📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Ký sự pháp đình 2 - Thủy Cúc (Hết) 🔒

20 trả lời, 991 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.02.2014 23:39:13 bởi casau>
Ký sự pháp đình 2
Tác giả: Thủy Cúc
 
 
Như lời giới thiệu
 
● Khi đứng trước vành móng ngựa, dù bất cứ lý do gì, con người ta bỗng chùng lại trước một phán quyết của người nhân danh công lý, để suy gẫm lại những bước đã qua của mình, và để hình dung hành trình sắp tới, tùy theo bản án dài hay ngắn.

● Đã từng đứng trước vành móng ngựa đôi ba lần - vì những tội danh chính trị trước tòa án của chế độ Sài Gòn, trước năm 1975 - nên tôi dễ cảm nhận được tâm trạng con người khi đối diện với hình phạt.

● Ký sự pháp đình của nhà báo Thủy Cúc không dừng lại ở chân dung bị cáo hay sao chụp lại những lý lẽ buộc tội, những điều khoản pháp luật khô khan, ngòi bút của cô đi vào cái bên trong, cái đàng sau của mỗi số phận, mà nhiều nhất, ấn tượng nhất là hình ảnh những người dân lao động lam lũ, chơn chất, nhiều khi phạm tội là do bần cùng, đói khát, thất học.

● Ký sự pháp đình của nhà báo Thủy Cúc khiến ta phải động lòng trắc ẩn về số phận người khác và phải nhìn lại mình, như một tấm gương soi lương tri của ta.

TP Hồ Chí Minh ngày 1/9/1998
Lê văn Nuôi


📎 kspd
0
Bị cáo có gương mặt búng ra sữa
 
Người đàn bà còn rất trẻ, dáng vẻ tiều tụy, ngồi ngay hàng ghế đầu trong phòng xử án, đôi mắt đỏ hoe. Khi tòa [1] cho mời chị lên để hỏi với tư cách là người giám hộ của thằng bé, chị nói gì không ai nghe được, mỗi tiếng nói lẫn với hàng chuỗi tiếng khóc nức nở. Bên dưới, trong hàng ghế những người tham dự, nhiều người lấy khăn lau nước mắt.
Ngô Hoàng Anh Khoa, sinh năm 1981, là con trai đầu của chị. Chị còn ba đứa con nữa, nhỏ nhất 3 tuổi. Một mình phải nuôi bốn con nhỏ, lại phải nuôi chồng trong trại giam. Chồng chị bị kêu án 8 năm tù. Theo lời chị thì chồng mới ra làm ăn đã bị bắt, tiền bạc bị tịch thu hết, mà còn để lại nợ nần. Ngày nào cũng có người tới đòi nợ. Túng quẫn không sao kể xiết. Chị không có việc làm ổn định, ai kêu gì làm nấy: may vá, thêu thùa, giặt đồ mướn cũng được.... Thằng Khoa cũng phải đi phụ rửa chén ở quán cơm để kiếm cái ăn hàng ngày. Được cái nó học giỏi, mấy năm liền được khen tặng danh hiệu cháu ngoan Bác Hồ, danh hiệu hoc sinh tiên tiến. Vào cái ngày u ám ấy - 31/8/1996, thằng bé chuẩn bị bước vào lớp 10.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) đọc cáo trạng: Ngày 31/8/1996, để có tiền đóng tiền học phí, Ngô Hoàng Anh Khoa đã nảy sinh ý định cướp xe đạp và đồng hồ của N.K.A (sinh năm 1984). Trả lời thấm vấn của tòa, Khoa khai sáng đó vô trường, cô giáo viết thông báo trên bảng đóng học phí, khoảng ba, bốn trăm ngàn gì đó, Khoa không nhớ rõ. Khoa chở A. tới cầu Rạch Lùn, ấp Bình Quới, Linh Đông, Thủ Đức. Lợi dụng lúc vắng người qua lại, Khoa dùng tay siết cổ A. và xô xuống chân cầu đế cướp xe đạp và đồng hồ. Cùng lúc, thấy A. bơi ra giữa rạch, do sợ A. về nhà mách lại sự việc, Khoa nhảy xuống rạch bơi theo A., dùng hai tay dìm đầu A. xuống nước ba lần và hăm dọa A. không được nói cho ai biết. Lúc này A. nói em có giữ tiền quỹ lớp, để cho Khoa mượn. Thấy vậy, Khoa đồng ý và đạp xe chở A. về nhà để lấy tiền. Sau đó, gia đình A. tố cáo, và Khoa bị công an bắt giữ.
Vị hội thẩm nhân dân hỏi “Bị cáo có hỏi xin tiền mẹ để đóng học phí không?”. Khoa nói “Có, con nói mẹ không đóng tiền không được thi, nhưng mẹ nói thi thì thi cũng phải từ từ chứ đào đâu ra tiền?”. Vị hội thẩm lại nói “Bị cáo có thể nói cha mẹ đi vay mượn, mấy trăm ngàn không phải là số tiền lớn lắm”. Vị thẩm phán thì nói bị cáo mới vừa khai sáng hôm đó vô trường mới thấy trên bảng thông báo học phí, xong dụ A. đi cướp xe luôn kia mà? Chứ có khai xin tiền mẹ lúc nào đâu!
Tôi hỏi chị Trinh - mẹ Khoa về câu thẩm vấn của vị thẩm phán, chị nói “Nó quên đó cô!”. Khoa đang bị lao phổi nặng, ra tòa, người cứ rũ xuống, một tay luôn ôm bụng, thở mệt nhọc. Đến nỗi vị đại diện VKSND đã cho phép nó ngồi khi ông luận tội. Tinh thần không thể nào minh mẫn được trong một cơ thể như vậy. Chị Trinh nói tiếp: “Nó xin em trước đó mấy ngày. À không, ngay trước hôm xảy ra vụ việc, vì hôm trước em mới đi thăm ông xã em. Hai vợ chồng cãi nhau một trận. Ổng trách em không thăm nuôi ổng, em nói không có tiền, sẵn bực mình, nó hỏi xin tiền, em không cho, em đánh nó...” Tôi không hiểu, hỏi chị: “Nó hỏi xin tiền học phí chứ làm gì bậy đâu, chị không có thì thôi, sao lại đánh?”. Người mẹ vò như muốn nát vạt áo, nước mắt rơi lã chã: “Túng quẫn quá, chị biết, em không còn suy nghĩ gì được nữa. Em vớ lấy cây chổi, đánh nó, vừa đánh vừa nhảy loi choi như người điên, chửi nó...” “Chị nói gì với Khoa vậy?” - Tôi hỏi tiếp, không phải vì tò mò, mà vì tôi muốn hiểu nhiều chừng nào hay chừng ấy hoàn cảnh mà thằng bé bị cáo kia đã phải chịu đựng. Người mẹ nói: “Em la hét, nói hết cha tới con, tối ngày đòi tiền, tao đào đâu ra tiền hả?”.
Mỗi lần kể là một lần nước mắt người mẹ tuôn xuống: “Tội nghiệp nó, nó đang sức ăn. Vậy mà nó ăn nhiều em cũng la. Thì chị tính chạy được có mấy ngàn, mua được ít thức ăn, mà cho cả nhà...”. “Nó đang tuổi 14, 15, lứa tuổi có những suy nghĩ ngang bướng lắm. Túng quẫn quá, em hay la lắm. Mấy lần em la nó, mưa thật lớn nhưng nó cứ ngồi im dưới trời mưa, kêu cách gì cũng không vô...”. “Chị hỏi mấy người hàng xóm quanh đây thử coi không biết hôm đó cái gì xui khiến nó chứ nó hiền lắm, chẳng bao giờ đi chơi đâu xa, suốt ngày chỉ bắn bi với mấy đứa nhỏ trong xóm...”
Những người tham gia tố tụng tranh luận về chuyện Khoa có phạm tội giết người hay không. Đại diện VKSND nói đã đủ cơ sở. Vị thẩm phán nói bị cáo mới có tí tuổi đầu, mặt còn búng ra sữa mà đã nhúng tay vào tội ác như thế, thể hiện hành vi muốn giết A. đến cùng. Còn luật sư - ông Trịnh Đình Ban, bào chữa miễn phí cho bị cáo qua sự giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố - nói Khoa chỉ có ý định cướp chứ không có ý muốn giết A., và sau đó đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Khoa đã khóc, và nói với A. rằng không muốn làm hại A., chỉ vì cần tiền. Suốt phiên tòa, tôi không thể rời mắt khỏi thân người nhỏ xíu, oằn xuống vì cơn đau, và gương mặt đúng là búng ra sữa của bị cáo. Đây chính là kẻ đã kẹp cổ, đẩy bé A. xuống rạch, sau đó còn bơi theo dìm đầu em đó ư? (Nếu như A. không biết bơi thì không biết hậu quả sẽ như thế nào). Tôi không muốn tin. Lúc Hội đồng xét xử vào hội ý, tôi hỏi bé A. “Anh Khoa có khóc không?”.
A. xác nhận: “Anh Khoa kêu con nằm xuống để làm hô hấp nhân tạo, nhưng con sợ, không chịu. Con xin ảnh thả cho con đi, con móc túi đưa ảnh ba ngàn rưỡi. Ảnh khóc nói vì ảnh cần tiền, chứ không muốn làm hại con đâu”.
Tòa tuyên án Khoa bốn năm tù về tội giết người, một năm tù về tội cướp, tổng cộng năm năm, đây là một mức án mà theo chủ tọa Hội đồng xét xử là đã được giảm nhẹ đáng kể (bởi vì VKSND truy tố bị cáo tội giết người ở khoản 2, điều 101 Bộ Luật Hình sự, nhưng tòa đã chuyển qua xét xử ở khoản 1, là khoản có khung hình phạt nặng hơn, với mức án từ 12 năm đến tử hình). Tôi không biết mức án đó là thỏa đáng đối với bị cáo hay quá nghiêm khắc. Cũng như nhiều người khác, mắt tôi đang hoa lên hình ảnh một đứa bé bị đói ăn, một cậu bé ngồi im lìm dưới cơn mưa, một học sinh giỏi bị mẹ đánh tới tấp bằng chổi khi hỏi xin tiền đóng học phí... Trong đơn ngày 16/9/1996 gởi Phòng cảnh sát Thành phố, PC 16 xin bảo lãnh tại ngoại cho Khoa, các ông Trần Bá Hiếu, Huỳnh văn Tốt, Nguyễn văn Giữu, tổ trưởng tổ hội đồng nhân dân, phó ban an ninh và cảnh sát khu vực ấp Linh Tây, viết: “Chúng tôi tha thiết kính xin Ban lãnh đạo, Phòng cảnh sát cho phép chúng tôi được bảo lãnh cho em Khoa được tại ngoại để tiếp tục được đi học (niên học mới đã trễ hơn một tuần) và phụ giúp gia đình...”. Luật sư trước khi bắt đầu bài bào chữa của mình đã mong Hội đồng xét xử quan tâm chi tiết bị cáo đã ngưng hành động nửa chừng, để cứu tuổi thơ của bị cáo. Em học sinh - gã bị cáo này đã không có tuổi thơ trong một hoàn cảnh gia đình quá khốn khó. 15 tuổi, ngồi tù 5 năm, em phải trả giá cho hành vi phạm tội của mình, đúng thôi, nhưng điều đó cũng có nghĩa là tuổi thơ đã vĩnh viển rời bỏ em, và tôi chỉ sợ là em không chịu đựng nổi căn bệnh ngặt nghèo của cả thể xác lẫn tinh thần. Biết trách ai bây giờ?
Trong khi bị giải ra về, Khoa cứ quay lại tìm kiếm. Em hỏi tôi “Mẹ con đâu rồi cô?”. Ôi em vẫn còn là một đứa trẻ.
---------------------------------------
[1] Phiên tòa sơ thẩm được tiến hành vào ngày 15/12/1997. Sau đó, ngày 20/4/1998, Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân (TAND) Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm, đã giảm án cho Ngô Hoàng Anh Khoa xuống còn ba năm tù.

📎 01
0
Người tù sau mười hai năm
 
Tòa tuyên án xong. Người tù được giải về phòng đợi để ra xe trở lại trại giam. Anh ta nhảy cẫng, hai tay bị còng huơ khỏi đầu, hét lên như một người điên: “Được ra rồi. Được ra rồi. A! Sướng quá!”. Người công an áp giải nhắc anh ta không được la lối. Anh ta im đi giây lát, rồi lại tiếp tục lẩm bẩm: “Sướng quá. Sắp được ra tù rồi!...”. Người tù này tên H.V.H., bị tòa [1] kết án một năm tù, nhưng thời gian anh ta bị tạm giam đã gần một năm. Vì thế, chỉ còn một tuần nữa thôi là anh ta sẽ được trả tự do, đế trở lại cuộc sống bình thường.
Cách đây... 12 năm, người đàn ông này phạm tội. Trên đường về nhà, ngang qua dốc cầu chữ Y, thấy có một đám thanh niên đang ngồi nhậu, anh ta ghé vào. Tối hôm đó, đám thanh niên - do C., K. chủ mưu - chui vào mùng một phụ nữ bạn của C. Người tù kể “C. kêu em chặn chưn, N. chặn hai tay...”. Cuộc hiếp dâm xảy ra. Người phụ nữ kêu cứu. Cả bọn bị bắt, C., K. ba năm tù, N. án treo. Riêng gã thanh niên tên H. chạy thoát. Anh ta sang Thủ Đức, sống nhờ nhà người chị ruột. Lúc đó, anh ta 22 tuổi.
Ngày ngày, anh ta phụ chị buôn bán. Gần nhà có hàng bún xào, gỏi cuốn của một cô gái. “Ghẹo qua ghẹo lại, không ngờ dính thiệt” - Người tù kể. Anh ta cưới vợ năm 23 tuổi. Hiện nay, họ có hai con, một trai, một gái. Đứa lớn 8 tuổi, đứa nhỏ 6 tuổi, đều được học hành đàng hoàng, có lẽ sẽ không mù chữ như cha. Trong lúc tôi nói chuyện với người tù, vợ anh ta ngồi ở băng ghế đối diện, gương mặt gầy, đen nhẻm, cởi mở, mắt ánh lên những nụ cười tươi. Chị bị tật câm điếc. “Rồi làm sao anh nói chuyện với chị?” - tôi hỏi. Người tù nói: “Lúc đầu cũng khó. Nhưng quen rồi thì nhìn miệng biết bả nói gì. Em nói những câu đơn giản, bả nghe được. Ngược lại, bả nói những câu đơn giản, em cũng hiểu được. Thí dụ như bả nói ‘Anh đi chạy xe, chiều 4, 5 giờ nhớ về coi nhà, em mắc đi công chuyện’. Mấy đứa nhỏ nghe bả dễ hiểu hơn em”, vợ buôn bán, chồng đạp xích lô. Hai vợ chồng kiếm tiền cũng đủ sống. Một ngày kiếm “căn bản” ba chục ngàn đồng, xài gói ghém tiền chợ mười lăm ngàn, bỏ ống heo năm, sáu ngàn, tới tháng đóng tiền học cho con. Khi anh ta ở tù, vợ không đi thăm được, mắc lo buôn bán, mẹ thì bệnh, chỉ có cô em gái đi thăm nuôi. Ở trong tù thấy thương bà xã. “Từ ngày bị tù tới giờ, ngày nào em cũng cúng quảy, van vái được ra. Mắc cỡ quá, khủng hoảng quá... Tuổi trẻ, thiếu suy nghĩ...”.
Trong khi nói chuyện với tôi, người tù nhắc đi nhắc lại câu nói ấy, ít nhất cũng phải năm lần. Tôi hỏi sao anh không ra đầu thú, anh ta nói mình không biết chữ, không mua báo nên không biết những người kia bị bắt. Vợ thì câm, muốn kể cũng không kể được. Và anh cũng sợ, vả lại “Em nghĩ, vụ án đã quá lâu rồi, em cũng an tâm làm ăn, không quậy phá gì. Ở xóm, em như đứa con nít, chưa mích lòng một người nào!”.
Trong một lần giận bà xã, anh ta dắt đứa con trai về nhà mẹ ở quận 8. (Thật ra, trước đây anh ta cũng đi đi, về về). Vừa chạy xe về, mệt quá, đang ngồi nghĩ thì công an tới, hỏi phải anh tên H không? Rồi mời lên phường làm việc. Và nghe dọc lênh truy nã.
“Mừng quá trời! Sợ quá trời!” - người tù thốt lên. Mừng cho ngày hôm nay, và sợ cho chuyện ngày trước. Anh tự nói về mình: Tuổi thanh niên, háo thắng, suy nghĩ không kịp. Không giữ được lý trí con người. Mang tội này mắc cỡ vô cùng. Và nhắc: “Phải chi hôm đó em đi đường kia về là được rồi!”. Năm nay, H. 34 tuổi. Anh nói mình không dám vi phạm gì nữa, không nhậu nhẹt, hành hung, oánh lộn, oánh lạo, lối xóm thương, tổ trưởng cũng thương. Tôi hỏi anh “nghe nói những người chạy xích lô nhậu dữ lắm?”. Anh nói xích lô cũng nhiều loại, tùy người, những người không vợ, con thì còn nhậu... Rồi anh còn nói: “Một năm qua ở tù, sợ quá. Nào giờ chưa tù tội, từ giờ tới khi nằm xuống, không bao giờ dám làm điều gì phạm tội nữa!”.
H.V.H. phạm tội hiếp dâm. Có gì khác nhau không giữa H.V.H của năm 1984 và H.V.H năm 1996? Khác chứ! Một gã thanh niên 22 tuổi, lang thang, khác nhiều với một người đàn ông đã có vợ, hai con, chí thú làm ăn. May cho H., vì hành vi phạm tội xảy ra vào năm 1984, khi xử án, Hội đồng xét xử đã áp dụng Luật Hình sự thời điểm ấy, nên mức án chỉ có một năm tù. Nếu so với điều luật mới bây giờ, mức án có thể từ 5 năm tới 15 năm. Lẽ ra gã thanh niên bồng bột, vô công rỗi nghề kia phải ngồi tù vì hành vi của gã, nhưng 12 năm sau, người đàn ông đã ở tù thay cho gã. Điều này có vẻ “thiếu công bằng”, nhưng ngẫm lại không phải là không có ích. Gã thanh niên đã lẩn trốn, bản án tù không có ý nghĩa gì với gã, nhưng lại có tác dụng với người đàn ông: Anh ta đã lớn lên nhiều.
------------------------------------------
[1] Phiên tòa ngày 22/11/1996, TAND Thành phố Hồ Chí Minh.

