MỞ RỪNG
Tác giả: Lê Lựu
NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN HÀ NỘI - 1999
Đánh máy: hoi_ls
Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng
Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay
(Phạm Tiến Duật)
Chương Một
I
Năm ngoái thượng tá Nguyễn Quang Văn thức trọn một đêm mưa, sáng ra ông bảo: “Mùa này, là cái bào thai đẻ ra các dũng sĩ mùa khô đấy các cậu ạ”.
Mùa mưa năm nay, ông rời Bộ tư lệnh mặt trận xuống binh trạm 120 trực tiếp làm chính ủy. Ông ra đi từ rừng, vòng xuống đồng bằng để lại vào rừng. Đứng ở đồng bằng nhìn về rừng, nơi sẽ đến thấy còn mãi xa trong mây mù phía biên kia biên giới. Hai chiến sĩ cùng đi với ông: cậu Vũ lái xe, còn cần vụ tên là Chí Thú. Đã ba đêm rồi chiếc xe con mở cửa ở phía sau vẫn chưa qua được phà Rồng. Cũng như mọi chiều, hôm nay ba “cha con”, ba khuôn mặt cùng ngóng đợi những nỗi phỏng đoán vu vơ và những ý nghĩ hình như khác nhau, nên cả ba đều lặng lẽ từ nơi giấu xe ra bến. Hết đoạn đường nhựa, ba người tõe ra như kiểu dàn đội hình, mặt quay về núi, cả ba đều lầm lẫm đi xuống lợi nước.
Vòm trời nung sủi ùng ục những thỏi kim loại trắng loa lóa, nhọn hoắt chao lạng. Tiếng nổ của bom, tiếng đất vỡ ra, tiếng những cột nước đổ, rất ít phút mảng trời xanh và nước cũng xanh được liền lại; mà chỗ ba người đứng lặng quá, lặng lẽ đến nỗi tiếng thở dài của Chí Thú “Con người nhiều lo toan” đứng cách hai, ba mét chính ủy cũng nghe thấy. Ông ngẩng mặt, tránh cái nhìn làm cậu ta lúng túng, khuôn mặt đăm đăm của ông như áp lại với núi. Ở mãi xa kia chỉ thấy trắng mù. Đỉnh Phù Lã, đỉnh Cô Hà cao vọt đến tận trời đều bị nước ngầm Ông Thao dâng lên làm ngập hay sao mà chỉ toàn thấy nước. cả khối nước mòng mọng phía ấy như đã đổ oà ra quanh người khiến khuôn mặt tròn của ông se lại và đôi mắt hơi khép mờ mờ. Khuất sau những đỉnh núi kia, cách Trường Sơn Tây hơn một trăm cây số là nơi trung đoàn 60 công binh đang bắt đầu chiến dịch mở đường. Đảng ủy trung đoàn thấp thỏm liệu mỗi chiến sĩ của họ có được ăn hai lạng gạo một ngày hay không? Điện khẩn cấp của các chiến trường B2, B5, chiến trường Y, chiến trường H cần gạo, đạn và hàng trăm thứ khác. Hầu hết các bức điện đều yêu cầu cho biết ngay thời gian và kết quả. Tiễn ông xuống bờ suối, cả chính ủy và tư lệnh trưởng đều hỏi: “Liệu có quá sức nó không anh?” Lúc ấy, ông chưa dám trả lời rằng giữa mùa mưa trầy trụt này binh trạm 120 lại phải vận chuyển lượng hàng bằng hai mùa khô vừa qua là quá sức lắm lắm. Nhưng cũng không thể nói là không làm được, khi biết đấy là những đòi hỏi tối thiểu của đời sống, của công việc mà hàng vạn chiến sĩ đang ngóng chờ ở Bộ tư lệnh và Bộ tư lệnh chờ sự cố gắng đột xuất của binh trạm “thép”, cái mắt xích của tuyến đường này. Bao nhiêu lo toan, bao nhiêu dự định siết chặt vào ý nghĩ của ông. Ông vẫn đi hơi cúi và chậm trên các mỏm đá lô xô ở lợi nước.
