📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Ngược dòng - Lê Thi

4 trả lời, 1.203 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.04.2013 20:02:02 bởi cuongbkedu>
Mình xin phép được giới thiệu với mọi người 1 tác phẩm của bà nội mình [:)]
Nếu có thể thì sau khi mình đưa toàn bộ cuốn truyện này lên đề nghị MOD chuyển vào kho sách của VNTQ. Bà nội mình cũng là 1 độc giả thường xuyên của VNTQ, nên nếu được thấy tác phẩm của mình được chia sẻ đến đông đảo bạn đọc thì đó sẽ là một niềm vui lớn của bà [:)]
http://www.nhasachtritue.com/book/nguoc-dong.htm
http://www.tienphong.vn/van-nghe/194080/Le-Thi-90-tuoi-hon-nhien-viet-tieu-thuyet.html
Mọi người cùng thưởng thức và cho ý kiến nhé :)
 
Ngược dòng
I
 
      Chúng tôi ở trong một căn nhà gỗ cũ kỹ của cái thành đá tỉnh Nghệ An, cha tôi đã thuê ngôi nhà ấy của ông thương tá, ông làm nhà mới ngay trước nhà cũ, to hơn. Cái xóm tôi ở thật là buồn, cả ngày đường xá vắng ngắt, không một người qua lại, con đường rải đá khấp khểnh, trơ một vài cây Cáo mới trồng, cứ trơ ra dưới ánh nắng gay gắt của mùa hè miền Trung, và cái thành đá thì trở nên xám xịt về mùa đông,  trông càng chán . Cả xóm im ắng suốt ngày, nhà tôi cũng im ắng gần như thế. Chỉ có tôi và chị Hảo quanh quẩn chẳng dám ló ra khỏi nhà và cũng chẳng dám đùa nghịch ồn ào. Cha tôi nghiêm và anh Cẩn cũng nghiêm, chẳng bao giờ hỏi chúng tôi lấy một câu. Chỉ có anh Thuộc - một anh bạn học của anh Cẩn đến làm sổ sách giấy tờ cho cha tôi vào những lúc nghỉ là thỉnh thoảng nheo mắt nháy chúng tôi một cái. Còn ông bếp Nghệ thì trọ trà trọ trẹ nói tôi chẳng hiểu cái gì, ông ta cũng chỉ ở nhà trong hai buổi nấu cơm rồi cứ đi lang thang, chơi với các anh bếp, anh xe bên ông thương tá. Cô bé lại càng ít nói, tôi chẳng hiểu cô có họ hàng ra sao với chúng tôi, tôi chỉ thấy cô mặc áo cánh trắng, quần đen, quấn khăn như là nhà quê. Cô phải làm các việc giặt giũ khâu vá và chủ yếu hầu hạ cha mẹ tôi hằng ngày. Cô có buồng riêng nhưng bữa cơm cô phải bắc ghế ngồi đầu nồi xới cơm và đứng lên lấy các thức ăn cần lấy, có lúc cô bế em Chín thay cho u già khi u già mắc việc khác. Tôi chẳng hiểu cô là người thế nào, chỉ biết mẹ tôi bảo gọi là cô Bé. Thật ra cô không bé, cô lớn nhất nhà, tóc dài và hai má cứ đỏ hây hây, có lẽ cô đến 19-20 tuổi, thế mà lại gọi là cô bé, buồn cười thật.        Cô bé cũng chẳng hay chơi với chúng tôi, mà chỉ có u già vừa bế em Chín vừa dắt chúng tôi đi chơi nữa. U già ở nhà tôi đã lâu, u ẵm tôi ngày còn nhỏ và bây giờ u ẵm em Chín, u bảo ngày bé tôi hiền hơn em Chín nhiều, hay ăn chóng nhớn, đặt đâu cứ ngồi đực ra chẳng quấy vòi bao giờ, còn em Chín cứ như con chích chòe, nói don dỏn mà chẳng biết đi.
Nhà tôi như thế cũng đông người đấy chứ, thế mà vẫn im ắng, im ắng như cái góc thành đá vắng ngắt này vậy. Càng im ắng hơn là những trưa hè cha tôi nằm ngủ, cô bé ngồi quạt, anh Cẩn thì ra hóng mát ngoài cổng thành. Cả nhà trải chiếu xuống đất nằm uể oải như người ốm dở, chỉ nghe tiếng luồng, nứa nổ trên mái nhà lách tách rợn cả người. Ván dựng quanh nhà cong veo lên, thỉnh thoảng cơn gió nóng bỏng từ đâu thổi về ào ào cuốn theo đất, cát phủ đầy mặt mũi.
Ở trong căn nhà nóng bức ấy lúc nào chúng tôi cũng nghĩ đến quê. Cái khu nhà hình chữ môn ấy ở giữa một mảnh vườn nào cam, nào hoa, nào những cây chanh, cây bưởi, mùa nào cũng có hương thơm, cũng có bóng mát, nhất là mùa nực dẫm lên mặt đất pha cát của vườn nhà tôi cứ êm như ru.
      Cái vườn cam thì thật là tuyệt. Một vườn toàn cam, cam chanh, cam đường lúc nào cũng xanh rờn, mùa hoa thì đầy hoa trắng, mùa quả thì quả chín lúc lửu, những năm ở nhà với ông tôi (cái năm mẹ tôi đẻ em Chín ấy) chẳng lúc nào tôi không ở ngoài vườn với ông
      - Ông ơi sao ông lại cuốc cây cam?
   - Ông xới đất cho nó tốt.
   - Ông ơi con chim mổ hoa của ông.
   - Nó bắt sâu đấy, sâu cắn hoa của ông.
Tôi đứng yên một lát nhìn cái lưng trần đen trũi của ông:
         - Ông ơi sao lưng ông đen thế?
         - Ông cởi trần nên nó ăn nắng.
Tôi chịu không hiểu được, sao cái lưng lại ăn được nắng và đưa mắt dõi theo tia nắng đang thấp thoáng đu đưa trên lưng ông tôi.
         - Ông ơi cháu mỏi chân rồi.
         - Vào nhà chơi với mẹ đi!
         - Không, ông vào với cháu kia.
Ông tôi dừng cuốc đi tìm một viên gạch đặt dưới một gốc cam to dỗ dành tôi.
         - Cháu ngồi đây cho khỏi mỏi chân nhé! Ngồi đây xem ông làm, ông vun cho cây cam này, ngày sau nó có quả ông cho một quả thật to bằng này này.
      Tôi vui thích nhìn ông bụm hai bàn tay và nghĩ đến quả cam vàng ối, bèn bằng lòng ngồi xuống viên gạch, lúi húi lấy đất đắp lên mu bàn chân, khi rút chân ra để lại cái hốc như cái mà cua, nhặt những hoa cam rụng đem về xếp chặt cái hang nhỏ xíu ấy. Xếp hoa chán lại đi tìm vỏ ngao, vỏ hến bốc đất in thành bánh, bày la liệt. Mải mê chơi tôi quên không để ý đến ông tôi đang lần theo những gốc cam xới cỏ xa dần. Khi ông quay lại thì quần áo tôi đã bê bết đất.
          - Thôi lấm hết cả áo đẹp rồi, đứng lên ông đi tắm cho nào!
Ông cúi xuống luồn tay vào nách nâng bổng tôi lên, cụi cái miệng đầy những sợi râu bạc lốm đốm quết trầu vào má tôi mà nựng nịu:
         - Cháu ông, cháu yêu, cháu quí của ông.
Tôi ngọ nguậy trong tay ông tôi như con sâu đo:
         - Ối ông cầm cháu đau quá!
         - Không đau, ông ẵm thì đau sao được.
Bàn tay ông tôi tuy to cứng, nhưng khi bế ẵm tôi lại rất khéo léo, nhẹ nhàng. Tôi kêu để làm nũng ông thôi. Tôi rúc rích cười, vòng tay ôm chặt cái cổ to bè đẫm mồ hôi của ông.
         - Ông ẵm cháu đi nhá!
      Tôi thích những chiều hè đi tắm với ông. Tuy hơi sợ, khi kỳ cọ cho tôi sạch rồi ông liền bảo: “Nào! Cháu nhắm mắt lại ông dội cho”. Tôi xòe hai bàn tay nhỏ xíu bịt chặt hai tai, nhắm nghiền mắt lại, nhưng vẫn không khỏi thét lên khi gầu nước chảy xối xả mát rượi trên đầu.
     Suốt mùa hè, lúc nào tôi cũng chỉ thấy ông cởi trần, đóng khố, chiều nào cũng tắm giặt. Tối hay trưa ông đều nằm ở cái võng gai mắc ở ngoài hè giống như căn nhà ngột ngạt chẳng vừa ý ông. Đêm hè, ông nằm trên võng còn hai chị em chúng tôi và mấy đứa con nhà chú tôi kéo sang nằm la liệt trên những phiến đá lát hè nhẵn bóng mà ông đã gánh nước kỳ cọ từ chiều. Đôi lần ông cho tôi nằm võng với ông. Chị Hảo và bọn trẻ thường ghen tỵ với sự biệt đãi ấy nên hay châm chọc kéo dài giọng gọi tôi là “cháu ông”. Tôi lại thích được gọi như thế. Tôi biết ông tôi quý tôi nhất nên thường vòi vĩnh ông hơn trẻ khác. Mỗi lần có việc làng, việc họ ông tôi đi về bao giờ cũng lấy phần cho tôi một nắm xôi nho nhỏ đùm trong lá chuối. Mới về đến cửa ông tôi đã vội vã cởi áo vắt vào giây, quay ra ngồi vào võng rồi vừa kéo cái khăn vắt vai lau mồ hôi, vừa gọi tôi:
         - Tám, Tám cháu ông đâu.
Tôi chạy xà lại, đứng lọt thỏm giữa đôi chân to khỏe của ông, khoác hai cánh tay lên đùi ông mà rờ nắn những bắp thịt rắn chắc ở chân tay ông mà thỏ thẻ:
        - Sao thịt ông cứng thế?
        - Ông già nên nó cứng.
        - Cháu bẹo ông có đau không?
        - Không.
Tôi cười như nắc nẻ túm lấy đùi ông tôi:
        - Cháu bẹo nhé!
        - Tha hồ cho cháu bẹo.
Tôi đứng hàng giờ như vậy vừa rủ rỉ, chuyện trò với ông, vừa ngắm nghía những ngón tay to ngắn nhào nặn cục xôi dẻo quẹo. Khi cục xôi đã thành một cục bột dẻo quánh, đen sì, ông vê nó thành một cái vòng to tướng đeo vào cổ tay tôi.
         -  Cho cháu chơi đấy, bao giờ muốn ăn thì ăn.
      Tôi không ăn cái vòng ấy, vì nom nó bẩn quá, nhưng vẫn thích được ông đeo cho.
Cùng ở trong căn nhà gỗ năm gian với ông là bà tôi. Khác hẳn với ông, bà bé nhỏ loắt choắt như con chuột nhắt. Còn kém tuổi ông nhưng tóc bà đã bạc phơ, hai hàm răng rụng hết, khiến cặp môi mỏng cứ lõm vào, làm cho cái miệng trở thành một cái hốc đỏ lòm xấu xí. Suốt ngày bà tôi ở trong buồng, hình như bà đau ốm quanh năm,  lúc nào cũng phải uống thuốc tễ hoặc rượu ngâm thuốc. Họa hoằn lắm bà tôi mới ra hè ngồi, cởi áo rũ cho bụi bay mù lên, ghé cái lưng nhỏ như cái chày hành, gồ ghề từng đốt xương sống ra bảo chúng tôi:
         -  Cào cho bà một cái, ngứa lắm!
Tôi dè dặt cào lên lớp da khô cứng như vảy cá, để lại trên làn da khô cứng ấy những vết móng tay bật trắng như vết xước mèo cào. Tôi tránh ngồi trước mặt bà tôi, vì từ cái miệng móm mém đỏ lòm kia hay phả ra một mùi khó chịu, một thứ mùi ruợu lẫn với thịt cá, rớt rãi, buồn nôn lên được. Và tránh cả cặp mắt bà tôi, nó nhỏ tí như chìm vào hai cái hốc tối om dưới đôi lông mày bạc phếch, nó hau háu dòm dỏ mọi nơi như rình ai. Cả con người bà tôi gộp lại thành một cái gì khiến tôi cứ rờn rợn. Bà tôi đẩy cái áo lụa nâu bám đầy những vẩy trắng đến trước mặt chúng tôi:
        -  Xem hộ bà, có con rận nào không?
      Chị Hảo miễn cưỡng cầm lấy cái áo, lần các đường khâu, thỉnh thoảng bắt gặp một chú rận kềnh. Chị luống cuống ghé cái áo xuống hè, hẩy cho chú rận lăn ra. Bà tôi bật cười:
           - Cháu sợ à? Hay gớm? Úi chà! rận của bà đã thấm vào đâu với rận của ông ngày xưa. Cái ngày ông đi lấy xác ông chú ở Huế, ba bốn tháng mới về, chấy rận nhung nhúc, chấy nhiều đến nỗi bò cả xuống râu còn rận thì bắt không xuể, phải trải cái áo xuống hè này, lấy gáo dừa cà đi cà lại nó kêu rum rúm như ta rang nổ.
    Tôi không tin như thế, tôi chỉ thấy ông tôi sạch ly sạch lai, chả có chấy rận bao giờ.
      Tuy vậy, chúng tôi vẫn tò mò thích nghe bà tôi kể lại về ông và không ngừng hỏi vặn:
           - Tại sao ông chú lại chết tận Huế? Huế ở mãi đâu?
      Theo bà tôi kể, ngày xưa đàn ông phải đi lính thú, mà lính thú phải đóng đồn ở trong rừng ma thiêng nước độc. Ông tôi trốn được, còn ông chú bị bắt đi, phải vào mãi tận cái đồn trong rừng sâu của Huế. Ông chú ốm chết trong rừng. Hàng mấy năm sau, có người làng cùng đi, được về, báo tin mới biết. Thương em bỏ xương nơi đất khách quê người, ông tôi rang một đấu gạo, cưa một ông bương to đựng nước cùng ít tiền bạc vào Huế mang xác em về. Không có giấy phép của quan, ông phải luồn rừng lội suối mà đi. Tìm được mả, ông gói xương vào chiếc chiếu, cắp nách mà về, đi đến đâu hết lương ăn phải dấu gói xương, mò xuống làng bản mua gạo rang lên, bỏ vào tay nải tiếp tục đi tiếp, ba bốn tháng mới về đến nhà. Ông tôi to khỏe là thế mà cũng chỉ còn như bộ xương, râu tóc đầy chấy rận.
    Bà tôi còn kể ngày xưa ông khỏe như trâu mộng, làm suốt ngày không nghỉ tay. Ông cố, bà cố đẻ ra bà tôi gọi gả bà tôi cho người con trai mồ côi cả cha cả mẹ, không cửa không nhà ấy. Vì đi làm thuê suốt năm, hay bị bọn người chủ thuê ức hiếp, ông tức chí, đi ở với một ông thầy dạy võ để học các môn võ nghệ. Ông đã thi đỗ đến tam trường, đỗ rồi ông lại quay về làm ruộng. Ông không thích làm quan võ, vì “quan văn tam phẩm là sang, quan võ tứ phẩm còn mang gươm hầu”. Về làng, ông có võ, không ai dám nạt nộ nữa nhưng vì không có chữ, ông vẫn bị dòng họ Trần có con chỉ học đến tú tài coi khinh, nên về sau ông đã cố chí cho cha tôi đi học. Cha tôi cũng thông minh, được ông thầy yêu quí nên mấy năm trời ông bà chẳng quản phải gánh đi hàng mấy chục gánh gạo để cha tôi theo hết ông cử này đến ông bảng khác. Có thế cha tôi mới đỗ cái cử nhân Nam triều, cái khoa thi cuối cùng còn lấy cử nhân chữ Hán. Bây giờ thì người ta bỏ thi chữ Hán rồi, nhưng cha tôi đã được ra làm quan và ông bà tôi được cả làng gọi là “quan cụ”. Thế là cái họ Trần kia không thể chiếm ngôi tiên chỉ của làng mãi nữa. Ngôi tiên chỉ đã về tay cha tôi.
    Tức với thiên hạ, ông tôi nuôi dạy con ăn học, thế thôi, chứ từ ngày cha tôi đi làm quan, ông bà vẫn chỉ ở nhà quê cày cấy, ông vẫn siêng và khỏe nhất làng. Từ năm sào ruộng bà cố đẻ ra bà tôi cho, gọi là trả cái công mười năm ở rể ấy, ông bà đã gom góp tậu thêm  gấp mười lần. Cái nhà gỗ năm gian này cũng do ông làm, chỉ có cái nhà Tây trên kia là mẹ tôi đã bán ngôi nhà hàng dưới phố về xây cất vào cái năm đẻ tôi. Cái nhà cao năm bậc thay cho bậc tam cấp ấy, ông bà tôi không thích ở nên vẫn chỉ ở cái nhà năm gian có cửa bức bàn.
    Còn bà tôi, cái số sung sướng, lấy ông, bà chỉ phải lo cơm nước cho ông thôi. Bà yếu, làm chẳng thà để ông làm rốn. Ông chiều và quý bà lắm, nhưng bà phải cái tật có máu mê hát ghẹo. Bà trốn ông đi hát ghẹo quên cả nấu cơm, khiến nhiều lần ông nổi cơn ghen đánh bà đến thành tật, rồi ông lại thuốc thang nuôi nấng. Vì cái trận đòn ghen ấy, nên bây giờ bà còm nhom và đau mình đau mẩy, cứ phải uống rượu ngâm thuốc quanh năm.
    Nói đến ông tôi thì còn vô vàn cái để cho tôi nhớ. Bởi vì mẹ tôi nói rằng ông tôi yêu quý tôi từ lúc tôi còn ẵm ngửa. Hồi ầy, cái nhà Tây kia còn đang tu sửa chưa xong, mẹ tôi cứ phải ra trông nom mọi việc của người làm, thỉnh thoảng bỏ tôi khóc lè nhè đòi bú, mới khóc một tí ông tôi đã nài nỉ...
         - Mợ, mợ vào cho cháu bú tí đã... Để nó khóc mãi.
      Thế là đang giở việc gì mẹ tôi cũng phải bỏ vào cho tôi bú. Là cháu gái nhưng tôi được ông tôi ẵm bế suốt ngày khiến u già chỉ phải chạy theo quạt quạt vào cái lưng trần đen thủi. Ông tôi yêu tôi thế, lẽ nào tôi chẳng nhớ ông, cả đến năm ngoái về ăn tết, ông vẫn ôm chầm lấy mà nâng lên, mà tôi còn bé bỏng gì, tôi đã có em Chín rồi chứ. Về với ông là tôi quên cả làm bộ người lớn, lại bám ông lẳng nhẳng, không phải chỉ ngoài vườn mà cả ngày rằm mùng một, ông hái hoa ra chùa lễ Phật.
