📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Janna Morna Với Hành Trình Bí Ẩn - JULES VERNE

6 trả lời, 727 lượt xem — Trang 1 / 1
JANNA MORNA VỚI HÀNH TRÌNH BÍ ẨN
Tác giả: JULES VERNE         
Người dịch: KHÁNH GIANG
(Dịch qua bản tiếng Nga của NXB Tổng Hợp Minxco 1985)
Nhà Xuất Bản Đà Nẵng (1988)
 
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Jules Verne, nhà văn Pháp chuyên viết truyện viễn tưởng. Trong những tác phẩm của ông có sự kết hợp tài tình giữa yếu tố ly kỳ, mạo hiểm với những ý niệm khoa học hiện đại – tạo nên sự hấp dẫn và lãng mạn tuyệt vời.
Ngoài ra, cái quan trọng làm cho các tác phẩm của ông tồn tại vượt qua thời gian và vượt ra ngoài phạm vi của một nước chính là yếu tố con người.
Con người trong các tác phẩm của ông dù ở khía cạnh nào, hoàn cảnh nào cũng đều là những con người dũng cảm, táo bạo, khát khao tìm kiếm khoa học, sự thật và luôn biết giữ gìn quý trọng tình người. Luôn ước vọng và làm điều thiện, căm thù cái ác, và nhất định cái ác sẽ bị tiêu diệt bởi sức mạnh của lòng nhân đạo ở con người.
Hơn một thế kỷ qua, các tác phẩm cua ông đã tái bản nhiều lần, dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, được đông đảo bạn đọc  trân trọng, và yêu mến.
Nhà xuất bản Đà Nẵng, sau khi xuất bản cuốn “Thuyền trưởng tuổi 16” được nhiều độc giả ưa thích, xin giới thiệu tiếp tiểu thuyết “Janna Morna với hành trình bí ẩn” của nhà văn nổi tiếng này.
NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG
 
📎 JMvoihanhtrinhbian
Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN MỘT
 
CHƯƠNG 1
VỤ ÁN “NGÂN HÀNG TRUNG TÂM”
 
Ít có vụ án nào gây dư luận xôn xao như vụ cướp trắng trợn mà người ta được biết dưới cái tên “Vụ án Ngân hàng Trung tâm”.
Vụ án xảy ra không xa sở giao dịch London, trong chi nhánh DK của ngân hàng Trung tâm mà ngài luật sư Robot Rixton là người điều hành chi nhánh lúc bấy giờ.
Chi nhánh nằm trong một gian nhà lớn được ngăn thành hai phần không bằng nhau bởi chiếc bàn dài bằng gỗ sồi. Bên trái lối vào, sau chấn song, là nơi thu tiền, kế đó là ngăn dành cho nhân viên phục vụ. Hai ngăn này nối với nhau bằng một cửa lưới. Bên phải cuối chiếc bàn gỗ sồi là một cánh cửa di dộng dành cho khách khưa và nhân viên đi lại. Trong cùng là phòng làm việc của giám đốc chi nhánh. Hành lang của ngăn dành cho nhân viên phục vụ nối liền tiền sảnh.
Ở một phía, tiền sảnh chạy ra phía trước phòng người gác cửa, và phía kia, nơi có cầu thang chính, tiền sảnh bị ngăn bởi chiếc cửa kính hai cánh chắn lối xuống tầng ngầm và cửa thang màu đen.
Tấn bi kịch bí ẩn đã diễn ra trong một không gian như vậy.
Năm giờ kém hai mươi, thời điểm xảy ra tấn bi kịch. Năm nhân viên của chi nhánh đang làm những công việc thường ngày. Sau chấn song bảo vệ, viên thủ quỹ kiểm lại khoản tiền lớn thu được trong ngày là bảy mươi hai ngàn không trăm bảy mươi chín bảng hai silinh và bốn penxơ. Chỉ hai mươi phút nữa, chi nhánh sẽ đóng cửa và nhân viên phục vụ có thể ra về, kết thúc một ngày làm việc.
Ngay lúc đó, cửa ra vào bật mở và một người lạ bước vào. Gã ta ném vội cái nìn về phía văn phòng rồi quay người lại ra hiệu cho bên ngoài, có lẽ cho đồng bọn, bằng tay phải, với ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Chỉ rõ con số ba.
Ra hiệu xong, gã đóng sập cửa lại, đi đến xếp vào hàng người đang đứng, như cùng chờ để đến lượt mình.
Một nhân viên thong thả ngẩng đầu lên, hỏi:
- Ông cần gì, thưa ông?
- Cám ơn – người mới vào trả lời – Tôi sẽ chờ đến lượt mình.
Anh nhân viên cúi xuống, tiếp tục công việc. Lúc này, không một ai còn chú ý đến “khách hàng” này nữa, mặc dù trông vẻ bên ngoài của gã ta rất lạ lùng. Đó là một người vạm vỡ, cao lớn. Cứ nhìn đôi vai rộng cũng thấy ngay là gã có một sức mạnh kỳ lạ. Bộ râu trắng  quá rậm viền quanh khuôn mặt đen sạm của gã, chiếc áo mưa dài che kín bộ đồ vét. Không thể đoán được địa vị xã hội của gã qua vẻ bên ngoài.
Khi người khách hàng trước mặt giải quyết xong công việc của mình và đi ra khỏi chi nhánh, người mặc áo mưa bước vao chỗ đó và bắt chuyện với nhân viên phục vụ. Ngay khi ấy, cánh cửa lại mở, nhân vật thứ hai xuất hiện. gã này cũng lạ lùng như bản sao của gã thứ nhất: cũn cao lớn, cũng đôi vai rộng, cũng ộ râu trắng viền quanh khuôn mặt rám nắng, cũng chiếc áo mưa dài che kín… như vậy.
Gã hành động giống như bạn mình: kiên nhẫn đứng chờ sau một trong hai khách hàng còn lại trong văn phòng, khi đến lượt mình, gã bắt đầu chuyện trò với nhân viên rỗi việc trong khi người khách hàng đã ra đến đường phố.
Và, cũng như trước đó, cửa ra vào bật mở. Người thứ ba bước vào và xếp hàng sau người cuối cùng. Hắn cao trung bình, to ngang, vam vỡ, mặt đỏ, được tô đậm bởi bộ ria đen, gã ta vừa khác vừa có vẻ giống hai gã đã vào trước.
Khi khách hàng cuối cùng kết thúc công việc của mình va đi khỏi thì lập tức hai nhân vật nữa cùng bước vào. Hai người này mặc áo bành tô dài, cùng bộ râu rậm ôm lấy những khuôn mặt đỏ.
Họ đi vào bằng một kiểu kỳ lạ; người cao hơn bước vào trước tiên, vừa đi vừa dừng lại để che người bạn đồng hành; người bị che dường như nắm phải nắm vặn cửa và thực hiện một trò bí mật nào đấy. Công việc diễn ra trong tích tắc, cửa ra vào lập tức đóng lại nhưng nắm vặn bên ngoài biến mất, như vậy bên ngoài sẽ không một ai có thể vào văn phòng được nữa. Trong khi đó, trên cửa văn phòng xuất hiện bảng thông báo hết giờ làm việc.
Nhân viên phục vụ không ngờ rằng họ đã bị cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài.
Hai nhân viên rỗi việc hướng về phía những người mới đến, trong khi đó chỉ có một khách hàng có yêu cầu giải quyết công việc còn người cao hơn tỏ ý muốn gặp và nói chuyện với giám đốc.
- Để tôi xem thử ông ta còn đây không – nhân viên phục vụ trả lời.
Anh ta biến đi trong tích tắc và quay lại ngay.
- Mời ông vào!
Anh ta đề nghị và mở cánh cửa di động ở cuối văn phòng.
Người mặc áo bành tô bước vào phòng giám đốc, cánh cửa đóng chặt và người phục vụ quay về với công việc của mình.
Điều gì đã xảy ra giữa giám đốc chi nhánh và kẻ đến tìm ông? Sau này, nhân viên phục vụ khẳng định rằng họ không hề biết tí gì về những việc đã xảy ra sau cánh cửa đã đóng chặt. Chỉ có điều rõ ràng là chưa đầy hai phút sau, cánh cửa mở ra, người mặc áo banh tô xuất hiện trên ngưỡn cửa. Gã cất giọng tươi tỉnh:
- Xin mời… Ngài giám đốc muốn nói chuyện với thủ quỹ.
- Vâng, thưa ông – người phục vụ trả lời rồi quay lại, anh ta gọi – Xtô! Giám đốc gọi anh đấy!
- Tôi đi đây!
Viên thủ quỹ trả lời, và theo thói quen nghề nghiệp, anh cẩn thận bỏ chiếc cặp và ba bao đựng tiền vào két sắt rồi khóa lại. Sau đó, anh ta hạ ô cửa sổ nhỏ xuống, bước ra khỏi căn phòng có chấn song, cẩn thận đóng cửa phòng lại rồi đến phòng làm việc của cấp trên. Gã đứng trên ngưỡng cửa nhường đường cho viên thủ quỹ và liền bước theo sau anh ta.
Bước vào phòng giám đốc, Xtô ngạc nhiên nhìn thấy căn phòng trống rỗng, nhưng anh không cón đủ thời gian để lý giải: đôi bàn tay sắt đã bóp nghẹt cổ họng anh. Viên thủ quỹ cố chống cự, kếu cứu nhưng vô ích; bàn tay hộ pháp ấy cang siết chặt hơn cho đến khi anh ngã lăn ra trên sàn, bất tỉnh.
Không một tiến động nhỏ nào lọt ra ngoài từ cái ngõ ác nghiệt ấy. Trong gian phòng lớn, nhân viên phục vụ tiếp tục công việc một cách bình thường: bốn nhân viên bận rộn với bốn khách hàng chỉ đứng cách họ một chiếc bàn giấy, nhân viên thứ năm thì bận với những con tính.
Người mặc áo bành tô lau mồ hôi trán rồi cúi xuống nhìn nạn nhân cua mình. Thỏa mãn với kết quả đó, gã bật ho, dường như để gây chú ý cho bốn khách hàng muộn màng kỳ dị kia. Sau đó, bằng một động tác, gã mở cửa.
