📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Những đứa trẻ Thái Bình - Duyên Anh (Hết) 🔒

13 trả lời, 1.271 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.02.2014 01:55:49 bởi casau>
Những đứa trẻ Thái Bình
Tác giả: Duyên Anh
Nguồn: sưu tầm
 
Thay lời tựa
 
Nếu không có một hiểu biết nào đó về quá khứ, con người sẽ khó đánh giá được hiện tại một cách công bằng.
Đối với người Việt Nam, 1954 và 1975 là những mốc điểm vô cùng quan trọng trong lịch sử cận đại.
Một cách tổng quát, năm 1954, người Pháp đã rời Việt Nam sau gần một thế kỷ cai trị. Và từ đó, thế giới đã công nhận và có những mối quan hệ với hai quốc gia Việt Nam độc lập có thể chế chính trị khác biệt, với biên giới là dòng sông Bến Hải ở vĩ tuyến 17.
Cho đến năm 1975, sau 21 năm phát động và duy trì một cuộc chiến tổng thể với những hoạt động đủ các mặt, từ quân sự du kích, quân sự chính qui, cho tới chính trị, kinh tế... nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã đánh thắng nước Việt Nam Cộng Hòa, chiếm nước này và tuyên bố thống nhất cả hai lãnh thổ thành một nước cộng hòa theo chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, một hiểu biết đứng đắn về lịch sử không thể chỉ bao gồm những con số, những dữ kiện thời gian, không gian. Vì nếu không nói đến hoặc không nói lên được về những con người bình thường trong số lượng dân chúng đông đảo đã thực sự sống trong những khoảng thời gian và không gian đó, với những tâm tư, vui mừng, âu lo, mà thường khi rất đơn giản của họ, thì điều thường được gọi là lịch sử sẽ chỉ thuần túy là một kết hợp thô sơ, khô khan, rỗng tuếch của những con số, và do vậy, rất dễ vừa thiếu, vừa sai. Loại lịch sử thiếu nhân tính này lắm khi chỉ là việc ghi lại một kết hợp những tuyên bố, khẩu hiệu, chiêu bài, mang tính tuyên truyền, vì đã bị bóp méo, đổi thay để phục vụ cho những quyền lợi riêng của các cá nhân hay phe nhóm.
Riêng trong trường hợp Việt Nam, tính từ biến cố dẫn đến việc thiết lập nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, cho đến năm 2010 này, đã hơn 35 năm trôi qua, nghĩa là đã có thêm gần hai thế hệ con người sinh ra và lớn lên trong chế độ xã hội chủ nghĩa. 35 năm tuy không dài, song cũng đã đủ để khiến đại đa số người Việt Nam khó có được một cái nhìn tương đối khách quan về lịch sử của chính đất nước mình, vì khó có cơ hội biết được tâm tư của những người “khác” mình, không “xã hội chủ nghĩa” như mình. Nói đại đa số vì con số này có thể lên tới ba phần tư toàn thể dân số Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Con số ba phần tư này bao gồm hai phần tư (một nửa) là những người gốc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (rồi sau đó thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) cùng con cái họ; và một phần tư là hai thế hệ mới, dưới tuổi 35, của những người gốc Việt Nam Cộng Hòa, đã sinh ra và lớn lên trong bối cảnh chính trị của một đất nước xã hội chủ nghĩa.
* * * * *
Duyên Anh được coi là nhà văn sáng giá của tuổi thơ. Thuở sinh thời, ông xác định ông không viết cho tuổi thơ, với nghĩa viết cho nhi đồng-thiếu nhi đọc để giải trí như loại Sách Hồng của nhà Đời Nay hay Truyền Bá của nhà Tân Dân xưa kia, mà ông viết về tuổi thơ, theo chúng tôi hiểu, là - như các tác phẩm khác nói về danh nhân, về người già, người lớn, thanh niên - để người đọc mọi lứa biết về những việc tuổi thơ nghĩ, làm, mà hiểu họ...
Quả vậy, tác phẩm Những Đứa Trẻ Thái Bình (cũng còn được tác giả đặt tên là Vẻ Buồn Tỉnh Ly) viết về một thế hệ trẻ thơ sống trong cái thời đại có thể nói là cần ghi chép nhất trong dòng lịch sử đất nước chúng ta. Những nhân vật cũng như những sự việc ông ghi kể như vô cùng trung thực.
Ông viết về mỗi đứa trẻ vào riêng từng cuốn một (Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy, thằng Khoa, Thằng Vọng), sau tập hợp lại chung làm một tác phẩm như là một thứ lịch sử dưới dạng tiểu thuyết và cho chúng tôi biết đây là tác phẩm đắc ý nhất của ông..
Dù đã được in từ lâu bên nhà và đều được in lại khá nhiều lần tại hải ngoại, nhưng vẫn dưới dạng lẻ tẻ từng cuốn, nên người đọc không hiểu được dụng ý của ông. Do đó, chúng tôi mang toàn bộ lên mạng để phổ biến một tác phẩm vừa giá trị về văn chương vừa giá trị về lịch sử để độc giả và thân hữu có một cái nhìn chính xác về một thời kỳ.
Vì là một thứ lịch sử bán chính thức của một thời đại, tác giả thuộc thế hệ sinh năm 1935. nên những độc giả cùng tuổi đọc tất thông hiểu một cách dễ dàng, nhất là những sự việc ông kể lại thì ở đâu cũng đều xảy ra tương tự.
Tuy nhiên, với những độc giả chỉ sinh khoảng năm 1940 là đã không nắm vững được nhiều sự kiện, vì thời gian từ 1945 đến 1955 quá nhiều chuyện phức tạp. Do đó, chúng tôi mạn phép nói sơ qua về thời gian này:
Bên Âu Châu, vào thế kỷ 19, hai đế quốc Anh-Pháp tiến bộ về khoa học kỹ thuật, sản xuất dư thừa, có tàu chiến súng ống tối tân (với thời đó), đi xâm chiếm thuộc địa để khai thác tài nguyên, bóc lột lao động, cũng như giành giật thị trường. Nước ta, cũng như phần lớn các quốc gia khác, thua sút nên từ nửa sau thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 bị người Pháp cai trị. Họ Nguyễn Phước chỉ còn là vua bù nhìn.
Sau Đức Quốc Xã mạnh lên, gây chiến (1939), thắng Anh-Pháp tại Âu Châu. Bên Á Châu, Nhật cũng hùng cường, đồng minh với Đức, và tung hoành tại Trung Hoa (Tàu) cũng như Đông Nam Á. Pháp tại Việt Miên Lào (Đông Dương/Đông Pháp) phải khuất phục, ngày 30-8-1940 ký hiệp ước thừa nhận đặc quyền của Nhật đối với Đông Dương, để ngày 22-9 Nhật đưa quân vào, và làm tay sai cho họ.
Tại Việt Nam, các đảng phái quốc gia (Việt Nam Quốc Dân Đảng gọi tắt là Việt Quốc, Đại Việt Quốc Dân Đảng gọi tắt là Đại Việt, Đại Việt Duy Dân gọi tắt là Duy Dân,...) cũng như quốc tế (cộng sản, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh gọi tắt là Việt Minh) thừa thời cơ, tích cực hoạt động.
Rồi Anh, Pháp, Nga, Tàu được Mỹ giúp. Đức Nhật thành yếu thế. Tại Đông Dương, Nhật đảo chính (9-3-1945), bắt nhốt Pháp lại và giao trả độc lập cho ba nước Việt, Miên Lào.
Cuối cùng Đức đầu hàng không điều kiện ngày 9-5, Nhật ngày 14-8. Nam Triều (chính phủ Việt Nam của hoàng đế Bảo Đại và nội các Trần Trọng Kim) cũng như các đảng phái quốc gia non nớt về chính trị, không giám nhận lãnh trách nhiệm, một phần cũng vì ít nhiều liên hệ với Nhật Bản, nhường chính quyền cho những người cộng sản (30-8-1945).
Đồng Minh (Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Tàu) giao cho Anh và Tàu giải giới quân đội Nhật tại Việt, Miên, Lào. Anh vào (6-9) mang Pháp theo kiểm soát từ cực nam tới vĩ tuyến 16. Trung Hoa mang quân đội xuống (9-9), kiểm soát từ biên giới phía bắc tới vĩ tuyến 16; các đảng phái quốc gia ở hải ngoại theo về.
Người cộng sản đứng trước hai địch thủ: tuyệt đối là những người quốc gia và tương đối là người Pháp tái xâm lăng. Tất nhiên họ lựa chọn đường lối bắt tay với Pháp, tương đối địch thủ, và hối lộ các tướng tá tham những Tàu để tận diệt tuyệt đối địch thủ.
Sau khi giải giới quân đội Nhật Bản, quân Anh rút, giao quyền cho Pháp ngày 5-3-1946; Tàu ký hiệp ước thủ lợi với Pháp, đội quân cuối cùng xuống tàu về nước ngày 18-9. Còn lại Pháp và Cộng Sản trực diện. Họ đánh nhau ngày19-12. Và Việt Nam bước vào cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954).
Người cộng sản, theo đúng sách lược của Nga Xô, hô hào chống thực dân giành độc lập. Ngưới dân Việt phần yêu nước phần không rõ bản chất cộng sản cho rằng cứ đánh Pháp đã rồi sẽ tính sau. Nhưng khi Trung Cộng đuổi được Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan, làm chủ toàn lục địa Trung Hoa cuối năm 1949, và tích cực yểm trợ Việt Cộng, thì Pháp đành chịu thua, ký Hiệp định Genève (21-7-1954) chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Chỉ một số rất ít người may mắn di cư được vào Nam (cũng như sau này, 30-4-1975, những người may mắn di tản ra được ngoại quốc, khi cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai chấm dứt).
Đó là bối cảnh mà tác giả Duyên Anh viết trong tác phẩm đắc ý của ông. Ngoài ra, đôi khi có chút sai lạc nhỏ, khi nào tới, chúng tôi sẽ xin chú thích để giúp các độc giả thế hệ trẻ nắm vững sự kiện lịch sử hơn.
Dân Nam

Kính tặng cha tôi, ông Vũ Mộng Hùng, nông dân, sinh ra và lớn khôn ở làng Tường An, huyện Vũ Tiên.
Kính tặng Mẹ tôi, bà Nguyễn thị Đạt, nông dân, sinh ra và lớn khôn ở làng Thanh Triều, huyện Hưng Nhân.
Cả Vũ Tiên và Hưng Nhân đều thuộc tỉnh Thái Bình.
Cha nông dân, mẹ nông dân, đẻ con nông dân. Rất tự hào về Trần Thủ Độ chài
lưới, về Lê Lợi hào trưởng, về Nguyễn Huệ áo nâu...
Vũ Mộng Long

Kính tặng Thái Bình, quê hương tôi.
Kính tặng Tường An, làng tôi.
Kính tặng thị xã Thái Bình, nơi tôi gửi nhiều kỷ niệm tuổi nhỏ.
Kính tặng người Thái Bình, cùng quê tôi.
Duyên Anh

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.02.2014 00:45:01 bởi casau>
Phần một
Tuổi vàng hoa mộng
 
1
Vũ và Côn nằm dài trên chiếc chiếu rách, trải dưới giàn hoa lý, sau vườn. Bóng râm mỗi lúc một lan rộng ra. Nắng chiều yếu dần, nên màu xanh của lá và màu vàng của chùm hoa tươi lên, làm dịu mắt hai thằng bé.
Những con bọ ngựa trốn nắng hạ từ lâu, bây giờ, bò khắp chỗ đùa bỡn. Côn bỗng nhớ nhà quê. Vụ hè, năm ngoái, nó được theo bà ngoại nó về mãi làng Thanh Triều, tít tắp bên kia sông Trà Lý. Nó cũng đã từng nằm dưới bóng mát của giàn hoa, gần bờ ao, nghe tiếng cuốc kêu rỉ rả, tiếng tu hú bắt nhịp thời gian chạy uể oải. Nó đã chán cả tắm ao, câu cá, đập cào cào, đánh bẫy chim với tụi nhóc đồng nội. Côn bò lên tỉnh ngay, để khoe với thằng Vũ rằng, không có thằng Vũ, trên đời không có gì vui vẻ. Bây giờ, nằm bên thằng Vũ, nó lại nhớ nhà quê.
Côn và Vũ xấp xỉ mười ba tuổi. Chúng nó cùng học một lớp, cùng ngồi một bàn, cùng thích truyện kiếm hiệp Tầu, nên hợp nhau lắm. Bất cứ nơi nào, người ta cũng gặp hai đứa. Nửa trưa nắng gắt, chúng nó kéo bạn xuống phố An Tập, tổ chức đánh trận, vật lộn, ném đá, ném đất. Thằng nào thằng nấy nhễ nhãi mồ hôi, quần áo lem luốc, rách nát. Đôi bận bị xầy da, sứt trán, chúng nó giả vờ khai vấp ngã.
Được cái ở nhà chúng nó rất ngoan ngoãn, tới trường học hành siêng năng, nên cha mẹ chúng thả lỏng. Lần mò mãi vào hồ Phúc Khánh, cái hồ hàng năm ba bốn mạng chết đuối, câu cá, cũng bọn thằng Vũ. Sang làng Bồ Xuyên bắn chim, bắn gà con, bắn chó, cũng bọn thằng Vũ. Qua cầu Bo bẻ trộm ổi, bị đuổi mất cả mũ nón, cũng bọn thằng Vũ. Bấm chuông điện nhà ông Đốc, cho chó săn sủa inh ỏi, rồi chạy chí chết, cũng bọn thằng Vũ. Ghé thăm đền Mẫu, rứt râu ông hộ pháp, ăn cắp oản, xôi, hoa quả, trêu chọc bà đồng, ông từ, cũng bọn thằng Vũ nốt.
Thằng Vũ còn đầu têu trò chơi kiếm hiệp, bắt chước mọi hành động, cử chỉ của những tay giang hồ mã thượng thời nước Tầu cổ xưa, bắt chước luôn cả những tay hiệp sĩ mà chúng thích. Thằng Vũ là Triều Dương Hiệp, thằng Côn là Hà Nguyên Khánh. Mỗi thằng cầm đầu một bọn nhãi, chia làm hai môn phái. Khi không tìm ra môn phái địch thủ thứ ba nào, chúng thách thức, đấm đá nhau cho đỡ buồn. Khi tìm ra môn phái thích nghịch như chúng nó, chúng nó họp lại, tôn thằng Vũ làm chúa đảng, bầy mưu tính kế hạ kẻ thù. Chúng nó tự nhận là những kẻ cứu dân độ thế, mặc dù, cả chánh đảng Vũ cũng chẳng hiểu cứu dân độ thế là gì.
Hai thằng bé chỉ hiểu nghịch cho nhiều, càng nguy hiểm càng thú vị. Vũ tập lấy gân bụng thật rắn chắc. Ra trường, nó cởi trần, thách tụi cùng lớp thử sức. Nó cho mỗi đứa đấm một cái thật mạnh vào bụng. Mặt nó tỉnh khô, không tỏ vẻ gì đau đớn, khiến lũ học trò lớp nhì 1 phục sát đất. Lối biểu diễn này thu hút được nhiều đồ đệ lắm. Thằng Côn tập phóng dao. Chiều chiều, nó lén xuống cầu tiêu, tu luyện đến nát cả cánh cửa gỗ. Môn sở trường của nó, dần dần, thành cừ khôi. Cu cậu chỉ dám bắt nạt mấy thân cây bàng, cây hồi ngoài đường, hay trộ bạn bè thì phóng trên bảng đen, trên mặt bàn, chứ, cho kẹo cũng không dám rút dao dọa bạn.
Vũ còn khuyến khích Côn tập ném phi tiêu, để hẹn hò nhau cho bí mật. Trong cặp sách của thằng Côn không lúc nào không nhét hàng chục cái phi tiêu mũi bằng ghim-cài-đầu nhọn hoắt. Có khi, Vũ đang ngồi ăn cơm, chợt một mũi phi tiêu từ đâu bay tới, cắm phập vào cánh cửa. Vũ vội buông đũa buông bát, chạy rút mũi phi tiêu kèm theo bức thư, lẩm nhẩm đọc :
- Bữa nay ta đã rình mi rất lâu. Đáng lẽ, mũi tên này phải trúng cổ họng mi giữa lúc mi đang há hốc mồm và cơm. Song, ta nghĩ, môn phái ta không cho phép giết người sau lưng, nên ta tha chết cho mi và hẹn mi đến bốn giờ, chiều nay, ta sẽ gặp mi tại bờ sông Trà Lý để tranh tài cao thấp. Mi mà vắng mặt, mi là thằng hèn nhất thế giới.
Cuối bức thư vẽ mũi phi tiêu xuyên qua cái đầu lâu máu rì rì, mấy nét ngòng ngoèo ký đè lên. Biết rằng Hà Nguyên Khánh dọa mình, Triều Dương Hiệp ngấu nghiến đọc tiếp hàng chữ tái bút quan hệ :
- Chỗ mày chỉ tao nấp phóng phi tiêu cao quá, tao trèo mãi mới được. Đáng lẽ phóng từ chiều qua cơ đấy. Nhớ chiều nay nhé! Đông đủ cả bọn,có phao, có săm ô tô nữa. Tụi mình bơi qua sông ăn cắp ổi.
Triều Dương Hiệp mỉm cười khoái chí. Chàng vờ chạy ngay ra đường, ngó trước ngó sau. Nấp sau cây bàng, cách đó chừng hai thước, thích khách Hà Nguyên Khánh chỉ đợi có vậy, bèn xuất đầu lộ diện, miệng cười hứa hẹn. Chàng không quên làm bộ, chỉ tay, cáu giận mắng lớn :
- Khá đó, súc sinh! Ta tha đuổi mi, chiều nay, mi sẽ biết đường gươm họ Triều.
Rồi, hiệp sĩ Triều Dương Hiệp Vũ lại vào tiếp tục ăn cơm. Khi khác, Côn sang nhà chú nó ăn cỗ, về đến nhà đã thấy mảnh giấy cài lên bàn học, nguệch ngoạc vài dòng :
- Hà Nguyên Khánh, chắc nhà ngươi biết võ đài do hoàng thượng dựng lên ở nghĩa địa ngã tư Vũ Tiên, để anh hùng mười phương tới tỉ thí chứ? Nhà ngươi thường hãnh diện cái tài phóng dao lên bảng đen của nhà ngươi. Vậy, chiều nay, hai giờ rưỡi hay ba giờ, nhà ngươi hãy mang đủ thứ dao đến. Nếu sợ chết thì rủ thêm thằng Dực, thằng Hải đấu tay tư cho vui.
Cuối mảnh giấy vẽ hình người treo cổ, cũng ngòng ngoèo mấy nét chữ ký đè lên. Đó là dấu hiệu của thằng Vũ. Thư dọa giết, thư thách đố của hai hiệp sĩ này kỳ quặc là, luôn luôn, thêm tái bút.
- Cố xoay vài đồng, tụi mình xuống Đoan Túc chén canh bánh đa, mày nhé! Canh bánh đa Đoan Túc ngon lắm, mày ạ! Mầu vàng khè, béo ngậy, nghe đã thèm nhỏ rãi rồi...
Chúng nó ranh mãnh, quỷ quái thế đấy. Thế mà lúc này, nằm dưới giàn hoa, thằng thì nhớ nhà quê, thằng thì say sưa ngắm đôi bọ ngựa vung gươm chém nhau. Vũ tưởng tượng thấy đấu trường thời xưa, hai con bọ ngựa chính là hai chàng dũng sĩ.
Sự tưởng tượng của Vũ, nỗi nhớ nhung của Côn tiêu tán ngay, khi Côn, bỗng nhiên, ngồi nhổm dậy vỗ vai Vũ, hét lớn :
- Tao nhớ ra rồi, tuyệt, tuyệt, thằng này tuyệt...
Vũ ngồi nhổm dậy sung sướng hỏi :
- Tuyệt vừa vừa hay tuyệt cú mèo hở, mày?
- Tuyệt cú mèo!
- Nó ở đâu?
- Nó ở trường mình, lớp nhì 2.
- Sao mày biết?
- Hôm nọ, tao xuống cầu Kiến Xương ăn giỗ ông ngoại tao. Nghe nói có đá bóng, tao khoái quá, quên cả giỗ. Tao mò ra bãi xem hai hội Kỳ Bá, và Bồ Xuyên tranh cúp Cam tích tán của nhà thuốc Bình An. Hội Kỳ Bá có thằng lỏi tỳ đi trung phong, lừa gạt nhanh như máy. Chính nó làm bàn hai quả. Thiên hạ vỗ tay hoan hô nó như điên. Tao sôi cả ruột gan. Mãn cuộc, tao đứng nán lại xem trao cúp, và nhìn cho rõ mặt thằng trung phong lỏi tỳ. Đố mày biết nò là thằng nào?
- Thằng Môn.
- Thằng Môn xách dép cho nó không đáng!
- Thế thằng nào, thằng nào?
- Làm gì mà rối lên vậy?
- Tao ghét mày quá, đố với thách, nói nhanh nhanh tí mày!
- Thằng Vọng!
Vũ kinh ngạc :
- Vọng ghẻ đặc biệt hở?
- Ừ, chiến ghê lắm mày ạ! Nó đá đẹp ba chê!
Vũ đứng hẳn lên, vươn vai khoan khoái :
- Tao gạ gẫm nó đá cho bọn mình, mới hạ nổi tụi An Tập. Để mai, ra trường, tao rủ nó. Hì hì, nằm nghĩ nát óc chiều nay. Đội bóng của tao có thằng Vọng, chắc tụi An Tập kiềng mặt.
Côn lo ngại nói :
- Nhỡ thằng Vọng nó từ chối?
Vũ tin tưởng :
- Từ chối sao được, tao sẽ có cách. Thôi, tao về kẻo dì tao mong.
Côn không giữ bạn. Tự nhiên, nó vui lây cái niềm vui của thằng Vũ. Sau lần thua đội bóng lớp nhì 2 trường tiểu học An Tập, thằng Vũ buồn lắm. Ngày này sang ngày nọ, nó chỉ nghĩ đến phục thù. Muốn phục thù, đội bóng của nó cần phải có một thằng trung phong cừ. Nay, thằng Côn kiếm được thằng Vọng, hỏi chi Vũ chẳng sướng. Côn đưa bạn khỏi cửa.
Nắng đã tắt hẳn.

2
Vũ ngồi dưới gốc cây bàng đợi Vọng. Cạnh nó, Côn đang lẩm nhẩm ôn bài cách trí. Còn hai mươi phút nữa mới chào cờ. Ước gì không phải học sáng nay. Vũ thầm thì thế. Mặt nó không ngớt hướng ra cổng trường.
- Sao hôm nay, con nhà Vọng đến chậm thế, Côn?
- Tao biết đâu.
Vũ cáu sườn :
- Thôi, mày đừng ôn bài cho tao nhờ tí.
Côn vui vẻ chiều bạn. Bao giờ nó cũng nghe lời thằng Vũ như nghe lời anh nó. Không hẳn nó sợ thằng Vũ, chắc chắn, nó yêu thằng Vũ, phục thằng Vũ, hơn tất cả tụi bạn của nó.
Thỉnh thoảng, có thằng bạn mới nào hỏi Mày chơi với thằng Vũ lâu chưa, nó đều lắc đầu, nghĩ ngợi. Nó quên thật. Côn không nhớ bắt đầu chơi với Vũ tự ngày nào. Trong trí óc của nó, Côn chỉ còn nhớ một ván đáo lớn, gần năm đồng bạc xu, đi không hết, phải chồng vợi trên sân. Thằng Vũ chơi ván đáo đó. Côn chầu ngoài.
Mấy đứa giao hẹn trước khi chơi, là nếu hết tiền nộp mỗi lần chơi hỏng, đương nhiên thua. Ba thằng phạm luật ra rìa, cay cú lắm. Còn trần xì thằng Vũ chơi với thằng Quý. Ván đáo mỗi lúc một sôi nổi. Cổng trường khép kín hơn nửa giờ, mà bọn học trò còn quây quần ngồi xem ván đáo lịch sử.
Thằng Quý chuyên môn chơi bẩn. Nó cậy nhiều tiền, đi tưới lên rồi không chọi, hy vọng thằng Vũ ham ăn, chọi liền tù tì, và sẽ cạn tiền nộp phạt. Vũ biết, song cứ tỉnh khô. Nó gieo tiền rất khéo, gặp dịp ngon ăn, Vũ mừng quá hoá chọi hỏng. Thằng Quý sướng, nhảy rối rít. Nó đòi tiền giam. Vũ cháy túi, tai nó đỏ bừng, mặt nó tái đi, uất ức.
Đúng lúc bị bắt bí ấy, Côn móc túi, dúi vào tay Vũ một đồng. Không hỏi han, không ngạc nhiên gì cả, Vũ ném đồng bạc giấy xuống sân, nhổ nước bọt, gân cổ, dọa :
- Ông còn chơi đến tối, hết cải củ thìu biu đây này!
Ván đáo tiếp tục. Kết cuộc, thằng Vũ thắng. Thu tiền đầy túi xong xuôi, Vũ mới nhìn ân nhân của nó. Mắt nó chớp mau cảm động. Ván đáo vãn người, hai đứa trẻ ở lại, im lặng. Vũ trao đồng bạc cho Côn. Hai đứa cùng ngượng ngùng, sóng đôi bước trên đường về. Vũ mở đầu :
- Tại sao đằng ấy cho tớ mượn tiền?
- Tại tớ ghét con nhà Quý.
- Tại sao đằng ấy ghét con nhà Quý?
- Tại nó đánh gạo.
- Nhỡ tớ thua, đằng ấy có đòi tớ không?
- Không.
Vũ mỉm cười. Nó định nói Đằng ấy nói phét, vì nó nghĩ rằng, một đồng, chứ đâu phải một xu, một hào, mà thằng Côn không đòi. Vũ nhìn thẳng vào đôi mắt thằng Côn, khiến thằng Côn bẽn lẽn cúi xuống.
- Chắc nhà đằng ấy giầu, nhỉ?
Côn thành thực :
- Ừ, mỗi ngày bố tớ cho hai đồng. Còn đằng ấy mỗi ngày lĩnh mấy đồng?
- Nhà tớ không giầu, cũng không nghèo. Bố tớ đi vắng luôn, dì tớ cho tớ mỗi sáng năm hào thôi.
- Thế mẹ đằng ấy đâu?
- Mẹ tớ chết rồi!
Côn len lén nhìn Vũ. Nó buồn buồn. Vũ thấy hai đứa cứ sóng đôi về cùng đường, nó hỏi :
- Nhà đằng ấy ở phố nào?
- Phố Jean Dupuis.
- Đằng ấy ở cùng phố tớ, nao sang nhà tớ chơi nhé!
- Ừ.
- Này!
- Gì?
- Tớ hỏi thật, nhỡ tớ thua đằng ấy tính sao?
- Đằng ấy có thua đâu mà tớ tính.
- Nhỡ cơ mà?
- Nhỡ sao được, đằng ấy chơi đáo mả khét tiếng.
Hai đứa bé nhìn nhau, cười rúc rích. Từ hôm ấy, Vũ chơi thân với Côn. Càng thân nhau, càng mến nhau. Cho nên, hễ Vũ muốn gì, là Côn chiều ngay.
Vũ toan rủ Côn rời gốc cây bàng, thằng Vọng đã khúm núm từ ngoài cổng lững thững bước vào sân trường, hai tay vẫn thủ trong áo dài, như thường lệ. Tội nghiệp thằng Vọng, con nhà nghèo lại ghẻ. Vọng sợ bạn bè ghê tởm, nên nó cứ giấu diếm.
Trong lớp học, dù cái ghẻ đào hào khơi rãnh sông trên bàn tay nó, ngứa đến mấy chăng nữa, nó cũng chỉ cắn răng chịu đựng, không dám gãi, tuy gãi thì sướng lắm, hả hê lắm. Luôn luôn, nó đút tay trong áo dài. Giờ ra chơi, nó lén vào cầu tiên, hay thậm thụt gần bờ dậu râm bụt, gãi bằng thích, gãi sứt cả máu, gãi đỏ bầng đôi bàn tay.
Bọn học trò lớp nhì 2, có đứa đọc truyện Ghẻ đặc biệt của Tô Hoài, đăng ở Phổ Thông bán nguyệt san, nó bỗng thấy thằng Vọng giống nhân vật Hoa trong truyện, từng ly từng tí. Cũng bẩn thỉu, cũng bị ghẻ, cũng giấu tay, cũng gãi nơi vắng vẻ. Thế là chúng nó đồn nhau, chúng nó xúi giục nhau, làm sống lại thằng Hoa của Tô Hoài, trong trường tiểu học công lập thị xã Thái Bình.
Truyện Ghẻ đặc biệt được truyền tay đọc. Chúng nó xúm quanh nhau, nghe một thằng đọc, rồi cười như nắc nẻ. Chúng nó thuộc mọi hành động của thằng Hoa, thuộc mọi thủ đoạn của bạn nó trêu nó, để áp dụng vào thằng Vọng. Chúng nó theo rõi thằng Vọng khắp sân trường, bảo thằng Vọng có phù phép, vì chúng nó gặp thằng Vọng đan hai bàn tay lại bắt ấn. Rồi, y hệt chuyện của Tô Hoài, chúng nó ngấu nghiến đè thằng Vọng xuống sân cỏ, lôi tay thằng Vọng ra ngoài ánh sáng, để thấy bí mật của đôi tay nó, chỉ là bệnh ghẻ kinh niên!
Một thằng đứng giữa sân diễn thuyết. Ba bốn lớp vây quanh để cười. Bài văn của Tô Hoài được thay nhân vật Hoa bằng nhân vật Vọng. Đại khái :
- Thưa các bạn,
Nhân loại có hàng triệu chứng bệnh. Thí dụ, thối tai, hôi nách, chảy máu cam, đi tướt, táo kiết, chảy rãi, đái dầm, ỉa đùn. Chỉ có một thứ bệnh đáng sợ nhất. Đó là bệnh ghẻ, tiếng Pháp gọi là la gale. Ghẻ lại có nhiều loại. Thí dụ ghẻ Ấn độ, ghẻ Cao miên, tức Khờ me, ghe Lào, ghẻ Miến điện, ghẻ Ý đại lợi, ghẻ Nhật bản, ghẻ Thổ nhĩ kỳ, ghẻ Nga xô viết, ghẻ Nam dương quần đảo... Những bệnh ghẻ tôi vừa kể trên, đều là bệnh kinh khủng cả.
Còn một loại bệnh ghẻ kinh khủng hơn những bệnh ghẻ, kinh khủng nhất trên đời này, là ghẻ... tầu. Tại sao ghẻ tầu lại vĩ đại thế? Thưa, nó có từ đời nhà Hán, mà kẻ đem cái ghẻ sang xứ ta chính là Mã Viện. Sử ký Trần Trọng Kim trang... dòng... quyển... có ghi chuyện này. Muốn biết đúng hơn, xin quý bạn hỏi thằng Vọng, vì nó làm tổng đại lý cái ghẻ, nhãn hiệu Mã Viện, tức ghẻ tầu...
Bài diễn văn của anh học trò lớp nhất tung ra như trái bom ngạt. Cả trường biết thằng Vọng ghẻ tầu. Bọn con gái nhìn nó lắc đầu, nhéo mắt, khinh bỉ, khiến nhiều bận nó phát khóc. Thằng Vũ cũng khoái trò này lắm. Nó giống mấy thằng đầu têu, chỉ trêu thằng Vọng một lần thôi. Cái thằng trêu thằng Vọng khổ sở suốt ngày này sang ngày khác, là thằng Hách, con ông tham Lân. Nó cứ gọi thằng Vọng là thằng Hoa. Vọng biết thân phận mình, con nhà nghèo, ghẻ lở, đành im lặng, chịu nhục.
Thấy Vọng ủ rũ đi, Vũ bỗng thương hại nó. Vũ chợt quên rằng nó đang chờ thằng Vọng để gạ vào hội bóng của nó, chứ không phải để thương thằng học trò nghèo, ghẻ lở, cô thế. Vũ hỏi Côn :
- Nói với thằng Vọng thế nào hở, mày?
- Sao mày bảo đã có cách?
Vũ ngẫm nghĩ giây lát. Nó nói :
- Chúng mình đã a dua bọn lớp nhất chế nhạo nó, chả biết nó có ghét chúng mình không?
Côn băn khoăn :
- Tao đang lo thế.
Vọng tới gần bậc hiên trường. Vũ chưa hiểu tính thế nào, thì một quả ổi xanh đã ném bộp, trúng mũ của thằng Vọng. Và, thằng Hách toét miệng cười, từ trên bước xuống. Như thường lệ, thằng Hách bi bô :
- Ê, Hoa, đưa tay mày ra xem, cái ghẻ Mã Viện to bằng con bò chưa?
Vọng nhìn lên, nín thinh.
- Hoa, bố mày hỏi, mà mày không trả lời à?
Vọng vẫn nín. Nó đã quen nhịn nhục. Hách tới gần, đập mạnh vai nó, hất hàm hỏi :
- Mày câm hả, con?
Đôi mắt dỏ ngầu, vì bị áp bức, Vọng đau khổ nói :
- Anh để tôi yên thân.
Hách cười gằn :
- Muốn yên thân, thì bố mày hỏi, mày phải thưa chứ?
Giọng thằng Vọng chìm đi, lạc lõng :
- Anh hỏi tôi tử tế. Tôi tên là Vọng...
Hách đưa ngón tay, chỉ vào quần :
- Tử tế cái con củ c... ông đây này! Ông cứ gọi mày là Hoa. Ê Hoa, mẹ mày hôm nay có bán xôi chè không?
Vũ và Côn theo rõi cảnh bắt nạt này từ đầu. Vũ nghiến răng ken két, trong khi hai nắm tay Côn bóp chặt lại. Côn bảo Vũ :
- Mày chịu ngồi yên à?
- Khoan đã.
- Khoan cái đếch gì nữa, cách làm thằng Vọng nó đá cho hội mình, là đánh hộc máu mồm thằng Hách đi!
- Mày đừng dạy tao, tao chờ con nhà Hách đấm thằng Vọng, tao mới ra tay. Mày ra ngăn thằng Khải, thằng Ngọc, hai đứa bên thằng Hách, trước đi.
Côn rời khỏi gốc bàng, chạy ra phía đang cãi nhau. Lúc này, thằng Hách đã xắn tay áo. Nó chỉ nắm đấm trứơc mặt thằng Vọng, dọa nạt :
- Không trả lời bố, con sẽ nếm quả phật thủ này!
Vọng năn nỉ :
- Tôi xin anh...
Hách xỉa xói :
- Xin cái con củ c... á, xin cái gì?
- Xin anh đừng nói tới mẹ tôi...
- Tao cứ nói, con mẹ xôi chè, mẹ thằng Hoa ghẻ tầu!
Nước mắt Vọng ứa ra. Nó buông cái cặp cũ nát xuống sân trường, chắp tay lậy thằng Hách :
- Anh muốn bắt tôi làm gì, tôi cũng làm, đừng nói tới mẹ tôi...
Hách cười sằng sặc, khoái chí :
- Anh em làm chứng lời con nhà Hoa, nhé! Được, tao không thèm nói tới con mụ xôi chè, mày phải quỳ xuống lạy tao đi!
Nói dứt câu, Hách phóng chân đá tung cái cặp sách của thằng Vọng. Đúng dịp đó, Vũ nhảy vào vòng chiến. Nó nghiêm nét mặt, ra lệnh :
- Hách, mày nhặt cái cặp kia lên cho thằng Vọng!
Hách bị cụt hứng :
- Việc gì đến mày?
- Việc gì, hở? Cặp của tao đấy. Tao nhờ thằng Vọng mang hộ. Nào, mày có nhặt lên không?
Vọng giảng hòa :
- Thôi để tôi nhặt...
Vũ quát :
- Để thằng Hách nhặt, tao cấm mày đấy, Vọng!
Vọng chết đứng. Nó không ngờ chuyện của nó lại dính vào thằng Vũ, tay sừng của lớp nhì 1. Thấy Hách đứng trân trân, Vũ dục :
- Mày có nhặt lên không?
- Việc gì đến mày?
- Việc gì, hở? Mày xưng bố với thằng Vọng, mày bắt nó lạy mày. Bây giờ, tao xưng bố với mày, tao bắt mày lạy thằng Vọng. A lê, nhặt cặp lên cho bố Vọng mày, Hách!
Hách hung tiết :
- Cái con củ c... ông đây này!
Vũ xông tới đấm vào mặt thằng Hách. Hách tránh không kịp, trái đấm trúng mũi, máu cam chảy đầm đìa. Bọn học trò xanh mặt. Hách bị đau, lao người vào đấm Vũ. Nó không phải là địch thủ của thằng Vũ, nên ăn đấm nhừ người. Thằng Ngọc vào can thiệp, tiếp đến thằng Khải, đều bị thằng Côn giữ kéo lại. Vũ sợ hết giờ, đá thêm một phát trúng bụng
thằng Hách. Nó ngã sóng soài. Vũ lao tới, đặt chân lên mặt nó :
- Con hết đời rồi, con ơi!
Hách đau khổ, nhìn Vũ như muốn xin tha tội. Vũ hiểu ý nó, bèn ra lệnh :
- Bò ra nhặt cái cặp, trao vào tay thằng Vọng, và xin lỗi nó đi!
Hách răm rắp tuân lời. Vũ đe :
- Từ nay, bất cứ ở đâu, ông mà thấy mày bắt nạt thằng Vọng, thì ông đánh bỏ mẹ!
Nắm chặt tay thằng Vọng, Vũ dắt nó về phía sân sau, khiến bọn học trò kinh ngạc. Vọng cũng kinh ngạc đến run rẩy. Mấy năm, nó học ở cái trường tiểu học này, là mấy năm bị bạn bè hiếp đáp.
Nó vội mường tượng ngay quang cảnh lớp nhì 2. Nó ngồi bàn cuối cùng. Bạn bè xa lánh, thầy ít chú ý, mặc dù Vọng học giỏi. Đôi khi, thầy gọi, chỉ gọi, để xóa bảng, hay đi giặt khăn lau chùi bảng. Tết nhất, mẹ nó nghèo, không có tiền mua quà biếu thầy, nên thầy tỏ vẻ lãnh đạm. Thằng Vọng sống cô độc, đứa nào cũng nuốn bắt nạt nó. Vọng không thể ngờ có hôm nay. Vũ đã nắm chặt bàn tay ghẻ kinh niên của nó, bước sóng đôi với nó.
Vọng ứa nước mắt, thứ nước mắt của kẻ lâu ngày bị áp bức khổ sở, rút nhẹ tay mình khỏi tay thằng bạn mới. Vũ sững sờ hỏi :
- Gì thế mày?
Vọng rụt rè đáp :
- Tay tôi ghẻ!
- Chân mày có ghẻ không?
- Không.
- Thế thì tuyệt.
- Tuyệt sao?
- Tuyệt cú mèo!
Vọng ngớ ngẩn :
- Anh nói tôi chả hiểu gì cả...
- Tí nữa rồi mày hiểu. Ra gốc bàng kia, chúng mình nói chuyện. Mà đừng gọi tao bằng anh, xưng tôi nữa. Tao ít tuổi hơn mày, lại học dưới mày. Cứ mày tao cho thân. Mày ăn sáng chưa?
- Ăn rồi, sáng nào tôi cũng ăn xôi chè.
Vọng vẫn ngượng, chưa dám xưng tao. Vũ móc túi lấy thanh kẹo sô cô la, dúi vào tay Vọng :
- Chén đi, quà Hà Nội của bố tao đấy!
Vọng cứ nhìn thằng Vũ mãi. Biết nó ngượng, Vũ nói :
- Kẹo này ngon lắm. Mày đá bóng cừ thế, sao không vào hội tao?
Vọng tròn xoe đôi mắt :
- Sao cậu biết tớ đá bóng cừ?
Vũ vỗ vai thằng Vọng ghẻ tầu :
- Mày còn cậu cậu, tớ tớ nữa, tao đánh mày à! Mày giấu tài, y như hắc y hiệp sĩ trong truyện kiếm hiệp ấy. Thằng Côn nó bảo mày đi trung phong cho hội Kỳ Bá, mày sút lọt gôn Bồ Xuyên hai phát, đoạt giải Cam tích tán. Thôi, mày đừng chối nữa...
Một nỗi khoan khoái vừa lọt vào tâm hồn Vọng. Mắt nó sáng rực lên :
- Côn nó xem trận đó, hở?
- Ừ.
Giọng nó trở lại buồn buồn :
- Mày có biết tại sao tao không vào hội mày không?
- Không. Tại sao? Mày nói nhanh lên?
- Tại thằng Vịnh nó chê tao.
- Nó chê mày thế nào?
- Hôm tụi mày thua bọn trường Tầu, ở tăng đầu, tao muốn vào đá cho mày, thay chân thằng Vịnh. Nó chửi tao, nó bảo tao về đá với cái ghẻ. Tao xấu hổ quá, nên thôi.
Vũ cáu tiết, văng tục :
- Thằng Vịnh đá như củ thìu biu. A lê hấp, có mày tao cho nó ra rìa. Nó coi tụi An Tập hơn bố nó. Bóng vào chân đét dám sút, sợ lọt gôn, bọn An Tập nó cộp gẫy chân. Mày vào hội tao nhé!
Vọng ngần ngại :
- Nhỡ thằng Vịnh nó trả thù tao?
Vũ quả quyết :
- Thằng Hách ông còn cho om đòn, nữa là thằng oắt Vịnh. Mày đá cho hội tao đi, rồi mày xem, chúng nó sẽ coi mày như thánh!
Nghe Vũ hứa hẹn bảo vệ, Vọng gật đầu. Nó biết, thằng Vũ là thằng ngổ nhất trong trường. Vũ nghịch tinh, và đánh nhau như gà chọi, không kiềng thằng nào, dù lớn hơn nó một hai tuổi. Vọng được nhập phe thằng Vũ lấy làm hả hê lắm. Còn thằng Vũ bốc được cầu thủ cừ của hội Kỳ Bá, thì hớn hở ra mặt.
Vũ dúi vào tay thằng Vọng thanh kẹo sô cô la nữa. Ngay lúc đó, kẻng trường điểm chào cờ. Côn cũng vừa rảo cẳng tới, nhập bọn với Vũ và Vọng. Thằng Vọng tách hai đứa bạn mới, xếp hàng cùng lớp nhì 2. Vũ và Côn đứng trong hàng lớp nhì 1. Vũ giơ tay, bảo Côn :
- Mắt mày tinh, trông giùm tay tao, xem có con cái ghẻ Mã Viện nào
không?
Côn nhìn sang thằng Vọng, nháy mắt, cười...

3
Vũ nằm ngửa trên võng. Mắt nó mở thao láo, nhìn lũ thạch sùng đuổi nhau trên trần nhà. Chán rồi, nó khép mắt nằm im.
Mấy hôm nay, Vũ buồn lắm. Thằng em khác mẹ của nó vẫn bị sốt. Cơn sốtlên đến gần bốn mươi độ. Cha nó lại đi rồi. Chuyến này, cha nó lên mạn ngược. Cha Vũ buôn hàng chuyến, mỗi lần đi, ít ra, cũng mất một tháng. Dì nó cuống cả lên, không biết làm gì hơn là ôm con khóc. Vũ thích chạy nhảy, nhưng những bận em ốm, nó không thiết đi đâu cả.
Suốt ngày, Vũ ngồi trong giường, canh giấc ngủ cho em, hoặc kể chuyện vui, lúc em tỉnh. Mẹ Vũ chết năm nó ba tuổi. Qua năm sau, ba nó lấy vợ khác. Năm sau nữa, dì nó sinh Khoa, rồi lần lượt em Tú, em Mai. Vũ yêu Khoa nhất. Côn thường hỏi nó :
-Tại sao mày yêu thằng Khoa?
Vũ trả lời :
- Tại nó là con trai. Con gái nhát như cáy, chỉ được cái nước hơi tí mách mẹ, nên tao ghét.
Thằng Khoa cũng yêu anh lắm. Nó hay theo Vũ, dự vào những cuộc chơi nghịch. Những lần có Khoa, Vũ đều giao hẹn, cấm không đứa nào được đánh Khoa đau. Đánh khe khẽ thôi. Một hôm, giàn trận ở bờ sông, vô tình, thằng Toàn lớp ba quên mất lời đó, thoi thằng Khoa một thoi trúng mắt. Khoa nằm lăn ra khóc, dẫy đành đạch. Thế là Vũ chồm tới, đấm đá thằng Toàn tơi bời, không kịp nghe thằng này phân trần hay xin lỗi. Đánh sưng vù mặt thằng lỏi mà Vũ vẫn chưa nguôi giận. Nó còn nhào xuống sông, bốc bùn trát kín đầu thằng Toàn. Lát sau, thằng Côn bảo :
- Thằng Khoa đấm vào mũi thằng Toàn trước, mày đánh nó đau quá.
Vũ chẳng thèm đếm xỉa đến chuyện đó, nó nói :
- Ai bảo nó thoi em tao. Tao đã giao hẹn rồi. Em tao có đấm nó đau, nó cũng không được đấm lại. Đứa nào đấm lại, là tao cho ốm đòn. Mày có bênh em mày không?
Thấy thằng bạn thân của mình lý luận thế, Côn đành gật đầu :
- Có chứ.
- Thế tao bênh em tao, việc gì mày phải thương con nhà Toàn?
Côn ngẩn người im lặng. Vũ không cần biết nó phải hay trái. Hễ đứa nào đụng vào em nó, nó đánh, lớn nó không từ, bé nó không tha. Nó yêu em từ thuở thằng Khoa vừa lọt lòng. Tình yêu đó lớn dần theo tuổi nó. Dì nó thương nó, như nó thương em, nên nếu, mỗi năm, không có ngày giỗ mẹ, thì nó quên rằng mẹ nó đã chết.
Còn thằng Khoa, dù đã chín tuổi, nó vẫn tưởng thằng Vũ là anh ruột nó. Thằng Vũ làm bất cứ việc gì, nó đều khen rối rít. Đá bóng, chỉ anh Vũ nó đá hay. Đánh đáo, chỉ anh Vũ nó đánh cừ. Bắn chim, chỉ anh Vũ nó bắn tài. Đấm nhau, chỉ anh Vũ nó đấm chiến. Đi xe đạp, chỉ anh Vũ nó biết xăng đơ. Thổi ác mô ni ca, chỉ anh Vũ nó biết đánh tông. Đứa nào chê anh nó dở, nó gây sự ngay lập tức. Đối với nó, thằng Vũ là thần tượng. Trận đá bóng nào mà đội của Vũ thắng, nó hò hét khan cả cổ, trận nào thua, nó khóc sướt mướt. Cha chúng nó thường mắng yêu :
- Hai đứa cùng hỗn như nhau.
Dì nó bảo :
- Hai anh em giống nhau như đúc.
Có tiếng cựa quậy trong giường. Vũ giật mình, rời võng. Nó vén màn, chui đầu vào. Thằng Khoa mở mắt thao láo nhìn anh. Nó vẫy tay ra hiệu cho Vũ ngồi cạnh nó. Vũ sờ tay lên trán em. Nó sung sưóng :
- Em bớt nóng rồi.
Khoa khe khẽ nói :
- Bao giờ em mới khỏi hở, anh?
- Vài hôm nữa.
- Vài hôm lâu không?
- Làm gì mà lâu.
Khoa nghĩ đến những chú chim sẻ chưa vỡ bọng cứt, còn nhắm mắt quanh cái viền vàng dầy, nó tiếc rẻ :
- Vài hôm nữa, tụi chim sẻ mọc hết lông cánh, chúng bay mất, em bắt thế nào được?
Vũ vỗ về em :
- Mọc lông gì mà chóng thế em, còn lâu tụi nó mới biết bay. Anh thăm rồi, bọng cứt còn to tướng!
Khoa nói :
- Thật hở, anh? Thích ghê! Anh cho em ngụm nước.
Vũ rót nước. Nó nâng thằng em lên, và để tách nước kề miệng em nó. Khoa tợp một hơi hết liền. Nó đòi uống thêm. Vũ rót nữa. Uống xong, thằng bé bỗng tỉnh táo :
- Mai em đã khỏi chưa?
- Chưa.
- Nhỡ em khỏi thì sao?
- Khỏi, phải còn ăn giả bữa mới mạnh.
- Ăn giả bữa là gì hở, anh?
- Ăn giả bữa là...
Vũ vỗ trán suy nghĩ :
- Ăn giả bữa là... À, nhớ rồi. Mấy hôm ốm, không ăn gì, hôm nào khỏi, em phải ăn giả nợ những bữa đó.
Khoa hỏi :
- Em ốm mấy bữa rồi hở, anh?
Vũ xòe bàn tay, đếm lia lịa :
- Thứ hai, thứ ba... Một, hai, ba, bốn. Em ốm bốn hôm rồi.
- Bốn hôm ăn mấy bữa?
Vũ làm tính nhẩm :
- Bốn bữa quà sáng, tám bữa cơm, bốn bát canh bún buổi trưa, bốn bát chè đỗ đen buổi tối. Cộng tất cả hai mươi bữa.
Khoa lè lưỡi :
- Eo ôi! Hai mươi bữa cơ à?
- Ừ, hai mươi bữa.
- Ăn giả bữa làm gì hở, anh?
- Ăn cho chóng khỏe.
- Ăn mấy ngày mới hết?
Vũ bối rối. Nó đã ăn giả bữa bao giờ đâu. Chỉ nghe nói thôi. Nó trả lời bừa :
- Ăn một ngày.
Khoa méo xệch cái mồm :
- Một ngày, ăn làm sao hết được?
- Cố ăn chứ.
- Anh đã ăn giả bữa chưa, anh Vũ?
Vũ lúng túng. Nó sắp bí rồi. Nó lờ đi, chuyển sang chuyện đá bóng.
- Tuần sau, đội bóng của anh trả thù tụi An Tập.
- Thế à!
- Ừ.
- Hạ tụi nó 5-0 nhé!
- Ừ.
Khoa tung chăn muốn vùng dậy. Vũ bắt nó nằm yên. Thằng bé này nghe chuyện đá bóng, thích lắm. Nhất là đội bóng có anh nó đi hữu nội. Niên học này, đội bóng của anh nó bị tụi An Tập đè bẹp, bị cộp xưng vù chân. Anh nó, đêm ngày, lo chuyện trả thù. Càng trả thù càng thua, anh nó càng cáu tiết. Khoa ao ước lớn ngay, để tập đá cho đội bóng của anh nó, thay chân anh Vịnh. Anh Vũ nó luôn mồn chê anh Vịnh đá tồi, sợ tụi An Tập. Anh nó muốn đuổi anh Vịnh, mà chưa tìm được người. Nay, thấy anh tính chuyện trả thù, Khoa tin rằng anh nó đã có người đá giúp. Nó vỗ tay :
- Bravo, bravo anh Vũ, thứ mấy tuần sau đá hở, anh?
- Thứ năm.
- Nó mời mình hay mình mời nó hở, anh?
- Mình.
- Ai thay anh Vịnh?
- Thằng Vọng.
Khoa há hốc mồm :
- Cái thằng Vọng ghẻ tầu, hở?
Vũ cười, vỗ nhẹ vào vai em :
- Đừng gọi nó là thằng nữa. Nó cừ lắm, đá cho hội Kỳ Bá, tranh giải Cam tích tán đấy. Mắt anh Côn trông thấy, nó đi trung phong, sút hai trái lọt gôn Bồ Xuyên. Giờ nó đá cho hội của anh.
Khoa lại vỗ tay :
- Bravo, bravo Vọng! Cho em đi xem nhé!
Vũ nói :
- Em có khoẻ, mới được đi.
- Em khoẻ mà...
Vũ trộ :
- Phải ăn giả nợ hai mươi bữa một ngày cơ!
Khoa gật đầu :
- Em ăn hai mươi bữa mạnh thủy tinh!
Hai anh em Vũ cười như nắc nẻ. Thấy em còn mệt, Vũ dục em ngủ. Khoa vâng lời anh. Nó nằm nhắm mắt, mường tượng trận đá bóng tới. Vũ cũng vậy, nó tin chắc đội bóng của nó sẽ thắng. Vũ đặt mình lên võng, mơ màng...
Ngay lúc ấy, bên ngoài nhà nó, nấp sau cây bàng, thằng Côn mắt la mày lém, ngó trước ngó sau, đoạn thong thả, đọc một câu tiếng lóng, cơ hồ con chim choè gọi bạn giữa trưa mùa hạ :
- Lũ vã lơ a, li đa lập tạ lá đi lóng bí (Vũ ơi đi tập đá bóng).
Đó là thứ tiếng lóng, do Vũ và Côn đặt ra, chỉ dùng vào những lúc gia đình cấm đoán, không cho đi chơi. Lũ vã là Vũ, bỏ chữ u ở tiếng lũ, chữ ã ở tiếng vã, và chắp lại thành Vũ. Cứ thế, muốn nói bao nhiêu câu cũng được.
Côn gọi bạn hai ba lần rồi, song, vì mải mơ mộng, thằng Vũ chưa kịp nhận ra. Lúc nó giật mình, là lúc em nó đòi nước. Nó đã bị tẽn tò. Giữa trưa hè im phăng phắc, thằng Khoa đang thiêm thiếp ngủ. Côn chờ mãi đâm sốt ruột. Nó lại cây bàng, cách nhà thằng Vũ độ mươi thước, réo to :
- Lũ vã lơi a, lày mà lâm ca lở hỉ? (Vũ ơi, mày câm hở?)
Vũ đâu có câm. Đánh hơi thấy thằng Côn, nó bèn rón rén mở cửa sau, rồi leo lên trên sân thượng. Nó đặt bàn tay vào miệng, tựa cái loa, trả lời :
- Ló cá lao ta lây đa! (Có tao đây!)
Côn rỉa rói bạn :
- Lưởng tả lày mà liếc đá. Hàm là lúng chá lao ta lợi đạ hâu la lóa quấy (Tưởng mày điếc. Làm chúng tao đợi lâu quá).
- Lồ đà lốc ngá, láo ta lang đa hằm là lơ ma. Liếc đá lái cá lủ cả lìu thà liu ba lây đa hày nề (Đồ ngốc, tao đang nằm mơ. Điếc cái củ thìu biu đây này).
- Có đi không?
Hai đứa tiếp tục đàm thoại bằng tiếng lóng.
- Đi đâu?
- Đi tập đá bóng. Đông đủ, cả thằng Vọng nữa.
Vũ ngập ngừng, nửa muốn đi, nửa muốn từ chối. Thứ năm, tuần sau, gặp tụi An Tập, không tập cho ăn giơ, lại thua mất, và không bao giờ hòng trả thù được. Đi tập, ở nhà em nó gọi nước, ai rót. Dì nó xuống cống Đậu hốt thuốc, ba giờ mới về. Vũ đang suy nghĩ, thì Côn hét lớn :
- Có đi không?
- Để tao xem sao đã.
- Xem gì?
- Em tao ốm.
- Không tập thì thua là chắc.
- Đợi tao tí, nhé!
- Ừ, mau lên, bãi giờ vắng. Chốc nữa, chúng nó tranh mất chỗ.
Vũ trở vào nhà. Nó coi đồng hồ. Mới có một giờ. Vén màn nhìn em. Nó thấy mồ hôi thằng Khoa đổ tầm tã, thấm ướt cả áo. Vũ xanh mặt. Nó trở ra, leo vội lên sân thượng, trả lời bạn :
- Chúng mày đi tập đi, hôm nay tao không đi được.
- Sao thế?
- Em tao sốt nặng.
- Mày không đi chúng nó đếch chịu tập.
- Đếch tập thì thôi!
- Thôi trả thù tụi An Tập à?
- Ừ, em tao ốm nặng.
Dứt lời, Vũ tụt xuống, chạy vào giường, ngồi bên em. Nó quên đá bóng, quên đánh nhau, quên hết. Trước mắt nó, một sự lo ngại to tát quá. Nó sợ em thức, nên không dám gọi chị ở. Vũ chỉ sợ thằng Khoa chết. Nước mắt nó ứa ra...

4
Hôm nay là thứ tư. Chiều mai, đội bóng của Vũ gặp lại tụi An Tập. Trận phục thù này đánh dấu một niên học và, luôn thể, đánh dấu một mùa bóng đầy thảm bại của Vũ. Nếu đội Vũ hạ được tụi An Tập, thì niên học tới mới hòng đá cho hội tuyển của trường, và ngôi sao của Vũ mới khỏi bị lu mờ. Chứ thua tụi An Tập, thì ê cả lũ.
Vũ vẫn tin tưởng ở nó, ở thằng Côn, nhất là, bây giờ, có thêm thằng Vọng. Mấy ngày tập dượt chung đủ chứng tỏ đội bóng của Vũ rất nhiều hy vọng. Từ những thằng đá ban bó dây chuối, đá ban bòng, đá ban ten nít, chúng nó đã trở thành đội đá ban da cỡ nhỏ. Như thế, tài nghệ của chúng đã tiến bộ vượt bực. Đấu với các lớp trong trường, bọn Vũ hạ hết,
được ông Đốc ban cho năm quả bóng và một giấy ban khen. Xui xẻo làm sao, hễ đụng trường Tầu là hòa và đụng trường An Tập thì thua đậm.
Vũ cay cú tụi An Tập lắm. Trận này mà hạ tụi An Tập 2-0, chắc nó lớn thêm ba tuổi. Vũ sắp đặt thành phần đội bóng của nó như sau: Thủ môn thằng Luyến, biệt hiệu Luyến mít sơ lanh, hữu vệ thằng Long, tả vệ thằng Lộc, trung ứng thằng Hổ, hữu ứng thằng Hải, tả ứng thằng Dực, trung phong thằng Vọng, tả nội thằng Côn, hữu nội là nó, tả biên
thằng Trân, hữu biên thằng Trình. Toàn những thằng cừ cả, nhất định, lần này, nó phải hạ tụi An Tập.
Men chiến thắng tưởng tượng ngấm vào tâm hồn nó. Vũ khoái chí, rút kèn ác mô ni ca trong túi. Nó đặt lên môi, lướt đi lướt lại hai ba lần. Âm thanh phát ra nghe như gió bão thổi nhanh. Nó lấy gót chân phải nện mạnh xuống đất một cái, rồi lại nện nhẹ năm đầu ngón chân hai cái tiếp theo, nhẹ hơn. Đoạn, nó bắt đầu thổi kèn. Nốt nhạc thứ nhất của bài hát ăn đúng với gót chân nện xuống đất của thằng Vũ. Bài nhạc vui nhanh, hùng hồn, kích động lòng nó một cách mãnh liệt.
Vũ đang trổ tài, thì Côn dẫn Vọng tới. Thấy Vũ chơi kèn, Côn dục :
- Thổi bài Chiều quê đi, mày!
Vũ nói :
- Bàn chuyện trả thù tụi An Tập đã.
Côn xua tay :
- Mày thổi bài Chiều quê, rồi bàn chuyện đá bóng sau.
Vỗ vai Vọng, Côn hỏi :
- Phải không hở, Vọng?
Vọng gật đầu. Vũ chiều Côn, đưa kèn lên môi. Trước khi thổi, nó nói :
- Bài này buồn lắm!
- Tao thích buồn, vì tao nhớ quê nội tao.
Hơi thằng Vũ lùa vào kèn, âm thanh thoát ra. Tiếng nhạc tha thiết, êm đềm, giống hệt lời ca. Nỗi buồn man mác vây quanh ba đứa trẻ. Côn rươm rướm nước mắt. Trong lúc Vũ đánh tông phù phép phép phù phép phép sau mỗi câu nhạc, mà nếu hát thì phải ngân dài, Vọng cảm hứng ca theo :
- Quê nhà tôi chiều khi nắng êm đềm, chạy dài trên khóm cây, đàn chim ríu rít ca...
Vũ ngừng thổi, ra hiệu cho Vọng đừng hát nữa. Nó giảng giải :
- Bài này điệu bốt tông, mày hát chầm chậm mới đúng nhịp. Nào, hát lại. Một, hai, ba...
Vọng cao giọng :
- ... Bao người ra ngồi hay đứng bên thềm, đợi chồng con, mắt trông về phía trời xa...
Vũ lại ngừng thổi :
- Mày hát cao quá, chốc nữa đến đoạn giữa, lên giọng sao được? Hát thấp hơn mới hay.
- Tao sợ hát thấp, đến nốt trầm, xuống không nổi.
- Cứ thử xem. Nào, một, hai, ba...
Vọng cất tiếng. Côn hòa theo :
- Sáo diều êm nào khác lời thơ. Lúa vàng reo ngàn muôn sóng nhấp nhô... Bao người ra ngồi hay đứng bên thềm, chuyện trò vui với nhau, đời sống thần tiên...
Dứt bài hát, Côn và Vọng ngồi bẹt xuống đất, dưới bóng mát của cây sấu. Còn Vũ đứng hẳn lên, thổi bài Chiều quê lần nữa, từ đầu chí cuối.
Nó nhìn bầu trời xanh và mây trắng, trưa mùa hạ. Đôi mắt nó say sưa, và như vướng âm nhạc. Say sưa cơ hồ những lần nó dẫn ban trước thành tụi An Tập. Thổi xong, nó vẩy mạnh kèn, đút vào túi, ngồi cạnh bạn. Nó nói :
- Không ngờ thằng Vọng hát hay thế. Mày hát không kém gì anh Vũ Hổ, ở hướng đạo. Hè này, ba thằng mình lên sân khấu, hôm bãi trường, nhé!
Vọng cúi đầu, để tránh sự sung sướng biểu lộ trên khuôn mặt nó. Nó nói lảng :
- Bây giờ bàn chuyện đá bóng đi.
Vũ nhún vai :
- Thì tăng đầu Luyến, Long, Lộc, Hải, Hổ, Dực, Trân, Trình, và ba thằng mình. Tăng sau, không thay đổi thằng nào cả. Nếu bị tụi An Tập cộp, đau chân hãy thay. Mày coi tụi An Tập có thằng nào đáng sợ không?
Vọng trả lời :
- Chả có thằng nào đáng sợ cả, trừ con nhà Quýnh đứng hữu vệ, hay đánh khuỷu tay. Tao tính, nên mời ông Định làm trọng tài. Ông này ghét tụi hay cộp, có lợi cho tụi mình, mày ạ!
Côn vỗ tay :
- Bravo Vọng, mày khôn quá!
Vũ hùa theo :
- Cầu thủ Kỳ Bá có khác!
Vọng ngượng đỏ mặt. Từ những nỗi hất hủi tới những sự ca ngợi đến với nó nhanh quá, khiến thằng học trò nhà nghèo này luôn luôn xúc động. Nó bấm chặt ngón chân xuống nền đất.
Vũ nói :
- Tao định xin dì tao mấy đồng, nhưng nhiều quá, tao không dám xin.
Côn hỏi :
- Xin tiền để làm gì?
- Tiền để chúng mình ăn phở, ăn kem, nếu mình thắng tụi An Tập.
- Tao có hai đồng.
- Hai đồng không đủ đâu.
- Thế bao nhiêu mới đủ?
- Tao không biết.
Hai đứa nhìn nhau thất vọng. Bỗng Vũ chợt nhớ ra một điều hứng thú. Thằng Tom Sawyer Việt Nam cũng ở tỉnh lỵ, nhưng tỉnh lỵ bé nhỏ của một nước bé nhỏ lại bị nô lệ, nên nó không có phương tiện, tựa bạn nó là thằng Huckleberry Finn Côn, chẳng hạn, phiêu lưu trên sông Hồng, hay sông Cửu Long. Nó tinh nghịch, nghịch hơn Tom Sawyer. Và, thú thật rằng, nếu đem thằng Tom Sawyer của ông Mark Twain thả dù xuống mảnh
đất này, thì sợ Tom Sawyer chung số phận với thằng Hách mất. Chứ không thể nào qua mặt được thằng Triều Dương Hiệp cứu khốn phò nguy đâu.
Vũ nhếch mép cười, mắt nhấp nha nhấp nháy, và đầu nó rối loạn nguồn vui sắp tới. Nó dang đôi tay rộng ra, xòe hai bàn tay, rồi tầm đôi tay vừa với ngực, nó hạ thấp xuống quá bụng, giống hệt người diễn thuyết trong cơn rối loạn, khuyên thính giả hãy bình tĩnh. Nó ba hoa :
- Yên trí, yên trí, tao cớp được tiền ăn phở rồi.
Côn hỏi :
- Tiền đâu?
Vũ thản nhiên đáp :
- Ở đền Mẫu.
Bây giờ, đến lượt hai thằng bạn nó tròn xoe đôi mắt. Côn nghĩ tới chuyện Tầu chôn của, nó đùa :
- Mày chôn tiền, hở?
- Không.
- Thế tiền nào, lại nói phét!
- Nói phét làm đét gì.
- Thế tiền của ai?
Vũ cáu :
- Mày làm gì mà hỏi nhắng lên thế? Tiền của bác cả Hồng. Chiều nay, bác ấy lên đồng ở đềm Mẫu. Tao cớp hết tiền lộc cho chúng mày xem.
Vọng suýt soa :
- Phải tội chết.
- Tội cái củ thìu biu đây này!
Vọng toét miệng cười. Côn nghi ngờ :
- Sao mày biết bác ấy lên đồng chiều nay?
- Khó đét gì. Thúy...
Vũ buột mồm. Trót lỡ rồi, nó nói đủ để thằng Côn nghe :
- ... Thúy nó rủ tao, chiều nay, đi xem bác cả Hồng lên đồng.
Vũ hơi ngượng, khi phải nhắc đến tên con bạn gái của nó, con Thúy, trước mặt tụi bạn trai. Mẹ Vũ, hồi còn sống, là bạn thân của bà Thụy. Bà Thụy, mẹ con Thúy. Bà Thụy thương Vũ lắm, năm bữa nửa tháng, bà lại tới nhà Vũ thăm Vũ. Lần nào bà cũng dắt con Thúy theo.
Chủ nhật, ngày lễ, bà Thụy hay kéo Vũ tới nhà bà chơi, suốt ngày, với con gái bà. Vũ ghét con gái nhất hạng. Thế mà nó lại ưa con Thúy. Hai đứa chơi với nhau qua tình hai nhà thân nhau. Tâm hồn thằng Vũ, thứ tâm hồn hiệp sĩ, nên nó không chịu được những trò chơi bán hàng, thổi cơm của con Thúy. Nó thích đánh nhau cơ. Thành thử, chỉ lúc nào thằng Côn đi vắng, nó mới chịu vác xác tới nhà bà Thụy.
Bà Thụy coi Vũ như con. Khi vắng vẻ, bà thường hỏi nó :
- Dì con có đánh con không?
Vũ liền rầu rầu nét mặt :
- Có ạ!
Thực ra thì dì Vũ chiều chuộng Vũ, họa huần mới mắng mỏ đôi câu. Tính thằng Vũ láu cá. Nó biết hễ cứ mếu máo, nhận bừa là bị đòn, thế nào bà Thụy cũng dúi vào tay nó năm hào hay gói kẹo bánh. Về nhà, nó thuật lại chuyện với dì nó, nó làm nũng :
- Bác Thụy hỏi dì có đánh con không. Đố dì biết con trả lời làm sao?
- Dì không biết.
- Con đọc bài Mẫn Tủ Khiên, dì ạ!
Dì Vũ không hiểu Mẫn Tử Khiên, hỏi Vũ :
- Tại sao con đọc bài Mẫn Tử Khiên?
Vũ bèn liến thoắng kể chuyện Mẫn Tử Khiên, mẹ mất sớm, cha lấy người vợ kế. Người vợ kế này ngược đãi Tử Khiên. Mùa đông, con mình mặc áo bông, còn Tử Khiên chỉ phong phanh manh áo vải mỏng. Một hôm, cha sai đi đẩy xe. Tử Khiên rét quá, ngã nhào. Người cha gọi vào mắng, thấy Tử Khiên mặc áo mỏng, đứng run cầm cập, giận lắm, đuổi người vợ kế đi. Tử Khiên khóc thưa: Dì con ở lại, chỉ có một mình con khổ. Chứ dì con mà đi, cả anh em con cùng khổ. Người dì ghẻ cảm động về tấm lòng tốt của Tử Khiên. Từ đấy, đối xử với Tử Khiên như con ruột.
Kể xong, Vũ nói tiếp :
- Con bảo bác Thụy là con không phải Mẫn Tử Khiên, vì dì không bắt con ở nhà, dì cho con đi chơi cả ngày.
Dì nó cũng cảm động như dì Mẫn Tử Khiên, mắng yêu :
- Mày láu tôm láu cá quá, Vũ ạ!
Vũ vờ gãi tai. Dì nó móc túi cho nó đồng bạc. Vũ hay bịa chuyện, để những người bạn của mẹ nó, thuở xưa, thương nó.
Đứng trước con Thúy, Vũ ta thường tịt họng. Nó lại sợ bạn bè chế riễu chơi với con gái, nên buột mồm nhắc đến tên con Thúy trưóc mặt thằng nào, nó ngượng.
Côn không chú ý chuyện này. Nó hỏi :
- Này có chắc không?
- Chắc chứ. Tao chỉ sợ có bác Thụy với con Thúy thôi.
Vọng xen vào :
- Con Thúy nào?
Vũ lấn giọng :
- Mày đét biết đâu, Vọng ạ, đừng hỏi nữa.
Côn nói :
- Có bác Thụy thì hốc xịt, hở?
Tự nhiên, nghe hai tiếng hốc xịt có vẻ chạm tự ái của hiệp sĩ quá, Vũ bốc liều :
- Ai bảo mày hốc xịt? A lê, chúng mày đi gọi thêm mấy đứa nữa, rồi đợi tao ở đền Mẫu. Moa phú bác Thụy, nhanh lên!

5
Đền Mẫu, những hôm không phải ngày rằm, mồng một, vắng vẻ lắm. Ngày rằm, mồng một, khách thập phương tấp nập lui tới, vừa để lễ bái, vừa để nức nở khen quần áo của các bà đồng giàu sang trong thị xã. Bởi vậy, lên đồng ở đền Mẫu cũng có thời khóa biểu và phân biệt giầu nghèo. Các bà đồng nghèo không dám hầu thánh trùng với các bà đồng giầu, vì sợ khách thập phương so sánh; vì sợ ít lộc ban, không ai tán tụng, nịnh bợ; vì sợ chầu văn hát cho xong chuyện.
Bà cả Hồng thuộc vào loại trung bình, nhưng hay xấu hổ. Thành ra, cứ nhằm ngày vắng mới dám giở trò múa may, nhảy cỡn. Khi bọn thằng Vũ lần mò vào, bà cả Hồng đang hầu giá cô.
Vũ len lén nhìn xem có bà Thụy và con Thúy ở đây không. Tim Vũ đập thình thịch. Nó sợ bà Thụy? Không, nó sợ con Thúy. Hiệp sĩ Vũ, chúa đảng trong các đám đánh nhau, kẻ có cái bụng rắn như tường, chưa từng biết hãi ai, tại sao có thể sợ con Thúy được? Vũ không hiểu tại sao. Chỉ biết, mỗi lần, trông thấy con Thúy, tai nó nóng bừng.
Nó còn bé, mới có 13 tuổi. Một lần, vớ được quyển tiểu thuyết Nàng chỉ là người em gái thôi của Vũ Trọng Can, tò mò, Vũ giở ra đọc, và đâm say mê. Đọc xong, nó gật gù cái đầu, ra chiều suy nghĩ. Nó thương hại nhân vật nhà văn nghiện, đã có vợ con, mà được cô gái sầu mộng, em gái của bạn mình, yêu tha thiết. Nó không hiểu yêu là thế nào, cứ thấy ông Vũ Trọng Can bắt cô Tần buồn khổ, rồi xui cô yêu vụng nhớ thầm. Trang nào cũng có chữ yêu, nên thằng Vũ đoán yêu đương khó nhọc như phu xe bò chở gạo leo dốc cầu Bo. Nó, nhất định, sẽ không yêu. Đánh nhau dễ hơn, và thích hơn.
Nghĩ vậy, mỗi lần bà Thụy nhìn nó chằm chằm, rồi nhìn con Thúy, tâm hồn nó xao xuyến làm sao ấy. Vũ có cảm tưởng như nó bị say gió, khi đi xe hàng. Nhất là những lần bà Thụy và dì nó thầm thì với nhau chuyện gì, cố ý cho hai đứa trông thấy. Vũ nhìn Thúy. Thúy nhìn nó. Con bé ôm mặt, sà vào lòng mẹ khóc, bắt đền. Còn thằng Vũ kiếm cớ, đá nhẹ em gái nó một cái, rồi chạy biến. Và rồi, gặp nhau, ngượng ngùng câu chuyện cũ. Vũ không biết nên mở đầu với con Thúy chuyện gì.
Mỗi lần gặp Vũ, con Thúy bai cái mồm chê thằng Vũ là tây đen, vì thằng Vũ lông nhông cả ngày ở ngoài nắng. Vũ sợ con Thúy nói móc nó lắm. Lúc nãy hăng máu, Vũ ba hoa moa phú. Giờ, nó mới biết mình lỡ mồm.
Moa phú bác Thụy được, chứ moa phú con Thúy, khó quá.
Vũ hồi hộp. Mắt nó căng lên. May ghê. Không có con Thúy, cũng không có bác Thụy. Hôm nào, tới nhà, Vũ phải trách con Thúy cho biết tay. Con bé hẹn nó đi xem lên đồng, mà nó tẽn tò. Vũ lẩm bẩm: Chắc nó sẽ xin lỗi mình đây. Nào, ta chơi kiếm hiệp, đoạn Triều Dương Hiệp nhập Tây An tự, đánh sư hổ mang, cướp oản chuối và thịt chó ăn đỡ dạ, trên bước đường hồ hải.
Vũ đảo mắt trông trước trông sau. Ba thằng bạn của nó đang há hốc mồm cười, chỉ trỏ anh chầu văn ròn tay vê cây đàn nguyệt. Chị vợ anh ta, vừa gõ xuống cái gì như cái nắp cơi trầu bằng đồng, vừa hát lớn :
- Gió thổi rung cây trên ngàn, mà gió thổi rung cây trên ngàn. Dưới khe con cá nó lội, chim bay về rừng...
Tiếng đàn gảy một dây, nghe lanh tanh tanh, khi gảy cả hai dây thì kêu phảnh phành phanh. Hai thanh gỗ buộc gần đồ lên dây chạm nhau lạch cạnh, mỗi lúc anh chầu văn cao hứng rún rẩy thân hình. Tiếng các thứ nhạc cụ khác, như não bạt, thanh la, y hệt điệu rum ba. Mấy thằng quỷ sứ muốn cười cho hả dạ. Chúng nó sợ thằng Vũ trách, cố nhịn.
Thằng Vũ đã phân chia công việc cho chúng nó. Vũ bảo Côn đứng phía ngoài. Thằng Vọng, thằng Long, thằng Luyến được theo nó vào gian đền bên trong thám thính. Chừng Vũ thấy bà cả Hồng đem tiền phát lộc, nó bèn ra dặn thằng Côn :
- Hễ tao thò tay vẫy vẫy, mày đốt đống giấy tiền, dưới cái tam quan kia, nhé! Đốt xong, mày vờ kêu ầm làng nước cháy, cháy!
- Tại sao buồn cười thế? Vô cớ đốt lửa!
- Mày nghe tao, đừng hỏi nữa, mày quên trò Hỏa thiêu Tây An tự, tìm oản chuối rồi ư?
- À, tao nhớ rồi, nhưng đếch có diêm, mày ạ!
Vũ đập mạnh vai bạn :
- Ngu ghê, lấy nến thắp dưới chân thằng con nhà hộ pháp kia kìa. Nhớ đừng để ai trông thấy.
Côn trả lời, giọng đầy... kiếm hiệp :
- Đại ca yên chí, tao sẽ giúp đại ca hỏa thiêu đền Mẫu!
Vũ quay vào. Nó rỉ tai thằng Vọng :
- Nghe thằng Côn kêu cháy bên ngoài, mày bảo chúng nó hét loạn xạ lên, nhé! Mày phải xô ngã bà cả Hồng, tao ra tay múa liên hoa quyền, rồi cút ngay. Chúng mày đừng đợi tao. Chẩu hết về phía nhà ngang, mở bừa cửa mà chạy. Lão từ có hỏi, cứ vờ kêu đền cháy, đền cháy...
Vọng sợ sệt :
- Tao không dám xô bà đồng đâu!
Vụ nạt nộ :
- Mày sợ bà ấy à?
- Tao sợ phải tội!
- Lúc nào mày cũng sợ phải tội. Sợ cái củ thìu biu! Xô bà đồng, thánh không vật đâu.
- Nhỡ bà ấy biết mặt tao thì chết?
- Chết thế đét nào được. Mày tung bửu bối cho cái ghẻ nó chạy ra, nó đốt bỏ mẹ bà ấy đi, chứ!
Vọng hứng chí :
- Gặp mày ở đâu?
- Ở bãi bóng. Vác bóng ra tập nhé!
- Còn thằng Côn?
- Nó chẩu với tụi mày.
Vọng thôi hỏi. Nó thầm thì bên cạnh thằng Long, thằng Luyến. Ba đứa ngắm bà cả Hồng cầm đôi bơi chèo, chở con thuyền tưởng tượng, trên dòng sông tưởng tượng. Vũ sán lại gần cái khay đựng tiền. Nó bắt chước mọi người, tấu lạy bà cả Hồng. Bà cả Hồng ngừng tay chèo nhìn nó, mỉm cười. Được thể, Vũ nịnh hót bà đủ điều. Nó khen bà cả Hồng chèo giỏi, bơi chèo của bà đẹp, quần áo của bà mới toanh.
Anh chầu văn, bây giờ, vê đàn dồn dập, ý chừng sắp hết giá. Vũ sợ phải chờ đợi lâu, nó bèn thò tay sau lưng, vẫy hiệu. Côn được lệnh, nhổ cây nến, đốt đống giấy tiền. Chị vợ anh chầu văn vừa cất giọng :
- ... thánh giá hồi cung...
Thì thằng Vũ dậm châm, kêu rùm beng :
- Cháy, cháy! Ối làng nước ơi! Cháy! Cháy!
Bọn thằng Vọng đứng hết lên. Ba cái mồm biến thành ba cái loa phóng thanh :
- Cháy đền, cháy đền trước, bà đồng ơi!
Anh chầu văn hốt hoảng ôm đàn, dắt vợ con chạy trước. Mấy bà ngồi ốp thánh, cũng ba chân bốn cẳng chạy. Thằng Vọng phóng mình lăn xô bà cả Hồng. Bà ngã xóng xoài trên đôi bơi chèo. Thằng Vũ quơ sạch nắm tiền lộc. Tiện tay, nó cuỗm luôn chùm vải.
Bà cả Hồng lồm cồm bò tới, nắm chặt tay thằng Vũ. Nó cựa thoát, đẩy bà thêm cái nữa. Bà cả Hòng sực nhớ ra thằng ranh con này, bà hét :
- Thằng ôn vật này, giỏi nhỉ? Mày chết đòn, con ạ!
Vũ xòe năm đầu ngón tay, dí ngón cái vào lỗ mũi bên phải, quay bốn ngón hai ba lần trêu tức bà cả Hồng :
- Ê, thánh đâu có bắt nạt trẻ con?
Bà cả Hồng điên ruột :
- Tao mách dì mày, cứ gọi là nhừ đòn!
Vũ nheo mắt :
-Bác cứ mách cái thằng Triều Dương Hiệp ấy. Cháu là Vũ, cháu chỉ cớp có chùm vải thôi, cháu không làm gì cả. Chúng nó chơi Hỏa thiêu Tây An tự đấy, bác ạ.
Rồi, nó co cẳng chạy.

6
Đội bóng trường tiểu học An Tập mặc áo may ô trắng, quần đùi xanh lơ. Thủ môn mặc áo pun ô vơ đỏ. Đội bóng lớp nhì 1 của thằng Vũ sơ mi trắng cụt tay, quần đùi đen. Thằng Luyến giữ gôn, mặc áo pun ô vơ xanh lá cây. Dưới sự hướng dẫn của ông Định, hai đội bóng chạy một vòng quanh sân. Đến trước khán đài danh dự, nơi có các thầy dự khán, ông Định thổi một tiếng còi. Hai đội bóng dừng lại. Ông Định ra lệnh quay mặt về phía khán đài. Các cầu thủ học trò giơ tay chào quan khách. Những tràng pháo tay vỗ đồm độp.
Ông Đốc dặn dò hai đội không được cộp nhau. Dứt lời, ông Định cho thủ quân đôi bên rút thăm. Ngay sau đó, hồi còi dài rít vang. Đội nào chạy về bên sân đội ấy.
Thằng Khoa mới khỏi bệnh, mà nhất định không bỏ qua trận trả thù này. Khoa chạy sang phía anh, gọi ơi ới :
- Anh Vũ ơi! Đơ dzê rô nhé!
Những thằng ái mộ Vũ góp lời khuyến khích :
- Ngả bàn đèn nhiều vào!
- Rót dầu thủng gôn tụi An Tập đi!
Vũ giơ tay chào tất cả. Nó ghé tai thằng Vọng :
- Coi chừng con nhà Quýnh.
Vọng gật đầu. Sáng nay, nó đi mượn áo sơ mi, thằng nào cũng từ chối, vì bạn bè vẫn còn khinh thằng Vọng, và chê nó ghẻ tầu. Cuối cùng, Vọng đành mặc áo sơ mi mới may của thằng Vũ. Dì thằng Vũ sợ con mau lớn, nên cứ may áo hòng lớn. Vọng ái ngại được mặc áo mới toanh. Nó từ chối, thằng Vũ bắt nó phải mặc. Vọng có cái áo mới nhất trong các cầu thủ.
Sân cỏ ồn ào tiếng bàn tán. Thằng Khoa và bọn cùng lớp thằng Vũ theo rõi quả ban, như muốn dán mắt vào đấy. Tim chúng nó đập thình thịch. Thoạt đầu, chúng nó còn ngồi gần nhau. Khoảnh khắc, đứa ngồi xổm, đứa đứng. Đứng ngồi không yên, chúng nó nhấp nhổm, và cách xa dần nhau.
Tiếng còi mở đầu trận đấu rít lên the thé. An Tập được giao ban trước. Thằng Sơn đưa ban cho thằng Tâm. Thằng này sút xuống góc trái. Con nhà Minh chạy chậm, bị thằng Dực mớm nhẹ lên cho thằng Vũ. Vũ giao ngắn cho Vọng. Vọng lừa đảo trên phần đất An Tập, qua mặt ba thằng, rồi chuyển cho thằng Côn. Côn phóng xuống góc trái cho Trân. Trân chạy sát bóng, tạt chân trái vào giữa. Vũ nhảy lên đánh đầu. Con nhà Mai đã bắt được bóng.
Tụi An Tập reo hò :
- Hoan hô Mai, Mai nhựa đường!
Mai đá bổng. Con nhà Cử chặn bóng cừ quá. Quả ban nằm chặt dưới chân nó. Cử dẫn ban. Hải ra chèn. Cử chuyền cho Sơn. Sơn trả lại cho Cử. Thọc mạnh xuống góc phải. Phúc dẫn sâu thêm, đưa vào giữa cho Sơn. Con nhà này sút như búa bổ. Thằng Luyến được dịp trổ tài.
Giờ đến lượt trường thị xã cổ võ hội nhà :
- Luyến mít sơ lanh!
- Hoan hô Luyến!
- Mít sơ lanh dính hơn nhựa đường.
Hai đội bóng nhãi con chơi cùng ngang ngửa. Ông Định chúa ghét những thằng lỏi tì mà đã học nghề cộp. Ông thổi phạt tơi bời, và bẹo tai cầu thủ Quýnh, nên tụi An Tập hết giở món sở trường.
Thằng Vọng nổi nhất trên sân cỏ. Nó át giọng hết tụi An Tập. Trừ thằng Vũ, còn thì bị lu mờ hết với nó. Nó ít khi để mất ban, lừa gạt khéo léo, chạy nhanh, cướp ban giỏi, đá mạnh, sút trúng. Nó và thằng Vũ có hy vọng nhập hội thiếu niên. Con nhà Hách, ngày thường, khinh bỉ thằng Vọng. Bỗng nhiên khô cổ vì hoan hô nó.
Vọng được anh em bạn học thúc giục làm bàn, nó hăng tiết vịt. Còn năm phút nữa thì dứt hiệp đầu. Vọng nhận ban, một mình dẫn đi, chuyền cho Côn. Côn đưa cho Vũ. Vũ phóng tà tà cho Trình. Trình tạt giữa vùng cấm địa. Vọng chồm tới sút thẳng. Con nhà Mai bay lên. Quả ban đã chui thẳng giữa hai cột gôn.
Tiếng hò hét vang dội. Thằng Khoa nhảy chồm lên, tung mũ, tung mùi xoa. Vọng lững thững chạy về phần đất nhà. Anh em đồng đội của nó xúm lại, ôn chặt nó. Thằng nào thằng ấy hả hê cõi lòng.
Quả bóng đặt giữa sân. Thằng Sơn đưa cho thằng Tâm. Tâm vừa đá ban đi, thì còi mãn hiệp. Bọn học sinh thị xã bu chặt đội bóng lớp nhì 1. Chúng nó đem nước, đem chanh cho những kẻ chiến thắng hưởng. Thằng Khoa len vào gặp anh. Nó chỉ nói được hai tiếng khoái quá.
Năm phút sau, trận đấu tái diễn. Tụi An Tập lồng lộn san bằng tỷ số. Đội bóng của Vũ chơi hay hơn cả bao giờ. Thằng Luyến bắt dính, thằng Lộc đá móc cứu nguy như làm xiếc, thằng Long đá phá như máy. Tụi An Tập giận điên người. Bộ năm Sơn, Cử, Tâm, Minh, Phúc ào ào tiến lên, để áo ào rút về chặn ngũ hổ bình tây Vọng, Vũ, Côn, Trân, Trình.
Trận đấu căng thẳng, hồi hộp, nín thở. Rồi, vỡ tung lồng phổi gào thét, vì Vọng, tức Vọng ghẻ tầu, lại vừa dẫn bóng, vừa ngả người sút vào gôn An Tập. Cú ngả bàn đèn này tuyệt tác, làm lé mắt học sinh toàn tỉnh. Men chiến thắng bốc mạnh. Mười phút sau cú ngả bàn đèn, thằng Vũ biểu diễn đánh đầu, tặng thêm An Tập trái nữa.
Và mãn cuộc, đội bóng của Vũ đè bẹp An Tập 4-0. Tụi An Tập khóc như di. Chúng thua đau đớn, thua không một bàn gỡ. Vũ sung sướng quá, nước mắt chảy đầm đìa. Còn thằng Vọng, khi được bạn học công kênh, nó khóc oà lên, cơ hồ con khóc cha chết. Trong cuộc đời nghèo khổ của nó hiện tại, Vọng có bao giờ dám nghĩ tới giấc mơ vĩ đại này. Nó khăng khăng đòi tụt xuống. Bạn bè cứ tiếp tục công kênh. Thằng Vọng dẫn đầu, kế đến thằng Vũ... Mười một cái kiệu người hoan hô, cổ võ ầm ỹ. Những anh hùng tí hon, đã đem thắng lợi về cho trường nhà, cảm động thật sự. Mồm chúng nó méo xệch đi, trông thương lắm.
Ngồi trên kiệu tay, chúa đảng Vũ nhìn đám tàn quân An Tập một cách kiêu hãnh, cho bõ những trận thua tan tành mấy tháng trước. Vũ nài nỉ bạn bè hạ chúng nó xuống.
Hách là thằng đầu tiên chạy tới, nắm chặt tay thằng Vọng, dắt ra xa một quãng. Nét mặt nó mất hẳn vẻ khả ố cũ. Nó ngập ngừng, không dám nói điều nó muốn nói.
Vọng tưởng nó gây sự, đứng thủ thế. Từ lúc được anh em công kênh, Vọng thấy nó khỏe lên, nó bớt hèn, và coi thằng Hách thường quá. Biết Vọng hiểu nhầm mình, Hách vội nói :
- Vọng ơi, tớ xin lỗi đằng ấy, nhé!
- Xin lỗi cái gì?
Hách nuốt nước bọt :
- Tớ đã trót dại bắt nạt đằng ấy, tớ biết đằng ấy nhường tớ, chứ không phải đằng ấy sợ tớ. Đằng ấy tha lỗi cho tớ, nhé!
Vọng vân vê mép áo :
- Tớ quên rồi!
- Đằng ấy quên thật, hở?
- Ừ, tớ quên thật rồi...
Hách ngượng nghịu nói :
- Sao đằng ấy tử tế thế?
Vọng im lặng không trả lời. Hách chìa bàn tay mời Vọng nắm. Vọng nhìn Hách, mắt nó chớp mau. Nó đưa tay, nắm chặt bàn tay Hách. Ngay lúc ấy, thằng Khoa hớt hơ hớt hải kiếm ra Vọng. Nó níu thằng Vọng dắt đi :
- Anh Vũ bảo em gọi anh. Anh đá mả quá!
- Lớn lên em cũng đá mả.
- En thích anh lừa ghê. Anh dậy em cái món lừa ban, anh nhé! À, chúng nó gọi anh là ghẻ tầu Mã Viện, anh có ghét chúng nó không?
- Không.
- Anh mà đá ban giỏi, đứa nào nói láo, em đánh liền.
Khoa thôi nói. Hai đứa đã nhập bọn thằng Vũ. Chúng nó chờ cho sân vãn người. Khi còn lại bọn mình, Vũ nói với Vọng rằng, chúng nó không muốn ăn phở nữa. Tiền cớp ở đền Mẫu, cả bọn bằng lòng tặng thằng Vọng. Thằng Vọng khăng khăng từ chối. Nó bảo không đi ăn phở, thì nó không đá cho thằng Vũ. Thế là tụi nhãi sợ, đành xuống hồ tắm, rồi đi ăn, như chương trình đã định.
Nhá nhem tối, chúng nó mới giải tán. Vũ đưa Vọng về. Trên đường về nhà Vọng, Vũ tâm sự :
- Không có mày, tụi tao thua bét tĩ.
Vọng nói :
- Không có mày, làm sao tao được đá?
- Thì mày đá cho hội Kỳ Bá.
- Tao thích đá cho trường cơ!
Vũ bỏ lơ câu chuyện bốc Vọng, nó đập mạnh Vọng :
- Mày thấy chưa? Chúng nó coi mày như thánh! Con nhà Hách hết khinh mày rồi.
Vọng gật gù cái đầu :
- Cũng nhờ thằng Côn.
Vũ không phản đối. Gần tới nơi con ngõ vào nhà mình, Vọng toan cởi áo trả bạn, Vũ đã xua tay :
- Tao cho mày đấy.
Vọng lắc đầu :
- Chúng nó cười tao chết.
Vũ dằn giọng :
- Thằng nào cười mày, tao đánh bỏ mẹ!
Vọng ngần ngại :
- Nhỡ dì mày mắng thì sao?
Vũ cười :
- Mắng tao chứ mắng mày à?
Để cho thằng bạn hay hỏi vớ vẩn này yên lòng, Vũ tung cái đòn dọa của nó ra :
- Mày không lấy áo của tao, tao đánh mày!
Quả nhiên, Vọng hết từ chối lòng tốt của Vũ. Tâm hồn nó mát rượi dưới cái bóng râm của thằng bạn nhỏ hay dọa đánh, chứa chan hào hiệp. Vũ hẹn Vọng tới tập hát. Chúng nó chia tay nhau.
Đèn phố bắt đầu lên.

7
- Cái gì ở trong túi Vũ đấy?
Vũ chối dài :
- Cái gì đâu?
Thúy cười ranh mãnh :
- Thế, tại sao Vũ cứ đút tay trong túi quần?
- Tại Vũ thích.
Thúy vẫn không chịu :
- Chắc Vũ giấu cái gì rồi?
Vũ bắt đầu thấy nóng ở tai :
- Giấu gì đâu?
Thúy không hỏi nữa. Con bé nhìn chằm chằm vào cái túi quần xoóc của thằng Vũ. Mấy phút sau, như khám ra sự bí mật, nó nói :
- Nhất định có cái gì, Vũ ạ! Thúy thấy nó động đậy.
Biết rằng không chối được, Vũ thú thật :
- Con chim!
Thúy trách móc :
- Chim à? Lấy ra đi, kẻo nó chết ngạt. Vũ ác quá.
Vũ không ác đâu. Nó cũng thừa hiểu, nhốt con chim trong túi quần, nửa giờ nữa nó sẽ chết. Thằng bé này lạ lắm. Hễ trước mặt con Thúy, nó quên biến những điều nó muốn nói hay ngại ngần những điều nó định làm.
Trưa qua, Vũ tha thẩn đi chơi một mình. Qua nhà ông Đốc, nó thấy cái lồng bẫy chim khuyên treo lơ lửng trên cây sấu, gần tường. Cái lồng kết đầy hoa, bên trong có năm sáu con chim khuyên sa bẫy, đang tung tăng tìm lối thoát. Chim khuyên nhỏ và đẹp làm sao! Vũ nghĩ, giá nó có một chú vàng khuyên, đem cho con Thúy, chắc con Thúy thích ba chê.
Nghĩ là làm liền. Vũ chạy vội về, rủ thằng Khoa đến nhà ông Đốc. Nó bắt thằng Khoa đứng gác, để nó leo lên tường, níu cành sấu, trèo lên, ăn cắp cái lồng chim. Thằng Khoa giống anh, như hệt. Dì thằng Vũ ví thế mà đúng. Nó ưa mạo hiểm, chẳng khác gì thằng Vũ.
Như con vượn, hiệp sĩ Vũ mắt la mày lét, dùng thuật phi hành, nhảy vèo một cái suýt ngã. May mà tay nó đã kịp níu lấy cành sấu. Chứ không, rơi bộp xuống đất, đánh thức con chó của ông Đốc dậy, hiệp sĩ Vũ bị tên bếp tung lưới, bắt đánh nhừ đòn rồi.
Vũ vừa trèo, vừa run. Cuối cùng, nó tóm được cái lồng bẫy chim của cậu con yêu của ông Đốc. Nó huýt sáo ra hiệu. Khoa chạy tới. Vũ thả cái lồng. Thằng nhãi Khoa bắt dính, cơ hồ gôn Luyến bắt ban. Vũ tụt từ từ. Nó chỉ sợ chó sủa. Con chó khốn nạn ngủ mê mệt. Tới gốc cây, Vũ leo lên tường, nhảy vọt xuống đất. Chân tay Vũ run bần bật. Mặt mày xanh lét. Tim muốn nhảy ra ngoài ngực. Nó vẫn còn thích nghịch.
Vũ sai thằng Khoa bê cái lồng chạy trước. Khoa chạy khá xa. Vũ nhặt hòn đá ném con chó. Không trúng. Nó toan chẩu. Nghĩ sao, nó mon men tới chuông điện, bấm mạnh một cái. Chuông kêu reng reng. Bây giờ, con chó mới vụt thức, sủa ầm ỹ. Khi tên bếp mở cổng bước ra, con nhà Vũ đã chạy tới gần cuối phố. Giữa trưa nắng, không ai biết chuyện gì. Hiệp sĩ Vũ ngó lại, thấy tên bếp lười đuổi, bèn đứng lại xỉ vả :
- Súc sinh, hãy về động, bảo sư phụ mày truyền nghề phi hành đã, rồi mới hòng đuổi ta!
Vũ cớp được cái lồng và năm chú chim khuyên ngon ơ. Nó chọn một con đẹp nhất, mang cho Thúy. Gặp con Thúy, Vũ ta đành để chim khuyên cựa cậy trong túi quần, không dám nói năng gì. Nó đoán trước, thế nào Thúy cũng hỏi, tại sao nó có chim khuyên. Nó đã lựa những câu nói dối. Lòng hào hiệp của hiệp sĩ Vũ sẽ chết theo chú vành khuyên, nếu con Thúy không soi mói.
- Chim gì thế hở Vũ?
- Chim khuyên.
Thúy reo :
- A, chim khuyên! Thúy thích chim khuyên lắm.
Vũ hí hửng :
- Thật hở?
- Ừ, Thúy thích lắm. Vũ cho Thúy, nhá! Lấy ra đi, kẻo nó chết.
Vũ chỉ đợi có thế. Nó móc con chim khuyên ra, nét mặt hân hoan :
- Ừ, cho Thúy. Thúy giữ đi, kẻo nó bay mất.
Thúy ngúng nguẩy :
- Phải nhốt nó vào cái gì, chứ?
Vũ hỏi :
- Nhà Thúy có cái lồng không?
- Không.
- Có cái giỏ không?
- Không.
- Có cái làn mây nhỏ, mắt dầy không?
- Không.
- Thế lấy chỉ buộc chân nó vậy.
Thúy nhăn mặt :
- Eo ơi, đau nó chết!
Thúy nhìn chú vành khuyên nhỏ bé. Đôi mắt chim ngơ ngác, trông dễ thương tệ. Thúy bảo :
- Nhốt nó vào cái ống bơ sữa bò, được không?
- Ống bơ sữa bò bé tí, ngạt hơi, nó chết. Mấy lại nhỡ mèo nó tha đi mất.
- Thế nhốt vào cái gì?
- Nhà Thúy có cái ấm tích sứt vòi, bỏ đi, không?
- Có.
- Nhốt tạm nó vào đấy, lấy nắp đậy lại. Nó thở bằng cái vòi.
Vũ hứa hẹn :
- Rồi mai Vũ cho Thúy cái lồng bẫy.
Thúy hỏi :
- Lồng bẫy là lồng gì?
- Là lồng có năm cái cửa, bốn cái trên mặt dương bẫy mở ngỏ. Lồng kết đầy hoa, chim khuyên tham ăn, sà xuống, bị bẫy sập lại.
- Vũ có biết đánh bẫy không?
- Có chứ.
- Con chim Vũ cho Thúy, Vũ đánh bẫy được, hở?
- Ừ.
- Vũ đan lồng được à?
- Ừ.
Thúy khen :
- Vũ giỏi nhỉ.
Và con bé hỏi thêm :
- Bạn Vũ có đứa nào đan được không?
Vũ ba hoa :
- Đan khó lắm, chả đứa nào đan nổi đâu. Vũ học mãi, mới đan được. Thôi, Thúy đi lấy cái ấm tích nhốt chim đi, kẻo hơi tay, nó chết mất.
Thúy chạy xuống bếp. Một mình Vũ ngồi chờ. Tai nó, tự nhiên, hết nóng. Vũ nhủ thầm rằng, con Thúy không có gì đáng sợ. Từ nay, gặp con Thúy, nó sẽ không nhút nhát nữa. Rồi, lan man nó nghĩ lẩm cẩm, chẳng hiểu, tại sao, ông trời lại sinh ra con trai, con gái. Giá trời sinh ra con trai tuốt, nhất định con Thúy phải sợ thằng Vũ.
- Ấm tích đây, Vũ ơi!
Con Thúy cắt đứt những ý tưởng vớ vẩn của thằng Vũ. Vũ tỉnh ngay, nó lại thấy nó cứ nhút nhát. Thúy hỏi :
- Cho nó ăn cái gì?
Vũ trả lời bừa :
- Cho nó ăn hoa.
Vũ không biết chim khuyên ăn gì. Xem người ta đánh bẫy bằng hoa, nó đoán chim khuyên ăn hoa
- Cho nó ăn chuối được không?
- Được.
- Nó có hót không?
- Hót hay lắm.
- Con chim khuyên nảy là chim con trai, hay chim con gái hở, Vũ?
Vũ phá ra cười. Thúy ngạc nhiên :
- Vũ cười gì đấy?
- Cười Thúy.
- Cười Thúy sao?
- Thúy nói sai. Người ta gọi chim là con trống, con mái, chứ ai lại gọi là chim con trai, chim con gái?
Thúy im lặng, tỏ vẻ phục tài Vũ. Nó vẫn thích hỏi :
- Thế con chim Vũ cho Thúy, trống hay mái?
Vũ bí. Nó ngăm nghía con chim khuyên giây lát, rồi trả lời :
- Chắc con mái.
- Sao Vũ biết?
- Nó hiền, nó ít nhảy nhót, lông nó mượt.
- Thế con lồng sù, hay nhảy nhót, là con trống à?
- Ừ.
- Sao Vũ biết?
- Thì chim cũng như người. Đứa nào biết chơi kiếm hiệp, biết đá bóng, là con trai; đứa nào thích chơi đồ hàng, thổi cơm, làm cỗ, là con gái.
Thúy khoái chuyện của Vũ quá. Nó hỏi :
- Chim cũng chơi kiếm hiệp à?
- Ừ.
- Sao Vũ biết?
- Thúy có nhìn chim sẻ đánh nhau chí chóe không?
- Có.
- Nó chơi kiếm kiệp đấy.
- Thích nhỉ!
- Ừ.
- Nao Vũ cho Thúy con lông sù nữa, nhá!
- Ừ.
- Có con trống, Thúy cho hai đứa chơi vợ chồng!
Bây giờ, đến lượt thằng Vũ hỏi :
- Chơi vợ chồng là gì hở, Thúy?
- Chơi vợ chồng là giả vờ làm người lớn lấy nhau, có con, gọi nhau bằng cậu cậu, mợ mợ.
- Đứa nào giả làm con?
- Đứa nào cũng được, be bé một tí.
- Lạ nhỉ?
- Lạ gì mà lạ, Vũ đã chơi vợ chồng chưa?
Vũ lắc đầu. Nó không biết cái trò này. Người lớn lấy nhau mới là vợ chồng, như cha nó lấy dì nó. Chứ nhãi con, ai lại lấy nhau. Vũ ngây ngô nói :
- Chưa, Thúy ạ! Chơi có thích không?
- Vui lắm.
Ruột thằng Vũ bắt đầu cồn cào. Nó không hiểu tại sao lại cồn cào thế. Mặt nó nóng ran, chân tay nó rã rời. Vũ hỏi :
- Thúy đã chơi chưa?
- Chơi rồi!
Hai bàn tay Vũ nắm chặt. Nó nghiến răng muốn sái quai hàm. Mắt nó long lên, như đã từng long lên, khi nó nhìn trái bóng sút mạnh, mà con nhà Mai, An Tập cứ bắt dính. Vũ nhìn Thúy :
- Chơi với ai?
- Chơi với thằng Đạo.
- Nhà thằng Đạo ở đâu?
- Vũ hỏi làm gì?
- Hỏi để cho nó om đòn!
- Sao lại cho nó om đòn?
- Tại nó không dám chơi kiếm hiệp. Nhà nó ở đâu?
Thúy cười khanh khách :
- Nhà nó ở nhà quê cơ! Thúy chơi với nó dạo hè, năm ngoái.
Vũ cụt hứng. Nó vờ vĩnh, đánh trống lảng :
- Chơi vợ chồng vui không?
- Vui chứ! Vũ có muốn chơi vợ chồng với Thúy không?
Vũ đang ngần ngừ, nửa muốn chơi cái trò lạ lùng này, nửa muốn từ chối, vì không biết chơi ra sao, thì có tiếng léo nhéo bên ngoài.
Thúy ra mở cửa. Bà Thụy lễ mễ bưng gói hàng vào, theo sau là bà cả Hồng. Vũ ta chột dạ. Nó len lén lủi dần, định chuồn. Vô phúc cho hiệp sĩ Vũ, run rẩy thế nào, lại đụng phải tay bà cả Hồng, khiến bà làm rơi gói hàng. Bà cả Hồng nhận ra Vũ, bà ta gầm lên :
- Lại thằng ôn vật này, hôm nay thì mày hết trốn!
Bà cả Hồng toan túm Vũ. Như con sóc, Vũ né kịp, và co cẳng vù một mạch. Con Thúy níu bà cả Hồng, hỏi rối rít :
- Chuyện gì thế bác?
Bà cả Hồng vuốt lại mớ tóc mai, hổn hển nói :
- Vào đây bác kể cho mà nghe...

8
Vũ đi học muộn. Nó đang lo bị phạt. Cổng trường đã khóa, bạn học cùng lớp của nó hãy còn tụm năm túm ba ở sân. Tung cái cặp vào trước, Vũ trổ tài leo qua cổng vào sau. Thấy bóng dáng nó, thằng Côn hớt hơ hớt hải báo tin.
- Thầy mình bị bắt rồi...
Vũ rụng rời tay chân. Cặp sách của nó rơi xuống đất. Nó không thèm nhặt. Vũ trân trân nhìn Côn. Mặt nó cắt không còn giọt máu. Đôi môi nó mấp máy, muốn nói mà chưa nói được. Mãi, thằng Vũ mới mở miệng, run run :
- Thầy... mình... bị... bắt.... rồi... à?
Côn nghẹn ngào :
- Ừ!
- Bị bắt bao giờ hở, mày?
- Sáng nay.
- Ai bắt thầy mình?
- Lính sen đầm tây với bố thằng Huấn, học lớp nhì 2. Họ làm nhục thầy mình, mày ạ!
- Họ làm nhục thế nào?
- Bố thằng Huấn kéo tay thầy mình về đằng sau, lính sen đầm lấy khóa, khóa chặt tay thầy lại. Bố thằng Huấn đẩy thầy, dẫn đi. Lính sen đầm xà lù thầy. Thầy thất thểu bước khỏi cổng. Tao thương thầy quá. Bố thằng Huấn chửi thầy: Tiên sư chúng mày, cách mạng với cách mệnh làm các ông mệt xác. Thầy hiền thế thì tội gì, mày nhỉ? Mà cách mạng với cách mệnh là gì, hở mày?
Vũ không biết trả lời bạn thế nào. Nó cúi nhặt cái cặp sách, lững thững đi vào lớp. Côn theo chân bạn. Ngồi vào chỗ mình, Vũ nhìn lên bảng đen, bàn giấy, bản đồ, hình bộ xương người, tủ học cụ. Tất cả vẫn còn đó, không thiếu một thứ gì quen thuộc, trừ thầy Đàn, tiếng nói êm ái của thầy, và tiếng ồn ào của bạn học giờ chấm bài.
Giẻ lau bảng vừa giặt, vắt không kỹ, nước nhỏ giọt, như nước mắt thằng học trò thương thầy nhỏ giọt, trên mặt bàn lim. Vũ ngắm nghía cái thước kẻ, cái roi mây, hai tên đao phủ của học trò lười và học trò nghịch. Cái roi mây mốc thếch, mấy tháng, thầy mới dùng một lần. Cái thước kẻ dài, sắc cạnh, tưởng bị kẻ lên mu bàn tay thì đau lắm, nhưng thầy giơ cao và đánh rất khẽ. Thầy chỉ dọa thôi. Tám tháng học lớp nhì 1, Vũ chưa thấy thầy đánh đúa nào đến phát khóc.
Vũ đưa tay bưng mặt. Nó cố nhớ những kỷ niệm, trong cái xã hội lớp nhì 1 của nó, từ ngày thầy Đàn dạy chúng nó. Thầy Đàn chưa có vợ, thầy trọ nhà bà Bảo. Thầy yêu nhất thằng Ban, vì nhà nó nghèo. Tháng nào, thầy cũng cho Ban tiền mua sách vở. Một hôm, thấy tóc thằng Ban rậm quá, thầy đuổi nó ra khỏi lớp, giúi vào tay nó mấy hào, bắt nó đi
hớt tóc ngay. Buổi chiều, con nhà Ban mang cái đầu trọc lốc vào lớp, thầy lấy thước gõ, như sư cụ gõ mõ lên đầu nó, khiến cả lớp cười rúc rích.
Thầy vui vẻ, nên cả lớp mến thầy. Riêng Vũ, thầy đã ban cho Vũ nhiều ân huệ. Vũ được viết bảng giùm thầy. Thầy đọc bài cho trò chép. Vũ được nhắc lại hai lần, và hỏi xong chưa, trước khi thầy đọc tiếp. Bữa nào bận, thầy giao cho Vũ đọc ám tả, và bữa ấy, Vũ hưởng mười điểm ngon ơ.
Những ân huệ đó là niềm kiêu hãnh của Vũ, là sự thèm thuồng của các bạn nó. Vũ còn được thầy nhờ bưng chồng vở luận, lễ mễ theo thầy về tận nhà. Vũ không sợ nặng. Càng nặng càng thích. Có đứa đã đổi cho Vũ nhiều thứ, để Vũ nhường cho nó công việc bưng vở luận theo thầy. Con nhà Vũ từ chối. Nó cho rằng được gần gũi thầy, phải là học trò cừ.
Đời nào nó nhường tiếng cừ cho thằng khác. Thỉnh thoảng nó mới cho thằng Côn hưởng chung cái ân huệ ấy.
Thầy Đàn thích Vũ đá ban. Đội bóng của Vũ sở dĩ có cam, quít giải khát, là nhờ thầy cho tiền. Sau mỗi trận đá, thầy thường rời khán đài, xuống xoa đầu khen ngợi từng thằng một, dù thua hay thắng. Thầy tốt thế, mà thầy bị bắt...
Vũ bỗng ngẩn ngơ, như vừa mất một cái quí nhất trên đời. Như thằng Côn, nó cũng không biết cách mạng với cách mệnh là tội gì. Thầy nó có tội cách mạng, tội lạ quá!
Tiếng những con chim sẻ cãi nhau chí chóe trên cây soan tây, gần cửa sổ, làm Vũ sực tỉnh. Nó đưa cánh tay quệt nước mắt. Bàn dưới, thằng Côn đang gục đầu, buồn rũ rượi. Lớp bên cạnh, tiếng thước gõ lạch cạch trên bàn càng làm thằng Vũ nhớ thầy. Nó rùng mình. Lớp học sao hôm nay lạnh lẽo thế! Vũ đâm sợ sệt. Nó khoác thằng Côn ra ngoài :
- Ông Đốc bảo sao hở, Côn?
- Ông Đốc bảo hôm nay nghỉ, mai thay thầy khác.
- Nếu chưa có thầy khác thì sao?
- Thì cứ nghỉ!
Hai thằng bạn bước xuống sân trường. Bọn học trò lóp nhì 1, lác đác, đã có thằng leo cổng bỏ về.
Những thằng còn lại kê cặp sách làm gối, nằm ngửa mặt lên trời, nói chuyện lảm nhảm. Vũ dắt Côn đến nằm dưới gốc cây bàng, đợi thằng Vọng. Cả tụi cầu thủ trong đội bóng của Vũ sà tới. Thằng Long nói :
- Tiên sư thằng Huấn, lúc thầy mình bị bố nó đẩy, nó nhe răng cười hô hố, Vũ ạ!
Vũ ngồi nhỏm dậy :
- Nó cười thật à?
- Nó còn nhìn tụi tao, chỉ trỏ, có vẻ khoái chí.
Vũ xòe bàn tay trái, đấm tay phải vào, nghe cái bốp, hằn học :
- Sao tụi mày không tẩn bỏ mẹ nó đi?
Côn rụt rè :
- Đừng gây sự với nó, nó hay chơi com pa, nhỡ nó đâm vào mắt, mù thì chết.
Vũ nghiến răng ken két. Nó chưa choảng nhau với con nhà Huấn, chỉ chứng kiến những trận con nhà Huấn choảng nhau với thằng khác. Huấn là tay sừng của lớp nhì 2, ngang sức thằng Vũ. Thằng này đánh nhau hễ gần thua, là móc com pa giấu sẵn trong túi ra đâm. Nhiều thằng gờm nó, vì sợ nó liều, đâm vào mắt. Vũ không thể gờm thằng Huấn được. Nó dám cười thầy Vũ, Vũ phải cho nó biết tay. Vũ trách móc :
- Chúng mày để nó cười thầy mà đét dám làm gì! Tao moa phú com pa... Tí nữa, giờ ra chơi, tao tẩn con nhà Huấn nhừ đòn!
Côn can bạn :
- Thôi đi mày! Bố nó làm đội xếp...
Vũ cáu :
- Đội xếp bắt ăn cắp, chứ bắt học trò à? Sợ cái gì, sợ cái củ thìu biu ông đây này!
Long về hùa Côn, khuyên Vũ :
- Đừng đánh nhau với con nhà Huấn nữa mày! Tụi ta có tiền, sáng nay, thứ năm, rạp Odéon chiếu phim cao bồi mới toanh. Roy Roger, Vũ ơi! Chúng mình đi xem, rồi chiều đi tắm. Mày bằng lòng không?
- Không.
- Thế mày nhất định đánh thằng Huấn, à?
- Ừ!
- Liệu mày ăn nó không?
- Mặc kệ tao, đứa nào hèn thì cút đi!
Thấy Vũ nhất định chơi thằng Huấn, bọn nhãi con hồi hộp ngồi chờ. Chúng nó thừa hiểu pha đấu này còn sôi nổi hơn cả cao bồi đấm mọi da đỏ trên màn ảnh. Tuy tin tưởng thằng Vũ, Côn vẫn lo ngại thằng khốn nạn Huấn sẽ tung cái bửu bối com pa. Côn muốn dặn Vũ cái gì, nó nghĩ không ra. Vũ nín thinh, chẳng thèm nói năng nữa. Nó đang vẽ trận đồ, trong đầu óc.
Kẻng trường điểm ba tiếng khô khan. Học trò ào ào thoát khỏi lớp. Chớp mắt, cái đàn ong ấy vo ve khắp chỗ. Mắt Vũ long lên tìm thằng Huấn.
- Vọng, Vọng ơi!
Vọng ngơ ngác. Nhận ra Vũ, nó chạy tới mừng rỡ :
- Tưởng thấy mày bị bắt, mày về rồi?
- Mày biết thằng Huấn chạy đâu không?
- Nó ra sân sau.
Vũ hô :
- A lê hấp! Tụi mình ra hết sân sau.
Vọng hỏi :
- Làm gì thế Vũ?
Côn đáp :
- Choảng thằng Huấn!
- Sao lại choảng nó?
- Tí nữa mày biết.
Bọn trẻ đã kéo hết về phía sân sau. Con nhà Huấn vừa ở cầu tiêu bước ra, bị Vũ gọi giật :
- Huấn, Huấn!
Huấn lầm lũi tới :
- Mày gọi tao, hả?
- Ừ.
- Gọi tao có việc gì? Thầy mày bị bố tao khóa dẫn đi rồi. Sao chưa về nhà, còn ở đây?
Như bị đổ thêm dầu vào tâm hồn bốc cháy, hiệp sĩ Vũ nhổ một bãi nước miếng to tướng vào thằng Huấn, thách thức :
- Dám đánh nhau với tao không?
Huấn không phải tay vừa, nó gườm gườn nhìn Vũ :
- Lấy khăn lau sạch cho tao đi, mày!
Vũ cười khinh bỉ :
- Vào lấy giẻ lau bảng mà lau!
Và, để thằng Huấn phải đánh nhau, Vũ kẹp cái cặp sách của nó vào đùi, giơ tay chỉ trỏ, như đội xếp chỉ đường ở ngã tư. Nó huýt còi miệng toét, rồi nháy mắt, khiến tụi trẻ cười vỡ cả bụng. Vũ hỏi Huấn :
- Mày biết ai chỉ đường đấy không, Huấn? Bố mày chứ còn ai Đội xếp!
Huấn chửi lại :
- Lái buôn!
- Đội xếp!
Huấn đỏ mặt. Nó xắn tay áo đứng thủ thế. Vũ quăng cái cặp sách cho Côn giữ. Khán giả kéo về sân sau, mỗi lúc một đông. Bọn lớp nhì 2 thân với thằng Huấn cổ võ :
- Hạ nó đi Huấn!
- Cho nó miếng đòn bát bảo lường xà!
Huấn đấm một trái không khí dò đường.
- Hay, cú đia rếch ấy hay tuyệt!
Vũ đá một cái hụt.
- Trứ danh, cú song phi ấy trứ danh!
Không khí hò la vang dội :
- Cho nó sơi phật thủ đi, Vũ!
- Thưởng nó đòn mai hoa quyền đi, Huấn!
- Tặng nó đòn lục tầu xá đi, Vũ!
Hai con gà chọi hầm hè tìm nước. Khán giả xúi giục hăng quá. Chợt, Vũ lao đầu vào bụng Huấn. Sau tiếng hự, Huấn lao đao nhăn nhó. Nó đuổi theo Vũ, đá một phát sượt ngang sườn. Huấn tiến sát Vũ, chịu đòn. Nó tặng Vũ những cú đấm đau điếng người. Vũ gạt tay Huấn, né sang bên phải, tiện thể đấm móc Huấn một cú khá nặng. Huấn ôm bụng chửi bới. Nó đút tay vào túi. Côn hét lên :
- Coi chừng, nó tung bửu bối!
Huấn tung bửu bối thật. Tay phải nó nắm cái com pa nhọn. Nó dồn Vũ. Vũ lùi, lùi dần. Tới đống cát. Vũ dừng lại. Nhanh như cắt, nó bốc nắm cát ném đầy mặt Huấn. Đang lúc con nhà Huấn đưa tay dụi mắt, Vũ phóng người đá nó liên tiếp hai ba cú. Chưa hả giận, Vũ giáng một trái thật mạnh vào cánh tay phải Huấn, khiến bửu bối của nó văng ra. Côn chồm lại, lượm cái com pa.
Huấn vẫn chưa nhìn thấy gì. Vũ toan sơi nó mấy chùy nữa, Luyến đã lao vào đứng giữa, gạt hai đứa sang hai bên. Luyến nói :
- Thằng Vũ thắng rồi.
- Hoan hô Vũ!
- Vũ ba chê!
Bọn học trò reo ầm ỹ. Thằng nọ hỏi :
- Tại sao thằng Vũ đánh thằng Huấn?
Thằng kia trả lời :
- Tao không biết.
Bọn thằng Côn dìu Vũ về. Huấn chớp mắt nhìn theo. Uất ức. Nó cũng không hiểu tại sao con nhà Vũ đánh nó.

9
Bờ sông Trà Lý, vào những buổi chiều mùa hạ, tấp nập người tắm giặt. Một nửa thị xã dồn ra đây. Từ cầu Bo xuôi xuống cống Đậu, cứ cách vài chục thước, lại có một bến tắm.
Bọn thằng Vũ đông đủ mặt. Chúng nó hết buồn rồi. Thầy chúng nó đã được tha. Chúng nó lại quấy nhộn. Năm thằng trần truồng như nhộng đang bốc bùn dưói lòng sông, trát đầy mình mẩy, xong nằm dài trên bờ đê phơi nắng. Nằm im thế đấy, vô phúc thằng nhãi nào ngứa mắt liếc chúng nó, lập tức bị ăn bùn no nê.
Năm thằng chưa đả động chuyện gì. Vũ nhìn sang bên kia sông. Nắng chiều khoác lên những lùm cây xanh ngắt, như một thứ áo mầu tươi đẹp. Tiếng con tu hú chìm sâu trong không gian văng vẳng, vọng tới bên này sông. Tâm hồn Vũ bị loài tu hú quyến rũ, nó dồn hết ý nghĩ vào những chùm vải chĩu nặng đầy cành. Vũ rủ bạn :
- Bơi sang sông ăn cắp vải đi?
Côn nói :
- Vải họ canh chừng ghê lắm, mày ạ!
Vũ chê Côn :
- Mày lúc nào cũng sợ. Tao cớp cả cái lồng chim của thằng Hội, con ông Đốc, tao còn đét sợ, nữa là ăn cắp vải.
Bốn thằng nhìn nhau chưa nói gì. Vũ cũng không thèm giục thêm. Nó bỗng nhớ tới cái lồng bẫy hứa hẹn cho con Thúy. Chẳng hiểu, chú vành khuyên con gái, nuôi trong cái ấm tích, còn sống không. Lạ lùng quá, dạo này Vũ cứ hay nghĩ tới Thúy. Nó muốn đến nhà con Thúy. Cái con mẹ cả Hồng chắc không tha gì nó, mà không kể tội cớp tiền, ở đền Mẫu. Bác Thụy mắng đã đành, con Thúy chê nữa, ngượng chết.
Ngượng thì hết yêu. Yêu là gì nhỉ? Vũ vẫn không tài nào hiểu yêu là gì. Chiều chiều, bọn chúng nó thường lai vãng trên cầu Bo. Vũ luôn luôn gặp đôi trai gái dắt tay nhau, chuyện trò vui vẻ. Họ ăn kem, uống nước dừa. Rồi, anh con trai móc tiền, trả người bán hàng.
Vũ mơ ước, lớn hơn, nó sẽ nắm tay con Thúy, tha thẩn trên cầu Bo, nhìn những chiếc thuyền căng buồm no gió, trôi xuống mạn cống Đậu. Nó sẽ mua kem cho con Thúy ăn, mua nước dừa mời con Thúy uống. Mai mốt, nó sẽ tả cho con Thúy nghe chuyện đánh thằng Huấn, đoạt bửu bối của nó. Chắc con Thúy thích Vũ lắm. Tưởng tượng thế, Vũ phấn khởi quá. Nó xoay mình, gọi bạn :
- Côn ơi! Trổ tài chơi lịch sử cho chúng nó lác mắt đi mày.
Cả bọn lồm cồm trở dậy. Bùn đóng từng mảnh, khô trên thân thể chúng nó nứt rạn, theo những cử động mạnh. Vũ nháy Côn. Lập tức Côn nhảy xuống nước, lặn thật lâu. Ngạc nhiên về kiểu chơi đó, ba thằng Luyến, Lộc, Long thúc thằng Vũ :
- Nó chơi trò gì thế, mày?
- Mó làm anh hùng Việt Nam. Chúng mày mở mắt ra trông. Kia kìa, cái bến đàn bà Tầu đang tắm cho con chúng nó kia kìa!
Theo tay Vũ chỉ, ba thằng nhãi nhìn về phía bên trái, cách bến chúng nó chừng mươi thước. Bỗng chúng nó nghe tiếng một ả xẩm thét lên, rồi đầu thằng nhãi con, con của ả, cũng nhô lên. Vũ nói :
- Chúng mày hỏi xem thằng Côn là gì đi!
Ngay đó, Côn nhô đầu khỏi mặt nước, nó bơi vào bờ, thở hổn hển, dang tay như một kiện tướng. Lộc hỏi :
- Mày là gì?
Côn vỗ ngực :
- Tao là Yết Kiêu. Tao vừa rút chân thằng nhãi Mông Cổ.
Ba thằng bạn nó lè lưỡi khiếp phục. Chúng nó đương băn khoăn, Vũ hét lớn :
- Yết Kiêu là tướng của đức Trần Hưng Đạo, lặn dưới sông Bạch Đằng, đục thuyền quân Mông Cổ, giết tụi nó như ngóe. Còn tao, tao là Dã Tượng.
Vũ bông nhông liền. Nó lặn tới chỗ cái thuyền đánh cá thả neo nấu cơm. Vũ đã ngắm trước quả đu đủ nằm ở mũi thuyền. Nó nhô đầu quờ tay, thủ quả đu đủ.
Bọn trên bờ, kể cả thằng Côn, chẳng biết nó lặn đi đâu. Lát sau, Vũ nhô lên, ôm quả đu đủ vào bụng, đoạn, nó cười ha hả :
- Dã Tượng là bạn Yết Kiêu, coi tụi Mông Cổ như kiến gió. Ha ha ha... Đu đủ của Mông Cổ đây, chén đi!
Năm thằng lại nằm dài trên bờ đê, lấy dao bổ đu đủ. Chúng nó nhồm nhoàm ăn. Thằng khen ngọt, thằng tiếc trái đu đủ bé. Mồm chúng nó dính đầy bùn và chất vàng trái cây. Ăn xong, Vũ gạ gẫm :
- Bơi sang sông ăn cắp vải, nhé!
- Nếu họ canh chừng thì sao?
- Thì tụi mình chặt chuối đóng bè, xuống cống Đậu, vào nhà bác lang Tặng tao chén canh bánh đa. Nước giờ cạn, bơi một tí là qua sông.
Không thằng nào hỏi thêm. Chúng nó đều bằng lòng. Vũ lấy quần đùi trùm lên đầu. Cả bọn bắt chước. Chúng nó đi tắm, chỉ mặc trần xì có mỗi chiếc quần đùi. Khoảnh khắc, bốn thằng nhãi đã theo chúa đảng Vũ vùng vẫy giữa dòng sông. Vũ ngậm con dao vào miệng, y như Tác Dăng sắp sửa huyết chiến với cá sấu. Không đầy năm phút, chúng đã tới bờ bên kia.
Vừa trườn lên dốc đá thoai thoải, Vũ vừa mơ mộng. Nó cứ thầm ước con Thúy trông thấy nó làm chúa đảng tụi nhãi lớp nhì 1. Ôi, sướng ghê. Con Thúy sẽ lác mắt, và quên đứt chuyện hỏa thiêu đền Mẫu. Mai, mình phải đến nhà bác Thụy mới được. Vũ lẩm bẩm, khiến bạn nó ngỡ rằng nó đọc thần chú cầu may, trước giờ xuất phát... ăn cắp vải.
Xuống khỏi bờ đê, bọn thằng Vũ đã trông thấy những cây vải chĩu đầy quả. Chúng nó say sưa nhìn, cơ hồ thôi miên cho những quả vải mọng nước ngọt ngọt, chua chua kia, rơi trúng mồm chúng nó. Thằng nào thằng nấy nuốt nưóc bọt ừng ực. Chúng nó tiến gần. Vũ hỏi :
- Thằng Luyến có mang súng cao su đi không?
- Có, tao có mang, tổ sư bắn chim sẻ non đây. Tụi mày nhặt đạn đi...
Vũ nháy mắt, tỏ ý hài lòng. Con nhà Luyến quàng súng vào cổ. Cái nạng ổi hình chữ Y lủng lẳng trước ngực nó, y hệt người ta đeo cái thánh giá. Nó tưởng thằng Vũ muốn bắt nạt tụi chim sẻ mới ra ràng.
- Bắn sẻ hay bắn chim chào mào hở, mày?
- Không bắn chim. Đợi tao ra lệnh bắn gì hãy hay.
Luyến vâng lời chúa đảng, theo sát chân thằng Vũ. Vườn vải rào cao và kín quá, khó lòng trèo lên hái cả chùm được. Chẳng lẽ mất công bơi sang, lại về không. Vũ phân chia công việc. Côn, Lộc, và Long đi chặt chuối đóng bè. Luyến và nó tính chuyện cớp vải.
Bọn thằng Côn bắt tay vào việc ngay. Chúng nó hạ sáu cây chuối hột trổ buồng rồi, đã trở thành đồ vô dụng, mọc hoang bên con ngõ mòn, không ai thèm giữ nữa. Chặt chuối ngon ơ, chúng nó thay phiên nhau vác lên đê, liệng xuống bãi sông. Đẵn tre, vót nhọn làm cọc, chia mỗi cây chuối làm hai, chúng nó ghép thành hai cái bè. Xong đâu đấy, chúng nó đi tìm thằng Vũ.
Thu mình dưới hàng rào, Luyến khom lưng bước từ từ, như một tay thiện xạ chắc mẩm sắp hạ con mổi. Súng đã nạp đạn. Luyến đưa lên. Hai sợi dây cao su kéo mạnh. Véo, viên đạn vù bay. Con quạ khoang đậu trên ngọn tre kêu mấy tiếng, rồi vỗ cánh bay mất. Tiếc quá, con nhà Luyến vỗ đùi :
- Suýt tao bắn rơi con quạ!
Vũ cáu :
- Tao bảo mày bắn vải, chứ ai bảo mày bắn quạ?
Luyến vẫn còn tiếc :
- Nó đậu ngon quá, mày ạ!
Vũ điên ruột :
- Ngon cái củ thìu biu, bắn vải đi, nhanh lên!
Luyến nghe Vũ. Nó nạp đạn, giương súng lên. Hai sợi dây cao su không cần kéo mạnh. Viên đạn đi rất khẽ. Hàng chục quả vải rụng lộp bộp. Vũ mải miết nhặt, nhét vào cái quần đùi, nó đã khôn khéo túm chặt ống. Luyến bắn liên tiếp. Vũ nhặt không xuể. May quá, bọn thằng Côn đã tới. Năm thằng cởi truồng tồng ngồng. Chúng nó đội quần đùi, dây chun quấn quanh đầu, trừ thằng Vũ dùng quần đựng vải, giống những tên cướp trong truyện cổ tích.
- Thôi đừng bắn!
Nhà thiện xạ Luyến ngưng tay. Vũ nghĩ rằng nó thử mạo hiểm trèo rào, với một chùm vải thấp nhất, đem về tặng con Thúy thì tuyệt.
- Tuyệt cú mèo, Vũ nói. Côn ôm vải đi, tao lên xem sao...
Và, nó trèo lên. Khi tay nó đang cố rướn với, thì vô phúc bọn canh vườn thấy. Chúng nó tri hô ầm ỹ. Vũ liền nhảy vèo xuống. Chân nó chạm phải hòn đất khô, ê ẩm. Năm thằng thục mạng chạy. Hai thằng canh vườn đuổi theo. Bọn thằng Vũ đã trèo hết lên đê.
Chánh đảng Vũ ra lệnh :
- Bắn vào chân thằng chạy đầu đi, Luyến!
Luyến kéo căng hai sợi dây cao sư. Phát đạn đất sét khô trúng đích. Thằng canh vườn kêu ơi ới...
- Bắn vào bụng thằng kia!
Vèo, viên đạn đất bay. Thằng canh vườn thứ hai chửi on xòm.
- Xuống bãi mau lên!
Bốn tên tướng cướp cởi truồng, cùng chủ tướng, lăn mình từ dốc đê cao xuống bãi. Trong nháy mắt, chúng nó đã đứng hiên ngang trên hai cái bè. Côn và Lộc chống sào đẩy mạnh. Bè rời khỏi bãi. Vừa lúc ấy, hai thằng canh vườn xuất hiện, ở mặt đê. Chúng nó cay cú nhìn. Bọn thằng Vũ bóc vải ăn, trêu tức.
Chánh đảng Vũ hỏi lớn :
- Vải ngon quá, hở?
Đứng trên bè chuối bên đây, phó đảng Côn vỗ bụng :
- Ừ, ngon quá!
Hai thằng canh vườn nhặt đá ném. Tiếng đá rơi xuống nưóc lõm bõm, chen lẫn những tiếng cười khanh khách của bọn hiệp sĩ ăn cắp vải. Nước trôi, đưa bè của chúng nó xuôi về phía cống Đậu.

10
Vũ ngồi đợi một lát, Thúy trong buồng bước ra. Con bé mặc chiếc áo đầm, mầu tím lốm đốm tròn trắng. Hôm nay mẹ nó rẽ ngôi lệch hộ nó. Mái tóc ngắn đen mướt, lại cặp thêm con bướm bằng bạc bóng loáng, khiến con Thúy khác hẳn mọi ngày. Mùi thơm của nước hoa phảng phất quanh nhà.
Vũ nhìn trộm. Sao con Thúy đẹp thế! Lòng Vũ ta hớn hở, hơn cả những lần rình mò ăn cắp vải. Tim nó đập mạnh, hơn cả những lần theo rõi trái bóng lởn vởn trước thành tụi An Tập. Vũ đưa ngón tay lên mồm gậm nhấm. Tai nó, tự nhiên, nóng bừng. Vũ im lặng, mãi đến lúc mẹ con Thúy giục, nó mới dám nhúc nhích.
Trong khoảnh khắc, nó quên thằng Côn, quên đội bóng, quên tất cả. Nó tưởng, trên đời, chỉ có nó và con Thúy. Vũ thẹn thùng đứng dậy, cúi đầu, lí nhí chào bà Thụy.
Nhìn cặp đùi cháy nắng, đen thủi đen thui của mình, nó tự trách đã không mặc quần dài. Đúng là thằng tây đen. Ngu thật, dắt con Thúy đi chơi, mà diện quần xoóc, với áo sơ mi cụt tay. Mặt nó ngây ra, đến dễ ghét. Thế này, có trời mới bảo nó tinh nghịch.
Bà Thụy xoa đầu Vũ, gọi nó bằng con. Tiếng con, hôm nay, nghe êm ái quá. Vũ hết cả ngượng ngập. Nó nắm tay con Thúy, phăng phăng bước khỏi cửa.
Vũ định rủ Thúy cuốc bộ, để dành tiền ăn nhiều kem. Nó nghĩ, cuốc bộ mỏi chân lắm, lượn cầu Bo sẽ chán ngắt. Mà túi Vũ có mười đồng, tha hồ tiêu, cần gì cuốc bộ. Nó gọi xe tay. Hai đứa ngất nghểu ngồi, dáng điệu phong lưu, như người lớn.
Tới đầu cầu, việc đầu tiên của Vũ là bắt Thúy ngắm phong cảnh. Nắng chiều chỉ còn đọng lại từng mảnh, trên những lùm cây xa tắp, bên kia sông. Trời mát mẻ. Gió từ dưới sông thổi lên, làm phất phơ mái tóc hai đứa bé. Vũ kéo con Thúy, sát gần mình. Nó hỏi :
- Thúy có biết kia là đâu không?
- Không.
- Chỗ ấy Vũ bơi sang ăn cắp vải.
Thúy lè lưỡi :
- Eo ơi! Ăn cắp à?
Vũ trót lỡ lời, nó ngượng ngùng chống chế :
- Ăn cắp vải ấy mà!
- Ăn cắp vải cũng là ăn cắp. Cô giáo của Thúy dạy, thoạt đầu, ăn cắp quả trứng, sau, ăn cắp con bò. Ta không nên ăn cắp.
Vũ ta lúng túng, chưa biết ăn nói ra sao, thì hàng kem cốc gánh qua. Nó mời Thúy ăn kem. Thúy bằng lòng.
Rồi, kem lạnh làm nó quên chuyện ăn cắp vải. Vũ mừng thầm. Nó tự nhủ, sẽ chẳng bao giờ nói hớ hênh những chuyện nghịch ngợm của chúng nó cho con Thúy nghe nữa. Ăn xong hai cốc kem, Thúy gạ chuyện :
- Kem ngon nhỉ?
- Ừ.
- Bố Thúy, thỉnh thoảng, mang ở đâu về cái cốc nhỏ, như thế này.
Vũ buột miệng :
- Lấy trộm của người hàng kem đấy.
Thúy phá ra cười. Tưởng nó thích chí. Vũ kể tiếp :
- Vũ lấy cả chục cái rồi.
Thúy nhăn mặt :
- Eo ơi! Vũ ăn cắp ghê quá!
Vũ ngượng đỏ mặt. Nguồn vui của nó bị cắt đứt. Nó mắng nó ngu đần, dại dột. Ăn cắp hay hớm gì, mà cũng mang ra khoe. May mắn cho nó, là con Thúy hay bỏ dở chuyện. Trông thấy hàng nước dừa, Thúy bảo Vũ :
- Uống nước dừa, nhá!
Vũ tươi nét mặt :
- Ừ, nước dừa ngọt lịm.
Ăn uống gì, Vũ cũng móc tiền trả. Kẹo, bánh, ổi, nhãn... Đến khi không còn thức ăn thức uống nữa, Vũ ta hết chuyện nói. Nó toan thuật chuyện đánh thằng Huấn, đoạt bửu bối com pa. Vũ sợ con Thúy chê bai, nó nín thinh.
Hai đứa đã lượn được một vòng ven cầu Bo, đã ăn hết bốn đồng quà, và đã đếm đủ những chiếc thanh sắt cắm ngang hai bên lối đi, dành riêng cho khách bộ hành. Vũ nghĩ rằng, cứ đi mà không nói, buồn lắm.
Mà nói thì nói chuyện gì cho con Thúy thích bây giờ. Vũ liều hỏi :
- Thúy có đọc tiểu thuyết không?
Thúy ngây thơ :
- Tiểu thuyết là gì?
- Là sách của mấy ông Vũ Trọng Can, Tô Hoài ấy.
- Có.
- Thúy đố Vũ đi.
- Đố sao?
- Thúy đọc tên sách, Vũ sẽ nói tên tác giả.
- Tác giả là gì?
- Là người viết sách, là ông Tô Hoài.
Suy nghĩ giây lát, Thúy nói :
- Đố để làm gì?
Vũ cụt hứng. Nó chẳng biết để làm gì. Ở trường, nó và bọn thằng Côn hay đố nhau. Thằng Côn cậy mình đọc tiểu thuyết nhiều, thích đố. Vũ muốn được Thúy khen mình giỏi, nó gợi trò này. Vũ đành nói thật :
- Để xem ai giỏi.
Thúy bướng bỉnh :
- Giỏi để làm gì?
- Để được cuộc.
- Cuộc cái gì?
- Không cuộc cái gì cả, hễ ai được là giỏi.
Thúy giật mạnh tay Vũ :
- Thật hở?
- Thật.
- Được rồi, Thúy đố nhá!
- Ừ, đố đi.
- Con dế mèn của ai?
- Tô Hoài.
- Dế mèn phiêu lưu ký của ai?
- Cũng Tô hoài.
- Anh en thằng Việt của ai?
- Lê văn Trương.
- Người anh cả của ai?
- Cũng Lê văn Trương.
- Vết tay trên trần của ai?
- Phạm Cao Củng.
Thúy ức Vũ ghê lắm. Nó chỉ đọc mấy quyển, quyển nào Vũ cũng rõ vanh vách. Ước gì nó đọc trăm cuốn, Vũ ta hết khoe khoang. Thế là Vũ được cuộc. Vũ giỏi. Mũi thằng Vũ to bằng quả cà chua. Con Thúy không chịu lép, nó nói :
- Được rồi. Thúy đố Vũ tên các bài hát, nói hết mới giỏi.
Vũ hí hửng. Hỏi tên các bài hát, tức là gãi đúng chỗ ngứa của thằng Vũ. Thúy quên nó còn tài thổi kèn ác mô ni ca, đánh tông như chớp.Vũ nghĩ lại. Thôi, nên nhường con Thúy. Dì nó, khi bênh con Tú, con Mai, vẫn xin nó: Anh tha các em đi, chúng nó là con gái, nhường nhịn em đi, Vũ. Vũ bảo :
- Thúy hỏi đi.
- Chiều quê của ai?
Vũ chơi bài Chiều quê hàng trăm lần, nhắm mắt thổi cũng được, lạ gì bài Chiều quê chiều tha thiết êm đềm, của me xừ Hoàng Quý. Vũ giả vờ :
- Chịu.
Thúy reo to :
- Hòa nhá!
- Hòa sao?
- Vũ biết tên các ông tiểu thuyết, Thúy biết tên các ông nhạc, hai đứa cùng giỏi.
Vũ chiều Thúy :
- Ừ, hai chúng mình cùng giỏi...
Hai đứa lại dắt tay nhau, tha thẩn lượn. Lần này, đến giữa cầu, con Thúy ngước mắt nhắm cái vòng cao nhất, xây vắt giữa hai nhịp, như thể hình chiếc cầu vồng in hình trên nền mây trắng, sau mỗi trận mưa, bất thình lình. Nó tưởng tượng người nào leo lên đấy, sẽ là người có tội dưới âm phủ; và nơi Thúy và Vũ đang đứng, chắc có vô số chó ngao chờ
đợi, rình vồ. Như vừa nghĩ ra điều gì thích thú, Thúy giật mạnh tay mình khỏi tay Vũ. Nó không nói gì, mà chỉ tinh quái trỏ ngón tay lên chiếc cầu vồng tưởng tượng.
Vũ đoán ngay con Thúy thách thức nó. Máu hiệp sĩ réo sôi, nhất là khi hiệp sĩ Vũ muốn trổ tài với công chúa Thúy. Vũ đút hai tay vào hai túi quần xoóc, dạng chân ra một chút. Nó trừng trừng nhìn cái vồng cầu vô tri giác. Đoạn, Vũ tụt dép, rồi xăm xăm nhảy lên.
Thúy hồi hộp. Nó thấy cái vồng cầu cao quá. Vũ cũng thấy vậy. Trên đầu nó, trời xanh bao la. Dưới chân nó, sóng nước cuồn cuộn chảy. Vũ ta ngần ngại. Nó cầu mong con Thúy bảo nó đừng leo nữa. Chứ leo, nhỡ ngã què chân thì chết, thì phải chống nạng, thì lấy ai đưa con Thúy đi chơi.
Con Thúy chẳng thèm bảo nó nửa lời, khiến Vũ vừa tức, vừa hãi. Nhất định, nó leo cho con Thúy biết tay. Khối người đã leo vồng cầu này, có ai chết đâu. Có đứa còn can đảm, bông nhông xuống sông nữa thì sao. Vũ quả quyết leo, mặc dù chân nó bủn rủn. Hai lòng bàn chân nó buồn buồn, nhột nhột, như có mấy trăm con kiến bò đi, bò lại.
Nó cúi nhìn con Thúy. Con Thúy tai ác vẫn nín thinh. Nó nghĩ rằng, cứ leo đi, nếu bị ngã, con Thúy sẽ thương hại nó, sẽ mang quà tới nhà thương thăm nó.
Quên nguy hiểm, Vũ bình tĩnh bước. Được một đoạn ngắn, khi vồng cầu dốc dần, chân nó càng bủn rủn. Ngực nó đập như trống vỡ đê. Bây giờ, dễ có đến hàng triệu con kiến bò dưới lòng bàn chân nó.
Vũ muốn khóc. Nó sắp chết rồi. Nó chết, hẳn tụi An Tập thích lắm đây. Nó chết, thuở nào mới gặp thằng Côn, thằng Vọng; thuở nào mới dạy thằng Khoa chơi kiếm hiệp được. Chết hãi hùng làm sao! Thần chết là lão già gầy cà khẳng cà kheo, cao bảy, tám thước, mặt mày tối tăm, như đêm ba mươi tết, không le lói chút ánh sáng, và chỉ hắt vào lòng thằng Vũ mưa buốt, giá lạnh. Đôi tay của thần chết, lạnh hơn đá uống nước chanh, lại cầm lưỡi hái sắc hơn dao chặt thịt của lão Tầu già bán thịt quay. Hơi thở của thần chết thối hơn nước cống. Chao ôi, lão ta mà đến gần, thằng Vũ hoảng sợ cũng đủ chết, chứ không cần đợi lão ta chặt cổ.
Chết hãi hùng làm sao! Vũ muốn sống, để nghịch hết quãng đời thơ ấu của nó, với bạn bè nó, để lớn lên dắt tay cô con gái tha thẩn trên cầu Bo. Nghĩ vậy, nó nhìn con Thúy bằng đôi mắt cầu khẩn. Cái con bé đanh ác, như con mẹ phù thủy rừng rậm châu Phi này, toét miệng cười chế nhạo. Vũ đau lòng quá. Nó thề, sẽ leo qua vồng cầu.
Leo xong, nó sẽ về một mình, bỏ mặc con Thúy trên cầu Bo. Nó sẽ tìm đứa con gái khác hiền lành, đẹp đẽ, cho con Thúy tiếc nó. Phải bỏ rơi con Thúy. Thế rồi, nó hăng hái bước mạnh. Thêm được đoạn nữa, thêm được đoạn nữa, nó lên tới đỉnh vồng cầu. Vũ khoái chí nhìn xuống. Nó thấy dòng sông Trà Lý bé nhỏ, cơ hồ con đường hẹp. Nó thấy con Thúy
nhỏ hơn con nhặng.
Vũ vốn sợ nhặng. Nó cuống cuồng, chân đứng không vững. Vũ sắp ngã. Nó hét lên. Thôi, chết rồi. Thằng Vũ chết rồi. ối trời ơi, con nhà Vũ chết rồi. Vũ rơi tõm xuống sông. Nó chết thật.
Vũ chết thật trong giấc mơ.

11
Thấy Vũ la hét lớn, dì nó lay tỉnh dậy. Vũ mở bừng mắt, ngơ ngác nhìn chung quanh. Thì ra, lúc này, mới có hai giờ trưa, và con Thúy vẫn là con Thúy, chưa biến thành con nhặng, chưa biến thành mụ phù thủy rừng rậm Phi châu. Vũ mỉm cười. Dì nó hỏi nằm mê thấy ma hay sao, mà kêu ầm lên. Vũ chối dài. Nó có mê gì đâu, mơ đấy chứ.
Nhớ được phần đầu giấc chiêm bao, Vũ sung sướng quá. Ngó trên bàn, có hai tấm giấy năm đồng. Vũ cuỗm liền, đút vào túi. Rửa mặt xong, trước khi đi đến nhà con Thúy, Vũ cẩn thận xem mục lục các tiểu thuyết đã xuất bản, mà người ta quảng cáo ở tấm bìa sau cuốn Mưu cóc tía.
Vũ bước tung tăng. Miệng huýt sáo phởn phơ lắm. Nó đem theo cả kèn ác mô ni ca. Trong cơn mơ, con Thúy không nhắc chuyện bà cả Hồng, chắc nó đã quên rồi. Vậy thì, nghĩ ngợi chi nữa. Vũ cắm đầu chạy một mạch. Đến nhà con Thúy, sự hăng hái của nó bỗng co ngắn, như thể sợi dây cao su buông chùng. Nó hồi hộp. Lại hồi hộp hơn cả mọi lần.
Vũ phân vân mãi mới dám đẩy cửa bước vào. Người đầu tiên nó gặp, là con Thúy. Không phải con Thúy trong giấc mơ. Con Thúy mới gội đầu, bợp cái lược, trông gớm ghiếc. Thúy mặc quần dài đen, áo cánh ngắn. Vũ ta thất vọng. Tuy nhiên, một cảm giác lạ đã len lỏi vào tâm hồn nó. Nó nhìn con Thúy. Con Thúy nhìn nó. Thế là đủ làm Vũ xấu hổ, nói chẳng nên lời. Thúy hỏi trống không :
- Đến làm gì đấy?
Vũ lắp bắp :
- Đến xem con chim khuyên còn sống không?
Thúy mỉa mai :
- Chim chết rồi, cái con chim tử tiệt, gần chết mới đen cho người ta!
Vũ phân trần :
- Tại Vũ bỏ nó trong túi, nó ngạt đấy.
Thúy bỏ chuyện chim khuyên, con bé truy Vũ :
- Hôm nọ, vồ tiền của bác cả Hồng, hở?
Vũ chối lia lịa :
- Vồ bao giờ mà vồ, ai bảo Vũ vồ tiền?
- Bác cả Hồng chứ ai!
- Bác ấy nói điêu.
- Thế tại sao, hôm nọ, gặp bác ấy lại co cẳng chạy?
Vũ cần phải trổ tài phiệu mới được. Con Thúy giận nó hai ba chuyện một lượt, phải phiệu gấp đôi, gấp ba. Vũ liến thoắng :
- Thúy có nhớ Thúy hẹn Vũ đi xem bác cả Hồng lên đồng không?
- Có.
- Sao hôm ấy Thúy không đi?
- Mẹ Thúy bị cảm.
- Thảo nào, Thúy nghi ngờ Vũ vồ tiền. Để Vũ kể từ đầu chí cuối cho Thúy nghe. Vũ đến chờ Thúy. Mãi, Thúy chả đến. Bọn thằng Nghi, cầu Kiến Xương, tập trận hỏa thiêu chùa Hồng Liên, ở đền Mẫu. Chúng nó chơi kiếm hiệp ấy mà. Chúng nó đốt vàng mã, rồi kêu cháy. Đám lên đồng bỏ chạy tán loạn. Thằng chúa đảng Nghi xô bác cả Hồng ngã. Nó cuỗm hết tiền lộc. Vũ nắm tay nó giằng tiền. Nó xô Vũ đè lên bác cả. Bác cả tưởng Vũ vồ tiền, mắng Vũ. Vũ cáu quá, lấy chùm vải trả thù. Thúy có tin Vũ không?
- Không tin.
Thúy trả lời hai tiếng cộc lốc, rồi bỏ xuống nhà dưới. Vũ sợ Thúy không ra nữa, gọi giật lại :
- Thúy ơi!
Thúy bĩu môi :
- Đừng gọi tên người ta.
Vũ đoán con Thúy vừa cáu ai, chưa kịp nguôi, nên mới gây sự với nó. Chính nó thường hay mắc bệnh này, thành thử cu cậu bớt tức. Vũ không hiểu tại sao, hôm nay, con Thúy giở chứng xưng người ta với nó :
- Thúy giận, hở?
Thúy ngúng nguẩy :
- Người ta không thèm giận đứa vồ tiền thánh.
Vũ câm họng. Con Thúy mắng nó đúng ghê. Nó tiếc không có cách nào làm con bé bớt giận. Vũ muốn về. Về đi tắm, đi ăn cắp vải, đi đánh nhau, để quên hình ảnh con Thúy đanh đá. Con Thúy đã ngồi xuống ghế, hất hàm hỏi Vũ, vẫn hỏi trống không :
- Thật không vồ tiền, hở?
- Thật.
- Thề đi.
- Thề gì?
- Đứa nào vồ tiền, thánh vật chết, nhá!
Vũ coi thánh như mỡ tép, nó đã từng bảo thằng Vọng rằng, thánh-lên-đồng, sợ cái củ thìu biu cơ mà. Vũ thề to :
- Ừ, đứa nào vồ tiền, thì thánh vật chết tươi đành đạch. Thúy gọi tên Vũ đi...
- Gọi làm gì?
- Gọi...
Vũ chẳng biết gọi làm gì. Trời ơi, nó dốt ghê, dốt gớm. Trêu thằng bếp nhà ông Đốc, ngậm dao bơi qua sông, đánh thằng Huấn, thằng Hách, Vũ coi là trò chơi. Vậy mà, nói chuyện với con Thúy, nó cảm thấy khó khăn tệ, khó khăn hơn cả ông lão đẩy cái xe lợn lên dốc, trong cuốn Quốc văn giáo khoa thư, lớp dự bị. Nó tìm mãi, kiếm mãi chữ nghĩa, lời lẽ. Rốt cục, cứ bị con Thúy đưa vào ngõ bí. Vũ ta còn mỗi nước đánh trống lảng. Nó nói vu vơ :
- Trời nắng nhỉ?
Liếc nhìn Thúy, khuôn mặt xinh xắn kia đã dịu vẻ đanh đá. Và, mắt con Thúy đẹp thật. Vũ hỏi :
- Thúy còn giận không?
- Giận ai?
- Thế, lúc nãy... À quên, Thúy còn giận Vũ không?
Thúy dằn giọng :
- Đã bảo đừng...
Con bé định nói Đã bảo đừng gọi tên người ta, song, nó có thể đọc rõ nỗi buồn của thằng Vũ, sau khi nghe hết câu, nên nó bỏ lửng. Con gái chúa khôn. Nhất là cái con ranh Thúy. Vũ cuống quýt :
- Đừng gì?
- Đừng hỏi chuyện giận nữa.
Vũ thở phào, nhẹ nhõm cả người. Nó nói :
- Thế, hỏi chuyện gì?
- Chuyện gì thì chuyện.
Nghĩ một lát, nuốt nước bọt một cái, Vũ ta gọi khẽ :
- Này!
- Gì?
- Trời nắng nhỉ?
Thúy gắt :
- Nói mãi trời nắng.
Vũ đưa tay gãi gáy, nuốt nước bọt hai, ba cái. Đoạn, nó nhìn ngang nhìn dọc, nhìn trên nhìn dưới, nhìn lung tung. Nhìn đến lúc hết đồ vật để nhìn, nó ấp úng :
- Thế, nói chuyện gì?
- Chuyện gì thì chuyện.
- À, con chim chết lâu chưa?
- Chết rã xác rồi.
- Thúy chôn nó, hay nướng cho mèo?
- Vất vào thùng rác.
Lại nghĩ ngợi. Vũ ta cố can đảm, vào chuyện chính. Nó nắm hai tay thật chặt, Cắn môi cho đủ đau. Cấu thêm đùi năm cái. Vũ rụt rè nói một câu ngớ ngẩn :
- Thúy có thích không?
Thúy trợn mắt :
- Thích cái gì?
- Thích... thích... ăn kem?
- Không thích.
- Thúy có thích hóng mát ở cầu Bo không?
- Không thích.
- Thúy có thích uống nước dừa không?
- Không thích.
Thôi, hy vọng của Vũ vỡ tan tành. Cái gì con Thúy cũng không thích. Vũ hồi hộp, hỏi câu cuối cùng :
- Thúy có thích đố tên sách không?
Vũ run run, chờ câu trả lời.
- Thích.
- Thật hở?
- Ừ, ai hỏi?
- Vũ.
- Thúy cơ.
Vũ được Thúy xưng tên sướng rên. Nó gật đầu lia lịa. Máu nó bốc mạnh, quên hết thẹn thùng. Thúy giao hẹn :
- Thúy được cuộc, Vũ mất cái gì?
- Mất cái lồng bẫy, với bốn chú chim khuyên.
- Sao hôm nọ, Vũ bảo cho Thúy cái lồng.
Vũ láu cá :
- Hôm nay khác, hôm nọ khác. Được cuộc thích hơn được cho chứ...
Thúy gật đầu :
- Ừ nhỉ! Nhỡ Thúy thua thì sao?
- Thì phải đi ăn kem với Vũ, ở cầu Bo.
Vũ chắc mẩm thắng cuộc, giục rối rít :
- Hỏi đi, nhanh lên!
Thúy cười :
- Vũ nghe kỹ kẻo lại quên.
- Quên thế nào được.
- Hạt ngọc của ai?
- Thạch Lam.
- Ông đồ bể của ai?
- Khái Hưng.
- Đứa bé mồ côi bán báo của ai?
Vũ hãnh diện đáp :
- Lê văn Trương.
Thúy cười khanh khách :
- Sai rồi, làm gì có cuốn này, người ta bịa ra. Thề mà cũng đòi đố. Thua cuộc, nhá! Mất cái lồng bẫy với bốn con chim khuyên, nhá! Vũ chỉ giỏi vồ tiền của bác cả Hồng thôi...
Vũ xấu hổ, lẳng lặng bỏ về. Con Thúy đểu thật. Vũ chửi thầm bà cả Hồng. Cái con mụ đồng bóng này chuyên môn mách lẻo. Vũ chẳng thèm chào Thúy. Nó đi tìm bọn thằng Côn, rủ nhau ăn tiêu hết mười đồng bạc. Bọn nhãi con tha thẩn cả buổi chiều trên cầu Bo, chén quà no bụng, còn thừa tiền cho ăn mày.
Vũ buồn bã vô chừng. Nó giấu giếm bạn bè giấc mơ của nó. Nó ghét con Thúy thậm tệ. Vũ thề sẽ ghét tất cả con gái trên đời này. Thì ra mộng mơ không bao giờ giống sự thực cả. Vũ ước ao mộng mơ chỉ cần giống sự thực một tí thôi. Để, đêm may, nó nằm mộng, thấy con Thúy biến thành con nhặng.

12
Vũ, Vũ!
- ...
- Vũ
- ...
- Vũ! Tại sao dì gọi ba bốn lần, mà con cứ giả vờ ngủ thế?
- ...
- Dậy dì hỏi cái này. Chết đòn bây giờ, Vũ!
Vũ vẫn nằm im. Nó quay mặt sát tường. Mặc kệ dì dọa nạt. Vũ biết thừa dì nó dọa, chứ chẳng đánh, nhất là những hôm cha Vũ đi vắng, dì nó lại càng không dám đánh nó, sợ mang tiếng dì ghẻ ác nghiệt. Vũ được thể, ăn vạ.
Tối qua, bà Thụy với bà cả Hồng đến nhà nó. Bà Thụy xui dì Vũ đánh nó mấy roi, kẻo nó nhờn. Còn bà cả Hồng thù dai, khăng khăng bắt nọc Vũ ra, lấy roi mây quất vãi máu, rồi lấy muối sát, cho Vũ chừa tội nghịch trước cửa thánh. Vũ ta mò mẫm về, nghe tiếng con mẹ đồng bóng, vội vàng cút mất. Nó tới nhà thằng Côn ngủ nhờ, sáng hôm sau vù sớm, lẻn vào giường, vờ mê man.
- Vũ!
- ...
- Thằng ranh con này giỏi thật. Khoa, tìm cho mẹ cái phất trần.
Khoa lắc đầu :
- Con chịu thôi.
Mẹ nó mắng :
- Mày a dua thằng Vũ, hở?
Khoa khôn ngoan lẻn tránh. Dì Vũ đi lục lạo một lúc. Vớ được cái sào màn, bà thúc nhẹ trúng lưng Vũ, giục nó :
- Mày đã chịu dậy chưa, thằng gan lì?
Tưởng anh sắp bị đòn đau, Khoa bù lu bù loa :
- Mẹ đừng đánh chân anh Vũ, đánh chân anh Vũ đau, anh Vũ hết đá ban, mẹ ơi!
Mẹ nó cáu tiết :
- Tao đánh què chân mày nữa, thằng ôn con kia ạ, xéo đi!
Và, bà nện thằng Vũ một cái khe khẽ vào mông, khiến Vũ ta bắt đầu nhúc nhích.
- Đồ hư thân mất nết, dám xô ngã bà cả Hồng, vồ tiền thánh, chia nhau ăn quà. Thánh vật mày chết, Vũ ạ! Mày lấy mười đồng làm gì? À, chiều mày quá, mày nhờn hở, Vũ! Thánh vật mày chết tươi, dám hỗn với thánh!
Vũ toét miệng cười.
- Mày còn cười à? Để tao xem mày cười thế nào! Nằm sấp xuống, thằng ôn con!
Bà buông cái sào, cuộn màn lên, rồi nắm chặt cái sào, phết Vũ liền hai ba cái.
Vũ hết cười. Mắt nó mở trừng trừng kinh ngạc. Dì nó đánh đau thật. Lần đầu tiên dì nó đánh đau thế. Nó là Mẫn Tử Khiên rồi. Cha Mẫn Tử Khiên đi vắng, dì ghẻ bắt nạt Mẫn Tử Khiên. Vũ cảm thấy cô độc và đau khổ quá. Nó không kêu la, nước mắt nó ứa ra. Tủi thân. Những giọt nước mắt của Vũ làm tay dì nó chùn lại. Dì nó hối hận.
- Vũ!
...
- Vũ!
...
- Vũ
...
- Thôi, dì tha cho, lần sau đừng nghịch dại dột, thánh vật chết. Dậy rửa mặt, rồi dì cho tiền xem xi nê.
Vũ úp mặt xuống gối, khóc rưng rức. Dỗ ngon, dỗ ngọt chán, thằng Vũ cứ câm họng, dì nó bỏ đi chợ. Con nhà Khoa chẩu biệt tích. Nằm một mình, Vũ ta chửi con mẹ đồng bóng thậm tệ. Nó thù bà cả Hồng, thù luôn con Thúy. Tại bà cả Hồng, con Thúy mới dở chứng trêu tức nó, gọi nó là đứa vồ tiền. Tại bà cả Hồng, mà bà Thụy vốn yêu thương nó, mới xui dì nó đánh nó. Nai mốt, cha nó sẽ mắng nó nữa. Vũ tức ghê. Phải tỏ cho mọi người, nhất là cái con nhặng Thúy, biết nó oan uổng. Vũ nghĩ ngợi liên miên. Nó sắp đặt trong đầu óc một cuộc trả thù xứng đáng.
Chỉ có cách khăn gói quả mướp bỏ nhà ra đi. Vũ sẽ xuống cống Đậu, ba hoa rằng dì nó ghét nó, chắc bác lang Tạng sẽ chứa chấp nó. Mai chủ nhật, ngày kia lễ, được nghỉ hai ngày, tội gì chả trốn nhà, làm kẻ giang hồ. Nó chơi cái trò này, nhất định, mọi người phải khóc, con Thúy sẽ khóc hết nước mắt.
Nói là làm ngay. Vũ ta vùng dậy. Mắt nó đã ráo hoảnh. Con nhà Vũ hiện nguyên hình một hiệp sĩ đang bày mưu kế, cứu khốn phò nguy. Nó bước tới bàn, lục cặp sách, xé tờ giấy trắng, viết để lại cho dì nó những dòng chữ sặc mùi tiểu thuyết kiếm hiệp sau đây:
Thưa dì,
Dì đừng tìm con vô ích. Con đã tung cánh bay đến một chân trời vô định, đáp theo tiếng gọi của sông hồ. Con không bao giờ trở về nữa vì dì và bác Thụy đã bảo con vồ tiền của “con mẹ đồng bóng”. Dì còn bảo con ăn cắp mười đồng của dì. Thưa dì, có hiệp sĩ nào đi vồ tiền đâu. Con có vồ tiền của “con mẹ đồng bóng” thì con cũng cho ăn mày hoặc đội bóng của con ăn phở cho sướng mồm, chứ con có đâu ăn quà một mình con. Thôi, con không nói nữa, cánh buồm máu đã trương, lưỡi kiếm diệt trừ tham quan ô lại đã rút khỏi bao. Con đi đây dì ạ! Con cười can đảm chứ không thèm khóc. Ha ha ha! Trời rộng, sông dài, bể mênh mông, hiệp sĩ vùng vẫy cho thỏa chí tang bồng.
Lạy dì
Con
Vũ tức Triều Dương Hiệp tức Dã Tượng
Tái bút: Dì đừng đánh em Khoa dì nhá! Em Khoa, em mang cái lồng bẫy chim và bốn chú vành khuyên cho chị Thúy. Anh thua cuộc đau quá em ạ!

Viết xong thư, Vũ không quên vẽ hình người bị treo cổ, và ký ngòng ngoèo mấy nét đè lên. Nó lấy con dao nhọn, phóng chặt, ghim bức thư trên bàn cho có vẻ rùng rợn. Đoạn, nó mở tủ, vơ vội bộ quần áo, nhét vào bị cói. Thế là hiệp sĩ Vũ với cái kén ác mô ni ca lên đường.
Nó chưa lên đường gió bụi. Vũ chạy lại nhà thằng Côn, báo cho thằng bạn của nó biết. Côn bỗng lây chất giang hồ vặt, nó ca ngợi thằng Vũ :
- Mày cừ quá, cho tao đi với.
Vũ phổng mũi đắc chí :
- Mày không đi được.
- Không có mày, ở nhà tao buồn lắm, cho tao đi giang hồ với, nhá!
- Mày đi, tao khó tuých dì tao.
- Tuých cái gì?
- Tao nói, mày đừng hé răng với thằng nào, nhé!
- Ừ.
Vũ ghé tai Côn, thầm thì một lúc. Côn khoái chí :
- Tao đóng vai Kỳ Phát hở, mày?
- Ừ.
Vũ từ giã bạn :
- Thôi, tao đi, nhớ nhá!
Côn níu Vũ :
- Mang vài cái bánh gai đi mà chén. Cái nhà ăn canh bánh đa mọi bận hở, Vũ?
- Ừ, tao đi đây...
Vũ nháy Côn. Hai đứa rúc rích cười. Bây giờ, trong bị của hiệp sĩ Vũ có thêm bốn cái bánh gai.
Vũ co chân chạy một mạch ra đê. Nó leo lên, đi xuôi về cống Đậu. Dòng Trà Lý êm êm không gợn sóng. Chiếc thuyền nhỏ thuận gió, ngại chèo, căng manh chiếu thay buồm, trôi từ từ. Cô gái trên thuyền ngân nga điệu ru, thương nhớ xa xôi. Bên kia sông, nắng trải xuống bờ tre, hàng chuối xanh mướt, tươi ngon. Cảnh tượng tĩnh mịch và nên thơ quá.
Tâm hồn thằng Vũ nao nao...

13
Vũ bỏ đi chưa đầy hai tiếng đồng hồ, cha nó ở Hà Nội về. Cha Vũ về chuyến xe khuya. Dì Vũ đinh ninh rằng, Vũ giận dì nó, chuồn lại nhà mấy đứa bạn chơi, rồi trưa về ăn cơm. Quá trưa, thằng Vũ vẫn biệt dạng. Dì nó bắt đầu chột dạ. Cha Vũ hỏi rối rít, và giục đầy tớ tìm Vũ. Đầy tớ đi khắp chỗ, không gặp Vũ. Mãi lúc thằng Khoa rút con dao, đem bức thư run rẩy đưa cho cha nó, cha nó đọc xong, quẳng cho dì nó đọc. dì thằng Vũ mới vỡ lẽ, nó đã trốn nhà, đi giang hồ.
Cha Vũ, thoạt tiên, cằn nhằn dì nó. Dần dần, thương Vũ, ông to tiếng với vợ. Ông kể lể lôi thôi, những là tại công việc buôn bán, để con vất vưởng; tại vợ ông hất hủi đứa con riêng của ông, nó tủi phận; tại nghe con mẹ đồng bóng xúi bảy, đánh đập con ông, nó khổ sở; tại tiếc con ông mười đồng, rỉa rói, nó xấu hổ.
Dì Vũ im lặng không cãi. Cha nó, được thể, mắng dì nó nặng lời hơn, khiến dì nó phân trần này nọ. Thế là hai vợ chồng cãi nhau. Đàn con chờ quà bố, bị thiệt. Cơm nước dọn sẵn sàng, không ai thiết ăn uống. Dì Vũ ngồi khóc ấm ức.
Trách vợ chán chê, cha Vũ mới sực nhớ ra điều quan trọng, là kiếm ngay thằng Vũ. Dì nó cũng nghĩ như vậy. Hai ông bà cùng đứa đầy tớ tất tưởi, một mặt đến các nhà quen thuộc, một mặt đi hỏi thăm xem có ai biết Vũ đi ngả nào.
Cha Vũ tới nhà thằng Côn. Mẹ nó bảo nó ăn cơm xong, chưa kịp xỉa răng uống nước, đã cút mất. Ngỡ rằng con mình rủ thằng Côn đi chơi, như mọi bận, cha Vũ về nhà đợi. Dì Vũ chẳng nhận được tin tức gì. Hai người lại tiếp tục trách móc nhau.
Trong khi ấy, thằng Côn chui vào rạp Odéon xem Tác Dăng đâm hổ. Đúng ba giờ hết phim, Côn mò mẫm lại nhà Vũ. Gặp cha nó, mặt Côn tái mét, tay chân run rẩy. Cha Vũ hỏi nó thằng Vũ đâu. Côn nhớ những lời thằng Vũ dặn nó tuých dì thằng Vũ. Cha thằng Vũ về, không lẽ tuých luôn cha nó. Mà, không tuých, con nhà Vũ sẽ giận chết. Có thể, nó không thèm chơi với thằng Côn nữa. Côn vẫn coi thằng Vũ là chúa đảng. Thiếu thằng Vũ, đời hết vui nhộn. Nên, cuối cùng, Côn đành tuých cha Vũ. Nó nói, thằng Vũ theo thằng Coóng sang Nam Định, làm nghề hầu sáng. Theo đúng lời Vũ dặn. Côn bảo chính mắt nó trông thấy thằng Vũ lên xe Con Voi, của ông Lê văn Định. Nó tả thằng Vũ đeo cái bị, mắt đỏ ngầu, mồm méo xệch, tang thương lắm.
Côn vừa nói dối, vừa run, cha thằng Vũ tưởng thật. Ông hối hả thay quần áo, chạy nhanh ra bến xe, sang Nam Định tìm Vũ. Dì thằng Vũ khóc thành tiếng. Con nhà Khoa mặt ỉu như bánh đa nhúng nước. Côn sợ đứng lâu, dì thằng Vũ đổ tội nó, để thằng Vũ đi không mách dì nó, nên Côn ta từ từ rút êm.
Ra đường, nó mới hoàn hồn. Và, Côn nghĩ rằng, con nhà Vũ nghe chuyện này, chắc thế nào cũng khen tuyệt cú mèo.

14
Ông lang Tặng lấy cô thằng Vũ. Cô Vũ là chị ruột cha nó. Vũ gọi ông Tặng bằng bác. Bác Vũ có ba đứa con, đứa lớn nhất, mới lên năm. Bọn thằng Vũ, hễ hôm nào kéo nhau xuống cống Đậu phá phách, thường ghé thăm bác nó, và được cô nó cho ăn canh bánh đa, nấu với cua đồng. Canh bánh đa, nấu với cua đồng, ngon ba chê. Gạch cua đóng từng mảng trên bát canh, giống những hòn đảo nhỏ vẽ trên bản đồ. Nước mầu phi hành mỡ, vàng ngậy, thơm phức, quyến rũ. Chỉ tưởng tượng, đã thèm nhỏ rãi rồi, chứ đừng nói chuyện trông thấy người ta bê bát canh, và vào mồm, húp sùm sụp.
Vũ yên chí thế nào nó cũng được tiếp đón niềm nở, ăn canh bánh đa thỏa thê. Tung tăng cái bị cói, Vũ rảo bước, mong chóng tới nơi. Vũ xuống cái dốc đê thoai thoải, quen thuộc. Nhà bác nó ở ngay chân đê, bên cạnh cái cống lớn. Cống này thông sang sông Trà Lý. Đến mùa cầy cấy, người ta mở cửa cống, để nước theo con sông đào ùa vào đồng ruộng. Chỗ bác nó lập nghiệp là làng Đậu, nên cái cống đó mang luôn tên làng: cống Đậu.
Vũ rất ngạc nhiên. Hiệu thuốc của bác nó đóng cửa im ỉm. Nguy to, bác nó đi vắng, hiệp sĩ Vũ đành khăn gói quả mướp hồi hương mất. Hiệp sĩ hồi hương với cái bị cói, ê mặt chết. Bọn lâu la, phó đảng Côn sẽ coi nó ra cái thớ gì nữa. Vũ không thể lầm lũi về một cách hèn nhát được. Dì nó phải xuống đây vuốt ve nó, nịnh nọt nó, giúi vào túi nó mười đồng, nó mới về. Phải về vinh quang, Vũ nghĩ thế. Nó lẩm nhẩm lạy trời bác Tặng có nhà, và hăng hái gõ cửa.
Bác nó đẩy tấm liếp, ló đầu ra. Vũ mừng quýnh. Nó lách mình, chui tọt vào nhà. Chưa kịp ném cái bị xuống, Vũ đã méo xệch cái mồm, cố tình tủi thân, cho nước mắt ứa ra vài giọt, rồi tả oán, khiến bác nó mủi lòng. Nó nhìn quanh quẩn. Trên cái sập gỗ, ba đứa nhãi mình trần trùng trục, đang nằm ngửa tênh hênh. Rãi nhớt đã khô từ lúc nào, đóng vệt trắng hai bên mép chúng nó. Mấy con muỗi ngày đốt no căng bụng, vỗ cánh không nổi, bám chặt, ăn vạ thân thể mấy đứa bé. Vũ ngán ngẩm. Sống với bọn chết dấp này, hai ngày, chắc nó xỉu mất.
Bác Vũ bảo cô nó bị đau mắt nặng mấy hôm rày, không nhìn thấy gì. Cơm nước không ai thổi nấu, ăn uống thất thường Mấy con lợn đói, kêu eng éc điếc cả tai. Vũ thất vọng. Nó an ủi rằng nó giang hồ có hai ngày, hai ngày thôi, thể nào dì nó cũng xuống đây, đón nó về. Hiệp sĩ Vũ cắn răng chịu đựng vậy.
Vũ vào buồng thăm cô nó. Cô nó che khăn kín mít, Vũ khỏi méo xệch cái mồm, và trổ tài nhỏ nước mắt cá sấu. Nó chỉ cần kể lể câu chuyện thật bi thảm. Cô nó nghe xong, kéo nó sát gần, nắm tay nó, rờ rờ đầu giường một lúc, rồi an ủi nó một đồng bạc. Vũ đút vội vào túi quần. Cô nó hỏi :
- Dì cháu đánh cháu đau lắm, hở?
- Vâng, dì cháu đánh cháu nổi lươn ở mông. Cháu cho cô xem, nhé!
- Thôi, cô không nhìn thấy.
Vũ cười, nó bịa thêm :
- Dì cháu đuổi cháu đi, dì cháu bảo giỏi đi đâu mà sống thì đi!
Cô nó dễ tin. Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ. Trẻ con không biết nói dối. Thằng Vũ biết nói dối, nối dối hết mọi người. Nói dối là thói xấu. Hồi học lớp ba, thầy giáo cho tập đọc bài ngụ ngôn, trong cuốn Luân lý giáo khoa thư. Bài này kể chuyện thằng nhãi thích nói dối. Cả làng đi làm lụng ngoài đồng, nó ra hô ầm lên cháy nhà, khiến mọi người vất cả cầy cuốc, tất tả chạy về. Đến nơi, chẳng thấy cháy thiêu gì hết. Thằng nhãi đánh lừa được người lớn, hả hê cười. ít lâu sau, nhà nó cháy, nó ra đồng tri hô, người lớn sợ mắc mưu nó, không ai thèm về. Kết quả, vì thích nói dối, nhà nó cháy ra tro. Vũ không thích nói dối để cười. Nó thích nói dối để người ta thương nó. Nó nói dối cô nó, để cô nó thương nó, nói dối dì nó, để dì nó thương nó, nói dối bà Thụy, để bà Thụy thương nó, nó nói dối bọn lâu la, để bọn lâu la phục nó. Xấu gì mà xấu. Vũ lý luận vậy. Và, nó cứ tiếp tục nói dối. Cô Vũ bảo :
- Dì cháu đuổi đi, cháu ở với cô. Cháu có bằng lòng ở với cô không?
Vũ khe khẽ đáp :
- Có ạ!
- À, tại sao dì cháu đánh đuổi cháu?
- Tại cháu nhận cháu là Mẫn Tử Khiên.
- Mẫn Tử Khiên là làm sao?
- Mẫn Tử Khiên rất dường hiếu nghĩa, Xót nhà huyên quạnh quẽ từ lâu, cô ạ! Mẫn Tử Khiên không ăn cắp, dì ông ta cứ bảo ông ta ăn cắp. Ông ta tức quá, bỏ nhà, đi như cháu ấy.
Cô thằng Vũ chẳng hiểu mô tê gì, gật gù cái đầu, tỏ ý thương cảm. Vũ xin phép cô nó, ra nhà ngoài. Bác nó giục nó treo bị, cởi áo, cho đỡ nực. Vũ răm rắp tuân lời. Bác nó hỏi :
- Cháu có biết thổi cơm không?
Vũ tần ngần một lúc. Biết nó trả lời không, bác nó khuyến khích :
- Thổi cơm dễ lắm, bác dạy một lần, là cháu thổi được. Con trai tập thổi cơm cho quen đi, chứ!
Nó đờ người, tựa hiệp sĩ hạng bét bị vây kín bốn phía. Bác nó nói tiếp :
- Rồi, bác dạy cháu nấu cháo, sắc thuốc, nấu cám lợn. Cháu giúp bác, vài hôm thôi. Cô cháu khỏi bệnh, cháu sẽ ngồi chơi. Ở với bác sướng như tiên. Về nhà, đì cháu đánh chết.
Bác thằng Vũ không để cho nó mở mồm. Ông với tay lên tủ, bưng cái liễn sứ, mở nắp, nhón năm quả táo tầu, cho Vũ. Vũ chìa tay nhận, mắt dán chặt vào cái liễn táo tầu, xem đếm từ ngoài vào trong, nó đứng thứ mấy.
Ngay trưa hôm ấy, Bác Vũ dạy Vũ bài học thổi cơm. Trời mùa hè, ngồi trong bếp, nóng chảy toát mồ hôi. Một tay cầm que đun, một tay trải rơm cho đều, Vũ loay hoay làm bồi. Nó thấy nó giống thằng nhỏ ở nhà nó quá.
Thổi cơm chẳng khó khăn gì. Chúng nó đi cắm trại, vẫn thổi cơm lấy mà ăn. Vũ còn biết rán đậu, kho thịt, tráng trứng, nấu canh cà chua nữa. Đấy là công việc hứng thú, vui vẻ. Đằng này, bác nó sai nó thổi cơm. Vũ có cảm tưởng như mình xuống đây hầu hạ gia đình bác. Giang hồ kiểu này là giang hồ... bếp, không thấy trời rộng, sông dài, bể mênh mông, cánh buồm máu đâu, mà chỉ thấy ông đồ rau tròn trùng trục, câm như... đất sét. Chả lẽ lưỡi kiếm diệt trừ tham quan ô lại lại đem chọc tiết mấy con lợn đói? Hiệp sĩ Vũ, tức Triều Dương Hiệp, tức Dã Tượng, đành... nuốt nước bọt tiêu sầu.
Bác nó chỉ dặn qua loa cách thức ghế cơm, vùi cơm, rồi ra quán vác về cái đuôi lợn luộc sẵn, lởm chởm lông đen, béo phát ớn, Hiệp sĩ Vũ treo kiếm, lau bát đĩa, rót nước mắm. Bác nó ngồi thái thịt, thỉnh thoảng nhón một miếng đút vào mồm, nhai ngấu nghiến. Vũ ta lắc đầu.
Mâm cơm dọn xong, Bác Vũ đánh thức ba đứa con dậy. Không khác gì mấy con lợn đói, không cần rửa mặt, súc miệng, ba đứa nhãi xông vào ăn hùng hục. Đũa của chúng nó chĩa xuống đĩa thịt mỡ, cơ hồ kiếm của các hiệp sĩ chụm lại bêu đầu bạo chúa.
Vũ nhìn đĩa thịt. Mó muốn mửa. Vũ cố ăn nhạt hai bát để cầm cự. Bác nó khen nó thổi cơm dẻo, ngon. Ba đứa nhãi tranh nhau gặm cái đuôi. Chúng nó giành giật, làm bắn tung nước mắm vào người Vũ.
Hiệp sĩ Vũ thở dài. Than ôi, đã tung cánh bay đến chân trời vô định, Vũ có ngờ đâu, giờ phút này, dì nó đang lo cuống cuồng, cha ngồi trên chuyến xe Con Voi, máy thở phò phò, trên con đường sang Nam Định.

15
Đến chiều, Vũ bế thằng nhãi ba tuổi lên đê chơi. Trước khi rời nhà, Vũ đã béo mạnh vào đùi thằng nhãi mấy cái, khiến nó khóc thét, rồi giả vờ nói thằng nhãi không chịu nó bế. Bác nó mải hốt thuốc cho bệnh nhân, giục Vũ cứ mang thằng nhãi đi. Vũ cáu tiết. Nó trả thù bằng những cái búng muốn rách tai, bằng những cái tóc dứt muốn lột da đầu nó lên. Thằng nhãi sợ con nhà Vũ quá, nín thin thít.
Bấy giờ, nắng gần tắt. Vũ đặt thằng nhãi xuống mặt đê. Nó hướng về thị xã. Những nhịp cầu Bo không nhỏ đi bao nhiêu, và những bến tắm trông rõ người lố nhố. Vũ chờ Côn. Nó đã hẹn thằng Côn, thế nào chiều nay cũng phải xuống đây tìm nó, kể cho nó nghe chuyện tuých ra sao. Còn nó, nó sẽ phiệu ra năm ba chuyện ly kỳ của chuyến giang hồ này, cho thằng Côn tiếc rẻ.
Mắt Vũ nhìn không chớp. Nó thấy một bóng người in hình, trong khung trời chiều, tự dằng xa. Bóng người đó không ai ngoài thằng Côn. Côn cắm cổ chạy, chẳng mấy đỗi, con nhà Vũ đã nhận ra nó.
Vũ bỏ thằng nhãi ngồi một mình, chạy ngược lên. Hai thằng bạn nhỏ, mới xa nhau chưa đầy một ngày, mà gặp nhau, chúng nó mừng rối rít, như đã xa nhau hàng tháng. Vũ bá vai Côn, xoắn xít. Hai đứa sóng đôi đi tới chỗ thằng nhãi, anh họ thằng Vũ. Chúng nó nằm dài trên vệ cỏ. Vũ hỏi :
- Mày làm đúng lời tao dặn, hở?
- Ừ.
- Dì tao có khóc không?
- Có.
- Thằng Khoa có khóc không?
- Có
- Khoái quá! Con Thúy có khóc không?
- Tao không biết.
Vũ ngớ ngẩn tệ. Côn nó cần cóc gì biết con Thúy cơ chứ. Ngay Vũ, Vũ cũng cóc cần nữa rồi. Con Thúy đã xỉ vả nó là đứa vồ tiền, đã được cuộc cái lồng bẫy chim, nó cần gì con Thúy. Không hiểu tại sao nó lại hỏi thằng Côn rằng, con Thúy có khóc không? Từ hôm bị con Thúy làm xấu hổ, Vũ ghét con Thúy. Ghét chán, nó lại thương. Thương mãi, thành nhớ. Vũ ao ước có dịp khác, sẽ rủ bằng được con Thúy đi chơi cầu Bo. Nó không thể ghét con Thúy. Nó cần con Thúy. Nó cũng không hiểu nốt, tại sao nó không thể ghét con Thúy được. Mải nghĩ vớ vẩn, Vũ quên khuấy món quà tặng bạn chí thân.
Vũ móc túi lôi ra một gói, trao tay Côn :
- Chén đi!
- Cái gì đấy?
- Táo tầu, ngon lắm, mày ạ!
- Ai cho mày thế?
- Bác tao.
- Bác mày tốt nhỉ!
- Trưa nay, tao chén canh bánh đa căng cả bụng.
Vũ lại nói dối. Bác nó cho nó có năm quả, nó ăn hết ngay. Lúc bác nó với tay, bưng cái liễn sứ đựng táo tầu, Vũ đã chú ý cái liễn ấy. Và nó biết chắc món ăn hấp dẫn này đứng thứ năm, đếm từ ngoài vào trong. Vũ rửa bát đĩa xong, lên nhà; bác nó, và đàn con đã lăn kềnh trên sập, ngáy khò khò. Vũ bèn trả thù liễn táo. Nó bốc bừa hai ba nắm. gói để phần cho thằng Côn mười hai trái, nó thưởng thức thêm năm trái nữa. Vũ nhủ thầm rằng, nó ở đây ba ngày thôi, cái liễn táo tầu sẽ sạch sành sanh, bác nó sẽ hết đồ bốc thuốc.
Lấy lưỡi đẩy hạt táo ra môi, Côn thổi mạnh một cái. Nó gọi khẽ bạn :
- Vũ ơi!
- Gì?
- Tao sợ quá!
- Sợ cái gì?
- Nhỡ bố mày biết tao tuých bố mày thì chết!
Vũ véo lưng bạn :
- Mày sắp giống thằng Vọng rồi. Sợ cái đét gì?
- Sợ bố mày.
Vũ cười hô hố :
- Bố tao chắc giờ đang bán áo cho Thổ, ở Bắc Cạn.
Côn chớp mắt lia lịa. Nó nghiêng đầu nhìn thằng Vũ, do dự mãi, mới nói :
- Bố mày về rồi!
Vũ ngồi nhỏm dậy :
- Bố tao về rồi à?
- Ừ.
- Về bao giờ?
- Sáng nay.
- Bố tao có nói gì không?
- Bố mày cãi nhau với dì mày. Tao nói mày sang Nam Định. Bố mày vội vàng ra bến xe, sang Nam Định ngay lập tức. Tao vừa ghé qua nhà mày. Thằng Khoa nó bảo bố mày bây giờ còn ở bên Nam Định. Nó khóc sưng mắt, mày ạ! Tao phải nói với bố mày thế nào, hở Vũ?
Vũ bỗng hối hận. Nó tưởng dọa dì nó một tí, ai ngờ cha nó về, to chuyện thế. Dầu sao, chiều mai Vũ mới về. Đằng nào cũng bị đòn. Vũ đâm liều. Nó thương cha nó, thương dì nó, thương em nó, nó trót lỡ. Nấn ná thêm ngày nữa có sao. Vả lại, dì nó đánh nó ba bốn cái sào màn cơ mà. Cha nó có đánh nó, nó sẽ dổ riệt cho bà cả Hồng vu nó vồ tiền, khiến nó xấu hổ với bà Thụy, với con Thúy, nên nó phải ra đi. Vũ kiếm cớ vững chắc quá, nó vỗ vai thằng Côn :
- Đừng sợ mày.
- Bố mày hỏi, tao nói sao?
- Không nói gì cả.
- Thế, chiều mai, nói thế nào?
- Nói như tao đã dặn mày.
- Tao bảo mày nói dối tao, mày leo lên xe, đến ngã tư, mày xuống đi lối Kỳ Bá về cống Đậu hở?
- Ừ.
- Nhỡ bố mày hỏi tại sao tao gặp mày, thì nói sao?
- Thì mày phiệu rằng, tụi mày đóng bè xuống cống Đậu, gặp tao tha thẩn trên bờ đê.
- Bố mày có tin tao không?
- Tin chứ.
- Nhỡ bố mày không tin thì sao?
- Mày cứ nhỡ với ngộ mãi, chán quá. À, Côn này...
- Gì?
- Mày có qua nhà bà Thụy không?
- Không. Gì thế mày?
- Không có gì cả.
Hai thằng bạn nhìn nhau giây lát, rồi toét miệng cười. Côn hỏi :
- Thú không mày?
- Thú lắm. Vừa đặt chân xuống đất cống Đậu, tao đã choảng ba thằng rồi, mày ạ!
- Nó gây sự à?
- Ừ, nó huých khuỷu tay vào bụng tao. Tao đét nói gì. Nó tưởng tao yếu, huých thêm cái nữa. Tao giả vờ sợ nó, nó khoái chí, sán lại gần, tao xơi nó hai quả liền, hộc mẹ nó máu mồm. Hai thằng bạn nó xông vào. Tao hạ cả hai. Mày có biết, nó là gì ở đây không?
- Không.
- Tổ sư ăn cắp, mày ạ!
- Mày không sợ chúng nó trả thù à?
- Trả thù cái củ thìu biu ấy. Chúng nó bầu tao làm đại ca rồi.
- Khoái nhỉ?
- Tối nay, chúng nó khao tao chầu chim sẻ rán. Giang hồ phải cừ mới trị được lũ súc sinh chứ. À, Côn này...
- Gì?
- Mày có muốn qua nhà bà Thụy không?
- Không.
Vũ định nhờ Côn qua nhà bà Thụy, xem con Thúy vui hay buồn. Vũ ngượng không dám hỏi thẳng, chỉ nói bâng quơ. Côn không ngại, Vũ nhờ việc gì, thằng Vũ chẳng chịu hỏi rõ ràng. Trông chiều xuống vội vã, Côn bảo bạn :
- Tao về nhá?
- Gượm đã mày.
- Mày có dặn gì thêm không?
- Không. À, thằng Khoa nó đem cái lồng bẫy chim sang nhà con Thúy chưa, mày?
- Tao không biết.
- Mếu nó chưa đem, mày đem hộ tao, nhé!
- Ừ.
- Mày nói với con Thúy rằng, nó bảo tao vồ tiền, tao tức quá, tao bỏ nhà, tao không ghét nó, mày nhé!
- Ừ.
- Ngày kia, chúng mình đi học hở, mày?
- Ừ.
- Còn nửa tháng nữa hè, nhỉ?
- Ừ, hơn nửa tháng.
- Nhớ chiều mai, Côn ạ!
- Ừ, tao về nhá!
- Ừ.
Hai thằng bạn chia tay nhau. Côn sợ tối, co chân chạy miết. Vũ đứng nhìn theo. Nó bế thằng nhãi lên, đi xuôi xuống phía dưới. Phía tây, trời nhuộm máu giây lát, rồi xám dần. Nó thấy hai ngày dài quá. Vũ nghĩ tới việc thổi cơm sắp tới. Nó béo mạnh thằng nhãi một cái. Thằng nhãi khóc oe oe...

16
Số thằng Vũ đen quá. Giang hồ đúng ngày cô nó ốm nặng. Bác nó, chừng hiểu rõ tâm sự của kẻ trốn nhà, bắt bí nó thổi cơm, rửa bát, nấu cám lợn, bế em, những việc Vũ chưa hề làm bao giờ. Họ hàng cũng chẳng tốt gì. Chỉ có cha nó, dì nó, em nó tốt thôi. Nếu bác nó tốt, đã không sai nó, như sai thằng nhỏ. Bác nó cứ xoen xoét cái mồm, khen nó khéo, khen nó giỏi, để nhờ giúp việc này, giúp việc nọ. Bác nó tưởng nó ở đời với bác nó đấy. Chiều mai, cha nó đón nó về, nó sẽ cho bác nó biết tay.
Vũ ăn cơm xong, quẳng bát vào chậu. Nó không thèm rửa vội. Vũ móc bị lấy cái kèn ác mô ni ca, lững thững ra ngoài cống. Trăng đã lên cao. Ánh sáng bạc trải lên con sông đào đang cuồn cuộn chảy, đẹp vô cùng. Gió đêm mát rợi. Nhiều người tụ họp gần cống, hóng mát.
Vũ cảm hứng, đưa kèn lên thổi. Lũ trẻ con bu quanh nó, thưởng thức âm nhạc. Vũ chơi bài Căn nhà êm ấm. Bài này, anh Phú, huynh trưởng hướng đạo, dạy nó. Anh Phú bảo, tác giả Căn nhà êm ấm là một người Anh cát lợi, anh Phú quên mất tên. Chỉ biết ông ta là một ông lão hành khất, nghèo khổ, gia đình không có, họ hàng cũng không. Ông ta, ngày đi ăn mày, đêm về ngủ gậm cầu, xó chợ. Ông ta mơ ước một căn nhà êm ấm, có ánh lửa, có tiếng trẻ nô đùa, để quên cuộc đời hành khất, nằm vỉa hè hết một kiếp người, dưới tuyết lạnh mùa đông. Nỗi mơ ước của ông lão hành khất thấm nhập vào tâm hồn ông, thành bài hát. Rồi, ông hát bài này, trước cửa từng nhà, thay vì con lạy ông lạy bà, lạy cô, lạy cậu hãy bố thí cho con miếng cơm, bát gạo... Dân Anh cát lợi nghe bài này cảm động, khóc sướt mướt.
Đến nốt nhạc cuối cùng, Vũ nhớ nhà quá. Nước mắt nó ứa ra. Nó mường tượng căn nhà ở phố Jean Dupuis, nơi đó, cha nó, dì nó, em nó đang buồn rầu vì vắng nó. Vũ không nén nổi xúc động, nó nhìn giòng sông bạc cuồn cuộn chảy, cất tiếng hát :
- Nhà tôi bên sườn đồi thênh thang, chiều về gió lay ngàn thông cùng reo... Từ miền xa, ngân nga tiếng sáo diều vi vu hòa bao cung đàn... Chiều vàng trên mái tranh hoa leo... Hàng bóng cau ngả nghiêng ngoài hiên...
Đời bạt gió như chim lìa đàn. Còn vấn vương nếp tranh bên đồi...
Vũ hát kém thằng Vọng và thằng Côn. Hôm nay, nó nhớ nhà, nó lại bị hầu hạ bác nó, bị bế em, Vũ tưởng, chính nó là ông lão ăn mày người Anh cát lợi. Giọng nó trầm buồn tha thiết.
Vũ hát xong bài Căn nhà êm ấm, bọn trẻ con vỗ tay khen ngợi ầm ỹ. Chúng nó xúm gần bắt chuyện, làm quen với Vũ. Vũ bớt buồn. Chúng nó hỏi Vũ ở đâu. Vũ cho chúng nó biết, Vũ ở nhà ông lang Tặng. Bọn trẻ rủ Vũ vào xóm đình chơi. Vũ lắc đầu. Một lát sau, chúng nó tản mạn hết, còn lại hai đứa. Một thằng hỏi Vũ :
- Tên đằng ưới là gì?
- Tên tớ là Vũ.
- Tên tứa cũng là Vũ, anh tứa đây là Thân.
Vũ nhìn thằng nhãi nhà quê. Nó toét miệng cười. Ánh trăng sáng đủ để Vũ biết nó bị sún. Vũ nói :
- Vậy, đằng ấy là Vũ sún, nhé!
- Ừa, bố tớ vưỡn gọi tớ là thằng sún, đằng ưới ạ! Anh em tớ con nhà thuyền chài.
Thằng Thân tiếp em :
- Chỉ có hai anh em tứa thôi, chúng tứa bơi thuyền câu trên sông, đằng ưới ạ! Đi gần tối mưới về, đông lắm, thích lắm cưa...
Vũ phởn chí. Bụng nó mở cờ mừng vui. Con thuyền, cánh buồm máu, sông dài bể rộng, tướng cướp biển, hà hà, giang hồ thế mới gọi giang hồ. Vừa có chuyện làm lác mắt bọn thằng Côn, vừa trả thù bác Tặng, cho bác ta tìm trối chết, vừa thoát thổi cơm, rửa bát một ngày. Vũ thích rên lên. Nó gọi nhỏ :
- Vũ sún ơi!
- Ươi.
- Đằng ấy thích chơi với tớ, hở?
- Ừa, anh tứa thích chươi vưới đằng ưới. Chúng nó bỏ đi hết, anh em tứa không bỏ đi. Đằng ưới đi câu vui lắm, mang kèn thủi cho cá nó nghe, đằng ưới ạ!
Vũ giả vờ :
- Tớ còn một việc, mai không đi được.
Thân hỏi :
- Việc gì hả, đằng ưới?
Vũ trả lời :
- Bác tớ bắt tớ rửa bát, quét sân. Tớ lười chưa rửa, quét gì cả. Nếu các đằng ấy thích tớ mang kèn đi thổi cho cá nghe, thì Vũ sún rửa bát, Thân quét sân hộ tớ. Mới lại, nhân tiện, để tớ xem hai đằng ấy có thật lòng với tớ không?
Hai anh em thằng Vũ sún khờ khạo, hăng hái nhận việc. Vũ lôi chúng nó về. Vũ sún rửa cả chậu bát, lẫn chậu quần áo của bọn nhãi, con ông lang Tặng. Thân khom lưng quét sân, thái bèo cho lợn, còn thằng hiệp sĩ Vũ ngồi dựa lưng vào tường, thổi bài nhạc vui Trên lưng ngựa.
Làm xong việc, anh em Vũ sún về, hẹn thằng Vũ, sáng mai, lúc mặt trời chưa mọc, anh em nó đợi Vũ hiệp sĩ ở ngoài cổng. Vũ vừa lách liếp vào, bác nó túm lấy, sai việc :
- Bác phải sang thăm bệnh ở bên kia sông, cháu sắc cho cô chén thuốc này, nhá! Đổ ba bát nước, để lửa lom rom, canh lấy già nửa bát, gạn ra đưa cô uống.
Rồi, bác nó đi luôn. Vũ nghiến răng, lẩm bẩm. Nó cáu sườn, cớp táo tầu chén. Tối mò mò. Vũ mở nhầm liễn thục địa. Thục địa nó cũng ăn. Ăn xong, Vũ cớp táo, lại nhầm ô mai. Vũ chửi thầm, đứa nào sắp hàng liễn lộn xộn. Ném nắm ô mai vào chuồng lợn, Vũ xuống bếp nhóm hỏa lò. Sắc một chén thuốc, ít nhất cũng mất hai tiếng đồng hồ. Vũ thương cô mới thức, chứ người khác, bác lang Tặng chẳng hạn, đừng hòng.
Vũ chẻ vài cái củi nhỏ, rưới tí dầu hỏa làm mồi, xếp than lên, đoạn châm lửa. Củi cháy vèo hết ngay. Vũ ngồi chồm hổm, phồng mang trợn mắt thổi lửa. Nó nhớ tới bài tập đọc, trong cuốn Quốc văn giáo khoa thư, lớp sơ đẳng, học năm ngoái, mà phì cười. Nó giống hệt ông Lý Tích, thổi than, sắc thuốc cho chị, cháy cả râu. Khác một điều, nó không làm quan to, chưa có râu, và sắc thuốc cho cô nó thôi.
Gạn lần cuối cùng, đúng phân lượng bác đã dặn. Vũ rưới nước tắt bếp, rồi bưng thuốc lên cho cô nó. Nó vặn ngọn đèn sáng hơn, gọi cô nó dậy. Cô Vũ không ngờ Vũ thức đêm sắc thuốc cho mình. Bà cứ tưởng đây là công việc của ông chồng yêu dấu. Cô Vũ cảm động, đỡ bát thuốc, uống ừng ực một hơi hết liền. Một lát, cô nó ngạc nhiên gọi :
- Cháu ơi!
Vũ kinh hãi :
- Dạ.
- Cháu xích gần đây.
Vũ bổng nghĩ đến chuyện quỷ nhập tràng. Nó run sợ bần bật :
- Cháu đứng đây được rồi, cô ạ!
- Cô nhìn thấy rồi, cháu ơi!
Vũ thở phào. Nó nói :
- Thuốc của bác hay ghê!
Cô Vũ lắc đầu :
- Không phải đâu, nhờ cháu mà cô mở mắt được. Cháu xích gần đây, cô cho cháu một đồng...
Vũ mon men lại gần. Cô nó nắm tay nó. Nước mắt cô nó rơi, nghe rõ từng giọt. Vũ thấy lòng nó se lại. Nó không nghĩ xấu về họ hàng nữa. Mai, nó sẽ mua kẹo cho mấy đứa nhãi, đền bù những cái béo, những cú đá cáu kỉnh.
Chờ cô nằm yên, Vũ trở ra. Nó chui vào màn nằm, mơ mộng vớ vẩn. Lạ nhà, lạ chiếu, lạ màn, Vũ không thể ngủ được. Mà ngủ, nhỡ dậy muộn, mất một dịp may lênh đênh trên sông nước cả ngày, tiếc chết người. Vũ ta chập chờn từng giấc ngủ ngắn, không đầy mười lăm phút.
Vũ muốn chiêm bao. Nó nhớ con Thúy quá. Càng xa, càng nhớ. Tại sao những giấc mơ mới không bao giờ giống giấc mơ cũ? Và, tại sao lúc muốn mơ lại không mơ được? Vũ tự hỏi thế. Lạy trời cho Vũ mơ thấy Thúy.
Vũ nằm nghiêng, quay mặt ra cửa sổ. Bóng con Thúy không chịu tới. Chỉ có bóng cây in hình đen thẫm, trên nền sân đất, dưới ánh trăng bạc. Mỗi khi gió thổi, bóng cây lay động.

