<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.04.2013 20:02:02 bởi cuongbkedu>
Mình xin phép được giới thiệu với mọi người 1 tác phẩm của bà nội mình ![[:)]](/images/smiley/s1.gif)
Nếu có thể thì sau khi mình đưa toàn bộ cuốn truyện này lên đề nghị MOD chuyển vào kho sách của VNTQ. Bà nội mình cũng là 1 độc giả thường xuyên của VNTQ, nên nếu được thấy tác phẩm của mình được chia sẻ đến đông đảo bạn đọc thì đó sẽ là một niềm vui lớn của bà![[:)]](/images/smiley/s1.gif)
http://www.nhasachtritue.com/book/nguoc-dong.htm
http://www.tienphong.vn/van-nghe/194080/Le-Thi-90-tuoi-hon-nhien-viet-tieu-thuyet.html
Mọi người cùng thưởng thức và cho ý kiến nhé :)
Chúng tôi ở trong một căn nhà gỗ cũ kỹ của cái thành đá tỉnh Nghệ An, cha tôi đã thuê ngôi nhà ấy của ông thương tá, ông làm nhà mới ngay trước nhà cũ, to hơn. Cái xóm tôi ở thật là buồn, cả ngày đường xá vắng ngắt, không một người qua lại, con đường rải đá khấp khểnh, trơ một vài cây Cáo mới trồng, cứ trơ ra dưới ánh nắng gay gắt của mùa hè miền Trung, và cái thành đá thì trở nên xám xịt về mùa đông, trông càng chán . Cả xóm im ắng suốt ngày, nhà tôi cũng im ắng gần như thế. Chỉ có tôi và chị Hảo quanh quẩn chẳng dám ló ra khỏi nhà và cũng chẳng dám đùa nghịch ồn ào. Cha tôi nghiêm và anh Cẩn cũng nghiêm, chẳng bao giờ hỏi chúng tôi lấy một câu. Chỉ có anh Thuộc - một anh bạn học của anh Cẩn đến làm sổ sách giấy tờ cho cha tôi vào những lúc nghỉ là thỉnh thoảng nheo mắt nháy chúng tôi một cái. Còn ông bếp Nghệ thì trọ trà trọ trẹ nói tôi chẳng hiểu cái gì, ông ta cũng chỉ ở nhà trong hai buổi nấu cơm rồi cứ đi lang thang, chơi với các anh bếp, anh xe bên ông thương tá. Cô bé lại càng ít nói, tôi chẳng hiểu cô có họ hàng ra sao với chúng tôi, tôi chỉ thấy cô mặc áo cánh trắng, quần đen, quấn khăn như là nhà quê. Cô phải làm các việc giặt giũ khâu vá và chủ yếu hầu hạ cha mẹ tôi hằng ngày. Cô có buồng riêng nhưng bữa cơm cô phải bắc ghế ngồi đầu nồi xới cơm và đứng lên lấy các thức ăn cần lấy, có lúc cô bế em Chín thay cho u già khi u già mắc việc khác. Tôi chẳng hiểu cô là người thế nào, chỉ biết mẹ tôi bảo gọi là cô Bé. Thật ra cô không bé, cô lớn nhất nhà, tóc dài và hai má cứ đỏ hây hây, có lẽ cô đến 19-20 tuổi, thế mà lại gọi là cô bé, buồn cười thật. Cô bé cũng chẳng hay chơi với chúng tôi, mà chỉ có u già vừa bế em Chín vừa dắt chúng tôi đi chơi nữa. U già ở nhà tôi đã lâu, u ẵm tôi ngày còn nhỏ và bây giờ u ẵm em Chín, u bảo ngày bé tôi hiền hơn em Chín nhiều, hay ăn chóng nhớn, đặt đâu cứ ngồi đực ra chẳng quấy vòi bao giờ, còn em Chín cứ như con chích chòe, nói don dỏn mà chẳng biết đi.
Nhà tôi như thế cũng đông người đấy chứ, thế mà vẫn im ắng, im ắng như cái góc thành đá vắng ngắt này vậy. Càng im ắng hơn là những trưa hè cha tôi nằm ngủ, cô bé ngồi quạt, anh Cẩn thì ra hóng mát ngoài cổng thành. Cả nhà trải chiếu xuống đất nằm uể oải như người ốm dở, chỉ nghe tiếng luồng, nứa nổ trên mái nhà lách tách rợn cả người. Ván dựng quanh nhà cong veo lên, thỉnh thoảng cơn gió nóng bỏng từ đâu thổi về ào ào cuốn theo đất, cát phủ đầy mặt mũi.
Ở trong căn nhà nóng bức ấy lúc nào chúng tôi cũng nghĩ đến quê. Cái khu nhà hình chữ môn ấy ở giữa một mảnh vườn nào cam, nào hoa, nào những cây chanh, cây bưởi, mùa nào cũng có hương thơm, cũng có bóng mát, nhất là mùa nực dẫm lên mặt đất pha cát của vườn nhà tôi cứ êm như ru.
Cái vườn cam thì thật là tuyệt. Một vườn toàn cam, cam chanh, cam đường lúc nào cũng xanh rờn, mùa hoa thì đầy hoa trắng, mùa quả thì quả chín lúc lửu, những năm ở nhà với ông tôi (cái năm mẹ tôi đẻ em Chín ấy) chẳng lúc nào tôi không ở ngoài vườn với ông
- Ông ơi sao ông lại cuốc cây cam?
- Ông xới đất cho nó tốt.
- Ông ơi con chim mổ hoa của ông.
- Nó bắt sâu đấy, sâu cắn hoa của ông.
Tôi đứng yên một lát nhìn cái lưng trần đen trũi của ông:
- Ông ơi sao lưng ông đen thế?
- Ông cởi trần nên nó ăn nắng.
Tôi chịu không hiểu được, sao cái lưng lại ăn được nắng và đưa mắt dõi theo tia nắng đang thấp thoáng đu đưa trên lưng ông tôi.
- Ông ơi cháu mỏi chân rồi.
- Vào nhà chơi với mẹ đi!
- Không, ông vào với cháu kia.
Ông tôi dừng cuốc đi tìm một viên gạch đặt dưới một gốc cam to dỗ dành tôi.
- Cháu ngồi đây cho khỏi mỏi chân nhé! Ngồi đây xem ông làm, ông vun cho cây cam này, ngày sau nó có quả ông cho một quả thật to bằng này này.
Tôi vui thích nhìn ông bụm hai bàn tay và nghĩ đến quả cam vàng ối, bèn bằng lòng ngồi xuống viên gạch, lúi húi lấy đất đắp lên mu bàn chân, khi rút chân ra để lại cái hốc như cái mà cua, nhặt những hoa cam rụng đem về xếp chặt cái hang nhỏ xíu ấy. Xếp hoa chán lại đi tìm vỏ ngao, vỏ hến bốc đất in thành bánh, bày la liệt. Mải mê chơi tôi quên không để ý đến ông tôi đang lần theo những gốc cam xới cỏ xa dần. Khi ông quay lại thì quần áo tôi đã bê bết đất.
- Thôi lấm hết cả áo đẹp rồi, đứng lên ông đi tắm cho nào!
Ông cúi xuống luồn tay vào nách nâng bổng tôi lên, cụi cái miệng đầy những sợi râu bạc lốm đốm quết trầu vào má tôi mà nựng nịu:
- Cháu ông, cháu yêu, cháu quí của ông.
Tôi ngọ nguậy trong tay ông tôi như con sâu đo:
- Ối ông cầm cháu đau quá!
- Không đau, ông ẵm thì đau sao được.
Bàn tay ông tôi tuy to cứng, nhưng khi bế ẵm tôi lại rất khéo léo, nhẹ nhàng. Tôi kêu để làm nũng ông thôi. Tôi rúc rích cười, vòng tay ôm chặt cái cổ to bè đẫm mồ hôi của ông.
- Ông ẵm cháu đi nhá!
Tôi thích những chiều hè đi tắm với ông. Tuy hơi sợ, khi kỳ cọ cho tôi sạch rồi ông liền bảo: “Nào! Cháu nhắm mắt lại ông dội cho”. Tôi xòe hai bàn tay nhỏ xíu bịt chặt hai tai, nhắm nghiền mắt lại, nhưng vẫn không khỏi thét lên khi gầu nước chảy xối xả mát rượi trên đầu.
Suốt mùa hè, lúc nào tôi cũng chỉ thấy ông cởi trần, đóng khố, chiều nào cũng tắm giặt. Tối hay trưa ông đều nằm ở cái võng gai mắc ở ngoài hè giống như căn nhà ngột ngạt chẳng vừa ý ông. Đêm hè, ông nằm trên võng còn hai chị em chúng tôi và mấy đứa con nhà chú tôi kéo sang nằm la liệt trên những phiến đá lát hè nhẵn bóng mà ông đã gánh nước kỳ cọ từ chiều. Đôi lần ông cho tôi nằm võng với ông. Chị Hảo và bọn trẻ thường ghen tỵ với sự biệt đãi ấy nên hay châm chọc kéo dài giọng gọi tôi là “cháu ông”. Tôi lại thích được gọi như thế. Tôi biết ông tôi quý tôi nhất nên thường vòi vĩnh ông hơn trẻ khác. Mỗi lần có việc làng, việc họ ông tôi đi về bao giờ cũng lấy phần cho tôi một nắm xôi nho nhỏ đùm trong lá chuối. Mới về đến cửa ông tôi đã vội vã cởi áo vắt vào giây, quay ra ngồi vào võng rồi vừa kéo cái khăn vắt vai lau mồ hôi, vừa gọi tôi:
- Tám, Tám cháu ông đâu.
