📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

28 ngày đêm quyết định vận mệnh Trung Quốc (Thái Nguyễn Bạch Liên dịch) (HẾT) 🔒

85 trả lời, 2.551 lượt xem — Trang 2 / 3
SỰ BIẾN TÂY AN VÀ BA VŨ ĐÀI CHÍNH TRỊ -
BẢO AN, TÂY AN, NAM KINH
 
Sự biến Tây An như một tảng đá rơi xuống mặt sông gây nên vạn trùng sóng, tin truyền đến đâu, nơi ấy xao động hẳn lên. Trên thực tế đây là lần tổng duyệt đầu tiên về thái độ đối với Tưởng Giới Thạch, người chống Tưởng hân hoan cuồng nhiệt, kẻ thân ông rầu rĩ ê chề ba sân khấu chính trị - Bảo An, Tây An và Nam Kinh trò diễn cùng hoàn toàn khác nhau.
Tiếng súng chỉ mới là hành động, mà hành động thì còn phải tuyên ngôn nói rõ. Vây bắt Tưởng Giới Thạch ở Li Sơn - Lâm Đồng lúc mờ sáng ngày 12 tháng 12, báo chí không cách nào đưa tin kịp. Ngay hôm ấy Trương, Dương đã ấn phát thông báo số 1, nêu rõ 4 điểm: (1) Để đình chỉ nội chiến, nay phải bảo vệ ủy viên trưởng một cách thỏa đáng và yêu cầu ông tỉnh ngộ. (2) Thông báo với toàn quốc và yêu cầu chính phủ lập tức triệu tập hội nghị cứu nước. (3) Đề nghị chính phủ thả tất cả chính trị phạm. (4) Từ nay về sau phải đoàn kết với mọi nhân sĩ đảng phái cùng nhau đánh giặc cứu nước. Tiếp sau thông báo số 1 là tám điều chú ý mà trọng tâm vẫn là “đình chỉ nội chiến, đánh giặc cứu nước”. Hai văn bản lịch sử này chỉ vẻn vẹn 300 chữ, nhưng đã nói rõ lý do vì sao Trương, Dương buộc phải nổ súng ở Hoa Thành trì, thực hiện “binh gián” với Tưởng Giới Thạch.
Cổ thành Tây An sục sôi với cái tin “Tróc Tưởng” (bắt Tưởng), nhân dân cố đô tự động xuống đường hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ tám chủ trương của Trương, Dương”, “Xử án Tưởng Giới Thạch”, “Bắn chết Tưởng Giới Thạch”. Còn ở Hồng đô Bảo An, sau khi nhận được điện báo của Lưu Đỉnh, mỗi người nghĩ một cách. Mao Trạch Đông rất vui mừng thoải mái với câu nói “Tưởng Giới Thạch ác bá một đời, hẳn cũng biết sẽ có ngày hôm nay”. Chu Ân Lai nói đùa: “Tưởng tiên sinh nhiều lần treo giải 8 vạn quan để bắt tôi, nay tiên sinh bị bắt mà chúng ta không tốn một xu”. Chu Đức gay gắt hơn: “Có lẽ phải chém!”. Riêng Trương Văn Thiên im lặng suy tư v.v... Tất cả mọi người không bình luận gì thêm vì phải cụng đầu soạn thảo hai văn bản: một báo cáo cho Quốc tế Cộng sản, và một phúc đáp Trương Học Lương rằng sẽ cử Chu Ân Lai đi Tây An cùng Trương, Dương thương lượng kế sách. Nhận được điện báo trả lời của Mao Trạch Đông, Trương Học Lương vui mừng khôn tả, ông thốt lên: “Chu tiên sinh đến là sẽ có tất cả mọi cách” và lệnh cho Lưu Đỉnh chuẩn bị chuyên cơ đi Bảo An đón Chu Ân Lai. Hành động của Trung Cộng thật mau lẹ, Mao Trạch Đông bình luận sự biến Tây An có tính chất như một cuộc “khởi nghĩa kháng Nhật” và Trung Cộng biểu thị sự ủng hộ. Sáng ngày 13 tháng 12 năm 1936, tờ “Trung Hoa đỏ” liền đăng bài “Khởi nghĩa kháng Nhật ở Tây An, Tưởng Giới Thạch bị bắt và hành động cách mạng kiên quyết của nhị thần Trương, Dương!”. Cũng hôm đó, tại nhà số 1 - Thất Hiền Trang phía đông bắc thành Tây An bảng hiệu “Bệnh viện nha khoa của bác sĩ Hai-po-thơ” tự nhiên đổi thành “Trạm liên lạc tại Tây An của Hồng quân Trung Quốc kháng Nhật”, và sau đó không lâu thì chiếm luôn Phu Thi, cải danh là Diên An cho tới ngày nay. Nhân đây cũng xin có đôi lời về ngôi nhà số 1 - Thất Hiền Trang. Mùa xuân năm 1936, theo chỉ thị của Chu Ân Lai về xây dựng một trạm liên lạc bí mật của Trung Cộng tại Tây An, Lưu Đỉnh đã mua căn nhà này và để che mắt thiên hạ, ông nhờ nhà báo nữ người Mỹ mời bác sĩ nha khoa Hai-po-thơ ở Thượng Hải lên đây mở phòng chuẩn trị. Hai-po-thơ người Do Thái, bị phát xít Đức bức hại phải lưu vong sang Trung Quốc, có cảm tình với Trung Cộng, “Y sĩ giúp việc” cho ông là Hạ Minh - vợ của Đặng Trung Hạ - uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị Trung Cộng, về sau còn có một số đảng viên cộng sản nữa làm việc bí mật ở đó, họ lập được điện đài liên lạc với Hồng đô Bảo An.
Sân khấu chính trị thứ ba - Nam Kinh, mãi tới 3 giờ 50 phút chiều ngày 12 mới hay tin Tưởng Giới Thạch “mất tích”, 5 giờ 20 phút tiếp tục nhận thông báo của Trương -Dương, tin dữ “Giới công” bị bắt loan khắp thành, chẳng khác nào như một vụ nổ làm hoảng loạn mọi người và không biết phải bắt đầu làm gì? Đêm 12, Ban chấp hành trung ương Quốc dân đảng họp khẩn cấp bất thường, thảo luận cho tới 3 giờ sáng ngày 13 thì mới ra được quyết nghị: (1) Khổng Tường Hy - phó viện trưởng viện hành chánh (chính phủ ND.) tạm thay quyền Tưởng Giới Thạch làm viện trưởng. (2) Ban chấp hành hội đồng quân sự tăng lên bảy người và do Phùng Ngọc Tường - phó uỷ viên trưởng điều hành. (3) Bộ trưởng lục quân Hà Ứng Khâm chỉ huy quân đội. Hội nghị còn quyết định tước bỏ mọi quan cấp chức vụ của Trương Học Lương và cử Hà Ứng Khâm lãnh binh thảo phạt quân phiến loạn ở Tây An.
Riêng Trần Lập Phu - từng là nhịp cầu liên hệ giữa Quốc - Cộng, lại mở một tuyến khác, ông móc nối với Phan Hán Niên ở Thượng Hải, ngày 14 họ gặp nhau và lập tức hội đàm, nội dung cụ thể xin tạm gác lại hồi sau, vì phải nói ngay tới Tống Mỹ Linh - hiền thê của Tưởng Giới Thạch, bà cũng đang ở Thượng Hải. Lúc 12 giờ trưa 22 tháng 10 năm 1936, Tống Mỹ Linh cùng Tưởng Giới Thạch trên chuyến chuyên cơ hạ cánh xuống Tây An và sau đó họ lên xe về hành cung Hoa Thanh trì. Tống Mỹ Linh và Tưởng Giới Thạch cùng đi Lạc Dương, sau khi Tưởng thổi tắt 50 ngọn nến trên bánh sinh nhật, Mỹ Linh đã giúp phu quân cắt bánh mời quan khách. Ngày 4 tháng 12, Trương Học Lương hộ tống Tưởng Giới Thạch bay về Tây An, lúc ấy Mỹ Linh phải đi Thượng Hải chữa bệnh cho nên trong cảnh tên bay đạn lạc “thiếp không ở cạnh chàng”. Sáng 13, bà vội vàng bay về Nam Kinh và rất không bằng lòng với quyết định của Ban chấp hành trung ương Quốc dân đảng vừa kí chưa ráo mực, Tống Mỹ Linh viết: “Các vị lãnh đạo trung ương trong khi chưa nắm hết tình hình đã vội vàng xử trí Trương Học Lương, lại điều binh khiển tướng thảo phạt Tây An, thật là thô bạo, phần tôi, sẽ cố gắng bằng con đường hoà bình không đổ máu nhanh chóng giải quyết sự việc”. Như vậy ở Nam Kinh xuất hiện phái chủ chiến do Hà Ứng Khâm cầm đầu, và phái chủ hoà do Tống Mỹ Linh thống soái để xử lí sự biến Tây An, phái chủ hoà còn có Khổng Tường Hy, Tống Tử Văn, Tôn Khoa và Vương Sùng Huệ. Chiều ngày 13, một chuyên cơ cất cánh từ Nam Kinh bay về hướng bắc, trên đó là “sứ thần” của Tống Mỹ Linh.
 
0
Ở BẢO AN, MAO TRẠCH ĐÔNG ĐỀ XUẤT ĐẤU TƯỞNG
 
Cùng với lúc chuyên cơ do Tống Mỹ Linh phái cử cất cánh ở Nam Kinh thì một chuyên cơ khác do Trương Học Lương giao nhiệm vụ bay từ Tây An đi Hồng đô Bảo An, lịch sử ghi lại hình ảnh ngoạn mục những sứ giả con thoi nối đuôi nhau bay lượn từ thủ đô Nam Kinh đến cố đô Tây An và cuối cùng là Hồng đô Bảo An.
Sáng ngày 13, nhân dân và Hồng quân ỏ Bảo An cuốc xẻng nô nức đi làm sân bay, người ta cứ tưởng một bãi bằng là phi cơ có thể hạ và cất cánh được, nhưng nào ngờ chuyên cơ lượn mấy vòng trên bầu trời Hồng đô, dành phải quay về Tây An, Chu Ân Lai chỉ còn cách đi đường bộ đến cố đô giúp Trương, Dương bàn kế xử lí sự biến. Hôm ấy Thường vụ trung ương Trung Cộng họp phiên mở rộng do Trương Văn Thiên chủ trì thảo luận chủ đề sự biến Tây An (biên bản cuộc hội nghị này vẫn còn lưu trữ, và do đó chúng ta mới có điều kiện nghiên cứu động thái chính trị lúc bấy giờ).
Thoạt đầu, Mao Trạch Đông báo cáo, ông khẳng định ý nghĩa cách mạng của sự biến Tây An và hành động, cương lĩnh tích cực của Trương, Dương, ông kết luận: chúng ta nên ủng hộ, nhưng trong báo cáo của Mao có hai vấn đề gây nên tranh luận. “Có nên thành lập chính phủ toàn quốc ở Tây An hay không?”. Mao Trạch Đông nói: “Tôi thấy trên cơ sở sự biến Tây An cần thành lập ở đây một chính phủ thực chất, gọi là uỷ ban kháng Nhật, trên danh nghĩa không phải là chính phủ toàn Quốc”, ông còn chủ trương: “Chúng ta nên lấy Tây An làm trung tâm để lãnh đạo cả nước, khống chế Nam Kinh, lấy Tây Bắc làm tiền tuyến kháng Nhật, ảnh hưởng toàn quốc”.
Chu Ân Lai có cách nhìn khác với Mao Trạch Đông về vấn đề này, ông đề xuất: “Trên phương diện chính trị, chúng ta không nên sử dụng phương pháp đối lập với chính phủ Nam Kinh và do đó không chủ trương lấy Tây An làm trung tâm”.
Trương Quốc Đào phát biểu: “Chúng ta phải lấy Tây An làm trung tâm kháng Nhật, tất nhiên là bao hàm cả ý nghĩa trung tâm chính quyền, phải đả đảo chính phủ Nam Kinh, thành lập chính phủ kháng chiến, vân đề cần thảo luận nên thực hiện như thế nào?”.
Trương Văn Thiên suy nghĩ hồi lâu rồi mới trình bày ý kiến của mình, ông ủng hộ quan điểm của Chu Ân Lai không đối lập với chính phủ Nam Kinh, ông nói: Có thể nên chuyển mặt trận thống nhất kháng Nhật cục bộ chuyển thành toàn quốc, khiến cho Trung Cộng nhảy lên vũ đài chính trị một cách hợp pháp”.
Bác Cổ lúc đầu ủng hộ quan điểm Mao Trạch Đông, nhưng sau khi nghe Trương Văn Thiên, thấy có lí, bèn thay đổi ý kiến rằng “nên xem sự biến Tây An là ngọn cờ kháng Nhật, chứ không phải là ngọn cờ phản Tưởng”.
Vấn đề về chính phủ Nam Kinh chưa ngã ngũ trong đầu não của Trung Cộng, thì chủ đề thứ hai lại càng gây tranh luận gay gắt hơn: xử lí Tưởng Giới Thạch như thế nào? Mao Trạch Đông đề xuất “thẩm Tưởng”, “bãi Tưởng”, “trừ Tưởng”, ông nói: “Thứ nhất, vạch mọi tội ác của Tưởng Giới Thạch trước nhân dân, và ủng hộ sự biến Tây An. Thứ hai, bãi miễn Tưởng Giới Thạch, giao nhân dân thẩm xét. Thứ ba, trừ khử Tưởng Giới Thạch về mặt nào cũng có lợi”. - Mao Trạch Đông trút mọi hận thù tích tụ trong 10 năm giao tranh lên đầu Tưởng. Chu Đức dứt khoát hơn: “Chém Tưởng xong, rồi hãy bàn chuyện khác!”. Trương Quốc Đào, Bác cổ ủng hộ quan điểm của Mao Trạch Đông, bổ sung thêm “sát Tưởng” như Chu Đức, Chu Ân Lai và Trương Văn Thiên không phát biểu gì về vấn đề xử lí Tưởng Giới Thạch.
Bốn giờ chiều ngày 13, nhân dân Bảo An mít tinh kiên quyết yêu cầu công khai đấu Tưởng Giới Thạch, thù hận xung thiên, tất cả do Mao Trạch Đông chủ trương. Nixon trong cuốn sách “Các lãnh tụ” đã viết: “Nếu không có Mao Trạch Đông, cách mạng Trung Quốc không thể từ đốm lửa nhỏ thiêu cháy cả đồng cỏ. Và nếu không có Chu Ân Lai, cách mạng Trung Quốc sẽ như lửa liếm rơm, đốt trụi tất cả thành tro!” Những ngày đầu của sự biến Tây An, tính cách của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai quả đúng như Nixon miêu tả.
 
0
TỐNG MỸ LINH CỬ TOAN-NA BAY ĐẾN TÂY AN
 
Nam Kinh hô hào “thảo nghịch”, Bảo An chủ trương “thẩm Tưởng”, hai bên kiếm đã rút khỏi bao, đứng giữa là Tây An, nơi ấy vừa có quân phản nghịch Trương, Dương vừa có Tưởng Giới Thạch đang bị giam cầm.
Ngày 13 ở Bảo An, ngoài mít tinh quần chúng đòi đấu Tưởng, còn kêu gọi cả báo chí - tờ “Trung Hoa đỏ”. Ngày 15, Mao Trạch Đông và 15 tướng lĩnh Hồng quân phát điện cho chính phủ Quốc dân đảng yêu cầu “bãi miễn Tưởng Giới Thạch, giao cho nhân dân xét xử”.
Ngày 16, hội nghị trung ương Quốc dân đảng quyết định: (1) Đưa Hà Ứng Khâm lên làm Tổng Tư lệnh quân thảo nghịch. (2) Chính phủ ra lệnh xuất binh. (3) Tuyên bố uỷ lão quân dân Tây Bắc. Ngay hôm ấy, Hà Ứng Khâm nhận chức, chính phủ Nam Kinh ban bố lệnh “thảo phạt Trương Học Lương”. Còn trên ấy, Đông Bắc quân, Tây Bắc quân và Hồng quân kiên quyết liên hợp tác chiến, dàn bày thế trận, sẵn sàng nghênh đón thảo nghịch quân ở Nam Kinh lên. Một cuộc nội chiến rất lớn, “đạn đã lên nòng, tên đã trên cung”.
Để có thể dập tắt đoạn dây cháy chậm ngày một ngắn dần, hai chiếc máy bay cất cánh lần lượt từ Nam Kinh, nhưng không dám hạ xuống Tây An sợ quân Trương, Dương bắn rơi. Trước khi bay, Tống Mỹ Linh và vị sứ giả đều điện báo cho Trương Học Lương, nhưng không liên lạc được nên đành cứ bay và sẽ đậu ở Lạc Dương. Sứ giả của Tống Mỹ Linh là người châu Âu, mắt xanh, mũi lõ, tên gọi: Uy-liêm Hăng-ri Toan-na, đã ngoài lục tuần, quốc tịch Anh và sinh sống ở Úc, có lẽ đây là phương án tối ưu, bởi vì Toan-na vừa có tình thâm với Trương Học Lương, vừa được Tưởng Giới Thạch tin cậy, lại là người ngoại quốc, khách quan và không chịu ảnh hưởng của phe đảng nào. Toan-na sinh ra ở Úc, tổ tiên người Tô Cách Lan, năm 1903, ông làm chủ bút tờ “Bưu điện Trung Quốc” ở Hương Cảng, từ bấy Toan-na kết duyên cùng Trung Quốc và dần dần trở thành nhà Trung Quốc học, sau làm phóng viên “Thời báo London”, “Thời báo New York”. Ông thành danh từ năm 1915 khi vạch trần điều ước 21 bí mật kí kết giữa Viên Thế Khải và Nhật Bản. Toan-na quen thân với Tống Diệu Như năm 1911, và do đó có tình nghĩa cùng gia đình họ Tống, ông đã giúp Tôn Trung Sơn khởi thảo tuyên ngôn đối ngoại đầu tiên của chính phủ Dân quốc. Toan-na còn là cố vấn tư gia của Trương Tác Lâm, sau khi Trương đại sư lâm nạn trong chuyến tàu gãy cầu chìm sông. Ông tiếp tục làm gia sư và cố vấn cho Trương thiếu soái Học Lương. Năm 1934, Toan-na tháp tùng Trương Học Lương chu du sáu nước châu Âu, vào tuổi già, ông quả có tình thâm với gia đình họ Trương. Người đời cũng đồn đại, Toan-na là cố vấn của Tưởng Giới Thạch, kì thực không phải như vậy, trong “Tây An bán nguyệt kí”, Tưởng ghi: ““Bên ngoài ngộ nhận Toan-na là cố vấn mà chính phủ đã thỉnh mời, từ đầu Toan-na với tư cách bạn hữu luôn đến cùng ta, và nay ông vẫn như vậy chứ không phải là cố vấn”.
Đêm 12 tháng 12, Tống Mỹ Linh nghe tin Tưởng Giới Thạch bị bắt ở Tây An, bà vội vàng điện thoại cho Tống Tử Văn và Toan-na đang ở tại khách sạn Quốc tế - Thượng Hải, nhờ hai người cùng đến nhà Khổng Tường Hy bàn cách đối phó. Tống Mỹ Linh phờ phạc, như không còn hồn phách nào nữa, với vốn tiếng Anh điêu luyện, bà nói với Toan-na:
- Tây An xảy ra binh biến, uỷ viên trưởng bị bắt và nghe đâu không còn nữa!
- Tôi không tin điều đó, - Toan-na lắc đầu đáp lại. -Thứ nhất, Trương thiếu soái không phản biến uỷ viên trưởng. Thứ hai, uỷ viên trưởng vẫn còn sống!
Đêm ấy, cả bốn người - Tống Mỹ Linh, Tống Tử Văn, Khổng Tường Hy và Toan-na - về Nam Kinh, Tống Mỹ Linh quyết định cử Toan-na đi giảng hoà, chiều tối 13, Toan-na đến Lạc Dương, bà nhận được điện của Trương Học Lương, hoan nghênh Toan-na đến Tây An. Ngày 14, sứ giả bay từ Lạc Dương về Tây An, vừa đến bầu trời cố đô, Toan-na cho thả dù mang thư; theo y ước trong thư, ba đống lửa nổi lên trên sân bay, chuyên cơ của ông hạ cánh an toàn. Năm giờ chiều ngày 14, Trương Học Lương dẫn Toan-na đi gặp Tưởng Giới Thạch, Tưởng vui mừng khôn tả, miệng lắp bắp: “Tôi biết thế nào anh cũng tới”. Toan-na nghe Trương Học Lương nói rõ mọi tình tiết “binh gián” 12 tháng 12, sáng ngày 15 ông gặp Tưởng Giới Thạch lần nữa rồi bay về Nam Kinh báo cho Tống Mỹ Linh biết, Tưởng Giới Thạch vẫn bình an vô sự và Trương Học Lương mời Khổng Tử Hy đến Tây An thương thảo. Tống Mỹ Linh mừng rỡ, bà đã nhìn thấy một tia hi vọng đầu tiên để giải quyết sự biến Tây An.
 
0
CHU ÂN LAI TRỞ THÀNH CHỦ MƯU CHO TÂY AN
 
Ngày 17, Chu Ân Lai đến Đạo Xuyên - phía nam thành Diên An và định lên ô tô đi về phía Tây An, thì chiếc chuyên cơ Ba-ưng của Trương Học Lương do một phi công người Mĩ lái đã kịp đón ông và phái đoàn Trung Cộng, người tháp tùng là Lưu Đỉnh - thư kí của Trương và là đảng viên cộng sản.
Trên đường bay về Tây An, Chu Ân Lai lắng nghe Lưu Đỉnh báo cáo tường tận tình hình trước và sau ngày 12, ông chú ý đến tình tiết Trương Học Lương ra lệnh “chỉ được bắt sống Tưởng Giới Thạch”, và loé lên giải pháp “bức Tưởng kháng Nhật” - bài thuốc đầu tiên chữa trị cho Tây An.
Trương Học Lương vô cùng mừng rỡ khi gặp lại Chu Ân Lai:
- “Mỹ nhiêm công”, bộ râu cực đẹp của ngài đâu rồi?
Trương Học Lương và Chu Ân Lai lập tức hội đàm với nhau, bàn ngay việc nên xử trí Tưởng Giới Thạch như thế nào, Chu nghe Trương nói trước:
- Theo tôi, tranh thủ Tưởng kháng Nhật lúc này là có khả năng nhất. Chỉ cần Tưởng đồng ý đình chỉ nội chiến, cùng nhau kháng Nhật thì phóng thích ngay và vẫn ủng hộ ông ta làm lãnh tụ cả nước kháng chiến chống Nhật cứu nước.
Chu Ân Lai tán dương ý kiến của Trương, nhưng cũng mạnh dạn tâm sự:
- Sự biến Tây An làm chấn động cả trong và ngoài nước, song ít nhiều cũng có tính chất “âm mưu quân sự”.
Trương Học Lương có vẻ không vui mà rằng:
- Tôi chí công vô tư, sao lại là âm mưu?
Chu Ân Lai mỉm cười, giải thích:
- Bắt Tưởng một cách “xuất kì bất ý” và do đó chúng ta lúng túng bị động cách xử trí, thật là “thừa kì bất bị”, không giống như cách mạng tháng Mười ở Nga, Sa Hoàng Nicôlai bị bắt, cũng không giống như Nã Phá Luân thất thế ở chiến dịch Oatéclô, hiện nay lực lượng quân sự của Tưởng Giới Thạch vẫn còn nguyên vẹn, Tây An và Nam Kinh đã trở thành đối lập, cho nên cách xử lí Tưởng Giới Thạch cần phải rất cẩn trọng:
Chu Ân Lai tiếp tục phân tích:
- Như Trương tướng quân vừa nói, nếu thuyết phục được Tưởng Giới Thạch đình chỉ nội chiến, cùng nhau kháng Nhật, thì quả là diễm phúc cho Trung Quốc, nếu tuyên bố tội trạng của Tưởng, giao nhân dân xét xử, cuối cùng giết ông ta, không những không chấm dứt được nội chiến mà còn tạo điều kiện dễ dàng để quân Nhật tiêu diệt Trung Quốc chúng ta.
Chu Ân Lai sở dĩ nói lên điều này vì ông nghe Lưu Đỉnh báo cáo, ngày 16 trong đại hội quần chúng ở Tây An, Trương Học Lương tuyên bố, nếu Tưởng Giới Thạch không chấp nhận kháng Nhật thì ông sẽ vạch mọi tội trạng của Tưởng trong sự biến “9.12”, và hình phạt sẽ do nhân dân quyết định. Vậy là hai người đi đến thống nhất giải quyết sự biến Tây An bằng phương pháp hoà bình. 20 năm sau Trương Học Lương hồi tưởng lại đã nói: “Lúc bấy giờ Chu quả là người chủ mưu cho Tây An”.
Ngay hôm ấy Chu Ân Lai điện báo cáo Mao Trạch Đông và Trung ương, rằng ông và Trương đã thống nhất năm điều kiện đàm phán với Tống Tử Văn. Mao Trạch Đông vẫn tư lự với những câu hỏi: giữ, đấu, bãi, hay giết Tưởng?
 
0
TƯỞNG GIỚI THẠCH, NGƯỜI BỊ BẮT
 
Chín giờ sáng ngày 12, Tưởng Giới Thạch được đưa về Đông Sương Tân Thành đại lầu. 10 giờ Trương, Dương đưa cho ông thông báo số 1, hai bên tranh luận và Trương Học Lương buộc phải nói:
- Ông không nghe tôi khuyến cáo thì việc này dành để nhân dân xử trí.
- Ta dù thân chết, đầu rơi, tứ chi tàn phế, nhưng nhân cách và chí khí thì vẫn cứ bảo toàn - Tưởng Giới Thạch trả lời.
Ngày hôm sau Tưởng Giới Thạch đòi gặp riêng Dương Hổ Thành. Ông vặn Dương:
- Anh có biết trước chuyện này không?
- Có, - Dương đáp. - Đây là ý nguyện của toàn dân, mong muốn chấm dứt cảnh nồi da xáo thịt, tập trung sức lực chống giặc ngoại xâm.
Năm giờ chiều ngày 14, Toan-na đưa thư Tống Mỹ Linh cho Tưởng Giới Thạch, và nói với ông:
- Tưởng phu nhân nhờ tôi đến đây để hội đàm cùng Trương Hán Khanh, nắm vững ít nhiều về sự biến Tây An, trước hết xin có lời thăm sức khoẻ của ngài. Tôi nghĩ rằng, Trương tướng quân không có ý hãm hại ngài, chỉ cần ngài đáp ứng chủ trương của họ thì họ sẽ hết lòng ủng hộ ngài làm lãnh tụ, đó không chỉ là ý nguyện của hai người Trương, Dương mà là yêu cầu bức thiết của nhân dân Trung Quốc, người nước ngoài như chúng tôi cũng tán đồng chính kiến đó. Nếu ngài chấp nhận thì sau này vẫn là nhân vật vĩ đại của thế giới, ngược lại, rất tiếc sẽ mau chóng trở thành tiểu nhân.
Toan-na là người Tây Dương, đã được Tưởng Giới Thạch tin cậy, cách nói khách quan, nên Tưởng nghe dễ tin cậy, nhưng ông vẫn bi quan và nhờ Toan-na chuyển về cho Tống Mỹ Linh một lá thư với lời văn như thể “di chúc”:
“Mỹ Linh ngô thê (1), ta quyết tâm tuẫn quốc, ta qua đời, toàn bộ gia sản giao cho nhữ (2) kế thừa, mong nhữ trông nom hai con Kinh Quốc, Vĩ Quốc, và thờ nguyện tâm linh ta. Cầu nguyện Thượng Đế ban phước lành cho nhữ”.
Trước khi về Tây An. Toan-na đến thăm Tưởng Giới Thạch lần nữa và nói cho ông rõ cái gọi là “kịch trong kịch” ở Nam Kinh và nội dung điện thoại đường dài với Tống Mỹ Linh và Tống Tử Văn, đặc biệt lời dặn của Tống Mỹ Linh - “Thà kháng Nhật còn hơn chết trong tay địch”.
Thái độ của Tưởng Giói Thạch bắt đầu chuyển biến...
Sáng ngày 17, tin Chu Ân Lai đến Tây An làm cho Tưởng Giới Thạch lo lắng, “tay địch” đã vươn tới cố đô rồi sao?



(1) Vợ ta.
 

(2) Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai.


 
0
TRUNG CỘNG QUYẾT ĐỊNH PHƯƠNG CHÂM
“GIẢI QUYẾT HOÀ BÌNH” VÀ “PHÓNG TƯỞNG”
 
Những ngày ở Tây An, Chu Ân Lai đã tích cực hoạt động và hình thành được một phía của cuộc hội đàm tương lai, theo ngôn ngữ lúc bấy giờ gọi là “tam vị nhất thể” - Trương, Dương, Chu, đại diện cho Đông Bắc quân, Tây Bắc quân và Hồng quân, song ông vẫn thường xuyên liên lạc với Bảo An và Mao Trạch Đông.
Như đã trình bày ở trên, Trung Cộng kịp thời báo cáo với Quốc tế Cộng sản, kết quả thật bất ngờ - Stalin phản đối “đảo Tưởng” và đêm 13, Quốc tế Cộng sản trả lời Trung Cộng, nội dung gồm ba phần: (1) Khẳng định sự biến Tây An là do quân Nhật tạo nên, và nhất định bên cạnh Trương Học Lương có gián điệp Nhật ẩn náu, Liên Xô sẽ không ủng hộ bất kì ai là bạn của Nhật. (2) Nhiệm vụ khẩn cấp của Trung Quốc hiện nay là xây dựng một mặt trận thống nhất kháng Nhật có tính toàn Quốc, là đoàn kết hợp tác, chứ không phải phân liệt, chia rẽ. (3) Tranh thủ hoà bình giải quyết vấn đề Tây An, nhân cơ hội này mà hợp tác với Tưởng Giới Thạch, khiến ông ta tán thành kháng Nhật, trên cơ sở đó tự động phóng thích Tưởng.
Tiếp đó, Stalin đã nhờ đoàn đại biểu Trung Cộng tại Quốc tế Cộng sản chuyển về Bảo An bức điện: “Đảng Cộng sản Trung Quốc đầu tiên nên hiểu rằng: Tưởng Giới Thạch là kháng Nhật, nếu đả đảo Tưởng, tất yếu sẽ ra nội chiến và chỉ có lợi cho quân xâm lược Nhật”. Theo Stalin, làm lãnh tụ ở Trung Quốc, Trương Học Lương chưa đủ tư cách, lực lượng Mao Trạch Đông còn bé nhỏ, chỉ còn Tưởng Giới Thạch mới đủ sức hiệu triệu, thống soái binh mã mà thôi.
Thế gian không có ai đủ sức quán xuyến chính xác tất cả. Trong thời kì đầu của sự biến Tây An, nhận định của Mao Trạch Đông và Stalin đều có sai và có đúng. Đối với Trương, Dương - Mao Trạch Đông ủng hộ, đó là đúng, Stalin phản đối, ấy là sai. Đối với Tưởng Giới Thạch - Mao Trạch Đông chủ trương “đảo Tưởng”, ấy là sai, Stalin “bảo Tưởng”, đó là đúng. Khách quan mà nhận xét, Mao Trạch Đông và Stalin đúng và sai đều có nguyên nhân của họ. Mao Trạch Đông sống tại Trung Quốc, nắm vững tình hình nên lập tức cho rằng sự kiện binh gián Tây An của Trương, Dương là “khởi nghĩa kháng Nhật”, còn Stalin ở Mạc Tư Khoa xa xôi không rõ nội tình Trung Quốc nên quy oan Trương, Dương là “âm mưu của Nhật”. Stalin nhìn toàn cục để đánh giá Tưởng Giới Thạch, còn Mao Trạch Đông dẫu sao vẫn còn mỗi cừu hận 10 năm với Tưởng, xem Tưởng là kẻ thù. Loại trừ cái sai của hai vị, là tiếp tục cái đúng của họ, Chu Ân Lai đã lập công lớn trong việc giải quyết sự biến Tây An.
Từ ngày 12 đến ngày 19, đúng như Chu Ân Lai đã nói với Vương Bính Nam, “một tuần nay chúng tôi chưa hề chợp mắt”, để cuối cùng đưa ra một quyết định “có lẽ khó khăn nhất trong đời chúng tôi” - giải quyết hoà bình sự biến Tây An và phóng thích Tưởng Giới Thạch. Mao Trạch Đông tiếp thu phê bình, quan điểm giữa ông và Trương Văn Thiên đi đến nhất trí. Ngày 21, Trung Cộng điện cho Chu Ân Lai: “nới rộng kích thước với Tưởng Giới Thạch!”.
 
