua các bản phúc trình và lời thiên hạ đồn:
Y là giống người sơn cước ở Vân Nam, dũng lực võ nghệ khá cao, rất hung bạo, gây ra nhiều án mạng, cướp bóc nhiều nơi. Trong vòng hai năm nay, Ma Vân cốc đến hành động ở nhiều nơi trong khu việc nhiều huyện này, bay đây mai đó, đổi chỗ ở luôn luôn, quan quân tuy hoạt động nhưng không thể nào kiềm nổi y. Hình như y có cái tật ở đỉnh đầu nên giới hắc đạo thường gọi y là Độc Giác Long. Hiện nay, nha dịch huyện vẫn tiếp tục điều tra do thám với hy vọng may ra kiếm thêm được chi tiết nào về vụ cướp hồi năm ngoái chăng.
Chu Đức Kiệt cười :
- Thế mà hồi chiều, vì muốn cứu Dương Cảnh Thái khỏi cực hình, tôi cứ hứa liều là sẽ bắt Ma Vân cốc về nạp cho huyện quan. Bóng chim, tăm cá, bắt được tên cường đạo ấy cũng còn mất nhiều thì giờ!... À, ngoài trừ cái tật trên đầu, giáo đầu có nghe y có đặc tính gì không?
Suy nghĩ giây lát, Bàng Tuấn nói :
- Nó tiêu xài rất lớn và ưa ăn chơi ở những nơi có ca nhi, vũ nữ nổi tiếng thiên hương quốc sắc.
Tươi hẳn nét mặt, Lam Y hỏi :
- Phong Giang huyện có nơi ca lâu nào như vậy không?
- Không. Nhưng bên Thạch huyện và Ngọc Nhi châu nổi tiếng có ca vũ nữ đẹp nhất vùng này.
- A, hay lắm! Hai nơi đó có xa không?
- Không. Mỗi nơi cách đây độ vài ngày đường. Đi ngựa thì chỉ hơn một ngày.
- Được! Sớm ngày mốt, ta lên đường đi Thạch huyện.
Bàng giáo đầu không hiểu hỏi :
- Chúng ta chẳng nên trì trễ, sớm mai đi được không.
Đức Kiệt hiểu ý Lam Y, nói đỡ :
- Ngày mai chúng tôi có chút việc cần thanh toán tại quý huyện và có lẽ cũng phải nhờ đến giáo đầu giúp đỡ một tay. Sáng ngày mốt mới khởi hành được.
Bàng Tuấn không biết thế nào, đành nghe lời vậy.
Đức Kiệt nói thêm :
- Ngày mai, giáo đầu cứ ở nhà, huyện quan biết thế nào mà lo được.
Đức Kiệt ghé tai giáo đầu nói nhỏ mấy lời.
Bàng Tuấn mỉm cười khẽ gật đầu :
- Ở đầu Thạch Kiều lộ. Qua cầu, đi độ hai trăm bước là tới nơi. Trước nhà có cây đa lớn, bên tay hữu đường đi. Tôi sẽ tới đón.
Tiệc rượu tàn, Bàng Tuấn ra về.
Âu Dương Bích Nữ trách Chu Đức Kiệt :
- Chu huynh nói chuyện gì với Bàng giáo đầu thế? Tiểu muội không hiểu chút gì cả! Có lẽ định gạt nhau ra ngoài vòng hành động chăng?
Đức Kiệt mỉm cười :
- Ấy chớ, nói oan nào. Tại hiền muội chậm hiểu đó thôi. Trả lời ngu huynh câu này, trong khi sáng mai, ta có thể khởi hành được mà Lam Y lại xin hẹn giáo đầu ngày mốt lên đường, tất phải có lý do gì?
- Hiền muội biết tất cả mấy nhân vật trong vụ án Dương Cảnh Thái này, vậy hiền muội có đặt nghi vấn lên đầu người nào không?
- Lẽ cố nhiên tên Hồ Tích Thiện đáng ghét nhất. Hiền muội nghi nó hãm hại họ Dương.
- A, được lắm! Ban chiều nó thấy huyện quan ưng thuận việc ngu huynh đi tróc nã Ma Vân cốc, nếu hiền muội là họ Hồ thì nghĩ thế nào?
- Sợ mưu gian bại lộ.
- Và hiền muội phải làm thế nào?
- Đào tẩu, kẻo sau này không kịp trốn.
- Vì thế Lam Y muốn bắt nó ngay đêm nay, kẻo khi ra đi rồi thì còn ai bảo đảm nhiệm vụ ấy.
Âu Dương Bích Nữ khẽ gật đầu, mở tròn đôi mắt nhung huyền, cặp mắt trái tim hé nụ cười duyên dáng :
- Xin lỗi đã trách Chu huynh nhé. Tiểu muội xuẩn quá, còn phải học hỏi nhiều. Nhưng...
- Sao nữa?
- ... Bắt Tích Thiện là việc đêm nay. Vậy còn ngày mai?
Chu Đức Kiệt cười :
- Việc này hiền muội nên hỏi Lam Y kẻo lại trách ngu huynh bí mật.
Bây giờ Lam Y vỗ vai Âu Dương Bích Nữ hỏi :
- Chúng ta đi Thạch huyện vào những nơi ca lâu tìm Ma tặc đạo, hiền muội định vận võ phục kiểu nữ nhi này sao? Chị em ta đều phải cải trang cho thành hai tay thiếu gia công tử mới theo kịp Chu huynh chứ! Sáng sớm mai, phải kíp gọi thợ đặt hai bộ võ phục kiểu nam giới hai đại bào. Hai vuông khăn, toàn thể bằng thứ hàng lộng lẫy hợp thời trang. Phải không? Hay là định mượn áo của Chu huynh.
Âu Dương Bích Nữ thẹn thùng, má ửng hồng như trái đào xuân bỗng gặp phải cặp mắt của Đức Kiệt, nàng vội tảng lời nhìn đi nơi khác.
- Tùng!... Tùng...
Trống huyện đang điểm canh hai. Ba người lẹ làng đeo khí giới, mở cửa lầu nhảy xuống đường... Trời tối như mực. Một bóng đen từ bên đường nhô ra.
Chu Đức Kiệt hỏi khẽ :
- Giáo đầu tới lâu chưa?
Bàng Tuấn đáp :
- Vừa mới tới. Đêm nay tối quá.
Bốn người lặng lẽ đi qua các khu phố, nhà nào nhà nấy đóng cửa kín mít im lặng như tờ. Văng vẳng tiếng chó sủa xóm xa, tiếng trẻ nít khóc giật mình ban đêm, và giọng mẹ ngáy ngủ ru con ời ợi. Qua hết đường này đến đường khác, nhà cửa thưa dần, bốn người im lìm như những bóng ma tiến lên Thạch Kiều. Phía dưới, nước lạnh chảy róc rách, đêm khuya nghe rõ mồn một.
Bàng giáo đầu nói nhẹ :
- Sắp tới rồi! Cây đa lớn kia kìa!
Đức Kiệt hỏi họ Bàng :
- Thuật khinh thân thế nào?
- Nặng nề, hiệp khách cầm tay cho tôi theo.
Đức Kiệt cầm tay giáo đầu phi thân lên mặt tường hoa thấp. Căn nhà ở giữa, chung quanh có vườn. Trong nhà có ánh đèn le lói, Chu, Bàng hai người nhảy xuống vườn lầu vào gần chân nhà. Đức Kiệt chỉ tay lên nóc nhà, Bàng Tuấn gật đầu. Đức Kiệt bấm tay ra hiệu, hai người cùng nhảy lên nóc.
Lam Y và Âu Dương Bích Nữ đã từ mặt tường băng mình lên nóc chờ sẵn đó rồi. Đi lần lần, Lam Y nhắm nơi có ánh đèn hồi nãy, nhẹ tay rút ngói nhìn xuống.
Trong văn phòng vắng tanh, một người đàn ông diện mạo bần hàn, dáng dấp thô kệch, đang xếp áo quần, bỏ bừa trên giường vào trong rương.
Lam Y ra hiệu bảo giáo đầu nhìn qua khe ngói. Bàng Tuấn cúi xuống nhìn, gật đầu. Nhưng bỗng nặng tay, họ Bàng làm xô viên ngói khác.
Người đàn ông trong phòng thấy động, vội ngừng tay, ngơ ngác lo sợ nhìn quanh. May thay giữa lúc ấy hai con mèo đực, cái rượt nhau qua mái kêu ầm ĩ, nhảy biến xuống vườn. Trong phòng, người kia vuốt ngực hết lo lắng, tiếp tục xếp quần áo vào rương, đậy nắp lại.
Đức Kiệt ra hiệu bảo Lam Y, Âu Dương Bích Nữ xuống trước. Hai người thoăn thoắt ra đầu nhà nhảy xuống lẹ làng không một tiếng động nhỏ. Bàng Tuấn rùng mình.
Hai nữ hiệp tiến đến bên cửa sổ kéo bung ra, nhảy vụt vào phòng. Người nọ hoảng sợ lùi lại mấy bước, chưa kịp kêu thì mũi kiếm Thái Dương sáng loáng buốt đã dí tới cổ :
- Câm miệng kẻo mất đầu!
- Dạ... dạ. Vàng bạc... ở trong rương... xin... xin tha... cho tôi.
Lam Y dí thêm mũi kiếm :
- Im ngay!
Hồ Tích Thiện chưa luận ra vì lẽ gì hai thiếu nữ lạ mặt này lại tới uy hiếp mình giữa lúc đêm hôm khuya khoắt. Hắn run sợ vì có tật nên giật mình.
Lam Y bắt nạt :
- Tích Thiện! Mi thông đồng với tên Lỗ Đắc khai man hại họ Dương thế nào? Nói mau!
- Bẩm.. bẩm cô nương... oan cho tôi.
Lam Y cười gằn, trợn mắt nạt :
- Mi muốn chết thì được chết.
Dứt lời, nàng túm tóc Tích Thiện ấn xuống mài lưỡi kiếm lạnh toát vào gáy.
Hoảng hồn Tích Thiện ríu cả lưỡi :
- Cô... Cô nương, tha chết, tôi xin nói... xin nói.
Lam Y đẩy họ Hồ ngồi xệp xuống gạch. Tích Thiện mặt tái ngắt, đưa tay thoa gáy run rẩy kể lại một lượt việc y hãm hại Cảnh Thái cốt chiếm đoạt Kỳ Tố Loan thế nào.
Nghe xong, Lam Y bắt Tích Thiện lấy nghiên bút viết tờ cung khai rồi ký tên hẳn hoi.
