📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tây tiến 55 năm 🔒

59 trả lời, 9.692 lượt xem — Trang 2 / 2
Chuyện tình Tây Tiến


Truyện ngắn của Lê Hùng Lâm


Đêm đêm lính Tây Tiến thường kháo nhau đủ chuyện, sôi nổi nhất là chuyện tình. Thật hư đến đâu, ít nhiều thế nào, ai mà biết được. Càng thêm bớt càng ly kỳ và đứa nào kể cũng bảo mình biết rõ mười mươi. Hùng kể mình biết chuyện tình của đại đội trưởng Như: Hồi ấy trong đại đội mình là chú bé nhỏ nhắn, nhanh nhảu nhất và hình như cũng xinh xẻo. Anh Như chọn mình làm liên lạc viên. Mình thích được anh trao giấy tờ, chạy như con thoi, tung tăng xuống các trung đội, tiểu đội. Bị trêu là "em gái" đại đội trưởng mình cũng thích thích. Tuy vậy càng sống cạnh anh mình càng thấy đại đội trưởng gì mà đánh trận thì hăng, về nghỉ thì lại mơ mơ màng màng. Có lúc anh thẫn thờ nhìn mình như nhìn một người khác. Anh còn bắt mình ngồi làm mẫu cho anh vẽ. Vẽ hàng chục, hàng trăm lần, nhưng cứ đến đôi mắt thì lại chưa vừa lòng, vẽ lại. Mình nghi anh vẽ mắt ai chứ không phải mắt mình.

Một hôm, tiểu đội trưởng Phúc lên bù khú với đại đội trưởng, xưng hô mày tao. Thì ra họ là bạn cùng lớp ở trường Thăng Long. Phúc bảo: "Chỉ tao biết tại sao mày chọn cu Hùng làm liên lạc viên. Nó có đôi mắt giống con Tuyết thế! Cứ tưởng chiến đấu 2 tháng sau về giải phóng Hà Nội ngờ đâu 2 năm rồi. Mày có tin tức gì về Tuyết không? Như thở dài: "Nhớ quá, sau trận này tao phải về tìm Tuyết". Ngày ấy nghe nói có đứa con gái đẹp đứng bán sách ở phố Bà Triệu, các anh liền rủ nhau đi ngắm xem sao thì được chứng kiến tài đối đáp của cô hàng sách. Hai thanh niên đến hỏi: Cô có "Làm đĩ" không?. Tuyết tỉnh bơ: Không, chỉ có "Hai thằng khốn nạn!". Đó là tên hai cuốn tiểu thuyết đang bán chạy. Cũng từ đó Phúc và Như thích la cà ở hiệu sách này. Đáo để với ai chứ với bộ đội thì cô đon đả, bắt chuyện rất nhanh.

- Nó mê mày cao to, đẹp trai, sao vành súng lục, chứ lùn tịn như tao ăn thua gì. Thế chúng mày yêu từ lúc nào?

- Thư đầu tao nhắn Tuyết là bận chỉ huy không ra được, nhờ mách bảo có sách gì hay. Không ngờ thư gửi lại giới thiệu cuốn "Triết học Kăng" vừa xuất bản và Tuyết còn bình luận về Rút-xô, Mông-tét-ki-ơ... Thư của chúng tao cứ chuyển dần sang triết lý tình yêu rồi yêu nhau thật. Những ngày sôi sục chuẩn bị đánh Tây cũng là những ngày cuối cùng chúng tao dạo quanh Hồ Gươm, tà áo dài tím của Tuyết cuốn quanh quân phục của tao. Hôm tác chiến ở Vĩnh Tuy, moóc-chê và pháo địch nã tan tành các chiến luỹ. Tao về đến hầm chỉ huy chợt thấy Tuyết. Hỏi sao đến được đây thì Tuyết nói đưa gia đình tản cư về quê rồi trở lại làm cứu thương hết mặt trận cửa ô này sang cửa ô khác để tìm tao. Cả mặt trận phía nam Hà Nội nổi tiếng đại đội anh Như. Thế là tìm được. Lần ấy chúng mình thề gắn bó với nhau suốt đời, đến ngày chiến thắng sẽ cưới nhau. Tuyết vẫn mặc áo tím, cái áo dài tím nổi màu giữa hiệu sách, loang loáng ven bờ hồ nay được cắt ngắn và xuất hiện ở trận địa. Tao bồi hồi, lúng túng khi thấy mùi nước hoa quen thuộc. Lửa đạn thế này mà vẫn nước hoa. Bao thằng cầm súng băng qua vẫn ngoái nhìn cái áo tím thoáng mùi hoa thơm. Tao nhớ rồi, ba ngày sau mày vẫn trêu tao là còn mùi nước hoa trên áo. Thế rồi đi Tây Tiến, bặt tin nhau.

Trú quân ở Mường Pùng, mỗi khi tắm suối về lính ta lại sôi nổi tả cảnh các cô tắm suối. Có anh một ngày đi tắm mấy lần. Đại đội trưởng thì khác, bảo là đi tắm nhưng anh vẫn quân phục chỉnh tề, mũ sắt chụp đầu, hiên ngang với khẩu "côn bát" và thắt lưng Mỹ trệ sườn, cứ như ra trận. Mình đi theo thấy lần nào anh cũng rẽ qua cái nhà sàn gỗ ấy và lần nào cũng thấy trong cửa sổ có mấy cô Lào khúc khích đấm vai nhau. Họ đẩy ra trước cô xinh nhất, mặc áo tím, gọi lơ lớ "anh bộ đội". Đại đội trưởng mặt mày rạng rỡ, chỉ huy gì mà cười tình tứ thế. Dịp ấy đúng lễ té nước, bộ đội đều được dân Mường Pùng té nước cầu phúc và cố chạy cho khỏi ướt. Riêng đại đội trưởng cứ đứng cho cô áo tím giội hết cả bương. Đêm hôm đó anh lên cơn sốt rét. Mình nghe thấy trong tiếng run cầm cập anh gọi "La vi-ô-lét" (violette=tím). Dọc đường Tây Tiến, gặp Như anh em thường nheo mắt gọi "La vi-ô-lét". ít người biết cô áo tím nào.

Trong trận đánh Mường Lồ anh đang xông lên thì trúng đạn. Anh to nặng quá nhưng mình cũng cõng được ra bờ suối. Khi cái đau đã ngấm và gió rét nổi lên, anh ôm chặt mình vào lòng, hai anh em cùng ấm. Anh thều thào: "Nếu anh có sao, chú tìm gặp chị Tuyết nói là chị vẫn luôn ở bên anh". Mình quờ tay ngắt được một bông hoa dại giơ lên: "Anh ơi, hoa tím đây!".

Sau trận chỉ huy anh dũng ấy anh được thưởng huân chương và nghỉ phép 10 ngày về thăm nhà. Anh xin bố mẹ anh tìm gặp bố mẹ chị, cho anh chị được đính hôn. Hai gia đình đều là nhà giáo, đang tản cư. Đêm trăng trên con đò nhỏ, hai ông bố hoạ thơ, hai bà mẹ chuẩn bị thức nhắm và đôi trai gái tự tình. Đã có một dòng sông kháng chiến chở một con đò đầy ắp hạnh phúc thanh cao đến thế.

Trở về đại đội, mỗi khi đi kiểm tra các đơn vị hay trinh sát trận địa anh đều mang mình đi theo, có lúc hai anh em rong ruổi mỗi người một ngựa. Mình thích nhảy ngựa mà anh lại cứ đỡ mình. Mình trêu: "Giá em mặc áo tím phi ngựa theo anh thì tuyệt trần". Anh bảo: "Thế thì tớ bế cậu lên ngồi cùng". Được anh quý như "em gái" mình cũng đỡ nhớ nhà và càng quấn quýt bên anh.

Một hôm có tiếng súng nổ ở đầu nhà. Báo động, cả đại đội bộ bật dậy, chạy ùa xuống cầu thang. Đại đội trưởng đã đứng đấy cầm roi quất vun vút, ra lệnh quay lại nhảy qua cửa sổ. Bị roi quất đau quá mình kêu to: "Em đây mà, anh Như, em đây mà". Anh quát: "Em thì em" và cứ quất mạnh. Mình ôm đầu, quay lại nhảy qua cửa sổ. Bị đánh nhiều nhất đau nhất, mình rất ức. Sớm hôm sau anh đến vỗ vai mình, mình quay mặt đi: "Sao đánh người ta đau thế" rồi quyết xin xuống tiểu đội chiến đấu. Từ đó xa anh nhưng nhờ cách rèn quân nghiêm khắc của anh mà bao lần mình thoát chết. Địch đột kích cứ nhằm cầu thang lia đạn, mình bao giờ cũng tìm chỗ nằm cạnh cửa sổ nhà sàn, có động là nhảy qua.
Chuyện anh hy sinh có nhiều người kể khác nhau, người bảo địch lùng sục tiêu diệt hết đội trinh sát do anh dẫn đầu, người nói anh đã bắn trả quyết liệt, địch gọi không hàng và dành viên đạn cuối cùng cho mình. Tên quan hai Pháp đã ngả mũ, nghiêng mình trước xác anh: "Tôi xin tỏ lòng khâm phục người anh hùng trẻ tuổi". Riêng mình, mình biết mỗi lần cùng anh lau khẩu "côn bát" anh lau rất kỹ viên đạn cuối cùng và nói sẵn sàng dành cho anh, quyết không để lọt vào tay giặc. Được tin anh hy sinh mình vô cùng ân hận, sao mình đã dỗi, đã bỏ anh, không ở bên anh để chiến đấu bảo vệ anh, mình biết nói sao với chị Tuyết.
Dọc đường kháng chiến mình đi tìm chị. Tìm chị ở khu 3. Tìm chị ở Việt Bắc. Một chiều đông, hành quân qua Thanh Cù, ghé vào quán nước bên đường mình nghe một bà cụ than thở: "Thương cô giáo quá, trẻ đẹp thế mà mang mãi khăn tang. Chồng đã cưới đâu mà cứ về săn sóc bố mẹ chồng, nuôi dạy đàn em chồng, thân thiết như ruột thịt. Đâu như đang ở hiệu ảnh Như cuối phố". Nghe tên Như, mình bàng hoàng, bỏ bát nước, chạy vượt hàng quân đến hiệu ảnh. Sững người thấy một chị áo tím sờn vai với vành khăn trắng, ngồi bóc sắn giữa đàn em nhỏ, mình gọi:
- Chị ơi, chị là chị Tuyết?
Chị ngước mắt lên. Ôi, đây là đôi mắt mà anh Như vẽ mãi.
- Sao chú biết tên tôi? Chớp chớp mắt, chị cắn môi, run rẩy. Chú Hùng phải không? Vào đây kể chuyện anh Như đi!
- Thưa chị, em đang vội hành quân. Mình nghẹn lời.

***


Dịp kỷ niệm 50 năm Tây Tiến lại có một chuyện tình mới, tưởng như bịa: con gái Trung đoàn trưởng Tuấn từ nước ngoài về thăm mộ bố! Vô lý, suốt thời gian chỉ huy Tây Tiến cho đến khi hy sinh năm 25 tuổi có ai thấy anh yêu đương hay con cái gì đâu. ấy vậy mà 50 năm sau đồng đội mới tìm thấy mộ anh, đưa về cải táng tại quê nhà thì có một người con gái đến chịu tang cha. Anh đã sống và chiến đấu nổi tiếng anh hùng một thời nên nghi lễ rất long trọng, nhiều quan chức tới dự. Trưởng ban tổ chức từ chối sự có mặt của cô gái, vì lý lịch Tuấn không ghi có vợ con. Gia đình và đồng đội của anh phản đối ban tổ chức, xin cùng cô gái tổ chức lễ tang riêng. Mọi người cùng thương xót, vượt qua mọi bất đồng và trong tang lễ cô gái lặng lẽ đứng chịu tang.
50 năm trước mẹ cô là một chị chủ quán cà phê ngon ở một phố tản cư. Với đôi mắt đẹp trên làn da trắng mịn và khéo chiều khách, chị được anh em bộ đội tặng cái tên: cô gái Nhật. Bố mẹ chị đã bỏ kháng chiến, vào thành. Chị quyết ở lại, chẳng rõ vì lòng yêu nước hay vì những chàng trai Tây Tiến. Từ mặt trận về ai cũng muốn lướt qua quán cà phê để chiêm ngưỡng cô tố nữ tản cư. Ngắm nhìn người đẹp được coi là phần thưởng cho cả chỉ huy và chiến sĩ. Chỉ có chàng trai nào hiên ngang nhất, đẹp trai nhất mới là người anh hùng của riêng chị nhưng anh nào cũng tưởng mình xứng đáng. Vì vậy, lính tráng bịa chuyện chị có nhiều người yêu. Bỗng một ngày ai cũng bâng khuâng với cái tin: người đẹp đã bỏ quán "dinh tê" (vào thành) rồi. Người thì trách rằng mọi ưu ái của chị với bộ đội chỉ là giả tạo. Lính thì trêu chỉ huy là si tình, tưởng bở, anh thì ngậm ngùi: đời là như thế!
Có ai biết đâu chị đã chọn được người yêu duy nhất. Nồng nàn và đắm đuối nhất là khi anh vừa khỏi vết thương ghé qua quán chị rồi lại trở về đơn vị chỉ huy những trận đánh trên đường số 6. Biết mình đã có mang 2 tháng chị sung sướng với kết quả của mối tình kháng chiến nhưng lo rằng tin này lộ ra thì ảnh hưởng đến uy tín của anh, lo kỷ luật bộ đội thời chiến. Thế là chị về thành với gia đình và nhắn anh sớm về giải phóng Thủ Đô, chị sẽ bế con ra đón.
Chị sinh con vào lúc anh hy sinh trên đường số 6.
Ngày hoà bình lập lại chị bế con về chào bố mẹ anh. Vốn nề nếp, gia giáo, bố anh không chấp nhận, cứ cho con trai mình là người chỉ huy mẫu mực, danh tiếng và đồng đội anh về thăm các cụ đều không hề nói anh có con. Riêng mẹ anh ôm cháu vào lòng: "Này ông ơi, đúng là con thằng Tuấn, đúng cháu tôi đây rồi. Cái trán nó, đôi mắt nó, đôi môi đỏ thế này. Thằng Tuấn nhà mình chẳng có đôi môi đỏ chót như con gái đấy ư. Kệ ông, đây là cháu tôi. Các con ơi, ra mà nhận con anh Tuấn. Chị để tôi nuôi cháu, trả cháu cho tôi".
Chị thắp nén hương trước bàn thờ anh rồi lau nước mắt bế con đi.
Nay, cứ mỗi lần anh em Tây Tiến gặp nhau lại thêm bớt vào chuyện tình của người chỉ huy nhiều chi tiết nữa./.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Ông trưởng động người Dao Toàn Sơn


Vũ Tuấn


Cuối tháng 12-1949 Chiến dịch Lê Lợi sắp kết thúc. Hàng loạt đồn bốt địch ở Lạc Sơn (gồm cả Tân Lạc ngày nay) Kỳ Sơn, Đà Bắc như Tử Nê, Toàn Thắng, Rậm, Mát, Mỏ Hẻm, Suối Rút... bị tiêu diệt. ở Mai Châu địch rút bỏ nhiều đồn co cụm về Đồng Huống. Đường lên Đà Bắc rộng mở. Theo chân anh em trinh sát và vũ trang tuyên truyền, tôi lội vòng vèo suối Hoa lên chợ Bờ và vượt sông Đà đến Toàn Sơn, động người Mán (nay gọi là người Dao) chỗ đứng chân để bám đường số 6 và thị xã Hoà bình. Giữa tiết đông rét buốt mà tôi leo dốc đổ mồ hôi hột mới tới nhà ông trưởng động.

Nghỉ một lát, lại sức tôi ra máng nước dẫn từ suối về rửa mặt mũi chân tay. Thấy tôi cởi trần lau người ông trưởng động cười nói: “Mày chịu rét giỏi hơn tao. Đi làm về tao phải tắm nước nóng. Nhưng mày không quen chịu nắng bằng tao. Tao đi nương không cần nón. Mày đi nắng phải đội mũ”. Tôi có cảm tình ngay với lối nói bộc trực của ông già.

Tối đến trong bữa cơm bên bếp lửa, sau những trao đổi về tình hình đời sống sản xuất và chiến đấu của bà con trong động, tôi được nghe ông kể mẩu chuyện thú vị về cách đối phó cứng cỏi khôn khéo với Đinh Công Tuân kẻ cầm đầu cái gọi là “Xứ Mường tự trị”.

Một hôm đi chợ Phương Lâm về, trên chuyến phà sang thị xã Hoà Bình ông chạm mặt Đinh Công Tuân giữa đám tuỳ tùng và lính tráng bảo vệ khá nghiêm ngặt. Ông giả bộ như không biết hắn là ai, chẳng vái chào mà cũng không tỏ ra khúm núm, sợ sệt. Tỏ vẻ khinh khi, Tuân nói với đám tuỳ tùng: “ồ! Bọn này là mấy thằng Mán xá đây mà!”.

Nén giận, ông chờ cho đến khi người soát vé hỏi thu tiền phà mới đối đáp. Chỉ tay vào Đinh Công Tuân nói: “Ông kia là người to chức nhất ở đây đã nói chúng tôi là Mán xá. Đã được xá mọi sưu thuế sao lại đòi tiền phà chúng tôi! các ông cứ hỏi lại ông ấy xem có đúng thế không?”. Nói rồi ông bước thẳng lên bờ đúng lúc phà cập bến. Tuân và đồng bọn hẳn là rất cay cú song đành nín lặng, không bắt bẻ gì được ông già.

Kể lại chuyện trên đây ông trưởng động chợt hỏi tôi: “Bộ đội có biết gọi chúng tao là Mán gì cho đúng không?.

Không đợi tôi trả lời, ông giải thích: “Người Mán chúng tao có nhiều tộc khác nhau. Tao thuộc tộc Mán quen gọi là “Mán tiền” vì phụ nữ thường đeo sâu tiền bằng bạc hay đồng ở cổ, ở tay hoặc gọi là “Mán sơn đầu” do cách trang sức đầu tóc-ngoài ra còn có “Mán đỏ”, “Mán cao lan”, “Mán áo dài”. người Mán chúng tao quen làm nương, làm nhà, sống trên núi cao. Nếu ăn ở không bình yên, nương rẫy mất mùa, không đủ ngô lúa ăn lại rời sang núi khác. Bọn Tây hay vua quan chẳng thể lên đây để bắt phu bắt lính hay thu sưu thuế được nên gọi là Mán xá có ý khinh miệt chứ thương gì người Mán!.

Nay Cụ Hồ thương dân Kinh, Mường, Thái, Mán như con một nhà, kêu gọi toàn dân đoàn kết đánh giặc Pháp để giữ nước, giữ bản mường, mọi dân tộc được tự do no ấm. Giặc Pháp phải thua ta thôi.

Tìm hiểu sâu xa hơn tôi được biết đông đảo tộc người Dao là từ miền Nam Trung Quốc phiêu dạt sang Việt Nam sau nhiều biến cố lịch sử. Họ dùng chữ Hán trong học tập, nghi thức tôn giáo (có tranh thờ Quan công, Tề thiên đại thánh), biết tự làm lấy giấy viết, nến sáp, hương, xe sợi dệt vải với mầu sắc, hoa văn riêng biệt. Họ thể hiện rất rõ tính tự cường, bất khuất trước cường quyền. Chính vì vậy ở Việt Nam họ đã trở thành cơ sở cách mạng và kháng chiến tin cậy của ta.

Sau kháng chiến thắng lợi không ít động người Dao đã “hạ sơn” hoà nhập vào các bản mường cùng đồng bào Kinh, Mường, Thái ở Hoà Bình. Đó là thắng lợi của chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng và Chính phủ ta.










http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Vào địch hậu huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình


Người kể: Nguyễn Văn Thi
Người Viết: Nguyễn Hữu Duyên


Mùa xuân 1948, thực dân Pháp dựa vào các lang đạo phản động ở các Mường lớn như Đinh Công Tuân-Cao Phong, Quách Bửu-Vang, Đinh Thế Thiện-Bi và Quách Cẩm ở Vụ Bản... lập các đồn bốt dọc đường 12, từ Quy Hậu, Mường Chùa, Đông Lai, Tích Cốc, Vụ Bản và các đồn tại các xã như Đồn Nghẹ, Bò Khống, Toàn Thắng, Mường Đầm, Khạng, Gia Mô, Phú Lẫm, Đồn Vang, Riệc, Bình Cảng và Bình Hẻm v.v..

Trong cuộc tấn công chiếm đất, chiếm dân, tìm bắt cán bộ, bộ đội, du kích và uy hiếp nhân dân để mở rộng phạm vi kiểm soát, chúng đã huy động hơn một tiểu đoàn Âu-Phi do thiếu tá Va-nu-xem (Vanucem) chỉ huy, hai đại uý Điôt (Diot-sau là đồn trưởng ở Vụ Bản) và Phăng-tu-xi (Fantucci), hành quân bằng xe cơ giới. Vũ khí lớn có một đại bác 105 ly và nhiều súng cối, súng máy đạn dược... đi đến đâu chúng cướp bóc, hãm hiếp, dùng bọn lang-ậu dẫn đường trả thù những người kháng chiến và lùa dân ở nơi sơ tán về làng để lập tề cho thổ lang trị thổ dân.

Về phía ta, tuy có sự chuẩn bị nhưng khi chiến sự lan tới quá nhanh, các đơn vị của Trung đoàn Tây Tiến chưa thực hiện tốt việc phối hợp với dân quân du kích đánh du kích vận động trước để tiêu hao sinh lực và làm chậm đà tiến công của chúng. Lối đánh dàn quân chặn địch chính diện bị địch dễ dàng tràn qua dẫn đến "vỡ mặt trận", rút lui để bảo toàn lực lượng nên đại đa số dân chúng hoang mang sợ địch bắn giết. Nhiều xã mất liên lạc với Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện Lạc Sơn. Các đoàn thể từ chi bộ, chính quyền đến các đoàn thể và du kích không hoạt động. Do đó, đời sống của nhân dân vùng tạm chiếm bị đảo lộn nhanh chóng. Những quyền lợi tự do-dân chủ của người dân bước đầu do cách mạng tháng 8 đem lại bị giặc Pháp xoá bỏ để trở lại chế độ của Lang đạo như trước.