Cách ông vài chục mét anh lái xe sẵn tính hài hước và lanh lợi đang mỉm cười thú vị. Anh ta bằng lòng với mình rằng đã nhận ra toàn bộ những dáng dấp và tính nết của người chính ủy mới quen. Đó là một người “đẹp lão”, hơi lùn, hai nhánh lông mày to chườm cả xuống mí mắt. Tóc ông còn xanh, nhưng chòm râu lúc chưa cạo lại thấy lốm đốm những sợi úa nỏ. Lớp da mặt xám phệu xuống và vành môi hằn thâm một vệt như sơn mà phía trong đó lại đỏ hồng, chứng tỏ “cụ” đã nhiều năm ở với rừng. Rõ ràng “cụ” phải là người nhân hậu mà chắc. Nhưng, như thế có phải đơn điệu về cá tính không nhỉ? Anh vội vàng ngoảnh đi, khi bắt gặp cái nhìn âu yếm của chính ủy. Dù đã từng mang tiếng ngang bướng không thèm nghe ai khen, chê một người thứ ba khi mình chưa được chứng kiến, đến lúc này anh lại chấp nhận những điều Chí Thú “thuyết trình” trong hai buổi tối về những đức độ của chính ủy một cách dễ dãi.
Ba người vẫn lặng lẽ đi toẽ ra và ba ý nghĩ không hề ăn nhập với nhau.
Lúc chính ủy lo lắng về cái binh trạm 120, về những đòi hỏi nặng nề trong mùa mưa thì cậu cận vụ của ông cũng đôi mắt mơ màng, cũng khuôn mặt đăm đăm đau khổ nhìn vào dãy núi ngập nước mà nghĩ rằng: “Đã ba ngày nay, chính ủy chỉ ăn mỗi bữa một bát cơm vì thiếu rau, mà ông lại không ăn được cá hộp. Đêm nay chưa được qua phà, ngày mai phải nhờ ông Vũ “tán” cô cửa hàng đổi hộp cá lấy rau muống hoặc rau lang vậy. Rau hiếm lắm, nhưng mồm mép ông ấy chắc là tán được. Chỉ trông thấy lính Trường Sơn vẫn đẹp trai thế, các cô đã tít mắt rồi, làm gì chả đổi được vài nắm rau. Nhưng cái tính của ông Vũ chán bỏ mẹ. Ăn uống thì “xung phong” mạnh mẽ, mà ngại “vật chất tầm thường”. Xấu hổ quái gì chuyện đó kia chứ. Thôi được, ông chỉ cần đi với tôi, cười nói lúng liếng hộ tôi, còn tôi sẽ mang hộp cá đi, đem rau về, ông không phải đụng đậy gì vào nó cả. Chỉ ở đây tôi mới phải nhờ ông, còn vào rừng a, dứt khoát tôi có măng, măng ninh, măng gói giò với thịt hộp, tôi cũng có vô số rau, thả cửa mà hái rau. Bỗng khuôn mặt non nớt của cậu động đậy, hai khoé môi nhành ra và đôi mắt lim dim, cậu ta cười, cười trong bụng và khắp người rộn rực. Cậu vẫn nhìn, cái nhìn như sắp sửa bật ra lời thầm thì với rừng. Chao ơi, đằng sau lớp mây mù kia sẽ ra rau, hàng trăm thứ rau như đang hiện lên cái màu xanh óng ánh trong đôi mắt, hàng trăm thứ rau như đang xông lên lừng mũi, đang chua, đang đắng ngăm ngăm ở đầu lưỡi, đang mát ngây ngất ở tận đáy ruột, ừ, cái anh lá nhội phải thái nhỏ xào thịt hộp, lá chân ếch xanh như mạ vò nấu canh bảo đảm thơm không kém gì ốc nhồi nấu chuối có tí xương sông. Anh đơn buốt luộc làm dưa, còn thân với lá già sắc cho thủ trưởng uống giải nhiệt, giải độc và chữa bệnh kiết lỵ. Rồi rau rớn, cần trời, chua bò và đùng đình... chỉ sợ thủ trưởng không có sức mà ăn rau trừ.
Những ý nghĩ miên man làm cho nước chân răng cậu tứa ra từ lúc nào, cậu vội nuốt đánh ực. Vừa lúc, Vũ đi đến gần bên, cậu tưởng bạn cũng đang háo hức với những bát rau rừng liền quay sang vừa cười vừa nói:
- Đố anh biết trong rừng có những loại nấm nào ăn được?
Vũ cúi đầu, đi thẫn thờ trên mặt đường. Hai bờ ngầm hẳn trắng băng rồi. Nếu tháo dây cua-roa, dùng máy húc kéo qua được, thì đường xe con vào binh trạm cũng chẳng còn nữa. Chà, mưa rừng! Giá hôm nọ “vác” thằng đầu tời đi lại yên chuyện.