Nàng gọi vọng lên nóc nhà :
- Mời giáo đầu xuống.
Trên nóc nhà, Chu Đức Kiệt và Bàng Tuấn cả dậy. Họ Bàng nói :
- Tôi xuống được, tráng sĩ khỏi phải cầm tay.
Lần ra đầu mái, giáo đầu nhảy huỵch xuống vườn rung chuyển cả căn nhà, khiến mấy con chó ở nhà lân cận sủa im ỏi.
Lam Y nhìn Bàng Tuấn hỏi :
- Giáo đầu đã nghe rõ lời khai của tên gian tà này chưa?
- Đã nghe rõ lắm. Thiệt không ngờ y dã man đến thế.
- Nếu vậy, yêu cầu giáo đầu ký vào cả tờ cung khai này để huyện quan khỏi trách cứ về sau.
Bàng Tuấn cầm bút thỏa mấy chữ vào góc tờ cung. Lam Y đọc lại một lượt, gấp giấy đó bỏ vào túi. Trong khi đó, Chu Đức Kiệt trói Hồ Tích Thiện lại. Âu Dương Bích Nữ lục đáy rương lấy ra mấy gói vàng bạc để trên bàn.
Lam Y lựa lấy hai đĩnh vàng để sang bên, còn thì gói tất cả lại vào một bọc :
- Hai đĩnh vàng này bỏ riêng để cho vợ chồng họ Dương như tiền bồi thường thiệt hại. Số còn lại sẽ tùy ý huyện quan sung công hay phát cho dân nghèo!... Nào bây giờ ta điệu tên gian tặc này về huyện.
Một khắc canh sau, bốn người giải Hồ Tích Thiện về tới huyện.
Bàng Tuấn dẫn mọi người ra lối cổng nhỏ, sau huyện nơi gần hậu đường :
- Việc này nên kín đáo... Quí vị chờ tôi vào báo huyện quan.
Nói đoạn, Bàng Tuấn tiến đến sát cửa gõ ba tiếng mạnh, hai tiếng nhẹ. Mấy lần như vật không thấy bên trong trả lời, giáo đầu lẩm bẩm :
- Thằng Ngưu Thất có lẽ ngủ quên! Tệ thật!
Nóng ruột, Chu Đức Kiệt đến gần bảo họ Bàng :
- Để tôi giúp vượt qua tường cho đỡ mất thì giờ!
- Nhưng tường cao lắm.
Không trả lời, Chu Đức Kiệt cắp Bàng Tuấn ngang sườn phi thân vụt lên mặt tường rồi nhảy xuống bên trong. Lát sau, cửa mở nhường lối cho mấy người đi vào.
Bàng Tuấn vào báo trước, hồi lâu trở ra :
- Liễu tri huyện mời quý vị vào hậu đường!
Tới nơi, thi lễ xong, Chu Đức Kiệt nói mấy câu giới thiệu. Huyện quan thấy Lam Y và Âu Dương Bích Nữ người nào cũng khí phách hiên ngang thì rất đỗi cảm phục mời ngồi. Bàng giáo đầu thuật chuyện cho huyện quan nghe. Lam Y mở tờ cung khai đặt lên án thư cùng gói bạc.
Liễu Thoại Tân cầm lấy đọc, rồi chỉ mặt Hồ Tích Thiện mắng :
- Thấy ngươi lanh lẹ, ta cất nhắc cho công ăn việc làm tử tế, ngờ đâu ngươi lợi dụng quyền thế hại người lành. Nếu không nhờ Tam hiệp đây thì ta đã xử oan người hiền lương. Ngươi đáng tội chi biết không?
Tích Thiện len lét cúi mặt xuống đất.
Liễu Thoại Tân bảo Bàng Tuấn :
- Giáo đầu hãy tống giam thằng này xuống ngục tối, chờ bắt được Ma Vân cốc sẽ xử luôn thể.
Trong khi giáo đầu áp giải Hồ Tích Thiện xuống ngục, Liễu tri huyện nói với anh em Chu Đức Kiệt :
- Nhờ quí vị hành hiệp bắt giặc hộ, ơn đức ấy không những mình bản chức mà cả toàn dân trong khu vực này phải chịu. Số bạc này, xin hứa sẽ sử dụng một cách đích đáng. Sáng sớm bản chức sẽ lập phúc trình lên phủ minh oan xin tha cho Dương tú tài, và luôn thể sẽ cách lưu dụng họ Dương vào chức tư văn.
Bàng giáo đầu lên tới nơi.
Ba anh em Chu gia cùng giáo đầu từ tạ theo lối sau, huyện trở ra.
0
Hồi 29
Giả khách tu mi, Nữ hiệp thăm kỹ viện
Bắt Độc Giác Long, giai nhân náo huê phòng
 
Hôm sau, Lam Y thuật lại ý định của huyện quan cho Kỳ lão nghe, bảo đón Kỳ Tố Loan về nhà chờ Dương Cảnh Thái sẽ được tha về. Kỳ lão mừng rỡ tạ ơn, vội vào nhà trong nói cho vợ hay tin lành. Lam Y ngỏ ý nhờ họ Kỳ gọi thợ may gấp mấy bộ quần áo.
Kỳ lão nói :
- Việc ấy khỏi cần gọi thợ, nhà đã có sẵn sàng, mấy đứa cháu gái đều biết nghề may, chắc chắn thế nào tối cũng xong.
Trưa hôm ấy, Kỳ lão bà ngắm đón con gái về nhà. Kỳ Tố Loan mừng rỡ phát khóc, ra quỳ lạy tạ ơn Tam hiệp. Lam Y thấy nàng dịu dàng thì rất quý mến đỡ dậy và đưa tặng nàng hai đĩnh vàng, nhưng giấu không cho biết là vàng lấy của họ Hồ, e nàng không nhận. Tố Loan ngần ngại trước số vàng lớn quá.
Lam Y nói :
- Thái thái cứ nhận để làm vốn, không phải của phi nghĩa đâu mà sợ.
Lúc đó, Kỳ thị mới dám nhận vàng tạ ơn lui vào nhà trong. Nàng không ngờ gia đình nàng trong cơn phong ba bão táp những tưởng bị sụp đổ, tan nát, dè đâu có ba người xa lạ từ đâu tới cứu giúp, gây dựng cho. Âu đó cũng là kết quả của sự hiền đức của vợ chồng nàng.
* * * * *
Y phục trang nam làm xong, Lam Y rủ Âu Dương Bích Nữ vào phòng vận thử.
Lát sau, hai người xúng sính đi ra khiến cả gia đình Kỳ Thúc Dạ và Chu Đức Kiệt cũng phải ngạc nhiên khen ngợi là hai trang mỹ nam tử. Lam Y vận bộ đồng màu lam bạc, khăn, hài đồng màu. Âu Dương Bích Nữ dùng màu huyết dụ hoa vàng lóng lánh. Cả hai người cùng gương mặt trái xoan, trắng hường, mũi cao, môi thắm, mắt huyền. Hai màu áo tuy sẫm nhưng lộng lẫy làm nổi bật nước da mơn mởn tựa anh đào.
Lam Y cười khanh khách, đi đi lại lại hỏi :
- Thế nào? Trông có hệt con trai không?
Dựa lưng vào án thư, tay khoanh trước ngực, Chu Đức Kiệt đăm đăm nhìn hai người khen :
- Giống lắm! Phan An, Tống Ngọc khi xưa bất quá cũng đến thế là cùng! Thiệt là đôi phong lưu công tử lại điểm thêm nét mã thượng giang hồ! Tuyệt, ngắm không biết chán! Thế này thì đến gái phòng khuê các ngọc cũng điên đảo xao xuyến tâm hồn, đừng nói chi bọn nhi vũ nữ đa tình.
Âu Dương Bích Nữ khẽ lườm Chu Đức Kiệt :
- Gớm! Chu huynh khen một thôi, một hồi như thể là tay thạo về mỹ nhân lắm!
Lam Y cười :
- Chu huynh bình sanh ít nói, nhưng khiếu thẩm mỹ quả ít người bì kịp, hiền muội à! Lúc dí dỏm, Chu huynh có duyên lạ thường, nhưng khi nghiêm nghị thì cũng khiến nhiều người phải sợ!... Nào, ta đi thay áo nghỉ sớm, mai còn lên đường.
Sáng hôm sau, Bàng giáo đầu tới đón. Bọn Đức Kiệt đeo hành lý, gởi khí giới ở nhà Kỳ lão, lên ngựa ra đi. Bàng Tuấn hỏi :
- Quý vị không đem khí giới theo sao!
Đức Kiệt đáp :
- Đi tay không cho tiện, sẽ tùy cơ ứng biến. Ta đi đâu trước bây giờ.
- Đi Thạch huyện trước, có lẽ hơn. Nếu không thấy gì ta sẽ sang Ngọc Nhi châu luôn.
- Đường đi rộng rãi, khách thương qua lại luôn luôn. Nhiều thôn ở sát bên đường, nơi nào cũng có tửu quán bề cho khách nghỉ chân.
Lam Y nói :
- Khu vực này khá sầm uất, vậy ra thằng Ma Vân cốc chuyên môn tổ chức cướp của giết người nơi phồn thịnh, mà quan quân không chịu lùng cho kỳ được sao.
Bàng Tuấn đáp :
- Bởi vậy nó mới lưu động, không trú ngụ hẳn nơi nào nhất định. Ở nơi này, đi cướp nơi khác, có khi bẳn hẳn rồi lại chợt xuất hiện. Như từ vụ cướp năm ngoái, ở Phong Giang huyện tới nay, chưa có nơi nào khác bị y động tới cả.
Chu Đức Kiệt nói :
- Nếu vậy cũng khó kiếm y lắm. Căn cứ vào cái tật trên đầu y mà thăm dò chắc không ăn thua gì. Nó đội mũ “tê ngưu” thì làm thế nào dò biết được?
Hơn một ngày đường tới Thạch huyện. Bốn người vào tửu quán Ngọc Bội ở giữa khu đông đúc trọ. Bàng giáo đầu vào huyện xuất trình công văn và hỏi thăm tin tức Độc Giác Long, nhưng ai cũng nói là đã một năm nay không nghe thấy nói tới tên đó nữa, vả lại chỉ nghe nói chớ thiệt chưa ai biết mặt tên đạo tặc đó ra làm sao cả. Giáo đầu thuật chuyện cho anh em Chu Đức Kiệt nghe.
Mấy hôm liên tiếp, bốn người chia làm hai tuyến đi la cà các nơi tửu quán, ca vũ đường để ý dò xét, nhưng đi không lại về rồi không ai biết Độc Giác Long hiện nay ở đâu cả.