📎 02
0
Kẻ lừa đảo
 
Một người đàn ông mặc áo tù dáng còm cỏi, chiếc đầu cạo trọc, tóc mới ra lún phún cho thấy đã bạc quá nửa, và một người đàn bà áo hoa đứng trước vành móng ngựa: đó là hai kẻ lừa đảo, chiếm đoạt tài sản công dân, bị truy tố ở khoản 3 - trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, phiên tòa sơ thẩm ngày 17/4/1995, TAND Thành phố Hồ Chí Minh.
Tôi vốn không có thiện cảm đối với những kẻ lừa đảo, cho dù họ có đổ thừa hoàn cảnh thế nào đi nữa - nhất là khi nghe vị đại diện VKSND đọc cáo trạng buộc tội thì hành vi của các bị cáo bộc lộ một sự lừa dối chủ tâm. Căn nhà ở Tân Hòa Đông, Quận 6 của hai vợ chồng bị cáo T. H. Đ., N. T. L. T. đang bị kê biên để bảo đảm thi hành án trong một vụ án dân sự. Nhưng trong một thời gian ngắn, từ tháng 3/1992 đến tháng 8/1992, hai người đã hứa bán cho bốn người khác nhau, nhận tiền cọc 72 chỉ vàng, rồi không làm thủ tục mua bán. Sau đó, hai người có trả lại được một ít, nhưng vẫn còn nợ 58 chỉ vàng.
Trả lời thẩm vấn, bị cáo Đ. nói cáo trạng có chỗ đúng, chỗ sai. Sai ở chỗ chị L., người mua đầu tiên, không phải mua để ở mà là người mua đi bán lại. Sau khi đặt cọc hai chỉ vàng, chị có dẫn khách tới coi nhà, nhưng hai, ba tháng sau vẫn không bán được, vì thế sự mua bán mới không tiếp tục. Người thứ hai đặt cọc một lượng vàng, nhưng làm giấy tờ không được (vì TAND Quận 6 đang giữ giấy chủ quyền nhà), sau khi dàn xếp, bị cáo đã trả lại tiền cọc. Người thứ ba là chị P. thì không có tiền để mua tiếp sau khi đặt cọc một lượng vàng v.v... Bị cáo Đ. cũng xác nhận những phần còn lại cáo trạng nêu là đúng, và thừa nhận việc đem bán căn nhà trong khi đang có lệnh kê biên là sai. Theo lời bị cáo, ông ta đã đem giấy tờ nhà thế chấp cho một cửa hàng cầm đồ, lấy 15 triệu đồng, và phải chịu lãi suất cao tới 10%, trả trước lãi hai tháng. Sau đó, do quá khó khăn, lại thêm bệnh tật nên ông ta đã bán nhà cho người thứ tư là chị M., nhận tiền cọc 5 lượng vàng. Tòa hỏi nếu như bị cáo đến TAND Quận 6 xin giải tỏa lệnh kê biên, tự bán nhà để giải quyết nợ thì đâu có phạm tội? Bị cáo trả lời ông ta có xin giải tỏa lệnh kê biên nhưng không được xét, nhưng thấy tổ thi hành án trả lại giấy chủ quyền nhà nên nghĩ rằng mình đã có thể bán nhà được. Bị cáo cũng nói “Tôi nói đây là nói thật thà, xin tòa xem xét chớ tôi không khai gian để nhẹ tội...” Tòa hỏi bị cáo bị truy tố tội lừa đảo có đúng không? Bị cáo thừa nhận đúng.
Đầu tiên khi mới ngồi dự phiên tòa, nhìn thấy Hội đồng xét xử năm người, nghe cáo trạng truy tố khoản 3 và có luật sư chỉ định, hẳn nhiên tôi cảm nhận đấy là một vụ lừa đảo nghiêm trọng. Nhưng cứ qua những lời trình bày của bị cáo thì những cảm giác nặng nề trong tôi được hóa giải dần dần. Người ngồi kế bên tôi cũng chia sẻ cảm giác này. Chị nói “Nếu như ông ta có ý định bán nhà thật thì sao?”. Quả tình có những yếu tố để nghĩ ông ta có ý định bán thật ở một vài trường hợp, nhưng cũng không thể loại trừ ý định lừa đảo, ở một số trường hợp khác... - Tôi nghĩ thế.
Sau đó Tòa thẩm vấn bị cáo T., làm rõ về số nợ thế chấp căn nhà. Trong hồ sơ vụ án lừa đảo của vợ chồng Đ.- T., ngoài bốn người mua nhà hụt còn có một “người bị hại” nữa. Người này vốn là một người cho vay, tên N. Bị cáo T. ký giấy vay nợ của N. số tiền 23,8 triệu đồng sau khi bản thân đã bị truy tố và chồng đã bị bắt giam, vì thế, đó là tình tiết tăng nặng tội. Nhưng thật ra - như bị cáo trình bày - không phải là bị cáo vay thêm nợ mới mà đó là một cách “trả lãi trên giấy”. Trước đây, hai vợ chồng bị cáo vay của N. 15 triệu đồng, lãi 10%, trả trước hai tháng lãi, cho nên số tiền nhận thực tế chỉ có 15 triệu nhưng trên giấy nợ phải ghi 17 triệu. Sau đó, vợ chồng bị cáo đã trả lãi tổng cộng là 10 triệu hai trăm ngàn đồng nhưng số nợ gốc 17 triệu vẫn còn nguyên. Đến tháng 12/1993, khi bị cáo Đ. bị bắt giam, không trả lãi nổi nữa, nên bị cáo T. đã làm giấy nợ mới, xác nhận số tiền nợ (cả vốn lẫn lãi), nay đã lên tới 23,8 triệu đồng.
Có một cô gái nhỏ ẵm một em bé mười mấy tháng ngồi dự phiên tòa. Người nhân viên trật tự lúc đầu định mời cô ra ngoài nhưng sau đó đã cho cô ở lại. Đó là con gái lớn và con trai út của hai “kẻ lừa đảo”. Trò chuyện với em, tôi được biết em học lớp 10, trường Hùng Vương, cuối năm 1994, thi xong học kỳ I không có tiền đóng tiền học tiếp phải bỏ học. Em còn bốn đứa em, ba đứa kia học lớp 7, lớp 5 và lớp 3. May mắn thay các em vẫn còn đi học - tôi thầm nghĩ trong khi em nói tiếp rằng tụi nhỏ đi học được nhờ được cho học miễn phí. Cảnh túng quẫn nợ nần thì đã từ lâu, nhưng từ khi ba bị bắt lại càng cùng cực. Em kể bà con lối xóm rất thương gia đình em, một người cho chiếc xe bánh mì cũ, người khác cho khoảng sân để xe bánh mì bán. Ngày lời mười, mười lăm ngàn. Hàng ngày em đi chợ mua một ký gạo - ăn thiếu, đủ, no, đói gì thì cũng chỉ một ký thôi - hết hai ngàn đồng, thêm vài trăm rau cải nấu canh lạt chan cơm, còn để dành tiền đi thăm nuôi ba nữa. Cô bác nói giúp phương tiện cho mấy mẹ con sinh sống để chờ ngày ba ra tù, mà mấy mẹ con em cũng chỉ trông đợi thế. Tôi nhìn em nói một cách hồn nhiên, bỗng nghe lạnh cả người khi nghĩ tới số phận các em sẽ ra sao nếu như mẹ em không thể về với các em được nữa? Mà căn cứ theo diễn tiến của phiên tòa thì điều đó rất có thể xảy ra. Tôi bày tỏ sự lo ngại này, với ý muốn giúp em chuẩn bị tinh thần. Em khóc òa lên.
Từ đó cho tới khi tòa tuyên án tôi cứ thầm mong - dù gần như biết chắc rằng không thể xảy ra - người mẹ sẽ được tha về. Tôi không chịu nổi viễn cảnh năm con người chưa đến tuổi trưởng thành sống thiếu cha thiếu mẹ, ngôi nhà bị phát mãi để trả nợ và các em bị đẩy ra đường? Cô gái nhỏ sẽ xoay xở làm sao với bốn đứa em thơ dại? Nhưng việc phải đến đã đến. Sau khi nghị án gần 30 phút, Tòa tuyên án bị cáo Đ. 6 năm tù, bị cáo T. 5 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân, và đọc lệnh bắt giam bị cáo T. ngay tại phiên tòa. Các anh công an ra đưa hai bị cáo vào trong. Sau phút sững sờ, cô gái bồng em gọi với theo và òa khóc: “Mẹ ơi!”. Cô trao em cho mẹ. Cảnh tượng sau cùng tôi còn nhớ là cảnh người phụ nữ mặc áo hoa bồng đứa bé bước lên xe tù. Cô gái đứng lặng ở phía xa xa. - “Em để em bé theo mẹ vào tù ư?” - tôi hỏi. Em khóc: “Chứ để ở ngoài, em đâu có lo được cho nó!”.
Em đi bộ ngược lại đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, gần hết đường Nguyễn Du, vừa đi vừa khóc. Em sẽ đi bộ về nhà? Tôi muốn giúp đỡ em, nhưng trước sau em vẫn lắc đầu, nước mắt chảy tràn trên má. Mãi sau khi tôi gợi ý em về việc làm đơn kháng cáo xin giảm án cho ba má, em mới chịu dừng lại, hỏi cách thức, rồi tiếp tục cuộc hành trình đơn độc của mình.
Khi cảm thấy bất bình, con người ta cần phải trút sự giận dỗi vào một ai đó, những người đàn bà bị chiếm đoạt tiền cọc khi nãy đã trút giận dữ vào kẻ lừa đảo lúc họp nhau lại ở sân tòa án, sỉ vả và bàn cách nào để lấy lại được tiền nhanh chóng. Em gái thì trút nỗi đau vào nước mắt. Còn tôi, tôi cũng phải tìm ra một cái gì đó, và tôi bỗng thấy mình căm phẫn những kẻ cho vay nặng lãi, những kẻ đã kiếm về phần mình một số lời rất lớn mà không hề biết chút gì về số phận của năm con người, trong đó có bốn em bé sắp rơi vào thảm cảnh, ừ, trong vụ án này, đã không giận ghét được những “tên lừa đảo” thì ít ra thì cũng còn có cái để cho mình giận chứ!

📎 03
0
Những trái me ngọt
 
Me xanh thì ai cũng nghĩ là chua,
nhưng những trái me này lại ngọt. Thật vậy!

Sáng 29/12/1994, tôi tiếp một người khách đặc biệt. Bà N. - mẹ của T. và H. là hai bị cáo bị truy tố trong vụ án hình sự về tội gây rối trật tự công cộng, mà TAND quận Bình Thạnh đã xử phạt T. 12 tháng tù, H. 6 tháng tù (cho hưởng án treo), nhưng sau đó phiên tòa phúc thẩm của TAND Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định hủy bỏ bản án sơ thẩm, và yêu cầu chuyển hồ sơ về địa phương để điều tra lại từ đầu.
Không biết bằng cách nào bà tìm được tới tận tòa soạn. Cũng chiếc áo nối hàng trăm mảnh. Cũng sự ngơ ngơ, ngẩn ngẩn của người bịnh tâm thần. Hai tay bà xách lùm xùm, một bên là cái bao tải, trong đựng một cây sắt dẹp được gói ghém cẩn thận (theo bà là hung khí của vụ án), bên kia chiếc giỏ ni-lông cũ, rách. Trong giỏ có một tập giấy tờ có liên quan tới vụ án của hai con bà, được gói trong mấy lớp bịch ni-lông, và một túi trái me tươi, còn nguyên cành, lá. Bà móc túi đưa cho tôi hai tờ giấy - nhàu nát như nhau. Một tờ giấy tập, trên đó là những dòng chữ, nét khá đẹp nhưng xệu xạo - do chính tay bà viết để cảm ơn tôi trước đây đã đến nhà tìm hiểu về vụ án giúp cho con bà. Tờ kia là “Giấy triệu tập” của công an quận Bình Thạnh, mời ông H. (chồng bà) và em H. (con út của bà) đến để làm việc có liên quan đến vụ án. Trên giấy có ghi rõ là “giấy triệu tập lần 2”. Chắc phải có chuyện gì quan trọng lắm bà mới đến tìm tôi, nhưng hỏi mãi tôi chỉ thu được những câu trả lời không đầu đuôi. Tôi đành thuyết phục bà ra về, và dặn nếu có chuyện cần thì nhắn T. đến gặp tôi. Trước khi về, bà dúi vào tay tôi bịch trái me - có lẽ mới trèo hái ở đâu đó, và còn dốc túi ra đâu khoảng 3, 4 tờ giấy bạc năm ngàn có, năm trăm có, hai trăm cũng có, nhất định đưa tất cả cho tôi. Tôi bật cười mà suýt rơi nước mắt.
Vào khoảng giữa năm 1994, TAND quận Bình Thạnh đã kết án T. 12 tháng tù, H. 6 tháng tù (cho hưởng án treo). Nguyên nhân sự việc là T. va chạm xe với Th. - một người hàng xóm, dẫn đến cãi nhau, sau đó phát sinh ẩu đả. H. bị thương tật, tỉ lệ 7 % vĩnh viễn (do bị Th. chém vào đầu). Th. cũng bị thương tích nhẹ ở mặt. T., H., và Th. đều bị bắt tạm giam. Thoạt đầu, Viện KSND quận Bình Thạnh truy tố cả ba người, nhưng sau đó Th. lại được miễn truy tố. Vì thế, hai chị em T. và H. cho rằng bản án sơ thẩm không thỏa đáng nên đã làm đơn kháng cáo. Tháng 8/1994, TAND Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, hủy bỏ án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về quận tiến hành điều tra lại từ đầu.
Khoảng 20 phút sau, bà mẹ trở lại tòa soạn cùng với cô con gái. Hỏi chuyện cô, tôi mới biết thêm một số điều. Tờ giấy mời đó đúng là giấy triệu tập lần 2. T. nói lần mời thứ nhất, cách đó mấy ngày, nhà cô cũng không có ai đi, chỉ viết mấy chữ báo lại là không đến được vì phải đi làm. Còn lần này T. cho biết, ngày mai mẹ cô sẽ thay mặt ba và em cô đi đến cơ quan điều tra! Tôi không khỏi băn khoăn. Một người bệnh tâm thần - cho dù là tâm thần dạng nhẹ - như bà đâu có thể đại diện cho ai được. (Trong khi ấy bà mẹ nói chen vào, rất hăng hái: “Tôi đi được! Tôi quen hết mấy ông ở trong đó...”). Lý do “bận đi làm” chắc chắn không phải là lý do chính, vậy thì tại sao? Tôi cố phân tích, thuyết phục cho T. và bà mẹ hiểu nếu như cả hai lần triệu tập ba cô và em cô đều không có mặt, thì chẳng khác nào gia đình cô không chấp hành pháp luật, cơ quan điều tra không tiến hành được công việc, như vậy sẽ chỉ bất lợi cho gia đình cô mà thôi. Nhưng T. vẫn khăng khăng. T. nói cô là con chim bị tên, thấy cành cong cũng sợ. Lần trước, công an đã mời cô và H. lên làm việc rồi tạm giam luôn mấy tháng. Cô cũng nói tại sao công an không mời cô và H., mà lại mời ba cô và thằng út - là những người chẳng có liên quan gì đến cuộc xô xát. Cô còn nói cô đã trải qua những cuộc làm việc với người điều tra viên, nên cô biết. Ba cô và em cô vốn hiền lành, không rành lời ăn tiếng nói, sẽ không thể nào trả lời được suôn sẻ những câu hỏi của cơ quan điều tra.
Cuộc nói chuyện không có kết quả. Không cách gì có thể làm cho cô gái xóa đi được ý nghĩ công an sẽ bắt nhốt ba và em cô, hay chí ít cũng sẽ ép cung. Năm lần tôi thuyết phục, giải thích, năm lần T. khăng khăng nói không thể để ba và em đi, mà sẽ chỉ cho bà mẹ đi thay. Không còn làm sao được nữa, tôi đành tiễn cô và bà mẹ ra về.
Trước đây, khi tôi đến nhà T. và H. để tìm hiểu thêm một số việc - khi ấy TAND Thành phố Hồ Chí Minh vừa mới tuyên bỏ hủy bỏ án sơ thẩm và yêu cầu tiến hành điều tra lại - cả nhà T. và H. đã nói với tôi rằng họ muốn “bỏ” không “khiếu nại” nữa, vì thấy rắc rối quá, hơn nữa thời gian đã qua gần một năm - bản án của họ cũng đã gần hết hiệu lực. Vì vậy, khi TAND quận xử lại, họ sẽ không ra tòa. Lúc đó, tôi đã phải giải thích đến khô cổ, rằng T. và H. phải chấp hành theo quyết định của bản án phúc thẩm, chớ không phải muốn “bỏ” là “bỏ” như suy nghĩ đơn giản của họ. Lần này cũng thế, tôi hình dung cơ quan điều tra sẽ phản ứng như thế nào khi hai lần gởi giấy mời cả hai lần những người trong gia đình T. đều không đến! Hành động đó sẽ dễ bị cho là chống đối, hoặc chí ít - cũng là thái độ coi thường luật pháp, nhưng thật ra trong lòng những người dân vốn không am hiểu lắm về luật pháp và suy nghĩ giản đơn ấy, đầy ắp một nỗi lo. Nỗi lo sợ ấy - cho dù là đúng hay không đúng - thì cũng vẫn là một nỗi lo có thật mà tôi đã làm hết sức, nhưng vẫn không xóa được.
Ở đời có những chuyện cứ tưởng vậy mà không phải vậy. Cũng như những trái me bà mẹ cho tôi. Me xanh thì ai cũng nghĩ là chua, nhưnhg những trái me này lại ngọt vì cái tình mà bà mẹ cho tôi. Thật vậy!

📎 04
0
14 năm vẫn đi tìm công lý
 
“... Tháng 2/1984, có phái đoàn của Bộ Nội vụ đến trại giam Hậu Giang. Các anh có hỏi các phòng giam xem có ai gặp oan ức gì thì cứ trình bày, vì có lỗ thông hơi nên tôi nghe được, tôi đập cửa la lên ‘tôi là đảng viên chính thức, sinh hoạt chi bộ văn phòng Huyện ủy Mỹ Xuyên, bị bắt oan, nhờ đoàn cứu xét’. Sau khi bị giam giữ oan ức hơn hai năm, ngày 27/12/1984, tôi được thả ra. Kể từ đó đến nay tôi liên tục đi kêu oan...”. Trên đây là trích lược nội dung một lá dơn kêu oan được gởi tới tòa soạn báo Tuổi Trẻ. Nội dung khốc liệt của nó khiến chúng tôi phải lập tức lên đường dù 16 năm đã trôi qua kể từ ngày xảy ra sự việc, nhiều dấu vết có thể đã bị xóa nhòa.

Những người “đồng hành” và hành trình đi tìm công lý
Con đường từ trung tâm tỉnh Sóc Trăng về ấp Mỏ Ó (xã Trung Bình, huyện Long Phú) dài 30 cây số, nhưng tưởng chừng như kéo dài vô tận. Bóng đêm hun hút nuốt chững chiếc xe. Vắng tanh, không một bóng người. Mặt đường đầy những hố to, hố nhỏ, mùa mưa chỉ có xe gắn máy mới đi được, nhưng phải bắc ván trên mặt hố mà đi. Hai bên đường là những bụi cây rậm rạp, đen ngòm. Có lúc tưởng như đang đi đường rừng, có lúc chạy giữa hai hàng mồ mả âm u rợn người. Vậy mà trên con đường này, gần chục năm nay một người đàn ông lầm lũi bước đi, xe ôm - phương tiện bèo nhất cũng không có tiền thuê, nên anh ta phải đi bộ, đói, khát, một cái bánh dừa 200 đồng cũng không dám mua ăn. Đi như thế năm này qua năm khác, kiên trì, bền bỉ, không mệt mỏi. Chập tối khởi hành ở Mỏ Ó, rạng sáng vừa tới Sóc Trăng, người đàn ông đó đi... khiếu nại.
Nguyễn văn Tạo sinh năm 1956, năm 1982 là Phó bí thư chi bộ, Phó văn phòng Huyện ủy Mỹ Xuyên phụ trách hành chánh quản trị kiêm văn thư, kế toán và phụ trách đời sống cho cơ quan. Bị công an huyện Mỹ Xuyên bắt ngày 22/ 10/1982 vì “đã có hành vi hoạt động phản cách mạng”. Công an còn thu giữ của Tạo khoảng 10,7 lượng vàng. Ngay hôm sau, Tạo bị di lý về trại giam tỉnh Hậu Giang. Sau hai năm tiến hành điều tra mà không thu được một bằng chứng nào, đến ngày 27/12/1984, công an Hậu Giang ra lệnh tạm tha Nguyễn văn Tạo vì “xét thấy không cần thiết giam giữ”.
Hơn hai năm ở tù, không ý thức được ngày tháng, Tạo kể mỗi lần được gọi lên hỏi cung, anh lượm một hột cát, đem về bỏ trong cái lỗ trong phòng giam. Khi ra tù anh đếm được tất cả 69 hột. Không biết bao nhiêu lần anh được hỏi làm việc cho ai? Tổ chức nào?, anh chỉ một mực kêu oan. Ở tù, Tạo nói, ngay đến cha mẹ cũng bỏ anh, vì ông bà là dân kháng chiến kỳ cựu, chịu không nổi cái nhục có đứa con phản động. Chỉ có đứa em gái, mỗi tháng gởi cho ký cám để anh chống chọi với bệnh phù thũng. Ra tù, nhiều người nhìn anh bằng ánh mắt căm ghét, khinh bỉ, đâu phải ai cũng hiểu hai năm ở tù chỉ là tạm giam, cho nên anh nghĩ, mình cần phải được minh oan, để không còn phải gặp những ánh mắt này. Chứ bây giờ quyết định của anh chỉ là tạm tha, anh ra tù, nhưng vẫn chưa được tự do, cái án vẫn còn treo ở đó. Sau khi tỉnh dưỡng, lấy lại sức khỏe, Tạo bắt đầu cuộc hành trình đi khiếu nại.
Nếu như số phận của anh nhỏ nhoi như một hạt cát chìm trong mười mấy năm đi khiếu nại, thì trong cuộc hành trình dằng dặc đó cũng đã có những người tốt và rất tốt, giúp đỡ cho anh. Gần mười năm sau ngày ra tù không nhận được câu trả lời thỏa đáng, năm 1995, Tạo quyết định phải ra Hà Nội. Anh vay của bạn hai cây vàng, (Người bạn này tên Trí, chúng tôi đã gặp anh tại Mỏ Ó đêm 13/4/1998. Trí tạo cho tôi cảm giác đang trò chuyện với một ông “Trướng Phi” (một nhân vật trong Tam Quốc Chí) nóng nảy, giữa đường thấy chuyện bất bằng chẳng tha. Anh thuộc lòng câu chuyện của Tạo hơn chính bản thân anh Tạo, những lúc Tạo kẹt công chuyện làm ăn, anh là người chạy ngược chạy xuôi, làm đơn, nộp đơn, đi khiếu nại giùm). Tạo đến Bộ Nội vụ. Người cán bộ tiếp dân ở đó là ai thì anh không còn nhớ nhưng anh không hề quên cách tiếp đón, hỏi han ân cần của anh ấy. Anh ấy chỉ cho anh qua gặp ông H.B.Đ ở Trung ương phụ trách công tác pháp luật. Ông Đ. đã làm giùm đơn khiếu nại cho anh, hướng dẫn dến gặp người có thể giúp đỡ cho anh, rồi sau đó, khi anh bị người này từ chối, ông không rũ tay coi như hết trách nhiệm, mà nghĩ thêm cách khác. Ông giới thiệu anh với em của ông là ông H.B H - làm kiểm sát viên ở Viện Kiểm sát Phúc thẩm (VKSND Tối cao) khu vực phía Nam để ông H. tiếp tục giúp anh, và còn cho anh 100.000 đồng để về xe.
Khi ấy, Hậu Giang đã tách tỉnh thành Sóc Trăng và Cần Thơ. Về đến thành phố Hồ Chí Minh, Tạo gặp ông H. và được ông giới thiệu cho về VKSND Cần Thơ để nhận giấy tha. Trong thời gian này Tạo được một cán bộ tiếp dân của VKSND Cần Thơ chỉ anh qua gặp ông Tám Thanh, Bí thư Tỉnh ủy. Ông Tám Thanh rất nhiệt tình giải quyết, ông ghi cho anh mấy chữ để anh lại vòng trở về Viện Kiểm sát.
Cuối cùng thì VKSND Cần Thơ có công văn trả lời Tạo rằng “sự việc bắt tạm giam anh trước đây cơ quan điều tra không đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội và ra lệnh tạm tha anh. Tiếp tục sau đó, cơ quan điều tra có mời anh đến để trao lệnh tha trả lại tự do cho anh, nhưng không hiểu vì lý do gì anh không nhận được, nên lệnh tha không đến tận tay và vẫn còn ở trong hồ sơ gốc cho đến hôm nay”. Đồng thời công văn cũng thông báo cho Tạo biết toàn bộ hồ sơ gốc của anh đã chuyển về công an tỉnh Sóc Trăng (vì trước đây Tạo có khiếu nại tại Ban Thanh tra Công an Sóc Trăng), và đề nghị anh liên hệ nới đây để được giải quyết. Thế rồi gần 12 năm sau ngày ra tù, ngày 15/3/1996 Tạo nhận được tờ lệnh tha ố vàng từ tay ông Phó chánh thanh tra công an Sóc Trăng, với ngày tháng ghi trong tờ lệnh tha là ngày 9/12/1988.

