<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.03.2013 14:53:13 bởi dolamthuan>
LÂM NGỮ ĐƯỜNG
TRUNG HOA ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN
TRẦN VĂN TỪ dịch theo nguyên tác tiếng Anh: MY COUNTRY MY PEOPLE
Lời giới thiệu của PEARL S. BUCK, Giải Nobel Văn Chương 1938
Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin 2001
Ngày nay một trong những phong trào quan trọng nhất ở Trung Quốc là sự tìm tòi, khám phá ngay chính tổ quốc của họ bởi những nhà trí thức Trung Quốc, một thế hệ trước đây, những người tiến bộ nhất ở hàng ông cha họ đã bắt đầu cảm thấy bức xúc bất mãn với chính ngay tổ quốc của họ. Họ đã ý thức được – thật ra thật lòng họ đã buộc lòng phải ý thức được rằng nước Trung Hoa nếu cứ như trong thời quá khứ thì không thể đối phó được với sự tân tiến đầy nguy hiểm và hung hãn của Tây phương. Tôi không có ý nói về sự tân tiến về mặt chính trị nhiều hơn là sự tiến triển về các diễn biến kinh tế, giáo dục và quân sự. Những bậc tiền bối Trung Hoa này, những vị ông cha của thế hệ hiện tại ở Trung Hoa, là những nhà cách mạng thật sự. Họ đã diệt trừ ách thống trị quân quyền cổ lỗ, với một tốc độ khó tin được họ đã thay đổi hệ thống giáo dục; với một nhiệt tâm không bao giờ mệt mỏi, họ đã hoạch định và thành lập một chính quyền hiện đại. Thời xưa không một chính quyền nào dưới tay một vị Hoàng đế lại có thể hoàn thành được những sự thay đổi lớn lao như vậy trong một nước lớn như vậy, với một tốc độ nhanh chóng hơn.
Giới thanh niên trí thức Trung Hoa hiện nay đã trưởng thành trong khung cảnh đầy thay đổi này. Khi các vị tiền bối được thấm nhuần các học thuyết Khổng Tử và học lần kinh sách, rồi nổi lên chống lại các thứ đó, thì các thanh niên này bị nhiều sức mạnh của thời đại mới tấn công dồn dập. Họ được giảng dạy một đôi điều về khoa học, đôi điều về Cơ đốc giáo, về thuyết vô thần, về tự do luyến ái, về chủ nghĩa cộng sản, về triết học tây phương, về chủ nghĩa quân phiệt mới, thật ra một đôi chút của tất cả mọi thứ. Đứng giữa tâm trạng trung cổ đặc sệt của quảng đại quần chúng dân trong nước, những thanh niên trí thức đã được giảng dạy những điều cực đoan nhất của mọi nền văn hóa. Về mặt tinh thần họ đã bị xô đẩy vào cùng một sự sơ sót lớn lao mà nước Trung Hoa đã phạm phải về mặt thể chất, nói một cách bóng bẩy, họ đã nhảy vọt từ thời kỳ đường sá thô sơ nơi thôn quê tới kỷ nguyên của máy bay, sự sơ sót quá lớn lao. Trí tuệ không thể bù đắp vào chỗ đó. Tinh thần bị mất đi trong cuộc va chạm.
Do đó, kết quả đầu tiên của sự thiếu sót này chắc chắn là việc phát sinh ra một lớp thanh niên Trung Hoa, cả nam giới lẫn nữ giới, nhưng cơ cốt là nam giới, là những người thật tình không hiểu phải sống thế nào trong chính nước của họ, hay trong thời đại mà họ còn đang trải qua. Phần lớn bọn họ được theo học ở nước ngoài, ở đó họ đã quên mất các thực trạng của giống nòi họ. Thật là khá dễ dàng cho những lãnh tụ cách mạng để thuyết phục những tâm hồn phẫn nộ này rằng sự lạc hậu của Trung Hoa chính yếu là do sự can thiệp về chính trị và vật chất của các thế lực ngoại bang. Thế giới được đưa ra làm vật tế thần cho chế độ trung cổ tại Trung Hoa. Thay vì nhận thức được rằng đường lối riêng của mình Trung hoa đang thực hiện những bước tiến chậm chạp, đúng thế, đôi khi khó khăn, tới chỗ văn minh hiện đại; thật là việc dễ dàng khi la lối lên rằng nếu không có người ngoại quốc thì nước Trung Hoa đã ngang hàng về mặt vật chất với các quốc gia khác rồi.
Kết quả của việc này là một cuộc cách mạng còn nóng hổi Trung Hoa đã thực sự rũ bỏ được hai nỗi bất bình lớn, ngoài vụ Nhật Bản ra, đó là quyền lãnh sự tài phán và quan thuế biển. Không có sự thay đổi lớn lao nào xuất hiện rõ ràng như một hậu quả. Người ta thấy rõ ràng những gì được coi là yếu kém khi xưa thì nay vẫn còn là yếu kém, và những điều đó đã ăn sâu trong ý thức hệ của dân chúng. Chẳng hạn ta thấy rằng khi một lãnh tụ cách mạng nào đó mà địa vị đã được vững chắc, thì biến ngay ra một kẻ bảo thủ rồi hủ bại, chẳng khác gì bọn quan liêu cũ. Mọi cách khác thì tình hình cũng giống như thế. Trung Quốc cũng có nhiều thanh niên, thành thật và có tri thức, biết rõ sự thực ấy, rằng thế giới bên ngoài không can gì tới tình trạng của Trung Quốc và trước kia nếu có liên quan thì cũng dễ ngăn chặn và dứt bỏ đi nếu Trung Quốc sớm bỏ được một chút tính lười biếng và các lãnh tụ của họ bỏ bớt được tâm lý ích kỷ và mù quáng.
Rồi tiếp sau là một thời kỳ thất vọng và bồng bột, sùng bái Âu Tây một cách duy tâm hơn nữa. Sự cường thịnh huy hoàng của các cường quốc rõ ràng là do kết quả trực tiếp của nền khoa học tiến bộ. Đó là thời kỳ gây tự ti mặc cảm khiến bọn thanh niên ái quốc có xu hướng theo hai đường lối: Một là uất ức chán nản về hiện trạng quốc gia; hai là muốn che giấu người ngoài tình trạng thực tại của quốc gia mình. Sự thực gì liên quan đến nước họ thì đừng mong tìm ở nơi họ. Họ vừa hờn giận vừa cảm phục người ngoại quốc.
Ví bằng các nước Âu Tây cứ giữ mãi được sự phồn thịnh và bảo vệ được hòa bình thì tâm lý người Trung Quốc sẽ đến thế nào, điều này thật khó biết. Nhưng thật ra, người Âu Tây cũng không giữ được tình trạng thuận lời đó mãi mãi, thật đáng buồn thay! Người Trung Quốc có thái độ gần như khoan khoái khi nhìn thế giới đại chiến bộc phát, các xí nghiệp phồn thịnh bị phá tan, cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra, cùng những thất bại của các khoa học gia đem tài năng ra mà không cứu vãn được các tai họa đó. Họ bèn cho rằng dù sao Trung Quốc cũng không đến nỗi nào. Rõ ràng là ở đâu cũng có đói kém, ở đâu cũng có cướp bóc, dân tộc này so với dân tộc kia cũng chẳng hơn gì. Cú theo tình trạng đó mà nói thì có thể cho rằng nước Trung Hoa thời xưa cũng khá và chúng ta cũng nên tìm hiểu trở lại các thời đại trước xem triết lý của Trung Quốc xưa thế nào? Ít nhất triết lý đó cũng dạy cho người ta tính điềm đạm, tri túc, vui sống với mệnh trời, hài lòng hưởng ít khi không có được nhiều, ổn định cuộc nhân sinh và đặt được nền tảng sống an toàn vững chắc. Gần đây người Tây phương hứng khởi muốn nghiên cứu Trung Quốc và một số học giả Tây phương ao ước hình thái sinh hoạt của người Trung Quốc: yên ổn vững vàng, thán phục nghệ thuật và triết học của Trung Quốc, khiến cho thanh niên Trung Quốc vững lòng tự tin.