Chiều nọ, bốn người đang ngồi ở hiên lầu uống rượu chuyện vãn, nhìn xuống đường xem kẻ qua người lại tấp nập. Tửu bảo đứng hầu gần đó, bỗng có tiếng gọi dưới từng vọng lên :
- Vương Lục ơi, không nhận ra tôi sao!
Tên tửu bảo vội vẫy tay xuống phía đường, rồi xin phép bốn người xuống lầu gặp người quen.
Bọn Chu Đức Kiệt nhìn theo thấy người vừa rồi gọi tên tửu bảo Vương Lục, trang phục theo kiểu xa phu, tay xách mấy bọc đồ vật đi theo hai người đàn bà, một trẻ cỡ mười tám, mười chín tuổi, diện mạo xinh đẹp sắc sảo, và một người trạc ngũ tuần mập mạp phục phịch, mặt bôi phấn son lòe loẹt.
Vương Lục chạy ra tới nơi chào hỏi bạn, tay bắt mặt mừng nói chuyện hồi lâu. Sau đó, người kia phải theo hai người đàn bà nọ, cùng Vương Lục chia tay.
Chờ tên tửu bảo lại, Chu Đức Kiệt gọi y lấy thêm món nhắm rượu.
Lát sau, Vương Lục bưng thức ăn ra bầy lên thồi, Đức Kiệt bỗng nhiên hỏi :
- Vừa rồi, ngươi nói chuyện với ai thế? Hình như không phải người xứ này.
Vương Lục nhanh nhảu nói :
- Dạ, y không phải người xứ này thật. Trước kia, y làm xa phu ở Thạch huyện, sau lại sang Ngọc Nhi châu qua đây chơi mấy ngày, mai lại đi rồi... Còn hai người kia tiếng gọi là mẹ con nhưng thiệt ra chỉ là hai người ngoài thôi.
Lam Y làm ra dáng chú ý tới thiếu nữ đó lắm, liền hỏi tửu bảo :
- Người đâu mà xinh đẹp quá chừng! Có chồng chưa? Nhà ở đâu? Làm quen được không? Tên gì?
Tửu bảo chú ý nhìn Lam Y, rồi nói :
- Bẩm với thiếu gia, giá người qua đây độ bảy, tám tháng trước thì làm quen được với cô Tiểu Chiêu Quân. Nhà cô ấy ở Phù Dung viện, đường Giang Biên bên Ngọc Nhi châu. Tiếc thay.
Ra vẻ ngạc nhiên, Lam Y hỏi nữa :
- Sao lại tiếc thay? Nhà cửa gì mà lại tên là Phù Dung viện, kỳ quá.
Tửu bảo gãi tai :
- Tiếc thay, vì cô Tiểu Chiêu Quân có ý trung nhân rồi, và hình như người ấy tuy nhiều tiền bạc nhưng xấu xí lắm, đầu có... bướu chớ, đâu được mỹ mạo như ba vị thiếu gia đây. Tiểu Chiêu Quân vốn là ca nhi của Phù Dung viện mà chủ nhân là bà “Má má” béo mập đi qua đầy vừa rồi đó ạ.
Nghe tửu bảo vô tình nói tới ba tiếng “đầu có bướu”, bọn Chu Đức Kiệt đưa mắt nhau không hỏi thêm gì nữa.
Đức Kiệt móc túi thưởng cho tên tửu bảo bép xép đó ít tiền :
- Đây, đền công nhà người mách bảo, chừng nào qua Ngọc Nhi châu sẽ tìm gặp Tiểu Chiêu Quân sau.
Vương Lục vui sướng cám ơn, rồi lảng đi chỗ khác.
Âu Dương Bích Nữ nói với mọi người :
- Ý trung nhân của Tiểu Chiêu Quân đầu có bướu, phải chăng là Độc Giác Long.
Chu Đức Kiệt nói :
- Có lẽ. Tôi muốn yêu cầu Bàng giáo đầu việc này :
- Xin cứ nói!
- Chúng tôi muốn biết tin về cuộc hành trình của Tiểu Chiêu Quân để còn liệu nàng ta sang Ngọc Nhi châu.
Bàng Tuấn gật đầu :
- Được lắm! Có khó gì! Sáng mai tôi ra lối cổng huyện có đường đi Ngọc Nhi châu, vào ngồi la cà tửu điếm gần đó canh chừng. Họ tất phải qua đó. Tôi nhớ mặt rồi.
Hôm sau, anh em Chu gia đang ngồi chuyện vãn ở quán trọ thì Bàng Tuấn trở về nói :
- Bọn ấy đi rồi. Chúng rời cổng huyện lúc cuối giờ Thìn.
Lam Y nói :
- Nếu vậy sáng mai, chúng ta sẽ khởi hành. Đi ngay bây giờ lỡ gặp nhau trong trà quán ắt không tiện.
Mọi người cùng khen phải.
Hai ngày sau tới Ngọc Nhi châu, bốn người tìm quán trọ. Châu thị này khá lớn, nhà cửa san sát, người qua, kẻ lại, buôn bán phồn thịnh, tấp nập vô cùng.
Anh em Chu gia tới vừa gặp lúc dân chúng vào hội tế Thủy Thần thường niên, nên cảnh tấp nập càng thêm rộn rịp. Nhất là trên dòng Nhị giang, ghe thuyền qua lại như lá tre. Thuyền nào cũng treo đèn, kết hao, kéo cờ bay phấp phới. Du khách nhân dịp mướn hoa thuyền, buông trôi trên dòng nước lững lờ nhàn du uống rượu, nghe ca nhi vũ nữ đờn hát xênh xang. Hai bên bờ sông, trà quán mọc ra như nấm, hàng nào cũng đông nghẹt những người đi lễ thần, xem thi hoa thuyền, đau ghe, và nhất là cuộc thi đấu “Trường Côn”. Môn đấu này là môn thể thao đặc biệt của Ngọc Nhi châu.
Tại đây có sáu lò Trường Côn lấy tên là Hoàng Long, Thanh Xà, Thủy Mã, Bạch Hổ, Hồng sư, Phụng Hoàng.
Hàng năm, mỗi kỳ vào hội tế Thủy Thần, sáu lò này cũng cùng nhau tranh tài giựt giải. Ngày đầu đấu loại, ngày thứ hai vào chung kết, vào tranh chức vô địch vào ngày thứ ba là ngày chót đại hội.
Trên chiếc ghe lớn, dựng một cầu vồng dài suốt từ đầu mũi xuống đui thuyền. Bốn tay chèo và một tay láu ngồi dưới gầm cầu. Đấu thủ, trang phục, gọn gàng theo màu sắc của mỗi lò, cầm cây mộc côn dài tới hơn trượng đầu bịt bông, đứng trên giữa cầu.
Hai ghe bơi nghịch chiều, đấu thủ đứng trên cầu dùng trường côn ra sức gạt hay đấu nhau. Đấu thủ nào kém tài kém sức rớt xuống nước là bị thua. Cuộc tranh tài thập phần hào hứng kéo dài suốt trong ba ngày, hai đêm đại hội.
Lam Y và Âu Dương Bích Nữ vận trang phục mới cùng Chu Đức Kiệt, Bàng Tuấn đủng đỉnh ra bờ sông qua chỗ nọ chỗ kia quan sát. Nhưng vì chưa tìm ra manh mối Độc Giác Long, bốn người cùng nóng ruột không tâm địa nào xem hội, nên tìm ra Giang biên lộ.
Chu Đức Kiệt hỏi thăm chú bé bán bánh ngọt ra lối Phù Dung viện.
Chú bé nhanh nhảu nói :
- Khách quan cứ đi thẳng tới cuối phố, thấy căn lầu lớn ngoài cửa trồng hai cầy phù dung là tới nơi.
Đức Kiệt thưởng tiền chú bé rồi cùng ba người đi thẳng đến đó.
Cuối phố là khu ca viện nên nhà nào cũng đầy vương tôn cổng tử, nhân dịp đại hội kéo nhau đi hưởng thú ca nhi, tiếng đờn sáo nhịp cùng giọng ca véo von vọng ra đường đi. Quả nhiên, Phù Dung viện là một trong những mấy ca viện lớn nhất. Vén tấm màn hoa sặc sỡ, bốn người qua thềm gạch vào nhà.
Thấy khách sang tới, mụ béo, mà bọn bốn người nhận ra bữa gặp nọ Thạch huyện, mặt trát đầy phấn, lồng mày kẻ nhỏ xíu, môi tô son lòe loẹt, đang ngồi trên kỷ giữa phòng khách cùng mấy ca nhi son tô điểm phấn, vội đon đả chạy tới chào mời.
- Kính chào quý vị công tử lên lầu yên tĩnh hơn.
Đoạn, mụ lạch bạch đi trước dẫn đường lên thang lầu, đưa bốn người tới căn phòng rộng rãi bên tả, trần thiết cực kỳ sang trọng.
Mụ ríu rít gọi :
- Phượng Nhi, Tiêu Nhi, Xuân Nhi, và Chiêu Quân đâu? Ra hầu tiếp quý vị công tử, mau.
Bốn ả son phần uốn éo trong bốn bộ xiêm y lụa là mỏng dính, trông suốt cả da thịt, nõn nà hồng hồng, tay cầm quạt hoa, tươi cười, làm bộ khép nép tiếp gần đến chỗ bốn người ngồi trên kỷ trải nệm bông.
Mụ béo nói :
- Quý công tử ở xa tới Ngọc Nhi châu, xem Thủy hội phải không? Chắc còn ở chơi lâu, cho phép bày tiệc rượu nhé.
Tam hiệp xưa nay có bước chân tới kỷ viện bao giờ, tuy chướng mắt, nhưng cũng ra vẻ hào hao quen thói ăn chơi thạo nghề.
Lam Y mỉm cười, liếc qua bốn bông hoa biết nói, bảo mụ chủ viện :
- Được, hãy còn sớm pha Thủy Tiên trà uống chơi đã, sẽ bày rượu sau.
Mụ chủ toe toét chào duyên, lạch bạch ra khỏi phòng, buông rèm xuống.
Không muốn lộ hình tích, bốn người phải giả đò vồn vã với bốn ả ca nhi đứng sát bên mình vuốt ve nũng nịu.
Lam Y tức cười cho mình, nghĩ thầm “Đã cải dạng nam trang đóng vai công tử yêu hoa thì nên hành động, cho đúng kiểu nam nhi”.
Nàng kín đáo nhìn Âu Dương Bích Nữ đang lúng túng bên Phượng Nhi nói giỡn :
- Gớm, tam đệ lần này mới vào ca viện có khác, lúng túng quá! Phượng Nhi hãy săn sóc chu đáo vị khách quan đó nhé.
