Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Phái viên mật - Graham Greene

4 trả lời, 7.535 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.02.2014 23:11:03 bởi Ct.Ly>

 
 
Phái Viên Mật

Tác giả: Graham Greene

Dịch giả: Trần Văn Nuôi

NXB Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh
 
 
 
*****

 
Đã gửi cho các bạn
 


 
Trang 5 tới trang 14 : Đặng Minh Toàn đã gửi

Trang 16  -DL_tramy đã đánh xong

trang 20 , 28 ,  đến trang 34 ti cô nương đã gửi




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.02.2014 13:39:25 bởi Ct.Ly>
Bắt đầu từ trang 50

Một người đàn bà đứng trong gian tiền sảnh, chắc là bà quản gia, người đồ sộ, tóc nâu, da mặt đầy tàn nhang. Bà ta lạnh lùng nhìn anh, mồm gọi một cách cộc cằn. "Else, Else, mày ở đâu thế?"
- Bà đừng bận tâm. Tôi lên trên ấy và chắc sẽ gặp cô ấy.
- Chìa khóa ở đằng móc kia kìa.
- Cảm ơn bà.
Else đang quét hành lang, cô nói:
- Không có ai vào phòng ông cả.
- Cảm ơn. Cô là một người bào vệ tốt.
Nhưng khi bước vô buồng, anh thấy là cô bé không nói thật. Anh đã đặt cái xác theo một hướng ước lệ đối với bức tường; cái xắc đã bị xô địch. Có thể là do Else giũ bụi trên giường. Anh kéo dây khóa: Xắc đã bị lục lọi, tuy không có giấy tờ gì quan trọng.
Anh gọi, giọng nhẹ nhàng: "Else". Cô bé bước vào, người xương xẩu, mỏng manh với cái vẻ trung thành, lận tụy mà vụng về, cũng vụng về như kiểu cô mặc chiếc tạp dề này. Anh tự hỏi không biết ở trên đời có kẻ nào đó không hề bị mua chuộc không? Ngay cả anh nữa... Có khi cũng bị mua...
- Cỏn người đã vào căn buồng này! - Anh nói.
- Chỉ có cháu vào...
- Và ai?
- Bà quàn gia, thưa ông. Cháu tưởng ông dư biết là...
Anh thấy nhẹ người khi nghĩ rằng dù sao cũng vẫn còn có kẻ lương thiện ò đâu đó trên cõi đời này.
- Tất nhiên. Cô không thể ngăn được bà ta, đúng không?
- Cháu đã ngăn, nhưng bà bảo là cháu muốn giấu sự cẩu thả của cháu. Cháu nói là ông đã dặn... Bà ta giật cái chìa khóa bà ta vào. Cháu nghĩ chắc bà ấy cũng chả lấy cái gì, ông cũng không phát hiện ra...
Cô nói thêm:
- Cháu xin lỗi ông. Lẽ ra cháu không nên để cho bà ta vào.
Cô khóc.
- Bà ta có giận không? Anh hỏi rất sẽ.
- Bà ta đuổi cháu. Cuối tuần này, không được làm nữa. Nhưng không sao... Cháu sẽ tìm được chỗ làm khá hơn...
Anh nghĩ: chiến tranh vẫn bám lấy mình. Mình bước vào đây và thế là cuộc đời của kẻ nào đó liền bị đổ vỡ.
- Để tôi nói chuyện với bà ta! - anh nói.
- Thôi, cháu xin ông. Cháu không làm ở đây nữa... Bà ta đã tát cháu.
- Rồi cô sẽ làm gì? Ở đâu?
- Hồi xưa có một chị làm công việc của cháu ở đây. Bây giờ chị cũng có một căn buồng riêng. Chị ấy rủ cháu tới làm hầu phòng cho chị ấy. Chỉ cần quét dọn, mở cửa, đóng cửa thôi...
- Không! Không! Anh kêu lên. Anh thấy rõ bao nhiêu tội mình đã gây ra mà không biết, chẳng có ai trong chúng ta chịu nghĩ rằng mình làm hại bao nhiêu cuộc đời ngây thơ. Anh cảm thấy có trách nhiệm...
- Cô cứ chờ tôi nói chuyện với bà ta đã.
- Không, ông đừng nói gì. Công việc đằng kia thì cũng như ở đây thôi. Chị Clara rất tót. Chị ấy bảo là cần có bạn, vậy thôi. Chị ấy sẽ cho cháu đi xem xi nê mỗi buổi chiều.
- Chờ đã. Anh nói và anh nghĩ tới cô con gái ông Benditch... Nhưng chắc cũng khỏ, sau vụ chiếc ô tô bị trộm.
Có tiếng hỏi từ bên ngoài;
- Mày làm gì trong đó thế, Else?
- Tôi đang hỏi cô ấy xem ai đã vào buồng tôì. D nói và anh nghĩ hay con mụ này cũng là người của L hoặc L đã mua được mụ?
- Thế thì ông phải bảo thẳng với tôi chứ.
Bộ mặt vuông bè của mụ hầm hầm.
- Có người lục lọi giấy tờ của tôi.
- Mày có lục giấy tờ của ông đây không?
- Thưa không ạ.
- Mụ quay cái mặt đầy làn nhang về phía anh, bộ mặt như một cái tháp cổ còn đủ sức thách thức.
- Ông nhầm đấy, thấy chưa? Nếu ông tin con bé này.
- Tôi tin cô ấy.
- Vậy thì thôi, hết nóí. À, có một bà đang chờ nói chuyện với ông trong điện thoại. Ở dưới nhà.
- Một bà? Tên là gì?
- Bà ta không nói tên.
Else nhìn anh lo lắng. Anh bước ra, tay vuốt vai cô bé nói:
- Cô cứ tin ở tôi.
Mười bốn tuổi, nào đã biết gì mà phải chiều ý mọi người. Nếu như đó là văn minh - đường phố đày hàng hóa, đày người đi vội vã, những cô, bà đi uống cà phô ở quán Buzzard, mà mệnh phụ dưới triều Edouard... và một bé gái mười bốn tuổi đang chìm sâu dưới đáy nước, đang chết từ từ - thì thứ văn minh đó thật đáng ghê tởm. Thà anh chịu cảnh tàn bạo, những khu phố bị ném bom, những dãy người xếp hàng chờ nhận bánh. Thà vậy còn hơn. Trẻ con ở bên ấy chỉ có một nỗi nguy hiểm là cái chết. Phải rồi. Chính là vì những em bé như Else đây mà anh đã chiến đấu. Anh chiến đấu để một nền văn minh như thế này sẽ không tiếp diễn ở đất nước anh.
Anh cầm lấy ống nghe:
- Xin lỗi, ai ở đầu dây đấy?
- Rose Cullen. Giọng nói nghe có về sốt ruột.
Anh nghĩ: Khỉ thật, thế này là thế nào? Họ định tiếp cận mình qua một người đàn bà hay sao? Như trong tiểu thuyết trinh thám vậy!
- A, chào cô. Tối qua cô về tới nhà an toàn chứ? Anh nghĩ chỉ có L mới có thể cho cô ta số điện thoại này.
- An toàn, cám ơn. Ông nghe tôi nói đây...
- Tôi hơi lo. Bọn họ phũ phàng quá...
- Ông có phải là một tên ăn trộm xe đâu mà phải lo!
- Tôi ăn trộm xe từ khi cô chưa ra đời.
- Ồ thôi đi! Có thật là ông có cái hẹn với ba tôi không?
- Ba cô nói với cô ư?
Một tiếng kêu giận dữ rung dài theo đường dây.
- Bộ ông tưởng tôi thường nói chuyện với ba tôi lắm sao? Cô thư ký của ba tôi đã cho địa chỉ, cho số điện thoại...
Cô gái này muốn gì? Anh ngẫm nghĩ trong khi đưa mắt nhìn căn phòng khách hẹp, lọ dây leo đặt trên giá gỗ, một cái ống cắm dù làm bằng vỏ đạn đại bác. Anh nghĩ ở nước Anh chắc rồi có thể xây dựng một nền công nghiệp chế biến vỏ đạn đại bác. Hàng xuất khẩu. Xin quí vị hãy tặng bạn bè một cái ống cắm dù bằng vỏ đại bác. Kỷ niệm những xứ sở bị tàn phá...
- Ông ngủ hay sao thế? Có tiếng gắt trong máy điện thoại.
- À, không. Tôi đang chờ xem cô cần gì?... Tôi... hơi ngại, cô biết đấy. Buổi gặp gỡ của chúng ta... Kỳ cục quá...
- Tôi muốn nói về chuyện gặp gỡ đó.
- Thế nào ạ?
Cô này có phải là người của L không? Anh tung ra một đòn thử:
- Hôm ấy tôi có đánh rơi một chiếc ví...
- À, người ta có đưa cho tôi sau đó.
- Cũng không có gì quan trọng đâu. Những kỷ niệm êm đềm về... những vụ trộm khác của tôi...
- Thôi đi! Tôi không muốn nói thêm trong điện thoại. Tối nay ông có dùng bữa với tôi được không?
- Cô biết là... tôi không có đủ lệ bộ cho lịch sự một chút.
Rất lạ. Giọng cô gái nghe có vẻ buồn, lo lắng thật sự. Người của L không thể có giọng đó. Cô nói.
- Ăn bận thế nào cũng được mà! Thế nhé. Tôi chờ ông ở cửa ga Russel Square. Bảy giờ đúng.
Vị trí này chả có gì đáng ngại. Miễn anh đừng đem ủy nhiệm thư trong mình, ngay cả khi giấu trong tất. Để lại trong buồng càng nguy hiểm hơn... Để nghĩ cách. Anh bỗng nhớ đến Ẹlse và anh vội vã nói.
- À, cô Cullen ơi, cô có biết người nào đó cần một cô hầu phòng. Cô hoặc ba cô chẳng hạn?
- Bộ ông điên rồi sao?
- Thôi được. Ta sẽ nói chuyện sau. Chào cô.
Anh chầm chậm bước lên lầu; chẳng có gì nguy hiểm nữa. Trước hết hãy tìm cách giấu ủy nhiệm thư. Sau đó sống thêm hai mươi bốn giờ nữa như một con người tự do, tự do trở về quê hương bom đạn, nơi người ta chết vì đói. Không. Bọn họ không thể ném một cô gái vào trong tay anh như thế này được, anh, con người vẩn thờ ơ với tất cả, vẫn mê say một người đàn bà đã chết. Chắc L đã bày ra chuyện này.
L có thể nhìn đời như nhìn lên một màn kịch bi hài, hắn thuộc lớp quý tộc: những hầu tước, tướng tá, giám mục, họ sống trong một thế giỏi quy ước, dành riêng cho họ, giữa tiếng lanh canh của những tấm mề đay người này cài vào ngực cho người kia. Ta thường đánh giá tháp sự dốt nát của giai cáp thống trị, họ tế nhị lắm đấy. Hoàng hậu Marie-Antoinette khi nói đến người nghèo thường bảo: "Có đói thì họ cứ ăn bánh mì khô, đã sao!"
Bà quản gia đã đi vắng. Else tiếp tục kỳ cọ hành lang. Anh nhìn cô bé một lúc rồi nói:
- Cô có thể vào trong này một phút, được không?
Cô bé ngoan ngoãn bước vào buồng và anh khóa cửa lại. Lạ thật, anh đã làm gì cho cô bé này đâu, anh, một người xa lạ, mặt mày đày máu me khi bước tới đây, anh chỉ nói với cô vài câu tử tế. Ở đây chắc ít có người nói với cô như vậy nên cô...
- Tôi muốn nhờ cô một chuyện.
- Chuyện gì cũng được, ông cứ nói.
Chắc với Clara, cô bé cũng đối xử như vậy. Trời ơi, một bé gái chẳng biết trao tình thương cho ai ngoài một người xa lạ và một cô gái điếm!
- Không dược để cho ai biết nhé - Anh nói - Mớ giấy tờ này bị người ta rình rập đề cướp đi đấy. Tôi nhờ cô giữ hộ cho tới ngày mai.
- Ông là gián điệp có phải không?
- Không! Không!
- Với cháu chuyện ấy chả nghĩa lý gì.
Anh ngồi xuống giường, cởi giày. Cô nhìn anh không chóp mắt, say mê.
- Cái bà nói chuyện trong điện thoại...
- Bà ta không được quyền biết. Chỉ có cô và tôi thôi.
Nét mặt cô gái nở nang ra, như thể anh sắp cho cô một hòn ngọc. Anh dẹp ngay cái ý nghĩ biếu cô một món tiền. Sau này, khi chia tay, lúc ấy anh sẽ tặng cô một món gì có thể bán, nếu cần.
- Cô sẽ để nó vào đâu?
- Như ông để.
- Không ai được trông thấy nhé.
- Cháu xin thề với ông.
- Hãy giấu ngay lập tức. Anh quay mặt nhìn ra cửa sổ. Tấm bảng hiệu khách sạn bằng đèn nê-ông đâm thẳng xuống lè đường cao đến mười lăm mét. Một chiếc xe chở than chạy qua chầm chậm.
- Bây giờ tôi đi ngủ thêm chút nữa.
Anh vẫn còn thấy thèm ngủ quá.
- Ông không muốn ăn trưa sao? Hôm nay có thịt bò hầm đậu và Puddind ngọt, hai thú đó ăn nóng ngon lắm.
- Tôi không quen ăn nhiều cô ạ.
- Hay là... Ông không đủ tiền? Để cháu lo cho.
- Không phải. Tôi không thấy đói. Chiều nay chắc tôi ăn mới thấy ngon được. Bây giờ chỉ thèm ngủ
Cô gái bước ra; anh lên giường nằm duỗi cẳng, để nguyên quần áo, nghĩ bụng mình sẽ ngủ suốt sáu tiểng. Đây là thời gian tối đa giữa hai trận bom, chẳng cần ai đánh thức. Nhưng lần này thì không ngủ được.
Luôn trong máy ngày nay, trên chuyến tàu nhanh quá đất Pháp, trên tàu biển Calais, trên con đường Douvres. Ngay cả khi anh bị đánh, chúng vẫn nằm dưới chân anh. Không có chúng, anh thấy băn khoăn. Chúng là lẽ sống của anh, còn bây giờ… Anh chỉ là một người nước ngoài, chẳng ai ngó ngàng tới, nằm trên một cái giường ba vạ, trong một phòng ngủ đáng ngờ... Rồi nếu cô bé lại đi khoe khoang sự tin cậy của anh, cô bé hiền lành ngớ ngẩn? Cô thay tất, cô để vương mớ giấy tờ, cô quên đi...
L chắc có nhiều cách chắc chắn hơn. Nói chung, phần tương lai còn lại của tổ quốc anh, được đặt trong chiếc tất rách của một cô bé đày tớ. Mớ giấy tờ ấy đã được người ta trả giá hai ngàn livre, đắt hơn nữa, nếu họ thấy tin dược. Giống như Samson bị cắt mát bộ tóc vàng, anh thấy yếu ớt, rã rời. Anh toan ngồi dậy, gọi Else lại. Nhưng chẳng còn cách nào khá hơn. Tóm lại, số mệnh đã định rằng tương lai những kẻ nghèo ở đất nước anh tùy thuộc vào một cô bé nghèo.
Thì giờ trôi qua chầm chậm. Anh cố tự nhủ mình đang được nghỉ ngơi. Một lúc sau, bên ngoài hành lang không còn tiếng động, cô bé không thể vờ kéo dài mãi chuyện cọ rửa. Nếu mình có được một khẩu súng ngắn, anh nghĩ, chắc anh không đến nỗi bất lực như đêm qua. Nhưng thủ tục hải quan không cho phép, ở đây có thể mua được súng, nhưng anh không quen ai. Anh thấy tự dưng mình hoảng sợ. Thì giờ còn ít quá. bọn kia chắc lại sẽ tấn công. Mở đầu bằng hai trận đòn thì hiệp tiếp sau chắc khốc liệt hơn. Thật kỳ lạ, ghẽ sợ nữa, cái chuyện một mình mình đương đầu với hiểm nguy. Từ trước đến nay anh đã qua những giờ phút hiểm nghèo trong đời mình cùng với cả thành phố, cùng với đội ngũ của mình.
