Chuyện tình Tây Tiến
Truyện ngắn của Lê Hùng Lâm
Đêm đêm lính Tây Tiến thường kháo nhau đủ chuyện, sôi nổi nhất là chuyện tình. Thật hư đến đâu, ít nhiều thế nào, ai mà biết được. Càng thêm bớt càng ly kỳ và đứa nào kể cũng bảo mình biết rõ mười mươi. Hùng kể mình biết chuyện tình của đại đội trưởng Như: Hồi ấy trong đại đội mình là chú bé nhỏ nhắn, nhanh nhảu nhất và hình như cũng xinh xẻo. Anh Như chọn mình làm liên lạc viên. Mình thích được anh trao giấy tờ, chạy như con thoi, tung tăng xuống các trung đội, tiểu đội. Bị trêu là "em gái" đại đội trưởng mình cũng thích thích. Tuy vậy càng sống cạnh anh mình càng thấy đại đội trưởng gì mà đánh trận thì hăng, về nghỉ thì lại mơ mơ màng màng. Có lúc anh thẫn thờ nhìn mình như nhìn một người khác. Anh còn bắt mình ngồi làm mẫu cho anh vẽ. Vẽ hàng chục, hàng trăm lần, nhưng cứ đến đôi mắt thì lại chưa vừa lòng, vẽ lại. Mình nghi anh vẽ mắt ai chứ không phải mắt mình.
Một hôm, tiểu đội trưởng Phúc lên bù khú với đại đội trưởng, xưng hô mày tao. Thì ra họ là bạn cùng lớp ở trường Thăng Long. Phúc bảo: "Chỉ tao biết tại sao mày chọn cu Hùng làm liên lạc viên. Nó có đôi mắt giống con Tuyết thế! Cứ tưởng chiến đấu 2 tháng sau về giải phóng Hà Nội ngờ đâu 2 năm rồi. Mày có tin tức gì về Tuyết không? Như thở dài: "Nhớ quá, sau trận này tao phải về tìm Tuyết". Ngày ấy nghe nói có đứa con gái đẹp đứng bán sách ở phố Bà Triệu, các anh liền rủ nhau đi ngắm xem sao thì được chứng kiến tài đối đáp của cô hàng sách. Hai thanh niên đến hỏi: Cô có "Làm đĩ" không?. Tuyết tỉnh bơ: Không, chỉ có "Hai thằng khốn nạn!". Đó là tên hai cuốn tiểu thuyết đang bán chạy. Cũng từ đó Phúc và Như thích la cà ở hiệu sách này. Đáo để với ai chứ với bộ đội thì cô đon đả, bắt chuyện rất nhanh.
- Nó mê mày cao to, đẹp trai, sao vành súng lục, chứ lùn tịn như tao ăn thua gì. Thế chúng mày yêu từ lúc nào?
- Thư đầu tao nhắn Tuyết là bận chỉ huy không ra được, nhờ mách bảo có sách gì hay. Không ngờ thư gửi lại giới thiệu cuốn "Triết học Kăng" vừa xuất bản và Tuyết còn bình luận về Rút-xô, Mông-tét-ki-ơ... Thư của chúng tao cứ chuyển dần sang triết lý tình yêu rồi yêu nhau thật. Những ngày sôi sục chuẩn bị đánh Tây cũng là những ngày cuối cùng chúng tao dạo quanh Hồ Gươm, tà áo dài tím của Tuyết cuốn quanh quân phục của tao. Hôm tác chiến ở Vĩnh Tuy, moóc-chê và pháo địch nã tan tành các chiến luỹ. Tao về đến hầm chỉ huy chợt thấy Tuyết. Hỏi sao đến được đây thì Tuyết nói đưa gia đình tản cư về quê rồi trở lại làm cứu thương hết mặt trận cửa ô này sang cửa ô khác để tìm tao. Cả mặt trận phía nam Hà Nội nổi tiếng đại đội anh Như. Thế là tìm được. Lần ấy chúng mình thề gắn bó với nhau suốt đời, đến ngày chiến thắng sẽ cưới nhau. Tuyết vẫn mặc áo tím, cái áo dài tím nổi màu giữa hiệu sách, loang loáng ven bờ hồ nay được cắt ngắn và xuất hiện ở trận địa. Tao bồi hồi, lúng túng khi thấy mùi nước hoa quen thuộc. Lửa đạn thế này mà vẫn nước hoa. Bao thằng cầm súng băng qua vẫn ngoái nhìn cái áo tím thoáng mùi hoa thơm. Tao nhớ rồi, ba ngày sau mày vẫn trêu tao là còn mùi nước hoa trên áo. Thế rồi đi Tây Tiến, bặt tin nhau.