Mong một giải quyết công bằng và hợp đạo lý
Chúng tôi đã tìm gặp được hầu hết các ông trong Ban thường vụ Huyện ủy Mỹ Xuyên thời đó như ông Hai Thế, ông Chín Nghĩa, ông Sáu Cọp... các ông đều cho biết không có một bằng chứng gì về việc Tạo có tội. Chúng tôi cũng đã gặp ông Phan Dân, lúc bấy giờ là Phó phòng an ninh điều tra công an Hậu Giang, người trực tiếp điều tra vụ án, rất tiếc là ông không nhớ được gì về trường hợp của anh Tạo. Ông Nguyễn Xuân Xinh, Phó giám đốc công an Hậu Giang lúc đó, nay là Giám đốc công an tỉnh Cần Thơ, người đã ký lệnh tha Tạo năm 1988, nói thời gian xảy ra vụ án của Tạo ông đi công tác nên chỉ giải quyết khúc đuôi. Chúng tôi đã được cơ quan chức năng cho xem hồ sơ vụ án anh Tạo, trong đó có bản báo cáo do ông Phan Dân ký ngày 15/3/1983, nhưng không thấy mấy tờ đầu, chỉ còn tờ cuối cùng.
Làm việc với phóng viên, ông Phó Ban thanh tra Công an Sóc Trăng cho biết Ban thanh tra đã báo cáo kết quả xác minh vụ anh Tạo từ tháng 4/1996, theo đó, việc công an huyện Mỹ Xuyên bắt giam Tạo là oan, vì vậy đề nghị khắc phục hậu quả của việc bắt giam Tạo 26 tháng 10 ngày. Trao đổi ngoài lề với ông Tám Thanh, Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ, người đã viết mấy chữ giúp cho Tạo nhận giấy tha, ông nói nếu đã có kết luận là Tạo không có tội thì phải giải quyết cho anh tới nơi tới chốn mới là công bằng và hợp đạo lý.
Đã có một thời gian Tạo kiếm được khá nhiều tiền. Anh lãnh nước đá bỏ mối cho các ghe biển, anh chịu thương chịu khó, làm quần quật, không thuê mướn ai, một mình vác cả xe nước đá 200 cây. Mùa nước đá hút, anh kiếm được cũng khá, nhưng tiền kiếm được đổ vào việc đi khiếu nại cũng nhiều. Bây giờ thì sau cơn bão số 5 làm các ghe biển bị chìm, chôn theo những đồng vốn lẫn lời anh còn cho người ta gối đầu, Tạo lại nghèo trở lại. Nhưng anh vẫn tiếp tục đi khiếu nại. Do chỉ chạy ăn từng bữa nên hôm nào muốn đi Sóc Trăng hoặc Cần Thơ thì ngày hôm trước anh phải làm gấp đôi, để hôm sau đi khiếu nại thì vợ con ở nhà vẫn có cái mà ăn. Thằng con lớn 12 tuổi học đến lớp 4 phải bỏ học để phụ cha bỏ mối đá, vợ bị bệnh mắt nặng. Những người trong ấp cho biết Tạo rất cực khổ, sống khó khăn và vẫn mang một nỗi ấm ức trong lòng.

📎 05
0
Nước mắt đầy
 
Sáng nay [1] TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử vụ án chứa mại dâm. Cả một gia đình. Khu cầu Hàn mà vừa gì! Ngần ấy thông tin khiến tôi không thể bỏ qua phiên tòa ở phòng xử án B. Ắt hẳn đây phải là một vụ án lớn.

Trước vành móng ngựa là một bà già. Tóc muối tiêu. Giọng khàn.
Vị đại diện VKSND :
- Bà Tươi, ai là người chuẩn bị việc ngăn phòng ốc?
- Dạ thưa, nhà bị cáo nghèo...
- Tôi không hỏi chuyện giàu nghèo, tôi hỏi ai là người ngăn phòng ốc?
- Dạ, nhà bị cáo không có phòng ốc. Nhà lá, chỉ có một gác nhỏ.
- Nhà đó không phải căn nhà tình nghĩa mà Nhà nước cấp cho bị cáo, phải không?
- Dạ, không phải, nhà đó là nhà cũ của bị cáo.
- Vậy làm sao bị cáo chứa được mấy đôi nam, nữ?
- Trên gác nhỏ trải chiếu, là chỗ chồng bị cáo ngủ. Ớ dưới có cái giường, là chỗ con gái bị cáo ngủ...
Vụ án có sáu bị cáo, bà già là đầu vụ, các bị cáo còn lại là Lê Vĩnh Tuấn, 66 tuổi, chồng bà, và ba người con trai của bà, phạm tội môi giới mại dâm. Bị cáo thứ sáu tên Lê thị Lan, là người cùng xóm, cũng ra tòa vì tội môi giới mại dâm.
Ngoại trừ Hoàng và Hải là hai con trai của bị cáo Tươi, các bị cáo còn lại đều đã có tiền sự, tiền án. Thậm chí, bị cáo Lan còn phạm tội ngay trong thời gian thử thách (tháng 3/ 1994, bị cáo bị TAND huyện Nhà Bè phạt 18 tháng tù treo). Mới nghe cứ thấy rợn người. Quả là những kẻ chuyên nghiệp trên một vùng đất lừng lẫy.
Tòa hỏi bị cáo Hoàng: “Tòa truy tố bị cáo tội môi giới mại dâm có đúng không?”. “Đúng”. “Bị cáo biết ở nhà có chứa, nên mới dẫn về phải không?”. “Dạ”. “Bị cáo biết gia đình mình sai phạm mà vẫn làm?”. “Tại vì bà già bị cáo có nói là thiếu nợ quá nên để làm hết tháng này rồi nghỉ”.
Tòa hỏi bị cáo Hải “Bị cáo có tội gì?”. “Tội dắt gái mại dâm”. “Bị cáo biết hành vi của mình là phạm pháp không?”. “Biết!”. “Biết sao vẫn làm?”. “Lúc đó bị cáo chưa có nghề nghiệp”. “Việc bị cáo làm đâu phải là nghề? Các bị cáo biết mà vẫn vi phạm là cố ý chớ còn gì nữa?...”
Vị đại diện VKSND hỏi bị cáo Tươi: “Mỗi ngày bị cáo kiếm được bao nhiêu tiền?”. “Một ngày khoảng 4, 5 cặp, nhiều nhất là 6, 7 cặp”. “6, 7 hay là 15, 16 cặp?”. “Dạ, cái đó là lâu rồi”. (Theo hồ sơ, bị cáo khai đã làm được khoảng 46 ngày bình quân mỗi lần chứa, bị cáo được trả 10.000 đồng).
Bà già khóc rất nhiều. Kể lể rằng khi bà bắt đầu làm, chồng bà đã rầy la, con thì ngăn cản. Nhưng vì bà vay nợ trả lãi, rồi cho các cô mại dâm vay lại, các cô bị “chiến dịch” hốt, ở nhà bà phải trả nợ thế. Số tiền ban đầu ít, sau tăng lên thành năm sáu triệu. Mấy anh giang hồ đòi riết quá, vì lẽ đó “cho nên bị cáo biết ở tù mà vẫn làm, liều mạng, cãi chồng cãi con mà làm...”.
Khi tòa hỏi trước đây do có con nhỏ dưới 12 tháng nên TAND huyện Nhà Bè đã xét cho bị cáo Lan được hưởng án treo để nuôi con, nhưng bị cáo lại tiếp tục sai phạm..., bị cáo Lan cũng khóc mà nói rằng “Bị cáo đã mở quán bán cơm, đã cố gắng được hai năm mấy rồi, nhưng lần này quá đột ngột, con bị cáo bị xe đụng, nằm bệnh viện ba tháng mấy, bị cáo phải bán hết đồ đạc trong nhà rồi, không có tiền mua cơm ăn, nên mới nhận 5.000 đồng của mấy cô để mua gạo...”
Cứ theo những lời khai tại phiên tòa, hóa ra những kẻ “chuyên nghiệp” kiếm chẳng được bao nhiêu tiền.
Trên lối đi giữa phòng xử án, có một chiếc xe đặc biệt dành cho người tàn tật. Một em gái ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, đang khóc lặng lẽ. Đó là con gái út của bị cáo Tươi và Tuấn, người duy nhất còn lại của gia đình không bị vào tù.
Khi các bị cáo được cho phép tự bào chữa và nói lời cuối cùng trước khi tòa vào nghị án, bị cáo Tươi đã khóc rất nhiều, xin tòa “mở rộng lòng nhân” tha thứ. Mười tháng qua trong tù bị cáo đã rất hối hận, ngày kiếm có mấy chục ngàn mà cả nhà tù tội. Đặc biệt, khi nói đến đứa con út bị tật nguyền, bị cáo khóc nhiều: “Xin tòa cho bị cáo về nuôi cháu, mười tháng qua cháu mới được nhìn mặt mẹ. Thời gian qua, cháu quá khổ sở, sống nhờ vào hàng xóm. Xin tòa cho bị cáo về nuôi cháu sống thêm vài năm nữa...”.
Bị cáo Tuấn cũng khóc: “Bị cáo rất ân hận khi thấy vợ làm mà không ngăn cản được. Vì hoàn cảnh gia đình, vợ bị cáo thiếu nợ, bị cáo không thể đi tố cáo vợ được. Bị cáo bị tù một lần rất ân hận...”
Trong lúc chờ tòa nghị án, em gái được gặp mẹ. Môi em khô se, người nhà, rồi mẹ em dúi vào tay em bịch nước ngọt nhưng em đẩy ra, và em khóc, nói chen tiếng khóc. Căn cứ cử chỉ của em, tôi đoán có lẽ em bị di chứng bại não nhưng không ảnh hưởng nhiều đến trí tuệ. Người nhà cho biết em rất thông minh. Hai mẹ con cùng khóc. Bà mẹ thầm thì vào tai con, người cha âu yếm lau mồ hôi trán cho con. Tôi không nghe được hai mẹ con nói gì, chỉ thấy sau đó bà mẹ vỗ về con: “Nín đi con, mẹ sẽ về mà!”. Có lẽ em gái là người khổ nhất trong thời gian qua. Không thể hình dung 10 tháng qua, một người chỉ có thể sống trong sự thương yêu, đùm bọc, chăm sóc như em đã bị bứt khỏi gia đình, phải nướng nhờ hoàn toàn vào bà con lối xóm.
Sau đó tòa tuyên án. Bản án 24 tháng tù treo làm cho bà mẹ hết sức vui mừng. Bà sẽ được trả tự do ngay sau khi về trại giam, cùng với hai con Hoàng và Hải (Hai bị cáo này bị mức án 10 tháng tù nhưng cả hai đều đã bị tạm giam hơn 10 tháng). Cơn khốn khó của em gái đã qua đi. Bị cáo Lan có lẽ buồn hơn cả. Bản án mới tuy chỉ có 12 tháng, nhưng phải cộng thêm 18 tháng tù treo của bản án trước chuyển thành án giam, tổng cộng thành 2 năm rưỡi. Bà Tươi hôn trán con để từ giã. Mấy lần tôi đã định mở miệng hỏi bà xem sau khi ra tù bà sẽ làm gì? Nhưng không thể. Tôi không dám phá hỏng giây phút quý giá mẹ con bà gặp nhau. Thành ra nỗi băn khoăn cứ còn lại ở trong lòng. Không phải tự nhiên mà cả một gia đình - mà hầu hết các thành viên đều đã có tiền sự, tiền án - lại ra tòa lần nữa, cũng về tội có liên quan tới mại dâm. Ai cũng biết hành vi của mình là phạm pháp. Nhưng rồi họ vẫn tái phạm. Tôi rất muốn hỏi xem bà đã có những dự định gì những bảo đảm nào để không trở lại “nghề” cũ, để không có một lần nữa phải ra tòa với mái tóc bạc, những lời van xin thảm não và những hàng nước mắt đau buồn...
----------------------------------------------
[1] Phiên tòa ngày 5/12/1996.

📎 06
0
Một sự tưởng tượng xằng bậy
 
“Tôi vô tội!” - Bị cáo lặp lại một lần nữa. Từ đầu chí cuối phiên tòa, mặc những lời buộc tội đanh thép của vị đại diện VKSND, mặc những bằng chứng của Hội đồng xét xử, trước sau như một, bị cáo vẫn một mực khăng khăng khẳng định mình vô tội. Tôi chưa từng thấy có một phiên tòa nào gay cấn như thế.
Tôi không thể nào tin được con người đầy vẻ thư sinh, đang đứng trước vành móng ngựa kia lại có thể là một kẻ giết người. Tôi cũng có biết anh ta, có đôi lần gặp anh ta tại nhà những người bạn quen. Không ai toàn thiện. Anh ta có thể phạm tội, có thể tham nhũng, ăn hối lộ, thậm chí lừa đảo... nhưng không thể nào giết người. Không có khả năng nào để anh ta phạm tội giết người! Trên kia, vị đại diện VKSND đang đọc cáo trạng. Tháng 9 năm 1993, qua công tác, bị cáo có quen một người tên là A. A. nói với bị cáo rằng một người hàng xóm của A. đã có hành vi hiếp dâm một đứa trẻ con trong xóm. Gã hàng xóm này là người bẩn thỉu, lưu manh, tối ngày say sưa, quậy phá xóm làng, đã mấy lần bị đưa đi cải tạo về tội gây rối an ninh trật tự công cộng. Rõ ràng một kẻ như thế rất đáng phỉ nhổ, cần phải có hình phạt nghiêm khắc để làm gương. Tuy nhiên, hiện nay những người dân ở địa phưdng không biết làm cách nào để đưa hắn ra tòa. Bị cáo hứa với A. là sẽ không để cho một tên bẩn thỉu như thế tồn tại nhởn nhơ. Sau đó không lâu, “con người bẩn thỉu” kia tự tử chết, vì thế bị cáo bị truy tố khoản 2 điều 104 Bộ Luật Hình sự về tội vô ý làm chết người, với mức án từ 1 - 5 năm.
Bị cáo khẳng định mình vô tội. Anh ta nói anh ta chỉ làm một việc hết sức bình thường, là nói lên những hành vi xấu xa của con người nọ. Rằng anh ta thưa từng gặp nạn nhân, không hề có một cử chỉ, hành động đe dọa hoặc rún ép nào. Sau đó tòa cho mời vợ của nạn nhân. Người đàn bà này - trong sự phẫn nộ khôn tả - đã gọi bị cáo là một kẻ tàn ác, táng tận lương tâm, vô liêm sỉ... buộc vị chủ tịch Hội đồng xét xử phải cắt lời và nhắc nhở bà ta không được miệt thị bị cáo. Người vợ cho biết, sau khi bị cáo đưa tin chồng bà can tội hiếp dâm, cuộc sống của gia đình bà thật khốn khổ. Ra đường người ta xì xào, nhổ nước miếng, đi đâu cũng phải cúi gằm xuống đất, không dám nhìn ai. Hội đồng xét xử yêu cầu đưa bằng chứng, bà nói lá thư của chồng bà để lại trước khi tự tử chết là bằng chứng - bà tin rằng người sắp chết không thể nói dối - “Chồng tôi nói ảnh không hề làm chuyện đó. Ảnh kể lại tỉ mỉ chuyện hôm đó ảnh có nhậu say, có ôm hôn con bé, nhưng cũng như mọi ngày, ảnh rất quý nó. Nếu quý tòa không tin, xin hỏi bác Ba là má của bé B. đây xem. Lối xóm ai cũng biết vợ chồng tôi quý con bé B. như con ruột. Ngày nào ảnh đi xe về cũng có khi thì cái bánh, khi cục kẹo cho con nhỏ. Chúng tôi không con nên ảnh rất quý nó”. Hội đồng xét xử cắt ngang lời bà: “Thôi được rồi, chị cho biết chồng chị có nói nguyên nhân tại sao tự tử không?”. “Ảnh viết rằng ảnh phải chêt vì không chịu nổi sự nhục nhã”.
Kết thúc phần thẩm vấn là phần tranh luận. Vị đại diện VKSND giữ nguyên quan điểm của mình. Ông cho rằng bị cáo không thể nào chối bỏ trách nhiệm của anh ta về cái chết của nạn nhân. Cho dù anh ta không dùng vũ khí, không dùng bạo lực, nhưng hành động của anh ta đã có đủ yếu tố để cấu thành tội phạm, và ông đề nghị Hội đồng xét xử chuyển tội danh, tội “giết người” thay cho tội “vô ý làm chết người”.
Luật sư của bị cáo nói ông đã nghiên cứu Luật Hình sự thì thấy không có khoản nào buộc tội người khác giết người chỉ bằng một lời nói hay bài viết, dẫu rằng trên thực tế điều đó có thể xảy ra. Ông cũng xin tòa xem xét về nhân thân, bị cáo lần đầu phạm tội, chưa tiền án tiền sự... nên ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Theo diễn tiến bình thường, sau phần bào chữa của luật sư, chủ tọa phiên tòa cho phép bị cáo được tự bào chữa bổ sung, và kết hợp nói lời nói cuối cùng. Dù đã chứng kiến từ đầu phiên tòa nhưng phản ứng của bị cáo cũng khiến tôi giật bắn mình. Anh ta không thèm đứng lên chỗ vành móng ngựa, ngồi tại chỗ và cứ thế mà nói, giọng dõng dạc: “Tôi đã nói là tôi không có tội. Và không ai có thể buộc tội tôi cũng như bắt giam tôi được đâu! Tôi không thể chịu trách nhiệm hình sự, bởi vì tôi viết mà đâu có suy nghĩ?!”. “Anh ta nói thế sao được!”. Cả phòng xử ồ lên phản đối. Bị cáo vẫn thản nhiên: “Chớ tôi hỏi tất cả quý vị ở đây có ai suy nghĩ khi viết không? (Im lặng). Đấy thấy không? Chẳng phải đã có lần có vị viết một bản án tử hình cho một người bị cáo buộc là đã giết người, nhưng rồi sau đó, những người có thẩm quyền cao hơn đã bảo rằng không đủ yểu tố để buộc tội anh ta, và tất cả phải làm lại từ đầu? Tôi nghĩ, bổn phận của tôi là viết cho mạch lạc, rõ ràng dễ đọc, còn viết cái gì đâu phải trách nhiệm của tôi? Tôi thường viết về các vụ án. Người ta thường nói đàng sau các bản án là số phận của những con người. Tôi không biết mà cũng không cần biết. Nói gì tới những chuyện bên trong, tôi lại càng không thể biết. Người ta có thể cho là tôi ngu ngốc, hoặc tệ hơn là vô lương tâm, vô liêm sỉ... tôi vẫn thản nhiên. Mà nói cho cùng, tất cả các tĩnh từ đó đều có thể dùng cho tôi được hết”.
Nghe tin có một phóng viên sắp phải ra trước vành móng ngựa vì viết bậy, tôi đã tưởng tượng ra phiên tòa nói trên, một phiên tòa mà đứng trước vành móng ngựa không phải là một con người, mà là một cây viết. Chính tôi cũng thấy đó là một tưởng tượng xằng bậy, bởi lẽ đâu có ai xử tội một cây viết bao giờ!