Tôi chạy xà lại, đứng lọt thỏm giữa đôi chân to khỏe của ông, khoác hai cánh tay lên đùi ông mà rờ nắn những bắp thịt rắn chắc ở chân tay ông mà thỏ thẻ:
- Sao thịt ông cứng thế?
- Ông già nên nó cứng.
- Cháu bẹo ông có đau không?
- Không.
Tôi cười như nắc nẻ túm lấy đùi ông tôi:
- Cháu bẹo nhé!
- Tha hồ cho cháu bẹo.
Tôi đứng hàng giờ như vậy vừa rủ rỉ, chuyện trò với ông, vừa ngắm nghía những ngón tay to ngắn nhào nặn cục xôi dẻo quẹo. Khi cục xôi đã thành một cục bột dẻo quánh, đen sì, ông vê nó thành một cái vòng to tướng đeo vào cổ tay tôi.
- Cho cháu chơi đấy, bao giờ muốn ăn thì ăn.
Tôi không ăn cái vòng ấy, vì nom nó bẩn quá, nhưng vẫn thích được ông đeo cho.
Cùng ở trong căn nhà gỗ năm gian với ông là bà tôi. Khác hẳn với ông, bà bé nhỏ loắt choắt như con chuột nhắt. Còn kém tuổi ông nhưng tóc bà đã bạc phơ, hai hàm răng rụng hết, khiến cặp môi mỏng cứ lõm vào, làm cho cái miệng trở thành một cái hốc đỏ lòm xấu xí. Suốt ngày bà tôi ở trong buồng, hình như bà đau ốm quanh năm, lúc nào cũng phải uống thuốc tễ hoặc rượu ngâm thuốc. Họa hoằn lắm bà tôi mới ra hè ngồi, cởi áo rũ cho bụi bay mù lên, ghé cái lưng nhỏ như cái chày hành, gồ ghề từng đốt xương sống ra bảo chúng tôi:
- Cào cho bà một cái, ngứa lắm!
Tôi dè dặt cào lên lớp da khô cứng như vảy cá, để lại trên làn da khô cứng ấy những vết móng tay bật trắng như vết xước mèo cào. Tôi tránh ngồi trước mặt bà tôi, vì từ cái miệng móm mém đỏ lòm kia hay phả ra một mùi khó chịu, một thứ mùi ruợu lẫn với thịt cá, rớt rãi, buồn nôn lên được. Và tránh cả cặp mắt bà tôi, nó nhỏ tí như chìm vào hai cái hốc tối om dưới đôi lông mày bạc phếch, nó hau háu dòm dỏ mọi nơi như rình ai. Cả con người bà tôi gộp lại thành một cái gì khiến tôi cứ rờn rợn. Bà tôi đẩy cái áo lụa nâu bám đầy những vẩy trắng đến trước mặt chúng tôi:
- Xem hộ bà, có con rận nào không?
Chị Hảo miễn cưỡng cầm lấy cái áo, lần các đường khâu, thỉnh thoảng bắt gặp một chú rận kềnh. Chị luống cuống ghé cái áo xuống hè, hẩy cho chú rận lăn ra. Bà tôi bật cười:
- Cháu sợ à? Hay gớm? Úi chà! rận của bà đã thấm vào đâu với rận của ông ngày xưa. Cái ngày ông đi lấy xác ông chú ở Huế, ba bốn tháng mới về, chấy rận nhung nhúc, chấy nhiều đến nỗi bò cả xuống râu còn rận thì bắt không xuể, phải trải cái áo xuống hè này, lấy gáo dừa cà đi cà lại nó kêu rum rúm như ta rang nổ.
Tôi không tin như thế, tôi chỉ thấy ông tôi sạch ly sạch lai, chả có chấy rận bao giờ.
Tuy vậy, chúng tôi vẫn tò mò thích nghe bà tôi kể lại về ông và không ngừng hỏi vặn:
- Tại sao ông chú lại chết tận Huế? Huế ở mãi đâu?
Theo bà tôi kể, ngày xưa đàn ông phải đi lính thú, mà lính thú phải đóng đồn ở trong rừng ma thiêng nước độc. Ông tôi trốn được, còn ông chú bị bắt đi, phải vào mãi tận cái đồn trong rừng sâu của Huế. Ông chú ốm chết trong rừng. Hàng mấy năm sau, có người làng cùng đi, được về, báo tin mới biết. Thương em bỏ xương nơi đất khách quê người, ông tôi rang một đấu gạo, cưa một ông bương to đựng nước cùng ít tiền bạc vào Huế mang xác em về. Không có giấy phép của quan, ông phải luồn rừng lội suối mà đi. Tìm được mả, ông gói xương vào chiếc chiếu, cắp nách mà về, đi đến đâu hết lương ăn phải dấu gói xương, mò xuống làng bản mua gạo rang lên, bỏ vào tay nải tiếp tục đi tiếp, ba bốn tháng mới về đến nhà. Ông tôi to khỏe là thế mà cũng chỉ còn như bộ xương, râu tóc đầy chấy rận.
Bà tôi còn kể ngày xưa ông khỏe như trâu mộng, làm suốt ngày không nghỉ tay. Ông cố, bà cố đẻ ra bà tôi gọi gả bà tôi cho người con trai mồ côi cả cha cả mẹ, không cửa không nhà ấy. Vì đi làm thuê suốt năm, hay bị bọn người chủ thuê ức hiếp, ông tức chí, đi ở với một ông thầy dạy võ để học các môn võ nghệ. Ông đã thi đỗ đến tam trường, đỗ rồi ông lại quay về làm ruộng. Ông không thích làm quan võ, vì “quan văn tam phẩm là sang, quan võ tứ phẩm còn mang gươm hầu”. Về làng, ông có võ, không ai dám nạt nộ nữa nhưng vì không có chữ, ông vẫn bị dòng họ Trần có con chỉ học đến tú tài coi khinh, nên về sau ông đã cố chí cho cha tôi đi học. Cha tôi cũng thông minh, được ông thầy yêu quí nên mấy năm trời ông bà chẳng quản phải gánh đi hàng mấy chục gánh gạo để cha tôi theo hết ông cử này đến ông bảng khác. Có thế cha tôi mới đỗ cái cử nhân Nam triều, cái khoa thi cuối cùng còn lấy cử nhân chữ Hán. Bây giờ thì người ta bỏ thi chữ Hán rồi, nhưng cha tôi đã được ra làm quan và ông bà tôi được cả làng gọi là “quan cụ”. Thế là cái họ Trần kia không thể chiếm ngôi tiên chỉ của làng mãi nữa. Ngôi tiên chỉ đã về tay cha tôi.
Tức với thiên hạ, ông tôi nuôi dạy con ăn học, thế thôi, chứ từ ngày cha tôi đi làm quan, ông bà vẫn chỉ ở nhà quê cày cấy, ông vẫn siêng và khỏe nhất làng. Từ năm sào ruộng bà cố đẻ ra bà tôi cho, gọi là trả cái công mười năm ở rể ấy, ông bà đã gom góp tậu thêm gấp mười lần. Cái nhà gỗ năm gian này cũng do ông làm, chỉ có cái nhà Tây trên kia là mẹ tôi đã bán ngôi nhà hàng dưới phố về xây cất vào cái năm đẻ tôi. Cái nhà cao năm bậc thay cho bậc tam cấp ấy, ông bà tôi không thích ở nên vẫn chỉ ở cái nhà năm gian có cửa bức bàn.
Còn bà tôi, cái số sung sướng, lấy ông, bà chỉ phải lo cơm nước cho ông thôi. Bà yếu, làm chẳng thà để ông làm rốn. Ông chiều và quý bà lắm, nhưng bà phải cái tật có máu mê hát ghẹo. Bà trốn ông đi hát ghẹo quên cả nấu cơm, khiến nhiều lần ông nổi cơn ghen đánh bà đến thành tật, rồi ông lại thuốc thang nuôi nấng. Vì cái trận đòn ghen ấy, nên bây giờ bà còm nhom và đau mình đau mẩy, cứ phải uống rượu ngâm thuốc quanh năm.
Nói đến ông tôi thì còn vô vàn cái để cho tôi nhớ. Bởi vì mẹ tôi nói rằng ông tôi yêu quý tôi từ lúc tôi còn ẵm ngửa. Hồi ầy, cái nhà Tây kia còn đang tu sửa chưa xong, mẹ tôi cứ phải ra trông nom mọi việc của người làm, thỉnh thoảng bỏ tôi khóc lè nhè đòi bú, mới khóc một tí ông tôi đã nài nỉ...
- Mợ, mợ vào cho cháu bú tí đã... Để nó khóc mãi.
Thế là đang giở việc gì mẹ tôi cũng phải bỏ vào cho tôi bú. Là cháu gái nhưng tôi được ông tôi ẵm bế suốt ngày khiến u già chỉ phải chạy theo quạt quạt vào cái lưng trần đen thủi. Ông tôi yêu tôi thế, lẽ nào tôi chẳng nhớ ông, cả đến năm ngoái về ăn tết, ông vẫn ôm chầm lấy mà nâng lên, mà tôi còn bé bỏng gì, tôi đã có em Chín rồi chứ. Về với ông là tôi quên cả làm bộ người lớn, lại bám ông lẳng nhẳng, không phải chỉ ngoài vườn mà cả ngày rằm mùng một, ông hái hoa ra chùa lễ Phật.