Âu Dương Bích Nữ trách thầm Lam Y, nhưng cũng phải nén thẹn thùng chuyện trò cùng Phượng Nhi. Một mặt, nàng nhìn trộm quan sát anh chàng Đơn Đao Chu Đức Kiệt. Biết vậy, Đức Kiệt mỉm cười, khoác tay Xuân Nhi ra cửa sổ cuốn tình tứ nhìn xuống hoa viên. Bàng Tuấn cố nhịn cười kéo tay Tiêu nhi ra trường kỷ trong góc phòng thủ thỉ hỏi chuyện. Chiêu Quân say đắm nhìn Lam Y không chớp mắt. Lam Y cũng lấy làm lạ sao Chiêu Quân này không giống ả gặp hôm nọ ở Thạch huyện. Ả này tuy dung nhan coi được, nhưng kém xa ả kia.
Biết vậy, Lam Y không lẽ hỏi chuyện e lộ ngay. Nàng bế bổng Chiêu Quân đặt ngồi lên đùi, vuốt má hỏi :
- Ái nương tên chi? Năm nay bao nhiêu tuổi?
Cầm bàn tay trắng nuột nà của Lam Y, Chiêu Quân mê man nói :
- Em là Tiểu Trại Chiêu Quân, tuổi vừa đôi chín... Gớm, bàn tay của thiếu gia tròn trĩnh trắng trẻo quá, cầm mát rượi cả tay. Người đẹp thế này chắc nhiều gái mệt chết! Thiếu gia có... phu nhân chưa.
Nâng cằm Tiểu Trại Chiêu Quân lên, Lam Y ra vẻ âu yếm :
- Chưa vì ta vụng về nên chưa ai buồn lấy. Hai mươi hai tuổi xuân mà chốn cô phòng còn lẻ bóng!... A, nhưng em nói thử ta nghe, thế ra Phù Dung viện này có nhiều Chiêu Quân lắm sao? Ta không hiểu.
Cô ả cười khanh khách, áp má vào mặt Lam Y, mùi hương trầm sức tóc bốc lên ngào ngạt :
- Em thơm dịu dàng đáng yêu quá! Chuyện Chiêu Quân thế nào?
- Dạ viện này có ba Chiêu Quân. Lão Chiêu Quân là chủ nhân là chủ nhân mập mạp hồi nãy. Nghe nói, lúc thiếu thời người ấy sắc nước hương trời khiến nhiều vương tôn công tử say đắm mệt chết đó.
- Trời ơi! Thiệt vậy ư!
- Dạ, còn Trại Chiêu Quân năm nay hơn em một tuổi, đẹp lắm... Không hiểu thời xưa, Dương Quý Phi quốc sắc khuynh thành thế nào? Nhưng theo ý em chị ấy đẹp tuyệt trần.!... Ai trông cũng mê. Còn em xấu làm đàn bà nên Lão Chiêu Quân đặt Tiểu Trại Chiêu Quân.
- À, ra thế đó! Nhưng ta ở xa nghe tiếng Trại Chiêu Quân nổi danh tuyệt sắc nhi mới tới đây, tại sao Lão Chiêu Quân không cho nàng tiếp ta vậy.
Tiểu Trại Chiêu Quân xịu mặt, nũng nịu, ông choàng lấy Lam Y ngả đầu vào vai :
- Không có Trại Chiêu Quân thì có em cũng vậy, em xấu lắm sao mà thiếu gia chê bai!
Giữa lúc ấy tì nữ bê trà vào phòng. Trại Chiêu Quân nhắc lấy một ly thổi bớt nóng dịu dàng đưa lên miệng Lam Y :
- Mời thiếu gia dùng trà!
Lam Y uống cạn khen :
- Ướp Thủy Tiên hoa ngát quá, ngon tuyệt! Ta thương em lắm nhưng dù sao cũng muốn biết mặt xem Trại Chiêu Quân ra sao cho khỏi uổng công ngàn dặm tới đây chớ! Chẳng hay nàng ở đâu bây giờ mà không thấy ra đây.
Nói đoạn, Lam Y ôm lấy co lưng Tiểu Trại Chiêu Quân vuốt làn tóc mấy đen nhánh ra chiều âu yếm lắm :
- Thế nào, Trại Chiêu Quân bây giờ ở đâu?
Yên trí hơn, Tiểu Trại Chiêu Quân mê luyến ngước mắt nhìn Lam Y, thủ thỉ nói :
- Chị ấy ít lâu nay bận lắm, không thể tiếp khách được nữa, bởi vậy em mới có phước lớn hơn hầu tiếp thiếu gia hôm nay.
- Ủa! Sao vậy! Trại Chiêu Quân bận việc chi? Nàng có chồng rồi sao?
- Tuy chưa có chồng cũng như lấy chồng rồi!
- Nghĩa là thế nào?
Tiểu Trại Chiêu Quân chép miệng :
- Sao thiếu gia hỏi nhiều về chị ấy thế? Em ghen bây giờ!
- Ta hỏi cho biết, hại chi việc ấy.
- Đã ngót năm nay, chị ấy không hề tiếp ai cả vì đã có người yêu rồi! Nói rõ chắc thiếu gia phải chán. Sắc diện đẹp đẽ như chị ấy ngờ đây lại đi yêu một chàng hắc tử dữ dội quai nón cứng nhắc như rễ tre, thô bỉ mà... mà...
- Mà sao...
- Mà đầu lại có tật lớn lúc nào cũng phải đội mũ tùm lum. Chị Trại Chiêu Quân ngủ chung được với y mãi thì em cũng lấy làm lạ. Được đẹp như thiếu gia đây thì còn nói gì nữa.
Lam Y vờ hỏi :
- Tánh nết tốt là được rồi, chớ đẹp để làm chi.
Tiểu Trại Chiêu Quân chép miệng :
- Nhiều tiền bạc thì đúng hơn tốt chi con người tặc... Ấy chết, em lỡ lời! Tốt chi con người nóng nảy ấy.
Lam Y hiểu ngay, hỏi thêm :
- Trại Chiêu Quân ở ngay trong Phù Dung viện này à!
- Dạ, phòng chị ấy ở đầu lầu phía sau. Lão kia cho “má má” nhiều tiền lắm, mới được như vậy, y cấm ngặt không cho người yêu tiếp khách, má má cũng phải theo.
- Lão ấy ở luôn đây à? Tên gì?
- Thất thường lắm lúc ở luôn hai ba ngày, có khi đi vắng cả tháng rồi ở lì đây cũng cả tháng không ra khỏi viện. Em không biết tên gì, má má và Trại Chiêu Quân gọi y là Đại Lang nên ở đây ai cũng gọi theo như vậy. Chỉ biết y khỏe lắm, vóc người to như trâu, cao bằng đại thiếu gia kia kìa.
Nàng chỉ tay ra phía Chu Đức Kiệt.
Lam Y cười vang :
- À, Chu lang. Trưởng huynh ta đó. Còn anh chàng ngồi với Phượng Nhi là em ta.
Tiểu Trại Chiêu Quân xuýt xoa :
- Trời ơi, thảo nào hao hao giống nhau. Cả ba anh em cùng đẹp, người nào được làm dâu nhà họ Chu thì tốt phước thiệt :
- Hiện giờ Trại Chiêu Quân có nhà không?
Ngần ngừ giây lát, cô ả nói :
- Có. Chị ấy đang trang điểm chờ Đại Lang đến rước đi hoa thuyền chơi trên mặt sông. Ngọc Nhi châu đang vào hội cúng Thủy thần đó thiếu gia không thấy ư? Hay chúng ta cũng ngự hoa thuyền chơi đi.
Lam Y suy nghĩ giây lát :
- Ta muốn chờ xem mặt con người có diễm phước được Trại Chiêu Quân yêu mến thế nào đã.
- Lo gì, em sẽ chỉ cho xem. Đại Lang ra lệnh đặt tiệc rồi. Họ đi hoa thuyền lúc trở về mới yến ẩm.
Nghe vậy, Lam Y cả mừng bể bổng Tiểu Trại Chiêu Quân đi hai vòng :
- Thế này thì ái nương quả đáng yêu thật. Ta muốn bóp nghiền ái nương trong tay ta đó.
Ả ca nhi nhũng nhẻo bưng mặt :
- Trời ơi! Chóng mặt quá. Lát nữa, uống rượu xong đi nghỉ hẳn hãy nào, kẻo mọi người kia cười cho đấy.
Lam Y đặt nàng xuống gạch hoa :
- Coi người văn vẻ phong lưu thế này mà hai cánh tay cứng như sắt, thiếu chút nữa em chết ngạt.
Giữa lúc ấy, tiếng người nói bô bô từ nhà dưới vọng lên :
- Đại nương đã sửa soạn xong chưa? Hoa thuyền chờ sẵn ngoài bến rồi.
Tiếng mụ lão Chiêu Quân líu ríu như chim :
- Chắc nó xong rồi và chờ Đại Lang thì phải.
- Thôi, tôi khắc lên lầu... À, có khách lạ nào không?
- Có ạ, mấy cậu văn nhân từ xa tới. Họ ở cả phòng bên tả. Không làm nhộn Đại Lang đâu.
- Hà... hà... Làm nhộn ta thì chết ngay lo gì.
Tiếng chân huỳnh huỵch chạy lên thang lầu.
Tiểu Trại Chiêu Quân vội nói nhỏ với Lam Y.
Anh chàng Đại Lang hắc tử tới đón Trại Chiêu Quân đó. Nhìn qua kẽ rèm hoa cũng thấy.
Lam Y vẫy tay Chu Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ. Ba người vội vàng chạy nhẹ không một tiếng động ra phía cửa phòng nhìn qua kẽ rèm.
Vừa lúc ấy, một đại hán trạc bốn mươi tuổi, mặt đen xì, râu ria xồm xoàm, đội mão tê ngưu, vạn bào hoa đỏ, chân dậm ủng đỏ thêu hổ đi vùn vụt qua phòng ngoài, rẽ sang tay hữu khuất vào nẻo hành lang. Quay vào, Lam Y đưa mắt ra hiệu. Chu Đức Kiệt, Âu Dương Bích Nữ hiểu ý khẽ gật đầu, Lam Y hỏi :
- Thế nào, quí vị có đồng ý đem các đào nương đây du hoa thuyền không!
Âu Dương Bích Nữ nói :
- Có chớ! Nhị ca nói phải lắm. Tiểu đệ không muốn rời Phượng Nhi, mà chắc huynh trưởng cũng mến Xuân nhi lắm? Còn Bàng tiên sinh nghĩ sao.