0
“TAM VỊ NHẤT THỂ” ĐÀM PHÁN VỚI NHỊ TỐNG
 
Ngày 21, Mao Trạch Đông cũng điện báo cho Phan Hán Niên ở Thượng Hải về chủ trương của Trung Cộng và yêu cầu thông báo với Trần Lập Phu để họ Tống được rõ trước khi vào đàm phán. Mười một giờ rưỡi sáng ngày 22, hai máy bay đưa Tống Mỹ Linh, Tống Tử Văn và nhiều quan chức của chính phủ Nam Kinh đến cố đô đàm phán giải quyết sự biến Tây An. Từ sân bay Tây An, Tống Mỹ Linh thẳng xe về “nhà giam” Tưởng Giới Thạch. “Ôi, hiền thê, nàng đến rồi ư? Nàng dám vào hang hùm cứu ta!”. Tưởng Giới Thạch kêu lên như vậy và ôm lấy người đàn bà thứ tư của đời mình. Tống Mỹ Linh im lặng trong đầm đìa nước mắt, bà ân hận “em không ở cạnh chàng những lúc hiểm nguy”, sau này Tống Mỹ Linh nhớ lại và nói rằng: “Thế cục Tây An do Toan-na đặt móng, Tống Tử Văn xây tường và cuối cùng do tôi lợp mái”.
Tưởng Giới Thạch thống nhất với nhị Tống - Mỹ Linh, Tử Văn rằng: “cải tổ chính phủ, sau ba tháng sẽ mở hội nghị cứu quốc, cải tổ Quốc dân đảng, đồng ý liên bang thân Cộng”. Nhưng ông đưa ra hai điều kiện: (1) Không xuất đầu lộ diện, hai anh em họ Tống thay Tưởng đàm phán. (2) Không kí tên trong bất cứ văn bản nào, để giữ nhân cách của một lãnh tụ.
Trong thế bí của cuộc cờ, Tưởng Giới Thạch vẫn rất lão luyện, tránh mọi ràng buộc lịch sử sau này và lo cho nước đi tương lai.
Cuộc đàm phán bắt đầu vào sáng 23, đúng cái nơi mà 11 hôm trước Trương Học Lương đã ban bố lệnh “bắt sống Tưởng Giới Thạch” - lầu 2 công đường của phó Tổng Tư  lệnh! Một bên là Trương, Dương, Chu - “tam vị nhất thế” và một bên là nhị Tống - anh em Tử Văn, Mỹ Linh. Thật là nước cờ ngoạn mục, vốn dĩ Chu Ân Lai phải đối mặt với bốn vị Quốc dân đảng, thì nay ông lại liên minh được với hai, chỉ “chọi” lại hai mà thôi và điều ước mười điểm đã được kí kết, một ngày trước Noel 1936, sự biến Tây An xem như đã hạ màn, phần sau chỉ là vĩ thanh.
Năm 1990, phóng viên hãng truyền hình NHK đã phỏng vấn Trương Học Lương:
Hỏi: Tưởng Giới Thạch và Chu Ân Lai từng gặp nhau tại Tây An, lúc ấy hẳn Tưởng tiên sinh cũng có mặt, có phải như vậy không?
Trả lời: Đây là vấn đề gay gắt, xin đừng hỏi thêm gì nữa. Tôi không những có mặt mà còn đưa Chu Ân Lai đi gặp Tưởng Giới Thạch.
Vẫn như hồi còn ỏ trường quân sự Hoàng Phố, người là hiệu trưởng, người là chủ nhiệm khoa chính trị, Chu Ân Lai cất tiếng chào:
- Hiệu trưởng tiên sinh, mười năm không gặp nhau, tiên sinh già hơn trước.
- Ân Lai, anh là bộ hạ của ta, anh nên nghe lời ta.
- Thưa hiệu trưởng tiên sinh, chỉ cần ngài thay đổi chính sách “yên trong rồi mới dẹp ngoài”, chấm dứt nội chiến, cùng nhau đánh đuổi quân Nhật thì không những cá nhân Ân Lai này nghe lời ngài mà cả Hồng quân chúng tôi cũng chịu sự chỉ huy của uỷ viên trưởng!
Nhạy cảm với chủ đề mà Chu Ân Lai vừa nêu ra, Tống Mỹ Linh đã nhanh chóng thay Tưởng Giới Thạch trả lời:
- Từ nay sẽ không tiễu Cộng nữa, lần này cảm phiền Chu tiên sinh đã phải vất vả ngàn dặm tới đây để lèo lái, thật vô cùng đa tạ.
Không khí đối thoại bắt đầu cởi mở, Tưởng Giới Thạch vui vẻ:
- Chúng tôi sẽ không gây nội chiến nữa, thực tình mỗi lần đánh nhau, tôi đều nghĩ tới anh, tôi vẫn nhớ anh đã từng giúp đỡ tôi nhiều lắm, mong rằng chúng ta còn có thể cùng nhau làm việc.
Năm 1990, Trương Học Lương chưa dám tiết lộ nội dung đối thoại nêu trên, nhưng 10 năm trước - 1980 khi “Chu Ân Lai tuyển tập” (quyển thượng) ra mắt, lần đầu tiên công bố “3 điện báo về sự biến Tây An”, trong đó có nội dung hội ngộ giữa Tưởng và Chu:
“Tưởng đang bệnh, tôi thăm Tưởng, ổng nói:
Tý: Chấm dứt tiễu Cộng, liên Hồng chống Nhật, thống nhất Trung Quốc, do ổng chỉ huy.
Sửu: Do Tống, Tống, Trương toàn quyền đại diện ổng, cùng tôi giải quyết tất cả.
Dần: Sau khi ổng về Nam Kinh, tôi có thể trực tiếp đi đàm phán”.
Ngày 25 - Noel 1936, quà Chúa giáng sinh - Tưởng Giới Thạch được phóng thích và chính Trương Học Lương tháp tùng Tưởng trở về Nam Kinh.
Phóng viên NHK: Thưa Trương tiên sinh, sau “sự biến Tây An”, ngài cùng Tưởng Tổng thống bay về Nam Kinh, và kết quả đã chịu kỉ luật, tại sao lúc ấy ngài lại làm như vậy, vì nguyên nhân gì?
Trương Học Lương trả lời: Tôi đã nói nhiều lần, tôi là một quân nhân, phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình. Tôi đi Nam Kinh là để thỉnh tội, kể cả sự hành quyết. Trước khi lên đường tôi đã nhờ một học sinh trông nom giúp gia đình mình, anh ấy là sĩ quan quân đội.
Ngày trở thành quân nhân, thân phụ đã căn dặn: “Con muốn làm người lính ư? Hãy cắt cái đầu mình dắt vào lưng nịt”, nghĩa là anh hãy sẵn sàng nhận lấy cái chết. Quả vậy, sau khi trở thành quân nhân tôi đã chuẩn bị chết bất cứ lúc nào, nhưng vô cùng căm ghét cảnh nội chiến.
Năm 1991, hai học giả họ Đường và Trần đã phân tích toàn diện hơn về nghĩa cử của Trương: (1) Làm dịu đi cục diện phân liệt vừa qua vì lợi ích của quốc gia, dân tộc; (2) Tránh đêm dài mộng lắm, trên mặt lại mọc thêm cành; (3) Quốc tế Cộng sản và Liên Xô có lời trách cứ Trương, Dương; (4) Tự nhận định rằng vẫn còn khả năng trở về Tây An; (5) Đảm bảo niềm tin cho Tưởng Giới Thạch và anh em họ Tống; (6) Vì quốc gia dân tộc thì sinh tử, vinh nhục nào có sá chi.
Ngày 26 tháng 12 năm 1936, Tưởng Giới Thạch và Trương Học Lương về đến Nam Kinh, lịch sử thật trớ trêu, Tưởng như vị anh hùng khải hoàn, còn Trương - thân phận phạm nhân chờ ngày ra pháp đình lãnh án, và sau đó sang sảng lời ông: “Tôi không cảm thấy sai lầm về chủ trương của mình”. Ôi khúc bi tráng Tây An và những cảnh đời chìm nổi của tác giả, không chỉ vang vọng một lần trong kí ức!
 
0
IV
HỢP TÁC LẦN HAI TƯỞNG GIỚI THẠCH LẠI DIỄN KỊCH
 
Chiếc máy bay đưa Tưởng Giới Thạch an toàn hạ cánh xuống phi trường Nam Kinh, và người ta tưởng sự biến Tây An hoàn toàn hạ màn. Thế nhưng với con người ưa diễn kịch như Tưởng Giới Thạch thì sân khấu Nam Kinh vẫn còn tiếp nối những màn của ông. Tưởng vừa về đến Nam Kinh thì Khổng Tường Hy lập tức ra thông báo thôi giữ chức quyền viện trưởng viện hành chính, mọi công việc phục vị Tưởng viện trưởng điều khiển. Tưởng bị nghĩa quân vây bắt ở Tây An. Khổng lên thay, nay Tưởng được phóng thích và trở lại chức vụ cũ là đương nhiên, nhưng ông lại đề xuất một vấn đề không ai ngờ tới: “Để thể hiện trách nhiệm hành chánh và uỷ viên trưởng hội đồng quân sự”. Thật là một “kịch bản” xuất sắc! Ông mà cũng tình nguyện từ bỏ cái ghế uỷ viên trưởng hay sao? Dư luận nhanh chóng đánh giá, Tưởng Giới Thạch đang đeo mặt nạ, vì sau sự biến Tây An ông quả là bị mất mặt, tự trách móc mình rằng công lao 8 năm tiễu trừ Cộng sản bỗng chốc trở thành tay trắng. Đề xuất của Tưởng không được chấp nhận, người ta chỉ đồng ý ông nghỉ 1 tháng để chữa bệnh vì khi nhảy qua tường rào ở Hoa Thanh trì định trốn thoát. Tưởng Giới Thạch bị ngã khá đau và bắt đầu chứng nhức lưng từ bấy. Ở Tây An, Tưởng đã hứa “từ nay về sau tôi sẽ không tiễu Cộng nữa”, về đến Nam Kinh ông lại tiếp tục phát triển trên “Trung ương nhật báo”“ rằng, tinh thần yêu nước của quốc dân đồng bào thật là nhiệt thành, sẽ đảm bảo cho sự phục hưng của dân tộc v.v...
Còn Mao Trạch Đông, ông thắng to qua ván cờ sự biến Tây An, công bố nhiều văn bản quan trọng, tiếp tục chỉ thị cho toàn thể Trung Cộng giám sát và buộc Tưởng Giới Thạch làm đúng lời hứa kháng Nhật cứu nước, vui vẻ chuyển dời Hồng đô từ Bảo An về Diên An và tiếp tục phát huy kết quả của cuộc khởi nghĩa Tây An.
Những lúc gặp việc rối bời không thể “dục tốc”, Tưởng Giới Thạch thường tự nguyện “hạ bệ” hoặc trở về quê hương tĩnh dưỡng. Lần này cũng vậy, ông lại đi Khê Khẩu Triết Giang, ngoài ra Tưởng còn có nghĩa vụ chịu tang cho người anh cùng cha khác mẹ là Tưởng Giới Khanh vừa qua đời ngày 27 tháng 12 năm 1936. Giới Khanh con bà hai họ Từ, lớn hơn Giới Thạch 10 tuổi, chức vụ cao nhất là giám đốc hải quan Ninh Ba nên người đời thường gọi ông Tưởng giám đốc. Nghe nói, khi nghe tin Tưởng Giới Thạch bị bắt ở Tây An truyền về quê nhà, Giới Khanh đang xem kịch bỗng lăn đùng ngã bệnh vì ông sẵn chứng cao huyết áp. Giới Khanh nằm liệt giường từ đó và tắt thở vì quá vui mừng lúc người nhà báo cho ông biết, Tưởng Giới Thạch vừa được phóng thích trở về Nam Kinh.
Nhưng trước khi đi Khê Khẩu, Tưởng Giới Thạch phải giải quyết vấn đề Trương Học Lương sao đây? Cho Trương về lại Tây An - mặt mũi Tưởng biết để đâu? Bắt giam Trương - chịu thế nào với dư luận, người ta thả anh ra, còn thân hành tháp tùng anh hồi kinh an toàn, vậy mà nỡ, thật là tiểu nhân! Tưởng Giới Thạch một tay đa mưu túc kế hẳn phải có một giải pháp tinh ranh, sau đây là “kịch bản” của ông với Trương. Trên đường bay Tây An - Nam Kinh, tất nhiên là Trương Học Lương không được ngồi cùng phi cơ với Tưởng, ông và 7 người tuỳ tùng đã hạ cánh sau Tưởng một tí, liền lên xe với Tống Tử Văn thẳng về dinh thự họ Tống. Những ngày đầu Trương sống nhàn nhã, tự do đi thăm thú bạn bè, đương nhiên lúc nào cũng có 2 xe bám riết để “bảo vệ” ông, nhưng đến sáng ngày 31 tháng 12 năm 1936 Trương được mời đi dự hội nghị hội đồng quân sự. Ông bước vào phòng họp, không phải! đây là toà án binh xử Trương Học Lương vì trọng tội “bạo hành uy bức thượng quan”, lãnh án mười năm tù. Tại phiên toà lịch sử này. Trương Học Lương cho công bố mật điện của Tưởng Giới Thạch gửi cho ông ngày 16 tháng 9 năm 1931, hai ngày trước khi xảy ra sự biến “9.18”. Hình như Trương Học Lương dự đoán sẽ đến bước đường cùng này nên trong túi áo của ông luôn sẵn sàng những tang chứng ấy. Bức điện ghi rõ ràng chỉ thị của Tưởng “Dù quân Nhật ở Đông Bắc có khiêu khích như thế nào, quân ta cũng không được đề kháng chống trả, tránh mọi xung đột”. Với chỉ thị đó, Trương bị người đời chê trách là “tướng quân không đề kháng”, bị Trung Cộng liệt vào “quân bán nước” và 3 tỉnh Đông Bắc bị Nhật xâm chiếm. Trương Học Lương đọc bức điện Tưởng gửi và trả lời với quan tòa vì sao ông phải dấy binh ở Tây An. rồi khẳng định “về chủ trương, tôi hoàn toàn không sai”.
Nếu lịch sử dừng tại đây, Trương Học Lương lãnh án 10 năm tù, thì sau năm 1946, ông sẽ được trở về với gia đình, nhưng Tưởng Giới Thạch đã cao tay ấn, chuyển kịch bản sang một bước khác, bề ngoài trông có vẻ nhân đạo từ bi, song bên trong thì cực kỳ thâm hiểm, thỏa mãn lòng hận thù của mình.
Chiều hôm ấy, 31 tháng 12 năm 1936, Tưởng trình lên chính phủ lời cầu xin ân xá cho Trương, chính phủ chuẩn y và giao quân đội, Hội đồng quân sự quản thúc. Khi mà Trương Học Lương đã sa vào mạng lưới quản thúc của quân đội thì không ai còn biết được cuộc đời đày ải đã diễn ra như thế nào đối với ông, duy có điều Trương từng bị cầm tù hơn 50 năm đi qua Khê Khẩu - Phụng Hóa, Hoàng Sơn - An Huy, Bình Hương - Giang Tây, Bang Châu, Vĩnh Hưng, Nguyên Lăng - Hồ Nam, Tu Văn, Đồng Tử, Quý Dương - Quý Châu v.v...
Năm 1946, người ta bí mật đưa ông ra Đài Loan, vẫn cầm tù quản thúc cho tới năm 1986...
Kịch bản của Tưởng Giới Thạch là xử án - ân xá - quản thúc, vừa rất thương gia, vừa rất cứng rắn, gạt bằng một trở ngại đáng gờm của mình trên con đường chính trị - tác giả sự biến Tây An, ông Trương Học Lương, người cùng Tưởng “Chính kiến chi tranh uyển nhược cừu địch”!
 
0
TRƯƠNG HỌC LƯƠNG VẪN BÍ MẬT “YÊN TRONG”
 
Tháng 12 bất hạnh đã qua, Tưởng Giới Thạch thoát hạn, bước vào tuổi 50. Tin tức ân xá cho Trương Học Lương đăng in trên mọi trang báo của Nam Kinh đã tạm xoa dịu tình hình. Ngày 2 tháng 1 năm 1937, Tưởng Giới Thạch và Tống Mỹ Linh đáp máy bay về Khê Khẩu nghỉ phép, dưỡng bệnh, ngày ngày hương khói cho mẹ và anh trai, nhưng kỳ thực đó là thời gian để Tưởng suy ngẫm tiếp tục nước cờ “yên trong” của mình và ông vẫn luôn luôn điều khiển từ xa đối với Nam Kinh.
Ngay hôm tết dương lịch năm 1937, Hà Ứng Khâm đã hạ lệnh quân trung ương phân thành 5 lộ chuẩn bị tiến vào Tây An, còn Dương Hổ Thành chỉ huy quân Tây Bắc thì lập ra 7 đạo phòng tuyến sẵn sàng nghênh tiếp. Cũng ngày đầu năm 1937 ấy, quân Đông Bắc và quân Tây Bắc đã tụ tập mít tinh tại sân vận động Tây An kháng nghị Tưởng Giới Thạch bắt giam Trương Học Lương, và hô vang khẩu hiệu “bước trên con đường máu đấu tranh giải phóng dân tộc”. Tình hình những ngày hậu Tây An sự biến vẫn căng thẳng, như kiếm đã rút khỏi bao, tên đã lên trên cung, mật điện “Lạc Mao” (Lạc Phủ - bí danh tổng phụ trách Trung Cộng lúc bấy giờ, là Trương Văn Thiên, và Mao Trạch Đông) đã đến tay Phan Hán Niên, nhân vật quan trọng của Trung Cộng công tác tại Thượng Hải và Nam Kinh, nhắc anh yêu cầu Tưởng Giới Thạch giữ đúng lời hứa chấm dứt nội chiến cùng nhau kháng Nhật, đồng thời chỉ thị không để Chu Ân Lai về Nam Kinh đàm phán với Tưởng Giới Thạch, vẫn chốt cứ Tây An, phòng tránh âm mưu “Trương Học Lương thứ hai” của Tưởng.
Từ Khê Khẩu, Tưởng Giới Thạch hạ lệnh cho Cố Chúc Đồng: “Quân ta tạm dừng tiến vào Tây An, nhưng phải luôn luôn uy hiếp, tránh mọi sự lỏng lẻo”, đồng ý giải quyết hòa bình hai đạo quân Tây Bắc, còn với Hồng quân, ông vẫn ngấm ngầm quan niệm “phỉ đỏ” như xưa, không chịu ký tên cùng Mao Trạch Đông bất kỳ văn bản gì.
Ngày 2 tháng 2 năm 1937, Tưởng Giới Thạch đi Hàng Châu tiếp tục nghỉ dưỡng, nhưng vẫn không quên lèo lái tình hình với phương châm “yên trong”, kết quả thật khả quan cho Tưởng, quân Đông Bắc rút khỏi Đồng Quan phía đông Tây An hành binh về Giang Tô và An Huy biên chế lại tổ chức, đưa Dương Hổ Thành đi nước ngoài học tập bồi dưỡng, còn quân của Dương rút về Tam Nguyên, ngày 6 tháng 2 quân trung ương “hòa bình” thế chỗ ở Tây An, vấn đề còn lại chỉ là Hồng quân.
Vòng đàm phán Quốc - Cộng đầu tiên được giao cho Chu Ân Lai và Cố Chúc Đồng. Cố Chúc Đồng là quân nhân tin tưởng của Tưởng Giới Thạch, sau này trở thành “thượng tướng ngũ hổ”, tốt nghiệp trường sĩ quan lục quân Bảo Định, tham gia giảng dạy môn chiến thuật quân sự ở trường Hoàng Phố, và là phái hệ của Tưởng. Trước khi lên đường đi Tây An, Tưởng đã căn dặn Chúc Đồng “lấy chính trị làm chủ, quân sự là hỗ trợ”. Từ Lạc Dương. Cố Chúc Đồng chỉ huy 5 tập đoàn quân tiến vào Tây An một cách êm thuận và theo kịch bản của Tưởng giao, cùng Chu Ân Lai đàm phán nhằm hoà tan Hồng quân vào với Nam Kinh.
 
0
MAO TRẠCH ĐÔNG TRANH THỦ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG
 
Từ Diên An, Lạc - Mao điện báo cho Chu Ân Lai: “Về quân sự đồng ý đề xuất biên chế Hồng quân thành 12 sư đoàn, 4 quân đoàn do Lâm, Hạ, Lưu, Từ chỉ huy, tất cả tổ chức thành một lộ quân, chánh phó Tổng Tư lệnh là Chu, Bành, về vấn đề đảng yêu cầu không thay đổi kể cả sự lãnh đạo đối với Hồng quân”. Trong điện báo trên đây, các chữ gọi tắt chính là Lâm Bưu, Hạ Long, Lưu Bá Thừa, Từ Hướng Tiền, Chu Đức, Bành Đức Hoài - những danh tướng của Hồng quân. Cuộc hội đàm Chu - Cố ở Tân An những ngày đầu năm 1937 thực chất là sự thách giá, trả giá giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch trước khi đi vào hợp tác kháng Nhật, lúc ấy Tưởng ở Hàng Châu, còn Mao ở Diên An, họ đều suy nghĩ cho các nước cờ của mình.
Ngoài Cố Chúc Đồng ra, phía Quốc dân đảng còn có Trương Xung, Hạ Trung Hàn, tương tự Trung Cộng cử thêm Diệp Kiếm Anh cùng sát cánh với Chu Ân Lai. Đồng Tiểu Bằng, người luôn bên cạnh Chu Ân Lai lúc bấy giờ đã hồi ức, như một con thoi Chu Ân Lai bay đi bay lại trên bầu trời Tây An - Diên An không biết bao nhiêu lần để liên lạc với Trung Cộng và triển khai ý đồ của Mao Trạch Đông trong đàm phán. Diên An có một sân bay nhỏ, nhưng thiếu thiết bị hoa tiêu, máy bay chiến đấu đưa Chu Ân Lai từ Tây An về Hồng đô căn cứ, quần thảo cả tiếng đồng hồ mà không sao đáp xuống được phi trường này nên đành phải quay trở lại nơi xuất phát, làm cho cả hai đầu vô cùng lo lắng. Ngày hôm sau do yêu cầu công tác, bất chấp hiểm nguy, Chu Ân Lai vẫn có mặt tại đại bản doanh Diên An cùng Mao bàn thảo những bước đi tiếp theo trên bàn cờ với Tưởng và Quốc dân đảng.
Ngày 10 tháng 1 năm 1937, Trung ương Trung Cộng chính thức dời đô về Diên An, 3 hôm sau Mao Trạch Đông mới vào ở căn nhà hầm lịch sử của Hồng đô, điều kiện vật chất vô cùng khó khăn không thể nào sánh nổi với các biệt thự bên cạnh Tây Hồ Hàng Châu hay trên đỉnh Lư Sơn mà Tưởng Giới Thạch đang tận hưởng và chuẩn bị cho một cuộc hội nghị quan trọng của Quốc dân đảng. Mao Trạch Đông nắm bắt tình hình, đã nhanh chóng gửi cho Tưởng một bức điện nhân Tưởng chủ trì hội nghị này, triệu tập toàn bộ Ban chấp hành Trung ương để quyết định sách lược chính trị của thời kỳ sau sự biến Tây An, phía Mao và Trung Cộng đưa ra 5 yêu cầu và 4 đảm bảo nhằm đình chỉ nội chiến Quốc - Cộng, tập trung lực lượng Trung Hoa, chĩa mũi nhọn vào quân xâm lược. Phía Quốc dân đảng cũng vậy, Tưởng phải đối mặt với hai vấn đề, quân Nhật và Trung Cộng, phái cực hữu do Uông Tinh Vệ cầm đầu chủ trương “muốn kháng Nhật, trước tiên phải tiễu Cộng”, phái cánh tả mà Tống Khánh Linh chủ soái thì trước sau vẫn hô hào “liên Cộng khánh Nhật”. Còn Tưởng Giới Thạch? Ông chưa hoàn hồn sau vụ “Trương Học Lương đột biến bạo loạn”, đang ra sức phủ định ảnh hưởng của sự biến Tây An, nhưng tinh thần yêu nước chống Nhật mà sự biến Tây An và các tác giả của nó giương cao thì không tài nào huỷ diệt nổi, hội nghị trung ương kỳ 3 khóa 5 lần ấy của Quốc dân đảng buộc phải ra tuyên bố “Nếu vượt quá hạn chịu đựng, thì chỉ còn mỗi con đường là kháng chiến mà thôi”, đây là lần đầu tiên xuất hiện thuật ngữ “kháng chiến” trong hàng ngũ Quốc dân đảng.
 
0
THÁCH GIÁ, TRẢ GIÁ
 
Hội nghị Trung ương của Quốc dân đảng cũng xác định nguyên tắc Quốc - Cộng hợp tác, nhưng đưa ra một loạt yêu sách đòi thống nhất quân đội, thống nhất chính quyền, huỷ bỏ tuyên truyền đỏ và đấu tranh giai cấp v.v... cuộc đàm phán giữa hai bên vì vậy mà còn gay go khúc khuỷu. Thoạt tiên ở Tân An, Cố Chúc Đồng và Chu Ân Lai đi đến thỏa thuận 3 điểm: đồng ý cho Hồng quân lập Văn phòng đại diện đóng tại Tân An, Hồng quân sẽ biên chế thành 3 sư đoàn và từ tháng 3 năm 1937 Quốc dân đảng bắt đầu cung cấp lương thảo cho đội quân này của Trung cộng.
Đàm phán đã không dễ mà thực hiện kết quả đàm phán lại càng khó hơn. Ngày 16 tháng 2, Tưởng mật điện cho Cố Chúc Đồng quy định “khung giá”: Binh lực của Hồng quân không quá 1 vạn 5 ngàn quân!
Phía Mao liền “trả giá”: phải trên 5 vạn người. Cuộc thách giá, trả giá cứ vậy mà nhùng nhằng giữa Diên An và Hàng Châu, còn Tây An chỉ là nơi công bố ngã giá. Người ta lại tung tin Tưởng Giới Thạch bổ nhiệm Mao Trạch Đông làm chủ tịch tỉnh Cam Túc, Mao cười sảng khoái và nói: “ông ấy quá khôi hài”. Sau này tra cứu sử tư liệu mới hay Tưởng đã có ý đồ ngông cuồng như vậy, thậm chí còn muốn tìm cách đưa Mao xuất dương hòng gạt bớt mũi nhọn. Tưởng đâu biết trong đời làm chính trị, Mao không hề ra nước ngoài khi chưa nắm chức quyền.
Cuối tháng 3 năm 1937, Tưởng Giới Thạch mời Chu Ân Lai về Hàng Châu tiếp tục đàm phán, Chu ghé Thượng Hải và nhờ Tống Khánh Linh chuyển trước cho Tưởng 15 ý kiến của Trung Cộng. Tưởng gặp lại Chu, lòng rất phấn khởi, vì mới 3 tháng trước đây nhờ sự quả đoán, nhanh trí và lão luyện của Chu Ân Lai mà Tưởng Giới Thạch được cứu nguy khỏi “bạo loạn” Tây An, ấn tượng ấy chưa thể phai mờ được. Tưởng nói tốt và ra chiều tán dương Trung Cộng, ông tự kiểm điểm lại những mất mát, sai lầm đã xảy ra trong thời gian qua, rồi đề nghị phía Trung Cộng khởi thảo đề cương hợp tác giữa hai đảng. Ngày 2 tháng 4, Mao Trạch Đông, Trương Văn Thiên, Bác Cổ, Bành Đức Hoài, Lâm Bá Cừ v.v... tề tựu trên sân bay Diên An, nồng nhiệt đón Chu Ân Lai vừa từ đàm phán với Tưởng trở về và ngay sau đó Trung Cộng chấp nhận “Hồng quân cải danh, Khu Xô-viết cải chế”. Tại Đại hội Thanh niên cứu quốc lần thứ nhất ở Hồng đô lúc bấy giờ Mao còn diễn thuyết với chủ đề “thay mũ”. Chủ trương Quốc - Cộng hợp tác nhanh chóng lan truyền ở Diên An và các khu căn cứ, nhiều người nghĩ không ra, đấu đi đấu lại, cuối cùng chui đầu vào cái mũ của Quốc dân đảng, mới ngày nào còn hô “đả đảo Tưởng Giới Thạch”, “Tưởng Giới Thạch phải chết!” thì hôm nay bỗng dưng “ủng hộ Tưởng ủy viên trưởng” thậm chí “phục tùng Tưởng ủy viên trưởng”. Ngày 15 tháng 4 năm 1937, Trung ương Trung Cộng phát “Cáo toàn Đảng đồng chí thư” (Thông cáo với toàn thể đảng viên trong Đảng) dài tới cả vạn chữ, giải thích chủ trương “liên Tưởng kháng Nhật” và “Quốc - Cộng hợp tác” lần thứ hai, khẳng định Trung Cộng không đầu hàng, nước cờ của hai bên là như vậy, hoạ phát xít “tam quang” (phá sạch, đốt sạch, giết sạch) đang ập tới, không còn con đường chọn lựa nào khác.
 