📎 07
0
Giới tuyến giữa phòng xửa án
 
Họ chuẩn bị tinh thần cho một vụ kiện mới... Cuộc hơn thua ruột thịt ấy sẽ còn tiếp tục. Chẳng biết người cha quá cố sẽ vui với ai và buồn theo ai bây giờ?
Phòng xử án nào cũng vậy, cũng bố trí hai dãy ghế hai bên, chừa một lối đi ở giữa. Ở phiên tòa dân sự phúc thẩm ngày 19-3-1994, lối đi đó bỗng thành giới tuyến ngăn cách hai gia đình cùng dòng họ. Đứng trước mặt quan tòa, người đi thưa và người bị thưa là hai bà già tóc đã bạc, khóe mắt đã xếp chân chim, có lẽ chưa từng quen với việc ứng đáp hơn thua - dù đã trải qua một lần ở phiên tòa sơ thẩm. Mỗi lần tòa hỏi, cả hai bà đều lúng túng, người dợm quay ra sau chờ con cháu nhắc, người ấp a ấp úng, không biết phải nói thế nào cho hợp. Phía sau, con trai, con gái, dâu, rể... thi nhau nhắc nhở, cãi cọ. Mỗi lần một bà nói lỡ điều gì bất lợi, họ lại ầm ĩ lên. Quan tòa đã phải cảnh cáo mấy lần, nhưng xem ra vẫn chưa vãn hồi được trật tự.
Hai bà đó là hai chị em ruột. Cha mẹ họ chỉ sanh được có hai người con mà thôi. Theo cách đặt tên của người Hoa, hai người có cùng một tên, chỉ khác chữ lót: H.H và T.H.
* * * * *
- Tòa hỏi bà, bà trả lời ngắn gọn thôi. Chưa đến phần diễn giải đâu. Nội vụ sự kiện để lát nữa bà sẽ nói. Tòa hỏi bà là cha và mẹ bà sống chung với nhau từ năm nào?
Bà T.H - người đi thưa - sau khi trả lời lạc đề sang vụ tranh chấp nhà bị tòa nhắc mấy lần, mới sực tỉnh. Câu trả lời của bà làm nhiều người phì cười :
- Dạ tôi đâu có biết ổng bả ở với nhau hồi nào? Lúc đó tôi chưa sanh ra mà!
- Thôi được rồi. Cha bà sống vđi bà L.T.H (mẹ kế của bà T.H) vào năm nào? Có giấy hôn thú không?
Nội dung việc tranh chấp lần lượt rõ ra theo các câu hỏi của quan tòa. Mẹ của hai bà mất sớm. Người cha lấy vợ kế là bà L.T.H, không con. Ông có hai căn nhà, một ở Tây Ninh, nơi ông sống với bà L.T.H, một ở thành phố, nơi bà T.H ở cùng chồng con. Bà H.H thì ở bên nhà chồng. Theo lời bà H.H, năm 1992, cha bà có viết giấy đòi lại căn nhà ở thành phố. Sau đó, ông lâm bệnh rồi mất, bà H.H đứng đơn kiện ra TAND quận, đòi chia quyền sở hữu căn nhà. Bà T.H thì nói vợ chồng bà đã mua lại của người cha căn nhà ấy, nhưng không có giấy tờ. Tòa quận đã xử cho bà H.H thắng kiện. Bản án sơ thấm định giá căn nhà 45 triệu, được chia ba phần cho bà L.T.H, bà T.H và bà H.H. Do bà T.H đang ở căn nhà, nên bà phải trả lại tiền cho bà mẹ kế và em. Phần chi phí ma chay cho người quá cố cũng không bị quên, số tiền chi phí này - do bà H.H bỏ ra - sẽ được tính trừ vào giá trị căn nhà. Không bằng lòng với án sơ thẩm, bà T.H đã làm đơn kháng cáo.
Ngồi dự phiên tòa, tôi cứ thấy bứt rứt thế nào ấy. Người tranh chấp chính lẽ ra phải là bà L.T.H, vợ của người quá cố thì lại không có mặt. Bà đã về quê cũ sinh sống. Hai bà H.H T.H đều đã con đàn, cháu đống, nhà cửa ổn định, vậy mà vẫn không thể hòa thuận, vui vẻ với nhau. Và còn người cha quá cố? Ông có biết việc hôm nay tên ông đã được con cháu nhắc tới, không phải trong ngày cúng kiếng, họp mặt gia đình, tưởng nhớ công ơn người đã khuất, mà là trong một phiên tòa, và thậm chí ông chết ngày nào, khi tòa hỏi tới, họ cũng không nhớ được!
Tòa hỏi yêu cầu của mỗi bên. Bà T.H nói nếu bà L.T.H và bà H.H đòi chia căn nhà ở thành phố thì bà cũng đòi chia căn nhà ở Tây Ninh - mà bà L.T.H và bà H.H đã bán sau khi cha bà chết. Bà H.H cũng không vừa, nói nếu bà T.H đã đòi chia căn nhà ở Tây Ninh thì tòa phải cộng thêm tiền xây mả (khoảng 4 triệu đồng) vào trong phần chi phí ma chay mà tại phiên tòa sơ thẩm bà đã quên. Bà T.H phản bác: Bà không đồng ý đưa phần chi phí ma chay vào, bởi vì trước nay không thấy bà H.H nói gì - nghĩa là không thành vấn đề gì, sao nay lai đòi? Bà H.H không chịu: Nếu đã chia thì mọi thứ đều phải chia, đám tang cha một mình bà lo liệu, bà T.H không đóng góp một chút gì, đâu có được!
Giải lao. Bà T.H ra băng đá. Bà H.H ở lại phòng xử. Họ không nói chuyện với nhau đã bao lâu rồi không biết? Hai bà già giận nhau đã đành, những người trẻ tuổi của hai gia đình cũng không hề nhìn nhau một chút. Mỗi bên tranh thủ phút hội ý của tòa để rút kinh nghiệm phần mình, sôi nổi. Sau khi nghị án, tòa tuyên bố hủy án sơ thẩm, trả nội vụ về TAND quận để tiến hành lại từ đầu. Mỗi bên ra về theo hai hướng khác nhau, dù nhà hai bên đều ở cùng một quận. Bên thấy án sơ thẩm được hủy mừng thầm, nhưng nào đã xong, còn phải chuẩn bị tinh thần dự một phiên tòa mới. Bên chưa được kiện hẳn nhiên sẽ còn theo đuổi tới cùng. Cuộc hơn thua ruột thịt ấy sẽ còn tiếp tục. Chẳng biết người cha quá cố ấy sẽ vui với ai và buồn theo ai bây giờ?

📎 08
0
Một phiên tòa Thụy Điển
 
Tôi đang ngồi trong Trung tâm báo chí nằm ở tầng ba của Tòa nhà hội nghị thì thấy P. hớt hải chạy lên. F. là cán bộ của Radda Barnen - Tổ chức Cứu trợ Nhi đồng Thụy Điển làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Cô nói: “Sao chị còn ngồi đây? Nhanh lên, trễ rồi!”. Chiều nay theo kế hoạch, tôi sẽ được tháp tùng cùng với bà Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em Việt Nam dự một phiên tòa ở Tòa sơ thẩm nhưng là vào lúc 2 giờ kia, còn bây giờ chỉ mới 1g 10 phút. Tôi nói với F. điều đó, nhưng cô quả quyết phiên tòa bắt đâu vào lúc 1g 30. Rồi cô chạy nhanh xuống lầu. F. đang có thai. Tôi vội la lên: “Chị không nên chạy như thế!” F. gật đầu đồng ý: “Đúng, nhưng chị thì nên nhanh lên!”. Xe chờ sẵn ngoài cửa. Chúng tôi đến tòa án - hầu như không phải đi nữa mà là chạy - lên lầu một. Đồng hồ chỉ đúng 1g 30 phút. Cửa phòng xử án mở ra. Cảm giác đầu tiên của tôi: Họ đúng giờ một cách kinh khủng!
Chiếc bàn trong phòng xử án là loại bàn có mặt dính liền theo hình vòng cung. Hội đồng xét xử ngồi ở đầu trên. Phía bên trái dành cho ủy viên công tố và nạn nhân. Phía bên phải là luật sư và hai bị cáo. Ở đầu kia của hình vòng cung, đối diện với Hội đồng xét xử, là chiếc ghế tách rời của nhân chứng. Sau lưng nhân chứng, năm hàng ghế băng dài dành cho những người tham dự. Năm người của Hội đồng xét xử (theo luật Thụy Điển, Hội đồng xét xử án sơ thẩm gồm một thẩm phán và bốn hội thẩm) đã ngồi sẵn trong phòng. Những người tham dự phiên tòa sau đó mới lục tục bước vào, không ai phải chào ai. Không như ở Việt Nam, người tham dự ngồi chờ và phải đứng dậy khi các vị Hội đồng xét xử cùng kiểm sát viên bước vào.
Phiên tòa bắt đầu, bằng tiếng Thụy Điển. Một cán bộ sứ quán Việt Nam tại Thụy Điển phải dịch tóm tắt từng đoạn cho bà Bộ trưởng bằng một giọng gần như thì thầm, còn tôi thì phải chồm tới để nghe một cách khó khăn. Ấy thế mà những người ngồi bên trên vẫn ngoái lại nhìn chúng tôi. Sự im lặng đến mức nghe rõ được tiếng sột soạt của những tờ giấy. Khởi đầu, vị thẩm phán tuyên bố bắt đầu phiên tòa. Ông nói gì đó, và có hai người - hai thiếu niên đang ngồi lẫn trong những người tham dự, đứng dậy, đi ra: đó là hai nhân chứng. Có lẽ để họ đừng bị chi phối bởi diễn tiến của phiên tòa. Ủy viên công tố - một phụ nữ - bắt đầu đặt câu hỏi với người bị hại, ngồi sát bên cạnh bà. Người này tố cáo rằng đã bị hai bị cáo (đều ở tuổi vị thành niên, một người sinh năm 1978, một người 1979) đánh ở trên xe buýt, vào ngày 23/3/1996. Trả lời ủy viên công tố, anh ta nói bị đánh và đá đến 20 cái. Hỏi tỉnh dậy làm gì? Đáp không nhớ, khi bị đánh thì ngất, nằm luôn trên sàn. Vị thẩm phán hỏi chen vào có bị thương tật gì không? Anh ta nói bây giờ thì không đau lắm, nhưng lúc mới bị đánh đau nhiều, ủy viên công tố lại hỏi cảm thấy thế nào? Anh ta nói đánh như thế là dã man. Tới phiên luật sư hỏi người bị hại, có chắc số lần đánh không? Sao đếm dược? Và anh có đánh lại các bị cáo không? Người bị hại nói anh ta bị ba người đánh trong đó một người đánh hôi, anh ta không đánh trả vì bi đánh đau quá, hoa mắt, không thấy đường, và cũng không còn sức. Sau đó, ủy viên công tố thẩm vấn tới bị cáo thứ nhất - tên là M. M. thừa nhận là có đánh, nhưng cũng có những người khác cùng đánh và anh ta cũng bị đánh trả. Bị cáo thứ hai tên E. nói anh ta chỉ đánh hôi. Ủy viên công tố hỏi sao trong biên bản hỏi cung ở cảnh sát, anh ta thừa nhận là có đá nạn nhân, nhưng bây giờ lại chối? Bị cáo bảo anh ta chỉ đánh chứ không đá.
Sau khi thẩm vấn gần 1 giờ đồng hồ, một vị hội thẩm nói vào máy phóng thanh và nhân chứng thứ nhất - một thiếu nữ - bước vào. Vị thẩm phán đọc lời thề làm ba đoạn, cô gái lặp lại. Sau đó là phần thẩm vấn nhân chứng của ủy viên công tố, luật sư và thẩm phán. Thẩm phán hỏi cô gái có thấy rõ vụ việc không? Rằng cô ngồi ở phía sau làm sao thấy rõ được v.v... Sau khi trả lời xong, nhân chứng định đi ra thì vị thẩm phán gọi lại thông báo cho biết là được phép ngồi lại trong phòng. Nhân chứng thứ hai được mời vào. Trả lời ủy viên công tố, nhân chứng này nói rằng các bị cáo đã có đánh, đá người bị hại khoảng 5, 6 cái.
Sau đó, thẩm phán hỏi chuyện cha của bị cáo M. rằng bị cáo ở nhà như thế nào. Ông này ngồi trên một chiếc ghế được đặt tách riêng trong phòng xử án, nói con ông ở nhà cũng ngoan ngoãn, bình thường. Cuối cùng, ủy viên công tố luận tội - trong đó có nói bị cáo M. đã một lần phạm tội cũng chuyện gây gổ, đánh nhau - rồi luật sư bào chữa.
Tất nhiên, trong hoàn cảnh trở ngại ngôn ngữ như thế thì dù rất muốn, tôi cũng không thể nào nghe được chi tiết tất cả các câu thẩm vấn hoặc trả lời, mà chỉ có thể nắm ý chính, cũng may là các cảm nhận khác không đòi hỏi phải có “phiên dịch”. Điều đầu tiên tôi cảm nhận là phòng xử án không có vành móng ngựa. Bên này ủy viên công tố ngồi cạnh nạn nhân thì bên kia, ở phía đối diện, luật sư ngồi cạnh bị cáo. Đối với mỗi đối tượng cần thẩm vấn - người bị hại, bị cáo, nhân chứng... thì lần lượt ủy viên công tố hỏi và đến luật sư, vị thẩm phán lâu lâu mới đặt một câu hỏi chen vào khi thấy cần thiết. Không ai phải đứng lên. Không có sự phân biệt trong đối xử. Bị cáo không phải mặc áo tù và chỉ được mở còng tay trước khi vào phòng xử án, không phải đứng trước vành móng ngựa. Điều cảm nhận thứ hai là về trang phục. Tôi nghe nói Thụy Điển là nước thoải mái nhất trong ăn mặc. Điều này có lẽ đúng. Trong năm người ở Hội đồng xét xử, chỉ có thẩm phán mặc vest, các vị còn lại chỉ mặc sơ-mi ngắn tay, có người choàng thêm áo khoác, có người mặc áo bông hoa đủ màu. Riêng hai vị ủy viên công tố và luật sư đều mặc vest. Các bị cáo và nạn nhân mặc sơ-mi và áo thun. Người tham dự bên dưới thì khỏi nói, đủ kiểu. Ăn mặc như thế trong một phiên tòa lẽ ra phải đem lại một cảm giác không nghiêm túc, thế nhưng không hiểu sao, tôi vẫn thấy không khí rất trang trọng, đường hoàng, cảm nhận thứ ba, không chỉ có mình tôi mà một cán bộ của Việt Nam cũng chia sẻ, đó là không khí có vẻ thân tình. Hoàn toàn không giống một phiên tòa dân sự bên ta, chứ đừng nói là hình sự. Không có sự lớn tiếng, quát mắng, trấn áp. Không có sự xúc phạm, miệt thị. Hay hay dở chưa biết, nhưng không có cái cảm giác bị tổn thương.
Tòa tuyên bố nghị án. Trừ Hội đồng xét xử, tất cả những người còn lại trong phòng xử án - kể cả ủy viên công tố - đều đi ra chung một cửa. Ủy viên công tố đến gặp chúng tôi. Vị cán bộ sứ quán giới thiệu rằng có Bộ trưởng Việt Nam ngồi dự khán. Bà ủy viên công tố nói quan điểm của bà là tội của hai bị cáo này đều nặng, trước đây đã có phạm tội nhưng vì họ còn ở tuổi vị thành niên, nên bà đề nghị chỉ phạt tiền thôi chứ không có án tù. Sau đó, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt các bị cáo 7.000 SEK (tiền Thuy Điển; 1 đô-la Mỹ = khoảng 6.5 SEK).
Sau phiên tòa, vị thẩm phán tiếp chúng tôi. Bà Bộ trưởng có hỏi: nếu xử bị cáo đã thành niên, hình thức phiên tòa có giống như vừa rồi hay không? Ông thẩm phán nói giống y như thế, không có gì khác, về sau, tôi mới biết phiên tòa nói trên là phiên tòa xử kín, chỉ những ai có liên quan mới được tham dự. Để tránh cho những người phạm tội kia - những người chưa trưởng thành, một ảnh hưởng tâm lý không tốt. Mới thấy những tội phạm vị thành niên Thuy Điển đã được tính toán rất chu đáo để họ càng có thật nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, cơ hội phát triển thành người công dân trong sạch, bình thường.