Có lẽ, đó là ám hiệu đã được quy định trước cho tấn bi kịch quái dị này. Người mặc áo bành tô nhảy một bước ra khỏi căn phòng, như sét đánh, hắn ào vào nhân viên kế toán đơn độc và bóp cổ anh ta không thương tiếc. Người khách hàng đứng cuối bàn giấy nhảy qua bàn kẹp cổ và lật ngửa nhân viên phục vụ ra trước mặt mình. Hai trong số ba khách hàng còn lại phóng tay qua bàn giấy, tóm cổ họng người vừa nói chuyện với mình, đập đầu trên mặt bàn gỗ một cách dã man. Gã cuối cùng, thấp nhất, nhảy lên bàn và tóm lấy cổ đối phương.
Không một tiếng kêu. Bi kịch diễn ra không quá hơn ba mươi giây. Kết thúc lạ lùng. Các nạn nhân hoàn toàn bất tỉnh.
Kế hoạch đột nhập được dự tính đến từng chi tiết nhỏ. Từ trong túi, bọn tội phạm lôi ra nhưng thứ cần thiết. Mồm của các nhân viên ngân hàng đề bị nhét bông và bịt kín bằng băng keo, mặc dù điều đó có thể làm cho nạn nhân bị nghẹt thở; những cánh tay họ bị trói giật cánh khuỷu, chân bó chặt còn thân mình bị quấn bằng dây thẳng đơ.
Mọi việc kết thúc trong khoảnh khắc. Năm tên cướp đứng dậy cùng một lúc.
- Rèm! – tên trước đó đã yêu cầu gặp giám đốc, ra lệnh. Rõ ràng, gã ta là chỉ huy.
Ba tên cướp nhảy bổ đến các nắm vặn sắt. Các cánh lật cửa sổ được hạ xuống, âm thanh đường phố dường như hcim hẳn.
Chúng bắt đầu lục lọi két sắt. Những giấy tờ giá trị, cổ phiếu và phiếu công trái bị vứt sang một bên, vải tung tóe khắp sán ván. Giấy bạc và vàng chia ra làm năm phần theo số người trong bọn.
- Chờ một tí! – tên cầm đầu hét – Thỏa thuận như thế này. Khi tao ra đi, bọn mày ở lại đây. Sau đó – gã chỉ ra hành lang dẫn vào góc trong căn phòng, nói tiếp – bọn mày đi khỏi đây. Đứa cuối cung đóng cửa lại bằng hai vòng khóa và ném chìa khóa xuống cống – Gã chỉ tay về phía phong giám đốc – Đừng quên lão thộn nhé! Bọn mày nhớ chưa?
- Dạ, dạ - bọn đàn em trả lời – Thủ lĩnh cứ yên tâm!
- Hãy vứt áo ngoài vào góc nhà. Cứ để cho người ta tìm thấy chúng. Quan trọng là đừng để các thứ đó còn trên mình. Chúng ta sẽ gặp nhau ở… biết chưa? Lên đường!
Vào lúc năm giờ rưỡi, ông Ladon, kiểm soát viên ngân hàng, gọi điện thoại đến chi nhánh DK. Ông ta không được trả lời. Bọn cướp đã nhấc các ông nghe ra khoi máy điện thoại để đề phòng chuông đổ lâu có thể gây chú ý của những người lân cận. Ông kiểm soát viên bực mình gán tôi cho nữ điện thoại viên.
Một lúc au, ông thử gọi lại lần nữa. Lần này cũng vô hiệu, và tổng đài báo cho ông biết là chi nhánh DK không có ai trả lời máy. Ông đành cử tùy phái viên ngân hàng đi xem thử tại sao không có tiếng trả lời. Sáu giờ rưỡi, viên tùy phái quay về. Anh ta cho biết, chi nhánh đóng cửa và bên trong không còn người nào.
Kiểm soát viên lấy làm ngạc nhiên. Vào những ngày cuối tháng như thế này, nhân viên phục vụ thường làm việc đến tận chín giờ tối.
Lập tức, điện thoại được gọi đi khắp nơi. Gần tám giờ, một đội cảnh sát đến mở cửa chi nhánh DK với sự giúp đỡ của một thợ nguội được mời.
Người ta tìm thấy gì ở đấy?
Cuộc điều tra được tiến hành ngay. May la không một nhân viên nào của chi nhánh bị chết, nhưng họ vẫn còn bất tỉnh cho đến khi có người vào cứu.
Sau một lúc chăm sóc, họ tỉnh lại. Nhưng các nạn nhân cũng chỉ cung cấp được một số thông tin ít ỏi: năm người râu rậm, mặc áo mưa và bành tô dài xông vào bóp cổ và đánh họ ngã gục. Ngoài ra, họ không còn biết thêm gì nữa.
Không có gì đáng nghi ngờ trong sự khai báo thật thà của họ. Năm chiếc áo ngoài đang nằm ở góc nhà, dường như bọn tội phạm cố tình để lại dấu vết của mình. Những chiếc áo này được nhà thám tử giỏi nhất của Xcotlken – Jando xem xét cẩn thận nhưng vẫn không phát hiện ra mối liên quan nào, chỉ biết chúng được may bằng loại vải thông dụng, không mang nhãn hiệu của một hiệu may hoặc nhãn hàng nào.
Dự thểm viên không biết thêm một điều gì nữa, ông chỉ phí công vô ích trong việc xét hỏi các nhân chứng.
Nhân chứng quan trọng cuối cùng là ông gác cổng ngôi nhà. Cửa chính chi nhánh được khóa bằng tay nắm bên trong, có nghĩa là bọn cướp đã đi ra ngoài qua tiền sảnh chung của ngôi nhà, ông gác cổng phải nhìn thấy chúng. Nhưng hôm đó, ông ta không phát hiện ra điều gì đáng ngờ cả.
Lục lọi trong óc, ông ta gọi tên bốn người sống trong ngôi nhà đã đi qua tiền sảnh trước hặc sau gì đó, khi vụ cướp xảy ra. Những người này lập tức bị tra hỏi ngay. Tuy nhiên, họ là người lương thiện và lúc bấy giờ họ đi ăn cơm.
Ông gác cổng cũng nói về người đưa than đến ngôi nhà, người này xuất hiện vào lúc gần bảy rưỡi với một cái bao lớn, tức là không lâu trước khi cảnh sát đến. Ông gác cửa để ý đến người này vì anh ta mang than đến vào giờ không bình thường. Anh ta kiên nhẫn hỏi tên người sống trên tầng năm đến nỗi làm ông bưc mình, phải cho anh ta vào và chỉ cầu thang màu đen dẫn lên tầng năm.
Người đưa than đi lên lầu và sau mười lăm phút anh ta quay trở xuống, kéo theo cái bao của mình. ông thắc mắc, anh ta trả lời là nhầm địa chỉ. Anh ta nói với giọng ngắt quãng của người vừa leo lên tầng năm vừa vác cái bao nặng trên vai. Ra ngoài đượng phố, anh ta đặt cái bao lên chiếc xe đẩy và bước khoan thai, không vội vã gì lắm.
- Ông có biết – viên dự thẩm hỏi – người đưa than thuộc hãng nào không?
Ông gác cửa không biết điều đó.
Viên dự thẩm tiếp tục tra hỏi người ở tầng năm. Thực tế, người đưa than có gọi cửa lúc lần bảy rưỡi. Cô giúp việc cho biết là anh ta nhầm và anh ta quay ra không chút lưỡng lự. Nhưng chứng cớ ở đây không trùng hợp. Cô giúp việc nói rằng người đưa than không mang theo cái bao nào cả.
- Anh ta để bao ở phía dưới và đi lên người không – dự thẩm viên giải thích.
Nhưng ngay sau đó, viên dự thẩm thấy rằng sự giải thích này không đầy đủ, bởi vì ở dưới tầng hầm người ta đã tìm thấy những thứ trong bao. Rõ ràng là người đưa than bí mật đó đã trút hết những thứ trong bao anh ta mang đến ở đấy. Vậy anh ta đã mang đi những thứ gì, bởi vì theo như lời ông gác cổng thì khi đi ra cái bao của anh ta không xẹp đi mà cũng không bớt nặng so với khi mang đến.
- Bây giờ không phải là lúc làm việc đó – từ chối giải quyết một bài toán quá hóc bứa, viên dự thểm kết luận – Ngày mai điều đó sẽ rõ – ông ta lần theo các dấu vết mà ông ta cho là quan trọng hơn và không muốn đi chệch sang hướng khác.
Trên thực tế, tất cả các viên chức chi nhánh đều có mặt, nhưng nhân vật quan trọng nhất, ngài giám đốc Lui Robot Baxton, đã biến mất.
Nhân viên phục vụ không đưa ra một lời giải thích nào về sự vắng mặt này. Kết luận tự nó nảy ra. Nếu không nghi ngờ là chi nhánh đã bị năm tên cướp có hóa trang tấn công thì cũng chẳng nghi ngờ rằng những tên cướp đã có tay trong. Và, tay trong đó chính là ngài giám đốc.
Chính vì vậy mà trước khi cuộc điều tra kết thúc, lệnh bắt giữ Lui Robot Baxton, giám đốc chi nhánh Dk của ngân hàng trung tâm đã được ký. Ảnh ông ta được gửi đi khắp nơi.
Kẻ tội phạm chưa thể rời khỏi nước Anh. Không còn nghi ngờ gì nữa, hắn ta sẽ bị bắt ở trong nước hay ngay tại bến cảng. Tự yên tâm với một viễn cảnh bảo đảm như vậy, viên dự thẩm và nhà thám tử đi ngủ.
Trong đêm đó, năm người, với nước da rám nắng, người thì mày râu nhẵn nhui, người thì để ria mép, lên tàu tốc hành từ Luân Đôn đi Xohemton. Sau khi dỡ mấy kiện hàng và một cái hòm to, nặng, họ thuê xe ngựa ra cảng. Ở đó có một con tàu đang nhả khói chờ đón họ.
Khoảng bốn giờ sáng, khi cả Xohemton chưa biết gì về vụ cướp ở chi nhánh DK, còn ngủ ngon, thì con tàu đã rời khỏi cảng, vượt qua đập chắn sóng và đi vào đại dương mênh mông theo hướng về Cotoru, bến cảng của Dahomay.
Vào cái giờ hãy còn sớm ấy, cảnh sát đã ngừng việc điều tra và đang tận hưởng sự nghỉ ngơi au một ngày làm việc mệt mỏi.
Ngày hôm sau, tiếp tục cuộc điều tra. Nhưng, như ta đã biết, không đem lại kết quả gì. Ngày qua ngày, năm tên cướp vẫn bặt vô âm tín. Lui Robot Baxton vẫn chưa tìm thấy. Không một tia sáng nào hé ra sau chiếc màn bí mật. Không con cách nào khác, công việc điều tra đành phải dừng lại.
Câu chuyện sau đây sẽ cho lời giải đáp đầy đủ về điều bí ẩn trên. Bạn đọc có quyền cho rằng mình có thể tưởng tượng một điều gì đó kỳ lạ hơn và bất ngờ hơn.
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG II
ĐOÀN THÁM HIỂM
 