0
KHÁNG CHIẾN TÁM NĂM
 
Mười giờ đêm ngày 7 tháng 7 năm 1937, quân Nhật gây hấn vụ Lư Câu Kiều, tiến công đại quy mô vào lãnh thổ Trung Quốc. Lúc này Tưởng Giới Thạch và Chu Ân Lai đang đàm phán về công việc hợp tác giữa hai đảng Quốc - Cộng ở Lư Sơn. Nhận được điện khẩn của Tần Đức Thuần - thị trưởng Bắc Bình (ngày nay là Bắc Kinh - ND), Tưởng Giới Thạch hạ lệnh cho Tống Triết Nguyên - quân đoàn trưởng quân đoàn 29 Quốc dân đảng: “Cố thủ không lùi, động viên toàn lực, chuẩn bị phản công”, thái độ của Tưởng khác hẳn 6 năm về trước khi xảy ra sự kiện “18 tháng 9” mà ông đã chỉ thị Trương Học Lương rằng, “quân ta không được chống cự”. Người đời sau nhận xét, quân Nhật càng lấn tới thì Tưởng Giới Thạch càng ngã về phía Trung Cộng, và đứng trước họa xâm lăng, cuộc hợp tác lần thứ hai của Quốc - Cộng càng nhanh đi đến hiện thực.
Tại Diên An, Mao Trạch Đông kịp thời ra thông điệp biểu thị thái độ của Trung Cộng trước sự kiện quân Nhật tiến công ở Lư Câu Kiều, kêu gọi toàn dân đứng lên kháng chiến, cảnh báo: “Bình Tân (Bắc Bình và Thiên Tân - ND), nguy cấp! Hoa Bắc nguy cấp! Dân tộc Trung Hoa nguy cấp!”, Mao cũng điện khẩn lên Lư Sơn cho Tưởng... “Tướng sĩ Hồng quân nguyện dưới sự chỉ huy của uỷ viên trưởng, một phen sống mái với kẻ thù, xả thân vì nước” ... Sáng ngày 1 tháng 8 năm 1937, Mao Trạch Đông nhận được lời mời của Tưởng Giới Thạch do Trương Xung chuyển tới, theo đó Mao Trạch Đông, Chu Đức và Chu Ân Lai bay đi Nam Kinh dự hội nghị quốc phòng. Mao phân vân, bởi lẽ đàm phán Lư Sơn chưa đi đến kết quả, nay Tưởng lại bày trò hội nghị Quốc phòng Nam Kinh, rồi quyết định, nếu bàn về quân sự thì Chu Ân Lai, Chu Đức và Diệp Kiếm Anh tham dự, nếu bàn các vấn đề khác thì ngoài Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh còn có Lâm Bá Cừ, Bác Cổ cùng đi, khi chưa cần thiết Mao sẽ không xuất tướng. Cũng ngày hôm nay mà sau này lịch sử ghi nhận hai chữ “bát nhất”. Phương diện quân số 1, 2, 3, 4 và Hồng quân Thiểm Bắc của Trung Cộng cải tổ thành Lộ quân thứ 8 Cách mạng Quốc dân gọi tắt là “Bát lộ quân” do Chu Đức làm Tổng Tư lệnh, Bành Đức Hoài làm phó và Diệp Kiếm Anh tham mưu trưởng. Tháng 10 năm 1937, quân du kích của Trung Cộng ở 8 tỉnh Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hồ Nam, Hồ Bắc, Hà Nam, Triết Giang, An Huy theo lệnh Mao tập hợp thành Quân thứ tư quân Cách mạng Quốc dân gọi tắt là “Tân tứ quân” do Diệp Đình làm quân trưởng. Mao Trạch Đông đi đến Quốc - Cộng hợp tác lần thứ hai bằng những quân cờ: Bát lộ quân, Tân tứ quân và Khu đỏ do Lâm Bá Cừ làm thủ trưởng hành chính tối cao, vậy là ông đã hạ mũ “triệt để”, tất cả đều vì mục đích mặt trận dân tộc thống nhất kháng Nhật, còn mình trước sau vẫn là lãnh tụ của Trung Cộng, mặc cho Tưởng Giới Thạch muốn chức hàm gì cũng được. Để chuẩn bị cho những nước cờ sau này, thời kỳ ấy Mao Trạch Đông chủ trì hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Trung Cộng tại Lạc Xuyên từ ngày 22 đến ngày 25 tháng 8 năm 1937 thông qua chủ trương “sơn tước mãn thiên phi” - nhân kháng chiến chống Nhật, nhân Quốc - Cộng hợp tác mà tung lực lượng đảng viên cộng sản về mọi miền đất nước thể như đàn chim sẻ từ núi cao bay khắp bốn phương trời, bay khắp Trung Quốc. Mao nói, ta đổi mũ rất nhanh, nhưng ta vẫn là Cộng sản và phải nhớ “Đảng chỉ huy họng súng”.
Năm 1937 nhanh chóng qua đi, một sự kiện đáng ghi nhớ trong đời Mao đã khởi đầu từ năm này, ấy là Lam Bình - Giang Thanh hướng về đất thánh để sau đó trở thành đệ nhất phu nhân, nắm quyền bính một thời.
Tiếp đến là những ngày “kề vai sát cánh, chung một chiến hào”, quân Tưởng lo chính quy trực diện, quân Mao lo du kích địch hậu. Từ “Chủ nghĩa không đề kháng” mong muốn thỏa hiệp, đến chính sách sai lầm “dẹp ngoài, trước phải yên trong” với bài học sự biến Tây An, Tưởng Giới Thạch chuyển sang “kháng Nhật” trở thành lãnh tụ 8 năm kháng chiến ở Trung Quốc, một động lực quan trọng, một tác nhân tích cực của quá trình ấy chính là Trung Cộng, và nhân dân Trung Quốc đã góp phần mình vào chiến thắng của phe Đồng minh năm 1945 đánh bại quân phát xít. Tiếc thay, tiếp theo là nội chiến, hai bên xanh - đỏ lại vào trận, mãi 4 năm sau mới phân vạch kẻ ngoài đảo xa. người trong lục địa, vậv mà cuộc cờ thế kỷ vẫn chưa yên nguôi.
 
0
V
MÂY MÙ VẦN VŨ
 
Quốc - Cộng hợp tác chưa được bao lâu thì xảy ra sự kiện Hoản Nam - Chính phủ trung ương Tưởng Giới Thạch lấy cớ quân du kích An Huy (gọi tắt là Hoản - ND) chống lệnh, đã tàn sát Tân tứ quân, tàn sát Cộng sản, bắt giam Diệp Đình quân trưởng và tuyên bố giải thể cánh quân này của Trung Cộng. Tháng 1 năm 1941, báo chí Trung Quốc đều đưa tin Hoản Nam, nhưng hầu như thiên về một phía chính phủ trung ương, chân tướng sự viện không rõ ràng, tờ “Tân Hoa nhật báo” của Trung Cộng xuất bản tại Trùng Khánh bị kiểm duyệt nên cũng không khá gì hơn. Hồi ấy báo này đăng bài thơ “Ai điếu người anh em Giang Nam vì nước lâm nạn” của Chu Ân Lai, ở Diên An Mao Trạch Đông bình rằng, vần điệu đau xót mà thi từ mung lung, thật ngậm ngùi. Song chính phủ Tưởng Giới Thạch không thể bưng bít được sự kiện Hoản Nam đối với phóng viên báo chí nước ngoài. Từ New York, London truyền đi những dòng tin chân thực kèm lời bình “bất hạnh”, “lo lắng”, đại sứ Mỹ, đại sứ Anh đã gặp Tưởng biểu thị thái độ, lập trường, rằng chúng tôi không mong muốn nội chiến ở Trung Quốc, rằng vấn đề Tân tứ quân không nên dẫn đến sự tàn sát lẫn nhau, tất cả chỉ làm suy yếu lực lượng kháng chiến, tất cả chỉ có lợi cho Nhật Bản. Đại sứ Liên Xô đương nhiên ủng hộ Trung Cộng, phát biểu gay gắt hơn, dù giải thích như thế nào, chúng tôi cũng không thể đồng ý với quý quốc về sự biến Hoản Nam! Đối với Trung Quốc, nội chiến có nghĩa là diệt vong. Mỹ, Anh, Nga đều tỏ thái độ phản đối, khiến cho Tưởng Giới Thạch từ niềm vui “tam kỷ lâm môn” chuyển sang điệu buồn “tam bất hoan nghênh”, đúng chỉ có Nhật Bản hý hửng, thừa cơ tấn công, không chỉ nhằm vào Tân tứ quân mà cả quân trung ương của Tưởng và Uông Tinh Vệ - phái thân Nhật, sau này trở thành Hán gian - đã phát biểu một câu “danh ngôn”: “Mấy năm lại đây Tưởng Giới Thạch chưa làm được điểu gì hay ho, nhưng lần này qua Hoản Nam, ông ta là con người tốt!”. Nội chiến đang âm ỉ trong lòng cuộc kháng Nhật, cánh tả của Quốc dân đảng mà đứng đầu là Tôn phu nhân Tống Khánh Linh lên án, phê phán Tưởng Giới Thạch một cách quyết liệt.
Về phần mình, trong các “mệnh lệnh” và “văn bản” công khai của Trung Cộng, Mao Trạch Đông tuyên bố, Trung Cộng sẽ không bị lừa và nhẫn nhục như năm 1927 nữa, chúng ta đã là một đại chính đảng độc lập, Tưởng đẩy chúng ta đến bước đường cùng đối đầu này thì còn lời nào để mà nói nữa! Tình thế khiến quan hệ Quốc - Cộng đi đến điểm đóng băng, nhưng làm cho cả Mao lẫn Tưởng phải lạnh cái đầu, tìm cách kiềm chế, bởi vì họ còn có chung một kẻ thù - giặc ngoại xâm Nhật Bản, vô lẽ “trai cò đánh nhau” để cho “ngư ông được lợi” hay sao? Mao Trạch Đông chỉ phản kích trên dư luận nhằm tạo thanh thế. Ông nói giành thế công về chính trị, tạm thời vẫn giữ thế thủ trong quân sự. Còn Tưởng, ông lần mò tìm bậc để xuống thang, hạn chế vấn đề trong phạm vi Tân tứ quân, không cho lan ra Bát lộ quân và Trung Cộng. Bài học đau đớn nhất đối với Tưởng là ngay sau khi mệnh lệnh “17 tháng giêng” giải tán Tân tứ quân vừa truyền xuống thì 15 vạn quân của ông ở phía đông đường sắt Bình - Hán (Bắc Bình - Hán Khẩu ND) lập tức bị quân Nhật bao vây, cũng năm ấy Trung Cộng và Mao Trạch Đông cự tuyệt dự hội nghị tham chính thường niên.
Sự kiện Hoản Nam và nước cờ “kéo nhau” của hai kỳ thủ đến dây đành gác lại bởi vì với lực lượng 190 sư đoàn, 3700 xe tăng, 4900 máy bay tiêm kích và 190 chiến hạm, quân Đức đã tấn công Liên Xô vào lúc rạng sáng 22 tháng 6 năm 1941, khi mọi người vẫn còn say ngủ. Nửa giờ sau đó, đại sứ Đức ở Mạc Tư Khoa mới trao cho phía Liên Xô tuyên chiến thư và thế là Thế chiến thứ hai bùng nổ.
Tưởng Giới Thạch xoay cờ sang một cục diện khác: tuyên chiến với Nhật, tuyên chiến với Đức. Kể cũng buồn cười, từ sau vụ Lư Câu Kiều ngày 7 tháng 7 năm 1937, đúng 4 năm nay quân Nhật đã thôn tính, đã “tam quang” - đốt sạch, phá sạch, giết sạch không biết bao nhiêu là quốc thổ của Trung Quổe mà Tưởng ủy viên trưởng vẫn im hơi lặng tiếng, mãi tới giờ này mới cất giọng “gáy”! Không, nhà quân sự mang dòng máu thương gia khôn lắm, có đầu óc lắm, với tuyên chiến thư một lúc cả Nhật lẫn Đức. Tưởng Giới Thạch đề nghị 4 nước Trung, Mỹ, Anh, Nga nên thành lập ở châu Á một đồng minh quân sự nào đó, Roosevelt tán thành. Churchill ủng hộ, nhưng Stalin chẳng nói chẳng rằng, bởi vì ông đang lo trận tuyến phía Tây, và mới đây, tháng 4 năm 1941, Liên Xô vừa ký “Điều ước trung lập” với Nhật Bản hãy còn chưa ráo mực. Tưởng là người đề xướng sáng kiến, nên phải xung phong thực hiện. Ngày 23 tháng 12 năm 1941, Hội nghị quân sự liên hợp Đông Á được cử hành tại Trùng Khánh với các đại biểu của Trung, Mỹ, Anh và do ông chủ trì, đây là lần dầu tiên Trung Quốc xuất hiện trên vũ đài quốc tế trong vai trò của một nước lớn. Đầu năm 1942, đại biểu 26 nưóc đã tụ họp tại Washington - Mỹ để cùng ký bản “Tuyên ngôn Liên hợp quốc gia” phản đối 3 nước trục phát xít Đức, Ý, Nhật và liên kết thành mặt trận thống nhất quốc tế chống phát xít, sau đó có thêm 19 nước nữa tham gia liên minh này. Trong bản tuyên bố, 4 nước Mỹ, Anh, Nga, Trung được ghi tên đầu tiên, chính phủ Tưởng Giới Thạch nghiễm nhiên nằm trong “bốn thượng đỉnh”, uy tín quốc tế của ông như diều gặp gió, nhưng có một người xem ông chẳng ra gì, người ấy đóng vai trò quan trọng trong thế chiến thứ hai, đó là Stalin!
Thời gian này, Mao Trạch Đông lại đi một nước cờ khác, ông điện báo cho Chu Ân Lai, “phương châm của chúng ta là tự củng cố và trầm tĩnh theo dõi”. Quan hệ Quốc - Cộng đang ở giai đoạn không xấu không tốt, không nóng không lạnh, tương đối ổn định, Tưởng lo vươn lên trở thành lãnh tụ thế giới còn Mao cố thủ Diên An phát động cuộc chỉnh phong lịch sử. Năm 1941, Mao viết bản báo cáo “Cải tạo sự học tập của chúng ta”, năm 1942 “Chỉnh đốn tác phong của đảng”, “Chống giáo điều trong đảng” và “Phát biểu tại cuộc toạ đàm văn nghệ Diên An”. Trong loạt báo nêu trên, Mao nhấn mạnh phải chỉnh đốn đảng phong, học phong và văn phong, ông gọi đó là “tam phong”. Từ ngàv thành lập năm 1927, cho đến hội nghị Tuân Nghĩa năm 1935, qua nhiều lần dao động giữa hai tả và hữu, cuối cùng vai trò lãnh tụ của Mao Trạch Đông mới được xác lập trong Trung Cộng, nhưng rồi bận rộn nam chinh bắc chiến, đã có lúc nào ngơi nghỉ, ngồi lại được đâu, nay nhân dịp quan hệ Quốc - Cộng tạm không căng thẳng, Mao chủ trương tự củng cố đảng mình bằng một loạt chỉnh đốn: 1/tư tưởng, 2/ tổ chức, 3/quân đội và 4/văn nghệ. Có thể nói Trung Cộng đã lột xác, thay da đổi thịt sau cuộc chỉnh đốn lần ấy, còn Mao, qua đó ông hệ thông hóa những lý luận của mình và hình thành cái gọi là “tư tưởng Mao Trạch Đông” như mọi người đã biết.
Đang khi bằng yên phẳng lặng như vậy, thì Tưởng Giỏi Thạch mời Mao Trạch Đông cùng nhau hội ngộ tại Tây An. Ba cuộc gặp gỡ Tưởng - Mao dự kiến ở Nam Kinh, Vũ Hán và Tây An đã không thành, lần này ngày 14 tháng 8 năm 1942 Tưởng nhờ Chu Ân Lai điện khẩn về Diên An cho Mao. Chu báo cáo, thái độ của Tưởng không có gì tỏ ra ác ý, nhưng mục đích cuộc gặp gỡ thì thật khó lường. Từ Trùng Khánh, ông đề xuất với Mao hai phương án, thứ nhất cáo bệnh cử Lâm Bưu đi thay; thứ hai Tưởng, Chu cùng về Tây An, sau đó Chu và Lâm Bưu hoặc Chu Đức đại diện Mao gặp Tưởng. Mao Trạch Đông sử dụng tổng hợp cả hai phương án, ông chọn Lâm Bưu. Ngày 14 tháng 9 năm 1942, thay mặt Mao Trạch Đông, Lâm Bưu rời Diên An đi ô tô đến Tây An gặp Tưởng, cùng đoàn có Ngũ Vân Phổ và Chu Lệ Vũ, những Tưởng đã trở về Trùng Khánh, Lâm xin chỉ thị Mao và tiếp tục rong ruổi trên dặm đường thuyết khách. Cuộc gặp gỡ, mà thực chất là đàm phán, giửa Tưởng và Chu, Lâm diễn ra ở Trùng Khánh.
Lâm Bưu là một võ tướng, tính cách hướng nội, ăn nói khiêm nhường, không quen ngoại giao, lúc ấy Lâm chỉ là sư trưởng, sao địch nổi với thống soái họ Tưởng, nguyên cớ gì mà Mao lại chọn Lâm, bởi hai lẽ: Lâm Bưu là học sinh khoá 4 Trường quân sự Hoàng Phố, có thể vì tình thầy trò mà đàm đạo với hiệu trưởng Tưởng, Mao là người có tài dụng nhân như dụng mộc một cách rất thiện nghệ. Lẽ thứ hai, Lâm Bưu sau trận Bình Hình Quan đã nổi tiếng là một “danh tướng kháng Nhật” mà đến cả các khu do Quốc dân đảng kiểm soát người ta cũng phải kính nể. Lâm Bưu chữa bệnh ở Liên Xô đúng 3 năm vừa mới về nước. Nhớ lại năm ấy, 1938 tháng 3 ngày 1 tại tỉnh Sơn Tây. Lâm Bưu dẫn binh sĩ đi trinh sát địch tình, để tiếp cận thật gần quân Nhật. Lâm Bưu và những người cùng đi mặc quân phục Nhật Bản, lưng đeo kiếm dài - những quần áo, vũ khí này Lâm lấy được ở trận Bình Hình Quan. Vì hoá trang quá giống nên Lâm Bưu đã bị trúng đạn của quân Quốc dân đảng do Diêm Tích Sơn cầm đầu, sau một hồi giao tranh, mới biết là nhầm nhưng vai phải, vai trái, phổi và cột sống của Lâm đều bị thương, chảy máu đầm đìa, đưa về Diên An chữa trị không lành nên phải gửi sang Liên Xô, tháng 1 năm 1942 mói hồi hương và lập tức nhận nhiệm vụ.
Tưởng Giới Thạch chọn tư gia của Trương Thị Trung làm nơi đàm phán, và công việc đều phó thác cho Trương. Trương cũng là thầy của Lâm lúc học ở Hoàng Phố và quen biết với Chu trong hội đồng giáo viên. Gặp lại Tưởng, Lâm Bưu một điều hiệu trưởng, hai điều hiệu trưởng, chuyển lời hỏi thăm của Mao, vì lâm bệnh nên lần này phải từ chối hội ngộ. Tưởng Giới Thạch cám ơn, và tỏ ra quan tâm đến “bệnh tình” của Mao, cũng không quên nhờ Lâm “chuyển lời vấn an” về Diên An. Hàn huyên khách sáo đôi lời, Lâm Bưu đi thẳng vào chủ để đàm phán, rằng Trung Cộng tỏ thái độ ủng hộ Tưởng như lãnh tụ của dân tộc, song đề nghị Tưởng thực hiện “ba đình”, “ba thả” vả “hai biên” - đình chỉ tiến công quân sự, đình chỉ tiến công chính trị, đình chỉ o ép tờ Tân Hoa nhật báo, thả những người bị bắt trong vụ Tân tứ quân, cung cấp súng ống, đạn dược, lương thảo và biên chế quân đội của Trung Cộng thành hai tập đoàn quân. Tất nhiên là Tưởng Giới Thạch không chấp nhận đề nghị của Trung Cộng, nhưng nhiệm vụ Chu, Lâm là cứ giằng co như vậv, cũng phải hơn 8 tháng trời. Ngày 28 tháng 6 năm 1943, Chu Ân Lai, Lâm Bưu và Đặng Dĩnh Siêu cùng hơn trăm binh lính rời Trùng Khánh trở lại Hồng dô Diên An, thế là đã 3 mùa xuân nay Chu mới có dịp “về nhà”. Ngoài ra, Chu Ân Lai về Diên An còn có một nhiệm vụ quan trọng nữa, ấy là bàn thảo kế sách sau khi được tin Quốc tế Cộng sản tuyên bố giải tán. Có lẽ, người phấn khởi nhất khi “quả bom nguyên tử tân văn” này bùng nổ là Tưởng Giới Thạch, ông nghĩ rằng Trung Cộng sẽ diệt vong, và cho xuất bản cuốn “Vận mệnh của Trung Quốc” xoáy quanh luận điểm “không có Quốc dân đảng thì không có Trung Quốc”. Sách của Tưởng ấn hành hàng triệu bản, phát tận hang cùng ngõ hẻm, xem như kinh thánh tuyên truyền cho cái gọi là “Chủ nghĩa Tưởng Giới Thạch”. Một nhạc sĩ đã phổ nhạc câu “danh ngôn” của Tưởng lãnh tụ, để chọi lại Trùng Khánh, ở Diên An cũng có bài ca “không có Đảng Cộng sản thì không có Trung Quốc”, cả nhân dân, binh lính hát khắp khu đỏ, đến như Lý Nạp là con của Mao - Giang, ngày ngày liến thoắng, “không có... thì không có...”. Mao Trạch Đông chột dạ, sai rồi, sai rồi, Trung Quốc có trước và Đảng Cộng sản có sau, ông thông minh thêm vào một chữ “mới”, rằng “không có Đảng Cộng sản thì không có Trung Quốc mới”, nghe rất lô gích, không chê vào dâu được, bài ca ấy còn lưu mãi đến ngày nay, nhưng chắc không phải ai đều hiểu rõ nguồn gốc của nó.
Ngược lại với suy nghĩ của Tưởng, Mao không hề lo lắng trước sự giải thể mà Quốc tế Cộng sản vừa công bố, ông như được trút bỏ mọi “chì chiết” của một “bà mẹ chồng”. Ngày 20 tháng 3 năm 1943, Mao Trạch Đông chính thức được bầu làm Chủ tịch Bộ Chính trị Trung ương Trung Cộng, nắm giữa cương vị ấy cho tới ngày 9 tháng 9 năm 1976, lúc nhắm mắt xuôi tay. Một bên chủ nghĩa Tưởng, một bên tư tưởng Mao giằng co, tiến thoái trên bàn cờ Quốc thổ Trung Hoa. Tám năm kháng Nhật (1937 - 1945) và sau đó những năm nội chiến (1945 - 1949) nhân dân Trung Quốc chọn lựa một trong hai vận mệnh cho mình, hoặc Quốc dân đảng, hoặc Đảng Cộng sản. Thế chiến thứ hai chuyển sang giai đoạn phản công của quân đội Xô-viết, sự thất bại của phát xít đã rõ ràng, vấn đề chỉ là thời gian. Làm một chính trị gia, điều quan trọng nhất là lượng trước nước cờ sẽ phải đi trong tương lai; về khả năng này Tưởng và Mao không hẹn mà gặp. Mao Trạch Đông triệu tập “Thất Đại” (Đại hội đại biểu toàn quốc Trung Cộng lần thứ bảy), họp trong 50 ngày, từ 23 tháng tư đến 11 tháng sáu năm 1945 với quy mô chưa từng có, 547 đại biểu chính thức, 208 đại biểu dự khuvết. Trên Hồng đô Diên An cao nguyên hoàng thổ, đại hội 7 của Trung Cộng đề ra sự chọn lựa trong “hai loại vận mệnh của Trung Quốc” và vấn đề “chính phủ liên hợp”. Ở Trùng Khánh, Tưởng Giới Thạch chủ trì “Lục Toàn” (Đại hội đại biểu toàn Quốc Quốc dân đảng lần thứ sáu), họp chỉ hơn nửa tháng từ ngày 5 đến 21 tháng năm nàm 1945, số đại biểu chính thức 579 người, dự khuyết 161 người, bàn thảo cách “tiêu diệt Trung Cộng sau khi Nhật thua”.
Bên này gọi là “Đại”, bên kia xưng “Toàn”, nhưng thực chất đều là cuộc họp lớn của một chính đảng, bàn thảo chiến lược từng giai đoạn. Tra cứu lại tư liệu lịch sử, người  ta thấy đêm trước của Thế chiến thứ hai kết thúc, hai ông Tưởng, Mao cùng đi một nước cờ tiêu diệt nhau, cho nên phải nhiều năm sau nữa tiếng súng mới tạm yên trên lãnh thổ Trung Hoa và tiếp đó lấy eo biển Đài Loan làm vạch ranh giới, người trong lục địa, kẻ ở đảo xa, song cuộc cờ vẫn chưa ngưng nghỉ. Cho phép chúng tôi tạm dừng phần biên dịch của mình ở thế cờ này, vì sau đó đàm phán Trùng Khánh giữa Quốc - Cộng có xảy ra đi nữa. Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch có bắt tay, chúc rượu đi nữa, tất cả chỉ là chiến dịch, chiến thuật mà thôi, còn đường lối, chiến lược thì hai ông đã bất biến từ lâu tại Thất Đại và Lục Toàn rồi. Bạn đọc sẽ đoán nhận ra ngay chung cuộc, hà tất phải tốn nhiều bút mực, xin chuyển sang một nhân vật khác trên chính trường Trung Quốc, ông Đặng Tiểu Bình.
 
0
LÝ KIỆN
 
ĐẶNG TIỂU BÌNH BA LẦN VÀO RA TRUNG NAM HẢI
 
 
 
1. BỊN RỊN TÂY NAM
 
Trùng Khánh một ngày đầu thu, sương mù dần tan, sừng sững những rặng núi, rừng cây, lầu các ở đôi bờ nơi hội lưu của Gia Lăng Giang với Trường Giang, cả Trùng Khánh, cả Tứ Xuyên và cả Tây Nam hôm nay vui buồn lẫn lộn khi tiễn người con của quê hương về kinh đô nhận lãnh một trọng trách cao cả và nặng nề hơn. Đoàn xe xuất phát từ cơ quan Cục Tây Nam đã tiến đến phi trường, một người trung niên dáng vóc thấp nhỏ, vai bành, bước ra khỏi xe, lần lượt bắt tay từng cán bộ Đảng, chính quyền, quân đội đi tiễn và nhanh nhẹn lên cầu thang máy bay vẫy tay chào tạm biệt. Đó là Đặng Tiểu Bình, lúc bấy giờ là Bí thư thứ nhất Cục Tây Nam Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó chủ tịch Quân uỷ Tây Nam, Chính uỷ Quân khu Tây Nam, thành viên của Chính phủ nhân dân trung ương, Quân uỷ trung ương và Ban chấp hành Hội hữu nghị Trung - Xô.
Máy bay vút khỏi phi trường, lao vào không trung. Đặng Tiểu Bình nép mình bên ô cửa, lơ đãng nhìn mây trắng bồng bềnh và chìm vào suy tưởng giữa vùng trời Tây Nam cao lộng.
Ôi, Tây Nam, sơn hà nơi biên ải, là Tứ Xuyên - mảnh đất “Thiên phủ chi quốc” thuở xưa, từng là lãnh thổ của hai tiểu quốc Thục Ba, nơi địa linh nhân kiệt với Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lưu Bị, Khổng Minh; là Tây Khang núi cao vực thẳm mà ngày nay một phần nhập về Tứ Xuyên còn phần kia nhập với Tây Tạng - quê hương của đồng bào Tạng; là Vân Nam, là Quý Châu, nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em. Người ta vẫn chưa quên, khi đại pháo mừng ngày thành lập nước cộng hoà nhân dân ầm vang trên bầu trời quảng trường Thiên An Môn, thì chiến trường Tây Bắc, Hoa Nam đang tan khói súng và cả Tây Nam vẫn là nơi cố thủ của toàn quân Quốc dân đảng. Sau đó ngày 1 tháng Chạp 1949, đại quân từ nhiều cánh do Lưu Bá Thừa, Đặng Tiểu Bình, Hạ Long chỉ huy tiến vào giải phóng Tây Nam, giải phóng Trùng Khánh... và cuối cùng đến mùa xuân 1951, mới là Tây Tạng. Hồi tưởng lại những người chỉ huy quân, chính, đảng ở Tây Nam, Đặng Tiểu Bình tóm tắt: “90 vạn, 60 triệu và 600 trăm ngàn”, đó là nhiệm vụ trả lại cuộc sống làm ăn lương thiện cho 90 vạn quân lính của Tưởng Giới Thạch không thể cùng quan thầy chạy ra Đài Loan, là 90 vạn đồng bào anh em, xưa hai chiến hào, nay cùng một chiến trận đánh thắng “nhất cùng nhì bạch” (một nghèo hai trắng). Đó là nhiệm vụ ổn định cuộc sống cho 60 triệu người dân Tây Nam, là biến đội quân chiến đấu 600 ngàn lính thành đội quân công tác và vận động quần chúng. Những ngày Tây Nam bận rộn với bao nhiêu công việc của một nhà nước cộng hoà non trẻ ở rất xa trung ương. Thật số phận khéo an bài, 29 năm trước đây, từ bến cảng Trùng Khánh, chàng trai Đặng Hi Hiền mới 16 tuổi, trẻ nhất, nhỏ nhất trong toán thanh niên Tứ Xuyên xuống tàu xuôi Trường Giang, ra cửa Thượng Hải, vượt trùng dương, sang tận thành phố lớn thứ hai của nước Pháp là Marseille kiếm việc làm để có tiền ăn học, thì hôm nay là nhà cách mạng Đặng Tiểu Bình 45 tuổi trở về Trùng Khánh, trở về quê hương với trọng trách, không chỉ giải phóng mà còn xây dựng...
Đặng Tiểu Bình sinh ngày 22 tháng tám năm 1904, nhằm ngày 2 tháng bảy năm Giáp Thìn, trong một gia đình thân hào phú hộ thôn Bài Phường, xã Hiệp Hưng, huyện Quảng An, tỉnh Tứ Xuyên. Lúc nhỏ được đặt tên là Tiên Thánh, sau đổi lại Hi Hiền, là con thứ nhưng là trai trưởng của ông Đặng Thiệu Xương, tự Văn Minh, và bà Đàm Thị. Văn Minh có bốn đời vợ thuộc bốn họ Trương, Đàm, Tiêu, Hạ. Bà nhất thì không có con, bà hai là mẹ đẻ của Đặng Tiểu Bình, sinh được một gái đầu và ba trai (Đặng Tiên Liệt, Đặng Tiểu Bình, Đặng Khẩn, Đặng Thục Bình) bà ba sinh được một trai, bà tư sinh được hai trai, ba gái. Mẹ đẻ của ông mất sớm, nên sau này khi trở về Trùng Khánh, Đặng Tiểu Bình đã mời kế mẫu là bà tư Hạ Bá Căn từ quê lên ở chung cùng gia đình, họ sống nền nếp với tôn ti trật tự - bà nội, cha mẹ và con cái.
Năm lên 5, Văn Minh đã mời thầy về nhà dạy cho Hi Hiền, 6 tuổi cậu bé vào tiểu học sơ cấp xã Hiệp Hưng, 11 tuổi lên tiểu học cao cấp huyện Quảng An, 14 tuổi thi đậu vào trung học huyện Quảng An. Việc học hành của cậu bé Hi Hiền nói chung là thuận buồm xuôi gió, nhưng để đến được với nền văn minh châu Âu, cha cậu đã xin cho theo học tại Trường dự bị cần công kiệm học Trùng Khánh chuẩn bị xuất dương sang Pháp. Ngày 7 tháng chín năm 1920, sau khi được Tổng lãnh sự Pháp tại Trùng Khánh trực tiếp sát hạch, Hi Hiền cùng 79 bạn khác xuống tàu đi Marseille. Năm ấy, ông tròn 16 tuổi. Năm 1926, Đặng Tiểu Bình rời Paris, xuyên Đông Âu về Nga học trường đại học Phương Đông Tôn Trung Sơn, đó là tất cả học trình tại giảng đường của ông, còn lại sau này đều là trường đời khúc khuỷu, đa dạng, phong phú đã đào luyện nên con ngươi ấy.
Từ Nga, vượt qua thảo nguyên Mông Cổ, Đặng Tiểu Bình về nước vào đúng lúc chiến tranh Bắc phạt. Với tư cách là uỷ viên chính trị, ông đứng trong quân đoàn Phùng Ngọc Tường của Quốc dân đảng ủng hộ Tưởng Giới Thạch tiến hành Bắc phạt. Sau khi thắng lợi, Tưởng Giới Thạch phản bội cách mạng, gây nên vụ thảm sát “4.12” ở Thượng Hải, giết hại nhiều chiến sĩ cộng sản từng hợp tác với Quốc dân đảng. Đặng Tiểu Bình cũng bị Phùng Ngọc Tường cho thôi việc. Từ Tây An, ông về Hán Khẩu và tiếp tục bôn ba vì sự nghiệp của đảng. Năm 1938, lúc Đặng Thiệu Xương bị thổ phỉ chặt đầu, Đặng Tiểu Bình đang chỉ huy kháng Nhật ở Thái Hành Sơn, mọi công việc hậu sự cho cha, ông phải cậy nhờ kế mẫu - bà Hạ Bá Căn, và em trai Đặng Thục Bình lo liệu. Rong ruổi tháng ngày nơi trận mạc, thoắt đà hai mươi năm, nay cầm quân trở về nơi chôn rau cắt rốn. Lúc này Đặng Tiểu Bình đã vào tuổi 45, có vợ là Trác Lâm và 3 con là Đặng Lâm (trưởng nữ), Đặng Phác Phương (con thứ nhưng trưởng nam), Đặng Nam (thứ nữ). Những ngày ở Trùng Khánh, họ có thêm con gái là Đặng Dung, con trai là Đặng Chất Phương.
Nhớ lại những năm chiến đấu gian khổ để giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên chế độ cộng hoà ở Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình nói: “Trong 23 năm, thì chúng ta hầu như đã phải trải qua 21 năm khó khăn. Vậy có cửa thắng lợi nào không? Theo tôi, có đến hai. Ấy là lúc Nhật Bản đầu hàng, nhiều người cho rằng thế là hạnh phúc rồi, không còn kẻ thù nữa, nhưng Đảng đã phản đối luận điểm đó và chúng ta bước qua cửa thắng lợi thứ nhất. Và giờ đây chính là cửa thắng lợi thứ hai - Đảng giành được chính quyền trên phạm vi toàn quốc”.
Đang khi công việc củng cố chính quyền ở Tây Nam tiến triển thuận lợi, Đặng Tiểu Bình và các chiến hữu của ông tuy vận quân phục nhưng chỉ huy toàn diện mọi lĩnh vực trên một vùng lãnh thổ quan trọng của Trung Quốc, và cuộc sống gia đình ông vào nhịp hạnh phúc yên vui thì có lệnh điều động “lai triều”, lại một lần nữa ra đi từ Trùng Khánh, từ Tứ Xuyên - quê hương ông.
Là trọng trách, nhưng công việc gì. “Thôi đợi lên Bắc Kinh sẽ rõ”, Đặng Tiểu Bình thầm nghĩ và thiếp đi trong, giấc mộng hoài hương.
 