Vườn nhà tôi lúc nào cũng đầy hoa. Ông chọn cắt một đĩa hoa đẹp nhất, những bông hồng và mẫu đơn đỏ thắm, chen cả những búp ngọc lan thơm thoang thoảng. Tôi sung sướng bưng đĩa hoa ấy theo ông ra chùa. Tôi còn nhớ cây Đại sần sùi ngả dài bên cái gác chuông cao cao và tiếng chuông ngân nga trong bầu không khí yên vắng, trong sạch của buổi sáng tinh sương. Tôi đứng nép vào bên ông, ngước mắt nhìn bà Phật Quan Âm với những nét son tô thắm.
Trên đường từ nhà tôi ra chùa còn qua một cái điếm canh. Điếm xây gạch lợp ngói, có những bệ cao hai bên để cho tuần phu nằm đêm, canh gác. Đánh ô trên cái bệ gạch ấy thật là tuyệt. Gió từ ngoài đồng lồng lộng thổi về sáng, trưa, chiều lúc nào cũng mát, mùa gặt người nghỉ dưới gốc gạo trước điếm rất đông. Bên cái điếm canh lại có một ngôi nhà bé tí tẹo. Nó bé như cái chuồng lợn nhà tôi, hai mái úp sát đất, muốn vào cứ phải cúi lom khom, thế mà ông tôi hay cúi nhòm vào đấy hoặc vào hút một điếu thuốc lào khi đứng hóng mát buổi chiều thèm thuốc. Chủ cái nhà tí tẹo ấy là bác Vĩnh, ông tôi bảo bác là một người có họ thuộc cành trên, gọi ông tôi là chú. Nhưng trừ ông tôi, chẳng ai bảo là bác Vĩnh ấy có họ với mình. Bác là thằng mõ của làng, chú tôi vẫn gọi bác bằng cái tiếng trống không “mõ”. Khi có việc gì, bác lê cái vóc người cao lớn nhưng gầy rộc ấy đi khắp làng với chiếc mõ gốc tre cầm trong tay:
-Cốc... cốc.... ơ làng thượng hạ, có trát quan xức về...
Cái giọng khàn khàn ấy cố rướn lên nhưng chẳng biết có ai nghe không. Nhà bác bé như thế mà lại đông người, một lũ con bảy đứa toàn con trai, ai cũng buồn cười: sao đói mà vẫn khỏe đẻ thế, mà cũng tại khỏe đẻ thế nên vẫn cứ đói. Mấy đứa con cao tồng ngồng gầy đét như mắm, lớn thế mà chúng chẳng mặc quần, cái hôm đầu thấy chúng, tôi xấu hổ rúc vào áo ông tôi.
-Êu êu... xấu hổ, lớn thế mà cởi truồng. Nhưng chúng không biết xấu hổ, chúng đường hoàng đứng phơi hàng dãy dưới gốc gạo. Ông tôi bảo: chúng nó không có quần, tại sao mẹ chúng không may cho chúng nhỉ? Điều ấy hơi khó hiểu cho tôi.
Mỗi lần gặp ông tôi, bác Vĩnh chắp hai tay lúng túng:
- Lạy quan cụ ạ!
Ông tôi gật gật đầu hỏi lại:
- Có kiếm được gì không?
- Dạ, hôm nay con đi xe củi...
Bác hay đi làm phu bốc vác dưới ga, dưới phố và làm thuê bất cứ việc gì có người thuê. Có lẽ ông tôi ngày xưa cũng đi làm thuê như thế, nhưng bác Vĩnh lại có cái tội uống rượu. Nhiều hôm vui bạn hớp một hớp cho đỡ mệt và cái hơi rượu cay nồng ấy khiến bác thấy dễ chịu khi nghĩ đến cái túng đói cứ bám lấy bác suốt đời. Bác không định uống đâu, chỗ tiền công ngày hôm nay mới đủ cả nhà ăn cháo nhưng những người cùng làm cứ hay lôi kéo bác: “Tội đếch gì, làm một tợp thôi...” và khi một tợp đã nhấp vào môi thì cái túi tiền dể tuột mất hết. Đấy là cũng họa hoằn thôi, còn bác vẫn cố tránh cái hàng rượu ấy để đem tiền về nhà. Nhưng tiền về đến nhà vẫn lại tuột đi... Làm thằng mõ để được miễn phu, phen, tạp dịch, miễn suất sưu, thế thôi chứ thằng mõ cũng chẳng được làng chi cho đồng công nào. Nhưng đã là thằng mõ thì ngay cả đứa trẻ con cũng có thể trêu chọc gọi “mõ” trống không như các thầy Hương, thầy Lý vẫn gọi, nhưng bác cần gì xấu hổ, cũng như các con bác không biết xấu hổ cứ việc cởi truồng.
Ông tôi vẫn coi bác là người còn sót lại của cành trên cái họ Nguyễn nên vẫn dấu bà tôi cho quan tiền bát gạo mỗi lúc nhà bác cơ cực quá đỗi. Nhưng bà tôi và các chị, nhất là chị Bích Xuân vẫn dài mỏ mà kêu: - cái con mẹ mõ là chúa chầy nợ. Bác Vĩnh vẫn phải chắp tay thưa gửi với chị Bích Xuân một cô, hai cô để khất nợ.
Nói đến chị Bích Xuân thì tôi lại ngại lên đến tận cổ. Người đâu mà khó đăm đăm, ngồi ăn một bữa cơm chị cứ gườm gườm, hạch chị Hảo luôn mồm: Nào chấm rau làm rớt cả nước mắm, nào có gì ngon thì cứ ăn xoi xói, nào đưa bát xin cơm đúng vào lúc chị ấy đang ăn. Sao mà chị ấy tìm được lắm chuyện để hạch thế, lúc nào cũng bĩu môi, cũng ngấm nguýt, có gì thì dấu dấu, giếm giếm đến là hay Chị ở với bà, được bà yêu cho vốn riêng, mấy năm nay lại ở nhà rẽ lúa cho ông bà tôi, tha hồ bớt xén, chị lại cho vay lãi, lắm vốn riêng, chị sắm sủa và thường mở ra ngắm nghía một mình. Hôm chị đang mở cái hộp đo đỏ, đựng những hoa hột ra ngắm, tôi vào, biết chị hay giấu nên tôi chạy lại reo lên:
- Ơ, chị lắm thứ đẹp quá!
Chị vội vơ lấy giấu vào gối và dài ngay môi ra:
- Đồ rình trộm.
Tôi không thèm rình trộm, thế là từ đấy tôi không thèm bén mảng đến buồng của hai chị nữa. Chị không ưa chúng tôi và ngay cả chị Tường Vân, chị cũng chẳng thân thiết gì. Chị Tường Vân còn hiền hơn một chút. Chị còn cười nói với chúng tôi vài ba lần. Tội cái là nói chuyện với chúng tôi thì chị Bích Xuân lại đay nghiến nên chị Tường Vân cũng không dám chơi đùa với chúng tôi nữa. Cái hồi mẹ tôi đưa chị Tường Vân vào Vinh ở hai tháng, lúc về chị Bích Xuân cứ nhiếc: “con mợ”. Con mợ thì làm sao... mà chị Tường Vân đâm sợ.
Điều này u già đã giải thích cho tôi hiểu rằng: mẹ tôi chỉ là mẹ kế. Quê ngoại của mẹ tôi ở tận Bát tràng, từ đòi ông bà ngoại đã vào làm ăn ở cái tỉnh Thanh rộng lớn này. Ông ngoại tôi là học trò nghèo đã từng đi đếm tiền thuê cho các cửa hàng, ông cố chí học hành nên đã thi đỗ, làm quan huyện ở huyện Hậu lộc trong tỉnh, mẹ tôi là con bà hai nhưng bà hai lại là chị ruột của bà cả (ông ngoại tôi đã lấy cả hai chị em). Mới 16 tuổi mẹ tôi xinh đẹp đảm đang, đã có một cậu Tú tài dạm hỏi, nhưng vì trong nhà gập vận đen Bà cả mất chưa đoạn tang thì đến người con dâu thứ hai cũng bị bạo bệnh mất theo. Được một năm ông tôi cũng mất, rồi tiếp ông anh thứ ba cũng mất, sau cùng là bà ngoại tôi. Năm cái tang liên tục khiến cậu Tú tài không chờ đợi được phải xin từ hôn đi lấy vợ. Khi ấy mẹ tôi đã gần ba mươi tuổi cũng may mà bà ngoại tôi trong thời gian ông tôi mất gia đình đông con đã xoay sở mở được cái cửa hàng bánh khảo giữa thị xã Thanh hóa. Khi bà mất mẹ tôi nghiễm nhiên thành cô chủ cửa hàng, vốn liêng có dư nhưng đã là gái lỡ thì. Ông trời sui khiến ra sao cha tôi cũng vừa góa vợ, đang giữ chức Hậu bổ, một ông Huyện tương lai nên mặc dù đã có tới sáu đứa con cùng người vợ trước ông vẫn lọt mắt xanh của cô gái lỡ thì. Thế là mẹ tôi trở thành bà mẹ kế của sáu đứa con chồng
Đấy là những chuyện lôi thôi về trước ,còn bây giờ tôi chỉ biết ba chị lớn đã lấy chồng anh thứ tư dang đi học còn hai chị ở quê với ông bà nội chúng tôi. Các chị tôi đều xinh đẹp và mang những cái tên cũng xinh đẹp Tuyết Nhung, Hải Đường, Ngọc lan, Tường Vân và Bích Xuân. Đấy là những cái tên do các chị tự đặt. Còn bà tôi vẫn quen gọi bằng những cái tên cũ kỹ là con Rô, con Riếc, con Tép, con Bống, con Lươn. Các chị rất bực với bà nhưng biết làm sao, khi những cái tên mới kia khó nhớ quá. Chị gái đầu lòng của mẹ tôi cũng có một cái tên rrất đẹp là Tố Hảo. Chỉ mình tôi phải chịu cái tên xấu xí là con Tám bởi sau chị Hảo mẹ tôi đẻ tiếp một cậu con trai rất kháu nhưng chỉ mới bảy tháng đã qua đời vì bị ho nghẹn thở. Đến ngày sinh tôi bà thấy diện mạo y hệt đứa con đã mất, bà lo sợ mới không đặt tên chỉ gọi theo thứ tự là con Tám, rồi đến em Chín, mà vẫn chưa sinh được một đứa con trai. Mẹ tôi buồn lắm .