Conacri, thủ đô của nước Ghine thuộc Pháp và của thủ phủ toàn quyền, là một thành phố hấp dẫn, nằm sát bờ biển nên khí hậu rất tốt cho sức khỏe con người. Ở đây có nhiều người da trắng, nhất là người Pháp và người Anh.
Nhưng vào thời điểm xảy ra các sự kiện của câu chuyện này, Conacri mới chỉ là một khu phố nho chưa đạt đến sự phồn thinh.
Ngày 27 tháng 11, ở Conarci là một ngày hội. Theo lời mời của toàn quyền Henri Vandon, dân chúng tập trung ở bờ biển nồng nhiệt chào đón những khách du lich mà lát nữa họ sẽ bước ra từ con tàu “Tuat” và tên tuổi họ dân chúng sẽ được biết đến.
Những nhân vật có thế lực, làm huyên náo cả thành phố Conarci đến như vậy là các viên chức của đoàn thám hiểm, do chính quyền trung ương cửa đi nghiên cứu một khu vực của Xudang với tên gọi “Chiếc thòng lọng Nigie”.
Trước đó vài tháng, trong khi thảo luận những vấn đề thuộc địa, nghị viện Pháp bị chia ra làm hai phe đối lập với nhau và có số lượng đại biểu ngang nhau, đứng đầu là hai đối thủ kình địch nhau không khoan nhượng. Một người là Bacxac, còn người kia là Bodre.
Bacxac có dáng người hơi béo, bung phệ vừa phải, bộ râu đen rậm hình cái quạt, quê ở Proven thuộc miền nam, vui tính và dễ mến. Với giọng nói to, Bacxac là người có tài nếu không muốn nói là nhà hùng biện thì ít ra cũng là người lắm lời. Còn Bodre, nghị sĩ của một tỉnh miền bắc, gầy còm, xương xẩu, với khuôn mặt khô cứng, ria mép dày tô đậm đôi môi mỏng. Khuôn mặt buồn buồn mang cái vẻ kín đáo.
Cả hai nghị sĩ, từ lâu đã lao vào nghiên cứu các vấn đề thuộc địa, và cả hai đều nổi tiếng. Nhưng các công trình đầy công phu của họ ít khi dẫn đến những kết quả giống nhau. Nếu như Bacxac nêu ý kiến của mình về một vấn đề nào đó thì có thể đánh cuộc rằng, Bodre sẽ khẳng định điều ngươc lại.
Lần này Bacxac và Bodre không chịu nhường nhau dù vấn đề đó chỉ nhỏ như sợi tóc, và cuộc cãi vã kéo dài không kết thúc. Nó khởi đầu bằng việc Bacxac đưa ra một dự luật dành năm ghế nghị viện cho Xenegan, Ghine Thượng và một phần cho Xudang thuộc Pháp ở phía tây Nigie, và trao cho người da đen quyền bầu cửa, ứng cử. Ngay lập tức, như thường lệ, Bodre bác bỏ đề nghị của Bacxac và hai đối thủ vốn không khoan nhượng đã tấn công nhau bằng hàng tràng lập luận.
Bacxac dựa trên các chứng cứ từ những người du lịch và các đoàn quân viễn chinh tuyên bố rằng những người da đen đã đạt đến một nền văn minh tương đối cao. Ông ta nói thêm, chỉ thay đổi chế độ nô lệ thì chưa đủ mà còn cần phải trao cho các dân tộc bị chinh phục các quyền mà kẻ chiến thắng có, và, trong tiếng vỗ tay rầm rộ của một nửa nghị viện, ông ta còn hô to “Tự do, bình đẳng và bác ái”.
Ngược lại, Bodre thi tuyên bố rằng dân da đen còn đang ở trong thời kỳ hoang dã nhất và không thể nói đến chuyện trao quyền bầu cử cho họ được. Ông ta còn nói thêm, trong mọi trường hợp, đây không phải là lúc thử nghiệm một dự luật nguy hiểm như vậy mà chính là phải tăng cường các đội quân chiếm đóng; bởi vì những dấu hiệu bạo động bắt buộc phải đề phòng những cuộc nổi loạn trong các vùng này sẽ xảy ra. Cũng như đối thủ của mình, ông ta dẫn chứng những ý kiến của dân du lịch và trong lời kết, ông ta yêu cầu có một đội quân can thiệp mới. ông còn tuyên bố một cách đầy nhiệt huyết rằng những quyền lợi dành được bằng máu của người Pháp là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Ông ta cũng được nửa nghị viện còn lại hoan nghênh nhiệt liệt.
Bộ trưởng thuộc địa khó có thể đứng về phía của một trong hai diễn giả đầy nhiệt thành. Nhiều vấn đề làm ông ta lo lắng: tin tức về làn sóng bất bình và các vụ cướp ở vùng “Chiếc thòng lọng Nigie” và Xenegan, tin đồn về một quốc gia độc lập được thành lập ở một địa điểm bí mật của Châu Phi.
Cuộc tranh cãi tiếp diễn cho đến khi một nghị sĩ mệt nhọc hét to trong tiếng ồn ào:
-  Nếu không thể nhất trí được thì hãy đi mà tự tìm hiểu lấy.
Lời đề nghị đó đã có hiệu lực. Nó được chấp nhận ngay và Bộ Thuộc địa đề nghị thành lập một đoàn thám hiểm đi khảo sát “Chiếc thòng lọng Nigie” và theo kết quả đó mà nghị viện định ra cách giải quyết cuối cùng.
Vấn đề khó khăn nhất là bầu chỉ huy đoàn thám hiểm. Hai lần, Bacxac và Bodre đầu nhận được số phiếu bầu bằng nhau. Cần phải kết thúc công việc bầu cử này.
- Khỉ thật! Bầu cả hai! – một người hay giễu cợt thốt lên.
Ý kiến này được nghị viện phấn khởi chấp nhận ngay. Trong thâm tâm, người ta đã nhận ra một lối thoát, khỏi phải nghe bàn cãi về vấn đề thuộc địa trong thời gian vài tháng. Bacxac và Bodre được bầu, và tuổi tác sẽ quyết định ai là người chỉ huy. Lợi thế đã nghiêng về phía Bacxac vì ông ta ra đời trước Bodre ba ngày. Bodre hậm hực, đành chịu nhận vai trò người giúp việc.
Chính phủ đưa thêm một vài người nữa vào đoàn thám hiểm tuy họ không được lỗi lạc như hai người kia nhưng có thể có ích. Vậy là, trên đường đến Conacri đoàn gồm có bảy người, kể cả Bacxac và Bodre.
Nổi bật trong đoàn là bác sĩ Satonnay, một nhà y học nổi tiếng, ông cao gần 6 feet, khuôn mặt vui vẻ của ông được tôn lên nhớ cái tóc quăn bạc trắng mặc dù ông mới năm mươi tuổi, bộ ria dày của ông trắng như tuyết. Bác sĩ Sotonnay là một con người tuyệt vời và nhạy cảm, bất cứ chuyện gì ông cũng có thể cười được.
Có thể kể thêm là Ixido Taxen, nhà báo của hội Địa lý, một con người nhỏ bé, khô khan nhưng cương nghị và là một con người say mê với công việc.
Ba thành viên cuối cùng của đoàn thám hiểm là Ponxen, Jiro và Hayro, họ là những quan chức của các bộ khác nhau, là những con người bình thường, không có đặc điểm gì đáng kể.
Bên cạnh những thành viên chính thức, tham gia đoàn thám hiểm còn có nhà du lịch thứ tám, một chàng trai tóc vàng đầy nhiệt tình và quả quyết, tên là Ameday Phloranxo, phóng viên báo “Expanxon Phranxit”.
Đó là những nhân vật đã rời khỏi tàu Tuat vào ngày 27 tháng 11.
Trên bến cảng, toàn quyền Vandon với sự hộ tống của viên quan chính ở Conacri, đã tổ chức trọng thể buổi chào đón những vị khách vừa đến. Ông ta nói ngắn gọn nhưng đấy đủ ý nghĩa. Sau đó họ cùng đi đến phủ toàn quyền. Ở đây, các thành viên đoàn thám hiểm được yêu cầu trong vòng ba ngày phải lập xong hành trình.
Khu vực mà Bacxac dự kiến đề cập đến rộng hơn một triệu năm trăm nghìn kilomet vuông, gần như gấp hai lần lãnh thổ nước Pháp. Trên đường đi, đoàn thám hiểm cần phải chia ra làm hai để mở rộng phạm vi hoạt động. Ra khỏi Conacri, trước tiên, các nhà thám hiểm sẽ đi đến Cancan qua Uaxo, Timbo – trung tâm quan trọng của miền nam Phuta – Giaten và Xuruxa – một bến cảng được xây dựng trên sông Nigie, không xa thượng nguồn.
Từ Cancan, họ sẽ đi qua Phoraba, Pherubacura, Tiola, Uazuia và Kenedia để đến Xicaxo, thành phố chính của đất nước cùng tên.
Tại Xicaxo, cạnh biển một nghìn một trăm kilomet, đoàn thám hiểm sẽ được chia ra làm hai. Một đoàn, dưới sự chỉ huy của Brode, đi xuống phía nam, thẳng hướng Congo và đi đến thủ đô của nước này, qua Xitacdugu, Niambuam và những làng mạc lớn nhỏ khác nhau. Từ Congo họ sẽ đi đến Baula để cuối cùng về tới Gran, Baxitno thuộc bờ biển Ngà. Đoàn kia, cùng với Bacxac, sẽ tiếp tục đi về phía đông, qua Uagadugu và gặp sông Nigie ở Xây, sau đó, dọc theo bờ sông, đoàn sẽ đi ngang qua Moxi và, cuối cùng, qua Gurmu và Burgu để kết thúc cuộc hành trình ở Cotonu trên bờ sông Dahomay.
Tính cả những đoạn đường khó đi và sự cần thiết phải đi chậm, có thể dự đoán rằng cuộc hành trình đối với đoàn thứ hai sẽ kéo dài không ít hơn tám tháng.
Họ sẽ cùng khởi hành từ Conacri vào ngày mồng một tháng 12. Boder đến Gran – Buxamo không sớm hơn ngày mùng một tháng mười.
Như vậy chúng ta sẽ có dịp nói về một cuộc hành trình dài.
Ngày 30 tháng 11, trước ngày lên đường, Bacxac mệt nhoài trở về phòng mình sau buổi đi dạo dưới ánh nắng như thiêu như đốt của thành phố Conecri. Ông đang nghỉ ngơi thoải mái thì có người hầu vào báo có hai người cần gặp.
- Ai vậy? – Bacxac hỏi.
Người hầu làm hiệu rằng anh ta không biết.
- Để cho họ vào – Bacxac nói.
Đồng hồ chỉ đúng sáu giờ. Nếu lưu ý đến sự khác nhau về kinh độ thì đây chính là thời điểm bắt đầu cuộc đột nhập vào chi nhánh DK của ngân hàng Trung tâm đã được mô tả trong chương đầu của câu chuyện này.
Khách là một người đàn ông trạc bốn mươi tuổi cung đi với một cô gái độ hai mươi đến hai lăm tuổi. Người đàn ông cao lớn, cặp chân dài ngoằng đỡ lấy tấm thân ngắn ngủn nối liền với cái cổ dài xương xẩu. Anh ta có đôi mắt lanh lợi, cái mũi to, đôi môi dày mà trên đó lưỡi dao cạo nghiệt ngã đã làm sạch lông lá. Mớ tóc nâu ngắn xoăn tít ôm lấy phần dưới của cái đầu trọc bóng loáng. Bức chân dung này cho phép ta khỏi phải nói anh ta là người không đẹp nhưng cái mã xấu xí của anh ta lại dễ thương. Đôi môi dày phản ánh sự trung thực, còn trong đôi mắt thì ánh lên vẻ hiền lành tinh nghịch.
Đi sau anh ta là một cô gái trẻ. Dáng người thanh mảnh với eo lưng kiều diễm, cái miệng xinh xắn, cái mũi dọc dừa cùng với mái tóc dày đen nhánh, cô gái quả là một mỹ nhân.
Bacxac mời khách ngồi, người đàn ông nói ngay:
- Thưa ngài nghị sĩ, hãy tha lỗi cho chúng tôi vì sự quấy rầy này. Chúng tôi xin tự giới thiệu, tôi là Agieno do Xen-Beren, không nghề nghiệp, độc thân và là công dân thành phố Ren – bằng cách như thế, Agieno nói về địa vị xã hội của mình. Dừng một lát, anh ta giới thiệu tiếp – Tiểu thư Gienne Moocna, dì của tôi.
- Dì của anh? – Bacxac hỏi lại.
- Vâng. Tiểu thư Gienna Moocna đúng là dì của tôi – Agieno de Xen-Beren khẳng định, trong khi đó một nụ cười tươi tắn nở trên môi cô gái trẻ…
Gương mặt tuyệt đẹp của cô rạng rỡ, chỉ hạn chế duy nhất là sự nghiêm trang quá đáng.
- Ngài do Xen-Beren đây – cô gái giải thích bằng giọng Anh nhẹ - theo nguyên tắc mang danh là cháu của tôi và anh ta không bao giờ bỏ lỡ cơ hội thông báo quan hệ họ hàng của chúng tôi cho mọi người.
- Điều đó làm tôi trẻ ra – người cháu ngắt lời.
- Song – Gienne Moocna tiếp tục – quyền lợi chính đáng của anh ta đã được xác lập, cho nên anh ta đồng ý thay đổi vai vế và trở thành chú Agieno ngay từ những ngày tôi mới sinh ra.
- Và điều đó hợp với tuổi của tôi hơn – người chú-cháu giải thích – Nhưng hãy cho phép tôi, thưa ngài nghị sĩ, được giải thích mục đích của cuộc viếng thăm này. Tiểu thư Moocna và tôi là những nhà nghiên cứu. Dì-cháu tôi là một nhà du lịch can đảm, còn tôi như một người chú-cháu hiền lành, cho phép cô ấy lôi kéo mình vào những đất nước xa xôi. Chúng tôi dự kiến sẽ tiến sâu vào các miền đất, mạo hiểm trong các cuộc tìm kiếm những ấn tượng và những quang cảnh mới lạ.
“Chúng tôi đã chuẩn bị xong và sẵn sáng lên đường thì được tin đoàn thám hiểm của ngài cũng đi cùng đường với chúng tôi. Khi đó, tôi nói với Moocna là đất nước này không biết hiền dữ thế nào, nhưng tôi cảm thấy rằng chúng tôi nên nhập vào với đoàn thám hiểm nếu như họ có thể nhận chúng tôi. Chúng tôi đề nghị ngài cho phép chúng tôi cùng đi.
- Về nguyên tắc, tôi thấy không có gì trở ngại – bacxac trả lời – nhưng các bạn hiểu cho, tôi phải hội ý với các bạn đồng nghiệp của tôi đã.
- Tất nhiên là như thế - Xen-Benren tán thành.
- Có thể - Bacxac giả thiết – họ ngại rằng sự có mặt của phụ nữ sẽ làm chậm cuộc hành trình và kế hoạch của chúng tôi sẽ không thực hiện đúng. Trong trường hợp này…
- Họ chẳng phải lo ngại gì cả - chú Agieno phản đối – tiểu thư Moocna đây như môt chàng trai thực sự. Chính cô ấy sẽ đề nghị các ngài xem cô ấy như một người bạn.
- Tất nhiên – Gienna Moocna khẳng định – Xin nói thêm là về khía cạnh vật chất, chúng tôi sẽ không làm vướng víu cac ngài một tí nào. Ở chúng tôi có ngựa và phu khuân vác, chúng tôi còn thuê người dẫn đường và phiên dịch, hai người Bambarn, họ là những tay súng Xenegan cũ. Ngài thấy đấy, có thể nhận chúng tôi mà chẳng phải lo ngại điều gì.
- Với những điều kiện như vậy, trên thực tế… - Bacxac thú nhận – ngay tối hôm nay, tôi sẽ trao đổi với các đồng nghiệp của tôi và nếu họ đồng ý thì coi như vấn đề giải quyết xong. Tôi có thể thông báo cho các bạn câu trả lời cuối cùng ở đâu?
- Ngày mai, vào thời điểm xuất phát, bởi vì dù sao chúng tôi cũng sẽ rời Conacri vào ngày mai.
Nói rồi hai người cáo lui ra về.
Bacxac chuyển cho các bạn mình về yêu cầu của họ và đã được chấp nhận tuyệt đối, và đoàn thám hiểm của Bacxac đươc bổ sung thêm hai thành viên mới. Bây giờ, đoàn có tất cả là 10 người, chưa kể phu khuân vác và đoàn hộ tống.
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG III
HUÂN TƯỚC BAXTON GLENO
 