Bàng Tuấn gật đầu :
- Các vị đi đâu, tôi xin theo đó!
Chu Đức Kiệt nhìn Âu Dương Bích Nữ tủm tỉm cười. Lam Y vỗ vai Âu Dương Bích Nữ nói :
- Chà! Mấy khi gặp các đào nương đẹp như tiên nữ giáng trần này, anh em ta phải vui chơi cho thỏa chứ kẻo sau này thê tróc tử nhọc lại kêu ca.
Âu Dương Bích Nữ nguýt nhẹ Lam Y và Chu Đức Kiệt, rồi ra ngoài bên Phượng Nhi.
Tiểu Trại Chiêu Quân vui mừng, hỏi Lam Y :
- Em xuống lầu báo với Má má thuê hoa thuyền lớn và dự bị bày tiệc rượu nhé!
- Phải đó! Mau trở lên đây kẻo ta trông chờ nghe.
Chờ Tiểu Trại Chiêu Quân đi khỏi, Lam Y bảo ba người :
- Theo lời ả này tiết lộ, chắc tên Độc Giác Long đó rồi. Du thuyền về, tối sẽ khởi sự.
Ba người gật đầu, đồng ý. Lát sau, chờ bọn Trại Chiêu Quân đi khỏi, bốn người mới cùng bọn đào nương xuống lầu. Mụ béo Lão Chiêu Quân đưa ra tận cửa. Lam Y trao cho mụ đĩnh bạc :
- Thôi nhé, không được tiếp thêm một ai nữa kẻo làm nhộn bữa tiệc đêm nay. Tôi bao hết nghe.
Thấy khách sang trả rộng rãi quá, mụ béo cố vái đến tận đất :
- Dạ, công tử đã truyền dạy, tôi phải theo lời!...
Tám người kéo nhau xuống thuyền đậu ở bến trước cửa Phù Dung viện. Phu thuyền lễ phép hỏi :
- Quý vị công tử định đi đâu?
Chu Đức Kiệt đáp :
- Đi đâu vui thì đi! Tùy ngươi hướng dẫn.
Dạ, hiện cuộc đua đấu Trường Côn vào hồi gay go giữa hai lò lừng danh nổi tiếng là Thủy Mã và Hoàng Long, mời quí vị ra đó coi. Hào hứng lắm.
Chu Đức Kiệt hỏi bọn đào nương :
- Các quý nương có muốn đi coi đấu Trường Côn không.
Tiểu Trại Chiêu Quân nói :
- Dạ, phàm người Ngọc Nhi châu này ai cũng ưa xem cuộc đấu ấy. Sôi nổi lắm.
Người đi xem đứng đen nghịt cả hai bên bờ sông hẹp. Các ghe thuyền cũng dạt sát bờ nhường lối rộng cho hai thuyền thủ.
Lò Hoàng Long dùng toàn màu vàng sẫm từ ghe đến phục sức của đấu thủ và người chèo thuyền. Lò Thủy Mã dùng màu đen tuyền. Đấu thủ hai lò này kỳ hội năm nay được vào chung kết. Đấu thủ Hoàng Long người nhỏ thó gân guốc, trạc ngót ngũ tuần.
Đấu thủ Thủy Mã cao lớn hùng dũng, trạc tam tuần. Hai người nghiêm trang đứng trên cầu vồng, chống ngược ngọn côn lên trời. Hai ghe lướt nghịch chiều nhau trên mặt sông với tốc độ khá lẹ. Tiếng chèo đều đều khua nước bì bõm. Cờ hiệu phấp phới trước gió. Khi hai ghe cách nhau còn độ chừng bốn trượng, những người chèo đều phải ngừng tay mặc cho hai chiếc ghe lướt nhẹ trên mặt nước. Cùng khi đó, hai đấu thủ hạ ngang cây côn nhắm nhau, chờ đúng tầm tay là sát phạt.
Khán giả lo thay cho đấu thủ Hoàng Long, không những đã có tuổi lại còn nhỏ người, trái ngược hẳn với đấu thủ Thủy Mã.
Đúng tầm tay rồi! Thủy Mã lăm lăm nhằm ngực đối phương thọc mạnh một côn, thế như vũ bão. Lẹ như chớp Hoàng Long dằn cây Trường Côn rồi quẩy đầu côn gạt phắt côn đối phương sang bên, tiện tay đâm luôn vào vai địch thủ. Thủy Mã đưa cán côn gạt, trở đầu định đánh nữa thì hai chiếc ghe đã lướt xa quá tầm tay.
Hiệp đấu ấy coi như huề, bởi vậy phải đấu lại cho tới phân thua được. Hai chiếc ghe lại được buông chèo như trước, lần này lướt lẹ hơn. Thủy Mã lầm lì, tọa tấn nhằm mặt đối thủ cạnh tranh. Hoàng Long hất cán côn gạt lên, đồng thời thúc mũi côn vào ngực địch thủ, nhưng bị gạt ngay. Ghé lướt ra xa, hết tầm đánh.
Khán giả vỗ tay cổ vũ ầm ầm. Trận đấu gay go, hai đấu thủ cùng đồng tài đồng sức. Thường thường thì cứ giáp nhau hiệp đầu, là đã có người bị văng xuống nước rồi. Người thuộc hai lò vào chung kết, ai nấy đều hồi hộp sợ cho đấu thủ lò nhà.
Hiệp ba lắc đầu. Lần này, hai đấu thủ cùng thọc trúng bụng nhau, nhưng vì ngực và bụng có đeo lá đáp lộn bông nên không ai bị đau. Hai bên cố sức đẩy, cây côn dài bằng gỗ thon cong vòng hẳn lại, mà hai đấu thủ vẫn tọa tấn chắc như núi trên cầu vồng. Sức đẩy mạnh đến nỗi hai chiếc ghe dang xa ra hai bên. Quá tầm tay, hai đấu thủ cùng thâu trường côn lại giữa tiếng cổ vũ ầm ầm của khán giả.
Ngồi trong hoa thuyền, Chu Đức Kiệt khoái quá nói với mọi người :
- Thiệt không ngờ xứ hảo mỹ nữ này lại có cuộc thi hàng năm đề cao tinh thần thượng võ đến thế.
Xuân Nhi say đắm nhìn Đức Kiệt :
- Chu lang bắt đầu mến xứ sở Ngọc Nhi này rồi đó! Hay là ở liền đây với em vài tháng đi.
Âu Dương Bích Nữ nhìn lé cô đào Xuân Nhi đa tình :
- Chao ôi! Trưởng huynh có ý trung nhân rồi đó, mà tẩu tẩu ta dữ như hổ, nên thận trọng kẻo bà ấy phát ghen tìm tới đây, thì Phù Dung viện tan ra như cám.
Lam Y mỉm cười bảo Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ :
- Coi kìa, hiệp tư bắt đầu. Hay quá.
Hai ghe đấu lướt gần nhau, lẹ hơn mấy lần đầu. Chuyền này, Thủy Mã áp dụng đấu pháp khác, hoa trường côn quật lia lịa vào chỗ chân đối thủ. Hoàng Long nhảy vọt lên tránh đòn, thét lớn, đồng thời thúc luôn đầu côn vào cổ đối phương. Thủy Mã tránh không kịp, sợ đòn độc trúng cổ họng đánh ngửa đầu tránh, dè đâu Hoàng Long hạ thấp luôn ngọn côn xuống ngực dùng toàn lực đẩy. Thủy Mã mất trớn ngay từ đầu, bị hất ra khỏi cầu lên ngửa xuống sông.
Tủm. Nước bắn tung tóe. Khán giả vỗ tay, reo hò ầm ĩ, hoan hô Hoàng Long thắng cuộc giựt giải vô địch Trường Côn.
Đứng thẳng trên cầu vồng, đấu thủ Hoàng Y của lò Hoàng Long giơ cây cao côn theo tục lệ.
Một đoàn mười chiếc ghe nhỏ phe Hoàng Long treo đèn kết hao từ hai bên bờ lướt ra bơi theo ủng hộ hai bên ghe chiến thắng, gõ trống, khua chiêng, cổ vũ ăn mừng.
Cuộc đấu chung kết đã hoàn mãn. Người xem kéo ra về như vỡ chợ.
Chủ lái hoa thuyền cũng ra tay chèo, trở lại, ba hoa :
- Thưa quí vị công tử, cuộc đấu Trường Côn năm nay đặc biệt lắm đấu tới bốn hiệp, không như mọi năm ăn thua chỉ vỏn vẹn có hai lần giáp đấu, ngờ đâu võ sĩ có tuổi lại nhỏ thó ấy mà mạnh tay đến thế.
Hoa thuyền bơi quanh quẩn đó đây hồi lâu, tới khi trời tối hẳn, hoa đăng trên bến dưới thuyền sặc sỡ muôn màu. Đức Kiệt mới bảo chú lái trở về bến cũ. Một hoa thuyền rộng lớn khác, bên trong lố nhố mấy người lực lưỡng trang phục ra dáng võ sĩ, neo ở cột bến.
Tiểu Trại Chiêu Quân nói :
- Thuyền neo đậu ở đây, chắc Trại Chiêu Quân và Đại Lang đã về rồi. Hẳn là họ đang thù tạc.
Lam Y hỏi :
- Ái nương à, những người võ phục đen ngồi trong hoa thuyền là ai vậy?
- Vệ sĩ của Đại Lang đó. Con người này lắm nhiều tiền bạc, nên đi đâu cũng cần hộ vệ.
Đào nương vén xiêm y định bước xuống bực đá, Lam Y níu tay nàng lại bế bổng lên tay, tươi cười :
- Để ta bế ái nương lên bờ kẻo lấm xiêm y hết.
Dứt lời, Lam Y nhảy vụt lên bờ đá, đặt Tiểu Trại Chiêu Quân xuống.
Âu Dương Bích Nữ sợ Chu Đức Kiệt bắt chước Lam Y bế Xuân Nhi bèn quơ tay cặp cả Phượng Nhi lẫn Xuân Nhi nhảy vọt xuống bờ đá.
Chu Đức Kiệt cố nhịn cười, chờ Bàng Tuấn dắt Tiêu Nhi lên bờ, rồi mới lững thững theo sau.
Lam Y cười bảo Xuân Nhi :
- Tam đệ có lệnh của tẩu tẩu kèm giữ Chu lang đấy.
Ức quá, Xuân Nhi lườm Âu Dương Bích Nữ nói mát :
- Đã vậy thì được lắm! Đêm nay, em xé nát Chu lang cho mà coi.