Ngày nay, kết quả rõ ràng là người ta lại nhắc lại câu cách ngôn xưa “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Giới trẻ của nước Trung Hoa đã chán sự hăng say làm cách mạng của ông cha họ, nên trở lại với khuynh hướng phục cổ. Nhìn bọn họ quyết tâm, cố gắng để trở thành con người Trung Quốc hoàn toàn, thuần túy; như họ ăn những món ăn Trung Quốc, mặc quần áo bằng vải Trung Quốc, và sống theo nếp sinh hoạt của người Trung Quốc thì quả thật đôi khi cũng thấy vui vui. Một số lớn thanh niên Trung Quốc đã Âu hóa, ngày nay muốn trở lại phương thức sinh hoạt thuần túy của Trung Quốc, gần như một “mốt” (một kiểu cách), chẳng khác gì cha mẹ họ trước kia ưa mặc âu phục, đi giày da, ăn cơm Tây bằng dao, dĩa và muốn đi học ở trường đại học Harvard. Bọn thanh niên này nay đã mặc âu phục, ăn cơm Tây từ lâu và đã làm học sinh của đại học Harvard, họ tinh thông văn học Anh quốc hơn cả tiếng mẹ đẻ, thì nay họ cảm thấy chán ngấy những cái đó và muốn trở lại với tổ tiên mình.
Khuynh hướng này đều hiện rõ khắp nơi, không những chỉ ở phục sức và phong cách. Quan trọng hơn nhiều là khía cạnh nghệ thuật và văn học, ví dụ mấy năm trước đây đề tài các tiểu thuyết mới của Trung Quốc phần lớn là nói về các cuộc tình duyên lối mới, về các mối tình Âu-Á hay cách mạng chống lại gia đình, cha mẹ. Toàn bộ sách có giọng điệu gần như bệnh hoạn, thật không hợp với tình hình của Trung Quốc. Những thứ này vẫn còn nhiều trong văn nghệ, nhưng ý hướng lành mạnh đang dần dần tới vì chúng phát xuất từ nếp sinh hoạt kiện toàn của giới bình dân chất phác. Thanh niên trí thức mới bắt đầu tìm ra quần chúng của họ. Họ bắt đầu hiểu rõ cuộc sinh hoạt ở tỉnh nhỏ, ở nông thôn là cuộc sinh hoạt cố hữu và trung thực của Trung Quốc. Nếp sinh hoạt này may mắn chưa bị pha trộn màu sắc mới, vẫn giữ nguyên được phần bẩm tính thuần khiết, lành mạnh, chứ không bệnh hoạn như đời sống của họ. Họ bắt đầu thấy vui sướng mà nhận ra rằng dân tộc mình còn giữ được một nền tảng lớn lao và chắc chắn. Vì thế, họ nhiệt thành hướng về đấy để mong tìm thấy những cảm hứng mới. Cái đó đối với họ là những gì lạ thương, thanh cao, là thú vị, là đáng có và nhất là nó thuần túy Trung Quốc.
Họ tìm đến được cái quan điểm mới ấy cũng là nhờ người giúp sức. Theo tôi hiểu nếu cứ tự họ thì hẳn cũng không có được thành tích tốt đẹp ấy nhưng chính người Âu, Mỹ giúp đỡ họ thành công vậy. Người Âu Tây chúng ta chẳng những giúp họ bằng cách tiêu cực là tỏ ra nền văn hóa chúng ta có một phần nào đang đi đến chỗ tan vỡ, chúng ta lại còn giúp họ một cách tích cực bằng khuynh hướng sống thuần phác của chúng ta. Người Âu Tây chúng ta sốt sắng với tất cả các cuộc vận động cách mạng vô sản của nước họ. Rồi họ bắt đầu tìm hiểu ra những tính chất tốt đẹp của người dân nước họ, nếp sinh hoạt vẫn còn giữ được tính chất thuần khiết cố hữu không bị xáo trộn bởi thế giới bên ngoài. Lẽ tự nhiên mỗi khi những phần tử trí thức gặp hoàn cảnh khốn khổ, lo lắng, loạn lạc thì nếp sống an ổn điềm tĩnh ấy rất hấp dẫn đối với họ.
Chủ nghĩa cộng sản cũng đã giúp họ. Chủ nghĩa này đã truyền bá ý thức giai cấp, khiến mọi người bình dân dám lên tiếng, dám đưa ra những yêu sách. Nền giáo dục theo cách thức mới của Trung Quốc đã được phổ cập trong con em của giới bình dân, cho bọn này một thứ ngôn ngữ để họ bày tỏ ý kiến của họ. Những tác giả trong nhóm thanh niên khuynh tả của Trung Quốc sáng tác những nghệ thuật văn học đều chứa đựng sự khai triển gấp rút những nhận xét về giá trị của nam nữ thường dân trong giới vô sản. Kỹ thuật tuy tỏ ra hơi thô xuất và còn chịu nhiều ảnh hưởng nghệ thuật ngoại quốc, nhưng đã có ý niệm nòng cốt. Ta đã có lúc được xem những bức vẽ theo kiểu mới, có hình một phụ nữ nhà nông chứ không phải là một con chim nhỏ đậu đầu cành trúc; có hình một người đàn ông đang gắng đẩy chiếc xe cút kít chứ không phải là mấy con cá vàng lượn dưới lá sen.
Có điều người Tây phương chúng ta muốn được thấy nhóm tác giả trong hàng ngũ mới vùng lên giải phóng này, tìm được một ngôn ngữ thành thực và rõ ràng để nói về Trung Quốc, thì e rằng phải chờ một thời gian dài, sợ rằng một đời chúng ta cũng không chắc gì được thấy. Nhưng đáng mừng còn có một số tác giả đừng ngoài lề lối đó, có tinh thần mạnh mẽ đủ giúp họ giữ gìn được sự thuần khiết không đến nỗi lạc lõng bởi những khuấy động của thời đại, với óc hài hước tinh vi của hàng bao nhiêu đời học thức để lại, họ im lặng thâm trầm, đủ sức nhận xét được bộ mặt thật của cuộc sống, đủ sáng suốt để thấy rõ nền văn hóa của chính mình và nền văn hóa của người ngoài, đủ khôn ngoan để lựa chọn những gì vốn có và vì thế mới là thuần túy của chính mình. Tôi mong mỏi từ lâu trong thiểu số tác giả ấy có một vị vì chúng tôi, mà viết ra một cuốn về Trung Quốc của mình, một quyển sách thực có giá trị thấm nhuần tinh túy của nhân dân Trung Quốc. Đã nhiều lần tôi lật dở tìm đọc loại sách viết về đề tài này, lòng đầy nhiệt tình và hy vọng, để rồi cuối cùng lần nào cũng thất vọng vì nó thiếu chân thật, vì nó toàn một giọng khoe khoang, vì tác giả đã quá ân cần biện hộ cho một cái gì vĩ đại quá đến nỗi tự nó không cần ai biện hộ. Những tác phẩm này được viết ra chỉ chuyên vào mục đích lòe người ngoại quốc, bởi vậy đã không xứng đáng với Trung Quốc vậy.
Một tác phẩm về Trung Quốc, xứng đáng với đề tài ấy, không thể là một thứ tác phẩm nào những đã nói trên. Nó phải được trình bày thẳng thắn không có ý e thẹn, vì người Trung Quốc bao giờ cũng là người khôn ngoan và sâu sắc, được lòng người. Tác phẩm ấy lại cần có tính chất hài hước, vì hài hước là tính thiên bẩm của nhân dân Trung Quốc, sâu sắc, dịu dàng, hiền hòa phát sinh từ những từng trải thảm sầu, vá quan niệm vui sống hợp với lẽ trời mà có; tác phẩm ấy lại cần có một giọng văn trôi chảy, chính xác và đẹp đẽ, vì người Trung Quốc thường coi trọng vẻ đẹp tinh tế và chính xác. Như thế chỉ có người Trung Quốc mới viết nổi một tác phẩm như vậy. Nhưng tôi lại nghĩ rằng: Ở Trung Quốc khó tìm được một ai đủ khả năng viết cuốn sách đó. Vì kiếm đâu được một tác giả người Trung Quốc mới, viết sách bằng Anh ngữ mà không sống cách biệt quá xa với dân tộc mình như một người ngoại quốc, và đồng thời đứng trên địa vị khá khách quan để có thể nhận xét được toàn bộ ý nghĩa của dân tộc và thời đại của họ.