Theo chủ trương của trên, Trung đoàn Tây Tiến thực hiện biên chế đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung và cho thành lập các đơn vị võ trang tuyên truyền (VTTT) để vào địch hậu, trở lại mặt trận Hoà Bình.
Biết tôi là người Mường xóm Dè xã Thịnh Lang nên cấp trên cho đi học lớp lý luận "Hoạt động trong vùng địch hậu" do ông Lý Ban giảng dạy. Kết thúc khoá học tôi được cử về đơn vị VTTT (trực thuộc Trung đoàn bộ) có phiên hiệu là C121 do anh Thái Phận là đại đội trưởng, Trang Sơn và Thịnh là đại đội phó. Đơn vị chia làm hai đội, mỗi đội có khoảng 100 người. Đội VTTT A do anh Nguyễn Đình ứng thường gọi là Quang Trung làm đội trưởng, phụ trách địa bàn từ Vạn Mai về đến xã Bình Thanh. Đội VTTT B do anh Nguyễn Văn Chí thường gọi là Trang-Bình làm đội trưởng và tôi là Nguyễn Văn Thi làm đội phó, phụ trách địa bàn ở các xã hai bên đường từ Vụ Bản đến Dốc Cun, kể cả các xã vùng sâu, vùng cao của dãy Trường Sơn. Khoảng trung tuần tháng 6/1948 đơn vị VTTT từ làng Mống Lá huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình, hành quân ban ngày theo đường 12 lên Phố Sấu. Dưới lá nguỵ trang trên mũ và ba lô quân trang mới được phát, anh bộ đội Cụ Hồ nom đã "xinh xinh" trong mắt người dân vùng tự do ở hai bên đường. Đến làng Côm về phía bắc Phố Sấu, đơn vị nghỉ lại trong nhà dân, có tiền trạm bố trí cho từng tiểu đội mới đến ăn ở.
Tôi là người địa phương lại là B phó nên được anh em trong đơn vị rất tin tưởng nói đùa là "Kỳ này Cọp-Rụng được Trung đoàn Tây Tiến thả về rừng" (Khi chưa đi bộ đội, ông bố tôi đặt cho là Rụng, theo nghĩa được đẻ rơi, đẻ rụng). Sau khi ăn cơm tối xong, anh Phận cho cán bộ hội ý, trong đó có việc quan trọng đầu tiên của đơn vị vào địch hậu lần này. Anh cử tôi cầm giấy giới thiệu của Trung đoàn đến Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện Lạc Sơn ngay ngày hôm sau để phối hợp với địa phương tuyên truyền cho dân tin tưởng và ủng hộ kháng chiến để xây dựng lại chính quyền và các đoàn thể ở các làng xã, nhất là chú trọng đến lực lượng dân quân du kích cùng bộ đội diệt tề trừ gian, tăng cường sức chiến đấu cho phong trào kháng chiến của huyện.

Sáng hôm sau tôi cùng một tiểu đội từ làng Côm đi vào xóm Ngheo-Xóm Sáng là hai xóm của xã Đại Đồng, Lạc Sơn, Hoà Bình nhưng giáp đất của huyện Thạch Thành, Thanh Hoá. Đi mất một buổi sáng thì đến nơi ở của Uỷ ban huyện. Tôi được ông Quách Hy, Chủ tịch huyện và đồng chí Hoàng Lương, bí thư huyện uỷ Lạc Sơn thân mật đón tiếp. Tôi đưa giấy giới thiệu của Trung đoàn Tây Tiến do đồng chí An Giao ký và báo cáo nội dung với hai ông về ba việc của cấp trên căn dặn:

- Đơn vị VTTT được lệnh trở lại hoạt động ở Hoà Bình để làm những việc đã nói ở trên. Đơn vị có khoảng 200 người, hoạt động ở các tuyến... thời gian từ một đến hai năm, đơn vị nhờ Uỷ ban giải quyết cho lương thực, thực phẩm, Uỷ ban xem có thể giúp nuôi quân trong thời gian đầu từ một đến hai tháng không?

- Ông nói về mục đích của bộ đội vào địch hậu làm công tác VTTT, phối hợp với chính quyền và huyện uỷ xây dựng lại cơ sở, lực lượng vững mạnh thì mới kháng chiến lâu dài được. Vì hiện nay chỉ có xã Cộng Hoà Và Đại Đồng còn chi bộ Đảng nên chúng tôi coi như phải làm lại từ đầu thông qua công tác võ trang tuyên truyền của các đồng chí, huyện sẽ cử cán bộ cùng bộ đội tiến hành xây dựng lại phong trào kháng chiến.
- Ông Hy suy nghĩ rồi ước lượng số thóc thuế vừa thu được, cộng số còn ở kho dự trữ của kháng chiến, cộng với lòng tin của ông ở lòng yêu nước của nhân dân hiện còn tạm thời ở trong vùng địch hậu, coi đấy mới là nơi cung cấp hậu cần tại chỗ, đảm bảo nuôi được đơn vị VTTT. Ông nói: "Thay mặt Uỷ ban tôi mời đơn vị vào công tác để giải phóng cho nhân dân Lạc Sơn"

- Việc thứ hai tôi báo cáo là hiện nay đường vào vùng Thạch Bi có rất nhiều đồn bốt của địch, đơn vị nhờ Uỷ ban cử người dẫn đường cho bộ đội đi an toàn và giữ được bí mật-Tránh cho cán bộ bị địch bắt như ở Mường Cảng tháng trước.

- Ông Hy gọi anh Tín (người xóm Lạc) là cán bộ bên huyện đội đến cùng bàn việc, rồi phân công anh Tín phụ trách 1 tiểu đội có vũ trang dẫn đường vào Thạch-Bi theo tuyến đường 12 qua Gò-Tha đến xóm Riềng, qua xóm Tuôn sang sông Bưởi, đến xóm Tưa vào chân núi Trường Sơn là Mường Rầm-Mường Chiến, lên Yên Lương-Phú Lẫm-Gia Mô. Giữa xã Gia Mô và Do Nhân có Thung Vàng là nơi tập trung quân.

- Ông Hy hỏi tôi ngày đơn vị định vào địch hậu là ngày nào...để anh Tín đón ở đâu, lúc mấy giờ...

- Tôi thưa với ông là 8 ngày nữa là rằm tháng 6 có ánh trăng soi sáng thuận tiện cho việc hành quân và anh Tín sẽ đón ở quán nước phố Gò Cha lúc 6 giờ chiều ngày rằm.

- Ông Hoàng Lương thống nhất với ông Hy rồi căn dặn anh Tín chọn cử các đồng chí có quê trên tuyến đường đi Thạch Bi và phân chia nhau ở lại các xã làm nòng cốt cùng bộ đội VTTT xây dựng Chính quyền và các đoàn thể kháng chiến-chú ý bồi dưỡng đào tạo những quần chúng tích cực mà nòng cốt là bần cố nông và các đội viên du kích để kết nạp vào Đảng, kịp thời lãnh đạo phong trào kháng chiến tại các xã.

- Tôi xin phép báo cáo nốt nội dung việc thứ ba là xin uỷ ban danh sách bọn phản động ở các làng, xã trong huyện. Ông Hy đắn đo rồi nói: "Việc nay tôi sẽ làm việc với anh Vũ Tuấn trưởng ban địch vận sau". Được lời như cởi tấm lòng bõ chuyến đi đến huyện đạt kết quả, tôi xin phép cùng anh em trở về đơn vị nhưng ông Hy giữ anh em ở lại ăn cơm trưa xong mới đồng ý cho chúng tôi về.

Anh Tín đi tiễn chân hỏi tôi là "anh cũng quen ông Hy à?"
Tôi trả lời là không quen, nhưng biết ông Hy từ sau cách mạng tháng 8/1945. Ngày ấy tôi chưa đi bộ đội, sinh hoạt ở đoàn thể thah niên xã đi dự ngày 2/9/1945 là lần đầu tiên trông thấy ông Hy ngồi ở ghế chủ tịch đoàn, đến năm 1946-1947 biết ông làm phó chủ tịch tỉnh Hoà Bình nên đến uỷ ban tôi đã nhận được ông ngay, còn ông không biết tôi là ai vì mới gặp lần đầu thôi mà.

Anh Tín cho biết: Từ đầu năm 1948, giặc Pháp và bọn Tuân-Bửu tăng cường đánh phá mở rộng vùng tạm chiếm ở huyện Lạc Sơn nên tỉnh uỷ, uỷ ban cử ông Hy là thường vụ tỉnh uỷ trực tiếp về làm Chủ tịch huyện và tham gia huyện uỷ là người có uy tín, phẩm chất và bản lĩnh đối mặt với bọn Tuân-Bửu khiến chúng phải khiếp sợ và có ông về lãnh đạo huyện thì cán bộ và nhân dân thêm phần tin tưởng vào kháng chiến. Vừa qua ông thay mặt uỷ ban phát động một phong trào lập làng chiến đấu theo kinh nghiệm vùng xuôi để bảo vệ dân, bảo vệ sản xuất, làm cho bọn địch không dám tự do hoành hành cướp trâu bò, lợn gà như trước.

Tôi bảo anh Tín là thật tự hào cho dân tộc Mường là đã có một quan lang yêu nước, có ý thức dân tộc được giác ngộ để theo cách mạng, góp phần xây dựng chiến khu Mường Khói, được đi dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, tự nguyện bỏ quyền lợi cá nhân, chịu đựng khó khăn gian khổ trong sinh hoạt để tự rèn luyện thành người cán bộ tốt của Đảng như ông Quách Hy. Nay huyện nhà gặp lúc khó khăn, trên lại cử ông về lãnh đạo nhân dân khắc phục mọi gian khổ để cùng bộ đội giải phóng quê hương. Gương sáng của ông đã động viên tôi trên bước đường nằm gai nếm mật chống địch lùng sục, nắm dân, giữ đất, xây dựng lại các cơ sở kháng chiến trong vùng địch hậu.

Đi hết thung lũng đến bờ sông Bưởi, chúng tôi và anh Tín chia tay nhau, mong đến ngày rằm gặp lại. Tôi về đơn vị báo cáo với anh Thái Phận, Trang Sơn, Thịnh, ứng và Chí về kết quả gặp uỷ ban và huyện uỷ Lạc Sơn, các anh đều mừng vui phấn khởi và thống nhất ngày giờ vào địch hậu như tôi đã bàn với huyện.

Cả đơn vị được học tập ôn lại bài giảng "Hoạt động trong vùng địch hậu" của ông Lý Ban qua các cán bộ đại đội và tôi giảng giải cho anh em biết thêm về phong tục tập quán và bản chất người dân tộc Mường... Chú ý khi tiếp xúc nói và làm phải đi đôi để gây lòng tin, cách đến thăm và biếu dân muối, thuốc lào.

Cách truyên truyền là hành động thực tế, ba cùng với dân để dân tự so sánh bộ đội Cụ Hồ khác với bọn lính lang và Tây. Học xong phải viết thu hoạch và được phát tiền, thay nhau đi chợ Phố Sấu mua mỗi người 10 kg muối và 20 bánh thuốc lào, kim chỉ, xà phòng, thuốc men cần thiết cho đợt đi công tác xa.

Sau bữa cơm chiều ngày rằm tháng 6 năm Mậu Tý (7/1948) đơn vị chia tay với các gia đình xóm Côm đi ra đường 12A. Đến điểm hẹn, đơn vị đã gặp anh Tín và một anh nữa đón cùng đi lên xóm Riềng thì gặp cả tổ bộ đội huyện. Anh Tín phổ biến cho mọi người cùng biết cách đi: Chia làm hai toán, toán 1 đi trước toán 2 độ 15 phút dưới ánh trăng. Từng toán hành quân đi bám sát nhau, không nói chuyện riêng, không phát ra tiếng động để đảm bảo an toàn cho cả đơn vị khi qua các đồn bốt trên đường vào địch hậu.

Anh Tín đưa thư của ông Hy cho anh Thái Phận. Thư ông nói đại ý: Sau 1 tuần sẽ có dân công chuyển 6 tấn thóc đến thung Vàng, bộ đội cần gặp dân đặt vấn đề trước để khi có thóc thì giao luôn cho các hộ dân sơ tán xung quanh thung Vàng theo danh sách khi giao. Một tạ thóc giao cho dân, bộ đội lấy lại 65 kg gạo còn 8 đến 10 kg để trả công cho dân. Tấm, cám cho dân nuôi gà, vịt, lợn cũng là một việc làm để dân tin tưởng vào bộ đội và kháng chiến.

Số gạo thu lại được trên 4 tấn. Đơn vị phát cho mỗi người 15 kg để bộ đội sớm triển khai theo các tiểu tổ (3 người 1 làng, xóm) theo danh sách rải quân tại các xã. Ngày ở rừng, tối xuống nhà dân. Lúc đầu dân còn sợ, nhưng sau khi biếu dân gạo, muối, thuốc lào và gặp gỡ tuyên truyền nhất là hôm sau cùng dân đi làm nương rẫy, cùng ăn củ rừng nên dần dần lòng dân đã ổn định, tin tưởng để cùng bộ đội xây dựng chính quyền và tổ chức lực lượng dân quân du kích. Qua thực tế 3 cùng mà chọn lựa người làm cán bộ, làm du kích và bồi dưỡng huấn luyện cho họ cách vận động nhân dân, cách đánh địch khi chúng đi lùng sục, cướp phá xóm làng. ít lâu sau, đơn vị nhận được một số lá thư đánh máy của ông Quách Hy gửi cho các lang ở các xã, khuyên nhủ động viên họ giúp lương thực cho bộ đội nên chúng tôi đã có hậu cần tại chỗ và đi ban ngày giữa vùng địch hậu.
Sau khi tập kết ở thung Vàng ít ngày đợi lấy gạo thì chúng tôi chia quân như sau:

Đội võ trang tuyên truyền A (VTTT A) do anh Huy lùn làm đội trưởng, Nguyễn Bá Xuyên thường gọi là Xích Hổ (sau anh lấy vợ người xóm Váy, xã Phú Cường, huyện Tân Lạc hiện nay), anh Ngoạn làm chính trị viên cùng 100 đồng chí hoạt động theo tuyến Mường Khời, Cá, Tác Đẹt, Lâm Lưu và Đồng Bươi.

Đội võ trang tuyên truyền B (VTTT B) của tôi do anh Chí thường gọi là Trang Bình làm trưởng, tôi làm đội phó, hoạt động từ xã Do Nhân lên Quy Mỹ, Địch Giáo, Nam Sơn, Bắc Sơn giáp Thanh Hoá. Còn nhóm của tôi dẫn gồm 5 đồng chí hoạt động tại các xã Mẫn Đức, Quy Hậu, Thanh Hối, Ngọc Mỹ là những xã bám theo trục đường 12, đối mặt với địch nhiều hơn. Phụ trách các tiểu đội là anh Hoàng Tùng, Nguyễn Tháp, Mô Hùng và Quý phụ trách thêm 3 xã Do Nhân, Tuân Lộ và Mỹ Hoà.

Gần Tết năm 1949 chúng tôi đã vào được các xóm thuộc các xã nói trên để cùng ăn tết với đồng bào và cùng du kích làm các nhà chòi, trang trí đẹp đẽ. Trên nhà chòi có cờ tổ quốc, bên dưới có ảnh Bác Hồ và các khẩu hiệu tuyên truyền: "Kháng chiến nhất định thắng lợi, Ta nhất định thắng-Địch nhất định thua, Không đi lính cho Pháp, không làm tay sai cho Pháp..." bên trong để muối và thuốc lào để cho dân các xóm đến xem, hút thuốc lào và dân bàn tán bảo nhau theo kháng chiến ngay bên ven đường 12.

Qua đó người dân đã nhận ra bọn địch chuyên làm những việc xấu như hãm hiếp phụ nữ, cướp gà lợn. Còn bộ đội chỉ lo giúp cho dân như người ruột thịt nên dân đã đùm bọc, bảo vệ bộ đội, làm theo lời bộ đội khuyên can, hướng dẫn làm những việc có lợi cho kháng chiến và nhờ có dân báo cho mà bộ đội thoát nạn địch bao vây, phục kích.

Trong thời gian hơn một năm hoạt động trong vùng địch hậu tôi có rất nhiều kỷ niệm về tình quân dân, nhưng lưu giữ mãi trong tôi hình ảnh gia đình ông bà Uôi, nhà ở gần suối xóm Sống-Mường Mương, xã Do Nhân đối xử với bộ đội như con cái trong nhà. Khi đi xa thì ông bà mong nhớ, khi gặp mặt thì mừng vui, lo cho bộ đội ăn ở chu đáo như cha mẹ mình. Đặc biệt về cá tính của ông bà là rất tin sùng đạo Phật nên khi nghe tiếng súng là ông bà thắp hương khấn vái trời phật cho tôi và bạn bè tránh khỏi bị bắt hay tránh được mũi tên hòn đạn, lại còn hứa gả cô cháu gái con ông chú cho tôi.

Nhiệm vụ của toàn đội VTTT là xây dựng cơ sở trong vùng địch hậu nên không tổ chức đánh địch trận nào lớn cả. Duy chỉ có trận đánh đồn Má đóng án ngữ đường lên Dốc Cun đi Tú Sàn và Thung Nai để liên lạc với đội A ở Suối Rút, đội C ở Tú Sơn và đông nam Cao Phong nên đội B chúng tôi tập trung được 50 đồng chí quyết định tiêu diệt. Đồn này có 30 tay súng, vũ khí có 12 khẩu Anh đô xi noa và Mút cơ tông do tên Pầng đồn trưởng chỉ huy. Chúng tôi chia làm 3 mũi giáp công. Tiểu đội anh Mồ công kích từ phía tây-Giang Mỗ đánh sang, tiểu đội của anh Hoàng Tùng công kích đột phá từ phía bắc Dốc Cun đánh xuống. Tôi là B phó chỉ huy chung cùng nhau hẹn 9 giờ đêm ở phía nam Quy Hậu đi lên. Tôi cho anh em bao vây khu nhà bọn chúng đang ăn tối và cử anh Mỡ người to khoẻ vận động vào trước phá cầu thang thì gặp ngay một tên lính đi xuống đái, anh Mỡ dùng kiếm chém, tên này nhẩy xuống đất, Mỡ chém trượt vào cầu thang làm gẫy cả kiếm. Bọn trên nhà kéo đông xuống đạp Mỡ ngã. Trước tình thế đó tôi bắn pháo lệnh cho cả 3 mũi xung phong bắt được Pầng, Lộc, Lẩn và ót Thía. thu được 4 súng, còn 26 tên nhảy theo các cửa voóng chạy ra các phía không có tiếng hô xung phong nên trốn thoát.

Chúng tôi đưa 4 tù binh về Trung đoàn lúc này đóng ở khu vực Bãi Chạo, tù binh được đưa vào trại cụ Lý Bá Sơ ở Kim Tân thì cũng là lúc Bộ tư lệnh Liên khu 3 quyết định mở chiến dịch Lê Lợi ở Hoà Bình ngày 23/11/1949 để đánh đòn mạnh mẽ vào hành lang đông-tây và các địa phương của tỉnh Hoà Bình. Lúc này đơn vị VTTT trở thành người dẫn đường cho quân chủ lực vào địch hậu đánh địch gồm các trung đoàn 209, 66, 48 và 9 của Liên khu 3, 4, 10. Ta diệt 10 đồn, bức rút 13 đồn khác, giải phóng huyện Mai Châu, Đà Bắc phần rộng lớn huyện Lạc Sơn (gồm cả Tân Lạc ngày nay). Tháng 11/1950 địch khải rút chạy khỏi thị xã Hoà Bình và đường số 6 tới Xuân Mai.

Đơn vị võ trang tuyên truyền của Trung đoàn Tây Tiến hoàn thành nhiệm vụ, tôi lưu luyến chia tay với quê hương vừa giải phóng và nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình về tập kết để tham gia chiến dịch Sơn Tây. Đơn vị chúng tôi được nhập vào Trung đoàn 52, sư đoàn 320 về chiến đấu ở đồng bằng Bắc bộ. Trung đoàn 12 được thành lập để thay thế Trung đoàn 52 ở Hoà Bình.











http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Những kỷ niệm đáng nhớ


Hoàng Ba kể
Tô Ngọc Huyền ghi


Chuyện xưa còn nhớ mãi, vào khoảng hạ tuần tháng 3 năm 1947, tôi (Hoàng Ba) đang là uỷ viên uỷ ban quân sự huyện Mai Đà đã được Ban chỉ huy mặt trận Tây Tiến chỉ đạo xây dựng lực lượng du kích địa phương huyện
Thời gian này, bên quân đội cử anh Phúc Thảo trực tiếp cùng với tôi (Hoàng Ba) đại diện địa phương huy động lực lượng thanh niên, trung niên vùng Thái-Mường để mở lớp quân sự cho lực lượng du kích các bản. Dự kiến ban đầu lớp huấn luyện chừng trên một trăm người, hình thành một đại đội thuộc các bản: Mai Hạ, Mai Thượng và Bao La. Thời gian khoảng một tháng huấn luyện sơ giải.
Thống nhất sự phân công, anh Phúc Thảo chịu trách nhiệm hướng dẫn phần tập luyện quân sự-Tôi (Hoàng Ba) chịu trách nhiệm triệu tập quân số, lo phần hậu cần và một phần hướng dẫn chính trị- sau 10 ngày chuẩn bị lực lượng Mai Hạ do ông Hà Công Thức cùng gần bốn chục học viên đã tới đông đủ. Lực lượng Mai Thượng do ông Hà Công Thức và Triều Hoà cũng tập trung đông đủ. Riêng Bao La lực lượng tới lác đác không đủ. Số lượng toàn lớp có chừng 100 người, chia thành 3 trung đội. Lớp học mở được 15 ngày, anh Phúc Thảo bàn với tôi (Hoàng Ba) ta cố đi xin con bò chuẩn bị cho anh em trong ngày bế giảng. Sau khi lên Bù Bin chúng tôi xin được một con bò đưa về lớp tổ chức liên hoan. Khi đi, địch nhảy dù Hoà Bình, anh Phúc Thảo được trên điều đi nhận nhiệm vụ mới, anh Trình cán bộ đại đội được cử về thay tiếp tục huấn luyện. Khi địch đánh rộng ra các huyện lân cận, tình hình quân sự yêu cầu khẩn trương chiến đấu, bảo vệ tài sản và tính mạng của nhân dân, lớp huấn luyện của chúng tôi phải tạm dừng, chuyển hướng nhiệm vụ, phục vụ chiến trường.
+Một bộ phận trở về bản xây dựng lực lượng du kích ở địa phương bảo vệ bản làng. Một bộ phận phối hợp cùng bộ đội huy động dân công đi làm nhiệm vụ phá hoại cầu đường để chặn bước tiến của địch từ Suối Rút-Bản Đậu. Vận chuyển lương thực, vũ khí, quân trang phục vụ bộ đội, có lần lực lượng tải thương đã làm nhiệm vụ vận chuyển thương binh từ Chiềng Hạ qua Bù Bin về Lạc Sơn Hoà Bình trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, anh chị em đã tìm mọi cách khắc phục bằng cõng, võng , cáng thương binh qua rừng sâu, núi cao, đèo dốc hiểm trở được an toàn, hoàn thành nhiệm vụ.
Chuyện xưa, người cũ, quá nửa thế kỷ đã trôi qua, những hình ảnh lớp học viên buổi đầu cách mạng, dù là dân tộc Thái, Kinh hay Mường đều tỏ ra hăng hái, hầu hết các học viên qua lớp học đã nâng cao được nhận thức tăng cường lòng yêu nước, bước đầu có kiến thức về quân sự-Sau này nhiều người trở thành cán bộ nòng cốt phong trào xây dựng lực lượng vũ trang cơ sở. Riêng tên Triều Hoà hắn dao động đã chạy theo địch và làm tay sai cho địch. Ba trung đội gắn liền với ba xã bản: Mai Hạ, Mai Thượng, Bao La đều đã xây dựng được phong trào du kích chống Pháp. Khó khăn buổi ban đầu như Bao la cử học viên tới lớp chậm, sau có bao nhiêu gương cốt cán theo cách mạng chống giặc như: anh Hà Công Nội, Hà Văn Xuân, ông Đạo Băng. Anh Tôn ở xóm Bước, anh Nhàn, Nà Muối. Ông Đạo Hiền tức Hà Văn Can và anh Hà Văn Xuyên ở xóm Củm đều đã tham gia xây dựng phong trào vũ trang địa phương chống giặc giữ làng bản-anh Mè, anh Sầm đã cùng lực lượng vũ trang giết tên Hà Văn Khoa phó tri châu-các anh Hiển Thự và anh Mè đã chiến đấu hy sinh trở thành liệt sĩ- góp phần làm rạng rỡ cho quê hương làng bản.

