📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Gián điệp quốc tế - NGười Thứ 8

6 trả lời, 2.078 lượt xem — Trang 1 / 1
Gián Điệp Quốc Tế
 
Tác giả: Người thứ 8
 
Thanh Đ Nguyễn đánh máy:
 
        -      Chasseurs d’espions, Oreste Pinto.
        -      Le Chef du contre-espionnage nazi parle, Walter Schellenberg.
        -      Secret Service Chief, U. E., Baughman.
        -      Gestapo, Edward Crankshaw.
        -      Mémoires d’un agent secret de la France libre, Rémy.
        -      Dix marches vers l’espoir, Rémy.
        -      J’étais le faussaire de Hitler, Walter Hagen.
        -      La vie privée de Staline, Jack Fishman, Bernard Hutton.
        -      Omnibus pour l’espionnage, Kurt Singer.
        -      L’Espionne No. 1, la Chatte, Gordon Young.
        -      Inside a Soviet Embassy, Alexander Kaznacheyev.
        -      United States Secret Service, Walter Brown, Harry Edward Neil.
        -      The Secret War, Sanché de Gramont.
        -      The U-2 Affair, David Wise, Thomas Ross.
        -      Sub Rosa, the OSS and American Espionage, Stewart Olsop, Thomas Braden.
        -      Handbook for Spies, Alexander Foote.
        -      Spy in the US, Pavel Monat.
        -      Empire of Fear, Vladimir Petrov.
        -      Le masque de l’agent secret, George Langelaan.
 
 
 
 
 
 
MẤY GIÒNG TÂM SỰ
 
 
        Từ nhiều thế kỷ, tình báo và gián điệp được coi là công tác vô cùng quan trọng. Công tác này tăng thêm quan trọng trong thế chiến thứ hai, nhất là trong trận chiến tranh lạnh hiện tại, một trận chiến tranh không mặt trận, và ít hy vọng chấm dứt trong tương lai nhìn thấy. Vì địa lý và lịch s, công tác điệp báo ở nước ta trở nên quan trọng khác thường.
        Thế mà chúng ta vẫn chưa có một cuốn sách, một tủ sách chuyên môn về điệp báo. Là công dân, chúng tôi cảm thấy có bổn phận phải rút tỉa kinh nghiệm nước ngoài, đúc thành một cuốn sách nhỏ, gọi là làm duyên với những ai bôn khuăn trước tiền đồ tổ quốc.
        Đây không phải là tài liệu huấn luyện vì tính chất khô khan làm mất hứng thú cho người đọc chưa quen. Đây cũng không phải tập truyện vì sự bay bướm làm cho điệp báo trở thành vấn đề trừu tượng, mà mục phiêu của chúng ta là cố gắng tiến tới một quan niệm, một tổ chức điệp báo xứng đáng với đòi hỏi của thời cuộc.
        Điệp báo là một khu rừng rộng lớn. Ở nước ngoài, người ta đã vào hẳn bên trong, trồng trọt và lập nghiệp. Một mình đến trước cửa rừng bát ngát, xét thấy tài hèn, sức mọn, chúng tôi không dám phát lá, dọn đường, mà chỉ xin phép đúng ngoài, lấy tâm thành đốt lên ngọn lửa báo hiệu.
        Vạn nhứt đốm lửa này lọt vào mắt nhiều người, nhứt là những người có trách nhiệm, thì đó là vinh hạnh lớn lao cho tác giả!
 
                                                                                                                             Mùa thu 1965
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Để tiện cho một số bạn đọc, tác giả đã phiên âm các danh từ ngoại quốc ra tiếng Việt.
Việc phiên âm lấy giản dị làm tiêu chuẩn - càng giản dị càng tốt - nên nhiều khi không chính xác. Tác giả trân trọng cáo lỗi bạn đọc am tường ngoại ngữ.
Bên dưới mỗi trang, tác giả đã đành sẵn một chỗ đăng các danh từ ngoại quốc đã được phiên âm.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
PHẦN THỨ NHỨT
 
HUYỀN SỬ MATA HARI
 
 
 
 
Trang để trống...
 
 
 
 
 
 
 
      1-  500 triệu cuốn sách gián điệp
 
      Một trong các hiện tượng kỳ thú của thời chiến hậu là sự say mê của độc giả đối với sách báo và tiểu thuyết dọ thám. Nếu hàng vạn đồng bào ta bỏ ăn, bỏ ngủ vì Cô Gái Đồ Long của Kim Dung, thì từ Đông sang Tây, hàng triệu người đổ xô đi tìm tác phẩm của Pitơ Sinê(1), Dăng Bờ-Ruých (2) và Ian Phờlêminh (3). 
        Nhiều điệp viên Anh, Mỹ, Pháp và Nga sô đã viết hồi ký hoặc thuật lại những thành tích bí mật. Ở tù ra, Selănbe (4), chỉ huy phản gián Đức quốc xã, đã mô tả những thủ đoạn quỉ khóc thần sầu trong một cuốn sách dày bằng nửa cuốn tự vị
 
--------------------
(1) Peter Cheyney. (2) Jean Bruce, cha đẻ của loại sách OSS.117.  (3) Ian Fleming, người Anh, cha đẻ của loại sách James Bond, 007. (4) Walter Schellenberg.
 
 
 
 
(Bài bắt đầu đánh trang ở đây...) 
 
16                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Rémi (5), điệp viên của tướng Đờ-gôn trong thời kháng Đức, nghiễm nhiên trở thành một nhà tiểu thuyết gián điệp hữu hạng. Kín tiếng như Alen Đơlớt (6) cựu Tổng giám đốc Trung ương Tình báo C.I.A. cũng không quên lưu lại những tập sách giá trị về điệp báo Hoa Kỳ.
        Cả ngàn tác phẩm được in ra trong vòng hai chục năm nay, tổng cộng gần năm trăm triệu cuốn. Trong 12 năm, Dăng Bờ-Ruých, tiểu thuyết gia Pháp, cống hiến trên một trăm tác phẩm và bán được 28 triệu cuốn, phá kỷ lục về xuất bản. Với 13 tác phẩm trước khi tạ thế, Phờlêminh đã đưa điệp viên tưởng tượng Dêmbon, bí hiệu 007, vào đời sống hàng ngày. Người ta mê Dêmbon đến nỗi thanh niên Tây phương đua nhau phục sức như Dêmbon, hội ái hữu Dêmbon mọc ra như nấm, 19 loại đồ chơi, các kiểu áo quần, nước hoa, xà bông mà Dêmbon dùng trong truyện được bày bán nhan nhản trên thị trường.
        Gần đây, vụ máy bay trinh sát U-2 bị hạ trên vùng trời Sô Viết, vụ siêu điệp viên Aben của Nga Sô bị bắt tại Nữu Ước (7), cuộc chạy đua phóng vệ tinh gián điệp càng làm hoạt động điệp báo thành một vấn đề thời sự nóng hổi. Thật ra, điệp báo không phải là phát minh của thế kỷ hai mươi, bằng chứng là 400 năm trước Thiên Chúa giáng sinh, chiến lược gia Tôn Ngô đã viết sách dậy về gián điệp. Tôn Tử đã đề cập đến gián điệp đôi, gián điệp thâm nhập (8), phản gián, tâm lý chiến, các thủ đoạn đánh lừa đối phương, tóm lại những công tác điệp báo khoa học mà Tây phương mới khám phá và đang áp dụng.
 
 -------------
(5) Rémy, tức Gilbert Renault, một người làm phim ảnh, tác giả tập Hồi ký của một điệp viên của nước Pháp tự do (Mémoire d’un agent de la France Libre) và nhiều tác phẩm khác.  (6) Allen Dulles, tác giả cuốn The Craft of Intelligence (Nghề tình báo).  (7) Rudolph Abel.  (8) Gián điệp thâm nhập, Anh gọi là Penetration Agent, tiếng lóng của người Mỹ là Magic.
 
 
 
17                                                                                                                        500 TRỊÊU CUỐN SÁCH GIÁN ĐỊÊP
 
        Từ Viễn Đông, làn sóng điệp báo lan tràn Cận Đông, để rồi lên tới cực thịnh tại Châu Âu, Ai Cập là nước bị tiêm nhiễm đầu tiên. Năm 480 trước Tây lịch, Hi Lạp phái ba điệp viên sang Ba Tây để nghiên cứu địch tình. Năm 622, Mahômét (9) giáo chủ đạo Hồi thắng trận oanh liệt không cần bắn một mũi tên nhờ công tác tình báo.
        Đầu thế kỷ 15, người Ý tiến thêm một bước chỉ việc thiết lập tòa đại sứ tại nước ngoài để thu nhặt tin tức. Hai thế kỷ 16 và 17 chứng kiến sự vùng dậy của các chủ nghĩa quốc gia, và đấu tranh tôn giáo, đồng thời cũng tạo ra những chuyên viên cừ khôi về tình báo ở Châu Âu, bắt đầu là Oansinhgam (10), ngoại trưởng kiêm lãnh tụ điệp báo của nữ hoàng Anh Elisabét, người đặt ra việc kiểm duyệt thư tín. Trên đất Pháp thì có Risơliơ (11). Cũng nhờ điệp báo mà Thụy Điển giữ vai trò cường quốc trong thế kỷ 17. Dưới triều Nã phá luân nước Pháp có Phusê và sau đó đại tá Savari (12). Tại Đức, cuối thế kỷ 19, có Sờtibe (13), người đã dùng nông gia, chủ tiệm và tôi tớ vào hoạt động điệp báo. Sau này, Mao trạch Đông bắt chước Sờtibe để lập ra công an nhân dân.
        Trận thế chiến thứ nhất đã khánh thành phương pháp truyền tin bí mật bằng điện đài. Rồi đến thế chiến thứ nhì thị hoạt động tình báo và gián điệp vọt lên độ cao nhất. 
 
      2- Tình báo và gián điệp
 
        Tình báo và gián điệp họp lại thành điệp báo. Thành thật mà nói, nhiều người còn lầm lộn giữa tình báo và gián điệp. Người công dân Việt lấy
------------------------------
(9) Mahomet. (10) Sir Francis Wolsingham. (11) Richelieu. (12) Joseph Fouché, Bộ Trưởng Công An Pháp (1759-1820) Savary. (13) Wilhelm Siteber.
 
 
 
18                                                                                                                                                        GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
tin tức cho chính phủ, hoặc đồng mình lấy tin tức để giúp ta chống Cộng, như vậy là làm tình báo. Tình báo là một công tác ái quốc, cao cả, đáng được khen ngợi và ủng hộ nhiệt tình. Còn địch – như Cộng sản và những ai chống lại ta – tới đây lấy tin tức là làm gián điệp. Ta lột mặt nạ, diệt trừ gián điệp địch là làm phản gián.
        Căn bản của nghề điệp báo là biết mình, biết người. Nếu quân đội đồng minh không biết rõ hệ thống đường sắt trong vùng Đức tạm chiếm thì vị tất cuộc đổ bộ tháng 6-1944 lên đất Pháp đã thành công như dự tính. Thật vậy, đạo quân bí mật đã tuân lệnh đồng minh phá hoại những khúc đường sắt quan trọng, làm trì hoãn viện binh Đức. Đại tướng Aydenhao (1), tổng tư lệnh lực lượng đồng mình, đã nói hoạt động này có giá trị bằng 15 sư đoàn. 9 sư đoàn Đức không tới được miền Bắc Pháp để lâm trận. Nửa tháng sau ngày đồng minh đổ bộ lên Nótmănđi (2), quân Đức phải mất 8 ngày, lẽ ra chỉ mất 7 giờ, mới di chuyển được từ biên giới Thụy Sĩ tới Ba Lê.
        Trong đại chiến thứ hai, trước khi nhóm hội tại Têhêran với Síttalin, cố tổng thống Mỹ Rudơveo (3) đã sai các sở bộ tập trung mọi tin tức liên quan tới đời sống của nhà độc tài sô viết. Năm 1945, ngoại trưởng Mỹ Bơnit (4) đã nghiên cứu các văn phẩm của Lênin, đặc biệt những đoạn nói về thương nghị trước khi qua Mạc tư Khoa thương nghị. Sửa soạn cho hội nghị 4 ngoại trưởng tại Bá linh, tháng 2-1945, bộ Ngoại giao Mỹ đã ra chỉ thị thu thập mọi tin tức về ngoại trưởng sô viết Môlôtốp (5). Năm 1939, một đại hội chính trị nhóm tại Lubếch (6), Hítle bắt liên lạc với một đại biểu là thiếu tá
 
---------------
(1) Eisenhower. (2) Normandie. (3) Roosevelt. (4) James Byrnes. (5) Vyacheslav Moleton. (6) Lubeck, một hải cảng Đức, cách biển Ban tích 15 cây số.
 
 
 
 
19                                                                                                                                        TÌNH BÁO VÀ GIÁN ĐỊÊP
 
Quítlinh (7), lãnh tụ cực hữu Na uy. Quítlinh báo cho Hítle biết rõ nội tình Na uy. Nhờ vậy, một năm sau, Hítle đã xua quân chiếm Na uy dễ như trở bàn tay. 
        Trước thế chiến thứ hai, gián điệp Nhật trà trộn trong số 10.000 dân chài Nhựt ở bờ biển Caliphótni (8) và Trung Mỹ. Trong số 500 tàu đánh cá, một số là của tình báo Phù tang. Năm 1937, một số lớn trong 47 thợ hớt tóc Nhật tại vùng kênh đào Panama là điệp viên Nhật. Tại Mễ tây cơ, phần lớn thợ trồng răng và nha sĩ Nhật có chân trong tổ chức gián điệp.
        Từ năm 1931, chuẩn bị cho chiến tranh Đại đông á, tình báo Nhật đã hoạt động tại quần đảo Nam Dương, khi ấy do Hòa lan cai trị. Tại đây, Nhật mở nhiều nhà chứa, và khách sạn rẻ tiền, sạch sẽ, có đủ thứ vui. Một số y sĩ được gởi tới, giả làm công nhân, bồi bàn để nghiên cứu khí hậu, hầu ngăn các bệnh dịch một khi quân đội Nhật đổ bộ. Bác sĩ Subôta còn tổ chức một đạo quân «đĩ đực» gồm toàn thanh niên xinh xắn, khỏe mạnh để thỏa mãn dục tính của các viên chức Nam Dương mắc bệnh đồng tình ái (9). Đồng tình ái nghĩa là đàn ông chỉ thích ân ái với đàn ông, đàn bà ân ái với đàn bà. Nhờ phương pháp này, Nhật đã thu lượm được nhiều tin tức quan trọng.
        Cuộc oanh tạc Lết di ca (10) tại Ba lan, mở màn thế chiến thứ hai, có thể coi là điển hình cho phương châm «biết mình, biết người». Lết di ca là một thị trấn nhỏ, gồm 10.000 dân, tọa lạc trong quận Lốt (11), ở ngoài vùng hoạt động quân sự. Thế mà phi cơ Đức đã thi đua dội bom xuống. Có thể nói Lết di ca là thành phố bị oanh tạc dữ dội
 
-----------------
(7) Vidkun Quisling, thủ tướng chánh phủ Na uy thân Hítle năm 1940, bị hành hình năm 1945 về tội phản quốc.  (8) Californie, một tiểu bang Mỹ. (9) Homosexualité. (10) Lecsyca. (11) Lodz.
 
 
 
20                                                                                                                                                        GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
nhứt trong thế chiến thứ hai. Các bộ tham mưu thắc mắc không hiểu vì sao phi cơ quốc xã lại phung phí đạn dược như vậy. Thì đợt không kích thứ 17 đã trả lời một cách hùng hồn.
        Người ta nghe một tiếng nổ kinh hồn, làm toàn vùng chuyển động. Thị trấn Lết di ca tan ra thành bụi. Cửa kiếng trong vòng kính 80 cây số quanh thị trấn đều vỡ nát. Té ra Lết di ca là một trong các kho đạn dược bí mật của Ba lan.
        Mấy ngày sau, một nhóm nhà báo ngoại quốc tới thủ đô Ba Lan bị tàn phá, dưới sự hướng dẫn của đại tá Đức Von Vêđen (2). Nhân dịp này, một kỷ giả hỏi Vêđen về sự bí mật ở Lết di ca. Đại tá Vêđen mỉm cười đáp:
        -      Chẳng có gì lạ cả. Đức quốc thắng lợi vì súng ống nhiều hơn, tốt hơn và nhứt là tình báo giỏi hơn.         
        Lời nói của Vêđen dội thêm một tia sáng mới vào kỹ thuật tình báo Đức. Trên thực tế, trong nhiều năm liền, Đức đã đặt tại Lết di ca một điệp viên đắc lực có nhiệm vụ vẽ họa đồ các kho chứa đạn dược. Chiến tranh bùng nổ. Lết di ca được coi là một trong các mục phiêu phải phá hủy đầu tiên. Kho đạn dược ngụy trang rất khéo nên điệp viên Đức phải hướng dẫn phi đội oanh tạc bằng làn sóng vô tuyến, đánh từ dưới đất lên. 16 lần ném bom không đạt được mục tiêu, bộ tư lệnh quốc xã không nản lông và ra lệnh oanh tạc lần thứ 17 và lần này thành công hoàn toàn.
        Gián điệp Đức đã giúp phi cơ tiêu diệt hệ thống đường sắt của Ba lan. Thời khoá biểu chuyển vận được giữ kín, nhưng dọ thám Đức vẫn tìm ra. Ngày 5-9-1939, một đoàn xe lửa rời ga Vạcsôvi (13) để ra tiền tuyến, theo một lộ trình bí mật. Trước khi tàu
 
--------------------
(12) Von Wedel. (13) Varsovie, thủ đô Ba lan.
 
 
 
21                                                                                                                                        TÌNH BÁO VÀ GIÁN ĐỊÊP
 
tới địa điểm, một phi đội quốc xã từ trên trời bổ xuống và san phẳng nhà ga. Đoàn tàu bất hạnh đành nằm chết. Kẻ gây ra vụ này là một điệp viên núp trong văn phòng viên xếp ga Vạcsôvi. Y liên lạc bằng vô tuyến với bộ tổng tư lệnh Đức. 
        Ngày xưa, công tác đó thậm chí diễn ra trong thời chiến bằng cách cho người trà trộn vào hậu tuyến địch. Công tác nầy ít được cổ võ trong thời bình. Năm 1929, nhậm chức ngoại trưởng Mỹ, ông Henri Sờtimsơn (14) quan niệm rằng người «quân từ không nên đọc trộm thư tư của kẻ khác».    
        Chẳng ít thì nhiều, thái độ quân tử lỗi thời này đã dẫn tới thất bại Trân châu Cảng năm 1941. Mỹ trở tay không kịp trước cuộc tấn công bất ngờ của hải không quân Nhật. Ngày nay, các cơ quan tình báo đọc trộm thư từ, nghe trộm điện thoại là chuyện quá thông thường. Mỹ đào hầm xuyên qua Đông Bá Linh nghe trộm điện thoại của Nga sô. Sứ quan tây phương sau bức màn sắt thường bị Cộng sản gắn máy ghi âm nghe lén lút. Tháng 5-1960, Đại sứ Ca bốt Lốt trình trước Hội đồng Bảo an L.H.Q. một dụng cụ ghi âm cực nhỏ mà Nga sô giấu trong phòng đại sứ Hoa kỳ tại Mạc tư khoa. Một trận giặc lạ lùng – trận giặc nghe trộm – đang diễn ra sôi nổi tại Bá Linh giữa nhân viên gián điệp Đông và Tây Đức. Sự nghe trộm đã biến thành thói quen tai Nga sô : tất cả các phòng trong điện Cẩm linh đều có máy ghi âm bí mật, và nhà độc tài Síttalin đã ngồi suốt ngày bên cuộn băng nhựa để nghe trộm các cộng sự viên bàn tán. 
        Với những phát mình tối tân, đời sống riêng tư của con người không còn ý nghĩa nữa.
 
---------------
(14) Henri Stimson.
 
 
 
22                                                                                                                                                        GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Máy ghi âm đã được thu nhỏ bằng cúc áo, chiếc đồng hồ tay có thể chụp hình rất rõ trong nhà không cần đến. Bắt đầu thế chiến thứ hai điệp viện Anh quốc phải dùng điện đài truyền tin cồng kềnh, nặng ba chục kí lô, giờ đây có những cái chỉ to bằng gói thuốc lá. Phụ huynh Mỹ đâm ra lo ngại về một đồ chơi trẻ con vừa được bày bán: cái máy tí hon này để ở ngoài sân có thể nghe lỏm được tiếng nói thầm thì trong phòng, và các chú bé tinh nghịch đã dùng nó theo dõi những phút tâm tình của cha mẹ.
        Ngày nay, đạo binh điệp báo hoạt động khắp nơi, không kể ngày đêm, không kể thời chiến hay thời bình. Phi công Gari Pao-ớt lái U.2 bay cao hai chục cây số chụp hình đất Nga, ai cũng cho là kinh dị, ngày nay còn nhiều sự kinh dị hơn nữa. Hoa kỳ vừa hoàn thành một hệ thống radar có thể nhìn xa 5000 cây số, báo trước 15 phút nếu Nga sô phóng hỏa tiễn nguyên tử.
        Giàn radar ghê gớm này còn thua vệ tinh Samốt (15) một bực. Ngày 3-2-1961, trái Samốt đầu tiên được phóng lên không gian từ căn cứ Ác ghen, tiểu bang Caliphọtni (16). Từ trên cao nhìn xuống, Samốt nhìn rõ như mắt người trong vòng 30 thước. Đó là một vệ tinh nặng 5 tấn, do một hỏa tiễn Át lát (17) bắn lên. Khổng lồ Át lát cao 25 thước, nặng 131 tấn, Samốt bay vòng trái đất mất 95 phút, chụp hình, in hình trên không gian rồi mới truyền xuống.
        Em của Samốt là Miđát (18), trang bị thứ máy riêng có thể báo cho Mỹ biết trước nữa giờ, mỗi khi hỏa tiễn rời lãnh thổ Sô viết. Những vệ tinh Samốt, Miđát của Mỹ, Sìputních, Vóc-Tóc (19) của Nga sô đang
 
-----------------
(15) Samos, viết tắc của Satellite and Missile Observation System, hệ thống quan sát vệ tinh và hỏa tiễn. (16) Californie. (17) Atlas. (18) Midas. (19) Sputnik, Vostok.
 