Nhưng quả thật không ngờ, cũng như những tác phẩm vĩ đại đã ra đời từ xưa tới nay, cuốn “MY COUNTRY AND MY PEOPLE” bỗng nhiên xuất hiện. Nó đã làm thỏa mãn lòng mong mỏi tha thiết của chúng ta, nó đã bày tỏ mọi vấn đề trung thực không e thẹn một chút nào. Bút pháp lại rất hào hùng, hài hước, nguy nga rực rỡ, thật nghiêm trang mà vui vẻ.
Đối với thời xưa cũng như thời nay, tác giả đều thông suốt và hiểu rõ một cách tường tận. Tôi nghĩ rằng cuốn sách này là một tác phẩm rất trung thực, rất lớn lao, rất đầy đủ, rất trọng yếu trong những tác phẩm viết về Trung Quốc ra đời từ trước đến nay. Lại đáng quý hơn nữa, tác giả của nó là một người Trung Quốc, một tác giả của thời đại này có cội rễ rất sâu ở nền tảng xưa, lại nở đầy hoa tươi ở thời đại mới.
PEARLS BUCK
BÀI TỰA CỦA TÁC GIẢ
Trong cuốn sách này, tôi chỉ nghĩ đến sự phát biểu ý kiến riêng của mình, đó là những gì tôi đã phải qua một thời gian dài khổ công suy nghĩ, xem đọc và tự mình xét đón mà thu hoạch được. Tôi không tìm cách biện luận với mọi người, cũng không muốn chứng minh các luận đề của tôi, nhưng tôi sẽ vì quyển sách này mà được khen hay bị kết án như Khổng Phu Tử đã nói: “Hiểu ta cũng bởi kinh Xuân Thu chăng! Bắt tội ta cũng bởi kinh Xuân Thu chăng!”. Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn. Sinh mệnh dân tộc nước này có nhiều khía cạnh phức tạp, muốn trình bày thế này cũng được, ngược lại cũng được. Vị nào muốn đưa ra một luận đề trái ngược, bỉ nhân xin sẵn lòng cung cấp tài liệu vào bất cứ lúc nào để vị đó tiện làm công việc ấy. Nhưng chân lý vẫn là chân lý, nó sẽ khắc phục được tất cả mọi ý kiến riêng tư. Con người lĩnh ngộ được chân lý chỉ ở một thời gian thoáng hiện hiếm có. Cái lĩnh ngộ trong thời gian thoáng hiện đó sẽ còn mãi mãi, còn ý kiến riêng tư sẽ tiêu tan mất. Cho nên sưu tập đại qui mô những tài liệu để chứng minh khiến người ta chóa mắt, chỉ đưa đến những kết luận cũ rích mà rỗng tuếch. Vì vậy trình bày những chân lý đã lĩnh ngộ được, cần áp dụng một cách thức giản dị tức là tinh tế, hơn nữa bởi vì chân lý không chứng minh được, chỉ gội ý ra thì hiểu thôi.
Viết cuốn sách này, tôi đã mạo phạm đến một số đông tác giả viết về loại khảo sát Trung Quốc nhất là đồng bào và các nhà đại ái quốc của tôi nữa. Các nhà đại ái quốc đó tôi với họ thật không có liên hệ gì vì thần tượng họ tôn thờ không phải là thần tượng của tôi; lòng ái quốc của họ không giống lòng ái quốc của tôi.
Có lẽ tôi cũng yêu nước như họ, nhưng tôi thường cẩn thận che giấu không phô bày trước mặt mọi người, là vì thường thấy có những người khoác cái áo ái quốc đến rách tả tơi mà vẫn mặc nó tả tơi để đi diễu khắp phố phường ở ngay Trung Quốc hay ở mọi nơi trên thế giới.
Tôi thú thật rằng, khác với các nhà ái quốc kia, tôi không thấy xấu hổ về nước tôi. Tôi có thể trình bày tất cả những nỗi khốn khổ, đau đớn của nước tôi vì lúc nào tôi cũng vẫn hy vọng ở nó. Trung Quốc vĩ đại hơn các nhà ái quốc nhỏ mọn của nó, vì thế không cần bọn họ phải tô điểm cho nó. Nó sẽ tự điều chỉnh như quả trình lịch sử đã từng cho ta nhận thấy.
Tôi cũng không vì những nhà ái quốc Tây phương mà viết ra cuốn sách này; nói vậy vì tôi rất sợ người ta trích dẫn những đoạn rút trong sách của tôi mà khen, điều này còn tai hại hơn là việc quốc dân hiểu lầm tôi nữa.
Tôi viết cuốn này để cống hiến cho hạng người thuần phác, trung thứ, đạo trung thứ là điểm cao quý đặc biệt của Trung Quốc thời xưa mà nay như đã mất hẳn không còn thấy nữa. Cuốn sách này của tôi chỉ có thể được hiểu theo quan điểm thuần phác đó thôi. Những gì tôi nói, là chỉ cốt ý nói với hạng người còn ý thức được những giá trị căn bản của loài người mà chỉ những người này mới hiểu rõ thôi.
LÂM NGỮ ĐƯỜNG
LỜI MỞ ĐẦU
Những nhân sĩ của các nước bạn đến ngụ ở Trung Quốc hẳn phải có cảm tưởng về nước này bao giờ cũng đi với lòng thương xót, cũng có khi với nỗi thất vọng, nhưng rất ít khi thấu triệu nhận rõ tình trạng Trung Quốc. Hoặc người ta có cảm tình yêu Trung Quốc, hoặc người ta ghét Trung Quốc. Lại nữa, một người chưa bao giờ đặt chân đến Trung Quốc, thì cũng có lúc họ cho rằng Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, lâu đời ở một miền hẻo lánh mịt mù hình như không có liên hệ gì với thế giới. Nhưng cái hẻo lánh mịt mù ấy hình như lại có một sức hấp dẫn với mọi người. Đến một lúc nào, đích thân họ đặt chân lên nước này, thì lại cảm thấy như bị chìm đắm, không có ý nghĩ tìm tòi, so sánh gì hết, mà chỉ còn nhận ra rằng có nó đó, nó là một cái gì lớn lao, lớn lao đến mức vượt hẳn ra khỏi tâm trí con người. Nó lại giống như cái gì có vẻ hỗn độn vô lý, tuân theo luật sinh tồn của nó, trên thân nó đã diễn ra biết bao tấn tuồng nhân sinh vĩ đại, lúc thì buồn, lúc thì vui, nhưng lúc nào cũng rất là thực. Sau đó, người ta không khỏi phải lạ lùng, kinh ngạc mà suy nghĩ. Lần này thì là một phản động lực tùy theo tâm tính, nó chỉ biểu lộ rằng người này là con người lãng mạn của chủ nghĩa đại đồng, hay là một người kiêu căng tự phụ. Hoặc người ta yêu Trung Quốc, hoặc người ta ghét Trung Quốc, từ đó người ta bắt đầu chứng minh. Người ta phải có một thái độ đối với Trung Quốc để tỏ ra rằng mình là người thông minh. Chúng ta cứ nhắm mắt tìm tòi những lý lẽ biện minh, bắt đầu kể cho nhau nghe những mẩu giai thoại, lời dật sự, những chuyện vặt thường ngày, những cái quan trọng ghê gớm biến ta thành triết nhân và khiến cho ta bình thản chỉ trích cay nghiệt Trung Quốc, không bao giờ có một lời khen hoặc là biến thành những người nhiệt tình thán phục Trung Quốc. Đương nhiên khái quát hóa như vậy là vô lý, nhưng ở cõi đời này dư luận đều do đường lối như vậy mà tạo ra, thế thì tình trạng trên không thể tránh được. Thế rồi hai bên tiến đến chỗ tranh luận. Có một vài ông anh sau khi kết thúc cuộc bàn cãi, hoàn toàn tự mãn cho rằng mình hiểu biết rất chính xác về Trung Quốc và người Trung Hoa. Những con người đó là những người sung sướng cầm quyền thống trị cả thế giới, là bác nhà buôn mang hàng hóa nước này nhập cảng nước kia và bao giờ cũng phải. Một số người khác thì lại buồn phiền bởi những điểm nghi ngờ phân vân sinh ra cảm giác e ngại rụt rè hỗn loạn, hoặc có cảm giác e ngại rụt rè bởi những gì thần bí khó hiểu, thành ra cứ lẩn quẩn mãi. Nhưng tất cả chúng ta đều cảm thấy rằng Trung Quốc có đó, thế thì Trung Quốc là một Dasein(1) vĩ đại huyền bí. Trung Quốc rõ ràng là một thực tại lớn lao khó hiểu của thế giới hiện đại chỉ vì nó đã lâu đời già nua quá hay lãnh vực nó bao la quá.