Thú hỏi xong đứng ngây người rồi ngước mắt nhìn theo Vũ. Cái nhìn bực bội của cậu cận vụ như cắm vào gáy người lái xe khiến anh ta giật mình nhớ ra điều gì, quay lại:
- Cậu hỏi mình hả? Gì?
- Vâng. Nhưng mà... Thôi để lúc khác.
Như vừa dứt ra khỏi trò chơi hứng thú, vừa bị mắng mỏ trước đám đông, khuôn mặt cận vụ hẫng ra thuồn thuột. Cậu đứng tần ngần một lúc, rồi đến gần chính ủy giục:
- Về thôi, thủ trưởng ơi.
- Ờ... ờ... Hình như có thuyền vận tải của binh trạm nào đấy, cậu ạ.
- Ôi dà, thuyền của dân công hỏa tuyến thuộc binh trạm 160 đấy mà. Nó đánh dọc sông, xăm nơi giấu phà xong sẽ đánh bến và mặt đường đấy, không đứng dậy được nữa.
Dù hai mắt vẫn còn luyến tiếc nhìn mấy chiếc thuyền ken lá ngụy trang từ phía thượng lưu trôi qua bến, chân ông vẫn bước ngoan ngoãn theo người cận vụ.
Hai người: một cao, một thấp, một già, một trẻ bước đi cạnh nhau khi cùng im lặng nghiêm chỉnh, khi cùng cười nói với nét mặt rạng rỡ bình đẳng như nhau và khen chê nhau thẳng thừng. Chỉ khác là, chính ủy nói thì nhỏ, dịu, còn cận vụ bao giờ cũng nói to và khi nói đến khuyết điểm của ông nét mặt cậu nghiêm lại, cau có.
Đi khỏi đoạn đường mới đổ đá lổng chổng, chính ủy hỏi:
- Mình phê bình cậu mấy việc nhá.
- Vâng, thủ trưởng nói, nếu đúng tôi nhận.
- Thứ nhất, hôm nay mượn dao của gia đình, để mở hộp cá, rồi không trả người ta ngay. Khi các cậu đi tắm, bà cụ tìm mãi cứ cuống cả lên.
- Vâng, đúng tôi có khuyết điểm là lúc ấy nóng quá, tôi đi giặt quần áo ngay để đến tối đi còn kịp khô.
- Thứ hai, cái cổ áo của cậu giặt chưa được sạch. Chú ý phải vắt nước cho kỹ và lúc phơi phải lộn ra.
- Còn gì nữa không, thủ trưởng?
- Thế thôi!
- Thế thì đúng cả. Ngày mai tôi sửa chữa được ngay. Bây giờ, tôi phê bình thủ trưởng nhá.
Chính ủy mỉm cười gật đầu, còn nét mặt Thú vẫn nghiêm chỉnh.
- Tôi phê bình thủ trưởng không lo xa gì cả. Tình hình này biết đâu lại phải nằm đây hàng nửa tháng nữa. Chiến tranh ai lường trước được sự bất trắc.
Chính ủy gật gù cười hà hà. Nét mặt cậu cận vụ vẫn trịnh trọng:
- Tôi nói thật đấy.
- Nhất trí.
- Khi về đến binh trạm đã chắc có đầy đủ ngay mọi thứ đấy à?
- Cậu lại định nói món thuốc lá chứ gì?
- Tôi đã dự trù đâu vào đấy rồi, thủ trưởng không hiểu cứ phá của tôi. Gặp lính lái xe cũng gọi vào uống trà, hút thuốc, thấy thanh niên xung phong cũng chia thuốc cho họ, thế lúc làm việc thủ trưởng lấy gì hút?
- Trong lúc anh em họ khó khăn, mình lại có.
- Thế thủ trưởng cho tôi là kiệt à?
- Hơi cứng nhắc thôi.
- Không phải là cứng nhắc, nhưng lính lái xe thì hàng núi thuốc họ đốt cũng hết. Thủ trưởng có biết không, họ vừa mới ở hậu phương vào, trong ca-bin anh nào chẳng có vài ba tút thuốc?
Đang đà nói, thấy chính ủy gật đầu ra hiệu cho Vũ, lái xe ở phía trước đợi cùng đi, Thú im lặng và nét mặt cậu tươi tỉnh ngay. Thú biết rằng mình có thể nhận xét phê bình thủ trưởng một cách thoải mái, nhưng đã có người thứ ba ở cạnh, bao giờ cậu cũng giữ ý, mọi cử chỉ đều tỏ rõ cậu là một chiến sĩ có kỷ luật, có nền nếp. Cái đó phần do cách sống từ nhỏ, phần khác, từ khi đi với chính ủy, ông đã uốn nắn cậu từ cách bê chén nước mời người già, lúc đến nhà dân lựa chỗ nào ngồi cho đúng và khi đang nhai cơm, húp canh thì nhất thiết không được cười nói lóa tóa...