Cho đến thời điểm câu chuyện này bắt đầu, vài năm đã trôi qua kể từ khi huân tước Baxton không ra khỏi nhà. Các cánh cổng của lâu đài Gleno nằm giữa nước Anh, gần thành phố Utoxite, không hề hé mở để đón tiếp bất cứ một vị khách nào, còn các cửa sổ của phòng riêng huân tước thì luôn luôn đóng chặt. Sự tạm giam cầm của huân tước Baxton khởi đầu từ tấn thảm kịch làm hoen ố danh dự của gia đình ông, làm tan vỡ cuộc đời ông.
Sáu mươi năm trước khi xảy ra những sự kiện vừa được kể, huân tước Baxton từ học viện quân sự bước thẳng vào xã hôi, đón nhận tên tuổi và vinh quang từ dòng họ quyền quý và giàu có.
Hai mươi hai tuổi, Edua Alen Baxton cưới một cô gái trẻ, con một gia đình quyền quý nhất nuốc Anh. Sau một năm, đứa con gái đầu lòng chào đời. Điều đó làm vỡ mộng Edon Baxton và ông hồi hộp chờ đợi đứa con thứ hai.
Mãi đến hai mươi năm sau bà Baxton mới tặng cho ông đứa con trai mà ông mong đợi. cậu con trai được đặt tên là Gioocgio. Cũng thời gian ấy, con gái ông lấy chồng. Cô ta lấy một người Pháp tên là de Xan-Beren và hai người sinh được cậu con trai là Agieno.
Sau năm năm nữa, huân tước sinh đứa con trai thứ hai, Lui Robot, mà số phận đã dành cho anh ta cái vai trò nhục nhã trong tấn bi kịch ở ngân hàng Trung tâm ba mươi năm sau đó. Lui chào đời được trả giá bằng một cái chết của mẹ và huân tước Baxton mãi mãi mất đi người bạn đời đã từng chung sống với mình suốt một phần tư thế kỷ.
Phiền muộn, chán nản, huân tước Baxton không thiết gì đến con đường công danh, và, mặc dù còn tương đối trẻ, ông từ bỏ binh chủng hải quân, nơi ông phục vụ từ khi mới ra trường.
Nhiều năm tháng trôi qua, ông sống một cuộc sống biệt lập. Rồi thời gian cũng làm cho ông vơi đi nỗi đau khổ. Sau chín năm sống đơn độc, huân tước Baxton thử xây lại tổ ấm gia đình. Ông cưới bà vợ kế là Magorit Phecnay, vợ góa của một người bạn cùng phục vụ trong quân đội. Thay vì của hồi môn, bà mang đến cho ôn một đứa con trai mười sáu tuổi tên là Uyliam.
Nhưng số phận đã định đoạt, Gieno phải sống một mình đến cuối đời. Vài năm sau, đứa con gái thứ tư ra đời, bé Gienna, và lần thứ hai ông góa vợ.
Lúc đó huân tước Gieno đã sáu mươi tuổi. Ở tuổi này ông không còn nghĩ đến chuyện xây dựng gia đình nữa và hết lòng làm tròn trách nhiệm người cha. Nếu không kể người con gái đầu, bà do Xen-Beren đã có gia đình riêng từ lâu thì ông còn lại bốn người con, trong đó đứa lớn nhất đã gần 20 tuổi. Đó là Uyliam Phecnay mà ông không muốn phân biệt với những đứa con đẻ của mình.
Nhưng số phận ác nghiệt không chịu buông tha ông. Và huân tước Gieno phải chịu những đau khổ mới, mà so với chúng, những nỗi đau trước kia đều quá nhẹ nhàng.
Nỗi phiền muộn đầu tiên do Uyliam Phecnay, con trai người vợ kế quá cố mà ông thương như con đẻ của mình, gây ra. Uyliam kín đáo, hay gây gổ, giả dối. Con người trẻ tuổi này không đáp lại tình thương mà người ta dành cho y. Y sống đơn độc trong gia đình trong khi mọi người đều cởi mở hết tấm lòng đối với y. Y thờ ơ với tất cả những gì người ta dành cho y. Ngươc lại, người ta càng cởi mở bao nhiêu thì y càng xa lánh bấy nhiêu; người ta càng thân thiện bao nhiêu thì y càng căm thù bấy nhiêu.
Từ ngày đầu cùng mẹ bước chân vào lâu đài Gieno, y đã ôm mối thù hận đối với Gioocgio và Lui – những người thừa kế của huân tước Baxton, những người mà đến lúc nào đó sẽ trở nên giàu có.
Mối thù càng tăng khi Gienna, em gái cùng mẹ khác cha với y được sinh ra. Bởi cô ta cũng sẽ được chia gia tài mà y thì không có quyền hưởng, và nếu có, thì chỉ do lòng thương hại.
Mẹ y mất đi là mất luôn người thân duy nhất mà ở đó có thể tìm thấy con đường đi đến trái tim bệnh hoạn của y và không có gì có thể kiềm chế nỗi hận thù. Kẻ ghen tỵ ngày càng rời xa gai đình và chọn cho mình một cuộc sống biệt lập mà bí mật của nó chỉ phát hiện được từ vụ bê bối mà y gây ra. Uyliam đi lại với những thanh niên hư hỏng nhất mà y có thể tìm được. Chẳng bao lâu xuất hiện những món nợ. Lúc đầu thì huân tước trả nhưng sau đó huân tước không hể nào trả được nữa.
Buộc phải sống với số tiền ít òi, Uyliam Phecnay vẫn không thay đổi cách sống của mình. Một thời gian dài, người ta không thể hiểu y lấy tiền ở đâu, nhưng một hôm, một phiếu đòi nợ lớn với chữ ký giả mạo huân tước Baxton được gởi đến lâu đài Gleno. Không nói một lời, huân tước trả hết món nợ đó và đuổi kẻ có tội ra khỏi lâu đài, không quên chu cấp cho y đủ sống.
Uyliam Phecnay từ bỏ lâu đài Gleno và biến mất. Chuyện gì đã xảy ra với y, huân tước Baxton không hề hay biết.
May mà những đứa con còn lại cua ông đã làm cho ông hài lòng, bù đắp được nỗi dằn vặt mà Phecnay gây ra cho ông. Người con lớn, Gioocgio, kế tục được truyền thống gia đình, anh tốt nghiệp trung học ở Axcot và gia nhập quân đội thuộc địa. Điều đáng tiếc đối với huân tước Baxton là người con trai thứ hai, Lui. Anh ta ham thích việc nhà binh nhưng trong tất cà các quan hệ còn lại thì anh ta xứng đáng với tình yêu của ông. Đó là một cậu bé rung thực, nghiêm túc.
Cuộc đời của những người trẻ tuổi êm đềm trôi. Con đường công danh rộng mở trước mắt đón chào họ. Lui vào làm việc ở ngân hàng trung tâm, nơi đó, anh ta được đánh giá cao và người ta dự đoán rằng sẽ đến lúc anh trở thành người đứng đầu công sở đồ sộ này. Trong khi đó, Gioocgio thuyên chuyển từ nước thuộc địa này sang nước thuộc địa khác. Trong chừng mực nào đó, anh ta trở thành anh hùng và được thăng cấp bằng thanh gươm của mình.
Huân tước Baxton những tưởng số phận đen bạc không còn bám theo ông nữa thì bất ngờ một nỗi bất hạnh khác giáng xuống đầu ông. Nỗi bất hạnh này làm ông đau đớn khủng khiếp hơn tất cả những gì ông phải chịu đựng từ trước đến nay. Lần này danh dự của dòng họ Gieno vĩnh viễn bị bôi đen.
Gioocgio Baxton, con trai lớn của huân tước Gieno, trong thời gian được quân đội biệt phái sang một đoàn khảo sát lớn đã dẫn đầu đội quân chính quay được tuyển chọn, suốt hai năm, anh rong ruổi suốt đất nước của người Asanti thì đột nhiên có tin: con trai của huân tước dường như đang cầm đầu một băng cướp. Tin mới lan nhanh như sét đánh. Báo chí đưa tin chi tiết về hành động của đại úy Baxton và đồng sự của anh ta về những vụ cướp giật, tống tiền tàn bạo của họ và sự trừng phạt sau đó. Toán cướp đã bị những đơn vị quân đội cửa đến truy quét không thương tiếc, đại úy Baxton cùng với một số tòng phạm bị đuổi đến một vùng lãnh thổ thuộc Pháp, và cuối cùng bị dồn vào một nơi gần làng Coho, dưới chân núi Hombori, viên đại úy bị giết chết bằng loạt súng đầu tiên.
Nỗi xúc động đã bao trùm cả nước Anh, khi người ta biết tin về sự mạo hiểm đầy kinh ngạc này. Sau đó, mọi chuyện lắng đi và những kẻ bị giết đã đi vào quên lãng.
Nhưng ở một nơi mà ở đó hình ảnh về một trong những kẻ ấy vẫn còn mãi mài. Đó là ngôi nhà của huân tước Baxton.
Bị tổn thương cùng một lúc, vừa tình yêu mãnh liệt đối với đưa con trai, vừa danh dự dòng họ của mình mà ông quý hơn nhiều. Người thủy thủ già, khi ấy đã gần 78 tuổi, không chịu ngã lòng và chỉ có khuôn mặt tái nhợt là lộ rõ nỗi đau buồn của ông. Không đặt ra một câu hỏi nào về sự kiện ngoài sức chịu đựng đối với bản thân mình, ông giam mình trong sự cô đơn kiêu ngạo và trong sự im lặng bướng bỉnh.
Bắt đầu từ hôm đó, hằng ngày ông không đi dạo nữa. Ông cách ly với tất cả mọi người, kể cả bạn bè thân thiết nhất, ông sống trong cô đơn, gần như bất động.
Cô đơn ư? Hoàn toàn không. Ba người con quý mến ông vẫn ở bên cạnh, chịu đựng một hiện thực khủng khiếp cùng với pho tượng sống, cùng với bóng hình vẫn còn sinh lực của con người nhưng tự nguyện giấu mình trong sự im lặng vĩnh hằng.
Trước hết, đó là con người thứ hai, Lui Robot Baxton. Hàng tuần, anh dành ra một ngày ở Gieno, sau những ngày bận rộn ở ngân hàng trung tâm.
Sau đó là người cháu ngoại của ông, Agieno Xen-Beren. Với nụ cười hiền hậu của mình, anh muốn làm vui ngôi nhà u ám như cái nhà tù này. Agieno de Xen-Beren là con người tuyệt vời, sẵn lòng giúp đỡ cùng với trái tim nhạy cảm và lòng nhiệt thành vô hạn. Ở anh có ba tính cách khác với mọi người: sự lơ đễnh hiếm có, ham muốn câu cá mãnh liệt, và cuối cùng anh quay lưng lại ngay cả với nữ giới.
Đang làm chủ một gia tài lớn được thừa hưởng của cha mẹ, anh đã rời nước Pháp khi nghe tin đầu tiên về bi kịch làm tổn hại đến ông ngoại mình, sau khi thu xếp ổn thỏa ngôi biệt thự của mình cho người quen thân. Cạnh biệt thự có một con sông nhỏ, ở đấy Agieno cắm đầy cần câu với sự cần mẫn không giải thích nổi.
Tại sao trên thực tế Agieno lại dồn sự ham mê vào công việc này, bởi anh luôn luôn nghĩ về chuyện khác, và tất cả những con cá sống trong sông có thể cắn câu, còn anh thì không để ý đến cả cái phao? Hơn thế nữa, nếu một con cá đảnh hay cá bống nào đó có khả năng làm cho kẻ đi câu lơ đãng phải chú ý đến để tự giật cần câu lên thì con người nhạy cảm này vội vã ném nó xuống nước không cần do dự.
Một con người tốt, như chúng ta đã nói, nhưng thành kiến ác nghiệt trong quan hệ đối với phụ nữ là nghĩa làm sao? Anh gán cho họ đủ mọi khuyết tật, mọi thói xấu. “Gian dối, bội tín, xa xỉ” – anh thường nói về họ như vậy. ác cảm của anh đối với nữ giới chỉ trừ một ngọai lệ. Nhân vật được anh ưu đãi đó là Gienna Baxton, con gái út của huân tước Gieno, và hiển nhiên là dì của Agieno, người dì trẻ hơn cháu hai thập niên, người dì mà khi còn bé anh tập cho từng dáng đi bước đứng và anh trở thành người đỡ đầu, khi ngày huân tước bất hạnh qua đời. Anh đối với cô là tình cảm của người cha thật sự và ngược lại, cô gái trẻ cũng hoàn toàn xem anh như vậy. Tóm lại, đó là một người thầy, nhưng người thầy làm tất cả những gì mà cô học trò bé bỏng ưa thích. Họ không bao giờ rời xa nhau. Họ cùng dạo chơi trong rừng, đi bộ hoặc cưỡi ngựa, cùng bơi thuyền, cùng đi săn và cùng chơi những môn thể thao phổ thông. Điều đó cho phép đứa cháu lớn tuổi nói với người dì non trẻ như nói với một cậu bé “các anh sẽ thấy, cuối cùng cô ấy sẽ trở thành đàn ông!”.
Gienna Baxton là người thứ ba thường quan tâm đến ngài huân tước già và cô dành cho ông sự chăm sóc gần như là bà mẹ. Cô có thể hy sinh cả chính cuộc sống mình để nhìn thấy nụ cười nở trên môi ông. Dù chỉ đem lại một chút hạnh phúc cho tâm hồn giá lạnh của người cha. Ý nghi ấy luôn luôn có trong đầu óc cô. Đó là mục đích duy nhất của mọi suy nghĩ, mọi hành động của cô.
Trong khi nghe tin anh trai chết, cô cảm thấy rằng người cha khóc nhiều cho số phận bi đát của mình hơn là cho đứa con trai bị trừng trị thích đáng. Còn cô thì ngược lại, cô không khóc.
Cô không thể thờ ơ với cái chết của người anh yêu quý và đối với vết nhơ mà tội lỗi của anh làm hoen ố danh dự gia đình. Nhưng cùng với sự đau thương, còn là sự phẫn uất trong tâm hồn. Như thế thì sao? Lui và cha mới dễ tin vào nỗi nhục của Gioocgio làm sao! Họ đón nhận mọi sự buộc tội xem như là có bằng chứng từ bên kia đại dương không một chút nghi ngờ! Những lời đồn đại và các báo cáo ấy có nghĩa lý gì? Chống lại chúng là niềm tin xâu sa của Gienna vào sự vô tội của anh trai mình. Trong khi cả xã hội không thừa nhận con người đã khuất thì những kỷ niệm về người anh, niềm tin vào người anh không bao giờ tắt trong cô.
Thời gian càng nung nấu thêm những cảm nghĩ ban đầu của Gienna Bexton. Ngày tháng trôi qua, niềm tin vào sự vô tội của anh trai càng mãnh liệt, mặc dù cô không thể khẳng định điều đó với chứng cớ nào. Cuối cùng, thời cơ đã đến – đó là vài năm sau khi bi kịch xảy ra – khi lần đầu tiên cô vi phạm bầu không khí yên lặng tuyệt đối mà trong đó, theo sự thỏa thuận ngầm, tất cả những người sống trong lâu đài bao quanh tấn thảm kịch ở Cabe.
- Chú? – cô hỏi Agieno do Xen-Beren vào ngày hôm đó.
Agieno thường gọi Gienna là cháu, khi cô gắn cho anh bậc chú. Luôn luôn như vậy.
Nhưng có khi… Nếu sự việc xảy ra, ông chú than phiền về đứa cháu gái thân yêu của mình hoặc quyết định chống lại ý muốn của cô thì lập tức Gienna giành lại quyền của mình và tuyên bố với thằng cháu lớn tuổi rằng cần phải nghe theo lời của bậc cô dì. Nếu sự việc chuyển qua tình huống xấu, đứa cháu liề làm lành ngay và vội vã làm vừa lòng bà dì đáng kính của mình.
- Chú? – Gienna hỏi.
- Ừ, chú nghe đây – Agiena đang vùi đầu vào quyển sách dày viết về nghệ thuật câu cá, trả lời.
- Cháu muốn nói chuyện với chú về Gioocgio.