📎 09
0
Viết cho ngày 21-06
 
Bấy lâu nay, tôi thường thận trọng mỗi khi đặt bút viết về một con người - nhất là một bị cáo, một người tù. Nhưng có một lần, tôi đã phạm sai lầm. Trong một bài ký sự pháp đình, tôi có nhắc đến tên anh P. Cách đây 16 năm, P. bị kết án 20 năm tù, nhưng do cải tạo tốt, anh được tha trước thời hạn. Anh ra tòa với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nói những điều anh biết về vụ án. Nghĩ rằng anh đã là một công dân bình thường, đã trở lại với đời sống xã hội, tôi không một chút cân nhắc khi viết nguyên tên anh trong bài. Sau đó ít lâu, trong một lần tình cờ gặp tôi, P. nói sau khi ra tù, anh đã xin được việc làm ở một tổ hợp sản xuất, không ai biết quá khứ của anh, kể cả người bạn gái, công việc đang tốt đẹp. Bài báo của tôi đã làm hại anh. Mọi người bàn tán xầm xì, người ta e sợ anh, tuy chưa đến mức phải nghỉ việc, nhưng anh rất buồn. Tôi lặng người đi, muốn xin lỗi anh mà không thể thốt nên lời, vì tôi biết lời xin lỗi chẳng cứu vãn được gì! P. không phiền trách gì tôi, nhưng tôi ân hận mãi, tự giận mình vì một lỗi lầm không đáng có.
Tôi rất nhớ một bà già, bị ra tòa (phiên tòa ngày 27/10/ 1995) về tội chứa mại dâm và thêm tội chống người thi hành công vụ - vì đã níu kéo, la lối khi công an đến khám nhà. Cũng giống nhiều trường hợp tôi đã gặp, bà già kiếm tiền bằng cách ngăn nhà thành từng ngăn nhỏ cho gái mại dâm thuê tiếp khách, nghĩa là không phải vô tội nhưng cũng chưa đến mức tú bà. Trông bà chất phác, quê mùa. nhưng cô con gái ngồi phía dưới phòng xử án lại rất lanh lẹn, sắc sảo. Giờ nghị án, tôi hỏi chuyện cô gái. Cô nói cô cản ngăn hoài nhưng mẹ cô không chịu nghe, nên lần này phải ra tòa như vậy may ra bà mới chịu chừa. Khi biết tôi là phóng viên, không biết thú vị sao đó mà cô bật cười: “Trời ơi, chị là nhà báo hả? Mẹ tôi mà biết có nhà báo dự là bả sợ lắm!”. Tôi nói: “Công an bà còn không sợ, sao lại sợ nhà báo?”. Cô nói: “Bà sợ lên báo xấu hổ”. Trên kia, bà mẹ - có lẽ nghe loáng thoáng gì đó - kêu con gái lên hỏi nhỏ. Khi biết tôi là phóng viên, mặt bà xanh lè, ngó chừng tôi. Cô con gái, có lẽ muốn trêu mẹ mình, nên càng làm già: “Chỉ tính đưa mẹ lên báo đó!”. Bà già chắp hai tay khẩn khoản: “Xin cô đừng đăng lên báo, xấu hổ lắm cô ơi!”.
Ngày 31/3/1998, TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử vụ án làm hàng giả. Bị cáo là dược sĩ, liên kết với công ty Dược phẩm tỉnh Đ. sản xuất thuốc vệ sinh phụ nữ Gynofort. Bị cáo khai: theo hợp đồng, công ty chịu trách nhiệm tư cách pháp nhân, bị cáo cung cấp vốn, sản xuất, và bao tiêu sản phẩm. Sau một năm - lúc đó hợp đồng hết hạn, và công ty Đ. đã đổi tên - các hiệu thuốc mà bị cáo ký gởi đã trả lại số thuốc tồn đọng, hết “đát” sử dụng. Giá một chai thuốc là 2.300 đồng. Bị cáo mang thuốc về lọc bỏ cặn, pha thêm hương liệu, tái chế, vẫn sử dụng nhãn cũ của công ty Đ., mang đi bán được 160 chai, thì bị bắt.
Có hai yếu tố đủ để kết luận bị cáo phạm tội làm hàng giả sử dụng nhãn hiệu (cũ) của công ty khi hợp đồng đã hết hạn và thuốc kém chất lượng. Tuy nhiên, ngồi nghe chị khai trước phiên tòa, tôi rất băn khoăn. Thuốc Gynofort có hai chất chính là đồng sulfat, để chống nấm, sát trùng và acid boric có tác dụng điều hòa độ pH, hạn chế độ phèn trong trường hợp nguồn nước sử dụng có nhiều phèn. Những chai thuốc tái chế sau này, cơ quan kiểm nghiệm kết luận thuốc không đạt chất lượng vì thiếu mất acid boric. Chị nói chất chính của Gynofort là đồng sulfat, còn acid boric chỉ là chất phụ. Chị còn nói đối với mặt hàng thuốc sát trùng ngoài da, cứ áp dụng theo quy định chung thì thời hạn sử dụng là một năm nhưng trong Gynofort, đồng sulfat vẫn còn tác dụng. Điều thứ hai làm tôi suy nghĩ là những chai thuốc mà chị đem về “làm giả” cũng chính là sản phẩm của chị chớ không phải của ai khác.
Giờ nghị án, ôm con, đứa con nhỏ vừa mới được người nhà cho chạy lại bên mẹ, nước mắt chị ràn rụa. Tôi nói với chị nếu như chị cho rằng thuốc chị tái chế vẫn có tác dụng sát trùng tốt, thì chị nên chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm. Chị hỏi tôi làm công việc gì? Tôi nói: “phóng viên”, chị im lặng hồi lâu rồi thốt lên: “Em khổ sở vì các báo. Năm ngoái, báo nào cũng đưa tin vụ án này, rồi viết trong mục ‘Gương mặt đen’.”
Dược sĩ làm thuốc giả! Trăm người như một chắc chắn sẽ lên án. Tôi cũng vậy, nhưng “tôi” trước khi dự phiên tòa và sau khi dự phiên tòa, đã khác nhau. Sau phiên tòa, tôi được biết về đồng sulfat và acid boric, nghe việc chị gom góp hơn 40 triệu đồng để đầu tư sản xuất, tiền chôn vào đó, hàng không bán được, hết “đát”, tâm lý tiếc của, cố vớt vát đồng vốn, dù biết việc mình làm là sai. Sau phiên tòa, cách nhìn nhận về “tội” có thể không khác trước, nhưng khác khi nhìn nhận con người.
A. giết người, B. cướp của, C. làm hàng giả, D. gây rối trật tự công cộng v.v... Những con người đã phạm tội, thậm chí tội ác, nhưng đó chỉ là một đoạn đời, một vết nhơ. Thậm chí nhiều vết nhơ đi nữa. thì cuộc đời họ vẫn còn có biết bao nhiêu thứ khác - mà có thể tôi, anh, chị, chúng ta... chưa được biết, còn tình yêu thương, còn ý thức danh dự, còn lòng tư trọng, còn lòng tin ở sự khoan dung và công bằng của con người.
-----------------------------------------
[1] Ngày 21-06: Ngày Nhà báo Việt Nam.

📎 10
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.02.2014 08:29:31 bởi casau>
Cái chết của một người tù
 
Bùi Thanh Liêm tát tới tấp vào mặt một tù nhân đang nằm co ro trong góc buồng giam.
- Đôi dép của tao đâu hả, thằng chó?
- Tôi lỡ làm mất rồi, để mai mốt tôi sẽ đền lại cho anh!
- Chừng nào mày mới đền hả? Đ.M. mày, dám giỡn mặt với tao hả? Mày hẹn trả tao mấy lần rồi?
Người bị đánh nói trên tên L.V.N., là tù nhân cũ của buồng giam số 7, vừa được chuyển từ buồng 4 trở về. Vì phải ra tòa, nên N. đã hỏi mượn của Liêm đôi dép Lào. Sau đó N. đã làm mất, có hứa trả Liêm nhưng chưa làm được. Hùng và Huy, trưởng và phó buồng giam 7, bước đến đánh, đá vào người N. N. ôm bụng nôn thốc tháo. Huy chộp cổ người tù. “Mày phải liếm hết chỗ ói này vô bụng mày. Mau lên!” Cứ mỗi giây chần chừ là N. nhận thêm một cú đấm, đá. May thay, lúc đó có tiếng mở cửa buồng. Cán bộ quản giáo đến kiểm tra buồng. Tù nhân lần lượt đứng vào hàng. Riêng N. vẫn nằm co ro. Huy sấn lới: “Thằng kia, mau ra xếp hàng!”. N. mệt nhọc đáp lại: “Tôi đứng dậy không nổi!”. “Dậy mau, mày đừng có giả bộ bệnh!”. Huy, Liêm đánh đá nhiều cái vào người N. Hùng, trưởng buồng giam, bước tới dùng chân đá mạnh vào ngực, vào cổ N. Huy nhảy tới nắm cổ N. lôi dậy, đẩy vào hàng. N. thét lên đau đớn. N. đã bị gãy xương cố.
Những điều vừa mô tả nói trên diễn ra một buổi chiều tháng 7/1992 lại buồng giam số 7, trại giam Mạc Đỉnh Chi, Công an Quận 1 - chỉ là những điều tôi hình dung qua bản cáo trạng, lời khai của các nhân chứng và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày 8/3/1996 [1], TAND Thành phố Hồ Chí Minh. Thực tế có thế còn dã man hơn gấp nhiều lần. Chiều hôm đó, theo luật sư V., sau khi bị vết thương chí mạng, L.V.N. còn cố gắng vùng chạy lên lầu để kêu cứu bộ phận quản giáo. Nhưng đã quá muộn. L.V.N. chết trong đêm. Kết quả giám định pháp y cho thấy nạn nhân bị gãy sụn giáp, tổn thương các mô quanh hạ hầu, gây khó thở kéo dài, khiến nạn nhân chết vì suy hô hấp.
Trước đó, có lẽ do cảm nhận được mối nguy hiểm đe dọa nên L.V.N. đã kêu cấp cứu mấy lần để xin được chuyển buồng giam, nhưng y tế khám không thấy triệu chứng gì nguy hiểm nên N. đã được trả lại buồng giam 7. Cuối cùng N. đã không thể tránh khỏi cái chết thảm khốc.
Cha của nạn nhân L.V.N. - một người đàn ông nhỏ thó, đến tòa trên đôi nạng gỗ, nói rằng con ông từ nhỏ tới lớn chưa bao giờ làm điều gì sai trái, chỉ có lần này do nhà nghèo quá, con ông đã cãi lời cha mẹ mà phạm tội. Một bản lý lịch trong sạch, ngược hẳn lại với lý lịch dày dặc tội phạm của ba hung thủ: Nguyễn Đình Huy 4 tiền sự, 1 tiền án, Tạ Nguyên Hùng 6 tiền sự, 3 tiền án, và Bùi Thanh Liêm 7 tiền sự, 1 tiền án. Rải rác trên báo chí đó đây đã có đề cập đến nạn “đại bàng” hành hạ tàn bạo, dã man đến chết các tù nhân nào không tuân phục chúng. Tù nhân cũng năm, bảy đường. Trên thực tế, có những người sau thời gian bị giam giữ đã được Tòa án xét xử, tuyên bố vô tội. Sẽ đau xót biết dường nào nếu như chẳng may một người vô tội bị rơi vào tay của bọn “đại bàng”!
Nguyễn Đình Huy: tử hình, Tạ Nguyên Hùng: tử hình, Bùi Thanh Liêm: chung thân. Vị đại diện VKSND giữ quyền công tố tại tòa đã giữ nguyên đề nghị của mình, cho dù các luật sư đã có nhiều ý kiến tranh luận lại rằng so với hành vi phạm tội của các bị cáo thì khung hình phạt khoản 1 (Điều 101- Bộ Luật Hình sự về tội giết người) là quá nghiêm khắc. Ông nói ông hoàn toàn đồng ý với các luật sư, rằng các bị cáo hành động không có tổ chức và bàn bạc trước, không phải vì động cơ đê hèn, hành vi đánh người của bị cáo Liêm không thể dẫn tới cái chết cho nạn nhân N., v.v... điều khiến ông đề nghị khung hình phạt cao nhất - mà ông đã nhấn đi nhấn lại nhiều lần - là bởi tính côn đồ của các bị cáo. Hội đồng xét xử cũng đã tuyên mức án tử hình hai bị cáo Huy, Hùng; chung thân cho bị cáo Liêm. Một bản án quả là có nghiêm khắc (như các luật sư đã nói), một sự nghiêm khắc cần thiết, nhưng muộn màng. Vị đại diện Viện Kiểm sát trong phần luận tội có nói hành động của các bị cáo thực chất là hiện tượng “đại bàng”, rải rác còn có ở các trại giam. Luật sư T. nói bà rất căm phẫn chuyện “đại bàng”, và nêu thắc mắc tại sao cán bộ trại giam (lúc đó) lại cử những người có nhân thân quá xấu vào việc trông coi trật tự các buồng giam, để xảy ra tình trạng trên? Liệu bản án nghiêm khắc này có ngăn cản được nạn “đại bàng”, hay phải có một biện pháp từ gốc? Tôi nhớ hoài lời nói cuối cùng của bị cáo Huy trước phiên tòa, xin cho được sống. Lời tự bào chữa của con người đã có hành vi tàn ác dường ấy, nghe cũng vẫn cứ thấy nao lòng. “... Bị cáo được sắp xếp đưa lên làm phó buồng, để ổn định trật tự trong buồng. Nếu bị cáo làm đúng trách nhiệm với cán bộ quản giáo thì không được lòng tù nhân. Còn làm không đúng trách nhiệm thì bị còng giò, bị đưa đi biệt giam. Trước khi nhận việc, cán bộ quản giáo đã nói trước: ‘Mày để cho tụi nó đánh lộn, gây mất trật tự trong phòng là mày chết’. Bị cáo cũng là con người, không thể nào bị cáo đối xử với anh N. bằng thú tính được. Bị cáo không bắt anh N. liếm chất ói ra. Do bị cáo làm đúng trách nhiệm với cán bộ quản giáo, không được lòng anh em, nên anh em muốn lợi dụng dịp này để giết bị cáo thôi. Bị cáo là thanh niên, tính nóng nảy. Khi cán bộ quản giáo kiểm tra buồng, bị cáo kêu N. vô hàng ba lần, N. không vô. Nếu N. không vô, bị cáo sẽ bị quản giáo khiển trách, khi bị cáo quay lên để báo cáo với cán bộ quản giáo thì anh N. bỏ chạy, vì thế bị cáo mới chạy theo, nắm cổ lôi lại.... Xin cho bị cáo được sống để trở về với gia đình...”
Ai cũng thấy rằng bản án tử hình dành cho các bị cáo là quá nghiêm khắc, nhưng hình như mọi người đều đồng tình. Vì người ta cảm nhận được qua bản án rằng luật pháp đang đòi hỏi cho dù ở một nơi tận cùng xã hội như nhà giam đi nữa, cũng không thể là nơi dành cho sự phát triển của tội ác. Nhưng vẫn còn đó một câu hỏi: Điều gì đã khiến cho các bị cáo, những người đã nhiều lần phạm tội không sửa chữa, đang bị giam giữ để thi hành án, lại có điều kiện để phạm thêm tội mới, lại là tội ác lớn nhất, là tội giết người? Nếu không giải quyết được vấn đề này, thì liệu những bản án dành cho các “đại bàng” cho dù nghiêm khắc bao nhiêu đi nữa, sẽ có được bao nhiêu tác dụng?
-------------------------------------------
[1] Ngày 8/3/1996, TAND Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án. Sau đó, các bị cáo kháng cáo, Tòa phúc thẩm, TAND Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm, đã tuyên hủy án sơ thẩm do sai phạm tố tụng. Trong thời gian đó, tạm giam ở trại Chí Hòa, Hùng đã đánh nhau với phạm nhân tên Nh. ở cùng phòng giam. Ngày 7/ 8/1997, trong lúc Nh. đang nằm ngủ, Hùng đã dùng lưỡi lam rạch nhiều nhát vào mặt, đùi, tay... của Nh. Ngày 24/3/1998 TAND Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại vụ án, tuyên án tử hình đối với Nguyễn Đình Huy, Tạ Nguyên Hùng và án tù chung thân đối với Bùi Thanh Liêm.

📎 11
0
Vị đắng của nước yến
 
Mới bắt đầu, phiên tòa đã có sự kiện: Khi tòa hỏi ai là người đại diện công ty Dona Newtower [1] (nguyên đơn dân sự)? Những người đàn ông ngồi ở đầu bàn người này đẩy người kia, cười cười - mà theo lời bình của vị luật sư là “giống như chuyện giỡn chơi”. Cuối cùng, ông Phó tổng giám đốc người Hồng Kông, phụ trách về... kỹ thuật, đứng lên. Sự kiện này đã buộc luật sư Trương thị Hòa, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị cáo Đặng Minh Hoàng, phải có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xác định xem ông Phó tổng giám đốc có được sự ủy quyền hợp pháp hay không?
Nguyễn Hữu Hân, Đặng Minh Hoàng và Nguyễn Dân, ba thanh niên đứng trước vành móng ngựa phiên tòa chiều 26/6/1997, vốn là ba nhân viên tiếp thị của công ty Dona Newtower, bị truy tố tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN”. Họ đã tự động giảm giá bán nước yến, nước sâm Cao Ly từ 10.000 đồng đến 13.000 đồng mỗi thùng, hoàn toàn không được sự đồng ý của công ty. Bán lỗ nhưng tiền nộp về công ty vẫn phải đủ theo giá quy định, nên họ phải lầy tiền đợt sau bù vào đợt trước, hậu quả là sau 8-10 tháng, số tiền thâm thụt lên tới trên 40 triệu đồng cho mỗi người.
Thoạt đầu, tôi đã không thể hiểu nổi tại sao ba nhân viên tiếp thị kia lại có những hành động kỳ cục như vậy, trong khi họ đều là những người có trình độ, am hiểu vấn đề, nói năng lưu loát, lý luận lôgích... trước tòa. Đồng ý là việc gì cũng có lý do của nó, họ khai đã tìm hiểu thị trường lúc đó, chỉ có cách giảm giá thì mới bán được hàng, mà có bán được hàng thì mới giữ được việc làm... thế nhưng tại sao họ không nghĩ tới số tiền bán lỗ mà chính họ sẽ phải trả cho công ty, chứ không thể trốn đi đâu được?
Cuối cùng rồi tôi cũng hiểu. Các bị cáo khai công ty thông báo cho họ biết trong một tuần lễ đầu, mỗi ngày phải khai thác được ba điểm bán hàng thì mới được công ty nhân vào làm việc. Họ sẽ trải qua hai tháng thử việc, được hưởng lương 90 đô-la Mỹ, cộng với tiền phụ cấp 45 đô-la nữa. Sau đó, sẽ được ký hợp đồng làm việc chính thức với những chế độ quyền lợi theo thỏa thuận. Thế nhưng cả ba người làm hoài chẳng thấy được tuyển dụng chính thức, lương thì theo chủ trương mới sẽ khoán theo doanh số, chẳng một xu phụ cấp. Và tất cả họ đều không có hợp đồng lao động, tất nhiên. Chính việc công ty không thực hiện các lời hứa của mình - theo lời của luật sư Hòa, đã hướng các bị cáo đi tới sai phạm trên. (Sau đó, trong khi chờ Hội đồng xét xử nghị án, Hân, mắt rơm rớm, đã nói với tôi rằng chính vì tin là sẽ được tuyển dụng nên họ đã mạnh dạn chấp nhận lỗ bước đầu, chờ sau đó, khi thị trường tiêu thụ đã có, giá cả đã ổn định - bằng chứng là hiện nay giá cả đã ổn định - họ sẽ lấy phần thu được để bù lại).
“Công ty có chủ trương không ký hợp đồng lao động với nhân viên không?” tòa hỏi đại diện công ty Dona Newtower. Ông Phó tổng giám đốc trả lời “Không!”. Tòa: “Thế tại sao các bị cáo này đều không được ký hợp đồng lao động?”. Ông Phó tổng giám đốc: “Điều đó tùy thuộc vào phẩm chất cá nhân”. Ông khoát tay ra hiệu cho tòa thấy là những người ngồi phía sau ông đây rất nhiều - là nhân viên của ông, không có hợp đồng lao động nhưng đâu có làm như ba bị cáo này? Tòa hỏi công ty có quy định thời gian thử việc là bao lâu không? Ông nói không quy định cụ thể. Tòa cho ông được chỉ một nhân viên bất kỳ để tòa hỏi về thời gian thử việc, mới đầu, ông chỉ ông phó chi nhánh, sau đó, ông mới gọi một nhân viên tiếp thị. Anh này khai rằng làm cùng thời với những bị cáo nói trên, nhưng thử việc kéo dài cho tới 4/1996, anh mới đước ký hợp đồng lao động.
Trong phần bào chữa, luật sư Hòa nói tháng 10/1995 - tức khoảng ba tháng sau khi làm việc, những bị cáo này đã làm đơn kiến nghị nhưng công ty vẫn không trả cho họ khoản phụ cấp tiền hao mòn xe, tiền đổ xăng và cơm nước v.v... như đã thỏa thuận. Luật sư cũng nói Luật Lao động quy định rõ thời gian thử việc ngay cả đối với những công nhân kỹ thuật cao cũng không được quá 60 ngày. Trong khi đó, tại công ty, thời gian thử việc kéo rất dài, tới cả năm trời. Công ty lại có những quy dịnh khắc nghiệt như không mặc đồng phục: trừ lương; đi trễ: trừ lương; không xuất bán hàng được trong hai ngày liên tục: trừ lương... Trong khi Luật Lao động của ta ghi rõ nghiêm cấm việc trừ lương. Tại sao bộ Luật Lao động của ta không với tới được nơi này?...
“Công ty đã lợi dụng sự không kiểm soát nổi của ta để vi phạm Luật Lao động. Những bị cáo này phải ra tòa, còn công ty - ở thế chủ động về kinh tế, thì không bị xứ lý gì hết...” Luật sư nói. Trong phán tuyên án, Hội đồng xét xử đã nhận định: “Công ty Dona Newtnwer có nhiều vi phạm trong quá trình sử dụng lao động, kiến nghị các cơ quan chức năng tỉnh Đồng Nai tiến hành thanh tra, gửi kết qua cho tòa trong thời hạn 30 ngày”. Người nghe cũng thấy đỡ ấm ức.
Bản án 4 năm tù (cho Hân, Hoàng), 3 năm tù (cho Dân) thỏa đáng đối với số tiền mà họ làm thất thoát (dù là liên doanh, vốn nước ngoài 64%, nhưng tài sản vẫn là tài sản XHCN). Nhưng nếu những cơ quan liên doanh nước ngoài tha hồ hành xử bất công đối với người lao động mà không bị xử lý gì, thì làm sao có sự công bằng?
Trong tôi còn đọng lại hai khoảnh khắc: một là lúc vị hội thẩm nhân dân nhắc nhở ông Phó tổng giám đốc rằng “Nhận xét về công nhân VN dưới quyền là việc của ông, nhưng tòa nhắc ông không được đánh giá người VN xấu hay không xấu, việc các bị cáo này có tội hay không có tội, tòa sẽ đánh giá”. Hai là lúc tòa hỏi ông Phó tổng giám đốc về việc bồi thường. Ông yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho công ty toàn bộ số tiền mà họ làm thất thoát. Chủ tọa phiên tòa nói trong số tiền đó có phần do bán lỗ (khoảng 57 triệu đồng), chứ các bị cáo không chiếm đoạt, vì vậy, “theo tinh thần của người Việt Nam” - thẩm phán nhấn mạnh là cái này ông nói thêm thôi - “công ty không xem xét gì vấn đề này hay sao?” Sau khi ông chủ tọa giải thích hai lần, ông Phó tổng giám đốc vẫn nói do công ty không đồng ý bán lỗ, nên các bị cáo phải bồi thường toàn bộ.
Đành phải chờ 30 ngày thôi.
--------------------------------------
[1] Liên doanh giữa nhà máy Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Nai và công ty Newtower Development Limited Hồng Kông, chuyên sản xuất kinh doanh nước giải khát như nước yến ngân nhĩ, nước sâm Cao Ly v.v...