Không hiểu sao chúng tôi không sao yêu nổi các chị. Các chị cũng chẳng yêu gì nhau đâu. Cái hôm đang ngồi bắt chấy cho bà tôi ấy, chị Hảo đang nài bà tôi kể chuyện ông, thì chị Bích Xuân ở đâu đâm sầm đến khóc hu hu. Bà tôi chưa kịp hỏi đầu đuôi thì chị Tường Vân cũng chạy bổ đến, chị cầm cái áo dài sa tanh đen ném ngay trước mặt bà tôi hầm hầm:
-Nói cho mà biết, chừa cái thói diện... Chị cúi nhặt cái áo rồi giơ lên, vạt sau bị rách một tý bằng hạt ngô.chị tiếp tục đay nghiến:
- Thế này thì còn mặc gì nữa! Giời ơi là giời, khổ thân tôi, thế là mất toi năm đồng bạc.
- Nó rách tự bao giờ kia chứ, thế mới thật là thâm. Tôi biết thế tôi thèm vào mà mượn. Chị Bích Xuân cãi lại, khiến chị Tường Vân tru tréo lên:
- Rách bao giờ? Điêu vừa chứ! Sáng qua tao là còn mới nguyên, mày lấy mày mặc, thà tao đã mặc năm bảy lần gì cho cam, mới mặc mỗi hai lần nó lấy nó diện, nó làm ra thế này đây giời đất ơi.
Chị khóc và lại vò cái áo ném ra sân, thế là bà tôi la lối lên, mắng chị Tường Vân là hỗn, dám ném vào mặt bà tôi... cứ ầm cả lên. Chúng tôi cứ ngớ mặt ra mà nhìn không hiểu, tí áo rách có gì mà hệ trọng đến mức ấy. Giá cha tôi ở nhà thì chỉ mấy roi là xong tuốt. Các chị cũng như tôi thôi, trước mặt cha tôi đố mà có dám ho he.
Nhưng các chị làm sao mặc các chị, về với ông thì vẫn vui nhất đời, năm nào chúng tôi cũng được về với ông trong dịp Tết và hè. Mùa hè ở cái thị xã Vinh này thì khổ hết chỗ nói, mẹ tôi chẳng khỏe lắm nên năm nào cứ đến mùa hè là cha tôi lại dục mẹ tôi cho chúng tôi về với ông để tránh ngọn gió Lào nóng bỏng và cũng là một dịp để mẹ tôi giải quyết các việc nhà. Đong lúa hoặc đậu lạc, vụ này có nhiều cái mẹ tôi mua vào để cuối vụ bán ra và còn đóng thuế, kiểm tra lại mọi việc làm ăn của các chị tôi. Vụ tháng mười thì mẹ tôi ở lại Vinh để bổ cau, cau Vinh nhiều và rẻ hơn ở Thanh Hóa, bổ hàng mấy chùm rồi đem về bán cất, mà còn mua thêm cau ở cửa hiệu nữa, cất một chuyến hàng có thể thu lãi bằng cả vụ lúa, có thế mới đủ ăn tiêu chứ. Lương của cha tôi tuy nhiều nhưng kẻ ăn người ở, khách khứa tiêu pha tốn kém, sao cho đủ.
- Mợ ơi, bao giờ thì về ông? - Đầu mùa hè là chúng tôi bắt đầu hỏi mẹ tôi. Bà hẹn rồi bà khất, có lúc bà gắt lên:
- Còn lâu, về thì ăn gì mà cứ thúc như thúc nợ. Chúng tôi tiu nghỉu và cảm thấy cái mùa hè ở đây nóng bức bội phần, cho đến một buổi, chị Hảo kéo tôi vào buồng hớn hở:
- Sắp được về ông rồi!
- Mợ bảo hả?
Chị nháy mắt chỉ những cái sọt để ngổn ngang. A! phải rồi, sọt để đóng cam, thế là mẹ tôi sắp về, lần nào về mà mẹ tôi chẳng mang theo những sọt cam, có thế mà tôi chẳng nghĩ ra. Chúng tôi muốn reo lên nhưng không dám reo mà chỉ kéo nhau ra xó hè thì thào, những dự định sẽ được hưởng, được làm trong dịp về với ông. Đem gì về cho ông được? Ông chỉ hay ăn trầu nhưng cau thì ở nhà hàng hai chục cây ông bổ đến hàng chum quả, ông thiếu gì, cam rồi cau, rồi hoa... Cái gì ông cũng có nhiều, còn quà bánh mẹ tôi sẽ mua và tôi chỉ việc bưng chạy lật đật, để vào lòng ông:
- Cháu biếu ông.
Ông cười rồi cầm lấy nhưng ông không ăn, ông để dành thỉnh thoảng lại chia cho tôi, cho các cháu con chú tôi, con các cô trong làng. Chúng tôi thì thào bàn tính, tranh cãi nhau về cái ngày về ấy và như mở cờ trong bụng. Các sọt cam đã được đóng gói cẩn thận bằng nhiều lớp lá chuối khô, mẹ tôi đã sắp xếp quần áo, còn chờ anh Cẩn ra xem giờ tàu đi chuyến nào cho tiện. Chỉ ngày mai, con tàu sẽ huýt một hồi còi dài, thế rồi rình...rình...rình... chỉ một ngày là chúng tôi đã ở bên ông.
Sao mà cứ như có kiến bò ở chân, tôi và chị Hảo, không đứng yên một chỗ được, khiến mẹ tôi bật cười:
- Hai cái đứa... cứ như được của ấy!
Ồ! Chúng tôi sắp được cái quý hơn của nhiều.
Buổi cơm chiều cha tôi bỗng dội một gáo nước lạnh vào lòng náo nức của tôi:
- Mợ à, hè này mợ không về được.
- ... ?
- Tôi được đi quyền tri huyện Quỳnh Anh.
- Được bổ tri huyện à?
Mẹ tôi ngửng phắt lên không dấu được vẻ vui mừng. Trái với vẻ ngạc nhiên vui mừng của mẹ tôi, cha tôi lừ đừ chậm rãi như có điều gì suy nghĩ. Ông tựa tay vào cái gối xếp để bên cạnh phản, ông mới năm mươi nhưng đã có dáng nặng nhọc của một người già quá béo, cặp mắt hai mí luôn nhăn díu lại vì bị cận thị quá nặng:
- Chỉ mới quyền thôi, mà nơi ấy nghe đâu cũng không dễ làm việc đâu.
Câu nói ấy như cây gậy giáng vào đầu mẹ tôi. Bà hốt hoảng kêu lên dù tiếng kêu rất khẽ:
- Cộng sản?!... Đừng...
Cộng sản là cái gì mà mọi người khiếp sợ thế? Tôi nhớ có một lần đã nghe đến cái tiếng ấy, cái hôm cả nhà tôi im lặng nhớn nhác thì thào và bảo nhau ở yên trong nhà y như sắp có một việc gì thật là khủng khiếp đang xảy ra. Mấy hôm sau vẫn chẳng thấy có gì lạ lùng hết. Anh Cẩn vẫn đi học như thường, cái hôm ấy cách đây độ dăm bảy tháng gì đó, chúng tôi để ý làm gì. Hôm ấy cả u già cũng thì thào với cô bé hai tiếng “cộng sản”, bây giờ mẹ tôi lại nói đến với bộ điệu sợ hãi thế kia nhưng cha tôi vẫn ngồi yên, ông không có gì là thảng thốt:
- Trên người ta bổ dụng, chứ có phải quyền mình đâu. Như thế là mợ không về Thanh được mà phải ở lại thu xếp nhà cửa, tôi đi trước xem tình hình ra sao, nếu yên yên, tôi cho người về đón mẹ con vào, hoặc có gì gay go lắm thì mẹ con tạm về quê ít lâu cũng được. Cha tôi ngẫm nghĩ rồi nói tiếp: - Cũng chẳng có gì đâu, dạo này cũng yên rồi.