17
Họ kéo xuống cống Đậu, từ lúc tám giờ rưỡi. Hai cái xe chở bốn người. Cha Vũ, dì Vũ, thằng Khoa, và thằng Côn.
Tối hôm qua, trong lúc Vũ đợi giấc mơ, ở nhà, cha nó cằn nhằn dì nó suốt đêm.
Cha nó đi kiếm khắp cái thành phố Nam Định, hỏi hết các hiệu ăn Tầu, chẳng ai biết thằng Vũ với thằng Coóng cả. Cha nó chán nản về Thái, không thiết ăn uống gì, cứ nghĩ đến con là điên đầu, điên ruột. Dì nó nằm khóc tấm tức. Bà Thụy xôn xao. Thằng Khoa sợ anh tự tử. Bà cả Hồng cũng hối hận.
Mãi tám giờ sáng hôm sau, con nhà Côn xách lồng bẫy chim đem đến nhà con Thúy, và nhắn lại những lời thằng Vũ dặn con Thúy, chuyện giang hồ của Vũ mới vỡ lở. Vô phúc cho thằng Côn, lúc ấy, cha thằng Vũ ngồi đằng nhà bà Thụy. Cha nó bắt nọn thằng Côn mấy câu. Côn ta phun ra hết. Thế là, ba người theo thằng Côn, thuê xe tay kéo xuống cống Đậu.
Ông lang Tặng bối rối nhất. Ông không biết trả lời sao, vì hiệp sĩ Vũ cậy liếp, đi câu thuyền với anh em thằng Vũ sún, từ sớm tinh mơ. Cha Vũ vặn hỏi, ông lang ấm ứ, tắc họng. Ông nhận thằng Vũ có ở nhà ông, ông bịa rằng, Vũ bảo dì nó cho phép nó đi thăm vợ chồng ông. Cha Vũ trách ông anh rể đã không săn sóc Vũ cẩn thận. Đôi khi, cha Vũ nói nặng lời, khiến dì Vũ phải xua tay, can khéo.
Bốn người nóng ruột ngồi chờ. Nước mời chẳng ai thèm uống. Côn chỉ cái bị giang hồ của Vũ cho Khoa xem. Khoa chỉ cho mẹ nó, mẹ nó nhăn mặt, ra hiệu, bảo Khoa đừng đùa.
Giữa khi mọi người đứng ngồi không yên ấy, trên dòng sông Trà Lý, xuôi về mạn dưới, Vũ hiệp sĩ đang gạ anh em thằng Vũ sún :
- Chơi cướp biển đi, câu buồn bỏ mẹ đi ấy!
Vũ sún hỏi :
- Chơi cướp biển như thế nào?
Vũ hiệp sĩ giảng giải :
- Dễ lắm, chúng mình xông thuyền lại thuyền của những thằng khác, xô chúng nó xuống sông.
Thân lắc đầu :
- Anh em tứa yếu lắm, chúng tứa không dám chơi cướp biển đâu, đằng ưới ạ!
Vũ hiệp sĩ tán tỉnh :
- Các đằng ấy sợ chúng nó à? Đừng sợ, đã có tớ, một mình tớ đánh được mười thằng. Mà, các đằng ấy bơi cừ không?
Vũ sún lạ lùng :
- Cừ là gì hả, đằng ưới?
Vũ hiệp sĩ trả lời :
- Cừ là giỏi, bơi cừ là bơi giỏi, dìm không chết đuối.
Vũ sún cười hềnh hệch :
- Tụi tứa đi thuyền, thằng nào bơi cũng cừ cả.
- Thế còn chờ gì không chơi cướp biển?
Vũ sún gạ anh :
- Chơi cướp biển nhá anh, nhá! Thằng Vũ sẽ oánh hết bọn thằng Ngải, thằng Hợi, thằng Bảy, anh ạ!
Thân gật đầu bằng lòng. Vũ sún quay nói với Vũ hiệp sĩ :
- Đằng ưới hỏi chúng nó xem, chúng nó có thích không đã.
Vũ hiệp sĩ vênh mặt :
- Không cần chúng nó thích, cần các đằng ấy thích thôi. Chúng mình đánh, cớp hết cá của chúng nó, về sớm. Tớ làm tướng cướp, hai anh em đằng ấy làm lính, chịu chưa?
Vũ sún hỏi lại :
- Cớp là gì hả, đằng ưối?
- Là ăn cắp hết cá của chúng nó.
Vũ sún vỗ bụng ha hả cười :
- Tứa chịu.
Thân hùa theo :
- Tứa cũng chịu.
Vũ hiệp sĩ nói :
- Bây giờ, anh em đằng ấy phải nghe tớ. Tớ bảo cái gì, anh em đằng ấy phải làm cái ấy, nhá! Vũ sún lặn cừ không?
- Anh em tứa cùng cừ.
- Tốt, bravo.
Vũ sún khen Vũ hiệp sĩ :
- Đằng ưới nói tiếng Tây giỏi quá, nhả?
Vũ cởi phăng quần xoóc, buộc vào khúc cây dài, mà nó mang sẵn theo, dựng lên, và buộc chặt vào thanh gỗ ngang của chiếc thuyền gỗ. Đó là cánh buồm máu tưởng tượng của nó. Vũ hiệp sĩ bắt anh em Vũ sún lôi hết mồi câu, xếp trong khoang thuyền. Nó giục thằng Thân chèo nhanh lại chiếc thuyền của anh em thằng Đường, là hai thằng gấu nhất trong bọn trẻ đi câu. Cách chừng mười thước, Vũ hét :
- Tao là tướng cướp cánh buồm máu. Ê, hai tên nhãi ngóe, nộp cá cho tao mau lên!
Thằng Đường nghe tướng cướp cánh buồm máu bảo nộp cá, ngứa tai quá, nó đứng lên, hai tay chống hai bên cạnh sườn, trừng trừng nhìn thằng nhãi mới nhập nghề câu thuyền. Nó thách :
- Tao không nộp, mày làm gì?
Vũ hét lớn hơn :
- Nộp ngay, không ông đánh bỏ bố!
Em thằng Đường là thằng Lại, buông chèo, tụt quần :
- Nộp cái củ c. đây này...
Vũ ra lệnh :
- Chèo nhanh!
Thân vận hết sức chèo. Thuyền của tướng cướp cánh buồm máu rẽ nước, xô mạnh chiếc thuyền địch, khiến nó bị đẩy lùi khá xa. Vũ tướng cướp nháy mắt. Vũ sún nhận lệnh, nhảy lọt khỏi thuyền mình. Anh em thằng Đường đứng lên khiêu khích. Thân chèo sát gần. Cách ba thước, Vũ phóng sang, tóm cổ thằng Đường. Nó vung tay, đấm mạnh vào bụng Vũ. Vũ trả miếng, đạp nó ngã. Đường lồm cồm bò dậy. Chiếc thuyền chòng chành. Nó sấn tới ăn thua với Vũ. Hai thằng ôm nhau nhào xuống nước, vật lộn.
Trận đấu tay đôi, giữa tay sừng lớp nhì 1 trường tỉnh và tay anh chị thuyền chài giữa lòng sông, diễn ra hết sức sôi nổi, ngoạn mục, mà chỉ có cá thưởng thức. Vì, cá mới biết mở mắt. Còn người, kể cả tay tướng cướp cánh buồm máu Vũ và tay gấu sông bến Đường, cũng chẳng nhìn rõ nhau. Chúng nó nhắm mắt vật, túm tóc, cấu bẹo lung tung. Chừng hai thằng cùng thèm thở, chúng nó bèn tự ý buông nhau, ngoi lên mặt nước.
Đường gấu thấy em mình là thằng Lại hỗn đang loay hoay lật ngửa cái thuyền lên. Thuyền bị Vũ sún, bất thần, lật úp. Bao nhiêu cá của anh em con nhà Đường được thả tự do hết. Đường gấu mím môi, nhìn tướng cướp Vũ bằng đôi mắt căm tức. Nó bỏ địch thủ, bơi lại tiếp sức em, dìu cái thuyền vào bờ, hất mạnh cho sạch nước, rồi chèo về phía bên bọn thằng Ngải, thằng Hợi.
Đánh tan thuyền địch, tướng cướp Vũ bắt lính Thân bơi thuyền ra giữa sông. Nó bô bô gạ tụi nhãi chia bè đánh nahu. Có mười lăm chiếc thuyền. Năm chiếc theo thằng Vũ, thành một phe. Còn mười chiếc kia, có tụi thằng Hợi, thằng Bảy, thằng Ngải, theo con nhà Đường, quyết trả thù thằng Vũ. Chúng nó chửi nhau ỏm tỏi, đánh nhau loạn xạ, lội bì bõm dưới nước, không khác gì cuộc thủy chiến của hải tặc ngày xưa.
Đánh nhau chí chóe, từ chín giờ đến mười hai giờ trưa mới dứt. Bọn thằng Vũ thắng, nhờ chủ tướng đã từng xem phim Thuyền trưởng Blood, nên giàn trận tuyệt vời. Năm chiếc thuyền chiến thằng, no nê cá của bọn thua trận, men bờ, bơi trở về. Bọn chiến bại còn phải câu mờ người mới bù được số cá bị cướp giật. Con nhà Vũ sún hỏi chủ tướng :
- Đằng ưới là con ở của ông lang Tặng, hả?
Vũ hiệp sĩ gật bừa :
- Ừ.
- Con ở mà đằng ưới giỏi ghê. Đằng ưới định ở cho ông lang Tặng mấy năm?
- Tớ ở hai ngày thôi, tối nay tớ về.
Vũ sún buồn bã ra mặt :
- Đằng ưới về chóng thế?
- Ừ.
- Đằng ưới về, mai chúng tứa đi câu, chúng nó bắt nạt, cớp hết cá thì sao?
Vũ bắt đầu mến anh em thằng Vũ sún. Chúng nó thành thật và ngộ nghĩnh quá chừng. Vũ an ủi chúng nó :
- Tớ nói dối đằng ấy đấy.
Vũ sún hớn hở :
- Đằng ấy không về à?
- Không, tớ nói dối chuyện khác cơ...
- Chuyện gì hả, đằng ưới?
- Tớ không phải con ở của ông lang Tặng đâu. Tớ là cháu ông ấy, nhà tớ ở tỉnh, tớ xuống cống Đậu chơi. Đứa nào bắt nạt anh em đằng ấy, bọn tớ đánh bỏ mẹ. Bọn tớ đông lắm, thằng nào cũng cừ gần bằng tớ cả, các đằng ấy đừng lo.
Vũ kể chuyện thằng Côn, thằng Luyến, thằng Long, thằng Lộc, cho anh em Vũ sún nghe. Vũ sún đỡ buồn. Khuôn mặt anh em nó vương vương ít nhiều lưu luyến. Đôi khuôn mặt rạm nắng ấy, không ngờ, lại có lần ưu tư, vì một thằng nhãi láu tôm, láu cá thành thị.
Thuyền cập bến. Vũ móc túi quần xoóc, lấy hai đồng cô nó cho nó, tặng anh em Vũ sún. Vũ tặng luôn anh em Vũ sún hai chiếc bánh chưng, mang đi ăn, mà chưa ăn. Anh em thằng thuyền chài ngẩn người sung sướng. Chưa ai cho chúng nó một hào chỉ. Vũ vỗ vai hai thằng bạn, chia tay. Chúng nó nhìn theo Vũ, không chớp mắt.
Vừa đặt chân lên mặt đê, Vũ đã thấy bác nó hớt hơ hớt hải chạy tới, nắm lấy tay nó, dặn dò :
- Bố cháu có hỏi, cháu bảo cháu nói dối bác rằng, dì cháu cho phép cháu xuống thăm vợ chồng bác, nhá!
Vũ buột miệng nói :
- Bố cháu chiều mới xuống cơ...
Bác nó không hiểu nó tuých dì nó, gắt gỏng :
- Bố cháu đã xuống đón cháu rồi!
Vũ vớ được dịp trả thù bác, nó lắc đầu :
- Thưa bác, cháu không dám nói dối ạ! Nói dối là một thói xấu.
Bác Vũ dúi vào túi nó năm đồng, dỗ ngọt :
- Cháu nói dối một tí thôi...
Vũ suýt phì cười, nó vòi thêm :
- Bác cho cháu ít táo tầu nữa, bác nhé!
Bác nó dặn lại :
- Cháu nói thế nhá, cháu ngoan của bác, nhá!
Vũ gỡ tay khỏi tay bác :
- Vâng ạ!
Rồi, nó rảo cẳng chạy về. Nó hết sợ hãi vớ vẩn. Đã liều thì không sợ bị đòn. Trông thấy Vũ quần áo nhầu nát, tóc tai bơ phờ, cha nó thương quá, ôm chầm nó vuốt ve, âu yếm. Vũ cố lách cái đầu. Nó nhìn dì nó, mắt nó đỏ hoe. Dì nó lại gần, nắm tay nó. Vũ khe khẽ xin lỗi dì. Dì nó gật đầu, tha thứ. Khoa cũng đến hỏi han anh. Côn sợ bạn giận, lỉnh đâu mất. Vũ ôm chặt cha nó hơn. Nước mắt nó tràn ra, sung sướng. Vũ không còn tủi thân, không còn cô độc nữa.
Hai chiếc xe vẫn đậu chờ khách. Bây giờ, có thêm Vũ, là năm người. Họ từ biệt ông lang Tặng. Ông lang Tặng không quên gói táo tầu cho Vũ. Côn đã gặp Vũ. Hai đứa nháy mắt, ra cái điều ăn giơ lắm. Vũ ngồi chung xe với Côn và Khoa.
Xe chạy được một quãng, không hiểu con nhà Vũ phiệu chuyện gì, mà thằng Khoa cười như nắc nẻ. Dì nó nhìn xuống. Ba đứa đang thay phiên nhau gậm củ thục địa.

18
Vũ, và Thúy châu đầu vào cái lồng chim khuyên. Hai đứa bé lại thân nhau, như cũ. Thúy không bảo Vũ giỏi vồ tiền lộc thánh. Vũ không muốn Thúy hóa thành con nhặng nữa. Chúng nó đã làm lành.
Dưới mắt Vũ, hôm nay, con Thúy hiền nhất trên đời. Dưới mắt Thúy, hôm nay, thằng Vũ ngoan không thể chê được. Như mấy chú chim khuyên nhảy nhót trong lồng, hai đứa bé cũng đang chuyện trò vui vẻ. Tâm hồn chúng nó lâng lâng, chẳng gợn một chút bụi ưu tư nào. Bốn con mắt long lanh nhìn nhau, trong vắt, cơ hồ những giọt sương mai đọng trên lá xanh non.
Bốn con chim khuyên Vũ thua cuộc Thúy, còn có ba con thôi, một con chết tối hôm qua rồi. Thúy hái hoa râm bụt, kết đầy cái lồng bẫy, đỏ sặc sỡ. Thúy khen Vũ đan lồng giỏi, khiến Vũ hả hê. Mải nói chuyện chim, Vũ quên khuấy một việc quan trọng. Nó móc túi quần xoóc, lôi ra một gói nhỏ xinh xắn, bọc bằng giấy bóng tím, khoe bạn :
- Vũ có cái này hay lắm cơ!
Thúy hỏi :
- Cái gì thế hở, Vũ?
Vũ làm bộ bí mật :
- Đố Thúy biết?
Thúy ngẫm nghĩ một lúc rồi nói :
- Kẹo chứ gì?
Vũ lắc đầu :
- Sai rồi.
- Thế gì?
- Vũ đố Thúy mà...
- Thúy chịu.
Vũ cười :
- Chịu thật hay chịu dối?
- Chịu thật.
Vũ truyền gói nhỏ từ tay này qua tay kia :
- Táo tầu!
Thúy mừng rỡ :
- Táo tầu à? Táo tầu ngon ngon là... Mẹ Thúy sắc thuốc hay cho Thúy những quả táo tầu nát nhừ. Ăn bã táo tầu chán chết. Táo tầu của Vũ sắc thuốc chưa?
- Chưa.
- Vũ cho Thúy một quả, nhá!
Vũ trao tay Thúy gói táo :
- Vũ cho Thúy tất.
Thúy cầm gói táo, bóc ra xem. Con bé mở to đôi mắt. Eo ôi, nhiều quá, những mười bốn quả, phải ăn dè mới được. Thúy đưa Vũ một quả, giục Vũ :
- Ăn đi!
Hai đứa nhai táo một cách ngon lành. Thúy hỏi :
- Táo ở đâu hở, Vũ?
- Táo Vũ được cuộc đấy.
- Thích nhỉ. Vũ đánh cuộc thế nào?
- Thằng nhãi Tầu ở cống Đậu, to hơn Vũ, khỏe hơn Vũ, thách Vũ vật ngã nó, đè ngửa nó ra, vỗ vào bụng nó ba cái. Được thì nó mất mười bốn quả táo tầu, thua thì Vũ mất cái kèn ác mô ni ca. Vũ vật nó ngã ngon ơ. Nó thua cuộc.
Thúy tấm tắc :
- Vũ cừ nhỉ!
Vũ khuỳnh đôi tay, tựa nhà đô vật :
- Giang hồ phải cừ chứ!
Thúy nhớ chuyện Vũ bỏ nhà, nó hỏi Vũ :
- Hai hôm ở cống Đậu, Vũ làm gì?
Vũ có dịp phiệu. Nó lim dim đôi mắt, ra chiều mơ mộng. Nó tưởng tượng những kỷ niệm không hề có, kể cho con Thúy nghe. Kỷ niệm làm tướng cướp cánh buồm máu thì nó kể thật, kể say sưa. Tuy nhiên, Vũ vẫn giấu không nói với con Thúy chuyện cớp táo tầu, nhầm phải thục địa, ô mai, hay chuyện trằn trọc trên giường đợi giấc mơ thấy con Thúy, chỉ thấy bóng cây lay động. Vũ nhắc lại kỷ niệm bằng giọng nói mơ hồ, làm con Thúy chăm chăm theo rõi.
Con Thúy có cảm tưởng thằng Vũ là vị hoàng tử trong truyện cổ tích. Thúy chưa đủ mơ mộng để ví nó là công chúa ngủ trong rừng. Nó cho rằng, thằng Vũ xứng đáng là vị hoàng tử. Vũ cừ quá, thổi ác mô ni ca hay, bơi giỏi, học nhất lớp, đánh nhau không sợ thằng nào. Thúy thích Vũ lắm. Con bé nhỏ nhẹ :
- Vũ ơi, sao Vũ cừ thế?
Vũ kiêu hãnh lập lại câu nói cũ rích :
- Giang hồ phải cừ chứ!
- Không cừ, có giang hồ được không?
Vũ bĩu môi :
- Không cừ mà giang hồ, thì chỉ có giang hồ... bếp!
- Giang hồ bếp là gì hở, Vũ?
- Là đi thổi cơm, nấu cám, bế em; là đi ở.
Vũ ba hoa tiếp :
- Cừ như Vũ, mới dám bỏ nhà giang hồ, chứ. Vũ phiêu lưu trên sông Trà Lý, làm đại ca bọn nhãi cống Đậu, làm Lý Tích chữa bệnh mù cho cô Vũ.
Thúy biết chuyện Lý Tích, đùa Vũ :
- Thế có cháy râu không?
Vũ xoa cằm :
- Làm gì có râu mà cháy!
Hai đứa bé cười khúc khích. Thúy ăn thêm quả táo tầu nữa, rồi gói lại, để dành. Vũ nhìn ba chú chim ngơ ngác trong lồng. Hai chú đậu liền nhau, trên cái thanh ngang, gần cóng nước, còn một chú co ro, dưới đáy lồng. Mấy chú đã mỏi cánh, chán nhảy nhót. Chuyện của Vũ cũng cạn dần. Vũ nghĩ giấc mơ ban đầu. Nó vẫn muốn rủ con Thúy đi chơi cầu Bo.
Đắn đo mãi, Vũ mới ngớ ngẩn hỏi :
- Thúy có thích không?
- Thích chứ, táo tầu ngon lắm...
Vũ cụt hứng, hỏi lại, vẫn câu ngớ ngẩn :
- Thúy có thích không?
Thúy toét miệng cười :
- Thúy nói rồi thôi. Thúy thích táo tầu mà.
Vũ nuốt nước bọt. Cái vẻ hồn nhiên lúc mới đến, lúc ba hoa chuyện giang hồ biến đâu mất. Tướng cướp cánh buồm máu đâm ra rụt rè, ngượng nghịu. Hình như tai Vũ sắp sửa nóng ran, tay không biết bỏ vào chỗ nào cho đỡ vướng.
Vũ nuốt nước bọt lần nữa :
- Không phải thích táo tầu, thích cái khác cơ!
- Thích cái gì?
Vũ ấp úng :
- Thích... thích... hóng mát ở cầu Bo...
Vũ buông thõng đôi tay, chờ câu trả lời. Câu trả lời ấy, hoặc sẽ làm Vũ sung sướng, hoặc sẽ làm Vũ buồn rầu. Vũ vờ nhìn cái lồng chim, không dám nhìn con Thúy. Con Thúy đã thỏ thẻ :
- Hóng mát ở cầu Bo làn gì hở, Vũ?
Lời nói của con Thúy không khác gì một cơn gió mát, thổi vào tâm hồn Vũ, mát rượi. Nỗi hồi hộp tiêu tan. Tai Vũ hết nóng, tay nó hết dài. Vũ hân hoan đáp :
- Hóng mát ở cầu Bo, ăn kem cốc. Kem cốc ngon ba chê. Thúy có thích ăn kem không?
- Thích.
- Mới lại uống nước dừa nữa?
- Thích.
- Ăn ổi nữa?
- Ổi, Thúy cũng thích.
- Chiều nay, nhé!
- Chiều mai cơ...
- Sao lại chiều mai hở, Thúy?
- Chiều nay, Thúy đi thăm mộ ông, với bố mẹ.
- Thế nhất định chiều mai, nhé?
- Nhất định.
- Thôi, Vũ về đây.
Thúy đưa Vũ ra đường. Chờ Thúy khép kín cửa, Vũ co cẳng chạy, như thể chạy đua với niềm vui dào dạt. Chiều mai, chiều mai, chiều mai, bằng một ngàn buổi chiều khác. Đó là buổi chiều vàng, trong cuộc đời thơ ấu của thằng Vũ.

19
Vũ dặn Côn và Vọng :
- Bây giờ, hát từ đầu chí cuối, gần hết thì hát chậm dần nghe chưa?
Hai thằng bạn trẻ gật đầu, lắng tai nghe tiếng ác mô ni ca dạo nhạc của thằng Vũ. Chúng nó bắt giọng thật đúng nhịp :
- Bao tháng ngày xa vắng trôi
Còn đâu nếp trường xưa
Xa vắng càng thiết tha mong
Bên mấy khung song thưa
Say ngắm từng gian lớp xinh
Lòng xao xuyến tình thơ
Bao tình thơ ngây lúc vui chơi
Cùng ngồi quanh bóng mát cùng reo cười
Cây soài xưa kia lá tốt xanh tươi
Trạnh lòng ai nhớ tiếc khó nguôi...

Vũ đặt kèn lên bàn, khen lia lịa :
- Hay lắm, nhớ trường lắm, chúng mày ạ. Tao muốn khóc.
Côn và Vọng cũng muốn khóc. Mắt chúng nó mọng lên sự thương nhớ. Tuy còn hai tuần lễ nữa mới nghỉ hè, mới xa mái trường. Chúng nó đã mơ hồ thấy những gian lớp đóng kín mít, suốt ba tháng. Sân trường cỏ mọc đầy. Vắng vẻ. Mùa thu nhuộm đỏ lá vằng, và gió thổi lìa khỏi cây. Cảnh đìu hiu ấy, chẳng còn bao lâu nữa, sẽ đến. Chúng nó sẽ xa thầy, xa bạn, tản mạn về đồng quê hóng mát. Chúng nó sẽ tương tư tiếng phấn khô, viết ken két trên bảng đen. Chúng nó sẽ thèm những ngọn roi, vụt quắn đít, và sẽ ao ước, chóng được nghe thầy mắng mỏ.
Bài Trường cũ, bọn thằng Vũ sắp trình bầy, hôm mãn niên học, chắc chắn sẽ làm cả trường khóc. Khi đã lìa mái trường, nếu niên học sau có kẻ nào bất hạnh không được trở lại học nữa, kẻ ấy phải đau khổ, suốt quãng đời thơ ấu. Bài Trường cũ sẽ là liều thuốc an ủi họ, để hát lên cho tiếc, cho thương. Ai sáng tác bài này truyền cảm thế! Điệu nhạc chân thành, giản dị, chứa chan tình cảm. Đến nỗi, hát lên, là muốn khóc rồi.
Côn hỏi Vũ :
- Bài này của ai hở, mày?
- Tao quên rồi. Bố tao bảo của một anh học trò trường Bưởi.
- Bố mày, ngày xưa, học trường Bưởi à?
- Ừ.
- Chắc bố mày không nghịch như chúng mình đâu nhỉ?
- Ai bảo mày thế?
- Tao đoán.
Vũ có dịp nói về cha nó, nét mặt nó hớn hở. Vũ say sưa kể :
- Bố tao nghịch bằng mười chúng mình bây giờ ấy.
- Sao mày biết?
- Mỗi lần dì tao mắng tao hay thằng Khoa cái tội nghịch ngợm, bố tao bênh anh em tao. Bố tao bảo nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò, đứa nào còn bé đi học không nghịch, chết xuống âm phủ xếp hàng thứ mười, không được ghi tên lên bảng danh dự nữa, và bị quỷ sứ bắt nạt.
Con nhà Vũ phiệu chuyện này, khiến hai thằng bạn nó ngứa chân, muốn đi đá bóng ngay lập tức. Vũ chúa hay phiệu chuyện. Cha nó bênh nó, chỉ nói gọn ba tiếng kệ chúng nó, thế mà Vũ dám bịa thêm lời, gán tội cha nó. Vũ kể tiếp :
- Hồi bố tao đi học trường Bưởi, có cái trò đi xe đạp vòng quanh Đông Dương.
Vọng chen thắc mắc của nó vào chuyện :
- Trường Bưởi ở đâu hở, mày?
- Ở Hà Nội.
Côn giục :
- Xe đạp vòng quanh Đông Dương ra sao, hở mày?
- Lạ lắm.
Vọng hỏi :
- Bố mày làm cua rơ à?
- Không. Họ vẽ cái bản đồ Đông Dương to tổ bố trên sân cỏ, bằng vôi trắng, có năm miền, Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Ai lao và Cao mên. Một đoàn xe đạp đi trên cái vệt vôi trắng, vòng quanh Đông Dương, rồi ghé thăm từng miền. Vừa đạp, vừa hát bài Vành xe chắc chắn tiến trên đường xa vời. Cùng gò lưng vui tươi ta đạp đi hoài. Ngàn tia nắng chiếu sáng trên đường xa vời. Vành xe bon bon lăn toàn cõi Đông Dương. Tới Nam kỳ thì dân Nam kỳ ra hát vọng cổ, tiếp đón; tới Trung kỳ thì mọi Trường Sơn nhảy nhót, hoan hô, chúng mày ạ! Toàn học trò trường bưởi chơi.
- Bố mày chơi gì?
Vũ cười hô hố :
- Bố tao chơi đàn bà mọi. Bố tao mặc váy, dắt lông ngỗng lên tóc, bôi vôi đầy má, nhảy van, mà lại hát bài tăng gô si noa!
Côn đập bàn :
- Tuyệt, bố mày tuyệt!
Vũ vung tay :
- Tuyệt cú mèo!
Vọng thúc Vũ :
- Kể nữa đi mày!
- Thôi, kể chuyện bố tao hàng tháng chưa hết. Nghỉ tập hát nhé! Tao đưa chúng mày đi chén phở, rồi đi xem kịch là vừa.
Ba thằng dắt nhau đến hiệu Phớn, gọi ba bát phở nóng hổi. Chúng nó vừa húp, vừa thổi phù phù. Bên ngoài nắng đã tắt. Đường phố bắt đầu đông đúc. Tiếng trống kịch cũng bắt đầu réo gọi khán giả.
Ăn phở xong, ba thằng đi tha thẩn chung quanh trường. Vũ chỉ mua có mỗi tấm vé, mầu xanh, hai đồng. Nó không dám mua ba vé, còn tiền để ăn kem với con Thúy, chiều mai chứ.
Bảy giờ rưỡi diễn kịch, mà bảy giờ rồi. Tiếng trống mỗi lúc một dồn dập, thôi thúc tâm hồn hai thằng Côn và Vọng. Hướng đạo Hải Dương sang đây diễn kịch, đốt lửa trại, chắc phải hay lắm. Không hay, mà vô số người mua vé. Cứ nghĩ tới kịch hay, đàn hay, hát hay, múa hay, người hai thằng bạn của Vũ nôn nao. Còn con nhà Vũ vẫn tỉnh bơ.
Ba thằng bách bộ vòng quanh trường ba bốn lượt rồi. Cách tường độ năm thước, lại có một lão đội xếp cầm dùi cui, mặt mày hung ác, đứng canh. Còn mỗi cổng phía nhà bà xơ, có thể nằm rạp xuống chui vào, qua cầu tiêu, qua nhà bác tùy phái, tới sân trường được, cũng có lão dội xếp già chễm chệ trên cái ghế đẩu.
Đúng bảy giờ rưỡi, tiếng trống ngừng đánh. Bản nhạc mở màn khởi xướng. Ngực thằng Côn đập mạnh. Nó hỏi :
- Thế nào, Vũ?
- Yên chí.
Vọng nói :
- Kế gì hở, Vũ?
- Chúng mày cứ rối lên, ghé tai tao nói kế của tao cho mà nghe...
Hai thằng nhãi sướng rên. Chúng nó sắp mạo hiểm để vui thích, để cười, để kiếm những giọt sương mai cho mát tuổi thơ. Vũ níu Côn :
- Vé đâu?
- Đây.
- Đưa cho tao. Thôi, chúng mình vào là vừa.
Vũ nói dứt câu, bỏ chạy. Để nó chạy cách hai mươi thước. Côn và Vọng đuổi theo. Khi tới gần cổng sau, nơi lão đội xếp già chễm chệ trên cái ghế đẩu, Vũ luồn hai tay vào áo, cơ hồ giấu giếm vật gì. Côn và Vọng hớt hơ hớt hải chạy thẳng vào chỗ gác, vừa thở hồn hển, vừa chỉ thằng Vũ. Côn vờ nói không ra lời, khiến lão đội xếp mắng :
- Cái gì thế ranh con?
- Ăn... că... cắp...
- Đâu, ăn cắp đâu?
- Nó chạy kia kìa, ông đuổi bắt nó đi, nó ăn cắp đồ của ông phó cẩm đấy, ông ạ!
Lão đội xếp trông theo thằng Vũ. Lúc này, Vũ chạy chần chậm, có vẻ sợ sệt, nhìn lão đội xếp. Đúng ăn cắp rồi, lão đội xếp đuổi Vũ. Côn khuyến khích lão :
- Ông bắt tù bỏ mẹ nó đi ông, nhé!
Rồi, nhanh như cắt, hai thằng nằm rạp xuống cánh cổng, chui vào.
Lão đội xếp tóm được thằng Vũ, liền hỏi :
- Này ăn cắp cái gì đấy? A lê về bóp!
Vũ van lậy :
- Cháu có ăn cắp gì đâu. Hai thằng kia bắt nạt cháu, định giật vé xem kịch của cháu. Chúng nó đuổi cháu, cháu phải giấu vé ở ngực. Đây, ông xem này, tấm vé hai đồng của cháu, cháu có ăn cắp gì đâu?
Lão đội xếp thấy thằng bé nói đúng. Lão thả nó ra, toan về chỗ, dần tụi ôn con vài cái bợp. Chúng nó đã biến nmất. Lão ngoảnh nhìn Vũ. Nó vù khá xa, bèn đứng lại réo :
- Ông ơi, hai thằng ấy là bạn cháu đấy. Chúng nó chui cổng vào xem kịch rồi. Chào ông nhé!
Vũ toét miệng cười. Nó giơ tay, chào lão đội xếp già. Trong nháy mắt, Vũ đã vù vào sân trường, bằng lối cổng soát vé, tìm hai thằng bạn của nó.

20
Hai đứa đã ăn kem, uống nước dừa... Vũ vẫn chưa dám nắm tay Thúy. Quang cảnh như trong giấc mơ ban đầu của Vũ. Nắng chiều chỉ còn đọng lại từng mảnh, trên những lùm cây xa tắp bên kia sông. Trời mát mẻ. Gió từ dưới sông thổi lên, làm phất phơ mái tóc hai đứa bé. Chỉ khác một tí, là nước sông đã pha ít nhiều phù sa. Hai đứa đi sóng đôi. Thỉnh thoảng, đứa đi trước, đứa đi sau. Sang tới bên kia cầu, Thúy gặp thằng Dương.
Dương là con ông phó cẩm. Nhà nó nuôi hai con chó bẹc giê. Cha nó thay mặt ông chánh cẩm Tây, trông coi hết đội xếp trong tỉnh. Đội xếp trông thấy cha nó, đứng nghiêm, chào kính cẩn. Dương là đứa con cầu tự, cha mẹ nó chiều nó lắm. Nó muốn cái gì được cái ấy. Dương học lớp ba, cùng lớp với Thúy. Thầy giáo không bao giờ gọi nó đọc bài. Nó học dốt, lại lười. Thế mà tháng nào thầy cũng cho nó lên bảng danh dự. Nó giữ sổ luân chuyển, làm đổ mực bẩn hết sổ. Ông Đốc cũng chẳng mắng nó. Ông Đốc và các thầy giáo chơi mạt chược với cha nó, nên càng dung túng nó.
Dương hay văng tục, giống hệt con nhà Hách. Tính nó thô lỗ và thích bắt nạt bạn bè. Có lần, nó đánh con thầy lớp tư, chảy máu mũi. Trong lớp, nó thường trêu con Thúy. Giờ ra chơi, nó lẻn vào lớp, đổ mực lên ghế chỗ Thúy ngồi, khiến áo quần con bé dính đầy mực be bét, khóc sướt mướt. Có khi nó bẻ ngòi bút của Thúy, làm Thúy cắn bút giờ ám tả, bị ăn dzê rô oan uổng. Nó cậy con ông phó cẩm, gây sự cả lớp, trừ thằng Hài, thằng Phiệt, là hai thằng ngồi cạnh nó, chuyên môn cho nó cóp pi tính đố và vẽ hộ nó.
Thình lình, gặp Thúy đi cạnh Vũ, con nhà Dương ngứa mắt, lật đật tới, hất hàm hỏi :
- Thúy, Thúy, đi chơi với tao không?
Thúy nhăn mặt :
- Đừng gọi tên người ta.
Dương cười híp cả mắt lại :
- Tao cứ gọi, mày làm gì?
Thúy khó chịu :
- Đừng mày tao với người ta.
Dương đưa trái ổi lên gặm một miếng, nhai rau ráu. Vũ lộn tiết. Nó muốn tát tai thằng súc sinh này quá. Tát tai nó thì hết đi chơi với con Thúy. Vũ cố nhịn. Dương tưởng thằng Vũ sợ hơi cha nó, không dám bênh con Thúy, nó toan nắm lấy tay con Thúy. Nó phải rút tay lại ngay, vì thằng Vũ đã kéo con Thúy đứng sát nó. Dương vừa nhai ổi, vừa nói đểu :
- Con gái chơi với con trai
Về sau cái vú bằng hai quả dừa...
Vũ xắn tay áo lên. Thúy ngoắt Vũ đi về. Vũ hỏi :
- Thúy sợ nó à?
- Ừ.
- Sợ cái gì, đã có Vũ.
- Ba nó làm phó cẩm. Thúy sợ lắm. Hôn mọ, nó lấy cỗ chuyền của Thúy. Nó cốc Thúy hai cái, giật con bướm bạc gài đầu của Thúy nữa. Thúy mách thầy, thầy chả nói gì.
Vũ tức sôi ruột. Đang vui vẻ, bị con nhà Dương phá đám, không tức sao được. Vũ hậm hực theo Thúy, bước thật nhanh. Con nhà Dương không tha hai đứa. Nó theo sát Vũ, nói nhảm nhí. Đến giữa cầu, Dương gọi :
- Ê Thúy, lọ lem Thúy!
Thúy nín thinh. Dương lại lải nhải câu mất dậy Con gái chơi với con trai, Về sau cái vú bằng hai quả dừa. Thúy vẫn nín thinh. Vũ không chịu được thật rồi. Nó đứng sững lại, như xe đạp đang phóng nhanh hãm phanh thật mạnh. Thúy nắm bàn tay Vũ. Vũ gỡ vội bàn tay nhỏ nhắn ấy ra. Máu hiệp sĩ trong cơ thể nó rạo rực. Dương khiêu khích :
- Ê Thúy, tao gọi mày câm hở, con lọ lem?
Thúy run rẩy, nép sát bên Vũ. Vũ nhớ rằng, nó đã kể cho Thúy nghe những câu chuyện giang hồ vùng vẫy của nó. Nó nỡ để thằng oắt Dương bắt nạt đứa bạn gái thân thiết của nó hay sao? Bây giờ, Vũ mới lên tiếng :
- Dương, sao mày mất dậy thế?
Dương dang hai chân, đút hai tay vào túi quần, nhổ nước bọt xuống cầu :
- Tử tế cái củ khấm, á! Việc gì đến mày, hở thằng lái buôn?
Bị xỉ nhục, Vũ trả miếng ngay :
- Im mồm đi, thằng phó cẩm!
- À, thằng lái buôn dám nói xấu bố tao, hả?
- Ừ, ông nói đấy phó cẩm, ạ!
- Thằng lái buôn.
- Thằng phó cẩm.
- Thằng lái buôn cứt chó.
- Thằng phó cẩm cứt chó.
- Thằng lái buôn ăn cứt chó.
- Thằng phó cẩm ăn cứt chó.
Dương đổi giọng, nó đọc tên cha thằng Vũ :
- Thằng Hùng, ha ha ha, anh hùng lái buôn. Anh anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi buôn cứt!
Khoái chí, nó cười ha hả. Vũ nhổ bọt vào mặt nó :
- Thằng Đinh, Đinh hói, Đinh Trọc đầu lông lốc bình vôi, Mẹ ngồi mẹ ỉa mẹ bôi lên đầu thằng Đinh!
Con nhà Dương gờm thằng Vũ. Nó chỉ dám đấu võ miệng. Thúy run rẩy, thương hại quá. Vũ phải choảng thằng Dương ngay mới được. Ở trường, mỗi lần thầy xử tội đánh nahu, thầy thường hỏi đứa nào đánh trước. Hễ đứa nào đánh trước, đứa ấy có lỗi. Vũ sợ thằng Dương hèn nhát, mách thầy, nó muốn thằng Dương đánh nó trước. Nó mến con Thúy, chiều con Thúy, cho con Thúy tất cả những gì nó có. Nó không thể để thằng Dương bắt nạt con Thúy. Dù thằng Dương là con lão phó cẩm, nó cũng moa phú.
Thấy Vũ im lặng, Dương chửi tiếp :
- Thằng lái buôn ăn củ khấm!
- Thằng phó cẩm ăn củ thìu biu!
Dương to tiếng :
- À, mày bảo bố ông ăn củ thìu biu hả?
- Ừ đấy, ông đét sợ.
- Mày nói lại xem nào?
- Ông nói rồi.
- Tiên sư thằng lái buôn!
- Tiên sư thằng phó cẩm!
Dương lồng lộn :
- À, mày chửi bố tao hả?
- Ông chửi, mày có giỏi chơi ông đi.
- Mày chửi lại ông xem nào.
- Ông chửi rồi.
- Mày giỏi chửi lại đi?
- Ông chửi rồi, chơi đi phó cẩm!
- Mày chửi lại, ông đánh bỏ bố mày ngay.
- À, mày thách, hở?
- Ừ, ông thách mày chửi bố ông đấy?
- Ông sợ đét gì!
- Thì mày chửi đi.
- Tiên sư thằng phó cẩm! Ông chửi nữa, mày chơi đi, chơi mau đi phó cẩm con!
Chưa bao giờ Vũ đánh võ mồm lâu thế. Con nhà Dương đứng lâu e thằng Vũ dám tẩm nó lắm. Nó giả vờ hùng hùng hổ hổ, đe dọa :
- Mày nhớ nhé! Mai ra trường biết tay ông!
Rồi, nó cắm cổ chạy. Vũ, từ từ, kéo tay áo xuống. Cuộc vui của nó bị đứt quãng. Thúy đòi về. Nó nắm chặt tay Vũ. Vũ không gỡ ra. Bây giờ, nó mới thấy tay con Thúy êm ái, mát rượi. Bàn tay ấy làm tiêu tan cơn tức giận của Vũ.
Gió thổi mát hơn. Vũ dìu Thúy đi, với một niềm kiêu hãnh của hiệp sĩ. Đêm nay, chắc nó nằm mơ thấy con Thúy.

21
Chúng nó ngồi dưới gốc cây soan tây, từ lúc tan học, tiếng ve sầu rên rỉ sao mà buồn thế. Vũ ngẩng mặt lên, nhìn những chùm soan đỏ rực. Nắng trưa làm chói chang mầu hoa, khiến Vũ chớp mắt mau. Nó dựa hẳn người vào thân cây soan, vòng tay bá vai bạn.
Vũ bị đuổi học từ hôm qua. Nó đánh thằng Dương chảy máu mũi, bênh thằng Vọng. Sau hôm bị thằng Vũ thách thức, rồi cong đuôi chạy, con nhà Dưong để bụng thù thằng Vũ. Nó muốn choảng thằng Vũ. Thằng Phiệt, thằng Hài sợ bọn thằng Vũ hỏi tội, khuyên thằng Dương đừng gây sự với Vũ.
Chúng nó biết Vũ được thầy yêu, bạn quý, nhờ nó học giỏi, và cũng nhờ đội bóng của nó đá mả. Có thằng Vọng mới hạ nổi tụi An Tập, chứ những trận trước thua bét tĩ. Bây giờ, con nhà Vọng nghỉ đá, thằng Vũ sẽ mang xe bò đi chở bóng của tụi An Tập.
Bọn thằng Dương bàn nhau, xúi thằng Vọng rút chân khỏi đội bóng của thằng Vũ. Dương nói xấu Vũ, tấm tắc khen Vọng cừ hơn Vũ. Vọng nín thinh. Nó không thể quên những phút vinh quang của đời nó trên sân cỏ, hay những phút vui vẻ hồn nhiên trên sân trường, nhờ thằng Vũ nó mới được hưởng. Chỉ có thằng Vũ mới mang lại cho thằng Vọng những trận cười vỡ bụng hay những giọt nưóc mắt sung sướng. Vọng mặc kệ bọn thằng Dương, nói chán nói chê. Nó lắc đầu nguây nguẩy.
Dương là thằng đểu. Trong lúc đứng gần Vọng, nó dúi vào cặp sách của Vọng tấm giấy bạc một đồng. Nếu Vọng nghe nó, nó sẽ tặng Vọng. Nếu Vọng khăng khăng chơi với thằng Vũ, nó sẽ đổ tội Vọng ăn cắp tiền của nó, để làm nhục Vọng. Quả nhiên, Vọng bị mắc bẫy. Dương mách ông Đốc. Vọng chối. Dương xin ông Đốc khám Vọng.
Ông Đốc sai tùy phái lục cặp sách của Vọng, và tìm thấy tiền giấu trong đó. Ông Đốc tát Vọng một cái nẩy đom đóm. Vọng run rẩy, mặt mày tái mét. Nước mắt nó ứa ra, chảy xuống mồm mằn mặn, cay đắng.
Thằng Long biết chuyện, mách Vũ. Vũ chạy tới hỏi Vọng. Vọng khóc thút thít. Nó nói đứt khúc từng quãng :
- Thằng Dương... xúi tao bỏ... đội bóng của mày... Tao không nghe... Nó nhét... tiền vào cặp... sách tao, vu oan cho tao... ăn cắp. Ông Đốc... tát tao... Chắc tao bị đuổi mày ạ! Bị đuổi... vì ăn cắp... mẹ tao buồn lắm... Tao chưa ăn cắp bao giờ... Vũ ạ!
Vũ hiểu ngay con nhà Dương khốn nạn đã trả thù nó, bằng cách vu oan cho thằng bạn đá bóng tuyệt cú mèo của nó. Vũ thương Vọng hơn cả mọi lúc. Nó an ủi bạn :
- Mày đừng lo, đã có tao. Mày không bị đuổi học đâu. Mày tội tình gì mà ông Đốc đuổi. Tao mới có tội. Hôm nọ, tao chửi bố thằng Dương, suýt tao tẩn bỏ mẹ nó, nó thù tao, bắt nạt mày đấy. Mày đừng lo, Vọng ạ! Tao đi gặp ông Đốc đây.
Vũ bỏ Vọng ngơ ngác, nhìn theo bóng dáng chàng hiệp sĩ tí hon. Vũ mon men lên phòng ông Đốc. Nó đẩy cửa bước vào. Gặp đông đủ các thầy, Vũ giả vờ cúi gầm mặt, thú nhận nó đã lấy tiền của thằng Dương, nhét vào cặp của thằng Vọng. Thầy Đàn ngạc nhiên, ông Đốc ngạc nhiên. Vũ nói nó trót dại. Nó trót dại, chỉ bị quỳ là cùng, chứ thằng Vọng trót dại, chắc chắn bị đuổi. Thầy Đàn không tin Vũ. Thầy gặng hỏi :
- Thật con lấy tiền của thằng Dương, hay con nhận vì thương thằng Vọng?
Vũ chẳng cần suy nghĩ lâu la, nó trả lời ngay :
- Thưa thầy, con lấy, ạ!
- Tại sao con làm thế?
- Thưa thầy, con trót dại.
Ông Đốc nghe Vũ sám hối thành tâm quá. Ông ngỡ thực. Ông mắng mỏ Vũ, đánh nó năm cái thước bảng, rát cả mông, bắt nó quỳ một tiếng đồng hồ. Bọn thằng Dương đứng nhìn, cười hả dạ.
Vũ nghiến răng căm tức. Nó chửi thầm Tiên sư mày phó cẩm ạ! Chốc nữa ộng đánh bỏ mẹ mày. Hết hạn quỳ, hiệp sĩ Vũ lồng lộn bổ đi tìm thằng súc sinh Dương. Nó phóng tới, đấm đá thằng Dương tơi bời. Đến nỗi con nhà Dương ôm mặt khóc hu hu.
Ngay chiều hôm đó, lão đội xếp già gõ cửa nhà thằng Vũ, mời cha nó ra sở cẩm. Cha nó đã lên Bắc Cạn, dì nó phải thay việc cha nó. Chuyện thằng Vũ đánh chảy máu mũi con ông phó cẩm quan hệ lắm. Ông phó cẩm bảo dì nó đợi ba nó về hẵng hay. Sáng hôm sau, ông Đốc xuống tận lớp nhì 1, đuổi thằng Vũ khỏi lớp.
Vũ thản nhiên khi biết mình bị đuổi học. Trước khi cắp cặp bước ra khỏi lớp, nó còn toét miệng, nhấm nháy đôi mắt, khôi hài với bạn bè. Thầy Đàn nhìn nó thương hại. Con nhà Vũ chẳng cần ai thương hại. Nó cho rằng bênh vực thằng Vọng, đánh thằng Dương là bổn phận của hiệp sĩ. Vũ đọc truyện Đường kiếm họ Triều, thấy Triều Dương Hiệp thường rút kiếm, đâm lòi ruột bọn vua quan bắt nạt người cô thế, nó khoái chí lắm. Nay, nó đánh thằng súc sinh Dương chảy máu mũi, cũng là bênh vực thằng Vọng, khác chi Triều Dương Hiệp. Nó lại nhận nó là Triều Dương Hiệp nữa, nó còn sợ cái nỗi gì. ối dà, đuổi học càng thích, tha hồ chạy nhảy. Sắp hè rồi, không cần.
Về nhà, nó nói cười ầm ỹ, coi chuyện bị đuổi học là trò chơi. Suốt ngày, nó thổi kèn, hay luyện võ hiệp cho thằng Khoa. Dì nó lắc đầu, thở dài. Cơ sự này phải đợi ba nó; chứ trách nó, sợ nó giận, nó bỏ nhà thì rắc rối to. Thành thử Vũ thả cửa chơi nghịch, dì nó không mắng mỏ. Vũ càng tưởng bị đuổi học là trò chơi. Nó chắc mẩm con Thúy đã phục nó cừ hết chỗ nói. Vũ dám tẩn thằng Dương chảy máu mũi. Vũ thật đáng tay giang hồ hảo hán. Giang hồ phải cừ chứ. Vũ luôn luôn nuôi cái mộng cừ ấy. Nó bất chấp phải trái, nó moa phú lão phó cẩm. Bốc máu, nó choảng hết. Choảng xong, bị đuổi học, con nhà Vũ không thèm hối hận. Nó vẫn cười hô hố, ba hoa chích chòe, cả ngày.
Trong khi ấy, thằng Côn buồn rầu vô hạn. Ông Đốc bảo, sang năm, chưa chắc con nhà Vũ đã được học trường công. Vũ không được học trường công, nghĩa là nó phải xa thằng Côn, thằng Vọng, xa đội bóng, từng đè bẹp tụi An Tập 4-0, của lớp nhì 1. Vũ xa nó, lấy ai làm chánh đảng, ai bày mưu tính kế sang sông ăn cắp vải, ăn cắp ổi? Nhất là, mấy hôm nữa bãi trường, ai sẽ thổi ác mô ni ca, để nó hát bài Trường cũ. Côn thương thằng Vũ bao nhiêu, nó lại ghét con Thúy bấy nhiêu. Tại con bà cô này, chứ không làm sao thằng Dương thù thằng Vũ, vu khống thằng Vọng, khiến thằng Vũ nổi giận, đánh nó chảy máu mũi. Côn ức con gái thậm tệ. Ức con gái chán, nó đâm ra ức thằng Vũ.
Côn véo vào tay bạn một cái thật mạnh. Vũ kêu ơi ới :
- Gì thế này? Gì mà mày véo đau thế?
Côn trách móc :
- Sao mày dại thế hở, Vũ?
Vũ gắt :
- Mày cứ luôn miệng nói câu ấy.
- Đánh con ông phó cẩm mà không dại à?
- Dại gì, mày nói cho tao xem nào?
- Thầy bênh mày, mà mày còn bướng.
Vũ sực nhớ buổi chiều trước hôm bị đuổi, thấy Đàn gọi riêng Vũ ra hành lang. Thầy ân cần dặn :
- Ông Đốc và thấy thương con lắm. Lát nữa, ông phó cẩm tới, con đừng nói gì, mặc thầy lo liệu. Con xin lỗi ông ta, nhé Vũ, nhé!
Vũ vâng lời thầy. Khi ông phó cẩm tới, ông ta xồng xộc vào lớp. Học trò đứng lên. Ông ta không thèm vẫy. Ông ta hầm hầm, dữ tợn. Con nhà Dương theo gót bố, mặt vênh vang, như chó con vừa được chủ vuốt ve. Vũ ức quá, quên mất lời thầy dặn. Ông phó cẩm hỏi Vũ :
- Mày ăn cắp tiền của con tao, hả?
Vũ nắm chặt tay, bóp hai ngón kêu răng rắc. Nó ưỡn ngực, rất kiêu hãnh :
- Vâng.
Thằng Dương nói leo :
- Không phải nó. Thằng Vọng cơ, bố ạ!
Vũ cãi :
- Đồ súc sinh, tao đấy!
Thầy Đàn lắc đầu thương hại thằng học trò ngoan, bướng bỉnh. Ông phó cẩm quát :
- Im mồm, thằng ôn con!
Dương mách bố :
- Hôm nọ, nó gọi bố là Đinh hói, bố ạ!
Vũ sửng cồ :
- Ai bảo mày hát anh hùng buôn cứt?
Ông phó cẩm hạch sách :
- Tại sao mày đánh con tao?
- Tại nó bắt nạt bạn cháu.
- Nó bắt nạt, mày cũng không được đánh nó!
- Đứa nào bắt nạt bạn cháu, cháu cũng đánh, cháu không sợ.
Thầy Đàn kiếm lời can ông phó cẩm bớt giận, tha tôị Vũ, nó còn nhỏ. Thầy bắt Vũ khoanh tay xin lỗi ông phó cẩm. Ông phó cẩm bắt Vũ khoanh tay xin lỗi thằng Dương. Vũ ngước lên, nó thấy ông phó cẩm chẳng khác gì ông ba bị dọa trẻ con, và thằng Dương lơ láo như thằng đánh côn trong đám múa sư tử. Vũ nhìn thầy, ngần ngại. Thầy Đàn dục nó :
- Xin lỗi đi con, xin lỗi ông phó cẩm, không con bị ông Đốc đuổi học.
Vũ đứng im. Chân nó chôn chặt một chỗ. Nó bị xử ức quá. Nước mắt nó giàn giụa. Mãi nó mới mở miệng, thổn thúc :
- Thưa thầy, con không xin lỗi ạ!
Ông phó cẩm tát nó hai cái, chỉ tay vào mặt Vũ, xỉ vả một lúc. Đoạn ông bước khỏi lớp. Thấy Đàn không trách Vũ, thầy rút mùi xoa thấm nước mắt cho Vũ. Thầy vỗ nhẹ lên vai Vũ, giọng thầy trầm trầm :
- Thầy hài lòng lắm, nhưng con sẽ bị đuổi, Vũ ơi!
Và, Vũ bị đuổi. Nhớ lời thầy nói, Vũ ngồi ngay người vung tay :
- Tao đét cần học.
- Thế cần gì?
- Đét cần gì.
Côn mỉa mai :
- Bênh cái con bà cô Thúy ở cầu Bo, có lợi lắm hở, mày?
Vũ câm miệng, nó ngượng nghịu không dám nói cho thằng Côn hiểu tại sao, chiều hôm ấy, nó bênh con Thúy, chửi thằng Dương thậm tệ vậy. Côn ngỡ Vũ bí, rỉa rói thêm :
- Con Thúy thì ra cái thớ gì?
Ra cái thớ gì. Vũ không cần biết, Vũ chỉ cần biết, lần nào, gặp con Thúy vui vẻ, Vũ thấy tâm hồn mình lâng lâng, mát rượi; lần nào, con Thúy cau có, dù vui mấy, Vũ cũng cảm thấy buồn bã vu vơ. Vậy, con Thúy ra cái thớ gì. Có lẽ thằng Côn không biết cái thớ của con Thúy, chỉ có Vũ mới biết cái thớ đó ra gì thôi. Côn hoạnh họe :
- Ừ, nó ra cái thớ gì hở, mày?
Vũ xua tay :
- Thôi, đừng nhắc chuyện ấy nữa.
- Thế nhắc chuyện gì?
- Chuyện gì thì chuyện!
- Mày bị đuổi học rồi, còn chuyện gì nữa?
Côn ngồi im lặng, nhớ những kỷ niệm nghịch ngợm hơn hai năm trời, bên cạnh Vũ. Nó ngỡ rằng những kỷ niệm đó sẽ theo thằng Vũ đi mất, chẳng bao giờ trở lại. Ôi, những chiều chơi kiếm hiệp, ở bãi tha ma, những chiều vẫy vùng, ở hồ Phúc Khánh, những trận cười vỡ bụng, ở cống Kỳ Bá, những lần hả hê, sau mỗi lần đá bóng thắng tụi trường đạo, thế là hết. Thằng Vũ đi khỏi cái trường này là hết cả. Nó sẽ mang tới trường khác, cho tụi nhãi khác hưởng. Còn thằng Côn, thằng Vọng, và đội bóng lớp nhì 1, buồn thiu, mất chúa đảng Vũ rồi. Côn rầu rầu hỏi bạn :
- Ông Đốc dọa, sang năm, không cho mày học, mày học ở đâu hở, Vũ?
Vũ tặc lưỡi :
- Cần cái đét gì, học ở đâu chả được.
- Mày định học ở đâu?
- Tao học trường bà xơ.
- Nhỡ lão phó cẩm bắt bà xơ đuổi mày thì sao?
- Thì tao học trường Kỳ Bá.
- Kỳ Bá làm đếch gì có lớp nhì 2.
- Ừ nhỉ, tao thôi học vậy.
- Thôi học mày làm gì?
- Tao ở nhà.
- Ở nhà bố mày đánh chết.
- Đánh thì tao trốn đi.
- Mày lại giang hồ nữa à?
- Ừ, lần này tao đi xa lắm.
- Mày đi đâu?
Vũ bèn đọc một câu vọng cổ, mà nghe mãi nó đã thuộc lòng :
- Muôn dặm trùng dương, lấy trăng gió làm nhà, nước mây làm bạn...
Côn ngớ ngẩn hỏi :
- Rồi, mày ăn cơm ở đâu?
Vũ trả lời bừa :
- Tao ăn cơm hàng.
- Tiền đâu mà ăn cơm hàng?
Vũ bị dồn vào nước bí, nó cáu :
- Tiền cái củ thìu biu, giang hồ cần đét gì tiền. Hễ được tụi súc sinh bầu làm đại ca, có cơn ăm. Tao ở cống Đậu, đã từng ăn chim sẻ rán của bọn tổ sư ăn cắp.
Vũ cười :
- Hà hà, giang hồ có ai mang tiền. Mày xem chuyện kiếm hiệp, có thằng hiệp sĩ nào mang tiền đâu.
Côn bỗng lây cái thú giang hồ của Vũ, nỗi buồn của nó như chui đâu mất. Nó đập vai Vũ :
- Thật hở?
- Ừ!
- Mai, mày có đến đây nữa không?
- Không.
- Sao thế?
- Phải lẩn mặt ông Đốc, tao đét thích.
Côn ngẫm nghĩ một lát, rồi bàn :
- Hay là hai đứa mình giang hồ tối nay, đi!
Vũ lắc đầu :
- Đợi bố tao về, xem bố tao có đánh tao không đã.
Vũ nói cho sướng miệng, chứ đời nào nó chịu đi giang hồ. Bây giờ, con Thúy với nó thân thiết đến độ hai đứa rủ nhau hóng mát cầu Bo, dại gì Vũ trốn nhà đi giang hồ. Côn cụt hứng, lảng sang chuyện khác :
- Mày có được thổi kèn hôm bãi trường không hở, Vũ?
Vũ chìa khuỷu tay :
- Thổi cái này này!
- Nhỡ ông Đốc cho mày thổi kèn, mày có thổi không?
- Không.
- Không có mày, tao đếch hát nữa.
- Mày đét hát, ông Đốc đuổi bỏ mẹ!
- Đuổi thì đuổi.
Vũ dỗ Côn :
- Hát đi mày, bảo con nhà Ngân thổi kèn thay tao. Chúng mày hát, chắc được bravo ghê lắm.
Côn thè lưỡi liếm môi :
- Cần đếch gì bravo!
- Thế mày cần gì?
Côn nắm chặt tay Vũ :
- Tao cần mày cơ...
Hai đứa bé nhìn nhau. Thương mến. Tiếng ve sầu rền rĩ nhiều hơn. Không bảo nhau, hai đứa cùng đứng lên, bá vai nhau sóng bưóc. Thoắt cái, chúng nó đã nhảy ra khỏi cổng.

22
Mấy hôm liền, Vũ bị cảm. Nó nằm lì ở nhà. Vũ mong mỏi con Thúy đến thăm nó, rờ tay lên trán nó, hỏi thăm nó nằm mơ thấy gì. Vũ sẽ kể cho Thúy nghe những giấc mơ đẹp tuyệt vời của nó. Khốn nỗi, con Thúy không đến. Vũ cho rằng con Thúy cũng bị ốm. Nếu vậy, Vũ phải đi thăm Thúy. Vũ đã khỏi rồi, khỏe như vâm.
Vũ để đầu trần mò mẫm đến nhà Thúy. Nó ngạc nhiên hết chỗ nói. Con Thúy vừa gặp nó đã bĩu môi, lườm nguýt. Vũ cứ tưởng nó đánh chảy máu mũi thằng Dương, bênh con Thúy, và bị ông Đốc đuổi học, con Thúy phải phục nó sát đất chứ. Tại sao con bé nỡ tệ bạc, nỡ khiêu khích Vũ. Vũ chắc con Thúy giận mình. Tự nhiên, tai nó nóng bừng như mọi bận. Vũ thinh thích sự hờn mát của Thúy.
Nó làm lành :
- Thúy giận Vũ cái gì thế?
Thúy trả lời sẵng :
- Không biết.
Vũ cố tìm cách giảng hòa :
- Chim khuyên của Thúy hót hay chưa?
Thúy vênh mặt rất đáng ghét :
- Chim khuyên hở?
Giọng Vũ thân thiết :
- Ừ... ừ... ừ...
Thúy hỉnh hỉnh mũi :
- Tưởng đan cái lồng, ai ngờ ăn cắp cả chim lẫn lồng bẫy!
Mặt Vũ tái mét. Nó ức phát run. Chết rồi, con Thúy đã biết chuyện nó cớp cái lồng bẫy chim của thằng Hội. Vũ chửi thầm Tiên sư đứa nào hớt lẻo, ông đánh bỏ mẹ mày. Liếc con Thúy, nó vẫn cong cớn đôi môi. Vũ lấp liếm :
- Ai nói Vũ ăn cắp lồng chim, Vũ cho nó nhừ đòn. Của người ta đan mấy ngày, nó dám nói người ta ăn cắp.
Thúy ngắm nghía Vũ bằng đôi mắt mụ phù thủy Phi châu. Nó thấy thằng Vũ hết cừ rồi. Hôm kia, hay hôm kìa, nhà nó mở bát họ, mẹ nó làm chủ cái, bà Đốc đến mua họ. Bà Đốc dẫn thằng nhãi Hội theo. Nghe tiếng chim khuyên hót, Hội tò mò đi xem. Nó gặp con Thúy đang kết hoa dâm bụt đầy lổng. Hội thích chim lắm. Nó sà tới xem qua cái lồng, và nhận là lồng của nó. Thúy bảo của Vũ. Hội đổ riết Vũ tội ăn cắp. Nó chỉ chữ H khắc ở cột khung cho Thúy trông rõ. Thúy le lưỡi, lắc đẩu. Vũ đã đánh lừa Thúy, ăn cắp của thằng Hội, dám nói mình đan.
Thúy tức Vũ không thể tả được. Nó sẽ không thèm chơi với thằng Vũ, cho thằng Vũ biết tay. Thúy trả Hội cái lồng bẫy. Hội hứa sẽ cho Thúy cái lồng nhỏ, hai chú chim khuyên. Nó còn gạ con Thúy lại nhà nó, xem nó đánh bẫy chim nữa.
Thằng Hội cừ hơn thằng Vũ nhiều. Con Thúy được dịp trút nỗi bực tức, nó nói toạc móng heo :
- Thằng Hội nói Vũ ăn cắp cái lồng chim của nó!
Vũ nghiến răng ken két :
- Thằng Hội, hở?
- Ừ!
- Vũ sẽ đánh bỏ bố nó.
Thúy láu lỉnh :
- Vũ đánh ông Đốc à?
Tiếng nói của con Thúy gai gai, khó chịu quá. Vũ không thể nhường nhịn con bé đanh đá cá cầy này :
- Sợ đét gì ông Đốc!
Thúy há hốc mồm :
- Không sợ ông Đốc đuổi, hở?
Vũ cãi chầy :
- Bị đuổi rồi, cần chó gì ông Đốc!
Thúy tròn xoe mắt. Hiệp sĩ Vũ, tay giang hồ mã thượng, hôm nay, ăn nói nhảm ghê. Thúy nhắm mắt. Nó nói :
- Lồng của thằng Hội, khắc chũ H hẳn hoi. Vũ ăn cắp đứt đuôi rồi, Vũ hay ăn cắp quá. Thằng Hội mới cừ. Thúy không chơi với Vũ nữa đâu. Thúy chơi với thằng Hội.
Vũ đau điếng người. Bị con Thúy chê là ăn cắp, không cừ bằng thằng Hội, Vũ mở miệng không nổi. Mồ hôi nó toát ra. Vũ cố hình dung cái buổi chiều con Thúy bị thằng Dương bắt nạt, đứng nép mình bên nó, như nhờ sự che chở của nó. Vũ vớt một câu kể công, hy vọng con Thúy nhớ chút ân huệ, sẽ xử hòa với nó :
- Thúy quên chuyện thằng Dương chửi Thúy ở cầu Bo rồi à?
Thúy lơ đãng :
- Hở?
- Vũ bị đuổi học vì đánh thằng Dương đấy, Thúy ạ!
Thúy độc địa :
- Ai bảo ăn cắp tiền của nó, còn đánh nó chảy máu mũi, đồ ác!
Vũ nghẹt thở. Nó cáu tiết, với cái cốc, quất mạnh xuống nền gạch, rồi lủi thủi bước ra ngoài. Con Thúy cười rúc rích. Tiếng cười chạy theo chế nhạo Vũ. Nó nhặt viên đá ném bốp vào thân cây bàng. Chưa hả giận, Vũ đá con chó tha thẩn ở vỉa hè một cú móc. Con chó kêu ăng ẳng. Tạt qua nhà ông Đốc, nhìn trước nhìn sau, nó đáp một hòn gạch trúng cánh cổng sắt, đánh rầm một cái. Rồi, nó co giò chẩu.
Vũ về nhà ngay. Nó nằm thẳng cẳng trên tấm phản gỗ. Nó nguyền rủa con Thúy là đổ vô ơn. Nguyền rủa chán, nó đâm ra xấu hổ, lo ngại. Tay nó bủn rủn. Đầu óc nó rối loạn. Nó hết chỗ bấu víu rồi. Nó sợ cha nó. Nó sợ, sang năm, không được học. Bị đuổi học chẳng phải là chuyện đùa. Quan trọng lắm. Côn nói đúng. Chỉ thằng Côn thương Vũ thôi. Còn con Thúy, cái con mụ phù thủy rừng rậm Phi châu ấy, đểu thật, đểu ngang thằng Dương.
Vốn sẵn mơ mộng, Vũ nghĩ lan man. Vũ phác ra cảnh một đứa con trai ghét một đứa con gái, bỏ gia đình êm ấm, tìm tới chốn sơn lâm cùng cốc. Y hệt mấy tay kiếm sĩ Tầu, chán ngán cảnh phồn hoa giả dối, tìm thầy học võ. Nó sẽ trổ tài đạo chích, cướp của nhà giầu, chấm mút tí tỉnh cho no bụng, còn bao nhiêu chia cho kẻ nghèo, như mấy thằng hiệp sĩ chính cống. Phải, nếu cha nó đánh nó, nó sẽ bỏ đi. Bạn bè nó sẽ tưởng nó giang hồ vạn nẻo. Mọi người sẽ khóc sướt mướt, và con Thúy đanh đá, vô ơn sẽ hối hận trọn đời. Cùng lắm, Vũ sẽ gọt đầu đi tu. Đi tu ăn tương thối, rau muống luộc già cả đời, chán chết. Giang hồ vẫn thảnh thơi, và, thỉnh thoảng, được chén thịt chó nấu rựa mận, thú hơn.
Vũ lãng mạn ba chê. Dù trường hợp nào, nó cũng cố nặn ra những cảnh ngộ, theo trí tưởng tượng của nó. Nó thí dụ giang hồ mà đói rách quá, nó sẽ lê gót xuống núi, làm đầy tớ cho một gia đình. Gia đình ấy có đứa con gái trạc tuổi nó, đẹp gấp trăm con Thúy, học kém nó. Con bé này, mới đầu, làm bộ, khinh nó. Nó phớt tỉnh. Chiều chiều, nó thổi ác mô ni ca bài Căn nhà êm ấm, hát vài lần, và kể sự tích Căn nhà êm ấm cho con gái ông chủ nghe, bằng giọng nói đầy cảm động. Con bé, nhất định, sẽ khen nó cừ. Lớn lên, nó cưới con bé làm vợ, dẫn về tỉnh cho con Thúy biết tay. Bấy giờ, con Thúy già nua, mặt rỗ, mắt toét, hôi nách, thối tai, đầu trọc, lấy thằng chồng bán lạc rang, khổ sở lắm.
Đấy là cảnh ngộ theo trí tưởng tượng. Vũ bỗng giật mình, nhớ tới ông bác thân mến, nhai thịt mỡ nhồm nhoàm, và bầy con nham nhở của ông ta, ở cống Đậu. Giang hồ kiểu đó là giang hồ cống Đậu. Làm đầy tớ, còn nhục ngàn lần. Rửa bát, nấu cám lợn, thổi cơm, giặt quần áo, than ôi, chán mớ đời! Quần quật tối ngày, thổi ác mô ni ca vào lúc nào? Vũ bèn đổi ý. Không nên giang hồ... bếp. Giang hồ là dại dột. Bắt chước mấy thằng hiệp sĩ, chết đói nhe răng. Thà cứ nằm nhà chịu đòn, để cha nó tính chuyện học hành sau. Cách ngôn của Vũ: Ta đừng nghe tụi viết truyện kiếm hiệp bỏ nhà đi giang hồ.
Bây giờ, Vũ mới biết nó dại. Chơi với con Thúy không ăn cái giải gì, còn bị nó hắt hủi. Thằng Côn nói đúng. Con Thúy thì ra cái thớ gì? ừ, cái tụi con gái ra cái thớ gì? Chúng nó chỉ có cái thớ... vô ơn.
Vũ lẩm nhẩm trong miệng. Nó đang mơ ước con Thúy hóa kiếp thành con nhặng. Từng cơn gió mát lùa nhẹ, như muốn ru ngủ thằng Vũ. Lát sau, nó đã khép mắt, ngáy khó khò, quên tất cả mọi chuyện.
Khuôn mặt Vũ, lúc ấy, trông buồn cười lắm.

0
Phần hai
Vừa biết chớm buồn
 
23
Bốn thằng bạn trẻ kéo nhau tới nhà thằng Vọng. Nhà nó ở tận lối vào cống Kỳ Bá, không điện, cũng chẳng có nước máy. Lúc ấy, con nhà Vọng đang nằm ngửa trên chiếc chõng tre, đọc cuốn Tấm lòng vàng, của Nguyễn Công Hoan. Nó mặc trần xì cái quần đùi đen, mình để trần. Vừa say mê coi truyện, thằng Vọng vừa mê mẩn gãi ghẻ. Đến đoạn anh chàng học trò nghèo kiết xác đỗ làm quan, về thăm thầy cũ, trường xưa, con nhà Vọng rơm rớm nước mắt. Thầy giáo Hoan viết hay quá. Năm nay, Vọng học thầy Hoan đây. Ước gì thầy Hoan giúp đỡ nó ăn học nên người, như thầy giáo trong cuốn Tấm lòng vàng đã giúp đỡ thằng cu Đức thì tuyệt cú mèo.
Vọng gấp sách lại. Ước mơ. Có tiếng réo ngoài ngõ :
- Vọng ơi!
Thằng Vọng ngồi nhổm dậy, quên luôn cả giấc mơ tiểu thuyết. Nó chạy ra đón khách. Thằng Côn trách liền :
- Nhà mày tìm khó bỏ mẹ đi ấy.
Vọng mỉm cười. Con nhà Luyến hỏi :
- Chim gáy có hay về đây không hở, Vọng?
Thằng Vọng nhìn cái súng cao su đeo lủng lẳng ở cổ thằng Luyến, nói đùa :
- Nó sợ mày, bay đi hết rồi.
Bọn trẻ cười thích thú. Luyến tiếc rẻ :
- Giá nó không sợ, tao hạ vài chú, tụi mình rán chén, ngon biết bao!
Lộc nuốt nước bọt :
- Mày tả chim rán, làm ông thèm nhỏ rãi.
Long xỏ Luyến :
- Mày kiếm chào mào hạ đi, Luyến ạ!
Rồi, nó vỗ vai Vọng :
- Mẹ mày có nhà không?
Vọng lắc đầu. Bốn đứa theo thằng Vọng vào nhà. Chúng nó đứng, ngồi quanh chiếc chõng tre. Côn chợt thấy mình mẩy thằng Vọng đầy mụn ghẻ. Thằng này ghẻ khiếp quá. Trước đây, Côn tưởng con nhà Vọng chỉ ghẻ ở tay. Hèn chi, mỗi lần tập đá bóng, dù nóng chảy mồ hôi, thằng Vọng vẫn không chịu cởi trần. Côn ngắm nghía từng chiếc xương sườn nhô lên từ cái thân hình gầy gò, xanh xao của thằng Vọng. Nó nheo con mắt :
- Trông thằng Vọng giống bộ xương cách trí ghê, chúng mày nhỉ? Vọng ơi, sao mày lười thế?
Vọng ngơ ngác :
- Lười cái gì?
- Mày ngủ không buông màn.
Vọng thật thà :
- Nhà tao làm gì có màn. Tao ngủ chung với mẹ tao.
Con nhà Luyến vớ dịp may, trả nợ liền :
- Thế đêm mày có rờ vú mẹ mày không?
Thằng Vọng bẽn lẽn. Con nhà Côn chớp mắt lia lịa :
- Thảo nào mày bị ghẻ. Muỗi nó đốt mày thành ghẻ đấy mà.
Nó pha trò :
- Muỗi Mã Viện khiếp lắm. Để chúng tao chữa bệnh ghẻ cho mày mới được. Năm ngoái, tao cũng bị ghẻ, mẹ tao bắt con ở đi hái lá gáo, lá mơ dại, về nấu nước, bắt tao ngâm, rồi bôi thuốc. Chỉ một tuần là tao khỏi. A lê hấp, chiều nay, mày đi hái lá gáo ngay tút xuỵt. Sợ trèo cây, thì tao trèo.
Lộc tiếp lời Côn :
- Tao cho mày thuốc ghẻ của chú Phương tao, nhé! Có cả thủy ngân lóng la lóng lánh, mới lại mỡ nữa. Chú tao bảo mỡ để nhử ông bạn cái ghẻ. Ăn xong, là cái ghẻ củ dế liền tù tì.
Vọng lặng yên nghe các bạn bàn cách chữa bệnh ghẻ tầu của nó. Thằng Luyến mím môi :
- Tao xin mẹ tao cho mày cái màn cũ. Mày đừng chê, nhé?
Long giục Vọng :
- Nhận đi, Vọng ơi! Không ngủ màn, thế nào muỗi nó cũng tha mày ra cống Kỳ Bá đó.
Con nhà Long bắt chước thằng Vũ :
- Mày không nhận, chúng ông tẩn mày om đòn.
Vọng hơi cúi đầu. Giọng nó thật nhỏ nhẹ :
- Chúng mày chớ nói với tụi ở trường, nhé!
Bốn thằng bạn trẻ của Vọng cùng gật đầu. Côn muốn Vọng khỏi thắc mắc chuyện ghẻ, bàn sang việc chính của nó. Tức là phục kích bọn nhãi Tầu, trưa nay. Chúng nó ức bọn Tầu lắm rồi. Ức từ hai tuần nay. Chủ nhật trước, đội bóng lớp nhì 2 của Côn đá với trường Tầu, bị bọn nhãi Tầu tặng hai quả trứng vịt. Thiếu thằng Vũ, đội bóng như mất linh hồn. Thằng Vọng đá kém đi. Thằng Luyến bắt ban hết dính nhựa mít sơ lanh. Suốt trận đấu, con nhà Vọng không hề biểu diễn nổi một cú ngả bàn đèn nào ra hồn. Thằng Côn bị hai thằng nhãi Tầu kèn cựa, mất bóng luôn luôn. Đội bóng của Côn không được công kênh hoan hô, còn bị nói xỏ nữa. Thằng Hách trở mặt, trêu thằng Vọng liên miên. Con nhà Huấn thù Vũ, ghét lây thằng Côn.
Côn đã giậm chân kêu trời, giữa sân cỏ. Cuối cùng, nó rủa con Thúy thậm tệ. Như thế, vẫn chưa đủ. Chiều hôm qua, tụi trường Tầu đá với đội bóng tròn lớp thành chung, thằng Coóng đã cộp anh thằng Côn xưng mắt cá chân. Anh thằng Lộc bị thằng Sáng đánh khuỷu tay trúng bụng. Anh thằng Minh ngã trước gôn tụi Tầu, bị thằng Sùi giẵm lên tay. Bọn trường Tầu gấu quá. Côn cần phải trả thù chúng nó. Yết Kiêu Côn đã từng coi Mông Cổ như lũ kiến, há chịu thua bọn Tầu phố chính hay sao? Nó bẻ ngón tay kêu rắc rắc :
- Chơi nhé, chúng mày nhé?
Luyến tháo cái súng cao su khỏi cổ. Nó móc túi lấy viên đạn đất sét, nhét vào miếng da. Rồi, nhắm cái bát mẻ trước mặt, kéo căng hai sợi dây cao su, nhả đạn. Viên đạn trúng cái bát. Con nhà Luyến ngạo nghễ :
- Ông sẽ bắn vỡ đầu bọn Mông Cổ phố chính.
Côn sốt ruột :
- Mày tính sao, Vọng?
Vọng nghiến răng :
- Chơi thì chơi, sợ gì. Ông ức Tầu còn hơn tụi mày cơ.
Vọng thuật thêm chuyện ghét Tầu cho bọn thằng Côn nghe. Nào là mẹ nó ngồi trước cửa hiệu cao lâu nhà thằng Sùi, đương bán hàng đắt khách, con nhà Sùi xui bố nó đuổi, không cho bán. Nào là mẹ gánh hàng qua nhà thằng Nhì, bị thằng Nhì đổ nước, ướt hết đầu mẹ nó. Vọng nói bằng giọng căm tức. Khiến Côn tưởng rằng đang coi ban kịch hướng đạo Hải Dương diễn vở Phá cường địch báo hoàng ân, tả sự tích ông Trần Quốc Toản. Côn bảo Vọng :
- Cầm quả cam đi, mày!
Vọng ngớ ngẩn :
- Làm gì có cam. Nhà tao còn mỗi quả chanh. Muốn chén với muối à?
Con nhà Long toét miệng cười :
- Nó muốn mày bóp nát quả chanh để giết... cái ghẻ!
Năm thằng bạn trẻ cười vang. Vọng gật gù :
- Tụi chúng mày chê tao ghẻ, chứ ghẻ cũng có cái thú vị.
Long hỏi :
- Thú bắt quyết, hở?
Vọng nhận ngay :
- Ừa, gãi thú vị lắm. Đang ngứa tuyệt đỉnh, mà vớ được chậu nước nóng ngâm tay, không còn gì sung sướng bằng.
Côn lắc đầu :
- Hèn chi mày cứ thích ghẻ. Thôi, chúng mình bàn chuyện khịa bọn Tầu đi. Chúng ta chơi trò mọi da đen tấn công tụi săn tê giác.
Nó hớn hở :
- Xuống bếp, anh em ơi!

24
Năm đứa kéo nhau xuống bếp nhà thằng Vọng. Mỗi đứa cầm một chiếc nồi, xòe bàn tay xoa đít nồi, rồi bôi lên mặt. Nhọ nồi bị mài sạch. Chúng nó phun nước miếng vào, cho nồi ra thêm nhọ. Côn thó hũ mỡ của mẹ thằng Vọng, tưới lên đít nồi. Mặt nó đen bóng, như mọi đen chính cống. Và, năm thằng nhóc đã có năm khuôn mặt ma chê quỷ hờn. Đứa nọ nhìn đứa kia, cười nhe răng trắng ởn.
Luyến hỏi Côn :
- Xong chưa, mày?
Côn đáp :
- Còn vẽ mình nữa chứ.
Chúng nó cởi phăng áo, bắt thằng Vọng đem lọ mực tím, vẽ cái đầu lâu và hai khúc xương bắt chéo trên ngực. Vẫn còn thiếu. Côn bàn nên kiếm mỗi thằng một sợi dây chuối, buộc ngang trán, rồi dắt lông vịt quanh đầu. Xong xuôi, chúng nó kéo nhau ra ngõ.
Trời quá trưa, nắng lửa muốn đốt cháy tóc khách bộ hành. Con đường nhỏ, từ cống Kỳ Bá đẫn tới đường cái, đầy nắng, vắng bóng người qua lại. Lúc ấy chỉ có học trò đi học thôi. Bọn nhãi trường Tầu, ở xóm này, khá đông. Tụi đá bóng cừ đều là dân Tầu cống Kỳ Bá. Côn đã chọn đúng quân thù, để rửa hận cho anh nó và học sinh thành chung. Nó ưỡn ngực về phía trước :
- Tao vưỡn là Yết Kiêu đấy, nhé!
Luyến nhận chức anh hùng :
- Thằng Vũ đi rồi, giờ tao là Dã Tượng.
Lộc giơ tay :
- Tao là Trần Quốc Toản.
Vọng lắc đầu :
- Quốc Toản là tao rồi. Mày chọn thằng khác đi.
Lộc vỗ vai Vọng :
- Trần Quốc Toản cũng... ghẻ tầu hở, mày?
Vọng đưa tay ra sau lưng, gãi xoàn xoạt :
- Ừ, ông Trần Quốc Toản, ngày xưa, ghẻ như tao ấy. Ông ấy lở đít nữa cơ.
Lộc đành thua. Nó chưa biết chọn nhân vật nào. Thì Côn nhanh miệng :
- Con nhà Lộc là Lê Lai đi!
Long đã nhắm mắt ôn lại những bài Việt sử, mà chẳng tài nào nhớ nổi tên một anh hùng cừ cả. Nó cáu quá, hét lớn :
- Còn tao là gì?
Côn đập trán nhè nhẹ :
- Mày hở? Mày là Lý Thường Kiệt.
Luyến trêu bạn :
- Đêm ngủ, con nhà Long còn đái dầm. Lý Thường Kiệt cái khổ nào?
Long đá Luyến một cái :
- Ông ăn ba con nhện nướng, hết đái dầm từ năm ngoái cơ mà.
Cuộc chọn lựa anh hùng chu rồi. Côn dặn Lộc :
- Hễ tao bị bắt, mày phải liều mình cứu tao, nhé! Lê Lai liều mình cứu Yết Kiêu. Nghe chưa!
Năm đứa tìm chỗ nấp. Côn ẩn bên bờ tre. Mắt nó trừng trừng nhìn về phía xóm Tầu. Tâm hồn nó nghĩ tới con Thúy. Côn chả hiểu tại sao con Thúy xử ức thằng Vũ thế. Thằng Vũ có cái gì cũng đem cho con Thúy. Nó mạo hiểm cớp cái lồng chim khuyên, tặng Thúy. Nó ăn cắp những mười đồng, rủ Thúy đi ăn kem ở cầu Bo. Giang hồ xuống tận cống Đậu, Vũ vẫn nhớ thó táo tầu, về biếu Thúy. Rồi, Vũ khinh thường thằng súc sinh Dương, đấm con lão phó cẩm chảy máu mũi, để bênh vực Thúy. Vậy mà con Thúy vô ơn, nói xỏ thằng Vũ, làm con nhà Vũ buồn.
Hôm Vũ ra bến ô tô, Vũ cầm tay Côn. Mắt nó đỏ hoe. Nó méo xệch cái miệng, tâm sự với Côn rằng, nó lên Hà Nội sẽ học phép phù thủy, biến con Thúy thành con nhặng. Côn ta mủi lòng, đấm bụng bốp một cái, hứa hẹn Tao sẽ trêu nó phát khóc, trả thù cho mày.
Vũ đi. Côn và các bạn ở lại Thái Bình. Mùa hè qua, mùa thu tới. Cổng trường mở rộng. Lớp học chẳng có gì thay đổi. Năm nay, thầy Đàn dạy lớp nhì 2, nên Côn không cảm thấy mới lạ, bỡ ngỡ. Thằng Vũ để lại tâm hồn Côn một khoảng trống rỗng. Khoảng trống rỗng này cứ gần lấp đầy, thì lại trống rỗng thêm, bằng những trận đá bóng thua tơi bời, bị cộp sưng vù chân, bị bạn trong trường chế nhạo.
Khoảng trống càng rộng, Côn càng ghét con Thúy. Đã mấy tháng, Côn vẫn chưa trêu con Thúy phát khóc được. Mỗi lần, đến gần con Thúy, là mỗi lần Côn ta đần người ra. Cuối cùng, nó nhún vai, buông thõng đôi tay, lẩm nhẩm chờ hôm khác, sẽ biết tay nhau. Hôm khác, Côn vừa mở miệng, con Thúy đã toét miệng cười. Côn ta bỗng thấy nóng ran ở tai, ngẩn ngơ, như người vừa đá hụt trái bóng. Nó nuốt nước bọt, ngó quanh quẩn, rồi thọc tay vào túi quần xoóc, cúi mặt, lảng xa.
Côn nghĩ tới thằng Hội, con ông Đốc. Thằng mụ sữa Hội, dạo này, hay lại nhà con Thúy chơi lắm. Côn nghiến răng ken két. Nó nắm chặt đôi bàn tay, cơ hồ sắp tống bọn nhãi Tầu.
Ngồi dưới gốc cây ổi, Luyến mít sơ lanh, vua bắn súng cao su, lim dim mắt mơ mộng. Nó vừa đọc xong truyện Mới lớn lên, đăng ở Phổ thông bán nguyệt san. Thằng bé mới lớn lên mê chị của thằng bạn mình. Bà chị lớn hơn nó những năm tuổi. Chú bé gửi lá thư tình, liền được bà này tặng kẹo, xoa đầu. Chú bé cho rằng, thế là, chị của thằng bạn mình yêu mình. Chú khoe rối rít mình đã biết yêu. Luyến bị ám ảnh bởi câu chuyện buồn cười ấy. Nó nhớ đến chị thằng Lộc, cũng hay xoa đầu, tặng kẹo nó. Luyến mỉm cười. Tâm hồn non dại và tinh khiết của nó đang bị vẽ vời một cảnh tiểu thuyết.
Từ xóm Tầu, lố nhố bọn trẻ con cắp sách đi học. Côn quên phứt con Thúy. Luyến bỏ rơi tiểu thuyết. Lộc ngưng nhẩm ôn bài đức dục. Vọng không cần biết mẹ nó sắp về. Chúng nó mở căng mắt, theo rõi bọn trẻ. Yết Kiêu Côn ra lệnh :
- Mày trèo lên cây ổi xem, có đúng tụi Mông Cổ không, Dã Tượng?
Dã Tượng Luyến, súng cao su quàng cổ, thoăn thoắt trèo cây. Nó lựa cái chạc, đứng thật vững, biểu diễn buông hai tay, đưa lên mắt làm ống nhòm :
- Đúng tụi Mông Cổ.
- Bao nhiêu đứa?
- Mười.
Dã Tượng đã tụt xuống khỏi cây ổi. Bọn Tầu con mỗi lúc đến một gần. Chúng nó xí xa xí xố. Vua súng cao su gom hết đạn đất sét nung thành một đống nhỏ. Nó nạp viên đạn đầu, sửa soạn khai hỏa. Yết Kiêu, Trần Quốc Toản, Lý Thường Kiệt, Lê Lai đương ở thế quỳ, trước khi vùng chạy. Dã Tượng dặn trước :
- Đợi tao ăn gỏi vài thằng đã, rồi hãy tràn ra bắt sống chúng nó, nghe tụi mày?
Vọng ngán nghề bắn súng của Luyến, hỏi :
- Mày định bắn vào đâu?
Luyến nghiến răng :
- Ông sẽ bắn vỡ đầu chúng nó.
Côn vỗ đùi đét một cái :
- Đừng, đừng bắn vỡ đầu, đi tù bỏ bố.
Luyến toét miệng cười :
- Thế tao bắn sứt rốn chúng nó vậy.
Bọn Tầu con chỉ còn cách ổ phục kích ba chục thước. Rồi, hai chục thước. Dã Tượng kéo căng hai sợi dây cao su. Véo. Viên đạn đất sét nung xé không khí, trúng cẳng một thằng Tầu. Tên giặc buông cặp sách. lăn trên đường, ôm lấy chân, tỉu nà ma ầm ỹ. Dã Tượng khoái chí, bắn viên thứ hai. Người nhắm bụng thằng Tầu con. Viên đạn vừa bay khỏi miếng da, thằng Tầu cũng, bất chợt, đưa cái cặp mây ngang bụng. Thành thử viên đạn trúng cái cặp mây, vỡ tan tành. Thằng Tầu hoảng quá, hét inh lên :
- Ló pắn chộm, lằm li!
Bọn Tầu con nằm hết xuống. Thằng Dzoòng, con lão Tầu thọt bán bánh bò, ngóc đầu cao, tuyên chiến :
- Có giỏi ra đây!
Dã Tượng bắn liên tiếp năm viên đạn. Đạn cầy mặt đường, làm thành những đám bụi nhỏ. Yết Kiêu hỏi anh em :
- Xuất đầu lộ diện chưa?
Trần Quốc Toản lắc đầu :
- Gượm đã. Đợi thằng Luyến xực phàn thêm vài thằng nữa, cho chúng nó chết vợi đi.
Bọn Tầu con sợ đạn đất sét, nằm im bất động. Dã Tượng, khôn lỏi hơn, cũng đã ngừng bắn. Người nói thầm “Ông cho chúng mày phơi nắng, tha hồ uống thuốc Thối nhiệt tán, các con ơi! Trễ giờ học, chúng mày sướng nhá!” Chủ tướng Dzoòng bảo các bạn :
- Chạy thôi!
Dã Tượng đã đoán đúng sự lo ngại của quân Mông Cổ. Đám Tầu con vụt dậy, cắp cặp mây, chạy theo chủ tướng. Yết Kiêu truyền lệnh :
- Đuổi theo!

25
Tới khúc đường hai bên có rãnh ngập bùn nhơ, quân ta đuổi kịp quân Tầu. Quân ta bắt chước mọi da đỏ trên màn bạc, hí hí tưng bừng. Quân Tầu quay lại, thấy năm đứa mặt mũi đen thủi, bóng nhẫy, mình vẽ đầu lâu xương ống nhằng nhịt, hơi khiếp đảm. Chủ tướng Dzoòng cậy quân mình đông, dừng lại ứng chiến.
Mười thằng quần thảo năm thằng. Côn lao thẳng vào thằng Coóng con, phóng ra những trái đấm... gió. Luyến lao cả người, toan hạ ngay thằng Dzoòng. Vọng chưa kịp giở trò gì, đã bị ba thằng Tầu sáp tới, đấm đá túi bụi. Nó kêu cứu ầm ỹ :
- Lê Lai đâu?
Lê Lai đang ở giữa vòng vây, chân đá, tay đấm. Lê Lai không sao thoát nổi, để liều mình cứu Trần Quốc Toản. Giữa phút giây khốn đốn của Vọng, Lý Thường Kiệt đá song phi đúng hạ bộ một thằng Tầu. Tên giặc lăn quay cư đơ, ôm giống, kêu bố vang chiến trận. Lý Thường Kiệt vuốt râu tưởng tượng, cười ha hả :
- Thọt lên cổ rồi, hở?
Người xông vào vòng vây Lê Lai. Và, bị quân Tầu vây hãm luôn. Dã Tượng đeo cái súng cao su, tả xung hữu đột. Thành Cát Tư Hãn Dzoòng đấm vù một trái. Dã Tượng Luyến né kịp. Người nheo mắt khinh địch. Thành Cát Tư Hãn tung người lên, đá bốp đúng mông Dã Tượng. Người giả đò lùi, rồi ngã ngửa. Thành Cát Tư Hãn đâu bỏ lỡ cơ hội. Hắn chồm lại. Dã Tượng vươn hai chân đạp trúng bụng Thành Cát Tư Hãn trả đũa liền. Bên cạnh đôi gà nòi Dã Tượng-Thành Cát Tư Hãn, Yết Kiêu Côn đang toát mồ hôi đỡ đòn của Hốt Tất Liệt Coóng con. Yết Kiêu chỉ đỡ, đã đủ mệt rồi. Thình lình quân Tầu reo hò :
- Pắt lược một thằng dồi! Hì hì, thằng Vọng!
Vọng lo bấn cả người. Nó run bần bật. Yết Kiêu thối chí, đỡ đòn hết hay. Hốt Tất Liệt lên tinh thần, đấm đá không trêch. Quân Tầu thắng trận đầu, đánh thật say sưa. Lý Thường Kiệt bị đẩy xuống rãnh bùn. Người ngóc đầu lên, và không dám tham chiến nữa. Lê Lai, xem chừng, cũng sắp bị bắt. Hai thằng Tầu khiêng con nhà Vọng về phía cống Kỳ Bá. Vọng giẫy giụa :
- Tụi mày mang ông đi đâu?
Quân Tầu cười hềnh hệch :
- Lem mày li tập pơi.
Vọng giẫy mạnh hơn :
- Ông đếch tập bơi đâu.
Một thằng Tầu véo Vọng một cái đau điếng. Khiến Vọng ta hét to :
- Ối giời ơi!
Thằng Tầu véo thêm cái nữa :
- Không piết pơi thì ông pắt chuồn chuồn ngô, cho ló cắn dốn mày, là piết pơi liền.
Vọng, tự nhiên, thấy ngứa ở rốn. ờ, rốn nó có mụn ghẻ ghê gớm lắm. Con cái ghẻ này lập sào huyệt rất bí mật. Quân Tầu cho chuồn chuồn ngô cắn đúng mụn ghẻ, giết tên cái ghẻ nguy hiểm này, còn gì bằng. Vọng thở phào. Nghĩ tới lúc tụi Tầu quăng nó xuống sông, uống nước sặc sụa, nó thét hãi hùng :
- Ối giời ơi, ông không thích tập bơi!
Mặc kệ Vọng giẫy, hét, quân Tầu cứ khênh nó ra cống Kỳ Bá. Đúng lúc hãi hùng của Vọng, Thành Cát Tư Hãn đã trổ ngón võ pánh pò trúng quai hàm Luyến. Nó bồi thêm miếng lục tầu xá, nhưng, Dã Tượng tránh kịp. Người vừa toan phóng trái đấm thôi sơn trả đũa, thì nghe tiếng thét bi thảm của Yết Kiêu :
- Nguy rồi!
Hốt Tất Liệt đã đè ngửa Côn, hai tay ghìm chặt hai tay con cá kình Bạch Đằng giang, và đầu gối đè nặng trên bụng Côn. Hốt Tất Liệt mắt trợn trừng, mép sùi nước bọt, nhỏ xuống mũi Côn. Nó thét bi thảm hơn :
- Mẹ ơi, nước bọt Mông Cổ thối quá!
Hốt Tất Liệt gầm rống :
- Hàng chưa, Côn?
Mưu kế bôi nhọ mặt đánh lừa quân Tầu đã bị bại lộ. Côn phun nước bọt đầy mặt Hốt Tất Liệt. Tên giặc tỉu nà ma ầm ỹ. Yết Kiêu gọi lớn :
- Lê Lai đâu?
Lê Lai đáp :
- Tao sắp bị bắt rồi.
Tình hình quân ta nao núng. Lý Thường Kiệt vẫn dầm mình dưới rãnh bùn. Người thấy những bộ đồng phục áo trắng, quần xoóc xanh của quân Tầu, bèn nghĩ rằng, giá nó nhuộm bùn hết, chắc quân Tầu phải bỏ học, hoặc phải về nhà thay quần áo. Ăn dòn ở nhà no nê, tới lớp ăn... quỳ nữa. Lập tức, Lý Thường Kiệt bốc bùn, nhằm Hốt Tất Liệt ném tơi bời. Hốt Tất Liệt đang đấm Yết Kiêu, buông vội kẻ thù. Nó đứng dậy, vùng chạy. Lý Thường Kiệt không ngờ mưu mẹo của mình hay tuyệt, say sưa bắn đạn bùn. Yết Kiêu lăn ba vòng, tùm xuống rãnh. Người tiếp tay Lý Thường Kiệt, hăng hái khạc đạn. Đạn bùn đã chuyển bại thành thắng. Quân Tầu lo áo trắng dính bùn, hết ham chiến đấu. Chúng gọi nhau ơi ới rút lui. Dã Tượng được đà, đấm đá hung hăng. Thành Cát Tư Hãn trở thành cái bao gạo hứng đòn. Lê Lai thoát vòng vây, ba hoa chích chòe :
- Có tao đây, tao liều mình cứu chúa đây...
Người đấm tay trái, đá chân phải. Thình lình, viên đạn bùn phản làng, đập bốp vào mặt người. Lê Lai ôm mặt :
- Mù mắt ông rồi!
Một tên lính Mông Cổ, trước khi ôm cặp mây tẩu thoát, đấm trúng rốn Lê Lai. Khiến người gục ngã trên chiến trường. Yết Kiêu và Lý Thường Kiệt bắn đạn bùn không biết mỏi tay. Quân Tầu khiêng con nhà Vọng đã quẳng nó xuống sông Kỳ Bá, rồi rút lui theo lệnh của Thành Cát Tư Hãn. Năm phút sau, quân Tầu chạy bét tĩ, bỏ cả... ấn tín, tức là hai cái bàn tính lại. Lý Thường Kiệt và Yết Kiêu bốc thêm bùn, leo khỏi rãnh, chạy theo bắn đuổi. Quân Tầu đã rút lui khá xa.
Lê Lai bị thương nặng, giẫy giụa giữa chiến trường :
- Ông mù rồi, ông mù rồi...
Yết Kiêu nói :
- Không sao đâu, mày nhắm tít mắt lại đi.
Lê Lai chê Yết Kiêu :
- Mày bắn hạng bét!
Lý Thường Kiệt vỗ đùi bạch một cái :
- Nguy to, đi cứu thằng Vọng!
Con nhà Vọng đang ngoi đầu lên khỏi mặt nước, bơi chó tung toé cả cống Kỳ Bá. Yết Kiêu và Dã Tượng khiêng Lê Lai, chạy nhanh tới cống. Dã Tượng dặn Lê Lai :
- Lấy tay vuốt mặt, rồi hãy mở mắt, nghe chưa?
Và, nhị vị anh hùng quăng bạn xuống nước. Lý Thường Kiệt nhảy ùm theo. Người bơi gần con nhà Vọng, dìu nó vào bờ. Vọng ta uống nước no nê. Mặt nó tái nhợt. Mắt nó đỏ ngầu. Nó ngoi lên thành cống, nằm ngửa, thở như bò rống. Lê Lai đã mở mắt được, hỏi rối rít :
- Thằng Vọng đâu, thằng Vọng đâu?
Lý Thường Kiệt đáp :
- Tao cứu nó rồi.
Lê Lai bơi nhanh vào bờ, bám thành cống, trách Lý Thường Kiệt :
- Sao không để Lê Lai liều mình cứu chúa?
Vọng mệt nhoài, mà cố nói :
- Đợi mày, chắc ông chết đuối mất.
Cả bọn cười vang. Chúng nó quên luôn chuyện thua trận, nhảy xuống sông tắm gội, kỳ cọ. Xong xuôi, đã gần hai giờ trưa. Năm đứa ngồi phơi nắng trên cống Kỳ Bá. Côn lại nhớ thằng Vũ. Và, cứ nhớ thằng Vũ, là nó hận con Thúy. Côn nghiến răng, nghĩ thầm, chiều mai, sẽ biết tay nhau.

26
Thúy và Ngọc ngồi chơi chuyền, dưới mái hiên. Buổi trưa, ở tỉnh lỵ, thật im lặng. Trên giàn hoa giấy, trong cái lồng bẫy kết đầy hoa của thằng Hội cho con Thúy, những chú vanh khuyên đã mỏi mệt, không muốn vùng vẫy thoát thân nữa. Chúng nó đậu yên một chỗ, hót líu lo. Tiếng hót của loài chim khuyên sao mà hay thế! Chúng hót những điệu nhớ thương nội cỏ hoa ngàn, nhớ thương cành xưa tổ cũ đấy.
Thúy trải cỗ chuyền dài ra. Cỗ chuyền có mười chiếc, như mười chiếc đũa, vót bằng tre. Thúy tung trái bòng xanh, nhỏ, cao quá đầu nó, miệng nói một này, rồi chộp nhanh một chiếc đũa. Vừa khi ấy, trái bòng đã rơi xuống. Thúy hứng tay, bắt lấy trái bòng. Trái bòng và chiếc đũa cùng nằm gọn trong lòng bàn tay của con bé. Nếu không bắt được trái bòng, hay nếu một này mà chộp nhầm hai chiếc đũa, là hỏng. Thúy lại tung trái bòng lên, miệng nói một nữa, rồi chộp chiếc đũa thứ hai, và bắt trái bòng. Cứ vậy, đến chiếc đũa thứ mười, Thúy đã sang bàn đôi.
Chơi chuyền vui lắm. Muốn chơi chuyền, trước hết, phải thuộc những câu hát ngắn làm nhịp điệu, chờ trái ném lên cao, xuống thấp. Một này, một nữa, một cánh cửa, một cài then, lèn cho kịp, kíp bằng người, kẻo người cười, kẻo người chê, lê một bàn, sang bàn đôi. Sang bàn đôi, chộp hai chiếc đũa, một lượt. Đôi tôi, đôi chị, đôi cái bị, đôi cành hoa, đôi sang ba. Sang bàn ba, chộp ba chiếc đũa. Ba hoa cà, ba hoa cải, ba bà vãi, một sang tư. Tư ông sư, tư củ từ, hai sang năm. Năm con tằm, năm sang sáu. Sáu củ ấu, tư sang bảy. Bảy quả cậy, ba sang tám. Tám quả trám, hai sang chín. Chín quả mít, một lên mười.
Đứa nào chơi thật giỏi, mới lên một mạch từ bàn một, tới bàn mười. Thường thường, vấp váp ở bàn tư, hay bàn ba. Lên bàn mười, còn thêm trò chuyền, chống, vuốt, quét, đập... mới thắng cuộc. Thắng cuộc thì đét vào mũi hay vào tay đối thủ bằng cỗ chuyền, tùy theo sự giao ước.
Thúy đương chơi bàn tư, ngừng lại, nghe chim hót. Con bé dựa lưng vào tường. Đôi mắt nó long lanh, ngơ ngác, cơ hồ đôi mắt chú vành khuyên vừa sa lồng bẫy. Nó bảo Ngọc :
- Thôi, chả thèm chơi nữa.
Ngọc trách Thúy :
- Sao chóng chán thế hở, Thúy? Hay chúng mình chơi rải gianh, đi?
Thúy nhìn Ngọc mỉm cười :
- Ngồi đây chờ chim khuyên tới. Nó sắp tới rồi đấy, tới đông lắm cơ. Thế nào tớ cũng vớ thêm vài chú chim khuyên.
Nó hỏi Ngọc :
- Đằng í thích chim khuyên không?
Ngọc gật đầu :
- Thích chứ.
- Nhà đằng í có lồng không?
- Không.
- Đằng í nuôi chim bằng cái ấm tích cũng được.
- Thế à!
- Ừ.
- Ai bảo đằng ấy đó?
- Tớ biết thừa.
Thúy quên Vũ. Thằng Vũ đã mạo hiểm cớp cái lồng chim của con nhà Hội, tóm một chú vành khuyên, nhét vào túi quần xoóc, đem cho nó. Vũ còn chỉ bảo Thúy cách nuôi chim. Thế mà con Thúy dám nói biết thừa.
- Chim thở bằng cái vòi, nó chả chết ngạt đâu, đằng í ạ!
Thúy hứa hẹn :
- Rồi tớ sẽ cho đằng í một cái lồng bẫy. Đằng í biết lồng bẫy chưa?
Nó chỉ tay lên giàn hoa giấy :
- Đấy, cái lồng bẫy đấy.
Những con chim vẫn hót trong lồng. Tỉnh lỵ không nhiều xe hơi. Bến xe hàng lại xa nhà Thúy, nên tiếng hót của chim khuyên nghe rõ ràng, trong trẻo làm sao.
Lúc ấy, anh hùng bại trận Côn chở thằng Luyến, trên xe đạp nhỏ, không chuông, không phanh. Tới gần nhà con Thúy, Côn ép xe vào lề. Nó chặn cái pê đan lên hè xi măng. Chiếc xe đứng khựng. Côn giục Luyến :
- Xuống đi mày!
Luyến hỏi :
- Sao lại xuống đây?
Côn đáp :
- Xuống đây, tao bàn với mày chuyện này đã.
Luyến ngồi ì, hai tay không rời cái ghi đông.
- Ngồi trên xe bàn chuyện đi, mày...
Côn lại đạp xe. Chiếc xe nhỏ đưa hai đứa đi, phơi nắng giữa trưa. Côn muốn rẽ qua phố nhà con Thúy. Nó hồi hộp quá thể. Tìm con Thúy mắng mấy câu cho bõ ghét, con nhà Côn cũng cứ hồi hộp. Nó bảo Luyến :
- Hay mày tới với tao, nhé!
- Tới đâu?
- Tới chỗ này.
- Chỗ nào?
- Thì mày có bằng lòng không đã?
- Mày phải nói rõ chỗ nào chứ!
Côn đạp xe nhanh hơn. Nó vùng vằng :
- Mày không tới thì thôi, tao tới một mình. Đét cần mày nữa.
Luyến quẹo tay lái. Bọn thằng Côn chở nhau bằng xe đạp, luôn luôn một đứa cầm ghi đông, một đứa đạp. Côn bóp mạnh vai Luyến :
- Mày định đi đâu?
- Đến nhà thằng Long. Nó hẹn tao, trưa nay, chén thạch tầu.
Côn để mặc Luyến lái xe. Chân nó cứ đạp, tâm hồn nó cứ nghĩ. Mấy hôm liền, Côn đã do thám rồi. Nó biết, trưa nào con Thúy cũng chơi chuyền, chơi rải gianh, chơi ô ăn quan với con Ngọc. Nên, trưa nay, anh chàng bại trận Côn, nhất định, kiếm con Thúy trả thù. Mới đầu, Côn tính đi một mình. Chẳng hiểu sao, nó rủ thêm thằng Luyến. Rồi, khi ngồi cùng xe với con nhà Luyến, thằng Côn vẫn phân vân.
- Mày thích chén thạch tầu không?
- Không.
- Giời ơi, thạch mà nhỏ thêm giọt dầu chuối, ngon nhất thế giới, Côn ạ!
Thấy bạn không trả lời, Luyến hích khuỷu tay vào mạng mỡ bạn :
- Mày chê thạch tầu à?
Côn vẫn nín thinh.
- Hay xuống Đoan Túc chén canh bánh đa, rồi đi bắn chim?
Côn buông vai Luyến, tự cầm ghi đông.
- Thôi, tao chở mày về, tao đi một mình.
Luyến quay mặt lại. Nó tròn mắt, khi biết Côn đang buồn hiu :
- Tao đi với mày, nhé!
- Tao đi một mình.
- Mà mày đi đâu?
Côn định nói Tao đi đến nhà con Thúy. Nó vội ghìm lời, đáp xa xôi :
- Tao đi trả thù cho thằng Vũ.
Khiến Luyến ta sướng quá, nhổm đít lên :
- Tao đi với.
Côn vòng xe lại. Nó đạp nhanh, rẽ vào phố nhà con Thúy. Đến gần nhà Thúy, tự nhiên, tai con nhà Côn nóng ran. Đôi chân nó rã rời. Côn nghĩ tới nụ cười của con Thúy, mỗi lần, nó nắm tay, thu hết cam đảm, sắp sửa mắng Thúy vài câu cho bõ ghét. Côn đã hỏi thầm nó nhiều bận “Con Thúy là cái thớ gì, mà nụ cười của nó làm mình hết dám trả thù giùm thằng Vũ”. Nó rút chân phải, đưa gót dí sát vào bánh sau. Xe đang chạy mau, chậm dần. Luyến ngạc nhiên :
- Sao mày phanh lại thế?
Côn nuốt nước bọt ực một cái :
- Nắng ghê nhỉ?
- Ừ.
- Giá giờ có một cốc kem, khoái chừng nào.
- Đi ăn kem đi!
- Chốc nữa hãy đi ăn kem.
Côn giả vờ đập mạnh vào tay Luyến :
- Vào nhà bác Thụy xin nưóc mưa uống, mày nhé! Nhà bác ấy có nước mưa, múc ở sân đền Mẫu, ngọt lịm như đường phèn.
Ở tỉnh nhỏ, người ta dễ quen nhau lắm. Gia đình Thúy và gia đình thằng Vũ, thằng Côn, thằng Luyến đều là chỗ thân tình. Bà Thụy lại chơi họ với mẹ Côn và Luyến, nên họ càng thân thiết nhau.
- Tao ghét con bà cô Thúy lắm.
Côn cười khúc khích :
- Sao mày ghét nó?
- Nó đanh đá cá cầy.
Côn gạ Luyến :
- Chúng mình vào nhà nó, trêu nó đi?
Luyến giơ tay :
- Sợ gì nhỉ! Tao sẽ chòng nó khóc cho mày xem.
Côn đã để bàn chân trái chạm mặt đường. Như vậy, đùi bên phải nó gác lên khung xe, Luyến ngứa ngáy đạp ngược pê đan. Tiếng ru líp kêu lẹt xẹt. Tiếng kêu của trái tim con nhà Côn đấy. Nó giục Luyến :
- Xuống đi, mày!
Luyến nhảy phóc xuống. Chiếc xe lao đao. Côn đã dắt xe đến cửa nhà con Thúy. Con Thúy đã trông thấy nó. Côn nổi máu anh hùng, biểu diễn nhảy pê đan. Nó gò lưng tôm, phóng xa một quãng, rồi lượn lại. Từ bên kia hè nhà Thúy, Côn chờ đợi Thúy nhìn ra. Con Thúy ranh mãnh đang rải gianh, ăn một, chập đôi với con Ngọc. Anh hùng Côn băng xe ngang đường, rất từ từ. Cách bờ hè chừng hai phân, nó nhấc mạnh ghi đông. Bánh trước bổng lên. Chiếc xe đạp chỉ cần leo hè bằng bánh sau. Dễ dàng và tài tình ghê. Luyến vỗ tay :
- Cừ quá!
Con Thúy nheo mắt. Nó vừa liếc nhanh, rõ hết trò xiếc đi xe đạp của Côn. Thúy muốn khen Côn một câu. Nghĩ sao, nó cố nín. Côn nói to :
- Mạnh thủy tinh!
Côn bắt đầu can đảm. Người anh hùng hết nóng tai, hồi hộp rồi. Nó vất chiếc xe nằm quay tròn bánh trước cửa nhà Thúy, hiên ngang bước vào. Luyến ngó cái lồng chim khuyên, gây sự :
- Sao tao ghét thằng chó con Hội thế!
Nó rút súng cao su :
- Chim khuyên của con nhà Hội kia hở, bà cô Thúy?
Thúy bị gọi là bà cô, giận tái mặt. Nó vốc những viên sỏi quăng đi. Luyến được thể, hăng giọng :
- Hì hì, sỏi này mà tia chim khuyên của con nhà hội củ dế liền.
Anh hùng Côn thọc tay vào túi quần xoóc, không biết phải làm gì. Con Thúy chớp mắt lia lịa. Nó sắp khóc đây. Luyến thích chí :
- Tao tia rơi cái lồng trước, bà cô Thúy nhé?
Thúy vênh mặt, mím môi :
- Thử tia xem nào!
Luyến bịt mũi, nhái giọng con gái :
- ối giời ơi, con bà cô nó thách tôi...
Ngọc bênh bạn, xỉa xói Luyến:
- Con trai gì mà tồi thế? Bắt nạt con gái à...
Luyến xuống trung bình tấn, múa tay, làm trò :
- Ải ải, hai nữ hiệp sĩ đòi chặt đầu tớ. Côn đâu?
Côn lắc đầu. Luyến cười :
- Mày sợ con gái, hở? ừa, đứng đấy, tao chòng nó khóc cho mày xem.
Luyến lắp đạn, kéo căng hai sợi dây cao su. Viên đạn sắp bay, thì Côn chụp vội lấy võ khí của Luyến :
- Thôi mày...
Luyến chụp tay Côn :
- Con bà cô thách tao mà...
Côn nắm chặt cánh tay Luyến :
- Chòng nó, nó không cho nước mưa nữa.
Luyến khuỳnh tay, khiêu khích :
- Ông cần quái gì uống nước mưa.
Côn gạ bạn :
- Nước mưa đền Mẫu ngọt lắm, mày ơi!
Nó kéo Luyến, bước ra khỏi thềm nhà Thúy. Côn ghé sát tai Luyến :
- Mày thấy chưa?
Luyến hậm hực :
- Thấy cái gì?
Côn hích khẽ khuỷu tay vào cạnh sườn Luyến :
- Con bà cô sắp khóc.
Luyến sướng quá, nhảy cỡn lên :
- Tao biết mà... Con bà cô Thúy chỉ bắt nạt được thằng Vũ là cùng. Chiều mai, nhất định, ông tia rơi cái lồng chim của nó.
Côn ghé tai Luyến :
- Ừ, mai sẽ tia. Tao quên mang phi tiêu, mày ạ! Tao muốn phóng chết mấy con chim khuyên của thằng chó Hội.
Luyến bùi tai. Côn dìu bạn ra vỉa hè. Nó dựng chiếc xe đạp, dắt xuống đường, biểu diễn nhảy pê đan. Côn không dám ngoái lại. Nó tưởng tượng con Thúy và con Ngọc đương tròn xoe mắt nhìn nó. Luyến để mặc Côn chạy một quãng ngắn, rồi mới đuổi theo, nhảy phóc lên yên xe, y hệt thằng ét xe hàng.

27
Thúy và Ngọc lại ngồi chơi rải gianh. Anh hùng Côn xuất hiện, lần này, giống tay cao bồi vừa diệt tan bọn cướp. Nó bóp chuông miệng “kính coong” inh ỏi, và “ếp ếp” ầm ỹ. Thúy nhìn ra đường. Anh hùng Côn phanh chân, nhấc mạnh bánh trước lên hè. Nó uốn éo thân hình, để giữ chiếc xe đứng im một chỗ mà không hề bị đổ. Con Thúy cười khúc khích. Côn nghe tiếng cười trong suốt của Thúy. Tâm hồn nó lâng lâng. Nó sung sướng, hỏi vu vơ :
- Thích xem xiếc Tạ Duy Hiển không?
Con Thúy ngừng chơi rải gianh, đáp trống không :
- Thích.
Côn để xe đạp ngả về bên phải, “biểu diễn” xuống “pê đan”, trong khi xe đứng dính bánh trên vỉa hè. Nó nheo mắt, luồn chân phải qua khung, “biểu diễn” đi xe... luồn. Nổi máu xiếc, nó ngồi chồm hổm trên yên, hai tay cầm hai bên “poa nhê”, hai chân nó gác lên “ghi đông”. Xe chạy. “Pê đan” và xích, đĩa quay vòng. Côn lại “phanh” chân, ưỡn người, dí bụng vào “ghi đông”. Rồi, nó cúi thấp, dùng tay lăn bánh trước, khỏi cần đạp, xe cứ chạy như thường.
Con Thúy vỗ tay :
- Hay quá!
Con Ngọc cười lớn :
-Tạ Duy Hiển con đó!
Anh hùng Côn đang bay bổng chín từng mây. Dường như trời bớt nắng. Côn hết trò xiếc đi xe đạp rồi. Xiếc của ông Tạ Duy Hiển có người đi xe đạp những ba mươi tám kiểu, Côn ta chỉ học được một vài kiểu hạng bét. Nó buồn lắm. Phải chi nó học được các kiểu đứng trên xe, nằm trên xe, đi xe bằng bánh, thì, chắc chắn, con Thúy sẽ phục nó sát đất. Anh hùng Côn lại vất xe giữa vỉa hè. Nó thọc tay vào túi quần, “hiên ngang” bước qua cổng nhà Thúy.
- Xem xiếc Tạ Duy Hiển chưa?
Côn vẫn hỏi trống không. Thúy biết Côn hỏi mình. Nó toét miệng cười :
- Xem xiếc kinh ghê người.
Côn liếm mép :
- Chưa xem à?
Thúy gật đầu. Đôi mắt con bé long lanh, cơ hồ hai hột nhãn vừa mới lột cùi.
- Chưa.
Anh hùng Côn mừng rơn. Nó phiệu :
- Xiếc Tạ Duy Hiển như thế đấy, Thúy ạ!
Tự nhiên anh hùng Côn nói được hai tiếng Thúy ạ. Nó chợt cảm thấy tai hơi nong nóng. Côn quay đi chỗ khác. Con Thúy mà mắng nó cái tội ai cho gọi tên người ta, anh hùng Côn sẽ ê mặt lắm đấy. Côn hồi hộp, lo lắng. Chưa bao giờ nó biết hồi hộp, lo lắng cả.
- Thế hở, Côn?
Côn quay phắt lại, hai con mắt mở to thao láo, nhìn Thúy :
- Ừ.
Thúy ném một viên sỏi ra hè phố :
- Xiếc Tạ Duy Hiển còn những gì nữa hở, Côn?
Côn chớp mắt :
- Nhiều lắm cơ. Khỉ kéo xe, múc nước. Chó ngồi xử kiện...
Thúy chặn lời Côn :
- Chó mà xử kiện à?
Côn tỏ vẻ sành sõi :
- Ông Tạ Duy Hiển ông ấy tập súc vật cừ không tả nổi. Con chó nó sủa như ông quan tòa, Thúy ạ!
Côn muốn nói đi nói lại hai tiếng Thúy ạ. Nó thấy hai tiếng này sao mà êm ái thế. Êm ái cứ y hệt Chiều quê của Hoàng Quý. Con Thúy lè lưỡi :
- Hay ghê nhỉ?
Côn thích chí :
- Ái dà, ông ấy cầm roi da quất sư tử oai nhất thế giới. Các bạn sư tử gầm gừ tợn, sợ ông Tạ Duy Hiển một vành.
Con Ngọc bắt chuyện Côn :
- Thế Côn có sợ sư tử không?
Anh hùng Côn vung tay :
- Côn hở? Côn moa phú.
Ngọc khen :
- Côn giỏi thật.
Anh hùng Côn chả khoái tí ti ông cụ nào. Giá Thúy bảo Côn giỏi thật, anh hùng Côn có thể biểu diễn thêm một kiểu xe đạp nữa. Côn hơi hơi ghét con Ngọc rồi. Ai khiến khen người ta. Rõ thối. Côn nhìn Thúy :
- Côn giỏi thật hở, Thúy?
Thúy mỉm cười. Nụ cười của Thúy ngon hơn bát lục tầu xá ban đêm. Côn chờ Thúy trả lời câu hỏi của nó. Thì con Ngọc vội hớt lẻo :
- Côn sợ ma không?
Côn rủa thầm Mày mới đúng là con bà cô, Ngọc ạ! Khốn nỗi con Ngọc không biết Côn ghét nó. Thúy vô tình nói :
- Ma ai chả sợ. Nó bóp cổ lè lưỡi à... Ma cà rồng nó hút máu người ta nữa. Eo ơi!
Côn lại thích thêm hai tiếng eo ơi của Thúy. Nó thích nói Thúy ạ, nghe Thúy nói eo ơi. Côn không còn nhớ Vũ, không cần nghĩ tới sân cỏ nữa. Côn chỉ biết Thúy khen nó giỏi, Thúy không đáng trả thù và sẽ biết tay nhau. Tự nhiên, Côn chạy ra vỉa hè, dộng đầu xuống nền xi măng, giơ hai chân lên trời. Nó dùng hai khuỷu tay lết đi một quãng. Thúy cười vang. Tiếng cười trong như pha lê. Côn, từ từ, ngả chân. Khi những đầu ngón chân bắt đầu chạm vỉa hè, nó đứng dậy rất nhanh, xoa hai bàn tay :
- Côn không sợ ma. Côn đã từng đánh nhau với ma ở nghĩa địa Vũ Tiên.
Ngọc nhanh nhẩu miệng :
- Ma nó khỏe hơn Côn không?
Côn muốn mắng con bà cô Ngọc quá thể. Phải chi không có Ngọc, Côn đã phiệu bao nhiêu chuyện để làm Thúy lác mắt. Có Ngọc, Côn đâm ra ngượng, nhỡ mình hớ, con Ngọc nó cười, Thúy cười theo thì hỏng bét. Côn lờ di, không chịu trả lời Ngọc. Khiến Ngọc giận dỗi :
- Côn làm bộ ghê.
Thúy về hùa Ngọc :
- Ừ, Côn làm bộ ghê ghê là...
Côn bỗng cụt hứng. Nó nhìn Thúy, nhìn những chú chim khuyên đang nhảy nhót trong lồng, trên giàn hoa giấy. Đôi mắt Côn chắc giống những đôi mắt ngơ ngác của loài chim khuyên lắm dây. Nó chả hiểu phải nói gì với Thúy nữa. Côn thọc hai tay vào túi quần xoóc. Nó bước đến chỗ chiếc xe nằm phơi nắng, dựng lên, dẫn xuống đường, biểu diễn nhảy mô tô. Khỏi nhà Thúy một quãng, Côn mới hay hai khuỷu tay nó rướm máu.

28
Tự nhiên, tỉnh lỵ có vẻ gì ngơ ngác. Chiến tranh còn xa Thái Bình lắm. Mãi tận bên Tây, bên Tầu cơ. Người lớn nói chuyện Trung Nhật chiến tranh. Trẻ con vẫn nô đùa, nghịch ngợm, chả cần biết Nãi Mộc tiến quân ra sao, Mã Chiếm Sơn chống cự thế nào. Trên vùng trời êm ả, chưa ai nghe tiếng máy bay gầm vang, như tin chiến sự Âu châu, đăng ở nhật báo.
Quân Nhật đã sang Thái Bình. Sự ngơ ngác có từ hôm đó. Quân Nhật đóng tại Câu lạc bộ thị xã. Họ canh gác ở ngã tư Vũ Tiên. Những khẩu súng chĩa về phía Tân Đệ. Lính Nhật đầu trọc, lùn tì, mắt một mí, trông hung dữ vô cùng. Người nào đeo kiếm thì oai vệ, lính gặp đứng nghiêm, hét lớn, giơ tay chào, nghe phát sợ. Dân tỉnh lỵ sợ lính Nhật, không dám tới sân vận động đá bóng, hay tới hồ tắm bơi lội, vì Câu lạc bộ gần đó. Quan Nhật đeo kiếm, ra vào dinh Công sứ dễ dàng. Ông tây, bà đầm, và các ông cẩm nể nang lính Nhật, bớt hống hách. Mới đầu, dân thị xã lo lắng. Rồi quen dần. Lính Nhật không gây sự với ai. Họ chỉ đóng quân ngoài đầu tỉnh, ít khi vào phố.
Trường học không đóng cửa. Bọn thằng Côn đi học đều. Côn thưòng rủ bạn xuống ngã tư Vũ Tiên xem lính Nhật. Lính Nhật làm quen chúng nó. Côn thấy lính Nhật cuốc đất trồng rau. Họ cởi trần, mặc quần đùi, lấy tay bóp nát phân, nhét dưới gốc mỗi cây rau. Côn lè lưỡi ghê rợn. Lính nhật cười. Họ làm việc suốt ngày, chẳng chịu nghỉ ngơi. Người vác súng canh, người tưới rau, quét dọn. Nơi lính Nhật đóng sạch sẽ vô cùng. Lính Nhật cho bọn thằng Côn kẹo; tháo đạn, đưa súng để bọn thằng Côn nghịch. Có người rút kiếm khỏi bao, chém cành cây lớn đứt dôi, ngọt xớt. Côn phục kiếm Nhật sát đất. Nó nghĩ tới những thanh kiếm trong truyện kiếm hiệp, mà nay nó mới tận mắt nhìn rõ. Lính Nhật dạy bọn Côn tiếng Nhật. Nó nói được mấy tiếng. Hễ gặp Nhật, bọn Côn cười toe toét. Giô tô nay, A ri ga tô, dù chúng nó không biết Giô tô nay, A ri ga tô là cái quái gì. Đến trường, bọn thằng Côn xí xố tiếng Nhật, bạn bè chúng nó phục lăn. Côn bỗng khoái lính Nhật. Trong mắt nó, lính Nhật anh hùng hơn lính khố xanh, và đội xếp. Lính Nhật không bắt nạt dân thị xã. Bọn thằng Côn là những người thân Nhật đầu tiên ở Thái Bình.
Học trò thị xã thích nghe Côn kể chuyện lính Nhật. Bây giờ, ít đá bóng, bơi lội. Chúng nó, đứa thì sợ lính Nhật, đứa thì bị bố mẹ cấm, không cho gần lính Nhật, nên trừ bọn thằng Côn, chả có đứa nào quen Nhật cả. Côn tả thanh kliếm Nhật rút khỏi bao, ánh sáng lấp lóe, chém sắt đứt đôi. Nó phiệu chính mắt nó đã thấy quan Nhật vung kiếm, chém cái khung xe đạp, cắt cái xe đạp làm hai, mà kiếm không hề sứt mẻ. Nó ca ngợi lính Nhật giỏi võ, quật nhau trên nền xi măng như ta quật ngóe. Bọn học trò lắc đầu, lè lưỡi.
Côn, Luyến đã được lính Nhật chở xe đạp, phóng như bay dọc phố chính. Xe đạp của Nhật đen thui, cổ lỗ, bền chắc nhất thế giới. Với Côn, cái gì của Nhật cũng nhất. Nhiều thằng bạn nó nhìn rõ lính Nhật chở xe nó, vào trường khoe rối rít. Côn nổi tiếng, vì biết nhiều chuyện lính Nhật. Dần dà, lính nhật đem cả mấy con ngựa từ Nam Định sang. Chơi với lính Nhật mãi đâm chán, lính Nhật chỉ biết gật, cười, và nói chuyện bằng tay. Khi tỉnh lỵ hết ngơ ngác, Côn bèn tìm đến con Thúy.
Nó không biểu diễn xiếc Tạ Duy Hiển nữa. Mỗi lần Côn gặp Thúy, mỗi lần nó trổ một ngón tài vặt. Hôm nay, Côn dắt quanh bụng hàng chục cái phi tiêu. Thúy đứng ở hiên, nhìn chim khuyên đang nhảy nhót trong chiếc lồng kết đầy hoa râm bụt đỏ chói. Côn hắng giọng. Thúy lờ đi, Côn bước sát cây ngọc lan, cúi lượm mảnh sành. Nó vẽ cái đầu người to tướng, rồi xoay lưng bước ba bước dài. Nó lại xoay lưng, đối diện thân cây ngọc lan. Côn vén áo, rút ra một mũi phi tiêu. Nó phóng mũi phi tiêu thứ nhất. Cái đầu người không có mắt, mũi, miệng. Mũi phi tiêu găm vào một chỗ, trong vòng tròn. Vô tình, nó trúng khoảng mắt cái đầu người tưởng tượng. Con nhà Côn xoa tay, khẽ reo :
- Ơ, trúng mắt, mày chột rồi nhé! Ông sẽ cho mày mù.
Côn liếc Thúy. Con bé giả vờ không biết. Côn rút mũi phi tiêu thứ hai.
- Ông cho mày mù đây này!
Nó phóng mũi phi tiêu. Mũi phi tiêu găm trệch cái vòng tròn, xuống phía dưới. Côn cười hề hề :
- Gượm đã. Cho mày mù ngay, mày hết xem tài phóng phi tiêu của ông. Hì hì, trúng cổ họng chú chàng.
Côn phóng mũi phi tiêu thứ ba. Lại trệch khỏi đầu người, khoảng giữa, phía trái. Nó chạy tới đích, lượm mảnh sành, vẽ cái tai quanh mũi phi tiêu :
- Xuyên lỗ tai giùm mày, để mày đeo hoa.
Thúy muốn phì cười. Nó cố nín, chờ xem Côn còn làm những trò gì. Con nhà Côn yên chí Thúy đương khen nó ném phi tiêu trứ danh. Nó chạy ra chỗ cũ, phóng mũi phi tiêu mới. Trệch nữa. Lần này, mũi phi tiêu găm trên đầu người. Côn liếm mép :
- À, cái lược chải đầu đó. Tao sẽ rẽ ngôi cho mày.
Thúy bước xuống hè. Con bé ra gốc cây lan, lấy móng tay vẽ cái tai bên phải, lên đầu người của Côn vẽ, và nói :
- Côn cho nó đeo cái hoa nữa đi!
Côn phớn phở quá. Nó chỉ đợi Thúy lên tiếng. Con bé đã lên tiếng rồi. Côn rút mũi phi tiêu. Nó ngắm thật kỹ. Tay nó run làm sao.
Thúy giục :
- Phóng đi!
Côn gật đầu như máy :
- Để Côn nhắm cẩn tó...
Thúy trợn mắt :
- Côn nói tiếng gì đấy?
Côn nuốt nuớc bọt ực một cái :
- Quên, quên. Để Côn nhắm cẩn thận.
Mũi phi tiêu đã phóng. Nó không trúng tai bên phải của đầu người, mà lại trúng gần sát mũi tên thứ nhất. Thúy phá ra cười :
- Nó mù rồi!
Côn đứng lặng, trân trân ngó mũi phi tiêu sái đích. Nó thẫn thờ :
- Ừ, nó mù rồi...
- Côn phóng phi tiêu hạng bét.
- Côn cừ nhất trường.
- Hạng bét. Côn thua Vũ.
Côn mím môi. Trông nó thật thiểu não. Chưa bao giờ nó thiểu não như thế. Côn phân trần :
- Thằng Vũ không biết phóng phi tiêu.
Thúy bĩu môi :
- Côn tưởng Côn giỏi à? Vũ bảo Vũ phóng đâu trúng đó. Côn phóng tai, lại trúng mắt!
Thúy cười to hơn. Côn nóng bừng tai. Nó cáu :
- Thằng Vũ nói phét!
Thúy quay mặt đi :
- Côn nói bậy quá.
Côn cù nhầy :
- Ừ, bậy đấy. Đây phóng phi tiêu, Nhật còn phải lác mắt.
Thúy đua tay, bịt tai :
- Không thèm nghe nữa. Thằng Hội nó nói Côn đi nhặt kẹo của lính Nhật quăng. Lêu lêu... xấu hổ!
Côn tức không chịu nổi. Nó nghiến răng, hỏi ngớ ngẩn :
- Hạng bét, hở?
Chẳng cần chờ Thúy trả lời, Côn rút hết phi tiêu giắt quanh bụng. Nó ngắm cái lồng chim khuyên của Thúy, phóng lia lịa. Rồi, Côn chuồn mất.
Chả hiểu có con chim nào trúng phi tiêu của Côn không. Qua con phố nhà Thúy, Côn cắm đầu chạy tới nhà ông Đốc. Nó đứng bên đây đường, nhìn sang. Phố xá vắng hoe. Côn qua đường. Nó móc thanh kẹo cao su, nhai một chập. Rồi, mon men tiến gần cổng nhà Hội. Nó vớ cục gạch non, viết vào cổng sắt sơn xanh Hội ăn cứt, và nhả kẹo, gắn chặt lấy cái nút chuông điện. Chuông kêu ầm ỹ không dứt. Côn hả giận, co chân chạy biến. Nó đã trả thù cho Vũ, cái tội con nhà Hội dám mách Thúy là Vũ thó cái lồng chim khuyên của nó, hồi năm ngoái.

29
Nước lũ về đồng bằng sớm quá. Dòng sông Trà Lý ngầu đỏ phù sa. Nước chảy phăng phăng. Đứng trên cầu Bo, nghe tiếng nước xoáy dưới gầm, sợ lắm. Nước bị chân cầu cản, xiết mạnh, chắc là xi măng cốt sắt sẽ mòn vẹt. Bây giờ, đang mùa ổi. Khi những cây vải bị hái hết trái, họ hàng nhà tu hú kéo nhau lên rừng, để hè sau lại rủ nhau xuống miền xuôi, kêu nhớ thương giữa trưa nắng, cho thời gian dài ra, và không gian như tĩnh mịch thêm. Năm nay, mất mùa nhãn, thành thử nước lũ dâng cao, dân tỉnh lỵ không lo lắng mấy. Cứ bão nhiều, chẳng ngại lụt. Những trận bão vừa qua thật lớn, làm trốc cả gốc cây, tung nóc nhà. Hoa quả rụng cơ man. ổi làng Bo vẫn còn nhiều.
Ổi làng Bo ngon nổi tiếng. Ngon như lê. Cùi dầy, chỉ có một tí ruột, ăn giòn giòn là. Người Phủ Lý, Nam Định phải sang tận Thái Bình xin giống ổi Bo. Có lẽ làng Bo nhờ ổi ngon, mà cây cầu thơ mộng bắc ngang sông Trà Lý được đặt tên cầu Bo chăng?
Côn và Luyến đứng trên cầu Bo nhìn dòng nước cuốn. Con đê chạy dài xuống cống Đậu, vắng hoe. Bến tắm chả còn nhộn nhịp nữa. Luyến nghĩ tới bè chuối, năm ngoái, hồi Vũ chưa lên Hà Nội. Nó vỗ vai Côn :
- Giờ mà có bè chuối, mày nhỉ? Đếch cần chèo, cứ ngồi trên bè, cho nước chở mình đi. Nháy mắt, là đến cống Đậu.
Côn không muốn nghĩ tới bè chuối, cống Đậu. Một lần, dưới gốc cây soan tây, trong sân trường, Vũ đã nói với Côn chuyện bỏ nhà đi giang hồ, lấy trăng gió làm nhà, nước mây làm bạn, y hệt mấy thằng hiệp sĩ Tầu. Nó đang nghĩ chuyện giang hồ. Côn chán thị xã Thái Bình, chán trường học, chán nô đùa, nghịch ngợm rồi. Nó thích đi xa, đi thật xa. Vì, hôm qua, Côn vác xe đạp đến nhà Thúy, biểu diễn xiếc Tạ Duy Hiển, để làm hòa với Thúy, đã bị Thúy chế nhạo: Xiếc này là xiếc Việt Nam, Xiếc đi xe đạp rách tan cả quần. Côn xấu hổ quá, biến mất. Con bà cô Thúy đanh đá làm sao! Côn muốn nó hóa thành con quạ như, có lần, Vũ đã muốn Thúy hóa thành con nhặng. Thúy hóa thành con quạ, sẽ khổ lắm. Ai cũng ghét quạ. Quạ chả được cái tích sự gì. Tiếng kêu của nó nghe sợ. Con Thúy đã chế nhạo Côn, bằng tiếng kêu của con quạ.
- Mày nhỉ?
Luyến tưởng Côn thích cái bè chuối thả trên dóng nước lũ của nó, vội vàng ba hoa :
- Bè trôi nhanh hơn ca nô. Tao thèm ăn canh bánh đa ở nhà bà lang Tặng ghê đi ấy.
Côn lắc đầu :
- Chán chết.
Luyến cười :
- Chỉ nói phét. Mày chén canh bánh đa chuyên môn đòi thêm nước mầu. Ăn ba bát một lúc, mà bảo chán.
- Ừ, hôm nay tao chán canh bánh đa.
- Thế mày thích gì?
- Ông thích phiêu lưu, mạo hiểm.
- Như con dế mèn hở, Côn?
- Ừ.
- Rồi tiền đâu ăn cơm, may quần áo?
Côn nhắc lại lời thằng Vũ đã nói với nó :
- Mày ngu quá, Luyến ạ! Bọn hiệp sĩ Tầu có thằng nào mang tiền đi giang hồ đâu?
Nó nói thêm :
- Thằng Vũ, hồi giang hồ cống Đậu, chỉ sống bằng chim sẻ rán và táo tầu của bác nó.
Luyến nghe bùi tai. Đôi mắt nó vừa mở rộng một chân trời quyến rũ. Luyến nắm lấy cái chạc súng cao su đeo lủng lẳng trước ngực :
- Ông bắn chim, bắn gà, bắn ổi, bằng bòng ăn trừ cơm.
Một mảng bèo tây lềnh bềnh trôi dưới nước. Luyến gỡ súng, lắp viên đạn sỏi, tia một phát.
- Mày thấy chưa, ông bắn vẫn kền.
Côn nhìn Luyến :
- Đi giang hồ phải ghét tụi con gái. Mày ghét tụi con gái không?
Luyến bĩu môi :
- Tao thèm vào chơi với con gái. Hôm nọ, mày không can, tao đã tia chết hết chim của con bà cô Thúy.
Côn khoe :
- Ông phóng phi tiêu chết hết chim của con nhà Hội rồi.
Côn không muốn nói đến con Thúy nữa. Nó không muốn Luyến ghét con Thúy. Nó muốn nột mình nó ghét con Thúy thôi. Côn lảng chuyện :
- Tao với mày lên Hà Nội, nhá?
- Xa quá.
- Đi bằng ô tô, xa cái khổ gì?
- Mày có tiền mua vé chứ?
- Ông đi boóng. Tao quen với thằng ét xe Con Voi của ông tài Định. Tụi mình lên Hà Nội, con nhà Vũ sẽ phục lác mắt. Thằng Vũ mới viết thư cho tao.
- Nó nói gì?
- Nó bảo nó theo thằng anh họ nó, học trường Bưởi, đi bơi ở Nghi Tàm.
- Tao muốn biết Nghi Tàm quá.
- Nó bảo anh em nó ăn cắp ổi ở Nghi Tàm. Nó còn khoe bơi thuyền ở hổ Tây. Sướng ghê.
Luyến nao nức chuyện Hà Nội. Chỉ cần có thằng Vũ, có bơi lội, và ăn cắp ổi, là đủ làm Luyến nổi máu giang hồ rồi.
- Thằng Vũ còn kể những gì nữa?
Côn đập khẽ nắm tay xuống thành cầu :
- Ái chà, nó đi xe điện trốn thuế; ăn bánh tôm ở Cổ Ngư; nghịch ngợm ở Voi Phục; và trêu hổ ở vườn Bách Thú.
Luyến giậm chân thình thịch :
- Giời ơi, ông thích tia khỉ ở vườn Bách Thú quá. Thầy mình, tuần trước, kể chuyện vườn Bách Thú, ở Hà Nội, có cả gấu.
Hà Nội bỗng trở thành một giấc mơ, một cái đích phiêu lưu của hai đứa bé tỉnh lỵ. Hà Nội, trong trí tưởng tượng của thằng Luyến, thật tuyệt vời. Nó nhiều trò chơi khác xa Thái Bình. Luyến thèm những trò chơi khác lạ, hơn là đá bóng, kết bè, qua sông Trà Lý, đánh nhau với bọn nhãi trường Tầu, bắn chim sẻ. Nó mơ bắn hổ, bắn gấu ở vườn Bách Thú Hà Nội cơ.
Mỗi ngày, dường như, tỉnh lỵ không còn thích hợp với chúng nó nữa. Khung cảnh cũ chật hẹp và tẻ nhạt khiến những đứa bé xa dần. Như một cơn gió xuân len lén về, một đêm nào đó, cuối mùa đông. Chẳng ai biết cả. Rồi, mùa xuân sang, cho cây cối đâm chồi, nẩy lộc. Sự hồn nhiên đã bước một chân khỏi ngưỡng cửa tâm hồn Luyến. Nó đâu có hay. Ngay tỉnh lỵ, cũng đang thay đổi, huống hồ người tỉnh lỵ.
Nghe đâu đây, có tiếng cựa quậy, chuyển mình. Tiếng cựa quậy, Côn, Luyến, Lộc, Long, Vọng không hề nghe thấy. Chắc chắn, thầy giáo Đàn đã nghe thấy, nghe rõ, kể từ ngày lính Nhật sang Thái Bình.
- Vậy, tao với mày lên Hà Nội, nhá?
- Ừ.
- Chúng mình trốn nhà ra đi.
- Ừ. Bao giờ đi?
- Vài hôm nữa.
- Tao muốn đi ngay.
Hai đứa kề vai nhau, thả bộ sang bên kia cầu. Ở đó, ổi Bo chất đống trong những cái sọt, chờ bán cho hành khách đáp xe ô tô Hải Phòng-Nam Định. Bao giờ đến cầu Bo, xe Hải Phòng-Nam Định cũng dừng lại một lát, để hành khách mua ổi hay vải, nhãn. Hành khách chỉ mê ổi làng Bo.
Luyến và Côn đang nhồm nhoàm mỗi đứa một trái ổi lớn. Xe con Ngựa Bay, rồi xe Con Sóc đã về. Sắp tới lượt xe Con Voi của ông Lê văn Định. Hãng xe Con Voi của ông tài Định là niềm hãnh diện của bọn trẻ tỉnh lỵ, vì Con Voi dám chạy đua với con Ngựa Bay, Con Sóc, trên các đường Nam Định-Hà Nội, và Nam Định-Thái Bình-Hải Phòng.
Chờ xe Con Voi về tới đầu cầu, Côn và Luyến gạ anh ét quen, để chúng đứng trên bực sau, bám chắc vào cái thang sắt, leo lên mui. Xe chạy qua cầu, qua phố chính một đoạn, rồi ghé bến. Côn phục những anh ét lắm. Cứ xe chạy một quãng xa, những anh ét mới đuổi theo, nhảy lên. Khi xe chưa đậu, những anh ét đã nhảy xuống, chạy theo xe cho tới lúc xe phanh lại. Xe chạy chậm, ở phố chính. Côn và Luyến giơ tay vẫy bọn nhãi, như những tay ét. Khiến bọn nhãi phát thèm.

30
Hôm nay, thầy Đàn nghỉ dạy. Học trò sắp hàng vào lớp, chờ thầy đến giờ ra chơi, thầy vẫn không tới. Ông Đốc cho phép học trò lớp nhì 2 về. Tối qua, Côn đến nhà thầy trọ thăm thầy. Thầy hỏi nó rất nhiều chuyện, khuyên nó không nên quen với lính Nhật. Năm ngoái, thầy Đàn yêu Vũ nhất lớp. Vũ bị đuổi học, thầy dành tình yêu ấy cho Côn. Khi Côn chào thầy ra về, thầy cầm chặt tay nó, dặn dò :
- Con hãy can đảm như thằng Vũ. Không xin lỗi những kẻ như lão phó cẩm, dù có chịu thiệt thòi. Thầy bằng lòng có nhiều học trò can đảm. Con phải biết yêu nước, như những thằng bé mà thầy đã kể cho các con nghe, rút trong truyện Tâm hồn cao thượng. Nước ta sẽ độc lập, con ạ!
Côn chưa hiểu độc lập là gì. Nó nhớ lời thầy dặn. Buổi chiều, Côn lại đi học. Thầy vẫn nghỉ dạy. Lúc giờ ra chơi, thằng Vọng cho Côn biết, thầy Hoan cũng không tới trường, sáng nay. Côn bỗng giật mình đánh thót một cái. Nó chợt nhớ chuyện bố thằng Huấn theo lính sen đầm vào trường, khóa tay thầy, bắt về sở cẩm, hồi năm ngoái. Côn hỏi Vọng :
- Sáng, mày vào trường sớm không?
Vọng đáp :
- Tao leo cổng vào. Tao đến sớm nhất, nên lão tùy phái chưa chịu mở khóa cổng.
- Mày thấy lính sen đầm vào trường không?
- Không.
- Lạ nhỉ?
- Lạ gì?
- Thầy tao không bị bắt, tại sao thầy tao nghỉ?
- Chắc thầy mày ốm.
Côn gật gật cái đầu. Mó rủ Luyến và Lộc đi thăm thầy. Bà chủ trọ bảo thầy chúng nó xách hành lý ra bến xe từ sáng tinh mơ. Côn buồn lắm. Nó tưởng chừng vừa đánh mất một bảo vật. Không, Côn tưởng chừng người thân yêu của nó vừa chết. Thầy Đàn đi đâu? Côn rươm rớm nước mắt, nghĩ tới những lời thầy dặn, tối qua. Nó thầm trách thầy bỏ học trò mà đi không nói, không cho biết thầy sẽ dạy ở đâu để nó viết thư thăm thầy. Côn chia tay bạn. Nó lầm lũi về nhà, chẳng thiết ăn cơm. Nó lên giường, đắp chăn ngủ, quên cả thay quần áo. Cha nó tưởng nó bị cảm, rờ đầu nó. Thì Côn khóc thút thít :
- Sao con khóc? Đứa nào đánh con? Hay bị thầy phạt?
Côn ôm lấy cánh tay cha :
- Thầy con đi rồi...
Cha nó thấm nước mắt cho nó :
- Thầy con đi có việc, thầy con sẽ trở lại.
Côn nức nở :
- Không, thầy con đi luôn. Thầy con bỏ con rồi. Con không thèm đi học nữa đâu.
Cha Côn dỗ dành mãi. Lát sau, Côn ngồi dậy, hỏi bố :
- Bố ơi, thầy bảo nước ta sẽ độc lập hở, bố?
Cha thằng Côn vội đưa tay đặt khẽ vào miệng Côn :
- Con đừng nói thế nữa.
Côn tròn mắt :
- Tại sao, hở bố?
- Mật thám sẽ bắt. Con nhớ chưa, cấm không được nói độc lập với bất cứ đứa nào. Con mà nói, mật thám nghe được, sẽ bắt con, bắt cả nhà, hốt vào nhà lao.
Trái tim thằng Côn đập thình thình. Nó vẫn hỏi bố :
- Tại sao thầy con bỏ đi?
Cha nó nhìn quanh, rồi khẽ nói :
- Thầy con là nhà cách mạng. Thầy con bỏ đi, vì sợ Tây và Nhật bắt giết.
Côn lại nằm xuống :
- Con thương thầy con.
Cha nó đập nhẹ bàn tay lên lưng nó :
- Con thương thầy con, đừng nói những tiếng độc lập, cách mạng, nhớ chưa?
- Thầy con dạy con phải biết yêu nước.
- Thầy con thương con lắm. Thôi ngủ đi, nhớ đừng nói chuyện này với bạn con.
Côn nhắm mắt. Chờ cha đi khỏi, nó lại mở mắt thao láo, nhìn lên đình màn. Côn đã biết tại sao thầy nó bỏ ngôi trường tiểu học thị xã. Thầy nó là nhà cách mạng. Thầy nó bỏ đi để làm cho nước ta độc lập đây. Côn mong độc lập. Nước ta độc lập, nó sẽ gặp lại thầy nó. Bây giờ, Côn mới ghét Tây, ghét Nhật. Tây và Nhật định bắt thầy nó giết chết, nên thầy nó phải trốn tránh. Côn sẽ không thèm chơi với lính Nhật nữa. Suốt đêm đó, Côn không ngủ. Nó chỉ chập chờn mơ màng. Thức giấc, Côn lại cầu khấn Phật Trời phù hộ thầy nó, để thầy nó khỏi bị Tây và Nhật bắt giết.
Hôm sau, Côn đến trường thật sớm. Nó ngồi dưới gốc cây soan tây. Hoa soan đã kết thành trái. Những chùm trái dài đen xì, trông đáng ghét quá. Hoa nở đỏ rực rỡ, thế mà kết trái gớm ghiếc. Côn thèm kể những gì nó biết cho Luyến nghe. Nó sợ mật thám bắt cả nhà nó. Ngồi cạnh Luyến, cơn thèm càng tăng lên. May mắn, Luyến không gợi chuyện thầy nghỉ dạy. Con nhà Luyến bị giấc mơ Hà Nội ám ảnh. Nó hích Côn :
- Bao giờ đi Hà nội hở, mày?
Côn đáp :
- Sẽ đi. Thằng Vũ nó bảo nó dám đứng trên cầu Thê Húc câu cá trộm ở hồ Gươm.
Luyến khoái chí :
- À, hồ Gươm tao biết rồi. Sách Quốc văn giáo khoa thư kể truyện hồ Gươm có con rùa thần dâng kiếm trả vua Lê. Nhân tiện thầy nghỉ, tao với mày lên Hà Nội đi.
Côn không còn thể nhớ lời bố nó dặn nữa. Nó vỗ vai Luyến :
- Thầy mình đi luôn rồi.
Luyến ngạc nhiên :
- Sao mày biết?
Côn xuỵt khẽ một tiếng :
- Tao nói cho mày nghe thôi, đừng kể cho đứa nào nghe, nhé! Mày mà kể, mật thám nó bắt cả nhà tao, lẫn nhà mày. Bố tao bảo nó sẽ giết chết.
Luyền thề :
- Ông mà kể cho đứa nào nghe, ông chết hộc máu.
Côn dặn :
- Nhớ nhé!
Luyến gật đầu lia lịa :
- Nhớ rồi.
- Tao dẫn mày vào nhà xí nói nhé?
Luyến nhìn khắp sân. Sân trường im vắng. Các lớp đã vào học. Những đứa được nghỉ kéo nhau đi bơi hay về nhà hết. Luyến nói :
- Nói đi, đếch có đứa nào.
- Mày ngó trên cây xem.
- Chỉ có quả soan tây.
Côn làm bộ quan trọng, ghé sát tai Luyến :
- Thầy mình là nhà cách mạng!
Luyến hỏi :
- Cách mạng là cái gì?
Côn nói nhỏ hơn :
- Bố tao bảo Tây và Nhật nó định bắt thầy đem giết, nên thầy trốn.
Luyến lè lưỡi. Tự nhiên, mặt nó xám xanh.
- Thầy dặn đừng chơi với lính Nhật. Mày ghét Nhật không?
Luyến vung tay :
- Ông ghét Nhật.
Hai đứa đang thì thầm to nhỏ, thấy từ cổng, cha thằng Huấn dẫn lính sen đầm đến trường. Côn nắm chặt tay Luyến :
- Hễ hé răng, mày chết đó.
Côn và Luyến đứng dậy, mon men về phía lớp học. Chúng nó đứng run lẩy bẩy, nhìn ông Đốc đưa lính sen đầm vào từng lớp. Nửa tiếng sau, lính sen đầm ra về. Ông Đốc vẫy Côn tới gần :
- Họ đến bắt thầy con.
Côn thở phào sung sướng. Thầy nó đi xa rồi. Côn lấy làm hãnh diện câu chuyện của nó. Nó thúc bụng Luyến :
- Mày tin tao chưa?
Luyến định kể cho Lộc nghe. Tận mắt nó, nó chứng kiến cảnh lính sen đầm đem khóa tay vào trường bắt thầy, nó đâm ra sợ. Luyến liếm môi :
- Tao không nói với đứa nào cả.
Hai đứa khoác vai nhau, ra khỏi sân trường. Côn ngước nhìn những quả soan tây đen xì. Và, nó tiếc những cánh hoa đỏ rực, giữa mùa hạ.

31
Cái lồng chim nhỏ nhắn, xinh làm sao. Lồng đan như hình cái chuông ấy. Con chim cu gáy mới đẹp chứ. Đôi mắt nó hiền hiền là. Cổ nó có những điểm lấm chấm, y hệt công phét ti rắc trên đầu con gái. Cậu Nhị, đem nó từ làng Thanh Triều lên, cho Côn. Nó đã đi nửa ngày đò, xuôi theo dòng sông Trà Lý. Cậu Nhị bảo chim cu gáy nó hay xấu hổ lắm. Vì thế, muốn nó gáy thật nhiều, thật hay, phải lấy vải che kín cái lồng. Cậu Nhị thửa hai cái cóng sứ, đeo hai bên sà ngang. Mỗi ngày, Côn đổ nước và kê vàng nuôi chim. Cậu Nhị còn bảo cho chim cu uống nước sâm, giọng hót của nó hay tuyệt cú mèo. Côn nâng niu con chim cu gáy suốt ngày. Côn muốn cho Thúy con chim. Nó chờ Thúy theo mẹ tới nhà nó mua họ, sẽ khoe Thúy những điều cậu Nhị nói với nó, về con chim cu gáy.
Thúy đã chẳng tới. Thúy giận Côn rồi. Tại Côn nổi giận phóng phi tiêu, làm chết chim khuyên của Thúy đấy mà. Côn nghĩ thế. Nó tin tài phóng phi tiêu của nó. Phóng cả năm phi tiêu, thế nào cũng chết vài chú vành khuyên.
Chắc thằng chó Hội sẽ lại cho Thúy thêm chim khuyên. Thúy chơi thân với nó. Thúy không thèm biết đến Côn nữa. Côn buồn quá. Nó phải tẩn thằng Hội một trận mới được. Có gì, ông Đốc đuổi, nó lên Hà Nội học với Vũ. Sướng chán. Tỉnh lỵ chả còn gì lưu luyến Côn. Thầy Đàn bỏ trường đi. Sân bóng, lính Nhật chiếm đóng. Lối xuống An Tập, Đoan Túc, lính Nhật đặt súng máy. Những băng đạn dài, vàng khè, trông phát sợ. Cầu Bo thì Tây cấm, không ai được dừng chân ngắm sông nước. Lính Nhật rải quân cả ở hồ Phúc Khánh. Mấy tháng trước, lính Nhật chỉ đóng tại đầu tỉnh và Câu lạc bộ. Bây giờ, lính Nhật đóng lung tung. Lính Nhật không còn vẻ hiền hòa như ngày vừa sang Thái Bình nữa. Xe hàng qua ngã tư Vũ Tiên, lính Nhật khám xét.
Từ hôm thầy Đàn khuyên Côn đừng chơi với lính Nhật, rồi bố nó bảo Nhật định bắt thầy giết chết, Côn thấy lính Nhật hung ác vô cùng. Côn chả thích đi đâu. Mà chỉ muốn đến nhà con Thúy.
Thúy không thèm chơi với Côn. Thúy không khen Côn đi xe đạp giỏi, Thúy chế Côn là xiếc Việt Nam, xiếc đi xe đạp rách tan cả quần. Côn ghét Thúy, ao ước Thúy hóa thành con quạ đen, khoang trắng.
Côn không thể ghét Thúy mãi, ghét Thúy luôn. Côn ghét Thúy một lúc, ghét Thúy khi gặp Luyến thôi. Con Thúy là cái thớ gì, mà Côn không dám ghét nó. Côn chẳng hiểu. Chỉ biết không gặp Thúy, Côn thấy nhơ nhớ. Côn thèm nói hai tiếng Thúy ạ, và nghe Thúy nói Côn giỏi ghê. Hai tiếng Thúy ạ ấm áp, cơ hồ một cơn nắng hiếm muộn, trong những ngày mùa đông lạnh lẽo.
Côn đang ngồi trên bực cửa nhà sau, nghe chim cu gáy, nhớ Thúy. Ngọc lon ton theo mẹ tới nhà nó. Côn tựa tay lên cằm, ngước mắt ngó cái lồng chim. Con Ngọc vui vẻ hỏi :
- Côn làm gì đấy?
Thằng Côn lờ đi. Nó không ưa con Ngọc. Đôi bận, Côn đã lẩm bẩm hai tiếng Ngọc ạ. Nó thấy hai tiếng này nặng nề, như tiếng dân miền bể Tiền Hải, chả lên bổng xuống trầm tí ti ông cụ nào. Thúy ạ êm ái, tựa nhạc Chiều quê của Hoàng Quý. Còn Ngọc ạ, giống hệt Anh anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu.
- Côn điếc à?
Côn nghĩ thầm, Con bà cô này đoảng vị ghê. Người ta không thèm thân, mà cứ đòi thân. Nó chẳng buồn tức con Ngọc cái tội bảo nó điếc. Côn ngồi đần mặt ra, tưởng chừng đương lạc vào một niềm bâng khuâng nào đó.
- Thúy nó ghét Côn lắm, nó xui Ngọc đừng chơi với Côn.
Côn vụt đứng dậy :
- Đây nghe rõ hết.
Ngọc nhí nhảnh :
- Côn không điếc à?
- Ừ.
- Thúy nó nói xấu Côn ghê lắm cơ. Nó bảo Côn nhặt kẹo của lính Nhật quăng.
Côn thè lưỡi, liếm môi :
- Ừ, đây biết rồi. Thằng chó Hội bịa đặt đấy. Mai, nó sẽ biết tay.
Ngọc bước lại gần chỗ Côn :
- Côn đánh nó, hở?
Côn nắm chặt trái đấm :
- Cho nó một quả quai hàm, méo miệng thôi.
Ngọc toét miệng cười. Rồi, con bé khen Côn :
- Côn là nhất.
Côn ta hất đầu, nhấm nhẳn :
- Nhất cái gì?
- Côn làn xiếc Tạ Duy Hiển, Côn dộng đầu xuống đất, Côn ném phi tiêu.
Thằng Côn bĩu môi :
- Thế mà nhất à?
Con Ngọc chưa kịp trả lời, Côn đã hỏi :
- Này, chim khuyên của thằng Hội có chết con nào không?
Ngọc ngớ ngẩn :
- Ngọc không đến nhà nó.
Côn gắt :
- Chim khuyên của con Thúy...
Nó nói nhanh :
- ... Của Thúy cơ mà!
Ngọc bật cười :
- Con Thúy bảo Côn ném phi tiêu hạng bét, chả trúng con chim nào.
Đến lượt Côn ngớ ngẩm :
- Sao Thúy nó ghét Côn?
Ngọc lắc đầu :
- Ngọc chả biết nữa.
Con bè chìa tay, đưa cho Côn gói ô mai :
- Của chị Ngọc làm đấy. Côn ăn đi, ngon lắm cơ. Nao Côn lại nhà Ngọc chơi, nhé?
Côn lừng lững bỏ lên nhà, để mặc Ngọc buồn thiu, với gói ô mai trong tay. Nó phóng ra đường, đi thơ thẩn dưới những rặng hồi. Mùi trái hồi hắc hắc là. Côn lần đến đầu con phố nhà Thúy. Nó trèo lên môt cây sấu, nhìn về phía nhà Thúy. Chỉ thấy mái nhà và giàn hoa giấy không còn một cánh hoa. Côn không hiểu tại sao Thúy ghét nó. Có chú chim khuyên nào bị chết đâu. Chắc Thúy ghét Côn cái tội nhặt kẹo của lính Nhật. Côn oán thằng chó Hội quá. Nó bịa chuyện, để Thúy ghét Côn. Chắc Côn phải tẩn Hội một trận. Thằng Hội tồi hơn thằng Hách, thằng Dương. Côn muốn xin lỗi Thúy. Nó tìm được cái tội của nó rồi. Tội nói những tiếng cẩn tó, nói phét. Thúy chả trách Côn nói bậy là gì. Nhưng mà, xin lỗi Thúy, nó ngượng chết. Nhỡ con bé mắng thêm, còn ngượng gấp mười. Côn mong một trận gió lớn, thổi gẫy cây sấu. Nó sẽ ngã xuống đường, sẽ bị nằm nhà thương, bác Thụy sẽ dẫn con Thúy vào thăm nó. Và, nó sẽ xin lỗi con Thúy, thì không ngượng chết người đâu. Tưởng tượng nắm tay Thúy, Thúy cười chúm chím hai đồng tiền trên đôi má, Côn muốn ngã quá. Nhỡ ngã què, con Thúy chế nhạo là kẻ tàn tật, nó bèn không thích ngã nữa. Què chân, đi học phải chống nạng. Nạng kêu lóc cóc, nghe chán lắm. Mà, què hai chân lại khổ suốt đời.
Côn ta vội vàng tụt xuống khỏi cây sấu. Chân nó run lẩy bẩy. Nó chạy tới nhà thằng Luyến, rủ Luyến đi Hà Nội. Con nhà Luyến sướng rên. Nó quàng chiếc súng cao su vào cổ, theo Côn ra bến xe. Hai đứa nói chuyện với anh ét quen một lúc, chờ xe Con Voi khởi hành, bám cửa sau, để giang hồ Hà Nội. Anh ét tưởng hai thằng bám xe đến ngã tư Vũ Tiên thôi, nên mới cho bám. Luyến ta hí hửng. Nó sẽ gặp thằng Vũ, sẽ được bắn khỉ, bắn gấu, câu cá trộm ở hồ Gươm. Luyến thèm tia con rùa thần, xem nó có nổi lên trả Luyến viên đạn sỏi không. Côn thì chỉ ước ao xa Thái Bình, xa con Thúy. Con Thúy sẽ hóa thành con quạ. Còn nó, nó sẽ đi tìm thầy Đàn, theo thầy, để trở thành nhà cách mạng, tuy Côn chẳng hiểu cách mạng là cái gì. Hai tiếng này nghe mơ hồ, xa lạ làm sao.
Đến ngã tư Vũ Tiên, xe hàng ngừng lại cho lính Nhật khám xét. Côn bỗng nhớ hồi thằng Vũ bỏ nhà đi giang hồ cống Đậu, cha nó và dì nó cãi nhau, tìm nó khắp nơi. Côn thương cha mẹ, kéo Luyến nhảy xuống đường. Nó vỗ vai bạn :
- Thôi, gượm hãy đi Hà Nội, mày ạ!
Luyến cụt hứng :
- Mày sợ chết đói à?
- Không, tao quên chưa viết thư cho bố mẹ tao biết tao ra đi giang hồ vạn dặm.
Luyến gật gù :
- Ừ nhỉ, ông cũng quên.
Hai đứa cuốc bộ, trở về phố. Không biết bao giờ vua súng cao su Luyến mới được tia rùa thần ở hồ Gươm.

32
Mùa đông năm nay khởi đầu bằng trận mưa dầm. Mưa kéo dài liền mấy ngày. Trời thấp xuống, và đất muốn ủng ra. Không khí ẩm mốc, khó chịu vô cùng. Cảnh tượng buồn thảm, đến nỗi con chim cu gáy của thằng Côn ngại ngùng, không thèm gáy nữa. Nó cũng rét. Nó không được mặc áo len như Côn. Mùa đông chẳng có gì thú cả, ngoài cái thú lén thầy ăn lạc rang trong lớp, đang giờ học. Côn đã nghỉ ở nhà, từ hôm thầy Đàn bỏ đi. Thầy mới chưa về dạy, mà lính Nhật lại theo thông ngôn vào trường, bắt thêm hai thầy lớp ba và lớp tư. Hết sen đầm Tây bắt thầy giáo, tới lính Nhật bắt.
Lính Nhật còn bắt vài người trong thị xã. Cha thằng Côn lo lắng lắm. Luôn luôn, bố nó nhắc nhở nó đừng nói những tiếng độc lập, cách mạng. “Nhật và Tây ghét độc lập, cách mạng”. Cha  nó bảo thế. Cha còn dọa “Nhật nó bắt ngưòi, nó đổ nước xà phòng cho uống, rồi nó giẫm lên bụng, nước xà phòng phọt ra mũi, tai để tra tấn”. Côn biết thêm hai tiếng tra tấn. Côn không dám ghét lính Nhật. Nó sợ rồi. Nó sợ cả những con ngựa cao lênh khênh của Nhật, thả rông ngoài bãi tha ma, ngã tư Vũ Tiên.
Côn nằm ỳ ở nhà nghe gió lạnh, buồn tẻ, và trùm kín chăn, tưởng tượng mình là hiệp sĩ Tầu, vung gươm đánh gẫy tan kiếm Nhật. Côn không dám hỏi cha, tuy nó thèm hỏi, về lính Nhật. Một ngày tạnh ráo, Côn chợt nhớ Vọng. Nó rủ Luyến đến nhà Vọng chơi. Thằng Vọng biết nhiều chuyện. Chắc nó sẽ biết chuyện lính Nhật sang Thái Bình làm gì. Khu Kỳ Bá đã có mặt lính Nhật. Lính Nhật đóng khắp thị xã, mỗi nơi chỉ có lác đác hai ba người. Lúc Côn và Luyến tới, Vọng đang đắp chiếu, nằm co tròn trên ổ rơm. Đầu nó gối lên cuốn David Copperfield. Vọng đọc đến trang gặp nhiều chữ khó, nó tức quá, gấp sách, nhét dưới gáy. Cuộc đời gian truân của con nhà David làm Vọng ấm áp, quên giá rét mùa đông. Biết bạn tới, Vọng vẫn nằm yên. Nó khoe :
- Thầy Hoan cho tao cuốn truyện tiếng Tây, bắt tao cố gắng đọc. Tao đọc thấy hay quá. Thằng David Copperfield còn khổ hơn tao.
Côn hỏi :
- Nó có biết đá bóng không?
Vọng đáp :
- Không. Nó mồ côi bố mẹ. Chả hiểu, cuối cùng, nó có sướng không.
Luyến quỳ gối cạnh ổ rơm, đưa tay lôi cuốn sách. Nó giở trang đầu, lẩm nhẩm đọc:
ừ, đói khổ phải đâu là tội lỗi
Anh cứ nghĩ mà càng thêm hổ tủi
Cảnh cơ hàn khốn nạn của chúng ta
Nuôi đi em cho đến lớn đến già
Mầm hận ấy trong lóng xương ống máu
Để mai mốt thêm hăng hồn chiến đấu
Mà hôm nay em đã nhóm trong lòng
Dưới nhũhg hàng chữ này, là mợt chữ ký ngoằn ngèo. Luyến hất đầu :
- Ai ký đây hở, Vọng?
- Thầy Hoan đấy.
Luyến lật trang thứ hai. Nó đọc lớn cho cả Côn nghe: Tặng Nguyễn Hữu Vọng, người học trò thầy thương nhất.
Luyến chớp mắt :
- Thầy mày thương mày ghê nhỉ, Vọng nhỉ?
- Ừ.
- Mày có biết thầy mày, bây giờ, ở đâu không?
- Không. Trước ngày thầy tao đi, thầy tao cho tao hai chục, và bảo thế nào cũng có ngày thầy tao nuôi tao ăn học thành tài.
Côn ngồi xuống cạnh Vọng :
- Này Vọng, tại sao lính Nhật bắt các thầy?
Vọng tung chiếu ngồi dậy, mắt lấm la lấm lét :
- Nhật nó ác lắm. Nó là phát xít!
Côn nuốt nước bọt ực một cái :
- Phát xít là gì?
- Là phe trục.
- Phe trục là gì?
Vọng không giải nghĩa phe trục, mà nói nhỏ :
- Thầy tao bảo Tây là thực dân, Nhật là phát xít. Tây và Nhật là kẻ thù của ta. Ta phải đánh đuổi nó, để nước ta độc lập.
Côn há hốc miệng một lát. Nó lại biết thêm những tiếng phát xít, thực dân, phe trục. Và, nó hiểu thầy Đàn đi đánh đuổi Tây và Nhật, chứ không phải trốn tránh Tây, Nhật. Luyến thì thắc mắc những dòng chữ thầy Hoan viết, ở trang đầu cuốn David Copperfield. Nó hỏi :
- Mấy câu thầy mày viết nghĩa là gì?
- Nghĩa là thầy tao bảo đói khổ không có tội.
- Còn mầm hận ấy là mầm hận nào?
- Chắc mầm hận bị đói khổ!
Luyến ném trả cuốn sách cho Vọng. Nó lắc đầu :
- Ông đếch hiểu gì cả.
Vọng nhìn Côn :
- Thầy mày đi, có cho mày gì không?
Côn thò tay vào túi, móc ra nắm lạc rang, đưa Vọng :
- Thầy tao bảo con hãy can đảm, con phải yêu nước. Bố tao bảo thầy tao là nhà cách mạng. Mày biết cách mạng là gì không?
Vọng vê vê vỏ lạc, rồi cho vào miệng nhai :
- Cách mạng là đánh Tây, đánh Nhật, và độc lập.
Côn dụi mắt :
- Thảo nào thầy tao bảo nước ta sẽ độc lập.
Nó nói tiếp :
- Bố tao cấm tao nói đến độc lập, cách mạng.
Vọng thò tay gãi lưng :
- Ừ, nói đến, Nhật nó tẩn sặc gạch. Thầy tao dặn, anh em nói nhỏ với nhau thôi.
Côn thấy Vọng cởi trần. Những cái gai ốc nổi trên da thịt nó. Côn ái ngại :
- Mày đừng chê nhé, Vọng nhé!
Vọng cười :
- Chê gì?
- Chốc nữa tao mang cho mày cái áo pun ô vơ cổ lọ của anh tao năm ngoái, mày mặc sẽ vừa, mày đừng chê, nhé!
Vọng mân mê cái mép chiếu :
- Rồi anh mày lấy áo đâu mà mặc?
Côn phát Vọng một cái thật đau điếng :
- Anh tao à? Anh tao có áo len mới. Anh tao lớn, mặc áo cũ chật ních.
Luyến nói :
- Còn tao, tao cho mày cái phu la.
Vọng nín thinh. Nó đã sướng hơn thằng David Copperfield thật. Vọng không còn cô đơn. Vọng đã hết ghẻ, Vọng chẳng biết mùa đông nữa. Cuộc đời hẩm hiu của nó đã được đắp ấm bằng những chiếc chăn hồn nhiên, tha thiết của Vũ, của Côn, của Luyến... Nếu Vũ, Côn, Luyến, Lộc, Long, mãi mãi, là hàng rào, là bóng râm, là cơn nắng của Vọng, nó sẽ chẳng bao giờ nghĩ rằng bị đói khổ là mầm hận. Và, lớn hơn, Vọng sẽ thấy thầy Hoan đã viết tặng nó những câu thơ vô nghĩa.
Côn không muốn ngồi bên Vọng lâu, sợ Vọng đổi ý. Nó kéo Luyến về. Lát nữa đây, Luyến có thể lại sách súng cao su đi bắn những chiếc lá chưa chịu lìa cành, hay nằm mơ mùa hạ chóng sang. Côn không giống Luyến. Nó bước xa, bỏ Luyến một quãng dài. Tâm hồn nó bị những danh từ độc lập, cách mạng, phát xít, thực dân ám ảnh. Chuyện đánh Tây, Nhật, để nước ta độc lập, mà Vọng kể, khiến nó nhớ thầy Đàn thật nhiều. Cơn gió nhẹ của mùa dông đã lùa vào mùa xuân hồn nhiên của thằng Côn. Mà nó không biết. Mà chẳng ai biết.
- Côn này, tết mày có về quê không?
- Không.
- À, con Thúy mới cãi nhau với con Ngọc.
- Kệ nó.
- Tối nay, tới nhà tao ăn ngô rang trộn mật, nhé?
- Bố tao không cho đi. Tao sợ lính Nhật.
Luyến cáu kỉnh :
- Kệ bu Nhật. Mày cứ Nhật Nhật mãi. Nhật ăn thua gì tới mình. Ngày nào tao chả gặp Nhật, nó vẫn vẫy tay chào tao. Ông đếch sợ Nhật.
Côn hích Luyến :
- Thôi, tao về đây.
Cộn đá Luyến một cái rồi bỏ chạy. Vua súng cao su móc súng ra bắn. Nó không cố tình bắn trúng Côn. Viên đạn đất nung trúng cột đèn, vỡ tan. Côn quay lại, lè lưỡi chế Luyến, rồi, vù mất.

33
- Tứ tử trình làng, ngũ tử cướp cái, hở?
- Không, tứ tử làm lấy mà ăn.
- Tám đen ăn kết tám đỏ ăn phu, đấy nhé!
- Ừ.
- Cấm tướng sĩ tượng đi đầu.
- Mỗi quân mấy đẹt đây?
- Hai.
- Đẹt ở đâu?
- Ở mũi.
- Rồi, bắt cái đi.
- Tượng. Tam tượng, cái Côn.
Luyến chia bài. Tết nhất không còn ai giận nhau nữa. Mùa xuân là mùa xum họp, đoàn tụ. Thúy đã theo mẹ đến nhà Côn, chúc tết gia đình nó. Bác Thụy mừng tuổi Côn mười đồng. Và, Thúy mừng tuổi nó một nụ cười. Nụ cười làm thân của Thúy, khiến Côn nóng bừng tai, dù đầu xuân vẫn còn lạnh lắm. Mùa đông không chịu đi. Nó nằm ăn vạ mùa xuân. Mồng một tết thiếu mưa bụi rây trong không gian. Mà chỉ có những hạt mưa hắt vào mặt, giá buốt. Chưa biết tháng mấy mùa đông mới biến mất. Cá ở hồ Phúc Khánh đã chết cóng, nổi lềnh bềnh. Côn chẳng thấy lạnh, từ lúc Thúy nhìn nó, mỉm cười. Mùa xuân chắc ấm áp, với riêng thằng Côn. Côn tháo cái lồng chim cu gáy mừng tuổi Thúy. Con bé vui vẻ nhận ngay. Thế là Côn quên phát xít Nhật, quên chuyện giang hồ Hà Nội. Sự hồn nhiên vừa bỏ nó đi được một quãng, lại trở về cùng nó, cùng mùa xuân của đất trời. Côn rủ Luyến tới nhà Thúy chơi tam cúc. Cả Ngọc nữa, bàn tam cúc đủ bốn chân.
- Cái Côn, gọi đi chứ!
Thúy giục. Con nhà Côn liếc bài Thúy. Nó ngồi cạnh Thúy, lại khéo giả vờ, nên nó biết rõ bài Thúy. Côn rút ra một cây bài, đặt xuống chiếu :
- Một cây.
Cả làng cùng rút một trong tám cây bài, úp mặt có vẽ hình xuống chiếu. Côn lật cây bài lên :
- Lính khố đen!
Lính khố đen là tốt đen. Tam cúc gồm ba mươi hai quân bài, giấy cứng. Mười sáu quân đen, mười sáu quân đỏ. Tướng ông chỉ huy mười sáu quân đỏ: Đôi sĩ điều, đôi tượng điều, đôi xe điều, đôi pháo điều, đôi mã điều, và năm tên tốt điều. Tướng bà chỉ huy mười sáu quân đen: Đôi sĩ thâm, đôi tượng thâm, đôi xe thâm, đôi pháo thâm, đôi mã thâm, và năm tên tốt thâm.
Hai cây đỏ giống nhau, kết thành một đôi. Xe pháo mã đen, hay đỏ, là bộ ba. Tướng sĩ tượng, cũng vậy. Ai cầm bài, cuối cùng còn tướng ông, tướng bà, mà làng gọi hai cây, thì tướng ông tướng bà đi... tháo tỏng. Hai cây đen, hay ba cây đen sau rốt, làng không ai bắt được, người đánh ăn kết, tức là ăn gấp đôi tiền làng. Bọn thằng Côn không bao giờ kêu đúng tên con bài cả. Chúng nó đặt tên cho từng quân.
- Vần cánh. Thúy lật bài lên.
Thúy hồi hộp nói :
- Xe đen.
Ngọc đẩy con bài vào giữa :
- Chui.
Luyến khoái chí :
- Mừng quá. Đây xe ông Lê văn Định sơn đỏ. Xe đỏ đè xe đen.
Thúy úp con xe đen, vất lên con bài chui của Ngọc. Luyến ta hí hửng :
- Đôi cây.
Luyến chờ làng đặt bài xuống chiếu, lật lên :
- Voi đỏ.
Luyến lại ăn. Nó gọi tiếp :
- Một.
Luyến ta tướng bà, bị tướng ông của Côn bắt đúng. Côn cười :
- Hì hì, tướng ông bắt tướng bà ăn vụng. Chui đi, Luyến!
Côn khiêu khích Luyến :
- Một nữa.
Con sĩ điều, bây giờ, là chúa tể. Côn ăn luôn, và gọi ba cây. Nó vật bài liền, vì xe pháo mã điều, mất hai tướng, kể như vô địch. Mỗi người phải ăn hai cây mới hòa. Luyến ăn ba cây. Nó vất sang chỗ Ngọc một cây :
- Hai cái đẹt mũi.
Côn vất tiếp cho Ngọc một cây :
- Hai cái đẹt mũi.
Thúy nhanh nhảu :
- Côn cho Thúy nợ bốn đẹt nhé, Côn nhé?
Côn nhé, hai tiếng ấy sao mà êm ái thế. Côn lặng người đi. Nó không trả lời Thúy. Luyến đã vơ một nắm bài, xếp gọn, cầm trên tay. Nó hạch Ngọc :
- Ngẩng mặt cao cao một tí.
Ngọc năn nỉ :
- Cho nợ đi.
Luyến lắc đầu :
- Vừa mới được ván đầu, phải mở hàng, chứ.
Và, nó đẹt xấp bài cứng vào mũi Ngọc, hai cái nên thân. Ngọc xoa mũi :
- Lát thua, đừng có ăn vòi nghe chưa.
Luyên bĩu môi :
- Đây đâu thèm ăn vòi.
Nó nheo mắt :
- Đến phiên mày đẹt, Côn ạ?
Côn vơ tất cả bài lại, trang lia lịa :
- Bắt cái đi Luyến. Côn cho nợ.
Bốn đứa tiếp tục chơi tam cúc. Côn đỏ, được hoài. Thúy nợ Côn đến một trăm cái đẹt. Ngọc đã trả thù Luyến. Sau đó, chúng nó giao hẹn, lúc nào thôi, hãy đẹt một lượt. Thúy cũng nợ Luyến hai chục đẹt rồi. Gần tối, Ngọc phải về, nên bàn tam cúc tan. Chơi ba người càng thích, nhưng Luyến đã chán đánh tam cúc ăn đẹt. Nó muốn chuồn về nhà, ngồi đánh ké bất với chị nó, ăn tiền cơ. Côn rủ Ngọc ở lại, con bé khăng khăng đòi về. Luyến tính sổ nợ. Nó giơ cỗ bài :
- Thúy, giơ mũi ra! Đây đẹt nhẹ thôi.
Côn nắm lấy cỗ bài :
- Mày còn tao mười lăm đẹt, tao trừ cho Thúy.
Luyến ngó Côn, cười xỏ :
- Mày nợ gì nó mà đòi trừ? ờ, mày đẹt ông mười lăm cái đi, ông đẹt lại nó hai mươi cái. Mày bảo mày ghét con gái mà?
Côn chối bai bải :
- Tao bảo bao giờ?
Luyến lượm hạt dưa, cắn tanh tách :
- Năm ngoái, mày quên à?
Côn cứng họng, chẳng biết nói sao. Cuối cùng, nó cù nhầy :
- Hòa cả làng. Giao hẹn rồi.
Luyến cãi :
- Giao hẹn gì?
- Đang chơi bỏ về, không được đẹt.
Luyến đứng dậy :
- Từ nay không chơi với mày nữa, mày ăn gian cho con Thúy.
Luyến bỏ về. Côn giữ Ngọc lại. Con bé không chịu. Con bà cô này dễ ghét. Nó muốn cầm cỗ bài, đẹt vào mũi con Ngọc, cho sưng đỏ lên. Côn không về. Nó muốn ngồi bên Thúy, mãi mãi, để đánh tam cúc, và bênh vực Thúy. Nhưng hết người đánh tam cúc rồi. Thúy bảo hai người chơi buồn lắm, vì biết hết bài của nhau. Căn phòng còn hai đứa. Chúng nó cắn hạt dưa, ăn mứt, và nhìn nhau. Đôi mắt con Thúy, ban đêm, cũng long lanh như ban ngày.
- Côn này, Luyến nó không chơi với Côn nữa, Côn chơi với ai?
- Côn chơi với Thúy.
- Thúy không biết đá bóng.
- Cần gì đá bóng. Côn chán đá bóng rồi.
- Thế Côn thích gì?
Côn nuốt nước bọt ừng ực. Hạt dưa không làm nó khô cổ đâu. Nó muốn nói Côn thích chơi với Thúy, mà chẳng dám nói. Côn vừa bảo Côn chơi với Thúy. Tiếng thích nào khó khăn chi, mà Côn không dám nói. Nó nhón miếng mứt gừng, bỏ vào miệng :
- Muốn cho con chim cu nó gáy, Thúy đừng mở miếng vải che kín cái lồng, Thúy nhé!
- Sao thế?
- Chim nó xấu hổ.
- Nó xấu hổ thì nó không gáy à?
- Ừ.
- Buồn cười nhỉ?
- Ừ.
Đồng hồ trên tường điểm boong boong tám tiếng. Dưới nhà, bác Thụy đang đánh chắn. Côn bước ra cửa. Trời đã dứt mưa, và ngập đầy bóng tối.
- Côn về đây, Thúy ạ!
Tới hè, Côn ngoái cổ dặn Thúy :
- Thúy đừng chơi với thằng chó Hội, nhé!
Thúy hỏi theo :
- Sao thế, hở Côn?
Côn không đáp. Nó quấn lại chiếc khăn phu la, rồi bước nhanh. Đêm nay, Côn sẽ nằm mơ, thấy nụ cười đầu xuân của Thúy.

34
Khi những cây nêu vừa hạ, và khi vôi bột rắc dưới cửa mỗi nhà vừa sạch dấu vết, thì tỉnh lỵ chuyển mình. Dân thị xã ngủ vùi trong chăn ấm, sáng sau thức dậy, mới biết có đảo chính.
Nhật đã đảo chính Tây. Nhật chiếm tòa sứ, rút cờ tam tài xuống, kéo cờ mặt trời đỏ ối lên. Những nơi có Tây, Nhật chiếm hết. Ông Tây, bà Đầm, Tây con bị Nhật bắt giam một chỗ. Trại lính khố xanh, Nhật chỉ canh giữ chung quanh. Thị xã Thái Bình được phen kinh ngạc. Mọi nhà đóng chặt cửa. Đường phố vắng hoe. Lính Nhật phóng xe khắp đường, súng chĩa hai bên, để thị uy. Đến trưa, có lệnh dân chúng phải mở cửa, buôn bán như thường. Lệnh được những người thông ngôn bắc loa, đi trên xe cam nhông, kêu gọi. Lệnh còn nhắc đi, nhắc lại câu Quân đội Thiên Hoàng diệt thực dân Pháp, và trao trả độc lập cho nước Việt Nam.
Từ một khe cửa hở, Côn đã nhìn rõ người thông ngôn Việt Nam, đứng bên viên sĩ quan Nhật đeo kiếm, trên xe. Người thông ngôn đó tên là Ban. Ông ta được dân thị xã kính sợ, từ ngày lính Nhật sang Thái Bình. Chính ông Ban nói lớn Quân đội Thiên Hoàng diệt thực dân Pháp, và trao trả độc lập cho nước Việt Nam.
Nước ta đã độc lập. Độc lập ra sao, Côn không hiểu, nhưng nó mừng rỡ. Côn sẽ gặp lại thầy Đàn. Chẳng bao giờ nó còn thấy lính sen đầm Tây vào trường, bắt các thầy, đem về Sở mật thám.
Côn hỏi cha :
- Nước ta độc lập rồi hở, bố?
Cha nó mắng :
- Con là trẻ con, biết cái gì mà nói nhảm.
- Ông Ban nói.
- Kệ ông Ban. Con lo học hành đi. Không ôn bài vở, mai mốt đi học, theo sao kịp bạn bè. Bố đã dặn, chớ nói chuyện độc lập.
- Rồi thầy con có về Thái không?
- Bố không biết. Đêm qua lính Nhật nổ súng, con chớ ra đường, sẽ bị lạc đạn đấy.
Dưới mắt người lớn, Côn vẫn chỉ là thằng con nít. Cha thằng Côn đâu biết thầy Đàn và thằng Vọng đã nhồi vào tâm hồn nó những danh từ không hề học ở trường. Những danh từ ấy đã ám ảnh Côn. Nó chỉ quên khi ngồi gần Thúy. Và, nếu cuộc sống cứ bình thản trùm kín dân tỉnh lỵ, ngày nào đó, Côn sẽ tưởng thầy Đàn là một nhân vật tiểu thuyết kiếm hiệp. Sự bình thản, thật sự, bị phá rối. Nhật đã nổ súng, bắt Tây nhốt một chỗ! Mấy đời nay chưa xảy ra chuyện lạ đó. Côn biết một vài điều, mà cha nó không bao giờ tưởng tượng rằng nó đã biết.
- Bố ơi, có phải Nhật là phát xít không?
Cha thằng Côn trợn mắt :
- Mày chết, ai bảo mày thế?
Chuyện quan trọng rồi. Đến nỗi cha nó gọi nó bằng mày. Côn không dám khai cho Vọng. Nó lấm lét :
- Ở trường, mấy anh lớp nhất nói.
- Tao phải xích chân mày ở nhà. Nhật nó nghe thấy, nó rút kiếm chém mày làm hai.
Thằng Vọng đã nói đúng. Nhật hung ác lắm. Côn nín thinh, lỉnh xuống dưới nhà. Trưa hôm sau, thằng Vọng tới tìm Côn. Nó hả hê khoe :
- Nước ta độc lập rồi.
Côn bịt miệng Vọng :
- Nói khẽ chứ, bố tao sợ. Độc lập là gì hở mày?
- Là người mình cai trị người mình. Mày sang bên kia cầu Bo chơi không? Vui lắm. Nhật nó bắt Tây kéo xe bò, chở đất.
- Có bố thằng Dương không?
- Thằng phó cẩm ấy à? Nó bị ông Ban tát hộc máu mồm, giữa phố chính. Mày đi coi Tây kéo xe bò không? Tụi trường mình kéo nhau đi coi hết.
Côn theo Vọng đi. Hai đứa rủ thêm bọn thằng Luyến. Chúng nó chạy một mạch sang bên kia cầu Bo. Ở đó, những ông Tây, mấy ngày trước còn khệnh khạng, hét ra lửa, mặt mày hốc hác, quần áo lôi thôi, chân đất, đang đào đất, xúc đất đổ lên xe bò. Những ông Tây sen đầm bị kéo, và đẩy xe bò đất, đem đổ trên đê. Bọn trẻ con đã ôm bụng cười thích chí. Lính Nhật cũng cười theo. Thỉnh thoảng, lính Nhật bắt Tây chạy thật nhanh. Mấy anh Tây đẩy xe ngã chúi mặt xuống đường. Quen đi giầy, nay mấy ông Tây đi đất, đá dăm đâm vào chân, chảy máu, nhăn nhó. Nhiều anh chịu không thấu, cởi áo bó lấy chân. Các bà Đầm bồng bế Tây con, đứng một chỗ, nhìn chồng bị hành hạ, khóc như gi vỡ tổ. Thằng Vọng leo lên vồng cầu, hét lên:
Ai sinh ra cái xe bò
Để cho Tây phải kéo gò lưng tôm.
Bọn nhãi vỗ tay rào rào. Chúng nó bảo Vọng dạy hai câu đó. Thuộc rồi, chúng đến gần các ông Tây, lải nhải đọc. Nhiều ông Tây biết tiếng Việt Nam, xấu hổ, cúi gầm mặt. Có ông khóc hu hu. Giữa trưa, Nhật bắt đào đất, đổ đất, và không cho uống nước, các ông Tây khát lè lưỡi ra, giống hệt những con chó khát. Nhật còn bắt bà Đầm ngồi trên xe tay, chĩa súng, sai ông Tây kéo lên dốc cầu và xuống dốc cầu. Xuống dốc, xe có đà, ông Tây không biết kéo xe, bị ngã nằm bất tỉnh. Xe lật xuống vệ đường, bà Đầm ngã nhào. Nhật cười ha hả. Thằng Vọng lại hét lớn:
Ai sinh ra cái xe tay
Để Tây vất vả thế này hỡi xe.
Luyến rút súng cao su, định tia thằng Tây nhà đoan chuyên môn đi bắt rượu lậu. Thằng Tây này đã, có lần, đến nhà nó, lấy cái que sắt nhọn chọc khắp chỗ. Nó còn sừng sộ với cha thằng Luyến, đòi bắt cha nó nữa. Luyến nạp đạn. Nó kéo căng hai sợi dây cao su. Khi sắp buông tay, Luyến lại thôi. Nó thấy thương hại bọn Tây. Một người lính Nhật dùng tay chỉ trỏ, khuyến khích Luyến bắn. Nó lắc đầu. Côn đã không cười chế nhạo Tây nữa. Sự ghét bỏ của nó kể như hết. Nó bảo Luyến :
- Nhật nó đểu quá, mày nhỉ?
- Ừ.
- Nó không cho Tây uống nước, tao sợ Tây chết khát mất. Hay là tao với mày lấy nước cho tụi nó uống đi.
- Nhật nó giết, mày ạ!
Côn vẫy Vọng xuống. Nó hỏi Vọng :
- Mày có dám đem nước cho Tây uống không?
Vọng trề môi :
- Kệ mẹ chúng nó. Chúng nó có thương mình đâu. Thầy tao bảo vì Tây mà dân ta khổ sở.
Côn rủ Luyến và Lộc về. Vọng nói theo :
- Tây nó còn trốn một mớ, ông sẽ đi tìm, bắt giao cho Nhật lấy tiền thưởng.
Chiều hôm ấy, lính Nhật giải các ông Tây, bà Đầm thất thế đi bộ, áo quần lếch thếch, mặt mày phờ phạc, diễu khắp phố. Dân thị xã kéo ra hai bên vỉa hè coi rất đông. Không ai nỡ ném trứng thối, cà chua ủng, hay vỏ sữa bò vào đám người chiến bại. Lính Nhật kêu gọi dân chúng hãy chỉ chỗ Tây trốn tránh. Và dọa ai chứa chấp Tây sẽ bị xử tử.
Mấy hôm sau, Nhật tóm cổ cả chục ông Tây, mặc áo tơi, đội nón mê, từ các làng xa thị xã về. Chẳng hiểu những người nông dân nào đã giúp Tây trốn tránh. Chỉ tiếc những cái mũi lõ không giấu nổi lính Nhật và thông ngôn người Việt Nam của họ. Những ông Tây trốn không thoát, bị đánh đập tàn nhẫn. Côn nghĩ tới Vọng. Nó thấy hơi hơi giận Vọng.

[font="arial"][size="3"][color="#800000"]35
Sau những ngày đảo chính, tỉnh lỵ náo nức nhộn nhịp. Vẻ buồn thoang thoảng của nó biến đâu mất. Đảo chính ví như một lớp phấn hồng nhạt, đánh phớt trên khuôn mặt lười trang điểm của cô gái tỉnh nhỏ. Đâu đâu, người ta cũng nói chuyện độc lập và Khối Đại Đông Á. Bài hát Tiếng gọi sinh viên, của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, được người lớn và trẻ con thị xã Thái Bình học hát một cách say sưa.
Này sinh viên ơi,
quốc gia đến ngày giải phóng.
Đồng lòng cùng đi
hy sinh tiếc gì thân sống.
Vì tương lai quốc dân,
cùng sông pha khói tên,
làm sao cho núi sông
từ nay luôn vững bền.
Dù cho thân phơi trên gươm giáo.
Thù nước lấy máu đào đem báo...

Thằng Vọng đứng giữa sân trường bắt nhịp và dạy bạn bè hát. Khắp sân trường, học trò túm năm tụm ba, tập hát Tiếng gọi sinh viên. Các lớp đóng cửa im ỉm. Học trò tới trường để hát và bàn tán chuyện độc lập. Vọng tiếc rẻ không có con nhà Vũ thổi ác mô ni ca. Nó hát khản cả tiếng, hát vang lừng, như thể cả đời nó chưa bao giờ được hát.
Sinh viên ơi!
Mau hiến thân dưới cờ
Sinh viên ơi!
Mau làm cho cõi bờ
thoát cơn tàn phá,
vẻ vang đời sống, xứng danh ngàn năm
dòng giống Lạc Hồng.

Người lớn gặp nhau ngoài đường, nắm trái đấm giơ lên cao chào nhau. Trẻ con cũng giơ nắm đấm chào nhau. Đưa đám ma một nhân vật của thị xã, người ta theo quan tài, hát bài Tiếng gọi sinh viên.
Một cơn gió mới lùa vào tâm hồn Côn, cùng với niềm hân hoan của dân tộc. Bản nhạc Tiếng gọi sinh viên đã dạy Côn lớn lên, khôn ra. Nó mới hiểu, yêu nước là phải xông pha khói tên, làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền. Côn nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phơ bay trên ngọn cột cờ trường học. Phải hiến thân dưới lá cờ đó. Thầy Đàn đã hiến thân dưới cờ, thầy đã ra đi, lấy máu đào đền nợ nước. Côn muốn gặp thầy Đàn để ôm chặt thầy. Nó thương thầy gấp bội. Nó hãnh diện là học trò thầy Đàn, như Vọng hãnh diện là học trò thầy Hoan.
Niềm hân hoan của dân thị xã bộc lộ rõ rệt nhất trong ngày giỗ tổ Hùng Vương. Học trò thành chung và học trò tiểu học, áo dài đen, quần chúc bâu trắng, đội mũ trắng, xếp hàng đi trước, dân chúng theo sau, từ trường tiểu học, tiến đến sân vận động. Tất cả hướng mặt về Câu lạc bộ. Nơi đó, một bàn thờ trải cờ Việt Nam và một đỉnh hương trầm nghi ngút. Đội kèn bú rích của lính khố xanh, nay gọi là An Vệ Dân, thổi bài Tiếng gọi sinh viên. Trống đồng đánh thình thình, nghe oai vệ lắm. Học trò giở nón, úp vào bụng. Thằng Vọng được đứng với đội kèn bú rích. Nó lấy giọng, bắt nhịp. Học trò đồng ca:
Bốn nghìn năm văn hiến,
nước Nam khang cường.
Là nhờ công đức ngàn xưa.
Văn hóa như sông rừng,
cùng nâng dắt nhau
tô vào muôn ngàn sắc hoa...
Đời đời nhờ Hùng Vương đã vì quốc dân,
lập nên nước này...
Cúi đầu xin ban phúc
giúp cho con Rồng,
từ nay thôi hết lầm than...

Năm nào, dân thị xã cũng giỗ tổ Hùng Vương nghiêm trang. Năm nay, nghiêm trang và phấn khởi hơn. Quan đầu tỉnh người Việt đọc diễn văn nhắc nhở công đức tổ Hùng Vương. Trên hàng ghế danh dự, không còn quan công sứ Tây nữa, mà chỉ có mấy vị sĩ quan Nhật, ngực đeo huy chương, lưng dắt kiếm dài. Buổi lễ chấm dứt, dân chúng tuần hành khắp phố. Những thông ngôn Nhật dặn dân thị xã rằng: Khi nào họ hô, đả đảo thực dân Pháp, thì tất cả giơ tay, hô đả đảo.
- Đả đảo thực dân Pháp!
- Đả đảo...
- Đả đảo thực dân Pháp!
- Đả đảo...
Bọn thằng Côn hô to nhất. Nó hỏi Vọng :
- Đả đảo là gì hở, mày?
Vọng nắm chặt trái đấm :
- Đả đảo là đánh cho Tây điên đảo, hạ quỵ Tây.
Những tiếng hô vang vọng khắp thị xã.
- Đả đảo thực dân Pháp!
- Đả đảo...
- Nhật Hoàng vạn tuế!
- Vạn tuế...
- Việt Nam độc lập!
- Độc lập...
- Đại Đông Á đoàn kết!
- Đoàn kết...
- Đả đảo thực dân Pháp!
- Đả đảo...
Bỗng, có người hô :
- Đả đảo phát xít Nhật!
Dân chúng quen miệng, hô theo :
- Đả đảo.
Lập tức, những người thông ngôn Nhật rút súng lục ra, lăm lăm trong tay. Một người bắn chỉ thiên ba phát. Lính Nhật theo đám tuần hành chạy rầm rập lên phía trước, chận lại. Họ rút lưỡi lê, cắm vào đầu súng, lên đạn lách cách. Những ngọn lưỡi lê chỉ chực đâm thủng da thịt. Dân chúng đứng im, mặt mày xám ngắt. Thông ngôn Nhật khám xét từng người lớn. Côn run sợ, véo Vọng một cái. Nó nói nhỏ :
- Bỏ mẹ rồi. Thằng nào bị bắt, sẽ bị Nhật chém ngang thây.
Vọng nghiến răng cho hai hàm khỏi đánh nhịp. Nó thúc nhẹ vào mạng mỡ Côn :
- Câm mồm lại đi.
Sau nửa giờ khám xét, thông ngôn Nhật tóm một người tình nghi, lôi ra. Vọng bật nói :
- Anh Đạo.
Ôny Ban tát tai anh Đạo hai cái, nẩy đom đóm mắt. Anh Đạo nhổ nước miếng, trúng mặt ông Ban.
- Đồ Việt gian!
Lính Nhật thúc báng súng trường vào ngực anh Đạo. Anh ta trợn mắt, nhìn mọi người, gầm lên :
- Đả đảo phát xít Nhật!
Một báng súng nữa đập thẳng mặt anh Đạo. Máu anh ứa ra, và anh rũ xuống, cơ hồ một thân cây bị đốn ngã. Dân thị xã run bần bật. Côn úp tay che mặt. Thằng Vọng mở to mắt nhìn. Hàm răng nó không còn đánh nhịp. Nó nắm chặt hai nắm đấm, nghiến răng ken két. Luyến thấy đôi mắt Vọng long sòng sọc. Nhật ra lệnh giải tán đám tuần hành, người nào về nhà người ấy. Côn kéo tay Vọng, Luyến ra về. Đi được quãng xa, ngó lại không thấy lính Nhật, thông ngôn, Côn hỏi Vọng :
- Anh Đạo nào đấy mày?
- Anh ấy ở Đông Cao [1], Tiền Hải.
- Mày quen anh ấy à?
- Thầy Hoan bảo anh ấy tìm tao. Tối qua, anh Đạo kể tội Nhật. Anh ấy nói sẽ xui dân thị xã chống phát xít Nhật. Giá anh Đạo không bị bắt, tao đã theo anh ấy đi rồi.
Luyến lè lưỡi :
- Ông sợ quá, ông chuồn đây.
Luyến co cẳng chạy. Côn không nói thêm gì với Vọng nữa. Tự đáy lòng nó, vừa cuồn cuộn một nỗi đau thương. Côn đã nhìn rõ sự hung ác của Nhật. Nó nhìn Vọng. Thằng bạn nghèo khổ đang ứa nước mắt. Côn thấy nước mắt bạn không giống nước mắt những lần nó bị thằng Hách bắt nạt. Nó vươn tay, khoác vai Vọng :
- Về nhà tao uống nước.

36
Niềm hân hoan đã tàn lụi. Lớp phấn hồng đảo chính, trên má cô gái tỉnh lỵ, vội vàng phai nhạt. Bây giờ, chỉ hằn dấu vết sợ hãi. Nhật treo chân hai người Việt Nam, trên một cành cây, đầu dộng xuống. Hai người này, bị bắt quả tang, ăn cắp thóc của ngựa lính Nhật. Họ quỳ lạy Nhật. Nhật không mảy may xúc động. Lính Nhật trói chân họ, dùng dây thừng lớn, kéo lên cành cây cao, ở đầu tỉnh. Một người lính Nhật leo lên buộc chặt. Hai tên ăn cắp thóc giẫy giụa, la hét, cho tới khi chết. Hai người bị Nhật xử tử cùng cư ngụ tại xóm Kỳ Bá. Họ nghèo khổ, như mẹ con thằng Vọng. Chính mắt Vọng đã nhìn thấy, từ lúc họ bị bắt đến lúc họ giẫy chết. Vọng kể cho Côn nghe. Côn đã ôm mặt khóc tấm tức. Nó thương hai người nghèo chết khổ sở quá.
Nhật để hai cái xác chết toòng teng trên cây ba ngày, để làm gương cho dân thị xã. Không ai dám gần chỗ ngựa lính Nhật ăn thóc nữa. Nhật đi khám xét từng nhà. Nhật không bắt rượu lậu, mà chỉ bắt những người chống Nhật. Quan đầu tỉnh người Việt không can thiệp nổi việc gì. Thị xã căng thẳng nỗi sợ. Nhật ra lệnh cho dân quê nhổ lúa non lên trồng đay, để Nhật có đay đan lưới, chống bom Mỹ! Ai không tuân lệnh sẽ bị xử tử. Dân quê phá lúa, trồng day. Gạo bỗng lên giá vùn vụt. Dân quê đổ xô về thị xã, xin việc làm tôi tớ và ăn mày. Chợ thị xã và các vỉa hè, ban đêm, ăn mày ngủ chật ních. Mùa xuân năm may lạnh hơn những mùa đông năm cũ. Khối ông già, bà lão đã chết cóng ở chợ. Ngay tại thị xã, nhiều nhà đã phải ăn cơm trộn ngô, khoai. Có gia đình sáng lót lòng củ khoai, trưa ăn cơm, và tối húp cháo.
Chiến tranh cũng theo đảo chính về Thái Bình. Người Hà Nội, người Hải Phòng, có bà con thân thuộc ở Thái Bình, về đây tránh bom Mỹ. Nhật gây chiến với Mỹ. Và, Mỹ chở bom, dội xuống Hà Nội, Hải Phòng. Bác thằng Côn đi ca nô Nam Định-Hà Nội, bị máy bay Mỹ bắn trúng tay, phải cưa cụt một tay.
Mỹ chưa dội bom Thái Bình, Nhật đã bắt đào tăng sê và tập phòng thủ thụ động. Hôm nọ, máy bay Nhật rượt máy bay Mỹ trên vùng trời Thái Bình, đã làm náo động dân chúng. Chiếc máy bay khu trục của Mỹ, bị hạ rơi ở Quỳnh Côi, cháy từ trên không, rớt xuống nổ tan tành. Người ta sợ Mỹ dội bom Thái Bình để trả thù. Ban đêm, dân thị xã bị cúp điện. Mỗi nhà chỉ được thắp đèn dầu nhỏ, và hễ báo động, phải tắt ngay. Xe Con Voi của ông Lê văn Định nằm đầy bến. ét xăng hiếm lắm. Nhật không cho xe chạy bằng xăng. Xe Con Voi dùng than, chạy các đường mười hai phủ huyện.
Thằng Vũ đã về Thái, dịp này. Côn thấy bạn khác đi nhiều quá. Nó lớn vượt hơn Côn. Vũ có vẻ ít nghịch ngợm. Nó không kể cho Côn, Luyến, Vọng nghe chuyện vườn Bách Thú, hồ Tây, Nghi Tàm, Quảng Bá, Láng, Voi Phục, hồ Gươm, mà toàn kể chuyện đảo chính Nhật ở Hà Nội và nấp máy bay Mỹ.
Sự hồn nhiên chưa hẳn mất, nhưng thời cuộc đã làm những đứa trẻ duỗi chân. Và, sự hồn nhiên bị đụng, hở ra một cánh cửa, cho nắng gió ùa vào. Giọng nói của Vũ ồm ồm, khó chịu lắm. Nó không nhận ra điều đó. Nó lại khó chịu giọng nói của thằng Côn.
Vũ về Thái được hai hôm, thị xã xôn xao chuyện một sĩ quan Nhật bị giết chết, ở bến đò Hưng Nhân, gần làng Thanh Triều. Một người Việt Nam đã bắn viên sĩ quan này, và đẩy xác xuống sông Trà Lý. Nhật bao vây thôn xóm, quanh bến đò, đòi xác sĩ quan của họ. Họ cho một cái hẹn ba ngày, nếu không nộp xác chết, họ sẽ làm cỏ hết dân chúng. Côn sợ hãi. Vũ coi thường. Chúng nó rủ nhau vào sân trường nói chuyện. Vũ bảo :
- Ở Hà Nội, đêm nào ta cũng giết Nhật và Việt gian.
Côn chợt nhớ hôm giỗ tổ Hùng Vương, anh Đạo nhổ nước miếng vào mặt ông Ban, mắng ông ta là đồ Việt gian, nó quên béng, chưa hỏi Vọng. Nay, Vũ lại nhắc hai tiếng Việt gian, Côn đập khẽ lưng Vũ :
- Việt gian là gì hở, mày?
- Là người Việt làm tay sai cho Nhật.
- Tay sai là gì?
- Là Nhật nó sai đi giết người, bắt người đánh đập.
Côn liếm môi, quan trọng :
- Ông Ban là Việt gian đấy, mày ạ!
Vũ há hốc miệng :
- Thế à? Mày đừng gọi nó là ông nữa. Ở Hà Nội, người ta gọi Việt gian là thằng. Thằng Ban mà ở Hà Nội, là bị giết rồi. Dân Hà Nội cừ lắm. Coi Nhật như tép kho tương. Tao cuộc với mày, Nhật nó chỉ dọa, chứ nó đét dám làm cỏ dân ở bên đò Hưng Nhân đâu.
Nói chuyện Nhật và Việt gian chán chê, Vũ hỏi Côn chuyện Thái Bình :
- Thầy mình còn dạy không?
Côn ơ một tiếng :
- Tao viết thư cho mày rồi thôi.
- Thư lạc bố nó mất rồi.
- Thầy mình đi được mấy tháng. Bố tao bảo thầy là nhà cách mạng.
- Thế hở? Ở Hà Nội, có nhiều nhà cách mạng lắm.
- Thầy khen mày can đảm, và khuyên tao hãy can đảm như mày.
Vũ ngạc nhiên :
- Tao can đảm cái gì đâu?
Côn vỗ vai bạn :
- Mày không thèm xin lỗi thằng phó cẩm. A, hôm đảo chính, thằng Việt gian Ban tát lão phó cẩm hộc máu mồm.
Vũ khoe :
- Ở Hà Nội, tao đi xem đánh Tây mới vui. Về sau, tao thương Tây, mày ạ! Nhật nó đểu quá, nó ác hơn Tây.
Côn nắm chặt cánh tay bạn :
- Mày giống tao ghê. Thằng Vọng nó thích Nhật hành hạ Tây.
Vũ không chê Vọng. Nó đăm đăm nhìn gian lớp cũ. Có lẽ trường xưa, lớp cũ, và những ngày vui đùa năm qua chỉ còn là kỷ niệm. Côn lay bạn :
- Chúng tao mang gạo cho thằng Vọng đấy. Dạo này gạo kém, mẹ con nó phải ăn cháo thay cơm.
Vũ buồn buồn :
- Ở Hà Nội đã có người chết đói. Chúng mình may cái túi vải, mỗi đứa lấy trộm gạo ở nhà, bỏ vào túi, đem đến cho thằng Vọng.
Côn nói :
- Nó bảo vì Tây mà nó đói khổ. Thầy Hoan dạy nó rằng, sự đói khổ là mầm thù hận. À, Vũ này...
- Gì?
- Mày... mày...
- Gì đấy?
- Mày đừng giận tao, nhé!
- Ông đấm mày chết bây giờ.
- Mày... mày... có nhớ...
- Nhớ ai?
- Nhớ con Thúy không?
Vủ phá ra cười. Nó lăn trên sân cỏ. Côn không hiểu gì cả. Con nhà Vũ nghếch đầu lên :
- Nó biến thành con nhặng chưa?
- Chưa.
- Mày trả thù nó cho tao chưa?
- Chưa.
Côn ngẩn ngơ một lát. Rồi, rụt rè hỏi Vũ :
- Tao... tao...
Vũ toét miệng :
- Mày ghét nó, hở?
Côn lắc đầu rất thiểu não :
- Không, tao lại chơi với nó, mới chết chứ.
Vũ chồm tới, nắm chân bạn :
- Thì mày cứ chơi với nó đi. Tao có bạn ở Hà Nội. Mà tao ghét nó rồi. Mày biết không, nó lớn hơn tao, nó ở cạnh nhà tao. Hễ lúc tao đi học, nó chạy theo cho tao ngô luộc với lại bánh rán, tao ngượng quá. Một hôm, nó ôm lấy tao, tao ức, đấm nó một quả, nó khóc, mày ạ! Từ đó, tao không thèm chơi với con gái nữa.
Vũ nhìn Côn ranh mãnh :
- Con nhặng Thúy đã cho mày bánh rán chưa?
Côn cúi gầm mặt, đáp nhỏ :
- Chưa. Chỉ có tao cho nó cái lồng chim cu gáy.
Giữa lúc hai thằng bạn thân đang tâm sự, vua súng cao su Luyến xuất hiện. Nó kéo hai thằng đi ăn phở Phớn. Trời lạnh, đi ăn phở, còn gì ngon hơn? Vũ cuộc một bát phở sào với Côn, là Nhật không giết hết dân quanh bến đò Hưng Nhân.
Không đứa nào thắng cuộc cả. Vào ngày hạn cuối cùng của Nhật, một thanh niên đến nạp mạng lính Nhật, thú nhận đã giết viên sĩ quan. Anh ta nộp luôn khẩu súng lục đã bắn nạn nhân. Anh ta bảo dân chúng vô tội. Cùng lúc ấy, lính Nhật đã kiếm được xác viên sĩ quan của họ, nổi lềnh bềnh, trên khúc sông gần đó. Mùa nước này lặng, nên xác không trôi xa. Nhật tẩm dầu xăng, đốt xác viên sĩ quan, bỏ than vào cái hộp. Họ cử lễ truy điệu viên sĩ quan, rồi rút kiếm chém đứt đầu người thanh niên. Anh ta đã cứu mạng sống của hàng trăm người. Cha thằng Côn kính phục người thanh niên dũng cảm, coi cái chết của anh như cái chết của một liệt sĩ.