Trung Quốc hiện nay là một trong những quốc gia lâu đời nhất, mà vẫn giữ một nền văn hóa cổ truyền, liên tục nhất quán; nó lại có một dân số rất lớn so với các nước trên thế giới; nó đã có lúc là một đế quốc lớn mạnh dòm ngó cả hoàn cầu, đã có lúc chiến thắng các dân tộc khác; đã cống hiến cho thế giới một vài phát minh trọng yếu; nó có nền văn chương và nhân sinh quan của nó. Ở địa hạt nghệ thuật, nó đã tung cánh bay cao trong khi các dân tộc khác còn tập vỗ cánh bay chuyền. Thế mà ngày nay, rõ ràng nó là một quốc gia hỗn loạn nhất, thất bại nhất trên hoàn cầu, nó cũng rất thê thảm, khốn cùng, bất lực, khó có thể trấn định tinh thần mà tiến được. Thượng đế - nếu thật có Thượng đế - định cho nó là một dân tộc vào hạng nhất trong hoàn vũ nhân quần, nhưng trong Hội Quốc Liên nó được xếp vào hạng bét ngang hàng với xứ Guatemala, một quốc gia nhỏ ở Trung Mỹ. Mà mặc dù rõ ràng là Hội Quốc Liên đã có lòng tốt hết sức nâng đỡ nó, cũng không thể giúp nó chỉnh đốn lại nội bộ, dẹp được nội chiến, cứu nó ra khỏi thay bọn chính khách, văn nhân, quân phiệt và cách mạng của nó.
Đồng thời – một hiện tượng gần như rất lạ lùng – nó không bao giờ tìm đường tự cứu. Có thể vì nó như một con bạc lõi đời đương ngồi trong canh bạc, có lúc nó bỏ mất miếng đất to gần bằng nước Đức, mà vẫn thản nhiên như thường, không tỏ thái độ gì cả. Khi tướng Thang Ngọc Lân ở Nhiệt Hà rút binh một cách mau lẹ phá kỷ lục thế giới, trong tám ngày bị mất một vùng đất rộng lớn tới năm mươi vạn cây số vuông, trong lúc đó ở mặt Tứ Xuyên, hai ông đại tướng là chú cháu với nhau đang xua quân đánh lộn kịch liệt. Người ta tự hỏi hay là Thượng đế sẽ an bài hay là Thượng đế tự tay sẽ giúp Trung Quốc trở thành một dân tộc vào hạng nhất mặc dầu Trung Quốc muốn hay không như vậy.
Có một mối nghi ngờ nảy ra trong lòng người là vận mệnh Trung Quốc rồi đây sẽ ra sao? Nó có thể tồn tại được như trong quá khứ không? Một quốc gia già nua nào đã làm được như vậy không? Thượng đế có thực lòng thành toàn cho nó trở nên một dân tộc vào hạng nhất không? Hay muốn nó chỉ là một “thai nhi đẻ non của bà lão địa cầu”?
Nó đã có lúc nắm được quyền uy chí tôn, đã có lúc hào hùng chiến thắng. Đến ngày nay, hình như vận mệnh của nó chỉ còn là sống sót và người ta chỉ còn niềm tin vào khả năng sống sót đó thôi, khi người ta nhớ ra là nó còn sống sót trong khi văn minh Hy Lạp sán lạn, những vinh quang của La Mã hiển hách đã mất từ lâu rồi; chúng ta hẳn cũng nhớ rằng Trung Quốc đã đồng hóa tư tưởng, hành vi của các dân tộc ngoại lai như thế nào, đã thu hút huyết thống của các dân tộc ấy ra sao. Cái sự kiện nó tồn tại, cái lịch sử dài lâu kia, thật rõ ràng là những điểm làm chúng ta phải suy nghĩ kỹ. Đối với một quốc gia cổ kính, hẳn rằng ta cũng phải có một niềm tôn kính tương đương thành thật, cũng như kính trọng một người già đầu râu tóc bạc. Phải, dù chỉ là với mội người già lão, dù chỉ là còn sống sót mà thôi.
Cho rằng Trung Quốc có khuyết điểm cả về mọi mặt, nhưng nó vẫn có một bản năng sinh hoạt rất mạnh, một sức sống bền bỉ khác thường, không thể chối cãi được. Nó đã phát triển hết mức cái bản năng sinh hoạt của nó; nó theo thời mà biển đổi cho thích ứng với hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội của nó, những hoàn cảnh đã làm sụp đổ các chủng tộc khác, kém mạnh mẽ phải diệt vong. Nó được hưởng những ân huệ của thiên nhiên ban cho, nương tựa vào những núi non hoa cỏ tươi đẹp đẽ di dưỡng tính tình và đạo đức. Nhờ vào cái hoàn cảnh thiên nhiên đó mà nó giữ gìn được tâm linh thuần khiết, kiện toàn, tránh cho chủng tộc khỏi bị thoái hóa về những phương diện chính trị và xã hội. Nó không sống yên lặng trong cái bãi hoang rộng của đại tự nhiên, ban ngày nó tắm gội trong ánh sáng mặt trời đầm ấm, buổi chiều nó ngắm vẻ đẹp của dáng trời mây nổi, thân nó thấm nhuần mưa móc ban mai, thở hít hương thơm của ngũ cốc; nương tựa vào những gì nên thơ của nó; những bài thơ nói lên sinh hoạt tập quán, cũng như những bài thơ miêu tả hoặc đầy lời hoa mỹ, nó hiểu rõ cách di dưỡng để làm lành nhũng vết thương mà linh hồn nó đã nhiều lần bị tổn hại đau đớn. Nói một cách khác rõ hơn, nó sống được đến cái tuổi già nua như vậy cũng nhờ bằng một phương pháp giữ gìn sức khỏe như một cá nhân, nó biết sinh hoạt ngoài trời, để thâu nhận lấy ánh nắng và không khí trong sạch. Nó đã trải qua những thời kỳ gian nan, khốn khổ, những cuộc chiến dằng co qua lại, cũng những tai ương dịch tễ, rồi còn biết bao nhiều thiên tai nhân hại khác. Những lúc đó nó có một thái độ hơi hài hước, thô bạc và cuối cùng dẹp được loạn lạc, giết được kẻ cường bạo, để trở lại nếp sống bình thường. Phải, tuổi già dù chỉ là tuổi già thôi cũng đáng cho ta phải lấy làm kỳ lạ rồi!