0
2. VÀO TRUNG NAM HẢI
 
Chiếc máy bay IL-14 đưa người của “Thiên phủ chi quốc” từ miền Tây Nam về kinh đã hạ cánh an toàn trên phi trường Tây Giao. Đó là một ngày đầu thu năm 1952, lá dương liễu vẫn xanh và đung đưa dọc theo những con lộ dẫn về Cảnh Sơn, Cố Cung. Tổ chức bố trí Đặng Tiểu Bình và gia đình ở tại Tường An trên Cảnh Sơn đông lộ, vốn là lâm viên của hoàng gia vương triều thuở xưa, một vùng đất cao và bằng của kinh thành. Từ máy bay nhìn xuống, Cảnh Sơn tựa như phần bụng của Phật Di Lặc. Sau đó không lâu, gia đình ông được chuyển về khu gia cư trong Trung Nam Hải, nhà số 3 phía tây Hoài Nhơn Đường, quần tụ thành một “làng” lãnh đạo và những người phục vụ. Trung Nam Hải nằm mạn tây của Cố Cung gồm Trung Hải và Nam Hải, hợp với Bắc Hải thành Tam Hải rộng trên 1500 mẫu với 700 mẫu mặt nước, khai tạo từ thời Kim Nguyên và Minh Sơn, kiến trúc cổ xưa mà tráng lệ, cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ, là nơi thưởng ngoạn của du khách. Khi kiến quốc năm 1949, nhà nước dành riêng Bắc Hải là công viên nổi tiếng của Bắc Kinh cho du lịch, còn quy định Trung Nam Hải là địa sở của Trung ương đảng và chính phủ, vào được Trung Nam Hải là ngụ ý vào được tập thể những người lãnh đạo cao nhất của Đảng và nhà nước trung ương.
Quả nhiên, ngày 7 tháng tám năm 1952, tại hội nghị của Chính vụ viện (từ đây xin dịch là Chính phủ - ND) Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình được bầu làm Phó Tổng lý (từ đây xin dịch là Phó thủ tướng - ND) kiêm Phó chủ nhiệm Uỷ ban tài chính - kinh tế. Cấp trên của ông là Thủ tướng Chu Ân Lai, từng là chiến hữu ở Paris và Thượng Hải trong những năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài và trong vòng bí mật, nay lại có cơ hội hợp tác với nhau. Được điều về kinh đô làm việc bên cạnh nhà ngoại giao lỗi lạc, chẳng mấy chốc, Đặng Tiểu Bình trở thành người phát ngôn của Chính phủ Trung Quốc và nhanh chóng bước lên chính trường Quốc tế.
Đầu những năm 50, cuộc sống yên ắng, gia đình vợ chồng con cái và người phục vụ đều sống trong dinh phủ. Cũng những năm đó, bạn bè chiến hữu từng khét tiếng khắp bốn phương quần tụ về kinh, ngoài công cụ nơi sở đường, họ thường gặp nhau vào ngày cuối tuần, lễ tết, chung vui cho bõ lúc cơ hàn nơi trận mạc.
Cuối năm 1952, Cao Cương từ Hoa Bắc, rồi đầu năm 1953, Nhiêu Thấu Thạch từ Hoa Đông cũng được điều về Bắc Kinh như Đặng Tiểu Bình.
Cao Cương nổi danh là “quân phiệt Đông Bắc”, sau khi thành lập nước cộng hoà, ông từng đảm nhiệm các chức vụ trọng yếu trong chính phủ. Quyền lực của Cao Cương không ở Bắc Kinh mà ở Thẩm Dương - trung tâm công nghiệp của vùng Đông Bắc. Về cấp bậc, ông giống như Đặng Tiểu Bình, cũng là Bí thư thứ nhất của Cục Trung ương; Đặng ở Tây Nam, Cao ở Đông Bắc, nhưng vị trí thì cao hơn vì Đông Bắc trội lên bởi đó là vùng công nghiệp, là hậu phương trực tiếp cho chiến trường Triều Tiên và là cầu nối sang Liên Xô. Ngày 1 tháng mười năm 1952, tại lễ Quốc khánh ở Thẩm Dương, đội ngũ diễu hành đã hô vang “Cao Cương muôn năm” mà không hề hô “Mao Chủ tịch muôn năm”. Năm ấy, Trung ương điều Cao về Bắc Kinh và giao cho đảm nhiệm chức vụ Phó chủ tịch nước kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch.
Lúc này, Trung ương đang tích cực chuẩn bị cho Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc lần thứ nhất và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8 của Đảng. Cao, Nhiêu định tiếm quyền. Tại Hội nghị tài chính kinh tế toàn quốc tổ chức vào mùa hè năm 1953, Cao Cương và phe nhóm của ông đã phát biểu vô nguyên tắc, tạo ra sự tranh cãi trong Đảng. Ngoài hội nghị, họ công kích Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai, đề cao Cao Cương. Mùa thu năm đó, tại Hội nghị công tác tổ chức toàn quốc, Cao và Nhiêu đã phối hợp hành động chống lại Lưu Thiếu Kỳ, rồi Cao đi miền Nam kích động gây bất mãn trong hàng ngũ cán bộ cấp tỉnh.
Cao Cương đưa ra “Quân đảng luận” chia Trung Cộng thành hai bộ phận: “Đảng của quân đội và khu căn cứ” và “Đảng của khu trắng”, ông quả quyết “Đảng là do quân đội sáng lập nên” và tự xưng mình là đại biểu cho bộ phận “Đảng của quân đội và khu căn cứ”. Cao Cương cho rằng, hiện nay cơ quan Trung ương Đảng và Nhà nước đều nằm trong tay “Đảng của khu trắng”, cần phải “cải tổ”. Mùa đông năm 1953, theo thường lệ, Mao Trạch Đông đi nghỉ, uỷ quyền cho Lưu Thiếu Kỳ chủ trì công việc của Trung ương, Cao lại càng lồng lộn đòi phải giao cho ông ta chức vụ Tổng bí thư hoặc Phó Chủ tịch Đảng, và còn đòi thay cả Thủ tướng.
Đặng Tiểu Bình vừa là Phó thủ tướng, vừa kiêm chức vụ lãnh đạo Cục Tây Nam, thêm vào đó là quyền uy không ai tranh giành nổi ở Phương diện quân thứ 2, và đặc biệt là sự tín nhiệm và trọng thị của Mao Trạch Đông, nên Cao Cương định lôi kéo ông về ê-kíp nhưng đã bị cự tuyệt.
Năm 1983, trong một bài phát biểu, Đặng Tiểu Bình cho biết: “Sự việc này, tôi đã rõ. Cuối năm 1953, sau khi đồng chí Mao Trạch Đông đề xuất Trung ương phân một tuyến, hai tuyến, Cao Cương hoạt động rất tích cực. Đầu tiên ông được Lâm Bưu ủng hộ nên mới dám phóng tay cao như vậy. Lúc bấy giờ Đông Bắc là của ông ta, Trung Nam của Lâm Bưu, Hoa Đông của Nhiêu Thấu Thạch. Đối với Tây Nam, ông cũng đã lôi kéo và chính thức đàm phán với tôi, nói là Lưu Thiếu Kỳ không thành thực, vêu cầu tôi cùng ông đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ. Tôi đã thể hiện rõ thái độ của mình, chỉ rõ vị trí trong đảng của Lưu Thiếu Kỳ là sự hình thành của lịch sử, nhìn chung đồng chí Lưu Thiếu Kỳ là tốt, thay đổi sự hình thành của lịch sử là không chính đáng”.
Trần Vân và Đặng Tiểu Bình cự tuvệt sự lôi kéo của Cao Cương và lập tức phản ánh với Mao Trạch Đông về âm mưu lật đổ Lưu Thiếu Kỳ.
Nghe xong Mao Trạch Đông hỏi: “Mưa nguồn chưa tới nhà gió đã ập về, chở gió từ phương nào vậy?”
Đặng Tiểu Bình suy nghĩ hồi lâu rồi trả lời rất nghiêm túc: “Tại kì vị mưu kì chính - người trong chức vị mà lo công việc của mình, ấy là điều nên làm. Bất tại kì vị nhi dục mưu kì chính - ngược lại, kẻ ngoài chức vị mà cứ muốn xía vào công việc của người khác, đó chỉ tổ tác oai tác quái”.
Mao Trạch Đông lắng nghe, ngẫm nghĩ rồi gật đầu lia lịa. Thế là Đặng Tiểu Bình đã biểu thị thái độ ủng hộ Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai, mặt khác cũng cảnh tỉnh Mao Trạch Đông: nếu trong Đảng có nguy cơ “bất tại kì vị nhi dục mưu kì chính” thì không khỏi mất ổn định.
Ngày 3 tháng chạp năm 1953, trong Hội nghị Bộ chính trị, Mao Trạch Đông đã nói: “Nay Bắc Kinh có hai bộ Tư lệnh, một do tôi làm tổng, đó là thổi gió dương đốt lửa dương, và một do người khác làm tổng, đó là thổi gió âm, đốt lửa âm, là một dòng nước ngầm”, đã gián tiếp cảnh cáo nghiêm khắc các hoạt động âm mưu của Cao, Nhiêu.
Tháng hai năm 1954, Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 4 khoá 7 tiến hành phê phán Cao, Nhiêu. Mao Trạch Đông không tham dự hội nghị, mà giao cho Lưu Thiếu Kỳ chủ trì, bí thư thứ nhất các tỉnh đều có mặt. Hội nghị nhất trí thông qua “Quyết định về tăng cường đoàn kết trong Đảng”, sau đó Ban bí thư lại họp, tiếp tục vạch trần âm mưu của Cao, Nhiêu. Cuối cùng Cao, Nhiêu đã tự sát, tháng tư năm ấy, Đặng Tiểu Bình tiếp quản chức vụ Trưởng ban tổ chức Trung ương thay Nhiêu Thấu Thạch mà không một ai phản đối. Tháng ba năm sau - 1955, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng, Đặng Tiểu Bình đã trình bày báo cáo “Liên minh chống Đảng Cao, Nhiêu”, hội nghị thông qua quyết định khai trừ Cao Cương và Nhiêu Thấu Thạch ra khỏi Đảng. Cũng từ đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu lập nên uỷ ban kiểm tra các cấp, ở cấp trung ương lúc bây giờ do Đổng Tất Vũ làm chủ nhiệm.
Năm ấy, tại Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần 5, khoá 7, Đặng Tiểu Bình và Lâm Bưu cùng được bầu là Ủy viên Bộ Chính trị.
Như vậy là Đặng Tiểu Bình và gia đình lên Bắc Kinh đã được 3 năm. Ba năm trên chính trường, “trí dũng song toàn”, ông đã vào Trung Nam Hải, và bước lên nấc thang uỷ viên Bộ Chính trị. Tháng hai năm 1956, là thành viên trong đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc đi dự Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô, đến tháng chín năm đó, tại Đại hội lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông đã trình bày báo cáo “Sửa đổi điều lệ Đảng” và lại leo lên một nấc thang nữa - Tổng bí thư, cùng với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân hình thành uỷ ban thường vụ Bộ chính trị.
Đến đây, màn một đã hạ, người đời sau ngoài nhìn lịch sử mà nhận xét rằng: tận hưởng Tây Nam, Mao Trạch Đông hân hoan chọn tướng; trọng trách Bắc phương, Đặng Tiểu Bình vào Trung Nam Hải. Vị tướng này sẽ hành xử ra sao trên chính trường “tả”, “hữu”? xin nán đợi sang màn sau sẽ rõ.
 
0
3. LỜI TỰ TRÁCH MUỘN MÀNG
 
Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô kết thúc, Chu Đức - trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục đi thăm một số thành phố phía nam, Đàm Chấn Lâm ở lại Mạc Tư Khoa chữa bệnh, còn Đặng Tiểu Bình và Sư Triết lập tức bay về Bắc Kinh. Trên máy bay, nhiều lần Sư Triết muốn hỏi Đặng Tiểu Bình ý kiến nhận xét về Đại hội, nhưng ông không hề thổ lộ một lời nào. Khi nhận được bản tốc kí báo cáo của Khrusov đọc suốt đêm 24 rạng 25 tháng hai năm 1956 “Về sùng bái cá nhân và hậu quả của nó”, mà 55 đoàn đại biểu các đảng anh em đều không được mời dự phiên họp bí mật đó, các thành viên đoàn đại biểu Trung Quốc có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nhanh chóng thống nhất là phải báo cáo về nước. Hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc họp thảo luận và thông qua bài đăng trên Nhân Dân nhật báo ngày 5 tháng tư năm 1956 “Về kinh nghiệm lịch sử của chuyên chính vô sản”, mở đầu một đường lối tả khuynh do Mao Trạch Đông khởi xướng kéo dài suốt 20 năm. Từ bài học của Liên Xô, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc như Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình đã nhận thức được sự cần thiết phải phòng ngừa cách thống trị độc tài kiểu Stalin và phản đối việc sùng bái cá nhân. Còn Mao Trạch Đông bắt đầu chú ý “chống xét lại”, “chống giai cấp tư sản” ở Trung Quốc, và sau đây là bản dạo đầu.
Tháng 5 năm 1956, mùa xuân vội vàng ra đi, mùa hè lẹ làng ập tới, Bắc Kinh nóng vô cùng, nóng vì thời tiết, nóng vì chính trị với chủ trương của Đảng “bách hoa tề phong, bách gia tranh minh” (trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng). Ngày 26 tháng 5, Lục Định Nhất thay mặt Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nói chuyện trước giới trí thức thủ đô là Đảng chủ trương “trăm hoa đua nở” đối với công tác văn nghệ và “trăm nhà đua tiếng” đối với công tác khoa học, rằng chủ trương đó đã được Mao Trạch Đông tuyên bố tại hội nghị tối cao của Quốc vụ viện.
Tháng ba năm sau, tại hội nghị công tác tuyên truyền toàn quốc với sự tham dự của 800 cán bộ tư tưởng của đảng. Mao Trạch Đông đã trình bày sự đánh giá cao của trung ương đối với thành phần trí thức. Theo ông, tuyệt đại đa số tán thành chế độ xã hội chủ nghĩa, một thiểu số tuy không hoan nghênh lắm nhưng vẫn yêu nước, còn lại rất ít là thù địch, vì vậy cải tạo trí thức là cần thiết và trí thức phải kết hợp vói công, nông. Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng là phương châm lâu dài của Đảng, phải mạnh tay “phóng” cho mọi người dám phát biểu, dám phê bình, dám tranh luận. Tiếp đến, ngày 27 tháng tư năm 1957, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức: ban bố “chỉ thị chỉnh phong”. Thế là trong chỉnh, ngoài phê, bao nhiêu cuộc toạ đàm, bao nhiêu buổi sinh hoạt tổ nhóm để nghe ý kiến của quần chúng được tổ chức, đâu đâu cũng thấy “tề phóng” đâu đâu cũng nghe “tranh minh”. Ngày 19 tháng 5 năm 1957, những tờ báo chữ to bắt đầu dán trong các trường đại học nặc danh phê bình cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền một cách táo bạo hơn. Trúng kế rồi, nhân đại phóng, đại minh, đại tự báo, đại tranh luận mà “cỏ dại”, mà “tiếng lạ” đã lộ hình, đã rõ âm, bị tóm gọn trong một rọ - phần tử hữu khuynh chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội.
Tháng sáu, cuộc phản kích hữu khuynh bắt đầu. Tháng bảy, tại Thanh Đảo, trước hội nghị bí thư các tỉnh thành, Mao Trạch Đông chỉ rõ quan hệ giữa chỉnh phong và chống hữu, ông mới tiết lộ kế hoạch bốn giai đoạn: giai đoạn đại minh đại phóng, giai đoạn phản kích, giai đoạn sửa đổi điều chỉnh, giai đoạn mỗi người tự nghiên cứu văn kiện, phê bình phản tỉnh và nâng cao. Ngày 29 tháng 6, bộ chỉ huy chống phái hữu quy định phải điểm danh, Bắc Kinh 400 người, cả nước 4000 người. Mười ngày sau, “chỉ tiêu” đó nâng lên 800, 8000. Đến tháng chín, báo cáo tại Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá 8, con số phần tử hữu khuynh là 6 vạn và cuối chiến dịch, vào mùa hè năm 1958 lên tới 55 vạn.
Cuộc chiến đấu chống hữu khuynh mở rộng đến các huyện, khu, nhà máy, hầm mỏ.
Nội bộ nhân dân bị phân chia thành ba phái hữu khuynh, trung lập và tả khuynh. Trong phần tử hữu khuynh lại vạch rõ loại cực hữu, xếp họ về phía bên kia giới tuyến - thù địch chính trị với nhân dân, nâng thành mâu thuẫn đối kháng địch ta. Từ số lượng, tính chất cuộc vận động chống hữu khuynh đã toả lan, cộng thêm phương pháp đấu tranh lại là “tứ đại” (đại minh, đại phóng, đại biện luận, đại tự báo) nên mức độ và kết quả càng nghiêm trọng. Nhiều đồng chí trung trinh, nhiều bạn bè hợp tác đã lâu dài với Đảng, nhiều trí thức tài năng, thanh niên nhiệt huyết v.v... bỗng nhiên trở thành kẻ thù làm cho nhà nước tổn thất không biết là nhường nào. Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá 8 đã đi đến một kết luận khác hẳn với Hội nghị lần thứ nhất và cho rằng mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Trung Quốc là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa đường lối xã hội chủ nghĩa và đường lối tư bản chủ nghĩa, quy định hai giai cấp bóc lột và hai giai cấp lao động: địa chủ mại bản, phần tử hữu khuynh bị đánh đổ cùng bè lũ phản động và tư sản dân tộc đang tiếp thu cải tạo xã hội chủ nghĩa với phần tử trí thức của họ đều thuộc về bóc lột, chỉ có công nông là lao động.
Cuộc vận động chống hữu khuynh tuy đã im ắng nhưng việc tranh luận về quan điểm vẫn còn âm ỉ. Trước cơn lốc chính trị vừa kể, nhân vật chính của cuốn sách này - ông Đặng Tiểu Bình - đã chống chọi ra sao? Theo “Đặng Tiểu Bình truyện” do một kí giả người Đức ghi lại và nhà xuất bản Cam Túc ấn hành năm 1989 thì: khi nghe tin “đại dân chủ” ông nghĩ đến chủ nghĩa vô chính phủ, cho nên lần đầu tiên đứng trước người đã từng hợp tác trong suốt 24 năm, Đặng Tiểu Bình phản đối quyết định của Chủ tịch Mao Trạch Đông, ông sợ “trăm nhà đua tiếng” sẽ dấy lên phong trào quần chúng chống lại Đảng Cộng sản, ông không tin tưởng nhân tố tự phát, nhân tố vô tổ chức, ông cho rằng nới lỏng quản lí của Đảng sẽ xuất hiện hỗn loạn không thể nào điều khiển nổi.
Tác giả người Đức hình như thiếu cân cứ khi đi đến kết luận nêu trên, vì tháng ba năm 1979, khi nói chuyện với hội nghị công tác lí luận của Đảng, Đặng Tiểu Bình đã kể lại rằng: “kiên trì chấp hành phương châm trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”. Rồi tháng mười năm đó, trong lời chúc Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ 4, ông lại phát biểu: “Chúng ta phải tiếp tục ủng hộ phương châm văn nghệ phục vụ quần chúng nhân dân mà trước hết là công nông binh do đồng chí Mao Trạch Đông đề xướng, ủng hộ phương châm trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng, ôn cố tri tân, học tập tinh hoa của nước ngoài, của vốn cổ. Về nghệ thuật, chúng ta chủ trương tự do phát triển phong cách và hình thức khác nhau trong sáng tác, tự do thảo luận quan điểm và trường phái khác nhau trong lí luận”.
Đó là lời nói của ông khi Mao Trạch Đông đã qua đời đúng 3 năm 1 tháng, và còn đây là sự tự phê bình muộn màng sau 23 năm mà ông Đặng Tiểu Bình đã trình bày tại Hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ 5 khoá 11, năm 1980: “Trong phong trào chống hữu khuynh năm 1957, chúng ta là phần tử tích cực. Tôi có trách nhiệm về việc mở rộng phong trào vì lúc ấy tôi là Tổng bí thư”.
Nhưng, Đặng Tiểu Bình lại bổ sung; “Đấu tranh chống hữu khuynh năm 1957 là tất yếu và đúng đắn. Nói một cách đơn giản; đấu tranh tự nó không có gì là sai, vấn đề ở chỗ mở ra quá rộng”.
Có lẽ phải đợi nhiều chương hồi nữa mới rõ được suy nghĩ của ông Đặng Tiểu Bình mà kế sau đấy lại là một cơn lốc: đại nhảy vọt.
 
0
4. CŨNG NÓNG ĐẦU THEO CƠN SỐT
 
Tám giờ sáng ngày 2 tháng mười một năm 1957, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và các thành viên của đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc đáp máy bay TU-104 sang Mạc Tư Khoa dự hội nghị các đảng Cộng sản và đảng Công nhân. Mặc dầu có những bất đồng với Đảng Cộng sản Liên Xô và Khrusov, nhưng Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đều biểu thị sự khâm phục trước các thành tựu kinh tế của Liên Xô, đặc biệt là sự thành công của chuyện phóng vệ tinh nhân tạo. Trong hội nghị, Liên Xô đề xướng là sau 15 năm sẽ đuổi kịp và vượt Mĩ, Mao Trạch Đông cũng phát biểu sẽ đuổi kịp và vượt Anh về sản lượng gang thép sau 15 năm. Từ Liên Xô về nước, Mao Trạch Đông rất quyết tâm “đuổi kịp và vượt”.
Tháng giêng và tháng ba năm 1958, tại hội nghị Nam Ninh và Thành Đô, trước cử toạ là một số trung ương uỷ viên và lãnh đạo các tỉnh, thành, Mao Trạch Đông nghiêm khắc phê bình phái chống mạo hiểm. Xoay quanh việc đánh giá tình hình kinh tế năm 1956 và xây dựng kế hoạch năm 1957 đã dấy lên một cuộc tranh luận gay gắt, Mao Trạch Đông chủ trương nâng cao chỉ tiêu kế hoạch, còn Chu Ân Lai và nhiều người khác thì cho rằng thà chậm một tí mà ổn định thì vẫn hơn, nên tính toán các chỉ tiêu một cách thận trọng, thấp thua Mao.
Trần Vân nhấn mạnh quy mô xây dựng phải tương xứng với lực lượng, muốn thực hiện kế hoạch thì phải chuẩn bị đủ vật tư, tài chính, cân bằng vay và trả, ông cho rằng Trung Quốc là một nưóc lớn, sự ổn định kinh tế là cực kì quan trọng. Ngày 10 tháng mười một năm 1956, Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khoá 8 thảo luận về kế hoạch năm 1957, Chu Ân Lai đưa ra phương châm “bảo đảm trọng điểm, thu hẹp vừa phải”, còn Mao Trạch Đông: “Có tiến có lùi, chủ yếu vẫn là tiến, phải nuôi dưỡng tính tích cực của nhân dân và cán bộ, không nên dội nước lạnh lên đầu họ”, Mao rất bực phải chống mạo hiểm, nhưng không nói rõ ra. Phần mình, là Tổng bí thư, Đặng Tiểu Bình điềm tĩnh phân tích và cuối cùng tán thành phương châm ổn định. Theo đa số, nghị quyết được thông qua. Sau này, Mao cho rằng mình đã thoả hiệp, nên trong hội nghị Nam Ninh và Thành Đô, ông đã có cơ hội đáp lại phái chống mạo hiếm.
Tháng mười năm 1957, Trung ương họp lần thứ 3, ngoài việc thảo luận về chỉnh phong, chống phái hữu còn bàn về vấn đề nông thôn. Khi nghe lãnh đạo các địa phương nhắc lại “xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách nhanh, nhiều, tốt, rẻ”, Mao Trạch Đông vui vẻ hẳn lên, nhân đó ông chỉ trích những người của phái chống mạo hiểm, rằng họ đã quét sạch “cương lĩnh 40 điều về phát triển nông thôn và phương châm nhanh, nhiều, tốt, rẻ”, rằng họ đã tiếp sức hà hơi cho bọn hữu khuynh chống lại Đảng, rằng họ cũng là phần tử hữu khuynh. Ngày 3 tháng mười năm 1957, Nhân Dân nhật báo ra xã luận viết: Có một số người mắc bệnh hữu khuynh bảo thủ, họ như con sên bò chậm chạp, họ không biết rằng sau khi hợp tác hoá thành công, chúng ta có điều kiện tất yếu để nhảy vọt trên một mặt trận nông nghiệp”.
Đó là dự báo cho một cơn sốt sắp ập tới.
Tại hội nghị Nam Ninh và Thành Đô, Chu Ân Lai và Trần Vân đã phải kiểm thảo vì “làm nhụt chí 600 triệu nhân dân Trung Quốc, phạm phải sai lầm về phương hướng chính trị”.
Phái chống mạo hiểm đã “dọn” xong, tháng 5 năm 1958, Hội nghị Trung ương cử hành tại Bắc Kinh đã thông qua chủ trương “đầy đủ sức mạnh, vươn lên xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách nhanh, nhiều, tốt, rẻ”. Chỉ tiêu kế hoạch 5 năm lần thứ hai đều phải điều chỉnh lại so với ban đầu đã thông qua tại Hội nghị Trung ương lần thứ 1 khoá 8, gang thép từ 12 triệu tấn lên 30 triệu tấn; lương thực từ 250 triệu tấn lên 350 triệu tấn. Thế là nhảy vọt đã bắt đầu từ những trang nghị quyết của Hội nghị trung ương. Chẳng mấy chốc tinh thần nhảy vọt được báo chí thổi phồng, đã lan tràn ra cả nước. Vụ hè năm ấy các địa phương đều báo cáo sản lượng lương thực với Trung ương tinh thần nhảy vọt mà không cần theo thực tế. Người ta tuyên truyền trên báo chữ lớn “người có gan như thế nào, thì đất sẽ cho sản lượng như thế ấy”.
Ngọn gió khuếch đại cao chỉ tiêu, cao sản lượng đã thổi sang lĩnh vực quan hệ sản xuất, một khi sức sản xuất đã khổng lồ như vậy, nhẽ nào lại cứ bảo thủ giữ mãi quy mô hợp tác xã bé tí, và chế độ sở hữu lạc hậu! Quả nhiên, Trung ương ra chỉ thị nâng hợp tác xã nhỏ lên hợp tác xã to, thí nghiệm loại hợp tác xã một ngàn đến một vạn hộ.
Tháng bảy, tháng tám năm ấy, tạp chí của Đảng Cộng sản Trung Quốc “Hồng Kỳ” và Nhân Dân nhật báo công khai tuyên truyên tư tưởng của Mao Trạch Đông: “Tổ chức quần chúng sĩ, nông, công, thương, binh vào một công xã, và đó là đơn vị cơ sở của xã hội Trung Quốc”. Mới hay tin trên báo mà Hà Nam, Sơn Đông đã đua nhau xây dựng công xã. Ngay sau đó hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị dã được triệu tập tại Bắc Đới Hà chẳng những không uốn nắn chiều hướng khoa trương, báo cáo sai sự thật tạo nên tình hình giả, mà còn ủng hộ, hả hê, vui mừng với những “thành tựu” hư ảo ấy và các chỉ tiêu lại được bốc lên vùn vụt. Hội nghị Bắc Đới Hà quyết định xây dựng công xã nhân dân ở nông thôn, xem đây là phương châm cơ bản chỉ đạo nông dân đẩy nhanh xây dựng chủ nghĩa xã hội, quá độ tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Trước mắt hãy còn sở hữu tập thể, chưa vội đưa lên hình thức cao hơn vì nhanh thì ba bốn năm, chậm thì năm sáu năm là thực hiện sở hữu toàn dân thôi, xem ra “chủ nghĩa cộng sản không còn xa nữa”, có người đã cảm khái như vậy.
Sau hội nghị, thời gian chỉ còn có 4 tháng mà sản lượng gang thép mới đạt 4 triệu tấn, phù phép sao đây để cả năm phải là 10, 7 triệu tấn. Thế là một phong trào toàn dân làm gang thép đã lập tức được phát động. 90 triệu người dưới sự chỉ huy của các bí thư đảng lên rừng chặt cây đốt than, tìm mỏ quặng, luyện gang thép, lò cao mọc lên như nấm, ban đêm lửa rực cả một đại lục, các nhà máy gang thép thực thụ cũng bỏ luôn cả “công nghệ sách vở” để hoà mình với quần chúng theo phương pháp thủ công. Cuối năm đó, 1958, sản lượng gang thép vượt lên 11, 08 triệu tấn, nhưng phế phẩm đã là 3, 08 triệu tấn.
Nông nghiệp có “công xã nhân dân”, công nghiệp có “toàn dân làm gang thép” vậy các ngành khác thì sao? “Một ngựa tiên phong, vạn con cùng đuổi”, tinh thần nhảy vọt vì thế mà đến với cả người làm thơ, vẽ tranh.
Nghị quyết Bắc Đới Hà được thực hiện nhanh như bão táp, chỉ 4 tháng mà 90% nông dân Trung Quốc đều tham gia vào 26 ngàn công xã, hồi ấy người ta tuyên truyền công xã là “nhất đại, nhì công” (to lớn và công bằng). Gọi là to lớn, vì từ hợp tác xã một hai trăm hộ nay hợp thành công xã hơn năm ngàn, thậm chí một, hai vạn hộ, hầu như mỗi xã có công xã. Gọi là “công bằng” vì giàu nghèo nộp chung, tài sản nộp vào đều là tài sản của công xã, người đóng nhiều không được trả bớt, kẻ đóng ít không phải góp thêm. Công xã thống nhất hạch toán, thống nhất phân phối, thực hiện chế độ cung cấp bộ phận, ăn tại nhà ăn công cộng và không phải trả tiền. Ruộng đất phần trăm dành lại cho nông hộ, gia súc, gia cầm, cây lưu niên, cây ăn quả v.v... tất cả đều thuộc công xã, thậm chí có lúc cả nhà cửa, gia cụ cũng là của chung. Trước chủ nghĩa bình quân như vậy, người nông dân bất mãn ngấm ngầm giết súc vật, chặt cây cối và hậu quả nguy hại là sản lượng lương thực tụt dần.
Ở hồi này, ông Đặng Tiểu Bình cũng ít xuất đầu lộ diện, mãi đến tháng tám năm 1980, nghĩa là sau hơn hai thập niên, người ta mới biết quan điểm của ông khi trả lời phỏng vấn kí giả người Ý, rằng: “Sai lầm bắt đầu từ những năm cuối thập niên 50, ví như đại nhảy vọt là không chính xác, trách nhiệm này không chỉ một mình Mao Chủ tịch mà lúc ấy chúng tôi cũng là những người “nóng đầu”, hoàn toàn vi phạm quy luật khách quan, muốn một lúc làm xong kinh tế. Nguyện vọng chủ quan đã không tuân theo quy luật khách quan, tổn thất là phải. Nhưng trách nhiệm chủ yếu trong đại nhảy vọt vẫn thuộc về Mao Chủ tịch, vì lúc bấy giờ ông là người đầu tiên đã phát hiện sai lầm, đề xuất sửa chữa, song công việc đó lại không được thực hiện. Năm 1962, Mao Chủ tịch đã tự phê bình, nhưng bài học đã không được đúc kết đầy đủ và do đó mà dẫn đến sự bùng nổ cuộc “đại Cách mạng văn hoá”.
Tất nhiên không phải ai cũng “nóng đầu” và người ta nhớ mãi cái đêm mưa gió bão bùng 14 tháng bảy năm 1959, Bành Đức Hoài đã phải hạ bút viết bức thư lịch sử gửi Mao Trạch Đông để tỏ bày quan điểm của mình đối với đại nhảy vọt và công xã nhân dân. Nhân hội nghị mở rộng Bộ Chính trị ở Lư Sơn, Mao Trạch Đông đã yêu cầu những người dự hội nghị phê phán bức thư tâm huyết đó của Bành Đức Hoài. Không ngờ, Thứ trưởng ngoại giao Trương Văn Thiên, Tổng tham mưu trưởng Hoàng Khắc Thành, Bí thư thứ nhất tỉnh Hồ Nam Chu Tiểu Châu đã lên tiếng ủng hộ quan điểm của Bành Đức Hoài. Mao Trạch Đông căm tức bức thư của Bành, cách phát biểu của Trương và chụp cho họ cái mũ hữu khuynh, riêng Bành Đức Hoài còn bị gọi là “Hải Thụy phái hữu”. Đặng Tiểu Bình là uỷ viên thường vụ duy nhất không tham dự hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị ở Lư Sơn vì ông vừa gãy chân do bất cẩn khi chơi bóng bàn. Nhưng sau đó, vào dịp kỉ niệm lần thứ 10 Quốc khánh Trung Quốc (1/10/1959), Đặng Tiểu Bình vẫn nói như Mao đã nói về Bành Đức Hoài, và phải đợi đến năm 1980 mới có cải chính: “Ý kiến của Bành Đức Hoài năm 1959 là chính xác với tư cách uỷ viên Bộ Chính trị, ông viết thư cho Chủ tịch Mao Trạch Đông là chuyện thường tình. Cho dù đồng chí Bành Đức Hoài cũng có khuyết điểm, nhưng việc xử lí đồng chí Bành là hoàn toàn sai”. Bành Đức Hoài mất ngày 29/11/1974, lúc chưa được minh oan và phục hồi danh dự.
 