Ngày xưa, cuộc chiến đớn giản hơn nhiều: ở nơi bị vây hãm, Reland có các chiến hữu: Olivies, Turpin, toàn bộ cựu binh Âu châu ào tới giúp chàng. Con người cùng chung một niềm tin. Ngay cả kẻ ngoại đạo cũng cùng với Giáo hội đứng lên đánh bọn Hồi giáo. Họ cố những điểm khác nhau trong đức tin, nhưng vì chân lý sau cùng, thì họ vững như đá. Ngày nay, nhiều chủ nghĩa quá, nhiều tên tuổi quá!
Dưới đường vẳng lên tiếng rao của người bán quần áo cũ, tiếng người đi chữa dạo bàn ghế. Anh thường đinh ninh rằng chiến tranh đã giết hết xúc cảm nơi anh. Không đúng. Những tiếng rao kia làm anh thấy đau lòng. Cũng như anh, họ phải sống. Sống là bội ước. Hai người đã bao lần thề thốt với nhau là nếu người này chết đi thì người kia sẽ chết theo, không quá một tuần lễ. Vậy mà anh chưa chết, anh vẫn sống sau lần tù đày, sau nhiều bom đạn.
Hoàng hôn buông xuống: ánh đèn lần lượt bật lên như một trận tan băng màu trắng. Anh ngồi dậy rửa mặt cạo râu. Đã tới giờ đi. Anh cài cúc áo khoác lên tận cổ và dấn bước trong bóng đêm lạnh lẽo. Gió đông thổi hun hút, cái lạnh toát ra từ những bức tường đá của khu thương mại và ngân hàng. Con gió làm người ta nghĩ đến những hành lang dài, những khu cửa kính, nghĩ tới cuộc sống thường ngày. Đó là một ngọn gió tước hết can đảm của con người. Anh ngước lên đường Guinferd. Đám đông lúc tan tầm đã dứt, còn đám đông tới các rạp hát thì chưa bắt đầu. Trong các quán ăn nhỏ, người ta trải khăn bàn chuẩn bị bữa tối.
 (hết trang 59)
THIẾU TRANG 60  
 (Bắt đầu trang 61)
trên lề. An toàn. Có kẻ vừa mới bắn anh bằng một khẩu súng ngắn gán giảm thanh. Súng gắn ống giảm thanh khó ngắm.
Tên ăn mày đã dụ anh vào một cái bẫy. Nếu viên đạn bắn trúng, chiếc xe tải sẵn sàng chở xác anh chạy biến. Anh băng qua đường, tới nơi hẹn. Anh nghĩ Cullen chắc không có ở đó.
Có, cô có ở đó.
- Tôi vừa mới bị các bạn của cô bắn hụt. Tôi tưởng không còn gặp cô ở đây...
- Ông nghe đây. Hôm nay tôi tới để xin lỗi ông về vụ đêm qua. Tôi không nghĩ là ông ăn trộm chiếc xe, nhưng lúc đó tôi say quá, tôi nổi giận... Tôi không ngờ họ hành hung ông như vậy... Tất cả là do cái thằng đểu Currie. Nhưng còn ông, nếu ông lại giờ cái trò lâm ly kia ra... Để thu phục thiên hạ chăng? Làm rung động con tim các cô nàng lãng mạn? Kiểu đó đối với tôi là không ăn đâu!
- L có biết chúng ta gặp nhau ở đây vào lúc này không?
- Không, nhưng Currie thì có biết.
Lời thú nhận làm D ngạc nhiên, cô này quả thật vô tư, vô lự.
- Currie nhặt được cái ví của ông. Hôm nay hắn khoe với tôi như vậy, tôi bảo hắn nên trả lại. Tôi bảo rằng ông không có ý định lấy trộm xe, rằng tôi hẹn dùng bữa với ông tối nay để trả lại cái ví.
- Hắn đã đưa cho cồ?
- Đây này!
- Rồi cổ nói luôn chỗ hẹn, giờ hẹn cho hắn biết?
- Có thể. Tôi cãi nhau với hắn. Nhưng đừng nghĩ rằng Currie bán ông, hắn chỉ còn tay trái.
- Tôi cũng nghĩ vậy. Chắc hắn đã gặp L và nói cho L biết.
- Hắn ăn trưa với L mà! Bỗng cô la lên:
- Mà lạ quá! Làm sao người ta bán được ông, giữa đường, giữa Luân Đôn này? Không ai nghe nổi sao? Còn người qua dường, còn cảnh sát. Mà sao ông lại tới đây? Sao không đi báo cảnh sát?
- Hỏi từng câu thôi - D sẽ sàng nói - Chuyện xây ra trong một ngõ hẻm. Súng có gắn giảm thanh. Còn đi báo cảnh sát thì... Cô hẹn gặp tôi ở đây mà!
- Ờ nhì! Nhưng nếu như vậy thì cuộc đời quả là rắc rối quá...
- Tôi nghĩ cũng chẳng có gì rắc rối đâu. Bên nước tôi, người ta sống giữa tiếng súng. Ở đây, rồi cũng sẽ quen. Cuộc đời vẫn cứ tiếp tục, chẳng có gì thay đổi đâu.
Anh nắm lấy tay cô như một đứa trẻ, băng qua đường, trở lại đầu hẻm. Anh nhặt mảnh gạch vỡ và chỉ dấu đạn trên tường:
- Cô trông đây, ngang tầm cái đầu tôi đây!
- Nhưng đạn đâu? Đạn đâu?
- D cho ngón tay vào chỗ vỡ để tìm nhưng không thấy gì. Anh nói.
- Bọn họ đang chạy đua. Cô đã biết chuyện dưới buồng vệ sinh. Rồi chuyện trên đường Douvres. Hôm nay, cái xác của tôi bị lục soát. Rồi chuyện vừa rồi. Họ chì còn cách giết tôi nhưng tôi khó chết lắm.
- Chúa ơi! - Cô bỗng la lẽn - Đúng rồi, đây này!
D quay lại. cô cầm trong tay cái đầu viên đạn vừa nhặt được dưới lề đường.
- Đủng thật. Ta phài gọi cảnh sát... Cô nói.
- Chẳng có bẳng chứng gì. Gọi cảnh sát vô ích.
- Tối qua ông có nói là họ muốn cho ông một số tiền.
- Đúng.
- Tại sao ông không nhận? Ông không muốn chết kia mà!
D cầm tay cô, đưa vô một cái quán nhỏ cạnh đấy.
- Hai ly cô nhắc lớn! Ông vui vẻ nói tiếp.
- Tôi muốn nhờ cô một việc. Ở chỗ tôi trọ có một cô hầu phòng. Cô ta giúp tôi một việc, vì vậy mà bị đuổi. Một cô bé rất tốt. Chẳng hiểu rồi đây sẽ ra sao. Cô có bao nhiêu là bạn bè giàu có, cô có thể...
- Ồ! Thôi cái trò Đông Ky Sốt ấy đi. Tôi muốn nghe ông nói về chuyện làm ăn của ông kia.
- Chẳng có gì đáng nói. Họ không muốn cho tôi gặp ba cô.
- Ông là một nhà yêu nước có phải không? Giọng cô có vẻ khinh khỉnh.
- Không, trái lại. Họ thường tự xưng như vậy và họ thường nói đất nước chúng tôi...
- Tại sao ông không nhận tiền của họ, ông đâu giàu có gì?
- Mỗi người phải tự tìm một con đường cho lương tâm và phải đi con đường đó. Không như vậy thì đời còn có nghĩa gì. Chỉ còn cách mở vòi ga rồi ngủ luôn cho tiện. Tôi về phe với loại người từ bao đời chỉ sống với một khẩu phần vừa đủ.
- Nhưng phe ông luôn bị phản bội.
- Không quan trọng. Hoạt động duy nhất của hạng người như tôi là trung thành với hoạt động của mình. Vậy thôi, chẳng biết trung thành với cái gì nữa! Cuộc chiến phức tạp quá. Tôi nghĩ, nếu tôi tin ở Chúa thì mọi chuyện đỡ rắc rối hơn.
- Ông có nghĩ là lãnh tụ bên phe ông tốt hơn người bên phe L không? - Cô uống cạn ly rượu và gõ gõ lên quày bằng cái đầu đạn.
- Không, tôi không nghĩ thế. Nhưng những con người phía bên tôi, những người ở trong chiến hào, trên đường phố, trong những căn nhà đổ nát thì tôi yẽu, tôi phục vô cùng.
- Người nghèo. Bất kể họ đúng hay sai!
- Thế cô bảo họ đứng hay sai? Một khi con đường đã chọn rồi thì phe thất trận là phe sai. Kẻ thù của chúng tôi nói như vậy. Nhưng chỉ có lịch sử, mới phán quyết! Anh lấy lại viên đạn từ trong tay cô.
- Tôi phải ăn một chút. Từ tối qua chưa ăn gì.
Anh tới quày lấy một đĩa bánh mỳ và thịt nguội.
- Cô cũng phài ăn một chút. Làn nào cũng thấy cô uống mà để bụng trống. Có hại lắm.
- Tôi không đói.
- Tôi đói lắm.
Anh cắn một miếng to. Cô dùng móng tay vạch một đường dài lên lòng đĩa làm phát ra một tiếng rít.
- Ông nói cho tôi nghe... Trước khi cuộc chiến xảy ra, ông làm gì?
Tôi giảng tiếng Pháp trung cổ. Công việc khá bận rộn. Cô có nghe nói về khúc tráng ca Roland?
- Có.
- Chính tôi đã phát hiện ra bản thảo Thụy Sĩ, bản viết tay ở Berne.
- Chuyện đó thì tôi dốt đặc.
- Bản tốt nhất trước đó là bản của nước Anh, tàng trữ ở Oxford, nhưng bản đó bị chữa nhiều, lại khiếm khuyết. Rồi bản ở Venise, bản này khá đủ, nhưng xoàng. Tôi đã tìm ra bản viết lay ở Berne - Anh có vẻ rất hãnh diện.
- Vậy sao? Cô lơ đãng nhìn viên đạn trong tay rồi nhìn lên vết sẹo ở cằm, lên đôi môi có vết bầm.
- Cô nhớ câu chuyện Đội quân hậu vệ của Vua Pháp Charlemagne trên đường về nước, qua dãy núi Pyeénées không? Olivier trông thấy quân Sarrazins kéo tới bèn bào Roland thổi kèn lên để gọi đại quân trở lại...
Dường như cô gái đang đặt câu hỏi về vết sẹo.
- Rồi sao nữa?
- Roland từ chối, không chịu thổi kèn, cho rằng không có kẻ thù nào buộc được chàng, phải kêu cứu. Một thằng ngu hết sức tài giỏi của giai tầng quý tộc. Trong chiến tranh, người ta thường hay chọn những vị anh hùng không nên chọn. Lẽ ra Olivier phải là người anh hùng của khúc tráng ca này...
- Bà vợ ông chết như thế nào.
Cô gái hỏi, nhưng anh không muốn đổ cho cuộc chiến tranh quấy nhiêu vào câu chuyện cổ của anh.
Thế rồi khi quân tướng của mình đã chết, đã ngắc ngoài gần hết Roland mới chịu thổi kèn. Rồi những kẻ làm ca khúc ở hậu thế lại ra sức tán tụng Roland, kẻ chỉ nghĩ tới vinh quang bản thân. Hắn cử việc yên chí mà chết đi cho rành. Hắn lại còn hài lòng về những tổn thất do tính anh hùng rơm cửa hắn‘ ây ra. Tôi đã nói với cô rằng Olivier mới thật là anh hùng.
- Ông đã nói như vậy ư?
Rõ ràng cô thờ ơ. Anh thản nhiên tiếp tục:
- Chỗ quan trọng của bản thào Berne là ở đó. Nó nhìn lịch sử như một bi kịch chứ không phải như một khúc tráng ca. Trong bàn Oxford, Olivier rủi ro giết Roland, và chàng hòa hợp với Roland. Còn trong bản Berne thì chàng chủ dộng giết chết chủ tướng và chàng chết mà còn nguyền rủa con người chàng hằng yêu mến. Nhưng cô thấy đấy, bản viết này bất tiện quá... Giữa yến tiệc trong các lâu đài, giữa các vị quý tộc thời trung cổ vốn cũng là những Roland nho nhỏ... Họ làm sao hiểu được Olivier.
- Tôi về phe Olivier - Cô nói đại - Anh nhìn cô ngạc nhiên. Cô nói thêm:
- Còn ba tôi cũng như các bá tước ở đây, chắc là về phe Roland quá!
- Khi tôi vừa công bố bản văn Berne thì chiến tranh nổ ra.
- Rồi đây khi chiến tranh chấm dứt, ông định làm gì?
- Tôi không dám hy vọng sống tới đó.
- Giống như Olivier, ông đã chấm dứt nó, nếu ông có đủ khả năng. Nhưng một khi nó đã nổ ra... Ông nghĩ thế nào về L. Tôi thấy ông ta rất duyên dáng.
- Bọn họ biết cách làm duyên. Họ đã rèn luyện nghệ thuật ấy từ đời này sang đời khác.
Anh cạn ly rượu.
- Tôi nói chuyện dòng dài làm gì. Cô yêu cầu tôi tới, tôi đã tới...
- Tôi muốn giúp ông, vậy thôi.
- Vì sao?
- Lúc bọn chúng đánh ông, tôi nôn thốc nôn tháo trong xe, Currie tưởng là vì tôi say. Thật ra là vì gương mặt ông lúc đó. Tôi chưa từng thấy một gương mặt nào hơi hơi trung thực một chút, trong cuộc sống của tôi, trung thực đúng theo nghĩa tôi muốn nói. Ba tôi và đám bạn bè của ba tôi quả là có trung thực đối với... Lạy chúa, đối với rượu và gái... Còn khi nói về than đá, về người công nhân của họ thì... À, nếu ông muốn lấy được thứ gì ở họ thì chớ có đưa ra chút tình cảm nào, hay một tí lâm ly nào... hãy chìa ra môt lập séc... Bọn họ giống nhau cả và chắc họ sẽ có mặt trong buổi thương lượng: lão Huân tước Felting, Brigxtock, Forbes...
- Thì họ thuộc về giai tầng của cô đấy.
- Tôi không có giai tầng. Ông nội tôi là thợ mỏ.
- Thật không may cho cô. Cô bị đặt vào vùng "phi quân sự” cũng như tôi, bị cả hai phía nghi ngò.
- Forbes thì có thể tin được đôi chút. Đó là một gã Do thái, tên thật là Fursteim. Một tay gian lận, nhất hạng là trong tình yêu. Gã đòi cưới tôi...
Lần thủ hai trong ngày, D thấy bất nhẫn. Anh nhớ lại cô bé đày tớ ở nhà trọ. Lớp trẻ ngày nay biết sớm quá. Ở nước anh, trẻ con biết cái chết trước khi biết đi. Trong một cuộc sống hạnh phúc, con người chỉ thất vọng khi gần kề cái chết. Còn trong cuộc đời ngày nay thì ngay khi đã tuyệt vọng, con người vẫn phải tìm cách sống cho trọn kiếp người.
Khi đổ bộ lên đất Anh, anh thấy có đôi chút thèm muốn... Cái không khí vô tư, một chút tin cậy nào đó, như trong vụ xét hộ chiếu. Anh nghĩ sự ngờ vực là do chiến tranh đưa lại. Bây giờ thì anh thấy nó thuộc hẳn về cuộc đời này. Ngày xưa anh bị cuộc tình thu hút, rồi công việc trước tác, học thuật, nên anh không kịp nhận ra đó thôi: cả thế giỏi này chìm trong bóng đôm buông thả, trong tuyệt vọng. Đâu đó, cũng còn độ mươi người có thể làm chỗ nương tựa được... Nhưng thôi cứ cho nó tan tành hết đi, rồi ta lại bắt đầu từ loài bò sát.