37
Côn hớt hơ hớt hải, chạy sang nhà Vũ :
- Vũ ơi, có người vừa chết đói ở cầu Kiến Xương. Tao nhìn thấy.
Vũ đang nằm đọc truyện, ngồi nhổm dậy :
- Mày nhìn thấy à?
- Ừ. Ông ta ngã khuỵu, tay giơ lên, cố bám lấy thành cầu, mà không bám nổi. Tao về đem cơm ra cho ông ta, ông đã chết rũ rồi.
Vũ khoe với dì nó :
- Dì ơi, ở cầu Kiến Xương có người chết đói.
Dì nó sợ hãi :
- Bố con nói, năm nay, chắc chết đói nhiều. Các con chớ gần xác chết nhé!
Vũ vâng dạ rối rít. Nó kéo Côn đi chơi. Giữa đường, hai đứa gặp Luyến và Lộc. Thằng Lộc nói hai người chết đói ở cổng Vọng Cung. Thằng Luyến bịt mũi, nói ở ngã tư Vũ Tiên vô số người chết đói.
Tin chết đói loan truyền thật nhanh. Thị xã ngập chìm trong sự lo âu. Người ta quên mọi chuyện, kể cả chuyện lính Nhật hung ác, mà chỉ nói chuyện chết đói. Tháng ba, trời vẫn còn lạnh. Cá thi nhau chết lềnh bềnh trên mặt hồ, ao. Cá rô khoẻ thế, cũng chết cóng. Những hạt sương muối đọng trên ngọn cỏ sắc buốt, như kim châm vào da thịt những bàn chân không giầy dép. Có lẽ người nghèo vừa chết đói vừa chết rét. Họ không phải dân thị xã. Từ các làng quê mười hai phủ huyện, họ dắt díu nhau lên tỉnh, sang Nam Định. Họ bán lúa non cho người giầu. Tiền hết, không ai cho vay lúa, họ bán gia tài, bỏ làng đi kiếm sống. Người đủ sức, đủ tiền, lê lết lên Hà Nội. Có khi mới đến Phủ Lý, họ đã gục chết bên đường. Một vài người vừa thấy Hà Nội, là lăn ra chết.
Thị xã làm gì có việc cho dân quê ra tỉnh. Họ đến chợ ngủ. Dần dần, dân quê xâm nhập thị xã, khiến thị xã toàn ăn mày. Sự bố thí có giới hạn. Không nhà nào nấu cơm sẵn, mỗi ngày, cho hàng trăm người ăn mày. Họ ngồi ủ rũ dưới gốc cây, hiên nhà, sân đền, dưới tường nhà thương, trường học. Phú lít mặc họ, vì đuổi không xuể. Những buổi trưa nắng, họ cởi áo ngồi bắt rận, bắt chấy, cho vào miệng cắn đôm đốp, rồi nuốt trửng. Chấy như một đàn kiến, bò lổn ngổn trên tóc họ, bắt mãi chẳng hết. Họ sống nhờ của bố thí. Dân thị xã kinh tởm họ, chứ không sợ hãi.
Sáng nay, tin chết đói làm thị xã rụng rời. Chỉ nội buổi sáng, người ta phát giác mấy chục xác chết đói. Ty vệ sinh của thị xã lo ván chôn những xác chết vô thừa nhận. Nhật rửng rưng trước nạn chết đói. Không thấy Nhật lo phát chẩn, như Tây thường phát chẩn cho dân nghèo.
Côn cắn môi :
- Bố thằng Vũ nói đúng quá.
Vũ vênh mặt :
- Bố tao nói cái gì cũng đúng.
Luyến hỏi :
- Bố mày biết tại sao chết đói nhiều không?
Vũ chưa kịp trả lời, Lộc vội đáp :
- Anh tao bảo tại Nhật bắt phá lúa trồng đay. Nhật nó thu hết thóc ở nhà quê rồi.
Mấy đứa trẻ nhìn nhau, kinh ngạc. Côn không quên câu chuyện tại nhà thằng Vọng. Nó cũng nhớ những nogn lưỡi lê của lính Nhật lăm lăm chờ đâm dân thị xã, hôm giỗ tổ Hùng Vương. Côn đã bưng mặt, không dám nhìn báng súng Nhật đập vỡ mặt anh Đạo. Hai người nghèo khu Kỳ Bá, ăn cắp thóc của ngựa lính Nhật, bị chết treo, ở đầu tỉnh, còn là giấc mơ kinh hoàng của Côn. Nó buột miệng :
- Nhật đểu ghê!
Vũ nắm chặt bàn tay thành trái đấm :
- Tiên sư Nhật lùn!
Côn đá khẽ Vũ :
- Mày liệu hồn.
Vũ bĩu môi :
- Ở Hà Nội, người ta gọi Nhật là Nhật lùn. Tụi trọc đầu, mắt một mí đểu thật. Ông đét sợ Nhật.
Côn bỗng lây sự can đảm của Vũ. Nó nói :
- Thầy mình trở về, tụi Nhật bỏ cha chúng nó.
Ngay cái lúc hăng máu hiệp sĩ của Vũ và Côn, thì một cái xe bò lọc cọc lê bánh trên đường phố. Hai anh hướng đạo đẩy, một anh quàng dây qua vai kéo, chở ba anh khác, đứng trên xe. Chiếc loa thiếc a lô, a lô ầm ỹ. Vũ nheo mắt :
- Hướng đạo đóng kịch, hở?
Bốn đứa chăm chú nhìn.
- A lô, a lô... Lá lành đùm lá rách. Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng. Một miếng khi đói, bằng gói khi no. Xin đồng bào hãy cứu giúp dân nghèo. A lô, a lô, xin đồng bào hãy bớt chút phần ăn, cứu dân nghèo khỏi chết đói. A lô, a lô...
Côn mừng rỡ :
- Hướng đạo quyên cơm phát chẩn, chúng mày ạ!
Vũ rủ rê :
- Chúng mình xuống đẩy xe bò, đi!
Cả bọn chạy theo hưóng đạo, đẩy xe đi a lô khắp thị xã.
- A lô, a lô... Xin đồng bào hãy đem cơm, bánh tới sân trường tiểu học, để anh em hướng đạo đi phát cho dân nghèo. Lá lành đùm lá rách. A lô, a lô!...
Bọn thằng Côn đẩy xe đến gần chỗ nhà bọn chúng, bỏ về xin cha mẹ thổi thêm nồi cơm lớn. Ăn uống lấy lệ, chúng nó đổ cơm ra rá, đem tới trường. Rồi, nhập bọn cùng hướng đạo thị xã, đi phân phát cho dân nghèo. Côn đứng nhìn những người đói ăn. Họ ăn rất nhanh. Đói ngấu, họ chẳng thèm nhai. Bỏ cơm vào miệng, là họ nuốt trửng. Nhiều người vừa trông thấy rổ cơm đã ào tới, nằm rạp xuống bốc. Lắm người hục cả mặt hớp cơm nóng, như lợn ăn cám. Cơm dính đầy đầu tóc. Họ vuốt mặt, đưa tay liếm từng hạt. Có người được phát bánh chưng, quên bóc vỏ. Họ cắn luôn lá bên ngoài, nhai nghiến, nuốt phùng cả cổ họng. Họ có thể ăn mãi, nhưng mỗi người chỉ có phần mình. Mẹ nuốt cơm, con nhai vú sữa. Cảnh tượng thê lương chưa từng thấy trong một đời người. Tuy đã được cứu tế, hàng ngày vẫn chết đói rải rác khắp xó tỉnh.
Tuần lễ sau, Đoàn Khất Thực Thị Xã ra đời. Hầu hết học trò thị xã đều tham gia Đoàn Khất Thực. Buổi lễ xuất phát thật cảm động. Người trưởng đoàn, nước mắt dầm dề, nói về ý nghĩa của sự thành lập Đoàn Khất Thực.
Côn và Vũ đều rơm rớm nước mắt. Đoàn Khất Thực chia thành những toán nhỏ. Mỗi người đeo một cái bị, đi xin cơm các nhà. Bọn thằng Côn đã trở thành những đứa trẻ ăn mày. Chúng nó vui vẻ đi ăn mày cơm, bánh tây, bánh chưng... Đó là những kẻ ăn mày áo lành, xông xáo khắp chốn. Luyến chống cái gậy. Nó giả vờ khòm lưng, lè nhè :
- Ăn mày là ai, ăn mày là ta. Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày...
Đến cửa nhà mình, Luyến gõ gậy, pha trò :
- Con lạy ông, lạy bà, lạy cô, lạy cậu, xin ông bà cô cậu bố thí cho con đồng cơm bát cháo...
Mẹ nó ôm bụng cười, đổ cơm đầy cái bị của nó. Luyến vẫn còn tinh nghịch. Đảo chính, chết đói không làm nó mất sự hồn nhiên. Luyến chả cần suy nghĩ chuyện độc lập, cách mạng. Có thằng Vũ, nó không thèm muốn giang hồ Hà Nội nữa. Vũ là Hà Nội của Côn. Dường như, Vũ lây thằng Côn rồi. Nó thích nghe chuyện Nhật và chửi tiên sư Nhật lùn. Luyến không ghét ai cả, nó chỉ ghét những ngày mưa, nằm bó cẳng, không được đi bắn chim, bắn gà, bắn chó. Thị xã mới thêm trò ăn mày. Luyến lại thấy thị xã hết chật hẹp.
- Con cá nó sống vì nước, con sống vì ông bà. Xin ông bà cho con bát cơm.
Luyến thuộc lòng những câu của ăn mày, để đi... ăn mày. Thế mà, Vũ và Côn đả bị lây sự vui nhộn của Luyến. Chúng nó không tách rời sang các toán khác. Luyến, Côn, Vũ, Lộc, Long đi riêng một toán. Nhà nào đóng chặt cửa, Vũ bấm chuông điện kêu ầm ỹ. Chuông hỏng, chúng nó đập cổng thình thình. Hễ không mở, chúng nó réo tên, pha trò. Luyến sẵn sàng súng cao su bắn chó, bắn bóng đèn. Mở cửa mà không cho cơm Khất Thực, chúng nó mắng mỏ túi bụi. Vì, chúng nó đâu phải là ăn mày. Côn thấy chỉ nhũng nhà giầu không cho cơm Khất Thực thôi, còn ai cũng vui vẻ bố thí.
Nhờ Đoàn Khất Thực, Côn gặp Thúy luôn, chẳng cần kiếm cớ. Sáng sớm, Côn xách bị lại nhà Thúy xin cơm. Bác Thụy khen nó ngoan ngoãn, biết thương người nghèo. Con Thúy đổ cơm vào bị của Côn. Nó mỉm cười với Côn. Con nhà Côn đi ăn mày suốt ngày không mệt. Một buổi sáng, đúng rồi, một buổi sáng, Thúy hỏi Côn rằng, tại sao thằng Vũ không đến nhà Thúy chơi. Côn ta bỗng buồn ghê gớm. Nó nhớ, hôm Thúy khen Vũ phóng phi tiêu giỏi hơn Côn. Và, Côn chẳng thích lại nhà Thúy xin cơm nữa. Côn tự nhủ, sẽ không nói cho Vũ nghe chuyện này.

38
- Vũ ơi!
- Gì?
- Mày có nhớ những ngày đùa nghịch, năm ngoái, không?
- Nhớ chứ.
- Giá Nhật nó đừng sang Thái Bình, chúng mình sẽ đùa chơi thả cửa, mày nhỉ! Thằng Luyến nó mong mày về, nó hết muốn lên Hà Nội rồi. Tụi tao đã định leo xe ông tài Định, giang hồ Hà Nội đấy. Nhật nó sang Thái Bình, dân mình chết đói nhiều quá.
- Bố tao bảo tao lớn tồng ngồng rồi, không nên nghịch ngợm nữa. Mày thấy tao lớn chưa?
- Mày hơi hơi lớn thôi.
- Mày cũng hơi hơi lớn, giống tao. Sang năm, chúng mình học cua xuýp, hết hè, lên thành chung, là thành người lớn. Tao sẽ thi vào trường Bưởi. Học trò trường Bưởi đánh nhau với học trò trường Albert Sarraut luôn.
- Trườmg Bưởi thắng hay thua?
- Thắng. Lần nào đánh, lần ấy thắng. Bọn học trò Tây sưng vù mặt mày. Dân Hà Nội cừ nhất.
- Tao muốn học trường Bưởi ghê.
- Nhiều anh trường Bưởi chống Tây, bị bắt bỏ tù. Tao chắc, giờ các anh ấy đang chống Nhật. Tiên sư Nhật lùn, ác quá! Nó đốt lúa mày ạ!
- Ai nói thế?
- Bố tao. Bố tao còn nói Nhật bắt lính, thu thóc nặng hơn Tây.
- Chắc vì thế dân mình chết đói.
- Ừ. Bố tao mới đi Ninh Giang về. Bố tao kể, dọc đường từ ngã tư Môi, đến gần cầu Bo, xác chết đói ngổn ngang, thối um. Không ai chôn cả. Người qua đường phải lấy khăn bịt mũi. Bố tao bị ốm, ăn cơm là bố tao nôn ọe. Bố tao sợ phát ốm. Xoa dầu Nhị thiên đường nóng bỏng mũi, mà bố tao bảo vẫn ngửi thấy mùi thối. Này, Côn này...
- Gì?
- Ta sắp đánh Nhật, đuổi Nhật khỏi Thái Bình đấy.
- Ai nói thế?
- Bác Thụy, bố mày, bố tao nói chuyện thầm, tao nghe lén.
Côn ngồi bật dậy. Lòng nôn nao lạ thường. Côn nhớ ngày nọ, ở bên kia cầu Bo, Nhật bắt Tây đào đất, kéo xe bò. Lần này, chính Côn leo lên vồng cầu Bo cao nhất, hét lớn Ai sinh ra cái xe bò, Để cho Nhật phải kéo gò lưng tôm. Côn sẽ xui Luyến nhằm bụng lính Nhật mà tia đạn đất.
- Bao giờ ta đánh Nhật hở, mày?
- Sắp đánh.
- Liệu ta thắng không?
- Giấy nói ta sẽ thắng Nhật lùn. Bố mày đọc xong, đưa cho bố tao. Bố tao bật diên, đốt mảnh giấy ra tro.
- Ai gửi giấy cho bố tao?
- Không biết nữa.
Hai thằng bạn ngồi sát bên nhau hóng nắng. Giàn hoa lý, trên đầu chúng, đã hết vẻ héo hon. Bây giờ, mới có nắng xuân, nắng xuân muộn. Nắng xuâm muộn nhảy múa trên những chiếc lá non. Côn nghe rõ từng chiếc lá chuyển mình, chuyển mầu. Nó cũng nghe rõ cả sự nô nức, trong tâm hồn nó. Tâm hồn thằng Côn đang nô nức mong chờ, ngày ta đánh Nhật.
- Hễ thắng Nhật là hết chết đói, hở mày?
- Ừ.
- Thằng Vọng bảo đánh đuổi Tây, Nhật khỏi Thái Bình, ta sẽ độc lập. Tao thích lấy dây thừng trói tay lính Nhật, dẫn nó đi diễu phố. Ông tước kiếm của nó, đeo cho oai.
- Tao ấy à, ông treo nó dộng ngược lên cây, để nó chết giẫy. Nó ác nhất thế giới. Nó giết mình thế nào, mình giết nó thế ấy.
Vũ bỗng reo toi :
- Tao nghĩ được trò chơi mới rồi.
Côn hí hửng :
- Trò gì?
- Chúng mình ra bờ sông, chia phe đánh nhau. Tao với mày phe ta, bọn thằng Luyến phe Nhật. Chúng mình bắt Nhật ném xuống sông.
- Ừ, hay tuyệt cú mèo. Mà, Vũ ơi...
- Gì?
- Tao muốn nói với mày chuyện này...
- Hay lắm không?
- Tao... tao...
Vũ phát lưng bạn một cái :
- Ông biết tỏng. Chuyện con Thúy, hở?
Côn chớp mắt :
- Ừ.
- Nó bảo mày ăn cắp cái lồng chim cu gáy chứ gì?
Côn lắc đầu :
- Không.
Vũ thoi khẽ Côn :
- Thế sao?
- Nó không thích chơi với tao!
Vũ buồn rầu :
- Kệ mày.
- Ừ, kệ tao.
Vũ hỏi :
- Sao mày bảo mày chơi thân với nó?
Côn đáp :
- Dạo xưa cơ. Từ hôm mày về, nó không thích chơi với tao. Nó hỏi thăm mày. Nó nhắn tao, bảo mày tới nhà nó chơi.
Côn ngước nhìn những lá thiên lý tắm nắng xuân. Một nỗi niềm thật là buồn vừa len lỏi vào tâm tưởng nó. Ngày trước, Vũ chơi thân với Thúy, Côn có cần biết gì đâu. Con Thúy làm thằng Vũ bị đuổi học, Côn còn ghét con Thúy, trách móc Vũ đã bênh con bà cô Thúy. Bây giờ, lại khác, con Thúy thích chơi với thằng Vũ, đã làm Côn buồn. Chẳng biết tại sao nó buồn. Côn định ỉm chuyện Thúy nhắn Côn. Rồi, nó không ỉm được. Luôn luôn, Côn cần thằng Vũ.
- Mày đến nhà nó đi.
- Tao ghét nó rồi.
- Tại sao mày ghét nó?
- Nó mắng tao là đồ ăn cắp cái lồng chim của thằng Hội, tao ghét nó.
- Nó khem mày ném phi tiêu giỏi hơn tao. Nó không ghét mày đâu.
Vũ nắm chặt cánh tay Côn :
- Thúy nó khen tao à?
Côn gật đầu chậm chạp :
- Ừ.
- Tao không đến đâu. Tao thề rồi...
- Mày không đến, nó giận tao.
- Kệ nó. Nhỡ nó ôm tao, tao xấu hổ chết mất. Con gái nó hay điên. Anh tao ở Hà Nội nói thế. Tao đét thích chơi với con Thúy nữa.
- Mày thích chơi với ai?
Vũ giật mạnh cánh tay Côn. Thằng bạn khuỵu tay xuống.
- Ông thích chơi với mày thôi.
Thằng Côn vẫn buồn. Nó muốn khóc nữa. Nó sợ khóc, thằng Vũ chế nhạo. Côn đứng lên, vươn vai :
- Tao về đây.
- Chiều nay, ra bờ sông, lập trận giả đánh Nhật không?
- Không.
- Sao thế?
- Tao không biết.
Côn bỏ về. Vũ ngồi nhìn theo bạn. Nó thấy dáng điệu của thằng Côn ủ rũ quá. Vũ nghĩ thầm Con Thúy là cái thớ gì mà thằng Côn sợ nó. Đến lượt Vũ không hiểu cái thớ của con Thúy, như, năm ngoái, Côn đã không hiểu, và rỉa rói Vũ. Con Thúy làm Côn bỏ đùa nghịch, chỉều nay. Vũ lại đâm ra ghét con Thúy thêm.

39
Đoàn Khất Thực đành bó tay. Dân quê mỗi ngày một kéo lên thị xã hàng đàn, lũ lượt như kiến chạy mưa. Người ta chết đói nhiều quá, khiến sự cứu tế trở thành vô nghĩa. Ngay ở thị xã, lắm nhà đã phải ăn một bữa, hay ăn cơm độn ngô, khoai. Mùa lúa mới mãi tháng năm mới được gặt. Mà, đồng ruộng nhiều vùng, Nhật đã bắt phá lúa non, trồng đay, trồng gai.
Dân quê chết như rạ, trên các lối đi về thị xã. Khu Kỳ Bá có gia đình chết đói hết. Khu cầu Kiến Xương cũng đông người thị xã chết đói. Dưới An Tập, dân nghèo bắt đầu chết. Không còn gỗ đóng ván nữa, phải bó xác chết đói mà chôn. Rồi, chiếu hết, xác chết chất hàng chục cái lên xe bò, chở tới cái huyệt lớn, chôn chung. Thoạt đầu, ty vệ sinh rắc vôi bột, trước khi lấp đất. Sau, vôi bột hết luôn. Một cái huyệt chôn chung hàng trăm xác chết đói. Người chôn xác chuyên nghiệp của thị xã làm việc quần quật. Tỉnh thuê thêm người. Chôn xác được ít ngày, những người làm nghề chôn xác lăn ra chết, vì tử khí nhập vào cơ thể họ. Thị xã nồng nặc mùi thối, dưới những cơn nắng tháng ba. Người gục chết, ba bốn hôm sau mới chở tới nghĩa địa. Thị xã sợ dịch tả, dịch hạch, tự động xúm nhau đi chôn xác chết. Người ta lấy khăn bịt mũi, dùng dây thừng buộc chân xác chết, lôi xềnh xệch, trên đường phố. Nhiều người chết giấm, chết giúi, mãi khi xác thối rữa ra, mới được phát giác.
Thị xã ngập chìm trong lo âu. Ngay cả người dư dả miếng ăn cũng sợ sẽ bị chết đói. Nỗi sợ khiến dân thị xã quên thưong xót đồng bào ruột thịt..
Nhật vẫn không mảy nay xúc động. Ngựa của Nhật thả cửa ăn thóc. Dân Việt Nam chết đói ngổn ngang. Nhật không quên đi lùng bắt những người chống Nhật. Bên kia cầu Bo, nhiều cảnh chết thật quặn lòng. Những trẻ thơ nhay vú mẹ, nhay mãi mãi mà không biết mẹ đã chết. Những cái vú sữa lép kẹp. Trẻ thơ vừa nhay, vừa khóc, rồi gục đầu trên vú mẹ mà chết. Xác chết chồng lên nhau, Chết không giăng giối. Chết không biết là chết. Mới mở mắt thều thào, quờ quạng, vài phút sau đã chết. Ngồi mà chết. Ngồi bó gối, đầu đội nón lụp xụp, tưởng còn sống, đem cơm cho ăn. Đến nơi, mới biết đã chết tự lúc nào. Cố đứng dậy bước, đói quá, chết ngã úp mặt. Một trận chết đói khủng khiếp nhất nhân loại, đã diễn ra ở Thái Bình.
Dưới gầm cầu Bo, vì mùa nước cạn, dân quê tập trung một số dưới đó, để trốn rét, để trốn đói, và chờ chết. Không ai ngăn cản nổi. Thị xã biến thành mỗt thành phố dã man kiếp nào. Đói quá đỗi, dân quê đâm ra liều lĩnh, để tranh sống. Cảnh vồ bánh trái diễn ra hàng ngày, ở chợ búa. Người vợ bán hàng, chồng con cầm đòn gánh giơ sẵn, đề phòng bị vồ. Dân đói bất chấp, cứ lao vào vồ. Chiếc bánh cầm trong tay, đưa lên miệng nhai ngấu nghiến. Những chiếc đòn gánh phang túi bụi. Không biết đau. Cứ nhai, và nuốt. Ăn xong cái bánh, thì chết đòn. Chẳng ai kết tội sát nhân. Cơn đói giết người, và người giết thả cửa. Nhà nước không bắt bỏ tù ai đánh những ngưởi cướp giật đến chết.
Chợ búa vắng hoe, vì tai nạn vồ cướp. Mua cái bánh đa nướng, giấu trong áo mang về, vẫn bị dân đói chạy xô tới, đập vào ngực vỡ nát cái bánh, để xúm nhau nhặt từng mảnh vụn mà ăn. Bọn thằng Côn không dám đến khu Kỳ Bá nữa. Mấy lần đem gạo, cơm, bánh cho mẹ con thằng Vọng đều bị cướp giật. Khu Kỳ Bá chẳng còn gì để ăn chờ mùa lúa mới. Bao nhiêu cây chuối và củ chuối bị chặt và đào hết.
Chó mèo không thấy tăm hơi đâu. Chắc là bị ăn thịt rồi. Vũ và Côn đều thương Vọng lắm. Chúng nó bàn cách nắm cơm mang tới nhà Vọng. Hai hôm nay, bọn thằng Côn không vào nhà Vọng, vì chúng nó tin rằng gạo chúng nó mang cứu giúp Vọng còn đủ dùng. Cũng hai hôm nay, số người chết đói tăng lên gấp bội. Côn lo cho mẹ con Vọng quá.
Nó hỏi Vũ :
- Mày nghĩ được kế nào chưa?
Vũ đáp :
- Chưa.
Con nhà Luyến giục toáy. Thằng Lộc đòi dùng gậy, đánh nhau với những người cướp giật. Vũ sốt ruột :
- Để im tao nghĩ kế.
Nó gõ ngón tay lên trán một lúc, rồi reo to :
- Có kế đây.
Lũ bạn nhao nhao :
- Kế gì, kế gì?
Vũ xoa tay :
- Chúng mình đóng cái hộp gỗ hai ngăn. Dưới đựng mười nắm cơm, trên bày đá. Tao giả vờ kéo, túi quần tao nhét cái bánh chưng. Chúng mày cũng đem bánh chưng. Đến ngõ nhà thằng Vọng, chúng mình cho bánh, rồi kéo cái hộp đá vào nhà nó, thì hết bị cướp giật. Dân đói cướp đá làm khỉ khô gì!
Côn khen Vũ rối rít. Chúng nó bắt tay vào việc cứu trợ thằng Vọng liền. Côn nhờ mẹ thổi cơm, nắm giùm nó. Vũ tìm gỗ đóng hộp. Luyến, Lộc, Long chạy về nhà kiếm bánh chưng, bánh dầy khô. Một tiếng đồng hồ sau, bọn thằng Côn đã kéo lê cái hộp gỗ, chở đầy đá, khỏi cống Kỳ Bá. Chúng nó hồi hộp. Ngực thằng nào cũng đập thình thình.
- Nhỡ họ cầm cái hộp, họ ném tung lên, thì sao hở, Vũ?
- Tao đóng đinh chắc lắm. Hộp cơm nắm này, mẹ con thằng Vọng ăn dè được hai ngày. Có đứa nào gói muối theo không?
- Có.
- Tao sợ quá.
- Sợ thì mày về đi, Lộc ạ!
Vừa tới ngõ nhà Vọng, Luyến nói :
- Hôm kia, bị cướp giật ở chỗ này.
Bỗng Lộc hét :
- Eo ơi!
Nó nhắm mắt, chỉ tay. Vũ và Côn nhìn chỗ Lộc chỉ. Hai cái xác chết nằm bên nhau. Vũ nói :
- Bịt mũi lại đi, thở bằng mồm nhé, tụi mày nhé!
Chúng nó rảo bước. Bốn thằng gặp thêm cả chục xác chết. Cứ vào sâu trong ngõ, lại gặp xác chết nhiều hơn. Vũ bịt mũi chặt, giọng nó khàn khàn :
- Họ chết hết rồi.
Vũ chạy. Chiếc hộp rớt đá ngổn ngang. Chúng nó đã đứng trước cổng nhà thằng Vọng. Côn réo :
- Vọng ơi!
Không có tiếng Vọng trả lời.
- Vọng ơi!
- Vọng ơi, chúng tao đem cơm cho mày, hôm nay không bị cướp giật đâu.
Im lặng. Tiếng thằng Côn vang xa. Lộc xanh mặt :
- Hay thằng Vọng đã chết đói?
Vũ cáu tiết :
- Chết đói cái củ thìu biu!
Nó buông sợi dây kéo cái hộp, chụm hai bàn tay, gân cổ gọi :
- Vọng ơi! Vọng ghẻ tầu ơi!
Sự lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt năm đứa trẻ. Vũ đẩy cái cổng tre xiêu vẹo :
- Chúng mình vào đi, chắc nó ngủ say.
Năm đứa, ngại ngùng, đi vào sân. Rồi, chính nó mở tấm liếp. Vũ ngó trước. Nó quay ra ngay :
- Mẹ thằng Vọng nằm co quắp trên ổ rơm, chúng mày ạ!
Côn hỏi :
- Nó đâu?
Vũ lắc đầu :
- Tao không thấy.
Luyến và Lộc khênh cái liếp đóng cửa, xích một quãng. Ánh sáng lùa vào gian nhà. Vũ nhắm mắt lại. Giọng nó lạc đi :
- Mẹ... nó... chết... rồi...
Côn chạy xuống bếp. Nó lại réo :
- Vọng ơi!
Lộc lắp bắp :
- Tao bảo nó đã chết, thằng Vũ không tin.
Vũ quát :
- Nó không chết, thằng Vọng không chết...
Vũ ôm mặt, khóc hu hu. Côn khóc theo. Và, năm đứa khóc nức nở. Không có thằng Vọng ở nhà, nó đi đâu chết rồi. Mẹ nó đã chết đói, đang nằm co quắp trên ổ rơm. Chắc nó đi cướp cơm về cho mẹ ăn. bị người ta đánh chết. Năm đứa trẻ nhìn nhau. Những đôi mắt sũng nước, cùng long lanh hình ảnh thằng Vọng và cuộc đời hẩm hiu của nó.
Đứng ngẩn ngơ một lúc, Vũ bước vào gần cái ổ rơm, kéo chiếc chiếu đắp lên xác mẹ thằng Vọng. Chúng nó ném quà bánh đem biếu Vọng quanh cái hộp cơm, rồi lủi thủi ra về. Khuôn mặt chúng nhễ nhãi nước mắt.

40
Chết đói xong là chết no, chết dịch. Cơn ác mộng đã qua. Tỉnh lỵ lại mang cái vẻ bình thản muôn đời của nó. Vẻ bình thản đánh đai lấy cuộc sống người dân thị xã. Sóng gió đang nổi ở đâu xa lắm. Chứ, ở thị xã Thái Bình, sóng ngầm chỉ xô giạt trong lòng một vài người. Hầu như không ai muốn nhớ tới nạn chết đói mấy tháng trước. Dân Thái Bình chết cả mấy chục vạn người. Có làng bị chết đói hết.
Côn thì không thể quên Vọng. Thằng Vọng cũng bị chết đói. Côn tưởng chừng gia đình nó có người chết đói khổ sở, đau đớn. Tháng rồi, dưới giàn hoa thiên lý nhà thằng Vũ, Luyến buột miệng nói Giá chúng mình rủ thằng Vọng về nhà chúng mình ở, chắc nó không thể bị chết đói. Cả Côn và Vũ đều ân hận. Dễ dàng thế, mà Côn và Vũ không nghĩ ra. Thằng Vọng chết đói, sẽ chẳng bao giờ được leo lên vồng cầu Bo, xem Nhật xúc đất, kéo xe bò. Nó sẽ chẳng bao giờ được thấy thầy Đàn, thầy Hoan tát sĩ quan Nhật hộc máu mồm giữa phố. Ta sắp đánh Nhật. Côn tin tưởng ngày thầy Đàn trở về Thái, hiên ngang như Trần Quốc Tuấn trên sân khấu kịch của hướng đạo. Ngày ấy, chắc vui lắm.
Mùa hạ năm nay thật buồn tẻ. Hoa phượng vẫn nở, mầu hoa không rực rỡ. Tại học trò đã nghỉ học trước hè, nghỉ từ tháng ba chết đói. Loài ve sầu rên rỉ mỏi miệng, cũng chẳng ai thèm cảm xúc. Có lẽ mùa hạ sang năm sẽ buồn tẻ hơn. Cồn hồi tưởng những mùa hè năm xưa, mà thương tiếc. Chắc chắn, không còn những trận đá bóng sôi nổi, với An Tập, trường Tầu. Vọng đã mang theo sân cỏ xuống đất sâu. Mất Vọng! Bóng tròn hết quyến rũ đôi chân thằng Côn. Tại Nhật hết. Nhật sang Thái Bình, gây nên bao điều khốn khổ.
Côn nắm quả đấm, thụi lên mặt bàn. Cha nó ngồi đọc sách gần đó, ngạc nhiên :
- Con làm sao thế?
Côn rươm rướm nước mắt :
- Thằng Vọng chết đói, bố ạ!
Cha thằng Côn gỡ cặp kính trắng, dụi mắt :
- Con nói bố nghe rồi mà...
- Phát xít Nhật làm nó chết.
- Bố dặn con, con chả chịu nghe lời bố. Con muốn Nhật bắt cả nhà mình giết chết à?
Thằng Côn đưa hai tay ôm đầu :
- Con biết hết chuyện.
Cha nó buông rơi cuốn sách :
- Con biết chuyện gì?
Côn òa lên khóc :
- Con lớn rồi, con lớn rồi... Con biết ta sắp đánh Nhật, bố đọc giấy gì ở nhà thằng Vũ.
Cha nó đến gần chỗ nó ngồi, cầm tay nó :
- Con lớn rồi, bố không bảo con là trẻ con nữa. Nhiều việc con chớ nên biết tới.
- Con ghét Nhật. Thằng Vũ dám chửi Nhật lùn. Nó bảo, ở Hà Nội, người ta giết Nhật như ngóe. Dân Hà Nội cừ lắm, sao dân Thái Bình không cừ?
- Dân Thái Bình sẽ cừ. Thầy con đã là một người cừ.
- Thầy con sắp đánh Nhật?
- Ừ, thầy con đang đánh Nhật, ở xa.
- Bao giờ thầy con đánh Nhật ở Thái?
- Sắp sửa.
Cha thằng Côn dịu dàng :
- Con thấm nước mắt đi. Đã lớn rồi, nghe chuyện người lớn phải giữ kín, hiểu chưa?
Côn rút khăn thấm nước mắt. Nó nhìn cha, mỉm cười.
- Thôi, con đi chơi đi.
Côn chào cha. Nó chạy ra đường, và đến nhà Vũ, rủ Vũ lên cầu Bo. Nước lũ đã về. Chóng ghê. Mới năm ngoái, Luyến và Côn đứng đây, nhìn nước lũ cuồn cuộn trôi ra biển.
- Con nhà Luyến, năm ngoái, đòi đóng bè chuối, thả xuống cống Đậu, ăn canh bánh đa của bác lang Tặng mày đấy.
Vũ phì cười :
- Xuống cống Đậu rửa bát à? Ông chán cống Đậu từ lâu.
Côn kéo Vũ sát bên mình :
- Mày biết chưa?
Vũ thì thào :
- Biết gì?
- Thầy mình sắp về Thái đánh Nhật.
- Thế hở?
- Ừ, bố tao dặn đừng nói với ai.
Vũ xăn tay áo :
- Tao sẽ đi theo thầy.
Côn ghé miệng, kề tai Vũ :
- Dân thị xã sửa soạn đánh Nhật. Thầy mình cầm đầu. Bố tao bảo đánh đến đít rồi.
Vũ sướng rên, nhảy cỡn :
- Tao phải trói một thằng, bắt kiến lửa, bỏ lên bụng nó, mới thích. Kiến lửa cắn rốn nó, nó giẫy đành đạch. Ông đứng ông múa mọi, và dzô tô nay, a ri ga tô.
Côn vung tay :
- Ông nhốt một thằng, không cho ăn cơm, để nó chết đói như thằng Vọng.
Hai đứa trẻ mong đợi thầy chúng nó trở về Thái. Thầy chúng, chắc chắn, sẽ chở về những mộng ước ắp đầy những con mắt chúng. Hai đứa trẻ thị xã không muốn âm thầm sống trong vòng đai bình thản. Chúng nó muốn thoát ra. Nỗi thèm khát của chúng bộc lộ rõ rệt. Bây giờ, mới đúng lúc khung cảnh bình thản của tỉnh lỵ không thích hợp với chúng nó.
- Tao dắt thằng Nhật qua nhà con Thúy, tao đá đít, con Thúy sẽ phục lăn.
Vũ vỗ vai Côn :
- Mày chắc con Thúy phục tao chứ?
Côn gật đầu :
- Nó vẫn phục mày.
Nó hỏi Vũ :
- Mày lại nhà nó chưa?
Vũ thấy Côn thoáng buồn. Nó thúc khuỷu tay vào bụng bạn :
- Tao không đến đâu. Mày đến chơi với nó đi, kẻo nó giận.
Côn thè lưỡi, liếm môi :
- Tao không thích chơi với nó nữa. Tao thề không thèm nói chuyện với nó.
Vũ gậm nhấm móng tay :
- Mày buồn cười bỏ xừ đi ấy. Bây giờ, mày thích cái gì?
Côn nín thinh. Nắng chiều chỉ còn thoi thóp trên các lùm cây bên kia sông. Dòng nước, tự nhiên, buồn bã. Như là nó chán chảy xuôi ra biển. Nó muốn chảy ngược về nguồn. Côn hướng mắt nhìn phía xa. Gió thổi tung tóc thằng bé. Đôi mắt nó tròn to, long lanh một niềm ao ước.
Lần đầu tiên, Côn trái lời Vũ. Côn không còn giống Vũ. Côn cũng chẳng giống Côn năm ngoái, năm xưa. Nó đứng đây, không tương tư tiếng tu hú, không nhớ những lần đóng bè qua sông. Phía xa, nó đang tưởng tượng, có thầy Đàn dạy bao nhiêu đứa trẻ yêu nước. Côn, mơ hồ, nghe tiếng nói của thầy. Và, tình nó thương thằng Vọng dâng lên, đùn cay mắt nó.
- Bây giờ, mày thích cái gì?
Côn quàng tay, bá cổ Vũ :
- Tao thích thầy mình về Thái.
Vũ xiết chặt Côn. Nắng đã tắt hẳn. Gió thổi lộng. Hai đứa trẻ tỉnh nhỏ cùng đăm đăm trông về chốn trời xa. Nơi ấy, nhiều người sắp về. Và, tỉnh lỵ sẽ hết thê lương, buồn tẻ.[/color][/size][/font]
[font="verdana"][size="3"][color="#000099"]----------------------------------[/color][/size][/font]
[font="verdana"][size="3"][color="#000099"][font="verdana"][size="3"][color="#000099"][1] Đông Cao, một làng cách mạng chống Pháp thuộc huyện Tiền Hải, gần bãi biển Đồng Châu. Pháp không đánh nổi, phải dùng tàu bay thả bom tàn phá cả làng. Thủ lãnh Đông Cao chống Pháp là ông Ngô Duy Phớn.
[/color][/size][/font][/color][/size][/font]
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.02.2014 00:59:39 bởi casau>
Phần ba
Gởi vào cách mạng
 
41
Trời bỗng trở lạnh. Mới đêm trước còn oi nồng, sáng sau, không khí đã dịu mát, cơ hồ bước chân mùa thu lén về, trong giấc ngủ nửa khuya của dân tỉnh lỵ. Mùa hạ đã hết đâu. Những con tu hú cuối cùng chưa chịu dời miền xuôi. Nưóc sông Trà Lý vẫn dâng cao, ngầu đỏ phù sa. Họ hàng nhà ve sầu vẫn rên rỉ điệu nhạc buồn hoài.
Vũ dậy thật sớm. Nó ngồi ngoài cửa, chờ bánh tây thịt quay của Phương hen. Vũ mê bánh tây thịt quay của Phương hen, đến nỗi nhớ cả những ngày con nước, Phương hen nằm nhà dạo nhạc cò cử, không đi bán bánh. Phương hen là người bạn thân của bọn thằng Vũ. Chỉ bọn thằng Vũ mới được bốc thịt quay nhét vào bánh. Phương hen không tính thêm tiền hay kỳ kèo gì cả. Phương hen thì khoái bọn thằng Vũ, chúng nó trung thành với bánh tây thịt quay của Phương hen. Chúng nó ăn bánh tây, suốt niên học. Hôm nào Phương hen bị lên cơn hen nằm nhà, bọn thằng Vũ mới chịu ăn bánh cuốn, ăn phở điểm tâm. Bánh tây thịt quay, bánh tây chả quế, chả bò nhiều duyên nợ với học trò lắm. Ở Hà Nội, bánh tây chả bò ngon hơn bánh tây thịt quay ở Thái Bình. Nhưng Vũ cứ nhớ bánh tây thịt quay của Phương hen.
Vậy mà, sáng nay, Phương hen đến muộn, như mặt trời dậy muộn. Ngày con nước lớn qua rồi, giờ này, Phương hen chưa đi bán bánh, chắc là Phương hen bận việc. Phố xá mỗi lúc một tấp nập. Tiếng rao quà bánh ơi ới. Thị xã dễ yêu nhất vào buổi sáng, buổi trưa, và đêm khuya. Những sáng mùa đông, vừa tung chăn, đã nghe tiếng rao bánh hấp, bánh khúc, chỉ muốn ăn ngay, không thiết rửa mặt, đánh răng. Những trưa hè, nghe hàng đậu hoa, hàng canh bánh đa mời mọc, quên cả mệt nhọc. Ban đêm, buồn ngủ trĩu mắt, nghe ông già bán lục tầu xá, bỗng tỉnh ngủ. Học xong bài thi, có chú khách bán xôi lạp xường, phải vét tiền, chạy ra làm một đĩa. Những miếng lạp xường mỏng dính, như giấy viết thư, điểm lơ thơ trên dĩa xôi trắng, hay giọt nước hoa trong vắt nhỏ xuống bát lục tầu xá, sao mà lưu luyến thế!
Vũ định mua xôi lúa, nhấm nhá chất ngậy bùi của hành phi mỡ vàng óng, rồi tới rủ Côn, Luyến, Long đi câu cá rô dưới An Tập. Vũ đã rang gạo, giã nhõ, rây bột, nghiền mẻ làm mồi câu, từ hôm qua. Câu cá rô bằng mồi bột gạo rang nghiền mẻ sạch tay, chứ không bẩn như câu bằng mồi tép ươn. Vũ cũng để dành một hộp mai cua thối. Nếu bọn thằng Côn thích câu cá rói, thì vào Phúc Khánh câu. Vũ tính toán rất kỹ lưỡng những ngày hè sắp hết. Đêm nay, bọn nó về Đoan Túc câu cá trê. Câu cá trê thích nhất. Khi giật chú cá lên, dưới ánh trăng, chú cá đen nhẫy giẫy giụa, miệng kêu ẹo ẹo. Gỡ chú cá trê khỏi lưỡi câu mất công lắm! Lớ ngớ, bị ngạnh nó đâm vào tay, nhức buốt cả đêm. Thằng Khoa đã bị ngạnh cá trê đâm. Nó đau quá, vất cả cá lẫn cần câu xuống ao.
Vũ đứng dậy, vươn vai. Nó chưa kịp đi vào nhà bếp lấy bát đi mua xôi lúa, thì nghe thấy một loạt súng nổ, ở phía cầu Bo. Rồi, những bước chân chạy huỳnh huỵch trên đường phố. Phố xá đua nhau đóng cửa. Thị xã như sống lại ngày Nhật đảo chính Pháp. Nột lát, toán lính Nhật và hai người thông ngôn, súng cầm hai tay, gắn lưỡi lê, cắm đầu chạy. Toán lính Nhật canh giữ cầu Kiến Xương đây. Vũ không sợ hãi. Nó bước ra hè, đứng xem ai đuổi Nhật. Súng bắn chỉ thiên đòm đòm. Từ phía cầu Kiến Xương, hàng chục người mặc quần áo nâu, kẻ đeo súng trường, kẻ cầm dao, rượt lính Nhật. Họ vừa chạy, vừa la hét :
- Đồng bào nằm xuống!
Dân thị xã dã tập phòng thủ thụ động, nằm hết xuống vỉa hè, khe cống. Một người giơ khẩu súng lục, bắn liền hai phát, hô lớn :
- Đả đảo Nhật lùn.
Vũ sướng mê tơi. Nó biết, thầy Đàn đã về thị xã đánh đuổi Nhật. Nước ta sắp độc lập. Vũ muốn phóng ngay tới nhà thằng Côn, đập cửa nhà nó thình thình, báo tin mừng thầy mình đã về.
- Đồng bào nằm xuống, kẻo Mhật lùn bắn chết!
Người khác vung lưỡi kiếm :
- Đả đảo phát xít Nhật!
Vũ ngóc đầu lên :
- Đả đảo...
Rồi, nó vùng dậy, ba chân bốn cẳng chạy tới nhà thằng Côn. Hai đứa gặp nhau giữa đường. Côn ôm chặt lấy Vũ :
- Bố tao bảo Nhật thua bét tĩ.
Vũ nghiến răng :
- Đi bắt một thằng Nhật, trói chặt tay, dẫn nó diễu phố.
Côn giậm chân :
- Nhất định, tao trả thù cho thằng Vọng.
Hai thằng bé nhảy cỡn. Khuôn mặt chúng rạng rỡ. Bốn con mắt long lanh. Mặt trời bỗng chui khỏi đám mây u ám. Thị xã ngập ánh nắng. Lá cây xanh mướt. Vũ nắm chặt tay Côn, chạy đi gọi Luyến, Long. Bốn đứa trẻ theo đuôi đám người mặc quần áo nâu, ào ào tràn lên phố chính. Bên kia cầu Bo, đoàn người ùa vào thị xã, đông như kiến. Lính Nhật canh giữ cầu Bo cũng chạy dài. Bên ta ngắm lính Nhật nổ súng. Lính Nhật không ngã tên nào. Côn mím môi, nhăn nhó :
- Lính khố xanh bắn như củ thìu biu!
Những người mặc quần áo nâu, mang súng, đều là lính khố xanh. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, lính khố xanh biến thành thành An Vệ Dân. Bọn thằng Vũ quen mặt hết lính khố xanh của thị xã. Luyến tiếc rẻ :
- Tao quên súng cao su ở nhà rồi. Ông mà tiu đạn sỏi, Nhật lùn sẽ ngã sấp mặt.
Hai bên đuổi, chạy. Bên đuổi bắn liên tiếp. Đạn toàn trệch. Có người đứng lại, nâng súng ngang vai, ngắm hàng phút đồng hồ mới bóp cò. Đạn không chịu nổ! Long cười khúc khích :
- Đạn bên ta thối!
Đến gần nhà thương, một người lính Nhật quay lại bắn. Hai người áo nâu trúng đạn, ngã gục giữa đườpng, máu chảy lênh láng. Quân ta đang chạy nhanh, bèn phanh chân. Chờ lính Nhật chạy xa tầm súng, quân ta mới tiếp tục đuổi. Ở những phố khác, quân ta chết nhiều, mà Nhật chẳng việc gì. Bọn thằng Vũ ức quân ta vô cùng. Con nhà Côn mở miệng là chê “lính khố xanh bắn như củ thìu biu!” Lính Nhật kéo nhau về Câu lạc bô. Quân ta không dám tiến vào. Một người đeo súng lục ngang hông, nắm trái đấm giơ ngang vai, dõng dạc nói :
- Phát xít Nhật bị vây rồi. Anh em chờ lệnh tiêu diệt chúng.
Những khẩu súng mút cơ tông nạp đạn rầm rập. Lưỡi lê gắn đầu súng. Lưỡi lê chả sáng bóng ti ti ông cụ nào. Chỉ có những con mắt là sáng thôi. Người đeo súng lục hô to :
- Đả đảo phát xít Nhật!
Hàng trăm bàn tay nắm chắc giơ cao, hét muốn vỡ tung lồng phổi :
- Đả đảo...
- Đả đảo Việt gian liếm gót giầy Nhật!
- Đả đảo...
- Cách mạng thành công muôn năm!
- Muôn năm...
Người đeo súng lục, khuôn mặt nhễ nhãi mồ hôi, dáng điệu anh dũng, gân cổ :
- Ta hát mừng cách mạng! Chú ý: Đoàn quân việt Nam đi, chung lòng cứu quốc, một, hai, ba...
Bài hát mới lạ, không ai thuộc. Chỉ độ mười người hát theo :
- Đoàn quân Viêt Nam đi, chung lòng cứu quốc, bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa...
Ngay cả những người lính khố xanh, mặc quần áo nâu, tay lăm lăm súng mút cơ tông, gắn lưỡi lê dỉ, cũng ngây mặt nghe hát. Bài hát không vang vọng bằng bài Tiếng gọi sinh viên hôm giỗ tổ Hùng Vương. Người đeo súng lục, chừng hiểu vậy, vội vẫy tay :
- Thôi, nghỉ hát. Tôi xin nói về tội ác của phát xít Nhật!
Người này kể rằng thực dân Pháp giấu thóc, phát xít Nhật lấy ra, đốt thóc thành than, để dân ta chết đói một triệu người. Nhật sát hại hàng nghìn nhà ái quốc Việt Nam. Người đeo súng lục nghiến răng ken két, diễn tả một bà mẹ bị Nhật dùng kiếm cắt hai cái vú, rồi mổ bụng, moi gan, ăn sống. Người này phẫn uất hô khẩu hiệu :
- Đả đảp phát xít Nhật!
Người đeo súng lục kể tiếp :
- Nhật bắt nhà ái quốc Việt Nam, tra tấn dã man. Chúng căng họng nhà ái quốc Việt Nam, đổ cả thùng nước xà phòng vào dạ dầy, rồi giẵm lên bụng. Nước xà phòng phọt ra tai, mắt, mũi, miệng nhà ái quốc Việt Nam. Chúng ta phải trả thù bọn phát xít Nhật.
Hàng trăm cánh tay lại giơ cao, hò hét :
- Đả đảo phát xít Nhật!
Côn đã thấy lính Nhật giáng báng súng vào mặt anh Đạo. Tự dưng, nó nhớ thằng Vọng vô cùng. Giá Vọng không bị Nhật làm chất đói, nó sẽ bắt thằng Việt gian Ban, và trả thù cho anh Đạo. Côn rơm rớm nước mắt. Nó buột miệng hô :
- Đả đảo Việt gian!
Người lớn giơ tay, hô theo :
- Đả đảo...
Giọng hô đả đảo bắt đầu uể oải. Đoàn người áo nâu vây lính Nhật, chờ lệnh tấn công Câu lạc bộ, đã mỏi chân. Họ ngồi xuống đường, móc thuốc lá châm hút. Có người thèm rít một điếu thuốc lào. Nắng ngập đầu họ. Cổ họng họ cháy khô. Họ khát nước. Vài người bỏ hàng ngũ, xách súng đi xin nước uống. Không khí dần dần uể oải, không quyển rũ nổi bọn thằng Vũ. Chúng nó bỏ, xuống ngã tư Vũ Tiên.

42
Ở đây, dân từ các làng Đồng Thanh, Ô Mễ, Thắng Cựu, Đoan Túc kéo nhau lên tỉnh. Họ cũng phải ngồi chờ lệnh tiêu diệt giặc lùn. Đàn bà ngồi nhai trầu, nhổ quýt trầu đỏ lòm, bừa bãi. Đàn ông thay phiên nhau hút điếu cày. Đi đánh Nhật mà còn mang theo cả điếu cày, bùi nhùi bện bằng rơm! Đoàn người vây Nhật ngả Vũ Tiên rất ít súng. Người chỉ huy đeo khẩu mút cơ tông, không gắn lưỡi lê. Ông ta mặc quần đùi, đầu đội khăn xếp, hàng răng đen nhức hạt na. Vũ nghĩ giá ông ta cắm cái lông ngỗng trên trán, thì trông ông ta giống mọi da đỏ. Thỉnh thoảng, người chỉ huy quân đánh Nhật lại trèo lên cái bục của phú lít, ở giữa ngã tư, hai bàn tay um úp, đưa sát mắt làm cái ống nhòm, nhìn vào Câu lạc bộ. Rồi, nói lớn :
- Nhật sắp hàng rồi. Chúng nó đang thu dọn đồ đạc.
Đoàn người reo hò ầm ỹ. Người chỉ huy ra lệnh :
- Anh chị em đứng nên. Hễ giặc nùn rút nui qua Nam Định, ta sẽ bắt sống chúng.
Ông ta cao hứng hô khẩu hiệu :
- Việt Nam đôc nập muôn năm!
Bọn thằng Vũ ôm bụng cười khúc khích. Luyến vỗ vai Vũ :
- Nhà ái quốc này ngọng líu lưỡi!
Vũ hậm hực :
- Giống mọi da đỏ vây xe cao bồi quá. Ở Hà Nội, là tấn công rồi. Dân Hà Nội cừ ba chê. Dân Thái Bình hạng bét. Răng đen nói ngọng, mà đòi đánh Nhật.
Côn xoa tay :
- Giá bọn mình là người lớn nhỉ?
Long gật gù :
- Ừ, là người lớn, bọn mình đánh bay Nhật lùn rồi. Lính khố xanh bắn mãi, chả chết thằng lùn nào, chúa mọi da đỏ sẽ tho. Chỉ được cái nước nói phét.
Vũ kể lể :
- Tao thấy dân Hà Nội giết Nhật giữa phố đông người.
Côn hỏi :
- Mày có phiệu không?
Vũ vênh mặt :
- Mày chưa được ở Hà Nội, thành ra mày không tin tao. Học sinh trường Bưởi dám vây trường Albert Sarraut, đánh tụi Tây chảy máu mũi. Hà Nội chiến lắm.
Côn bỏ qua chuyện Hà Nội của Vũ. Nó hướng tầm mắt, nhìn lá cờ mặt trời chói chang dưới nắng lửa. Giọng nó buồn buồn :
- Tại thầy mình chưa về.
Luyến phân vân :
- Ừ, sao thầy mình chưa về nhỉ? Thầy mình mà về, cờ Nhật lùn bị hạ tút xuỵt.
Long lo ngại :
- Nhỡ mình không thắng Nhật lùn, nó trả thù thì chết hết.
Bốn đứa trẻ nhìn nhau. Chúng cố nhớ hình ảnh thằng móc túi bị lính Nhật rút kiếm chém đứt bàn tay; những người nghèo, xóm nhà thằng Vọng, ăn trộm thóc của ngựa Nhật, bị treo chân lên cành cây, đầu dốc xuống, chết giẫy giựa, đau đớn. Nhật ác hơn Tây. Nhật giết mẹ con thằng Vọng. Nhật bắt thầy Đàn dời bỏ ngôi trường thị xã. Chẳng biết thầy Đàn có mặt trong một đoàn người áo nâu nào không. Thằng Vọng thì chết rồi. Nó chết giấm giúi, chết không được nhìn xác mẹ nó.
- Cách mạng thành công muôn năm!
Ngưòi mặc quần đùi đeo khẩu mút cơ tông đã tháo súng khỏi vai. Ông ta hô hoán, rồi, chĩa súng lên trời, bóp cò. Súng giật mạnh, khiến ông ta ngã bổ chửng. Ông ta đứng ngay dậy, hất đầu :
- Tiến nên!
Đoàn người cầm liềm, cầm dao, cầm gậy chạy theo người chỉ huy răng đen, đội khăn xếp. Họ hô vang khẩu hiệu đả đảo, và múa gậy, múa dao, y hệt mọi da đỏ từ các khe núi ào ra tấn công đoàn xe của cao bồi. Những chiếc bùi nhùi, ngược gió, cháy bốc khói, trông vui mắt đáo để. Bọn thằng Vũ ngạc nhiên, thấy đoàn dân quê chạy tiến vào phía trại Nhật. Đã có lệnh đâu? Chúng nó vội vàng chạy theo.
Lúc ấy, mặt trời đã cao bằng đỉnh đầu. Những đoàn người áo nâu vây chờ, khắp lối dẫn tới Câu lạc bộ, đã đến trước đoàn người ở ngả Vũ Tiên. Lính Nhật chĩa những họng súng máy đen ngòm ra ngoài. Chung quanh sân vận động, lính Nhật dàn hàng, lăm lăm nhả đạn. Hai cổng nhỏ dẫn vào sân vận động, lính Nhật xếp đầy bao tải cát. Trên thềm Câu lạc bộ, mấy người sĩ quan đeo kiếm oai vệ.
Quân ta chỉ cách quân Nhật một vệ cỏ và bức tường thấp. Hai bên nhìn nhau căm giận. Mà không nổ súng. Quân ta hô khẩu hiệu. Quân Nhật cười. Một người tức quá, gân cổ chửi :
- Tiên sư Nhật lùn! Mày dám cười các bố mày à?
Nhật lùn híp mắt cười thêm. Người khác bắt giọng :
- Này thanh niên ơi, quốc gia đến ngày giải phóng...
Bài hát vừa trỗi dậy, đã bị la ó :
- Đừng hát bài đó. Hát bài này. Chú ý, nghe tôi đây: Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc... Một, hai, ba...
Người ta cãi nhau ỏm tỏi về bài hát. Giữa lúc ồn ào xuýt xảy ra đấm đá, thì chiếc ô tô đít vịt xuất hiện. Đoàn người vây Nhật giạt sang môt bên, để xe quan đầu tỉnh đi. Chiếc xe chạy từ từ, rồi dừng trước cổng chính. Hai viên sĩ quan Nhật bước xuống, ra tận cổng bắt tay quan đầu tỉnh. Họ vào trong Câu lạc bộ. Nửa tiếng sau, quan đầu tỉnh ra, cùng với hai viên sĩ quan Nhật, và người thông ngôn.
Quan đầu tỉnh giơ cả hai tay lên cao :
- Hỡi quốc dân, Nhật đã đầu hàng trên khắp chiến trường.
Mọi người nhảy cỡn reo hò. Lính Nhật đứng nghiêm, đầu hơi cúi, không còn cười híp mắt nữa. Họ có vẻ buồn thảm.
- Nước nhà độc lập, từ hôm nay. Người Nhật không dám sát hại dân ta, nhưng, dân ta không được sát hại lính Nhật. Chỉ đồng minh mới có quyền xử họ. Đồng minh sẽ tước khí giới Nhật, và bỏ tù họ. Viên chỉ huy Nhật ngỏ ý xin lỗi quốc dân, vì đã bắn chết vài người của ta. Bây giờ, họ muốn chúng ta để súng bên ngoài, mới được vào sân vận động làm lễ mừng ngày độc lập.
Một người thanh niên tách khỏi đám đông, bước gần cổng, dõng dạc :
- Chúng tôi không chịu bỏ súng bên ngoài.
Quan đầu tỉnh nói :
- Nếu vậy, lính Nhật nổ súng, và thị xã tan nát. Lính Nhật còn thừa súng đạn đánh nhau cả tháng. Đàng nào, họ cũng thua trận rồi, họ tốt với ta, nên muốn hòa.
Người thanh niên hỏi :
- Chúng tôi phải được hạ cờ Nhật, kéo cờ Việt Nam.
Quan đầu tỉnh bảo người thông ngôn nói cho viên chỉ huy Nhật nghe. Người thông ngôn nói lại :
- Cờ Nhật trên cờ Việt Nam!
Người thanh niên hằn học :
- Cờ Nhật dưới cờ Việt Nam. Nhật bại trận rồi.
Người thông ngôn nói nhỏ. Viên chỉ huy Nhật lắc đầu, xí xố tiếng Nhật. Người thông ngôn nói :
- Không kéo cờ nước nào cả.
Người thanh niên cương quyết :
- Vậy, chúng tôi rút, và đánh Nhật, từ đêm nay. Chúng tôi sẽ giết hết lính Nhật.
Quan đầu tỉnh và hai viên sĩ quan Nhật lại vào Câu lạc bộ bàn bạc. Lát sau, chỉ có quan đầu tỉnh và viên chỉ huy bước ra. Quan đầu tỉnh phấn khởi :
- Nhật bằng lòng hạ cờ, để chúng ta kéo cờ Việt Nam. Họ xin chúng ta tôn trọng lời hứa.
Người thanh niên dứt phăng ngực áo. Những chiếc khuy rơi rụng :
- Chúng tôi hứa danh dự.
Viên sĩ quan tuốt kiếm, cúi đầu chào người thanh niên. Lập tức, những lối vào sân vận động được lính Nhật dẹp bỏ bao tải cát. Bên ta dựng hết súng mút cơ tông ở chân tường. Gậy, dao, liềm, súng lục chất đống. Bây giờ, dân thị xã kéo tới rất đông. Đàn ông, đàn bà, trẻ con đều bị lính Nhật xoa nắn khắp mình, khám xét xem có đem vũ khí vào không. Nhật đã giở trò phản bội. Lính Nhật vừa khám đàn bà, con gái vừa cười. Ai cũng phải giơ tay cho lính Nhật khám. Lính Nhật chụp ảnh. Người thanh niên nhảy song phi, đá tung máy ảnh của lính Nhật, vồ lấy, tháo phim lôi ra. Viên chỉ huy hét lớn. Lính Nhật không dám làm gì người thanh niên.
Vũ nhảy xô lại, nắm tay người thanh niên, khen ngợi :
- Anh cừ quá!
Côn nheo mắt :
- Mày còn chê dân Thái Bình nữa không?
Nó hỏi người thanh niên :
- Tên anh là gì?
Người thanh niên xoa đầu Côn :
- Huy.
Vũ mở to mắt, chiêm ngưỡng người nó mến phục :
- Anh Huy, anh không đeo súng à?
Huy chỉ ngón tay vào ngực :
- Trái tim mạnh hơn súng.
Anh ta dục bọn Vũ :
- Các em vào dự mít tinh đi.
Lình Nhật vẫn khám xét từng người. Vũ kéo bạn sang bên kia đường. Nó nhặt đá nhét vào túi quần xoóc. Côn hỏi :
- Chơi trò gì đây?
Vũ đáp :
- Xỏ tụi giặc lùn.
Bốn đứa trẻ khuỳnh tay, hiên ngang bước qua cổng. Lính Nhật nắn túi quần chúng. Tưởng tạc đạn, lính Nhật giạt xa, chĩa súng đề phòng. Bọn thằng Vũ giơ tay lên trời. Chờ một tên lính Nhật lôi đá khỏi túi quần, chúng a ri ga tô chế nhạo, và cười sung sướng. Vũ tưởng nó đã trả thù cho dân thị xã. Chúng nó cắm cổ chạy, còn cố quay lại lè lưỡi chửi gỡ Nhật lùn.

43
Bọn thằng Vũ đã lách qua mấy vòng đai người lớn, để được nhìn rõ chân cột cờ. Những tên lính Nhật hung ác hôm giỗ tổ Hùng Vương đang đứng nghiêm, hướng về phía mặt trời mọc. Lá cờ Nhật từ từ tụt xuống. Y hệt mặt trời lặn vào buổi chiều. Khi lá cờ được gỡ ra khỏi sợi dây, nước mắt lính Nhật ứa ra, chảy đầm đìa. Bây giờ, khuôn mặt họ lầm lỳ, buồn thảm. Vẻ hung ác biến mất. Một tiếng cười vang dậy trong đám đông. Lính Nhật hướng mắt, tìm nơi có tiếng cười chế nhạo. Họ cúi đầu. Họ đã là những kẻ bại trận. Mười một người cùng nâng niu lá cờ Mặt Trời, xoay lưng lại, và bước nhanh, trả giây phút vinh quanh cho dân Việt Nam.
Anh Huy phóng nhanh tới cột cờ. Hai bàn tay nắm chặt hai sợi dây. Gió bỗng thổi mạnh. Tóc anh Huy lộng bay. Anh hét vang :
- Giờ lịch sử đã điểm, chúng ta kéo cờ và tung hô Việt Nam vạn tuế!
Anh Huy lôi từ túi quần tây ra một lá cờ vàng. Rất nhanh nhẹn, anh kiễng chân giơ cao, cho mọi người nom thấy.
- Hỡi quốc dân, đây là quốc kỳ Việt Nam!
Anh Huy chưa kịp buộc cờ vào dây, thì hàng chục người áo nâu đã ào ra, đẩy anh ngã chúi. Họ móc lá cờ đỏ dấu trong ngực, buộc vội vàng, kéo lên. Lá cờ đỏ bay phần phật. Dưới nắng trưa, lá cờ chói chang, ngạo nghễ. Cả thị xã ngước nhìn lá cờ đỏ. Một người áo nâu đeo súng lục hô khẩu hiệu :
- Cách mạng thành công muôn năm!
Thoạt đầu, chỉ độ vài chục người hô muôn năm. Dần dần, cả thị xã reo hò muôn năm.
- Cách mạng thành công muôn năm!
- Muôn năm!
Người áo nâu đeo súng lục được năm người khác chụm lại để anh ta đứng trên vai. Dân thị xã vỗ tay bravo ầm ỹ. Vũ không hiểu tại sao anh Huy, người dám phanh ngực thách kiếm Nhật, người bảo trái tim mạnh hơn súng, người làm Vũ mến phục, lại bị đẩy ngã? Hai cánh tay anh đang bị hai bàn chân đè chặt. Một người nằm trên lưng anh, tay giúi đầu anh, không cho ngóc lên.
Vũ bấm Côn :
- Họ bắt nạt anh Huy, mày biết tại sao không?
Côn chớp mắt :
- Tao không biết.
Vũ liếm môi :
- Anh Huy chống giặc lùn mà...
Côn gật đầu :
- Ừ, anh ấy kền lắm.
Hai đứa trẻ đang phân vân, người áo nâu đeo súng lục, đứng trên kiệu người, đã oang oang nói :
- Hỡi quốc dân đồng bào, đây là tiếng nói của cách mạng. Cờ cách mạng tô bằng máu của các chiến sĩ Bắc Sơn, Đô Lương, Thái Nguyên. Cờ vàng không phải cờ cách mạng diệt phát xít. Chỉ cờ đỏ nới là cờ của cách mạng đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập.
Người áo nâu giơ tay lên :
- Cách mạng thành công muôn năm!
Dân thị xã reo hò :
- Muôn năm!
- Việt Nam độc lập muôn năm!
- Muôn năm!
Chờ cơn sóng reo hò lắng lại, người áo nâu nghiến răng, cắn môi dưới, hai tay dang rộng :
- Ai chống cách mạng là theo bọn phản động.
Người này hô lớn :
- Đả đảo bè lũ phản động liếm gót giầy thực dân và phát xít.
Đợt sóng cuộn lên :
- Đả đảo!
Không ai cần biết người thanh niên phanh ngực, đứng hiên ngang thách thức với kiếm Nhật. Cũng chẳng ai tìm hiểu, tại sao anh ta bị xô ngã và kìm giữ, trừ thằng Vũ và thằng Côn. Dân thị xã đã nhập vào cuộc chơi lớn. Tất cả vui mừng, hờn hở, như trẻ con trong cuôc chơi cướp cờ. Trong cuộc chơi này, ai nhanh chân, mưu mẹo, cướp được cờ chạy về bên mình, là người ấy được vỗ tay, khen ngợi. Kẻ thua cuộc, luôn luôn, là kẻ chụp hụt lá cờ, hay chụp cờ rồi mà bị đuổi theo xô ngã khi chưa về đến đích.
Người áo nâu đeo súng lục rút khẩu súng khỏi bao da :
- Phát xít Nhật không dám động tới người cách mạng. Tôi thách phát xít Nhật tước súng của tôi. Chúng lại gần, tôi sẽ bắn chết hết.
Dân thị xã nhìn người áo nâu bằng đôi mắt cảm phục. Luyến thích chí :
- Cừ ghê!
Và, biển sóng cổ võ người áo nâu dâng lên ào ạt. Vũ hỏi Côn :
- Mày có tin không?
Côn nói :
- Tin chứ. Nhật đếch dám khám ông ta, là ông ta kền rồi.
Hai đứa quên mất anh Huy, quên mất người thanh niên mà chúng ngờ rằng bị bắt nạt. Chúng hướng tầm mắt nhìn người áo nâu đang hãnh diện khẩu súng lục trong tay mình.
- Đồng bào sửa soạn làm lễ chào cờ, mừng ngày cách mạng thành công. Tôi hô nghiêm, đồng bào đứng nghiêm, ngước mắt lên lá cờ. Chú ý, tôi sẽ bắn phát súng.
Người áo nâu hắng giọng :
- Nghiêm, chào cờ... chào!
Khẩu súng giơ lên trời. Bóp cò. Bóp mãi. Mà, súng không nổ. Một chuỗi cười dòn, tan trong sự im lặng. Người áo nâu giận dữ :
- Ai cười cách mạng là phản động. Hát đi, các đồng chí! Hát bài chào cờ...
Bài hát khởi sự: Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc, bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa... Vẫn chừng vài chục giọng hát. Người áo nâu giục :
- Đồng bào hát to lên!
Dân thị xã không ai thuộc bài hát mới. Người áo nâu hất tay :
- Thôi.
Bài chào cờ dang dở. Anh Huy không còn bị kìm giữ nữa. Người áo nâu cười sung sướng, và gây sóng gió :
- Cách mạng thành công muôn năm!
- Muôn năm...
- Việt Nam độc lập muôn năm!
- Muôn năm!
Người áo nâu nhảy xuống sân cỏ. Đoàn quân cách mạng dẫn đầu, theo sau là dân thị xã, kéo nhau dời khỏi sân vận động. Lúc ấy, đã quá hai giờ trưa. Lính khố xanh xô nhau, nhặt súng dựng ngoài tường sân vận động. Những người khác lượm dao, liềm, bùi nhùi, cãi nhau chí choé. Rồi, cái đám đông hỗn loạn đi tuần hành, khắp các phố thị xã. Hai tiếng muôn nam và muôn lăm, cơ hồ sấm sét nổ vang, trong một trận mưa lớn.
Tới một con phố nhỏ. Vũ và Côn thấy anh Huy thất thểu, tách rời đám đông. Hai đứa chạy ra. Vũ nắm tay anh Huy :
- Anh ơi, phản động là gì?
Anh Huy buốn bã, xoa đầu Vũ :
- Lớn khôn, em sẽ biết kẻ phản động.
Côn hỏi :
- Còn đồng chí là gì hở, anh?
Anh Huy cười gượng :
- Là anh em mình.
Anh giục hai đứa :
- Thôi, các em đi chơi cho vui.
Vũ và Côn lại nhập vào đám đông, để được hò hét muôn năm. Chúng nó không đói. Cũng chẳng ai buồn đói. Cách mạng làm no mọi người, trong ngày hôm nay. Đi hết một vòng thị xã, mạnh ai về nhà người ấy. Và, thế là cách mạng đã thành công.

44
Buổi tối, dưới chân những cột đèn ngã tư, trẻ con các khu phố tụ họp, để tập hát những bài hát mới. Vũ đã trở thành trưởng đoàn nhi đồng, chỉ huy hết nhãi con, từ đầu phố Lý Thường Kiễt xuống tận cầu Kiến Xương. Nhờ Vũ thổi ác mô ni ca giỏi, và thuộc lòng mấy bài Tiến quân ca, Đuốc gươm thiêng, Nhanh bước nhanh nhi đồng. Vũ, Côn, Luyến, Long, và Lộc đi tập hát trên phố chính, mấy hôm liền. Những đứa trẻ, tưởng đã bước hẳn ra khỏi ngưỡng cửa hồn nhiên, lại co chân về với năm tháng cũ.
Không phải chỉ riêng bọn thằng Vũ bé bỏng như xưa, mà cả thị xã trẻ trung, vui nhộn. Cách mạnh làm mọi người rộn ràng, hớn hở.
Vũ kiễng chân, ba hoa :
- Tao thổi ác mô ni ca một lần thật chậm, chúng mày nghe kỹ nhé!
Bọn trẻ nhao nhao hỏi :
- Đánh tông không?
Vũ lắc đầu. Nó lướt cái kèn thật nhanh qua môi, hai ba lần. Rồi, chân đập nhịp, miệng thổi chậm bài Nhanh bước nhanh nhi đồng. Bọn trẻ con im lặng, nghe tiếng kèn ác mô ni ca của Vũ. Thổi dứt một lần, Vũ vẩy kèn, và nói :
- Giờ năm đứa tao hát.
Vũ, Côn, Luyến, Long và Lộc cất giọng:
Nhanh bước nhanh nhi đồng
Theo cờ đỏ sao vàng
Kìa lời gió ngàn
Kìa lời công núi
Kìa lời gió ngàn
Kìa lời sông núi
Nhắc nhở em rằng tuy mình đang còn thơ ấu
Nhưng nhất tâm trật tự vâng lời vâng lời người trên
Tập tành sao cho thân hình em được nở nang
Trở nên sau này anh tài hiên ngang
Ơn nước non em nguyền dám đâu sao rời
Em trọn đời trung với Việt Nam...

Bọn trẻ vỗ tay, bravo. Vũ vênh váo :
- Đừng bravo nữa, ta độc lập rồi. Hoan hô chứ không bravo.
Mấy anh dạy bọn Vũ hát, đã bảo Vũ thế. Vũ hãnh diện nói cho bọn nhi đồng, khu cầu Kiến Xương, biết. Nó lại lướt kèn nhanh qua môi, như tiếng gió lướt qua bụi tre.
- Tao thổi kèn một câu, chúng mày hát một câu nhé!
Bọn trẻ con làm theo lời Vũ. Khắp đường phố thị xã, chỗ nào có ngã tư, là chỗ ấy có trẻ con tụ tập ca hát. Tiếng hát bay lên, lan tỏa khắp vùng trời tỉnh lỵ. Chưa bao giờ thị xã vui đến thế. Đèn đường sáng rực. Tiếng hát càng lớn, đèn đường càng sáng. Thị xã không muốn ngủ. Trẻ, già, lớn, bé đổ xô ra phố. Tương lai vàng đồng lúa chín. Người ta quên hẳn mực nước sông Trà Lý dâng cao một cách đáng lo ngại. Mọi năm, vào tháng này, dân thị xã thay phiên nhau, ngày đêm, đo mực nước lên xuống, ở cái thước dài cắm dưới lòng sông. Nhiều người mang chiếu trải trên con đê xi măng, hay hai bên hành lang cầu, vừa ngủ, vừa lo đê vỡ. Năm nay, chẳng ai thiết nghĩ chuyện đê điều. Tiếng trống hộ đê, từ những làng xóm bên kia sông, đã lơ là. Hoặc tiếng trống ngũ liên bàng hoàng, hồi hộp, thấp thỏm, như tiếng trái tim nông dân đập, mùa nước lũ, đã bị tiếng hát trong mùa cách mạng át đi. Cũng chẳng còn ai suy luận điềm gở của nhãn được mùa. Nhãn được mùa là đê vỡ.
- Thôi, thuộc rồi. Chúng ta hát từ đầu chí cuối. Tao thổi kèn theo.
Vũ bắt nhịp :
- Nhanh bước nhanh nhi đồng... Một, hai, ba...
Bọn trẻ đồng ca:
... Nhưng nhất tâm trật tự vâng lời vâng lời người trên.
Tập tành sao thân hình em được nở nang.
Trở nên sau này anh tài hiên ngang.
Ơn nước non em nguyền dám đâu sao rời.
Em trọn đời trung với Việt Nam...

Bảy tiếng Em trọn đời trung với Việt Nam, bọn nhi đồng hát rõ từng tiếng, và hét thật lớn. Vũ hài lòng. Nó nói :
- Nhi đồng cầu Kiến Xương phải chiến. Học thêm bài Đời sống mới, nhé!
Bọn trẻ reo hò :
- Học tới sáng mai luôn.
Vũ dạo kèn, rồi xô lô:
Đây trời Việt Nam ngàn xưa tươi sáng
Muôn thanh niên hy sinh đấu tranh vì non nước
Đây trời Việt Nam ngàn năm anh dũng
Muôn thanh niên khang cường chí trai không sờn
Hồn Việt Nam ngàn năm quyết không mờ
Hồn Việt Nam muôn năm sáng soi
Người Việt Nam ngàn năm quyết không lùi
Người Việt Nam đấu tranh muôn đời
Đời sống mới
Người Việt Nam mới
Thanh niên hy sinh máu xương vì sông núi
Đời sống mới
Người Việt Nam mới
Xây núi sông bằng máu người Việt Nam...

Nhi đồng cầu Kiến xương chiến thật. Chúng thuộc rất mau, hát đúng điệu kèn ác mô ni ca của Vũ. Con nhà Vũ phấn khởi :
- Chúng ta là người Việt Nam mới.
Bọn trẻ giơ tay, nhảy cỡn :
- Đời sống mới... mới, mới... Người Việt Nam mới..., mới, mới...
Đời sống mới đến với chúng nó, từ mấy hôm nay, bằng những bài hát, những khẩu hiệu đầy tiếng mới, khó hiểu. Chúng nó không cần hiểu. Chúng nó chỉ cần vui. Và, đời sống mới quả đã làm chúng nó vui thật sự. Chúng nó bỏ học, bỏ cơm, đi tập hát, đi chơi suốt ngày, không bị cha mẹ mắng mỏ. Đời sống mới còn làm chúng nó quên hết trò chơi cũ. Bơi lội, câu cá, đá bóng, đánh nhau không quyến rũ nổi chúng nó nữa. Chúng đã nhập cuộc chơi, cùng người lớn. Người lớn thù Tây, ghét Nhật, hoan hô cách mạng thành công, thì chúng nó cũng thù Tây, ghét Nhật, hoan hô cách mạng thành công. Cách mạng dưới mắt chúng, nhất định, không giống cách mạng dưới mắt, trong ý nghĩ của người lớn.
- Chúng mày thù Nhật lùn không?
- Thù.
- Đả đảo Nhật lùn!
- Đả đảo...
Vũ cao hứng :
- Mẹ bố Nhật lùn!
Một thằng hỏi :
- Hô thế nào?
Vũ cười :
- Không hô khẩu hiệu này.
Nó vẩy kèn lia lịa. Rồi, thổi bài Tiếng gọi sinh viên. Côn, Luyến, Long, Lộc hát:
tay đồng tâm trừ giống giặc lùn.
Này công dân ơi Nhớ chăng những ngày năm ấy
Giặc lùn tràn sang ngang nhiên rút bòn xương máu
Hàng muôn dân chết oan
Hàng trăm nơi phá tan
Từ Đông, Tây, Bắc, Nam
Lời kêu van ngút ngàn
Đòi thu đay gai đòi thu thóc
Đòi đánh thuế má đòi phu lính
Rồi đến bắt bớ giết người dã man
Làm cho dân ta đủ bề điêu đứng
Đời sống quá khốn đốn nào ai biết chăng
Đây giống nòi siết rên dưới gót quân thù
Công dân ơi
Mau đứng lên giết Nhật
Công dân ơi
Mau cùng nhau sẵn sàng
Tiến lên đều tiến, dắt tay đồng tâm trừ giống giặc lùn.

Côn nhảy cao :
- Đả đảo Nhật lùn!
Bọn trẻ nhảy theo :
- Đả đảo...
Rồi, chúng đòi học bài hát này. Quá nửa đêm, nhi đồng cầu Kiến Xương mới giải tán. Vũ chia tay bọn thằng Côn. Lúc đứng trước cửa nhà mình, con nhà Côn mới thấy cách mạng thiếu một cái gì. Vũ chợt nhớ ra ngay. Đó là con Thúy. Chả biết con Thúy đã làm gì, mấy hôm nay.
Vũ lẩm bẩm: Mai mình đến xem sao. Trái tim Vũ xốn xang. Nó đập cửa thình thình. Thị xã chưa dứt tiếng hát.

45
Con Thúy chưa hề biết dân thị xã phất cờ tổng khởi nghĩa. Mấy hôm rầy, nó sưng quai bị, phải nằm trong buồng, đóng kín cửa sổ. Thúy buồn lắm. Nó ngủ miên man, nhớ gịọng hót của chim khuyên và chim cu gáy. Thúy bắt mẹ treo cả hai chiếc lồng chim, của Hội và Côn cho nó, ở cửa sổ. Khi thức giấc, nếu chim ngại hót, Thúy chỉ còn được nghe những bước chân hối hả chạy ngoài đường, cùng những tiếng cười, tiếng nói rộn rã. Thúy không hiểu có chuyện gì mà thị xã vui thế. Nó tưởng tượng thằng Vũ đang đùa nghịch với bạn bè.
Thúy giận Vũ lắm. Thằng Vũ làm bộ ghê. Từ hôm về Thái Bình, Vũ chả thèm tới nhà con Thúy. Vũ thù dai kinh khủng. Thù cả một năm học. Thúy đã định, nếu Vũ tới chơi với Thúy, con bé sẽ xin lỗi Vũ, cái tội bảo Vũ cớp lồng chim của thằng Hội. Thúy sẽ nói Thúy vẫn thích Vũ, thích Vũ hơn cả thằng Côn, thích Vũ nhất trên đời. Giận Vũ chán rồi, Thuý đâm ra giận Côn. Chắc thằng Côn không nhắm giùm Thúy, bảo Vũ lại chơi đây. Thúy nghĩ thầm, hễ gặp Vũ ở nhà mình, Thúy sẽ trách Vũ một trận.
Thúy đâu biết rằng, Vũ đã nhớ Thúy, như ngày nào, năm ngoái, nó nhớ Thúy. Nằm mơ chỉ thấy con Thúy, dù con Thúy biến thành con nhặng hay mụ phù thủy Phi châu. Buổi sáng hôm nay, buổi sáng đầu tiên, nhi đồng thị xã dậy sớm, chạy một vòng, để đến sân vận động tập thể dục. Vũ cởi trần, mặc mỗi cái quần đùi xanh lơ, chờ bạn bè ở đầu phố. Chiếc còi xâu vào sợi dây quàng qua cổ, lúc lắc trước ngực Vũ. Trông nó y hệt thủ quân đội bóng rổ trường Tầu. Vũ đi đôi giầy ba ta trắng. Con nhà Vũ dặn Luyến từ tối qua, khi nào dừng lại, Luyến sẽ réo tên Vũ ầm ỹ. Luyến không hỏi tại sao.
Bọn nhi đồng cầu Kiến Xương đã tập họp đông đủ, chờ còi giờ của thị xã ré lên. Bây giờ, ngoài còi trưa, còn thêm còi tập thể dục sáu giờ. Nghe còi sáu giờ, cả thị xã đều thức, chạy ra đường, nhập vào đám đông, chạy khắp phố hô khẩu hiệu Khỏe vì nước, để đánh thức những người ngủ mê. Còi đã ré. Tiếng còi làm khô sương sớm, làm tỉnh những thằng bé ngái ngủ. Vũ rít hồi còi của nó, chạy dẫn đầu.
Vũ không muốn nối đuôi người lớn. Nó chạy rẽ sang phố nhà con Thúy. Đến trư0c cửa nhà Thúy, Vũ dừng lại. Luyến chợt nhớ lời dặn dò của Vũ, gọi ơi ới :
- Ê, Vũ ơi, Vũ...
Con nhà Vũ lớn tiếng :
- Tao đây. Côn, Luyến, Lộc, Long thuộc bài Khỏe vì nước chưa?
Lộc nói oang oang :
- Thuộc như cháo!
Vũ hát Khỏe vì nước. Bọn nhãi giơ tay, hát theo, rất đều đặn, ngắt riêng từng tiếng. Khu phố ầm vang. Nhiều cánh cửa mở ra. Cánh cửa sổ phòng con Thúy cũng hé mở. Trời chưa sáng tỏ. Qua ánh sáng mờ mờ, dôi mắt trong suốt của con Thúy vẫn nhận ra thằng Vũ. Giọng nói ấy, giọng nói thằng Vũ đó mà, con Thúy nghe quen quá rồi. Thúy hé thêm cánh cửa một chút. Nó bám chặt hai bàn tay vào chấn song sắt, sợ ngã.
- Khóe vì nước kiến tiết quốc gia... Một, hai, ba...
Tiếng hát trỗi dậy:
... Đoàn thanh niên ta góp tài ba.
Tạo nguồn dân sinh mới,
hùng mạnh trong nam giới,
hợp lực xây hưng thạnh chung nước Nam.
Thanh niên ơi, hồn thiêng núi sông đợi chờ.
Nơi tay ta toàn dân ngóng trông từng giờ.
Mang máu anh hùng ta đừng làm nhơ máu anh hùng...

Bản nhạc hùng mạnh vừa dứt, Vũ ra lệnh :
- Khỏe... Vì... Nước... Một trăm lần.
Bọn nhi đồng hăng hái tuân lệnh Vũ :
- Khỏe... Vì... Nước... Khỏe... Vì... Nước... Khỏe... Vì... Nước...
Một đứa hứng chí, hát láo :
- Khỏe vì nưóc bánh đúc riêu cua. Đoàn thanh niên ta góp tiền mua...
Cả bọn cười ầm ỹ. Thúy cũng mỉm cười. Con bé vội nhăn nhó, vì nụ cười đã làm má nó đau. Vũ rít hồi còi, hô hoán :
- Trật tự, trật tự!
Lại một nhi đồng nghịch ngợm :
- Trật tự là cái gì hở, Vũ?
Vũ giải nghĩa :
- Trật tự là đừng cười nữa.
Nó hướng mặt vào nhà con Thúy :
- Mai chúng ta lại đến đây, nhé!
Nó rít hồi còi dài, chạy dẫn đầu. Côn không hiểu gì cả. Làm sao Côn láu lỉnh hơn Vũ được? Bọn trẻ chạy tới sân vận động, tập thễ dục, và bơi lội. Chúng nó say sưa tập, say sưa bơi. Vì, chúng nó, mơ hồ, thấy ý nghĩa của kiến thiết quốc gia. Vẫn đùa nghịch, Luyến đứng trên cao pơ lông dzoa nhún nhảy, giơ tay dõng dạc :
- Khỏe... Vì... Nước...
Rồi, bông nhông xuống hồ tắm. Côn bơi thi với Long và Lôc. Còn Vũ ngồi trên bờ xi măng, nhúng cả đôi giầy sũng nước, tưởng tượng con Thúy đã thấy nó, lúc nãy. Chẳng hiểu con Thúy có thấy Vũ không? Thấy Vũ, con Thúy có mừng không nhỉ? Mhỡ nó cười mình thì nguy quá. Vũ lại không muốn Thúy thấy nó chỉ huy bọn nhi đồng cầu Kiến Xương nữa. Vũ tin rằng, con Thúy chả nỡ cười nó. Thằng Côn mấy lần bảo Vũ, Con Thúy thích chơi với Vũ lắm. Côn chẳng nói dối Vũ bao giờ. Khi Côn nói, Côn buồn buồn, như thể Côn lo lắng Thúy không thèm chơi với Côn. Giá Vũ biết, Thúy đã thức trước giờ Vũ dẫn bọn nhi đồng cầu Kiến Xương đến làm rộn ràng trước cửa nhà Thúy, khiến Thúy phải khó nhọc, bước khỏi giường, ra cửa sổ, hé mở nhìn Vũ cử động, nghe Vũ hò hét; chắc con nhà Vũ đã nhảy xuống hồ bơi, bơi chó, cho nước bắn tung toé, mà sung sướng.
- Vũ ơi!
- Gì?
- Mày không bơi à?
- Không.
- Mày thộn mặt nghĩ cái gì đó?
Vũ co chân lên thành hồ. Nước từ đôi giầy chảy lách tách. Vũ đứng dậy :
- Mày bảo chúng nó về đi, tao chờ ngoài cổng sân nhé, Luyến nhé!
Vũ lẩm lũi bước. Đôi giầy ọc ạch nước. Nắng đã lên. Cái gì đó, cái mà Luyến hỏi Vũ nghĩ gì, cũng đã lên trong tâm hồn Vũ. Cái gì đó là mặt trời Thúy. Vũ không hiểu, Vũ chưa hiểu xa xôi. Mặt trời Thúy đã mọc ở phương cửa sổ nhà Thúy, tự lúc Vũ đến. Mặt trời Thúy lặn ngay, khi Vũ bỏ đi. Bây giờ, mặt trời đắp chăn trên giừơng bệnh. Mặt trời nao nao. Mặt trời xao xuyến. Nhớ Vũ. Chỉ nhớ Vũ. Mặt trời mong chờ sáng mai chúng ta lại đến đây nhé. Mặt trời tương tư tiếng hát mới.

46
Giấc ngủ trưa thật ngắn. Vũ định tăm gội xong, sẽ mang tặng Thúy ít hình đề can cô ma ni, Vũ Mua ở Hà Nội, chắc Thúy sẽ thích. Chưa bước khỏi giường, tiếng mi cô rè rè đã léo nhéo trước cửa :
- Đồng bào thân mến, phát xít Nhật vừa đánh vỡ đầu một cụ già của chúng ta, ở bên kia cầu Bo. Cụ già sắp chết. Yêu cầu đồng bào đi biểu tình, đả đảo phát xít Nhật, để trả thù cho cụ già của chúng ta. Chú ý, chú ý... Đồng bào thân mến, phát xít Nhật...
Vũ vùng dậy, chụp khẩu súng, cái còi, nhét vào túi quần xoóc, rồi mở cửa, chạy ra đầu phố. Côn, Luyến, Long, Lộc đã đứng chờ dưới cột điện. Một lát, nhi đồng cầu Kiến Xương áo ào kéo tới. Ở các phố khác, thanh niên, phụ nữ, nhi đồng cũng đã đổ xô ra đường. Tất cả đều háo hức trả thù Nhật. Thị xã không còn bình thản như xưa. Luôn náo nhiệt. Ngày và đêm. Ngày mít tinh, biểu tình. Đêm ca hát, hội họp. Không ai hướng dẫn ai cả. Mạnh người nào, mgười ấy tụ tập một nhóm đông, biểu dương lòng yêu nước. Chẳng ai xúi giục bọn thằng Vũ. Tự chúng nó, chúng nó quyến rũ hết nhi đồng cầu Kiến xương.
- Nhi đồng cầu Kiến Xương phải chiến nhất tỉnh. Chúng mày mua kẹo chưa?
- Mua rồi.
- Kẹo đựng trong súng thủy tinh, chứ?
- Ừ.
- Ăn hết kẹo chưa?
- Rồi.
- Đổ nước vào súng, lấy nút li-e đút kín chưa?
- Rồi.
- Chiến lắm. Bỏ áo vào quần, rồi giắt súng trước bụng. Nhật lùn sẽ lác mắt.
Ba mươi ông nhãi, võ trang súng lục thủy tinh đầy nước lã, nhét trước bụng, hiên ngang đi biểu tình, phản đối Nhật lùn. Đoàn người dài nửa cây số, tuần hành từ đầu cầu Bo, vừa đi vừa hô các khẩu hiệu đã hô từ hôm cách mạng thành công. Những khẩu hiệu cũ rích, ai cũng tưởng còn mới tinh. Nhi đồng cầu Kiến Xương đi sau rốt. Đến Câu lạc bô, đoàn biểu tình dừng lại, hướng mặt vào, hô các khẩu hiệu đả đảo Nhật, hát lớn bài Diệt phát xít
Việt Nam, bao năm ròng rên siết lầm than
Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang
Diệt phát xít, cướp thóc lúa, cướp đời sống dân mình
Nào nhà tù nào trại giam biết bao nhiêu nhục hình.
Dồng bào tuốt gươm vung lên
Đã tới ngày trả mối thù chung...

Lính Nhật đứng bên trong tường sân vận động, nhe răng cười. Đoàn biểu tình bỏ đi. Nhi đồng cầu Kiến Xương ở lại, hát bài :
- Này công dân ơi, nhớ chăng những ngày năm ấy. Giặc lùn tràn sang ngang nhiên rút bòn xương máu...
Tới câu chót :
- ... Dắt tay đồng tâm trừ giống giặc lùn...
Ba mươi ông nhãi, nhất loạt, rút súng lục thủy tinh đạn nước, chĩa vào Câu lạc bộ. Nhiều đứa rút súng mạnh quá, nút li-e bật ra, nước chảy văng toé. Lính Nhật không cười. Lính Nhật mở to mắt một mí, nhìn bọn thằng Vũ. Vài tên quen mặt Côn, Luyến, Lộc, Long ném kẹo ra đường. Bọn thằng Vũ nghiến răng, giẵm nát kẹo Nhật quăng. Rồi, bỏ đi. Vũ ngoái lại :
- Sư bố Nhật lùn!
Nhi đồng quen miệng, hô luôn :
- Sư bố...
Vũ dẫn nhi đồng cầu Kiến Xương tới Vọng Cung. Ở đây, đoàn biểu tình tụ họp đông đúc. Người nọ kháo người kia, sắp xử tử Việt gian. Côn nhảy cỡn :
- Sắp cử tử Việt gian!
Tiếng mi cô rè léo nhéo :
- Cách mạng sắp xử tử thằng Ban, Việt gian, tay sai của phát xít Nhật!
Côn mừng rỡ :
- Đáng đời thằng Ban. Ai bảo nó đánh anh Đạo.
Côn chợt nhớ hình ảnh đau đớn hôm giỗ tổ Hùng Vương, năm ngoái. Anh Đạo bị lính Nhật giáng báng súng vào mặt, máu chảy ứa ra, chỉ vì anh dám nhổ nước bọt vào mặt thằng Việt gian Ban. Không biết anh Đạo còn sống không. Chắc anh Đạo đã chết. Thầy Đàn sao chưa về, sao chưa thấy thầy ở Thái Bình?
- Thằng Ban bị bịt mắt, trói tay dẫn tới kia kìa...
Bọn thằng Vũ bỏ rơi nhi đồng khu cầu Kiến Xương. Năm đứa lách đám đông, để vào nhìn rõ mặt Việt gian Ban. Ông ta bị trói chặt cánh khuỷu. Quần aó lếch thếch, chân không, đầu tóc bơ phờ, mặt tái mét. Ông ta quỳ gối, lưng dựa vào tường cổng Vọng Cung. Ông chủ tịch đọc bản án xử tử, kể hết tội liếm gót giầy phát xít Nhật của ông Ban. Ông ta còn nói ông Ban trốn ở đâu, và bị cô đầu Vũ Tiên chỉ chỗ trốn. Nói một hơi dài, ông chủ tịch hỏi :
- Đồng bào bằng lòng xử tử tên Việt gian này không?
Cô đầu Vũ Tiên hò hét :
- Bằng lòng.
Ông chủ tịch hỏi :
- Tại sao đồng bào thích xử tử tên Ban?
Một cô dầu già đáp :
- Nó đã hát quỵt, còn đánh đập chị em.
Ông chủ tịch nói :
- Vậy giết nó.
Cô đầu hoan hô nồng nhiệt. Rồi, dân thị xã hoan hô theo. Ông Ban được nâng dậy. Ông sợ quá, vừa đứng đã quỵ ngã.
Người ta lại nâng ông dậy. Ông lại quỵ. Cuối cùng, người ta phải tìm cái ghế, bắt ông Ban ngồi. Ông Ban khóc lóc, van xin. Dân thị xã cười đùa, chế nhạo ông. Một cô đầu xỉa xói :
- Dạo nọ, mày cậy thế Nhật, mày bắt nạt các bà, mày không khóc. Tại sao bây giờ mày khóc.
Một cô đầu khác thích chí :
- Thằng Việt gian... tè ra quần!
Dân thị xã mở căng mắt, nhìn tử tội. Ônh Ban ngồi trên ghế dựa, đầu ngoẹo môt bên. Nước mắt đầm đìa ở khuôn mặt tái xanh. Côn không còn nhớ hình ảnh anh Đạo, trong ngày giỗ tổ Hùng Vương nữa. Côn cũng không thể mường tương khi ông bị anh Đạo nhổ nước miếng trúng mặt. Nó quên luôn cái báng súng lính Nhật đánh vỡ má anh Đạo. Côn chỉ nghĩ đến những giọt nước mắt của ông Ban. Ông ấy ngồi kia, thảm não như một cao bồi bị trói dộng đầu, chờ mọi da đỏ lột da.
Côn níu vai Vũ :
- Ông Ban sắp chết rồi...
Vũ nói :
- Ừ, ông ấy sắp chết. Tao không ghét ông Ban nữa. Tao muốn bỏ tù ông Ban thôi.
Luyến lắc đầu :
- Tao về đây, tao sợ xem xử tử lắm.
Luyến lách đám đông, bỏ về. Long và Lộc theo Luyến. Ông chủ tịch bước gần chỗ ông Ban, ngoảnh mặt ra đám đông :
- Đồng bào có xin khoan hồng cho thằng Ban không?
Cô đầu Vũ Tiên nhao nhao giơ tay :
- Không.
Không khí cuồng loạn lúc đầu đã lắng đọng. Dân thị xã im lặng, hết cười cợt, reo hò. Ông chủ tịch hỏi tử tội :
- Ban, anh muốn nói gì thì nói đi!
Tự nhiên, ông Ban đứng lên. Ông đòi tháo miếng vải bịt mắt ông. Người ta chiều ông, tháo miếng vải. Ônh Ban trừng mắt ngó đám đông. Nhiều người sợ ông Ban hóa thành ma trả thù, quay đi chỗ khác.
- Bịt mắt nó lại!
Người ta lại bịt mắt ông Ban. Hai người lính khố xanh cũ, bây giờ là quân Việt Minh, mặc quần áo nâu, xách hai khẩu mút cơ tông, đứng trước mặt ông Ban, cách chừng ba mươi thước. Đám đông hai bên giạt xuống một phía, sau lưng hai người lính, sợ đạn lạc. Súng đã nạp đạn sẵn. Hai người lính, quỳ gối trên mặt đường, súng đặt ngang vai, nhắm đích. Ông chủ tịch hằn học :
- Giờ đền tội phản quốc của Việt gian đã điểm!
Ông chủ tịch tỉnh Thái Bình vung tay. Hai phát súng nổ chói tai. Ông Ban vẫn đứng sừng sững. Côn và Vũ nhắm mắt, trước khi súng nổ. Chúng nó tưởng ông Ban trúng đạn ngã rồi. Ông Ban chưa trúng đạn. Côn lẩm bẩm “Lính khố xanh bắn như củ thìu biu”. Hai ông cách mạng lên đạn lách cách. Hai cái vỏ đạn rơi xuống đường nhựa, kêu leng keng. Tử tội, thản nhiên, như không biết chuyện gì.
Côn đập vai Vũ :
- Ông Ban can đảm ghê!
Vũ nhăn nhó :
- Ông ấy sợ quá chết đứng rồi.
Hai phát súng thứ nhì nổ tiếp. Không trúng. Cô đầu cười khanh khách, bình phẩm :
- Lính khố xanh lười tập bắn bia, nên bắn sai hết.
Ông chủ tịch giậm chân :
- Ai còn gọi quân cách mạng là lính khố xanh sẽ bị xử tử.
Bọn cô đầu Vũ Tiên nín thính. Hai ông cách mạng xấu hổ, đứng dậy, tiến tới thật gần tử tội. Lần này, hai ông bắn đứng. Đạn trúng bụng ông Ban. Ông ta kêu ối một tiếng, rồi ngã lăn, giẫy giụa. Hai ông cách mạng mừng rỡ, cắp súng và nách, chìa tay bắt tay nhau. Tử tội vừa lăn, vừa hét, y hệt con lợn bị chọc tiết, y hệt con gà cắt cổ chưa chết hẳn. Côn thấy bao nhiêu người chết đói, dưới gầm cầu Bo. Nó đã gớm ghiếc, song không gớm ghiếc bằng cái chết của ông Ban. Côn nhắm mắt, thề sẽ không nhìn ông Ban vật vã, giẫy giua. Nó bịt chặt tai, để khỏi nghe ông Ban rống lên những tiếng thảm thiết.
Thằng Vũ nhiều lần phiệu rằng, ở Hà nội, nó đã thấy dân Hà Nội giết Nhật lùn giữa phố. Vũ chỉ được cái nước nói phét, trộ bạn bè. Chứ nó cũng chưa hề trông rõ cảnh tượng người giết người.
Vũ không nhắm mắt, không bịt tai. Hai ông cách mạng chúc mũi súng hai bên mang tai ông Ban. Đạn nổ. Ông Ban hết giẫy, hết hét. Máu và óc ông văng ra, dính lên cả tường Vọng Cung. Ông Ban đã chết thật. Dân thị xã tự ý giải tán, chẳng chịu ở lại hoan hô cách mạng thành công. Bọn nhi đồng cầu Kiến xương biến mất, từ nãy.
Vũ và Côn nhìn nhau. Tự dưng, nước mắt hai đứa ứa ra. Sau lưng chúng nó, một khoảng đất mênh mông. Ông Ban nằm chết, cùng với những người còn sống hoan hô cách mạng. Vũ rút khẩu súng thủy tinh ném trúng cột điện. Tiếng vỡ nghe buồn buồn.

47
- Vũ ngồi yên, Vũ nhé!
- Ừ.
- Mà, Vũ đừng đòi về cơ.
- Ừ, Vũ không đòi về đâu. Thúy phải tung chăn ra chứ?
- Thúy ốm.
- Ốm gì lại trùm chăn kín cả mặt?
- Thúy bị...
Vũ nhổm đít khỏi ghế, hốt hoảng :
- Thúy lên đậu à? Thúy, Thúy ... rỗ à?
Con Thúy cười khích khích trong chăn :
- Thúy... rỗ hoa!
Vũ rơi cái bịch xuống ghế. Nó ngồi trơ thổ địa. Đôi mắt mở thao láo. Vũ nhớ dạo nọ, hôm bị con Thúy kể tội vồ tiền của bác cả Hồng, cớp lồng bẫy chim của thằng Hội, quên ơn hiệp sĩ Vũ đánh thằng súc sinh Dương bênh vực Thúy ở cầu Bo, Vũ đã mơ mộng chuyện giang hồ vặt, muốn Thúy già nua, mặt rỗ, mắt toét, lấy thằng chồng bán lạc rang khổ sở. Còn Vũ, Vũ sẽ lấy con bé đẹp gấp mười Thúy, trả thù Thúy cái tội vô ơn. Bây giờ, Thúy bị rỗ hoa, Vũ hối hận quá. Nó ngồi im lặng.
Con Thúy hỏi :
- Vũ nghĩ gì thế?
Vũ ấp úng :
- Không, Vũ chả nghĩ gì cả. À, tại sao bị rỗ, Thúy còn cười?
- Thúy thích cười. Thúy cười đứa rỗ hoa đó. Mặt rỗ như tổ ong bầu, Hàm răng khấp khểnh như cầu ao tre. Vũ sợ mặt rỗ, hở?
- Không.
- Không, sao cứ hỏi mãi?
- Ừ. Thúy rỗ thật hay giả vờ?
- Thật.
- Giả vờ, hở?
- Thúy rỗ thật đấy. Thế Vũ còn thích chơi với Thúy nữa không?
- Vũ... Vũ...
- Vũ sợ Thúy mặt rỗ như tổ ong, chứ gì?
- Thúy giả vờ hở? À, Côn nó bảo Thúy khen Vũ ném phi tiêu cừ nhất, hở? Côn nó bảo Thúy nhắn Vũ lại chơi, hở? Sáng qua, Vũ đến cửa nhà Thúy, Thúy biết không?
Vũ hỏi một thôi. Thúy lắng tai nghe. Tiếng Vũ y hệt tiếng chim hót. Tiếng nói ấy làm Thúy quên thử lòng Vũ. Con bé vội khoe :
- Thúy sưng quai bị đó, Vũ ạ!
Vũ chớp mắt lia lịa. Tim nó đập rộn ràng. Nó cũng quên rằng, đã có lần nó nói với thằng Côn nó ghét con gái thậm tệ. Vũ mỉm cười. Nó xoa tay :
- Vũ biết Thúy giả vờ.
Con nhà Vũ ba hoa :
- Thúy rỗ hoa thật, Vũ vẫn...
Thúy xoay người :
- Vũ vẫn sao?
- Vẫn chơi với Thúy, chơi thân hơn dạo xưa.
Thúy khoe :
- Má bên phải Thúy sưng vù, xấu lắm cơ.
Vũ nịnh :
- Xấu cái gì. Thúy hé chăn cho Vũ nom mặt một tí đi...
Thúy muốn tung chăn ngồi dậy, nhìn rõ Vũ, xem một năm xa tỉnh lỵ, Vũ đã thay đổi nhiều chưa. Thúy khôn ghê ghê là. Nó bắt bí thằng Vũ :
- Vũ phải xin lỗi Thúy, chứ!
Vũ ngây người ra :
- Vũ có làm Thúy giận đâu, mà xin lỗi?
- Người ta nhắn đến chơi, chả thèm đến.
- À, à... Vũ tưởng...
- Tưởng gì?
- Tưởng Thúy ghét Vũ.
Vũ dời chiếc ghế. Nó bước lại gần giường Thúy :
- Cho Vũ ngồi với Thúy, nhé! Vũ kể chuyện Hà Nội cho Thúy nghe. Vũ biếu Thúy nhiều hình đề can cô ma ni.
Thúy chưa trả lời, Vũ đã ngồi ở đầu giường. Nó nói :
- Cách mạng rồi đấy, Thúy biết chưa? Cách mạng kinh lắm, xử tử ông Ban. Vũ xem lính khố xanh, à quên, lính cách mạng, bắn ông Ban. Ông Ban chết giẫy giụa...
Thúy buột miệng :
- Eo ơi!
Vũ cụt hứng. Thúy không thích nghe chuyện cách mạng. Con nhà Vũ đâm ra luống cuống. Nó thọc tay vào túi quần, đứng dậy :
- Vũ về, nhé?
Thúy vùng vằng :
- Lại giận Thúy à?
- Không. Tại Vũ không thích nói chuyện với người trong chăn.
- Thúy chui ra nhé?
- Ừ.
- Mà, Vũ đừng chế Thúy cơ?
- Vũ không chế Thúy đâu.
- Vũ nhắm mắt lại. Hễ Thúy bảo mở mắt, mới được mở.
Vũ nghe lời Thúy, một nửa. Nó ti hí mắt nhìn. Con Thúy nhẹ nhàng chui ra khỏi chăn. Như mặt trời chui ra khỏi lớp mây u ám. Tia nắng đầu tiên, từ đôi mắt đen láy của Thúy, làm nóng trái tim Vũ. Và, xao xuyến, bâng khuâng, tựa hồ buổi chiều đứng trên cầu Bo, cùng Côn mong ước thầy Đàn về thị xã. Vũ mở bừng mắt :
- Thúy...
Con Thúy quay mặt đi. Nó phụng phịu :
- Vũ ăn gian.
Vũ định nói một câu chưa bao giờ nói với Thúy. Vũ không nói được, dù nó muốn nói vô cùng. Vũ ấp úng :
- Thúy... Thúy... nói dối!
Thúy quay mặt lại. Con bé vênh váo :
- Nói dối cái gì?
Vũ cười :
- Má Thúy chả sưng vù tí ti ông cụ nào.
Thúy sờ tay lên má, ngạc nhiên :
- Ơ, lạ nhỉ...?
Vũ cười tươi hơn :
- Đấy, Thúy đã nói dối Vũ.
Thúy phân trần :
- Sáng nay, Thúy soi gương còn thấy má sưng. Má Thúy nóng ran à... Vũ thử rở xem...
Vũ đã ngồi xuống giường. Thúy xích gần Vũ. Con bé cầm tay thằng bé, ấp vào má mình. Vũ cảm giác lạ. Tai nó nóng bừng. Tim nó đập mạnh. Tay nó nóng như hơ lửa.
- Thúy nói dối, hở?
- Không.
- Sao Vũ bảo Thúy nói dối?
- Ừ.
- Ừ gì?
- Ừ, Thúy nói thật. Thúy ạ, Vũ...
- Vũ ăn gian, hở?
- Ừ... Vũ...
- Vũ xin lỗi Thúy, hở?
- Không.
- Ăn gian còn không chịu xin lỗi!
- Ừ, Vũ xin lỗi Thúy, Vũ...
Vũ không thể nói nổi một câu nó ao ước được nói cho Thúy nghe, câu nói nó đã nghĩ, từ hôm Côn đến xin cơm nhà Thúy, và Thúy nhắn Vũ tới nhà nó.
- Thúy ốm lâu chưa?
- Hai tuần lễ rồi.
- Hà Nội có xe điện, có vườn Bách Thú nhiều khỉ lắm...
Thúy nhìn Vũ, mỉm cười, như thể chế nhạo Vũ. Trưởng toán nhi đồng cầu Kiến Xương, thằng bé đã dám rút súng thủy tinh bắn nước vào mặt phát xít Nhật, hò hét cách mạng thành công, vua phiệu chuyện, lúc này, ngồi trơ thổ địa. Nó chẳng biết nói gì, với con bạn nhỏ bé của nó. Vũ bí. Vũ chuyển sang chuyện Hà Nội. Vũ bị Thúy cười.
- Vũ chỉ huy bọn nhi đồng cầu Kiến Xưong. Con gái cũng vào nhi đồng, Thúy có vào nhi đồng không?
Thúy ngó Vũ, mắt ngập tràn trách móc :
- Vũ không thích chơi với Thúy nữa, hở?
Vũ liếm môi. Nó móc trong túi ra một gói nhỏ :
- Hình đề can cô ma ni, Vũ mua ở Hà Nội đấy. Toàn chim, bướm, và hoa... Vũ biếu Thúy. Tại Thúy thích chim khuyên, Vũ chọn nhiều chim khuyên.
Thúy lắc đầu :
- Chả thèm. Ai bảo về Thái không thèm nhớ người ta.
Vũ buồn buồn :
- Vũ sợ Côn giận Vũ.
Con Thúy là chúa khôn. Nó bĩu môi :
- Không có Vũ, Thúy mới chơi với Côn. Vũ về, Thúy chỉ thích chơi với Vũ. Thúy trên tức Côn, Thúy bảo Côn ném phi tiêu hạng bét.
Vũ chộp lấy cánh tay Thúy. Con bé không hất ra. Bước chân mùa xuân vừa đặt lên trái tim Vũ. Cả trái tim Thúy nữa. Tháng giêng tình yêu, luôn luôn, có cơn nắng hồng ấm áp. Cơn nắng ấy chỉ thấy trong mắt Vũ và Thúy.
- Vũ ơi! Đê sắp vỡ, đi hộ đê!
Tiếng thằng Luyến réo gọi bên ngoài. Làm sao nó biết Vũ ở nhà Thúy?
- Đê sắp vỡ, Vũ ơi!
Cơn nắng hồng chưa bừng sáng, đã tạm biến. Vũ rời bàn tay khỏi cánh tay yêu dấu. Tự nhiên, Vũ muốn quên thực dân Pháp, phát xít Nhật, cách mạng, đê điều. Nó muốn quên hết. Để khỏi bị đánh thức, trong giấc mơ êm ái.
- Vũ về nhé!
- Vũ đi hộ đê à?
- Ừ, nước sông lớn lắm. Không chừng đê vỡ.
- Mai, Vũ đến kể chuyện Hà Nội cho Thúy nghe, nhé Vũ nhé!
- Ừ, Vũ sẽ đến, mãi mãi...
Vũ bước ra đường. Mắt nó hoa lên. Tai nó nghe rõ từng hồi trống ngũ liên thôi thúc. Mắt nó nhìn khuôn mặt nhớn nhác của thằng Luyến.

48
Sau một đêm mưa tầm tã, đê Trà Lý vỡ. Nước lũ dâng cao, chảy siết. Những khúc đê mới được tu sửa, đắp cao, không chịu nổi sức cuốn của dòng nước lũ hung bạo và nước mưa xối xả, đã tan rã, vỡ tung. Nước lũ có lối thoát, ào ào chảy xuống những cánh đồng lúa con gái xanh mướt.
Thoạt đầu, con đê phía bên kia cầu Bo bị nước lũ cắt một khúc dài. Các phủ, huyện Thái Ninh, Hưng Nhân, Quỳnh Côi, Phụ Dực chìm nghỉm dưới biển nước mênh mông. Rồi, con đê phía bên này cầu Bo ục vỡ. Ba huyện Vũ Tiên, Thư Trì, Kiến Xương chịu chung cảnh ngộ lụt lội. Chỉ còn vài huyện miền bể là thoát nạn. Thị xã gần Vũ Tiên, xa khúc đê vỡ, nên mãi buổi trưa, nước mới tràn tới. Trong khi đó, nước lũ vẫn hung hăng siết chân cầu Bo, và mặt nước sông vẫn cao hơn mặt đất. Tiếng trống hộ đê im bặt. Tiếng đập của trái tim dân tỉnh lỵ cũng ngưng, nhường cho tiếng thở dài ảo não...
Trẻ con thị xã chạy xô ra đường phố nghịch nước. Nước ngập dường, ngập vỉa hè. Đến tối, nước ngập nền nhà. Sáng hôm sau, mức nước đứng lại, bằng mức nước sông. Ở những con đường thấp nhất, nước vẫn ngập tới bụng người lớn. Không khí cách mạng chìm trong tiếng thở dài ảo não của dân chúng. Nhìn biển nưóc ngầu đỏ, chẳng ai thiết hoan hô cách mạng thành công. Tỉnh lỵ đợi một trận chết đói, như trận chết đói thảm khốc hồi tháng ba.
Dòng nước lũ oan ngiệt đã cuốn trôi hết sự nghiệp của dân quê. Trâu, bò, lợn, gà, nhà cửa bị cuốn phăng. Cả người nữa. Đứng trên cầu Bo, nhìn biển nước mênh mông, thấy toàn những ngọn cây, và mái nhà cao, từ xóm làng xa xa. Không biết lấy gì mà sống chờ vụ chiêm, sang năm. Chín tháng trời nhịn đói ư? Dân thị xã lo lắng, sợ hãi, bắt đầu ăn một bữa. Nhiều gia đình nghèo đã kéo nhau xuống huyện Tiền Hải, kiếm kế sinh nhai. Vẻ buồn đen sẫm trên bức họa tỉnh lỵ. Người ta oán trách trời đất gieo rắc khổ đau liên tiếp, cho dân Thái Bình hiền lành, chất phác, và chung thủy. Hết Pháp đô hộ, đến Nhật xâm lăng. Rồi, chết đói, chết no. Rồi, cách mạng ồn ào. Và, lụt lội. Chưa đầy một năm, dân tỉnh lỵ chứng kiến, chịu đựng mấy phen tủi cực. Tự nhiên, không ai thích đời sống mới nữa. Tất cả đều mơ ước đời sống cũ tẻ nhạt, nhưng bình yên, an phận, nhưng no lành.
Cách mạng chừng hiểu được ý nghĩ của dân tỉnh lỵ, nên suốt ngày, trên chiếc thuyền nan, nhân viên tuyên truyền, với chiếc loa đồng cũ kỹ, bơi khắp phố, loan báo tin chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ lo cứu trợ nạn lụt. Tuyên truyền trấn an dân chúng, không quên dọa xử tử Việt gian. Ai chống cách mạng là Việt gian! Ai không tin tưởng chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, cũng là Việt gian! Không ai muốn chết khổ sở, như ông Ban. Thành thử, những ý nghĩ chán ghét đời sống mới chỉ là ý nghĩ âm thầm của từng người. Hôm nọ, trong buổi mít tinh, nghe ông chủ tịch Thái Bình đọc bức thư từ bỏ ngai vàng của vua Bảo Đại, để trở về làm công dân nước độc lập, một người nói đùa: Việt Nam dân chủ cộng hòa, Lập cập trộn gio trộn chấu đã bị bắt nốt. Phải nói độc lập tự do hạnh phúc! Lại có người hát bài chào cờ đổi câu Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước, súng ngoài xa chen khúc quân hành ca thành Cờ in máu kiến cắn kêu làng nước, ối giời ơi đau quá dân mình ơi, cũng bị bắt nhốt. Bởi vậy, khi chiếc loa đồng vang vang lời trấn an, dân chúng đành một lòng tin tưởng chính phủ Việt Nam dân chù cộng hòa, do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng suốt lãnh đạo.
Bọn thằng Vũ chưa có ý nghĩ âm thầm của người lớn. Cái chết của ông Ban đã thoáng qua trong tâm hồn chúng. Bây giờ, chúng nó chỉ buồn, vì không được chạy rông ngoài phố hoan hô cách mạng. Và Vũ, Vũ buồn hơn, vì chưa nghĩ được cách nào tới thăm con Thúy, làm con Thúy phục nó. Thị xã đã đầy thuyền bè. Dân chúng di chuyển bằng thuyền. Cả những cánh cửa gỗ cũng đã được gỡ ra kết bè. Vũ nghĩ tới bè chuối của nó, bơi sang bên kia sông Trà Lý cớp vải, năm xưa. Ánh mắt Vũ sáng ngời. Nó vội thủ một con dao, mặc trần xì cái quần đùi, lội qua nhà thằng Côn, sau một tuần lễ buồn bã.
Côn nghe Vũ nói chuyện chặt chuối kết bè, sướng rên. Thế là bọn thằng Vũ, và mấy đứa nhi đồng cẩu Kiến Xương, bơi vào Kỳ Bá chặt chuối. Những cây chuối hột thật cao đã ủng rễ, bị bọn thằng Vũ hạ rạp. Chẳng ai thèm ngăn cản chúng nó. Vũ bảo các bạn kéo chuối ra cống Kỳ Bá. Mặt cống chỉ sấp sỉ nước. Chúng chặt tre, vót cọc, đóng bè tại đây. Năm chiếc bè chuối hai tầng của bọn thằng Vũ vừa dài, vừa rộng, đủ sức chở năm ông nhãi trên một chiếc. Năm thuyền trưởng Vũ, Côn, Luyến, Long, Lộc chống sào, đẩy bè về thị xã.
Vũ nhớ anh em thằng Vũ sún ở cống Đậu, nó nói :
- Giờ mà có thủy chiến, tao làm thuyền trưởng!
Lộc kháy :
- Trông mày giống E-rôn Fin ghê!
Vũ cười :
- Giống mạnh sền gù! Nhi đồng Kiến Xương chiến nhất tỉnh.
Tự hôm Vũ về Thái, Vũ nói nhiều tiếng mới. Bọn thằng Côn không hiểu, và quên hỏi. Nay luyến chợt nhớ ra. Nó hỏi Vũ :
- Chiến là gì?
Vũ phưỡn ngực :
- Là cừ nhất hạng. Dân Hà Nội thích nói chiến lắm. Cừ, kền vất đi, thua chiến.
Luyến khoái chí :
- Bè của tụi mình chiến quá!
Nó nheo mắt :
- Còn mạnh sền gù?
Vũ hất tóc :
- Là mạnh hơn cả mạnh thủy tinh, là ghê gớm...
Chẳng mấy nả, năm cái bè chuối đã được đẩy về phố nhà Vũ. Những cuộc phản đối phát xít Nhật vẫn xảy ra hàng ngày. Nước chưa cạn, nên chưa có biểu tình đả đảo Nhật, dù Nhật đã làm cho đê vỡ! Chính quyền Thái Bình quả quyết, chính Nhật và Việt gian đã ngấm ngầm đem bộc pha, làm nổ tung đê điều. Trò chơi cách mạng đả đảo Nhật không hấp dẫn, trong mùa lụt. Thành ra, chỉ có những chiếc thuyền câu chở nhân viên đi tuyên truyền đả đảo. Vũ gặp dịp may này. Nó ra lệnh chở hai mươi nhi đồng cầu Kiến Xương theo đuôi những chiếc thuyền câu của nhân viên tuyên truyền. Những đứa trẻ được tiếng cứu quốc. Thực ra, chúng nó khoái đùa nghịch.
Trên một chiếc bè, có thằng cởi truồng, lấy quần đùi của nó treo lên đầu cành tre, và cắm ở đầu bè. Cờ quần đùi của nhi đồng cầu Kiến Xương bay phần phật, như cờ đỏ sao vàng của cách mạng. Nhi đồng khu phố khác bắt chước nhi đồng cầu Kiến Xươhg, đẳn chuối kết bè, lênh đênh suốt ngày, khắp đường thị xã. Chúng đả đảo Nhật, hoan hô cách mạng, vạn tuế Hồ Chí Minh, tung hô Việt Nam dân chủ cộng hòa muôn năm, Đôc lập, Tự do, Hạnh phúc muôn năm. Nhờ những ông nhãi, mà không khí cách mạng tỉnh lỵ không bị nước lũ cuốn trôi. Những ông nhãi chẳng hề biết mình đã cứu nguy cách mạng.
Vũ tách năm chiếc bè của nhi đồng cầu Kiến Xương khỏi đoàn biểu tình trên nước. Nó dẫn đầu, chống sào, đẩy bè qua phố nhà con Thúy. Đến trước cửa nhà Thúy, Vũ sực nhớ thuyền trưởng Côn. Nó bỏ ý định gây huyên náo, để con Thúy hé cửa sổ chiêm ngưỡng nó. Vũ chống sào lẹ, đẩy bè lướt nhanh. Nó nghĩ thầm Chả lẽ mặc quần đùi vào nhà bác Thụy. Vũ tự nhủ: Mình sẽ diện đẹp, và con Thúy sẽ lác. Vũ cao hứng huýt sáo bài quen thuộc. Bọn nhi đồng hát vang:
... Kìa lời gió ngàn
Kìa lời sông núi
Nhắc nhở em rằng tuy mình đang còn thơ ấu,
nhưng nhất tâm trật tự vâng lời vâng lời người trên...
... Ơn nước non em nguyền dám đâu sao rời.
Em trọn đời trung với Việt Nam...

Tiếng hát lan tỏa trên mặt nước lặng lờ. Sao tâm hồn Vũ xốn xang thế? Nó đã có một niềm vui riêng, sau niềm vui chung. Vũ hét lớn :
- Về phố mình!

49
Buổi tối thật buồn tẻ. Không nghe thấy tiếng rao của hàng lục tầu xá, hàng canh bún cá. Mà chỉ có tiếng rao bán bánh khoai, bánh nếp từ chiếc thuyền nan leo lét ngọn đèn dầu. Vũ lén lội ra cửa. Nó cởi bè, chống sào, đẩy đến nhà con Thúy. Trăng mờ trên đầu Vũ. Mặt nưóc yên lặng. Vũ nghe rõ tiếng bè lướt trôi. Nó còn, mơ hồ, nghe rõ cả tiếng con Thúy trách móc nó, tại sao, từ hôm đê vỡ, Vũ chả chịu đến chơi với Thúy.
Vũ nuốt ực một cơn sung sướng. Nó chống sào mạnh để bè lướt nhanh, thật nhanh. Tới gần nhà Thúy, Vũ rút sào đặt lên trên bè. Chiếc bè trôi từ từ. Vũ ngồi giữa bè, móc túi rút cái kèn ác mô ni ca. Nó thổi bài mới nhất, vừa học thuộc:
Hờn căm bao lũ tham tàn phát xít
Dấn bước ra đi Kim Đồng lên chiến khu
Kim Đồng, quê hương Việt Bắc xa mù
Kim Đồng, thay cha rửa mối quốc thù
Anh Kim Đồng ơi
Anh Kim Đồng ơi
Tuy anh qua đời
Gương anh sáng ngời
Đoàn tôi cố noi
Bao phen giao thông trong rừng
Gian lao nguy nan muôn trùng
Xung phong theo gương anh hùng
Đùng đùng đùng
Đoàng đoàng đoàng
Anh vẫn đi
Kim Đồng, tên anh muôn kiếp không mờ
Kim Đồng, tên anh lừng lẫy chiến khu...

Vũ thổi hết bài Kim Đồng, bè của nó trôi tới cửa nhà con Thúy. Và, hết đà, chiếc bè dừng lại. Cánh cửa sổ nhà Thúy hé mở, một khoảng ánh sáng của đèn điện ùa ra, cùng lúc tiếng kèn ác mô ni ca tan trong mênh mông.
Thúy đứng giữa vùng ánh sáng giới hạn đó. Con bé mỉm cười, thò tay qua chấn song cửa, vẫy lia lịa, tựa hồ người đứng trên bờ vẫy chào người thân yêu trên boong tầu sắp ghé bến. Vũ nhét vội chiếc ác mô ni ca vào túi quần. Nó cầm sào, đứng dậy, chống bè táp vô cửa nhà Thúy.
- Chiến không?
Thúy ngơ ngác :
- Chiến cái gì?
Vũ chỉ chiếc bè chuối :
- Cái này.
Thúy chẳng hiểu chiến ra sao, cũng khen rối rít :
- À, cái bè chuối chiến lắm. Vũ mua ở đâu thế?
Vũ đã xuống bè, rón rén bước tới cửa sổ. Nó khoe :
- Vũ làm Tác Dăng, ngậm dao bơi vào Kỳ Bá chặt chối đóng bè đấy. Vũ đóng năm chiếc. Vũ đem tặng Thúy một chiếc.
Thúy khẽ reo :
- Thích quá.
Con bé giục :
- Vũ vào đây với Thúy, đi!
Vũ lắc đầu :
- Vũ đứng gần Thúy được rồi. Vũ tới xin lỗi Thúy.
Thúy nắm lấy bàn tay Vũ :
- Vũ có làm Thúy giận đâu, mà phải xin lỗi?
Vũ thấy bàn tay lạnh lẽo của nó ấm dần. Và, nóng ran. NHư thể được xoa dầu Nhị thiên đường.
- Vũ muốn đứng bên ngoài.
- Sao tay Vũ lạnh thế?
Vũ bối rối :
- Chả biết tại sao nữa.
Thúy hơi nhăn nhó :
- Đưa tay kia Thúy xem, nào.
Vũ đặt nốt bàn tay lên thành cửa sổ. Con Thúy đã nắm bàn tay nó. Hai bàn tay trong hai bàn tay. Hai con mắt nhìn hai con mặt. Vũ cảm giác, như trong ngày mùa đông, nhiều nắng hanh vàng khát nước. Nó bê cái ấm tích nước lạnh tu ừng ực. Nước thấm lạnh từ cổ họng, xuống tận dạ dầy. Nước đến đâu, lạnh đến đó. Hả hê vô cùng. Vũ đang đứng giữa nắng hanh vàng. Nắng hanh vàng của những ngày vàng thần tiên của Vũ. Thúy là ấm tích nước lạnh. Tâm hồn Vũ được tưới bằng nước mưa ngâm hoa bưởi.
- Tay Vũ lạnh ghê ghê là...
- Tay Thúy ấm lắm.
- Tại Thúy ở trong nhà, Vũ ở bên ngoài, Vũ chèo bè đấy mà...
Vũ nhìn Thúy. Bốn bàn tay đã tạm xa nhau.
- Thúy ơi!
- Hở?
- Có thật Thúy bảo Vũ cừ không?
- Vũ ném phi tiêu cừ hơn Côn.
- Vũ không ném phi tiêu?
- Vũ mà ném, Vũ sẽ cừ hơn Côn.
- Có thật...
- Thật gì hở, Vũ?
- Thật Thúy... nhớ Vũ không?
- Thật chứ. Thúy nhớ cả gói táo tầu Vũ cho Thúy, nhớ cả chiếc lồng bẫy chim khuyên Vũ cớp của thằng Hội. Thúy ghét thằng Hội. Thúy nhớ cả lần Vũ đánh thằng Dương bênh Thúy...
Bỗng, Thúy hỏi :
- À, bố thằng Dương có bị cách amng tát tai không?
Vũ thích chí :
- Lão phó cẩm bị tù rồi. Thằng Dương, thằng Hách, thằng Huấn, bây giờ, lủi thủi, chả ai thèm chơi. Giá thằng Vọng còn sống, nó sẽ trả thù thằng Dương, thằng Hách.
Thúy bùi ngùi :
- Thằng Vọng ghẻ tầu tốt lắm. Nó cứ gọi Thúy bằng chị, cho Thúy nhiều cánh cam.
Vũ không muốn nghe chuyện thằng Vọng nữa, dù nó rất thương Vọng. Tai nó nóng bừng. Cái gì đó làm Vũ khó chịu, Vũ không hiểu, nó chỉ thích nghe Thúy nói với nó, về nó.
- Thúy ơi!
- Gì, Vũ?
- Má Thúy hết nóng chưa?
- Hết rồi.
- Thúy nói dối.
- Chả tin, rờ má Thúy đi...
Vũ đưa bàn tay áp vào má Thúy. Xuân hồng của Vũ lại bừng nắng rực rỡ, tràn ngập tiếng chim ca ánh ỏi. Và, bướm muôn mẩu rợp bay.
- Ừ, hết nóng rồi.
- Vũ tin Thúy chưa?
- Vũ tin. Mà, Thúy ơi!
- Gì hở, Vũ?
- Tóc Thúy thơm quá.
- Thúy có bôi nước hoa đâu!
- Sao thơm thế?
- Vũ lại không tin Thúy à?
Con bé cúi đầu thấp sát chấn song cửa sổ. Vũ thấy rạo rực tâm hồn. Nó muốn hôn lên tóc Thúy, nhưng sờ sợ. Thúy dục :
- Ngửi tóc Thúy xem, có phải Thúy bôi nước hoa không nào?
Vũ định bắt chước thằng bé trong phim ca nhạc, quàng tay qua cổ con bé Deanna Durbin, và hôn nhẹ lên trán con bé. Mà, Vũ ngại ngùng khôn kể.
- Vũ ơi, à, mày ở đây!
Cả Thúy lẫn Vũ cùng bối rối. Vũ quay mặt lại, Con nhà Luyến cười hô hố :
- Tìm mày toát mồ hôi. Chúng nó tưởng mày xuống An Tập.
Vũ cáu sườn. Nó lẩm bẩm :
- Thằng chó chuyên phá đám.
Vũ mừng, vì thằng Luyến bắt gặp nó ở đây, chứ không phải thằng Côn. Thúy dặn khẽ :
- Mai, Vũ tới nhé!
Con bé khép cửa sổ. Vũ lội ra vỉa hè, leo lên bè của thằng Luyến. Con nhà Luyến hỏi :
- Mày bảo mày ghét con bà cô Thúy. Sao mày còn chơi với nó?
Vũ phiệu :
- Tao cho nó cái bè, mai nó sẽ bị ngã, uống nước sặc sụa. Đừng nói tụi thằng Côn biết, nghe chưa.
Luyến vỗ tay :
- Hay quá. Hoan hô mày, Vũ ạ!
- Tìm tao làm gì?
- Đi cớp bè của tụi Tầu.
Vũ vừa tặng Thúy chiếc bè, nó thấy cần cớp chiếc khác, kẻo thằng Côn nghi ngờ. Vũ giậm chân mạnh, làm chòng chành bè :
- Cớp hết. Nhi đồng cầu Kiến Xương chiến nhất. Mỗi thằng một chiếc bè.
Chiếc bè lướt đi. Hai đứa nói chuyện vang vang mặt nước. Vũ không biết con Thúy vẫn đứng, ở cửa sổ, hé một chút, nhìn theo chiếc bè xa dần con phố nhà mình.

50
Nước đã rút dần, sau mấy tuần đứng yên không thèm nhúc nhích. Khi nước rút, lại rút thật nhanh. Mỗi ngày vài tấc. Đến hôm nay, nước chỉ còn cao đến đầu gối người lớn, ở những con đường thấp nhất trong thị xã. Nhi đồng hết trò chơi thủy chiến bằng bè chuối, hay thả bè câu cá, hay lênh đênh cả buổi trên mặt nước, rồi, hễ chán, họp nhau chống bè qua Câu lạc bộ đả đảo Nhật lùn. Dân chúng bớt thở dài. Vẻ thê lương mờ nhạt, nhường chỗ cho nắng vàng tương lai. Thị xã chợt nổ bùng một phẫn nộ mới: Thực dân Pháp đã theo quân đồng minh, đổ bộ lên miền Nam.
Dân chúng biểu tình tuần hành dưới nước, đả đảo thực dân Pháp. Phát xít Nhật được quên đi, như thể đã chiến thắng rồi. Tám mươi năm đô hộ khơi dậy bao nỗi căm hờn. Chẳng ai muốn Pháp trở lại. Những cuộc biểu tình rầm rộ, tưởng muốn nghiêng đất, hất nước lụt ra biển cả. Cô Yến, con gái ông Hậu Hòe, nhân vật nổi tiếng của Thái Bình, lần đầu tiên, xắn quần lội nước, đi đả đảo giặc Pháp xâm lăng. Vài hôm sau những cuộc biểu tình chống Pháp, nước rút hẳn. Thị xã khô ráo. Ở khắp phố, bài hát mới hâm nóng lòng yêu nước của mọi người:
Tiếng súng vang sông núi miền Nam ầm đất nước Việt Nam
Tiếng súng vang sông núi miền Nam vì mưu lấy miền Nam
Ta muốn băng mình tới phương Nam xé xác quân tham tàn
Người Việt Nam, giống anh hùng từng tranh đấu
Đã từ lâu đứng lên phá tan u sầu
Người Việt Nam, giống anh hùng từng tranh đấu
Tới ngày nay toàn dân quyết chiến không lui
Tiếng súng vang sông núi miền Nam ầm đất nước Việt Nam
Tiếng súng vang sông núi miền Nam giục ta ra tranh đấu

Cả ngày, cả đêm, bài hát ầm vang, cơ hồ tiếng súng Nam Bộ kháng chiến ầm vang của người miền Nam yêu nước. Tất cả đều đứng lên. Tin tức chiến sự toàn loan những chiến thắng. Dân miền Nam đã anh dũng chống trả liên quân Anh, Ấn, Pháp bằng dáo, mác, và gậy tầm vông. Ngay những người xẩm bến đò, bến xe cũng từ bỏ những bài hát cũ rích, và hát bài Tiếng súng Nam Bộ. Thanh niên Thái Bình tình nguyện vào Nam kháng chiến chống Pháp. Phương hen, người bạn già bán bánh mì thịt quay cửa trường Monguillot, đã ghi tên vào Nam. Thanh niên mười hai phủ, huyện lũ lượt kéo nhau lên thị xã, chờ đợi ngày lên đường vào Nam. Phải giành độc lập, phải đuổi thực dân Pháp khỏi quê hương Việt Nam yêu dấu. Tiếng súng Nam Bộ thức tỉnh tình đoàn kết, làm sôi sục máu nóng của dân chúng.
Bọn thằng Vũ đã dự buổi lễ tiễn những người thanh niên tình nguyện vào Nam đánh Pháp. Những người này được quàng hoa kín cổ, được hoan hô nồng nhiệt. Vũ và Côn vỗ rát cả tay, khi Phương hen giơ tay vẫy vẫy. Những người tình nguyện không được tuyển chọn, khóc sướt mướt. Khuôn mặt họ ủ rũ, buồn hiu, y hệt trẻ con mong mẹ về chợ mà chẳng có quà bánh.
Vũ đã nuốt nước bọt, thèm khát cái vinh dự đánh đuổi xâm lăng Pháp. Giá nó lớn, chắc chắn, nó đã ghi tên vào Nam. Nó sẽ cho giặc Pháp biết tay. Đoàn người vào Nam lên đường, tỉnh lỵ thêm mùa nước lũ. Nước lũ cuồn cuộn, hung hăng hơn con nước lũ vừa tàn phá đê điều. Kể từ đó, bọn thằng Vũ căm thù thực dân Pháp. Ta muốn băng mình tới phương Nam xé xác quân tham tàn.
Dân chúng hướng vào Nam bộ, mong tin chiến thắng. Không ai thiết lo thóc cao, gạo kém. Tương lai sẽ gần như mùa lúa chiêm sắp tới, mùa lúa chiêm vàng đầy đồng, nhờ phù sa bồi bón. Riêng Vũ, Vũ chỉ lo nó chưa kịp lớn, giặc Pháp đã bị đánh thua tan nát. Vũ mơ ước chóng lớn. Niềm mơ ước ấy làm quên xuân hồng của nó. Vũ chỉ còn nhớ Thúy sau mỗi cuộc biểu tình. Vũ ngồi dựa lưng vào tường, bực tức, từa tựa nỗi bực tức của Trần Quốc Toản. Nó đứng dậy, đá tung cái hộp sữa bò. Côn đến đúng lúc. Nó ngạc nhiên :
- Mày giận ai đó?
Vũ mím môi :
- Ông đét được vào Nam. Phương hen được vào Nam, tao không được vào!
Côn rút trong túi quần xoóc ra một tờ báo gấp nhỏ :
- Trong Nam có thằng chiến hơn Kim Đồng. Báo đăng đây này.
Vũ chộp vội tờ báo. Cái tít to tướng đập vào mắt Vũ: Một em bé tẩm xăng tự đốt, rồi nhảy vào kho đạn của giặc Pháp. Vũ say sưa đọc báo. Nó cười ha hả :
- Ừ, chiến hơn Kim Đồng.
Tin em bé Nam Bộ tẩm xăng, tự đốt, rồi nhảy vào kho đạn của giặc Pháp, ở Saigòn, đã xôn xao thị xã. Đi tới chỗ nào cũng thấy kể chuyện em bé Nqm Bộ, được coi như anh hùng cứu quốc. Nhi đồng cầu Kiến Xương, khối đứa, mơ thành em bé Nam Bộ. Chúng nó tưởng rằng, kho đạn của thực dân Pháp nổ tung, giặc Pháp sẽ hết đạn bắn. Quân ta sẽ giết hết chúng nó. Báo Cứu Quốc không ngày nào không nhắc gương can đảm của em bé Nam Bộ, cùng với tin Thanh niên tiền phong giết Pháp ở cầu Quay, cầu Mống, Khánh Hội, Gò Vấp, Bình Xuyên, Gò Công... Những địa danh xa lơ xa lắc bỗng gần gũi lạ thường. Vũ đã thổi ác mô ni ca không biết mệt, cho nhi đồng cầu Kiến Xương hát bài:
Bình xuyên,
Bình Xuyên oai hùng ngàn năm
Đoàn dũng sĩ máu sôi lòng hờn căm
Khi quân ta tiến ra
Vung gươm chói lòa
muôn đầu rơi sát khí
ầm vang hát chốn sa trường
không tiếc thây
Bình Xuyên,
Gò Công bao lần diệt Tây...

Vũ tưởng tượng Bình Xuyên, Gò Công như là Đống Đa, Chi Lăng, nơi các dũng sĩ miền Nam đang chém ngang thây thực dân Pháp, nơi tổ tiên ta đã chém ngang thây giặc Trung hoa. Nó thấy Nam Bộ thật gần gũi, và mến yêu lạ lùng. Nam Bộ không phải là tân thế giới xa xôi, toàn rừng cao su, roi da quật trên thân thể người Việt Nam, miền lưu đầy cu li đồn điền, dời quê hương đến sống khốn khổ, và chẳng bao giờ trở lại. Nam Bộ anh dũng. Nam bộ cháy bừng lửa chiến đấu giết thù. Trái tim thằng Vũ, thằng Côn, thằng Luyến, thằng Long, thằng Lộc cháy theo. Lần đầu tiên, những đứa trẻ biết quê hương chúng nó không phải chỉ có Thái Bình. Quê hương chúng nó còn ở Khánh Hội, Gò Vấp, Hạnh Thông Tây, Bình Xuyên, Gò Công, Trảng Bàng, Chợ Mới. Nơi ấy, chú bác chúng nó đang tập làm Nguyễn Trung Trực, Phan Tôn, Phan Liêm, Nguyễn Tri Phương... Và em bé Nam Bộ đã soi gương anh Kim Đồng. Nơi ấy, đồng bào chúng nó đang kháng chiến bằng gậy tầm vông. Tự nhiên, Vũ ước ao được đứng trên cầu Mống, rút súng thủy tinh đầy nước, chĩa thẳng vào mặt liên quân Anh Ấn Pháp, như nó đã chĩa thẳng vào mặt Nhật lùn.
Vũ đút vội kèn vô túi quần, đùng đùng nổi giận :
- Mẹ bố tụi Tây đen bán vải!
Nhi đồng cầu Kiến Xương nhôn nhao hỏi :
- Tại sao lại chửi tụi Tây đen?
Vũ nghiến răng ken két :
- Tụi nó là Ấn Độ đánh giết quân ta ở Nam Bộ.
Nó hét :
- Đi tẩn bỏ mẹ tụi nhãi con Ấn Đô trả thù cho đồng bào Nam Bộ.
Nhi đồng cầu Kiến Xương reo hò. Chúng nó đi lùng nhãi con Ấn Độ. Nội buổi chiều, có năm thằng nhãi Ấn Độ bị đánh, sưng vều mặt mũi. Mấy hiệu bán vải của Tây đen Ấn Độ bị ném đá, không dám mở cửa. Nhi đồng cầu Kiến Xươhng đứng trước các hiệu Tây đen, hét lớn:
Ông Tây đen nằm trong cái bồ
Đánh cái rắm làm bánh ga tô

Tây đen không hiểu tại sao bọn nhãi ranh lại nghịch ngợm tinh quái thế. Bọn thằng Vũ không thèm nghịch ngợm, chúng nó đang tưởng tượng vào Nam bộ kháng chiến. Nam Bộ nằm giữa trái tim thằng Vũ.

51
Nắng bừng lên, gay gắt. Mùa thu dịu hiền, dường như, bị cách mạng đốt cháy. Nắng trả thù mưa, lụt. Nắng muốn làm khô cạn nước, còn mênh mông ruộng đồng. Người ta quên những giọt nắng ngoan, những giọt nắng đượm gió lạnh năm ngoái, năm xưa. Nắng đã dậy mùi thuốc đạn miền Nam. Nắng chiếu chói chang vào những khẩu hiệu phản đối thực dân Pháp xâm lăng niềm Nam, treo đầy đường phố thị xã. Thực dân Pháp đã chiếm Sàigòn. Tin đó tung ra. Cả thị xã phẫn nộ. Khúc ruột trong cơ thể Việt Nam bị cắt đứt. Thị xã biểu tình tuần hành. Những cánh tay giơ lên. Những mái tóc hất tung. Những đôi mắt áng lửa căm hờn. Những tiếng nói vỡ phổi. Cùng hát:
Tiếng súng vang sông núi miền Nam vì mưu chiếm Việt Nam
Ta muốn băng mình tới phương Nam xé xác quân tham tàn

Vũ ngước nhìn khẩu hiệu mới lạ Vietnam to the Vietnamese, nó hỏi Côn :
- Việt Nam to thế Việt Nam mẹ sề hở, mày?
Côn không hiểu Vietnam to the Vietnmamese [1] là gì. Nó gật đầu bừa :
- Ừ, Việt Nam to thế, Việt Nam là mẹ của thực dân Pháp.
Vũ khoái quá :
- Việt Nam là mẹ Pháp. Tao là bố tụi Tây con.
Côn chợt nhớ Vọng, nhớ hôm đảo chính Nhật, Vọng đã nhạo báng Tây, Đầm, và Côn không thích Vọng trả thù Tây. Hôm nay, Côn thấy Vọng đã trả thù Tây đích đáng, vì Tây dám xâm lăng miền Nam. Tây là bọn vô ơn. Hồi chúng nó chạy Nhật, dân Thái Bình thương hại chúng, chỉ chỗ cho chúng trốn nấp Nhật. Thế mà chúng nó nỡ hại người Việt Nam. Lớn lên, nếu Tây chưa thua trận, Côn sẽ đi lính đánh đuổi Tây về nước của chúng nó. Tự nhiên, Côn có hai kẻ thù, Vọng chết đói là do Tây và Nhật. Côn phải trả thù giùm Vọng. Côn nắm chặt bàn tay, hét lớn :
- Ai sinh ra cái xe bò
Để cho Tây phải kéo gò lưng tôm

Vũ đọc to một khẩu hiệu:
- Thực dân ơi hỡi thực dân,
Đàng nào thì cũng một lần về thôi
Việt Nam của Việt Nam rồi
Cướp làm sao nồi đất người Việt Nam.

Vũ tách khỏi hàng ngũ, lấy giọng :
- Kèn cứu quốc thét vang... Hai, ba...
Nhi đồng Kiến Xương hát vang:
... Xung phong, xung phong! Giết, giết!
Đùng đùng đùng đùng...
Giết, giết!
Ta đi tiên phong giết loài sói hung
Kèn cứu quốc thét vang giục người chiến sĩ
Cùng tiến, cùng hô
Giết hết quân thù...

Đoàn biểu tình dừng lại trước phòng thông tin, gần cầu Bo. Người ta chen nhau vào phòng thông tin, xem tranh triển lãm tội ác của thực dân Pháp. Những bức tranh vẽ thực dân Pháp nấp sau đít liên quân Anh, Ấn, vào Sàigòn đã làm nhiều người khinh bỉ. Thực dân Pháp mộng chiếm lại Việt Nam, đặt lại nền đô hộ, được ví như thằng bé mũi lõ thổi bong bóng xà phòng. Đặc biệt, bức tranh vẽ mấy thằng mũi lõ quăng trẻ thơ vô lửa, dưới ghi hai câu: Trẻ thơ nào tội tình gì, Bị quăng vào lửa chỉ vì thực dân, đã khiến dân thị xã đau đớn, căm hờn. Thực dân đang tàn sát đồng bào miền Nam.
Tỉnh lỵ chưa bao giờ buồn thảm như bây giờ. Dân thị xã ngủ vùi trong giấc ngủ an phận. Thức từ sáng sớm, hôm Nhật đảo chính Pháp. Nỗi buồn mất nước thức dậy theo. Từ đó, chỉ thêm buồn đau, sót sa. Mỗi buồn đe dọa một kinh hoàng đẫm máu. Không ai muốn buồn. Phải đứng lên đập tan nỗi buồn. Xích xiềng nô lệ đã chặt đứt. Xích xiềng ấy không thể buộc vào chân người Việt Nam, như đã buộc tám mươi năm cũ. Gậy tầm vông vót nhọn thách thức súng đạn của thực dân Pháp. Là đã trả lời nhân loại rằng, người Việt Nam không muốn sống buồn thảm trong nô lệ, đói rách, dốt nát. Căm hờn đã thấm vào tim phổi, và thoát ra:
Việt Nam, bao năm ròng rên siết lầm than
Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang
Nhật với Pháp cướp thóc lúa, cướp đời sống dân mình
Nào nhà tù, nào trại giam, biết bao nhiêu nhục hình
Đồng bào tuốt gươm vùng lên
Đã đến ngày trả mối thù chung
Mau mau mau. vai kề vai
Không phân già trẻ trai hay gái
Cố tiến lên, ta đi lên
Ta tiến lên ta diệt quân thù
Việt Nam, Việt Nam muôn năm...

Việt Nam muôn năm. Chỉ Việt Nam muôn năm. Chiến đấu cho Việt Nam. Cho độc lập. Cho tự do. Cho hạnh phúc. Người lớn đã lên đường chiến đấu. Trẻ con sẽ lên đường chiến đấu, bảo vệ quê hương. Những trang sử quật cường của nòi giống bị cấm học từ lâu, được mở ra, được nhắc nhở. Vũ và bạn bè nó mới biết Nguyễn Tri Phương đắp thành Kỳ Hòa chống Pháp, bị bắt, nhất định noi gương Trần Bình Trọng; Nguyễn Trung Trực đốt tầu Espérance của Pháp, trên sông Nhật Tảo; Hoàng Diệu tuẫn tiết khi Hà Nội thất thủ; Phan Đình Phùng mộ quân đánh Pháp; anh em Phan Tôn, Phan Liêm anh dũng ở Mười Tám Thôn Vườn Trầu; Đề Thám vẫy vùng miền Yên Thế; mười ba anh hùng Việt Nam quốc dân đảng lên máy chém cười ngạo nghễ, tung hô Việt Nam muôn năm...
Những trang sử rạng ngời ấy đang được viết tiếp. Bằng gậy tầm vông vót nhọn thấm máu quân thù. Những Nguyễn Trung Trực, những Phan Tôn, Phan Liêm, những Huỳnh Phan Hộ đã làm sống lại lịch sử tranh đấu, ở bên kia cầu Quay, cầu Mống, ở Gò Vấp, ở Bình Xuyên, ở khắp Nam Bộ. Và, ở Bắc Bộ, ở thị xã Thái Bình nhỏ bé, những con mắt áng nhiệt tình, và kiêu hãnh hướng cả về Nam Bộ kháng chiến, Nam Bộ thần thánh, Nam Bộ đương nổi lửa đốt cháy mộng xâm lăng của giặc Pháp.
Vũ cố nhìn những bức tranh triển lãm tội ác của thực dân Pháp, thật lâu. Để nhớ, để in sâu vào trí nhớ hình ảnh nuôi thù hận, đợi chờ một mai khôn lớn. Vũ dời phòng thông tin, ra về một mình. Suốt buổi chiều, Vũ hì hục vẽ lại những bức tranh, tô mầu rực rỡ. Những bức tranh sẽ đem tặng con Thúy.
Vũ phải nói thật với Thúy rằng, Vũ thèm lớn, Vũ thèm băng mình tới phương Nam xé xác quân tham tàn. Vũ yêu Nam Bộ, yêu người Nam bộ.

52
Tỉnh lỵ đã mất hẳn sự bình tĩnh cố hữu. Luôn luôn có những ồn ào sinh động. Người tỉnh lỵ bị lôi cuốn bởi thác lũ cách mạng. Nam Bộ đang kháng chiến, tưởng chừng đã chiến thắng. Báo Cứu quốc, mỗi ngày, mỗi đăng tin giặc Pháp thua to, ở khắp mặt trận Nam Bộ. Tiếng súng Nam Bộ tạm im trong lòng mọi người dân thị xã, nhường cho tiếng réo sôi của một hân hoan mới. Cụ Hồ Chí Minh sắp về thăm dân Thái Bình. Tin đó làm cả thị xã vui mừng, và hãnh diện. Nhi đồng học thêm một bài hát mới. Vũ lại được đứng dưới cột đèn điện, thổi ác mô ni ca, dạy nhi đồng cầu Kiến Xương bản:
Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng
Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng
Ai yêu bác Hồ Chí minh hơn thiếu Nhi Việt Nam
Bác chúng em dáng cao cao người thanh thanh
Bác chúng em mắt như sao râu hơi dài
Bác chúng em nước da nâu vì sương gió...

Trong khi thị xã vang lừng tiếng hát, suy tôn chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa:
Đuốc gươm thiêng vung cho nước nhà
Khiến dân Việt Nam thoát ách xưa
...
Thắng gian nguy
Tranh công đầu
Giải phóng cho dân Việt Nam yêu dấu ngàn thu

Lúc này, Vũ quên Thúy, quên cả gia đình. Vũ chỉ còn nhớ bác Hồ. Bác Hồ không phải là người. Bác Hồ là thánh. Mắt bác sáng như sao, vì có những bốn đồng tử! Vũ đã học thuộc lòng bài thơ:
Hồ Chí Minh mặt người như nước Việt
Thấm thía mang một sức sống phi thường
Vừng trán rộng Trường Sơn trong sớm biếc
Mắt tinh anh sâu thẳm Thái Bình Dương

Vũ chiêm ngưỡng bác Hố, dù Vũ chưa hề gặp bác Hồ. Tháng sau, bác Hồ về thăm dân Thái Bình, thế nào Vũ cũng nhìn rõ vầng trán rộng bao la của bác, và đôi mắt bốn đồng tử! Vũ ngừng thổi kèn, hoan hỉ :
- Chúng mày hát chiến lắm. Vài hôm nữa hát thi, hễ khu nào hát hay, sẽ được chọn làm nhi đồng danh dự, đứng gần bác Hồ, hát bản này.
Một nhi đồng cầu Kiến Xương hỏi :
- Rồi bác Hồ có cho mình cái gì không?
Vũ đáp :
- Có chứ. Bác Hồ tặng mày sợi râu!
Nó nói tiếp :
- Được bác Hồ xoa đầu là sướng mê con ông cụ, sướng rên mé đìu hiu. Bác Hồ tuyệt lắm.
Vũ chỉ nghe các anh thanh niên, từ chiến khu về, nói rằng bác Hồ là hồn thiêng sông núi. Chiến khu được mô tả như vùng đất mầu nhiệm. Kim đồng đã lên chiến khu, quê hương Việt Bắc xa mù. Người về từ chiến khu đều là những người phi thường, là những chiến sĩ, là những trang nam nhi quyết chiến sa trường, sống thác coi thường, mang xác trong da ngựa bọc thân thế trai... Người về từ chiến khu ca ngợi bác Hồ là hồn thiêng sông núi, là những tinh hoa của dân tộc đúc kết thành, nên mắt bác Hồ mới có bốn đồng tử. Chẳng riêng gì nhi đồng, người lớn cũng tin tưởng bác Hồ xuất chúng, bác Hồ đã đuổi Nhật, đánh Tây. Hồ Chí Minh, chỉ Người là có thể đưa con thuyền tổ quốc đến vinh quang. Bác Hồ dạy điều này, bác Hồ dạy điều nọ. Mỗi lời của Bác Hồ là mỗi câu kinh nhật tụng. Và, chỉ cần thời gian ngắn, trong những ồn ào sinh động liên tiếp, không cho con người kịp suy nghĩ, bác Hồ đã ngự trị ở tâm hồn đám dân chất phác, đã trở thành ngọn đuốc, luôn luôn sáng ngời trong đôi mắt thủy tinh của nhi đồng.
- Bác Hồ tuyệt như gì?
- Tuyệt cú mèo!
Bác Hồ tuyệt cú mèo. Bác Hồ nhất hạng. Bác Hồ đã làm nhi đồng quên bài học thuộc lòng: Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Vũ đã quên Thúy, quên hẳn Thúy, khi nó thổi ác mô ni ca, tập hát để đợi ngày đón rước bác Hồ. Cả thị xã nôn nóng, chờ đón rước cụ Hồ. Đêm đêm, tiếng hát vang trời. Ngày ngày, tiếng cười rộn rã. Đêm, dưới chân cột điện, nhi đồng tỏ tình: Ai yêu bác Hồ Chi Minh hơn chúng em nhi đồng. Ngày, giữa sân vận động, nhi đồng vẽ chân dung bác Hồ theo trí nhớ. Vẽ trên giấy. Vẽ trên trái tim. Kể tự đó, chân dung bác Hồ ngự trị hẳn, ở tâm hồn niên thiếu. Chăm học vì bác Hồ. Làm việc vì bác Hồ. Yêu nước vì bác Hồ. Thù hận vì bác Hồ. Hy sinh vì bác Hồ. Đôi mắt bốn đồng tử của bác chiếu rõi quanh đời sống niên thiếu. Đôi mắt bốn đồng tử ấy nhìn rõ hàng triệu nụ cười, và nhi đồng, mơ hồ, thấy một nụ cười hiền dịu của bác Hồ ban phát cho tất cả.
Vủ đã nằm mơ được nắm tay bác Hồ. Vũ đã nắm tay Thúy, đã xao xuyến, bâng khuâng. Nó nghĩ rằng, bác Hồ sẽ cho nó cái cảm giác xao xuyến, bâng khuâng ấy. Vũ nóng ruột gặp bác Hồ, như trẻ con nóng ruột ngóng mẹ về chợ. Nó đưa kèn lên miệng, lướt nhanh câu nhạc mở đầu. Rồi nói :
- Hát nữa đi, chúng mày! Nhi đồng cầu Kiến Xương sẽ là đội nhi đồng danh dự.
Tiếng hát thoát ra. Lên cao. Bay xa. Tiếng hát tha thiết của một đoạn đời chưa biết ngờ vực.

53
Bác Hồ chưa kịp về, để nhi đồng Thái Bình chiêm ngưỡng, và để Vũ được bác nắm tay, vuốt tóc mà nghe lòng dậy nhũng xao xuyến, bâng khuâng, thì quân Tầu đã từ Nam Định tràn sang, tước khí giới của quân Nhật. Thị xã rợp cờ sao trắng chen lẫn cờ sao vàng. Ở phố chính, bọn Tầu treo những lá cờ sao trắng to tướng. Nhiều khẩu hiệu viết bằng chữ nho giăng ngang đường. Bọn nhãi Tầu mặt mũi vênh váo, một tay cầm cờ sao vàng, một tay cầm cờ sao trắng, phất lia lịa. Ngày Tây chưa bị Nhật đuổi, một tay cầm cờ tam tài, một tay cầm cờ sao trắng. Tây bị Nhật đuổi rồi, một tay cầm cờ mặt trời, một tay cầm cờ sao trắng. Và, bây giờ, tay cầm cờ sao vàng, tay cầm cờ sao trắng. Đó là bọn Tầu sinh sống trên đất Việt Nam. Vũ rất ghét bọn nhãi Tầu. Lúc này, nó càng ghét hơn. Vũ không tin quân Tầu đánh bại nổi quân Nhật. Chỉ có bọn nhãi Tầu tin thôi. Mà, bọn nhãi Tầu thì Vũ coi như mỡ tép.
Hôm đón quân Tầu ở ngã tư Vũ Tiên, Vũ phải hô Tưởng Giới Thạch muôn năm, nó ức ghê quá. Tưởng Giới Thạch hạng bét, vì quân Tầu lôi thôi, lếch thếch, từ sĩ quan đến lính. Thằng nào thằng ấy, mặt mũi hốc hác, tóc mọc lởm chởm, thân thể gầy còm, mắt trũng sâu như dân tháng ba đói. Đoàn quân chiến thắng Nhật lùn phục sức mới khiếp chứ! Chỉ sĩ quan là có mũ đội, giầy đi. Còn lính đầu trần, chân bó cói. Thằng mặc quần áo bó sát người, thằng bơi trong bộ quần áo rộng thùng thình.
Quân Tầu vô trật tự, vừa tiến bước vừa khạc nhổ. Có thằng bóc bánh chưng ăn vội vàng. Có thằng ngoạm dưa chuột sột soạt. Lính Tầu bước chậm chạp. Như thể chân chúng đeo đá. Mấy hôm sau, Vũ vàbbạn bè của nó mới hay, lính Tầu bị bệnh phù thũng. Quân Tầu sang Thái Bình, thị xã sặc mùi sâu quảng, đường phố nhầy nhụa đờm rãi. Thế mà dân thị xã phải đón rước đoàn quân ô hợp này, đã chiến thắng Nhật lùn, qua Việt Nam tước khí giới của Nhật lùn!
Không khí cách mạng bỗng hôi mùi Tầu Phù. Bài hát Tiến quân ca, bài hát thiêng liêng của cách mạng tháng tám, bị đổi lời, để mỉa mai quân của tướng Lư Hán. Đoàn quân Tầu ô đi, sao mà ốm thế, bước chân phù lang thang trên đường Việt Nam. Cờ sao trắng phất phới như giẻ váy. Thằng nào sang không ốm cũng phù chân... Dân thị xã nhỏ to trách móc chính phủ, tại sao lại rước Tầu phù sang. Tầu phù đúng là bọn ăn hại. Chính phủ Việt Nam nuôi báo cô chúng. Quân Tầu hưởng đầy đủ tiện nghi, như quân Nhật hồi chưa đầu hàng đồng minh. Sĩ quan Tầu chiếm Câu lạc bộ, và đuổi sĩ quan Nhật ra ngoài. Nhật lùn căng lều vải quanh sân vận động. Ban đêm, họ mới ngủ trong lều. Ban ngày, họ lang thang ngoài phố, chơi với trẻ con.
Nhật không còn một tí khí giới nào. Tự nhiên, họ hiền lành, dễ thương. Dân thị xã bắt đầu tội nghiệp lính Nhật; tội nghiệp những kẻ đã từng treo dốc cổ người Việt Nam, chặt chân tay người Việt Nam, chỉ vì dám ăn cắp một đấu thóc nuôi ngựa Nhật; tội nghiệp những kẻ đã tra tấn người Việt Nam dã man, đã bắt người Việt Nam uống hàng lít nước mắm, hàng chậu nước xà phòng, vì dám yêu nước Việt Nam; tội nghiệp những kẻ đã bị kết tội làm ngót hai triệu dân Việt Nam chết đói...
Vũ hết muốn dắt tay đồng tâm trừ giống giặc lùn rồi. Nó thích tham dự các cuộc biểu tình, mít tinh đả đảo Tầu phù, nhưng không hề có các cuộc biểu tình căm thù Lư Hán. Tầu phù sang Thái Bình đông gấp hai mươi lần Nhật lùn. Chúng đóng quân tại trường Monguillot, cùng với khí giới tịch thu của Nhật.
Tầu phù hèn nhát. Những hôm mới sang đây, chúng không dám bước ra ngoài doanh trai. Ở cổng trường Monguillot, một bên năm thằng lính Tầu bồng súng trường, lưng mỗi thằng đeo thêm hai khẩu pạc hoọc, co ro, sợ hãi; một bên trần xì chú Nhật lùn, tay cầm khúc gỗ ngắn, đi đi, lại lại, cười nói với nhô con. Vũ đã thấy ba thằng sĩ quan Tầu, đeo kiếm tước của Nhật, nghênh ngang giữa đường. Lính Nhật gặp, hét lớn, đứng nghiêm, giơ tay chào. Ba thằng sĩ quan Tầu phù hoảng quá, bỏ chạy. Chạy một lát, chúng hoàn hồn quay lại. Lính Nhật vẫn đứng nghiêm. Ba thằng Tầu phù bèn giận dữ, tiến tới. Một thằng vung tay tát tên lính Nhật. Một thằng đá đít. Thằng thứ ba tỉu nà ma ầm ỹ. Rồi, cút nhanh. Tên Nhật lùn đưa bàn tay sờ má, mỉm cười. Vũ khoái tên Nhật lùn, khinh bỉ Tầu phù cậy đông bắt nạt. Những cảnh Nhật lùn trêu Tầu phù, để Tầu phù thị uy, không diễn ra lâu. Nhật lùn rút khỏi Thái Bình. Chẳng biết đi đâu. Thị xã chỉ còn Tầu phù lổn ngổn. Tầu phù la cà khắp nơi, ăn quỵt, cướp giật. Chúng lần mò xuống cả Vũ Tiên chọc ghẹo cô đầu. Dường như, Tầu phù không thích trở về nước.
Tước khí giới Nhật xong xuôi, và lính Nhật cũng đã cuốn gói, tại sao Tầu phù chưa cút? Dân thị xã bàn tán, tối ngày. Mọi người coi Tầu phù là một tai họa. Người ta mải đề phòng Tầu phù, quên cả chuyện Nam bộ kháng chiến, quên cả chuyện đón rước Hồ chủ tịch. Từ hôm Tầu phù xuất hiện, thị xã mất hẳn sự sôi động. Thác lũ cách mạng ngừng cuốn chảy. Mầu xám đã phết kín tỉnh lỵ. Nỗi buồn dâng lên, cùng với niềm lo ngại. Không có một cuộc mít tinh tuần hành nào. Tất cả đều héo hắt. Thị xã im tiếng hát, ngoài câu hát nhạo báng: Đoàn quân Tầu ô đi, sao mà ốm thế, bước chân phù lang thang trên đường Việt Nam. Cờ sao trắng phất phớ như giẻ váy. Thằng nào sang không ốm cũng phù chân... Ở những xóm đèn đỏ Vũ tiên, bọn cô đầu ngồi đầy cửa, chờ Tầu phù đi qua, đùa giỡn:
Ngộ là ngộ ở bên Tầu
Ngộ là ngộ mới sang
Ngộ sang Nam Việt với đôi chân phù.

Hoặc huýt sáo bản Tango chinois, nghe Tầu phù ê a tiếng Tầu mà cười, mà chửi. Thị xã gần giống như một thị xã chết. Ngày hé cửa bán hàng, đên đóng cửa kím nít. Tầu phù mua hàng, toàn trả bằng tiền quan hỏa và súng đạn tước của Nhật. Đây là đạo quân ô hợp, vô kỷ kuật, chuyên môn cướp giật, ăn quỵt. Bộ chỉ huy không hề biết quân số của mình bao nhiêu. Cho nên, Tầu phù lớ ngớ vào Kỳ Bá, bị giết chết, không ai điều tra. Thằng nào chết kệ xác nó. Người ta giết Tầu phù để cướp súng pạc hoọc. Thời cách mạng, có khẩu pạc hoọc đeo là oai nhất. Mà, Tầu phù thiếu gì súng.
Vũ ghét Tầu phù vừa vừa thôi. Nó và bạn bè nó chúa ghét bọn nhãi con Tầu lăng xăng, ra vào trại lính Tầu, dẫn Tầu phù đi chơi, làm thông ngôn cho Tầu phù. Vũ và Côn nhiều lần đem nhi đồng cầu Kiến Xương qua phố khách, hát vang câu Đoàn quân Tầu ô đi, sao mà ốm thế... Hễ nhãi con Tầu lơ mơ gây sự, bọn thằng Vũ sẽ khiện ngay. Chúng nó đã thề rằng, khi Tầu phù cút, tụi thằng Coóng, thằng Sùi sẽ nhừ đòn. Vũ và các bạn tìm cách trả thù Tầu phù ăn quỵt. Chúng nó thường nấp một chỗ, đợi Tầu phù ngang qua, tia súng cao su đạn sỏi. Luyến bắn trứ danh. Tầu phù ăn đạn sỏi, kêu la inh ỏi, co giò chạy.
Một hôm, Vũ thơ thẩn ở Kỳ Bá chơi. Nó gặp hai thằng sĩ quan Tầu phù đứng trên cống Kỳ Bá, bụng mỗi thằng giắt hai khẩu pạc hoọc. Tầu phù làm quen với Vũ. Anh phụ trách nhi đồng từ vườn dâu đi ra. Anh vỗ vai Vũ thân mật, hỏi Vũ muốn trở thành Kim Đồng không. Vũ vẫn mơ làm Kim Đồng, quê hương Việt Bắc xa mù, tên tuổi lừng lẫy chiến khu. Nó gật đầu. Anh phụ trách nhi đồng thị xã kéo Vũ ra một chỗ. Anh bảo, anh sắp vô Nam Bộ diệt thực dân Pháp. Anh sẽ chiến đấu cùng đồng bào Nam Bộ. Anh lại hỏi Vũ có yêu Nam Bộ không. Vũ gật đầu. Anh nói, anh cần súng đạn, bắn vỡ óc quân xâm lăng. Anh nhờ Vũ dắt hai thằng sĩ quan Tầu phù vào vườn dâu, để anh cướp súng. Anh nghiến răng ken két: Tầu là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc ta. Anh nắm chặt tay Vũ: Em phải yêu nước Việt Nam. em sẽ là Kim Đông! Vũ sướng quá, nó nhận lời.
Anh phụ trách trở vào vườn dâu xanh um, kín mít. Vũ bước tới cống, nói chuyện bằng tay với Tầu phù. Nó quay lưng, chỉ vườn dâu, rủ hai thằng Tầu phù vào chơi. Hai thằng Tầu phù thích Vũ, bằng lòng liền. Đến giữa vườn dâu, hai thằng Tầu phù bị vây kín bởi một tốp người Việt Nam có súng. Chúng run sợ, quýnh cả lên, không dám rút pạc hoọc chống trả. Hai thằng vội quỳ xuống, lạy như tế sao. Người ta đập báng súng ngay ót chúng. Hai thằng ngã gục. Anh phụ trách nhi đồng lật ngửa từng thằng, vung dao găm. Vũ nhắm mắt, đưa tay che mặt. Nó không nghe thấy gì. Khi Vũ mở mắt, nó nhìn rõ hai vòi máu phun cao. Nó thét một tiếng hãi hùng, rồi ù té chạy ra khỏi vườn dâu.
Vũ chạy thẳng về nhà. Nó leo lên giường, đắp chăn kím mít. Vũ rên hừ hừ. Nó bị sốt. Vũ mê sảng. Lúc Vũ tỉnh, nó cầm tay cha nó, khóc sướt mướt. Vũ nằm trên giường bệnh. Nó quên Tây, quên Nhật, quên Tầu, quên anh Kim Đồng, quên luôn cả bác Hồ mắt hai đồng tử. Vũ chỉ còn nhớ con Thúy, bọn thằng Côn.

54
Bàn tay nào đặt lên trán Vũ, không giống bàn thay của cha nó, của dì nó, của thằng Khoa đã đặt lên trán nó, từ hai tuần lễ nay. Vũ ốm trận này lâu nhất. Thuốc của cụ Mai Viên hết công hiệu rồi. Thuốc của bác lang Tặng nó, vất đi. Dì thằng Vũ đi lễ đền Mẫu, đền Trần, đền Bồ, tốn khối tiền, bệnh của Vũ chẳng thuyên giảm. Ông đốc Anh tiêm năm, sáu ống thuốc, cơn sốt của Vũ cứ ì ra. Dì nó quýnh lên, xuống An Tập mời ông thầy cúng. Ông thầy cúng quả quyết Vũ bị thánh phạt, vì tội đái vào gốc cây có nhiều bình vôi. Ông bảo phải lập đàn tạ lỗi thánh thần. Dì thằng Vũ tin ngay. Con nhà Vũ đã từng xô ngã bà cả Hồng, cướp oản chuối ở đền Mẫu, đã từng bơi qua sông Trà, rình ăn cắp cả con gà cúng ở ngôi miễu chênh vênh trên bờ đê, đem về cho thằng Vọng, thì nó cũng dám đái vào đầu lũ âm binh của thánh thần. Cha thằng Vũ không cấm dì nó lập đàn cúng kiếng, vẫn nhờ ông đốc Anh săn sóc bệnh tình của nó. Vũ bớt mê sảng. Rồi, tỉnh dần. Dì nó khen ông thầy cúng An Tập giỏi. Cha nó im lặng.
Bọn thằng Côn, mỗi ngày, tới thăm bạn một lần. Khi Côn, Lộc, Luyến hay Long kể chuyện Tầu phù, Vũ thét lớn, ôm mặt khóc hu hu. Dì thằng Vũ không để bọn thằng Côn lại thăm nó nữa. Hôm nay, Vũ đã ngồi dậy ăn cháo. Nó đòi ăn cơm, đòi ăn đủ thứ. Dì nó dụ nó ngủ một giấc thật dài, đến tối sẽ được ăn cơm với giò rim. Vũ ngoan ngoãn vâng lời dì. Lúc nó tỉnh ngủ, Vũ thấy bàn tay đặt lên trán nó.
Vũ cảm giác lạ lùng. Nó không muốn mở mắt. Bàn tay, cơ hồ bàn tay tiên. Vừa ấm, vừa mát. Vũ bỗng hết thèm ăn cơm, ăn phở. Nó đưa tay đặt lên bàn tay đang đặt lên trán nó.
- Vũ...
Tiếng nói như tiếng reo vui của loài chim khuyên mới gặp tia nắng xuân đầu, sau những ngày mùa đông u ám.
- Vũ ơi, Vũ sống rồi... Thúy mừng lắm, Vũ ạ!
Vũ đã biết bàn tay nào đang ở dưới bàn tay của nó. Tự nhiên, Vũ khỏe hẳn. Và, khỏe hẳn, Vũ muốn trêu Thúy. Nó giả vờ rên hừ hừ.
- Tôi chết, tôi sắp chết đây...
Thúy cuống quýt :
- Vũ đừng chết, Vũ nhé! Thúy mang ô mai cho Vũ, đây này.
Vũ rên to hơn :
- Tôi ghét ô mai chua, tôi thích ô mai cam thảo cơ. Tôi đau ngực quá. Tôi sắp chết...
Thúy nhắc vội tay ở trán Vũ ra, đặt lên ngực Vũ :
- Ô mai cam thảo mà...
Vũ hỏi khẽ :
- Có ai ở trong phòng của tôi không?
Thúy đáp :
- Có mỗi mình Thúy thôi.
Vũ cười thầm. Nó nghĩ cần trêu thêm con Thúy một tí.
- Thúy nào đó?
Con Thúy hơi hơi sợ. Nó tưởng Vũ chết thật, Vũ đã hóa thành ma.
- Thúy chứ còn Thúy nào!
- Thúy của ai?
- Thúy của Vũ.
- Nói thật hay nói dối?
- Thật.
Vũ mở mắt. Rồi, đôi mắt trợn trừng :
- Cho một quả ô mai.
Thúy nhón quả ô mai, trong gói ô mai to tướng. Vũ há miệng. Thúy bỏ quả ô mai vào miệng Vũ. Con nhà Vũ gậm hết cùi, cắn hột kêu cái đốp. Nó thổi cái hột vỡ đôi, cái nhân lên đình màn. Vũ cũng tưởng nó đã chết thật. Và, quả ô mai của Thúy là viên thuốc cải tử hoàn sinh, như truyện thần tiên.
- Vũ ăn nữa không?
- Nữa.
Thúy lại nhón thêm một quả ô mai, và Vũ lại há miệng.
- Vũ nhận ra Thúy chưa?
Con Thúy là chúa khôn, nhưng nó không thể khôn hơn thằng Vũ. Vũ đã nhắm mắt, khe khẽ nói :
- Thúy nào?
Thúy nhỏ nhẹ :
- Thúy của Vũ ấy mà...
- Thật không?
- Thật.
- Đưa tay xem nào.
Vũ đã đưa bàn tay mình, để chờ đợi bàn tay của Thúy. Hai bàn tay gặp nhau. Vũ lặng người. Cảm giác như nuốt vội một viên kẹo quá ngọt. Niềm xao xuyến không biết lấy gì so sánh. Vũ tin chắc, bàn tay của bác Hồ chẳng tài nào êm ái bằng bàn tay của Thúy, dù mắt bác Hồ có những hai đồng tử. Vũ muốn quên bác Hồ. Lúc này, nó đang quên. Vũ chỉ muốn nhớ một mình Thúy. Bởi vì, chỉ một mình Thúy làm Vũ xao xuyến, bâng khuâng.
- Tay Thúy mềm quá, ấm quá, Thúy ơi!
Con Thúy sung sướng :
- Vũ nhận ra Thúy rồi hở, Vũ?
- Ừ.
- Sao Vũ ốm lâu thế?
- Vì Thúy không chịu đến sớm cho Vũ ăn ô mai.
Vũ đã nói thật. Giá Thúy đến thăm Vũ sớm, cho Vũ ăn ô mai, ô mai của Thúy là thuốc tiên. Vũ sẽ quên hình ảnh ghê rợn, ở vườn dâu, làng Kỳ Bá.
- Thúy có đến sớm, mà Vũ sốt mê man. Thúy mang ô mai cho Vũ, phải mang về.
Vũ vờ trách móc :
- Tại Thúy không lén cho Vũ ăn ô mai đấy.
Thúy nói :
- Dì Vũ cấm. Sốt ăn ô mai sẽ chết.
Vũ đã nâng niu bàn tay Thúy, bằng cả hai bàn tay mình.
- Thúy ơi!
Thúy chớp mắt. Con bé gỡ nhẹ tay mình khỏi tay Vũ.
- Ăn ô mai nữa, nhé?
- Không.
- Thế Vũ muốn ăn cái gì?
- Không muốn ăn gì cả. Vũ muốn cầm tay Thúy mãi.
- Cầm tay Thúy để làm gì?
- Chả hiểu.
Vũ mở mắt :
- Thúy bằng lòng cho Vũ cầm tay Thúy không?
Thúy nhìn Vũ đăm đăm, gật đầu :
- Một lát thôi nhé, Vũ nhé!
Bàn tay Vũ đan kín bàn tay Thúy. Ngoài kia, là Tầu phù, là súng đạn, là hò hét, là Hồ Chí Minh mỗi con mắt có hai đồng tử, Vũ không thèm biết. Trong này, là gió đàn rì rào thổi qua giàn hoa lý. Trận gió kỳ lạ đánh thức một nỗi niềm, từ trái tim Vũ.
- Vũ ơi!
- Thúy về à?
- Không.
- Gọi Vũ kể chuyện à?
- Thị xã vui lắm, Vũ ạ! Bố Thúy bảo Tầu phù sắp về nước.
Vũ vụt ngồi dậy. Tay vẫn nắm tay Thúy.
- Sắp có Tuần lễ vàng. Bạn của Vũ mong Vũ hết ốm. Thúy thích nhìn Vũ dẫn nhi đồng cầu Kiến Xương đi biểu tình.
Vũ mỉm cười :
- Mai, Vũ sẽ dẫn nhi đồng qua cửa nhà Thúy. Vũ đã khỏi bệnh.
Thúy nhắc Vũ :
- Hết một lát rồi đó.
Vũ đành để bàn tay của nó rời khỏi bàn tay con Thúy. Nó thấy tiêng tiếc.
- Thúy phải đứng ở cửa chờ Vũ, cơ?
- Thúy chờ Vũ mỏi cả chân.
Con Thúy đứng lên :
- Cho Thúy về, nhé?
Vũ hỏi :
- Mai, Thúy có tới thăm Vũ không?
Thúy lắc đầu :
- Không thèm đâu. Thúy còn bận chờ Vũ.
Và, Thúy về. Căn phòng ngập mùi hương. Vũ nằm xuống, nhắm mắt, tưởng tượng bước chân chuyền nhảy của con chim khuyên. Vũ không sốt nữa. Nó sẽ chỉ còn mê. Cơn mê này sẽ làm Vũ bồi hồi rung động.

55
Đeo hoa chỉ tổ nặng tai
Đeo kiềng nặng cổ hỡi ai có vàng
Làm thân một nước vẻ vang
Đem vàng giúp nước giầu sang nào tầy
Đổi vàng lấy súng cối xay
Bắn tan giặc Pháp dựng ngày vinh quang

Xe thông tin chạy khắp phố thị xã, lải nhải bài thơ trên. Rồi, nhi đồng tuần hành ca hát, hô khẩu hiệu ủng hộ tuần lễ vàng. Cái thị xã bé nhỏ, tưởng đã buồn thiu chờ ngày Tầu phù cuốn gói, mới nối tiếp sinh hoạt cách mạng, lại sôi động. Sôi động vào ngày thằng Vũ khỏi bệnh. Tuần lễ vàng mở màn. Tiếng súng Nam Bộ vang vọng đâu đây. Chúng ta thiếu súng đạn. Nếu có súng đạn, chúng ta sẽ đánh tan bọn thực dân xâm lăng, đuổi chúng khỏi đất nước Việt Nam yêu dấu. Muốn có súng đạn kháng chiến chống giặc Pháp, chúng ta phải mua. Mua bằng vàng. Chính phủ không đủ vàng mua súng đại bác, súng cối xay [2]... Dân ủng hộ vàng, chính phủ mới mua súng đạn, diệt giặc Pháp được. Diệt giặc Pháp, để thoát ách nô lệ lầm than ngót một trăm năm.
Đó là ý nghĩa của tuần lễ vàng. Ủng hộ vàng là yêu nước, là đóng góp vào công cuộc giành độc lập, bảo vệ tự do, hạnh phúc. Ai cũng yêu nước, cũng tưởng mình đang xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cụ Hồ không bao giờ nói dối. Không ai nỡ ngờ vực cụ Hồ. Dân thị xã nôn nao, đợi đến ngày đem vàng giúp nước. Vũ thấy anh phụ trách thiếu nhi thành thật. Nó chẳng còn ghê rợn, khi hồi tưởng hình ảnh hai tên sĩ quan Tầu phù bị đâm chết ở vườn dâu làng Kỳ Bá nữa. Tầu phù đáng chết. Chúng ta cần cướp súng của Tầu phù tiêu diệt Tây mũi lõ.
Vũ lại xuống phố cùng với bọn nhi đồng Kiến Xương. Nó hăng hái, vui vẻ, vì biết con Thúy đứng cửa ngóng nó, mỗi ngày.
Chỉ một mình Côn buồn thôi. Côn yêu Vũ. Côn yêu cả Thúy. Côn hiểu Thúy chỉ thích gần Côn những ngày Vũ lên Hà Nội. Vũ trở về, Thúy xa dần Côn. Tự nhiên, Côn không muốn gặp Thúy, bất cứ nơi nào. Gặp Thúy, Côn cảm giác ngượng ngùng, tủi thân. Côn cũng không muốn chơi thân với Ngọc, dù con Ngọc ngoan ngoãn, xinh xắn, chả hề giận Côn, những bận Côn gắt gỏng, cau có với Ngọc. Con Ngọc vô duyên quá. Côn vẫn nghĩ thế. Nó bắt đầu ghét con gái rồi. Hôm qua, Côn tới nhà Vũ. Vũ trách :
- Mày không chịu thăm tao.
Côn phân trần :
- Chúng tao đến thăm mày, kể chuyện Tầu phù, mày giẫy giụa, khóc toáng. Dì mày bảo đừng thăm mày, sợ mày ốm nặng thêm. Mày bị ma ám.
Vũ cười :
- Thằng thầy cúng nói tao bị thánh vật. Ông moa phú thánh, ông sẽ nhổ râu lão hộ pháp đền Mẫu trả thù.
Côn hỏi :
- Bữa nọ, con Thúy đem cho mày cái gì?
Vũ đáp :
- Ô mai. Sao mày biết?
- Tao thấy nó gõ cửa nhà mày. Tao không thèm vào nhà mày.
- Mày ghét nó à?
- Không.
- Tại sao mày không theo nó, vào chơi cho vui.
Côn nổi cáu :
- Nó là cái thớ gì tao phải theo nó. Con gái đét là cái thớ gì cả!
Vũ nín thinh. Đã có lần nó nói như Côn. Con Thúy là cái thớ gì! Bây giờ, Vũ không thể nói thế. Con gái nhiều thớ lắm. Con Thúy càng nhiều thớ hơn. Bàn tay Thúy chứa đựng cả mùa xuân ấm áp. Được nắm bàn tay Thúy, là được nắm mùa xuân hồng mộng ước. Và, được xao xuyến, bâng khuâng...
Với Côn, Con Thúy đang là mùa đông mưa dầm gió bấc. Côn đã lỉnh về, khi Vũ dẫn đội nhi đồng cầu Kiến Xương rẽ vào con phố nhà Thúy. Đến cửa nhà Thúy, Vũ diễn trò ủng hộ vàng, đã diễn ở các phố khác. Nó cho anh em đứng lại. Vũ hỏi một câu, cả bọn trả lời một câu.
- Đeo hoa làm sao?
- Chỉ tổ nặng tai.
- Đeo kiềng làm sao?
- Nặng cổ.
- Có vàng làm gì?
- Đem giúp nước.
- Vàng dùng làm gì?
- Mua súng đại bác bắn tan giặc Pháp, giành độc lập.
Vũ đã nhìn thấy Thúy thấp thoáng ở cửa sổ, sau bức màn vải mỏng, nơi ấy, một đêm lụt lội, Vũ đã chèo bè tới, luồn tay qua song cửa, cầm tay Thúy, để biết tay mình lạnh.
- Thưa đồng bào...
Vũ hướnv về phía Thúy :
- Tôi đã dẫn nhi đồng cầu Kiến Xương tới đây.
Đồng bào Thúy mỉm cười. Vũ hất tung mái tóc, hô khẩu hiệu mới :
- Ủng hộ vàng là.,..
Nhi đồng giơ cao tay :
- Yêu nước!
Vũ rút kèn ác mo ni ca thổi bài Chiều quê cũ kỹ. Vua súng cao su Luyến quai miệng bai bải :
- Ê, Vũ, thổi bài Tiến quân ca cho chúng tao hát, hát chửi Tầu phù, chứ? Chiều quê vất đi!
Luyến không hiểu gì. Nó mãi mãi bé bỏng. Luyến chưa biết vui như Vũ đang vui, buồn như Côn đang buồn. Nó càng không hiểu Vũ biểu diễn ác mô ni ca, bài Chiều quê, cho một mình Thúy nghe, để Thúy lẩm nhẩm hát: Bao người ra ngồi hay đứng bên thềm, đợi chồng con mắt trông về phía trời xa...
Luyến giục :
- Qua phố khác!
Vũ vẫy tay. Cũng chỉ một mình Thúy hiểu Vũ chào tạm biệt Thúy.
- Mai, sẽ tới nữa.
Đội nhi đồng cầu Kiến Xương đời con phố nhà Thúy. Tuần lễ vàng nhộn nhịp, nhờ đám nhi đồng vô tư. Vũ đã qua trường Monguillot, qua Câu lạc bộ thị xã, hát câu Đoàn quân Tầu ô đi, sao mà ốm thế. bước chân phù lang thang trên đường Việt Nam... Bọn Tầu phù ngu dốt, vẫy tay, cười toe toét. Ròng rã, nhiều ngày đêm, mọi người nhắc nhở tuần lễ vàng, mong đợi được đem vàng giúp nước. Dễ chừng mười hai phủ, huyện trong tỉnh, bao nhiêu nơi toàn quốc cũng đang náo nức, như dân thị xã Thái Bình.
Và, ngày mong đợi đã đến. Cảm động vô cùng. Lần đầu tiên, từ hôm tổng khởi nghĩa, Vũ đứng cạnh Thúy giữa đám đông, xem những người có vàng chen nhau ủng hộ. Hoa tai, kiềng, nhẫn cởi ra hết, ném vào cái hộp to tướng, đặt trên bàn thờ tổ quốc khói hương nghi ngút. Một vài bà cụ đeo hoa, hay đeo nụ, đòi bước gần bàn thờ tổ quốc. Các cụ tự tay tháo hoa, tháo nụ vàng, bỏ vô hộp quyên vàng. Tiếng vỗ tay hoan hô các cụ vang động một vùng trời. Đáng nhớ nhất là ông Mai Viên, lang thuốc. Ông Mai Viên có hàm răng giả bọc vàng thật. Ông kể tội thực dân Pháp, rồi móc hàm răng vàng trịnh trọng ủng hộ chính phủ. Người ta công kênh ông già lên. Khối người đã rớt nước mắt, chạy về lấy nốt số vàng để dành làm của hồi môn cho con gái, đem ra ủng hộ. Có đôi vợ chồng mới cưới, cô dâu xin xung phong ủng hộ hết nữ trang.
Chính phủ quyên được cơ man là vàng. Vàng ấy sẽ biến thành súng thần công bắn chìm tầu giặc, sẽ biến thàn súng cối xay hạ rơi máy bay giặc, sẽ biến thành đạn làm cỏ quân xâm lăng. Tất cả đều nghĩ thế. Vua Bảo Đại cỏn từ bỏ ngai vàng, tâm sự Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ, nữa là. Vàng đổi lấy đời sống độc lập, tự do, hạnh phúc. Độc lập quý hơn vàng. Đem vàng ủng hộ chính phủ là yêu nước. Toàn dân đã yêu nước. Tuần lễ vàng thành công rực rỡ. Sau tuần lễ vàng, Tầu phù rút khỏi thị xã. Dân thị xã tiếp đón Tầu phù sang nồng nhiệt thế nào, đưa tiễn Tầu phù cuốn gói như vậy. Người ta tống tiễn Tầu phù, cơ hồ tiết hạ tống tiễn ôn hoàng dịch lệ. Sự nồng nhiệt chỉ có ở bề ngoài. Bọn nhãi con Tầu phố khách buồn ngẩn tò te. Những lá cờ sao trắng cầm tay không muốn phất. Chúng nó biết rằng, chúng nó sắp bị ngược đãi khốn khổ.
Tầu phù rút đi, dân thị xã thở phào khoan khoái. Sinh hoạt trở lại bình thường. Không ai hỏi ai xem vàng mình ủng hộ chính phủ, vàng mình giúp nước đã đổi được bao nhiêu khẩu súng cối xay. Và, cũng không ai hiểu, vàng mình giúp nước để đuổi Tầu, chứ không phải để đánh Tây. Những người hiểu chuyện Tuần lễ vàng đều im lặng. Ngậm ngùi.

56
Cụ Hồ đã về Thái Bình. Ngay cả bờ tường, gốc cây cũng cựa mình đón chào cụ. Khẩu hiệu Hồ chủ tịch muôn năm viết khắp nơi, dán khắp chỗ. Đường phố ngập biểu ngữ, bích chương. Vùng trời nhỏ bé của tỉnh lỵ rực chói ánh sao vàng. Cái cổng chào vĩ đại dựng lên ở ngã tư Vũ Tiên là công trình của hàng trăm người, làm việc ròng rã một tuần lễ. Trên cao chót vót, bức chân dung cụ Hồ vẽ truyền thần. Đôi mắt bốn đồng tử nổi bật, với bộ râu hơi hơi dài. Dưới bức ảnh, hàng chữ dỏ tươi: Toàn dân Thái Bình nhớ ơn Hồ chủ tịch. Các đại biểu của các đoàn thể mười hai phủ, huyện đã tấp nập lên thị xã từ hai hôm trước. Mỗi nơi đều đem theo một thổ sản tượng trưng tặng Hồ chủ tịch. Sân vận động đầy người. Không khí nhộn nhịp suốt ngày đêm. Một toán thanh niên tình nguyện chạy bộ, hộ tống xe Hồ chủ tịch. Nhiều thanh niên khác đi xe đạp. Họ kéo tới tận bến đò Tân Đệ đón rước cụ Hồ.
Hồ chủ tịch từ Hà Nội về Nam Định, rồi từ Nam Định sang Thái Bình. Cụ sang vào buổi trưa. Chắc buồi sáng, cụ thăm dân Nam Định. Nước sông Hồng, hôm ấy, dâng cao cùng với làn sóng tung hô Hồ chủ tịch vạn tuế. Nước sông Hồng dâng, hay niềm vui dâng lên trong lòng mỗi người? Một dẫy dài xe Con Voi, của ông Lê văn Định, chở chật ních người đi đón cụ Hồ, dẫn đầu. Người ta đứng, ngồi trên mui xe. Nguời ta bám một tay vào cửa xe, còn một tay để giơ cao hô khẩu hiệu. Chẳng ai sợ ngã. Chẳng ai sợ chết. Xe Hồ chủ tịch đi giữa. Theo sau, toán thanh niêm mặc áo may ô trắng, quần đùi xanh lơ, chạy sát. Và, cuối cùng, đoàn xe đạp đủ kiểu. Những người tuổi trẻ của nước Việt Nam độc lập chạy nhanh, như ngựa phi nước đại. Chạy ngót mười cây số mà không mệt. Càng chạy, càng khỏe. Xe của Hồ chủ tịch chạy tốc độ vừa, trên đoạn đường số 10 đầy ổ gà. Khó mà chạy nhanh. Bởi vì, dân quê được thông báo, kéo nhau ra hai bên đường, hoan hô Hồ chủ tịch, xem tận mặt Hồ chủ tịch. Có người nhập đoàn đón rước chạy theo. Họ bỏ cuộc, sau một chặng đường.
Hồ chủ tịch đến ngã tư Vũ Tiên. Như trời đang yên, bỗng nổi dông bão, sấm sét, tiếng tung hô Hồ chủ tịch muôn năm, Hồ Chí minh vạn tuế vang dậy. Nếu trời thấp bằng ngọn cây cao, trời sẽ vỡ tan. Cụ Hồ bảo tài xế ngừng xe lại. Cụ tự mở cửa bước ra, trèo lên cái xe dzíp buông mui. Xe dzíp, hẳn là xe dzíp của quân Nhật, bị quân Tầu tước biếu cụ Hồ. Trận mưa hoa thật và hoa giấy kín ngập chiếc xe. Hoa ném bốp bốp vào người cụ Hồ. Cụ cười. Giơ tay vẫy chào. Cụ đỡ hoa, đưa lên mũi ngửi. Chiếc xe chạy, từ từ, một vòng thị xã. Hoa mưa khôg ngớt. Đường phố cụ Hồ qua biến thanh đường hoa. Người ta bỏ vỉa hè, chạy theo xe cụ.
Bọn thằng Vũ để đội nhi đồng cầu Kiến Xương xếp hàng trong sân vận động, gần khán đài, lẻn ra, đợi xe bác Hồ ngang qua, là đuổi theo. Vũ láu cá cách mấy cũng không thể bám được xe. Nó chạy hết một vòng thị xã. Nó cũng chưa nhìn rõ bác Hồ, xem bác có giống hệt ảnh của bác. Nó mệt phờ râu ông cụ, cố lách trở về với đội nhi đồng cầu Kiến Xương, đội nhi đồng danh dự của thị xã, khi xe bác Hồ rẽ vô sân vận động.
- Hồ chủ tịch muôn năm!
- Muôn năm...
- Hồ chủ tịch vạn tuế!
- Vạn tuế...
Tiếng hoan hô, suy tụng Hồ chủ tịch, ở đây, muốn nứt đất, như nước lũ cuốn phăng, vỡ hết đê điều.
- Hồ chủ tịch bất diệt!
- Bất diệt...
Bỗng, cơn cuồng loạn của suy tôn im bặt. Cụ Hồ bước lên khán đài. Anh trưởng ban nghi lễ nói :
- Kính mời Hồ chủ tịch và đồng bào sửa soạn làm lễ chào cờ. Chú ý: Nghiêm! Chào cờ... chào!
Anh bắt nhịp :
- Đoàn quân Việt Nam đi... Một, hai, ba...
Hàng vạn người hát theo. Cụ Hồ đứng nghiêm, ngước nhìn lá cờ cao dần tới ngọn cột. Bài hát chào cờ dứt.
- Suy tôn Hồ chủ tịch! Đuốc gươm thiêng vung cho nước nhà... Hai, ba...
Cụ Hồ vẫn đứng nghe đồng bào tán tụng công đức cách mạng của mình. Cụ chả xấu hổ hay ngượng ngùng tí ti ông cụ nào sốt cả.
- Một phút mặc niệm!
Những cái đầu cúi thấp. Bây giờ, không ai hát. Chỉ có đội kèn đồng bú rích của lính khố xanh cũ chơi bài: Hồn thiêng như khăn sô trắng trùm rừng âm u mặc niệm hồn chinh phu. Bài này, mở đầu bằng câu: Đêm khuya âm u ai khóc than trong gió đàn, mà con nhà Luyến ưa hát láo thành: Đêm khuya âm u ai đánh đu trên cái giường!
Xong phần chào cờ, suy tôn, mặc niệm, cụ Hồ ngồi xuống ghế danh dự. Một đại biểu Thái Bình lên kể lể nước Việt Nam tám mươi năm nô lệ, gông cùm thực dân Pháp tủi nhục, mấy năm chịu ách phát xít Nhật, dân ta tưởng sắp bị diệt vong. May nhờ có Hồ chủ tịch cứu dân tộc thoát ách lầm than, giành độc lập, chứ không, sẽ chết đói như năm Ất Dậu. Hồ chủ tịch là cứu tinh của dân tộc. Vị đại biểu này ca tụng cụ Hồ xong, kết luận :
- Trước khi ngưng lời, xin đồng bào hãy cùng tôi hô to vài khẩu hiệu.
Rồi, ông giơ tay :
- Việt Nam độc lập muôn năm!
Cả tỉnh hô :
- Muôn năm...
- Hồ chủ tịch muôn năm!
- Muôn năm...
Ông cúi chào cụ Hồ. Lại vỗ tay. Phần thứ ba, là phần dân Thái Bình tặng quà Hồ chủ tịch. Ban tuyển lựa quà chọn củ khoai lang dài, nặng năm cân và quả bí ngô to, đến nỗi một người lực điền bê không nổi, để biếu cụ Hồ, vì Thái Bình, vựa lúa của đồng bằng Bắc Bộ, món quà điển hình phải là quà của nông dân. Cụ Hồ đỡ củ khoai bằng hai tay. Cụ cố sức nâng củ khoai lên. Tiếng vỗ tay cuồn cuộn nổi. Cụ Hồ chớp mắt lia lịa. Và, cụ khóc. Cụ bảo, cụ cảm động lắm. Trong bộ quần áo ka ki Nam Định, chiếc áo may bốn túi, cài khuy cổ, trông cụ Hồ giản dị, gần gũi quá. Cụ đưa củ khoai cho một người, nói chuyện với dân Thái Bình. Cụ cám ơn dân Thái Bình đã giúp vàng đổi súng diệt thực dân. Cụ bảo, cụ tin tưởng dân Thái Bình sẽ đóng góp công lớn cho công cuộc giành độc lập.
Một đại biểu của huyện Tiền Hải lên tri ân Hồ chủ tịch. Các đại biểu Kiến Xương, Thư Trì, Vũ Tiên, Thái Ninh, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Hưng Nhân, Duyên Hà, Tiên Hưng, Đông Quan, Thụy Anh, thay phiên nhau, nói những lời nguyện trung thành với tổ quốc. Cuối cùng, đại biểu thị xã hỏi :
- Kính thưa Hồ chủ tịch, bao giờ kháng chiến thành công, đất nước thanh bình?
Cụ Hồ đáp :
- Bao giờ Pháp về Thái Bình.
- Liệu Pháp có về Thái Bình không?
- Pháp về Thái Bình là có thái bình.
Pháp còn ở mãi Nam Bộ. Và, chúng đang thua bét tĩ. Trước khi giã từ dân Thái Bình trở lên Hà Nội, cụ Hồ dời khán đài, xuống chơi với nhi đồng. Cụ thăm hỏi nhi đồng, đại diện của mười hai phủ, huyện. Bác Hồ đến gần các cháu nhi đồng. Bác đã đến gần đội nhi đồng danh dự. Vũ bỗng đờ đẫn người. Chân nó đứng hết vững. Cái ý định nhìn thẳng vào mắt bác Hồ, xem có thật đôi mắt bác những bốn đồng tử không, đã tiêu tan. Vũ run, như lần không thuộc bài đứng trước thầy giáo. Nó thộn ra, mất hết vẻ tinh nghịch. Bác Hồ xoa đầu thằng Côn, thằng Luyến, thằng Lộc... Bác Hồ xoa đầu Vũ, âu yếm hỏi :
- Các cháu tặng bác cái gì đây?
Vũ chợt tỉnh. Nó móc kèn ác mô ni ca thổi bài: Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng. Đội nhi đồng danh dự của thị xã hát theo:
... Bác đã bao năm bôn ba
nước ngoài vì giống nòi,
Bác nay tuy đã già rồi
Già rồi nhưng vẫn vui tươi
Ngày ngày chúng cháu ước mong
Mong sao bác sống muôn đời
Để dìu dắt nhi đồng thành người và kiến
thiết nước nhà bằng người...

Bác Hồ vỗ tay. Bác lại xoa đầu Vũ, khen Vũ ngoan, giỏi. Bác nắm tay Vũ. Cái nắm tay, Vũ mong đợi để so sánh. Nó không thể so sánh ngay trong những lúc ồn ào thác lũ. Phải chờ bác Hồ lên xe về Hà Nội, Vũ không theo tiễn đưa bác. Nó tách khỏi đám đông. Vũ thẫn thờ bước trên đường phố. Rồi, nó vùng chạy đến nhà con Thúy. Vũ muốn Thúy có nhà. Để, nó nói cho Thúy nghe rằng, nó đã nắm tay bác Hồ, và bàn tay bác Hồ không ấm, không làm nó xao xuyến, bâng khuâng bằng nắm tay Thúy. Bởi vì, bàn tay của Thúy chứa gọn một xuân hồng của Vũ. Vũ chỉ còn ước ao, mãi mãi, được nắm tay Thúy.

57
Khổ cho Vũ là gặp Thúy, Vũ đã không thể nói điều nó muốn nói. Thúy ơi, bàn tay bác Hồ làm sao ấy, thua bàn tay của Thúy một trời. Dễ quá. Câu nói vừa dễ, vừa bắt con Thúy đỏ mặt, nếu nó hiểu, nó đã là mùa xuân của thằng Vũ. Mà nó chưa hiểu, nó cũng sẽ thân với Vũ hơn. Vũ đã ngập ngừng. Chẳng phải Vũ sợ Thúy yêu bác Hồ đâu. Vũ ngập ngừng, chỉ vì nó không dám tin sự so sánh của nó, không dám tin ý nghĩ chân thành của nó. Buổi chiều hôm qua, chạy đến nhà Thúy, con bé đi đâu ấy. Vũ tha thẩn trở về. Người lớn, trẻ con nhìn nó bằng những đôi mắt cảm phục, trìu mến.
- Gắng lên nhé, cụ Hồ khen em giỏi, anh hãnh diện giùm em.
- Vũ, cháu làm rạng rỡ tỉnh nhà.
Người lớn khích lệ Vũ. Trẻ con bu quanh, đứa rướn cao ngửi đầu Vũ, hít hà :
- Thơm mùi... bác Hồ quá!
Đứa đòi bắt tay Vũ :
- Cho tớ xin tí khước. Tớ mong được như đằng ấy, để bác Hồ cầm tay.
Nhi đồng cầu Kiến Xương, thằng nào thằng ấy hoan hỉ ra mặt. Ngay cả Luyến, Lộc cũng sung sướng, và đòi không gội đầu, sợ mất khước, mất cái vinh hạnh bác Hồ xoa đầu. Riêng Vũ, Vũ chả cảm thấy gì. Khốn nỗi, gặp Thúy sáng nay, Vũ đã nín thinh. Nó bị huyễn hoặc bởi đám đông. Nó bé nhỏ, nó đành để ý nghĩ chân thành của nó rơi xuống chỗ nước xoáy hân hoan mạnh nhất.
- Hôm qua, bác Hồ khen Vũ hở, Vũ?
- Ừ.
- Vũ hát bài gì thế?
- Nhanh bước nhanh nhi đồng...
- Bác Hồ khen Vũ, Vũ có thích không?
Vũ khẽ lắc đầu. Con Thúy nheo mắt :
- Bác Hồ khen mà không thích à?
Vũ cụt hứng. Vũ hụt hẫng. Quả thật, Vũ đã nghĩ sai. Vũ mừng thầm, vì chưa so sánh bàn tay của bác Hồ và bàn tay của Thúy, với Thúy. Vũ vội mỉm cười :
- Không thích. Vũ chỉ khoái thôi.
Con Thúy cười giòn giã. Nó nắm cổ tay Vũ :
- Vũ là cháu yêu của bác Hồ rồi.
Vũ lâng lâng. Bàn tay Thúy mầu nhiệm vô cùng. Bàn tay chứa đựng cả mùa xuân ấy, không có bàn tay nào để so sánh. Với Vũ, bây giờ, trên đời, chẳng còn bàn tay nào làm nó rạo rực, xốn xang. Vũ biết một mình. Vũ yêu bác Hồ, vì Thúy. Vũ khoái bác Hồ, vì Thúy. Vũ sẽ làm những gì nữa, cũng vì Thúy. Vì Thúy tất cả. Vì Thúy, Vũ sẽ làm tất cả. Chỉ để Thúy bằng lòng.
- Mai thi vẽ hở, Vũ?
- Ừ.
- Vũ có vẽ thi không?
- Có.
- Giải nhất đấy nhé, Vũ nhé! Thúy ghét giải nhì lắm. Vũ vẽ thật chiến, Thúy mới chịu.
- Nhỡ Vũ chiếm giải bét thì sao?
- Thì hết là cháu yêu bác Hồ.
Vũ muốn nói Vũ không thiết làm cháu yêu bác Hồ. Vũ chán bác Hồ rồi. Bác Hồ chẳng có gì đặc sắc, bởi cầm tay bác, Vũ không thấy xao xuyến, bâng khuâng. Vũ đã ước mơ gặp bác Hồ, và Vũ tưởng tượng nắm tay bác Hồ, là được vẫy vùng trong mùa xuân rực rỡ. Không hề thấy ước mơ đó. Ước mơ đó, mãi mãi, ở gần Thúy, nằm gọn trong bàn tay con bé. Vũ lại mới nhận ra rằng, đôi mắt Thúy không có bốn đồng tử, như đôi mắt bác Hồ, thực ra, Vũ chưa nhìn rõ mắt bác Hồ, song nó có những tia nắng sưởi ấm tâm hồn Vũ, bắt mầm mộng trong trái tim Vũ đâm chồi. Vũ muốn nói Vũ chỉ thiết làm bạn của Thúy, chỉ muốn làm Thúy vui. Thế thôi. Vũ ngập ngừng :
- Vũ... Vũ vẽ cho Thúy.
- Cho Thúy giải nhất à?
- Ừ.
- Không tiếc à?
- Không. Không tiếc gì hết.
Hôm sau, Vũ tham dự cuộc thi Vẽ chân dung bác Hồ theo trí nhớ. Nhi đồng mười hai phủ, huyện còn ở lại thị xã, dù bác Hồ đã lên Hà Nội. Người ta bắt nhi đồng phải, mãi mãi, nhớ hình ảnh của bác Hồ, nhớ bằng hồi tưởng. Người ta muốn hình ảnh bác Hồ in hằn vào óc nhi đồng. Nên, có cuộc thi này.
Sân vận động đông nghẹt nhô con quỳ, ngồi, nằm vẽ chân dung bác Hồ, theo trí nhớ. Hàng ngàn bức tranh bác Hồ được vẽ trong thời gian nửa tiếng. Vũ không thể nhớ nổi bác Hồ nữa. Nó đã quên bác Hồ. Trong trí nhớ của nó, lúc này, là Thúy. Vũ nằm sấp trên lớp cỏ xanh mơ mộng. Giá được vẽ con Thúy? Vũ cắn bút chì mãi. Rồi, nó chợt nghĩ tới lời hứa, tặng con Thúy giải thưỏng hạng nhất. Vũ đành vận dụng trí nhớ, để nhớ bác Hồ.
Vũ vẽ bức tranh thật lạ, vẽ theo bài hát. Bức tranh của Vũ độc đáo, nhờ đôi mắt bác Hồ là hai ông sao, với chòm râu hơi dài. Bác chúng em mắt như sao râu hơi dài mà. Buổi chiều, tuyên bố kết quả, bưc tranh của Vũ chiếm giải nhất. Vũ được giải thưởng một cái hộp kẹo bi, tấm giấy ban khen. Anh phụ trách nhi đồng thị xã kiệu Vũ lên vai. Tiếng vỗ tay hoan hô Vũ, hôm nay, như tiếng vỗ tay hoan hô Hồ chủ tịch, hôm qua. Vũ hãnh diện lắm. Không ai hiểu nổi niềm hãnh diện của Vũ. Vũ chiếm giải vì Thúy, chứ đâu phải vì thương nhớ bác Hồ.
Nhận giải thưởng xong, Vũ đem ngay lại nhà Thúy. Nó hớn hở khoe :
- Chiếm giải nhất rồi.
Thúy khen :
- Giỏi ghê!
Chắc chắn, Thúy chỉ khen môt mình Vũ. Khen Vũ có mặt, khen Vũ vắng mặt. Côn chả nói Thúy khen Vũ phóng phi tiêu giỏi là gì. Thúy không khen ai, ngoài Vũ, Thúy, mãi mãi, gần Vũ, để nhớ Vũ. Bác Hồ khen nhiều người. Ai bác Hồ cũng khen. Bác Hồ đã quên Vũ rồi, quên thật rồi, Vũ thấy mình yêu Thúy hơn yêu bác Hồ là đúng. Vũ đã quên bác Hồ, ít nhất, khi đứng gần Thúy.
Vũ đưa hộp kẹo cho Thúy :
- Của Thúy đấy.
Thúy đỡ hộp kẹo :
- Cho thật, hở?
Vũ gật đầu :
- Thật.
Nó đưa luôn tấm giấy ban khen :
- Cả cái này nữa.
Thúy giơ tay cầm tấm giấy cuộn tròn. Vũ phân vân giây lát, rồi chộp lấy cổ tay Thúy. Cảm giác lần này không giống cảm giác những lần trước. Mỗi lần cầm tay Thúy, mỗi lẫn Vũ cảm giác khác lạ.
- Thúy...
Thúy ngước nhìn Vũ. Đôi mắt long lanh. Thúy không thể biết tại sao đôi mắt nó long lanh, đôi mắt nó đang áng lên một nỗi niềm.
- Vũ...
- Vũ thích Thúy nắm tay Vũ hơn bác Hồ, hơn mọi người nắm tay Vũ.
- Tay thúy mắc bận.
Hộp kẹo trong tay Thúy bỗng rơi xuống. Thúy nắm lấy tay Vũ, tay bên kia của Thúy đang nằm trong tay Vũ, cùng tấm giấy ban khen. Chưa tết, Vũ thấy tháng giêng vây quanh nó. Tháng giêng ngon như mắt Thúy, như má Thúy, như môi Thúy. Tháng giêng thơm như tóc Thúy, như hơi thở của Thúy.
- Thúy...
- Nói đi, Vũ? Vũ muốn nói gì?
- Vũ yêu Thúy.
Thúy cúi nhìn. Nó gỡ tay khỏi tay Vũ, ngồi xuống lượm hộp kẹo lên.
- Kẹo này ngon lắm nhé! Ngậm dè, cả ngày mới hết một viên. Cho Thúy ăn kẹo nào...
Vũ mở hộp kẹo. Nó nhón một viên mầu vàng, bắt Thúy há miệng, đặt nhẹ vào miệng Thúy. Con bé nghịch tinh, cắn ngón tay Vũ. Vũ khẽ kêu ái. Hai đứa cười nói, nhai kẹo. Bên ngoài, trời tối lúc nào. Vũ quên cả cột đèn đầu phố, và những bài hát mới, đang chờ đợi nó.