Nhớ lại chuyện xưa thời Tây Tiến
Mở lớp huấn luyện Thái, Mường, Kinh
Đoàn kết quân dân cùng chống giặc
Bảo vệ biên cương giữ Hoà Bình


Mùa thu 1998





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Những kỷ niệm ở Sầm Nưa
đã ghi sâu trong ký ức của tôi



Nguyễn Văn Uyển


Nhân dịp kỷ niệm 55 năm cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9/2000 và 25 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào 2/12/1975-2/12/2000,
Tôi là một thanh niên Việt kiều ở thị xã Sầm Nưa thập kỉ 40 ghi lại những kỷ niệm ngày đầu tham gia hoạt động cách mạng của thanh niên ở Sầm Nưa trên nước Triệu Voi.
Vào đầu năm 1943 ở Sầm Nưa có ông Nguyễn Hữu Hanh và ông Bùi Ngọc Tuệ là giáo viên đứng lên vận động Việt kiều thành lập Hội Việt kiều ái hữu, tập hợp số thanh niên thành một tổ chức gọi là thanh niên Sì-Cút (hướng đạo).Đầu tiên là hướng dẫn thanh niên đá bóng, múa lân, thi đua xe đạp, rồi tổ chức đi phát nương trồng ngô gọi là đi cắm trại của thanh niên. Nương ngô của thanh niên cách thị xã Sầm Nưa 2 km gần bản Na Thong. Vụ ngô năm 1944 thu hoạch rất tốt, ngô đó đã giúp cho số thanh niên có gia đình gặp khó khăn. Đi làm nương là cái cớ để hướng dẫn thanh niên tập võ, tập múa gậy và tập bắn súng. Khi ấy có 2 khẩu súng mút cơ tông và 2 khẩu súng săn hai nòng; súng mút cơ tông tập xong phải giấu ở nương ngô. Những ngày đi làm nương, đi tập luyện thì Hội Việt kiều ái hữu có các bà các chị cung cấp cho ăn và nói là luyện tập để bảo vệ Việt kiều.
Vào cuối tháng 3/1945 có tin bọn Nhật lên Sầm Nưa, bọn Pháp ở Sầm Nưa chuẩn bị rút chạy, chúng định phá nhà máy điện. Nhưng anh Bái và anh Vy là công nhân thợ điện cùng với Hội Việt kiều và tổ chức thanh niên đấu tranh bảo vệ không cho chúng phá, phụ trách thanh niên là anh Khuông.
Số thanh niên có cả người Việt, người Lào và người Hoa tổ chức luân phiên nhau canh gác. Chúng tôi chỉ biết bảo vệ nhà máy điện để có ánh sáng phục vụ nhân dân, bảo vệ nhà thương để điều trị bệnh cho dân và bảo vệ trường học để cho con em học hành. Ngày đêm canh gác được nhân dân nuôi cơm ba bữa.
Khi quân Nhật lên, tổ chức thanh niên cùng vào canh gác; khi bọn Nhật rút bọn Pháp kéo về vẫn có ánh sáng phục vụ nhân dân tới khi quân đội Việt Minh lên Sầm Nưa.
Máy điện hàng ngày chỉ chạy phục vụ ánh sáng cho nhân dân đến 20 giờ 30 phút. Đến đêm ngày 18/10/1945 có tin tối nay bộ đội Việt Minh đến Sầm Nưa, nhà máy điện được chạy cả đêm.
Vào 3 giờ sáng bộ đội tới, ánh sáng đèn điện được phục vụ khắp mọi nơi. Nhân dân và anh em chúng tôi mừng lắm.
Trưa ngày 19/10/1945 hơn một chục anh em thanh niên chúng tôi được lệnh tập trung vào doanh trại để phối hợp với bộ đội giải phóng quân đi truy kích bọn Pháp.
Tôi là người thạo tiếng Lào, tiếng Mèo (Hmông), tiếng Khạ (Khơ mú) nên được phân công đi sát Ban chỉ huy để phiên dịch cho anh Tuấn Sơn. Có một thanh niên người Lào tên là Xiềng Khăm Pan thạo tiếng Pháp cũng được đi theo. Đến khoảng 7 giờ tối ngày 20/10/1945 là tới bản Mường Láp, bản không rộng lắm mà số người và ngựa thì rất đông, chỉ có một nhà sàn bằng gỗ to, gầm sàn không có ngựa và người ở, xung quanh có cổng rào, trên nhà bọn Tây tập trung con gái đang uống rượu và múa xoè.Tôi nghe anh Tuấn Sơn và anh Tâm trao đổi với nhau rồi truyền lệnh không được bắn súng chỉ cho ném 1 quả lựu đạn vào gầm sàn nhà bọn Tây đang tập trung và lệnh cho số thanh niên chúng tôi phân tán ra khi lựu đạn nổ, là hô hào bằng tiếng Lào, tiếng Mẹo báo cho nhân dân biết bộ đội chỉ bắn bọn Pháp còn yêu cầu nhân dân ở đâu nằm im ở đấy. Khi lựu đạn nổ chỉ có thằng Tây đen gác ở cầu thang chống cự liền bị bộ đội bắn chết tại chỗ.
Bọn Pháp chạy toán loạn về phía đi Hủa Mường. Ta toàn thắng thu được toàn bộ vũ khí quân trang quân dụng. Lúc lên trên nhà bọn Tây nhiều thằng còn bỏ lại cả quần áo và giây lưng đeo súng ngắn.
Ngay hôm sau ta thu dọn chiến lợi phẩm và vận động nhân dân có ngựa thồ giúp vận chuyển chiến lợi phẩm về Sầm Nưa.
Về đến Sầm Nưa anh Lê Hiến Mai và anh Tuấn Sơn tặng cho tôi chiếc đồng hồ quả quýt chiến lợi phẩm, nay tôi vẫn còn giữ làm vật kỷ niệm.
Vào khoảng cuối tháng 11/1945 nhân dân lại báo tin có một tốp lính Pháp ở Mường Ngòi đang chuẩn bị vào Mường Son chúng tôi lại được đi với bộ đội. Lần này là trung đội anh Tiến đi cùng anh Tuấn Sơn. Đơn vị được trang bị đầy đủ, chúng tôi cũng được phát súng sten và súng trường báng gập, hành quân về phía Mường Nhứt để đi Mường Son.
Đến cánh đồng Mường Son, xa xa trông về phía bản thấy một mầu đỏ vàng rực rỡ, khi lội qua con suối Nậm Et lên đến bản mới biết cả bản là một rừng cam nhiều quả trên cây và rụng đầy xuống dưới gốc. Đơn vị đóng ở một quả đồi đầu bản là đồn lính khố xanh cũ trông xuống bản rất đẹp là một màu vàng cam. Anh Tuấn Sơn và anh Tiến lệnh cho toàn thể đơn vị tuyệt đối không được hái cam kể cả quả rụng xuống đất cũng không được lấy, đồng chí nào lấy là vi phạm phải thi hành kỷ luật quân sự.
Số anh em chúng tôi được toả xuống tiếp xúc nói chuyện với nhân dân đến nhà nào cũng phải uống rượu và ăn cam. Đến tối các cô gái Lào mỗi cô một gánh đầy hai bung cam và lương thực, thực phẩm lên tặng bộ đội lúc ấy anh em mới được ăn thoải mái. Khi mới đến đi đường mệt anh nào trông thấy cam cũng đành nuốt nước miếng. Tối hôm ấy nhân dân tập trung mời bộ đội múa xoè, lăm vông anh nào cũng lóng ngóng chỉ có anh Tuấn Sơn là nhập cuộc múa rất dẻo.
Đến Mường Son nhân dân báo tin là bọn Pháp đang ở Bản Na Vơng cách Mường Son hai ngày đi bộ. Sớm hôm sau bộ đội hành quân được nhân dân Mường Son dẫn đường, đến bản Na Vơng thì gặp bộ đội cách mạng Lào vừa mới tiêu diệt bọn Pháp tối hôm trước (đồn này chỉ có 4 thằng Tây và số lính Lào).
Hai bên gặp nhau suýt nổ súng vào nhau nhưng anh Tuấn Sơn thấy có lá cờ khác không phải cờ Pháp nên dùng loa bắt liên lạc mới biết là bộ đội cách mạng Lào ở Luông pha bang cùng hướng sang Sầm Nưa. Hai đơn vị, hai lực lượng cách mạng gặp nhau mừng hết chỗ nói, tối hôm ấy lại dự lửa trại múa lăm vông. Hôm sau cùng nhau về Sầm Nưa.
Bố tôi là Nguyễn Văn Ky thông thạo chữ Hán và chữ quốc ngữ nên được bà con Việt kiều cử làm thư ký của hội Việt kiều ái hữu để tiện quan hệ với Hoa kiều.
Khi quân giải phóng Việt Nam lên lại được làm uỷ viên thư ký của Uỷ ban cách mạng Việt kiều Sầm Nưa, từ tháng 10/1945 đến tháng 5/1946 vì hoàn cảnh gia đình nên khi có lệnh rút hết Việt kiều về nước gia đình tôi về quê tham gia công tác ở quê hương. Bố tôi lại tham gia mặt trận, tôi làm du kích xã.
Khi ở Sầm Nưa gia đình tôi có một cây đèn toạ đăng bằng đồng và một đồng hồ báo thức cho tổ chức thanh niên mượn để biết giờ giấc và ánh sáng để cắt cử nhau canh gác bảo vệ nhà máy điện. Khi bố tôi lâm bệnh nặng sắp đi theo tổ tiên có dặn lại là cây đèn toạ đăng, đồng hồ báo thức và đồng hồ quả quýt con phải gìn giữ lại là một báu vật của gia đình sau này thắng giặc, nước nhà và cả nước Lào độc lập những vật này là vô giá.
Tôi là Nguyễn Văn Uyển năm nay 79 tuổi hiện đang sinh sống ở làng Hướng Loát, xã Yên Trị, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định ghi lại những kỷ niệm trên để truyền lại cho con cháu. Tôi được ông Nguyễn Văn Khuông cho xem quyển sách Tây Tiến nói đến anh Lê Hiến Mai, anh Tuấn Sơn. Tôi xin gửi các anh trong Ban liên lạc cựu chiến binh Tây Tiến để các anh tham khảo tôi cũng xin được làm một nhân chứng sống của Việt kiều Sầm Nưa về trận chiến thắng Mường Láp.

Ngày 10/8/2000






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Nhớ người năm ấy


Hoàng Ba kể
Tô Ngọc Huyền ghi


“...Nhớ ơi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi...”


Sau khi kết hợp cùng với các anh bộ đội E52 Tây Tiến mở lớp huấn luyện, xây dựng lực lượng du kích địa phương, tôi (Hoàng Ba) được phân công về làm bí thư chi bộ Đảng huyện Mai Châu tỉnh Hoà Bình. Ngày 15-4-1947, giặc Pháp từ Hà Nội tiến công lên chiếm đóng Hoà Bình, chúng nhảy dù xuống Phương Lâm và nống ra những vùng lân cận quanh thị xã-Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương và sự giúp đỡ của các anh bộ đội Tây Tiến, lực lượng du kích nhiều bản mường được thành lập, hoạt động tập trung chống giặc bảo vệ bản làng. Về vũ khí trang bị ban đầu chỉ có các loại thô sơ như: súng kíp, mã tấu, nỏ-Cũng có nơi được trang bị thêm địa lôi, lựu đạn. Đội du kích xã Mông Hoá (Kỳ Sơn) do chủ tịch uỷ ban bảo vệ xã Nguyễn Văn Bốc chỉ huy đã dùng nỏ bắn chết một tên lính Pháp da trắng, gây được niềm tin cho lực lượng du kích địa phương. Bằng vũ khí thô sơ nỏ cũng lập nên chiến tích, giết được giặc Pháp bảo vệ bản mường. Sau khi bọn địch chiếm đóng thị xã Hoà Bình, dần dần chúng tiến sâu lấn chiếm các huyện... Tại Mai Đà cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, lực lượng bộ đội E52 Tây Tiến phối hợp cùng lực lượng du kích địa phương chặn từng bước tiến của quân thù- Khi địch vừa nhảy dù xuống Suối Rút đã bị bao vây tại đồn điền Vũ Ngọc Toản. Bọn địch từ Phương Lâm lên cũng bị chặn đánh tại bến Bưởi- trên tuyến đường 15, chiến sự diễn ra vô cùng quyết liệt. Đội du kích Mai Châu đã sát cánh cùng các anh bộ đội Tây Tiến quần nhau với giặc từ khi chúng đặt chân tới. Trong quá trình chúng chiếm đóng , ta đã gây cho chúng rất nhiều khó khăn và nhiều thiệt hại.
Trận chiến đấu có ảnh hưởng lớn vang dội là trận Bãi Sang, nơi hợp điểm giữa các cánh quân của địch. Lực lượng bộ đội và du kích địa phương đã mưu trí, dũng cảm bao vây kìm chân địch suốt 5 ngày từ 1 đến 5-5-1947.
Có những trận đánh đã để lại trong ký ức tôi, tấm gương hy sinh dũng cảm của anh bộ đội Tây Tiến năm ấy. Vào cuối thu năm 1947, bọn địch đã dựa vào bọn lang đạo phản động, chiếm đóng xây đồn bốt nhiều nơi trong tỉnh. Khu vực Mai Châu, chúng đóng Chiềng Sại, Chiềng Hạ, Vạn Mai và xây dựng một số vọng gác tiền tiêu ở xóm Văn, Chiềng Châu, xóm Đậu, xóm Nghẹ, Bù Toòng.

Sau khi lực lượng vũ trang được phục hồi đã phối hợp cùng đơn vị Tây Tiến, tiểu đoàn anh Tuấn Sơn, hồi đó tôi nhớ đơn vị có anh Ngọc Mỹ anh Đàm đen trong đội quân Tây Tiến phối hợp bao vây Vạn Mai và đánh đồn Chiềng Hạ-Bên cạnh đồn Chiềng Hạ, có nhà Hà Quốc Bảo, Triều Dương.

Suốt ba ngày đêm, bọn giặc phải chui xuống hầm chống cự, không dám nhoi lên mặt đất. Tôi (Hoàng Ba) còn nhớ, trung đội anh Thi trực tiếp cùng lực lượng vũ trang của địa phương bao vây, mấy lần anh Thi tìm cách đốt ngôi nhà bên cạnh bốt, nhưng không thực hiện được. Khi đó lấy tinh thần xung phong, có anh Thành ở đại đội anh Nghị xin tình nguyện nhận nhiệm vụ. Lúc này anh Thành còn đang bị sốt rét, cấp trên chưa muốn chấp nhận. Song thấy tinh thần xung phong hăng hái của anh Thành mang bó cỏ gianh khô, nhanh nhẹn vượt qua tầm quan sát khống chế của địch vào châm lửa đốt cháy nhà Hà Quốc Bảo, vượt trở ra tới suối Sia thì bị đạn địch bắn hy sinh bên bờ suối.

Sau khi đốt được nhà Hà Quốc Bảo vật cản quan sát đồn địch, trên đã bổ sung cho đơn vị khẩu súng cối 81 ly có 3 viên đạn, đơn vị sử dụng bắn nổ hai viên, câu trúng đồn giặc, còn 1 viên không nổ. Cuộc chiến đấu bước sang ngày thứ năm. Khoảng 15 giờ ngày hôm đó đơn vị cử 3 anh bộ đội cùng 1 du kích là anh Hà Văn Xuyên người dân tộc Thái xóm Củm để trở về Mường Hịch lấy lương thực, thực phẩm. Khi qua Chiềng Hạ gần 1 km gặp toán địch đi về Vạn Mai-anh em bộ đội và du kích chủ động nổ súng (tao ngộ chiến).Kết quả ta giết được 1 quan Pháp, 2 lính ngụy Lào, 1 lính ngụy Việt. Ta thu 1 tiểu liên và 3 súng trường-Quân ta hy sinh 1 và 1 bị thương nhẹ.

Sau kỳ bao vây và đánh đồn Chiềng Hạ bọn địch hoang mang chạy về Đồng Huống co cụm, không dám đi càn quấy vùng phụ cận. Cán bộ và nhân dân vô cùng phấn khởi. Bà con các dân tộc bất hợp tác với giặc tin tưởng vào lực lượng bộ đội cùng du kích địa phương. Cán bộ đã đi lại hoạt động ban ngày tại các bản mường quanh vùng.

Trên chặng đường dài lịch sử, hơn năm mươi năm đã trôi qua, nhớ lại những ngày đầu kháng chiến hoạt động trên vùng rừng núi Mai Châu, Hoà Bình, có biết bao kỷ niệm, chia sẻ buồn vui cùng các anh bộ đội Tây Tiến. Các anh không nề đói rét, bệnh tật, chẳng sợ địch o ép luôn sát cánh chiến đấu bên đồng bào các dân tộc: Thái, Mường, Kinh, kể cả ở những vùng địch tạm chiếm khó khăn nhất. Hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến năm xưa anh Thành tự nguyện lao vào đồn địch buổi ấy đã làm tôi vô cùng xúc động, khích lệ quân dân tỉnh Hoà Bình dũng cảm đứng lên chống giặc và thắng giặc góp phần giữ gìn bờ cõi biên cương, miền Tây của Tổ quốc.

Mùa thu 1998







http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Nhớ lại một thời kỳ làm lính thông tin
ở đoàn quân Tây tiến