Đến tối mẹ tôi đã bàn với cha tôi những công việc cụ thể, bà vốn là người tháo vát mà, giờ thì chỗ cam tôi đã trót mua đóng gói rồi, tôi sẽ gửi tầu ra Thanh cho chị Giáo, nhờ chị ấy liệu bán buôn lại cho các cửa hiệu. Vài bát họ đang dở dang ở đây sẽ nhường lại cho bà Thương, bà Chánh, mình chịu thiệt một tí là các bà ấy nhận ngay thôi. Chỉ còn chuyện học hành của thằng Cẩn, ông định ra sao. Tôi thì định nếu tôi đi sớm thì giữ nó ở nhà bà Thương đây ít hôm, thi xong nó về nghỉ hè ở nhà quê với ông bà, nhân tiện xem cái việc làm trích lục địa bạ đã nhờ chú làm giúp ấy ra sao rồi. Hết hè thì nhờ bác Chính ở Hà Nội xin vào trường Bưởi, nó sẽ ăn ở luôn ở nhà bác Chính, thằng con bác ấy cũng đang học trường Bưởi. Nó ở đấy học càng tốt, là người nhà ông ấy sẽ giúp mình kèm cặp nó. Tôi sẽ viết thơ nói trước với bác ấy.
Cha tôi ngồi im, bao giờ mẹ tôi cũng bàn mọi việc rất rõ ràng, còn cha tôi thì ngồi im ngẫm nghĩ chán rồi y như đồng ý. Tới lúc cô Bé xách ấm nước lên pha vào tích ông mới nhỏm dậy:
- Như thế cũng được, tùy mợ thấy làm sao cho tiện thì làm.
Mẹ tôi nhìn cô Bé, cô đang xách cái ấm đi xuống bếp, cái dáng khỏe mạnh chắc nịch của cô khiến bà hơi cau mày:
- Còn con bé sẽ đi luôn với ông để nó nấu nướng, giặt giũ cho, kẻo nơi xa lạ, nhưng ông phải để ý kẻo lính tráng lộn xộn.
- Mợ khéo lo xa... nó dại gì.
![[:)]](/images/smiley/s1.gif)
Nếu có thể thì sau khi mình đưa toàn bộ cuốn truyện này lên đề nghị MOD chuyển vào kho sách của VNTQ. Bà nội mình cũng là 1 độc giả thường xuyên của VNTQ, nên nếu được thấy tác phẩm của mình được chia sẻ đến đông đảo bạn đọc thì đó sẽ là một niềm vui lớn của bà
![[:)]](/images/smiley/s1.gif)
http://www.nhasachtritue.com/book/nguoc-dong.htm
http://www.tienphong.vn/van-nghe/194080/Le-Thi-90-tuoi-hon-nhien-viet-tieu-thuyet.html
Mọi người cùng thưởng thức và cho ý kiến nhé :)
Ngược dòng
I
Nhà tôi như thế cũng đông người đấy chứ, thế mà vẫn im ắng, im ắng như cái góc thành đá vắng ngắt này vậy. Càng im ắng hơn là những trưa hè cha tôi nằm ngủ, cô bé ngồi quạt, anh Cẩn thì ra hóng mát ngoài cổng thành. Cả nhà trải chiếu xuống đất nằm uể oải như người ốm dở, chỉ nghe tiếng luồng, nứa nổ trên mái nhà lách tách rợn cả người. Ván dựng quanh nhà cong veo lên, thỉnh thoảng cơn gió nóng bỏng từ đâu thổi về ào ào cuốn theo đất, cát phủ đầy mặt mũi.
Ở trong căn nhà nóng bức ấy lúc nào chúng tôi cũng nghĩ đến quê. Cái khu nhà hình chữ môn ấy ở giữa một mảnh vườn nào cam, nào hoa, nào những cây chanh, cây bưởi, mùa nào cũng có hương thơm, cũng có bóng mát, nhất là mùa nực dẫm lên mặt đất pha cát của vườn nhà tôi cứ êm như ru.
Cái vườn cam thì thật là tuyệt. Một vườn toàn cam, cam chanh, cam đường lúc nào cũng xanh rờn, mùa hoa thì đầy hoa trắng, mùa quả thì quả chín lúc lửu, những năm ở nhà với ông tôi (cái năm mẹ tôi đẻ em Chín ấy) chẳng lúc nào tôi không ở ngoài vườn với ông
- Ông ơi sao ông lại cuốc cây cam?
- Ông xới đất cho nó tốt.
- Ông ơi con chim mổ hoa của ông.
- Nó bắt sâu đấy, sâu cắn hoa của ông.
Tôi đứng yên một lát nhìn cái lưng trần đen trũi của ông:
- Ông ơi sao lưng ông đen thế?
- Ông cởi trần nên nó ăn nắng.
Tôi chịu không hiểu được, sao cái lưng lại ăn được nắng và đưa mắt dõi theo tia nắng đang thấp thoáng đu đưa trên lưng ông tôi.
- Ông ơi cháu mỏi chân rồi.
- Vào nhà chơi với mẹ đi!
- Không, ông vào với cháu kia.
Ông tôi dừng cuốc đi tìm một viên gạch đặt dưới một gốc cam to dỗ dành tôi.
- Cháu ngồi đây cho khỏi mỏi chân nhé! Ngồi đây xem ông làm, ông vun cho cây cam này, ngày sau nó có quả ông cho một quả thật to bằng này này.
Tôi vui thích nhìn ông bụm hai bàn tay và nghĩ đến quả cam vàng ối, bèn bằng lòng ngồi xuống viên gạch, lúi húi lấy đất đắp lên mu bàn chân, khi rút chân ra để lại cái hốc như cái mà cua, nhặt những hoa cam rụng đem về xếp chặt cái hang nhỏ xíu ấy. Xếp hoa chán lại đi tìm vỏ ngao, vỏ hến bốc đất in thành bánh, bày la liệt. Mải mê chơi tôi quên không để ý đến ông tôi đang lần theo những gốc cam xới cỏ xa dần. Khi ông quay lại thì quần áo tôi đã bê bết đất.
- Thôi lấm hết cả áo đẹp rồi, đứng lên ông đi tắm cho nào!
Ông cúi xuống luồn tay vào nách nâng bổng tôi lên, cụi cái miệng đầy những sợi râu bạc lốm đốm quết trầu vào má tôi mà nựng nịu:
- Cháu ông, cháu yêu, cháu quí của ông.
Tôi ngọ nguậy trong tay ông tôi như con sâu đo:
- Ối ông cầm cháu đau quá!
- Không đau, ông ẵm thì đau sao được.
Bàn tay ông tôi tuy to cứng, nhưng khi bế ẵm tôi lại rất khéo léo, nhẹ nhàng. Tôi kêu để làm nũng ông thôi. Tôi rúc rích cười, vòng tay ôm chặt cái cổ to bè đẫm mồ hôi của ông.
- Ông ẵm cháu đi nhá!
Tôi thích những chiều hè đi tắm với ông. Tuy hơi sợ, khi kỳ cọ cho tôi sạch rồi ông liền bảo: “Nào! Cháu nhắm mắt lại ông dội cho”. Tôi xòe hai bàn tay nhỏ xíu bịt chặt hai tai, nhắm nghiền mắt lại, nhưng vẫn không khỏi thét lên khi gầu nước chảy xối xả mát rượi trên đầu.
Suốt mùa hè, lúc nào tôi cũng chỉ thấy ông cởi trần, đóng khố, chiều nào cũng tắm giặt. Tối hay trưa ông đều nằm ở cái võng gai mắc ở ngoài hè giống như căn nhà ngột ngạt chẳng vừa ý ông. Đêm hè, ông nằm trên võng còn hai chị em chúng tôi và mấy đứa con nhà chú tôi kéo sang nằm la liệt trên những phiến đá lát hè nhẵn bóng mà ông đã gánh nước kỳ cọ từ chiều. Đôi lần ông cho tôi nằm võng với ông. Chị Hảo và bọn trẻ thường ghen tỵ với sự biệt đãi ấy nên hay châm chọc kéo dài giọng gọi tôi là “cháu ông”. Tôi lại thích được gọi như thế. Tôi biết ông tôi quý tôi nhất nên thường vòi vĩnh ông hơn trẻ khác. Mỗi lần có việc làng, việc họ ông tôi đi về bao giờ cũng lấy phần cho tôi một nắm xôi nho nhỏ đùm trong lá chuối. Mới về đến cửa ông tôi đã vội vã cởi áo vắt vào giây, quay ra ngồi vào võng rồi vừa kéo cái khăn vắt vai lau mồ hôi, vừa gọi tôi:
- Tám, Tám cháu ông đâu.
Tôi chạy xà lại, đứng lọt thỏm giữa đôi chân to khỏe của ông, khoác hai cánh tay lên đùi ông mà rờ nắn những bắp thịt rắn chắc ở chân tay ông mà thỏ thẻ:
- Sao thịt ông cứng thế?
- Ông già nên nó cứng.
- Cháu bẹo ông có đau không?
- Không.
Tôi cười như nắc nẻ túm lấy đùi ông tôi:
- Cháu bẹo nhé!
- Tha hồ cho cháu bẹo.
Tôi đứng hàng giờ như vậy vừa rủ rỉ, chuyện trò với ông, vừa ngắm nghía những ngón tay to ngắn nhào nặn cục xôi dẻo quẹo. Khi cục xôi đã thành một cục bột dẻo quánh, đen sì, ông vê nó thành một cái vòng to tướng đeo vào cổ tay tôi.
- Cho cháu chơi đấy, bao giờ muốn ăn thì ăn.
Tôi không ăn cái vòng ấy, vì nom nó bẩn quá, nhưng vẫn thích được ông đeo cho.