 
 
 
 
23                                                                                                                                           TÌNH BÁO VÀ GIÁN ĐỊÊP
 
kết thành một mạng lưới dọ thám vô tiền khoáng hậu trên thượng từng vũ trụ, đấy cuộc chiến tranh gián điệp vào giai đoạn gay cấn nhứt của lịch sử loài người.
 
      3-  Ba con khỉ của đô đốc Canari
 
        Nói đến điệp báo, không thể quên được đô đốc Uyn Hem Canari (1), tư lệnh Áp oe (2) nghĩa là phòng nhì của Đức quốc xã. Canari đã bị Hítle ra lệnh treo cổ bằng sợi dây thép nhỏ xíu của đàn dương cầm cốt cho tử tội đau đớn, vì có chân trong một âm mưu cướp chánh quyền, tuy nhiên, tên tuổi Canari vẫn còn sống mãi. Dưới quyền Canari, điệp báo Đức đã tiến một bước dài. Nhờ muôn ngàn thủ đoạn, phi thường có, gian manh có, Canari mở thêm trang mới cho lịch sử gián điệp hiện tại.
        Điều làm dư luận nhớ nhất là các đồ trang trí trong văn phòng của Canari. Trên tường có một bức tranh Nhật bản, nhan đề là Tà quỷ. Tà quỷ là phương châm của ngành điệp báo. Trên bàn người ta thấy ba con khỉ bằng đồng đen. Bộ ba này vểnh tai nghe, mắt chăm chú nhìn về phía trước, nhưng miệng lại mím chặt. Nghe, nhìn, ngậm miệng còn là một phương châm khác của ngành điệp báo.
        Diep bao va bao mat di doi nhu bong voi hinh. Tuy tru so cua tinh bao Anh quoc duoc nhieu nguoi biet, it ai biet duoc nguoi chi huy that su, trung uong tinh bao Phap dat tai dai lo Moc che (3) Ba le, song phan lon nhan vien hoat dong deu lam viec tai mot dia chi bi mat. To chuc tinh bao cua tuong Ghe len (4) Tay Duc, deu nup sau chieu bai thuong mai, ky nghe. Chang han tru so tinh bao khu vuc Ba vi e (5) duoc dat o Muy nich (6) trong toa nha cua
 
-------------------------
(1) Wilhelm Canaris. (2) Abwehr. (3) Mortier. (4) Gehlen. (5) Bavière. (6) Munich.
 
 
 
 
24                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Công ty Kỹ nghệ, nam bộ Đức quốc, số 50, đường Gờ rát (7). 
        Tổng hành doanh tình báo Sô viết ở Mạc tư khoa được coi là cấm địa, không ai được tới gần. Tai Lăn gờ li (8), trụ sở Trung ương CIA, khách ra vào đều có binh sĩ đi kèm, thang máy có chìa khóa riêng, không được lên xuống tự do. Số điện thoại CIA được ghi trong niên giám, song người ngoài không thể nói chuyện với nhân viên bên trong. Kêu đúng tên cũng không được vì nhân viên dùng tên giả, đôi khi vợ muốn nói chuyện với chồng mà không gặp vì thế. Nhân viên CIA được lệnh giấu kín công việc của mình, ai hỏi thì nói là làm công chức, không nói rõ làm việc gì, làm ở đâu. Đề phòng địch, CIA đã xuất ra 105.000 mỹ kim, nghĩa là trên 10 triệu bạc Việt Nam để xây lò đốt tài liệu.
        Việc tổ chức, kết nạp, huấn luyện cũng được giữ bí mật tuyệt đối. Tuy nhiên, nhiều khi bí mật cũng trở thành bật mí. 
        Dubilin (9), điệp viên Sô viết tại Mỹ trong vòng 15 năm, là một tay tổ nói dốc. Có lần y khoe với Morốt (10), gián điệp đôi người Mỹ, như sau:
        -      Tôi là trùm tình báo Sô viết xứ này, và tôi cảm thấy được tự do hoạt động cũng như tại mọi nơi khác. 
        Ben tờ li (11), nữ điệp viên Cộng sản xuất thú thuật lại là có một thủ lãnh do thám Nga tại Mỹ luôn miệng vây vo rằng y bất tử, không ai bắt nổi.
        Bệnh ba hoa này là điều tối kỵ.
        Ngay từ thế chiến thứ nhất, vấn để bảo mật đã được nêu lên hàng đầu trong các tổ chức trung ương. Selănbe, chỉ huy phản gián quốc xã thuật lại trong cuốn hồi ký những chi tiết rùng mình. Trong
 
--------------------
(7) Grasse. (8) Langley. (9) Vasili Zubilin. (10) Boris Morros. (11) Elizaneth Bentley.
 
 
 
 
 
25                                                                                                                                   BA CON KHỈ CUA ĐÔ ĐỐC CANARI
 
văn phòng y, ở đâu cũng có máy ghi âm bí mật, trong tường, dưới bàn, ngay cả trong cây đèn. Cửa sổ lợp bằng lưới thép, ban đêm được truyền điện và có máy chụp hình bí mật, hễ ai lại gần thì báo động, trong vòng năm phút một tiểu đội võ trang ập vào. Bàn giấy của Selănbe là một pháo đài tí hon với hai khẩu súng tự động có thể bắn ria quanh phòng. Loại súng này lúc nào cũng chĩa vào người khách, khi biến, chủ nhân chỉ cần bấm một cái nút là hai họng súng đua nhau khạc đạn, đó là chưa kể một cái nút điện khác, bấm vào là đoàn vệ sĩ xông vào phòng, súng lăm lăm trên tay.
        Mỗi lần ra nước ngoài công tác, Selănbe được lệnh đặc một cái răng giả trong miệng, chứa thuốc độc cực mạnh, đủ sức giết người trong 30 giây đồng hồ. Ngoài ra, Selănbe còn đeo nhẫn đựng độc dược xi-a-nuya nữa (12). 
 
        4- Đệm mông và đệm ngực
 
        Rất nhiều đàn bà dùng mông giả, vú giả, bằng cao su để đánh lừa đàn ông. Phải thạo đời mới biết thật, giả. Đặc điểm của nghề điệp báo cũng là lộng giả thành chân. Thật và giả lẫn lộn, lắm lúc thật thì tưởng giả, đến khi giả lại đinh ninh là thật. Thấy một thiếu nữ sạch sẽ, đẹp đẽ, ai dám bảo là ổ vi trùng. Có vào sâu mới biết. Đôi khi biết thì đã muộn rồi. Vì thế, người ta đã ví nghề điệp báo với nghề làm đĩ.
        Ngày 10-1-1940, bắt đầu thế chiến thứ hai, một phi cơ liên lạc của Đức quốc xã bị lạc trong sa mù, hết xăng, nên phải đáp liều xuống đất Bỉ. Trong phi cơ có bản kế hoạch của Hítle, tung quân qua Bỉ, để tấn công chớp nhoáng qua Pháp. Không có lửa, viên thiếu tá hoa tiêu phải mượn

 

 
(12) cyanure.
 
 
 
 
26                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
của người địa phương để đốt tài liệu, song lực lượng an ninh Bỉ đã kịp thời tịch thu số giấy tờ chưa cháy hết. 
        Chuyên viên phản gián Anh-Pháp, nghiên cứu các tài liệu, cho rằng Hítle lập kế đánh lừa. Mãi khi chiến tranh chấm dứt người ta mới biết đó là kế hoạch thật một trăm phần trăm. 
        Năm 1943, đến lượt tình báo Đức nát óc, Badờna (1), bồi phòng của ông Hớt ghét sen (2), đại sứ Anh tại Ankara (Thổ nhĩ Kỳ) mở trộm két sắt, chụp tài liệu mật đem bán cho Môi dích (3), phụ trách gián điệp sứ quán Đức.
        Đó là tài liệu vô cùng quan trọng nên Môi dích nhận mua với giá rất cao 20.000 Anh kim, nghĩa là trên 4 triệu bạc Việt Nam, cuốn phim đầu tiên. Môi dích cấp tốc về Bá Linh báo cáo với ngoại trưởng Riben tờ rốp (4) và nội vụ được trình qua Him le (5) trùm công an, lên cho Hítle. Tình báo Đức gửi cho Badờna một thứ sáp đặc biệt để lấy dấu ở khóa tủ sắc của đại sứ Anh rồi chuyển về Bá linh rèn chìa khóa giả, đồng thời lại cấp cho y một máy ảnh cực tốt.
        Tất cả tiền đưa cho Badờna đều là bạc giả. Có lẽ là vì bạc giả ám ảnh nên tình báo Đức không tin tài liệu do Badờna bán là tài liệu thật. Himle cho là phản gián Anh mượn tay Badờna để đánh lừa. Các sử gia cho rằng cục điện chiến tranh có thể đổi khác nếu tình báo Đức tin dùng Badờna.
        Sự trà trộn giữa thật và giả đã lên tới cao độ trong vụ mệnh danh là «đại tá Lincôn» (6). Đài bá âm Mạc tư khoa loan rằng đại tá Lincôn, sinh
 
---------------
(1) Elyesa Bazna, bi danh Cicéron.
(2) Sir Hugh Knatchbull Hughessen. (3) Moyzicsh.
(4) Ribbentrop. (5) Himmler. (6) Robert T. Lincoln.
 
 
 
 
27                                                                                                                                           ĐỆM MONG VÀ ĐỆM NGỰC
 
ngày 10-10-1909 tại Át-căn-sát (7), Hoa-kỳ chuyên về buôn lậu rượu, là điệp viên nguy hiểm bực nhất của Mỹ. Lincôn, theo đài này, đã đơn thương độc mã chống lại nhân viên an ninh Sô viết trong vùng núi Ba tư. Lincôn còn lén vào thị trấn nguyên tử tối mật Atomgờrát (8) ở Nga sô, và mang về Mỹ một trái bom khinh khí toàn vẹn. Ngoài ra, Lincôn còn chặn đứng các bộ lạc phiến loạn tại A phú Hãn (9), giải giới một đạo binh Nhật định ám sát đại tướng Mắc Attơ (10), khám phá ra Hítle trốn trong một cái động ở Nam Mỹ giữa khi toàn thế giới đinh ninh là nhà độc tài quốc xã chết thành than ở Bá linh.
        Nghe nói như vậy, ai cũng hy vọng được biết sự thật về người hùng Lincôn. Sự thật lại khác, vì tình báo Mỹ không có nhân viên nào tên là đại tá Lincôn. Đúng ra Lincôn chỉ là sản phẩm của tưởng tượng, và Nga sô đã bị lỡm. 
        Lincôn được sinh ra trong một buổi nhậu nhẹt tại Têhêrăn, Ba Tư, năm 1948. Đài bá âm Mạc tư khoa lên tiếng tố cáo một điệp viên Mỹ có tài xuất quỷ nhập thần, nên đại sứ Mỹ Uyli (12) và cố vấn chính trị Đuhơ (13) lập mưu chơi cho một vố. Cả hai bên bịa ra đại tá Lincôn.
        Nga sô tưởng Lincôn có thật nên nhân dịp ông Đao gờ lớt (14), chánh thẩm Tối cao pháp viện Mỹ, qua châu Á để leo núi, đài Mạc tư khoa la lối là ông này làm gián điệp và có liên lạc với đại tá Lincôn. Về Mỹ, được nhà báo phỏng vấn, ông tòa Đao gờ lớt bực mình trả lời: 
        -      Đúng, Lincôn cùng đi với tôi trong mọi công tác bí mật.
 
-------------------
(7) Arkansas. (8) Atomgrad. (9) Afghanistan.
(10) Mac Arthur. (11) Téhéran. (12) John Wiley.
(13) Gerald Dooher. (14) William Douglas.
 
 
 
 
 
28                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Mãi hai năm sau, sự thật mới lôi ra, và thiên hạ được một mẻ cười nôn ruột. Một ký giả Mỹ, ông Sơnbớtdơ (15), nói toạc móng heo trên tờ Nữu ước thời báo, song không hiểu sao, đài Mạc tư khoa cứ khăng khăng một mực, không chịu nhận cái dốt của mình. 
        Mẩu chuyện này chứng tỏ rằng khám phá đệm mông, đệm vú của đàn bà tuy khó, cũng chưa khó bằng khám phá sự thật về gián điệp.
 
        5-  Bộ ngực lép kẹp của Mata Hari
 
        Từ nhiều năm nay, nói đến gián điệp lừng danh ta thường kể tên Mata Hari. Sở dĩ có sự quan tâm này vì chúng ta chỉ đọc sách báo Pháp là nước đã hành quyết Mata Hari với tư cách gián điệp Đức trong thế chiến thứ nhất.
        Hàng triệu dòng được viết về Mata Hari trên báo chí quốc tế, nhưng hỡi ôi, sự thật trăm phần trăm về Mata Hari lại bị bỏ quên. Theo huyền sử, nàng có sắc đẹp tuyệt trần, sự thật nàng chỉ có những nét tầm thường, tầm thường hơn nữa là bộ ngực quả mướp của nàng, khiến mỗi khi múa thoát y vũ, nàng đều che ngực không dám cởi bỏ hết. Nàng còn có một cái xấu khác, cái xấu thường làm con gái ế chồng, đó là chứng hôi nách.
        Mata Hari không phải là vũ sư đại tài mà chỉ là vũ nữ hạng dưới, kém đến nỗi nhảy sai nhịp điệu. Mặc dầu bản cáo trạng nói rằng nàng chịu trách nhiệm về cái chết của 50.000 binh sĩ và hàng ngàn thủy thủ Pháp, sự thật chẳng có gì hết. 
        Khi nàng bị lên án tử hình, báo chí cho biết
-----------------
(15) Cyrus L. Sulzberger.
 
 
 
29                                                                                                                           BỘ NGỰC LÉP KẸP CỦA MATA HARI
 
có hai quốc vương, một thủ tướng đa tình vận động ân xá cho nàng, nhưng một cuộc điều tra vô tư sau này đã xác nhận là không ai xin tha cho nàng cả.
        Truyền thuyết ly kỳ nhất là khi Mata Hari bị đưa ra hành quyết, nàng chỉ mặc một cái áo lông, bên trong trần truồng, và lúc sắp khai hỏa nàng mở tung áo ra, để lộ tấm thân nỏn nà, khiến binh lính run tay bắn trật ra ngoài. Sự thật là tử tội bị trói vào cọc, và luật sự của nàng, một ông già 75 tuổi muốn hoãn ngày hành quyết chờ đại chiến chấm dứt, đã bịa đặt là nàng đang có mang với ông. Mưu kế này thất bại và Mata Hari phải thọ hình.
        Theo tài liệu đã được kiểm nhận, Mata Hari không hề là gián điệp chuyên nghiệp. Nàng có lấy tin tức nữa thì cũng là tình cờ. Tòa án nước Pháp đã phạm một lỗi lầm lịch sử khi ra lệnh bắn Mata Hari. Chẳng qua là mùa Xuân 1917, Đức đang thắng, công luận Pháp la ó là họ bị phản bội nên các tướng lãnh và chánh trị gia cần phải đổ tội cho một kẻ phản bội nào đó. Lúc ấy Mata Hari đang ngồi tù về tội tình nghi dọ thám. Nàng được nhiều người biết tiếng nên đã bị đưa ra làm bung xung.
                Dầu sao Mata Hari cũng thuộc về lịch sử. Cho mãi tới ngàn năm nữa, người ta vẫn không quên được người đàn bà tứ tuần đa tình, thay tình nhân như thay đồ lót, người vũ nữ đầu tiên nhảy thoát y cực kỳ khiêu gợi tại Âu Châu.
        Chỉ có thế mà Hoa Lệ Ước cũng sản xuất nhiều cuốn phim giựt gân về Mata Hari. Hết cô đào nổi danh Gờrêta Gátbô (1) đến Dan Morô (2) thủ vai chính. Nào đã thôi đâu, người ta còn lôi cả «con gái» Mata Hari lên màn bạc. Một công ty điện ảnh Ý sản xuất một cuốn phim đắt khách tựa đề «con gái của Mata Hari». Đó là Bănđa (3), một cô gái lai Nam Dương.
 
-----------------
(1)    Greta Garbo. (2) Jeanne Moreau. (3) Banda McLeod.
 
 
 
 
30                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Bănđa là điệp viên thực thụ. Điều này không ai phủ nhận. Song đến nay, chưa có tài liệu đích xác nào chúng tỏ nàng là con đẻ của Mátgarêta Den (4) tức Mata Hari. 
        Bănda không còn nữa. Nàng đã bị hành hình trong trận chiến tranh Cao Ly. 
        Giai thoại về Mata Hari và Bănda một lần nữa chứng tỏ rằng tìm hiểu gián điệp là một vấn đề vô cùng tế nhị.
 
        6-  Bà chúa gián điệp
 
        Gạt Mata Hari là ngoài bảng vàng gián điệp không có nghĩa là phái yếu không có những tay do thám đại tài. Bằng chứng là từ mấy chục năm nay, người ta vẫn chưa hết khâm phục tài ba của Cô Đốc, tức là Elidabét Sờrắcmule (1).
        Công dân Đức Elidabét đã góp phần lớn vào nền điệp báo Đức trong thế chiến thứ nhứt. Cũng như Mata Hari, hàng chục cuốn sách được viết về Cô Đốc, trong đó nàng được mô ta như một điệp viên xuất quỷ nhập thần.
        Năm 1915, tin tức đầu tiên về Cô Đốc được xứ Đức vọt ra ngoài, nhân một điệp viên Đức đầu hàng. Y đổ bộ lên đất Anh, với nhiệm vụ do thám. Lên tới nơi, y đâm ra hoảng sợ và xuất thú với công an. Lúc ấy, người ta mới biết Cô Đốc là hiệu trưởng một trường gián điệp ở Ăn Ve (2).
        Tọa lạc tại số 10, đường Pê pi ni e (3), trường này là mẫu mực cho các trường dạy do thám được mở ra trên khắp thế giới. Đặc điểm của trường là có 2 cửa. Khoá sinh được chở tới của trước bằng xe
 
-----------------------
(4) Margaretha Gertruida Zelle.
(1) Elspeth (hoặc Elizabeth) Schrapmuller. Mademoiselle Docteur.
(2) Anvers. (3) Rue de la Pépinière.
 
 
 
 
31                                                                                                                                                           BÀ CHÚA GIÁN ĐIỆP
 
hơi bịt bùng. Tốt nghiệp, khoá sinh ra về bằng cửa hậu. 
        Cửa mở, khoá sinh được dẫn vào một căn phòng lớn, đồ đạc tươm tất: có tủ đựng sách vở, địa đồ, một máy hát đĩa. Ngoài cửa có dán một miếng giấy để bí danh của khóa sinh. Phòng được khoá bên ngoài, giống như nhà giam, khóa sinh ở trong phòng trong suốt thời gian huấn luyện không khác tù nhân, cửa chỉ mở ra để đưa thức ăn vào mà thôi.
        Mỗi phòng có một tấm gương riêng. Phía sau tấm gương, Cô Đốc có thể theo dõi sự sống của khóa sinh mà y không biết. Sau khi khoá sinh bị cô lập đúng một tuần, các huấn luyện viên mới lần lượt tới dạy. Cô Đốc đích thân biên soạn sách giáo khoa. Các trường điệp báo hiện nay vẫn còn dùng sách của Cô Đốc viết ra cách đây bốn chục năm. Sau đây là 12 nguyên tắc giáo dục mà Cô Đốc đề ra cho nhân viên do thám:
1-      dẫu biết ngoại ngữ cũng đừng nói, để thúc đẩy người khác tự do nói trước mặt mình.
        2-    khi hoạt động ở nước ngoài, đừng khi nào viết hoặc nổi tiếng mẹ đẻ. 
        3-    khi đi lấy tin, hãy dụ kẻ đưa tin ra xa chỗ y ở, xa địa bàn hoạt động của ta. Bắt y tới chỗ hẹn bằng đường vòng quanh, tốt nhứt là hẹn ban đêm. Kẻ đưa tin bị mệt mỏi sẽ bớt xảo quyệt, bớt nói dối, bớt kỳ kèo, như vậy có lợi cho ta. 
        4-    khi lấy tin, đừng cho kẻ đưa tin biết ta chú trọng đến một tin nào đặc biệt, vì y sẽ khám phá ra mục đích của ta. 
        5-    lấy tin xong, tìm cách cất giấu một cách khôn ngoan, nếu phải ghi chữ số và kích thước, hãy ngụy trang dưới hình thức sổ tiêu vặt.
        6-    khi đốt thư hoặc giấy tờ, đừng quên rằng
 
 
 
 
32                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
tro tàn hoặc mẫu giấy cháy dở có thể hại ta. Chuyên viên của địch có thể đọc được dễ dàng. 
        Đừng tưởng xé vụn và vứt giấy đi là xong đâu. Ngay cả việc xe vụn giấy và ném vào cầu tiêu cũng chưa chắc là an ninh tuyệt đối. 
        7-    đừng có lời nói và cử chỉ bí mật, trừ khi ta định moi tin từ của miệng của một kẻ ba hoa. 
        8-    khi tìm nơi ngủ, nên kiếm nơi nào có ít nhứt hai cửa. Hãy nghĩ cách thoát thân và luôn luôn dượt lại. 
        9-    phải luôn luôn để ý xem có bị theo không, và phải học cách làm cho người ta không theo mình được. 
        10-  đừng bao giờ quá chén. Chỉ nên lui tới những phụ nữ mà mình biết rõ và tin được.
        11-  đừng ba hoa, đừng ra vẻ ta đây. Đừng tỏ ra quá khôn ngoan. Đi chậm bao giờ cũng tốt. Thiên tài số một trong nghề do thám là người mà không ai để ý. 
        12-  đừng dễ tin và nhẹ dạ. Đừng vội kết luận khi thấy ai thân tình hoặc ghét bỏ mình. Đừng vội cho tin này đúng, tin kia sai. Hãy bình tĩnh nghiên cứu. 
        Xuyên qua 12 nguyên tắc, người ta thấy Cô Đốc là thầy dạy gián điệp, không phải là gián điệp, hành động. Tuy nhiên đã có rất nhiều huyền sử về Cô. Báo chí gán cho Cô Đốc nhiều tên khác nhau (4). Có người còn gọi Cô là Mắt Cọp, Cọp Đỏ, Mèo Đen, Bà chúa Gián điệp nữa. Báo chí còn loan tin Cô Đốc hoạt động trong hậu tuyến quân đội Pháp và sau đó sang Nga và bị bắn chết.
 