Phạm Ngọc Chuẩn


Sau ngày tổng khởi nghĩa cướp chính quyền ở Hà Nội, chúng tôi được lệnh chuẩn bị một tổ đài vô tuyến điện tử theo phục vụ đoàn quân Tây Tiến đánh bọn tàn quân Pháp lăm le quay lại vùng Tây Bắc nước ta, đồng thời cũng để chặn đánh bọn "Tầu Tưởng" mà chúng tôi quen gọi là bọn "Tầu phù" với danh nghĩa quân Đồng minh tràn vào Việt Nam để giải giáp quân Nhật.
Lúc này Sở vô tuyến điện nơi chúng tôi công tác vừa giành lại được từ tay phát xít Nhật, đang bộn bề trăm việc. Sở phải tổ chức lại toàn mạng vô tuyến điện để Chính phủ, Trung ương Đảng và Bộ tổng tư lệnh liên lạc chỉ đạo hoạt động giải phóng của các Uỷ ban kháng chiến các Liên khu, Chi khu, với Nam Bộ, lại còn phải đảm trách phần kỹ thuật phát sóng tổ chức Đài tiếng nói Việt nam, với yêu cầu phát sóng đúng vào ngày Bác Hồ đọc lời Tuyên ngôn độc lập, ngày 2 tháng 9 tại Quảng trường Ba Đình.
Tuy công việc bộn bề là vậy, nhưng khi được yêu cầu chuẩn bị điện đài phục vụ đoàn quân Tây Tiến, giám đốc Sở đã cử tôi và Trần Viêm hai kỹ thuật viên của Sở tách ra khỏi tổ phát sóng đài Tiếng nói Việt Nam sang làm công tác chuẩn bị. Chỉ trong vài ngày hàng tạ thiết bị thu phát vô tuyến điện, vật tư, máy nổ phát điện, xăng dầu đã được kiểm tra bao gói, sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ.
Sáng ngày 3 tháng 9 năm 1945 đoàn chúng tôi lên đường. Đồng chí Nguyễn Công Môn một đài trưởng kỳ cựu được cử làm trưởng đoàn. Tôi và Trần Viêm, hai kỹ thuật viên trẻ vốn là học sinh trường kỹ nghệ Hà Nội tốt nghiệp loại ưu phụ trách kỹ thuật. Có ba đồng chí hiệu thính viên có tay nghề giỏi và nhiều kinh nghiệm thu phát tin.
Vào thời kỳ này đường từ Hà Nội lên Tây Bắc rất khó đi, không có ô tô hàng. Đoạn từ Suối Rút lên Mộc Châu bị sụt lở một đoạn dài do mưa lũ chưa khôi phục lại được do vậy chúng tôi buộc phải hành quân bộ. Khi đoàn chúng tôi đến Phương Lâm thị trấn ở phía hữu ngạn sông Đà, được sự giúp đỡ của chính quyền và các đoàn thể Việt Minh, chúng tôi được chuyển tải xuống thuyền ngược sông Đà lên Suối Rút, rồi lên Vạn Yên. Lên tới nơi, khi vừa cập bến thì được một phân đội Tây Tiến đã túc trực tại bến từ trước, xuống thuyền, người gồng kẻ gánh bốc hết số thiết bị vật tư lên bờ, rồi chuyển về bản Vặt cách huyện lỵ Mộc Châu chừng 5 km. Chúng tôi đóng quân tại tư dinh ông Sa Văn Minh, chủ tịch lâm thời Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh Sơn La. Nơi đây lúc bấy giờ cũng là đại bản doanh của Chi đội Tây Tiến và cũng là nhiệm sở của cơ quan đại diện Tổng bộ Việt minh tại Sơn La.
Đến bản Vặt chúng tôi triển khai ngay công việc đặt đài và rất may mắn trưởng đài kỳ cựu Nguyễn Công Môn và Tuyến lác ngay buổi lên máy đầu tiên đã bắt được liên lạc với Hà Nội, với tín hiệu thu khá tốt QSA-4, khiến chúng tôi vui mừng khôn xiết quên cả mệt nhọc và ăn uống.
Đài làm việc luôn từ buổi đó. Tuần đầu 4 phiên/ngày với Hà Nội để nhận chỉ thị, mệnh lệnh của Bộ tổng tư lệnh và Chính phủ lâm thời cho Chi đội Tây Tiến, cho cả Uỷ ban hành chính kháng chiến tỉnh Sơn la, cho đại diện Tổng bộ Việt minh, đồng thời đài cũng chuyển các điện báo cáo hoạt động của Chi đội Tây Tiến lên Bộ tổng tư lệnh. Sang tuần thứ hai, do yêu cầu nhiệm vụ đài tăng phiên ca liên lạc lên 2 lần, rồi 3 lần. Đồng chí Lê Hiến Mai còn yêu cầu chúng tôi chuẩn bị gấp cho một số điện đài đi theo phục vụ bộ đội đang làm nhiệm vụ ở Tuần Giáo, Sơn La và đi theo bộ đội sang bắc Lào.
Trước yêu cầu đó chúng tôi phải bàn cách phục vụ sao cho tốt nhất. Điện về Hà Nội xin thêm thiết bị và chờ được thiết bị từ Hà Nội lên không dễ dàng và có thể mất thời cơ, chúng tôi bèn nghĩ cách tìm đến các cơ sở bưu điện cũ thời Pháp thuộc ở Mộc Châu, Vạn Yên tìm kiếm các điện đài cũ của Pháp bỏ lại trong các kho đồ nát. Quả thật may thay sau một vài ngày tìm kiếm chúng tôi đã lượm lặt được một số máy thu phát vô tuyến điện cũ đã bị Pháp loại bỏ, mang về lau chùi, phơi sấy, sửa chữa phục hồi lại. Chỉ sau một tuần ba bộ máy phát vô tuyến điện đã được hoàn sinh, đồng bộ sẵn sàng đi làm nhiệm vụ.
Cùng lúc thiết bị vừa sửa chữa xong thì nhận được lệnh của Bộ tổng tư lệnh và Chi đội trưởng điều đài đi phục vụ. Đồng chí Trần Viêm mang đài lên Tuần Giáo. Tôi được nhận một điện đài theo đại đội Lê Tuấn Sơn, vượt cao nguyên Pa Háng sang Lào truy kích bọn tàn quân Pháp đang trốn tránh từ Vân Nam Trung Quốc kéo về cướp phá làng bản các dân tộc Lào anh em. Cuộc truy kích khá khẩn trương và vất vả nhưng nhờ được sự giúp đỡ dẫn đường của nhân dân Lào anh em nên chỉ sau 2 ngày vượt đèo, xuyên rừng, băng qua những con suối rộng, chúng tôi đã áp sát thị xã Sầm Nưa.
Trong lúc đang triển khai các mũi đột kích vào thị xã thì được trinh sát tin cho biết tàn quân Pháp "đánh hơi" thấy quân "Việt Minh" đang truy kích chúng nên chúng đã rút chạy khỏi thị xã Sầm Nưa từ hai ngày trước.
Sáng sớm hôm sau, đội ngũ chỉnh tề, dẫn đầu là đại đội trưởng thư sinh Lê Tuấn Sơn, quân ta tiến vào thị xã. Bà con Việt kiều đã từng sinh sống ở Sầm Nưa từ nhiều đời, cùng bà con các dân tộc Lào cư dân của thị xã Sầm Nưa và vùng xung quanh thị xã ra đón khá đông, tay cầm cờ đỏ sao vàng, tay tung hoa, loại hoa hồng phớt có rất nhiều ở thị xã, miệng hô vang những khẩu hiệu "Hoan nghênh bộ đội giải phóng Việt Nam", "Hồ Chủ Tịch muôn năm", "Tình hữu nghị chiến đấu giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các bộ tộc Lào muôn năm".
Vào tiếp quản thị xã giữa lúc đang còn ngổn ngang rác rưởi. Những quân trang, quân dụng và một số vũ khí của tàn quân Pháp còn để lại không kịp mang theo rải rác khắp trục đường tháo chạy, chúng tôi đã làm ngay công tác vận động bà con thị xã và dân bản làm tổng vệ sinh đường phố, nhà cửa, mở lại trường học, trạm xá, mở lại các cửa hàng, cửa hiệu, tự do buôn bán, tự do sản xuất, luyện tập quân sự và thành lập các đội dân quân, tự vệ bảo vệ thôn bản.
Lại nói về tổ chức thông tin liên lạc. Chiếc điện đài mang theo đại đội khi vào tiếp quản thị xã Sầm Nưa được lắp đặt ngay tại Sở chỉ huy đại đội. Đài được lắp đặt chính quy, có ăng ten định hướng nên dù chỉ là chiếc máy phát Mesny 20w mà liên lạc với Hà Nội, Mộc Châu rất tốt. Đài còn làm nhiệm vụ thu tin thông tấn xã Việt Nam, thu tin Đài tiếng nói Việt Nam chỉ bằng chiếc máy thu Schnell đơn giản cung cấp tin tức cho đại đội, cho bạn Lào, cho nhân dân thị xã, được nhân dân thị xã và bà con Việt kiều rất hoan nghênh.
Đã 57 năm trôi qua, những kỷ niệm chiến đấu của thời kỳ theo bộ đội Tây Tiến qua Lào truy kích bọn tàn quân Pháp và sau đó vào tiếp quản thị xã Sầm Nưa luôn khơi dậy trong tôi những ký ức rất đẹp về hình ảnh sống động, dũng cảm của đồng đội, về hình ảnh những người bạn Lào chất phác, thật thà rất dễ gần gũi, về hình ảnh những bà mẹ Lào rất nhân hậu, về hình ảnh những cô gái Lào xinh xắn luôn có nụ cười tươi tắn trên môi, về một thị xã Sầm Nưa nhỏ bé nhưng rất thơ mộng, quyến rũ được chúng tôi mệnh danh là "Thị xã hoa hồng" của thảo nguyên. Bởi vì trên khắp các nẻo đường vào thị xã và trong thị xã chỗ nào cũng có hoa hồng, hoa mọc thành rừng, hoa nở quanh năm toả hương thơm dịu mát, làm vơi đi những vất vả nhọc nhằn và để chắt chiu cho tình bạn Việt Lào mãi mãi thắm tươi./.

Hà Nội, 14/1/2002






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Một kỷ niệm về tình bạn


Thanh Tùng



Cuối năm 1950 tôi được đơn vị (lúc này đã thuộc đội hình Đại đoàn 304) cử đi công tác từ khu 3 lên Việt Bắc. Tình cờ gặp lại Lê Tư ở Nho Quan trong chặng dừng chân vừa nghỉ lấy sức vừa thăm lại bà con nơi đóng quân cũ khi tôi còn là lính Tây Tiến. Vốn quen nhau từ trước ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng 8-1945 ở Dịch Vọng trung tâm an toàn khu của Thành uỷ Hà Nội ngày ấy, tiếp đến ở Liên khu 2 những ngày đầu toàn quốc kháng chiến và sau này ở đoàn Tây Tiến II-nổi tiếng qua bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, nên hai chúng tôi thường không giấu nhau điều gì. Vui mừng hội ngộ, Lê Tư tâm sự nhiều trong đó có kể về mối lương duyên của mình cùng cô cứu thương nhà ở phố Hàng Bột Hà Nội, hai người quen nhau từ khi cùng ở lại chiến đấu 60 ngày đêm giữ Hà Nội. Khi rút ra khỏi Hà Nội, mỗi người đi chiến đấu một nơi. Cô Thuỷ (vợ Lê Tư) công tác ở quân y viện khu XI, Lê Tư lên Tây Tiến. Năm 1948, nhờ có Tạ Đình Đề hai người bắt liên lạc được với nhau. Với sự giục giã, tác thành của bạn bè nên năm 1950 hai người đã được đoàn thể tổ chức lễ cưới nhân dịp chiến thắng Lê Lợi tại Kim Bôi Hạ Bì. Lê Tư rất lo là vợ có bầu mà ở đơn vị xa gia đình nên có đề nghị đơn vị cho về Việt Bắc để gia đình trông nom khi sinh cháu (nơi gia đình sơ tán), do đó Lê Tư nhờ tôi nhân dịp đi công tác đưa hộ vợ lên Việt Bắc. Chia tay nhau Lê Tư hẹn tôi sáng mai sẽ gặp lại. Đúng hẹn, Lê Tư đưa vợ đến và giới thiệu với tôi. Nhớ lại buổi tiễn đưa của đôi vợ chồng lính gốc thị thành này, tôi thấy lại hình ảnh Lê Tư cậu học trò quê Thụy Khuê thông minh nhưng khá nghịch xứng danh “nhất quỉ, nhì ma...” thuở nào. Bắt tay tôi và chúc chuyến đi nhiều may mắn Lê Tư còn dặn vợ lần nữa: Em yên tâm đi, giữ gìn sức khoẻ. Khi về đến nhà nhớ báo tin ngay cho anh và nhắn thêm: “Em đừng ngại gì, đi với anh Tùng anh tin tưởng lắm” và cứ đứng đó nhấc chiếc mũ phớt lên vẫy vẫy rõi theo bước đi của vợ cho tới lúc khuất.
Sống với Lê Tư không lâu, ngay cả khi ở cùng một đơn vị thì mỗi người một công tác khác nhau, tuy nhiên như người đời thường nói là hợp nhau vì vậy thân với nhau.
Lê Tư sống hồn nhiên và trung thực, có trách nhiệm. Những tính đức ấy đã tạo giúp cho Lê Tư gần gũi mọi người và giữ được cảm tình của mọi người ngay cả khi xa cách.
Những đức tính tốt và cách sống của Lê Tư đã ảnh hưởng nhiều đến gia đình, vợ con.
Vợ Lê Tư, cô Thuỷ ngày nào ba lô to hơn người, nước mắt ngắn dài thổn thức lê bước trên đường 12 từ Nho Quan đi Việt Bắc nay đã thuộc lớp người “cổ lai hi” đã thành bà và qua bao nhiêu thăng trầm gian khó trong lúc sống vẫn lạc quan, hồn nhiên như Lê Tư vẫn tồn tại tuy có ngậm ngùi rằng: “anh Lê Tư đến lúc được nhàn hạ và có miếng ăn đủ thì lại không được hưởng”.
Nhớ Lê Tư tôi thắp nén nhang bằng một kỉ niệm góp vào ký ức của đồng đội một thời chung sống./.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Tây Tiến

Quang Dũng

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời !
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ ?
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa ?

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

Phù Lưu Chanh 1948




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Những âm hưởng của bài thơ Tây Tiến


Nguyễn Văn Vĩnh


Bước vào xuân Nhâm Ngọ 2002, bộ đội Tây Tiến kỷ niệm 55 năm ngày lên đường tiến về miền Tây (1947-2002) mà mảnh đất Xuân Mai là nơi tập kết để đi tới một chặng đường chiến đấu hào hùng trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Vừa qua nhà thơ Quang Dũng người thôn Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà tây đã được tặng giải thưởng Nhà nước với các tác phẩm: Tập thơ “Mây đầu ô”, tập bút ký “Nhà đồi”, bài thơ “Tây Tiến” cùng thơ văn Quang Dũng, trong đợt này còn có bốn nhà văn người Hà Tây cũng được tặng giải thưởng Nhà nước đó là thi sĩ Xuân Quỳnh-Hồ Phương-Nguyễn Kiên-Bằng Việt. Trong niềm vui của ngày xuân đổi mới xin được nhớ về bài thơ nổi tiếng của Quang Dũng đó là bài “Tây Tiến”.
Đầu thế kỷ 21 được gặp nhà phê bình văn học Ngô Vĩnh Bình thư ký toà soạn Văn nghệ Quân đội tôi có hỏi về việc bỏ phiếu những bài thơ hay vì nghe đâu có cuộc bình chọn thơ thế kỷ 20... anh Ngô Vĩnh Bình cho biết đây chưa phải là một dịp bình chọn thơ nhưng có nêu vào thế kỷ 21 trong hành trang đó không thể không có thơ, với ý nghĩ đó tôi đem câu hỏi tới, các nhà thơ quân đội: “nếu chỉ được mang theo 5 bài thơ hay nhất viết về chiến tranh cách mạng và anh bộ đội Cụ Hồ vào thế kỷ mới thì anh sẽ chọn những bài thơ nào?”. Trong số 9 nhà thơ và phê bình văn học của quân đội gồm: Đỗ Trung Lai-Hồng Diệu-Nguyễn Hồng-Hồng Thanh Quang-Anh Ngọc-Lê Thành Nghị-Trần Đăng Khoa-Nguyễn Đức Mậu-Vương Trọng thì lần lượt được trả lời-Đỗ Trung Lai quê ở Mỹ Đức chỉ chọn một bài “Tây Tiến”, Hồng Thanh Quang: 5 bài theo thứ tự “Tây Tiến”, “Đất nước”, lên đầu rồi đến: “Bên kia sông Đuống”, “Núi đôi”, “Cuộc chia ly màu đỏ”, “Vườn trong phố”-Lê Thành Nghị tôi chỉ mang theo 4 bài: “Tây Tiến”, “Núi đôi”, “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi), “Phan thiết có anh tôi”-Trần Đăng Khoa nếu bày “Mâm ngũ quả thơ” thì tôi bày “Việt Bắc”, “Tây Tiến”, “Nhớ máu”, “Đất nước” (Nguyễn Đình Thi), “Duyệt Binh” còn Nguyễn Đức Mậu thì xếp “Tây Tiến” sau “Nhớ máu” và “Nhớ” rồi đến “Màu tím hoa sim” và “Núi đôi”.
Như vậy có 6 trên 9 nhà thơ đem theo “Tây Tiến” vào thế kỷ 21. Tôi có hỏi nhà thơ Ngô Xuân Miện về hiện tượng này thì ông cho biết “cái hay của Tây Tiến là nói đến hai chiều vừa bi vừa tráng”.
Bài thơ Tây Tiến ra đời năm 1948 ở thôn Phù Lưu Chanh huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam. Quang Dũng viết bài thơ này liền một mạch trong đêm hầu như không sửa chữa, vùng này ngày ấy có Trường thiếu sinh quân, có cơ sở y tế của trung ương và là nơi diễn ra đại hội tập “Luyện công lập quân của bộ đội” khu 3. Bài thơ được đọc ở “Đại hội tập”nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đi công tác ở vùng này đem ngay về Việt Bắc đưa vào số Văn nghệ đầu tiên ra đời năm 1948. Năm mươi năm sau nhân ngày mất 10 năm của Quang Dũng (1988-1998) một cuộc họp của văn nghệ sĩ Xứ Đoài ở Hà Nội, nhạc sĩ Đỗ Dũng-Giám đốc nhà hát giao hưởng đã sáng tác bài hát “Tây tiến” nguyên bản thơ “Tây Tiến”, ông hát trước hội nghị trong một niềm cảm xúc sâu sắc. Cũng trong dịp kỷ niệm 50 năm đoàn quân Tây tiến (1947-1997) nhạc sĩ Nguyễn Thành cũng đã phổ nhạc bài thơ Tây Tiến và ông tự chỉ huy đoàn quân nhạc ngay trên thảm cỏ lễ kỷ niệm, nhạc vang lên hùng tráng, một Tây Tiến hào hùng lại vọng về.
Nhà thơ Giang Nam, một nhà thơ quen biết của hai miền đất nước đã nói: “cũng như bây giờ có người coi Tây Tiến là những phát hiện mới, họ có đâu biết rằng giữa những phòng địch “Tố cộng-diệt cộng” ác liệt nhất ở miền Nam tôi đã mê “Tây Tiến”, “Mắt người Sơn Tây” qua các sách báo chống cộng do Ngô Đình Diệm in ra lúc bấy giờ. Điều này khi anh Quang Dũng còn sống tôi đã kể cho anh nghe".
Vừa qua nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập quân đội ở Mai Châu, tỉnh Hoà Bình đã tổ chức khánh thành bia tưởng niệm các liệt sĩ con em các dân tộc Mai Châu và bia ghi chiến tích trung đoàn Tây Tiến cùng đoàn võ trang công tác miền Tây. Một điều đáng chú ý và hết sức cảm động là mặt sau bia khắc 10 câu thơ lấy trong 34 câu của bài “Tây Tiến” do Quang Dũng sáng tác năm 1948. Đây là một hình tượng rất sâu sắc và mới lạ vì từ trước tới nay chưa thấy một bài thơ nào lại được khắc sau tấm bia liệt sĩ. Mười câu thơ đó là: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa! Gục lên súng mũ bỏ quên đời. Chiều chiều oai linh thác gầm thét. Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói. Mai Châu mùa em thơm nếp xôi. Rải rác biên cương mồ viễn xứ. Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. áo bào thay chiếu anh về đất. Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Cách đây hơn 50 năm nhà thơ Xuân Diệu “ngày ấy ở Việt Bắc” năm 1949 đã có lời bình bài thơ Tây Tiến như sau: Bài thơ hơi buồn, có đoạn buồn lắm, tứ thơ không mới, có những câu văn hoa. Nhưng toàn bài rung rung như những dây đồng. Đọc lên, trong miệng còn ngân âm nhạc. Cái cảnh miền Tây gian nan đặc biệt: Bộ đội Tây Tiến là một trong những bộ đội nhiều hy sinh. Đánh giặc đã đành, mà người với rừng núi còn tranh nhau ai thua ai được. Một bạn tôi lên thăm bộ đội quá Thượng Du Thanh Hoá, trên biên giới Lào-Việt kể rằng: “Núi giăng màn trùng điệp, một anh đội viên chỉ quãng chập chùng trước mặt nói: “một mình tôi phụ trách 5 cây số núi” lên đến nguồn sông Mã, còn đâu là gần đồng bằng". Lúc mới đầu chưa quen thổ ngơi, nhiều chiến sĩ chết. Có lẽ cái rùng rợn buổi đầu ấp sâu vào tâm hồn tác giả. Những chiến sĩ lưa thưa giữa nghìn trùng rừng núi chắc cảm thấy mình “cheo leo chòi biên cương” cảm thấy mình lạc đời. Những anh con trai Hà Nội lên đến đây cạo trọc đầu, hay là ốm tái màu da. Giặc sợ các anh như sợ hùm, những các anh dù thế nào cũng nhớ Hà Nội cho được.
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc-Quân xanh màu lá dữ oai hùm-Mắt trừng gửi mộng qua biên giới-Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
Bài thơ chỗ thì đẹp, chỗ thì ghê, man rợ rồi lại êm ái: đoạn sau cũng đầy tiếng từ ly. Những tên đất Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, ngân đọng. Đến cái tên Sầm Nứa thì câu thơ buồn mà hay quá. Hồn đây là tâm hồn người sống nghĩ chuyện bên Lào:
Tây tiến người đi không hẹn ước-Đường lên thăm thẳm một chia phôi-Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy-Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.
Dòng cuối bài thơ gốc đã in ở Văn nghệ số 1 có ghi là:
Quang Dũng
Đoàn quân nhân văn nghệ Liên khu 3
Nhà thơ Quang Dũng và Xuân Diệu đã qua đời từ những năm trong thập kỷ 80, không được nhìn thấy những đổi thay của đất nước và cũng không được thấy những tâm hồn, những tình cảm của nhân dân của các thế hệ học sinh, của các thế hệ văn nghệ sĩ đối với nhà thơ và người bình thơ. Làm ta chợt nghĩ 2 câu thơ cuối của nhà thơ Vũ Đình Liên trong bài thơ “Ông đồ”.
"Những người muôn năm cũ-Hồn ở đâu bây giờ”.
Nhân dịp đầu xuân Đinh Sửu kỷ niệm 50 năm đoàn quân Tây Tiến tại khuôn viên trường Cán bộ y tế 138 Giảng Võ, nơi cách đây 50 năm đã làm lễ xuất quân Tây Tiến cho hai tiểu đoàn chủ lực của mặt trận Hà Nội đi Tây Tiến. Về dự có Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng Văn Tiến Dũng cùng các vị chỉ huy mặt trận Tây Tiến ngày ấy, các đồng chí Bí thư tỉnh uỷ của các tỉnh Tây Bắc từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp cho tới hôm nay, gia đình nhà thơ “Tây Tiến” có chị Thạch là vợ nhà thơ Quang Dũng cùng thân nhân các gia đình liệt sĩ của Tây Tiến cũng tới dự. Gần 600 cựu chiến binh Tây Tiến từ các miền về họp mặt, người ta chỉ thấy có một băng vải đỏ treo trên cây cao với dòng chữ vàng: “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy”.
Và dưới thảm cỏ có đặt 5 hũ rượu cần của nhân dân Hoà Bình gửi tặng, bên cạnh là một đoàn quân nhạc đang cử bài ca Tây Tiến do nhạc sĩ Nguyễn Thành phổ nhạc, xen lẫn có bóng dáng thiếu nữ Thái, Mường đứng giữa các bô lão râu tóc trắng phơ, những chiến sĩ Tây Tiến năm xưa.
Câu thơ như còn để ngỏ nhưng gợi lại một không khí hào hùng của một thời đánh giặc cứu nước, nó như nhắc mình, nhủ mình trong cuộc sống sôi động của thời đổi mới hôm nay.
Bài thơ Tây Tiến còn là một khúc ca của tình hữu nghị Việt-Lào, những tên đất, tên sông, tên bản như: Sài Khao-Mường Lát-Pha Luông trong các câu thơ: Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ, hoặc như: “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.
Vừa qua một đoàn gồm 8 người do giáo sư Lê Hùng Lâm, một chiến sĩ Tây Tiến dẫn đầu đoàn sang thăm hữu nghị tỉnh Hủa Phăn (Sầm Nứa), cụ trẻ nhất là 70 tuổi và cao nhất là 82 tuổi. Trong chương trình thăm chiến trường xưa đoàn đã để ý tìm xem còn người Việt nào ở Sầm Nứa thì chỉ mới gặp được cụ Trần Đình Thư nay đã 80 tuổi quê ở Tức Mặc thành phố Nam Định đi Tây Tiến năm 1947 rồi lạc đơn vị ở lại tham gia bộ đội Pa Thét Lào, được thưởng nhiều huân chương, lấy vợ Lào và đổi tên thành Chăn Thi. Tặng cụ cuốn sách “Tây Tiến” 50 năm nhìn lại, cụ cảm động và nói “trời ơi quý hơn vàng”, sách này sẽ đem theo tôi đến trọn đời. Trên đường về qua đồn biên phòng Na Mèo, anh lính năm xưa, anh đọc lên hai câu thơ mà anh đã được học trong giờ văn của bậc trung học ngày cắp sách đến trường.
“Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy-Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.
Bước vào thế kỷ 21, một thế kỷ đầy biến động, một Tây Tiến hào hùng vẫn âm vang trong tâm hồn các thế hệ hôm nay và cả mai sau.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Dòng Đời

Quang Dũng

Tặng anh Hùng Thanh

Đang lúc tin đồn bao chiến địa
Một ngày thu sớm gợi tàn thu
Có kẻ súng gươm lòng mới nở
Hoa mùa ân ái ngát hương thơ
Xương máu không làm hoa hết tuổi
Điêu tàn chưa héo cỏ xanh tươi
Trường kháng đã lên bình thản điệu
Em chờ ta nhé! em lòng ơi...
Vì có ngày mai bom đạn nổ
Ngày kia trong trẻo dựng xây rồi
Ngay tự phút đầu hoang khói lửa
Nguồn mưa đã hẹn tự xa xôi
Ngay tự phút này thây xác gục
Ta khơi nguồn sống đến muôn đời
Hôm nay tình đến lòng chinh khách
Đợi chờ ta nhé! đợi ngày mai...