0
5. THU TÀN CUỘC, ĐỀ XƯỚNG LÍ LUẬN “MÈO”
 
Sau hội nghị Lư Sơn, sai lầm tả khuynh không những không được hãm lại mà còn tăng thêm. Cuối năm 1959, sản lượng gang thép đạt đến 13, 87 triệu tấn, giá trị tích luỹ xã hội lên tới 43, 9% thật là sự việc độc nhất vô nhị trên thế giới, và chỉ tiêu năm 1960 đã được bốc lên 18, 4 triệu tấn. Còn nông nghiệp thì thật gay go, từ năm 1959 Trung Quốc bắt đầu những năm mất mùa, sản lượng lương thực năm sau giảm hơn năm trước: 1958: 200 triệu tấn, 1959: 170 triệu tấn (nhưng báo cáo sai, lên đến 270 triệu tấn) 1960: 143, 5 triệu tấn. Bông và cây có dầu đều tụt so với cả năm 1949. Đảng và nhân dân phải đối mặt với những khó khăn kinh tế chưa từng có. Năm 1960 so với năm 1957 lượng tiêu thụ lương thực cả thành phố và nông thôn giảm 19, 5%, riêng nông thôn là 23,7%, lượng tiêu thụ dầu thực vật giảm 23% và thịt lợn giảm đến 70%. Nhân dân lâm cảnh bệnh tật, đói rét. Chỉ một năm 1959 sang 1960 nhân khẩu giảm 10 triệu người, riêng ở địa khu (1) Tín Dương tỉnh Hà Nam tỉ lệ tử vong vượt quá 10%.
Tưởng sẽ dẫn dắt nhân dân mau đến ngày hạnh phúc, nào ngờ kết quả lại đau lòng như vậy. Bài học thu được đã làm cho Trung ương Đảng tỉnh lại, người ta chuyển sang điều tra và sửa lại.
Tháng mười một năm 1960, “Chỉ thị khẩn cấp về chính sách hiện nay đối với công xã nhân dân ở nông thôn” được ban bố Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 9 khoá 8, Mao Trạch Đông yêu cầu mọi người thực sự cầu thị, điều tra nghiên cứu tình hình. Ông còn nói: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội không thể gấp gáp được, có khi phải cả nửa thế kỉ mới xong”. Mao Trạch Đông trực tiếp thành lập và chỉ đạo 3 tổ điều tra về nông thôn về 3 tỉnh Triết Giang, Hồ Nam, Quảng Đông tìm hiểu tình hình. Lưu Thiếu Kỳ đi Hà Nam, Chu Ân Lai đi Hà Bắc, Chu Đức đi Tứ Xuyên, còn Đặng Tiểu Bình điều tra vùng Bắc Kinh.
Mùa xuân năm 1960, Tổng bí thư Đặng Tiểu Bình về huyện Thuận Nghĩa ngoại ô Bắc Kinh, cách trung tâm thành phố khoảng 50 cây số, ông đi một mình, không có cán bộ và phóng viên báo chí tháp tùng. Tình hình đã làm Đặng Tiểu Bình nghẹn ngào, chưa phải là huyện ngoại ô nghèo nhất mà vài tháng trước đây dân chúng ở đây đã phải mổ nốt con heo cuối cùng của mình, lương thực và nhu yếu phẩm thiếu thốn đến mức đáng sợ. Trong khi đó, cán bộ công xã thì tha hoá, lấy thóc gạo của tập thể về nhà ăn riêng, không đi làm mà công điểm lại nhiều hơn ai hết, thế nhưng không một xã viên nào dám hé miệng kêu ca. Trở về Trung Nam Hải từ một thủ đô đói cơm, thiếu áo, cùng Lưu Thiếu Kỳ, Trần Vân, Lý Tiên Niệm, Đặng Tiểu Bình thành lập uỷ ban điều tra khẩn cấp về kinh tế Quốc dân cả nước. Sau mấy tuần, ban thư kí đã trình lên “60 điều về nông nghiệp”, ít nhiều cũng góp phần cứu vãn tình hình nguy kịch ở nông thôn Trung Quốc lúc bấy giờ.
Tháng giêng năm 1962, Mao Trạch Đông chủ trì một hội nghị có 7000 người tham dự, từ uỷ viên Bộ Chính trị đến phụ trách các huyện trong cả nước, sau này lịch sử ghi nhận là “Hội nghị 7000 người” lại một diễn đàn “trăm nhà đua tiếng” để nhìn lại 3 năm đại nhảy vọt, nhìn lại “ba ngọn cờ hồng”. Báo cáo của Lưu Thiếu Kỳ tập trung phê phán phương pháp “tả” khuynh trong kinh tế. Theo ông nguyên nhân gây nên tình hình xấu lúc ấy là “ba phần thiên tai, bảy phần nhân hoạ”. Ngày 30, Mao Trạch Đông phát biểu ý kiến: “Phàm sai lầm mà Trung ương mắc phải, trực tiếp thuộc về tôi, và gián tiếp tôi cũng có phần, vì tôi là chủ tịch”. Ông nhấn mạnh vấn để tập trung dân chủ, có sai lầm thì phải tự phê bình, sửa chữa. Nhiều đại biểu còn muốn phát biểu và cuối cùng Mao Trạch Đông đề nghị cho kéo dài hội nghị đến thượng tuần tháng hai. Cả 7000 người dự hội nghị ở lại Bắc Kinh ăn Tết Nhâm Dần, và người ta còn nhớ câu vè thuở ấy “ngày hội nghị, đêm xem kịch, ba bữa ăn, thật mãn ý”.
Sau “Hội nghị 7000 người”, Trung Quốc đi vào thời kì điều chỉnh sửa sai về kinh tế và phục hồi danh dự cho những người bị quy oan là phần tử hữu khuynh, ở nông thôn, nhiều địa phương tự phát “khoán hộ”, quê hương của phương thức quản lí này là tỉnh An Huy, ở đó tỉnh uỷ chủ trương trên cơ sở sở hữu tập thể các tư liệu chủ yếu mà “định sản cho ruộng đất và định trách nhiệm cho từng người”. Đến tháng bảy năm 1962, cả nước đã có hơn 20% nông thôn thực hiện “khoán hộ”, quần chúng và cán bộ cơ sở hoan nghênh làm cách này.
Năm 1962, khi họp Ban bí thư và tiếp cán bộ Đoàn thanh niên, Đặng Tiểu Bình đã nhận định và phát biểu: “Khi xem xét quan hệ sản xuất biểu hiện bằng hình thức nào là tốt nhất, có lẽ nên xử sự với thái độ như thế này -một hình thức nào đó áp dụng tại một địa phương cụ thể mà dễ dàng được chấp nhận mà khôi phục và phát triển nông nghiệp tương đối nhanh, và quần chúng tự nguyện tuân theo thì hình thức ấy là tốt nhất, chưa hợp pháp thì hợp pháp hoá cho nó”. Rồi ông dẫn ra câu ngạn ngữ dân gian trứ danh mà Lưu Bá Thừa thường nhắc tới: “Không kể mèo vàng hay mèo đen, miễn là bắt được chuột”.
Trên mặt trận chống tả khuynh, đây là giai đoạn mà Đặng Tiểu Bình và Lưu Thiếu Kỳ đều có những quan điểm hoàn toàn giống nhau, rằng không phải nửa năm hoặc vài tháng, vá chỗ này, đắp chỗ kia mà cần cả một ca mổ lớn may ra mới cứu nổi đất nước, họ không những phát biểu trong hội nghị mà quan trọng hơn là chỉ đạo thực tế khoán hộ khôi phục kinh tế nông thôn. Họ cùng lên tiếng: “Thiên tai không phải là chủ yếu, chủ yếu chính là nhân hoạ, do con người gây nên”.
“Nhân hoạ nào vậy?” Mũi giáo chĩa thẳng vào “ba ngọn cờ hồng”“. Mao Trạch Đông cảm giận sự “phản điệu” của Đặng Tiểu Bình. Năm năm sau, tháng mười năm 1967, trước Đại hội Hồng vệ binh, khi đã kết án cho Đặng Tiểu Bình “mười tội trạng”, Giang Thanh lớn tiếng: “Năm 1962, Đặng được kẻ thù che chở, tấn công chúng ta, đề ra chủ trương chia ruộng khoán hộ, đi đầu trong việc cổ động làm ăn cá thể, nói là “không kể mèo trắng hay mèo đen, miễn là bắt được chuột”. Kì thực, ông đã phát biểu: “vấn đề quan trọng hiện nay là lương thực, chỉ cần tăng sản lượng thì có làm ăn cá thể cũng là tốt”, kèm sau câu nói đó là ngạn ngữ “mèo”.
Tàn cuộc của một cơn sốt, Đặng Tiểu Bình thu về một lí luận, hay nói đúng hơn là bắt đầu áp dụng, và nhân hoạ đang chờ ông.



(1) Địa khu: cấp hành chính trung gian: dưới tỉnh trên huyện.
 


 
0
6. BIẾN ĐIỆU Ở BẮC ĐỚI HÀ
 
Cách Bắc Kinh khoảng 270 cây số về phía đông bắc có một thành phố ven biển, cảnh quan thiên nhiên đẹp tựa tranh, khí hậu hiền hoà, không khô hanh như phương Bắc mà cũng không ẩm ướt như miền Nam, nơi thắng địa để du lãm và nghỉ dưỡng, đó là Bắc Đới Hà. Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Tào Tháo đã từng đến đây. Năm 1893, chính phủ nhà Thanh quvết định xây dựng Bắc Đới Hà thành thành phố du lịch, và từ đó 700 biệt thự lần lượt mọc lên trên bờ Bột Hải, cả Bắc Đới Hà tựa vào Yến Sơn, càng vững chãi uy nghi. Sau 1949, chính phủ mới vẫn duy trì Bắc Đới Hà là thành phố nghỉ dưỡng, là nơi tham quan của du khách.
Nơi đây vào tháng tám năm 1962, giữa bầu trời thanh bình, giữa màu xanh của Yến Sơn và Bột Hải, giữa tiếng vọng của gió biển mơn man vào vách núi, một sự kiện hay nói đúng hơn là một tiếng sấm đã ầm vang trên đất bằng, bầu tròờ thần châu mây mù u ám.
Mao Trạch Đông phát biểu ở hội nghị Trung ương đã nêu ngay các vấn đề: giai cấp, tình thế và mâu thuẫn. Chủ tịch Đảng liên hệ với tình hình Liên Xô, phê phán quan điểm của Khrusov, rồi đem tất cả những phân kì về nhận thức trong nội bộ Đảng bỏ chung vào một rọ là “phản ánh của đấu tranh giái cấp”, xem tất cả những ý kiến bất đồng trên thực tế phù hợp với quy luật khách quan là biểu hiện của chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, chụp cho cái mũ “luồng gió đen tối”. Ông nói, hiện nay có một số người xem tình hình chỉ là một màn đen tối, tư tưởng họ hỗn loạn, mất lòng tin, không nhìn thấy ánh sáng, cho rằng chủ nghĩa xã hội là không hợp, chỉ làm ăn riêng rẽ là tốt thôi. Luồng gió càng thổi đến thượng tầng, cường độ càng mạnh. Ông phê bình Đặng Tử Khôi và nhiều người đã ủng hộ khoán hộ, đã thay mặt lớp trung nông giàu có đòi hỏi cá thể, thậm chí đã đứng trên lập trường của các giai cấp phú nông, địa chủ, tư sản chống lại chủ nghĩa xã hội. Ông còn nói, phục hồi danh dự cho những người hữu khuynh là không đúng, không thể thổi sạch thành tích chống hữu khuynh năm 1959. Lúc bấy giờ Bành Đức Hoài chuyển lên Trung ường bức thư tâm huyết. Mao Trạch Đông cho đó là hành động xét lại, lật án, phải xử lí.
Chủ đích của hội nghị Bắc Đới Hà là nghiên cứu các quyết sách quan trọng về kinh tế, nhưng không ngờ Mao Trạch Đông đã đột ngột biến điệu, ông phủ nhận hầu hết các kết luận của Hội nghị 7000 người vừa mới kết thúc vào đầu năm.
Tại hội nghị Bắc Đới Hà lần này, Mao Trạch Đông vẫn chưa điểm danh phê bình đến Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, nhưng trong lời lẽ đã ít nhiều động chạm, rằng: làm ăn riêng rẽ tất yếu sẽ dẫn đến phân hoá hai cực, không đợi đến hai năm đâu là mà một năm thôi đã phân hoá rồi, có khó khăn, thì mới thử thách được kinh tế tập thể chứ; trong phong trào hợp tác hoá trên thế giới, chúng ta là nước thực hiện tốt nhất; thế mà từ năm 1960 đến nay không nói gì đến quang minh, chỉ toàn tuyên truyền hắc ám; đề ra khoán hộ đến mức 40%, đề ra kinh tế cá nhân và kinh tế tập thể cạnh tranh với nhau, như vậy chẳng phải là làm giàu cho bọn con buôn, cho các mụ chủ và đưa quân đội, gia đình liệt sĩ, công nhân, cán bộ vào cảnh khốn cùng hay sao? v.v... Hai năm sau, ngày 28 tháng chạp năm 1964. Mao Trạch Đông mới nói rõ chủ tâm, hội nghị Bắc Đới Hà phê bình “luồng gió làm ăn riêng rẽ” chính là nhằm vào Đặng Tiểu Bình. Ông nói: “Tại sao ở Bắc Đới Hà tôi phải nêu vấn đề tình thế, vì lúc ấy có người cho rằng - không khoán hộ thì phải mười năm mới khôi phục được kinh tế - như vậy là gì? Chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản? Là đấu tranh giai cấp chứ còn gì nữa”.
Sự bất mãn của Mao Trạch Đông đối với Đặng Tiểu Bình ngày một lộ rõ, công khai. Còn Đặng, ông vẫn giữ thái độ bảo lưu. Nhớ lại những lần về nông thôn điều tra tình hình, các câu vè luôn vẳng bên tai ông: “Tám giờ, đánh kẻng, chín giờ đi làm, làm thì nhác nhớn, nghe bãi vui liền”, phải chăng càng nghèo nàn càng vinh quang? Nếu như vậy thì làm sao Trung Quốc thịnh vượng phát đạt được? 18 năm sau, ngày 1 tháng tư năm 1980, khi nói chuyện về hội nghị Bắc Đới Hà, Đặng Tiểu Bình đã chỉ rõ đó là hội nghị gài số lui, là quay trở về vấn đề đấu tranh giai cấp và nâng lên một cấp độ cao hơn. Đối với Mao, hội nghị Bắc Đới Hà là điểm ngoặt cố ý của ông để đưa toàn Đảng chuyển sang “tả”, đưa Trung Quốc hướng tới “đại Cách mạng văn hoá”, thông báo của hội nghị xoáy vào một chủ đề “muôn ngàn lần không được quên đấu tranh giai cấp”. Người dân vừa chạy vạy thoát khỏi cảnh đói rét khốn cùng thì lại lâm vào nỗi lo âu mới - sự dày vò về tinh thần!
Một tháng sau, ngày 24 tháng chín năm 1962, Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khoá 8 được triệu tập tại Hoài Nhơn Đường ở Trung Nam Hải, và Mao Trạch Đông nêu ra nguy cơ phục hồi chủ nghĩa tư bản, nhắc nhở việc kiên trì chủ nghĩa Mác - Lê, đơn giản hoá những vấn để phức tạp nảy sinh trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau hội nghị, cả nước dấy lên phong trào giáo dục và đấu tranh giai cấp.
Tháng hai năm 1963, Trung ương lại khai hội, Mao Trạch Đông tổng kết kinh nghiệm Hồ Nam, Hà Bắc và kết luận “đấu tranh giai cấp, vừa phóng ra đã diệu linh ngay” và quyết định thực hiện “tứ thanh” ở nông thôn, “ngũ phản” ở thành phố. Ấy là thanh tra sổ sách, kho tàng, tài sản, công điểm, ấy là chống tham ô ăn cắp, đầu cơ lật đổ, phô trương lãng phí, chủ nghĩa phân tán, chủ nghĩa quan liêu. Tháng năm, Mao Trạch Đông đi Hàng Châu chủ trì hội nghị thảo luận “Quyết định về một số vấn đề trong công tác nông thôn” - mười điều phần một, quyết định đã đánh giá quá nghiêm trọng đối với tình hình chính trị trong nước, cho rằng cuộc đấu tranh giai cấp lúc bấy giờ rất gay gắt, “tứ thanh, ngũ phản” là cuộc đấu tranh cách mạng nhằm đập tan âm mưu tấn công điên cuồng vào chủ nghĩa xã hội của các thế lực tư bản chủ nghĩa, yêu cầu các địa phương huấn luyện cán bộ để thực hiện thí điểm, chuẩn bị triển khai thành phong trào rộng khắp cả nước.
Tháng chín, căn cứ vào các vấn đề đặt ra trong thí điểm, Trung ương tiếp tục thông qua “Quy định một số chính sách cụ thể trong cuộc vận động giáo dục xã hội chủ nghĩa ở nông thôn” - mười điều phần hai, cả hai mươi điều đều yêu cầu thực hiện phương châm “lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh”, một phương châm tả khuynh nhưng lại yêu cầu đoàn kết 95% cán bộ quần chúng, và phải dựa vào tổ chức cơ sở và cán bộ cơ sở. Mùa đông năm 1963 sang mùa xuân năm 1964, “tứ thanh” tràn ra nông thôn, còn “ngũ phản” thì được triển khai ở một số thành phố.
Nhân cơ hội “muôn ngàn lần không được quên đấu tranh giai cấp”, những “vệ binh du động” như Giang Thanh đã cao hứng khoa tay múa chân. Trong khi cả nưóc đang chịu đói chịu rét thì đệ nhất phu nhân Trung Quốc cùng Khang Sinh đi Hàng Châu, ban ngày họ du sơn du thuỷ, thưởng ngoạn cảnh đẹp mà có người đã ví “Thượng hữu thiên đường, hạ hữu Tô Hàng “ (trên có thiên đường, dưới có Tô Châu, Hàng Châu), còn ban đêm thì cùng nhau xem “kịch cấm”. Dựa vào tinh thần chỉ thị đấu tranh giai cấp của Mao Trạch Đông và với phương pháp không tin dùng một ai, Giang Thanh lập thế trận trên lĩnh vực sân khấu, điện ảnh. Bà chỉ trích vở “Lý Tuệ Nương” là kịch ma quỷ mà chủ nghĩa xã hội không thể dung nạp được (vì trong vở diễn có hồn ma xuất hiện). Tháng 5 năm 1963, Giang Thanh tổ chức báo chí phê bình vở “Lý Tuệ Nương” và những bài tán dương vở diễn đó, gây nên bầu không khí căng thẳng trong giới văn nghệ. Tháng chạp năm ấy, Mao Trạch Đông đã viết như sau: “Đối với các hình thức nghệ thuật như sân khấu kịch, thi ca, văn học v.v... vấn đề cũng không ít, người thì nhiều mà tiếp thu cải tạo xã hội chủ nghĩa lại rất nhỏ nhoi. Nhiều đảng viên cộng sản nhiệt tâm đề xướng nghệ thuật của chủ nghĩa phong kiến, chủ nghĩa tư bản, ngược lại không nhiệt tâm với nghệ thuật xã hội chủ nghĩa. Đó chẳng phải là điều quái gở hay sao?”. Ông còn bổ sung thêm: “Bộ văn hoá là bộ đế vương tướng tá, là bộ tài tử giai nhân, là bộ người chết của nước ngoài”.
Và lập tức Bộ văn hoá và giới văn nghệ bị cuốn hút vào phong trào học tập chỉnh phong. Từ mùa hạ năm 1964, chỉnh phong đã lan sang lĩnh vực học thuật, triết học, kinh tế học, lịch sử v.v... đến các trường đại học, các viện nghiên cứu, các toà báo v.v.. và kết quả là nhiều tác phẩm, công trình bị phủ định, liệt vào “sách cấm”, nhiều nhà khoa học bị quy oan, cách thức, bị buộc thôi việc. Tết năm 1964, Mao Trạch Đông mở toạ đàm và sau đó thực hiện cải cách giáo dục một cách quá đáng. Cứ thế đại đa số trí thức lúc bấy giờ bị quy là “trí thức của giai cấp tư sản”. Bánh xe của cỗ pháo tả khuynh ào ào lướt tới và Tổng bí thư Đặng Tiểu Bình không tài nào hãm thắng nổi, lí do đơn giản vì Chủ tịch là người cầm lái.
Người ta nhớ lại những năm tháng ấy không ai dám viết bài hay diễn thuyết, Tân Hoa xã mỗi ngày chỉ có hai bản tin, sân khấu toàn các vở diễn đánh nhau, còn điện ảnh cho quay phim nào thì dựng phim đó.
Thủ đô Bắc Kinh và cả nước như trong ngột ngạt, oi bức, báo trước một cơn giông bão sắp ập tới.
 
0
7. DÂY DẪN LỬA ĐẠI CÁCH MẠNG VĂN HOÁ
 
Tháng hai năm 1965, Giang Thanh, lúc bấy giờ ngoài nhiệm vụ thư kí của Mao Trạch Đông không có vai vế nào khác, đi Thượng Hải gặp Trương Xuân Kiều - Bí thư Thành uỷ - bàn việc tổ chức cho Diêu Văn Nguyên, người của tổ sáng tác Thành uỷ Thượng Hải viết bài phê bình vở kịch “Hải Thuỵ bãi quan”. Toàn bộ công việc viết lách này được tiến hành một cách bí mật.
Sau khi bài “Bình vở kịch lịch sử biên soạn lại - Hải Thuỵ bãi quan” công bố ở Thượng Hải, Nhân Dân nhật báo và các báo khác ở Bắc Kinh vẫn im hơi lặng tiếng, chưa tờ nào đăng lại. Điều này làm cho Mao Trạch Đông càng nghi ngờ Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, ông cho rằng Ngô Hàm - tác giả “Hải Thuỵ bãi quan” - có ô dù. Trung ương có bộ tư lệnh của giai cấp tư sản, cuối cùng ông quyết định ra lệnh “xuất bản sách nhỏ”!
Thực hiện chỉ thị của Mao Trạch Đông, Trương Xuân Kiều ra tay khống chế công cụ tuyên truyền, tất nhiên là mệnh lệnh như sấm dạy, người ta ngày đêm ra sức in ấn. Thư điếm Tân Hoa ở Thượng Hải theo lệnh của Trương Xuân Kiều đã khẩn cấp điện báo toàn quốc, trưng cầu đặt mua sách nhỏ. Bắc Kinh ban đầu từ chối, sau cùng miễn cưỡng đặt mua mấy ngàn cuốn, nhưng vẫn cự tuyệt phát hành, các nơi khác giữ thái độ bàng quan.
Thời tiết chính trị Bắc Kinh ngột ngạt, lúc ấy Đặng Tiểu Bình và cả nhà đang nghỉ những ngày cuối thu ở Quý Dương, Tuấn Nghĩa thuộc tỉnh Quý Châu. Trước đây Đặng Tiểu Bình và Ngô Hàm cùng sinh hoạt trong một câu lạc bộ cán bộ cao cấp, họ cùng học cách nuôi ong, đánh bài và tán chuyện. Đặng Tiểu Bình khâm phục sự uyên bác của nhà sử học Trung Quốc - Ngô Hàm, ông hay chuyện và nghĩ rằng Ngô Hàm không thể trở thành Bành Đức Hoài thứ hai.
Ngày 29 tháng 11, Bắc Kinh nhật báo và báo Quân giải phóng mới đăng lại toàn văn bài viết của Diêu Văn Nguyên. Ngày hôm sau trên mục Nghiên cứu học thuật của Nhân Dân nhật báo cũng đăng lại bài viết này. Điều làm mọi người thú vị là toà báo không đưa bài viết lên trang chính mà xếp nó vào vấn đề học thuật, không đại diện cho quan điểm của trung ương, mà đã là học thuật thì có thể bình đi luận lại, tán thành hay phản bác. Lời Ban biên tập trên tờ Nhân Dân nhật báo chỉ rõ: phương châm của chúng ta là cho phép tự do phê bình và cũng tự do phản phê bình; đối với ý kiến sai trái, chúng ta áp dụng phương pháp thuyết lí, thực sự cầu thị, dùng lí lẽ để thuyết phục người khác. Tất cả đều trích từ Mao tuyển, răn đe mọi người nói năng cẩn thận. Tuy nhiên, trong vụ đăng lại bài viết của Diêu Văn Nguyên, cũng lắm kẻ hăng hái tiên phong, ví như báo Quân giải phóng do Lâm Bưu không chế đã bình luận thêm: “Hải Thuỵ bãi quan là cây cỏ độc!”.
Ngày 21 tháng chạp, trong một biệt thự lộng lẫy bên bờ Tây Hồ Hàng Châu, Mao Trạch Đông và Trần Bá Đạt đã có cuộc trao đổi quan trọng. Năm 1958, Trần Bá Đạt kiến nghị “huỷ bỏ hàng hoá và tiền tệ”, từng bị Mao Trạch Đông phê bình. Từ đó, Trần luôn luôn tìm cơ hội để lập công chuộc tội. Năm 1959, Trần thường dò la Điền Gia Anh - thư kí của Mao Trạch Đông “gần đây Chủ tịch hay đọc loại sách gì?” nhằm cách nịnh Mao, nhưng Điền cương trực đã không tiết lộ. Khi Giang Thanh đi Thượng Hải, Trần chưa đoán nhận ra điều gì, mãi tới lúc bài viết của Diêu Văn Nguyên được công bố, Trần mới dự cảm một hiện tượng khác thường, một trận cuồng phong bão tố đang ập tới và đây là cơ hội để xuất đầu lộ diện mà ngoi lên. Trần Bá Đạt nhận thấy Mao không vừa lòng với Ban bí thư, Ban tuyên huấn Thành uỷ Bắc Kinh, bèn chọc tức “Thành uỷ Bắc Kinh kim châm không vào, nước tưới không thấm”. Mao Trạch Đông nói lại với Trần: “Tai hại của vở kịch là “bãi quan”, hoàng đế Gia Tĩnh đã cách chức Hải Thuỵ, và năm 1959 chúng ta cũng đã cách chức Bành Đức Hoài, hoá ra Bành Đức Hoài là Hải Thuỵ!”
Ngày hôm sau, Mao Trạch Đông đem câu chuyện giữa ông và Trần Bá Đạt kể lại cho Khang Sinh và Bành Chân cùng nghe. Bành Chân - người đã bị “tưới tràn nước bẩn” đến lúc này vẫn không tinh mắt xem sắc mặt của Mao ra sao mà thản nhiên bênh vực cho Ngô Hàm: “Theo điều tra, Ngô Hàm và Bành Đức Hoài không có mối liên hệ gì về tổ chức cũng như trực tiếp cá nhân. Vấn đề Ngô Hàm không thuộc về chính trị”. Bành Chân có ngờ đâu lời nói ấy đã xúc phạm và miệt thị tới quyền uy tối thượng của Mao Trạch Đông.
Càng ngày người ta càng nhận ra bài viết của Diêu Văn Nguyên đã được Mao Trạch Đông ủng hộ, cho nên không thể không lập một phòng tuyến khác và chuẩn bị “đề án rút lui”. Bắc Kinh nhật báoNhân Dân nhật báo cùng đăng bài của Đặng Thác “Từ Hải Thụy bãi quan” bàn về lý luận kết thừa đạo đức”, gọi là có tham gia tranh luận, ứng phó đôi phần. Ban tuyên huấn cũng vậy, phải biểu thị thái độ và Chu Dương đã thân hành tổ chức lực lượng viết bài “Hải Thụy bãi quan - đại biểu cho một trào lưu tư tưởng xã hội”; lấy bút danh là Phương Cầu đăng trên Nhân Dân nhật báo số ra ngày 29.12.1965.
Bài này do Bành Chân chỉ đạo, lập ngôn là đưa vở kịch “Hải Thụy bãi quan” về phạm vi trào lưu tư tưởng mà không quy là vấn đề chính trị phê phán, giọng điệu văn có vẻ rất “tả” khiến mọi người cảm nhận sự phê bình rất gay gắt, nhưng trên thực tế đã cởi cái mũ truy chụp, đưa sự việc ra khỏi vòng chính trị, che chở cho Ngô Hàm.
Khi trở về Bắc Kinh, Đặng Tiểu Bình ủng hộ quan điểm này. Theo ông và Lưu Thiếu Kỳ, mọi tranh luận của bộ môn văn hóa đều thuộc về học thuật và lý giải theo kiểu “trăm nhà đua tiếng”.
Ngày 3 tháng hai năm 1966, với tư cách là tổ trưởng Tiểu tổ Cách mạng văn hóa được thành lập năm 1964, Bành Chân triệu tập hội nghị các thành viên để đưa ra “Đề cương báo cáo về thảo luận học thuật trong giai đoạn hiện nay” (sau này được gọi là Đề cương tháng hai). Chủ đề của đề cương là hạn chế thích đáng khuynh hướng cực tả vừa xuất hiện trong vụ thảo luận phê phán học thuật, đặt những cuộc tranh luận như vậy dưới sự lãnh đạo của Đảng và đóng khung trong phạm vi khoa học, không tán thành nâng lên thành vấn đề chính trị. Đề cương được Ban thường vụ Bộ Chính trị đồng ý ở Bắc Kinh và có báo cáo với Mao Trạch Đông lúc ấy ở Vũ Hán. Ngày 12 tháng 2, đề cương do Trung ương chuyển phát đến toàn Đảng. Theo tinh thần của đề cương, Ban tuyên huấn ngừng công bố các bài viết phê phán “tác hại” của “Hải Thụy bãi quan”.
Thấy tình hình phê phán “Hải Thụy bãi quan” biến thiên theo chiều hướng bị hạn chế, Giang Thanh bèn tranh thủ sự ủng hộ của Lâm Bưu - Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng để từ ngày 2 đến 20 tháng hai tại Thượng Hải, tổ chức toạ đàm về công tác văn nghệ trong quân đội.
Nội dung toạ đàm được chỉnh lý biên soạn thành kỷ yếu, đã phủ nhận toàn bộ thành tích to lớn về văn nghệ kể từ ngày kiến quốc đến nay, cho rằng giới văn nghệ bị bọn đen chống Đảng, chống chủ nghĩa xã hội chuyên chính và hiệu triệu phải kiên quyết tiến hành cuộc đại cách mạng trên chiến tuyến văn hóa. Mao Trạch Đông đã thẩm duyệt và sửa chữa tập kỷ yếu này đến ba lần, rồi sau đó kiến nghị nên lấy danh nghĩa Quân ủy Trung ương báo cáo lên Trung ương phê chuẩn. Quả nhiên ngày 10 tháng tư, kỷ yếu đã được chuyển phát đến toàn Đảng. Tác phẩm mà Giang Thanh và Lâm Bưu nặn lên, không những nhằm vào người lãnh đạo văn nghệ mà còn chĩa sang nhiều cán bộ cấp Trung ương. Đây là kết quả mà hai bên cùng lợi dụng lẫn nhau, mở đầu cho sự cấu kết của họ.
Vào khoảng cuối tháng ba. Mao Trạch Đông liên tục tìm gặp Khang Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều để nói chuvện, chỉ trích Đề cương tháng hai, cho rằng đề cương đã xoá mờ ranh giới giai cấp, không phân rõ thị phi, là sai lầm, rằng Ban tuyên huấn là phủ Diêm vương, phải đánh đổ Diêm vương để bắt lũ tiểu quỷ, rằng Thành ủy Bắc Kinh bao che người xấu, nếu tiếp tục như vậy thì phải gián tán các cơ quan này. Ông chủ trương: nếu cơ quan Trung ương, Phó thủ tướng, Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng bị vu cáo mang tội “soái quân phản đảng” phải cách ly thẩm tra; Dương Thượng Côn - Bí thư dự khuvết Trung ương, Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương; Lục Định Nhất - Bí thư Trung ương, Phó thủ tướng, trưởng ban Tuyên huấn; Bành Chân - Bí thư thành ủy Bắc Kinh, Tổ trưởng Tiểu tổ cách mạng văn hóa đều bị đình chỉ công tác và quy vào một nhóm chống đảng Bành - La - Lục - Dương.
Như vậy là những người dưới quyền của Đặng Tiểu Bình ở Ban bí thư chỉ sót mỗi Khang Sinh, còn tất cả đều bị xử lý, khác nào như “giết gà cho khỉ xem”, tuy khỉ chưa bị đánh trực tiếp nhưng đã khiếp đảm vì nhìn thấy máu đỏ chảy ra từ cổ gà. Ông cảm nhận ra điều ấy và đến lượt mình “lãnh phần” cũng không còn lâu nữa.
Tiếp sau “Hải Thụy bãi quan” là “Thôn ba nhà”, lại một vụ ầm ĩ phê phán tác phẩm để đấu tố tác giả và ám chỉ hậu đài, ô dù đã nổ ra, lại một áng văn nữa của Diêu Văn Nguyên lên báo, tiếp tục đào rễ sâu tìm cho ra ai là người tán thưởng, bao che. Trên tầng cao của Đảng là nhóm chống đối Bành - La - Lục - Dương, ngoài xã hội là các nhà khoa học Ngô Hàm, Đặng Thác, Liêu Mạc Sa bị hãm hại, xử trí. Tất cả như dọn đường cho một sự điên đảo sắp xảy ra. Dây dẫn lửa, ngòi pháo cứ xòe cháy không ai dập nổi và càng lúc càng đến gần khối thuốc nổ.
Ngày 4 tháng Năm năm 1966, hội nghị mở rộng Bộ Chính trị Trung ương được triệu tập, Mao Trạch Đông bận công tác không tham dự giao cho Lưu Thiếu Kỳ chủ trì, tự xử lý kỷ luật cho các chiến hữu của mình. Tại hội nghị này đã chính thức xuất đầu lộ diện những Khang Sinh, Lâm Bưu và nhiều kẻ cơ hội khác, họ tâng bốc chủ soái Mao Trạch Đông, rằng câu nói nào của ông cũng là chân lý, rằng một lời của ông bằng vạn lời của mọi người cộng lại, chống ông là chống Đảng, là phản quốc v.v...
Chua xót hơn là Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình phải đồng ý thông qua bộ chỉ huy cuộc đại Cách mạng văn hóa, gồm Trần Bá Đạt, Khanh Sinh, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên v.v... mà đối thủ của họ không ai khác là hai ông Lưu, Đặng.
 