Vũ đang đứng khom người, cúi mặt vào cửa hầm nói chuyện với người ở trạm giao thông. Gọi là trạm cho đúng quy cách của ngành đường sá, thực ra chỉ có chiếc hầm chữ A ở rìa cỏ và đoạn nứa chắn đường gác hai đầu lên những chiếc cọc dựng chéo gạc gầu ở hai bên. Ban ngày thường chỉ có một người nằm đọc sách và trả lời vặt những câu hỏi của lính lái xe bao giờ cũng nóng bỏng sự cần thiết, tưởng không được giải quyết thì sẽ vỡ lở hết mọi kế hoạch của mặt trận.
Chính ủy đến gần Vũ.
- Triển vọng thế nào, anh?
- Báo cáo thủ trưởng, xe ta lại xuống hàng thứ hai mươi vì mới có ba xe con của Tổng cục có ba vạch đỏ đến.
- Liệu đêm nay... - Chính ủy chưa nói hết, Vũ đã quay vào hỏi người ở trạm:
- Đêm nay có sang được không, đồng chí?
Người ngồi trong hầm vẫn cắm mặt xuống quyển sách:
- Cái này chúng tôi chưa trả lời được, đồng chí nhá.
Anh ta vẫn đọc. Khoảng năm bảy dòng gì đấy chắc không nỡ buông một câu lững lờ ấy, anh ngẩng mặt, hơi cười nhìn đám người đang sấn lại trước miệng hầm và ném vào anh ta, phía căn hầm ẩm những cái nhìn bực bội.
- Cứ như mọi tối, xe các đồng chí có thể qua được, đề phòng tình huống là bom lại liên tiếp trúng tim đường, trúng phà như cách đây năm đêm thì có thể chậm lại. Tối các đồng chí cứ cho xe tiếp cận trạm theo đúng thứ tự đã đăng ký. Chúng tôi ở đây cốt phục vụ để các đồng chí thông suốt. Các đồng chí trắc trở thì chúng tôi sung sướng nỗi gì.
Nghe cái giọng khu Ba ấy sao lúc này lại dễ thương thế. Lập tức bốn năm giọng khác vỗ về, vờn rỡn quanh người gác trạm:
- Thế mới đỡ “căng cáp” đấy “đồng hương” ạ.
- Phải nói, bọn tôi đi đã nhiều, chưa đâu ác liệt và khổ bằng các “đồng hương” chốt ở phà Rồng này.
- Các “đồng hương” cứ chắc phà, chắc đến như mọi khi là cánh lái chúng tôi an tâm đấy.
Anh chàng ở trạm giao thông đỏ bừng mặt, dù đó là những lời phỉnh nịnh bông lơn, anh vẫn ngượng ngùng sung sướng. Giọng anh ta bỗng nghẹn hẳn:
- Vâng, các anh thông cảm, bọn tôi có nhiều khuyết điểm. Anh nào có thuốc lào cho tôi xin một điếu.
Thế là những chàng trai trẻ phía ngoài chui tọt vào căn hầm chật ẩm, ồ ạt hòa với nhau quanh chiếc điếu cày và những anh lái xe vốn tính hào phóng ném vào đầu giường “đồng hương” những phong thuốc lào “Thống nhất” mới vê một vài điếu.
Chính ủy vẫn đi quanh quẩn ở riềm cỏ cạnh mép đường nhựa. Ông rút chiếc đồng hồ có ô lịch từ túi áo ngực đứng nhìn nó đăm đăm. Mười bốn tháng Tám rồi. Đáng nhẽ ngày hôm nay đã họp đảng ủy binh trạm, đã lập xong chân hàng ở phía bắc ngầm Ông Thao, thế mà vẫn tắc nghẽn ở đây. Hai chiến sĩ của ông đứng cạnh hầm cũng hào hứng bởi niềm vui phóng khoáng quanh mình, nhưng nỗi mong đợi lớn quá, lấn át niềm hy vọng phấp phỏng khiến cả hai, không ai góp một tiếng cười trong vòng khói um ấy.
Chính ủy đi gần lại nói với cả hai người:
- Nếu đêm nay vẫn chưa qua được có thể mình sẽ “cuốc bộ” sang trước xem có xe nào thì nhờ vậy, các cậu thấy thế nào?