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Tặng mười tuổi của anh

Quang Dũng

(tặng anh Văn Phác thân mến sau 5 năm không tin tức)

Là người có trái tim biết đập
Ai không yêu chiến sĩ Vệ Quốc Quân.
Anh lên mười tuổi rồi!.
Mười tuổi thép gang
Anh ra đời
Lúc dân tộc đau thương
Vươn mình lớn mạnh
Anh uống dòng sữa lành
Của tình thân ái mênh mông Dân chủ.

Từ đất nâu, gốc rạ, dưới bóng tre già
Từ đất Việt Nam là người Mẹ chúng ta
Anh vươn lên reo cùng nhân loại
Mở bàn tay đón bạn
Hoa tràn miệng súng hoà bình

Chúng ta đi trên đường xanh
Cây đẹp hoa tươi Tổ quốc
Nhớ ai bảo vệ cho mình
Nhớ ai hy sinh chiến đấu
Đã hoà thân vào đất nước
Lòng ta chan chứa ân tình
Thép gang mười tuổi của anh

Bao nhiêu gian khổ
Lòng nhân dân yêu anh
Như thiết tha cây lúa
Anh là nguồn sống anh ơi!
Anh đem về với nụ cười
Cánh tay bảo vệ cuộc đời nhân dân.

Tôi là người làm thơ
Ca tụng trời xanh biển rộng lòng người
Thơ tôi hôm nay có nhạc
Của cánh chim vùng giải phóng ra khơi.

Tôi nắm tay anh
Người xây dựng cho đời
Tôi hôn áo anh
Đã nhuộm màu gian khổ
Từng thấm máu anh tươi...

Máu anh là máu của tôi
Là nước mắt mồ hôi nước Việt.
Cụ già tóc bạc nhìn anh
Qua làng hành quân một sớm
“Các con phi thường đại đởm
Mà sao hiền quá con ơi...”

Chân anh điệu vũ tuyệt vời
Làm đàn em bé reo cười theo anh.
Mười tuổi của anh
Mới chớm xuân xanh

Đường dài mới rạng bình minh
Gió chờ lâu đã nổi
Đi lên...theo các anh
Trong nhịp đàn bốc lửa
Có chúng tôi....
Còn nữa
Từ cao sơn nước đóng giá băng
Đến cánh đồng xa xanh, ấm áp đồng bằng
Những tiếng nói khác nhau
Những màu áo khác nhau
Nhưng theo anh
Chân vượt băng băng
Sẽ khoẻ như mùa xuân mười tuổi
Các anh bộ đội
Viết bài thơ tặng anh
Giữa gió đồng thơm mùa đã nổi
Thoảng tiếng luồn dìu dặt
Tiếng hát lượn làng bên
Xôn xao mùa gặt...
Lúa vàng...






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Nhân 10 năm nhà thơ Quang Dũng mất (10.1988-10.1998)

Bình dị và hào hoa: Quang Dũng


Phong Lê



Quang Dũng-Dũng mà rất hiền, rất lành; tôi muốn dùng đến cả chữ lành để nói về ông mới thật sự đủ nghĩa, và thoả lòng.

Ông là người đi nhiều, theo cái thú phiêu bồng; nhưng tất cả đều là các cuộc đi với chân dép và ba lô trên các nhà ga, bến xe, bãi chợ của các xứ quê. Ông không thể và có lẽ cũng chưa một lần đi theo lối tiền hô hậu ủng, lên xe xuống ngựa!

Đối với ông , sự nổi danh quả là xa lạ; thậm chí ông còn phải trải nỗi sợ của sự nổi danh. Tây Tiến với “áo bào thay chiếu anh về đất. Sông Mã gầm lên khúc độc hành” với “mắt trừng gửi mộng qua biên giới, đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”... hình như đã “làm hại” ông suốt một thời dài, cho đến năm ông nằm liệt trên giường bệnh, trước lúc qua đời. Ngót 40 năm Tây Tiến là đứa con đầu, vạm vỡ và khôi ngô của ông, thế nhưng ông đã phải từ chối nó, thậm chí phải hãi sợ nó mỗi khi nghe có ai nhắc đến. Thương ông biết mấy, vì chỉ đến khi ông nằm liệt, nó mới được đưa vào tập Mây đầu ô, có nghĩa là phải đến lúc này, Tây Tiến mới được nguyên vẹn trở về với người đã sinh nó để nhận lại vị trí của đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện, không chỉ của ông mà còn là của cả nền thơ kháng chiến, ở vị trí mở đầu, ít có bài nào thay thế được, và cũng không ai ghen tỵ với nó được.

Tây Tiến chịu số phận long đong một thời gian dài, có thể nói là quá dài, trên dưới 40 năm, như một sản phẩm chính tác giả muốn quên đi; nhưng phải nói là cũng suốt bấy nhiêu năm, nó không hề bị quên trong lòng một bộ phận công chúng độc giả. Cái chất hào hoa làm nên dấu ấn một thời, cái hào hoa vốn có sẵn trong tâm trí một lớp người trai trẻ vào cách mạng, cái hào hoa của người Hà Nội và của cả Xứ Đoài lại chính là cái làm nên men say và chất lãng mạn mà con người rất cần đến cho những cuộc ra đi, những cuộc lên đường. Tất cả những ai, nhất là thuộc lớp người trai trẻ trong chiến tranh, và càng là trong chiến tranh, lại càng cần đến chất lãng mạn đó, để bù đắp cho những gian nan vất vả của hiện thực-một chút thôi cũng đủ giúp cho họ vượt lên trên hiện tại, vượt lên chứ không phải để thoát ly hiện tại. Ai mà không mong mỏi được nhìn thấy trong các cuộc vui, cuộc liên hoan bình thường của đời sống kháng chiến cái chất lãng mạn và mơ mộng lộng lẫy như sơn mài mà dường như chỉ riêng Quang Dũng mới nắm bắt được:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa


Quang Dũng không phải chỉ là tác giả của một Tây Tiến bất hủ. Ông thực sự là nhà thơ, với hồn thơ thật sự trong nhiều bài thơ khác: Những làng đi qua, Đôi mắt người Sơn Tây, Không đề, Mây đầu ô...Chưa ai khác ngoài ông, cho đến hôm nay, kể cả Tản Đà, đã tạo nên được một sự sống rung động đến thế cho Xứ Đoài, nhờ thơ ông mà trở nên thơ mộng hơn, mỹ lệ hơn, lưu luyến hơn, dẫu đất đai quê hương thì nơi đâu cũng có một vẻ đẹp riêng, một nỗi nhớ nhung riêng, nơi đâu cũng thế:

Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

...
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng


ấy là những bài thơ đẹp trọn vẹn, những bài thơ không phải chỉ để đọc một lần...

Quang Dũng, người thường quên thơ mình, người không tính đến sự nghiệp thơ của mình, chính ông lại là rất đáng được đời nhớ đến. Sinh thời ông chưa hưởng được bao nhiêu cái thú, nhìn được trọn vẹn những gì minh sinh ra cho đời, vì sự vô tâm rất đáng yêu và cũng đáng tiếc nơi ông. Vào những ngày này, trong giao chuyển giữa hai thế kỷ, mong biết bao một tuyển đầy đủ về Quang Dũng, cả thơ và văn, để hồi nhớ và kỷ niệm về một thế kỷ đang qua, trong đó ông là người đã để lại dấu ấn, hoặc nhờ ông mà có thêm các dấu ấn.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Canh Bon

(tặng Lò Văn Cậy)

Nguyễn Khôi

Bản Nà Nghịu thời trẻ trai tôi ở
Sớm đi nương, chiều chài lưới trên sông
Em ra suối hái bon, xúc ốc
Tối ăn canh bon-ngứa cổ, ngẹn ngùng...

Em thầm nói: thương anh Hà Nội
Phải ăn cơm Mường Bản chưa quen
Tôi lặng lẽ nắm xôi chấm muối
Húp canh bon, nhìn đôi mắt đen...

Đêm bản nhỏ trăng nhòm cửa liếp
Em ngồi trên khung củi đưa thoi
Tôi ngồi tập vót nan đan “lếp”(1)
Bếp lửa khuya bốn mắt sáng ngời...

Rồi tôi đi biết bao xứ sở
Vẫn nhớ về Sông Mã Quê Em
Chợt thèm món Canh Bon ngứa cổ
Để thương người canh cửi đêm đêm.


====================

(1) giỏ đeo bên hông cô gái Thái




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Lo việc

Hoài Văn
tức Lê-Đỗ-Sơn


Thời kỳ mở hai chiến dịch ở Hoà Bình
Chiến dịch Lê Lợi 1949-1950
Chiến dịch Hoà Bình 1952

Trăng xế bóng cây ngả lệch thềm
Trời đang cuộn lại bức màn đêm
Gà đua gáy rộn chào ngày mới
Bàn việc chưa xong dạ chẳng êm.

22-10-1997





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Không đề

Kính tặng các liệt sĩ Tây Tiến

Hoài-Văn

Trước những nấm mồ chẳng có tên
Tấm bia liệt sĩ tạc, nào quên
Bùi ngùi tưởng nhớ thời gian khổ
Anh dũng quên mình sự nghiệp nên.

Bốn bể Việt Nam danh tiếng nổi
Năm châu ca ngợi trí cao bền
Tuổi xanh hiến cả cho dân tộc
Tổ quốc trường tồn sử sách biên.

25-12-1990





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Về Đại Hội

Về dự đại hội cựu chiến binh
Bỗng thấy mình trẻ lại
Gặp đồng đội xưa
Những người đã một thời sống mái
Với quân thù để giữ đất quê hương
Thời gian trôi mái tóc đã điểm sương
Mắt đã mờ đi sau cặp kính
Tuổi tác không làm phai chất lính
Vẫn vui cười đùa giỡn rất trẻ trung
Lại kể nhau nghe ngày ấy ở chiến trường
Bom nổ pháo gầm ngủ hầm như ngủ võng
Cơm vắt nằm rừng gió đông lùa lạnh cóng
Mưa Trường Sơn gõ nhịp đếm thời gian
Rồi những ngày hành quân gian nan
Vượt trảng trống, vượt bãi bom, vượt Trường Sơn dốc dựng
Và những đêm xé rào đột ấp
Một tiếng ầu ơ nghe đến nao lòng
Đến những giờ cả đơn vị lặng câm
Mặt sắt lại trước nấm mồ đồng đội
Một lá thư nhà vượt đạn bom lửa khói
Chuyền tay nhau đọc như nuốt từng lời
Hôm nay gặp nhau lòng lại thấy bồi hồi
Nhớ đồng đội xưa kẻ còn người mất
Thời gian phủ trắng thêm mái tóc
Vẫn nhớ như in một thời trận mạc
Máu xương rơi nhưng không chút nao lòng
Bởi biết mình đi giữ đất cha ông
Dù có chết nhưng đất này phải sống
Đánh giặc tan ta tạm rời tay súng
Về đời thường thành người cựu chiến binh
Nhưng quyết luyện rèn không để đánh mất mình
Trong cơn lốc đồng tiền của cơ chế thị trường sôi động
Quyết vươn lên từ đôi tay chai sạn
Để xây đời hạnh phúc hôm nay
Để mỗi lần chúng ta gặp nhau đây
Không xấu hổ với tháng năm đã sống
Để những tấm huân chương chiến công lấp lánh
Mãi sáng ngời trước gió bụi thời gian

Vương Đắc Hùng
UBND huyện Tân Lạc-Tỉnh Hoà Bình





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Tây Tiến về thăm

Vũ Nguyên

Kính tặng các cụ Tây Tiến về thăm CLB cao tuổi Mai Châu-Mai Hịch-Hoà Bình


Ước vọng mong đoàn Tây Tiến ơi!
Đến nay hân hạnh được gặp người
Cảnh cũ Mường xưa, nay còn đó
Phải chăng thay đổi Tóc, da, mồi!
Mối tình cá nước lưu luyến mãi
Trong lòng cuộc sống Mường Hịch tôi!.

Cảm ơn Tây Tiến đến thăm nhà
Mường Hịch bây giờ khác hẳn xưa
Xin mời lưu lại dăm ba bữa
Về Mai Châu lộng gió ngát hương
Thăm sông Mã xưa cơm nếp đưa
Thăm nương lúa mới cầu đường mới
Chẳng sợ Mường xưa Cọp ghẹo người

Lều tranh khói củi không còn nữa
Mái ngói-điện đêm sáng rực trời
Người đi-kỷ vật còn lưu lại
Cám ơn lắm lắm Tây Tiến ơi!.

Người về đến hẹn lên thăm nhé
Thăm bạn tình xưa-Mường Hịch tôi!.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Vài Kỷ niệm của một giáo sư
với nhà thơ Quang Dũng


Nguyễn Văn Vĩnh


Đại tá, giáo sư Ngô Vi Hùng chủ nhiệm khoa Vi sinh bệnh viện Trung ương quân đội 108 là người có nhiều kỷ niệm với nhà thơ Quang Dũng khi ông còn tuổi thiếu niên. Gia đình ông tản cư năm 1948 ở thôn Phù Lưu Chanh, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Ngày ấy ông thường đeo bị cói, cơm nắm đi bộ 7 km từ nhà đến trường. Cụ thân sinh ra ông là một nhà giáo đi theo kháng chiến cũng đang dạy học ở thôn Phù Lưu Chanh nơi Quang Dũng sáng tác bài thơ Tây Tiến. Cuối bài thơ tác giả chỉ để gọn chữ “Phù Lưu Chanh 1948”.

Bài thơ Tây Tiến mà Quang Dũng sáng tác ở nơi này đến nay vừa tròn nửa thế kỷ. Trong 50 năm ấy bài thơ cũng đã có những chặng đường lên xuống của nó như một câu thơ trong bài:

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Bài thơ như Quang Dũng nói ông viết liền trong một đêm với một cảm xúc mãnh liệt và hầu như ít sửa chữa, viết xong ông đem đọc lại ở đại hội tập ở Liên khu ba, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đi công tác đã đem về Việt Bắc và ngay năm 1948 những số đầu tiên của báo Văn nghệ đã nói nhiều đến sự việc này. Nhà thơ Xuân Diệu rất thích bài thơ này. Sau có ý kiến chê là bài thơ có ảnh hưởng “mộng rớt tiểu tư sản” và nhà thơ Xuân Diệu năm 1953 lại phải có ý kiến tâm sự là tự thấy mình ca ngợi hơi quá.
Bài thơ được các thế hệ học sinh và các anh bộ đội Cụ Hồ trong chống Pháp đã cất giấu trong tâm hồn với sự cảm nhận và cảm phục sâu sắc. Sau này bài thơ được trở lại vị trí của nó, được đưa vào tuyển tập thơ Việt Nam, đưa vào giáo trình văn học lớp 12, được khắc vào bia đá trong nghĩa trang liệt sĩ ở Mai Châu và bên Đài tưởng niệm các liệt sĩ Tây Tiến ở Châu Chang, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình nơi đoàn quân Tây Tiến đã từng sống và chiến đấu trong những năm 1947-1948.

Từ khi bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng trở lại trên thi đàn dân tộc như vị trí ngày nay thì nhiều người đã xếp nó vào một trong những bài thơ hay nhất trong thi ca của những ngày đầu kháng chiến chống Pháp.

Giáo sư Ngô Vi Hùng nhắc lại một kỷ niệm sâu sắc là chính ông năm ấy mới 15 tuổi còn đang đi học đã được Quang Dũng dắt tay ra ven đê ngồi đọc cho nghe bài thơ Tây Tiến. Ông khẳng định bài thơ này phải làm vào quãng đầu năm 1948 vì khi ông nghỉ hè thì ông mới được nghe bài thơ này.

Phù Lưu Chanh là điển hình một cảnh quê Việt Nam, ở đây có đầm sen, miếu cổ và rặng nhãn ven đê cùng với những cánh đồng lúa vàng tít tắp. ở đây còn có chợ nơi lưu thông những sản phẩm của sợi rút từ bông cún kéo ra. Đó là nghề truyền thống của bà con quanh vùng ứng Hoà, Kim Bảng.vv.. Chính Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu năm 1948 còn tuổi thiếu thời đã cùng gia đình tản cư ở Thu Nội-Trầm Lộng-ứng Hoà cũng thường đeo túi vải đem sợi ra chợ bán. ở đây ngày đầu toàn quốc kháng chiến có đặt hai cơ sở y tế do hai nhà khoa học tài năng là GS. Trần Hữu Tước và GS. Tôn Thất Hoạt phụ trách. Một số sinh viên trường thuốc tham gia phục vụ tại đây, nay là giáo sư tiến sĩ ngành y nổi tiếng. ở đây còn có trường thiếu sinh quân của Liên khu do đó Quang Dũng thường đi công tác về trường và gặp gia đình cậu bé Ngô Vi Hùng tản cư ở đây. Hai cụ thân sinh cậu Hùng coi Quang Dũng như người con lớn trong gia đình, công tác ở trường xong Quang Dũng ra chơi thường đàm đạo những vấn đề thời sự, có lần Quang Dũng đưa cả nhà thơ Huyền Kiêu đến chơi. Ông Hùng còn nhớ hai nhà thơ đi bắn được một chú chim và đem nấu cháo sì sụp tới khuya. Mới trông Quang Dũng ông Hùng thấy như một ông hộ pháp to cao, nhưng trong câu chuyện ông Hùng lại thấy Quang Dũng rất tâm tình, dí dỏm và hài hước. Có lần Quang Dũng chỉ về phía xa nơi có ngọn núi Ba Vì và kể lại nguồn cảm hứng của mình khi sáng tác bài Ba Vì mờ cao trong lúc trình độ nhạc lý của ông còn hạn chế, ông đã nói những cảm xúc của ông về Ba Vì, vì nơi đó là quê ông, năm 1947 ông là đại đội trưởng phụ trách đơn vị cất giấu khí tài ở chân núi Ba Vì, ông coi Ba Vì như một suối thơ.

Ba Vì ơi! Thu mùa xưa, tà áo em màu thu...

Đó là một câu hát trong bài mà Quang Dũng thường hát cho ông nghe. Những cảm thụ ban đầu về tài năng và tình cảm của ông với Quang Dũng vẫn theo mãi trong những trang đời suốt gần 50 năm ở quân đội. Năm 1950 ông vào bộ đội chia tay với Quang Dũng và tình cờ đến năm 1951 ông lại được gặp Quang Dũng vào thăm nhà ông đang tản cư ở Nhiễu Thôn huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá, Quang Dũng đến dự đám cưới của người anh trai cả của ông, cùng đi có ca sĩ Quang Hưng ngày ấy còn rất trẻ và nhà đạo diễn điện ảnh Lưu Xuân Thư ngày ấy cũng mới 17 tuổi. Trong tấm ảnh chụp kỷ niệm năm 1951 Quang Dũng đứng bên cụ thân sinh ra ông, bức ảnh ấy ông vẫn giữ đến ngày nay, sau hơn 40 năm xa cách. Hoà bình lập lại có lần ông được đọc một bài báo của Quang Dũng nói về thân phận của người bán thuốc rong và làm xiếc, ông có cảm nghĩ bài báo như một lời tâm sự trong tình hình sau chiến tranh. Rồi năm 1962 hai người lại gặp nhau ở ga Nam Định trong dịp Quang Dũng đi thực tế ở Thái Bình, vẫn một dáng người cao to nhưng có phần đăm chiêu hơn vì những khó khăn của gia đình. Chỉ vào túi moi khô Quang Dũng nói đây là mì chính của Việt Nam. Sau này giáo sư Ngô Vi Hùng có dịp nói chuyện với người con gái út của nhà thơ Quang Dũng, chị là Bùi Phương Thảo nay mới ngoài 30 hiện là giáo viên trường Võ Thị Sáu Quận Hoàn Kiếm. Thảo cho biết gia đình nhà thơ đến nay đã đỡ khó khăn, các con của Quang Dũng đã trưởng thành, chị Thạch vợ nhà thơ Quang Dũng hiện đang sống ở căn hộ khu tập thể Nguyễn Công Trứ, họp mặt truyền thống Tây Tiến nào chị cũng được mời đến dự, các bạn chiến đấu Tây Tiến đón chị trong niềm tự hào thương nhớ. Anh chị có 5 người con, hai gái đầu lòng và út, ba con trai đang công tác ở ba vùng khác nhau, người ở Thái Nguyên, người ở Hà Nội và người ở thành phố Hồ Chí Minh.

Có người kể lại thời bao cấp thường có câu “trông buồn như mất sổ gạo”, trong hệ tem phiếu ngày ấy thì sổ gạo là hàng đầu rồi đến bìa thực phẩm, thứ ba là phiếu chất đốt. Gia đình Quang Dũng ở gác 3 của căn nhà hẹp cuối phố Bà Triệu thì việc phải đun bếp dầu là điều hết sức cần thiết. Cuộc sống gia đình của anh ngày ấy rất eo hẹp, cả nhà chỉ có một chiếc quạt con cóc 35 wát. Ông đã phải tính toán khoa học đặt ở đâu để gió có thể quét qua các con nhưng lại phải an toàn. Theo con gái nhà thơ kể lại, ông bị kẻ cắp lấy toàn bộ phiếu dầu, ngày ấy là một tai hoạ vì thế cứ sáng sáng ông dậy sớm xếp hàng lấy nước ở đầu phố chợ Đuổi ông xách hai tay hai thùng lên gác như một hoạt động thể dục rồi chạy ra công viên gần đó vừa đi lững thững vừa nhặt cảnh củi khô như dáng vẻ của một người tập thể dục dưỡng sinh, nhặt được một ít củi khô chặt nhỏ bó đem về nhà nấu tạm thay dầu rồi hát nhỏ “hết rau rồi em có lấy măng không”.