Nghe vậy, bọn đào nương lả lướt vỗ tay cười rộ. Mấy tên vệ sĩ thấy vậy lố nhố ra mũi hoa thuyền xem.
Trong khi mọi người theo bậc đá lên mặt đường, Chu Đức Kiệt trả tiền thưởng thêm cho phu thuyền, Âu Dương Bích Nữ chợt nghĩ ra điều gì, trở bước hỏi mấy tên vệ sĩ ở hoa thuyền bên kia :
- Độc Giác Long Ma đại ca vào viện rồi chớ.
Mấy tên vệ sĩ ngẩn người chưa kịp đáp, thì Âu Dương Bích Nữ đã nói tiếp :
- Ma đại ca mời chúng ta tới Phù Dung viện dự tiệc tối nay, nếu người chưa tới thì ra đi dạo phố một lát.
Một tên trong bọn vệ sĩ ngập ngừng đáp :
- Chủ nhân tôi vừa vào xong, để tôi đi báo!
- Thôi khỏi cần chỗ người nhà cả, ta vào việc ngay bây giờ kẻo người nhà chờ đợi.
Nói đoạn, cô gái Thiếu Lâm đi tuột lên đường.
Tuy ngờ vực, nhưng thấy mấy người lạ có bản lãnh, chúng cho rằng của Độc Giác Long rất giỏi võ nghệ nên tưởng thật, không hỏi gì thêm nữa.
Gần vào tới cửa viện, Đức Kiệt ghé tai Âu Dương Bích Nữ nói nhỏ :
- Ngu huynh khen đó, mánh lới khá lắm!
- Học mãi cũng phải biết khôn chớ sao.
Để bọn Tiểu Trại Chiêu Quân vào trước, Lam Y quay lại bảo mọi người :
- Biết đích xác là Ma tặc đạo rồi, ta liệu hành động ngay kẻo lỡ dịp. Nên làm thế này, thế này.
Mấy người kéo vào nhà, Lão Chiêu Quân cầm ống điếu, phì phèo hút thuốc bảo :
- Quí vị công tử du thuyền có vui không. Tiệc rượu sẵn sàng rồi, khi nào dùng xin cứ ra lệnh.
Chu Đức Kiệt đáp :
- À, vui lắm, các đào nương đây cũng rất khá, hiềm một nỗi...
Mặc cho Đức Kiệt nói chuyện với mụ béo, Lam Y bảo bọn Tiểu Trại Chiêu Quân :
- Các ái nương về phòng thay áo mỏng cho nhẹ nhàng rồi hãy uống rượu. Y phục rườm rà không tiện.
Nghe Đức Kiệt nói, mụ chủ viện sửng sốt :
- Ủa, công tử không được vừa ý điều chi? Chắc mấy con bé không biết chiều chuộng rồi hẳn? Phải phạt chúng nó mới được! Để tôi bắt chúng tạ lỗi và... hết lòng chiều chuộng công tử nhé?
Đức Kiệt xua tay :
- Không phải vậy! Đừng quở mắng oan uổng các đào nương thêm tội! Chúng ta không hài lòng là vì... mụ!
Lão Chiêu Quân tròn mắt, ngạc nhiên :
- Trời đất quỷ thần ơi, tại tôi ư?...
- Phải. Tại mụ. Chúng ta từ miền xa đến đất Ngọc Nhi châu cũng chỉ vì nghe đồn có Trại Chiêu Quân sắc nước hương trời, ngờ đâu mụ cho mấy đào nương hạng xoàng tiếp, và dành người đẹp cho kẻ khác là tại sao? Mụ khinh chúng ta ít tiền phải không?
Mụ chủ hoảng hốt :
- Bẩm công tử, đâu có thế! Bản viện có Trại Chiêu Quân thiệt, nhưng nó lấy chồng từ nhiều tháng nay rồi, nên phải cho em nó tiếp quý vị, vậy không thể cho là tôi sơ suất được. Quý công tử hiểu giùm.
Lam Y dằn giọng :
- Ủa! Mụ này chối leo lẻo! Trại Chiêu Quân lấy chồng mà sao nó còn tiếp thằng hắc tử đại, tiểu lang chi đó trên lầu kia kìa. Mụ không khinh, không thiên vị sao lại hành động kỳ vậy?
Lão Chiêu Quân cuống quít :
- Công tử nguôi giận cho tôi được thưa vài điều... số là...
Lam Y quát :
- Số là cái gì! Ta không cần biết! Mau gọi con Trại Chiêu Quân ra đây tạ lỗi và bắt nó hầu tiếp anh em ta đêm nay, thì mọi sự sẽ được bỏ qua, trái lại ta phá tan Phù Dung viện cho. Khinh mạn chúng ta đến nước này là cùng! Mau lên.
Lão Chiêu Quân tái mặt, run rẩy, luống cuống quỳ xuống, chắp tay van :
- Trời đất ơi, trăm lạy công tử nói nhỏ chứ, kẻo nguy hiểm cả bây giờ. Số là vị quan khách kia bao hết, không cho Trại Chiêu Quân tiếp khách nên tôi cũng không biết nói sao. Người ấy tánh nóng như lửa, dữ hơn cọp, y nghe thấy chuyện này không những bản viện tan nát, mà quý vị công tử cũng sẽ bị vạ lây. Xin người hiểu cho.
Bọn đào nương thấy to tiếng, chạy vội ra xem, ả nào cũng sợ xanh mặt quỳ xuống van lớn.
Lam Y đập bàn, quát to hơn :
- Chúng bây sợ thằng giặc ấy chớ ta đây không coi nó vào đâu! Để ta lên lầu xem nó có ba đầu sáu tay không!
Mụ chủ viện và bọn đào nương vội vàng níu áo bào Lam Y lại.
Giữa khi ấy có tiếng chân chạy thình thịch trên lầu, tiếp theo tiếng thét như sấm :
- Bọn nhãi ranh nào dám vào hang vuốt râu cọp khinh động dưới lầu đó? Bây muốn chết non cả sao! Lão gia đây, thằng nào muốn thì cứ nói!
Tam hiệp và Bàng giáo đầu cởi phăng áo bào liệng trùm lên bọn đào nương.
Đức Kiệt và Âu Dương Bích Nữ đứng chặn luôn hai bên cửa chánh ra vào. Bàng Tuấn dồn mụ chủ viện và các tay em vào góc nhà.
Lam Y đứng giữa nhà mắng vọng lên lầu :
- Thằng giặc có giỏi xuống đây, nếu sợ thì ta lên lầu cũng được!
Nhìn xuống, thấy lầu dưới có bốn người, một người cao lớn vạm vỡ đáng kể đứng trấn bên cửa, còn hai thanh niên tuy dáng dấp lanh lẹ nhưng bạch diện như thư sanh, chắc cậy thế vương tôn công tử hách xằng. Duy người thứ tư điệu bộ tầm thường.
Vốn là tay giang hồ đại đạo đã từng giao tranh với nhiều hắc hán dữ dội mà chưa biết thua sợ ai. Độc Giác Long cười khẩy khinh thường nhảy đại xuống lầu, khí thế hung hăng như quỷ sứ.
Chỉ mặt Lam Y, Độc Giác Long quát :
- Thằng nhãi này muốn về chầu tổ, phải không? Biết điều quỳ ngay tạ tội, ta thương tình tha cho về. Mau, kẻo uổng mạng bây giờ!
Lam Y mắng lại :
- Hay là ta bắt ngươi trói lại nộp quan và bắt luôn Trại Chiêu Quân hầu tiếp đêm nay, nghe?
Độc Giác Long nổi giận đùng đùng, hoa quyền nhắm mặt địch thủ đấm mạnh.
Lam Y gạt bắn tay quyền đó sang bên.
Độc Giác Long cười lớn :
- Khá lắm! Nhưng chịu được mấy quyền hả con?
Dứt lời, y chồm tới phóng luôn một quyền tay tả nhắm ngực địch thủ theo thế “Mãnh Hổ Thâu Tâm” mạnh mẽ vô cùng.
Lam Y khen thầm, đứng Chảo Mã Tấn đưa tay hữu gạt mạnh khiến Độc Giác Long đảo người quay đi một vòng.
Lúc bấy giờ, tên đạo tặc mới nhận ra đối phương thập phần lợi hại, nên vừa đánh vừa la hét om xòm.
Bọn vệ sĩ thấy động, từ dưới thuyền kéo ồ lên.
Chu Đức Kiệt bảo Âu Dương Bích Nữ :
- Hiền đệ đứng giám chiến, để bọn này mặc ngu huynh...
Lam Y sợ dưới nhà đông người chật chội bèn lui ra hướng thang lầu. Âu Dương Bích Nữ liền nhảy vọt lên lầu trước phòng kẻ ám hại. Lam Y đánh nhử một quyền rồi phi thân lên lầu theo Âu Dương Bích Nữ.
Tưởng đối thủ chờn tay tìm đường thoát, Độc Giác Long đuổi theo. Cùng lúc ấy, Chu Đức Kiệt lọt ra trấn ngoài cửa đánh trận bọn vệ sĩ. Bàng Tuấn cũng theo ra giúp.
Cuộc đánh phá rầm rầm khiến lân cận kéo ra xem chật đường.
Mụ Lão Chiêu Quân bứt đầu, bứt tai lạch bạch chạy ra chạy vào, phân trần kêu khổ.
Nói về Độc Giác Long thấy hai thanh niên đối thủ nhảy cả lên lầu rồi, thì không dám phi thân lên theo, e bị chặn đánh bất tử. Y bèn lên lối thang lầu...
Lúc Lam Y nhảy lên lầu, thấy một đào nương môi son má phấn kiều diễm tuyệt vời, và nhận ra Trại Chiêu Quân hôm gặp ở Thạch huyện.
Nàng bèn nảy ra ý định trêu Độc Giác Long, dặn Âu Dương Bích Nữ chặn đánh đạo tặc, đoạn bế bổng Trại Chiêu Quân lên tay :
- Gớm, ái nương tránh ta mãi! Nằm trong tay ta không hơn là ở với tên Độc Giác Long hắc tử kia sao?
Trại Chiêu Quân sợ tình nhân trông thấy vội nhoài người xuống đất, nhưng chạy sao khỏi hai cánh tay sắt của Lam Y.
Độc Giác Long lần lên tới đầu thang lầu thấy vậy nổi ghen, gầm lên như hổ, nhào tới nhưng bị Âu Dương Bích Nữ chặn đánh ngay.
Y quát lớn :
- Thiếu niên biết điều đứng sang bên kẻo toi mạng bây giờ!