      Vườn nhà tôi lúc nào cũng đầy hoa. Ông chọn cắt một đĩa hoa đẹp nhất, những bông hồng và mẫu đơn đỏ thắm, chen cả những búp ngọc lan thơm thoang thoảng. Tôi sung sướng bưng đĩa hoa ấy theo ông ra chùa. Tôi còn nhớ cây Đại sần sùi ngả dài bên cái gác chuông cao cao và tiếng chuông ngân nga trong bầu không khí yên vắng, trong sạch của buổi sáng tinh sương. Tôi đứng nép vào bên ông, ngước mắt nhìn bà Phật Quan Âm với những nét son tô thắm.
    Trên đường từ nhà tôi ra chùa còn qua một cái điếm canh. Điếm xây gạch lợp ngói, có những bệ cao hai bên để cho tuần phu nằm đêm, canh gác. Đánh ô trên cái bệ gạch ấy thật là tuyệt. Gió từ ngoài đồng lồng lộng thổi về sáng, trưa, chiều lúc nào cũng mát, mùa gặt người nghỉ dưới gốc gạo trước điếm rất đông. Bên cái điếm canh lại có một ngôi nhà bé tí tẹo. Nó bé như cái chuồng lợn nhà tôi, hai mái úp sát đất, muốn vào cứ phải cúi lom khom, thế mà ông tôi hay cúi nhòm vào đấy hoặc vào hút một điếu thuốc lào khi đứng hóng mát buổi chiều thèm thuốc. Chủ cái nhà tí tẹo ấy là bác Vĩnh, ông tôi bảo bác là một người có họ thuộc cành trên, gọi ông tôi là chú. Nhưng trừ ông tôi, chẳng ai bảo là bác Vĩnh ấy có họ với mình. Bác là thằng mõ của làng, chú tôi vẫn gọi bác bằng cái tiếng trống không “mõ”. Khi có việc gì, bác lê cái vóc người cao lớn nhưng gầy rộc ấy đi khắp làng với chiếc mõ gốc tre cầm trong tay:
            -Cốc... cốc.... ơ làng thượng hạ, có trát quan xức về...
      Cái giọng khàn khàn ấy cố rướn lên nhưng chẳng biết có ai nghe không. Nhà bác bé như thế mà lại đông người, một lũ con bảy đứa toàn con trai, ai cũng buồn cười: sao đói mà vẫn khỏe đẻ thế, mà cũng tại khỏe đẻ thế nên vẫn cứ đói. Mấy đứa con cao tồng ngồng gầy đét như mắm, lớn thế mà chúng chẳng mặc quần, cái hôm đầu thấy chúng, tôi xấu hổ rúc vào áo ông tôi.
            -Êu êu... xấu hổ, lớn thế mà cởi truồng. Nhưng chúng không biết xấu hổ, chúng đường hoàng đứng phơi hàng dãy dưới gốc gạo. Ông tôi bảo: chúng nó không có quần, tại sao mẹ chúng không may cho chúng nhỉ? Điều ấy hơi khó hiểu cho tôi.
      Mỗi lần gặp ông tôi, bác Vĩnh chắp hai tay lúng túng:
        -  Lạy quan cụ ạ!
      Ông tôi gật gật đầu hỏi lại:
        - Có kiếm được gì không?
        - Dạ, hôm nay con đi xe củi...
      Bác hay đi làm phu bốc vác dưới ga, dưới phố và làm thuê bất cứ việc gì có người thuê. Có lẽ ông tôi ngày xưa cũng đi làm thuê như thế,  nhưng bác Vĩnh lại có cái tội uống rượu. Nhiều hôm vui bạn hớp một hớp cho đỡ mệt và cái hơi rượu cay nồng ấy khiến bác thấy dễ chịu khi nghĩ đến cái túng đói cứ bám lấy bác suốt đời. Bác không định uống đâu, chỗ tiền công ngày hôm nay mới đủ cả nhà ăn cháo nhưng những người cùng làm cứ hay lôi kéo bác: “Tội đếch gì, làm một tợp thôi...” và khi một tợp đã nhấp vào môi thì cái túi tiền dể tuột mất hết. Đấy là cũng họa hoằn thôi, còn bác vẫn cố tránh cái hàng rượu ấy để đem tiền về nhà. Nhưng tiền về đến nhà vẫn lại tuột đi... Làm thằng mõ để được miễn phu, phen, tạp dịch, miễn suất sưu, thế thôi chứ thằng mõ cũng chẳng được làng chi cho đồng công nào. Nhưng đã là thằng mõ thì ngay cả đứa trẻ con cũng có thể trêu chọc gọi “mõ” trống không như các thầy Hương, thầy Lý vẫn gọi, nhưng bác cần gì xấu hổ, cũng như các con bác không biết xấu hổ cứ việc cởi truồng.
     Ông tôi vẫn coi bác là người còn sót lại của cành trên cái họ Nguyễn nên vẫn dấu bà tôi cho quan tiền bát gạo mỗi lúc nhà bác cơ cực quá đỗi. Nhưng bà tôi và các chị, nhất là chị Bích Xuân vẫn dài mỏ mà kêu: - cái con mẹ mõ là chúa chầy nợ. Bác Vĩnh vẫn phải chắp tay thưa gửi với chị Bích Xuân một cô, hai cô để khất nợ.
      Nói đến chị Bích Xuân thì tôi lại ngại lên đến tận cổ. Người đâu mà khó đăm đăm, ngồi ăn một bữa cơm chị cứ gườm gườm, hạch chị Hảo luôn mồm: Nào chấm rau làm rớt cả nước mắm, nào có gì ngon thì cứ ăn xoi xói, nào đưa bát xin cơm đúng vào lúc chị ấy đang ăn. Sao mà chị ấy tìm được lắm chuyện để hạch thế, lúc nào cũng bĩu môi, cũng ngấm nguýt, có gì thì dấu dấu, giếm giếm đến là hay Chị ở với bà, được bà yêu cho vốn riêng, mấy năm nay lại ở nhà rẽ lúa cho ông bà tôi, tha hồ bớt xén, chị lại cho vay lãi, lắm vốn riêng, chị sắm sủa và thường mở ra ngắm nghía một mình. Hôm chị đang mở cái hộp đo đỏ, đựng những hoa hột ra ngắm, tôi vào, biết chị hay giấu nên tôi chạy lại reo lên:
            - Ơ, chị lắm thứ đẹp quá!
      Chị vội vơ lấy giấu vào gối và dài ngay môi ra:
           - Đồ rình trộm.
      Tôi không thèm rình trộm, thế là từ đấy tôi không thèm bén mảng đến buồng của hai chị nữa. Chị không ưa chúng tôi và ngay cả chị Tường Vân, chị cũng chẳng thân thiết gì. Chị Tường Vân còn hiền hơn một chút. Chị còn cười nói với chúng tôi vài ba lần. Tội cái là nói chuyện với chúng tôi thì chị Bích Xuân lại đay nghiến nên chị Tường Vân cũng không dám chơi đùa với chúng tôi nữa. Cái hồi mẹ tôi đưa chị Tường Vân vào Vinh ở hai tháng, lúc về chị Bích Xuân cứ nhiếc: “con mợ”. Con mợ thì làm sao... mà chị Tường Vân đâm sợ.
      Điều này u già đã giải thích cho tôi hiểu rằng: mẹ tôi chỉ là mẹ kế. Quê ngoại của mẹ tôi ở tận Bát tràng, từ đòi ông bà ngoại đã vào làm ăn ở cái tỉnh Thanh rộng lớn này. Ông ngoại tôi là học trò nghèo đã từng đi đếm tiền thuê cho các cửa hàng, ông cố chí học hành nên đã thi đỗ, làm quan huyện ở huyện Hậu lộc trong tỉnh, mẹ tôi là con bà hai nhưng bà hai  lại là chị ruột của bà cả (ông ngoại tôi đã lấy cả hai chị em). Mới 16 tuổi mẹ tôi xinh đẹp đảm đang, đã có một cậu Tú tài dạm hỏi, nhưng  vì trong nhà gập vận đen Bà cả mất chưa đoạn tang thì đến người con dâu thứ hai cũng bị bạo bệnh mất theo. Được một năm ông tôi cũng mất, rồi tiếp ông anh thứ ba cũng mất, sau cùng là bà ngoại tôi. Năm cái tang liên tục khiến cậu Tú tài không chờ đợi được phải xin từ hôn đi lấy vợ. Khi ấy mẹ tôi đã gần ba mươi tuổi cũng may mà bà ngoại tôi trong thời gian ông tôi mất gia đình đông con đã xoay sở mở được cái cửa hàng bánh khảo giữa thị xã Thanh hóa. Khi bà mất mẹ tôi nghiễm nhiên thành cô chủ cửa hàng, vốn liêng có dư nhưng đã là gái lỡ thì. Ông trời sui khiến ra sao cha tôi cũng vừa góa vợ, đang giữ chức Hậu bổ, một ông Huyện tương lai nên mặc dù đã có tới sáu đứa con cùng người vợ trước ông vẫn lọt mắt xanh của cô gái lỡ thì. Thế là mẹ tôi trở thành bà mẹ kế của sáu đứa con chồng
      Đấy là những chuyện lôi thôi về trước ,còn bây giờ tôi chỉ biết ba chị lớn đã lấy chồng anh thứ tư dang đi học còn hai chị ở quê với ông bà nội chúng tôi. Các chị tôi đều xinh đẹp và mang những cái tên cũng xinh đẹp Tuyết Nhung, Hải Đường, Ngọc lan, Tường Vân và Bích Xuân. Đấy là những cái tên do các chị tự đặt. Còn bà tôi vẫn quen gọi bằng những cái tên cũ kỹ là con Rô, con Riếc, con Tép, con Bống, con Lươn. Các chị rất bực với bà nhưng biết làm sao, khi những cái tên mới kia khó nhớ quá. Chị gái đầu lòng của mẹ tôi cũng có một cái tên rrất đẹp là Tố Hảo. Chỉ mình tôi phải chịu cái tên xấu xí là con Tám bởi sau chị Hảo mẹ tôi đẻ tiếp một cậu con trai rất kháu nhưng chỉ mới bảy tháng đã qua đời vì bị ho nghẹn thở. Đến ngày sinh tôi bà thấy diện mạo y hệt đứa con đã mất, bà lo sợ mới không đặt tên chỉ gọi theo thứ tự là con Tám, rồi đến em Chín, mà vẫn chưa sinh được một đứa con trai. Mẹ tôi buồn lắm .
      Không hiểu sao chúng tôi không sao yêu nổi các chị.  Các chị cũng chẳng yêu gì nhau đâu. Cái hôm đang ngồi bắt chấy cho bà tôi ấy, chị Hảo đang nài bà tôi kể chuyện ông, thì chị Bích Xuân ở đâu đâm sầm đến khóc hu hu. Bà tôi chưa kịp hỏi đầu đuôi thì chị Tường Vân cũng chạy bổ đến, chị cầm cái áo dài sa tanh đen ném ngay trước mặt bà tôi hầm hầm:
          -Nói cho mà biết, chừa cái thói diện... Chị cúi nhặt cái áo rồi giơ lên, vạt sau bị rách một tý bằng hạt ngô.chị tiếp tục đay nghiến:
         - Thế này thì còn mặc gì nữa! Giời ơi là giời, khổ thân tôi, thế là mất toi năm đồng bạc.
         - Nó rách tự bao giờ kia chứ, thế mới thật là thâm. Tôi biết thế tôi thèm vào mà mượn. Chị Bích Xuân cãi lại, khiến chị Tường Vân tru tréo lên:
         - Rách bao giờ? Điêu vừa chứ! Sáng qua tao là còn mới nguyên, mày lấy mày mặc, thà tao đã mặc năm bảy lần gì cho cam, mới mặc mỗi hai lần nó lấy nó diện, nó làm ra thế này đây giời đất ơi.
      Chị khóc và lại vò cái áo ném ra sân, thế là bà tôi la lối lên, mắng chị Tường Vân là hỗn, dám ném vào mặt bà tôi... cứ ầm cả lên. Chúng tôi cứ ngớ mặt ra mà nhìn không hiểu, tí áo rách có gì mà hệ trọng đến mức ấy. Giá cha tôi ở nhà thì chỉ mấy roi là xong tuốt. Các chị cũng như tôi thôi, trước mặt cha tôi đố mà có dám ho he.
      Nhưng các chị làm sao mặc các chị, về với ông thì vẫn vui nhất đời, năm nào chúng tôi cũng được về với ông trong dịp Tết và hè. Mùa hè ở cái thị xã Vinh này thì khổ hết chỗ nói, mẹ tôi chẳng khỏe lắm nên năm nào cứ đến mùa hè là cha tôi lại dục mẹ tôi cho chúng tôi về với ông để tránh ngọn gió Lào nóng bỏng và cũng là một dịp để mẹ tôi giải quyết các việc nhà. Đong lúa hoặc đậu lạc, vụ này có nhiều cái mẹ tôi mua vào để cuối vụ bán ra và còn đóng thuế, kiểm tra lại mọi việc làm ăn của các chị tôi. Vụ tháng mười thì mẹ tôi ở lại Vinh để bổ cau, cau Vinh nhiều và rẻ hơn ở Thanh Hóa, bổ hàng mấy chùm rồi đem về bán cất, mà còn mua thêm cau ở cửa hiệu nữa, cất một chuyến hàng có thể thu lãi bằng cả vụ lúa, có thế mới đủ ăn tiêu chứ. Lương của cha tôi tuy nhiều nhưng kẻ ăn người ở, khách khứa tiêu pha tốn kém, sao cho đủ.
           - Mợ ơi, bao giờ thì về ông? - Đầu mùa hè là chúng tôi bắt đầu hỏi mẹ tôi. Bà hẹn rồi bà khất, có lúc bà gắt lên:
          - Còn lâu, về thì ăn gì mà cứ thúc như thúc nợ. Chúng tôi tiu nghỉu và cảm thấy cái mùa hè ở đây nóng bức bội phần, cho đến một buổi, chị Hảo kéo tôi vào buồng hớn hở:
          - Sắp được về ông rồi!
          - Mợ bảo hả?
      Chị nháy mắt chỉ những cái sọt để ngổn ngang. A! phải rồi, sọt để đóng cam, thế là mẹ tôi sắp về, lần nào về mà mẹ tôi chẳng mang theo những sọt cam, có thế mà tôi chẳng nghĩ ra. Chúng tôi muốn reo lên nhưng không dám reo mà chỉ kéo nhau ra xó hè thì thào, những dự định sẽ được hưởng, được làm trong dịp về với ông. Đem gì về cho ông được? Ông chỉ hay ăn trầu nhưng cau thì ở nhà hàng hai chục cây ông bổ đến hàng chum quả, ông thiếu gì, cam rồi cau, rồi hoa... Cái gì ông cũng có nhiều, còn quà bánh mẹ tôi sẽ mua và tôi chỉ việc bưng chạy lật đật, để vào lòng ông:
         - Cháu biếu ông.
      Ông cười rồi cầm lấy nhưng ông không ăn, ông để dành thỉnh thoảng lại chia cho tôi, cho các cháu con chú tôi, con các cô trong làng. Chúng tôi thì thào bàn tính, tranh cãi nhau về cái ngày về ấy và như mở cờ trong bụng. Các sọt cam đã được đóng gói cẩn thận bằng nhiều lớp lá chuối khô, mẹ tôi đã sắp xếp quần áo, còn chờ anh Cẩn ra xem giờ tàu đi chuyến nào cho tiện. Chỉ ngày mai, con tàu sẽ huýt một hồi còi dài, thế rồi rình...rình...rình... chỉ một ngày là chúng tôi đã ở bên ông.
Sao mà cứ như có kiến bò ở chân, tôi và chị Hảo, không đứng yên một chỗ được, khiến mẹ tôi bật cười:
           - Hai cái đứa... cứ như được của ấy!
      Ồ! Chúng tôi sắp được cái quý hơn của nhiều.
      Buổi cơm chiều cha tôi bỗng dội một gáo nước lạnh vào lòng náo nức của tôi:
          - Mợ à, hè này mợ không về được.
          - ... ?
          -  Tôi được đi quyền tri huyện Quỳnh Anh.
          - Được bổ tri huyện à?
      Mẹ tôi ngửng phắt lên không dấu được vẻ vui mừng. Trái với vẻ ngạc nhiên vui mừng của mẹ tôi, cha tôi lừ đừ chậm rãi như có điều gì suy nghĩ. Ông tựa tay vào cái gối xếp để bên cạnh phản, ông mới năm mươi nhưng đã có dáng nặng nhọc của một người già quá béo, cặp mắt hai mí luôn nhăn díu lại vì bị cận thị quá nặng:
          - Chỉ mới quyền thôi, mà nơi ấy nghe đâu cũng không dễ làm việc đâu.
      Câu nói ấy như cây gậy giáng vào đầu mẹ tôi. Bà hốt hoảng kêu lên dù tiếng kêu rất khẽ:
           - Cộng sản?!... Đừng...
      Cộng sản là cái gì mà mọi người khiếp sợ thế? Tôi nhớ có một lần đã nghe đến cái tiếng ấy, cái hôm cả nhà tôi im lặng nhớn nhác thì thào và bảo nhau ở yên trong nhà y như sắp có một việc gì thật là khủng khiếp đang xảy ra. Mấy hôm sau vẫn chẳng thấy có gì lạ lùng hết. Anh Cẩn vẫn đi học như thường, cái hôm ấy cách đây độ dăm bảy tháng gì đó, chúng tôi để ý làm gì. Hôm ấy cả u già cũng thì thào với cô bé hai tiếng “cộng sản”, bây giờ mẹ tôi lại nói đến với bộ điệu sợ hãi thế kia nhưng cha tôi vẫn ngồi yên, ông không có gì là thảng thốt:
          - Trên người ta bổ dụng, chứ có phải quyền mình đâu. Như thế là mợ không về Thanh được mà phải ở lại thu xếp nhà cửa, tôi đi trước xem tình hình ra sao, nếu yên yên, tôi cho người về đón mẹ con vào, hoặc có gì gay go lắm thì mẹ con tạm về quê ít lâu cũng được. Cha tôi ngẫm nghĩ rồi nói tiếp: - Cũng chẳng có gì đâu, dạo này cũng yên rồi.
Đến tối mẹ tôi đã bàn với cha tôi những công việc cụ thể, bà vốn là người tháo vát mà, giờ thì chỗ cam tôi đã trót mua đóng gói rồi, tôi sẽ gửi tầu ra Thanh cho chị Giáo, nhờ chị ấy liệu bán buôn lại cho các cửa hiệu. Vài bát họ đang dở dang ở đây sẽ nhường lại cho bà Thương, bà Chánh, mình chịu thiệt một tí là các bà ấy nhận ngay thôi. Chỉ còn chuyện học hành của thằng Cẩn, ông định ra sao. Tôi thì định nếu tôi đi sớm thì giữ nó ở nhà bà Thương đây ít hôm, thi xong nó về nghỉ hè ở nhà quê với ông bà, nhân tiện xem cái việc làm trích lục địa bạ đã nhờ chú làm giúp ấy ra sao rồi. Hết hè thì nhờ bác Chính ở Hà Nội xin vào trường Bưởi, nó sẽ ăn ở luôn ở nhà bác Chính, thằng con bác ấy cũng đang học trường Bưởi. Nó ở đấy học càng tốt, là người nhà ông ấy sẽ giúp mình kèm cặp nó. Tôi sẽ viết thơ nói trước với bác ấy.