50 năm nhìn lại, 50 năm nhớ lại về bài thơ “Tây Tiến”, khi qua đời tháng 10/1988 cách đây đứng 10 năm Quang Dũng chưa hề biết rằng thơ anh được khắc vào bia đá cùng với bia chiến tích của trung đoàn Tây Tiến, nhân dân các dân tộc Mai Châu, Lạc Sơn, Hoà Bình đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ Tây Tiến đã hy sinh trong nhiệm vụ bảo vệ biên cương, nhớ những câu thơ bi hùng và tình nghĩa. Chỉ một bài thơ Tây Tiến cũng đã đưa Quang Dũng vào hàng ngũ những nhà thơ tài năng. Từ tuổi thiếu niên đến giờ GS. Ngô Vi Hùng vẫn nhớ hình ảnh Quang Dũng, một anh bộ đội Cụ Hồ, một nhà thơ tài năng và đi cùng năm tháng ông thấy đó là một con người vừa mến vừa thương lại vừa phục.

Nhớ về bài thơ và cái nôi ra đời, GS. Ngô Vi Hùng cảm nhận cuộc sống thật phong phú và cũng nhiều trăn trở, nhân ngày giỗ tròn 10 năm của nhà thơ Quang Dũng và 50 năm tròn bài thơ Tây Tiến chính là nhớ về một thời hào hùng, một quá khứ vẻ vang. Bài thơ là tượng đài đã dựng lên hình ảnh đất nước con người của một thế hệ những ngày đầu dựng nước trong một hoàn cảnh vô cùng ác liệt đầy hy sinh gian khó.

Vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày đoàn quân Tây Tiến lên đường (1947-1997) giữa những ngày xuân mới, người ta thấy gần 600 các cựu chiến binh Tây Tiến từ các miền quê về Giảng Võ họp mặt vì trên mảnh đất này cách đây đúng 50 năm nhân dân Hà Nội đã đưa tiễn 2 tiểu đoàn trong số 5 tiểu đoàn của chủ lực Thủ đô lên đường Tây Tiến. Ngoài ra còn có đại biểu của các tỉnh Tây bắc, các đồng chí lãnh đạo Tây Tiến năm xưa, các gia đình liệt sĩ Tây Tiến cũng được mời về họp mặt. Trong khuôn viên của Trường cán bộ y tế 138 Giảng Võ ngước lên cao chỉ thấy một băng vải đỏ với dòng chữ vàng:

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Phía xa một đoàn quân nhạc đang cử bài Tây Tiến dưới sự chỉ huy của nhạc sĩ Nguyễn Thành, ông là tác giả của ca khúc này, ông vừa chuyển thể nguyên bản bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng sang. Dàn nhạc do chính ông chỉ huy, cạnh đó lại có tiếng hoà âm của những chiếc cồng, dàn nhạc âm vang ca khúc Tây Tiến một cách hào hùng.

Chỉ một câu “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy”, ai ngước lên nhìn dòng chữ đầy chất thơ này như chứa đựng cả một bài thơ lãng mạn, câu thơ như còn bỏ ngỏ, như còn nhắc mình, nhủ mình trong cuộc sống sôi động của thời kỳ đổi mới hôm nay.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Nhớ ngày truyền thống

Phan Ngọ
(vợ anh Quốc Tuyển)

Nhớ ngày truyền thống trung đoàn
Đơn vị Tây Tiến ta càng nhớ nhau
Đời người thoảng chốc qua mau
Bao nhiêu kỷ niệm ngày nào đầu xanh
Nhớ thương các chị, các anh
Xin tặng Tây Tiến mấy nhành hoa tươi
Gia đình Quốc Tuyển xa xôi
Hướng về Tây Tiến những người thân thương






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Các con của người chiến sĩ Tây Tiến


Nguyễn Hữu Duyên


Sau công trình thuỷ điện và 6 năm đổi mới bộ mặt xây dựng thị xã Hoà Bình thay đổi khá nhanh, đến tôi là người gốc thị xã cũng phải hỏi thăm.
- Các cháu ơi! nhà thầy giáo Thắng dạy tin học là nhà nào?
- Ngõ bên kia đường, nhà có cổng sắt sơn đỏ ấy ông ạ!
- Cám ơn các cháu rồi tôi dắt xe sang bên kia đường tìm cổng sắt sơn đỏ và đang định hỏi thăm thì gặp ngay chị chủ nhà vừa đi phố về đon đả mời tôi vào nhà. Chị vội vàng pha nước mời khách.
Để cho tự nhiên tôi bảo: Các cháu đừng gọi là bác vì chú là đàn em của bố cháu nên gọi là chú cho thân mật. Chú đến nhà gặp các cháu là do các bác bạn của bố cháu cùng đi bộ đội Tây Tiến với nhau. Cháu biết bác Nhân nhà ở gần ngân hàng nông nghiệp tỉnh không?
- Cháu biết. Cháu là Nga vợ anh Thắng và chị cháu đây là chị ruột anh Thắng tên là Tâm, từ xã Cao Dương đường 21 lên chơi.
Nhìn hình ảnh bác Xiêm trên bàn thờ nhà Thắng, tôi nhớ lại năm 1948 tại chợ Đại-Cống Thần (Hà Nam). Ngày ấy vùng này còn là vùng tự do. Trung đoàn Tây Tiến đang đóng quân ở Hoà Bình và Nho Quan (Ninh Bình) đã cử một số anh chị em cứu thương đi học và thi lớp y tá để phục vụ cho chiến trường. Trong số đó có các anh chị Xiêm, Nhân, Thanh Huyền v.v... ngày ấy tôi là một cậu bé 12 tuổi, gia đình đang tản cư ở Chùa Hang đường 12 gần Nho Quan. Bác Nhân đưa tôi từ Hoà Bình về quê bác, gửi gia đình nuôi tôi ăn học tại làng Tam Giáp gần chợ Đại. Nên hôm ấy tại nhà bác Nhân, tôi đã quen biết các anh chị đi thi y tá, trong đó có bác Xiêm.
Hôm nay nhân dịp tết Canh Thìn chú đến thăm các cháu và thắp cho bố cháu một tuần nhang gửi tới vong linh người anh, người chiến sĩ bộ đội Cụ Hồ tên là Nguyễn Xiêm trong đoàn quân Tây Tiến vinh quang và biết bao gian khổ trong thời kỳ đầu chống Pháp trên mặt trận Hoà Bình.
Nay được bác Nhân giới thiệu con bác Xiêm đã phương trưởng và thành đạt, các cháu cho chú biết tên các anh chị em hiện đang làm gì vào sổ ghi chép này.
Chị Tâm nói cho chị Nga ghi:
Bố cháu quê xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Năm 1946 vào bộ đội. Đến sau hoà bình lập lại (1954) thì chuyển ngành về công tác tại chính quyền tại chợ Bến, Hoà Bình và đến năm 1985 thì nghỉ hưu, bố mẹ cháu chuyển về Hà Nội ở với các anh cháu và đến năm 1996 thì mất ở đấy.
Sau một phút bùi ngùi, chị Nga ghi vào sổ của tôi như sau:
Các con ông Nguyễn Xiêm.
1-Nguyễn Thị Lương, 49 tuổi hiện là trung tá QĐNDVN ở Hà Nội.
2-Nguyễn Thị Tâm, 46 tuổi hiện là giáo viên PTTH huyện Kim Bôi.
3-Nguyễn Văn Toàn, 44 tuổi hiện là trung tá QĐNDVN ở Thành phố Hồ Chí Minh.
4-Nguyễn Văn Tuấn, 42 tuổi hiện là thiếu tá QĐNDVN ở Hà Nội.
5-Nguyễn Văn Thắng, 40 tuổi hiện là giáo viên PTTH thị xã Hoà Bình
6-Nguyễn Văn Tiến, 38 tuổi hiện là đại uý QĐNDVN ở Hà Nội.
7-Nguyễn Văn Việt, 36 tuổi hiện là trung tá QĐNDVN ở Hà Nội.
8-Nguyễn Thị Chiến, 34 tuổi hiện công tác ở huyện Thường Tín-Hà Tây
Trong 8 người con có 5 là bộ đội chuyên nghiệp và dâu rể 8 người thì 4 người cũng là bộ đội, 3 kỹ sư và 1 bác sĩ.
Các cháu ông Xiêm:
- Có 3 cháu nội tốt nghiệp đại học đã ra trường công tác.
- Có 1 cháu ngoại tốt nghiệp đại học đã ra trường đang công tác.
- Có 1 cháu ngoại đang học đại học năm thứ 2.
Chị Nga trả lại quyển sổ. Tôi cảm động nói: Một ông bộ đội văn hoá lớp 4 sinh ra tới một tiểu đội cấp tá và con cháu lại đều là bác sĩ, kỹ sư làm rạng rỡ cho họ Nguyễn Xiêm mà công lao chính là sự nuôi dạy các cháu nên người của bố mẹ, làm cho chú phải kính trọng. Còn các anh chị sinh ra và lớn lên trong thời chống Mỹ đã học tập văn hoá hết cấp 3 rồi đi nghĩa vụ quân sự và tiến bộ được như ngày nay làm chú rất mừng. Nhưng theo chú biết qua cậu Chiếm là cậu ruột các cháu đã kể với chú từ năm 1954 thì cũng đúng như quyển lịch sử Đảng bộ tỉnh Hoà Bình có ghi một đoạn về ông Lý Bằng (là ông ngoại các cháu): Năm 1944 mua chân Lý trưởng để giúp cho cộng sản, Việt Minh phát triển ở huyện Mỹ Đức, Hà Tây (là cơ sở của đại tướng Văn Tiến Dũng) ngày ấy vượt ngục tù Sơn La về hoạt động ở vùng này đã gây cơ sở để phát triển cách mạng lan sang huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình. Do đó cụ Dũng có khác gì ông trẻ của các cháu.
Được tôi động viên khen ngợi, nét mặt chị Tâm và chị Nga rạng rỡ hẳn lên, cùng tôi nhìn thấy làn khói hương đang cuộn dâng trên tấm ảnh thờ của bác Nguyễn Xiêm, một tấm gương sáng, sống yêu nước. Làm trai thời loạn thì tự nguyện vào hàng ngũ của Đảng của quân đội chống quân thù xâm lược. Khi hoà bình trở về làm cán bộ chính quyền tận tụy và nuôi dạy con cái thành người có ích cho dân cho nước cho chủ nghĩa xã hội và là người cha mẫu mực, hiền từ đáng kính của gia đình. Thật xứng đáng gia đình kiểu mẫu.
Ra về tôi nói vui: Những các chị đừng học bố Xiêm và chú về sự đẻ vô kế hoạch. Tâm, Nga đều vâng dạ và đổ lỗi cho thời các ông vì khoa học và quan điểm xã hội-gia đình chưa tiến bộ được như ngày nay. Chúng cháu chỉ sinh 2 con thôi ông ạ.
Ngoài trời vẫn còn mưa bụi sắc xuân. Một mùa xuân cuối đang từ từ trôi đi kết thúc thiên niên kỷ của đất trời trong vũ trụ bao la.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Nhớ các chiến sĩ Tây Tiến
và bài hát "Tiếng cồng quân y"


Nhạc sĩ Mặc Hy


Nhắc đến Trung đoàn 52 Tây Tiến (1947) ta thường nhớ đến bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. ít ai biết đến bài hát "Tiếng cồng quân y" của liệt sĩ Như Trang. Xin kể về bài hát đó và tác giả của nó để các thế hệ trẻ hôm nay biết được tính chất bi hùng của một đơn vị quân đội ta thời chống Pháp.

***


Ngày 20/12/1990, Đài tưởng niệm các liệt sĩ Tây Tiến được khánh thành ở Châu Trang, xã Thượng Cốc, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Hình tượng một lưỡi mác vút cao mang biểu tượng cờ Tổ quốc. Phía dưới bên trái, bên lư hương có hình chiếc cồng đặt trên bệ thờ mang hoa văn dân tộc Mường là do giáo sư kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh phác thảo tại chỗ. Công trình được Đảng bộ, chính quyền nhân dân huyện Lạc Sơn xây dựng trong một thời gian ngắn kỷ lục bằng công của và tình sâu nghĩa nặng của địa phương đối với bộ đội và liệt sĩ Tây Tiến. Chuyện này đã có nhiều người nói và viết đến. Tôi chỉ muốn bàn đến chuyện tại sao lại có hình tượng chiếc cồng?. Xin kể dài dài một chút: ngoài ý nghĩa văn hoá cồng là đặc trưng của văn hoá Mường, xin nói về tiếng cồng quân y Tây Tiến.
Đầu năm 1947, từ thành phố Nam Định Tất Thắng, Hải Phòng Trung Dũng, Thủ đô Hà Nội thân yêu... các thanh niên học sinh, công nhân... trẻ măng theo lệnh của cách mạng, từ giã đồng bằng, lần đầu tiên lên miền biên giới núi rừng Tây bắc, sát cánh cùng các bạn Lào chiến đấu chống kẻ thù chung.
Hồi đó ở quân y xá trung đoàn đặt ở Châu Trang, ngoài các chiến sĩ bị thương trong chiến đấu còn hầu hết là anh em bị sốt rét rừng hành hạ. Quân y xá không có đủ cấp dưỡng, năm chị y tá ngoài việc tiêm thuốc, cho uống thuốc, băng bó cho vết thương còn phải nấu ăn, bón cháo, giặt quần áo cho thương binh. Một viên ký-nin, một viên át-pi-rin được pha với một lít nước, sau khi khám, bác sĩ cho mỗi người uống một chén.
Người nào bị sốt rét ác tính chờ "đi về đất" được đưa vào góc nhà sàn mà lính Hà Nội thích đùa gọi là "nhà liệt". Lúc nào đi xa thật thì một hồi cồng rền rĩ cất lên báo cho dân quân bản làng biết cử người đến chôn cất. Ngày khánh thành Đài tưởng niệm, cụ Bùi Văn Sớn người dân quân năm xưa được phân công đánh cồng, đã mang cái dùi cồng đến tặng Ban liên lạc Tây Tiến. Mới đầu các liệt sĩ còn được bó chiếu do bà con ở thị trấn Vụ Bản, Lạc Sơn quyên góp, sau chiếu cũng không đủ, phải chẻ tre buộc thành cáng bó lại, đem chôn. Gần hai trăm chiến sĩ trẻ "áo bào thay chiếu, anh về đất", đã nằm lại, kín quả đồi trọc bên cạnh quân y xá.
Đại đội trưởng Nguyễn Như Trang bị thương vào chân trong trận công đồn Mường Bi, phải nằm viện. Anh sinh ngày 27/7/1927 tại Phả Lại. Cũng như Quang Dũng, đều là những thanh niên tài hoa đàn hay vẽ giỏi, anh theo cách mạng từ ngày đầu năm 1945, chỉ huy đại đội cảnh vệ khu 11 Hà Nội rồi đại đội 130 thuộc Tiểu đoàn 212, được kết nạp Đảng ngay trên chiến trường Thủ Đô.
Một lần về thăm nhà, anh cùng gia đình và một người bạn đi chơi thuyền ở Chính Công, Yến Khê. Anh và cụ thân sinh vừa chèo thuyền vừa làm thơ liên hoàn. Cha gieo vần trước:

"Văn nhân ngồi với quân nhân
Dưới vầng trăng sáng, thuyền lần sóng êm..."
Như Trang nghĩ một chút, đọc tiếp
"Nhấp nhô muôn ánh sao chòm
Sóng đầm man mác, sóng tim dạt dào..."


và cứ thế, hai cha con tiếp tục cho đến khi hoàn chỉnh bài thơ.
ở quân y xá, hàng ngày thấy đồng đội "đi xa", vừa thương xót, vừa nghĩ đến thân phận mình, anh sáng tác bài hát "Tiếng cồng quân y"

"Anh nghe thấy những hồi cồng rền rĩ
Tiếng cồng khua rộn nơi quân y...
...Cồng rung tiếng lá run run
Tiếng cồng vang núi đá âm u, rền xa...
...Cồng đưa một đồng chí qua đời tới nơi ngàn thu...
...Chàng chưa muốn chết, lúc nước non chưa yên
Khi nước non đang chờ và chí trai đang say máu xâm lăng..."


Mới nghe những lời đầu bài hát, ta tưởng là một bài hát buồn (làm sao không buồn khi bao đồng đội qua đời!). Đọc tiếp, ta ngạc nhiên: bài hát buồn không viết ở gam thứ, mà lại ở gam rê trưởng, cho ta thấy trong cái bi hùng của cuộc chiến vẫn thấy cái tươi sáng của tương lai.
Bài hát nhanh chóng được các chiến sĩ đón nhận và phổ biến từ Hoà Bình vào tận Khu bốn (năm 1948 công tác ở Miền tây Thanh Hoá, tôi đã hát bài này).

Mặc dù khi ấy, cũng như bài thơ Tây Tiến, bài hát cũng bị một số ý kiến này nọ nhưng nó vẫn được chép trân trọng trong sổ tay các anh lính trẻ. Tiểu đoàn phó Như Trang hy sinh ngày 21/11/1948 ở thôn Ngọc Lâu, Lạc Sơn, Hoà Bình trong một trận chiến đấu anh dũng chống giặc Pháp.

Tôi nhớ có lần cố nhạc sĩ cao tuổi Nguyễn Xuân Khoát đã nói với tôi: "Con người ta có thất tình: Hỷ, Nộ, Ai, Lạc, ái, ố, Dục (Vui, Giận, Buồn, Sướng, Yêu, Ghét, Muốn), văn học nghệ thuật phản ánh tất cả các tình cảm ấy. Tại sao ta không dám viết cái "buồn"?. Liên Xô có bài hát "Su li kô" buồn mà không bi quan, lại có cả cuốn phim "Bi kịch lạc quan".

Hơn nửa thế kỷ đã qua, thời gian sàng lọc, trong hai tập hồi ký "Tây Tiến một thời để nhớ" và "Tây Tiến 50 năm nhìn lại" do Ban liên lạc truyền thống Cựu chiến binh Tây Tiến xuất bản ta lại thấy bài thơ "Tây Tiến" và bài hát "Tiếng cồng quân y" được in trang trọng bên các hồi ký, thơ, nhạc khác phản ánh trung thực cuộc chiến đấu đượm chất bi hùng của một thời, của một thế hệ cha anh mà các bạn trẻ bây giờ cần biết đến và suy ngẫm./.

(Viết theo lời kể của các chiến sĩ Tây Tiến)




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0

Tây Tiến 55 năm

Tô Ngọc Huyền

Lời BBT: Đồng chí Tô Ngọc Huyền, một cán bộ rất tích cực, gắn bó với đồng đội, góp nhiều công sức xây dựng Tổ BCĐ Tây Tiến ở Nam Định. Đồng chí đã mất.
Xin giới thiệu bài thơ được gửi đăng “Tây Tiến 55 năm” để tỏ lòng thương tiếc đồng chí.


Nhìn ảnh cũ nhớ người xưa

Nhìn tấm ảnh năm xưa họp mặt
Xem hội ta đi mất bao người
Bước theo quy luật mệnh trời
Trên đường cực lạc về nơi vĩnh hằng
Thời Tây Tiến núi rừng gian khổ
Sống cùng nhau chia xẻ ngọt bùi
Khi vui cộng hưởng cùng vui
Khi buồn thông cảm tình người chiến binh
Hai cuộc chiến hoàn thành nhiệm vụ
Bạc mái đầu hội tụ gặp nhau
Mừng vui, vui chẳng được lâu
Gặp nhau năm trước, năm sau qua đời
Người còn sống, nhớ Người đã khuất
Mỗi mùa xuân vắng mất mấy người
Tuyền đài, cực lạc xa vời
Người đi, hình ảnh đứng, ngồi còn đây

Thu 1998





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Gặp người Tây Tiến trên đất Hoà bình