-------------
(4) như Bertha Henrichsen Marthe, Shragmuller Frau Kohr, Fraulein Janssen, Anna Maria Lessex.
 
 
 
 
33                                                                                                                                                           BÀ CHÚA GIÁN ĐIỆP
 
        Trên thực tế, Cô Đốc chỉ là một phụ nữ có nhan sắc trung bình. Sinh năm 1888, tại Men Dít, gần Đót mơn (5), nàng có khiếu thông mình tuyệt vời. Tòng học tại đại học đường Phờ ri bua (6), nàng tốt nghiệp tiến sĩ triết lý, vì thế mới có tên là Cô Đốc. 
        Thế chiến thứ nhất, nàng đi Bá Linh, xin được tòng quân. Tình cờ qua Bỉ công cán, nàng gặp trên xe hỏa một sĩ quan phản gián Đức, thiếu tá Kíp (7). Thiếu tá Kíp biệt phái nàng vào cơ quan kiểm duyệt dân sự tại Bờruyxen (8). Từ đó, nàng dấn thân vào điệp báo và trở nên nữ sĩ quan đầu tiên và duy nhất của quân đội Đức. Nhờ thiên bẩm, nàng thành công vẻ vang trong công tác phản gián và huấn luyện do thám.
        Nàng từ trần tháng 2-1940, thọ 52 tuổi. Nàng mất vì bệnh lao tủy. Sau khi nàng tạ thế, mật vụ Đức xung công hết giấy tờ riêng của nàng vì phương diện an ninh. Trong đời, nàng chưa hề hoạt động gián điệp. Nàng chỉ là một chuyên viên lỗi lạc về gián điệp. 
 
 
        7-  Gián điệp phái yếu
 
        Phụ nữ có khiếu về điệp báo hay không? Câu hỏi này vẫn chưa ai trả lời được dứt khoát. Có dư luận cho rằng phụ nữ khó thể thành công vì bản tính nhẹ dạ luôn luôn thay đổi, dễ bị ngoại cảnh chi phối. Song cũng có dư luận tin tưởng vào vai trò phụ nữ. 
        Thế chiến thứ hai khám phá ra nhiều nữ điệp viên đại tài như Sanson (1) của Anh quốc, Ben (2), người có nghị lực phi thường và tầm kiến văn rộng lớn đã giúp Anh quốc tạo ra nước Irắc (3) với
 
---------------
(5) Mengede, Dortmund.
(6) Friboung. (7) Kiefer. (8) Bruxelles, Bỉ quốc.
(1) Odette Sanson. (2) Gertrude Bell. (3) Irak.
 
 
 
 
34                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
hoàng thân Phay San trên ngai vàng. Sau khi cô Ben tạ thế, cô Sìtát (4) cũng dấy được một sự nghiệp xuất chúng ở Trung đông. 
        Trong thế chiến thứ hai, hồi C.I.A. còn mang tên O.S.S.  (5) cơ quan Chiến Lược Vụ Mỹ đã điều khiển một trường dạy nhảy dù, huấn luyện 3800 đàn ông, và 38 đàn bà. Cả thảy 20.000 chuyến nhảy, chỉ có 50 lần bị từ chối, và người từ chối không nhảy không phải là phụ nữ. 
        Một phụ nữ Ý, nhân viên O.S.S. đã lập kỳ công trong việc tổ chức cấp dưỡng nhiều đơn vị du kích chống phát xít tại miền bắc nước Ý. Một phụ nữ Pháp ngang nhiên đứng giữa ngã tư, chỉ đường cho một đạo binh Đức rút lui đúng vào ổ phục kích của đồng minh. Một phụ nữ Mỹ đã lén lút mang dụng cụ phá hoại vào Âu châu cho các đơn vị giải phóng quân.
        Một trong các nữ điệp viên lừng danh của O.S.S. là một thiếu nữ Mỹ to lớn, thân hình đều đặn, nói giỏi tiếng Pháp và Đức. Nàng được thả dù hai lần xuống đất Pháp bị tạm chiếm và đều thành công. Nàng chỉ đòi một ân huệ trước khi rời khỏi phi cơ, đó là uống một ly cỏ nhát thật lớn. Không có rượu cỏ nhát, nàng nhất định không nhảy. Lại có một phụ nữ khác nhảy dù xuống đất Pháp cho O.S.S. và phản gián Đức theo sát. Mặc dầu bị bại lộ, nàng vẫn đánh điện về Anh gởi toàn tin tức đặc biệt. Đoạn nàng bắt tay vào việc huấn luyện và trang bị các đạo quân kháng chiến. Nhờ sự can đảm của nàng, ba tiểu đoàn quân đội bí mật được có thời giờ chuẩn bị đánh vào sau lưng địch.
        Trong thời gian phục vụ O.S.S., nàng chỉ đòi một đặc quyền: vốn mang chân gỗ, nàng xin nhảy dù xuống được phép kẹp chân gỗ vào nách để khỏi gãy
 
-----------
(4) Frega Siark. (5) Office of Strategic Services, sẽ nói tại đoạn sau.
 
 
 
 
35                                                                                                                                                           GIÁN ĐIỆP PHÁI YẾU
 
chân khi chạm đất. Và chân gỗ của nàng được nguyên vẹn. Ba lê được giải phóng. O.S.S. mất liên lạc với nàng. Ai cũng lo ngại tưởng nàng thiệt mạng. Song nàng vẫn còn sống. Nàng phải lánh mặt tránh phản gián quốc xã. Và nàng là người đàn bà duy nhứt và thứ nhất được chính phủ Hoa Kỳ ban tặng huy chương về can đảm.
        Trung úy Ma-en-nen (6), nhân viên Bộ Nội An Đông Đức, trốn sang phía Tây năm 1961, tiết lộ rằng Cộng sản dùng phụ nữ có nhan sắc để thâm nhập các sứ quán tây phương, tại Bon (7), thủ độ Cộng hòa liên bang Tây Đức. Mưu mô này, theo lời Ma-en-nen, đã đạt được phần nào kết quả.
        Một số phụ nữ làm gián điệp cho Cộng sản đã bị sa lưới. Đa-e (8) là nhân viên Đức tại Na-uy. Sau thời chiến, nàng làm cho tình báo Mỹ. Nàng lại bỏ Mỹ, gia nhập tình báo Tiệp khắc. Lúc bị bắt, nàng chưa đầy 26 tuổi. Có lẽ thấy đời nàng còn dài nên quan toà chỉ kết án nàng 12 năm tù.
        Ha bờ lít (9), một thiếu phụ khác người Đức, đánh cắp tài liệu mật trong hồ sơ của chồng, viên chức trong chính phủ địa phương Ba vi e (10), rồi gửi sang Tiệp khắc bằng đường bưu điện trong phong bì đóng dấu Nhà nước. Nàng bị phạt 7 năm tù.
        Đi tờ rít (11) là nhân viên Hội Thiếu phụ Trẻ Thiên Chúa Giáo, một hội hết sức nghiêm khắc của Hoa kỳ. Nhân viên của Hội không nghĩ đến tình yêu, song nàng lại đem lòng yêu một sĩ quan Cộng sản đẹp trai người Tiệp khắc. Chàng là sĩ quan điệp báo. Nàng đánh cắp tài liệu trao cho chàng. Trước vành móng ngựa, nàng thú nhận là gián điệp vì tình. Kết quả 9 năm tù. 
        Phi-phe (12)  - tên nàng khó đọc thật đấy, song
 
---------------
(6) Guenther Maennel. (7) Bonn. (8) Gertrude Daerre.
(9) Maria Hablich. (10) Bavière. (11) Edith Dietrich.
(12) Margaret Pfeiffer.
 
 
 
 
36                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
cái đẹp của nàng thì ai cũng đọc được làm nghề kiểu mẫu. Đường cong hỏa diệm sơn của mỹ nhân làm sĩ quan Mỹ đồn trú tại Ba vi e thật điên bát đảo. Kẻ nào yêu nàng sẽ được đền đáp rộng rãi, không những bằng xác thịt mà còn bằng tiền bạc nữa. Thật nhiều tiền bạc, nếu là bí mật quốc phòng. Trước tòa, nàng bào chữa là nàng phải làm gián điệp cho Cộng sản là vì sợ đứa con trai của nàng bị bắt cóc. Dầu sao, nàng cũng bị kết án 4 năm tù.
        Đót hô phe (13) là nữ thư ký duyên dáng trong một văn phòng tổ chức du lịch Mỹ tại Phờ răn pho (14), Đức quốc. Nàng kết bạn với nhiều công dân Mỹ bằng một chiến thuật giản dị mà hữu hiệu: gặp người đàn ông hảo ngọt nào, nàng cũng liếc mắt đưa tình, rồi từ từ mở ví tay lấy một xấp ảnh chụp nàng uỡn ẹo trong bộ đồ tắm nhỏ xíu, hoặc không có mảnh quần áo nào hết.
        Khỏi phải bàn, các chàng trai si tình đều híp mắt. Nàng không tỏ ra khó khăn về yêu đương, nàng còn hứa những món tiền kếch xù nữa, miễn hồ... Một đêm kia, sau cơn ân ái, một tình nhân của nàng tố giác nàng với phản gián Mỹ. Thật ra, phản gián Mỹ theo dõi nàng từ lâu. Kẻ làm trung gian giữa nàng với gián điệp Tiệp khắc là Han (14), một tên lưu manh mang nhiều tiền án, vừa lãnh lương mật vụ Cộng sản vừa làm việc cho phản gián Hoa kỳ. Giai nhân có thân hình núi lửa bị kết án 9 năm tù ở.
        Trước thế chiến thứ hai, Nga sô đã tổ chức được một màng lưới do thám ở Bắc Mỹ. Trong số có hai phụ nữ, Mát sinh (16) và Ben tờ li (17). Cả hai đều phản tỉnh và đầu hàng phản gián Hoa kỳ. 
        Mát sinh, người Đức, hoạt động năm 1935 trong
 
------------------
(13) Elisabeth Dorhofer. (14) Francfort.
(15) Hans Kurt Pape. (16) Hede Massing.
(17) Elizabeth Bentley.
 
 
 
 
37                                                                                                                                                           GIÁN ĐIỆP PHÁI YẾU
 
tổ chức Sô viết tại Mỹ và là vợ thứ nhứt của Ét lơ (18), một trong các giám đốc tình báo Nga sô tại Mỹ. Mấy năm sau, Mát sinh tỉnh ngộ và viết sách thuật lại những bí mật của tiểu tổ do thám mà nàng tham dự (19). 
        Bentờli là một thiếu phụ trẻ, học rộng, làm việc trong chính phủ, có tư tưởng cấp tiến nhưng dần dà bị Cộng sản nhồi sọ và nhuộm đỏ. Năm 1943 Gôlốt (20), một người Nga theo Mỹ tịch, giữ vai trò quan trọng trong guồng máy Sô viết, quyến rũ nàng và kéo nàng vào tổ chức. Năm 1943, Gôlốt chết, nàng được cử ra thay thế. Mặc dầu phụng sự lâu năm cho Nga sô, nàng đột nhiên hoài nghi chủ nghĩa Cộng sản. Năm 1945, sau nhiều ngày tự vấn lương tâm, nàng ra trình diện cảnh sát liên bang Hoa kỳ.
 
        8-  Sứ giả tình ái của gián điệp Sô viết
 
        Mỹ nhân kế vẫn là cạm bẫy muôn thở đối với đàn ông. Dưới thời Sít ta lin, công an Sô viết huấn luyện rất nhiều con gái đẹp rồi đưa tới bắt tình với các nhà ngoại giao Tây phương. Những phụ nữ này được gọi là Mozhnos, tức là «con gái được phép». Dùng Môdơnô, Nga sô thành công đã nhiều mà thất bại cũng lắm. 
        Nora Mu ray (1) đã thuật lại cuộc đời
 
Chú thích:
(18) Gerhard Eisler.
(19) Đó là cuốn Sự Vỡ Mộng, the Deception.
(20) Golos. (21) Out of Bandage.
(1) Nora Murray.
 
 




Đăng nhập để trả lời
0
38                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
môdơnô của nàng trong cuốn hồi ký tựa đề «Em làm gián điệp cho Sít-ta-lin». Sau thời kỳ huấn luyện, nàng tới ngụ một căn phòng sang trọng trong khách sạn thượng lưu Mê tờ rô bôn (2) với nhiệm vụ liếc mắt đưa tình, và nếu cần, chung chăn xẻ gối với các nhà ngoại giáo của Thế giới Tự Do. 
        Công tác thứ nhất của nàng là kết thân với một tùy viên quân sự sứ quán Anh. Người ta dặn nàng như sau:
        -      Gặp y, cô hãy tán chuyện con cà, con kê, chuyện thời tiết, chuyện đua ngựa, và chuyện thể thao. Người Anh vốn khoái những chuyện tầm phào như thế. Rồi lựa lời tìm xem y thích cái gì. Và tuyệt đối không được đề cập tới chính trị.
        Nora cố gắng thực hành những điều đã học. Chẳng may cho nàng, tùy viên quân sự Anh lại là một người giàu kinh nghiệm. Nàng vừa hé miệng thì nhà ngoại giao nói với nàng, giọng ngọt như mía lùi : 
        -      Cô Nora ơi, tôi đã biết cô là môdơnô làm việc cho sở gián điệp NKVD rồi. 
        Nora cứng họng, mặt đỏ như gấc chín.
        Sau ngày Sít-ta-lin chết, việc dùng môdơnô đã giảm bớt. Hiện mật vụ Nga sô còn lưu trữ rất nhiều hồ sơ về đời sống các nhà ngoại giao tây phương, ai mê gái, thích rượu, đánh bạc là bị theo dõi để mua chuộc hay bắt chẹt. 
        Bộ ngoại giao Hoa kỳ tỏ ra không mấy quan tâm tới mỹ nhân kế Cộng sản. Họ quan niệm rằng nhân viên ngoại giao Mỹ ở sau bức màn sắc đều được huấn luyện chu đáo nên khó thể sa vào cạm bẫy xác thịt. Vả lại qui tắc thông thường của
 
------------
(2) Métropole
 
 
 
 
39                                                                                                                             SỨ GIẢ TÌNH ÁI CỦA GIÁN ĐIỆP SÔ VIẾT
 
ngành ngoại giao Hoa kỳ là chỉ người có gia đình và mang gia đình theo, mới được bổ nhiệm sau bức màn sắt. Thỉnh thoảng mới có trường hợp viên chức độc thân được cử làm bí thư hoặc tùy viên sứ quán tại các quốc gia Cộng sản. 
        Bản phúc trình của Quốc Hội Mỹ về mánh khóe lung lạc của gián điệp Cộng sản ghi mẩu chuyện thú vị như sau:
        Đại diện Mỹ đáp xe hỏa ban đêm trong vùng Cộng sản thường bị gái đẹp nhử mồi. Vừa đặt chân lên toa, nhà ngoại giao đụng phải một người đàn bà thật quyến rũ. Thiếu phụ mỉm cười thân mật và thỏ thẻ rằng cút sét này là của nàng. 
        Và để chứng minh, thiếu phụ đưa cuống vé cút sét cho nhà ngoại giao xem. Thật là bực mình. Tòa đại sứ Mỹ đã gọi điện thoại cho sở hỏa xa, giữ chỗ trước, và lấy vé đàng hoàng. Lẽ nào một cút sét lại được bán cho hai người. Theo phép lịch sự, đàn ông dĩ nhiên phải nhường cho đàn bà.
        Viên xếp tàu được mời đến. Y vò đầu, gãi tai nhưng không nói gì hết. Vừa khi ấy thiếu phụ nhoẻn miệng cười – và lần này nhà ngoại giao phải choáng váng vì áo nàng mặc rất hở, hoặc rất mỏng để lộ một núi lửa đáng giá – và ỏn ẻn : 
        -      Ông đừng ngại. Em tin ông là người đứng đắn. Chắc ông không muốn đuổi em đi chỗ khác, và em cũng thế, em không thể để ông đi được, vì toa nào cũng chật ních, đêm thì đã khuya.
        Và nàng nhìn thẳng vào đôi mắt đầy thèm muốn của nhà ngoại giao: 
        -      Nếu ông không chê em bất nhã thì em xin mời ông nghĩ tạm đêm nay trong toa em. 
        Nàng đứng sát vào người nhà ngoại giao. Trời ơi, anh hùng như Hạng Võ cũng lụy vì tình, liệu trong
 
 
 
 
40                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
đời này có bao nhiêu người đàn ông dám thẳng tay từ khước! Hương thơm ngào ngạt, mùi da thịt trộn với mùi nước hoa đắc tiền của tây phương, tứ bề im lặng, mùng mền ấm áp, mặc cho tuyết đổ bên ngoài. Xa xa vọng lại một điệu nhạc êm đềm, như lôi con người vào cõi mộng. Ngọn đèn cuối cùng tắt phụt. Thôi thì... cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu...
        Gần sáng, khi nhà ngoại giao mệt nhừ thì mật vụ Cộng sản mở cửa toa bước vào. Hoặc họ lén chụp hình cuộc truy hoan. Hoặc họ đánh thức dậy làm biên bản. Hoặc mặc cho thiếu phụ tiếp tục ái ân với khách. Bằng cách nào nữa thì nhà ngoại giao cũng bị cho vào «xiếc». Chỉ một tấm ảnh hành lạc lọt vào tay vợ, hoặc gởi về Bộ là đủ hết đời. Nạn nhân không còn lối thoát nào khác, ngoài việc nhắm mắt sa lầy vào vũng bùn phản quốc.
        Tháng 6-1961, một nhà ngoại giao chuyên nghiệp Mỹ, từng lập nhiều thành tích tốt đã bị triệu hồi và bắt giam về tội do thám cho Ba lan. Sì ca bếch (3), đệ nhị bí thư tòa đại sứ Mỹ tại Vạc sô vi, 41 tuổi – cái tuổi sung sức nhứt của đàn ông – có vợ, con, đã mềm lòng trước tấm thân nõn nà của một cô gái tóc vàng Ba lan, và đã dại dột trao tài liệu mật cho nàng.
        Sì ca bếch được phép vào phòng mật điện và được đọc nhiều văn kiện mật trong sứ quán. Sự đam mê của viên bí thư đã đánh thức hệ thống an ninh của sứ quán. Sau một thời gian theo dõi, tổ uyên ương bị khám phá. 
        Không riêng nam giới bị chếnh choáng men tình, ngay cả phái yếu cũng từng đặt trái tim lên trên ý trí nữa. Năm 1948, nghe theo tiếng gọi của lòng, cô Bu ca (4) bỏ tòa đại sứ Mỹ tại Mạc tư Khoa, kết hôn với Láp sin (5), ca sĩ trong Hí viện Sô viết. Quáng mắt
 
------------------
(3) Irving Chambers Scarbeck. (4) Annabelle Bucas.
(5) Konstantin Lapshin.
 
 
 
 
41                                                                                                                             SỨ GIẢ TÌNH ÁI CỦA GIÁN ĐIỆP SÔ VIẾT
 
vì tình, cô Bu ca đã tuân lệnh Cộng sản, viết sách vu cáo các nhà ngoại giao Hoa kỳ. Cuốn sách «Sự thật về các nhà ngoại giao Hoa kỳ», một tài liệu hoàn toàn bịa đặt, đã được tờ Sự Thật (6), cơ quan của Trung ương đảng Cộng sản Sô viết, trích đăng hàng ngày. Một cuốn phim tựa đề «Giã từ đất Mỹ» dựa trên lời cáo gian đáng thương của cô Bu ca, được Nga sô sản xuất. Bu ca được đưa vào làm trong đài bá âm Mạc tư Khoa. Ngày nay Bu ca đã trên ngũ tuần, người nàng béo phì và mắc bệnh dư máu, hậu quả của tình yêu xác thịt.
 
        9-  Con yêu râu xanh Sít ta lin
 
        Bêria (1) trùm mật vụ Sô viết sau này bị Sít ta lin hạ sát, khinh bỉ đàn bà và coi đàn bà là chướng ngại lớn trong nghề điệp báo. Sở dĩ Nga sô dùng phụ nữ là do lệnh của Sít ta lin.
        Họ Sít có thể coi là con yêu râu xanh nổi tiếng nhất của thế kỷ 20. Vua Trụ ngày xưa cũng chỉ dâm dật đến như Sít ta lin là cùng. 
        Hồi còn hoạt động bí mật, dọn đường cho Lê-nin về cầm quyền, Sít ta lin, dưới bí danh Kôba, đã hợp tác mật thiết với tên ma cô khét tiếng, Kôrétcu (2), để mở nhà chứa thổ ở Tiphờlít, Bacu, và Batum (3) rất phát đạt. Sít ta lin thuê bọn du đãng để canh gác nhà chứa, và khủng bố những cô gái có tinh thần độc lập không muốn gia nhập «hợp tác xã» lầu xanh của đảng Cộng sản. 
        Về tiền kiếm được, Sít ta lin lấy 40 phần trăm, xung vào quỹ cách mạng của Đảng, 50 phần để thuê nhà, sắm sửa, con gái đĩ chỉ ăn được 10 phần trăm. Ngày nay, các mụ dù bị lên án là bóc lột gái
 
----------------
(6) Pravda.
(1) Lavrenti Beria. (2) Lajos Korescu. (3) Tiflis Bakom Batoum.
 