Không nói, không rằng, Âu Dương Bích Nữ hoa quyền, đạo bộ nhằm sườn đối thủ, đánh luôn một thế Thần Cung Xạ Hứa Điền, lối tấn công rất dữ dội vững vàng.
Độc Giác Long đành phải gạt tay quyền ấy, định bụng gạt xong sẽ quay bỏ Âu Dương Bích Nữ xả đánh Lam Y cứu Trại Chiêu Quân, ngờ đâu cánh tay Âu Dương Bích Nữ cứng như sắt, bộ tấn vững vàng như bàn thạch khiến y rung chuyển toàn thân phải thoái lại một bước.
Thừa thế, Âu Dương Bích Nữ xô vào dùng ngọn Hàn Kê Độc Cước đánh luôn một lúc ba đòn, tay hữu điểm vào mắt, tay tả thúc vào mỏ ác và chơn hữu đá búng nhằm hà bộ đối phương.
Biết gặp phải tay quyền lợi hại, Độc Giác Long dùng thế Tọa Mã Tam Phân đỡ, thoát thế độc...
Nhưng, nữ môn đồ xuất sắc của Thiếu Lâm tự thét :
- Coi đây!
Đồng thời hạ chơn hữu xuống chận lên chân đối thủ, tay hữu móc luôn trái đấm vào cằm Độc Giác Long, đòn đánh như vũ bão. Đó là thế Lão Mai Độc Thụ. Vội co chân đánh đòn chận và đưa tay gạt trái đấm, Độc Giác Long mất thăng bằng đảo hẳn người ra tới lan can bên thang lầu.
Y không ngờ thanh niên mỹ mạo kia lại có lối tấn công tới tấp, mỗi lần chuyển thế là đưa ngay ra một ngón độc, khiến y kinh sợ về dũng lực cũng như về nghệ thuật đặc biệt cao siêu.
Có vậy mà thôi đâu! Phía trong, Lam Y bế gọn Trại Chiêu Quân ra chiều âu yếm nồng nàn :
- Độc Giác Long! Hãy chịu khó ở đó học môn quyền cước của đệ tam thiếu gia! Ta đem nàng vào xem vóc ngọc mình ngà như thế nào đây!...
Dứt lời, Lam Y bế tuốt Trại Chiêu Quân vào phòng trong.
Giận quá, Độc Giác Long liều mạng vận dụng toàn lực nhảy xô vào xử thế Toàn Phong Tảo Lạc Diệp, phóng cước đá vèo vèo vào mặt Âu Dương Bích Nữ.
Cô gái Thiếu Lâm tọa tấn tránh khỏi dễ dàng, đưa luôn tay Mãnh Hổ Phác Dương móc xương quai xanh địch thủ.
Bị đòn gần quá, Độc Giác Long vội phóng mình đứng lên chiếc án thư tránh khỏi. Đồng thời rút luôn mũi dao ngắn ở đai lưng ra nhằm mặt địch thủ lao người đâm bổ xuống một dao thiệt mạnh, quyết hạ cho mau lẹ tên “Đệ tam thiếu gia” mỹ mạo kia để cứu Trại Chiêu Quân có lẽ lúc này đang bị... dập liễu vùi hoa!
Nếu là một tay non, công phu luyện tập chưa đạt tới mức độ siêu việt, tất phải lùi bước kinh sợ trước đòn tấn công hùng hổ của tên tặc đạo ấy, nhưng là môn đồ hữu hạng chân truyền của Thiếu Lâm tự, Âu Dương Bích Nữ liền dùng một lối đánh cực kỳ điêu luyện của môn nhã quyết đoạt đao và hạ địch thủ...
Chờ Độc Giác Long nhào gần tới, nàng tung hai chân nhảy lộn ngược người về phía sau, toàn thân quay tròn như chiếc bánh xe.
Với lối nhào ấy, nàng tung song cước đá ngược từ dưới lên trúng cổ tay địch thủ khiến y đau đớn buột đao văng đi một nơi, hai tay loạng choạng hở mặt và hở ngực...
Vừa đứng xuống mặt gạch hoa, Âu Dương Bích Nữ xử luôn thế Lão Hổ Xuất Động chân tọa Đinh Tấn, tay tả thâu vào bên sườn, tay hữu đấm thẳng cực kỳ mạnh trúng cằm đối phương bật lên một tiếng “rập” khô khan.
Độc Giác Long trúng trái “Thôi Sơn” mạnh quá bật ngửa người ra phía sau chết ngất cây thịt đổ xuống chuyển cả sàn lầu.
May cho y là Âu Dương Bích Nữ muốn bắt sống nên chưa dùng toàn lực và chỉ đánh nhằm cằm cho y ngất đi thôi. Nếu nàng định hạ sát, tất trái đấm sắt ấy sẽ trúng mũi, cổ hay tim địch thủ thì Độc Giác Long không thể nào thoát chết.
Nói thì lâu, thật ra trận giao tranh chưa đầy mười hiệp.
Nghe tiếng người đổ huỵch xuống sàn gạch, Lam Y biết Độc Giác Long đã bị hạ, liền kéo Trại Chiêu Quân chạy ra hỏi :
- Bắt sống hay nặng tay quá rồi hả tam đệ.
Âu Dương Bích Nữ mỉm cười :
- Vừa đủ để thằng giặc này ngủ say thôi.
Trại Chiêu Quân ngơ ngác không ngờ thanh niên mỹ mạn kia lại có sức hạ nổi một người mạnh mẽ như Đại Lang. Tưởng y chết, nàng sợ quá ôm mặt khóc ầm ĩ.
Mụ Lão Chiêu Quân và bọn đào nương cũng vội vàng kéo lên lầu. Người nào, người ấy run cầm cập.
Lam Y chỉ Độc Giác Long nói :
- Thằng này là tên tặc đạo cướp của giết người hồi cuối năm ngoái bên Phong Giang huyện, chúng ta được lệnh truy nã. Các người chứa chấp nên can tội đồng lõa.
Nói về Chu Đức Kiệt ra trấn ngoài cửa viện.
Ba tên vệ sĩ cậy mạnh ào ào chạy tới như hùm beo tưởng nuốt chửng ngay Chu Đức Kiệt. Chẳng ngờ, vừa xông tới, tên đi đầu bị luôn một đá bật ngửa đầu va xuống đất tựa trời giáng ngất liền. Hai tên kia vội rút giản nhào tới đánh. Đức Kiệt nhảy tới vào bắt trúng cổ một tên bóp mạnh, khiến tên ấy đau quá rời ngọn giản rớt xuống đất, đồng thời chàng độn vai hất y lộn ngược quất đúng tên thứ ba thành thử cả hai tên cùng té đồng kềnh ra đất.
Đức Kiệt, Bàng Tuấn nhảy tới đè chặt, rút dây lưng của chúng trói giựt cánh khủy lại. Đoạn họ Bàng trói luôn tên bị ngất, rồi cùng Đức Kiệt xách cả hai tên liệng vào Phù Dung viện.
Thấy người lân cận tò mò đứng xem đông đảo, Bàng Tuấn trở ra giải thích :
- Chúng tôi là giáo đầu bên Phong Giang huyện theo dõi bọn cướp hồi cuối năm ngoái. Nay biết chúng lẩn quất đi lại hát xướng tại Phù Dung viện nên tới bắt. Câu chuyện có thế, xin quí vị giải tán.
Mọi người nghe nói bèn kéo nhau ra về, Bàng Tuấn vào viện đóng cửa lại. Khi đó, Đức Kiệt đã lên lầu gọi vọng xuống :
- Giáo đầu kiếm dây chắc chắn trói tên chánh phạm này nữa.
Bàng Tuấn liền lên lầu cởi xích sắt quấn sẵn trong người trói chặt Độc Giác Long lại rồi kéo tuột chiếc mũ tê ngưu của y ra.
Quả nhiên, Độc Giác Long có chiếc bướu lớn bằng trái đào ở trên đỉnh đầu.
Mụ Lão Chiêu Quân quỳ xuống đất van lạy :
- Chúng con mở viện xướng ca chỉ có mục đích tiếp khách, ai có tiền cũng vào được, nên không ngờ tên này là tặc đạo, thiệt tình không hề chứa chấp nó, mong quý vị thứ tình cho, bắt tội chúng con thiệt tình oan uổng quá.
Lam Y vờ nghiêm nét mặt gắt :
- Mụ còn chối leo lẻo cái nỗi gì! Chứa chấp oa trữ tiền bạc ăn cướp của nó hàng bao nhiêu tháng nay, gia dĩ dành riêng cả Đào nương kiều diễm nhất viện này tiếp tên đạo tặc, khách sang đến cũng từ chối nay còn múa lưỡi chạy tội phải không? Thế nào ta cũng trình quan hạ ngục mụ để báo thù việc không cho đào đẹp tiếp mới xong.
Mụ chủ quán cuống quít mếu máo lạy như tế sao :
- Thiệt tình chúng con không tiếp nó cũng không được. Ăn khách có một mình Trại Chiêu Quân, nó độc chiếm nàng nên trả tiền bồi thường chớ con không dám chứa chấp... hu... hu... hu.
Lam Y mỉm cười dịu giọng :
- Mụ nói thế, ta cũng biết vậy sẽ tâu với thượng cấp gỡ tội cho mụ, nhưng phải bày tiệc để chúng ta thưởng tài ca xướng của Trại Chiêu Quân đêm nay, nghe.
Được lời như cởi mở tấm lòng. Lão Chiêu Quân phục phịch lạy tạ ơn đứng dậy hối các tay em dọn dẹp gọn gàng bày tiệc tiếp khách.
Chu Đức Kiệt bực mình trừng mắt nhìn Lam Y.
Nàng cười ranh mãnh :
- Mấy khi có dịp vào ca nhi viện lại có đào nương tuyệt sắc hầu tiếp. Chi bằng ta ở lại đầy chè chén no say, mai đi sớm cũng được chớ sao.
Đức Kiệt chỉ Độc Giác Long.
Lam y nói tiếp :
- Dễ lắm! Trong khi chủ viện sửa soạn tiệc rượu, phiền giáo đầu lên trình quan sở tại cho quan quân theo về đây, áp giải chúng tạm giam lấy khẩu cung sơ vấn tại chỗ rồi mai sẽ hay.
Bàng Tuấn nói :
- Nhị đệ nói phải, ngu huynh đồng ý. Cứ chè chén đi, đừng chờ mất công nhé.
Nói đoạn, Bàng Tuấn xuống lầu xem lại các mối dây trói bọn vệ sĩ của bọn Độc Giác Long, rồi mở cửa ra khỏi Phù Dung viện.