58
- Vũ ạ!
- Gì?
- Tao nói mày đừng giận tao, nhé!
- Ừ.
- Tao chán mít tinh, biểu tình, hội họp, ca hát rồi. Tao chán nhi đồng, chán bác Hồ, chán hết tất cả rồi. Tao chán thằng Luyến nghịch ngợm, chán thằng Lộc pha trò nhạt phếch, chán thằng Long chuyên phá thối. Tao chán cả mày luôn.
- Mày chán cả tao?
- Mày là cái thớ gì mà tao không dám chán mày? Tao chán mày, biết chưa, Vũ?
- Tao làm gì mà mày chán tao?
- Không biết.
- Sao dạo nọ, mày bảo mày chỉ thích tao?
- Dạo nọ khác.
- Khác cái gì?
- Không biết. Mày đừng nhắc chuyện dạo nọ. Bắt đầu từ bây giờ, ông bỏ đội nhi đồng của mày. Nhi đồng của mày như củ thìu biu. Ông đét cần vào nhi đồng.
- Mày buồn cười bỏ xừ đi ấy, Côn ạ!
Như. một ngày cách đây không lâu, mà tưởng chừng đã lâu lắm, hai đứa trẻ đứng trên cầu Bo, nhìn nước lũ cuồn cuộn trôi ra biển, Côn nói với Vũ rằng, con Thúy vẫn phục Vũ, Côn không thích chơi với Thúy nữa, Vũ mỉm cười, vỗ vai Côn: Mày buồn cười bỏ xừ đi ấy, bây giờ mày thích cái gì?, Côn nhìn về phía trời xa, thương thằng Vọng, nhớ thầy Đàn, nó quàng tay bá cổ Vũ: Tao thích thầy mình về Thái, Vũ cũng lại mỉm cười, vỗ vai Côn :
- Bây giờ, mày thích cái gì?
Côn ngước mắt nhìn trời qua kẽ hở của giàn thiên lý. Luôn luôn, hai đứa trẻ đứng dưới giàn thiên lý, mỗi lần Côn đến nhà Vũ. Nó lắc đầu :
- Tao không thích gì sốt cả.
- Mày không thích cả thầy mình về Thái à?
Hai thằng bạn ngẩn ngơ, ngó nhau giây lát. Dễ chừng, từ ngày tổng khởi nghĩa, mê mải trong cuộc chơi lớn, hai thằng học trò thương thầy Đàn nhất đã quên mất thầy. Nhật đảo chính, thầy Đàn không trở về thị xã. Côn đành tưởng tượng thầy Đàn đang ở phía trời xa, sẽ trở về với niềm vui cuồn cuộn, như nước lũ ngầu đỏ phù sa của dòng sông Trà Lý. Tổng khởi nghĩa, thầy Đàn vẫn chưa về. Thầy đi đâu mà xa thế, lâu thế? Thầy làm cách mạng. Sao thầy chẳng về cùng cách mạng?
Câu hỏi, bất ngờ, của Vũ làm Côn buồn hiu. Nó quên ngay chuyện chán thằng Vũ. Cả Vũ nữa, Vũ thấy tâm hồn nao nao. Vũ chợt hiểu, ngoài Thúy, còn một người làm nó xao xuyến, bâng khuâng. Người đó là thầy Đàn. Vũ ước mơ được nắm tay thầy Đàn. Chắc nó phải khóc. Niềm vui của Vũ, của Côn bỗng lộ rõ khoảng trống vắng.
- Thích chứ. Sao thầy mình chưa về?
- Thầy mình ở xa.
- Ngày nào thầy mình về Thái, tao đón thầu vui hơn đón bác Hồ. Tao muốn ôm chặt lấy thầy. Mày biết không, tao yêu thầy nhất. Tao sẽ vẽ chân dung thầy theo trí nhớ, đẹp gấp bội chân dung bác Hồ. Tao chỉ còn nhớ thầy.
- Mày còn chán tao không?
Cũng như dạo nọ, Côn quàng tay bá cổ Vũ :
- Ông vẫn chán mày. Sẽ có ngày ông đi xa.
Vũ không dám hỏi tại sao, tự nhiên, Côn chán Vũ, còn sợ Vũ giận. Nó lại chợt hiểu, ngoài Thúy, thầy Đàn, còn thêm Côn làm nó xao xuyến, bâng khuâng. Thế giới nhỏ bé của Vũ có giới hạn. Bằng ấy con người thân mật. Bằng ấy nỗi vui buồn. Người mới không thể xóa bỏ nổi hình ảnh người cũ. Dù người mới là bác Hồ, đôi mắt bốn đồng tử. Nỗi vui mới không thể làm quên nổi buồn cũ. Dù nỗi vui mới là nước lũ cách mạng. Cái đã trở thành kỷ niệm, khó cắt đứt, xoá bỏ. Người ta chỉ tạm quên. Rồi, vẫn nhớ. Kỷ niệm như một chiến khu kiên cố cho ta rút về, sau những say mê cuồng nhiệt, sau những lăn xả rã rời.
- Mày không dời khỏi thị xã này đâu.
- Sao mày biết?
- Tao biết chứ. Vì dời khỏi đây, mày sẽ nhớ tao, nhớ thằng Luyến, nhớ thằng Lộc, nhớ thằng Long, nhớ tất cả. Tao đã một lần đi xa, tao chỉ mong trở về. Mày tưởng tao, ở Hà Nội, vui à? Tao buồn lắm. Tao nhớ chúng mày lắm. Tao nhớ đội bóng của chúng mình, nhớ sân cỏ, nhớ thằng Vọng ghẻ tầu. Tao không thích đi xa thêm một lần. Tao muốn suốt đời tao, được sống ở thị xã mình. Nơi khác không có cầu Bo, không có sông Trà Lý...
Vũ nói một thôi. Côn im lặng nghe. Vũ đang đi xa mà nó không biết. Côn chỉ, mơ hồ, thấy Vũ đã cách xa Côn. CÂu chuyện chẳng còn giống câu chuyện ngày xưa.
- Sẽ có ngày chúng mình xa nhau.
- Tại sao chúng mình phải xa nhau?
- Tao không hiểu. Chắc là có ngày chúng mình xa nhau.
Vũ vỗ nhẹ vai Côn :
- Đến lượt tao nói mày đừng giận tao, nhé!
Côn hỏi :
- Mày định nói gì?
- Có phải mày...
Côn xua tay :
- Không phải gì cả, Vũ ạ!
Vũ định nói: Có phải mày chán tao vì con Thúy không? Nó chưa nói dứt câu, Côn đã hiểu. Giọng nó ươn ướt buồn :
- Ngày xưa vui nhỉ?
Ngày xưa vui nhỉ? Bốn tiếng ngắn ngủi, mà ngập lụt cảm xúc. Cách mạng đã đẩy ấu thời của bọn thằng Vũ quá xa chúng nó. Chưa bước xuống cuộc đời, Côn đã hồi tưởng những ngày hồng xưa, những ngày rực rỡ của tuổi thơ, những ngày đẹp nhất của đời người. Không còn những mẩu chuyện hồn nhiên, ngây dại nữa. Không còn những trò chơi rộn rã tiếng cười. Nỗi buồn khởi sự, từ cái báng súng Nhật, đập nát mặt anh Đạo, từ cái chết mất xác của thằng Vọng, từ những viên đạn đồng hạ gục ông Ban. Và rồi, chỉ có căm thù, phẫn nộ. Căm thù, phẫn nộ, suy tôn. Sau khẩu hiệu đả đảo là khẩu hiệu hoan hô. Chỉ có thế. Không giống ngày xưa. Ngày xưa, bọn thằng Vũ tạo ra những trò chơi. Bây giờ, chúng nó chơi trò chơi của người khác.
Vũ tưởng mình, vừa bông nhông xuống trận lụt cảm xúc, do Côn phá vỡ con đê hồi tưởng. Sân cỏ dĩ vãng trước mắt Vũ. Cú sút ngả bàn đèn của Vọng ghẻ tầu. Cú bắt dính nhựa mít sơ lanh của Luyến, vua súng cao su. Cái kiệu người khiêng Vọng ghẻ tầu, biến Vọng ghẻ tầu thành Vọng trứ danh, kẻ tạo chiến thắng, kẻ mang vinh dự cho bạn bè, trường lớp. Vọng mới là thần tượng, mới là người đáng được vẽ chân dung, theo trí nhớ, của Vũ, của Côn, của Luyến... Vọng mới là thần tượng thật. Không, Vọng không phải là thần, chẳng phải là tượng. Vọng là người. Vọng là người làm rung động từ đáy hồn Vũ, Côn, và bạn bè. Vọng ứa nước mắt thật cho niềm say mê, kiêu hãnh thật của anh em. Anh em đã say mê thật, vì Vọng. Say mê bất chợt, say mê tự nhiên, say mê không cần thời gian hâm nóng và bị ai thúc giục, cổ võ.
Ngày xưa vui nhỉ? Ngày xưa chả còn giống bây giờ. Cả nguồn vui cũng thế. Ngày xưa đã cách xa hiện tại của Vũ, của Côn, bằng những khẩu hiệu đả đảo, bằng những mũi dao đâm thấu tim Tầu phù, ở vườn dâu, làng Kỳ Bá. Bắt buộc nó phải cách xa, nó phải trở thành đoạn đầu của mỗi đời người.
Vũ chớp mắt :
- Vì, ngày xưa vui thật. Ngày xưa, mày không hề nói chán tao, mày không hề nghĩ, có ngày, chúng mình xa nhau.
Vũ muốn nói thêm: Ngày xưa, con Thúy không là cái thớ gì cả. Nó ngừng lại. Vũ hiểu con Thúy đã làm Côn buồn. Thúy là mùa xuân của Vũ, là nùa đông mưa dầm gió bấc của Côn.
Côn với tay dứt một chiếc lá thiên lý, cắt đứt ý nghĩ của Vũ :
- Mày biết chuyện gì chưa?
Vũ ngạc nhiên :
- Chưa.
- Thị xã bắt đầu lo sợ, như hồi Nhật đảo chính. Người ta bắt tụi Vencuzenđơ, và tụi Giun dế, thủ tiêu mỗi đêm [3]. Vencuzenđơ chống Việt Minh cách mạng. Người ta bảo Vencuzenđơ là bọn phản quốc. Bên cạnh nhà tao, có người bị bắt đêm qua. Mày còn nhớ anh Huy chứ? Anh Huy cởi phăng áo thách Nhật bản, hôm tổng khởi nghĩa ấy mà. Bố tao nói, anh ấy bị nhốt vào cái rọ, đeo đá nặng, và bị ném xuống gầm cầu Bo. Anh ấy là Vencuzenđơ!
- Anh Huy can đảm, yêu nước.
Vũ bỗng nghẹn lời. Nó mở căng mắt. Trong đôi mắt nó, hình ảnh ông Ban giẫy giụa trên vũng máu, hình ảnh quân cách mạng hớn hở dí súng vào mang tai ông Ban, cùng với tiếng thét ghê rợn, tiếng vỏ đạn đồng rơi leng keng. Ôi, bị dìm xuốnbg sông, cái chết hẳn khốn nạn, như con mèo bị nhốt vào giỏ ngâm dưới nước!
Côn vò nát chiếc lá, ném đi :
- Tao về đây.
Nó nhìn Vũ :
- Mai, tao không dự biểu tình tuần hành, hô hào bầu cử đâu.
Vũ hỏi :
- Mày ở nhà à?
Côn đáp :
- Tao về Ô Mễ bắn chim, câu cá. Trò chơi nhi đồng hết vui rồi. Mày thích về làng tao chơi không? Tụi mình bắn chim sẻ, rán chén cho ngon miệng. Ngồi trên cành sung, dựa lưng vào thân cây, nghe sung chín rụng lõm bõm xuống ao, thú lắm. Buổi trưa im vắng, hát Chiều quê thì nhất. Thằng Luyến, thằng Lộc bằng lòng về Mễ với tao.
Vũ bước gần Côn, nắm chặt tay bạn :
- Tao cũng về với mày.
Hai thằng bạn nhìn nhau. Những con mắt đã ám khói buồn niên thiếu, khoảnh khắc, tan biến. Như, đám mây chì phủ kín một vùng trời hồng xưa, bị mặt trời xua đuổi. Côn mỉm cười :
- Không bao giờ tao chán mày, Vũ ạ!
Vũ thoáng nghe vút môt viên đạn đất sét của vua súng cao su Luyến bay lên cao. Và, những tiếng cười rộn ràng, hoan hỉ.
0
Phần ba (tt)
Gởi vào cách mạng
 
59
Nhi đồng toàn thị xã, mặc quần đùi đen, áo may ô trắng, đầu đội mũ ca lô giấy, đứng xếp hàng, từ đầu cầu Bo. Những ông nhô sắp làm ồn ào cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên, của nước Việt Nam độc lập. Mỗi ông, trước ngực đeo cái biểu ngữ Đi bầu là yêu nước, sau lưng đeo cái biểu ngữ Mỗi lá phiếu là một viên đạn, bắn tan thực dân Pháp. Thì ra, vàng đã đổi súng cối xay, mà vẫn chưa bắn tan giặc Pháp dựng ngày vinh quang, còn cần phải tham gia bầu cử nữa. Bầu cử ra sao, ích lợi gì, những ông nhô không biết. Chỉ cần hô hoán cho sướng miệng, và đùa giỡn. Thế thôi. Tuổi thơ gặp thời buổi cách mạng, như cá gặp nước. Nước chiều chuộng vuốt ve cá, cá quẫy lội tung tăng. Thị xã vốn nhỏ bé. Một trăm nhi đồng đã quá đủ đánh thức giấc ngủ muộn của mọi người, huống chi toàn thể nhi đồng thị xã. Cái đám nhi đồng ồn ào vô tội vạ này, tuần hành từ khu phố đệ nhất, đến khu phố đệ tam. Chúng đi qua phố khách, qua Vọng Cung, qua ngã tư Vũ Tiên, vòng trở lại, là cả thị xã náo động. Chúng tuần hành, mỗi ngày hai lần, chung quanh thị xã ròng rã nửa tháng, trước ngày bầu cử quốc hội. Tổng tuyển cử quan trọng như tổng khởi nghĩa. Trò chơi của cách mạng, luôn luôn, hấp dẫn nhi đồng.
Hôm đầu tiên, bọn đầu sỏ nhi đồng, khu phố cầu Kiến Xương, tạm quên cách mạng, về Ô Mễ câu cá, bắn chim. Côn và Vũ tưởng thoát xa nổi sự ồn ào của thị xã, dù thoát xa một buổi, một ngày. Chúng nó đã lầm. Sự ồn ào ở thôn quê còn mãnh liệt hơn, thừa sức đuổi những con chích chòe véo von hót trên những cành xoan cao, và bắt loài cu gáy sợ sệt, im tiếng. Ngay cả tụi cá rô ham mồi cũng lẩn trốn dưới bùn sâu. Súng cao su vô tích sự. Cần câu vô tích sự. Cái sở thích câu cá, bắn chim của bọn thằng Vũ vất đi. Chúng nó không thể chạy thoát thời sự ồn ào của thời đại. Chẳng một ai chạy thoát. Mọi người bị lôi cuốn vào cái vòng tròn, đánh đai bởi sự ồn ào đó.
Côn sẽ lầm, nó khó lòng đi xa, khó lòng xa thị xã, xa bạn bè, nếu sự mong muốn đi xa của nó được hiểu như một đoạn tuyệt hiện tại. Không ai đoạn tuyệt nổi cái hiện tại này. Nhiều kẻ đã trở về dĩ vãng, nhiều kẻ đã chạy đuổi tương lai. Tất cả đều bị thỏi nam châm đầy quyền lực của hiện tại cuốn hút. Lần thứ nhất, bọn thằng Vũ thất bại, khi tìm kiếm một nguồn vui riêng cho mình. Đã bước qua dĩ vãng. Là hết. Chỉ ngoái nhìn với nỗi tiếc thương, chứ không thể trở lại. Họa chăng là trở lại bằng van xin, trong mộng tưởng.
- Lại về thị xã, chán quá!
Luyến văng tục, trút hết đạn đất sét khỏi túi quần. Côn bẻ gẫy chiếc cần câu :
- Ừ, lại về thị xã.
Bốn thằng bạn chở nhau, trên hai chiếc xe đạp, trở về. Qua cầu Báng, chúng nó dừng xe, mua bánh chưng ăn. Bánh chưng cầu Báng ngon nhất Thái Bình. Bánh chưng gói giống hình thù bánh giò. Đó là bánh chưng cầu Báng. Ăn hai chiếc, uống nưóc chè tươi trong cái bát đàn, kể như đã ăn uống hết làng Đồng Thanh, làng có cây cầu nhỏ, mang tên cầu Báng.
- Chiều nay làm gì hở, Vũ?
Côn buồn bã hỏi bạn. Vũ đổ nước chè tươi rửa tay bị dính nhớp :
- Làm gì? Mày muốn làm gì?
- Làm cái gì khác hơn đứng dưới cột đèn hát om sòm. Dạo này, buồn ghê. Ngày trưóc, đi học mong một ngày nghỉ, bây giờ, nghỉ nhiều, đâm ra chán. Phải có trò mới lạ khác hơn hoan hô, đả đảo chứ? Giá được vào Nam Bộ, chắc đỡ buồn.
Vũ nói :
- Hay chiều nay chúng mình tới nhà con Thúy?
Côn lắc đầu :
- Một mình mày tới đó thôi. Còn tao, có lẽ tao đành tới nhà con Ngọc.
Luyến và Lộc vẫn hồn nhiên. Hai đứa dời quán hàng, ra cầu Báng tia cá mương, bằng đạn đá. Khi nắng chiều bớt gay gắt, chúng nó leo lên xe, đạp về. Côn chia tay Vũ. Nó có đến nhà con Ngọc không, Vũ không biết.
Chở Luyến tới cửa nhà nó, bỏ nó xuống, Vũ phóng lại nhà Thúy ngay. Khung của sổ quen thuộc, ánh đèn ngon mắt làm Vũ quên mối buồn lây với Côn. Nó bước thật chậm, cho trái tim bớt đập nhanh. Vũ đứng ngoài cửa sổ phòng Thúy, từ lúc nào. Vũ nhắm mắt, giơ hai tay bám vào hai chấn song cửa. Vũ đang thoát khỏi hiện tại, bằng giấc chiêm bao tình. Vũ nghĩ đến Côn, trong giấc chiêm bao bên song cửa sổ, nhà Thúy. Nếu, chiều nay, Côn đành tới nhà con Ngọc, nó cũng sẽ thoát khỏi hiện tại, bằng giấc chiêm bao tình. Và, nó chẳng còn thích đi xa nữa. Côn đã có tấm chăn ấm áp, ủ tâm hồn sớm biết lạnh lẽo của nó. Vũ khe khẽ gọi :
- Thúy ơi!
Thúy nằm yên, đọc truyện Em bé Nam Bộ. Nó biết Vũ đứng bên song cửa. Nghe tiếng nói là biết Vũ rồi. Tiếng nói của Vũ mầu nhiệm lắm. Chỉ Thúy hiểu nổi sự mầu nhiệm đó. Như, chỉ Vũ hiểu bàn tay Thúy chứa đựng cả mùa xuân.
- Thúy...
Con Thúy mỉm cười, giả vờ giận dỗi :
- Không thèm yêu Vũ đâu.
Vũ mở mắt, phân trần :
- Vũ đã làm gì?
Thúy nhấm nhẳn :
- Sáng nay, người ta chờ hụt. Tụi nhi đồng qua đây không thèm đứng lại. Nguời ta không thấy Vũ.
Vũ lẩm bẩm: Tại thằng Côn.
Nó phiệu chuyện :
- Sáng nay, Vũ bận về quê thăm bà nội. Vũ mua bánh chưng cầu Báng cho Thúy.
Thúy vất tung cuốn sách, vùng dậy, chạy ra cửa sổ :
- Đâu, đâu, bánh chưng đâu?
Vũ chỉ cái xe đạp dựng ở cổng. Hai chiếc bánh chưng máng trên ghi đông. Vũ định mua về cho thằng Khoa. Trót nói dối Thúy, Vũ đành quên quà của Khoa.
- Đó, bánh chưng cầu Báng đó. Chấm với đường thì ngon tuyệt cú mèo.
Thúy ra lệnh :
- Ra lấy đem vào đây.
Vũ ngoan ngoãn ra, gỡ hai chiếc bánh chưng đem tặng Thúy. Nó đã nắm nhẹ một cánh tay Thúy :
- Còn yêu Vũ không?
Thúy gật đầu. Con bé nói :
- Từ nay, Vũ đừng bắt Thúy chờ hụt, nhé!
Vũ hứa :
- Chẳng bao giờ Vũ bắt Thúy chờ hụt nữa.
Như thế là mai, kia, mãi mãi, Vũ phải qua nhà Thúy, qua con phố quen thuộc, mà từng chiếc lá của hàng cây hồi thẳng tắp trên vỉa hè đã xanh thêm cho Vũ, đã vàng đi vì Vũ, đã rụng xuống, để bước chân Vũ êm ái vào lối mộng. Vũ sẽ đến với Thúy, mỗi ngày, trong tiếng động, trong nhiều tiếng động. Trong nó, trong Vũ, hoàn toàn im lặng. Nó sẽ chỉ còn nghe thấy tiếng động của trái tim nó. Tiếng động của tình yêu, cho tình yêu. Vũ sẽ quên hết mọi tiếng động, mọi ồn ào vây quanh đời sống nó, những tiếng động, những ồn ào đều đều, buồn tẻ đã hết quyến rũ nó. Bây giờ, Vũ mới hiểu tại sao Côn chán tất cả. Bởi tất cả là phù du. Bác Hồ, đôi mắt bốn đồng tử cũng phù du, cũng gây ra chán nản. Phát xít Nhật, thực dân Pháp, Tầu phù, tiếng súng Nam Bộ kháng chiến cũng phù du nốt. Tiếng động thiếu âm thanh. Nếu không ai thôi thúc nhớ, nhắc nhở đừng quên, không ai muốn nhớ lâu.
Chẳng ai thôi thúc Vũ nhớ thầy Đàn, Vũ vẫn nhớ hoài. Nhớ bằng cảm xúc chân thành. Chẳng ai thôi thúc Vũ nhớ thằng Vọng, Vũ vẫn nhớ hoài. Nhớ bằng cảm xúc chân thành. Và Thuý, và Côn, và Luyến, và Lộc, rồi thằng Khoa, những người gần gũi Vũ, thân thiết Vũ, những người không cần tiếng động, mà giống hệt thỏi nam châm lớn hút mạnh tình cảm của Vũ, bắt Vũ phải níu lấy họ, và không hề làm Vũ chán nản, hay nghĩ chuyện dời xa. Yêu thương mới là vĩnh cửu. Khi đã yêu, người ta biến thành tên nô lệ của tình yêu, của người yêu. Vũ yêu Thúy, sẽ yêu suốt đời. Và mai, kia, nãi mãi, Vũ phải qua nhà Thúy, với đám nhi đồng ồn ào của thời đại ồn ào. Vì Thúy. Vũ sẽ còn đi tới đâu nữa, cũng vì Thúy.
- Nhớ nhé!
- Nhớ mà.
- Vũ muốn dạo một vòng phố với Thúy không?
- Muốn quá.
- Đợi Thúy một lát.
Vũ nới rộng bàn tay. Cánh tay Thúy rời khỏi bàn tay Vũ. Bàn tay Vũ trống trải, như lòng Vũ trống trải. Không bao giờ Vũ có thể xa Thúy được. Phải xa Thúy, cuộc đời Vũ mất hết ý nghĩa, và dẫu làm cái gì phi thường tới đâu, cũng chỉ để quên nỗi buồn hằn rõ dấu vết ở trái tim mình. Gần Thúy, cái gì Thúy muốn Vũ làm, Vũ đều thấy ngập tràn ý nghĩa, dù là công việc tẻ nhạt mỗi ngày, dẫn bọn nhi đồng đi hoan hô, đả đảo. Vũ xoay người, quay lưng vào song cửa, nhìn ra đường. Mùi hoa hồi, tự nhiên, không còn hăng hắc. Nó ngát thơm. Khó phân chất. Vũ vừa nhận ra một điều, những hàng cây trên vỉa hè tỉnh lỵ đều thấp, nhỏ bé, chứ không cao, lớn như những hàng cây trên vỉa hè Hà Nội. Ánh đèn điện toả xuống. Mầu lá hồi đẹp lạ lùng. Cơ hồ được tắm ánh trăng. Gió thổi nhẹ. Những chiếc lá rung rinh kỳ ảo. Vũ thực sự lạc vào chiêm bao.
- Đi thôi.
- Bằng xe đạp của Vũ, nhé!
- Bằng gì cũng được.
Thúy ngồi trước Vũ, trên cái khung xe. Bốn bàn tay cùng nắm một cái ghi đông. Vũ đạp xe. Mái tóc Thúy gần kề khuôn mặt Vũ. Hương tóc thơm tuyệt diệu. Vũ đã hít hà no nê mùi hương đó, mùi hương của tình yêu, mùi hương mà cách mạng không đủ phép tạo ra, và chiến tranh không đủ quyền nhốt lại hay hủy diệt.
- Đi đâu?
- Muốn đi đâu thì đi.
- Lên trời nhé!
- Xa lắm, Vũ ạ! Đi một vòng thị xã mình là đủ rồi, cần gì lên trời.
Vũ chở Thúy ra ngã tư Vũ Tiên, rồi lên cầu Bo. Con dốc khá cao, Vũ rướn người đạp. Chiếc xe lên dốc, như con rùa bò. Đến giữa cầu, Vũ vòng lại. Gần xuống dốc, Vũ dặn Thúy :
- Đừng sợ nhé!
- Đi với Vũ, sợ gì.
Chiếc xe trôi thật nhanh. Vũ không cần đạp. Mặc xe trôi, Vũ sát mũi vào mái tóc Thúy, ngửi mùi hương tóc. Xe đã chậm dần, Vũ hỏi :
- Thúy lái được xe chứ?
- Được.
Vũ buông tay khỏi hai cái poa nhê, nhường Thúy cầm. Nó đặt hai bàn tay lên đôi vai Thúy. Cảm giác lâng lâng tuyệt vời. Thúy lái xe về nhà mình. Vừa tới đầu phố, Vũ bảo Thúy phanh lại. Nó xuống xe trước, Thúy xuống sau. Vũ ghếch xe bên đường.
- Đi bộ một lát.
- Còn chiếc xe?
- Kệ nó.
Hai đứa đi giữa đường, thơm mùi hoa hồi. Thúy xích gần Vũ. Vũ đưa tay khoác lên vai Thúy. Hai đứa bước thật chậm. Im lặng. Tiếng gió luồn qua lá hồi. Là hồi rung rinh dưới ánh đèn điện. Không một tiếng động nhỏ. Giấc mộng êm đềm trôi.

60
Sự hãi hùng chỉ xảy ra vào đêm khuya, và chỉ một số người biết. Cũng bởi thị xã bé nhỏ, nên Vencuzenđơ chẳng có bao nhiêu. Vài đêm là hết. Ai chưa bị bịt mắt dẫn tới gầm cầu Bo, thì trốn biệt tích, bán xới khỏi thị xã. Lại thêm những người ra đi. Cầu Bo không còn là nơi chứa đựng nỗi vui buồn mùa nước lũ. Nó bất động, câm nín, có đôi mắt chứng kiến. Đôi mắt mở lớn. Cảnh người chết vì đói, cảnh người chết vì người, rồi người chết vì những lý do nào nữa đây?
Thị xã ồn ào náo động như thường lệ, kể từ sau ngày cách mạng mùa thu. Đám nhi đồng khuấy động đời sống thị xã, cho đến ngày tổng tuyển cử. Không chuyện gì xảy ra. Không một tên phản động phá rối bầu cử quốc hội. Bầu cử thành công. Nhi đồng tuần hành hoan hô thắng lợi bầu cử. Ở Hà Nội, ở Hải Phòng, ở những đâu đâu, bầu cử có thành công, có bị Việt gian phản động phá rối, dân thị xã Thái Bình không biết. Không nên biết. Người ta muốn quên Vencuzenđơ, như hồi Nhật đảo chính quên những người thân Tây, như hồi cách mạng mới bùng nổ quên những người thân Nhật. Nhớ là ăn ngủ không ngon. Biết là phiền phúc, lo sợ. Đời sống, thành ra, lại có gông cùm, thứ gông cùm vô hình, sẵn sàng khóa chặt số phận con người.
Cách mạng chưa thay đổi gì hết, ngoại trừ thay đổi sự bình thản cố hữu của thị xã. Thay đổi chút bề mặt. Như mặt nước ao thu gợn sóng, bởi những mảnh sành ném tha lia của bọn trẻ con ham nghịch ngợm. Dường như, sau những ngày cuồng nhiệt, người ta vừa thấy nỗi hoang vu bủa quanh tương lai mình. Tại sao phải đợi giặc Pháp chiếm Thái Bình mới thái bình, kháng chiến mới thành công? Cái tại sao được nuốt rất khẽ. Cách mạng có hình phạt mới, cách giết người mới, Hình phạt của cách mạng không cho kẻ bị kết án giãi tỏ, bào chữa. Có lẽ cách mạng nào cũng giống nhau, vì không làm ra yêu thương. Cách mạng thường đem đến náo động giai đoạn, rồi khi náo động chìm lắng, thì phiền muộn giăng lưới chụp xuống đời sống. Và, đời sống khe khắt hơn, siết chặt hơn, tự lúc nào, mình chẳng biết. Mình mang cảm giác của kẻ vừa chợt tỉnh giấc mê đời. Con người chỉ hoàn toàn hạnh phúc, nếu thoát khỏi mọi ràng buộc. Mà, cách mạng không giải phóng ràng buộc, cách mạng thay thế ràng buộc cũ bằng ràng buộc mới. Rốt cuộc, con người vẫn bị nô lệ. Vẫn đau khổ. Thêm nhiều người trở thành những người thiếu quê hương, ngay trên đất quê hương mình.
Bầu cử xong xuôi, thị xã, giống hệt cảnh những ngày hội tàn. Sinh hoạt cách mạng thu gọn trong phòng họp, dưới chân cột đèn. Phái đoàn chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thương nghị với Pháp ở Đà Lạt, chủ tịch Hồ Chí Minh sang tận nước Pháp dự hội nghị Fontainebleau, không mấy quan trọng, đối với dân thị xã. Ngay cả những nhà ái quốc đắc cử vào quốc hội, trong một cuộc vận động tranh cử không đối thủ, cũng bị quên lãng, mặc dù báo chí làm rầm rộ chuyến đi của Hồ chủ tịch, và trên tường phố, khẩu hiệu mới khích động mãnh liệt: Tất cả cho cách mạng tháng tám, Bầu cử thắng lợi là cái tát đập vỡ mộng xâm lăng của thực dân Pháp.
Tất cả cho cách mạng tháng tám. Còn gì nữa mà cho? Vàng cho hết rồi. Niềm tin cho hết rồi. Bây giờ, chỉ còn lo ngại trước mặt. Buôn bán ế ẩm. Thóc cao gạo kém. Nhiều gia đình đã phải nhịn ăn một bữa. Nhiều gia đình sáng cháo, chiều cơm. Đó là lý do chua xót nhất, khiến dân thị xã quên cách mạng, quên Nam Bộ kháng chiến, quên Hồ chủ tịch, quên hội nghị Fontainebleau, quên quốc hội...
Vũ không quên Thúy. Làm sao có thể quên được hơi thở của đời sống mình? Chẳng cần dẫn đội nhi đồng hô hoán om sòm, Vũ vẫn qua nhà Thúy. Qua hai, ba bận, mỗi ngày. Vũ không phân vân, ngại ngùng, khi rẽ vào phố nhà Thúy, như năm xưa, như hôm xưa. Năm xưa, Vũ tưởng chừng xa vời vợi. Rồi, mọi đứa trẻ đều phải làm người lớn, đều phải có trách nhiệm. Muốn mãi mãi, hồn nhiên, vui đùa cũng không được.
Vũ sẽ làm người lớn. Chưa bây giờ. Bây giờ, Vũ mới bước qua ngưỡng cửa niên thiếu vài bước, Vũ cần dừng lại để hưởng trọn vẹn mật ngọt của tuổi vừa lớn. Mật ngọt ấy, ở đôi môi Thúy, ở đôi mắt Thúy, ở trái tim Thúy, ở mái tóc Thúy, ở bàn tay Thúy. Mật ngọt ấy là xuân đời. Phải hưởng hết xuân đời cho no đầy mộng tưởng, chín vàng ước mơ, rồi bằng lòng tàn tạ với lá mùa thu.
Vũ đã nằm một mình, dười giàn hoa lý sau vườn, thổi ác mô ni ca bài Chiều quê, bài Trường cũ. Buốn thoang thoảng. Nếu có bao giờ, ở nơi nào đó, Vũ cũng nằm một mình dưới giàn hoa lý, tưởng nhớ Thúy như một kỷ niệm thiết tha, chắc chắn Vũ sẽ khóc. Vũ sẽ làm bất cứ một việc gì cho Thúy, vì Thúy, để được, mãi mãi, gần Thúy, vuốt tóc Thúy mà nghe hồn mình dậy mùi hương tóc người yêu.
- Anh Vũ!
Thằng Khoa cắt đứt ý nghĩ tuyệt vời của Vũ. Nó hỏi :
- Anh làm gì mà đần mặt ra thế?
Vũ cáu :
- Đi chỗ khác chơi.
Khoa nói :
- Em nhờ anh đi a văng xăng hộ. Chiều nay, tụi em đá với tụi trường Tầu.
Vũ mỉm cười :
-Em bốc anh đá cho lớp em?
Khoa nháy mắt :
- Thiếu Vọng ghẻ tầu, thì anh là vua ngả bàn đẹp. Anh mới tuyệt cú mèo.
Khoa nói những tiếng nói của Vũ. Khoa là Vũ năm xưa. Nó gạ Vũ :
- Có anh, em mới dám cộp tụi Tầu lỏi, trả thù tụi Tầu phù dạo nọ.
Vũ khẽ lắc đầu :
- Anh không thích đá bóng nữa. Em nhờ anh Lộc, anh Luyến là thừa sức hạ tụi nó.
Khoa khoe :
- Anh Luyến bắt gôn, anh Lộc đứng đờ mi. Thiếu a văng xăng.
- Nhờ anh Côn.
- Anh ấy bảo anh ấy chán đá bóng rồi.
- Anh cũng chán luôn.
- Sao thế?
- Tại hết vui.
- Tụi em bị thua, em sẽ giận anh.
- Không thua đâu. Em chiến nhất.
Vũ đứng dậy, vỗ vai em, khích lệ :
- Nhất định tụi em bắt tụi Tầu lỏi mang xe bò chở trứng vịt thối.
Khoa bí hửng vùng chạy. Vũ nhìn theo em, nhìn hình ảnh năm xưa của nó, rực rỡ trên sân cỏ. Nó lại ngồi xuống chỗ cũ, tiếp tục ý nghĩ tuyệt vời.
Ý nghĩ trốn theo Khoa rồi. Vũ lấy xe, mở cửa, phóng lên cầu Bo. Nó dựng xe ở đầu cầu, thả bộ dọc theo hành lang, tới giữa cầu, dừng chân. Vũ nhìn nước sông Trà Lý lững lờ chảy xuôi ra biển. Bên kia sông, nắng nhảy múa trên những ngọn cây xanh. Vẫn là nắng ấy. Chỉ thiếu tiếng tu hú kéo dài thời gian, trải rộng không gian. Vũ ngước trông cái vồng cầu cao nhất, năm xưa Vũ đã biểu diễn leo qua cho Thúy xem, và ngã, trong giấc mơ êm ái. Dòng sông, cây cầu, xóm làng bên kia đã trở thành kỷ niệm, để Vũ man mác nhớ, thoang thoảng buồn. Giá đứng đây, nhớ Thúy phương trời xa, tương tư hai hàng cây hồi ở nhà Thúy, tiếc nuối những đêm hai đứa khoác vai nhau đi giữa con đường thơm, nghe gió thầm thì luồn qua lá hồi rung rinh kỳ ảo, Vũ sẽ khóc. Nước mắt Vũ sẽ rơi xuống sông. Sông chở giùm nước mắt của Vũ cho Thúy, như sông đã chở nước nguồn cho biển.
Vũ sợ phải khóc. Không, không bao giờ có chuyện ngăn cách, chia ly. Đời sống mãi mãi thế này. Đời sống êm đềm với mộng ước thấp nhỏ như những cây hồi, trên vỉa hè thị xã. Nếu dời bỏ khung trời quen thuộc này, Vũ sẽ hết sung sướng. Hạnh phúc của Vũ đã có sẵn ở đây, chẳng cần đi đâu xa hơn.
Tự nhiên, Vũ lẩm nhẩm lạy trời đừng bắt những người thân yêu của Vũ xa Vũ. Và, Vũ bước nhanh trở lại đầu cầu. Nó leo lên xe, đạp nhanh về con phố có hàng cây hồi, mùi thơm lạ lùng, không hăng hắc giống mùi thơm của những cây hồi ở phố khác. Dưới ánh nắng chiều, chắc lá hồi cũng đẹp lắm.

61
Giặc Pháp không còn ở mãi tận Nam Bộ xa tít tắp mù khơi nữa. Chúng đang lần mò ra Bắc Bộ, đang có mặt tại Hải Phòng, Hà Nội. Hội nghị Fontainebleau thất bại. Hồ chủ tịch về nước buồn thiu. Giặc Pháp sẽ chiếm Nam Định, sang Thái Bình. Pháp tới Thái Bình là có thái bình. Lời tiên tri của Hồ chủ tịch được dân thị xã nhắc lại, bàn tán. Không một ai thích giặc Pháp sang Thái Bình. Chúng đã ở đây lâu quá, đã gieo nhiều đau khổ quá. Pháp, Nhật, Tầu, hay bất cứ một giống nòi xa lạ nào, đến quê hương ta, cũng chỉ mang theo những phiền muộn, và đọa đầy, những tàn bạo, và man rợ. Không thích chưa đủ. Dân thị xã còn sợ giặc Pháp tràn qua tỉnh lỵ, vốn đã ngập lụt oan khiên, và đang lo âu, khắc khỏai. Những người vô Nam Bộ chiến đấu chẳng ai hồi hương. Chắc là họ đã hy sinh cho tổ quốc. Cái lưới sợ hãi sắp tung xuống. Người ta, mơ hồ, thấy số phận của mình bị nhốt kín trong đó. Ôi, tỉnh lỵ Thái Bình thân yêu, tỉnh lỵ nhỏ bé, với những giấc mơ nhỏ bé, muôn đời thiếu nắng làm ấm tâm hồn, làm vàng mộng ước!
Để trấn an dân thị xã, lớp vôi mới quét vội vàng, xóa bỏ những khẩu hiệu cũ. Bây giờ là, Thái bình, mồ chôn thực dân Pháp, Liên khu ba, mồ chôn thực dân Pháp, Kháng chiến nhất định thắng lợi. Độc lập, thống nhất nhất định thành công... Những khẩu hiệu mới chỉ làm tăng nỗi lo âu. Giặc Pháp dã man, đã ném trẻ con vào lửa đỏ, ở Sàigòn, sẽ ném trẻ con vào lửa đỏ, ở Thái Bình. Mấy đời rồi, chả ai nghĩ chuyện chạy giặc. Và, cũng chả ai dám nghĩ, nếu giặc Pháp sang Thái Bình, mình sẽ làm gì, sẽ chạy đi đâu. Triệt để tin tưởng vào Hồ chủ tịch. Đành tin tưởng Hồ chủ tịch sẽ đuổi giặc Pháp khỏi đất nước Việt Nam. Không lẽ, Hồ chủ tịch và chính phủ chỉ chiến thắng giậc Pháp bằng khẩu hiệu? Bao nhiêu vàng ủng hộ, súng cối xay chưa bắn tan giặc Pháp, để chúng lần mò ra Bắc Bộ thì lạ thật. Dân thị xã nóng lòng chờ đợi tin tức. Báo chí từ Hà Nội về chậm vô cùng. Xe hàng chạy than đốt, làm sao nhanh nổi? Người ta chuyền báo cho nhau coi. Thủ đô Hà Nội vẫn còn. Giặc Pháp co ro đóng quân một chỗ. Chúng hèn nhát, không dám dời khỏi doanh trại. Quân dân ta sẽ đập vỡ mặt chúng.
Dân thị xã đã biết tình hình Hà Nội, qua nhật báo Cứu quốc. Báo này quả quyết, nếu giặc Pháp giở trò xâm lăng, máu của chúng sẽ nhuộm đỏ sông Hồng, xác của chúng sẽ chất đống cao hơn gò Đống Đa. Giặc Pháp sẽ phơi thây, ở Sàigòn, sẽ phơi thây, ở Hà Nội. Báo Cứu Quốc, luôn luôn, nhóm lửa chiến đấu trong lòng mỗi người. Lần này, ngọn lửa ấy không bừng sáng, như lần thanh niên thị xã nô nức tình nguyện vào Nam diệt thù. Giặc gần kề, người ta hồi hộp.
Vũ không còn được ngồi một mình, dưới giàn hoa thiên lý, nghĩ đến Thúy, và phiêu lưu bằng mộng tưởng, trong mùa xuân thơm ngát mùi hương tóc người yêu. Vũ bị quyến rũ vào nỗi hồi hộp chung, nỗi hồi hộp đe dọa, phá nát sự êm đềm của tỉnh lỵ. Súng đạn, chắc chắn, sẽ gây tang tóc, khói lửa, và buồn thảm, chứ không chỉ ồn ào tẻ nhạt giống cách mạng. Súng đạn làm nên chiến tranh. Và, chiến tranh là hậu quả của cách mạng. Chiến tranh đã tới Thái Bình, bằng những trận không chiến giữa Mỹ và Nhật. Chiến tranh đã tới Thái Bình, bằng những hồi còi phòng thủ thụ động. Sau hết, chiến tranh mang tới những khẩu súng liên thanh, những thanh kiếm sắc bén của phát xít Nhật, và bọn Tầu phù gớm ghiếc. Chiến tranh làm chia ly, ngăn cách. Người ta sinh ra không phải để buồn thảm vì chia ly, ngăn cách. Mà, để gần gũi và thương yêu. Đời sống ấy đã thay đổi, xáo trộn. Hẳn còn thay đổi, xáo trộn nhiều nữa.
Vũ, mơ hồ, thấy, một ngày không xa, giặc Pháp sẽ tràn sang Thái Bình, đốt phá, giết chóc. Vùng trời thân yêu của Vũ mất hết tiếng sáo diều vi vu đêm hạ. Thúy sẽ xa Vũ, xa mãi, xa thành vĩnh biệt. Hàng cây hồi, bên hè phố nhà Thúy, sẽ tàn úa. Như thế, cuộc đời, chẳng mảy may ý nghĩa. Không, không thể để mất quê hương nhỏ bé của mình. Căn nhà, ngôi trường, con phố, sân cỏ, hàng cây, và người thân yêu phải gắn bó lấy đời mình. Muốn sống hoài với kỷ niệm, phải bảo vệ chiếc nôi êm ái, chứa chất kỷ niệm của mình. Phải đuổi kẻ thù khỏi quê hương mình, không cho những bước chân thô bạo của chúng giẵm chết lối cỏ, nơi ấy mình và người yêu đã đi qua. Nghĩ thế, Vũ yêu cái thị xã Thái Bình quá đỗi. Dòng sông Trà Lý, chiếc cầu Bo, những hòn đảo năm xưa, Vọng bất hạnh, thầy Đàn kính mến, và Thúy, và mùa xuân hồng, và bàn tay huyền diệu của Thúy, và hương tóc Thúy, toàn là những thứ cần bảo vệ bằng xương máu của Vũ.
Vũ phóng ra đường. Con đường, tự nhiên, bốc khói, như thể hơi thở của Vũ vào ngày mùa đông lạnh nhất. Vũ nhìn hàng cây. Hàng cây rung rinh lá. Tiếng gió xào xạc một nỗi niềm. Vũ ngước trông trời. Trời muốn thấp xuống. Ôi, tất cả tràn ngập luyến lưu, tất cả đều không muốn dời xa Vũ. Vũ chạy một mạch lên phòng thông tin. Gặp đủ mặt bạn bè. Côn và Luyến đang đứng chờ anh phụ trách thiếu nhi viết nốt chữ cuối cùng của khẩu hiệu Đả đảo thực dân Pháp. Luyến khoe Vũ :
- Mày biết chưa, chúng tao dán khẩu hiệu chống Pháp khắp thị xã.
Luyến xăn tay áo :
- Ông đếch sợ giặc Pháp. Nó bằng nhắng, ông tẩn bỏ mẹ chúng nó.
Luyến bĩu môi :
- Chúng nó là bọn hèn. Dạo trước, Nhật lùn bắt vợ con chúng nó kéo xe bò chở đất. Dêm nay, biểu tình, đốt đuốc, đả đảo giặc Pháp, rồi đốt luôn giặc Pháp ở cầu Bo. Mày chỉ huy, nhé?
Vũ chưa kịp trả lời Luyến, Côn đã kéo Vũ ra khỏi phòng thông tin. Hai đứa ngồi trên chiếc ghế xi măng, gần sân ten nít. Côn hỏi :
- Bố mày có nói gì không?
Vũ ngơ ngác :
- Nói gì?
- Chuyện Pháp đóng quân ở thủ đô Hà Nội.
- Không.
- Tao đét thích biểu tình nữa, nhưng biểu tình chống Pháp, tao phải tham dự.
- Tại sao?
- Vì tao không muốn mất thị xã. Không ai muốn mất thị xã cả, mọi người sẽ đánh nhau với Pháp, nếu nó trở lại Thái Bình. Mày nghĩ thế nào?
- Giá vài năm nữa nó hãy sang nhỉ? Mình đủ tuổi vào bộ đội, sợ chó gì nó.
- Bố tao lo lắm. Chưa chi bố tao đã bắt sửa sang nhà cửa ở Ô Mễ.
- Tao không thích Pháp sang thị xã mình.
- Nó cứ sang thì mày làm gì?
- Chắc đánh nhau to. Và, chúng mình sẽ xa nhau, chả biết ngày nào gặp gỡ. Tao chỉ sợ cầu Bo sụp dổ, và những hàng hồi chết cháy. Chiến tranh không bao giờ vui hết. Hồi Mỹ dội bom giết Nhật, bác tao bị cụt một cánh tay, trên chuyến ca nô Hà Nội-Nam Định. Xuýt bác tao chết oan, chết đuối khổ sở dưới sông Hồng. Có chiến tranh, nhiều người chết thảm. Và, chỉ nghe tiếng khóc. Bọn Pháp sang thị xã mình, chúng ta sẽ đánh đuổi chúng. Tao yêu Thái Bình. Tao yêu Nam Bộ. Đồng bào Nam Bộ đã đánh nhau với Pháp, và đang chiến thắng. Phương hen còn lên đường vào Nam Bộ đuổi giặc Pháp, nữa là...
- Sợ chúng mình chưa đủ tuổi, người lớn bắt chạy giặc.
- Pháp sang đây, chúng mình đủ tuổi rồi. Biết đâu, dân Hà Nội chẳng sắp đánh văng chúng nó.
Hai thằng bạn thân vừa tâm sự tới đó, đã nghe tiếng Luyến bi bô :
- Đi dán khẩu hiệu, chúng mày ơi!
Vũ và Côn đứng dậy, nắm tay chạy vào. Chúng chia công tác, đứa ôm mớ giấy, đứa xách thùng hồ, kéo nhau đi dán khẩu hiệu. Đến tối, nhi đồng thị xã đốt đuốc, biểu tình tuần hành. Nhà đèn được lệnh tắt đèn phố. Những ngọn đuốc tầm dầu bừng bừng cháy. Không khí chống Pháp lại được nhi đồng làm sôi nổi. Nỗi lo âu của dân thị xã, dường như, bị lửa đốt cháy. Thị xã vang vang lời gầm thét căm thù thực dân Pháp khiêu khích Bắc Bộ, như năm ngoái gầm thét căm thù thực dân Pháp gây hấn Nam bộ. Bài hát mới rít qua kẽ răng:
Thề một lòng dân Nam ta quyết xông pha một lòng
Thề chiến thắng
Trang nam nhi hồn non nước vững vàng ta bảo toàn bờ cõi một ngày mai
Nhắc hồi xưa dân Nam ta tám mươi năm đã bao phen nhục nhằn
Nào gông xích đói rét lũ tham tàn đồng lòng muốn đem lòng giầy xéo
Ôi giang san ôi đất nước
Ta quyết thề chẳng sống nhuốc nhơ...

Những bàn chân giẫm nát mặt đường. Những cánh tay giơ cao. Những khuôn mặt cương quyết. Những tâm hồn réo sôi. Những khẩu hiệu vỡ phổi.
- Đả đảo thực dân Pháp!
- Việt Nam độc lập muôn năm!
Phải chiến đấu tiêu diệt Pháp, để giành độc lập. Dân thị xã không còn sợ rượu, khi đã nhấm một ngụm. Rồi, mềm môi. Rồi, say sưa. Nhi đồng, luôn luôn, đóng trọn vẹn vai trò khích động dân chúng. Mọi người đều tưởng chừng Pháp đang cuốn gói, tếch khỏi Hà nội. Vũ tin rằng Thúy sẽ yêu Vũ hơn, vì Vũ đang cùng mọi người lo bảo vệ quê hương nhỏ bé. Đội nhi đồng cầu Kiến Xương dẫn đầu đoàn biểu tình tuần hành. Đốt đuốc đi thắp sáng quê hương độc lập. Đốt đuốc đi thiêu rụi mộng xâm lăng của thực dân Pháp. Vũ cho nhi đồng rẽ vào phố nhà Thúy. Tiếng động từ đầu đường đã vọng tới. Thúy mở cửa sổ, đứng chờ. Và, Thúy đã nhìn rõ Vũ hiên ngang dưới ánh đuốc bập bùng. Vũ mỉm cười, khi Thúy vẫy tay. Thúy khích lệ Vũ chống Pháp, giữ lại Thái Bình đó. Vũ nghĩ thế. Qua cửa nhà Thúy, Vũ đến gần Côn :
- Dẫn nhi đồng tới phố nhà con Ngọc nhé!
Côn gật đầu, và nói :
- Để tao chỉ huy.
Đoàn biểu tình tuần hành khắp các phố thị xã. Cuối cùng, tiến thẳng lên cầu Bo, đốt hình nộm Tây mũi lõ, đẩy xuống sông Trà lý. Rồi, giải tán. Đêm ấy, Tây đen bán vải được phen hoảng sợ. Bọn nhi đồng đập cửa nhà Tây đen bán vải thình thình. Chúng diễn lại trò chống Pháp, gây hấn ở Nam Bộ.

62
Khúc đê từ cầu Bo xuống cống Đậu đã biến thành con đường mòn. Mặt đê cao hơn mặt đường gần hai thước. Năm xưa, Vũ và bạn bè thường đi xe đạp thi, trên khúc đê này. Đi thật nhanh, mà chẳng đứa nào ngã. Xe đạp của bọn Vũ không chuông, không phanh, không đèn. Phóng xe ở khúc đê hẹp và cao, y hệt người làn xiếc đi trên dây. Nên chỉ những thằng cừ mới dám đùa giỡn. Gặp quãng đê soải xuống sông, Vũ và Vọng còn biểu diễn bông nhông cả người lẫn xe. Bây giờ, Vũ không thích trò chơi nguy hiểm này. Vũ đâm ra sợ hãi. Vũ đã đứng ở cầu Bo, nhìn những con sóng lớn xô đẩy nhau, những hôm gió lộng. Sóng sông Trà, ma cửa Hộ. Vũ giật mình, hồi tưởng, ngày nào, ngày nào mới đây, mà tưởng chừng xa lơ xa lắc, đảo chánh, cách mạng, thù hận đẩy tuổi thơ lui hẳn về dĩ vãng một thiếu niên, để người thiếu niên sớm thương nhớ kỷ niệm ấu thời. Vũ và bạn bè đã bơi qua sông, khinh thường sóng cả. Khi người ta biết lo âu, là lúc người ta giã từ hẳn hồn nhiên. Tâm hồn đào đã vẩn bụi đen. Bụi đen của phiền muộn.
- Vũ đang nghĩ gì thế?
- Không nghĩ gì cả.
Vũ và Thúy đi bên nhau, bước chậm trên con đê. Vũ nhìn dòng sông lững lờ chảy. Dòng sông cơ hồ mang một tâm sự buồn.
- Vũ định đi mãi à?
- Ừ.
- Không sợ mỏi chân sao?
- Không. Thúy có dám theo Vũ đi đến cuối con đê, tới cửa biển không?
- Xa qua, Vũ ạ!
- Đi xa mới hết buồn.
- Vũ mà cũng buồn ư?
- Buồn chứ.
Thúy cười giòn giã. Nắm chặt bàn tay Vũ, Thúy nói :
- Đến cống Đậu rồi trở về, đấy nhé!
Vụ gật đầu. Rồi, dừng lại :
- Mình ngồi đây.
Hai đứa ngồi xuống mặt đê, quay mặt sang xóm làng bên kia sông. Vũ quàng tay qua cổ Thúy. Hai đứa xích gần nhau. Giọng Vũ mơ hồ :
- Ở xa không có khúc đê này, Thúy nhỉ?
- Chắc phải có.
- Không có hàng hồi bên đường, giống hàng hồi phố nhà Thúy.
- Ừ, chắc không có.
- Vũ thích hàng hồi phố nhà Thúy, thích con đường nhà Thúy, thích cầu Bo, thích hết những gì của thị xã mình. Nếu ngày nào phải xa thị xã, Vũ sẽ khóc.
- Thì Vũ ở thị xã mình, mãi mãi, với Thúy. Chúng mình sẽ lớn hơn. Rồi, chúng mình vẫn học thành chung một trường.
- Ngộ giặc Pháp sang thị xã mình?
- Vũ đừng cho nó sang. Vũ quên lời nói của ông chủ tịch Thái Bình rồi à?
Đêm qua, dân thị xã tập trung ở sân vận động, nghe ông chủ tịch Thái Bình nói chuyện. Thúy đứng cạnh Vũ. Ông chủ tịch giơ nắm đấm, tiếng nói nảy lửa: “Một tấc đất Thái Bình cũng không cho giặc Pháp chiếm. Dân Thái Bình sẽ đập tan âm mưu xâm lăng của Pháp. Chúng ta đào mồ sẵn chôn giặc Pháp. Chúng dại dột sang Thái Bình, chúng ta sẽ giết hết chúng, từ bến đò Tân Đệ. Xác chúng sẽ lấp đầy khúc sông Hồng, làm cầu Tân Đệ. Thái Bình là mồ chôn thực dân Pháp”.
- Thúy muốn Vũ đánh nhau với giặc Pháp?
- Vũ phải bảo vệ thị xã mình. Đừng bao giờ nghĩ có ngày chúng mình xa thị xã, Vũ nhé!
Vũ hơi nghiêng mặt về phía Thúy, và Thúy hơi nghiêng mặt về phía Vũ, cùng lúc. Hai đứa nhìn nhau. Ngập ngừng. Vũ hôn tóc Thúy. Hương tóc làm rạo rực tâm hồn Vũ. Phút chốc, Vũ quên dòng sông, quên nỗi buồn, quên giặc Pháp, quên cách mạng. Hương tóc đưa Vũ bay bổng. Vũ hôn má Thúy. Bàn tay Vũ bóp mạnh vai Thúy. Im lặng. Vũ nói nhỏ bên tai Thúy, như điệu gió đàn :
- Vũ không muốn xa Thúy.
Đưa từ xa tới, mùi thơm huyền diệu. Mùi thơm của chiêm bao. Mùi thơm của tình yêu thơ mộng. Mùi thơm vây quanh Vũ, và Thúy. Chiều ngại ngùng trốn. Chiều cố tình lưu lại chút nắng nhảy múa trên khoảng trời hồng. Mùa xuân ở đây. Chiều vàng ở đây. Mộng ước ở đây. Và, Vũ sẽ bảo vệ khoảng trời hồng yêu mến này.
- Vũ.
- Thúy nói đi.
- Thúy không muốn xa Vũ.
- Chúng mình không bao giờ xa nhau. Vũ sẽ giữ từng cây hồi phố nhà Thúy.
- Vũ hứa chứ?
- Hứa.
- Giữ cả những con chim buổi sáng, trên cây hồi, trước cửa nhà Thúy?
- Giữ tất cả. Thị xã mình sẽ nguyên vẹn. Chẳng một ai phải xa nhau.
Thúy lách tay trái ra sau lưng Vũ, đưa cả cánh tay quàng cổ Vũ. Gắn bó. Thị xã của Vũ, bây giờ, mới đẹp hoàn toàn. Đẹp nhất thế giới.
- Vũ ơi!
- Ơi...
- Đưa Thúy về.
- Chưa tới cống Đậu mà?
- Mai mình tới.
- Ngồi đây thêm một lát.
- Thôi.
- Về làn gì vội?
- Về nằm nhớ Vũ.
Vũ lặng người. Gió sông lùa lên. Tóc Thúy bay tung phủ cả mặt Vũ. Vũ không muốn về. Vũ không muốn ngày mai. Vũ muốn mãi mãi là hôm nay, là lúc này. Ngày mai, biết đâu dòng sông Trà Lý chẳng còn lặng lờ chảy xuôi. Nước lũ sẽ đỏ ngầu, và cuốn phăng nhiều thứ.
- Vũ nhé!
- Hở?
- Đưa Thúy về.
Vũ buông tay khỏi vai Thúy, đứng lên, với nỗi tiếc ngẩn ngơ. Vũ cầm tay Thúy, kéo Thúy dậy. Hai đứa lần theo con đê, trở về. Vũ bước thật chậm. Vũ đếm từng bước chân. Chiều tắt nắng. Trời ngậm ngùi. Vũ lại thấy lo lắng. Như có gì đe dọa cuộc sống bình thản của mọi người bên dòng sông Trà Lý. Như, cầu Bo sắp sụp đổ. Như, hàng hồi sắp bị cháy, và những con chim sớm mai của Thúy, tản mạn khắp phương trời xa.
- Thúy!
- Hở?
- Nằm nhớ Vũ, Thúy vui hay buồn?
- Không biết nữa.
- Có tưởng tượng gì không?
- Có.
- Gì?
- Cái lồng bẫy chim khuyên của thằng Hội.
Vũ cười sung sướng. Thúy nói :
- Với những quả táo tầu của ông lang Tặng.
Vũ siết tay Thúy :
- Vũ nằm nhớ Thúy, chỉ nhớ con nhặng, con mụ phù thủy Phi châu.
Thúy hỏi :
- Ghét Thúy à?
Vũ lắc đầu :
- Chuyện ngày xưa.
- Thế bây giờ?
- Bây giờ, Vũ thích dựa lưng vào cây hồi, trước nhà Thúy, thổi ác mô ni ca bài Căn nhà êm ấm.
Hai đứa đi tới gần cầu Bo, và tụt xuống dốc đường. Con đường dẫn về nhỏ dần, hẹp dần, không xa dần. Mà, Vũ thì muốn không có chỗ dừng ở hiện tại. Cứ đi. Đi mãi. Đi cạnh Thúy, tay trong tay, bước nhẹ vào chiêm bao, hái những trái mơ chín vàng. Đèn phố đã lên. Những ngọn đèn tỉnh lỵ bao giờ cũng vàng vọt, hiu hắt. Chưa từng lần nào Vũ thấy những ngọn đèn buồn thế. Những con mắt đêm của thị xã đang nghĩ gì?
- Chiều mai, Vũ lại đón Thúy, nhé!
- Ừ, chiều mai. Mình sẽ vào hồ Phúc Khánh, mình về Đoan Túc, mình sang Bồ Xuyên, mình xuống An Tập... Mình đi hết những nơi mình đã đi.
- Làm gì?
- Để nhớ mãi.
Để nhớ mãi, Vũ vẫn bị ám ảnh bởi sự chia ly. Dường như, ồn ào, náo động là hứa hẹn một buồn tênh, câm nín. Chiến tranh sẽ về đây. Chiến tranh sẽ làm rớm máu thị xã êm đềm. Chiến tranh nào cũng ghét kỷ niệm. Và, nó sẽ chặt đứt gốc cây hồi, trước cửa nhà Thúy, làm những con chim nhỏ sớm mai trốn lẩn, sợ hãi. Chỉ cần nột chút thoáng qua, chiến tranh đã gây vô số mất mát. An ủi mình bằng cách mào, nỗi ám ảnh cũng không chịu tan biến. Bảo vệ quê hương của mình, là phải chiến đấu. Vũ sẽ không sợ chiến đấu. Mà, rất sợ, sau cuộc chiến, có thứ gì mất mát, rơi rụng, đổ vỡ.
Đã tới phố nhà Thúy. Vũ cố bước chậm hơn. Chẳng ai hối thúc, bước chân cứ gấp gấp. Nhà Thúy đây rồi. Cây hồi trước cửa đây rồi. Vũ rời tay Thúy, trông theo, Thúy qua cổng, vào sân, mất hút. Vũ chờ khoảng ánh sáng ở khung cửa sổ quen thuộc.
Vô tình, Thúy đã quên mở cửa sổ. Vũ không nhìn thấy khuôn mặt thân yêu rực rỡ trong mùa xuân hồng. Đêm chợt bùi ngùi. Vũ nghe lòng mình quạnh hiu. Vũ thật sự không còn bé. Muốn còn bé, Vũ phải nghiêng nghiêng hồn đào, khi tưởng nhớ. Vũ dựa lưng vào thân cây hồi. Hai tay thọc túi quần. Mắt thả trong mơ. Tiếng gió thầm thì trên đám lá. Mùi hoa hồi, tự nhiên, hăng hắc tối nay. Vũ bỗng thèm hút một điếu thuốc lá.

63
Cả thị xã bàng hoàng. Giặc Pháp đã đánh chiếm Hà Nội. Như, năm ngoái, tiếng súng gây hấn của xâm lăng đã vang sông núi miền Nam, lại vang sông núi miền Bắc, năm nay. Những chiếc xe Con Voi của ông Lê văn Định nằm xếp hàng, ở bến Hà Nội, không về Thái Bình được. Tài xế và ét đành bỏ xe, chạy bán sống bán chết. Họ thuật chuyện Hà Nội cháy. Lửa bốc cao. Đứng tận Phủ Lý còn thấy lửa rực một phía trời. Dân chúng lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau, ùa ra năm cửa Ô, tản mạn về các vùng lân cận. Chỉ có thanh niên ở lại chiến đấu, quyết bảo vệ thủ đô. Họ nói giặc Pháp đưa xe tăng, thiết giáp, khạc đạn liên hồi, san bằng những ổ súng liên thanh kháng chiến của ta. Họ làm như tận mắt họ nhìn rõ hai bên giao tranh. Mọi người tin họ, hối thúc họ kể chuyện Hà Nội cháy. Và, họ say sưa kể, giọng đầy phẫn nộ và tin tưởng. Câu chuyện truyền đi rất mau. Nội buổi tối, cả thị xã biết giặc Pháp đang bị phơi xác, trên ba mươi sáu phố phường Hà Nội. Nỗi bàng hoàng tan biến. Dân Thái Bình hướng về Hà Nội, trông chờ tin chiến thắng.
Mấy hôm sau, báo Cứu Quốc mới rao bán. Dân thị xã mua đọc. Không đủ. Chuyền tay nhau đọc. Hồ chủ tịch kêu gọi toàn dân kháng chiến, đuổi thực dân Pháp khỏi Việt Nam yêu dấu. Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Khẩu hiệu mới đó. Tăng gia sản xuất là diệt Pháp. Cũng khẩu hiệu mới. Nhớ ngày Hồ chủ tịch sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau, nhi đồng được dạy hát nhiều bài ước vọng:
Vắng bác Hồ yêu dấu
Lòng bâng khuâng cháu sầu nhớ nhung
Bác có nhớ cháu không
Từ lúc con chim bằng cất cánh
Buồn thẫn thờ nhìn theo chim kia
Nhẹ nhàng khuất trong mây
Quay bước chân trở về
Chờ mong tháng ngày
Nhớ nhung bác Hồ ở nơi xa vắng
Nối tâm chí tranh giành
Để quyền lợi cho nước Nam
Trong tâm mong nghe thấy
Khải hoàn vang khúc ca
Mong bác mau trở về với chúng ta

Không có khúc ca khải hoàn, khi bác Hồ hồi hương. Giặc Pháp chiếm gần hết Nam Bộ, và kéo quân ra Bắc Bộ. Bác Hồ trở về, buồn thiu. Bác Hồ khó mà vui, nghe nhi đồng hát:
Đêm trăng cháu nhớ bác Hồ
Cháu ca cháu hát cháu hô vang trời
Bác Hồ ơi bác Hồ ơi
Bác cho chúng cháu những mười cái hôn

Bác Hồ quên cả những lời hứa hẹn, trước ngày sang Pháp. Bây giờ, bác bảo trường kỳ kháng chiến. Thế là đánh nhau lâu lắm. Thế là chắc chắn có chia ly, xa cách. Trái tim Bắc Bộ bị lưỡi lê giặc đâm thủng. Toàn Bắc Bộ đau đớn, run rẩy. Nghĩ đến thù nước. Chỉ nghĩ đến thù nước. Chẳng cần nghĩ đến bác Hồ. Giặc Pháp mà chiếm xong Hà Nội, sẽ xuống Nam Định, và tràn qua Thái Bình. Dân thị xã mong mỏi thủ đô là mồ chôn giặc Pháp. Hướng về Hà Nội, tin tưởng tràn trề. Báo Cứu Quốc bán đều đều. Hà Nội đã lập đội Tự vệ thành, gồm toàn những thanh niên yêu nước, tình nguyện ở lại giữ từng căn gác, từng khu phố, từng khe cống Hà Nội. Tường nhà nọ dục thủng xuyên qua tường nhà kia, tuổi trẻ Hà Nội đứng lên làm lịch sử. Tóc lộng gió, mắt rực căm thù, tuổi trẻ Hà Nội nhào ra cướp súng giặc, giết giặc. Tuổi trẻ Hà Nội nằm giữa đường cản xe tăng. Xe tăng nghiến nát. Không dọa nạt nổi lòng kiêu hùng. Ôm lựu đạn xông thẳng vào xe tăng. Nhảy lên xe tăng, dùng thân xác mình, bịt kín lòng súng giặc. Một mình ngạo nghễ với chai xăng, đốt cháy xe tăng giặc. Giữ từng con phố, giữ từng hàng cây. Tâm hồn chiến đấu với súng đạn tối tân của giặc. Chết cho tổ quốc. Chết cho Hà nội tồn tại, bất diệt. Thịt máu tung lên. Cây Việt Nam sẽ tươi thắm.
Báo Cứu Quốc không ngày nào quên tường thuật những cuộc chống trả gan dạ, phi thường của Tự vệ thành. Nam Bộ có Thanh niên tiền phong. Bắc Bộ có Tự vệ thành. Dân Thái Bình đọc báo, mà cảm xúc, mà chiên ngưỡng dân Hà Nội. Và, mỗi ngày, một cuộc biểu tình tuần hành đả đảo giặc Pháp, hoan hô Tự vệ thành chiến đấu anh dũng. Tiếng súng chưa vang tới Thái Bình. Sinh hoạt vẫn bình thường. Thì giờ dành nhiều cho thù hận giặc Pháp. Ở góc phố, ở sân trường, những trái đấm phóng vào không khí, những lời nói rít qua kẽ răng: Căm thù giặc Pháp.
Vũ và bạn bè của Vũ, lớn thêm một chút. Lịch sử làm lớn những hồn đào niên thiếu. Lịch sử, luôn luôn, có phép nhiệm mầu. Nó quyến rũ cả những ai không thích nó. Nó huyễn hoặc nhiều người. Và, khối kẻ theo đuổi lịch sử, cho đến khi tỉnh giấc mê đời, mới biết mình lạc đường vào lịch sử [4]. Những bài báo tường thuật những trận đánh như đùa giỡn với giặc Pháp của Tự vệ thành, khiến Vũ say mê. Nỗi ám ảnh mất mát, xa lìa đã có chố trốn nấp kín đáo. Tưởng tượng Pháp chiếm Thái Bình, Vũ và bạn bè của Vũ sẽ noi gương Tự vệ thành, sẽ chiến đấu giữ từng con phố, từng bờ tường, từng mái hiên. Chắc chắn, Vũ sẽ bảo vệ con phố nhà Thúy, bảo vệ hàng cây hồi.
Vũ chiến đấu cho sự bình thản của Thái Bình, nơi Vũ sinh ra, lớn lên, hưởng trọn hoa niên, và biết yêu thương. Vũ sẽ chỉ chiến đấu vì thế, chiến đấu vì quê hương bé nhỏ của Vũ. Chiến đấu cho xum họp, gần gũi. Chiến đấu để khỏi chia lìa, ngăn cách, và buồn thảm. Ước mơ của Vũ thật giản dị. Thái Bình, mãi mãi, là Thái Bình. Chẳng cần huy hoàng, mới lạ. Mới lạ dễ thành xa lạ. Huy hoàng cũng là biên giới cách ngăn. Cứ nhỏ bé cho những tâm hồn gần gũi, thân mật những tâm hồn. Dòng sông Trà Lý có một mùa nước lũ cuồn cuộn. Rồi, lại lờ lững, êm đềm. Dòng sông ôm gọn nỗi vui buồn của cuộc đời tỉnh lỵ. Mùa xuân, mùa hạ rộn rã tiếng cười. Mùa thu thở dài lo lắng. Mùa đông ngồi buồn ôm kỷ niệm. Hạnh phúc làm bằng những thứ bình thường đó. Người ta phải chiến đấu, cũng bởi người ta không muốn mất hạnh phúc đơn sơ. Như Vũ, Vũ bằng lòng sống đến già ở thị xã Thái Bình. Vũ nghĩ rằng, những phương trời xa có thể rực rỡ gấp ngàn lần thị xã của Vũ, không thể có cầu Bo, sông Trà Lý, đền Mẫu, hồ Phúc Khánh, cống Kỳ Bá, những nơi Vũ đã dàn trải kỷ niệm ấu thời với bạn bè. Nhất là không thể có Thúy, có hàng cây hồi mùi thơm hăng hắc khắp phố, trừ phố nhà Thúy. Thúy là mùa xuân của Vũ, là ý nghĩa tuyệt vời của cuộc đời nối tiếp.
Thanh niên Hà Nội đang sống chết giữ Hà Nội, nhất định không bao giờ vì những khẩu hiệu, vì ảo vọng cách mạng, vì thích làm lịch sử, vì chủ tịch Hồ Chí Minh, vì những thúc giục phù du mà, phần lớn, chỉ vì thành phố của mình, nơi mình sinh trưởng, nơi mình ghi khắc kỷ niệm, nơi mình biết yêu, và được yêu. Nguời ta chiến đấu cho tình yêu, trước hết. Vũ sẽ chiến đấu cho tình yêu. Mà, tình yêu Thúy là lý tưởng chiến đấu tuyệt đối. Không vì tình yêu, không ai say mê chiến đấu. Không vì tình yêu, kẻ chiến đấu giống hệt gã điên rồ bắn bừa, chém bậy. Và, khi chiến thắng trở về, lòng kẻ chiến đấu sẽ trống rỗng, quạnh hiu. Thường là chiến bại. Bởi, có gì mong đợi mình chiến thắng trở về? Chiến đấu cho tình yêu, chết cho tình yêu, đó là ý nghĩa rạng rỡ nhất của cuộc sống một người.
Vũ chấp nhận chiến đấu. Để, bảo vệ thị xã thân yêu của Vũ. Để, bảo vệ người thân yêu của Vũ. Để, dòng sông Trà Lý muôn thuở êm đềm. Để, cầu Bo muôn thuở vững chãi. Để, hàng cây hồi, con phố nhà Thúy, muôn thuở ngát thơm. Để, mãi mãi yêu Thúy. Nhưng, có lẽ, Vũ không cần chiến đấu. giặc Pháp sẽ bị đuổi khỏi Hà Nội, Hải Phòng, Nam Bộ. Giặc Pháp sẽ bị đuổi khỏi Việt Nam. Giặc Pháp khó mà bén mảng sang Thái Bình.

64
Thế là hết hy vọng giữ Hà Nội. Giặc Pháp đã chiếm gọn thủ đô. Quân ta không kịp tiêu thổ kháng chiến. Tự vệ thành bị đánh bật khỏi thành phố kỷ niệm của mình. Dân Hà Nội tưởng chạy giặc năm bữa, nửa tháng sẽ hồi cư. Đành nước mắt đẩm lệ, nhìn Hà Nội trong tay thù, rồi tản cư sống đời áo nâu, biệt ly gấm hoa, làm những chuyến phiêu lưu vô định. Giã từ Hà Nội. Theo thác lũ người Hà Nội giao thành phố cho giặc chiếm đóng, có kẻ cảm khái hẹn về:
Rách tả tơi rồi đôi giầy vạn dậm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Mái đầu xanh hẹn mãi tới khi già
Phơi nắng gió và hoa ngàn cỏ dại
Theo tiếng gọi của những người Hà Nội
Trở về trở về chiếm lại quê hương

Hà Nội mất, khắp nơi xúc động. Hải Phòng cũng mất luôn. Các chiến sĩ thành Tô tạm biệt dòng sông Cấm. Những thành phố chưa bị giặc kéo tới, được lệnh tiêu thổ kháng chiến. Nam Định rục rịch phá nhà, đốt cháy dinh thự. Những cây cầu quan trọng, những khúc đường rầy bị giật sập, lột lên. Thái Bình còn ở quá xa, nên chỉ chuẩn bị tiêu thổ kháng chiến, và chờ đợi chiến đấu tiêu diệt giặc. Thái Bình là mồ chôn thực dân Pháp. Khẩu hiệu đầy lửa và tin tưởng. Sinh hoạt không có gì thay đổi. Phố xá vẫn buôn bán tấp nập. Trường học vẫn mở cửa. Báo Cứu Quốc kêu gọi toàn dân đoàn kết kháng chiến chống Pháp, và cho rằng, mất Hà Nội không thể là mất Việt Nam. Quân ta sẽ tống cổ giặc Pháp khỏi thủ đô, ngày gần đây.
Hôm nghe tin Hà Nội thất thủ, Vũ thả bộ đến nhà Thúy. Hai tay thọc túi quần, Vũ cúi đầu, lặng lẽ đi. Nhiều sợi khói buồn vướng ở mắt Vũ. Hà Nội chiến đấu anh dũng, thế mà còn bị mất, thì dễ gì Thái Bình giữ nổi? Câu hỏi luẩn quẩn trong đầu óc Vũ. Nhất là lệnh tiêu thổ kháng chiến. Không để một căn nhà, một hàng cây, một viên gạch nào lọt vào tay giặc. Phá đổ, đốt cháy hết trước khi giặc tới. Giặc tới với những đống gạch hoang tàn, với những hàng cây ngã gục thê lương. Giặc đến với đồng không, nhà trống. Như vậy thị xã của Vũ sẽ bị thiêu hủy. Con đường số 10, từ bến đò Tân Đệ, xuyên qua phố chính, qua cầu Bo, sang Hải Phòng, sắp bị đào xẻ. Những cây cầu sắp bị gài mìn cho nổ tung. Vũ thương cầu Bo vô vàn. Chắc rồi cầu Bo cũng bị giật tung. Vũ sẽ khóc hết nước mắt. Sự chia lìa, ngăn cách, đổ vỡ, mất mát không còn mơ hồ cảm thấy nữa. Nó đã hiện dần, rõ ràng, đắng cay, và ác nghiệt. Nỗi ám ảnh, tưởng đã trốn mất, lại xuất hiện. Vũ không thể tin rằng thị xã của Vũ vẫn nguyên vẹn những hình ảnh thân yêu, khi chiến tranh lướt qua. Vũ chớp mắt, nghe lòng dậy lên những xót xa, bùi ngùi.
Đã đến cửa nhà Thúy. Vũ không muốn gặp Thúy ngay. Vũ đứng dựa lưng vào thân cây hồi quen thuộc, ngẩn ngơ, như cậu trai vừa biết yêu đã thất tình. Cánh cửa sổ mở rộng. Thúy đang mong Vũ, chờ Vũ tới sớm hơn giờ hẹn. Thúy xuýt phì cười, thấy Vũ lim dim đôi mắt :
- Vũ ngủ gật đấy à?
Vũ mở mắt. Khuôn mặt Thúy hiện giữa khung cửa sổ, một sáng nắng hiền tỉnh lỵ, đẹp tựa chiêm bao. Gió ngoan bỗng luồn qua lá hồi. Gió yêu lá. Gió và lá thầm thì tình tự. Chẳng biết gió và lá có nghĩ ngày xa nhau, ngày tiêu thổ kháng chiến, ngày cây gục đổ, lá úa vàng chết, và gió đậu trên những đống gạch vụn nát, tương tư lá?
Thúy giơ tay vẫy :
- Lại đây, Vũ.
Vũ dời thân cây hồi, chậm chạp bước tới. Cánh tay Thúy vẫn để ra ngoài song cửa. Vũ cầm cánh tay nõn nà của Thúy, bằng cả hai tay mình. Một bàn tay Vũ mơn man bàn tay Thúy. Vũ nâng niu bàn tay Thúy, nâng niu mùa xuân của mình.
- Vào nhà với Thúy, đi!
- Vũ đứng ngoài được rồi.
- Sao hôm nay Vũ buồn thế?
- Vũ buồn à?
- Ừ, buồn ghê. Mắt Vũ như dính nước mắt. Vũ vừa khóc, hở?
- Không.
Vũ cười. Nụ cười không giống nụ cười hôm qua :
- Thúy bảo Vũ không biết buồn mà?
Thúy nói :
- Hôm nay, Vũ buồn.
Vũ nhớ vụ lụt năm ngoái, một mình chống bè vào phố nhà Thúy. Vũ buông sào, ngồi giữa bè thổi ác mô ni ca. Tiếng nhạc lan tỏa trên mặt nước. Một vùng ánh sáng, từ khung cửa sổ nhà Thúy, đủ soi sáng lối dẫn Vũ tới thế giới thần tiên của Vũ. Tay Vũ lạnh. Tay Thúy làm ấm tay Vũ. Mùa xuân Thúy làm ấm mùa đời Vũ. Ngọn cỏ Vũ ngậm ngọn sương Thúy long lanh. Và, giọt sương đó, bây giờ, muốn tan biến, muốn bắt ngọn cỏ héo hắt, úa vàng. Nắng lửa thích làm tan rã những giọt sương mai. Chiến tranh thích làm cuộc đời héo hắt, mòn mỏi.
- Dạo ấy vui, Thúy nhỉ?
- Dạo nào?
- Dạo Vũ nhốt con chim khuyên vào túi quần xoóc đem cho Thúy ấy. Thúy nuôi chim bằng cái ấm tích. Vũ ăn cắp cái lồng bẫy chim khuyên của thằng Hội, nhớ chưa?
Giọng Vũ chìm trong xa vắng :
- Dạo ấy, chưa có đảo chính, cách mạng... Dạo ấy, chẳng ai nghĩ chuyện chiến tranh, chẳng ai nghĩ có ngày thị xã mình sẽ bị tiêu thổ kháng chiến.
Thúy hỏi;
- Tiêu thổ kháng chiến là gì?
Vũ buồn buồn :
- Là mình phải đập phá nhà mình, chặt cây hồi trước cửa nhà mình, giật đổ cầu Bo.
Thúy chớp mắt :
- Rồi mình ở đâu?
Vũ thẫn thờ :
- Mình dời thị xã mà đi, như dân Hà Nội bỏ Hà Nội mà đi. Gọi là dân tản cư đó, Thúy ạ. Tản cư là yêu nước.
- Mình tản cư đi đâu?
- Không biết.
- Thúy không muốn đi đâu. Tại sao mình phải bỏ nhà mình?
Thúy quên mất lời ông chủ tịch Thái Bình mà, hôm nào, ở bờ sông, Thúy đã nhắc Vũ. Đôi mắt Thúy cũng đã vương khói buồn :
- Không giữ thị xã mình à?
Vũ khẽ lắc đầu :
- Chỉ còn hy vọng.
- Hy vọng gì?
- Pháp đừng về Nam Định. Pháp về Nam Định là Thái Bình tiêu thổ kháng chiến. Cả trường học cũng bị tiêu thổ.
- Phá trường học?
- Phá luôn nhà thương.
- Phá tất cả?
- Phá hết.
Thúy sững sờ nhìn Vũ :
- Mình sắp xa nhau?
Vũ nghẹn ngào :
- Mình sắp xa nhau...
Trái cây tưởng chín dần, và ngon ngọt. Trái cây đã chín thật nhanh, và làm ê răng Vũ, ê răng Thúy. Chưa bao giờ, Vũ nghĩ, có lần Thúy nói một câu ngắn ngủi mà buồn não nuột. Tháng giêng vừa tới hiền dịu, đã tháng năm quái ác. Và, tháng chạp sầu thảm gần kề. Cuộc đời tỉnh lỵ sắp bị bão táp thổi tung, cuốn mất hút. Vũ nắm chặt tay Thúy :
- Chắc giặc Pháp không sang Thái Bình đâu, Thúy ạ!
Thúy đưa cánh tay trái, luồn nốt qua song cửa, đặt lên vai Vũ :
- Thế là không tiêu thổ?
- Tiêu thổ cũng không sợ, nếu giặc đừng tới. Mình phá rồi mình làm lại.
- Những cây hồi trồng lâu lắm.
Vũ lặng thinh. Những cây hồi trồng tự đời nào nhỉ? Có lẽ tuổi cây nhiều hơn tuổi Vũ.
- Mình không phải xa đây, thì những cây hồi sẽ mau lớn.
- Nhỡ người ta không trồng hồi thì sao?
Vũ rời tay Thúy. Xót xa đùn dần, ngập lụt tâm hồn Vũ. Vũ quay mặt ra đường :
- Vũ về đây.
Bàn tay Thúy không còn đặt trên vai Vũ nữa. Biên giới ngày mai giống hệt khung cửa sổ. Khung cửa sổ đóng kím mít, không tỏa nổi một chút ánh sáng. Rồi, Vũ chỉ biết nhớ Thúy. Vũ sẽ khóc. Vũ chạy ra đường. Vũ chạy nhanh, lẩn trốn một ưu phiền đang đuổi Vũ. Thúy nhìn theo. Đôi mắt vướng thêm bụi. Đôi mắt chớp mau. Hạt bụi không chịu trôi theo nước mắt.

65
Lại một lớp vôi mới quét khắp đường phố thị xã. Những khẩu hiệu cũ được quên đi. Cách mạng làm cho những bức tường dầy thêm, nhờ những lớp vôi mới. Nét chữ của các anh ở phòng thông tin, mỗi ngày, một đẹp, vì viết khẩu hiệu luôn luôn. Thái Bình là mồ chôn thực dân Pháp. Khẩu hiệu máu lửa này đã bị khẩu hiệu Tản cư là yêu nước đè lên. Toàn dân kháng chiến là yêu nước, khẩu hiệu xoáy vào da thịt từng người. Khẩu hiệu gợi đổ vỡ và chia ly. Người Hà Nội, người Hải Phòng, lác đác, tản cư về Thái Bình. rồi, người Thái Bình tản cư về đâu? Nỗi buồn không thấy diễn tả trong những khúc hát, câu thơ. Kháng chiến như một viên ngọc đánh bóng rực rỡ, như một phép tích mầu nhiệm. Chung quanh nó, được vây kín bởi lớp sương mầu lãng mạn, và cùng những rung động tuyệt vời:
Lúc kháng chiến xa nhà nhịp theo đời sống mới
Người đi tìm chân trời nơi miền quê
Lúc phá hết phố phường biệt ly đời gấm hoa
Người vui đời áo nâu
Quên hết u sầu
Và đoàn người đi miên man không ngại gian nan
Người bàng hoàng đưa câu ca theo nhịp chân không

Lớp sương mầu lãng mạn ấy, không thể làm yên tâm những người còn ở lại với thành phố nguyên vẹn của họ. Giã từ là chuyện cam đành, không bao giờ là ước vọng. Giã từ thành phố kỷ niệm của mình, giã từ đống gạch vụn, hàng cây gục đổ, như giã từ một tình yêu thắm thiết. Dân Thái Bình sẽ đau đớn lắm, nếu phải phá hết phố phường, theo nhịp chân không, lang thang trên nẻo đường gian nan vô định. Mái nhà tượng trưng cho gia đình. Không người Việt Nam nào không yêu mái nhà. Bán nhà đã rỏ máu mắt, phá nhà sẽ quặn thắt ruột gan. Bên Nam Định, dân chúng đang thực hiện chính sách tiêu thổ kháng chiến. Nhiều cây cầu trên đường Phủ Lý-Nam Định đã bị giật sập. Nam Định chưa tiêu thổ xong, thì giặc Pháp đã kéo về, chiếm thành phố một cách dễ dàng. Nam Định mất. Hà Nội mất. Hà Nam mất...
Thái Bình hoảng sợ. Cả thị xã náo động. Chợ búa nghỉ họp. hiệu buôn đóng cửa, trường học khép kín. Thị xã biến thành thị xã chết. Không một nụ cười. Những khuôn mặt ngơ ngác nhìn nhau. Trong nhà Vũ, mọi người đi lên, đi xuống. Cha Vũ ngồi yên, đưa tay bóp trán hàng giờ. Dì Vũ tìm kiếm va ly, sắp xếp quần áo, rồi lại giỡ tung ra. Mới đầu, bà tính chỉ mang theo những thứ cần thiết. Cuối cùng, thứ nào cũng cần thiết, nên không biết mang theo thứ nào. Bà lấy tiền chia cho chồng một khoản, mỗi đứa con một khoản, dặn cất kỹ, nếu chạy giặc thất lạc, thì có tiền mà ăn. Dì Vũ khóc. Thằng Khoa bình tĩnh nhất. Nó an ủi mẹ :
- Tụi nó không dám sang đây đâu.
Mẹ nó mắng :
- Ranh con, mày biết cái gì!
Khoa nói :
- Nó sang Thái Bình là nó chết. Mồ chôn thực dân Pháp ở Thái Bình. Con không chạy giặc đâu. Con ở lại với anh Vũ chiến đấu.
Vũ vỗ vai Khoa :
- Có lẽ anh ở lại.
Khoa hỏi :
- Còn em?
Vũ đáp :
- Em tản cư với bố mẹ.
Dì Vũ quát ầm ỹ :
- Câm mồm hai đứa ngay. Chúng mày có nước đánh chó!
Cha Vũ đã dời khỏi ghế. Ông nói :
- Xem tình hình ra sao, mai mốt gia đình mình về Tường An. Vũ không được cãi dì.
Vũ lễ phép :
- Thưa dì, con đã lớn.
Dì Vũ dịu giọng :
- Con đừng dại dột học đòi làm anh hùng rơm.
Vũ muốn nói cho cha và dì hiểu rằng, Vũ không thích làm anh hùng thật hay anh hùng rơm. Vũ đã xem xử tử ông Ban, đã chứng kiến anh phụ trách thiếu nhi thị xã đâm chết Tầu phù, và Vũ ghê rợn. Vũ yêu thị xã, yêu mái nhà, yêu những người thân thiết, nên Vũ sẽ ở lại, cùng mọi người chung tình yêu với Vũ, bảo vệ thị xã Thái Bình. Vũ biết dì Vũ thương Vũ, cha Vũ thương Vũ, và không bao giờ để Vũ ở lại. Nên Vũ không nói. Vũ lẳng lặng ra phố. Thằng Khoa chạy theo :
- Anh ở lại chiến đấu chứ?
Vũ gật đầu :
- Anh sẽ ở lại.
Như năm nào, đội bóng của Vũ trả thù đội bóng An Tập, Khoa đi cổ võ anh, dặn dò đơ dzê rô nhé, Khoa lại dặn dò :
- Hạ hết tụi dân mũi lõ, anh nhé!
Vũ vẫy tay :
- Em vào nhà, kẻo mẹ quýnh lên. Anh đi nghe tình hình.
Vũ tới ngã tư, gặp đủ mặt bạn bè đang tụ họp, bàn chuyện đánh Pháp. Luyến huênh hoang :
- Mình chờ sẵn chúng nó ở bến đò Tân Đệ rồi. Yên chí đi, tụi nó sẽ chết ngập sông Hồng.
Lộc xăn tay áo :
- Dân Nam Định hạng bét mới để mất thành phố. Tao sẽ noi gương Tự vệ thành.
Vũ kéo Côn, bỏ rơi bạn bè. Hai đứa lên cầu Bo, thả tầm mắt, ngắm nóc nhà thờ Sa Cát. ổi Bồ Xuyên mùa này ngon lắm. Dòng sông trước mặt, dường như, rộng ra, mênh mông. Vũ khoác vai bạn :
- Mày có ở lại không?
- Có.
- Chúng mình sẽ đục thủng tường xuyên qua nhà nhau.
- Mẹ tao về Ô Mễ rồi. Mai bố tao về. Tao sẽ trốn ở lại. Thị xã lập đoàn Thiếu niên xung phong. Chúng nó ghi tên tấp nập.
- Tại sao mày ở lại?
- Vì mày ở lại, chúng nó ở lại. Chúng mình không thể xa nhau. Ở lại, để được gần nhau.
- Mày cũng sợ xa nhau à?
- Ừ, tao không muốn xa mày, Vũ ạ! Có nhiều thứ làm tao khó lòng xa thị xã. Trường mới đóng cửa, tao đã buồn rồi. Ở lại, tao chẳng sợ gì, chỉ sợ tiêu thổ kháng chiến. Cầu Bo bị giật, chắc tao điên mất. Chúng mình đã đi mòn cả cầu. Mấy hôm nay, xe hàng không chạy, tao nhớ mùi khói quá. Mày có gia nhập đoàn Thiếu niên xung phong không?
- Không. Tao giữ phố nhà tao, và hàng hồi...
Vũ sợ Côn buồn, không nói rõ hàng hồi nhà Thúy. Vũ tiếp :
- Mà, đã chắc gì phải đánh nhau.
Côn nắm tay bạn :
- Vũ này...
Vũ chớp mắt :
- Gì?
- Tao hỏi mày một câu, nhé!
- Hỏi đi.
- Nếu chúng mình không được ở lại, mọi người không được ở lại, chúng mình sẽ xa nhau bao nhiêu lâu?
- Chịu.
- Thí dụ xa nhau năm năm, gặp nhau, chúng mình còn thân nhau không?
- Vẫn thân nhau.
- Còn mày tao không?
- Còn.
- Tao sợ xa nhau lâu, chúng mình thành người lớn, gặp lại nhau sẽ ngỡ ngàng.
- Chúng mình không xa nhau.
- Vũ ạ!
- Gì?
- Rồi chúng mình sẽ xa nhau.
Câu nói của Côn giống câu nói của Thúy. Ngân hơn hai tiếng. “Mình sắp xa nhau”. Thúy đã nói với Vũ thế. Và, vũ buồn khôn tả. Vũ phải chạy trốn nỗi buồn. Rồi chúng mình sẽ xa nhau. Côn lại bắt Vũ buồn thêm. Vũ chợt nhớ thầy Đàn, nhớ những người bỏ đi, sau những đêm lùng bắt Vencuzenđơ. Từ cách mạng, xảy ra vô số chia ly. Trước đó, không ai nghĩ chuyện chia ly hay dời bỏ thị xã, phiêu bạt phương trời mù mịt. Tỉnh lỵ như một cái nôi êm ái, ru ngủ đời sống. Cái nôi đu đưa nhẹ nhàng, đều đặn. Đời sống ít phiền muộn, nhiều thiết tha. Và, hạnh phúc bình thường, đơn giản. Bây giờ, phiền muộn nhiều, sót sa lắm. Ngay cả những người mình tưởng sống gần gũi nhau tới già cũng nói chuyện sẽ xa mình, mãi mãi, xa đến ngỡ ngàng vời vợi.
Vũ ghì chặt bạn :
- Tao không muốn xa mày.
Côn lặng thinh. Gió thổi tung tóc hai người niên thiếu. Một lát, tưởng chừng rất lâu, nỗi buồn như gió lướt nhẹ trên mặt nước. Nỗi buồn dàn trải dài hun hút, thầm sâu vô tận. Côn kéo tay Vũ :
- Về đi. Đứng đây, tao khóc mất.
Đến giữa phố chính, Côn chia tay bạn, dặn dò :
- Tối nay, sang nhà tao chơi.
Vũ men theo vỉa hè, lầm lũi bước, định rẽ vào nhà Thúy. Tới đầu phố, Vũ ngập ngừng. Vũ sợ buồn. Tỉnh lỵ dang ngập lụt nỗi buồn, và Vũ là chiếc bè trôi lênh đênh trên nỗi buồn đó. Những người khác đang chới với dưới dòng nước lụt. Ôi, tỉnh lỵ của Vũ, quê hương của Vũ! Nô lệ, tù đầy, chết đói, chết no, roi vọt thực dân, kiếm thép phát xít, chân phù đồng minh, đảo chính, tai họa chiến tranh, dông bão, lụt lội, cách mạng, thù hận, nghi ngờ, kháng chiến, tiêu thổ, và còn nối tiếp những gì nữa? ồn ào đã lắng đọng. Hoan hô đã chìm khuất. Đả đảo đã biến lặn. Lúc này, chỉ còn cô đơn, mòn mỏi, hãi hùng. Vũ thưong tỉnh lỵ Thái Bình, thương quê hương muôn vàn. Quê hương Vũ đó, muốn an phận chẳng xong. Cựa mình thoát số kiếp hẩm hiu, lại thấy hẩm hiu hơn trong cuộc đổi đời. Vũ cúi đầu đi. Nghẹn ngào.

66
Bắt đầu là cầu Kìm bị giật sập. Cầu Kìm nằm trên đường số 39, từ thị xã xuống phủ Kiến Xương, huyện Tiền Hải. Muốn qua làng Thanh Nê, quê hương cô Trương Quỳnh Như, người yêu mộng tưởng của Tiêu Sơn tráng sĩ Phạm Thái, phải qua cầu Kìm. Cầu Phúc Khánh trên đường số 10, đoạn Tân Đệ-Thái Bình; cầu Nghìn, cầu Đồng Bằng, và nhiều cây cầu nhỏ bé không tên, đoạn Thái Bình-Hải Phòng, khuỵu ngã hết chân, nằm bất động như người tê liệt. Mặt cầu đổ nghiêng, y hệt cái xác tầu đắm. Xe cộ không thể đi qua.
Đường số 10, chi chít hố chữ chi. Cứ cách vài trăm thước, lại có vài chục thước hố, kéo dài mấy chục cây số. Xe tăng, tầu bò của giặc Pháp khó lòng sang Thái Bình. Lệnh tiêu thổ kháng chiến đã ban hành. Thời hạn phá hủy nhà cửa thật ngắn. Quá thời hạn ấn định, chính phủ sẽ tiêu thổ giùm. Người ta định giật đổ cầu Bo, nhưng gặp sự phản đối mãnh liệt của dân chúng mười hai phủ, huyện. Các đại diện về thị xã trình bầy lý do, xin chính phủ đừng giật đổ cầu Bo. Nếu giật đổ cầu Bo, nước lũ dồn ứ, không thể thoát nhanh ra biển, đê điều sẽ vỡ lung tung.
Sau mấy ngày chờ quyết định của chính phủ, ông chủ tịch Thái Bình báo tin vui: Không giật đổ cầu Bo. Người sung sướng nhất là Vũ. Thị xã mở màn tiêu thổ, bằng cách đưa người họ hàng ở nhà quê lên vác cánh cửa, khuân bàn ghế, tủ, sập về quê mình, hy vọng sẽ hồi cư cùng với đồ đạc nguyên vẹn. Những gia đình quê gần thị xã còn cho người vác cả rui, mè, bậc cửa, đem về ngâm duới ao, đợi khi kháng chiến thành công, thì khiêng lên thị xã xây dựng lại nhà cửa. Tiêu thổ là những ngày thê thảm nhất của thị xã. Mỗi khuôn mặt, một nỗi đau khổ.
Người ta vừa khóc, vừa phá vỡ nhà mình, phá vỡ công trình, phá vỡ ước vọng của một đời người, dành dụm tiền bạc, gom góp công lao. Mồ hôi, nước mắt là gạch, là vữa. Gạch vữa vụn nát dưới những nhát búa thương yêu! Căn nhà chứa dựng bao nhiêu kỷ niêm của bao nhiêu đời người. Kỷ niệm ấy đang bị tiêu hủy tàn nhẫn, theo lệnh chủ tịch Hồ Chí Minh: Không để một căn nhà, một mái hiên lọt vào tay giặc. Pháp chưa sang Thái Bình, đã đổ vỡ, sầu thảm. Chúng sang Thái Bình, chắc chắn còn đổ vỡ, sầu thảm gấp bội.
Dân Thái Bình đã quên hẳn lời nói, hôm nào, của Hồ chủ tịch: Pháp sang Thái Bình là có thái bình. Ngay cả những hứa hẹn thắng lợi trước ngày Hồ chủ tịch qua Pháp dự hội nghị Fontainebleau, những huyền thoại thêu dệt quanh những ngày Hồ chủ tịch ở Pháp, cũng được quên đi. Muối đang sát lên vết thương của dân thị xã. Ai thiết nhớ chuyện René Coty, đứng trên tam cấp điện élysée, chìa tay bắt tay Hồ chủ tịch. Hồ chủ tịch lờ đi, đợi bước lên, đứng ngang hàng René Coty, mới chịu bắt tay. Bây giờ, phá đổ nhà cửa chính mình gây dựng là chuyện thấm thía đời đời. Và, Hồ chủ tịch không về cùng dân Thái Bình, chứng kiến cảnh tiêu thổ kháng chiến. Lúc này đây, Hồ chủ tịch sẽ chỉ được rước đón bằng những tiếng thở dài ảo não, những đôi mắt mờ lệ nuối tiếc. Hoa thật, hoa giấy đã là gạch vụn. Chẳng còn ai đủ tinh thần hoan hô Hồ chủ tịch nữa.
Cái đám dân vốn quen im lặng, càng im lặng thêm. Nhiều người cố nán phá nhà, để sống thêm với kỷ niệm ít ngày. Phố chính tiêu thổ làm gương. Nhà thương, Vọng Cung, dinh tổng đốc, công sứ cũ san bằng địa. Đền Mẫu hoãn tiêu thổ. Hai ông hô pháp đứng nguyên, với bộ râu bị dứt gần hết. Trong vòng tuần lễ, nhà cửa thị xã đổ nát quá nửa. Nhà thờ hoãn tiêu thổ. Cả dẫy trưòng học của các bà xơ cũng hoãn tiêu thổ luôn. Cuối cùng, thị xã còn mỗi đền Mẫu, nhà thờ, trường bà xơ, và nhà Vạn Phát Tường, chuyên làm bánh trung thu, là thoát lệnh tiêu thổ kháng chiến.
Bạn bè của Vũ theo gia đình tản cư về các phủ, huyện thật xa, hoặc về làng cũ. Chia ly khởi sự từ đây, khởi sự ngay mảnh đất quê hương mình. Côn đã xa Vũ rồi. Luyến, Lộc, Long đã xa Vũ rồi. Những hình ảnh thân yêu chìm khuất. Những sợi dây mật thiết quấn chặt đời Vũ lỏng dần, và mất hút. Vũ không được ở lại giữ thị xã. Còn gì đâu mà giữ? Hàng hồi thấp nhỏ, dẫu không bị đốn, chắc sẽ chết vì buồn. Tất cả phải dời khỏi thị xã.
Mấy đêm chót, thị xã giống hệt bãi tha ma. Máy điện đã phá hủy. Cái hồ chứa nước cao ngất trong sân trường gục gẫy lưng chừng. Bao nhiêu cột đèn ngã rạp. Thái Bình chưa là mồ chôn giặc Pháp, đã là mồ chôn hy vọng được sống an phận của nhiều người. Những ngọn đèn dầu le lói, trên những đống gạch vụn, bắt phát khóc. Dưới ánh trăng mờ, nhìn những bờ tường lởm chởm, trông rợn tóc gáy. Chuột gián, cóc nhái chết tập thể. Chim muông bỏ thị xã bay đi. Thật sự, không còn gì. Và, không ai ngờ, sau cách mạng, là một định mệnh khắt khe. Vũ nán lại thị xã với cha. Bác phán Thụy, dùng dằng, chưa muốn tản cư. Mãi hôm người ta dọa ai không tản cư, sẽ bị xử tử, những người cố tình nằm ở đống gạch nhà mình hít hà mùi đất mới chịu giã từ thị xã.
Vũ chạy sang nhà Thúy. Bác Thụỵ trai ngồi ngoài vỉa hè buồn thiu. Bác gái khập khễnh, đi đi lại lại, trên đống tường gạch ngổn ngang. Thúy đứng dựa lưng vô thân cây hồi, mắt đẫm lệ. Vũ bước nhẹ, đến cạnh Thúy. Im lặng. Vũ đưa tay đặt lên vai người yêu bé nhỏ. Thúy bỗng ôm chầm lấy Vũ, òa khóc. Tự bao giờ, Vũ chẳng rõ, cha đã tới, và đang nhỏ to an ủi vợ chồng bác Thụy. Cũng là an ủi mình. Vũ áp má mình vào má Thúy. Má Thúy ướt nước mắt. Vũ vuốt ve tóc Thúy, vỗ về :
- Nín đi, Thúy.
Thúy ôm chặt Vũ, nức nở :
- Rồi mình có trở về không?
Vũ ứa nước mắt. Nước mắt nhỏ xuống tóc Thúy. Vũ hôn tóc Thúy. Vũ hôn má Thúy. Vũ hôn môi Thúy. Mùa xuân của Vũ không thể mất. Mùa xuân ấy đã ngự trị tận đáy hồn Vũ, và chẳng một thứ lệnh nào bắt phá hủy nổi. Khi hương tóc Thúy, mật ngọt môi Thúy, ấm nồng da thịt Thúy còn làm Vũ xao xuyến, bâng khuâng, rạo rực ngay trên cả điêu tàn, đổ vỡ, thì Vũ sẽ trở về làm lại được vùng trời tỉnh lỵ thân yêu cũ. Vủng trời rực rỡ hơn, hiền mộng hơn, thắm thiết hơn. Khoảnh khắc mơ ước tuyệt đời, Vũ thấy mình đầy phép tích linh thiêng. Vũ hôn lên mắt Thúy :
- Vũ sẽ trở về. Chúng mình sẽ trở về.
Vũ chỉ nói thế. Vũ, và cả Thúy nữa, mơ hồ, nghe tiếng trái tim Vũ thầm thì :
- Anh sẽ chiến đầu, để trở về sống mãi bên em.
Gói hành lý ném trúng chân Vũ kèm lời hối giục :
- Hết giờ rồi, đi thôi con, kẻo nguy hiểm.
Vũ gỡ nhẹ tay Thúy ra. Đôi tay mảnh mai của Thúy còn dang rộng, như muốn níu kéo. Vũ cúi xuống nhặt gói hành lý. Đôi tay Thúy rã rời, hụt hẫng.
- Giã từ Thúy.
- Giã từ Vũ.
- Tạm biệt em.
- Tạm biệt anh.
Vũ bước lùi. Bước lùi. Mắt Vũ mờ dần. Hình ảnh Thúy nhạt nhòa. Thúy trông theo. Vẫy vẫy. Sương mù đã phủ kín tỉnh lỵ. Sương mù giữa trưa nắng gắt. Chẳng ai nhìn rõ ai. Vũ đã băng qua một khúc rẽ.
--------------------------
[font="verdana"][size="3"][color="#000099"][1] Nước Việt Nam của người Việt Nam.
[2] Tức là súng đại liên.
[3] Vnecuzenđơ: Việt Nam Quốc Dân đảng
Giun dế: Duy Dân
[4] Tên một tiểu thuyết của Nguyễn Mạnh Côn viết, để kính dâng anh hồn Lan Khai đã bị học trò của mình cho vào rọ, dìm chết.
[/color][/size][/font]
0
Phần bốn
Chu kỳ rữc rỡ
 
67
Anh em trong đoàn quân du kích
Cùng vác súng lên đàng
Đi lên
Đi lên
Xuyên qua rùng qua núi
Qua mây mờ đêm tối
Vượt suối băng ngàn
Giặc tiến tới đây
Súng kia cùng nhau cướp lấy
Nhằm cùng nhau bắn
Mỗi viên là mỗi quân thù...
[1]
Bài hát đánh thức chim muông trên cây, giật mình cá tôm dưới nước. Lâu đài âm thanh phóng ra, làm xôn xao lá cành. Những bước chân một hai nhịp mạnh. Đường đất muốn nứt ra. Bài hát ngừng lại, tiếng vang còn lơ lửng đầu thôn, cuối xóm. Trăng đồng nội sáng tỏ. Trăng soi rõ bầy nhi đồng súng gỗ, của thằng Khoa, lên sân đình, tập bắn. Hơn bốn mươi nhi đồng xếp hàng đôi, bước đều theo lời hô, của trung đội trưởng Khoa.
- Mốt, mốt hai mốt... Mốt, mốt, mốt, mốt hai mốt...
Trong bầy nhi đồng súng gỗ, có đứa đùa nghịch :
- Mót, mót khoai mót!...
Cả bọn cười vui. Trung đội trưởng Khoa hét lớn :
- Trật tự!
Khoa rút còi, thổi một mạch. Toét, toét. toét toe toét... Rồi, cất còi vào túi quần xoóc, và nói :
- Chú ý... Dân quân Việt Nam... Một, hai, ba...
Lâu đài âm thanh vỡ tung:
Dân quân Việt Nam mau bồng súng ra sa trường
Dân quân Việt Nam không lùi bước trước rừng gươm
Tay phất cao lá cờ tranh đấu mà cứu giống nòi
Vung kiếm lên ước nguyền Việt Nam muôn năm sáng tươi...
[2]
Mỗi giọng hát là một chí tình. Tưởng chừng đoàn quân súng gỗ đang tiến-ra chiến trận. Thằng Khoa đi tách ngoài hàng ngũ. Trung đội trưởng, cơ mà.
Sau ngày thị xã Thái Bình tiêu thổ kháng chiến, gia đình Khoa tản cư về làng mình. Làng Tường An, cách thị xã mười mấy cây số. Nhà cửa ở thị xã bị đập phá, chỉ còn trơ lại vài bức tường, nhô khỏi đống gạch khổng lồ. Hôm từ giã ngôi nhà xưa, con phố cũ, mẹ thằng Khoa đã khóc nức nở. Cha nó buồn buồn. Nhiều người đã khóc. Rồi, chia tay nhau. Cái thị xã nhỏ bé, êm đềm, bỗng trở thành hiu quạnh. Kẻ về Kiến Xương, Tiền Hải. Kẻ sang Quỳnh Côi, Phụ Dực. Ngày trở lại thị xã, thật xa xôi. Bởi vì, cụ Hồ đã trả lời Bao giờ Pháp sang Thái Bình thì có thái bình, câu hỏi của một người dân thị xã Thưa Hồ chủ tịch, bao giờ đất nước ta thái bình, kháng chiến thành công.
Pháp chưa sang Thái Bình, nó chiếm Nam Định thôi. Gọi là tiêu thổ kháng chiến, nhưng nhà thờ và đền Mẫu không bị phá. Khu nhà của các bà xơ vẫn y nguyên. Thoạt đầu, dân thị xã được vào thăm nền nhà của mình. Sau, bị cấm hẳn. Ngã tư Vũ Tiên, cầu Bo, cầu Kiến Xương, lối đê Đoan Túc rào kín. Bộ đội canh gác cẩn mật. Dần dần, nếp sống áo nâu quen đi, chẳng ai muốn về thị xã. Gia đình ông Thụy qua Thái Ninh. Thằng Côn về Ô Mễ. Nhà nó giầu nhất tổng. Làng nó có cái chợ to lắm. Một tháng sáu phiên, vui không thể tả nổi. Tường An thuộc tổng Ô Mễ. Từ làng Khoa sang làng Côn, phải qua con đường lát gạch của làng Thọ Bi, qua cổng Thọ Bi, qua cây cầu gỗ làng Đại Hội. Thằng Vũ về làng, sống thiếu bạn bè, đâm ra buồn. Nó đã trốn nhà, đi làm liên lạc viên cho đại đội 4. Vũ noi gương anh Kim Đồng. Cha nó mất công tìm đại đội 4. Thì nó đã theo trung đoàn 44.
Khoa rất ngưỡng mộ anh. Đối với nó, chỉ Vũ là chiến, là tuyệt cú mèo. Khoa chưa biết Kim Đồng Vũ bao phen giao thông trong rừng, gian lao nguy nan muôn trùng ra sao, song nó biết liên lạc viên của bộ đội oai vô cùng. Nhiều thằng liên lạc đã theo bộ đội, về Tường An. Lưng giắt hai trái lựu đạn, vai đeo ba lô, tay cầm cái thông nòng súng ba-zô-ca, mặt vênh vang. Các chi phụ nữ xúm nhau thăm hỏi thằng liên lạc, và tặng quà bánh, khăn áo. Bộ đội diễn kịch, thằng liên lạc lên hát một bài, đưọc vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Liên lạc viên là hình ảnh mơ ước của nhi đồng súng gỗ. Anh Lý, phụ trách nhi đồng, nói rằng, nhi đồng nào xuất sắc gương mẫu, sẽ được chọn làm liên lạc viên. Thằng Khoa thèm làm liên lạc viên, đến nhỏ rãi. Nó đã tỏ ra xuất sắc. Đang là tiểu đội trưởng, Khoa nhảy lên trung đội trưởng.
Làng Tường An nghèo nàn, nhỏ bé, chỉ có hai thôn. Nằm dưới đê sông Trà Lý, suốt đời lo đê vỡ, mà con ngòi duy nhất chả khi nào đầy nước. Buổi sáng, nước dâng chưa tới giữa ngòi, đã buổi trưa nước rút vội. Một nửa con ngòi luôn luôn khô cằn, vào mùa hạ. Thầy địa lý bảo làng không ai khá giả trọn vẹn. Muốn khá giả, phải bỏ làng tha phương cầu thực. Một số người may mắn, ăn nên làm ra. Những người khác thử thời vận mãi tận Hà Nội, rồi cũng đến làm cu ly xe tay, vú em, đầy tớ. Cha thằng Khoa là người may mắn. Anh em nó được đi học, được hưởng văn minh thành thị. Trở về quê hương, giữa đám trẻ con nghèo dốt, tự nhiên, thằng Khoa sáng nước. Sự láu lỉnh của Khoa đã chinh phục hết nhi đồng trong thôn của nó. Chỉ cần kể chuyện Zorro, cứu khốn phò nguy, chuyện cao bồi bắn mọi da đỏ, chuyện Tác Dăng chúa tể sơn lâm, là bọn nhóc con sẵn sàng hoan hô Khoa.
Dưới mắt nhi đồng Tường An, thằng Khoa giỏi nhất hạng. Khoa biết đá bóng. Quả bóng ten nít trụi lớp lông trắng bọc ngoài, còn trơ cao su đen thùi của Khoa cũng bắt nhi đồng thèm muốn. Vui lắm, Khoa mới cho bọn nhóc đá bóng cao su. Còn thì toàn bẻ bòng xanh, đem nướng mềm, kéo nhau ra bãi tha ma, Khoa dạy bọn nhóc đá bóng. Nó lấy đất cầy, xếp cột gôn, đem những gôn Luyến, a văng xăng Vọng trộ bọn nhóc. Nào, gôn Luyến đôi tay dính nhựa mít sơ lanh, dính hơn nhựa mít. Nào, a văng xăng Vọng, đôi chân súng đồng, sút bóng như sút tảng đá. Khoa nói gôn với a văng xăng..., bọn nhóc chẳng hiểu gì, phục Khoa sát đất. Nó chê anh Phúc diễn kịch, đóng vai Tây không biết một tí tiếng Tây nào. Anh Thái đóng vai Việt gian, vất đi. Nó khoe sẽ diễn kịch, đóng vai Tây, nói tiếng Tây như... thật. Khoa hay ưỡn ngực: Tao học trường Monguillot, cơ mà!
Điều khiến Khoa hậm hực, là nhi đồng Tường An thiếu bộ trống đồng. Từ hai năm nay, Tường An không nằm trong huyện Vũ Tiên nữa, mà hướng sang huyện Thư Trì. Tường An biến thành ranh giới Vũ Tiên-Thư Trì, và thuộc xã Đại Đồng. Mỗi kỳ đại hội nhi đồng xã, tụi Đồng Đức, Đại Đồng đeo trống đánh vang lừng. Tường An đứng nghe, mà mơ ước có bộ trống đồng. Tường An nghèo quá, quỹ làng xác xơ, lấy đâu sắm trống đồng. Tiền nguyệt liễm chả ăn thua gì. Vụ chiêm vừa rồi, nhi đồng đi mót lúa, cắt rạ thuê, vẫn không đủ tiền mua trống. Khoa hy vọng, cuối năm, nhi đồng tát ngòi bắt cá và đi hôi cá, Tường An sẽ có trống đồng. Trống đồng tuyệt diệu. Đêm ngủ chợt thức giấc, Khoa còn nghe tiếng trống đồng, từ làng Đồng Đức, vọng sang. Và, Khoa nuốt nước bọt. Nhi đồng Tường An đá bóng hạ nhi đồng Đồng Đức hàng hai chục quả; một mình Khoa sút lọt gôn Đồng Đức mười bốn quả. Nhi đồng Tuờng An hát hay nhất xã. Nhi đồng Tường An vẽ chân dung bác Hồ, theo trí nhớ, được xã khen. Nhi đồng Tường An chỉ thiếu một bộ trống dồng.
Thề hát tới khúc chiến thắng
Thề phanh thây quân xâm lăng
Việt Nam anh dũng hát câu khải hoàn.
- Mốt, mốt, mốt hai mốt... Mốt, mốt hai mốt...

Đội nhi đồng đã qua cầu Chờ, sắp rẽ vào sân đình. Trung đội trưởng Khoa đếm nhịp thật lớn. Ở sân đình, đội nhi đồng của trung đội trưởng Huệ đang hát bài Quân dân nhất trí. Và, thằng Huệ đếm nhịp hùng dũng ra phết.
Huệ không ghét Khoa, nó muốn tỏ nó không thua Khoa. Huệ là thằng nhóc tháo vát nhất thôn trên. Nó theo học võ với ông Tô Đại Hồng, ở Ô Mễ. Huệ biết đánh trung bình tiên, đánh côn. Hễ đêm nào có kịch, là Huệ lên sân khấu múa bài mai hoa quyền, để ganh đua với Khoa cái tài vừa gẩy đàn banjo vừa hát. Huệ bán kim chỉ, ở chợ phiên Ô Mễ. Chợ búa quen rồi, nên Huệ khôn ngoan. Anh Lý yêu cả Khoa lẫn Huệ. Anh đặt một giải thi đua cho hai đội nhi đồng. Bỗng nhiên, Huệ và Khoa trở thành hai đối thủ. Cuối tháng này, hai đội nhi đồng sẽ hát thi, diễn kịch thi. Đội nào hay, trung đội trưởng sẽ đại diện Tường An, chỉ huy toàn thể nhi đồng Tường An, vào những dịp đại hội nhi đồng xã. Và, nếu có trống đồng, đội thắng giải thi đua được sử dụng. Khoa đinh ninh rằng, đội nhi đồng thôn dưới của nó sẽ thắng giải.
- Bên trái... quay! Mốt, mốt, mốt hai mốt...
Đội nhi đồng đã vào đến sân đình. Trung đội trưởng Khoa lăng xăng hô hoán :
- Dậm chân... Dậm!
Hơn bốn mươi ông nhóc đang bước, bị phanh chân. Bây giờ, súng gỗ trên vai, các ông đứng một chỗ, chân trái dậm, chân phải nhấc.
- Mốt, mốt, mốt, mốt hai mốt!
Nhiệt tình và lòng tự phụ tập trung dưới gót chân. Các ông nhãi dậm chết thôi. Chân không mà có thể dậm lún đất. Ở hiên đình, đông đủ thiếu nữ đang chuyện trò vui vẻ. Trung đội trưởng Khoa cứ tưởng có nhiều đôi mắt theo rõi mình, nó làm ra vẻ quan trọng, chẳng một ai buồn cười. Trong cái không gian và thời gian này, không một trò chơi nào lố bịch hết. Toàn những trò chơi yêu nước. Ngay khẩu súng gỗ trên vai nhi đồng còn quan trọng nữa là. Quan trọng cả với người lớn, cả với cụ già. Con gà Huệ đang gáy. Con gà Khoa cần gáy hay hơn. Nó hắng giọng :
- Mờ trong bóng chiều... Một, hai, ba...
Đội nhi đồng thôn dưới cất tiếng hát:
... Một đoàn quân thấp thoáng
Núi cây rừng
Lắng tiếng nghe hình dáng
Của người anh hùng
Trên khu đồi hoang
Im trong màn sương
Ta ra đi trong một chiều buông âm u
Âm thầm trong khói mù
Bao oan khiên đang về đay hú với gió
Là hồn người Nam nhớ thù...
[3]
Giá trời không sáng trăng và những bước chân không dậm nạnh, đêm khuya vắng, nghe tiếng hát, người ta sẽ tưởng Đoàn quân ma đang đi diệt thực dân Pháp. Bài hát chấm dứt, trung đội trưởng Khoa đếm nhịp :
- Mốt, mốt hai mốt...
Rồi hô :
- Đứng lại... đứng!
Một tiếng dậm thật đều, thật lớn. Im lặng. Trung đội trưởng Khoa biểu diễn tài chỉ huy :
- Bên trái... quay!
Anh Lý đã tới. Huệ và Khoa nhường quyền chỉ huy cho anh. Anh Lý khuyên nhủ nhi đồng hãy gắng sức học tập, để lớn lên đánh đuổi quân xâm lăng. Mỗi buổi tối, anh Lý đều khuyên nhủ như vậy. Muốn được lên chiến khu thăm Bác, tất cả nhi đồng hãy thi đua yêu nước, nhất tâm vâng lệnh bác Hồ và chính phủ kháng chiến. Nhi đồng lắng nghe lời anh Lý. Khuyên nhủ xong, anh Lý kể những chiến thắng, của trung đoàn 44, ở Hưng Yên, Hải Dương, ở liên khu 3, ở chiến khu Việt Bắc, ở Nam Bộ. Giặc Pháp chết tơi bời. Sông Lô ối máu xâm lăng. Tàu thực dân Pháp bị bộ đội ta bắn cháy, chìm nghỉm. Câu cuối cùng của anh Lý là: Cuộc kháng chiến của toàn dân ta nhất định phải thành công, Việt Nam nhất định phải độc lập. Nhi đồng nghe tin chiến thắng, reo hò vang trời. Ở trong tim các ông mặt trời nhỏ đó, giòng máu kiêu hãnh đang réo sôi. Chờ nó réo sôi cực độ, anh Lý nói :
- Tối nay, các em tập bắn quỳ, bắn nằm...
Súng gỗ đã là súng thật. Khúc cây cũng là khẩu súng. Và, khi anh Lý hô bắn, đạn khạc ra đùng, đoàng... Trăng chiếu sáng hơn. Trăng say sưa nhìn những đứa trẻ Việt Nam học tập yêu nước. Những tiếng đạn mồm nổ liên tiếp. Như thể chiến trận đã về đây, xác thù ngập đường, kín lối. Và, đêm không muốn sáng, với những đứa trẻ không muốn ngủ.

68
Trời trở lạnh. Ngoài đồng, lúa đã vào mẩy. Bèo trên mặt ao ngả mầu vàng ối. Nhũng bè rau rút ngủ suốt ngày. Vì, gió lộng. Và, lũ gọng vó sợ rét, hết ham đùa giỡn. Pháp đã chiếm giữ Nam Định. Ở bên này, ở ngôi làng bé nhỏ dưới chân đê Trà Lý, đời sống thật bình thản. Không ai sợ giặc Pháp cả. Mọi người chỉ đợi giặc Pháp qua Thái Bình, để cướp súng giặc giết giặc. Bác Hồ đã dạy, Pháp đến Thái Bình là có thái bình. Cho nên, dân Thái Bình nóng lòng chiến đấu. Bởi, Thái Bình là mồ chôn thực dân Pháp. Bởi, Thái Bình chiến thắng, thì toàn quốc sẽ chiến thắng, thủ đô Hà Nội sẽ được giải phóng, và Việt Nam độc lập muôn năm. Trên tường đình, những câu thơ gửi gấm hy vọng kháng chiến thành công vào dân Thái Bình, viết bằng mầu gạch non ngon mắt:
Bao giờ du kích Thái Bình
Diệt tan giặc Pháp thì mình lấy ta.
Bao giờ yên nước yên nhà,
Ba kỳ thống nhất thì ta lấy mình.

Dân Thái Bình hãnh diện, nhận trọng trách. Thành thử, mỗi người đều trở thành chiến sĩ. Phụ lão cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nhi đồng cứu quốc. Đoàn thể nào cũng tập bắn súng gỗ, tập bò, và tập trận giả... Anh thợ rèn đầu làng đã thắng giải thi đua, vì sản xuất nhiều dao găm, mã tấu. Anh mõ hèn mọn làm trưởng ban tuyên truyền xung phong. Nhiệm vụ của anh vô cùng quan trọng. Anh đã dựng xong bốn cái chòi thông tin, cao ngang ngọn cau. Buổi tối, anh bắc loa đọc tin bộ đội giết giặc Pháp. Ông Tú nấu rượu nắm chức chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Tường An. Lý trưởng Ngạn gia nhập du kích thôn, bị trương tuần Hành bắt gác liên miên. Hễ ngủ gật, bị lôi ra phiên họp phê bình gay gắt. Ông Năm, lang thuốc lá, nhờ để dành trái bòng thật to và mua cái mũ tặng Hồ chủ tịch, được Hồ chủ tịch gửi thư cám ơn, nên buổi họp toàn thôn, hay toàn xã, ông được ngồi ghế danh dự, cạnh chủ tịch. Chánh tổng Hạp ngồi ghế cuối cùng. Ông Năm lồng bức thư của Hồ chủ tịch vào khung kính, treo giữa nhà. Và, từ đó, ông xung phong chữa bệnh không lấy tiền. Bộ đội về làng, ông đem cam, chuối, tiền ủng hộ. Mỗi nhà có một hũ gạo kháng chiến, trước khi vo gạo thổi cơm, bớt ra một nắm, bỏ vào hũ để, lâu lâu Ủy ban tới lấy, gửi nuôi bô đội. Hũ gạo kháng chiến của ông Năm, luôn luôn, đầy nhất. Ông hí hửng ghê lắm, đòi làm cha nuôi bộ đội, đóng góp hơn các bà mẹ nuôi bộ đội.
Chẳng có ai không yêu nước. Lòng yêu nước thành thật đến ngây thơ. Ủng hộ một cây tre, cũng là yêu nước. Không khí chờ đợi giặc, diệt giặc sôi nổi liên tục. Đề phòng Việt gian len lỏi, đầu làng và cuối làng dựng cổng tre vững chắc, đêm ngày canh gác cẩn mật. Ban ngày, người lạ mặt vào làng bị hỏi chứng minh thư, bị khám xét kỹ lưỡng. Vô phúc ai mang cuốn sách tiếng Tây màu xanh, đỏ, trắng, bị nghi mang cờ tam tài. Bèn bị trói chặt giải về Ủy ban cứu xét. Ai thủ trong túi lưỡi dao cạo Gillette, còn bọc miếng giấy in hình đầu Tây, bị nghi là Việt gian. Máy bay Bà Già bay tít tắp trên cao, ai vô tình giơ tay vẫy, bị ăn no đòn. Ban đêm, qua cổng làng, phải mang đèn. Phụ nữ canh gác sẽ cùng người đi đêm vấn, đáp như sau:
Hỏi :
- Ai?
Đáp :
- Tôi.
Hỏi :
- Đi đâu?
Đáp :
- Đi, (Đi đâu thì nói rõ)...
Hỏi :
- Đứng lại! Đằng sau quay!
Nếu người đi đêm chưa kịp đứng lại, phụ nữ canh gác sẽ hô tiếp :
- Đứng lại! Đằng sau quay, kẻo tôi bắn!
Dù biết phụ nữ canh gác sẽ bắn súng gỗ, người đi đêm cứ tuân lệnh. Bấy giờ, mấy chị phụ nữ từ vọng gác chạy ra xem có phải người trong làng không. Đề phòng Việt gian là công tác hàng đầu, và sôi nổi liên tục. Tạo không khí kháng chiến nhộn nhịp vẫn là nhi đồng súng gỗ. Mà nhi đồng súng gỗ Tường An, chỉ có Khoa và Huệ. Mấy hôm trước, trong cuộc tập trận giả, nhi đồng thôn dưới làm giặc Pháp, đóng đồn ở sân đình, bị nhi đồng thôn trên, làm quân ta, đánh thua tơi bời. Giặc Pháp là phải thua. Trung đội trưởng Huệ bắt quân ta, đeo lá đầy người, bò sước cả đầu gối. Giặc Pháp bắn đạn mồm tưng bừng, quân ta không chết, chồm dậy xung phong. Giặc Pháp biết thân phận, ngã sóng soài, hoặc giơ tay hàng. Tướng Le Petit Khoa thoát vòng vây chạy trốn. Trung đội trửng Huệ dậm chân bực tức. Tối mai, nhi đồng thôn dưới làm quân ta. Trận đánh sẽ xảy ra ở sân chùa. Khoa đã thề sẽ bắt sống Henri Rivière Huệ. Và, nó dẫn nhi đồng thôn dưới ra gò Mối, tuyển lựa quân cảm tử.
Sương xuống ướt đẫm cỏ. Gió lạnh. Nhi đồng thôn dưới đứng co ro. Trung đội trưởng Khoa huýt còi :
- Tập họp hai hàng dọc!
Nhi đồng lục tục vào hàng ngũ.
- Nhìn đằng trưóc... thẳng.
Trung đội trưởng Khoa đầy quyền uy.
- Thôi!
Những cánh tay buông đều đặn.
- Dậm chân... dậm!
Khoa đánh nhịp :
- Mốt, mốt, mốt hai mốt...
Và bắt giọng :
- Đường Lạng Sơn âm u ù u... Một, hai, một...
Nhi đồng hát vang;
Đường Lạng Sơn âm u ù u
Trời bình minh êm ru ù u
Vẳng nghe tiếng súng trong sương mù
Đường chiến khu bao la à a
Vệ quốc quân xông pha à a
Chiều im gió lắng nghe tiếng quân ca
Biên khu
Biên khu
Vang lời quân Chi Lăng reo hò
Cờ loang máu nhớ in thù xưa
Dưới trăng mờ ôi gió đưa
Tiếng hú
Tiếng hú
Ta nhìn qua Cai Kinh ngang tàng
Vọng tiếng súng Bắc Sơn ầm vang
Máu quân thù tràn đầy trên xá lang...
[4]
Hơi thở từ lồng ngực thoát ra, bốc khói. Hơi thở làm nắng, làm mặt trời đêm bắt sương khô, gió ấm. Những bàn châm dậm mạnh. Xác chết dưới gò cũng rung động, huống chi người sống. Nhịp chân, lời ca, tiếng hô hoán tạo khung trời đêm gò Mối thành khung trời bình minh thơ ấu, của những ông nhô yêu nước. Bài hát đã dứt. Âm thanh còn lan tỏa đó đây. Khoa cho bọn nhãi ngừng dậm chân. Nó hỏi :
- Có thằng nào rét không?
Câu trả lơì vỡ đất :
- Không.
Khoa nói :
- Tối mai, chúng mình phải bắt sống thằng Henri Rivière Huệ. Chúng mình chơi bộ đội Ký Con, tiêu diệt hết đồn giặc Pháp.
Thằng Đàm lo ngại :
- Con nhà Huệ có võ.
Khoa hất đầu :
- Võ của Pháp như cái củ khấm! Võ thực dân chỉ để bắt gà.
Thằng Xương rít qua kẽ răng :
- Tao sẽ đá trả thù thằng Việt gian Hòe. Bữa nọ, nó đá tao đau quá.
Khoa lại hỏi :
- Chúng mày có muốn nhi đồng thôn dưới xuất sắc hơn nhi đồng thôn trên không?
Bọn nhãi nhao nhao :
- Muốn... muốn...
Khoa đưa tay vuốt mái tóc ngắn :
- Thế, hôm nay, chúng mình tập trận thật chiến. Chỉ cần hai mươi cảm tử quân, là đủ hạ đồn của thằng Henri Rivière Huệ.
Khoa cao hứng xô lô một khúc Chiến sĩ thành Tô:
Ta là người thành Tô xưa
Ta về đêm nay say sưa
Dao găm vung lên một tên Pháp rơi đầu
Xe bò xe tăng đốt cháy
Súng đạn thì ta cướp lấy
[5]
Nó tưởng nó là chiến sĩ thành Tô, đang đốt cháy xe tăng của Pháp, ở Hải Phòng.
- Yên chí, tao sẽ thộp cổ thằng Henri Rivière, bắt nó húp nước cáy!
Bọn nhãi không hiểu Henri Rivière là gì. Chúng phỏng chừng đó là một thằng thực dân mũi lõ độc ác. Và, chúng chẳng thèm bắt trung đội trưởng Khoa cắt nghĩa.
- Bây giờ, tao chọn hai mươi đứa làm bộ đội Ký Con, còn lại là thực dân Pháp.
Thẳng Hội nói :
- Ông đếch làm giặc Pháp đâu. Ông làm quân ta cơ.
Khoa phân trần :
- Làm quân ta khổ lắm, mày dám nhảy xuống ao bèo không?
Hội dõng dạc đáp :
- Dám.
- Mày dám chịu đánh đau không?
- Dám.
Nhiều thằng khác xin xỏ làm quân ta. Hầu như thằng nhãi mào cũng ghét làm giặc Pháp và Việt gian. Làm giặc Pháp và Việt gian sướng vô cùng. Toàn đóng đồn ở chân đống rơm, hay sân chùa, sân đình; không phải đeo lá đầy mình và len lỏi trong bụi tre, bụi dứa. Giặc Pháp chuyên môn thua, chuyên môn bị bắt trói nhốt một chỗ, nên chẳng thằng nào thích làm giặc Pháp. Làm quân ta mà bị giặc Pháp đuổi, phải bông nhông xuống ao, lặn thoát thân. Lạnh như cắt, vẫn bông nhông anh dũng. Lại dám nhảy từ ngọn đống rơm xuống bắt sống giặc. Hễ giặc Pháp bắt được, tra tấn đau cách mấy, không được kêu la, mà phải noi gương anh Kim Đồng. Quân ta đánh trận là chiến thắng. Chiến thắng thì vui khôn tả, hát hò liên hoan, nên bọn nhãi cứ thích làm quân ta.
- Khoa ơi, tao đào giun cho mày câu cá trê, mày cho tao làm quân ta nhé!
- Tao xúc tép cho mày câu cá rô, nhớ không, Khoa?
- Cây ổi nhà tao có cái chạc đẹp tuyệt vời, tao sẽ chặt biếu mày, Khoa-ạ!
- Tao xung phong ăn cắp bòng non đá ban.
- Tao đan giúp mày bốn cái rọ cá rô.
- Tao cho mày hai cái ống lươn.
Trung đội trưởng Khoa lắc đầu :
- Tao khoái chỉ huy nhi đồng Tường An. Tao khoái nhi đồng thôn mình sẽ giữ bộ trống đồng. Tao khóai quân ta sẽ bắt sống Henri Rivière Huệ. A lê hấp, thằng nào đã làm giặc Pháp, không được làm quân ta.
Thằng Ngạn buồn hiu :
- Mày phải cho ông làm quân ta một lần chứ?
Khoa nói :
- Đêm nay, mày được làm quân ta đánh Henri Rivière.
Bọn nhãi chia đôi. Bên quân ta, theo trung đội trưởng Khoa, rời gò Mối. Bên giặc Pháp, không có chỉ huy, đóng đồn tại chỗ. Giặc Pháp cầm chắc thua bét tĩ, sau một hồi bắn đạn mồm loạn xà ngầu, nên các ông nhãi chán nản. Khoa dẫn quân đi. Đi dưới ánh trăng mờ. Đi trong sương lạnh. Nó nghĩ tới Vũ. Và, nó mơ thành liên lạc viên. Khoa có nhiều giấc mơ. Dễ chừng, những giấc mơ của nó no đầy hơn cả những giấc mơ của Vũ, khi Vũ bằng tuổi nó. Thời của Vũ thiếu tiếng trống đồng giục giã, từ làng bên vẳng sang, mỗi đêm khuya, những lần Khoa trở giấc. Tiếng trống đồng thật tuyệt diệu. Như thể tiếng quân reo mừng ngày kháng chiến thành công. Khoa đã nghe lính khố xanh đánh trống đồng, thổi kèn bú rích. Tiếng trống đồng của lính khố xanh không làm Khoa xao xuyến. Tiếng trống ấy ồn ào và tầm thường quá đi thôi. Nó chả hòa với tiếng đập của trái tim Khoa, cùng tiếng nứt của một mơ ước đâm chồi.
- Này Khoa...
- Gì?
- Tao cũng khoái đánh trống đồng. Phải bắt sống thằng Hăng e Huệ, thôn mình mới được giữ bộ trống đồng à?
- ừ.
- Khoa ơi!
- Gì?
- Con Liên nó khen mày hát hay nhất làng đó.
Khoa im lặng. Thằng Đường ngỡ bạn chưa nghe rõ, nhắc lại câu mình đã nói :
- Con Liên nó khen mày hát hay nhất làng đó.
Khoa hỏi :
- Sao mày biết?
Đường đáp :
- Ông biết tỏng. Mà, mày hát bài Nhớ thủ dô hay thật.
Khoa lảng chyện :
- Chiều mai, mày nhớ chặt ít ống đu đủ nhé! Kiếm ít đất sét nữa.
Đường ngạc nhiên :
- Để làm gì?
Khoa vỗ vai chiến hữu :
- Bắt thằng Henri Rivière.
Đoàn quân đã lách qua bụi tre. Khoa cảm hứng, hát khe khẽ:
Vì nước suốt canh thâu,
trong đêm tàn chân lần đi
Lát sau xuyên bóng mờ, ta xông pha
Lướt qua rừng rú
Qua mưa gió giông tố ầm ỹ.
Ta nguyền thề quân tham giết quân tham...
[6]
Khoa thấy, đêm nay, đoàn quân của nó mới giống Đoàn quân ma. Khoa tưởng nó sắp chiếm được đồn Tây, để nhìn rõ nụ cười hai má lúm đồng tiền của con Liên.

69
Henri Rivière Huệ đóng quân ở sân chùa. Ngôi chùa mới tiêu điều làm sao, chứ? Không có cửa, cũng chẳng có cổng. Tượng bụt ngổn ngang. Ông thì mất râu, bà thì mất tai. Trước và sau chùa, người ta đánh những đống rơm to tướng. Chùa chả có sư gì cả. Cột mọt ăn tứ tung. Mái nhìn thấy trời. Gà qué rủ nhau vào chơi, gáy ỏm tỏi. Bụt hết thiêng, nên gà nhảy cả lên đầu bụt, mà mổ lia lịa. Hương khói vắng ngắt. Chùa bị dân làng bỏ phế. Thiếu cả quả chuông.
Cách đó chừng trăm thước, ngay trên đất làng Tường An, lại có một ngôi chùa thật đẹp, nhưng là chùa của làng Đại Đồng. Ngôi chùa không có tượng bụt. Dân làng Đại Đồng ít lai vãng. Thành ra ngôi chùa chỉ còn là nơi nhi đồng Đại Đồng tập đánh trống.
Bà nội Khoa bảo rằng, ngày xưa, hai ông tiên chơi chọi gà, đem chùa Tường An và chùa Đại Đồng đặt cuộc. Tiên làng nào thua, làng ấy mất chùa. Tiên Đại Đồng ăn gian, mang gà gỗ dự trận. Tiên Tường An ngay thẳng, vác gà thật chọi với gà gỗ. Chọi ba ngày liền, gà của tiên Tường An chết lăn cu lơ. Làng Tường An mất chùa, phải dọn tượng về cái vựa thóc thờ cúng tạm, chờ ngày xây chùa mới. Khi tiên Tường An biết mình bị tiên Đại Đồng gạt gẫm, chùa Tường An đã thuộc làng Đại Đồng. Ông sư, bà vãi bỏ đi kiếm chùa khác. Tiên Tường An hứa xây một ngôi chùa lớn hơn. Bao nhiêu năm ròng rã, tiên mải hạc nội mây ngàn, không thèm trở lại, và ngôi chùa tạm càng ngày càng tiêu điều. Tường An không có chùa, vì thế.
Henri Rivière Huệ đang chiếm ngôi chùa hoang phế. Bọn giặc Pháp và Việt gian canh chừng cẩn mật, đề phòng quân ta tấn công. Huệ không muốn làm một tên giặc Pháp tầm thường. Cũng như Khoa, nó sẽ đánh nhau với quân ta quyết liệt, trước giờ đầu hàng. Chọn sân chùa, là Huệ khôn lắm. Nó chỉ canh phòng ba mặt. Đằng sau chùa, có cái ao đầy đặc bèo Nhật bản, ăn thông ra con ngòi, quân của Khoa khó lòng tấn công đồn Pháp, mặt sau. Buổi chiều, Huệ đã một mình lén tới chùa, bê những ông tượng đắp thành hình tròn, trống khoảng giữa. Nó sẽ trốn trong đó, nếu hết đường tẩu thoát. Giặc Pháp hái hàng bị sung xanh, ổi xanh làm lựu đạn, chống giữ đồn. Huệ tin chắc Khoa không thể thắng nó dễ dàng. Nó chờ đợi Khoa.
Ở cầu Chờ, quân ta tập trung đông đủ. Hễ được làm quân ta đi đánh thực dân Pháp, chẳng ông nhãi nào chịu nằm nhà, nhất là những ông nhãi cứ bị làm thực dân Pháp và Việt gian, những lần chơi trận giả tại thôn mình. Trung đội trưởng Khoa, và hai mươi cảm tử quân mặc trần xì mỗi cái quần đùi. Những đứa khác, đeo lá đầy mình mẩy, trên đầu đội lá trang. Bộ đội về làng, thường mang lưu đạn hình thù giống cái chày giã cua, gọi là lựu đạn chày. Quân ta lấy đất sét, nặn lưu đạn chày. Vài ông nhãi xé lá chuối gói gio, làm tạc đạn. Đội cảm tử cầm ống đu đủ.
Khoa dõng dạc hỏi :
- Thằng nào thích noi gương anh Kim Đồng?
Nhiều cánh tay giơ lên. Khoa phê bình từng đứa :
- Thằng Quyền bị kiến lửa đốt, cũng khóc. Thằng Nhân ngã khẽ, cũng kêu đau. Thằng Tí không dám bắt cá trê, sợ ngạnh đâm nhức tay. Thằng Hòa bị chó đuổi, cắm đầu chạy... Chúng mày noi gương anh Kim Đồng thế quái nào được.
Anh Kim Đồng dũng cảm phi thường. Cha anh là ông Hương bị giặc giết. Mẹ anh chết luôn. Anh xung phong làm liên lạc viên cho bộ đội để... yêu nước và rửa thù nhà. Bộ đội đã diễn kịch Kim Đồng. Đoạn Kim Đồng chịu thử thách, khán giả nhô con đứng cả tim. Anh bộ đội hỏi Kim Đồng :
- Muốn làm liên lạc viên, em phải để anh chặt một cánh tay của em.
Anh Kim Đồng không suy nghĩ, đưa cả hai tay lên bàn :
- Em xin được chặt cả hai tay.
Anh bộ đội vung mã tấu. Khán giả nhô con hồi hộp. Mã tấu vung cao, quật xuống. Cách tay Kim Đồng một gang, mã tấu dừng lại. Anh bộ đội khen ngợi Kim Đồng :
- Em dũng cảm quá, Kim Đồng. Anh thử lòng kiêu hùng của em đó thôi. Em xứng đáng là nhi đồng Việt Nam.
Khán giả nhô con vỗ tay, hoan hô anh Kim Đồng. Đoạn Kim Đồng bị giặc Nhật bắt, tra tấn tàn nhẫn, anh quyết chết không tiết lộ bí mật, khán giả nhô con đả đảo phát xít Nhật, và đứng dậy hát vang:
Anh Kim Đồng ơi anh Kim Đồng ơi
Tuy anh qua đời
Gương anh sáng ngời
Đoàn tôi cố noi...

Trên sân khấu, tấm màn thô sơ khép lại.
Trung đội trưởng Khoa chỉ định một Kim Đồng :
- Tao cho thằng Hiển làm anh Kim Đồng.
Hiển hí hửng :
- Tao thề thà chết vinh hơn sống nhục!
Và, Kim Đồng Hiển ra đi để... bị Henri Rivière Huệ bắt. Khoa đã rỉ tai dặn nó phải khai gì với Huệ. Kim Đồng Hiển cắm cổ chạy. Gần đến đồn giặc, Kim Đồng phanh chân, lững thững vừa đi, vừa hát:
Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo tiếng gió reo ngàn thông reo
Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo đoàn quân reo đạn bay vèo
Hôm nay đây vai vác súng trông mây trăng gió buồn đứng
Chiều vàng nhớ núi rừng...
[7]
Henri Rivière Huệ sai quân bò khỏi đồn, bắt sống tên liên lạc do thám của địch. Quân giặc bò chậm quá. Kim Đồng Hiển đợi lâu, bèn chụm tay vô miệng, tuyên truyền địch vận:
Người bạn tôi ơi
Người con của đất Việt
Ở bên phía quân thù
Người còn thức hay mơ
Bên kia là phía sầu u có người dân Việt gục đầu trên đất thù
Bên đây là phía tự do vẫn được “ông già” làm toàn dân “chết co”...
[8]
Hiển là thằng nhãi vui nhộn. Nó nghe ai đó, trong đám dân tản cư, hát trệch “vẫn được cha già làm toàn dân ấm no”, thành “vẫn được ông già làm toàn dân chết co”, nó tưởng nó cũng hát cho vui, thế thôi. Giặc Pháp đã vồ nó. Và, một tên thực dân dọa Hiển :
- Mày dám gọi bác Hồ là ông già, mày phản động!
Hiển nhanh trí :
- Ông làm Kim Đồng, ông giả vờ hát sai cho chúng mày tức, bắt ông tra tấn ông...
Kim Đồng Hiển bị hai tên thực dân cầm cẳng lôi xềnh xệch vào nộp chủ tướng Henri Rivière. Kim Đồng văng tục, và dọa :
- Lát nữa, quân ta chiến thắng, ông quăng hai thằng xuống ngòi.
Trời đã rét ngọt. Hai tên giặc Pháp sợ quýnh, vội lạy lục Kim Đồng, và trút tội cho Henri Rivière Huệ :
- Con nhà Huệ bắt chúng tao lôi mày chứ, chúng tao đâu nỡ xử tệ... quân ta.
Kim Đồng Hiển im lặng. Nó đã nằm dưới gót chân Henri Rivière Huệ. Thằng thực dân nổi giận :
- A lê a la ba xi ba xu, may la Viet Nam tao danh may no đon...
Thằng Việt gian thông ngôn :
- Quan lớn bảo mày là Việt Nam, quan đánh mày no đòn.
Kim đồng phóng lên bãi nước bọt :
- Sư bố thực dân Pháp!
Henri Rivière đá Kim Đồng một cú :
- Mày chửi sư bố tao à?
Kim Đồng nói :
- Ừ đấy, ai bảo mày nói... tiếng Tây giả cầy! Pe rơ toa, Phờ răng xe!
Henri Rivière hỏi thông ngôn :
- A lê a la ba xi ba xu, Pe rơ toa, Phờ răng xe la cai gi?
Thông ngôn Việt gian lại hỏi Kim Đồng :
- Quan lớn muốn biết Pe rơ toa, Phờ răng xe là gì!
Kim Đồng quát :
- Là bố mày, giặc Pháp. Thằng Khoa dạy ông đó, con ạ!
Henri Rivière Huệ sai Việt gian kín đầy lọ nước ngòi, để gần chỗ Kim Đồng Hiển nằm. Nó không thèm nói tiếng Tây nữa. Đá Kim Đồng một cú, Henri rivière hỏi :
- Mày đi liên lạc, hở?
Kim Đồng đáp :
- Ừa đấy, ông đi liên lạc đấy. Ông thà chết không khai gì sốt cả. Ông là... Kim Đồng!
Henri Rivière cười khiêu khích :
- Giết mày chỉ tổ tốn đạn, ông gội đầu giúp mày. Hì hì hì, trời lạnh, mà ông rưới nước từ từ xuống lưng mày, thì xương sống mày co lại, Kim Đồng ạ!
Kim Đồng bỗng sợ quá. Nó trở giọng :
- Ê Huệ, tao khai hết. Tao ghét thằng Khoa lắm. Ông chơi trận giả nốt đêm nay, sáng mai, ông sang Đống Năm ở với chú ông rồi. Ông đếch sợ thằng Khoa. Ông muốn nó thua bét tĩ. Thằng Khoa đóng quân sau chùa Đại Đồng, từ buổi chiều, nó chờ chúng mày buồn ngủ là tấn công.
Henri Rivière vuốt râu tưởng tượng. Nó hét inh :
- Mày đáng ăn c. cho anh Kim Đồng.
Henri Rivière Huệ ra lệnh :
- Tắm giùm nó!
Bọn Việt gian dội nước ướt hết áo Kim Đồng. Anh Kim đồng chửi bới um sùm. Anh bị giặc Pháp trói ghì cánh khỉ, giam ở chân đống rơm. Henri Rivière sai quân phục kích ngả chùa Đại Đồng. Nó đã mắc mưu trung đội trưởng Khoa. Quân ta tụ họp tại cầu Chờ, một lúc lâu. Khi biết chắc anh Kim Đồng quê hương Việt Bắc xa mù đã rơi vào tay giặc, cánh-quân tiên phong, do trung đội phó Mẫn sẹo chỉ huy, lên đường. Tiếng lá ngụy trang kêu sột soạt. Trung đội trưởng Khoa nhìn đoàn quân đi, cảm khái :
- Đoàn quân đi thấp thoáng trong đêm... Một, hai, ba...
Toán cảm tử hát vang:
Đoàn quân đi thấp thoáng trong đêm không một vì sao
Uốn khúc đường đào
Mưa trơn bùn sâu
Đoàn quân đi giữa sóng mến thương xuân về đầm ấm
Tôi thấy những nàng
Khăn hồng lệ thắm
Hẹn ngày mai chiến thắng chớ quên đường về làng xưa...
[9]
Bài hát vừa dứt, một ông cảm tử quân xô lô:
Bao em tôi đôi mằt toét nhèm
Đang say mê cái nồi bún ốc

Hai mươi cảm tử quân cười rộ. Thế là cái lạnh biến đâu mất. Phía cầu đình, khuất sau nhũng bụi tre, tiếng hát của toán quân Mẫn sẹo vọng lại:
Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi
Nào có mong chi đâu ngày trở về
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi
Ra đi ra đi thà chết chớ lui...
[10]
Mhư hâm nóng toán cảm tử quân của Khoa.
Trung đội trưởng Khoa oai vệ :
- Tao dặn lần cuối: Gần đến đồn giặc, lặn hết, tay trái bịt mũi, tay phải cầm ống đu đủ. Nhớ thở bằng mồm, cấm ho. Ống đu đủ nhô khỏi mặt nước chừng gang tay thôi. Nào, xung phong...
Các cảm tử quân lần lượt nhảy xuống ngòi. Khoa dẫn đầu. Nó hô hoán :
- Lặn thử!
Hai mươi cái đầu của những ông nhô, tập làm anh hùng, chìm dưới mặt nước. Chỉ còn những cái ống đu đủ nhô lên. Những ống đu đủ biết đi! Hai mươi chiếc tầu ngầm người, sáng kiến của Khoa, của kháng chiến, của một giai đoạn tuyệt vời của lịch sử dân tộc chống xâm lăng. Giặc Pháp đã thua tơi bời, vì nhũng sáng kiến ngây ngô đó. Khoa nhô lên khỏi mặt nước đầu tiên. Rồi, tất cả cùng nhô lên. Và, đi trên bùn. Rẽ nước, rẽ bèo mà đi. Có thể chạy một mạch qua cầu đình, nhào xuống lặn ngòi cũng được. Khoa không thích thế. Nó muốn quân ta phải gian khổ cơ. Càng gian khổ bao nhiêu, càng là quân ta bấy nhiêu. Khoa có anh là thằng Vũ. Các bạn của anh nó, là Côn, là Vọng, là Luyến, là Long, là Lộc đều chiến, đều đã thắng tụi An Tập và tụi trường Tầu. Khoa sẽ chiến như Vũ, sẽ đè bẹp thằng Huệ, để được giữ bộ trống đồng, nay mai. Khoa sẽ làm lác mắt bọn nhi đồng Hải Phòng, Hà Nội tản cư về Tường An. Nó thèm chơi thân với con Liên, như Vũ đã chơi thân với Thúy. Cứ bắt sống Henri Rivière Huệ đêm nay, là Khoa có đủ thứ. Cái thứ nhất, chắc chắn, Khoa sẽ chỉ huy nhi đồng cả hai thôn. Khoa thích thú, reo lớn :
- Đánh mạnh, đánh mạnh để chiếm lại thủ đô!
Toán quân cảm tử nô nức. Chúng chạy dưới nước. Qua cầu đình, trung đội trưởng Khoa vỗ tay, những cái đầu chìm nghỉm. Chẳng ai biết, trừ trung đội phó Mẫn sẹo đang cho quân tiên phong nằm sát vệ đường, mở mắt thao láo, chờ “ống khói tầu ngầm” và con ngòi xao động, là tiến lên khiêu khích quân thù, cho quân cảm tử đánh bọc hậu, bắt sống trọn ổ giặc Pháp.

70
Anh Kim Đồng rét run, nằm co quắp ở chân đống rơm. Kim Đồng quê hương Việt Bắc xa mù, chắc cũng khổ đến thế này là cùng. Kim Đồng Tường An vui lắm, vì Henri Rivière đã mắc mưu của nó. Kim Đồng hy sinh cho chiến thắng. Không có Kim Đồng nào sung sướng cả. Muốn làm Kim Đồng, phải chết vinh hơn sống nhục, phải dám tẩm xăng đốt cháy, nhảy vào kho đạn của giặc Pháp, như em bé Nam Bộ. Kim Đồng Hiểu sẽ lừng lẫy chiến khu, giống hệt Kim Đồng trong bài hát. Bây giờ, nó đang ăn đòn nước lạnh của thực dân. Và, nó mong quân ta từng giây từng phút. Cái bùi nhùi của giặc trên thềm chùa chỉ muốn bốc cháy khi gió thổi mạnh. Hiềm vì bùi nhùi quấn chặt quá. Lát nữa, Kim Đồng được quân ta cởi trói, sẽ rút rơm, dùng bùi nhùi của giặc mồi lửa cháy bùng, để sưởi ấm và hong khô quần áo. Kim Đồng cười thầm, nhìn Henri Rivière dẫn quân đi bao vây quân ta, bên chùa Đại Đồng, ngôi chùa mà ông tiên làng Trường An chọi gà bị thua ông tiên làng Đại Đồng.
Chờ Henri Rivière ra khỏi đồn khá xa, Kim Đồng dọa bọn giặc Pháp còn lại :
- Thằng nào đầu hàng trước nhất, sẽ không bị quân ta quẳng xuống ngòi.
Giặc Pháp đã biết rõ số phận của nó. Hung hăng cách mấy, rồi cũng thua bét tĩ. Chưa hề thấy giặc Pháp thắng trận nào. Giặc Pháp bị quân ta đánh tơi bời, ở Nam Bộ, ở Việt Bắc. Hai nghìn giặc Pháp chết chìm dưới đáy sông Lô. Bài hát ghi rõ chiến công hiển hách này:
Ai nhớ sông Lô
Giặc lên ăn cướp dân ta
Tôi nhớ sông Lô
Chiều nao phơi xác quân thù
Hỡi cô con gái giặt yếm bên bờ
Thuyền tôi đậu bến sông Lô
Nửa đêm nghe tiếng quân thù thở than
Than rằng
Khoan hỡi hò khoan
Hôm nào chiến sĩ Việt Nam
Trên dòng sông mênh mang
Tiếng thần công vang vang
Hai ngàn quân Pháp vùi thây
Oai hùng thay Lô giang...
[11]
Tin bộ đội ta đánh giặc Pháp, đọc mỗi tối trên chòi phát thanh, toàn là chiến thắng. Tầu giặc, bị bắn chìm. Máy bay giặc, bị hạ rơi. Xe tăng tầu bò của giặc, bị đốt cháy. Giặc Pháp không được quyền thắng quân ta. Giặc Pháp, trong các cuộc chơi trận giả, càng phải thua liểng xiểng. Quân của Henri Rivière Huệ gạ gẫm :
- Đánh nhau một lát, rồi mới thua chứ?
Kim Đồng lắc đầu :
- Quân ta chỉ đánh toán quân của thằng Huệ thôi. Thằng Khoa bảo sẽ quẳng hết chúng mày xuống ngòi. Đứa nào đầu hàng ngay, được tha.
- Chưa đánh đã hàng à?
- Ở Hải Phòng, vừa nghe tin bộ đội ta định đánh, tụi Pháp đã quăng súng khóc sướt mướt, xin tha tội. Tụi mày không nghe tin chiến sự, hả?
- Có.
- Thế còn đòi đánh cái con khỉ gì nữa?
- Ừa, tụi tao hàng.
- Thả tao đi.
- Không.
- Sao?
- Thả mày, thằng Huệ nó sẽ khền tụi tao. Mà, Kim Đồng phải chết mới anh dũng. Kim Đồng sống nhe răng chán lắm, không giống kịch.
Thằng giặc vừa nói, vừa cười. Nó đá Kim Đồng một cú đau điếng :
- Đừng khôn lỏi, Hiển vổ! Kim Đồng vổ thích sống nhục hơn chết vinh.
Kim đồng vổ giở võ dọa :
- Ông sẽ cho mày xuống ngòi mò ốc.
Giặc Pháp khoái trá :
- Chúng tao rút lui có trật tự, thằng vổ ạ! Bọn thôn dưới chiếm đồn trống, bắt tượng làm tù binh. Còn chúng tao về nằm khoèo ổ rơm, ăn ngô rang.
Và, giặc Pháp hành hạ Kim Đồng vổ không nương tay. Khi ấy, nằm sát vệ đường làng, trung đội phó Mẫn sẹo căng mắt chờ ống khói tầu ngầm. Quân ta hối chỉ huy :
- Tấn công chưa, Mẫn sẹo?
- Gượm đã.
- Mày bắt chúng tao ngủ suốt đêm à?
- Đợi thằng Khoa.
- Xung phong đi! Ông nóng lòng giết giặc, giành độc lập quá rồi.
Mẫn sẹo không thể nhìn rõ ống khói tầu ngầm. Vì, trời đêm nay thiếu trăng. Nó đã nghe rõ tiếng òng ọc của bùn, dưới đáy ngòi cuộn lên. Và, những đám bèo di chuyển. Thằng Khoa đó. Mẫn sẹo hạ lệnh :
- Bò số một!
Toán quân tiên phong lết, cơ hồ loài rắn. Hai khuỷu tay mỗi quân ta dùng thay chân. Đã tập bò, tập bắn, ném lưu đạn, quân ta áp dụng đúng các kiểu bò, mà anh Lý huấn luyện. Anh Lý không dạy chiến thuật... tầu ngầm. Đang thở bằng ống đu đủ, Khoa vẫn có thể mơ mộng rằng, anh Lý sẽ khen ngợi nó và nhi đồng thôn dưới. Biết đâu chừng, anh Lý sẽ viết thư gửi bác Hồ. Bác Hồ sẽ gửi thư cho Khoa, như bác Hồ đã gửi thư cho ông Năm.
Mẫn sẹo không biết mơ mộng. Nó bò thật chậm. Tới cổng đồn giặc, Mẫn sẹo ngừng lại, chờ Khoa lặn nốt khúc ngòi, để tiến về cái ao, phía sau chùa. Đồn còn cách vài chục thước. Giặc Pháp nghênh ngang đi đứng. Quân ta có thằng ngửa cổ ho. Mẫn sẹo xuỵt xuỵt. Thằng quân ta buồn ho, bịt miệng, gục mặt xuống cỏ mà ho. Nó ho khổ, ho sở. Ho là đồ... Việt gian phản quốc! Những lúc không dược phép ho, nó cứ thèm ho. Một thằng quân ta ho là, y rằng, nhiều thằng quân ta khác lây ho. Mấy đêm trước, Khoa dẫn quân đi đột kích bòng của ông lang Căn, chỉ vì ho, mà bị bầy chó của ông lang Căn sủa inh ỏi, chạy trối chết. Mẫn sẹo sợ lộ mục tiêu, cảnh cáo :
- Thằng nào ho sẽ bị khai trừ.
Bị khai trừ là chịu đựng một hình phạt đau đớn nhất. Nhiều thằng quân ta cấu cổ cho đỡ ngứa. Rồi, hết ho. Mẫn sẹo đếm thầm từ một tới hai trăm. Nó tính đoạn đường nước của toán quân cảm tử. Mẫn sẹo truyền lệnh :
- Chuẩn bị tấn công!
Toán quân tiên phong ngồi dậy. Mẫn sẹo hét lớn :
- Xung phong!
Quân ta ào ạt chạy. Hhững trái lựu đạn chầy, nặn bàng đất sét, nung khô, tung lên... Tung đúng sách vở dạy. Rút kíp tưởng tượng, đưa ra đàng sau, dộng xuống gót chân, đếm một hai ba, và ném. Ném xong, vội vàng nằm rạp chờ tiếng nổ. Giặc Pháp chống trả mãnh liệt. Quân ta hứng đạn ổi xanh, bòng non lốp bốp. Tạc đạn gio phóng vào đồn giặc. Bụi bay tung tóe. Một thằng Pháp gọi ơi ới :
- Huệ ơi, chúng nó tấn công rồi! Về cứu tụi tao, mau lên!
Henri Rivière Huệ đang bao vây quanh chùa Đại Đồng, nghe tiếng kêu cứu, hai chân bốn cẳng chạy về đồn. Nó nguyền rủa thằng Kim Đồng vổ. Anh Kim Đồng mừng rên :
- Quân ta đâu, giải phóng tao đi chứ?
Năm thằng quân ta liều chết, vượt qua làn đạn ổi xanh của giặc, cứu Kim Đồng.
- Mày ở đâu hả, Hiển?
Kim Đồng ngẩng đầu :
- Tao bị giam ở chân đống rơm.
Quân ta nhào tới đống rơm, lôi Kim Đồng ra khỏi đồn giặc. Vừa lúc Henri Rivière Huệ kéo quân về. Giặc Pháp được tiếp viện, ném ổi xanh tưng bừng. Quân ta đánh cầm chừng, theo đúng chiến thuật của trung đội trưởng Khoa. Đột nhiên, trong toán quân ta có vị anh hùng chửi bậy :
- Mẹ bố đứa nào ném cứt trâu trúng ông đấy?
Giặc Pháp cười ha hả :
- Ông chứ còn ai? Mìn rùa đó, con ạ!
Quân ta hứng thêm nắm bùn. Mẫn sẹo biết là trung đội trưởng Khoa đã lên bờ. Nó cho quân rút lui. Henri Rivière truy kích.
Toán quân cảm tử, lặng lẽ, tiến vào trong chùa. Quân của Mẫn sẹo chạy thật nhanh. Bất chợt, Mẫn sẹo dừng lại phản công. Lựu đạn chầy nguy hiểm vô cùng. Thằng giặc nào bị trúng cũng kiếp vía. Henri Rivière sợ lựu đạn chầy, chuồn gấp. Quân của Mẫn sẹo đuổi theo. Giặc Pháp về tới đồn, cảm tử-quân của Khoa nấp ở trong chùa, ào ra. Henri Rivière bị hai gọng kìm kẹp chặt. Hai bên sáp lá cà, đấm đá nhau túi buị. Henri Rivière tả xung hữu đột, múa mai hoa quyền. Trung đội trưởng Khoa quyết bắt sống Henri Rivière, xem chừng, khó khăn.
Thằng Đường làm hỏng công phu của Khoa. Nó xung phong quá sớm. Khoa đã phân công tác: Chờ Henri Rivière đến gần, một tiểu đội cảm tử, bất thần, phóng ra ôm chặt Henri Rivière, trói gô nó. Thế là nó hết múa mai hoa quyền và đá song phi. Con nhà Đường ngu dốt, ngứa mồm hô xung phong. Kế hoạch hỏng, toán quân cảm tử đành xuất đầu lộ diện.
Bây giờ, cả hai bên không dùng lựu đạn chầy đất sét, tạc đạn gio, và đạn ổi xanh, bòng non giết nhau nũa. Sáp lá cà là vật lộn, đấm đá, cấu véo. Vài cảm tử quân của ta muốn kết thúc chiến trường nhanh chóng, để còn đốt rơm sưởi cho ấm, lẻn ra phía ngòi bông nhông xuống nước. Giặc Pháp ngu dốt bám sát. Cảm tử quân móc bùn pháo kích. Giặc Pháp ăn no đạn bùn, la bai bải. Cảm tử quân bứng bùn lên bờ. Đạn bùn tung vào chiến trường. Giặc Pháp trốn lủi, hàng ngũ tán loạn. Henri Rivière Huệ bị vây chặt. Nhiều tên thực dân và Việt gian đã đầu hàng. Một thằng mũi lõ nhanh trí khôn, hô to :
- Nghiêm!
Nó cất gọng hát quốc ca :
- Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc...
Giặc Pháp hát theo. Cả quân ta lẫn quân Pháp ngưng chiến, đứng thẳng như đang chào cờ. Henri Rivière lợi dụng giờ ngưng chiến, phóng khỏi vòng vây, chạy vô chùa. Quân ta quên chào cờ, quên luôn cờ in máu chiến thắng mang hồn nước, quyết bắt Henri Rivière. Tên giặc hô nghiêm và hát đoàn quân Việt Nam đi bị đạp ngã sõng soài. Nó gang họng đôi co :
- Chúng mày không chào cờ là đồ phản quốc!
Quân ta cãi :
- Giặc Pháp dã man không được chào cờ Việt Nam.
Trận chiến tiếp tục. Giặc Pháp bị bắt quá nửa. Những đứa khác thoát cảnh tù binh, chạy về nhà nằm ngủ. Anh Kim Đồng Hiển, tức Hiển vổ, cậy mình lập chiến công đầu, đòi quyền xử tù binh. Và, anh đã quăng hai tên giặc lôi anh, như lôi chó chết, xuống ngòi. Những tên giặc tưới nước lạnh tra tấn anh, bị anh lấy bùn đắp kín đầu tóc, lỗ tai, và giật đứt hết giải rút. Lại bắt tù binh đứng thẳng, giơ tay. Quần của tù binh trễ quá đùi. Tù binh phải dang chân đỡ quần khỏi tụt. Quân ta ôm bụng cười, mừng chiến thắng. Mẫn sẹo tịch thu bùi nhùi, sai tù binh kiếm củi khô, rút rơm đốt... lửa trại.
Cảm tử quân, dưới quyền chỉ huy của trung đội trưởng Khoa, đang lục soát trong chùa. Chùa tối om. Khoa bảo Mẫn sẹo, mang rơm vào chùa đốt sáng. Vẫn không tìm được Henri Rivière.
Kim Đồng nói :
- Hun nó như hun chuột, nó sẽ chui khỏi hang.
Trung đội trưởng Khoa mím môi suy nghĩ :
- Ông có cách rồi.
Khoa pha trò cười. Quân ta cười hinh hích. Henri Rivière ngậm miệng. Khoa lôi một tên tù binh vào chùa, dụ dỗ không tra tấn, nó nhận lời ngay. Nó mếu máo :
- Huệ ơi, bọn thôn dưới tước hết quần áo của chúng tao rồi. Bọn nó lột trần truồng chúng tao. Mày không đầu hàng, bọn nó quẳng hết chúng tao xuống ngòi.
Máu thực dân nổi lên, Henri Rivière phẫn nộ :
- Đồ khốn kiếp!
Trung đội trưởng Khoa hí hửng :
- Hết trốn núp nhé, thực dân. Mày thua ông rồi. Ra đi. Giơ tay lên!
Henri Rivière bị mắc mưu, ức hộc máu mồm, xô ngã một ông tượng, hai tay giơ lên cao, lững thững ra. Cảm tử quân xông tới ôm chặt tướng giặc, dùng dây trói tay, chân Henri Rivière, khiêng nó ra sân chùa. Đống lửa đã cháy lớn. Quân ta nhìn rõ Henri Rivière buồn thiu. Trung đội trưởng Khoa hỏi Henri Rivière Huệ :
- Thôn dưới xứng đáng giữ trống đồng chưa?
Huệ đáp :
- Còn thi đua chống giặc dốt nữa. Nếu chúng mày đoạt giải, thôn dưới được giữ trống đồng.
Khoa nói :
- Chúng tao sẽ thắng, và tao sẽ chỉ huy cả mày.
Huệ nín lặng. Khoa tự tay cởi trói cho Huệ. Nó đứng dậy, lủi thủi bước. Khoa cấm quân ta hành hạ tù binh. Thế là không còn quân ta và quân giặc nữa. Tất cả vui hát bên đống lửa. Gần nửa đêm, nhi đồng thôn dưới xếp hàng ra về. Mặt đường đất lại muốn nứt lở. Mây sợ hãi không dám che lấp sao. Trời, cơ hồ, đã tan sương mù. Vùng trời êm ả của thôn quê lại khuấy động bởi tiếng hát của một thời xao xuyến:
Những bông hoa ngày mai
Đón tương lai về tay
Đang xuân đời mỉm cười vui hát lên
Khi đoàn quân tiến về là đêm sáng dần...
[12]
Đêm, có vẻ, sáng dần. Và, Khoa tưởng chừng nó đang kéo quân về thị xã Thái Bình như, từ xa xôi, nhiều người đang tưởng quân ta kéo về Hà Nội, chiếm lại thủ đô.

71
Đêm kịch đã tàn. Dân làng lũ lượt ra về. Đêm kịch nào cũng đông, chẳng kể trời mưa hay tạnh, trời nóng hay lạnh. Nếu bộ đội qua làng, ở lại một đêm diễn kịch, đêm kịch ấy, đình làng muốn nứt ra. Khán giả phải đến thật sớm chiếm chỗ ngồi. Tiếng trống chèo trở thành xa lạ. Xa như dĩ vãng. Ngay cả những ngày hội hè cũng được quên đi. Dân làng giống hệt bụi sắt, bị thỏi nam châm kháng chiến thu hút. Đời sống cần cù, âm thầm, quen thói đã biến mất. Luống cầy tưởng chừng có linh hồn. Kháng chiến thay đổi hầu hết sinh hoạt thôn dã. Người thôn quê, bây giờ, là người hậu phương. Tiền tuyến giết giặc. Hậu phương tăng gia sản xuất. Tăng gia sản xuất là yêu nước. Thành phố về với thôn quê, gần gũi người quê. Cái mặc cảm quê mùa ngàn đời bị xóa dần. Người quê hãnh diện, niềm hãnh diện xây tương lai trên bông lúa vàng đầy đồng. Người quê không còn an phận, thụ động. Họ cựa mình. Sự cựa mình vươn lên quá nhanh, nên quá tội nghiệp. Họ chân thành. Người quê tham gia kháng chiến sôi nổi. Họ là khán giả trung thành của những đêm kịch hậu phương.
- Thằng con ông cả Hùng đóng hay thật!
- Nó nói tiếng Tây... như Tây.
- Nó hát giọng cao vút.
- Hôm nay, nó đóng thằng Việt gian bù nhìn rất tài.
- Nó hơn hẳn thằng Huệ thôn mình.
Dân làng trẻ già, trai gái nức nở khen con ông cả Hùng. Thằng Khoa đó. Nó được khen nhiều rồi, không thích nghe ai khen nữa, trừ một đứa con gái tản cư, tên là Liên.
Con Liên ở Hà Nội, tản cư về làng Tường An, ở nhà thằng Đường. Chú thằng Đường làm thư ký cho nhà in Lê Thăng, quen biết gia đình con Liên. Chắc chú thằng Đường đã rủ gia đình con Liên, tản cư về Thái Bình, chứ dễ gì gia đình nó tản cư xa thế. Những người Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng có tản cư về Thái Bình, thì cũng sang Đống Năm [13] buôn bán. ít ai chịu sống đời áo nâu sồng, nơi thôn ổ. Con nhà Đường bảo Liên khen Khoa hát bài Nhớ thủ đô. Đêm nay, Khoa không hát Nhớ thủ đô, mà hát Hà Nội cháy. Nó đã nhờ thằng Đường hỏi con Liên xem, nó hát bài Hà Nội cháy còn hay không. Thằng Đường chưa trở lại. Khoa đứng nhìn. Để nghe khán giả khen tài diễn kịch của mình.
Vở kịch Bán nước cầu vinh, anh Lý giao vai Việt gian cho Hoa. Thằng Huệ đóng vai Bolaert. Mở màn, Khoa vung tay, vỗ ngực, kiêu hãnh :
- Ta tự thấy rất đáng vì thiên tử
Nhờ Bô la được cử làm vua
So với Tường Tam thì mưu không thua
Sánh với Nguyễn Hải lại lắm mưu cao cùng chước lạ
Lũ hội tề tôn ta là bệ hạ
Ta vuốt râu Bảo Đại chết vì ghen...
Tội của Việt gian đã là tội thích thuốc phiện, là cuỗm hai triệu bạc trốn sang Tầu. Nay, đến lượt tên Việt gian mới. Khoa không thích bọn Việt gian. Hễ anh Lý bảo ai là Việt gian, nhi đồng đả đảo nó, căm giận nó. Nó dám bán nước cầu vinh. Khoa đóng vai Việt gian, đụng độ Bolaert, cao ủy Pháp ở Đông Dương. Bolaeret dậm chân, la hét :
- A la ba xi a la ba xô Viet gian!
Việt gian cúi mọp :
- C’est moi le coq
Cocorico
Ma crête sur mon bec se dresse
Rouge comme un coquelicot
Bolaert:
A la ba xi a la ba xô tao khong cho Viet Nam doc lap.

Việt gian :
- Voici ma main
Elle a cinq doigts
En voici deux
En voici trois

Khoa cứ đem những bài rê xi ta si ông lớp năm ra đọc. Khán giả vỗ tay, khen Khoa nói tiếng Tây như Tây, dù khán giả, cả đời, chưa nghe Tây nói ra sao. Màn hài kịch chấm dứt, Bolaert Huệ lại biểu diễn bài mai hoa quyền, và Việt gian Khoa đua tài bằng bài hát, mới học thuộc. Tay vê đàn banjo, miệng hát Hà Nội cháy [14]:
... Hà Nội đẹp sao ôi nước hồ Gươm xanh thắm lòng
Bóng tháp Rùa thân mật êm ấm lòng
Hồng Hà tràn đầy
Hồng Hà cuốn tràn đầy sóng ngàn đời dâng
Hà Nội vui sao những cửa đầu Ô tíu tít gánh gồng
Đây ô Chợ Dừa
Kia ô Cầu Rền
Làn áo xanh mơ
Hà Nội tươi thắm sống vui phố hè
Bồi hồi chàng trai những đôi mắt nào
Xen quanh rộn ràng Đồng Xuân
Xanh tươi bát ngát Tây hồ
Hàng Đào ríu rít hàng Đường, hàng Bạc, hàng Gai
Ôi thiết tha lòng
Ta nhớ bao nhiêu mỗi tấc đất Hà Nội nhuộm thắm máu hồn ta
...
Hà Nội cháy
Khói lửa ngập trời
Hà Nội hồng ầm ầm rung
Vang trong ta
Tiếng hô xung phong
Căm hờn sôi gầm nòng súng bụi đường reo cuốn khô xác thù
Từng thịt máu tung từng bờ tường mái hiên từng mô đất từng căn gác từng khu phố từng khe cống
Hà Nội vùng đứng lên
Sông Hồng reo
Hà Nội vùng đứng lên

Khoa hát bài mới, được vỗ tay rất lâu. Nó chỉ mong, trong tiếng sóng rào rạt đó, có tiếng vỗ của đôi tay con bé Liên. Hay, một mình con bé Liên vỗ tay hoan hô nó. Là đủ. Khoảnh khắc, Khoa muốn quên bác Hồ, anh Kim Đồng, anh Lý, Nguyễn Hải Thần, Lê văn Hoạch, bộ trống đồng, những giải thi đua... Tất cả đều xa với, vô nghĩa.
Con nhà Đường đã dẫn xác tới. Khoa rối rít hỏi :
- Nó nói sao hở, mày? Nó có chê tao hát dở không?
Đường cười toe :
- Nó bảo mày hát ma nó cũng chê!
Khoa tiu nghỉu :
- Thế là nó chê tao hát dở quá, chứ gì? Tại bài Hà Nội cháy khó, tao đánh đàn sai be bét.
Đường lắc đầu :
- Mày hát ăn giải thi đua mà. Con Liên nó thích lắm.
- Mày nói nó bảo tao hát ma cũng chê.
- Ở. Tao hỏi nó mày hát hay không. Nó bảo...
- Nó bảo sao?
- Thì nó bảo mày hát ma chê.
- Mày nhớ rõ, hở?
- Rõ. Nó bảo ma chê hay ba chê, bốn chê... À, đúng rồi, nó bảo mày hát ba chê.
Khoa đưa tay vuốt tóc. Nó ngẩng mặt nhìn trăng, và huýt sáo. Đường chẳng hiểu gì, đập khẽ Khoa :
- Nó chê mày à?
- Ừ.
- Hôn mọ, nó khen mày hát hay.
- Hôm nay, tao hát ba chê.
Đường an ủi bạn :
- Lần sau, mày cố hát thật hay nhé, Khoa nhé! Thôi, tao về đây. Tao đưa con Liên về.
Khoa hỏi :
- Tao về với mày được không?
Đường nói :
- Ban kịch đi ăn bánh cuốn mà? Tao thèm ăn bánh cuốn, không ai cho đi ăn. Mày lại không muốn ăn. Lạ ghê!
Khoa nhún vai rất... nhô con thị xã :
- Tao không đói. Hay tao nhường mày đi ăn bánh cuốn, mày nhường tao đưa con Liên về?
Đường gạt phăng :
- Không diễn kịch, anh Lý không cho ăn. Đến nhìn mồm, ngượng chết.
Khoa vỗ vai Đường :
- Đi ăn thiếu mày, buồn bỏ bu. Chúng mình cùng về vậy.
Nó dìu Đường ra khỏi sân đình. Cái đám khán giả kịch đã thưa thớt. Chỉ còn tiếng cười nói vọng lại, từ đằng xa. Con Liên đứng chờ Đường, ở cầu đình. Cầu bằng những phiến đá dầy, lớn, bắc qua con ngòi hẹp. Bóng con bé một nửa in trên cầu, một nửa in dưới nước. Gió lạnh, và trăng cũng lạnh. Đôi tai thằng Đường lạnh ngắt. Nó không có áo sơ mi như Khoa, để kéo cổ trùm gáy cho bớt lạnh. Đường mặc chiếc áo cánh nâu, khoác ngoài chiếc áo bông, may theo kiểu trấn thủ. Thế mà nó vẫn rét. Khoa mặc trần xì cái áo sơ mi nhuộm mầu nâu, nó không hề thấy lạnh. Đôi tai nó âm ấm. Gần tới chỗ con Liên đứng chờ, đôi tai vị anh hùng chiến thắng Henri Rivière nóng ran. Hai tay nó đã thọc vào túi quần tây, nó ngỡ mình còn hai tay nữa. Trung đội trưởng Khoa, chiến sĩ tầu ngầm, ông nhóc mơ thành Kim Đồng, ông nhóc tay đàn miệng ca trước hàng trăm người không biết xấu hổ, đang xấu hổ ghê gớm. Cậu nhi đồng tháng tám [15] tương lai, cháu yêu của bác Hồ, bối rối quá thể. Cậu nghĩ làm Kim Đồng dễ hơn gặp con Liên. Nói chuyện với bác Hồ ngon ăn hơn nói chuyện với con bé đã khen cậu hát ba chê, hát không chê vào cái khổ nào được.
- Ê Đường...
- Gì?
- Tao đi ăn bánh cuốn đây.
- Mày mới vừa bảo ăn một mình buồn bỏ bu thôi?
- Tao đói.
- Về nhà tao ăn khoai nướng. Ông vùi bốn củ khoai gộc, cạnh nồi cá kho [16]. Trời lạnh, ăn khoai nướng ngon nhất trần đời.
Đường nắm chặt tay Khoa. Ông nhóc này nhà quê đấy, ngây ngô đấy, nó khỏe gấp hai lần Khoa. Nó chỉ thua Khoa sự khôn vặt. Tự nhiên, Khoa biến thành thằng bé quê mùa đần độn. Nó sợ hãi, ngượng ngùng. Khoa không can đảm bằng Đường. Thằng Đường dám nói chuyện hồn nhiên với con Liên, dám dẫn con Liên đi xem kịch, đưa con Liên về. Đường coi Liên chả là cái thớ gì hết. Đường giống hệt thằng Luyến. Chưa biết buồn, chưa biết vui vì con gái, như thằng Vũ, thằng Côn. Nên, nó chẳng rụt rè, lúng túng trước mặt con gái. Nó lôi Khoa đi.
- Này Khoa...
- Gì?
- Ông ức đau cả mạng mỡ.
- Ức ai?
- Con Liên. Rõ ràng nó khen mày bài hát Nhớ thủ đô hay, mà, tối nay, nó ba chê mày! Ông sẽ hỏi nó xem, ba chê có phải là nó chê mày ba lượt cả thẩy không?
Hai đứa đã đến cầu đình. Đường y hệt bà mẹ. Khoa là đứa con lần đầu tiên cắp sách đi học. Con Liên đợi lâu, trách móc :
- Bắt ngưòi ta chờ lâu quá.
Đường không thèm an ủi Liên, bi bô :
- Đây là thằng Khoa. Đằng ấy vẫn khen nó hát hay, cớ làm sao còn chê nó hát ba chê?
Nó buông tay Khoa ra :
- Chê những ba lần! Đằng ấy làm như đằng ấy hát hay hơn nó.
Con Liên cười thích thú. Khoa bỗng vui lây. Sự ngượng ngùng của nó trốn đâu mất. Đường ngẩn tò te :
- Chế người ta hát ba chê, còn cười!
Liên cười ròn rã hơn. Con bé nhìn Khoa, hỏi xách mé :
- Biết ba chê chứ?
Khoa gật đầu. Liên nháy mắt. Dưới ánh trăng sáng tỏ, Khoa nhìn rõ đôi mắt Liên. Đôi mắt long lanh, tinh nghịch. Liên nói :
- Cu Đường giỏi ghê! Ba chê là chê ba lần. Hát không hay, người ta chê cũng cáu. Cu Đường hát đấy à?
Cư Đường - ở nhà, cha mẹ nó gọi nó là thằng cu - ngó Khoa, tỏ vẻ thương hại. Khoa đang nhìn ánh trăng bạc giải đầy trên mặt nước ao đình. Tâm hồn nó xốn xang. Chợt Liên gọi :
- Cu Khoa!
Khoa quay lại :
- Khoa, không có cu.
Liên cọ sát hai bàn tay cho ấm, xuýt xoa :
- Ờ, ờ... Xin lỗi nhé! Lạnh khiếp, mình về thôi. Cu Đường đi trước, Liên đi giữa, Khoa đi sau. Liên sợ ma.
Ba đứa trẻ vui bước. Bóng chúng nó đổ trên đường trăng. Đứa nọ dẵm chân lên bóng đứa kia. Mọi tối, trong túi quần tây của Khoa đầy lạc rang, hay ngô rang. Những đêm trời lạnh, đi tập kịch về, móc lạc rang, ngô rang mà nhấm nhá, thì tuyệt cú mèo. Khoa giận nó đã quên món quà mùa đông của tuồi thơ. Giá túi quần Khoa có ngô rang, chỉ cần Khoa nhai ròn, là con Liên láu lỉnh sẽ gạ xin ngay.
- Rét ghê nhỉ, cu Đường nhỉ?
Đường ậm ừ :
- Ờ, rét.
Nó không hề giận Liên cứ gọi tên ở nhà của nó.
- Cu Khoa có rét không, hở?
Khoa hơi hơi ức. Nó đang muốn làm quen với Liên, nên chỉ nhấm nhẳn :
- Đã bảo Khoa thôi, không có cu,
Nó nói thêm :
- Dân ở tỉnh, không cần đặt tên ở nhà.
Ra cái điều ta là dân thị xã. Con Liên tỉnh bơ :
- Thế à? Xin lỗi nhé! Liên thích gọi Đường bằng cu Đường, nghe vui lắm.
Liên đi chậm dần. Rồi, con bé đi cạnh Khoa. Hai đứa sóng đôi bước. Cu Đường bỏ hai đứa một quãng xa. Trăng tỏ hơn. Cơn gió lạ, vô tình, luồn qua bờ tre, khóm lá. Tiếng gì đó xao động, cơ hồ tiếng thầm tình tự của cỏ cây. Con đường đã hẹp, tự nhiên, hẹp hơn. Cũng tự nhiên, nó chẳng còn dài như những đêm Khoa tập kịch, về một mình. Khoa ngoái nhìn khúc đường sau lưng. Nó, mơ hồ, thấy dấu chân nó in lên dấu chân Liên, và cả bóng hình nó in đầy dấu chân Liên. Khoa bỗng yêu con đưòng đất nhỏ nhễ nhãi ánh trăng. Yêu con ngòi bé. Yêu chiếc cầu đá. Yêu bụi tre, khóm lá, bờ cỏ. Có lẽ, tại con đường Liên đã in dấu chân, con ngòi Liên đã soi bóng, chiếc cầu Liên đã đứng chờ, bụi tre, khóm lá, bờ cỏ Liên đã nhìn, và đã nghe nổi dậy, từ đó, tiếng thầm tình tự của cỏ cây.
Khoa sẽ nhớ mãi đường trăng đêm nay, đường trăng dẫn nó vào miền mến yêu không cần ai chỉ dẫn. Tình yêu chỉ tự ta tìm thấy, chẳng ai có thể tìm cho ta được. Bác Hồ, anh Kim Đồng, em bé Nam Bộ... Khoa đã yêu, như mọi đứa bé vừa lớn trong kháng chiến đã yêu. Tình yêu đó không làm Khoa bồi hồi, cảm xúc. Bởi vì, nó ồn ào, nhộn nhịp. Tình yêu, mà Khoa chợt thấy, khi bước cạnh Liên, trên con đường làng ngập ánh trăng, nó nhẹ nhàng, man mác, lơ lửng. Và, có một niềm bí ẩn, không ai biết. Và, Khoa sẽ chẳng hiểu phải nói thế nào, về niềm bí ẩn đó.
- Về nhà tao chén khoai nướng nhé, Khoa nhé!
Đã qua cầu Chờ rồi. Qua lúc nào ấy nhỉ? Tiếng thằng Đường Vọng lại :
- Hai đứa đi chậm hơn rùa bò.
Liên nghiêng mặt nhìn Khoa. Khoa nghiêng mặt nhìn Liên. Bốn con mắt chớp nhanh. Hai đôi chân bước chậm. Mà, vẫn gặp thằng Đường đứng đợi. Đến con ngõ tách hai lối, Đường hỏi câu nó đã hỏi :
- Về nhà tao chén khoai nướng nhé, Khoa nhé!
Khoa ngẩng mặt trông trăng :
- Khuya rồi, tao phải về.
Đường dụ :
- Khoai nướng ngon nhất trên đời. Răng đang đánh cầm cập, ăn miếng khoai lùi vừa bới ra, hết run liền.
Khoa nói :
- Tao không rét. Tao ấm lắm.
Ba đứa đứng lại giây lát. Rồi, Liên bảo :
- Về ngủ đi, Liên để phần cho một miếng nhé, cu Khoa.
Khoa chẳng còn ức Liên gọi mình là cu Khoa, dù là ức một ly ông cụ. Liên và Đường chia tay Khoa. Hai đứa khuất dần trong lối xóm. Khoa đứng ngẩn ngơ. Tiếng con cá đớp bèo, nghe buồn lạ. Khoa không buồn. Đêm nay, nằm ngủ, Khoa sẽ mơ thấy miếng khoai nướng, của Liên để phần. Miếng khoai nướng ấy mới ngon nhất trần đời.

72
Mùa đông đã dẫn đến những ngày mưa dầm gió bấc. Mưa kéo dài cả mười ngày, nửa tháng. Đúng là mưa dầm. Mưa muốn ủng đất. Đưởng ngõ trơn như đổ mỡ. Đi phải bấm chặt mười đầu ngón chân xuống đất, cho khỏi ngã. Gió thổi hắt nước vào mặt. Lạnh cắt da thịt. Nước là lưỡi dao. Gió là bàn tay cầm dao chém. Ra khỏi nhà, dội nón, khoác áo tơi, giống con cò lặn lội ở bãi vắng.
Khoa chán tập kịch rồi. Nó sợ ghẻ. Tập kịch mùa mưa thường không về được. Ngủ chung trên ổ rơm, lây ghẻ dễ như bỡn. Mùa đông mà bị ghẻ, khổ vô cùng. Gãi rách da, rướm máu. Sau cơn ngứa, nước vàng đùn ra, sót khổ, sót sở. Nước vàng dính quần. Ngủ dậy, gỡ từng mụn, tê tái. Khoa ghét mưa dầm gió bấc. Hồi học lớp dự bị, tập đọc bài Mưa dần gió bấc trong cuốn Quốc văn giáo khoa thư, mở đầu bằng câu: Ở nhà quê, gặp ngày mưa dầm gió bấc, cảnh tượng thật tiêu điều, buồn bã, Khoa chỉ, tưởng tượng thấy cái cảnh tượng tiêu điều, buồn bã thôi. Bây giờ, nó mới thấm thía cảnh tiêu điều, của những ngày mưa dầm gió bấc.
Khoa muốn qua nhà cu Đường chơi. Ngài ngại làm sao ấy. Khoa vẫn nhớ miếng khoai nướng, mà con liên bảo để phần cho nó. Con Liên không nói dối. Khoa nghĩ vậy. Lúc này, Khoa ngồi suốt buổi dưới bếp. Mùa đông, ngồi bên bếp lửa, nghe mưa gió đú đởn bên ngoài, chả còn gì thú vị bằng. Ăn ngô rang, lạc rang, khoai nướng không biết no. Khoa mong Vũ có dịp về làng. Nó chẳng thèm hãnh diện là em Vũ, em một liên lạc viên trung đoàn 44 đâu. Khoa mong Vũ về, để hỏi xem, dạo trước, Vũ làm quen với Thúy ra sao. Mấy tháng rồi, không có tin tức thằng Vũ. Hôm nọ, đại hội thanh niên Đại Đồng, Tường An, Ô Mễ, Côn theo ban nhạc sang giúp vui. Ban nhạc chơi mấy bài: Chào cờ, Mặc niệm, Suy tôn Hồ chủ tịch, Chiến sĩ Việt Nam., Bắc Sơn, Ngọn trào quay súng... Ban nhạc được ăn xôi với thịt kho tầu. Khoa đứng ngoài ngó Côn vê alto, đổi ác co như máy. Nó hỏi Côn về Vũ, Côn mù tịt. Tiêu thổ kháng chiến làm mỗi người lênh đênh một nơi. Đội bóng tròn của Vũ tan rã.
Vũ, hiện thời, đang sống với một đại đội thuộc trung đoàn 44, và di chuyển về Tiền Hải dưỡng sức, sau những trận thử lửa với quân Pháp, ở Hưng Yên. Đại đội của Vũ đóng tại làng Thư Điền. Vũ được đeo súng lục, chứ không thèm giắt lựu đạn thối. Khoa mà trông thấy, chắc nó phục anh sát đất. Đại đội của Vũ vừa có bảy anh bộ đội hy sinh cho tổ quốc, ở mặt trận Hưng Yên. Buổi lễ tưởng niệm tổ chức thật cảm động. Anh chính trị viên đại đội kể tiểu sử của từng người. Toàn là người Hà Nội. Phút mặc niệm, cả đại đội khóc. Dân làng Thư Điền cũng khóc nức nở. Các chị phụ nữ thấm nước mắt ướt khăn. Hào khí bùng dậy, khi mọi người nhìn lá cờ bay, say sưa hát:
Trung đoàn bốn mươi tư
Bóng cờ say trong gió bao lần nêu chiến công oai hùng
Lên đường hỡi chiến sĩ
Nước nhà bao yêu quí đang chờ ta tuốt gươm trả thù
Trời mịt mù binh đao lửa khói
Nỗi lầm than toàn dân uất ức căm hờn
Đi lên thôi kìa lời sông núi
Thề cùng nhau bao nhiêu bất bình phá tan
Trung đoàn bốn mươi tư
Hưng Yên, Hải Dương đứng ngang tài chốn
Một miền chiến khu ba
Xung phong hò reo bóng cờ trung kiên máu pha...
[17]
Vũ tưởng chừng nó đang xung phong trả thù cho Vọng. Nếu Vọng không bị chết đói, năm Ất Dận, nó đã đủ tuổi làm bộ đội. Đại đội của Vũ đi nhiều nơi. Nơi nào, nó cũng được hưởng trọn vẹn niềm yêu mến. Vũ chỉ còn mơ, sẽ có một ngày, đại đội của nó đóng tại Trực Nội, để nó đi tìm con Thúy, cầm tay con Thúy, hôn lên má con Thúy, hôn lên môi con Thúy, nói rằng, nó đi chiến đấu với nỗi ước mơ trở về thị xã Thái Bình, xây dựng căn nhà cũ, và tạo lại đời sống êm đềm thôi. Nó không thích chia lìa, ngăn cách. Ngăn cách, chia lìa làm con người buốn thảm. Đời sống phải đừng có chia lìa, ngăn cách. Đời sống phải gần gũi và thương yêu. Người ta đi chiến đấu là hy vọng trở về, cùng trái ước mơ chín vàng, ngọt lịm. Trái ước mơ của Vũ chỉ là vùng trời nhỏ bé, êm đềm, bên cạnh dòng sông Trà Lý, và Thúy của Vũ. Thúy yêu Vũ, yêu Vũ nhiều hơn, tha thiết hơn, sau những ngày chia lìa, ngăn cách.
- Khoai cháy thành than rồi, Khoa!
Mẹ Khoa vừa nói, vừa lấy que đun sắt khều củ khoai ra khỏi bếp.
- Con suy nghĩ gì thế?
Khoa hơ tay lên ngọn lửa củi :
- Me ơi!
- Gì?
- Tại sao mẹ lấy bố?
- Tại vì...
Mẹ Khoa vỗ nhẹ lên vai Khoa :
- Mày hỏi làm gì?
Khoa cười :
- Con muốn biết. Tại sao, hở mẹ?
Mẹ Khoa nhìn con âu yếm :
- Tại vì bố mày đẹp giai!
Khoa ngẩng mặt :
- Con có đẹp giai không?
Mẹ Khoa lườm yêu con :
- Thua bố mày một tí.
- Đẹp giai là lấy được vợ à?
- Còn phải biết tán gái nữa.
- Bố có tán mẹ không?
- Bố mày theo chân tao suốt ngày.
- Bố tán gái thế nào?
- Thì bố mày nói năng vẩn vơ.
- Mẹ còn nhớ câu nào của bố không?
- Mày hỏi làn gì, thằng nhãi ranh?
Bỗng, mẹ Khoa tặc lưỡi, giục Khoa :
- Đứng dậy, mẹ coi.
Khoa đứng dậy. Mẹ Khoa gật gù :
- Cu cậu trổ mã rồi. Muốn lấy vợ, mẹ lấy cho, không cần tán, mất công lắm, con ạ!
Khoa lắc đầu :
- Con chỉ muốn chơi thân với con Liên, như anh Vũ chơi thân với chị Thúy. Mẹ biết con Liên chưa? Nó tản cư về nhà thằng Đường ấy mà. Nó bảo để phần cho con miếng khoai nướng. Nó khen con hát hay.
Mẹ Khoa cười ròn rã :
- Mày oắt con mà đã mê gái, đến nỗi để khoai cháy thành than. Muốn quen nó, cứ tới để cho nó sai vặt.
Khoa chợt nhớ kỷ niệm cũ, hớn hở :
- Như anh Vũ ăn cắp cái lồng chim khuyên của con nhà Hội, đem cho chị Thúy chứ gì? Con hiểu rồi.
Mẹ Khoa nói đùa :
- Tao phải cất kỹ hũ lạc mới được, kẻo mày lấy rang, đem sang biếu nó hết.
Hai mẹ con vui vẻ. Tiếng than nổ tí tách. Khoa sà vào lòng mẹ, nũng nịu :
- Con ghét trời mưa.
Mẹ Khoa vuốt tóc con :
- Me biết. Bây giờ, con chỉ thích trời nắng.
Rồi, mẹ Khoa thở dài :
- Lạnh thế này, liệu thằng Vũ chịu nổi không? Chả hiểu nó ở đâu mà gửi áo len cho nó.
Khoa nói :
- Mẹ đừng lo. Anh Vũ là chiến sĩ.
Nó khe khẽ hát:
Người chiến sĩ dầm gió rít mưa bay
đắm mình trong khói súng
chiến trường áo mong manh
căm thù nuôi ấm thân...
[18]
Mẹ Khoa dứt một sợi tóc của Khoa :
- Thằng Vũ mà chiến sĩ cái gì. Chiến sĩ đái dầm. Bố giận nó lắm. Lần này, bắt được nó, bố lôi về, xích chân nó. Nó a dua...
Khoa muốn cãi cho anh. Nó không dám cãi. Bây giờ, Khoa không mong Vũ về Tường An nữa.
- Con chắc anh Vũ không khổ đâu, mẹ ạ. Anh ấy lớn rồi.
- Lớn à? Lớn kệ xác nó. Nó phải về đi học. Ông tú Lễ đã mở trường thành chung ở Ô Mễ. Phiên chợ trước, mẹ gặp thằng Côn, nó cho mẹ hay thế. Nó vắng nhà, bố mày cứ cằn nhằn mẹ. Con biết đó, anh con mồ côi mẹ sớm, nên bố con thương anh con lắm.
- Anh Vũ thích đi liên lạc, chứ anh ấy có giận mẹ hay giận bố, bỏ nhà ra đi đâu.
- Mày lại bênh cái thằng anh mày.
Khoa rời khỏi lòng mẹ. Nó bóc củ khoai nướng. Mùi khoai thơm nồng. Khoa vừa ăn, vừa xuýt xoa. Nó tưởng tượng đang ăn miếng khoai của con Liên để phần cho nó.
Khoa giầu mơ mộng hơn Vũ. Nó lớn lên, cùng với giấc mơ to lớn của dân tộc. Giấc mơ của Khoa trải rộng, như heo may lướt trên đồng lúa sữa, và không bị thành phố đánh đai. Giấc mơ ấy, được ướp thơm bằng mùi hoa lý, hoa bưởi, hoa cau, và, luôn luôn, lên tiếng gọi bằng lời thầm tình tự của cỏ cây đồng nội. Ngay cả tiếng buồn của hòa âm kèn đám ma, trống cơm đêm vắng cũng gây xúc động. Khoa yêu tiếng sáo diều. Lên cao, lan tỏa, ru ngủ êm đềm, chẳng làm ai thổn thúc. Tiếng quê hương của Khoa đó, tiếng nói yêu thương, tiếng nói khơi ở mỗi trái tim một dòng suối mộng mơ. Và, dòng suối mộng mơ róc rách chảy mãi, ở tâm hồn ta. Không bao giờ đầy. Chẳng bao giờ vơi. Dòng suối làm mát nỗi vui, làm ấm nỗi buồn. Vui hay buồn, hạnh phúc hay khổ đau cũng chỉ man mác như hoa lý, hoa cau, lơ lửng như sáo diều đêm hạ. Khoa không muốn rời xa cái không gian hiền hòa này. Rời xa, để đi đâu? Đi đâu tìm được mùi thơm của hoa cau, hoa lý. Đi đâu nghe được tiếng thầm tình tự luồn qua bụi tre, khóm lá. Quê hương ta đã thừa tất cả. Cố tình thoát ly kiếm cái đẹp, cái hay, rổi sẽ có lần trở về, mang tâm sự của kẻ du sơn du thủy, trong cuốn Quốc văn giáo khoa thư: Chỗ quê hương là đẹp hơn cả. Khoa bằng lòng khung cảnh quen thuộc, tầm thường đến hèn mọn của quê hương. Lớn khôn, chắc chắn, Khoa sẽ không đi đâu xa. Nó muốn suốt đời được ướp hồn, bằng mùi thơm muôn thuở của quê hương mộc mạc. Nơi ấy, có con đường tắm ánh trăng, một đêm nào, nó và con bé Liên đã sóng đôi bước. Con đường đất nhỏ, câm nín đã dạy Khoa yêu thương, và dẫn nó tới miền yêu thương, dìu nó vào niềm bí ẩn không thể giải nghĩa.
- Con không đi đâu cả, mẹ ạ!
- Mày đi, bố mày bắt về, nọc xác mày ra.
- Bố đuổi di, con cũng không đi.
- Thằng Vũ đã nói thế.
- Con khác anh Vũ.
Khoa đứng dậy, bước đến cửa bếp. Nó lách tấm phên liếp, chạy qua sân gạch, lên nhà. Khoa mặc nước mưa bám trên quần áo, bông nhông xuống ổ rơm. Nó đắp chiếu kín mặt, để thòi chân, nhắm mắt mơ mộng. Khoa ước gì nó và con Liên cùng bé bỏng. Hai đứa sẽ chơi tùm hum. Tiếng cười nắc nẻ sẽ ròn tan trong chiếc chếu, cuộn như cái ổ con tò vò.