 
 
 
42                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
đĩ, nhưng xét cho cùng thì chế độ tứ lục của họ còn nhận đạo hơn chế độ 10 phần trăm của nhà độc tài thép. 
        Lấy vợ thì Sít ta lin chuyên tìm đào non. Đặc điểm của Sít ta lin là thay vợ và thay nhân tình như thay quần lót. Na-đi-ét-đa (4), một trong những người vợ chánh thức của Sít mới 17 xuân sanh, kém chồng những 21 tuổi.
        Có vợ rồi, Sít vẫn chơi gái như thường. Có lần Sít mang Pê tờ rốp na (5) nữ thư ký văn phòng, say rượu bí tỉ, vào phòng vợ dựng vợ dậy, bắt vợ chứng kiến cảnh 2 người ân ái. Mỗi khi Sít say, thường ra lệnh cho vệ sĩ tìm gái tơ dẫn tới phòng làm việc. Sát văn phòng của Sít còn một phòng nhỏ khác hình chữ nhựt, trong có một cái giường, 2 điện thoại, một cái bàn, một cái tủ và ghế dựa. Sít ta lin dùng phòng này làm nơi ân ái trong giờ làm việc.
        Một dịp khác, Sít uống rượu với Malencốp (6), rồi trong khi chếnh choáng, khoác tay Et-phia (7), nữ thư ký đánh máy, vào phòng vợ. Vợ phản đối thì Sít nhún vai, nói là y muốn hành lạc với cả hai người để xem ai dễ thương hơn.
        Thỉnh thoảng, một cô gái ngây thơ được đưa tới văn phòng. Sít ta lin bắt cởi trần truồng rồi nhảy múa. Nhảy múa xong thì hành lạc. Trùm mật vụ Bêria bắt buộc những cô gái này không được hé miệng. Nếu tiết lộ thì bị đưa đi biệt tích. 
        Sít ta lin thích dùng gián điệp phụ nữ vì phụ nữ có một võ khí tuyệt luân: nhan sắc và sự quyến
 
----------------
(4) Nadiezhda Alliluyena. (5) Marusya Petrovna.
(6) Malenkov. (7) Esfir.
 
 
 
 
43                                                                                                                             CON YÊU RÂU XANH SÍT TA LIN
 
rũ xác thịt. Phần khác, cũng vì nhà độc tài căm thù đàn bà sau khi bị một người vợ cắm sừng lên đầu. 
        Mốt si na (8) là một thiếu phụ 23 tuổi, nhỏ nhắn, xinh đẹp, cháu gái một nhân viên cao cấp, trong Chánh trị bộ, Trung ương Đảng. Nàng không hề ghen tuông khi Sít ta lin lang chạ với người khác. Trong 6 năm chăn gối, Sít lấy làm sung sướng vì thái đó phục tòng của vợ. 
        Nhưng nhà độc tài đã lầm. Sở dĩ Mốt si na ngoan ngoãn là vì bên cạnh Sít đã có một người đàn ông khác, 35 tuổi, đẹp trai, cường tráng và nhã nhặn. Y là Kôn sa Kốp (9), trưởng ban vệ sĩ, nghĩa là người thân của Sít ta lin.
        Một ngày kia, bất thần về nhà, Sít bắt gặp vợ đang nằm trên giường với Kôn sa Kốp. Máu ghen nổi lên. Sít chửi mắng om sòm rồi xuống tay đánh cho một trận. Đoạn y nắm tóc hai người kéo sềnh sệch ra ngoài, gọi dây nói cho trùm mật vụ Bêria tới.
        Sít ra lệnh cho Bêria xử tử cặp tình nhân. Nhưng cả hai trần truồng. Bêria phải xin phép nhà độc tài cho họ mặc quần áo vào rồi xích tay dẫn đi biệt tích. Sau đó, hai người bị bắn chết dưới hầm nhà giam Lu bi ăn ca (10) của Mật vụ. 
        Bị cắm sừng, Sít ta lin đâm ra căm thù phụ nữ. Y bắt nhân viên lập danh sách phụ nữ làm việc trong điện Cẩm linh và mỗi ngày gởi một thiếu nữ hơ hớ lên phòng để hú hí. Ai ra khỏi phòng cũng đỏ hoe hai mắt.
 
        10-   Trường dạy ái tình
 
        Borít Morốt (1), gián điệp đôi nổi tiếng của Mỹ, cho biết năm 1958, khi ông còn ở Mạc tư khoa,
 
---------------------
(8) Yengeniya Pavlovna Movshina.
(9) Kolchakov. (10) Lubyanska. (1) Boris Morros.
 
 
 
 
44                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
đã được mời tới thăm một trường học kỳ quặc, mệnh danh là Trường dạy Ái tình. Tại trường này, những thiếu nữ có sắc đẹp mê hồn được huấn luyện cách quyến rũ đàn ông để đánh cắp tài liệu. Đàn ông cũng được học nghệ thuật lôi cuốn phụ nữ trong các trung tâm huấn luyện Sô viết.
        Gờ ra nóp ky (2) công dân Nga, chọn tự đó năm 1949, nhân dịp tàu ông bỏ neo tại Sì tốc khom (3), Thụy Điển, mô tả trong một cuốn sách hấp dẫn những bí mật về lớp dạy ái tình tại một trường đặc biệt, gần Bi kô vô(4), cách Mạc tư Khoa 65 cây số. Chương trình huấn luyện gồm cách xử dụng điện đài, dịch điện bí mật, phá hoại, lấy tin, và cách vuốt ve đàn bà.
        Một trong các giáo sư dạy tỏ tình và ân ái là Rát putin (5). Giáo sư này giảng cho sinh viên hiểu rõ về bộ phận sinh dục, và lưu ý sinh viên tới những điểm trên cơ thể để gây khoái cảm mỗi khi chạm vào. Trong giờ thực tập, Rát putin đưa sinh viên tới một căn nhà trên đại lộ Lê nin gờ rát (6).
        Một người đàn bà quê mùa, to lớn, được dẫn vào. Trước mặt cử tọa, người này được cởi truồng ra, cả Rátputin cũng thế. Rồi Rátputin biểu diễn ân ái cho sinh viên xem, vừa biểu diễn vừa giải thích. 
        Gờ ra nóp ky thuật lại là mới đầu thiếu phụ cố gắng thản nhiên, nhưng sau mấy phút được mơn trớn, thiếu phụ đâm ra mê mẩn rồi đột ngột thét lên để bộc lộ sự thỏa mãn. Rồi kêu thêm nữa, thêm nữa, trước khi ôm chầm lấy Rátputin, hôn lấy, hôn để.  Gờ ra nóp kỳ ở trong phòng với Rátputin trong khoảng 8 tiếng đồng hồ, và trong thời gian này, Rátputin ân ái với 5 người đàn bà khác nhau, người nào cũng được y thỏa mãn mà y không hề mệt mỏi. 
        Về điểm này, C.I.A. của Mỹ bị thua xa. Từ đầu
 
-------------------------
(2) Anatoli Granopsky. (3) Stockholm. (4) Bykovo.
(5) Rasputin. (6) Leningrad.
 
 
 
 
45                                                                                                                                                           TRƯỜNG DẠY ÁI TÌNH
 
năm 1958 đến tháng 5-1960, một sĩ quan tình báo hoạt động tại Pốt đam (7) khuyến khích vợ bắt bồ với một nhân vật Sô viết để lấy tài liệu. Kế hoạch mỹ nhân không thành công, người Nga kia báo cáo với sứ quán Sô viết tại Đông Đức. Cặp vợ chồng bị triệu hồi về Mỹ.
        Cộng sản Đông Đức có ít nhất là một trường dạy ái tình Núp sau một cái tên đẹp đẽ, Trường Khiêu vũ và Thể dục, trường này tọa lạc gần biên giới Tiệp Khắc. Trong trường, các thiếu nữ từ 19 đến 26 tuổi được huấn luyện làm thư ký, thông dịch viên, chiêu đãi viên, vũ nữ, kiêm sứ giả ái tình. Thời gian huấn luyện kéo dài ba tháng.
        Imga (8), một cô gái Đức 24 xuân xanh, tốt nghiệp lớp «thư ký» trong trường này và được đưa qua Tây Bá Linh công tác. Mật vụ Cộng sản đã lưu ý tới tài năng lôi cuốn của nàng hồi nàng còn là sinh viên ngoại ngữ tại đại học đường Ha lờ (9), Đông Đức. Nàng phải gia nhập mật vụ Sô viết để vị hôn phu của nàng bị giam về tội chánh trị, khỏi bị hành hạ trong lao thất.
        Tại Tây Bá Linh, với tiền của Nga sô, Imga sống cuộc đời xa hoa, không ngoài mục đích quyến rũ các nhân vật chống Cộng. Năm 1953, nàng gặp Đại Tá không quân Hay (10), một thanh niên yêu đời 48 tuổi, phụ trách tình báo. Vì nhẹ dạ, Hay lọt vào cạm bẫy mỹ nhân.
        Hay xin cho Imga vào làm việc dưới quyền. Mấy tháng sau, nàng bị đuổi vì quá tò mò. Lẽ ra phải điều tra về nàng. Hay lại bảo đảm cho nàng làm việc tại phi trường quân sự Tem pen hóp (11), Tây Bá Linh. 
        Trong vòng một năm, nàng chuyển về phía đông nhiều tin tức quan trọng. Ăn quen bén mùi, nàng
 
-------------------
(7) Postdam. (8) Imgard Margarette Schmidt. (9) Halle.
(10) Patrick Hayes. (11) Tempelhof.
 
 
 
 
46                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
dùng nhan sắc chài một công dân Đức tại phi trường để lấy tài liệu. Song nàng thất bại. Một tháng sau, Imga sa lưới. 
        Ra tòa, Imga lãnh 5 năm tù. Đại tá Hay lặng lẽ dắt vợ xuống tàu về nước để rồi mất việc. 
        Trung sĩ Mỹ Rốt (12) cũng là một nạn nhân của sứ giả ái tình Sô viết. Vì quá chén, quá yêu, Rốt phải ra tòa án quân sự, lãnh 5 năm khổ sai. 
        Làm tài xế cho tùy viên quân sự tại Mạc tư khoa, Rốt cảm thấy trống trải. Vợ con ở Mỹ nên Rốt cảm thấy còn trống trải thêm, và khuây sầu trong chén rượu. Mỗi lần Rốt mua vui, 2 thợ máy người Nga làm việc trong ga ra của sứ quan thường đi theo. Một đêm kia cả bọn mang theo một cô gái xinh xắn và ngoan ngoãn.
        Trong cơn say sưa, Rốt ngủ lại khách sạn. Không hiểu sao sáng hôm sau, y tỉnh dậy, thấy có thân hình nõn nà của cô gái hồi đêm. Y toát mồ hôi. Cô gái nhìn y âu yếm mà không nói gì hết. Rốt tưởng thế là yên, ngờ đâu, sáu tuần sau, qua trung gian 2 anh thợ máy, cô gái đòi gặp Rốt.
        Vẻ mặt nàng buồn thiu như đưa đám. Rốt giựt mình khi nghe nàng thỏ thẻ là có mang với y, sau đêm chăn gối. Lúc ấy, một người lạ mặt, nói thạo tiếng Anh, dọa Rốt: 
        -      Cô ta có chửa vì anh, anh biết chưa? Khi đẻ, cô ta sẽ khai anh là cha của đứa bé. Anh sẽ không thể nào xin giấy rời Liên sô được đâu.
        Rốt choáng váng như vừa bị đánh vào đầu. Còn vợ, còn con, còn cha mẹ, còn công ăn việc làm, y ở lại đất Nga sao được. Vợ con y từ Hoa kỳ sắp tới rồi. Chanh phủ Hoa kỳ biết y làm một cô gái có chửa hoang sẽ đuổi khỏi sở làm và lôi ra tòa. Tiền thoái
 
-------------------
(12) Roy Rhodes.
 
 
 
 
47                                                                                                                                                           TRƯỜNG DẠY ÁI TÌNH
 
lưỡng nan. Rốt dành hết lời van vỉ. Và dĩ nhiên là Rốt nhận lời làm gián điệp cho Nga sô. 
        Từ 1952 đến giữa năm 1953, Rốt gặp nhân viên Cộng sản 15 lần, và lần nào cũng báo cáo mọi chuyện mắt thấy tai nghe trong sứ quán. Biết y là đệ tử của lưu linh, mật vụ Sô viết cho y uống rượu thả cửa. Nhiều cô gái thơ mộng tự dưng đến hiến thân cho y, làm y quên hết tổ quốc. Y cũng quên là cô bạn một đêm không quấy đấu nữa. Vì lẽ dễ hiểu, nàng là mô dơ nô, và nàng không thể có mang.
        Rốt hồi hương, mật vụ Nga sô vẫn không buông tha. Y được lệnh hoạt động trong tổ chức do thám Cộng sản tại Hoa kỳ. Trước ngày từ giã Mạc tư khoa, y lại say mèm, và gây ra tai nạn xe hơi. Song công an Cộng sản làm lơ cho y. Rốt mang mật hiệu là Kê bếch (13). Trong một năm, nếu gián điệp Sô viết chưa gặp y, thì phải tiếp xúc theo thể thức như sau: cắt ba bài báo trong tờ Nữu ước thời báo, gạch bút chì đỏ, gọi cho sứ quán Sô viết tại Hoa thịnh Đốn, tuần một lần, ba tuần liền. Tuần thứ tư, tới một rạp chiếu bóng, tại thủ đô Mễ tây Cơ, hút ống điếu làm hiệu và sẽ gặp nhân viên Nga sô. Rốt sẽ xin một que diêm. Trong bao quẹt, y sẽ nhận được chỉ thị cho cuộc gặp sau.
        Năm 1947, công an liên bang phăng ra Kêbếch. 
        Si gơ du (14), đại diện Nhật tại miền Bắc đảo Sakalin (15) được lọt vào mắt xanh một người đàn bà tuyệt đẹp. Y không thể ngờ được thiếu phụ là gái điếm và là nhân viên mật vụ, tốt nghiệp trường dạy ái tình của Nga sô.
        Mối tình thầm lén biến thành hôn nhân bí mật. Khi ấy gián điệp Sô viết mới xuất đầu lộ diện. Si gơ du chỉ được tiếp tục chung chăn gối với vợ hờ nếu y
 
---------------------------------
(13) Québec.
(14) Takemore Shigezu. Giai thoại này do Yuri Rastorov, một viên chức Sô viết chọn tự do, thuật lại.
(15) Sakalin.
 
 
 
 
48                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
chịu hợp tác với Nga sô. Tuy chót nhúng chàm Si gơ du đành nghẹn ngào nhận lời. 
        Si gơ du ở bắc Sakalin còn «vợ» hờ ở tận Mạc tư khoa xa xôi. Mỗi lần muốn xum họp, y phải xin mật vụ Sô viết, và người ngọc đã được hai đại tá Hồng quân hộ tống từ Mạc tư khoa tới. Phải dùng hai sĩ quan cao cấp hộ vệ một con điếm, đủ biết Si gơ du cung cấp tin tức quan trọng như thế nào. Từ 1946 đến 1954, Si gơ du đã đánh cắp tài liệu tối mật của bộ Ngoại giao Nhật bản chuyển cho Nga sô.
        Trung cộng cũng có nhiều trường dạy ái tình. Kim Suim, một thiếu nữ Nam Cao nhỏ nhắn, khêu ngợi, tốt nghiệp «ái tình» tại Triều Tiên và được đưa vào hàng ngũ cộng hòa Nam Cao để do thám. Người ta thường gọi Kim là «cử nhân ái tình». Không may cho nàng, vì chính phủ Lý thừa Vãn đã khám phá ra và nàng bị hành quyết ngày 28-6-1950 tai Hán Thành.
        Đọc hồ sơ, người ta được biết gia đình Kim nghèo, không đủ ăn, nên dễ bị Cộng sản nhồi sọ. Kim đậu ưu hạng trong một trường bí mật dạy nghệ thuật quyến rũ đàn ông. Trường này đào tạo nữ cán bộ ái tình cho phong trào Cộng sản ở Trung quốc, Nhựt Bản, Mã Lai, Diến Điện, Tích Lan, Cao Ly, Nam Dương và Đông Dương.
        Chương trình giảng dạy gồm cách dùng ma túy, thuốc ngủ, cách trang điểm thân thể, giữ vệ sinh hành hạc, cách ngừa bệnh phong tình và cách ngừa thụ thai. Kim còn học được phương pháp uống rượu thật nhiều mà không say. Ngoài ra Cộng sản còn dạy phương pháp chụp hình, phim ảnh vi ti, và truyền tin vô tuyến.
        Giả trang tín đồ Thiên chúa ngoan đạo, Kim gia nhập ủy ban đón tiếp quân đội giải phóng Mỹ. Nói giỏi tiếng Anh, đẹp, ngoan, Kim hội đủ điều kiện để đàn ông say mê. Thoạt tiên, nàng giữ chân điện thoại viên tại tổng hành doanh quân đội Mỹ
 
 
 
 
49                                                                                                                                                           TRƯỜNG DẠY ÁI TÌNH
 
đặt trong khách sạn sang trọng Man tô. Nàng chài một đại tá và đoạt một số tài liệu gởi về Bắc Cao. Nhờ Kim, phe Cộng đã biết Mỹ không có ý định vượt qua sông Yalu để tấn công Hồng quân Trung Hoa, mà chỉ ngừng ở vĩ tuyến 38, ranh giới Bắc và Nam Cao.
        Dần dà, Kim lọt vào cơ quan phản gián Mỹ, nhờ sự gởi gắm của viên đại tá hào hoa mã thượng. Nàng không ngờ phản gián Nam Cao theo nàng từ lâu, song chờ cơ hội thuận tiện mới ra tay. Nàng bị bắt, người ta tìm thấy trong nhà nàng một ổ do thám cộng sản, gồm đầy đủ tài liệu tuyên truyền, dụng cụ truyền tin và chụp hình.
        Tử tội bị đưa ra từ trại giam Hán Thành ra trường bay Kim Pô la để thọ hình. Có lẽ Kim Suim là «nữ cử nhân ái tình» đầu tiên của Cộng sản bị hành quyết tại Đông nam á sau đại chiến thứ hai. 
 
        11- Cờ rít tin, hồng nhan bạc mạng
 
        Trung tá Pintô (1), kỳ tài phản gián của Anh quốc, cho rằng phái yếu không thích hợp với những éo le của ngành gián điệp. Trọng đại chiến thứ hai, Pintô huấn luyện điệp viên để thả dù xuống châu Âu bị Đức quốc xã chiếm đóng. Nhiều phụ nữ Hòa Lan trốn khỏi nước đã tới gặp Pintô, xin được nhảy dù xuống quê hương, lãnh nhận những công tác nguy hiểm.
        Pintô hỏi : 
        -      Các cô có thể hy sinh đến mức nào?
        -      Tôi sẵn sàng chết cho tổ quốc. 
        Hy sinh tính mạng là điều cao quí, ít ai làm được, song trong nghề gián điệp chỉ khi nào không tránh khỏi, người ta mới chọn cái Chết. Chọn cái Chết trong lúc còn có thể sống được để tiếp tục phụng sự đất nước là bất trí.
 
-----------------------------------
(1)    Oreste Pinto.
 
 
 
50                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Vì vậy Pintô lắc đầu : 
        -      Chết, các cô sẽ chẳng làm được gì ích lợi. Vậy các cô có bằng lòng sống và mang thân thể ra hiến dâng cho công tác được không?
        Nhiều cô gái đã từ chối. Trên thực tế, phụ nữ sẵn sàng hy sinh tính mạng, nhưng lại không chịu hy sinh trinh tiết và tăm tiếng khi cần, để lấy tin tức tình báo. Tình trạng này do nền giáo dục khai phóng và tự do cá nhân mà ra. Phía sau bức màn sắt, phụ nữ phải làm đĩ cho mật vụ, vì tự do cá nhân bị bóp nghẹt, vì chương trình giáo dục bị thu hẹp vào sự trung thành mù quáng cho đảng Cộng sản.
        Theo trung tá Pintô, phụ nữ có 3 điều bất lợi. Thứ nhứt : thiếu kiến thức chuyên môn. Thứ nhì : đàn bà thường bị lưu ý, nhất là đàn bà đẹp. Đàn ông cải trang làm thợ cày có thể ngồi hàng giờ bên hàng súng cao xạ không sợ địch nghi ngờ, song một tuyệt thế giai nhân khó thể lại gần trại lính. Đàn ông dễ trà trộn vào quán rượu lấy tin, giả vờ là bợm nhậu. Đàn bà chỉ có thể giả vờ làm đĩ. Thứ ba: và là yếu tố quan trọng nhất, đàn bà khó thể chế ngự được tình cảm. Làm gián điệp không được quyền có trái tim mềm yếu, nhưng trời đã phú cho đàn bà một trái tim luôn luôn mềm yếu.
        Theo Pintô, phụ nữ chỉ có vài trò nhất định: ấy là dùng sắc đẹp đổ quán xiêu đình để lung lạc đối phương, tìm cách hăm doạ và săng ta. Nhiều người cho Pintô đúng. Lại có nhiều người cho Pintô nói sai. Bằng chứng là trong thế chiến vừa qua, nước Anh đã có Cờríttin (2). Chưa phụ nữ nào lập được thành tích nhiều bằng Cờríttin. Chỉ tiếc một điều, hồng nhan bạc mạng, đúng với câu thơ xưa: 
                                                Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
                                                Bất hứa nhân gian kiếu bạch đầu.
 
------------------------
(2) Christine Grenville.
 