- Ta đi thôi. Cullen nói.
- Đi đâu?
- Đi đâu cũng được. Xem xi nê đi.
Họ ngồi suốt một tiếng đồng hồ trong một thứ cung điện: tượng thần có cánh, thảm dày trên vách, những cô gái bưng mâm giải khát đi dài dài liên tục... Ngày trước các rạp chưa được sang như thế này. Cuốn phim, một vở kịch đầy chuyện yêu đương và hy sinh kỳ quặc: một nhà sản xuất phim đang chết đói ở Mỹ, một cô diễn viên đang ăn khách ở Anh. Nửa chừng cô bỏ mặc vai đang đóng, bay về Mỹ để cứu người tình. Cô com măng trước một truyện phim do cô thủ vai chính, bộ phim được hoan nghênh... Câu chuyện dễ dăi, viết quàng xiên nhưng được các diễn viên thượng thặng đóng. Ai cũng hốt bạc...
Bàn tay Cullen đặt lẽn đầu gối anh, có lẽ do cái ghế đệm quá mềm, quá sâu, do chuyện phim quá dở... Anh đặt tay lên tay cô, cô đã nói là cô không lãng mạn, nhưng anh cảm thấy bàn tay cô dịu mát ngoan ngoãn.
- Ta đi thôi - Cô nói - Chuyện nhảm quá. Chả cần chờ kết thúc.
Họ lách ra cửa và anh nhận thấy anh vẫn cầm tay cô. K ngồi ở hàng ghế sau. Đôi kính gọng thép lắp lánh. Anh sánh vaì cô gái bước ra đường. Anh thấy người mệt mỏi lạ lùng: hai ngày dài và những pha truy đuổi... Anh nói:
- Đôi khi tôi cũng muốn chờ xem sự kết thúc của đời tôi.
- Ồ, để tôi nói ông nghe. Một ngày kia ông sẽ chết vì những kẻ chẳng đáng để cho mình chết. Nhưng ông không đánh trà được Roland đâu. Về vấn đề này, bản thảo Berne nhảm đấy!
Họ lên một chiếc tắc xi. Cô gái nói: "Picadilly!"
Chiếc xe bon về phía khu ăn chơi. Cô nàng lại đi tìm rượu, anh nghĩ. Anh thấy cần nghỉ ngơi cho tỉnh táo, để vào cuộc trưa mai. Anh nói:
- Hay cô cho tôi về khách sạn Carlten, đường Gabitas.
Cô hỏi:
- Có chuyện gì làm ông sợ à?
- Vâng, có chuyện.
- Sao không đi ngủ chỗ khác. Tôi sẽ có một căn buồng dành cho ông, an toàn hơn.
- Nhưng tôi còn công việc ở đó.
Chiếc tắc xi quay lại khu Bloomsbury. Anh bước xuống. Cô bước theo, đứng trên lề đường, cạnh anh.
- Tôi vào cùng với ông nhé... Nhỡ có chuyện gì xảy ra cho ông...
- Không sao. Cô nên về đi.
Anh cầm tay cô gái, nhìn quanh quất dọc đường.
- Trước khi chia tay, xin hỏi lại cô lần nữa. Cô có thể tìm được việc gì cho cô hàu phòng ở đây ? Một cô bé đáng thương, có thể tin cậy được...
- Ông buông tay tôi ra!
Anh buông ngay.
- Cái kiểu Đông Ky Sốt ấy, tôi đã nói, ông hãy để họ bắn ông chết đi cho rồi. Hãy chết đi, không còn chỗ cho ông trong cõi đời này đâu.
- Cô hiểu nhầm tôi. Cô bé này còn bé lắm.
- Bằng tuổi con ông chứ gì ? Tôi biết. Mình ghét bố mình, rồi mình yêu một người gần bàng tuổi bố. Đó mới đáng gọi là lãng mạn!
Anh nhìn cô, hết sức ngượng ngập. Các thi sĩ thế kỷ 18 viết rằng người ta tặng cho nhau con tim một lần, mãi mãi. Trong cuộc đời này giữa bao nhiêu là phiền muộn, đảo điên, thất vọng, chuyện đó khó quá. Hoang mang, bất lực anh đứng trước cánh cửa lúc nào cũng mở toang của cái khách sạn tồi tàn này, nơi người ta thuê buồng từng giờ... Anh ngập ngừng nói:
- Chỉ cần cuộc chiến tranh này kết thúc...
- Đối với ông, nó chẳng bao giờ kết thúc, ông đã nói thế mà.
Cô xinh đẹp quá. Trong đời anh chưa có cô nào đẹp như vậy, kể cả vợ anh, tất nhiên, một người đàn bà không nhan sắc. Anh thử ôm cô vào vòng tay.
- Tôi có thể lên cùng với ông không?
- Ở đây thì không nên.
Anh buông cô ra. Không có hiệu quả. Anh biết rằng mình không nhập được vai nhưng lúc này đâu phải là lúc thú tội. Cô còn trẻ quá, chưa chịu nổi một lời nói thực. Anh nhớ, lúc người ta đưa tin tới anh, thì nàng đã ngã xuống. Tên nàng là Audc. Đời không tiếp tục được như trong tiểu thuyết, khi người mình yêu đã chết. Chuyện ấy đã được thừa nhận từ lâu.
- Đêm tốt lành! Anh nói.
- Đêm tốt lành.
Cô quay người, đi về phía hàng cây đen xẫm ven đường. Anh nghĩ bụng, rút cục có lẽ nên chọn một nhân viên đồi bại hơn. Cô này đứng đắn quá. Ngày mai, mọi sự sẽ được quyết định, anh sẽ về nước. Anh nghĩ không biết rồi cô ta có lấy Furstein không?
Anh đẩy cánh cửa kính. Cánh cửa đã mở hé lừ trước. Anh giật mình cho tay vào túi áo, tát nhiên không có súng trong đó. Đèn tắt nhưng rõ ràng có người, không xa bụi dây leo. Anh rút tay ra khỏi túi, bàn tay đang nắm chiếc hộp thuốc lá. Anh ngậm một điếu thuốc, móc bật lừa. Ánh lửa xòe lên. Một gương mặt trẻ con phóng ra trong đêm tối, như một quả bóng.
- Else, tròi ơi! Cô làm tôi hết hồn. Sao cô lại ò đây?
- Cháu chờ ông.
Ánh lửa tắt.
- Để làm gì?
- Cháu tướng ông đưa bà ấy lên, để cháu đi tìm phòng. Công việc của cháu mà.
- Nói nhảm.
- Cháu thấy ông hôn bà ấy.
- Cái hôn không thành công lắm!
- Họ đang bàn bạc trên ấy.
- Ai?
- Bà quản gia... với một người đàn ông.
- Người như thế nào.
- Nhỏ người. Tóc hoa râm... Kính gọng thép.
Anh nghĩ: Hắn bám mình giỏi quá.
- Họ hỏi cháu nhiều chuyện.
- Hỏi thế nào?
- Hỏi ông có nói chuyện gì với cháu không? Có thấy giấy tờ gì không... Tất nhiên cháu nói không. Chết cháu cũng không nói.
Anh cảm động về sự tận tình của cô bé. Để mất đi những con người như thế này thì cuộc đời còn ra làm sao nữa!
Giọng cô bé run rẩy:
- Mụ quản gia ấy ghê lắm. Nhiều khi như người điên. Thôi, chẳng cần. Cháu hết lòng với ông, ông là một tôn ông thật sự. Cháu dám làm hết mọi sự. Cũng như bà vừa rồi.
- Cô còn giỏi hơn nhiều.
- Bà ấy sẽ về nước với ông chứ?
- Không, không.
- Vậy thì ông cho cháu theo ông!
- Tội nghiệp bé, con không biết bên ấy người ta sống ra sao đâu!
Cô bé thở dài não nuột.
- Ông không biết ở đây cháu sống ra sao đâu!
- Bọn họ đang ở đâu bây giờ, bà quản gia với lão kia?
- Lầu một, phòng đầu. Họ là những kẻ tử thù của ông phải không?
Chả hiểu cô bé này lôi được ở đâu ra những từ như vậy.
- Không. Tôi nghĩ họ là bạn của tôi. Mà cũng không biết nữa. Để tôi lên xem.
- Họ biết rồi đấy. Mụ ta thính tai lắm. Nói chuyện trên lầu, ở trong nhà bếp mụ cũng nghe thấy.
D bỗng giật mình. Anh nghĩ liệu cô bé này có bị nguy hiểm gì không. Anh cẩn thận bước lên cầu thang. Ở lầu một họ đang chờ anh: cánh cửa mở rộng, căn phòng thắp đèn sáng, hai người đang ngồi ngoảnh mặt ra.
- Bona matina! Buổi sáng tốt lành! - D nói - Ông chưa dạy tôi câu chào buổi tối.
- Mời ông vào. Và khép cửa lại. Mụ quàn gia nói.
Anh làm theo, chẳng bao giờ anh chủ động; lúc nào anh cũng là quân cờ cho kẻ khác đi.
- Ông ở đâu về đấy? Mụ quản gia hỏi.
Mụ có gương mặt của một thằng ác ôn. Lẽ ra mụ phải là đàn ông với cái quai hàm bạnh, thân người cục mịch, với lớp mụn trên khắp làn da.
- Ông K sẽ nói cho bà biết. D nói.
- Ông làm cái gì với cô gái ấy? Mụ hỏi.
- Giải trí.
Anh ngắm cái hang ổ này, đúng là một hang ổ, chẳng có về gì là căn buồng của đàn bà. Một cái bàn vuông trần trụi, ghế cứng, không một cành hoa. Một cái kệ trên có nhiều đôi giày da nặng, gót rất thấp.
- Cô ta biết L. - K nói.
- Tôi cũng vậy. Anh trả lời.
- Lúc ông đi vắng... ông đi xem xi nô phải không, có người gọi điện thoại tới đây... đề nghị biếu ông một món...
- Sao họ lại gọi điện thoại khi họ biết là tôi đi vắng?
- Họ đề nghị ông hãy ra điều kiện cho họ, nếu ngày mai ông không tới chỗ hẹn với một người nào đó.
- Tôi đâu có điều kiện gì đề ra.
- Họ nhắn tôi. Mụ quản gia nói.
- Họ biết là bà và ông K đã nắm rõ tình hình?
- Chúng tôi muốn biết là ông có còn giữ mớ giấy tờ đó không? K nói.
- Các người muốn xem tôi đã bán mình chưa chứ gì?
- Chúng tôi phải hỏi kỹ chuyện đó.
- Các người được chỉ thị?
- Chỉ chỉ thị chung thôi. Còn thì tùy tình hình. Õng còn giữ mó giấy tờ đó không? K hỏi.
Mụ đàn bà không nói gì, làm ra về giữ phép tắc của phái yếu.
- Không!
D nhìn từng người một. Anh bắt đầu làm chủ tình thế nhưng thấy người bải hoải, kiệt sức. Ở nước Anh này có bao nhiêu là kỷ niệm làm anh thấy rõ công việc này không phải là việc của anh. Giờ này lẽ ra anh đang ngồi ở Viện bảo tàng Oxford đọc các bản thảo bằng hộ ngữ roman(1).
- Tôi nghĩ rằng chúng ta cùng làm việc với một đầu mối, nhưng không có lý do gì buộc tôi phải tin các người. Anh nói.
Con người bé nhỏ tóc hoa râm cúi mặt như một tội nhân, mụ kia ngồi đối diện, bộ mặt xấu xí, vuông bè, trán áp... D đã trông thấy người ta bắn những kẻ phản bội ở cả hai phía. Chẳng có gì để nhận ra dấu hiệu đó trên gương mặt và trong điệu bộ của họ.
- Các người định chia phần chắc? - D hỏi - Nhưng ở đây chẳng có chia chác cũng chẳng có phần nào đâu!
- Vậy thì anh hãy đọc bức thư này. Mụ đàn bà chìa ra một phong thư.
D chăm chú đọc. Anh không lạ gì tiêu đề sứ quán nước mình. Nhiệm vụ anh tới đây thế là chấm dứt. Mụ đàn bà này được lệnh thu lại giấy tờ, thu lại với mục đích gì, lệnh không nói rõ.
- Anh thấy đấy. Người ta không tín nhiệm anh nữa.
- Tại sao lúc tôi mới tối, bà không đưa cái này ra?
- Tôi được toàn quyền hành động. Tín nhiệm hay không, rồi tôi mới quyết định.
Tình thế quá quắt. Anh được giao giấy tờ tới Luân đôn. K được lệnh canh chừng anh, nhưng hắn không rõ nội dung công tác. Mụ đàn bà này dường như biết mục tiếu chuyến đi nhưng chỉ được hành động vào giờ chót.
- Vậy là bà đã rõ nội dung số giấy tờ đó rồi.
- Tất nhiên tôi biết. Mụ gầm ghè nói.
D nghĩ là mụ không biết. Anh chán ngấy cái kiểu nửa tin nửa ngờ của tổ chức. Một mùi nước hoa rẻ tiền phảng phất trong phòng, dấu hiệu duy nhất về sự có mặt của đàn bà, nhưng nó đáng ngại cũng như mùi nước hoa trên thân thể đàn ông.
- Ông thấy đấy - mụ nói - Công việc của ông đã xong. Ông nên về nước.
- Tôi chưa nhận được lệnh trực tiếp. Tôi cứ giữ số giấy tờ đó.
- Nếu ông hành động ngược lại ý chúng tôi thì...
K rít nên, ánh mắt lộ vẻ thèm thuồng. D nghĩ, trong các nhóm hoạt động cấp thấp này, có biết bao sự phản bội.
- Ông là một con người tình cảm, một người trí thức - Mụ quản gia nói - Nếu ông lừa chúng tôi, ông sẽ thấy.
-... Bà muốn nói tôi lừa bà, riêng bà hay lừa tổ chức ở bốn nước?
Anh cảm thấy cô đơn hết sức, mệt mỏi hết sức, giữa kè thù. Càng xa cuộc chiến thực sự, càng cảm thấy cô đơn. Anh thèm vị trí của các bạn anh giờ này đang ở hỏa tuyến. Cuộc đời ở đây bị trùm trong sương mù, giống như màn bụi treo lơ lửng trong không khí một trận bom.
Mụ đàn bà chồm lên người anh, ấn một chiếc khăn vào mặt anh. Căn phòng chao đảo. Anh nghe mụ nói:
- Khóa trái cửa nhanh lên!
Anh ngã vật xuống sàn. Chiếc váy đen bụi bặm chặn lên người anh giống như xác con mèo đen đè lên mặt anh, không sao gỡ ra được trong căn nhà bị bom đánh sập năm ấy. Rồi những bàn tay sò nắn khắp người anh, lột giày, lột tất...
Anh cố tĩnh trí, anh đã phát hiện ra một cái núm chuông trên đầu giường. Anh cố giơ tay nhấn liền mấy phát. Cái gót giày bằng da nặng nề lập tức đạp lên vai anh, nghiến cánh tay anh.
Có tiếng xô cửa và tiếng gọi to:
- Bà nhấn chuông gọi con phải không?
- Không, không!
D cố vùng lên:
- Else đấy ư? Tôi nhấn chuông đấy! Tôi bị mệt trong này! Cửa mở, Else bước vào. D gượng đứng lên vịn vai cô:
- Cô làm ơn dìu tôi lên phòng!
Lên tới bậc thang sau cùng, anh nói:
- Trưa mai, có lẽ tôi phải ròi khỏi nơi đây!
- Cả cháu nữa ư?
- Ừ. Cả cháu nữa.
Anh hứa bừa, làm như trong cái thế giới bạo lực này, người ta hứa bất cứ chuyện gì.