73
Hai tháng liền, Khoa đánh nhau với giặc dốt. Nhi đồng thôn dưới không còn thằng nào mù chữ nữa. Trước khi đáng giặc Pháp, phải tiêu diệt giặc dốt. Những vở kịch của thanh niên, phụ nữ, nhi đồng, diễn ở sân khấu đình, toàn nói về sự tệ hại của nạn mù chũ. Bài hát Cô Tú [19] vang vọng ngày đêm:
Ai về chợ huyện Thanh Vân
Hỏi thăm cô Tú đánh vần được chưa
Đánh vần năm ngoái năm xưa
Năm nay quên hết cô chưa biết gì
Lưng trời tiếng sáo vu vi
Vẳng nghe ai học chữ i chữ tờ
Sách i tờ phát không cho học
Liệu cô mình đã đọc được chưa
Đôi bên bác mẹ cùng già
Lấy cô hay chữ để mà cậy trông.
Mùa hè cho chí mùa đông
Ruộng vườn thóc lúa tinh thông chẳng nhầm
Nụ tầm xuân còn đang phong nhụy
Xin cô mình đừng phí ngày xanh
Bình Dân Học Vụ lập thành
Cô mau tới đó học hành cho thông

Sách i tờ phát không cho học được hát là Sách i tờ Pháp không cho học. Có lý ghê. Giặc Pháp muốn dân ta mù chữ, ngu dốt, nên sách i tờ nó không cho dân ta học! Trên tường đình, tường miếu, tường quán, những khẩu hiệu cũ bị xóa đi, viết những khẩu hiệu khuyến học:
Lấy chồng biết chữ là tiên
Lấy chồng mù chữ là duyên con bò

Hay:
Cô kia má đỏ hồng hồng
Vì không biết chữ nên chồng cô chê

Hay Đi học là yêu nước, Giặc dốt nguy hiểm như giặc Pháp, Tiền tuyến diệt giặc Pháp, hậu phuong diệt giặc dốt... Mỗi buổi trưa, trên các chòi phát thanh, cán bộ Bình dân học vụ gọi loa chống giặc dốt.
Hôm nay, là ngày kiểm điểm kết quả. Con đường duy nhất thông ra đường Lầy, để qua Thọ Bi, và đi đến chợ Ô Mễ, bị chắn ngang bằng cây tre bương. Có hai cổng: Cổng sáng và cổng dốt. Cổng dốt là cái hố sâu, đầy bùn quyện lấy rơm và phân trâu bò. Cổng sáng rộng thênh thang, sạch sẽ. Một tấm bảng đen dựng bên cổng sáng. Rất đông người đứng ở ải địa đầu của dân đi chợ. Bất cứ ai, muốn qua lối này, phải đọc nổi hàng chữ viết sẵn trên bảng. Đọc nổi thì qua cổng sáng, được vỗ tay hoan hô. Không đọc được thì... lội bùn, bị chế nhạo xấu hổ. Phần đông, các cô đọc thông, vì đã đi học Bình dân học vụ. Còn các bà đứng tuổi, các cụ già vẫn mù chữ. Nhiều bà đội gạo nặng, không thể đội gạo lội bùn, phải nhờ người đỡ thúng gạo xuống, chuyển sang bên kia đường, rồi mới vén váy tới háng, mà lội bùn. Quang cảnh buồn cười vỡ bụng. Nhiều bà sợ lội bùn, phải trở lại, tìm đường tắt qua cánh đồng, đi chợ. Lội bùn xong, đi kiếm vũng nước rửa bùn. Còn bị gọi là giặc dốt, người mù chữ... Cụ già sáu mươi van nài qua cổng sáng không xong, chửi ầm ỹ, rồi cũng đành lội bùn. Đạo quân diệt giặc dốt trẻ không tha, già không thương. Muốn thoát cảnh lội bùn, đi học i tờ. Học i tờ dễ lắm. I tờ giống móc cả hai, I ngắn có chấm tờ dài có ngang.
Ngày đầu kiểm điểm kết quả, thấy dân làng vẫn đông đàn bà mù chũ. Người ta hoạt động hăng hơn. Nếu không còn ai mù chữ, giặc Pháp sẽ thua bét tĩ, chẳng cần đánh, giặc Pháp cứ thua như thường. Khoa nẩy ra cái ý mở ở thôn nhà một lớp Bình dân học vụ. Nó chọn từ đường nhà họ Vũ làm trường học. Ban ngày, đi học mãi tận trường Ô Mễ, buổi tối, Khoa về dạy học i tờ.
Đi học thật khổ. Năm giờ sáng thức dậy, ăn một bữa cơm no căng bụng, chờ mẹ nắm cho nắm cơm ép vào mo cau, gói thêm vài con tôm kho mặn, hay dúm muối vừng bỏ trong cặp, chân đất, cuốc bộ năm, sáu cây số tới trường. Buổi trưa, ở lại, ăn cơm nắm, học đến chiều. Những hôm trời nhiều sương muối, đạp chân lên ngọn cỏ, sương muối cơ hồ mũi kim đâm vào da thịt. Thiếu thốn đủ mọi dụng cụ học trò. Chép bài trên giấy dầy cộm, mà ngòi bút ấn mạnh, là lôi cả mảng giấy lên. Học vất vả quá, chẳng đi tới đâu. Vừa học, vừa lo máy bay Pháp bỏ bom. Mỗi cậu học trò phải đào một cái hố cá nhân, phòng máy bay giặc oanh tạc. Trời mưa hay trời nắng, mùa đông hay mùa hè, học hành chả đâu vào đâu, Khoa vẫn lóp ngóp đến trường.
Khoa ngỏ ý mở lớp Bình dân học vụ với mẹ. Me Khoa bằng lòng ngay :
- Còn hơn mày di tập kịch; ngũ lang, ngủ chạ bệ rạc, ghẻ lở.
Cha Khoa không ở nhà thường xuyên. Ông sang Đống Năm, xuống Tiền Hải, qua Thần Đầu, Thần Huống buôn bán, mỗi tháng, về nhà vài hôm, nghỉ ngơi. Ông đi khắp nơi, cố ý tìm Vũ, bắt Vũ trở về.
- Mày làm thầy giáo, chắc buồn cười lắm nhỉ?
- Con là chiến sĩ chống giặc dốt.
- Chiến sĩ i tờ!
- Mẹ giúp đỡ con nhé!
- Bảo Liên của mày nó giúp đỡ mày.
Khoa mở cờ trong bụng. Nó có nhiều dịp gần gũi Liên rồi. Khoa nín thinh. Nó lần mò sang nhà cu Đường. Gặp Đường ở cổng nhà nó, Khoa hỏi :
- Con Liên đâu?
Đường trổ tài... Bình dân học vụ :
- Nờ o no sắc nó ngờ u ngu hỏi ngủ.
- Mày đánh thức nó dậy đi.
- Nờ o no sắc nó bờ ao bao hỏi bảo nờ o no sắc nó bờ uôn buôn huyền buồn nờ o no sắc nó thờ ích thích sắc thích ngờ u ngu hỏi ngủ.
- Ai dạy mày đánh vần thêm nhiều chữ khó thế?
- Con Liên. Ông biết viết cả chữ hoa rồi.
- Nó có xưng cô với mày không?
- Không.
- Nó là cô giáo của mày. Mày phải xưng con với nó.
Đường chìa khuỷu tay :
- Cái này này...
Kho vỗ nhẹ vai Đường :
- Đêm hôm lâu rồi, mày rủ tao về nhà mày ăn khoai nướng ấy mà, con Liên bảo để phần cho tao một miếng, nó có để phần không?
Đường toét miệng cười :
- Mày không chịu sang, nó đem miếng khoai để phần cho mày nuôi kiến. Bọn kiến chưa ăn hết đâu.
- Nó buồn chuyện gì?
- Bố nó sắp đi làm nhà in báo của chính phủ. Chú tao cũng đi theo.
- Mẹ nó có đi không?
- Không.
- Thế thì buồn ở cái khổ nào?
- Nó nhớ Hà Nội.
- Bao giờ nó mới dậy?
- Còn lâu.
- Tao ngồi đây chờ.
- Làm gì?
- Làm nó hết buồn.
Tự nhiên Đường nói :
- Nó khen mày hát hay đấy. Ba chê là khen đấy, Khoa ạ!
Hai đứa ngồi trên bậc cổng. Buổi trưa, im vắng. Ở nhà quê, không ai biết chủ nhật. Một mình Khoa biết thôi, vì nó nghỉ học hôm nay. Sắp tết rồi. Trời đã hết mưa, và bớt lạnh. Nắng hanh vàng ấm áp. Khó chịu cho lớp da mặt, không tệ hại như mưa dầm gió bấc. Con chích chòe, có thể, thảnh thơi đậu trên cành soan cao, hót một điệu tuyệt vời nhất. Con cu gáy, có thể, núp kín trong đám lá rậm của cây bòng, làm thời gian dài ra, bằng tiếng gáy của nó. Ở sân nhà Đường, lũ chim chích đang cãi nhau chí chóe, dưới chân đống rơm mới.
Mùa xuân gần kề. Bài giảng văn Khoa vừa chép: Mưa xuân đã rắc bụi. Lộc tơ đã nẩy ra những chồi xanh ngắt, để báo hiệu cho chúng ta biết, ngày tết Nguyên Đán sắp tới. Nhưng năm nay, toàn dân ta vẫn còn phải nỗ lực kháng chiến chống bọn thực dân xâm lăng Pháp... Tết kháng chiến năm nay sẽ buồn tẻ như tết kháng chiến năm ngoái. Tết không đốt pháo, không phải là tết. Bài thơ, Khoa mới học:
... Xuân trời đất làm bằng hoa bằng lá
Người Việt Nam làm bằng súng bằng gươm
Xuân muôn năm lấy sắt lửa mà làm
Hoa hạnh phúc nẩy tự nòng đại bác
Lòng lựu đạn chứa hương thơm ngào ngạt
Bắn đi, ném đi, gươm dáo chém đi
Chặt ngang thây phường cướp nước gian phi
Lũ cỏ dại bắn vào hàng ngũ chúng
Xuân sẽ mở khi đứt đầu phản động
Máu Việt Nam không chen máu tanh hôi
Binh sĩ ta đem cả sức vô hồi
Bắt tạo hóa nở nụ cười độ lượng...

Như thế, tết, hay không tết, đối với Khoa, cũng chả ăn thua gì. Chỉ làm Khoa tương tư mùi khói pháo, không thoát lên được, bởi lớp sương dầy, trong không khí lạnh. Khoa đã hết nhỏ bé, để thích tranh gà, tranh lợn, để thích tiền mừng tuổi và mặc quần áo mới. Mà, chẳng ai mừng tuổi ai. Người ta mừng tuổi cụ Hồ, gửi tiền mừng tuổi bộ đội. Tết kháng chiến đó. Tết kháng chiến. Đám cưới kháng chiến. Đám giỗ kháng chiến. Đám ma, cũng kháng chiến nốt! Nhiều tập tục đã bị kháng chiến giết chết oan uổng. Cái trống cơm, cái kèn đám ma chết trước. Đàn bầu thôi nẩy những điệu lãng mạn thuần túy của quê hương. Mà, chơi... chào cờ, mặc niệm! Ngay cả tranh gà, tranh lợn mộc bản cũng bị khắc thêm câu thơ thi đua tăng gia sản xuất:
Cụ ông thi với cụ bà
Nuôi lợn cho béo nuôi gà cho to

Chẳng còn gì cả. Mầu sắc tết cổ truyền chìm lấp dưới lớp hắc ín kháng chiến. Khoa thì chỉ thấy tết tẻ nhạt, vì thiếu pháo nổ, thiếu vôi bột rắc đầy ngõ, thiếu cây nêu cao. Cây nêu cao phải treo cờ!
- Sắp tết rồi. Khoa nhỉ?
- Ừ.
- Đã tập vở kịch diễn tết chưa?
- Chưa. Tao chán diễn kịch rồi. Tao sắp làm việc khác.
- Tát ngòi, bắt cá lấy tiền mua trống đồng chứ gì! Ông biết tỏng.
- Thẳng Vĩ nói khúc ngòi chúng mình nhận tát, có hai cái hang cá trê.
- Thế à?
- Ừa.
Hai thằng bạn quay mặt ra ngõ, không biết con Liên tinh quái đã thức, và rón rén tới cổng. Nó nhẹ nhàng leo lên ngồi trên cây tre, bắc ngang cái cổng, làm như căn nhà nhỏ bé. Nó lặng thinh hóng chuyện.
- Này Khoa!
- Gì?
- Mày học giỏi thế, mày đã đọc truyện Trên bến Búng [20] chưa?
- Chưa.
- Tao đọc rồi.
- Nói phét. Mày mới đánh vần thông thạo thôi.
- Con Liên kể cho tao nghe. Nó bảo bà lão chở thuyền ở bến Búng đục thuyền, làm hai mươi thằng thực dân Pháp chết đuối.
Liên phá ra cười. Cả hai thằng cùng quay lại. Khoa ngỡ ngàng. Đường xấu hổ. Liên nheo mắt :
- Cu Đường là cu Cuội... Liên kể chuyện Trên bến Búng cho cu Đường nghe bao giờ? Người ta mới hứa kể, đã khoe.
Đường cười trừ. Liên trách Khoa :
- Cu Khoa cũng là cu Cuội. Bảo sang ăn khoai nướng không sang, bắt tội kiến ăn no nê.
Kha móc trong túi ra gói lạc rang :
- Khoa đền tội, nhé!
Liên hỏi :
- Cái gì đó?
Khoa đáp :
- Lạc rang.
Liên cầm ngay gói lạc, liến thoắng :
- Lạc rang à? Liên thích lắm.
Con bé bóc gói lạc, nhón một hạt, còn bao nhiêu đổ vào túi áo mình. Nó vê vỏ, tách hạt lạc làm đôi. Một nửa, Liên thảy vô miệng, nhai ròn. Một nửa, nó đặt ngửa giữa lòng bàn tay, chỉ cái chấm nhỏ trên đầu hạt lạc :
- Cu Khoa biết không?
- Biết.
- Nói xem nào.
- Trúng được gì?
- Muốn gì được nấy.
- Muốn hai điều thôi.
- Ừ.
- Điều thứ nhất, cấm gọi Khoa là cu Khoa,
- Còn điều thứ hai?
- Sẽ nói sau.
- Vậy, chấm nhỏ trên đầu nửa hạt là gì?
- Ông cụ! Ông cụ bé tí ti. Tí ti ông cụ!
- Còn là gì nữa?
- Ông lão. Một ly ông lão, một ly ông cụ...
Liên cười :
- Ăn lạc rang khoái nhất là nhấm ông cụ, bằng răng cửa.
Khoa nói :
- Liên thua cuộc rồi.
Liên nhìn Khoa, nhấm nhẳn :
- Thế à, cu Khoa?
Khoa nhắc :
- Cấm gọi cu Khoa.
Liên nheo mắt :
- Ờ nhỉ, Liên quên. Điều thứ hai ra sao hở, Khoa?
Khoa hơi bối rối. Nó sợ nhỡ tầu lắm. Ở đây, bị Liên cho nhỡ tầu, làm gì có ô tô ray mà đi? Khoa không đáp câu hỏi của Liên. Nó ngó Đường :
- Cu Đường đánh vần cừ ghê.
- Mày cũng học đòi cái Liên à?
Liên dọa Đường :
- Hễ gọi cái Liên, không thèm dạy học nữa, cho mù chữ luôn.
Đường vênh mặt đáng yêu :
- Đây hết mù rồi.
Khoa lắc đầu :
- Mày hết mù, nhưng còn chột. Mày chột chữ.
Liên thích chí :
- Cu Đường chột chữ vẫn bị lội bùn!
Đường cáu quá, chạy vào nhà. Khoa đang mong thế. Để có nhỡ tầu, chỉ mình Khoa biết. Nó nói :
- Thôn mình đông người mù chữ quá, Liên ạ!
Liên ỡm ờ :
- Thôn mình là thôn nào?
- Thôn này.
- Liên tản cư mà. Dân tản cư mà...
- Tản cư về đây, thì đây là thôn mình.
- Rồi sao?
- Khoa định mở lớp Bình dân học vụ tối, thi đua với thằng Huệ, Liên đến dạy với Khoa nhé!
- Dạy i tờ?
- Ừ.
- Làm cô giáo?
- Ừ.
- Được gì?
- Mỗi tối, một gói lạc rang.
- Giúp Khoa thôi, hở?
- Giúp nhiều người.
- Liên không gia nhập thiếu nữ đâu. Liên ở đây chờ về Hà Nội.
- Càng tốt. Khoa không thích Liên gia nhập thiếu nữ.
- Tại sao?
Khoa muốn trả lời, tại vì Khoa không thích Liên quen với thằng nào, ngoài cu Đường nhà quê và Khoa. Khổ nỗi, Khoa ngập ngừng, chẳng thể nói một câu ngon ơ như sáo chó. Nó đưa ngón tay cái lên miệng, cắn móng :
- Liên bằng lòng chứ, Liên?
Liên hỏi :
- Dạy tối, về khuya, Liên sợ ma. Khoa dẫn Liên về cơ.
Khoa lặng thinh giây lát, cho niềm sung sướng thấm vào tâm hồn nó. Đôi mắt Khoa long lanh. Đôi mắt ấy, nhìn Liên. Bỗng dưng, sự láu lỉnh, vẻ hóm hỉnh của Liên trốn đâu mất. Con bé cúi đầu, vân vê mép áo. Khoa nói nhỏ, thật nhỏ :
- Khoa sẽ dẫn Liên về.
Tiếng nói của Khoa chìm biến. Chỉ còn nghe rõ tiếng hót tuyệt diệu của con chích chòe trên cành soan, gần đó. Và, tiếng gió luồn qua bụi tre. Và, tiếng nắng nhảy múa, làm rung rinh những chiếc lá không muốn úa vàng.

74
Nhi đồng thôn dưới nhất định ăn tết bằng bộ trống đồng. Làng nào trong huyện Thư Trì cũng có trống đồng. Chỉ làng Tường An nghèo mạt, hai năm cách mạng thành công, nhi đồng vẫn thèm ước một bộ trống đồng. Tiền nguyệt liễm, tiền mót lúa, hôi cá, chưa đủ mua. Anh Lý đã sang Đống Năm hỏi giá trống đồng. Anh bảo còn thiếu năm trăm nữa. Nhi đồng thôn trên về bét các cuộc thi đua, không hy vọng được giữ trống đồng, thành thử chúng nó lười kiếm tiền gây quỹ. Khoa đã hứa với Đường sẽ cho Đường đánh trống con. Đường rất thích trống đồng. Khoa thích nào kém. Đêm đêm thức giấc, nghe tiếng trống đồng từ Đồng Đức, Thọ Bi, Thụy Bình, Đại Đồng vọng sang, vọng tới, Khoa nôn nao vô cùng. Thời đại của Khoa là thời đại của trống đồng thôi thúc, giục giã. Thiếu nó, kể như mất quá nửa niềm vui.
Khoa đã dẫn nhi đồng Tường An đi dự đại hội thiếu nhi xã. Nó thấy tủi thân, khi bọn thằng Đường nhìn trống đồng, của nhi đồng làng khác, thèm rỏ rãi. Khoa quyết thực hiện mộng đánh trống đồng cho nó, cho thằng Đường, cho nhi đồng Tường An. Bởi thế, bọn nhi đồng thôn dưới mới say mê tát ngòi bắt cá, theo lệnh của Khoa, đổi cá lấy trống đồng. Trời lạnh, nhi đồng nhảy xuống ngòi móc bùn, be bờ chắn ngang từng khúc ngòi. Chúng thay phiên nhau tát nước. Gàu không đủ, lấy gáo múc nước. Những bàn tay nhô con, muốn làm nghiêng khúc ngòi, cho nước hắt đi chỗ khác. Chẳng mấy đỗi, khúc ngòi cạn nước, chỉ còn bùn, và tôm cá lổn nhổn. Ở một cái hang, dưới bụi cây rậm, con nhà Vĩ trườn mình chui vào. Cái hang sâu nuốt quá nửa thân hình Vĩ. Nó là rái cá. Vĩ là Yết Kiêu. Nó nín thở tài tình. Nó cầm đoạn dây mây đầy gai, thọc sâu trong hang. Một lúc lâu, nó trườn lùi ra, mặt mũi, đầu tóc bê bết bùn. Nó cười. Hàm răng trắng ởn. Trông nó giống hệt Tây đen bán vải. Vĩ khoe nhặng xì ngầu :
- Nhiều lắm.
Vĩ đưa tay, vuốt mặt đầy bùn :
- Mới động khẽ, bọn cá trê đã ọ ẹ... đầu hàng!
Nó giục :
- Thằng Đường đem cái rổ xề lại đây. Tao bắt sống thực dân cá trê mừng tuổi bác Hồ.
Đường gân cổ :
- Mua trống đồng đã. Còn thừa tiền mới mừng tuổi bác Hồ!
Vĩ lại chui vào hang cá trê. Mỗi lần nó trườn ra, là mỗi lần một con cá trê trong tay nó. Vĩ bắt cá trê rất giỏi. Ngạnh cá trê không tài nào đâm thủng tay nó, dù cá trê đóng quân mãi tận chiến khu hang hốc. Những thằng khác đã bắt tới con cá rô cuối cùng. Chúng nó qua tát khúc ngòi gần đó. Vĩ và Đường phụ trách hang cá trê. Khoa đứng trên bờ hô hoán, vui mừng. Khoa biết nó không thể giỏi bằng những đứa trẻ ở nhà quê. Cả Vũ, Côn, Luyến, Lộc nữa. Những đứa trẻ ở thành phố được mỗi nước khôn vặt. Thả chúng về quê, chúng sẽ chẳng làm được gì, ngoài việc dùng cái tài khôn vặt của mình mà chỉ huy, ra lệnh. Khoa phục Vĩ sát đất. Nó tính sẽ để Vĩ ôm trống cái.
Khoa đánh trống đồng từ ngày còn ở thị xã. Nó quen vài ông lính khố xanh, trong đội trống đồng, kèn bú rích. Mấy ông này dạy Khoa đánh đủ các nhịp. Khoa đã truyền nghề cho nhi đồng thôn dưới. Nó bắt hai thằng đeo thúng, úp mặt thúng xuống, dùng quân khăng làm dùi, đánh vào đít thúng. Một thằng lấy hai cái vung nồi đồng làm chũm chọe. Khoa bảo tập quen tay, khi có trống đồng thật, là đánh liền, không bỡ ngỡ. Nhi đồng thôn dưới thay phiên nhau tập đánh trống đồng giả, kêu lẹt bẹt. Trống giả sẽ thành trống thật, như súng gỗ sẽ thành súng thép bắn tan giặc Pháp. Chỉ cần tin tưởng. Mà, tin tưởng đã thừa, đã khiến những thằng nhãi con làm nghiêng cả ngòi dài, với nhiệt tình và lòng tự phụ.
- Khoa đâu?
Vĩ gọi nhắng. Khoa đáp :
- Tao đây.
Vĩ giơ con cá trê to tướng, đen thui, bụng vàng chóe :
- Con trê chúa. Mày nhìn xem, đầu nó bạc phơ.
Khoa khích lệ Vĩ :
- Mày xứng đáng ôm cái trống cái.
Vĩ hớn hở :
- Tao được ôm trống cái? Hoan hô mày. Tiêu diệt gần hết đồn giặc cá trê rồi, Khoa ạ! Đánh mạnh để trở về thủ đô.
Thủ đô của Vĩ, thủ đô không bao giờ Vĩ tới, chưa bao giờ Vĩ biết. Bây giờ, Vĩ luôn luôn nhắc nhở. Có cái gì thật khác lạ của thời đại thằng Khoa. Cái gì ấy, nó ngô nghê, ngớ ngẩn, buồn cười, song rất chân thành. Khoa nhớ những ngày đi thả rọ cá rô, be bờ đơm đó bắt tép, thả ống lươn, đánh cá sông gây quỹ nhi đồng, có thằng cởi truồng tồng ngồng, vác cái dậm vòi, nhảy xuống nước hô to: Đánh dậm là yêu nước! Những thằng khác hô theo: Đánh mạnh để trở về thủ đô!
Yêu nước, động từ này bọc dầy lớp vỏ thiêng liêng. Không ai có thể phì cười. Tản cư là yêu nước. Đi học là yêu nước. Tăng gia sản xuất là yêu nước. Đóng thuế là yêu nước. Giết chuột là yêu nước! Không một công việc gì, dù hèn mọn đến đâu, là không thể hiện lòng yêu nước. Mấy năm chưa có những khẩu hiệu yêu nước, giết chuột là cái lệ làng đặt ra, và mỗi người chỉ góp đủ số đuôi chuột làng bắt nộp. Nhà giầu bỏ tiền mua đuôi chuột. Nay đã khác. Giết chuột là yêu nước. Nên cả làng thi đua bắt chuột. Chuột phá hại mùa màng, chuột nguy hiểm hơn giặc Pháp. Khói hun ổ chuột, bốc mù mịt khắp cánh đồng. Ai nộp nhiều đuôi chuột, người ấy yêu nước nhiều. Mà, ai cũng thích yêu nước nhiều, khiến chuột bị tiêu diệt hết.
- Này Khoa!
- Cái gì?
- Nội hang cá trê này đủ mua bộ trống đồng rồi đó.
- Mày cừ nhất làng.
- Cho tao làm trung đội phó, nhé!
- Tối nay họp, tao đề nghị mày. Thôi, bắt hết đi.
Vĩ lại chui vào hang. Cu Đường đứng đếm cá trê trong cái rổ xề. Đến chiều, công tác tát ngòi bắt cá xong xuôi, người thôn trên xuống mua tất cả.
Khoa cầm tiền đem nộp cho anh Lý. Anh bảo, thế nào, trước tết, nhi đồng Tường An cũng có bộ trống đồng. Khoa hí hửng báo tin cho bạn bè. Ngay tối hôm đó, nhi đồng thôn dưới họp. Sinh hoạt dân chủ đã quá quen. Đại khái, phần đầu là chào cờ, mặc niệm, suy tôn Hồ chủ tịch, rồi đến tuyên bố lý do cuộc họp, bầu chủ toạ, thư ký... Không một ông nhô nào được từ chối, nếu được đề nghị làm chủ toạ, và được anh em giơ tay đồng ý. Phiên họp tối nay, trung đội trưởng tuyên bố lý do... tát ngòi, và bầu trung đội phó. Khoa muốn họp thật nhanh, để còn về dạy học. Cu Đường làm chủ tọa. Nó điều khiển buổi họp rất vui nhộn. Đường báo cáo tiền cá, phác định công tác thi đua, mừng tết kháng chiến. Phần thảo luận sôi nổi lắm. Các ông nhô hăng say phát biểu, đôi lúc chửi thề, văng tục bừa bãi. Chủ tọa cu Đường cảnh cáo luôn miệng. Thư ký Hiệp toét ghi chép đầy đủ.
Sang phần bầu trung đội phó nhi đồng thôn dưới, Khoa giơ tay trước. Chủ tọa cu Đường bắt đầu :
- Đồng chí Khoa phát biểu ý kiến... lửa đi!
Tiếng cười ầm ỹ. Thằng Hội giơ tay :
- Xin phép chủ tọa. Tôi yêu cầu đồng chí Khoa phát biểu ý kiến... gió.
Thằng khác nói :
- Ý kiến... càng cho nó mạnh!
Chủ tọa cu Đường tít mắt cười. Khoa nói :
- Trung đội phó Mẫn sẹo đã theo bố lên Giai, từ chức rồi. Tôi đề nghị bầu đồng chí Vĩ thay thế. Đồng chí Vĩ bắt cá trê xuất sắc.
Chủ tọa cu Đường về phe Vĩ, không hỏi xem còn ai đề nghị người khác, vội lấy biểu quyết :
- Ai đồng ý đồng chí Vĩ làm trung đội phó, giơ tay lên.
Cả làng giơ tay. Tân trung đội phó đứng dậy, bước lên chỗ chủ tọa cu Đường :
- Tao cám ơn chúng mày lắm. Thằng Quý không giơ tay đồng ý. Mày thiểu số thua đa số. Ông sẽ giao công tác nặng nề cho mày.
Đồng chí Quý trả đũa :
- Ông tố cáo mày giấu hai con cá trê gộc, chờ anh em giải tán, đem về cho mẹ mày nấu canh dưa.
Trung đội phó Vĩ rít qua kẽ răng :
- Sư mày, mày... phản động!
Tên phản động Quý cười toe :
- Mẹ mày bưng bát canh dưa sang cho nhà ông mà. Rõ ràng canh dưa cá trê.
Khoa cố nín cười. Mỗi cuộc họp của nhi đồng là một màn hài kịch. Vui ghê lắm. Tân trung đội phó sửa soạn nhào tới đấm đá đồng chí Quý. Chủ tọa cu Đường khoái coi đánh nhau hơn điều khiển buổi họp. Nó... phát biểu ý kiến :
- Hễ ức quá, ra ngoài sân choảng nhau.
Khoa nói :
- Yêu cầu chủ tọa giữ trật tự giùm.
Chũ tọa cu Đường la lớn :
- Trật tự! Trật tự! Lát sang phần phê bình, tha hồ cãi nhau.
Khoa dục Đường :
- Yêu cầu chủ tọa thông qua vấn đề.
Chủ tọa cu Đường nháy mắt lia lịa :
- Thông qua đây, thông bằng cây sào dài, là vấn đề nó trôi liền. Nào, sang phần phê bình. Tôi xin có một tí tẹo ý kiến. Tôi phê bình phiên họp tối nay sôi nổi, vui vẻ, độc lập, tự do, hạnh phúc. Các đồng chí đồng ý chứ?
Thằng Hội giơ tay :
- Có tí ý kiến.
Nó đứng dậy luôn :
- Chủ tọa Đường phản động, dám bảo ý kiến là kiến lửa, làm các đồng chí khác noi gương. Tôi cũng noi gương... kiến gió! Tôi phê bình tôi trước.
Nó liếm mép :
- Hề hề, ông tự phê bình ông, đừng thằng nào hòng phê bình ông nữa.
Thằng khác :
- Tao phê bình thằng đồng chí Hội. Nhi đồng cứu quốc không được xưng ông.
Thằng khác :
- Tôi phê bình mày, mày xưng tao!
Thằng khác :
- Tớ phê bình đằng ấy, đằng ấy gọi đồng chí là mày.
Thằng khác :
- Yêu cầu cống chọc thủng vấn đề bằng cây sào thật dài đi. Tôi phê bình chủ tọa không biết làm chủ tọa; phê bình đồng chí Vĩ dọa giao công tác nặng nề cho đồng chí Quý. Đồng chí chủ tọa ngáp ba cái, rất đáng phê bình. Đồng chí thư ký ngủ gật.
Chủ toạ cu Đường đập bàn :
- Tao không biết làm chủ tọa, tại sao mày còn bầu tao? Lần trước, mày làm chủ tọa, mày đánh rắm thối om phiên họp, ông không phê bình mày, mà mày nỡ phê bình ông, hả? Mày đánh rắm là mày phản động, thực dân Pháp! Ông mà phê bình, mày sẽ bị ghi vào biên bản.
Khoa vỗ tay, át giọng :
- Yêu cầu chủ tọa chấm dứt phiên họp.
Chủ tọa cu Đường hậm hực :
- Phiên họp tối nay chấm dứt. Từ giờ trở đi, ông ị vào làm chủ tọa.
Bọn nhãi lục tục kéo ra khỏi từ đường họ Nguyễn, nơi dùng làm trụ sở nhi đồng thôn dưới. Các ông nhãi cười nói, văng tục huyên thuyên. Sinh hoạt dân chủ thật rực rỡ. Lời dạy phê bình và tự phê bình để tiến bộ của bác Hồ được các cháu nhi đồng áp dụng triệt để.
Khoa đứng ở sân chờ bọn nhi đồng giải tán hết, mới bước nhanh về từ đường họ Vũ. Còn sớm. Lớp học chưa đông. Cô giáo Liên cũng chưa tới. Thầy giáo Khoa đứng nhìn lớp học. Những tấm cửa gỗ của từ đường đã được gỡ ra, kê trên những chồng gạch, dùng thay bàn. Không có ghế. học trò ngồi bệt dưới nền nhà hay mang theo mảnh mo lót quần. Đèn là những chiếc đĩa đầy dầu lạc, dầu vừng, tẩm bấc vải. Ánh sáng đủ cho mỗi người. Ở bảng đen, đĩa dầu thêm vài sợi bấc, đặt lên cái giá cao. Chỉ quê hương của Khoa mới có lớp học như thế này. Ánh sáng, có lẽ, rực rỡ nhờ những tâm hồn hiếu học. Học trò toàn các bà, các cô bằng tuổi mẹ Khoa, dì Khoa, mợ Khoa... Họ yêu mến Khoa và Liên. Cô giáo và thầy giao xưng cháu với học trò.
Khoa nhìn những ngọn đèn đĩa leo lét cháy. Gió cuối đông không thể thổi tắt những ngọn đèn, không thể làm lạnh lớp học của Khoa. Bỗng dưng, Khoa thấy mình chẳng còn là mình bé nhỏ, dù Khoa vẫn bé nhỏ. Khoa muốn so sánh mình với Vũ. Thời đại của Vũ làm gì có lớp học và những ngọn đèn đĩa gây xúc động tuyệt vời. Chỉ thời đại của Khoa mới là thời của niên thiếu hưởng mộng mơ no tròn. Không có Vọng nghèo hèn. Không có Dương hống hách. Tất cả đều là những bông hoa trong vườn hoa, đều là những cánh bướm lượn bay trên đồng nội, đều là những giọng hát ngợi ca tuổi thơ và quê hương. Của trời đất đấy. Trời đất dâng mật ngọt cho niên thiếu. Trời cùng đất hóa phép, làm biến mọi biên giới. Còn lại tình yêu và hồn nhiên. Điều khiến Khoa xa lạ với Vũ năm xưa, là Khoa muốn nhận cho riêng mình một trách nhiệm, một bổn phận, ngoài những lúc rộn rã theo tiếng trống đồng, mải mê nhanh bước nhanh nhi đồng, và say sưa đánh trận giả, mơ thành người lính trong lịch sử tranh đấu của giống nòi.
- Dạy học đi Khoa, bác còn về giã gạo.
- Ừ, tao cũng còn một cối bèo.
Học trò của Khoa giục thầy. Khoa xoa tay, lễ phép nói :
- Cháu đợi một lát.
Một bà học trò âu yếm hỏi :
- Mày đợi con bé Hà Nội, chứ gì! Mợ biết, thiếu nó, mày không dạy nổi đâu. Khoa ngoảnh mặt, che giấu nụ cười sung sướng. Vừa lúc, cô giáo Liên tới. Những cuốn sách i tờ mở soạt soạt một cách vụng về. Lát sau, tiếng đọc bài vang lên. Từ lũy tre xanh, bắt đầu bằng hai chữ i tờ, một thế hệ bà nội, bà ngoại sẽ không còn bắt cháu đọc truyện Phạm Công Cúc Hoa, truyện Thạch Sanh Lý Thông, nhiều bận, để học thuộc lòng nữa. Khoa nghĩ tới ngày mai ấy. Nó, tưởng chừng, đã bắt sự câm nín của quê hương lên tiếng nói. Tiếng nói đó đang vỗ về Khoa.

0
Phần bốn (tt)
Chu kỳ rữc rỡ
 
75
Hai đứa đi gần nhau. Trăng cuối năm sáng tỏ. Trăng mãi mãi sáng tỏ, ở đồng nội. Mưa dầm gió bấc đã qua rồi. Năm nay, mưa sớm, mưa nhiều, nên gần tết, trời tạnh ráo. Sáng sớm còn lạnh, nhưng cái lạnh dễ chịu, cái lạnh không nỡ xoáy buốt vào da thịt. Buổi trưa nắng. Nắng vàng đẹp, như rơm vụ mùa. Nắng cho cải trổ ngồng, để hoa cải vàng đua cùng nắng. Nắng cho lá cải héo, cho nải dưa nén hành thơm mùi tết. Nắng cho ấm một sửa soạn đón xuân. Ban đêm, lạnh hơn đôi chút. Lạnh cho bếp lửa gần người, cho ổ rơm ý nghĩa. Cho những người đi bên nhau nhìn rõ hơi thở của nhau. Trăng trải ánh bạc. Cũng lạnh. Khoa, mơ hồ, thấy ánh trăng bốc khói. Không phải trăng đượm hơi sương đâu. Chỉ biết trăng bốc khói. Khói gì, Khoa chẳng biết. Khoa đưa cho Liên gói lạc rang :
- Liên có lạnh hông?
Liên cầm gói lạc, bỏ vào túi áo len. Rồi, đôi bàn tay Liên không muốn rời túi áo.
- Lạnh chứ.
Khoa, thản nhiên, quàng tay bá vai Liên, như nó vẫn quàng tay bá vai Đường, những đêm tập kịch, về chung một lối. Khi Khoa kéo Liên sát bên nó, Khoa mới ngỡ ngàng. Bàn tay lạnh rượi của nó nóng ran. Trái tim nó ồn ào, cơ hồ tiếng trống đồng đại hội. Khoa không dám buông tay mình khỏi vai Liên. Không thể buông được. Vai Liên là thỏi nam châm, mà tay Khoa chỉ là miếng sắt mỏng. Thỏi nam châm im lặng cuốn hút. Miếng sắt đổ mồ hôi lo lắng.
- Khoa có lạnh không?
- Không.
- Mình lên cầu Chờ một chút, nhé!
- Làm gì?
- Ngồi chơi.
- Không lạnh nữa à?
Liên lặng thinh, để mặc cánh tay Khoa quàng qua cổ mình, bàn tay Khoa đặt lên vai mình, dìu mình đi. Chẳng ai thấy hai đứa đi, ngoài con đường, ánh trăng, và cỏ lá. Quãng đường rộng dần và, từ đây tới cầu Chờ, thẳng tắp. Đêm yên tĩnh. Khoa không hiểu nó đang đi vào một cuộc đời khác cuộc đời bình thường, tẻ nhạt. Đoạn đầu của một đời người, là cuộc đời xa lạ với cuộc đời nối tiếp. Khi bước chân niên thiếu bước nhẹ trên đường thơm hoa mộng, mấy ai biết mình đang sống cuộc đời có thật, mà trời đất dành riêng cho mình. Cuộc đời ấy qua đi rất nhanh. Nếu mình không hưởng vội, mình sẽ hối tiếc. Và rồi, đến một tuổi nào, cuộc đời ấy chỉ còn sống dậy bằng hồi tưởng phản phúc, bằng chiêm bao thiếu mầu sắc, âm thanh. Bất hạnh cho một người, cho những người chối bỏ ân huệ của trời đất ban phát cho tuổi niên thiếu của mình, hay không biết hưởng ân huệ tuyệt diệu đó. Họ là những người mà cuộc đời bị cắt mất đoạn đầu đời. Họ không có kỷ niệm để hồi tưởng, để chơi những trò chơi bằng trí nhớ. Con đường đất chỉ là con đường đất. Ánh trăng chỉ là ánh trăng. Lá cây, ngọn cỏ chỉ là lá cây, ngọn cỏ. Tiếng gió luồn qua bụi tre, khóm lá chẳng mang thêm một ý nghĩa nào. Nếu ở đoạn đầu đời, ta được hưởng ân huệ của trời đất, được khoác vai người con gái bé nhỏ, đi trên con đường đất tắm ướt ánh trăng, nghe tiếng gió luồn qua bụi tre, khóm lá, ngửi mùi hoa bưởi về khuya, thì ngay ngọn cỏ cũng ngậm sương mơ, thì ngay cánh hoa cũng dậy mùi hương mộng.
- Khoa ạ!
- Gì?
- Mai, đừng cho Liên lạc rang nữa.
- Tại sao thế? Liên không thích ăn lạc rang của Khoa à?
- Thích lắm.
- Vậy Khoa cứ đem cho Liên. Mẹ Khoa rang đấy. Mẹ Khoa bảo tết này rủ Liên sang nhà Khoa, mẹ Khoa sẽ mừng tuổi Liên.
Đã đến cầu Chờ. Những chiếc cầu bắc ngang những khúc ngòi ở quê nhà Khoa, luôn luôn, là những phiến đá dầy, và lớn. Và, ngay cả những cây cột cao chống đỡ những phiến đá mặt cầu cũng bằng đá. Mặt cầu, qua nhiều năm tháng, phẳng lì, nhẵn bóng như mặt bàn gụ. Những bàn chân dính đất cát của người quê hương là thuốc đánh bóng mặt cầu đá. Buổi trưa có thể thấy rõ mặt mình trên cầu. Các cô thôn nữ thường dùng mặt cầu làm gương, sửa sang mớ tóc mai, chiếc khăn mỏ quạ, nếu quãng đường trước mặt đang đi tới mấy anh chàng xinh trai. Ngồi ở cầu, buông thõng hai chân, nhìn xuống con ngòi, để mộng mơ đôi chút. Tiếng sáo diều lơ lửng trời xanh. Những chiếc lá trang xanh non. Lũ gọng vó cứ thích bơi ngược dòng. Và, lá trang là chỗ nghỉ chân của những chú gọng vó dừng bước giang hồ. Đêm đêm, bất kể mùa xuân, hay mùa hạ, mùa thu, hay mùa đông, đều có một người ngồi trên cầu chờ đợi một gnười. Cầu, do đó, mang tên cầu Chờ. Cái tên thật lãng mạn. Lãng mạn như người quê hương, như người đã đặt tên cho chiếc cầu. Hẳn người này là thi sĩ, là tác giả những vần ca dao bồng bế, óng ả.
- Mình ngồi giữa cầu, Khoa nhé!
- Lạnh chết.
- Đã có lạc rang.
Khoa không muốn ngồi. Nó muốn đi mãi, đi suốt đêm, đi hết những con đường làng. Để, bàn tay nó nóng ran trên vai Liên.
- Khoa thích đi.
- Ngồi nghỉ chân một lát, rồi đi.
Khoa đành chiều Liên. Hai đứa ngồi giữa cầu, ngồi giữa một nơi mộng ảo, ngồi trên phiến đá thần, mà cả hai đều không biết. Họa chăng, là hồi tưởng mai sau. Cảnh tượng nào khác cảnh tượng trong chuyện thần tiên. Chiếc cầu. Dòng nước. Ánh trăng. Cơn gió. Cây cỏ. Sương khuya. Nhạc đêm. Sự im lặng, và hơi thở của hai tâm hồn. Ảo cảnh nào hơn ảo cảnh này? Ở ngay đây, trên chiếc cầu đá tầm thường của quê nhà, đã có. Hạnh phúc vốn đơn sơ. Không cần làm những chuyến đi xa, tìm kiếm, để trở về rã rời, mệt mỏi.
- Khoa ạ!
- Hở?
- Quê Khoa có nhiều tên hay ghê. Cầu Chờ, quán Nghỉ, hồ Mơ.
- Còn bến Đợi nữa.
- Ở đâu?
- Miễu Vang đi lên đê Trà Lý. Bến đò sang Tiên Hưng đó. Lâu lâu, mới có người qua sông, phải gọi đò bên kia sang. Đợi hàng giờ.
- Bến Đợi là bến đứng đợi đò. Ai đặt tên lạ nhỉ?
Bỗng Liên hỏi :
- Khoa lạnh không?
Khoa ngước mắt nhìn trăng :
- Không.
- Sao, lúc nãy, sợ lạnh chết?
- Giờ hết rồi.
Liên bốc cho Khoa một dúm lạc rang :
- Ăn đi.
Khoa đỡ lấy. Hai đứa vê vỏ thổi phù, rồi bỏ vào miệng nhai ròn. Đêm im lặng. Khoa nghe rõ tiếng súng đại bác từ Nam Định vọng sang. Tiếng súng, mấy hôm rầy, Khoa đã nghe nói. Đến nay, mới nghe thấy. Từ ngày thị xã Thái Bình tiêu thổ kháng chiến, giặc Pháp mới lướt qua một đêm, không bắn chết ai, rồi cút ngay về Nam Định. Giặc sợ hãi dân Thái Bình. Thái Bình là mồ chôn thực dân Pháp, cơ mà. Giặc sang ở lâu, sẽ bị tiêu diệt. Bọn Pháp giỏi cắn trộm thôi. Chưa chi đã rút vội. Tiếng súng vọng sang không làm ai nao núng. Đã quen rồi. Với lại, Thái Bình cách Nam Định mấy chục cây số, và con sông Hồng. Khoa tin chắc, giặc Pháp không thể chiếm Thái Bình. Hơn hai năm đóng quân, ở Nam Định, Pháp vẫn chẳng dám dòm ngó Thái Bình. Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Kiến An, Hưng Yên, Hà Nam,... Pháp đã chiếm gọn. Thế mà, Pháp chỉ dám cho máy bay Bà Già bay cao tít tắp, trên vùng trời Thái Bình. Thỉnh thoảng, giặc thả truyền đơn, nói phét: Quỳnh Côi, Phụ Dực ra tro. Đống Năm, Trực Nội ăn no đạn đồng, để dọa dẫm dân Thái Bình.
Khoa nhớ, hôm trốn nhà theo bộ đội làm liên lạc viên, Vũ kéo Khoa ra vườn sau :
- Đêm nay anh đi.
- Đi đâu?
- Đánh nhau với tụi Pháp. Đại đội 4 đóng ở Thư Trì, đêm nào cũng vượt sông Hồng, qua Nam Định, đột kích đồn giặc. Bộ đội ta quấy phá giặc, ở Nam Định, bắt nó bỏ mộng chiếm Thái Bình. Anh phải bảo vệ thị xã.
- Em trốn với.
- Đại đội 4 nhận một mình anh thôi. Hai năm nữa, anh đủ tuổi vào bộ đội. Nhất định giữ Thái Nình. Anh sợ bố và dì biết, ngăn cấm. Khoa giúp anh bỏ hai bộ quần áo vào cái bị; đến tối, lẻn vất ở gốc cây bòng. Anh đã hứa đi chiến đấu.
- Với ai?
- Lớn lên em sẽ hiểu.
- Chắc chắn giữ được Thái Bình chứ, anh?
- Chắc chắn. Anh không còn phiêu lưu cống Đậu nữa. Anh không thích bị bố bắt về.
Khoa tin anh. Với Khoa, mãi mãi, Vũ là thần tượng. Vũ trốn nhà đi hai năm rồi. Hai năm, giặc Pháp chưa chiếm nổi Thái bình. Có lẽ, Vũ đã trở thành bộ đội, đêm đêm, vượt sông khuấy phá đồn giặc, để Khoa ngồi trên cầu Chờ với Liên.
- Liên có nghe thấy tiếng súng không?
- Không.
- Đạn đại bác đấy.
- Thế à? Liên chỉ nghe tiếng lạc rang nhai ròn. Ai rang lạc khéo quá? Vỏ tróc ngon ơ...
- Mẹ Khoa rang đó. Rang lạc chung với cát. Mẹ Khoa đổ cả lạc lẫn cát nóng bỏng vào miếng vải, bảo Khoa đem ủ vào chăn bông. Lúc nào muốn ăn, lấy cái sàng đãi cát.
Liên cầm tay Khoa, kéo Khoa đứng dậy :
- Đi lên cầu đình.
Khoa ngoan ngoãn theo ý của Liên. Hai đứa song song bước. Khoa không bá vai Liên, như ban nãy. Tự nhiên, Khoa ngượng ngập, sợ hãi. Nó thọc cả hai tay vào túi quần. Và, cho sự ngượng ngập có chỗ trốn thoát, Khoa huýt sáo khúc hát hoài hương:
Nghiêng nghiêng dòng Đào tuôn về sông Cấm
Đưa bao buồm thuyền về nơi xa xăm
Thành Tô, thành Tô
Nhịp sống tưng bừng
Em nhớ bến đò quen
Nhớ bờ sông Lấp
Có bao nhiêu là thuyền

Liên hỏi :
- Bài gì buồn thế hở, Khoa?
Khoa rút tay khỏi túi, đưa lên kéo cổ áo, trùm kín gáy :
- Nhớ thành Tô [21]
- Khoa thuộc hết không?
- Hết.
- Hát cho Liên nghe.
Khoa hát nhỏ, đủ để giọng mình lọt vào tai con bé đi cạnh mình:
Nhớ quê hương nhớ quê hương...
Quê hương ngàn đời lòng ta thương nhớ
Muôn chim lạc loài thành xưa khôn quên
Thành Tô, thành Tô
Thành Tô u huyền
Chiều thu rơi cùng lá vàng rơi
Làn mây thu theo gió chơi vơi
Nhà anh xa khói lam mờ vương
Cùng chiều thu khiến xui lòng người sầu thương
...
Ngồi đăm nhìn bóng chiều êm
Dần đi trong tiếng lá rơi đầy thềm
Này em bé ơi cớ sao em buồn
Hay em chạnh lòng nhớ tới quê hương

Tiếng hát của Khoa tưởng chỉ một mình Liên nghe rõ, ai ngờ, nó theo gió lan tỏa trên mặt nước, lướt trên mặt cỏ, luồn qua bụi cây.
- Thành Tô ở đâu hở, Khoa?
- Hải Phòng.
- Làm Liên nhớ Hà Nội. Khoa hát hay ba chê.
- Có anh Vũ thổi ác mô ni ca, Liên sẽ khóc.
- Anh Vũ nào?
- Anh của Khoa. Anh ấy theo bộ đội rồi. Anh Vũ đã lên Hà Nội học.
Liên thôi hỏi. Con bé quàng tay đặt lên vai Khoa :
- Lạnh quá. Về đi.
Vai Khoa, bây giờ, là thỏi sắt lạnh được ấm lên bởi thỏi nam châm Liên. Và, Khoa để mặc Liên dẫn mình trở lại khúc đường mình vừa đi qua. Đến con ngõ chia đôi hai lối, hai đứa dừng lại. Liên nói :
- Tối mai, hết dạy học đấy, nhé! Mãn khóa rồi. Khoa thắng giải thi đua rồi.
Khoa ngó Liên :
- Khoa vẫn đem lạc rang cho Liên.
Hai đứa chia tay. Liên mới bước vài bước, Khoa chợt nhớ :
- Để Khoa dẫn Liên về, kẻo gặp ma!
Liên cười :
- ừ nhỉ, suýt quên.
Liên đẩy nhẹ cánh cổng, lách vào. Khoa đứng bâng khuâng trước ngõ nhà Đường. Nó ngẩng đầu ngắm trăng qua khóm lá. Bắt đầu một nỗi nhớ nhung. Bưởi đã kết trái, mà sao còn phảng phất mùi hoa. Hoa bưởi thơm. Đêm đã khuya lắm rồi.

76
Anh Lý đã sang Đống Năm mua bộ trống đồng. Hôm giao bộ trống đồng cho nhi đồng thôn dưới, anh giao luôn cả quyền chỉ huy nhi đồng Tường An cho Khoa. Thằng Huệ không phản đối. Khoa đề nghị, thôn dưới giữ trống đồng nửa tháng, thôn trên nửa tháng, và Huệ được đánh trống cái, mỗi lần dự đại hội xã, huyện. Huệ bèn thích Khoa ngay. Hai đứa trở thành bạn thân. Anh Lý lên Phú Thọ họp hành gì đó, vài tháng sau mới về. Nhi đồng Tường An ăn tết bằng bộ trống đồng. Tiếng trống nô nức của một thời trẻ dại, của một thời không có hai lần trong lịch sử. Suốt ngày, suốt đêm, nhi đồng tập họp tại sân đình đánh trống, nghe trống. Tiếng trống thay tiếng pháo mừng xuân. Làng xóm rộn ràng lây với nỗi vui của trẻ nhỏ. Khoa dạy bạn bè tập trống. Nó hứa sẽ rủ bọn Đại Đồng đá bóng thi, và đuổi bọn này khỏi ngôi chùa cũ của Tường An.
- Chúng mình phải tập trống, ở chùa cũ, làng mình.
Nhi đồng Tường An phấn khởi lắm. Chúng nó phục Khoa sát đất. Khoa hát hay, đàn hay, trống hay, kịch hay, trận giả hay, chiếm giải thi đua liên miên. Nhờ Khoa khuyến khích kiếm tiền gây quỹ, nên Tường An đã sắm nổi bộ trống đồng.
Khoa hãnh diện vừa vừa thôi. Điều làm nó hãnh diện nhất, là những bà thím, bá bác, bà cô, bà dì của nó đã thoát nạn mù chữ, từ các lớp học đáng nhớ đời đời, ở từ đường họ Vũ. Học trò của Khoa biết đánh vần cả rồi. Nghỉ tết xong, ra giêng, học thêm vài tháng, họ sẽ đọc được các truyện Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, và các tờ thông cáo. Họ hết bị lội bùn. Khoa không biết tương lai họ ra sao. Chắc chắn, một mai kháng chiến thành công, Khoa về thị xã, Liên về Hà Nội, Khoa và Liên viết thư thăm họ, họ sẽ đọc rành rẽ, sẽ cầm bút trả lời thầy giáo, cô giáo của họ, năm xưa.
Niềm vui mới của Khoa rộn rã hơn tiếng trống đồng, là tình bạn thắm thiết giữa nó và Liên. Con Liên lạ ghê. Nó tản cư về Tường An sớm hơn Khoa, mà nó chỉ chơi với cu Đường. Gần đây, nó chơi thân với Khoa. Cu Đường mải mê tập kịch, đánh trống, Khoa phải thay nó, đưa Liên về nhà, mỗi tối Liên đi coi lịch. Có Liên, có lớp học, có bộ trống đồng, Khoa bỗng quên thị xã êm đềm. Đôi khi, Khoa quên cả Vũ. Khoa muốn sống mãi, ở quê nhà, muốn suốt đời làm nhi đồng, muốn đêm nào cũng khoác vai Liên, đi trên con đường đất tắm ướt ánh trăng, nghe tiếng thầm tình tự của gió và lá. Cuộc đời không gợn một chút ưu phiền. Cuộc đời bằng phẳng, cho nhũng giấc mơ lướt êm. Cuộc đời của những đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi tiếng hát câu ca và mộng anh hùng.
Cuộc đời quê nhà Khoa, tưởng không còn nơi nào bằng. Có cầu Chờ. Có bến Đợi. Cầu Chờ, Liên đã ngồi, Khoa đã ngồi bên nhau. Bến Đợi, Khoa đã đến, Liên chưa đến. Ngày nào đó, Khoa sẽ đứng một mình, ở cầu Chờ, chờ Liên; sẽ đứng một mình, ở bến Đợi, đợi Liên. Bấy giờ, hai đứa đã lớn. Lớn thì phải xa nhà như Vũ. Và, nếu Khoa hiểu, lớn thì còn phải buồn, phải khóc như Vũ, Khoa sẽ không thích lớn, sẽ thù ghét sự lớn khôn. Không có bấy giờ, không bao giờ có bấy giờ. Chỉ có bây giờ. Bây giờ, muốn là được, hẹn là gặp. Bây giờ, là trời xanh, mây trắng, nắng hiền, gió ngoan. Bây giờ, chẳng cái gì đe dọa nổi cuộc sống thần tiên, làm tan loãng mùi hoa bưởi, hoa cau, hoa lý, kể cả những tiếng súng đại bác, từ Nam Định, đêm đêm, vọng sang.
Hôm mồng hai tết, Liên qua nhà Khoa chơi. Mẹ Khoa nắm tay Liên, kéo Liên vào lòng, vuốt ve tóc Liên. Mẹ Khoa bảo Liên cười. Rồi, mẹ khen :
- Cháu giầu quá, có những hai đồng tiền, bác không thèm mừng tuổi cháu nữa.
Mẹ Khoa ấn ngón tay lên hai má Liên :
- Đồng tiền bên phải, để dành nuôi con. Đồng tiền bên trái, để dành trả nợ cho chồng.
Liên xấu hổ. Con bé cúi mặt, cắn móng tay. Mẹ Khoa gọi Khoa lại gần. Mẹ nói :
- Cháu thấy chưa, thằng Khoa mặt vuông chữ điền, đồng tiền không có.
Liên ngước ngó Khoa. Hai đứa mỉm cười. Cả buổi sáng, Liên ở nhà Khoa. Đến chiều, cô giáo Liên và thầy giáo Khoa đi thăm học trò. Mùa xuân đẹp quá. Tháng giêng ngon, ngon tuyệt vời. Khoa ngỡ cuộc đời thôn ổ sẽ ngon mãi như tháng giêng. Tháng giêng qua cho tháng hai tới.
Và, tháng hai, tiếng súng đại bác vọng sang nhiều hơn, lớn hơn. Chính phủ ban hành lệnh tiêu diệt chó. Nạn nhân đầu tiên của cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp, là chó. Cũng là nạn nhân của cách mạng nữa. Giết chó là yêu nước. Du kích làng xung phong giết chó chạy rông, làm thịt đánh chén. Nhi đồng phải học tập, thi đua giết chó. Chủ tịch Tường An giải thích :
- Quân ta len lỏi đêm tối, rình giặc Pháp, chó nó sủa ầm ỹ, giặc Pháp sẽ biết chỗ quân ta nấp, sát hại quân ta.
Nhi đồng chất vấn :
- Thưa ông chủ tịch, làng ta còn yên ổn.
Ông chủ tịch vung tay :
- Chuẩn bị. Hậu phương luôn luôn chuẩn bị. Giặc Pháp thính tai vô cùng. Nghe chó làng ta sủa, bên kia Nam Định, nó câu đại bác sang chết hết. Hồ chủ tịch dạy thế.
Hồ chủ tịch đã dạy thì khó sai. Loài chó, kẻ thù của kháng chiến, gặp đại họa. Chó lớn, chó nhỏ, chó con, chó mới đẻ đều bị mã tấu du kích chặt ngang thây. Không có nhà nào được nuôi chó. Chó chết đã có chính phủ thay chó, canh gác trộm cướp. Nếu nhà nào cố tình nuôi chó, du kích sẽ khám xét, và giết ngay tại chỗ. Một tháng liền, ở làng Tường An, người ta hạ chó đánh chén ồn ào. Ai không nỡ giết con vật trung thành với chủ, đành an ủi chó nhà mình vài câu, rồi đánh đuổi nó đi. Du kích rượt theo, xung phong giết. Du kích ăn thịt chó mãi đâm ra chán, chó bị giết chết ngổn ngang, thối om. Du kích căm thù chó cực độ. Mã tấu vung lên, cả đàn chó sơ sinh, mắt vừa kịp mở nhìn du kích căm thù, bị chặt mỗi con thành hai khúc.
Tiền tuyến, bộ đội anh dũng giết giặc Pháp. Hậu phương, du kích anh dũng giết giặc chó. Dân làng thương chó, chứ không thương giặc, dễ chừng, thương chó hơn thương du kích. Chó dâng hiến trọn vẹn đời sống của nó cho dân quê. Mỗi nhà một con chó. Nuôi chó tới ngày chó già, chó chết, đem chôn. Phải bán chó, để bọn lái chó đến tận nhà, tìm cách luồn cái tròng tre xiết chặt cổ chó, nghe chó ấm ứ không thành tiếng, nhìn mắt chó đầy căm hờn, người ta bùi ngùi, xúc động. ít ai đang tay giết chó nhà mình ăn thịt. Lý do bán chó cho hàng thịt chó, hay giết có ăn thịt, thường là vì nhà nghèo, hay chó ốm. Nay, chẳng có lý do gì, chó vô tội bị coi như giặc thù, nên dân làng ngấm ngầm oán trách cụ Hồ và kháng chiến. Giặc Pháp còn ở mãi Nam Định, sao vội ban lệnh tiêu diệt chó? Tự thuở khai thiên lập địa, chưa ai biết, chưa ai được nghe kể chuyện, trước khi đánh giặc, phải giết hết chó.
Thành ra, cuộc thi đua giết chó đã không hào hứng bằng các cuộc thi đua diệt chuột, diệt dốt... Du kích chiếm giải thi đua giết chó. Những con chó thoát chết sống đời lẩn trốn, hễ thấy bóng dáng du kích, sủa một thôi, rồi cúp đuôi chạy. Thuở thanh bình ngày xưa, hễ tết đến, là chó gặp nạn vài hôm. Pháo nổ vang trời, chó sợ chạy văng mạng ra đồng. Bọn trộm chó rình sẵn, đập chết, đem về làm thịt đón xuân. Chó chết chẳng đáng bao nhiêu. Bây giờ, chó chết mới thê thảm. Máu chó đọng từng vũng trên đường làng, ngõ xóm. Chó chết cả họ hàng, gia quyến. Chó làng Tường An đã chết hết, trong cuộc trường kỳ kháng chiến. Chó chết cho cách mạng thành công.
Những con chó sống đời lẩn trốn, dần dà, hiểu số phận mình. Chúng không dám sủa, dù chỉ nhìn trăng sủa vu vơ. Thoạt đầu, chúng mò về nhà chủ, kiếm thức ăn. Chủ thương, dành phần cơm để sẵn, ở góc vườn. Chủ khuyên chúng đừng lai vãng gần, bị du kích rình giết chết. Chúng lầm lũi bước, và không bao giờ trở về ăn phần cơm để sẵn cho mình nữa. Đêm bỗng trở nên cô quạnh. Làng xóm thiếu tiếng chó sủa, y hệt, bãi tha ma.
Nhò có tiếng trống đồng, đêm bớt ghê rợn. Tiếng trống đồng, những đêm kịch, những lớp Bình dân học vụ, những bài hát làm dân làng nguôi ngoai chuyện giết chó là yêu nưóc. Sang hạ, đạn đại bác của giặc đã câu tới bên đây sông Hồng, tức là câu tới huyện Thư Trì. Chính phủ ban lệnh rào làng kháng chiến. Nhi đồng hát vang bài Khúc ca giữ làng [22], mới được học tập:
Về đây canh gác giữ yên mùa màng
Về đây kháng chiến chúng ta rào làng

Tiếng đàn banjo của Khoa lại vê ròn rã bài hát mới toanh:
Làng tôi xanh bóng tre
Chiều lắng tiếng chuông ngân
Tiếng chuông chùa làng rung
Đời đang vui đồng quê yêu dấu
Vấn vương tiếng sáo diều trên bờ đê
Nhưng thôi rồi còn đâu quê nhà
Ngày giặc Pháp phá làng diệt thôn
Từ ra đi ôm mối căm hờn
Lòng tôi còn thấy buồn thương
Từ khi quân Pháp qua
Chiều vắng tiếng chuông ngân
Phá tan đình chùa xưa
Làng tôi theo đoàn quân du kích
Cướp ngay súng quân thù trả thù xưa...
[23]
Bài hát khiến dân làng bớt ghét du kích, trong cuộc xung phong tiêu diệt chó hồi tháng hai. Lòng thù ghét dồn hết cho quân thù xâm lăng.
... Bắc Sơn không bóng người dưới thôn
Giặc Pháp tàn ác dầy xéo
Từng xác lụt đất máu xương
Nhà đốt cầm dáo cầm súng
Dân quân vùng ra sa trường...
[24]
Trẻ thơ chưa biết nói cũng đưọc ru ngủ bằng thù hận:
Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời giặc Pháp có thương dân mình
[25]
Làng thôn lại sôi động thi đua rào làng kháng chiến. Những bất bình nhỏ mọn bị quên vội vàng. Mỗi nhà đóng góp một cây tre già. Nhà nào đóng góp nhiều hơ, thì chiếm giải thi đua. Chỉ mất nửa tháng, làng được rào kín, bằng những cây tre già. Hai chiếc cổng làng vững chắc tua tủa chông nhọn. Dưới hàng rào, là giao thông hào. Hàng rào dầy, chó chui không lọt. Giặc Pháp khó lòng vào làng. Dân quân, du kích tập tành ráo riết. Lựu đạn đeo lủng lẳng. Thỉnh thoảng, rơi xuống đường mà không nổ! Mã tấu sáng ngời. Dây mìn đeo trên vai. Quan trọng lắm. Du kích tập gài mìn. Câu chuyện du kích Chỉ Bồ và Ba Ra, kể trên sân khấu, kích thích ý chí chiến đấu. Quân Pháp đến làng Chỉ Bồ, ở miền bể. Anh du kích ngồi canh ngủ gật. Pháp nó xí xa xí xố, lay cột chòi, anh ta mới vụt tỉnh. Mắt nhắm, mắt mở, anh du kích Chỉ Bồ ném lựu đạn xuống, quên rút kíp. Giặc Pháp cười vang, tung lên trả. Anh du kích lại ném. Ném ba lần, mà lựu đạn không nổ, để giặc qua làng Ba Ra. Tầu giặc bị khê giữa dóng sông, giặc bắt trọn ổ du kích Ba Ra đẩy tầu ra bể. Đẩy tầu xong, mới chạy báo bộ đội. Bộ đội tới, giặc đã rút mất. Cáu sườn, bộ đội viết thơ chế nhạo du kich Chỉ Bồ:
Hoan hô du kích Chỉ Bồ
Ném ba lựu đạn Tây vồ cả ba
Và, du kích Ba Ra:
Hoan hô du kích Ba Ra
Giặc đến chẳng đánh lại ra đun tầu

Thơ chê bai du kích Chỉ Bồ, Ba Ra đầy tường đình, miễu. Du kích Chỉ Bồ, Ba Ra xấu hổ. Lần sau, giặc quen mùi mò tới, du kích Chỉ Bồ và Ba Ra đánh tan giặc, đốt cháy tầu, và xóa hết những câu thơ mỉa mai. Du kích làng Tường An quyết noi gương đánh giặc, đốt tầu. Các người anh em hùng hồn vô cùng. Nhi đồng dẫn đầu, trống đánh nhịp hai bốn, du kích hát bài quen thuộc:
Anh em trong đoàn quân du kích
Cùng vác súng lên đường...

Tháng trước, du kích tàn sát chó anh dũng quá, có người nhại mấy câu, xui thằng nhi đồng Khởi hát láo:
Anh em trong đoàn quân Phúc Khánh [26]
Cùng vác gánh lên đường
Gắp đi, gắp đi
Băng qua đường qua bãi
Gắp bao giờ đầy gánh
Rồi xuống chợ liền...

Thằng Khởi bị khai trừ khỏi nhi đồng. Người xúi nó là con ông tiên chỉ, sợ bị bắt lên xã cảnh cáo, bỏ làng lên tận Giai, Lạng kiếm ăn. Đời sống, hình như, không còn buông thả nữa. Nó khép dần, khép dần. Khép không tiếng động. Đến nỗi, chẳng ai rõ bóng tối khởi sự từ hàng rào, đánh đai cuộc đời thôn ổ. Những con cá vẫn nhởn nhơ, không biết rằng, mình nhởn nhơ trong chiếc chậu. Đêm khuya, cổng làng đóng chặt. Nội bất xuất, ngoại bất nhập, đề phòng Việt gian lợi dụng cơ hội lẻn vào làng. Du kích canh gác cẩn mật. Qua cổng làng đêm khuya, dù cầm đèn cũng bị mời về. Sinh hoạt làng nào, làng ấy hay. Những đêm kịch làng bên, bộ đội diễn, thèm xem lắm, mà đành ở nhà. Sợ quá nửa đêm, du kích không mở cổng.
Khoa chưa đủ khôn, để nhìn thấy lớp khói buồn lãng đãng bay, trên con đường đất ngập ánh trăng của nó. Khẩu hiệu chuẩn bị tổng phản công giải thích rõ ràng công việc tiêu diệt chó, rào làng kháng chiến. Chuẩn bị đuổi giặc Pháp ra khỏi bờ cõi thân yêu. Giặc Pháp bị tiêu diệt, đời sống lại buông thả như cũ. Người tản cư về thôn quê hồi cư về thành phố, từ giã đời áo nâu. Cuộc đời sẽ muôn mầu, muôn vẻ. Cuộc đời ấy bớt kham khổ, và rất đáng sống. Người thôn quê ở lại với luống cầy. Vùng trời êm ả không còn tiếng máy bay, tiếng đạn đại bác quấy phá. Diều no gió, nuốt dây, lên cao. Sáo diều vi vu thơ mộng. Và, tiếng trống chèo mủa xuân quyến rũ hơn cả bao giờ. Cổng làng thôi đóng kín mỗi đêm. Dình hết là sân khấu diễn kịch chống Pháp. Tam cúc điếm, tổ tôm điếm, tưởng đã chết, sẽ sống dậy. Sẽ sống dậy cả những ngọn trung bình tiên, những keo vật tranh giải một mảnh lụa đào. Sẽ sống dậy tất cả, một mai, khi kháng chiến thành công.
Dân làng tin thế. Niềm tin thật đôn hậu và ngây thơ. Không ai buồn cả. Khoa cũng chẳng buồn. Vì, Liên có buồn đâu? Và, Khoa biết gì mà buồn! Khoa hồn nhiên, để lịch sử dẫn vào mơ ước.

77
Máy bay khu trục Pháp đã xuất hiện trên vùng trời Thái Bình, và đã bỏ bom, bắn đạn đum đum xuống chợ huyện Tiền Hải, Quỳnh Côi, Phụ Dực. Nhiều người chết cháy, chết văng đầu một nơi, chân tay một nẻo. Lòng căm thù giặc lại được đốt cháy ngùn ngụt. Chợ búa họp từ năm giờ sáng, đến chín giờ phải tan, vì sợ máy bay giặc oanh tạc. Dân chúng khắp tỉnh học tập đào hầm hố, các hầm núp máy bay. Làng Tường An phát động phong trào thi đua, mỗi người một hố cá nhân. Hố cá nhân đào giống cái hang ếch, miệng nhỏ, dưới rộng, vì đạn đum đum ghê lắm. Nổ những hai lần! Máy bay giặc, có thể, bỏ bom cả ban ngày lẫn ban đêm. Sân đình, sân chùa, và chung quanh các trụ sở đều nhan nhản hầm hố. Học trò nhà quê thử chạy máy bay, mỗi hôm một lần, như hồi xưa ở thị xã người ta tập phòng thủ thụ động. Vườn tược nhà nào, nhà nấy đầy hố chữ chi, hố cá nhân. Dân làng chưa hề bị chạy trốn máy bay thật. Chuẩn bị. Trong kháng chiến, mọi việc thường xuyên chuẩn bị. Chuẩn bị, những con đường vắng vẻ nhất cũng nhằng nhịt hầm hố. Đi đêm, vô ý, ngã xuống hố như bỡn. Con đường ngập ánh trăng của Khoa không còn nguyên vẹn nữa. Khoa khó mà khoác vai Liên bước song song.
Mùa mưa tới rồi. Máy bay Pháp chỉ oanh tạc Tiên Hưng, Thái Ninh, Duyên Hà, những phủ, huyện bên kia sông Trà Lý. Sự lo ngại máy bay của dân làng Tường An, dần dần, tan biến. Bây giờ, hố cá nhân đầy nước, là cái bẫy ếch. ếch nhảy xuống hố, không thể lên được. Nhiều hố cá nhân lềnh bềnh phân của nhi đồng nghịch tinh. Ngồi trên miệng hố mà đi đồng, thì sướng nhất trần đời. Nếu bị du kích bắt gặp, chắc chắn sẽ bị khép tội phản động.
Du kích và dân quân, dạo này, canh gác ráo riết. Người làng bên cạnh, dù quen mặt, vào hay ra khỏi Tường An đều bị hỏi chứng minh thư. Du kích bắng nhắng lắm, cứ tưởng chính mình làm cách mạng mùa thu.
Khoa vẫn đi học, và, đêm đêm, vẫn sinh hoạt nhi đồng. Lớp Bình dân học vụ của Khoa tạm nghỉ. Học trò bận việc mùa lúa chiêm. Mình được nghỉ hè, Liên đã nói với Khoa thế. Nghỉ hè không sung sướng chút nào. Khoa không còn gặp Liên, mỗi tối. Khoa phải thay anh Lý, chỉ huy nhi đồng Tường An. Họp liên miên. Nhiều hôm, Khoa bỏ cả học, để lên xã họp. Học không quan hệ bằng họp. Tự nhiên, Khoa xa Liên, dù rất gần Liên.
Tối nay, Khoa chủ tọa buổi họp nhi đồng toàn thôn, để phổ biến tin tức mật thiết, liên quan tới đời sống của từng ngưòi. Đó là tin giặc Pháp sẽ nhảy dù xuống Thái Bình. Các đồng chí nhi đồng chất vấn hăng đì.
- Đồng chí chủ tọa cho biết giặc Pháp nó nhảy dù ra sao?
- Nó từ máy bay nhảy xuống.
- Nó ôm cái dù à?
- Đúng.
- Có đứa nào cầm cái ô hay cái lọng không?
Khoa chưa biết nhảy dù thế nào. Nó đã xem xi nê, toàn phim cao bồi, Tác Dăng, Dô Rô. Xã nói giặc sắp nhảy dù, thì nó về phổ biến lại. Khoa là con vẹt. Có lẽ xã cũng là con vẹt.
- Tôi không rõ.
- Đồng chí đã họp cấp xã mà?
- Xã chỉ nói giặc nhảy từ máy bay xuống bằng dù. Chúng ta phải học tập giết quân nhảy dù của giặc.
Khoa rút ở túi quần ra tấm giấy năm đồng, mầu hồng nhạt. Cán bộ xã nói sao, Khoa nói lại y hệt :
- Các đồng chí có hiểu tại sao tờ giấy bạc này in hình người đàn bà cấy lúa và đứa bé con không?
- Không.
- Hai mẹ con bà này là chiến sĩ giết quân nhảy dù Pháp. Giặc từ máy bay nhảy dù xuống, chết ngất hàng mười phút mới tỉnh dậy. Một hôm, giặc nhảy dù xuống thửa ruộng hai mẹ con bà này đương cấy lúa. Đã được học tập, hai mẹ con bà này dùng dao đâm chết quân nhảy dù Pháp, khi nó còn ngất. Chính phủ ghi công hai mẹ con bà, in ảnh vào giấy bạc, để mọi người hoan hô.
Nhi đồng quên mình đang họp, giơ tay hô khẩu hiệu: Hoan hô hai mẹ con giết giặc, loạn xà ngầu. Chủ tọa Khoa yêu cầu trật tự, rồi nói tiếp :
- Chúng ta không sợ giặc nhảy dù. Nó rơi xuống đất chết ngất những mười phút, là ta thừa sức tiêu diệt nó.
- Thật chứ?
- Thật. Bác Hồ dạy hẳn hoi mà.
- Đả đảo giặc Pháp! Hồ chủ tịch muôn năm!
Khẩu hiệu hô toáng. Chủ tọa Khoa đành chờ đợi.
- Muốn tiêu diệt quân nhảy dù Pháp, toàn dân phải chuẩn bị khí giới sẵn sàng. Mọi người phải mang theo khí giới, bất cứ đi đâu.
- Đi chợ có mang khí giới không?
- Có.
- Đi tắm?
- Có.
- Còn đi ỉa?
- Cũng phải mang. Khí giới giết quân nhảy dù Pháp là dao găm.
- Bà già cần mang dao găm không?
- Cần.
- Bà già mà giết giặc ở cái khổ nào?
Buổi họp chấm dứt, không có mục linh tinh, phê bình. Khoa thẫn thờ về. Con đường quen thuộc, con đường Khoa thường đi bên cạnh Liên, nhiều hố cá nhân quá. Khoa dừng, ở cầu Chờ, nghỉ chân, và suy nghĩ. Nó muốn theo Đường về nhà, đánh thức Liên dậy, rủ Liên ra cổng, hít hà hương thơm của hoa đêm. Đã quá khuya. Khoa nằm dài trên phiến đá nhẵn bóng, tưởng tượng Liên ngồi đâu đây, đang nghe Khoa kể tích cầu Chờ. Một lát, Khoa vụt dậy, vùng chạy ngay về nhà mình.
Mấy hôm sau, Tường An nhộn nhịp chuyện giết giặc nhảy dù. Anh thợ rèn đầu làng làm ngày làm đêm, không hết việc. Dân làng phải xuống chợ Mễ, lên chợ Giai đánh dao găm. Chừng nửa tháng, du kích hỏi khí giới dân chúng. Đi chợ quên mang theo dao găm, phải trở về lấy, đề phòng giặc nhảy dù. Đi học, đi chơi, đi đánh dậm, đi gắp phân cũng phải giắt dao găm. Đội gạo, dao găm để trên thúng gạo. Đi xe đạp, dao găm giắt dưới yên xe. Ai không có dao găm là Việt gian, phản động. Nuốn được tổ quốc ghi ơn, hãy noi gương mẹ con người cấy lúa, ở tấm giấy năm đồng. Dân chúng bình tĩnh chờ đợi giặc nhảy dù, để giết giặc lập công. Không sợ máy bay giặc, vì đã sẵn hầm hố. Không sợ giặc nhảy dù, vì đã sẵn dao găm. Giặc nhảy dù, chết ngất mười phút, một khúc cây đã thừa đủ giết giặc, như giết ngóe. Tiếng súng đại bác của giặc, đêm đêm vọng sang, đã trở thành trò đùa. Dân làng vui vẻ thi đua, tăng gia sản xuất. Những đêm họp thưa dần. Đời sống có lẽ bình yên mãi, cho tới ngày kháng chiến thành công. Khoa sung sướng được rảnh rang gặp Liên.
Trưa nay, Khoa hẹn Liên đi câu. Nó đã làm mồi, rang cám, lo hai chiếc cần cây. Khoa ngồi vắt vẻo trên cành sung cao nhất. Nhờ đám lá dầy, Liên sẽ không thấy Khoa. Nó đã vặt sung chín bỏ đầy túi, chờ Liên đến, là ném trêu Liên. Bây giờ, cu cậu bửa một quả sung, ném xuống ao, nhử đán cá rói. Mùi sung chín thơm, bắt thèm ăn. Nhưng đừng ăn. Ăn chán lắm. Mầu sung chín đẹp mắt lạ lùng. Buổi trưa, quê hương êm ả. Đã sang hạ rồi. Tiếng võng đưa kẽo kẹt. Tiếng khóc nhè của trẻ thơ. Tiếng ru hạ hơi hơi, hạ hời hời. Tất cả đã quyện lấy nhau, lan toả, và kéo dài một nỗi niềm thiết tha muôn thuở. Từ ngày tản cư về làng, hôm nay Khoa mới biết nghe và cảm tiếng quê hương. Tại Khoa vừa biết hẹn hò đứa con gái.
Khoa mơ mộng vẩn vơ, quên mình đang ngồi trên cành sung cao, quên cả Liên đã tới. Khoa tiếp tục đùa với cá rói. Liên không hay Khoa ngồi vắt vẻo trên cao. Con bé nói một mình :
- Nhiều cá ghê!
Khoa giật mình. Liên chưa biết chỗ Khoa núp, con bé chẳng ngờ Khoa ngồi trên cành sung. Liên đứng nhìn đàn cá rói nhỏ tranh nhau mẩu sung chín. Khoa ngắm Liên. Nó móc một trái sung ném xuống. Trái sung trúng người Liên. Khoa ném trái thứ hai. Liên ngờ ngợ. Con bé biết rồi. Nó giả vờ cúi lượm một viên đất. Ném lên :
- Liên mà có súng cao su, Khoa chết.
Khoa phá ra cười :
- May quá, con gái không bắn súng cao su.
Liên hỏi :
- Chờ lâu không?
Khoa đáp :
- Ăn gần hết sung ở cây này rồi.
Liên bĩu môi :
- Cá ăn, chứ Khoa ăn bao giờ?
Khoa vừa trèo xuống, vừa nói :
- Cả cá lẫn Khoa cùng ăn.
Hai đứa vào vườn ông đồ Nhị. Cây ngâu đầy hoa vàng. Hoa ngâu tròn và to hơn trứng cá. Khoa chụp bàn tay, vuốt một vốc hoa ngâu, rắc đầy đầu Liên.
- Hoa ngâu thơm ngát.
Liên nhìn Khoa :
- Rắc công phét ti lên tóc Liên, đấy hở?
Khoa quay đi chỗ khác :
- Giá có cái gương nhỉ!
- Làm gì?
- Để Liên soi. Đẹp lắm.
- Như thế nào?
- Tóc đen lấm tấm hoa vàng, đẹp không chịu được. Liên đừng gội đầu, nhé! Để tóc thơm mùi hoa ngâu.
- Hoa ngâu. Liên sẽ nhớ tên nó.
- Liên phải nhớ tên một thứ hoa nữa.
- Hoa gì đấy?
Khoa dẫn Liên tới cây mẫu đơn. Những chùm hoa đỏ nhạt trông quyến rũ lạ lùng. Khoa nhón hai ngón tay, rút một cái nhụy hoa. Nhụy hoa mẫu đơn, giống hệt cái hoa tai. Cánh dài, rỗng, và trong chứa mật ngọt. Khoa đưa cho Liên :
- Cắn cái cuống đi.
- Làm gì?
- Làm con ong hút mật.
Liên làm theo lời Khoa. Con bé khẽ mút. Rồi bảo :
- Chả ngọt gì.
Khoa cười :
- Tại Liên tới chậm hơn ong đó. Muốn ngọt, sáng mai đến thật sớm. Khoa đuổi ong, để Liên hút hết mật hoa.
- ừ nhé! Mà tên hoa này là gì?
- Mẫu đơn. Có cả mầu vàng, mầu hồng nữa. À, hồi nhỏ, mẹ Liên có xỏ lỗ tai cho Liên không?
- Có.
- Thế thì Liên để Khoa lấy nhụy hoa mẫu đơn làm hoa, đeo giùm Liên.
- Để mai.
- Mai, nhớ đem theo sợi chỉ dài. Khoa xâu cho Liên vài xâu nhụy hoa mẫu đơn, Liên quàng cổ mới đẹp. Một xâu đỏ, một xâu vàng, một xâu hồng. Bây giờ, mình đi câu nhé!
Hai đứa trở ra ngõ. Đi một lát, Liên hỏi :
- Khoa có học bài Câu cá trong cuốn Quốc văn giáo khoa thư không?
Khoa thong thả đọc :
- Những ngày chủ nhật, tôi thưòng theo anh tôi di câu cá. Anh tôi vác cần đi trước. Tôi cầm mồi và xách giỏ theo sau...
Liên khen :
- Khoa nhớ ghê. Có chắc câu cá đầy giỏ, đem về kho ăn ba bốn bữa không hết không?
Khoa nói :
- Cần gì câu đầy giỏ...
Chỉ cần ngồi cạnh Liên. Khoa muốn nói tiếp thế. Mà Khoa đã chẳng nói được. Tại sao Khoa ngập ngừng? Khoa đã làm chủ tọa nhiều cuộc họp quan trọng của thiếu nhi xã. Và, Khoa nói như con vẹt, với các đồng chí nhô con. Khoa không thể nói như con vẹt với Liên.
- Đồng chí Khoa!
Liên cười khúc khích. Khoa hơi khó chịu. Nó không muốn trở thành đồng chí của Liên. Chỉ muốn là bạn. Bạn suốt đời. Khoa nhăn mặt :
- Đừng gọi Khoa là đồng chí. Nếu Liên thích, Liên cứ gọi Khoa là cu Khoa.
Liên lắc mạnh cái giỏ :
- Cu đồng chí Khoa, nhé!
Khoa dậm chân :
- Khổ lắm, cu Khoa thôi.
Liên trêu thêm :
- Cu đồng chí mới hay. Như đồng chí cu Đường ấy. Nó đã gọi Liên là đồng chí Liên.
Khoa tức quá, nói liều :
- Liên còn gọi Khoa là đồng chí, Khoa không thèm đi câu nữa.
Liên nài nỉ :
- Thì thôi, cu Khoa.
Khoa mỉm cười. Nụ cười ấy, Liên không hề biết. Con chim liếu tiếu, từ đâu bay tới, đậu trong bụi ruối, tíu tít một hồi. Tiếng chim liếu tiếu náo động một xóm quê. Như tiếng lòng Khoa, đang náo động một khoảng đời. Hai đứa trẻ chơi trò anh tôi vác cần đi trước, tồi cầm mồi và xách giỏ theo sau... Chúng đi câu. Đi câu trăng, câu sao. Chúng đi câu mộng ước.

78
Chuyện giặc Pháp nhảy dù rồi cũng bị quên đi, như bao nhiêu chuyện khác. Mỗi gia đình đã có, ít nhất, hai con dao găm. Dao găm, thứ dao mới lạ, bỗng trở thành quen thuộc với đời sống của mọi người. Cùng với sự quên lãng đề phòng giặc nhảy dù, du kích cũng quên công tác tiêu diệt chó là yêu nước. Những con chó trốn thoát cuộc tàn sát tập thể đã lần mò về nhà chủ, tiếp tục sủa bâng quơ, và sinh đẻ. Làng thôn bớt ghê rợn đêm khuya. Bây giờ, khẩu hiệu mới: Chuẩn bị tổng phản công, Tích cực chuẩn bị tổng phản công... Quân Pháp sắp thua đến nơi. Tích cực chuẩn bị tổng phản công, đàn bà, con gái phải khuyến khích chồng con tòng quân. Tòng quân là yêu nước. Câu thơ mới viết khắp tường đình, tường miễu:
Đêm nay anh đi đánh Tây
Cửa nhà cậy có bu mày trông coi
Làm chi khóc lóc lôi thôi
Có vợ ai tồi như thế hay không

Chuẩn bị tổng phản công, thanh niên phải lên đường hàng tháng xa gia đình, đắp ụ, đào đường. Bài thơ Phá đường, ai nấy đều thuộc:
... Hì hà hì hục
Lục cục lào cào
Anh cuốc em cuốc
Đá lở đất nhào
Nào anh bên trai
Nào em bên nữ
Ta cùng thi sức ai tài hơn ai
Anh tài thì em cũng tài
Đường dài ta xẻ sức giai ngại gì
...
Đêm nay gió rét trăng lu
Rộn nghe tiếng cuốc chiến khu phá đường
[27]
Làng Tường An bắt đầu phát động cuộc thi đua mới: Thi đua tòng quân. Nhiều anh du kích quẳng mã tấu, xung phong tòng quân. Nhiều chị phụ nữ vất súng gỗ, xung phong đi làm nữ cứu thương, đi đào đường đắp ụ. Những người ở lại xung phong góp lúa nuôi bộ đội. Nhi đồng xung phong tới các chợ gắn huy hiệu, lấy tiền nuôi thương binh. Phụ lão xung phong làm mẹ nuôi bộ đội. Thương binh được mô tả là những người hy sinh cho tổ quốc, dân tộc nhiều nhất:
Anh em thương binh mang nặng lòng bao nhiêu đau thương
Anh em thương binh quên mình từng phơi trong phong sương
Chí vẫn không quên lửa hận ôi căm hờn
Vì bọn thực dân nên dân chúng bị tàn sát
Xông pha gian lao song lòng anh nao nung chí
Hoa xuân đang tươi tưng bừng hy sinh anh ra đi
Hiến tấm thân cho tổ quốc anh tươi cười
Nặng lòng hy sinh đem xương máu hiến cho đời
Đạn reo khiến chí anh càng hăng hái
Vùng lên như anh muốn quyết xông pha...

Khoa đã hướng dẫn nhi đồng đi quyên tiền, ủng hộ anh em thương binh. Trong kháng chiến, không ai là không có trách nhiệm. Khoa say sưa thi hành mọi công tác. Không bao giờ quên Liên. Dường như, Khoa có hai cuộc đời. Cuộc đời của tập thể, và cuộc đời của riêng Liên. Nó muốn, mãi mãi, được sống như thế.
Mùa hạ qua. Mùa thu sang. Mùa đông tới. Mùa xuân về. Làng xóm vẫn bình yên. Máy bay khu trục đen thui chỉ bay thật cao, trên vùng trời Tường An. Bay qua. Giặc sợ hãi không dám nhảy dù. Khoa cũng chẳng biết giặc đã nhảy dù ở Việt Bắc, đã đuổi giạt bộ đội và chính phủ ta vào tận rừng sâu, nước độc. Làng Tường An chưa ăn bom đạn giặc, là bộ đội đang chiến thắng. Gần ba năm sống đời kháng chiến xa nhà nhịp theo đời sống mới, biệt ly thành phố rực rỡ ánh đèn điện, Khoa yêu đời sống áo nâu vô cùng. Thôn ổ dạy Khoa nhiều thứ, cho Khoa nhiều thứ. Khoa lớn vội, và Khoa cảm xúc nhanh. Tâm hồn Khoa mở rộng. Hương đồng gió nội ùa ngập, cùng với mộng ước êm đềm. Mộng ước đó, mỗi ngày, một thắm đặm, tưởng không bao giờ tàn phai. Nếu kháng chiến thành công, nếu giặc Pháp đừng bén mảng sang Thái Bình, mộng ước sẽ no tròn. Bàn tay Khoa sẽ nắm gọn mộng ước đó. Mộng ước làm người dân của một nước độc lập. Mộng ước được sống hoài với kỷ niệm tuyệt với, trên mảnh đất quê hương mình.
Khoa chợt nhớ tới anh. Nó chỉ biết Vũ đi kháng chiến, vì căm thù giặc Pháp. Khoa chưa hiểu tâm sự của Vũ. Cũng chưa lần nào, Vũ nói cho Khoa nghe tâm sự mình. Vũ không căm thù gì cả. Vũ đi chiến đấu, với mộng ước đơn giản, là được trở về thị xã, cùng với mọi người, xây lại căn nhà đã bị tiêu thổ, trồng lại những hàng cây hồi bị chết, và gần gũi Thúy, yêu Thúy, yêu suốt đời.
Những ngày đầu tiên rời bỏ thị xã, Khoa buồn lắm. Vũ thì khỏi nói. Vũ trốn nhà theo bộ đội. Khoa bị quyến rũ bởi nguồn vui mới, mỗi lúc mỗi dâng trào. Khoa yêu cuộc đời hậu phương kháng chiến. Ở cuộc đời này, cái gì cũng đẹp, cũng mộng mơ. Sự phiền muộn thoáng qua, rồi chìm vội. Nếu Khoa lớn hơn, đủ tuổi vào bộ đội, chẳng hạn, Khoa sẽ thấy chuỗi ngày hậu phương kháng chiến là chuỗi ngày đẹp nhất, rực rỡ nhất, hào hùng nhất của lịch sử tranh đấu của dân tộc. Đây thời chinh chiến ngập ngừng lá nhớ hoa. Chưa có cuộc chiến đấu nào lãng mạn đến thế. Tiếc rằng, Khoa còn bé, nên Khoa mới cảm nổi con đường đêm ngập ánh trăng, Khoa và Liên đã sóng đôi bước chậm, nghe gió luồn qua lá những tiếng thầm thì.
- Khoa ơi!
Tiếng cu Đường gọi. Khoa phớt tỉnh, vẫn ngồi ở cầu ao xem đàn cá mương tranh nhau cái phổi gà. Đường léo nhéo :
- Tụi Đại Đồng đang phơi nắng chờ mày đó, Khoa ơi!
Đường đã chạy vào sân nhà Khoa :
- Mày đâu?
- Tao đây, đồng chí cu Đường!
Đường nhìn xuống cầu ao, toe toét :
- Không đồng chí, đồng chóe gì xất. Ngoài cuộc họp, đồng chí cái dồng điếu! Chúng nó đợi mày, mắt viền vải tây điều hết rồi. Này không đến ngay, tụi Đại Đồng bỏ về, là, tự nhiên, Tường An thua bét tĩ.
Khoa chợt nhớ đã hẹn thiếu nhi Đại Đồng đá bóng tại bãi tha ma, chiều nay. Cái bãi tha ma, kể từ hôm thanh niên Tường An xuống Ô Mễ xem trận thư hùng giữa hai đội Vũ Tiên và Thư Trì, đã biến thành sân vận động, có thể tập trung hết dân làng biểu tình đả đảo thực dân Pháp. Phong trào thể thao bình dân rất thịnh hành. Ruộng khô còn đầy gốc rạ, cũng là bãi bóng chuyền hay bóng tròn. Thanh niên Tường An san bằng bãi tha ma, đem trục đá kéo lúa tới, lăn phẳng mặt bãi, đẵn cau, trồng cột gôn. Chỉ cần một trái bóng da, mỗi bên đủ mười một người. Đá văng mạng. Đá không luật lệ. Chạy hàng tiếng. Đá bóng chán chê, về ao đình bơi lội. Thân thể khỏe mạnh, dẻo dai, để trường kỳ kháng chiến. Sợ gì đại bác tầu bay, Bền gan kháng chiến là Tây phải hàng. Bãi tha ma, một dạo, đã vắng hoe, vì dân làng bận lo học tập chống quân nhảy dù Pháp, bây giờ, lại bắt đầu nhộn nhịp. Cùng với sự nhộn nhịp đó, dân làng tổ chức nhiều cuộc vui khác, tưởng chừng giặc Pháp sắp thua, chẳng còn hy vọng gì chiếm Thái Bình.
Khoa muốn hạ tụi thiếu nhi Đại Đồng, chiếm lại ngôi chùa của làng Tường An. Khoa muốn làm ông tiên, ông tiên đá bóng chiến như Vọng, như Vũ, như Côn, như Luyến... Và, Khoa viết thư mời tụi Đại Đồng, giao hẹn hễ Đại Đồng thua thì phải nhường ngôi chùa cho thiếu nhi Tường An, đêm đêm, tới họp hành, và tập kịch, tập trống. Thư mời không nói đến chuyện nếu Tường An thua, mà chỉ có một câu khích bác, là Đại Đồng sẽ đem rổ đựng trứng thối. Khoa tưởng tụi Đại Đồng không nhận lời.
- Nhanh lên mày!
Cu Đường giục nhắng. Khoa hỏi :
- Có bóng chưa?
Đường đáp :
- Rồi. Năm quả bòng, nướng mềm nhũn, còn nóng sốt sồn sột...
Khoa đưa tay vuốt tóc :
- Mình sẽ chiếm lại chùa.
Nó bước lên, và cùng đồng chí cu Đường thân mến co cẳng chạy. Tới cầu Chờ, Khoa phanh chân. Đường ngơ ngác :
- Mày đứng lại làm gì đây?
- Có con Liên ngoài bãi không?
Đường dậm chân, vò đầu :
- Liên, Liên, Liên cái...
Khoa bịt mồm Đường :
- Yêu cầu đồng chí đừng nói nhảm.
Đường toét mệng :
- Nó chờ mày cháy bố nó hết tóc rồi.
Khoa đẩy nhẹ Đường. Khuôn mặt nó tươi như ngọn cỏ ngậm sương. Nó lại co cẳng chạy. Chẳng mấy chốc, hai đứa đã tới bãi tha ma. Nhi đồng Tường An hoan hô Khoa vang lừng. Khoa tỉnh bơ, đảo mắt đây đó tìm kiếm, xem Liên đứng chỗ nào. Không thấy Liên đâu. Không hề thấy một đứa con gái. Nó chộp cánh tay Đường :
- Mày dám nói dối tao.
Đường cười xòa :
- Nó bảo nó sẽ tới coi mày sút thủng côn Đại Đồng. Thế nào nó cũng tới.
Khoa buông tay Đường ra, dọa dẫm :
- Nó không tới, mày biết tay tao.
Như là Vọng năm xưa, Khoa đang đóng vai trò của Vọng. Như là đội bóng của Vũ năm xưa, Tường An đang cổ võ, hối thúc, và tin tưởng Khoa sẽ đè bẹp Đại Đồng. Khoa cởi áo vất xuống bãi. Đường trịnh trọng nhặt lên. Khoa chạy vào sân bóng. Những đôi mắt long lanh theo rõi nó. Cuộc giao đấu bắt đầu. Không trọng tài. Tiếng hoan hô gà nhà, đả đảo gà người lấn át cả tiếng bịch bịch của chân cẳng đá nhau, đá ban bòng nướng. Khoa vừa tranh đấu, vừa ngó xem con Liên đã tới chưa. Đại Đồng xuýt làm bàn đôi ba lần. Tường An hò hét Khoa, thúc giục Khoa. Nó chả nghe thấy gì. Khoa không thiết đá bóng, không say mê chiến thắng. Nó đón hụt bóng liên miên, và toàn sút ra ngoài. Bỗng, đồng chí cu Đường hét lớn :
- Con Liên đã tới.
Khoa nhảy cỡn lên. Quả bóng nướng, vô tình, rót vào tầm chân nó. Khoa đá được trái song phi tuyệt cú mèo. Mắt sáng rực, Khoa ngó Liên đương vẫy tay chào nó. Khoa phấn khởi vô cùng. Nó xung phong đá bóng. Xung phong như bộ đội xung phong giết giặc Pháp. Và, Tường An cho Đại Đồng nhặt trứng thối. Tiếng hoan hô vang dậy. Đại Đồng tiu nghỉu rút lui.
Ngay buổi tối hôm ấy, nhi đồng Tường An đã vác trống đồng sang ngôi chùa làng mình bị ông tiên hạng bét đánh cờ thua, mà khua ầm ỹ. Một ông tiên cừ khôi đã lấy lại chùa cũ. Ông tiên đó là Khoa, là Kim Đồng, là tuổi thơ lồng lộng và thần thánh của Việt Nam kháng chiến chống xâm lăng. Ông tiên mê gái. Ông tiên chiến thắng nhờ gái. Ông tiên chẳng hề biết điều ấy.

79
Cuộc trường kỳ kháng chiến đã sang giai đoạn tổng phản công, và sắp bước tới giai đoạn tổng tấn công. Khi toàn dân tích cực tổng tấn công giặc Pháp xâm lăng, bấy gìờ, kháng chiến thành công. Kháng chiến thành công, là giặc đã thua tan tành. Quân ta kéo về, chiếm lại thủ đô:
Trùng trùng say trong câu hát
Lớp lớp đoàn quân tiến về
Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng
Cờ ngày nào tung bay dưới phố
Trùng trùng quân đi như sóng
Lấp lánh lưỡi lê sáng ngời...
[28]
Bài hát Tiến về Hà Nội vang vang khắp làng Tường An, gây phấn khởi vô vàn. Tiền tuyến, giặc sắp sửa đầu hàng. Hậu phương, đã chiến thắng hết các thứ giặc. Giặc dốt, có thể, còn sót vài tên già lụ khụ. Chứ giặc mê tín dị đoan, giặc nghiện rượu thì bị tiêu diệt hoàn toàn. Uống rượu là uống máu đồng bào, mỗi giọt rượu là một giọt máu đồng bào. Hai khẩu hiệu này nghe ghê quá. Lại cái tranh vẽ mới khiếp. Người đàn ông ngồi uống rượu, với cái thủ lợn. Vợ con anh ta ngồi trên đầu anh ta, gầy gò nheo nhóc. Máu vợ con anh ta chảy vào chai rượu, và anh ta uống tì tì. Anh ta uống máu vợ con anh ta. Không ai dám uống rượu nữa. Du kích đi bắt nấu rượu, gắt gao hơn đoan Tây ngày xưa. Nấu rượu là Việt gian. Tội Việt gian nặng lắm, ai cũng sợ. Những người nghiện rượu bị chỉ trích tàn nhẫn. Ngay cả sách i tờ cũng có câu chê bai rượu chè:
Rượu vào chếnh choáng hơi men
Nói khuếch nói khoác chỉ nên khinh thường

Cờ bạc bị bài trừ tận gốc. Tết nhất, hội hè, nhi đồng không thèm quay thò lò hay đánh cò cua tôm cá. Đám cưới đời sống mới, đám giỗ đời sống mới, không cần rượu. Ca hát là đủ. Tặng cô dâu bài Thi đua tăng gia sản xuất. Tặng chú rể bài Lên đường giết giặc. Những nhãn hiệu thuốc độc Văn Diển, Phông Ten [29], chẳng ai buồn nhớ tiếc. Thuốc phiện càng hết đường tồn tại. Vì, thuốc phiện nguy hiểm hơn thực dân Pháp. Như thế, hậu phương đã hoàn thành các công tác chính phủ đề ra. Hậu phương chuẩn bị tổng phản công. Ta sắp chiến thắng giặc Pháp rồi. Làng thôn tưng bừng mở hội, đón chờ kháng chiến thành công. Tường An lại rộn rã những trò chơi mới, ở ao đình. Đó là những trò bắt Việt gian, đập vỡ đầu phản động, và khắc phục gian khổ, để chiến thắng giặc Pháp.
Người ta thả ba chú vịt xuống ao đình rộng lớn. Ba chú vịt mang tên Việt gian gộc. Hàng chục người tham dự trò chơi bắt Việt gian. Họ cởi trần, mặc trần xì chiếc quần đùi, nhảy xuống ao, đuổi, bơi, lặn bắt ba con vịt, mà thời thế đã được hóa kiếp làm... Việt gian hạng nặng. Vịt bay là là trên mặt nước. vịt bơi nhanh. vịt lặn trốn. Vịt kêu hốt hoảng. Trên bờ, tiếng hoan hô cổ võ, tiếng đả đảo Việt gian vịt ầm ỹ, khiến vịt càng hoảng sợ. Chừng mười lăm phút, chưa bắt được Việt gian, là thua cuộc. Mười người khác thay thế, nhảy xuống ao tiếp tục bắt Việt gian. Ai bắt được Việt gian, đem về cắt tiết, làm lông, mà thưởng thức tiết canh,và vịt luộc chấm nước mắm gừng. Trò chơi đập vỡ đầu phản động cũng rất hào hứng. Một hàng niêu đất buộc bằng dây chuối luộc, và treo toòng ten, trên một sợi dây thừng dài, cao quá đầu người. Mỗi người tham dự phải để ban tổ chức bịt mắt lại, dẫn quanh co một lát, rồi mới buông ra. Người tham dự cầm cái gậy, quờ quạng, đi trên sân đình. Đến nơi, mà anh ta tin chắc, có bè lũ phản động, anh ta vung gậy đập. Đập vỡ cái niêu, anh ta được hoan hô. Đập hụt, anh ta bị cười ồ. Trò chơi khắc phục gian khổ để chiến thằng giặc Pháp gây thích thú nhất. Cây tre bương thật dài. Gốc cắm sâu vào bờ ao, người ta cắm một cành tre tươi, máng một tặng phẩm. Cây tre bương vàng óng. Không cần bôi mỡ, mà vẫn cứ trơn. Nó chòng chành, rún rẩy. Chỉ múa tay, uốn éo thân hình đi quá nửa cây tre bương, là rơi ùm xuống ao. ít người hy vọng giật giải này. Những người lớn không thích hợp với trò bắt Việt gian, và khắc phục gian khổ để chiến thắng giặc Pháp. Họ đã làm trò cười cho phụ nữ, nhi đồng.
Khoa, người bạn gái Hà Nội tản cư, và đồng chí cu Đường thân mến của nó đang đứng trên bờ ao, trong hàng ngũ khán giả. Một vùng trời thôn dã náo nhiệt, vang vọng tiếng cười, tiếng hét. Chưa bao giờ, kể từ ngày khai thiên lập địa, làng Tường An vui đến thế. Trẻ già, trai gái cùng vui. Những keo vật, những đêm chèo năm xưa đã vui lắm. Nhưng, niềm vui có giới hạn, và phụ thuộc vào sự được mùa hay mất mùa. Bây giờ, tiếng trống đồng mở rộng một tương lai chan chứa, chứ không dìu vể dĩ vãng hắt hiu, như tiếng trống chèo, trống vật. Ngay cả tiếng trống ngũ liên canh đê gợi chết chóc, đói lạnh cũng bị tiếng trống đồng lấn át. Tiếng trống ngũ lôi của đám đông đồng tử áo mầu sặc sỡ, nón lá quét sơn rước thần, đón thánh thì chịu khuất phục hoàn toàn bởi tiếng trống đồng cách mạng của bầy nhi đồng đầu trần, áo nâu. Mặt đất cằn khô muôn thuở và phẳng lì an phận, câm lặng chờ đợi một kiếp đời sau khấm khá hơn kiếp đời này, đã nứt nẻ. Ở những kẽ nứt nẻ, những mầm ước mơ nhú lên. Người nông thôn đã biết mộng mơ cuộc sống khác cuộc sống hiện tại. Kháng chiến là thửa ruộng gieo rắc mạ mộng mơ. Kháng chiến thành công, mạ sẽ thành tương lai vàng ngập đầy đồng. Người nông thôn tin tưởng thế. Sự câm lặng lên tiếng rộn ràng.
- Đồng chí cu Đường!
Liên vỗ vai Đường, nheo mắt :
- Dám bắt Việt gian không?
Đường xăn tay áo :
- Sợ gì nhảy.
Nó cởi áo. Khoa nắm chặt cánh tay Đường :
- Gượm đã.
Liên hỏi :
- Tại sao lại gượm?
Khoa đáp :
- Đề cho Việt gian nó mệt phờ râu ông cụ.
Liên khoái chí, cười khúc khích. Đường gạ Khoa :
- Tao với mày thi đua... khắc phục gian khổ, nhé!
Khoa lắc đầu :
- Mày thi đua một mình đi.
Đường nói :
- Giải thưởng mấy chục bạc, tha hồ chén bánh cuốn. Xuống chợ Mễ ăn bánh cuốn bà phó Nhự, là nhất. Thừa tiền, ta uống nước dừa. Có ngu mới chê.
Liên vỗ nhẹ vai Khoa :
- Bánh cuốn bà phó Nhự ngon lắm hở, Khoa?
Khoa nuốt nước bọt :
- Tuyệt cú mèo! Liên chưa đi chợ Mễ à?
- Chưa.
- Khoa sẽ đưa Liên xuống Ô Mễ, vào nhà anh Côn chơi.
- Ăn bánh cuốn bà phó Nhự, nữa chứ?
- ừa.
- Thế thì giật giải khắc phục gian khổ đi!
- Cần gì, Khoa xin tiền mẹ.
- Tiền giải thưởng ăn bánh cuốn mới ngon.
Chiến sĩ thi đua Khoa nổi máu thi đua. Nó bảo Đường :
- Nào, thi đua.
Hai đứa trẻ cởi áo đưa cho Liên cầm. Những người tham dự trò chơi khắc phục gian khổ để chiến thắng đang làm trò cười cho khán giả. Họ đi trên cây tre bương, như đi cột mỡ. Mgã là thường. Mỗi lần, một người rớt xuống ao, cây tre lại rung rinh. Đường xung phong đi trước. Nó chờ cây tre hết rung rinh, mới đặt chân lên. Đường giống con khỉ. Đường giống người làm xiếc đi trên dây. Nó không được cầm cây tre dài, lấy thăng bằng thân thể. Đường đã tới giữa đường khắc phục. Đường rón rén thêm chút nữa. Nó mở kỷ lục. Khán giả hoan hô Đường. Đường nắm chắc giải thưởng rồi.
- Đồng chí cu Đường!
Liên muốn dặn dò gì nó. Đường giật mình ngoái lại nhìn. Và, nó rơi tỏm xuống ao. Khán giả cười ồ. Đưòng bơi vào bờ, ngoi lên, khắc phục gian khổ lần thứ hai. Nó nhìn Liên, càu nhàu :
- Đừng gọi tớ, nghe chửa!
Đường đã đứng ở gốc tre. Nó uốn éo thân hình. Lần này, chưa tới giữa đường, nó đã ngã. Còn lần cuối cùng, Đường cố gắng khắc phục gian khổ. Nó thất bại, phải nhường người khác tranh giải. Chưa ai đi xa hơn Đường. Đến lượt Khoa, Đường hất đầu :
- Cái Liên nó có gọi, mặc kệ nó nhé!
Khoa hỏi Liên :
- Lúc nãy, Liên muốn dặn gì cu Đường?
- Muốn bảo cu Đường là, ra quá nửa cây tre, chạy nhanh, và chụp lấy giải.
Khoa gật gù :
- ờ, ờ, hay đấy.
Khoa thận trọng bước. Thấy Khoa tranh giải, mọi người tận tình khích lệ Khoa. Vì, khoa là con yêu của làng Tường An. Khoa hát hay. Khoa đóng kịch giỏi. Khoa chỉ huy nhi đồng gương mẫu. Khoa lễ phép, và ngoan ngoãn. Ai cũng yêu mến Khoa, muốn Khoa đoạt giải. Khoa giơ tay chào mọi người. Hoan hô Khoa! Hoan hô thằng Khoa! Khoa đã bước lên kỷ lục của cu Đường. Khoa phá kỷ lục. Hoan hô Khoa! Khoa rơi tõm xuống ao. Khán giả tiếc rẻ giùm Khoa. Con Liên ngẩn ngơ giây lát. Khoa đã bơi vào bờ.
- Tích cực thêm đi Khoa!
- Gắng sức nữa nhé, khoa!
Khán giả người lớn khích lệ Khoa ồn ào. Khoa ngước nhìn Liên. Chỉ nhìn rõ một mình Liên. Hai cánh tay con bé Hà Nội tản cư dang rộng, và giơ cao, như thể hối thúc Khoa hãy chiếm bằng được giải thưởng. Ở sân đình, tiếng hoan hô vang dội, vì đã có người đập vỡ đầu phản động. Một góc ao, ba tên Việt gian gộc đang bị vây hãm. Khán giả cổ võ những kẻ bắt Việt gian náo nhiệt hơn. Khoa không biết. Không cần biết. Không thèm biết, cả những ồn ào khuyến khích mình.
- Mau lên, Khoa ơi!
Liên giục khoa. Khoa nghe rõ. Nghe xong, thì tỉnh táo ngay, thì quên cú ngã vừa rồi. Khoa đưa tay vuốt cho hết những giọt nước còn dính trên mặt. Khoa chớp mắt. giấc mơ ngắn hiện ra liền. Bắt đầu là con đường bậc thang, con đường gập ghềnh như sống trâu, mùa mưa lầy lội nhất, phải, vì thế, nên mang tên đường Lầy, đưa xuống chợ Mễ. Chợ Mễ một tháng sáu phiên. Những ngày thường, chợ cũng họp, nhưng không đông bằng ngày phiên chính. Chợ phiên mới có bánh cuốn bà phó Nhự, mới có nước dừa, mới có cùi dừa kẹp bánh đa, ăn vừa dòn, vừa ngậy. Liên muốn xuống chợ Mễ ăn bánh cuốn. Ăn bánh cuốn bằng tiền giải thưởng, ngon vô cùng. Khoa sẽ đưa Liên xuống chợ Mễ, sẽ đưa Khoa ra khỏi lũy tre làng Tường An.
- Mau lên, chứ Khoa!
Khoa nhảy lên bờ. Khoa lại khắc phục gian khổ. Để, làm vui lòng Liên. Để, chiến thắng Liên. Lúc này, chỉ có Liên. Chỉ vì Liên. Khoa đã đi quá giữa. Quá một chút nữa. Cây tre rung rinh nhiều. Khoa nghiêng mình bên phải. Khoa nghiêng mình bên trái. Khoa rung rinh cùng với cây tre bương quái ác. Khoa hồi hộp. Liên còn hồi hộp hơn. Khán giả vỗ tay rền vang. cu Đường nhảy cỡn, hét ỏm tỏi :
- Bánh cuốn bà phó Nhự!
Khoa chợt nhớ lời Liên. Mắt Khoa rực sáng. Nó nhìn rõ giải thưởng rồi. Khoa chạy nhanh. Chạy, và bông nhông, chụp lấy giải thưởng, y hệt Luyến mít sơ lanh vừa chạy, vừa bông nhông, chụp bóng. Giải thưởng và Khoa lăn tòm xuống ao. Trên bờ, tiếng hoan hô vang dậy. Khoa đã ngóc đầu khỏi mặt nước, một tay giơ giải thưởng, một tay bơi vào bờ. Liên chạy tới cầm tay Khoa, lôi Khoa lên. Cu Đường vồ lấy giải thưởng, bóc ra xem. Nó hả hê nói :
- Khoái tỉ quá, một trăm cụ Hồ, Khoa ơi! Tha hồ chén bánh cuốn.
Đường nheo mắt :
- Bắt thêm con vịt chăng?
Khoa lắc đầu. Liên đập lưng Đường :
- Cu đồng chí Đường được mỗi cái nước ăn tham.
Giải khắc phục gian khổ đã mất, khán giả kéo vào sân đình. Trời đã nhạt nắng, nên trò chơi bắt Việt gian kém hấp dẫn. Ba tên Việt gian bơi lặn rất giỏi, chúng chưa bị bắt. Khoa nằm ngửa trên bờ ao đình, vươn tay thoải mái. Nó nghe Đường ca ngợi bánh cuốn bà phó Nhự, và, tưởng tượng, phiên chợ Mễ mùng sáu sắp tới, tưởng tượng, con đường Lầy, nó và Liên sẽ sóng đôi bước. Cu Đường lẽo đẽo đi sau, hay đi trước, tùy nó.

80
Mùa xuân lại sắp về. Kháng chiến, thế mà, đã được bốn năm. Cuộc trường kỳ kháng chiến có thể kéo dài hằng trăm năm. Vua Lê Lợi, ngày xưa, kháng chiến chống quân nhà Minh, ròng rã, mười năm mới chiến thắng. Hồ chủ tịch kêu gọi toàn dân đẩy mạnh cách mạng thành công, kháng ciến thắng lợi, dù phải hy sinh tới giọt máu cuối cùng. Nhất định, trường kỳ kháng chiến sẽ đánh bại thực dân xâm lăng Pháp. Nhất định, Việt Nam sẽ độc lập muôn năm. Hồ chủ tịch đoan quyết: Chúng ta sắp thắng lợi. Chỉ cần toàn dân thi đua giết giặc.
Người người thi đua
Ngành ngành thi dua
Ta nhất định thắng
Giặc nhất dịnh thua

Hồ chủ tịch dạy thế. Dân làng Tường An tin tưởng triệt để vào lời dạy của Hồ chủ tịch, phấn khởi phát động cuộc thi đua mùa xuân tới, để lập công dâng lên Hồ chủ tịch:
Lập công ta dâng lên Bác
Chúng ta là con của Người
Luôn luôn lúc nào cũng nhớ
Trung thành với Đảng với dân...

Bài hát mới nhất, và chữ đảng cũng mới nhất. Không ai biết đảng là gì, đảng ra sao. Cứ hát. Say sưa hát như loài vẹt, như con sáo, con yểng, trong lồng kín mít, nói những câu người ta dạy chúng nó nói. Chờ đón xuân về, Khoa ôm đàn banjo, ngồi trên hè nhà mình, tay vê dòn, miệng nghêu ngao:
Chim ca vang mừng mùa xuân sang
Nghe gió xuân lòng nhớ mong chàng
Xuân đến vui với hoa
Riêng có em sót sa
Nhìn về phương trời xa
Em thương ai lạnh lùng biên khu
Trong gió sương chờ giết quân thù
Em ngóng trông chiến công
Ghi khắp trên núi sông
Trời Việt Nam thắm hồng...
[30]
Khoa say sưa hát, không biết có người đang đứng nhìn nó.
- Hay lắm!
Khoa cụt hứng, ngước mắt. Nó reo mừng :
- Anh Côn!
Khoa đặt cây đàn banjo xuống thềm, chạy tới nắm chặt tay Côn :
- Hôm nọ, em đi chợ Mễ, ghé vào thăm anh mà anh không có nhà. Anh trốn em, hở?
Côn xoa đầu Khoa :
- Anh sang Đống Năm. Em tìm anh hỏi tin anh Vũ, hả?
- Không. Em muốn chơi banjo alto, nên nhờ anh dạy cách ác co.
- Tiếc quá nhỉ! Anh sắp đi rồi.
- Anh đi đâu?
- Tình nguyện lên Sơn Tây, học ở trường lục quân Trần Quốc Tuấn. Anh đến chào bố mẹ em. Bố mẹ có nhà không?
- Có.
Khoa dẫn Côn ra vườn sau, tìm cha mẹ đang cắt ngồng cải. Cha Khoa đưa Côn vào nhà, và bắt Khoa rót nước, mời Côn uống, làm như Côn đã lớn lắm. Mà Côn đã lớn thật. Vẻ trịnh torng của cha Khoa khiến Côn buồn buồn. Một chiều nào đó, tưởng đã xa vô cùng, đứng trên cầu Bo với Vũ, Côn đã nghĩ tới ngày bạn bè xa nhau, xa thật lâu, và lớn lên, lớn thật mau. Gặp gỡ nhau, chắc sẽ ngỡ ngàng, lạnh nhạt. Ba năm rồi, từ tiêu thổ kháng chiến, Côn không gặp Vũ lần nào. Vũ đã đi chiến đấu. Côn muốn gặp Vũ, tìm lại tình bạn xưa trong chiến đấu. Chắc, không đến nỗi ngỡ ngàng.
- Anh Côn uống nước đi.
Côn đau nhói ở tim. Côn chợt hiểu, lớn khôn là biết đón nhận những nỗi đau sót. Cha Khoa không gọi Côn là cháu nữa. Sự thân mật vất trả về quá khứ. Côn nâng chén nước. Uống cạn nỗi buồn.
- Cháu sang chào hai bác, độ nửa tháng sau, cháu lên đường.
- Anh Côn tính đi đâu?
- Cháu theo học trường lục quân Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây.
- Xa quá nhỉ!
Cha Khoa trầm ngâm giây lát :
- Anh suy nghĩ kỹ chưa?
Côn đáp :
- Cháu tình nguyện.
Cha Khoa thở dài :
- Thằng Vũ nhà này chẳng hiểu sống chết ra sao. Các anh vừa lớn, ham vui, và thường làm khổ gia đình.
Côn chớp mắt :
- Lớp cháu, người ta tình nguyện đi hết. Anh nào ít tuổi, khai dối tuổi. Nhiều anh không được nhận đơn, khóc cạn nước mắt. Cháu ở nhà, không biết làm gì. Chúng cháu sẽ lên Việt Bắc.
Khoa khen ngợi Côn :
- Anh hách ghê! Vài năm nữa, em cũng sẽ ra đi.
Cha Khoa hỏi :
- Anh Côn ở lại dùng cơm với em Khoa, nhé?
Côn nói :
- Cháu sang chào hai bác, chơi với em Khoa một lát thôi. Chiều nay cháu phải lên Lạng.
Côn đã ở lại chơi với Khoa hàng tiếng đồng hồ. Khoa bắt Côn dạy nó ác co một vài bản nhạc phổ thông. Khi Côn về, Khoa tiễn chân Côn đến tận cây đa đường Lầy. Khoa hãnh diện thêm, vì anh Côn của nó sắp trở thành người chỉ huy bộ đội. Khoa nghĩ rằng, măm nay, Vũ cũng làm bộ đội rồi.
Người bộ đội quần áo nâu đầy những mụn vá giang hồ, tóc cắt ngắn nhuốm bụi đời, da sạm mầu chinh chiến đường xa, thoáng nhìn đã thấy ngập tình yêu mến. Người bộ đội là linh hồn của kháng chiến. Người bộ đội đánh đuổi giặc Pháp, chịu đựng gian khổ cho hậu phương yên vui. Bộ đội đã về Tường An. Đó là tuổi trẻ thành phố ra đi từ chinh chiến. Mắt ngời sáng. Miệng cười tươi. Tuổi trẻ đi chiến đấu, mơ ước được trở về sống với Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định..., như Vũ mơ ước được trở về sống với Thái Bình, sống với kỷ niệm và tình yêu. Tuổi trẻ thần thánh của một giai đoạn lịch sử ngập ánh hào quang. Côn đã theo chân Vũ. Chắc Luyến, Long, Lộc, cũng đã theo chân Vũ. Ra đi. Bước chân chiến đấu in đầy dấu vết lãng mạn trên quê hương. Một ý nghĩa nào khác, không cần biết. Một âm mưu nào khác, không cần hay. Chỉ biết chiến đấu thắp sáng quê hương u tối, đang đầy bóng giặc cướp nước. Nếu chưa thắng giặc, còn trường kỳ kháng chiến. Và, Khoa sẽ lớn khôn, sẽ ra đi làm lịch sử, sẽ mơ thành người sông Lô.
Khoa tung tăng bước. Đã về tới con đường làng mình. Khoa đứng ngắm cánh đồng, sau mùa gặt nắng hanh vàng. Cơn gió lạnh nhẹ ướp tươi tâm hồn Khoa. Tiếng gà gáy te te nhọn. Buồn não nùng. Khoa không nhận ra cái vẻ buồn đó. Tiếng gà gáy báo trưa bắt không gian trải rộng, và thời gian thu cánh. Và, hoàn toàn im lặng, để cảm xúc dâng lên. Một mình Khoa đi giữa đường trưa. Trưa thần tiên. Trưa thanh bình trong kháng chiến. Khoa lại muốn được cùng Liên đi trên đường trưa. Trưa ngai ngái mùi dắt. Trưa phảng phất hương đồng. Trưa rất ca dao. Trưa khiến xốn xang lòng người. Khoa dang tay ôm chặt buổi trưa thần tiên của quê hương mình. Khoa bước chậm, cúi đầu nhìn dấu chân in trên mặt đường. Đưa từ một xóm nhỏ tới, tiếng hát bùi ngùi:
Làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói
Có những cánh đồng cát dài
Có lũy tre còm tả tơi
Ruộng khô có những ông giá rách vai
Cuốc đất bên đàn trẻ gầy
Có người bừa thay trâu cầy
...
Bao giờ anh chiếm được đồn Tây...
[31]
Bài hát làm Khoa buồn. Quê hương Khoa cũng chỉ nghèo đến thế là cùng. Người bừa thay trâu cầy. Và, đất cầy trên sỏi đá. Quê đã nghèo, mà giặc Pháp còn tràn về đốt phá, chém giết, và thiêu rụi tương lai. Khoa bỗng lo cho số phận con đường trưa. Giặc về đây, những dấu giầy đinh tàn bạo của chúng sẽ cầy nát mặt đường, sẽ xóa hết những dấu chân kỷ niệm của Khoa, và Liên, và của dân làng. Buổi trưa thần tiên bị phá tan bởi tiếng súng. Buổi chiều thơ mộng bị đâm chết bởi lưỡi lê. Tiếng gió luồn qua bờ tre khóm lá, như tiếng thầm tình tự, sẽ chỉ còn âm vang của hờn oán, đau thương. Khoa rùng mình sợ hãi. Khoa hốt hoảng. Khoa vụt chạy.
Thằng bé biến khỏi không gian thần tiên. Nó đã chìm vào ác mộng của chiến tranh. Nó, mơ hồ, thấy chia lìa, đứt đoạn.

81
Buổi sáng đầy sương mù. Mặt trời đã nhô lên cao. Ánh nắng còn quá yếu, chưa đủ làm tan sương mù che kín làng thôn. Khoa thức dậy, thật muộn. Nó ra vườn, kiếm vài trái bòng đẹt rụng muộn, đem sang cho Liên đánh chuyền. Qua hàng dậu tre thưa, Khoa ngạc nhiên thấy, trên đường Lầy, lố nhố những người gồng gánh, chạy nhanh về Đồng Đức, Tường An. Những điểm đen nổi bật trong không gian mù sương. Khoa mở căng mắt nhìn. Cảnh tượng thật đẹp. Y hệt đứng xem người giấy chạy quanh chiếc đèn kéo quân. Những người gồng gánh đã như một hàng kiến dài, trên đường Lầy. Văng vẳng tiếng quát tháo, tiếng giục giã, và tiếng khóc. Khiến Khoa càng ngạc nhiên hơn. Nó chạy vào nhà, thưa chuyện với cha. Hai cha con, tất tả, chạy ra đầu làng, thăm hỏi sự tình. Mới tới nửa đường, đã gặp ông phó Đẩu, mặt mày tái ngắt, lắp bắp báo tin :
- Tây nó sang Thái Bình rồi!
Giặc Pháp dã chiếm thị xã Thái Bình. Dân ở các làng gần thị xã bồng bế nhau chạy giặc. Tin loan truyền rất nhanh. Khi sương mù tan, cả làng đều biết giặc đã kéo sang tỉnh mình. Sự sợ hãi hiện rõ trên khuôn mặt mỗi người. Nhất là những người Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng tản cư về đây.
Pháp đã chiếm hết các tỉnh miền đồng bằng. Nay, chiếm nốt Thái Bình, không hiểu dân chúng sẽ tản cư đi đâu. Có thể, sắp tiêu thổ kháng chiến, thực hiện khẩu hiệu đồng không nhà trống. Nhà cửa đốt cháy, ruộng vườn phá nát hoa mầu. Niềm vui hôm qua nhường chỗ cho kinh hoàng hôm nay. Đến trưa, làng thôn đông đầy người tản cư. Thành phố tản cư về thôn quê. Bây giờ thôn quê tản cư qua thôn quê.
Một ngày căng thẳng của dân làng Tường An. Gia đình nào cũng lo gói quần áo, sửa soạn chạy giặc. Bàn thờ ông bà, cánh cửa gỗ lim tháo gỡ, vất xuống ao, sợ giặc tới đốt nhà. Chưa ai nghe được một tiếng súng nhỏ. Giặc còn cách những mười cây số. Biết đâu bộ đội ta chẳng đã đào sẵm mồ chôn chúng. Thái Bình là mồ chôn thực dân Pháp mà.
Một ngày qua. Hai ngày qua. Rồi, một tuần lễ qua. Giặc vẫn ở thị xã. Sự căng thẳng bớt đi. Du kích đeo dây mìn trên vai, lưng giắt lựu đạn; dân quân, mã tấu sáng ngời, tuần hành khắp thôn xóm, biểu dương lực lương, và trấn an dân làng. Những anh du kích trông oai lắm. Mìn đã gài ở cổng làng. Giặc đến đây, nó sẽ chết hết. Dân quân, du kích chuẩn bị đón giặc, giết giặc.
Đêm im lặng. Những con chó sống sót lại bị giết hết. Trống đồng của thiếu nhi thôi đánh. Đêm sợ hãi. Gió lạnh thổi dữ dội. Tiếng tre già cọ sát nhau nghe rụng rời. Không ai thiết nghĩ đón tết nữa. Ban ngày, dân làng kéo nhau lên miễu Vang. Nếu giặc tới từ ngả Giai, Lạng, thì chạy xuống Thụy Bình. Nếu giặc tới từ ngả Ô Mễ, thì chạy lên Giai, Lạng. Đứng miễu Vang, có thể, nhìn rõ đường số 10, nhìn rõ những chiếc xe căm nhông giặc chở quân. Những chiếc xe nhỏ bé, cơ hồ như những con bọ hung nhúc nhích.
Như vậy, là giặc Pháp sang Thái Bình, bằng đường số 10. Chúng từ Nam Định kéo quân qua bến đò Tân Đệ. Giặc Pháp không hề gặp sự kháng chiến của quân ta. Những cái ụ cao, đắp ở bên đây bến đò, chắc đã bị giặc san bằng. Những khúc đường đầy hầm hố, cũng được giặc lấp kín. Giặc chạy xe căm nhông, nối đuôi nhau, trên đường số 10. Chưa đụng trái mìn nào. Ta có mìn rùa, mìn đĩa giật tung cả xe tăng, tầu bò giặc. Khoa nghe kể chuyện vua mìn đưòng số 5, Sáu đậu [32]. Anh này gài mìn tuyệt vời. Vai đeo cái bánh xe ô tô cùng với mìn, một mình anh đi gài. Sáu đậu gài mìn giỏi, đến nỗi máy dò mìn của giặc không tìm ra. Mỗi trái mìn của Sáu đậu là một chiếc xe của giặc Pháp nổ tung. Sáu đậu được phong làm vua mìn đường số 5. Đường số 10, khúc Tân Đệ Thái Bình, chưa có vua mìn. Cũng chưa có trái mìn nào giật nổ tung xe căm nhông của giặc Pháp.
Nửa tháng trôi đi, giặc Pháp vẫn co ro trong thị xã. Chúng không dám về nông thôn. Sự sợ hãi bớt dần. Tuy thế, dân làng cứ chuẩn bị chạy giặc, cùng khẩu hiệu Chuẩn bị tổng phản công của chính phủ. Mỗi nhà, đào một cái hầm bí mật trốn giặc, nếu chạy không kịp. Hầm bí mật giấu đồ vật quí giá, đề phòng giặc đốt nhà. Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh. Khẩu hiệu mới này không gây được phấn khởi. Làng thôn đã ngưng hẳn mọi sinh hoạt hậu phương kháng chiến. Như một sửa soạn riêng, chờ đón một thiên tai.
Khoa đã hì hục đào riêng cho mình một cái hầm bí mật, ở bờ ao. Hầm bí mật của Khoa có Đường giúp sức. Khoa với Đường đào cho Liên một cái hầm bí mật. Hầm bí mật này, nhà kia biết, ở chỗ nào. Nó chỉ còn bí mật với giặc Pháp! Mà, giặc Pháp chưa về làng. Mỗi buổi chiều, đại đội chủ lực quân của huyện Thư Trì vác kèn đến gần thị xã, trêu tức giặc. Họ phân tán lực lượng, thỉnh thoảng nổ vài phát súng, rồi thổi kèn khiêu khích. Giặc Pháp hoảng sợ bắn thâu đêm. Sáng lớn, súng bé thi nhau khạc đạn. Chủ tịch Tường An hân hoan thuật chuyện, và đoan quyết giặc Pháp sẽ bắn hết đạn, bộ đội ta vào bắt sống trọn ổ! Chợ Mễ lại họp. Không có phiên chính. Chợ họp thưa thớt. Vừa họp, vừa lo chạy giặc. Một tiếng động ồn ào là đủ giải tán cả chợ. Người ta chạy bán sống, bán chết. Rồi, dần dà, đâm quen.
Tết đã đến. Tết buồn thảm. Nhà Khoa chật người họ hàng tản cư về, từ Đồng Thanh, Thắng Cựu, Đoan Túc. Chẳng ai nghĩ giặc thèm đặt chân tới cái làng nghèo xơ, nghèo xác. Sợ giặc thì vẫn sợ, song cứ vẫn tin tưởng sắp tổng tấn công đuổi giặc khỏi đất THái Bình. Mồng ba tết, trời lạnh, và nhiều sương mù, khiến mọi người dậy trể. Tất cả đều vụt thức, khi nghe tiếng súng nổ, ở phía đườhg Lầy. Giặc đã về làng! Không thể trốn chạy được. Giặc về âm thầm quá. Như thể từ trên trời rơi xuống. Dân làng thúc thủ, đành ngồi yên run sợ, cầu Trời khấn Phật, và phó thác số mạng cho tổ tiên. Súng nổ khắp làng. Cái lưới đã bủa vây. Dân làng giống hệt đàn cá. Giặc tiến gần. Tiếng Tây xí xa xí xố. Giặc vào làng. Mìn du kích chưa chịu nổ. Không hiểu dân quân, du kích đang làm gì, lúc này? Dân quân, du kích cách mạng bừng mùa Thu. Sao vương bóng cờ bay trên chiến khu.
Làng xóm im lặng. Ngay cả những con chim chích chòe cũng hoảng sợ, bay trốn tận nơi nào. Nghe rõ từng bước chân giặc, từng tiếng nói của giặc. Không nghe rõ tiếng xung phong giết giặc của dân quân, du kích. Đạn bắn vun vút qua mái nhà. Tiếng chíu của đạn đi hãi hùng, ghê rợn. Cha Khoa bắt mọi người nằm úp mặt xuống nền nhà, không được chạy trốn, cứ ngồi chờ giặc đến. Sống chết có số. Bốn tiếng đó bỗng linh thiêng vô cùng. Nó an ủi mọi ngưòi, kể cả người luôn miệng thầm nhắc nó, nhắc run rẩy.
Một tràng đạn liên thanh quạt ròn rã, Khoa hoảng quá, chạy vụt ra khỏi nhà, vướng vào bức mành mành, và kéo đứt bức mành mành. Khoa ngã xuống sân gạch. Nó đứng ngay dậy, cắm cổ, chạy sang nhà ông Năm, quên hết các thế bò trận giả, các thế nằm tránh đạn máy bay. Đạn nổ ròn rã. Tiếng chân giặc chạy huỳnh huỵch đã thật gần. Khoa rồi trí, nó chạy thục mạng qua con ngòi, lách dậu, vào vườn dâu của bác Hạch. Khoa nằm ở góc vườn, đôi mắt nhắm chặt. Kim Đồng sợ giặc Pháp. Anh quên luôn giấc mộng mơ thành người sông Lô. Anh Kim Đồng phóng khỏi nhà, té nhào trên sân, vùng lên chạy trốn. Trung đội trưởng Khoa đánh rơi nhiệm vụ chỉ huy nhi đồng rồi.
Khoa nằm úp mặt. Cằm nó đập xuống đất vườn, theo nhịp run của hai hàm răng. Giặc Pháp đã vào tới xóm. Giặc Pháp xông vào vườn dâu của bác Hạch. Bốn thằng giặc cao lớn, mặc quần áo lốm đốm hai ba mẩu, đầu đội bê rê đỏ chói. Chúng bắt được cô Nhài. Chúng lôi cô Nhài ra giữa vườn. Chúng lột quần áo cô Nhài. Khoa nhắm mắt. Nó chết giấc. Khoa không biết gì nữa. Khi nó mở mắt, bốn thằng giặc Pháp, đã biến đâu mất. Cô Nhài ngồi ôm mặt, khóc tức tưởi. Quần áo cô rách nát. Tóc tai rũ rượi. Khoa lồm cồm ngồi dậy. Có tiếng động đậy, cô Nhài ngước mặt đẫm lệ ngó Khoa. Thằng Khoa đứng dậy, rón rén bước. Cô Nhài gọi nó :
- Khoa!
Khoa đua tay lên miệng xuỵt xuỵt. Cô Nhài nói :
- Giặc rút rồi.
Khoa đến gần cô Nhài.
- Lúc nãy, cháu có thấy gì không?
Khoa lắc đầu :
- Cháu nhắm mắt, cháu sợ.
- Thật cháu không thấy gì chứ?
- Dạ.
- Cháu đừng nói với ai là cô bị Tây bắt ở đây, nhé!
- Dạ.
- Cháu hứa đi!
- Cháu hứa.
Khoa không hiểu cô Nhài bắt nó hứa để làm gì. Cô Nhài dọa nó :
- Cháu mà nói cho ai biết, cô sẽ cắn lưỡi tự tử.
Khoa tròn xoe mắt :
- Cháu không dám nói đâu.
Khoa chui khỏi vườn dâu, chạy về nhà. Cha mẹ nó đamg lo giùm nó. Giặc sắp vào nhà Khoa, có lệnh rút lui. Chưa ai dám nhúc nhích. Đến trưa, dân làng đổ xô ra lối ngõ. Dân quâm du kích liệng hết lựu đạn, dây mìn xuống ao, đang mò lên. Du kích Da gặp giặc, giặc đá đít ngã lăn, và giặc cười. Du kích Da thuật chuyện một cách hân hoan. Thằng Nhai bị giặc bắt đi làm bồi. Mẹ nó bị Tây đen rạch mặt hãm hiếp, nằm chết ở bờ ngòi. Thôn dưới có năm người chết vì đạn lạc. Giặc không cố tình giết ai, dù là dân quân, du kích. Giặc không đốt một căn nhà nào. Chúng chỉ hãm hiếp đàn bà. Chúng đến chớp nhoáng, gây hoảng sợ, phá vỡ niềm tin kháng chiến, rồi rút ngay. Thôn trên, một du kích bị giặc đốt cháy. Anh du kích này gài quả mìn rùa, ròng dây vào căn nhà gần đó, và chui xuống hầm bí mật. Giặc đứng trên mìn. Anh du kích giật, không nổ. Giặc theo đường dây, biết chỗ ẩn nầp, phóng lửa đốt căn nhà. Anh du kích chết trương dưới hầm bí mật. Buổi chiều, lôi anh ra, xác anh to tướng, cháy vàng, y hệt con lợn quay. Người thôn trên nói, thằng phó cúp tóc tản cư là Việt gian. Gặp giặc, nó giơ hai tay đầu hàng, miệng nói tiếng Tây moa coáp phơ, giặc xoa đầu nó, dẫn nó đi. Rất nhiều chuyện vừa kinh hãi vừa bụồn cười xảy ra, sau khi giặc rút. Có thằng giặc không nghe được lệnh rút, mải mê tìm đàn bà. Lúc nó ra khỏi xóm, nó ngơ ngác. Ông phó Đẩu thấy nó. Nó vất súng, giơ tay hàng, mà ông phó Đẩu sợ, bỏ chạy. Du kích Nhẫn dẫn nó ra đê. Thế là nó thoát thân.
Du kích xuống thớ, không dám ti toe. Du kích được mỗi cái tài tiêu diệt chó. Giặc vừa càn lướt, chưa đầy tiếng đồng hồ, mà tinh thần trường kỳ kháng chiến đã lép xẹp [33]. Không khí cách mạng, không khí thi đua lập công tan rã. Mặt đất khô cằn, câm nín tưởng đã nứt nẻ cho mầm hy vọng đâm chồi. Hy vọng ấy vừa nhú lên, đã bị đâm nát, bởi giầy đinh bạo tàn của quân xâm lược. Mặt đất, bây giờ, lộ rõ những kẽ kinh hoàng.
Dân làng căm thù giặc. Dân làng không tin tưởng cụ Hồ, và kháng chiến nữa. Người ta đề phòng chạy giặc lần thứ hai, lần thứ ba... Khoa, thật sự, mất hẳn buổi trưa thần tiên, buổi chiều thơ mộng. Con đường in đầy dấu vết kỷ niệm của nó đã bị giầy đinh giặc Pháp cầy nát. Súng đạn giặc đã về đây. Lưỡi lê giặc đã tới đây. Với bạo tàn, man rợ. Chiến tranh đã hiện hình con khủng long gớm ghiếc. Khoa, thật sự, sợ hãi và buồn phiền. Chiến tranh không giống cuộc chơi giặc giã. Chiến tranh sẽ còn khốc liệt, tàn nhẫn gấp ngàn lần. Đời sống êm đềm cũ thế là hết. Khoa đã đến nhà Đường, tìm Liên, ngay khi rời nhà mình. Giặc chưa xâm phạm nhà Đường. Liên sợ hãi tái mặt. May là cha Liên về, trước vài hôm. Sự hồn nhiên, vẻ tinh nghịch của Liên không còn. Súng đạn tước đoạt cả nỗi ước mơ của con người. Súng đạn tệ thật. Chiến tranh tồi bại quá.
Kể từ hôm giặc lướt về làng, không ai thiết làm lụng. Thì giờ dành cho đề phòng chạy giặc. Ngót một tháng, sinh hoạt mới gần như xưa. Không còn trống đồng, hội họp, mít tinh, trận giả, và hô khẩu hiệu Chuẩn bị tổng phản công nữa. Dân làng cầu Trời, Phật để giặc đừng về. Trời, Phật không chứng giám. Giặc lại về. Lần này, dân làng biết trước mà chạy. Gia đình Khoa chạy với gia đình Liên, lên Giai, Lạng. Giặc về càn quét đủ mọi thứ. Đi với giặc, còn có nhiều lính Việt gian. Giặc bắt lợn, gà, trâu, bò, rồi phóng hỏa đốt nhà. Du kích thôn trên ngứa tay, ném trái lựu đạn chầy giết chết vài tên giặc. Giặc vây cả thôn, chém giết ông già, bà cả, đàn bà có mang, và con nít để trả thù. Giặc Pháp dã man, như những bài hát kể tội chúng. Chúng quăng dân ta vào lửa, rồi chính ngọn lửa đó, chúng nướng gà, ăn ngon lành. Buổi chiều, giặc rút, làng thôn ngập lụt tang tóc. Mùi thịt người cháy khét lẹt. Máu loang lổ trên khắp đường ngõ. Những tiếng khóc tức tưởi vang vọng lên trời xanh, thâu đêm, tới sáng.
Lần này, giặc Pháp đóng đồn ở chợ Ô Mễ, kiểm soát phạn vi mười cây số. Cờ tam tài treo cao trên nóc quán chợ. Làng Ô Mễ lập Hội Tề, theo giặc, để cầu an. Giặc tung tin không bắt bớ ai, không ngăn cản ai muốn trở về thị xã làm ăn. Những người tản cư hoang mang, bán tín, bán nghi. Người muốn trở về thị xã cũng chẳng dám mói cho ai nghe y nghĩ của mình. Sự ngờ vực nhau đã có từ lâu. Bây giờ, ngờ vực nhiều hơn.
Tường An cách Ô Mễ chừng năm cây số. Đứng ở cây đa đường Lầy, trông rõ cờ Pháp ngạo nghễ tung bay. Và, đó chính là nỗi đe dọa thường xuyên. Đồn Mễ, mỗi ngày đi càn quét một lần. Giặc chỉ cần đến Thọ Bi, dân làng Tường An đã bồng bế, cuốn gói chạy miết. Thoạt tiên, cả dân làng chạy giặc. Dần dà, đàn bà, trẻ con, ông già, bà lão ở lại nhà. Khổ cực quá, dân làng đâm liều mạng. Chạy giặc mãi, ruộng đồng ai làm, thóc gạo đâu mà ăn. Miễu Vang là nơi tụ tập hàng ngày của thanh niên, và... dân quân, du kích. Một hôm, có chiếc tầu nhỏ của giặc chạy trên sông Trà Lý. Anh du kích Muôn định làm người sông Lô, núp dưới chân đê, tung bừa trái lựu đạn. Lựu đạn nổ. Súng ca nông của giặc bắn đáp lễ hai mươi trái. Miễu Vang tán loạn. Người này ôm người nọ, lăn cả xuống hồ. Mặt đất muốn rạn vỡ. Cây cối rung rinh. May mà giặc chỉ bắn thị uy. Tầu giặc chạy cả tiếng sau, mọi người mới hoàn hồn, để nguyền rủa du kích Muôn thậm tệ.
Bộ đội biệt tăm dạng. Hai tháng liền, không hề thấy bộ đội về làng. Hình ảnh những anh bộ đội áo nâu, vai đeo ba lô nặng chĩu, súng cầm tay hiên ngang đi, đã bị phai nhòa trong ý nghĩ của dân làng. ít người tản cư đã mon men sang Ô Mễ. Và, họ biết Hà Nội bây giờ vui lắm. Dân Hà Nội hồi cư về đông như trẩy hội. Con đường Thái Bình Nam Định Phủ Lý Hà Nội, Tây kiểm soát hết, xe hàng đã chở khách chạy tấp nập. Những người tản cư mang tâm trạng vọng tề.
Đống Năm không còn. Đống Năm đã tan nát. Những người tản cư bốn phưong về Thái Bình, tạo Đống Năm thành một thị trấn ở hậu phương kháng chiến, cũng biến hết. Kẻ lê gót lên Việt Bắc xa mù, kẻ về tề sống an phận. Đất tề lạnh, nhưng đất tề không lo chạy giặc. Tin đồn thị xã Thái Bình, dân chúng hồi cư về, mỗi ngày một đông. Người ta dựng nhà mái rạ, mái tôn tạm bợ, trên những nền nhà tiêu thổ kháng chiến năm xưa. Giặc Pháp đặt chân qua khắp mười hai phủ, huyện rồi. Xa tít tắp, như Thần Đầu, Thần Huống, giặc còn tới chém giết, đốt phá, hãm hiếp. Và, chẳng thấy bộ đội tổng phản công.
Bao giờ kháng chiến thành công, bao giờ đuổi giặc Pháp khỏi Thái Bình, chủ tịch Tường An không giải thích. Mã tấu, lựu đạn, dao găm, dây mìn thì giấu tận dưới ao. Du kích chạy giặc, như bất cứ ai, và sợ hãi, như bất cứ ai. Một vùng trời lãng mạn, một vùng trời tin tưởng bị lưỡi lê đâm rướm máu. Thôn ổ mất luôn cả sự an phận ngày xưa. Và, Khoa, Khoa mất luôn con đường ngập trăng, mất luôn buổi trưa thần tiên, mất luôn buổi chiều thơ mộng. Tiếng thầm tình tự luồn qua bờ tre, khóm lá đã câm nín. Ngọn cỏ thôi ngậm sương. Giặc Pháp dẫm nát một khối hạnh phúc nhỏ bé của Khoa. Khoa hối tiếc. Khoa buồn nản. Rồi, Khoa nghiến răng. Mạch máu Khoa chuyển dạt dào. Khoa nhớ đến Vũ, đến Côn. Khoa nhớ cả báng súng Nhật đập vỡ mặt anh Đạo, nhớ Vọng đã chết đói, nhớ cô Nhài dọa tự tử, nếu Khoa không giữ kín vụ vườn dâu.
Khoa thoáng hiểu một nỗi niềm cay đắng cô Nhài phải chịu đựng, như một người suốt đời ngậm trái bồ hòn. Những người quê hương Khoa đã từng ngậm trái bồ hòn. Chết đi, trái bồ hòn vẫn chưa thoát khỏi miệng. Người ta cựa quậy mạnh, là để trái bò hồn, hoặc trôi xuống dạ dày, hoặc văng ra. Trái bồ hòn, như một định mệnh oan nghiệt, mãi mãi, vướng ở cuống họng. Vũ đã ra đi, Côn đã ra đi, bao nhiêu người đã ra đi, chắc chắn không phải vì một mưu đồ gì ghê gớm. Mà, chỉ vì một mộng ước khiêm nhường. Là trở về với hạnh phúc thân yêu cũ, với quê hương, không còn ai phải ngậm đắng, nuốt cay. Tự nhiên, mạch máu Khoa chuyển dạt dào như, tự nhiên, tiếng Khoa vỡ ra, một hôm nào đó. Không bởi những khẩu hiệu, những bài hát, những lời dạy... Tất cả đã bị xóa đi, ở Tường An, từ hôm giặc về đốt phá, chém giết.
Khoa đã bước hẳn ra cái không gian thần tiên vây phủ bằng những lớp sương mầu lãng mạn. Cách mạng không giản dị, như tiếng hát câu ca. Kháng chiến không dễ dàng, như khẩu hiệu tuyên truyền. Kháng chiến phải gian khổ. Khoa nghĩ chuyện trốn nhà ra đi. Cậu bé vừa chợt xấu hổ chuyện sợ giặc, trốn lủi ở vườn dâu.

82
Ngày nào, giặc Pháp, ở đồn Ô Mễ, cũng đi càn quét. Chúng chỉ đến đường Lầy, bắn vào làng, rồi kéo quân về. Hoặc, chúng đứng trên bờ đê, ria đạn liên thanh thị uy. Làng Tường An không còn gì để giặc vơ vét. Con đường dẫn tới không thể chạy bằng xe căm nhông, nên giặc khó lòng đặt đồn bót. Đêm đêm, đạn ô buy, đạn đại bác câu về hàng trăm trái, bảo vệ đồn Mễ. Dân làng ngủ dưới hầm tránh đạn. Nhiều đứa trẻ sinh ra dưới hầm. Chúng cất tiếng khóc cùng với tiếng đạn bay trên đầu, và nổ tung đâu đó. Ban ngày, lo chạy giặc. Ban đêm, lo tránh đạn đại bác. Trong nỗi chết đe dọa thường xuyên, dân làng quên mất kháng chiến, quên mất chính phủ, quên luôn cả Hồ chủ tịch. Công việc đồng áng, lo vào sáng sớm. Đại bác câu về từ mười giờ khuya tới ba giờ sáng. Những đêm có trăng, đại bác nghỉ câu. Và, dân làng cầy cấy, gặt hái vào những đêm đó. Đại bác thường câu vu vơ. Thỉnh thoảng mới chết một người. Có khi ngót năm chục trái rơi xuống một thửa ruộng, biến thửa ruộng thành cái ao sâu có bờ. Đại bác làm vườn tược ngả nghiêng, xơ xác. Những cây chuối trúng mảnh đạn, ngã rũ, nom phát rợn người.
Nhiều gia đình tản cư đã bồng bế nhau xuống đồn Mễ, xin giấy thông hành vào thị xã. Từ đây, họ sang Nam Định hay lên Hà Nội. Xe Con Voi của Ông Lê văn Định đã chạy khúc Thái Bình Tân Đệ. Mẹ Khoa muốn hồi cư, muốn về tề. Cha Khoa chưa quyết định. Cha Khoa vẫn tin tưởng giặc Pháp sắp bị đánh bật khỏi Thái Bình. Về tề sớm, vừa mang tiếng theo giặc, vừa không biết chạy đâu, nếu quân ta tấn công, san bằng đồn bót giặc. Ở làng, chạy giặc đã quen rồi, khổ cực cũng quen rồi. Miễu Vang là nơi tụ họp hàng ngày.
Gia đình Liên vẫn còn ở Tường An; mỗi ngày, Khoa đều gặp Liên, ở miễu Vang. Khoa thường trèo lên cành cây cao, nhìn về đường số 10, xem xe giặc chạy tới, chạy lui. Một buổi sáng, không giống bất cứ buổi sáng nào, Liên rủ Khoa đến ngồi dưới gốc cây cổ thụ. Con bé cầm tay Khoa, giọng bùi ngùi :
- Tiếc nhỉ, Khoa nhỉ?
Khoa chưa hiểu Liên tiếc điều gì. Thằng bé đã quên đi cái cảm giác tuyệt vời, những lần Liên cầm tay nó hay khoác tay lên vai nó.
- Khoa có tiếc gì không?
- Tiếc chứ.
- Nếu giặc Pháp đừng về Tường An, Liên sẽ muốn ở đây mãi, cho tới ngày hai đứa mình lớn lên. Rồi, kháng chiến thành công, Liên về Hà Nội, Khoa về Thái Bình. Mùa hè, chúng mình về Tường An nghỉ.
- Kháng chiến sẽ thành công.
- Bây giờ, buồn quá. Liên thích cầu Chờ ở quê nhà Khoa. Liên chưa đến bến Đợi. Chắc Liên sẽ thích lắm, nếu Liên được tới. Quê nhà Khoa có nhiều kỷ niệm, Liên không tài nào quên nổi. Như mật ngọt ở cuống hoa mẫu đơn...
- Sáng mai, Liên làm ong nhé!
- Chịu thôi, nhỡ giặc Pháp đi càn.
- Khoa thù giặc Pháp.
Khoa nghiến răng ken két. Mắt Khoa long lên. Không có trái cam, để Khoa chộp mà bóp nát. Giọng Liên vẫn bùi ngùi :
- Liên nhớ những ngọn đèn dầu đĩa, ở lớp Bình dân học vụ. Liên nhớ tiếng trống đồng, Khoa bảo, để phá giấc ngủ của Liên. Tiếc nhỉ, Khoa nhỉ?
Liên xích lại gần Khoa hơn :
- Ở Hà Nội, không có cầu Chờ, không có con đường đất nhễ nhãi ánh trăng.
Con bé nói thật nhỏ :
- Liên sắp về Hà Nội.
Khoa hốt hoảng :
- Liên sắp về tề!
Liên đưa tay, đặt lên miệng Khoa :
- Đừng nói to.
Khoa bứt tay mình khỏi tay Liên. Nó túm một nắm cỏ, dứt mạnh, rồi ném xa. Liên hỏi :
- Khoa giận Liên à?
Khoa lặng thinh. Tâm hồn nó rối bời. Giọt sương đọng trên đầu ngọn cỏ đã bị dẫm đè. Sương tan, và cỏ nát. Khoa chớp mắt. Nó cúi đầu. Kỷ niệm hôm qua hiện lên rực rỡ, rồi ủ rũ, cơ hồ những hàng chuối trúng đạn đại bác của giặc Pháp. Khoa nắm chặt đôi bàn tay. Nó cắn chặt môi. Rồi, khẽ lắc đầu :
- Khoa không bao giờ giận Liên cả.
- Liên biết mà.
- Liên về tề, Khoa sẽ buồn lắm.
- Rồi Khoa cũng về thị xã.
- Khoa không về.
- Tại sao?
- Vì Khoa là em của anh Vũ. Anh Vũ đã ra đi... À, bao giờ Liên bỏ làng Tường An?
- Liên mới chỉ nghe bố nói. Hôm nào Liên đi, Liên sẽ bảo Khoa.
Liên dặn dò :
- Nếu Khoa về thị xã, cố xin bố mẹ cho lên Hà Nội chơi, nhé! Nhà Liên ở số 42 phố cửa Bắc.
Khoa vuốt tóc :
- Khoa không về thị xã đâu. Khoa thù giặc Pháp.
Liên hỏi :
- Kháng chiến thành công, Khoa phải về chứ?
Khoa đáp :
- Khoa sẽ theo đoàn quân về, chiếm lại thủ đô Hà Nội.
Liên đặt nhẹ bàn tay lên vai Khoa :
- Có cho Liên chờ Khoa ở một cửa ô không?
- Cửa ô nào?
- Cửa ô trong một bài hát mà Khoa thích đó.
Khoa ngẩng mặt. Nó chớp mắt lia lịa. Cái tưởng đã quên, lại được nhớ. Và, mộng ước tưởng đã phong kín, lại mở ra. Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về. Khoa sẽ về Hà Nội, sẽ vào Hà Nội, từ một cửa ô. Khoa không thể về tề, vào tề, sống chung với giặc Pháp. Những bông hoa ngày mai, đón tương lai về tay, đang xuân đời mỉm cười vui hát lên... Khoa mỉm cười :
- Ngày ấy, Liên còn nhớ mặt Khoa không nhỉ?
- Nhớ Khoa mãi. Chỉ sợ Khoa quên Liên thôi.
- Đời nào quên Liên.
- Nhỡ Khoa quên.
- Thì Khoa còn nhớ căn nhà Liên, ở cửa Bắc.
- Chúng mình sẽ dạo chơi quanh hồ Hoàn Kiếm, và sẽ nhắc chuyện Tường An, chuyện cầu Chờ, chuyện bến Đợi...
- Và chuyện hẹn hò gặp nhau, ở miễu Vang, dưới gốc cây cổ thụ.
Liên ngả đầu lên vai Khoa. Rất hồn nhiên. Bây giờ, Khoa đã nghe rạo rực tự đáy hồn. Mạch máu Khoa chuyển mạnh. Liên đã phả thêm lý tưởng vào chuyến ra đi sắp tới của Khoa. Tất cả, còn nguyên vẹn. Tất cả, chưa bị bắn phá. Không có bom đạn nào bắn phá nổi tình người. Không có lưỡi lê nào đâm thủng nổi mộng ước. Hai đứa trẻ vừa chớm buồn một chia ly, ngồi yên dưới gốc cây. Gió kéo đến làm lá reo vui. Bầu trời xanh nhiều sắc mây lang thang. Một ngày bình thản trong mùa ly loạn. Một ngày đủ cho Khoa thu xếp hành lý yêu thương. Một ngày Khoa muốn dài thêm. Để, ngồi bên Liên tính chuyện mai sau.
Chiều đã xuống. Chiều xuống vội vàng. Mọi người rời miễu Vang trở lại làng, lo cơm nước, và sửa soạn tránh đạn đại bác. Đêm ấy, đại bác câu về cơ man. Tiếng nổ tiếp theo tiếng nổ. Đất rung chuyển. Sáng mai, hẳn sẽ nhiều chuyện buồn thảm. Khoa nằm trên chiếc chiếu, trải dưới hầm, không nghĩ đạn bay ngang đầu. Qua kẽ lá, Khoa vẫn nhìn rõ bầu trời, lấp lánh những vì sao. Khoa mường tượng một vùng trời Hà Nội. Khoa chọn một vì sao đặt tên là sao Liên, để nay mai đi chiến đấu, sẽ có những đêm nằm gối đầu lên súng, ngắm một vì sao, mà nhớ một người, chở vào đời mình đầy ắp kỷ niệm. Khoa ngủ thiếp đi dưới hầm tránh đạn đại bác.
Buổi sáng, Khoa vừa thức dậy, cha mẹ đã giục hối lên miễu Vang. Khoa ngỡ sẽ cùng Liên ngồi dưới gốc cây hôm qua, nói những câu chuyện êm đềm. Liên đến muộn. Sao hôm nay Liên đến muộn thế? Khoa nóng lóng gặp Liên, bảo cho Liên biết, vì sao nào là Liên. Và, nhắc Liên, lúc nào, nhớ Khoa nhất, là lúc vì sao lung linh nhất.
Khoa ngồi một mình dưới gốc cây. Khoa nhắm mắt. Khoa mong mình có thể ngủ được một giấc dài, cho tới khi Liên đến. Liên sẽ đứng trước mặt Khoa. Khoa mở mắt, thấy Liên cười. Và, Khoa đã ngủ. Rồi, Khoa mở mắt. Nắng làm chói mắt Khoa. Đường đang đứng trước mặt Khoa, chứ không phải Liên. Khoa nháo nhác :
- Liên đâu, Liên đâu mày?
- Nó về Hà Nội, từ sáng sớm.
Khoa nghẹn ngào. Nó đưa hai tay úp mặt. Nước mắt Khoa ứa ra. Nó thấm ngay, bằng cánh tay áo.
- Nó nhắn tao nói với mày rằng, bao giờ kháng chiến thành công, mày nhớ lên Hà nội, rủ nó về Tường An nghỉ hè!
Tai Khoa ù đi. Tâm hồn Khoa rét mướt.
- Mày nghe rõ chưa, Khoa?
Khoa từ từ đứng dậy. Nó ngước nhìn trời. Trời chưa có sao.
- Lúc nó nhắn tao nói với mày, nó khóc. Tao thương hại con Liên quá. Nó bảo mày đừng quên nhà nó, ở cửa Bắc. Mày nghe rõ chưa, Khoa?
Khoa thẫn thờ bước. Đường lắc đầu chẳng hiểu gì. Khoa lần xuống hồ Mơ. Nó soi bóng nó dưới nước. Khoa tưởng như cái bóng của nó là Liên và tưởng như những lời Đường vừa nói với nó là Liên đang nói với nó. Khoa mơ hồ nghe tiêng hát vang vọng “... đi diệt thù cứu quê, giặc tan đón em về...”. Khoa nói cho cái bóng nghe: - Khoa sẽ đón Liên về ngồi trên cầu Chờ những đêm trăng sáng.
-----------------------------------
[font="verdana"][size="3"][color="#000099"][1] Trích Du kích quân, của Đỗ Nhuận
[2] Trích Dân quân Việt Nam, của Đỗ Nhuận
[3] Trích Đoàn quân ma, của Lưu Hữu Phước.
[4] Trích Lạng Sơn, của Phạm Duy
[5] Trích Chiến sĩ thành Tô, của Canh Thân
[6] Trích Đoàn quân ma, của Lưu Hữu Phước
[7] Trích Nhớ chiến khu, của Đỗ Nhuận
[8] Trích Người lính bên kia, của Phạm duy (đã đổi lời, khi vào Tề)
[9] Trích Đoàn quân đi, của Việt Lang
[10] Trích Vệ quốc quân, của Phan Huỳnh Điểu
[11] Trích Tiếng hát sông Lô, của Phạm Duy (đã đổi lời, khi vào Tề)
[12] Trích Tiến về Hà Nội, của Văn Cao
[13] Trước kháng chiến, Đống Năm là cái chợ. Sau biến thành một thị trấn nhỏ của những người thành phố tản cư nổi tiếng thời kháng chiến như Cống Thần, Chợ Đại. Đống Năm nằm trên đường số 10 khoảng Thái Bình-Hải Phòng
[14] Lời và nhạc Nguyễn Đình Thi. Bài hát khá dài. Tác giả trích hai đoạn và, chắc chắn, không đúng như nguyên bản. Vì trí nhớ của tác giả quá kém, không thể nhớ nổi một bài hát cách đây 47 năm.
[15] Được coi là nhi đồng tháng tám khó lắm, phải là nhi đồng gương mẫu được xã đề nghị lên huyện và huyện đề nghị lên tỉnh.
[16] Ở nhà quê miền Bắc, kho cá bằng nồi đất,đun sôi thì bắc xuống để giữa bếp gio, đốt lửa chung quanh, rồi lấy trấu trùm kín. Trấu cháy âm ỉ. Kho buổi tối, sáng sau trấu tàn và nồi cá cạn nước.
[17] Bài Trung đoàn 44 của bộ đội tiểu tư sản.
[18] Trích bài Tiếng hát quay tơ, của Tử Phác.
[19] Tác giả bản nhạc Cô Tú là Châu Long (hay Long Châu) thuộc phong trào Truyền Bá Quốc Ngữ ra đời trước 1945. Nhưng giặc dốt bị thanh toán ồ ạt vào khoảng 1947. Và, Bình Dân Học Vụ thay thế Truyền Bá Quốc Ngữ
[20] Trên bến Búng, một truyện vừa của Hoàng Công Khanh, đề cao lòng yêu nước của một bà lão.
[21] Trích trường ca Nhớ thành Tô, của Tô Vũ.
[22] Khúc ca giữ làng, nhạc và lời của Canh Thân, sáng tác ngoài kháng chiến, và đổi lời mới khi tác giả về tề, thành Khúc ca mùa hè.
[23] Trích Làng tôi, của Văn Cao.
[24] Trích Bắc Sơn, của Văn Cao.
[25] Trích nhạc Phạm Duy. Về tề đổi thành Mấy đời bánh đúc có xương, Mấy đời trọc phú có thương dân mình...
[26] Làng Phúc Khánh có hai thôn: Phúc Khánh thượng và Phúc Khánh hạ. Phúc Khánh thượng nhiều người làm quan. Phúc Khánh hạ thì chuyên nghề gắp phân. Thời kháng chiến, du kích bắng nhắng nên bị ghét và bị ví như dân cặp kè. Bài này nhại bài Du kích quân.
[27] Một đoạn thơ, của Tố Hữu.
[28] Tiến về Hà Nội, của Văn Cao.
[29] Rượu Văn Điển và rượu Phông Ten nổi tiếng và thịnh hành ở miền Bắc thời Pháp thuộc. Còn thứ rượu ngang bị coi là rượu lậu, nghĩa là rượu nấu không có môn bài của nhà nước bảo hộ.
[30] Nhạc phẩm Xuân nhớ chiến sĩ, của Ngọc Bích.
[31] Bài hát của Phạm Duy.
[32] Có một huyền thoại về ông vua giật mìn này. Trước khi đi gài mìn, ông ta uống cút rượu, ăn sáu bìa đậu phụ, rồi lên đường công tác. Giật đổ xe giặc, ông ta cười khá khà. Đoạn rút lui.
[33] Vào cùng một ngày, quân nhảy dù Pháp phân chia lực lượng, hành quân chớp nhoáng ở nhiều phủ huyện trong tỉnh. Cuộc hành quân này có tính cách phô trương lực lượng hơn là gieo rắc căm thù.
[/color][/size][/font]
0
Phần năm
Thấp thoáng chia ly
 
83
Thế là tháng 7 năm 1950, Tường An, Đồng Đức, Đại Đồng, ba nơi cuối cùng của huyện Vũ Tiên quy thuận người Pháp. Mỗi làng cử một hội đồng đến đồn Pháp đóng ở Ô Mễ, xin vào Hội Tề. Tự đó, Pháp không câu đại bác, ô buy về làng nữa. Và cảnh càn quét cướp của, bắt dân đi phục dịch cũng không còn. Dân Tường An yên ổn sống như thời Pháp thuộc. Họ không dám quên cách mạng và trường kỳ kháng chiến. Vì ban ngày, Tuờng An chịu sự bao bọc của Pháp; ban đêm, họ chịu sự bảo vệ của cách mạang. Hội đồng tề ngoài ánh sáng, Ủy ban kháng chiến và hành chính trong bóng tối. Người Pháp chẳng biết gì, các thuê má Pháp miễn đóng hết. Thóc gạo nuôi quân, dân làng phải nộp đầy đủ cho cách mạng. Và dân công làm việc phục vụ cách mạng, Hội tề răm rắp tuân lệnh. An ninh vùng tề cay đắng vô cùng. Dân làng chịu đựng lối sống một cảnh đôi ba tròng. Khổ sở quen rồi, có khổ thêm chả sao.
Cho nên, ruộng lại cầy sâu cuốc bẫm. Để lúa xanh con gái, trải heo may đầu thu và chín ửng vàng cuối thu, khi trời không bão táp, vỡ đê lụt lội. Vườn lại săn sóc trồng tỉa. Để cây ăn trái nở hoa mùa xuân, tình tự mùa hè và kết trái mùa thu. Ao lại nuôi cá trắm, cá chép, cá mè. Để hy vọng giấc mơ cá chóng lớn, cho tết vui vẻ cuộc tát ao. Vào tề, dân làng thở toát ra nỗi thống khổ chạy giặc hàng ngày, cứ sáng tinh mơ, nghe tiếng súng nở ở đầu làng Thọ Bi. Chấm dứt chạy giặc, sợ giặc, dân làng hết bị lên miễu Vang hay lên đê Trà Lý thả mắt về phía quốc lộ 10, nhìn xe căm nhông nhỏ xíu đang từ phà Tân Đệ chạy vào Thái Bình mà giật mình sợ hãi.
Khoa có nỗi buồn riêng. Thằng bé vừa lớn chợt tỉnh, sau những ngày Pháp chiếm Thái Bình và lính nhảy dù răn đe dân làng đừng hòng chống trả. Lính nhảy dù tới Tường An. Du kích Da, du kích Nhẫn vất lựu đạn, quăng dây mìn, trốn tránh. Còn Khoa hoảng quá, chạy sang vườn dâu ông Hạch. Nó đã rõ cô Nhài bị lính da den hãm hiếp. Khoa thực sự khôn lớn ra, từ hôm du kích Da, du kích Nhẫn đã hối hận vì mình hèn nhát, nên xung phong vào bộ đội; từ hôm, chia tay tưởng tượng con Liên bên hồ Mơ. Thằng Khoa đã, mơ hồ, cảm giác nó là chiến sĩ cách mạng, sẽ về giải phóng cứu quê hương thoát khỏi bàn tay thô bạo của giặc Pháp. Và Hà Nội, nơi con Liên đang cư ngụ, đang héo hon vì vết thù in cùng khắp, nó mơ ước tiến tới. Chưa bao giờ Khoa mê bài ca Tiến về Hà Nội như bây giờ.
Trùng trùng say trong câu hát
Lớp lớp đoàn quân tiến về
Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng
Cờ ngày nào tung bay dưới phố
Trùng trùng quân đi như sóng
Lấp lánh lưỡi lê sáng ngời
Chúng ta đem vinh quang sức dân tộc trở về
Cả cuộc đời tươi vui về đây
Năm cửa Ô đón mừng
đoàn quân tiến về
Như đài hoa đón ngày
nở năm cánh đào
chảy dòng sương sớm long lanh
Chúng ta ươm lại hoa
sắc hương phai ngày qua
Ơi phố phường Hà Nội xưa yêu dấu
Những bông hoa ngày mai
đón tương lai về tay
đang xuân đời mỉm cười vui hát lên
Khi đoàn quân tiến về
là đêm sáng dần
Qua màn sương lá cành
vẳng nghe gió về
Hà Nội bừng tiếng quân ca

Bài ca có sức mạnh nhiệm mầu, lãng mạn cực tả khiến tâm hồn thằng nhóc16 tuổi rộng mênh mông, sâu thăm thẳm. Khoa nghĩ như thể nó đang trùng trùng say trong câu hát, đang lớp lớp tiến về, khi giặc Pháp đã thua trận xâm lược và đầu hàng tái tê, đau đớn. Qua màn sương thần thoại, không những Hà Nội chỉ bừng tiếng quân ca theo gió lùa vào lòng người mà còn rạng rỡ những nụ cười mừng rỡ đẫm nước mắt của tình nhân. Như con Liên của thằng Khoa, ôm chầm lấy nó. Khoa thấy ướt áo bên phải. Liên thấy ướt áo bên trái. Vì những giọt lệ giải phóng quê hương. Ôi, Khoa mơ mộng quá. Anh Kim Đồng và em bé miền Nam không mơ mộng nổi. Phải hai tuổi nữa Khoa mới dệt xong ước mơ, bằng cách vào bô đội chiến đấu tới giọt máu cuối cùng.
Hôm nay, Khoa 16, đang sống ê chệ trong làng vùng tề, hít không khí nô lệ Pháp, thở muôn vàn nỗi chua chát của thanh bình giả tạo. Mỗi người dân đội lên đầu một chính phủ. Là thừa thãi rồi. Làng Tường An đội hai chính phủ lên đầu. Pháp buổi sáng và cách mạng buổi tối. Khoa muốn chỉ có cách mạng thôi. Pháp cứ bắn phá, cứ càn quét, vẫn còn Liên để cùng ngồi bên nhau, trên cầu Chờ, đợi giặc đến, chạy tới bến Đợi tránh giặc, dừng chân ở quán Nghỉ, suy nghĩ vẩn vơ, ra hồ Mơ thả hồn bay cao vút.
Vào tề, những nơi sinh hoạt của nhi đồng lạnh ngắt, vắng vẻ như làng Tường An trước 19-8-1945. Cái chốn vinh hạnh nhất của đời nhi đồng là những lớp Bình dân học vụ diệt giặc dốt. Nhi đồng đã chiến thắng oanh liệt. Khoa và Liên đã thắng trận đầu trong trường kỳ kháng chiến. Chốn ấy còn đó, song thầy giáo nhóc con và học trò phụ nữ, lão ông, lão bà không lai vãng tới nữa. Bộ trống đồng của thiếu nhi Tường An cất ở đâu? Chắc người ta đã giấu giếm thật kỹ ở nơi nào hay vất xuống sông. Đêm tập kịch, tập hát chẳng tìm thấy nữa. Cũng như ngày mít tinh, biểu tình tuần hành đả đảo thực dân Pháp. Sân khấu biểu diễn kịch ở trong đình đã phá đi. Những khẩu hiệu của cách mạng viết đầy tường, đầy ngõ đã xoá bằng vôi cả rồi. Tất cả cho chiến thắng, ngày xưa; ngày nay, tất cả cho Hội Tề!
Khoa lớn lên trong cách mạng. Nó đau đớn nhìn cuộc dâu biển phũ phàng tàn nhẫn. Khác với những đứa trẻ con Tường An, Khoa hiểu biết thật nhiều và cảm giác thật mạnh chu kỳ rực rỡ 1945-1950. Chu kỳ rực rỡ đó đã hoá thành bọt xà phòng, hỏi sao Khoa chẳng tiếc nhớ. Lịch sử sẽ nói gì về người dân vùng tề? Dân tộc sẽ kết tội làng Tường An và người Tường An. Khoa nghĩ vậy. Xa hơn, nó nghĩ tới những khẩu hiệu, những vở kịch mà nó thường diễn mỉa mai quân bán nước cầu vinh. Làng Tường An đã quy thuận giặc Pháp vì làng Tường An đã sợ giặc Pháp bắn phá, đã sợ khổ... Thế thì làng Tường An đã bán nước, bán dân như làng Ô Mễ. May cho anh Vũ của nó đã thoát khỏi thật sớm, đi liên lạc cho đại đội 4, trung đoàn 44. Lúc này, anh nó thành bộ đội rồi. May cho anh Côn, rời Ô Mễ, đi học lớp sĩ quan Trần Quốc Tuấn. Vũ và Côn không hề bị tề ám ảnh, ray rứt giống Khoa.
Còn Khoa phải làm gì? Không thể làm gì được. Một thằng bé ở làng tề trốn nhà phiêu bạt, vẫn bị cái quá khứ nó giầy vò chẳng chịu nổi. Huống chi, nó lại xin làm liên lạc viên như Kim Đồng, trở thành bộ đội như Vũ. Quá khứ vùng tề đã chụp lên đầu đứa bé sớm hiểu biết một cách bất nhẫn. Nó sống trong làng tề mấy tháng liền, tự nhận nó là dân tề, dù không một ai khinh bỉ nó. Dân tề là dân nô lệ cũ, nô lệ 80 năm. Vùng tề lại mở ra một chân trời buồn thảm để người dân bước vào làm nô lệ mới. Khoa chán nản tuyệt vọng. Nó không mơ chóng lớn để vào bộ đội, đi giết quân thù. Nó lại mơ mãi mãi còn bé để chẳng dấn thân vào mù khơi thời đại.
Khoa không cần vận dụng trí nhớ, mà kỷ niệm xếp hàng dọc trước mắt nó. Những ngày thiếu nhi tập trận giả giữa hai phe quân Pháp và quân Việt Nam. Sôi nổi và hồi hộp. Bao giờ quân Pháp cũng thua to, dẫu Henri Rivière Huệ nhiều tài trí, thông minh chỉ huy quân Pháp và Việt gian. Khoa chỉ huy quận Việt Nam thắng quân Pháp bằng mưu mẹo. Tưởng nhớ đến những ngày nhi đồng tập trận giả; nhi đồng tát ao, tát ngòi bắt cá đem bán lấy tiền mua trống đồng; nhi đồng dạy các lớp Bình dân học vụ chống giặc dốt; nhi đồng diễn kịch yêu nước; nhi đồng ca hát thương nòi; nhi đồng đánh trống đi quanh làng cổ súy bầu cử và mời dân tham dự biểu tình... Tưởng nhớ đến thế thôi, cũng đủ nói lên rằng, nhi đồng đã làm rộn ràng cách mạng, làm sinh động trường kỳ kháng chiến. Nhi đồng là linh hồn cách mạng. Mà hầu như cách mạng quên điều đó. Chẳng có nữa, nhi đồng trong vùng tề. Và, chẳng còn nữa, nhi đồng trên vùng trời sầu muộn Việt Nam.
Bởi thương tiếc nhi đồng súng gỗ, Khoa mơ ước đời sống bình thường không khi nào thay đổi. Làng Tưòng An cứ mãi mãi là làng Tường An. Giặc đến thì chạy. Giặc lui thì về. Khi nào đánh được giặc thì đánh. Như vậy, Tường An sẽ ròng rã khổ sở. Khổ thì chịu khổ, khổ mà danh dự của làng được bảo toàn, còn hơn làng đã mang tiếng nhục Hội Tề ấm ớ, muôn kiếp không rửa sạch. Mấy ngày liền, Khoa chỉ một mình suy nghĩ vẩn vơ không mạch lạc, ý tưởng chống đối lẫn nhau như thế. Hôm nay, Khoa đang buồn bã nhớ Liên, Đưòng tới phá đám.
- Khoa ơi, mày biết chuyện gì chưa?
Khoa cáu kỉnh :
- Chuyện gì là chuyện gì?
Đưòng làm ra vẻ quan trọng :
- Bộ đội...
- Sao?
- Bộ đội về làng mình!
- Thật hay phiệu?
- Thật trăm phần trăm, chính hiệu thuốc ho bà lang Trọc...
- Nói đi!
- Bộ đội về làng đêm qua.
- Mày đã gặp bộ đội chưa?
- Rồi. Mày mừng không?
Khoa đã sai lầm. Nó tưởng Ủy ban kháng chiến và hành chính trốn lui trốn lủi, đêm mới dám bò về làng thu lúa và bắt dân đi dân công. Bây giờ, bộ đội về làng, Khoa tin rằng, Ủy ban kháng chiến và hành chính vẫn công khai hoạt động.
- Mừng chứ.
- Mày biết Hội Tề ra sao không?
- Bị bắt hết.
Đường cười :
- Ai cũng tưởng vậy. Hội Tề đã không bị giải tán mà đồng chí chính ủy còn tuyên dương các cụ Hội Tề đã chơi chính trị cao. Chính phủ gửi lời nồng nhiệt khen các cụ.
Khoa ngẩn người :
- Tao không hiểu chữ mày nói!
Đường lại cười :
- Hề hề... Các cụ Hội Tề chơi chính trị cao, nếu chơi chính trị thấp, mấy cụ đã chết ngỏm, bác Hồ đâu thèm khen.
Khoa hỏi :
- Chính trị là gì?
Đường dõng dạc đáp :
- Chính trị là... chính trị! Bộ đội mới nói toàn... chính trị và bảo bộ đội cũ lạc hậu rồi. Những bài hát chúng mình đã hát cũng lạc hậu tuốt.
Khoa thành thật nói :
- Đầu óc tao rối tinh về danh từ của bộ đội mới.
- Ai nấy đều rối tinh như mày vậy. Rồi mình học ở anh chính ủy.
- Chính ủy là gì?
- Là... chính ủy! Chính ủy về Tường An để chỉnh cán rèn quân
- Là gì?
- Là tao không hiểu!
- Này, nói thật bác Hồ cho phép các cụ Tường An lập Hội Tề, hả?
- Thật đấy. Chẳng tin hỏi anh chính ủy mà xem.
Khoa chới với. Tại sao bác Hồ lại cho phép dân làng Tường An lập Hội Tề? Hội Tề là bước những bước chân đầu tiên vào cảnh nô lệ mới. Khoa nghĩ thế. Tường An chưa đóng góp công lao vĩ đại cho cách mạng, chưa tạo ra những con người xuất chúng dẫn đến cách mạng. Tường An làng sạch, dân sạch. Không thể đem sạch nhúng bẩn và rửa lại để nó sạch hơn, thơm hơn và đẹp hơn. Ôi, người lớn đã thoát ra khỏi chu kỳ con nít nên làm việc gì, nghĩ việc gì đều khác con nít. Bởi chính trị của bác Hồ cao lêu nghêu lên tận sao Mai chăng? Mà biến Tường An, làng độc lập, thành làng nô lệ!
- Để rồi tao sẽ hỏi... đồng chí chính ủy.
- Vào ban đêm đấy.
- Ừ, đêm mai.

84
Tháng 9, trung đội 23, thuộc đại đội 6, trung đoàn 84, vượt sông Trà Lý sang Tưòng An, Đồng Đức và Đại Đồng. Bộ tham mưu trung đoàn 84, đóng ở Hưng Nhân, đã nghiên cứu tình hình ba làng trên. Thấy xác thực từ ngày thành lập Hội Tề, quân Pháp đóng đồn ở Ô Mễ đã bỏ ngỏ Tường An, Đồng Đức và Đại Đồng. Ba làng này ăn liền nhau gắn bó, có Đồng Đức nằm trên huyện lộ số 24, ráp ranh huyện Thư Trì bằng cây cầu xi măng cốt sắt. Đại Đồng quy thuận Pháp, Tường An, Đồng Đức phải quy thuận theo. Pháp chỉ cần giữ yên Thọ Bi, Đại Hội, Thụy Bình, Đồng Thanh, Tri Lai, Thắng Cựu, Đoan Túc, là các làng bên đây quốc lộ số 10, an ninh sẽ tuyệt đối. Tường An, Đồng Đức, Đại Đồng theo Pháp thì Pháp đỡ tốn đạn đại bác, moọc chê bắn răn đe. Pháp đóng đồn ở chợ Ô Mễ ngay trên huyện lộ số 24, đầy ưu thế. Bỏ ngỏ Tường An, Đồng Đức, Đại Đồng tức là bỏ rơi, với điều kiện, mỗi tháng một lần, Hội Tề phải tới Ô Mễ báo cáo tình hình sinh hoạt của ba làng đó.
Từ đầu năm 1950, Đảng lao động và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thay đổi một loạt chính sách. Đầu tiên, quân đội biến thành Quân Đội Nhân Dân, giải tán Vệ Quốc Quân đã chiếm hết tình yêu mến của đồng bào từ Bắc vào Nam.
Vệ quốc quân xuất thân tiểu tư sản. Quân đội nhân dân tuyển chọn ở giai cấp vô sản: công nhân và nông dân. Người vô sản không yêu nông dân hơn công nhân, vì nông dân nặng quyền tư hữu. Khổ cho họ, nông dân đông gấp bội công nhân. Nên nông dân chia thành phần tứ tung. Thành phần bần cố nông trên hết. Người lính trong Quân đội nhân dân đa số là nông dân.
Ta là người nông dân
mặc áo lính
chiến đấu vì giai cấp bị áp bức
từ bốn nghìn năm
Đau khổ giai cấp là đau khổ của ta
Cũng như là máu của máu
xương của xương
máu của máu
xương của xương
Nhiệm vụ này
toàn thể bộ đội
phải lao mình vào cuộc đấu tranh
Chúng ta là bức tường đồng
Là lực lượng tiên phong
Cùng nông dân tranh đấu
nhất định thành công

Thay đổi chính sách quân đội, đồng thời xóa bỏ kháng chiến là của toàn dân. Người vô sản độc quyền chiến đấu với xâm lăng Pháp. Và một chu kỳ rực rỡ của thi ca và âm nhạc 1946-1950 cũng bị xóa bỏ. Thứ đến, chính sách đấu tố địa chủ.
Hờn căm địa chủ gian ngoan
địa chủ tham tàn
già tay bóc lột bần cố nông

Hay:
Ta là người có mắt có tai
Tay ta làm mà hàm ta chẳng nhai
Vì đâu
Vì đâu
Ta nghèo
Đó là cách bóc tô bóc tức
trăm điều oan ức
căm tức
Của ta làm ra phải trở về ta

Những bản nhạc này làm từ đầu năm 1950. Các nhà văn, nhà thơ phải chịu chính sách chỉnh huấn. Nghĩa là văn nghệ sĩ phải thú tội trên giấy trắng mực đen những tác phẩm mình sáng tác trước năm 1945 nhảm nhí! Các chính sách nối tiếp các chính sách. Đấu tố phát động bây giờ, nhưng khi hòa bình mới áp dụng. Phải thực hiện những điểm cần thiết nhất. Chỉnh cán rèn quân, một khẩu hiệu nằm lòng sẽ tung vào nông thôn. Cùng với chỉnh cán rèn quân, tuyển lính trong hàng ngũ nông dân cũng cần thiết. Vì thế, bộ đội mới về Tường An, Đồng Đức và Đại Đồng.
Chính ủy trung đoàn 84 mời chính ủy trung đội 23 tới thảo luận.
- Đồng chí Kỳ Bá, chắc đồng chí đã hiểu chính ủy trung đội cao cấp hơn trung đội trưởng. Đồng chí bao quát mọi vấn đề, trung đội trưởng chỉ làm theo lệnh của đồng chí.
- Bá cáo, rõ.
- Đồng chí có biết tại sao đồng chí có quyền uy vậy không?
- Bá cáo, biết.
- Biết đồng chí là đảng viên trung kiên của Đảng ta. Thế tốt. Đồng chí phải nhất nhất tuân theo mệnh lệnh của Bác và Đảng. Bác và Đảng luôn luôn sáng suốt, không bao giờ nhầm lẫn. Đồng chí phải để nhiệm vụ lên trên hết, không vì tình cảm ủy mị của bọn tiểu tư sản mà vấp ngã một điều gì có thể làm cho Bác và Đảng buồn.
- Vâng.
- Nhiệm vụ đã trao cho đồng chí rất hệ trọng, không được sai lầm.
- Vâng.
- Đẩy các lão ông ra hàng Pháp làm Hội Tề là mục đích của Bác, Đảng và Nhà nước ta. Pháp ngây thơ không hiểu điều này. Trường hợp của đồng chí nằm ở Tường An, Đồng Đức và Đại Đồng. Ba làng này bên ngoài theo Pháp, bên trong, nơi hoạt động hữu ích của ta. Tới đó, đồng chí bắt tay ngay vào việc tuyển quân và huấn luyện họ, càng sớm càng tốt. Khi đưa họ vào quân đội, họ chiến đấu ngay, khỏi lãng phí thời gian. Đồng chí đã hiểu quân đội ta là Quân đội nhân dân. Nhân dân phải từ nông dân ra. Và nông dân hiền lành, chất phác. Hiền lành, chất phác nên triệt để kỷ luật cao. Quân đội có kỷ luật cao sẽ chế ngự địch và đem về chiến thắng lẫy lừng.
- Vâng.
- Song song với rèn luyện quân, công tác hệ trọng của đồng chí là chỉnh đốn cán bộ địa phương và nhân dân. Ta mất năm năm tiêu diệt nội thù. Năm 1950, Đảng ta mới độc quyền lãnh đạo nhân dân. Đảng ta chuyên chính chứ không chuyên chế. Những gì làm trước 1950, của bất cứ ai, đều lạc hậu rồi.
- Vâng.
- Đồng chí nên để mắt đến chính ủy tiểu đội, những người đang tranh đấu với bản thân để xin kết nạp vào Đảng.
- Vâng.
- Vấn đề phát động đấu địa chủ gian ác và cường hào ác bá.
- Vâng.
- Như thế là đủ. Đồng chí có hãnh diện về trung đoàn 84 không?
- Bá cáo, tôi rất hãnh diện.
- Điều chót tôi muốn phổ biến cùng đồng chí: Bác và Đảng biết đồng chí còn trẻ tuổi, ra lệnh cho tôi khuyên đồng chí nên thận trong về luyến ái quan.
- Vâng.

85
Một đêm mịt mùng của tháng 9, trung đội 23 sang bên kia sông Trà Lý. An toàn. Những chiếc đò của nông dân thay phiên nhau chở bộ đội cặp bến Đợi của làng Tường An. Sóng sông Trà, ma cửa Hộ. Sông Trà Lý sóng to hãi hùng. Ngày trở gió, nước lớn, những con sóng to bằng cái nhà nối tiếp nhau đè kín dòng sông. Chỉ ở khúc sông sắp ra cửa biển Tiền Hải, những bãi hoang mênh mông hai bên bờ, sóng sông Trà mới đáng sợ. Những khúc sông từ Giai, Lạng chảy qua Tường An, Đồng Đức, Ô Mễ, Đoan Túc đến thị xã Thái Bình thường hiền lành. Mùa nước lũ mới đang lo ngại. Lính Pháp đóng ở Ô Mể thỉnh thoảng mới đi tuần hành lúc chập tối. Và, chỉ đi tới cống Hào Điển, ráp ranh Ô Mễ-Thụy Bình là về. Tầu chiến của Pháp cũng hay qua lại trên sông Trà Lý. Ban ngày thôi. Ban đêm, trả lại Trà Lý sự u hoài trong vắng lặng.
Đến điểm đích của cuộc chuyển quân là miễu Vang, cạnh hồ Mơ của Tường An, trung đội 23 chia làm ba tiểu đội, rải rác khắp ba làng. Qua một đêm mệt mỏi, đêm thứ hai, chính ủy trung đội 23, bí danh Kỳ Bá, thăm Ủy ban kháng chiến và hành chính và Hội Tề Đồng Đức. Đêm thứ ba, chính ủy Kỳ Bá thăm Đại Đồng. Đêm thứ tư, thăm Tường An và nhân dân.
Ở Tường An, chính ủy Kỳ Bá phát biểu những ý kiến y hệt Đại Đồng, Đồng Đức, không sai một chữ. Người ủy viên chính trị của trung đội 23 còn trẻ, ăn nói lưu loát, hấp dẫn nhân dân. Thằng Đường may mắn có dịp chứng kiến buổi gặp gỡ này. Nó đã nghe chính ủy Kỳ Bá lên tiếng.
- Nhân dân Tường An kính mến...
Đường gãi tai và kéo banh ra.
- Vì nhân dân trách móc Bác, Đảng và Nhà nuớc đã bỏ rơi nhân dân để nhân dân sống kham khổ với giặc Pháp, thằng địch ghê gớm của nhân dân, và nhân dân mất hết niềm tin vào Bác Hồ vĩ đại, người lãnh tụ duy nhất dìu dắt nhân dân tới chỗ vinh quang, nên Bác đã chuyển Quân đội nhân dân về Tường An, sát cánh với nhân dân trong làng, tiêu diệt thằng địch.
Nhân dân vỗ tay. Vỗ tay thật lớn. Đồn Ô Mễ không thấy được. Chó chẳng thể sủa nổi, vì bị giết hết từ năm 1947. Chó sủa phát hiện niềm bí mật của du kích, chết cả giống nòi là đáng kiếp. Thằng Đường há hốc miệng kinh ngạc những tiếng Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân, nó không hiểu là cái thứ gì.
- Bác thay đổi một số chính sách lỗi thời, lạc hậu không làm vừa lòng nhân dân. Chẳng hạn, chính sách quân đội. Từ nay, ta chấm dứt Vệ quốc quân mà gọi là Quân đội nhân dân. Quân đội nhân dân ở nhân dân mà ra nên được dân mến, dân yêu, dân ủng hộ, dân gửi con cháu vào Quân đội nhân dân. Bộ đội ta vẫn dùng, vì chữ của ta. Từ nay, Bác quyết định không gọi là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa nữa. Mà gọi là Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đảng ta mới ra đời, gọi là Đảng lao động. Hồ Chí Minh, Bác của chúng ta, vừa là chủ tịch Đảng, vừa là chủ tịch Nhà nước.
Nhân dân vỗ tay phấn khởi. Đường nghệt mặt ra. Nó chả hiểu cái gì lạc hậu, cái gì không lạc hậu. Nghe những tiếng Đảng, Nhà nước nó choáng tai. Thiếu nhi phải học lại rồi, học lại từ đầu.
- Bác muốn nhân dân phải đứng về phía bần cố nông, căm thù địa chủ gian ác. Chính sách này, ta chỉ học tập để biết rõ giai cấp và thành phần của mình. Đợi tiêu diệt xong giặc Pháp, ta mới phát động đấu tố.
Đến đoạn này, chính ủy Kỳ Bá vỗ tay một mình, nhân dân vỗ tay theo. Người ta nóng lòng chờ đợi chính ủy làm thịt đám Hội Tề ấm ớ. Đường mù tịt những chữ bần cố nông, địa chủ, giai cấp và thành phần.
- Quân đội nhân dân về làng Tường An lần này, mang theo một thông điệp hoan hỉ của Bác, Đảng và Nhà nước gửi cho nhân dân Tường An.
Vỗ tay rào rào.
- Trước hết, Bác tuyên dương Ủy ban kháng chiến và hành chính Tường An, nay sửa lại là Ủy ban nhân dân Tường An, đã trung kiên với Đảng như cá với nước. Sau hết, Bác tuyên dương các cụ trong Ủy ban Hội Tề. Bác, Đảng và Nhà nước khích lệ các cụ lập ban Hội Tề, vờ trá hàng Pháp để cho Ủy ban nhân dân hoạt động. Các cụ thông hiểu cách mạng, chính trị cao nên Pháp sẽ tan rã.
Vỗ tay sôi nổi. Nhân dân quá khích làng Tường An vỡ lẽ. Họ từ bóng tối ra ánh sáng. Nhà nước ta bảo các cụ vào Hội Tề, các cụ không hề hé răng, cứ im lặng chịu đựng lời ve tiếng ong. Nay chính ủy Kỳ Bá tiết lộ, nhân dân mới hối hận đã nghĩ sai về Hội Tề. Đường chỉ thắc mắc chính trị cao với chính trị thấp.
- Các cụ trong Hội Tề cần làm việc tích cực hơn. Để sự tuyển quân và huấn luyện quân của chúng tôi đạt chỉ tiêu. Cán bộ các ngành cần rèn luyện cho thật xác đáng. Để Bác và Đảng tin tưởng. Sau đây, tôi chuyển mấy lời vàng ý ngọc của Bác gửi cho nhân dân Tường An và cán bộ.
Vỗ tay say mê.
- Người người thi đua
Ngành ngành thi đua
Ta nhất định thắng
Giặc nhất định thua

Tôi chấm dứt bài nói chuyện.
Tiếng vỗ tay không muốn dứt. Vỗ tay thật lòng. Mọi người bu quanh chính ủy Kỳ Bá hỏi han. Đường tiếc ghê, trong cuộc gặp gỡ thiếu thằng Khoa. Như thế, ngày mai hay ngày kia, chính ủy sẽ làm việc.
Tiểu đội 1 của trung đội 23 đang rải rắc khắp thôn trên, dạy nhân dân những bài hát mới. Bộ đội hôm nay khác hẳn bộ đội bốn năm trước. Khi Hà Nội thất thủ, nằm trong tay Pháp, bộ đội Thủ Đô, Ký Con đã về Tường An. Sau Thủ Đô, Ký Con, bộ đội ở Hải Phòng, Nam Định, với những tên nghe sáng mắt ấm lòng: Trung đoàn Thành Tô, Trung đoàn Sông Vỵ cũng đã về Tường An. Bộ đội đẹp giai, mặc quần áo nâu, đi chân đất, phong cách tiểu tư sản ngập đầy mắt họ. Bộ đội trí thức không tả nổi. Họ đúng là những người đi lang thang trên đường miên man. In hình qua mây núi xanh lơ bát ngát. Lúc kháng chiến xa nhà nhịp theo đời sống mới. Người mơ về chân trời nơi đồng quê. Lúc phá hết phố phường biệt ly đời gấm hoa. Người vui đời áo nâu, quên hết u sầu. Và đoàn người đi lang thang trên đường gian nan. Bộ đội năm 1946 lãng mạn kháng chiến và mộng tưởng cuộc đời. Họ về làng dạy thiếu nhi học, kể hàng trăm cổ tích, hàng ngàn truyện vui. Họ dạy Tường An những bài hát ngậm chất Ba Vì.
Ba Vì mờ cao
Làn sương chiều sa buông
Gió về hương núi thơm
Ru hồn về đêm
Tư xa xa mờ hương
Đồi lau úa chen hơi mùa ướt
Suối róc rách đâu đây
Gió đưa bâng khuâng lướt về ngàn mây
Ba Vì ơi
Thu mùa xưa
Tà áo em mùa thu
Từ xa mong nhớ Ba Vì ơi
Thời gian như muốn phai lòng người
Giang hồ ngừng bước
Nhớ nhung Ba Vì ơi
Chiều buông
Chiều buông
Tiếng chuông vang sớm chiều
Tiếng chuông vang tháng ngày
âm u
âm u
Những khi chiều ngã chìm lòng ta
Vầng trăng úa soi mầu hoa
Từ xa mong nhớ Ba Vì ơi
Thời gian như muốn phai lòng người
Giang hồ ngừng bước
Nhớ nhung Ba Vì ơi
Thương quê hương ai đó,
Đường về làng tôi xa xôi lắm
Cách mấy con sông dìu mấy lá đò,
dìu mấy lá đò
Một chiều xuân chìm ru say đắm
Bóng tre xanh in tà áo thơ
Nghe như đàn quyến luyến
ngàn hoa lối đi
Tơ đồng ôi thiết tha
mắt say chiều gió quê
Ôi mùa xuân đàn réo rắt Phượng Hoàng
đào ngát lối đi
Lòng bâng khuâng nhớ
đây mùa chinh chiến ngập ngừng lá nhớ hoa
Tàn giấc lửa khói
sa trường phai tiễn đưa
Và gửi hồn về bên kia sông Đuống:
Để con đi đánh giặc
Lấy máu nó rửa thù này
Lấy súng nó cầm trong tay
Mỗi đêm một lần mở hội
Trong lòng anh chim múa hoa cười
Vì nắng sắp lên rồi
Chân trời đã tỏ
Sông Đuống cuồn cuộn trôi
Để cuốn phăng ra bể
Bao nhiêu xương thịt tơi bời
Bao nhiêu nước mắt
Bao nhiêu mồ hôi
Bao nhiêu bóng tối
Bao nhiêu cuộc đời
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mang yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trẩy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh

Họ đấy. Bộ đội năm xưa, lãng mạn cách mạng ngời ngời. Họ đi đâu rồi nhỉ? Họ mất hút trong gió lộng mù khơi. Anh Vệ quốc quân, dân chúng vẫn nhớ anh.
Ta muốn thét cho vỡ tung lồng ngực
Vì say sưa tình thân thiết Vệ quốc đoàn
Anh từ phương nào lại
Tôi từ đất dấy lên
Chúng ta chung một Mẹ hiền
Lúa thơm bầu sữa bông mềm áo tơ

Vẫn nhớ anh hào sảng và sống đời đáng sống, chết đời đáng chết. Anh không sợ chết nếu chết cho quê hương. Anh không sợ sống nếu sống gian khổ cho kháng chiến. Từ quán bên đường, người dân nồng nhiệt mời anh.
Mời anh Vệ quốc dừng chân bên quán
Từ miền chiến chinh bụi đường thấm áo nâu
Sóng mắt căm thù còn vương khói súng
Lời đồng vang thắm ý sao Thu...
Ai vui tà áo rách vui ngày tháng
Bầy em tôi đang quay xa
Ngày mai yên vui chim ca
Mùa thu ơi đừng lưu luyến nhớ
Em có nghe từng tiếng hát hành quân ca
Bao gái trai chinh chiến xa quê nhà...

Anh đúng là lính tiểu tư sản hào hùng và lãng mạn. Anh đã làm ra chiến thắng sông Lô, chiến thắng sông Đà, chiến thắng sông Thao... Người người mơ thành người sông Lô, mơ bước chân anh đi diệt giặc Pháp. Bộ đội năm xưa, những người kháng chiến năm xưa, đã in dấu ấn trong lòng dân tộc.
Bô đội năm nay, thế quyền lính tiểu tư sản, trung thành theo lính vô sản. Lính vô sản cũng hiền hòa và đôn hậu như lính tiểu tư sản. Nhìn đến mỏi mắt, không thấy một tia trí thúc nào toát ra và áng lên trong con người họ. Họ lại không sống, không bao giờ sống bằng mộng ước, kiếm chất lãng mạn ở họ chỉ uổng công.
Đêm nay, Khoa đi tìm chính ủy Kỳ Bá. Không gặp. Vì chính ủy Kỳ Bá công tác bên Đồng Đức. Khoa buồn tình ghé đến sân đình xem bộ đội dạy nhân dân hát.
Chỗ này, bộ đội phổ biến bài ca cho thanh niên:
Hoan hô bàn tay anh Kồng sô môn
Đã khơi dòng Von ga, Đông
đã mang về hạnh phúc cho toàn dân
Hoan hô bàn tay anh bạn Trung hoa
chắn sông Hoài
ngăn đau thương
Nước không tràn toàn dân no ấm
Tay anh khơi nắng thiêu trong mạch thủy nông
Tôi cố tranh lấy từng cánh đồng
Ta sống trong trường kỳ kháng chiến
Bàn tay anh đem về thêm bông
Bàn tay anh đem về thêm lúa
Bàn tay tôi băng niềm thương xót
Dắt dìu nhau tiến lên

Chỗ nọ bộ đội phổ biến bài ca cho phụ nữ:
Dân Liên xô vui hát trên đồng hoa
Kia Trung Hoa thơm ngát cho mọi nhà
Hoa bay sang Triều Tiên khói lửa
Hoa bay trong lòng người Việt Nam ta
Đấu tranh từng bừng địa chủ bóc lột
Sẽ mai thanh bình còn nhiều đồng hoa

Chỗ kia, bộ đội phổ biến bài ca cho nhi đồng:
Ta yêu hòa bình
Lòng ta mến yêu hòa bình
Chống quân thù chung
Dẹp tan âm mưu chiến tranh
Diệt thực dân Pháp
Là đấu tranh cho hòa bình
Hòa bình có chúng ta tiền phong
Hòa bình có Liên Xô vĩ đại
Hòa bình có Việt Nam anh dũng
Cùng đoàn kết đắp xây hòa bình
Quê hương chúng ta xanh ngát cánh đồng bao la
Noi gương Trung quốc, Liên xô ta xây cuộc đời
Quê hương chúng ta toàn dân trường kỳ kháng chiến
Tiến bước dưới cờ Ma lén cốp quang vinh

Khoa chán nản xem tập hát. Nó đang muốn về nhà đi ngủ, thì ở chỗ không xa mấy, dưới ánh trăng mờ, Đường nhìn thấy nó, gọi om sòm :
- Khoa ơi Khoa, mày đến đây mà coi. Hấp dẫn lắm. Đáng đồng cơm bát gạo lắm.
Khoa rời chỗ nhi đồng, sang chỗ Đường, chỗ chính ủy tiểu đội phổ biến bài ca cho nông dân :
- Hay tuyệt cú mèo, mày ạ!
Nhân dân Trung quốc đang ca hát rằng (à)
Đời ta ấm no sướng vui từ đâu (a)
Vì chúng ta có Đảng cộng sản (à)
Vì chúng ta có Bác Mao Trạch Đông (a)
Đã đứng dậy nắm tay phát động (à)
Ta lấy ruộng đất về cầy cấy tăng gia (a)
Noi gương Trung quốc dân ta hát rằng (à)
Bền gan đấu tranh chúng ta chung niềm tin (a)
Vì chúng ta có Đảng lao động (à)
Vì chúng ta có Bác Hồ Chí Minh (a)
Ta đứng dậy đồng thanh phát động (à)
Diệt địa chủ cường hào ác ôn lưu manh (a)

- Hay ba chê không?
- Hay, nhưng tao phải về.
- Về làm cái gì?
- Về ngủ.
- Thế thì không ba chê rồi. Tao cũng về với mày.
- Mày nên ở lại.
- Làm đếch gì! Nhiều câu hát tao không hiểu nghĩa.
- Thật hả?
- Ừa.
- Về thôi.
Hai thằng bé đi bên nhau, bước khỏi sân đình. Đêm nay, mới là đêm rã rời nhất của Khoa. Nó đã thấy bộ đội. Bộ đội mới toanh, không dính dáng tí nào với bộ đội cũ. Cũng quần áo nâu, bộ đội cũ mặc gọn gàng, quý phái; bộ đội mới mặc luộm thuộm, tiều tụy làm sao. Mới là không lạc hậu, cũ là lạc hậu. Bộ đội cũ, bài hát cũ: Lạc hậu. Bộ đội mới, bài hát mới: Không lạc hậu. Bài hát cũ hay, dễ hiểu: Lạc hậu. Bài hát mới dở, khó hiểu: Không lạc hậu. Lạc hậu là gì? Không lạc hậu là gì?
- Khoa ơi, bộ đội ở nông thôn mà ra cả đấy.
Khoa đang muốn so sánh bộ đội cũ với hạng người nào trong xã hội. Đường tương câu nói may mắn.
- À, thế chứ!
- Quân đội nhân dân mà lỵ, mày ạ!
- Tao cần gặp anh chính ủy trung đội.
- Mày có thắc mắc, hả?
- Không, tao muôn biết anh ta cũ hay mới.
- Tao cũng muốn gặp. Để tỏ thắc mắc lung tung beng.
- Thí dụ?
- Chẳng hạn anh Kồng sô môn là thằng nào, dòng Von ga, dòng sông Đông ra sao, Liên xô cao hay thấp, Triều tiên béo hay gầy, Ma lén cốp có hút thuốc phiện không?
- Sao không hỏi chính ủy tiểu đội?
- Chính ủy chính iếc cũng là con nông dân như tao, biết cái chó gì mà giảng nghĩa! À này, Khoa, Trung hoa và Trung quốc khác nhau, hở?
- Là một.
- Còn Tầu?
- Là Trung hoa, Trung quốc.
- Mày giảng lịch sử cho tao rằng, Mã Viện, Thoát Hoan, Ô Mã Nhi, Hốt Tất Liệt, Trương Phụ, Tôn Sĩ Nghị là tụi Tầu sang chiếm nước ta, đánh bỏ mẹ chúng nó đi ấy chứ! Nay, bài hát mới, chỗ thì hoan hô Tầu phù, chỗ thì noi gương Mao Trạch Đông là làm sao?
- Tao không biết.
- Mày đừng giả vờ.
- Không biết thật tình.
Đường chẳng hỏi gì nữa. Khoa hoàn toàn im lặng. Hai đứa vẫn sóng đôi, thong thả bước đều. Hai ông nhãi chìm trong bóng tối, thứ bóng tối điên đảo của cách mạng sang năm thứ 5, thứ bóng tối làm con người giẫy giụa. Vì lạc hậu rồi...