Bây giờ nó đã đến tuổi kỳ di vượt trên mọi thống khổ về tinh thần và thể xác, nhưng thường vẫn có người cho rằng như vậy là tuyệt vọng, là hết phương cứu chữa. Bởi người ta nghĩ rằng: Với tuổi tác ấy, đó lại là một sức lực chăng? Hay chỉ là một thể chất yếu hèn, hủ bại? Trung Quốc hình như có thái độ thách thức thế giới này, nó lãnh đạm đối với các dân tộc khác. Điều này thực do tuổi tác già nua của nó cho phép. Dẫu rằng gặp bước thế nào, nếp sống bình tĩnh của nó không bao giờ bị tao nhiễu mà vẫn êm đềm vượt qua, không lẩn tránh u sầu, thống khổ mà cũng không bị dao động bởi hư vinh hay khuất nhục. Những tình cảm nhỏ nhoi chỉ đủ sức làm dao động những tâm linh ấu trĩ mà thôi, chẳng hạn như khoảng hai trăm năm vừa qua, có khi bị đe dọa hủy diệt, tiêu ma cả uy thế, nhưng không vì thế mà nó sợ hãi. Thắng lợi hay thất bại không lai được lòng nó; tai ách, thống khổ, chết chóc đối với nó mất hết năng lực kích thích; cho nên sinh mệnh dân tộc, trong khoảng hai trăm năm, có nằm trong vòng đen tối, nhưng tất cả đều không có nghĩa lý gì. Cũng như ở hình ảnh đại dương trong văn chương của Nietzsche: Đại dương lớn hơn tất cả các loài cá, các loài sò ốc tôm cua và các con sứa nuốt, lớn hơn bùn lầy rác rưởi vứt xuống mình nên đại dương chứa đựng được tất cả, không từ chối bất cứ vật gì chảy vào. Cũng như biển cả, Trung Quốc lớn hơn tất cả những lời tuyên truyền mang tính cách phỉ báng, méo mó lệch lạc của bọn du học sinh về nước; lớn hơn tất cả cái tham tàn của bọn quan lại, bọn tướng tá phản loạn, bọn cách mạng ba phái, bọn giả đạo đức; lớn hơn tất cả mọi thứ bần cùng đói kém. Nó đã chấp nhận được tất cả mọi khó khăn khổ cực để trường tồn. Sống trong phản loạn, chiến tranh, đàn con cháu nghèo khổ vây xung quanh, lão già Trung Quốc lụ khụ kia, vẫn vui vẻ ung dung nhấm nháp chén trà thơm; tủm tỉm nụ cười, trên nụ cười ấy ta thấy sức mạnh thực sự hay đôi khi ta nhận thấy vẻ lười biếng không chịu cải cách hoặc thấy phong vị đặc biệt của tính bảo thủ cao ngạo. Lười chăng? Cao kỳ ngạo nghễ chăng? Thật khó hiểu. Chẳng qua ở tâm linh nó hình như có ẩn nấp cái vẻ tinh khôn của một con chó già, một vẻ tinh khôn huyền diệu làm kinh động mọi người. Tâm linh già nua kỳ lạ biết bao! Vĩ đại biết bao!
Những cái vĩ đại đó phải trả giá thế nào? Carlyle hình như đã nói tới ở một chỗ nào rằng cái ấn tượng đầu tiên trước một nghệ thuật thực sự vĩ đại, thường làm cho người ta thất thần đến độ cảm thấy đau đớn. Cho nên số mệnh của vĩ nhân là sẽ bị người ta hiểu làm. Số mệnh Trung Quốc cũng vậy. Trung Quốc đã có lúc bị người ta hiểu lầm một cách hùng tráng vĩ đại. Hai tiếng “vĩ đại” thường là một danh từ đặc biệt, chuyên dùng để chỉ những sự vật mà chúng ta không hiểu rõ và muốn dứt cho xong. Tuy nhiên. ở giữa hai đường, một là được người ta hiểu rõ và hai là được gọi là vĩ đại, thì Trung Quốc mong được người ta hiểu rõ, và như thết thì càng tốt hơn nữa cho mọi người. Nhưng mà làm sao cho người ta hiểu rõ Trung Quốc được? Ai chịu đứng giữa để làm công việc chuyển dịch? Trung Quốc có một lịch sử lâu dài như thế, trong khoảng ấy đã có biết bao nhiêu vua thánh chúa hùng, hiền triết thi nhân, thầy hay trò giỏi cho đến những bà mẹ hiền, những cô gái giỏi giang; có một nền văn nghệ, triết học cố hữu, một nghệ thuật hội họa, hý kịch đặc biệt, mang lại cho người dân ý thức đạo đức, phân biệt được thiện ác, thêm vào đó còn không biết bao nhiêu văn học của giới bình dân, những ca dao, tục ngữ. Nhưng chỉ vì vấn đề ngôn ngữ bất thông tạo ra một hàng rào ngăn cách khó lòng vượt qua. Có thể nào Trung Quốc được hiểu qua tiếng Anh bồi. Có thể nào các tay “Hoa học chuyên môn” tìm hiểu được tiếng Trung Quốc qua miệng một anh bồi bàn, một anh chạy hàng xách, một anh thợ bạc? Hay đọc mục thông tin của báo North China Daily News để tìm hiểu chăng? Những ý kiến này rõ ràng không thích đáng rồi.
Chắc chắn là muốn tìm hiểu rõ ràng một dân tộc khác và nền văn hóa rất khác của nó, chẳng hạn như Trung Quốc khác hẳn với mình thì công việc đó không phải một người thường làm nổi. Vì công việc này đòi hỏi một tình giao hữu rộng rãi, một lòng bác ái giữa loài người với nhau. Kẻ làm công việc này mỗi bước tiến tất phải dựa theo lý lẽ của trái tim, lấy cái nhìn của tâm linh để cảm ứng. Ngoài ra, phải gạt bỏ hết mọi ý kiến riêng tư, những thành kiến đã ăn rễ từ thuở nhi đồng, những ấn tượng đã in sâu ở tuổi thành nhân, những ý nghĩa của những từ ngữ viết hoa như “Dân chủ”, “Phồn vinh”, “Tư bản”, “Thành công”, “Tôn giáo”, “Lợi tức” v.v… Và cũng không thể để người nghiên cứu xa cách hẳn với quốc gia mình đang tìm hiểu. Kẻ này một mặt cần có một quan niệm siêu việt, một mặt cần có một tấm lòng thuần phác. Tấm lòng thuần phác đó đã được đại thi gia Robert Burns nêu ra điển hình rõ ràng, nhà thơ đó đã lột trần tinh thần chúng ta, bày tỏ rõ tính cách chung của con người từ tình yêu đến ưu tư. Phải giữ tấm lòng khoáng đạt và thuần phác thì một cá nhân mới có thể nhìn rõ nội dung một dân tộc khác.
Trở lại vấn đề, vậy ai sẽ làm công việc truyền bá và thông dịch đó? Vấn đề này hình như là một vấn đề nan giải. Số học giả ở hải ngoại tinh thông học thuật Trung Quốc, cùng những nhân viên quản lý thư viện, họ là những người chỉ nhìn Trung Quốc qua những cảm tưởng đã thâu nhận được trong kinh sách đạo Khổng, thế thì tất nhiên họ không phải là người xứng đáng gánh cái công việc ấy. Một người gốc Âu Châu sống ở Trung Quốc, họ sẽ không nói tiếng Trung Quốc mà một người thuần túy họ cũng không nói tiếng Anh. Một người Âu Châu, nếu nói tiếng Trung Quốc rành rẽ, tâm lý tập quán sắp trở nên đồng hóa với người Trung Hoa, sẽ bị người bản quốc coi là kỳ quái. Người Trung Quốc nếu nói tiếng Anh rất sành sõi, tâm lý, tập quán giống hẳn như người Âu Tây, thì người đó sẽ bị đồng bào cho là mất gốc, hoặc là họ không biết tiếng Trung Hoa, hoặc giả là biết nhưng nói toàn giọng Anh. Những hạng người này đương nhiên ta không thể trông mong gì vào họ. Chúng ta đã phải lạo bỏ tất cả những người đó, thế tất nhiên chúng ta đành nhờ vào các nhà “Hoa học chuyên môn” và tùy thuộc vào trình độ hiểu tiếng Anh bồi của họ.