Chú thích:
(1) Các ngữ xuất xứ từ hệ la tinh sau khi đế chế La Mã sụp đổ.
 

III

Đã sáng rồi, nhưng ngày chưa rạng: ở bên ngoài, màn sương vàng ngái làm cho mọi vật trong vòng hai mươi mét trông tối sầm lại. Anh đang cạo râu thì Else gõ cửa, bưng vào một cái mâm có trứng luộc, cá hun, một bình trà đầy.
- Mất công quá, tôi xuống được mà!
- Cháu trả giấy tờ lại cho ông, nhân thể.
Cô bắt đầu tháo một chiếc giày, rồi tất.
- Lạy Chúa, họ mà vào bây giờ nhỉ!
Cô ngồi lên giường rút hẳn giấy tờ ra.
Anh bước tới chốt của.
- Có người ngoài kia! Anh nói khẽ.
Cô lắng tai. Có tiếng chân rón rén bước về phía cầu thang. Cô nói:
- Ông Muckerji. Ông Ấn Độ đó tờ mò lắm. Nhưng ông ta tốt.
Anh đặt mâm lên bàn, chuẩn bị ăn, nhưng cô bé vẫn cứ nấn ná, chưa chịu đi.
- Hôm qua ông hứa cho cháu đi theo ông, thật chứ.
- Thật. Tôi sẽ thu xếp.
- Cháu không muốn làm vướng chân ông, nhưng cháu muốn sang bên ấy với ông.
- Cháu không có giấy nhập cảnh đi sao được!
- Cháu đọc sách thấy bên ấy các cô gái mặc đồ lính, có súng...
- Ồ, sách vở. Chuyện ngoài đời khốc liệt hơn nhiều cháu ạ!
- Ở lại đây, cháu sợ lắm.
- Cháu sẽ đi khỏi nơi này.
Có tiếng chuông liên hồi ở bên dưới.
- Hôm qua lúc ông đã cài cửa, cháu vẫn còn lảng vảng mãi bên ngoài. Cháu sợ mụ ta làm hại ông.
- Chẳng làm gì được đâu. Giống như quỷ ấy mà, chỉ nhát người chứ chẳng làm gì được đâu!
- Ồ, cháu vẫn muốn đí khỏi nơi đây.
Dừng lại ở ngưỡng cửa, cô bé nhoẻn miệng cười với anh. Trông cô rạng rỡ như trong một ngày sinh nhật. Dường như cô đang có những lời giã biệt rối rắm đối với cả một cuộc đời.
Anh chốt cửa nằm trong buồng cho tới giờ đi. Anh nhét giấy tờ trong túi áo ngực, mặc áo khoác ra bên ngoài, cài khuy lên tận cổ. Bây giờ bọn họ đều biết là giấy tờ đang ở trong người anh. Anh chỉ còn biết nhờ thành phố Luân đôn này bào vệ cho.
Căn nhà của Benditch đối với anh bây giờ giống như căn nhà bố mẹ trong con mắt một cậu bé chơi trò ú tim trong một khu vườn lạ, đầy cạm bẫy. Chuông đồng hồ đâu đó điểm mười một giờ. Trong vòng một giờ nữa mọi sự sẽ được giải quyết, thành hay bại.
Hành trình của anh là thế này: đi tàu điện ngầm ngược lên phố Bernard để nghi binh. Họ không thể tấn công anh trong làu điện ngầm được. Từ Hyde Park, lẩn trong sương mù đi bộ tới Chatham Terrace, mười phút. Sau đó lên tắc xi, đi trong bến chứ không gọi xe dọc đường.
Anh từ từ bưốc xuống cầu thang tìm cách lẩn mụ quản gia nhưng không xong, mụ đang chò trong căn phòng của mụ, cửa mở.
Anh dừng lại nói:
- Tôi đi đây.
- Như vậy là ông đã chống lệnh trên.
- Vài giờ nữa lôi sẽ trỏ lại đây. Chiều tôi mới đi. Chắc họ đã trả tiền nhà cho tôi.
- Trả rồi.
- Else cũng sẽ đi. Bà làm cô bé sợ quá, chẳng hiểu vì lý do gì!
- Ông nói là ông sẽ đem nó theo ông?
Mụ ta có vè quan tâm, anh thấy bối rối. Lẽ ra không nên nói chuyện này. Anh làm vẻ cứng cỏi:
- Bà không được bắt nạt con bé ấy!
Anh bỗng thấy mình đang nấn ná. Giấy tờ đã có đủ trong túi. Nhưng trong ngôi nhà này vẫn còn cái gì đó cần anh che chở. Vô lý quá. Có chuyện gì quan trọng đâu. Anh nhìn thẳng vào gương mặt vuông bè lốm đốm tàn nhang:
- Tôi còn quay lại, tôi sẽ hỏi cô ấy nếu...
Mụ nhăn nhó, nháy mắt với anh một cách tục tĩu, giễu cợt. Anh quay gót. Tim anh đập mạnh. Dường như nó đang chuyển một thông điệp mà anh không đọc được mã số. Lẽ ra nên chờ khi trở về hãy nói những điều áy. Nhưng nếu anh không trở lại? Cũng chẳng hề gì! Thành phố này có đội cảnh sát giỏi nhất hoàn cầu kia mà!
D bước ra đường, biến trong làn sương. Thật ra trong đời chẳng ai có thể biết đúng là ta sẽ xa nhau bao lâu; nếu không thì những nụ cười, những câu nói tim thường lúc chia tay sẽ lưu luyến biết bao!
Anh bước nhanh, vểnh tai nghe ngóng. Một cô gái vượt lên trước, tay ôm chiếc cặp da đen, một người đưa thư đạp xe loạng choạng mát hút trong bóng mù. D có cảm giác mình đang lái máy bay vượt Đại Tây Dương, ở bên dưới vẫn còn tiếng xáo động dọc bờ biển. Mọi sự sắp kết thúc. Anh nghĩ có thể dàn xếp với Benditch được. Bên nhà sẵn sàng trả giá cao.
Sương mù bao trùm lên mọi vật: Anh cố gắng lắng nghe tiếng động, nhưng chỉ nghe thấy tiếng bước chân chính mình. Nếu có người bám đằng sau, chắc anh không nghe được tiếng chân. Nhưng họ làm sao bám được anh trong cái thành phố tràn ngập sương mù này.
Một chiếc taxi rè tới. Anh quên chuyện phải lên taxi ở bến. Anh vẫy tay nói:
- Gwyn Cottage, phố Chatam. Rồi anh buớc lên xe.
Chiếc xe chui vào màn sương đặc, chạy mãi. Anh chợt nhớ ra bèn gọi: "Dừng lại!", nhưng chiếc xe vẫn cứ tiến. Anh không rõ đây là đâu, chỉ nhìn thấy cái lưng to bè của người tài xế và sương mù chung quanh. Anh đập liên hồi vào thành xe: "Cho tôi xuống!" Xe dừng. Anh ấn một hào vào tay tài xế, mở cửa, nhào xuống đường.
Anh tài xế trợn mắt:
- Cái gì kỳ vậy, mẹ kiếp...
Chẳng có gì cả, nhưng thần kinh anh quá căng thẳng. Anh va vào một viên cảnh sát:
- Ga Russel ở đâu thưa ông?
- Đằng sau lưng ông. Hãy quay lại, con đường thứ nhát, bên trái, men theo rào sắt.
Anh tìm ra được cái ga tàu điện ngầm và bỗng dưng thấy rợn không dám bước xuống. Từ lúc khu nhà sập chôn sống anh hai ngày dưới cái hầm rượu với một con mèo chết bẹp, anh không bao giờ dám xuống dưới hầm nữa.
Máy bay tới, mặc, anh cứ ngồi trên lầu, nhìn chúng. Chết thì chết, không xuống hầm. Nhưng cũng phải xuống, anh thấy người nôn nao chóng mặt.
Và rồi đoàn tàu cũng tới nơi. Anh nghe "Hyde Park" rồi anh theo hành khách bước lên cầu thang di động. Có tiếng công chúng reo hò bên kia dường. Via hè đông đặc người. Một chiếc xe tứ mã xuất hiện. Một chiếc ô tô Daimler theo sau. Còi cảnh sát nổi lên tứ phía. Phụ nữ reo lên the thé. Chiếc ô tô lướt chầm chậm. D nhìn thấy hai cô bé đi găng tay trắng, mặc đồ nỉ đang nhìn qua cửa kính xe, vẻ mặt thản nhiên như làm bằng thạch cao(1).
Một bà reo lên:
- Ồ, những cô gái thân yêu! Quý công nương tới cửa hàng Harrold đây!
Một cảnh tượng dị thường: hai báu vật thời cổ đi ô tô Daimler. D nghĩ. Một giọng nói quen quen ở phía sau anh nổi lên gắt gỏng:
- Mời ông bỏ mũ xuóng!
D quay lại. Đấy là Currie. Anh nghĩ ngay. Thôi chết, nó bám mình! Nhưng nhìn kỹ vẻ mặt bối rối của hắn, anh thấy không phâi vậy. Hắn đã  toan bỏ đi như thể gặp lại một người đàn bà mà hắn đã ăn nằm vụng trộm. Hắn ngập ngừng rồi nói:
- Đêm hôm đó, tôi quả là không phải đối với ông. Thành thật xin lỗi.
- Thôi nhắc lại làm gì! À,  tôi đang tìm đường Chatham.
- Gân đây thôi, ông đi theo tôi.
Hắn ba hoa nói chuyện này chuyện nọ, chuyện hắn vừa mua lại một khách sạn ở bò biển Swaser, chuyện khách khứa bây giờ không còn sang trọng như xưa... Bỗng hắn giật tay D:
- Ông có nhin thấy ai đứng đằng sau cái xe Daimler kia không?
- Tôi không để ý.
- Tên tài xế... Hắn tên là gì nhĩ, cái thằng đã ẩu đả với ông hôm đó...
- Tôi không trông thấy hắn,
- Hắn đứng trưốc cửa quán cà phê. Hay ta quay lại nói chuyện với hắn một chút. Currie kéo tay D. Tới Chatham rồi. Ngay trước mặt đây. Tôi cần nói cho hắn biết là hôm đó tôi nhầm. Lỗi tại tôi.
Một cái bẫy chăng. D nghĩ. Anh kiên quyết từ chối.
- Thôi, lúc khác, tôi đang bận.
Anh gỡ tay hắn bước tới cạnh viên cảnh sát:
- Ông chỉ giúp Lều Gwyn Cottage.
- Đấy, chỗ cánh cổng gang.
D nhìn ra vẻ mặt bối rối, có phần bực bội của Currie. Anh nghĩ có khi mình nhầm, hắn chỉ muốn dàn xếp một chuyện xích mích.
Một người hầu đẩy cánh cổng nặng nề thời Edward, đưa anh vào tiền sảnh. Gian phòng rộng mênh mông, tường treo những bản sao danh tác. Nell Gwyn(2) ngự trên ngôi danh dự giữa bầy thiên thần có gương mặt quý tộc; Bao nhiêu dòng máu cao sang ra đời từ một thúng cam!... Anh nhận ra phu nhăn Pompadour rồi phu nhân Dc Maintenon. Rồi tiểu thư Gaby Deslys, hết sức "tiền chiến" trong kiểu đi găng tay và tất bằng lụa đen. Ông chủ mỏ than quả là thích loại gái thượng thặng.
- Áo khoác, thưa ngài?
D để cho người hầu đỡ cái áo khoác. Căn phòng trang trí bát nháo, cổ kim lẫn lộn, từ phong cách Louis VXI tới Stuart. D thấy sảng khoái. Cái bến an toàn đối với một phái viên mật.
- Hình như tôi tỏi có hoi sôm? - Anh nói.
- Thưa ông, Huân tước Benditch đã dặn đưa ông vào ngay khi ông tới.
Anh nghĩ lạ cho cuộc sống của Rose Cullen, lớn lên giũa khung cảnh này, giữa kiểu đa cảm rẻ tiền này. Một triệu phú vốn là con thợ mỏ đã đạt nguyện vọng như thế này chăng?
Gã người hầu đây thật buồn cười: to lớn, lúc nào cũng nghiêng người như cái tháp nghiêng ở Pise. Lũ đày tớ đàn ông bao giờ cũng làm anh tởm lợm, bọn họ chững chạc, đạo mạo: những con mọt hảo hạng. Anh nhớ một lần dùng bữa tối ở nhà một vị giám đốc ngân hàng, nguyên là kép hát: bọn người hầu mặc áo dấu để phục dịch.
Người  kia mở rộng một cánh cửa trịnh trọng báo:
- Ngài D.
Anh bước vào một gian phòng rộng mênh mông. Tường treo đầy chân đung, chắc không chỉ có chân dung gia đình. Những chiếc ghế bành rộng đặt quanh lò sưởi lửa đang hồng. Những chiếc ghế bành có tựa cao chạm trổ. D vốn khinh thường của cải. Anh lảng lặng bước trên sàn gỗ đánh xi, sung sướng là đã đến nơi.
Ngườí ngồi giữa ngẩng lẽn, một người to lớn, đầu tròn như quả bóng, tóc hoa râm bù xù, rậm, quai hàm gợi nhớ một bức chạm đầu ngựa.
- Ông D? Ông ta hỏi.
" Vâng. Ngài là ngài Huân tước Benditch?
Ông ta chìa tay về phía mấy người ngồi quanh giới thiệu:
- Ồng Forbes, Huân tước Fetting, ông Brigstock. Ông Goldstein bận không tới được.
- Tôi nghĩ là quý vị đã rõ mục đích của cuộc thăm viếng hôm nay? D nói.
- Cách nay mười lăm ngày, chúng tôi có nhận được một bức thư... Huân tước Bènđitch đưa tay về phía cái bàn giấy to. Ông có thói quen dùng cánh tay mình như một mũi tên chỉ dường. Xin ông cứ tự tiện, mời ông ngồi.
- Vâng - D nói - Nếu như ồ phía bên này có một cái ghế.
Forbes cười ỉên một tiếng, vòng ra phía sau, nhắc ghế. D ngồi xuống. Căn phòng có vẻ hư ảo. Giờ đã điểm nhưng anh khó tưởng tượng rằng trong căn phòng hợm hĩnh này, giữa những bức ảnh gia tiên hợm hĩnh này, một cuộc chiến tranh đang được quyết định thành bại.
- Chắc quý vị đã rõ số than chúng tôi ỹêu cầu từ nay đến tháng tư?
- Chúng tôi có biết.
- Quý vị có thể cung cấp đủ?
- Với điều kiện là chúng tôi được thỏa mãn, Forbes, Felling và bản thân tôi, cả Brigstoca nữa, tất nhiên.
- Thưa, có phải về vấn đề giá cả.
- Giá cả và sự tín nhiệm.
- Chúng tôi trả với giá cao nhất, cộng thêm hai mươi lăm phần trăm tiền thưởng khi tham gia đủ số.
- Trả bàng vàng?
- Một phần bằng vàng.(3)
- Chúng tôi không thể nhận giấy bạc của quý ông. Tới mùa xuân này chắc chúng mất hết giá mà cũng không thể chở hàng  hóa của quý ông trong tình thế quý ông bi bao vây. Brigstock nói.
Huân tước Benditch ngả người trên ghế lim dim, để mặc Brigstock trong chuyện thương lượng; ông này sành sỏi trong các cuộc đấu thầu. Forbes vẽ những gương mặt đàn bà trên tờ giấy trước mặt: những cô gái mặc áo tắm mắt tròn như viên bi.
- Nếu có được số than đá đó, giấy bạc lưu hành cùa chúng tôi không mất giá. Hai năm chiến tranh rồi, nhưng chúng tôi vẫn giữ vững giá cả. Số than đá có thể là vũ khí để chúng tôi đè bẹp bọn phản loạn.
- Chúng tôi có những tin tức khác hẳn.
- Những lời đồn đó không đúng đâu.
- Chúng tôi chỉ lấy vàng.
- Ta chia quả táo ra làm đôi vậy, D nói. Chúng tôi trả mỗi chuyến than nhận được bàng vàng. Phần thưởng trả bằng giấy bạc... hoặc bằng hàng hóa.
- Vậy thì phải ba mươi lăm phần trăm.
- Cao quá.
- Có nhiều nguy cơ về phía chúng tôi. Phải bảo hiểm tàu thuyền. Nguy cơ lớn.
Đằng sau lưng ông ta là một bức tranh lớn của... có phải của họa sĩ Etty không nhì? Da thịt lõa lồ, hoa, phong cảnh, đồng áng...
- Thế bao giờ íhì quý ông giao hàng?
- Chúng tôi có một ít dự trữ. Có thể bắt đầu từ tháng sau. Nhưng còn số than các ông yêu cầu thì phải chờ mở lại lò. Phải có thời gian... và vốn liếng. Thiết bị hu hỏng nhiều, công nhân giỏi khó tìm. Họ xuống cáp nhanh hơn thiết bị.
- Các ông cứa cổ ghê quá. Nhưng chúng tối vẫn phải chịu thôi.
- Một câu hỏi nữa, bỏi vì chúng tôi là dân làm ăn không phải là các hiệp sĩ hoặc các nhà chính trị... Brigstock nói.
Forbes mùm mỉm cười tô thêm hàng mi dài trên những đôi mắt bi.
Huân tước Benditch xen vào, giọng khinh khỉnh:
- Brigstock muốn nói là chúng tôi có thể nhận một họp đồng ở chỗ khác...
- Có thể. Nhưng khi họ chiến thắng, họ sẽ không mua than của các ông nữa, họ có những đồng minh khác...
- Chuyện đó còn lâu lắm. Cái mà chúng lôi lưu ý, đó là lợi nhuận trước mắt.
- Cung cấp than cho bọn phiến loạn có thể bị coi là hành động phạm pháp.
- Ba mươi phần trăm bằng tiền mặt, thời giá lúc giao hàng. Brigstock nói. Mọi thứ hoa hồng về phía các ông trả như vậy là chúng tôi nhân nhượng quá lắm rồi.
- Hoa hồng nào? Tối chưa hiểu rõ.
- Hoa hồng cho bản thân ông! Ông phải đòi ở những người nào sử dụng ông trong chuyến mua bán.
- Tôi không có ý định đòi hoa hồng cho tôi. Thông lệ là như thế sao? Không. Tôi không ăn hoa hồng.
- Ông là một nhân viên hiếm có đấy. Benditch nói.
- Trước khi thào họp đồng - Brigstock nói - chúng tôi muốn xem thư ủy nhiệm của ông.
D thò tay vào túi trên. Giấy tờ đã biến mất. Không thể tưởng được. Anh hốt hoảng lục lạo khắp các túi. Không có. Anh ngước mắt nhìn ba người. Họ nhìn anh chăm chăm. Forbes ngừng vẽ.
- Lạ quá - D nói - Tôi để giấy tờ trong túi áo này...
- Có thể nó nằm trong túi áo khoác. Forbes nhẹ nhàng nói.
Huân tưốc Benditch nhấn chuông, người hàu ban nãy bước vào.
- Ra lấy giùm cái áo khoác của ông đây.
Nghi thức vậy thôi, D biết giấy tờ đã mất. Người hầu quay lại, chiếc áo khoác quàng trên tay. D nắn kỹ lừng cái túi. Tất nhiên chẳng có gì. Đây chỉ là một cử chỉ sân khấu. Anh biết mình đóng kịch kém, anh không thể tạo ra cảm giác mình sẽ tìm ra mớ giấy tờ ấy.