📎 12
0
Cô gái trong giờ nghị án
 
Tòa tuyên bố tạm nghỉ để vào nghị án. Bị cáo Nguyễn văn P. được giải vào hành lang bên hông phòng xử án ngồi chờ. Một cô gái trẻ bước đến nhìn vào hành lang rụt rè một lúc, cô nói với người công an áp giải phạm nhân, xin phép gặp bị cáo P., giọng miền Bắc rất nhỏ nhẹ. Anh công an không cho. Cô đứng tần ngần một lát. Nội quy không cho phép người nhà được tiếp xúc bị cáo tại phiên tòa, nhưng các công an áp giải thường cho gặp đôi phút vì thông cảm. Nhưng cô gái này không phái người nhà của bị cáo, ngược lại, cô là em ruột của nạn nhân, người đã bị P. giết chết. Vì thế người công an không cho cô gặp, có lẽ anh e ngại cô gái có hành động càn quấy gì chăng? Cô gái cứ ngần ngừ, chưa chịu bỏ ý định. Khi cô trở lại hành lang lần nữa, tôi hỏi cô định gặp bị cáo để làm gì, hỏi nửa đùa nửa thật rằng cô “có định mắng chửi gì không?”, còn anh công an thì nói “không được xúc phạm bị cáo nhé?”, cô gật đầu lia lịa: “Không, không, em không xúc phạm đâu, em chỉ muốn nói chuyện cho anh ấy biết thôi mà”.
Tôi quan sát cô gái. Tuổi chừng hai mươi, hai mốt, mặc bộ vest nhẹ màu đen, nét mặt xinh xắn. Cô gọi bị cáo một điều “anh ấy”, hai điều “anh ấy”. Tôi tò mò quá. muốn biết xem cô gái nói với bị cáo những gì? Người như cô chắc không thể làm những chuyện hoặc nói những lời thô lỗ, nhưng chắc chắn cũng không phải những lời tâm tình. Tiếc là giọng cô gái quá nhỏ, ngồi gần bên nhưng tôi chỉ nghe loáng thoáng, tiếng được tiếng mất.
Nauyễn văn P., sinh năm 1971. quê Hải Dương, vào thành phố Hồ Chí Minh năm 1996, tạm trú tại quận 11, làm nghề đạp xích lô. Theo lời khai tại phiên tòa, 14 giờ - ngày 22/4/1997, P. chở anh H.M.H. đi từ Ngã tư Bảy Hiền đến Hương lộ 2, giá thỏa thuận là 7.000 đồng. Khi đến nơi, anh H. chỉ trả 2.000 đồng. P. đòi thêm nhưng anh H. không chịu, đút tiền trở lại vào túi rồi bỏ đi. Vì thế P. tức giận, cầm thanh gỗ để sẵn trên xe rượt theo đập vào đầu, vào lưng anh H., khiến anh chết trên đường đi cấp cứu. Nội vụ đơn giản, phiên tòa (ngày 29/12/1997) diễn ra khá nhanh. Rõ ràng nạn nhân là người có lỗi. Tôi có cảm giác mọi người đều thông cảm cho bị cáo, và khi bị cáo nói lời cuối cùng trước khi tòa vào nghị án: “Bị cáo làm việc khổ lắm mới ra được đồng tiền, mà anh H. không chịu trả tiền cho bị cáo...”, thì hình như người ta còn thấy tội nghiệp cho bị cáo nữa. Tòa xử Nguyễn văn P. 10 năm tù (P. bị xét xử theo khoản 2, điều 101, Bộ Luật Hình sự, trong đó quy định mức hình phạt từ 5 năm đến 20 năm tù).
Tôi đuổi theo, gặp được cô gái tại sân tòa án khi cô chuẩn bị ra về. Cô tên C.N., làm việc tại phòng tổ chức công ty dệt VT. N. cho biết bố mẹ cô (đang ở Hà Nội), có ba con nhưng một anh trai của cô đang sống ở nước ngoài, còn anh H. - năm 1971, bằng tuổi bị cáo P. - chỉ mới vào thành phố mấy tháng, đang học nghề tại một xí nghiệp dệt bao bì. Hai anh em rất thương nhau, C.N. khóc khi nói, là anh trai, nhưng những lúc thấy cô làm việc mệt, anh H. còn giặt quần áo cho cô. Chưa bao giờ anh H. có hành vi càn quấy. Cô không tin rằng anh của cô lại đi quỵt tiền xe. Cô nói bị cáo đã nói dối để được nhẹ tội. “Em bao giờ lại chẳng bênh anh”. Tôi hỏi cô có cơ sở nào để nói chắc như vậy, C.N. nói hôm đó H. đi ăn đám giỗ. theo lời khai của bị cáo P., thì có lẽ H. định đi xe về nhà người chị họ ở Hương lộ 2, nhưng chỗ anh xuống xe - và xảy ra án mạng, lại là ngay trước cửa xí nghiệp nơi anh học nghề. Do đó, cô suy đoán do thấy trễ giờ học nên anh H. đổi ý không về nhà nữa mà đi học luôn. Như vậy, xích lô chỉ mới đi hơn nửa đoạn đường, anh H. không chịu trả 7.000 đồng là có lý do. Một chi tiết quan trọng nữa mà C.N. cho biêt là P. khai anh H. đưa cho bị cáo 2.000 đồng, nhưng khi C.N. được công an điều tra mời lên thông báo sự việc, thì cô được biết trong túi quần của anh cô chỉ có các loại giấy bạc 5.000, 10.000 và 20.000 đồng. N. nói: “Anh ấy (chỉ bị cáo P.) nói không đúng, dù gì đi nữa thì anh của em cũng đã chết rồi, có phạt tù anh ấy nhiều hơn thì anh H. cũng không thể sống lại được nữa. Em chỉ muốn nói để anh ấy hiểu, rằng anh ấy đã không thật lòng”. “Nhưng để làm gì”, tôi hỏi. “Em chỉ thấy mình cần phải nói thế thôi. Hy vọng thời gian ở trong tù, anh ấy sẽ suy nghĩ thêm và trở thành người tốt khi ra tù”.
Chia tay C.N., tôi thật lòng quý mên cô, cho dù sau này gia đình cô có làm đơn kháng cáo [1]. Lần đầu tiên tôi chứng kiến trường hợp người nhà nạn nhân trò chuyện với thủ phạm không bằng sự căm giận, ghét bỏ. Nếu người tù biết suy nghĩ anh ta sẽ chỉ có một cách duy nhất là trở thành người tốt. Cái chết phi lý của một thanh niên ở độ tuổi trẻ trung quá xót xa nhưng dù sao cũng là việc đã rồi. Cuộc sống thuộc về những người ở lại. Tội ác được hóa giải không chỉ bởi sự trừng trị của luật pháp mà còn ở tình người.
-----------------------------------------
[1] Ngày 25/6/1998, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm vụ án, tăng mức hình phụt của bị cáo P. từ 10 năm lên 15 năm tù.

📎 13
0
Qua song sắt nhà giam
 
Khi tôi vào được phía trong trại giam Chí Hòa thì đã đến đợt thăm nuôi cuối cùng trong ngày. Trời chuyển mưa, mây đen kéo về vần vũ cả một góc trời như muốn làm tăng thêm vẻ u ám cho lúc cuối ngày. Cái gì vào phút cuối cũng giống nhau: hối hả, chộn rộn. Tuy vậy, những người thăm nuôi vẫn an ổn đợi chờ, họ biết rằng đã xin được phép rồi thì sớm hay muộn gì họ cũng sẽ gặp được người thân.

• Đây là lần đầu tiên tôi đến nơi này và phải vào bằng cách “quá giang” một bà mẹ thăm nuôi con. Chúng tôi đến đây từ một giờ rưỡi trưa, thông qua hai trạm gác. Trạm đầu là nơi làm thủ tục thăm nuôi. Đã có sẵn hàng trăm người tới trước, túc trực ở phòng đợi, đứng ngồi lũ lượt. Nắng gay gắt. Mồ hôi nhễ nhại trên mặt những người đang sốt ruột vì đợi chờ, và trên mặt người công an mặc sắc phục đang ra sức hét vào loa gọi tên từng người tới lượt, với một giọng nhã nhặn lạ lùng. Bà mẹ ra sức chen vào đám đông. Nộp giấy theo thứ tự, mua đơn, làm đơn, chờ đợi... Tất cả những việc ấy được bà thực hiện hết sức thành thạo. Cũng phải thôi, bởi động tác đó bà đã làm đều đặn suốt tám năm qua kể từ ngày con bà bị bắt giam.
Trước khi bắt đầu vào trạm gác thứ hai, là khu vực gặp mặt, gởi đồ, bà mẹ ngồi xổm xuống nền nhà. Bà bắt đầu lôi từ trong chiếc giỏ ni-lông cũ kỹ ra mấy gói kẹo rẻ tiền rồi, trước con mắt ngỡ ngàng của tôi, bà giở áo nhét gói kẹo vào lưng quần, ngượng nghịu giải thích: “Như vầy mới qua được trạm gác!”.
• Nơi dành để tù nhân gặp mặt người thân được thiết kế như một chiếc hộp dài mà một đầu được đặt nối với cửa khu nhà giam. Hai bên “chiếc hộp” là những ô cửa nho nhỏ để người tù đứng bên trong có thể tiếp xúc với người bên ngoài. Đã có nhiều đứa bé được mẹ đưa chui tọt vào trong qua ô cửa nhỏ này để rồi sau đó, người cha tù ôm hôn, nựng nịu con không thể nào rời.
Lúc chúng tôi vào tới khu vực này, ở các cửa hàng bán lương thực, thuốc men và ở bàn gởi tiền cho tù nhân, người ta vẫn đang chen chúc. Bà mẹ đi cùng với tôi đang lôi từ trong bụng ra những món đồ cất giấu lúc nãy, hớn hở vì đã qua mặt được trạm gác. Những món đồ của bà trông thật nao lòng: hai bịch con ruốc khô - loại 200 đồng một bịch, được ngụy trang cẩn thận dưới hai miếng giấy các-tông, hai bịch bột gạo lứt, hai gói kẹo, một miếng sườn ram mỏng dính, một nhúm thịt chà bông. Còn trái hồng và trái mãng cầu được giấu trong ca đựng nước. Ngoài ra, còn có một bịch nước rau má mà bà xuýt xoa là hồi nãy đi vô vội quá, quên pha đường. Nhưng đâu đã hết! Bà còn chạy lại cửa hàng mua thêm năm gói mì ăn liền, vội vội vàng vàng đi gởi đồ, rồi lại chạy qua sắp hàng để chờ gởi tiền. Bà nói: “Tội nghiệp, nó ở trỏng ăn không có chất mà lại ăn chay nữa. Lần thăm trước, đang nói chuyện thì nó bị xỉu, mấy ông cán bộ phải khiêng nó vô giùm!”
• Tôi đi một vòng nơi những tù nhân đang gặp gỡ người thân. Nơi đây hẳn nhiên nước mắt có nhiều, của người bên trong lẫn người bên ngoài song sắt. Đây lại là một bà mẹ, cũng dáng người tất tả như bà mẹ trước. Hai mẹ con đang cùng khóc. Cô con gái chỉ mới 24 tuổi, mắt sưng húp. Chưa nói được bao nhiêu, bà đã vội đi gởi tiền cho con vì sợ hết giờ. “Cô ấy bị tội gì vậy bác?” Bà buông một tiếng gọn lỏn: “Hụi!”. Rồi giải thích thêm: “Bể hụi, người ta thưa, công an bắt!”. “Chắc số tiền phải lớn lắm?”. Bà vừa tất tả đi, vừa nói: “Hơn hai trăm triệu. Nó ăn xài một mình, không đem về được một cắc. Bây giờ nó tù tội, mình không lo cho nó thì ai vô đây?”
Lại một bà mẹ nữa, lưng còng xuống, có vẻ mỏi mệt lắm. Cao lớn, mặt chữ điền, mang kính cận. trông vững chãi, bình tĩnh, lạ lùng thay, người con trai ở trong song sắt vẫn như là chỗ dựa của mẹ. Anh đang nắm tay mẹ, an ủi: “U về lo việc bán nhà đi. Cứ như con đã bàn ấy. Đừng lo lắng cả, rồi con sẽ về mà!”
• Bà mẹ cho tôi “quá giang” đã gởi xong đồ thăm nuôi, giờ đang ngóng mắt về cửa nhà giam. Đây là đợt thăm cuối cùng. Thăm cuối cùng có khi được cho thêm mấy phút - “bí quyết” đó bà rút ra được từ những chuyến thăm nuôi triền miên từ tám năm qua. Hai mẹ con nói chuyện gì với nhau nhỉ? Người tù 32 tuổi, da xanh rớt, mấy cái răng hư xệu xạo, cười khi nghe mẹ dặn muốn ăn mì gói phải lấy nước sôi, đừng ăn nước lạnh. Anh nói: “Cái gì cũng xài nước lạnh không hà mẹ ơi. Ở tù làm gì có nước sôi!”. Bà mẹ kể với nụ cười sung sướng, hồn nhiên như trẻ thơ rằng bà mới “sắm” được một sạp hàng nhỏ bán bánh kẹo cho trẻ con trong xóm. Cứ hễ bán được mười lăm, hai chục ngàn là bà lập tức mua hàng mới về, không dám để lâu sợ xài hết tiền. Bà còn kể chuyện từ khi bán hàng tới giờ, thật lạ là không thấy con H. đưa hai đứa nhỏ về chơi, nhớ muốn chết. Hỏi, nó nói sợ đưa tụi nhỏ về, tụi nó ăn hết bánh làm bà ngoại cụt vốn...
• Đợt thăm nuôi cuối cùng đã hết. Trời đã hoàng hôn. Anh cán bộ đẩy nhẹ vào lưng người con: “Thôi, về trại thôi C., trễ rồi!”. Đám đông chia thành hai, những tù nhân lũ lượt quay về trại, còn người nhà của họ cũng tất tả trở về với những mối lo toan của gia đình. Mỗi một người trong số những tù nhân can một cái tội nào đó: giựt hụi, giết người, chiếm đoạt tài sản... Họ đã hoặc sẽ ra tòa, bị kết án, bị cách ly xã hội. Phạm tội thì phải bị trừng phạt, đó là luật, là lẽ công bằng; nhưng lẽ công bằng cũng cho họ được quyền còn có những người thân, còn có những cuộc gặp gỡ đàng sau song sắt. Sẽ ra sao nếu như họ không có ai để mà gặp, không có nơi để mà về??? Gia đình đừng bỏ họ! Bởi bản thân sự thiếu tình thương và thiếu sự cảm thông cũng sẽ là một sự đọa đày khủng khiếp.
Tôi nhận ra điều ấy khi đến hết đợt thăm nuôi cuối cùng, tôi vẫn còn trông thấy một người tù còn trẻ lắm, đứng bất động trước cửa vào khu trại giam. Không có ai thăm. Đôi mắt buồn bã khôn xiết.

Tháng 10/1994

📎 14
0
Bà già người Hoa và tổ dân phố 20, 21
 
Tôi muốn viết về một bà già người Hoa, mù chữ, nghèo đến mức phải đi nhặt rau cải sâu, thúi ở chợ cầu Muối về ăn, thuộc diện phải cứu đói thường xuyên, nhưng không hề tham lam, dù một miếng củi rơi, và bà cũng dạy con cháu sống theo đạo nghĩa như thế. Ấy vậy mà con người ấy, ngày 25/11/1997, đã bị trục xuất ra khỏi căn nhà mà bà đã tự tay dựng lên, đã ở đó tròn 25 năm - và có đã thứ giấy tờ chứng minh.

Người bị thi hành án được nhân dân thương mến
25/11/1997, Đội Thi hành án quận Bình Thạnh đã tiến hành việc cưỡng chế, trục xuất bà Đỗ Khoan ra khỏi căn nhà số 223/10A (mặt tiền) đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 26, quận Bình Thạnh - căn nhà mà gia đình bà đã cư ngụ 25 năm nay. Cứu thương, cứu hỏa đến đầy đủ nhưng không có việc làm, không có những hành vi manh động, chỉ có tiếng kêu khóc vang trời. Bà con cư ngụ chung quanh xúm lại đông đảo, người cho tiền, người an ủi bà già, anh công an khu vực đi tới đi lui, đại diện ủy ban phường và tổ trưởng tổ dân phố không ký tên vào biên bản cưỡng chế. Một người làm cho đội thi hành án nói trong mười năm làm công việc này, anh chưa từng thấy gia đình bị cưỡng chế nào mà lại được dân chung quanh thương mến như vậy.
Ngược dòng thời gian, trở lại tháng 6/1994, TAND quận Bình Thạnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm về dân sự vụ kiện đòi nhà giữa nguyên đơn là bà Huỳnh Xây Muội và bị đơn là bà Đỗ Khoan. Theo bà Muội, căn nhà nói trên là do bà mua đất và tự cất vào năm 1971 (lúc đó bà 24 tuổi). Năm 1973, bà Muội cho gia đình người chú là ông Huỳnh Kiên và vợ là bà Đỗ Khoan ở nhờ. Theo bà Khoan, số tiền mua đất là phần thừa kế của chồng bà được vợ chồng người anh (ông Huỳnh Hội và bà Lưu Liên - cha mẹ của bà Muội) giữ hộ. Hội đồng xét xử, gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và thẩm tra chứng cứ, đã tuyên buộc bà Khoan và sáu người con phải trả nhà cho bà Muội, bà Muội phải bồi hoàn chi phí sửa nhà gần sáu triệu đồng và thỏa thuận giúp bà Khoan 5 lượng vàng để tìm nơi ở mới.
Bà Đỗ Khoan kháng cáo. Ngày 15/5/1995,TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử lần này gồm có ba thẩm phán, cũng Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ, đã xử y án sơ thẩm.
Chứng cứ chính để tòa án cả hai câp cho rằng căn nhà 223/10A XVNT là của bà Muội là hai tờ giấy viết tay. Một là tờ sang nền nhà, đề ngày 15/4/1971 do bà Muội đứng tên. Tờ giấy thứ hai là tờ giấy xác nhận ở nhờ, do bà Đỗ Khoan ký ngày 15/2/1993, trong đó, ghi nội dung bà Khoan chỉ là người ở nhờ, và đồng ý trả căn nhà nói trên lại cho bà Muội. Đây là một tờ giấy mà chúng tôi đã đi tham khảo ý kiến của nhiều chuyên viên ở tòa tối cao đều cho rằng nó không có giá trị về mặt pháp lý, nếu như không có những bằng chứng khác kèm theo. Chưa kể là theo lời bà Khoan, sở dĩ bà đánh chữ thập (vì bà mù chữ) vào tờ giấy là vì cháu bà là Huỳnh Diêu (anh của bà Huỳnh Xây Muội) nói rằng đó là đơn xin hợp thức hóa nhà cho bà, bà tin cháu, lại không biết chữ nên mới ký. Mãi đến khi ra tòa, nghe tòa đọc nội dung và nói “Bà đã ký vào đây, giờ còn nói gì nữa?” thì bà mới biết là mình bị lừa.
Sau khi tòa xử xong, bà Khoan gặp tổ trưởng tổ dân phố kêu oan ức. Người dân tại đây đã hè nhau đi tìm giấy tờ cho bà. Người lên trắc địa xin lục giấy đăng ký nhà đất, người lên ủy ban quận xin sao lại tờ khai gia đình cũ. Ngoài ra, trời xui đất khiến sao mà bà Khoan tìm được mớ giấy tờ chồng bà nhét dưới mái nhà. Kết quả là bà Khoan có những giấy tờ rất giá trị như tờ khai gia đình chế độ cũ lập năm 1973 có đóng dấu “chủ nhà”, giấy chứng nhận đã kê khai đăng ký nhà ngày 27/1/1978, biên lai thuế thổ trạch mỗi năm hai tờ, từ năm 1979 đến năm 1996... Những người hàng xóm tôt bụng đã chạy đi hỏi khắp nơi, một số luật sư, cán bộ nhân viên tòa án cũng tốt bụng tư vấn miễn phí, giúp bà Khoan làm đơn xin hoãn thi hành án, xin xem xét giám đốc thẩm... Họ đã gởi toàn bộ giấy tờ vừa tìm được, kèm theo biên bản họp tổ dân phố, trong đó hầu hết là những người đã sống ở gần nhà bà Khoan trên 25 năm, đồng xác nhận bà Khoan và chồng là ông Huỳnh Kiên đã tự tay cất căn nhà từ năm 1972 và sinh sống ở đó từ đó đến nay. Họ cũng đã chạy tới phòng tiếp dân gặp bà Đoàn Lê Hương, đại biểu Quốc hội, trưởng ban Dân vận Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Và vị đại biểu này đã có công văn gởi Chủ tịch Quốc hội, kiên nghị ông này can thiệp khẩn cấp đến Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND tối cao để kháng nghị xét xử giám đốc thẩm, nhằm “hạn chế tối đa việc xử oan cho dân”. Đồng thời bà Hương cũng gởi công văn trực tiếp đến Chánh án TAND tối cao và Quận ủy, Ủy ban Nhân dân quận Bình Thạnh, Phòng Thi hành án thành phố, Cục Thi hành án v.v... Bà con tổ dân phố cũng gom góp được bảy, tám trăm ngàn cho bà Khoan để bà làm một chuyến viễn du ra tận Hà Nội kêu oan. Thế rồi ngày 24/6/1997, bà Dương thị Thanh Mai, Phó chánh án TAND tối cao đã có công văn trả lời (cho bà Đoàn Lê Hương) rằng “Sau khi xem xét và kiểm tra chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, TAND tối cao thấy không có căn cứ pháp lý điều chỉnh lại bàn án phúc thẩm...”