Chu Đức Kiệt theo xuống đóng cửa lại cẩn thận. Sau đó, chàng tóm dây trói chặt chân ba tên đó lại mới an tâm lên lầu bảo mụ chủ viện :
- Phải canh chừng nếu để sẩy một tên nào, mụ sẽ thế thân đó.
Lam Y hỏi :
- Nhà riêng tên tặc đạo này ở đâu! Nói cho thiệt.
Lão Chiêu Quân đáp :
- Nghe nói hình như y mướn nhà ở Văn Lâu lộ, số thập nhị, thiệt ra con chưa tới đó bao giờ.
- Được rồi, mụ cho dọn tiệc ngay. Đói bụng lắm rồi!... Nào, mời trưởng huynh và tam đệ vào cả đây.
Bọn đào nương rụt rè không dám vào.
Lam Y trừng mắt :
- Bộ ta độc ác dữ dội, lắm nên các ái nương không dám hầu tiếp hả.
Bọn Trại Chiêu Quân vội vàng líu ríu theo Lam Y vào phòng.
Lúc đó Độc Giác Long đã hồi tỉnh cựa quậy trong góc nhà, xích sắt kêu loảng xoảng. Cằm y bị tím lịm sưng húp cả bộ râu quai nón chổi xể.
Thấy Lam Y bắt Trại Chiêu Quân vào phòng hầu rượu, Độc Giác Long tức tối, căm hờn quẩy mạnh muốn đứt dây trói liều mạng đánh cứu người yêu, nhưng thiết xích cứng nhắc, chân tay bị trói gò càng quấy càng bị nghiến đau, nên đành nằm im biết phận chửi rủa cũng vô ích.
Hồi lâu, Bàng Tuấn trở lại với nhân viên bổn hạt.
Chu Đức Kiệt chạy ra giúp mọi người giam bốn tên tặc đạo vào tù xa.
Chàng nói với Bàng giáo đầu :
- Độc Giác Long có nhà riêng ở Văn Lâu lộ, số thập nhị, giáo đầu hạ ngục y xong nên cùng nhà chức trách sở tại tới đó khám xét, xem có tìm ra tang vật vụ cướp ba nhà Thường, Lý, Trần bên Phong Giang huyện không? Nếu cần, chúng tôi tình nguyện đi theo.
Bàng Tuấn nói :
- Quý vị khỏi lo. Tôi sẽ hoàn tất vụ khám nhà gian đạo ngay tối nay. Mai quan sở tại sơ cung và cho quân áp giải chúng về Phong Giang huyện.
Đức Kiệt trở lên lầu thuật cho Lam Y và Âu Dương Bích Nữ nghe.
Lam Y nói :
- Chúng ta không muốn nhúng tay vào đoạn cuối này là để gây uy tín cho Bàng giáo đầu đối với các bạn đồng nghiệp của ông ta đó thôi! Ăn xong, anh em ta về cả quán trọ, ham luyến chi nơi ca viện này.
Trưa hôm sau, Bàng giáo đầu mới từ nha sở tại về tửu quán, nói với mọi người.
- Quan sở tại đã lấy sơ cung, Độc Giác Long nhận hết khai tên Lỗ Đắc là chỉ điểm viên của y trong vụ cướp cuối năm ngoái. Đêm qua, khám xét nhà tên gian đạo lấy được mấy cái thứ tang vật quan trọng. Sớm mai, ta sẽ tải tội nhân về Phong Giang gấp.
Đức Kiệt nói :
- Nếu vậy tốt lắm, anh em trễ nhiều thì giờ quá trong việc này rồi.
Trong khi đi đường không xảy ra chuyện gì đáng tiếc.
Về đến Phong Giang huyện, anh em Chu gia về thẳng nhà Kỳ lão riêng Bàng giáo đầu cùng bọn sai nha Ngọc Nhi châu áp tải bọn Độc Giác Long vào huyện.
Hôm sau, Liễu tri huyện cho mời ba anh em Chu Đức Kiệt vào huyện bắc ghế ngồi nghe xử án.
Quân lính điệu Độc Giác Long và Lỗ Đắc.
Cả hai tên cùng không chịu quỳ.
Huyện quan thét nha lại dùng bèo quật vào đầu gối thiệt đau. Lỗ Đắc không chịu nổi quỳ xuống trước, nhưng Độc Giác Long vẫn đứng trơ trơ ngạo nghễ.
Giận quá, huyện quan thét lính dùng vồ sắt khảo mãi, sau Độc Giác Long thấm đau mới quỳ xuống.
Liễu tri huyện chất vấn :
- Độc Giác Long! Mi có nhận tội cướp của giết người ba nhà Thường, Lý, Trần năm ngoái tại bổn huyện không.
Độc Giác Long cười sằng sặc :
- Đã vô ý sa cơ tới đây, cần chi ta phải chối? Cướp của cũng là tao mà giết người cũng là tao. Còn gì nữa.
Huyện quan hỏi :
- Đồng bọn với ngươi có tên Dương Cảnh Thái không?
Độc Giác Long cười vang :
- Hiếu tử Dương Cảnh Thái chớ gì? Người ấy mà đồng lõa với tao thì còn trời đất nào nữa? Nghe nói mày cùm kẹp nhục hình Dương hiếu tử và khép y vào tử tội, ta phát nực cười! Thế mà cũng phụ mẫu cho dân? Sau này chết xuống hoàng tuyền không sợ Bao Chuẩn cười cho mở mắt sao.
Bị Độc Giác Long dồn cho một chặp, Liễu tri huyện vừa xấu hổ, vừa giận quá, hỏi Lỗ Đắc :
- Ngươi có nhận tội đồng lõa với Độc Giác Long này không?
Lỗ Đắc chưa kịp trả lời thì Độc Giác Long cười nói lớn :
- Để ta khai cho mà nghe. Vụ cướp giết ba nhà Thường, Lý, Trần là do ta chủ mưu. Lỗ Đắc chỉ đường cho ta. Thằng Ma Vân cốc này đầu đội trời, chân đạp đất, đường đường anh hùng, mình làm mình chịu không cần đổ thừa cho ai. Không hèn mạt vu oan buộc tội oan cho kẻ hiền lương. Ta giết người đã nhiều, kể không hết nay sa cơ đến đây, bất quá tử hình là cùng chứ gì.
Quay sang Lỗ Đắc, Độc Giác Long nói tiếp :
- Lỗ hiền đệ! Bây giờ chúng ta có chết chẳng qua hai mươi năm nữa lại nghiễm nhiên thành trang hảo hán tha hồ mà dọc ngang hồ hải! Chúng ta đã cùng nhau hành động, sa cơ bị bắt lúc chết phải sao cho có nghĩa khí, sao lại hèn nhát vu khống cho kẻ hiền lương vô tội.
Lỗ Đắc nghe Độc Giác Long thuyết một hồi, bèn nói :
- Ma đại ca đã anh hùng như vậy, không lẽ Lỗ Đắc này chịu kém hay sao? Trước kia khai man cho Dương Cảnh Thái vì tên Hồ Tích Thiện xúi giục ám hại họ Dương. Tích Thiện hứa sẽ tìm cách giúp tiểu đệ ra nên bị choáng mắt làm liều. Nhưng xét ra nó chẳng hành động chi cả, nên rất hối hận đã vu cáo họ Dương. Tiểu đệ rất vui lòng đồng sanh đồng tử với đại ca.
Độc Giác Long hất hàm huyện quan :
- Đèn trời đã nghe rõ chưa.
Liễu tri huyện cho giải Hồ Tích Thiện ra.
Lỗ Đắc trông thấy họ Hồ liền mắng :
- Thằng giặc họ Hồ này! Mày xúi ra hại kẻ hiền lương rồi mày cũng bất nhân với ta luôn, ngờ đâu hại nhân, mày cũng không thoát khỏi lưới trời! Ta đã khai hết rồi đó. Liệu mà nói kẻo bị cùm kẹt nát thây. Hèn mạt đến như mày là cùng.
Dứt lời y nhổ toẹt vào mặt Tích Thiện.
Liễu tri huyện hỏi :
- Hồ Tích Thiện! Mi đã nghe rõ chưa! Trả lời sao?
Tích Thiện lạy như tế sao, mếu máo kêu oan.
Huyện quan giận quá hét :
- Tội trạng ngươi đã rành rành lại còn tờ ngươi tự cung trên giấy, nay còn chối gì nữa! Quân đâu tấn nó cho ta!
Quân lính dạ rân, xúm vào vật Tích Thiện lột quần để mông ra, đánh một hồi mấy chục roi.
Tích Thiện đau quá kêu rống như heo bị chọc tiết xin khai. Sai nha liền dựng y dậy.
Tích Thiện bèn rên rỉ khai rõ đầu đuôi việc y say mê Kỳ thị, nên hãm hại Dương Cảnh Thái để đoạt nàng, khai không thiếu sót một chi tiết nào khiến mọi người nghe thấy đều tức giận.
Liễu tri huyện truyền thơ lại đưa tờ cung cho Độc Giác Long, Lỗ Đắc và Hồ Tích Thiện ký vào đó.
Dương Cảnh Thái đã được tha trước đó mấy ngày.
Liễu tri huyện nhân phiên xử án này, tuyên bố tuyển họ Dương vào chức tư văn.
Dân Phong Giang xem xử án xong kéo nhau ra về, ai cũng lấy làm khoái chí, bàn ra tán vào khen hai nhà họ Dương, Kỳ có phước mới gặp được các bực kỳ hiệp ra tay tế độ.
Liễu tri huyện nói với ba anh em Chu Đức Kiệt :
- Nhờ quí vị, bổn chức mới tra ra cái huyết án này và tránh được một việc tổn hại âm đức, vậy xin ba vị cho biết quý tánh cao danh để được ghi nhớ, và nhân bữa nay, mời quí vị vào hậu đường dự tiệc cho bổn chức được thù tiếp anh hùng.
Đức Kiệt đáp :
- Đại quan chỉ nên biết chúng tôi là anh em Lam Y nữ hiệp thế thôi. Còn việc thù tạc cũng mong đại quan cho phép bọn tôi cáo từ nốt vì cần lên đường ngay, quyết không thể lưu lại được lâu hơn nữa.
Biết không lưu lại được, Liễu tri huyện bèn tiễn Tam hiệp ra tận huyện môn mới trở vào.
Kỳ lão và Dương Cảnh Thái đã đón sẵn ở ngoài cửa huyện nha rước ba anh em Chu gia về nhà thù tiếp.
Với vụ án Phong Giang huyện, danh tiếng Tam hiệp vang dậy như cồn khắp ba châu Dương, Tô, Hàng.
0
«« « 1 2 » »»