- Không có giấy ủy nhiệm mà lại tới đây. Lạ thật, Huân tước Benditch nói.
- Tôi để giấy trong người, họ đã lấy cắp.
- Lấy cắp? Bao giờ?
- Không biết nữa. Khi tôi tới đây giấy tờ vẫn còn đủ.
- Như vậy, chuyện mua bán coi như chấm dứt ở đấy. Brigstock nói.
- Chấm dứt - Huân tước Benditch nói - Nếu ông đây được ủy nhiệm và có đủ giấy tờ thì tôi sẵn sàng ký hợp đồng.
- Tôi cũng thế. Forbes nói.
- Xin ông biết cho rằng là người làm ăn, chúng tôi không thể ký kết gì khi không có đủ chứng từ...
- Và ông cũng nên biết - Benditch thêm - ở nước này luật pháp xử tội những người làm tiền dưới mọi hình thức.
- Ta chờ đến ngày mai vậy. Buổi đêm là người cố vấn tốt. Huân tước Fedding nói.
Làm thế nào bây giờ? D ngồi im trên ghế, hoàn toàn thua trận. Anh đã lọt qua mọi cạm bẫy... trừ cái bẫy sau cùng. Chỉ còn con đường về dài dằng dặc, con tàu vượt biển Manche, chuyến tàu hỏa Paris. Tất nhiên ờ bên nhà. chẳng ai tin câu chuyện của anh. Kể cũng lạ. Thoát khỏi những viên đạn tử hình của kẻ thù, đã ngã xuống bên một bức tường nghĩa trang, bên này hỏa tuyến. Phe ta xử bắn tại nghĩa trang để khỏi mất công khiêng xác.
- Vậy thì chẳng còn việc gì để bàn bạc nữa - Huân tước Benditch nói - Ông hãy về nghỉ ngơi, tìm lại giấy tờ và điện thoại ngay cho tôi biết. Ông ghi số điện thoại đi. Chúng tôi đang chờ một ông khách khác... chuyện làm ăn không thể kéo đài...
- Ở Luân đôn không ai có thể bảo đảm cho ông sao? Forbes hỏi.
- Không có ai.
- Rất tiếc. Brigstock nhún vai.
Hẳn rồi. D nghĩ. Từ ba ngày nay mình đã sợ chuyện này. Những cú đấm dưới hầm nhà, trên đường. Căn phòng bị lục lọi. Phát súng ở đường hẻm. Nhìn mặt những người ngồi xung quanh, D nhớ tới câu Rose nói: “chớ có chuyện lâm ly với họ”. Benditch, Fettind, Brigstock... Gương mặt họ khép lại như thể anh vừa mới kể một câu chuyện tục tĩu trước đám trẻ con. Như những cánh cửa khép lại buổi chiều để che trở… lạy Chúa - những người tình của vua, bức tranh lõa thể của Etty...
Anh đứng dậy. Cuộc rút quân bắt đầu. Ai có thể bảo cho anh chỗ dừng trước khi bước tới chân tường nghĩa trang? Ngoài gian tiền sảnh, anh thấy L. đang đứng chờ. Hắn đang khom người nhìn sát bức chân dung Nell Gwyn. Hắn từ từ quay lại, nhìn D, chậm dãi nói:
- Tôi nghĩ, chắc ồng sẽ ra tàu về nước. Nhung đừng đi qua nước Pháp, nguy hiểm lắm ông ạ.
- Không. Tôi chưa rời nơi đây.
- Vô ích. Tôi thành thật khuyên ông...
Hắn còn muốn nói thêm điều gì đó. D chợt nhận ra ràng hắn vẫn còn e ngại sự có mặt của anh ở nước Anh. Như vậy ta vẫn còn ván bài nào đó để chơi nốt.
Một tiếng chuông. Người hầu ban nãy xuất hiện, nghiêng người trước L.
- Huân tước Benditch tiếp ngài ngay bây gịò, thưa ngài!
L nhẹ nhàng nói với D:
- Nếu ông hứa một lời... Tôi bảo đảm sẽ không còn phiền phức xảy ra cho ông.
- Tôi hứa là tôi còn ở lại Luân đôn.
Anh bắt đầu thấy có chút hy vọng. Trận đấu chưa hoàn toàn kết thúc. L vẫn còn e sợ điều gì. Hắn biết một điều mà anh chưa biết. Một tiếng chuông phía cửa ngoài. Người hầu mở cửa và Rose xuất hiện. Cô được đón như một người lạ trong ngôi nhà của mình. Cô cười với D:
- Tôi định đuổi theo ông...- và cô nhìn thấy L, cô kêu lên:
- Ồ, cuộc một hội ngộ thú vị.
L nghiêng người:
- Ngài Huân tước đang đợi tôi. Xin tiểu thư thứ lỗi.
Người hầu mỏ rộng cửa và hắn mất hút vào bên trong.
- Thế nào ông có còn nhớ lời hứa là xong việc, ông đưa tôi đi chơi không?.
Cô tưới cười đứng trước mặt D cố ra vẻ ngổ ngáo.
- Khi ngày hôm qua người ta nói yêu anh, thỉ hôm nay gặp lại lần đầu đâu có dễ dàng gì.
- Tôi có nhớ, nhưng họ đã lấy mất hết giấy tờ của tôi rồi.
- Họ có hành hung ông không?
- Ồ! Có, nhưng không đấm đá. Cái người vừa mở cửa cho cô là một người hầu mới?
- Tôi cũng không biết nữa.
- Ồ. Sao lại thế?
- Ông không tin là tôi ở trong ngôi nhà này sao? Nhưng ông đã nói gì với họ?
- Sự thật.
- Tất cả bài ca lâm ly à?
- Tất cả.
- Tôi đã nói trước với ông rồi. Furt nói sao?
- Furt?
- Forbes. Tôi gọi ông ta là Furt.
- Không rõ. Chỉ có Brigstock bàn với tôi.
- Furt lương thiện theo kiểu của ông ta.
D thấy thương hại cô: vô gia cư ngay trong ngôi nhà của bố mình, cô đơn, chung quanh toàn mật thám ngầm, sự ngờ vực. Cô trẻ quá. Ngày anh cưới vợ chắc cô hãy còn là một cô bé. Ngày ấy cả hai người đã đi trên con đường tràn đầy hạnh phúc, nhưng chẳng bao lâu, mọi sự đã đổi thay kinh khủng.
- Ở sứ quán của ông không có ai bảo đàm cho ông được sao?
- Không chắc lắm. Người bên nước tôi không tín nhiệm họ... ngoài ông tùy viên văn hóa.
- Vậy thì được. Để tôi bào Furt.
Cô nhấn chuông và nói với người hầu.
- Gọi ông Forbes cho tôi.
- Thưa bà, ông Forbes đang bận họp.
- Thây kệ. Nói với ông là tôi cần gặp. Nhanh lên.
- Huân tước Benditch đã ra lệnh...
- Anh không biết tôi là ai sao? Cái mặt anh thì tôi chưa biết, nhưng anh nên tập nhận mặt tôi. Tôi là con gái Huân tước Benditch đấy.
- Xin lỗi cô... tôi chưa biết.
- Đi đi, nhanh lên. - Và cô nói với D - Vậy ra nó là thằng mới. Nếu chính đó là thằng đã ăn cắp giấy tờ của ỏng thì nó sẽ biết tay tôi.
Forbes bước ra.
- Furt, tôi muốn anh giúp tôi một việc!
- Bất cử việc gì, Rose ạ.
Furt nói và khép cánh cửa đằng sau lưng. Trông ông giống như một phù thủy phương Đông mặc quần thể thao, sẵn sàng dâng hiến những kho báu lớn nhất cho người đẹp. Rose chỉ D, nói với Forbes:
- Tại sao các người không tin lời ông ta?
- Xin lỗi. Nhưng câu chuyện của ông khó tin quá.
Đứng một mình, Forbes càng lộ rõ nét Do Thái.
- Tôi nói là khó tin chử không nói là bịa. Ông chữa lại.
Đằng sau lưng ông, rất xa, trong quá khứ là tầng tầng sa mạc, rồi biển mặn, rồi những dãy núi hoang sơ, những hành vi bạo ngược trên con đường đưa tới Jéricho(4). Đời ông dựa trên nền tảng của những thứ ấy, của đức tin...
- Bọn họ làm cái gì trong đó? Rose hỏi.
- Chẳng được mấy việc. Ông già Felting hãm phanh. Brigstock cũng vậy. Ông D ạ, ông không phải là người duy nhất bị Brigstock ngờ vực.
- Nếu chúng tôi chứng minh được là chúng tôi... Rose xen vào.
- Chúng tôi?
- Vâng, chúng tôi.
- Nếu các vị chứng minh dược điều đó, tôi sẽ ký riêng một họp đồng cung cấp số than tôi có trong tay. Không đủ số lượng yêu cầu, nhưng rồi bọn họ sẽ làm theo.
Forbes băn khoăn nhìn hai người như thể ông ta sợ một điều gì. Chẳng hạn mục tin vặt "Đã có thông báo về đám cưới..." hoặc cái tin đồn miệng đáng ghét: "Này các vị có biết tin cô con gái ông Benditch..."
- Anh có thể hỏi ngay đằng sứ quán với chúng tôi không? Rose hỏi.
- Tôi tưởng lúc nãy ông có nói…
- Không. Tôi không có cái ý đó - D cải chính - Tôi nghĩ chuyện đó chẳng giải quyết được gì. Người bên phe tôi không mấy tin cậy viên đại sứ... Nhưng thôi, biết đâu đấy.
Chiếc xe chạy chầm chậm trong sương mù. Họ im lặng. Forbes chỉ nói:
- Tới rất hài lòng mở lại mỏ. Công nhân đang sống khó khăn.
- Tại sao anh cứ nghĩ mãi chuyện đó, Furt?
- Vì tôi không muốn thiên hạ ghét tôi.
Đôi mắt đen màu nho xứ Corinthe của Forbes nhìn đăm đăm vào màn sương vàng úa. Với sự nhẫn nại của Jacob ngày xưa từng đi ở bảy năm...(5) Dù sao, D nghĩ chắc Jacob cũng đã từng giấu giếm dưới mái lều của chàng đôi chút an ủi. Có gì đáng trách chuyện đó? Anh thấy thèm địa vị của Forbes. Yêu một người đàn bà hãy còn sống cũng được một cái gì đấy chứ, dù tình yêu có chứa sợ hãi, ghen tuông, đau khổ.. Tình cảm ấy không phải là không cao quý.
Trước cửa tòa đại sứ, D nói với Forbes:
- Ông hay nói chuyện với ông tuỳ viên văn hóa. Đó là người duy nhất tin cậy được.
Họ bước vào một căn phòng dán đầy ảnh tiền chiến. D chỉ một bức ảnh:
- Đây là vùng quê tôi sinh ra. Vùng này bây giờ thuộc bọn phản động.
Anh đi loanh quanh trong căn phòng ngắm tranh, để mặc Forbes với cô gái.
Cửa mở, một người bước vào. Trông anh ta giống một nhân viên đội mai táng mặc áo dạ đen, cổ cồn trắng. Ành ta hỏi:
- Ông Forbes?
- Cứ coi như không có tôi ở đây. Ông cứ hỏi. D nói và anh vờ ngắm nghía tủ sách. Gác ngăn kệ chứa đầy những quyển sách gáy dày đồng loạt, trông có vê như chẳng được dùng tới bao giờ: Thơ, kịch, nghệ thuật dân tộc... Forbes mở đầu.
- Chúng tôi tới hỏi thăm chút việc nhân danh huân tước Benditch và bản thân tôi.
- Chứng tôi rất hân hạnh nếu giúp được việc gì cho quý ông...
- Chúng tôi có tiếp xúc với một người tự xưng là phái viên của chính phủ cộng hòa về chuyện mua than đá.
Cái giọng khô khan của sứ quán đáp:
- Chúng tôi không hề được chỉ thị,.. Để xin hỏi lại ông đại sứ, tôi không dám chắc lắm... Càng nói giọng ông ta càng có vẻ chững chạc lên.
- Có thể là ông chưa được thông báo, đây là một phái viên mật...
- Khó có chuyện đó.
- Ông có phải là tuỳ viên văn hóa? Rose hỏì cộc lốc.
- Không. Thưa phu nhân. Ông ấy nghi phép. Tôi chỉ là bí thư thứ nhất.
- Bao giờ ông ta về?
- Ông ta không về đây, thưa phu nhân.
Có lẽ thế là hết. Nhưng Forbes gợi chuyện.
- Ông phái viên ấy nói rằng rằng ủy nhiệm thư của ông ta đã bị mất cắp.
- Rát tiếc, chúng tôi không hay biết gì hết... Chuyện đó, tôi đã thưa với ông, khó có thể có.
- Ông phái viên ấy được nhiều người biết tên. Rose nói. Đó là một nhà bác học... giáo sư ở một viện đại học.
- Trong trường hợp đó, chúng tôi có thể xác minh được.
- Ông ta có nhiều công trình nghiên cứu. Tên ông ta là D.
Im lặng một lúc rồi cái giọng kia cất lên:
- Rát tiếc nhưng tôi khống hề nghe nói đến tên ông ta.
- Vạy là ông không biết. Ông không quan tâm tới ngôn ngữ Roman sao?
- Có chứ. Viên bí thư có một giọng cười tự mân. Bà cho xin một phút tôi sẽ tra cứu trong thư mục.
D rời tủ sách:
- Tôi e làm mất thời giờ của ông, ông Forbes ạ.
- Ồ - Forbes nói - Tôi không cho rằng thì giờ của tôi cao giá đến thế.
Ông không thể rời mắt khỏi cõ gái; ông buồn rầu, mà âu yếm rõi theo từng cử động của cô. Cô đang đứng bên tù sách ngắm nghía các tác phẩm của nhà thơ với nhà soạn kịch dân tộc. Cô bảo D:
- Tiếng nước ông lắm phụ âm quá. Nghe trúc trắc quá chùng.
Cô chọn một quyển ở cái kệ bên dưới và cô nhanh tay lật trang. Cánh cửa lại mỏ, viên bí thư bước ra.
- Tôi đã tìm cái tên ấy, thưa ông Forbes, không thấy. Có lẽ ông bị lừa.
Rose quay lại nhìn anh ta, giận dữ:
- Ông nói dối, đúng không? Ông nói dối.
- Tại sao tôi lại đi... Thưa cô... Cô?
- Cullen.
- Thưa cô Cullen quý mến. Chiến tranh đã làm nẩy ra loại người mới gặp thì ra vẻ lương thiện... Rose trỏ ngón tay vào một đoạn sách.
- Tôi không đọc được cái này, nhưng đây, ông xem. Tên ông ta in trên đoạn này. Có chữ Bernc. Đây là một tập thư mục chứ gì?
- Quái lạ. Cô cho xem. Vì cô không biết tiếng...
- Còn tôi thì bỉết tiếng - D nói - Để tôi đọc đoạn này cho ông nghe nhé. Tên ông ta. Ngày ông ta được bổ nhiệm làm giáo sư Viện đại học Zed. Đoạn này có nhắc tới tập bản thảo Bernc. Vâng, các công trình nghiên cứu của ông ta được nhắc tới ở đây.
- Ông chính là người ấy?
- Vâng.
- Ông cho tôi xem.
D trao quyển sách. Chúa oi, nàng đã thắng! Forbes nhìn cô gái một cách thán phục.
- Ồ, rất tiếc - Viên bí thư nói. Tại giọng phát âm của cô. Tôi đã nghe sai. Có, chúng tôi có biết giáo sư D. Đó là một trong những nhà bác học của chúng tôi, được ngưỡng mộ nhất...
Anh ta dừng lơ lửng như một lời tự thú thua trận, nhưng mắt thì lại nhìn cô gái chứ không nhìn đối tượng.
- Thấy chưa, Furt? Cô gái nói.
- Nhưng D không còn sống. Ông ta đã bị bọn phản động bắn chết trong ngục. Viên bí thư rất sẽ sàng nói tiếp.
- Không phài. D nói - Tôi được trao đổi. Đây hộ chiếu của tôi.
May quá tờ hộ chiếu để riêng vẫn còn. Viên bí thư cầm lấy.
- Bây giờ ông bảo sao? Hộ chiếu giả chứ?
- Ồ, không. Tôi nghĩ đây là hộ chiếu thật - Viên bí thư nhìn một lúc rồi nói - Ông nhìn ảnh mà xem.
Hắn trao cho mọi người xem. D nhớ lại gương mặt tươi cười của người lạ mặt ông đã gặp ở cảng Douvres. Tất nhiên chẳng ai tin ông. Chẳng hy vọng gì. Ông nói:
- Chiến tranh, tù tội. Người ta đã thay đổi đi...
- Không. Trông giống đấy. Fortes nhẹ nhàng hỏi - Rất giống.
- Tất nhiên. Chà nhẽ ông ta lại đi chọn...
- Đúng là ông ta - Cô gái giận dữ nói to - Đúng là gương mặt ông ta.
D cảm thấy cô nổi giận như vậy thực ra chỉ là để tự khẳng định đó thôi.
- Làm thế nào ông ta có được tấm hộ chiếu này nhỉ? - Viên bí thư quay về phía D - Tôi sẽ tố giác ông. Ông sẽ bị trừng phạt nặng nề... Tôi sẽ làm chuyện đó.
Rồi hắn cung kính dịu giọng:
- Rất tiếc, thưa cô Cullen. D là một trong những nhà bác học lớn của chúng tôi.
Giọng hắn cả quyết lạ lùng. D có cảm giác nghe người ta ca tụng mình đằng sau lưng.
- Ta hãy để cho nhà cầm quyền làm việc. Forbes nói.
- Ông thứ lỗi. Tôi gọi cảnh sát ngay bây giờ.
Hắn ngồi xuống trước bàn, cầm ông nghe.
- Là một người đã chết, mà vẫn còn lắm tội như tôi. D nói.
- Scoltland Yard? Viên bí thư gọi và xưng danh.
- Trước hết là ăn trộm xe của cô Cullen...
- Hộ chiếu đã được quá cảnh ở Douvres, hôm kia. Vâng, tên là D.
- Sau đó ông Brigstock định bắt tôi vì tội mạo nhận và tống tiền... D mỉm cười nói.
- Đúng thế. Viên bí thư nói. Vâng, vâng. Mọi chuyện đã khớp. Vâng, chúng tôi đang canh chừng hắn.
- Và bay giờ bị buộc tội dùng hộ chiếu giả. Đối với một vị giáo sư đại học, hồ sơ hình sự như vậy là khá phong phú.
- Thôi xin ông. Ông đừng đùa nữa. Rose van vỉ. Điên hết rồi - Ông là D. Tôi biết rõ, ông là ông D. Nếu không phải vậy thì thế giới này quả là thối nát.
- Cảnh sát đã truy lùng người này. Viên bí thư nói. Ông ngồi im. Tôi có khẩu súng ngắn trong túi đấy. Cảnh sát sẽ hỏi ông vài chuyện.
- Vài chuyện. Cả một cuộc lấy cung ấy chứ - D nói - Trộm xe, mưu toan lường gạt... hộ chiếu giả.
- Ông có thể nói thêm về cái chết của một cô gái. Viên bí thư nói.
 