 
 
 
51                                                                                                                             CỜ RÍT TIN, HỒNG NHAN BẠC MẠNG
 
        Đêm 15-6-1952, một thiếu phụ học thức, khả ái, nhũn nhặn, bị đâm một nhát dao ngập lút cán tại khách sạn Senbơn (3), trung tâm thành phố Luân Đôn. Mơn-đaoni (4), tên sát nhân, khai với cảnh sát rằng y yêu nàng mà không được yêu lại nên đã giết nàng.
        Giết người vì tình là chuyện xưa như trái đất, tuy nhiên lần này dư luận lại bàng hoàng. Chắc chắn Cờríttin chết không phải vì tình, mà vì một lý do nào khác, có thể tìm thấy trong cuộc đời siêu đẳng của nàng. Nạn nhân là nữ bá tước Ba Lan Sìcabếch (5), điệp viên cừ khôi của thủ tướng Sớtsin (6), ngôi sao sáng trên vòm trời điệp báo thế giới.
        Một năm trước, nàng làm chiêu đãi viên cho một công ty hàng hải. Nàng xuất ngoại luôn, hành tung vô cùng kín đáo. Người ta ngạc nhiên tại sao một thiếu phụ uyên bác như nàng lại chọn những nghề tầm thường. Khám phòng nàng, cảnh sát giựt mình khi thấy rất nhiều huy chương Anh, Pháp và Ba Lan. Lúc ấy, quá khứ của nàng mới được tiết lộ.
        Nói thạo 10 ngoại ngữ, nàng là cựu nhân viên gián điệp Anh quốc. Hồi lên 13 tuổi, một mình một súng nàng đã giết chết một đàn sói dự định ăn thịt nàng trong rừng. Lớn lên nàng được bầu làm hoa hậu Ba Lan và thành hôn với bá tước Sìcabếch, một nhà báo hữu danh.
        Trong thế chiến, nàng nhiều lần nhảy dù xuống vùng địch. Năm 1944, trời bão lớn, cuồng phong thổi nàng bạt khỏi địa điểm nhảy dù 6 cây số, rơi đúng vào một đơn vị Đức. Binh sĩ quốc xã tưởng nàng là bạn đồng đội, nên không phòng bị. Nàng chờ toán đầu tới gần mới vùng dậy, ria tiểu liên giết chết nửa tiểu đội. Địch huy động ba sư đoàn để tiêu diệt kháng chiến đóng trên một ngọn đồi. Phi cơ nhẹ thả
 
------------------------
(3)    Shelbourne. (4) Denis George Muldowney. (5) Krystina Skarbeck. (6) Winston Churchill.
 
 
 
52                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
quân xuống, nàng tung lựu đạn hạ sát 10 lính Đức vừa hạ cánh. Nàng xử dụng đại liên bá phát bá trúng như thiên thần. Lần khác, nàng tả xung, hữu đột, phá vòng vây, đi bộ một trăm cây số mới về được khu an toàn. 
        Quân Đức nghe nói tới nàng là sợ toát mồ hôi. Nhà chức trách quốc xã treo giải thưởng cho ai giết được nàng. Nàng suýt bị bắt nhiều phen. Nàng bị đuổi gắt, phải trốn trong bụi rậm. Lính tuần tiểu Đức xua bẹt-giê đi tìm. Một con chó săn khám phá ra chỗ nàng ẩn náu. Mọi người nín hơi chờ chết. Nàng thản nhiên chìa bàn tay ra, con chó ngửi tay nàng và vẫy đuôi. Nàng quàng tay vào cổ chó một cách thân mật. Lính Đức huýt còi song con bẹt-giê không chịu rời nàng. Nó sống bên nàng đến khi trúng miểng đại bác mà chết. 
        Ba sĩ quan điệp báo đồng minh ngồi chờ rạng đông trong khám tử hình. Vì rạng đông là giờ hành quyết. Đột nhiên, họ nghe giọng hát quen thuộc, Cờ rít tin. Nửa đêm nàng đơn thương độc mã vào nhà lao đòi phóng thích ba tử tội. Nàng dọa tên quản đốc là nếu ba sĩ quan bị bắn thì toàn thể người Đức trong trại giam sẽ bị đồng mình treo cổ. 
        Lúc ấy, quân Mỹ đang tiến như vũ bão. Sau 11 giờ thương thuyết, nàng thành công.
        Một lần nữa, nàng vượt 150 cây số biên giới bằng xe trượt tuyết rồi cải trang làm thôn nữ vào Vạc sô vi, thủ đô Ba lan bị Đức chiếm đóng. Trong 19 tháng, nàng bặt tin. Thì ra nàng bí mật tổ chức kháng chiến quân. Năm 1945, hoạt động tại Ý, nàng bị Đức chặn bắt. Lính Đức ra lệnh cho nàng đầu hàng. Nàng đưa hai tay lên song trong mỗi tay có một trái lựu đạn đã mở kíp. Nàng cho biết sẽ tung lựu đạn và tất cả cùng chết. Quân Đức đang hoang mang, nàng đi lùi và trốn thoát.
        Hồng nhan bạc mạng, nàng đã thành người thiên cố. Ai giết nàng, Cộng sản hay tàn tích quốc xã? Chưa ai có thể trả lời. Hung thủ bị xử giảo tháng 9-1952.
 
 
 
 
53                                                                                                                                           VÌ YÊU NÊN PHẢN QUỐC
 
        12-   Vì yêu nên phản quốc
 
        Tình yêu của Cờ-rít-tin là tình yêu tổ quốc. Cốplơn (1) cũng có tình yêu, song tình yêu của cô gái thèm khát, sợ sống cô đơn, lo cảnh hoa tàn nhị rữa. 
        Kể ra, dư luận nên tha thứ cho nàng, vì nàng đã 28 tuổi, cái tuổi xế chiều của con gái chưa chồng, nàng lại không có sắc đẹp nhạn sa cá lặn, và nhứt là ý trung nhân, Gubítsép (2), lại tốt nghiệp trường dạy ái tình của Nga sô. 
        Nàng là viên chức gương mẫu của Bộ Tư Pháp Mỹ, phụ trách một phần việc tin cẩn, liên quan tới hoạt động của Cộng sản tại Hoa kỳ. Nhờ mật báo, cảnh sát liên bang khám phá ra nàng đi lại khắng khít với Gubítsép, nhân viên phái đoàn Sô viết tại Liên Hiệp quốc. Sau nhiều cuộc theo dõi, cảnh sát chộp bắt tại Nữu Ước giữa lúc nàng trao tài liệu cho Gubítsép. Khám trong sắc, người ta còn thấy 38 tài liệu quốc phòng.
        Ra tòa, Gubítsép được trả tự do và xuống tàu về nước. Đúng ra, Gubítsép bị 15 năm tù, nhưng hồi ấy là năm 1950, tình hình Đông Tây chưa căng thẳng, chính phủ Mỹ đã can thiệp với tòa án cho Gubítsép hồi hương. Cốplơn cũng bị 15 năm tù. Nàng không ở tù vì 2 năm sau, án nàng được hủy bỏ. Tòa Thượng Thẩm miễn nghị vì công an bắt nàng không có trát tòa, công an lại nghe trộm điện thoại của nàng. Người ta liên tưởng tới quê hương của Gubítsép, bắt người có bao giờ cần trát, nghe trộm điện thoại có bao giờ cần xin phép chủ nhân. Được tự do, không chịu nổi cảnh chăn đơn, gối chiếc, nàng kết hôn với Sôcôlốp (3), luật sư đã biện hộ cho nàng. Thời gian qua, nàng đã có bốn con. 
        Dư luận còn nhớ tới Cốplơn vì nàng là công dân Mỹ thứ nhứt sau thế chiến bị án tòa về tội do
 
--------------------------
(1)    Judith Coplon. (2) Gubishev. (3) Socolov.
 
 
 
54                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
thám cho ngoại bang. Nàng khai trước tòa vì trót nặng tình với Gubítsép nên sa vòng tội lỗi. Nhiều người không tin, và cho mối tình của nàng chỉ là tấn trò gián điệp. Nàng có tư tưởng khuynh tả nên Nga sô kết nạp nàng vào tổ chức do thám. Nếu quả nàng say mê Gubítsép tại sao cũng trong lúc ấy nàng lại hò hẹn với người thứ hai. 
        Luật sư Sapirô (4). Trong khi săn đuổi nàng, công an tìm thấy nàng ngủ chung tại khách sạn trong hai đêm liền với Sapirô. Nàng cãi là ở cùng phòng, nàng vẫn mặc quần áo. Trời ơi, ai tin được không? May ra thần thánh mới giữ được nguyên vẹn khi ở chung phòng, chung giường với đàn ông, phương chi nàng là con thiêu thân tình ái. Vả lại, công an đã ghi âm cuộc trò chuyện giữa nàng và Sapirô. Qua cuộn băng nhựa, người ta còn nghe cả tiếng chùn chụt, tiếng cười khúc khít, tiếng thở hổn hển và tiếng giường nệm rung rung.
        Tuy nhiên, sự thật oái oăm là thế. Sự thật nàng yêu Gubítsép dẫu biết tình nhân có vợ, có con, dẫu đôi khi nàng phải tìm khuây bên cạnh Sapirô. Thoạt tiên, Gubítsép chỉ đóng kịch ái tình. Lửa gần rơm lâu ngày bén ngọn, cả Cốplơn lẫn Gubítsép đều không cưỡng được sự khêu gợi của ái tình. Bằng chứng là sau ngày về Mạc tư Khoa, Gubítsép bị thanh trừng và bị vợ ly dị. Cốplơn yêu Gubítsép mà vẫn có thể yêu cả Sapirô. Tâm trạng kỳ quặc này chỉ có đàn bà mới hiểu nổi. Gubítsép đã có một bí quyết. Bí quyết ấy, quan toà, luật sư biện hộ và công luận, đều không xét tới vì Gubítsép chỉ áp dụng trong phòng the. Hiểu được nàng, may ra chỉ có Tây thái hậu hồi sinh, hoặc là góa phụ Trần lệ Xuân.
 
        13-   Thà chết, em không thể phụ chàng
 
        Trong đời sống hàng ngày, có hàng trăm giai
 
-----------------------------
(4)    Shapiro.
 
 
 
 
55                                                                                                                           THÀ CHẾT, EM KHÔNG THỂ PHỤ CHÀNG
 
thoại về sự thủy chung của đàn bà với đàn ông. Song trong lịch sử gián điệp, Sibin (1) có lẽ là người đàn bà thủy chung nhứt, tuy bị tình nhân phụ rẫy.
        Kờrame (2), tay tổ gián điệp Đức, đã gài lại trên đường thất trận của quân đội quốc xã trong thế chiến thứ hai, một đạo binh thứ năm vô cùng lợi hại, gồm nhiều nhân viên Đức, Pháp, Bỉ và Hòa Lan. Đạo quân ngầm này đi lại bằng thông hành giả, với nhiệm vụ phá hoại phía sau phòng tuyến đồng minh. Sibin chỉ huy đạo quân ngầm này.
        Hồi đó là tháng 3-1945, đại chiến sắp chấm dứt với sự xụp đổ của chế độ Hítle, quân Mỹ tiến như chẻ tre vào nội địa Đức, và sắp vượt sông Ranh (3). Một đêm kia, tiền quân của Mỹ bắt được một thiếu phụ trạc đôi mươi. Nàng khai là Buconvin (4) bị Đức lưu đày, đang kiếm cách vượt tới phòng tuyến Mỹ để ẩn náu.
        Nàng bị nghi ngờ vì khám trong người có một cây đèn bấm và một khẩu súng lúc nhỏ. Sau cuộc điều tra khôn ngoan, phản gián phăng ra nàng là cộng sự viên đắc lực, và là ý trung nhân của Kờrame. Phản gián yêu cầu nàng khai thật để gỡ tội, song nàng không chịu nói. Người ta bèn dùng thức ăn ngon, quần áo đẹp, thuốc lá thom để mua chuộc nàng. Nàng vẫn ngậm miệng. 
        Sibin là đàn bà, mà từ cổ chí kim đàn bà thường tức giận khi ai dè bỉu người yêu, nên đã vô tình sa vào cạm bẫy của phản gián Mỹ. Nhân viên đặc vụ Rôsen (5) hỏi nàng, giọng khinh miệt:
        -      Hừ, tôi đã biết mà, còn cô cô chẳng biết ất giáp gì hết. Chẳng qua cô chỉ là tay sai hạng bét của Kờrame, một tên lưu manh. Kờrame coi cô như đầy tớ, như đồ chó chết. 
        Lông mày dựng ngược, nàng đập tay xuống bàn:
 
------------------------
(1)    Sybille Delcourt. (2) Werner Kramer. (3) Rhin.
(4)    Héloise Buconville. (5) Joseph Rosen.
 
 
 
56                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        -      Tôi cấm ông không được nói thế. Ông lầm to rồi. Ông không thể hiểu Kờrame bằng... tôi. Vì ông biết không, Kờrame... yêu... tôi. 
        Thế là xong. Rôsen cười tủm tỉm:
        -      À, ra vậy. Cô không phải là Buconvin mà là Sibin, tình nhân của Kờrame. 
        Kờrame bắt tình với nàng trong một tiệm cà phê. Thoạt đầu, y dùng nàng làm thông dịch viên. Rồi từ thông dịch viên tới tình yêu và gián điệp.
        Trước chứng cớ rành rành, nàng đánh thú nhận. Nàng dẫn phản gián đồng minh tới bắt 150 nhân viên nguy hiểm của Kờrame còn lẩn quất trong vùng. Nhưng hễ nhắc tới Kờrame là nàng lắc đầu không biết. Chuyên viên đồng minh biết nàng còn nặng tình với Kờrame nên kéo dài thời gian cho y có thể cao bay xa chạy.
        Phản gián bèn đe dọa: 
        -      Chúng tôi không thích ỡm ờ nữa. Cô có chịu nói thật hay là muốn ra tòa lãnh án tử hình về tội do thám?
        Nàng đành nghe lời. Nàng viết thư, nhờ người đưa tới cho Kờrame đang trốn ở một khu rừng vắng vẻ. Người ta hỏi nàng: 
        -      Tại sao cô không chịu khai từ trước?
        Nàng thở dài, hai mắt đỏ hoe: 
        -      Vào địa vị ông, ông yêu ai, ông có bằng lòng phản bội người yêu không?
        Tuy nàng chịu viết thư, phản gián đồng mình vẫn biết nàng chưa hoàn toàn thành thật. Kết quả là Kờrame trốn thoát. Một hôm, nàng cùng đi với nhân viên Mỹ tới một con đường hẻm trong đó có căn nhà của Kờrame. Vào nhà, thấy một áo dài đỏ và đôi giày cũ, nàng giận tím mặt: 
        -      Trời ơi, không ngờ hắn còn chung đụng với
 
 
 
57                                                                                                                           THÀ CHẾT, EM KHÔNG THỂ PHỤ CHÀNG
 
con đĩ này nữa. Thế mà mình cứ giấu diếm mãi cho hắn. 
        Nàng bắt đầu ghen. Nàng than thở, giọng ướt nhèm nước mắt: 
        -      Hôm nọ, tôi viết thư là để báo động cho hắn trốn. Ngờ đâu... 
        Quân đội đồng mình tiến sâu vào nội địa Đức. Phản gian bắt được một người tình nghi là Kờrame. Sibin được giải từ nhà giam lên. Phản gián đặt điều kiện nàng chịu nhận mặt Kờrame thì được trả tự do. 
        Nàng bằng lòng. Nàng bước vào một căn phòng, trong đó có hai người, dường như là tình nhân hoặc vợ chồng. Nhân viên đồng minh hỏi: 
        -      Người đàn ông này là ai? Kờrame phải không?
        Nàng lại gần, nhìn kỹ người đàn ông từ đầu xuống chân. Phải, y là Kờrame. Nàng thấy đau buốt nơi tim. Nàng nhớ lại những phút ân ái giữa hai người. Y bỏ nàng, đi theo người đàn bà khác, còn nàng, nàng không thể bỏ y. Nàng chỉ cần gật đầu là được phóng thích. Song nàng yêu tự do của Kờrame hơn tự do của chính nàng. Chắc chắn nàng sẽ phải ra tòa. Nàng đành chết, chứ không bao giờ tố giác người yêu.
        Nàng bèn lắc đầu: 
        -      Y là ai tôi không biết. Tôi mới gặp y lần đầu. 
        Trong vòng 24 tiếng đồng hồ, 6 nhân chứng cả quyết nhận diện người đàn ông lạ là Kờrame. Sự kiện này có nghĩa là Sibin không chịu tố giác nhân tình, dầu y ở chung với một phụ nữ khác. Quá yêu Kờrame, nàng đã hy sinh cuộc sống của nàng.
        Bởi vậy, nàng phải ra trước vành móng ngựa. Tòa án Bỉ kết tội tử hình. Sau chiến tranh, nàng làm đơn xin ân xá. Nhờ phản gián Mỹ can thiệp, nàng được phóng thích. Và nàng có hy vọng làm lại cuộc đời. Nghe truyện Sibin liều thác với tình, nhiều người rớt nước mắt.
 
 
 
thiếu trang 58 và 59...




Đăng nhập để trả lời
0
60                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
một mình chàng. Nàng yêu chồng trên hết. Nàng bèn quyết định ở lại. 
        Đuxia xin được gặp lại đại diện chính phủ Úc, tuy bọn vệ sĩ phản đối kịch liệt. Trong văn phòng, nàng ký đơn xin đuoc tá túc chính trị. Và nàng rời phi trường, trở về Sít-ni với chồng. 
        Tình yêu vợ chồng đã thắng chủ nghĩa Cộng sản, Nga sô lập tức đoạn giao với Úc châu. Hồi ấy là năm 1954.
        Nàng không về là đúng, vì nếu về nàng sẽ mất mạng như Bátdốp (5). Năm 1948, Bátdốp trèo lên phi cơ từ căn cứ Sô viết Kôlômaya, bay sang vùng Mỹ kiểm soát ở Áo quốc, cùng bạn là Pirôgốp (6). Sau đó cả hai được qua Mỹ tị nạn. 
        Khi cả hai tới Mỹ, gián điệp Sô viết đặt dưới sự chỉ huy của đại sứ Panniútkin (7), tiếp xúc với Bátdốp, hứa hẹn nếu y về một mình thì sẽ bị phạt hai năm tù, nếu kéo luôn được Pirôgốp cùng về thì tội trạng được xoá bỏ. Bátdốp còn vợ và đứa con gái 4 tuổi ở quê nhà. Bùi tai y nghe theo. Y thuyết phục Pirôgốp, nhưng bạn y, sáng suốt hơn, cương quyết từ chối.
        Bátdốp về Mặc tư khoa một mình. Y bị giam 8 tháng. Sau khi khai thác Bátdốp múi chanh đã vắt kiệt nước, mật vụ bèn đưa y ra pháp trường. Tội nghiệp, từ khi về cho đến khi chết, y không hề được gặp lại vợ con.
        Người ta thường cho đàn bà là một thế giới đầy bí mật. Thật vậy, nếu có một Sibin thủy chung đến chết với tình mặc dầu bị tình phụ bạc, một Đuxia bỏ cha mẹ, bỏ Đảng, để ở lại với chồng, thì cũng có nhiều phụ nữ khác đã xô chồng vào cõi chết trong một phút nóng giận, hờn ghen vô lý.
        Năm 1960, Et ne (8) bị 3 năm tù vì vợ. Là
 
-----------------------------
(5) Anatole Barzov. (6) Peter Pirogov. (7) Alexander Panyushkin. (8) Harst Eitner.
 
 
 
 
61                                                                                                                                                           CHỒNG EM TRÊN HẾT
 
nhân viên tình báo Anh quốc, y lại lãnh lương của mặt vụ Sô viết. 
        Bốn năm sau, y bị bắt. Nguyên nhân rất giản dị : vợ y tố giác y với cơ quan an ninh tại Đức. Y thường bỏ quên vợ ở nhà một mình, để vui thú với những cô bạn gái trẻ đẹp, nhờ có nhiều tiền, tiền làm gián điệp đôi cho cộng sản.
        Trong phút ghen tuông, vợ Et ne đã tìm ra cách báo thù êm thấm mà hữu hiệu. Hỡi những ai làm gián điệp đôi! Hãy trông gương Et ne mà chiều vợ. 
        Dôi xờ (9) rủi hơn Et ne nhiều, y đã bị tử hình. Chung qui vì cãi nhau với vợ. Trong thế chiến thứ 2, Dôi xờ, công dân Anh có tư tưởng phát xít, đã ủng hộ Hítle chống tổ quốc. Xướng ngôn viên tại đài bá âm quốc xã, y đã tung tin tức thất thiệt, nhằm làm suy giảm tiềm lực kháng chiến của Anh quốc. 
        Năm 1939, y qua Đức với vợ lẽ, làm nhân viên trong bộ Tuyên Truyền của Gớpben (10). Hai vợ chồng trốn khỏi Hămbua trước khi thiết giáp Anh tới chiếm (11). Họ lén lút tới sát biên giới Đan mạch để tìm đường đào tẩu. Đang lang thang trong rừng, Dôi xờ đụng phải một đơn vị của trung đoàn thám báo Anh. Nghe y nói, giọng nói mà người Anh nào cũng quen thuộc, binh sĩ thám báo nhận ra liền. Y cho tay vào túi lấy thông hành, song một sĩ quan tưởng y rút súng nên nổ cò. Y bị trúng đạn vào bắp vế.
        Vợ y bị bắt một lúc sau. Tay nàng đeo bốn chiếc nhẫn, người ta phải tháo cái lớn nhứt ra, sợ bên trong có thuốc độc. Cái vòng tay cũng bị tịch thâu. Một nữ nhân viên lục soát nàng tỉ mỉ, đề phòng nàng tự vận. Sau đó, hai vợ chồng bị giải về Anh quốc. 
        Ra tòa, Dôi xờ bị lên án tử hình. Y đền tội ngày 3-1-1946. Y bị bắt, chẳng phải vì ai tố giác. Chẳng qua trong một phút thiếu bình tĩnh. Y cãi lộn với vợ.
 