Trú quân ở Mường Pùng, mỗi khi tắm suối về lính ta lại sôi nổi tả cảnh các cô tắm suối. Có anh một ngày đi tắm mấy lần. Đại đội trưởng thì khác, bảo là đi tắm nhưng anh vẫn quân phục chỉnh tề, mũ sắt chụp đầu, hiên ngang với khẩu "côn bát" và thắt lưng Mỹ trệ sườn, cứ như ra trận. Mình đi theo thấy lần nào anh cũng rẽ qua cái nhà sàn gỗ ấy và lần nào cũng thấy trong cửa sổ có mấy cô Lào khúc khích đấm vai nhau. Họ đẩy ra trước cô xinh nhất, mặc áo tím, gọi lơ lớ "anh bộ đội". Đại đội trưởng mặt mày rạng rỡ, chỉ huy gì mà cười tình tứ thế. Dịp ấy đúng lễ té nước, bộ đội đều được dân Mường Pùng té nước cầu phúc và cố chạy cho khỏi ướt. Riêng đại đội trưởng cứ đứng cho cô áo tím giội hết cả bương. Đêm hôm đó anh lên cơn sốt rét. Mình nghe thấy trong tiếng run cầm cập anh gọi "La vi-ô-lét" (violette=tím). Dọc đường Tây Tiến, gặp Như anh em thường nheo mắt gọi "La vi-ô-lét". ít người biết cô áo tím nào.
Trong trận đánh Mường Lồ anh đang xông lên thì trúng đạn. Anh to nặng quá nhưng mình cũng cõng được ra bờ suối. Khi cái đau đã ngấm và gió rét nổi lên, anh ôm chặt mình vào lòng, hai anh em cùng ấm. Anh thều thào: "Nếu anh có sao, chú tìm gặp chị Tuyết nói là chị vẫn luôn ở bên anh". Mình quờ tay ngắt được một bông hoa dại giơ lên: "Anh ơi, hoa tím đây!".
Sau trận chỉ huy anh dũng ấy anh được thưởng huân chương và nghỉ phép 10 ngày về thăm nhà. Anh xin bố mẹ anh tìm gặp bố mẹ chị, cho anh chị được đính hôn. Hai gia đình đều là nhà giáo, đang tản cư. Đêm trăng trên con đò nhỏ, hai ông bố hoạ thơ, hai bà mẹ chuẩn bị thức nhắm và đôi trai gái tự tình. Đã có một dòng sông kháng chiến chở một con đò đầy ắp hạnh phúc thanh cao đến thế.
Trở về đại đội, mỗi khi đi kiểm tra các đơn vị hay trinh sát trận địa anh đều mang mình đi theo, có lúc hai anh em rong ruổi mỗi người một ngựa. Mình thích nhảy ngựa mà anh lại cứ đỡ mình. Mình trêu: "Giá em mặc áo tím phi ngựa theo anh thì tuyệt trần". Anh bảo: "Thế thì tớ bế cậu lên ngồi cùng". Được anh quý như "em gái" mình cũng đỡ nhớ nhà và càng quấn quýt bên anh.
Một hôm có tiếng súng nổ ở đầu nhà. Báo động, cả đại đội bộ bật dậy, chạy ùa xuống cầu thang. Đại đội trưởng đã đứng đấy cầm roi quất vun vút, ra lệnh quay lại nhảy qua cửa sổ. Bị roi quất đau quá mình kêu to: "Em đây mà, anh Như, em đây mà". Anh quát: "Em thì em" và cứ quất mạnh. Mình ôm đầu, quay lại nhảy qua cửa sổ. Bị đánh nhiều nhất đau nhất, mình rất ức. Sớm hôm sau anh đến vỗ vai mình, mình quay mặt đi: "Sao đánh người ta đau thế" rồi quyết xin xuống tiểu đội chiến đấu. Từ đó xa anh nhưng nhờ cách rèn quân nghiêm khắc của anh mà bao lần mình thoát chết. Địch đột kích cứ nhằm cầu thang lia đạn, mình bao giờ cũng tìm chỗ nằm cạnh cửa sổ nhà sàn, có động là nhảy qua.
Chuyện anh hy sinh có nhiều người kể khác nhau, người bảo địch lùng sục tiêu diệt hết đội trinh sát do anh dẫn đầu, người nói anh đã bắn trả quyết liệt, địch gọi không hàng và dành viên đạn cuối cùng cho mình. Tên quan hai Pháp đã ngả mũ, nghiêng mình trước xác anh: "Tôi xin tỏ lòng khâm phục người anh hùng trẻ tuổi". Riêng mình, mình biết mỗi lần cùng anh lau khẩu "côn bát" anh lau rất kỹ viên đạn cuối cùng và nói sẵn sàng dành cho anh, quyết không để lọt vào tay giặc. Được tin anh hy sinh mình vô cùng ân hận, sao mình đã dỗi, đã bỏ anh, không ở bên anh để chiến đấu bảo vệ anh, mình biết nói sao với chị Tuyết.