Loại này, chúng ta hãy dừng lại ở đây để phác họa anh ta vì anh ta là người duy nhất có uy tín về vấn đề Trung Quốc của các bạn. Arthur Ransome đã từng miêu tả một nhân vật như vậy. Nhưng theo tôi nghĩ hẳn là một nhân vật hoạt bát, chúng ta có thể dễ dàng hình dung ra được nhưng nhất là đường sai lầm về hắn. Hắn có thể là một nhà truyền giáo hay một thuyền trưởng, hoa tiêu hay một bí thư lãnh sự quán, cũng có thể là anh chủ hiệu bụng phệ. Đối với anh này Trung Quốc là thị trường để tiêu thụ cá mồi và cam Mỹ. Hắn không hẳn là người thất học; thực ra hắn có thể là một ký giả xuất sắc của một tờ báo, một mặt chú trọng vào những hoạt động cố vấn chính trị, một mặt làm trung gian vay mượn để lấy hoa hồng. Trong vòng giới hạn của mình, có khi hắn nhặt nhạnh được khá nhiều tin tức; nhưng cái giới hạn là hắn không hiểu quá ba chữ trong tiếng Trung Hoa và nhờ cậy vào những bạn bè Trung Quốc hiểu biết tiếng Anh để họ cung cấp cho hắn tài liệu. Nhưng hắn vẫn tiếp tục công việc của hắn; hắn đánh golf vì đánh golf khỏe người. Hắn nhấm nháp trà Lipton đọc “North China Daily News” và nổi lòng công phẫn vì các tin cướp bóc, bắt cóc, nội chiến khiến cho bữa ăn sáng mất ngon. Hắn bao giờ ũng mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao hơn hẳn bạn bè Trung Quốc, đôi giày được đánh bóng hơn lúc hắn ở nước Anh, việc này cũng chẳng có gì đáng khen cho hắn vì bồi Trung Quốc đánh giày rất giỏi. Mỗi buổi sáng ở nhà đến sở đi xe thẳng độ ba bốn dặm Anh, và tin rằng mình cần phải chiếu cố đến bữa trà của cô Smith. Trong huyết quản hắn không chắc có một chút máu quý tộc nào, trong phòng khách của hắn cũng không có tranh vẽ hình tổ tiên bằng sơn dàu, nhưng hắn có thể tìm tòi từ lịch sử thượng cổ đến thời đại nguyên thủy hoang vu, để chứng minh rằng tổ tiên xưa vốn là quý tộc, điều này làm cho người hắn nhẹ nhõm quên tất cả những nỗi bực bội, buồn phiền để nghiên cứu Trung Quốc. Tuy vậy cũng có những lúc hắn cảm thấy khó chịu mỗi khi hắn có việc phải đi qua các phố Trung Quốc, ở đó có biết bao nhiêu con mắt của những người khác chủng tộc, chăm chú nhìn hắn lén lút chiếc khăn tay xì mũi ầm ĩ rồi mạnh dạn đi mau trong khi đó sợ hãi mất mặt. Hắn nhìn lướt qua làn sóng người mặc áo màu xanh. Hắn cảm thấy hình như mắt của đám người này không đến nỗi xếch như người ta thường vẽ ở bìa những cuốn tiểu thuyết ba xu. Bọn người này có thể đâm lén sau lưng người ta chăng? Giữa ban ngày bạn mặt này, hắn không thể tin là có chuyện đó xảy ra, nhưng ai biết đâu! Tất cả những khí phách của con người thể thao mà hắn đã rèn luyện được ở bãi đánh cầu bây giờ bỗng nhiên biến đâu mất cả. Hắn nghĩ rằng thà bị một gậy đánh cầu nện mạnh vào sọ còn hơn phải đi qua con đường phố quanh co này lần nữa. Quả thực đây là một cơn sợ hãi, nỗi sợ hãi của người nguyên thủy trước cái gì xa lạ.
Tuy vậy nhưng đối với hắn không phải chỉ đơn thuần như vậy. Chính vì lòng “nhân từ” hắn không nỡ nhìn cái quang cảnh nghèo nàn sầu khổ, không nỡ ngồi yên trên chiếc xe kéo nhìn “Con ngựa người” kéo nặng rạp mình xuống đất; vì thế hắn cần phải ngồi xe hơi. Xe hơi không phải chỉ là một đồ vật thay bước chân, mà còn là một cái ụ nấp có mui che chở hắn từ chỗ ở đến bàn giấy, bởi chiếc xe che chở khiến hắn và cái xã hội Trung Quốc cách biệt hẳn ra. Hắn không muốn rời bỏ chiếc xe, cũng như hắn không muốn rời bỏ ý nghĩ văn minh của hắn. Trong lúc uống trà, hắn nói với cô Smith rằng chiếc xe hơi ở trên đất Trung Quốc này không phải là một vật xa xỉ mà là một vật cần thiết. Mỗi ngày lái xe ba dặm Anh từ chỗ ở đến phòng làm việc, trái tim khép chặt của hắn cất kỹ trong cái lồng kính, ngụ cư trên đất Trung Quốc hai mươi lăm năm, chưa có một ngày nào sống ra ngoài lề lối đó. Tuy vậy, khi hắn trở về Anh-Cát-Lợi. hắn tuyệt nhiên không bao giờ nhắc đến tình hình ấy. Hắn viết thơ gởi cho tờ “Times” ở Luân Đôn. Trong thơ hắn tự xưng mình là một “lữ khách kiều cư ở Trung Quốc hai mươi lăm năm”. Nghe rất oai. Lẽ tất nhiên, hắn nhất định phải biết rõ về những điều gì hắn nói.
Thường ngày hắn chỉ dong ruổi trong khoảng ba dặm Anh, trừ khi nào phóng người đi chơi ở đồng quê Trung Quốc. Như thế là ở giữa chỗ rộng rãi và hắn cũng có cách tự vệ. Nhưng về điểm này thì hắn lầm, vì có ai đánh đâu mà phải tự vệ. Hắn cũng biết vậy, bởi thế hắn chỉ nói giọng đó khi đi xem đá bóng. Hắn chưa từng quan tâm tới một gia đình Trung Quốc nào và thường lẩn tránh các quán ăn Trung Quốc; hắn cũng chưa từng đọc đến một trang báo Trung Quốc. Chiều tối, hắn đến ngay một quán rượu xa hoa danh tiếng nhất thế giới nhấm nháp rượu cốc tai, nhặt nhạnh những mẩu chuyện lăng nhăng vô căn cứ, uống cho đến say, người bạn ngồi cùng bàn nói thao thao về chuyện bờ biển Trung Hoa như đọc một quyển Sơn Hải kinh, mà những điều nói ra toàn là những truyền thuyết từ xưa mà có, tài liệu nào cũng từ thế kỷ 17 do người Bồ Đào Nha vượt bể Trung Quốc truyền lại. Hắn hậm hực rằng Thượng Hải không phải là Sussex và thường hắn ăn nói hệt như thể hắn đang ở nước Anh. Hắn sung sướng khi biết rằng người Trung Hoa đã bắt đầu ăn tết Giáng sinh, nhưng hắn vẫn lấy làm lạ tại sao người Trung Quốc lại không biết tiếng Anh. Còn những lúc hắn đi ngoài phố, dáng điệu dương dương rất cao bước, dưới mắt coi như không có người Trung Quốc, nếu chẳng may có dẫm chân vào kẻ khác thì hắn cũng chẳng nói lấy một tiếng “sorry” dù là bằng tiếng Anh, Pháp, hắn chưa học lấy mấy câu Hoa ngữ khách sáo ứng dụng cho người lữ khách đi qua xứ này tương đương với mấy tiếng “danke sehr. Hitte schon và verzeihen Sie” mà hắn chỉ phàn nàn người Trung Hoa luôn có óc bài ngoại và giận về sự thiêu hủy Di Hòa Viên sau loạn Quyền phỉ năm Canh Tý 1900 vẫn chưa làm cho người Trung Quốc mở mắt. Hắn thấy thất vọng. Đó! Nhà khoa học có uy tín của các bạn đó. Ôi! Biết bao giờ mới thắt được giải đồng tâm cho nhân loại!
Những điều trên đây đều là những điều người ta thừa hiểu; nó rất tự nhiên, chẳng lạ lùng gì; nếu nó không có can hệ tới ý kiến của người Tây phương về Trung Quốc thì hẳn tôi không phải phí giấy mực mà kể ra ở đây. Các bạn chỉ cần nghĩ đến cái khó khăn về ngôn ngữ. Văn tự Trung Quốc thật là khó học lại còn tình trạng hỗn loạn về chính trị, học thuật, văn chương, nghệ thuật ở Trung Quốc ngày nay đến những điều khác biệt sâu xa giữa văn hóa Tây phương và Trung Quốc cũng phải được nhận định rành rẽ mới dủ nói rằng hiểu rõ về Trung Quốc được.