---------------------------
(9) William Joyce biet danh la Lord Haw Haw. (10) Goebbels. (11) Hambourg.
 
 
 
 
62                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Cho tinh thần lắng xuống, y ra khỏi căn nhà ở Cúp-phe-mun (12), nơi hai vợ chồng lẩn trốn, và đi lang thang trong rừng. 
        Trước khi sang Đức phục vụ Hítle, Dôixờ đã do thám cho Đức quốc xã. Một phút bất hòa với vợ đã đưa ý lên đoạn đầu đại. Đáng thương hay đáng ghét? 
 
        15-   Con mèo cái phản quốc
 
        Đọc sách gián điệp, không ai không biết truyện Con mèo Cái. Misơlin (1), một phụ nữ Pháp 40 tuổi, biệt danh con mèo cái (2) đã bị toà án xử tử ngày 8-1-1948 về tội phản quốc. Sau đó nàng được ân xá xuống khổ sai chung thân để rồi được trả tự do vào mùa hè 1954 sau 12 năm giam giữ. 
        Nhiều cuốn sách đã viết về con mèo cái, song đến nay người ta vẫn chưa hiểu tại sao một nhân viên tình báo có công trong kháng chiến như nàng lại có thể bán đứng kháng chiến cho phản gián Đức, để rồi quay lại với đồng minh. Nguyên nhân sâu xa có lẽ vì tình, vì ghen tuông, và cũng vì lòng ích kỷ, lòng tham quá trớn, muốn thành minh tinh trên vòm trời gián điệp đôi. 
        Năm 1939, nàng sống với chồng tại An dê ri và phải dạy học ở trường làng để kiếm thêm tiền. Chồng nàng tử trận, nàng về Pháp, lúc ấy đang bị Đức quốc xã đè bẹp. 
        Tinh thần yêu nước vùng dậy, Misơlin hoàn toàn thay đổi cuộc đời sau khi gặp Dét niu ki (3), sĩ quan Ba Lan kháng chiến, bí danh At-măn (4), nàng trở thành tình báo viên đắc lực. Coi thường cái chết, nàng giúp tình nhân gây dựng một màng lưới lấy tin rộng lớn và hữu hiệu mang tên là Liên đồng minh (5).
 
-----------------------------------
(12) Kuffermuhle. (1) Micheline Carré tức Mathilde Bélard.  (2) Người Pháp gọi nàng là La Chatte, con mèo cái vì mỗi khi tới chỗ hẹn, nàng thường lấy móng tay cào vào cửa kiếng như mèo. (3) Roman Czerniewski. (4) Armand. (5) Tên Pháp là Interallié.
 
 
 
 
63                                                                                                                                           CON MÈO CÁI PHẢN QUỐC
 
        Sự đời lắt léo, Misơlin giới thiệu At-măn với một thiếu phụ khả ái, tên là Rơ nê (6) để đưa vào tổ chức. Rốt cuộc At-măn nặng lòng vì Rơnê, bí danh Vi ô lét (7). Hai người đàn bà ghen nhau kịch liệt. Vì một hớ hênh kỹ thuật, tổ chức bị bại lộ, Rơnê bị bắt và khai ra Misơlin. Đêm bị bắt, Misơlin gặp trung sĩ Bờlichơ (8), nhân viên phản gián quốc xã, tới thăm nàng trong sà lim. Y dùng lời ngọt ngào dụ dỗ nàng rồi đưa nàng về phòng ngủ. Trong một đêm ngắn ngủi, nàng trở thành tình nhân của Bờlichơ. Sau này ra tòa, quan toà hỏi nàng đêm ấy Bờlichơ làm gì mà nàng quên cả tổ quốc, thì nàng đứng lặng.
        Nàng vâng lời Bờlichơ, nàng giả vờ trung thành với kháng chiến, tiếp tục liên lạc với Luân Đôn. Nàng gặp Luca (9), nhân viên tình báo cao cấp, vừa nhảy dù xuống Pháp. Nhờ tài khéo léo, Luca khám phá ra Misơlin đi hàng hai. Luca bắt nàng đánh lừa Bờlichơ. Không hiểu sao nàng nghe lời Luca để trở về với chánh nghĩa. Trong khi ấy, Bờlichơ đinh ninh Luca bị vào tròng, con mèo cái còn trung thành với y, nên bố trí cho cả hai qua Anh quốc. Một việc hí hữu xảy ra : Luca và con mèo cái bí mật xuống tàu qua Luân Đôn với sự giúp đỡ tận tình của phản gián Đức.
         Bờlichơ tưởng phỉnh phờ được tình báo Anh, ai ngờ Luca cao tay ấn hơn, đã kịp thời báo động. Vì thế, sau khi đến Luân Đôn, con mèo cái bị theo dõi và bị bắt. Tình báo Anh đội lốt con mèo cái đã chuyển về cho Bờlichơ những tin tức sai lầm. 
        Luca nhảy dù xuống Pháp lần nữa, để rồi sa lưới quốc xã, và sự thật đuoc tiết lộ.
 
---------------------------
(6) Renée Berni. (7) Violette. (8) Hugo Bletcher. (9) Lucas tức Pierre de Vomecourt.
 
 
 
 
64                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Nước Pháp được giải phóng, con mèo cái đa sự bị giải từ Anh quốc về Ba Lê đền tội. Nhiều người bị nàng tố cáo với Dét ta pô đã thiệt mạng thảm thương. Song một số người khác đã từ trại giam trở về. Trước vành móng ngựa, nàng bào chữa là vô tội. Nhưng tòa án và công luận không nghe tiếng nói của nàng. 
        Con mèo cái và trung sĩ Bờlichơ đang còn sống. Cả hai đều viết hồi ký. Song cả hai đều viết rất ít về cái đêm ân ái lạ lùng đã xô anh hùng kháng chiến Misơlin vào tay quốc xã.
 
        16-   Sắc bất ba đào dị nịch nhân
 
        Sắc đẹp đàn bà không gây ra sóng lớn như biển cả mà vẫn làm bao người chết đuối, Hoàng đế Nã phá luân đã từng bắt Âu châu quì gối trước đạo quân bách chiến bách thắng, nhưng cũng từng quì gối trước mỹ nhân. Trong chúc thư, hoàng đế đã giành tình yêu trọn vẹn cho Mari (1), người vợ đã cắm sừng lên đầu chồng khi chồng thất trận bị đày ra đảo En-bờ (2). Thật vậy, hoàng hậu Mari đã ngoại tình với một viên tướng Áo tên là Nip-pe (3) và hạ sinh một đứa con hoang.
        Ra đảo En-bờ, Nã phá luân còn nghĩ đến việc ân ái với 3 người đàn bà khác, quên cả cảnh ngai vàng xụp đổ. Lần sau, đày tại Xanh Hêlen (4) đau gan nặng, Nã phá luân lại yêu một thiếu nữ 15 tuổi, và nhiều thiếu nữ khác nữa. 
                Oai hùng như Nã phá luân còn lụy vì tình, thì cũng không trách được Risa Sót (5), bực thầy gián điệp đã cứu Sít ta lin, điệp viên nổi tiếng nhất trong thế chiến thứ hai, một trong những điệp viên cừ khôi nhứt trên hoàn vũ. 
        Sót thay đàn bà như thay áo lót mình, song tàn cuộc lại chết vì đàn bà.
 
----------------------------
(1)    Marie Louise. (2) Elbe. (3) Adam Adalbert von Neipperg. (4) Sainte-Hélène, noi Nã phá luân bi luu day va tu tran. (5) Richard Sorge.
 
 
 
65                                                                                                                           SẮC BẤT BA ĐÀO DỊ NỊCH NHÂN
 
        Người Đức, bác sĩ Sót hoạt động tại Đông kinh cho do thám Sô viết. Tổ chức của Sót có thể được coi là rất kín đáo. Tuy nhiên, kín đáo thế nào chăng nữa, cũng vẫn tan rã vì đàn bà. Risu (6), thủ lãnh cộng đảng Nhựt và là mật báo viên của Sót, yêu một thiếu nữ làm nghề thợ thêu. Tin người yêu, Risu thổ lộ là y cầm đầu một tổ chức chống lại Thiên Hoàng. Không ngờ gia đình nàng thờ vua như thần, nên nàng đã tổ giác Risu với cảnh sát. Từ Risu, phản gián Nhựt phăng lần ra bác sĩ Sót.
        Nói cho đúng, phản gián đã bắt được nhiều mật điện do Sốt đánh đi. Song vì thiếu phương tiện, họ đành bó tay. Đại tá phản gián Ozaki nghi ngờ Sót, nhưng không có bằng chứng, bèn dùng kế mỹ nhân. Vũ nữ Kiêu-mi (7), một thiếu phụ có bốn giòng máu Đức, Mỹ, Nga, Nhựt trong người, và sắc đẹp mê hồn, được đại tá Ozaki dâng cho Sót.
        Lẽ ra một người giàu kinh nghiệm như Sót phải biết nàng là Ngu cơ. Song nhan sắc khuynh thành của nàng đã làm mờ mắt Hạng Võ. Biết Sót là tay kiêu ngạo, nổi tiếng «bẻ gãy bao cành phù dung», chưa bao giờ thất bại, vũ nữ Kiêu-mi bèn giả bộ hờ hững. Gần chán, xa thèm, nàng càng lãnh đạm Sót bao nhiêu, Sót càng mê say nàng bấy nhiêu.
        Đêm 3-10-1941 giữa lúc Âu châu chìm trong khói súng, Nhựt sửa soạn tấn công Mỹ, bác sĩ Sót ngồi trong quán rượu, đắm đuối nhìn tình nhân nhảy múa một cách khêu gợi trên sân khấu. Y tỏ vẻ lo ngại vì nhận thấy phản gián Tốc cô ca (8) bí mật theo dõi. Bồi bàn mang lại một mẩu giấy nhỏ. Đó là tiếng kêu báo động của một cộng sự viên, xác nhận rằng Sót bị công an ngờ vực. 
        Kiêu-mi thoáng thấy Sót đọc lá thư. Nàng gọi điện thoại, phúc trình với đại tá Ozaki, vòng vây dần dần xiết lại. Đêm 14-10, Sót lại tới quán Phudi (9).
 
----------------------
(6) Ito Risu. (7) Kiyomi tuc Kologayashi Donovan. (8) Tokkoka. (9) Fuji.
 
 
 
 
66                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Y lại nhận được một mẩu giấy khác. Nàng vội vàng ra điện thoại. Sót lái xe đưa người yêu ra ngôi nhà mát dọc bờ biển, ở ngoại ô Đông kinh.
        Dọc đường, Sót dừng xe, vuốt ve tình nhân. Nàng rợn tóc gáy, tưởng Sót đã khám phá ra nàng. Nhưng không, men tình chếnh choáng làm Sót không nghi ngờ gì hết. Sót móc túi tìm thuốc lá. Quẹt máy bị hư, y bực bội ném điếu thuốc lẫn mảnh giấy được xé vụn ra ngoài cửa xe. Kiêu-Mi yêu cầu Sót chờ nàng một lát để nàng gọi giây nói báo cho người nhà biết đến mai nàng mới về. Ngồi trong xe, Sót tỏ vẻ hân hoan, vì nàng đã chịu ngủ đêm với y. Sót không thể ngờ nàng điện thoại cho đại tá Ozaki.
        Tại ngôi nhà mát, Sót dặn tình nhân sửa soạn đồ ăn, còn y ra ngoài bãi biển, thăm con thuyền đánh cá riêng. Kờlôxen (10), phụ trách điện đài, đợi Sót dưới thuyền, tổng hành doanh lưu động của tổ chức gián điệp, Sót trao cho Kờlôxen bức điện:
        «Hàng không mẫu hạm Nhựt sẽ tấn công Mỹ tại Trân châu cảng, có lẽ vào rạng đông ngày 6-11 theo nguồn tin đáng tin cậy.»
        Sau đó, Sót nắm chặt bàn tay bạn : 
        -      Thế là xong, anh hãy rời Nhựt ngay.
        Thế là xong. Sót quay lại nhà mát, thản nhiên ăn uống với tình nhân. Trọn đêm, y ân ái với nàng. Gần sáng mệt nhoài, y nằm lăn ra ngủ. Dường như linh tính báo có chuyện chẳng lành, Sót vùng dậy. 8 giờ sáng, y pha rượu mạnh uống. Vừa bưng lên môi, y nghe tiếng đập cửa. 
        Sót khựng người trong một giây, song y trấn tĩnh được liền và ra mở cửa. Khách là đại tá phản gián Nhựt Ozaki. Ozaki chìa cho Sót xem những mẩu giấy vụn. Đó là tờ giấy mà Sót xé đêm trước trong khi đi xe với mỹ nhân. Trên giấy, Sót đã ghi bức
--------------------------------
(10) Max Klausen.
 
 
 
 
67                                                                                                                                           SẮC BẤT BA ĐÀO DỊ NỊCH NHÂN
 
điện gởi về Mạc tư khoa. 
        Risa Sót bị lên án tử hình. Mùa xuân 1949, Isidima (11), quản đốc nhà lao, long trọng tới xà lim, báo tin là giờ Sót đền tội đã đến. Isidima hỏi tử tội muốn thêm bớt gì vào chúc thư không thì Sót lắc đầu, thản nhiên: 
        -      Cám ơn, tôi không thêm bớt gì hết. 
        Rồi quay về phía mọi người: 
        -      Đa tạ quí vị, tôi đi đây. 
        Sót chết một cách can đảm. Nhưng đó là theo báo cáo của nhà chức trách Nhựt. Còn theo nguồn tin khác thì Sót chưa chết. Nga sô có lẽ đã can thiệp với Nhựt để tha Sót.
        Mấy tuần trước ngày xử giảo, Sót được một nha y ở Đông kinh tới nhổ nhiều răng và đặt răng giả. Một tiệm may lớn lại may cho Sót một bộ đồ mới. Lẽ thường, khi người ngoại quốc bị hành hình tại Nhựt, đại diện ngoại giao được mời chứng kiến. Sót là công dân Đức làm gián điệp cho Nga sô, song cả hai đại diện Đức và Nga sô đều không được mời. Hôdumi (12), phụ tá của Sót, bị treo cổ trước Sót, đã được trả thi hài cho thân nhân, một giờ sau khi thọ hình. Còn Sót thì không. Tuy Sót bị xử giảo cùng ngày với Hôdumi.
        Năm 1947, vũ nữ Kiêu Mi trình diễn tại Thuợng Hải. Một đêm kia, đột nhiên, nàng cứng miệng, bủn rủn tay chân, không ca, không múa được nữa. Nàng trợn mắt ngó một người đàn ông ngồi gần cửa. Người lạ đứng dậy, ra ngoài. Nàng thét lên một tiếng sợ hãi. Khoác vội chiếc áo tơi, nàng lẻn cửa sau ra đường. Ba phát súng lục chát chúa trong đêm vắng. Nàng gục ngã xuống rãnh nước. Sót đã báo thù.
        Ít lâu sau, hai người trong đó có một nhà ngoại giao Pháp bất thần gặp Sót bằng xương, bằng thịt tại Hương cảng. Nghe kêu tên, Sót lùi lũi đi mất vào trong đám đông. Sót còn sống hay chết? Chỉ có Nga sô và Nhựt bản mới có thể trả lời.
 
----------------------------------
(11) Ichijima. (12) Hozumi Ozaki.
 
 
 
 
68                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        17-   Ba vết thương lòng
 
        Trong lịch sử gián điệp, người đàn ông si tình gặp nhiều rủi ro nhất có lẽ là Rimintơn (1). Rủi ro, vì ý trung nhân buộc ông phải gia nhập cộng đảng mới chịu làm vợ. Rủi ro, vì tay lỡ nhúng tràm, vợ lại bỏ rơi. Rồi vợ ra trước vành móng ngựa, tố cáo chồng cũ. Rủi ro, vì Rimintơn bị hạ sát trong tù.
        Sinh năm 1917, tại Nu-dơ-di (2), Hoa kỳ, Rimintơn sống thời thơ ấu trong nhung lụa, trong sự yêu mến của cha mẹ và thầy giáo. Đứng đầu lớp, cậu học trò thơ ngây kết bạn với An-Mốt (3), một cô gái học giỏi, thảo luận hay, và là môn đệ của chủ nghĩa mác xít. Rimintơn yêu một cách say sưa, nàng lại ra mặt hững hờ.
        Nàng chỉ bằng lòng hứa hôn với y với điều kiện bất khả kháng sau đây: y phải gia nhập đảng Cộng sản. Năm 1939, Rimintơn thành hôn với Mốt. Cuối năm, y vào đại học đường Cô lom bia (4) và thi đậu cử nhân chánh trị kinh tế. Y làm việc tại bộ Thương mãi. Còn nàng lần lượt sinh hạ hai đứa con kháu khỉnh.
        Đại chiến bùng nổ, Rimintơn được đưa vào hệ thống gián điệp Sô viết, do trùm Gô lốt (5) điều khiển. Y cung cấp cho Gô lốt nhiều tài liệu, họa đồ và hình ảnh quan trọng. Năm 1946, Mốt bỏ chồng, mang con đi theo.
        Gô lốt chết, tình nhân y là Bentờli (6), nữ điệp viên cộng sản xuất thú với công an Mỹ – lên tiếng tố cáo Rimintơn. Vụ án Rimintơn ra tòa đầu 1951. Vợ cũ của y xác nhận trước tòa rằng Bentờli nói đúng. Rimintơn quả là đảng viên cộng sản, và là điệp viên của Gô lốt. Chết điếng, y nghe tòa phạt 5 năm tù. Để trả thù, y cưới vợ khác. Năm 1953, lên tòa trên án y được giảm còn 3 năm. Nhưng đến 1956, Rimintơn bị một nhóm thường phạm đánh chết trong nhà giam.
 
-----------------------------
(1)    William Remington. (2) tiu bang New Jersey. (3) Ann Moss. (4) Columbia. (5) Golos. (6) Elizabeth Bentley.
 
 
 
69                                                                                                                                                           BA VẾT THƯƠNG LÒNG
 
        Đám tang diễn ra trong cảnh buồn thảm và hiu quạnh. Cũng buồn thảm và hiu quạnh như đám tang của một tên ăn mày. 
        Erika (7), một thiếu phụ đẹp, người Lét tô ni – một xứ ở Bắc Âu được độc lập sau thế chiến thứ nhất, và nay bị Nga sô thống trị – cũng bị phụ tình sau khi bị kéo vào mê hồn trận. Ra tòa, nàng chửa vượt mặt, mà người tình lại từ chối, không nhận là con của y.
        Lớn lên, Erika nuôi tham vọng trở thành một ngôi sao sáng về ngành vũ. Thất bại, nàng kết hôn với Môlơ (8), nhưng sau 6 năm chăn gối, nàng đòi ly dị, để sống cuộc đời hồ hải. Với bạn gái là Gơn hin (9), nàng phiêu dạt một thời gian, để rồi năm 1939, đại chiến mở đầu, cả hai về Sì tốc khôm, thủ đô Thụy Điển, làm trong một tiệm ăn.
        Nàng gặp một người đàn ông lịch sử và khôi ngô, xưng là doanh gia Thụy sĩ. Nàng yêu Hân (10), yêu tha thiết, yêu mù quáng. Y đưa nàng vào tổ chức gián điệp Sô viết. Nàng nhắm mắt nghe theo, không những thế mà còn kéo luôn cô bạn gái.
        Đôi bạn vào làm trong một nhà máy chế tạo võ khí. Erika kết nạp Tho và Sô ren sơn (11), hai nhân viên nhà máy. Y ra lệnh đánh cắp tài liệu mật, đồng thời gây ra các vụ phá hoại. Vụ nổ kinh khủng nhứt xảy ra vào đầu 7-1941, ba toa xe lửa chở đạn dược bị nổ tung, thiệt hại một triệu đô la, 80 người bị thương.
        Run sợ, Erika xin tình nhân cho nàng được ngừng hoạt động. Nàng không thể tiếp tục dúng tay vào máu. Nhưng Hân cương quyết từ chối. Y nói: 
        -      Em đã làm gián điệp, cái nghề đã vào rồi thì không thể ra được nữa. Anh nhận lệnh của Mạc tư khoa, không thi hành sẽ bị nghiêm trị. Em đừng nhắc tới chuyện đó nữa.
 
----------------------------
(7) Erika. (8) Moller. (9) Gunhild Ahman. (10) Hans Groetzinger. (11) Thor Hasselblad, Paul Sorenson.
 
 
 
70                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Phản gián Thụy điển theo dõi Erica từ lâu. Cho nên một thời gian sau cả bọn bị sa lưới. Khi ấy, nàng mới vỡ mộng. Hân, người yêu duy nhứt đời nàng, không phải là công dân Thụy sĩ mà là người Đức, tên Da cốp (12), một chuyên viên phá hoại của cộng sản. Y đã phá hoại đời nàng bằng cách lắc dầu không nhận hài nhi trong bụng nàng là giọt máu của y. 
        Tên sở khanh bị 9 năm tù, Erika 3 năm tù. Ở tù ra, nàng sống cuộc đời kín đáo với đứa con không bao giờ thấy mặt cha.
        Ai bảo đàn bà nhẹ dạ, không thích hợp với ngành phản gián? Vũ nữ Kiêu Mi đã làm tan tổ chức gián điệp của Sót tại Nhựt. Và đây là Phisơ (13), nữ nhân viên MI5, Anh quốc (14). 
        Một phi công Đức quốc xã lái máy bay thả bom xuống thủ đô Luân Đôn trong thế chiến thứ hai. Trúng đạn, máy bay của y phát cháy dữ dội, y phải trổ tài mới lách được khỏi phòng hoa tiêu và nhảy dù xuống đất.
        Bị thương nặng, toàn thân cháy xém, y được chở vào bệnh viện điều trị. Trong nhà thương, y gặp Phisơ, một nữ điều dưỡng hiền hậu, đẹp đẽ và khả ái. Viên sĩ quan Đức yêu nàng say đắm. Nàng yêu lại, nhưng là theo chỉ thị của phản gián Anh.
        Hai người được tự do dắt nhau đi chơi. Trong khung cảnh thơ mộng, y nắm tay nàng, âu yếm hỏi nàng làm vợ. Nàng không phản đối, song nàng không nhận lời. Rơm rớm nước mắt, nàng cho biết chỉ có thể nâng khăn sửa túi một người không chống lại tổ quốc của nàng. Nói cách khác, nàng muốn y phản quốc.
        Tất nhiên, y trở thành nhân viên MI5 và được cử về Bá linh. Y có nhiệm vụ trà trộn vào một nhà máy điện tử để đánh cắp họa đồ của một loại vũ khí bí mật. Một phi đội Anh ném bom tới tấp
 
-------------------------------
(12) Jacob Liebersohn. (13) Maud Fisher. (14) Military Intelligence 5, tức là Quân báo, Phòng 5, phụ trách phản gián.
 