Cùng ở trong căn nhà gỗ năm gian với ông là bà tôi. Khác hẳn với ông, bà bé nhỏ loắt choắt như con chuột nhắt. Còn kém tuổi ông nhưng tóc bà đã bạc phơ, hai hàm răng rụng hết, khiến cặp môi mỏng cứ lõm vào, làm cho cái miệng trở thành một cái hốc đỏ lòm xấu xí. Suốt ngày bà tôi ở trong buồng, hình như bà đau ốm quanh năm, lúc nào cũng phải uống thuốc tễ hoặc rượu ngâm thuốc. Họa hoằn lắm bà tôi mới ra hè ngồi, cởi áo rũ cho bụi bay mù lên, ghé cái lưng nhỏ như cái chày hành, gồ ghề từng đốt xương sống ra bảo chúng tôi:
- Cào cho bà một cái, ngứa lắm!
Tôi dè dặt cào lên lớp da khô cứng như vảy cá, để lại trên làn da khô cứng ấy những vết móng tay bật trắng như vết xước mèo cào. Tôi tránh ngồi trước mặt bà tôi, vì từ cái miệng móm mém đỏ lòm kia hay phả ra một mùi khó chịu, một thứ mùi ruợu lẫn với thịt cá, rớt rãi, buồn nôn lên được. Và tránh cả cặp mắt bà tôi, nó nhỏ tí như chìm vào hai cái hốc tối om dưới đôi lông mày bạc phếch, nó hau háu dòm dỏ mọi nơi như rình ai. Cả con người bà tôi gộp lại thành một cái gì khiến tôi cứ rờn rợn. Bà tôi đẩy cái áo lụa nâu bám đầy những vẩy trắng đến trước mặt chúng tôi:
- Xem hộ bà, có con rận nào không?
Chị Hảo miễn cưỡng cầm lấy cái áo, lần các đường khâu, thỉnh thoảng bắt gặp một chú rận kềnh. Chị luống cuống ghé cái áo xuống hè, hẩy cho chú rận lăn ra. Bà tôi bật cười:
- Cháu sợ à? Hay gớm? Úi chà! rận của bà đã thấm vào đâu với rận của ông ngày xưa. Cái ngày ông đi lấy xác ông chú ở Huế, ba bốn tháng mới về, chấy rận nhung nhúc, chấy nhiều đến nỗi bò cả xuống râu còn rận thì bắt không xuể, phải trải cái áo xuống hè này, lấy gáo dừa cà đi cà lại nó kêu rum rúm như ta rang nổ.
Tôi không tin như thế, tôi chỉ thấy ông tôi sạch ly sạch lai, chả có chấy rận bao giờ.
Tuy vậy, chúng tôi vẫn tò mò thích nghe bà tôi kể lại về ông và không ngừng hỏi vặn:
- Tại sao ông chú lại chết tận Huế? Huế ở mãi đâu?
Theo bà tôi kể, ngày xưa đàn ông phải đi lính thú, mà lính thú phải đóng đồn ở trong rừng ma thiêng nước độc. Ông tôi trốn được, còn ông chú bị bắt đi, phải vào mãi tận cái đồn trong rừng sâu của Huế. Ông chú ốm chết trong rừng. Hàng mấy năm sau, có người làng cùng đi, được về, báo tin mới biết. Thương em bỏ xương nơi đất khách quê người, ông tôi rang một đấu gạo, cưa một ông bương to đựng nước cùng ít tiền bạc vào Huế mang xác em về. Không có giấy phép của quan, ông phải luồn rừng lội suối mà đi. Tìm được mả, ông gói xương vào chiếc chiếu, cắp nách mà về, đi đến đâu hết lương ăn phải dấu gói xương, mò xuống làng bản mua gạo rang lên, bỏ vào tay nải tiếp tục đi tiếp, ba bốn tháng mới về đến nhà. Ông tôi to khỏe là thế mà cũng chỉ còn như bộ xương, râu tóc đầy chấy rận.
Bà tôi còn kể ngày xưa ông khỏe như trâu mộng, làm suốt ngày không nghỉ tay. Ông cố, bà cố đẻ ra bà tôi gọi gả bà tôi cho người con trai mồ côi cả cha cả mẹ, không cửa không nhà ấy. Vì đi làm thuê suốt năm, hay bị bọn người chủ thuê ức hiếp, ông tức chí, đi ở với một ông thầy dạy võ để học các môn võ nghệ. Ông đã thi đỗ đến tam trường, đỗ rồi ông lại quay về làm ruộng. Ông không thích làm quan võ, vì “quan văn tam phẩm là sang, quan võ tứ phẩm còn mang gươm hầu”. Về làng, ông có võ, không ai dám nạt nộ nữa nhưng vì không có chữ, ông vẫn bị dòng họ Trần có con chỉ học đến tú tài coi khinh, nên về sau ông đã cố chí cho cha tôi đi học. Cha tôi cũng thông minh, được ông thầy yêu quí nên mấy năm trời ông bà chẳng quản phải gánh đi hàng mấy chục gánh gạo để cha tôi theo hết ông cử này đến ông bảng khác. Có thế cha tôi mới đỗ cái cử nhân Nam triều, cái khoa thi cuối cùng còn lấy cử nhân chữ Hán. Bây giờ thì người ta bỏ thi chữ Hán rồi, nhưng cha tôi đã được ra làm quan và ông bà tôi được cả làng gọi là “quan cụ”. Thế là cái họ Trần kia không thể chiếm ngôi tiên chỉ của làng mãi nữa. Ngôi tiên chỉ đã về tay cha tôi.
Tức với thiên hạ, ông tôi nuôi dạy con ăn học, thế thôi, chứ từ ngày cha tôi đi làm quan, ông bà vẫn chỉ ở nhà quê cày cấy, ông vẫn siêng và khỏe nhất làng. Từ năm sào ruộng bà cố đẻ ra bà tôi cho, gọi là trả cái công mười năm ở rể ấy, ông bà đã gom góp tậu thêm gấp mười lần. Cái nhà gỗ năm gian này cũng do ông làm, chỉ có cái nhà Tây trên kia là mẹ tôi đã bán ngôi nhà hàng dưới phố về xây cất vào cái năm đẻ tôi. Cái nhà cao năm bậc thay cho bậc tam cấp ấy, ông bà tôi không thích ở nên vẫn chỉ ở cái nhà năm gian có cửa bức bàn.
Còn bà tôi, cái số sung sướng, lấy ông, bà chỉ phải lo cơm nước cho ông thôi. Bà yếu, làm chẳng thà để ông làm rốn. Ông chiều và quý bà lắm, nhưng bà phải cái tật có máu mê hát ghẹo. Bà trốn ông đi hát ghẹo quên cả nấu cơm, khiến nhiều lần ông nổi cơn ghen đánh bà đến thành tật, rồi ông lại thuốc thang nuôi nấng. Vì cái trận đòn ghen ấy, nên bây giờ bà còm nhom và đau mình đau mẩy, cứ phải uống rượu ngâm thuốc quanh năm.
Nói đến ông tôi thì còn vô vàn cái để cho tôi nhớ. Bởi vì mẹ tôi nói rằng ông tôi yêu quý tôi từ lúc tôi còn ẵm ngửa. Hồi ầy, cái nhà Tây kia còn đang tu sửa chưa xong, mẹ tôi cứ phải ra trông nom mọi việc của người làm, thỉnh thoảng bỏ tôi khóc lè nhè đòi bú, mới khóc một tí ông tôi đã nài nỉ...
- Mợ, mợ vào cho cháu bú tí đã... Để nó khóc mãi.
Thế là đang giở việc gì mẹ tôi cũng phải bỏ vào cho tôi bú. Là cháu gái nhưng tôi được ông tôi ẵm bế suốt ngày khiến u già chỉ phải chạy theo quạt quạt vào cái lưng trần đen thủi. Ông tôi yêu tôi thế, lẽ nào tôi chẳng nhớ ông, cả đến năm ngoái về ăn tết, ông vẫn ôm chầm lấy mà nâng lên, mà tôi còn bé bỏng gì, tôi đã có em Chín rồi chứ. Về với ông là tôi quên cả làm bộ người lớn, lại bám ông lẳng nhẳng, không phải chỉ ngoài vườn mà cả ngày rằm mùng một, ông hái hoa ra chùa lễ Phật.
Vườn nhà tôi lúc nào cũng đầy hoa. Ông chọn cắt một đĩa hoa đẹp nhất, những bông hồng và mẫu đơn đỏ thắm, chen cả những búp ngọc lan thơm thoang thoảng. Tôi sung sướng bưng đĩa hoa ấy theo ông ra chùa. Tôi còn nhớ cây Đại sần sùi ngả dài bên cái gác chuông cao cao và tiếng chuông ngân nga trong bầu không khí yên vắng, trong sạch của buổi sáng tinh sương. Tôi đứng nép vào bên ông, ngước mắt nhìn bà Phật Quan Âm với những nét son tô thắm.
Trên đường từ nhà tôi ra chùa còn qua một cái điếm canh. Điếm xây gạch lợp ngói, có những bệ cao hai bên để cho tuần phu nằm đêm, canh gác. Đánh ô trên cái bệ gạch ấy thật là tuyệt. Gió từ ngoài đồng lồng lộng thổi về sáng, trưa, chiều lúc nào cũng mát, mùa gặt người nghỉ dưới gốc gạo trước điếm rất đông. Bên cái điếm canh lại có một ngôi nhà bé tí tẹo. Nó bé như cái chuồng lợn nhà tôi, hai mái úp sát đất, muốn vào cứ phải cúi lom khom, thế mà ông tôi hay cúi nhòm vào đấy hoặc vào hút một điếu thuốc lào khi đứng hóng mát buổi chiều thèm thuốc. Chủ cái nhà tí tẹo ấy là bác Vĩnh, ông tôi bảo bác là một người có họ thuộc cành trên, gọi ông tôi là chú. Nhưng trừ ông tôi, chẳng ai bảo là bác Vĩnh ấy có họ với mình. Bác là thằng mõ của làng, chú tôi vẫn gọi bác bằng cái tiếng trống không “mõ”. Khi có việc gì, bác lê cái vóc người cao lớn nhưng gầy rộc ấy đi khắp làng với chiếc mõ gốc tre cầm trong tay:
-Cốc... cốc.... ơ làng thượng hạ, có trát quan xức về...
