LỜI NÓI ĐẦU
Bệ hạ có thể ngồi trên lưng ngựa mà chinh phục, chứ không thể cai trị thiên hạ được.
Trần Bình (tâu Hán Cao Tổ, Trung Hoa)
VỀ TỰA ĐỀ “DÂN CHỦ PHÁP TRỊ”
“Dân chủ” thuộc lãnh vực cơ chế chính trị. Dân chủ biểu hiện mức độ mà công dân của một nước trực tiếp tham dự vào tiến trình chọn lựa nhân sự và chính sách quốc gia và xã hội. Dân chủ là định hướng chính trị, thể hiện tính chất quyền lực hành xử bởi đa số tích cực của quốc dân.
Trong khi đó “Pháp trị” thuộc lãnh vực bản chất xã hội – guồng máy nào, năng động nào, giá trị nào có thực chất chủ động cá nhân, tập thể và sinh hoạt liên hệ.
Một quốc gia có thể chế chính trị dân chủ rộng mở, có luật pháp thành văn và cơ cấu thực thi; nhưng bản chất cai quản và kỷ luật của xã hội không thuộc về quy chế pháp lý mà là kinh tế, bạo lực, thần quyền, giai cấp, vô trật tự.
Do đó, một quốc gia dân chủ nhưng không nhất thiết được cai trị bởi luật pháp. Chúng ta có thể nhìn thấy hiện tượng này ở các nước như Ấn Độ, Mễ Tây Cơ... là những quốc gia có những nền chính trị dân chủ rộng mở, đa nguyên; nhưng pháp luật lại không đóng được vai trò thượng tôn và cai trị xã hội.
Một số quốc gia khác không có thể chế chính trị dân chủ, nhưng pháp luật lại đóng vai trò quan trọng và phổ cập trong mọi vận hành xã hội. Trường hợp của Nam Phi và Tân Gia Ba... có thể được xếp vào trường hợp này. Phần lớn các quốc gia tiền tiến Âu-Mỹ, Nhật Bản, Úc Đại Lợi đã tiến lên được cấp độ chính trị dân chủ và xã hội pháp trị. Phần lớn còn lại là hầu hết những quốc gia phải đối đầu với sự trộn lẫn giữa độc tài và vô pháp đang vùng vẫy để đi tìm chính trị dân chủ trước rồi đến pháp trị sau. Tiến trình dân chủ hóa chính trị có thể nhanh chóng và đột biến; nhưng pháp trị hóa xã hội là một tiến trình xây dựng cơ chế và tinh thần xã hội dân sự (civil society) vốn đòi hỏi thời gian, ổn định chính trị, phát triển kinh tế, trưởng thành về tổ chức, thăng tiến về văn hóa và dân trí.
Cuốn sách này nhấn mạnh đến khía cạnh pháp trị trong lãnh vực cơ chế và giá trị của luật pháp đối với các lý tưởng và nhu cầu quốc gia và công dân. Chính trị dân chủ được bàn luận ở đây trong bối cảnh tương quan đến pháp luật. Dân chủ mà chúng tôi nói đến là một thể chế chính trị cộng hòa, rộng mở, đa dạng, mang bản chất cấp tiến và khách quan dưới sự cai quản của cơ chế pháp luật. Dân chủ, từ đó, chỉ là một bản chất quy chế chính trị do luật pháp xác định.
TẠI SAO VIẾT?
Cuốn sách này được bắt đầu viết vào tháng Sáu, 1990, khi tôi đang ở California và chuẩn bị lên đường đi Việt Nam. Tôi đã hủy bỏ chuyến đi để ở nhà nghiên cứu và viết. Có nhiều lý do. Tôi nhớ lại hồi tháng Sáu,1988, khi tôi đến thăm gia đình, bà con ở vùng kinh tế mới Đa Tẻ, Đa Kộ, Đa Hoại, Lâm Đồng, trong một đêm tối ngồi nói chuyện chơi với bà con bên gốc cây mít, có người hỏi tôi làm thế nào để Việt Nam được như Mỹ, như Nhật? Tôi trả lời, đại ý rằng, Việt Nam đang bị giam hãm bởi hai trở lực chính: Đó là ý thức hệ và sự gia tăng dân số quá nhanh. Người đó hỏi tiếp là riêng về phần tôi sẽ giúp được gì cho Việt Nam? Tôi trả lời rằng về khả năng vật chất thì tôi chỉ giúp nổi gia đình; còn để về nước đóng góp thì chưa có được vì nhiều lý do. Tôi hỏi lại bà con là thì tôi nên làm gì? Có người trả lời rằng chính tôi phải biết điều đó. Tôi cảm thấy một áp lực mạnh của tình trạng đất nước và hoàn cảnh bà con, bạn bè. Phần lớn bạn bè chỉ trên dưới ba mươi mà có năm, sáu đứa con. Có thằng bạn, có tới bảy đứa, nheo nhóc, ốm yếu. Tôi hỏi đến thì được trả lời đại ý rằng vì đời sống khổ quá, đẻ nhiều con để “làm của.” Đứa nào cũng nghèo, không có gạo mà ăn nhưng suốt ngày hút thuốc lá, uống rượu say sưa, mê mải số đề, cầu cơ, bói toán. Tôi thấy cả một tương lai rất là bi đát cho Việt Nam nếu chiều hướng này không được thay đổi.