0
8. NHỮNG NGÀY ĐẦU CỦA CÁCH MẠNG VĂN HÓA
 
Hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị chưa kết thúc nhưng Giang Thanh, Khang Sinh đã truyền tin ra bên ngoài, cung cấp tư liệu cho giới báo chí công kích Thành ủy Bắc Kinh. Sau khi Trần Bá Đạt tiếp quản Nhân Dân nhật báo, ngày 6 tháng giêng năm 1966 ra xã luận “Quét sạch bọn yêu ma quỷ quái”, hiệu triệu quần chúng đứng lên làm cách mạng văn hóa.
Ngày hôm sau, Mao Trạch Đông cho phép phổ biến rộng rãi trên phạm vi toàn quốc nội dung tờ báo chữ to của Nhiếp Nguyên Tử và nhiều sinh viên khác ở Đại học Bắc Kinh. Sinh viên công kích Đảng ủy nhà trường và Thành ủy Bắc Kinh. Sinh viên các trường như được tiếp sức, theo “đèn xanh” đã bật, nhanh chóng dấy lên làn sóng đấu tố bọn “hắc bang”, mà không ai khác là hiệu trưởng và các giáo sư đã từng dạy họ. Tình hình hỗn loạn lan rộng trong các giảng đường ở Bắc Kinh, ngọn lửa đại Cách mạng văn hóa đã bùng cháy từ thủ đô cổ kính làm cho mọi người lo lắng là ngọn lửa sẽ thiêu cháy cả đất nước.
Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình sau khi bàn bạc với Thành ủy Bắc Kinh, đã cử tổ công tác về các trường đại học và cao đẳng tạm thời trấn an, ngày 4 tháng sáu đã bay đi Hàng Châu báo cáo tình hình với Mao Trạch Đông. Mao điềm tĩnh hút thuốc, sắc mặt không hề thay đổi, nhìn hai đối thủ đã vào trận giao tranh, nghĩ rằng chưa phải lúc ngã bài phân thắng bại, nên cứ tiếp tục đẩy họ ra trước đầu sóng ngọn gió, chặt đứt mọi con đường tẩu thoát.
“Kính mong Chủ tịch trở về Bắc Kinh chủ trì công việc”, Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình khẩn khoản yêu cầu, hai ông đều nhận định Mao phải xuất tướng thì mới yên, người dẹp trận không ai hơn người đã bày trận.
Về Bắc Kinh? Nổi loạn như vậy chưa đủ độ, “hồi triều” lúc này là phải đối mặt với một thế cuộc khó chọn ra quyết sách, nếu bỏ mặt hỗn loạn thì còn mặt mũi nào ăn nói cùng thiên hạ như một đấng thủ lĩnh, nếu đình chỉ hỗn loạn thì cuộc chiến đánh đổ Lưu, Đặng chưa phân thắng bại, nhẽ nào lại chịu giữa đường gãy cánh, chuốc phần thua về mình. Suy nghĩ giây lát, Mao Trạch Đông trả lời: “Tôi chưa về được, hai đồng chí cứ liệu tình hình mà xử lý”.
Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình lên máy bay trở về Bắc Kinh, trút được gánh nặng trong lòng, tuy thỉnh “thần” không xuôi, nhưng hai ông đã có trong tay thanh bảo kiếm “liệu mà xử lý” cứ thế mà phang.
Hội nghị mở rộng Ban thường vụ Chính trị được triệu tập lập tức, mời thêm tất cả những người đứng đầu các ban của Trung ương, hội nghị quyết định cử Tổ công tác đến các trường đại học, cao đẳng uốn nắn tình hình. Lưu, Đặng cẩn thận đã điện báo quyết nghị này với Mao Trạch Đông hiện còn ở Hàng Châu, Mao trả lời đồng ý và công việc xử lý tình hình mới bắt đầu triển khai. Sau nhiều ngày nỗ lực, các sân trường đã trở lại yên tĩnh, ai cũng thở phào nhẹ nhõm, nhưng họ đâu ngờ những hành động nguy hiểm hơn đang được bí ẩn mật chuẩn bị trong tầng lớp sinh viên đã bị Giang Thanh, Khang Sinh, Trần Bá Đạt thao túng. Quả nhiên, ngày 8 tháng 6, sinh viên Đại học Bưu điện Bắc Kinh xắn tay áo xuống đường hô vang “Tổ công tác cút đi!”, thế là họ đã nã pháo và dây chuyền mấy chục trường đại học cao đẳng ở Bắc Kinh liên tục ầm vang. Chỉ mới hôm qua khi không vâng lời một bí thư chi bộ nào đó thì ngay tức khắc anh mang tội chống Đảng, mà giờ đây dám cả gan đuổi Tổ công tác đi do Trung ương cử về, thật không thể tưởng tượng nổi. Báo chí nằm trong tay của Tiểu tổ Cách mạng văn hóa đã đồng thanh la lớn “bọn yêu ma quỷ quái đàn áp sinh viên, đàn áp quần chúng cách mạng”. Đến lúc này, Mao Trạch Đông mới ra tay giải tán các tổ công tác vào ngày 28 tháng 7, kiểm điểm Lưu, Đặng đã phạm sai lầm về đương lối, ngăn cản cuộc đại Cách mạng văn hóa mà Trung ương vừa phát động hồi tháng năm. Ngày mồng một tháng 8, ông chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 11 khóa 8, hội nghị đã cho in ấn và phát hành bài viết của Mao “Nã pháo vào Bộ Tư lệnh - tờ báo chữ to của tôi”.
Bài báo viết: “Trong 50 ngày qua, từ trung ương đến địa phương đã xuất hiện một số đồng chí lãnh đạo... đứng trên lập trường của giai cấp tư sản, thực hiện chuyên chính của giai cấp tư sản, đàn áp cuộc đại Cách mạng văn hóa của giai cấp vô sản, đảo ngược phải trái, hỗn loạn trắng đen, bao vây quần chúng cách mạng, tiến hành khủng bố, rồi tự mình đắc ý trương lên thanh thế của giai cấp tư sản, tiêu diệt ý chí của giai cấp vô sản, họ thâm độc biết chừng nào!”, ông còn cho rằng trong Trung ương có Bộ Tư lệnh của giai cấp tư sản, tuy chưa điểm đích danh nhưng đã ám chỉ Lưu, Đặng và số người lãnh đạo công việc thường nhật của Trung ương.
Từ phê phán “Hải Thụy bãi quan” đến thông cáo 5.16 của hội nghị Bộ Chính trị vào tháng năm và giờ đây là báo chữ to “Nã pháo...”, mức độ ác liệt của cuộc chiến ngày một gia tăng. Hội nghị lần này dựa theo ý kiến của Chủ tịch Đảng đã ra Nghị quyết 16 điều chỉ rõ mục đích của cách mạng văn hóa là: “Đấu gục phái đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, phê phán quyền uy học thuật phản động của giai cấp tư sản, phê phán hình thái ý thức của giai cấp tư sản và tất cả các giai cấp bóc lột khác, cải cách giáo dục, cải cách văn nghệ, cải cách tất cả thượng tầng kiến trúc không phù hợp với hạ tầng kinh tế xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho củng cố và phát triển chế độ chủ nghĩa. Trọng điểm của cuộc cách mạng là phái đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa trong nội bộ Đảng”.
Nghị quyết nhấn mạnh vai trò xung quanh của thanh thiếu niên trong cách mạng, khẳng định phương pháp báo chữ to, tranh luận và đấu tố. Ban thường vụ Bộ Chính trị bổ sung thêm bốn người là Đào Chú, Trần Bá Đạt, Khang Sinh và Lý Phú Xuân, có tất cả 11 người. Đào Chú - nguyên Bí thư thứ nhất Cục Trung Nam vừa được điều về Trung ương đảm nhiệm chức vụ Bí thư thường vụ Ban bí thư kiêm trưởng ban Tuyên huấn, mới 3 tháng đã vào Bộ chính trị, song sau đó bị bài xích, hãm hại cho đến chết. Lý Phú Xuân cũng vậy, sau này bị xử lý. Lưu Thiếu Kỳ từ vị trí thứ hai trong Bộ Chính trị đã bị xếp xuống thứ tám. Hội nghị lần này không bầu thêm phó chủ tịch đảng, nhưng về sau người ta chỉ tôn xưng Phó chủ tịch Trung ương Lâm Bưu, còn các chức danh Phó chủ tịch Đảng sẵn có của Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân thì không ai nhắc tới nữa.
Trong những ngày hội nghị, Mao Trạch Đông gửi thư cho Hồng vệ binh Đại học Thanh Hoa, nhiệt liệt ủng hộ tinh thần tạo phản của họ, khiến cho lực lượng “tiểu tướng” cả nước càng phấn chấn hăng say làm cách mạng. Từ ngày 18 tháng 8 đến ngày 26 tháng 11, Mao đã lần lượt tiếp kiến Hồng vệ binh với 11 triệu lượt người. Trung ương, Chính phủ thông tri cho các địa phương cử đại diện Hồng vệ binh về Bắc Kinh tham quan “Cuộc đại Cách mạng văn hóa”, tất cả đều được miễn phí, nâng mức nổi loạn lên phạm vi toàn quốc.
Tiếp đến là những ngày đen tối của lịch sử, từng làn sóng Hồng vệ binh đã tràn vào các cơ quan văn hóa, giáo dục, chính quyền và đảng ủy, tràn ra xã hội, đập phá tất cả những gì mà họ cho là “phong kiến, tư sản, xét lại”. Không biết bao nhiêu người đã bị quy là “phần tử đen”, “nhân vật đại biểu của giai cấp tư sản”, “uy quyền học thuật phản động”, “phần tử chủ nghĩa xét lại phản cách mạng”, lần lượt bị lôi ra để đấu tố, lăng nhục, ẩu đả, và tịch biên gia sản, họ là những nhân sĩ dân chủ, là công thương gia, nhà khoa học, nhà giáo dục, văn nghệ sĩ, kiều bào về nước, là những cán bộ, đảng viên của Đảng, viên chức của nhà nước.
Tháng 10 năm ấy, hội nghị Trung ương tập trung chỉ trích Lưu, Đặng, bảo vệ những hành vi phá phách của Hồng vệ binh và nêu lên một tội danh mới “đường lối phản động của giai cấp tư sản”. Cũng thời gian đó, cuộc cách mạng tràn vào các trường quân sự, các cơ quan đảng và người ta định phát động nổi loạn đến cả nhà máy, đồng ruộng nhưng vô lẽ lại “đình công, ngừng sản xuất để làm cách mạng”, tuy vậy vẫn không ít cán bộ công, nông nghiệp đã bị cách mạng xử trí.
Đến nước này, Đặng Tiểu Bình chỉ còn biết thở ngắn than dài, tuy vẫn là ủy viên thường vụ Bộ Chính trị nhưng cách mạng đã đẩy ông đến bờ vực thẳm, song lấy cớ gì lật đổ ông? Chuyện gì cũng cần nhiều mưu mẹo, xin xem tiếp hồi sau.
 
0
9. MÀN TỰ MỤC CỦA TẤN BI KỊCH ĐÃ MỞ
 
Gió lạnh từ Sibérie tràn về, cuốn theo bụi cát mù trời, những thân cây khô khốc gầy guộc than khóc, van nài, như tiềm ẩn mối nguy hiểm.
Đó là ngày 18 tháng chạp năm 1966, nội thành Bắc Kinh thê lương, ảm đạm. Nỗi lo trước một cuộc thảm sát và khủng bố âm thầm đè nặng lên mọi người. Trăm họ đều ưu  phiền, Trung Quốc sẽ đi về đâu.
1 giờ 30 phút chiều hôm ấy, chiếc xe con màu đen đưa Khoái Đại Phú từ Đại học Thanh Hoa về Trung Nam Hải. Đúng 2 giờ, Trương Xuân Kiều đã đợi sẵn, dẫn Khoái vào phòng khách và khóa trái cửa lại. Cuộc mật đàm bắt đầu. Theo yêu cầu của Trương Xuân Kiều, Khoái Đại Phú báo cáo tình hình phong trào ở Thanh Hoa và kết quả đi móc nối với sinh viên Thượng Hải. Thỉnh thoảng Trương mới nói một đôi câu, còn suốt cả thời gian ấy đều chăm chú nghe báo cáo, nhìn chằm chằm vào cặp mắt hình tam giác của Khoái và gật đầu lia lịa. Đợi Khoái trình bày xong, Trương Xuân Kiều mới hạ giọng:
“Nhìn trên phạm vi toàn Quốc, đường lối phản động của giai cấp tư sản còn tương đối hung mãnh, vẫn phải tiếp tục phê phán một cách sâu sắc hơn nữa. Trong Trung ương, một hai người đề xuất đường lối phản động ấy chưa chịu đầu hàng... Tiểu tướng cách mạng các anh phải liên hợp lại, phát huy tinh thần đại Cách mạng văn hóa vĩ đại mà đánh cho chúng - những con chó chạy cùng đường, đang ào xuống nước tìm lối thoát - phải quỵ gục, phát thối, nhẽ nào lại giữa chừng bỏ dở...”.
Khoái Đại Phú chăm chú lắng nghe và không còn nghi ngờ gì nữa, những người mà Trương Xuân Kiều vừa ám chỉ chính là Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình. Muốn đánh họ quỵ gục, phải dùng mọi thủ đoạn, vu cáo, miệt thị, đả kích v.v...
“Xin thủ trưởng yên tâm, em bảo đảm làm đúng như vậv...”, lúc ấy là 4 giờ chiều.
Trương Xuân Kiều dám giao một nhiệm vụ cơ mật và trọng đại như vậy cho Khoái Đại Phú không phải là không có căn cứ, bởi vì Khoái đã hội đủ những điều kiện của một tay phản nghịch mà Trương tin cậy.
Khoái Đại Phú, con người đang độc chiếm mọi quyền bính ở Đại học Thanh Hoa, nguyên là sinh viên ngành hóa công. Cách mạng văn hóa nổ ra không bao lâu, anh ta cho dán tờ báo chữ to với nội dung kinh người - đoạt quyền. Công khai tuyên bố: mắt tôi chỉ chăm chú vào quyền, đầu tôi chỉ luôn nghĩ về quyền, tay tôi chỉ muốn nắm lấy quyền, sớm muộn rồi cũng phải đoạt quyền. Anh nghiên cứu câu nói của Lâm Bưu “có quyền là có tất cả” rồi tổng kết thành “36 chước tranh quyền”. Khoái có bản lĩnh sử dụng quyền lực, được Giang Thanh, Trương Xuân Kiểu tán thưởng còn Khang Sinh, Trần Bá Đạt thì gắn cho anh nhãn hiệu “Phái tả kiên định”. Ngày 24 tháng 9 năm 1966, Khoái được một số nhân vật Cách mạng văn hóa cấp Trung ương ủng hộ, kéo lên làm thủ lĩnh tiếm quyền lãnh đạo Đại học Thanh Hoa, tiếp đó lại thăng tiến là Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh số 3 Hồng vệ binh thủ đô. Trần Bá Đạt từng tuyên bố: Bộ Tư lệnh số 1, số 2 là phái bảo thủ, chỉ có số 3 của Khoái mới là phái tạo phản chân chính, Khoái Đại Phú trở thành “nắm đấm sắt” rất lợi hại của Cách mạng văn hóa cấp trung ương, “Khoái Tư lệnh” - đại danh ấy đã lừng lẫy một thời.
Nhận lãnh “sứ mệnh đặc biệt” do Trương Xuân Kiều giao phó, Khoái Đại Phú thúc xe về Thanh Hoa và lập tức triển khai kế hoạch hoạt động chống Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình.
Đêm hôm đó, Khoái tự nghiên cứu rồi truyền đạt cho đám thuộc hạ của binh đoàn Hồng vệ binh Tĩnh Cương Sơn. Ngày 19, theo lời dặn của Trương Xuân Kiều. Khoái phất cờ liên hợp, lôi cuốn hai tổ chức quần chúng khác của Đại học Thanh Hoa, chủ trì triệu tập “Đại hội tuyên thệ tổng tấn công vào đường lối phản động của giai cấp tư sản”, công khai hô hào “Đập tan Bộ Tư lệnh phản cách mạng của giai cấp tư sản do Lưu, Đặng cầm đầu”.
Ngày 20, tại Câu lạc bộ hàng không trong vườn trường Thanh Hoa, Khoái phổ biến toàn bộ kế hoạch “Đả đảo Lưu - Đặng” sẽ nổ ra vào ngày 23 và nâng lên phạm vi toàn thủ đô. Khoái chưa dứt lời, thì hội nghị nháo nhác, hỗn loạn: “Lưu Thiếu Kỳ là Chủ tịch nước, là ủy viên thường vụ Bộ chính trị, chưa có ai dám dán báo chữ to phản đối Lưu Chủ tịch, tôi không đồng ý làm như thế...”, “Tôi cương quyết cự tuyệt...”.
“Trương Xuân Kiều, đại biểu cho Cách mạng văn hóa, đánh đổ Lưu, Đặng không phải là ý kiến riêng của cá nhân ông ta - Khoái giải thích, tay chống nạnh, tay vỗ ngực, ra oai - Thủ trưởng đã giao nhiệm vụ quan trọng này cho chúng ta, đó là sự tín nhiệm của Cách mạng văn hóa đối với chúng ta, đối với lão Khoái này. Thủ trưởng đã chỉ đích danh chúng ta, cho dù sóng cả gió to, chúng ta cũng liều xông ra, sợ gì...”, vẫn tiếng hò la của đám “đàn em”, hoa tay múa chân, không ai chịu ai. Song, với bản lĩnh của một vị Tư lệnh, Khoái Đại Phú nhanh chóng dẹp loạn và cương quyết thông qua kế hoạch, chỉ có thời gian thay đổi chậm lại vào ngày 25.
Ngày 25 tháng chạp năm 1966, gió rét thấu xương bụi cát ngập trời, mặt trời chỉ còn là một cái chấm nhạt nhòa giữa không trung âm u. Khoái Đại Phú dẫn đầu hơn 5 ngàn người, tay cầm cờ, miệng la hét, kéo từ sân trường Thanh Hoa đổ về quảng trường Thiên An Môn, rồi chia thành 5 nhánh đến Vương Phủ Tỉnh, Tây Đơn, ga Bắc Kinh, chợ rau v.v... diễn thuyết, phát truyền đơn, dán báo chữ to, tuyên truyền vu cáo, lăng mạ Lưu, Đặng. Nội thành Bắc Kinh như bị phủ kín bởi những đại biểu ngữ “Đả đảo Lưu Thiếu Kỳ”, “Đả đảo Đặng Tiểu Bình”, “Huyết chiến đến cùng với Lưu, Đặng”.
Hành động của binh đoàn Hồng vệ binh Tĩnh Cương Sơn hôm ấy kéo dài suốt ngày Noel, đã chấn động cả Bắc Kinh, cả Trung Quốc, cả thế giới. Màn đầu của vở kịch Khoái Đại Phú đã mở ra, sau đó là những lớp lang, chương hồi diệt Lưu, Đặng lần lượt được trình diễn.
Người thanh niên 23 tuổi ấy, sau “chiến tích lừng lẫy”, được quan thầy cất nhắc lên ủy viên thường vụ ủy ban Cách mạng Bắc Kinh, trước mắt là con đường phủ đầy hoa.
Nhưng ngày 28 tháng 7 năm 1967 tại Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông tiếp 5 lãnh tụ của sinh viên, và ông đã chỉ tên phê bình Khoái Đại Phú, không rõ vì lý do gì. Ông sợ hậu họa của “36 chước tranh quyền” chăng? Ngày vui ngắn chẳng tày gang, Khoái Đại Phú không ngờ hôm đó là mốc xuống dốc của đời mình.
Tháng chạp năm 1967, anh tốt nghiệp đại học, về Ninh Hạ làm công nhân mạ cho Xí nghiệp nhôm Thanh Đồng Hiệp. Năm 1970, bị bắt vì thuộc phần tử “5.16”, năm 1978 chính thức vào tù, năm 1983 toà án mới xét xử và tuyên án 17 năm tù (tính từ ngày bị bắt giam). Năm 1984, người ta đưa Khoái về Thanh Hải cải tạo lao động ở trại số 13. Hồi đó ông Hồ Diệu Bang làm tổng bí thư, khi ông đi công cán Thanh Đảo có hỏi thăm Khoái và hứa rằng, nếu cải tạo tốt, mãn hạn sẽ được phân công công tác. Sau 17 năm lao lý, Khoái đã vào tuổi 42 và trở về Xí nghiệp nhôm Thanh Đồng Hiệp thuở xưa. Sau đó lập gia đình và, năm 1992 cả nhà chuyển về Tư Gia Trang tỉnh Sơn Đông.
 
0
10. HỌA VÔ ĐƠN CHÍ
 
10 giờ sáng ngày đầu năm 1967, quảng trường Thiên An Môn ngập trong biển người và hết sức náo nhiệt. Các loa phóng thanh cỡ lớn mở hết âm lượng bài từ Mãn giang hồng của Mao Trạch Đồng, cho đến khi hàng vạn sinh viên kéo từ các trường đại học, cao đẳng ở Bắc Kinh lũ lượt đổ về quảng trường. Đây là cuộc mít tinh của phái tạo phản chính thức kết tội Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình. Theo kịch bản, “nhân vật số hai trong phái đương quyền Trung Quốc đi theo con đường tư bản chủ nghĩa” - Đặng Tiểu Bình phải mang 10 trọng tội như sau: 1/ Là một Tổng bí thư tiếm quyền, 2/ Chủ trương phê phán sùng bái cá nhân để giảm uy tín của Mao Chủ tịch, 3/ Đề xướng lý luận “mèo” trong nông nghiệp nhằm chống lại tư tưởng Mao Trạch Đông, 4/ Thổi phồng công việc phong hàm, học vị cho các nhà khoa học, 5/ Thông qua 60 điều về giáo dục đại học làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, 6/ Chống chính sách văn hóa của Mao Chủ tịch, 7/ Không tuân chủ trương giáo dục kết hợp với lao động sản xuất do Mao Chủ tịch đề xướng, 8/ Trấn áp phong trào sinh viên Cách mạng, 9/ Phái tổ công tác đàn áp quần chúng Cách mạng văn hóa, 10/ Từ ngày du học ỏ Pháp về nước đã trở thành con bạc tú lơ khơ, từng điều chuyên cơ mời bạn cờ khắp nơi về Bắc Kinh chơi trò đen đỏ (!).
Khí thế cách mạng của quần chúng thật ghê gớm, chỉ cần một cuộc hò la, áp đặt buộc tội vô căn cứ như thế, từ vị trí Tổng bí thư đảng cầm quyền bỗng chốc trở thành kẻ thù bên kia giới tuyến, đợi ngày phán quyết. Từ đó, Đặng Tiểu Bình như bị giam lỏng trong tư dinh ở Trung Nam Hải. Lúc này cuộc đại Cách mạng văn hóa chuyển qua giai đoạn đoạt quyền. Mở đầu là nhóm tạo phản Vương Hồng Văn ở nhà máy bông số 17 Thượng Hải được Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên yểm trợ đã đứng lên giành quyền lãnh đạo của Thành ủy và chính quyền thành phố. Mao Trạch Đông ủng hộ hành động của Vương Hồng Văn, thế là phái tạo phản trong cả nước đã noi gương Vương tiến công vào cơ quan Đảng, chính quyền cao nhất ở các địa phương, dấy lên cao trào “đoạt quyền toàn diện” mà hậu quả của nó là tình trạng vô chính phủ và đổ máu. Các chiến sĩ cách mạng lão thành lớn tiếng phản đôi hành động phá Đảng, phá nhà nước, phá xí nghiệp, phá nông thôn đó của phái tạo phản đại Cách mạng văn hóa thì bị chụp ngay cái mũ “dòng nước ngược phục hồi giai cấp tư sản”. Để tiêp sức cho đám người tạo phản, ngày 22 tháng 7 năm 1967 Giang Thanh lại đề ra khẩu hiệu “văn công, võ nghệ” (công kích bằng văn, bảo vệ bằng võ). Ngày 7 tháng 8, Tạ Phú Trị - Bộ trưởng công an, người của Giang Thanh, đã công khai tuyên bố “hủy bỏ luật kiểm soát”, rồi Vương Lực kêu gọi đoạt quyền ở Bộ ngoại giao v.v... Đó là những ngày mà đường lối tả khuynh đạt đến cực thịnh, làm say lòng cả tác giả lẫn đạo diễn của tấn tuồng chính trị ấy.
Hôm đó, ngày 4 tháng 8 năm 1967, trong căn phòng mát dịu do được điều hòa không khí ở lầu 8 Điếu Ngư Đài, Giang Thanh lại đàm đạo cùng Khang Sinh. “Này Khang huynh, sáng mai là kỷ niệm một năm ngày Mao Chủ tịch công bố bài báo chữ to - Nã pháo vào bộ Tư lệnh, chúng ta phải làm gì để chúc mừng?”.
“Lại tiếp tục nã pháo vào bọn chúng, không cho chúng nó ẩn nấp trong tư dinh, không cho chúng nó sống thoải mái”.
“Không cho chúng nó sống thoải mái!”. Giang Thanh nghiến răng: “Phải đấu, đấu mạnh!”.
Thế là những nhà lãnh đạo cuộc đại Cách mạng Văn hóa như Giang Thanh, Khang Sinh, Trần Bá Đạt, Thích Bản Vũ lại cụng đầu bày mưu đấu tố Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình và Đào Chú, rồi sai bọn đàn em ra tay.
Tào Dật Âu với nhãn hiệu đặc phái viên Cách mạng văn hóa Trung ương được phân công chỉ huy đấu Đặng Tiểu Bình. Trong tiếng hò la “Đặng Tiểu Bình phải cúi đầu, chúng ta bắt nó phải chết!”, “Đả đảo tên số hai theo chủ nghĩa tư bản”, là một thác người ào ào vào nhà ông ở Trung Nam Hải. Hai tên lực lưỡng hảo hán lôi ông ra giữa sân, rồi chụp ảnh, quay phim, ghi âm, liên tục thu hình, thu tiếng để phát lại cho cả nước cùng nghe, cùng thấy.
Đặng Tiểu Bình, lúc này đã là ông già 63 tuổi, bị tròng giữa trưa nắng, mồ hôi nhễ nhại, bị vây quanh bởi nhóm thanh niên tạo phản mà tuổi còn măng sữa. Một Hồng vệ binh la lớn:
“Hãy trả lời, mày và Lưu Thiếu Kỳ đã đàn áp sinh viên như thế nào?”.
“Tôi đồng ý cử tổ công tác đến các trường”, Đặng Tiểu Bình điểm tĩnh trả lời, không một chút hoảng sợ, “Vì lúc bấy giờ ở các trường rất loạn, không có cách nào khác để ổn định trở lại, sau khi Ban thường vụ Bộ chính trị thông qua, chúng tôi mới cử tổ công tác. Về việc này, Thiếu Kỳ có trách nhiệm và tôi cũng có trách nhiệm. Nhưng lúc đó chưa ý thức được làm như vậy là theo con đường phản động của giai cấp tư sản...”.
“Không được ngụy biện, tao phải vạch mặt mày, đến bây giờ mày vẫn ngoan cố với lập trường tư sản”.
Đám người hò la, hô khẩu hiệu, lăng nhục, kết tội, cứ thế giờ này qua giờ khác, dậy cả một vùng Trung Nam Hải. Ngoài kia, trên quảng trường Thiên An Môn, người ta tụ tập lắng nghe theo loa phóng thanh tường thuật tại chỗ cuộc đấu tố, rồi cũng “đả đảo”, cũng nhảy, cũng hét, cũng căm thù như thể được trực tiếp vạch mặt Đặng Tiểu Bình.
Ngày 13 tháng chín năm ấy - 1967, người thân của Đặng Tiểu Bình buộc phải rời khỏi Trung Nam Hải. Sáu bà cháu ngậm ngùi ra đi tìm nơi nương tựa, đành bỏ mặc Đặng Tiểu Bình và Trác Lâm, vợ ông, bị giam lỏng tại tư dinh để thường xuyên kéo ra đấu tố và chờ ngày phán quyết cuối cùng. Lúc đầu họ tá túc tại các trường học, nhưng vì mang danh là con cái của “hắc bang” nên cũng bị đấu tố và đuổi ra khỏi ký túc xá sinh viên.
Đặng Phác Phương và em gái là Đặng Nam bị phái tạo phản bắt giam và bị nhốt vào một phòng thí nghiệm vật lý của Đại học Bắc Kinh để ngày ngày tra khảo, đánh đập và buộc viết giấy tố cáo cha mẹ mình. Nhiếp Nguyên Tử - một tiểu tướng sinh viên, người đã dán tờ đại tự báo đầu tiên công kích Thành ủy Bắc Kinh, công kích nhà trường - được phân công ám hại con cái của Đặng Tiểu Bình.
Đặng Phác Phương, con trai trưởng của Đặng là một thanh niên cuồng tín Đảng cộng sản, cuồng tín tư tưởng Mao Trạch Đông, và là đảng viên sắp hoàn thành tốt nghiệp ngành vật lý hạt nhân, trước cảnh loạn lạc “nước mất nhà tan” lòng tin của anh như hoàn toàn sụp đổ, đã có lúc phải mượn chén rượu giải sầu, và chính khi nhận giấy bút viết tố cáo cha mẹ mình, Phác Phương đã để lại lời tuyệt mệnh, rồi nhảy từ lầu 3 xuống đất. Năm đó - 1968, anh mới 24 tuổi. Thượng đế chưa cho anh chết mà bắt anh làm người tàn phế. Anh bị gãy cột sống, và giáng xuống gia đình họ Đặng một tai họa khủng khiếp. Lúc ấy, người ta đưa anh đên hành lang của Bệnh viện số 3 Bắc Kinh, một đống xương thịt co rúm nằm đó, không phải chờ chữa trị mà nhận câu trả lời “con của hắc bang, con của tên số hai theo chủ nghĩa tư bản, ở đây không có chỗ cho nó!”. Xe cấp cứu lại thả anh xuống sân Đại học Bắc Kinh, một đêm lạnh trên bãi cỏ ấy không biết Phác Phương đã nghĩ gì. Sáng hôm sau, bác sĩ nhà trường mới đến và họ cùng thúc thủ, vô phương cứu chữa vì xương sống đã nứt gãy rồi. May sao có một công nhân già, tên Vương Phong Ngô đến trạm xá hỏi anh “Cháu là Phác Phương?” và đời anh được cứu vãn từ đó.
“Họa vô đơn chí” nhưng cũng có lúc “Họa trung đắc phúc”, và Vương sư phụ đã trở thành ân nhân của gia đình họ Đặng.
 