Duy Phảng


Dễ đến ba, bốn năm liền, kể từ năm 1992, tôi có may mắn được giao nhiệm vụ đưa đón đoàn Cựu chiến binh Tây Tiến trở lại Hoà Bình thăm chiến trường xưa. Tôi trộm nghĩ: Nếu không có các cuộc hành hương của các cụ ông, cụ bà Tây Tiến hôm nay, thì chuyện về Tây Tiến đối với tôi chỉ còn là chuyện cổ tích. Cái hay ở đây là: Hễ nói đến Tây Tiến là ai cũng nhắc đến thơ Quang Dũng và thơ của ông như cuốn sử viết về đồng đội mình. Các ông Vũ Tuấn, Lê Sam, Lê Hùng Lâm thường nói: Trở lại thăm chiến trường xưa thì địa danh còn đấy, nhưng cảnh vật thay đổi nhiều quá, muốn tìm đồng đội của mình đã ngã xuống phải theo lịch trình hành quân chiến đấu Tây Tiến ta có thể theo thơ Quang Dũng mà cảm nhận được sự khốc liệt của chiến trường và chấp nhận sự hy sinh cao cả đó để giải phóng dân tộc.
Thế là đoàn Cựu chiến binh Tây Tiến những người còn sống, lại dong duổi dọc theo bờ sông Mã để tìm dấu vết đồng đội đã hy sinh.
Ông Lê Hùng Lâm bảo: Bao nhiêu người ngã xuống không còn mảy may vết tích, như tiểu đoàn của ông có 400 người, khi hoà bình chỉ còn khoảng 100 người. Biết là người Tây Tiến mà không biết hy sinh ở đâu, thời điểm nào, ở ven sông Mã hay Sầm Nưa, Mộc Châu hay Mường Hịch...? Và, ông lại đọc thơ của đồng đội ông-thơ Quang Dũng:
"...Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành..."
Ông Vũ Tuấn, trưởng ban liên lạc Cựu chiến binh Tây Tiến nói thêm: Trong cái khó có cái dễ ở chỗ chúng tôi từ nhân dân mà ra, nay trở lại với nhân dân, đi đâu cũng được nhân dân giúp đỡ, đùm bọc.
Cũng theo ông Lâm kể: Ngoài Đài tưởng niệm được xây dựng ở Châu Chang, Lạc Sơn (Hoà Bình), các mộ ở nghĩa trang liệt sĩ ở huyện Mai Châu, Tân Lạc hầu hết là khuyết danh. Cứ mỗi lần chuẩn bị cho những cuộc hành hương là có người đến nhờ tìm mộ liệt sĩ, chúng tôi còn nợ đồng đội nhiều quá.
Thấm thoát đã 50 năm để từ ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký bức thư ngày 1 tháng 2 năm 1947 gửi các chiến sĩ Tây Tiến khi Trung đoàn 52 Tây Tiến xuất phát. Những người Tây Tiến-người ngã xuống vì nghĩa cả phần lớn đã trở về với đất mẹ yên nghỉ trong các nghĩa trang liệt sĩ ở Hoà Bình, người còn sống thì thương người đã khuất và sum họp lại trong một mái ấm: Ban liên lạc truyền thống Trung đoàn 52 Tây Tiến.
Hiểu được công lao của người Tây Tiến, những con người giầu lòng nhân ái đối với đồng bào đồng chí, lãnh đạo tỉnh và nhân dân vùng chiến trường xưa của đoàn quân Tây Tiến, đón tiếp người Tây Tiến như những người thân trở về. Những cuộc gặp gỡ, giờ phút chia tay vẫn len lỏi trong nụ cười những giọt nước mắt ấm nồng. Trong điều kiện còn khó khăn, nhưng tỉnh Hoà Bình đã dành kinh phí để góp phần xây dựng một tượng đài tưởng niệm các liệt sĩ Tây Tiến ở Lạc Sơn và bia chiến tích của bộ đội Tây Tiến và quân dân Mai Châu trong kháng chiến chống thực dân Pháp đặt trong khu vực nghĩa trang liệt sĩ Mai Châu. Để ghi lại tình cảm quân dân trong những ngày gặp mặt, lãnh đạo tỉnh dành thêm chút kinh phí để Ban liên lạc xây dựng một băng video "Tình đồng đội, nghĩa quân dân" năm 1994 và phát hành 2 tập sách: "Tây Tiến một thời để nhớ" tháng 11/1995 và "Tây Tiến 50 năm nhìn lại" tháng 7/1997.
Trong đoàn cựu chiến binh Tây Tiến mà tôi được gặp tại Hoà Bình, ai nấy đều rất tình cảm, đoàn kết bên nhau. Cho dù có người là giáo sư, cán bộ cấp cao, kỹ sư, bác sỹ, hoạ sỹ, nhạc sỹ, nghệ sỹ đến người làm y tá đến lúc nghỉ hưu vẫn không có sự ngăn cách bởi vì họ đều có chung một cái tên: Cựu chiến binh Tây Tiến oai hùng.
Hội Văn học nghệ thuật Hoà Bình có cuộc tiếp xúc với người Tây Tiến trong một đêm ca nhạc đầy tình cảm và hấp dẫn. Nhạc sỹ Mặc Hy và nghệ sỹ ưu tú Kim Ngọc trong đoàn Cựu chiến binh Tây Tiến đã say sưa đàn hát với chúng tôi đến tận khuya vẫn không muốn chia tay. Chị Kim Ngọc, nói đúng hơn là bà Kim Ngọc ngoài sáu mươi tuổi mà giọng hát vẫn bay bổng, trẻ trung trong những tác phẩm âm nhạc bất tử của cố nhạc sỹ Văn Cao. Trong đêm ca nhạc ấy, chúng tôi lại đọc thơ Tây Tiến của cố nhà thơ Quang Dũng trong niềm cảm xúc biết ơn và tự hào.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Kính gửi: Anh Vũ Tuấn, Ban liên lạc Tây Tiến

... Nhân xếp lại các chồng sách, báo cũ, chợt phát hiện ra một bài thơ chữ Hán, viết vào Tết Bính tý (1996) sau khi Tào Mạt đi xa... Bởi mấy năm trước, báo Cựu chiến binh và báo Hà Tây, số Tết thường có thơ chữ Hán của Tào. Năm ấy nhận báo, không thấy có thơ Tào nữa, nghĩ tiếc quá bèn viết bài "Ký Tào quân" nhớ anh Tào Mạt như sau:


Ký Tào quân

Khứ niên xuân báo hữu Tào thi
Kim nhật báo lai bất kiến chi
Thuế hạ lân Tào tử dĩ khát
Hốt nhiên xuân đáo hựu lâm li

Dịch: Nhớ anh Tào Mạt, năm trước báo xuân có thơ Tào Mạt, hôm nay báo đến mà chẳng thấy thơ anh nữa, nước mắt thương tiếc anh Tào tưởng rằng đã cạn, báo xuân đến bỗng nhiên nước mắt lại dàn dụa chảy.

Dịch thành thơ:

Báo xuân năm ngoái có thơ Tào
Báo đến, hôm nay chả thấy đâu!
Nước mắt thương Anh dường đã cạn
Bỗng dưng Xuân đến lại dâng trào
Xuân năm Bính tý

Bài "Hỷ phùng xuân" của Tào Mạt, chắc các anh còn giữ cả. Tôi không chép lại nữa, chỉ xin chép bài hoạ của tôi theo nguyên vần "Xuân, Quân, Lân," trong thơ của anh Tào

Tây Tiến kim niên hạ khánh xuân
Thi gia cố kỷ khuyết Tào quân!
Tân thi, Thuỳ độc, ngô tâm thống
Thọ tửu dục khuynh xướng đả lân

Dịch:

Năm nay Tây Tiến mừng xuân
Nhà thơ ghế cũ Tào quân vắng rồi
Ai ngâm thơ?... não lòng tôi
Tiếng ca "cổ hận" càng sôi thẹn thùng
Nên ly rượu thọ hết nồng
Muốn nghiêng ly, rượu lại không muốn vào!...

***


Mấy vần thơ chép cho các anh xem chỉ để tâm sự thôi, chứ chẳng có ý gì khác đâu. Rất mong được sự thông cảm của các bạn, nhất là bài thơ hoạ nguyên vần thơ của Tào Mạt.

Đưa thơ đến Bác để tâm tư
Chẳng phải khoe khoang, chẳng phải đùa
Chẳng phải tuyên truyền tư tưởng lạ
Phù danh chán ngấy tự bao giờ

Kính thư
Doãn Quang Khải




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Xin kể chuyện này


Đỗ Thanh Tùng


Trên xe đi đến điểm hẹn đại sứ Vilayxanh Phổm Khê nói với tôi và bác Khuông: “Chiều hôm qua Thủ tướng và phu nhân đến thăm gia đình tôi, lúc ra về có bảo tôi mời hai bác đến hàn huyên”
Qua điện thoại báo tin hồi đêm, tôi nghĩ cuộc gặp diễn ra ở sứ quán. Xe chạy khoảng nửa giờ thì tới nơi. Đồng chí Xixa Vạt xuất hiện, trắng và mập hơn xưa, vẫn giản dị, gần gũi như ngày nào niềm nở đón chúng tôi, thân tình thăm hỏi sức khoẻ và tình hình gia đình tôi và bác Khuông. Tôi chân thành cám ơn và thông báo rằng đồng chí Chà Lơn, UVTWĐ-Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và đồng chí Đại sứ đã tới thăm gia đình chúng tôi. Đồng chí Đại sứ đã đến thăm các cựu chiến binh Tây Tiến trong dịp kỷ niệm ngày truyền thống của đơn vị đầu năm nay, tỏ ra sự quan tâm cùng tình cảm thuỷ chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào anh em.
Bác Khuông nhắc lại với đồng chí Xixa Vạt-một nhân chứng lịch sử-những ngày tổ chức yêu nước của Việt Kiều và Lào phối hợp hoạt động giành chính quyền ở Sầm Nưa tháng 9-1945 cùng không khí tưng bừng cách mạng hồi đó. Bác Khuông còn giữ được chiếc đồng hồ của đơn vị tự vệ gác nhà máy điện ngày ấy. Bác Khuông nhắc đến trận Mường Láp, trận đại thắng lợi của bộ đội Giải phóng Việt Nam sang phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước Lào theo hiệp định tương trợ giữa hai nhà nước Lào-Việt được thành lập do Hoàng Thân Xuphanuvông làm tổng chỉ huy. Trong hồi ký của mình bác Phumi Vông Vichít ghi tên các chỉ huy của đơn vị quân giải phóng Việt Nam như Lê Hiến Mai, Tuấn Sơn mà bác đã gặp.
Ngày ấy, sau chiến thắng Mường Láp đơn vị Tuấn Sơn-Anh Đệ đóng trên 3 điểm: Trung đội Nông ích Cao ở thị xã Sầm Nưa với đại đội bộ do Tuấn Sơn trực tiếp chỉ huy, Trung đội Tâm đóng ở Sốp Hào do Lam Ngọc chính trị viên Đại đội phụ trách; trung đội Tảo đóng ở Mường Hét. Ngoài ra ở Mường Hằng có phân đội độc lập do đồng chí Tăng là phân đội trưởng, vừa làm công tác tuyên truyền vừa giữ vững thông tin liên lạc giữa Bộ chỉ huy Tây Tiến với các đơn vị của Tuấn Sơn.
Đồng chí Xixa Vạt luôn gật đầu và nói biết, nhớ, nhớ chứ ngày đó thật vui, phấn khởi, sôi nổi. Đông chí Xi Xa Vạt hỏi: Các anh đã trở lại thăm Hủa Phăn chưa? Tôi được dịp kể lại chuyến thăm chiến trường xưa nơi mà từ cuối 1945 đầu 1946 các đơn vị của Tuấn Sơn cùng lực lượng vũ trang yêu nước Lào đánh chặn quân Pháp từ Mường Và-Sốp Cộp khi chúng quay lại tái chiếm Hủa Phăn sau ngày tháo chạy từ cuộc đảo chính của quân Nhật 9-3-1945. Cuộc thăm chiến trường xưa của chúng tôi thấm đậm tình nghĩa, nơi chúng tôi đến đều được nhân dân, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt và các đoàn thể địa phương đón tiếp nhiệt tình, thân mật, chu đáo-ở đâu cũng được tổ chức lễ baxi để cầu phúc. Hai chùa Mường Hét và thị xã Sầm Nưa còn cầu siêu cho các liệt sĩ ta. Dọc đường đi chúng tôi đã dừng lại ở Sốp Hào thắp nhang viếng vong các liệt sĩ ở bến sông, nơi đầu năm 1947 dưới sự chỉ huy của Bộ chỉ huy Tây Tiến II, Tuấn Sơn trở lại Hủa Phăn với tiểu đoàn 212 cùng các đơn vị bạn đã phá vỡ phòng tuyến Sông Mã của quân Pháp, trong đó có trận đánh lớn ở Sốp Hào tạo địa bàn cho các đội võ trang tuyên truyền Lào-Việt hoạt động. Thật khó quên được những chiến công của các đội võ trang tuyên truyền này, trong đó có đội vũ trang Lào-Bắc do đồng chí Kay Sỏn Phôm Vi Hẳn làm đội trưởng, đồng chí Đông Tùng làm chính trị viên, đã giải phóng Xiềng Khọ và lập đội Lát Xa Vông. Tiếng nhạc, Khắp và Lăm vông tưng bừng liên hoan chiến thắng ngày nào dưới ánh sáng lửa trại, đêm nay Xiềng Khọ lại nổi nhạc, khắp, lăm vông, rộn rã tiếng cười vui ngày tái ngộ dưới ánh điện sáng chưng.
Viêng Xay căn cứ địa cách mạng của Lào thật hùng vĩ và đẹp, cái đẹp của tự nhiên, một cảnh quan hoà quyện núi rừng, suối với những dáng vẻ, hình khối thật huyền ảo, quyến rũ tạo cảm giác thiêng liêng. Nơi đây từng lối đi, từng nếp nhà đều là biểu tượng của tinh thần đoàn kết Việt-Lào.
Đến Mường Sầm-thị xã Sầm Nưa-đã thay đổi nhiều, to hơn, đẹp hơn, mấy công trình cũ xưa còn lại là nhà “Săng Phin” (VTĐ), nhà thờ và nhà tỉnh trưởng. Nơi đây cũng là điểm cuối cùng của lịch trình chuyến thăm hữu nghị của đoàn. Tình cảm nồng hậu ở mỗi địa phương đoàn đến mà từng người chúng tôi cảm nhận được đã được nhân lên gấp bội trong mấy ngày, đông chí Chơdinh Vang Uỷ viên TW Đảng-Bí thư Tỉnh uỷ kiêm tỉnh trưởng tỉnh Hủa Phăn dành cho đoàn.
Ngoài những buổi tiếp đón trang trọng, mời dự lễ kỷ niệm ngày thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Lào còn cùng đoàn viếng tượng đài cố Tổng bí thư Kay Sỏn Phômvi Hẳn, đài liệt sĩ QĐNDCM Lào, đài liệt sĩ tình nguyện quân Việt Nam, và hàng ngày đến thăm hỏi đoàn.
Bác Khuông kể lại việc gặp lại bác Phét-xa-vông trong buổi tỉnh trưởng cùng các đồng chí lãnh đạo khác và các lão thành cách mạng đón đoàn- đồng chí Xixa Vạt hỏi Phétxa Vông còn sống à? Bác Khuông trả lời: vâng và nói tiếp còn được gặp các con cháu các đồng chí cùng thời hoạt động với đồng chí Xixa Vạt ở Mường Son. Bác Khuông kể việc hai anh em Thao Hanh và Tuệ trong đội võ trang tuyên truyền Lào-Việt đội đồng chí Thao-Ma và Lào Bắc đã được chính phủ nhân dân Lào truy tặng Huân chương cao quí; hài cốt của đồng chí Tuệ và Tuấn Sơn đã tìm thấy và qui tập vào nghĩa trang liệt sĩ ở Hải Phòng và Sơn Tây.
Đồng chí Xixa Vạt nắm chặt tay chúng tôi và kéo lại gần, vì đồng chí ngồi ở giữa tôi và bác Khuông. Tôi nhìn và nhận thấy đồng chí đang xúc động với những kỉ niệm một thời hào hùng của các đơn vị Liên quân Lào Việt. Đồng chí nói: “Thành quả của tình hữu nghị đặc biệt giữa nhân dân hai nước chúng ta là đã giành lại được độc lập, tự do; vị thế hai nước trên trường quốc tế ngày một cao, đời sống văn hoá, vật chất, tinh thần của nhân dân hai nước ngày một khá.
Đất nước hai dân tộc chúng ta đã phải trải qua bao khó khăn, gian khổ, hy sinh mất mát để chiến thắng kẻ địch giảo quyết và vô cùng tàn ác. Bị thua đau nhưng nó chưa cam chịu thất bại cải tà quy chính. Nó vẫn âm mưu phục thù và làm bá chủ thế giới. Sự kiện Kosovo đã phơi bày bản chất đế quốc dã man của nó trước nhân loại. Chúng ta phải cảnh giác, trách nhiệm lớp già chúng ta còn nặng nề. Chúng ta phải giáo dục, dạy dỗ con cháu khôn ngoan, thông minh sáng tạo nắm vững khoa học kỹ thuật hiện đại, phát huy truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh anh dũng, khí phách anh hùng bất khuất của ông cha để giữ vững thành quả của cách mạng, xây dựng Tổ quốc hùng mạnh về chính trị, kinh tế, quốc phòng và góp phần bảo vệ hoà bình lâu dài. Hơn lúc nào hết, nhân dân hai nước Lào-Việt lại cần ra sức “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, như lời nói của Bác Hồ vĩ đại.
Dù quyến luyến mấy cũng đã đến lúc tạm biệt vì thời gian cuộc tái ngộ đã hết nửa buổi sáng rồi. Tôi đứng lên cám ơn đồng chí Xixa Vạt đã quan tâm đến tình cảm của những đồng đội cũ mà xếp thời gian cho hội kiến và chúc đồng chí cùng gia đình an khang, thịnh vượng.
Đồng chí Xixa Vạt xoa vai tôi nói: “Cám ơn ư, anh em mà, lâu ngày mới gặp nhau, có gì mà ơn với huệ.
Tiễn chúng tôi ra cửa đồng chí Xixa Vạt nhờ chúng tôi chuyển lời hỏi thăm và chúc sức khoẻ đến bác Đông Tùng, bác Tài, các cựu chiến binh Tây Tiến và gia đình. Dọc đường về đồng chí Đại sứ tấm tắc ca ngợi tình cảm thân thiết của cuộc gặp mặt. Tôi và bác Khuông tiếc mãi việc không có máy quay để ghi lại hình ảnh xúc động chân tình của đồng chí Xixa Vạt khi gặp lại những chiến sĩ già một thời bên nhau. Và thế là chúng tôi lại có thêm một kỷ niệm khó quên về tình đồng đội, đồng chí, tình đoàn kết quốc tế trong sáng thuỷ chung; đặc biệt là tình cảm giữa những người cộng sản với nhau, dù thời gian có xa, cương vị xã hội có khác nhau, cũng không nhạt phai mà chỉ thêm thắm thiết./.
Hà Nội 11-1999





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Những cuộc gặp mặt đầy tình nghĩa
của các bậc Lão Cựu chiến binh Tây Tiến


Trang Bình


Đường Giảng Võ xưa kia là nơi hội tụ võ sinh giữ nước. Trong thời đại Hồ Chí Minh ngày nay cũng ở nơi đây, hàng năm vào dịp đầu xuân các lão CCB Tây Tiến cũng là những võ sĩ chống Pháp, chống Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hội tụ, để hồi tưởng những nghĩa cử cao đẹp hào hùng đã qua, mừng thọ các cụ bẩy, tám, chín mươi tuổi, bầy tỏ lòng tiếc thương với những cụ đã qua đời trong năm, nghe báo cáo việc thăm hỏi những cụ không may bị ốm đau.
Những cuộc gặp mặt có năm thời tiết bình thường, nhưng cũng có năm không thuận cho lứa tuổi xưa nay đã hiếm và rất hiếm mà trước đây hơn nửa thế kỷ khi thành lập đoàn quân Tây Tiến có nhiều người là chàng trai lông tơ còn vương trên má. Chỉ trừ trường hợp sức khoẻ không cho phép, còn là đã cố gắng, không những có đủ các cụ ở Hà Nội và vùng xung quanh mà còn nhiều cụ ở xa như các cụ ở Hoà Bình, Nam Định, Hải Dương, Hải Phòng... khi gặp nhau thật sự hân hoan, ríu rít hàn huyên bao chuyện đời thường của trên trăm cụ như anh em xa nhà lâu ngày gặp lại.
Không những chỉ là các cụ ông CCB Tây Tiến mà còn các cụ bà CCB Tây Tiến, và nhiều cụ bà là “phu nhân” của các cụ đã một thời ở những cương vị phụ trách công tác và chỉ huy các đơn vị trong Trung đoàn Tây Tiến, cũng thân tình đến dự, có cụ năm nào cũng có hoa và tặng phẩm cho cuộc gặp mặt thân tình này. Sau những lời giới thiệu, các cụ bà nhanh chóng quen nhau thân thiết như các cụ ông vậy.
Năm nào cuộc gặp mặt cũng được đón tiếp các đại biểu thân thiết và kính trọng của tỉnh Hoà Bình, của Thành phố Hà Nội, của Quân khu thủ đô, của Trung đoàn 52 sư đoàn 320, quân đoàn 3 là thế hệ nối tiếp của Trung đoàn Tây Tiến, hiện đang làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới. Những tuổi tròn của Trung đoàn thường có các bậc anh cả của quân đội là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng đến dự. Sự có mặt của đại biểu khách cùng những chuyện trò cởi mở, đầm ấm càng tăng thêm nghĩa tình gắn bó và khích lệ các CCB Tây Tiến đang sống với cương vị của mình trọn ven hiếu trung như trước đây đã từng vượt qua muôn trùng hiểm nguy của đạn bom, đèo cao, vực sâu, đường dài, rừng rậm để chiến thắng quân thù giành độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc.
Cuộc gặp mặt các CCB Tây Tiến hàng năm đều tốt đẹp: Tô thắm truyền thống vẻ vang; tăng thêm tình bạn cùng chiến hào; càng gắn bó hơn nghĩa tình quân dân với các dân tộc Hoà Bình, với những thế hệ nối tiếp của Trung đoàn Tây Tiến, đó là sự đóng góp của cả tập thể, nhưng quan trọng là sự cống hiến đầy nghị lực, trí tuệ, năng động, sáng tạo của cả Ban liên lạc đã động viên được sự giúp đỡ to lớn của nhiều cơ quan, đơn vị, của mỗi vị tướng lão thành, của Đảng bộ nhân dân tỉnh Hoà Bình, của Trường cán bộ quản lý y tế, nên những năm qua đã làm được nhiều việc có ý nghĩa lịch sử như: đã xuất bản được nhiều tập san CCB Tây Tiến, ghi được những hình ảnh nhiều việc làm tình nghĩa; đã xây dựng được tượng đài liệt sĩ Tây Tiến ở Châu Chang huyện Lạc Sơn. Nghĩa trang liệt sĩ Tây Tiến ở Mẫn Đức huyện Tân Lạc, bia liệt sĩ Tây Tiến ở nghĩa trang huyện Mai Châu, tổ chức những lần về thăm Đảng bộ, nhân dân tỉnh Hoà Bình và nhân dân Lào.
Các CCB Tây Tiến sau mỗi lần tụ hội đều cảm nhận được những tình nghĩa thắm thiết bổ ích của những đồng chí, đồng đội, ai nấy đều phấn chấn vươn lên để mãi mãi trọn vẹn hiếu trung với Đảng, với dân và với bao tầm cao cuộc sống.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Cơn khát

Trung tá Lê Xuân Lĩnh

Ai đã từng đi qua cơn khát
Qua từng dãy rừng trút lá mùa thu
Qua những cánh rừng già, rừng non
Rừng Trường Sơn đại ngàn gió hát
Rừng U Minh hương tràm thơm ngát
Rừng Má Nghèn trên bãi cát mênh mông
Và ai đã qua những rừng Khọc, rừng Le
Qua rừng Dừa và những rừng cây Thốt Nốt
Rừng xanh bao la nhận bốn mùa mưa nắng
Xong đã có lúc rừng bốc lửa một màu vàng úa
Để cho đoàn quân như suối chảy về xuôi
Vai người lính đã một thời nắng cháy xém da
Ba lô nặng oằn, mặt hốc hác nhìn nhau trên núi
Đâu còn nước trong những bình toong khua lốp cốp
Anh em ơi! Đồng chí ơi! Đồng đội thân yêu ơi!
Ta đã chia lửa cho nhau những cuộc đời người lính
Những bình độ lồi, lõm, những điểm cao không tên
Những suối sâu chảy xiết, đèo cao, vực thẳm
Những cánh rừng heo hút và những dấu chân người lính
Đến những bờ sông, bờ biển chỉ một màu cát trắng bao la
Tạc vào thế kỷ XX những chiến công chói lọi nhất
Vào trong sâu lắng tâm hồn ta bỗng thấy nước mênh mông
Tất cả đồng đội đều mơ về một dòng sông yêu thương
Anh em nhìn nhau nở nụ cười rạng rỡ khát khao
Trong mắt người lính dòng sông đang chảy như nhảy múa hát ca
Bóng con đò đang đợi những người con đi xa mới về
Và đoàn quân điệp điệp trùng trùng lại tiếp tục hành quân
Theo chân Bác về cội nguồn hun đúc hồn dân tộc
Tự hào thay làm người lính của dân, của Đảng
Và nhân dân mến tặng "Bộ đội Cụ Hồ" kính yêu

Tây Nguyên 11/11/2001





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Hồn về Sầm Nưa


Lê Hùng Lâm


Vào một dịp các Cựu chiến binh Tây Tiến đến thăm, với giọng miền Trung nhỏ nhẹ, ấm áp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngâm mấy câu thơ Tây Tiến của Quang Dũng:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc...
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy...