Dọc đường kháng chiến mình đi tìm chị. Tìm chị ở khu 3. Tìm chị ở Việt Bắc. Một chiều đông, hành quân qua Thanh Cù, ghé vào quán nước bên đường mình nghe một bà cụ than thở: "Thương cô giáo quá, trẻ đẹp thế mà mang mãi khăn tang. Chồng đã cưới đâu mà cứ về săn sóc bố mẹ chồng, nuôi dạy đàn em chồng, thân thiết như ruột thịt. Đâu như đang ở hiệu ảnh Như cuối phố". Nghe tên Như, mình bàng hoàng, bỏ bát nước, chạy vượt hàng quân đến hiệu ảnh. Sững người thấy một chị áo tím sờn vai với vành khăn trắng, ngồi bóc sắn giữa đàn em nhỏ, mình gọi:
- Chị ơi, chị là chị Tuyết?
Chị ngước mắt lên. Ôi, đây là đôi mắt mà anh Như vẽ mãi.
- Sao chú biết tên tôi? Chớp chớp mắt, chị cắn môi, run rẩy. Chú Hùng phải không? Vào đây kể chuyện anh Như đi!
- Thưa chị, em đang vội hành quân. Mình nghẹn lời.
***
Dịp kỷ niệm 50 năm Tây Tiến lại có một chuyện tình mới, tưởng như bịa: con gái Trung đoàn trưởng Tuấn từ nước ngoài về thăm mộ bố! Vô lý, suốt thời gian chỉ huy Tây Tiến cho đến khi hy sinh năm 25 tuổi có ai thấy anh yêu đương hay con cái gì đâu. ấy vậy mà 50 năm sau đồng đội mới tìm thấy mộ anh, đưa về cải táng tại quê nhà thì có một người con gái đến chịu tang cha. Anh đã sống và chiến đấu nổi tiếng anh hùng một thời nên nghi lễ rất long trọng, nhiều quan chức tới dự. Trưởng ban tổ chức từ chối sự có mặt của cô gái, vì lý lịch Tuấn không ghi có vợ con. Gia đình và đồng đội của anh phản đối ban tổ chức, xin cùng cô gái tổ chức lễ tang riêng. Mọi người cùng thương xót, vượt qua mọi bất đồng và trong tang lễ cô gái lặng lẽ đứng chịu tang.
50 năm trước mẹ cô là một chị chủ quán cà phê ngon ở một phố tản cư. Với đôi mắt đẹp trên làn da trắng mịn và khéo chiều khách, chị được anh em bộ đội tặng cái tên: cô gái Nhật. Bố mẹ chị đã bỏ kháng chiến, vào thành. Chị quyết ở lại, chẳng rõ vì lòng yêu nước hay vì những chàng trai Tây Tiến. Từ mặt trận về ai cũng muốn lướt qua quán cà phê để chiêm ngưỡng cô tố nữ tản cư. Ngắm nhìn người đẹp được coi là phần thưởng cho cả chỉ huy và chiến sĩ. Chỉ có chàng trai nào hiên ngang nhất, đẹp trai nhất mới là người anh hùng của riêng chị nhưng anh nào cũng tưởng mình xứng đáng. Vì vậy, lính tráng bịa chuyện chị có nhiều người yêu. Bỗng một ngày ai cũng bâng khuâng với cái tin: người đẹp đã bỏ quán "dinh tê" (vào thành) rồi. Người thì trách rằng mọi ưu ái của chị với bộ đội chỉ là giả tạo. Lính thì trêu chỉ huy là si tình, tưởng bở, anh thì ngậm ngùi: đời là như thế!
Có ai biết đâu chị đã chọn được người yêu duy nhất. Nồng nàn và đắm đuối nhất là khi anh vừa khỏi vết thương ghé qua quán chị rồi lại trở về đơn vị chỉ huy những trận đánh trên đường số 6. Biết mình đã có mang 2 tháng chị sung sướng với kết quả của mối tình kháng chiến nhưng lo rằng tin này lộ ra thì ảnh hưởng đến uy tín của anh, lo kỷ luật bộ đội thời chiến. Thế là chị về thành với gia đình và nhắn anh sớm về giải phóng Thủ Đô, chị sẽ bế con ra đón.
Chị sinh con vào lúc anh hy sinh trên đường số 6.
Ngày hoà bình lập lại chị bế con về chào bố mẹ anh. Vốn nề nếp, gia giáo, bố anh không chấp nhận, cứ cho con trai mình là người chỉ huy mẫu mực, danh tiếng và đồng đội anh về thăm các cụ đều không hề nói anh có con. Riêng mẹ anh ôm cháu vào lòng: "Này ông ơi, đúng là con thằng Tuấn, đúng cháu tôi đây rồi. Cái trán nó, đôi mắt nó, đôi môi đỏ thế này. Thằng Tuấn nhà mình chẳng có đôi môi đỏ chót như con gái đấy ư. Kệ ông, đây là cháu tôi. Các con ơi, ra mà nhận con anh Tuấn. Chị để tôi nuôi cháu, trả cháu cho tôi".
Chị thắp nén hương trước bàn thờ anh rồi lau nước mắt bế con đi.
Nay, cứ mỗi lần anh em Tây Tiến gặp nhau lại thêm bớt vào chuyện tình của người chỉ huy nhiều chi tiết nữa./.