      Cha tôi ngồi im, bao giờ mẹ tôi cũng bàn mọi việc rất rõ ràng, còn cha tôi thì ngồi im ngẫm nghĩ chán rồi y như đồng ý. Tới lúc cô Bé xách ấm nước lên pha vào tích ông mới nhỏm dậy:
           - Như thế cũng được, tùy mợ thấy làm sao cho tiện thì làm.
      Mẹ tôi nhìn cô Bé, cô đang xách cái ấm đi xuống bếp, cái dáng khỏe mạnh chắc nịch của cô khiến bà hơi cau mày:
          - Còn con bé sẽ đi luôn với ông để nó nấu nướng, giặt giũ cho, kẻo nơi xa lạ, nhưng ông phải để ý kẻo lính tráng lộn xộn.
          - Mợ khéo lo xa... nó dại gì.
 
Đăng nhập để trả lời
0
II
 
      Những ngày chờ đợi ở Vinh thật là buồn chán và sốt ruột. Anh Cẩn thi xong đã thu xếp về Thanh. Anh Thuận cũng đã về quê nghỉ hè, năm ngoái anh đã dạy chị Hảo học, nay đã biết đọc, còn tôi mới bắt đầu vài ba chữ vần trắc ac, ăc, âc. Không học chúng tôi không còn biết làm gì nữa.   
Mẹ tôi cũng kêu sốt ruột, hàng tháng nay mọi sự thu xếp nhà cửa đã xong, đồ đạc đã đóng gói sẵn sàng cả rồi, bà đã toan đưa bớt đồ đạc về quê, nhưng người trong Quỳnh Anh đã về đón.
Một anh thư lại còn trẻ, dáng người nhanh nhẹn, anh ta vốn người ở Vinh nên cha tôi nhờ về thuê hộ ô tô, đóng xếp xe hàng cho được đảm bảo. Chúng tôi có thể lên đường ngay được, nhưng vì chờ ô tô nên phải chậm lại một ngày. Viên thư lại ra vẻ  vội vàng vì cha tôi hẹn phải vào ngay.
Chiều tối hôm sau, một chiếc xe ôtô chở khách lớn đã đỗ ngay trước cửa. Viên thư lại nhảy xuống xoa tay:
           - Bẩm bà! Xe nom thế nhưng máy tốt lắm, chủ xe này tôi quen, rất bảo đảm. Bây giờ có thể cho xếp xe, quãng 3h sáng là chạy.
Đồ đạc cồng kềnh nhiều thứ dễ vỡ, mẹ tôi phải nhờ anh bếp bên bà Thương cùng người phụ xe sắp xếp, giằng buộc đến tối mới xong.
Trước lúc đi ngủ mẹ tôi mời người nha thuộc của cha tôi vào uống nước và tìm cách ướm hỏi:
          - Thầy thơ làm việc ở huyện ta lâu chưa?
          - Bẩm! Mới chừng 2 năm nay.
          - Vùng ta lâu nay có yên không?
Thầy thư lại mỉm một nụ cười hóm hỉnh trả lời lơ lửng:
          - Bẩm! Muốn yên thì cũng yên thôi ạ!
          - Sao tôi thấy nói quan tri trước bị... Mẹ tôi ngừng lại đưa mắt nhìn người giúp việc mới mẻ này không biết có nên hỏi thẳng ra không. Anh ta đã hiểu ý đỡ lời:
         - Bẩm có, bị họ đe dọa tý chút, nhưng quan lớn nhà ta là người hiểu biết.
Câu chuyện ngừng lại, mẹ tôi giục thầy thư lại đi nghỉ, kẻo mệt và bà đi làm nốt một việc sau cùng cho cuộc đi đường: nấu một nồi cơm to, nắm lại thành từng nắm mịn màng, cắt cái giò nạc mới mua kho mặn, xếp cả vào một cái làn to tướng, thức ăn trên con đường dài ít hàng quán, vừa đỡ tốn lại chắc dạ.
May sao hôm ấy lại mát trời chúng tôi lăn ra ngủ từ chập tối trên bộ phản còn gửi lại bà thương tá để sau này chuyển thẳng về quê, nhà cửa mở toang làm cho giấc ngủ càng say hơn. Đến lúc mẹ tôi đánh thức để ra xe, mắt tôi còn ríu lại, thập thững theo u già ra xe, khi được dúi vào một xó lại ôm lấy cái bọc màn mà ngủ luôn. Khi tôi mở bừng mắt, chung quanh tôi đã là một vùng xa lạ. Trời đã sáng tỏ sau dãy tre của một làng xa, mé bên phải đê một con sông . Không khí sớm mai ùa vào trong xe với làn gió vun vút. Tôi hớt hải nhìn quanh nhưng yên tâm ngay khi thấy đủ cả mẹ tôi, u già, chị Hảo, em Chín đều ngồi bên cạnh. Xe lắc thế mà tôi nằm yên, không biết gì cả. Thế là chúng tôi đã rời xa cái thành phố Vinh nóng bỏng rồi. Con Sâm con bà Thương đã nói chuyện một lần về chơi nhà chú huyện nó. Có nhà to, có lính hầu, phố huyện đông đúc có nhiều hàng quà, hàng xén rất vui, không biết cái huyện của cha tôi có giống thế không? Chắc thế nào cũng hơn cái góc thành đá của tỉnh Nghệ, nhưng chẳng thể bằng nhà ông được.
Tôi ngồi nghĩ vơ vẩn và gặm lát cơm nắm u già mới cắt đưa cho. Đường càng ngày càng xóc, xe cứ nhảy lên chồm chồm và kêu lên ầm ầm. làm tôi chẳng nói chuyện với chị Hảo được. Chỉ nhìn theo tay chị chỉ hết cái này đến cái khác vụt hiện, vụt mất hai bên đường. Ồ! Đi ôtô nhanh khiếp thật, nhìn vào hàng cây cứ thấy nó lao vun vút.
Quá trưa xe đã đến vùng giáp ranh, anh thư lại chỉ tay giới thiệu:
           - Bẩm bà đây đã đến địa giới huyện.
Một con đường đất đỏ quạch gồ ghề hơn, xa xa hai bên đường là những dải đồi thấp trơ trụi tiếp liền với những dãy núi xanh xanh xam xám. Mẹ tôi nhìn qua cửa xe với một vẻ kém vui.
         - Dân cư thưa quá nhỉ?
         - Bẩm! Ở gần huyện đông hơn.
Đoán chừng mối lo ngại của mẹ tôi viên thư lại nói tiếp:
         - Và có cả trại lính phố đỏ, lính này cũng chỉ mới về mấy tháng nay, chẳng là ở đây tỉnh giao làm mấy trạm tạm giam.
         - Sao?
         - Dạ bẩm! Chỉ là trại tạm giam cứu, không phải nhà lao đâu ạ.
         - Có đông người không? Mẹ tôi dè dặt hỏi với dáng lo ngại tăng dần:
         - Bẩm! Mới là trên giao làm trại chứ đã đưa người về đâu.
Mẹ tôi thở dài, cái địa vị bà huyện ở đây không làm bà phấn khởi như hôm mới nghe tin.
Xe đã qua một phố nhỏ có mươi lăm nhà ở và một quán thịt chó ở góc đường, vài đứa trẻ con nhếch nhác chạy ra chỉ trỏ ôtô. Cái phố huyện này trông cũng vắng vẻ gần bằng cái góc thành đá. Tôi ngẫm nghĩ như thế và đầu va đến cộp vào thành xe, khi xe rẽ vào một khúc đường thẳng vào cổng huyện. Có một cái nhà làm liền nóc thành một dảy dài, cách đường khá xa. Anh thơ lại nói:
           - Dãy nhà bên ngoài này là gia đình chúng con ở đấy... Trại lính ở đằng sau kia, còn nhà giam dự định làm gần đấy. Các tổng ở đây cũng khó điều phu lắm. Có cái nền đắp chưa xong.... Anh vươn người lại gần anh tài xế:
           - Cho xe quanh mé trái công đường vào thẳng sân trong nhé! Đấy đấy! Trước cái nhà trống kia! Dừng lại!
Chiếc xe hãm từ từ theo tay chỉ của viên thư lại và đỗ trên một cái sân rải sỏi cạnh dãy nhà cầu. Một dãy nhà trống như kiểu đình chợ, nối liền tư thất với công đường. Để quan huyện có thể từ tư thất ra công đường làm việc khỏi phải đi ra mưa gió. Hai anh lính lệ đang đứng thơ thẩn ở đấy, thấy chiếc xe đỗ thì reo lên:
          - A! Bà lớn đã vào,
 Hai anh cũng chạy lại chắp tay.
          - Bẩm bà lớn! Quan lớn trông mãi. Mẹ tôi ngơ ngác nhìn cánh cửa nhà trong đóng kín mít:
         - Không dám, quan lớn đang nghỉ trưa à?
         - Bẩm! quan lớn về tỉnh ạ.
         - Về bao giờ?
         - Bẩm! chiều qua.
Lông mày mẹ tôi nhíu lại:
         - Có ai ở nhà không?
         - Bẩm! có ạ. Cô huyện chúng con đang nghỉ trưa.
          - Cô nào? Mẹ tôi sẵng giọng hỏi làm anh lính ngơ ngác.
          - Bẩm! Cô... cô bé ạ
          - À! Gớm nhỉ. Cô bé đâu rồi?
Cánh cửa nhà trong kẹt mở. Cô Bé lật đật chạy ra. Đầu tóc quấn vội còn xòa xuống gáy.
           - Bẩm bà mới vào! Cô Bé khép nép chào và luống cuống nhìn xuống đôi dép da láng dưới chân.
          - Không dám, chị đang dở nghỉ trưa.
          - Dạ, con đang vá cái áo trong buồng.
          - Hừ, không ra mà đưa đồ đạc vào đi à, giày với dép.
Cô Bé đỏ mặt như xấu hổ với mọi người xung quanh nhưng vẫn phải vội vàng đi ra bê xách những rương hòm vào nhà. Trong lúc hai anh lính nhanh nhẹn trèo lên nóc ôtô  dõ đồ đạc đưa xuống
           - Bẩm bà đem tất cả những thứ này xuống chứ ạ?
           - Vâng nhờ các anh giúp cho một tay.
Mẹ tôi ngọt ngào nói với hai anh lính và thong thả bước vào nhà. Một ngày đầu của bà huyện cần phải cho đĩnh đạc.
          - Thầy thơ, anh tài vào nghỉ uống nước đã. Có nước uống không cô Bé? Cho tôi xin một chén.
Mẹ tôi nói với cô Bé cũng ngọt lịm, nhưng mặt cô đã tái xanh. Cô dở vào dở ra đã luống cuống. U già rút ngay trong bó chiếu một chiếc chiếu con, rải ra lối đi nhà cầu.đặt em Chín xuống
           - Nào cho cu cậu ngồi thoải mái một tí. Hai người lính chuyển chiếc rương to đến bên cạnh.
          - Rương gì mà nặng gớm. Anh nhìn theo mẹ tôi nháy mắt với u già.
          - Bà lớn tợn quá hề, mình nghĩ cô Bé là bà Hai.
          - Hai gì, con hầu đấy, ông bố nghiện ngập phải bán cả con.
          - Thì cũng là bà Hai.
          - Nhà quan khác, có như nhà quê chúng mình đâu. U già nói với anh lính ra vẻ thành thạo.
Tối hôm ấy cha tôi vẫn chưa về, mẹ tôi gọi cô Bé lên hỏi:
          - Ai cho mày ngủ trong buồng này?
           - Dạ con đang vá áo đấy chứ ạ!
Mẹ tôi hét:
          - Đừng bịt mắt tao!
          - Lạy bà con trót dại.
           - Ai cho mày đi dép?
Cô Bé khóc:
           - Bẩm! Có đôi dép cũ quan bảo lấy mà đi.
Nhanh như chớp mẹ tôi chồm dậy túm lấy tóc cô bé lôi lại gần, tay kia vớ cái kéo để sẵn trên giường:
          - Muốn làm bà phải không? - Tiếng mẹ tôi rít lên cùng lúc với tiếng xoẹt, lưỡi kéo đã cắt gọn một nắm tóc trên đầu cô Bé. Cô quỳ xuống lạy như tế sao:
          - Con lạy bà, con trót dại! Bà tha cho con, cô khóc lên rưng rức, nhưng mẹ tôi không tha. Chưa bao giờ tôi thấy mẹ tôi dữ tợn như thế. Bà túm chặt tóc cô Bé và ghìm xuống mép phản. Tôi thương cô Bé quá quên cả sợ hãi chạy sấn lại lăn vào túm tay mẹ tôi:
           - Mợ đừng!... Mợ đừng!
Tôi khóc ầm lên và cố móc tay mẹ tôi ra.
          - À cái con này, đi ra.
Mẹ tôi quát lên nhưng tôi vẫn lăn vào nằm chặn lên tay mẹ tôi. Ngày bé tôi vốn hiền nhưng đã hung lên thì không biết sợ đòn, mẹ tôi chẳng kể chuyện như thế là gì. Nên tôi cứ lăn vào không sợ. Cô Bé thừa cơ gỡ tóc trong tay mẹ tôi và chạy ra cửa.
            - Cha con mẹ mày... Liệu cuốn gói mà về với thằng bố mày... Đừng có giở trò.
Cô Bé chạy rồi tôi cũng bỏ tay mẹ tôi chạy vào một xó nhà đứng khóc. Lát sau mẹ tôi đi lại kéo tôi ôm vào lòng:
             - Sao con mẹ lại khóc?
            - Em sợ mợ lắm!
             - Thôi mẹ xin.
Bà đã nguôi cơn giận, âu yếm lau mặt cho tôi và bảo tôi lên giường đi ngủ. Hôm sau, cha tôi trên tỉnh về hỏi han chuyện đi đường. Chuyện tối qua không biết có ai nói lại với ông không, nhưng không thấy ông nói gì cả.
Cô Bé trốn ở nhà viên đội khố xanh. Đến chiều, u già ẵm em Chín và dắt tôi đi chơi rẽ vào gọi bảo cô:
            - Không về mà xin bà ấy đi chứ trốn ở đây mãi được à?
Cô Bé lại khóc:
           - Tôi sợ lắm!
           - Ai bảo, sợ cũng phải về, đồng đất nước người chạy đi đâu bây giờ.?
Xưa kia tôi chỉ sợ cha tôi. Từ ấy, tôi sợ cả mẹ tôi. Nhưng rồi chẳng xảy ra chuyện gì cả. Cô Bé khéo chải đầu lấp chỗ tóc bị cắt và hầu hạ cha mẹ tôi như cũ.
Cái háo hức được đến chỗ mới được phủ đầu bằng câu chuyện cô Bé khiến tôi mất cả vui. Ngôi nhà mới của cha tôi tuy to rộng nhưng tôi chẳng thích thú gì.
     Năm gian nhà làm theo kiểu cổ, mái rộng và thấp trông âm u như một ngôi đình, càng âm u hơn vì hai gian bên xây lồi ra che khuất cái nhà quá rộng. Tiếp đến, những ngưỡng cửa quá cao rất vướng và tối, ánh sáng khó lọt vào trong nếp nhà sâu thẳm ấy, bởi gian giữa lại nối mái với dãy nhà cầu, xế chiều đã phải thắp đèn treo, ánh đèn hắt lên những bức hoành phi, câu đối chữ vàng lấp lánh càng giống cái gian chính của một ngôi đình. Hàng cột lim lâu ngày bóng lộn lên, đen đen như ám đầy khói hương, làm tăng bầu không khí nặng nề.
Bữa ăn cũng nặng nề, Cô Bé không cùng ngồi ăn nữa. Các việc xới cơm, đứng quạt, sai bảo vặt đã có hai anh lính lệ và họ làm với một vẻ kính cẩn im lặng khiến cho bữa ăn trở nên buồn tẻ, nghiêm ngặt. Giá tôi cứ ngồi bên cha tôi như trong bữa ăn suốt ngày, thì tôi sẽ hóa thành cây cột lim im lìm, nặng nề kia mất. Nhưng may, tôi chỉ phải ngồi đấy trong hai bữa ăn, những lúc khác tôi có thể trốn hẳn trong buồng mẹ tôi. Căn buồng mé tây của ngôi nhà, có cửa sổ lớn đằng trước, đằng sau và cả một cửa nách ngay đầu hồi, khiến từ buồng chúng tôi có thể ra ngoài vườn chơi không cần qua nhà ngoài. Sáng sớm chúng tôi mở tung cửa sổ, trèo lên bậu cửa có thể nhìn thấy khu vườn Văn Miếu bên kia, trưa và chiều có thể chạy chơi trên lối đi rải sỏi quanh nhà, hai bên lối đi có nhiều bóng cây to mát, rồi dần dà mò sang khu vườn Văn Miếu. Ở lâu chúng tôi khám phá dần ra những lối đi, lãng xa ngôi nhà u ám, nặng nề.
     Vườn Văn Miếu cũng chẳng có gì lạ, một cái bệ đá lộ thiên thờ đức Khổng Tử và một ngôi nhà ba gian lợp ngói bỏ trống, như cái nhà cầu, chẳng mấy khi có người vào đây, nên rêu mọc xanh cả quanh hè. Cái sân rải sỏi cũng bị cỏ mọc kín gần hết, chỉ có một lối đi từ cổng huyện vào đến gốc si là ít cỏ mà thôi. Trẻ con các nhà quanh huyện, hay lẻn vào bắn chim trong lũy tre dày đặc bao bọc cả khu vườn rộng, Cái bờ tre thích thật, chim ở đâu rủ nhau về đây ríu rít suốt ngày, những con vàng anh có bộ lông màu vàng xám cứ thi nhau chao lượn hết bụi nọ sang bụi kia. Những con chào mào rung rinh cái mũ đen như nhung và những con chìa vôi tiếng hót cứ cao lanh lảnh, còn nhiều thứ chim nữa, tôi chẳng sao biết hết được. Cứ mưa vài ngày sắp nắng lên là bầy chim đua nhau hót vang lừng, tiếng ríu rít vang đến tận buồng chúng tôi ngủ.