 
 
 
71                                                                                                                                                           BA VẾT THƯƠNG LÒNG
 
xuống thành phố Bá linh, viên hoa tiêu Đức đa tình từ một chiếc Lăn cát tơ (15) nhảy dù theo. Tới đất, y chôn dù và quần áo phi hành. Nhờ giấy tờ giả, y được thu dụng vào công ty điện tử. 
        Mấy ngày sau, y có thái độ khả nghi nên bị bắt. Không đủ thủ đoạn và can đảm chống lại cuộc thẩm vấn tàn bạo của công an Đức, y bèn thú tội. Y xin được trở sang Anh quốc đổi công chuộc tội. Một sĩ quan phản gián cao cấp bác bỏ lời thỉnh cầu với câu nói chí lý: 
        -      Không ai phủ nhận y có thiện chí. Nhưng sang tới Luân Đôn, gặp lại người yêu, y sẽ thay đổi ý kiến.
        Tử tù bị lôi ra sân, dựa lưng vào cọc. Thương thay cho chàng sĩ quan gan dạ, nhiều phen vào sinh ra tử, từng được ban tặng huy chương Chữ Thập Sắt, huy chương quí nhứt của Đức quốc xã. 
 
        18- Đàn bà dễ có mấy tay
 
        Từ ngày Métxalin (1) chết đi, chưa có người đàn bà nào khát tình và khát máu đến mức cuồng dại như nàng. Trong lịch sử La mã, Métxalin làm vợ thứ ba của vua Cờlô điút (2) khi nàng đã năm chục tuổi. Ngũ tuần là tuổi về già, thế mà vương hậu vẫn thèm đàn ông, vẫn thích giết người.
        Một gã đàn ông đẹp trai nhưng khờ dại bị nàng hành quyết, vì không chịu lên giường ngủ với nàng. Một người khác bị giết vì chẳng may cho y, y có một vườn hoa tuyệt đẹp mà Métxalin muốn chiếm. Nhiều lần nàng vào xóm thanh lâu để nhìn tận mắt những cặp trai gái hành lạc. Nhà vua đi vắng, nàng bắt Silút (3) một chàng trai khỏe mạnh, phải bỏ vợ, về ở với nàng, với ý định đưa y lên ngai vàng. Rốt cuộc Métxalin bị nhà vua giết.
 
--------------------------
(15) Lancaster. (1) Messaline. (2) Claudius. (3) Galus Silius.
 
 
 
72                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Mát gơ rít (4), một bà bá tước người Pháp, giống Métxalin ở chỗ yêu đấy rồi giết đấy. Cũng như Métxalin, nàng bỏ mạng thảm thương. Một đêm hè 1948, người ta tìm thấy trên bãi cát thành phố quốc tế Tăn di ê (5) Bắc Phi, xác chết của Mát gơ rít, người nổi tiếng về hơn hai chục vụ giết người không để lại dấu vết, người làm gián điệp đôi đa mưu, túc trí, trong hai trận thế chiến vừa qua.
        Sinh năm 1895, tại Baydon (6), nàng hiểu đời quá sớm. Năm 15 tuổi, trong khi mẹ nàng bỏ phế chồng con, chạy theo những người đàn ông lạ, nàng trốn nhà theo tiếng gọi con tim. Nàng bị bắt về, nhưng chỉ mấy tháng sau – năm 1911 – nàng kết hôn với bá tước Pháp Đan đu ranh (7) hơn nàng nhiều tuổi. Là người ham du lịch, bá tước đưa vợ khắp nơi. Đại chiến thứ nhứt bùng nổ, hai người đang ở Ai Cập.
        Mát gơ rít gặp Lo rân (8), sĩ quan tình báo hữu danh nhứt của Anh quốc. Lo rân đưa nàng vào hàng ngũ tình báo. Hoạt động theo chỉ thị của tướng Cờ-lê-tôn (9), chỉ huy gián điệp Anh. Mát gơ rít trở thành nhân tình của Đagun (10), lãnh tụ phong trào quốc gia Ai Cập. Những bí mật về tổ chức chống Anh giành độc lập, đều lọt vào tai Mát gơ rít và kết quả là Đagun bị lưu đày. Không ai ngờ rằng sắc đẹp của một người đàn bà có thể ngăn chặn ngọn trào quốc gia Ai Cập. Sau đó, Mát gơ rít tới triều đình vua Sêút (11), dùng kế mỹ nhân lôi nhà vua về phía Tây phương. Một lần nữa, Mát gơ rít lại thành công.
        Thế chiến thứ nhứt kết thúc, vợ chồng bá tước bỗng tới vùng sa mạc Panmia (12) ở Sy ri (13) mua một khách sạn và lập nghiệp tại đó. Không phải vì chán đời mà Mát gơ rít bỏ chốn phồn hoa tới một
 
---------------------------
(4) Marguerite d’Andurain. (5) Tangiers. (6) Bayonne. (7) Pierre d’Andurain. (8) Lawrence. (9) Gilbert Clayton. (10) Saud Zaghul Pacha. (11) Ibn Seoud. (12) Palmyre. (13) Syrie.
 
 
 
 
73                                                                                                                                           ĐÀN BÀ DỂ CÓ MẤY TAY
 
nơi đầy cát mỏng, chẳng qua nàng nhận thấy tình hình Trung Đông đang sôi sùng sục và vùng Panmia là ngã tư của gián điệp quốc tế trong các xứ Á rập. Do thám cho Anh không được nhiều tiền, nàng liền do thám cho nhiều quốc gia cùng một lúc. Nàng không còn là gián điệp đôi, mà là gián điệp ba, gián điệp tư...
        Cho đến 1924, nàng còn hoạt động tích cực cho Phòng Nhì Pháp và tình báo Sô viết. Syri nổi loạn nàng lập kế mời sáu lãnh tụ bản xứ tới hội họp tại khách sạn của nàng, và những người này đã biệt tích. 
        Năm 1932, sau chín năm nghe ngóng tai Panmia, nàng ly hôn với ông chồng hờ già nua, rồi máu giang hồ rần rật trong người, nàng bỏ tiền ra cưới chồng, một người Á rập thua nàng mười tuổi, tên là Ben (14). Nàng kết hôn với y để đi hành hương tại thánh địa Hồi giáo La mết (15).
        Dọc đường, tuy nàng che mặt theo phong tục, cặp mắt xanh biếc của nàng đã gây ngờ vực và nàng bị một bộ lạc Hồi bắt giữ. Trong khi ấy Ben bị đầu độc chết. Nàng bị kết án giết chồng. Nàng thoát khỏi pháp trường, nhờ hiến thân và hiến tiền bạc cho một tên lính gác, và tên nầy liên lạc với sứ quán Pháp và quốc vương Sêút. 
        Hai năm sau, nàng quay về Panmia, và cộng tác với Đức quốc xã. Nàng tái hôn với bá tước Đan đu ranh, nhưng chỉ một thời gian sau, nàng giết chồng, rồi qua vùng biên giới Pháp – Tay Ban Nha để lấy tin cho Đức. Tiên đoán Hít-le thua trận, nàng bèn đi An dê (16), Bắc Phi, hoạt động cho tình báo Anh – Pháp.
        Sau đại chiến thứ hai, tuổi đã ngũ tuần, nàng về Ba lê tập thể dục cho thon, và vào mỹ viện sửa sang nhan sắc bắt đầu úa héo. Nàng dính vào hai vụ đầu độc, song được miễn tố vì thiếu bằng cớ. Nàng xuống tàu đi Hắc Hải để bắt liên lạc với do thám Sô viết.
 
------------------------
(14) Ben Sulelman. (15) La Mecque. (16) Alger.
 
 
 
 
74                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Rồi nàng bị đồng bọn hạ sát thảm thương trong một chuyến buôn vàng lậu, chia tiền không đều. Con trai duy nhất của nàng cho biết nàng can vào 22 vụ giết người mà luật pháp phải bó tay vì nàng không để lại dấu vết. 
        Mát gơ rít đứng đầu sổ những nữ gián điệp thích giết người, Cát men (17) lại phá kỷ lục về tàn bạo. 
        Thường là đàn ông quá chén, chớ ít khi, hoặc chưa bao giờ nữ gián điệp lại say rượu bí tỉ, nói năng lảm nhảm để rồi bị bắt. Bệnh nhậu nhẹt đã làm Cát men bị Pháp kết án tử hình. May thay, nàng thoát chết, nhờ quân đội Đức tới kịp, đưa nàng ra khỏi nhà giam. Lần thứ hai, nàng lại lãnh án tử hình về những tội ác kinh khủng, do đó nàng được mệnh danh là Hắc Thần.
        Năm 1938, chuẩn bị đánh Pháp, Hítle sai Cát men sang Pháp khám phá bí mật của chiến lũy Madinô (18). Nàng hoạt động một cách đắc lực. Một đêm kia, quá chén với hai sĩ quan Pháp, Cát men buộc miệng nói ra những điều không thể nói. Không dè họ là nhân viên phản gián. Cát men bị thộp đầu, và giam gần Ba lê. Tổng Thống Pháp Lơbơron (19) ân xá cho nàng khỏi chết. Sáu tuần sau, quân đội Đức kéo vào Ba lê.
        Cát men được phái sang Bỉ và Hòa lan giả làm nhân viên kháng chiến. Rất nhiều người yêu nước, tin vào bộ mặt chân thành của Cát men đã sa lưới Dét ta pô (20) và bỏ mạng. 
        Rồi nàng được chuyển về trại tập trung Raven bờrúc (21), phía Bắc nước Đức, cải dạng làm chánh trị phạm, với mục đích do thám. Raven bờrúc là địa ngục trên quả đất : 80.000 phụ nữ bị chết oan trong đó, 5000 bị giết trong phòng hơi ngạt. Cát men được cử làm trưởng khu. Nàng tiếp tay với lính gác tra tấn tử tù nhân bằng cách dìm vào hồ nước lạnh.  
 
-------------------
(17) Carmen Maric Mory. (18) Maginot. (19) Albert Lebrun. (20) Gestapo. (21) Ravenbruck.
 
 
 
75                                                                                                                                           ĐÀN BÀ DỂ CÓ MẤY TAY
 
Nàng dùng roi da hành hạ tù nhân mệt mỏi. Có lần nàng nắm tóc hai chục tù nhân hấp hối lôi ra khỏi phòng giam. 
        Bốn năm sau, Hồng quân tiến tới Raven bờrúc. Cát men bỏ trốn. Nàng giả làm tù nhân Raven bờrúc, cộng tác với quân đội Anh để tìm bắt bọn cai tù tàn bạo. Trời cao có mắt nên Cát men bị lột mặt nạ, và phải ra tòa ngày 3-12-1946 tại Hăm bua.
        Đơn ăn xá của nàng bị bác. Cát men bèn nghĩ cách tự vận. Theo thường lệ, áo quần và giày dép của tử tội đều bị lột hết và mang ra ngoài ban đêm. Đêm ấy, nàng xin đi giày cho ấm. Thương tình, người ta để giày cho nàng. Dưới đế giày, Cát men đã giấu sẵn một lưỡi dao cạo sắc như nước. 
        Sáng hôm sau, Hắc thần chỉ còn là cái xác không hồn. Nàng đã cắt mạch máu để khỏi ra pháp trường đền tội. 
        Còn nhiều, nhiều nữa. Chiến tranh điệp báo còn tiếp diễn, còn nhiều kẻ lụy với tình. Trên thế giới, bộ máy điệp báo bây giờ ra sao? Chúng ta hãy bước vào Mê Hồn Trận.
 
Đăng nhập để trả lời
0
GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
tại bộ Không quân, phụ trách Phản gián. Bôi-sen được thượng cấp tin cậy, nên đến khi sự thật được phanh phui, mọi người bật ngửa. Y trạc ba mươi, người cao lớn, mắt xanh, tóc vàng. Vợ y, Hát-hi (5) bí danh Li-be-tát (6), cũng thuộc hoàng phái. Đẹp, quyến rũ, nàng đã giúp y đắc lực.
        Hác-nắc (7), tiến sĩ triết học, đảng viên Cộng sản thâm niên, giữ chức phó giám đốc trong bộ Kinh tế, là cánh tay mặt của Bôi-sen. Vợ Hác-nắc (8), gốc Hoa kỳ, dạy văn chương Anh tại đại học đường, bị chồng lôi cuốn, đã đóng vai nhân viên mật mã. Cúc-kop (9), soạn giả, có nhiệm vụ phát triển nhân viên trong giới ca kịch. Vợ y, Gờ-rê-ta, đảng viên Cộng sản cuồng tín, đã tẩu thoát khi toàn bộ tổ chức bị phá vỡ sau 14 tháng hoạt động. 
        Tổ chức do thám tại Bỉ, Hoà lan và Pháp do Din-be và Kent chỉ huy. Cầm đầu tại Thụy sĩ là Ra-đô (10).
 
        14-      Ken: lụy với tình
 
        Tăng cường hệ thống Đức, đại úy Sô viết Su-cu-lốp (1), một tay gián điệp cừ khôi, được phái sang Bá linh. Sau đó, y lập trụ sở tại thủ đô Bỉ. Màng lưới của y bao trùm cả Hòa lan và Pháp. 
        Su-cu-lốp đội nhiều tên giả và tên thường dùng là Ken (2). Tại Bờ-ruyt-xen, y giả làm một thương gia tỉ phú nam Mỹ, tên là Sie-ra (3), sinh sống một cách đế vương trong một biệt thự lộng lẫy. 
        Tổng hành doanh của Ken tọa lạc trong một tòa nhà khác ở đường At-tờ-bát (4). Ngụy trang
 
-----------------------------------
(5) Haas Heye. (6) Libertas. (7) Arvid Harnack. (8) Mildred. (9) Adam Cuckhoff. (10) Alexandre Rado.
(1) Victor Sukulov. (2) Kent, cac ten khac la Dupuis, Lebrun, Fritz, Cirin, Arthur, Alamo, Charles, Kent.
(3) Vincente-Antonio Sierra. (4) Attrebattes.
 
 
 
123                                                                                                                                                         KEN : LỤY VỚI TÌNH
 
làm thương gia Nam-Mỹ, Ken giao dịch với Đức tuyển mộ nhân công cho kỹ nghệ chiến tranh quốc xã. Nhờ tài tổ chức khéo léo, Ken đã thu, lượm được nhiều thành tích khả quan. Mùa thu 1941, các kế hoạch quân sự của bộ tư lệnh quốc xã đều được Ken chuyển về Mạc tư khoa. Có lần do thám quốc xã đoạt được bộ mật mã của Nga sô. Ken đã báo tin cho Phản gián Sô viết cướp lại kịp thời.
        Nhờ phương pháp Trắc giác (5), Đức phăng ra điện đài PTX của Ken ở Bờ-ruyt-xen. Đàn em của y bị sa lưới, y thoát về Mạc-xây (6), miền nam nước Pháp. Lần này, Phản gián lại tìm được một điện đài khác của Ken. Tháng 11-1942, Ken bị bắt cùng một một nhân viên truyền tin giữa lúc liên lạc vô tuyến với Mạc tư khoa.
        Cũng như nhiều điệp viên khác xa nhà, Ken yêu một góa phụ, Bát-da (7). Y yêu nàng tha thiết và sẵn sàng hy sinh vì nàng. Nắm đuoc yếu điểm, Phản gián Đức dùng nàng để «săng ta» Ken. Sợ tình nhân bị hại, y phải quy thuận. Không những y tố cáo hết nhân viên dưới quyền, y còn tiếp tục vâng lệnh Đức, tiếp tục liên lạc điện đài với Mạc tư khoa, để cung cấp tin tức giả mạo. Trong nhiều tháng, Nga sô đã bị lừa. Trong thời gian này, Đức dùng 60 điện đài để chuyển tin tức láo khoét về Mạc tư khoa.
        Năm 1944, Ken rút lui cùng tàn quân Đức. Sau đại chiến, dường như y được Nga sô tái dụng. Nhưng từ nhiều năm nay, người ta không nghe nhắc tới Ken nữa. Có tin cho biết y bị Nga sô thủ tiêu sau khi trái chanh đã hết nước. Nhân tình y dường như đang sống tại Pháp. 
        Ken mới là người phụ tá. Cầm đầu hệ thống gián điệp là Din-be (8). Bị bắt, Ken tố cáo Din-be, song
 
------------------------------
(5) radio-goniométrie. (6) Marseille. (7) Margarette Barcsa. (8) Gilbert tc Leopold Templer.
 
 
 
 
124                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
điệp viên xuất quỷ nhập thần nay vẫn cao bay xa chạy. 
        Tên tuổi Din-be đã lẫy lừng từ Thượng hải, Ba lê tới Á-căn-đình. Sinh năm 1905 tại Ba lan, y là đảng viên Cộng sản trung kiên. Gia nhập đệ tứ phòng Sô viết, y được đưa đi huấn luyện trong 5 năm. Tốt nghiệp trường do thám, Din-be trở thành một nhà trí thức lịch lãm, nói thạo tiếng Ba lan, Nga, Do thái, Đức, Pháp, Anh và Y-pha-nho.
        Tới Ba lê, y đội tên Din-be, giám đốc công ty xuất nhập cảng ma Si-mếch (9). Phía sau văn phòng tráng lệ là một sào huyệt bí mật, chứa điện đài và kết sắt. Do cửa trong, y có thể lẻn vào phòng bí mật, và từ đó ra đường hẻm bên ngoài bằng cầu thang riêng nối liền công ty Si-mếch với một tòa nhà khác.
        Trong phòng, y gắn một đồng hồ quả lắc tân kỳ. Cứ 24 tiếng, y tự tay lên giây một lần. Đồng hồ phát ra một tín hiệu riêng, chỉ có các điện đài dưới quyền y mới bắt được. Nếu tín hiệu ngưng tiếng, tức là Din-be lâm nạn, nhân viên của y phải rút vào bóng tối.
        Từ hãng Si-mếch, y tổ chức một màng lưới do thám đại qui mô bao trùm các đô thị Âu châu. Y có điện đài khắp nơi, và riêng ở Pháp có hai cái. 
        Phụ trách hệ thống truyền tin là Hân (10), đảng viên Cộng sản trung kiên. Ngày 13-12-1941, cơ sở truyền tin tại Bỉ bại lộ, ba nhân viên bị bắt. Din-be cũng ở trong số này, song y khai là nhà buôn, không may lọt vào vụ bố ráp nên bị oan. Chẳng hiểu y ăn nói hay ho thế nào mà Phản gián Đức trả tự do. Trở về Ba lê, y báo động cho các cơ sở gián điệp Sô viết.
        Ngày 30-6-1942, Hân bị tóm cổ trong khi đang lúi húi đánh tin ở Bờ-ruyt-xen. Sau nhiều ngày tra tấn, dỗ dành và mua chuộc, Đức đã thuyết phục được y và đã dẫn bắt phụ tá của Din-be (11). 
        Đại úy Đức Mô-đe (12), giả làm nhân viên Sô
 
-------------------------------
(9) Simex. (10) Hans, tức Hermann, Bergmann, tên thật là Johanns Wenjel. (11) Grossvogel. (12) Moder.
 
 
 
 
125                                                                                                                                                         RA-ĐÔ : YÊU LÀ CHẾT
 
viết, gọi giây cho cô thư ký của Din-be, nói là có việc gấp cần gặp ông chủ. Mô-đe hỏi: 
        -      Din-be đi vắng à? Đi đâu? Tôi muốn gặp ngay. 
        Trong một giây đồng hồ bắn loạn, cô thư ký hớ hênh đáp là Din-be vừa đi chữa răng. Mô-đe hỏi gặng: 
        -      Chữa răng ở đâu?
        Chợt nhớ ra, cô thư ký ngập ngừng: 
        -      Tôi... tôi không biết. 
        Nàng cúp điện thoại, và gọi ngay tới phòng nha y báo tin cho Din-be. Báo hại là y vừa bị đánh thuốc mê nên không trả lời điện thoại được. Phản gián Đức nghe trộm đường giây nên phăng ra địa chỉ. Din-be vừa nhổ răng xong, ra đến ngoài thì xe hơi xích lại. Trùm do thám Din-be đầu hàng và giúp phản gián Đức phá tan hệ thống Sô viết. 
        Tháng 6-1943, Din-be ra đường, có hai vệ sĩ đi kèm. Y xin vào tiệm thuốc và chuồn bằng cửa hậu. 
        Sau khi Pháp được giải phóng, y quay về Ba lê sống không dám ló mặt, sợ đồng minh hài tội. Năm 1945, y được gọi về Mạc tư khoa và từ bấy đến nay, tuyệt vô âm tín. 
 