86
Đi tìm gặp chính ủy Kỳ Bá thật khó. Phải đợi đêm rằm, trăng thật sáng, nếu trời không mưa, mới biết rõ dung nhan chính ủy. Còn mươi hôm nữa sẽ đến rằm, chắc chính ủy ở Tường An lâu, sẽ có dịp cho Khoa đối diện.
Từ ngày Pháp về làng, phong trào thiếu niên nhi đồng đã tự nhiên dẹp bỏ. Ở thôn dưới, Khoa chỉ còn chơi với Đường thôi. Tường An vào tề, rồi bộ đội về Tường An, cũng Đường thông báo Khoa những tin tức xảy ra. Lần này, bộ đội dùng danh từ khó khăn như lời bài hát nên Đường nhớ không kịp. Trưa hôm qua, Đường lần sang nhà Khoa, nói lại chuyện chính ủy Kỳ Bá tuyên bố trước dân làng. Khoa hiểu Quân đội nhân dân ra đời, Vệ quốc quân bị giải tán. Nhân dân không được gọi Chính phủ. Mà phải kêu là Nhà nước. Bây giờ, câu nói thiêng liêng Bác, Đảng và Nhà nước phải nằm lòng. Và phải nói nghiêm túc. Chữ nghĩa có dâu biển của chữ nghĩa. Cái mới thay thế cái cũ. Nhóc con thở toàn danh từ của người lớn. Nói nghiêm túc. Nghe nghiêm túc! Phổ biến và báo cáo. Phát động và đấu tố. Mới đấy.
Nói đến mới, Khoa tiếc cũ vô vàn. Vệ quốc quân bỏ đi. Bài hát bốn năm trước bỏ đi. Quân đội nhân dân đâu có hay hơn Vệ quốc quân, bài hát mới quá dở. Bác, Đảng và Nhà nước tiêu diệt Vệ quốc quân và bài hát mới nhằm mục đích gì, Khoa chẳng cần biết. Chỉ biết cái để thay thế nó tệ mạt hơn cái bị thay thế. Bữa nay, Khoa buồn chán và tức tối, hát thầm nhạc cũ cho đỡ nhớ:
Vì nhân dân hy sinh
Anh em ơi vì nhân dân quên mình
Đoàn Vệ quốc chúng ta
ở nhân dân mà ra
được dân mến
được dân thương
dân ủng hộ
Thề vì dân suốt đời
Thề tranh đấu không ngừng
Vì đất nước thân yêu mà hy sinh...
Vì nhân dân quên mình

Ừ, đâu có cần làm Quân đội nhân dân đâu. Mà cũng được dân mến, dân thương. Vệ quốc quân từ nhân dân mà ra. Nó không được chết cho nhân dân. Nó bị đâm sau lưng, bởi những con người phản bội.
Đoàn quân chiến thắng đi suốt đêm ngày
Mẹ ơi con đã về đây
Cha già chót vót giơ tay đón mừng
Anh ơi anh tỉnh lại
Nước mắt tôi rưng rưng
Hình như tôi đã mơ màng
Phải rồi anh Vệ quốc đoàn
Đêm nay say tiệc liên hoan
Ngày mai xé xác moi gan quân thù
Bao giờ thu lại tới thu
Liên hoan bừng nở bốn mùa non sông

Rõ ràng thay, oai hùng như Vệ quốc quân! Lấy máu giặc Pháp bằng sự ngang tàng của mình. Chỉ có Vệ quốc quân.
Quân dân nhất trí tiếng kèn kết đoàn
Người Việt Nam mau vai sát kề vai
Quyết đem tâm trí giết loài tham tàn
Cùng Vệ quốc quân kết liên muôn đời
Ngoài tiền phương da ngựa bọc thây chiến sĩ
Sĩ nông công thương hợp lực xây nước nhà
Nào cùng đi ta đừng nề chi
Vai sánh vai trên đường vinh quang
Phá tan xích xiềng
Bấy lâu gông cùm
Đòi hạnh phúc xây nền tự do
Quân dân nhất trí tiếng kèn kết đoàn
Quân dân nhất trí xây tình đoàn kết
Cố sao nước Nam danh lừng bốn phương

Ở đâu cũng có Vệ quốc quân. Như thể Vệ quốc quân là tay vịn của nhân dân. Tại sao Bác, Đảng và Nhà nước lại giải tán Vệ quốc quân?
- Khoa ơi!
Đường lại mon men sang chơi.
- Ơi.
- Mày ở đâu?
- Trên cây sung.
Đường ra bờ ao, trèo lên cây sung.
- Năm ngoái, giờ này đang vui nhỉ.
Khoa đáp :
- Ừa.
- Tao ngỡ năm ngoái phải mất nhiều năm mới tới năm nay. Năm nay, buồn ghê thật. Thiếu nhi... thất nghiệp! Thì giờ rảnh rỗi chả biết làm gì.
- Học tập!
- Học tập cái gì?
- Bác, Đảng và Nhà nước!
- À, tao với mày đùa tí chơi.
- Gì?
- Báo cáo Bác, Đảng và Nhà nước cho đỡ buồn.
- Dạo này anh Đường khá không?
- Báo cáo, nhờ ơn Bác, Đảng và Nhà nước cháu vẫn no nê.
- Đồng chí học hát ra sao?
- Báo cáo Bác, Đảng và Nhà nước, bài ca khó nuốt như cá rô sống ấy, lời ca thì rắc rối cuộc đời. Báo cáo cháu vẫn chẳng hiểu thằng Kồng sô môn là thằng nào, dòng Von ga là ký gì, cờ Ma lén cốp có đỏ sao vàng không?
- Sao không hỏi?
- Báo cáo Bác, Đảng và Nhà nước, bố cháu nhân dân i tờ biết cái gì mà hỏi!
- Hỏi chính ủy tiểu đội.
- Báo cáo Bác, Đảng và Nhà nước, chính ủy còn nói ngọng, biết cái đíu gì!
Khoa cười sằng sặc. Cười thích thú. Hai tay nó bám vào cành sung, sợ ngã xuống ao, ướt như lột, phải mất công thay quần ao. Đường cũng phá ra cười.
- Mày khôi hài tuỵêt.
- Như cú chó hay cú mèo?
- Tuyệt cú mèo! Mày khôi hài tự bao giờ đấy?
- Từ hôm Quân đội nhân dân chê Vệ quốc quân và bài hát cũ lạc hậu!
- Mày nghĩ sao?
- Tao không chê Vệ quốc quân. Vẫn nhớ Vệ quốc quân và bài hát cũ như thường. Mình học thuộc từ hồi bé nhỏ, khó lòng quên lắm. Nếu người ta không cho hát lớn, tao hát bé; cấm hát, tao lén lút hát thầm.
Khoa bảo Đường :
- Mình ra tha ma Ông Cả đi.
Khoa xuống khỏi cây sung trước. Đường xuống sau. Hai đứa bá vai nhau bước.
- Tao hỏi bố tao rồi. Kồng sô môn là Komsomol, thanh niên bên Liên xô, tương tự Thanh niên Hồ Chí Minh ấy; Von ga là con sông Volga, Đông là con sông Don ở bên Liên xô; Liên xô là nước Liên bang xã hội cộng hòa xô viết; Triều tiên là nước Cao ly đang đánh nhau; Ma lén cốp là Malenkov, tổng bí thư Đảng cộng sản Liên xô.
- Mẹ, rắc rối quá nhỉ!
- Ừa.
- Mình là Việt Nam, liên quan gì tới cộng sản bên Liên xô, bên Tầu phù, mà phải hát. Đúng là rắc rối tơ vò.
- Bố tao bảo cộng sản là vô sản.
- Cộng sản là củ đàn ông hay cái đàn bà?
- Mày thích cho nó làm củ hay làm cái?
- Một thứ à?
- Cả hai.
- Tao cho cộng sản và vô sản là cái đàn bà!
- Malenkov?
- Củ đàn ông.
- Mao Trạch Đông?
- Củ lõ thái tuế!
Hai thằng lại cười rộ. Sung sướng. Chúng nó đã rẽ vào con hẻm dẫn đến bãi tha ma Ông Cả. Hai đứa ngồi trên một ngôi mộ. Tường An vắng lặng. Ít ai ra đây. Ngày xưa, những cặp trai gái thường dẫn nhau tới bãi tha ma tình tự. Bây giờ, loạn ly, chẳng ai thiết chuyện tình mây mưa.
- Mày rủ tao ra đây làm cái gì?
- Hát thi.
- Thi đua theo lời Bác dạy, hả?
- Xem thằng nào nhớ kỹ.
- Hát cho ma nó nghe?
- Mày giỏi ghê. Ừ, người không nghe nữa thì ma nghe!
- Hát to hay bé?
- To.
- Tao hát trước nhé!
Đường hắng giọng, rồi lên tiếng :
- Vượt sông Đà tiến sâu vào Tây bắc đây.
Sông Đà cùng với sông Thao
chảy về xuôi
Nước sông Thao thắm hồng
hừng hực chảy về xuôi
Nước sông Đà băng băng trôi
giữa đôi bờ xứ Lạng
Bên kia sông Đà
giặc còn chiếm đóng
Bên kia sông Đà
dân còn tủi nhục lầm than
Có ruộng không được cầy
có nhà không được ở
Con trai phải đi phu đi lính
con gái đêm đêm phải đi ngủ rừng

Khoa bắt chước Đường nói :
- Du kích sông Thao đây.
Hồng Hà
mênh mông
trôi cát tới chân làng quê
Cuối sông
Ngoài bến ai về
có những đồng lúa xanh rì
bát ngát đồng mía
ven bờ đê
Hồng Hà
trôi xuôi
dòng nước trên ngàn về xuôi
Sông Thao
Ngoài bến Việt Trì
có những chàng áo nâu về
say sưa dòng nước
vui tràn trề
Bên sông
đoàn quân du kích ẩn từng lều
Nơi đây
người không tới họp chợ chiều
Sông Hồng Hà réo
Ú u u ù
Chiến binh
về đây đứng rợp một trời
Vui lên
lời ca sống ngập lòng người
Sông Hồng Hà réo
Sông Hồng Hà reo...

- Phiên tao này: Quê hương người bộ đội
- Phiên tao đây: Người lính bên kia...
Mỗi đứa hát hàng chục bài. Cho ma ở nghĩa địa nghe. Cho người đã nằm yên ở dưới mồ nghe. Có lẽ, ở nước Việt Nam, thời kháng chiến chống Pháp, chỉ hai thằng nhóc làng Tường An đã làm buổi tiễn đưa sự vĩnh biệt của chu kỳ rực rỡ âm nhạc. Hai thằng nhóc chưa dám nghĩ đến thế, không dám nghĩ đến thế. Vô tình, nó đã xảy ra như thế. Hai thằng nhóc đưa nhau ra bãi tha ma vắng lặng, hát những bài ca lạc hậu cho đỡ tức, cho bớt nhớ; ai dè đâu, chúng đã tạo nên cảnh tượng cảm động vô cùng.
Mọi người sẽ nhớ, cuối tháng 9 năm 1950, hai thằng nhóc Tường An, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình, Đường và Khoa, đã rung một hồi chuông cáo phó nền âm nhạc lãng mạn kháng chiến tại bãi tha ma Ông Cả. Chúng rung chuông cho ma quỷ nghe, cho người đã chết hay vừa chết nghe, cho lũ phản bội nghe. Cho cả những kẻ đang lập công ta dâng lên Bác nghe...
Khoa và Đường còn muốn hát nữa. Bóng tối sắp trùm tha ma. Hai đứa phải về nhà.

87
Chính ủy Kỳ Bá rất hài lòng, vì công tác ở Tương An phấn khởi, đạt chỉ tiêu. Kỳ Bá luôn luôn báo cáo về trung đoàn 84 lưu động, đóng chốt tại Hưng Nhân. Mới gần một tháng, Kỳ Bá đã tiếp thu trên 60 thanh niên nông dân xung phong vào bộ đội. Anh dự định sẽ huấn luyện họ ở miễu Vang. An ninh Tường An khá chu đáo. Nếu Pháp đồn Ô Mễ không giở giói gì, anh tính chỉ mất ba tháng nữa. Là hoàn thành công tác của Bác và Đảng đã giao cho.
Về rèn quân, Kỳ Bá phó thác cho chính ủy các tiểu đội gắng sức làm hồ hởi binh sĩ học tập không ngừng. Mỗi ngày. Điểm cần thiết nắm được, Quân đội nhân dân phải ý thức rõ ràng giai cấp của mình. Giai cấp nông dân và công nhân còn lắm kẻ thù, chưa tiêu diệt nổi. Kẻ thù quan trọng nhất là thực dân Pháp. Khi tận diệt Pháp, giai cấp vô sản sẽ phô trương thanh thế. Lúc đó, bọn tư sản, bọn tiểu tư sản, bọn trí thức lừng khừng sẽ theo bọn địa chủ gian ác, bọn cường hào lưu manh vào chỗ chết. Chỉ còn giai cấp công nông hay vô sản thôi.
Nhiệm vụ của Kỳ Bá và các chính ủy tiểu đội là làm cho lính tin rằng, giai cấp của họ sẽ độc quyền chuyên chính. Cái quyền đó, giai cấp vô sản ủy phó cho Đảng lãnh đạo. Hồ Chí Minh làm chủ tịch Đảng. Bác vô cùng sáng suốt nên Đảng cũng vô cùng sáng suốt. Không hề sai trái. Người lính của giai cấp vô sản phải triệt để tin tưởng Bác và Đảng, chịu khó chịu khổ để lập chiến công.
Lập công ta dâng lên Bác
Chúng ta là con của Người
Luôn luôn lúc nào cũng nhớ
Trung thành với Đảng với dân

Về chỉnh cán, Kỳ Bá vừa bổ sung vào Ủy ban nhân dân Tường An một cán bộ bí thư. Bí thư xã rất quan trọng. Vì họ nắm gọn quyền hành, đi đúng đường đi, nước bước của trung ương, có Bác và Đảng bên cạnh. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thi hành bất cứ chính sách nào cũng phải có sự đồng ý của bí thư. Thường thường, bí thư bao quát mọi vấn đề. Bởi bí thư đã được kết nạp vào Đảng, làm việc gì nhất nhất phải theo Đảng. Bí thư xã trung kiên với Đảng. Đảng tin yêu bí thư xã nhất. Nắm bí thư xã mới kiện toàn trung ương một cách dễ dàng.
Từ khi Đảng ra đời, Bác đã nghĩ ngay việc cấy bí thư xuống tận Ủy ban nhân dân xã. Mỗi bí thư xã là một đôi mắt của Bác. Chính ủy Kỳ Bá đã góp một phần công lao dâng lên Bác. Anh còn muốn lập công dài dài, đều đều. Để đền công ơn giáo dục của Bác và Đảng đã biến anh thành người cách mạng vô sản chuyên chính.
Hôm nay, Kỳ Bá hoan hỉ ra mặt. Các chính ủy tiểu đội báo cáo thành tích của mình tại Tường An, Đồng Đức, Đại Đồng, nơi họ phụ trách tìm hiểu các vấn đề sinh hoạt của nhân dân. Chính ủy quân đội mang trọng trách rất hệ trọng trong thời chiến. Họ là ủy viên chính trị của cả quân đội lẫn nhân dân.
Miền Bắc, các làng xã nhiều lắm. Như Thái Bình có mười hai phủ huyện. Bên đây sông Trà Lý là Thư Trì, Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải. Bên kia sông Trà Lý là Hưng Nhân, Tiên Hưng, Thái Ninh, Đông Hà, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Thụy Anh, Duyên Hà. Mỗi huyện, mấy chục làng xã. Xã đông, bí thư xã đông. Và phải kiểm soát chặt chẽ. Chính ủy phục vụ Bác và Đảng rất đắc lực. Họ cũng làm những việc của bí thư làm. Bí mật. Bí thư không thể biết. Đảng muốn quân đội nắm hết các cơ cấu. Để ngăn ngừa phản bội.
- Báo cáo đồng chí chính ủy trung đội, tôi Hai Nhỏ, chính ủy tiểu đội 3, trung đội 23, xin báo cáo lên đồng chí những vấn đề đã xảy ra ở Đại Đồng.
- Rõ.
- Về nhân dân, không thấy bất mãn chuyển mình từ ngày bộ đội về làng. Về phụ nữ, nhi đồng đều tích cực tham gia công tác cách mạng. Về thanh niên nông dân, đã tuyển 17 người vào hàng ngũ quân đội, 3 người xung phong. Về Ủy ban nhân dân, rất sáng suốt điều hành theo yêu cầu của Bác, Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, đồng chí bí thư vượt khó, vượt khổ để tiến lên đạt chỉ tiêu công tác. Về Ủy ban Hội Tề, đã thấy bất mãn trong họ, khi bộ đội can thiệp vào việc lên đồn của giặc Pháp thường xuyên của họ và về không chịu báo cáo từng chi tiết. Báo cáo hết.
Kỳ Bá nghiêm túc nói :
- Đồng chí chính ủy tiểu đội 3 báo cáo tường tận. Tôi, thay mặt Bác, Đảng và Nhà nước, biểu dương tinh thần của đồng chí. Những công tác của đồng chí ở Đại Đồng đều tốt. Riêng Ủy ban Hội Tề, đồng chí không nên tự ý can thiệp vào, khiến họ bất mãn, có thể đi đến phản động nguy hiểm, trong khi ta hoạt động trong lòng địch, rất cần thiết đến sự bảo trợ của họ. Đồng chí phải về ngay Đại Đồng, khiêm tốn hơn cả bao giờ, nói với Ủy ban Hội Tề này rằng, sự can thiệp của đồng chí chỉ là ý kiến cá nhân, không phải ý kiến tập thể. Ý kiến cá nhân thường sai lầm. Bác, Đảng và Nhà nước luôn luôn tin tưởng vào Ủy ban Hội Tề.
Hai Nhỏ đứng lên, nghiêm trang chào Kỳ Bá :
- Thưa đồng chí, rõ.
Đến lượt người thứ hai.
- Báo cáo đồng chí chính ủy trung đội, tôi Tư Lành, chính ủy tiểu đội 2. trung đội 23, xin báo cáo lên đồng chí những vãn đề đã xảy ra ở Đồng Đức.
- Rõ.
- Về nhân dân, rất phấn khởi từ lúc bộ đội về làng. Về phụ nữ, nhi đồng thi đua giữ vững tinh thần kiên quyết thù giặc Pháp. Về thanh niên nông dân, đã tuyển 27 người vào bộ đội, trong số đó, 2 ngưòi thuộc gia đình bần cố nông. Về Ủy ban nhân dân, điều hành tốt. Đồng chí bí thư đáng biểu dương. Về Ủy ban Hội Tề, làm đúng những chỉ thị của Bác, Đảng và Nhà nước đề ra. Về địa chủ, chúng nó cũng tốt, chân thành mời chúng tôi đến nhà chơi, ăn uống rượu chè. Chúng tôi khước từ ra mặt. Báo cáo hết.
Kỳ Bá lắc đầu :
- Đồng chí chính ủy tiểu đội 2 báo cáo đầy đủ. Tôi, thay mặt Bác, Đảng và Nhà nước, biểu dương tinh thần của đồng chí. Có điều, đồng chí sai lầm lớn, đi ra ngoài chính sách đấu tố địa chủ hôm nay. Hôm nay, giặc Pháp chưa diệt xong, chúng ta không đấu tố địa chủ được. Phải hòa hoãn, hòa hoãn và hoà hoãn. Lúc này, chúng ta chỉ nói vu vơ: Địa chủ gian ác là kẻ thù của nhân dân. Không địa chủ nào nhận mình gian ác hết. Đồng chí không khéo từ chối mời mọc của địa chủ. Cứ đem công tác bận bịu ra, mà nói thiếu thì giờ, không đáp ứng được lòng tốt của địa chủ. Nếu để chúng nó biết ta căm thù chúng nó, chúng nó sẽ đề phòng và có thể kết hợp với bọn phản động chống đối ta. Vậy đồng chí nên thận trọng.
Tư Lành đứng lên, nghiêm trang chào Kỳ Bá :
- Thưa đồng chí, rõ.
Đến lượt người thứ ba.
- Báo cáo đồng chí chính ủy trung đội, tôi Năm Vườn, chính ủy tiểu đội 1, trung đội 23, xin báo cáo lên đồng chí những vấn đề đã xảy ra ở Tường An.
- Rõ.
- Về nhân dân, tinh thần chống Pháp rất cao. Chưa hề có người làm nghề buôn bán nào về thị xã Thái Bình theo giặc. Bộ đội ta vững tâm ở Tường An. Về phụ nữ, nhi đồng, tinh thần phấn chấn, một lòng tham gia học tập. Về thanh niên nông dân, đã tuyển 19 người vào quân đội ta. Về Ủy ban nhân dân, từ ngày hoán chuyển bí thư mới, Ủy ban khởi sắc. Về Ủy ban Hội Tề, ta nói gì, nghe nấy, bảo gì, làm nấy. Một thắc mắc nêu ra: Nhi đồng, phụ nữ, thanh niên kêu ca bài hát mới nhiều danh từ khó và chữ ngoại quốc. Báo cáo hết.
Kỳ Bá mỉm cười :
- Đồng chí chính ủy tiểu đội 1 báo cáo tươm tất lắm. Tôi, thay mặt Bác, Đảng và Nhà nước, biểu dương tinh thần của đồng chí. Thắc mắc mà đồng chí nêu ra, sao không giải đáp cho nhân dân.
Năm Vườn thành khẩn :
- Thưa đồng chí, chính tôi cũng cần được giải đáp...
- Bài nào?
- Thưa, Bàn tay chúng ta.
- À, Kồng sô môn, Von ga, Đông...
- Đúng.
- Giải đáp Kông sô môn là Thanh niên đoàn Kông sô môn bên Liên xô. Von ga, Đông là tên hai dòng sông bên Liên xô.
- Rõ.
- Còn thắc mắc gì không?
- Còn.
- Nói đi!
- Thiếu niên thắc mắc: Trung hoa, Trung quốc giống Tầu phù hết. Ngày xưa, ta chửi Tầu, sao ngày nay ta hoan hô Tầu, noi gương Tầu?
- Ngày xưa, Tầu Tưởng Giới Thạch đại phản động; ngày nay, Trung quốc vĩ đại Mao Trạch Đông, người cách mạng, bạn thân của chúng ta.
- Rõ.
- Thắc mắc gì nữa không?
- Hết.
Kỳ Bá ra lệnh :
- Chúng ta hát bài ca Đảng lấy khí thế để bế mạc buổi báo cáo. Nào, Đảng lao động Việt Nam, một, hai, ba...
Đảng lao động Việt Nam
Đảng của chúng ta
Vì giai cấp cần lao
Đứng lên giải phóng nước nhà
Đảng chúng ta là mặt trời
Hồ Chí Minh là mặt trời
Vạch lối cho muôn lớp người vùng lên
Đảng lao động Việt Nam
Đảng là cứu tinh...

Bài ca Đảng lao động chấm dứt. Kỳ Bá hỏi :
- Các đồng chí nắm vững tình hình tân binh chưa?
- Nắm vững rồi.
- Tiểu đội 1?
- 19 người.
- Tiểu đội 2?
- 27 người.
- Tiểu đội 3?
- 20 người.
Kỳ Bá nói lời cuối cùng :
- Đêm mai, các đồng chí chuyển quân tới miễu Vang làng Từơng An. Tôi sẽ đến cùng trung đội trưởng, trung đội phó và các cấp chỉ huy tiểu đội. Giải tán.

88
Đêm ngày rằm, trăng sáng tỏ. Trời không mưa. Hơi lành lạnh. Sương sớm đã làm ướt lá cành. Tự nhiên, Khoa muốn rủ Đường đi chơi đêm nay. Chơi hết cả đêm cũng được. Khoa nhớ người bạn gái dễ thương. Nó đã dắt tay Liên, bước sóng đôi lên miễu Vang vào những đêm trăng sao đầy bầu trời. Nhìn xuống mặt nước hồ Mơ, trăng sao có vẻ gần gũi. Khoa nhớ nhiều lần Liên đã kể chuyện Hà Nội cho nó nghe, khi hai đứa ngồi trên cầu Chờ, trong quán Nghỉ hay bên hồ Mơ. Liên hay nói với Khoa về hồ Hoàn Kiếm thần thoại, với những con rùa to tướng, về hồ Tây lịch sử mênh mông. Khoa thú nhất Hà Nội ba mươi sáu phố phường, với năm cửa Ô thu hút. Anh Vũ của Khoa cũng đã ở Hà Nội. Ở không lâu nên hãy còn mù tịt những lúc sảng khoái bốc lên chín tầng mây. Liên bắt Khoa kể chuyện Thái Bình. Ôi, Thái Bình có gì, ngoài cây cầu Bo ôm đầy kỷ niệm. Thái Bình chỉ khác các thành phố, các tỉnh lỵ miền Bắc nhờ hai hàng hồi trồng dọc bên đường, dọc theo phố chính nằm ngay trên quốc lộ số 10. Cây hồi lạ lắm. Nó thấp nhỏ như dân thị xã. Trái to bằng nửa trái soan. Mùa xuân, hồi trổ hoa, những cụm hoa trắng mùi thơm hăng hắc. Mùa hạ phong nhụy và kết trái. Trái hồi không ăn được, chẳng dùng làm gì. Mùa thu hồi chín, rụng xuống hè phố ngập đầy, vô tích sự. Mà dân thị xã lại thích cái mùi thơm hăng hắc của nó. Không bao giờ có hàng cây hồi nữa, hồi tiêu thổ kháng chiến, người ta đã chặt phá hàng hồi. Thái Bình cũng là thị xã nhà cửa bị đập tan nát, không nhường cho giặc Pháp. Với Khoa, có lẽ Thái Bình đẹp nhất, vì đội bóng tròn của anh Vũ, anh Côn, anh Luyến, anh Vọng...
Nhất định rủ thằng Đường lên miễu Vang chơi, Khoa nghĩ thế. Và cơm chiều vừa xong, trăng vừa mọc, Khoa đã sang nhà Đường kéo nó đi.
- Từ hôm con Liên về Hà Nội, mày đã thề không lên miễu Vang nữa cơ mà?
- Chạy giặc, tao vẫn lên miễu Vang thì sao?
- Chạy giặc khác với đi chơi. Tao đoán...
- Đoán gì?
- Mày nhớ con Liên!
- Ừ, tao nhớ con Liên.
- Không có con Liên mày mới rủ tao.
- Mày đâu biết kể chuyện Hà Nội mà rủ mày!
- Con Liên nói chuyện Hà nội ở miễu Vang à?
- Ừ.
- Ở hồ Mơ à?
- Ừ.
- Ở quan Nghỉ à?
- Ừ.
- Ở bến Đợi à?
- Không, tao chưa dẫn nó ra bến Đợi. Sao mày biết rõ thế?
- Tao nói bừa, chẳng ngờ lại đúng.
Con đường mà hai đứa đang đi, hai bên là ruộng xanh mầu lúa sắp vào mẩy. Vắng vẻ. Hai đứa phải chạy một quãng mới tới miễu Vang. Sao lạnh lùng thế, miễu Vang! Những đêm rằm, năm năm về trước, đông người đến cầu phụng, lễ bái, xin xâm chặt cả miễu. Nay giặc giã hoành hành, người ta lười biếng đi lễ. Miễu Vang nhỏ thôi, nó xây dựng trên nghìn mẫu đất rộng thênh thang và cây cối um tùm, nên cái vẻ thiêng liêng của nó không ai dám chối bỏ. Ông từ và gia đình trụ trì cái miễu này. Bây giờ, tuy ông từ vẫn còn ngụ tại miễu, song đèn nhang không có, tối om. Khoa và Đường thấy rờn rợn. Hai đứa chẳng dám vào miễu Vang.
- Này Đường, mình xuống hồ Mơ thôi.
- Sợ cái gì?
- Tao sợ rắn rết trong bụi cây ra vồ chúng mình.
- Mày cứ nói sợ ma đi!
- Sợ ma mà dám hát ở bãi tha ma?
- Ma tha ma không đáng sợ bằng ma miễu Vang.
- Tao sợ sự hoang vắng.
- Thế tao mới nghe lọt lỗ tai.
- Mình nhặt ít ngói vỡ.
- Ừa.
Hai đứa đang đứng sát bên hồ Mơ. Nơi đây ngập ánh trăng sao. Cảnh tượng đượm mùi thơ mộng, khác hẳn sự rét mướt luồn qua lá cây ở miễu Vang làm người ta run sợ. Khoa muốn múc một ít ánh trăng đem lên chơi. Trăng sao in mặt nước hồ Mơ, lãng mạn không cùng. Khoa ném viên ngói vỡ giữa hồ. Nước khua động. Trăng lung linh. Giá lúc này có con Liên, Khoa dám nhảy xuống hồ vớt trăng sao tặng con bé.
- Khoa ơi!
- Gì?
- Tao cho mày mấy miếng trăng sao nhảy nhót trên mặt hồ, nhá!
- Mày đừng nói phét.
- Tao nói thật đấy.
- Thật sao?
- Mày vất một viên gạch vỡ xuống hồ, chỉ chừng ngụm nước xôn xao. Tao ném một viên, cả dòng nước cựa mình.
Đường ném thia lia. Viên ngói nhảy dài trên mặt hồ, cứ mỗi bước nhảy của ngói là ánh trăng rướn mình, tung lên thật dài. Khoa phục Đường quá. Nó mà biết ném thia lia trước đây, đã biểu diễn cho con Liên mê tít thò lò.
- Đường ơi!
- Cái gì?
- Dạy tao ném thia lia đi.
- Ừa.
Hai đứa nhặt cả đống ngói vụn, và say sưa ném thia lia, quên hết mọi chuyện. Bất ngờ, tiếng hát của đoàn người vang lên ở miễu Vang.
Qua miền Tây Bắc
ta hát mừng hò reo
Suối sâu
đèo cao
Bao khó khăn vượt qua
Bộ đội ta
Vâng mệnh Cha già
Về đây giải phóng quê nhà
Chiến thắng
miền Tây Bắc
Liên hoan
một đêm vui
Dưới ách loài giặc tàn ác
Quân với dân một lòng
Không phân biệt xuôi ngược
Cùng đồng tâm tiêu hết quân thù

- Ai hát đấy, Đường?
- Bộ đội tò te!
- Sao lại tò te?
- Bộ đội mới tuyển ấy mà. Bộ đội mới... mới mà lỵ!
- Sao lại mới mới?
- Mày... lạc hậu rồi.
- Ừ, tao lạc hậu rồi!
- Mày có biết tại sao mày lạc hậu không?
- Không.
- Từ hồi Pháp nó về làng ta, hết chạy giặc, mày lại nằm nhà, chả hiểu tình hình nó là củ cải gì cả. Khác với tao, tao bò khắp chỗ lê la, nên tao tiến bộ cao. Đấy, bộ đội mới về làng, đuổi bộ đội cũ lạc hậu đi, mày cũng không biết.
- Ừ, tao tiến bộ thấp!
- Bộ đội mới mới là bộ đội mới vào... bộ đội, thay thế bộ đội cũ, chết hết rồi. Bộ đội mới tuyển mộ bộ đội mới mới trong giai cấp nông dân. Anh họ tao mới vào bộ đội mới mới. Chắc bộ đội mới mới đang tập bò, tập đi, tập bắn bằng súng gỗ! Mót khai mót. Mốt hai mốt... Không thèm ném thia lia nữa, đi lên xem bộ đội mới mới hát lấy khí thế... mót khoai.
Hai đứa lại lên miễu Vang, đứng xa, nhòm toán người đang ngồi bệt trên đất. Chỗ này không có cây nên ánh sáng trăng chiếu rõ mồn một. Pháp ở đồn Ô Mễ ít hành quân ban đêm. Tường An đã vào tề và cách Ô Mễ hơn năm cây số, hát to thả cửa, Pháp đâu nghe được mà sợ. Pháp hay bắn loạn cả lên khi đi càn quét. Chúng nó chẳng chịu bí mật hốt nguyên ổ Việt Minh về. Nếu Pháp có hành quân làng Tường An, tới đầu làng Thọ Bi, đã tắc bọp, tắc bọp, bộ đội mới và tân binh đã chạy trốn mất đằng nào. Chính ủy đã nghiên cứu chán chê mới cho bộ đội tò te tập bắn súng giả ở miễu Vang.
- Các đồng chí hát bài nữa lấy khí thế, chờ đồng chí chính ủy trung đội tới.
Khoa vỗ vai Đường :
- Đêm nay tao gặp chính ủy Kỳ Bá rồi.
Đường gật đầu :
- Chắc phải gặp.
Bộ đội tân binh đã cất giọng ca.
... Nhớ một chiều
giặc lên Tây Bắc
Nó bòn từng giành khoai bơ thóc
Nó bắt vợ
chặt chân con
Anh căm hờn bền gan du kích
Dao anh
sạch lời thề
Bom anh
hẹn ngày về
Đèo Cao Pha một đêm bừng đuốc
cùng anh giải phóng
cùng chém đầu Tây
Thắng giặc rồi
mài thêm dao quắm
Nó còn về đây nghe súng
Tiếng Nghĩa Lộ
mồ chôn Tây
Chôn luôn hồn giặc mơ xứ Thái...

- Bao giờ chính ủy Kỳ Bá mới tới?
- Tao không biết.
- Mày có tin Kỳ Bá tới không?
- Tao tin. Chỉ sợ chính ủy Kỳ Bá thay đổi đột xuất!
- Là cái gì?
- Muốn hết lạc hậu, bất thình lình mày phải nói là đột xuất.
- Kỳ Bá thay đồi đột xuất cái gì?
- Ấy, chính ủy đến kia kìa...
Khoa nhìn theo tay Đường chỉ. Chính ủy Kỳ Bá đến thật. Ký Bá mặc quần áo nâu, đầu đội mũ ny lông bọc kín, không rõ mầu đen hay tím, chân đi giép Bình-Trị-Thiên. Trên vai, Kỳ Bá đeo chiếc xặc cột. Rõ là chính ủy. Bộ đội mới mới đứng hết cả lên. Kỳ Bá đã xuất hiện trước mắt mọi người. Trung đội phó trung đội 23 hô dõng dạc :
- Nghiêm!
Chỉnh đốn hàng ngũ xong, trung đội phó quay người về phía Kỳ Bá :
- Báo cáo đồng chí chính ủy trung đội, tân binh gồm 66 người, có mặt đủ. Chờ lệnh chính ủy.
Chính ủy Kỳ Bá buông gọn hai tiếng :
- Được rồi.
Trung đội phó :
- Rõ.
Ký Bá ban huấn lệnh :
- Các đồng chí thân thương,
Nhờ ơn Bác, Đảng và Nhà nước, tôi mới có dịp gặp gỡ các đồng chí. Các đồng chí gia nhập bộ đội trong hoàn cảnh hôm nay, phải đấu tranh với cá nhân thật gay go để phục vụ giai cấp công nông và tổ quốc kính mến...
Khoa không nghe Kỳ Bá nói. Nó mở căng mắt nhìn Kỳ Bá. Ánh trăng soi mỗi lúc một rõ. Nó vừa nghi ngờ một điều gì. Kéo áo Đường, Khoa hỏi :
- Trong huyện Vũ Tiên có mấy làng Tường An hở, mày?
Đường ngạc nhiên :
- Mày hỏi, bố tao cũng không trả lời được.
Khoa nóng ruột :
- Trong huyện Vũ Tiên có mấy làng Tường An?
Đường đành chiều bạn :
- Theo ý tao, có một Tường An thôi.
- Trong tỉnh có mấy làng Tường An?
- Một.
- Trong huyện Vũ Tiên có mấy làng Kỳ Bá?
- Một. Mà sao tên làng Kỳ Bá lại trùng với chính ủy Kỳ Bá?
Khoa im lặng. Chính ủy đã đi sang đoạn :
- ... Các đồng chí phải ý thức rằng, kẻ thù chính của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân là bọn địa chủ gian ác...
Khoa thì thầm :
- Đúng anh ấy rồi. Mình khó quên mặt anh ấy, dù đã năm năm. Làng Kỳ Bá sát thị xã Thái Bình, cống Kỳ Bá mình đã tới bơi lội. Kỳ Bá, kỷ niệm êm đềm của anh Vũ, anh Côn, anh Luyến... Anh ấy chết rồi, mà chết đói tháng ba năm Ất Dậu. Sao anh ấy còn sống?
Khoa vẫn không rời mắt nhìn Kỳ Bá. Nó chỉ nhìn Kỳ Bá. Hình như Kỳ Bá thôi miên Khoa. Tiếng vỗ tay đáp lễ Kỳ Bá. Khoa không thèm biết.
- Này Đường, anh Kỳ Bá có về một mình không?
- Đến một mình thì về một mình
- Lát nữa anh về, mình theo anh ấy.
- Làm cái gì?
Khoa không trả lời. Bộ đội tân binh lại hát một bài lấy khí thế trước khi bế mạc.
Ánh bình minh trong sáng
Bừng bao tia nắng
Cha về đất nước tươi vui
Dắt đàn con yêu dấu
Vùng lên tranh đấu
Bóng Cha trùm lớp dân nghèo...

Chính ủy trung đội chúc mọi người ở lại học tập tốt và huấn luyện tốt và lãnh đạo tốt. Rồi chính ủy về Tường An. Khoa và Đường theo sau thật xa. Kỳ Bá đi nhanh lắm. Khoa và Đường phải chạy chầm chậm. Đền gần quán Nghỉ, tại đầu làng, Khoa mới thu hết can đảm gọi thật lớn :
- Anh Vọng, anh Vọng...
Kỳ Bá dừng bước, ngoái cổ lại.
- Anh Vọng cống Kỳ Bá ơi!
Chờ Khoa và Đường đến, Kỳ Bá hỏi :
- Em nào biết tên anh đấy?
Khoa sướng quá run lên :
- Em... Khoa đây... Em anh Vũ đây... Anh a văng xăng Hội Kỳ Bá đá bóng tuyệt cú mèo...
Kỳ Bá nắm tay Khoa :
- Anh nhớ rồi. Em lớn quá, anh nhận không ra kịp. Em là con ông Hùng, em anh Vũ. Em ở đâu?
Khoa đáp hổn hển :
- Ồ Tường An, làng này.
Kỳ Bá cười, rất tươi :
- Trời ơi, anh không hề biết.
Kỳ Bá hất đầu :
- Em này là ai hở, Khoa?
Khoa nói :
- Bạn em, Đường.
Kỳ Bá nói :
- Này nhé, bây giờ khuya rồi và lạnh quá. Rất tiếc không được nói chuyện với Khoa lâu. Anh hẹn hai em chiều mai, ở nhà cô Thi. Biết nhà cô Thi không?
Đường nhanh nhẩu :
- Em biết. Vào nhà chị Thi phải leo qua cầu khỉ bắc qua con ngòi.
Kỳ Bá tủm tỉm :
- Đúng rồi. Chiều mai, anh đợi hai em. Chia tay nhé!
Kỳ Bá rảo bước. Khoa mừng như cờ mở hội, trông theo. Đến khi Ký Bá khuất sau bụi tre, Khoa mới kéo Đường trở về. Vừa đi, nó vừa tưởng tượng những cú ngả bàn đèn của thằng Vọng...

89
Khoa tới nhà, trời đã khuya. Gà gáy canh hai rồi. Cha mẹ ngủ say, Khoa không dám đánh thức mà báo tin vui. Tin vui thật. Vì Vọng còn sống, đi bộ đội vẫn sống. Thì Vũ còn sống và vẫn sống. Từ ngày Pháp về Tường An, gia đình bặt tin Vũ. Chỉ một mình Vũ là thần tượng bóng tròn của Khoa. Trường Monguillot còn có Luyến mít sơ lanh, Côn đánh tết hết bắt, và sau này, Vọng ngả bàn đèn. Thần tượng cả đấy. Khoa yêu nhất Vũ trên đời nên thần tượng anh nó cứ hay nhất trên đời.
Những thần tượng đã xa Khoa cả. Vì chiến tranh. Chiến tranh tạo chia ly. Chiến tranh cũng còn làm ra đoàn tụ trong khoảng khắc. Như Khoa gặp gỡ Vọng. Ngày mai hay ngày mốt, Vọng lại lên đường. Chắc chắn thế. Bởi chẳng cái gì vĩnh cửu ở thời chiến. Chẳng cái gì hứa hẹn ở thời chiến. Có lẽ, cái vĩnh cửu là kỷ niệm, cái hứa hẹn là tương lai. Khoa nghĩ đến kỷ niệm, nghĩ miên man về kỷ niệm. Ai dâng hiến ta kỷ niệm, người ấy vĩnh cửu. Vọng là kỷ niệm của Vũ. đã vào đội bóng của Vũ, đã đẩy Vũ lên cao vút, đã đưa An Tập xuống bùn đen. Kia kìa, An Tập đang dẫn bóng lên cao...
Thằng Sơn dập dờn trái bóng trước mặt Vũ. Nó lừa, khẩy nhẹ qua hai chân Vũ, rồi một mình nó tiến sâu xuống vùng đất cấm. Thằng Sơn chuyền cho thằng Minh. Thằng Minh chuyền cho thằng Cử. Dũng sĩ giữ thành cho Monguillot bị bọn cổ võ An Tập làm cho xuống tinh thần đoán đường bóng sai. Thủ môn Luyến, nhựa mít sơ lanh của hội nhà, không nao núng. Thằng Cử nhằm khe hở của Monguillot, sút một trái như búa bổ. Luyến mít sơ lanh nhảy lên, từ góc phải qua góc trái, bắt gọn trong tay và ngồi xuống sân cỏ lăn ba vòng.
- Hoan hô Luyến mít sơ lanh!
- Hoan hô nhựa và săm ô tô!
- Đến tết, An Tập mới phá màng trinh của Monguillot!
Bọn cổ võ hội nhà hò hét long cả phổi. Luyến nhằm chỗ Vịnh đá bổng bóng lên. Vịnh được bóng, chuyền cho Côn. Vịnh đá nhẹ, chưa tới chỗ Côn, khiến thằng Phát được tặng trái bóng ăn không một cách dễ dàng. Nó dẫn bóng xuống. Hải ra chèn. Thằng Phát chuyền bóng cho thằng Sơn. Thằng Sơn trả lại thằng Phát, thọc mạnh xuống góc phải. Thằng Phát dẫn sâu thêm, đưa bóng vào giữa cho thằng Cử. Con nhà này lại sút sệt, trái bóng nặng chín tấn. Luyến phải bông nhông chộp bóng.
- Hoan hô Luyến mít sơ lanh!
- An Tập hết làm ăn rồi!
- Còn tí thớ nào, Luyến mít sơ lanh cho mất tí thớ ấy!
Hội nhà vỗ tay xưng vù. Vẫn vỗ. Đội An Tập tưởng bở, lên cao cả lũ. Luyến lợi dụng sự khinh địch của đối phương, đá bổng bóng lên.. Vịnh chạy nhanh theo bóng. Hậu vệ An Tập đuổi theo. Vịnh dẫn bóng một mình, vào đất địch trống. Có mỗi thằng Mai nhựa đường muốn chạy ra, lại muốn đứng yên xoay sở. Bọn cổ võ hội nhà ngỡ chắc ăn rồi, mỡ để miệng mèo, khung thành An Tập tự nhiên to bằng cửa biển Trà Lý, chỉ đợi Vịnh tống bóng vào. Thằng Quýnh, thằng Tâm đuổi Vịnh cách xa hai bước. Đến chỗ sút pê nan ti, Vịnh sửa bóng và sút. Mai nhựa đường bông nhông bắt. Khốn nỗi, nhựa đường dính sân cỏ, và trái bóng vô duyên chạy nhởn nhơ ngoài cột gôn! Bọn cổ võ An Tập nói xỏ xiên bọn cổ võ Monguillot.
- Thằng Vịnh cừ thật!
- Nó cố tình đá ra ngoài đấy mà!
- Cứ sút thế, sẽ thành vô địch Monguillot!
Bọn cổ võ Monguillot tức điên lên, nhè Vịnh mà dũa.
- Đuổi thằng Vịnh ra!
- Tống cổ nó ra rìa ngay!
- Sút bóng như củ cải ấy!
- Như củ thìu biu!
Vịnh không bị đuổi ra ngoài. Nó tiếp tục biểu diễn nghệ thuật nhồi bóng. Chỉ bất tài thôi. Vịnh thầm thì trên sân cỏ: Có tài ngả bàn đèn như thằng Vũ, đánh cú tết hết bắt như thằng Côn, mà bóng không tới chân, cũng đành chịu. Đá bóng có số cả đấy!
Lần này, nó cướp bóng trong chân hậu vệ Quýnh, không bị thằng này cộp cho ngã. Ấy tại Quýnh ỷ tài, cách khung thành chẳng mấy xa xôi, lại đợi Vịnh chạy hết tốc lực tới toan cướp bóng, bấy giờ còn mầu mè riêu cua, vời vẽ những bước lừa bóng. Bị mất. Thằng Quýnh đuổi theo. Nó bị vấp ngã lăn kềnh trên sân cỏ. Chó ngáp phải ruồi, Vịnh ta sẽ ăn cỗ một mình một chiếu. Vịnh vừa dẫn bóng vừa nghĩ: Tao đem vinh quang cho trường Monguillot. Những thằng đòi đuổi tao ra rìa sẽ xấu hổ. Không gì xấu hổ cho bằng những kẻ khinh ta, chửi bới ta buổi sáng, lại đón rước ta, ca ngợi ta buổi chiều. Vịnh nhìn Mai nhựa đường mỉm cười. Nhớ chụp bóng phải có bóng, chụp bóng mà tay không sờ bóng thì chuế người đó, con ạ! Trái bóng đúng điểm pê nan ti, Vịnh toan sút làm bàn. Hỡi ơi, nó nằm trên cỏ. Nó bị chuột rút bất thình lình. Thằng Mai nhựa đường thong thả ra lượm bóng.
Bọn cổ võ Monguillot tuyệt vọng trong tiếng cười chế riễu của bọn cổ võ An Tập. Người ta khiêng Vịnh ra. Và người ta cho thằng cầu thủ mới vào. Nó là ai? Thằng Vọng ghẻ tầu đấy.
- Hoan hô Vọng!
- Có Vọng vào, An Tập sẽ nát thây!
- Bravo, bravo...
Khoa tù từ mở mắt. Nó ngạc nhiên thấy cha mẹ cùng đứng trong phòng của nó.
- Đêm qua, con về muộn lắm phải không?
Cha Khoa hỏi.
- Con đi chơi đâu?
Mẹ Khoa hỏi.
- Con lên hồ Mơ?
Khoa đáp.
- Hèn chi con chả nằm mộng. Bravo ai đấy?
Cha nó cười. Khoa đã ngồi dậy.
- Anh Vọng! Bố mẹ ơi, anh Vọng còn sống. Anh ấy làm chính ủy trung đội, hiện đang đóng ở làng ta.
Mẹ Khoa tươi nét mặt :
- Thế thì thằng Vũ nhà ta không việc gì đâu.
Cha Khoa mắng yêu :
- Con nằm mơ anh Vọng tự hai giờ khuya, tới sáng bạch bành banh hãy còn mơ. Anh Vọng ra sao?
- Anh ấy đã hết ghẻ tầu!
- Chính ủy giỏi chính trị lắm, hả?
- Anh ấy nói chuyện chính trị thao thao...
- Anh Vọng có muốn gặp con không?
- Anh ấy hẹn chiều nay con đến thăm anh, tâm sự nhiều.
- Ở đâu?
- Nhà chị Thi.
- À, chị Thi bán bánh cuốn. Con gặp anh Vọng, đừng nên nhắc chuyện ghẻ tầu, dĩ vãng nghèo nàn, đau khổ của anh ấy. Bố sợ anh ấy buồn.
- Con chỉ nói chuyện anh Vọng đá bóng ba chê, khiến anh Vũ phải bốc về trường
- Ừ. Hôm qua, bố mới cất vó ao nhà bắt vài con chép để mốt giỗ ông. Con sẽ mang hai con biếu anh Vọng, bảo anh ấy đến nhà mình chơi.
- Vâng.
Mẹ Khoa dặn dò :
- Con không được làm anh Vọng buồn phiền. Nhớ đấy.
Và thêm :
- Từ nay đi đâu, con phải cho bố mẹ biết. Và về sơm sớm, kẻo em con lo ngại.
Khoa nhỏ nhẹ đáp :
- Vâng ạ!
Cha mẹ ra khỏi phòng. Khoa cười thèn thẹn. Nó không ngờ ngủ đến nằm mơ. Có bao giờ Khoa nằm mơ đâu? Nằm mơ mới gặp Vọng, tưởng Vọng chết rồi, Khoa mừng rỡ vô cùng. Nỗi mừng của Khoa đã tạo ra giấc mơ. Khoa đã mơ thấy Vọng lừng lững trên sân cỏ ấu thời. Nó sung sướng quá, vỗ tay bravo, bravo to đến nỗi cha mẹ nó tưởng đi chơi về khuya nó đau ốm mất rồi...

90
Nếu con ngòi là biển bao vây chung quanh, nhà Thi sẽ là một hòn đảo tuyệt vời. Tuyệt vời vì Vọng, thần tượng ngả bàn đèn bóng tròn của tuổi ngọc Thái Bình, đang ngự trong đó. Vào nhà Thi phải qua chiếc cầu khỉ bắc ngang con ngòi. Khoa mang hai chú cá chép máng toòng teng bằng sợi lạt tre, bước trên hai khúc cây bập bềnh của cầu khỉ. Một tay cầm cá, một tay vịn tay cầu, Khoa thong thả bước từng bước. Đường đã sang bên kia đợi Khoa. Cầu khỉ chắc khỉ đi nhanh nhẹn lắm. Khoa không phải khỉ nên đi thận trọng. Rồi cũng tới nơi.
Xế trưa, Đường đã vội vàng đến nhà Khoa hỏi chuyện chính ủy Kỳ Bá. Nó nóng ruột muốn biết ngay tại sao Khoa lại quen biết Kỳ Bá. Đường đã khôi hài chính ủy mà Khoa thì thân với chính ủy nên rắc tối to. Đường có ý tránh gặp Kỳ Bá. Nhưng những hôm chưa thấy Kỳ Bá, Khoa chẳng chê Kỳ Bá là gì! Khoa không nỡ hại Đường đâu. Nghĩ vậy, nhưng Đường vẫn ham biết Kỳ Bá, trước khi gặp Kỳ Bá.
- Khoa ơi, mày thân với anh chính ủy bao giờ?
- Tao không thân với anh ấy, anh Vũ tao mới chơi thân với anh ấy. Mà anh Vũ cũng không chơi thân với chính ủy Kỳ Bá, chỉ chơi thân với anh Vọng thôi.
- Mày quen anh Kỳ Bá vậy.
- Tao không quen Kỳ Bá. Tao mê anh Vọng.
- Thế Kỳ Bá là cái gì?
- Kỳ Bá là tên làng của anh Vọng.
- À, ra thế đấy.
- Hiểu rồi chứ?
- Tại sao mày mê anh Vọng?
- Vì anh Vọng ghẻ tầu và đá bóng hay nhất nước.
- Tao hỏi một câu nữa, mày nói thật, nhé!
- Tao có nói dối mày bao giờ đâu?
- Mày có mê chính ủy không?
- Không.
- Chính ủy Vọng thì sao?
- Tao mê anh Vọng, không thèm mê chính ủy.
- Hề hề, chính ủy là cái bề hê gì! Tao vững dạ rồi.
Lũy tre già đánh đai nhà Thi nên kín đáo lắm. Cha mẹ chị làm ruộng, còn chị bán bánh cuốn ở đầu làng, những hôm nghỉ việc đồng áng. Chị của Thi lấy chồng bên Đồng Đức. Hai đứa em, một trai, một gái, còn nhỏ, ở nhà săn sóc những công việc lặt vặt.
Bộ đội đã rời Tường An lâu rồi. Bộ đội thường đến năm bữa nửa tháng và chia tay dân làng vội vã, để sang Nam Định hay Hải Phòng giết giặc. Thái Bình còn yên ổn, bộ đội dùng làm chỗ dưỡng quân.
Nay bộ đội lại về Tường An, khi giặc Pháp gần kề. Và bộ đội mới chê bộ đội cũ lạc hậu! Khoa sẽ không đụng chạm tới Kỳ Bá. Mà chỉ thăm Vọng và nói chuyện về Vọng, làm theo ý muốn của cha mẹ Khoa.
Đi một khúc đường mòn ngắn, Khoa và Đường tới căn nhà ba gian hai chái, tường đất, mái rạ của cha mẹ Thi. Chọn một gia đình để cùng ăn, cùng ở, cùng làm, chính ủy Ký Bá, chắc chắn, đã nghiên cứu kỹ lưỡng. Gia đình Thi thuộc thành phần bần nông trong giai cấp công nông. Không thể để chính ủy ở nhà bần cố nông được. Vì bần cố nông cơm đâu mà cùng ăn, nhà đâu mà cùng ở, việc đâu mà cùng làm. Cũng không để chính ủy sống với phú nông hay địa chủ gian ác. Thành phần bần nông lý tưởng nhất cho chính ủy và bộ đội. Cho cả cán bộ nữa.
Kỳ Bá đã nhận ra hai đứa bé đêm qua. Anh bước ra ngoài sân, vui vẻ :
- Em Khoa và em Đường đúng hẹn quá nhỉ?
Đường nhanh miệng :
- Chúng em không làm gì, rảnh rỗi lắm.
Khoa nói :
- Em đã thưa chuyện gặp anh với bố mẹ em. Bố mẹ em vui lắm, hỏi em anh Vọng ra sao. Em đáp anh Vọng khỏe. Thưa anh, bố em bảo em biếu anh hai con cá chép, cất vó ao nhà. Anh nhận cho bố mẹ em vui lòng.
Kỳ Bá tươi tỉnh :
- Cám ơn bố mẹ em. Em giữ giùm anh!
Khoa tưởng Kỳ Bá nói thật, thản nhiên xách hai con cá trong tay. Kỳ Bá dẫn Khoa và Đường vào nhà, mời hai thằng bé ngồi trên ngưỡng cửa. Hôm nay, Kỳ Bá vẫn mặc quần áo nâu, đi đôi dép Bình-Trị-Thiên. Tuy ở trong nhà, Kỳ Bá cứ thích đội mũ và đeo xặc cột. Chắc lúc nào và ở đâu, Kỳ Bá cũng chuẩn bị mang hết vật phòng thân chạy giặc. Khoa nhìn kỹ hơn đêm qua. Cái mũ của Ký Bá được bọc bằng ny lông mầu đen. Cả chiếc xặc cột vải cũng thế.
- Nhà không có bàn ghế, hai em ngồi tạm trên ngưỡng cửa. Anh ngồi chung với hai em.
Kỳ Bá cười xòa :
- Không có nước trà mời hai em đâu, nhé!
Khoa thành thật :
- Em đi tập kịch, ngồi trên ngưỡng cửa và nằm trên nền nhà đất không chiếu có sao đâu, anh.
Đường tiếp Khoa :
- Nhóc con như chúng em uống nước trà không thú vị, anh ạ!
Kỳ Bá hỏi Đường :
- Bố em làm gì?
Đường đáp :
- Nông dân.
- Khá chứ?
- Đủ ăn anh ạ!
- Có đóng góp đều đều cho cách mạng không?
- Có.
- Thí dụ?
- Thóc nuôi quân năm nào nhà em cũng đóng trước nhất. Bố em đi dân công hai lần rồi.
- Tốt, tốt.
Kỳ Bá vỗ vai Đường thân mật :
- Em Đường ra sân chơi. Anh muốn nói riêng với Khoa chuyện gia đình.
Đường đứng dậy, bước ra khỏi nhà. Kỳ Bá ngồi sát Khoa, vuốt tóc nó :
- Nào, nói về anh Vũ, anh Côn, anh Luyến, anh Vọng đi, Khoa!
Khoa đặt hai con cá xuống nền nhà :
- Em nói về anh Vọng trước cơ?
- Không thích Kỳ Bá à?
- Không.
- Tại sao?
- Vì anh Vọng mới là thần tượng của em, của học trò trường Monguillot, của bọn nhóc thị xã Thái Bình. Anh, a văng xăng cừ khôi của đội Kỳ Bá, chiếm giải Cam tích tán với những cú ngả bàn đèn tuyệt cú mèo. Anh, cầu thủ chiến của đội bóng lớp nhì 1 của anh Vũ, cho An Tập ba cái hột gà về luộc chấm củ cải. Anh đã bắt tay em, và những nhãi ranh Monguillot hò hét, vỗ tay xưng cả cổ, chảy cả máu tay. Đời người chỉ có một lần như thế. Anh đã cho em một lần ấy, anh Vọng! Đi vào kỷ niệm đẹp rực rỡ ấu thời của em là Vọng tuyệt vời, là anh Vọng đang ngồi cạnh em, không bao giờ là Kỳ Bá.
Kỳ Bá chớp mắt :
- Là Vọng ghẻ tầu, là Vọng đói khổ!
Khoa muốn khóc :
- Vọng ghẻ tầu và đói khổ, hay bất cứ cái gì dính vào Vọng, đã thành kỷ niệm rồi, anh ạ!
Kỳ Bá đưa tay lên mặt, che giấu một cảm xúc thật người :
- Còn Kỳ Bá?
Khoa không ngờ nó nói hay đến thế. Cách mạng tháng Tám và các anh bộ đội tiểu tư sản đã dạy Khoa. Nó thấm vào hồn thằng nhóc con lúc nào không biết. Nó chờ dịp mà tuôn ra.
- Kỳ Bá là cách mạng. Cách mạng không cho em nhiều kỷ niệm. Kỷ niệm trên sân cỏ, giữa đội nhà đấu với đội khác, Kỳ Bá không cho em được, anh Vọng ơi!
- Em nói về thằng Vọng nữa đi...
- Cú bóng trồng cây chuối, cách mạng có dạy anh đá không? Cú bóng ngả bàn đèn, cách mạng có dạy anh đá không? Cú bóng xuyên chỉ qua kim, cách mạng có dạy anh đá không? Không, cách mạng không làm được việc ấy! Trời phú cho anh tài đá bóng, tự nhiên anh biết anh đá bóng cừ; tự nhiên anh hiểu anh đá bóng ba chê. Chẳng một ai huấn luyện nổi thiên tài, chẳng trường nào huấn luyện nổi thần tượng.
Khoa ngừng lại giây lát. Rồi không cần Kỳ Bá giục, nó tiếp tục :
- Anh có biết ai thương anh nhất trên đời này không?
- Ai?
- Anh Vũ em. Ai thương anh nhất trên đời này nữa?
- Ai?
- Anh Côn. Ai thương anh thứ nhất trên đời này nữa?
- Ai?
- Anh Luyến.
Im lặng. Khoa nhìn thẳng Kỳ Bá :
- Trên đời được ba người đá bóng tuyệt cú mèo thương yêu đã thừa rồi. Cần gì người thứ tư, thứ năm, thứ sáu... Nhớ hồi chết đói năm Ất Dậu, ba người thương anh nhất đã nhiều lần mang cơm bánh vào Kỳ Bá nuôi mẹ con anh. Lần nào cũng bị người đói vồ cướp. Đến hôm họ nghĩ kế mang thức ăn vào được tận nhà anh, thì mẹ anh đã chết rồi. Và anh mất tích. Ai nấy bảo anh chết đói rồi. Anh Vũ khóc hu hu, quát tháo Nó không chết, thằng Vọng không chết. Anh Côn, anh Luyến, anh Lộc, anh Long khóc theo nức nở. Một tháng sau, anh Luyến trách các bạn: Giá chúng mình rủ thằng Vọng về nhà chúng mình ở, chắc nó không thể bị chết đói. Anh Côn, anh Vũ ân hận dễ quá mà không nghĩ ra. Anh Vọng ạ, em nói để anh hiểu lòng những người đã thương anh.
Nước mắt đùn lên ngập khuôn mặt đôn hậu của Khoa. Kỳ Bá ôm chầm lấy Khoa, sụt sịt khóc. Kỳ Bá kể lể :
- Anh mất tích vì thầy Hoan, Nguyễn Công Hoan, cứu anh, sau khi mẹ anh chết thê thảm. Thầy Hoan đưa anh đi xa. Và anh trở thành người cách mạng. Anh lấy tên là Kỳ Bá làm bí danh, cũng coi như tên thật luôn. Anh quên thằng Vọng, quên dĩ vãng u tối của nó, để sống cuộc đời mới, hết đau khổ, em ạ! Kỳ Bá, tên một nơi cha anh đã sinh ra, rồi chết vì bệnh ho lao. Kỳ Bá, tên một nơi mẹ anh đã sinh ra, rồi chết đói. Kỳ Bá, tên một nơi anh đã sinh ra, chịu đựng oan khiên và thống khổ. Anh muốn quên Vọng ghẻ tầu, anh muốn nhớ mãi Kỳ Bá cách mạng.
Khoa khẽ lắc đầu :
- Anh có quyền là Kỳ Bá. Em có quyền coi anh là Vọng. Em mong muốn người cách mạng yêu bóng tròn, người bóng tròn yêu cách mạng. Thế thôi.
Kỳ Bá đưa ống tay áo thấm nước mắt :
- Chẳng biết đởi sống có giản dị, cho mình yêu cả hai thứ không?
Để chấm dứt câu chuyện làm mình suy nghĩ miên man, Kỳ Bá chuyển mục :
- Khoa chưa nói với anh vể Vũ?
- Anh Vũ làm liên lạc viên cho đại đội 4, trung đoàn 44. Bây giờ, anh đã vào bộ đội rồi. Dạo nọ, anh viết thư cho nhà hay anh theo quân chuyển về Tiền Hải dưỡng sức, sau khi đánh giặc tại Hưng Yên.
- Còn Thúy?
- Chị ấy về Trực Nội, bên kia sông Trà Lý.
- Côn?
- Anh Côn đã lên Sơn Tây, học lớp sĩ quan ở trường Trần Quốc Tuấn.
- Luyến?
- Anh Luyến tản cư về Đống Năm. Chả hiểu Luyến mít sơ lanh vào thị xã chưa!
Kỳ Bá thở dài :
- Mới có năm năm, mà thay đổi tất cả. Thời cuộc như ngọn gió heo may trải dài trên ruộng lúa vào mẩy. Thị xã Thái Bình giống hệt nước Việt Nam. Chết đói. Chết no. Nhật đảo chính Pháp. Cách mạng làm cuộc tổng khởi nghĩa. Giết Việt gian. Lụt lội. Tầu tước võ khí Nhật. Tiêu thổ kháng chiến. Tản cư. Pháp sang Thái Bình...
Vẻ buồn tỉnh lỵ cũng là vẻ buồn dân tộc. Em thấy chưa? Một mai, em sẽ oán trách người này, bênh vực người nọ. Rồi em sẽ ân hận, vì oán trách sai, bênh vực sai nốt. Con người này chống đối con người nọ không phải con người thích chống con người. Mà hoàn cảnh nó dìu đi.
Khoa ngạc nhiên đến thích thú. Nó tưởng gặp Kỳ Bá là bị nghe danh từ chính trị khó tiêu. Những là giai cấp vô sản, nắm vững vấn đề, vượt chỉ tiêu, đấu tố địa chủ, nhờ ơn Bác, Đảng, và Nhà nước...
Kỳ Bá không hề nói tới. Anh ta chỉ nói đơn giản mà sâu sắc, cảm động, bên trong muốn chứa một cái gì, tâm sự nào. Kỳ Bá vẫn là Vọng lớn lên. Con người thật của Vọng là tiểu tư sản. Con người thật của Kỳ Bá không phải là vô sản.
- Em Khoa ạ, giờ này anh lại đi công tác. Hôm nào, anh em mình tâm sự thật lâu.
- Vâng ạ!
- Em giỏi quá, anh còn kém em.
Kỳ Bá và Khoa cùng đứng dậy. Ban đầu, Kỳ Bá bảo Khoa em giữ giùm anh hai con cá chép, để lúc chia tay, Kỳ Bá từ chối khéo không nhận. Câu chuyện với Khoa ăn sâu vào tình cảm, Kỳ Bá cầm cá lên, nói thành thật :
- Em về thưa bố mẹ rằng, anh cám ơn nhiều nhé! Nay mai đỡ bận rộn, anh sẽ vào nhà em kính thăm bố mẹ.
Kỳ Bá ra sân gọi Đường. Khoa đảo mắt xuống bếp. Không thấy Thi và cha mẹ. Chắc làm việc đồng sắp về. Hai đứa em Thi đang ăn khoai nướng. Kỳ Bá đưa Khoa và Đường tới khúc đường mòn. Anh vẫy tay và đi vào.

91
Lãnh đạo mặc quần áo nâu, đội nón lợp ny lông, đeo xặc cốt, đi dép Bình-Trị-Thiên. Nếu có gương soi kỹ và nếu được suy nghĩ bằng chính tâm hồn mình, lãnh đạo thấy mình chỉ là lãnh đạo mặc đồng phục như học trò hướng đạo. Lãnh đạo nói năng, lãnh đạo ăn uống, lãnh đạo tiếp xúc, lãnh đạo vui chơi, lãnh đạo hân hoan, nhất nhất đều mặc đồng phục. Lãnh đạo không được buồn, không được nhớ, không được thương vu vơ. Cũng mặc đồng phục. Lãnh đạo phải theo quyết nghị thi hành cuộc đời mình. Quyết nghị là đạo đức kinh, là luân lý giáo khoa thư, là sách gối đầu giường, chỉ đúng răm rắp, không có sai lầm. Và không được phê bình quyết nghị. Phê bình quyết nghị là đầu óc đã nhiễm tư tưởng phản động. Đầu phải làm cho rỗng. Óc phải gột rửa. Để sạch sẽ và ngây thơ mà tiếp thu quyết nghị.
Quyết nghị theo sát Kỳ Bá hiện tại là quyền lực tối cao của Bác, Đảng và Nhà Nước. Bác không lầm lẫn. Nhà nước không lầm lẫn. Bác là Hồ Chí Minh. Nhà nước là chính quyền vô sản. Hồ Chí Minh là Cha già của dân tộc, là Bác của toàn dân, là chủ tịch của Đảng và Nhà nước. Bất cứ việc gì mình sắp làm, cũng nhờ ơn Bác, Đảng và Nhà nước. Bất cứ việc gì mình sẽ làm cũng nhờ ơn Bác, Đảng và Nhà nước. Bất cứ việc gì thành công ít hay nhiều cũng nhờ ơn Bác, Đảng và Nhà nước. Vậy Đảng và Nhà nước của Bác. Quyết nghị bây giờ là Bác. Bác không phải là siêu nhân. Bác chỉ là người yêu nước nồng nàn, hy sinh đời mình cho tổ quốc, không vui thú bên vợ con, vì Bác không vợ, không con. Bác sống đạm bạc nên Bác là vị Thánh sống. Bác biết tất cả. Chính trị, Bác cao vút, không người so sánh. Quân sự, Bác tài tình, khiến Pháp nể nang. Bác làm thơ hay nhất, nhà thơ lớn của dân tộc. Bác mặc quần áo đại quân, đi dép Bình-Trị-Thiên, điều khiển giàn nhạc vĩ đại ngoài trời. Bác là người hơn tất cả mọi người, trên tất cả loài người. Bác bảo là làm theo lời Bác, vâng lời Bác. Quyết nghị là lời vàng ý ngọc của Bác, chỉ tuân lệnh, không phê bình.
Thần tượng trên sân cỏ thì khác, hoàn toàn khác. Thần tượng tự do buông thả tài năng của mình trước rừng người cổ võ. Người cổ võ trẻ có, già có, nhi đồng có. Họ không thuộc một thành phần nào, một giai cấp nào trong xã hội. Chỉ là khán giả túc cầu. Họ cũng tự do nói năng, chửi thề và hoan hô, đả đảo. Họ chẳng thèm biết người ngồi bên cạnh là chức sắc trong chính quyền. Họ đứng lên, đấm mạnh vào không khí lúc thần tượng của họ làm họ thất vọng. Họ vỗ tay như điên cuồng khi thần tượng của họ làm họ say mê. Hàng chục ngàn người mở căng mắt, nhìn đôi chân của một người, nhìn cái đầu của một người. Người ta chửi mắng thần tượng, là người ta yêu thần tượng. Người ta thích thú thần tượng, là người ta thương thần tượng. Người ta cống hiến trái tim của mình. Cho thần tượng.
Thần tượng đang vẽ vời lừa bóng. Ngất ngây. Thần tượng ngả bàn đèn một cú sút trời cho thủng lưới đối phương. Tuyệt diệu. Thần tượng đá một cú xuyên chỉ qua kim, đối phương ngỡ ngàng. Lâng lâng. Thần tượng chơi cú tết hết bắt, đối phương thẫn thờ. Mơ màng. Không cần nhiều, chỉ mấy đường điêu luyện thôi, thần tượng muốn gì được nấy. Thần tượng muốn hạ thằng nào, thằng ấy đo ván; muốn khử thằng nào, thằng ấy đi đoong. Chín mươi phút trên sân cỏ, thần tượng là hoàng tử, là đại đế của đám nô lệ cổ võ. Người ta mơ ước được rờ tay vào ngực thần tượng xem thần tượng rung động tới mực nào. Ôi, cái áo của thần tượng, sau trận đấu ngập mồ hôi, cởi ra, tung vào đám nô lệ, áo của thần tượng là cơm, là công đức vô lượng đối với dân sắp chết đói. Người ta giành giật nhau. Đến máu phải đổ. Thần tượng thì không có gì đụng vào nổi.

92
Vọng sinh ra ở làng Kỳ Bá, trong căn nhà gianh, tường trét bùn rơm, liếp đan bằng nứa, che mưa gió. Nó lớn lên cùng với căn nhà càng ngày càng điêu tàn. Cha Vọng làm thợ máy điện thị xã Thái Bình. Mẹ nó bán xôi chè rong khắp đường phố. Vì nghèo quá, trời chỉ cho cha mẹ nó đẻ nổi mỗi mình nó. Còn bé, Vọng èo ọt, không lớn được. Mười một tuổi nó mới đi học. Lên lớp sơ đẳng, tự nhiên Vọng trở mình, có da có thịt, khỏe khoắn ra. Nó thông minh và chăm học. Từ dạo đồng ấu, Vọng đã bị bạn học bắt nạt. Nó biết thân biết phận, chả dám chống đối, cứ để bạn học chế riễu, làm tình làm tội. Không ai dạy mà Vọng biết chịu đựng nỗi oan khiên, từ nhỏ.
Thấy con mình trổ mã, học hành tiến bộ, cha thằng Vọng sung sướng. Ông năng nói chuyện với Vọng, tưởng Vọng hiểu ý ông.
- Con ơi, con phải học tới đậu đít lôm. Thì cha mẹ mới hết khổ và cuộc đời hết khinh bỉ.
- Đít lôm là gì ạ?
- Là đậu xéc ti phi ca, học thêm bốn năm nữa ở ban thành chung.
- Ở ban thành chung?
- Ờ, năm thứ nhất lên lớp, con học năm thứ nhì; năm thứ nhì lên lớp, con học năm thứ ba; năm thứ ba, con lên lớp, con học năm thứ tư. Rồi con thi đít lôm. Con mà đỗ đít lôm, mẹ con sẽ bỏ gánh xôi chè, bố sẽ bỏ nghề cu ly lam lũ.
- Đít lôm là hết trường học hở, bố?
- Còn.
- Gì nữa?
- Học đến tú tài. Đỗ tú tài một, thi tú tài hai. Mất tất cả ba năm.
- Hết chứ ạ!
- Hãy còn đại học. Muốn thành bác sĩ như đốc tờ Anh, thêm sáu năm nữa. Trời ơi, được làm quan đốc tờ sẽ hả hê suốt đời, muốn sao được vậy. Như tiên ấy, con ạ!
- Con sẽ học đỗ đốc tờ.
- Không được đâu.
- Sao lại không được?
- Vì bố mẹ nghèo nàn, chỉ cố gắng nuôi con đỗ đít lôm, ra làm tiền đỡ vất vả. Con học mười năm thôi. Chứ học bác sĩ, con phải học hai mươi năm mới thành tài, bố mẹ có sống hai kiếp mới làm con nên thân. Đáng lẽ chỉ mong con đổ xét ti phi ca, bố mơ mộng muốn con đỗ đít lôm cho đáng học trong nỗi khổ.
Cha Vọng đã chỉ cầu mong cho con mình đỗ đít lôm. Thiếu gì người nghèo lo cho con mình đỗ tú tài. Vọng đỗ đít lôm là gia đình nó hạnh phúc, là được trời thương. Mẹ nó ước mong như cha nó. Những khi rảnh rỗi, mẹ thằng Vọng cầu nguyện Trời Phật cho nó học giỏi và thời gian qua mau. Cuối năm sơ đẳng, Vọng thi lấy xéc ti phi ca ê lê măng te. Không cần đỗ hay trượt cũng được lên lớp nhì năm thứ nhất. Vọng đã đỗ. Cả Việt lẫn Pháp. Việt thì thi toán pháp, luận văn, sử địa, cách trí. Pháp thì viết bài ám tả. Mẹ Vọng khoe ầm với các bà bán hàng rong, nhờ mẹ nó đi cúng, dâng hương ở chùa An Tập, Phật mới động lòng cho Vọng đỗ.
Lớp nhì năm thứ nhất, Vọng học bài vở toàn bằng tiếng Pháp. Có vẻ người lớn rồi. Cha nó dành dụm tiền, may cho nó cái áo dài thâm mới toanh, cái quần chúc bâu và đôi guốc mộc. Học trò ở thị xã không nhất nhất phải mặc đồng phục. Con nhà giầu mặc âu phục. Con nhà nghèo mặc quốc phục. Thằng Vọng có mỗi bộ quần áo mồi. Nó giữ gìn cẩn thận lắm. Đi học về, nó treo áo dài lên vách nhà, xếp quần lên đầu giường. Và đánh bộ quần áo rách vá tứ tung, ngồi học bài hay đi chơi. Thằng Vọng tiết kiệm đôi guốc mới khiếp. Nó xách guốc đi bộ từ nhà đến trường và chỉ đi guốc khi nhà trường mở cổng. Tan học, nó bỏ guốc khi ra khỏi lớp. Bọn nhãi học trò chế riễu nó, đánh đấm nó cái tội đi guốc sợ mòn.
- Này cu Vọng, mày đi mấy năm một đôi guốc?
- Mười năm!
- Mày cất ở đâu?
- Trên bàn thờ!
- Gần nhà tao, người bán guốc mới nhảy xuống sông tự tử.
- Lạ nhảy!
- Không lạ đâu. Vì ông ta ế hàng, đâm ra thối chí. Mười năm mới có con nhà Vọng mua một đôi guốc!
Chúng nó chơi kịch nhạo báng thằng Vọng tàn nhẫn. Vọng im lặng chịu đựng. Cha nó đã bảo nó rằng :
- Con ơi, nhà nghèo có nhiều tội lắm. Con đến trường, học trò nhà giầu có ghét con, có đánh con, có chửi con, dù con không lầm lẫn gì cũng khép miệng lại. Cho chúng nó chán con, nghe! Cần nhất, là con phải đỗ đít lôm, mọi việc mặc kệ chúng nó.
Quà sáng của thằng Vọng hết xôi chè lại cơm nguội, hết cơm nguội lại xôi chè! Chả có món gì khác. Nó không dám nghĩ tới ngày nào mới được ăn bánh cuốn giò chả, ăn bánh mì thịt quay, ăn phở, ăn cơ roát xăng và uống cà phê sữa...
Vọng thích bóng tròn. Lúc đi xem đá bóng tròn, nó chẳng bị ai át giọng và đánh đập cả. Vọng mê bóng tròn từ niên học lớp nhì năm thứ nhất. Nó khoái những cầu thủ giỏi. Vọng thường cổ võ đội bóng Kỳ Bá và đội Lính Khố Xanh. Ở đời, sao không chỉ có sân cỏ và sân cỏ? Nơi đó, người ta hoan hô cầu thủ làm người ta say mê. Nơi đó, người ta đả đảo cầu thù làm người ta buồn bã.
Thích bóng tròn, Vọng có một mình, không chơi với ai và không ai chơi với nó, nó lấy rơm buộc thành trái bóng, sút một mình, lừa đảo một mình.
Vọng sáng tác những cú sút tuyệt vời và những cú sút mang những tên tuyệt vời ở trái bóng rơm mà ra. Nó tưởng tượng khung thành của địch thủ, phóng trái bóng lọt vào. Khi đặt chân sút, nó ngã ngửa - phải ngã ngửa cơ - hai tay nâng nhẹ thân người lên - nhớ hai tay nâng nhẹ thân người lên - nó gọi là cú sút ngả bàn đèn. Nó quay lưng về phía khung thành, nhảy cao, móc hậu trái bóng vào, đầu dựng xuống đất, chân giơ thằng lên trời, nó gọi là cút sút trồng cây chuối. Nó quan sát những đôi chân của đối thủ hướng về đường banh sắp sửa nhả ra, kể cả đôi chân của thằng gôn, bắn trái bóng vào như tia chớp cho qua chân đối thủ, nó gọi là cú sút xuyên chỉ qua kim... Những cú sút thần sầu bằng bóng rơm của thằng Vọng ra đời tại làng Kỳ Bá, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình, mùa thu, niên học 1942-1943, không trình tòa.
Vọng chưa được hưởng những cú sút do nó nghĩ ra. Thì thầy Nguyễn Công Hoan từ Hà Nội đổi về Thái Bình, dạy học ở lớp nó, vào tháng 11. Thầy Hoan chú ý thằng Vọng ngay. Trong lớp nhì 2, chỉ có một mình nó mặc áo dài thâm, quần chúc bâu trắng. Điều đó khiến thầy Hoan có cảm tình với thằng Vọng. Một hôm, giờ ra chơi, thầy giữ Vọng lại, gọi nó lên bàn giấy.
- Con tên là Vọng, Nguyễn Hữu Vọng, cùng họ với thầy đấy. Hữu Vọng, có hy vọng, bố con đặt tên hay lắm. Ông ấy làm gì?
- Thưa thầy, bố con làm thợ ở nhà máy điện, ạ!
- Mẹ con ở nhà hay đi làm?
- Thưa thầy, mẹ con đi làm.
- Nghề gì?
- Thưa thầy, mẹ con bán xôi chè rong.
- Nhà con ở đâu?
- Thưa thấy, ở làng Kỳ Bá, rất gần thị xã. Đi thẳng từ cổng Vọng Cung là đến làng con.
- Thế nhà nằm đầu làng hay cuối làng?
- Thưa thấy, sát cống Kỳ Bá.
- Khá chứ?
- Thưa thầy, nhà con mái rạ, tường bùn rơm, xơ xác lắm, ạ!
- Không hề gì. Con nên nhớ rằng cái nhà không cần, chỉ người ở dưới mái nhà có tâm hồn hay không mới cần. Con chăm chỉ học và giỏi nhất lớp, làm thầy mừng. Bố con đặt tên con là Hữu Vọng nên hy vọng gì ở con?
- Thưa thầy, bố con hy vọng con đỗ đít lôm rồi ra làm việc. Như thế, nhà con sẽ hết nghèo, chẳng ai khinh bỉ nữa.
- Sao không đỗ tú tài?
- Thưa thầy, bố con là người cu ly, không lo cho con học thật lâu được.
- Học bằng ý chí, chứ không học bằng tiền bạc. Con nhà giầu sang không đứa nào đạt nổi sự học. Con nhà nghèo khó, nếu đi học, chúng nó đều làm vẻ vang cho học vấn. Con hiểu chưa? Xưa, có ông Thừa Cung phải đi chăn lợn kiếm ăn. Mỗi ngày, ông nghỉ chân ngoài cửa nhà thầy giáo, lắng nghe thầy dạy học trò. Bao nhiêu chữ nghĩa của thầy, ông học hết. Sau, ông Thừa Cung thi đỗ hiển hách, Vọng ạ! Thôi, sắp hết giờ ra chơi rồi, con ra chơi một lát.
Tháng 12, Vọng đứng nhất lớp, lên bảng danh dự. Bọn nhãi cùng lớp đổ những cơn ghen tị vào những cú đấm, những cú đá, những cái tát, những cái bợp tai thằng Vọng. Nó phát khóc. Câm lặng. Vọng lên bàn thầy Hoan, thưa thầy cho nó xuống hạng bét. Thầy Hoan ngạc nhiên. Thầy không biết những gì đã xảy ra cho Vọng, từ hôm nó lên bảng danh dự.
- Con không mong học nhất lớp à?
- Thưa thầy, không ạ!
- Bài con học, con làm đều chứng tỏ con chăm chỉ và thông minh. Chẳng lẽ chấm bài của con, thầy cho zéro?
- Thưa thầy, nếu thầy thương con, thầy cứ cho con nằm hạng bét đội sổ.
Thầy Hoan lắc đầu. Tháng sau, Vọng đọc bài ấp úng, chỉ thuộc có một nửa; làm bài gạch xóa nhiều, quên khá bộn. Thầy Hoan chấm bài của Vọng. Suy nghĩ. Giờ ra chơi, thầy bảo Vọng ở trong lớp.
- Con bị bạn học bắt nạt, hả?
Vọng òa lên khóc.
- Chúng nó không muốn con học nhất lớp, lên bảng danh dự, hả?
Vọng im lặng.
- Được, thầy chiều con, cho con đứng thứ 10, không lên bảng danh dự nữa, dù con học giỏi. Con không đứng thứ 10, đòi dội sổ, sang năm đâu được lên lớp mà thi đỗ dít lôm?
Vọng không nói gì. Thầy Hoan đã hiểu rõ tâm sự của đứa học trò con nhà nghèo. Trong cái xã hội đầy rẫy bất mãn này, một thầy không xóa bỏ được. Thầy Hoan chỉ nghiến răng giận dữ.
- Những thằng giầu, những thằng quyền thế, cha, con, cháu, chắt đều giống nhau. Thằng bố áp bức, bóc lột người lớn nghèo khổ; con cháu nó bắt nạt, căm tức người bé nghèo khổ. Nghèo khổ đâu phải là tội lỗi? Sẽ có ngày băm vằm tụi trọc phú, tụi quyền thế dựa hơi Pháp ra từng mảnh!
- Thưa thầy, bố con bảo nhà nghèo có nhiều tội lắm. Con đến trường, học trò con nhà giầu có ghét con, có đánh con, có chửi con, dù con không lầm lẫn gì cũng khép miệng lại. Cho chúng nó chán con!
- Bố con không tội lỗi, con không tội lỗi gì cả. Bọn trọc phú, bọn quyền thế bóc lột từ miếng cơm manh áo của người ta, khiến người ta thành người nghèo khổ. Nghèo khổ, đói rách là do trọc phú và quyền thế tạo ra. Nếu người nghèo khổ biết tống căm hờn vào bọn chúng nó, mình sẽ hết bị đánh chửi, hiên ngang đứng lên, Vọng ạ! Con ra chơi đi!
Vọng nghĩ đến cha nó bôi thuốc đỏ lên những chỗ mình mẩy nó bị đánh chảy máu, xoa dầu Nhị thiên đường lên những chỗ mình mẩy nó bị đạp đá xưng vù. Cha nó biết giấu thù hận và quên nó đi. Vọng giống cha, biết giấu thù hận và quên nó đi. Có nhớ cũng chẳng được tích sự gì. Nó, nỗi thù hận ấy mà, là sự cam đành triền miên của người nghèo khổ. Làm cho mình hết bị đánh, bị chửi, dễ chừng chỉ có thầy Nguyễn Công Hoan.
Một hôm chủ nhật, thầy Hoan đến nhà thằng Vọng, điềm nhiên ngồi trên giường của nó uống nước vối thích thú. Thầy nhìn căn nhà tiêu điều, mục rã, lòng thầy dậy chua chát. Thầy ngắm cha Vọng và hỏi :
- Ông bị bệnh phải không?
- Bẩm thầy, dạ...
- Xin coi tôi như một giáo viên, ông đừng bẩm thưa với tôi, ông nhé!
- Thưa thầy, vâng ạ!
- Ông lại thưa rồi!
- Dạ, tôi vâng lời thầy.
- Bệnh của ông ra sao?
- Tôi bị đau tháng nay, đêm nào cũng ho, ban ngày sốt.
- Nguy hiểm đấy. Ông mắc bệnh lao phổi rồi. Phải nghỉ làm việc và đi nằm nhà thương.
- Tôi nghỉ thì không có lương và tiền, kiếm đâu ra tiền nằm nhà thương?
- Nhà thương thí ấy mà.
- Nhà thương thí không cho thuốc.
Thầy Nguyễn Công Hoan nghĩ một lát :
- Ông phải nghỉ đi làm và đến nhà thương, kẻo bệnh sẽ đưa ông tới cái chết.
Cha Vọng nói;
- Tôi không nghỉ được, thầy ạ!
Thầy Hoan vỗ vai cha Vọng.
- Ông chả cần lo lắng, bệnh sẽ nặng thêm. Tôi và hai giáo viên ở trường sẽ giúp ông số tiền nằm nhà thương dưỡng bệnh, thuốc men đầy đủ. Ngày mai, ông vào nhà thương, tôi nộp tiền cho ông đến khi ông khỏi. Ông đừng từ chối nữa. Thôi, tôi về đây...
Thầy Hoan bước nhanh ra khỏi nhà Vọng. Cha nó chẳng có phản ứng gì, ngồi khóc rưng rức. Vọng khóc theo. Mẹ nó đang bán hàng trên phố, chưa biết tấm lòng vàng của thầy Hoan.
Thằng Vọng bị cả lớp khinh bỉ, ghét bỏ, nhưng có thầy Hoan thương yêu vô cùng. Vọng đã được an ủi. Như thể, nó sờ thấy niềm an ủi đó. Nó thấy cuộc đời vẫn còn người tốt, còn nhiều người tốt nữa nó chưa gặp. Biết đâu chừng, thấy Hoan chả giúp nó cơ hội sút cú thần sầu xuyên chỉ qua kim!

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.02.2014 01:53:25 bởi casau>
Phần năm (tt)
Thấp thoáng chia ly
 
93
Vào nhà thương được năm ngày, cha thằng Vọng ho ra máu. Những ngụm máu phun lên nóc màn trắng trông khiếp sợ. Tưởng chứa bao nhiêu vi trùng lao quẫy trong đó. Vọng phải lấy đá cục cho cha ngậm để máu cầm dần lại. Không ăn thua gì, máu tiếp tục bung ra và phọt đầy nóc màn. Mẹ Vọng vừa khóc vừa cầu nguyện. Nó xin nghỉ học hai hôm nay, ở bên giường bênh, săn sóc cha. Mẹ khóc. Vọng xanh mét mặt mày, run sợ. Bệnh của cha nó nguy hiểm lắm rồi. Đáng lẽ, cha nó nghỉ việc từ lúc chớm bệnh. Nghỉ việc thì không có lương và có thể bị xa thải. Cái nghề làm cu ly xứ này thật đau khổ. Không có lương hàng tháng, thằng Vọng đành thôi đến trường, ai nuôi nó ăn học nữa đây. Nghĩ tới mảnh bằng đít lôm Vọng sẽ mang về, cha nó chẳng dám xin nhà máy điện cho phép nghỉ nằm nhà thương. Cha nó nghĩ bệnh thông thường của dân lao động, ốm rồi khỏi, ốm no bò dậy, chả việc gì cần quan tâm.
Khốn nỗi, cha thằng Vọng dốt nát, không hiểu ngày sốt, đêm ho là chu kỳ cuối cùng của bệnh lao phổi. Cha nó cứ tiếp tục gắng sức làm việc. Nếu thầy Nguyễn Công Hoan không cho tiền và bắt cha nó đến nhà thương ngay, cha nó đã chết trên công trường nhà máy điện. Bây giờ, cái chết đã gần kề, nhưng y tá bảo mẹ con Vọng cứ hy vọng chờ, bệnh sẽ khỏi. Thực ra, hy vọng vào nghĩa địa chôn xác cha thằng Vọng.
Cha nó đã nghe phong phanh lời gọi của tử thần. Vì vậy, lúc máu không phọt ra, cha nó tỉnh táo, nói vài câu giăng giối với vợ con.
- Bà này, khi tôi chết, phải gắng nuôi con ăn học tới ngày đỗ đít lôm, có thế tôi mới yên thân nhắm mắt.
Mẹ Vọng nức nở :
- Ông sẽ khỏi bệnh mà!
Cha Vọng khe khẽ lắc đầu :
- Bà hứa với tôi đi. Thần chết đã tới chân tôi rồi... Bà hứa đi...
Mẹ Vọng mếu máo :
- Vâng, tôi hứa, dù có khổ cực ngàn lần nữa, tôi vẫn nuôi con ăn học.
Cha Vọng bằng lòng :
- Tôi thanh thản ra đi...
Nhìn Vọng, cha nó khó khăn vẫy tay :
- Con ngồi sát bên bố.
Vọng làm theo cha.
- Phải đỗ đít lôm, con nhé!
- Vâng.
- Phải chăm học, học cho thật giỏi, con nhé!
- Vâng.
- Phải nghe lời bố dạy. Vì con là con nhà nghèo. Nhà nghèo có nhiều tội lắm. Ai ghét con, đánh con, chửi con, vu vạ, con hãy cúi đầu chịu đựng và khép miệng lại. Để làm lấy đời mình.
- Vâng.
- Con nhớ thật kỹ những lời bố dạy.
Cha Vọng giối giăng đâu đó, máu trong tim lại từng ngụm phun lên, bắn vào mặt nó, vào tay mẹ nó. Máu trào một lúc, cha thằng Vọng nhắm chặt mắt. Cha nó chết rồi. Vọng và mẹ khóc thê thảm, cứ ôm chặt lấy xác chết. Y tá phải gỡ ra. Người ta đem xác cha Vọng xuống nhà xác. Hai hôm sau, người ta cho tẩm liệm. Mẹ Vọng phát tang. Và cha nó nằm yên trong nghĩa địa Kỳ Bá.
Từ hôm cha chết, Vọng buồn rời rã, không thiết đi học. Nó nằm nhà cả ngày. Mẹ nó đã đi bán xôi chè trong thị xã. Thầy Hoan đợi nó cả tuần rồi. Mà nó chưa đến trường. Thầy bèn cất công vào nhà nó. Thằng Vọng gặp thầy Hoan, là khóc. Thầy Hoan để yên nó khóc. Thầy không an ủi nó, bảo nó đừng khóc nữa. Nhà văn Nguyễn Công Hoan biết kính trọng nỗi đau khổ của bất cứ ai. Để Vọng ngưng khóc, thầy Hoan mới nói chuyện cùng nó.
- Sao con chưa đi học?
- Thưa thầy, con buồn lắm.
- Ngày mai, con phải đến trường.
- Thưa thầy, con sẽ đến.
- Bắt buộc sáng mai.
- Thưa thầy...
- Không được kéo dài sự nghỉ. Mai con không đi học, thầy sẽ ký giấy đuổi con khỏi trường. Như vậy, không có ngày nào con đỗ đít lôm, và cha con sẽ không yên ổn dưới mộ.
- Thưa thầy, mai con đi học.
- Ngoan lắm. Nỗi buồn của con sẽ nguôi ngoai bằng việc học. Người đã chết chỉ còn tưởng mộ trong lòng ta. Nó thuộc về dĩ vãng rồi. Ta phải nghĩ đến tương lai. Mà con cần nghĩ đến tương lai nhiều hơn. Ta dẫm lên hiện tại, coi nó đẫy rẫy phiền muộn, bất công, cay đắng để tiến lên tương lai huy hoàng, không còn người bóc lột, áp bức con người. Con hiểu chưa, Vọng?
- Thưa thầy, con hiểu.
- Bố con chết, tiền mua thuốc men và trả nhà thương không cần đến nữa. Không cần cả hai đồng nghiệp của thầy phải giúp đỡ. Mỗi tháng, thầy còn thừa hai đồng để dành, thầy cho con, đưa cho mẹ con bù đắp vào sinh sống.
Thấy Hoan móc bót rút ra hai đồng, đưa vào tay Vọng.
- Mỗi tháng con có hai đồng, khi thầy còn dạy ở Thái Bình.
Thằng Vọng cảm động lại khóc.
- Thưa thầy, con cám ơn thầy.
- Con lau nước mắt đi. Bây giờ, con phải dành dụm nước mắt, ngày mai con sẽ khóc.
- Thưa thầy, vâng ạ!
Hôm sau, Vọng đi học thật sớm. Nó không đứng ở cổng trường chờ mở. Mà nó đứng bên nhà sách Mậu Hiên, giả vờ xem những cuốn truyện bầy trong tủ kính. Khi kẻng báo hiệu, cửa trường mở rộng cho học trò vào, Vọng là đứa vào sau cùng. Nó làm thế để tránh những thằng cùng lớp chế nhạo nó, mỉa mai nó, nhất là cha nó vừa chết. Vọng bước vô lớp, cất sách vở, vừa lúc kẻng chào cờ báo hiệu. Nó ra sân tập họp, chào cờ, rồi nối hàng bước vào lớp.
Bữa nay, giờ học đầu là Tập Đọc. Thầy Hoan viết trên bảng đen bài Đứa bé cao thượng. Học trò chép theo. Xong xuôi, thầy đọc một lần trước.
Chiều qua, tôi gặp ở phố Jules Picquet câu chuyện làm tôi ngạc nhiên. Một đứa nhỏ đánh một đứa lớn. Đứa nhỏ lao vào đánh đấm đứa lớn. Đứa lớn chỉ tránh né và lui về phía sau. Đứa nhỏ đạp đá đứa lớn sai hết. Cáu quá, đứa nhỏ chửi đứa lớn tàn tệ rồi về nhà mình. Đứa lớn trông theo đứa nhỏ, mỉm cười rất tươi. Tôi hỏi đứa lớn: Tại sao đứa nhỏ bắt nạt mày, đánh mày mà mày không đánh lại? Đứa lớn trả lời: Tôi lớn hơn nó, to hơn nó, đánh lại nó thì nó thua ngay. Và đau đớn. Tôi không đánh lại nó, vì thế. Thật là một đứa bé cao thượng.
Thầy Hoan nhìn sổ điểm, gọi tên :
- Phan Phú!
Phan Phú đứng dậy :
- Dạ.
Thầy Hoan ra lệnh :
- Đọc bài Tập Đọc đi!
Phan Phú lấy vở, cầm lên đọc. Nó đọc hết, thầy Hoan hỏi :
- Con muốn làm đứa nhỏ hay đứa lớn?
Phan Phú đáp :
- Thưa thầy, con muốn làm đứa lớn.
Thầy lại hỏi :
- Tại sao?
Phan Phú lại đáp :
- Thưa thầy, đứa lớn được tiếng cao thượng.
Thầy Hoan nghiêm nét mặt :
- Con thích cao thượng hở, Phú? Trong trường Monguillot, con là một đứa tồi tệ nhất. Con là đứa nhỏ bắt nạt, chế riễu, đánh đập đứa lớn. Đứa lớn nhịn nhục con mãi mãi, vì nó con nhà nghèo. Biết chưa? Nó con nhà nghèo, con đã chẳng giúp đỡ nó, an ủi nó, mà lại ghen tị với nó, ghét bỏ nó. Thế là cao thượng à? Thề là độc ác mới đúng. Con nên sửa đổi tính tình ngay, kẻo trễ...
Thầy Hoan đem Vọng ra giáo dục lớp nhì 1. Thằng Phú là đứa đánh Vọng nhiều nhất, đau nhất. Chắc thầy Hoan đã điều tra kỹ lưỡng. Nên thầy biết rõ thằng Phú, và mắng mỏ nó thậm tệ. Nó đứng tái mặt, nghe thầy Hoan giảng dạy. Cả lớp im lặng. Giờ ra chơi hôm đó, Vọng không bị bắt nạt nữa. Thầy Hoan đã giáo hóa học trò hư đốn. Vọng kính trọng, yêu quý thầy. Từ đó, Vọng sống thoải mái trong lớp nhì 1. Nó vẫn học giỏi, thông minh, và khiêm tốn với bạn bè. Người ta quên hẳn nỗi nghèo khổ của thằng Vọng, ít ra cũng trọn niên học 1942-1943.
Chẳng mấy chốc, mùa hạ đã tới. Học trò thị xã về quê nghỉ hè. Thầy giáo nghỉ hè ở xa. Có thầy ra vịnh Hạ Long. Có thầy đi bãi biển Đồ Sơn. Có thầy vào bãi biển Sầm Sơn. Thầy Hoan xuống bãi biển Đồng Châu, Tiền Hải, đẹp nhất miền Bắc. Riêng Vọng, quê ở Kỳ Bá, không nơi chốn nghỉ hè, đành lang thang Bồ Xuyên, Bo và An Tập. Nó lang thang mà gặp may. Đội bóng Ký Bá đụng đội bóng Bồ Xuyên, tranh giả Cam tích tán. Rủi cho Kỳ Bá, sắp đến ngày giao đấu, trung phong số một về làm bàn đau nặng. Kỳ Bá chọn cầu thủ thay thế. Không xong. Toàn những cầu thủ hạng bét, cho vào Kỳ Bá, làm trò cười cho Bồ Xuyên à? Lúc ấy, Vọng có mặt tại sân bóng Kỳ Bá. Nó vô tình dượt với cầu thủ Kỳ Bá. Thấy Vọng đá bóng mả quá, người ta lựa nó ngay vào đội. Nó đi trung phong cho Kỳ Bá. Lần đầu tiên, Vọng đá bóng da chân đất với cầu thủ lớn hơn nó, to con hơn nó. Nhờ hai cút sút ngả bàn đèn, Vọng đã mang về cho Kỳ Bá giải thưởng Cam tích tán. Vọng được tặng vài đồng, và trở thành a văng xăng thường xuyên của đội bóng Kỳ Bá. Nó đã xuống Lạc Đạo, sang Trực Nội giao đấu.
Vẫn trong kỳ hè, nó được xem phõ xiếc Nam Định trình diễn ở sân bóng Thái Bình. Dở lắm. Chỉ mỗi màn anh hề tung mũ lên cao, chạy một vòng, cái mũ rơi trúng đầu anh. Như đội lại ngay ngắn. Và một màn nữa, anh mời khán giả tung những trái táo lên. Rồi anh ngửa miệng bắt hết. Vọng thích nhất màn sơi táo của anh hề. Nó về tập bằng được. Những đứa con nhà nghèo thường học được nhiều nghề mọn. Vọng thế đó.
Một hôm, nó ra nghề ăn táo dầm, sấu dầm. Tháng này chưa có táo tươi, sấu tươi. Vọng gạ gẫm những ông nhóc Kỳ Bá mua táo dầm về, tung lên cao, nó sẽ đỡ bằng mồm như xiếc Nam Định. Những ông nhóc thích coi xiếc, mua táo dầm của chú Tầu, xem Vọng chơi xiếc. Cứ thay phiên nhau, mỗi ông nhóc tung một lần hai trái. Vọng đỡ hết. Chỉ ra ngoài vài lần, Vọng sẽ tập để khỏi rơi xuống đất, biểu diễn tới đâu, nó ăn tới đó căng bụng.
Thế là mùa hè năm 1943, Vọng có hai nghề tiêu khiển: bóng tròn và hứng táo. Niên học 1943-1944, Vọng lên lớp nhì 2. Chưa hiểu học với thầy nào. Khai trường còn hai ngày nữa. Vọng bình thản đợi chờ. Lạy trời, nó lại học với thầy Hoan.

94
Loài ve hết ca những điệu nhạc buồn bã ray rứt. Chấm dứt ba tháng hè. Thầy giáo đã trở về. Học trò đã trở về. Thị xã Thái Bình lại sinh động trong ngày khai trường. Thằng Vọng đã bớt buồn vì cha nó mất mà vui vẻ lên vì học lớp nhì 1 được thầy Hoan nâng đỡ và giáo hóa học trò. Khiến Vọng khỏi bị hành hạ. Những tiếng kẻng đầu tiên của niên học mới đã vang lên. Vọng vào lớp nhì 2. Nó hồi hộp lo lắng. Rồi buồn nản. Thầy dạy lớp nhì 2 năm nay là thầy Tri, Lại văn Tri.
Thầy Tri dân Thái Bình. Thầy dạy học lâu năm, già nua và ốm yếu. Thầy lại nghiện thuốc phiện, chẳng cần nghĩ dạy học là cần thiết như thầy Hoan. Thầy không chú ý tới thằng học trò nào, trừ những thằng có cha mẹ đã chịu khó biếu quà cáp thầy dịp tết nhất. Vọng bị ngồi cuối lớp. Vinh dự thay, nó được xóa bảng, giặt sạch giẻ lau bảng thường xuyên!
Học trò đã quên bài Đứa bé cao thượng của thầy Hoan, lại chế riễu, bắt nạt Vọng. Nạn chế riễu lan sang lớp nhì 1 và lên lớp nhất. Cái áo chùng thâm của Vọng đã bạc phếch, ngắn đến đầu gối. Cái quần chúc bâu trắng đã ngả mầu cháo lòng, cụt trông thấy mắt cá. Vọng mới bị ghẻ. Chiếc màn của nó đã rách tung. Muỗi vào cả đàn, muỗi khiêng Vọng ra cống Kỳ Bá. Nó ngủ say sưa. Muỗi tha hồ đốt. Vài ngày muỗi tung hoành, ghẻ đã tứ tung. Vọng lại lười tắm nên gãi chảy cả máu. Cái ghẻ ăn sâu vào da nó. Không có xà phòng đen tắm gội, Vọng biến thành Vọng ghẻ tầu.
Vọng đến trường, tìm chỗ vắng gãi ghẻ. Khi nó gãi, bàn tay đan vào nhau cựa quậy. Y như thầy cúng bắt quyết. Mẹ nó mải đi bán xôi chè, chả nghĩ gì về bệnh ghẻ của nó. Bọn học trò ghét Vọng, khám phá ra một lối trên chọc ác độc. Nhà văn Tô Hoài viết truyện ngắn khôi hài Ghẻ đặc biệt trên báo Phổ Thông bán nguyệt san, cười muốn chết. Nhân vật chính của ghẻ đặc biệt là thằng Hoa. Lớp nhì 2 bắt thằng Hoa sống lại, sống thật tại trường Monguillot. Đó là thằng Vọng! Áo chùng của nó viết đầy phấn: Vọng ghẻ tầu. Nó phải dạ, vâng làm theo ý bọn học trò muốn. Tên Vọng gọi là: Hoa.
Vọng khổ sở vì bệnh ghẻ ít mà lối trêu chọc ghẻ tầu nhiều. Không lâu, tài đá bóng của nó đến tai thằng Vũ lớp nhì 1, nó hết bị hành hạ. Những cú sút ngả bàn đèn đã cứu Vọng. Vũ bốc Vọng đá cho đội bóng lớp nhì 1 của nó trả thù An Tập. Vọng nhận lời. Và tình thế trường Monguillot thay đổi.
Vọng nhớ rõ một lần nó bị thằng Hách xưng là bố, đòi đưa tay ghẻ cho nó xem. Vọng nín thinh. Thằng Hách bảo Vọng là đồ câm, đem mẹ Vọng ra chửi bới, gọi tên Hoa-Vọng, Vọng-Hoa ầm ỹ, khiến học trò kéo tới xem đông. Thằng Hách cứ con mụ xôi chè bêu riếu. Vọng chịu đựng. Nước mắt Vọng ứa ra, ném cái cặp da cũ nát xuoống sân trường và lậy thằng Hách, bảo nó sai gì Vọng làm nấy, nhưng đừng nói tới mẹ Vọng. Hách cười khoái chí. Đang lúc quân gian bắt nạt người yếu thế, hiệp sĩ Triều Dương Hiệp, tức Dã Tượng, tức thằng Vũ xông vào. Vũ xưng bố với thằng Hách vì thằng Hách dám xưng bố với Vọng. Vũ bảo thằng Hách nhặt cái cặp của Vọng lên. Thằng Hách văng tục, lao vào đánh Vũ. Vũ cho thằng Hách đo ván. Vũ đặt chân lên mặt thằng Hách, ra lệnh cho thằng Hách bò ra chỗ cái cặp lấy trao Vọng, xin lỗi Vọng. Thằng Hách vâng lời răm rắp. Vũ nói lớn :
- Từ nay, bất cứ ở đâu, ông mà thấy mày bắt nạt thằng Vọng, thì ông đánh bỏ mẹ!
Câu ấy răn đe thằng Hách, răn đe cả trường. Vũ đã giải thoát cuộc đời Vọng. Thầy Hoan chỉ giải thoát đời Vọng chưa đầy một năm.
Nhờ những cú sút ngả bàn đèn, xuyên chỉ qua kim, trồng cây chuối, Vọng đã rửa nhục thua trận An Tập cho Vũ, cho Côn, cho Luyến, cho lớp mhì 1, cho trường Monguillot. Vọng đã nổi danh ầm ầm. Thằng Hách và những thằng ghét Vọng, bây giờ gần gũi Vọng, công kênh Vọng và ca ngợi Vọng. Vọng tưởng Vũ đã đem mình lên chỗ vinh quang. Vọng lầm. Vọng chưa biết, không biết cái vinh quang ấu thời của Vọng do chính Vọng tạo ra, làm nên. Không có những cú sút thần sầu, Vọng không thể giải thoát mẩu đời tuổi ngọc của Vọng. Thằng Vũ đã thành thật nói: Không có mày, chúng tao thua An Tập bét tĩ. Vọng nghĩ: Không có nó, ai đưa mình từ chỗ tăm tối ra ánh sáng. Ôi một thời thơ ấu có bao lâu trong đời ta! Cứ để Vọng biết ơn Vũ. Là được rồi.
Từ đó, từ ngày biết thằng Vũ, thằng Côn, thằng Luyến, Vọng sống với ngày vàng tưởng chừng chẳng bao giờ đến. Vũ và Côn tặng Vọng quần áo. Vọng vất áo chùng thâm cũ kỹ, quần dài chúc bâu ngắn cũn cỡn đã ngả mầu trắng sang mầu cháo lòng. Nó mặc âu phục đi học. Luyến cho cái màn mới tinh. Côn cho xà phòng thơm tắm gội, xà phòng đá giặt quần áo, xà phòng đen chữa ghẻ. Vọng thấy cuộc đời nghèo khó của nó được ôm bằng những vòng tay trìu mến. Cứ thế Vọng sống. Cứ thế Vọng học. Cứ thế Vọng đá bóng. Cứ thế Vọng mơ đỗ đít lôm...
Cho đến hôm Vũ đánh thằng Huấn, con lão cẩm dẫn sen đầm đến trường bắt thầy Đàn, thầy của Vũ, Côn, Luyến về tội làm cách mạng. Vũ thương thầy, bực tức vô cùng. Nó đánh thằng Huấn chỉ vì thằng Huấn cười lúc thầy bị khóa tay. Vũ đánh thằng Dương, con lão phó cẩm, để bênh Thúy, đến nỗi bị đuổi học. Nó đi lên Hà Nội. Đã có thằng Côn bao bọc Vọng, che chở Vọng.
Thầy Hoan bận bịu, mãi mới đến thăm Vọng. Mỗi tháng thầy vẫn cho Vọng hai đồng. Thầy Hoan tâm sự :
- Thầy theo rõi con luôn à.
- Thưa thầy, nhờ ơn thầy.
- Mẹ con khỏe chứ?
- Dạ, thưa thầy, mẹ con già đi nhiều.
- Thầy cũng già đi, có sao! Mỗi người đều ôm một nỗi khổ của riêng mình. Mẹ con lao động chân tay. Thầy lao động trí óc. Lao động chân tay sung sướng hơn lao động trí óc. Một người làm xong việc thì ngủ. Một người làm xong việc thì suy nghĩ. Có những vấn đề chưa giải quyết ngay đưọc thì tức tối, khó chịu, buồn bã. Buồn nó già đi. Con hiểu chưa?
- Thưa thầy, con hiểu rồi ạ!
- Con phải thương mẹ con nhiều hơn.
- Thưa thầy, vâng ạ!
- Phải vươn tay dài thành cái gậy cho mẹ con bước đi thoải mái trên cây cầu nheo nhóc.
- Thưa thầy, vâng.
- Dạo này, con sống đỡ không?
- Thưa thầy, Vũ và Côn cho con đủ quần áo thay đổi đi học. Còn cho cả mẹ con nữa. Các anh ấy cho màn, xà phòng, giục con chữa bệnh ghẻ...
- Thằng Vũ có lòng lắm.
- Thưa thầy, anh Vũ...
- Nó đánh thằng Hách vì bạn. Nó đánh thằng Huấn vì thầy. Trên đời khó kiếm những ai vì thầy, vì bạn mà lao vào chỗ khốn khổ. Thằng Vũ không sợ nhà giầu. Nó đặt chân lên mặt thằng Hách, chấp cả bọn nhà giầu. Nhà giầu phản ứng gì đâu. Nó hạ thằng Huấn, chấp cả bọn quyền thế. Quyền thế nhỏ nhen, chỉ đuổi học thằng Vũ.
- Thưa thầy...
- Bố con đã dạy con: Nhà giầu và quyền thế có ghét con, đánh con, chửi con, vu vạ con, hãy cúi đầu chịu đựng. Con có được cúi đầu chịu đựng không? Học trò con nhà giầu lớp nhì 1 tha cho con, vì nể thầy. Lên lớp nhì 2, cái bản chất của nó lại sống dậy với nó. Là hành hạ con. Mãi mãi. Nếu không có kẻ anh hùng như thằng Vũ, con tuân lời bố con, phải cúi đầu chịu đựng đến bao giờ?
- Thưa thầy...
- Phải can đảm ngẩng mặt lên. Như thằng Vũ. Mới bỏ được nổi tự ti nhà nghèo.
- Thưa thầy, con sẽ học anh Vũ.
- Tốt. Dạo này, bọn nhà giầu trong trường hết bắt nạt con, phải không?
- Thưa thầy, phải.
- Con biết tại sao không?
- Thưa thầy, nhờ thầy, nhờ anh Vũ.
- Nhờ cả con nữa. Thầy và Vũ hỗ trợ con thôi. Mai này, con có hành động một điều gì quyết liệt, thành công hay thất bại, do con cả. Nhớ nhé!
- Thưa thầy, vâng.
Rồi thầy Hoan về. Có lẽ thằng Vọng may mắn nhất trần gian. Nhờ nghèo khổ, nó mới gặp được nhà văn Nguyễn Công Hoan thương yêu và che chở. Đọc khá nhiều tác phẩm của thầy, Vọng chưa thể so sánh với những nhân vật trong Bước đường cùng. Đớn đau và tê tái. Mùa hè năm 1944, Vọng sống êm đềm với Côn và Luyến. Thỉnh thảng Vọng tới thăm gia đình Vũ, nói chuyện đá bóng cho thằng Khoa nghe. Nó sống vui cùng bạn bè, tâm hồn tươi sáng và nổi buồn dìu dịu. Lần đầu tiên, Vọng thấm nỗi buồn dìu dịu nhớ Trường cũ khi nghỉ hè:
Bao tháng ngày xa vắng trôi
Còn đâu nếp trường xưa
Xa vắng càng thiết tha mong
Bên mấy khung song thưa
Say đắm từng gian lớp xưa
Lòng xao xuyến tình thơ
Cây bàng xưa nay lá tốt xanh tươi
Trạnh lòng ai nhớ tiếc khôn nguôi.


95
Niên học 1944-1945, Vọng lên lớp nhất. Giấc mơ thành chung đỗ đít lôm gần kề. Chỉ còn chín tháng nữa thôi, Vọng giã từ tiểu học, giã từ hồn nhiên, giã từ tuổi ngọc đôn hậu. Vọng cố níu lại, theo chân thằng Côn mà hưởng mật ngọt ấu thơ. Vọng đã hết ghẻ. Nhờ thằng Côn chữa chạy. Vọng cảm thấy bình đẳng giữa đám trẻ bằng tuổi nó hay kém tuổi nó.
Quân đội Nhật đã đến Thái Bình, đóng ở ngã ba Vũ Tiên, ở bên kia cầu Bo, ở sân bóng. Câu lạc bộ thể thao nhường cho sĩ quan Nhật. Quân Nhật vui vẻ với dân thị xã lắm, không tỏ một thái độ nào mất cảm tình. Mặt họ tươi tỉnh, chẳng lầm lì tí nào. Người Pháp sợ họ. Dinh công sứ và các dinh thự khác ở chân cầu Bo bên này, đóng im thin thít, không làm việc gì hết. Phú lít và sen đầm vẫn canh gác, nhưng hết đi tuần tiễu. Mỗi ngày, sĩ quan Nhật vào dinh công sứ mấy lần để thảo luận chi đó. Lính Nhật đã mon men xuống Vũ Tiên nghe hát cô đầu và chơi gái. Người Pháp đóng cửa, ở yên trong nhà. Người Tầu cũng sợ Nhật. Vì Nhật đã chiếm gần hết nước Tầu.
Thời gian này, thầy Hoan đến tìm Vọng, cho nó cuốn sách David Copperfield của Charles Dickens, với dòng đề tặng nồng nhiệt. Thầy bảo :
- Sách của Anh, dịch tiếng Pháp. Con gặp những chữ khó, đến trường tra tự điển. Con đã lên lớp nhất, tiếng Pháp khá rồi.
Rồi thầy hỏi :
- Mẹ con có nhà không?
Vọng đáp :
- Thưa thầy, có ạ!
Vọng xuống bếp, gọi mẹ lên hầu chuyện thầy Hoan.
- Tôi có chuyện này thưa với bà. Nếu nay mai tôi dẫn thằng Vọng đi nuôi nấng cho nó học đến nơi đến chốn, làm đúng như lời giăng giối của ông ấy, bà có bằng lòng không?
Mẹ Vọng òa lên khóc :
- Thưa thầy, Vọng là con thầy, thầy muốn sao chả được.
Thầy Hoan nói :
- Tôi phải hỏi bà trước chứ. Nếu bà không muốn cho Vọng đi, bà cứ từ chối.
Mẹ Vọng trả lời :
- Thưa thầy, cháu Vọng có phúc lắm. Xin để thầy quyết định.
Thầy Hoan gật đầu. Thầy kéo Vọng ra ngoài sân :
- Thầy sắp trốn khỏi thị xã.
- Thưa thầy, sao thế?
- Thầy Đàn bị Nhật lùng bắt. Thầy ấy đã trốn thoát, con biết chứ?
- Thưa thầy, con biết.
- Sắp đến lượt thầy. Sáng mai hoặc đêm nay, thầy sẽ trốn. Dặn con nhớ, hễ thầy sai người tới đón, con phải đi theo người ấy, nhé!
- Thưa thầy, con nhớ.
- Vài tháng nữa, con sẽ gặp thầy.
- Thưa thầy, vâng ạ!
- Thôi, thầy về.
Đêm ấy, Vọng hồi hộp đứng tim. Nó không ngủ, chỉ sợ thầy Hoan bị Nhật bắt. Nhật là loài phát xít như Đức. Chúng nó tra tấn đến chết thì thôi. Thầy Hoan yếu đuối, chịu sao nổi đòn phát xít Nhật. Vọng thức cả đêm chờ sáng. Nó đến trường thật sớm hóng tin tức. Mười giờ, thầy Hoan vẫn không đến. Vọng tin rằng thầy nó trốn thoát rồi. Hôm sau, lính sen đầm theo lệnh Nhật đến trường bắt ba thầy giáo. Thế là hai người Vọng thân yêu đã xa Vọng rồi. Vũ vẫn chưa về, dù tình hình thị xã bất ổn. Thầy Hoan chẳng biết đi đâu.
Rồi, rất mau lẹ, Nhật đảo chính Pháp, cho Việt Nam một chính phủ bù nhìn! Vọng lên cầu Bo xem cách đối xử của Nhật với Pháp nó như thế nào. Côn không đồng ý với Vọng về việc Vọng từ chối lấy nước cho Pháp, còn đòi đi tố cáo Pháp trốn tránh Nhật.
Vì vậy, sau ngày đảo chính, Vọng không đi chơi với Côn nữa. Nó nằm nhà nhớ thầy Hoan, nhớ Vũ và đọc David Copperfield. Ai có ngờ đâu, nạn đói đã xảy ra ở Thái Bình. Nạn đói truyền đi rất nhanh. Chết đói ngay tại nhà mình. Vọng nhìn rõ ràng mẹ nó chết đói, trong khi nó đang đói. Vọng phải đào củ chuối gặm. Lúc nó sắp lả đi, người ta đến cứu sống nó. Vọng thoát chết đói. Khi nó khỏe mạnh, tỉnh táo, một nhân vật tới nói chuyện với nó.
- Vọng, cháu biết đang ở đâu không?
- Thưa chú, không.
- Đông Cao của Ngô Duy Phớn, làng cách mạng cộng sản đầu tiên ở miền Bắc, xa bãi biển Đồng Châu, huyện Tiền Hải.
Trong cơn chết đói hụt, Vọng đã đi xa quá.
- Chở cháu bằng đường sông từ Kiến Xương xuống Cổ Rồng. Rồi từ Cổ Rồng, chở cháu bằng đường biển đến Đông Cao.
Nhân vật ầy cười rất tươi :
- Cháu không nguy hiểm bằng chú. Chú đề phòng sự nguy hiểm xảy ra cho chú, nên đi đường sông biển.
Vọng lễ phép :
- Cám ơn chú.
- Đừng cám ơn. Chú tự giới thệu: Chú là Nam Anh, đàn em và đồng chí của Nguyễn Công Hoan [1].
Trời ơi, thầy Hoan đã cứu sống Vọng, đã không quên Vọng.
- Chú xin lỗi cháu, vì chú đến muộn ba ngày, nên mẹ cháu bị chết và cháu bị đói.
Vọng thương mẹ, mẹ nó đã chết rồi, thương bao nhiêu mẹ cũng không sống lại được. Vọng nói :
- Chú quên vụ ấy đi.
- Cám ơn cháu.
- Thưa chú, thầy Hoan đâu ạ?
- Anh Hoan về Hà Nội. Hà Nội cần thiết anh có mặt trong những ngày sắp tới.
- Là gì?
- Nhật đang bị Mỹ đánh thua liểng xiểng ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam, Mỹ đã tham chiến bằng không quân. Đánh nhau giữa máy bay Nhật và máy bay Mỹ. Cách đây bốn hôm, Nhật đã bắn rơi một chiếc máy bay ở Quỳnh Côi. Mỹ thả nhiều võ khí xuống Lạng Sơn giúp Việt Nam chống Nhật. Phe Trần Trung Lập tan nát, vì Trần Trung Lập bị Nhật giết [2]. Bây giờ, Lạng Sơn còn phe ta chiến đấu tiêu diệt phát xít Nhật. Anh Hoan về Hà Nội chờ đợi Nhật đầu hàng Mỹ là cướp chính quyền, tuyên bố dộc lập.
- Thế cháu làm gì?
- Cháu hả?
- Vâng.
- Bố cháu, hồi còn sống, đã khuyên cháu học hành đỗ đít lôm, cảnh nghèo khổ của già đình cháu chấm dứt. Đấy là học thông thường, cái lối học cổ lỗ xĩ ấy đã hủy hoại tinh thần của bao nhiêu người. Đồng ý, đỗ đít lôm, ra đi làm, cả nhà hết nghèo khổ. Có tâm hồn, đâu chỉ nghĩ gia đình mình hết nghèo khồ, mà nhiều gia đình nghèo khổ, cả nước nghèo khổ. Cái học cao quý nhất là học làm cách mạng cháu ạ!
Bố mẹ Vọng đã chết rồi. Thầy Đàn, thầy Hoan đang làm cách mạng. Bây giờ, Vọng mới hiểu ý nghĩa của những câu thơ:
Ừ, đói khổ phải đâu là tội lỗi
Anh cứ nghĩ mà càng thêm hổ tủi
Cảnh cơ hàn khốn nạn của chúng ta
Nuôi đi em cho đến lớn đến già
Mầm hận ấy trong lóng xương ống máu
Để mai mốt thêm hăng hồn chiến đấu
Mà hôm nay em đã nhóm trong lòng

Thầy Nguyễn Công Hoan viết ở trang đầu cuốn truyện David Copperfield. Mầm hận ấy, thực dân Pháp đã làm cha Vọng ho ra những vũng máu mà chết. Mầm hận ấy, phát xít Nhật đã làm mẹ Vọng đói rụng rời mà chết. Mầm hận ấy đã nhóm trong lòng Vọng.
- Thưa chú, thầy Hoan bảo thế?
- Ừ.
- Thầy Hoan bảo chết, cháu sẽ chết, đền công lao thầy dạy dỗ cháu. Vâng, cháu sẽ học làm cách mạng.
- Cháu xứng đáng người cách mạng.
- Cháu sẽ cố gắng.
- Anh Hoan nói cháu có tâm hồn, nhờ chú huấn luyện cháu để cháu không mất tâm hồn. Cháu còn trẻ, rèn luyện từ nhỏ, cháu sẽ là người lãnh đạo cách mạng sau này. Cách mạng học ngoài đời, giúp cuộc đời. Cháu phải kiên nhẫn học tập, luôn luôn kiên nhẫn và học hỏi mọi người.
- Vâng.
- Ngày mai, ta bắt đầu.
Hôm sau, chú Nam Anh dạy Vọng bài học đầu: Chính trị nhập môn. Vọng cũng học chú tiếng Pháp và sử, địa, khoa học, những lúc rảnh rang. Nó học lao động ở nghề đi biển, với dân thuyền chài đánh cá. Vọng sống một cuộc đời khác lạ ở làng Đông Cao, cách xa bãi biển Đồng Châu, nơi Pháp cất nhiều nhà nghỉ mát sang trọng. Nó học vài tháng, chính trị làm đầu óc nó mở mang. Và hiểu thấu âm mưu thâm độc của thực dân và phát xít. Phát xít thì mới, chứ thực dân đô hộ dân Việt Nam 80 năm, mà tại sao ta đành chịu nhục nhã? Chú Nam Anh giải nghĩa: Luôn luôn, dân tộc ta vùng lên làm cách mạng, chống đối thực dân Pháp. Cách mạng không có thời và thế nên bị thất bại. Nếu cách mạng gặp đúng thời, cái thế của cách mạng như nước lũ chảy cuồn cuộn, cách mạng phải thành công. Bây giờ, đã mọc lên cả thời lẫn thế, chỉ còn đợi thời gian ngắn. Là cách mạng vươn mình.
Chờ cách mạng vươn mình, Vọng cứ ở Đông Cao, học tập chính trị.

96
Làng cách mạng Đông Cao, cái nôi ru say đắm người chiến sĩ. Làng ấy bị Pháp dội bom tàn sát năm 1939. Khi Pháp đánh vào, làng chống trả dữ dội, nếu Pháp mang ít quân đi. Khi Pháp đánh vào, làng bỏ đồng không nhà trống, nếu Pháp huy động nhiều lính. Đàn bà, trẻ con sang những làng lân cận lánh giặc. Đàn ông, thanh niên xuống thuyền ra khơi đánh cá. Pháp bao vây Đông Cao lâu quá, không ngăn nổi tinh thần chiến đấu của cả làng. Đành đem máy bay đến tàn phá. Và bỏ rơi Đông Cao, không có tên trong bản đồ huyện Tiền Hải.
Đông Cao nổi tiếng, từ ngày Ngô Duy Phớn về làm lãnh tụ ở đó. Một bài hát ca ngợi Ngô Duy Phớn và Đông Cao.
... Ngô Duy Phớn Đông Cao
Ai là dân
nước Việt Nam
Lòng hy sinh đương cơn nung nấu
Mau tiến tới phá hết xích xiềng
Cờ Việt Nam phấp phới bay cao...

Đông Cao, làng cộng sản miền Bắc đầu tiên chống thực dân. Thái Bình coi Đông Cao bất khuất, dùng Đông Cao làm nơi tôi luyện chiến sĩ cách mạng. Nhiều người cộng sản trốn tránh Pháp và triều đình Huế ở đây. Vọng học chính trị với Nam Anh và nhiều người khác. Họ đều có kiến thức sâu rộng nhưng khiêm tốn. Họ đã bỏ nhà, bỏ cảnh phú quý ra đi. Làm cách mạng.
Vọng vẫn học, vẫn đi biển. Đi biển dạy Vọng giá trị của lao động. Biết giá trị của lao động sẽ thương yêu người lao động. Như một dòng sông lúc nào cũng chảy, nước ngược nước xuôi. Nước chảy làm ra sáng tạo và tinh hoa cho con người. Một dòng sông không chảy khác gì cái ao tù hãm, bệnh tật và yếu hèn. Lao động đích thực là dòng sông chảy mạnh. Vọng say mê lao động như say mê chính trị.
Đầu tháng 8, 1945, Nam Anh dạy Vọng xong, kéo nó ra ngồi gốc cây cuối sân đàm đạo :
- Cháu tiến bộ lắm.
- Cám ơn chú.
- Một mình cháu bằng mười người gộp lại.
- Làm sao bằng nổi?
- Bằng mà. Ngày mai, các chú phải về thị xã. Cháu đi lao động nhiều nhé!
- Tức là cháu nghỉ học?
- Tạm nghỉ thôi.
- Các chú về thị xã làm gì?
- Thời và thế đã tới. Nhật sắp đầu hàng Mỹ. Các đảng phái đang tổ chức nhân dân tiếp đón. Đảng ta không cần đón rước, phải cướp chính quyền trong tay trước nhất. Đảng ta sẽ gặp trong ba trường hợp khó khăn phải đối phó cấp kỳ.
- Chú nói những trường hợp đó.
- Một, các đảng phái xúm nhau thanh trừng Đảng ta, nếu chính quyền không về tay họ. Hai, đồng minh sẽ đưa nước nào vào Việt Nam tước khí giới Nhật, miền Bắc và miền Nam? Nếu là Tầu, thật đáng lo ngại. Ba, Pháp có trở lại Việt Nam không? Nếu Pháp âm mưu trở lại, ta phải kháng chiến chống Pháp, không được ở các thành phố nữa, vì vừa độc lập đã bị chống giặc, ta còn yếu lắm. Một giải pháp hoàn toàn thắng lợi về tay ta là Mỹ vào Việt Nam tước khí giới Nhật. Anh, thực dân chiếm Ấn Độ, Mã Lai, Diến Điện, bị Nhật đánh tan nát, chiếm lại, và Tầu bị Nhật chiếm đóng đều là đồng minh với Mỹ. Rắc rối. Cả đêm qua, chú phải học tập bài Việt Nam sau khi Nhật đầu hàng của Đảng ta. Những trường hợp đó, rắc rối thì có, nguy hiểm thì không. Vì...
- Vì sao, chú?
- Vì, lãnh tụ tối cao của Đảng ta mới về Việt Bắc!
- Ai?
- Hố Chí Minh.
- Hồ Chí Minh?
- Phải, Hồ Chí Minh, tức Nguyễn Ái Quốc, bôn ba khắp thế giới, tranh đấu cho Việt Nam, đã trở về nước.
- Và chú nghĩ Nhật sắp đầu hàng?
- Lãnh tụ tối cao của Đảng ta đã khẳng định Nhật phải đầu hàng Mỹ.
- Chú về thị xã?
- Các chú về sớm, đợi chỉ thị của Đảng ta.
- Cho cháu về với?
- Cháu ở yên đây, đang học tập, còn phải học tập nhiều nữa. Cháu chưa thể hành động được.
Rút trong tập viết ra hai tờ giấy, Nam Anh đưa vào tay Vọng :
- Đây là hai bài hát, có cả nhạc. Đồng chí địa phương Văn sẽ đến chơi banjo, cho cháu tập hát. Thuộc rồi, cháu sẽ phổ biến cho Đông Cao để Đông Cao phổ biến các làng lân cận. Cháu theo rõi sát, hễ thị xã khởi nghĩa cướp chính quyền, thì hướng dẫn Đông Cao vào huyện Tiền Hải biểu tình tuần hành và truất phế tri huyện, đưa người Đông Cao, đồng chí Bảy Phòng của ta, lên làm chủ tịch lâm thời huyện. Quốc kỳ nền đỏ sao vàng Đông Cao. Đó là công tác thứ nhất của cháu, chú chịu trách nhiệm đề cử cháu với Đảng. cháu phải hoàn tất. Chúc cháu thành công và thành công lớn.
- Vâng.
- Một bài hát là Tiến quân ca, tạm dùng làm quốc ca. Một bài là Đuốc gươm thiêng [3], tạm dùng làm lãnh tụ ca. Hai bài thôi, sẽ làm cách mạng bừng bừng khí thế ở Tiền Hải.
Nam Anh tạm biệt Vọng. Đêm hôm ấy, Văn đến vê banjo rỏn rã để Vọng hát.
Đoàn quân Việt Minh đi
chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn
vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca
Đường vinh quang
xây xác quân thù
Tiến mau đi
đoàn Việt lập chiến khu
Thề phanh thây
uống máu quân thù
Tiến mau ra sa trường
tiến lên
cùng thét lên
Chí trai là đây nơi ước nguyền

Thuộc bài Tiến quân ca rồi, Vọng học bài Đuốc gươm thiêng:
Đuốc gươm thiêng
vung cho nước nhà
Khiến dân Việt Nam
hết xót xa
Hồ Chí Minh
anh hùng bao nhiêu năm tranh đấu
Thắng gian nguy
tranh công đầu
giải phóng cho dân Việt Nam
danh tiếng ngàn thu
Ngàn đời sau
lưu quý danh
Dân Việt Nam hô lớn đồng thanh
Hồ Chí Minh muôn năm
Hồ Chí Minh
Người soi đuốc sáng khắp nước Nam
Hồ Chí Minh
Làm cho nước Việt Nam quang vinh

Hôm sau, Vọng phổ biến bài hát cho dân làng Đông Cao và chuẩn bị ngày khởi nghĩa ở Tiền Hải. Nam Anh không nói đến khẩu hiệu, bích chương, Vọng đã nghĩ tới. Đâu đâu cũng nghe nói sắp tới ngày khởi nghĩa. Vọng nôn nao. nó đếm từng ngày.

97
Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đã khai hoang đất này, đặt cho nó cái tên Tiền Hải. Bao quanh biển Bắc, ráp ranh giới Kiến Xương bằng làng Trình Phố, huyện lỵ cuối cùng bên tả ngạn sông Trà Lý là Tiền Hải, thuộc tỉnh Thái Bình. Dân tình đông đúc. Tiền Hải cả đời không biết lụt lội. Nước lũ trên ngàn chảy xuôi ra đến gần biển yếu dần. Tiền Hải không có đê sông Trà Lý. Nhiều con sông nước biển ùa vào hòa chung với nưóc ngọt thành nước lợ. Nước lụt chỉ đến Thanh Nê, Kiến Xương. Là thôi. Dân Tiền Hải sung túc, vì thế.
Ngày 19 tháng 8, 1945, tổng khởi nghĩa cướp chính quyền từ tay Nhật ở Hà Nội, Thái Bình, Phủ Lý và các thành phố, thời gian có chênh lệch nhau cũng chỉ hai ba ngày. Thái Bình khởi nghĩa từ 8 giờ sáng. Tiền Hải được tin muộn màng, ba ngày mới phát động. Tri huyện và gia đình đã phóng xe hơi chạy trốn. Không có Nhật ở đây, tổng khởi nghĩa không gặp một trở ngại nào.
Vọng dẫn Đông Cao xuống Tiền Hải. Vừa bước nhanh vừa hát Tiến quân ca. Người nào người nấy đằng đằng sát khí. Dọc theo đường Đông Cao đi, các làng kéo nhau ào ào cùng đi. Đoàn người chẳng mấy đỗi đông như kiến. Các khẩu hiệu phóng ra :
- Cách mạng thành công muôn năm!
Lời hô bay tim phổi :
- Muôn năm...
- Việt Nam độc lập muôn năm!
- Muôn năm...
- Đả đảo thực dân Pháp!
- Đả đảo.
- Đả đảo phát xít Nhật!
- Đả đảo.
- Đả đảo Việt gian!
- Đả đảo.
Đoàn người cách mạng đã tới huyện lỵ. Cờ đỏ sao vàng tung bay ngợp trời. Những bích chương vàng viết khẩu hiệu đỏ chói chang vùng đất. Lời ca hào hùng vút lên không gian. Tiếng hô mở đường tim vào lòng người. Những khuôn mặt ủ rũ từ 80 năm nô lệ muốn kéo thời gian trở lại, để chứng kiến cảnh tượng nóng bỏng của ngày quốc dân tổng khởi nghĩa.
Vọng tưởng chừng lớn lên, hướng dẩn nhân dân vào phố huyện. Chưa bao giờ, Vọng nghĩ, một thằng bé con nhà nghèo mạt rệp ở Kỳ Bá, ghẻ tầu, bị học trò Monguillot xúm nhau đánh đấm, suýt chết đói, như hôm nay. Như hôm nay, Vọng đã trưởng thành, đã biết chôn vùi căm thù cũ. Vọng nghiến răng, hô lớn :
- Đả đảo phát xít Nhật!
Mọi người hòa giọng :
- Đả đảo.
- Đả đảo thực dân Pháp!
- Đả đảo.
- Đả đảo phát xít Nhật độc ác, bắt hai triệu người Việt Nam chết đói!
- Đả đảo.
- Đả đảo thực dân Pháp tàn nhẫn, bắt nhân dân Việt Nam nô lệ 80 năm!
- Đả đảo.
Hai khẩu hiệu của Vọng nghĩ ra, tưởng chừng đã trả thù thực dân Pháp cho cha nó cu ly, chết vì bệnh ho lao; đã trả thù phát xít Nhật cho mẹ nó bán hàng rong, chết vì đói. Như thế, Vọng đã hả hê lắm rồi. Cha mẹ nó chắc đã mỉm cười nơi chín suối.
Dân phố huyện thấy đoàn biểu tình tuần hành, mắt long lanh thù hận, sợ hãi. Nhiều nhà đóng cửa lại. Nhiều nhà hé mở nhìn nông dân bộc lộ nỗi niềm. Nỗi niềm mà, từ khi họ ra đời và sống cam đành, họ chưa hề thấy. Cái đám dân huyện lỵ, thị xã, thành phố đều giống nhau. Họ sống yên thân, chẳng biết bị trị là gì!
Huyện đường ở cuối phố chính. Đoàn biểu tình phải qua nhà bưu điện, qua trường học mới tới. Những khẩn hiệu, những bài ca vẫn vang vọng. Họ đã đến huyện đường. Lính lệ cởi quần áo, xếp súng đạn một chỗ, đứng chờ đầu hàng. Vọng nghiêm cấm không cho bất cứ ai hành hung, nhục mạ lính lệ, theo chỉ thị của cách mạng. Vọng tiếp thu súng đạn, giao cho Đông Cao rồi vào huyện đường. Tri huyện đã trốn từ lâu, các nha lại có mặt ở huyện đường nộp huyện và các cơ cấu hành chính, thuế má cho cách mạng. Vọng chứng kiến kiểm kê, bắt Đông Cao khóa cửa văn phòng và sai người bồng súng gác. Vọng cho các nha lại cùng lính lệ trở về nhà mình, không sợ gì hết.
Cuộc tiếp thu huyện đường xong xuôi, Vọng chỉ huy đoàn biểu tình, vòng qua phố nhỏ, đối diện với phố chính, ngược đường ra sân vận động. Ở đây, có cái hồ nước lớn. Sân vận động nằm cạnh hồ nước. Đoàn biểu tình dừng chân. Họ hát và hô khẩu hiệu, lại râm ran. Lúc nào cũng mới. Chẳng bao giờ cũ.
- Hồ Chí Minh muôn năm [4]!
- Muôn năm...
- Việt Nam độc lập muôn năm!
- Muôn năm...
- Cách mạng muôn năm!
- Muôn năm!
- Lật đổ tri huyện Việt gian bán nước!
- Lật đổ.
- Bầu ngay chủ tịch lâm thời huyện!
- Bầu ngay.
Sân vận động có một cột cờ cao và lớn. Hồi Pháp thuộc, mỗi dịp đá bóng hay mỗi lẩn tổ chức cuộc vui, người ta kéo cờ tam tài và cờ vàng lên. Từ ngày Nhật đảo chính Pháp, cờ tam tài bị thay bằng cờ mặt trời. Hôm nay, một lá cờ, chỉ duy nhất một lá cờ đỏ sao vàng, của nước Việt Nam độc lập, mới tung bay ngạo nghễ. Vọng cho mang sẵn lá cờ lớn, buộc vào dây cột cờ. Cách mạng làm lễ chào cờ nghiên trang. Tự 4.000 năm, dân huyện lỵ mới tập trung đông đảo để chào cờ trong khí thế oai hùng.
Vọng tiến gần cột cờ, hô lớn :
- Toàn thể chú ý. Nghiêm!
Mọi người đang xôn xao, bỗng đứng nghiêm, im lặng.
- Chào cờ... chào...
Tiếng hát trào dâng.
- ... Thề phanh thây uống máu quân thù
Tiến mau ra sa trường
tiến lên
cùng thét lên
Chí trai là đây nơi ước nguyền

Người kéo cờ thật giỏi, hết quốc ca, cờ đã cao vút trên ngọn cột. Chờ một lát, Vọng hô :
- Suy tôn lãnh tụ Hồ Chí Minh!
Tiếng hát bốc tỏa.
- ... Hồ Chí Minh muôn năm
Hồ Chí Minh
Người soi đuốc sáng khắp nước Nam
Hồ Chí Minh muôn năm
Hồ Chí Minh
Làm cho nước Việt Nam quang vinh

Sau đó, Vọng lên phát biểu ý kiến. Theo Vọng, cách mạng là cứu tinh của dân tộc, sáng tạo ngày tổng khởi nghĩa, giải phóng toàn dân thoát cảnh nô lệ lầm than của Pháp, cảnh dã man tàn bạo của Nhật. Nhân dân ta không thể chịu được bóc lột, đầy đọa của thực dân và phát xít. Chúng ta phải vùng lên, có cách mạng dẫn đường chỉ lối, chúng ta không bao giờ thất bại nữa. Vỗ tay hoan hô. Người khác lên phát biểu. Và người khác, người khác... Phát biểu và vỗ tay. Như thế, từ trưa đến chiều vẫn say mê.
- Bầu ngay chủ tịch lâm thời huyện!
- Bầu ngay.
Vọng đề cử đồng chí Bảy Phòng. Người ta coi Vọng như lãnh đạo hôm nay. Người ta mến yêu Vọng. Không ai đề cử người khác.
- Đồng ý.
- Nhất trí cao, đồng ý.
- Đồng ý.
Bảy Phòng hiên ngang làm chủ tịch lâm thời huyện. Người ta vỗ tay chào mừng Bảy Phòng. Người ta hát. Người ta liên hoan. Người ta quên ăn, quên uống. Quá nửa khuya, người ta mới giải tán.

98
Vọng nghĩ rằng Vũ đã về Thái Bình, đã chứng kiến lụt lội. Tiền Hải không có lụt lội bao giờ, không phải lo lắng khi nghe trống canh đê, không đau khổ khi đê vỡ.
Năm 1945, vun vút trôi mau. Vọng vẫn ở Tiền Hải, phụ tá cho Bảy Phòng công tác cách mạng. Nó chưa nhận lệnh đi đâu, ngoài việc từ làng Đông Cao chuyển về huyện lỵ Tiền Hải. Vọng muốn về thị xã thăm bạn cũ và tâm sự đủ thứ chuyện. Việc làm án ngữ thời gian. Và lãnh đạo, cơ hồ ngọn lửa vô hình, luôn luôn theo rõi tâm hồn Vọng, quyết định cuộc đời Vọng. Vọng chẳng thể tự do bừa bãi như thuở làm học trò. Nam Anh và các đồng chí chưa trở lại Tiền Hải. Có lẽ gặp nhiều trường hợp khó khăn ở thị xã, Nam Anh phải hiện diện thường xuyên. Vọng bận nhiều với Ủy ban cách mạng Tiền Hải, không cần biết những gì đã xảy ra bên ngoài.
Thế rồi, Tầu phù của Lư Hán, Tiêu Văn sang Thái Bình tước võ khí Nhật lùn. Đảng đã nhận xét thật đúng. Nam Anh phải đối phó với các đảng phái thân Tầu và quân Tầu ô hợp. Tướng Long Vân sợ Tưởng Giới Thạch khu trừ mình, đóng quân ở Trung Hoa kiềm chế Tưởng Giới Thạch, sai Lư Hán mộ lính Quảng Đông, Quảng Tây, kéo đám Tầu phù thũng qua Việt Nam. Người Mỹ đã nhận Tầu phù là đồng minh! Quân Tầu sang Việt Nam không muốn về. Đã chả tốn một giọt máu như Tôn Sĩ Nghị, xâm lăng có chính nghĩa tước võ khí của phát xít, được hầu hạ cơm nước, ăn uống thả giàn, Tầu phù không ham về nước chúng. Là phải. Người Mỹ đã đểu giả với dân tộc Việt Nam từ đó.
Cách mạng đã giải quyết thỏa đáng vấn đề. Cách mạng đúc người bằng vàng y cống hiến Lư Hán, Tiêu Văn. Những thằng tướng Tầu hèn mọn này rút quân về Tầu. Vọng mường tượng ra cảnh Tầu phù tước khí giới Nhật. Chắc bi thảm hơn cảnh Nhật đảo chính Pháp. Côn đã thương Pháp, tội nghiệp Pháp sa vào sự tàn nhẫn của Nhật. Nó lại thương Nhật, tội nghiệp Nhật sa vào sự bất nhân của Tầu cho mà xem. Thằng Côn tình cảm ấm ớ. Vọng đã chê Côn, không đồng ý với Côn vụ Nhật hành hạ Pháp năm ngoái. Vọng tiếc rẻ, giá nó có mặt ở thị xã ngắm quân Tầu ô nhỉ?
Vọng không được chứng kiến ngày Tầu phù lếch thếch kéo nhau về, Tầu buôn hết làm bộ làm tịch khi quân Tầu đóng ở thị xã. Vọng tin tưởng bọn thằng Vũ, thằng Côn sẽ không tha thứ cho bọn thằng Coóng, thằng Dzoòng.
Sau khi Tầu hồi hương, chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ tối cao của Đảng, cứu tinh của dân tộc, đã về Thái Bình thăm nhân dân. Vọng ấm ức không gặp bác Hồ, cơ hội ngàn năm một thuở.
Cuối năm 1946, Pháp ở Hà Nội khiêu khích. Hồ chủ tịch kêu gọi toàn dân đoàn kết chống Pháp xâm lăng và tản cư về hậu phương kháng chiến. Vọng hiểu rằng đất nước đã có chiến tranh. Căm thù thực dân chưa xong, đã căm thù xâm lăng Pháp. Vọng muốn vào bộ đội, đi tiêu diệt kẻ thù. Nó cứ ở Tiền Hải mãi, ở đến bao giờ, khi cơ thể nó rung lên, dòng máu trong huyết quản nó réo sôi.
Tháng 4, 1947, Nam Anh xuôi Tiền Hải gặp Vọng. Vọng vui mừng khôn tả :
- Đã hơn một năm rồi xa chú.
- Chú biết. Cháu làm việc ở Ủy ban huyện bận rộn làm sao, thì chú ở Ủy ban tỉnh bận rộn dường ấy. Hơn nữa là khác. Chú vẫn nhớ cháu, theo rõi cháu...
- Cám ơn chú.
- Cháu biết tại sao giữ cháu ở Tiền Hải không?
- Không.
Muốn cháu xa nhà, nhớ mãi rồi quên đi. Người làm cách mạng cứ nhớ nhà, nhớ kỷ niệm cũ, nhớ bạn bè xưa, phẩm chất không còn là cách mạng nữa. Bởi mong mỏi cháu thành người cách mạng nguyên vẹn, Đảng ta mới ghìm cháu ở Tiền Hải, không cho cháu về thị xã. Trong cách mạng, cháu lớn vọt lên từ hành động đến tư tưởng, cháu biết không?
- Cháu chỉ thấy mình lớn lên.
- Quên mình, nghĩ đến người, là nét đậm trong cách mạng.
- Vâng.
- Thầy Hoan nhớ cháu luôn.
Vọng thương thầy Hoan, nhớ thầy canh cánh bên lòng. Cần một câu, một câu thôi, đủ diễn tả tâm hồn Vọng: Không có thầy Hoan, nó đã chết đói!
- Bây giờ, thầy cháu ở đâu?
- Việt Bắc.
Nam Anh nhìn Vọng, mỉm cười khoan khoái :
- Nguyễn Công Hoan đã tìm ra người cống hiến cho cách mạng.
Vọng xấu hổ, cúi đầu.
- Cháu làm rạng rỡ tinh thần Ngô Duy Phớn. Ở Đông Cao. Ở huyện Tiền Hải. Cháu giầu sáng tạo. Cháu soi rõ niềm khoan hồng, đạo đức của cách mạng: Tha chết cho lính lệ và nha lại. Cháu nghiêm minh giữ lại cho cách mạng những thứ cách mạng chiếm được. Tài sản của huyện đường, huyện quan, súng đạn kiểm kê và canh giữ. Ở nhiều huyện khác, cách mạng dấy lên, vì lòng căm phẫn nhất thời của nhân dân, nhiều người đã bị giết chết, cả những người vô tội nữa. Có nỗi bất bình phản ánh. Cách mạng đành im, chịu đựng oan nghiệt. Cách mạng ở đâu cũng vậy, giống nhau chi tiết này. Cách mạng ở nước Pháp, người chết oan vô tả. Trong lịch sử Pháp ghi chép đầy đủ. Cháu đã làm đúng tinh thần cách mạng: Không giết người, không cướp của. Không ai dạy cháu, thầy Hoan không dạy cháu, chú không dạy cháu. Vậy ai dạy cháu?
Vọng nghĩ ngay đến thằng Vũ và những nét cao thượng của nó.
- Thưa chú, thằng Vũ.
- Là ai?
- Học cùng trường với cháu. Thầy Hoan khen ngợi nó hết lời.
- Thầy Hoan nói sao?
- Thầy bảo Vũ là kẻ có lòng, là anh hùng, dám bênh bạn, quý thầy mà chịu đuổi học.
- Vũ ở đâu?
- Cháu chỉ gặp nó ở thị xã. Hồi nó bị đuổi, lên Hà Nội học, cháu không còn gặp nữa.
Nam Anh nói :
- Chú sẽ tìm thằng Vũ.
Và vỗ vai Vọng :
- Cháu sửa soạn hành lý lên đường.
Vọng theo Nam Anh đi Quỳnh Côi. Ngay hôm sau, Vọng được kết nạp vào Đảng, thuộc Đảng ủy Thái Bình, căn cứ bản đề cử của Nguyễn Công Hoan và Nam Anh, những ngày tranh đấu với bản thân, cùng thành tích cách mạng của Vọng đã lập được. Vọng đã thành đảng viên Đảng cộng sản năm Vọng 19 tuổi. Vọng được vào Đảng, lý do chính Vọng thuộc thành phần công nhân nghèo khổ. Cha Vọng sống nghèo khổ, chết vì bệnh ho lao. Mẹ Vọng nghèo khổ, chết vì đói. Vọng nghèo khổ, bị áp bức từ nhỏ.
Vọng đã cảm động ứa nước mắt, lúc tuyên thệ trước bàn thờ treo Đảng kỳ và Quốc kỳ. Vọng quỳ xuống, thề rằng: Trung thành với Đảng, với Lãnh tụ, với Giai cấp, với Tổ quốc, với Nhân dân. Vọng phải bỏ tên cũ, lấy tên mới, quên hẳn tên cũ Nguyễn Hữu Vọng đi. Nam Anh cùng Vọng tham khảo chuyện đổi tên. Cuối cùng, Nguyễn Hữu Vọng thành Nguyễn Kỳ Bá, làm bất cứ việc gì phải tuân lệnh Đảng, đi bất cứ đâu phải do Đảng chỉ thị. Không phàn nàn, chẳng bất mãn. Vọng sung sướng lắm rồi.
- Từ nay, đồng chí là đồng chí của tôi.
Nam Anh bắt tay Kỳ Bá :
- Trong công tác và những nơi công cộng. Ngoài thời gian đó, ở nhà, hãy thân mật xưng hô chú, cháu.
- Thưa đồng chí, vâng.
- Không, rõ.
- Thưa đồng chí, rõ.
- Đồng chí còn trẻ, tôi có bổn phận cho đồng chí biết, còn nhiều cản trở, Đảng ta chưa nói rõ là Đảng cộng sản được. Mai này, lãnh tụ tối cao sẽ đặt tên lâm thời cho Đảng. Gặp gì chăng nữa, đồng chí chỉ nên vắn tắt: Đảng ta thôi.
- Thưa đồng chí, rõ.
- Vì đồng chí còn trẻ, Đảng ta chưa đặt đồng chí ngồi ở những cấp cao hơn, dù đồng chí tài giỏi, sáng tạo tốt. Đồng chí nắm cấp nhỏ rồi đi lên, theo tuổi tác của đồng chí.
- Thưa đồng chí, rõ.
- Đồng chí thắc mắc gì không?
- Thưa đồng chí, không.
- Hoàn toàn không?
- Thưa đồng chí, hoàn toàn.
- Mai tôi sẽ rời đồng chí về thị xã. Đồng chí ở lại Quỳnh Côi, trực thuộc Quỳnh Côi trong công tác.
Từ Tiền Hải, sang sông Trà Lý, qua Quỳnh côi, Kỳ Bá thấy cuộc đời mình xoay đổi chớp nhoáng. Bây giờ, anh đã thành đảng viên Đảng cộng sản, có tên mới, anh dùng làm cả bí danh: Kỳ Bá. Quỳnh Côi đẹp hơn Tiền Hải. Phố xá huyện lỵ nhiều nhà ngói khang trang. Ngày xưa, có thời thi hào Nguyễn Du đã sáng tác thi ca ở đây. Quỳnh Côi phi cơ Nhật đã hạ phi cơ Mỹ rụng rơi, sau lần không chiến, làm xôn xao huyện lỵ.
Ký Bá theo học Sử Đảng để hiểu lịch sử của Đảng cộng sản quốc tế, Đảng cộng sản Đông Dương, rồi Đảng cộng sản Việt Nam mà quan niệm về sử cho đúng đắn, chững chạc là đảng viên cộng sản. Lần lượt Kỳ Bá thuộc tên Karl Marx, Friedrick Engels, Vladimir Ilitch Lénine, Joseph Staline, Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Nguyễn thị Minh Khai... Kỳ Bá như sống với ngày Xô viết Nghệ An, Nam kỳ, Bắc Sơn khởi nghĩa... Những địa danh Bắc Sơn, Thái Nguyên... gần gũi Kỳ Bá, sưởi ấm lòng Kỳ Bá.
Kỳ Bá học sáu tháng mới chấm dứt khóa 1, Đảng đã đưa anh gia nhập bộ đội. Thời gian này, Pháp ở Nam Định vượt sông Hồng qua Tân Đệ, vào thị xã Thái Bình. Pháp hành quân chớp nhoáng. Rút lui vô sự. Không giết bất cứ ai. Thị xã không biết gì. Sáng sau mới rõ. Pháp đã về Nam Định rồi. Cách mạng quy mọi tội lỗi cho Hoàng Sĩ Tính, con cháu Hoàng Cao Khải, Hoàng Trọng Phu, là tiểu đoàn trưởng bộ đội trấn giữ thị xã mà không biết tin tức địch. Hoàng Sĩ Tính bị xử tử tại sân vận động Thái Bình. Anh ta vừa bị gục, điện tín của Hồ chủ tịch khoan hồng anh, cách mạng mới nhận được.
Hoàng Sĩ Tính chết vài ngày, lệnh tiêu thổ kháng chiến ban hành. Thị xã bị phá tan tành nhà cửa. Dân chúng kéo nhau về quê. Đầu năm, Kỳ Bá tốt nghiệp quân sự. Anh theo trung đoàn 84, xung phong đi diệt Pháp ở Hải Dương, Hưng Yên. Trung đoàn 84 nổi tiếng gan dạ. Giữa năm, Kỳ Bá lên chức chính trị viên tiểu đội. Kỳ Bá chuyển quân khắp nơi, đóng khắp các huyện lỵ. Trong năm 1949, Kỳ Bá là chính trị viên trung đội. Năm 1950, Đảng thay đổi nhiều chính sách. Giải tán Vệ quốc đoàn, thành lập Quân đội nhân dân, và chính trị viên là chính ủy.
Tháng 9 năm 1950, chính ủy Kỳ Bá đã cho trung đội 23, đại đội 6, tiểu đoàn 15, trung đoàn 84 sang sông Trà Lý, đóng ở ba làng đã vào Hội Tề: Tường An, Đồng Đức, Đại Đồng. Đêm nay, Kỳ Bá không ngủ được vì lãnh đạo và thần tượng, Vọng và Kỳ Bá ám ảnh chính ủy. Chính ủy phải vận dụng trí tưởng tượng của mình, leo lên chiếc tầu, ngược dòng thời gian, chạy về vùng dĩ vãng ngậm ngùi. Để tìm tuổi thơ của thằng Vọng...

99
Đã bảy giờ sáng. Các sắc chim đang đua nhau hót trên cành cây, báo hiệu một ngày mới. Kỳ Bá đứng dậy, anh mỉm cười. Cười cho mình. một chút ít tình cảm tiểu tư sản đã làm anh suy nghĩ suốt đêm về lãnh đạo và thần tượng. Anh có dịp trở ngược dĩ vãng, nhìn lại đời mình. Nhìn lại đời mình, Kỳ Bá chỉ thấy rong rêu phủ kín. Thần tượng, theo nhóc Khoa suy tôn mình, là thần tượng của tuổi thơ. Thần tượng ấy bừng sáng chốc lát, không lấp nổi những cái hố thẳm đầy oan khiên, nghèo đói bủa quanh mình.
Kỳ Bá sắp chết đói. Lúc anh gặm củ chuối, có ai tôn vinh anh là thần tượng, cứu rỗi anh? Vũ được, Côn được. Luyến được. Khoa được. Chúng nó không thể giúp anh lớn lên huy hoàng, như còn bé anh đã sút những đường bóng ngả bàn đèn, trồng cây chuối, xuyên chỉ qua kim nổi. Thời đó, anh coi như kỷ niệm, như ánh nắng chiếu xuống trưa mùa đông. Ngắn ngủi. Chóng tàn. Cái phải nhớ, suốt đời phải nhớ, là nỗi thống khổ, niềm oan khiên. Cha anh sống nheo nhóc bằng thống khổ, oan khiên. Mẹ anh sống lây lất bằng oan khiên, thống khổ. Và chết, cũng bằng oan khiên, thống khổ. Từ niềm oan khiên, nỗi thống khổ, thầy Nguyễn Công Hoan và chú Nam Anh đã dắt anh vào cuộc đời. Cuộc đời cách mạng. Ý nghĩa và sâu sắc hơn cuộc đời thần tượng bóng tròn, nghìn vạn lần. Thần tượng bóng tròn tuổi thơ không đáng nhắc tới.
Bây giờ, Kỳ Bá làm chính ủy, có những kỷ luật vây hãm anh. Như trên sân cỏ, đấu thủ phải chịu trọng tài phạt, dù oan ức hay hợp lý. Đấy mới đích thị cuộc đời. Làm người không vâng lời người trên, giống hệt ngựa hoang cầy phá tất cả. Người mà Kỳ Bá kính trọng nhất là thầy Hoan và chú Nam Anh. Người mà thầy Hoan và chú Nam Anh kính trọng tuyệt đối, nghe lời tuyệt đối, là lãnh tụ tối cao Hồ Chí Minh, một Hồ Chí Minh có cái bóng huyền diệu bao phủ dân nghèo. Nồng nàn. Mát rượi. Bác là Đảng. Trung thành với Đảng là trung thành với Bác, với lãnh tụ của Đảng. Kỳ Bá đã tuyên thệ như vậy. Trước thế nào, sau thế ấy. Không có gì ngăn nổi bước anh đi.
Ký Bá nổi hứng, vững niềm tin, hát hơi lớn :
- ... Đi lên thanh niên
Làm theo lời Bác
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí cũng làm nên

Có tiếng Thi :
- Sao đêm qua anh không ngủ, sáng nay hát hay thế?
Kỳ Bá giật mình, quay người lại :
- Cô cũng không ngủ à?
Thi đáp :
- Không ạ! Không ngủ, em mới thấy anh thức.
Kỳ Bá lắc đầu, cười :
- Cũng may mắn cho tôi. Nếu cô là thằng địch, tôi đã chết rồi.
Và hỏi :
- Cô ngồi ở đâu nhìn tôi?
Thi đáp :
- Em ngồi đằng kia.
- Đằng kia là đâu?
- Em... em, chả biết nữa!
Hôm nay mới có dịp, Kỳ Bá ngắm kỹ Thi. Cô 18 tuổi. Mặc chiếc áo nâu ngắn, quần đen, tóc chải gọn, Thi đẹp lắm. Nếu là con nhà giầu, sống trong thị xã, Thi còn đẹp hơn con Thúy của Vũ, con Ngọc của Côn. Từ ngày đến đây cư ngụ, Ký Bá đi thật sớm, về thật trễ, ít khi ăn uống ở nhà, nên không có dịp gần gũi Thi. Riêng Thi, cô biết Kỳ Bá nhiều. Cô dậy trước cả Kỳ Bá dậy. Cô ngủ sau cả Kỳ Bá ngủ. Kỳ Bá chẳng hiểu cô Thi đã đợi mình về quá nửa đêm. Mà chả nói năng gì!
- Cô không biết chỗ đằng kia ở đâu à?
Thi khép nép :
- Em nói dối, có sao không anh?
Kỳ Bá vui vẻ :
- Không sao. Tôi muốn cô nói thật.
- Em nói thật nhé!
- Ừ.
- Thầy mẹ em đi làm đồng. Sắp tới vụ chiêm rồi. Hai đứa em của em cũng ra đồng.
- Cô không đi bán bánh cuốn ư?
- Thầy em bắt em phải ở nhà.
- Ở nhà làm gì?
- Em... em... chả nói nữa!
- Cô bảo cô nói thật mà?
- Em xấu hổ lắm.
Thi xoăn mép áo, nhìn xuống nền nhà. Kỳ Bá xôn xao trong lòng. Hai mươi hai tuổi, từ bé đến lớn, Kỳ Bá chưa được tiếp xúc với một cô gái nào hiền hậu và ngây thơ như Thi. Làng Tường An của thằng Vũ, thằng Khoa tuyệt vời. Tuyệt vời như cô gái đang nói chuyện với chính ủy. Trong căn nhà lá, qua ánh sáng của ngày chưa tỏ, lờ mờ, Kỳ Bá nhìn Thi thật lâu. Tâm hồn chính ủy Kỳ Bá dậy lên những tình cảm không biết định nghĩa như thế nào. Tự lúc sinh ra, lên 17 tuổi, Kỳ Bá không dám nghĩ chuyện mộng mơ. Sự nghèo khổ đánh đai lấy cuộc đời anh. Rồi tự 17 đến 22 tuổi, công tác cách mạng chằng lên cổ Kỳ Bá những sâu chuỗi ngặt nghèo. Anh không đủ thì giờ làm việc khác. Cơ hồ một cái máy, anh làm việc tối ngày.
- Xấu hổ đáng chê lắm, phải không anh?
- Không, đáng khen chứ.
- Sao mà khen được?
- Người ta bảo con gái mà xấu hổ, đôi má nóng ran, ửng đỏ trông xinh đẹp vô cùng.
- Người ta là ai?
- Là người ta!
- Người ta là người ta, em không nói thật đâu.
- Thế, người ta là ai?
- Tùy ý anh.
- Thí dụ là tôi nhé!
- Không thí dụ.
- Là tôi...
Thi sung sướng. Cô cảm thấy người ấm lên. Trời đầu mùa đông mà. Cô không nhìn thấy cô, đôi má nóng ran, ửng đỏ trông xinh đẹp vô cùng.
- Em nói thật nhé!
- Ừ.
- Không xấu hổ nữa, nhé!
- Ừ.
- Thầy em dặn ở nhà trông chừng anh. Vì anh không ngủ đêm qua, sáng nay có ngủ thiếp đi, cũng đừng đánh thức anh dậy.
- Cô phải ngồi ở đằng kia, trông chừng tôi?
- Không, em cảnh giác cao, đề phòng địch đến, canh gác anh, đấy ạ!
Ký Bá cười. Thi cũng bịt miệng cười. Hồn nhiên không tả nổi.
Thi hỏi :
- Em đi kín nước vào thau nhôm cho anh rửa mặt nhé!
Ký Bá xua tay :
- Đừng làm thế phiền cô. Để tôi ra cầu bắc trên con ngòi được rồi. Mà...
- Gì ạ?
- Cô nói chuyện với tôi nữa, được không?
- Anh bỏ công tác?
- Công tác đâu bằng nói chuyện với cô!
Kỳ Bá đã ngồi xuống giường. Thi ngồi xuống ngưỡng cửa.
- Cô Thi có đi học không nhỉ?
- Có ạ!
- Lớp mấy?
- Lớp nhất. Làng hết lớp, em nghỉ học, anh ạ!
- Thế là hơn tôi rồi. Tôi học chưa hết lớp nhất.
- Lớp nhất của anh ngày xưa giỏi hơn cả đệ tứ trung học ngày nay. Em đâu dám đem ra so sánh.
- Cô thông minh lắm.
Thi ngượng ngùng. Ký Bá đăm đăm nhìn Thi.
- Thưa anh, anh ở đâu ạ?
Kỳ Bá đùa :
- Ở nhà cô!
Thi nhéo khẽ tay mình.
- Thưa anh, anh sinh ở đâu ạ!
- Làng Kỳ Bá.
- Tên anh mà.
- Làng Kỳ Bá, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình. Như Tường An ấy. Cha mẹ tôi yêu làng tôi, lấy tên làng đặt cho tôi. Cô có biết thị xã Thái Bình không?
- Em Khoa con ông Hùng và anh Vũ ở thị xã. Anh Vũ đã đi làm liên lạc viên cho bộ đội. Em Khoa ở lại làng, chơi thân với con Liên tản cư. Bây giờ con Liên về Hà Nội rồi. Cả làng Tường An quý thằng Khoa và kính trọng ông bà Hùng.
- Sao dân làng kính trọng ông bà Hùng?
- Ông bà ấy giúp đỡ mọi người. Ai cần gì, ông bà ấy cho. Ông bà ấy cho tiền người nghèo, chứ không cho vay.
Kỳ Bá nhớ tới Vũ. Và tin rằng tình thương yêu của nó dành cho Kỳ Bá chân thật.
- Em không biết thị xã Thái Bình đâu, anh ạ!
- Thị xã nằm sát Kỳ Bá. Tôi đi học cùng trường với anh Vũ, em Khoa, chơi thân với Vũ. Hôm qua, Khoa đến thăm tôi ở nhà cô, cô đi làm nên không biết.
- Hèn chi anh giỏi thế. Anh như bộ đội năm xưa ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định về làng em, dạy chúng em học đủ điều. Bộ đội bây giờ nói mỗi câu đều có danh từ chính trị khó hiểu. Dân làng cũng yêu bộ đội, không yêu lắm. Dân làng yêu quý anh thật lòng. Anh không nói danh từ chính trị hiểm hóc mà chỉ đơn sơ, mộc mạc như dân làng nghĩ và hay nói, dân làng quý anh là đúng rồi.
- Cô thông minh do người phú, chẳng do trời phú.
Thi đứng dậy :
- Em đi lấy nước cho anh rửa mặt. Muộn rồi, anh phải đi công tác.
Kỳ Bá gạt đi :
- Không công tác công tung gì cả.
Và ra lệnh :
- Cô ngồi xuống.
Thi ngoan ngoãn vâng lời. Kỳ Bá bước khỏi giường, đến ngưỡng cửa, ngồi xuống cách xa Thi.
- Cô Thi!
- Dạ.
- Tôi có được phép gọi Thi trống không không?
- Dạ.
- Thi.
- Dạ
- Em Thi.
- Dạ.
- Em...
- Dạ.
Kỳ Bá ngồi xích lại, xích lại... Anh đưa tay bá vai Thi. Im lặng. Thi không nhúc nhích.
- Anh không thích đi làm sáng nay.
Thi nhỏ nhẹ :
- Thế ạ!
- Anh ở nhà với em.
- Dạ.
- Em có vui không?
- Dạ. Em đi lấy nước...
Thi đứng dậy, vụt chạy ra ngoài sân để giấu niềm cảm xúc dạt dào tự nhiên đến với mình. Kỳ Bá trông theo Thi. Trong đời anh, chưa có lần nào rung động như lần này.
Anh yêu Thi, cô gái làng Tường An muôn đời an phận. Kỳ Bá có tội lỗi gì với Đảng? Nếu đói khổ không phải là tội lỗi thì yêu nhau cũng không phải là tội lỗi. Chính ủy trung đoàn 84 đã nói Bác và Đảng dạy cần thận trọng luyến ái quan. Kỳ Bá yêu một người con gái nông dân, không cần gì phải thận trọng. Cái đáng thận trọng, là Kỳ Bá đang ở vào thời chiến. Trong thời chiến, Đảng có cấm. Cấm đảng viên lấy vợ, chẳng cấm đảng viên yêu đương. Yêu đương nhau, con trai mê con gái, Đảng đã khuyến khích và còn khuyến khích. Đảng tạo hạnh phúc cho con người. Kỳ Bá, như mọi người mới vào Đảng, anh phải tự kiểm chính bản thân về quan niệm luyến ái. Thấy không trái với đường lối của Đảng, anh vững vàng yêu Thi, không có gì cần sợ hãi. Cám ơn Đảng.

100
Anh mới đọc cuốn Tuổi trẻ của Karl Marx, thấy Marx chủ trương con người hoàn toàn tự do, từ công trường nhà máy đến mái nhà gia đình. Karl Marx luận về tự do báo chí, cho rằng báo chí như huyết quản của nhân dân. Giết chết báo chí cũng giống bóp nghẹt huyết quản, nhân dân chết theo. Marx luôn luôn đúng và hay. Bọn người phản động thì cho tự do cộng sản là tự do của con ốc trong guồng máy. Con ốc chỉ tự do giới hạn với những con ốc. Khi nó mòn teo, thay con ốc khác. Con ốc không có quyền tự do với các bộ phận trong guồng máy. Cứ thế, con ốc và bộ phận guồng máy quay vun vút. Nghĩ lầm về Karl Marx. Sư tổ vô sản thật lý tưởng. Sống tràn đầy hạnh phúc bên vợ đẹp con khôn. Vô sản mà tình cảm cứ lượn bay y hệt tiểu tư sản. Thất bại ở Đức, Marx lưu vong sang Anh, làm bò cho con cưỡi trên lưng, làm thơ tình cho vợ ngâm nga. Người cộng sản lãng mạn và mộng mơ. Karl Marx là thí dụ.
Đã nhiều lần, Kỳ Bá nói chuyện với Khoa. Lần cuối cùng, Khoa đề cập tới vấn đề nhạc cũ, nhạc mới; bộ đội cũ, bộ đội mới. Kỳ Bá không đủ thì giờ dành cho Khoa. Hôm nay, Kỳ Bá hẹn Khoa lên hồ Mơ, để đấu tranh tư tưởng cho Khoa bắt kịp đường lối của Đảng.
Hồ Mơ có hai đường dẫn tới. Một, đường đi qua cánh đồng. Một, đi theo đường làng bằng phẳng từ quán Nghỉ. Hồ Mơ ở dưới, miễu Vang ở trên, sát khít bên nhau. Kỳ Bá đến đây tự buổi chiều, chờ bộ đội tân binh mãn tan lớp chính trị, anh sẽ vào giảng chính trị ban đêm.
Khoa đã đến.
- Em lên muộn, anh đừng trách nhé!
Kỳ Bá cười độ lượng :
- Ở nhà quê, thì giờ đi chậm lắm.
Khoa nói :
- Anh lúc nào cũng bận bịu. Vào nhà em chơi có một lần, không cơm nước chi cả. Sao vậy anh?
Kỳ Bá đáp :
- Anh bận thật. Nói chuyện với em, anh thường quá thì giờ đã định.
Khoa tinh ranh hỏi :
- Thế với chị Thi?
Kỳ Bá không trả lời. Anh muốn tâm sự với Khoa thật nhiều, chiều nay.
- Chúng mình ngồi xuống bờ hồ đi.
Kỳ Bá khoác tay lên cổ Khoa :
- Năm xưa, em thường ra hồ Mơ bắt trăng sao với Liên, hả?
Khoa buồn rầu :
- Liên xa rồi, anh ạ!
Kỳ Bá xúc động :
- Ở đời, người ta gặp nhau rồi người ta xa nhau. Đó là lẽ thường trong trời đất. Như anh Vũ gặp anh rồi xa anh, rồi biết đâu chả gặp lại nhau. Như anh em mình. Hà Nội cách Thái Bình 100 cây số, em sẽ gặp lại Liên.
Kỳ Bá rẽ sang một lối khác :
- À, anh em mình... đấu tranh tư tưởng một tí, nhé!
Khoa nhún vai :
- Đấu tranh tư tưởng, hả anh? Em có tư tưởng gì đâu mà đấu tranh?
Kỳ Bá cúi đầu :
- Làm cho em hiểu rõ một chuyện gì đến nơi, đến chốn gọi là đấu tranh tư tưởng. Em thì cho rằng chữ mới anh dùng bây giờ, là danh từ chính trị, khó hiểu đối với em. Đã đến lúc cách mạng phải cách mạng ngôn ngữ. Cứ dùng ngôn ngữ cũ, không phải cách mạng nữa. Em không thích chữ mới, anh nói chuyện bằng chữ cũ vậy.
- Anh thử nói ngôn ngữ cách mạng xem nào!
- Hôm nay, anh em mình đấu tranh tư tưởng, để em nắm vững một vấn đề mà em chưa thông, hoặc em ngoan cố chưa chịu thông suốt!
Khoa cười rũ rượi :
- Cách mạng ngôn ngữ khiếp quá!
Kỳ Bá cười theo :
- Rồi sẽ thấy chẳng ai khiếp nữa. Bắt đầu, nông thôn tập nói. Nói không cần hiểu ý nghĩa. Riết rồi, họ sẽ hiểu ý nghĩa, họ nói trôi chảy. Thành phố sẽ học tập cách nói ở nông thôn, sẽ học tập khi có hòa bình và thành phố hết bị giặc Pháp chiếm đóng. Cứ dạy nhân dân nói như vẹt, lâu dần cách mạng sẽ thành công về ngôn ngữ. Cách mạng phải cách mạng muôn mặt.
- Tại sao không cách mạng ngôn ngữ từ 1945?
- Không có cuộc cách mạng nào thành công tất cả ngay từ lúc sơ khởi. Năm 1945, cách mạng tổng khởi nghĩa cướp chính quyền, đưa nhân dân đến chỗ độc lập, tự do đã là thành công vĩ đại của cách mạng rồi. Em còn bé...
- Em lớn rồi.
Kỳ Bá lắc đầu :
- Em còn bé lắm, Khoa!
Khoa vênh khuôn mặt :
- Súng giặc Pháp nổ trên bầu trời Tường An, đạn giặc Pháp bắn đêm ngày biến ruộng đồng thành ao chuôm và giặc Pháp hiếp dâm đàn bà Việt Nam thê thảm, em đã nhìn thấy, đã nghe thấy. Em lớn lên, lớn thật sự ở làng Tường An. Em hiểu được những gì anh nói.
Kỳ Bá liếm mép :
- Thế thì em giỏi đấy! Chiến tranh xâm lược của Pháp đã làm em lớn lên, làm tuổi thơ mất hết hồn nhiên trong trắng...
Khoa nói nhanh :
- Và bị quăng vào lửa.
- Ở Tường An?
- Không, ở Đồng Đức. Năm xưa, em tưởng câu thơ viết trên tường đình làng mình chỉ tố láo thực dân Pháp, không có thật. Bây giờ thì rõ rệt quá.
- Câu thơ ra sao?
- Trẻ thơ đã tội tình gì
Bị quăng vào lửa chỉ vì thực dân

- Hay quá!
- Anh hiểu tại sao làng em tin tưởng vào cách mạng?
- Tại sao?
- Vì những câu thơ viết trên tường đình làng.
- Em đọc anh nghe.
- Thực dân ơi hỡi thực dân
Đằng nào thì cũng một lần về thôi
Việt Nam của Việt Nam rồi
Cướp làm sao nổi đất người Việt Nam

- Hay.
- Ngôn ngữ cũ đấy ạ!
Kỳ Bá thấy Khoa chưa bằng lòng ngôn ngữ mới. Anh cố gắng nói ngôn ngữ cũ để chinh phục Khoa ngôn ngữ mới :
- Anh nói tiếp chuyện cách mạng 1945, nhé!
- Vâng.
- Cướp chính quyền thành công xong, cách mạng phải lo đến giáo dục, kinh tê, tài chính, xã hội... Cách mạng là cách mạng tất cả, thẳng thừng và không nề hà sự chống lại của cái cũ. Như em đã biết, cách mạng chưa làm được việc gì, giặc Pháp đã tràn vào xâm lược thủ đô Hà Nội, các thành phố, các thị xã của chúng ta. Lại còn bị các đảng phái ghen tức, giành giật. Năm 1946, ta tổ chức bầu cử Quốc hội, phần đông các đảng phái đại diện nhân dân. Ta yếu quá đành thua thiệt. Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà toàn người của đảng phái và thượng thư của triều đình Huế. Ta ở vào thế kẹt, đành hô hào toàn dân đoàn kết về hậu phương trường kỳ kháng chiến chống giặc Pháp. Trong kháng chiến, ta loại được đảng phái ra khỏi quốc hội và thượng thư triều đình Huế ra khỏi chính quyền. Ta đủ sức mạnh đè bẹp những thành phần phản động. Đảng lao động ra đời. Đảng nắm hết chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đảng cách mạng giáo dục quân sự... Đảng thay đổi hết những tên ta thường gọi: Chính Phủ là Nhà Nước, Ủy Ban Kháng Chiến Và Hành Chính là Ủy Ban Nhân Dân, Vệ Quốc Quân là Quân đội Nhân Dân... Người ta đồn nhau thay đổi hàng loạt chữ cũ thành chữ mới là Đảng muốn nhân dân học tập danh từ chính trị khó hiểu và ngô nghê. Người ta không hiểu, đó là công cuộc cách mạng toàn diện phi thường của Đảng.
Khoa không phản đối, cũng không cắt ngang, Kỳ Bá hiểu Khoa đã hài lòng. Muốn chinh phục nhân dân, cần chiến thắng Khoa. Kỳ Bá sẽ nói thật với Khoa.
- Anh có tiếc nhớ Vệ quốc quân không?
- Tiếc nhớ vô cùng.
- Họ còn ở trong Quân đội nhân dân chứ?
- Còn. Họ làm chính ủy như anh hết. Vệ quốc quân, lính tiểu tư sản trí thức thành phố, họ về nông thôn năm xưa, được dân mến dân thương ghê lắm, vì họ giỏi, học hành cao. Ngoài chiến trường, họ chiến đấu rất ngoạn mục. Những chiến thắng sông Lô, sông Đà do họ làm nên. Chiến tranh nuốt khá nhiều lính tiểu tư sản. Họ trở nên khan hiếm, khó tuyển mộ tân binh. Em biết các thành phố của ta bị Pháp tạm chiếm đóng, vào tự do sao được! Đành tuyển mô nông dân vào bộ đội, chiến đấu cho giai cấp của họ. Họ tưởng vậy, và ta cứ giai cấp nông dân thổi mạnh, đánh giai cấp tiểu tư sản, làm cho họ say máu giết giặc Pháp. Em đã thừa hiểu giai cấp tiểu tư sản là thầy Hoan, thầy Đàn, là bao nhiêu người chính ủy lãnh đạo khác trong quân đội. Có phải nông dân lãnh đạo đâu! Nói cho cùng, Vệ quốc quân chỉ là quân Vệ Quốc, nhỏ bé quá. Nước nào trên thế giới cũng có quân đội to lớn, hùng mạnh. Trước năm 1950, Vệ Quốc Quân được. Sau năm 1950, Quân Đội Nhân Dân mới đủ sức đối phó với Quân Đội Pháp. Em thấy chưa?
- Tại sao những bài hát của Vệ quốc quân hay thế?
- Những bài hát trước năm 1950 đều tuyệt diệu cả. Đó là nhạc lãng mạn cách mạng, thích hợp cho truờng kỳ kháng chiến. Nếu trường kỳ kháng chiến còn dài, nhạc lãng mạn cách mạng còn đưọc lính tiểu tư sản hát vang lừng. Trường kỳ kháng chiến đã chuyển sang giai đoạn chuẩn bị tổng phản công, lính tiểu tư sản hết rồi, thay bằng lính nông dân, bài hát cũng đổi hàng loạt. Cho nó thực tiễn và hết lãng mạn. Cách mạng mà nề hà chống lại cái mới, đâu còn gọi là cách mạng. Em yên chí đi, khi chúng ta đánh tan giặc Pháp, hòa bình trở về đất nước chúng ta, lại hàng loạt bài hát cách mạng ra đời để ngợi ca con người, tình yêu và hạnh phúc. Lúc ấy, chúng ta quên nhạc cũ, chỉ những xương cùng máu. Đã có cuộc chỉnh huấn trên trung ương. Các nhạc sĩ, thi sĩ tham dự đồng loạt đều đồng ý với Đảng, nhạc thơ từ năm 1946 đến cuối năm 1949 trở thành lạc hậu rồi. Chính những nhạc sĩ sáng tác nhạc lãng mạn lại sáng tác nhạc lao vào lửa đấu tranh.
- Anh nói với dân làng Tường An như thế, à?
- Nói với em thôi. Nhân dân Tường An được mấy người thông minh như em? Chính sách của Đảng chỉ đem ra thi hành, không mất công giải thích. Em là người thân với anh nên anh có bổn phận làm em hết thắc mắc. Em hết thắc mắc chưa?
- Thưa anh, em hết thắc mắc rồi. Mấy tháng trước, em chê nhạc mới và bộ đội mới. Lòng em vẫn tưởng nhớ nhạc cũ và bộ đội cũ. Người lính tiểu tư sản thành phố và nhạc lãng mạn cách mạng của họ đã đi vào hồn em như một kỷ niệm khó phai mờ.
- Em cứ coi là kỷ niệm bất diệt, chẳng sao. Lính tiểu tư sản và nhạc kháng chiến đã đi vào tâm hồn nhân dân, em ạ!
- Thật vậy chứ anh?
- Thật.
- Em vẫn nhớ họ.
- Còn anh, tim vẫn hé mở để lính tiểu tư sản đồn trú.
Khoa ôm chặt lấy Kỳ Bá. Tự nhiên, Kỳ Bá nhớ thầy Hoan, thầy Đàn, chú Nam Anh và những người tiểu tư sản trí thức đang hoạt động cho Đảng, cho nhân dân. Những người đó có đáng ghét không? Kỳ Bá sợ phải học tập khinh ghét những người thương yêu mình, cứu sống mình và dẫn dắt mình đi trên con đường cách mạng, một ngày nào đó. ồ, chả có ngày nào đó đâu. Tình người mãi mãi hừng hực trong chúng ta. Căm thù không nuốt trọn một đời người, chỉ khoảnh khắc, rồi quên dần đi mà nghĩ tới tình yêu và hạnh phúc.
Kỳ Bá cũng rơm rớm vài dòng lệ.
- Em hoàn toàn sung sướng rồi chứ?
Khoa đưa ống tay áo, thấm nước mắt.
- Vâng, em hoàn toàn sung sướng, anh ạ!
Đợi Khoa buông người mình ra, Kỳ Bá bảo :
- Bây giờ, anh nói một chút tình cảm giữa anh em ta và gia đình ta, nhé!
Khoa đáp :
- Vâng.
Giọng đượm tình yêu gia đình, Kỳ Bá nói :
- Anh đã nhắc bố mẹ em lần trước, rằng em Tú, em Mai đang tuổi thèm đi học. Em cũng vậy. Bố em lại sinh sống bằng nghề buôn hàng chuyến. Dạo này, xe Con Voi đã sắp chạy Thái Bình-Nam Định. Hà Nội-Hải Phòng thì chưa. Bởi đoạn đường số 10, từ Đống Năm đến Phụ Dực, nhiều cầu cống bị ta phá, nhiều khúc đường bị ta đào hố chữ chi, ô tô không chạy được. Bố em nên vào thị xã. Thị xã bị tạm chiếm. Tường An bị tạm chiếm. Sống ở đâu cũng thế thôi. Bố em vào thị xã, tiện nơi buôn bán và tiện cho các em đến trường học.
Khoa buồn bã :
- Tường An còn có anh.
Kỳ Bá nuốt nước miếng :
- Anh đóng quân bất cứ nơi nào cũng tạm bợ. Lính mà em. Anh về Tường An để tuyển tân binh, huấn luyện họ và lại đi. Bộ đội khác sẽ về. Một điều hệ trọng, em nói ngay cho bố em biết, em đừng nói với ai: Bộ đội mới có thể sai chính sách của Đảng, thi hành lầm lẫn. Gia đình em sẽ gặp nhiều điều oan trái. Vậy anh còn ở đây ngày nào, gia đình em nên vào thị xã ngay.
Kỳ Bá đứng dậy :
- Hôm nay, anh coi như từ biệt em. Gửi lời chào nồng thắm của anh tới bố mẹ và hai đứa em gái.
Tiếng còi trên miễu Vang rít lên. Như giục chính ủy Kỳ Bá giờ học tập chính trị.
- Giã từ em. Hẹn gặp ngày giải phóng thị xã Thái Bình.
- Tạm biệt anh.
Khoa ngồi bên bờ hồ Mơ, thả mắt trông theo Kỳ Bá. Đêm đã tới. Khoa nhìn Kỳ Bá bước nhanh. Cứ tưởng thằng Vọng ghẻ tầu đang dẫn bóng trên sân cỏ và sút cú ngả bàn đèn...

101
Một buổi tối mùa đông rét buốt. Bên ngoài, mưa dầm như cuộn theo gió bấc, vun vút qua cửa liếp. Bên trong, cả nhà quây quần trên ổ rơm gây chút ấm áp. Me Thi, Thi, thằng Pháng và con Lý ngồi chung một ổ. Không ai để ý cái lạnh giá nó ướp hồn mình. Cha Thi, ông Hanh, Kỳ Bá cũng ngồi ở ổ rơm kế cận. Tối nay, chẳng có công tác gì. Kỳ Bá muốn một đêm thật rảnh rỗi, thưa chuyện với cha mẹ Thi về chuyện anh và Thi yêu nhau. Đêm nay, cả nhà xum họp, đúng là ước nguyện của Kỳ Bá.
- Rét quá nhỉ, lập đông chắc.
Ông Hanh nói.
- Lập đông từ lâu rồi mà.
Bà Hanh nói.
- Ngày nào cũng lập đông vậy. Mùa đông mới sinh ra ổ rơm. No cơm tấm, ấm ổ rơm. Ngủ ở ổ rơm như có lửa sưởi quanh mình. Chỉ thương mấy anh chiến sĩ giết giặc ngoài biên cương, ai đã gửi áo trấn thủ ra tặng?
Ông Hanh vừa than thở vừa với tay ra ngoài ổ, kéo cái bình trà nóng, đựng trong cái ấm tích và cái điếu cầy lại gần. Ông rót nước vào hai cái chén tống :
- Uống nước đi anh, kẻo nguội.
Kỳ Bá nâng chén trà :
- Mời hai bác sơi nước, ạ!
Ông Hanh nhấp một ngụm, rồi lấy điếu vê thuốc bỏ vào cái nõ. Ông châm đóm ở cái đĩa đèn dầu lạc, thắp bằng bấc, do chỉ vải kết lại. Đưa ống điếu lên môi, ông Hanh rít một hơi hả hê. Ông nhả khói và đưa điếu cho Kỳ Bá :
- Làm một điếu cho ấm.
- Thưa bác, cháu không dám hút thuốc.
- Sợ gì?
- Sợ quen đi rồi nghiện.
- Nghiện đã sao?
- Người lính trong thời chiến bị cấm hút thuốc ban đêm. Hút thuốc lá, ánh lửa lóe lên trong đêm tối, là dịp tốt cho địch bắn mình. Hút thuốc lào còn nguy hiểm nữa. Có khi địch câu moóc chê, chết như sung rụng.
- À, ra thế. Tội nghiệp binh lính quá.
Kỳ Bá đợi hết tuần trà nước mới thưa chuyện. Anh đưa mắt nhìn Thi. Thấy đôi mắt Thi long lanh dưới ánh đèn dầu lạc. Như thầm bảo nói đi, đừng sợ. Tự ngày xuống Đông Cao, làm tổng khởi nghĩa ở Tiền Hải, vào lính đánh giặc Pháp tại Hưng Yên, Hải Dương, Kỳ Bá không nghe thấy hai tiếng sợ hãi bao giờ. Hôm nay, hỏi vợ cho mình, sao Kỳ Bá run run và sợ hãi thế!
- Thưa bác...
- Gì vậy anh?
- Cháu muốn thưa với hai bác chuyện em Thi...
- Em Thi nó hỗn với anh à?
- Không...
Thi mỉm cười, nhéo tay mẹ. Thằng Pháng, con Lý mải ăn ngô rang, không để ý gì. Thi bắt muốn phì cười, thấy chính ủy trung đội 23 giảng chính trị cho bộ đội nghe thì oai phong lẫm liệt lắm. Mà nói với ông dân Hanh chuyện hỏi vợ thì lính qua lính quýnh. Mới hay, đảng viên Đảng cộng sản Kỳ Bá vẫn là con người.
- Con Thi hay diễu cợt anh, hả?
- Không...
- Dạo này nó hư lắm. Cứ gọi chính ủy là anh không. Anh giận nó chứ gì?
- Không... cháu và Thi đã...
- Sao?
- ... phải lòng nhau!...
Ông Hanh tủm tỉm cười. Ông lấy điếu hút một bi nữa. Và ông nhấp ngụm trà đầy mới nhả khói thuốc.
- Tưởng cái gì. Chứ phải lòng nhau thì tốt thôi...
Bà Hanh nói :
- Con Thi cho tôi biết rồi. Nó yêu anh Kỳ Bá, anh Kỳ Bá yêu nó.
Ông Hanh hỏi Thi :
- Con phải lòng anh Kỳ Bá?
Thi nũng nịu một lát, rồi cô ôm lấy mẹ :
- Vâng...
Và ông Hanh hỏi Kỳ Bá :
- Anh phải lòng con Thi không?
Kỳ Bá đáp :
- Vâng. Cháu yêu Thi, yêu tha thiết...
Ông Hanh khoan khoái :
- Thế thì được rồi. Hai đứa yêu nhau, trời có cấm, sợ chẳng nổi. Vợ chồng tôi bằng lòng cho con Thi lấy anh làm chồng. Đời này là đời sống mới, cái gì cũng mới, cũng nhanh. Anh nhắm cưới con Thi ngày nào?
Ông tiếp :
- Chả cần môn đăng hộ đối. Nhà tôi là nông dân nghèo. Được anh chiếu cố là may rồi.
Kỳ Bá ân cần thưa :
- Từ giờ, con gọi hai bác bằng thầy bu như em Thi con vẫn gọi. Thưa thầy bu, chính tên con là Vọng, sinh ở làng Kỳ Bá, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình. Bố con làm nghề thợ điện. Mẹ con làm nghề bán hàng rong. Bố mẹ con đều chết cả rồi. Thuở nhỏ, con được học đôi chút ở thị xã. Rồi con vào bộ đội, nay về đóng tại Tường An. Nhà con cũng nghèo khổ. Thầy bu thương con, gả em Thi cho con, con không bao giờ dám quên ơn đức của thầy bu...
Bà Hanh nói :
- Anh nghĩ phải đấy.
Ông Hanh trở về câu hỏi :
- Anh nhắm cưới con Thi ngày nào?
Kỳ Bá đáp :
- Con chờ thầy bu bằng lòng, sẽ viết thư trình lên cấp trên cho phép con lấy vợ. Thầy bu đã hiểu, thời chinh chiến, vợ không được theo chồng. Cấp trên có cho phép, con lấy Thi rồi đi. Có thể, ngày mai, ngày kia, hay ngày nào đó, con sẽ rời Tường An, đồn trú ở những nơi không ai biết. Thì cấp trên cho phép hay không cũng vậy thôi. Hôm nay, con thưa thầy bu về chuyện đám hỏi em Thi. Như em Thi đã lấy con rồi. Ngày mai, con đi, em Thi sẽ ở lại cùng thầy bu. Con sẽ về làm lễ cưới em Thi và sống suốt đời bên nhau ở làng Tường An, khi giặc Pháp tan rã và nước mình được giải phóng.
Câu chuyện đang vui, bỗng trở nên buồn bã. Thằng Pháng và con Lý ăn hết ngô rang, lăn ra ngủ trên ổ rơm. Bốn người vẫn còn thức, đăm đăm nhìn vào ngọn lửa của đèn dầu lạc hắt hiu cháy. Ông Hanh lặng lẽ hỏi vu vơ :
- Bao giờ giặc Pháp tan rã?
Kỳ Bá trả lời :
- Chúng ta đã đẩy cuộc trường kỳ kháng chiến lên cuộc phản công. Nghĩa là đánh chứ không nhịn nhục. Như thế mất năm năm. Từ phản công, chúng ta tiến lên tổng phản công. Giặc Pháp nhất định phải thua. Chỉ năm năm nữa, chúng ta tổng tấn công, giặc Pháp sẽ tan rã, hòa bình sẽ đâm chồi nẩy lộc trên quê hương chúng ta. Hòa bình sẽ rạng rỡ ở Tường An.
Nhìn ngọn đèn sắp sửa tàn, cái bấc đã cháy lụi dần, ông Hanh nói :
- Vậy là xong chuyện con Thi với anh Vọng. Tắt đèn, đi ngủ...