Chúng tôi đã quen được hai đứa con gái của một thầy đội khố xanh. Hĩm chị và hĩm em, chúng hay theo thằng cu  con lão chủ quán bán thịt chó vào bắn chim. Thằng cu là em họ chúng. Hĩm chị và hĩm em đều lớn hơn tôi một chút nhưng chúng rất hiền, suốt buổi chỉ nhặt sỏi cho thằng cu bắn, mà bắn chẳng bao giờ được con chim nào. Tôi sẵn sàng làm cái việc nhặt sỏi mang đến cho chúng, ngửa cổ nhìn những con vàng anh vắt vẻo trên ngọn tre, chúng có vẻ đợi viên sỏi bay vụt qua rồi mới bay vù đi mất, chỉ lát sau một con chim khác lại lớ ngớ bay đến. Con nào thì thằng cu cũng bảo nhất định trúng, và vẫn là nhất định trật. Chạy chán, mệt lại rủ nhau quay về gốc si, tranh nhau những nắm rễ dài, buộc lại làm võng, thằng cu tỏ ra đắc lực trong việc này. Nó nhặt đâu về những ống tre nứa và làm thành những cái đu thật tuyệt. Nhưng chúng chỉ chơi với chúng tôi vào lúc buổi trưa hay chiều mát, ngày hai buổi chúng phải đi học. Thằng cu và con hĩm chị đã học lớp 5 dự bị ở trường huyện cách đấy không xa. Còn hĩm em thì tối bố nó viết cho, học ê a cả ngày. Nó đem sách sang khoe tôi rồi vừa ngồi võng rễ si vừa học to như hát: dê i a gia, dê i ả giả. Nó còn đang học vần bằng. Tôi đã học những bài đó rồi, nên có thể nhắc nó khi nó quên, nhiều lúc lại ngồi học đôi với nó như một trò chơi thú vị. Hĩm em cũng sáng dạ. Chẳng bao lâu nó đã học đến vần trắc, thế là tôi được dịp học theo nó, chúng tôi học với nhau ở gốc si bên vườn Văn Miếu, nên mẹ tôi cũng không biết con mình đã biết ghép vần. Tôi giấu mẹ tôi điều đó, định bao giờ đọc được, sẽ làm cho mẹ tôi một bữa ngạc nhiên. Hĩm em đã bắt đầu tập viết, bố nó viết mẫu cho nó bằng bút chì. Còn tôi nhìn vào sách mà viết theo ý mình, chữ tôi cứ như vẽ bùa. Khi hai đứa đã quen tay thì chữ hĩm em cũng chẳng hơn gì tôi vì chữ bố nó cũng xuệch xoạc như vậy. Chị Hảo thì mượn sách của hĩm chị đọc ầm lên làm tôi càng háo hức muốn chóng đọc được như chị ấy.
Cái lớp học không thầy của tôi tiến hành trót lọt được hai tháng. Tôi đã bắt đầu đọc được những quyển sách in chữ to và lấy làm vui thích khi xòe ra cho mẹ tôi xem hai chữ “mợ ơi” viết đã gọn trong dòng.
Một buổi trưa chúng tôi đang túm tụm lại dưới gốc si, bỗng một chiếc ôtô nhỏ sơn đen, xình xịch tiến vào vừa đúng đến gốc si thì hãm lại. Cả bọn tôi đứng lên nhìn ngơ ngác, trên xe có mấy người đều mặc Tây, và cả một thằng Tây. Một thằng Tây bé nhỏ có mái tóc vàng và cặp mắt xanh lè. Hĩm chị ghé tai chị Hảo thì thào:
          - Tây lai.. Đúng Tây lai.
Bọn người trên xe mở cửa đi vào Văn Miếu, đi quanh một vòng như xem xét cái gì. Mấy người Việt quay ra đi thẳng sang công đường, còn lão Tây quay lại chui vào xe ngả người trên cabin lim dim muốn ngủ. Chúng tôi bấm nhau mon men lại gần, hắn mở choàng mắt nhìn chúng tôi, nói tiếng Việt rất sõi:
           - Lại đây!
Bọn trẻ cười rú lên:
           - Đúng Tây lai.
Nó cau mày phát ra một tiếng ồ ồ khó hiểu, làm hĩm chị, hĩm em hốt hoảng bỏ chạy. Tôi không chạy vì tôi cho rằng: ở đây tôi chẳng phải sợ ai, trừ cha tôi. Thằng Tây nheo mắt:
           - Bé con, chơi còi ô tô không?
 Nó mở cửa xe, cho tôi xem cái còi ô tô bằng cao su như một quả bóng nhỏ có cán cắm vào thùng xe trước mặt, nó ngắm nhìn chúng tôi hỏi tiếp:
           - Con quan hả?
Tôi gật đầu. Nó vẫy tay.
          - Nào, lên đây chơi còi ô tô ! Này thử xem... Nó bóp mạnh vào cái núm cao su kêu lên một tiếng toe gắt gỏng. Thấy trò chơi là lạ, tôi lại gần giơ tay thử bóp vào cái núm cao su ấy, cái còi kêu một tiếng toe khe khẽ. Hĩm chị, hĩm em kéo nhau quay lại gọi to:
           - Đừng chơi với Tây.
Tôi bực mình với chúng, Tây thì việc gì mà sợ. Ở Vinh tôi đã thấy Tây đầm đến các dinh ông bố, ông án trong thành, tôi ngoái cổ ra gọi:
            - Sợ gì, lại đây chơi ô tô.
Tôi còn định hỏi thằng Tây xem có phải là Tây lai không, nhưng u già đã đứng mé vườn gọi tôi về. Tôi tụt xuống chạy lại với u, còn làm ra bộ bạo dạn ngoái cổ hỏi to:
           - Có phải Tây lai không?
U già cầm tay tôi:
           - Ai bảo em chơi với nó, mật thám đấy!
           - Mật thám là gì hả u?
          - Nó đi lùng bắt người ta.
Tôi hoảng hồn nhìn u:
         - Mẹ mìn à?
          - Ừ, mẹ mìn.
Tôi lấm lét nhìn lại mé ô tô, trước kia u già vẫn bảo tôi, chớ chạy chơi ngoài đường, mẹ mìn bắt bỏ bị... Tôi chưa hình dung ra mẹ mìn ra sao, thế ra nó là thằng Tây lai ư? Tôi túm chặt tay u hỏi nhỏ:
         - Mẹ có mắng không?
Mẹ tôi không mắng, chỉ dặn tôi:
        - Con không được sang đấy chơi nữa nhé!
Tôi không dám sang vườn Văn Miếu nữa, nhưng chiếc ô tô vẫn ở đấy. Những tiếng “mật thám”, “mẹ mìn” vẫn xoay quanh đầu tôi. Cái ô tô làm nảy óc tò mò của chị Hảo. Bọn mật thám, mẹ mìn vào vườn Văn Miếu làm gì? Hàng ngày chúng tôi đứng ở cửa sổ nhìn về mé vườn văn miếu nghe ngóng. Chiếc ô tô hòm sơn đen thỉnh thoảng chạy đi, rồi chạy lại về đậu nguyên chỗ cũ. Nhiều người ra vào khu vườn Văn Miếu, lũ trẻ con thì không dám bén mảng đến nữa.
     Một hôm, tôi giật thót người. Từ mé cổng công đường, một tốp lính dẫn một người đàn ông mà mới nom tôi gọi chị Hảo nói không ra hơi:
          - Bác Vĩnh...
Người đàn ông giống hệt bác Vĩnh cao lớn gầy rộc, hai tay bị trói quặt ra đằng sau. Khi bác ta vào khuất trong sân Văn Miếu, tôi thấy mảnh áo toạc lộ cái lưng đen cháy.
Chị Hảo cũng nín thở nhìn theo, rồi rón rén rời cửa sổ đến bên bờ rào Văn Miếu ghé nhìn vào, chốc chốc chị lại quay lại nhìn tôi, xua tay ra hiệu đừng gọi. Trống ngực tôi đập liên hồi, tưởng như bàn tay của lũ mẹ mìn trong đó sắp thò ra túm lấy chị Hảo rồi kéo tuột vào. Chị Hảo quay lại, tôi vội giơ tay vẫy rối rít nhưng chị vẫn xua tay lắc đầu. Tôi không thể gan được nữa, bật gào lên :
         - Mợ ơi!
Chị Hảo vội chạy về bịt miệng tôi:
         - Chớ Tám, chớ khóc.
         - Em mách mợ.
         - Thôi chị xin... nó đang... chị nhớn nhác quay nhìn lại vườn văn miếu làm tôi nhũn cả người không còn nghe rõ tiếng thì thào của chị nữa... trói bác ấy, treo lên.
          - Giời ơi! Tôi rú lên ôm chầm lấy chị Hảo khiến chị cũng hoảng sợ ôm chặt tôi:
          - Im, im Tám.
Giây lâu không có chuyện gì xảy ra, tôi hoàn hồn ngửng lên hỏi khẽ:
           - Nó có mổ bụng không?
           - Không biết, nhưng không phải bác Vĩnh đâu. Tám đừng kêu ầm lên như thế, để chị rình xem nhé!
Chị Hảo gỡ tay tôi toan đi nhưng tôi túm thật chặt:
            - Tám kêu mợ đây này.
Một tiếng rú bên vườn Văn Miếu vẳng sang. Tôi bỗng như khỏe lên túm tay chị Hảo lôi tuột vào buồng, đóng hết cửa sổ lại. Hai chị em ngồi im thin thít, trống ngực đánh dồn dập.
Sáng sớm hôm sau, hĩm chị đã thập thò bên cửa nách, chúng tôi kéo nhau ra đằng sau bếp.
             - Hôm qua các ả có xem họ tra cộng sản không? Nó treo lên xà nhà đánh hộc máu đấy, Tôi lạnh toát người:
             - Bác ấy chết rồi ư? Chị Hảo hỏi lại nó, nó lắc đầu:
             - Chưa, nhưng chắc chết.
Chúng tôi đều im bặt, trong óc mỗi đứa đều tưởng tượng đến những điều khủng khiếp nhất. Báo xong cái tin, hĩm chị không biết làm gì nữa, nó ngoe nguẩy:
            - Tôi về đây.
            - Này !
            - Chi nữa?
Tôi rụt rè hỏi:
             - Cộng sản là gì mày?
             - Là... là cái người bị trói nớ - nó nhăn mặt cố nghĩ ra, thầy tôi bảo họ đánh lại Tây.
             - Đánh thằng Tây lai mẹ mìn ấy ư?
            - Mẹ mìn mô, tôi chả biết.
Tôi chẳng rõ tại sao mẹ tôi, u già, anh lính đều có vẻ nghiêm nghị ít nói còn cha tôi giống như bị ốm. Ông không hay ra công đường mà cả ngày cứ ngồi trên bộ sập giữa nhà, tựa tay vào chồng gối xếp. Có lần tôi thấy mẹ tôi hỏi cha tôi:
            - Họ vẫn ở đấy ư?
            - Mặc họ.
            - Mình không phải...
            - Mình làm việc dân sự, họ làm việc khác, mình làm việc khác.
            - Tôi sợ lắm, ông liệu xin đổi đi thôi.
Cha tôi tặc lưỡi :
            - Chẳng xin họ cũng đổi.
Mẹ tôi lại lo lắng hỏi nhỏ:
            - Họ ngờ mình à?
            - Có gì mà ngờ, nhưng không được việc chọ họ, mấy cái nhà lao làm mãi không xong.
            - Tại sao thế?
             - Dân họ không chịu đi làm.
Mấy hôm sau cái ô tô sơn đen đi hẳn và hình như cả người bị trói đã được đưa đi. Bọn hĩm chị, hĩm em lại sang chơi với chúng tôi, nhưng chúng tôi không sang vườn Văn Miếu nữa. Cái hĩm chị bảo: có hai người bị đánh ở đấy, máu dây bê bết trên nền nhà, khiến bọn tôi sợ hãi không dám thò sang nữa.
Có lẽ nhà thầy đội lệ là nơi hàng nha thuộc đến kháo chuyện nên hĩm chị nghe được vô khối chuyện và sang nói với chúng tôi bì bõm như lội ruộng lầy:
          - Này, cái nhà lao làm mãi không xong thì quan tỉnh về cho mà coi.
           - Ai bảo?
           - Họ nói thế.
Hôm khác nó lại sang khoe:
           - Họ đi hết rồi!
           - Ai?
           - Bọn lính khố đỏ ấy. Họ kéo sang huyện chi đây nè. Thầy tôi nói tỉnh thôi không bắt làm nhà lao nữa.
Bọn lính đi hay ở can gì đến tôi, miễn là cái thằng tây lai đừng trở lại nữa.
Tôi nghĩ mọi việc thế là yên ổn, không ngờ một buổi trưa anh thư lại đến thập thò ngoài cửa, mẹ tôi hỏi:
            - Có việc gì đấy thầy thơ?
            - Bẩm cha Khấu đến – đang ở ngoài công đường.
            - Sao lại đến buổi trưa thế? Ông ấy đang ngủ.
            - Bẩm bà thưa hộ quan lớn, cha có việc cần...
Cha tôi có lệ cấm ngặt ai gọi hỏi vào buổi trưa, mẹ tôi ngần ngại rồi cũng khẽ gọi:
           - Ông, ông dậy có khách.
           - Hừ, khách nào? Mấy giờ rồi?
           - Hơn 12 giờ rồi, cha Khấn đấy.
           - Không phải giờ làm việc.
Cha tôi cựa mình nhưng không dậy. Người thư lại áy náy nhưng cũng đành phải quay ra một lát rồi lại đi vào thẳng trong nhà:
             - Bẩm quan lớn ông ta đòi gặp ngay.
Mẹ tôi nói thêm vào:
             - Cũng gần đến giờ rồi, ông dậy một tí, Cố đạo bên nhà thờ xứ chờ lâu rồi.
Cha tôi ngồi dậy, ông nhăn mũi hắt xì một cái thật to, đấy là cái hiệu ông sắp gắt. Anh lính lệ vội vàng bưng thau nước, khăn mặt lại tận bên giường, quay đi lấy khăn áo chờ sẵn. Nhưng cha tôi vẫn dềnh dàng như thường lệ: hút thuốc, uống nước, người bên ngoài ra ý sốt ruột không chịu được nữa, đập bàn quát tháo rầm rĩ. Lúc ấy cha tôi mới đủng đỉnh đi ra công đường. Tôi rón rén theo sau nấp vào cánh cửa mở rộng, nhìn qua khe cửa vào trong công đường.
Lão cố đạo có một bộ râu xồm che gần kín mặt. Lão ngồi ngay trên ghế dựa giữa nhà - cái ghế dành riêng cho cha tôi ngồi làm việc, chỗ ấy không ai được ngồi bao giờ. Thấy cha tôi bước vào, lão xô ghế đánh rầm, đứng dậy bước nhanh đến trước mặt cha tôi xấn xổ:
           - Ông làm việc thế hả?
Người lão cố đạo đứng lên cao to lù lù như muốn đè bẹp cha tôi. Cái áo dài thâm thùng thình trùm kín cả chân, nom lão như một con ma hiện giữa ban ngày. Cha tôi không có vẻ gì sợ hãi. Ông điềm nhiên trả lời:
           - Ông đến không đúng giờ làm việc.
Mặt lão cố đạo đỏ gay, lão chỉ vào mặt cha tôi quát lên:
           - Liệu hồn!
           - Đây là chỗ công môn, ông không được hỗn.
           - Nói gì?
Mặt lão cố đạo càng đỏ tía thêm, lão bước lên một bước nữa như hăm dọa. Cha tôi cũng cố nén một cơn giận đã bốc cao, bình tĩnh nhắc lại:
              - Đây là chỗ công môn, không ai có quyền.
Ông nghĩ “phải tôn trọng chỗ công môn” – đấy là một pháp lý không ai được xâm phạm. Nhưng “bốp” – lão cố đạo giang bàn tay to tướng tát vào mặt cha tôi. Lập tức lão bị xô hắt ra loạng choạng lùi lại một bước. Mặt cha tôi đã tái mét, ông dằn từng tiếng một:
           - Tôi sẽ trói ông lại về tội hành hung trước công môn. Lính!
           - Dạ ạ ạ ạ ...
Nhiều tiếng dạ ran lên, các thầy thư lại, cai đội đứng chật cả hè không ai dám vào, tuy vậy lão cố đạo cũng chột dạ, lão lùi dần ra cửa, chưa bao giờ tôi thấy cha tôi dữ dội như thế. Ông đứng im tại chỗ chỉ tay:
          - Cút ngay!
Tiếng thét nghe rợn người và lão cố đạo vội vàng trèo lên xe đạp cố làm bộ hăm dọa:
            - Rồi mày biết tay tao.
Tất cả đều đứng im phăng phắc nhìn theo vết xe đạp lao vút ra đường cái. Cha tôi khoan thai bảo mọi người:
            - Đến giờ làm việc chưa?
            - Bẩm còn sớm mười phút.
            - Thôi được, các thầy ra uống nước, đúng giờ vào làm việc.
Những ngày sau nhà tôi như có người ốm, không ai dám đi mạnh, nói to. Nhiều đêm cha tôi thắp đèn bên gối xếp im lặng, có lúc lại hý hoáy viết cái gì cả đêm. Chị Hảo bảo tôi:
           - Thầy viết đơn kiện cố đạo.
Trẻ con ở đây đều hiểu thế nào là đi kiện, anh thư lại đã có lần vui vẻ giảng cho tôi về cái việc gọi là “đi kiện”.
            - Cũng như các cô đánh nhau, cãi nhau rồi đi mách mẹ.
Mới nghe tôi cho là anh ta riễu chúng tôi, nhưng sau cho là đúng như thế thật. Bây giờ cha tôi kiện cố đạo, không biết ai là người xử nhỉ? Lão cố đạo mà ai cũng kinh sợ như là thần thánh ấy, thế mà cha tôi dám kiện, tôi lấy làm tự hào nên khoe với hĩm chị, hĩm em:
            - Thầy tao đi kiện cố đạo đấy!
Nhưng bọn chúng lại bảo tôi:
           - Cố đạo sẽ bắt ngồi tù.
Tôi không tin hẳn nhưng cũng lo lo.
Ba tháng sau tôi bỗng thấy mẹ tôi sắp xếp rương hòm như mỗi lần sắp đi xa. Tôi mừng rỡ:
          - Ta về ông a mẹ?
          - Không, đi Quảng Trị, thầy đổi vào Quảng trị.
Đấy là kết quả vụ kiện của cha tôi với lão cố đạo. Lão phải xin lỗi cha tôi trước tòa án, nhưng cha tôi nhận được giấy đổi đi Quảng Trị với cái chức thông phán. Nhân viên trong huyện bàn tán: ông huyện cứng cổ lắm nên mới được xử như thế - xưa nay cha tôi đã nổi tiếng là tay cứng về văn lý.
Tôi đã quen với những lần đổi đi như thế nên chỉ hỏi mẹ tôi:
           -  Quảng Trị xa không mẹ?
           - Xa, mãi gần Huế.
           - Mãi nơi ông đi lấy xác ông chú ấy ư? – nước mắt tôi vòng quanh – đi trong rừng con sợ lắm.
Mẹ tôi cười:
             - Đi bằng tàu, bằng ô tô việc gì mà sợ.
Chúng tôi không phải đi Quảng Trị. Ngay chiều hôm ấy, cha tôi nhận được một bức điện màu xanh:
            “Ông mất, về ngay!”
Cha mẹ tôi bàn bạc suốt đêm. Trưa hôm sau tất cả đồ đạc đều được chất lên xe, nhưng không phải là đi Quảng Trị mà về thẳng Thanh Hóa.
    Cô Bé ở lại trông nom mọi thứ còn lại, chờ cha tôi về sẽ đưa đi Quảng Trị. Cha mẹ tôi đã bàn: Còn vài năm nữa cha tôi đã đến tuổi về hưu, mẹ tôi về chịu tang ông tôi, sẽ ở nhà luôn để củng cố cơ ngũ, đợi cha tôi trở về. Bà đã có nghén, ở nhà sinh nở ít lâu càng thêm thuận tiện.
     Bấy giờ đã vào quãng cuối thu.