0
11. VỀ LẠI GIANG TÂY
 
Mùa xuân năm 1969, Đại hội 9 của Đảng Cộng sản Trung Quốc khai mạc. Đại hội tuyên cáo với Quốc dân đồng bào, với toàn Đảng là: “Bộ Tư lệnh của giai cấp vô sản do Mao Trạch Đông chủ soái, Lâm Bưu phó soái đã đập tan bộ Tư lệnh giai cấp tư sản của Lưu, Đặng. Đại hội tràn ngập bầu không khí tả khuynh và sùng bái cá nhân, chỉ một lời khai mạc ngắn ngủi của Mao Trạch Đông mà đã phải ngắt quãng hàng chục lần để tung hô vạn tuế. Đại hội đã để lại một điều kỳ quái: trong điều lệ Đảng, quy định “Lâm Bưu là người kế vị Mao Trạch Đông”! Đại hội bầu được 170 ủy viên chính thức, 190 ủy viên dự khuyết, số cũ của khóa 8 chỉ tái cử 32%, chủ tịch Đảng vẫn là Mao Trạch Đông, và một phó chủ tịch duy nhất là Lâm Bưu. Trần Bá Đạt, Khang Sinh lọt vào ban thường vụ Bộ Chính trị. Người cũ chỉ còn lại Chu Ân Lai, vẫn thủ tướng, vẫn ủy viên ban thường vụ Bộ Chính trị.
Sau Đại hội 9, Lâm Bưu đắc thắng nhảy ra chính trường, không lo quốc phòng mà chỉ mưu cơ tiếm quyền. Ngày 18 tháng 10 năm 1969, Lâm Bưu lừa dối Mao Trạch Đông và Trung ương, đặt điều Liên Xô sẽ tập kích vào Bắc Kinh và phát “chỉ thị khẩn cấp” đặt toàn quân trong tình trạng thời chiến, đó là “Mệnh lệnh số 1” tiền trảm hậu tấu của Lâm Bưu. Ngày 19, Lâm Bưu bằng hình thức “ghi chép điện thoại” báo cáo Mao Trạch Đông, buộc ông đồng ý như một việc đã rồi, nhưng Mao Trạch Đông không nghe và ra lệnh: “đốt”. Lâm Bưu và Hoàng Vĩnh Thắng hoảng hốt, song lập mưu che giấu tội trạng rằng “Mao Chủ tịch nói rất đúng, đốt”.
Âm mưu thâm độc của Lâm Bưu là qua lần này để diễn tập chính biên, xem thử mệnh lệnh của “phó soái” có nghiêm hay không, và nhân cơ hội sơ tán thời chiến mà đẩy các bậc lão thành ra khỏi Bắc Kinh để Lâm Bưu tiện bề hành động và tống khứ bọn “hắc bang” về nông thôn cải tạo lao động, trong số đó Đặng Tiểu Bình bị đưa về Giang Tây.
Sáng ngày 26 tháng 10 năm 1969, khi nhạc hiệu “Đông phương hồng, mặt trời lên” ầm vang, xe chở Đặng Tiểu Bình, Trác Lâm và kế mẫu Hạ Bá Căn rời Trung Nam Hải, không một người đưa tiễn, không một đứa con cháu nào bên mình. Đặng Lâm đã tốt nghiệp họa sĩ, chưa có việc làm vì còn bị ép buộc tố cáo cha mình. Đặng Phác Phương không còn cảm giác đại, tiểu tiện, một thân một mình nằm ở bệnh viện 301. Đặng Nam, Đặng Dung, Đặng Chất Phương mỗi đứa một nơi đang lao động cải tạo ở nông thôn An Huy, Thiểm Tây, Sơn Tây, tất cả đều biệt vô âm tín.
Xe đưa họ đi trên những đường phố Bắc Kinh ngập trong màu đỏ của biển biểu ngữ “đả đảo”, “đốt cháy” bộ Tư lệnh giai cấp tư sản Lưu, Đặng. “Gió lạnh, thu buồn, rời kinh lần này biết lúc nào trở lại?”, Đặng Tiểu Bình cảm thán và bất chợt nhớ lại nỗi đau 36 năm về trước, cũng ở Giang Tây, nơi mà ông sẽ đến. Tháng ba năm 1933, tại chiến khu Xô viết của Trung ương Đảng ở Giang Tây, ông đảm nhận chức vụ Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh ủy, vì nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của Mao Trạch Đông, và trớ trêu thay cánh tả đã chụp cho Đặng Tiểu Bình những cái mũ “sợ địch”, “bỏ chạy”, “phòng ngự thuần túy”, họ nhốt ông vào một căn phòng chật hẹp để viết kiểm thảo. Năm ấy ông mới 29 tuổi, hai tay lắc mạnh song cửa mà kêu rằng “loạn rồi, loạn rồi”. Đặng Tiểu Bình lo cho Hồng quân, lo cho cách mạng bị mơ màng giữa cơ hội, mạo hiểm và chân chính. Cứ vài ngày một lần, họ lôi ông ra “chất vấn” và vẫn chỉ nhận được câu trả lời ngoan cường kiên quyết. Bà Kim Duy Ánh - người vợ trước của ông đòi ly dị vì sợ liên lụy, Đặng Tiểu Bình đã không do dự ký ngay vào đơn. “Kiểm thảo” không làm gì được chàng trai cứng cỏi này cộng thêm sự khuyên ngăn của Chu Ân Lai và Lý Phú Xuân nên họ đành “cảnh cáo” và đưa ông về một huyện tiền tuyến của Giang Tây là An Lạc. 10 ngày sau, người ta lại điều Đặng Tiểu Bình trở về tỉnh ủy. Lúc ấy, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Hồng quân là Vương Gia Tường đang bị thương nằm viện hay tin sự việc của Đặng Tiểu Bình đã điện thoại xin Bác Cổ - phụ trách Trung ương Đảng - cho phép điều ông về công tác ở Tổng cục chính trị. Từ hoàn cảnh bị công kích, Đặng Tiểu Bình lại được điều lên giữ chức Trưởng đoàn thư ký của Tổng cục chính trị kiêm Tổng biên tập báo “Sao đỏ” và sau đó “đường lối La Minh Giang Tây” mà ông theo đuổi, từng bị phê phán, lại tiếp tục thực hiện, mãi cho đến tháng 5 năm 1934, khi chiến khu Xô viết Giang Tây bị quân dội Quốc dân đảng tiến công chiếm cứ mới thôi. Những chiến hữu cùng bị bức hại một thời với ông như Mao Trạch Đàm, Cổ Bách... ít lâu sau đều hy sinh.
Năm xưa, vì theo Mao Trạch Đông mà bị xử lý, nhưng may sao vẫn còn sống sót và giờ đây chống đối lại cuộc đại Cách mạng văn hóa, Mao Trạch Đông không tin dùng nữa, trở thành “nhân vật số hai đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”, lại trở về Giang Tây. Ôi, con thuyền vận mệnh biết phiêu bạt về đâu?
 
0
12. BA NĂM Ở GIANG TÂY
 
Máy bay cất cánh, rồi vượt qua bầu trời Bắc Kinh, Thái Sơn, Hoàng Hà, Trường Giang, chẳng mấy chốc đã đến Nam Xương. Tại sân bay Hướng Đường, các vệ binh Bắc Kinh bàn giao 3 người cho nhóm cán bộ của Văn phòng Ủy ban cách mạng tỉnh Giang Tây. Người của Giang Tây đưa Đặng Tiểu Bình, Trác Lâm và Hạ Bá Căn về thành phố. Từ Hướng Đường, xe đưa họ qua Thanh Vân Phổ, Liên Đường rồi vào nội thị Nam Xương, đâu đâu cũng còn dấu ấn của phái tạo phản với đôi ba biểu ngữ: “Khai trừ vĩnh viễn Lưu Thiếu Kỳ ra khỏi Đảng”. “Đả đảo Đặng Tiểu Bình - nhân vật số hai theo chủ nghĩa tư bản”.
Chính quyền cách mạng Giang Tây bố trí họ ở lại nhà khách quân đội của tỉnh ba ngày, hôm cuối cùng Triệu Tử Xương - thư ký Văn phòng tỉnh dẫn đến 1 sĩ quan trẻ và giới thiệu: “Đây là Hoàng Văn Hoa, thư ký văn phòng, do tỉnh cử đến để quản lý ông bà và cụ, từ nay về sau mọi việc từ lao động sản xuất đến học tập, đọc tài liệu và các hoạt động khác của ông bà đều do anh Hoàng phụ trách”. Đặng Tiểu Bình nhìn người thanh niên họ Hoàng xa lạ mà không hề biểu hiện gì; còn anh, lần đầu tiên mới thấy rõ nhân vật số hai theo chủ nghĩa tư bản, và trong sự im lặng đáng sợ, ông như có một sức mạnh khó nhận biết.
Hoàng mời gia đình lên xe. Đặng đáp lại “vâng” với giọng điệu của người bị quản thúc, chừng mực và lễ phép. Họ đi về hướng Thành Cương, xe qua đại lộ Bát Nhất. Lúc bấy giờ, trong cả nước, con đường này chỉ kém đường Trường An Bắc Kinh mà thôi, kiểu “chơi trội” của tỉnh trưởng Giang Tây khi ấy là Thiệu Thức Bình đã gây xôn xao ở trung ương, nhưng Thiệu dám nói, dám làm và cứ thế mở rộng lộ giới, xây cầu Bát Nhất. Đặng Tiểu Bình nhìn ra hai bên xa lộ, vẫn là tên mình trên các biểu ngữ, hoặc viết ngược đầu xuống đất, chân lên trời, hoặc bị gạch chéo bởi những vạch đỏ. Ai ngờ rằng con đường mà Thiệu đã bất chấp dư luận, tạo dựng lên, hôm nay lại trỏ thành cảnh tượng một trường đấu tố.
“Đây là cầu Bát Nhất, phía dưới là sông Cán Giang. Cán Giang chảy về hồ Phàn Dương. Chỗ chúng ta ở còn khoảng 8 cây số nữa”.
Nghe Hoàng giới thiệu, ông gật đầu và hình ảnh 30 năm về trước khi cùng Hồng quân vượt Cán Giang lại hiện về, còn Phàn Dương, một hồ lớn nhất của Trung Hoa, bao la và nhận mọi cơn sóng dữ của Trường Giang, “ôi khí phách Phàn Dương hồ”, Đặng Tiểu Bình từng cảm thán.
Xe qua thị trấn Trường Lăng, nơi đóng trụ sở huyện ủy Tân Kiến rồi thẳng về Thành Cương, điểm cuối cùng của hành trình. Đây là khu vực của trường bộ binh Nam Xương, ngày xưa là trường Đại học Trung Chính - trường học cao nhất của Giang Tây thời còn Quốc dân đảng. Hiệu trưởng của trường là thiếu tướng họ Đinh, từng ủng hộ phái tả, sau bị điều đi nơi khác. Tòa lầu mà hiệu trưỏng đã ở, quen gọi là “Lầu tướng quân”, tường đỏ ngói xanh nấp dưới vòm cây chim hót quanh năm, đường đi uốn lượn giữa những bãi cỏ được xén tỉa cẩn thận, mỹ quan. Người ta bố trí Đặng Tiểu Bình, vợ và mẹ ở lầu tướng quân. Nếu không vì cảnh lao lý, quản chế thì đây quả là nơi ngoạn mục đối với tuổi già như ông.
Từ hôm đó, Đặng Tiểu Bình bắt đầu 3 năm “lao động cải tạo”, 3 năm tư duy rèn luyện cho một tương lai dữ dội hơn, 3 năm cô độc mà kiên trinh, 3 năm không bình thường trong đời ông.
Sáng hôm ấy, Đặng Tiểu Bình và Trác Lâm trong bộ trang phục màu xanh của công nhân, chân đi giày vải kiểu quân đội, vai vắt khăn bông cùng Hoàng Văn Hoa đến xưởng sửa chữa máy kéo của huyện Tân Kiến. Ba người rời khỏi lầu tướng quân, xuống một dốc ngắn, vượt qua cổng trường bộ binh, và cứ thế theo đường lộ Nam Xương khoảng 2 cây số rồi rẽ trái 200 mét là đến nơi lao động. Bí thư chi bộ kiêm Chủ tịch ủy ban cách mạng của xưởng niềm nở bắt tay và giới thiệu: “Đây là một xí nghiệp cỡ nhỏ của huyện, chỉ có 80 công nhân”. Đặng Tiếu Bình liền hỏi: “Xưởng có còn Hồng vệ binh nữa không?”. Bí thư vui vẻ trả lời: “Chúng tôi không có Hồng vệ binh, hầu hết là công nhân lớn tuổi, rất an phận”.
Sĩ quan quản giáo và bí thư đưa Đặng Tiểu Bình và Trác Lâm vào xưởng máy, không ai ngờ đó lại là Tổng bí thư - Phó thủ tướng và phu nhân. Mặc dù đã có sự chuẩn bị trước về tư tưởng và kỷ luật cho công nhân, song khi đó người ta đã rộ lên “Đặng Tiểu Bình!” và ùa đến bên ông như tranh nhau một vinh dự lần đầu tiên được tận mắt nhìn thấy lãnh tụ của đất nước. Giữa vòng vây của những người thợ, với những ánh mắt trìu mến, hoàn toàn khác hẳn với đám Hồng vệ binh Bắc Kinh, Đặng Tiểu Bình và vợ ông như lữ khách trên hoang mạc đã tìm thấy mầu xanh cuộc sông. Thoạt đầu Đặng Tiểu Bình được phân công rửa các chi tiết máy, ông ngồi xổm lâu, hai chân tê cứng, mỗi lần đứng dậy đều té ngã, xưởng trưỏng định chuyển ông sang bộ phận xem bản vẽ, nhưng mắt mờ không tiện, cuối cùng thì đưa về tổ nguội dũa các chi tiết. Thật là hạnh ngộ, vì khi ở Pháp, để kiếm tiền ăn học, ông đã từng làm thợ cho hãng ôtô Renault, bỗng chốc đã hơn 40 năm, nay gặp lại “bạn cũ” - dũa, đục, cưa, búa. Bên bàn nguội étau, với tư thế vững chãi, động tác thuần thục, Đặng Tiểu Bình có dáng dấp như một sư phụ. Và cái tên “già Đặng”, “thợ nguội giỏi nhất” đã lan truyền khắp xưởng.
Nhớ lại những hôm đầu tiên, viên sĩ quan quản giáo cứ “ê, ê” sai, gọi mãi vẫn không tìm ra chủ ngữ. Nếu kêu tên “Đặng Tiểu Bình” thì quá hỗn, còn gọi “Đồng chí Tiểu Bình” như trước đây lại không được, vì đã đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, chống lại Đảng, chống lại Mao Chủ tịch thì “đồng chí” ở đâu. Đặng Tiểu Bình chủ động bảo anh: “Cứ gọi tôi là lão Đặng, già Đặng”“. Đúng, “già Đặng” - cách xưng hô lễ phép với người già - theo tập quán Trung Hoa, và cũng là tỏ thái độ trung tính: không phải địch, không phải ta.
Ba năm, không quản ngày mưa, giá rét, không quản ngày nắng, oi nồng, hai vợ chồng Đặng Tiểu Bình đều có mặt ở vị trí người thợ. Ông rảo bước đi về chỉ trên một con đường từ nhà đến xưởng, từ xưởng về nhà, và mỗi buổi trưa thức dậy lại quay vòng xung quanh lầu tướng quân. Tuy cuộc sống đơn điệu nhưng thân thể ông đã cường tráng hẳn lên, và đặc biệt đầu óc ông đã nảy nở nhiều kế sách. Cũng trong 3 năm ở đây, ông đã đọc một cách hệ thống các bộ sách quý “Tam quốc diễn nghĩa”, “Hồng lâu mộng”, “Thủy hử” và “Tây du ký”, và nhận được nhiều nguồn dinh dưỡng từ kho tàng di sản ấy của dân tộc. Đã nhiều lần sĩ quan quản giáo hỏi ông về việc đọc Mao tuyển và tỏ ý không vừa lòng, Đặng Tiểu Bình trả lời: “Hồi còn ở Trung ương, chúng tôi đã thay đổi hình thức đọc Mao tuyển thành nghe Mao tuyển, và chính ông là người đã có sáng kiến chọn lọc trong thiên kinh vạn quyển của Mao soạn thành cuốn “Lời Mao Chủ tịch” gọn gàng, rõ ràng, súc tích kiểu như kinh thánh mà mọi tín đồ đều thuộc lòng, từng tụng niệm và luôn có trong tay.
Một hôm, Trình Thế Thanh, người đứng đầu tỉnh Giang Tây xộc đến hỏi ông: sáu, bảy tháng rồi, tư tưởng cải tạo ra sao, có gì khó khăn không v.v..., Đặng Tiểu Bình ngồi yên như pho tượng và chỉ nói một câu: “Mọi việc tôi đã viết trong thư gửi về Trung ương qua Chánh văn phòng Uông Đông Hưng rồi”, Trình Thế Thanh bẽ mặt và chờn từ đó. Nhưng về sau Trình đã giúp Đặng nhiều việc, đặc biệt là cho phép con cái của họ được đoàn tụ ở Giang Tây.
“Họa trung đắc phúc”, 3 năm Giang Tây, 3 năm sống cuộc sống của người dân, những bữa cơm đạm bạc theo khẩu vị Tứ Xuyên, những ly rượu nếp tự mình chưng cất, những lần đón con cái về rồi lại tiễn chúng ra đi và để lại bao nhiêu trống vắng, những bước đi trên con đường đất nhỏ mà sau này dân huyện Tân Kiến gọi là “con đường Đặng Tiểu Bình”, những nghĩ suy cho tương lai một Trung Hoa đã nảy sinh trên con đường ấy, và tấm lòng của những người thợ, người dân, nếu so vói nhiều chiến hữu đã ngã xuống trong cuộc đại loạn - Cách mạng văn hóa - thì đây vẫn là hồng phúc, cho ông và cho cả nhân dân nước ông.
 
0
13. LẦN THỨ HAI VÀO TRUNG NAM HẢI
 
Thân trong nghịch cảnh, bị quản thúc không khác gì nơi lao lý, nhưng Đặng Tiểu Bình vẫn luôn quan tâm đến vận nước, ông tin sẽ có một ngày mọi sự thật sẽ được đưa ra ánh sáng, Mao Trạch Đông sẽ hiểu ông, tin dùng ông và giao cho ông trở lại gánh vác công việc của nước nhà.
Ngày đó đã đến.
13 tháng chín năm 1971, Lâm Bưu tử nạn trên sa mạc Mông Cổ trong chuyến bay trốn chạy do việc mưu sát Mao Trạch Đông bị thất bại. Tin dữ này làm cả Trung Quốc kinh ngạc, “phó soái phản chủ soái”, và lãnh đạo xưởng sửa chữa máy kéo huyện Tân Kiến - nơi Đặng Tiểu Bình lao động cải tạo - đã trao cho ông bản thông báo của Trung ương về vụ việc nêu trên.
Đặng Tiểu Bình đã để một buổi chiều và hai buổi tối viết cho Mao Trạch Đông bức thư dài trên 4000 chữ. Sau khi vạch trần những hành động phản cách mạng của Lâm Bưu và Trần Bá Đạt, khiêm tốn tự phê bình những thiếu sót của bản thân, Đặng Tiểu Bình bày tỏ nguyện vọng cống hiến sức lực cho tổ quốc và nhân dân. Ông cho biết đã 5 năm cách ly, nay tuy tuổi 67 nhưng sức khỏe vẫn còn tốt, có thể làm những công việc có tính nghiên cứu khoa học, đóng góp cho Đảng, cho nhân dân mà không có một yêu cầu gì khác. Ba hôm sau, qua bí thư chi bộ của xưởng sửa chữa máy kéo huyện Tân Kiến, thư của ông đã lên đến Bắc Kinh giao cho Uông Đông Hưng - chánh văn phòng Trung ương.
Tập đoàn Lâm Bưu tự thân sụp đổ đã làm cho chính trường Trung Quốc thay đổi, các danh tướng bị Lâm Bưu đánh đổ nay được phục hồi, đầu tiên là Diệp Kiếm Anh đảm nhiệm ngay chức vụ Bí thư trưởng của Quân ủy Trung ương. Thế trận kiềm chế ba chân giữa Lâm Bưu, Giang Thanh, Chu Ân Lai không còn nữa, nay là cuộc đấu tranh của hai phái, một bên là phá hoại, là gây loạn, một bên là lo lắng cơm ăn áo mặc cho 800 triệu dân, là xây dựng đất nước. Nhận thấy điều này, rút ra bài học từ sự kiện Lâm Bưu, Mao Trạch Đông quyết định giao cho Chu Ân Lai chủ trì công việc thường nhật của Trung ương. Và để khôi phục một Trung Quốc đã tàn tạ sau Cách mạng văn hóa, người đầu tiên mà Chu Ân Lai nghĩ tới là đại thần tài năng Đặng Tiểu Bình, song dùng lại Đặng Tiểu Bình không phải là việc dễ vì hai lẽ: thứ nhất, chính Mao Trạch Đông chủ trương đánh đổ Đặng Tiểu Bình; thứ hai, giả sử Mao đồng ý thì vẫn còn Giang Thanh - kẻ không đội trời chung với Đặng, cho nên Chu Ân Lai phải đợi thời cơ.
Ngày 6 tháng giêng năm 1972, nguyên soái Trần Nghị tạ thế, Mao Trạch Đông tham dự lễ truy điệu, trong khi nói chuyện với các tướng lãnh, Mao có nhắc đến Đặng Tiểu Bình, chắc ông đã đọc xong bức thư 4000 chữ của Đặng. Tháng tám năm ấy, vở kịch mới của Giang Thanh là cuộc vận động “phê Lâm phê Khổng” đã trình diễn, thực chất là công kích Chu Ân Lai, chuẩn bị dư luận cho âm mưu tranh giành quyền bính. Ngày 4 tháng tám, Đặng Tiểu Bình lại viết một bức thư nữa cho Mao Trạch Đông. Sau khi phân tích kỹ ai là người tạo phản, phá rối, ai là người có thể trị quốc, bình thiên hạ, Mao Trạch Đông đã viết:
“Sau khi nhờ Thủ tướng xem xong, chuyển giao chánh văn phòng Uông Đông Hưng ấn phát cho các đồng chí Trung ương. Sai lầm mà đồng chí Đặng Tiểu Bình mắc phải là nghiêm trọng, nhưng so với Lưu Thiếu Kỳ thì có khác biệt. (1) Đồng chí là một trong bốn người bị xử lý ở khu căn cứ Xô-viết của Trung ương, tức là Đặng, Mao, Xạ, Cổ - bốn người cầm đầu của phái Mao. (2) Đồng chí không có vấn đề lịch sử, không đầu hàng địch. (3) Đồng chí cùng Lưu Bá Thừa đánh thắng nhiều trận, lập nhiều chiến công. Kể từ ngày về thành phố, đồng chí đã làm nhiều việc tốt, đã dẫn đầu đoàn đại biểu sang Mạc Tư Khoa đàm phán, không bị chủ nghĩa xét lại của Liên Xô khuất phục. Những sự việc này trước đây tôi đã nói nhiều lần, bây giờ nhắc lại lần nữa.
Mao Trạch Đông
Ngày 14 tháng tám năm 1972.”
Đây là thời cơ mà Chu Ân Lai mong đợi, ông đã cho văn phòng in văn bản này và gửi cho tất cả thành viên của Bộ Chính trị nghiên cứu thảo luận, với tư cách là Trung ương, ông kịp thời điện báo cho Tỉnh ủy Giang Tây hủy bỏ chế độ lao động cải tạo đối với Đặng Tiểu Bình, phục hồi sinh hoạt Đảng cho Đặng, đồng thời bố trí Đặng tham quan, khảo sát, điều tra, nghiên cứu v.v... và không quên đưa tất cả những nhân viên cũ đã từng phục vụ Đặng Tiểu Bình về ngay Giang Tây ở bên cạnh ông. Người đời sau bình luận về sự kiện này đều phải tỏ lời khâm phục sự tài hoa của Chu Ân Lai.
Phái Giang Thanh, Khang Sinh, Trương Xuân Kiều sợ hãi trước quyết định của Mao Trạch Đông, họ cho rằng Chu Ân Lai có thêm Đặng Tiểu Bình chẳng khác gì “hổ thêm cánh”, nhưng Mao đã quyết là không tranh cãi. Trong phiên họp ngày 10 tháng ba năm 1973 của Bộ Chính trị, phái Giang Thanh giương cờ trắng đầu hàng - đồng ý phục hồi Đặng Tiểu Bình. Nhưng họ lại lo bày mưu tính kế cho hiệp sau.
Ngày 20 tháng ba năm 1973, Đặng Tiểu Bình từ giã Tân Kiến, từ giã xưởng thợ, từ giã lầu tướng quân trở về Trung Nam Hải và cũng bắt đầu một cuộc chiến đấu mới.
 
0
14. MAO TRẠCH ĐÔNG MỜI “QUÂN SƯ”
 
Ngày 12 tháng 4 năm 1973, Đặng Tiểu Bình tham dự buổi tiệc chiêu đãi Hoàng thân Norodom Sihanouk, đây là lần đầu tiên, sau khi khôi phục, ông xuất hiện trước công chúng và đám đông, vẫn dáng người thấp, vai bè cương nghị nhưng có vẻ cô độc, không nhiều lời. 14 năm sau, một vị khách Hungary đã nhớ lại ngày hôm ấy như sau: “Bên kia là những anh hùng của cuộc đại Cách mạng văn hóa, những người vừa áp đảo ông, đoạt quyền của ông, còn bên này là những người hy sinh chính trị, họ trở về với đại lễ đường quyền lực như ông, một Phó Thủ tướng.”
Tháng 8 năm 1973, đại hội lần thứ 10 của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bầu Đặng Tiểu Bình vào Ban chấp hành Trung ương. “Tên số hai theo chủ nghĩa tư bản” lại bỗng chốc là ủy viên trung ương cộng sản, phó thủ tướng một nước xã hội chủ nghĩa. Thật là một bước ngoặt lớn trong đời ông và sự việc chưa dừng tại đó, vì Mao Trạch Đông còn giao cho ông nhiều trọng trách khác.
Ngày 12 tháng chạp năm đó, Mao Trạch Đông chủ trì hội nghị Bộ Chính trị, Mao có vẻ rất yếu. Năm ngoái đau tim tưởng khó qua, may nhờ cứu chữa tích cực nên sức khỏe đã bình phục, nhưng nói năng chậm, nhỏ.
Mở đầu Mao Trạch Đông phê bình Bộ Chính trị và Quân ủy: “Bộ Chính trị cần bàn về chính trị. Quần ủy cần bàn về quân sự, không chỉ quân sự mà còn cả chính trị nữa.”
Đầu năm, Mao đã phê bình một lần rồi, “Bộ Chính trị mà không bàn chính trị. Quân ủy mà không bàn quân sự”.
Mao nói tiếp, vẫn câu đầu năm đã nói một lần và thêm phần sau: “Các đồng chí không sửa, tôi sẽ khai hội hoài, khai hội ở tại đây, tôi không còn cách nào khác, thúc mãi các đồng chí và nói trực diện mãi với các đồng chí”.
Sau đó, Mao Trạch Đông chuyển sang chủ đề khác: “Tôi đề nghị, về một việc quân sự, đó là Tư lệnh các quân khu lớn trong toàn quốc cần điều chuyển qua lại”.
Ông quay sang Diệp Kiếm Anh: “Đồng chí tán thành rồi, tôi tán thành ý kiến của đồng chí và chỉ ra người nói giúp, phát biểu giúp. Tôi cũng đã tìm gặp thủ tướng và Vương Hồng Văn, cả hai đều tán thành.”
Mao đề nghị mọi người dự hội nghị cùng đồng thanh hát bài “Ba điều kỷ luật, tám điều chú ý” của Giải phóng quân. Thế là tất cả cùng cất cao: “Là quân nhân cách mạng, mỗi người đều ghi nhớ ba điều kỷ luật, tám điều chú ý. Thứ nhất, tất cả hành động đều nghe chỉ huy, bước đi phải đều, phải nhất trí thì mới thắng lợi...”
Từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ hai khóa 9, Mao Trạch Đông có tập quán yêu cầu mọi người hát lại bài “Ba điều kỷ luật, tám điều chú ý”, ông muốn bước đi của toàn Đảng, bước đi của Bộ Chính trị phải đều, phải nhất trí. Trong buổi đại loạn, nói gì đến toàn Đảng, ngay như Bộ Chính trị bước đi cũng khó mà nhất trí, mặc dầu trước mặt Mao họ hát rất đều.
Nghe xong bài hát, Mao Trạch Đông lại nói: “Sừng trâu để làm gì? Chắc là để đấu!”, ông chủ trương triết lý đấu tranh. “Một người làm việc lâu ở nơi nào, là không được”, theo ông sẽ sinh tiêu cực.
Nói đoạn, Mao Trạch Đông đột ngột chuyển sang chủ đề khác - tuyên bố một quyết định quan trọng, ông chỉ Đặng Tiểu Bình, người vừa được khôi phục: “Bây giờ, tôi mời một vị quân sư, tên gọi Đặng Tiểu Bình. Ra một thông báo đảm nhận ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Quân ủy. Bộ Chính trị quản toàn bộ: đảng, chính, quân, dân, học sinh, đông tây nam bắc. Tôi nghĩ Bộ Chính trị cần thêm một chức danh bí thư trưởng, nếu đồng chí không thích cách gọi như thế, thì đổi là tham mưu trưởng”.
Cử tọa lắng nghe từng câu, từng chữ của Mao, nét mặt ai cũng lặng như tờ khi Mao công bố quyết định nêu trên, song trong lòng có người hoan nghênh, lại có kẻ phản đối. “Bây giờ chúng ta mời một vị tham mưu trưởng. Vị ấy, có người sợ, nhưng ông ta làm việc rất quyết đoán, đời ông ta là bảy phần thắng. Vị Tư lệnh của các đồng chí tôi đã mời về, Bộ Chính trị đã mời về, chứ không riêng mình tôi mời.”
Mao quay người về phía Đặng: “Còn đồng chí, người ta sợ đồng chí. Tôi xin tặng đồng chí hai câu: Trong nhu có cương, trong bông có kim, bên ngoài hòa khí một chút mà nội tâm là cả một công ty gang thép. Khuyết điểm trước đây, hãy sửa chữa dần”. Có lẽ qua đây Mao Trạch Đông muốn phê phán Đặng hơn là tán dương.
... Tháng ba năm 1974, Bộ Chính trị lại họp để thảo luận chọn cử ai đi dự hội nghị đặc biệt của Đại hội đồng Liên hiệp quốc khóa 6. Theo ý kiến của Mao, hội nghị cử Đặng Tiểu Bình, Giang Thanh kiên quyết phản đối. Mao đã phải trấn an bằng bức thư:
“Giang Thanh:
Đồng chí Đặng Tiểu Bình đi nước ngoài là ý kiến của tôi, cô không nên phản đối mới phải, cần cẩn thận, không được trái ý tôi.
Mao Trạch Đông
Ngày 27 tháng ba năm 1974”
Sau đó một vài hội nghị khác, Mao Trạch Đông lại tiếp tục phê bình Giang Thanh, yêu cầu giải tán ngay cái nhà máy chế tạo “mũ” của bà, chỉ chuyên chụp mũ người khác, chỉnh đốn người khác và cảnh cáo việc hình thành “nhóm Thượng Hải” gồm bà, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên, Trương Xuân Kiều. Ngược lại, Mao đã giao cho Đặng Tiểu Bình trọng trách Phó thủ tướng thứ nhất và nói đùa với Đặng: “Đồng chí nên lập nhà máy gang thép”.
Đây là những ngày mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đang chuẩn bị triệu tập Đại hội đại biểu nhân dân toàn Quốc khóa 4. Trung ương ra thông báo truyền đạt chỉ thị của Mao: “Cuộc đại cách mạng văn hóa của giai cấp vô sản đã kinh qua 8 năm bây giờ là lúc phải ổn định lại, phải đoàn kết toàn đảng toàn dân”. Quan điểm của ông là đại loạn đại trị, chỉ có đại loạn mới đại trị được, đến nay đại loạn thì đã rõ ràng, còn mục tiêu đại trị thì chưa ra sao cả, và Mao Trạch Đông đã nhận ra bài học không thể tiếp tục nổi loạn nữa mà phải an định, đoàn kết, 7 năm rồi vẫn chưa tiến hành đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, không thể kéo dài mãi như thế. Trị quốc an bang, đám người Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn là không xong, Giang Thanh lại càng tệ hại, chỉ có thể trông chờ vào Chu, Đặng mà thôi. Mao Trạch Đông suy nghĩ như vậy và bắt tay vào việc chỉ huy xây dựng nội các mới.
Quyền bính mà lực lượng cách mạng văn hóa đã đoạt được trong cuộc đại loạn vừa qua không dễ gi lại để rơi vào tay kẻ khác. Giang Thanh và những người của bà sau đợt tấn công “phê Lâm phê Khổng” (thực chất là phê Chu Ân Lai) không thu được, kết quả gì, lại tiếp tục chĩa mũi nhọn sang Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình sẽ phải đương đầu với “nhóm Thượng Hải”“, mà ngay ở hiệp nhất với vụ “Phong Khánh Luân” - mua tàu biển nước ngoài, Đặng Tiểu Bình đã bị chụp cái mũ sùng của ngoại, thích Tây. Con đường mà ông đang đi còn lắm thác, lắm ghềnh.
 