Cái giọng khàn khàn ấy cố rướn lên nhưng chẳng biết có ai nghe không. Nhà bác bé như thế mà lại đông người, một lũ con bảy đứa toàn con trai, ai cũng buồn cười: sao đói mà vẫn khỏe đẻ thế, mà cũng tại khỏe đẻ thế nên vẫn cứ đói. Mấy đứa con cao tồng ngồng gầy đét như mắm, lớn thế mà chúng chẳng mặc quần, cái hôm đầu thấy chúng, tôi xấu hổ rúc vào áo ông tôi.
-Êu êu... xấu hổ, lớn thế mà cởi truồng. Nhưng chúng không biết xấu hổ, chúng đường hoàng đứng phơi hàng dãy dưới gốc gạo. Ông tôi bảo: chúng nó không có quần, tại sao mẹ chúng không may cho chúng nhỉ? Điều ấy hơi khó hiểu cho tôi.
Mỗi lần gặp ông tôi, bác Vĩnh chắp hai tay lúng túng:
- Lạy quan cụ ạ!
Ông tôi gật gật đầu hỏi lại:
- Có kiếm được gì không?
- Dạ, hôm nay con đi xe củi...
Bác hay đi làm phu bốc vác dưới ga, dưới phố và làm thuê bất cứ việc gì có người thuê. Có lẽ ông tôi ngày xưa cũng đi làm thuê như thế, nhưng bác Vĩnh lại có cái tội uống rượu. Nhiều hôm vui bạn hớp một hớp cho đỡ mệt và cái hơi rượu cay nồng ấy khiến bác thấy dễ chịu khi nghĩ đến cái túng đói cứ bám lấy bác suốt đời. Bác không định uống đâu, chỗ tiền công ngày hôm nay mới đủ cả nhà ăn cháo nhưng những người cùng làm cứ hay lôi kéo bác: “Tội đếch gì, làm một tợp thôi...” và khi một tợp đã nhấp vào môi thì cái túi tiền dể tuột mất hết. Đấy là cũng họa hoằn thôi, còn bác vẫn cố tránh cái hàng rượu ấy để đem tiền về nhà. Nhưng tiền về đến nhà vẫn lại tuột đi... Làm thằng mõ để được miễn phu, phen, tạp dịch, miễn suất sưu, thế thôi chứ thằng mõ cũng chẳng được làng chi cho đồng công nào. Nhưng đã là thằng mõ thì ngay cả đứa trẻ con cũng có thể trêu chọc gọi “mõ” trống không như các thầy Hương, thầy Lý vẫn gọi, nhưng bác cần gì xấu hổ, cũng như các con bác không biết xấu hổ cứ việc cởi truồng.
Ông tôi vẫn coi bác là người còn sót lại của cành trên cái họ Nguyễn nên vẫn dấu bà tôi cho quan tiền bát gạo mỗi lúc nhà bác cơ cực quá đỗi. Nhưng bà tôi và các chị, nhất là chị Bích Xuân vẫn dài mỏ mà kêu: - cái con mẹ mõ là chúa chầy nợ. Bác Vĩnh vẫn phải chắp tay thưa gửi với chị Bích Xuân một cô, hai cô để khất nợ.
Nói đến chị Bích Xuân thì tôi lại ngại lên đến tận cổ. Người đâu mà khó đăm đăm, ngồi ăn một bữa cơm chị cứ gườm gườm, hạch chị Hảo luôn mồm: Nào chấm rau làm rớt cả nước mắm, nào có gì ngon thì cứ ăn xoi xói, nào đưa bát xin cơm đúng vào lúc chị ấy đang ăn. Sao mà chị ấy tìm được lắm chuyện để hạch thế, lúc nào cũng bĩu môi, cũng ngấm nguýt, có gì thì dấu dấu, giếm giếm đến là hay Chị ở với bà, được bà yêu cho vốn riêng, mấy năm nay lại ở nhà rẽ lúa cho ông bà tôi, tha hồ bớt xén, chị lại cho vay lãi, lắm vốn riêng, chị sắm sủa và thường mở ra ngắm nghía một mình. Hôm chị đang mở cái hộp đo đỏ, đựng những hoa hột ra ngắm, tôi vào, biết chị hay giấu nên tôi chạy lại reo lên:
- Ơ, chị lắm thứ đẹp quá!
Chị vội vơ lấy giấu vào gối và dài ngay môi ra:
- Đồ rình trộm.
Tôi không thèm rình trộm, thế là từ đấy tôi không thèm bén mảng đến buồng của hai chị nữa. Chị không ưa chúng tôi và ngay cả chị Tường Vân, chị cũng chẳng thân thiết gì. Chị Tường Vân còn hiền hơn một chút. Chị còn cười nói với chúng tôi vài ba lần. Tội cái là nói chuyện với chúng tôi thì chị Bích Xuân lại đay nghiến nên chị Tường Vân cũng không dám chơi đùa với chúng tôi nữa. Cái hồi mẹ tôi đưa chị Tường Vân vào Vinh ở hai tháng, lúc về chị Bích Xuân cứ nhiếc: “con mợ”. Con mợ thì làm sao... mà chị Tường Vân đâm sợ.
Điều này u già đã giải thích cho tôi hiểu rằng: mẹ tôi chỉ là mẹ kế. Quê ngoại của mẹ tôi ở tận Bát tràng, từ đòi ông bà ngoại đã vào làm ăn ở cái tỉnh Thanh rộng lớn này. Ông ngoại tôi là học trò nghèo đã từng đi đếm tiền thuê cho các cửa hàng, ông cố chí học hành nên đã thi đỗ, làm quan huyện ở huyện Hậu lộc trong tỉnh, mẹ tôi là con bà hai nhưng bà hai lại là chị ruột của bà cả (ông ngoại tôi đã lấy cả hai chị em). Mới 16 tuổi mẹ tôi xinh đẹp đảm đang, đã có một cậu Tú tài dạm hỏi, nhưng vì trong nhà gập vận đen Bà cả mất chưa đoạn tang thì đến người con dâu thứ hai cũng bị bạo bệnh mất theo. Được một năm ông tôi cũng mất, rồi tiếp ông anh thứ ba cũng mất, sau cùng là bà ngoại tôi. Năm cái tang liên tục khiến cậu Tú tài không chờ đợi được phải xin từ hôn đi lấy vợ. Khi ấy mẹ tôi đã gần ba mươi tuổi cũng may mà bà ngoại tôi trong thời gian ông tôi mất gia đình đông con đã xoay sở mở được cái cửa hàng bánh khảo giữa thị xã Thanh hóa. Khi bà mất mẹ tôi nghiễm nhiên thành cô chủ cửa hàng, vốn liêng có dư nhưng đã là gái lỡ thì. Ông trời sui khiến ra sao cha tôi cũng vừa góa vợ, đang giữ chức Hậu bổ, một ông Huyện tương lai nên mặc dù đã có tới sáu đứa con cùng người vợ trước ông vẫn lọt mắt xanh của cô gái lỡ thì. Thế là mẹ tôi trở thành bà mẹ kế của sáu đứa con chồng
Đấy là những chuyện lôi thôi về trước ,còn bây giờ tôi chỉ biết ba chị lớn đã lấy chồng anh thứ tư dang đi học còn hai chị ở quê với ông bà nội chúng tôi. Các chị tôi đều xinh đẹp và mang những cái tên cũng xinh đẹp Tuyết Nhung, Hải Đường, Ngọc lan, Tường Vân và Bích Xuân. Đấy là những cái tên do các chị tự đặt. Còn bà tôi vẫn quen gọi bằng những cái tên cũ kỹ là con Rô, con Riếc, con Tép, con Bống, con Lươn. Các chị rất bực với bà nhưng biết làm sao, khi những cái tên mới kia khó nhớ quá. Chị gái đầu lòng của mẹ tôi cũng có một cái tên rrất đẹp là Tố Hảo. Chỉ mình tôi phải chịu cái tên xấu xí là con Tám bởi sau chị Hảo mẹ tôi đẻ tiếp một cậu con trai rất kháu nhưng chỉ mới bảy tháng đã qua đời vì bị ho nghẹn thở. Đến ngày sinh tôi bà thấy diện mạo y hệt đứa con đã mất, bà lo sợ mới không đặt tên chỉ gọi theo thứ tự là con Tám, rồi đến em Chín, mà vẫn chưa sinh được một đứa con trai. Mẹ tôi buồn lắm .
Không hiểu sao chúng tôi không sao yêu nổi các chị. Các chị cũng chẳng yêu gì nhau đâu. Cái hôm đang ngồi bắt chấy cho bà tôi ấy, chị Hảo đang nài bà tôi kể chuyện ông, thì chị Bích Xuân ở đâu đâm sầm đến khóc hu hu. Bà tôi chưa kịp hỏi đầu đuôi thì chị Tường Vân cũng chạy bổ đến, chị cầm cái áo dài sa tanh đen ném ngay trước mặt bà tôi hầm hầm:
-Nói cho mà biết, chừa cái thói diện... Chị cúi nhặt cái áo rồi giơ lên, vạt sau bị rách một tý bằng hạt ngô.chị tiếp tục đay nghiến:
- Thế này thì còn mặc gì nữa! Giời ơi là giời, khổ thân tôi, thế là mất toi năm đồng bạc.