Cuốn sách này có thể nói là một thiên đáp án đối với những người hiểu lầm về Trung Quốc, nó sẽ căn cứ vào những điểm lý giải khá cao để tìm ra những câu trả lời tạm đúng.
Còn một số người tự mệnh là Hoa học chuyên môn, nếu họ muốn tiếp tục viết những tác phẩm hay những bài văn ngắn về Trung Quốc thời ta cũng không thể vì cớ họ không biết văn tự Trung Quốc mà can thiệp vào quyền tự do sáng tác của họ được. Tóm lại, những cuốn sách và những đoạn văn đó chỉ nên dùng làm tài liệu cho những cuộc nhàn đàm ở phòng trà quán rượu mà thôi.
Tuy vậy cũng có những trường hợp ngoại lệ như Robert Hart và Bertrand Russell họ đã có thể thấy ý nghĩa trong một phương thức sinh hoạt khác hẳn với sinh hoạt bản thân họ. Nhưng có được một Hart thì đồng thời lại có hàng vạn Rodney Gilbert; Có được một Russell thì lại có hàng vạn H.G.W.Woodhead. Kết quả là không đứt được những chuyện có tính cách hài hướng, khinh thị người Trung Hoa. Những câu chuyện này nội dung sai lệch, ngây thơ nhưng người Tây phương lại thích nói tới, có thể nói rằng những chuyện này là tiếp nối truyền thống dã sử do những tay thủy thủ Bồ Đào Nha để lại, có khác chăng là đã bỏ hết giọng nói hạ lưu của bọn thủy thủ thời đó mà thay bằng lối nói khác, nhưng vẫn giữ nguyên những ý nghĩ thấp kém bản thỉu của bọn thủy thủ đó.
Người Trung Quốc cũng có lúc nảy ra ý tự hỏi tại sao bờ biển Trung Quốc chỉ có thể hấp dẫn được một bọn hàng hải hạ lưu và một số nhà thám hiểm? Muốn trả lời rõ ràng câu hỏi này, tốt hơn hết hãy đọc một vài cuốn trong tác phẩm của HB Morse viết về Trung Quốc (Morse đã từng làm việc ở các miền cửa biển, miền quan ải Trung Quốc, đã viết nhiều cuốn về vấn đề nghiên cứu Trung Quốc. Trong số đó có cuốn nhan đề là “Sự quan hệ giữa Trung Quốc với quốc tế” là nổi tiếng nhất). Sau đó mới tìm hiểu ngược lên đến cái pháp bảo gia truyền của bọn hàng hải có dây dưa tới hiện đại thế nào, cũng là xét rõ cái tầm mắt của bọn người Bồ Đào Nha xưa với bọn Hoa học chuyên môn ngày nay giống nhay thế nào, rồi xét đến những gì lợi hại có quan hệ đến họ, quá trình đào thải tự nhiên và áp lực hoàn cảnh đã khiến họ phải đi xa nghìn dặm, vì đâu họ phải phiêu lưu đến xứ này, tấp nập không ngừng, liền vai khít cánh chen nhau đến cái góc địa cầu này. Vàng và phiên lưu đã khiến Kha Luân Bố, một nhà hàng hải mạo hiểm trứ danh nhất của họ, phải tìm đường biển sang Trung Quốc.
Do đó người ta mới hiểu rõ thực chất về sự tiếp nối đời đời đó mới hiểu rõ tại sao truyền thống hàng hải Kha Luân Bố phát triển vững chắc tiếp tục mãi đến nay và người ta mới nảy ra ý nghĩ thương hại Trung Quốc; thương hại rằng không phải là vì những đức tính tốt của xã hội Trung Quốc; mà chính là vàng và mãi lực của nó đã hấp dẫn người Tây phương đến bờ biển viễn đông này. Thế là vàng và lợi đã khóa chặt người Tây phương và người Trung Quốc lại với nhau, rồi lôi nhau xuống cái vòng xoáy thấp hèn, nhơ bẩn, tuyệt nhiên chẳng có một chút tinh thần nhân đạo nào trong sự kết hợp này. Chính bọn họ - người Trung Hoa và người Anh – đều không nhận ra sự thực đó, vì thế người Trung Hoa thường chất vấn người Anh là nếu ghét xã hội Trung Hoa thì sao không ra khỏi Trung Quốc; người Anh cũng có lúc hỏi lại người Trung Hoa là sao không ra khỏi mảnh đất tô giới; kết quả là hai bên cũng chẳng biết trả lời ra sao. Nguyên do chỉ tại người Anh chưa bao giờ buồn làm cho người Trung Hoa hiểu rõ về mình, mà con người Trung Hoa lại càng không thèm nghĩ đến phải làm thế nào để mình được người Anh hiểu rõ.
o0o
Nhưng người Trung Hoa liệu có hiểu rõ mình không? Họ có thể gánh vác được trách nhiệm làm một nhà truyền dịch xứng đáng cho Trung Quốc không? Sự “sáng suốt biết mình” là điều mà ai cũng thấy là tương đối khó khăn, khi hoàn cảnh lại đòi hỏi một óc phê bình lành mạnh và sáng suốt. Cái khó khăn về ngôn ngữ đối với người Trung hoa được học tập đến bậc khá cao thì không còn là vấn đề trở ngại nữa, ngược lại lịch sử lâu dài Trung Quốc là vấn đề tương đối khó thấu hiểu hơn; về nghệ thuật, triết học, thơ văn, kịch hát cũng không dễ gì thông suốt được để có một nhận thức xác đáng; rồi đến các bạn bè, đến người hành khách thường cùng đi trên xe điện, rồi đến ông bạn cùng học lúc thơ ấu, nay đang làm ra bộ cầm chính quyền một tỉnh, đối với kẻ làm công việc truyền dịch tất cả những người đó đều không khoan dung được. Những chi tiết gần gũi, thường che mắt nhà quan sát ngoại quốc, cũng làm khốn cả một anh thanh niên thời mới của Trung Quốc. Có thể thái độ trầm lặng lạnh lùng của anh thanh niên thời mới kia thua kém nhà nghiên cứu ngoại quốc, cũng chưa biết chừng. Trong lòng anh ta chất chứa một hay nhiều điều vật lộn giằng xé đau buồn không bỏ đi được. Ở anh ta có một Trung Quốc lý tưởng và một Trung Quốc hiện thực, giữa hai cái đó đã có một sự mâu thuẫn rồi lại còn một tâm lý tự tôn từ tổ tiên truyền lại với một tâm lý hâm mộ người ngoài mới nảy ra trong nhất thời, giữa hai điều này lại có một sự mâu thuẫn mạnh hơn nữa. Linh hồn anh ta bị dằn vặt giằng xé giữa hai mâu thuẫn cực đoan và chịu sự dày vò của chúng. Một đằng trung thành với cái nước Trung Hoa già nua kia, nửa do nhiệt tình lãnh mạn, nửa do ý tự tư; một đằng khác trung thành với trí tuệ khai phóng, nó đang mong mỏi một cuộc cách mạng xã hội, làm sao có một lần không nương tay quét sạch hết những gì cổ lỗ hủ bại, nhơ nhớp, ghẻ lở đó đi. Có khi sự mâu thuẫn phát sinh ra giữa tâm lý hổ thẹn và tâm lý tự tôn, mâu thuẫn này lại càng trọng yếu, vì nó giới hạn đơn thuần trong ý thức trung thành với gia tộc, và nỗi hổ thẹn về sự việc trước mắt, chính là những bản năng tốt lành. Cũng có lúc tâm lý tự tôn từ tổ tiên truyền lại chiếm được uy thế, nhưng lòng tự tôn chính đáng và óc phản động chỉ cách nhau một đường tơ kẽ tóc. Cũng có lúc lòng hổ thẹn của anh ta chiếm ưu thế, nhưng nguyện vọng chân thành thiết thực đổi mới cùng với lòng sùng bái theo thời nông nổi, cũng chỉ cách nhau một ly mà thôi; lầm lẫn là hỏng cả. Muốn tránh được mâu thuẫn đó thực không phải là việc dễ.