Khi nghiên cứu các vấn đề luật pháp ở Việt Nam hiện nay thì tôi thấy từ nhân sự, cơ chế cho đến văn kiện và nội dung pháp lý còn quá phôi thai. Tôi chia sẻ những nỗi khó khăn lớn của những người trí thức, những luật gia đang cố gắng vẫy vùng trong giới hạn chật hẹp của biên giới chính trị để đóng góp cho một sự chuyển mình đến một ý thức và giá trị pháp chế của lý trí, nhân bản và khách quan.
Tôi tự hỏi lại chính mình có thể giúp được gì cho quê hương và dân tộc. Tôi nghĩ là mỗi người phải đóng góp ít nhiều tích cực cho sự chuyển hướng chung. Từ đó, tôi chuẩn bị viết sách. Cuốn sách này là kết quả đầu tiên của nỗ lực đóng góp cho Việt Nam – một tổ quốc không chỉ là trừu tượng, mà là một thực tế quê nghèo của bà con, bạn bè, thân nhân, của đồng bào, của kỷ niệm mà tình cảm không nguôi ngoai được.
CẢM TẠ
Ở đây tôi xin cảm tạ sự giúp đỡ, khuyến khích của nhiều người. Người đầu tiên và vợ tôi, Trần Hồng Vân, đã khuyến khích, chịu đựng trong suốt những năm trường luật, đã sửa dấu “hỏi”, “ngã” (mà tôi không tài nào viết đúng được); của Kỹ sư Trần Mạnh Hòa đã giúp tôi về phần kỹ thuật điện toán cũng như đề nghị sử dụng một số chữ cho thích hợp; của Tiến sĩ Ngô Văn Tân đã vui vẻ cho mượn một số sách luật khoa và chính trị; của Tiến sĩ Lê Hiếu Liêm (Lý Khôi Việt) đã đọc bản thảo, phê bình, khuyến khích; của anh Văn Hưng, người bạn chân tình đã không ngừng khuyến khích; của anh Lê Bá Sanh, chủ biên tạp chí Sài Gòn Nhỏ ở San Jose cũng như anh Trần Minh đã giúp đỡ phần kỹ thuật; của Tiến sĩ Nguyễn Tâm trong suốt thời gian cùng làm việc đã quản trị văn phòng luật sư cho tôi có thì giờ đi thư viện để viết; cũng như của Thi sĩ Trần Nghi Hoàng đã khuyến khích; Giáo sư Tạ Văn Tài cho mượn sách nghiên cứu luật và đặt mua sách lịch sử; của Luật sư Nguyễn Quốc Lân đã cho mượn các sách luật Việt Nam, chị Hồ Thị Quảng, giáo sư Trần Kiêm Đoàn (Thầy giáo quốc văn của tôi ở Trường Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị), của Giáo sư Nguyễn Châu đã cố vấn về từ ngữ. Anh David Nguyên Trần, chị Bích Quyên, và nhiều bạn bè thân hữu đã khuyến khích tinh thần.
Tôi cũng nghĩ đến nước Mỹ với nhiều cảm tình vì đã cho tôi nhiều cơ hội học hỏi, nhiều “khoảng trống” để trưởng thành, nhiều rộng lượng để tự sửa chữa. Tôi mong sao cho các thế hệ kế tiếp của Việt Nam được quốc gia và xã hội cho nhiều cơ hội, khoảng trống và rộng lượng để được trưởng thành và tiến hóa; mà trong đó, mỗi người Việt Nam được cơ hội và điều kiện để phát triển tối đa tiềm năng của cá nhân – với quốc gia và xã hội là cơ chế cung cấp bối cảnh và phương tiện cho tất cả công dân.
Tôi xin dâng cuốn sách này lên bàn thờ lăng cố Lê Mậu Doãn, người khai sáng năm làng Bích La ở Quảng Trị từ mấy thế kỷ trước, và ông nội tôi, Nguyễn Hữu Địch, một anh hùng đầy đức độ, bản lãnh và tích cực, ông “Bộ” của làng với vai trò hòa giải, châm cứu, khuôn trưởng Chùa, cúng tế lăng tẩm cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời.
Và trên hết, với tất cả chân tình, tôi xin dâng hiến nội dung sách này cho Tổ quốc và dân tộc Việt Nam.
San Jose, Califonia
Tháng Mười, 1991
NHL