102
Đầu tháng 12, trăng lưỡi liềm còn tỏa ánh sáng mờ nhạt. Đêm đầy sao. Sao không đủ sức làm ấm lòng người, vì vẫn mùa đông. Trời đã hết mưa dầm, và gió bấc nghỉ xoáy những cơn lạnh buốt. Trên bến Đợi, Thi ngồi sát bên Kỳ Bá. Dòng sông Trà Lý êm đềm. Con đò buộc vào bến bất động, thiếu sóng đập vỗ mạn thuyền. Nên chuyện tình ai nghe man mác.
- Em có học những cuốn Quốc văn giáo khoa thư không?
- Có ạ!
- Anh đố em bài này ở cuốn nào, nhé!
- Vâng.
- Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan
Chém tre đẳn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng
Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng

- Lớp sơ đẳng.
- Giống anh không?
- Giống sao được. Người ta là lính thú ngày xưa, anh là lính cách mạng ngày nay!
- Lính giống nhau hết, dù là lính ngày xưa hay lính ngày nay. Chỉ công tác là khác nhau thôi. Lính thú ngày xưa phải đốn gỗ, chém tre, coi là khổ lắm, không bạn bè, ăn cơm với măng, buồn tẻ. Lính cách mạng ngày nay, như anh, phải huấn luyện chính trị mỏi miệng, dạy đường lối của Đảng phờ râu, cũng không bạn bè, ăn cơm với nhân dân, sung sướng chi! Lao động của lính thú ngày xưa là lao động chân tay. Mệt nằm lăn ra ngủ. Còn mơ mộng nhìn cá nó vẫy vùng dưới giếng. Lao động của lính cách mạng ngày nay, như anh, là lao động trí óc. Có ngủ được đâu, có mơ mộng được đâu? Phải chi anh là lính thú ngày xưa, đã rông dài những Ba năm trấn thủ lưu đồn để em sinh ra hai thằng con trai với anh. Sung sướng chưa?
- Sung sướng lắm. Anh ạ, lính thú ngày xưa không giống cách mạng ngày nay. Nghĩ làm gì cho buồn!
- Anh đố em đấy chứ?
- Đố và đừng nghĩ.
- Rồi.
- Đố đi.
- Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đằu đội nón dấu vai mang súng dài
Một tay thì cắp hỏa mai
Một tay cắp dáo quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa

- Lớp sơ đẳng.
- Đúng. Tranh vẽ diễn tả bài này?
- Cảnh chiếc thuyền, lính thú xếp hàng xuống, một anh quay lại, nước mắt anh ta chảy ròng ròng, nhìn vợ anh ta bế con đi tiễn, cũng khóc ròng ròng.
- Buồn hả?
- Vâng.
- Người lính thú ngày xưa hơn người lính cách mạng ngày nay. Khi họ ra trận, còn đưọc vợ con đi tiễn. Người lính cách mạng bị cấm đoán điểm này. Họ không được nhìn thấy nước mắt của vợ con để họ khóc theo. Nếu họ chết giữa sa trường, thiệt thòi quá.
- Lại nghĩ.
- Không, anh đoán cảnh tượng hai chúng ta, những ngày sắp tới.
Những ngày sắp tới, chưa biết là ngày nào. Phải tới ngày đó. Sáu mươi sáu đồng chí bộ đội tân binh huấn luyện, thế là xong. Về quân sự, họ tiến bộ. Chỉ cần họ bắn súng có đạn thật, ném lựu đạn thật, gài mìn thật là hoàn tất chu đáo. Cấp trên cấm tiếng nổ của súng đạn ở Tường An, Đồng Đức và Đại Đồng. Cho nên, họ phải học tập bổ xung ở trung đoàn 84. Về chính trị, họ đã nắm vững vàng những vấn đề đòi hỏi họ. Sáu mươi sáu đồng chí bộ đội tân binh xứng đáng lính của giai cấp nông dân.
Ngày nào đó, cấp trên ra lệnh phải đôn tân binh về nơi nào đó, Kỳ Bá sẽ tuân lệnh, dẫn quân âm thầm rút khỏi Tường An. Anh cũng âm thầm ra đi, không được cho Thi biết. Kỳ Bá và Thi sẽ chia ly. Chia ly trông đợi Pháp đầu hàng và Kỳ Bá trở về xum họp với Thi. Khi người lính hít hà hương thơm của da thịt đàn bà, đâm ra yếm thế và sợ chết.
- Em.
- Dạ.
- Em có tưởng ngày anh rời Tường An bí mật không?
- Em đã tưởng.
- Bí mật cả với em?
- Tưởng hết. Nỗi buồn của em, của anh, của đôi ta.
- Em có sợ gì bất trắc xảy ra cho anh?
- Không. Lấy chồng thời chiến, không sợ chi sốt cả. Nhưng mà...
- Sao?
- Ai cấm đoán được ưóc mơ?
- Em mơ ước gì?
- Hết giặc Pháp, anh về với em.
Kỳ Bá nức nở khóc. Thi khóc theo. Hai người ôm chặt nhau. Nước mắt của người này hòa chung nước mắt của người kia, tràn đầy hai khuôn mặt. Trăng mờ đi. Cơ hồ sóng vỗ vào mạn thuyền. Không ai nhìn rõ những giọt nước mắt của thời chinh chiến cuốn chặt lấy cuộc tình.
Khoảnh khắc, Kỳ Bá cùng Thi đã quên hẳn không gian và thời gian. Họ hình tưởng nỗi chia ly trên bến Đợi. Sông Trà Lý lặng lờ trôi. Đêm đã khuya. Con đò dìu Kỳ Bá và bộ đội sang sông. Thi đứng bờ bên này vẫy tay và lệ rơi lã chã. Con đò tới giữa dòng. Kỳ Bá vẫn trông về không chớp mắt. Và rồi, phút giây cực kỳ lãng mạn, Kỳ Bá ngỡ rằng mình là thi sĩ ca dao, ngâm vang tình non nước :
- Em đã mơ gì em ơi
Rất đơn giản và bình dị, dân tộc lên tiếng :
- Lúa chín hai mùa no ấm
Chồng giết giặc về em vui

Dòng sông Trà Lý êm đềm. Bến Đợi hôn môi kỷ niệm buổi chia tay của hai người son trẻ. Hình như, chia ly trong nỗi nhớ có mùi thơm bàng bạc... 
----------------------------------
[font="verdana"][size="3"][color="#000099"]Chú thích của Dân Nam:
Xưa, đọc Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, đến đoạn trận Xích Bích, chúng tôi thấy khó thể chấp nhận chuyện bất cứ một ông tướng nào dùng hỏa công lại có thể ngu độn đến mức không tính đến chuyện gió máy, huống chi Chu Du, một quân sư, thủy sư đô đốc vùng Trường Giang tất nhiên phải nắm vấn đề này trong lòng bàn tay. Từ đó tìm hiểu và thấy tác giả La Quán Trung đã làm một công việc bất công khi gán cho Chu Du sự ngớ ngẩn đó cùng lòng nhỏ nhen đối với Gia Cát Lượng cũng như sự gian hùng đáng ghét của Tào Tháo - anh hùng số một của thời đại - tạo nên những định kiến hoàn toàn sai lầm về các nhân vật lịch sử. Và cho rằng không ai có quyền vu oan sai lạc về những nhân vật có thật. Vì ảnh hưởng của việc làm văn hóa vô cùng sâu xa, chúng tôi thiết nghĩ rất cần thận trọng.
Cho nên, với đoạn này, nói về bước ngoặt từ việc những người tiểu tư sản chống xâm lăng đến việc người cộng sản giành quyền để đưa đất nước vào thể chế cộng sản, hồi sinh thời, ông Duyên Anh tính tái bản cuốn Những Đứa Trẻ Thái Bình, chúng tôi có góp ý kiến, và ông nói trước khi mang in sẽ sửa. Nhưng việc chưa thành, ông đã ra đi. Nay lục đăng, chúng tôi mạn phép chú thích:
[1] Ông viết thầy giáo Nguyễn Công Hoan, trước năm 1945, đã là đảng viên cộng sản, và cứu trò Vọng khỏi bị chết trong vụ đói Ất Dậu rồi đỡ đầu cho gia nhập Đảng. Điều này không đúng, vì Nguyễn Công Hoan chỉ gia nhập Đảng Cộng Sản vào năm 1947.
Việc gia nhập trước hay sau quan trọng, là vì tấm lòng nhân đạo của ông Hoan thể hiện cái tình người của Nguyễn Công Hoan con người xã hội hay Nguyễn Công Hoan con người cộng sản. Thực tế là Nguyễn Công Hoan khi còn là con người xã hội thì rất người. Nhưng khi thành cộng sản, Nguyễn Công Hoan trở thành một loại súc vật. Bằng chứng là việc Nguyễn Công Hoan đã đối xử với cụ Phan Khôi một cách vô cùng hạ cấp, vô giáo dục trong vụ Nhân văn-Giai phẩm, không còn một chút gì chứng tỏ một Nguyễn Công Hoan vốn con quan, làm nghề dạy học, viết văn trào phúng, xã hội tả chân, chống bất công thối nát; trái lại đã biến chất đến mức chính bọn cộng sản cũng còn liệt vào loại ba que, khi họ phê bình cuốn “Đống rác cũ” của ông ta.
Còn một số sự kiện sai lạc về danh xưng, thời điểm tương tự nữa. Chúng tôi mang thảo luận với ông. Ông trả lời rằng vì là tiểu thuyết hư cấu thì những dữ kiện không có gì là quan trọng. Chúng tôi thì thưa rằng mọi sự đều có thể hư cấu, nhưng nó cũng phải như thật, ngoại trừ chuyện giả tưởng. Hơn nữa, một khi liên quan đến những dữ kiện lịch sử thì càng nên sát với diễn biến, tác phẩm mới có giá trị. Mang lộn việc trước ra việc sau, việc sau ra việc trước, người biết, đọc sẽ đâm chán, người không biết, sẽ bị dẫn dắt sai lầm lẫn lộn. Nhất là nếu những sự sai lầm lẫn lộn đó đã không làm cho tác phẩm thêm một chút giá trị nào, mà trái lại còn hạ nó xuống. Tỉ như:
[2] Ông Trần Trung Lập, nếu chúng tôi không lầm, theo quân đội Nhật về tấn công Cao Bằng năm 1940, bị Nhật bỏ rơi, tiếp tục chống Pháp, bị bắt và bị xử tử, mà không phải bị Nhật giết năm 1945.
[3] Bài Đuốc Gươm Thiêng, nếu chúng tôi nhớ không lầm là do nhạc sĩ Hải Linh, rất lâu sau ngày 19-8, mới sáng tác.
[4] Một đảng viên nhỏ tuổi, ở vùng hẻo lánh Đông Cao, khó lòng có thể viết và hô khẩu hiệu này ngày 19-8. Ngay ở Hà Nội, chỉ tới ngày 2-9, người ta mới nghe về Hồ Chí Minh.[/color][/size][/font]
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.02.2014 01:50:55 bởi casau>
Phần sáu
Cuối thu đường đời
 
103
Thị xã đã hoàn toàn thay đổi. Mới chưa đầy ba năm, mà tưởng chừng dâu biển qua đây hàng mấy thế kỷ. Trên hoang tàn của gạch vụn, ngói nát, rêu cỏ mọc xanh um, người ta đua nhau xây dựng lại những căn nhà lá, sống tạm bợ. Chiến tranh còn đó, đã hết đâu. Thành ra, dân chúng vùng Pháp tạm chiếm đóng đêm vẫn nghe tiếng súng nổ ran, bên kia sông Trà Lý; ngày vẫn nhìn xe căm nhông xám xịt chở lính viễn chinh từ Nam Định sang. Không khí ngột ngạt sáng tối. Và, nỗi lo sợ căng thẳng. Tháng 5, 1950, Pháp nhảy dù xuống cánh đồng Lạc Đạo, gần khít An Tập, rồi tiến nhanh qua Phụ Dực, Quỳnh Côi. Chắc mặt trận bên đó nặng lắm. Phi cơ Pháp đã rải truyền đơn đe dọa: Quỳnh Côi, Phụ Dực ra tro, Đống Năm, Trực Nội ăn no đạm đồng. Nỗi lo sợ muốn đứt tung. Chỉ mấy tháng đầu. Tình hình có vẻ im lặng trở lại. Như chính phủ Bảo Hoàng lẽo đẽo mang Bảo Chính Đoàn và các cơ cấu cai trị của mình theo Pháp lập quyền bính, người hồi cư cũng vững bụng về tề. Mỗi lúc, một đông.
Người về trước, thường là dân 12 phủ huyện, không phải dân thị xã, đã làm nhà cửa bừa bãi trên đất Vọng Cung, bệnh viện và trường học. Phố chính có ba nơi quan trọng, dân hồi cư choán hết. Chỉ ba nơi đó tuyệt tích, đã đủ nói lên cảnh tượng thương hải biến vi tang điền. Dinh tổng đốc biến thành nơi cư ngụ bên ngoài, chợ búa bên trong. Nhà thương biến thành chỗ buôn bán. Trường học biến thành xóm điếm. Trường Monguillot cao quý ngày xưa đã là chốn chơi bời của lính viễn chinh ngày nay. Dân thị xã giầu sang tản cư đã không chờ hôm nay mới hồi cư. Họ lén lút vào Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng từ 1947, giã biệt Thái Bình tiêu thổ kháng chiến. Nhà sách Mậu Hiên, mà cái bảng hiệu bị xi măng cốt sắt chôn vùi, đã nhường chỗ cho Đông A, Học Hải ngoi lên. Hiệu bánh Con Rồng của bà Hanh Tụ đã bỏ rơi tết Trung Thu thị xã ngậm ngùi. Không còn bánh nướng, bánh giẻo và những con giống nữa. Những hiệu cao lâu của người Trung Hoa đã theo gió bụi cuốn đi, cùng với chủ nhân của nó. Dược sĩ Vũ Ngọc Anh về đâu rồi? Mà nay thị xã mới mọc một pharmacie dépositaire. Những người tài giỏi của Thái Bình đều vắng mặt.
Chính phủ Bảo Hoàng của vua Bảo Đại, vừa từ chức, hồi 19-8-1945, thà làm công dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ, lại nhận chức Quốc trưởng của một nước nô lệ, năm 1949. Quốc trưởng Bảo Đại dấy động cuộc cách mạng giấy tờ. Lính Bảo An rồi Bảo Chính, mặc quân phục, khác hẳn lính lệ, lính khố xanh. Có nội các ra đời. Nội các nới rộng. Thủ tướng thao túng quyền hành. Quốc trưởng nằm tận Paris hóng mát, chẳng cần biết cái tâm sự của nước non. Thượng thư khoác áo bộ trưởng. Tổng đốc xuống hàng Tỉnh trưởng. Tri phủ, Tri huyện lui gót về Quận trưởng.
Tổng khởi nghĩa đã chôn vùi đầu óc thực dân của người Pháp. Thực dân Pháp khuyến khích tay sai của mình làm cách mạng. Họ bầy một thế chính trị, hỗ trợ cho quân sự: Cách mạng chống cách mạng. Vì thế, thời đại diện áo nhiễu dài, đeo mề đay chấm dứt. Bi cảnh mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ, thì vẫn còn. Miền Bắc đã ngoi lên sân khấu Tổng trấn Bắc Hà, Thủ hiến Bắc Việt. Miền Nam trưng bầy các Thủ tướng. Thủ đô bay tít, từ Hà Nội, vô Sàigòn. Đảng phái lừng danh nhất là Đại Việt, đã ngoan ngoãn vâng lời triều đình nhà Nguyễn, cúc cung phục vụ thực dân, coi chiến đấu như bát canh xuông. Cho nên, Pháp cho phép Đại Việt vùng vẫy. Xứ bộ miền Nam độc quyền ra đất Bắc, hiêu hiêu tự mãn. Nguyễn Ngọc Tân, ngồi ở căn nhà 48 phố hàng Ngang, nơi Hồ Chí Minh viết tuyên ngôn độc lập, xem mình trổ mã. Nguyễn văn Hướng, lộng hành kiểu quốc gia trên lưng ngựa. Quan huyện miền Bắc, Nguyễn Hữu Trí, nhảy vút lên ghế Thủ hiến. Thấy Đại Việt thua kém mình, mà hiển hách hơn mình, Việt Nam quốc dân đảng, của đảng trưởng Vũ Hồng Khanh, chơi nước cờ thời thế. Gặp may. Vũ Hồng Khanh được bổ nhiệm chức Bộ trưởng Thanh niên, quên luôn các đồng chí Nguyễn Thái Học, Ký Con..., rơi đầu trên máy chém thực dân. Trong nghịch cảnh đó, dân vùng tạm chiếm sống một cổ ba, bốn tròng. Người ta vẫn gửi giấc mơ về kháng chiến. Thị xã Thái Bình, chẳng hạn.
Dọc phố chính, nằm trên quốc lộ số 10, đi từ cầu Bo trở xuống, phía tay phải, có ba nơi không bị tiêu thổ. Thứ nhất: Dinh công sứ giữ lại, để chủ tịch cách mạng công tác thường xuyên, nên tỉnh trưởng mới có chỗ làm việc. Thứ hai: Đền Mẫu giữ lại, vì lý do tôn giáo. Tỉnh trưởng tiếp thu ngoài đền, để làm ty thông tin tuyên truyền và cho dân chúng tới coi báo chí. Chẳng ai dám phản đối, xâm phạm vào tín ngưỡng cả. Thứ ba: Nhà thờ Tin Lành. Không hiểu mục sư đi kháng chiến hay vào Hà Nội rồi, thành thử, nhà thờ hoang vắng, nhường chỗ cho quận Vũ Tiên. Huyện Vũ Tiên nằm sát thị xã, nên huyện đường, nhà dân, và các nhà hát cô đầu đều bị hủy hết. Gần nhà thờ Tin Lành, có cái nghĩa địa thành phố. Vẫn còn nguyên, bất diệt như người chết, tuy cỏ hoang mọc đầy các ngôi mộ. Cái bục, ở ngã tư Vũ Tiên - Thị Xã, xây bằng gạch, với nóc che mưa nắng, nơi cảnh sát đứng hướng dẫn xe cộ lưu thông, bị san bằng. Bên cạnh nhà thờ, còn có một hồ nhỏ bé, thơ mộng lắm. Tiêu thổ kháng chiến, gạch ngói đã lấp kín hồ. Rồi, nước mưa làm bùn, gió thổi cát bụi về đây, xóa lấp hết dấu tích kỷ niệm. Bên tay trái, chỉ một nhà bán bánh Vạn Phát Tường còn y như cũ. Trường trung học cũng tan tành.
Ngày xưa, thị xã chia làm ba khu phố. Từ cách mạng, phố chính Jules Picket đổi thành Lê Lợi. Tất cả biến tên Pháp sang tên Việt Nam. Chính phủ Bảo Hoàng vẫn dùng tên phố cách mạng. Tính ở phía Lê Lợi, từ cầu Bo tới đền Mẫu và những phố ngang, đường dọc nằm trong địa hạt cầu Bo - đền Mẫu thuộc về khu phố đệ nhất; từ đền Mẫu tới Vọng Cung: khu phố đệ nhị; từ Vọng Cung tới nhà thờ Tin Lành: khu phố đệ tam. Bây giờ, đã mất tích những khu phố, chỉ còn lại thị xã Thái Bình với những căn nhà mái rạ tồi tệ, sống không biết ngày mai
Đi dạo con phố phụ, song song với phố chính và cách nhau những con phố ngắn. Trước hết, phố Trưng Trắc, khởi đầu tự lối xuống cống Đậu, bên trái, là trại lính khố xanh hoang vu. Thoạt tiên, người ta xây bệnh viện bằng nguyên liệu tiền chế, do Mỹ viện trợ, sau đền Mẫu. Được ít lâu, bệnh viện nhỏ bé quá, phải dọn tới trại lính khố xanh. Nhà tiền chế của Mỹ thấp và mái tôn, tường tôn nóng hừng hực. Mùa nóng, mồ hôi chảy ròng ròng. Mùa lạnh, giá rét run bần bật. Không một thứ cây nào còn sống. Nhà thương của chính phủ Bảo Hoàng, ở đấy. Đối diện với nó là bãi gạch vụn của Sở Cẩm và Sen Đầm, bên phải. Để bắt cảnh trống vắng bớt sầu thảm, quân đội Pháp chở ra đây giàn đại bác khổng lồ, câu sang biên kia sông Trà Lý, ngày đêm. Bệnh viện bớt buồn tẻ.
Bước đi, còn có gì trong cảnh đổ vỡ này mà chiêm ngưỡng. Một khúc dài, thấy ngôi trường trung học công lập Nguyễn Công Trứ vừa cất xong. Ngôi trường cao, lợp mái tôn, xây dựng trên nền nhà người Pháp. Còn đợi giáo sư ở Hà Nội về mới khai giảng. Bao giờ giáo sư mới về? Sát nách Nguyễn Công Trứ có trung học tư thục Trần Lãm. Một ông là Sứ quân, sau triều đại Ngô Quyền, án binh vùng Bố Khẩu, Thái Bình. Khi mất đi, quyền hành vào tay Đinh Bộ Lĩnh. Nhờ họ Đinh, mới dẹp tan 11 Sứ quân, thu giang san về một mối và lập một kỷ nguyên sáng tạo. Một ông là Doanh điền sứ, thời nhà Nguyễn, có công khai phá đất Tiền Hải, cũng Thái Bình. Ai nghĩ tên trường cho thị xã rất đáng khen. Lác đác đó đây, những ngôi trường tiểu học lợp rạ, trét vách bùn, học trò đang học. Trường Monguillot tiêu tan, tuổi thơ hết chỗ học làm người. Chả còn những thầy giáo Nguyễn Công Hoan, Trần Cao Đàn nữa,
Bước thêm những bước dài. Nhìn thây ma rạp chiếu bóng Odéon mà buốt ruột gan. Odéon không ngờ có ngày mình gục xuống, như thành phố Babylone đã gục xuống. Trong khi ông Lê văn Định đang sửa chữa máy móc, sơn xe. Ông không vẽ Con Voi lên cửa xe nữa. Còn đua chi với Con Sóc, Con Ngựa Bay mà vẽ Con Voi! Đường số 10 Thái Bình-Hải Phòng, ông chỉ chạy đến Đống Năm. Cầu Nghìn ở Phụ Dực, giật mìn nổ tung rồi. Đường đào hố chữ chi khá dài. Họa chăng có hòa bình ngay mới sửa nổi. Bến xe thị xã vẫn còn nguyên. Chỉ tiếc, những căn nhà quanh bến xe, đêm ngày khóc suốt mướt.
Bước dồn thẳng tắp. Thấy sân vận động bỗng rơi nước mắt. Hôm nào, sĩ quan Nhật ngự ở Câu lạc bộ thể thao, kè kè thanh kiếm, mặt lầm lỳ. Phút biến đổi, theo dự tính trước, Nhật đảo chính và hành hạ Pháp. Nhanh vù vù, Nhật đầu hàng Mỹ vô điều kiện. Vậy mà, khuôn mặt lầm lỳ của Nhật vẫn còn. Mặt trời mọc quên mất mặt trời lặn. Khi tổng khởi nghĩa, Nhật gây nhiều khó khăn cho dân thị xã. Đến lượt, Trung Hoa sang tước kh1 giới Nhật, cái lầm lỳ đi sang cái van nài tha thứ. Dân thị xã lại thương Nhật như đã thương Pháp. Câu lạc bộ thể thao trơ trụi trên miếng đất lầm than. Nạn nhân của tàn phá văng ra tận sân vận động. Cỏ mọc rậm rì, che lấp cả gạch ngói. Bãi cỏ này, bọn thằng Vũ, thằng Côn, thằng Luyến, thằng Vọng đã từng sút những cú bóng ngả bàn đèn, đã đánh đầu những cú bóng không gôn nào bắt nổi, lúc này giống bãi tha ma làm sao!
Tiểu đoàn trưởng Hoàng Sĩ Tính bị xử tử giữa sân vận động, về tội để giặc Pháp sang Thái Bình như vào chỗ trống không. Những kỷ niệm xám buồn hay rực vui, người ta gửi ở sân cỏ, đều bay biến hết. Trên cái vẻ tịch liêu đó, cây cột cao, treo miếng vải trắng vòng tròn vệt đỏ, báo hiệu cho máy bay trực thăng và Bà Già, quân đội Pháp mới dựng lên, nghĩ mà đau cho sân vận động, tủi cho mình. Kế bên Câu lạc bộ thể thao là hồ tắm. Đã ba năm, không ai săn sóc, cái plongeoir ai đã gỡ xuống và đem đi. Mưa tràn ngập hồ, mang theo sỏi đất. Bão lốc thổi tung cát bụi, cành cây khô héo cho nó định cư hồ tắm, đỡ bị phiêu lưu mệt mỏi. Lau sậy lổn ngổn tứ bề. Hồ tắm đáng yêu của thị xã biến thành cái ao tù, bùn lầy nước đọng, bèo tây đóng đầy. Người ta tìm cống Kỳ Bá mà bơi lội. Hồ tắm buồn thiu, nước còn cau mặt với tang thương. Bảo Chính Đoàn, đáng lẽ phải đóng quân ở trại lính khố xanh, ai dè đóng quân ở làng Kỳ Bá. Cổng chính, lính không đi, cứ nhè cổng hậu mà chui tọt. Cổng hậu là sân vận động thị xã. Lính kèn Bảo Chính thích ra hồ tắm tập thổi kèn. Tiếng kèn và giọng chửi thề của lính làm cho sân cỏ đã hiu quạnh, lại hiu quạnh thêm.
Bây giờ, đi dạo con phố phụ thứ hai, từ gần cuối, lên lưng chừng thị xã. Phố Trưng Nhị có bốn nơi cần nói cho hả dạ.
Nơi nói trước nhất là cái chateau d’eau, đằng sau trường Monguillot. Ngày xưa, nhà máy dẫn nước về chatean d’eau, cả thị xã dùng thỏa thích. Ngày nay, nhà máy nước, trong cơn thịnh nộ của tiêu thổ, đã chết dí một xó. Và, cái chateau d’eau theo chân Monguillot về với đất. Đánh gẫy nó ba chân, chateau d’eau ngã thảm thương. Nhìn nó nằm bất động, cỏ heo may lấp trùm kín mít, lòng không khỏi ngậm ngùi. Mất cái cũ, đành trở về với cái cũ, lạc hậu hơn. Dân thị xã đua nhau ra sông Trà Lý mà tắm giặt, mà gánh nước, thổi cơm, nấu nước. Giầu thì thuê người gánh. Nghèo thì oằn vai gánh lấy. Mùa đông và mùa xuân, nước sông trong vắt, đỡ khổ. Mùa hạ, nước cạn đục ngầu. Mùa thu, nước lũ đỏ ối. Phải đánh phèn chua lâu tay, nước mới lắng lại và trong được. Nỗi khổ của dân thị xã vùng tề, ai mà biết. Những ống nước dẫn vào tận từng nhà, giờ đã hoen rỉ hết. Nước máy, chỉ quân đội Pháp, chở từ Nam Định sang, được dùng. Ngay cả bệnh viện cũng dùng nước sông. Thị xã không có điện. Máy điện chở lên Việt Bắc rồi. Nhá máy bị dẵm nát dưới chân tiêu thổ. Thị xã đúng là một huyện lỵ nghèo nàn, không điện, không nước máy, nhà cửa rơm rạ, sập sùi. Có hơn gì huyện lỵ. Dân thị xã lại phải đi mua đèn Hoa kỳ, thắp bằng dầu hỏa, kiếm chút ánh sáng, ban đêm. Thôi được, còn tìm ra ánh sáng chân trời, bằng cách đọc nhật báo Tia Sáng của Ngô Vân, Giang Sơn của Hoàng Cơ Bình, mà nhà sách Đông A đã làm đại lý. Ở Thái Bình heo hút biết đầy đủ tin tức của Hà Nội, của khắp nơi, của Bộ tối cao chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp, của Việt Minh, của thế giới. Mong gì hơn nữa.
Nơi nói thứ hai là khu nhà Bà Sơ. Cách mạng chẳng dại gì tiêu thổ trường mẫu giáo, trường nuôi trẻ con mồ côi, trường dạy người mù, câm, điếc, trường dạy con gái thêu thùa. Các bà hồi cư sớm nhất. Chưa thấy ai gửi em nhỏ đến học. Chưa thấy anh câm nào đi chăn bò. Chưa thấy cô nào đi học thêu... Tạm thời, các bà tới nhà thương săn sóc bệnh nhân, theo đúng ý Chúa.
Nơi nói thứ ba là nhà thờ Thiên Chúa. Nhà thờ rất uy nghiêm, đụng vào nó là điêu đứng. Cách mạng đã giả vờ quên. Đã ba năm liền, không được nghe hồi chuông kêu gọi con chiên, người ta trông đợi linh mục cũ trở về. Bốn tháng, không thấy linh mục hồi cư. Linh mục Nguyễn văn Chỉnh, từ nhà thờ Lạc Đạo, tiếp thu nhà thờ thị xã. Không ai dám ngăn cản. Lạc Đạo là làng Thiên Chúa giáo. Ngày Pháp chiếm Thái Bình, Lạc Đạo xin tình nguyện phục vụ quân đội Pháp. Thanh niên Lạc Đạo được võ trang súng ống, ăn mặc quân phục như lính Bùi Chu, Phát Diệm. Lnh mục Nguyễn văn Chỉnh vừa đóng vai thầy tu, vừa đóng vai chỉ huy quân Lạc Đạo, bắt giết Việt Minh và những người vô tội. Chắc Pháp nể nang, nên mặc kệ linh mục Chỉnh trông coi luôn xứ đạo thị xã. Người ta chán nản chuyện nhà thờ.
Nơi nói thứ tư là chợ thị xã. Chợ thị xã cũng phá tiêu tan rồi. Nằm trong khu vựa hành dinh của quân đội Pháp. Do đó, Pháp rào kẽm gai ba vòng, cả miếng phố trước nhà thờ lẫn chợ thị xã, ăn tuốt vào hồ Phúc Khánh, bên bờ sông Trà Lý. Khu vực của quân đội Pháp giam giữ luôn tù binh Việt Minh. Những hoạt động của Pháp, chỉ Pháp biết. Dân thị xã bị cấm chỉ bước tới hàng rào kẽm gai. Ai đi lễ nên về nhà ngay. Nếu đứng lại ngó nhìn để thỏa mãn chút tò mò là có chuyện lớn. Và, chợ đành họp ở Vọng Cung, vì thế. Dân thị xã sống dưới những nghịch cảnh như vậy. Ở đời ai có qua cầu mới hay. Vẻ buồn tỉnh lỵ rõ rệt...

104
Tháng 11, 1950, gia đình Khoa vào thị xã. Mùa đông năm nay ít mưa dầm kéo dài dưới nửa tháng. Cái lạnh nó chẳng thương kiếp nghèo. Gió chướng tự do xoáy vào da thịt con người trong thế trống tung của chống đỡ rét buốt. Dân chúng đã về đông. Sự sinh hoạt có phần tấp nập.
Tuần lễ đầu tiên, Khoa phải giúp cha mẹ ổn định nơi ăn chốn ở, chưa đi tới đâu xem bạn bè Vũ hồi cư chưa. Đến nay, cha mẹ Khoa đã tìm được thợ làm nhà nên Khoa rảnh rỗi, muốn ghé thăm Luyến. Vì, nghe nói, Luyến đã trở lại thị xã. Bạn bè thân thiết với Vũ có ba người thôi. Côn thì đang theo học lớp sĩ quan Trần Quốc Tuấn, trên Sơn Tây. Vọng thì mải lo huấn luyện bộ đội tân binh, tại Tường An. Chỉ còn Luyến, chả biết đi kháng chiến hay ở Đống Năm học hành.
Đống Năm vui lắm. Nằm bên đường số 10, quy tụ dân tản cư của những thành phố Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương. Người ta buôn bán đủ các thứ hàng, ăn diện sang trọng. Lịch duyệt hơn thủ đô Hà Nội. Nhà cửa đua nhau mọc san sát. Dù không mái ngói và tường đúc xi măng. Ngôi trường trung học của giáo sư Hà Nội mọc lên. Đông nghít học trò. Đống Năm lừng danh như Cống Thần, Chợ Đại, một thị trấn ăn chơi khét tiếng của Liên Khu 3. Pháp ghét Đống Năm khủng khiếp, dọa dẫm từ mấy măm trước, sẽ cho Đống Năm ăn no đạn đồng. Chả hiểu tại sao? Hôm Pháp trải quân đầy mười hai phủ huyện, chắc Đống Năm bị đốt phá, giết chóc không gớm tay. Khoa lo sợ giùm Luyến.
Đằng xa, trông về phía cửa nhà Luyến, Khoa thấy một người chống nạng gỗ, quay lưng lại. Khoa bước nhanh tới :
- Làm ơn cho tôi hỏi thăm...
Người chống nạng xoay mặt.
- Anh Luyến. Trời ơi!
Khoa ôm lấy Luyến, khóc nức nở :
- Anh bị thương hả? Pháp bắn anh, hả?
Luyến mỉm cười thân ái, đưa tay vuốt tóc Khoa :
- Em Khoa, sao lại khóc? Anh vẫn cười mà. Em đã đọc truyện Tái ông thất mã chưa?
Khoa rút khăn, thấm nước mắt :
- Thưa anh, rồi ạ!
Luyến vui vẻ :
- Anh theo triết lý Tái ông thất mã. Mà, đứng ngoài lạnh lắm, vào trong nhà, anh em mình nói chuyện.
Luyến chống nạng đi trước, Khoa theo sau. Phòng khách của nhà Luyến, bây giờ, đơn sơ lắm. Mấy chiếc ghế đẩu cho khách, bàn xa lông đóng lấy để bầy ấm tích và chén uống nước. Luyến và Khoa cùng ngồi xuống.
- Bố anh đi làm ở Lục lộ. Pháp nó gọi thế. Cách mạng biến thành Sở cầu đường. Bảo Hoàng chuyển sang Ty công chính. Còn đổi nữa. Mình là dân, cứ để thời đại nó đổi thay mà theo thời đại. Tội gì nghĩ vẩn vơ cho mệt óc. Mẹ anh đi ăn giỗ ông ngoại. Chị Nhi theo chồng về Hưng Yên. Anh Lưu theo vợ sang Hải Phòng.
Luyến rót chén nước nóng mời Khoa :
- Uống cho ấm bụng, em.
Khoa hỏi :
- Còn anh Ái đâu?
Luyến đáp :
- Nó vào bộ đội, lâu lắm rồi không về.
Nhấp một ngụm nước trà nóng, Luyến nói :
- Nhà anh chia làm hai phe; Phe triệt để tích cực và phe thời cơ chủ nghĩa. Thằng Ái phe đầu. Anh và bố phe cuối. Thằng Ái tin bác Hồ Chí Minh như thánh sống, coi giai cấp vô sản như xứng đáng lãnh đạo dân tộc. Bố anh theo thời Bảo Đại, thời Pháp. Anh thì chỉ theo thời đại, mặc cho thời đại cuốn xoáy mình.
Khoa ngạc nhiên :
- Anh nói khác hẳn xưa.
Luyến cười :
- Anh khác hẳn xưa à? Cái cây còn biết lớn, hỏi chi con người. Ngày xưa còn bé của anh đã chết rồi, chết hẳn rồi. Năm năm cách mạng dạy ta nhiều thứ, khiến ta lớn khôn ra. Ngôn ngữ thay đổi, con người cũng đổi thay. Anh theo thời đại mà. Có gì lạ đâu? Em còn muốn bé nhỏ mãi, tốt thôi. Khó mà bé nhỏ mãi như ý ta mong muốn. Cuộc đời chia ra thành ba chu kỳ: Sinh, Lão. Tử. Ta bắt chước, chia cuộc đời làm ba giai đoạn: Ấu thơ, Thanh niên, Tuổi già. Có người bất hạnh không biết tuổi thơ của mình. Có người bất hạnh hơn, bị đốt cháy thuở thanh niên. Như anh chẳng hạn. Anh may mắn được làm tuổi thơ Monguillot, được làm Luyến mít sơ lanh. Dã đủ hạnh phúc rồi, em ạ! Người ta càng khôn ra, càng lớn lên, tâm hồn càng già nua, em nhỉ?
Khoa hối hận, khoanh tay lễ phép :
- Em xin lỗi anh.
Luyến xua tay :
- Can chi. À, sao lúc nãy em khóc?
- Em đau khổ với anh.
- Đau khổ vì anh mất chân phải à?
- Vâng.
- Đừng đau khổ. Anh không đau khổ mà. Nhờ mất chân mà gia đình anh về tề sớm nhất. Anh bị đạn trúng chân, nằn giẫy giụa trên sân. Ông đại úy nhảy dù Pháp hỏi anh là ai, anh đáp là học sinh. Ông ta cho gia đình anh lên xe căm nhông vào thị xã, rồi chở anh đến Bệnh viện dã chiến của quân đội, cưa chân anh. Lành bệnh, họ cho anh đôi nạng gỗ, chở anh về nhà, và chúc anh cam đảm lên.
- Họ tốt nhỉ?
- Với anh, họ đầy tình người. Với những người khác, anh không biết. Họ đốt hết thị trấn Đống Năm, người ta xét đoán thế nào về họ?
- Họ chỉ làm theo cấp trên, Bộ tư lệnh tối cao của họ. Đống Năm, Trực Nội ăn no đạn đồng cơ mà.
- Em biết điều này lâu chưa?
- Mới đây, nghe anh bảo họ khuyên anh can đảm.
- Những người lính Pháp vừa qua Việt Nam, có thích viễn chinh, xâm lăng một nước nào. Pháp bị Đức đô hộ, họ vùng lên giải phóng nước họ. Người ta hân hoan niềm vui giải phóng muốn tắt thở. Họ lại đi xâm lăng một nước đã bị họ đô hộ, mới tự giải phóng, chẳng kịp sung sướng. Họ đóng vai phát xít Đức. Họ mâu thuẫn với họ. Họ bất mãn chính phủ họ. Biết làm sao? Là lính, họ cam đành tuân lệnh chính phủ của họ, đuổi theo một chính sách lỗi thời. Chúng ta chống Pháp là chống chính sách lỗi thời của tập đoàn thực dân Pháp. Lính Pháp vô tội. Lính Pháp ra trận mạc phải đánh nhau lấy thắng, không thắng thì chết. Và, chúng ta căm thù họ dã man, tàn bạo. Muốn sống lâu, sống có ngày về với vợ con, lính ở bất cứ nước nào cũng sợ chết. Lính cách mạng và lính xâm lăng đều giống nhau. Tổng thống Pháp có chết trận đâu? Thủ tướng Pháp có chết trận đâu? Tướng lãnh, sĩ quan, lính Pháp chết ở Việt Nam vô kể. Chủ tịch Hồ Chí Minh có chết trận đâu? Thủ tướng Phạm văn Đồng có chết trận đâu? Bộ đội ta đã phơi xương máu ngút ngàn. Các ông ấy đều mang cái anh hùng ra dụ lính giết nhau.
Ngưng một lát, Luyến tiếp :
- Để ý đến hiếp dâm, bắn giết dân chúng, đốt nhà cửa, ăn cướp gà vịt mỗi lần hành quân làm gì? Bọn lính da đen mọi rợ, bọn lính lê dương vô tổ quốc, tội ác đã kín người chúng. Thôi, anh không nói nữa.
Khoa van nài :
- Anh cứ nói cho em học.
Luyến lảng chuyện :
- Khoa ạ, còn bé hay khóc lắm, khóc cả những trận đá bóng thua An Tập. Lớn lên, phải tiết kiệm nước mắt, em nhé! Anh giờ, còn chút ít nước mắt thôi. Bố mẹ anh chết, anh không khóc đâu. Anh để dành khóc hai thằng bạn thân nhất trên đời là Vũ và Côn, nếu chúng nó bị cuộc đời xua đuổi. Còn thằng Vọng, anh khóc vì nó nữa.
Khoa rướn người lên :
- Anh Vọng chưa chết.
Luyên cuống quýt :
- Vọng còn sống, em gặp nó ở đâu?
Khoa sung sướng :
- Ở làng em, hồi tháng trước.
Khoa say sưa kể những tháng Vọng đóng quân ở làng Tường An. Nó không gặp Vọng sớm sủa nên để lòng nhớ tiếc bộ đội năm xưa cùng bài hát của họ, và ghét bộ đội mới với những ca khúc suy tôn Malenkov, Mao Trạch Đông. Nó và thằng bạn ra bãi tha ma làm đám tang cho Vệ quốc quân và chào mừng Quân đội nhân dân. Khi gặp Vọng rồi, Vọng giải thích cho Khoa những điều Khoa chưa biết, Khoa mới yên lòng.
Tháng ba, năm Ất Dậu, Vọng sắp chết đói được thầy Nguyễn Công Hoan cứu, đưa nó vào cách mạng, trước Luyến, Côn, Vũ mấy ngày đem cơm cứu đói tới nhà Vọng. Khoa nói ba người bạn thương Vọng nhất trên đời này là Vũ, Côn, Luyến. Vọng khóc.
Luyến cảm động :
- Thầy Hoan dẫn Vọng làm cách mạng đúng nhất. Nó cứ kháng chiến diệt Pháp, kẻ thù của giai cấp nó. Chúng ta không phê bình và vẫn yêu mến nó.
Khoa tròn đôi mắt :
- Anh Vọng thuộc giai cấp nào?
Luyến trả lời thẳng thắn :
- Giai cấp vô sản. Nhà Vọng nghèo, giá làm nông dân, Vọng sẽ là bần cố nông. Công nhân với nông dân hợp thành giai cấp vô sản. Công nhân Vọng nhiều ưu đãi hơn. Vọng cấp gì trong quân đội?
Khoa nói :
- Em quên hỏi, chỉ biết anh ấy là chính ủy trung đội, bí danh Kỳ Bá.
Luyến quả quyết :
- Ít lâu nữa, chừng 32 tuổi, Vọng sẽ lên chính ủy sư đoàn.
Khoa bảo :
- Anh ấy phục Vệ quốc quân vô cùng, coi họ là lính tiểu tử sản lãng mạn cách mạng. Em nhớ anh ấy tâm sự với em: Còn anh, tim vẫn hé mở để lính tiểu tư sản đồn trú.
Luyến khen ngợi:
_ Vọng là người vô sản có tâm hồn. Em biết người cộng sản là người vô sản chứ?
Khoa lắc đầu. Và, tiếp tục :
- Anh ấy còn buồn bã: Một mai, em sẽ oán trách người này, bênh vực người nọ. Rồi, em sẽ ân hận, vì oán trách sai, bênh vực sai nốt. Con người này chống con người nọ không phải con người thích chống đối. Mà, hoàn cảnh nó dìu đi.
Luyến thở than :
- Trời ơi, thằng Vọng nó tiên tri thời đại. Nó tuyệt diệu, Vọng ghẻ tầu! Anh còn phải học nó, học người cộng sản có lòng như nó. Thầy anh dạy: Học hải, sự học như biển cả, biết đến khi nào mới tới đích. Cao Bá Quát nói: Trong thiên hạ có ba bồ chữ, ta chiếm hai bồ, anh ta bạn ta, Cao Bá Đạt Nguyễn Siêu, nửa bồ, còn nửa bồ phát cho thiên hạ. Cao Bá Quát đã hoàn toàn sai lầm. Trên đời, có những năm đại dương chứa đựng chữ nghĩa. Bao nhiêu bồ mới xuể? Hai bồ thì ít quá, tiểu học quá! Có lẽ, được sang Tân gia ba, Cao Bá Quát mới giật mình khi ở xó nhà, Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi. Anh thì đang đi trên đất Thái Bình, phải học mọi người, học thằng Vọng, mới có thể tiến xa nổi.
Khoa thắc mắc :
- Ông thầy nào đó, thưa anh?
Luyến gật gù :
- Thầy Trúc, dân Hưng Yên, dạy anh Việt văn ở Đống Năm. Anh đã tiêm nhiễm tư tưởng của thầy. Thầy bảo: Nếu mình đủ tài năng tạo ra một thời đại, hãy sống chết với thời đại đó, đi tới cùng sự thất bại hay thành công. Còn không đủ tài năng, mình nên sống yên ổn theo thời đại. Thầy Trúc phê bình kháng chiến: Chẳng phải kháng chiến chống Pháp mới giành được độc lập. Để cho chu kỳ của thời đại nó xoay vần. Rất mau, thực dân và đế quốc sẽ tàn lụi. Mình vẫn độc lập huy hoàng, có tình nghĩa. Dân không chết, bộ đội không chết và thành phố khỏi bị tiêu thổ như Thái Bình. Người ta chủ trương kháng chiến vì quyền bính thống trị nó làm hoa mắt mình và chỉ muốn nó độc quyền về tay mình. Còn nói kháng chiến cho dân tộc, bánh vẽ mà thôi.
Luyến lại lảng chuyện :
- Cách mạng bỏ lớp nhì 2, Khoa học đến đâu rồi?
- Em nghỉ học gần một năm, chứ không, niên học này, đệ tam.
- Anh đỗ Trung học phổ thông năm ngoái. Bây giờ, anh rảnh rỗi lắm, định xin làm giáo viên. Em lại đây, anh dạy em Toán, Lý, Hoá, Pháp văn, Việt văn cho hết đệ tam. Sang năm, em học đệ tứ, khỏi lãng phí một năm bị nghỉ. Em thông minh thế, thừa sức học hết cả chương trình đệ tứ, từ nay tới ngày khai trường.
- Cám ơn anh.
- Đừng khách sáo. Lâu nay, nhà có nhận được tin tức gì của Vũ không?
- Thưa anh, không.
- Chả sao. Mỗi người có một cuộc đời. Sự lo nghĩ của mình không giúp ích người khác đâu. Anh chỉ biết cầu cho Vũ mạnh khỏe.
Luyến rót ly trà mới mời Khoa uống. Khoa nghe Luyến nói Luyến đã đốt mất tuổi thanh niên; thoạt đầu, Khoa tưởng Luyến bị què quặt đâm ra yếm thế nói vậy. Ngồi lâu với Luyến, Khoa mới rõ, sự hiểu biết làm con người già đi. Côn đã già đi. Vũ đã già đi. Như Vọng và Luyến. Khoa đã sống trọn vẹn tuổi ngọc trong nhi đồng hậu phương bình an. Đó là những tháng năm đẹp nhất, một đời chỉ có một lần. Nó giã từ hồn đào vội vàng và nhanh lẹ quá, cứ ngỡ hồn đào còn lởn vởn đâu đây. Khoa quên không truy lùng bước chân hôm nay. Nó đã lớn mà chẳng biết. Thực ra, 16 tuổi, Khoa đã bị đuổi khỏi thế giới hoa mộng. Năm nay, cách mạng đẩy mạnh ta tới đoạn không tính toán. Mỗi người hiểu cách mạng một lối. Buồn xuống thấp hay vui lên cao. Luyến thì không vui không buồn. Cái triết lý sống theo thời đại của Luyến thế mà hợp với chính trị bây giờ. Khoa thì vui nhiều buồn ít. Nó có ba người đang kháng chiến ngoài xa: Vũ, Vọng, Côn.
- Anh em mình đi dạo thị xã đi!
- Vâng ạ!

105
Chẳng mấy đỗi, đã tới Giáng Sinh 1950. Thị xã đón mừng Chúa xuống trần gian cứu rỗi nhân loại long trọng lắm. Nhà theo đạo treo cờ Thiên Chúa giáo khắp các phố. Nhà ngoại đạo cắm cờ vàng ba sọc đỏ, theo lệnh của linh mục Nguyễn văn Chỉnh. Đã ba năm nay, ít được nghe hồi chuông ấm áp tình người như muốn dìu trái tim đau khổ vào cõi thiên đàng cực lạc; ít được nghe tiếng kinh thổn thức linh hồn, cơ hồ trách móc chiến tranh gây nên bao cảnh đổ vỡ, chết chóc. Dân ngoại đạo giống dân nội đạo, cùng một ý nghĩ, tưởng mình gần Chúa. Thời loạn ly, con người không biết tin ai, đành tin ở Chúa, ở Phật, ở thánh thần. Tôn giáo làm con người tín ngưỡng nồng thắm. Nhiều lúc đến độ mê tín, dị đoan. Thì thôi, đành bỏ qua cho con người sống giữa thời chinh chiến. Chỉ còn nỗi đó mới bớt sầu thảm mà tin đời sẽ sáng lạn.
Thái Bình đã tiêu thổ trơ trụi, dân chúng hồi cư trên đống gạch ngói hoang tàn. Chúa thừa biết Thái Bình, một tỉnh lỵ oan nghiệt và không được cách mạng yêu thương. Dân thị xã đã khóc than đập phá nhà gạch ngói, tản cư, lại than khóc xây dựng nhà mái tranh, hồi cư. Hai hàng cây hồi phố chính, nơi bao nhiêu kỷ niệm leo lên, những ngọn dao thô bạo đã chặt ngã hết rồi. Thái Bình nhiều đau đớn vô cùng. Nhật chủ mưu cuộc chết đói lịch sử, năm Ất Dậu. Thái Bình giầu nhất miền Bắc, kho lúa của Liên khu 3, chết đói nhiều vào hạng nhất. Gần ba mươi vạn người. Con số chết bom nguyên tử, ở Hiroshima và Nagasaki, chưa bằng Thái Bình chết đói. Năm nào Mỹ cũng thả những vòng hoa ăn năn tội lỗi xuống an ủi kẻ chết. Nhật có nghĩ tới Thái Bình không nhỉ? Người cố tình không thèm hiểu người, thì Chúa hiểu người và thương người. Cho nên, năm nay, dân thị xã trông chờ ngày 24 tháng 12 hơn cả đại hạn trông mưa.
Hãy xem anh em nhà thằng Khoa ngoại đạo chuẩn bị đón Giáng Sinh. Khoa làm cái máng cỏ cho hai đứa em gái. Thoạt tiên, Khoa lấy miếng các tông tạo ra cái nền máng cỏ. Nó dán hai ba chiếc bìa mầu vào nhau, bóp nát, gắn lên miếng các tông. Thế là có nơi Chúa xuống trần gian, dơn giản hơn ở hang Bê lem. Nó cắt giấy trắng nhỏ như chỉ, giả vờ cỏ, rải đầy trong và ngoài hang lừa. Khoa đến chợ Vọng Cung mua tượng Chúa sơ sinh có Mẹ Maria và thánh Joseph đứng cạnh. Quanh máng cỏ, mấy chú mục tử chăn mấy con lừa và đàn cừu. Xa xa, ba ông vua Đông phương tới chúc mừng. Xong xuôi, anh em nhà thằng Khoa xúm nhau khen rối rít. Chúng nó hát bài Đêm đông tập từ tuần trước. Khoa đệm ác mô ni ca:
Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời
Chúa sinh ra đời
nằm trong hang đá nơi máng lừa
Trong hang Bê lem
ánh sáng tỏa lan tưng bừng
Nghe trên không trung
tiếng hát thiên thần vang lừng
Đàn hát
Xướng ca
Đây Chúa thiên tòa giáng sinh vì ta
Người hỡi
Đến xem
Ôi Chúa giáng sinh khó khăn thấp hèn
Nửa đêm mừng Chúa giáng sinh ra chốn gian trần
Người đem ơn phước xuống cho muôn dân lầm than
Nơi hang Bê lem thiên thần xướng ca
Thiên Chúa vinh danh chúng dân an hòa

Ca khúc dứt, Khoa nói :
- Đêm nay, nghe bài này từ nhà thờ vọng lại mới cảm động. Của ông linh mục Hải Linh đấy. Ông ấy bảo Chúa giáng sinh khó khăn thấp hèn, còn bẩn thỉu hơn cái máng cỏ của anh em chúng mình.
Tú tiếc rẻ :
- Chỉ thiếu đèn nhấp nháy quanh máng cỏ.
Khoa vỗ vai em :
- Điện chẳng có, nói chi đèn! 1950 năm về trước, Chúa sinh ra trong máng cỏ ỏ Bê lem, nghèo nàn, bệ rạc, không có lấy một ngọn đèn dầu. Bây giờ, người ta chế ra những cái máng cỏ sang trọng, đèn nhấp nháy thật tinh vi, máng cỏ giấy bạc, tượng Chúa tuyệt đẹp... Anh nghĩ rằng, Chúa không vào nơi sang trọng đâu, Chúa chỉ vào những nơi nghèo hèn. Như mang cỏ của anh em mình.
Mai hỏi :
- Anh có chắc Chúa đến nhà mình không?
Khoa gật đầu :
- Chắc chứ.
Tú đề nghị :
- Thế thì anh đừng thắp đèn trong máng cỏ nữa.
Khoa lắc tay :
- Không, anh phải thắp đĩa dầu lạc bé nhỏ. Ngọn bấc sẽ cháy thiêng liêng lắm đây. Chúa vui, thấy nhà người ngoại đạo đón mừng Chúa. Và, Chúa sẽ nhìn rõ làng Tường An, thị xã Thái Bình, tỉnh lỵ Thái Bình chìm lấp trong chiến tranh, tiêu thổ kháng chiến nheo nhóc đến dường nào. Chúa sẽ nhìn ra anh Vũ, anh Côn, anh Vọng đang rét mướt ngoài chiến trường, cầm súng đuổi thực dân...
Tú và Mai ngồi im nghe Khoa nói, mắt đầy ngấn lệ. Như thánh Matthieu kể tích Chúa đọc Bài giảng trên Núi, Khoa cũng kể tích Chúa yêu trẻ thơ, anh Luyến đã nói với nó.
- Hãy để trẻ thơ đến cùng ta, vì nước Thiên Đàng gồm những người như thế. Chúa dạy: Nước Thiên Đàng, nước của Chúa, toàn những tuổi thơ và những người lớn tâm hồn còn trong vắt như tuổi thơ. Những người không tươi sáng, giản dị, đôn hậu và thừa tình yêu thương không được lên nước Thiên Đàng. Chúa dạy; Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu được vào nước trên Trời. Vậy thì, những người lớn độc ác, gian dối chỉ được sống ở trần gian, chờ chết, xuống Địa Ngục đền tội với Satan. Chúa giáng sinh để cứu rỗi loài người sống trong chiến tranh khổ quá, đâm ra độc ác, gian dối để được sung sướng. Chúa dạy: Hãy vào ngõ hẹp, vì ngõ rộng và đường lớn dẫn đến sự hư nát, kẻ vào đó thì nhiều. Song ngõ hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ tìm được thì ít. Những người độc ác, gian dối, háo danh lợi, địa vị, bổng lộc đều đi trên con đường rộng thênh thang...
Khoa không hiểu đã nói những gì, em nó cứ lắng tai nghe. Khoa cười, sung sướng.
- Anh đã nói gì thế?
Em nó trả lời :
- Đọc kinh Chúa!
Khoa bối rối :
- Đọc Thánh Kinh à? Anh có đi đạo bao giờ đâu? Có em nào còn nhớ và hiểu gì không?
Mai ngây thơ :
- Chẳng nhớ nổi câu nào, chẳng hiểu ý nghĩa ra sao!
Khao vờ vẫn :
- À, hôm nay nhằm ngày Giáng Sinh, Chúa cảm động thấy anh làm cái máng cỏ, ban ân sủng cho anh được giảng lời Chúa với các em đấy mà!
Nó rẽ nhanh sang chuyện Giáng Sinh :
- Anh Luyến đọc sách nhiều lắm. Anh ấy nói với anh, chỉ có hai chữ Giáng Sinh tả cảnh Chúa xuống trần gian cứu rỗi loài người mới tuyệt hay, các em ạ! Người Pháp thì Noel, bánh cũng Noel, cây cũng Noel, ông già cũng Noel. Người Anh thì Christmas. Noel và Christmas là cái gì? Giáng Sinh là nhất. Tối nay, anh và anh Luyến đi xem lễ ở nhà thờ.
Vừa khi ấy, cha mẹ anh em thằng Khoa đi cầu Kiến Xương thăm người bạn mới hồi cư về đến nhà. Mai khoe cha mẹ cái máng cỏ anh Khoa mới làm xong.
- Đẹp không, bố mẹ?
Mẹ bĩu môi :
- Ngoài chợ người ta bán thiếu gì máng cỏ! Đẹp ơi là đẹp. Sao không mua một cái, đỡ mất thì giờ và tốn tiền?
Khoa cãi :
- Cái máng cỏ của chúng con làm ra khác hẳn máng cỏ của người ta, khác hẳn máng cỏ bán ngoài chợ. Tuy nó không đẹp, nhưng Giáng Sinh là ngày thiêng liêng, chúng con làm máng cỏ chào mừng Chúa ra đời bằng hết tâm hồn chúng con, mẹ lại chê bai!
Từ hôm Khoa đi học Luyến, cha nó biết Khoa đã tiến nhanh. Nó ăn nói chững chạc và có chiều sâu. Cha nó vội vàng :
- Xin lỗi con, mẹ thương con vất vả nên nói thế. Đúng, các con làm cái máng cỏ bằng cả tấm lòng. Chúa sẽ ban phúc cho các con, cho bố mẹ, cho anh Vũ của các con.
Khoa không nói năng gì, một mình ra ngoài cửa hóng gió lạnh cuối đông. Nó đã đến nghĩa địa, định chặt một cành thông đem về gắn sao và rắc bông làm tuyết, kê sát máng cỏ. Hơi muộn, người ta đã lấy hết cành thông. Khoa chỉ muốn làm vui lòng các em thôi. Nó vào nhà, sửa soạn ăn cơm chiều.
Đến bảy giờ tối, Khoa tới nhà Luyến, rủ Luyến đi xem lễ. Vẫn limh mục Nguyễn văn Chỉnh giảng bài Giáng Sinh. Hôm kia, linh mục Chỉnh bắt dân đạo thị xã rước kiệu Chúa và Đức Mẹ, tạ ơn Chúa, tổ chức mấy tuần trước. Linh mục Chỉnh muốn làm gì thì làm. Quyền uy của llnh mục hơn cả Chúa. Cảnh rước kiệu quanh vài con phố, người ta không bằng lòng câu viết trên băng đờ rôn: Nguyện dâng nước Việt Nam cho Chúa. Nhưng, người ta im lặng. Chả một khẩu hiệu nào khuyên chấm dứt chiến tranh. linh mục Chỉnh hân hoan ra mặt, cho rằng, lễ tạ ơn Chúa Giáng Sinh đã thành công.
Thị xã giới nghiêm bắt đầu từ 11 giờ 30 đêm. Nhà thờ phải giảng lễ lúc 8 giờ và chấm dứt lúc 10 giờ. Để giáo dân còn về ăn rê vây ông. Buổi tối, ngày Giáng Sinh, trời lạnh và không trăng sao, thiếu đèn điện soi phố nên buồn lắm. Lính Pháp ở nguyên trong đồn. Lính pác ti dăng Hổ Xám và lính Bảo Chính cũng vậy. Đúng 8 giờ, Khoa và Luyến có mặt trong nhà thờ. Người nội đạo và người ngoại đạo đến chật ních cả cửa giáo đường. Nhà thờ gần hành dinh của Pháp, được Pháp cho câu điện ngày Giáng Sinh sáng choang, rực rỡ. Linh mục Chỉnh mặc quần áo, đội mũ như Giám mục, bệ vệ, hớn hở. Trên đầu linh mục Chỉnh, Chúa bị đóng đinh, khuôn mặt sầu thảm nhìn khắp mọi người, thấu tận tim.
- Mình về thôi, đủ rồi, Khoa ạ!
Luyến chống nạng tách đám đông.
- Linh mục Chỉnh chưa giảng mà?
Luyến vẫn thong thả bước ra bên ngoài. Khoa theo sau.
- Anh ngắm mặt mũi linh mục Chỉnh một tí, thế là xong rồi.
Trên đường về, Luyến hỏi Khoa :
- Em có biết người nào buồn nhất nhân loại không?
- Không, anh ạ!
- Chúa đấy, Chúa Giê xu đấy. Người đã buồn, buồn cho đến chết. Thế mà, người ta lại vui vẻ, trong khi nỗi buồn của Người mãi không nguôi. Hình như người ta lợi dụng nỗi buồn của Chúa để vui vẻ, làm những việc trái ý Chúa. Cứ xem linh mục Chỉnh hớn hở, rõ ngay tâm địa của ông ấy. Bài giảng đêm Giáng Sinh thế nào chả có tiêu diệt cộng sản!
- Vâng, em hiểu.
- Thời Pháp đô hộ chúng ta, dân nô lệ thả cửa gọi linh mục là cố đạo. Nay, chế độ Bảo Hoàng độc lập, tự do, dân chủ, chúng ta phải gọi cố đạo là linh mục hay cha. Ai gọi cố đạo Chỉnh, ông ta bắt liền! Em nên thận trọng cách ăn nói, nghe chưa?
- Vâng.
- Anh thích nhất một bài ca Giáng Sinh, tiếng Anh. Học hết cuốn L’Anglais vivant 6è bleu, thừa sức hiểu nghĩa bài hát. Ca khúc này, do một mục sư Đức sáng tác. Chắc ông đã gặp Chúa trong đêm thánh vô cùng. Anh hát Silent night cho em nghe, nhé! Anh em mình mừng lễ Giáng Sinh.
Tiếng lọc cọc của nạng gỗ trong đêm yên lặng, Luyến vừa đi vừa hát:
Silent night, holy night
All is calm, all is bright
‘Round you Virgin Mother and Child!
Holy Infant,
so tender and mild,
Sleep in heavenly peace,
sleep in heavenly
peace!

Khoa đưa tay áo, thấm nước mắt.
- Về nhà em ăn rê vây ông miến gà. Mẹ em đã nấu, bảo đảm ngon, dặn em cố mời anh.
Luyến không từ chối. Nó chống nạng đi theo Khoa...

106
Giáng Sinh 1950 vừa qua, Tết Dương Lịch 1951 đã tới. Phố chính đóng cửa kín mít. Người ta sợ lính Pháp uống rượu say sưa mừng năm mới, ra khỏi trại phá cửa, phá nhà. Hú vía, chả xảy ra chuyện gì. Thái Bình thiếu tòa án, dân chúng nhường nhịn nhau, khỏi đưa nhau sang Nam Định thuê luật sư và kiện nhau. Thái Bình không còn nhà lao nữa. Cách mạng tiêu thổ kháng chiến rồi. Bảo Hoàng lười xây cất hỏa lò nhốt người tội, thành thử chẳng ai làm điều tội để nằm hỏa lò. Những việc lặt vặt, cảnh sát lo giải quyết. Bây giờ, cảnh sát đồn trù sát cạnh Vọng Cung.
Riêng công an Bảo Hoàng là đáng kinh hãi. Nhiều nhân viên thuộc đảng Đại Việt, đảng Việt Nam Quốc dân. Họ làm việc ở giữa hiệu thuốc lào Vĩnh Thái và hiệu sách Học Hải, phố Lê Lợi. Đằng sau ty công an, một phòng tra tấn hãi hùng, ngày nào cũng xảy ra. Công an bắt được Việt Minh, đàn ông hay đàn bà, họ đều tra khảo đủ mọi đòn thù ghê tởm. Những người bị công an dồn nỗi thống khổ quyết liệt trên thân thể yếu sức quá, chết vội vàng. Công an chôn vùi ở đâu, không ai biết. Đằng trước ty công an, một phòng cấp sổ gia đình, thẻ căn cước và giấy di chuyển các thành phố miền Bắc. Người ta không muốn nhắc hai tiếng công an. Vì, công an Bảo Hoàng tàn ác vô cùng.
Mặt trận bên kia sông Trà Lý mỗi ngày một nặng. Pháp tới tấp về! Quỳnh Côi, Phụ Dực, Duyên Hà, Thụy Anh bốn nơi hệ trọng nhất. Bên đây sông Trà Lý, vắng lặng. Những huyện Thư Trì, Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải, mới đầu, Pháp đóng. Sau dần, Pháp để cho pác ti dăng đóng. Tình hình tốt đẹp. Có thể nói, bốn phủ huyện, bên đây sông Trà Lý, quy hàng Pháp hết. Cách mạng lợi dụng Pháp quá chủ quan, lấy những nơi ở Vũ Tiên, Thư Trì, Tiền Hải, Kiến Xương làm chỗ dưỡng quân, nuôi quân, tuyển quân khi bị đánh nát nhầu ở bên kia sông Trà Lý. Thực ra, cách mạng thừa hiểu mình chưa đủ sức chống Pháp ở bên đây sông. Pháp từ sông Trà Lý quay mặt lại, từ sông Hồng phóng sang; cách mạng nằm trong ổ, chờ Pháp móc ra. Ấy là chưa kể tầu Pháp cho quân đổ bộ ở các bãi biển Bồng Tiên, Bồng Lai và Đồng Châu. Bốn huyện bên đây sông Trà Lý nguy kịch. Tháng 5, 1950, Pháp đã nhảy dù xuống Lạc Đạo rồi biến nhanh sang bên ấy một trung đoàn. Trận tuyến chưa giải quyết nổi. Phụ Dực là bãi chiến trường đẫm máu. Cách mạng chết nhiều và Pháp chết nhiều. Có những hôm, trực thăng đáp ở sân vận động thị xã, chở lính Pháp bị thương nặng qua Nam Định, một giờ một lần. Bây giờ, Pháp lại tăng cường số quân bên kia sông.
Không đủ lính, Pháp cho pác ti dăng đóng nhiều nơi. Lính pác ti dăng quân đội Pháp tuyển dụng như lính khố đỏ trước 1945, cần thiết có sĩ quan Bảo Hoàng chỉ huy họ.
Lính khố đỏ, ngày xưa, lên lon tới trung sĩ, thượng sĩ, quân đội Pháp gửi họ về nước Pháp, đặc cách cho họ theo học các trường sĩ quan Saumure, Saint Cyr. Rồi, chở họ hồi hương. Phần đông, người miền Nam và Trung. Đầu 1951, Thái Bình đã có sĩ quan cấp úy pác ti dăng. Lính pác ti dăng chết đâu, mộ đó. Nhiều lính pác ti dăng Thái Bình rồi.
Đó là những tin buồn của Pháp và Bảo Hoàng. Tin vui của dân thị xã sau đây: Hãng xe Con Voi của ông Lê văn Định sẽ khai lộ vào ngày mồng 6 tháng 1 năm 1951. Xe Con Voi chạy đường số 10, Thái Bình-Nam Định-Hà Nội, và ngược lại, Hà nội-Nam Định-Thái Bình. Mỗi ngày một chuyến. Xe hàng của ông Lê văn Định đã là Con Voi, dân thị xã vẫn gọi là xe Con Voi. Có lẽ, Con Voi là niềm an ủi của dân thị xã. Con Voi chở con người đi vô sự, về bình yên. Con Voi không biết tra tấn con ngưòi đến chết. Với dân thị xã, Con Voi sẽ phục vụ rất nhiều. Hai điều hữu ích nhất: Con Voi mang nhật báo xuất bản ở Hà Nội về Thái Bình và chuyển thư của bưu điện lên Hà Nội nhanh lắm. Tin vui của dân thị xã nữa: Trung học công lập Nguyễn Công Trứ sẽ khai giảng 15-9, năm nay. Trường mới chỉ dạy hai lớp đệ thất và đệ lục. Rồi, ngày vun vút qua, xe Con Voi đã chạy và đem bốn gói báo về: Giang Sơn của Hoàng Cơ Bình, Tin Sáng của Ngô Vân, Dân Chủ của Vũ Ngọc Các, Liên Hiệp của Văn Tuyên.
Khoa sung sướng đến hiệu sách Đông A mua cả bốn tờ nhật báo đem về nhà Luyến.
- Anh đọc báo chưa?
- Chưa, báo mới vể, hả?
- Vâng.
- Ba năm chưa đọc báo.
- Báo chậm mất một ngày. Xe Con Voi về chập tối hôm qua.
- Đọc đi.
Một tiếng đồng hồ, Luyến đã đọc xong bốn tờ báo. Báo nào tin tức cũng giống nhau. Trang 4, leo bài trang 1, và toàn các rạp xi nê ma giới thiệu phim đang chiếu ở Đại Nam, ở Long Biên, ở Eden, ở Majectic... Trang 3 và 4, một cái phơi ơ tông truyện kháng chiến hay truyện lịch sử, một bài thơ hài hước, hai ba bài sưu khảo văn học, tử vi và quảng cáo. Trang 1, tin tức quốc tế, tin thiên hạ chửi nhau, tin lạ bốn phương... Không có tin chiến sự. Báo đăng Thông cáo của Bộ tối cao chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp. Báo chí không có phóng sự chiến trường. Thời luận và phim hàng ngày nhạt nhẽo. Xã luận viết vu vơ. Báo chí không dám phê bình việc sai lầm của chính phủ Bảo Hoàng và Pháp. Thời chiến, báo chí bị kiểm duyệt khéo léo chăng? Dẫu sao, có báo để đọc là vui rồi.
Một tin loan cùng một lượt trên bốn tờ báo, khiến Luyến phải suy nghĩ: Động viên sinh viên, học sinh vào Trường Sĩ Quan Nam Định. học sinh rớt trung học phổ thông, rớt tú tài 1, rớt tú tài 2, nằm trong sắc lệnh động viên. Sinh viên rớt năm thứ hai, năm thứ ba... cũng nằm trong sắc lệnh động viên. Tú tài 2 thôi học, làm công chức hay tư chức, càng động viên thật gấp. Chỉ có học mãi, học không thi rớt mới, may mắn, thoát khỏi động viên, hôm nay. Rồi, sẽ bị động viên, nhưng ngày mai cơ. Ngày mai, có thể, cuộc chiến ở Việt Nam thôi súng đạn.
Người Pháp chiếm Nam Định, đặt trường sĩ quan ở đó, chắc đã tin tưởng rằng, Nam Định an ninh hoàn toàn, Nam Định đã quy thuận Pháp. Nam Định là một trong bốn thành phố lớn nhất miền Bắc. Có ngân hàng Đông Dương, có tòa án, có nhà tù đáng sợ, có nhà hát, có sân khấu diễn kịch, có nhiều rạp cinéma,và nhà triển lãn tranh ảnh, có bãi sông trên bến dưới tầu bè... Nam định, phần nào thoát cảnh tiêu thổ kháng chiến, còn dinh thự, nhà cửa khang trang. Nam Định 1950 giống Nam định 1945. Nó vẫn là thành phố thơ mộng của đồng bằng, như Hà nội, Hải Phòng và Hải Dương. Nay, lại thêm trường sĩ quan của người Bắc. Lần đầu tiên, trong lịch sử Nan Định, trong lịch sử Việt Nam. Cách mạng đã thấm nỗi đau lòng, đứng bên kia sông Hồng, nhìn với sang bên đây, thấy Nam Định thay đổi mầu sắc. Mổi thành phố tạm chiếm, mỗi khởi sắc vươn lên, là mỗi buồn phiền của cách mạng.
Người Pháp nhất định ở lại Việt Nam rồi. Họ đã nghĩ tới tương lai quân đội của bản xứ. Pháp muốn người sĩ quan phải có học, phải trí thức một chút. Họ ngậm ngùi cho những anh lính khố đỏ lên hàng sĩ quan. Người Pháp thật tốt, quân đội Pháp thật tốt trong ý nghĩ đào tạo sĩ quan Bảo Hoàng. Thời đại đã đổi thay, Pháp cũng thay đổi theo chiều thuận. Tạm thời, Pháp dùng sĩ quan Việt Nam do họ huấn luyện để chỉ huy lính pác ti dăng do họ tuyển mộ. Khi Thái Bình quy thuận Pháp như Nam Định, tất cả thành phố, tỉnh lỵ đồng bằng trung du, Pháp đã chinh phục xong xuôi. Cách mạng sẽ bơ vơ miền thượng du. Pháp sẽ có những Bảo Hoàng Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải dẹp tan cách mạng như dẹp tan cần vương Phan Đình Phùng, Trần Cao Vân, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám... Pháp phải đè bẹp cách mạng Thái Bình.
Ông Hồ Chí Minh đã tiên tri: Pháp về Thái Bình là có thái bình. Thái bình ở chiến thắng của cách mang, ở chiến bại của Pháp. Ai sẽ chiến thắng, chiến bại? Hãy nhìn sang bên kia sông Trà Lý, quan sát trận tuyến Phụ Dực, Quỳnh Côi, Duyên Hà, Thụy Anh, và chờ đợi.
- Khoa ơi, em đọc tin động viên chưa?
- Thưa anh, rồi ạ!
- Thấy sao?
- Em sẽ cố gắng hết sức em, học để thi đỗ mãi mãi, kéo dài ngày động viên ra.
- Nếu em rớt tú tài 1?
- Số phận, em không chống lại được.
- Em trốn ra ngoài hậu phương kháng chến hay ở lại chịu động viên đánh kháng chiến?
- Đến khi chuyện xảy tới em, em sẽ quyết định.
- Hay lắm. Đồng tiền chưa ra khỏi túi, biết nhặt hay không nhặt. Bây giờ, em đã buồn rồi. Phải tập suy nghĩ, em ạ! Có thời đại nào khốn khó như thời đại này? Cái học bị chiến tranh ám ảnh cái động viên. Người ta phải cầm súng bắn giết anh em ruột thịt của mình. Khoa sẽ động viên bắn giết Vũ. Vũ sẽ kháng chiến bắn giết Khoa. Không thù hận, rất thương yêu nhau. Tại sao, tại sao?
- Thôi anh, mình còn thời gian lo liệu mà...
- Thiên hạ thì sao?
- Ngoài tầm tay của mình. Năm ngoái, em đã bất bình bộ đội tiểu tư sản bị gạt ra kháng chiến một cách phũ phàng. Năm nay, sống bên anh, học hỏi anh, em thấy thời đại nó xoay vần đúng như anh nói, bất bình chẳng ích lợi chi. Em, mơ hồ, cảm giác anh Vọng đã nói với em điều gì có liên quan tới tương lai. Tương lai, em không cần biết tương lai và chẳng một ai biết tương lai. Em bằng lòng hiện tại, dù hiện tại ngọt bùi hay chua chát. Anh ạ, em dần dần mất hết tuổi thanh niên. Chiến tranh tàn nhẫn thật! Em mới chỉ đứng ở thị xã ngắm chiến tranh, chứ chưa tham dự chiến tranh. Mà đã xót xa.
- Anh hài lòng cái chân cụt của anh! Không chính phủ nào bắt anh đi lính được. Cái tội của anh là ưa suy nghĩ. Suy nghĩ về thiên hạ hơn về mình. Em nói đúng lắm, những nỗi khổ ngoài tầm tay mình, khó với tới. Em ạ...
- Gì anh?
- Anh Tái ông thất mã lần thứ hai.
- Nghĩa là...
- ... anh què nên khỏi bị động viên, khỏi biết Trường Sĩ Quan Nam Định.
- Anh Côn học trường Sĩ Quan Trần Quốc Tuấn.
- Trần Quốc Tuấn và Nam Định sẽ bắn nhau, nếu anh không mất một chân.
- Thời đại đẻ ra nhiều nghịch cảnh quá.
- Ừ. Mà mình vẫn theo thời đại. Để sống.
- Dù ở đâu?
- Phải, dù ở đâu.
Luyến xếp những tờ báo lại, lấy sách ra dạy Khoa. Câu chuyện sầu thảm của dân thị xã tạm ngừng.

107
Lính Lạc Đạo của linh mục Nguyễn văn Chỉnh đêm nào cũng hành quân ở An Tập. Họ tác yêu tác quái, không coi ai ra gì. Những gia đình có chồng con, anh em theo kháng chiến, vào bộ đội, họ đều kê họng súng vào cổ, tra vấn quái đản, nói năng xách mé. Nhiều người bị báng súng giáng xuống thân thể. Họ còn tịch thu đồ đạc của dân, bảo làm chứng cớ. Lính Lạc Đạo gọi đó là những cuộc hành quân tiễu trừ cộng sản. Thực ra, họ đi càn quét hôi đồ.
Chính quyền Bảo Hoàng muốn làm sáng chính nghĩa quốc gia, cứ ngó ngơ chuyện này. Pháp cũng thế. Họ chỉ bắn nhau với kẻ thù ngoài trận địa, để chính trị cho Bảo Hoàng thao túng thị xã.
Một đạo quân do Pháp cung cấp đầy đủ súng đạn ra đời, không cần đến chính sách, sắc luật, sắc lệnh của Bảo Hoàng; không thèm biết luật pháp, tòa án của Bảo Hoàng, luôn luôn, xử tội đám giặc cỏ và bắt chúng nó xử tử, tù đầy, thú nhận tội ác chúng nó gây ra. Quận trưởng Vũ Tiên đành bó tay. Lính Lạc Đạo đã đâm sau lưng Bảo Hoàng và Pháp những nhát dao chí mạng. Dân chúng ngoại đạo, xưa nay, vẫn quý mến dân chúng nội đạo. Linh mục Nguyễn văn Chỉnh và Lạc Đạo đã tạo nên cảnh chia rẽ tôn giáo trầm trọng ở những làng lân cận Vũ Tiên.
Ngoài thị xã, dân chúng đã khổ vì lính Bảo Chính, lính Lạc Đạo. Trong thị xã, dân chúng khổ hơn; Nguyễn văn Chỉnh, linh mục chính tòa, Vương văn Chừ, đại úy Bảo Chính, Trần Ngự Chiêu, trưởng ty công an... Mỗi vị là một sợ hãi lớn dần. Hôm nay, tháng 4, trời ấm áp, dân thị xã bắt đầu lo ngay ngáy: Lính Bùi Chu - Phát Diệm của linh mục hoàng Quỳnh đã sang Thái Bình.
Bùi Chu - Phát Diệm là vùng đất tự trị. Lính của linh mục Hoàng Quỳnh sao không đồn trú khu tự trị, giữ gìn an ninh, trông chừng giặc giã, lại kéo nhau sang Thái Bình làm gì? Chắc bên kia sông Trà Lý nổ lớn, thiếu quân án ngữ, Bộ tối cao chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp phải thuê lính Bùi Chu - Phát Diệm sang đây đánh mướn? Những chiếc xe căm nhông chở lính Bùi Chu - Phát Diệm, từ Nam Định qua phà Tân Đệ, vào thị xã. Đến ngã tư Vũ Tiên, xe chạy từ từ để lính Bùi Chu - Phát Diệm ngắm cảnh Thái Bình tiêu thổ kháng chiến. Dân chúng phố chính ra tận vỉa hè xem.
Khoa và Luyến cũng ra xem đạo nghĩa binh Bùi Chu - Phát Diệm. Họ mặc quần áo như lính Pháp xông trận, chân đi giầy xăng đá, đầu đội mũ cao bồi, bẻ một nửa vành làm duyên. Lon lá của họ khác với lon lá Bảo Chính Đoàn. Khuôn mặt họ đặc sệt chất Bùi Chu - Phát Diệm, giấu cách nào chả nổi. Lính Bùi Chu - Phát Diệm đứng lên, quay mặt hai bên thành căm nhông, vẫy tay lia lịa, cười rất tươi. Dân thị xã cười lớn hơn, cười chế nhạo lính Bùi Chu - Phát Diệm, họ không hiểu.
- Hoan hô lính Buôi Chu - Phát Riệm!
Một người chào mừng họ bằng chính giọng họ phát âm. Trên xe, lính Bùi Chu - Phát Diệm móc thuốc là Gauloises Pháp mới phát cho, ném xuống, y hệt thuốc lá Tây quăng.
- Đừng để Việt Minh bắn tan xác. Các anh về với em nhé, Phát Riệm - Buôi Chu!
Một cô gái khôi hài đen. Chỉ khoáai lính đánh thuê Bùi Chu - Phát Diệm chết hết.
Người này :
- Phát Riệm cương quyết không đánh thuê!
Người nọ :
- Tiền nhiều hãy đánh thuê nghe, Buôi Chu!
Đoàn xe căm nhông đi hết. Nó rẽ vào giáo đường. Lính Bùi Chu - Phát Diệm sẽ đóng quân chung quanh nhà thờ thị xã. Linh mục Nguyễn văn Chỉnh sẽ hài lòng ghê. Dân chúng tản mạn về nhà. Họ bàn tán về lính Bùi Chu - Phát Diệm.
- Chẳng hiểu lính Bùi Chu - Phát Diệm có hỗn láo như lính Lạc Đạo không?
- Chúng nó như nhau.
- Cố đạo Hoàng Quỳnh cũng là cố đạo Nguyễn văn Chỉnh.
- Cố đạo Nguyễn văn Chỉnh ra cái thớ gì.
- Đúng. Cố đạo Nguyễn văn Chỉnh xách dép cho cố đạo Hoàng Quỳnh không đáng.
- Chúng nó là kiêu binh Bùi Chu - Phát Diệm đấy.
- Như kiêu binh thời chúa Trịnh, hả?
- Sợ còn hơn.
- Kiêu binh thời chúa Trịnh toàn dân Nghệ An. Kiêu binh Bùi Chu - Phát diệm toàn dân Ninh Bình.
- Kiêu binh mà đi đánh thuê?
- Đánh thuê nộp tiền cho cố đạo Hoàng Quỳnh.
- Pháp nó nghĩ gì về lính Bùi Chu - Phát Diệm đánh thuê cho nó?
- Dùng có lợi thì cứ dùng. Chứ Pháp nó khinh ra mặt!
Dân thị xã lạ lắm. Những người chung một dòng máu Thái Bình, khi bị úc hiếp, cam đành chịu ức hiếp. Sự ức hiếp đến mức nào ngừng lại, dân thị xã không bao giờ chống đối. Sự ức hiếp quá độ, sẽ bị chống đối theo từng giai đoạn. Dân thị xã về tề, đương nhiên quy thuận Pháp rồi, theo Pháp chống cách mạng thì chưa. Họ trung lập giữa Pháp và cách mạng, nghiêng cảm tình về cách mạng. Dân thị xã coi Bảo Hoàng bằng nửa con mắt. Chính phủ Bảo Hoàng bù nhìn rõ rệt. Dân chúng trọng chữ tín vô cùng. Người lớn đã nói, phải trung thành với lời nói, dân mới theo. Bảo Đại tuyên bố: Thà làm công dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ. Lời nói chưa kịp nuốt nước bọt, Bảo Đại đã làm quốc trưởng một nước nô lệ rồi. Cái chính nghĩa quốc gia không đời nào sáng tỏ nổi. Pháp chia sẻ quyền bính nát bấy. Và, phi luật pháp. Lính Lạc Đạo do Pháp ở Thái Bình nâng đỡ và dung túng. Lính Bùi Chu - Phát Diệm được gọi sang đánh thuê. Dân thị xã mất niềm tin vào Pháp.
Giá như Bảo chính đoàn, Pác ti dăng, Phật giáo hay Thiên Chúa giáo đánh phá cách mạng, chẳng ai nói gì. Đằng này lính Lạc Đạo và Bùi Chu - Phát Diệm toàn những người đi đạo, đánh phá cách mạng, đánh phá luôn dân chúng đi đời sống trong vùng tề. Hỏi sao dân chúng không chịu nổi? Sự ức hiếp đã dài quá một năm, lính Lạc Đạo chưa thay đổi cung cách sống. Tự mấy trăm năm, ngày các linh mục Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp... sang nước ta truyền giáo, đạo Thiên Chúa sáng rực bầu trời Việt Nam, ngang hàng cùng đạo Khổng-Mạnh, đạo Lão, đạo Phật. Các vua u tối nhà Nguyễn đã sát đạo Thiên Chúa một cách dã man, tàn bạo. Đạo thầm lặng đã thắng vua hung bạo. Đạo Thiên Chúa có võ trang chống triều đình đâu? Người ta theo cái đức bác ái, vị tha của Chúa Giê xu mà thờ phụng Ngài. Hãy tìm kiếm trong tiếu lâm, ca dao xem có truyên, có câu thơ nào châm biếm, mỉa mai đạo Thiên Chúa? Ca dao đã chết từ trăm năm nay, nhưng mấy trăm năm về trước, ngay cả khi đạo Thiên Chúa gặp nạn, cảm hứng nào đã bắt thi sĩ ca dao lặng thinh trước Chúa? Không thể riêng đi đạo mới tôn vinh Chúa, đi đời còn tôn vinh Chúa nhiều hơn. Một đêm Giáng Sinh của người đi đời nồng thắm gấp bội 365 ngày của người đi đạo cầu nguyện. Người ta vẫn vui vẻ sống chung, chẳng hề chia rẽ tôn giáo.
Linh mục Nguyễn văn Chỉnh và linh mục Hoàng Quỳnh không học lịch sử. Càng không học Thiên Chúa giáo sử ở Việt Nam. Các ông mới võ trang người công giáo thành những kiêu binh trong đạo quân Lạc Đạo và Bùi Chu - Phát Diêm, và xúi giết cách mạng, trong khi cách mạng không tàn sát, không thể tàn sát người công giáo như Minh Mạng.
Chuyện lính Bùi Chu - Phát Diệm dân thị xã nói chưa hết. Thì lại một tin mới: Mỹ qua Thái Bình. Buồn đi vui tới. Tấp nập. Mỹ chưa sang Thái Bình, chỉ nhân viên Việt Nam làm ở cơ quan viện trợ Mỹ đến thị xã thôi. Những người này đem chiếc xe mới toanh, láng bóng, sơn trắng y như xe của ty thông tin về thị xã, làm phương tiện lưu thông. Xe kín mít, hai bên viết chữ VIỆN TRỢ Mỹ, dưới vẽ hình hay bàn tay nắm chặt lấy nhau trên cờ sao sọc. Hai bàn tay thẳng hàng. Bàn tay nắm to hơn và mạnh hơn bàn tay bị nắm. Chắc bàn tay nắm là Mỹ, bàn tay bị nắm là nước nhận viện trợ. Cái bàn tay của chính phủ Mỹ đã kiêu ngạo và phách lối rồi! Không hiểu người Mỹ có phách lối và kiêu ngạo? Người Mỹ còn ở Sàigòn, Hà Nội, chưa thèm về Thái Bình đâu.
Xe viện Trợ Mỹ chạy khắp phố thị xã, oang oang phát thanh tại những chỗ dừng lại. Người ta nói: Mỹ giầu có và nhân đạo, viện trợ cho cả thế giới, cả Pháp và Đức, cả Ý và Nhật... Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam đủ thứ. Bây giờ, Mỹ viện trợ Thái Bình thực phẩm và thuốc DDT diệt trừ muỗi. Ngày mai, Mỹ sẽ viện trợ dân thị xã sữa bột, phó mát, vải vóc và DDT. Đồng bào chú ý. Mi cô của Mỹ tối tân, hô pác lơ của Mỹ vô địch, tiếng nói đâm vào lòng dân thị xã. Tuyên truyền nhân đạo của Mỹ giản dị, mộc mạc và có sữa, phó mát, thế là siêu đẳng. Sau đó, người ta mở cửa sau, phát sách in bằng song ngữ Anh-Việt: Vài nét đan thanh về nước Mỹ và cờ Mỹ giấy. Lần đầu tiên, dân thị xã chiêm ngưỡng quốc kỳ Mỹ. Đợi ngày mai, lĩnh sữa bột, phó mát và vải vóc, thị xã mới hoan nghênh Hoa kỳ giầu tình thương.
Khoa chạy sang nhà Luyến :
- Anh biết tin Viện Trợ Mỹ đã đến thị xã chưa?
Luyến cười tủm :
- Thị xã bé nhỏ, cách xa năm cây số còn nghe được alô alô của máy phóng thanh Mỹ mà.
Khoa nói :
- Nó cho em cuốn sách Vài nét đan thanh về nước Mỹ, song ngữ, em học tiếng Anh bằng cuốn này sẽ giỏi, anh ạ!
Luyến gật đầu :
- Ừ. Cần một cuốn tự điển thật tốt nữa.
Luyến ưu tư. Chẳng biết người Mỹ sang Thái Bình làm gì? Tại sao Mỹ không giúp Pháp ổn định tình hình bên kia sông Trà Lý? Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân, Phụ Dực, Quỳnh Côi... chiến trận đang nặng. Pháp phải thuê lính Bùi Chu - Phát Diệm tăng cường. Thế mà Mỹ lại đem sữa bột, phó mát, vải vóc viện trợ dân thị xã. Thì lạ lắm.
Thị xã Thái Bình bé nhỏ, trước ngày 9 tháng 3 năm 1945, đã bị đè lên đầu mình hai ông khách Pháp và Nhật. Khách Nhật chán ông chủ Việt Nam làm nô lệ cho hai người. Bèn đảo chính đuổi ông khách Pháp đi cho đỡ bẩn mắt. Ông khách Pháp đi, rồi ông khách Pháp lại về, một mình một chiếu thảnh thơi ngồi. Vẫn Bảo Đại làm nô lệ cho khách. Bình cũ thay đổi rượu mới cho hợp thời đại. Bây giờ, ông khách Mỹ cũng lò dò tới đây. Ông khách Mỹ có bắt chước ông khách Nhật không? Người Mỹ giầu có và nhân đạo. Không, chẳng có thằng ngoại quốc nào thưong mình cả. Sữa bột và phó mát là bước đầu trong âm mưu gì đó của người Mỹ.
Luyến cứ lặng thinh suy nghĩ. Để mặc Khoa đọc sách.

108
- Mỹ giầu có khác, cho bao nhiêu thứ.
- Chơi sang như Mỹ mà.
- Mỹ viện trợ, chứ không cho, không bố thí bệ rạc.
- Nó nói tiếng gì, mày?
- Tiếng Anh.
- Nó thiếu chữ nghĩa, phải nhờ nước Anh cho mượn chữ nghĩa đấy. Mỹ nói tiếng Anh, khôi hài quá nhỉ?
- Khôi hài chó gì. Mỹ đông bạc, thế là đủ.
- Mỹ viện trợ sữa bột, phó mát.
- Cả vải may quần áo nữa.
- Còn thuốc diệt muỗi là đằng khác.
- Phó mát ăn với gì, mày?
- Ăn vã.
- Chả lẽ ăn vã. Ăn với gì chứ?
- Lát nữa, Mỹ phát quà viện trợ, tha hồ hỏi.
- ừ, tao sẽ hỏi: Sữa bột có đường không?
- Mỹ nó ở đâu? Người ngợm nó ra sao?
- Nó ở đâu, biết làm chi? Dân mũi lõ như Tây ấy. Nó đã phát cuốn sách Vài nét đan thanh về nước Mỹ, mày không đọc à?
- Đêm qua, tao xé mấy tờ đi ỉa rồi! Mày có đọc không?
- Tao gói đường đen cả. Tổng thống sẽ ngọt lắm. Hình ông ấy ướp đường.
- Nó cho mỗi người một khúc vải à?
- Sẽ hỏi.
Người ta cười nói ồn ào, thắc mắc nghẹn họng, quanh chiếc xe Viện Trợ Mỹ, chờ đợi giờ giấc nhân viên làm việc. Xe Viện Trợ Mỹ đậu ở đầu phố chính. Phát đủ số quà viện trợ, xe sẽ xuống cuối phố. Những người đi lĩnh viện trợ, đa số nghèo và không được học, nóng ruột lắm rồi. Mỹ tặng họ trò chơi one, two, three. Oẳn tù tì cho cái gì cho cái này. Họ muốn nhìn thấy sữa bột, phó mát và vải vóc Mỹ. Thuốc DDT họ không cần. Càng trông đợi, thì giờ càng dài ra. Đến nỗi, người ta quên cả đợi. Nửa tiếng đồng hồ sau, nhân viên Việt Trợ Mỹ khiêng cái bàn tới, kê trên vỉa hè. Hai nhân viên ngồi trên ghế. Máy phóng thanh loan tin tức :
- Đồng bào thân mến! Sáng nay, Viện Trợ Mỹ sẽ trao một trăm phần quà tặng đồng bào. Buổi chiều Viện Trợ Mỹ sẽ trao tặng quà tiếp. Xin đồng bào xếp hàng, ghi tên trật tự. Không đồng bào nào thiếu quà cả...
Người ta chen nhau xếp hàng trên hết. Cảnh hỗn loạn xảy ra mất tình nghĩa. Người ta đấm đá nhau, xô đạp nhau, chửi bới nhau. Ở đâu, lĩnh đồ phước thiện tập thể cũng giống nhau cả. Đầu tiên trong cuộc đời lam lũ, nhận quà Mỹ viện trợ, con người bỗng hết làm con người. Mỹ viện trợ hay Mỹ mua rẻ bản chất của con người?
- Đồng bào trật tự, trật tự tối đa. Nếu đồng bào mất trật tự, Viện Trợ Mỹ không phát quà được...
Máy phóng thanh tung ra một câu đe dọa. Hiệu nghiệm trăm phần trăm. Người ta thôi chen lấn, thôi đấm đá, thôi xô đạp, thôi chửi bới nhau. Trật tự hoàn toàn.
- Đồng bào sẽ mỗi người nhận một kí lô sữa bột, một kí lô phó mát, một kí lô DDT, hai thước vải đen may quần, hai thước vải trắng may áo. Đồng bào mua đường cát trắng về pha với sữa, mua bánh mì ăn với phó mát...
Có nhiều tiếng thở dài.
- Thưa đồng bào, sữa và phó mát rất cần thiết cho sức khỏe con người...
Cửa sau xe Viện Trợ Mỹ đã mở. Hai nhân viên phụ trách thu giấy ghi tên, địa chỉ người nhận quà, và phát quà. Quà Viện Trợ Mỹ gồm bốn món, đựng chung vào một cái túi, dán chặt lại. Túi làn bằng giấy dầu, in chữ đen. Hàng chữ thứ nhất: Mỹ quốc viện trợ. Bức hình duy nhất: Hai bàn tay, nắm chặt lấy nhau, trên cờ sao sọc. Bên dưới hình vẽ, hàng chữ thứ hai: Nhân dân Mỹ quốc thân tặng. Hàng chữ thứ ba: Để dùng, không được bán.
- Mỗi người đại diện mỗi gia đình, mỗi gia đình lãnh quà đựng trong một cái túi...
Lại nhiều tiếng thở dài.
- Thưa đồng bào, Mỹ giầu có và nhân đạo, văn minh nhất thế giới...
Người ta chán nghe tuyên truyền Mỹ rồi. Tất cả sự giầu có, nhân đạo, văn minh nằm gọn trong cái túi Viện Trợ Mỹ bịp bợm. Dân Thái Bình đã lợm giọng chuyện người Mỹ và nước Mỹ. Những người đã to lời suy tôn Mỹ lúc nãy, giở túi quà bố thí bốn món, hạ bệ Mỹ lúc này.
- Mỹ giầu thật. Giầu theo kiểu trọc phú. Cơm thiu thối nó mới cho người nghèo. Một bát thì nói mười bát.
- Đểu như Mỹ mà.
- Cho cứ nói là cho, còn bầy đặt viện trợ.
- Mỹ nó bố thí sữa bột lại bắt mình mua đường pha với sữa. Mà đường trắng cơ. Đường đen đíu được. Mình mẩu dẩu xìn, sữa bột Mỹ chỉ cho chó uống. Chưa chắc chó đã uống. Chó măng giê ca ca sướng hơn sửa bột, Mỹ lôi ở vũng lầy ra viện trợ.
- Phó mát của Mỹ vàng khè, trông phát tởm. Phó mát phải ăn với bánh mì. Dân nghèo đói, tiền Mỹ viện trợ không có, lấy đâu ra mua bánh mì?
- Phó mát của Mỹ còn thua phó mát Tây quăng một trời một vực. Phó mát của lính Tây trắng và thơm.
- Này, vải của Mỹ cho, nhìn kỹ mà xem, nó hồ bột kỹ quá. Vải này may quần mặc một lần đã nhão, phí tiền may, công may.
- Phải, tôi đã nhúng vải của nó xuống nước, vò sơ sơ đã thấy bột tan dần [1].
- Đây, ông ngắm vải Mỹ.
- Giá nó chỉ cho mình gạo và nước mắm mới thức thời.
- Ở với Pháp thì sướng, ở với Mỹ chỉ uống sữa bột không đường!
Buổi chiều, xe Viện Trợ Mỹ đậu ở cuối phố chính. Đến nhận quà tặng loe ngoe mấy người. Viện Trợ Mỹ thất bại. Đau đớn..
Thị xã vốn hiền lành. Từ xưa, vẫn êm đềm dưới chân đê sông Trà Lý. Cầu Bo thân mến làm chứng cho mộng ước đơn sơ của dân Thái Bình. Là không muốn đổi thay, suốt đời cứ sống cuộc đời bình thản tiêu cực. Thời đại nào cũng giống nhau. Thời đại sau còn tệ mạt hơn thời đại trước. Những đổi thay nhanh chóng quá và bất chợt. Người ta chưa kịp thay đổi đã, bất chợt, có đổi thay. Nhiều tin không vui đã đến thị xã.
Tin buồn nhất là lính Bùi Chu - Phát Diệm sang Thái Bình. Lần đầu tiên trong lịch sử, Giáo hội công giáo Việt Nam có đạo nghĩa binh võ trang tân kỳ. Lính Bùi Chu - Phát Diệm chỉ qua đây án ngữ nhiều nơi để cách mạng giảm bớt khí thế, dân chúng vô tội đỡ chết thê thảm vì chiến tranh. Thì được. Lính Bùi Chu - Phát Diêm qua đây đánh thuê cho Pháp, tàn sát cách mạng, làm khổ cực dân lành ngoại đạo. Thì không được. Bởi vì, chưa hề có thánh chiến ở Việt Nam. Người ta không nghĩ lính Bùi Chu - Phát Diệm của linh mục Hoàng Quỳnh, mà nghĩ Giáo hội công giáo Việt Nam. Điều đẹp nhất, cao thượng nhất, đáng ca ngợi nhất là linh Bùi Chu - Phát Diệm biến thành lực lượng trung gian giữa Pháp và cách mạng. Trọng tâm của Bùi Chu - Phát Diệm là cố gắng làm hai bên chống đối nhau ngồi xuống hòa đàm trong tư thế nhường nhịn lẫn nhau. Lính Bùi Chu - Phát Diệm còn cấm trại. Họ sang Thái Bình chưa biết hành động ra sao. Người ta chờ đợi họ.
Tin buồn ngoại hạng, Viện Trợ Mỹ đã đổ vỡ ở thị xã. Thái Bình đang đánh nhau với Pháp, sẽ không có một chiến thắng nào ngoạn mục như sông Lô, sông Đà, sông Đuống... Hồ Chí Minh đã tiên đoán, năm xưa, tại sân vận động thị xã: Pháp về Thái Bình là có thái bình. Thái Bình trở thành vùng đất đáng sợ. Ngày tiêu thổ kháng chiến, cách mạng để lại thị xã khẩu hiệu: Thái Bình là mồ chôn thực dân Pháp.
Pháp ơn ớn, không chiếm gọn như Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh... năm 1946, phải đợi đến năm 1950 mới tràn qua Thái Bình, cách nhau dòng sông Hồng. Giá Thái bình dễ nuốt như bên đây Trà Lý, vấn đề đã khác. Bên kia Trà Lý làm Pháp mắc nghẹn. Pháp không biết Vệ quốc quân tiểu tư sản đã bị giải tán. Cách mạng mới thành lập Quân đội nhân dân, lính giai cấp nông dân. Có lẽ Pháp biết mà kinh thường. Lính nông dân chiến đấu dũng cảm trường kỳ, khác hẳn lính tiểu tư sản dũng cảm có giai đoạn. Lính tiểu tư sản biết suy tư, chỉ hại cho cách mạng. Lính nông dân không biết suy tư, chỉ chết vì cách mạng. Quỳnh Côi, Phụ Dực... lính nông dân đã tham trận. Và, Pháp phải thuê lính Bùi Chu - Phát Diệm can thiệp.
Thái Bình gây băn khoăn cho Mỹ. Có lẽ, Mỹ băn khoăn đến ngày nào Thái Bình đánh tan giặc Pháp, ngày nào ba kỳ thống nhất. Mấy năm trước, Mỹ đã không chiến với Nhật trên vùng trời Quỳnh Côi. Một chiếc máy bay Mỹ tan xác, cũng đủ làm thành tích viện trợ sữa bột, phó mát vàng khè cho dân thị xã Thái Bình. Mỹ đã lộ nguyên hình Mỹ. Thái Bình chê bai Viên Trợ Mỹ. Chẳng bao giờ Mỹ được phép viện trợ cho Thái Bình. Khi Thái Bình đã trở nên địa linh nhân kiệt, không còn ai sợ nữa.
Tin buồn đi qua, tin vui thoáng đến. chắc chắn tin vui không làm dân thị xã phiền muộn: Sinh viên Trường Sĩ Quan Nam Định sẽ đấu giao hữu với thanh niên thị xã một trận bóng tròn tuyệt vời. Pháp đưa sinh viên sang. Tòa tỉnh trửng phải thuê người dọn dẹp sân vận động vài hôm nay. Còn hai tuần lễ nữa mới gặp mặt sinh viên Trường Sĩ Quan Nam Định. Dân thị xã vẫn nôn nóng trông đợi, tự bây giờ...

109
Sáng nay, Luyến chống nạng đi dạo phố rất sớm. Với tiếng lọc cọc, nỗi buồn vang theo. Luyến không thích bất cứ tin tức vui buồn đổ xuống thị xã nữa. Dưới bầu trời phiền muộn, chỉ đôi mắt bị mù, đôi tai bị điếc, cái mồm bị câm mới không biết nghịch cảnh xảy ra và nín thít, chẳng biết nói chi. Nhưng. Luyến không thích mạ sầu trong đồng lúa cứ ngoi lên theo thời đại. Luyến là người theo thời đại, phải chấp nhận thời đại, bỏ chất đắng cay trong trái cây vàng ửng.
Từ khi vĩnh biệt tuổi thơ và từ khi bị mất một chân, Luyến suy tư mòn óc. Chả được gì qua những suy tư. Mà, Luyến vẫn suy tư, kể cả suy tư trong niềm nhớ.
Luyến nhớ thằng Vũ, thằng Côn, Thằng Vọng, thằng Long, thằng Lộc kinh khủng. Bao giờ chúng nó về nhỉ? Chúng nó cứ về thị xã, bất kể thời đại nào, chúng nó chiến thắng hay chiến bại. Được tất. Cầu xin cho chúng nó lành mạnh, không mất chân tay, không què quặt. Thời buổi chiến tranh khó mơ ước. Ta cứ mơ ước, nếu còn có thề mơ ước. Luyến cố gắng lội về dĩ vãng, tìm kiếm cái êm dịu của bạn bè. Nó chỉ thấy những trận bóng An Tập đấu với lớp nhì 1 của nó. Đó là những ngày vui bốc và buồn tênh. Vui buồn không thước nào đo nổi. Nghĩ lại, vui buồn của tuổi thơ đều trong vắt như sương trên ngọn cỏ ban mai. Nụ cười hay giọt nước mắt ấu thời không nhìn thấy ngày vàng tháng xanh của tuổi ngọc. Luyến tự cho rằng, nó và các bạn nó đã mãn nguyện rồi. Bây giờ, bạn bè có gặp oan trái thì oan trái sẽ chìm đi khoảnh khắc, khi quá khứ thần tiên của chúng vọt lên.
Thằng Vũ ngang tàng. Ở đâu, bạn nó bị bắt nạt, thầy nó bị ức hiếp, là nó lao vào, dù nó lao vào chỗ khốn khó. Ngang tàng nổi tiếng trường Monguillot, thế mà nay, Vũ chịu nổi kỷ luật của cách mạng. Thằng Côn tính nết đài các, phong lưu mã thượng. Nó ghét cay ghét đắng những thằng thích khoe khoang mình tài giỏi và chơi trịch thượng. Cách mạng không thiếu những người trịch thượng và nói hay về mình. Côn còn sống trong bộ đội đến bao giờ? Thằng Vọng thì tự ti mặc cảm. Đừng hành hạ nó quá thôi, còn thì bảo sao nó làm vậy. Vọng tốt lắm. Thằng Long và thằng Lộc, đứa hay phá thối, đứa hay khôi hài cười cợt, liệu chúng nó có thay đổi tâm hồn để đồng hóa với lính giai cấp nông dân? Luyến nghĩ rất khó khăn cho Vũ, Côn, Long, Lộc. Cho nên, Luyến vẫn mơ hồ, hôm nào, bạn nó sẽ về thị xã hết. Bạn nó chưa về hay bạn nó không về, Luyến đổ vạ cho số phận. Số phận của thời đại đã bắt Luyến tinh nghịch phải mất một chân, phải về thị xã sớm nhất, để hứng tất cả nỗi buồn đổ xuống thị xã.
Luyến đi gần tới cầu Bo. Những lính Pháp, Pác ti dăng, Bùi Chu - Phát Diệm đứng đầy trên xe cam nhông qua cầu Bo, sang mặt trận bên kia sông Trà Lý. Sao lính đi nhiều vậy? Luyến hỏi người lính pác ti dăng già :
- Lính hành quân huyện nào đấy, bác?
Người lính già đáp :
- Cậu không biết à?
- Dạ, không biết.
- Ở thị xã đã khối người biết. Pạc ti dăng cho vợ biết, vợ cho thiên hạ biết. Này cậu, Pháp mở cuộc hành quân Trái Chanh đấy, vĩ đại ra phết. Lính pạc ti dăng đi hết. Tớ trong hỏa đầu quân, tức là nấu cơm, được ở lại. Cả tụi lính Bùi Chu - Phát Diệm cũng hành quân. Xe cam nhông chạy từ sáng tinh mơ, còn vài chuyến nữa sẽ hết.
- Hành quân Trái Chanh bao nhiêu ngày, hở bác?
- Xem chừng cả tháng ấy.
- Lính đến đâu ạ?
- Xa đây lắm. Tớ chỉ biết có thế thôi.
- Lần này bắt tù binh kỹ, bác nhỉ?
- Hẳn rồi.
- Bác biết giam tù binh ở đâu không?
- Trong khu vực Pháp.
- Có nhà?
- Nhà quái gì, lều là sướng rồi. Này, tớ nói thật, tớ yêu Việt Minh và ghét Pháp. Chúng tớ pạc ti dăng, nhiều đứa căm lính Bùi Chu - Phát Diệm điên người lên. Bọn lính đánh thuê sẽ biết tay chúng tớ.
- Bác định làm gì họ?
- Phơ!
- Giết họ à?
- Như tụi Bùi Chu - Phát Diệm phơ Việt Minh ấy.
- Ghê quá.
- Dân thị xã không sao cả. Chúng tớ phơ tụi Bùi Chu - Phát Diệm, chúng tớ chịu.
- Phơ họ chả được ích chi.
- Sao lại chả ích? Phơ, chúng nó sợ, cút ngay về Bùi Chu - Phát Diệm. Cho ăn kẹo cũng không dám bén mảng sang Thái Bình.
Người lính già hỏa đầu quân pạc ti dăng vỗ vai Luyến, rồi bước đi nhanh. Luyến đứng lại trông đợi xe cam nhông qua cầu Bo. Một lúc lâu, xe hết ra phố chính sang bên kia sông Trà Lý. Đúng là chuyến cuối cùng.
Nếu Pháp hành quân ở Quỳnh Côi, Phụ Dực, xe phải chạy quốc lộ số 10. Dù đường sá sửa sang, xe cam nhông cũng chỉ chạy đến cầu Nghìn sập đổ, quân Pháp xuống ở Đồng Bằng. Căm nhông chạy trên đê, qua nhà thờ Sa Cát, chắc Hưng Nhân, Tiên Hưng, Đông Hà, Thái Ninh chịu cuộc hành quân Trái Chanh rồi. Mỗi cuộc hành quân của Pháp ở hậu phương gọi là cuộc càn quét. Cuộc hành quân Trái Chanh do Bộ tối cao chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp nghĩ ra chiến thuật và chiến lược, Pháp ở Thái Bình chỉ thi hành. Cuộc hành quân nào cũng đem về tù binh, bắt đúng hay bắt lầm, dân chúng bị thương nheo nhóc, bị giết tàn bạo, nhà cửa bị đốt cháy, đàn bà con gái bị hiếp dân tã người... Thành tích về hôi đồ, cướp tiền không báo cáo lên Bộ tối cao chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp.
Luyến nghĩ tới những vùng sắp chịu hành quân Trái Chanh, những vùng sắp ăn no đạn, những vùng sắp hứng mọi hình phạt, những vùng sắp cởi tung quần áo, lĩnh đủ nghịch cảnh. Chị kia đang nằm trên giường rặn đẻ, đau đớn làm sao! Bà nọ mệt mỏi, ôm đứa con vừa sinh. Súng hành quân của Pháp giúp chị kia dứt đau đớn và em nhỏ không bao giờ ra khỏi lòng mẹ mà khóc ba tiếng chào đời. Súng hành quân của Pháp giúp bà nọ dứt mệt mỏi và đứa con không biết cám ơn người đã hóa kiếp sớm sủa cho nó về đất làm giun dế! Ông này đang uống trà, ngâm thơ Phạm Thái: Sống ở dương gian đánh chén nhè, Chết về âm phủ cắp kè kè, Diêm vương phán hỏi mang gì đó, Be... Súng hành quân của Pháp giúp ông này về âm phủ thật. Súng hành quân của Pháp còn giúp ông tránh câu hỏi của diêm vương. Bà ấy cầu kinh sớm tối. Bà tin chắc Phật sẽ thấu lòng bà, ban phúc cho dân hưởng thái bình. Súng hành quân của Pháp trúng ngay tim bà ấy. Thế là bà lên cõi Phật... Cảnh đời trong chiến tranh nói không hết. Chiến tranh và kẻ gây chiến tranh tội lỗi khác đi nhiều. Không biết phát xít Đức có hành quân kiểu Pháp bên nước Pháp? Cuộc đời vốn ích kỷ, không muốn ai làm khổ cực cho mình, mình sẵn sàng làm người khác khổ cực.
- Anh Luyến...
Luyến quay lại. Khoa hớt hải :
- Em tìm anh mãi.
- Anh ra đây từ sớm.
- Pháp hành quân Trái Chanh sang bên kia sông, anh biết chưa?
- Rồi. Không hẹn mà gặp xe căm nhông chở lính hành quân. Chuyến xe cuối, em ạ. Lính Bùi Chu - Phát Diệm bị cấm quân mãi, nay mới hành quân.
- Anh nghĩ gì về họ?
- Họ hoàn toàn mất tích trong ý nghĩ tốt đẹp của anh. Họ quả nhiên đánh thuê cho Pháp.
- Họ đi hành quân?
- Ừ.
- Hành quân Trái Chanh?
- Ừ, sẽ vắt quả chanh hết nước. Cuộc hành quân này rùng rợn lắm.
- Mình đi lên cầu Bo, em kể chuyện đệ tử của quan ba Vương văn Chừ cho anh nghe!
Hai đứa đi dốc, leo lên cầu, đứng trong hành lang. Luyến vừa quay mặt ngó nước sông Trà Lý mùa hạ, thì đại bác gần nhà thương câu đi. Hàng chục khẩu đại bác khạc đạn sang bên kia sông. Luyến và Khoa nhìn rõ lính Pháp phóng những viên đạn và nghe rõ những tiếng phơ của họ. Cầu Bo có xa bệnh viện là mấy. Lính Pháp rất bình tĩnh nhả lửa. Họ không sợ phản pháo. Pháp thừa biết, ở Thái Bình, cách mạng còn yếu kém vũ khí, chưa có đại bác xung trận, nói chi cách mạng pháo kích vào trại Pháp. Đại bác hướng phía huyện Hưng Nhân, Tiên Hưng, và tiếng nổ nghe lớn. Luyến ngậm ngùi :
- Dân mình lại chết oan như rạ!
- Sao người Pháp bảo: Quỳnh Côi, Phụ Dực ra tro cơ mà.
- Sẽ ra tro. Xe cam nhông chạy trên đê, qua nhà thờ Sa Cát. Hôm nay thì Hưng Nhân, Tiên Hưng ra tro. Đại bác câu như mưa, ai mà chịu nổi!
Đại bác bắn liên tục một giờ liền. Khi nó vừa ngưng, hai chiếc phi cơ Spitfire từ Nam Định bay sang, tham dự cuộc hành quân Trái Chanh. Spitfire đen thùi thũi. Đứng trên cầu Bo, trông rõ lắm. Hai chiếc tới địa điểm oanh tạc, lượn hai vòng. Chiếc thứ nhất chúi xuống, thả bom, bay lên, và lại lượn. Chiếc thứ hai cũng chúi xuống, thả bom. Tiếng bom nổ nghe rõ mồn một. Thấy khói đen bốc cao. Không thấy lửa cháy. Thời đại đến đúng. Lúc này, người Pháp cho nhân dân Việt Nam ăn bom napalm rồi. Thái Bình đang ứa nước mắt gặm napalm. Bỏ hết bom, Spitfire ria đạn. Trên không, nhìn xuống dưới, lũ người như lũ chó chạy, cả làng trốn chạy. Phi công hào hoa Pháp cứ ngăm mà khạc đạn. Tận diệt cách mạng. Người nào cũng giống Việt Minh. Khạc đạn và khạc đạn.
Khói bốc như mây mùa thu, đứng một chỗ xây thành, chứ không bay đi. Khói tu lại, biến chỗ hành quân thành vùng trời phiền muộn. Vùng trời ấy có thề nhận vơ là vùng trời thị xã. Ngày xưa, vùng trời thị xã u buồn, thấy đảo chính Nhật hành hạ Pháp, không cho Pháp đi giầy và uống nước. Nhiều người Pháp đã trốn Nhật. Vùng trời tha thiết bảo vệ thị xã hãy cho lén nước người Pháp trong cơn khát rã họng, hãy giúp người Pháp trốn Nhật. Ngày nay, vùng trời thị xã đau khổ, thấy người Pháp đền ơn bằng đại bác, bằng bom!
Bỏ hết bom lên đầu dân Việt Nam, bắn hết đạn vảo ngực dân Việt Nam, bình yên vô sự, phi công Pháp đã làm một phi vụ danh dự cho người Pháp. Và bay về Nam Định.
- Anh ơi, Spitfie là khạc lửa, phải không?
- Ừ.
- Spitfire tiếng Anh, máy bay của Mỹ!
- Mỹ viện trợ cho Pháp.
- Mỹ đểu thật! Viện trợ cho dân thị xã sữa bột, phó mát, hôm qua, viện trợ máy bay cho Pháp giết dân Thái Bình, hôm nay.
- Thôi, đừng nhắc tới Mỹ nữa. Lúc nãy, em hứa kể chuyện đệ tử của Ba Chừ cho anh nghe cơ mà.
- Vâng, em sẽ kể...

110
Chúng đứng trong hành lang, nhịp cầu thứ ba, trông xuôi về phía cống Đậu, gió thổi mát rượi và đôi mắt chớp mau. Còn một tháng nữa hết mùa hạ, bên kia cầu Bo sẽ dâng hoa quả làng mình cho dân chúng đi qua. Làng Bo cũng như cầu Bo, tiếng tăm nhờ trái ổi. ổi Bo ngon nhất miền Bắc. Giống hệt trái lê, vỏ dầy, ruột ít, ổi Bo kén đất sống khôn tả. Cùng ở Thái Bình, người ta đem hạt giống ổi Bo qua Kỳ Bá, An Tập trồng trọt, săn sóc kỹ lưỡng, ổi Bo mọc lớn, nhưng trái bé nhỏ, thiếu hẳn mùi Bo. Ngay Bồ Xuyên, cách làng Bo một con đường mòn, vẫn không thích hợp với ổi Bo, nữa là. ổi Bo chung thủy với làng mình. Tâm sự của nó giống hệt người Việt Nam du sơn du thủy, lâu rồi chán nản, tìm về làng mình và xao xuyến nói: Chỗ quê hương là đẹp hơn cả. Nơi nào con người cũng biến đổi tâm hồn, sống sinh cõi tạm, tựa kiếp phù du, chả muốn nghĩ đến tương lai vời vợi. Quê hương mình mới là chỗ bất diệt, những khi oan khiên, đau khổ; những lúc vui tươi, hạnh phúc. Người ta biết chết cho ai, sống vì ai. ổi làng Bo, chẳng hạn.
Ngày xưa, đến mùa ổi, người từ Hải Phòng về Nam Định, người từ Nam Định sang Hải Phòng, đều bắt xe hàng ngừng lại ở bên kia cầu Bo để mua ổi làm quà. Sáng và đêm, ổi Bo thức và ngủ với cầu Bo. Ngày xưa, thích thật. Dân thị xã ngủ cả đêm, trong hành lang, trên cầu Bo. Dạo ấy, không có giới nghiêm, không có cấm đoán một ai tới vùng bất khả xâm phạm. Vùng nào là vùng bất khả xâm phạm, thời thái bình? Thời thái bình, nhà thường bỏ ngỏ. Người ta thường tụ tập trên cầu Bo, tránh oi nồng mùa hạ.
Vẫn trên cầu Bo, người ta lo sợ con nước lũ chảy xiết dưới chân cầu. Đêm khuya, nghe tiếng giận dữ của nước xiết, trái tim người ta muốn đứt tung. Nước lũ đỏ ối, tự rừng xa xôi, vượt suối về đồng bằng, đe dọa lụt lội. Người ta kinh hoàng lụt lội sẽ phá tan bao nhiêu mộmg ước đã vun trồng. Và, người ta hướng những cặp mắt xuống cây cột sắt dưới sông báo hiệu mức nước lên. Gần ngập đê sông Trà Lý. Ở trên cầu Bo, nghe tiếng trống canh đê ban đêm như nghe tiếng trái tim xúc động mãnh liệt. Từ xa vọng lại, tiếng trống ngũ liên dồn dập hai bên đê. Trống im là đê đã vỡ. Đê vỡ thì người ta không còn gì.
Bây giờ đến mùa ổi, xe Hải Phòng-Nam Định, Nam Định-Hải Phòng, vì chiến tranh, không qua cầu Bo nữa, ổi Bo không nhiều người ăn với lòng ngưỡng mộ, đâm ra hờ hững, buồn tẻ. Dân thị xã chỉ được đứng trên cầu Bo, từ 8 giờ sáng, đến 7 giờ tối. Ai đến sớm hơn, về lâu hơn, sẽ bị lính Bảo chính gác cầu bắt giữ. Bây giờ, cầu Bo nhạt nước vôi, nhạt phếch, nhiều nhịp rêu đã xanh um, người ta hết cảm hứng đứng trên cầu mơ mộng. Cầu Bo là cây cầu lịch sử, làm chứng cho dân Thái Bình, sống với nó, chết với nó, gửi bao nhiêu kỷ niệm vào nó, ném bao nhiêu ước nguyện vào nó, hạnh phúc vì nó, thống khổ vì nó, tự ngày xây dựng nó lên. Cầu Bo nằm giữa hai miền phủ huyện, có quê hương Trần Lãm, Lê Quý Đôn, Phạm Thái sang sông Trà Lý, sẽ đi vào trường giang tiểu thuyết của văn sĩ lỗi lạc, ngày mai.
- Anh em mình ở đây, đến trưa mới về nhà, em cứ kể chuyện Ba Chừ, xem nó có đi vào tiểu thuyết được chăng?
- Anh ngắm kỹ, hai thanh sắt ngang của nhịp cầu thứ hai đi.
Luyến thả mắt trông nhịp cầu Khoa nói. Hai thanh sắt bị cưa gẫy, bẻ gục về một bên. Người đàn ông to lớn có thể chui qua, rơi xuống sông.
- Pháp bẻ hai thanh cầu làm gì?
- Pháp đâu có bẻ.
- Vậy ai?
- Đệ tử của Ba Chừ, làm theo lệnh ông ấy!
- Ba Chừ là người thế nào?
Khoan đứng sát Luyến, nói đủ nghe. Ba Chừ là đại úy Bảo Chính Đoàn, quân đội nòng cốt của chính phủ Bảo Hoàng. Trước đây, Vương văn Chừ thuộc lính khố xanh, đeo lon thượng sĩ. Cách mạng nổi lên, dùng nhiều lính khố xanh lắm. Đưa họ vào bộ đội. Vương văn Chừ không theo cách mạng. Đợi tới năm 1947, ông đi phò Pháp tại Hà Nội. Pháp cho ông lên cấp bậc trung úy ngay. Ông đã đóng quân ở Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, tỏ ra mẫn cán. Được lên đại úy. Hết cấp bậc cho Bảo Chính Đoàn. Chứ không, Vương văn Chừ đã leo lên tá. Và, tương lai thành tướng.
Vương văn Chừ cưỡng bức một thiếu nữ, lấy làm vợ bé trong cuộc hành quân Hưng Yên. Chẳng hiểu sao, ông oán ghét cách mạng đến trời xanh. Đâu có Việt Minh, đó có Ba Chừ mài dao giết. Việt Minh thật, Việt Minh giả, cũng là Việt Minh. Ông sang Thái Bình làm mưa làm gió với người Việt Nam, đồng bào của ông. Pháp chỉ bắt tù binh cách mạng chiến đấu giữa mặt trận. Còn thộp cổ cách mạng chung quanh thị xã là quyền của công an, Bảo Chính, mỗi nơi một nhà tù riêng biệt, bí mật.
Vương văn Chừ có thằng đệ tử tên Woòng A Tâm, người Thổ, khát máu giống hệt sư phụ của mình. Trông thấy Woòng A Tâm, nên cúi đầu mà đi, kẻo nhìn đôi mắt đỏ ngầu long lanh thù hận lúc mào cũng muốn thọc cổ người ta, sẽ chết ngất.
Luôn luôn, Woòng A Tâm gần Vương văn Chừ, cả khi tra tấn đến lúc thủ tiêu cách mạng. Hầu như, ngày nào cũng xảy ra. Vương văn Chừ có thủ đoạn giết người lừng lẫy trong quân đội Bảo Hoàng. Mặc kệ nước sông Trà Lý trong hay đục, lớn hay cạn, Vương văn Chừ cứ sai Woòng A Tâm dẫn cách mạng ra cầu Bo, đẩy nó xuống. Không phải chôn lấp lôi thôi. Theo lệnh sư phụ, Woòng A Tâm sáng tạo chỗ giết người rùng rợn. Bẻ hai thanh sắt, trong hành lang một nhịp cầu, Woòng A Tâm nửa khuya lấy xe jeep chở cách mạng Thái Bình lên cầu Bo. Nó bắt người ta ngồi dựa lưng vào hành lang, trói hai tay vào song sắt. Rồi, nó nhét đầu người ta chui qua, gối cổ trên một thanh sắt hụt hẫng. Nó đấm một trái quyết liệt. Người ta hét lên đau đớn. Đó, đúng lúc, nó đâm dao găm vô họng người ta. Nó rút thuốc lá Cotab, châm lửa, rít một hơi đẫy đà. Người ta rên siết, muốn chết ngay mà không được chết. Nó cắm đầu điếu thuốc còn cháy vào mồm người ta. Người ta giẫy giụa và ú ớ. Nó cắt đứt hai sợi dây trói tay, rút dao găm trong miệng người ta, cầm đôi chân, đẩy người ta xuống sông. Một tiếng kêu dưới nước, nó cười, lau dao găm đầy máu và lên xe jeep về ngủ.
- Câu chuyện đệ tử của Vương văn Chừ đó, anh.
- Dã man không tưởng tượng nổi.
- Chỗ giết người ở nhịp cầu thứ hai, bên phải.
- Vương văn Chừ đáng tội.
- Em tưởng Woòng A Tâm.
- Woòng A Tâm chỉ là tay sai của Vương văn Chừ.
- Vương văn Chù là tay sai của ai?
- Bảo Đại.
- Bảo Đại cũng là Bảo Hoàng à?
- Ừ, Bảo Đại làm quốc trưởng chính phủ Bảo Hoàng.
- Bảo Đại dã man.
- Lịch sủ sẽ ghi tội lỗi của ông ta.
- Nếu lịch sử không biết chuyện giết người trên cầu Bo?
- Thì tiểu thuyết sẽ viết truyện cầu Bo.
- Ai sẽ viết tiểu thuyết ấy?
- Em hay anh, chẳng hạn.
- Tiểu thuyết khó lắm. Em không viết được đâu.
- Ai mà biết tương lai của mình. À, sao em biết chuyện này?
- Anh thượng sĩ, phòng 2 Bảo Chính Đoàn, uất ức Vương văn Chừ và Woòng A Tâm giết người tàn nhẫn. Anh ta kể với bạn anh ta. Bạn anh ta kể với bố em.
- Bố em kể với em, hả?
- Vâng.
- Anh thượng sĩ đâu rồi.
- Đào ngũ lên Hà Nội.
- Anh ta muốn làm người, một người đầy tâm hồn, trong thời lửa đạn.
Chuyện Khoa vừa kể khiến Luyến lại ưu tư. Thái Bình nằm dọc sông Trà Lý, cả đôi bờ, chảy tới tận cửa biển, vốn xưa thật hiền lành, chất phác. Có lẽ thù hận đến Thái Bình từ năm 1945. Nhật nó xui Thái Bình căm hờn Pháp. Nó lại đảo chính hất chân Pháp. Ở với Nhật ít tháng, Thái Bình nhận thấy Nhật tồi tệ gấp ngàn lần Pháp. Dễ hiểu thôi, Nhật da vàng, mũi tẹt. Da vàng, mũi tẹt có yêu nhau bao giờ. Tổng khởi nghĩa cách mạng đuổi Nhật và ve vuốt Thái Bình căm thù Nhật. Pháp trở lại xâm lăng Việt Nam, cách mạng muốn Thái Bình vùng lên căm thù Pháp. Căm hờn, căm thù, căm phẫn, riết rồi chỉ thấy thống khổ bủa xuống Thái Bình. Cách mạng thù hận Pháp. Pháp hận thù cách mạng. Tưởng chỉ có căm thù hai phía.
Bây giờ, thù hận nhiều phía. Bảo Hoàng hận thù cách mạng. Cách mạng thù hận Bảo Hoàng. Bùi Chu - Phát Diệm hận thù cách mạng. Cách mạng hận thù Bùi Chu - Phát Diệm. Những thù hận dội lên đầu Thái Bình oan uổng. Biết thù hận quanh mình đã khốn nạn, chịu thù hận, mang no thù hận đời mình thì khốn nạn đến kiếp nào? Thị xã trốn tránh cái thù hận bên ngoài, lại gặp cái thù hận bên trong. Thù hận bên ngoài nó lãng đãng, mơ hồ; thù hận bên trong nó in đậm, rõ nét. Như nạn Vương văn Chừ, Woòng A Tâm, chẳng hạn.
Tự thâm tâm, Luyến hiểu rằng, mình chả làm gì để xoá tan thù hận, kể cả thù hận vô duyên cớ. Đã theo thời đại, Luyến cũng đành để thời đại nó xoay vần. Luyến tin, thời đại sẽ xoay vần đến thời kỳ rực rỡ, thanh bình. Lúc ấy, ta sẽ ôn lại những thù hận đã qua với tấm lòng vị tha của ngưòi viết sử. Luyến không ôm mộng viết lịch sử. Vừa nói với Khoa, mình sẽ viết tiểu thuyết, và một tiểu thuyết duy nhất mà thôi. Tự nhiên, Luyến yêu cây cầu Bo bắc ngang sông Trà Lý ở thị xã Thái Bình. Cầu Bo đã chứng kiến nhiều nghịch cảnh của thời đại. Nó sẽ là nhân chứng của những ai muốn biết Thái Bình trải qua một trăm năm.
- Anh Luyến, trưa rồi, về chứ?
- Về thì về.

111
Mẹ Luyến dịu dàng :
- Luyến này, nhà con Ngọc đã hồi cư. Cả bà cả Hồng nữa đấy. Tại sao bác Thụy muộn về? Con Thúy dạo này chắc lớn lắm. Mẹ lại mong thằng Vũ, thằng Côn... Chúng nó đi kháng chiến như thằng Ái nhà mình. Biết còn sống không?
Luyến cười :
- Mẹ chỉ lo vớ vẩn. Con cam đoan với mẹ chúng nó còn sống. Thằng Vọng chết chưa, mẹ?
Mẹ Luyến bình thản :
- Nó đã chết đói năm Ất Dậu!
Luyến lắc đầu :
- Vọng chưa chết, mẹ ạ! Tên mới của thằng Vọng là Kỳ Bá. Nó làm chính ủy trung đội, đóng ở làng em Khoa. Thầy Nguyễn Công Hoan cứu nó và mang nó đi xa, dạy nó thành người cách mạng.
Mẹ Luyến tặc lưỡi :
- Gớm, con chỉ muốn biết một mình. Chẳng cho mẹ hay.
Luyến bẻ bão tay :
- Cho mẹ biết ích lợi chi? Mỗi đứa bây giờ có một cuộc đời riêng biệt. Khi nào chúng nó về đây, vẫn chào bố mẹ lễ pháp và thăm hỏi bố mẹ ân cần, thế là đủ.
Mẹ Luyến ôn tồn :
- Mẹ biết đề mẹ mừng cho chúng nó.
Luyến hài hước :
- Mẹ lại phải xuống Đoan Túc lễ chùa và cầu nguyện cho chúng nó, chứ gì?
Mẹ Luyến đứng dậy :
- Ừ, chiều nay mẹ đi lễ, sẽ cầu nguyện cho thằng Vọng. À, con Ngọc...
Luyến tiếp :
- Mới hồi cư...
Mẹ Luyến âu yếm :
- Nó muốn tới nhà thăm con.
Bà bước ra cửa :
- Quá trưa, con Ngọc tới đó.
Luyến ngạc nhiên, tự hỏi sao Ngọc lại đến thăm mình. Ngày xưa, Luyến cũng chơi thân với Ngọc, với Thúy, nhưng không thân như Côn, như Vũ. Luyến thích nghịch ngợm. Nó gặp Thúy, Ngọc ở đâu là chọc cho hai đứa phát khóc mới thôi. Thúy và Ngọc đều ghét Luyến. Nhớ đêm chơi tam cúc ăn đẹt, hồi Vũ lên Hà Nội học, Luyến đã không nịnh đầm giống Côn. Thằng Côn thắng con Thúy hai đẹt. Con Thúy cầu khẩn xin khất nợ. Thằng Côn cao thượng, bằng lòng ngay. Thằng Côn tưởng vắng thằng Vũ, con Thúy sẽ cần thiết nó, sẽ đi ăm kem cầu Bo với nó, sẽ quý mến nó... Côn ta đã lầm. Con Thúy vẫn nhớ thằng Vũ. Thằng Côn bị con Thúy chê lên, chê xuống, khi biểu diễn xe đạp xiếc Tạ Duy Hiển. Con Ngọc bênh thằng Côn. Cái gì của thằng Côn, con Ngọc cũng khen. Thế mà, thằng Côn lại ghét Ngọc, thích con Thúy. Các chuyện tuổi thơ nó trớ trêu làm sao!
Thằng Luyến thắng con Ngọc hai đẹt. Con Ngọc xin khất nợ. Luyến ta không khất khung gì hết. Được thì hãy ăn cái đã. Hễ ván sau thua, giơ mũi cho làng đẹt. Con Ngọc cáu lắm. Thằng Côn cho con Thúy nợ. Thằng Luyến nó cười khà khà, không chịu cho con Ngọc nợ. Nó khoái chí đẹt mũi con Ngọc. Con Ngọc nhăn nhó. Đến lượt Luyến thắng con Thúy, nó đòi ăn đẹt ngay tút xuýt. Thằng Côn tìm cách gỡ cho con Thúy khỏi ăn đẹt. Thằnng Côn cù nhầy hòa cả làng, lúc thằng Luyến bỏ ngang về. Thằng Luyến bảo không chơi với thằng Côn nữa, vì ăn gian cho con Thúy.
Luyến chỉ nhớ con gái đêm tam cúc, thuở học trò Monguillot. chả biết Ngọc còn nhớ không? Bây giờ, Luyến đã xa thời nghịch ngợm, ghét con gái. Bây giờ, Ngọc đã lớn lên, đã hiểu thế nào gọi là yêu. Luyến có cảm giác bâng khuâng. Từ ngày chớm mùa tình tự, Luyến chưa yêu ai và cũng chưa ai yêu Luyến. Nó nhìn xuống. Một chân bị mất. Thiếu nữ nào yêu Luyến? Thời đại này, thời đại loạn ly chiến trường nuốt hết mộng mơ của con người. Thời đại cực thịnh lãng mạn, bồng bế và quyến rũ đã chết. Tìm đâu ra những thiếu nữ say đắm Hàn Mạc Tử? Luyến không phải là thương binh được nhạc sĩ cách mạng đưa danh dự lên chót vót mà đòi con gái yêu, con gái tôn sùng thương binh hào kiệt như người tình lý tưởng của cuộc đời lửa đạn:
... Chàng về
chàng về nay đã cụt tay
Máu đào đã tưới trên thây
trên thây bao nhiêu quân thù
U hù
từ ngày, từ ngày chinh chiến mùa thu...

Luyến không đi chinh chiến mùa thu, mất một chân, chứ không cụt một tay. Sự mất một chân của Luyến vô tích sự. Nhờ mất một chân, máu đào không tưới trên thây quân thù, được hồi cư bằng cam nhông. Con gái thời đại chiến chinh yêu thế nào được người cụt chân trong chiến tranh không phải là thương binh. Khi cái chất lãng mạn nó bay đi mất tích, chỉ còn cái thực tế phũ phàng, Luyến khó mà tìm ra người yêu. Luyến bâng khuâng nghe tin Ngọc đến thăm mình. Băn khoăn thôi. Không rạo rực.
Mới xế trưa. Luyến thấy mình nôn nóng. Như thể chờ đợi một cái gì quan trọng. Nó lại thắc mắc y như đã thắc mắc. Tại sao Ngọc đến thăm mình? Con gái ông trưởng ty bưu điện thị xã Thái bình, vụt một cái, cơ hồ trái bóng rót dầu, tuổi hoa niên của Ngọc đã bay đi, biến thành một thiếu nữ hai mươi. Người ta bảo tuổi hai mươi khác với hai mươi tuổi. Khác ở chỗ nào? Ngọc hai mươi tuổi hay tuổi hai mươi? Gặp Ngọc, sẽ có câu trả lời. Quá trưa, Ngọc sẽ đến. Quá trưa là mấy giờ? Bây giờ đã xế trưa. Những hẹn hò của tình nhân thường oái oăm như vậy. Ngọc đâu phải là tình nhân của Luyến? Và, Luyến chẳng hy vọng gì có tình nhân!
Đến trưa, cha Luyến về nhà ăn cơm. Rồi lại đến sở ngay. Mẹ Luyến đi lễ ở chùa làng Đoan Túc. Còn mình Luyến nằm nhà. Mong Khoa tới, nói chuyện đến lúc quá trưa cho vui, cho đỡ suy nghĩ bâng quơ. Khoa chẳng tới sớm làm gì. Luyến chống nạng đi loanh quanh trong phòng khách. Nó ngồi trên ghế. Rót hai chén nước. Đổ vào ấm. Lại rót. Uống một hớp. Hai, ba hớp. Đứng dậy. Chống nạng ra ngoài cửa. Vào nhà. Ngọc chưa tới. Luyến sốt ruột rồi. Luyến chẳng hy vọng gì có tình nhân. Mà sao sốt ruột? Có lẽ Ngọc gặp Luyến để hỏi tin tức về Côn. Nó thích Côn và nay yêu Côn. Phải, Côn đáng yêu lắm chứ! Cháu nội cụ Hào Điển, Đặng Đình Điền, thủ quỹ Việt Nam Quốc Dân đảng, thời Nguyễn Thái Học. Nó chơi với bạn chiều bạn hết chỗ nói.
- Anh Luyến có nhà không?
- Ai đó?
- Ngọc đây, Vũ Cẩm Ngọc đây.
Luyến mở cửa. Biết chắc là Ngọc, còn hỏi ai đó! Luyến choáng váng cả người.
- Anh lạ lắm hả, anh Luyến?
Luyến rúng động thân thể, mãi mới nói được :
- Ngọc... cô Ngọc, ngồi chơi xơi nước...
Ngọc cười lớn :
- Dạo này anh Luyến khách sáo quá, nhỉ?
Luyến cười theo :
- Bố tôi di làm, mẹ tôi...
Ngọc nói giùm Luyến :
- Mẹ anh đi lễ chùa Đoan Túc với mẹ em và bác cả Hồng. Hẹn nhau từ sáng nay đấy, anh ạ!
- Thế à?
- Vâng.
- Cô Ngọc...
- Anh cứ gọi em là em đi, cho thân mật. Anh lớn hơn em một tuổi.
Luyến ngồi im. Nó không nói năng gì nữa, chỉ bàng hoàng ngắm Ngọc.
- Anh lạ lắm, hả?
Ngọc hỏi lại câu đó.
- Lạ lắm, cái gì?
- Về em.
- Không.
- Để em nói, anh hết lạ. Em hồi cư vào Hải Phòng, đầu năm 1950, hôm người Pháp tới Phụ Dực quê ngoại em. Bố em được làm ngay. Em phi dê tóc, ăn mặc kiểu thành phố, anh phải lạ lắm, chứ?
- Vâng.
- Anh đừng vâng, em giận đó.
- Ừ, lạ lắm.
- Sao anh bảo không lạ?
- À...
Ngọc tự rót lấy nước uống. Nó mặc chiếc áo dài mầu xanh da trời, chiếc quần đen. Khuôn mặt nó phơn phớt chút phấn hồng. Đôi môi nó tô nhẹ làn son đỏ. Nó xách cái bóp nhỏ. Trời nắng, nó mang nón theo. Luyến chiêm ngưỡng nhan sắc của Ngọc. Mới ngày nào, còn thích chọc ghẹo Ngọc, nó không thấy Ngọc đẹp tuyệt vời như hôm nay. Từ con bé nhỏ ưa ăn vòi, nó biến sang gái chanh cốm. Ngọc đẹp thật, dưới mắt nhìn của Luyến. Thằng Luyến chỉ biết con Ngọc đẹp não nùng, chứ không tơ hào gì cả.
- Ái theo kháng chiến không về hả, anh?
- Ừ.
- Anh Vũ cũng không về?
- Ừ.
Luyến đợi Ngọc hỏi tới Côn, Ngọc không hỏi.
- Bố em xin đổi bề Thái Bình. Người ta đồng ý ngay, vì thị xã thiếu trưởng ty bưu điện. Nhà em còn ở nhờ bác Đông tài chính, sẽ làm nhà lại, anh ạ!
Luyến hỏi :
- Cô có thích về thị xã không?
Ngọc nhăn mặt. Đôi mắt Ngọc đã nẩy vài tia giận dỗi. Luyến thấy ngay. Nó hỏi lại :
- Em có thích về thị xã không?
Ngọc cười, nụ cười thơm ngát :
- Em thích ghê.
- Tại sao?
- Thị xã, quê mẹ em, to hơn nhà băng Đông dương, nơi em gửi hết kỷ niệm tuổi thơ, kỷ niệm bạn bè, kỷ niệm trường lớp, tại sao em không thích? Anh Vũ có Thúy yêu thương. Anh Côn nhạt nhẽo lắm. Nhớ anh là để nhớ anh, những gì xa xôi nữa, em không lưu ý.
- Với tôi, thì què quặt!
- Mẹ anh đã cho em biết. Vì anh què quặt, em mới tới thăm anh, trước nhất.
- Em thương hại anh què?
- Đừng nghĩ đến chuyện què, anh ạ! Anh vẫn là anh của em. Nghĩ xem, trên đời này, biết bao nhiêu người đủ tay chân mà vẫn sống vô tri giác. Người ta hơn nhau ở đầu óc. Không đầu óc, chân tay để làm gì nhỉ?
- Ai dạy em nói thế?
- Em dạy em. Tuổi tác lớn, suy nghĩ lên cao.
- Anh thiếu đầu óc, em ạ!
- Thôi đi, Luyến nghịch ngợm! Lê Huy Luyến thiếu đầu óc, ai có đầu óc?
Tự nhiên, Luyến sung sướng vô cùng. Ngọc đã nói lên điều Luyến chưa nghĩ tới. Cám ơn Vũ Cẩm Ngọc! Luyến thấy có thể nói đủ thứ chuyện với Ngọc rồi. Ngọc đáng kính mến. Nó không quên dĩ vãng tốt đẹp của mình.
- Em có ghét anh không?
- Ghét lắm, nếu anh cứ bảo anh thiếu đầu óc.
- Vẫn đầu óc.
- Đầu óc thì ghét sao nổi.
- Đầu óc giữ kỷ niệm.
- Thì nhất.
- Anh nhớ một kỷ niệm về em đây.
- Nói di, anh!
Luyến thuật lại canh tam cúc, năm xưa. Có Luyến. Có Côn. Có Thuý. Có Ngọc. Bốn người. Luyến bỏ ngang về, dọa không chơi với Côn nữa. Hòa cả làng.
- Em hãy còn nhớ.
- Anh đẹt mũi em, đau không?
- Đau lắm.
- Bây giờ, anh đền em.
- Đền gì?
- Cho em đẹt mũi anh tơi bời.
- Bấy giờ, anh đã đền em rồi.
- Đâu?
- Anh thắng Thúy, từ chối cho chịu. Anh Côn bênh Thúy, phá đám cuộc chơi, Thúy hết bị anh đẹt mũi.
Ngưng một lát, Ngọc buồn rầu nói :
- Anh Côn yêu Thúy, Thúy không yêu anh Côn. Em yêu anh Côn, anh Côn không yêu em.
Ngọc quên buồn rầu rất nhanh, nhìn Luyến đăm đăm và vui vẻ :
- Người nào lấy anh, người ấy sẽ hạnh phúc suốt đời.
Tâm hồn Luyến bay trong mơ lãng đãng :
- Hạnh phúc hay khổ đau?
Ngọc bám chặt vào giấc mơ :
- Hạnh phúc toàn diện. Lấy chồng cụt chân, chồng không bị đi lính, ở bên chồng suốt đời...
Luyến lặng thinh và Ngọc cũng lặng thinh. Để nghe trời nói những lời tình tự. Chỉ mải nghe trời nói, Luyến quên không hỏi Ngọc: Em hai mươi tuổi hay tuổi hai mươi...

112
Luyến và Ngọc đứng trên cầu Bo, nhìn nước lũ xuống dần, và chảy chậm lại. Nước lũ không còn hung hăng như mấy hôm trước. Mới vỡ đê năm 1945; muốn vỡ đê, phải đợi vài chục năm nữa. Người ta vẫn sợ nước lũ, tuy nước lũ mang về cho nông dân bao nhiêu nguồn trù phú. ruộng đồng đầy mầu mỡ. Ao ngòi vô số cá tôm.
Nước lũ đe dọa nỗi vỡ đê. Mà, vỡ đê là niềm lo sợ truyền kiếp của dân mình. Nhãn năm nay mất mùa. Đê không thể vỡ được. Nhãn được mùa, người ta hồi hộp đến tận rằm tháng bảy âm lịch. Nếu rằm tháng bảy, nước lũ không lên, người ta mới thở ra, sung sướng. Hết lụt lội, người ta ngại bão táp. Vụ tháng mười, nhiều đường vất vả lám. Chờ tháng chín tới, bão táp không làm lúa gẫy cổ, gục xuống, người ta mới biết chắc được mùa. Để chuẩn bị ăn tết.
Nhà quê nó liên hệ gắn bó với thành phố. Nhà quê hạnh phúc, thành phố hạnh phúc. Nhà quê bất hạnh, thành phố bất hạnh luôn. Ở thị xã, ngoài cái liên hệ thương mại, học đường gắn bó lấy nông thôn, còn mật thiết về gia đình, họ hàng, người cùng quê hương yêu dấu. Cho nên, bất kể chuyện gì xảy ra ở nông thôn mình, thị xã cũng bồi hồi tấc dạ. Luyến và Ngọc xem nước lũ xuống dần, đâu phải cho riêng hai đứa chẳng có miếng đất nào ở thôn quê. Chúng nó biết vì người Thái Bình, tất cả.
- Về thôi, Ngọc!
Luyến ngó đồng hồ.
- Mấy giờ rồi, anh?
- 5 giờ.
- Tháng chín dương lịch mà vẫn còn oi bức. Mùa thu đấy, giữa thu chứ! Các ông thi sĩ toàn bịa cả.
Luyến mỉm cười :
- Em đã lớn lên vì thơ rồi chăng?
Ngọc vuốt tóc đang bay theo gió :
- Có lẽ, anh ạ!
Luyến tán tỉnh :
- Cho anh nghe một bài đi!
Ngọc hơi xấu hổ :
- Một bài mùa thu thi sĩ bịa nhé?
Luyến không trả lời. Hai đứa cùng ngó xuống sông. Nước chảy rầm rĩ dưới gầm cầu. Ngọc khe khẽ đọc.
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng

Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rủa mầu xanh
Những buồn run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy sương mỏng manh

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò

Mây vẩn từng không chim bay đi
Khí trời u uất hận chia ly
ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì

Nước vẫn chảy rầm rĩ dưới gầm cầu. Nước quyện lấy thơ. Nước im lặng như thôi chảy. Thơ tắm trong nước. Nước và thơ chỉ còn là hơi thở man mác.
- Hay quá, buồn thu.
- Anh thấy ông Xuân Diệu bịa mùa thu chưa? Nóng nung người, ông lại tả Đã nghe rét mướt luồn trong gió.
- Em đang đứng trên cầy Bo, thị xã Thái Bình, trách móc thi sĩ Xuân Diệu. Mình biết Xuân Diệu làm Đây mùa thu tới ở chỗ nào? Hà Nội hay Ba Vì, Hải Phòng hay Bắc Cạn. Thôi, cứ đọc thơ ngưòi ta là đủ. Cần gì thơ bịa hay không bịa. Bịa là không bịa. Không bịa là bịa. Thi sĩ mà, em.
- Anh thích không?
- Xuân Diệu bài nào anh cũng thích. Em biết hát không nào?
- Biết.
- Em hát Thu bên sông đi!
- Không biết bài này. Của ai thế, anh?
- Việt Lang.
- Thời Xuân Diệu, hả?
- Thời kháng chiến. Việt Lang lạ lắm. Anh ta đã làm Đoàn quân đi, Mùa không biên giới, sau anh ta chán nản làm Thu trên sông. Anh hát chả ra cái gì cả, cứ hát cho em nghe, nhé!
- Anh hát đi, anh!
Ngọc im lặng. Tiếng hát của Luyến bay lên trời:
Nắng phai dần đồi nương áng mây
gợi nhớ
Thu tịch liêu bóng chiều về
tương tư gió
Ngồi đây nâng phím đàn
xao xuyến đường tơ
Đã bao mùa thu chín trái mong chờ
Ru đời thu mộng du ướt át
tình thu vàng mơ bát ngát
Đất trời say thu đó chăng

Ru đời ta quặn đau chất ngất
tình ta nằm sâu đáy đất
Chớm thu hồn đã phai tàn
Buồn trăng nước
gió lùa bên song lá vàng bay tung
sầu mênh mông đàn khóc trong đêm
lửa thiêng nghiêng bóng
Gọi người nhớ ai
Thu năm xưa muốn còn tìm tới
Em xa anh đôi miền đất xa trời
Thu cô liêu và tôi cô liêu
Thu úa héo tôi là tiếng thông reo
Mùa thu chết sắp qua
xót xa nỗi mình bão táp mưa sa
Đi là mang sầu thương bến nước
về muôn trùng dương nỗi ước trường giang

Nhạc đã tắt. Âm thanh còn rung động sông nước.
- Nhạc Việt Lang tuyệt vời.
- Có ngôi thứ trong kháng chiến đấy.
- Mai anh dạy em, nhé!
- Sẽ dạy em tất cả nhạc kháng chiến lãng mạn. Từ Nhớ thành Tô của Tô Vũ, đến Ba Vì của Huy Du. Anh sẽ học chơi đàn Y pha nho đệm cho em hát.
- Anh thấy chưa? Người ta phải tổ chức đêm thơ, đêm nhạc, hát ngâm cho nhiều người nghe. Thị xã có cầu Bo để em và anh hát và đọc thơ cho chúng mình nghe. Thơ mộng chưa, Luyến nghịch ngợm!
- Hết được nghịch ngợm rồi.
- Luyến đầu óc nhé!
- Không, Luyến cụt chân!
Hai đứa phá ra cười.
- Mấy giờ rồi, anh?
Luyến vén ống tay áo :
- 5 giờ 30. Mình về thôi, em!
Hai đứa về, vừa đi vừa trêu nhau. Đến đầu cầu, bắt đầu từ con dốc, Ngọc chạy lên đi trước. Con bé đi giật lùi. Để Luyến có vấp ngã, Ngọc kịp nâng lên. Hạnh phúc đang đến với hai đứa. Niềm vui bảng lảng khắp nơi. Chợt, môt chiếc xe cam nhông từ cầu Bo, chạy xuống phía hai người. Rồi, hai, ba, bốn, năm chiếc theo sau. Pháp chở tù binh cách mạng bị bắt trong cuộc hành quân Trái Chanh. Xe để trần, vì trời nóng. Mỗi chiếc chở chừng 30 tù binh, tay bị trói cánh khuỷu. Người nào người ấy, há hốc miệng, thè lưỡi ra, khát lắm. Chắc họ bị bắt từ sáng sớm, chưa được ăn uống gì. Họ ngồi tập trung một chỗ, phơi nắng suốt ngày. Ngồi trên xe căm nhông chật chội như nhét vào hộp, bị nắng thiêu đốt, thèm uống nước đến chết. Tù binh cách mạng toàn mặc quần đùi, áo cánh nâu, nhiều người không mặc áo, ở trần. Trông tận mắt, thấy cảnh tượng con người đối với con người ghê tởm quá, Luyến nổi giận :
- Em về nhanh trước đi, Ngọc.
- Không, em đứng bên anh.
- Làm gì?
- Để đưa anh về. Mắt anh ngầu đỏ, đang long lanh cơn phẫn nộ.
Năm chiếc xe tù binh và ba xe jeep lắp đại liên hộ tống, không vào khu quân đội Pháp đồn trú. Mà chạy quẹo tới bệnh viện. Từ hôm, bắt đầu cuộc hành quân Trái Chanh, Luyến chưa hề thấy Pháp bắt tù binh. Hôm nay, Luyến mới chứng kiến tận mắt, và tin rằng Pháp đã bắt nhiều cách mạng, giam hết chỗ, đành đem ra chỗ bắn đại bác, đối diện bệnh viện, tạm nhốt vài hôm.
- Tù binh không còn là con người nữa, em ạ!
- Họ bị khát ghê quá.
- Bị khát thè lưỡi như chó, khiến con người mất hết phẩm cách làm người. Đã đói chưa đủ, khát chưa đủ, còn trói con người, đầy ải cho nắng thiêu con người. Những bài học L’Amour de l’humanité người Pháp dạy anh, ngày xưa, đáng xé đi là vừa. Anh đến bệnh viện đây.
- Cho em theo.
Luyến ngạc nhiên. Khu pháo binh đặt đại bác câu đi đã di chuyển. Hàng rào ba lớp dây thép gai mới làm xong. Tù binh bị dồn vào. Chung quanh, lính da đen canh gác. Mấy khẩu tiểu liên sẵn sàng khạc đạn. Người ta cấm không cho dân thị xã đến gần. Luyến và Ngọc phải đứng ở thềm nhà, đằng xa. Tù binh đã xuống xe. Họ ngồi một chỗ. Không có nhà, có lều ở nơi đây. Đêm nay, họ sẽ sống ngoài trời. Sáu giờ chiều, dân thị xã biết gần hết. Dân mang nước, bánh đến cho tù binh. Lính da đen đuổi đi hết. Tù binh vẫn há hốc miệng, thè lưỡi như chó khát.
Bên cạnh tù binh ngồi, cách một con đê cao, là sông Trà Lý. Con sông nước ngầu dỏ đang chảy ra biển. Tù binh chỉ được uống nước sông ngát phù sa đã tỉnh và, dần dần, biết mình còn làm người. Sự thèm khát khiến con người còn một chút ước mơ, cũng không bao giờ ước mơ tới.
Bây giờ, con người khát lè lưỡi ra, dẫu được uống nưóc ao tù, nước cống hay nước tiểu cũng say sưa. Cái say sưa của người hết làm người. Tù binh không được uống một thứ nước gì! Lính da đen canh gác, thỉnh thoảng, uống hộp nước ngọt, một cách bình thường. 6 giờ 30, một xe jeep tới, mang lệnh của Hành dinh Pháp, cởi trói cho tù binh.
Luyến cố nhớ lại ngày Nhật đảo chính Pháp ở thị xã Thái Bình. Nhật hành hạ Pháp, bắt Pháp kéo xe bò chở đá, lột giầy chân không, cho khát rã họng, thè lưỡi như chó. Pháp không thể trả thù Nhật. Phát căm giận phát xít Đức, Nhật. Đành trả thù dân Thái Bình, những người đã lén Nhật, đem nước cho Pháp uống ở bên kia cầu Bo.
- Pháp cởi trói cho mình kìa.
- Vẫn bắt khát.
- Bắt người ta khát làm gì nhỉ?
- Cho hết theo cách mạng chống Pháp.
7 giờ. Trời đang nóng nực, bỗng trở nên oi nồng. Tiếng sấm đã nổi dậy. Gió bắt đầu thổi. Muốn mưa hay sao ấy. Tự nhiện, Luyến biến thành trẻ con. Nó cầu mưa. Lạy trời mưa xuống, lấy nước tù binh uống.
- Cầu mưa đi, em.
- Vâng, em đang thầm cầu.
- Cầu to để trời nghe thấy. Chỉ có trời mới làm con người hết khát, lúc này.
- Anh tin trời à?
- Tin.
Gió thổi mạnh. Sấm vang lừng. Chớp chiếu những tia an ủi. Một lát, trời mưa. Luyến nhìn về chỗ nhốt tù binh căng mắt. Mưa ầm ầm đổ. Nước xối xả rơi. Tù binh được cởi trói, nằm ngửa cả ra, há mồm rộng hứng nước mưa từ trên trời đổ xuống. Nơi tạm nhốt tù binh là khu đất phẳng phiu, không có lỗ chứa nước được, tù binh chẳng nằm sấp uống mà đành nằm ngửa. Nằm ngửa, nước không đủ đánh tan cơn khát, tù binh phải cởi áo hứng nưóc mưa. Tù binh nào mình trần, cởi luôn quần đùi hứng nước. Lính da đen dã mặc áo đi mưa, canh phòng kỹ hơn. Tù binh hứng ướt áo quần bèn vắt nước vào miệng. Cơn khát xuống dần. Trời vẫn mưa to không ngớt. Những ông nhà văn viết L’Amour de l’humanité, có thể, xem cảnh bắt khát của lính Pháp, viết lại tình yêu nhân đạo.
Luyến bị lính Pháp bắn gẫy chân, chở vể bệnh viện săn sóc và an ủi khi Luyến lành bệnh. Luyến đã mang ơn Pháp. Bây giờ, Luyến lại ghét Pháp. Thì ra, Luyến đã quên cái thiện cho riêng mình, chỉ nhớ cái ác cho đồng bào Luyến. Thời chiến chinh, cái thiện đến rất ít, cái ác đến rất nhiều. Cái thiện làm theo cảm hứng, cái ác làm theo mệnh lệnh. Người ta không lường nổi.
- Đi về, em!
- Trời đang mưa lớn.
- Anh muốn lê nạng gỗ dưới mưa.
- Để làm gì?
- Làm người Việt Nam bần tiện, thấy đồng bào mình thống khổ, vẫn thản nhiên quay đi.
Ngọc chiều ý Luyến. Hai đứa bước trong mưa tầm tã. Quần áo bó lấy thể xác. Ướt như chuột. Tiếng gầm của sấm sét làm át tiếng nạng khua.

113
Tháng 10, chấm dứt các cuộc hành quân Trái Chanh, Trái Quít. Lính đã về đóng đầy thị xã. Nhiều hiệu ăn uống mở cửa. Ở bến ô tô, quán Sông Trà bán chè sen ngon lắm. Lính ra vào kín mít. Chỉ còn thiếu cao lâu của người Trung hoa. Tù binh trong cuộc hành quân, Pháp tách ra làm ba loại: Loại dân chúng bắt lầm, Pháp thả về ngay; loại dân quân, du kích, Pháp giữ ít ngày dọn dẹp trại, rồi cũng thả về; loại bộ đội chính quy, không người thân thích bảo đảm, Pháp đưa sang Nam Định, giam giữ lâu, chờ thời gian trao đổi tù binh. Lính Bùi Chu - Phát Diệm vẫn ở lại Thái Bình. Còn nhiều cuộc hành quân khác. Trái Chanh, Trái Quít đã thành công. Hưng Nhân, Tiên Hưng, Đông Hà coi như đã ổn dịnh tình hình. Bộ đội chính quy tiêu tan trong cuộc hành quân này. Lính pác ti dăng đóng quân nhiều nơi, không còn ngại cách mạng nữa.
Lình Bùi Chu - Phát Diệm tản bộ trên đường phố thị xã. Bây giờ, dân chúng mới gặp đích thực sức mạnh của linh mục Hoàng Quỳnh. Họ phần đông là nông dân hiền lành, chất phác, những con chiên ngoan đạo nhất của nhà thờ Bùi Chu, Phát Diệm. Hoàng Quỳnh đem tiền bạc và thế lực của mình tuyển họ vào lính, giữ gìn an ninh vùng tự trị. Thì họ vào, vì tiền bạc. Họ không vì thù hận cách mạng, Hoàng Quỳnh bảo họ đi dẹp cách mạng. Thì họ đi, vì lệnh cấp chỉ huy. Hoàng Quỳnh bảo họ sang Thái Bình. Thì họ sang. Dân thị xã không ghét Hoàng Quỳnh, thù hận Hoàng Quỳnh. Mà lại ghét lính Bùi Chu - Phát Diệm, thù hận lính Bùi Chu - Phát Diệm.
Bên này phố Lê Lợi, hai người lính Bùi Chu - Phát Diệm tha thẩn bước. Họ đeo cả thánh giá vào cổ. Ra trận cũng như đi chơi. Họ dễ thương không ngờ, nói năng ngọng nghịu đến thương hại. Tiền lương Pháp trả họ, Hoàng Quỳnh ăn hết một nửa. Họ không dám vào hiệu ăn uống, mua sắm ít quà Thái Bình đem về cho vợ con. Họ chỉ nhìn và thèm thuồng. Đằng xa, toán lính pạc ti đăng đi lại, vây chặt hai người lính Bùi Chu - Phát Diệm.
- Ê mày, lính gì vậy?
- Thưa anh, lính Bùi Chu - Phát Diệm.
- Đi hành quân Trái Chanh, Trái Quít giết nhiều Việt Minh không?
- Nhiều.
- Được thưởng chưa?
- Ai thưởng hở, anh?
- Bố Pháp!
- Chưa.
- Vậy hả? Bố Pháp quên lính Bùi Chu - Phát Diệm thì Pác ti dăng nhớ. Đây lĩnh tiền thưởng!
Toán lính pác ti dăng hùa nhau đấm đá hai người lính Bùi Chu - Phát Diệm. Pác ti dăng đánh họ rất đau. Những trái đấm nhằm mắt họ. Những trái đá nhằm bụng họ. Lính Bùi Chu - Phát Diệm không kịp đỡ. Họ tối tăm mắt mũi :
- Sao lại đánh tôi?
- Về hỏi thằng Hoàng Quỳnh.
- Lạy các anh, tha chúng tôi...
- Cút về Bùi Chu - Phát Diệm của chúng mày ngay! Rừng nào cọp ấy, đất Thái Bình của chúng tao, nghe chưa?
Pác ti dăng vẫn đấm đá lính Bùi Chu - Phát Diệm. Lính Pháp ngồi trên jeep phóng qua, thấy lính Việt Nam ẩu đả với lính Việt Nam, lờ đi, chẳng can thiệp. Lính da đen mặc kệ, còn mải tìm y tá chữa bệnh lậu. Bảo chính đoàn lỉnh sang phố khác. Tòa tỉnh trưởng không dám lên tiếng. Pác ti dăng cứ việc tự do hành hung lính Bùi Chu - Phát Diệm. Linh mục Hoàng Quỳnh không biết. Những vết thương trên thân thể hai người lính Bùi Chu - Phát Diệm biết, không nói được. Những lính pác ti dăng yêu Việt Minh, ghét Pháp, thù Bùi Chu - Phát Diệm, đánh hai người lính Bùi Chu - Phát Diệm rã người, gục xuống.
- Các ông tha chết cho chúng mày. Lúc tỉnh hãy nhớ: Các ông không muốn nhìn lính Bùi Chu - Phát Diệm ở Thái Bình ngày nào nữa.
Toán lính pác ti dăng bỏ đi, tìm lính Bùi Chu - Phát Diệm khác, để mặc hai nạn nhân khốn nạn đang lồm cồm bò dậy. Dân thị xã không một chút tình thương cho họ. Dân thị xã quả quyết rằng, năm xe căm nhông chở tù binh cách mạng bỏ đói, bỏ khát hôm nọ, lính Bùi Chu - Phát Diệm đóng góp nhiều công lao vào. Cái thù này đẻ ra cái thù khác, chẳng bao giờ hết được. Bên kia phố Lê Lợi, lính pác ti dăng cũng đang hỏi tội lính Bùi Chu - Phát Diệm. Ở các phố nhỏ giống phố chính, người ta đang truy nã nhau. Cùng đánh Việt Minh, một số lớn pác ti dăng lại yêu Việt Minh ghét Pháp và thù Bùi Chu - Phát Diệm. Phải chăng, Việt Minh đã lũng đoạn lính pác ti dăng?
Tin lính pác ti dăng đánh lính Bùi Chu - Phát Diệm vang động cả thị xã. Dân chúng hả hê lắm. Người buồn tênh là Lê Huy Luyến. Luyến không trách móc, không tỏ vẻ cay cú lính Bùi Chu - Phát Diệm. Luyến chỉ khinh bỉ thái độ của Hoàng Quỳnh, chở căm thù thêm vào vùng trời Thái Bình. Những người lính Bùi Chu - Phát Diệm bị đánh oan sẽ không hiểu tại sao mình bị đánh. Họ đã bị hận thù theo rõi. Hận thù đón mọi ngả để thanh toán mọi người, trên quê hương Việt Nam. Một ngày, hàng chục lính Bùi Chu - Phát Diệm bị xử tội công khai, bị tra tấn công khai, dưới mắt giả vờ mù của Pháp, dưới mắt thông manh của Bảo Hoàng. Người lính già pác ti dăng hỏa đầu quân đã dọa không sai. Mới đánh, chưa phơ.
Sáng hôm sau, mở cửa quét hè, người làm của ông chủ hiệu sách Đông A phát giác có máu chảy từ cái bảng hiệu trên mái nhà, đầy hè. Ông Đông A đi trình cảnh sát. Cảnh sát tới, bắc thang leo lên. thấy ba cái đầu lâu nằm sau bảng hiệu. Cảnh sát bê từng chiếc đầu lâu xuống, bầy trên vỉa hè. Tin loan mau lẹ, thị xã biết hết, kéo nhau đến xem.
- Khiếp quá!
- Sao lại chỉ có đầu lâu?
- Dân thị xã hay Việt Minh?
- Lính thanh toán nhau đấy mà.
- Lính nào với lính nào?
- Lính Bùi Chu - Phát Diệm bị giết.
- Ai giết?
- Không biết.
Cảnh sát viên nói :
- Họ bị giết vào khoảng nửa đêm. Thân thể họ cũng gần đâu đây thôi. Mà sao lại chơi ác thế? Giết một nơi, cắt đầu lâu đem bỏ một nơi.
Một người dân :
- Họ nhè ông Đông A đổ nợ, lạ thế?
Người dân khác :
- Ông Đông A thân thiết với cha Chỉnh.
Chưa biết đâu vào đâu, một người đã hớt hơ chạy tới hiệu Đông A :
- Ông Bình An cũng đi trình cảnh sát.
- Việc gì?
- Hai cái đầu lâu dính sau bảng hiệu.
- Bình An người Lạc Đạo. Tới xem đi.
Chuyện trở nên quan trọng. Đến nỗi ông tỉnh trưởng phải đến, đại úy quân đội Pháp phải ra để điều tra. Luyến đã biết ai giết ai rồi. Phơ, chúng nó sợ, cút ngay về Bùi Chu - Phát Diệm, cho ăn kẹo cũng không dám bén mảng sang Thái Bình. Người lính già hỏa đầu quân pạc ti dăng đã nói thế. Lính pác ti dăng bỏ đầu lâu trên bảng hiệu Đông A là cảnh cáo Đông A thân thiết với linh mục Nguyễn văn Chỉnh, trên bảng hiệu Bình An là răn đe dân Lạc Đạo. Có Việt Minh dúng tay vào nên lính pác ti dăng mới chơi đẹp mắt.
Một tiếng đồng hồ sau, cảnh sát tìm ra năm cái xác trần truồng như nhộng. Quân đội Pháp chở hết vào bệnh viện dã chiến của họ. Tòa tỉnh trưởng ra lệnh nghiêm cấm kẻ nào nhắc tới chuyện này. Không ai dám nói.
Lính Bùi Chu - Phát Diệm được lệnh phải rút quân về. Từ đó, lính Bùi Chu - Phát Diệm không sang Thái Bình nữa.
Khoa học lớp đệ tứ, niên học 1951-1952, trường trung học tư thục Trần Lãm. Cậu Trần Khoa chuẩn bị thi trung học, năm nay. Em gái cậu, cô Cẩm Tú, học lớp đệ lục, cô Chi Mai, học lớp đệ thất, trường trung học công lập Nguyễn Công Trứ. Anh trai cậu, Trần Vũ, còn trong bộ đội chống Pháp. Thời đại cứ xoay và mọi người cứ sống...

114
Hôm nay, sinh viên Trường Sĩ Quan Nam Định sang đá bóng giao hữu với thanh niên thị xã Thái Bình. Họ đến lúc 10 giờ sáng để về lúc 5 giờ chiều cho phà Tân Đệ dễ dàng làm việc. Sinh viên toàn là trí thức. Họ đẹp giai, sáng sủa, khiến con gái thị xã mê mệt. Quân phục của sinh viên khác hẳn quân phục của Pác ti dăng, Bảo chính. Họ đi lại khắp phố, ngắm thị xã tiêu thổ kháng chiến. Mọi người ra xem họ, đều tặc lưỡi khen thầm. Sinh viên tuổi còn trẻ, ăn nói lịch sự, lễ phép. Cả thị xã xặc mùi tiểu tư sản, cái mùi quyến rũ làm sao! Họ thích trò chuyện, dân thị xã cũng thích chuyện trò với họ. Đây là tinh hoa của miền Bắc. Họ gặp gỡ nhau ở thành phố Nam Định. Họ đang đi học, Pháp động viên họ, chứ họ không muốn đi lính. Bùng bình trong thời đại, phải theo thời đại. Họ trốn tránh cách mạng, vào vùng quân Pháp tạm chiếm đóng. Họ không thể chạy ra hậu phương sống với cách mạng, đành nương Pháp và theo Pháp. Sinh viên sĩ quan có tâm sự ê chề, khó nói. Kiến thức của họ đem phục vụ Pháp, họ đau đớn lắm!
Khoa theo sinh viên sĩ quan tới trưa, họ đi ăn cơm, Khoa mới về. Tiếc hùi hụi. Họ đồng dạng với bộ đội tiểu tư sản. Bây giờ, bộ đội tiểu tư sản không còn trong Quân đội nhân dân nữa. Tiểu tư sản là sản phẩm của thành phố. Lính giai cấp tiểu tư sản trong thành đánh lính giai cấp vô sản ngoài thành.
Tiểu tư sản ăn dứt hết, chỉ thua vô sản một điều: chính nghĩa. Cả nước đang chống Pháp, bảo vệ tự do, dân chủ. Ai nghi ngờ? Người tiểu tư sản chui vô rọ nô lệ, Pháp sai đi diệt nhân dân đang chống Pháp tưng bừng, mọi nơi, trên đất nước Việt Nam. Sự thực của người tiểu tư sản nói không ai chịu nghe. Cũng đành, mặc áo gấm, đem theo thế động viên, đi đêm buồn bã, phản bội đất nước.
Khoa nhớ rằng Vọng rất tiếc nhớ bộ đội tiểu tư sản và tim vẫn hé mở để lính tiểu tư sản đồn trú. Lính tiểu tư sản vẫn ở với kháng chiến không được kháng chiến và lính tiểu tư sản về tề, theo Pháp, bắn giết cách mạng khác nhau rõ rệt. Liệu Vọng, con người công nhân nghèo khổ, học trường Monguillot, bạn thân của Vũ, Côn, Luyến, có lòng mãi mãi không? Vọng là lính giai cấp vô sản, trái tim không được phép mở tự do. Đảng của Vọng sẽ nhét xi măng cốt sắt vào trái tim Vọng. Vọng sẽ phải tuân lệnh Đảng, bắn bỏ lính tiểu tư sản như lính tiểu tư sản, sẽ phải tuân lệnh thực dân Pháp, bắn bỏ lính giai cấp vô sản. Lúc này, Khoa cũng nhớ câu nói của Vọng, câu nói mà Luyến cho là bậc thầy, lúc này, gặp sinh viên sĩ quan tiểu tư sản hồn nhiên, Khoa lại càng nhớ: Một mai, em sẽ oán trách người này, bênh vực người nọ. Rồi, em sẽ ân hận, vì oán trách sai, bênh vực sai nốt. Con người này chống đối con người nọ, không phải con người thích chống con người. Mà, hoàn cảnh nó dìu đi. Hoàn cảnh nào? Khoa không biết nổi. Để lát nữa, gặp Luyến ngoài sân vận động, sẽ hỏi Luyến.
- Khoa có làm quen cậu sinh viên sĩ quan nào không?
- Thưa mẹ, có
- Họ giỏi lắm à?
- Vâng.
- Họ đi lính là thằng Vũ theo kháng chiến đến già cũng chẳng về được. Con xem, người ta hồi cư tấp nập. Ông Tân Y ở phố Lê Lợi đang xây nhà hai tầng. Người ta sẽ xây lại nhà hết. Dần dần, có nước máy, có điện...
- Nhờ sinh viên Trường Sĩ Quan Nam Định chăng?
- Có họ, lính sẽ hết nham nhở như Pác ti đang, Bảo chính.
- Rất tiếc, mẹ ạ!
- Tiếc gì?
- Họ cũng là lính pác ti dăng!
- Sĩ quan mà.
- Sĩ quan chỉ huy lính pác ti dăng, mẹ ơi!
- Mẹ không tin.
- Thì chỉ huy Pháp vậy! Mẹ đừng tưởng họ sung sướng đâu. Bị Pháp động viên, họ khổ sở, không dám than vãn đấy thôi. Một anh sinh viên đã nói với con như vậy.
- Để bố mày ở Nam Định về, sẽ hiểu rõ. Đi ăn cơm, còn xem đá bóng.
- Con no rồi, không muốn ăn. Con ra bãi bóng đây.
Khoa lững thững bước. 3 giờ đấu giao hữu, 1 giờ rồi, vẫn chẳng có ai ngoài sân cỏ. Đấu giao hữu thì chán phèo. Đấu tranh cúp mới sôi nổi. Khoa chả còn thích thú xem đá bóng nữa. Nếu sinh viên sĩ quan Nam Định không sang thị xã, Khoa đã rửng rưng. Ngày học lớp ba, Khao chỉ mê đội ban lớp nhì 1. Vì có anh Vũ cú rót dầu, anh Côn cú ngả bàn đèn, anh Vọng cú xuyên chỉ qua kim, anh Luyến bắt bóng như tay quết nhựa michelin. Bốn người đó đã làm đội ban lớp nhì 1 vô địch của trường. Đi xem đội bóng nhà, đến sân thật sớm, cổ võ khô cả cuống họng. Đội nhà thắng, nhảy múa muốn sập bãi, vỗ tay đến xưng vù lên. Có lẽ, các đội ban tiểu học chơi hay nhất thế giới, mới có khán giả học trò lỳ lợm nhất thế giới, về cách hoan hô, đả đảo. Và, khóc hết nước mắt, khi đội nhà thua.
Khoa nhìn ra sân cỏ. Cỏ đã chết hết, từ độ vào hạ. Hai khung thành mới làm bằng tre bương, đằng sau không dăng lưới. Chung quanh sân quét vôi trắng. Quét vôi luôn ở khu vực của thủ môn với chỗ sút cú việt vị. Chả biết người ta có dọn dẹp sạch sẽ không, chắc chắn còn khá nhiều gạch đá. Chẳng có khán đài nào cả, dù danh dự hay bình dân. Chốc nữa, người ta sẽ mang ghế cho người Pháp và ông tỉnh trưởng ngồi. Khán giả bắt đầu tới. Luyến vẫn chưa tới.
Khoa lại nghĩ về các anh sinh viên sĩ quan Nam Định. Thật sự, Khoa yêu các anh ấy như yêu bộ đội năm xưa. Cái gì đầu tiên vào tâm hồn mình, khó mà quên. Cái gì đầu tiên ấy là một bài hát lãng mạn. Khoa không biết lãng mạn, cứ học bừa. Và, anh bộ đội cũng dạy bừa. Anh bảo, Việt Lang, bạn của anh, làm bài này. Sau khi vất vả phá tan biên cương loài người, Việt Lang tìm kiếm Những hình bóng qua. Anh bộ đội Hưng Yên bảo Khoa: Cứ hát đi, em sẽ tìm hình bóng qua, ngày mai.
Đàn thu trầm dâng khúc ca sông hồ
Mấy đường tơ biếc rung lời năm xưa
Mùa trăng hàng dương liễu xanh đôi bờ
Ai về cho nhắn một vài ý thơ
Tà áo nhuốn bao mầu thời gian
Buồn xa vắng nghe chiều than van
Từng đôi mắt nụ cười yêu đương
Trên bến đời say ngát muôn đường
Tầm ngược xuôi khuất bao hình bóng
Phấn hương tình cuốn bay chiều hoang
Và nơi đây lãng quên ngày tháng
Hồn nương theo cánh chim bạt ngàn
Còn đêm nao dấu môi mộng mơ
Ý xuân nồng đã dâng mùa qua
Chạnh tương tư gió reo gọi lá
Sầu lây lưa úa phai mầu hoa
Năm xưa nhắc nhở lá vàng cuốn
phiêu du
một trời thắm gió
tới năm canh đường đời
gót phong sương bao lần
đợi chờ hình bóng ai

Khoa chưa lớn để hiểu những hình bóng qua tâm sự những gì. Có điều, anh bộ đội tiểu tư sản Hưng Yên đã bị đào thải. Hôm nay, Khoa gặp lại anh, qua vóc dáng người sinh viên sĩ quan tiểu tư sản đang được nuông chiều. Các anh ấy sẽ sang Marrakech học lái máy bay. Và, sẽ bay trên vùng trời này, oanh tạc kháng chiến. Các anh ấy sẽ bỏ bom tan xác Vũ, Vọng, Côn. Vũ, Vọng, Côn, có thể, hạ rơi máy bay của các anh ấy. Khoa sẽ không oán trách người này, bênh vực ngưòi nọ như Vọng nói chăng?
- Khoa, Khoa!
Luyến đã lê nạng tới.
- Ra bãi lâu chưa?
- Từ lúc chưa có ai.
- Khán giả lơ thơ nhỉ? Đá bóng nhằm vào ngày phô trương lực lượng cứu hỏa, ít người xem lắm.
- Chiều nay, Lực lượng phòng hỏa và cứu hỏa mít tinh tuần hành hả anh?
- Ừ, 5 giờ.
- Đá bóng hết trước 5 giờ.
- Hai đội bóng chưa ra nhỉ?
- Vâng.
- Đứng xem, anh chịu không nổi, sẽ về sớm.
Tiếng máy bay trực thăng ở cầu Bo vọng lại. Rồi, trực thăng tới sân vận động đáp xuống. Chong chóng quay nhanh, khiến gió thổi mạnh vào khán giả. Người ta chạy ra đường. Vừa lúc, chiếc xe ăm buy lăng xuất hiện, phóng về chỗ trực thăng. Một chiếc jeep chở mấy người lính Pháp tới, đuổi hết khán giả bóng tròn đi. Trực thăng vừa đậu, đã bay lên. Trực thăng khác xuống...
Khoa và Luyến đã bước khỏi sân vận động. Trên đường về nhà mình, Luyến nói :
- Đánh nhau lớn ở Tiên Hưng, Đông Hà rồi. Lính Pháp bị thương rất nhiều.
Khoa hỏi :
- Đến nay, cách mạng mới trả đũa cuộc hành quân Trái Chanh, Trái Quít hở, anh?
- Loài chó, đánh không để chỗ cho nó chạy, nó còn biết quay lại cắn loài người nữa là. Pháp tàn sát cách mạng, phải nhận lễ cách mạng xứng đáng.
- Pháp gục ngã cả bầy.
- Ý vậy.
- Ngày mai, Spitfire sẽ đảo lộn dài dài.
- Và, đại bác không chịu câm họng.
- Lính Bùi Chu - Phát Diệm sang thêm nữa không?
- Chưa biết.
- Chỉ buồn cho đội bóng Trường Sĩ Quan Nam Định. Chắc họ lên căm nhông về rồi, không kịp từ biệt khán giả ái mộ!
- Họ thấm thêm nỗi đau nữa.
- Vâng. Còn tỉnh trưởng?
- Cứ việc an thân kiếp tôi mọi bù nhìn.
- Buổi trưa, em nghĩ về sinh viên sĩ quan tiểu tư sản, nghĩ về câu nói của anh Vọng, em định hỏi anh trên sân cỏ: hoàn cảnh dìu ta đi là hoàn cảnh nào. Thôi, anh ạ, em không hỏi nữa, để em tự tìm ra.
- Đúng.
Vừa lúc ấy, nhiều người xách thùng, ống bương lấy nước cứu hỏa chạy tứ tán. Chỗ tập trung mít tinh làm cản trở xe cứu thương của Pháp. Họ điên lên, khi một sĩ quan bị thương nặng chết, vì chậm trễ mấy phút. Lực lượng phòng hỏa và cứu hỏa của thị xã tan hàng trong sợ hãi.
Mấy hôm trước, Tòa tỉnh trưởng đã làm quan trọng cho lực lượng này. Ông Phó tỉnh trưởng không được đọc diễn văn. Lực lượng tự do giải tán. Toà tỉnh trưởng chằng can thiệp, chẳng phản đối gì. Một ngày ảo não cho dân thị xã dưới chế độ Bảo Hoàng.
- Mình chia tay, Khoa nhé!

115
Luyến ngồi trong phòng riêng của nó. Trên chiếc bàn gỗ đơn sơ, bừa bãi sách vở. Cái gạt tàn thuốc lá đã đầy, và gói Cotab mới mở còn nhiều. Khoa nhìn hai ngón tay phải của Luyến vàng khè chất ni cô tin, lắc đầu :
- Anh hút thuốc là từ bao giờ?
Luyến cười :
- Từ hôm, chị Ngọc khuyến khích. Chị ấy mua Cotab cho anh.
- Chị Ngọc xúi anh nghiện?
- Nghiện thuốc lá, chả sao. Nghiện vì mê gái, càng tốt. Anh thấy chị Ngọc nhận xét về anh rất đúng.
- Chị Ngọc nói sao?
- Chị ấy bảo anh là người què không giống những người què khác. Chị ấy bảo anh là người có đầu óc khác nhiều người còn đủ chân tay. Chị ấy bảo đầu óc thì phải suy nghĩ. Lúc suy nghĩ trong cô đơn, thuốc lá là bạn thân của mình, hút thuốc vào phổi, ý nghĩ luồn tim, phóng ra ngoài. Những suy nghĩ của mình sẽ đúng đắn.
- Bây giờ, với anh, chị Ngọc nhất rồi, cái gì cũng đúng. Chị ấy có khuyên anh học tiếp không?
- Không. Anh ghét trí thức khoa bảng lắm, chỉ thích đọc sách thôi. Khoa bảng ở nước mình kiến thức chuyên môn thì có, kiến thức ngoài chuyên môn thì rỗng tuếch. Anh lấy hai người làm thí dụ. Ông Nguyễn Mạnh Thường, tiến sĩ cả dàn, trí thức bên Pháp nể nang, về nước, ông chẳng được tích sự gì. Cụ Hồ Chí Minh không mảnh bằng nhét túi, cả thế giới suy tôn, về nước vẽ lối cho bầy tiến sĩ đi. Chẳng lạ, cụ Hồ phiêu bạt năm châu bốn biển, biết đến tậm tim đen khoa bảng, nên cụ coi thường trí thức khoa bảng. Trí thức khoa bảng ham quyền lực và sợ người có quyền lực. Họ răm rắp phục vụ cụ Hồ! Anh không thích khoa bảng, bằng lòng cái trung học phổ thông thôi, em ạ!
Luyến tránh chuyện chính trị, hỏi Khoa :
- Em học được ba tháng rồi nhỉ?
Khoa đáp :
- Vâng. Thì giờ nhanh thật.
- Việt văn đệ tứ có Truyện Kiều của Nguyễn Du đấy.
- Vâng.
- Anh đã suy nghĩ một chút về Truyện Kiều.
- Cho em nghe đi.
- Nghe rồi quên, đừng viết trong luận văn đi thi, nhé!
- Em nghe để biết mà.
- Câu đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du hé mở tác phẩm của mình: Trăm năm trong cõi người ta, chữ TÀI chữ MệNH khéo là ghét nhau. Nếu cứ để tài mệnh tương đố nhau, anh nghĩ, nó sẽ tròn vẹn tác phẩm. Đằng này, đoạn kết Truyện Kiều, Nguyễn Du viết: Chữ TÀI liền với chữ TAI một vần, Đã mang cái nghiệp vào thân, Cũng đừng oán trách trời gần trời xa, Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI. Chữ TÀI cùng với chữ TAI không phải là một vần. Mà chung một số phận. Theo kinh nhà Phật, có TÀI hơn nhiều người khác là một cái tội, có nhiều TÀI hơn người khác thì tội muôn vàn. Cũng vẫn được. Tự nhiên, Nguyễn Du nói chữ TÂM, không ăn nhằm chi đến TÀI và MệNH. Chữ TÂM trong con người, khó ai biết. Nó lênh đênh giữa đại dương bát ngát hay bay bổng trên núi vút cao. Tìm nó chưa nổi, bắt nó để đo lường sao được. Chữ TÀI thỗn thễn hiện nguyên hình, trình diễn không mệt mỏi, tóm cổ nó mà đo lường, rất dễ. Thế mà, Nguyễn Du bắt được chữ TÂM, hành hạ nó tơi bời, đo lường nó bằng thích, rồi bảo chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI. TÂM bằng ba TÀI, và có thể bằng ba triệu TÀI, cũng đáng vất TÂM đi!
- Ô, lạ quá, anh nhỉ?
- Có lẽ phải nhuận sắc những sách vở tam sao thất bản của ta. Anh thấy cổ tích hay nhất của nước ta là Thạch Sanh - Lý Thông, gồm đủ Chân, Thiện, Mỹ. Mà người mình không thích bằng Tấn Cám. Thạch Sanh không biết trả thù, dẫu kẻ thù đã hành hạ mình sống lên, chết xuống, đã cướp công lao của mình. Để Trời xử tội ác Lý Thông. Thạch Sanh cho nó về tự do. Khác hẳn thời nay, chỉ trả thù và thù hận, rồi thù hận và trả thù...
- À, thù hận và trả thù, em quên chưa báo tin anh hay cụ Hào Điển bị cách mạng giết rồi!
Luyến im lặng, rút Cotab để lên môi, bật diêm, châm lửa. Nó hít một hơi đẫy đà, rồi ngửa mặt, nhả khói lên trần nhà. Cụ Hào Điển bị cách mạng giết rồi. Tại sao cách mạng lại xuống tay với người già cả, mù lòa?
Cụ Đặng Đình Điển, một hào trưởng, ở tổng Ô Mễ, thuở còn trẻ, hăng say những chuyện bất bình. Cụ gia nhập Việt Nam quốc dân đảng và ngừng hoạt động từ ngày đảng trưởng Nguyễn Thái Học bị hành quyết. Cụ công khai nói với Pháp: Nguyễn Thái Học là thần tượng của cụ, bây giờ thần tượng đã chết, mang trọn vẹn lý tưởng của Việt Nam quốc dân đảng chết theo; cụ không còn là đảng viên nữa, về quê làm ruộng.
Người Pháp kính trọng cụ, để cụ về Ô Mễ. Cụ đã sống những tháng năm bình thản ở quê nhà, không giao du với bất cứ chính trị gia nào. Cụ làm việc cần mẫn, làm gương cho nông dân Ô Mễ. Cụ mở một cái cống lấy nước sông Trà Lý đổ vào cánh đồng Ô Mễ, bằng tiền của mình. Cái cống mang tên: Cống Hào Điển. Ngày tổng khởi nghĩa, cụ thoát khỏi vòng đảng tranh. Hai năm độc lập, cụ đã già nua và bị mù lòa, đi đâu con cháu phải chở cụ trên chiếc cáng.
Cụ Hào Điển là thân phụ của ông Đặng Xuân Rư. Mấy trăm mẫu đất cụ cho, ông Rư bán dần để ăn tiêu, hát cô đầu và đánh bạc. Ông Rư không cần làm gì cả, sống phong lưu, lãng tử. Tiêu thổ kháng chiến, ông Rư về Ô Mễ. Nhà ông là quán ăn sang trọng không trả tiền của cán bộ cách mạng cao cấp. Tố Hữu đã về Ô Mễ, Thái Bình, thượng khách của ông Rư. Ngâm thơ, Tố Hữu đã cho Ô Mễ một kỷ niệm khó quên. Các nhạc sĩ, thi sĩ, văn sĩ ghé Ô Mễ trên đường công tác đều chọn nhà ông địa chủ phong lưu mã thượng Đặng Xuân Rư làm quán trọ. Ca sĩ đếm không hết. Cô Ngọc Dậu hát bài Trường ca sông Lô của Văn Cao với đàn ghi ta đệm tuyệt với của Canh Thân hay không thể tả.
Ruộng cứ bán không tiếc, ông địa chủ lãng tử Đặng Xuân Rư mời gánh hát cải lương Phụng Khánh, Sĩ Tiến về hát cả tuần ở chợ Ô Mễ cho dân làng đi xem. Rồi ông làm bầu gánh Thống Nhất với kép độc Mộng Tần. Ông Rư có bao nhiêu ruộng, ông không biết. Chỉ biết bán cho phỉ chí. Khi Mộng Tần chết, gánh hát rã đám. Ông muốn tặng đào kép một món tiền. Bán ruộng, ruộng hết rồi. Ông địa chủ lãng tử Đặng Xuân Rư biến thành bần cố nông trắng tay.
Tháng 1 năm 1950, ông Rư hồi cư sớm nhất. Ở thị xã non tuần lễ, ông vù lên Hà Nội, để mặc cụ Hào Điển sống tàn tạ trong tổng Ô Mễ. Hiện thời, con trai ông là Đặng Xuân Côn may ra đã tốt nghiệp Trường lục quân Trần Quốc Tuấn trên Sơn Tây.
Cụ Hào Điển không đi khỏi Thái Bình, không tiếp xúc ai. Đàn em của cụ như Vũ Hồng Khanh, Phạm Phan Côn... đã ra cộng tác với Bảo Đại, làm tới chức bộ trưởng, giám đốc..., cụ không thèm biết. Một đêm mùa đông mưa dầm rả rích, cách mạng lén về Ô Mễ, bắt cụ, cho vào rổ xề khiêng đi. Cả nhà ngơ ngác. Nửa tháng sau, cách mạng báo tin cụ Hào Điển đã chết, xác ỡ giữa đồng Ô Mễ. Con cháu ra ôm cái rổ xề, mang xác cụ về nhà tẩm liệm, rồi đem chôn.
Luyến dập điếu thuốc vào gạt tàn, chớp mắt lia lịa :
- Đoạn cuối đời của cụ Hào Điển bi thảm quá.
Khoa cúi đầu :
- Anh Côn giờ ra sao?
Luyến buồn rầu nói :
- Không hề biết chuyện gì, Côn sẽ sung sướng; biết chuyện cụ Hào Điển, Côn sẽ đau khổ. Cách mạng giết ông mình mà mình suy tôn cách mạng, phục vụ cách mạng, mình sẽ phản ứng ra sao. Đó là trường hợp của Côn.
Khoa hằn học :
- Tại sao cách mạng lại giết ông nội anh Côn?
Luyến lắc đầu :
- Anh không biết.
Khoa nghiến răng :
- Vô nhân đạo, vô nhân đạo.
Chợt, Khoa nhớ nhời Vọng dặn trước khi chia tay ở Tường An. Nó nói để gỡ tội cho cách mạng :
- Anh Vọng đã tâm sự với em: Bộ đội mới có thể sai chính sách của Đảng, thi hành lầm lẫn. Gia đình em chắc sẽ gặp nhiều điều oan trái. Vậy, anh còn ở đây ngày nào, gia đình em nên vào thị xã ngay. Đó, cách mạng mà còn biết cách mạng sẽ sai lầm.
Luyến đốt điếu thuốc lá mới :
- Chỉ riêng Vọng có lòng thôi.
Nhả khói thuốc, Luyến dịu dàng :
- Hôm nay, anh em mình nhận được một tin rất buồn làm đau nhói tim. Đợi Côn về, Côn phải về, cho biết thật sự thái độ của Côn. Anh em mình sẽ nghe Côn nói và không có ý kiến gì. Bây giờ còn sớm. Em có anh Vũ theo cách mạng. Anh có em Ái theo cách mạng. Chúng ta không thể ghét cách mạng vì cái chết của cụ Hào Điển. Yêu nhau hay ghét nhau đâu có dễ dàng, trong một ngày chưa kịp suy nghĩ. Chúng ta hãy hiểu rằng, cụ Hào Điển sống với nông dân Ô Mễ, rất đẹp, cách mạng đã làm cụ chết, rất xấu.
Khoa đứng dậy, lễ phép xin Luyến cho về. Khoa đi rồi, còn mình Luyến ngồi trong phòng đơn độc. Luyến dập thuốc tắt, hai tay ôm lấy đầu, hơi cúi xuống mơ mộng...
Người Luyến gặp trước nhất, là Vọng, người lính vô sản không một mặc cảm nào. Chàng chiến đấu hào hùng, sống cho giai cấp, chết cho giai cấp. Chàng sống nghèo khổ, thuở làm học trò trường Monguillot. Cha chàng cu ly nhà máy điện thị xã. Mẹ chàng gánh xôi chè, bán hàng rong. Tội ác thực dân: giết cha chàng vì bệnh ho lao. Tội ác phát xít: giết mẹ chàng vì bệnh đói. Kẻ thù, chàng nhìn rõ, thấy rõ. Người cộng sản cứu chàng, đưa hai tay cho chàng bám và dẫn chàng vào cách mạng. Lòng tốt của cộng sản đi thẳng vào trái tim chàng. Khi người cộng sản cần gì ở chàng, chàng sẽ báo ân đến chết. Vì, chàng đã thành cộng sản. Chàng đấu tranh giai cấp để bảo vệ giai cấp của chàng. Không ai được phép bình phẩm chàng. Rất may, chàng đã chơi với trẻ con tiểu tư sản, thời ấu thơ. Chàng là người cộng sản có tâm hồn tiểu tư sản, là người có lòng. Chàng đang súng lên đạn, ngoài kia.
Người Luyến gặp thứ hai, là Vũ, người lính tiểu tư sản không một mặc cảm nào. Chàng chiến đấu ngoạn mục, sống vì người yêu, chết vì người yêu. Chàng nhập cuộc chiến chinh này cốt để xây dựng thị xã bị tiêu thổ kháng chiến, trồng lại hàng hồi hai bên dẫy phố chính và sống bên cạnh người yêu trọn đời. Chàng không bao giờ mơ ước làm anh hùng và trở về với vòng hoa chiến thắng đeo quanh cổ. Chàng lăn xả vào binh lửa, chẳng phải vì giai cấp này, giai cấp nọ. chàng nổi giận quân thù là bởi dân tộc. Có mang tiếng phục vụ giai cấp vô sản, cũng chẳng sao. Cái mục đích giải phóng thị xã Thái Bình mới cần thiết. Chàng sẽ giã từ vũ khí để nịnh bợ người yêu. Người lính tiểu tư sản ấy coi tất cả như một cuộc chơi. Lúc rã đám, chẳng cần tiền về đường. Chàng vẫn chơi chiến tranh và vẫn hát nhạc lãng mạn kháng chiến. Hình như, thời binh lửa, lá cũng ngập ngừng thương hoa, tại sao người không ngập ngừng thương người nhỉ? Người lại cố tình đá con người ra khỏi vòng chiến. Chàng đang bôn ba, ngoài kia.
Người Luyến gặp thứ ba, là Côn, người lính địa chủ lãng tử, không một mặc cảm nào. Chàng chiến đấu tuyệt vời, sống cho dân, chết cho dân. Bây giờ, chàng còn học Trường lục quân Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây. Chàng thuộc bài thơ Đôi mắt người Sơn Tây của lính tiểu tư sản Trần Quang Dũng, phiền muộn hơn cả bao giờ:
Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt mấy lần quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì [2]

Vầng trán em mang trời quê hương
Nắt em vời vợi buồn Tây Phương [3]
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương

Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng
Tôi cũng có thằng em nhỏ bé
Bao nhiêu rồi xác chết trôi sông

Từ độ thu về loang bóng giặc
Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn
Đất đá ong khô nhiều máu lệ
Em có bao giờ lệ chứa chan

Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều luân lạc
Buồn viễn xứ khôn khuây

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài sơn ngắm lúa vàng
Sông Đáy chậm buồn qua Phủ Quốc
Sáo diều vi vút giữa đêm trăng

Bao giờ ta gặp em lần nữa
Ấy lúc thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc mùa chinh chiến cũ
Còn có khi nào em nhớ ta

Tâm hồn chàng ướp chất lãng mạn. Chàng đi chinh chiến chỉ vì lãng mạn. Chànng đang phiêu hốt, ngoài kia.
Luyến thấy ba người bá vai nahu, cởi trần, vui vẻ bước đi...

116
Tháng 2, 1952, thị xã có điện. Mọi người thích thú. Không có công tơ riêng. Nhà máy điện cấp cho mỗi gia đình một ngọn 60 watts. Ai muốn dùng máy vô tuyến truyền thanh, báo cho nhà máy điện hay, nhà máy điện sẽ gắn thêm chỗ cắm điện. Nhà máy điện mở đèn lúc 7 giờ tối và tắt đèn lúc 11 giờ 30 đêm, vào lúc giới nghiêm. Dân thị xã bằng lòng lắm. Cái gì nó cũng từ từ đến. Mai này, gắn công tơ riêng, muốn thắp bao nhiêu ngọn đèn thì thắp, miễn là đủ tiền nộp nhà máy điện.
Nước máy còn lâu mới có. Phải ăn uống nước sông Trà Lý vài chục năm nữa. Nhà cửa đã bắt đầu xây dựng lại. Phố chính nhà gác hai ba tầng mọc lên nhiều. Tình hình an ninh đã sáng sủa. Những cuộc hành quân Trái Chanhm, Trái Quít thắng lợi lớn. Bên kia sông ổn định xong cả. Chỉ còn những trận đánh lác đác. Cách mạng thất bại. Quân Pháp thành công. Mười hai phủ, huyện đã đổ về thị xã buôn bán tấp nập. Dân thị xã vẫn để ước mơ vào kháng chiến, tuy kháng chiến đã chừng bước ở khắp nơi, thua lả tả. Lính Pháp, lính lê dương đã tung tăng ngoài phố. Lính da đen vẫn đông hơn, đi tìm y tá tiêm pê ni xi lin, chữa bệnh lậu, bệnh giang mai. Lính Bùi Chu - Phát Diệm đã hồi hương nên chấm dứt cảnh lính đánh nhau giữa phố. Sĩ quan và hạ sĩ quan pác ti dăng do Pháp động viên, ở Hà Nội, Quân khu 4 của tướng Nguyễn văn Vận, điều về Thái Bình khá đông. Ban tác động tinh thần của Quân khu 4 được ghé thị xã, đàn đúm, xướng ca cho lính pác ti dăng nghe. Nhìn bề ngoài, người ta thấy vùng tự do mờ dần, vùng tạm chiếm sáng lên, và thị xã Thái Bình khởi sắc. Ô tô Con Voi của ông Lê văn Định, chạy đường Thái Bình-Hải Phòng, đã đến Đống Năm rồi; chạy đường Thái Bình-Tân Đệ không bị ăn trái mìn nào. Cứ xem hành trình ô tô hàng là biết rõ an ninh vùng tạm chiếm.
Đọc thông cáo của nhà máy điện, những hiệu buôn ở phố Lê Lợi sang Nam Định ồn ào, chở máy truyền thanh về thị xã để nghe nhạc và tin tức. Ném những máy hát quay cót đi. Cứ phải thay kim, trở mặt đĩa luôn, thấy mệt. Máy vô tuyến truyền thanh bắt được các Đài Sàigòn, Đài Pháp Á, Đài Hà Nội, và cả Đài Cách Mạng nữa. Đài Hà Nội phát thanh tin tức, bình luận trực tiếp Đài Sàigòn, chỉ các chương trình văn nghệ mới tự do.
Luyến đã nghe hết các đài phát thanh. Về tin tức quân sự, hầu như không có gì. Mặt trận Thái Bình nặng hay nhẹ, chỉ người Thái Bình biết, dân torng nước ù ù cạc cạc. Báo chí thì đăng Thông cáo của Bộ tối cao chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp. Vô tuyến truyền thanh thì đọc Thông cáo của Bộ tối cao chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp. Chính phủ Bảo Hoàng không được phép loan tin chiến sự, dẫu là quân Bảo Chính!
Về văn nghệ, yếu ớt, chỉ chơi những vở kịch của các tác giả viết trước 1945. Hôm qua, gần tết, Đài Hà Nội diễn vở Lên đường của Hoàng Cầm. Nếu Pháp biết Bên kia sông Đuống, Đêm liên hoan của Hoàng Cầm, chắc đóng cửa Đài Phát Thanh Hà Nội! Về âm nhạc, toàn hát những bài lãng mạn tiền chiến. Những Văn Cao, Tô Vũ, Nguyễn văn Tý, Lê Thương, Nguyễn văn Thương, Dzoãn Mẫn... bê ra dùng liên tiếp, chán tai thính giả. Những bản nhạc kháng chiến, tác giả vào tề, đổi hết lời ngay. Rõ ràng, họ phản bội kháng chiến 1946-1950. Phản bội có mầu sắc tuyên truyền không công cho cách mạng. Nghe nhạc cũ, lời mới, dân chúng vẫn nhớ lời cũ chống Pháp tưng bừng. Và, dân chúng vẫn vọng về cách mạng mùa Thu. Nhạc mới lời mới thì quê hương cháy ngút trời. Ai làm cho quê hương mình cháy? Nhạc sĩ vùng tề sợ Pháp, không dám nói.
Ai qua miền quê binh khói
Nhắn giúp rằng nơi xa xôi
Tôi vẫn mơ tùm tre xanh ngát
Tim sắt se cảnh xưa hoang tàn
Bao nhiêu ngày vui thơ ấu
Bao nhiêu lều tranh yêu dấu
Theo khói binh lều tan tre nát
Theo khói binh lòng quê héo tàn
Ôi quạnh hiu ôi quạnh hiu
Làng quê khô héo
Luyến tình quê luyến tình quê hẹn sẽ trở về
Về quê xưa để sống êm đềm giấc mơ
Về quê xưa tìm bóng những ngày đã qua
Và say sưa cuộc sống bên ngàn lũy tre
Xa lánh cuộc đời khắt khe
trăm đau ngàn thương

Nhạc mới lời mới cũng học lãng mạn. Thời tiết, khí hậu, không gian, thời gian, con người không lãng mạn, nhạc khó mà lãng mạn.
Ngày nào một giấc mơ
Đây những đêm trăng mờ ai ngóng chờ
Khi áng mây thành thơ nhẹ gió đưa
Theo tiếng đàn thuyền mơ tìm bến xưa
Một chiều thu chiến chinh
Xuân ngát hương thanh bình say mối tình
Khi ánh trăng về vui đời thắm xinh
Bên dáng huyền thầm mơ lúc tuổi xanh
Nhớ những phút sống say sưa đêm nào
Trăng quyến đôi tâm hồn dìu về đâu
Nhớ những tiếng hát say sưa êm đềm
tuy vắng xa nhưng lòng còn xao xuyến
Nghẹn ngào niềm nhớ nhau
thương xót ai trăng sầu bên mái lầu
Hay đớn đau vì câu chờ kiếp sau
Trăng úa mầu lệ dang ướt ngàn sao

Ta đã có lãng mạn tiền chiến, lãng mạn cách mạng, lãng mạn kháng chiến. Mỗi thời đại, lãng mạn nó tỏa ra, bốc lên lãng đãng trên trời, dưới đất. Văn nghệ phản ảnh chính xác. Lãng mạn vùng tề là giả vờ lãng mạn. Luyến không chịu nổi văn nghệ vùng tề, cái thứ văn nghệ sợ hãi, khiếp nhược. Thì đành vặn Đài Pháp Á, nghe ca sĩ Ngọc Hà hát tiếng Nam, cũng như đọc văn sĩ Thanh Thủy viết văn giọng Nam.
... Mùa thu dzàng rơi là mùa lá dzàng tới
Mà lá dzàng tới khi tình thu dzừa khơi
Nhặt lá dzàng rơi
xem màu lá coòng tươi
Nghe chừng như đây màu tê tái...

Chán đài Bảo Hoàng, Luyến dò Đài Cách Mạng. Tin chiến sự thì ta thắng, địch thua. Không bao giờ ta thua, địch thắng. Thỉnh thoảng, địch rất đông, ta rút lui có trật tự. Pháp và cách mạng giống nhau. Nhạc chỉ rặt đấu tố địa chủ ác ôn, cường hào ác bá. Đâu rồi thuở lãng mạn kháng chiến, những bài hát như Quê hương anh bộ đội:
Nơi ấy có cánh đồng tắm nắng vàng tươi
bờ tre nhà tranh vách mới
Nơi ấy có cánh đồng mênh mông ngát hương
mùa lúa chín ngất tiếng ca khắp đường
Nhà anh có đàn em mắt ngây thơ má hồng
Những chiều cùng vui hát trên đường quê
em bé dắt trâu về
gia đình làng mạc yên ấm
tăng gia cầy cấy đời đời thanh bình
Nhà anh hai nếp vừa xinh
Đêm trăng lên cao và chiếu sáng mặt sân
góc vườn vẳng nghe tiếng hát vang lên
từ xóm giếng làng bên
vượt qua vườn dâu bãi mía
Em gái bên láng giềng đêm đêm kéo tơ
vụt nhớ đến phút mến thương
anh chàng xinh trai
Mùa thu một năm nào
em gái tiễn chàng trai ra đi
cầm tay mà không nói
Chân quay đi nhưng lòng vấn vương
nhìn xa xăm bao dặm đường
Ai đi lên đường
Ai ra sa trường
mắt quay về xóm cũ làng bên
chiều lên mờ trong khói súng
Nơi ấy nay vẫn còn mênh mông ngát hương
Đang chờ ngày về chiến thắng
[4]
Luyến nghĩ mình đã sống trong thời đại bất hạnh. Tin người? Không. Tin đời? Không. Tin báo chí? Không. Tin đài phát thanh? Không. Người nói dối, Đời nói dối. Báo chí nói dối. Đài phát thanh nói dối. Vì, chiến tranh. Chiến tranh là con thuồng luồng dữ dằn nhất. Nó đảo tung đất trời, làm thiện sang ác. Già cả bệnh hoạn, như cụ Hào Điển, còn bị tia sáng cực mạnh của thời đại khốn nạn nó chiếu vào, không từ một ai. Luyến mất một chân, chẳng hy vọng gì thời đại khốn nạn nó buông tha. Sống ngày nào, hãy biết ngày ấy. Như hôm nay, biết thị xã có điện, có vô tuyến truyền thanh, là mừng rồi. Ngay mai, có thể, thị xã có nước máy hay tiêu thổ kháng chiến lần nữa. Lại vui rồi lại buồn. Cứ như thế mà sống. Sống trong chiến tranh là sống tạm bợ. Cái cõi tạm không nói tương lai.
Luyến vừa hay tin gia đình Long hồi cư. Còn Long người bạn đá bóng của Luyến chết rồi. Long phá thối chết trận ở Duyên Hà. Nó gia nhập bộ đội năm 1949, đánh nhau hung hãn. Chỉ vì hung hãn, nó leo lên xe tăng bỏ lựu đạn xuống, bị ăn một tràng đại liên nát bét ngực. Hai tin chết chóc rủ nhau đến tìm Luyến. Một: Cụ Hào Điển, ông nội của Côn. Hai: Thằng Long. Cụ Hào Điển chết sầu thảm. Long chết vinh quang. Luyến an ủi phần nào, vì Long chết cho tổ quốc. Luyến có bạn đã hy sinh cho tổ quốc. Chết dần chết mòn, hòa bình còn những ai? Năm năm, biết bao thay đổi. Bạn bè Luyến bốn phương lưu lạc. Luyến què chân về thị xã, hứng cho bạn tất cả nỗi buồn trùm kín Thái Bình. Luyến đã ngồi im lặng hàng tiếng đồng hồ, hút thuốc lá, tưởng mộ Vũ Nhất Long. Con rồng thứ nhất bay vào hư vô rồi, con rồng tiếp nối là ai?
Luyến còn may chán. Ngọc yêu nó thuở nó không còn biết chờ đợi ai. Bất chợt, tình yêu tới. Như những câu thơ của cậu học trò Đào Sinh Sắc diễn tả:
Có một sớm con chim xanh tình ái
Vào hồn tôi trong giây phút đăm chiêu
Tôi cảm thấy lòng tôi đau tê tái
Vì từ nay tôi đã bắt đầu yêu

Luyến khác tâm sự Đào Sinh Sắc một chút. Lòng nó không đau tê tái, và nó cảm thấy lòng nó dạt dào thương mến.
- Anh Luyến, anh Luyến ơi!
Khoa tất tả bước vào, giọng nói ngập xúc động :
- Anh Côn đã... đã về...
Luyến ôm ghì lấy Khoa :
- Ở đâu, ở đâu?
Khoa cuống quýt :
- Ở nhà em. Anh Côn chờ anh đấy!


0
Phần sáu (tt)
Cuối thu đường đời
 
117
Ngày xưa còn bé, có lần tôi đã nói với Vũ trong cách mạng đang sôi nổi rằng: Tao chán mít tinh, biểu tình, hội họp, ca hát rồi. Tao chán nhi đồng, chán bác Hồ, chán hết cả rồi. Tao chán thằng Luyến nghịch ngợm, chán thằng Lộc pha trò nhạt phếch, chán thằng Long chuyên phá thối. Tao chán cả mày luôn.
Nếu cái chán của tôi, trừ đi tất cả, còn giữ lại chán mít tinh, chán biểu tình, chán hội họp, chán bác Hồ, thì mọi đổ vỡ của đời tôi sẽ không xảy ra, hôm nay. Nhưng mai, tôi chán bao nhiêu, rồi lại thích bấy nhiêu. Thế mới chết hết mộng ước của mình! Có lẽ, thời đại cuốn xoáy nghiệt ngã, đến nỗi những nhà đại trí thức còn lao đao, còn u mê nghiệp chướng, nữa là thằng nhóc như tôi. Cả nước say mê mít tinh. Cả nước say mê biểu tình. Cả nước say mê hội họp. Cả nước say mê gọi Hồ Chí minh bằng bác. Bác Hồ. Cụ già hơn Hồ Chí Minh ba bốn chục tuổi cũng Bác Hồ. Trẻ em cũng Bác Hồ. Người du học bên Pháp trở về như thạc sĩ Huy Thông, như tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường... hoan hỉ gọi Hồ Chí Minh là Bác. Bác Hồ vĩ đại của dân tộc. Nhạc sĩ nào biết Hồ Chí Minh bôn ba hải ngoại ra sao mà ca ngợi Cha Hồ:
Hoàn cầu vang danh Cha chúng ta Hồ Chí Minh
Một đời gian khó hy sinh luôn đấu tranh
Hận thù nung gan im máu sôi đời nổi trôi
Nhìn xa xăm mắt đăm đăm trông phía trời
80 năm qua trong lầm than sông núi ơi
Dưới ách nô vong thắt tâm can vì non nước
Tấm than cô đơn phong trần bôn ba khắp nơi
Tự do vinh quang chung lòng vun cho giống nòi
Thu nao Cha về
Hoa sao rừng người
Hồng vàng tươi thắm nước Nam reo vui
Dân tin Cha Hồ
Kính yêu muôn đời
Con thuyền Việt Nam phó trong tay Người...