Agieno kinh ngạc đặt sách xuống.
- Về Gioocgio? – anh ta hơi bối rối lặp lại – Về Gioocgio nào?
- Về anh trai Gioocgio của cháu – Gienna thản nhiên nói rõ hơn.
Agieno tái mặt.
- nhưng cháu biết đấy – Agieno phản đối bằng giọng run run – đề tài này bị cấm lâu rồi, còn cái tên đó thì ít được nhắc lại ở đây.
Gienna gạt bỏ sự phản đối bằng cái gật đầu.
- Không quan trọng – cô thản nhiên nói – Hãy nói chuyện với cháu về Gioocgio đi chú.
- Thế tôi phải nói về điều gì?
- Về tất cả. Về tất cả câu chuyện.
- Không bao giờ!
Gienna nhíu mày.
- Cháu! – cô buông một tiếng đe dọa – Như thế là đủ.
- Nào! Nào! – Agieno lắp bắp và chấp nhận kể lại câu chuyện đau buồn ấy.
Gienna im lặng lắng nghe và khi anh ta kết thúc câu chuyện cô không tìm ra một câu hỏi nào. Agieno cho rằng như thế là xong, anh thở phào nhẹ nhõm.
Anh ta đã nhầm. Vài ngày sau Gienna gợi lại chuyện cũ.
- Chú? – cô lại hỏi.
- Ừ, chú nghe đây – Agieno lại trả lời.
- Nhưng, nếu Gioocgio không có tội thì sao?
Agieno tưởng mình nghe nhầm.
- Không có tội? – anh ta lặp lại – Than ôi! Cô gái bé bỏng của tôi ơi! Trong vấn đề này chẳng có gì nghi ngờ cả. Sự phản trắc và cái chết của Gioocgio bất hạnh. Đây là những sự kiện lich sử với nhiều bằng chứng.
- Những bằng chứng gì? – Gienna hỏi.
Agieno lại tiếp tục câu chuyện. Anh kể cho Gienna nghe về những bài báo, những báo cáo chính thức không bị ai bác bỏ. Cuối cùng, anh viện cớ vào sự vắng mặt của Gioocgio. Đó là bằng chứng hùng hồn nhất về cái chết của anh ta.
- Cứ cho là chết đi! – Gienna trả lời – Nhưng sự phản trắc?
- Điều này là hệ quả của điều kia – Agieno trả lời. Anh bực tức vì sự bướng bỉnh ấy.
Sự bướng bỉnh ở cô gái còn nhiều hơn anh tưởng. Bắt đầu từ ngày hôm ấy, cô thường quay lại với chủ đề nặng nề này, cô đặt ra cho Agieno những câu hỏi mà từ đó có thể kết luận rằng Gienna vẫn giữ nguyên niêm tin về sự vô tội của anh trai.
Sau nhiều lần tranh luận giữa cháu và dì, sự vô tội của Gioocgio được họ công nhận, đó là một khả năng thực tế và Agieno de Xeb-Beren không bác bỏ nó nữa. Hơn thế, ý kiến của Gienna đã ảnh hưởng đến tâm trạng của Agieno. Nếu ở anh còn chưa có niềm tin hoàn toàn vào sự vô tội của viên đại úy nổi loạn thì chí ít ra sự tin tưởng rằng anh ta có tội cũng đã bị lung lay.
Những năm tiếp theo sau đó, niềm tin mãnh liệt của Gienna càng trở nên sâu sắc hơn, nhưng nó dựa trên tình cảm nhiều hơn là lý tình. Giành phần thắng trước người cháu của mình cô đã đạt được một cái gì đó, nhưng hãy còn quá ít. Tuyên bố là anh trai vô tội, có ích gì, nếu không thể chứng minh được điều đó?
Sau nhiều lần suy nghĩ, cô có cảm tưởng rằng mình đã tìm ra phương cách.
- tất nhiên là – vào một ngày đẹp trời, cô nói với Agieno – chưa đủ, nếu chỉ có chú cháu ta tin vào sự vô tội của Gioocgio. Cần phải đưa ra bằng chứng, hiểu không, chú thân yêu? Không có bằng chứng, chúng ta có thể gào lên khắp các mọi nhà, mọi người rằng Gioocgio vô tội thì chẳng ai tin đâu.
- Điều đó quá rõ ràng, cô bé tội nghiệp của tôi ạ!
- Khi cha tôi, bản thân ông tin vào những lời đồn đại mà ông không hề hay biết về diễn biến của chúng ra sao, khi ông phải chết vì đau khổ và tủi nhục trước mắt chúng ta mà không thể xac minh được những điều bịa đặt độc ác, khi ông phải nghe những lời buộc tội con trai mình mà không được thét lên: “Các ông nói láo! Gioccgio không thể hành động như thế được!”, thì chúng ta muốn thuyết phục những người xa lạ mà không đưa ra cho họ những bằng chứng xác đáng về sự vô tội của anh tôi sao được?
- Điều đó rõ như ban ngày – Agieno tán thành, đưa tay xoa cằm.
- Nhưng vậy thì… thì những bằng chứng này… tìm chún gở đâu?
- Tất nhiên là không phải ở đây.
Gienna im lặng một lát rồi hạ giọng:
- Ở nơi khác, có thể là…
- Ở nơi khác? Ơ đâu vậy cô bé thân yêu của tôi?
- Ở đó, nơi xảy ra tấn thảm kịch. Ở Cubo!
- Ở Cubo?
- Vâng, ở Cubo. Ở đó có một của Gioocgio bởi vì anh ấy chết ở đó, và, nếu như thế thì sẽ rõ, anh ấy chết như thế nào. Sau đó cần phải tìm ra những người đã chứng kiến bi kịch. Gioocgio đã chỉ huy một đội quân, không thể có chuyện họ đã biến mất hết cả… Cần phải hỏi những người làm chứng và qua họ tìm ra sự thật – cô càng nói, mặt cô càng đỏ hồng lên, giọng run run.
- Phải đấy, cô bé ạ! – Agieno kêu lên, không cảm thấy mình đang bị rơi vào bẫy.
Gienne nắm bắt ngay lấy sự nhiệt thành đó.
- Nào – cô nói – nếu tôi nói đúng thì chúng ta đi!
- Đi đâu? – Agieno tái mặt kêu lên.
- Đi Cubo, chú ạ.
- Đi Cubo! Thế cô định gửi đồ quỷ quái nào đến Cubo?
Gienna quấn quanh cổ tay Agieno.
- Chú, chú hiền lành của cháu – cô thì thầm âu yếm.
- Tôi?
Agieno vùng ra. Lần này anh tức giận thật sự.
- Cô điên rồi sao? – anh hét lên và định bỏ đi.
- Không, hoàn toàn không! – Gienna chặn anh lại, trả lời – Tại sao, trên thực tế chú lại không đến Cubo được? Chẳng lẽ chú không thích đi du lịch à?
- Tôi căm ghét những thứ đó. Phải ra ga đúng giờ quy định, điều đó quá sức đối với tôi.
- Còn câu cá, chú cũng căm ghét, có phải thế không?
- Câu cá? Tôi không thấy…
- Thế chú sẽ nói gì về con cá chim câu được từ sông Nigie? Cái đó không phải là vô vi đâu! Ở Nigie, cá bống to như cá mập, còn cá đảnh thì trông như những con cá ngừ. Những điều đó khôn ghấp dẫn đối với chú sao?
- Tôi không nói không… tuy nhiên…
- Trong khi câu cá, chú sẽ thu thập tin tức, chú sẽ hỏi chuyện những người bản xứ…
- Bằng thứ ngôn ngữ nào? – Agieno giễu cợt cắt ngang – Tôi không cho rằng họ nói được tiếng Anh.
- Và, chính vì vậy – Gienna thản nhiên nói – tốt hơn hết là chúng ta bắt chuyện với họ bằng tiếng Bambara.
- Bằng tiếng Bambara! Thế tôi biết tiếng Bambara sao?
- Thì học thứ tiếng đó.
- Ở lứa tuổi tôi?
- Tôi đã học thứ tiếng đó, mà tôi là dì của anh!
- Cô? Cô nói được tiếng Bambara?
- Tất nhiên! Hãy nghe chừng này thôi: Dgiu dokho a be na.
- Những từ rối rắm ấy là gì vậy?
- Có nghĩa là: Tôi muốn uống nước. Còn đây nữa: I du, nono u mita…
- Xin thú thật là… “nono… mita”?
- Câu đó có nghĩa là: vào đi, anh sẽ uống sữa. Còn câu này: Cukho be ne, cunu narara a man chuminu. Đừng đoán làm gi. Xin dịch: Tôi rất đói, tôi chưa được ăn từ chiều qua
- Và phải học tất cả những điều đó?
- Đúng, và đừng để lãng phí thời gian, bởi vì ngày lên đường chẳng còn bao lâu nữa.
- Ngày lên đường nào? Nhưng tôi sẽ không đi tán gẫu với những người bản xứ của cô đâu.
Gienna rõ ràng là không muốn thuyết phục anh ta.
- Thì tôi sẽ đi một mình vậy – cô buồn bã nói.
- Một mình! – Agieno kinh ngạc lẩm bẩm – Cô muốn đi một mình…
- Đành phải thế, bởi anh không muốn đi cùng tôi – Gienna trả lời giọng lạnh lùng.
- Nhưng đó là điều điên rồ! Đó là sự quẫn trí! Cô hăng tiết lên chăng? – Agieno hét lên và chạy đi, đóng ầm cửa lại.
Nhưng đến ngày hôm sau, khi anh muốn gặp Gienna thì được trả lời rằng cô không muốn tiếp, và những ngày tiếp theo cũng vậy. Agieno không chịu nổi trò chơi này. Sau bốn ngày, anh phải xin đầu hàng.
Với tâm hồn cao thượng, Gienna không trách móc gì anh.
- Trước hết, hãy nghiên cứu về ngôn ngữ - cô hôn vào má anh và nói.
Từ hôm đó, Agieno miệt mài nghiên cứu ngôn ngữ Bambara.
Trước khi lên đường, Gienna thấy cần phải có sự đồng ý của cha. Cô nhận được sự chấp thuận dễ dàng hơn là cô tưởng. Cô vừa tỏ ý rằng cô muốn đi du lịch thì cha cô ra hiệu đồng ý ngay lập tức và ông trở về với nỗi buồn cố hữu của mình.
Xong việc này, Gienna và Agieno bắt tay vào chuẩn bị cho cuộc hành trình. Họ quyết định sẽ lên đường đi Livopun. Ở đấy, họ sẽ lên tàu thủy chuyến Uali-Xta-Xerex, đi châu Phi. Ý định đầu tiên của họ là sẽ đến Gambin thuộc Anh. Nhưng trong thời gian dừng lại ở Xanhlui, được biết ở Conacri người ta đang chờ một đoàn thám hiểm Pháp mà sau này sẽ đi cùng đường với họ, họ quyết định nhập vào cùng với những người đồng hương của de Xen-Beren.
Vào cuối tháng chín, họ gửi hành lý của mình đến Livopun, và ngày 2 tháng 10, lần cuối cùng hai người ăn sáng với nhau (huân tước Baxton không bao giờ rời khỏi căn phòng của mình) trong phòng ăn lớn của lâu đài Gieno. Bữa ăn sáng diễn ra trong yên lặng, buồn bã. Gienna Baxton nghĩ rằng có thể cô sẽ không còn được nhìn thấy lâu đài, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi giữ lại bao kỷ niệm về thời thơ ấu mà nếu cô trở về thì người cha già của cô chắc sẽ không còn để dang tay ôm cô vào lòng nữa.
Tất nhiên, vì ông mà cô thực hiện một công việc đầy nguy hiểm và vất vả này. Mục đích của cô là mang niềm vui dù ít ỏi về cho tâm hồn lạnh giá, mong muốn của cô là khôi phục lại danh dự cho gia đình.
Giờ khởi hành đã đến, Gienna đề nghị người cha cho phép cô được từ biệt ông. Cô cùng với Agieno bước vào phòng. Ông đang ngồi bên cửa sổ lớn nhìn ra cánh đồng. cái nhìn chăm chăm của ông mất hút vào nơi xa thẳm, dường như ông 9ang trông chờ một bóng hình nào đó. Ai vậy? Gioocgio, con trai ông, kẻ phản trắc.
Nghe tiếng chân con gái bước vào, ông lặng yên quay đầu lại, cái nhìn lờ đờ bỗng sáng lên, khuôn mặt ông vẫn giữ vẻ bất động thường ngày.
- Vĩnh biệt, cha! – Gienna lắp bắp, cố giữ nước mắt khỏi trào ra.
Huân tước Gieno không trả lời. Ông đứng lên đưa tay ôm con vào lòng và âu yếm hôn lên trán Gienna.
Sợ phải nấc lên, Gienna vùng chạy ra ngoài. Ông già giữ lấy tay do Xen-Beren bóp mạnh như yêu cầu sự che chở, ông chỉ tay ra cửa, nơi Gienna vừa bỏ chạy.
- Hãy tin ở cháu – Agieno lắp bắp.
Và ngay lúc đó, huân tước Baxton trở về chỗ cũ của mình với cái nhìn mất hút trong cánh đồng.
Xe ngựa chờ các nhà du lịch ở ngoài sân lâu đài để đưa họ đến nhà ga ở Utocite.
- Đi đâu đây? – Agieno chưa lấy lại bình tĩnh hỏi. Quá cảm động khi chứng kiến cảnh chia tay vừa rồi, anh quên hẳn tại sao họ phải rời khỏi Gieno.
Gienna chỉ nhún vai. Họ lên đường. Mới đi khoảng năm trăm mét thì Do Xen-Beren bỗng cảm thấy không bình thường. Anh không nói gì chỉ thở hổn hển.
- Cần câu của tôi! Cần câu của tôi! – anh kêu lên với giọng não nùng.
Bắt buộc phải quay lại lâu đài và đi tìm những chiếc cần câu nổi tiếng mà người câu cá đãng trí đã bỏ quên. Vì chuyện đó họ đã mất trọng mười lăm phút. Khi họ đến nhà ga thì tàu đã đỗ ở sân ga. Những nhà du lịch chỉ vừa kịp bước lên tàu. Agieno nói với giọng tự hào:
- Đây là lần thứ hai trong đời tôi không bị trễ tàu.
Gienna bất giác mỉm cười qua nước mắt chảy dài.
Cuộc hành trình đã đưa hai nhà du lịch đến những bất ngờ kỳ lạ như vậy. Giênna có đón nhận nó không, nếu cô biết được cái gì sẽ xảy ra trong thời gian cô đi vắng. Cô ó rời bỏ người cha bất hạnh của mình không nếu như cô linh tính được rằng một tai họa mới sẽ giáng xuống đầu ông, trong khi cô còn phải mạo hiểm để cứu ông qua khỏi cơn tuyệt vọng?
Nhưng không có dấu hiệu nào báo trước cho Gienna về tấn bi kịch sẽ phải xảy ra ở chi nhánh ngân hàng trung tâm mà kẻ bị buộc tội là anh trai Lui của cô. Nghĩ là giúp đỡ cha nhưng cô đã rời bỏ ông chính vào lúc sự chăm sóc của cô đối với ông là cần thiết.
Tin Lui Robot Baxton mất tích do người đầy tớ tận tâm đứa đến tai huân tước Gieno vào buổi sáng sau đêm xảy ra vụ cướp ở chi nhánh DK, nghĩa là vào ngày mùng một tháng 12. Cơn sốc như cú đánh thô bạo bằng côn. Kể hậu sinh xứng đáng của dòng dõi những anh hùng người phục vụ quên mình cho danh dự được biết rằng, trong số hai con trai của mình thì một là kẻ phản trắc và một là tên ăn cắp.
Ông già bất hạnh buông một tiếng kêu khàn khàn, đưa tay lên cổ họng và thân hình không còn sinh lực ngã phịch xuống sàn.
Người ta vây quanh lấy ông. Họ nâng ông dậy. Họ chăm sóc cho đến khi ông tỉnh lại. Nhưng chỉ còn cái nhìn của đôi mắt giờ đây là dấu hiệu duy nhất nói rằng cuộc sống chưa rời khỏi trái tim chịu nhiều đau khổ này. Thân thể của ông bại liệt, báo hiệu cho sự bất động vĩnh viễn. Nhưng, như thê cũng chưa đủ để xua tan hết sự ác nghiệt của số phận, trong cơ thể gần như bất động vĩnh viễn này đang tồn tại một trí tuệ minh mẫn. Huân tước Baxton mất cảm giác, câm lặng, bất động, đang suy nghĩ!
Nếu lưu ý đến sự khac nhau về kinh độ thì chính vào thời điểm này, khi cha cô ngã xuống bất tỉnh thì Gienna Baxton đang đặt chân vào bàn đạp, đi qua chiếc cầu nối liền Conacri và lục địa, bắt đầu cuộc hành trình của mình bằng những bước chân đầu tiên trong vùng hẻo lánh thuộc miền đất châu Phi đầy bí ẩn.
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG IV
BÀI TƯỜNG THUẬT TRONG TỜ “EXPANXON PHRANXIT”
 