Những người hàng xóm nghĩa tình
Tối 26/11/1997, khi chúng tôi đến thăm, dưới một tấm ni-lông rách cột vá víu, bà Đỗ Khoan và các con đang ngồi thu lu trên vỉa hè, ngay trước căn nhà trước đây đã từng là của bà, nay đã bị tước đoạt. Lát sau, một đám trẻ con lóc nhóc - vừa đi ăn chực ở nhà những người hàng xóm - chạy về. Mười con người đang sống vật vờ ở vỉa hè. Bên bà Muội có mướn cho bà Khoan một căn nhà nhỏ để bà ở tạm trong thời hạn ba tháng, nhưng bà không chịu dời đi. Không phải bà dám làm reo với chính quyền, chẳng qua như bà nói “Tui qua bển ở, hết ba tháng, tui không có tiền trả tiền nhà, rồi tui cũng ra đường thôi. Thà ở đây gần bà con vui hơn”. Có một đạo lý dạy bà rằng cái nào không phải của mình thì không nhận về mình, vì vậy mà bà đã dại khờ - nói theo cách mắng mỏ của những người hàng xóm - khai trước tòa rằng đất này là của anh chồng mua cho vợ chồng bà, lấy từ tiền thừa kế, dẫn đến việc tòa công nhận “đất của anh chồng” nhưng không công nhận “lấy từ tiền thừa kế”. Tối 27/11/1997, hai tổ dân phố 20-21 lại họp - phiên họp bất thường. 34 người ký tên vào đơn đồng kiến nghị xem xét lại bản án. Bà Nguyễn Kim Hoàng giáo viên về hưu, tổ trưởng tổ dân phố 20, có việc cần kíp về quê ở Bến Tre, dù già yếu, nhưng đã sắp xếp đi, về trong ngày để kịp dự cuộc họp. Bà nói: “Chúng tôi lên tiếng cho bà Khoan, là làm đúng lương tâm con người”. Bà Lê thị Hoa, tổ trưởng tổ dân phố 39, không thuộc thành phần dự họp, cũng đến ngồi ké bên ngoài. Bà là người đã cho bà Khoan 400.000 đồng, vào cái hôm bà Khoan bị thi hành án. Tuy không cùng tổ dân phố, nhưng bà nói bà rất rành sự việc vì nhà bà ở bên kia đường, và bà đã ở đây từ năm bảy hai. Bà nói: “Phải đi tới đâu để làm chứng cho bà Khoan tôi cũng đi. Tôi ở đây từ năm 1972. Hồi đó ở đây là đất ao, sình lầy. Nhà bà Khoan, nói xin lỗi, là cái chòi vịt, chòi trâu, chớ không được là nhà. Khi Mỹ làm con đường lộ phía trước, bà Khoan và chồng đi ăn cắp từng ky đất về đổ lấp nền. Hồi đó tới giờ, chúng tôi chỉ biết vợ chồng bà Đỗ Khoan, không biết, không nghe nói ai khác là chủ cái nhà này... Ông Đỗ Viết Tính, tổ trưởng tổ dân phố 21, nói: “Bà Khoan ở đây từ năm bảy hai, lúc đó là vùng đất khí ho cò gáy, đường đất đỏ, không điện, không nước. Tổ 15 cũ và tổ 21 bây giờ không ai biết bà Muội là ai, chỉ mới biết mặt bả hôm thi hành án”. Ông Đào Quang Minh, cán bộ hưu trí, ông Phạm văn Nghệ - Ủy viên Hội đồng Nhân dân phường, bà Trương thị Hạnh... đều nói rằng sau ngày giải phóng, Nhà nước đã có chủ trương đất đai là sở hữu toàn dân. Giả sử lô đất có là của bà Muội đi nữa, nhưng qua hai lần đăng ký, bà Muội đều không kê khai, không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước (thuế) thì coi như đất thuộc Nhà nước quản lý, chứ có đâu khi miếng đất trở thành tài sản có giá trị (ước tính trên 100 lượng vàng) thì bà Muội bỗng được trả lại, trong khi bà Khoan đã ở 25 năm, có đủ giấy tờ, và dù nghèo nhưng chấp hành đầy đủ nghĩa vụ thuế, thì lại bị đuổi ra đường!
Lâu lắm rồi tôi không được dự một buổi họp tổ dân phố sôi động như thế. Bà con liên tục tiếp lời nhau. Nhiều người nói những lời bức xúc. Ông Trương văn Mỹ, chạy ba gác máy, bà Nguyễn thị Năm, nội trợ kêu gọi mọi người hãy cùng khiếu nại, kêu oan phụ với bà Khoan. Ông Nghệ thì đề nghị “tập họp toàn bộ giấy tờ gởi ra VKSND tối cao để xem xét lại”. Có thể lời lẽ của các cô, các bác, các anh, chị không được văn hoa, khéo léo. Có thể bà con không có đầy đủ thông tin. Có thể bà con nói có điều thất thố... Song đều có tấm lòng chung là bảo vệ người nghèo khó, dốt nát, là mong muốn tìm một sự công bằng. Là người dưng, lại xa lạ đối với địa phương này, nhưng tôi thấy yêu mến làm sao các cô bác, anh chị ở hai tổ dân phố ấy.

📎 15
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.02.2014 23:18:28 bởi casau>
Độc thoại

Tôi độc thoại chỉ vì không có ai để đối thoại.

Một lần, tôi nhìn thấy trên lịch xét xử của tòa án ghi như sau: “Tòa hành chánh: Vụ án Nguyễn văn A., cưỡng đoạt tài sản công dân, ngày thụ lý..., ngày xét xử...; Nguyễn văn B., cố ý gây thương tích...; Nguyễn thị C. và Nguyễn thị D. tranh châp thừa kế...”. Thời gian đó, tòa hành chánh chưa xử một vụ nào. Tôi lật đi lật lại tờ lịch không thể hiểu nổi. Chẳng lẽ tất cả những vụ này đều là do những sai phạm hành chánh gây ra? Chẳng lẽ tháng này tòa hành chánh xử đến mười mấy vụ? Vô lý lắm, ấy là chưa kể nội dung những vụ án nói trên không thể thuộc lĩnh vực hành chánh. Nhưng chữ “tòa hành chánh” rành rành ra đó. Tờ lịch đánh bằng máy chữ, nếu không tôi đã cho là máy vi tính bị virút. Đem thắc mắc này đi hỏi, tôi được giải thích đó là số vụ án hình sự lẫn dân sự chia cho các thẩm phán của tòa hành chánh làm giúp. Tính đến thời điểm đó, tòa hành chánh đã xử tất cả hàng trăm vụ án dân sự và hình sự, và không có vụ án hành chánh nào! Lần nào xin gặp để phỏng vấn, ông chánh tòa - một người có phong thái dễ chịu, nét mặt lúc nào cũng như tươi cười, đều bảo “Có làm gì đâu mà phỏng vấn!”, tôi cũng nói lại, hơi đùa “Chính vì không làm gì nên mới phỏng vấn!”. Theo pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chánh, tòa hành chánh chỉ thụ lý một vụ kiện khi người đi kiện đã được cơ quan bị kiện trả lời cho đơn khiếu nại của mình. Mà các cơ quan bị kiện thì ít khi chịu trả lời. Ngay trong tháng đầu thành lập, đơn thư gởi về tòa hành chánh tới tấp, có đến hàng trăm vụ nhưng tòa hành chánh không thụ lý được vụ nào. Cho đến nay, đã một năm rưỡi, tòa hành chánh cũng chỉ mới xử vỏn vẹn hai vụ (?).
Tôi thường hay rơi vào tâm trạng có chuyện nặng lòng mà không thể chia sẻ cùng ai. Bạn bè cũng có người chịu khó nghe mình, nhưng cùng lắm chỉ nói được lời thương cảm chứ đâu làm gì hơn được? Ngay như những người bạn có liên quan ít nhiều đến công việc như người làm việc trong ngành tòa án, luật sư... cũng không thể làm gì hơn, ai cũng có những mối lo của riêng mình. Những lúc như thế, tôi còn biết phải làm gì, nếu không ngồi độc thoại? Vụ án người phạm tội ra đầu thú sau gần 17 năm là một trong những vụ mà tôi không thể chia sẻ. Anh ta phạm tội lúc 18 tuổi, cái tuổi mới bước vào đời trong một hoàn cảnh đầy khó khăn, mặc cảm. Gần 17 năm trời sống tốt, có nghề nghiệp ổn định, có gia đình hạnh phúc, anh ta đã quyết định ra đầu thú để không cắn rứt lương tâm, và cũng mong được khoan hồng. Vậy mà tòa xử anh ta tù chung thân. Người tù bị sụp đổ. Anh ta không làm đơn kháng cáo. Mẹ anh - người đã tích cực khuyên anh ra đầu thú - như muốn điên. Khi tôi buông một câu cam chịu: “Thế là hết! Không còn làm gì được nữa!”, bà mẹ nhìn tôi đầy vẻ khẩn khoản, mong đợi: “Còn chớ cô? Còn có thể xin viện trưởng VKSND Tối cao, chánh án TAND Tối cao kháng nghị để xử giám đốc thẩm...”. Tôi giả vờ như không nghe thấy câu nói của bà mẹ. Các ông đó ở quá xa, chuyện đó quá xa so với tầm tay của tôi. Không giúp được bà mẹ, tôi thấy mình như người có lỗi. Suốt đời tôi bị ám ảnh bởi ánh mắt đó!
Hồ sơ vụ án - đối với tôi - là một vùng cấm. Tôi chưa bao giờ mượn được một hồ sơ nào. Đã có đôi lần tôi cố thử nhưng không kết quả. Không ai nói “không” với mình nhưng mình không mượn được, thế thôi! Người này chỉ người kia, người kia bảo phải hỏi người nọ, và người nọ thì không gặp được. Trên nguyên tắc, hồ sơ vụ án không phải là “tài liệu mật”, người nào có trách nhiệm, hoặc công việc có liên quan đều được phép đọc. Luật sư cũng là người được đọc hồ sơ, nhưng cách đọc cũng năm, bảy đường. Có người ôm về nhà cả chồng hồ sơ phôtô, có người chỉ được phép ngồi chép rã cả tay mà còn phải bị ngồi canh. Người ta làm cho tôi có cảm giác rằng tôi đọc hồ sơ chỉ với mục đích soi mói, phê phán vậy. Nhưng giải thích đâu có ai chịu nghe. Ai ngồi phiên tòa nhiều sẽ nhận ra “câu nói này nghe quen lắm”, đó là câu các thẩm phán thường hay dùng mỗi khi có bị cáo nào phản cung, phủ nhận hoặc khai không đúng với những lời khai trước đây: “Tất cả chứng cứ đều đã có trong hồ sơ, bị cáo nên nhớ thái độ khai báo của bị cáo như thế nào tòa sẽ xem xét khi lượng hình...”. Trong khuôn khổ ngắn ngủi của một phiên tòa, dĩ nhiên không thể công bố hết những “chứng cứ có trong hồ sơ” được (mặc dù rất cần như thế trong trường hợp bị cáo phản cung), như vậy tôi chỉ nghe được một phía bị cáo, mà không cách gì “xem” phía ngược lại. Vì thế, rất nhiều vụ án đối với tôi không có sự đối thoại. Liệu rồi sẽ có những vụ án tôi viết như người mù sờ voi trong câu chuyện ngụ ngôn của người xưa, sờ được tai thì bảo voi giống cái quạt, sờ được chân thì bảo voi giống cột đình? Mà lỗi này có phải tại tôi đâu!
Tôi thường hay ngước nhìn các bức tượng thần đẹp đẽ, uy nghi đật trong tòa án thành phố. Nhìn, và suy nghĩ. Một lần, tôi đã đứng lặng hồi lâu khi nhìn thấy ba bông huệ trắng ai đó đặt trước tượng thần công lý. Một bà mẹ có con bị tuyên án tử hình, một người vợ có chồng bị tù oan, hay một người con cầu nguyện cho cha? Chỉ e bức tượng lạnh lẽo kia không cảm nhận được nỗi lòng người muốn gởi gấm vào trong đó, và cũng không thể truyền đi được. Điều mà con người có thể làm nhiều khi còn không làm được, huống gì một bức tượng, cho dù là bức tượng thần...

Tháng 1/1998
📎 15|16
0
Em ở đâu?
 
Cha của T. nói anh ta đã tìm em khắp nơi nhưng không gặp, mẹ T. cúi gằm mặt xuống khóc, từ chối tiếp xúc. Nhưng cho dù bà ta có hợp tác đi nữa, chắc cũng chẳng thể hy vọng gì được ở người đàn bà đang tâm bán con này. Hai người thân yêu nhất của T. như vậy. Giờ đây, chẳng còn ai có thể cho tôi biết làm cách nào để tôi gặp được T,- cô bé gái mới vừa bước qua tuổi 13 được ít ngày, đã bị chính người mẹ ruột ký giấy đồng ý cho người dắt mối đưa đi bán trinh.

Nhà hàng karaoke K. B, quận 8 lâu nay nổi tiếng là chốn ăn chơi. Mà không phải chơi thường! Không hẹn, nhưng nơi đây đã trở thành điểm vui chơi chủ yếu của khách Đài Loan. Trong thời buổi kinh tế thị trường, sự có mặt của những nhà hàng, khách sạn sang trọng khắp thành phố, kể cả những nơi thường được coi là hang cùng, ngõ hẻm - hay thậm chí mọc ngay bên cạnh những ngôi nhà ổ chuột - cũng không còn là chuyện lạ lùng gì. Ai có tiền thì cứ việc ăn chơi. Ai thấy khó chịu thì cũng đành để bụng thôi chứ đâu có thể phê phán than trách gì được! Phần tôi, có lẽ, tôi cũng sẽ không đề cập đến nơi chôn ăn chơi sang trọng, tưng bừng này để làm gì, nêu như nơi đây không có liên quan - dù là gián tiếp - đến việc tan nát cuộc đời của một bé gái nghèo khổ, cũng là cư dân quận 8.
Dương thị. P. [1] là tiếp viên ở đây, trong những lần phục vụ karaoke, đã được một người Đài Loan tên Lim nhờ kiếm cho một cô gái nhỏ còn trinh. Ông ta ra giá 1.000 đô-la, và 50 đô-la riêng khoản hoa hồng cho P.. Hôm sau, trong lúc ăn sáng, P. kể chuyện này cho chị dâu nghe, lúc đó, có mặt H. - mẹ bé T., là người cùng xóm. P. nói rằng mình chỉ kể bâng quơ thôi, tình cờ H. nghe được, mới nhờ P. giúp, còn H. lại nói chính P. qua nhà H. gợi ý bán bé T. và còn thuyết phục H. rằng T. còn nhỏ lắm, không làm gì được đâu mà sợ, chỉ lợi dụng hoàn cảnh để xin tiền khách thôi! Bây giờ thì chẳng ai có thể nói được trong hai người đàn bà này, ai là người nói thật. Nhưng điều đó đâu có ý nghĩa gì khi có một sự thật hiển nhiên là cả hai đã thỏa thuận việc đưa T. đi bán trinh, thông qua một tờ giấy cam kết có chữ ký của H.
Tôi cố hình dung ra tâm trạng của bé T. trong cái đêm em líu ríu theo P. bước lên chiếc xích lô đi đến địa điểm mà người Đài Loan cho trước: số.... Nguyễn Trãi, phường 3, quận 5. Cha em nói, em rất nhỏ con. Em có hình dung được những gì sẽ xảy đến cho mình hôm ấy không? Tôi chắc chắn là không, bởi cho dù có hiểu biết đến thế nào đi nữa, tôi cũng không tin một đứa bé mới bước vào tuổi 13 được mấy ngày lại có thể tự chuẩn bị về những điều đại loại như thế. Thật thương xót cho T. Theo lời kể của chính em - cha em báo lại - thoạt đầu, khi nghe mẹ nói, em không chịu. Nhưng sau đó, em đã buộc lòng phải đồng ý bởi mẹ em nói rằng nhà đang nợ nần rất nhiều, cần phải có tiền để trả, nếu em không đồng ý, mẹ em sẽ phải bán nhà để trả nợ, còn bản thân bà phải đi làm gái để kiếm sống. Có người con nào nghe mà không động lòng trước những lời lẽ thông thiết như thế của chính người mẹ rứt ruột đẻ ra mình?
Đêm hôm ấy, cái giá phải trả cho cuộc đời thiếu nữ của T. chẳng phải là 1.000 đô-la như mẹ em hăm hở. P. chỉ trao lại cho bà ta 100 đô-la và nói rằng khách chê em còn nhỏ quá, không làm được gì?! Mọi cuộc mua bán đều có khả năng gặp tráo trở. Ở đây cũng vậy. Đã gọi đích danh là một cuộc bán mua, nhưng cuộc bán mua này còn tàn bạo, tráo trở nhiều hơn. Theo lời kể của bé T., P. có mặt ngay trong phòng để “canh chừng” ông khách và em, và khi xong việc, khách đã đưa cho P. khá nhiều đô-la.
Bây giờ bé - mà không, cô (?) cũng không phải, tôi không biết phải gọi T. bằng gì, một em bé nhưng đã là người lớn. Bây giờ T. đang ở đâu? Hẳn nhiên sau cú sốc đó, em không thể nào đủ chai đá để ở lại nhà mẹ ruột, nhưng em sẽ về đâu? Đất trời mênh mông nhưng không có chỗ cho một người con gái nhỏ! Không có được cái hạnh phúc của những đứa trẻ bình thường đủ cha, đủ mẹ, hồi mới lên 2 tuổi.T. đã bị mẹ bỏ ở lại với cha. Cha nuôi em đâu được mấy năm thì lập gia đình lần nữa. Người cha nói rằng bé T. sống trong gia đình rất hòa thuận, vui vẻ, không có vấn đề gì. Nhưng có lẽ em nghĩ không ai thương mình hơn mẹ, nên năm 12 tuổi, em đã xin cha cho về ở với mẹ. Nhưng giờ thì em sẽ về đâu? Sau đêm đó, người mẹ báo rằng con mình không việc gì, nhưng T. bị sốt mấy ngày liền, mệt mỏi và suy nhược. T. quay trở lại nhà cha và mẹ kế, ở được ít tháng, rồi em đến ở với một người bà con, phụ làm một công việc gì đó. Cách đây hai, ba tháng, T. có về nhà một lần, hỏi mượn tờ hộ khẩu để làm bản sao, cha em nói không còn nhìn ra cô con gái nhỏ con gầy guộc ngày nào, thay vào đó là một cô gái tóc xù, ăn mặc mô-đen rực rỡ. Sau lần đó, T. đi luôn, không trở lại. Người bà con cũng không biết được là em đã đi đâu.
T., bây giờ em ở đâu?
-----------------------------------------
[1] Đã bị TAND Thành phố Hồ Chí Minh kết án 5 năm tù trong phiên tòa sơ thẩm ngày 13/10/1994.