Thi sĩ nào biết Hồ Chí Minh làm cách mạng ra sao mà ca ngợi mặt Người như nước Việt:
Hồ Chí Minh mặt người như nước Việt
Thấm thía mang một sức sống phi thường
Vừng trán rộng Trường Sơn trong sớm biếc
Mắt tinh anh sâu thẳm Thái Bình Dương
Và hồn Người hồn Việt Nam thuần túy
Ôi đơn sơ lời nói cảm rung sao
“Bởi không muốn làm tên dân nô lệ
Nên tôi làm cách mạng bấy nhiêu lâu
Lũ chúng tôi ít nhiều đều đứt rễ
Mang nỗi buồn thế hệ ở trong tâm
Dân tộc tôi đã từng phen ngạo nghễ
Ngoảnh mặt lên cao trời lệch đất gầm”
Và Người đó Hồ Chí Minh bề thế
Vẫy vùng bơi giữa biển cả gian nan
Hồ Chí Minh chỉ Người là có thể
Đưa con thuyền tổ quốc đến vinh quang

Nhạc sĩ, thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ đua nhau suy tôn Hồ Chí Minh, từ ngày Cha già mới về. Trí thức trong nước, trí thức ngoài nước khiêng Hồ Chí Minh, thổi bong bóng lên tận trời xanh. Tôi chán, rồi lại không chán. Tâm hồn tôi hồi đó dễ mở rộng, đón nhận bất hạnh và hữu hạnh, khác hẳn bây giờ, khép kín mít những phản bội vào thêm lần nữa. Các bạn có phẫn nộ khi bị công khai lừa dối không? Để chuyện phản bội lại, tôi sẽ kể sau. Tôi mê độc lập khi thực dân Pháp chiếm miền Nam Bộ. Chắc Luyến còn nhớ, những đêm thị xã thức trắng, Vũ thổi ác mô ni ca và chúng ta hát những bài với địa danh xa lạ tận miền Nam để căm thù giặc Pháp.
Pháp chiếm miền Nam, chúng ta còn căm thù buốt ruột, huống chi nó chiếm miền Bắc, chúng ta căm thù nó dường nào?
Mất thủ đô Hà Nội, dân chúng phải tản cư về nông thôn. Hồ Chí Minh, sau khi tàn sát các đảng phái, hô hào toàn dân đoàn kết kháng chiến chống thực dân Pháp. Các bạn nghe rõ sáu chữ toàn dân đoàn kết kháng chiến và nhớ kỹ. Hồ Chí Minh nhờ có Pháp thực dân, nổi vun vút như một lãnh tụ chống xâm lăng vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
Thị xã Thái Bình tiêu thổ kháng chiến vì yêu nước quá, vì muốn trở thành Stalingrad, quê hương Nga xô viết của Hồ Chí Minh. Tôi chưa hiểu quê hương Liên xô và Hồ Chí Minh, lúc ấy.
Các nhạc sĩ, thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ và trí thức chưa hiểu nổi chăng? Và, mù tịt chuyện Khái Hưng [5] bị chết dìm trên sông, Lan Khai [6] bị cho vào rọ thả trôi dưới nước! Bởi chưa biết, hay bọn trí thức hèn hạ, bọn nghệ sĩ nham nhở vào hùa tâng bốc Hồ Chí Minh, lừa dối chúng ta, những trẻ dại khờ, chưa biết gì thật sự. Chúng nó coi Hồ Chí Minh như Chúa Giê xu.
Phạm Duy ngon cái miệng... Khi ngừng chờ gió đến, Bên bờ dòng nước trong. Ôi, tường chừng đây đó, Cha Già vọng trời Đông. Nó Cha Già khắp nơi... Bên đây là phía tự do, vẫn được Cha Già làm toàn dân ấm no. Còn nhiều nữa. Khi chúng ta rõ công ty bịp bợm Hồ Chí Minh làm chủ, và trí thức, nghệ sĩ làm công nhân; chúng ta nghĩ sao đây?
Tiêu thổ kháng chiến xong, tôi về Ô Mễ sống nồng nhiệt hơn năm tổng khởi nghĩa. Bố tôi là một địa chủ lãng tử, không biết có bao nhiêu ruộng và bán bao nhiêu, còn lại bao nhiêu. Bố tôi, một tay ăn chơi ở thị xã, chẳng phiền chi ai. Dạo thầy Trần Cao Đàn bị Nhật bắt hụt, bố tôi thận trọng yêu nước. Đến ngày tản cư về làng, bố tôi bị ăn bùa mê cháo lú của Cách Mạng hay sao ấy, bố tôi bốc đồng, biến căn nhà ba tầng thành quán trọ của cán bộ Chính phủ dân chủ cộng hòa. Tôi có dịp gặp nghệ sĩ nổi tiếng Hà Nội. Và, cán bộ cấp cao. Tố Hữu, chẳng hạn. Chính Tố Hữu đã khuyên tôi đủ tuổi vào Trường lục quân Trần Quốc Tuấn trên Sơn Tây mà học. Học lớp sĩ quan cho hách. Ba năm trời tiếp đã cán bộ, không biết bay đi bao nhiêu mẫu ruộng, bố tôi chẳng để ý. Người ta khuyến khích bố tôi nâng đỡ nghệ sĩ cải lương. Bố tôi bèn làm chủ gánh hát Thống Nhất, đi lưu diễn khắp vùng. Tôi có dịp sang Đống Năm gặp Luyến chuyện trò. Luyến nhớ chứ? Tôi thấy Luyến mê học, không thích nói về cách mạng, không ham vào bộ đội. Tôi bất bình. Bạn thân Monguillot của tôi như Vũ đã đi liên lạc viên, như Long, Lộc đã gia nhập bộ đội. Người nào cũng hiểu trách nhiệm của mình trong buổi chống thực dân xâm lăng. Lê Huy Luyến nghịch ngợm đã hết nghịch ngợm, trở nên ông cụ non thích triết lý vặt. Hình như, thời đại này, bước chân của chúng ta như bước chân phù thủy, đi rất xa và bước rất nhanh. Bây giờ, tôi hiểu triết lý sống của Luyến vững chắc vô cùng. ít ra, Luyến chẳng bị cách mạng phản bội.
Cuối 1949, trước khi đi Sơn Tây, tôi có đến Tường An thăm gia đình em Khoa. Bấy giờ, tôi hơi sợ. Các bạn biết tôi sợ gì không? Tôi sợ bạn bè xa nhau, xa thật lâu, và lớn lên, lớn thật mau, chắc sẽ ngỡ ngàng, lạnh nhạt. Không ngỡ ngàng, lạnh nhạt gì cả. Tôi mừng lắm.
Vừa mới tới Sơn Tây, tôi được tin Pháp chIếm Thái Bình. Bố tôi nói, hôm gặp lại tôi, bố tôi hồi cư thị xã, hai tuần sau, cả gia đình tôi vào Hà Nội. Bố tôi nhục nhã, không dám ở Thái Bình hồi sa sút nữa. Bố tôi ôn lại dĩ vãng, chợt tỉnh ngộ, vì biết cách mạng cho vô tròng. Cách mạng đã rút hết ruộng đất của bố tôi, biến địa chủ lãng tử thành bần cố nông tay trắng mà vẫn bị đấu tố vì quá khứ của mình.
Ông nội tôi đã khuyến cáo, bố tôi không nghe. Các bạn hãy tưởng tượng xem, thằng Tố Hữu đã nghĩ gì khi ăn uống ê hề ở nhà tôi? Chắc nó cười mục mả bố tôi?
À, tôi nói về đi học Trường lục quân Trần Quốc Tuấn cho các bạn nghe... Đầu năm 1950, trường mở khóa mới. Tôi đến đúng dịp. Số đen đến với tôi, không học lục quân mà học đấu tranh giai cấp. Trước khi đấu tranh giai cấp, tôi phải phân loại giai cấp trong xã hội Việt Nam. Có tưng đây giai cấp: Giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp vô sản, giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản.
Có một Đảng ra đời để lãnh đạo giai cấp đấu tranh, gọi là Đảng lao động, thực ra, chính nó lả Đảng cộng sản do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Các bạn khỏi gọi nó là cách mạng, là Việt Minh nữa. Cứ gọi đích danh là CộNG SẢN.
Phân loại giai cấp xong, tôi phải nhặt thành phần mà định giai cấp của nó. Thợ nhà máy điện, thợ sửa ô tô, thợ nhà máy nước, thợ làm gạch ngói... thuộc giai cấp công nhân. Phú nông, trung nông, bần cố nông thuôc giai cấp nông dân. Không có nghề nghiệp, học hành, tiền bạc thuộc giai cấp vô sản. Tỉ phú, triệu phú, trọc phú, buôn bán giầu có, địa chủ ác ôn, cường hào ác bá thuộc giai cấp tư sản. Trí thức tiêu cực, trí thức làng nhàng thuộc giai cấp tiểu tư sản. Trí thức tích cực, trí thức yêu nước không có giai cấp riêng biệt, có thể cho vào giai cấp vô sản. Công nhân vốn ít hơn nông dân nên gộp chung giai cấp công nhân và giai cấp nông ndân thành giai cấp công nông. Công nông với vô sản là một, nên gọi là giai cấp vô sản. Giai cấp vô sản là cộng sản đấy!
Quê hương của người cộng sản không phải nước Đức của Karl Marx và nước Anh của Friedrick Engels, mà là Liên xô của Vladimir Ilttch Lénine và Joseph Staline. Quê hương của người cộng sản Hồ Chí minh không phải nước Việt Nam. Bởi thế, Hồ Chí Minh mới ra lệnh tiêu thổ kháng chiến thị xã Thái Bình, biến thị xã thành Stalingrad để nịnh hót Liên xô.
Các bạn biết tôi, Đặng Xuân Côn, thành phần gì, giai cấp nào? Thưa các bạn, tôi thành phần địa chủ ác ôn, giai cấp tư sản! Giai cấp của tôi là kẻ thù không đội trời chung với giai cấp vô sản.
Giai cấp vô sản có Đảng công sản đầy đủ pháp luật và thừa thãi vũ khí, tàn sát giai cấp tư sản chỉ có nước chết. Ôi, các bạn nghĩ xem, từ bốn nghìn năm nay, có ai chia rẽ tình người một cách thâm hiểm như cộng sản? Chúng ta sinh ra để sống hòa thuận với nhau, dù hạnh phúc hay không hạnh phúc. Cuộc đời chỉ có hạng giầu và hạng nghèo. Giầu vì được Trời thương và chăm chỉ làm việc. Nghèo vì chưa được Trời thương và lười biếng làm việc. Oán ức thì nhìn lên Trời than vãn. Trời phán một câu: Ai giầu ba họ, ai khó ba đời. Nghèo đã thỏa mãn rồi, chăm chỉ làm việc, Trời sắp cho giầu đến nơi. Cộng sản muốn hơn Trời, khác Trời. Cộng sản phán: Này, anh chị em bần cố nông thân mến, tại sao anh chị em nghèo khổ, không có cơm mà ăn, không có áo mà mặc, không được làm người vậy? Đó là bọn địa chủ gian ác đã bóc lột anh chị em, năm này qua tháng nọ. Nó không bóc lột hiện tại, đã bóc lột quá khứ. Phải thẳng tay đánh đập chúng nó, của ta làm ra phải trở về ta. Bần cố nông không thích đấu tố địa chủ, cộng sản bắt phải đấu tố, phải học đấu tố.
Nhạc, thơ và chính trị ngày nào cũng nhét vào lỗ tai bần cố nông. Riết rồi, họ căm thù địa chủ thật sự. Người này thù người nọ. Người nọ thù người kia. Cả nước thù lẫn nhau. Vì giai cấp. Cộng sản sinh giai cấp và bắt thù hận. Giai cấp, nói theo Vũ thuở tiểu học, là cái củ thìu biu. Thời đại có cộng sản nó đẻ ra gian dối và hận thù. Chúng ta đã chiến đấu cho công sản, chứ không cho dân tộc. Cộng sản đã loại bỏ Vệ quốc đoàn, thành lập Quân đội nhân dân đấy, các bạn ạ! Lính giai cấp tiểu tư sản đã bị lính giai cấp vô sản đá cái vèo. Thế mà Hồ Chí Minh gian dối bảo là toàn dân kháng chiến.
Hồ Chí Minh mong mỏi từ ngót năm năm phải có ngày được tuyên bố cuộc kháng chiến này của riêng cộng sản và chỉ cộng sản mới lãnh đạo thành công. Toàn dân ra rìa. Cộng sản dã dọn trước một lối đi. Giảo quyệt thật. Chúng ta sẽ hứng chịu chia rẽ và hận thù. Anh em mình chơi với nhau thân thiết, biết giai cấp là gì! Cộng sản còn tuyệt đối cấm con người yêu thương gia đình. Tôi đã đọc báo Văn Nghệ, tường thuật lễ mãn khóa lớp chỉnh huấn, và tôi bất bình giùm thi sĩ Yên Thao. Các bạn đọc bài thơ Nhà tôi chưa nhỉ? À, còn nhiều thì giờ chán, tôi đọc cho các bạn nghe:
Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng địch đóng
Làng tôi đầy xạm đen mầu huyết đọng
Tre cau buồn ủ rũ ướt mưa sương
Mầu trắng vôi lồm lộp mấy khung tường
Nếp đình xưa người hỡi đau gì không
Tôi là anh lính chiến
Rời quê hương từ độ máu khơi dòng
Buông tay gầu mơ lại thuở bình Mông
Ghì nấc súng nhớ ôi ngày đắc thắng
Chân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dậm
Áo nào không phai bạc chút mầu xưa
Đêm hôm nay tôi trở về lành lạnh
Sông sâu buồn lấp lánh sao lưa thưa
Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ
Tuổi chớm đôi mươi cưới buổi dâng cờ
Má trắng mịn thơm thơm mùa lúa chín
Ai ra đi mà chẳng từng bịn rịn
Rồi chia ly nào đã mấy ai vui
Em lặng buồn trong giây phút chia phôi
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ
Tôi còn người mẹ
Tóc đã ngả mầu bông
Tuổi già non thế kỷ
Lưng còng chĩu nặng kiếp long đong
Nắng mưa từ độ tang chồng
Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon
Thôi xa rồi mẹ ơi
Cơ chừng chợt tỉnh đêm vơi
Nghe ròn tiếng súng nhớ lời chia ly
Mẹ ơi con mẹ tìm đi
Bao giờ hết giặc con về mẹ vui
Đêm nay lành lạnh
Sông sâu buồn lấp lánh sao lưa thưa
ống quần nâu đã vá mụn giang hồ
Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
Làng tôi đó bên trại thù quạnh quẽ
Trông im lìm như một nấm mồ ma
Có còn không em hỡi mẹ tôi già
Những người thân yêu khóc buổi tôi xa
Tôi là anh lính chiến
Theo đoàn quân về giải phóng quê hương
Mái đầu xanh bụi viễn phương
Bước chân đất đạp xiêu dồn lũy địch
Này anh đồng chí
Người bạn pháo binh
Đã đến giờ chưa nhỉ
Mà tôi nghe như trại giặc tan tành
Anh rót cho khéo nhé
Kẻo nhằm trúng nhà tôi
Nhà tôi ở cuối thôn Đoài
Có giàn thiên lý có người tôi yêu
[7]
Tố Hữu, cái thằng ăn dầm ở dề nhà tôi ấy mà, người cộng sản chống tiểu tư sản đã đành, còn chống luôn tình cảm tiểu tư sản, văn nghệ chiều hướng tiểu tư sản, nhãn quan tiểu tư sản. Tình cản của người tư sản đơn giản thôi. Có biết yêu làng mới biết yêu đất nước mình. Có biết yêu nước mình mới biết yêu thế giới. Có biết yêu cha mẹ mình, vợ con mình, đồng bào mình mới biết yêu nhân loại. Như thế, khác hẳn người cộng sản Tố Hữu không yêu ai, không yêu cái gì, mà chỉ yêu quốc tế, làm nghĩa vụ quốc tế. Bởi vì, người cộng sản không cha mẹ, không vợ con, không anh em, cao thượng một cách giả hình:
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh vạn mái đầu em bé
Không áo cơm cù bất cù bơ
[8]
Người cộng sản Tố Hữu là con của vạn nhà bất lương, là em của một vạn con đĩ, là anh của một vạn thằng ăn cắp, móc túi. Tố Hữu đã mượn uy thế lãnh đạo văn nghệ để phê bình Yên Thao cạn tầu ráo máng. Không nhắc tới tình thương mẹ, tình yêu vợ của Yên Thao, Tố Hữu chỉ đem Nhà tôi đánh nát tình cảm tiểu tư sản. Anh sợ đạn rớt lầm nhà anh thôi à? Còn nhà nhân dân, nhà giai cấp vô sản, nhà cộng sản, anh không thèm chú ý. Rõ là thi ca tiểu tư sản ích kỷ và xa rời tình tự giai cấp!
Các bạn của tôi ơi, tôi đã ghê tởm cộng sản, tôi nhìn đâu cũng toàn cộng sản giả hình. Tôi đang nói chuyện của tôi, lại quàng sang chuyện văn nghệ, đọc thơ Yên Thao. Có lẽ thù hận làm tôi điên rồi! Tôi tiếp tục nốt chuyện tôi. Các bạn cảm phiền nhé!
Đến đâu rồi nhỉ? À, học tập chia giai cấp và xếp thành phần, tôi biết tôi là địa chủ ác ôn! Lính giai cấp nông dân không chấp nhận sĩ quan địa chủ. Tôi cảm thấy sắp rắc rối to, vội trốn về Hà Nội ở với ông bác. Tôi gặp bố tôi ở đây.
Bị sốt rét rừng, Tôi nằm chữa bệnh mất mấy tháng. Tôi định không bao giờ trở lại Thái Bình khi mình mẩy sưng lên những mụn thất bại. Ông tôi đã bị cộng sản sát hại ghê tởm. Ông tôi chết thảm không phải địa phương làm sai đâu, mà nằm trong chính sách của Đảng cộng sản. Tại sao cộng sản đi bắt một ông già mù lòa nằm trong cái rổ xề để ông ấy đói khát chết dần? Tại sao? Tại sao? Truy nguyên ra, ông tôi đảng viên cao cấp của Việt Nam quốc dân đảng, thời Nguyễn Thái Học. Khi Nguyễn Thái Học và các dồng chí lên đoạn đầu đài, ông tôi chán nản, vì tinh hoa của Việt Nam quốc dân đảng chết hết cả rồi. Ông tôi ngưng hoạt động, tuyên bố công khai về quê làm ruộng và quên hết chuyện đời. Mọi người đều tin thế. Cộng sản không tin thế. Với cộng sản, đã là Việt Nam Quốc Dân đảng, sẽ mãi mãi là Việt Nam Quốc Dân đảng. Đảng viên của bất cứ một đảng nào ở Việt Nam, chỉ thanh trừng, không có hồi hưu! Cộng sản chưa giết ông tôi vì chưa muốn giết. Thế thôi. Thời đại tranh tối tranh sáng, Vũ Hồng Khanh trốn về Hà Nội làm Bộ trưởng Thanh niên, cộng tác với Bảo Đại; Phạm Phan Côn làm tới chức vụ Giám đốc... Họ đều là Việt Nam Quốc Dân đảng, đàn em của ông tôi. Cộng sản giết ông tôi để cảnh cáo Việt Nam quốc dân đảng sắp ùn ùn cộng tác với Bảo Đại.
Chao ôi, giết một người già nua, mù lòa trong cái rổ xề, phơi giữa cánh đồng, cộng sản vẫn nhận là tinh hoa của loài người. Thế đấy. Cộng sản quên những tháng năm ăn dầm năm dề ở nhà con trai người già nua, mù lòa! Vô nhân đạo, vô nhân đạo. tội ác của cộng sản múc hết nước sông Trà Lý rửa không sạch. Bố tôi được tin ông tôi bị cộng sản sát hại, mang tiếng bất hiếu, không dám về Ô Mễ.
Tôi phải về. Về tận Ô Mễ. Ôm lấy huyệt mộ ông tôi. Cho hận thù ngập trái tim. Tôi, bây giờ, những người không kháng chiến là bạn tôi; những người kháng chiến cho cộng sản là kẻ thù tôi, đồng lứa cộng sản. Lập trường dứt khoát. Cộng vản đưa tôi vào con đưòng máu duy nhất. Là chiến đấu tiêu diệt cộng sản...

118
Luyến, Ngọc và Khoa ngồi im lặng hàng tiếng đồng hồ. Không cắt ngang câu chuyện, không thắc mắc điều chi. Cứ mặc Côn diễn thuyết trước ba người thân yêu. Nói dài. Nói lung tung. Kệ Côn. Luyến im lặng, kính trọng nỗi đau khổ của Côn. Luyến hiểu đang cùng cực trong nỗi khổ, Côn cần phải nhả ra cho vơi bớt những phiền tủi, đau đớn chứa chất trong lòng. Côn có tâm sự cay đắng. Sự cay đắng làm vàng võ một đời người. Luyến vẫn để dành những giọt nước mắt cho Côn. Nếu nó bị cuộc đời xua đuổi. Côn đã bị cách mạng xua đuổi. Côn đã bị cộng sản, theo ý Côn, xua đuổi. Năm năm trời, Côn cũng giống Vũ, giống Long, giống Lộc, đem hết nhiệt tình dâng cách mạng. Khốn nỗi, cách mạng lại dối gạt Côn, lừa đảo niềm tin của Côn. Để bây giờ, Côn đâm ra thù hận cách mạng. Chẳng có cách mạng cách mung, Việt Minh việt meo gì hết. Cách mạng giả hình đã hiện nguyên hình cộng sản. Côn nghĩ thế. Có lẽ đúng. Cuộc đời bao la. Công sản bé nhỏ. Cuộc đời chưa xua đuổi, không xua đuổi Côn. Luyến vẫn để dành những giọt nước mắt khóc Côn.
Từ ngày về thị xã, Luyến trải thân mình rộng ra như tấm da thú, chịu đựng bao nhiêu mũi tên tẩm thuốc độc oan nghiệt bắn vào. Những mũi tên đó, Luyến tưởng đã là khủng khiếp của thời đại chiến tranh. Nó bị xóa mờ đi, khi Côn đề cập giai cấp trong chủ nghĩa cộng sản. Phân chia giai cấp để chia rẽ tình người, để con người thù hận con người, để dân tộc chém giết nhau. Và ly tán. Chả biết đấu tranh giai cấp có lợi gì cho cộng sản? Chỉ biết con người đã nghi kỵ con người, đã căm phẫn con người, đã đề phòng con người. Vì, sắp có đấu tranh giai cấp, máu sẽ như nước lũ, ào ạt chảy tự rừng núi xuống đồng bằng. Giai cấp là trò chơi khốn nạn nhất của cộng sản.
Dân Thái Bình đã chết đói cơ man, đã chết bom đạn vô số, lại sắp chết giai cấp đấu tranh, nếu cộng sản giải phóng Thái Bình. Chưa thấy bần cố nông đấu tố địa chủ ác ôn. Đã thấy con địa chủ hốc hác, già đi, tưởng chừng quên thời tuổi vàng hoa mộng vì học tập chia giai cấp, phân loại thành phần và hiểu mình thuộc thành phần nào, giai cấp nào. Luyến không ác cảm với cộng sản, nhưng phân chia giai cấp, Luyến phẫn nộ. Và thương Côn.
Chiều tối hôm qua, Luyến đến nhà Khoa gặp Côn. Luyến bàng hoàng thấy Côn già đi nhiều quá. Đặng Xuân Côn hôm nay khác hẳn thằng Côn năm xưa. Năm xưa, thằng Côn thắc mắc độc lập là gì, thực dân là gì, phát xít là gì, Việt gian là gì, thì thằng Luyến đíu thắc mắc, cứ nằm một chỗ chơi; rủ đi nghịch ngợm, thằng Luyến đi liền. Thằng Côn chê thằng Luyến nhút nhát, sợ hãi Nhật lùn. Bảy năm rồi, Côn mới tiếc giá như Luyến. Mỗi người có một đời. Côn tiếc làm chi. Luyến kể chuyện thị xã những tháng năm vắng Côn, Vũ, Long, Lộc. Nó khôi hài mất một chân. Côn cười. Luyến không quên nói với Côn những gì xảy ra cho nó và Ngọc. Hai đứa yêu nhau và sẽ cưới nhau. Côn không xúc động, chúc Luyến và Ngọc hạnh phúc suốt đời. Chỉ muốn làm cho Côn ngạc nhiên, nên còn dấu thằng Vọng ghẻ tầu. Luyến dặn Khoa đừng nhắc gì tới Vọng, cả cha mẹ Khoa nữa. Cứ để mặc Côn tưởng Vọng đã chết đói năm Ất Dậu.
Sáng nay, Luyến mời Côn về nhà mình. Có Ngọc và Khoa.
- Nói nữa đi, anh Côn! Nói nhiều cho ẩn ức nó trào ra, mình sẽ hết ẩn ức.
Ngọc tha thiết đề nghị.
- Nhiều ẩn ức lắm, Ngọc ạ! Chẳng bao giờ hết nổi. Họa khi nào cộng sản chết hết.
Côn buồn rầu trả lời.
- Ai cũng có niềm ẩn ức. Anh Luyến ẩn ức hơi nhiều. Nhờ anh chịu suy nghĩ và viết lên giấy, ẩn ức của anh vơi đi. ẩn ức trong cuộc đời còn mãi. Anh Côn biết không, từ Luyến nghịch ngợm đến Luyến cụt chân, bây giờ anh ấy định cư ở Luyến tiểu thuyết.
Ngọc vui vẻ nói.
- Mày viết văn đấy hả, Luyến?
Côn hỏi.
- Đang tập viết.
Luyến đáp.
- Anh Luyến đinh viết cuốn Cầu Bo trầm lặng. Cầu Bo, chứng tích lịch sử của Thái Bình.
Khoa nói.
- Có thể, mày sẽ hay hơn các nhà văn nổi tiếng tiền chiến. Chưa ai dám nghĩ viết cuốn tiểu thuyết lịch sử về tỉnh mình đâu, Luyến ạ!
Côn nói.
- Luyến cụt chân hết làm Luyến nghịch ngợm, tất phải năng suy nghĩ. Luyến bây giờ làm việc bằng đầu óc. Làm việc bằng đầu óc không ai bì nổi, dẫu họ có trăm ngàn tay chân.
Côn nói.
- Anh thấy chưa, Luyến. Em nói có sai đâu. Anh Côn cũng bảo Luyến đầu óc mà...
Ngọc thích chí khoe.
- Biết viết văn là nhất rồi. Mình có thể bỏ tù Hồ Chí Minh vạn vạn năm. Trong tù, Hồ Chí Minh sẽ than: Bầy trò phân chia giai cấp là hèn, đốn mạt. Người ta sinh ra để được sống no ấm bên nhau, chứ đâu phải để thù nhau, ghét nhau.
Côn nói.
- Thời đại sẽ xoay vần, nghiến nát cộng sản. Chúng ta nên chờ đợi, vì chúng ta chống sao nổi thời đại. Cộng sản, tư bản đang chiến tranh lạnh. Cả hai đều là những con ốc của thời đại được dịp múa may quay cuồng. Hết dịp thì chỉ là sắt vụn rỉ, chả ai thèm biết tới. Thử nghĩ xem, ai mạnh bằng Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn, chiếm từ Á sang Âu. Người thù của mặt trời Thành Cát Tư Hãn đi tìm mặt trời để giết, vì mặt trời cứ tối, làm quân Mông Cổ phải dừng chân nghỉ ngơi, không tung vó ngựa đi chinh phục được. Sau Thành Cát Tư Hãn là gì? Một miếng đất cằn cỗi, thiếu nước, nghèo khổ cho dân Mông Cổ. Thời đại nó xoay, ai ngờ được. Ai mạnh bằng đế quốc Babylone, La Mã? Thời đại nó xoay, Babylone chìm xuống biển, La Mã bị lãng quên, không biết tên nước nữa. Ấy đó, thời đại luôn luôn xoay vần. Ai giỏi hơn Hitler, ai khỏe hơn phát xít Đức, Nhật? Thế mà cũng tiêu. Cộng sản đang ở chu kỳ rực rỡ, nó sẽ leo cao tuyệt đỉnh, rồi sẽ xuống đất đen. Cần gì phải bỏ tù Hồ Chí Minh?
Luyến nói.
- Mày là nhà văn, mày có quyền nghĩ xa xôi, làm việc xa xôi. Tao là chiến sĩ, chỉ nghĩ đến chuyện trước mắt. Và, trước mắt tao đang lù lù mấy thằng cộng sản. Giết nó đi, khỏi chờ thời đại xoay vần.
Côn nói. Rồi im lặng. Luyến đốt thuốc lá. Côn cũng vậy. Hai đứa cùng nhả khói và nhìn nhau, cùng cười.
- Giá, có thằng Vọng nhỉ?
Luyến nói.
- Nó chết rồi. May cho nó. Nếu nó còn sống, nó sẽ là kẻ thù của tao. Bố nó công nhân. Chết vẫn để lại giai cấp! Mẹ nó người bán hàng rong. Vọng thuộc giai cấp vô sản. Tao thành phần địa chủ ác ôn, giai cấp tư sản. Hai giai cấp đánh nhau. Phần chết sẽ về tao.
Côn nói.
- Khi nó chơi với chúng mình, nó có biết giai cấp là gì không? Thằng Vũ, con ông buôn bán hàng chuyến giai cấp gì? Thằng Long, con ông bán hàng sắt, giai cấp gì? Thằng Lộc, con ông chủ hiệu xe đạp, giai cấp gì. Mày giai cấp gi? Tao giai cấp gì? Mà vẫn chơi với nhau khắng khít.
Luyến nói.
- Dạo ấy, chưa có cộng sản.
Côn nói.
- Mày nghi oan cho thằng Vọng rồi, Côn ạ!
Luyến nói.
- Không oan, nếu nó còn sống.
Côn nói.
- Anh Vọng vẫn còn sống, anh ạ!
Khoa nói.
- Nó chết rồi mà.
Côn nói.
- Tháng 11, 1950, anh ấy còn đóng quân ở làng em. Bây giờ, chắc anh ấy đã đổi đi nơi khác.
Khoa nói.
- Vọng còn sống, lạ nhỉ.
Côn nói.
- Không lạ đâu. Khoa kể chuyện anh Vọng cho anh Côn nghe đi.
Luyến nói.
Khoa thuật từ đoạn Vũ, Côn, Luyến, Long, Lộc đem cơm bánh đến cứu Vọng. Lần này, không bị người đói cướp giật. Vào đến nhà, không có Vọng, chỉ thấy mẹ Vọng đã chết. Tất cả đều cho là Vọng chết giúi ở chỗ nào. Thực ra, cách đấy ba ngày, thầy Nguyễn Công Hoan sai người đến cứu Vọng, đem Vọng xuống Tiền Hải. Từ đó, Vọng học làm cách mạng. Vì bận nhiều việc, Vọng không về thị xã. Cho đến tháng 9, 1950, Vọng về Tường An, làm chính ủy trung đội và khuyên gia đình Khoa vào thị xã, càng nhanh càng tốt. Nếu gia đình Khoa ở lại, Vọng đi khỏi, bộ đội mới về, có thể sai chính sách, thi hành lầm, gia đình Khoa sẽ gặp nhiều oan trái. Khoa nói ba người thương Vọng nhất trên đời là Vũ, Côn, Luyến. Vọng đã khóc. Vọng bắt Khoa kể chuyện đá bóng năm xưa, hỏi Vũ, Côn, Luyến ở đâu, làm gì. Vọng mừng khôn tả. Vọng có tên mới: Kỳ Bá. Vọng bảo Khoa muốn gọi là Vọng hay Kỳ Bá cũng đưọc. Khoa vào thị xã cuối năm 1950. Vọng từ biệt Khoa và hứa gặp Khoa ngày giải phóng thị xã.
- Thầy Nguyễn Công Hoan dạy Vọng làm cách mạng à?
Côn hỏi.
- Vâng.
Khoa đáp.
- Nguyễn Công Hoan là tổ sư cộng sản, dạy thằng Vọng làm tổ sư cộng sản. Nó đi lính tới chức chính ủy, nó phải vào Đảng cộng sản. Phải không, em Khoa?
Côn chua cay hỏi.
- Vâng, anh ấy là đảng viên Đảng cộng sản.
Khoa bình tĩnh đáp.
- Giai cấp vô sản lại đảng viên Đảng cộng sản, thôi Khoa, anh không muốn nghe chuyện thằng ghẻ tầu nữa. Quên nó đi. Anh hết thương nó rồi. Cả ông Nguyễn Công Hoan. Bây giờ, gặp cộng sản ở đâu, chỉ có đạn bắn trúng tim chúng nó. À, anh còn trả thù cho thầy Đàn nữa. Thầy đã bị cộng sản thủ tiêu rồi. Như Khái Hưng, Lan Khai...
Côn nói rất tàn bạo. Khoa há miệng chưng hửng. Ngọc ngạc nhiên. Luyến nhìn Khoa, thầm bảo Khao đừng nhắc Vọng lúc này. Luyến hiểu côn căm thù cộng sản muốn phát điên. Ai ở trong trường hợp Côn cũng giống Côn hết. Mắt Côn đỏ lên, long lanh thù hận :
- Không thể Bạn và Thù lẫn lộn được. Chúng ta cứ để Thù là Bạn chúng ta mãi, ngày kia, Thù sẽ cắt cổ chúng ta. Chúng ta lớn rồi, hiểu biết rồi, chúng ta là Quốc Gia. Thằng Vọng lớn rồi, khôn gấp bội chúng ta, thủ đoạn gian manh đầy người, thằng Vọng là Cộng Sản. Lời nói của cộng sản chỉ là đãi bôi. Nước mắt cộng sản chỉ là nước mắt cá sấu. Các bạn tin vào lời nói của thằng Vọng ư? Các bạn tin vào nước mắt của thằng Vọng ư? Tôi không tin, ngàn lần không tin thằng cộng sản đó. Với tôi, chỉ có sống hay chết trong chiến đấu diệt cộng sản.
- Côn ơi, mày và tao lên cầu Bo chơi. Tao sẽ nói tại sao tao muốn viết văn.
Luyến nháy mắt. Ngọc đứng dậy xin phép về đi chợ. Khoa nói có hẹn với thằng bạn sang Bồ Xuyên, sáng nay. Luyến đã chống nạng.
- Ừ, lên cầu Bo.
Côn và Luyến bước trên phố chính. Hai đứa không nói năng gì. Sự im lặng, một bước dài heo hút, ngăn cách giữa hôm qua và hôm nay. Hôm qua vui vẻ, hồn nhiên và yêu đương ngập tràn. Hôm nay buồn bả, cô đơn và hận thù kín lối. Luyến thương Côn quá. Người bạn ngày xưa, từ cách mạng tới giờ, thấm thoát bảy năm,.thay đổi toàn bộ nhân sinh quan. Ở miệng Côn thở ra căm thù và căm thù. Thái Bình, quả thật, đã trải qua cuộc dâu biển tàn bạo. Lâu lắm rồi, kể tự sứ quân Trần Lãm dấy binh, đến Đinh Bộ Lĩnh làm yên đất nước, Thái Bình chỉ biết chịu đựng thù hận, không nói đến hận thù. Thời đại nó đẩy người Thái Bình đến chỗ phải biết hận thù và kiếm cách trả thù hận. Cách mạng, chiến tranh, hay cộng sản?
Tiếng nạng gỗ của Luyến nghe buồn tênh...

119
Ngoài kia lời non nước đang nhắc ta
mau mến yêu giống nòi
yêu mến muôn giống người
Ngoài kia công nhân ơi
Quốc tế đang giơ tay đón mời bầy con đoàn kết
Từng nhớ những phút chiến thắng
tiền phong đua tranh bao năm
lầm than đau thương trong khốn cùng
Giải phóng thống nhất tiến tới
Việt Nam ra công chen vai
cùng thế giới mới sẽ sống chung
Tranh đấu cuối cùng là đời sống với giang sơn
Công nhân Việt Nam tiến tới
Cùng sống tập đoàn
toàn thế giới công khai
và kiến thiết xã hội ngày mai
Lúc đế quốc đang sắp tan rã dần
Ta tiền phong tiến tới
Sức chiến đấu đi tới miền Đông Nam
Lúc đế quốc đã tàn

- Mày thấy giai cấp công nhân của thằng Vọng đáng sợ chưa?
- Bài hát mày thuộc ở đâu?
- Sơn Tây.
- Tên gì?
- Công nhân kiến thiết xã hội.
- Chỉ có công nhân biết kiến tiết xã hội thôi à?
- Công nhân là xương sống của cộng sản. Thiếu nó, cộng sản đâu còn gọi là cộng sản. Cộng sản phải dùng giai cấp nông dân vì công nhân ít người. Giai cấp công nông, chứ không giai cấp nông công. Mày chú ý xem, cờ cộng sản vẽ Búa Liềm vàng trên nền đỏ máu. Búa đè trên Liềm. Và, Búa to hơn Liềm, mạnh hơn Liềm. Cộng sản dùng giai cấp nông dân, nhưng ghét giai cấp này nhất hạng.
- Tại sao?
- Mày viết văn nên chỉ dọc văn chương, triết lý, sử địa là cùng. Tao chiến sĩ chống cộng sản, thành thử tao tìm sách báo viết về cộng sản để đọc. Mấy tháng chữa bệnh sốt rét rừng, tao đọc vô số sách chống cộng và thân cộng. Tao đọc sách của cộng sản viết nữa. Cộng sản đã giết hàng triệu nông dân Kiev bên Nga. Trùm Staline bán lúa mì cho Tây Âu để dân Kiev chết đói. Người Nga đi đếm xác chết như dân Thái Bình năm Ất Dậu.
- Chỉ ghét nông dân mà bắt nông dân chết đói?
- Tao nghĩ xa hơn. Giai cấp công nhân không có của chìm, chẳng có của nổi. Nhà máy thì của... nhân dân, nhà nước cộng sản quản lý. Nhà ở cộng sản cũng quản lý luôn. Công nhân có tư hữu gì đâu, mà đòi làm chủ tư hữu của mình? Cơm ăn, áo mặc cộng sản lo giùm hết. Quyền sống, công nhân không cần lo. Công nhân mới là người nghèo nhất nước. Giai cấp nông dân khác hẳn. Mảnh vườn, cái ao, thửa ruộng là tư hữu của nông dân. Quốc hữu hóa, nông dân đòi quyền tư hữu đến nơi đến chốn. Thế thì giai cấp nông dân giống hệt giai cấp tiểu tư sản. Cái Búa phải to hơn cái Liềm. Khi cần, cái Búa sẽ đập cái Liềm nát bấy.
- Nông dân có biết chính mình là tiểu tư sản không?
- Không.
- Tách nông dân tiểu tư sản ra khỏi nông dân, cộng sản hết làm ăn.
- Ý kiến hay.
- Như thế là đấu tranh chính trị. Tư tưởng chống cộng sản tiêu diệt tư tưởng cộng sản. Tao cho như thế mày mới thắng cộng sản, không cần đổ máu. Cái cung cách chống cộng sản của Bảo Hoàng, tao thấy chỉ làm cho cộng sản vươn lên.
- Mày thấy Bảo hoàng chống cộng sản ra sao?
- Vu dân vô tội là cộng sản, tra tấn họ và làm tiền họ. Rồi chống cộng sản bằng mồm. Đả đảo cộng sản. Đả đảo riết, rồi chết. Cộng sản vẫn sống nhăn răng.
- Ở Hà Nội, toàn những thằng chống cộng sản kiểu ấy.
- Tao không chống cộng sản và thân cộng sản. Tao rửng rưng chuyện thiên hạ. Mày đã biết tao theo thuyết... đợi thời đại xoay vần. Côn ạ, mày phải làm lãnh tụ chống cộng.
- Tao làm lãnh tụ?
- Tại sao không? Đã lãnh tụ Hồ Chí Minh, phải lãnh tụ Đặng Xuân Côn. Người cộng sản, người chống cộng sản.
- Mày giúp tao không?
- Không.
- Tao làm một mình à?
- Engels viết bài Tuyên ngôn đảng cộng sản có một mình. Khi ấy, Marx chết rồi. Engels hô hào Vô sản trên thế giới hãy vùng lên cũng một mình. Đặng Xuân Côn, dân Thái Bình, năm 1952, hô hào Tiểu tư sản trên thế giới hãy vùng lên xem sao. Mày nên nhớ rằng, tiểu tư sản đông kinh khủng, ăn đứt tư bản và cộng sản về kiến thức, tài năng. Buồn một nỗi, tiểu tư sản chuyên làm nô lệ cho tư bản và cộng sản, bị tư bản và cộng sản khinh bỉ. Mày nghĩ cách làm cho tiểu tư sản đoàn kết lại. Ấy là mày giải quyết cả thế giới, không riêng gì Việt Nam.
- À, mày đọc sách chính trị, hả? Thế mà tao dám chê mày!
- Thỉnh thoảng. Vớ được quyển nào, đọc quyển đó. Què cụt chỉ còn thú đọc sách thôi, mày ạ!
- Tiểu tư sản là vấn đề ăn nhất, cộng sản sẽ điên cuồng, bấn loạn.
- Mày phải làm lãnh tụ cơ.
- Để tao nghĩ.
- Trong khi mày nghĩ có làm lãnh tụ hay không, tao góp chút ý kiến.
- Nói đi.
- Thằng Vũ đang theo kháng chiến, thằng Lộc đang theo kháng chiến. Hhư chúng ta, chúng nó chỉ mơ ước Pháp thua sớm, trở về thị xã, xây dựng lại căn nhà cũ. Giấc mơ thật đơn giản. Chúng nó chiến đấu vì thị xã, nơi chúng nó sinh ra, lớn lên, hưởng trọn tuổi vàng hoa mộng. Chúng nó mong về để chết với thị xã. Bảo chúng nó đánh nhau cho cộng sản, tội nghiệp chúng nó. Thiên hạ đã chia rẽ nhau, thù hận nhau, chúng nó gây chi nên tội mà chúng ta phải chia rẽ chúng nó? Thằng Vọng gần chết đói, có người đến cứu nó và dạy nó thành người cộng sản. Chuyện rất thường. Nếu chúng ta đến sớm ba ngày, Vọng sẽ theo chúng ta. Vọng ở rất xa chúng ta bằng giai cấp. Lời nói của nó thì rất gần, êm ái như thuở Monguillot. Thằng cộng sản Vọng đã nói một câu, khiến thằng què cụt Luyến phải tôn nó lên làm bậc thầy. Côn ạ, hôm nay, mày cần nghĩ xa cuộc chiến đấu tiêu diệt cộng sản bằng tư tưởng của mày, để ý chi đến súng đạn và máu, để ý chi đến thằng Vọng, thằng Vũ, thằng Lộc, những ngươi bạn thân yêu của mày...
Côn không trả lời. Nó lái sang bài hát Công nhân kiến thiết xã hội.
- Cộng sản Việt Nam đã hé mùi quốc tế cho người ta sợ nó. Nó đòi sống tập đoàn với thế giới cơ! Đế quốc Mỹ sắp tan rã. Khi nó chiếm được các nước vùng Đông Nam Á, là đế quốc Mỹ tàn lụi. Còn nằm trong hang đá, cộng sản đã mơ đô hộ Thái lan, Mã lai, Tân gia ba...
Luyến không thích nghe chuyện đàm tiếu người cộng sản của Côn nữa. Nó nói :
- Đến cầu Báng rồi. Dừng xe ăn một cái bánh chưng. Lâu lắm không được ăn bánh chưng cầu Báng.
Người lái xích lô ngưng lại. Hai đứa bước vào quán. Hôm qua, Côn rủ Luyến về Ô Mễ thăm mộ cụ Hào Điền. Luyến không cuốc bộ được sáu cây số liền một lúc, đi xe đạp chưa quen. Côn thuê chiếc xích lô, bao nửa ngày để chở khứ hồi. Con huyện lộ số 24 đã lấp hết hố chữ chi, sửa sang bằng phẳng. Cầu Báng bị phá sụp đổ, quân Pháp phải bắc chiếc cầu mới kế cận, xe cộ nhà binh mới lưu thông dễ dàng.
Cây cầu Báng của làng Đồng Thanh. Làng này nổi tiếng nhờ bánh chưng ngon. Vì hai quán bánh chưng bán cho người đi qua đường sát cây cầu, nên không ai gọi bánh chưng Đồng Thanh. Mà, bánh chưng cầu Báng. Miền Bắc, mỗi địa danh thường cung cấp cho con người một món ăn đặc biệt. Như bánh gai ở Ninh Giang, cá rô ở đầm Sét, ổi ở cầu Bo... Nhiều người biết tiếng nó quá, nó đi vào vè. Bánh chưng cần Báng chẳng hạn:
... Tương Bần Yên Nhân
Nước mắm Vạn Vân
Bánh chưng cầu Báng...

Cầu Báng không bao giờ làm bánh chưng tết, hình vuông, kiểu bánh chưng báo hiếu của Lang Liêu, hoàng tử thứ 16, con vua Hùng Vương thứ 6. Có lẽ, bánh chưng để bán, cầu Báng làm khác đi. Một người ăn một chiếc, vẫn còn thòm thèm, ăn hai chiếc thì hơi no. Chiếc bánh chưng cầu Báng như chiếc bánh giò, to hơn và gói bằng lá de.
Là de lạ lắm. Khi luộc bánh, người ta tính thì giờ vào cây hương đốt. Cầu Báng khỏi cần hương, chỉ cần thói quen. Bánh chín, lá de đổi mầu sắc bên ngoài, thành mầu lá cây mùa thu. Bên trong, lá de như một cặp môi ngậm đầy sữa, hôn lên bánh đều đặn, khiến bánh xanh từng hạt nếp bìa. Bánh chưng ai chẳng tẩm đỗ với thịt? Thịt và đỗ cầu Báng mới ngon! Bánh chưng cầu Báng ngon tất cả. Toàn diện.
Luyến và Côn đã ăn bánh chưng xong. Tự thị xã tới Đồng Thanh phải qua Đoan Túc, Tri Lai, Thắng Cựu. Ngồi trên xích lô, xe chạy tới làng Chành, đến Ô Mễ.
- Cây đa làng Chành sống lâu lắm, Luyến ạ! Lụt năm 1945, nước phủ trắng xóa đến nửa tháng, nó không chết.
Luyến nhìn cây đa lành Chành. Nó nghĩ rằng cây cổ thụ sống lâu đã thành thần thánh rồi. Nó cần sống lâu thêm nữa. Để xem thời đại xoay vần.
- Mình xuống đây.
- Phải băng qua con đường mòn này à?
- ừ. Ngắn thôi. Đồn Pháp đóng ở chợ, mất lối vào cổng chính của mình.
Côn dặn người phu xích lô đậu tại gốc cây đa làng Chành chờ đợi. Hai đứa vào con đường mòn. Côn đi trước, Luyến chống nạng theo sau. Một lúc, hai đứa vào làng Ô Mễ. Nhà Côn xây ba từng, rộng rãi thênh thang. Bây giờ càng rộng rãi. Luyến cảm tưởng cảnh đìu hiu đã trùm kín căn nhà. Con chó nằm ỳ một chỗ, chẳng chạy ra mừng chủ về, không sủa thấy khách lạ tới. Đó là dấu hiệu của sự đi xuống thảm bại. Người nhà tíu tít hỏi thăm Côn. Lát sau, dân làng kéo tới, và trẻ con lũ lượt đến xem mặt chú Côn có khác ngày xưa không. Côn vẫn được cụ Hào Điển che chở trong tình thương dân làng. Côn bảo họ hàng mang khăn tang cho Côn quấn để Côn ra lễ ông nội ngoài mộ.
Đứng trước ngôi mộ cụ Hào Điển, Côn khóc rưng rưng. Nó thầm nguyện cầu những gì, Luyến không biết. Khi về, Côn lau nước mắt, nghiến răng, và giọng nó chứa đầy phẫn nộ :
- Cháu sẽ trả thù cho ông, từng đứa một. Không gì cản nổi cháu, cản nổi mối huyết thù của cháu.
Côn nhìn họ hàng :
- Mọi người nhớ cho kỹ, kẻ thù của chúng ta là cách mạng, kháng chiến, cộng sản. Ba thứ đó đều một phường khốn nạn!
Luyến và Côn trở lại căn nhà tiêu điều cũ. Côn chỉ cho Luyến cái rổ xề cộng sản bắt nhốt cụ Hào Điển trong đó và trả tự do về huyệt mộ, cũng trong đó. Nó là chiếc rổ lớn, đựng bèo đã giã nhỏ cho lợn ăn. Con người ví với con vật. Luyến hỏi :
- Tao muốn ngắm cống Hào Diển, được không?
Côn đáp :
- Nó ở ranh giới giữa làng Ô Mễ và làng Thụy Bình, xa lắm, mày không đi được.
Luyến nói :
- Không ai để gì cụ thể cho nước non, dân tộc cả. Chỉ cụ Hào Điển để lại cái cống Hào Điển cho dân Ô Mễ là cụ thể nhất thôi. Chả ai nhớ những người đã xưng hùng xưng bá làm hay cho dân tộc cả. Cụ Hào Điển thì khác. Chỉ một cái cống cho dân Ô Mễ. Đời đời, kiếp kiếp, nông dân Ô Mễ còn cần nước sông Trà Lý, còn nói tới cống Hào Điền. Cụ sống với nông dân mãi mãi, cụ có chết đâu?
Côn mỉa mai :
- Cụ có chết trong rổ đựng bèo cho lợn đâu!
Luyến không nói năng gì nữa. Hai đứa về thị xã. Đến cây đa làng Chành, chỗ người phu xích lô đang neo xe đợi, Côn bảo Luyến :
- Mày về trước nhé! Sáng mai, tao sẽ có mặt ở nhà mày. Tao còn một số việc cần giải quyết với họ hàng. Có một điều tao nói riêng với mày: Trường Sĩ Quan Nam Định di về Thủ Đức, miền Nam. Tao tình nguyện học ở Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Tao nản Thái Bình lắm rồi.
Côn trở lại con đường mòn. Một mình Luyến ngồi trên xích lô, nghĩ ngợi về bạn mình. Côn không thể làm lãnh tụ đối nghịch với lãnh tụ Hồ Chí Minh được. Chẳng phải riêng Côn, mọi người, kể cả trí thức khoa bảng, đều nghĩ như Côn. Không ai dám làm lãnh tụ. Đi làm nô lệ phục vụ cho lãnh tụ sướng hơn. Cho nên, chỉ một người xưng mình là lãnh tụ duy nhất trên đất nước khốn khó này. Mọi sự chống đối của thiên hạ, lãnh tụ coi thường và khinh thường. Côn rồi cũng bị lãnh tụ cộng sản khinh thường thôi. Mỗi người có một cuộc đời. Côn xoay xở lấy cuộc đời của nó. Bằng thù hận.

120
Côn không ghé Luyến, không ghé Khoa. Từ Ô Mễ, nó vào thị xã sớm, mua vé xe Con Voi lên Hà Nội. Côn chẳng muốn liên hệ gì với Thái Bình nữa thì phải.
Ở Thái Bình, Côn gặp lại Luyến, thấy Luyến đã què quặt, tâm hồn hơi hướng về bên kia vì có em kháng chiến, Côn chán nản. Còn bốn thằng bạn: Long đã chết trận, Vũ và Lộc đang chiến đấu trong hư vô, Vọng thì cộng sản đứt đuôi con nòng nọc. Những thằng bạn còn sống đã là cộng sản hay đổ máu cho cộng sản, đều là kẻ thù của Côn. Cộng sản chia xã hội Việt Nam thành từng giai cấp để hận thù nhau. Côn không hạ cộng sản bằng chống chia giai cấp để thương yêu nhau. Côn ghim thù hận trong máu, làm mau, nếu mình có thể, chứ không chịu đợi lâu. Chống đối tư tưởng, người ta mất hàng trăm năm. Côn ngỡ tư tưởng nó lòi lên, cứ chém là đứt, là thành công. Thù hận làm lóe mắt Côn. Luyến vẫn yêu Côn. Vì, Côn chỉ là một con người yếu đuối.
Côn bỏ thị xã Thái Bình ngót ba tháng rồi, chẳng nhận được bức thư nào của nó. Sắp nghỉ hè. Khoa chuẩn bị sang Nam Định thi trung học phổ thông. Hôm qua, Luyến gặp Khoa, nó tâm sự với Luyến đủ thứ chuyện. Những chuyện về Côn, Luyến để trong lòng, Khoa cũng biết.
- Anh đã khôn khéo khuyên anh Côn đừng thù hận anh Vọng, anh Vũ, anh Lộc, chứ gì!
- Sao em biết?
- Nhìn ở đáy mắt anh.
- Em nghĩ về anh Côn còn đẹp như ngày xưa không?
- Anh Côn bao giờ cũng tốt, cũng đẹp. Em thương anh ấy lắm. Vì thù hận, anh Côn mất trí. Vì mất trí, anh ấy mất suy nghĩ. Anh ấy giống những nhân vật đi tầm thù trong truyện kiếm hiệp. Bố mình bị nó giết, tìm nó trả thù. Con nó thấy bố chết, tìm mình tuyết hận. Cháu mình thấy ông chết, tìm con nó... Cứ đi tìm suốt đời nọ sang đời kia mà trả thù. Đời sống chỉ vậy sao?
- Em nghĩ thật đi, mình phải làm gì, Khoa?
- Bố em bị cường quyền giết, mình không thể trả thù nổi. Cường quyền đông lắm và khỏe lắm. Mình đành im lặng. Bố em bị người tầm thường giết, mình tha thứ. Sẽ không có thù hận đời sau. Có vẻ Quốc văn giáo khoa thư, anh nhỉ?
- Không, cuộc đời lắm chứ.
- Anh Côn chẳng nghe ai đâu. Anh thường bảo mỗi người có một cuộc đời, anh Côn có một cuộc đời thù hận, anh ấy sẽ sống bằng thù hận, cô đơn vô tả. Em lại thương anh ấy thêm lên.
- Khoa, em là thằng bé đi hia bảy dặm.
- Nhờ anh chỉ dạy.
- Em đang nghĩ gì?
- Về một chuyện tình...
Khoa nhớ con Liên từ lâu, từ ngày hồi cư thị xã. Nếu Khoa về thị xã, cố xin bố mẹ, cho lên Hà Nội chơi, nhé! Nhà Liên ở số 42, phố cửa Bắc. Liên đã nói với Khoa thế. Nó đã về thị xã, ngay cả một bức thư viết dễ dàng, nó cũng không viết. Cha nó đi Hà nội luôn, nó chả thèm nhắn lời hỏi thăm Liên. Hỏi thăm Liên, nó phải cho cha nó địa chỉ của Liên. Cha mẹ nó tưởng nó đã quên con Liên rồi, chuyện hai đứa quen nhau, chơi với nhau, hồi tản cư.
Khoa đâu có quên Liên. Nó yêu say đắm, yêu Liên còn hơn Vũ yêu Thúy. Thời đại của Vũ náo động và sôi nổi thật, song thua hẳn thời đại của Khoa lãng mạn và tình tự. Thời đại của Khoa có trống đồng thôi thúc dân gian đừng quên giặc Pháp xâm lược sẽ đến; có trận giả làm những đứa bé biết mơ thành người sông Lô; có bao nhiêu bộ đội tiểu tư sản ở Hà nội, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định về dạy thiếu nhi học, thiếu nhi hát; có những đêm kịch ve vuốt tài năng tuổi ngọc; có những lớp Bình dân học vụ, biến bà nội, ông ngoại, dì cô, chú bác thành học trò của Khoa, của Liên, xui Khoa và Liên cảm động như đĩa đèn dầu lạc thắp bấc long lanh những giọt nước mắt... Thời đại Vũ làm gì có. Vũ đã theo kháng chiến, xa hẳn tuổi thơ bồng bế để lại cho Khoa những ngày vàng hoa mộng.
Khoa quen Liên trong thời đại ấy, rực rỡ dân tộc của chu kỳ đất vỡ chiêm bao. Khoa đã đưa Liên về đường mòn thấm ướt trăng sao, những đêm tập kịch. Mùa đông, hai đứa đi sát bên nhau, tay đứa này trong túi đứa nọ, móc lạc rang nhai cho trời hết lạnh. Khoa đã đeo lên tai nhụy hoa mẫu đơn cho Liên, bắt Liên đừng quên hoa ngâu. Trời ơi, Khoa còn rủ Liên ngồi trên cầu Chờ chờ đợi một nỗi niềm gì đó; lên quán Nghỉ, hẹn hò người bâng quơ...
Làm sao Khoa có thể quên Liên? Nó nhớ Liên âm thầm. Đã nhiều lần, Khoa muốn viết thư cho liên. Rồi, tự lòng nó đã nói: Gượm đã. Khoa lại sợ Liên quên hết chuyện Tường An, nghèo xơ nghèo xác. Ở Tường An đi chơi với cu khoa được, ở Hà Nội thì không. Khoa sợ hãi tiếng không ghê lắm. Sợ hãi rồi ngờ vực. Chả biết Liên Hà Nội đã thay đổi gì chưa! Đời có nhiều mùa. Mùa vào tuổi lớn, Khoa cáu ghét cái mùa vào tuổi; và Khoa cảm thấy nhớ âm thầm, yêu âm thầm là để yêu người không bị thất vọng. Điều đau khổ nhất trên đời, Là yêu người mãi mà người chẳng yêu. Ai đã nói thế? Có phải vậy không?
Luyến tủm tỉm cừi :
- Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết?
Và nói tiếp :
- Tình yêu chỉ đến với em thôi. Em là người hạnh phúc, đụng tới đâu, hạnh phúc trào ra tới đó. Đẹp giai, học giỏi, giai cấp... cao thượng, con gái mê mệt, vất đi không hết, tội gì đau khổ nhất trên đời.
Khoa bịn rịn :
- Em yêu Liên như thời hoa mộng của em, đánh mốc chu kỳ rực rỡ của dân tộc. Chu kỳ ấy có bốn niên. Nếu sống thêm nhiều tháng năm buồn nhạt, bây giờ chẳng hạn, đổi lấy bốn năm huy hoàng, em đổi ngay. Em đã yêu Liên vào lúc đó.
Luyến thở, khói thuốc lá bay :
- Em đã nói yêu Liên chưa?
Khoa bẻ bão tay :
- Chưa.
Luyến hít đẫy đà thuốc Cotab :
- Em đã cảm giác yêu Liên và Liên đã mơ hồ yêu em. Tình yêu thế mới gọi là thơ mộng. Lúc nào tình em yêu Liên, tình Liên yêu em cũng bảng lảng. Em đừng sợ hãi mùa vào tuổi nữa. Mùa ấy làm Liên yêu em hơn, dù xa cách. Tháng chín, năm nay, em lên Hà Nội học ban tú tài, tìm Liên còn sớm chán.
Khoa hơi cúi đầu :
- Em đỗ trung học, sẽ bỏ đệ tam, nhảy đệ nhị, anh ạ!
Luyến nhìn Khoa :
- Tùy ý em. À, anh chưa biết Liên họ gì?
Khoa cười :
- Nguyễn. Nguyễn Kiều Liên.
Luyến khen :
- Hay quá, tên nàng hay qua, chàng ạ!
Khoa sung sướng quá, im lặng. Đó, tâm sự của Khoa, tâm sự tình yêu đẹp hơn thơ của nó.
Luyến vẫn nhớ đến Côn nhiều hơn. Đường như Côn là nỗi ám ảnh của Luyến. Mỗi người có một cuộc đời. Cuộc đời của Côn không bình thường, cuộc đời Côn bị thù hận mới định cư. Tưởng chừng nó đồn trú trong tim Côn từ đời nào. Khoa nhận xét đúng, Côn đã mất trí. Côn mất trí, cuộc đời Côn sẽ lạc hướng. Côn xa Luyến, xa Vũ, xa Vọng, xa Lộc vĩnh viễn. Luyến thở dài: Chiến trnanh và chủ nghĩa! Chiến tranh làm con người xa nhau, rồi làm con người gần nhau, dù con người có mù, quẻ, câm, điéc hay chết mất tích, chết thảm thương. Vẫn không xa nhau. Chủ nghĩa làm con người đoạn tuyệt con người. Là người không theo chủ nghĩa, không chống chủ nghĩa, biến thành nạn nhân của chủ nghĩa, Luyến đấy. Chính Côn đã xa lìa Luyến. Chính Luyến đã lìa Côn. Không phải vì bất đồng chính kiến. Mà vì không có chính kiến.
Thời đại này oái oăm thật. Những người mơ thị xã Thái Bình sống êm đềm bên sông Trà Lý, có cầu Bo thơ mộng, hàng hồi phố chính tỏa hương thơm ngát, chắc chắn sẽ tuyệt vọng. Nước lũ không chảy xiết gầm cầu vào tháng Bảy. Nước lũ chảy quanh năm. Mỗi ngày. Luyến ngồi im. Suy nghĩ...

121
Khoa thi đỗ trung học phổ thông bên Nam Định, hạng Bình. Nó về thị xã lĩnh phần thưởng của Tòa tỉnh trưởng, nghỉ vài hôm rồi lên Hà Nội học ngay. Sang năm, Khoa thi tú tài 1. Phần thưởng của Khoa toàn sách giáo khoa tiếng Pháp và những quyển tự điển Pháp-Việt, Anh-Pháp. Đẹp nhất là Petit Larousse illustré 1951. Khoa đem hết tự điển biếu Luyến, đền ơn Luyến kèm dạy.
Khi đã tìm được nhà trọ và trường học ưng ý, Khoa mới viết thư cho Luyến... Anh Luyến ơi, em thỏa mãn lắm rồi. Kiều Liên của Trần Khoa vẫn như ngày xưa, vẫn yêu em say đắm. Nàng trách móc em đã vào thị xã gần hai năm, hôm na, mới về cửa Ô xưa. Em phải nói em đâu có đi kháng chiến, em theo giặc thì về năm cửa Ô sao được. Em sắp đến ở nhà Liên. Bố mẹ nàng muốn thế. Ở nhà Liên, em có thể kèm Liên học với các em nàng. Năm nay, Liên học đệ tứ Trưng Vương. Em học nhảy nên không được học Chu văn An. Anh Luyến ạ, đời sống gia đình ấm cúng lắm. Em sẽ ở bên Liên suốt đời. Em chán Thái Bình rồi, chỉ giành nhau thù hận. Họ cứ việc thù hận nhau. Em ngoảnh mặt lên Hà Nội tìm yêu thương. Mặc kệ cuộc đời, em không mơ chiến đấu nữa...
- Nghĩ gì đấy, nhà văn Luyến? - Ngọc hỏi.
- Thằng Khoa. - Luyến đáp.
- Khoa dễ mến lắm.
- Nó khác với Vũ nhiều. Nó hơi giống anh, không nói tới thời đại, có vẻ theo thời đại. Nó mơ ước đơn giản như Vũ, suốt đời sống bên người mình yêu. Không biết Vũ có bỏ Thái Bình không, chứ Khoa coi như đã giã biệt Thái Bình.
- Khoa viết thư cho anh, hả?
- Đọc thư nó hay ghê!
- Đã gặp Liên chưa?
- Rồi.
- Như ngày xưa còn bé, chứ?
- Như. Khoa thật hạnh phúc. Nếu Trời bắt tội nó, cho Liên lấy chồng khác, không nhớ gì tới ngày xưa, Khoa sẽ thay đổi hẳn. Cái hận thù của Côn khác cái hận thù của Khoa, song đều là hận thù. Anh không ngờ nó yêu Liên âm thầm vậy. Âm thầm càng lâu, nổ tung càng dữ dội. May thay, Khoa có hạnh phúc thực sự.
- Còn anh, có hạnh phúc không?
- Anh hả? Tất cả con gái trên đời này đều tránh xa thằng cụt chân. Chỉ một người dám yêu anh. Là...
Ngọc hôn Luyến một cái hôn thật dài. Về sau, nếu cuốn sách tiểu thuyết lịch sử Cầu Bo trầm lặng của Lê Huy Luyến nổi danh, phải nói có sự khích lệ của Vũ Cẩm Ngọc. Ngọc yêu Luyến, đòi lấy Luyến bằng được, đã là chuyện lạ. Lại bảo Luyến làm việc bằng trí óc, đừng nghĩ tới chân tay què cụt. Càng lạ hơn. Ngọc đúng là người đàn bà miền Bắc, thời xưa.
- Mấy giờ, đám rước Hội Đền Mẫu khởi sự, hả anh?
- 10 giờ.
- Thế mà anh gọi em sang sớm quá.
- Để em chuẩn bị. Một là, chúng ta đứng cửa, ngắm đám rước đi qua. Hai là, chúng ta lội ngược đám rước.
- Cả hai thứ: Ngắm và lội!
Hôm nay, Hội Đền Mẫu thường niên vào rằm tháng 5 âm lịch, nhằm ngày 7-6 tây lịch. Hội Đền Mẫu long trọng nhất Thái Bình, không những chỉ riêng thị xã, mà toàn tỉnh. Phủ huyện trong tỉnh đều có đền Mẫu. Người ta không gọi đền Mẹ, cứ đền Mẫu. Chính ra, đền thờ Đức Mẹ mới đúng.
Có một bà khi sống thì ban phát công đức, lợi lộc cho muôn nơi, khi chết thì linh thiêng ngút ngàn nên dân chúng Thái Bình lập đền thờ bà, coi bà như Mẹ. Bà là người Việt Nam, không phải Trung hoa hay Ấn Độ. Đền Mẫu - đền Mẹ - sơ khởi, là nơi cúng lễ nghiêm trang. Riết rồi nó biến thành chỗ đồng bóng, xin xâm... Như đền Đúc thánh Trần Hưng Đạo. Hồi Pháp đô hộ, hễ ngày Hội Đềm Mẫu tới, dân chúng mười hai phủ huyện có bổn phận đóng góp công sức và tiền tài, làm sao cho ngày hội ở thị xã thật lộng lẫy, huy hoàng. Mỗi phủ huyện mang người xuống tỉnh tuần lễ trước để lo kiệu thánh Mẫu và tổ chức ngày hội.
Ngày Hội Đềm Mẫu, thị xã nhộn nhịp hẳn lên. Dân chúng mười hai phủ huyện nô nức kéo nhau về tỉnh, phố xá chất ních những người và người. Một năm mới có một lần đức Mẹ vào hạ. Từ ngày tiêu thổ kháng chiến, dân chúng nhớ ngày Mẹ gọi, cách mạng không cho vào, mẹ buồn lắm. Hai ông hộ pháp đứng canh trước đền, đã bị bọn thằng Vũ vặt trụi râu ria, lại bị cách mạng quên lãng đèn hương, hai ông gần chết đói. May mắn, dân thị xã hồi cư sớm, đền Mẫu đã có hương đèn. Và, hai ông hộ pháp được cúng hoa trái. Hai ông chỉ còn một nỗi buồn. Là canh gác đức Mẹ, canh gác cả phòng thông tin cho Bảo Hoàng! Năm kia và năm ngoái, tình hình chưa an ninh, người trong tỉnh về thị xã ít. Năm nay, nhờ có hai cuộc hành quân Trái Chanh và Trái Quít, tình thế ổn định rồi, những người Quỳnh Côi, Phụ Dực cũng về tỉnh dự Hội Đền Mẫu. Bộ tối cao chỉ huy quân đội Pháp cứ nhìn Hội Đền Mẫu, ra thông cáo chính xác về tin chiến sự Thái Bình.
- Trống đánh rồi đấy, anh ạ!
- Ừ. Lâu lắm mới nghe trống hội.
- Ta đứng cửa xem, nhé! Hội khởi hành ở trung tâm phố chính, tiến lên ngã tư Vũ Tiên-Thị Xã, trở ngược lại, qua Trưng Trắc, đến bệnh viện, ra cầu Bo, về đền Mẫu. Chúng ta coi hết, rồi đi tới đền. Mẹ anh, mẹ em, mẹ Khoa và mẹ anh Long bê cầu vồng đấy. Bác cả Hồng lo sắp xếp trong đền.
- Chờ lên đồng chứ gì?
- Sao anh biết rõ thế?
- Dạo học lớp nhì 1, bọn anh đã cớp hết tiền lộc thánh của bác ấy.
Ngọc nhéo Luyến một cái. Đau điếng. Tiếng trống ngày hội đến gần. Luyến hớn hở như một trẻ thơ mừng hội lớn.
Đi đầu, một chiếc trống thật lớn. Hai người khiêng và một người biểu diễn tài đánh trống. Họ mặc quần áo lính thú ngày xưa, ngang lưng thắt bao vàng. Người nào cũng đội nón sơn đẹp và vẽ dấu quân. Khi người biểu diễn múa hai cái dùi trống, bao nhiêu khán giả đứng hai bên đường đã tấm tắc khen tài. Mấy ông sĩ quan Pháp chụp hình liên miên. Người biểu diễn múa dùi, cơ hồ người làm xiếc ném những cây gỗ ngắn lên không trung rối bắt nó, chẳng rơi xuống đất bao giờ. Người làm xiếc phải tập luôn cho quen tay. Người biểu diễn không hề tập. Anh ta trình diễn đâu lấy tiền. Nông thôn làm gì có thì giờ tập. Múa dùi chừng một phút, anh ta lượn trên mặt trống. Tiếng trống nghe hùng tráng, sôi nổi như thúc giục quân binh tiến lên chiến trận. Tiếng trống đổi điệu. Bây giờ, nó dồn dập, say sưa như tiếng đao gươm rút ra chém giết. Một lúc, tiếng trống trở nên êm đềm, lắng dịu như đã chiến thắng trở về khải hoàn môn. Danh tài Hội Đền Mẫu chỉ có vậy thôi.
- Em biết trống trận đời nào không?
- Không. Anh hỏi em, sao em biết?
- Anh đoán thôi nhé!
- Đoán đi.
- Trần Lãm, người Thái Bình, sứ quân giỏi nhất. Đây là trống trận Kỳ Bố, nơi đóng quân của Trần Lãm. Không có trống trận Kỳ Bố, Đinh Bộ Lĩnh dẹp sao nổi 11 sứ quân?
- Thôi mà, xem đi anh.
Đi sau cái trống trận, hai hàng dài hai bên đưòng, các cô gái đồng trinh tuổi từ 16 đến 18. Toàn các cô thị xã, cô nào cô ấy đẹp như thơ và thơm mùi chanh cốm. Các cô mặc đồng phục áo dài xanh da trời, quần trắng. Các cô đi dép mầu trắng. Mỗi cô bê một bó hoa huệ. Các cô cười tươi như hoa. Hội Đền Mẫu bầy ra chỗ cho các cô đi rước chỉ để các bà mẹ, các ông cha xem mặt cho con trai mình, cô nào sẽ làm con dâu ông bà. Cũng là dịp các cậu tốn tiền mua phim và mua ảnh các cô.
- Sao lại chọn rặt con gái đồng trinh?
- Chắc đức thánh Mẫu còn trinh tiết.
- Nhỡ cô gái 18 đồng trinh mất trinh rồi thì sao?
- Bậy!
Theo sau những cô gái đồng trinh, là giàn trống ngũ lôi của các đồng tử. Mấy chú bé này trông dễ thương lắm. Tuổi từ 13 đến 15. Các chú mặc quần áo xanh, vàng, đỏ bó chẽn vào người. Cái quần lại ngắn tới đầu gối. Các chú đội nón nhỏ, từa tựa nón lính thú đời xưa. Những chiếc bao tím đánh đai lấy lưng các chú. Điều hơi lạ, các chú đi đất. Bốn chú đánh rống nhỏ. Một chú đánh trống lớn. Ngũ lôi mà. Chiếc trống lớn phải hai người khiêng. Hai người này không thuộc giàn trống. Trống nhỏ đánh lên từng câu ngắn. Trống lớn giữ nhịp, ở cuối câu, một tiếng thôi. Các chú chơi trống nhỏ chạy chậm tròn vòng quanh mình biểu diễn trống. Chỗ này thích thú và nghệ thuật vô cùng. Nó quyến rũ khán giả. Sĩ quan Pháp tốn nhiều cuộn phim. Người ta yêu mến giàn trống ngũ lôi, vì giàn trống chỉ có năm đồng tử chơi bay bướm. Lúc các chú đánh dùi vào thân trống để đợi nhịp dẫn đi xa mới ngoạn mục. Những tiếng lắc cắc hòa với tiếng thùng thùng sao mà tuyệt diệu thế!
- Trống đồng của Khoa chỉ sôi nổi một thuở thôi. Trống ngũ lôi mới sôi nổi muôn thuở. Người ta đã quên dân tộc rồi. Bây giờ, quê hương nhớ dân tộc, Thái Bình tự ý sống với phong tục tập quán rất xưa của dân tộc Việt Nam. Chẳng phải Bảo Hoàng hối thúc. Người Pháp thì kính trọng Hội Đền Mẫu tuyệt đối. Em xem xe căm nhông và xe jeep của lính Pháp không dám chạy trên đường phố chính, hôm nay.
- Nhà văn hơi cảm xúc rồi đó. A, này anh xem, các bà mẹ đi bưng cầu vồng...
Kế tiếp giàn trống ngũ lôi, các bà mẹ Thái Bình bưng cầu vồng. Ở hậu phương kháng chiến, các bà đã là mẹ bộ đội. Một khúc lụa dài vẽ hình chiếc cầu vồng, mầu sắc đã nhìn thấy trên trời sau những cơn mưa vừa tạnh. Các bà đi hàng đôi, tay phải và tay trái nắm lấy cầu vồng. Người ta muốn lên Trời - Thiên đàng của Ky tô giáo, Niết bàn của Phật giáo - cuộc sống dưới Đất phải lương thiện, không được gian dối, ác đức... Nêú người ta thích sống bất lương, man trá, độc ác... người ta sẽ về cõi Chết, đau đớn vô cùng. Phải leo cầu vồng dưới cõi Chết - Địa ngục của Ky tô giáo, Âm ty của Phật giáo - Dưới gầm cầu bao nhiêu ác quỷ, chó ngao chờ mình rơi xuống, xé xác mình! Bưng cầu vồng ở Hội Đền Mẫu mang ý nghĩa thế. Các bà mẹ Thái Bình vừa đi vừa cầu nguyện cho quốc thái dân an, cho chiến tranh sớm chấm dứt, để những đứa con về cùng mẹ.
- Mẹ em kia kìa...
- Mẹ anh đâu?
- Kia kìa, đó đó...
- Ừ nhỉ, mẹ Khoa nữa, mẹ Long nữa... Các bà vui ra phết!
Đến những chàng đi khoeo sau lưng các bà mẹ. Đây là dân miền biển. Họ ăn mặc chững chạc, chứ không cởi trần đánh chiếc quần đùi. Khoeo của họ làm bằng khúc cây tre già, cao hơn họ. Quá nửa khúc cây, họ lấy hai miếng gỗ gọt đẽo vừa chân họ, gắn vào khúc cây. Trên ngọn khúc cây, họ máng hai sợi dây cột chân họ. Cái khoeo thật đơn giản. Leo lên nó mà đi là cả một công trình. Với dân biển, đi khoeo, với cây đèn bão, họ đứng chờ cá thấy ánh sáng chiếu xuống nước đến tìm mổi ăn, họ lấy vợt bắt từng con dễ dàng quá. Về thị xã, họ để hai cây khoeo một chỗ, giữ cho khoeo đứng thẳng, họ cho chêm cao lên. Và buộc dây họ đi khoeo, còn nhanh hơn người ta đi giầy. Trên đường phố, họ vui vẻ đùa giỡn nhau, làm cho Hội Đền Mẫu tươi lên.
- Anh không thích đi khoeo.
- Không hấp dẫn à?
- Đi khoeo một chân mới hấp dẫn!
- Luyến nghịch ngợm có khác
Các bà vừa lấy chồng theo chân những chàng đi khoeo. Các bà cũng mặc đồng phục quần đen, áo dài mầu gụ, đi guốc. Mỗi bà cầm một giỏ đủ các sắc hoa ngâu, hoa mẫu đơn, hoa ngọc lan... Các bà nổi lắm. Nhất là một con. Gái một con trông mòn con mắt. Khán giả đã cổ võ các bà nhiệt liệt.
- Giá em đi với các bà này, nhỉ?
- Anh sẽ ghen.
- Không, anh sẽ... đả đảo em!
Bây giờ mới đến đoạn rùng rợn. Bốn tay xuyên lình đi bốn hướng. Họ mặc bốn mầu áo: xanh, đỏ, tím, hồng. Ông nào mặc áo dài xanh, khăn xanh và thắt lưng xanh luôn. Ông áo đỏ cũng vậy... Quần của bốn ông mầu trắng. Họ mang dép Gia Định. Họ đúng là dân đồng bóng. ỏn ẻn và nũng nịu khiếp đời! Mỗi ông cầm hai cây lình bằng thép, tròn như ngón tay trỏ và sắc như nước. Cán lình là chỗ các ông cầm trên tay, tựa cán dao.
Ông xanh nhảy múa một lát, nhìn khán giả, cười tủm. Rồi ông vung lình bên trái, xuyên lình má trái sang má phải. Không một giọt máu chầy ra. Ông lại vung lình bên phải, xuyên lình má phải sang má trái. Vẫn không giọt máu nào chảy ra. Người ta đứng tim xem ông xanh biểu diễn xuyên lình. Sĩ quan Pháp vừa chụp hình vừa kinh ngạc. Ông xanh bịp chăng? Ông đỏ trả lời ngay. Ông xuyên lình má phải sang má trái. Để lình đứng im. Ông chạy ra chỗ sĩ quan Pháp bảo họ rút cái lình ra, bằng tiếng Tây chỉ trỏ. Người Pháp đã chứng kiến tận mắt. Ông đỏ gật đầu cám ơn. Ông vung lình tay trái, xuyên lình má mình. Ông tím, ông hồng... Các ông đua nhau xuyên lình, ròng rã hai ba tiếng đồng hồ. Không có máu chảy.
- Y học chịu thua xuyên lình.
- Họ sẽ nghiên cứu, chứ anh?
- Từ lâu lắm rồi, khoa học đã chịu thua. Xuyên lình đặt ra vấn đề huyền bí. Mà huyền bí không tài nào nghiên cứu nổi.
- Giàn nhạc tới rồi...
Những ông nhạc sĩ sử dụng đàn tranh, đàn nguyệt, đàn chầu văn, nhị, trống cơm. Họ mặc áo the thâm, quần trắng. Nón đội trên đầu. Họ vừa đi vừa tấu cổ nhạc Việt Nam. Thỉnh thoảng, họ hòa tấu bình bán, lưu thủy... Tay nhị có dịp biểu diễn đơn độc với trống cơm. Trống cơm đi với kèn đám ma thì bất hủ. Giàn nhạc dân tộc, ngoài đình đám hội hè, còn chơi ở gánh hát chèo, ở hát ả đào, ở lên đồng... Thiếu đàn bầu, hôm nay. Đàn bầu, thứ đàn lãng mạn nhất loài người. Chì có một dây thôi. Mà nó làm rạo rực tâm hồn ta. Ca dao phải viết về nó: Đàn bầu khéo gẩy thì nghe, Làm thân con gái chớ mê đàm bầu. Nhạc chơi ở Hội Đền Mẫu chỉ có tính cách trình diễn tượng trưng. Không thể tìm chất nghệ sĩ chốn này.
Sau giàn nhạc, bốn bà đồng bóng diện đồ Thượng Hải, sắm vai bốn ông hoàng tử đi hộ tống đức thánh Mẫu. Bà nào bà nấy đeo kiếm bên người oai phong, lẫm liệt. Một tay đỡ vỏ kiếm, một tay sửa soạn rút kiếm ra.
Rồi đến kiệu rước thánh Mẫu. Uy nghi và kính trọng. Kiệu to, cao, rộng, dài, trên đó không có tượng thánh Mẫu. Thánh Mẫu bàng bạc, mơ hồ trong lòng ta. Ngài chỉ là những dòng chữ tạ ơn tự mấy ngàn năm sau của những người thọ ơn. Trên kiệu có những dòng chữ đó, viết bằng chữ Hán. Bốn mươi người khiêng kiệu đức thánh Mẫu. Hai mươi chiếc đòn, mỗi bên mười chiếc và hai mươi người, trong và ngoài, tay trái và tay phải, khiêng kiệu rước thánh Mẫu thăm thú thị xã tiêu thổ kháng chiến. Bốn mươi người mặc áo dài mầu xanh nhạt, quần trắng, đầu đội khăn đen, lưng quấn bao đỏ, đi chân đất. Họ cung kính thánh Mẫu, cho rằng khó lòng mới được khiêng kiệu thánh Mẫu.
- Nghe lính đánh trống trận, anh nghĩ đức thánh Mẫu là con cháu Trần Lãm.
- Cứ nghĩ Mẹ là người Việt Nam đã đủ hãnh diện rồi.
Theo sau kiệu, hàng dài dài những người mưòi hai phủ huyện. Có điều đáng chú ý. Hội Đền Mẫu không ai cầu kinh, không ai lần tràng hạt. Dân tộc hoàn toàn. Kiệu lễ qua nhà Luyến mất hai tiếng đồng hồ. Bây giờ, 12 giờ trưa. Luyến bảo Ngọc :
- Buổi chiều hãy lượn, em nhé!
Ngọc nói :
- Có lẽ chỉ tới đền Mẫu thôi. Em chắc anh đã biết thừa. Toà tỉnh trưởng Bảo Hoàng tạm dẹp phòng thông tin vài ngày. Bên trong toàn đồng bóng, khói hương làm cay mắt, chịu không nổi đâu. Thôi lượn nhé, anh nhé!
Luyến lại thở dài :
- Có Côn dự lễ Hội Đền Mẫu năm nay, chắc chắn nó sẽ nguôi ngoai thù hận.
Ngọc không nói gì, ôm lấy Luyến đi vào nhà...

122
Vũ nằm ở bệnh viện dã chiến của quân đội Pháp đã hai tuần. Hôm đầu tiên về đây, Vũ mê man chẳng biết gì. Những viên đạn bắn vào ngực, vào bụng, vào tay Vũ ra nhiều máu quá và Vũ thiếp đi giữa trận chiến. Hôm nay tỉnh táo, Vũ mới hiểu mình còn sống.
Lính Pháp không nương tay, khi mình còn là ciến sĩ cách mạng đương đầu họ. Khi mình bị thương nằm xuống, lính Pháp lại tận tâm lo chữa cho mình. Y sĩ quân đội Pháp, mỗi ngày bốn lần, thăm bệnh của Vũ diễn tiến đến đâu rồi. Những vết thương ở ngực, ở bụng còn băng kỹ. Vết thương tay trái, người ta phải băng bột, dùng sợi dây vải, đeo cổ nâng lên.
- Anh nói tiếng Pháp khá đấy.
Người y sĩ nói.
- Thưa bác sĩ, tàm tạm thôi.
Vũ thành thật trả lời.
- Anh may mắn lắm. Tôi đã gắp hai viên đạn ra. Một viên nằm cách phổi một xăng ti mét, viên kia cách tim hai xăng ti mét. Những viên khác chỉ gây thương tích xoàng. Tay trái anh gẫy đốt xương nhỏ, tôi đã băng bột, chỉ sử dụng được 50 phần 100. Mười lăm hôm nữa anh về.
Người y sĩ nhìn Vũ, cười tự nhiên.
- Cám ơn bác sĩ, tôi nhớ ơn bác sĩ suốt đời.
Vũ nói.
- Không phải cám ơn, bổn phân của tôi mà. Nhờ chính anh, anh thoát chết, chẳng phải nhờ tôi đâu. Anh có biết cái gì không?
Người y sĩ hỏi.
- Không, thưa bác sĩ.
Vũ đáp.
- Nhờ anh nói tiếng Pháp. Tiếng nước Pháp đã cứu anh!
Vũ nhớ lại, trong trận đánh ở Thụy Anh, Vũ trúng đạn nhiều quá, nó liều lĩnh kêu lớn: Sauvez-moi, sauvez-moi, s’il vous plait! Người y tá Pháp chạy khỏi lằn đạn tới chỗ Vũ. Ông ta nâng Vũ ngồi dậy. Vũ thiếp đi, từ lúc ấy.
- Người ta vào máu cho anh, chở anh lên trực thăng về bệnh viện.
Ngừi y sĩ vui vẻ.
- Trước 1950, ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, tôi gặp bất cứ thương binh nào của Việt Minh, họ cũng đều nói tiếng Pháp giỏi cả. Sau 1950, họ không biết nói tiếng Pháp. Tại sao thế? Họ bị cấm nói tiếng Pháp, hả?
Vũ mỉm cười :
- Không ai cấm họ nói tiếng Pháp cả. Ngày trước bộ đội Việt Minh toàn những người trí thức thành phố, bây giờ, bộ đội là lính nông dân, họ chỉ biết đánh người Pháp, chứ không biết nước Pháp.
Người y sĩ ngạc nhiên :
- Anh là lính nông dân à?
Vũ lắc đầu :
- Tôi không phải nông dân, không phải trí thúc. Mà là học sinh thị xã, lớn lên tôi vào bộ đội.
- Thị xã nào?
- Thái Bình.
- Anh ở thị xã này?
- Vâng.
- Anh học lớp mấy, trường nào?
- Lớp nhất, trường Monguillot, nổi tiếng nghịch ngợm. Năm 1945, nước tôi độc lập, tôi học trung học gần hai niên. Thị xã Thái Bình bị tiêu thổ kháng chiến, vì người Pháp đe dọa chiếm đóng. Tôi thôi học, trốn nhà đi làm liên lạc viên quân đội, chờ đến tuổi vào bộ đội chiến đấu với Pháp.
- Không phải nhiệm vụ của tôi, tôi thấy anh kỳ lạ và độc đáo, tôi có sung sướng được hỏi anh vài câu không?
- Thưa bác sĩ xin bác sĩ cứ hỏi.
- Thái Bình đã yên, sao anh không về?
- Đã yên đâu? Chúng tôi vẫn đánh Pháp khắp nơi. Quỳnh Côi, Phụ Dực, Thụy Anh, Duyên Hà là nơi xảy ra những trận đánh lớn, bác sĩ đã biết. Nhiều huyện lỵ Pháp chiếm đóng, tình hình có vẻ yên lặng. Yên lặng để nổi sóng gió, thưa bác sĩ. Yên lặng không phải là dấu hiệu đầu hàng Pháp.
- Thả anh về, anh nghĩ sao?
- Tôi tìm đại đội của tôi tiếp tục đánh Pháp.
- Để làm gì, sau đó?
- Giải phóng Thái Bình như ước mơ của tôi.
- Làm gì nữa?
- Hưởng cuộc đời xưa. Giã từ vũ khí, tôi xây dựng lại căn nhà cũ của tôi, trồng hai hàng hồi thơm hăng hắc, và sống với những người thân yêu.
- Chỉ có thế?
- Vâng. Chỉ có thế.
- Anh sẽ thành tựu ước mơ của anh, vì anh không phải chiến đấu chống Pháp nữa.
- Sẽ thành tựu ước mơ?
- Đúng lắm. Anh đã thành kẻ tàn phế trong chiến tranh. Pháp không sợ anh, Việt Minh không dùng anh. Anh yên thân trở về. Cá nhân tôi rất cảm phục anh. Anh càng có sức chiến đấy, tôi càng mừng. Những vết thương trên thân thể anh không cho phép tôi nói anh đã bình phục hoàn toàn. Chứng chỉ của anh khi xuất trại sẽ ghi rõ: Thương binh tàn phế 100 phần 100.
- Tàn phế!
- Đừng buồn. Can đảm lên. Anh nằm xuống. Anh tốt lắm. Tôi sẽ gặp lại anh.
Người y sĩ đi khỏi, Vũ mới bần thần khôn tả. Cuộc đời chiến đấu của Vũ chấm dứt từ đây, ở bệnh viện dã chiến quân đội Pháp, nơi đã hết mình cứu sống Vũ. Nó đi chinh chiến năm năm, bây giờ, trở về với tấm thân tàn phế. Thái Bình chưa giải phóng, nó đã buồn bã hồi hương. Thái Bình sẽ được giải phóng, nó tủi hận quê hương không cần đến nó. Vũ đứng ở một góc phố, nhìn trộm người, lớp lớp đi qua trong niềm vui long trời lở đất của thị xã. Giá Vũ chết trận tại Thụy Anh, đã được vinh dự: Chết vì tổ quốc. Cái vinh dự đó, Vũ không hưởng trong cõi hư vô. Cha nó, dì nó và các em nó phải ngạo nghễ với đất trời. Một kẻ không thích sống hèn, đã sống hèn. Vũ là chàng thương binh Pháp bắt trong chiến trận sôi sục, cứu chữa những vết thương và ghi vào hồ sơ tù binh: Trần Vũ, tàn phế 100 phần 100. Kẻ thù hết sợ Vũ, cách mạng hết cần Vũ, có kiếp sống nào hèn mọn hơn? Từ sống hèn đến chết vinh, chẳng qua một câu Sauvez-moi, sauvez-moi. S’il vous plait. Lính nông dân chỉ biết chết vinh, không biết sống hèn. Vì không biết nói tiếng Pháp.
Vũ hình tưởng ngày xưa, Vũ trốn nhà đi làm liên lạc viên cho đại đội 4, trung đoàn 44. Vũ sung sướng vô cùng. Nó trở nên hữu ích cho tổ quốc. Cha nó tìm kiếm khắp nơi, Vũ rõ chuyện, nhất định không về. Nó coi gia đình như chiếc lá bay. Đất nước mới là cây cổ thụ treo leo giữa trời. Nó thù thực dân Pháp tự ngày thực dân Pháp chiếm Nam Bộ. Rồi, thực dân Pháp tiến chiếm thủ đô Hà Nội và các thành phố, các tỉnh lỵ Bắc Bộ.
Thái Bình bị đập phá hết nhà cửa, dinh thự. Nhìn thấy rõ quê hương mình tàn phá vì thực dân đe dọa sẽ xâm chiếm, Vũ căm thù thực dân Pháp còn thẫm nét hơn. Pháp đã sang Thái Bình, năm 1947. Rút ngay. Hồ chủ tịch quyết định Thái Bình là đồng không, nhà trống, sau đó. Vũ đã mong tuổi nó lên vội vàng. Để vào Nam tiêu diệt Pháp. Lại mong để vào bộ đội.
Vũ đã vào bộ đội. Vẫn đại đội 4, trung đoàn 44, dưới sự dẫn dắt của các anh trí thức thành phố. Trung đoàn 44 luôn luôn chiến thắng. Ở Hưng Yên. Ở Hải Dương... Trung đoàn 44 chưa biết thua trận. Các anh lính trí thức thành phố đánh Pháp thật hiên ngang, thật rạng rỡ. Cuối năm 1949, trung đoàn 44 dưỡng quân tại làng Thư Điền, Tiền Hải. Đầu năm 1950, Pháp chiếm Thái Bình và Vệ quốc quân bị giải tán. Thay đổi cấp chỉ huy hàng loạt. Trung đoàn 44 biến tích. Các anh lính trí thức thành phố đáng yêu đi đâu hết.
Bây giờ, Vũ là lính trong Quân đội nhân dân. Đảng lao động ra đời. Đảng sẽ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp. Vũ chẳng cần chi tới Đảng lao động, tới quân đội nhân dân, các văn nghệ sĩ học tập lớp chỉnh huấn, tới những bài hát suy tôn Liên xô, Trung hoa, tới giai cấp đấu tranh. Và, lính đánh Pháp, nông dân thay thế trí thức thành phố. Quân đội nào cũng được, lính nào cũng được, đảng nào lãnh đạo cũng được, miễn là làm cho Thái Bình mau mau giải phóng.
Một hôm, chính ủy của đại đội 14 - chính trị viên của đại đội 4 cũ - gọi Vũ nói chuyện :
- Đồng chí có hiểu tại sao bộ đội trí thức bỏ ra đi không?
- Không. Tôi không cần hiểu.
- Phải hiểu chứ, đồng chí!
- Thưa đồng chí chính ủy, xin đồng chí giảng nghĩa cho.
- Bộ đội trí thức thành phố là giai cấp tiểu tư sản, không thích hợp cho cuộc chiến đấu hôm nay và cho cuộc chiến đấu mai sau. Đảng đã gạt giai cấp tiểu tư sản ra ngoài cuộc kháng chiến chống Pháp.
- Thưa đồng chí, đồng chí cũng là trí thức mà!
- Tôi đã đầu hàng.
- Đồng chí đầu hàng ai?
- Giai cấp vô sản!
- Tôi không chú ý tới giai cấp, vì giai cấp nào cũng đánh Pháp. Tôi hằng mong Pháp đại bại ở Thái Bình, tôi trả súng ống cho Đảng, về sống với gia đình, chẳng màng gì vào cuộc chiến đấu mai sau nữa.
- Đồng chí có thể về với gia đình tự bây giờ.
- Thưa đồng chí, tôi đi từ liên lạc viên đến bộ đội, ngót nghét năm năm, không cấp bậc và cũng không cần cấp bậc. Năm năm chịu đựng gian khổ, tôi vẫn trung kiên giữ lời thề: Giải phóng thị xã Thái Bình. Nếu tôi bị Đảng gạt ra ngoài thì đành chịu. Bằng không, đồng chí cứ để tôi chiến đấu với lính nông dân đến ngày thị xã Thái Bình được giải phóng.
- Phải giữ đồng chí lại chứ. Đồng chí nên hiểu giai cấp của mình, chiến đấu càng đầy nghị lực.
- Thưa đồng chí, tôi ở giai cấp nào?
- Bố đồng chí là lái buôn hàng chuyến, chứ?
- Vâng.
- Thuộc thành phần trung thương, như trung nông ấy.
- Vâng.
- Đồng chí nằm trong giai cấp nông dân! Đó là giai cấp lính.
- Tôi được chiến đấu?
- Hãnh diện là khác.
- Tôi chiến đấu ở Thái Bình?
- Đồng ý. Chiến đấu tới ngày giải phóng thị xã.
Từ đấy, Vũ chiến đấu tại tỉnh Thái Bình, các mặt trận bên kia sông Trà Lý. Vũ làm liểng xiểng Pháp ở Quỳnh Cội, Phụ Dực, Thụy Anh, Duyên Hà. Một năm đầu, Pháp đại bại. Lính nông dân mơ làm anh hùng Nguyễn thị Chiên, La văn Cầu, Bế văn Đàn... cứ nhảy vào lửa, xông lên tiêu diệt địch quân. Pháp đã rùng mình kinh sợ.
Hai cuộc hành quân Trái Chanh, Trái Quít làm giảm cường độ chiến đấu của ta. Bây giờ, thế trận thay đổi, Pháp không chạy nữa, quân ta chạy dài dài. Pháp bắt được quân ta, lại thả ra vì là nông dân. Ta là người nông dân, mặc áo lính, Pháp không hiểu câu hát này, và có hiểu thì, nông dân thời chiến tranh có mặc áo lính bao giờ. Lính nông dân đi chân đất, đánh Pháp, người nông phu đi chân đất, cầy ruộng. Lính nông dân mặc áo cánh rách rưới, quần đùi, khi chạy Pháp, gói súng đạn vào ny lông, ném xuống sông ngòi, Pháp thộp cổ, nhìn những khuôn mặt hiền lành như... nông dân, Pháp thả ngay. Lính nông dân có lợi như thế đó. Phần đông ta đỡ hao hụt quân số.
Đến những cuộc hành quân đầy rẫy quy mô sau đó, cách mạng tan nát, kháng chiến rã bầy, bộ đội tán loạn. Tình hình ổn định, yên tĩnh khắp nơi, đấy là sự thắng lợi lớn của Pháp. Pháp chỉ tiễu trừ Việt Minh, không sát hại lương dân và thu lương dân về phía mình.
Cách mạng cho dân biết vẫn còn cách mạng. Thỉnh thoảng vài trận lớn xảy ra. Trận mà Vũ tham dự ở Thụy Anh là trận đánh lấy tiếng cho cách mạng. Cuộc đời đãi ngộ Vũ thật nhiều, một lần không đãi ngộ, một lần thôi, làm chếnh choáng tâm hồn Vũ.
Vũ nằm xuống giường bệnh. Nước mắt nó ứa ra...

123
- Tôi đã tháo băng trên mình anh. Những vết thương thành sẹo cả rồi. Có tắm rửa, anh nhè nhẹ kỳ cọ nhé! Kẻo những vết thương bị xước máu, làm độc.
- Thưa bác sĩ, vâng.
- Tay trái anh, tôi đã ghi rõ ngày tháng gỡ băng bột vất đi.
- Vâng.
- Đừng vì ngứa ngáy mà sốt ruột, nhé!
- Vâng.
- Bên quân đội đã cấp giấy tha anh chưa?
- Dạ, rồi ạ!
- Khoản tiền di chuyển nữa?
- Rồi.
- Chứng nhận bệnh tình của, tôi anh cất kỹ. Để anh xin việc làm được dễ dãi.
- Vâng.
- Cần gì tôi, anh cứ đến đây.
- Vâng. Tôi không quên ơn bác sĩ, suốt đời tôi nhớ bác sĩ.
- Anh nên nhớ rằng, mỗi người có một số phận. Số phận nó tới lúc nào, mình không biết. Chúc anh can đảm.
Người y sĩ đưa tay bắt chặt tay Vũ. Vũ chia tay người y sĩ ra về.
Nó mặc bộ quần áo bệnh nhân, tay trái dùng sợi dây vải đeo cổ, nâng cao lên. Kẻ tàn phế đang bước những bước chân bi ai qua cổng quân đội Pháp tới nhà thờ. Nó nhìn vào sân giáo đường. Im vắng. Lúc ấy, 9 giờ sáng, ngày 10 tháng 4 năm 1953. Vũ đi trên hè phố Bùi Viện. Con phố này, từ phố Lê Lợi, dẫn vào nhà thờ. Những nhà cửa công chức kín mít, không thấy người nào ngoài phố.
Vũ bước thật chậm. Mà, đã đến Lê Lợi. Nó rẽ trái để về nhà nó. Thoạt tiên, Vũ nhìn lên cầu Bo. Lòng nó vấn vương trăm ngả. Nó nghĩ đến hàng hồi mộng tưởng. Nếu một mai, có người yêu dấu kỷ niệm, cố tìm hạt giống hồi đem về thị xã trồng, đứng dưới phố chính, chẳng nhìn thấy cầu Bo. Cầu Bo, Vũ lẩm nhẩm, nơi nó đã dắt con Thúy lên chơi, nó gặp thằng súc sinh Dương, con lão phó cẩm, trêu ghẹo người yêu của nó, nó đánh cho hộc máu mồm, lão phó cẩm bắt nó xin lỗi, nó không xin lỗi và bị đuổi học. Những mảng đời con Thúy dính líu những mảng đời thằng Vũ, lây lất suốt năm năm Vũ theo kháng chiến, không bao giờ Vũ quên Thúy. Từ ngày ông y sĩ quân đội Pháp bảo nó tàn phế, nó sợ hãi, không dám nhớ Thúy nữa. Chả phải sợ hãi riêng Thúy, còn sợ hãi tất cả những người chung quanh nó.
Vũ định rướn vài bước nữa, sẽ đến phố Lý Thường Kiệt. Qua hiệu phở Phớn, Vũ ghé vào ăn một bát. Tiền của quân đội Pháp cho đây, cứ việc ăn. Vũ đã thấy vài người thị xã quen biết cha dì nó, nhận nó không ra. Có ai tưởng một thằng đầu trọc lốc, mặc quần áo bệnh viện, tay trái què quặt buộc cao lên là thằng Vũ? Thằng Vũ của Monguillot, nghịch như phá, đủ thứ kiểu chơi của học trò.
Phở Phớn bấy giờ đang đông khách. Vũ tìm chỗ ngồi. Bao nhiêu năm kháng chiến không được ăn phở Phớn. Ngửi mùi nước dùng cũng đã thòm thèm rồi. Vũ gọi phở. Một lát, người bưng bát phở ra. Vũ hít hà mãi mới ăn. Ăn xong, Vũ gọi một bát nữa.
Lúc ấy, Luyến ngồi trong hiệu, cứ ngó Vũ chằm chằm. Khi nhận ra Vũ, Luyến để mặc Vũ ăn phở. Chừng Vũ trả tiền, Luyến chống nạng vội vã sang bàn của Vũ.
- Vũ!
Vũ giật mình. Nó nhìn Luyến.
- Luyến!
Và đứng dậy, ôm lấy Luyến bằng một tay. Nó quên nó tàn phế. Mà nghĩ tới bạn cụt một chân đi nạng gỗ. Hai đứa khóc suớt mướt. Luyến đã nói nó phải tiết kiệm nước mắt để dành khóc hai thằng bạn thân nhất trên đời này là Vũ và Côn, nếu chúng nó bị cuộc đời xua đuổi. Côn thì Luyến chưa khóc, vì cuộc đời mênh mông chưa xua đuổi Côn, cộng sản đã xua đuổi, cộng sản bé nhỏ sao so nổi với cuộc đời. Vũ thì Luyến lại khóc, chưa biết ai xua đuổi Vũ, Luyến có linh cảm cho rằng cuộc đời xua đuổi Vũ. Hai đứa vẫn khóc. Nước mắt đã thẫm ướt trên hai vai áo. Khách ăn phở nhìn hai đứa. Mặc kệ, tình cảm nó dâng lên phải để nó dâng lên.
- Về nhà tao đi.
- Tao muốn về nhà tao trước.
- Bây giờ, bố mày vắng mặt, con Tú, con Mai đang ở trường, thằng Khoa lên Hà nội học rồi. Đến tao, trưa mày về đúng nhất.
- Ừ, về nhà mày.
Hai đứa ra khỏi hiệu phở. Trên hè phố chính, thằng mặc quần áo bệnh viện, tay trái què, đầu trọc lốc, đưa tay phải bá vai thằng cụt một chân chống nạng gỗ. Đó là cuộc đời mới nhất của hai thằng có mảng đời hoa niên lộng gió.
- Mày trong bệnh viện dã chiến ra, hả?
- Ừ. Sao mày biết?
- Tao cũng ở đấy.
- Bị bắt lúc bị thương như tao?
- Không, ở sân nhà tao, hôm quân Pháp sang chiếm Thái Bình. Tao thua mày xa, không đi liên lạc, tới tuổi, không vào bộ đội. Những năm tháng sống ở hậu phương, tao đi học, theo triết lý đợi thời đại xoay vần. Tao không theo kháng chiến, không chống kháng chiến, có cảm tình với kháng chiến, vì bạn tao, em tao đang kháng chiến. Thằng Ái say mê kháng chiến và biệt tích. Chị Nhi theo chồng về Hưng Yên. Anh Lưu theo vợ sang Hải Phòng. Còn mình tao, cụt một chân, sống với bố mẹ. Tao không vinh dự được bị thương vì tổ quốc, chẳng đóng góp xương máu chút nào cho giải phóng Thái Bình. Buồn chưa?
- Tao chịu đựng năm năm khổ sở cho cách mạng, chiến đấu rất hào hùng cho kháng chiến. Bây giờ, tao bị thương đến tàn phế, cách mạng chê bai, kháng chiến hết dùng, giặc Pháp không sợ, giải phóng thị xã mình ở cái khổ nào? Đời tao heo hút quá. Tàn phế rồi!
- Mày cụt tay, hả?
- Chưa cụt, chỉ sử dụng được 50 phần 100.
- Ngực mày nhiều vết thương, hả?
- Suýt chết.
- Mày vẫn đi được. Tao mới cụt chân, Vũ ơi! Tàn phế của mày nên nhường cho tao.
- Tao sầu đau vì thị xã chưa được giải phóng.
- Chắc mày thích vòng hoa chiến thắng đeo lên cổ mày và những tiếng hoan hô vang dội?
- Tao ham gì!
- Có những người, phần đông, không ích lợi cho cho giải phóng. Thế mà khi giải phóng thị xã, họ tung tăng trước đám đông, khoe khoang mình đã là người giải phóng. Có những người, rất ít, làm lợi ích cho giải phóng. Khi thị xã được giải phóng, họ âm thầm về nhà sống cô đơn như người thua trận. Người đáng yêu đó là mày, Vũ ạ! Mày quên tất cả chuyện kháng chiến đi, Giải phóng thị xã càng quên đi nữa, coi như cuộc chơi không tính toán nên hỏng bét. Phải, cuộc đời chỉ là cuộc chơi. Chơi cho tới cùng, tới lúc hết hứng. Mày vừa hết hứng, bỏ cuộc chơi vừa kịp thời. Cái tàn phế của mày, cái tàn phế của tao, cơ hội này, người ta đang chia rẽ giai cấp để giết nhau, chúng ta được bình yên đứng im nhìn thiên hạ tranh chấp. Thế thì tàn phế đâu có heo hút. Nó là cái may hiếm có...
Người y sĩ quân đội Pháp đã nói với Vũ: Mỗi người có một số phận. Số phận nó tới lúc nào, mình không biết. Bây giờ, nghe Luyến nói, Vũ cảm thấy nỗi tuyệt vọng trong người nó bị đuổi ra ngoài. Luyến không an ủi suông đâu. Luyến chí tình. Vì Luyến cũng tàn phế như Vũ. Luyến nói những điều rất chí lý. Vũ đi kháng chiến chỉ có một niềm ao ước nho nhỏ. Diệt tan thực dân Pháp, Vũ sẽ lui về, không mong cái gì khác để ham muốn. Vũ là người quê hương Thái Bình, Vũ phải làm cho rõ mặt Thái Bình. Diệt tan giặc Pháp, cách mạng chẳng chịu cho Vũ lui về, bắt Vũ nắm một chút quyền bính ở thị xã, ngày cách mạng giải phóng hoàn toàn tỉnh lỵ Thái Bình thì sao? Vũ hết làm chiến sĩ vô danh, đẹp ngút ngàn trời đất. Đi chiến đấu mưu đồ một thứ quyền lợi nào đó, không phải đi chiến đấu. Vũ không dám từ chối, thì Vũ đâu còn là Vũ. Cuộc đời chỉ là cuộc chơi. Cuộc chơi gồm nhiều trò chơi. Trò chơi kháng chiến của Vũ không tính toán. Đến lúc thân thể tàn phế là lúc trò chơi hết hứng. Lại có trò chơi khác, Vũ không chơi nữa, đứng xem thiên hạ chơi.
- Tao mở cửa nhé! Lúc này, bố ta làm ở Ty công chánh, mẹ tao đang bận rộn chuyện đồng bóng với bác cả Hồng. Chúng mình sẽ tự do trò chuyện. Xuống phòng riêng của tao, nhé?
- Ừ.
Hai đứa vào nhà. Vũ nằm trên chiếc ghế xích đu. Luyến ngồi lên giường sát cạnh bạn. Nó rút gói Cotab cho Vũ, để gạt tàn thuốc gần đó :
- Hút đi. Không biết hút, hãy tập hút. Từ nay, người tàn phế phải hút thuốc lá, mày ạ! Hút thuốc giải buồn phiền và suy nghĩ trong cô đơn.
Vũ rút một điếu. Luyến bật diêm cho Vũ đốt. Nó cũng ngậm một điếu, mồi lửa :
- Có bao nhiêu chuyện anh em mình xảy ra, từ ngày mày bỏ nhà theo kháng chiến, tao nói hết sáng nay, để mày nghe và hiểu. Sau đó, tao không nói nữa. Những chuyện mới sắp tới, sẽ tới và phải tới, làm chúng ta điên đầu. Thì giờ dùng cho nó. Thời đại vẫn xoay vun vút.
Vũ nhả khói thuốc :
- Nói chuyện thằng Khoa đi.
Luyến kể thằng Khoa theo gia đình hồi cư thị xã cuối 1950. Nó đã sống tiếp Vũ thời tuổi vàng hoa mộng ở Tường An. Nó quen con Liên, Nguyễn Kiều Liên, tản cư ở Hà Nội về Tường An. Nó yêu Liên. Khoa học rất giỏi. Nó đỗ trung học phổ thông và lên Hà Nội, nó bỏ đệ tam học nhảy đệ nhị. Nó đã gặp Liên khắng khít như cũ. Hai đứa sắp lấy nhau. Thằng Khoa hoàn toàn hạnh phúc. Nó gặp thằng Vọng...
Vũ nhổm ngưòi lên :
- Vọng ghẻ tầu!
Luyến cười :
- Vọng chính ủy, bí danh Kỳ Bá. Chúng mình cứu đói nó chậm ba ngày. Thầy Nguyễn Công Hoan cho người đến mang nó đi và dạy nó thành người cộng sản. Nó là đảng viên Đảng lao động, tức là Đảng cộng sản. Nó tâm sự với thằng Khoa rất nhiều. Vọng đã khóc, vì chúng mình thương nó, cầu chúc chúng mình thành công và hẹn sẽ gặp ngày Thái Bình giải phóng. Chính Vọng nằn nì gia đình mày vào thị xã. Nó đã hỏi cô Thi nào đó ở Tường An làm vợ. Nó mong ước thấp hơn chúng mình, dẹp tan giặc Pháp, nó sẽ về Tường An sống với vợ, làm ruộng chắt chiu nhau. Nó bảo nó thương Vệ quốc quân và trái tim nó vẫn hé mở cho lính tiểu tư sản đồn trú. Nó nói những câu tao thuộc lòng, tao coi thằng Vọng là bậc thầy của tao...
Luyến gạt mẩu tàn thuốc lá quá dài. Nó say sưa kể chuyện, quên đi mất thuốc lá kẹp giữa hai ngón tay :
- Thằng Khoa thông minh nhất thiên hạ. Nó thuộc một câu dài của Vọng: Thời cuộc như ngọn gió heo may, trải dài trên ruộng lúa vào mẩy. Thị xã Thái Bình giống hệt nước Việt Nam. Nhật đảo chính Pháp. Chết đói. Chết no. Cách mạng làm cuộc tổng khởi nghĩa. Giết Việt gian. Lụt lội, Tầu tước võ khí Nhật. Tiêu thổ kháng chiến. Tản cư. Pháp sang Thái Bình... Vẻ buồn tỉnh lỵ cũng là vẻ buồn dân tộc. Em thấy chưa? Một mai, em sẽ oán trách người này, bênh vực người nọ. Rồi, em sẽ ân hận, vì oán trách sai, bênh vực sai nốt. Con người này chống đối con người nọ không phải con người thích chống đối. Mà, hoàn cảnh nó dìu đi. Thằng Vọng đấy, mày thấy sao?
Vũ dập điếu thuốc :
- Thằng Vọng là giai cấp vô sản chính gốc. Dù nó có là cộng sản đi chăng nữa, ước mơ và tư tưởng của nó cũng là ước mơ và tư tưởng tiểu tư sản. Vọng cộng sản có tâm hồn tiểu tư sản.
Luyến hít một hơi thuốc dài;
- Nó có làm hại ai được không?
Vũ châm điếu thuốc mới :
- Không đâu. Hoàn cảnh nó dìu Vọng đi. Đảng cộng sản dìu Vọng đi. Mỗi lời, mỗi việc, Vọng phải làm theo lệnh Đảng. Nó mất quyền tha thứ cho người phạm tội. Tao thương nó lắm.
- Mày là Vọng, người cộng sản cứu mày, đưa mày lên danh vọng, mày có theo cộng sản không?
- Vấn đề đó thuộc về ân nghĩa. Tao theo cộng sản, chứ!
- Có một bạn thân của chúng mình không chấp nhận điều đó.
- Ai?
- Đặng Xuân Côn.
Vũ lại rướn ngưòi lên :
- Côn đã về đây à?
Luyến buồn rầu nói :
- Côn về đây, năm ngoái. Gia đình nó hồi cư về Hà Nội. Nó đi học sĩ quan ở Sơn Tây trốn về. Cộng sản quy định nó giai cấp tư sản, thành phần địa chủ ác ôn. Cộng sản đã giết ông nội nó, cụ Hào Điển, một cách dã man. Nó tuyên bố sắt máu: Nó chống cộng sản, nó và cộng sản không đội trời chung. Nó ghét thằng Vọng thậm tệ. Mày, thằng Lôc, nó ghét luôn, vì chúng mày chiến đấu cho cộng sản. Tao khuyên nó, nó không nghe. Nó về Hà Nội và không viết bức thư nào. Có lẽ, nó đã đoạn tuyệt chúng mình.
- Thù hận làm Côn điên lên rồi. Thương nó quá.
- Thằng Khoa bảo nó mất trí.
- Trò chơi giai cấp của cộng sản đấy. Giai cấp, giai cấp cái củ thìu biu à?
- Côn cũng chửi thế.
- Tao chán nản chuyện phân chia giai cấp. Người ta chia thành phần tao và quy định giai cấp cho tao.
- Mày giai cấp gì?
- Nông dân! Giai cấp lính, bị bóc lột từ bốn nghìn năm! Vì giai cấp nông dân, tao thoát cảnh khu trừ như bộ đội trí thức tiểu tư sản. Tao không được chiến đấu, bị đuổi về, tao sẽ thù hận cộng sản. Y hệt thằng Côn. Vọng tiên tri đúng, hoàn cảnh khốn nạn của một thời điêu đứng nó chia rẽ con người, Chia rẽ Côn và chúng mình.
- Côn không bao giờ trở lại Thái Bình nữa. Nó học ở Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức miền Nam để chống đối cộng sản.
- Chúng mình đã mất Côn, mất vĩnh viễn.
Nước mắt Vũ trào ra, loang đầy khuôn mặt. Nước mắt Vũ quyến rũ nước mắt Luyến. Những giọt lệ hiếm hoi để dành khóc cho Côn, Luyến đã khóc. Một thằng cụt chân, một thằng thương tích đầy thân thể, khóc vì những thằng bạn bị cuộc đời xua đuổi.
- Còn thằng Long?
- Nó chết trận ở Duyên Hà.
- Thằng Lộc?
- Không tin tức. Gia đình nó chưa hồi cư.
- Hết rồi, hả?
- Ngọc tình nguyện lấy tao làm chồng.
- Mày ấm lòng, nhé!
- Con Thúy...
- Đừng nhắc nữa.
Vũ đứng dậy :
- Toàn chuyện buồn thảm. Tao đi kháng chiến giải phóng, chẳng được tích sự gì. Cộng sản, giai cấp, thù hận, chia ly, chết chóc. Kết luận của đời tao là tàn phế.
Luyến chống nạng đứng lên :
- Những chuyện đời buồn thảm mà tao đã chịu đựng ở thị xã không thiếu gì. Thôi, cứ im lặng chờ đợi thời đại vần xoay.
Vũ nói :
- Tao sợ gia đình chưa hồi cư, bước chân có vẻ hồi hộp đến phố nhà mình. Giờ thì chắc chắn rồi, tao về nhé!
Luyến hỏi :
- Mày có muốn thay bộ quần aó bệnh viện, đội cái mũ, đi đôi giầy không?
Vũ nhăn nhó :
- Tao thích bố tao, dì tao và các em tao ôm bụng rũ ra cười, tưởng chừng tao đã giang hồ cống Đậu!
Luyến đưa bạn một khúc phố. Vũ nhìn lại đàng sau. Nước mắt nó ứa ra.

124
Trời xuống thấp cho quạnh hiu mộ phần.
Và khói lấp nên đời xa mờ dần.
Ôi mùa thu, mùa thu cuối lối.
Ôi mùa thu, hẹn nhau đã tới.
Có nghe chuông khua vang cáo phó hồn tôi?
Nhạc thiều hư không...
Dục gọi thân phận cát về kiếp mịt mùng.
Để nuối tiếc trăm năm làm người lẻ loi.
Để thông reo ngàn năm sám hối tội lỗi,
với vô thường lập lỏe ánh vỡ sao rơi.
Sầu đạo xưa tôi đến còn nhớ lại gì?
Rừng bí tích xui tôi lạc vào nẻo mê.
Mải rong chơi bỏ quên trái cấm...
Rồi nhạc thiều âm ty đưa tôi đi...
Giọt nưóc mắt rơi buồn tênh đường trần.
Sợi nắng úa soi thời gian ngại ngần.
Ôi mùa thu hẹn nhau đã tới.
Ôi mùa thu, mùa thu cuối lối.
Bánh xe tang lăn trên xác lá mồ côi...

Vũ thổi kèn ác mô ni ca bài Cuối thu đường đời của anh bộ đội tiểu tư sản, viết cả lời lẫn nhạc, gửi cho, trước khi bộ đội tiểu tư sàn bị gạt ra cuộc kháng chiến chống Pháp. Rồi anh ấy chết. Bấy giờ, Vũ chỉ thấy Cuối thu đường đời buồn thảm, không thích hợp với cách mạng hôm nay. Bây giờ, ôm những vết thương chiến địa, Vũ mới hiểu anh bộ đội tiểu tư sản gửi gấm tâm sự thật khéo léo vào bản nhạc. Cách mạng mùa Thu dẫn tới cuối thu đường đời, mùa thu cuối lối, tận cùng đường đi. Còn một chỗ nằm cho anh: Mộ phần hiu quạnh. Ôi, bánh xe tang lăn trên xác lá mồ côi, sao mà sầu heo hút thế! Xe tang lăn trên xác lá, đã sầu, lăn trên xác lá mồ côi, còn sầu gợn gai ốc. Vũ tin rằng, anh bộ đội hiểu, sẽ có lần, mình buồn muốn chết, khi tỉnh giấc chiêm bao cách mạng, nên tặng Vũ tâm sự của anh. Vũ không chiêm bao cách mạng. Nó chiêm bao giải phóng, mà giải phóng nhỏ bé thôi, giải phóng thị xã của nó. Nó đã buồn rồi.
Thấm thoát, Vũ trở về với gia đình được ngót bảy tháng. Những vết thương ở bụng, ở ngực lành lặn cả. Tay trái của nó chỉ cầm những vật nhẹ. Tóc nó đã xanh um. Hè qua, thằng Khoa về Thái Bình chơi một tháng. Nó đã đỗ tú tái 1, ban toán. Khoa yêu Vũ vô cùng. Bao nhiêu thương nhớ Vũ từ lúc trốn nhà đi kháng chiến; bao nhiêu kỷ niệm ấu thời của nó, nó ôm Vũ vừa khóc vừa kể. Nó khoe mối tình của nó với Liên. Vũ sung sướng thấy Khoa no tròn hạnh phúc. Khoa nói nó đã tìm con đường đi mà cả bạn lẫn thù cùng kính trọng. Khoa sẽ học thuốc. Nếu gia đình không lo nổi, nó theo quân y. Vũ bằng lòng lắm. Đáng lẽ, cha Vũ viết thư cho Khoa bảo nó về ngay thăm Vũ. Vũ đã gàn cha để yên cho Khoa học thi, hè nó về, nó càng ngạc nhiên. Khoa ngạc nhiên thật. Thấy Vũ bị thương đến tàn phế, nó đã khóc dầm dề. Rồi nó theo triết lý Tái ông thất mã của Luyến an ủi anh nó. Khoa lên Hà nội đã ba tháng. Nó chăm viết thư cho Vũ, khuyến khích Vũ và hối thúc Vũ đọc sách cho nhiều. Đời sống của Vũ trở nên bình thường, như tất cả đều bình thường ở thị xã.
Tình hình mỗi ngày một khả quan. Không có súng nổ ở các huyện lỵ xa thị xã Thái Bình. Phụ Dực, Quỳnh Côi, Kiến Xương hay Tiền Hải đều yên tĩnh. Cái vẻ tiêu thổ kháng chiến vẫn còn thẫm nét. Cứ thế này mà sáng sủa thêm, mười năm nữa, nhà cửa sẽ xây dựng bằng xi măng cốt sắt, nước máy sẽ có tràn trề, điện sẽ dùng thả cửa, đình đám hội hè sẽ mặc sức làm. Cầu Nghìn ở Đồng Bằng sẽ bắc lại. Ô tô hàng Con Sóc, Con Ngựa Bay sẽ tiếp tục chạy Nam Định-Thái Bình-Hải Phòng và Hải Phòng-Thái Bình-Nam Định, cạnh tranh với Con Voi của ông Lê văn Định. Bây giờ, Con Voi cứ tạm độc quền trên đường số 10. Vũ sẽ khoan khoái lắm, nếu hai hàng hồi được trồng, ở phố chính Lê Lợi.
Luyến thích triết lý theo thời đại. Nó khăng khăng phát ngôn theo thời đại, không phải theo thời. Theo thời, sống vương giả, một quãng đời nào thôi, khi thời đổi thay, sẽ khổ sở. Theo thời đại, chịu đựng luôn cả sự xoay vần của thời đại, xem thời đại, Luyến bảo mình đói khát tài năng, đành làm người theo thời đại. Thực ra, mình muốn làm người sáng tạo ra thời đại. Để thành Thành Cát Tư Hãn, Hitler, Lénine... Những kẻ theo Lénine là những kẻ theo thời đấy. Thằng cụt chân Luyến đã vẽ một con đường mà theo. Nó khẳng định theo thời đại, không chống đối kẻ theo thời nào. Cùng với thời đại vần xoay, những kẻ theo thời chết trước, đau đớn và nhục nhã. Nhưng mà, Luyến bảo, chẳng ai có quyền cấm đoán kẻ theo thời đại, bất mãn người và việc, hành động sai láo trong thời đại. Luyến muốn nói gì tự do nói.
Sáng nay, Vũ rủ Luyến và Ngọc xuống Đoan Túc ăn canh bánh đa nấu cá rô. Nó kê ngoài cửa hai chiếc ghế xích đu, một chiếc ghế dựa. Luyến trễ hẹn quá. Vũ chơi bài Cuối thu đường đời và suy nghĩ vẩn vơ mãi, Luyến vẫn chưa tới. Rút bao thuốc lá, Vũ hút cho đỡ sốt ruột. Chiếc ác mô ni ca này đã thổi Chiều quê của Hoàng Quý, cha cất nó kỹ. Vũ về mới có cây kèn kỷ niệm thổi nhạc. Vũ muốn khoe bản nhạc với Luyến. Tuyệt buồn. Kia rồi, Luyến và Ngọc đã tới. Tiếng nạng gỗ khua lọc cọc làm cả phố biết.
- Muộn thế?
Ngọc chỉ Luyến :
- Tại Luyến nghịch ngợm cãi với Ngọc, phải đứng lại một lúc, rồi trở lại nhà giở Việt Nam sử lược ra tra.
Vũ cười :
- Các bạn đấu tranh văn hóa, hả? Ngồi xuống đi, Ngọc! Thằng Luyến nằm xích đu.
Luyến nói :
- Tao bảo phố nhà mày cách mạng đặt tên mới Lý Thường Kiệt. Hồi Pháp đô hộ, nó vác thằng lái buôn Jean Dupuis nhét vào phố nhà mày. Jean Dupuis - Đồ Phổ Nghĩa - làm sao sánh nổi Lý Thường Kiệt, năm 1076, viết tuyên ngôn độc lập đầu tiên ở nước ta. Ngọc không tin. Ức quá, tao trở về nhà lôi Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim ra tra. Bèn đọc to: Nam quốc sơn hà Mam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư, Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Ngọc chịu thua, cô nàng cứ bảo Hồ Chí Minh viết tuyên ngôn độc lập đầu tiên.
Vũ gạt tàn thuốc :
- Jean Dupuis đã sinh sự, hỗn láo với triều đình ta. Ta sinh ở phố Jean Dupuis nên đã sinh sự, hỗn láo với mọi người. Hai bạn chỉ vì Jean Dupuis mà sinh sự, kiện cáo nhau. Jean Dupuis đúng là thằng súc sinh, nó làm trễ hai bạn.
Cả ba đứa cười thích thú. Luyến lôi Cotab ra hút. Ngày xưa, Vũ hay rủ Côn xuống Đoan Túc ăn canh bánh đa cua đồng. Canh bánh đa cua đồng Đoan Túc ngon hơn thị xã. Cái mầu gạch cua phi với hành mỡ, nó vàng nháy, thơm vô tả. Bây giờ, Côn xa Vũ rồi, thù hận Vũ, Vũ mời Luyến và Ngọc. Để nhớ Côn. Con đường từ phố Lý Thường Kiệt đến Đoan Túc nào có xa xôi mấy. Vũ và Côn đi bộ mất hai mươi phút. Hôm nay, Luyến cụt một chân, chống nạng lê bước, cũng một tiếng là cùng. Vũ nhìn đồng hồ. 9 giờ. Còn sớm chán.
- Tao vừa nhớ bài Cuối thu đường đời của anh bộ đội tiểu tư sản tặng. Bản nhạc ôm tâm sự anh ta. Anh bộ đội đã chết, trước khi anh bị gạt ra khỏi cuộc kháng chiến chống Pháp. Buồn lắm. Tuyệt buồn.
- Hát đi.
- Tao hát trước, thổi ác mô ni ca sau, nhé!
- Ừ.
Vũ hát. Không hay. Nó diễn tả thật đúng tâm sự anh lính tiểu tư sản. Rồi nó thổi kèn. Tiếng kèn của Vũ bắt cả khu phố phải ra đường thưởng thức. Nó chơi chầm chậm. Nỗi buồn man mác đi vào lòng người nghe, từ từ thành một cơn đau quằn quại, tê buốt ruột gan. Vũ dừng lại. Cơn đau vẫn trải dài. Và nước mắt thẫm má nó.
Luyến và Ngọc khóc tự bao giờ không biết. Khán thính giả khu phố đứng dài buồn thiu.
- Anh lính ấy tên là gì?
- Vũ Thương Anh.
- Anh ấy trót mê cách mạng mùa Thu, bước đi lỡ trớn đời. Anh không quay lại được, phải chết, nhìn thấy xe tang của mình lăn trong cuộc đời khốn khó. Cách mạng mùa Thu đã anh bước đầu, dẫn anh đến cuối lối.
- Đúng đấy.
- Mày cũng trót mê cách mạng mùa Thu, đi mãi, thành người tàn phế. Ông Hồ Chí Minh không bao giờ tàn phế. Ông Phạm văn Đồng, ông Võ Nguyên Giáp... không bao giờ tàn phế. Vì các ông ấy không mê cách mạng mùa Thu, chỉ nói về cách mạng mùa Thu, toàn những đất nước, tổ quốc, anh hùng, dũng sĩ, độc lập, tự do, dân chủ, chiến đấu, kháng chiến, thành công... Những thằng bạn tao đi kháng chiến, tao sợ chúng nó hy sinh tính mạng cho những người không mê cách mạng mùa Thu. Những thằng bạn tao không chết, như mày, Vũ ạ, trở về với gia đình, tao nói rõ tư tưởng của tao. Hiểu chưa?
- Hiểu rồi.
- Hiểu thôi, chúng mình không chống đối cộng sản, nhé! Cộng sản đã đến chu kỳ bão lửa, kẻ nào chống đối cộng sản là tự nguyên biến thành que củi ném vào bão lửa. Cộng sản sẽ chấm dứt chu kỳ bão lửa, sẽ thành tro nguội, chưa biết ngày nào. Thời đại chẳng báo trước bao giờ nó xoay vần.
Ngọc ngồi im, nghe hai người nói chuyện.
- Mày sẽ là nhân vật chính trong lịch sử tiểu thuyết Cầu Bo trầm lặng của tao.
- Cái mà người tàn phế sẽ được vinh dự ở trong tiểu thuyết?
- Chỉ người tàn phế như mày thôi.
- Bao giờ mày viết?
- Còn lâu.
- Đến bao giờ?
- Vừa đợi thời đại xoay vần, tao vừa nuôi dưỡng những nhân vật tiểu thuyết của tao, cho nó cứng cáp, có chiều sâu, chiều rộng.
Vũ đứng dậy, đút ác mô ni ca vào túi :
- Thôi, đi ăn bánh canh cá rô. Tháng này, hết cua đồng rồi.
Ba đứa đến ngã tư Vũ Tiên - Thị Xã, rồi rẽ phải, xuống Đoan Túc. Trời tháng 11, chưa lạnh mấy. Con đường đi rét mướt vì trống không nhà cửa, gió đông từ cánh đồng đã gặt lúa lùa lên. Chim én đã lác đác bay về. Vũ yêu con đường Đoan Túc như yêu kỷ niệm ấu thời của nó. Dạo ấy, hiệp sĩ Triều Dương Hiệp Vũ thường phóng phi tiêu cho hiệp sĩ Hà Nguyên Khánh, dặn cố xoay vài đồng, xuống Đoan Túc, chén canh bánh đa...

125
Mùa đông tàn. Mùa xuân tới. Mùa hạ sang. Mùa hạ 1954, mùa hạ rực rỡ của thị xã Thái Bình. Không ai nói tới cách mạng nữa. An ninh quốc lộ, huyện lộ bảo đảm 100 phần 100. Chiến sự im vắng. Tình hình ổn định tối đa. Người Pháp hài lòng nhìn thấy thành quả của mình. Dân thị xã bắt đầu tính chuyện làm giầu dài hạn. Cứ thế, tháng 4 rủ tháng 6 qua.
Khoa viết thư cho biết hè năm nay nó về muộn. Thi cử xong, nó còn phải ghi danh lên đại học. Tháng 6 chẳng bắt dân chúng lo sợ. Dù thông cáo của Bộ tối cao chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp đăng trên Tia Sáng, Giang Sơn, ngày nào cũng có một tỉnh di tản chiến thuật. Di tản chiến thuật rồi lại chiếm đóng. Người ta nghĩ vậy. Thoạt đầu, các tỉnh thượng du di tản chiến thuật. Sau đến, các tỉnh trung du di tản chiến thuật. Thái Bình vẫn yên ổn. Cuối tháng 6, nhiều tỉnh đồng bằng di tản chiến thuật. Thái Bình bình chân như vại.
Đến ngày 29 tháng 6, l954, lúc 11 giờ sáng, thị xã hốt hoảng tin chạy loạn! Chạy giặc, về với giặc. Giặc bảo chạy loạn, loạn nào? Thiên tai giáng xuống thị xã liên tiếp. Nhà nào nhà nấy quýnh cả lên, thu dọn gấp đồ đạc. Để chạy loạn. Đồ đạc mang chẳng xuể, người ta chỉ đem mấy bộ quần áo và tiền bạc di tản về làng mạc lân cận. Hết tản cư, hồi cư, rồi di tản!
Gia đình Vũ bối rối vô cùng. Vũ khuyên cha đưa dì, hai em chạy lẹ xuống Đoan Túc, tá túc người bà con ít ngày. Nó ở lại thị xã giữ nhà. Quân Pháp rút lui cố tình chơi chữ: Di tản chiến thuật. Pháp rút lui đây, không hiểu vì lý do gì, nhường đất cho cách mạng. Di tản chiến thuật ở đó. Vũ nhấn mạnh: Chẳng có giặc nào cả, cha nó cứ đưa gia đình tạm lánh vài hôm, rồi sẽ về thị xã. Cha Vũ tin lời Vũ, vội vàng dắt vợ con di tản. Vì giặc Pháp, thị xã tiêu thổ kháng chiến, dân chúng tản cư. Nhờ giặc Pháp, dân chúng vui vẻ hồi cư. Bởi giặc Pháp, dân chúng tán loạn di tản.
Gia đình Vũ rời khỏi thị xã. Đến xế chiều, không còn bóng dáng ai trên phố chính. Thị xã trống vắng, Chỉ còn những người què cụt ở lại trông nhà mình. Lính Pháp, lính Lê dương, lính Pác ti dăng, lính Bảo chính đều cấm trại. Người Pháp muốn dân thị xã hốt hoảng chạy giặc để di tản chiến thuật được bình yên vô sự. Pháp đểu giả thật. Vũ tin chắc Luyến không đi đâu cả, cứ thị xã mà bấu víu. Nó tìm gặp Luyến.
- Tao biết, mày ở lại thị xã.
- Gia đình tao vọt xuống Đoan Túc rồi.
- Bố mẹ tao di tản chiến thuật với Pháp, hiện đang tập trung tại Tòa tỉnh trưởng. Tao mà di tản ư? Con Ngọc cũng trốn nhà, từ chối di tản. Nó ở Thái Bình với tao, vừa về nhà lấy ít quần áo, sang đây ngay bây giờ. Công chức được di tản với Pháp. Ai khước từ, tùy ý. Bố tao đã ngán ngẩm tản cư, không thích khổ sở di tản về nông thôn nữa.
- Bố mày có lập trường riêng.
- Mày ở đây ăn cơm với tao. Ngọc đặc trách nấu nướng. Ở đây mà xem thời đại nó vần xoay.
- Mở cửa à?
- Không, lỗ cửa nhỏ thôi.
- Đau đớn cho ai?
- Bọn Pháp. Đang mạnh hóa yếu. Pháp thua trận Điện Biên Phủ tháng 5, đến nay mới rút khỏi Thái Bình. Điện Biên Phủ, ba tiếng não nề và nhục nhã cho quân đội viễn chính Pháp. Chính phủ Pháp tin Mỹ lắm. Và tin như nô lệ Việt Nam tin thực dân Pháp, nên Mỹ nó đá cho một phát lăn cu chiêng, không giẫy giụa.
- Viện trợ chứ gì?
- Mỹ cam kết viện trợ quân sự cho Pháp. Rồi, rất tự nhiên, Mỹ từ chối vài phi vụ B 26 trải bom xuống Điện Biên Phủ. Mỹ cúp viện trợ cho Pháp luôn. Pháp đành ngao ngán... di tản chiến thuật.
- Pháp có đầu hàng toàn diện hay chỉ đầu hàng Điện Biên Phủ?
- Tao không biết. Chờ thời đại xoay vần.
- Mỹ bần tiện quá nhỉ?
- Nó đã tiếp tế vũ khí cho Việt Minh giết phát xít Nhật. Nó lại trở mặt, viện trợ cho Pháp giết Việt Minh. Sau chót, nó cúp viện trợ quân sự cho Pháp để Việt Minh thắng Pháp. Còn gì nữa, tao không biết. Cái ngày Mỹ viện trợ sữa bột, phó mát, thuốc trừ muỗi, vải vóc cho dân thị xã Thái Bình, tao đã suy nghĩ nhiều, nhưng chẳng hiểu nổi. Liền đó, tao đi xem phi cơ Spitfire của Mỹ viện trợ cho Pháp bỏ bom, bắn phá, giết dân Việt Nam, tao cũng mù tịt ý định của Mỹ.
- Tao có cảm tưởng Việt Nam như con đĩ tội nghiệp! Nhật đã chơi Việt Nam, giết ngót hai triệu người, rồi cút. Tầu đã chơi Việt Nam, quấy hôi bôi nhọ, ẵm tuần lễ vàng, rồi rút. Pháp đã chơi Việt Nam, gây tổn thương bao nhiêu xương máu, rồi sẽ rút. Còn khách làng chơi bần tiện và gian trá Mỹ. Nó sẽ giở trò gì? Cứ giầu là có quyền làm hại người nghèo. Trời ơi, còn Liên xô vĩ đại! Côn theo ai? Chắc là theo Mỹ. Vọng theo ai? Chắc là theo Liên xô. Tư bản sẽ choảng nhau với cộng sản, trên đất nước gồm toàn những thằng cụt chân, què tay, tàn phế. Phải thế không, mày?
- Đợi thời đại xoay vần.
- Hết đời mình chăng?
- Có thể.
- Chán quá.
- Lát nữa, thời đại xoay vần ở thị xã chúng mình.
- Thằng Pháp đau nhất chứ?
- Thứ nhì, thằng Bảo Hoàng.
- Thứ ba?
- Chúng mình.
Ngọc đã chạy vụt sang nhà Luyến. Nhà máy điện cho đèn phố xá cháy từ sáng sớm. Bây giờ, Vũ mới nhận thấy. Trời đã về chiều. Mới vào thu, mặt trời lặn sớm, khiến cảnh tượng thị xã càng tiêu điều, heo hút. Từ phía nhà thờ, đã nghe tiếng xe nổ. Chiếc phi cơ Bà Già lượn trên không trung liên miên, quanh vùng trời thị xã. Luyến mở cái lỗ nhỏ trên cánh cửa nhìn ngoài phố chính. Nó gọi Vũ tới gần. Lỗ nhỏ được chia đôi. Luyến nhòm mắt bên trái, Vũ mắt bên phải. Chung quanh thị xã và các làng gần gũi, dân chúng cũng đang hồi hộp hướng về thị xã. Những chuyện gì sẽ xảy ra?
Xe tăng bên kia sông Trà Lý, đã về đầy đủ cùng với lính ở các đồn bót, đậu trên cầu Bo. Được lệnh, bốn chiếc xe tăng nghiến đường phố chính, đi thẳng tới ngã tư Vũ Tiên-Thị Xã. Xe tăng dẫn đầu cho những xe căm nhông, xe jeep.
- Mày trông rõ chứ, Vũ?
- Rõ.
- Xe tăng ở mặt trận bên kia sông đấy.
- Ừ.
Đến lượt xe căm nhông chở công chức, vợ con di tản. Họ sang Nam Định. Xe chạy ra ngã tư Vũ Tiên-Thị Xã, thế nào cũng chạy thẳng bến phà Tân Đệ. Trời tối rồi. Xe của lính Bảo chính xen kẽ với xe của Pác ti dăng. Di tản chiến thuật, chắc chắn không bị truy kích. Nhưng luôn luôn, cấp chỉ huy đề phòng những cuộc mai phục của dân quân, du kích, dù họ biết, từ một năm nay, quân sự của Việt Minh trên đà xuống dốc.
Đoàn xe di tản khá dài. Khi bốn chiếc xe tăng bọc hậu qua cầu Bo, một tiếng nổ rung chuyển thị xã vang lên. Chưa biết đâu bị phá hoại. Tiếng nổ thì nghe ở mạn cầu Bo. Chiếc phi cơ Bà Già vẫn bay lượn. Nhà máy điện vẫn chạy. Không còn một xe di tản nào hết, thị xã chìm vào hoang vu. Lúc này, chỉ có tiếng máy điện ầm ỳ, nghe rõ mồn một. Và tiếng máy bay Bà già. Người Pháp chơi trò giả vờ vụng về. Họ còn chiếm đóng Thái bình đấy. Bằng chứng, Bà Già vẫn bay lượn, nhà máy điện vẫn cung cấp ánh sáng ban đêm.
Nửa đêm, máy bay Bà Già im tiếng. Máy điện chưa im hơi. Nó chạy hết đêm nay, vì dầu hết và không người điều khiển. Đoàn xe di tản đã vượt sông Hồng vào Nam Định rồi. Gần năm năm, người Pháp tình tự với sông Trà Lý, tưởng mang được cái gì về. Không ngờ, di tản chiến thuật, tay họ trắng bóc. Có chút nhục nhã ghim vào trái tim họ.
- Đêm nay, mình phải thức cả đêm không ngủ.
- Còn thuốc lá không?
- Mới mua một tút.
- Cần phải hút hơn là ăn, đêm nay.
- Ngọc đã thổi cơm.
- Tối chưa đói, đêm no nhiều.
- Mày đã nghĩ làm gì, sáng mai?
- Làn chủ thị xã.
- Hay.
- Làm chủ mấy ngày ấy mà. Cách mạng sẽ hứng lấy.
- Chúng mình làm chủ thị xã vô chính phủ. Thế mới hách.
- Buồn cười ghê. Chúng nó như trẻ con, đánh lấy được rồi thua lấy được.
- Tất cả, đều là trò chơi. Chiến đấu cho tự do, dân chủ là trò bịp. Chiến đấu cho tư bản là ngu. Chiến đấu cho vô sản là dốt.
- Sao lại là ngu, là dốt?
- Mày có tư bản không?
- Không.
- Ngu. Mày có vô sản không?
- Không.
- Dốt. Chừng nào tư bản và vô sản chết ngỏm, cuộc đời mới có ý nghĩa.
Câu chuyện đêm không ngủ của Vũ và Luyến tới đó bị tắt điện. Máy điện đã ngưng chạy. Chẳng nghe tiếng ầm ỳ của nó nữa. Thị xã im lặng, tối mò. Hòa bình tới đó. Dân chúng không ra đường cho niềm vui tột độ của mình nó trào ra. Hòa bình tới đó. Dân chúng chạy ra bốn ngả, ruột quặn đau, tim ngừng đập, chỉ sợ gặp giặc. Người Pháp đúng là quân xỏ lá kềnh. Họ di tản chiến thuật. Dân thị xã chạy giặc lêu bêu.
- Luyến này!
- Gì?
- Ngủ đi nhé!
- Ngủ làm chi?
- Để quên mọi ẩn ức. Sáng mai, tao làm chủ thị xã, phải đi quan sát đất nước này, xem vụ phá hoại xảy ra tự đâu. Trái tim tao đau nhói, khi tao tưởng giặc Pháp giật sập cầu Bo.
- A, cầu Bo, cầu Bo... Nó cứ giật sập đi, tiểu thuyết Cầu Bo trầm lặng của tao sẽ có đoạn kết bi hùng.
- Nó giật sập cầu Bo, nó sẽ chết với tao. Bao nhiêu kỷ niệm ấu thơ của tao đã gửi trên cầu Bo.
- Bao nhiêu lịch sử đã xảy ra trên cầu Bo. Mày đừng giết những thằng thua trận nữa. Để tao hỏi tội dân tộc chúng nó. Mày nói đúng, chúng ta nên đi ngủ. Thôi, ngủ đi!
Vũ vừa nằm vừa nghĩ tới cầu Bo. Tiêu thổ kháng chiến, không phá cầu Bo. Thế mà, hôm nay rút lui, Pháp đã phá cầu Bo...

126
Một nhịp cầu Bo bị quân Pháp gài mìn giật đổ nát. Pháp sợ rút lui khỏi các huyện lỵ bên kia sông Trà Lý, cách mạng biết, truy nã Pháp, kế hoạch di tản chiến lược sẽ gặp rắc rối, phải tiêu hủy một nhịp cầu Bo để đề phòng. Mới có một nhịp, một nhịp thôi, Vũ đã khóc rồi. Tháng này, nước lũ đã đẩy mạnh về xuôi. Nước lũ chưa lớn lắm. Khi chảy qua cầu, nước lũ trôi theo nhịp cầu đổ, tiếng gầm không thét to dưới chân cầu.
- Chẳng nước lớn nào thương nước nhỏ, Pháp cũng thế thôi, Luyến ạ!
- Hồi chưa bị tàn phế, mày giết bao nhiêu thằng Pháp?
- Ngoài trận địa, có khi nhiều, có khi chả có thằng nào, biết làm sao mà nói được.
- Cứ kể mày giết được hai thằng di.
- Thế thì sao?
- Mày là anh hùng của cách mạng, là sát nhân của giặc Pháp. Nó thù mày, nó phá cầu Bo.
- Suy nghĩ nhảm rồi.
- Đế quốc có bao giờ thương yêu tiểu nhược quốc. Nước mình còn thù ghét nước mình, nữa là. Bảo Hoàng tiêu diệt cách mạng. Việt Minh giết Bảo Chính. Giai cấp vô sản đánh nát các giai cấp khác. Mình hỏi nước mình có thương yêu mình không, nước ngaoài thì miễn kể. Pháp nó sòng phẳng ra phết, đổi cái máy điện lấy nhịp cầu Bo. Thôi, ông chủ thị xã, đi xem có gì mới không?
Không có gì mới. Chỉ là thị xã tiêu thổ kháng chiến hôm qua, thị xã có nhà bỏ hoang, trống rỗng hôm nay. Kiểm điểm thành tích của thị xã xem. 80 năm nô lệ thực dân Pháp. Một cuộc vùng lên ngoạn mục của làng Đông Cao, Tiền Hải. Bốn năm nô lệ phát xít Nhật. Không chiến Mỹ - Nhật ở Quỳnh Côi. Nhật đảo chính Pháp. Chết đói ở riêng Thái Bình non ba mươi vạn người. Tổng khởi nghĩa giành độc lập. Các đảng phái giết nhau. Sông Trà Lý bục vỡ đê, khiến 12 phủ huyện lầm than, trừ Tiền Hải, huyện lỵ nằm ven biển. Tầu sang tước khí giới Nhật. Đóng góp vàng hối lộ Tầu cho Tầu cút về nước. Hồ Chí Minh thăm thị xã Thái Bình. Hoàng Sĩ Tính chỉ huy quân sự thị xã bị xử tử, vì để giặc Pháp hành quân chớp nhoáng sang Thái Bình năm 1947. Tiêu thổ kháng chiến. Giặc Pháp chiếm Thái Bình. Tản cư về hậu phương nông thôn. Chiến tranh và kháng chiến. Giai cấp và giai cấp đấu tranh. Bảo Hoàng và Bảo Đại. Khố đỏ khố xanh, đổi dáng thay hình. Mỹ viện trợ sữa bột, phó mát cho dân thị xã. Pháp di tản chiến thuật khỏi thị xã. Hãy chụp ảnh Thái Bình, phóng to lên mà xem! Nó cũng giống hệt những thành phố, những tỉnh lỵ trên đất nước Việt Nam. Còn ngậm ngùi hơn là khác. Có tỉnh nào bị tiêu thổ kháng chiến như Thái Bình? Có tỉnh nào bỏ nhà xây dựng trong vùng tề trống không, chạy loạn di tản chiến thuật của Pháp? Ôi, Thái Bình của Vũ, của Luyến, của Côn, của Long, của Lộc, của Vọng sao mà cảm xúc thế! Vẻ buồn tỉnh lỵ nó giống hệt vẻ buồn dân tộc.
- Luyến này, mày nghĩ gì về Thái Bình?
- Hôm qua hay hôm nay?
- Hôm nay.
- Hôm nay, Trần Vũ, người bị tàn phế, làm chủ lâm thời thị xã vô chính phủ.
- Đứng đắn tí, mày?
- Đứng đắn chứ! Thị xã đã qua tay bao chính phủ. Triều đình Huế. Toàn quyền Pháp. Chủ soái Nhật. Chủ tịch cách mạng. Quốc trưởng Bảo Hoàng. Bây giờ vô chính phủ! Mày làm chủ lâm thời thị xã, là vẻ vang cho dân thị xã đấy. Vài hôm nữa, dân sẽ lục tục kéo nhau về.
- Là hết vô chính phủ?
- Còn.
- Đến khi nào?
- Cách mạng về tuyên bố chính phủ mới toanh.
Dân chúng đã lác đác về thị xã. Một tuần lễ sau, dân chúng về hết. Mới đầu, không ai bảo ai, chợ họp ban đêm và ít ra đường phố. Người ta đề phòng giặc Pháp hồi cư chiến thuật, đem máy bay dội bom, bắn phá, trước khi hồi cư. Vừa mới thân giặc Pháp, lại sợ giặc Pháp. Nhìn cờ tam tài đã quen mắt, giờ thì ớn lạnh hãi hùng. Sau đó, không ai bảo ai, chợ họp ban ngày và ra đường phố tự do.
Một hôm, hai chiếc máy bay Spitfire đen thùi lũi, trở lại vùng trời thị xã. Ai nấy sợ chết, chạy tán loạn. Ở hậu phương, máy bay giặc Pháp lượn một vòng, chắc chắn dân chúng ăn bom napalm, ăn đạn đum đum. Về vùng Pháp tạm chiến đóng, dân chúng không ngán máy bay nữa. Pháp di tản chiến thuật rồi, lại cho máy bay sang, dân chúng coi Pháp như kẻ thù, như thực dân áp chế, bóc lột. Tất cả ẩn núp, trốn tránh bom đạn. Dân chúng tự trách mình chạy loạn có mấy ngày đã ùn ùn kéo nhau hồi cư, đâu biết giặc Pháp nó hại mình. May mắn làm sao, hai chiếc Spitfire chỉ lượn hai vòng, rồi bay đi mất. Hai phi công nhớ Thái Bình, lần cuối cùng nhìn Thái Bình, không bao giờ trở lại nữa. Nỗi nhớ nhung của hai phi công Pháp làm tim bao nhiêu dân thị xã muốn long ra ngoài.
Dân chúng Thái Bình lạ lắm. Sống cảnh vô chính phủ như sống với chính phủ. Không ai gây sự, đánh nhau. Không ai ăn cướp, ăn trộm, ăn cắp của nhau. Ban đêm, giặc Pháp và lũ bù nhìn Bảo Hoàng đi khòi, thị xã chẳng còn đèn điện, nhà nhà thắp đèn dầu hỏa, phố xá tối um. Người ta sống trong thảm cảnh vô chính phủ như thế, chỉ mong ngày sớm có chính phủ, dù chính phủ đè lên đầu người ta mà hạch sách đủ điều. Ai cũng biết rằng, chính phủ cách mạng sẽ tiếp thu những cơ cấu thống trị của chính phủ bù nhìn Bảo Hoàng. Có lẽ, chiến tranh vẫn còn, chính phủ cách mạng phải đối phó, chưa kịp về tái lập an ninh cho thị xã để nhân dân yên ổn làm ăn.
- Tại sao cách mạng không cho người về thị xã, làm dân chúng lại lo sợ?
- Thị xã của mình rồi, về làm chi vội!
- Thế là ích kỷ.
- ích kỷ với mày, chứ không ích kỷ với cách mạng.
- ích kỷ với tao, dễ thôi, ích kỷ vớ1 nhân dân, thì đáng tội.
- Nhân dân của mày hay nhân dân của cách mạng hả, Vũ?
- Tao làm gì có nhân dân!
- Thì mày đừng nói về trước hay về sau. Nhân dân là cái gì? Giai cấp vô sản là cái gì? Mày còn nhớ anh Huy, ngày tổng khởi nghĩa, ở sân vận động không?
- Còn.
- Mày phục anh Huy lăn ra, khi mày hỏi Anh không đeo súng à, anh Huy chỉ tay vào ngực, trả lời Trái tim mạnh hơn súng. Dạo ấy, chúng mình còn ngu dại, chưa hiểu nổi anh Huy, thầy Đàn. Bây giờ, mình biết nhiều, không ngu dại nữa. Như người đi hia bảy dặm. Từ 1945 đến 1954 cũng dài lắm, con đường lịch sử ấy tao nhìn vào và biết nhiều quá.
Anh Huy tranh đấu với Nhật trước cách mạng để kéo cờ Việt Nam mầu vàng lên tung bay phất phới. Anh ta bị nhiều người cách mạng dằng lấy cờ vàng, ghì tay anh lại, treo cờ đỏ lên. Anh ta yếu thế đành chịu lép vế. Cách mạng treo cờ đỏ và hô hoán ầm ỹ. Dân chúng hô hoán theo. Cả chúng mình cũng hô hoán theo, lăn xả vào cách mạng. Không ai để ý đến anh Huy. Không ai biết anh Huy, ở đâu. Chúng mình quên anh Huy rồi.
Đó, nhân dân đó! Nhân dân làm cách mạng thành công đó. Nhân dân chỉ a dua theo kẻ mạnh. Nhân dân đã tới tấp vào thị xã tề. Nhân dân là cái gì? Mà bảo cách mạng ích kỷ. Cách mạng coi nhân dân là đồ sai vặt. Cách mạng cũng là phường thống trị. Thống trị coi nhân dân trọng quý bao giờ? Cách mạng chưa thèm vào thị xã. Để trả thù nhân dân. Tao thì thích thị xã vô chính phủ mãi. Dân thị xã mong chính phủ cách mạng à? Rồi sẽ biết.
- Thầy Đàn bây giờ ra soa?
- Thằng Côn nói thầy Đàn đã bị thủ tiêu rồi. Như nhà văn Khái Hưng, nhà văn Lan Khai. Anh Huy bị nhốt trong cái rọ, đeo đầy đá, dìm dưới gầm cầu Bo, chất sặc sụa. Mày biết mà quên rồi.
- Anh Huy Vencuzenđơ?
- Phải. Thằng Côn kể chuyện anh Huy cho mày nghe. Nó không biết cụ Hào Diển là Vencuzenđơ.
- Thầy mình, Vencuzenđơ rồi!
- Có lẽ thầy Đàn Giun dế.
- Tao ngu dốt, vì say mê cách mạng; mày thông minh, vì không theo cách mạng. Tại sao mình ở lại đây?
- Từ ngày bị cụt chân, tao có ý định ở Thái Bình, theo thời đại xoay vần mà nhìn rõ lịch sử bước. Còn mày sao?
- Tao tàn phế, học hành dang dở, chả đi đâu được nữa. Đành ở lại với mối thù những kẻ giết thầy Đàn phẫn nộ trong lòng tao.
- Không thù hận, không chống đối người nào, mày nhé! Còn có mày và tao, hãy nghe tao khuyên!
Vũ nhớ lại, luôn luôn nó thắc mắc, đảo chính thầy Đàn không về, cách mạng thành công, thầy Đàn cũng không về. Thầy Đàn là người yêu Vũ nhất trường Monguillot. Thầy đã khuyến khích Vũ can đảm mà sống. Luyến, Côn, Long, Lộc rất trìu mến thầy. Long đã bỏ mình nơi chiến địa. Lộc không hiểu, bây giờ, còn kính thương thầy không. Chẳng biết nó chiến đấu nơi nào và có sắp trở về thị xã? Luyến thù đứa hại thầy, giấu kín trong bụng. Côn thù cộng sản ra mặt, vì cộng sản đã thủ tiêu thầy Đàn của nó. Như Côn, Vũ hận thù kẻ đã sát hại thầy mình. Trong mối thù, hai đứa chia phe rửa hận. Côn dứt khoát hẳn. Nó theo phe quốc gia. Quốc gia và cộng sản không đội trời chung. Bạn hay thù, Côn không thể ngó lơ được. Những đứa theo kháng chiến làm lợi cho cộng sản. Là thù. Những đứa bạn thân năm xưa, nay theo cách mạng giả hình cộng sản. Là thù. Kể ra, Côn quá khích. Biết làm sao? Vũ đang bạn hóa thành thù của Côn. Vũ và Côn chung nhau một mối thù. Đứa nào sẽ tuyết hận cho thầy Đàn?
- Vũ ạ, để cho thằng Côn trả hận ngay.
- Tại sao không phải tao?
- Mày hàng chục năm chưa muộn. Không có gì vội vã cho thằng tàn phế trong cảnh đời hôm nay. Muốn làm thanh củi ném vào bão lửa, rất dễ. Muốn làm một ngọn gió thổi tắt ngóm bão lửa, rất khó. Mày chọn đường nào?
Vũ chưa kịp trả lời, Luyến đã nói :
- Trường Monguillot là cuộc đời nhỏ. Từ nhà mình ra cuộc đời nhỏ, gần gũi lắm. Thế mà, mày đánh hộc máu mồm thằng Dương, con lão phó cẩm để bênh thằng Vọng, cũng bị lão phó cẩm bắt xin lỗi. Mày không xin lỗi, lão phó cẩm tát mày sưng đỏ mặt, làm áp lực với ông Đốc đuổi mày đi Hà Nội học. Cuộc đời nhỏ, có thống trị len chân vào đã lăm phiền muộn. Cuộc đời lớn rộng, cuộc đời hôm nay của chúng mình, mày tìm giết những thằng đã giết thầy Đàn, mày vừa rút súng đã hàng vạn thằng rút súng rồi. Mày chỉ có tan xác. Mối thù đem xuống huyệt mộ.
Vũ rút điếu thuốc lá, châm lửa hút. Khi điếu thuốc cháy quá nửa, Vũ xúc động :
- Tao chọn con đường thứ hai.
Luyến vui vẻ muốn phát khóc :
- Khó lắm, nhưng con người đã làm đưọc. Mày là con người, sẽ làm thành một ngụm gió.
Vũ đưa tay phải khoác lên vai Luyến. Hai đứa trở lại nhà. Tiếng nạng gỗ vang lên những nốt nhạc buồn thảm hứa hẹn ngày mai...
128
Người từ Hà Nội về mang theo những tờ Giang Sơn, Tia Sáng xuất bản ngày 21-7, thị xã mới biết tin tức khắp nơi. Từ hôm Pháp đi tản chiến thuật, xe Con Voi không chạy, điện tắt ngóm, thị xã mù tịt chuyện bên ngoài. Thành phố Nam Định đã di tản chiến thuật cùng ngày với Thái Bình. Một bài báo vàng mười loan tin: 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève đã ký kết xong. Chiến tranh chấm dứt trên toàn quốc. Pháp và Việt Nam trao đổi tù binh. Đất nước chia đôi. Sông Bến Hải làm ranh giới. Pháp từ sông Bến Hải trở vào tới Cà Mau. Việt Nam từ sông Bến Hải trở ra, lên tận ải Nam Quan. Dân chúng hai miền Nam, Bắc được tự do chọn chỗ định cư, không bên nào được cấm đoán, cản trở.
Hai hôm sau, chờ làm xong cầu treo thay cho nhịp cầu Bo bị Pháp giật sập, Quân đội nhân dân vào thị xã từ huyện lỵ bên kia sông Trà Lý. Quân đội mặc quần áo đại quân, mầu xanh lá cây đậm sắc. Đầu đội mũ vành, phía trước gắn anh xi quân đội nhân dân, trên nền cờ đỏ sao vàng. Chân đi xăng đan Bình-Trị-Thiên. Quân đội mang AK, trung liên và đại liên Trung Quốc. Vì qua sông bằng cầu treo, chưa thể kéo đại bác thị uy, mà chỉ những súng bắn ô buy lăn đi nhẹ nhàng. Quân đội nghiêm trang thẳng bước, không ngó ngang ngó dọc. Không hề kiếm nổi một nụ cười nhạt trên môi họ. Quân đội đi tự cầu Bo qua phố Lê Lợi. Khí thế vô cùng anh dũng. Chẳng ai đeo quân hàm. Ai cũng giống ai. Khó mà hiểu ai là cấp chỉ huy, đại úy, trung tá hay thiếu úy. Những người đeo xặc cột bước ngoài hàng ngũ là chính ủy. Những người đeo Colt là sĩ quan. Cứ biết vậy.
Thị xã được tin quân đội về, mừng khôn tả. Dân chúng phố chính mở tung cửa đón chào quân đội. Bàn ghế kê tận vỉa hè. Nước ngọt, bánh trái bầy xếp trên đó. Để đãi quân đội. Những chiếc quạt nan có giá mùa hè nóng nực được chất đống. Để biếu bộ đội. Em gái đang xuân nồng đến độ, tuổi đời phơi phới, trưng diện thật đẹp, đợi vẫy tay biết ơn quân đội. Cậu trai sống tủi ở vùng giặc tạm chiếm cũng hân hoan ra góp giọng hoan hô. Ông già, bà cả, nhi đồng, phụ lão, buôn bán, làm công, trí thức, công nhân, nét vui vẻ trên má, háo hức mừng quân đội. Quân đội nhân dân ngang qua.
- Hoan nghênh bộ đội giải phóng thị xã!
- Hoan nghênh...
- Hoan nghênh bộ đội Thái Bình đánh tan giặc Pháp!
- Hoan nghênh...
- Hồ chủ tịch muôn năm!
- Muôn năm...
- Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc muôn năm!
- Muôn năm...
Tiếng vỗ tay vùng vẫy, các khẩu hiệu hô vang. Quân đội vẫn đi, không thèm nhìn hai bên đường phố. Người người mang nước ngọt, bánh trái, thuốc lá đưa tận tay quân đội. Lớp lớp đem quạt nan giúi vào tay quân đội. Quân đội cứ đi. Tay không rảnh rỗi nhận quà. Mắt bận bịu nhìn đàng trước. Quà bánh của nhân dân thị xã tủi thân rơi đầy đường. Và quân đội nhân dân dẵm lên. Nát bấy tình nghĩa.
Quân đội đi khỏi rồi, nhân dân thị xã buồn thiu. Người ta nhục nhã quét dọn đường phố bầy nhầy bánh trái. Người ta im lặng dọn nước ngọt, thuốc lá, bàn ghế về nhà. Người ta đã mừng rỡ hòa bình thế đó. Tưởng niềm vui nó làm đất lệch trời nghiêng, ai dè, nó ươn ươn tôm cá. Hay là hòa bình cắt đất nước làm hai, Quân đội nhân dân chưa vui, thị xã vui sao nổi! Phải rồi, du kích Thái Bình đã nói từ lâu:
Bao giờ du kích Thái Bình
Đánh tan giặc Pháp thì mình lấy ta
Bao giờ yên nưóc yên nhà
Ba Kỳ thống nhất thì ta lấy mình

Mình lấy ta dễ dàng quá. Giặc Pháp tan hàng rồi. Lấy nhau lúc nào chả được. Ta lấy mình, khó khăn vô cùng. Phải ba Kỳ thống nhất cơ! Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ là một. Một chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Một chủ tịch Hồ Chí Minh. Một Đảng lao động. Bấy giờ, ta mới lấy được mình. Quân đội nhân dân còn đau khổ, vì đất nước chưa thống nhất. Thì nhân dân thị xã vui thế nào được!
Vũ vỗ vai Luyến :
- Vào nhà đi, mày!
Luyến quay nạng trở lại :
- Kể từ hôm nay, thị xã có chính phủ rồi đấy. Mày thấy chưa, cách mạng ích kỷ đến nơi đến chốn. Quân đội nhân dân thị uy quyền lực, đầu tiên.
- Lính nông dân làm bộ quá!
- Không phải lính nông dân đâu. Cách mạng ban chỉ thị cho họ. Họ nhất nhất tuân theo lệnh lạc.
- Mày nghĩ gì về Hiệp Định Genève?
- Mỗi một mục: Dân chúng hai miền Nam, Bắc được tự do chọn chỗ định cư, không bên nào được cấm đoán, cản trở.
- Dân Thái Bình có vào miền Nam không?
- Có. Bố mẹ tao, vợ chồng anh Lưu, vợ chồng chị Nhi, gia đình nhà Ngọc, chẳng hạn.
- Tội nghiệp thị xã mình quá. Hết tản cư, hồi cư, di tản, rồi di cư...
- Di cư xa lắm: Sàigòn. Có khi nào, tình hoài hương nổi dậy, người di cư sẽ bắt chước thi sĩ Nguyễn Bính, ngâm nga đến chảy nước mắt: Chiều chiều, ra đứng trông về Bắc, Chỉ thấy mây thôi, chả thấy gì!
Đang khi ấy, có tiếng Chú ý, Chú ý của thanh niên thị xã cầm loa đi các phố phóng thanh. Chú ý, chú ý... yêu cầu nhân dân đến ngay sân vận động thị xã để nghe Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình nói chuyện cần thiết. Chú ý, chú ý...
- Đi không, Luyến?
- Đi chứ!
Vũ và Luyến tới sân vận động. Ở đây đã đầy người. Họ đứng, không ai ngồi cả. Khuôn mặt mỗi người đều tỏ ít nhiều lo lắng. Quân đội nhân dân đã làm họ chóng mặt. Quân đội đi qua, quân đội không lưu lại. Ủy ban nhân dân thì ở mãi với nhân dân. Xưa, cách mạng đã xử tử Việt gian Ban tại Vọng Cung. Nay, cách mạng có xử tử người nào tay sai của Pháp và Bảo Hoàng tại sân vận động không?
Bảo Hoàng rút lui, để lại chiếc xe của Ty Thông tin. Xe đậu ở giữa sân vận động. Ông chủ tịch Ủy ban nhân dân tình Thái Bình trèo lên nóc xe, cầm mi cô nói chuyện. Nhân dân thị xã đang hồi hộp chờ đợi.
- Thưa toàn thể nhân dân thị xã kính mến!
Ông chủ tịch vỗ tay. Mọi người vỗ tay theo.
- Từ khi giặc Pháp chiếm đóng thị xã mến yêu của chúng ta, nhân dân trải qua những tháng năm đau khổ, ăn không ngon, ngủ không yên, chỉ mong ngày cách mạng giải phóng Thái Bình. Bác Hồ biết tất cả, bác Hồ thương nhân dân thị xã muôn vàn...
Ông chủ tịch giơ tay, hô khẩu hiệu :
- Hồ chủ tịch muôn năm!
Nhân dân thị xã hét vang :
- Muôn năm. Muôn năm...
- Bác Hồ vĩ đại, sống mãi trong sự nghiệp chúng ta!
- Vĩ đại. Sống mãi...
- Đảng lao động muôn năm!
- Muôn năm. Muôn năm...
Ông chủ tịch tiếp tục :
- Hẳn nhân dân còn nhớ, năm 1946, bác Hồ đã về tỉnh chúng ta. Một vị bô lão hỏi: Thưa Hồ chủ tịch, theo Hồ chủ tịch, bao giờ nước ta được thái bình? Bác Hồ đáp: Bao giờ Pháp chiếm Thái Bình là có thái bình. Pháp đã chiếm Thái Bình, năm l950. Pháp đã bại trận Điện Biên Phủ, năm 1954. Thái Bình là tỉnh sau cùng bị Pháp chiếm. Chiếm rồi thua, khắp đất nước ta. Pháp run sợ phải ký kết hòa bình với ta. Nhân dân thấy bác Hồ nói đúng chưa?
Nhân dân thị xã suy tôn bác Hồ :
- Hoan nghênh bác Hồ vĩ đại!
- Hoan nghênh...
Và hát:
Đuốc gươm thiêng vung cho nước nhà
khiến dân Việt Nam hết sót sa
Hồ Chí Minh
anh hùng bao nhiêu năm tranh đấu
Thắng gian nguy, tranh công đầu
Giải phóng cho dân Việt Nam danh tiếng ngàn thu
Ngàn đời sau
Lưu quý danh
Dân Việt Nam hô lớn đồng thanh
Hồ Chí Minh muôn năm
Hố Chí Minh
Người soi đuốc sáng khắp nước Nam
Hồ Chí Minh muôn năm
Hồ Chí Minh
Làm cho nước Việt Nam quang vinh

Để nhân dân thị xã say sưa ca ngợi bác Hồ, như rượu sắp ngấm vào tim, ông chủ tịch mới nói :
- Bác Hồ nói đúng. Cái gì bác Hồ nói cũng đúng. Giặc Pháp thua: Đúng. Đảng lao động duy nhất: Đúng. Giai câp vô sản đánh nát các giai cấp khác: Đúng. Bần cố nông lột xác địa chủ ác ôn: Đúng. Bác Hồ, Cha của chúng ta, ai dám bảo bác Hồ không đúng?
Nhân dân thị xã thét lên :
- Đứa nào dám bảo bác Hồ sai là Việt gian!
- Đả đảo Việt gian...
- Đứa nào dám bảo Cha già dân tộc sai là phản động!
- Đả đảo phản động...
Ông chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình cứ xoay tròn chung quanh bác Hồ. Nhân dân thị xã cứ hoan hô, đả đảo không biết mệt. Quân đội nhân dân vừa đá một cú nhức nhối nhân dân thị xã. Ông chủ tịch xoa mềm mại, dịu dàng nhân dân thị xã ngay. Buổi nói chuyện bế mạc. Thị xã hớn hở ra về. Từ sáng mai, ông chủ tịch bảo làm gì, thị xã làm cái đó. Không giận hờn, chẳng bất mãn.
- Vũ ơi, mày sợ cách mạng chưa?
- Sợ lắm.
- Ông chủ tịch tỉnh lỵ đã nắm hết nhân dân thị xã. Cách mạng còn vô số người giỏi hơn nữa, gấp nghìn lần.
- Cộng sản?
- Phải, cộng sản đấy. Mày sẽ ở với cộng sản, có chống đối cộng sản không?
- Không, khi tao chưa làm thành một ngụm gió.
Năm hôm sau, ngày 28, tháng 7, năm 1954, người ở bên kia sông Trà Lý và người ở Kiến Xương, Tiền Hải, đa số là Thiên Chúa giáo, đã ùn ùn kéo nhau lên Hà Nội, ra Hải Phòng, để chờ Pháp cho di cư vào Nam. Cách mạng không làm khó dễ họ. Ngày 30-7, Khoa nhờ người quen thuộc gửi về một bức thư và nguyên vẹn một bản văn Hiệp Định Genève. Trong thư, Khoa nằng nặc bắt bố mẹ, Vũ và hai đứa em gái phải lên Hà Nội ngay để vào Nam cho sớm. Nó chưa thi tú tàì. Người ta hoãn lại, thi ở Sàigòn. Đọc thư Khoa xong, cha hỏi Vũ :
- Con nghĩ thế nào?
Vũ điềm nhiên trả lời :
- Con cũng có ý định khuyên bố di cư vào Nam, từ mấy hôm nay. Nghề buôn bán của bố không sống được nơi này. Em Tú, em Mai cần có tương lai. Bố và dì nên nghe em Khoa.
Cha nó buồn rầu :
- Còn con?
Vũ thở dài :
- Con đã cãi lời bố, trốn nhà đi kháng chiến. Con trở về, thành người tàn phế, học hành dang dở. Vào Nam, không tích sự gì, chỉ gây buồn phiền cho bố và dì. Con quyết định ở lại Thái Bình. Bố cứ đi, không cần lo chi cho con. Em Khoa thông minh thế, em sẽ làm cho bố và dì vui lòng.
Cha Vũ rơm rớm nước mắt :
- Con có biết chia ly bao lâu không?
Vũ nói :
- Con biết. Chừng mười năm hay hơn thế. Con mới đọc Tam quốc chí, câu mở đầu: Phàm thế cuộc trong thiên hạ, chia rồi lại hợp, hợp rồi lại chia. Bố con mình hợp rồi lại chia, chia rồi lại hợp, tùy theo thời cuộc trên thế giới. Con không dám nói gì nữa. Bố chuẩn bị hành lý, sáng sớm ngày mai lên đường.
Dì nó ngồi tấm tức khóc. Tú và Mai ôm chặt chân anh nức nở. Vũ cố giữ bình thản. Nước mắt nó vẫn ứa ra. Vũ ôm đầu. Chưa bao giờ Vũ nghĩ đến chia ly tê tái. Chia ly ở nhà. Chia ly ở thị xã. Chia ly ở cả nước. Người đi mà không biết có về. Như cu ly đồn điền cao su, từ Bắc vào Nam, mà tưởng rằng sang bên kia khí giới [9].
Việt Nam chia cắt thành hai nước. Khi nào nước này thăm nước kia, trong thù hận rõ rệt? Khó lắm. Thời đại nó xoay vần thê thảm. Luyến bảo nỗi đau thứ nhất, Pháp gánh chịu; nỗi đau thứ hai, Bảo Hoàng vạ lây; nỗi đau thứ ba, chúng ta oan uổng. Nỗi đau thứ nhất phải là chúng ta. Vì chúng ta mới biết đau đớn ê chề, dằng dặc, triền miên. Ngày lại ngày. tháng sang tháng. Năm qua năm. Sống cùng chia ly buồn thảm.
Vũ thức suốt đêm nay, để ngày mai, gia đình di cư xuống phía Nam, Vũ thực sự bước vào cuộc sống mới.

127
Hôm nay, thanh niên thị xã làm cuộc biểu tình tuần hành, rất sôi nổi. Để bài trừ văn hóa nô dịch. Những băng đờ rôn, những pa nô viết những dòng chữ ngút lửa căm hờn. Tiểu thuyết, thi ca, âm nhạc, báo chí vùng tề, xuất bản từ 1947, bị liệt vào hạng văn nghệ nô dịch. Những nhà văn theo kháng chiến, về tề năm 1950, viết những tác phẩm không chống cách mạng, còn nói hay cho cách mạng, cũng chịu nhận danh từ cay đắng: Nhà văn nô dịch, tiểu thuyết nô dịch. Những người viết nổi danh như Ngọc Giao: Nhà quê, Đất, Mưa thu, Cầu sương; như hồ Dzếnh: Chân trời cũ, Quê ngoại, Ông lái đò; như Nguyễn Minh Lang: Trăng đồng nội, Hoàng tử của lòng em; như Hoàng Công Khanh: Trên bến Búng, Đất tân bồi, Bến nước Ngũ Bồ; như Sao Mai: Nhìn xuống; như Trúc Sĩ: Kẽm trống; như Triều Đẩu: Trên vỉa hè Hà nội... cùng chung một số phận. Báo chí, những tờ đáng kể, như Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Thế Kỷ, Phổ Thông đều bị di dưới chân cách mạng.
Đặc biệt, cuốn tiểu thuyết bằng thơ Đồi thông hai mộ của Vũ Đình Trung, thanh niên thị xã được lệnh phải tịch thu cho hết và đốt cháy ngay lập tức. Thanh niên thị xã vào từng nhà nói về sự nguy hiểm của văn hóa nô dịch, yêu cầu nhân dân tiếp tay, nhất là quyển thơ Đồi thông hai mộ.
Đứng nhìn thanh niên làm công tác cách mạng, Vũ hỏi Luyến :
- Mày đọc Đồi thông hai mộ chưa?
Luyến đáp :
- Rồi.
Và nói :
- Thơ song thất lục bát, xoành xĩnh lắm. Tao đọc mấy câu đầu, mày nghe xem nó nguy hiểm đến chừng nào! Anh Đinh Lăng giờ đây đâu nhỉ? Anh của em yêu quý nhất đời. Anh đi mù mịt xa khơi, Đại bàng tung cánh phương trời nào hay... Nó nguy hiểm chưa, nô dịch chưa?
Vũ lắc đầu :
- Chả nguy hiểm tí nào.
Luyến cười :
- Nguy hiểm và nô dịch ở chỗ hội Khai Trí Tiến Đức phát giải thưởng Văn học toàn quốc của Bảo Đại cho tác giả Đồi thông hai mộ. Mày thấy chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn cay cú quốc trưởng Bảo Đại. Chưa có giải thưởng Văn học toàn quốc của Hồ Chí Minh, mà Bảo Đại dám phát giải thưởng văn học à? Không mắng được Bảo Đại, đành tát ông Đồi thông hai mộ. Vui không, Vũ?
Vũ không ngờ kiến thức của Luyến sâu rộng thế. Hôm qua, đi xem thanh niên thị xã làm tổng vệ sinh với khẩu hiệu Nhà sạch nhà, phố sạch phố, Vũ có vẻ buồn bã, Luyến thì lại vui mừng. Vũ nhìn các cậu học trò mảnh khảnh kéo xe bò, các cô nữ sinh chân yếu tay mềm đẩy xe tới những nơi bẩn thỉu hốt rác và dọn dẹp chung với thanh niên lao động đạp xích lô, vác hàng bến xe, bán tôm cá ở chợ Vọng Cung. Và thấy các cô mặc nguyên quần áo, nhảy xuống ao tù, vớt bèo tây lưu cữu hàng năm; các cậu xúc phân chó, phân người trong những góc phố bị bỏ quên lâu ngày. Các cô, các cậu mặt sũng ưu phiền. Vũ tiếc rằng không còn đủ sức chia miếng cay đắng với thanh niên thị xã. Luyến khác hẳn, thanh niên thị xã cần lao động cho quen, để biết giá trị của lao động. Chấp nhận giải phóng là chấp nhận con người. Con người bình đẳng với con người. Về lao động. Chỉ tiếc, rất tiếc, con người không bình đẳng với con người. Về tư tưởng. Đó mới khó thực hiện. Còn lao động bằng tay chân là thường, quá tầm thường. Vũ suy nghĩ. Và Luyến nhận xét đúng. Văn hóa nô dịch sẽ chẳng nô dịch chút nào, nếu Đồi thông hai mộ đừng được Bảo Đại phát giải thưởng văn học!
- Chúng mày say mê bài trừ văn hóa nô dịch lắm, hả?
Vũ quay mặt lại :
- Trời ơi, Lộc!
Luyến cũng quay mặt lại :
- Lộc pha trò nhạt phếch đã về đấy ư?
Lộc đưa hai tay nắm lấy tay hai đứa bạn :
- Tao bị tù, nay mới đưọc về. Mày kháng chiến ra sao mà cụt chân phải thế, Luyến?
Luyến vỗ vai Lộc :
- Vào trong nhà, nói chuyện nhiều...
Ba đứa xuống phòng Luyến. Khi đã ngồi xong xuôi, Luyến thẩy gói thuốc Du Kích mời bạn :
- Hết sạch Cotab ngoài chợ, bây giờ tao mời chúng mày hút thuốc Du Kích giải phóng.
Lộc pha trò :
- Hút thuốc giải phóng nó phỏng lung tung...
Luyến khen :
- Mày hết nhạt phếch rồi. Hút thuốc giải phóng không phỏng dế đâu.
Và mở đầu :
- Chúng mình xa nhau bảy năm, vẫn nhớ nhau thuở Monguillot như thường. Sâu sắc hơn là khác. Chuyện thì chúng mình rất nhiều chuyện. Tao đã kể cho thằng Vũ nghe. Nó bảo rặt chuyện buồn, chia rẽ với phân ly, đừng nên kể nữa. Tao cũng không muốn kể nữa. Bởi vậy, tao tóm tắt cho mày hiểu.
Lộc gật đầu :
- Tao không có thì giờ, mày tóm tắt mau lên!
Luyến nói :
- Thằng Long chết trận ở Duyên Hà. Thằng Côn đã về thị xã, hiện nay, nó ở miền Nam. Thằng Vọng còn sống, nó đi kháng chiến, chưa về. Tao không kháng chiến kháng chung gì hết, bị Pháp bắn gẫy chân, hôm Pháp dánh chiếm Thái Bình.
Luyến nhìn Vũ. Hiểu ý, Vũ kể về nó :
- Còn tao, kháng chiến ồn ào nhất thiên hạ, bị thuơng ở trận Thụy Anh. Pháp khiêng vể chữa chạy và bảo tao đã trở thành người tàn phế. Pháp không sợ, cách mạng không dùng. Tao về nhà như một thằng đào ngũ. Trong những ngày giải phóng thị xã, tao cố tình mong cách mạng đến an ủi tao, cách mạng không đến, không bao giờ đến nữa.
Lộc hỏi Vũ :
- Gia đình mày bình yên chứ?
Vũ thở phào khói thuốc :
- Bình yên, bình yên lắm. Gia đình tao đã di cư vào Nam.
Lộc hỏi Luyến :
- Gia đình mày?
Luyến hơi cười :
- Di tản chiến thuật vào Sàigòn rồi.
Lộc đập điếu thuốc, xoa tay sung sướng :
- Chúng mày không phải họ Bôn [10], tao hoàn toàn vững bụng, có thể tăng thêm thì giờ, nói về tao... Ở đời, có nhiều bất ngờ, không thể tưởng tượng nổi. Tao đã, bất ngờ, thấy gia đình tao vào họ nhà Bôn, năm tao 18 tuổi. Cũng, bất ngờ, người ta không bảo ta là thằng pha trò nhạt phếch như thằng Côn đã chê tao. Họ nói tao pha trò đả kích cách mạng! Tao đả kích cách mạng thật, coi cách mạng là trò khôi hài rẻ tiền. Mà bố mẹ tao là cách mạng củ, anh chị tao là cách mạng rễ. Tối ngày họ chỉ lải nhải cách mạng, cách mạng và cách mạng. Tao pha trò: Cách mện, cách miệng và cắt một miếng!
Tự nhiên, tao biến thành con lươn phản động trong hang cách mạng. Bố mẹ tao ghét tao cay đắng. Đưa tao vào bộ đội để tao sớm hy sinh cho tổ quốc. Chao ôi, ông bà chủ hiệu xe đạp có lòng yêu nước tràn trề. Tiếc rằng, tao không đi bộ đội. Anh chị tao đẩy tao làm cán bộ. Tao không thích cán bộ. Chỉ nằm nhà, chạy giặc và ăn bám. Bố mẹ tao sợ tao vào tề, mất hết thành tích cách mạng, nên coi chừng tao như thằng tù giam lỏng. Hôm nay, tao tự do vào tề, vì thị xã giải phóngg rồi. Tao cho tại Trời cả. Trời bắt bố mẹ tao say mê cách mạng. Trời bắt tao phản cách mạng, phản kháng chiến, phản bội họ hàng nhà Bôn.
Tao không thù ghét tụi Bôn chính cống. Mà chỉ thù ghét những kẻ theo đuôi Bôn loe ngoe, hãnh diện theo đuôi voi gặm bã mía. Bố mẹ tao, tao cũng thù ghét. Tao đố chúng mày giải thích được hoàn cảnh của tao, của bố mẹ tao? Bố mẹ tao tưởng tao hết đường đi, lại trở về như cóc chết ba năm quay đầu về núi. Bố mẹ tao quên rằng còn đường di cư vô Nam. Đó, đời tao bất ngờ như thế đó.
Lộc rút điếu Du Kích, quẹt diêm châm thuốc. Vũ và Luyến thương Lộc biết bao. Chậm rãi, Vũ nói :
- Bất ngờ cả. Tao đi kháng chiến, chỉ mong ngày về giải phóng thị xã. Bất ngờ, tao bị tàn phế. Ngỡ rằng mình sẽ sống với bố mình mãi mãi. Bất ngờ, gia đình tao di cư vào Nam. Bất ngờ, bất ngờ, và bất ngờ nó thay đổi hẳn cả cuộc đời mình. Nhưng thôi, chúng mình còn yêu nhau là đủ rồi, Lộc ạ!
Luyến thêm :
- Bất ngờ, tao bị cụt chân. Bất ngờ, Ngọc lấy tao. Bất ngờ, không đám cưới, khi đã định tháng 9 này sẽ làm đám cưới, đông đủ cha mẹ, họ hàng, bạn bè. Bất ngờ, chúng tao ở lại Thái Bình. Bất ngờ, mày ra đi. Ôi, bất ngờ, tổng khởi nghĩa, bất ngờ, cách mạng, bất ngờ, đảng tranh, bất ngờ, chiến tranh, bất ngờ, kháng chiến, bất ngờ, cộng sản, bất ngờ, giai cấp, bất ngờ, chia ly... Thời đại nó xoay vần quê hương Thái Bình của chúng ta, nó biến đổi những thằng học trò nghịch ngợm Monguillot thành những thằng què cụt, tàn phế, phản động, hận thù... Mình chịu đựng những bất ngờ để chờ đợi một bất ngờ. Hơi đâu mà giải thích bất ngờ?
Lộc cảm động;
- Quả thật, gặp chúng mày, tim tao nồng ấm. Buồn thay, tao phải ra đi. Đi thật nhanh. Kẻo, bất ngờ, bố mẹ tao giữ lại, cầm tù tao, bắt tao nhận họ Bôn là thánh tổ, nhận phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tiên Hưng của bố tao là to, chủ tịch Hội phụ nữ huyện Tiên Hưng của mẹ tao là lớn... Thì tao sẽ cắn lưỡi tự tử. Gặp chúng mày ít phút để nhớ chúng mày trọn đời, tao không mong gì hơn. Bây giờ, cho tao chút tiền còm, và có thể cho tao cái xe đạp thì nhất.
Vũ đứng lên :
- Có ngay cả hai điều mày muốn. Lên Hà Nội, mày ghé 42 Cửa Bắc, xem thằng Khoa đi chưa. Nếu nó chưa đi, mày sẽ vào Nam với gia đình tao. Ngồi đây chờ tao, tao về lấy xe đạp cho mày.
Một lát sau, Lộc nhận những thứ cần thiết xong, lên đưòng ngay.
Vũ dặn :
- Tới Nam Định, mày cứ theo quốc lộ số 10 mà đi. Đến Phủ Lý, có Pháp canh giữ, tự do vào Hà Nội.
Lộc khóc sướt mướt, chia tay Vũ và Luyến. Trở và nhà, nước mắt hai đứa ứa ra...

128
Nữ đồng chí Vương Viên Thúy đi vào trụ sở Ủy ban nhân dân thị xã. Nàng cắt tóc cao, đầu đội chiếc mũ y hệt mũ bộ đội, mầu xanh lá cây thẫm. Nữ đồng chí Vương Viên Thúy mặc cái áo nâu ngắn nhuộm gụ và quần đen. Chân nàng mang đôi dép Bình-Trị-Thiên, đế làm bằng vỏ bánh tầu bay, Trên vai nàng, túi xặc cột đeo lủng lẳng. Nếu Vương Viên Thúy đóng lớp quân phục đại quân, nàng sẽ giống nữ đồng chí Trung quốc. Nàng vô Ủy ban nhận dân để hỏi rõ nơi nào nàng sẽ phổ biến vài điệu nhảy đoàn kết, hòa bình và văn nghê mới cho thanh niên thị xã, sáng nay.
Trước kia, Vương Viên Thúy cũng ở thị xã. Nhà nàng có hàng cây hồi thơm hăng hắc. Không một thành phố, tỉnh lỵ nào trồng cây hồi. Chỉ riêng thị xã Thái Bình bảng lảng mùi hoa hồi. Người thị xã hãnh diện về hoa hồi thơm ngát và yêu quê hương của họ muôn vàn.
Thuở còn bé, Vương Viên Thúy quen thân với anh chàng Trần Vũ và yêu chàng, trong tình yêu ngây dại ấu thơ. Nàng đã quên dĩ vãng, quên luôn cả chuyện ái ân sáng như trăng sao, mềm như nhung lụa. Quá khứ, đối với Vương Viên Thúy, cần đốt hết đi, phủi tay cho sạch. Vì nàng là cách mạng, là cộng sản. Hiện tại mới nghĩ tới. Để tương lai vút bay trong xã hội nàng mơ ước.
Nhà văn Nguyễn Tuân đòi hủy bỏ những văn phẩm rực rỡ của mình. Chúng là sản phẩm của dĩ vãng, trước năm 1945. Nhà thơ Xuân Diệu đòi hủy bỏ những thi phẩm kiệt hiệt của mình. Chúng là sản phấm của dĩ vãng, trước năm 1945. Dĩ vãng, trước năm 1945, những văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ lừng danh đem chôn sâu dưới huyệt mộ. Thì dĩ vãng của nàng, trước hay sau 1945, không đáng đếm xỉa. Vương Viên Thúy muốn mọi người nhìn nàng từ 1950 đến 1954 trở đi. Hôm nay của nàng đấy, sôi sục và nóng bỏng.
Tản cư về Trực Nội, Thái Ninh, hai năm sau, cha Vương Viên Thúy bệnh nặng chết sớm. Năm 1950, Trực Nội bị máy bay quân đội Pháp oanh tạc khủng khiếp, mẹ nàng ăn đạn đồng khắp mình mẩy, chết vì giặc Pháp dã man. Nàng thù hận giặc Pháp, tung mình bay theo kháng chiến. Người cộng sản âu yếm nàng, nâng đỡ nàng, chỉ dẫn con đường đi vào chủ nghĩa vô sản cho nàng. Nàng quên hết dĩ vãng, từ đó. Nhờ nàng thông minh, đầy người năng khiếu, nàng được kết nạp vào Đảng, đầu năm 1954. Và nàng lấy chồng hồi tháng hai. Chồng của Vương Viên Thúy chức tước cao: Bí thư Đoàn thanh niên Hồ Chí Minh, tỉnh Thái Bình
- Chào các đồng chí.
- Chào đồng chí.
- Đồng chí nào phụ trách thanh niên thị xã nhỉ?
- Thưa đồng chí, tôi ạ!
Vương Viên Thúy tự kéo ghế, ngồi xuống. Nàng tháo cái xặc cột ra.
- Lát nữa, tôi gặp họ ở đâu?
Đồng chí phụ trách thanh niên thị xã đáp :
- Thưa đồng chí, ở bến ô tô.
- Rộng không?
- Đủ chỗ đứng 200 người.
- Tập họp chưa?
- Bây giờ đồng chí đến là vừa.
- Ta đi thôi.
Vương Viên Thúy đứng dậy, máng xặc cột lên vai, rời khỏi trụ sở Ủy ban nhân dân. Nàng đi bên cạnh đồng chí phụ trách thanh niên thị xã. Hai người cuốc bộ một lát, tới bến ô tô. Thanh niên thị xã đã tập họp đông dủ. Họ vỗ tay hoan hô nữ đồng chí Vương Viên Thúy. Nử đồng chí Vương Viên Thúy cũng vỗ tay đáp lễ. Đồng chí phụ trách thanh niên thị xã giới thiệu :
- Các bạn thân thương. Hôm nay, tôi trân trọng giới thiệu với các bạn đồng chí Kiều Nhị, cán bộ cao cấp của Đoàn thanh niên Hồ Chí Minh Thái Bình, Đồng chí Kiều Nhị phụ trách công tác toàn tỉnh, 12 huyện lỵ Thái Bình. Đồng chí Kiều Nhị về thị xã để phổ biến những điệu nhảy đoàn kết, hòa bình và văn nghệ mới, nền văn nghê dân tộc miền Nam ra miền Bắc. Trước khi đồng chí Kiều Nhị phổ biến văn nghệ, tôi đề nghi các bạn hát một bài lấy khí thế. Hôm qua đồng tôi... Một... Hai... Ba...
Thanh niên thị xã hát vang:
Hôm qua đồng tôi lúa mùa lên bông
cháy ngụt trời
bom na pan
dấu xa càn còn vết trong lòng dân
Hôm qua vì bom của bọn thực dân
phá tan tành
gây đau thương
vết căm thù đời đời phơi trong nắng
Raymonde Dielle [11] chắn xe cho ngừng máu rơi
ngăn chiến tranh cho đời huy hoàng
Ta nhớ ghi tên người tươi sáng...

Đồng chí Kiều Nhị, bí danh của đồng chí Vươg Viên Thúy, vỗ nhịp tay theo bài Hôm qua đồng tôi, rồi khi tiếng hát dứt, đồng chí Kiều Nhị vỗ tay rân ran, cười rất tươi. Đồng chí Kiều Nhị nói :
- Các bạn thân thương. Hôm nay, tôi cảm động lắm. Nhân danh Đoàn thanh niên Hồ Chí Minh Thái Bình, tôi biểu dương các bạn đã hoàn thành những công tác vệ sinh thị xã, bài trừ văn hóa nô dịch, ngăn cản khéo không cho nhân dân vào miền Nam, theo lời thằng địch dụ dỗ...
Vỗ tay.
- Chúng ta sẽ nhảy đoàn kết trước
Vũ Cẩm Ngọc, từ lúc đồng chí phụ trách thanh niên thị xã giới thiệu đồng chí Kiều Nhị, đã nghi nghi, đôi mắt không muốn rời Kiều Nhị. Đúng rồi, Kiều Nhị là con Thúy của thằng Vũ đây mà. Con Thúy già đi nhiều. Tóc nó cắt ngắn giống mụ Xẩm nghèo nàn. Nó mặc quần áo tã, đi dép Bình-Tri-Thiên, đội nón bộ đội, đeo xặc cột, khác hẳn con Thúy ngồi chơi rải gianh với Ngọc, chơi tam cúc với Luyến và Côn. Nó ăn nói sặc mùi cộng sản! Nó đấy ư? Con Thúy của thằng Vũ đấy ư? Nó lại làm cán bộ cao cấp của Đoàn thanh niên Hồ Chí Minh Thái Bình nữa! Ngọc muốn chạy về nhà, bỏ rơi tập họp, học nhảy đoàn kết với hòa bình, báo cho Luyến và Vũ hay con Thúy đã về thị xã. Nghĩ sao, Ngọc lại ở lại. Vũ mà biết Thúy hôm nay, nó sẽ điên lên vì buồn. Để sẽ gặp Thúy, hỏi Thúy đã.
- Nhảy đoàn kết đơn giản thôi. Đồng chí Kiều Nhị nói. Chúng ta xếp vòng tròn, càng đông bao nhiêu càng đoàn kết bấy nhiêu. Xích xa một chút. Bài hát thật ngắn. Chúng ta vỗ tay theo nhịp điệu mà hát. Bất kể câu ngắn hay câu dài. Cứ dứt câu, chân phải giơ lên. Vẫn vỗ tay. Rồi chân trái giơ lên. Hết bài. Chúng ta nhảy vòng tròn. Hát, vỗ tay và giơ chân. Hết bài. Chúng ta nhảy tại chỗ. Hết bài. Chúng ta nhảy vòng tròn. Cứ thế nhảy mãi. Nào, chúng ta nhảy, nhé!
Thanh niên thị xã hát và nhảy:
Chúng mình cùng đoàn kết tiến lên
Xây cuộc đời tươi mới hòa bình
Đời ta
bừng sáng
Nắm tay nhau cùng vui liên hoan

Đồng chí Kiều Nhị hồ hởi phấn khởi :
- Các bạn nhảy có khí thế lắm. Có vẻ hơi hơi mệt. Để thay đổi không khí, tôi phổ biến văn nghệ mới. Rồi lại nhảy hòa bình.
Ngưng vài giây, đồng chí Kiều Nhị nói :
- Văn nghệ của ta là văn nghê nhân dân. Nó bình dị như giai cấp nông dân. Ai cũng có thể tự biên tự diễn được. Các anh em trong Nam tập kết ra Bắc phổ biến hò lơ cho chúng ta. Chúng ta sáng tạo thêm cho nó dễ và văn nghệ chỗ nào cũng được. Ở đây, có anh em nào biết làm thơ lục bát không?
Thanh niên thị xã :
- Như Truyện Kiều chứ gì?
Đồng chí Kiều Nhị :
- Phải.
Thanh niên thị xã :
- Khó vô cùng.
Đồng chí Kiều Nhị :
- Mỗi bài hò lơ chỉ làm hai câu thôi. Thí dụ: Hôm qua, anh đi đánh Tây, Cửa nhà cậy có bu mày trông coi. Thế là xong, dễ mà.
Thanh niên thị xã :
- Giống ca dao, chúng tôi làm được.
Đồng chí Kiều Nhị nói về cách chơi hò lơ một chập, thanh niên thị xã hiểu rồi. Văn nghệ bắt đầu. Một người đọc thơ. Nhiều người hỏi làm sao, cái gì. Chấm dứt câu lục bát. Cả làng hò lơ hó lơ lắng tai nghe hó lơ hò lờ.
- Quê em mãi tận Thụy Anh
- Làm sao?
- Ngó anh du kích...
- Cái gì?
- ... Thái Bình diệt Tây.
- Hò lơ hó lơ lắng tai nghe hó lơ hò lờ.
- Hành quân Trái Quít Trái Chanh
- Làm sao?
- Chanh chua Quít đắng...
- Cái gì?
- ... Pháp ăn nhầm thực dân...
- Hò lơ hó lơ lắng tai nghe hó lơ hò lờ.
Đồng chí Kiều Nhị vui vẻ khôn cùng. Văn nghệ nhân dân thật tuyệt tác. Nhân dân thị xã có thể sáng tác hàng vạn câu thơ hò lơ, nói lên tâm sự vùng tạm chiếm. Thanh niên thị xã tiến bộ nhanh, say sưa trong những câu lục bát xuất khẩu. Đồng chí Kiều Nhị giơ hai tay lên trời biểu dương thanh niên :
- Các bạn đạt chỉ tiêu hơn 12 huyện Thái Bình, thắng lợi lớn, đáng ghi vào thành tích. Các bạn hò lơ phấn khởi quá, vượt thời gian hạn định. Nhảy hỏa bình đề đồng chí phụ trách thanh niên thị xã phổ biến cho các bạn. Tôi có công tác đột xuất, chiều nay phải rời thị xã. Tôi bế mạc cuộc gặp gỡ hôm nay và gửi các bạn lời chào thân thương.
Vỗ tay. Đồng chí Kiều Nhị ra về. Được một quãng, có tiếng gọi :
- Đồng chí Kiều Nhị!
Đồng chí Kiều Nhị quay lại.
- Thúy ơi, Vương Viên Thúy ơi, Ngọc đây mà...
Đồng chí Kiều Nhị cười :
- Vũ Cẩm Ngọc, có chuyện gì đấy?
Ngọc thấy xót xa câu hỏi của Thúy. Xa nhau rồi, vĩnh viễn rồi. Ngọc nghiêm trang nói chuyện như hai người quen nhau bình thường.
- Tôi muốn hỏi thăm bạn về hai bác.
- Bố tôi chết năm 1949, mẹ tôi chết luôn, năm 1950.
- Chị ở một mình?
- Không, tôi đi kháng chiến với nhiều người.
- Chị có gặp anh Vũ?
- Vũ nào?
- Vũ đánh thằng Dương hộc máu mồm bênh chị ấy mà. Anh Vũ cũng đi kháng chiến!
- Tôi quên hết mọi chuyện cũ, từ lâu. Đời sống phải nhìn thẳng về phía trước mặt, không bao giờ ngoái đầu lại, ngó sau lưng. Chỉ có bọn tiểu tư sản mới lạc lõng trong dĩ vãng của họ. Tôi đã có chồng. Chồng tôi là Bí thư Đoàn thanh niên Hồ Chí Minh Thái Bình.
- Chức to ghê. Con gái nào không yêu anh ta là ngu!
- Tôi có công tác đột xuất, phải đi ngay. Chào chị Ngọc.
- Chào đồng chí Kiều Nhị!
Ngọc đứng ngây người ra. Nước mắt đùn lên, chảy lênh láng trên khuôn mặt. Ngọc không thể tượng tượng người cách mạng như Thúy lại tàn nhẫn như vậy. Cái gì xa xưa của Thúy, đối với Thúy, là dĩ vãng thối nát, đáng phỉ nhổ, không thương xót, kể cả bạn rải gianh, bạn tam cúc, bạn tình ấu thơ.
Ngọc lững thững bước về.

129
Vũ và Luyến nằm trên hai chiếc xích đu ở ngoài sân phố Lý Thường kiệt. Mỗi đứa một ý nghĩ riêng, im lặng suy tư, không nói năng gì với nhau. Thuốc lá đốt thật nhiều. Luyến thương Vũ lắm. Bạn Luyến còn hai đứa sống chết với Thái Bình. Vọng chưa về. Và Vũ nằm đây, hong những vết thương cách mạng.
Chiều qua, Ngọc kể chuyện Thúy cho Vũ nghe, linh hồn và thể xác. Linh hồn Thúy đã ứp men chủ nghĩa rồi, thở rặt những ngôn ngữ cộng sản và kết duyên cùng người cộng sản, luyến ái quan theo cộng sản. Thể xác Thúy đã ôm bí danh Kiều Nhị, cán bộ cao cấp của Đoành thanh niên Hồ Chí Minh Thái Bình, đã mang dép Bình-Trị-Thiên, đội mũ bộ đội, đeo xặc cột. Thúy đã lột xác hoàn toàn, không còn dính một chút nào của Thúy ngày xưa, bạn tình của Vũ.
Luyến đã đọc một bài thơ của người cộng sản vô danh làm lén lút và gửi lén lút tới độc giả. Thi sĩ cộng sản vô danh đã tiên tri luyến ái quan của Đảng mình.
Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Tóc mẹ già thì mỗi ngày mỗi bạc
Hai chúng ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ trở lại mảnh vườn xưa
Hai chúng ta như trời nắng tránh trời mưa
Như sao Hôm sao Mai không cùng ở
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Có bao giờ trở lại mảnh vườn xưa...

Rồi Thúy sẽ như trời nắng tránh chồng trời mưa, sẽ như sao Hôm không được ở với chồng sao Mai, sẽ như mặt trăng cách biệt chồng mặt trời. Thúy giống con phù du sắp lao mình vào ngọn lửa toan tính ác liệt. Mà Thúy không biết.
Ai biết sao nổi những bất ngờ nó đến đời mình. Lộc đã nói đúng. Phạm Huy Lộc, pha trò nhạt phếch, đã chẳng nhạt phếch tí nào, khi nhận xét cuộc đời. Ở đời, có nhiều bất ngờ không thể tưởng tượng nổi. Tao đã, bất ngờ, thấy gia đình tao vào họ Bôn, năm tao 18 tuổi. Cũng, bất ngờ, người ta bảo tao pha trò đả kích cách mạng. Bất ngờ, Lộc chống cộng sản, đi tuốt vào Sàigòn. Vũ thì bất ngờ đi kháng chiến, bất ngờ bị tàn phế... Còn Luyến, cũng bất ngờ cụt chân, bất ngờ lấy được vợ... Ôi, bất ngờ, tìm nó ở đâu để oán trách nó đã giáng xuống đời mình, bất ngờ phá nát tương lai mình dự tính, làm hư hỏng con người mình; khi mình biết, tại bất ngờ. Thúy đã bất ngờ thành đồng chí Kiều Nhị, bất ngờ là cộng sản trung kiên, bất ngờ làm vợ anh cộng sản. Thúy chưa hiểu bất ngở nó đùa giỡn mình. Khi Thúy hiểu mình lấy chồng như sao Hôm sao Nai không cùng ở, Thúy sẽ buồn thảm. Thì đã muộn. Như Luyến đã cụt chân. Như Vũ đã tàn phế. Khác với Ngọc, Luyến không ghét Thúy mà thương hại Thúy. Có ghét chăng, chỉ bất ngờ phạm tội!
Vũ không hề oán trách Thúy. Vũ đã xác định chỗ ngồi của mình trong cuộc đời, tự hôm người y sĩ quân đôi Pháp buồn bã nói Vũ đã tàn phế. Vũ đâm ra ngờ vực tất cả. Gia đình. Bằng hữu. Tình nhân. Vũ được hai thứ, đánh gục sự ngờ vực của Vũ. Gia đình và bằng hữu làm Vũ yên lòng mà sống lay lất. Còn tình nhân? Mỗi người có một số phận. Số phận nó tới lúc nào, mình không biết. Người y sĩ quân đội Pháp an ủi Vũ thế. Số phận của Vũ, Vũ đã mơ hồi cảm thấy. Chẳng bao giờ Vũ nhắc nhở Thúy, từ dạo Vũ bị những vết thương chiến tranh nó nhằm đúng tim Vũ đóng chặt. Oan nghiệt. Năn năm theo kháng chiến, chả khi nào Vũ quên Thúy, quên ngày vàng mộng tưởng, quên tình ái ngọc ngà, quên nụ cười sáng rực, quên nước mắt ngời vui. Y hệt thi sĩ Nguyễn Bính nhớ tình nhân. Nhớ nhất nước. Nhớ nhất thế giới. Nhớ nhất loài người. Nhất trời đất:
Trời còn có bữa sao quên mọc
Anh chẳng đêm nào quên nhớ em

Vũ hơn trời, hơn trăng, hơn sao, luôn luôn nhớ thương Thúy. Nhớ ngút ngàn. Nhớ nghiêng lệch. Nhớ trong chiến trận bừng bừng khói lửa. Nhớ ngoài hậu phương ngây ngất nhạc đời. Nhớ vào nhà em không rõ lối về. Hhớ ra đường phố mùi hồi thơm hắc.
Vũ nhớ Thúy vì trời sinh Vũ để nhớ nhung. Thúy quên Vũ vì trời sinh Thúy để quên lãng. Mấy người yêu tuổi thơ, kỷ niệm của mình mà chung thủy? Người ta tình cờ nghĩ tới thì nuối tiếc vu vơ, thì giật mình xấu hổ, thì mộng hoa niên trở lại để sống khác đi. Vũ thích dĩ vãng, bằng lòng lạc loài trong dĩ vãng. Như tiểu tư sản. Thúy không thích ngoái nhìn dĩ vãng, bẳng lòng ồn ã trong tương lai. Như vô sản. Đó là quyền sống của Thúy. Đã lớn khôn. Vũ không được phép trách móc Thúy như Thúy bảo Vũ đã vồ tiền ở đền Mẫu.
Thuở còn ngây dại. Vũ nhớ ghê lắm, thuở tình thơ với Thúy. Bắt đầu, Vũ bắt con chim khuyên bỏ túi quần xoóc, đem sang cho Thúy. Sau chót, Vũ hôn lên mắt Thúy và nói bằng hơi thở Anh sẽ về. Chúng mình sẽ trở về, bằng trái tim, anh sẽ chiến đấu để trở về, sống mãi bên em, bằng nước mắt, giã từ Thúy, Tạm biệt em hôm chia ly, sau ngày thị xã Thái Bình tiêu thổ kháng chiến. Vũ đã về giải phóng thị xã, Thúy đã về hạnh ngô Vũ. Hai người lấy nhau. Đất nước thanh bình. ồ, như vậy tiểu thuyết quá. Kim Trọng với Thúy Kiều quá. Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga quá. Bất ngờ, Vũ bị thương tàn phế, về nhà giống gã đào binh hèn nhát, không giải phóng thị xã nổi. Bất ngờ, Vương Viên Thúy thành đồng chí gái Kiều Nhị, lấy chồng cộng sản và quên hẳn Trần Vũ. Như vậy mới là cuộc đời.
Cuộc đời hôm nay khốn nạn không chừng. Cách mạng và chiến tranh. Chiến tranh gây đổ vỡ, cách mạng xây dựng lại đổ vỡ. Những chỗ nào đổ vỡ, cháy tàn vì chiến tranh, cách mạng xây dựng lại hết. Một thành phố, những tỉnh lỵ chẳng bao lâu sẽ như cũ. Chiến tranh sát hại hàng triệu sinh linh. Là thường. Có chiến tranh nào không người chết? Cách mạng, chiến tranh và chủ nghĩa mới đáng hãi hùng. Cách mạng, có thể, tái tạo hạnh phúc cho con người do chiến tranh đã đốt phá. Cách mạng không đủ khả năng, không bao giờ có khả năng hàn gắn sự tan nát của tình yêu con người do chủ nghĩa dẫm nát dưới bàn chân thô bạo. Chủ nghĩa thừa thãi quyền năng. Con vật vô hình đó, nhiều chân tay, nhiều bí tích, nhiều cách sát nhân, nhiều lối rửa óc. Nó chỉ thiếu một trái tim. Như con người. Nó không biết rung động, cảm động, thương yêu. Dưới bàn chân thô bạo của nó là tình người. Tình người, vô tình, biến thành kẻ thù số một của chủ nghĩa.
Cách mạng bị chủ nghĩa dẫn dắt. Thị xã Thái Bình bị tiêu thổ kháng chiến, không đời nào kiến tạo như ngày xưa. Ngay cả những cây hồi hoa thơm hăng hắc cũng khó lòng trồng lại. Chủ nghĩa đã dầy đạp bao trái tim con người. Trái tim của Thúy đau đớn nhất, đau chẳng biết mình đau.
- Mày thuộc bài thơ tình nào hay nhất không?
Vũ hỏi.
Luyến mỉm cười, rướn thân hình lên :
- Buồn đấy.
Vũ nói :
- Thơ tình nào không buồn? Buồn mới bất hủ.
Luyến ngâm nga :
- ... Tình yêu đến tình yêu đi ai biết
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt
Những hình xưa nay đoạn tuyệt dấu hài
Gấp đi em anh rất sợ ngày mai
Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn...

Vũ khen :
- Tuyệt tác. Thơ vận vào đời tao.
Rồi, Vũ nói chuyện khác :
- Bắt đầu, khởi sự cách mạng mùa Thu. Từ cách mạng mùa Thu, đã thấy mùi chủ nghĩa. Khi mình biết chủ nghĩa hướng dẫn cách mạng, mình đã tàn phế rồi. Đàn anh chúng ta cũng không biết. Anh Vũ Thương Anh biết muộn màng. Anh ấy sắp chết, vẫn sợ chủ nghĩa. Đến nỗi, làm bản nhạc Cuối thu đường đời, anh ấy phải giấu giiếm tâm sự một mình, gửi người cùng tâm sự. Cách mạng mùa Thu chẳng phải cách mạng chống đối thực dân đâu. Theo tao, chỉ là cách mạng rơi vào tay chủ nghĩa. Để tiêu diệt tình người. Chấm hết.
Luyến không nói gì nữa. Vũ lặng im. Cả hai đứa hút thuốc lá, nhìn khói bay theo gió thu vào không gian mù khơi. Sắp sửa 19-8 rồi. Còn vài hôm nữa thôi, ngày tổng khởi nghĩa. Chín năm trước, thằng Vũ, thằng Côn, thằng Luyến, thằng Long, thằng Lộc còn chân sáo tung tăng Nhanh bươc nhanh nhi đồng, theo cờ đỏ sao vàng. Chín năm sau, Long chết trận ở Duyên Hà, Lộc, Côn vô Nam, Luyến mất một chân, Vũ tàn phế nằm giữa sân phố Lý Thường Kiệt, nói chuyện thất vọng cách mạng mùa Thu. Nghe đâu đây, tiếng kèn ác mô ni ca ray rút thổi bản nhạc sầu thảm. Và, giọng ai đó thổn thức hát.
... Giọt nước mắt rơi buồn tênh đường trần
Sợi nắng úa soi thời gian ngại ngần
Ôi mùa thu hẹn nhau đã tới
Ơi mùa thu, mùa thu cuối lối
Bánh xe tang lăn trên xác lá mồ côi...


Le Plessis Robinson
Noel, 1992
Duyên Anh

----------------------------------------
[font="verdana"][size="3"][color="#000099"][1] Mỹ viện trợ sữa bột hết chất béo cho dân gầy và phó mát vàng chòe, đúng như người Thái Bình nhận định. Hai thứ này không được bán trong thị trường thương mại. Vải vóc càng tệ hơn, mặc hai lần là vất đi.
[2] Tên một ngọn núi.
[3] Tên một ngôi chùa ở Sơn Tây.
[4] Tử Phác, bộ đội tiểu tư sản. Năm 1950 bị loại ra cuộc kháng chiến chống Pháp. Năm 1956, Tử Phác gia nhập Nhân Văn Giai Phẩm, chống Đảng và Nhà Nước cộng sản. Ông chết năm 1986.
[5] Khái Hưng, nhà văn nổi tiếng thời tiền chiến. Vencuzenđơ bị Việt Minh thủ tiêu năm 1946.
[6] Lan Khai, nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch sử, bị học trò Việt Minh thủ tiêu 1946, vì Vencuzenđơ.
[7] Yên Thao làm có bài Nhà tôi. Trong cuộc chỉnh huấn 1950, bị lãnh đạo văn nghệ Tố Hữu phê bình sát ván, Yên Thao không thèm làm thơ nữa
[8] Tố Hữu, lãnh tụ văn nghệ hồi Hồ Chí Minh còn sống. Bốn câu thơ trên trích trong tập thơ Từ ấy. Năm 1986, Tố Hữu bị thanh trừng.
[9] Tân thế giới, cu ly đồn điền cao su Pháp đọc sai.
[10] Bolchevik.
[11] Nữ cộng sản Pháp nằm giữa đường ngăn cho xe lửa chở lính Pháp xuống Marseille sang chiến đấu ở Việt Nam không đi được.


[font="verdana"][size="3"][color="#ff0000"]HẾT

[/color][/size][/font][/color][/size][/font]
0
http://vnthuquan.net/truy...83a3q3m3237nvn#phandau
 
Truyện này có rồi trong thư viện
 
chỉ có khác lời giới thiệu thôi
 
casau xem lai dùm  nha
 
 




0
Quyển này gồm 6 phần
Phần 1: Thằng Vũ
Phần 2: Thằng Côn
Phần 3: Con Thúy
Phần 4: Thằng Khoa
Phần 5: Thằng Vọng
Phần 6: Thằng Luyến
Phần 5, phần 6 Duyên Anh viết sau khi ra trại cải tạo, viết ở hải ngoại. Mấy phần sau thư viện chưa có.
0
Những đứa trẻ Thái Bình - Duyên Anh
 
Đã mang vào thư viện
 
CtLy đăng lên cho đủ bộ,
 
cho độc giả khỏI mất thì giờ đi tìm [8D]
 
Chúc casau 1 ngày thật vui vẻ
 
📎 cacthankyou1




0