Ngày mồng một tháng giêng, bạn đọc của tờ “Expanxon Phranxit” được thưởng thức bài báo của Ameday Phloranxo.
 
Đoàn thám hiểm Bacxac,
(Do phóng viên đặc trách của chúng tôi gởi về)
Trong bưng biền. Ngày mồng một tháng mười hai.
Như tôi đã viết cho các bạn trong lá thư cuối cùng, đoàn thám hiểm Bacxac cần phải lên đường vào lúc sáu giờ sáng ngày hôm nay. Mọi việc đã chuẩn bị xong thì có hai người tình nguyện gia nhập vào đoàn. Một trong hai người tình nguyện là một cô gái trẻ, tuyệt đẹp, người Pháp nhưng được lớn lên ở Anh, nên cô ta nói giọng Anh rất dễ thương. Người ta gọi cô là tiểu thư Gienna Moocna. Người thứ hai là chú của cô gái, nếu anh ta không phải là cháu của cô, bởi vì tôi chưa lần ra mối quan hệ ruột thịt của họ. tên anh ta là Agieno de Xen-Beren. Đó là một con người kỳ dị mà sự đãng trí của anh ta đã trở thành truyền thuyết ở Conacri, hy vọng rằng anh ta sẽ đem đến cho chúng ta không ít phút vui vẻ.
Tiểu thư Moocna và do Xen-Beren đi du lịch để thỏa mãn trí tò mò. Họ có hai người da đen phục vụ - những tay súng Xenegan cũ. Những người này dẫn đường và phiên dịch cho họ, mặc dù những nhà du lịch của chúng ta nói được tiếp Bambara và các thứ tiếng châu Phi khác không tồi.
Vậy là sáng sớm ngày mồng một tháng 12, vào lúc năm giờ rưỡi, chúng tôi tập trung trên quảng trường lớn của Conacri, gần phủ toàn quyền.
Sự thận trọng tối thiểu đòi hỏi phải có một đội quân hộ tống đoàn thám hiểm, và Bacxac phải chấp nhận một điều cần thiết. Đại úy Macxinay và hai trăm kỵ binh đi cùng.
Lúc sáu giờ sáng, đoàn chúng tôi đứng thành hàng theo sự chỉ dẫn của một người da đen, người này đã nhiều lần qua lại đoạn đường từ Conacri đi Xicaxo. Anh ta sẽ là người dẫn đường cho chúng tôi. Tên anh ta là Moriliro. Đó la một thanh niên trạc ba mươi tuổi, mặc quần cộc và chiếc áo-blu-dông cũ của bộ binh thuộc địa với ngù vai sờn rách và bẩn thỉu. Anh ta đi chân đất, đầu đội chiếc mũ vải gai màu trắng được trang trí bằng cái ngù lông ba màu tuyệt đẹp.
Đoàn của chúng tôi có năm mươi con lừa do hai mươi lăm người dắt và năm mươi phu khuân vác, trong số đó, mười người do tiểu thư Moocna thuê. Đứng thành hàng hai bên cạnh đoàn là các kỵ binh của đại úy Macxinay.
Đúng sáu giờ, người ta ra lệnh xuất phát. Trên dinh toàn quyền, ngọn cờ ba màu được kéo lên và nhà toàn quyền đứng trên ban-công vẫy chào chúng tôi lần cuối. Kèn, trống của đội bộ binh thuộc địa đóng ở Conacri vang lên. Chúng tôi lấy mũ xuống. Đây là giây phút trọn thể.
Mặt trời đã ló dạng, nhưng tia nắng đầu tiên chiếu sáng rực rỡ con đường chúng tôi đi.
Sau chiếc cầu nối liền Conacri và lục địa là con đường rất tốt rộng từ năm đến sáu mét, dài 400km, dẫn đến Timbo. Có nghĩa là từ đây đến Timbo, chúng tôi không sợ khó khăn. Thời tiết trong lành, nhiệt độ xấp xỉ 17 độ trong bóng râm, và chúng tôi sẽ không bị mưa rào đe dọa vì mùa mưa đã qua rồi.
Tiến lên! Mọi việc sẽ tốt hơn trong thế giới tốt đẹp này.
Gần mười giờ, khi nắng gắt, đại úy Macxinay ra lệnh dừng lại. Chúng tôi đã đi được 20km kể từ Concri, đó là điều rất tốt. Lúc năm giờ chiều, sau khi ăn cơm và nghỉ ngơi, chúng tôi sẽ lại lên đường, gần chín giờ tối, chúng tôi dựng trại nghỉ đêm.
Đấy là chương trình hàng ngày mà chúng tôi sẽ không nhắc lại, bởi không muốn làm phiền bạn đọc bằng những chi tiết vụn vặt trên đường. Tôi sẽ chỉ ghi vào nhật ký hành trình của mình những sự việc hấp dẫn.
Moriliro phụ trách bếp ăn dã chiến. Với sự giúp đỡ của Trumuki và Tongano – những người phục vụ tiểu thư Moocna – anh ta sẽ nấu ăn, bởi vì chúng tôi đã thỏa thuận sẽ giữ lại đồ hộp và lương thực được mang đi từ châu Âu để đề phòng trường hợp không kiếm được thức ăn tươi.
Bữa ăn đầu tiên của chúng tôi thật tuyệt vời. Các bạn hãy tự thưởng thức lấy: cừu non nấu cháo, bánh rán bột ngô, các lọai quả sung, chuối và dứa. Thứ uống là nước sạch lấy ở con suối chảy ngang dưới chân chúng tôi và rượu dừa dành cho những ai ưa thích
Đêm đến, chúng tôi dừng chân trong bưng và căng lều bạt. Phải nói thêm là nơi đây không hoàn toàn hoang vắng. bên phải con đường là túp lều bỏ hoang của người bản xư, còn bên trái chúng tôi là một túp lều khác, chắc là có người ở.
Tiểu thư Moocna đang nghỉ trong lều thì Moriliro báo co cô biết rằng có một cậu bé da đen, đầy tớ của một người làm vườn da đen vắng nhà, muốn mời tiểu thư vào nghỉ trong ngôi nhà sạch sẽ, nơi có cả - một vật khó tin! – chiếc đi-văng châu Âu có gối đầu.
Tiểu thư Moocna nhận lời và chúng tôi đưa cô đến ngôi nha mới. Cô đầy tớ đứng chờ chúng tôi. Đấy là một cô bé khoảng 15 tuổi, cô đón chúng tôi ngay từ ngoài cổng.
Chúng tôi rất ngạc nhiên khi nghe cô bé nói tiếng Pháp khá sõi.
- Em được học trong trường Pháp – cô nói với tiểu thư Moocna – phục vụ cho một phụ nữ da trắng, vợ của một sĩ quan, sau đó em về làng trong thời gian có chiến tranh và em bị bắt làm tù binh. Em biết chuẩn bị chăn đêm như người da trắng, chị sẽ hài lòng.
Cô bé thân mật cầm tay tiểu thư Moocna và đưa cô vào trong nhà. Chúng tôi yên tâm quay trở lại lều nhưng vẫn chưa đến giờ đi ngủ.
Không đầy nửa giơ sau, chúng tôi chạy đến khi nghe tiếng kêu đau đớn của tiểu thư Moocna. Trong ánh sáng của ngọn đuốc, trước mắt chúng tôi là một cảnh tượng hãi hùng: ngay ngưỡng cửa ngôi nhà, cô đầy tớ da đen nhỏ bé nằm sóng soài trên đất. Lưng cô còn hằn lên những vết đỏ dài. Cô bé tội nghiệp đang rên rỉ tuyệt vọng. Tiểu thư Moocna đứng phía trước, che chở cho cô bé. Cách đó không xa là lão da đen dữ tợn, mặt mày cau có, đang nắm trong tay một cây gậy.
- hãy tưởng tượng xem – tiểu thư Moocna nói – tôi vừa mới nằm lên giường. Malie, người ta gọi con bé này như vậy – một cái tên đẹp, phải không? – Malie quạt cho tôi và tôi bắt đầu thiu thiu ngủ. Thế là cái con thú này, chủ của cô, bất thình lình trở về. Nhìn thấy tôi, gã tức giận, lôi đứa trẻ tội nghiệp ra đánh đập để cho cô chừa cái tội đem người da trắng vào nhà của gã.
- Tập quán hay đấy chứ! – Bodre làu bàu.
Ông ta, cái ông Bodre vui tính này đúng. Nhưng ông ta không phải, khi ông ta lợi dụng hoàn cảnh và dùng điệu bộ diễn giả, trút xuống những lời lẽ tuyệt mỹ thế này:
- Chính chúng đấy, thưa các ngài, những dân tộc man rợ mà các ngài muốn biến chúng thành những cử tri yêu hòa bình.
Rõ ràng, ông ta tưởng như đang ở trên diễn đàn.
Bacxac rùng mình, hệt như bị kiến cắn. ông ta đứng thẳng người và trả lời khô khan:
- Hãy nói điều đó với những người chưa bao giờ nhìn thấy một người Pháp đánh phụ nữ!
Ông ta, ngài Bacxac, cũng đúng.
Chẳng lẽ chúng ta lại phải chứng kiến một cuộc đấu khẩu? Không, Bodre không trả lời. Bacxac quay sang phía gã da đen cầm gậy, nói:
- Cô é này sẽ từ bỏ ông. Chúng tôi sẽ đem cô ta đi heo.
Gã da đen phản đối: cô bé da đen là nô lệ của gã.
- Tôi mua nô lệ của ông – Bacxac nói – bao nhiêu?
Phải đấy, ngài Bacxac! Một ý kiến hay đấy!
Gã da đen thấy cơ hội kiếm lời đã đến, liền bình tĩnh lại. Gã yêu cầu một con lừa, một khẩu súng và 50 phrăng.
- Năm mươi gậy thì có – viên đại úy đáp lại – Mày rất xứng đáng như vậy.
Họ bắt đầu mặc cả. Cuối cùng tên bịp bợm chịu nhả cô bé để lấy môt khẩu súng trường cũ, một mảnh vải và hai mươi lăm phrăng.
Trong khi diễn ra cuộc cãi cọ, tiểu thư Moocna đỡ Malie dậy và băng bó các vết thương cho cô bé. Cuộc giao kèo kết thúc, tiểu thư đưa cô bé về lều của chúng tôi, cho cô mặc áo cánh trắng rồi đặt vào tay cô vài đồng tiền và nói:
- Em không còn là nô lệ nữa. Ta trả lại sự tự do cho em.
Nhưng Malie bỗng nấc lên. Cô bé chỉ có một mình trên thế gian này, cô không đi đâu được nữa và cô không muốn rời “người phụ nữ da trắng hiền lành” như thế này. Cô sẽ là người hầu cho Moona.
- Tiểu thư Moocna ơi, hãy để cô ta ở lại – Xen-Beren xen vào – Cô ta, tất nhiên, sẽ cần cho cô đấy. Cô ta sẽ giúp cho cô hàng nghìn công việc nhỏ nhặt mà người phụ nữ luôn luôn cần đến, cứ để mặc cô ta, thậm chí thành đàn ông cũng được.
Tiểu thư Moocna còn vui vẻ nhận lời hơn bởi vì cô rất thích điều đó.
Không cần phải nói thêm rằng tiểu thư Moocna không còn nghĩ đến chuyện tìm kiếm sự nghỉ ngơi ở chỗ người bản xứ. Người ta chia lều cho cô, và không còn gì có thể quấy rầy giấc ngủ của cô nữa.
Ngày đầu tiên trong chuyến  du hành của chúng tôi là như thế đấy.
AMEDAY PHLORANXO
 