0
15. NHÂN SỰ QUỐC VỤ VIỆN
 
Vào những năm cuối đời và nhất là hậu kỳ Cách mạng văn hóa, Mao Trạch Đông nhận thấy Bộ Chính trị thường chia thành hai phe, không biết tin phe nào, ông bèn dùng một lực lượng trung gian, cầu nối. Hai cô gái trẻ được Mao Trạch Đông tin dùng làm công việc ấy là Vương Hải Dung - cháu của Mao, và Đường Văn Sinh - con của Đường Minh Chiếu, quan viên Bộ ngoại giao. Vương - Đường như hai chị em, ăn mặc giản dị, tóc để ngắn ngang tai, mắt luôn đeo kính cận, thật là hình tượng điển hình của lớp trí thức trẻ thuở ấy. Hai cô là cán bộ phiên dịch của Bộ ngoại giao được phân công phiên dịch cho Mao Trạch Đông khi tiếp khách nước ngoài.
Nhưng quan trọng hơn, là thu thập tình hình trong nội bộ Bộ Chính trị rồi báo cáo lại cho Mao Trạch Đông biết và truyền đạt những chỉ thị của ông đến Bộ Chính trị và Trung ương. Một số văn kiện phát cho các ủy viên Bộ Chính trị cũng liệt kê tên của Vương, Đường vào đó.
Ngày 18 tháng 10 năm 1974, Vương Hồng Văn đáp máy bay đi Trường Sa báo cáo cho Mao Trạch Đông rằng Thủ tướng Chu Ân Lai tuy nằm viện mà vẫn ngày đêm gọi người đến làm việc, rằng những người thường lui tới với thủ tướng là Đặng Tiểu Bình, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm, rằng hình như họ bàn bạc về sắp xếp nhân sự cho Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 4, rằng Bắc Kinh có không khí của hội nghị Lư Sơn năm nào v.v.... Mao chỉ nghe mà không một lời đồng ý hay phản đối, Vương Hồng Văn lủi thủi ra về và không biết Mao đánh giá mình ra sao.
Đêm ấy, khi Vương Hồng Văn còn ở Trường Sa, thì Giang Thanh cho mời hai cô gái Vương Hải Dung và Đường Văn Sinh đến lầu số 10 Điếu Ngư Đài cùng Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên trao đổi công việc. Họ nhờ hai cô báo cáo với Mao Trạch Đông về diễn biến hội nghị Bộ Chính trị hôm 17 tháng mười, khi thảo luận vấn đề “Phong Khánh Luân”, Đặng Tiểu Bình đã cãi nhau với Giang Thanh, rồi bỏ về; về tinh hình các vị trong chính phủ luôn luôn móc nối liên lạc với nhau, và hình như Chu Ân Lai đứng sau hậu đài. Họ cũng nhắc lại hồi đại Cách mạng văn hóa, Đặng Tiểu Bình đã chủ trương: “Mua tàu hơn đóng tàu, và thuê tàu hơn mua tàu”, thật là sùng ngoại trọng Tây v.v...
Sáng hôm sau, hai cô vào bệnh viện thăm Thủ tướng Chu Ân Lai và trình bày hết sự tình đêm hôm qua, Chu cười mà rằng: “Bốn người ấy muốn hại Đặng Tiểu Bình đó, tôi đang tìm hiểu tình hình và sẽ giải quyết dần”. Ông biết rằng trọng tâm của việc đấu tranh lần này là sắp xếp nhân sự đại hội, và đã đến tai Mao Trạch Đông rồi, vấn đề là phải xem ý kiến của Mao như thế nào.
Ngày 20, Vương Hải Dung, Đường Văn Sinh tháp tùng thủ tướng Đan Mạch đến tiếp kiến Mao Trạch Đông. Sau khi làm xong phận sự thông dịch ngoại giao, hai cô nhận chỉ thị của Mao như sau: “Thủ tướng vẫn là thủ tướng, công việc nhân sự cho Đại hội đại biểu nhân dân sắp tới giao cho Thủ tướng và Vương Hồng Văn cùng quản lý, kiến nghị Đặng Tiểu Bình đảm nhận các chức vụ: Phó chủ tịch Đảng, Phó thủ tướng thứ nhất, Phó chủ tịch kiêm Tổng tham mưu trưởng Quân ủy trung ương. Bảo với Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên đừng có đứng sau Giang Thanh mà phê phán lung tung”.
Vương, Đường - “cầu nối” của Mao, đã y nguyên lời lẽ như trên mà truyền đạt cho Bộ Chính trị và Trung ương.
Mao cho gọi Đặng Tiểu Bình về, đó là ngày 12 tháng mười một năm 1974, dự buổi nói chuyện giữa hai ông vẫn không vắng mặt hai “cầu nối” Vương, Đường.
- Đồng chí đã khai trương công ty thép rồi!
Mao vui vẻ như tán dương Đặng.
- Chủ tịch đã biết sự việc.
- Biết.
- Tôi thực sự chịu không nổi, không chỉ một lần.
- Tôi tán thành đồng chí.
- Bà ta đã bảy tám lần như vậy ở Bộ Chính trị.
- Áp bức người khác, tôi không thích như thế.
Mao chỉ tay sang hai cô Vương, Đường và nói tiếp: Các cô đây cũng không thích thế.
- Tôi cảm thấy sinh hoạt trong Bộ Chính trị gần đây không được bình thường, cuối cùng đành phải cùng bà ta gang thép với gang thép một phen. - Đặng Tiểu Bình trả lời.
- Được lắm, - Mao rất vui.
- Thưa Chủ tịch, về quyết định phân công công tác, tôi không dám có ý kiến gì khác, nhưng xem ra có hơi nặng.
- Không còn cách nào khác, hãy cố mà gánh vác. - Mao vui vẻ động viên.
Từ ngày 13 đến ngày 17 tháng giêng năm 1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 4 được cử hành tại Bắc Kinh. Đại hội đã bầu những người đứng đầu Quốc vụ viện, Thủ tướng Chu Ân Lai, các phó thủ tướng: Đặng Tiểu Bình, Trương Xuân Kiều, Lý Tiên Niệm, Trần Tích Liên, Kỷ Đăng Khuê, Hoa Quốc Phong, Trần Vĩnh Quý, Ngô Quế Hiền, Vương Chấn, Dư Thu Lý, Cốc Mục, Tôn Kiện. Thế cuộc giao tranh đã đến hồi kết thúc và âm mưu đoạt quyền của “tứ nhân bang” cũng vào lúc cáo chung.
Sau đại hội, Chu Ân Lai lâm bệnh nặng, Đặng Tiểu Bình thay quyền thủ tướng, chủ trì công việc thường nhật của Quốc vụ viện và trên thực tế là của Trung ương. Một bình luận gia quốc tế đã nhận xét: Tác phong của Chu và Đặng không giống nhau, Chu Ân Lai chú ý sách lược, khiến cho mình nổi trên mặt nước, nhưng không thay đổi phương hướng chủ yếu của dòng chảy, còn Đặng Tiểu Bình thì không chịu thuần phục, ông lập tức đắp đê, dựng đập ngăn dòng lũ đó.
Hành xử những quyền hạn mà Mao Trạch Đông giao phó, Đặng Tiểu Bình đã chú trọng khôi phục kinh tế và kiên quyết chỉnh đốn Đảng, đấu tranh với phái “tả” và “bè lũ bốn tên”. Người đời sau cho rằng lúc bấy giờ Đặng Tiểu Bình đã hành động rất ngoan cường với thái độ “biết trên núi có hổ mà vẫn đi về phía núi đó”, vì không còn cách nào khác.
 
0
16. MAO VIỄN TÂN LÀ AI?
 
“Biết núi có hổ mà vẫn đi về phía núi đó”, được Mao Trạch Đông giao nhiệm vụ, Đặng Tiểu Bình đã chủ trì nhiều phiên họp của Bộ Chính trị phê bình Giang Thanh và nhóm Thượng Hải. Công việc này nói thì dễ nhưng bắt tay vào thực hiện thòi khó khăn, vì chẳng khác gì chọc vào tổ ong. Song nghĩ đến hành động hại dân, hại nước của Giang và phe phái, Đặng không thể không ra tay. Ngày 28 tháng 6 năm 1975, Giang Thanh đã phải viết kiểm điểm gửi cho Chủ tịch và các ủy viên Bộ Chính trị thú nhận “nhóm bốn người” sẽ dẫn đến sự phân liệt trong Đảng v.v...
Tuy vậy, Giang Thanh còn có một con bài khá lợi hại - ấy là Mao Viễn Tân, vậy người ấy là ai?
Tân là con trai của Mao Trạch Dân, gọi Mao Trạch Đông là bác ruột. Khi về sống vơi Mao, Viễn Tân còn là cậu bé quàng khăn đỏ, nhỏ thua Lý Nạp - con gái của Mao - một tuổi, và thấp hơn cô bé này một cái đầu, mọi người gọi cậu là  “bé hạt đậu”. Vào lúc thời kỳ đầu của Cách mạng văn hóa, đám Hồng vệ binh in phát tài liệu “Cuộc nói chuyện giữa Mao Chủ tịch với người cháu Viễn Tân”; từ đó, nhờ uy vọng của Mao, tên tuổi của Viễn Tân truyền khắp bốn biển.
Sau khi tốt nghiệp ở Học viện công trình quân sự Cáp Nhĩ Tân, Viễn Tân lập tức xung vào phái tạo phản, là đầu não của Ban tuyên huấn tỉnh Liêu Ninh, sau đó nhảy lên chức Phó chính ủy quân khu Thẩm Dương và Phó chủ tịch “ủy ban cách mạng” Liêu Ninh. Viễn Tân tôn thờ Mao Trạch Đông như vị thánh sống và tôn kính Giang Thanh như mẹ đẻ, hơn nữa, còn coi bà là thần hộ mệnh của mình. Năm 1973 Viễn Tân lập công với Giang Thanh bằng chiến tích “phản hồi triều” trong các trường học. Nhiều lần về kinh thăm hai bác, Viễn Tân được chăm nom như “Đông cung thái tử”. Tuy nhiệm sở ở Liêu Ninh, nhưng Viễn Tân vẫn thao túng, điều khiển cả hai tỉnh Cát Lâm và Hắc Long Giang, người ta đã phong cho Viễn Tân là “Đông bắc thái thượng hoàng”. Viễn Tân cũng học cách nắm quyền, sai khiến người khác và theo đòi Giang Thanh trong cuộc sống cá nhân, thuốc lá thơm, phim ảnh nước ngoài v.v...
Từ ngày “ở riêng”, vợ con không ai được đến với Mao Trạch Đông khi ông chưa cho phép. Nay Mao lâm bệnh, không thể để ông “trống trải” như vậy, Giang Thanh bàn mãi với ba “đại thần” (Trương, Vương, Diêu) mới chọn được Mao Viễn Tân làm “liên lạc viên”. Kế sách này làm người ta nhớ lại Võ Tắc Thiên nhà Đường đã xem người cháu là Võ Tam Tư như thái tử.
10 giờ sáng ngày 2 tháng 11 năm 1975, Mao Viễn Tân về Trung Nam Hải nhậm chức “liên lạc viên” cho Mao Trạch Đông, tâu lên truyền xuống mọi việc giữa Mao và Trung ương, Quốc vụ viện. Sự kiện Viễn Tân được điều vào Trung Nam Hải làm việc bên cạnh Mao Trạch Đông gây ngạc nhiên cho nhiều người, vì đây là hiện tượng không bình thường trong sinh hoạt Đảng và cũng chưa có tiền lệ. Nhưng vì sức khỏe của Mao, mọi người đều tỏ thái độ kềm chế, từ đó Viễn Tân nói gì tức là lời của Mao Trạch Đông nói, cứ thế mà chấp hành!
Một ngày đầu mùa đông, gió lạnh tràn cả thành phố Bắc Kinh, Viễn Tân nhẹ nhàng vào phòng ngủ của Mao và làm ông tỉnh giấc.
- Bên ngoài chắc lạnh?... Gió thổi mạnh lắm... phải không...?
Giọng nói rất bé, lại chậm, nhưng vì nghe quen giọng nói Hồ Nam của Mao Trạch Đông nên Viễn Tân hiểu ngay. Anh không muốn báo cáo với ông về khí hậu thiên nhiên, mà tuân theo sự chỉ bảo của “mẹ” Giang Thanh, nhân cơ hội này bàn sang thời tiết chính trị.
- Dạ thưa Chủ tịch, gió cũng thường thổi, nhưng người ta cảm thấy hình như có luồng gió lạ.
- Gió gì?
Vì quen với phân tích, nên Mao rất nhạy với tình hình và lập tức “ngửi” thấy một động thái chính trị mới.
- Dạ thưa Chủ tịch, lúc còn làm việc dưới tỉnh, cháu đã cảm nhận được luồng gió này, đó là sự phủ định Cách mạng văn hóa.
Nghe đến mấy chữ “Cách mạng văn hóa”, Mao liền bật dậy nửa ngồi, nửa nằm bắt Viễn Tân tường trình cặn kẽ. Cách mạng văn hóa, một trong hai đại sự của đời ông, là tác phẩm đắc ý vào những năm cuối cùng, ông đã xem xét kỹ, công lớn hơn tội, đã kinh thiên động địa chưa từng có trong lịch sử, là một chiến tích phòng chống chủ nghĩa xét lại. Nếu có sai thì chỉ mình ông thừa nhận, không cho phép một ai được trách cứ, phê phán.
Còn Viễn Tân, anh cũng đắc ý vì đã đưa ông bác vào tròng của Giang Thanh, sẵn kịch bản trong tay, Viễn Tân trình bày 5 điểm phủ định Cách mạng văn hóa và cũng là phủ định Mao Trạch Đông. Nhưng quen với cách trừ tà đuổi gió, Mao muốn biết ngọn nguồn và sức mạnh của luồng gió lạ.
- Gió thổi có mạnh không, cháu?
- Dạ thưa bác, dạ thưa Chủ tịch, còn hơn cả hồi phê phán phái cực tả 72.
- À, còn mạnh hơn hồi năm 1972.
Lúc ấy ám chỉ Chu Ân Lai đã thổi lên luồng gió “phê cực tả”. Mao cau mày và bảo Viễn Tân nói tiếp.
- Cháu rất chú ý cách phát biểu của đồng chí Tiểu Bình, - Viễn Tân hạ giọng, vẻ mặt tỏ ra quan trọng. - Cháu thấy Tiểu Bình rất ít khi nhắc tới Cách mạng văn hóa, nhắc tới Lưu Thiếu Kỳ. Chủ tịch chỉ thị ba điều, nhưng... - Viễn Tân ngừng giây lát rồi nói nhỏ - Nhưng Tiểu Bình chỉ làm một, là sản xuất mà thôi. Bên ngoài đang lo lắng rằng trong Trung ương có kẻ phản phúc.
Không được, không thể chấp nhận một ai xuyên tạc hoặc phá hoại ba điều chỉ thị “học tập lý luận, tinh thông chủ nghĩa Mác Lê, phòng chống chủ nghĩa xét lại, đoàn kết ổn định, đưa kinh tế tiến lên”. Nhẽ nào Tiểu Bình chỉ lo kinh tế, chỉ lo sản xuất mà bỏ tất cả, không muốn đấu tranh giai cấp, phủ nhận Cách mạng văn hóa. Mao Trạch Đông nhớ lại lúc Khang Sinh lâm bệnh, cũng đã “cáo trạng” Đặng Tiểu Bình như vậy, sau đó Mao tiếp cận Đặng và thấy không có gì. Hôm nay nghe thằng cháu báo cáo, ông vừa tin cháu, lại vừa nuôi hy vọng là Đặng Tiểu Bình sẽ quay về “con đường chân chính”.
Ông nghĩ, có thể là sự bất mãn của Đặng đối với Cách mạng văn hóa, có thể là Đặng tính sổ, tính nợ mà Cách mạng văn hóa phải trả... biết lý do nào đây?
Mao ra lệnh cho Viễn Tân:
- Cháu gặp ngay Đặng Tiểu Bình, Uông Đông Hưng, Trần Tích Liên, nói là bác bảo họ nói rõ ra, không úp mở nữa, nói hết mọi ý kiến. À như thế này, cháu tìm Tiểu Bình, Tích Liên, Đông Hưng mở hội nghị nhỏ, cháu nói hết mọi phẽ, rồi báo cáo cho bác hay.
Liên lạc viên thực hiện chỉ thị mới nhất, nhưng Đặng Tiểu Bình vẫn kiên định quan điểm của mình, không nhận sai lầm gì cả. Viễn Tân trở về và lại “thêm mắm thêm muối” báo cáo với Mao Trạch Đông.
Hai hôm sau, Mao bảo Viễn Tân thông báo bố trí họp Bộ Chính trị.
Mao căn dặn:
- Đối với Cách mạng văn hóa, nhìn chung là đúng đắn, song còn có chỗ chưa đầy đủ, bây giờ cần nghiên cứu những chỗ chưa đầy đủ đó, phương pháp có thể khó nhất trí...
Viễn Tân lĩnh hội ý đồ của Mao, thỉnh thị trở lại, nhưng đã sửa chữa đôi điều:
- Mục tiêu của hội nghị lần này là tranh thủ sự thống nhất sơ bộ trên nhận thức về Cách mạng văn hóa, thông qua thảo luận mà đoàn kết, công tác tốt... Có phải như thế không, thưa Chủ tịch?
- Đúng, Mao gật đầu và nói thêm: Không cho Giang Thanh biết việc này nghe chưa?
Viễn Tân tiết lộ mọi cơ mật cho “mẹ” Giang Thanh, và phe phái “nhóm bốn người” như chết đuối vớ được cọc, ngày đêm bàn mưu tính kế đánh đổ Đặng Tiểu Bình một lần nữa, đánh cho cả đời không ngóc đầu lên được.
Bộ Chính trị căn cứ chỉ thị của Mao Trạch Đông do “liên lạc viên”“ truyền đạt, đã triệu tập hội nghị khẩn cấp phê phán sai lầm của Đặng Tiểu Bình. Dựa theo ý kiến của Mao, thì Cách mạng văn hóa bảy phần đúng, ba phần sai, Mao bảo Đặng chủ trì ra một quyết nghị như vậy để khẳng định thành tích của Cách mạng văn hóa, Đặng đã từ chối và với sự tấn công mãnh liệt của “nhóm bốn người”, Bộ Chính trị phải đình chỉ công tác của Đặng Tiểu Bình.
Đó là những ngày buồn bã vào cuối năm 1975, lại một bước ngoặt nữa trong đời của Đặng Tiểu Bình, về một khía cạnh nào đó, Giang Thanh thật ghê gớm.
 
0
17. NĂM 1976, LẦN THỨ HAI RA KHỎI TRUNG NAM HẢI
 
Cuối năm 1975, giá trị tổng sản lượng công nông nghiệp đạt 450, 4 tỷ nguyên, tăng 11, 9%, lương thực đạt 284, 5 triệu tấn, dầu thô 77, 06 triệu tấn, đầu tư xây dựng cơ bản 40, 93 tỷ nguyên, tổng thu nhập tài chính Quốc gia 81, 56 tỷ nguyên, tổng chi tiêu 82, 09 tỷ nguyên, chỉ bội chi có 530 triệu nguyên. Những con số thống kê như muốn dự báo tình hình kinh tế của nước nhà cơ hồ sẽ chuyển biến.
Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, Đặng Tiểu Bình bị đình chỉ công tác ở Bộ Chính trị, cuộc vận động “phê Đặng” đã công khai ra phạm vi toàn quốc, lúc bấy giờ người ta gọi cuộc vận động đó bằng một đại từ rất mỹ miều “thảo luận về cách diễn - đạt”.
Một năm 1976 u buồn bắt đầu khi Đài phát thanh nhân dân trung ương phát đi bản tin đau lòng: “9 giờ 57 phút ngày 8 tháng giêng năm 1976, Thủ tướng Chu Ân Lai tạ thế, hưởng thọ 78 tuổi”. 3 giờ chiều ngày 15, lễ truy điệu được cử hành tại Đại lễ đường nhân dân với trên 5000 người tham dự. Trong niềm thương tiếc vô hạn Thủ tướng Chu Ân Lai - người con của đất nước, người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của nhân dân. Đặng Tiểu Bình đọc bản điếu văn lịch sử.
Khi Chu Ân Lai vừa nằm xuống, “ngôi báu” làm cho “nhóm bốn người” mờ mắt và họ bày mưu tính kế để chiếm đoạt cho kỳ được. Người ta tranh cãi về việc cử ai đọc điếu văn. Giang Thanh chủ trương là Vương Hồng Văn hoặc Trương Xuân Kiều, quá lắm mới đến Diệp Kiếm Anh, song thực tế vẫn là thực tế, còn ai xứng đáng hơn Đặng Tiểu Bình lúc bấy giờ - Phó chủ tịch Đảng, Phó thủ tướng thứ nhất thay Thủ tướng trong những ngày lâm bệnh, Phó chủ tịch Quân ủy kiêm Tổng tham mưu trưởng. Và cuối cùng trên màn ảnh nhỏ của hàng triệu máy thu hình, Đặng Tiểu Bình đã xuất hiện với âm thanh bi hùng, vĩnh biệt Chu Ân Lai, cũng là vĩnh biệt một chiến hữu thân thiết ngay từ hồi còn du học ở Pháp và hoạt động bí mật ở Thượng Hải. Hình ảnh của ông trên vô tuyến đã làm cho nỗi bực dọc “phê Đặng” của bao người bỗng chốc tan biến, nhưng liền sau đó ông chỉ còn là một đảng viên thường mà thôi.
Vì “ngôi báu”, người ta dựng lên những trò lừa bịp, cho xuất bản hoặc tuyên truyền những ấn phẩm hoang đường nào là “Tư tưởng Trương Xuân Kiều”, “Phát hiện mới”, “Quan điểm mới”, “vượt cả Lênin, là cột mốc thứ tư sau Mao Trạch Đông”, nào là “Tư tưởng văn nghệ Giang Thanh”, “Con đường Diêu Văn Nguyên”, “Vương Hồng Văn đại sự ký” v.v... Rồi tổ chức sinh viên Thượng Hải xuống đường hô hào, cổ vũ yêu cầu Trương Xuân Kiều làm thủ tướng. Lại ngập đường ngập phố là biểu ngữ như thuở nào tạo phản, “Kiên quyết yêu cầu Trương Xuân Kiều làm thủ tướng”, cũng có nơi bị kẻ ngộ chơi xỏ, cắt ba chữ Trương Xuân Kiều đặt lên đầu câu thành ra “Trương Xuân Kiều kiên quyết yêu cầu làm thủ tướng”.
Thế là một cái gai không cần nhổ mà đã bị hủy, cái gai thứ hai cũng sắp lung lay, chỉ còn mỗi lão súy họ Diệp nữa thôi, “nhóm bốn người” với “liên lạc viên” Viễn Tân đang cố sức giành phần thắng...
- Anh thấy tình hình hiện nay như thế nào? - Diệp Kiếm Anh hỏi Đặng.
- Không có gì phải sợ, tôi đã chuẩn bị tư tưởng rồi, quá lắm là bị đánh đổ lần thứ hai, chỉ tiếc là công việc còn dở dang, kinh tế chưa chuyển biến, nhiều đồng chí lão thành chưa được giải phóng.
- Vấn để lớn nhất hiện nay là Chủ tịch không nghe được ý kiến của chúng ta, Giang Thanh và bọn họ đã xúi Viễn Tân làm điều bậy bạ, án ngữ tất cả.
- Cũng có phần đúng, nhưng không hẳn thế, vì cuối năm ngoái mấy lần tôi đến chỗ Chủ tịch trao đổi công việc, có hôm tôi hỏi chính sách, phương châm lúc này nên ra sao, Chủ tịch vẫn khẳng định như thế, không có gì thay đổi. Sau đó Chủ tịch sai Viễn Tân gọi tôi đến, bảo tôi nghiên cứu xem lại Cách mạng văn hóa, tôi trình bày quan điểm của mình, giải thích năm lần bảy lượt mà vẫn không xuôi.
Mới đó thôi, chính Diệp Kiếm Anh vừa nghe Mao Trạch Đông nói: Đặng là “nhân tài hiếm có”, là “tư tưởng chính trị mạnh”, và thực tế Mao đã giao cho Đặng bao nhiêu là trọng trách, bản thân Đặng làm việc gì cũng thỉnh thị Mao trước khi thực hiện, thành tích xuất sắc, được lòng mọi người, ai cũng phải thừa nhận. Thế mà giờ đây quay ngược 180°, có lẽ vấn đề chính là cách đánh giá cách mạng văn hóa. Diệp Kiếm Anh suy nghĩ như vậy và hỏi lại Đặng:
- Hay để tôi đi gặp Chủ tịch lần nữa?
- Không cần, lão súy biết tính tôi, không khoan nhượng về nguyên tắc, còn một chút hy vọng là còn đấu tranh. Bộ Chính trị đã đình chỉ công tác của tôi, vậy là Chủ tịch quyết tâm “thay ngựa”.
Diệp Kiếm Anh thất vọng, những tưởng trách nhiệm của Chu Ân Lai sẽ được giao cho Đặng, nào ngờ mọi chuyện bỗng chốc lại đảo điên đến thế.
- Tôi không tại vị không thành vấn đề, chỉ mong lão súy còn là được.
- Xem tình thế, tôi cũng không còn lâu nữa, nhưng thôi, hễ còn hơi thở là còn đấu tranh.
Quả nhiên, nhổ xong Đặng là đến Diệp với một thông cáo “dưỡng bệnh” và quyền bính giao cho Trần Tích Liên, lão súy bị xuống ngựa một cách nhẹ nhàng.
Ngày 21 tháng giêng năm ấy, Mao Trạch Đông nói với Viễn Tân: “Mời Hoa Quốc Phong làm trưởng, anh ta cũng tự nhận mình trình độ chính trị không cao, nên Tiểu Bình sẽ lo phần ngoại vụ”. Ngày 2 tháng hai, Bộ Chính trị thông qua “văn kiện số 1”: Hoa Quốc Phong đảm nhiệm chức vụ quyền thủ tướng.
Tin bất ngờ này làm cho “nhóm bốn người” và cả Viễn Tân đều ngơ ngác và chứng tỏ Mao Trạch Đông còn cao tay ấn, con bài này ông đã bí mật chuẩn bị từ lâu, từ bí thư huyện Tương Đàm (quê của Mao), nâng dần, nâng dần cho đến chức phó thủ tướng để hôm nay bật lên thành quyền thủ tướng, và sau đó không lâu, vào tháng tư, chính thức là thủ tướng kiêm phó chủ tịch thứ nhất của Trung ương Đảng. Cùng một lúc Hoa Quốc Phong thăng quan thì Đặng Tiểu Bình bị giáng tất cả chức vụ Đảng và chính quyền, còn lại mỗi danh hiệu đảng viên và hộ khẩu Bắc Kinh, nguyên văn của quyết nghị là “bảo lưu đảng tịch, dĩ quan hậu hiệu” (để xem sau này ra sao).
Nhưng Mao Trạch Đông cũng không sống được bao lâu nữa để mà “yên tâm khi giao việc cho chú Hoa Quốc Phong”. Vào lúc 0 giờ 10 phút ngày 9 tháng chín năm 1976 ông qua đời. 1976, đó là năm Bính Thìn, năm con rồng với câu ca của dân chúng “nhị nguyệt nhị long đại đầu”. Đầu rồng chưa thấy ngẩng mà tai họa đã giáng xuống liên miên.
Chu Ân Lai, Trương Văn Thiên, Chu Đức, Mao Trạch Đông lần lượt ra đi, rồi máu đổ trên quảng trường Thiên An Môn ngày 5 tháng tư mà người ta đã nhân đó gán thêm tội cho Đặng Tiểu Bình, rồi mưa đá ở Cát Lâm, rồi động đất ở Trường Sơn. Thật là một năm hạn của lịch sử Trung Quốc, và Đặng Tiểu Bình lần thứ hai lại ra khỏi Trung Nam Hải.
 
0