Chú thích:
(1) Hai cô con gái của Vua George V, Victoria và Elizabeth (Nữ Hoàng Anh hiện nay).
(2) Nell Gvyn, người tình của vua Charles II Anh Quốc, thế kỷ 17, nguyên là một cô gái bán cam trong rạp hát, sau trở thành diễn viên nổi tiếng. Benditch dùng tên cô gọi ngôi biệt thự của mình: "Biệt thự Gwyn"
- Pompadour, người tình của Louis XV, thế kỷ 18.
- De Maintenon, người tình của vua Louis XIV thế kỷ 17.
- Deslys - ca sĩ. Danh nhân thời thượng London đầu thế kỷ 20
(3) Trước vụ bạo loạn, chính phủ Cộng hoà Tây Ban Nha gởi nhờ chính phủ Pháp giữ hộ một số vàng lớn. Khi chiến sự nghiêng về phía Pháp, chính phủ Pháp giao lại vàng.
(4) Jéricho, thành phố cổ tráng lệ, cách Jerusalem 25 km, nhiều lần bị quân La Mã và Thổ Nhĩ Kỳ tàn phá, nỗi đau của người Do Thái.
(5) Chuyện cổ Cựu Ước: Jacob chịu đi đày bảy năm cho nhà bố vợ để cưới Rachel. Bổ vợ lừa, gả cô chị là Lia. Chàng phải ở thêm bảy năm nữa mới cưới được Rachel
 