📎 17
0
Những người không tỉnh
 
Một
Thưa ông, xin ông cho biết ý kiến của tòa về đơn khiếu nại của anh Thành [1]?
Ông Nguyễn Đức Sáu, phó chánh tòa Hình sự, TAND Thành phố Hồ Chí Minh :
- Mọi tài liệu, kết luận, chúng tôi đã chuyển hết cho ông Lê Thúc Anh. Muốn tìm hiểu gì, xin mời cô gặp ông Chánh án.
- Chúng tôi sẽ gặp ông Lê Thúc Anh. Nhưng cũng xin ông cho biết ý kiến riêng của cá nhân ông.
- Sau khi nhận đơn, chúng tôi đã gặp những người có liên quan để làm rõ sự việc. Trong đơn anh Thành có những ngộ nhận. Anh Thành tố cáo luật sư L. kẹp tiền trong hồ sơ chuyển cho thẩm phán. Nhưng vụ án chiều mới xử không bao giờ lúc đó hồ sơ vụ án lại nằm trong tay luật sư. Luật sư L. đã yêu cầu làm rõ chuyện này, cho đây là một sự vu khống.
- Như vậy nghĩa là...?
- Nhận định của tôi là không có tiền, không có chuyện đưa tiền. Ngay cả chuyện anh Thành tố cáo là bị cáo Nam [1] chiếu phim sex cũng không có. Tôi đã kiểm tra toàn bộ hồ sơ...
Ông Lê Thúc Anh, chánh án TAND Thành phố Hồ Chí Minh :
- Chưa có cơ sở để kết luận về những lời tố cáo của ông Thành.
Nguyễn văn Thành gởi đơn đi khắp các nơi: Tòa án, Viện kiểm sát, báo Công An, báo Pháp Luật, báo Thanh Niên, báo Tuổi Trẻ, Đài Truyền hình... Lá đơn tôi nhận được là hai tờ giây ca-rô, chữ viết lớn, rõ ràng, dù có nhiều chỗ sai chính tả. Khi tôi gặp Thành lần đầu tiên, anh không có vẻ gì là điên điên hay tưng tửng như có người đã nói với tôi. Đó là một người đàn ông gương mặt hằn sâu dấu ấn của sự khốn khó, không học hành được bao nhiêu; nhưng nói năng rất chừng mực, đặc biệt, tỏ ra sắc sảo khi nhận định, phân tích sự việc.
Tháng 12/1994, TAND Quân 10 xét xử vụ án Lê Hữu Nam can tội cố ý gây thương tích. Nguyễn văn Thành là nạn nhân trong vụ án, bị vết thương thấu ngực, tràn máu màng phổi trái. Luật sư L. bào chữa cho bị cáo Nam. Tòa Quận 10 xử phạt Nam mức án 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thành kháng cáo, cho rằng mức án như vậy là không thỏa đáng. Ngày 25/7/1995, TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử phúc thẩm, tuyên y án sơ thẩm. Thành tố cáo luật sư L. đã hối lộ cho tòa án. Đơn anh viết: “... Tôi đến Tòa án thành phố vào lúc 01 giờ 10 phúp. Tôi ngồi ngoài băng ghế chờ. Khoảng 10 phúp sao đó, tôi vô tình trông thấy luật sư L., biện hộ án sơ thẩm cho bị cáo nhét một xấp tiền khoảng năm trăm ngàn đồng (500.000$) vào trồng hồ sơ vụ án. Ngay lúc ấy, tôi bước vào chụp lấy trồng hồ sơ, tôi la lên luật sư L. hối lộ vụ án. Luật sư hoảng sợ, nói tôi xử cho vợ anh mà, tay chụp lấy trồng hồ sơ, mở ra, chụp lấy xấp tiền nhét vào túi quần trái của luật sư. Lúc ấy, tất cả nhân viên tòa án, đều chứng kiến, có cô thư ký L. và anh H...”
Thông tin về một vụ hối lộ, đối với người làm báo quả là hấp dẫn. Dù kinh nghiệm cho tôi thấy một lời tố cáo kiểu như của Nguyễn văn Thành rất khó xác minh. Đó là chưa kể cứ cho là tất cả những điều anh ta trình bày là có thật, thì cũng không nói lên dược điều gì. Kẹp tiền trong hồ sơ đâu có phải là hối lộ? Mặc dù vậy, tôi vẫn bướng bỉnh tìm hiểu. Tôi xin gặp hết người này đến người khác, chúi đầu vào đọc hồ sơ. Vụ “hối lộ” coi như tắc, nhưng câu chuyện của Nguyễn văn Thành rất đáng chú ý. Thành và vợ là chị Lý Thu Mai [1] đã ly hôn năm 1986, sau đó sống chung trở lại nhưng không đăng ký kết hôn. Hai bên tranh chấp căn nhà. Thành cho rằng anh có hùn vào đó ba cây vàng. TAND Quận 10 xử dân sự sơ thẩm, cho chị Mai được sở hữu căn nhà, nhưng chị phải giao lại cho Thành ba cây vàng. Trong thời gian chờ xử phúc thẩm, tối 8/8/1994, anh Thành về nhà thăm con. Theo lời Thành, anh gặp Lê Hữu Nam và hai người phụ nữ nữa đang chiếu phim sex trong nhà. Thành phản ứng, hai bên gây gổ, ẩu đả. Nam dùng dao đâm Thành, nên bị kết án 12 tháng tù, cho hương án treo như đã nói trên. Sau đó, tòa Dân sự, TAND Thành phố Hồ Chí Minh xử phúc thẩm, đã sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu đòi chia nhà của anh Thành, tuyên chị Mai không phải trả ba cây vàng cho anh Thành vì cho rằng không có gì chứng minh là anh Thành có hùn vàng mua nhà.
Tôi đến công an phường 14, tôi gặp ông chánh án TAND Quận 10 và tôi còn định qua VKS, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, lại thôi. Ai cũng nhận định Thành có lỗi: Trên nguyên tắc, khi đã ly hôn, Thành không có quyền can thiệp vào đời tư của chị Mai, không được ban đêm xông vào nhà riêng của công dân. Chính vì bị Thành xúc phạm, nên Nam mới đâm anh ta. Nam có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu... Thành quay quắt với ý nghĩ mình là nạn nhân, còn kẻ “tình địch” thì nhởn nhơ. Anh có thể kêu gào mức án như vậy là quá nhẹ, rằng đàng sau bản án còn có cái gì khác. Tuy nhiên, đó chỉ là ý nghĩ của anh ta. Về phương diện pháp lý, không có chứng cứ gì để chứng minh điều anh ta nghĩ.
Sau này, tôi còn gặp lại Thành một lần nữa. Vẫn sắc sảo, bình tĩnh khi nói về việc khiếu nại, tố cáo của anh, về “công bằng, công lý”. Chỉ khi anh đưa tôi xem quyển nhật ký - trong đó có nhiều lời lẽ hằn học, thóa mạ tục tĩu chị Mai, và những tấm ảnh vợ anh chụp chung với những người đàn ông khác được anh lưu giữ cẩn thận, tôi mới nhận ra tính cách của một người bị lệch lạc tâm thần. Tôi nhận ra người đàn ông này đã đau khổ quá mức: mất vợ, không nhà, xa con, bị thương tật. Anh ta không phát điên sao được khi người mà anh ta xem là tình địch, lại được thong dong, hạnh phúc.
Tôi chợt nhớ câu chuyện của người xưa: Một người ngắm con cá kiểng bơi trong bể, kêu rằng cuộc sống của con cá mới buồn tẻ làm sao! Người kia hỏi: “Người không phải là cá, sao biết là cá buồn?”. Câu chuyện có lẽ muốn nói sự áp đặt suy nghĩ, tình cảm lên mọi vật, nhưng tôi muốn hiểu theo cách khác. Không phải là người trong cuộc, tôi không thể biết và không cách gì biết được việc gì đã xảy ra giữa ba người. Có thể Thành có một phần lỗi trong việc xô xát ngày 8/8/1994, có thể anh ta đã suy diễn ra hành vi của luật sư L. là hối lộ. có thể chị Mai và anh Nam không hề có lỗi... Nhưng đã gọi là người không tỉnh trí thì đâu có tâm trí đâu để chú ý đến điều gì khác? Sau lưng họ chỉ có sự đau khổ dồn đuổi.

Hai
Chiều 21/12/1995, tôi đang ngồi đợi người quen ở phòng tiếp dân của tòa Phúc thẩm, TAND Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh thì một ông già bước vào. Không cố ý, nhưng câu chuyện của ông già cứ lọt vào tai tôi. Hình như đó là một vụ tranh chấp nhà cửa, kéo dài đã hơn 13 năm nay. Ông đã gởi đơn khiếu nại khắp nơi, đã lên Tòa thành phố, qua Phòng thi hành án nhiều lần, và cũng đã đôi lần ra Hà Nội. Ông kể vanh vách tên một số quan chức mà ông đã gặp, và những câu trả lời của họ... Ông được cô nhân viên mềm mỏng và kiên nhẫn hướng dẫn cho cách làm đơn. Sau đó, tôi gặp ông ở cổng tòa án và được biêt đôi điều về ông: Tên ông là Trần Thanh Hùng [1], cán bộ hưu trí. Người chị ruột của ông - sống một mình trong căn nhà bà đứng tên chủ quyền - có cho một người bạn tạm trú. Khi bà chết, lẽ ra người thừa kế duy nhất là ông Hùng thì ngôi nhà lại bị ông bạn kia chiếm giữ. Sau đám tang, một số người trong gia đình ông Hùng ở lại, định chiếm giữ căn nhà, nhưng đã bị tòa án quận trục xuất. Trong thời gian ở đó, họ có chở đi một số đồ gỗ, bị phía bên kia phản ứng, trở thành một cuộc ẩu đả. Vì hôm ấy, ông Hùng không đem theo những giấy tờ cần thiết, nên tôi hẹn gặp ông vào lúc khác. Ông khẳng định ông vẫn còn giữ tờ di chúc của chị ông, và ông có đủ bằng chứng để chứng minh tờ di chúc mà “tên đểu cáng” kia trưng ra cho tòa án là giả mạo. Nghe như vậy, tôi rất mừng, dặn ông phải giữ cẩn thận những tài liệu đó.
Khoảng một tuần sau, ông Hùng tới tòa soạn tìm tôi, ôm theo một đống giấy tờ, gói cẩn thận trong bịch ni-lông. Tìm nát trong đó, không thấy những tài liệu quý giá như ông đã nói, chỉ có vô vàn đơn khiếu nại cùng những tờ phiếu chuyển. Hỏi, thế là ông bắt đầu kể chuyện liên tu bất tận rằng “thằng đểu cáng” kia đã đối xử ngang ngược với ông như thế nào, nó đã làm giả giấy tờ để qua mặt tòa án ra sao, chuyện ông đã đi khiếu nại bao nhiêu lần trong ngần ấy năm trời để đòi lại quyền thừa kế đã bị cướp mất. Những câu chuyện không đầu đuôi, lộn xộn. Mấy lần tôi cố lái câu chuyện vào, nhưng không được. Cuối cùng, hỏi miết, ông mới nói tất cả chuyện đi hầu tòa, ra tòa đều do con trai ông làm, chứ ông đã quá già, không còn nhớ được mọi chuyện. Ông đi đến tòa soạn cũng là đi bộ, không dám đi xe! May mắn là ông cho tôi số điện thoại của con ông. Tôi gọi cho anh. Anh đến rất nhanh. Mọi việc ông già anh kể được anh xác nhận là đúng hết. Có điều.... như anh cho biết, ngôi nhà mà cha anh khiếu nại đó đã được bán mất từ lâu, và đã sang tên qua hai, ba đời chủ, còn người tranh chấp thì đã đi xa, không rõ ở phương nào, cho nên chuyện kiện để lấy lại nhà, là chuyện hầu như không còn có thể. Anh cũng nói đã từ lâu, anh chẳng còn nghĩ gì đến chuyện tranh chấp nữa, vả lại bản thân anh bận bịu suốt ngày với công việc. Tuy nhiên, mới đây, anh lại nhận được một giấy báo yêu cầu thi hành án. Anh lo lắng, không biết có chuyện gì, có lẽ là chuyện “cướp đồ gỗ” năm nào. Còn ông già anh bao nhiêu năm nay cứ xách đơn đi kiện như thế, dù ông đã vướng phải căn bệnh lẫn của người già, khi nhớ khi quên. Tôi dặn anh có thông tin gì mới xin báo cho tôi biết. Ông già không chịu về. Tôi đã phải nói rất nhiều để thuyết phục ông đừng đi kiện nữa, mọi việc nên để cho con trai lo. Trước khi ra về, ông còn tiếp tục kể cho tôi nghe về “thằng đểu”.

Ba
Tôi vừa được chuyển cho một tập hồ sơ khiếu nại dày cộp cũng gói trong bịch ni-lông. Người đứng đơn là một phụ nữ trẻ, mà mới gặp lần đầu, không ai dám nói chị bị bệnh tâm thần vì chị nói năng hết sức lịch sự, thái độ ân cần, dịu dàng. Nhưng những điều chị tố cáo thì lại vượt quá mức độ bình thường, khiến tôi phải băn khoăn: Một gia đình hàng xóm đã đánh chị gây thương tích trầm trọng, đã làm cho chị bị bắt giam, đã cho xe ủi sập nhà chị, và hình như đang có ý đồ thủ tiêu chị v.v... Chị tới tòa soạn tìm tôi rất nhiều lần, thái độ của chị ngày càng bộc lộ sự bất bình thường, câu chuyện chị kể ngày càng khó tin, và những cơ quan mà chị đã từng liên hệ để gởi đơn đều xác định với tôi là chị bị tâm thần. Lại một hồ sơ được xếp qua. Công việc tất bật, hồ sơ này chồng lên hồ sơ khác, cùng với nhịp trôi của thời gian, lẽ ra nó phải được quên đi. Nhưng câu chuyện của những con người không tỉnh trí ấy vẫn còn ở lại trong tôi như một mảng tối. Bởi vì tuy không có cơ sở để tin những câu chuyện kể của họ là có thật, nhưng cảm nhận đau lòng mà những câu chuyện ấy đem đến cho tôi lại là thật, rất thật.

Tháng 1/1997
------------------------------------------------
[1] Vì lý do tôn trọng chuyên riêng tư, xin phép được đổi tên các nhân vật trong bài viết. Mọi sự trùng hợp tên tuổi trong bài này là ngoài ý muốn của tác giả.

📎 18
0
Độc giả với ký sự pháp đình
 
● ... Đọc lại các bài, không những vẫn tươi mát mà còn thêm vẻ trang trọng nhờ thành sách. Từ lâu, tôi đã đánh giá cao các bài của Thủy Cúc có một suy nghĩ độc lập, ăn nói bộc trực, không thích hoa hòe, hoa sói của đứa con gái Nam bộ, Sài gòn.
Nhờ tập trung lại, các bài toát lên một lòng nhân ái, một niềm trắc ẩn đối với cái không may, cái bạc phận, cái hẩm hiu của số kiếp người không được phước phần như người khác. Thủy Cúc là cây viết “nhân ái” thứ hai của Tuổi Trẻ. Rất mong còn có tập II, III, để làm pho ký sự pháp đình, lưu lại hậu thế...
Con hôn má thật nhiều đấy má nhé.
Ông Lâm Võ Hoàng
(Chuyên viên kinh tế)

● ... Thú thật có nhiều chỗ tôi đã khóc khi đọc. Thủy Cúc viết, “vẽ” sao tài tình thế. Cứ như là đi vào trong tim người ta vậy. Tôi đã từng nói với Thủy Cúc rằng tôi mong Cúc trở thành một luật sư, vì tôi tin rằng với tài năng đó, nhất là với tấm lòng đó, sự tinh tế đó, Cúc sẽ là một luật sư xuất sắc, “cứu” được nhiều người...
Luật sư Trương thị Hòa

● ... Trước đây tôi vẫn nói với Đông Thức [1] về những bài phóng sự của Thủy Cúc mà tôi rất thích và rất phục. Tuổi già đọc xong một bài, thấy hay lúc đó nhưng rồi lại dễ quên, nay có cả một tập gồm những bài ký sự mình đã đọc rồi, thật không còn gì thích bằng.
Thế hệ này có nhiều cây bút trẻ rất có tài, trong ấy có Thủy Cúc, nhưng còn cách thể hiện một bài phóng sự, chuyện xét xử ở tòa án mà thu hút được độc giả không phải là chuyện dễ. Và cũng không phải ai có sách xuất bản, có bài trên các báo thì đương nhiên là một nhà văn; tôi mến Thủy Cúc vì lý do lối viết sống động, nói rất ít mà khiến người đọc - người có tâm huyết - phải nghĩ nhiều, thật nhiều...
Tùng Long

● ... Khi đọc bài “Cô gái tâm thần” [2], tôi thật sự sửng sốt, căm phẫn trước hành động thú tính của các bị cáo.
Tôi muốn xin chị Thủy Cúc cho biết địa chí của cô V. để tôi có thể giúp bớt đi được một phần nào nỗi bất hạnh mà cô ấy gặp phải. Qua thư này, tôi cũng xin Trời Phật phù hộ cho cô V. vượt qua hoạn nạn mà sống lại với đời. Tôi mong cô tin rằng trên đời này còn có rất nhiều người tốt.
Tôi với chị chưa bao giờ gặp mặt nhau, chị cũng chưa biết gì về tôi. Qua những bài viết của chị, tôi có thể đoán chị là một người có tấm lòng nhân hậu, một người dũng cảm dám viết lên những mặt trái của cuộc sống. Tôi không biết nói gì hơn là chúc chị hãy dũng cảm hơn nữa, đừng vì những trở ngại của cuộc sống mà chùn bước. Xin chị hãy viết nhiều hơn nữa, viết lên để những người như tôi, những người có lương tri trong xã hội này, có một chỗ dựa. Qua những bài này, người dân sẽ được một phần nào giải toa nỗi oan ức của mình. Kính xin chị hãy vì những người nghèo, những người lương thiện, mà viết lên những nỗi oan ức của họ...
Nguyễn Thành Danh
(Cư Xá Đô Thành, Phường 4, Quận 3)

● ... Bài ký sự pháp đình “Tìm con trong trường bắn” [2] của cô đã làm thay đổi cách suy nghĩ của tôi. Trước đây, tôi là một người đàn bà vô tư, cuộc sống chỉ là chuyện cơm áo hàng ngày, tối ngủ suy nghĩ ngày mai mình có cơm ăn hay không? Có tiền xài hay không? Còn chuyện của ai thì cứ mặc kệ. Không can dự đến mình!
Thưa cô, có thể anh Chánh đã giết người, và có thể anh bị oan, nhưng điều đó càng đòi hỏi pháp luật phải làm sáng tỏ, phải có công bằng xã hội. Nhưng hình ảnh người mẹ của anh Chánh đã làm xao xuyên lòng tôi. Tôi cũng có mẹ, mẹ tôi bao phen đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn trong cuộc sống, trong những lần tôi vấp ngã. Nhưng tại sao nhiều khi tự hỏi lòng mình vẫn không thiết tha yêu thương mẹ nhiều bằng chồng con mình. Bài báo của cô đã làm cho tôi tin rằng tình mẹ quá bao la - một tình yêu cho đi mà không mong nhận lại...
Hồng (Quận 6)

● Tôi chỉ mới đọc được vài truyện trong quyển Ký sự pháp đình (tập I) thì có người thân ở dưới quê lên, mượn đọc thấy thích quá, nên tôi đã tặng quyên sách cho người này mang về quê. Sau đó, tôi tìm mua lại, nhưng không còn. Tôi rất thích hai truyện “Bài Quốc văn giáo khoa thư dang dở” và “Vụ án làm bột ngọt giả”. Người ta coi phiên tòa bằng mắt, còn cô Thủy Cúc coi bằng trái tim...
Ba (Võ văn Tần, Quận 3)
--------------------------------------------------
[1] Nhà văn Nguyễn Đông Thức, là con của bà Tùng Long.
[2] Đã in trong quyển Ký sự Pháp đình - tập I (Báo Tuổi Trẻ - Nhà xuất bản Trẻ phối hợp xuất bản, 1996).

[font="verdana"][size="3"][color="#ff0000"]HẾT

[/color][/size][/font]
0
Truyện đã đem vào thư viện
 
Cảm ơn asau nhiều
 
 
 
 
📎 thank4




0