Đại tướng ngừng lại, ông cùng chúng tôi lặng người để câu thơ cuối nghẹn trong lòng: Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Những người Tây Tiến còn sống vẫn luôn gửi hồn về Sầm Nưa, tìm về chốn cũ. Đại sứ Lào tại Hà Nội dự kỷ niệm Tây Tiến đầu xuân năm nay hiểu nỗi lòng này nên đã giới thiệu Chủ tịch Uỷ ban tỉnh Hủa Phăn mời chúng tôi sang thăm. Đúng tiết thanh minh, ai cũng háo hức nhưng đến phút lên đường chỉ còn 8 người đủ sức, trẻ nhất là 70, già nhất 82 tuổi.
Các cháu học sinh Lào mặc đồng phục đón hai bên đường Mường Hằng, tặng mỗi người một bó hoa, đều là hoa rừng mới hái. Những giọt nước mắt đầu tiên nhỏ trên đất Lào ở ven Sông Mã.

Chúng tôi thả từng cánh hoa xuống dòng sông, gửi tới đồng đội mình nằm rải rác chốn biên cương này. Anh M.Đ. đã từng đói lả khi hành quân qua Sốp Bau và được một bà già chia cho nửa củ mài. Ôm chặt một cụ ra đón anh oà lên: "54 năm rồi. Hôm nay mới được trở lại"

Đến bản nào chúng tôi cũng dự lễ buộc chỉ cổ tay. Mọi người ngồi quanh một mâm chất cao những hoa rừng, khoai sắn, bánh, chuối, thịt gà và trứng. bàn tay mỗi người chắp lại, kẹp chung một sợi chỉ trắng dài. Hồn vía từng người qua sợi dây này truyền nối với nhau. Một thầy mo cao tuổi đọc bài khấn:

Lúc này đúng là ngày đẹp, giờ đẹp, tôi nói:

... Hãy về đây nhé, hỡi ba mươi vía qua sông lạc đường
Hỡi ba mươi vía nằm yên trong rừng và cả ba mươi vía còn dừng lại trên thế gian
Vía các anh về đây hãy rủ cả bạn ở xa đi cùng
Và gọi cho đúng cả người bị thả cùng với những ai rơi ai vãi
Về đây mà gặp người thân


Nhớ lại tháng 3/1947, đại đội tôi từ Hà Nội hành quân đến biên giới Việt Lào, đánh thắng trận công đồn đầu tiên, đồn Chiềng Cồng do lính Pháp đóng. Nhiều bạn tôi đã ngã xuống với áo bào thay chiếu, nằm lại ven Sông Mã, khúc này. Chúng tôi men theo Sông Mã đến một gốc đa cổ thụ. Những nén hương mang theo từ Hà Nội bốc lên nghi ngút. Trong sương mù và dưới các hốc cây ánh nến càng lung linh huyền ảo. Nước mắt vắn dài giọt giọt thấm vào lòng đất. Trong im ắng chỉ còn tiếng nức nở bên suối rì rầm, gió hiu hiu và tiếng thác gầm xa xa. Anh K. không tìm thấy mộ bạn, anh nhặt một hòn đá, hú hồn hú vía bạn nhập vào hòn đá này để mang về cho con bạn thờ.

Sầm Nưa là nơi xưa kia quân Pháp trấn giữ miền bắc Lào và luôn tìm cách từ phía tây đánh sang ta. Sầm Nưa cũng là cái nôi của cách mạng Lào, của quân đội Lào. Tháng 10/1945 đoàn quân Tây Tiến đầu tiên dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Tuấn Sơn, chàng trai một thuở bút nghiên của Hà Nội, đã được dân Lào dẫn đường đánh trận Mường Láp nổi tiếng, phá tan quân Pháp thu hơn 200 khẩu súng. Số vũ khí rất quí trong những ngày đầu cách mạng đã được trang bị cho những đơn vị vũ trang đầu tiên của Bạn. Anh M.Đ. cùng Tuấn Sơn đánh Mường Láp đã kể lại tường tận trận này với các đồng chí lãnh đạo Hủa Phăn, góp một tư liệu sống cho phần lịch sử bạn đang sưu tầm. Khi đại quân Pháp trở lại Đông Dương, chúng chiếm lại Sầm Nưa, lập các đồn bốt Sốp Hào, Mường Hằng, Sốp Bau và chuẩn bị đánh Mộc Châu. Đoàn quân Tây Tiến lại kéo quân lên bảo vệ bờ cõi và phối hợp với Bạn giải phóng Sầm Nưa. Từ những ngày đầu Tây Tiến ấy và suốt nửa thế kỷ sau người Tây Tiến vẫn thả hồn về Sầm Nưa.

Suốt mấy ngày cố tìm xem còn người Việt nào còn ở Sầm Nưa chúng tôi mới gặp được đồng chí Trần Đình Thư 80 tuổi quê ở Tức Mặc, Nam Định. Đi Tây Tiến đánh địch rồi lạc đơn vị, anh ở lại tham gia bộ đội Lào, được nhiều huân chương, lấy vợ Lào và đổi tên là Chăn Thư. Kể chuyện liên tục hàng giờ mà anh chưa dứt. Anh bảo đói nhất là sách Việt, có cuốn nào cũng thuộc lòng và nay anh có thể kể lại từ đầu chí cuối "X 30 phá lưới". May sao còn cuốn Tây Tiến cuối cùng mang theo, chúng tôi đưa tặng. Anh ôm lấy sách: "Trời ơi, quý hơn vàng, sách này sẽ mang tôi đến trọn đời".
Thật xúc động khi các nhà sư chùa Sầm Nưa tổ chức lễ cầu siêu cho các liệt sĩ Việt Nam. Dù biết rằng mộ các liệt sĩ vẫn còn rải rác núi rừng nhưng dân ở đây vẫn tin hồn các liệt sĩ đều quy tụ về chùa. Hương nến quê nhà thắp lên trong tiếng thổn thức của từng người. Khi các nhà sư đọc kinh chúng tôi chợt nhớ phải tĩnh lặng, giữ lòng thanh thản theo lời tụng niệm thì bỗng chị T. bật tiếng khóc lớn: "Ông ơi, ông ở lại đây".
Bên đồn biên phòng Na Mèo anh lính trẻ quê miền xuôi biết chúng tôi là các Cựu chiến binh Tây Tiến liền ngâm luôn:

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi


3/1999





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Thăm lại chiến trường xưa trên đất bạn


Tú Hào


54 năm trước, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vừa mới thành công, cánh quân Anh Đệ-Tuấn Sơn nhận lệnh của Bộ chỉ huy chiến khu 2 tức tốc lên đường, sau khi qua biên giới ở Pa Háng đã phối hợp ngay với lực lượng yêu nước Lào, nổ súng vào bọn giặc Pháp nháo nhác tìm đường tháo chạy. Tháng 3 năm nay, theo thư mời đích danh của Bí thư Tỉnh uỷ kiêm Tỉnh trưởng Hủa Phăn, chúng tôi, những cựu chiến sĩ tình nguyện Việt Nam đầu tiên chính thức trở lại thăm chiến trường xưa trên đất bạn. Danh sách mời cả thảy 17 người, nhưng nhiều đồng chí tuổi cao, sức yếu nên đành ngậm ngùi ở lại, cuối cùng có 7 lão đồng chí lên đường, ngoài ra có một người con liệt sĩ Việt kiều ở Sầm Nưa cùng đi.

Đoàn chúng tôi đã được bố trí chuyến đi theo đúng cuộc hành trình năm xưa, nghĩa là sau khi vượt Sông Mã đã lần lượt qua Sốp Bao, Xiềng Khọ, Mường ét, Mường Hằng rồi qua Viêng Xay đến Sầm Nưa. Đến bất cứ nơi nào trong chuyến đi này, dù có nghỉ qua đêm hay chỉ dừng chân vài ba tiếng đồng hồ, chúng tôi đều được đón tiếp hết sức ân cần. Thầy, cô giáo và đông đảo học sinh ở Sốp Bao, Xiềng Khọ, Mường ét... chờ đón đoàn giữa trời nắng nóng để tặng những bó hoa rừng đủ màu sắc, bó nào cũng điểm mấy đoá Chăm-pa trắng muốt, biểu tượng của tấm lòng chung thuỷ. Các cuộc tiếp xúc thắm đượm tình cảm chân thành, thắm thiết.

Đoàn đến Mường Hằng vào quãng giữa trưa. Chúng tôi dừng chân vài tiếng đồng hồ, nhưng công việc chuẩn bị đón đoàn vẫn hết sức chu đáo, đầy đủ nghi thức. Những trái dừa vừa mới chặt xuống, rồi khoai sắn luộc còn nóng hôi hổi, bánh nếp, trứng luộc, toàn là sản phẩm cây nhà lá vườn, y hệt cảnh các bà mẹ và các gia đình Việt Nam ta đón những người thân yêu nhất, những đứa con xa quê lâu ngày nay lại trở về với mái ấm nhà xưa.

Buổi tối ở Viêng Xay, ngay sau bữa cơm thân mật, toàn khu vực cơ quan huyện uỷ bị mất điện. Theo dự kiến, tối đó các đồng chí lãnh đạo phía Bạn và đoàn ta sẽ trao đổi tâm tình, nhất là về các trận đánh mà bộ đội tình nguyện Việt Nam ngày trước đã cùng nhân dân và lực lượng vũ trang tại chỗ của Lào tiến hành bao vây, công kích các đồn bốt địch quân. Những ngọn nến được thắp lên ngay khu vực tiền sảnh nhà khách. ánh nến vừa đủ soi rõ những nét mặt bạn bè đồng chí chân tình chăm chú lắng nghe nhau kể chuyện chiến đấu ngày trước.

Người “dẫn chuyện” buổi tối đó là đồng chí Đỗ Thanh Tùng, nguyên trưởng ban quản trị cơ quan chỉ huy Tây Tiến. Thanh Tùng là một trong số cán bộ Tây Tiến đầu tiên, đã có mặt thường trực từ tháng 10 năm 1945 tại Mộc Châu để lo tiếp lương và trang bị cho các đơn vị từ dưới xuôi hành quân lên mạn Sơn La và sang Lào. Tuổi đã 72 nhưng trí nhớ rất tốt, đồng chí Tùng đã kể lại vanh vách hành trình của các đoàn quân Tây Tiến 1, Tây Tiến 2 và Tây Tiến 3, cùng tên tuổi từng cấp chỉ huy, từng trận đánh tiêu biểu.

Đồng chí Vũ Mạnh Đôn nhắc lại chiến thắng Mường Láp: “Hai ba ngày sau khi vào Sầm Nưa, có tin địch ở Mường Láp đông chừng 200 tên, cả lính Pháp lẫn lính ngụy, lại vừa mới được thả dù tiếp tế. Quân ta tiến về Mường Láp. Đêm không trăng, chỉ có sao mờ. Suối chảy ào ào che dấu tiếng quân ta lội nước. Tôi bám sát anh Tuấn Sơn chạy nhanh qua bên kia suối. Mường Láp đã sừng sững trước mặt. Trên mấy chiếc nhà sàn lớn, oang oang tiếng cười nói của bọn lính địch, tiếng hét ré của gái xoè, tiếng khèn và ánh lửa... Bên ta nổ súng, địch chạy vọt ra khỏi cầu thang, qua cửa sổ, rồi biến vào rừng đêm, bỏ lại toàn bộ vũ khí, điện đài, tài liệu và tiền bạc, lương thực quân trang... Trên sàn nhà chỉ còn mấy cô gái xoè ngồi thảm hại, run rẩy, tay vái lia lịa ...”

Đêm đã về khuya, đồng chí Lê Hùng Lâm đã chuẩn bị báo cáo trận đánh công đồn đầu tiên, đồn Chiềng Cồng do lính Pháp chốt giữ, đành xin khất đến một dịp khác.

Đoàn chúng tôi còn được các bạn Lào hướng dẫn thăm khu hang động-nơi làm việc và hội họp khá kỳ vĩ thời chiến tranh giải phóng của các lãnh tụ cách mạng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn, Xu-pha-nu-vông, Phu-mi Vông-vi-chít. Chúng tôi liên tưởng đến chiến khu Việt Bắc với Pắc bó, Nà Lừa, đến chiến khu Đ, đến Mường Phăng.

Anh em trong đoàn thường nhắc đến những cán bộ Lào rất thân thương với bộ đội Tây Tiến, như các đồng chí Thao Ma, Thao Ky, Chăn Tha Vông... đã tham gia lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị tuyên truyền vũ trang Lào-Việt. Đặc biệt đồng chí Thao Ma-tên thật là Ma Kày Khăm Phi vẫn mãi mãi là một chiến sĩ Tây Tiến đích thực; tên tuổi và hình ảnh đồng chí vĩnh viễn được khắc tạc lên đá núi, cây rừng những địa danh tiêu biểu của mặt trận Tây Tiến, nằm trong tâm khảm lớp cán bộ chỉ huy các cấp buổi đầu của Tây Tiến chúng tôi. Người viết những dòng này có may mắn tiếp bước đồng chí Thao Ma và đội vũ trang tuyên truyền Tây Tiến của Liên quân Việt-Lào, trên những nẻo đường các đồng chí đã hoạt động, khi được cử làm chính trị viên đội vũ trang tuyên truyền của trung đoàn 52 Tây Tiến.
Đồng chí Thao Ma sau này giữ nhiều trọng trách, là Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng trong Chính phủ nước CHNCND Lào... Đồng chí Thao Ma đã mất cách đây ít năm. Đồng chí rất được cán bộ và nhân dân các sắc tộc tin yêu trong thời gian dài đồng chí làm Bí thư tỉnh uỷ Hủa Phăn. Nhiều bức ảnh tư liệu quý hiếm về hoạt động của nhiều lãnh tụ nổi tiếng của cách mạng Lào trong quan hệ với Việt Nam đã được phóng lớn và đóng khung trang trọng của đoàn chúng tôi mang theo để tặng bạn cùng với những lá cờ thêu hai câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Việt-Lào hai nước chúng ta
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long
.

Đúng dịp chúng tôi ở Sầm Nưa, lãnh đạo tỉnh Hủa Phăn tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Lào và đã mời đoàn ta tham dự. Tại hội trường lớn của tỉnh, đồng chí Bí thư Chơ Dinh Vang đã đánh giá rất cao về mối quan hệ khăng khít giữa bộ đội và nhân dân hai nước từng sát cánh chiến đấu hy sinh và đổ máu, nay cùng ra sức phát huy truyền thống và đấu tranh xây dựng xã hội mới. Tỉnh Hủa Phăn nằm kề các tỉnh Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Đoàn chúng tôi đã gặp những chuyến xe vận tải hàng hoá qua lại trên các tuyến đường từ Mộc Châu qua cửa khẩu Pa Háng sang Lào và từ huyện Quan Hoá qua cửa khẩu Na Mỡ. Đông chí Bí thư huyện uỷ kiêm huyện trưởng Xiềng Khạ có cho anh em chúng tôi biết, trong bữa cơm rất ngon của huyện đãi chúng tôi, cũng là có hạt gạo dẻo thơm của Thanh Hoá đấy!

Chuyến đi này đối với chúng tôi có ý nghĩa nữa rất thiêng liêng. Ngoài việc trực tiếp gặp và bày tỏ lòng biết ơn đối với nhân dân và lãnh đạo các cấp tỉnh Hủa Phăn đã đùm bọc những lớp chiến sĩ Tây Tiến chúng tôi ngày ấy trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhất, đoàn chúng tôi còn đến viếng bạn chiến đấu Lào đã hy sinh, viếng những chiến sĩ tình nguyện Việt Nam, những đồng đội của chúng tôi nằm lại trên đất bạn Lào.

Trong thành phần của đoàn có chị Bùi Thị Ngọc Tâm, con gái liệt sĩ Bùi Ngọc Tuệ, nguyên phó chủ tịch Uỷ ban cách mạng lâm thời Hội ái hữu Việt kiều Sầm Nưa. Bùi Ngọc Tuệ và Nguyễn Hữu Hanh, nguyên chủ tịch hội (còn gọi là Thao Hanh) đã cùng đồng chí Thao Ma trực tiếp chỉ huy đội vũ trang tuyên truyền liên quân. Hai ông đã hy sinh ở gần Sốp San ven Sông Mã đầu năm 1949.

Cách đây ít năm hài cốt liệt sĩ Bùi Ngọc Tuệ đã được đón về quê hương, hiện được chôn tại nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hải Phòng, nơi cư trú người vợ liệt sĩ nay đã 85 tuổi. Gia đình liệt sĩ có “đưa” ông vào ngôi chùa chính ở thị xã Sầm Nưa, chúng tôi và người con gái ông có đến dự lễ cầu siêu cho ông.

Đoàn chúng tôi muốn ghi nhận ở đây công sức của đồng chí Nguyễn Văn Khuông, cựu Uỷ viên Uỷ ban cách mạng lâm thời của Việt kiều Sầm Nưa (khoảng thời gian từ 10-1945 đến 5-1946). Ngay từ khi được các đồng chí Nguyễn Hữu Hanh và Bùi Ngọc Tuệ cử đi đón quân giải phóng Việt Nam, bác Khuông và một Việt kiều nữa tên là Kính mang theo thư liên lạc và cả sơ đồ thị xã Sầm Nưa, đạp xe đến bản Mường Phua thì gặp được đơn vị bộ đội Tuấn Sơn. Hai người sau đó còn được báo cáo với đồng chí Lê Hiến Mai và các cán bộ chỉ huy như Anh Đệ, Lam Ngọc. Chính hai bác đã dẫn đường cho bộ đội ta tiến về giải phóng Sầm Nưa...

Trong chuyến thăm lần này, bác Nguyễn Văn Khuông gặp lại nhiều cơ sở cũ; nhiều thiếu niên gái và trai được bác đón sang Sơn La để học văn hoá, học thêm chuyên môn, nay đã trở về Hủa Phăn, nhiều người đã tham gia cấp uỷ huyện và tỉnh, phụ trách nông nghiệp, công tác tổ chức, người là bác sĩ trưởng trạm y tế tỉnh. Buổi trưa hôm mới đến Sầm Nưa, chúng tôi dạo chơi phố xá, có một cháu gái Lào vô tình đi chợ nhận ra bác Khuông rồi nắm ngay lấy hai bàn tay bác.

Bác Khuông cũng nhớ ra cháu Văn, hồi trước lúc mới lên mười đã cùng một số bạn nhỏ Lào khác đi theo bác. Văn tha thiết mời các bác trong đoàn đến chơi, nhưng do chương trình làm việc bận nên chỉ có bác Khuông và tôi đi được thôi. Ngoài cháu Văn, bác Khuông còn gặp lại cháu Khăm, cô giáo ở ngoài thị xã, cùng với chồng và cháu Chuông, bác sĩ trạm chống sốt rét của tỉnh, cùng với vợ, đều thuộc lớp thiếu niên Lào được sang học bên Sơn La. Cháu Văn cũng đã tốt nghiệp y sĩ, nay chuyển sang liên doanh với một công ty của Nhật về mặt hàng các sản phẩm của rừng-theo như cách nói của cháu: “Nặng gia đình quá, 5 con trai, chồng cháu đi học đại học nông nghiệp trên Viêng Chăn”. Ngắm nhìn cơ ngơi ngôi nhà sàn nhiều phòng toàn trải thảm và trang bị nội thất giá trị như vậy, chúng tôi biết đời sống gia đình cháu Văn rất khá giả.

Bác Nguyễn Văn Khuông đã có vinh dự được Chính phủ Lào trao tặng hai huân chương Itsala (tự do) và Salalớt (chiến thắng) hạng nhất và hai huy chương kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Người em gái bác Khuông, cô Nguyễn Thanh Liêm sau ngày giải phóng Sầm Nưa vào làm y tá ở một đơn vị bộ đội Tây Tiến. Hai anh em bác Khuông đã dạo bộ cùng chúng tôi ngược đường trục chính thị xã, cố tìm lại dấu tích ngôi nhà ở cũ nhưng không thấy.

Ngay sáng hôm sau khi đến Sầm Nưa, Bí thư tỉnh uỷ kiêm tỉnh trưởng Hủa Phăn đã dẫn đoàn cán bộ lãnh đạo tỉnh đi cùng đoàn đại biểu cựu chiến binh Tây Tiến chúng tôi đến viếng đài tượng niệm các liệt sĩ Lào, đài tưởng niệm các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng Lào và đài tưởng niệm đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn, nhà lãnh đạo kiệt xuất của Cách mạng Lào.

Bốn ngày trước đó, khi đi ngang qua Sốp Hào, có người trong đoàn chúng tôi đã gợi nhắc lại một cái bến đò nơi bộ đội ta sang sông đánh một trận tập kích những không thành công, trong lúc trời dần rạng sáng. Chiến sĩ ta thương vong không cáng theo đi được hết...Sông Mã ở khúc này nằm sát cạnh đường cái lớn, một bến thuyền quạnh hiu có vài ba chiếc độc mộc cắm sào đợi khách, lại sẵn một cây vả rừng gốc rễ gân guốc, chằng chịt đứng trấn ngay bờ cát, tán lá toả rộng một vùng mát mẻ, được chúng tôi coi là một vật chuẩn để mà nhớ dặn nhau nơi chốn còn phải về thăm. Để mà thành kính đặt những cánh hoa rừng lên mặt nước sông trôi xuôi về phía Hàm Rồng, Lạch Trường, và để thắp mấy nén hương thơm tưởng nhớ anh em đồng đội “Rải rác biên cương mồ viễn xứ, chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, áo bào thay chiếu anh về đất, sông Mã gầm lên khúc độc hành” (thơ Quang Dũng).

Chỉ bốn câu thơ như vậy mà một anh bạn trong đoàn chúng tôi không sao đọc nổi tròn vành rõ chữ, anh cứ nghẹn ngào rồi khóc nấc lên. Phải một người khác đọc tiếp cho đến đoạn kết: “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy, hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

Sầm Nưa-Hà Nội, tháng 4-1999



HẾT






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
«« « 1 2 » »»