Đăng nhập để trả lời
0
BÀI BÁO THỨ HAI CỦA AMEDAY PHLORANXO
 
Bài tường thuật thứ hai của Ameday Phloranxo được đăng trong tờ “Expanson Phranxit” ngày mười tám tháng giêng.
Đoàn thám hiểm Bacxac
(Do phóng viên đặc trách của chúng tôi gởi về)
Danherico. Mười sáu tháng mười hai.
Kể từ khi tôi viết bức thư cuối cùng dưới ánh sáng heo hắt của ngọn đèn lồng tong bưng, vào buổi tối của ngày chúng tôi lên đường. Cuộc hành trình tiếp tục, không có gì đặc biệt xảy ra.
Mồng hai tháng mười hai, chúng tôi nhổ trại vào lúc năm giờ sáng và đoàn chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Chúng tôi buộc phải giải phóng một con lừa, chuyển hàng qua những con khác để cho Malie cưỡi. Cô gái da đen nhỏ bé dường như đã quên đi những đau khổ vừa qua. Lúc nào cô cũng cười. Một mẫu người hạnh phúc!
Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình một cách dễ dàng và bình yên. Nếu như không phải là màu da của dân chúng bao quanh chúng tôi và không phải là sự nghèo nàn của phong cảnh thì có thể nghĩ rằng chúng tôi chưa rời khỏi nước Pháp.
Phong cảnh ở đây không đẹp lắm. Chúng tôi đi qua một đất nước bằng phẳng hay có thể nói là hơi mấp mé với những ngọn đồi nhỏ ở đường chân trời phía bắc, nơi tầm mắt chúng tôi bị che khuất. Chúng tôi chỉ nhìn thấy một loại thực vật cằn cỗi, các bụi cây nhỏ xen kẽ với một loại cây cỏ cao từ hai đến ba mét, có tên gọi chung là “những lùm cây”.
Dân chúng nhìn chúng tôi thân tình, họ hoàn toàn không ác ý. Trưởng đoàn thám hiểm đi vào những xóm nhỏ nhất và chuyện trò rất lâu với những người dân ở đấy.
Tôi nhìn vào nhật ký của mình và không tìm thấy gì hấp dẫn cho đến ngày mồng sáu tháng mười hai.
Buổi chiều hôm ấy chúng tôi dựng trại, nghỉ gần xóm Ualfa. Đến giờ đã định, tôi quay về lều để ngủ. Chợt tôi nhìn thấy Xen-Beren ở đấy, trên người anh chỉ còn chiếc quần dài và chiếc áo lót.
Quần áo ngoài của anh vung vãi khắp nơi. Chiếc giường đã được chuẩn bị, chứng tỏ Xen-Beren định ngủ ở chỗ tôi. Tôi đứng lại ở lối vào và quan sát người khách không mời mà đến đang ở trong lều của mình.
Xen-Beren không chút ngạc  nhiên khi nhìn thấy tôi. Anh ta có vẻ rất hồi hộp, bới tung lên khắp mọi nơi và vứt đồ đạc trong vali của tôi xuống đất. Nhưng anh ta không tìm thấy cái cần tìm và điều đó làm cho anh ta bực tức. Anh đến gần tôi và tuyên bố dõng dạc:
- Tôi thù ghét những con người đãng trí. Họ thật là tệ hại!
Tôi gật đầu ngay không một chút đắn đo:
- Thật là tệ hại! Nhưng chuyện gì đã xảy ra với anh thế, Xen-Beren?
-hãy tưởng tượng xem – anh ta trả lời – Tôi không thể tìm ra bộ piyama của mình. Tôi đánh cuộc là con vật Trumuki đã để nó ở trạn nghỉ cuối cùng rồi, vui nhỉ!
Tôi mách bảo:
-  Với điều kiện là nó không nằm trong va li của anh.
- Trong vali tôi?...
- Bởi vì đây là chiếc vali của tôi, ông bạn thân mến ạ, cũng như cái lều hiếu khách này vậy.
Xen-Beren tròn mắt ngạc nhiên. Bỗng hiểu ra sự nhầm lẫn của mình, anh ta vơ lấy quần áo và bỏ chạy như sợ ai ăn thịt. Tôi gieo minh xuống giường và bật cười ha hả.
Tối mồng bảy tháng mười hai, tình cờ lều của tôi dựng gần lều của tiểu thư Moocna. Tôi định ngủ thì nghe thấy tiếng trò chuyện ở lều bên. Thay vì bịt tai, tôi lại lắng nghe. Đấy là một khuyết tật của tôi.
Tiểu thư Moocna đang nói chuyện với Tongan và anh ta trả lời bằng tiếng Anh rất tuyệt mà tôi sẽ dịch lại để các bạn tiện theo dõi. Câu chuyện có lẽ đã bắt đầu từ trước. Tiểu thư Moocna gạn hỏi Tongan về cuộc đời đã qua của anh ta. Cô hỏi:
- Như vậy, cậu là người Asanti…
Thế đấy! Tongan đâu phải là dân Bambara. Tôi chưa bao giờ nghĩ như vậy.
- … Đã đi lính Xenegan? Điều đó cậu đã nói khi tôi thuê cậu, nhưng tôi không còn nhớ.
Tôi cảm thấy tiểu thư Moocna không vô tư. Tongan trả lời:
- Việc đó xảy ra sau chuyện Baxton.
Baxton? Cái tên đó nói cho tôi một điều gì đó. Nhưng điều gì? Tôi lục soát trong óc và tiếp tục lắng nghe.
- Tôi phục vụ trong đội biệt phái của ông ta – Tongan tiếp tuc – khi người Anh đến và họ bắt đầu bắn vào chúng tôi.
- Cậu có biết tại sao họ bắn không? – tiểu thư Moocna hỏi.
- Bởi vì đại ýt Baxton cướp của và tàn sát.
- Đúng như thế à?
- rất đúng. Họ đã đốt làng mạc. Họ giết hại những người da đen nghèo, phụ nữ, trẻ em…
- Và đại úy Baxton ra lệnh mọi sự tàn sát đó? – tiểu thư Moocna năn nỉ với giọng khác thường .
- Không – Tongan trả lời – Chúng tôi không bao giờ nhìn thấy ông. Ông ta không đi ra khỏi lều kể từ khi có một người da trắng khác đến. Người da trắng này ra lệnh cho chúng tôi với nhân danh ông đại úy.
- Ông ta ở với các cậu có lâu không, cái ông da trắng khác ấy mà?
- rất lâu. Năm, sáu tháng, có thể là hơn thế nữa.
- Các cậu gặp ông ta ở đâu?
- Trong bưng biền.
- Và đại úy Baxton tiếp nhận ngay ông ta?
- Họ không rời nhau cho đến ngày ông đại úy không đi ra khỏi lều của mình nữa.
- Và, có lẽ, sự tàn sát bắt đầu từ ngày hôm đó.
Tongan do dự.
- Tôi không biết – anh ta thú nhận.
- Còn ông da trắng kia? – tiểu thư Moocna hỏi – Cậu còn nhớ tên của ông ta không?
Tiếng ồn ào bên ngoài làm át cả tiếng Tongan. Tôi không biết ông ta trả lời ra sao nhưng cuối cùng thì điều đó chẳng có nghĩa lý gì. Đó là một câu chuyện cũ nào đấy, tôi không quan tâm.
Tiểu thư Moccna lại hỏi:
-  Và sau khi người Anh bắn các cậu thì chuyện gì xảy ra với cậu?
- Tôi đã nói với bà ở Dacara, nơi bà thuê tôi – Tongan trả lời – Tôi và nhiều người khác, chúng tôi rất sợ và chạy vào bưng. Sau đó tôi quay trở lại nhưng chẳng còn ai trên chiến địa. Ở đấy chỉ có những xác chết. Tôi chôn cất các bạn của mình và cả ngài chỉ huy, đại úy Baxton.
Tôi nghe thấy tiếng kêu bị nghẹn lại.
- Sau đó – Tongan tiếp tục – tôi băng mình từ bưng này sang bưng khác và đến tận sông Nigie. Tôi bơi ngược dòng trên một chiếc thuyền tôi lấy cắp được. Và cuối cùng, đến được Timbuetu vào đúng lúc những người Pháp xuất hiện. Ở Timbuetu, tôi vào lính và khi được giải ngũ, tôi đến Xenegan, nơi bà đã gặp tôi.
Sau một lúc im lặng khá lâu, tiểu thư Moocna lại hỏi:
- Vậy là đại úy Baxton đã chết?
- Vâng, thưa bà.
- cậu có biết mộ của ông ta ở đâu không?
Tongan cười.
- Rất rõ – anh ta nói – Tôi có thể nhắm mắt mà đi đến một một cách dễ dàng.
Lại im lặng, sau đó tôi nghe thấy:
- Chúc cậu ngủ ngon, Tongan!
- Chúc bà ngủ ngon!.
Người da đen trả lời rồi bước ra khỏi lều và đi xa dần.
Tôi đi nằm ngay, nhưng chỉ mới tắt ngọn đèn là ký ức của tôi sống dậy.
“Baxton? Thật là qủy quái, nếu tôi không biết điều đó! Trí nhớ của tôi chạy đi đâu rồi? Một bai tường thuật như thế, khi ấy tôi đã bỏ qua!”
Khi ấy tôi lam việc cho tờ “Didro” và đã đề nghị ông giám đốc của tôi phái tôi với tư cách là phóng viên, đến nơi xảy ra những trò mạo hiểm của viên đại úy nổi loạn. Suốt nhiều tháng, vì sợ tốn kém, ông ta từ chối. Cuối cùng, khi ông ta đồng ý thì đã quá muôn. Vừa đặt chân đến Boocdo, tôi được biết là đại úy Baxton đã chết.
Nhưng tất cả câu chuyện cũ đó và nếu các bạn hỏi tôi rằng tôi kể lại cuộc chuyện trò bí ẩn giữa Tongan và bà chủ của anh ta để làm gì, thì xin thú nhận là bản thân tôi cũng không biết.
 
***
 
Timbo, một trung tâm ít nhiều có ý nghĩa mà chúng tôi gặp. Ở đây, chúng tôi dừng lại ngày mười ba và mười bốn tháng mười hai, bởi vì phải để cho súc vật được nghỉ ngơi.
Sau hôm chúng tôi đến, tức ngày mười bốn tháng mười hai, chúng tôi rất lo ngại về người dẫn đường. Cả ngày uổng công đi tìm anh ta. Moriliro đã biến mất.
Hãy yên tâm. Ngày mười lăm tháng mười hai, vào thời điểm lên đường, anh ta đã có mặt ở vị trí của mình. và khi chúng tôi thức giác, anh ta đã kịp “phân phát” không ít những cú đánh bằng gậy để phu khuân vác không nghi ngờ về sự có mặt của anh ta.
Bị Bacxac gạn hỏi, Moriliro lì lợm trả lởi rằng hôm trước anh ta hoàn toàn không rời khỏi trại. Lỗi lầm không phải là to tát gì, hoàn toàn có thể tha thứ được, rằng Moliriro chỉ dạo chơi chút đỉnh, và chuyện này xảy ra chẳng bao lâu bị quên lãng.
Qua Timbo, con đường dần dần biến thành lối mòn. Chúng tôi bây giờ thật sự là những nhà thám hiểm.
Địa hình cũng thay đổi. Không còn bằng phẳng nữa, cứ lên dốc xuống dốc mãi. Ra khỏi Timbo, chúng tôi leo lên một cái đồi tương đối dốc, tụt xuống đồi rồi đi qua một đoạn đường bằng phẳng, sau đó lại trèo dốc mới đến làng Denherico, nơi chúng tôi dự định sẽ nghỉ đêm.
Được nghỉ ngơi thoải mái, đàn súc vật đi nhanh hơn bình thường, và chỉ mới sáu giờ chiều, chúng tôi đã đặt chân vào làng.
Một cuộc gặp gỡ hữu nghị đang chờ đón chúng tôi. Bản thân già làng mang quà đến gặp chúng tôi. Bacxac cảm ơn và ông được trả lời bằng những tiếng thét chào mừng. Bodre bắt đầu nghi ngờ.
Già làng mời chúng tôi vào nghỉ trong những căn lều tốt nhất, còn nữ đồng hành của chúng tôi thì được ưu tiên sử dụng căn lều của chính ông ta. Sự tiếp đón nồng nhiệt này gây ấn tượng mạnh mẽ và chúng tôi tưởng chưng như trong cuộc hành trình sắp tới chỉ gặp có hoa hồng. Trong khi đó Malie đến gần tiểu thư Moocna và nói nhanh với cô với giọng thì thầm:
- Đừng vào, bà! Chết đấy!
Tiểu thư Moocna kinh ngạc nhìn cô gái da đen bé nhỏ. Tất nhiên, bản thân tôi cũng nghe thấy những lời cô nói bởi đây là trách nhiệm của mỗi nhà báo thận trọng.
Nhưng cả đại úy Macximay cũng nghe thấy mặc dù đấy không phải là nghề của anh ta. Sau một lúc suy nghĩ, anh ta ra lệnh dựng trại. Tôi cho rằng chúng tôi sẽ được bảo vệ tốt.
Sự đề phòng này buộc tôi phải nghĩ ngợi. Viên đại úy là người am hiểu đất nước đen, chẳng lẽ anh ta cũng tin vào sự nguy hiểm mà Malie đã báo trước?
AMEDAY PHLORANXO
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG VI
BÀI BÁO THỨ BA CỦA AMEDAY PHLORANXO
 