 
Đăng nhập để trả lời
0
III
Chiếc xe đã đỗ trước cổng nhà tôi, sau một hồi ọc ạch cố len lỏi trong quãng đường làng nhỏ hẹp. Hai cánh cổng mở rộng và tôi lập tức lóa mắt vì một màu trắng xóa ánh lên dưới ánh mặt trời – màu trắng của vải căng ra làm rạp, màu trắng của các câu đối phấp phới. Trời cuối thu mà vẫn ngột ngạt, màu trắng lóa mắt làm tăng cái nóng bức của cái sân đông nghẹt người.
Người trong nhà ùa ra vây quanh xe. Cha mẹ tôi không hỏi những người ấy, hấp tấp bước xuống xe vào thẳng trong căn nhà gỗ năm gian cũng đang đông nghịt. Chúng tôi cũng vội vã bám theo sau. Đám đông hơi rẽ ra khi cha mẹ tôi tiến lại. Tôi ngơ ngác túm lấy áo mẹ tôi, bị bà đẩy ra và đám đông lập tức khép lại khi cái lưng mẹ tôi lẩn vào phía trong. U già cũng chen lại, nghển cổ nhìn vào căn nhà tôi tối. Đầu người láo nháo chen nhau nom chẳng rõ gì hết, u nắm tay tôi lôi ra, tay kia vẫn bế em Chín:
           - Ra đây với u!
Tôi cố cưỡng lại u:
           - Em vào với ông.
Tôi ra sức giằng tay u già và kịp túm được chị Hảo đang lách chen qua bực cửa... Lọt rồi... nhưng trong nhà đã chật cứng mà bên ngoài người vẫn cứ chen thêm vào. Một tiếng khóc bật lên ở phía trong “Ới cha ơi!” – tiếng mẹ tôi. Lập tức có nhiều tiếng gào khóc nối theo hỗn độn ầm ĩ. Người tôi đã đẫm mồ hôi, chịu đứng chét vào xó cửa, không sao lách ra được. Một cái mông của ai lù lù trước mặt tôi, ấn tôi vào  cánh cửa. Tôi la thất thanh:
           - Mợ ơi!
Có người đẩy cái mông to tướng kia đi, rồi luồn tay xốc nách tôi nâng lên, giơ trên đầu mọi người chen ra đưa cho u già bên ngoài hè. U đỡ lấy tôi đặt xuống, u gắt:
           - Ai bảo, rõ chết bẹp nhé!
Thì đúng như thế, mỗi lần tôi không nghe lời u là y như rằng có tai vạ. Tôi quệt nước mắt, lủi thủi theo u qua sân vòng lại đằng sau bếp, u rửa mặt cho tôi và đưa cho một quả cam to tướng ửng vàng, cam ở vườn ông đây. Tôi ăn quả cam và cái ấm ức cũng dịu dần.
           - Ăn đi, lát nữa u dẫn vào với ông. U già dỗ ngọt tôi rồi nắm tay dắt đi, ta lại xem làm thịt lợn đi.
Nhiều trẻ con vòng quanh một người bịt khăn trắng đang mài một con dao bầu nhọn hoắt, chúng nhao nhao dặn người mài dao:
         - Cho cháu cái bong bóng nhé!
         - Cho cháu...
         - Không, mày được hôm qua rồi.
Hai người đàn ông khác, túm chân một con lợn to tướng, ghì trên một cái cối đá úp sấp. Một con khác bị trói nằm lăn lóc gần đấy đang cố rãy rụa rống lên những tiếng khiếp hãi.
         - Em sợ lắm! Tôi kéo tay u già mắt nhìn chằm chằm vào người đàn ông mài dao.
         - Không thích xem à? Ừ, ta sang bên kia xem làm nhà táng vậy.
U già dễ dãi đồng ý, đưa tôi quay lại bếp qua cửa nách sang sân nhà thím tôi.
Ở đây vui vẻ hơn, phần lớn là trẻ con, chúng đang chơi nhảy như ngày hội. Đứa thì đánh khăng đánh đáo, bọn con gái đánh chuyền, đánh dằn, một vài đứa túm tụm lại cãi cọ nhau cái gì, đến một chục đứa thì quây lấy những người thợ hàng mã, đang cắt giấy làm nhà táng trên một góc sân sát hè. Con Cảnh, con nhớn của thím hai nhìn thấy tôi thì reo lên:
         - A, chị Tám, sang mà xem nhà táng đẹp lắm! Nó chạy lại nắm tay tôi, hai trái đào hai bên đầu đã dài ra, nó đang để tóc, cái đầu xù như một búi rơm đội lên.
         - Ông chết rồi!
          Tôi im lặng.
          - Ông nằm ngủ võng rồi ngủ luôn.
         - Ngủ luôn à? Tôi kinh ngạc hỏi nó bụng còn nôn nao lên, sao không gọi ông dậy? Tôi muốn quay ngay về nhà ông. Ông tôi đang trong ấy, tôi muốn gọi ông dậy đã, Tôi mếu phập phồng nói với u già:
          - U dẫn em về ông đi...
           - Đông lắm, tí nữa u dẫn, kìa lại xem nhà của ông kia kìa. U già đỡ lấy tôi và nói lảng. Con Cảnh cũng lập tức quay lại chỉ vào cái nhà táng bằng giấy xanh đỏ rực rỡ như một chiếc kiệu trong đám rước mùa xuân:
         - Đẹp không?
         - Chẳng đẹp - một thằng bé đứng ngay cạnh đấy trả lời thay tôi. Con Cảnh tức tối quay lại nhưng thấy đấy là thằng Lành, thì nó bĩu môi:
         - Mày chỉ giỏi nói ngang, không đẹp ai bắt mày xem.
Thằng bé cười, hàm răng trắng bóng làm rạng rỡ khuôn mặt đen như đồng hun của nó.
        - Lành! Tôi lập tức sán lại, đây là thằng bé tôi ưa nhất trong đám con chú tôi. Nó hay sang đi tắm với ông và về ngủ trưa trên hè đá. Nghe gọi nó nhìn tôi gật đầu nhưng vẫn đứng im, một lát sau nó mới thì thầm:
         - Ông...
Tôi gật đầu ra ý đã biết, rơm rớm nước mắt.
         - Chị có thấy ông không?
          - Đông lắm, không vào được.
         - Ông còn trên giường ấy, tôi thấy rồi.
         - Có ... có làm sao không? – câu nói của thằng Lành gợi óc tò mò của tôi.
           - Không, như là ngủ ấy.
          - Không gọi thử xem.
Nó cười, nhìn vẻ ngộ nghĩnh của tôi.
          - Chết rồi lại còn gọi được. Chị Tám có nhớ ông không?
Nó dịu dàng hỏi tôi làm tôi không nhịn được khóc. Thằng Lành ra vẻ biết hơn tôi, nó lại thì thầm:
         - Mai, người ta bỏ ông vào cái nhà táng này đem chôn ở ngoài đồng.
         - Đem chôn đi ư?
          - Chứ sao, ai lại ở với người chết.
Thôi thế là tôi đã mất hẳn ông, tôi khóc nức nở.
*
*     *
     Tôi không được thấy mặt ông tôi, u già tìm hết mọi cách không cho tôi vào cái nhà gỗ đông người ấy. U dắt tôi ra mãi đằng sau nhà trên, ra vườn cam đem cơm cho tôi ăn và dỗ vào buồng đi ngủ. Ngồi xe từ hôm qua đến giờ, lại khóc mãi tôi cũng đã ríu cả mắt, nằm xuống là ngủ ngay, không còn nghe tiếng gào khóc ồn ào lẫn với những tiếng đóng nắp quan tài: ... chát! chát!
Chắc là ai cũng thức suốt cả đêm, nên khi tôi bừng tỉnh dậy chạy ra khỏi buồng, trời mới sáng rõ đã thấy mọi người đang xúm lại rê một cỗ quan tài từ trong nhà ra cổng. Chiếc áo quan sơn son đỏ chói có viền kim nhủ óng ánh, nhưng từ những kẽ hở rỉ ra những giọt nước vàng hôi kinh người. Tôi khiếp đảm lùi lại đứng dạt vào sát tường hoa, người ta đã phải để ông chờ cha tôi về, hôm nay nữa là ngày thứ ba, một dòng người áo trắng, khăn trắng ùa ra bọc lấy quanh áo quan lăn lộn gào khóc, khiến những người rê cữu phải vất vả lắm mới khiêng được cỗ quan tài ra cổng đặt vào nhà táng.
Các ông hương lý đương sự đã cho trai làng phát dọn con đường mà đám ma sẽ đi qua và những lá cờ trắng đã dàn ra từ lúc nào phấp phới dài dằng dặc. Chiếc nhà táng được nâng lên từ từ đặt vào vai đám con cháu nội ngoại mặc toàn đồ trắng y như đã được tập luyện. Đám đông nhích dần theo tiếng gõ lách cách của một ông cầm hai miếng tre gõ vào nhau, vừa gõ vừa đi lùi. Đám ma chuyển dần, đám áo trắng khăn trắng bám sát theo chiếc kiệu rực rỡ kia, hai bên đường người đứng chen chúc nhập dần vào sau đoàn áo trắng, tôi hớt hải chen lên theo sau chị Hảo, chị cũng mặc quần áo trắng có những cái dải buộc thay cho khuy cài, chị hỏi tôi:
           - Khăn áo Tám đâu?
           - Em mới ngủ dậy chạy ra đây.
           - Về mặc đi.
           - Không, em đi với chị.
Tôi cũng đã mặc sẵn quần áo trắng, chỉ thiếu có cái khăn, tôi không chịu quay về.
Đám ma đi chậm, nhưng đến chỗ hẹp thì ùn lại, vài người đằng sau cố chen lên. Chỉ một chốc là tôi đã lạc mất chị Hảo, phải đứng nép vào bên đường chờ nhiều người lấn lên phía trước. Tôi chen được đến đầu điếm canh thì đường đã rộng, bèn lách ra trèo lên bệ điếm canh đừng ngơ ngác tìm chị Hảo. Chiếc nhà táng rực rỡ đã xa dần, chắc chị Hảo đã bám được đoàn người áo trắng theo sau nhà táng, tôi còn đang ngơ ngác thì một bà gánh một gánh trầu nước chạy theo đám ma trông thấy tôi, gọi to:
          - U già đang tìm cháu kia kìa, chạy về đi.
 Dòng người còn đang tiếp nhau đi lên. Tôi đứng lại điếm canh nhìn theo cái nhà táng nhấp nhô đã gần đến chùa rồi, còn hàng cờ trắng thì đã đi xa tít. Tiếng đàn sáo vẳng lại tôi muốn chạy theo nhưng sợ lạc. Nghển cổ ngóng u già, u đã ra kia tay vẫn ẵm em Chín, u lại gắt với tôi: “Xểnh ra một tí là chạy thôi, làm u tìm hết hơi, thôi về”.
Nói vậy nhưng u cũng đứng đấy nhìn theo đám người dài dằng dặc nói với một bà đứng cạnh.
- Đông khiếp, mãi nay tôi mới thấy một đám ma đông thế.
Người đàn bà đứng cạnh u là bác Vĩnh gái. Mặt bác nhăn nheo già hơn cả bác trai, bác cũng đứng nhìn theo đám ma mắt đỏ hoe:
           - Quan cụ phúc đức lắm. Mẹ con tôi nhờ quan cụ cứu cho nhiều lần, chứ không thì đã xanh cỏ. Nhà quan chẳng có ai phúc đức như thế đâu. Kể ra bố cháu là cành trên đấy, nhưng nghèo khó thế này làm gì còn họ hàng. Chỉ có quan cụ là còn nghĩ đến máu mủ.
Bác khóc thực sự, kể lể tiếp với u già về cảnh ngộ nhà bác. Trời bắt tội nhà bác đông con mà cũng do trời bắt tội nên bác trai thỉnh thoảng lại say rượu, bác gái lại chửa đẻ một cách tội tình, đẻ năm ba ngày đã phải đi gặt, máu còn quết lên ngọn rạ, thế là lại ốm và mắc nợ thêm, làm không đủ ăn lại còn trả lãi. Lo gạo ăn là một, lo lãi nợ là hai, bác chạy cho bảy đứa con ăn bằng mười bốn đứa các nhà đủ ăn, vì rằng lúc làm ra để trả nợ trả xong lại ăn vay và cứ thế chắc rằng già đời bác vẫn mang nợ.
          - Lúc đói thì ai thí cho là phúc rồi. Người ta muốn bắt sao phải chịu vậy, thấp cổ bé họng mà.
Bác ngừng kể và bỗng mỉm cười:
         - Thế mà mấy cậu học trò còn nhạo thầy hắn là mỏ này cả tiếng lại dài hơi đấy, rõ khéo đơm đặt.
Tôi đứng nhìn bác Vĩnh bụng nghĩ thầm: “À cái bà có lũ con cởi truồng đây, không biết nay chúng đã mặc quần chưa”. Tôi lét nhìn vào nhà bác, hai đứa bé trạc tuổi tôi và chị Hảo đang giằng nhau một miếng thịt còn đỏ hỏn. Khi thằng anh giằng được miếng thịt thằng em khóc thét lên, người mẹ chạy về.
         - Cho em với, thịt ở đâu thế?
         - Tôi xin được trong đám, nó là của tôi.
Người mẹ quát lên:
-       “Đưa đây”.
 Bà móc miếng thịt trong tay thằng lớn đưa lên miệng nhay nhay cố cắn làm đôi cho chúng. Hai đứa bé nhìn vào miệng mẹ nó hau háu như sợ mẹ nó ăn mất. U già thở dài: “Chiều tối hết người chúng mày vào còn gì tao xin cho”. U dắt tôi quay về, hai đứa bé rụt rè theo sau.
         - Ô kìa! Bảo đến tối kia mà... nhưng thôi đứng đấy. U cúi xuống gạn tôi “U lấy, em cầm ra cho nó nhé!”. Tôi gật đầu và thế là u vào bếp đường hoàng lấy cho tôi một nắm xôi to tướng, tôi cầm lấy len lén đi ra cổng.
Người đi đưa đám rất đông, nhưng trong bếp vẫn còn nhiều người, họ đang túi bụi đồ xôi luộc thịt chuẩn bị cho lễ tế ba ngày ngay chiều hôm nay.
Ngày mai cha tôi đã phải đi sớm để vào huyện Quỳnh Anh bàn giao đi nhận chức mới trong Quảng Trị. Mọi công việc ma chay đám xá đều giao cho ông em ruột, chú tôi một ông lý đương sự lo liệu cả. Chú tôi chẳng thiếu gì những người đàn em đắc lực, công việc đám xá là một việc làm tay trái của họ. Các nhà tang chủ vào hàng kha khá trong làng chỉ cần ới một tiếng thế là đủ cả, lợn có, gạo có, rượu có mà là lợn béo rượu ngon hẳn hoi miễn là bà chủ rộng rãi một tí, đừng để mắt xét nét quá khi người ta chặt thịt đơm xôi.
          - Này cầm về cho em, cứ quấy.
Cái ông đầu bếp vui tính ấy miệng nói con, tay bỏ tọt một nắm xôi bằng quả bưởi và một đĩa thịt lòng đào toàn miếng ngon vào cái giỏ nó xách lủng lẳng. Đấy là những ông bèm nhèm mới làm như thế chứ còn những ông làm ăn ra dáng thì khác, họ vứt cả quầy lợn qua bờ rào rơi đến bẹt, ai thấy cũng chả dám nói, mà các tang chủ vẫn phải ơn nghĩa mãi ấy chứ.
Tang chủ như cha tôi thì chỉ việc mặc bộ tang phục vào để lễ trước bàn thờ người chết thế là xong nhiệm vụ.
Thế mà cha tôi cũng đã mệt lử. Ông đi đường trường, xe xóc lại thức đêm, bức bối phải chầu chực bên cữu (đấy là chỉ đứng có một lúc), phải đi đưa đám xa hơn một cây số nên ông lờ đờ mệt mỏi còn thiếu ngã lăn ra bên huyệt. Tối đến, mẹ tôi đã phải bảo nhỏ người nhà nấu cho quan lớn bát cháo bầu dục tim phổi ăn để lấy sức đi đường.
Tận khuya khách khứa hơi vãn chú tôi lên nhà đưa cho mẹ tôi một bản ghi chép.
          - Anh chị đi vắng nên ở nhà tôi phải tạm biện các thứ.
          - Vâng chúng tôi chắc có chú ở nhà nên đi về tay không, chẳng mua bán gì nữa.
Mẹ tôi nói tiếng đã khản đặc, bà đang ốm nghén lại phải gào khóc, mà nhiều người gào khóc to quá khiến bà phải cố hết sức gào to hơn để cho tiếng khóc của nàng dâu trưởng được nổi lên. Chứ không người ta lại bảo là khóc như nàng dâu khóc mẹ chồng, nên bà cũng  mệt hết sức. Chỉ có chú tôi người bé nhỏ thế mà khỏe, ông sắp xếp mọi việc cứ nhanh như cắt và mặt mũi tỉnh như không. Vừa đưa đám về, ông đã vào bếp phủ khăn lên đầu bưng mặt nhại hết cô này đến cô kia khóc, khiến mọi người cười ầm lên. Cũng chẳng ai phải giữ ý tứ gì trong cái đám ma chết khỏe và phải cảnh của ông tôi. Họ vui vẻ cười đùa như có đám cưới.
Chú tôi giở quyển sổ:
          - Các thứ này mai kia chị soạn lại xem có đủ không? Các câu đối vóc và xatanh tôi cho xếp vào cái bao sơn son, để ở buồng cháu Cẩn, câu đối lụa và các hàng khác gói trong cái cờ to, còn câu đối vải tôi cho xếp cả vào trong tủ.
           - Vâng, vâng.
           - Gần một nghìn người đưa đồ cúng, tôi đã lập thành danh sách trong sổ này, phần nhiều là câu đối, còn tiền mặt chỉ có 120 đồng, Rượu cũng không uống hết mấy, dăm bảy chục chai thôi, còn nhiều lắm, rượu các loại đóng chai còn 500 chai, rượu ngỏ còn 2 chum.
         - Vâng vâng.
         - Ngoài ra các khoản chi phí cũng chẳng hết mấy, tiền nhà táng 100 đồng, vải trắng xé khăn, may áo 100 tấm, tiền này dì ba hắn bỏ ra mua, tôi cũng chưa biết bao nhiêu. Trầu cau độ 20 đồng, lợn 3 con bắt của các o, chị tính tiền sau, gạo nếp xay hết 10 thúng, gạo tẻ độ 10 gánh gì đó, các o xúc, xay tôi cũng chả rõ, thưởng cho trẻ cầm cờ hết 3 quan, cho bát âm 20 đồng. Chú tôi đọc từng khoản rành rọt và mẹ tôi chỉ còn biết vâng vâng đệm theo, sau cùng chú tôi kết luận một cách hể hả : “Làng này xưa nay mới có một đám ma như thế”.
         - Chu tất được cũng nhờ ở chú.
          - Nhưng đấy là nhờ cái uy cái tiếng của quan chứ!
Cha tôi chỉ ngồi im, ông mệt lắm rồi, ông chỉ muốn nghỉ. Ông khẽ bảo ông em:
-        “Mai tôi phải đi sớm”
         - Được quan cứ yên tâm, công việc thế là đã chu tất, còn cái việc trả nghĩa thì thong thả đến trăm ngày hay giỗ đầu quan có về được hãy hay. Còn bây giờ thì mọi người giúp đáp, bác bà cứ thưởng cho mỗi đứa một chai Văn Điển là đủ, bọn đầy tớ tôi dễ bảo cả, tôi đã dặn họ rồi, bác có cho gì họ không dám lấy đâu.