- Nó rách tự bao giờ kia chứ, thế mới thật là thâm. Tôi biết thế tôi thèm vào mà mượn. Chị Bích Xuân cãi lại, khiến chị Tường Vân tru tréo lên:
- Rách bao giờ? Điêu vừa chứ! Sáng qua tao là còn mới nguyên, mày lấy mày mặc, thà tao đã mặc năm bảy lần gì cho cam, mới mặc mỗi hai lần nó lấy nó diện, nó làm ra thế này đây giời đất ơi.
Chị khóc và lại vò cái áo ném ra sân, thế là bà tôi la lối lên, mắng chị Tường Vân là hỗn, dám ném vào mặt bà tôi... cứ ầm cả lên. Chúng tôi cứ ngớ mặt ra mà nhìn không hiểu, tí áo rách có gì mà hệ trọng đến mức ấy. Giá cha tôi ở nhà thì chỉ mấy roi là xong tuốt. Các chị cũng như tôi thôi, trước mặt cha tôi đố mà có dám ho he.
Nhưng các chị làm sao mặc các chị, về với ông thì vẫn vui nhất đời, năm nào chúng tôi cũng được về với ông trong dịp Tết và hè. Mùa hè ở cái thị xã Vinh này thì khổ hết chỗ nói, mẹ tôi chẳng khỏe lắm nên năm nào cứ đến mùa hè là cha tôi lại dục mẹ tôi cho chúng tôi về với ông để tránh ngọn gió Lào nóng bỏng và cũng là một dịp để mẹ tôi giải quyết các việc nhà. Đong lúa hoặc đậu lạc, vụ này có nhiều cái mẹ tôi mua vào để cuối vụ bán ra và còn đóng thuế, kiểm tra lại mọi việc làm ăn của các chị tôi. Vụ tháng mười thì mẹ tôi ở lại Vinh để bổ cau, cau Vinh nhiều và rẻ hơn ở Thanh Hóa, bổ hàng mấy chùm rồi đem về bán cất, mà còn mua thêm cau ở cửa hiệu nữa, cất một chuyến hàng có thể thu lãi bằng cả vụ lúa, có thế mới đủ ăn tiêu chứ. Lương của cha tôi tuy nhiều nhưng kẻ ăn người ở, khách khứa tiêu pha tốn kém, sao cho đủ.
- Mợ ơi, bao giờ thì về ông? - Đầu mùa hè là chúng tôi bắt đầu hỏi mẹ tôi. Bà hẹn rồi bà khất, có lúc bà gắt lên:
- Còn lâu, về thì ăn gì mà cứ thúc như thúc nợ. Chúng tôi tiu nghỉu và cảm thấy cái mùa hè ở đây nóng bức bội phần, cho đến một buổi, chị Hảo kéo tôi vào buồng hớn hở:
- Sắp được về ông rồi!
- Mợ bảo hả?
Chị nháy mắt chỉ những cái sọt để ngổn ngang. A! phải rồi, sọt để đóng cam, thế là mẹ tôi sắp về, lần nào về mà mẹ tôi chẳng mang theo những sọt cam, có thế mà tôi chẳng nghĩ ra. Chúng tôi muốn reo lên nhưng không dám reo mà chỉ kéo nhau ra xó hè thì thào, những dự định sẽ được hưởng, được làm trong dịp về với ông. Đem gì về cho ông được? Ông chỉ hay ăn trầu nhưng cau thì ở nhà hàng hai chục cây ông bổ đến hàng chum quả, ông thiếu gì, cam rồi cau, rồi hoa... Cái gì ông cũng có nhiều, còn quà bánh mẹ tôi sẽ mua và tôi chỉ việc bưng chạy lật đật, để vào lòng ông:
- Cháu biếu ông.
Ông cười rồi cầm lấy nhưng ông không ăn, ông để dành thỉnh thoảng lại chia cho tôi, cho các cháu con chú tôi, con các cô trong làng. Chúng tôi thì thào bàn tính, tranh cãi nhau về cái ngày về ấy và như mở cờ trong bụng. Các sọt cam đã được đóng gói cẩn thận bằng nhiều lớp lá chuối khô, mẹ tôi đã sắp xếp quần áo, còn chờ anh Cẩn ra xem giờ tàu đi chuyến nào cho tiện. Chỉ ngày mai, con tàu sẽ huýt một hồi còi dài, thế rồi rình...rình...rình... chỉ một ngày là chúng tôi đã ở bên ông.
Sao mà cứ như có kiến bò ở chân, tôi và chị Hảo, không đứng yên một chỗ được, khiến mẹ tôi bật cười:
- Hai cái đứa... cứ như được của ấy!
Ồ! Chúng tôi sắp được cái quý hơn của nhiều.
Buổi cơm chiều cha tôi bỗng dội một gáo nước lạnh vào lòng náo nức của tôi:
- Mợ à, hè này mợ không về được.
- ... ?
- Tôi được đi quyền tri huyện Quỳnh Anh.
- Được bổ tri huyện à?
Mẹ tôi ngửng phắt lên không dấu được vẻ vui mừng. Trái với vẻ ngạc nhiên vui mừng của mẹ tôi, cha tôi lừ đừ chậm rãi như có điều gì suy nghĩ. Ông tựa tay vào cái gối xếp để bên cạnh phản, ông mới năm mươi nhưng đã có dáng nặng nhọc của một người già quá béo, cặp mắt hai mí luôn nhăn díu lại vì bị cận thị quá nặng:
- Chỉ mới quyền thôi, mà nơi ấy nghe đâu cũng không dễ làm việc đâu.
Câu nói ấy như cây gậy giáng vào đầu mẹ tôi. Bà hốt hoảng kêu lên dù tiếng kêu rất khẽ:
- Cộng sản?!... Đừng...
Cộng sản là cái gì mà mọi người khiếp sợ thế? Tôi nhớ có một lần đã nghe đến cái tiếng ấy, cái hôm cả nhà tôi im lặng nhớn nhác thì thào và bảo nhau ở yên trong nhà y như sắp có một việc gì thật là khủng khiếp đang xảy ra. Mấy hôm sau vẫn chẳng thấy có gì lạ lùng hết. Anh Cẩn vẫn đi học như thường, cái hôm ấy cách đây độ dăm bảy tháng gì đó, chúng tôi để ý làm gì. Hôm ấy cả u già cũng thì thào với cô bé hai tiếng “cộng sản”, bây giờ mẹ tôi lại nói đến với bộ điệu sợ hãi thế kia nhưng cha tôi vẫn ngồi yên, ông không có gì là thảng thốt:
- Trên người ta bổ dụng, chứ có phải quyền mình đâu. Như thế là mợ không về Thanh được mà phải ở lại thu xếp nhà cửa, tôi đi trước xem tình hình ra sao, nếu yên yên, tôi cho người về đón mẹ con vào, hoặc có gì gay go lắm thì mẹ con tạm về quê ít lâu cũng được. Cha tôi ngẫm nghĩ rồi nói tiếp: - Cũng chẳng có gì đâu, dạo này cũng yên rồi.
Đến tối mẹ tôi đã bàn với cha tôi những công việc cụ thể, bà vốn là người tháo vát mà, giờ thì chỗ cam tôi đã trót mua đóng gói rồi, tôi sẽ gửi tầu ra Thanh cho chị Giáo, nhờ chị ấy liệu bán buôn lại cho các cửa hiệu. Vài bát họ đang dở dang ở đây sẽ nhường lại cho bà Thương, bà Chánh, mình chịu thiệt một tí là các bà ấy nhận ngay thôi. Chỉ còn chuyện học hành của thằng Cẩn, ông định ra sao. Tôi thì định nếu tôi đi sớm thì giữ nó ở nhà bà Thương đây ít hôm, thi xong nó về nghỉ hè ở nhà quê với ông bà, nhân tiện xem cái việc làm trích lục địa bạ đã nhờ chú làm giúp ấy ra sao rồi. Hết hè thì nhờ bác Chính ở Hà Nội xin vào trường Bưởi, nó sẽ ăn ở luôn ở nhà bác Chính, thằng con bác ấy cũng đang học trường Bưởi. Nó ở đấy học càng tốt, là người nhà ông ấy sẽ giúp mình kèm cặp nó. Tôi sẽ viết thơ nói trước với bác ấy.
Cha tôi ngồi im, bao giờ mẹ tôi cũng bàn mọi việc rất rõ ràng, còn cha tôi thì ngồi im ngẫm nghĩ chán rồi y như đồng ý. Tới lúc cô Bé xách ấm nước lên pha vào tích ông mới nhỏm dậy:
- Như thế cũng được, tùy mợ thấy làm sao cho tiện thì làm.
Mẹ tôi nhìn cô Bé, cô đang xách cái ấm đi xuống bếp, cái dáng khỏe mạnh chắc nịch của cô khiến bà hơi cau mày:
- Còn con bé sẽ đi luôn với ông để nó nấu nướng, giặt giũ cho, kẻo nơi xa lạ, nhưng ông phải để ý kẻo lính tráng lộn xộn.
- Mợ khéo lo xa... nó dại gì.