Tờ “Expanxon Phranxit” đăng bài tường thuật thứ ba của phóng viên đặc trách vào ngày mồng năm tháng hai.
Vì những nguyên nhân mà chẳng bao lâu nữa bạn đọc sẽ rõ. Đây là bài tường thuật cuối cùng nhận được từ nhà báo tài ba. Vì vậy, nhiều tháng dài bạn đọc của tờ “Expanxon Phranxit” không đoán được câu đố mà Ameday Phloranxo đặt ra ở những dòng cuối cùng của bài báo, câu đố mà lời giải đầy đủ chỉ có được nhờ câu chuyện tiếp theo sau đó của anh.
Đoàn thám hiểm Bacxac
(Do phóng viên đặc trách của chúng tôi gửi về)
Concan. Hai mươi bốn tháng mười hai.
Chúng tôi đến đây sáng hôm qua và sẽ tiếp tục cuộc hành trình vào ngày mai, đúng ngày lễ giáng sinh. Trong bài bao trước, tôi đã kể cho các bạn nghe về chuyện đề phòng của Malie đối với tiểu thư Moocna. Đại úy Macxinay hạ lệnh cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế đòi hỏi. Bacxac không giấu nổi bực tức.
-  Ở đây, ai là người chỉ huy, ông đại úy? Tại sao ông không hỏi ý kiến tôi mà ra lệnh dưng trại ờ ngoài đồng, trong khi có thể nghỉ ở chỗ cư dân?
Ông đại úy trả lời khô khan:
- Tôi biết có âm mưu chống lại chúng ta.
- Âm mưu! – Bacxac mỉa mai nói – Thật là quá quắt!
- Hãy bình tĩnh lại và nghe tôi nói – tiểu thư Moocna nói – Tôi vừa mới nói chuyện với Malie. Chính cô ấy đã báo trước cho Macxinay về âm mưu đó. Ngài đã nghe nói về thứ dung-cono chưa?
Bacxac lắc đầu không tin.
- Tôi biết – Bác sĩ Satonay đến gần, chen lời – Đấy là một loại thuốc độc chết người, đặc tính của nó là ở chỗ nó giết chết nạn nhân của mình chỉ sau một tuần lễ.
- Một âm mưu như thế - tiểu thư Moocna nói – đã được sắp đặt để chống lại chúng ta. Malie đã nghe thấy già làng Demberico nói điều đó với những già làng bên cạnh. Deloxaron, tên của già làng này, cần phải dành cho chúng ta một sự đón tiếp nhiệt tình. Ông mời một số vào nhà cua mình, một số khác vào nhà của những kẻ đồng mưu. Ở đấy, chúng ta sẽ được mời đồ ăn thức uống địa phương và chúng ta sẽ không từ chối được. Cùng thời gian đó, họ sẽ chuốc rượu quân lính. Ngày hôm sau chúng ta lên đường, không để ý gì cả, và sau vài ngày sẽ cảm nhận tác dụng của thuốc độc.
Có thể hình dung được rằng, cau chuyện này làm cho chúng tôi rất lo lắng như thế nào. Bacxac bị xúc động mạnh.
 
Ngày mười sáu tháng mười hai, chúng tôi thức dậy khi trời bừng sáng.
Rời Denherico, tôi nhận thấy Trumuki, người phục vụ thứ hai của tiểu thư Moocna, không đi phía sau nữa mà cùng đi lên phía trước với Moriliro. Có nghĩa là anh ta đã cãi nhau với Tongan? Trumuki và Moriliro trò chuyện với nhau như những người bạn tốt nhất trên đời. Có gì đâu? Càng tốt chứ sao!
Tongan dường như hoàn toàn không tiếc nuối gì về chuyện cãi cọ với anh bạn, anh ta trò chuyện với cô bé Malie bé nhỏ và rõ ràng là rất hào hứng.
Qua xóm Bagareya, chúng ôi lại gặp bưng biền, sau đó là đồng bằng trải dài đến tận Cancan, nơi chúng tôi đặt chân đến hôm qua, ngày 13 tháng 12.
Chúng tôi đến Cancan bị chậm mất mười hai tiếng đồng hồ vì sự đào tẩu mới của Moriliro. Ngày 22, anh ta biến mất vào lúc nghỉ chân lần thứ hai trong ngày. Chúng tôi buộc phải chờ anh ta cho đến sáng ngày hôm sau, khi người dẫn đường có mặt ở vị trí của mình và tiếp tục công việc hướng dẫn đoàn đi như chẳng có chuyện gì xảy ra. Lần này anh ta không thể nào phủ nhận sự vắng mặt của mình. và Moriliro không để mất thời gian vào sự thoái thác bất lợi. Anh ta giải thích rằng, anh ta cần phải quay lại chỗ dừng chân trước đó, nơi anh ta để quên các bản đồ của đại úy Macxinay. Viên đại úy mắng anh ta dữ dội. Và sự việc đã qua đi như vậy đó.
Tôi sẽ không nhắc lại sự kiện này nếu như Xen-Beren không nâng nó lên thành vấn đề quan trọng. Bực bội vì mất ngủ đêm đó, anh ta hình như có nhìn thấy người dẫn đường của chúng tôi trở về, và hết sức bí mật, anh ta báo cho đại úy Macxinay rằng Moriliro trở về không phải từ hướng tây, nơi chúng tôi đã đi qua, mà từ hướng đông, tức từ phía Cancan, nơi chúng tôi sẽ đến, và Moriliro không thể tìm một vật bị bỏ quên nào ở nơi ấy cả, như vậy là người dẫn đường của chúng tôi đã lừa dối.
Một thông báo như thế, có lẽ, xứng đánh được lưu ý, nếu nó xuất phát không phải từ Xen-Beren. Nhưng Xen-Beren! Anh ta quá ư lơ đãng để có thể nhầm lẫn hướng tây với hướng đông.
Nhưng chúng ta trở lại vấn đề. Chúng tôi đi dạo trong làng Cancan: tiểu thư Moocna, bacxac, Xen-Beren và tôi – dưới sự hướng dẫn của Trymuki và Moriliro. Mấy ngay trước đó, Moriliro không ngớt lảm nhảm bên tai chúng tôi những lời khen ông thầy bói Kenhelada nào đấy sống ở Cancan. Chúng tôi chỉ cưới và đồng thanh từ chối lời đề nghị đến thăm ông thây phù thủy này.
Giờ đây, khi chúng tôi đi dạo, Moriliro và Trumuki dừng lại cách hai bước trước căn lều, hóa ra là nơi ở của ông Kenhehala nổi tiếng. Họ lại khuyên chúng tôi vào thăm ông ta và nằn nì cho đến khi chúng tôi chịu lùi bước để thỏa lòng mong muốn của họ.
Chúng tôi bước vào chiếc lều gớm ghiếc, dơ bẩn. Kenhehala đang đứng giữa ngôi nhà cua mình. Sau khi chào hỏi, ông ta ngồi xuống chiếu và mời chúng tôi ngồi theo ông.
Ông ta lấy ra một chén cát mịn, một cái chổi, trải chúng ra thành hình cái quạt. Sau đó ông ta hỏi xin chúng tôi một chục hạt hồ đào, nửa hạt đỏ, nửa hạt trắng, và trong lúc lầm bầm những từ khó hiểu, ông ta nhanh nhẹn rải chúng xuống cát thành những hình thù khác nhau và làm những động tác kỳ dị trên đó, như làm phù phép cho chúng. Cuối cùng, ông ta cẩn thận thu nhặt các hạt hồ đào và chìa bàn tay bẩn thỉu ra để nhận tiền công mà chúng tôi sẽ trả cho những lời tiên đoán.
Bây giờ chúng tôi chỉ việc hỏi. Ôn gta hào hứng, sẵn sàng trả lời tất cả những câu hỏi của chúng tôi.
Bắt đầu từ tôi. Tôi hỏi ông ta về số phận của những vật quý nhất đối với tôi – những bài báo tôi gởi cho các bạn.
- Chẳng bao lâu nữa – ông ta nói với tôi bằng tiếng A rập – sẽ không ai nhận được cái tin tức do ông gửi nữa.
Thành công thế đấy! Nhưng thầy phù thủy nói “Chẳng bao lâu nữa!”, có nghĩa là, tôi có thể yên tâm về bức thư này.
Kenhehala chuyển sang Xen-Beren.
- Ông sẽ nhận được – ông ta tiên đoán – một vết thương làm ông không còn ngồi được.
Đến lươt tiểu thư Moocna.
- Cô sẽ bị tổn thương ở tim – Kenhehala tuyên vố.
Nào, nào! Không tồi đấy chứ! Hãy để ý nhé, ông ta không nói chính xác là vết thương vật chất hay tinh thần. Tiểu thư Moocna, rõ ràng cũng hiểu nhà tiên tri như tôi, và vì vậy cô đỏ mặt. Đánh cuộc rằng cô đang nghĩ về đại úy Macxinay.
Nhà ảo thuật im bặt, sau đó ông ta nhìn Bacxac vẻ đe dọa. Rõ ràng là chúng tôi đang chờ đợi lời tiên đoán quan trọng nhất. Ông ta báo trước:
- Sau Xicoro tôi nhìn thấy người da trắng. Điều đó đối với ông có nghĩa là nô lệ hoặc là chết.
Ông ta, ông già của chúng ta, rất vui vẻ.
- Da trắng? – tiểu thư Moocna lặp lại – Ông muốn nói: da đen?
- Tôi nói: da trắng – Kenhehala đắc thắng, khẳng định – đừng đi quá Xienxo. Nếu khác đi, sẽ là nô lệ hoặc cái chết.
Trong bữa ăn, tất cả chúng tôi, kể cả Bodre hay lo ngại, đề cười cợt về chuyện vừa rồi, sau đó chúng tôi chẳng còn nghĩ đến nó nữa.
Nhưng tôi suy nghĩ, và suy nghĩ rất nghiêm túc. Cuối cùng, khi nằm ngủ, tôi đã đi đến kết luận rằng… người ta muốn dọa chúng tôi.
Ai? Vì sao?
Ai? Tôi không biết.
Vì sao? Bắt chúng tôi từ cỏ cuộc hành trình, chúng tôi đang làm ai đó khó chịu và họ không muốn để chúng tôi đi quá xa Xienxo.
Moriliro – đồng bọn của những người muốn ngăn cản cuộc hành trình của chúng tôi. Ý muốn dai dẵng – đưa chúng tôi đến chỗ kenhehala- của gã thật đáng nghi ngờ, vá có thể nghĩ rằng gã đã bị mua chuộc.
Kết luận của tôi là như thế. Tương lai sẽ chứng tỏ kết luận đó có cơ sở hay không. Sống thì khắc thấy.
AMEDAY PHLORANXO
 
Trong bưng biền, này khởi hành từ Cancan. Hai mươi sáu tháng mười hai.
Tôi viết thêm những dòng này vào bức thư tôi viết hôm qua, nó sẽ được Trumuki gởi đến cho các bạn.
Những gì xảy ra vào buổi tối hôm đó, thật là kỳ lạ.
Chúng tôi rời Cancan vào sáng hôm qua và sau hai chặng đường dài đi được gần ba mươi kilomet, chúng tôi dựng trại trên đồng trống.
Cả trại ngủ yên. Bất thình lình, nửa đêm chúng tôi bị đánh thức bởi tiếng động lạ lùng mà không ai trong chúng tôi có thể giải thích được. Nó giống như tiếng rú của quái vật, gần giống tiếng hú của máy hơi nước, hay nói đúng hơn là gióng tiếng kêu vo vo của sâu bọ, nhưng là loại sâu bọ khổng lồ, sâu bọ có kích thước của voi. Theo lời những người lính gác, tiếng động bất thường từ phía tây. Lúc đầu rất yếu, sau đó to dần. Vào thời điể, khi chúng tôi nhảy ra khỏi lều thì nó vang to hơn cả. lạ lùng nhất là nó đến tai chúng tôi từ trên cao, từ không gian bao la, từ trên trời.
Uổng công chúng tôi giương mắt ra nhìn. Không hề thấy gì cả. Những đám mây đen dày che khuất mặt trăng, trời tối đen như mực.
Trong khi chúng tôi cố gắng căng mắt chọc thủng màn đêm một cách vô ích thì tiếng rú xa dần về phía đông, nhỏ đi và tắt ngấm… Nhưng trước khi tắt hẳn, chúng tôi nghe thấy tiếng rú khác vang đến từ phía tây. Cũng như tiếng rú thứ nhất, tiếng rú này to dần lên đến cực đại rồi nhỏ dần về phía đông.
Cả trại hoảng sợ. Phu khuân vác nằm úp mặt xuống đất. Tất cả chúng tôi tụ họp gần đại úy Macxinay. Ở đấy có cả Trumuki và Tongaro. Tôi không nhìn thấy Moriliro. Có lẽ, gã ta đang nằm úp bụng ở đâu đó và run rẩy vì lo sợ.
Năm lần tiếng rú nổi lên, to dần là tắt lặng. Sau đó, đêm trở lại bình yên và trôi qua lặng lẽ.
Sáng sớm, khi chúng tôi bắt đầu tập hợp đội ngũ, những người da đen run sợ từ chối không chịu đi. Cuối cùng thì đại úy Macxinay cũng khuyên bảo được họ, và chúng tôi lên đường chậm mất ba tiếng đồng hồ.
Sự kiện huyền bí đếm đó làm mọi người chú ý, nhưng không ai có thể giải thích nổi. Người ta bắt đầu nói lảng sang chuyện khác. Đi được gần hai kilomet thì đại úy Macxinay đi phía trước bỗng thấy mặt đất bị cày xới bởi các bánh xe, dài gần năm mươi mét, hướng từ tây sang đông. Các vết bánh xe này sâu đến gần mười centimet ở phía tây và cạn dần về phía đông. Tổng cộng có mười vết, hình thành năm nhóm, mỗi nhóm hai vết bánh xe.
Liệu chúng có liên hệ gì với tiếng động đêm trước? Đầu tiên chúng tôi định trả lời: Không.
Tuy nhiên, chúng có hướng từ tây sang đông, cả về số lượng cũng tương ứng: năm cặp vết bánh xa, lần lượt năm tiếng rú..
Vậy là gì? Là gì, tôi không biết.
AMEDAY PHLORANXO
 
Đăng nhập để trả lời
0