Ông chú đứng dậy toan cáo từ để cha tôi nghỉ nhưng cha tôi bỗng chợt nhớ:
          - À còn cái việc trích lục địa bạ đã xong chưa?
Ông chú đảo đôi mắt trắng dã:
          - Tôi đưa cho cháu Cẩn từ hồi nó về cơ mà, quan chưa xem lại à?
          - Thôi được, còn gì cần nữa chú bàn với chị sau, lần này chị ở nhà luôn đấy.
          - Khuya rồi hai bác đi nghỉ đi, mai bác trai còn đi đường. Công việc đèn hương, cửa ngõ, hôm nay đã có Cửu Thọ rồi, tôi đã nhờ ông ta bác cứ việc yên giấc.

Đăng nhập để trả lời
0
IV
 
Mẹ tôi thường bảo tôi là con bé dai hoi khó bảo, trong khi mọi người lại nói tôi là con bé hiền như đất, dát như cáy. Tôi nhút nhát thật chẳng dám đi đến đâu. Khác hẳn chị Hảo như con choi choi chạy nhảy khắp nơi. Chị đã đi hết đường trong làng hay ít ra cũng đã đi chơi hết đình chùa, đền miếu, còn tôi chỉ quanh quẩn ở hè nhà ông, đến vườn cam và dừng lại sau cái nhà tắm gần  bờ rào dâm bụt, tầng lá nhãn dày đặc xòe ra che hết cả hàng dâm bụt, quét sạch đi là có một chỗ chơi thật là mát mẻ. Bên kia hàng rào là lối đi từ sân thím Hai ra cổng chạy theo dãy tường hoa nhà thím Cả.Lũ con nhà chú tôi dùng nơi này làm chỗ đánh khăng, đánh đáo, đã mát lại sạch. U già hay dắt em Chín đứng bên hàng rào xem chúng chơi đùa. Tôi và chị Hảo cũng hay ra đấy đứng chơi.
    Những ngày trước đó tôi chỉ suốt ngày ở hè nhà ông nơi ông tôi hay mắc võng nằm nghỉ vào những ngày hè nóng bức. Cái võng cất đi rồi, chỉ còn hai cái móc sắt lủng lẳng ở hai đầu cột. Tôi ngồi đây để nhìn hai cái móc sắt. Về quê, tôi không được gặp ông, tự nhiên tôi muốn ngồi ở đây nghĩ đến tiếng võng kẽo kẹt, nghĩ đến lúc đứng lọt thỏm trong đôi chân to khỏe của ông, nghĩ đến cái miệng vuông vức, cái cằm có sợi râu lốm đốm quết trầu và len lén khóc thầm sợ mọi người trông thấy. Cái  tính tôi hễ khóc là thẹn nên cứ chạy vào xó khóc dấu một mình, mẹ tôi bảo: “Đừng ngồi như thế ông mắng” nhưng tôi cứ lỳ ra khiến bà bực cả mình. U già đành phải tìm cách rủ rê tôi dắt em Chín ra gốc cam chơi rồi lân la tới hàng rào dâm bụt dứng xem bọn trẻ chơi đùa bên kia. Lâu dần tôi rời xa được cái hè thương nhớ đó. Tôi đã quen dần với đám đất dưới gốc nhãn. Lúc không có em Chín tôi ngồi lại một mình tha thẩn lấy que vẽ ngang vẽ dọc trên đất thành những hình thù mà tôi vốn ưa thích: con mèo, con chim hay cái đầu một cô bé có đôi mắt mở to hoặc những hình người mà tôi đã thấy ở đâu đó. Vẽ đi vẽ lại chán rồi lại xóa đi. Những hình tượng xệch xoạc dần gọn gàng xinh xắn. Đấy là trò chơi duy nhất của tôi dưới gốc nhãn. Một bưổi chiều tôi đang lúi húi vẽ dưới gốc nhãn thì đụng phải một đôi chân đen thui.
            - Lành.
Tôi đứng phắt dậy, ngượng nghịu nhìn thằng Lành đã sang đứng đấy tự bao giờ.
            - Mày không đi chơi với chúng nó à?
Thằng Lành lắc đầu.
            -  Sao không đi?
            -  Chả thích.
Nó ngồi xuống cạnh tôi chỉ tay vào hình vẽ hỏi:
            -  Con gì thế?
            - Con mèo! Tôi bẽn lẽn trả lời và đợi một câu tán thưởng của nó. Chẳng ngờ nó lắc đầu nói cụt lủn:
            - Chả giống.
            - Mày thử vẽ xem.
Thằng Lành thản nhiên cầm lấy cái que vạch ngay lên đất những nét hằn sâu, rõ ràng, nó vẽ con mèo đang cong đuôi xù lông để chống cự môt con chó đang chồm tới.
          - Ồ! mày vẽ đẹp quá! Ai dạy mày thế?
          - Ai dạy?
Thằng Lành hỏi lại tôi với một vẻ ngạc nhiên như việc gì phải có người dạy.
          - Sao mày vẽ tài thế?
Thằng Lành lại cười vì thật tình nó cũng chẳng hiểu tại sao. Nó cũng chỉ hay vẽ như tôi.
          - Mày dạy tao với nhé!
          - Chả biết dạy.
  Từ đấy thằng Lành hay chui sang ngồi vẽ vớ vẩn với tôi. Nó thích vẽ những con ngựa đang phi nước đại như trong tranh Trung Quốc.
          - Tôi thích cưỡi ngựa hơn cưỡi trâu.
          -  Ngựa chạy nhanh thế mày không sợ à?
Thằng Lành lại cười, nó đã được cưỡi ngựa bao giờ đâu, chỉ nghĩ ra thôi. Lành ít nói chỉ trả lời tôi bằng gật hay lắc. Nó chẳng nói lại mỗi khi bọn trẻ trêu ghẹo, khi nào tức quá thì nắm tay thụi bạt mạng, bọn trẻ la lên:
         - Nó nổi khùng rồi chạy đi. Khi chúng chạy ra xa tiếp tục trêu thì thằng Lành lờ đi như không, nó bảo chẳng thích ai ra vẻ thương hại nó. Lành là con thím Cả, thím có sáu người con, nó là thứ tư, còn hai em trai nữa. Chú tôi có ba bà vợ, thím cả rất hiền. Thím hai là em ruột của thím cả có ba con, hai gái, một trai, hai thím cùng làm ruộng. Thím Ba lại là một cô hàng rượu người cao lớn má đỏ hây hây cũng đã có hai con trai. Sau này còn sinh thêm ba trai nữa đều cao lớn, ngổ ngáo như mẹ,  chúng không chịu đi học mà thường lấy trộm tiền bán hàng của mẹ để ăn quà tiêu nhảm. Thím ba thường la trời la đất vì con nhưng không tài nào giữ nổi chúng. Chú tôi đem hai đứa lớn vào ở với thím cả để đi học nhưng học ba năm vẫn chưa lên được một lớp. Chính chúng là cái gốc để gây ra các cuộc cãi vã đánh nhau giữa các thím tôi và chú tôi.
Mỗi lần ba vợ chồng đánh nhau thì thằng Lành lại lắc đầu mỉm cười;
           - Ấy lại Tam quốc chiến.
Con Cảnh chị của Lành hay ngấm nguýt kể tội dì ba nó nào sẵn gạo, sẵn thịt nên to khỏe thế,  nào hay dắt khách đánh bạc cho thầy nó nên được thầy nó bênh hơn mẹ nó.
     Người ban đầu tôi thường  sợ là thím cả, thím hay cầm cái roi mây có bịt đầu bằng sắt lăm lăm trong tay, đi đi lại lại trong nhà như sắp đánh ai. Nhưng tôi chưa thấy thím đánh ai cả. Còn một người đáng để ý là chị Ngà, người trước kia tôi đinh ninh là con thím, tôi chỉ gọi bằng chị sau khi hỏi mẹ tôi :
           - Con Ngà là con chú hả mẹ?  
           - ừ con nuôi
           - Thế là con ai?
           - Con một ông bác họ, ông bà ấy chết cả rôi, chú thím nuôi làm con nuôi
          - Sao các con chú lại gọi là con Ngà ?
Mẹ tôi hơi ngần ngừ một tý rồi bảo: -Ừ chúng nó hỗn, nhẽ ra phải gọi bằng chị
Tôi không muốn là đứa bé hỗn nên tôi vẫn gọi chị là chị Ngà. Một điều lạ nữa là cả nhà chú tôi đều hay cười nói và đánh nhau. Đánh nhau xong lại cười nói như không có chuyện gì, giống như cả hai việc cùng một nghĩa. Riêng chị Ngà không thích cười nói, mặc dầu không phải là câm. Chị không thưa khi chú tôi gọi,  cứ lừ lừ tiến đến như người câm thật, cái tật ấy là cái cớ để chú tôi cầm roi vụt túi bụi. Bị đòn chị chỉ tránh mà không hé miệng van xin, cả ngày chị chẳng nói với ai một câu. Chị ngủ ở nhà ngang bên cạnh chuồng trâu. Mùa rét cũng như mùa nóng chị mặc một thứ quần áo ruộm nâu trát bùn dày cộp, sặc mùi phân trâu. Cày bừa với con trâu, dọn chuồng trâu, gánh phân trâu và chăn trâu từ sáng đến tối mịt.
Trông thấy chị là trông thấy con trâu. Chị lừ lừ im lặng như cái bóng của con trâu vậy. Tôi hỏi mẹ tôi:
          - Chị Ngà bao nhiêu tuổi ?
          - Chẳng biết…. có dễ đến ba mươi rồi đấy.
          - Sao chị ấy không lấy chồng ?
          - Ai biết được… ai lấy mà lấy.
          - Sao cả ngày chị ấy không nói ?
          - Ai biết được... Cái con này chỉ hay hỏi vặt - mẹ tôi gắt. Còn tôi phân vân: Ít nói như thằng Lành thì vẫn còn nói, chị Ngà im lìm như người câm hay chị ấy câm thật? Tôi muốn biết rõ điều ấy nên rình một hôm chị đang nhuộm lụa nâu phơi trên sân nhà thím hai, tôi vội lẻn cửa bếp chạy sang:
           - Chị nhuộm lụa may áo tết đấy ư ?
           - Đâu đến phần mình. Chị trả lời câu hỏi, vẫn cúi gầm mặt xuống cái sân gạch nóng bỏng. À ra chị không câm.
          - Sao chị không xin thím may cho?
          - Thím bảo bao giờ lấy chồng thím sẻ cho
          - Sao chị không lấy chồng?
Tôi vội chớp lấy cơ hội để hỏi một điều mà tôi chưa hiểu vì sao. Các chị Hải Đường, Tuyết Mai đã chẳng lấy chồng cả rồi đấy ư.
    Chị Ngà không trả lời cúi xuống nhặt viên gạch chặn lên đầu tấm lụa, một giọt nước mắt rơi bộp trên tấm lụa. Nhiều năm sau tôi mới hiểu rằng chỉ vì cái ước ao được đi lấy chồng và có tấm áo lụa nâu mà chị phải chịu bao nhiêu roi đòn của chú tôi. Chú đang cần chị cày bừa, giữ trâu chứ có cần chị lấy chồng đâu. Năm tháng và đòn vọt đã làm mòn cả cái ước mơ duy nhất ấy. Sự tò mò của tôi cũng chỉ mất công vô ích, không sao giúp chị toại nguyện được. Vốn có tính tò mò để ý đến những điều chẳng liên quan gì đến mình, tôi đã mua lấy bao sự suy nghĩ nát óc mà chẳng được cái gì.
Nhà chú còn vô khối những điều gợi sự chú ý của tôi.
Chú tôi ở với thím cả trong ngôi nhà lớn ngay gốc nhãn trông sang, khách khứa ra vào khá đông, phần lớn là những người đàn ông mặt mũi dữ tợn. Tôi rất khó chịu khi biết rằng những người ấy đều có họ hàng xa gần với nhà tôi: ông bạ Quyển rỗ chằng rỗ chịt, lại chột một mắt là anh ruột mẹ già tôi. Em ông ta là cửu Sang lúc nào cũng say bí tỷ, trợn mắt thách đánh nhau. Ông mục Sâm cũng chột một mắt còn một mắt ti hý cũng giống như không có, là chồng cô Út, Cụ Hương Tụy, thọt một chân, tôi phải gọi là ông cậu vì là em ruột bà tôi... Đối diện nhà chú tôi là nhà bản Tếch ông ta sụp một bên mũi, nói năng khò khè như bị bịt mũi, em ông ta là hương Độ, mặt tím như quả bồ quân. Cả hai đều hay đến nhà chú tôi nói cười bả lả trông đến sợ. Lại còn lão Bát Chương cao lớn quá khổ hay mặc cái áo the thâm chật cứng như sắp bung ra vì không che nổi hai tay lực lưỡng . Lão cứ quanh quẩn suốt ngày trên hè nhà chú tôi y như ông nhà quan đứng gác cổng chùa. Khách khứa nhà chú tôi hình thù đều quái dị gớm ghiếc, không hiểu họ đến đấy làm gì,  lúc thì ăn uống cười nói ồn ào, khi say thì chửi nhau thách đánh náo loạn. Lúc ấy thật là kinh hãi. Họ xông vào nhau với con dao sáng loáng tưởng đâm chết nhau như chơi. Nhưng chú tôi không sợ sấn lại giằng dao xô mỗi người mỗi nơi, họ lại cười ha hả. Đặc biệt chú tôi không say bao giờ, mặt chú lúc nào cũng tái mét, đôi môi thâm sì khi tức chỉ thâm tái thêm. Đôi mắt trắng dã như thiếu mất long đen, hàm răng cứ nghiến trèo trẹo trông lại càng đáng sợ hơn cả người say rượu.
 Có hôm thằng Lành nói với tôi:
            - Thầy tôi còn gá bạc có bữa đi tù.
            - Ai dám bắt thày mày, thầy mày là ông Lý kia mà!
            - Có đứa thù nó báo chứ.
Tôi ngập ngừng hỏi nó:
           - Mấy ông hay đến đấy là để đánh bạc ư?
           - Người ở xa kia, chứ mấy lão này chỉ đánh ghẹ và đứng gác thôi.
Tôi đã biết đánh bạc là một trò chơi xấu xa có hại, khi mọi người trong nhà tôi đều xem như một căn bệnh chết người. Nhưng thực ra tôi chưa hiểu cụ thể nó ra sao. Bố mẹ tôi cũng có lúc đánh tổ tôm, không biết có phải là đánh bạc không. Thằng Lành rõ điều ấy hơn tôi. Nó kể cho tôi nghe cái cách đánh bạc ở nhà nó, người ta sóc những đồng tiền trong cái bát úp trên một cái đĩa, đồng tiền sẻ xấp ngửa như trẻ con đánh dồi. Ăn thua rất lớn. Khách sang có những cọc bạc trắng tinh hoặc hàng tập bạc con công mà người nghèo chưa được cầm lấy một lần. Có người đem cả nhà cửa ruộng vườn ra đánh bạc. Ông ngoại nó đã mất cả nhà cửa vì đánh bạc, cuối cùng phải lừa cả con gái là mẹ nó. Ông đã mặc cho thầy nó vào nhà làm cho mẹ nó có chửa con Cảnh nên phải lấy thầy nó. Nó điềm nhiên bảo tôi:
           - Đáng nhẽ con Cảnh và tôi là con của chú Hạc kia.
           - Nói bậy, chú Hạc là chú họ của chúng ta kia mà.
            - Thì tại mẹ tôi lấy thầy tôi nên mới có họ chứ, ngày trước mẹ tôi định lấy chú Hạc kia, chú ấy hiền hơn thầy tôi nhiều.
Tôi sợ chú tôi và sợ cả những ông khách gớm ghiếc ấy nên không dám bén mảng sang nhà chú tôi bao giờ. Nhưng một hôm chú tôi đi vắng, thằng Lành rủ tôi sang chơi.  Lại vì tò mò tôi bằng lòng chui qua lỗ rào mà bọn chúng chui đã nhẵn, mon men vào tận hè nhà khách của chú tôi. Thím Cả chỉ hay ở nhà ngang nên tôi cũng đỡ sợ. Thằng Lành chỉ tấm phản đá mát lạnh kê ngay bên hè tủm tỉm cười:
            - Mùa hè nằm mát phải biết, nhưng mùa đông thì rét đến ruột. Thầy tôi mà trói anh Thành cả đêm ở đấy thì sợ hơn cả bị đánh bằng roi cặc bò.
Thằng Thành hơn tôi đến mười tuổi, cao lớn nên tôi vẫn gọi nó là anh. Cả ngày nó chỉ ngồi trong cái buồng có cửa sổ trông xế sang gốc nhãn. Tôi ngạc nhiên hỏi thằng Lành:
          - Sao lại trói anh Thành?
          - Anh ấy trốn học.
           - Sao lại trốn học? - tôi ngạc nhiên hơn… Đi học thích chứ, tao chả được đi học.
Thằng Lành cười ra vẻ không tin:
          - Học mà thích.
Nó lại dẫn tôi đến một góc hè cho xem một tấm ván được dựng nghiêng trên một cái giá có đục những lỗ tròn, giữa chỗ hai tấm ghép vào nhau, nó mở chốt kéo tấm ván trên cho tách rời ra cho các lỗ tròn rộng thêm rồi bảo tôi;
          - Này thử bỏ chân vào đây xem nào!
          - Để làm gì?
          - Cứ bỏ vào rồi tôi nói cho mà nghe.
Tôi ngần ngại nhưng vốn tin thằng Lành nên cũng ngồi xuống cho chân vào cái lỗ. Thằng Lành sập tấm ván trên lại rồi vỗ tay:
         - Chị bị cùm rồi nhé! Thầy tôi về thì chị chết.
Lần đầu thằng Lành nghịch như thế, nhưng tôi hốt hoảng và tức giận nên khóc toáng lên, khiến thằng Thành trong buồng chạy ra cười sặc lên:
          - Thằng quỉ ôn cứ ghẹo chị. Đừng sợ, chân chị nhỏ rút ra ngay mà. Nó cúi xuống cầm chân tôi rút ra một cách dễ dàng, khiến tôi xấu hổ thấy mình dốt thế. Nó xoa đầu tôi ra vẻ người lớn và dặn:
          - Nay nó còn ghẹo chị cứ mách tôi, tôi đánh nó cho.
Thành còn ngắm nghía cái cùm ra vẻ thích thú:
           - Sợ đếch gì. Ngày trước thầy tôi còn cùm tôi ba ngày đêm tôi cũng chẳng sợ.
Tôi gật đầu thán phục và nghĩ ngay đến lý do bị cùm của nó, tôi hỏi:
          - Sao anh lại trốn học?
Nó cười kéo tôi lại gần:
          - Không thích thì trốn… Chị thích học à, sao không đi học?
          - Thầy tôi không cho đi - tôi buồn rầu nói với vẻ thèm muốn -khiến nó ngạc nhiên nhìn tôi:
           - Sao lại không cho? Thế chị có muốn học không, chị đã học cái gì chưa?