Đăng nhập để trả lời
0
(bổ sung trang 60)
 
Qua một con đường ngang, anh nghe thấy tiếng người nói sau lưng, giọng nói yếu ớt mà chải chuốt.
- Xin ông thứ lỗi, xin ông thứ lỗi.
Anh dừng lại một người mặc cái áo khoác dài màu đen, đã tháo chiếc cổ lông thú, đầu đội mũ quả dưa, cằm lốm đốm râu bạc, mắt đỏ ngầu nói bằng cái giọng hàn lâm - hoặc giọng sân khấu :
- Tôi cảm thấy ngay là ngài sẽ không thấy phiền hà khi bị tôi quấy rầy. Tôi đang gặp khó khăn, thưa ngài...
- Gặp khó khăn?
- Chỉ vài hào thôi, thưa ngài.
D chưa quen cảnh này. Ở bên nước anh, ăn mày trông ăn khách hơn nhiều. Họ đứng trước cửa nhà thờ, chìa ra trước mặt anh những cánh tay cụt, thịt thối rửa, lầy nhầy.
- Tôi không dám phiền ngài, nếu không nghĩ rằng... Lạy Chúa, ngài cũng là người đồng loại...
D cho tay vào túi.
- Không, thưa ngài. Ở đây không nên, người qua kẻ lại. Xin ngài quá bộ vào trong kia, vài bước... Xin thú thực, tôi thấy xấu hổ khi phải chìa tay xin một người lạ...
Ông có vẻ lúng túng, lùi vào một con hẻm cạnh đấy. Một chiếc xe tải đậu bên ngoài, trong kia là dãy rào sắt.
- Đây biếu ông nữa couronne. - D nói.
- Xin đa tạ. Mong có một ngày nào đền ơn ngài.
Ông ta nhanh chân biến vào trong hẻm. D bỗng nghe một tiếng “tách” trên tường, gần sát cầu, đồng thòi một mảnh gạch vỡ văng ra đập vào má anh. Anh chợt hiểu, co cẳng chạy ra đường lớn. Đèn đường sáng choang, một viên cảnh sát đứng
Đăng nhập để trả lời
0
DL_tramy   trang 16
 
 
 
-          Chẳng có gì lạ. Tất cả những người tôi gặp đều là khách hàng mua bán của ba tôi.
Cô lái chầm chậm về hướng mà cô cho là Luânđôn. Chiếc xe xóc nảy lên khi chạy qua ray.
“Cứ đi theo hướng tàu là không lạc được” Cô nói.
-          Cô thường đi tàu bà vé hạng ba à?
-          Tôi thích chọn bạn đường theo ý muốn. Đi hạng ba ít phải gặp khách khứa của ba tôi.
-          Tôi là loại khách ấy đấy.
-          Chúa ơi, chạy ra cảng đây này! Cô kêu lên, lùi xe và rẽ ngoaact một phát rất bạo. Sương mù âm vang tiếng phanh rít, tiêng càu nhàu. Họ tìm đường quay lại. Xe bắt đầu leo lên dốc.
Lên đến đỉnh đồi, sương mù bớt đặc? Anh nhìn thấy những mảnh trời xám lạnh buổi hoàng hôn, những mảnh rào gỗ trống cứng như thép. Im lặng đìu hiu, một ánh lữa thấp thoáng đằng xa. Hòa bình là thế đấy!
-          Người Anh chắc là hạnh phúc lắm trong xứ sở này.D nói.
-          Hạnh phúc? tại sao? Cô gái hỏi.
-          An toàn như thế này… D nhớ lại anh nhân viên hải quan nháy mắt than mật với mình và nói:”thời buổi này phải cảnh giác, ông ạ…”
-          Ờ nhỉ! Cô gái nhúng vai nói bằng cái giọng ngây thơ của một đứa bé mất dạy.
-          ở bên nước chúng tôi, chiến tranh đã hai năm. Khi đi học một con đường thế này, tôi có thói quen đi chậm, sẳn sang nằm sấp xuống khi nghe tiếng máy bay trên đầu.