Vậy ta phải làm thế nào để nắm được một quan niệm hiểu biết nhất trí? Lấy thái độ phê bình chân chính thành thật hợp với con mắt nhận định sự vật tinh tường, dùng tâm linh để quan sát, dùng trí tuệ để suy tư, phối hợp tất cả những điều đó tạo nên một cảnh giới thần diệu, không phải nhờ vào chắp nhặt từng câu từng ý mà đến được điểm đó. Bởi làm công việc ấy chính là việc cứu vãn một nền văn hóa xa xưa, cũng như việc sắp đặt đồ gia bảo và ngay đến con mắt kẻ sành sỏi cũng bị che mờ, bàn tay có lúc bù trừ không quyết định được. Việc làm này đòi hỏi can đảm, lại cần có một đức tính hiếm có là lòng thành khẩn cũng một đức tính hiếm có hơn nữa là óc luôn luôn có gắng biện luận.
Lấy một thanh niên Trung Quốc so với một nhà nghiên cứu ngoại quốc làm công việc này, người thanh niên Trung Quốc vẫn có ưu thế hơn. Vì hắn là người Trung Quốc nên chẳng những có thể dùng tâm linh để quan sát, lại còn có thể dùng trí tuệ để suy nghĩ nữa, hắn lại biết rằng trong huyết quản mình có dòng máu tự tôn và hổ thẹn dồn chảy đều đều, đó là máu người Trung Quốc. Dòng máu đó là một thần bí trong cái thần bí mang trong cơ cấu sinh hóa, quá khứ và tương lai của Trung Quốc, mang theo tất cả những gì vinh quang hay sỉ nhục của Trung Quốc. Đến đây cái so sánh với việc xếp đặt bảo vật gia truyền không còn thích hợp và hoàn toàn đúng nữa vì cái tính chất di truyền của dân tộc nằm ngay trong huyết quản hắn là một phần trong cơ thể hắn. Hắn có thể tập chơi đá banh, như người Anh, nhưng thực tâm hắn không thích đá banh, hắn có thể trọng năng suất của người Mỹ, nhưng thực lòng hắn phản đối; hắn có thể thường dùng khăn ăn khi ngồi vào bàn nhưng thực lòng hắn không ưa; qua khúc nhạc của Schubert hay Brahms hắn nghe thấy tiếng vọng của một điệu dân ca thời cổ, hay một điệu tình ca của đứa mục đồng đang gọi hắn trở về. Rồi không ngăn nổi được sự kích thích của điệu tình ca cố quốc ấy, tâm linh hắn bỗng cảm thấy hồn cố quốc bừng dậy. Hắn tìm hiểu và thấy rằng văn hóa Tây phương tốt đẹp rạng rỡ, nhưng hắn quay về Đông phương khi tuổi hắn đã gần bốn chục, dòng máu Đông Á trong người hắn đã thắng. Nhìn bức ảnh phụ thân đội mũ xường chỉ bằng doạn, bỗng một xúc cảm khiến hắn bỏ ngay bộ Âu phục, thay bằng chiếc áo dài và đôi giày vải; chao ôi! Không ngờ lối ăn vận này lại rộng rãi dễ chịu và trang nhã như vậy! Thế lại mặc cái dài kiểu Trung Quốc, đi đôi giày vải, hắn cảm thấy tâm hồn thư thái. Từ đó hắn không những nhận ra rằng cái “cổ dề” của Tây phương không có nghĩa lý gì mà còn tự trách không hiểu tại sao trước kia mình đã đeo nó được lâu đến thế. Từ đó hắn không thích đá banh nữa mà hắn bắt đầu tập luyện phương pháp thể thao Trung Quốc; hắn rong chơi trong bãi dâu rừng trúc; nghỉ mát dưới bóng thông rặng liễu, những hàng động này không giống như quan niệm của người Anh về một cuộc tản bộ ở đồng quê; mà nó hàm súc một ý nghĩa ngao du hoàn toàn có tính cách Đông phương, có ích lợi cho thể xác mà cũng bổ ích cho tinh thần nữa. Hắn cảm thấy ghét cái chữ tập luyện (Exercise). Tập luyện cái gì đây? Cái ý niệm kiểu Tây phương này thật đáng buồn cười.
Ối chà! Hãy nhìn bọn người uy nghi đường bệ đã trưởng thành kia, trên bãi rộng họ chen đẩy, nhảy nhót, xông xáo ngang dọc tranh nhau đuổi bắt một quả cầu nhỏ bằng da, cứ tưởng tượng đến đã thấy nực cười; lại còn có lúc nằng hè như đốt, sau cuộc vận động, họ dùng những mảnh nhung hay những áo đan bằng len mặc vào người, đó mới thật là kỳ. Hắn nghĩ quanh quẩn vẩn vơ, không biết tại sao lại thế! Hắn hồi tưởng lại, trước kia hắn cũng hâm mộ trò đó lắm, lúc đó hắn còn thanh niên chưa được chín chắn, cái thằng người ở thời đó,, không phải là thật hắn; chỉ nên coi đó là một ý thích trong chốc lát; thực tình hắn không có bản tính thích vận động. Hán sinh ra khác hẳn; hắn sinh ra để lạy chào, để ung dung nhàn hạ, văn vẻ, chứ không phải sinh ra để đá cầu, để đeo cổ dề, để dùng khăn ăn, học phép trọng năng suất. Có lúc hắn tự coi mình như một con heo, coi người Tây phương như một con chó, chó thường hay cắn đùa heo, nhưng heo chỉ biết đáp lại bằng tiếng ụt ịt. Cái tiếng ụt ịt đó có thể là một cách tỏ ý thỏa mãn. Quá đi nữa, có lúc hắn muốn được là một con heo thật, vì thấy cuộc sống của heo rất dễ chịu. Hắn không ao ước cổ dề của chó, cái năng suất của chó cũng như những thành công bằng lối ma giáo của chó. Hắn chỉ còn một điều mong mỏi duy nhất: Chó đừng nên trêu chọc quấy phá hắn, hãy để cho hắn được yên thân.
Một người Trung Hoa mới mà nhận xét cả hai nền văn hóa Tây phương và Trung Quốc thì thế đấy. Đó là cách độc nhất để khảo sát và nhận thức văn hóa Đông phương. Bởi cha hắn là người Trung Quốc, mẹ hắn cũng vậy, nên mỗi khi nói đến Trung Quốc là hắn nghĩ ngay đến cha mẹ, đến cả nét mặt và đường ăn lối ở của các người. Đó là một cuộc đời, cuộc đời của họ đầy đủ những can đảm, nhẫn nại, đau khổ, vui sướng, mạnh mẽ chưa bị ảnh hưởng hiện đại, nhưng không kém vẻ cao cả, thành thực và khiêm cung, hắn đã thực sự hiểu rõ Trung Quốc!
Tôi cho rằng phương pháp duy nhất để tìm hiểu Trung Quốc cũng là phương pháp duy nhất để tìm hiểu bất cứ quốc gia nào trên thế giới: Cần phải tìm ra tất cả những giá trị chung của cuộc sống con người; đừng nhìn vào cái đặc biệt, xa lạ; cần nhìn sâu vào cái dáng điệu lễ phép cổ xưa, kỳ quái mà tìm đức lễ độ thực sự; cần nhìn dưới nếp y phục lòa loẹt, lạ mắt của phụ nữ mà tìm bản chất thực của người đàn bà và khuôn mẫu một người mẹ; cần nhận xét cái nghịch ngợm của thằng con trai và những ước mơ của đứa con gái. Tất cả những cái bướng bỉnh của thằng con trai, những ước mơ của đứa con gái, cho đến tiếng cười giòn giã và cái dẫm chân bành bạch của đứa trẻ con, tiếng khóc của người đàn bà, vẻ lo lắng của người đàn ông – Tất cả những cái đó là biểu tượng chung của mọi miền trên thế giới – Vì vậy chúng ta chỉ có cách nhìn xuyên qua cái ưu tư của người đàn ông, tiếng khóc than của người phụ nữ mới có thể thấy rõ được tính chất của một dân tộc. Có khác chăng đi nữa thì chỉ là ở phần hình thức, trong hành vi xã giao mà thôi. Đây là những điểm căn bản để phê bình quốc tế đúng đắn vậy.
Chú thích
(1) Dasein: Hiện hữu (Chú thích của dịch giả).