           - Học ít thôi.
           - Học với ai?
           - Cái hĩm em.
           - Cái hĩm em à?.. Thằng Thành cười ngất rồi lôi trên bàn một tờ giấy và bút mực  bảo tôi:
          - Biết viết chưa, viết thử xem nào? Nó đọc thong thả một câu trong truyện kiều:             
      Đường đường một đấng anh hào
      Côn quyền dư sức lược thao gồm tài
Tôi cố viết cẩn thận nhưng chữ vẫn như gà bới, nó cầm mảnh giấy đọc lại và khen
           - Chị viết được đấy. Chỉ có một lỗi nhưng chữ xấu quá, sang đây tôi dạy cho mà học.
Tôi mừng quýnh nhưng vẫn chưa tin là thật. Nó làm ra vẻ đạo mạo:
         - Thật đấy, về nói bác gái mua giấy bút đi, thầy tôi đang bắt tôi dạy cho lũ quỉ ôn này đây
         - Ừ bọn tôi sắp phải học rồi, thằng Lành công nhận.
Khi thấy tôi lấm lét nhìn cái cùm Thành cười to:
          - Học ở nhà dì hai kia, không học ở đây đâu mà chị sợ.
   Ba ngày sau lớp học của chúng tôi bắt đầu. Có tám đứa tất cả, năm đứa em thằng Thành tôi nữa là sáu và hai đứa con hàng xóm, đứa nào cũng lớn hơn tôi.
 Chúng tôi được chia làm ba lớp, tôi và thằng Lành, thằng Hiếu con thím Ba vào một lớp, hai đứa này cũng đọc viết bập bẹ giống tôi. Ba đứa nữa học hết vần bằng còn hai đứa mới bắt đầu vỡ bụng.
Thằng Thành cho chúng tôi tập viết chính tả và học thuộc lòng những bài trong sách giáo khoa. Nó ngạc nhiên khi thấy tôi đọc bài đã đọc luôn cả phần học ở trên và cả phần tiểu dẫn ở dưới.
           - Giỏi, tài nhớ thật!  Nhưng nay không phải học bài dưới nữa chỉ cần học thuộc phần trên viết chữ ngã này nghe không.
Ít lâu sau nó cho tôi học chữ số tôi cũng thuộc rất chóng. Nó phàn nàn:
           - À ra chị thích học thật, giá tôi cũng thích học như chị thì chẳng phải đòn nát mông.
Tôi hỏi nó:
          - Tại sao anh không đi học nữa?
          - Trượt mẹ nó rồi còn đâu, bây giờ học lấy ở nhà, chờ thi lại.
Khi lớp này học thì lớp kia bắt chấy, giết rôm chải đầu cho ông thầy. Thằng Thành thường nằm dài trên chiếc võng mắc ở gian bên để dạy chúng tôi học. Khi đọc bài nó bắt học trò đứng khoanh tay cẩn thận, còn ông thầy vẫn nằm dài trên võng. Lớp này học thì lớp kia viết, viết chính tả hoặc viết theo chữ mẫu của nó viết sẵn ở đầu dòng. Chữ thằng Thành đẹp và đều như chữ in, tôi không sao bắt chước được. Tôi đã quen cái tật viết xệch xoạc không có thầy. Môn tập viết thằng Lành hơn hẳn tôi, nó chịu khó nắn nót từng nét một.
Mỗi lần chấm bài thầy giáo lại lắc đầu.
          - Chữ xấu quá! Tôi mà viết như thế này thì cứ gọi là bị đánh dập đầu ngón tay. Nó chụm năm đầu ngón tay lại lấy thước làm bộ đập thử, khiến tôi sợ xanh cả mắt, thằng Thành nheo mắt nhìn tôi lắc lắc mớ tóc rũ trên trán.
          -Thế đã thấm gì với những trận đòn của thầy tôi. Thầy tôi còn buộc hai ngón chân cái lại treo lên sàn nhà, hễ rãy rụa giây càng thít đau tưởng chết, rãy mạnh đứt giây rơi xuống thì dập mặt nhưng như thế còn dễ chịu hơn là dốc ngược đầu.
Tôi học với thằng Thành cứ rờn rợn vì những chuyện bị đánh đập của nó, nhưng nó không đánh tôi bao giờ. Thấy tôi thích học, nhiều buổi nó còn dạy thêm ngoài những bài cùng học với lớp. Tôi chẳng biết nó cho tôi học theo chương trình lớp nào, nhưng chỉ hơn tháng sau nó đã ra đầu đề luận tả cảnh với cái đầu bài tôi tha hồ viết gì thì viết. Có lần nó bảo làm một bài  “tả cảnh mùa gặt,” thế là tha hồ tôi tưởng tượng viết hươu viết vượn đầy bốn trang giấy. Tôi nhớ có câu: Cơn gió lướt qua cả cánh đồng phập phồng như tấm lụa xanh căng trước gió. Thì ra tôi chỉ biết cánh đồng tôi được đi qua một lần không vào mùa gặt, nhưng câu văn chải chuốt khiến ông thầy thích chí phê một con mười to tướng. Dạy tôi học nhưng thằng Thành chẳng bao giờ lòe tôi, chỉ hay xoa đầu tôi cho bù lên, rồi toét miệng cười
            - Ông thầy sắp hết chữ rồi.
Nhưng lớp học của tôi phải nghỉ trước khi ông thầy hết chữ.
 Một tối tôi đã ngủ say chợt tỉnh dậy vì tiếng chó sủa dữ dội lẫn tiếng người quát tháo râm rịch mé bờ rào gần nhà bản Tếch. Ngoài thềm sau nhà trên, mẹ tôi và các chị lớn đang đứng nhìn ra vườn cam gần cổng nhà chú tôi. Có ánh đèn đuốc thấp thoáng bên vườn nhà bản Tếch, tôi hốt hoảng hỏi chị Hảo:
             - Có việc gì thế chị Hảo?
             - Có kẻ trộm bẻ nhãn nhà bản Tếch.
             - Bắt được chưa?
             - Nó đang trên cây kia kìa, họ đang soi đèn lên đấy!
Bờ rào nhà bản Tếch cách bờ rào nhà tôi bởi con đường nhỏ dãy nhãn to cao xòa ra che kín cả con đường, ánh đèn đuốc bập bùng chiếu lên vòm cây tối om,
Một người cầm đuốc giơ cao gọi to:
             - Xuống đi cháu, xuống đi, tao thấy mặt rồi.
Có người gọi:
             - Đưa thang cho nó xuống. Ớ Kếch mang cái thang ra đây.
 Họ mang thang đến ghé vào cây ép thằng kẻ trộm phải trèo xuống. Nhưng cái thang mới ghé vào thân cây thì trên cây thằng kẻ trộm kéo áo che mặt cúi xuống nắm lấy đầu thang kéo lên bẻ làm đôi ném xuống.
Mọi người chạy dạt ra gọi nhau rối rít:
          - Ái chà, gớm thật, khỏe thật!
          - Lấy đá ném cho nó què đi!
          - Lấy cái nỏ ra đây tao bắn què đi, xem mặt là thằng nào nào?
Tiếng Bản Tếch ậm ạch trong cánh mũi bị sập. Nhưng họ chưa kịp mang nỏ ra thì đã có tiếng kêu lên:
          - Nó chuyền sang vườn nhà ông Huyện rồi.
Một tiếng uỵch nặng nề rơi trong vườn nhà tôi. Thằng kẻ trộm túm cành ổi đu sang vườn nhà tôi, cành ổi bé quá bị gẫy và nó rơi xuống góc vườn tối đen. Người ta la hét om xòm giục nhà tôi mở cổng để sang đuổi bắt. Khi họ sang đến nơi sục sạo thì thằng kẻ trộm đã biến mất. Tôi nghe tiếng chân chạy thình thịch về mé nhà tắm từ ban nãy.
Sáng hôm sau, thầy học của tôi ốm không dạy được. Tôi thấy chú tôi mượn người cáng thằng Thành đi nhà thương để chữa bệnh sốt thương hàn. Nhưng rồi tôi cũng biết ông thầy của tôi bị gãy tay phải đưa đi làng chùa có ông thầy bó xương nổi tiếng.   
 
Đăng nhập để trả lời
0
V
 
Sau lớp học được kết thúc bất ngờ ấy tôi tỉu nghỉu buồn bực đến mấy tháng. Thằng Lành được anh nó tiếp tục kèm thêm đã xin vào lớp năm (tức lớp một bây giờ). Ngày ngày, nó hai buổi đi học, trưa về nhà thím ba ở gần đấy, tối mới về nhà. Thế là tôi đã mất cái may mắn được đi học lại, mất luôn cả người bạn chí thân. Điều ấy quả là một rủi ro lớn đối với tôi. Có lần, tôi đã nghĩ đến cách hay là học theo thằng Lành vào buổi tối. Nhưng chỉ mới nghe nó học ra rả bài thuộc lòng tiếng một trong sách Pháp văn lớp năm là đã chán không chịu nổi.
            - Mamère là mẹ, monpère là cha - Tôi quát nó.  
            - Mày muốn đi làm con Tây à?
            - Sao?
            - Việc gì mày phải gào lên gọi Tây là bố với mẹ như thế?
            - Thầy giáo bảo phải học thật to như thế kia mà.
            - Tao chúa ghét những đứa nịnh Tây!
Tôi kể cho thằng Lành nghe chuyện thằng Tây lai bắt người đánh người. Và không quên cái quan niệm ghét Tây mà mọi người đã truyền cho tôi bằng cách gián tiếp tự bao giờ qua mọi thái độ của họ.  khi nói đến Tây mật thám, Tây cố đạo và những người xun xoe trước mặt Tây. Tôi cố truyền cái hiểu biết lờ mờ của mình cho thằng Lành:
           - Đồ mắt xanh mũi lõ, nó có phải là người mình đâu.
Những phản đối của tôi làm thằng Lành rất khổ tâm khi học những từ quái gở kia. Nhưng nó vẫn phải học, vì không học tiếng Tây thì không được vào lớp. Thằng Lành rất chăm học nhưng lại chậm nhớ nên nó phải học cả buổi trưa và buổi tối. Tôi đành để lớp học cướp mất cậu em yêu quí của tôi.
Tôi cảm thấy mình xấu số, vô duyên, chỉ gặp toàn những chuyện không may. Để lấp những ngày chẳng biết làm gì, chơi gì ấy, tôi mượn sách truyện của thằng Thành về đọc. Thành cũng tỏ ra có cảm tình với tôi. Sau khi bị một vố suýt chết nó cũng hơi kiềng, suốt ngày cứ ru rú trong buồng đọc sách, không dám đi chơi nhiều nữa. Có lẽ cũng vì xấu hổ tuy không ai đả động gì đến vụ gãy tay của nó. Chú tôi bảo nó phải ôn để thi lại, nhưng kỳ thực nó chỉ toàn đọc truyện. Những quyển sách mỏng mua ở hàng xén như Phạm Công Cúc Hoa, Hoàng Trừu, Bà Chúa Ba... dần dần chuyển sang những truyện kiếm hiệp, trinh thám, vừa mua vừa mượn của bạn bè. Hàng năm trời tôi được nó cho mượn đọc không biết bao nhiêu là sách truyện. Tôi đọc đã khá nhanh, trôi chảy, rõ ràng không kém gì anh bạn lớp nhất của nó. Nhưng đồng thời, tôi mắc bệnh ham đọc truyện một cách mê mụ. Cái tật mê đọc truyện đã lôi cuốn cả chị Hảo. Nhưng sở thích của hai chị em lại khác nhau. Tôi thích những chuyện ở hiền gặp lành, những người tốt bụng, ông bụt hiện lên trong chuyện Tấm, Cám. Đặc biệt là Truyện Kiều. Tôi học thuộc lòng Truyện « Kiều » và cả « Chinh phụ ngâm » lẫn « Cung oán ngâm khúc » và rơi khá nhiều nước mắt với nhân vật trong truyện. Còn chị Hảo lại thích những truyện phiêu lưu, kỳ dị, rắc rối, oái oăm không kể việc làm ấy là của hôn quân bạo chúa hay của tướng cướp gian hùng. 
  Không được ai giảng giải  cho biết những đúng sai, hay dở, chúng tôi đã tiếp thu ở truyện vô số những hiểu biết mà lứa tuổi chúng tôi chưa hề biết đến. Đồng thời, truyện cũng reo rắc cho chúng tôi những ước mong, tưởng tượng mông lung, nghiêng ngả.
Thời gian đã tách dần thằng Lành với tôi. Nó không có thời gian xem truyện, còn tôi tự thấy mình lớn hơn nó cả tính tình lẫn con người. Tôi lớn phổng, cao hơn cả chị Hảo mặc dầu còn giữ vẻ ngây ngô trẻ con. Còn chị Hảo mới mười ba tuổi đã thích đỏm dáng như các chị lớn. Sự lớn lên của chúng tôi càng khiến hai chị Tường Vân và Bích Xuân tức bực. Các chị không thể nạt nộ chúng tôi như trước, nên càng ghẻ lạnh và ngấm ngầm tìm cách chanh chọi, vặt vãnh. Tôi không thích cãi cọ với các chị và tuy còn bé đã có ý coi thường các chị là dốt và hèn. Sự xích mích ấy không biết sẽ đi đến đâu nếu chị không sớm về nhà chồng. Tháng tám này cha tôi có ý định cho cưới cả hai chị. Đặc biệt là mẹ tôi ra ý vui vẻ. Bà bằng lòng về cậu con trai mới ra đời, dồn tất cả tâm trí thì giờ vào chăm nom thằng em nhỏ nên mọi việc xung quanh bà không bận tâm. Được cái cả em Chín dạo này cũng khỏe mạnh hơn trước, tuy bé loắt choắt nhưng nhảy nhót suốt ngày và nói luôn miệng, sẵn sàng nhận bất cứ cái tên nào do chúng tôi đặt cho: con khướu, con chim oanh, con hót ăn... Gọi tên nào nó cũng dạ một cách vui vẻ. Với niềm vui mới mẻ ấy, mẹ tôi không để ý gì tới hai đứa con gái lớn đang chúi đầu vào đống truyện tạp nham không kể giờ giấc.
Ngày cưới của hai chị Tường Vân, Bích Xuân càng đến gần khiến mẹ tôi nghĩ đến việc phải tập cho chúng tôi công việc trong nhà ngoài đồng để còn thay thế các chị. Vụ chiêm năm ấy, mẹ tôi gọi chúng tôi lại bảo:
         - Con Hảo, con Tám nay lớn rồi, nên ra đồng học cách trông nom rẻ lúa với các chị.
Tôi như mở cờ trong lòng, ra đồng là một điều ước ao từ lâu. Chị Hảo đã được ra đồng đôi lần, còn tôi chưa dám mơ tới được dẫm lên những con đường đất hai bên là những ruộng lúa xanh rờn như tôi đã tả trong bài luận tự năm nào. Mẹ tôi dặn các chị lớn cho chúng tôi xem những thửa ruộng gần các chị và chỉ bảo cách trông nom, cách cho công, chia lúa. Điều ấy chị Hảo không thích. Chị lừa dịp ruộng cất xong, Chị Bích Xuân chưa kịp đến là chị cho công một mình, như thế mới là cô chủ nhỏ, không kém gì người lớn.
Ra đồng đối với tôi khác hẳn. Một bầu trời đẹp đẽ mở ra. Tôi trách mình sao lâu nay không biết đến mùa gặt. Một màu vàng mênh mông trải ra dưới ánh nắng đầu hè rực rỡ. Tôi cho mắt nhìn mãi cánh đồng dường như vô tận kia mà nghĩ rằng, tôi có đi cả tháng, cả năm, cả đời cũng không hết được. Giam mình trong khu vườn biệt tịch, mát dịu của nhà tôi, tôi đã quen với không khí vắng vẻ yên lặng. Giờ đây, giữa cách đồng với ngọn gió sớm mai như dục tôi thở đi, thở đi,... Ở đây không khí không bao giờ thiếu cả. Tôi hăm hở chạy và như muốn reo lên nhưng lại chợt giật mình bẽn lẽn. Tôi vừa chạy qua một thằng bé chăn trâu, nó không cuống quýt như tôi. Nó điềm nhiên ngồi vắt vẻo trên lưng trâu, tay mân mê một chiếc lá dứa dài, chăm chú bẻ những cái gai bên cạnh lá, chiếc nón lủng lẳng treo sau gáy. Hình như nó không để ý đến con trâu đang đưa mình đi đâu, không để ý đến con đường gồ ghề, không để ý đến có tôi vừa chạy qua. Nó là chủ cánh đồng này. Bất giác tôi dừng lại nhìn theo nó: Sao nó thảnh thơi đến thế. Cả con trâu nữa, con trâu tôi thường nhìn thấy trong chuồng nhà chú tôi lúc nào cũng đập cái đuôi, lúc lắc cái đầu như hục hặc với ai. Ở đây, nó đủng đỉnh từng bước một, thỉnh thoảng cúi xuống gặm cỏ hoặc vơ một ngọn lúa bên đường. Con trâu cũng thanh thản như không biết có thằng bé trên lưng. Và ở đây, con trâu cũng là chủ của cánh đồng có những bờ cỏ xanh non. Lại còn chú nghé con chưa nhú sừng đang nhảy cẫng ở đằng xa kia. Chú cứ cắm đầu chạy một mạch lại dừng lại cất tiếng nghé... ...ọ...ọ, Tôi nghe cứ như tiếng mẹ ơi kéo dài. Chắc chú cũng như tôi, muốn chạy một mạch lại dừng ngắm nhìn phong cảnh lạ lùng một cách thích thú, lắng nghe tiếng chuyện trò râm ran, tiếng liềm hái cắt lúa xoèn xoẹt của một đám thợ gặt từ xa.
Tất cả đều dội vào lòng tôi một cảm giác náo nức hân hoan. Dù vốn nhút nhát, tôi vẫn lội xuống đồng đẩy thuyền với người chở lúa, lấy trộm liềm của các bà thợ gặt để tập cắt. Có bà dễ tính thì vui vẻ bảo:
           - Ừ tập cắt đi, vài hôm là quen ngay mà. 
 Có bà khó tính lại càu nhàu :
           - Quặc vào tay bây giờ!
Khi thấy tôi hốt hoảng cào lấy cào để con đỉa bám vào chân họ cười:
           - Nhổ một tý nước bọt vào đấy.
Tôi làm theo, con đỉa rơi ngay ra. Tôi cứ trố mắt thán phục khen họ tài thật. Tôi còn thán phục cả những con bé chừng tám chín tuổi còn bé hơn tôi, lội xuồm xuồm sau mẹ nó để nhặt những bông lúa còn sót lại, đôi chân bé xíu lội xuống bùn một cách vững chãi tự tin, tựa hồ nó vẫn lội từ lúc mới đẻ. Chúng chạy thấp thoáng sau mẹ nó dù các bà chủ cứ luôn đuổi chúng ra xa.
Suốt vụ gặt tôi chẳng chịu ở nhà ngày nào. Da dẻ tôi hồng hào lên vì được tiếp xúc với nắng gió, khí trời. Tôi cảm thấy mình lớn nhanh trong mùa gặt.