Đăng nhập để trả lời
0
Đặng Minh Toàn đánh máY từ trang 5 - 14
 
 
Phần thứ nhất

CON MỒI

I

Phần thứ nhất

CON MỒI

I

Đàn hải âu tung cánh trên bầu trời Douvres như những búp tơ từ sương mù bong ra. Con tàu tiến chầm chậm trong buổi chiều thu lạnh lẽo.
Quày rượu trong khoang hạng ba đông đặc người: một toán cầu thủ bóng ném trở về sau cuộc thi đấu, những thanh niên thắt cà vạt kẻ sọc xô đẩy nhau lấy rượu. D không nghe rõ họ gào những gì, có lẽ đó là tiếng lóng hay tiếng địa phương. Chắc phải một thời gian nữa, anh mới nghe lại được tiếng Anh. Ngày trước anh nói thứ tiếng này rất thạo, nhưng bây giờ anh chỉ còn giữ lại được kiểu nói sách vở.
Đây là một người đàn ông đã đứng tuổi, rậm râu, cằm có một vết sẹo, vầng trán hằn nếp lo âu. Anh tìm chỗ đứng một mình, nhưng trong cái quày rượu này, chẳng làm thế nào được. Một cùi chỏ thúc vào mạng sườn anh, và một hơi thở sặc mùi bia phả vào mặt anh.
Những người này làm anh ngạc nhiên. Trông họ yêu đời, họ phì phèo thuốc lá thế kia, ai nghĩ được rằng hiện giờ đang có một cuộc chiến tranh nó không diễn ra trên đất nước anh mà diễn ra tại nơi cách cầu cảng Douvres chỉ nửa dặm. Anh mang chiến tranh theo trong người. Ở bất cứ nơi nào anh có mặt là có chiến tranh. Anh lấy làm lạ tại sao thiên hạ không nhận ra điều đó.
- Đem bia ra đây! Đem bia ra đây!
Một cầu thủ hét gọi người bán bar và có ai đó giằng lấy cốc bia đang uống dở trên tay anh. Hắn kêu to:
- Việt vị!
- Lấy bóng lại! Lấy bóng lại! Mấy gã kia hét theo.
- Xin phép các ông! Xin phép các ông! D nói và anh tìm cách lánh ra. Anh kéo cao cổ áo khoác, bước ra ngoài boong tàu đang chìm trong sương mù lạnh giá.
Đàn hải âu bay vào bờ kêu thảm thiết phía trên đầu, anh bắt đầu đi bách bộ, men theo lan can cho ấm, đầu cúi xuống. Trên sàn tàu, mắt anh lại nhìn thấy tấm bản đồ ngang dọc chiến hào, những vị trí khó phòng thủ, những vọng tiêu và xác chết… Những chiếc máy bay oanh tạc cất cánh từ một điểm giữa đôi mắt anh và trong đầu anh vang lên tiếng bom làm rung chuyển núi đồi.
Đi bách bộ trên con tàu nước Anh đang sẽ sàng cập bến này cũng chẳng có chút an toàn nào. Nỗi hiểm nguy nằm ngay trong con người anh. Nó đâu phải là một cái áo khoác mà ta vứt lại trong xó nhà được, nó là thịt của chính ta, nó là tấm da của ta. Ta chết với tấm da ấy: Khi nào xương thịt rữa nát dưới mồ, ta mới thoát được tấm da ấy. Con người duy nhất có thể tin cậy được chỉ là bản thân ta.
Anh đi lại trên boong tàu hạng ba này, đếm bước cho tới chỗ tấm bảng “Dành cho khách hạng nhất”. Đã có một thời, anh coi sự phân biệt đẳng cấp như một câu chửi, nhưng bây giờ, đẳng cấp xã hội chia đi chia lại nhiều lần quá nên nó chẳng còn nghĩa lý gì nữa. Anh nhìn lên boong hạng nhất. Trên ấy cũng có một người đứng trong giá rét; ông ta đứng ở mũi tàu, nhìn về phía cảng Douvres, cổ áo khoác kéo cao.
D quay gót, đi về phía sau và theo nhịp chân anh bước toán máy bay oanh tạc lại cất cánh. Ta chỉ có thể tin chắc được ở nơi ta; mà rồi cũng có lúc ta tự hỏi như thế đã chắc chưa. Bọn chúng thì chẳng bao giờ tin ở ta, mà thế là có lý. D nghĩ: ngay lúc này, anh đang bị theo dõi cũng nên. Anh nghĩ chúng canh chừng anh cũng phải thôi… Kẻ kia, kẻ đang có vẻ tảng lờ trên boong hạng nhất…
Trong cái túi áo trong, trên ngực, anh mang hồ sơ ủy nhiệm - ủy nhiệm đồng nghĩa với tín nhiệm chăng? Anh không chắc lắm.
Bên trong quày rượu, một giọng đàn bà the thé: “Cho tôi chai nữa! Một chai nữa!” Có tiếng ly cốc vỡ ở trong đó. Có ai khóc đằng sau chiếc phao cấp cứu. Anh bước tới: một thằng bé ngồi thu lu trong đó. Anh đứng nhìn hồi lâu như nhìn một cái gì hư ảo, như nhìn một nét cổ tự mờ nhòe không đọc được. Anh tự hỏi bây giờ anh có còn chia sẻ được niềm cảm xúc của ai đó không. Anh ngọt ngào mà hờ hững hỏi thằng bé:
- Cháu làm sao thế?
- Cháu bị va đầu vào lan can.
- Cháu đi có một mình ư?
- Bố bắt cháu ngồi vào đây.
- Thế là cháu bị va đầu vào lan can?
- Bố nói chả có chuyện gì mà phải khóc to thế.
Thằng bé thôi không khóc nữa. Sương mù làm cho nó ho sặc sụa, D cảm thấy có người đang nhìn mình bên kia tấm bảng “Dành cho hành khách hạng nhất”. Anh nghĩ đáng lẽ mình không nên ra đây. Kẻ kia liếc nhanh về phía anh. Anh giật mình nhớ ra hắn. Họ từng gặp nhau trong một cái hành lang ở đâu đó nhiều năm trước, một lần trên sân bay, nhiều lần ở ke ga. D không nhớ nổi tên hắn. Hắn quay gót, bước về phía mũi tàu: người to cao, gầy như cái que trong tấm áo khoác bằng nỉ dầy. D đoán hắn ở phe kia. Trước cách mạng, hắn có tước vị. Hầu tước hay bá tước gì đó. Làm sao mà lại gặp nhau trên chiếc tàu này nhỉ, ngăn cách bởi một tấm bảng phân chia đẳng cấp. Hay hắn cũng làm một công việc gì cho phe kia, hắn cũng mang ủy nhiệm thư trong người, hắn sẽ gặp các huân tước, các bộ trưởng nước Anh? …
Tiếng còi tàu ré lên và bỗng nhiên cảnh vật từ trong màn sương nhô ra như những khuôn mặt người sau cửa sổ: những con tàu trên bến, những dẫy cột đèn, một tam giác cầu cảng. Con tàu ngừng máy. D nghe rõ tiếng sóng ì oạp vỗ vào bên mạn. Tiếng một người nào đó vang lên như thoát ra từ dưới mặt biển. Con tàu tắp ngang vào bến. Đến nơi rồi.
Hành khách bước lên cầu tàu, tay xách va ly dán đầy nhãn khách sạn Thụy sĩ nhãn nhà trọ gia đình vùng Biarritz. D chờ cho họ đi vợi. Hành lý của anh vẻn vẹn chỉ có chiếc xắc da nhỏ đựng một cái lược, một cái bàn chải, vài thứ lặt vặt; anh đã mất thói quen đem theo đồ ngủ. Đem làm gì khi phải nhảy ra khỏi chỗ nằm mỗi đêm vài bận vì bom nổ quanh người.
Hành khách được chia làm hai toán: khách nước ngoài và công dân Anh. Khách nước ngoài không nhiều. Cách D mấy bước, ông khách trên boong hạng nhất đang run khe khẽ trong tấm áo khoác lót lông thú; dáng người thanh mảnh, nước da mai mái, ông ta không quen kiểu gió lùa từ phía trong cái khoang trống trải này. Người ta chỉ liếc qua hộ chiếu, và ông bước đi ngay. Chắc con người ông là một tấm thẻ chứng chỉ “đây là hàng thứ thiệt”, cũng giống như trên một tác phẩm nghệ thuật cổ. D nghĩ bụng hắn đúng là một hiện vật bảo tàng. Mọi người bên này bờ biển, đối với D, đều giống như những hiện vật ở bảo tàng. Đời họ trải qua trong những ngôi nhà to mà lạnh lẽo như những gian triển lãm mở cho khách vào xem.
D bị chặn lại. Một người có ria mép nâu từ tốn nói với anh:
- Ông có khẳng định đây là ảnh của ông không?
- Vâng, tất nhiên. D trả lời và nhìn tấm ảnh. Từ lâu lắm rồi anh không có thói quen xem kỹ hộ chiếu. Anh nhận ra gương mặt một người lạ, trẻ hơn anh nhiều và hiển nhiên là hạnh phúc hơn anh nhiều, bức ảnh đang mỉm cười. Anh nói: “Đây là một tấm ảnh cũ”.
Ảnh chụp trước lúc anh bị cầm tù, trước khi vợ anh bị xử bắn trước trận ném bom ngày 23 tháng Chạp, trước Nôen. Trận ấy anh bị vùi năm mươi sáu giờ liền trong một cái hầm rượu. Nhưng làm sao nói như vậy được với anh nhân viên này?
- Cũ là bao nhiêu năm?
- Có lẽ hai năm rồi.
- Thế mà tóc ông bây giờ đã điểm bạc.
- Thật vậy ư?
- Mời ông đứng dịch ra một chút, nhường cho các vị hành khách khác.
Anh ta nói năng lễ phép, không vội vã. Bởi xứ sở này là một hòn đảo, D nghĩ. Ở bên nước anh chắc người ta đã gọi quân cảnh tới rồi và cuộc thẩm vấn sẽ dồn dập, kéo dài, to tiếng lắm. Một lúc sau, người kia lại vời anh tới.
“Mời ông vui lòng vào đây”. Anh ta nói và đẩy một cánh cửa.
D bước vào. Một cái bàn, hai cái ghế; trên vách, ảnh vua Edouard VII đứng bên cái đầu máy xe lửa có tên là Alexandra. Quanh đức vua, các nhân vật đương thời, mặc áo cổ cồn trắng cắt rất cao, tươi cười. Bác tài xế xe lửa đội chiếc mũ mềm quả dưa. Nhân viên hải quan nói:
“Rất tiếc, hộ chiếu hợp lệ, nhưng còn bức ảnh này… Mời ông cứ nhìn vào gương mà xem, ông sẽ thấy…”
D nhìn vào tấm gương duy nhất trên vách. Hai gương mặt khác hẳn nhau. Anh nhân viên lặng lẽ quan sát.
- Tôi không dè, tôi đã thay đổi đến thế này!
Đúng D ngày xưa đây mà, chỉ có hai năm trời. Ngày ấy anh bốn mươi, nhưng nom người còn trẻ hơn nhiều. Hai vợ chồng chuẩn bị đi chơi xa, họ đã xin phép Viện đại học. Cuộc bạo loạn nổ ra ba ngày sau đó. Anh bị bọn phát xít giam sáu tháng, vợ anh bị xử  bắn. Họ nhầm thôi.
- Chiến tranh làm con người thay đổi ghê quá. Bên nước tôi đang có chiến tranh, anh biết đấy…
Anh nói với người kia. Bức ảnh mỉm cười. Lúc đó vợ anh nói đùa về chuyện gì đó, chuyện một quả dứa… Họ bận bịu công tác giảng dạy, nhiều năm rồi chưa nghỉ hè… Họ lấy nhau đã mười lăm năm… Anh không thể nhớ chi tiết gương mặt vợ. Anh quá yêu vợ và một khi nàng chết, anh không tài nào gợi lại nổi cảm xúc.
- Ông có giấy tờ gì khác không? - Anh nhân viên hỏi - Ông có quen biết ai ở Luân Đôn không? Đại sứ quán nước ông?...
- Không. Tôi chỉ là thường dân.
- Ông đi du lịch?
- Không, tôi có mấy tờ giấy giới thiệu mua bán không quan trọng lắm. D mỉm cười. Mà cũng không chắc là giấy tờ thật.
Anh thấy lòng trống rỗng. Bộ râu lởm chởm, những nếp hằn quanh miệng - những cái này là mới - vết sẹo mới dưới cằm. Anh đưa tay sở vết sẹo.
- Chiến tranh, ông ạ! Anh không muốn nói là mình bị tra tấn.
- Ông nên nói rõ. Hộ chiếu hoàn toàn hợp lệ. Hay ông cho tôi biết ông tới nhà ai ở Luân Đôn…
- Tôi cũng chưa biết nữa.
- Cho tôi một cái địa chỉ nào đó.
Anh nhân viên nói và liếc nhanh người hành khách. D nghĩ lẽ ra anh ta phải nhìn mình rất chăm chú.
- Ồ, vậy thì… có một khách sạn ở Luân Đôn tên là Ritz phải không?
- Có, nhưng ở địa vị ông, tôi chọn một khách sạn khác rẻ tiền hơn.
- Bristol vậy.
- Ở Luân Đôn không có Bristol.
- Vậy, đối với một người như tôi thì nên chọn khách sạn nào?
- Strand Palace.
- Vậy thì Strand Palace đi!
Anh nhân viên trả lại D tấm hộ chiếu:
- Thời buổi này phải hết sức cảnh giác. Xin ông miễn thứ. Ông hãy nhanh lên thì mới kịp tàu về Luân Đôn.
Cảnh giác. D nghĩ, họ gọi như thế là “cảnh giác”, ở cái hòn đảo này. Anh thấy thèm thái độ an toàn của họ.
Do chuyện lôi thôi này, D gần như đứng ở đằng đuôi khi xếp hàng trước trạm thuế quan. Đám thanh niên ồn ào chắc đã ra ga, tàu sắp chạy. Còn người đồng hương của D thì chắc ông ta chả phải đợi. Một giọng con gái rất đanh đá trả lời phía đằng trước: - Ồ. Tôi thiếu gì hàng đóng thuế!
Giọng cô gái gào rượu dưới tàu. Anh nhìn cô một cách dửng dưng. Anh đã đến cái tuổi mà khi động đến đàn bà thì người ta hoặc là mất nhân cách hoặc là dửng dưng. Cô này tính khí trẻ con quá. - Tôi có một chai rượu Brandy uống dở. Cô gái nói.
D nghĩ cô không nên uống nhiều thế. Cô ăn mặc sang trọng nhưng quá quắt, như một con nộm chào hàng mẫu. Cô lại nói: “Có một chai Calvados, nhưng cũng uống dở”. D thấy nản. Lẽ ra nên để cho cô đi. Cô gái trẻ, tóc nâu, hách dịch một cách vô lý. Cô giống một con bé không biết mình thích thứ gì nên đòi mọi thứ dù mình thích hay không thích.
- Ồ, đúng, đấy cũng là một chai Brandy. Ông có để cho tôi kịp nói đâu. Chai ấy cũng uống dở.
- Xin lỗi cô - nhân viên hải quan nói - cô đem trong người nhiều rượu quá, buộc lòng chúng tôi phải bắt đóng thuế…
Một nhân viên khác khám qua chiếc xắc rồi để anh đi. Anh hỏi:
- Tàu đi Luân Đôn đã chạy chưa ạ?
- Chạy rồi. Ông phải đợi chuyến bảy giờ mười thôi. Bây giờ mới là sáu giờ kém mười lăm.
- Bố tôi là Huân tước Benditch đấy, nói để ông biết.
- Cũng vậy thôi, thưa cô. Thuế hình thức thôi mà, hai mươi bảy hào sáu xu, đánh vào rượu.
Vậy ra cô này là con gái Huân tước Benditch! D dừng lại chờ. Anh nghĩ không biết khi gặp Huân tước, anh có bị làm khó dễ như Hải quan đối với cô gái này không! Bao nhiêu chuyện phải trông vào Huân tước. Nếu ông ta thuận bán than với giá phải chăng, cách mạng còn có thể cầm cự được vài năm; nếu không, chắc chắn chiến cuộc sẽ chấm dứt trước mùa xuân tới đây.
Dường như cô gái được miễn thuế (điềm tốt chăng?). Cô bước ra cửa, oai phong như người vừa mới chinh phục được toàn cầu. Cô khuất dạng trong sương mù. Buổi tối tới sớm: Một ngọn đèn chiếu sáng trên quày báo, một chiếc xe tay đẩy hàng dựa bên tường, một tờ quảng cáo của hãng Horlicks. Sương mù dày làm cho khu ga rộng lớn này biến thành một cái ga xép.
- Chán chưa! Tàu chạy mất rồi! Cô gái nói.
- Còn một chuyến nữa cô ạ - D nói - nhưng phải chờ một tiếng đồng hồ nữa.
Nói mấy câu như vậy rồi, anh thấy tiếng Anh đã trở lại quen thuộc. Tiếng nói của xứ sở này ngầm vào anh cùng với sương mù và mùi khói; không còn thứ ngôn ngữ nào thích hợp hơn.
- Họ nói thế thôi. Mù dầy như vậy, thế nào tàu cũng bị chậm cho coi. Cô gái nói.
- Đêm nay tôi phải tới Luân Đôn.
- Đâu phải mình ông!
Có thể đi sâu vào đất liền, trời đỡ mù hơn.
Cô gái đã bỏ anh đứng đấy, đi thẳng tới ke ga. Cô mất hút đằng sau quày báo một chốc rồi quay lại, mồm nhai một mẩu bánh mì kẹp thịt. Cô chìa cho anh một ổ như thể người ta cho một con thú trong lồng sắt.
- … Ăn một miếng?
- Cám ơn. Anh trân trọng cầm ổ bánh, cắn ăn. Đây hẳn là cách tiếp đón ân cần của người Ănglê.
- Tôi sẽ tìm một chiếc xe. Chờ một tiếng đồng hồ trong cái hốc này chán chết. Đi sâu vào trong kia chắc đỡ mù hơn (như vậy là cô gái có nghe anh nói). Cô thẳng tay ném khúc bánh ăn dở theo đường ray như người làm xiếc; “Có bánh! Không có bánh!”. Rồi cô nói:
“Tôi sẽ cho ông đi cùng”. Và khi thấy anh lưỡng lự, cô thêm: “Tôi hết say rồi!”
- Cám ơn cô, tôi không nghĩ vậy. Nhưng ai lái nhanh hơn, cô hay tôi?
- Tôi chứ còn ai.
- Vậy thì cám ơn, xin theo cô!
Bỗng dưng một khuôn mặt xuất hiện ngang tầm chân họ. Té ra đây là một cái hầm khám máy. Một giọng cáu kỉnh:
- Này, madam! Đây đâu phải là sở thú!
Cô gái cúi xuống, không chút ngạc nhiên.
- Tôi đâu có nói đây là sở thú!
- Nhưng cô không được ném bánh vô mặt thiên hạ như vậy.
- Ồ, đừng nói nhảm.
- Vi phạm thân thể. Tôi phải gọi cảnh sát. Một mảnh bom đấy thưa bà.
- Có gì đâu. Một mẩu bánh thôi mà!
 




Đăng nhập để trả lời
0