   Một cảm xúc mới mẻ dần ngấm trong tôi khiến tôi như thấy hiện lên rõ ràng. Mùa gặt đã đến trong cặp mắt yêu thương chờ đợi của tất cả mọi người. Từ những bước khoan thai đủng đỉnh ban đầu, mùa gặt đến với đám lúa chín vàng đầu tiên, trên cánh đồng còn xanh xanh ưng ửng, làm người ta chờ đợi đến sốt ruột. Rồi giống như một người khổng lồ bước mỗi bước mỗi nhanh khiến cho người ta hối hả chạy theo không kịp. Cả làng già trẻ lớn bé đều đổ xô vào một cuộc chạy đua không tuyên bố. Cuộc dốc sức diển ra tưng bừng náo nhiệt kéo theo màu vàng rực rỡ trải khắp xóm làng. Màu vàng của lúa từ những con đường lớn giữa làng đến các ngõ hẻm bé nhỏ trong các bờ tre, chỗ nào cũng được ruộm một màu tươi ấm áp của lúa, màu vàng nhún nhảy trên gánh của anh con trai khỏe mạnh, chị con gái má đỏ hây hây, màu vàng trải đầy quanh điếm canh khắp sân vườn mọi nhà và kết tụ lại trong đống lúa chĩnh chiện giữa những ngôi nhà tối tăm hay sáng sủa.
Mùa gặt đến với tất cả mọi người, không chê trách môt ai, biến những khuôn mặt khó coi thành dễ ưa, dễ mến. Cuộc sống trở nên trong trẻo hồng hào. Cảm xúc ấy còn đọng mãi trong tôi nhiều năm, vì với cuôc sống chỉ trông chờ hạnh phúc trong bát cơm thơm dẻo của ngày bắt đầu thu hoạch, bát cơm mà người ta tận hưởng hiện tại, tạm quên những cực nhọc vừa qua và những ray rứt sắp tới.
Cái gì sắp diễn ra sau mùa gặt, con người đã đau khổ ê chề kia hãy gạt ra hòa mình vào cái niềm vui của tất cả mọi người, cái rạo rực hân hoan khi nghĩ rằng ngày nay đây tất cả mọi người đều no đủ.
Nhưng chỉ vài ngày ấy thôi, cuối mùa gặt tôi đã thấy những con người mà mới đây tôi tưởng như mới gặp ,trong một khung cảnh khác .
Từ đầu vụ, ngày nào tôi cũng phải ra về từ lúc xế chiều, vì ở nhà cũng bận nhiều việc nảy sinh trong mùa gặt, như rơm lúa phải phơi từ sớm, chiều phải thu cất và phải trông em Chín cho u già thổi cơm chiều. Trong suốt mùa, tôi chỉ ao ước được gặt cả ngày với các bà thợ gặt xem mình thua kém họ bao nhiêu. Tôi nằn nì với mẹ:
      - Hôm nay cho con ở cả ngày mợ nhé!.... Gần hết mùa rồi, con chưa được ở cả ngày... mợ nhé, mợ nhé!
      - Được - mẹ tôi đồng ý, tôi như mở cờ trong bụng: nhất định hôm nay tôi sẽ gặt suốt ngày xem được bao nhiêu và bó những lượm lúa thật khéo để mấy bà thợ gặt khỏi mỉm cười chế giễu. Chị Hảo đã giúp tôi buộc một đụm vôi trộn bồ hóng để đánh đỉa, còn mượn cho cái liềm dấu ở bờ rào.
      - Tìm bóng cây mà ngồi cho đỡ nắng nhé!
Mẹ tôi dặn với khi chúng tôi đã ra đến cổng.
      - Vâng ạ!
Chúng tôi ùa chạy không kịp nghe tiếng cuối cùng, gió sớm lao xao trên ngọn cây, có tiếng chim Chìa Vôi hót lanh lảnh từ bụi cây nào đó.
      - Ồ! Em quên không lấy cái búp trầu rồi, tôi dừng lại băn khoăn. Tôi yêu tiếng chim Chìa Vôi, nó trong vắt từ những bụi cây thật kín khó mà trông thấy muốn ghẹo cho nó hót. Chúng tôi lấy cái búp trầu nhỏ xíu, thổi thật khéo sẽ cho tôi tiếng hót hệt tiếng chim Chìa Vôi. Chỉ một lát sau đã có tiếng đáp lại vút cao lanh lảnh của con chim thật.
           - Xì... Hôm nay mà mày định đứng đây ghẹo chim à? Phải đi sớm mới kịp đứng cùng hàng với người ta chứ!
Chúng tôi bàn bạc ra vẻ quan trọng rồi đi nối vào đoàn người từ các ngỏ hẻm trong làng túa ra đồng và tản đến các thửa ruộng khác nhau rải rác bên đường. Mùa gặt đã đi vào cuối vụ, mấy ruộng gặt trước gốc rạ được đánh gồi nối nhau như bát úp đã khô trắng.
 Bác Thảo - người làm rẻ ruộng nhà tôi đã đưa đám thợ gặt đi trước một quãng đến đám ruộng cuối cùng đã chín vàng ươm. Khi thấy tôi cầm theo liềm và lúng túng buộc túm vôi đánh đỉa, bác cười vang:
      - Cô Tám định xuống cắt với chúng tôi đấy à?
      - Hôm nay cháu sẽ cắt cả ngày với các bác.
      - Ôi chao, cắt cuối vụ đỉa nó tha cô lên bờ đấy!
      - Cháu có thuốc đỉa rồi. Nói vậy nhưng tôi cũng hơi rờn rợn.
      - Ruộng này sâu lắm, cô lội không được đâu, khéo ướt hết người về bà lại mắng chúng tôi đấy!
      - Không sâu lắm đâu. Bác ấy dọa cô đấy! - một người khác nói.
Các bà thợ gặt nói cười vui vẻ, cùng nhau vê quần lên tận trên đầu gối lội xuống ruộng Tôi cũng vê quần và lội theo. Được lội từ đầu mùa đến giờ tôi đã biết cách dẫm lên gốc rạ sẽ đỡ thụt sâu xuống bùn.
Đám người dàn thành hàng ngang và lập tức nghe tiếng vơ lúa rào rào. Tôi đến bên một bà đội cái nón rách chỉ còn một tý như cái bàn tay úp lên đầu: ồ bác Vĩnh, từ đầu mùa gặt tôi chưa gặp bác. Mấy lần đi qua nhà bác tôi chỉ thấy lũ con của bác vẫn cởi truồng như xưa. Đứa lớn nhất thì mặc cái quần của người lớn cắt cụt ống, tôi muốn hỏi nó nhưng lũ con nhà bác Vĩnh cứ thao láo mắt nhìn tôi ra ý ghét bỏ, khiến tôi không dám hỏi. Bác đang cắt bên một bà nhiều tuổi hơn, bà bé như một que củi, cúi sát trên ngọn lúa mà vẫn không sao theo kịp bác Vĩnh.
             - Mẹ Vĩnh dịch sang đây một tý, tao nay cắt chậm mất rồi,- bà thở dài đứng lên- cố mãi còm cả xương mà chả thấy gì.
            - Thấy  gì? Chỉ ước ngày mùa được một bữa ăn no mà cũng chả có.
            - Nói thế nào chứ lại không no được ba bữa ngày mùa ư?
            - Bà tính nhà cháu tám chín miệng ăn… còn công nợ.
Bà lão đứng thẳng lên nhìn bác Vĩnh
            - Công nợ… mặc công nợ, ba ngày mùa cứ cho con nó ăn no cái đã.
Bác Vĩnh cũng đứng lên cầm tay lúa dặt sát bà lão nói nhỏ nhưng tôi vẫn nghe được:
           - Nó móc mắt ra chứ con bà cô ấy còn biết thương ai
Hai người im lặng một giây, bà lão giở đùm trầu ra đưa cho bác Vĩnh một miếng:
          - Ăn miếng trầu này... nhà mày cũng nợ cái con ranh ấy à.
          - Vâng, lúc túng thì vay được là phúc rồi. Nó lấy chục mười lăm đấy, mới ăn hơn một tháng đã một đấu thành đấu rưỡi. Câu chuyện giữa hai người im bặt khi tôi đi đên gần.
           - Cái cô này ngoan đáo để. 
   Bà lão không để ý chép miệng:
            - Ôi dào, rau nào sâu ấy, lớn lên lại chả giống con chị nó à?
Mặt tôi nóng bừng lên cảm thấy bà ta đang nói tới mình bằng một giọng căm tức, khiến tôi càng buồn bực và xấu hổ. Mặt trời càng lên cao hơi nóng càng nóng hơn, cánh tay tôi mỏi rã rời và bàn tay đã phồng rộp. Tôi đã cố hết sức cũng chỉ được năm lượm lúa, đầu bó lam nham chẳng đẹp tý nào. Tôi tự bực với mình. Cái dự định lại gần để hỏi thăm bác Vĩnh tiêu tan.
    Tôi biết người ta ghét mình và phân vân không hiểu tại sao người ta lại ghét mình đến thế. Trăm tội chỉ tại chị Bích Xuân thôi. Chị đanh đá khiến người ta ghét và ghét luôn cả tôi. Lòng tôi nặng trĩu không muốn hỏi han gì bác Vĩnh nữa, nhưng bác Vĩnh đã ngừng tay gọi tôi:
           - Cô Tám giỏi thật! Cắt nhanh rồi đấy! Có mất da tay không,  thôi nghỉ đi, nắng lắm rồi.
Tôi gượng cười:
           - Hôm nay cháu cắt cả ngày với bác.
           - Ối giời ơi, có mà tượt hết da tay, chúng tôi cắt cả đời còn tuột cả da đây này. Lội không quen đau chân lắm đấy.
Thật tình tôi đã đau chói dưới gan bàn chân, mỗi bước lội cứ thụt sâu xuông bùn không rút lên được nữa. Bác Vĩnh như nhìn thấu ruột gan tôi dỗ dành:
      - Thôi lên đi, thế là giỏi chán rồi.
Ngày tôi học cắt buổi đầu chỉ được ba lượm, tôi đỏ mặt vì xấu hổ vừa vui thích quên cả bác có thể ghét mình như ghét chị Bích Xuân.
          - Bác có chở lúa lên không, cháu đẩy cho?
Tôi đã có kinh nghiệm vịn vào thuyền dễ đi hơn nên gạn khéo:
          - Ừ để tôi đẩy cô lên một thể. Bác dắc thuyền xếp gọn lúa lại một bên còn một bên bảo tôi trèo lên:
          - Cô ngôi đấy, đẻ tôi đẩy cho đỡ mỏi chân.
          - Cháu lội được.
Bác Vĩnh xếp cả những lượm lúa tôi cắt lên thuyền rồi rạp mình đẩy cho cái thuyền trườn lên rạ. Tôi vịn vào mạn thuyền lội theo, nhưng bác đẩy nhanh quá tôi bước theo muốn ngả xấp ngả ngửa, bác dừng lại nhìn tôi mỉm cười vui vẻ:
             -Thôi trèo lên đi, cứ cho tôi một lượm lúa thôi mà!
Giờ thì tôi ngoan ngoãn làm theo lời bác, con thuyền đè lên rạ tiến lên rào rào tôi ngập ngừng mãi mới dám hỏi bác:
            - Ban nãy bác nói còn nợ ai thế?
Bác có vẻ lúng túng:
           - Tôi thì nợ nhiều người: Bà Lý, bà Bạ, bà Cai và cả cô Bích Xuân nữa.
           - Chị Bich Xuân ư?  
           -Vâng.
Tôi không chú ý đến vẻ lúng túng của bác vì đang mải nghĩ đến cái dự định mới nảy ra trong tôi. Tôi hỏi khe khẽ:
           - Bác có muốn lấy lúa không?
           - Cô cũng có lúa cho vay à? Mà các cô ai chẳng có vốn riêng.
Tôi không nom thấy mặt bác nhưng nghe giọng nói tôi biết bác mừng rỡ:
           - Cô cho tôi vay hai đấu nhé... tôi giả cô Xuân... cô ấy đòi ghê quá... Tháng tám năm ngoái tôi vay cô ấy một đấu, tháng mười không giả được thế là thành đấu rưỡi, tháng năm này thành hơn hai đấu rồi. Thế mà giờ tôi chẳng còn hạt nào. Tôi cũng muốn sòng phẳng, chết cái là tháng này thầy nó ốm mãi có đi làm được đâu.
            - Không, cháu nói cái lúa cháu cắt kia… Đến chiều cháu nói chị Hảo cho bác mấy lượm lúa ấy, được không?
           - Ồ, không được đâu. Bà mà biết thì tôi chết.
           - Không. Cháu không nói với mẹ cháu đâu.
Bác Vĩnh im lặng có vẻ đắn đo:
           - Cô có vốn riêng cho tôi vay thôi, lấy lúa ruộng tôi sợ lắm. 
Nhưng lúc đến gần bờ bác lại thì thầm: Hay là cô định cho tôi. cô Hảo đến cô dấu vào cái gồi rạ cạnh bụi sồi kia kìa tối tôi tìm lấy.
Tôi lưỡng lự: Chả nhẽ tôi dấu cả chị Hảo. Chúng tôi đã hứa không dấu nhau điều gì kia mà. Bác Vĩnh nhìn tôi với cặp mắt thắc thỏm rầu rĩ, thôi được tôi sẽ nói với chị Hảo vào ngày mai, chắc chi không nỡ mách mẹ tôi đâu.
          - Được. Cháu dấu vào đấy nhé!
Dấu lúa xong tôi lên bờ nằm lăn ra bờ cỏ thì chị Hảo vừa đến:
         - Không cắt nữa à?
Chị ngồi xuống bên tôi vuốt ve những sợi tóc xòa trên trán: có mệt lắm không? - Chị quen nựng nịu tôi như em bé, được thể tôi rúc vào lòng chị thì thầm:
            -Ta cho bác Vĩnh một ít lúa đi, con bác ấy đói lắm. Chị Hảo ngớ ra nhìn tôi như không hiểu. Tôi kể lại chuyện chị Bích xuân và thủ thỉ:
            - Em thương bác ấy lắm. Chị Hảo vốn đanh đá nhưng hay động lòng.
            - Thôi…để tao cho bác ấy đồng bạc bằng năm yến lúa đấy.
            - Thật chứ?
            - Lại chả thật.
Tôi mừng rỡ ôm chị Hảo hôn rối rít, không ngờ chi Bích Xuân đã đến đằng sau, chị nói với giọng khinh khỉnh:
            - Làm trò gì thế?
Chúng tôi giật mình lúng túng không biết nói sao chỉ đứng đực ra. Chị chống nạnh tay vào hông đưa mắt săm soi khắp ruộng:
           - Lúa nào để bên cạnh bụi sồi kia?
           - Lúa… lúa… Tôi chưa tìm được câu trả lời chị đã nguýt dài:
           - Xem gặt mà để họ để lúa rải rắc thế kia có mà..... Thế mà cũng đòi xem gặt.... Bác Thảo, chở chỗ lúa ấy lên đây.
Thôi lúa tôi dấu cho bác Vĩnh bị lộ mất rồi. Tôi nhìn chị bằng con mắt căm tức, chị vẫn đưa mắt lục soát:
           - Còn lúa nào bên bờ kia nữa?
           - Lúa họ chưa kịp chở lên đấy ạ.
          - Cắt đến cuối ruộng lúa còn để ở đầu ruộng. Các người định để gánh đêm hả? Chở ngay lên đây.
Bác Thảo chần chừ rồi cũng phải chở lên những bó lúa cắt ngắn to tầy ôm. Chị Bích Xuân rít lên:
            - Có nhà ai xuống ruộng là cắt công trước như thế này không? Phơi khô để nén cho chặt hử? Bác gánh cả chỗ lúa ấy về nhà tôi mà chia tôi không biết chia ở đây đâu.
Bác Thảo sợ hãi:
          - Thôi, tôi xin cô. Người cắt họ tham lòng một tý cô đừng nói với bà,  bà chửi chúng tôi chết.
          - Tham… tham lấy được, chị khăng khăng bắt bác Thảo chở bằng được số lúa ấy lên. Đám thợ gặt thấy thế, vội ùa cả tới ôm chặt mỗi người vài lượm lạy van rối rít:
            - Chúng cháu chót dại lần sau không dám thế nữa.
           - Đấy bác cứ gánh tất về nhà bác đi, muốn cho bao nhiêu thì cho.
Chị cố nén lấy giọng ôn tồn nhưng nét mặt vẫn hầm hầm khiến bác Thảo cố nài nỉ
           - Đấy là người cắt họ tham chứ cháu có được chỗ lúa ấy đâu mà cô mắng oan cháu.
           - Kéo cả nhà cả họ ra mà thông đồng với nhau - chị Bích Xuân bỗng dưng nổi giận: -tham này... tham này…chị sấn lại rũ đống lúa tung tóe ra đầy bãi cỏ.
           - Thôi tôi van cô… của ngọc thực mà - bác Thảo nghẹn ngào giọng đầy nước mắt khiến tôi chỉ chực khóc theo, nhưng chỉ đành  đứng nhìn bác cúi sắp những bông lúa vàng sẫm bó lại thành từng bó nhỏ, chia ra hai đống. Với  tôi, ngày lội đồng hôm nay không còn thú vị gì nữa. Tôi ghé tai chị Hảo nói nhỏ:
          - Em về trước đây, em rức đầu quá!
Đi ngang nhà bác Vĩnh nom thấy bác trai đang ngồi ở bực cửa, người khô đét trong manh áo tả tơi. Tôi thương bác quá. Bỗng nhiên, tôi ước mình có phép lạ như đúc phật trên cao vẩy tay trút xuống nhà bác nào lúa gạo, nào quần áo để bác Vĩnh và lũ con bác mừng rỡ, không hiểu ở đâu mà có.
Nhưng tôi chưa kịp có phép lạ thì bác Vĩnh đã vĩnh viễn ra đi không cần tôi cứu giúp nữa. Nửa tháng sau hôm ấy, bác Vĩnh ốm chưa khỏe hẳn đã gắng dậy đi làm thuê. Bác nhận chở một cây gỗ to, thằng con kéo người cha đẩy lên dốc. Thằng con tuột tay, cây gõ thúc ngược lại vào ngực ông bố, thế là bác ra đi không kịp từ biệt vợ con. Người chủ thuê cho bác gái một đấu gạo để nấu cơm cho người chôn cất ăn Nhưng ai nỡ ăn bát cơm cay đắng ấy.
Tôi còn biết làm gì được ngoài việc cùng chị Hảo bổ ống tiền để dành được 25 đồng hào và một nắm tiên xu, dấm dúi đưa cho bác gái. Dù sao vẫn không tránh khỏi cảnh tan nát đến với gia đình nhà bác. Bác gái phải cho dần từng đứa con. Cuối cùng chỉ còn thằng thứ năm ở với mẹ trong căn nhà xiêu vẹo.
Việc bổ ống của chúng tôi không dấu nổi chị Bích Xuân đã trở thành một cớ để chị luôn chế diễu: nào là bà chúa ba, nào là đức phật quan âm...  khiến tôi trở nên đồng tình với những người thợ gặt luôn nhìn chị với con mắt căm tức mà không làm gì được. 
 
Đăng nhập để trả lời
0