***
 
15-      Ra-đô : yêu là chết
 
        Ai cũng nhìn nhận nếu Ra-đô không lụy vì tình thì vị tất hệ thống gián điệp của Nga sô ở Thụy sĩ trong thế chiến thứ hai bị tan ra từng mảnh vụn. Ra-đô có thể được coi là một trong những tai mắt đắc lực nhứt mà Mạc tư khoa đặt ở Âu châu. Chưa có tổ chức nào lại thu thập được nhiều tin tức như Ra-đô, bằng chứng là năm 1942, hàng tháng Ra-đô chuyển về Nga sô 800 bức mật điện, bằng ba điện đài xử dụng không ngớt. Cũng chưa có tổ chức nào bắt được nhiều tin tức quan trọng như Ra-đô. Vì y đã báo cho Sít-ta-lin biết ngày Hít le định tấn công Nga sô.
 
 
 
 
126                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Ra-đô, người Hung gia lợi, chuyên về đồ họa, là một người thấp, tròn, diện mạo trầm tư. Cho tới năm 1937, y sống ở Ba lan, quản đốc một hãng thông tấn nhỏ. Sau đó, y qua Thụy sĩ lập hệ thống do thám cho Hồng quân.
        Người ta không hiểu tại sao một kẻ nhút nhát, hơi chút là toát mồ hôi, luôn mắc phải những khuyết điểm sơ đẳng của nghề gián điệp như Ra-đô lại đoạt được nhiều thắng lợi ghê gớm đến thế. Thật vậy, nhờ móc nối với những phần tử chống Hít le tại Đức, lấy tin mật trong bộ tư lệnh quốc xã, Ra-đô đã ảnh hưởng không nhỏ tới cục diện thế chiến thứ hai.
        Ngày 7-4-1939, Ra-đô tóm được một mệnh lệnh của Hít le về việc chuẩn bị xâm lược Ba lan. Nhận được mật điện của Ra-đô, Sít ta lin bèn quyết định liên minh với Hít le. Sau đó, Mặc tư khoa ra lệnh cho Ra-đô ngưng do thám chống Đức, nhưng Ra-đô không chịu. Thực tế chứng tỏ là Ra-đô nhìn xa thấy rộng hơn nhà độc tài Sô viết. Vì đến khi quân đội Hít le tấn công Nga sô, Ra-đô đã có sẵn một guồng máy lấy tin đầy đủ kinh nghiệm để làm thỏa mãn điện Cẩm linh.
        Ra-đô có 50 nhân viên dưới quyền. Sít-si (1) và Tay-lo (2) là hai phần tử xuất sắc nhứt. Sít-si là bí danh một thiếu nữ vô danh ở nam Âu, kết hôn với một người Thụy sĩ hầu được gia nhập quốc tịch Thụy sĩ cần thiết cho nàng hoạt động do thám. Bề ngoài nàng là nhân viên cần mẫn của văn phòng Lao động Quốc tế, một cơ quan của hội Quốc Liên. Tay-lo, người Đức, là đồng nghiệp của Sít-si, trong văn phòng Lao động.
        Ngày 11-6-1941, Ra-đô báo cho Mạc tư khoa ngày Hít le dự định xua quân qua biên giới Sô viết. Phản gián Đức chộp được làn sóng của Ra-đô, song không hiểu được nội dung bức điện. Tại điện Cẩm
 
----------------------------------
(1)   Sissi. (2) Taylor, tên thật là Schneider.


 
 
127                                                                                                                                                         RA-ĐÔ : YÊU LÀ CHẾT
 
linh đang có phiên họp, tướng Ku-nét-sop (3), tổng giám đốc phản gián, trình ngay bức điện quan trọng cho Sít ta lin. Nhà độc tài nhún vai, không tin là đúng. Nếu Sít ta lin không hoài nghi Ra-đô thì thế chiến thứ hai đã kết thúc sớm hơn nhiều, tiết kiệm được hàng triệu nhân mạng.
        Phản gián Đức biết được tại Thụy sĩ có một tổ chức do thám của Nga sô, song không tìm ra manh mối. Trong thế chiến, hoạt động do thám là việc rất dễ tại Thụy sĩ, vì đó là một quốc gia triệt để tôn trọng quyền lợi cá nhân, lại là ngã tư của Âu châu, thể thức gởi tiền kín đáo tại các ngân hàng rất thuận lợi cho việc chuyển ngân gián điệp. Mặt khác, Thụy sĩ, một nước trung lập đúng đắn, gián tiếp khuyến khích các điệp viên ngoại quốc lấy tin về Đức, hầu ngăn chặn Hít le thôn tính nước này.
         Đức muốn bóp chết gián điệp Sô viết, nhưng không dám làm mạnh, sợ đụng chạm Thụy sĩ. Phản gián quốc xã bèn theo giỏi Bali (4) một cô gái đa cảm, và đa tình, mà họ nghi ngờ hoạt động cho Nga sô. Từ nàng, Đức phăng dần ra Ra-đô.
        Sinh quán tại Giơ-neo, nàng là nữ cán bộ Cộng sản hăng say, có chân trong nhóm Ni-côn (5), thuộc Phòng Thông tin Điệp báo của Quốc tế Cộng sản. 
        Ni-côn hiến người đẹp cho Ra-đô để y gắn bó với Mạc tư khoa thêm phần mật thiết. Ra-đô chết mê, chết mệt, bỏ rơi luôn vợ.
        Gậy ông đập lưng ông, kế mỹ nhân của Công sản lại bị phản gián Đức học mót và quật ngược lại. Lãnh sự Đức tại Giơ-neo ra lệnh cho Hân (6) một thanh niên Đức, chinh phục nàng. 
        Là đồ đệ mù quáng của Mác, nàng lại là đàn bà, và là đàn bà khát tình, nên dễ bị lôi cuốn vào những sa ngã xác thịt. Chán ngấy sự quê mùa, thô
 
-----------------------------------
(3)   Kuznetsov. (4) Margaret Bali. (5) Léon Nicole. (6) Hans Peters.
 
 
 
128                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
kệch, và nhất là sự già nua của anh chồng hờ, nàng đổ xô đi tìm thú lạ. Chẳng bao lâu, nàng gặp Hân. Y trẻ hơn, đẹp hơn, lại lịch thiệp hơn Ra-đô. Y lại còn có tài ru ngủ nàng trong những đêm dài lạnh lẽo. 
        Nàng ngã vào lòng Hân, cắm sừng lên đầu Ra-đô. Nàng chỉ biết Hân là anh thợ hớt tóc khôi ngô và dịu dàng, chứ làm sao biết đuoc y là nhân viên Phản gián quốc xã. Trong những phút đầu gối, tay ấp được Hân du hồn vào cõi mộng, nàng không tiếc nhân tình bất cứ điều gì. Vả lại tấm thân ngàn vàng còn đem hiến, thì tiếc chi một vài chi tiết cỏn con về Ra-đô. Vì thế, Hân đã đoạt được cuốn «Việc ấy xảy ra trong tháng 9» mà Ra-đô dùng làm chìa khóa mật mã (7).
        Phản gián Đức rụng rời tay chân khi hiểu được hết những bức mật điện do Ra-đô đánh về Mạc tư khoa. Một sĩ quan cao cấp quốc xã thú nhận là không một bí mật quân sự nào không bị Ra-đô chuyển tới bộ tổng tham mưu Sô viết.
        Nếu Nga sô không tham quá thì Ra-đô còn được hoạt động. Đằng này, Nga sô lại ra lệnh cho Ra-đô lấy tin về hệ thống bố phòng của Thụy sĩ. Vô hình chung, chạm với công an, tổ chức có nhiệm vụ phá vỡ các ổ gián điệp ngoại quốc để bảo vệ nền trung lập Thụy sĩ, khác với sở Phản gián ND (8) chơi nước đôi, nhắm mắt cho do thám Anh, Mỹ, Nga hoạt động, hầu chận đứng tham vọng thôn tính Thụy sĩ của Hít le.
        Tháng 10-1943, anh thợ hớt tóc đa tình ngầm đưa tin cho công an, và Bali bị bắt. Cơ sở truyền tin của Ra-đô bị khám phá. Toàn thể nhân viên sa lưới, song Ra-đô trốn thoát. Năm 1944, hệ thống «ba đỏ»  xụp đổ. Đàn em của Ra-đô không thương y vì
 
-----------------------------
(7) Cuốn sách Đức này tựa đề Es geschad in September. (8) Nachrichtendien.
 
 
 
 
129                                                                                                                                                         RA-ĐÔ : YÊU LÀ CHẾT
 
trong thời gian hoạt động, y đã xoay trên một trăm ngàn đô la. 
        Sau đại chiến, Ra-đô móc nối viên trưởng phái bộ Sô viết tại Pháp và được triệu hồi về Mạc tư khoa. Nga sô vẫn nghi ngờ y đi hàng hai với Anh quốc. Trên đường đi Nga sô, y trốn tại Ai cập và gia nhập tình báo Anh. Độ nhiên, y bị đuổi, và một đại tá Sô viết tới Ai cập để nhận lãnh y. Một lần nữa, y trốn vào tòa nhà của phái bộ Anh ở Pờ-ra-gờ, Tiệp khắc, song cũng như lần trước, y bị giao hoàn cho Nga sô. Không hiểu bây giờ y ra sao. Dường như y đã bị hành hình.
        Nói tới Ra-đô mà quên Rớt-lơ (9) là điều thiếu sót vì mọi tin tức quan trọng đều do Rớt-lơ cung cấp. Người ta không rõ Rớt-lơ là tên thật, hay tên giả. Chỉ biết y là chủ nhân một nhà xuất bản xoàng xĩnh tên là Vita Nova. Y người thấp béo, theo đạo Thiên Chúa, và có tư tưởng chánh trị phóng khoáng.
        Y sinh năm 1897 tại Đức, trong một gia đình viên chức thủy lâm, làm báo, trước khi trở thành giám đốc một gánh hát tại thủ đô Bá linh. Phe quốc xã lên cầm quyền, y bỏ trốn qua Thụy sĩ, tổ chức chống lại chế độ Hít le. Chẳng bao lâu, y bắt liên lạc với những phần tử chống Hít le ở Đức. Trong nhiều năm lãnh lương của Nga sô, y không chịu cho biết ai đã gởi tin từ Đức ra cho y. Y chỉ nói đó là một võ quan cao cấp thuộc bộ tổng tư lệnh quốc xã, bí danh là Oet-te (10). Đến nay người ta vẫn chưa khám phá ra Oet-te là ai.
        Rớt-lơ đã hợp tác với Nga sô trong sự thoả thuận của Phản gián Thụy sĩ. Y lại hợp tác với tình báo của chánh phủ lưu vong Tiệp khắc ở Luân đôn mà đại diện ở Thụy sĩ là đại tá Sờ-vô-bô-đa (11) bí danh là cậu Tom.
 
------------------------------
(9) Rudolph Roessler. (10) Werther. (11) Svoboda.
 
 
 
 
130                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Tổ chức «Ba Đỏ» đổ vỡ. Rớt-lơ cũng bị bắt, song không bị truy tố, nhờ sự can thiệp của Phản gián Thụy sĩ. Tuy nhiên, ngựa quen đường cũ, y móc nối năm 1947 với do thám Tiệp khắc, và trong sáu năm liền, cung cấp cho cộng sản Tiệp khắc những tin tức quân sự tây phương. Tin tức của y được thu vào phim vi ti, bỏ vào bình mật ong, gởi làm quà ra ngoại quốc.
        Chẳng may một bình mật ong do y gởi lưu trữ tại bưu điện Đút-xen-đốp (12) bị trả lại vì không ai nhận. Địa chỉ đứng gởi ở Thụy sĩ là địa chỉ ma, nên nhà đương cuộc mở gối ra xem xét tìm thấy trong bình mật có hai cuộn phim tí hon.
        Rớt-lơ bị bắt. Y chỉ bị xử rất nhẹ, 12 tháng tù. Theo án lệnh, y bị trục xuất về Đức sau khi mãn tù. Song chánh phủ Thụy sĩ nhận thấy y sẽ bị giết nếu trở về Đức, nên khoan hồng cho ở lại. Từ đó người ta không nghe nói tới Rớt-lơ nữa. Dường như y bỏ nghề đi khuya về tắt, và rút vào hậu trường, sống cuộc đời ẩn dật ở vùng quê Thụy sĩ.




Đăng nhập để trả lời
0
16-      Gián điệp Cộng sản sau đại chiến thứ hai
 
        Vì Nga sô đứng về phía Tây phương đề đánh bại Hít le, nên sau thế chiến thứ hai, một phần công luận trong thế giới tự do đã bị ru ngủ và mắc lừa. 
        Anh-Mỹ, nhứt là Mỹ, vọt lên hàng đại cường quốc, do đó gián điệp Sô viết đã hướng về Mỹ. Ở Âu châu, Nga sô chỉ lưu tâm tới Bá linh, còn Pháp, Ý, Bỉ, Hòa lan, Na uy, Thụy điển, Đan mạch được coi là thứ yếu. 
        Riêng tại Pháp, trong hai năm đầu sau chiến tranh, Nga sô đã tung hoành như chỗ không người, nhờ sự tham chánh của đảng Cộng sản. Không nhiều
-------------------------------------
(12) Dusseldorf.
 
 
 
 
131                                                                                                         GIÁN ĐIỆP CỘNG SẢN SAU ĐẠI CHIẾN THỨ HAI
 
thì ít, những bộ trưởng cộng sản (1) đều giao thiệp với mật vụ Sô viết. Ngay cả chủ tịch Ủy ban Nguyên tử năng (2) cũng đã cung cấp tài liệu nguyên tử cho Mạc tư khoa, với tin tưởng ngây thơ là sự chia đều những bí mật nguyên tử sẽ giúp nhân loại tránh khỏi thế chiến thứ ba.
        Vụ do thám nổi tiếng nhứt ở Pháp thời hậu chiến là vụ đánh cắp tài liệu về chiến tranh Đông dương chuyển cho Việt Minh. Hồi đó, chiến lược của Pháp về Đông dương được cứu xét trong những phiên họp thường kỳ tối mật của bộ Quốc phòng, với sự tham dự của tổng thống và một số ít nhân vật cao cấp. Thế mà mỗi cuộc thảo luận đều lọt vào tay đảng Cộng sản Pháp rồi từ đó, chuyển cho Hồ chí Minh ở Việt Nam.
        Cuộc điều tra của công an cho biết hai nhân viên trong phòng lưu trữ tài liệu của Uỷ hội Quốc phòng tên là La-bờ-rút (3) và Tuyết-panh (4) đã cung cấp biên bản các phiên họp cho Ba-ra-nét (5) một nhà báo thân Cộng. Ba-ra-nét đem nộp cho trung ương đảng Cộng sản Pháp, đồng thời bán lại cho Đi-đờ (6), phụ trách Phản gián. Pháp cộng còn có một nguồn tin khác, ngoài Ba-ra-nét. Cuộc điều tra trở nên rối beng, ông cò Đi-đờ mất chức, Duy-cờ-lô, lãnh tụ cộng sản, bị giữ một thời gian, bộ ba La-bờ-rút, Tuyết-panh, Ba-ra-nét bị truy tố. Nội các Măn-đét-phờ-răn (7) lên thay nội các Lanien (8).
        Trong lúc ấy, Điện biên phủ thất thủ, chánh tình nước Pháp rối như tơ vò, thủ tướng Măn-đét vội điều đình với Việt Minh, chia đôi nước Việt Nam tại hòa hội Giơ-neo. 
        Ngày 20-5-1956, nghĩa là hai năm sau, tòa án
 
--------------------------------
(1) Billoux, Lecoeur, Thorez. (2) Joliot Cusie. (3) Labrousse. (4) Turpin. (5) Baranès. (6) Jean Dides.
(7) Mendès France. (8) Laniel.
 
 
***
 
94                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
do các cơ số kinh tài cung cấp, như công ty dầu lửa mà chính phủ hoàng gia Anh-Ba tư có cổ phần (9). Khuyết điểm của người Anh là chịu khó tiêu tiền trong thời chiến, nhưng lại quá hà tiện trong thời bình. Trước thế chiến thứ hai, guồng máy điệp báo của Anh quốc chỉ có rất ít nhân viên. Thủ tướng Sớt Sin phàn nàn ngày 13-4-1939 sau khi Hít le chiếm đóng Tiệp khắc, rằng tình báo Anh không biết trước tham vọng xăm lăng của Đức quốc xã. Đại chiến bùng nổ, điệp báo Anh vội vàng tăng cường mọi mặt, kết nạp những nhân vật hữu danh. Ban Tình báo Chánh trị được lập lại, với ông Libơ (10), một nhà ngoại giao lỗi lạc, đứng đầu. Libơ đặt văn phòng trong một doanh trại cổ xưa cách Luân đôn 80 cây số.
        Trước đó, Anh có hai tổ chức gián điệp ở Đức. Một của bộ Ngoại giao, một của bộ Chiến tranh. Từ 1938 đến 1939, Đức hành quyết 23 người Đức làm gián điệp cho Anh. Số gián điệp bản xứ này được đặt dưới sự điều khiển của tùy viên quân sự sứ quán Anh tại Bá linh, hoặc các lãnh sự, hoặc Sở Mật vụ Lục địa.
        Cho đến trung tuần tháng 8-1938, Sở này đóng tại thủ đô Áo quốc, núp trong văn phòng cấp thông hành của tòa đại sứ Anh, do đại úy Ken đờ rích (11) một sĩ quan tình báo chuyên nghiệp điều khiển. Tháng 3-1938, Đức quốc xã thôn tính Áo, chiếm đống Viên (12), lùng bắt gắt gao các tổ chức gián điệp, Ken đờ rích bị bắt. Bộ Ngoại giao Anh phản kháng quyết liệt. Ken đờ rích được thả và bị trục xuất về Anh. Cơ sở lấy tin của Ken đờ rích bị phá hủy. Sau đó, Sở Mật vụ Lục địa dọn tới thủ đô Đan mạch. Tháng 11, Đan mạch hoảng sợ trước hoạt động của gián điệp địch, mở một cuộc ruồng bắt đại qui mô. Một nhân viên của Anh bị sa lưới. Mục đích của Đan mạch là càn quét
 
--------------------------------
(9) Anglo-Iranian Oil Company. (10) Roz Leeper. (11) Thomas Kendrick. (12) Vienne.
 
 
 
95                                                                                                                           BÔNG HOA TRONG RỪNG ĐIỆP BÁO
 
gián điệp Đức, nhưng công việc đã lỡ, tòa án đành phải xét xử. Tuy tòa nhóm kín, gián điệp Đức cũng phăng ra những bí mật về Sở Mật vụ Lục địa do lời khai của nhân viên Anh bị bắt. 
        Tai hại hơn nữa, ban 3F của Phòng Nhì Đức đã mua chuộc được kẻ phụ tá ông cảnh sát trưởng. Trong sở Cảnh sát, có một ban Phản gián, nên kẻ này đã cung cấp cho Đức những tin tức về Sở Mật vụ Lục địa.
        Sở này di chuyển tới La He (13), đặt dưới sự chỉ huy của thiếu tá Sitêven (14), sĩ quan tình báo chuyên nghiệp, tốt nghiệp trường Lâu đài Đen, trường đào tạo điệp báo nổi tiếng của Anh. Dưới quyền Sitêven, còn có nhiều nha, nha chính trị, nha kinh tế, nha quân sự, nha hàng hải, nha phản gián. Nha quân sự do đại úy Bét (15) điều khiển. 
        Anh quốc còn một tổ chức điệp báo khác tại Bét nơ (16), Thụy sĩ.
        Đầu năm 1937, Hít le ra lệnh cho đốc Canari tái lập hệ thống do thám tại Anh, và Canari ủy thác cho đại tá Bútsờ (17), sĩ quan Phòng Nhì. Bútsờ đặt 2 tổ chức tại Anh. Tổ chức thứ nhứt gồm mấy trăm phụ nữ được huấn luyện tại Hăm bua, cải trang làm gia nhân, xin vào hầu hạ các nhân vật Anh cao cấp. Mục đích của Bútsờ không phải lấy tin mà là đánh lừa phản gián Anh. Bútsờ cho rằng sớm muộn phản gián sẽ phăng ra tổ chức phụ nữ và sẽ cho người theo dõi, trong khi đó, tổ chức thứ hai tha hồ hoạt động. Tổ chức này gồm toàn điệp viện chuyên nghiệp, có bổn phận nằm yên, chờ chiến tranh Đức-Anh bùng nổ mới xuất đầu lộ diện.
        Năm 1939, cả hai tổ chức đều hoạt động đúng theo dự tính của Bútsờ. Tuy nhiên, phản gián Anh đã biết trọn danh sách. Ngày 3-9-1939, Anh quốc mới ra tay. Cuộc hành quân cảnh sát diễn ra với toàn thể
 
-----------------------------
(13) La Haye. (14) Henry Richard Stevens. (15) Panton Sigmund Best. (16) Berne. (17) Karl Busch.
 
 
 
 
96                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
viên chức công an, 2000 cảnh sát viên mặc đồng phục, và một số nhân viên phản gián. 73.235 người bị thẩm vấn, và 569 điệp viên Đức bị thộp cổ. 
        Toàn bộ tổ chức của Phòng Nhì quốc xã bị sụp đổ thảm thương. 
        Công an Anh (18) gồm chừng 60.000 nhân viên, trong số có 2500 phụ nữ. Ngoài ra, còn có 150.000 nhân viên hậu bị, không ăn lương, và tình nguyện, khi nào cần thì tới tăng cường. Trong tổng nha Công an, có sở Đặc Vụ, phụ trách phản gián, biên phòng, kiểm soát ngọai kiều, và bảo vệ các nhân vật cao cấp. Điều khiển Đặc vụ là ông Dôn (19).
 
        6-  Phòng Nhì Pháp: một tổ chức quen thuộc
 
        Đối với người Việt trên bốn mươi, Phòng Nhì (1) không phải là tổ chức xa lạ. Phòng Nhì đã lưu lại những kỷ niệm đẫm máu trên đất nước ta, trước thế chiến thứ hai, nhứt là trong thời gian kháng chiến chống Pháp. 
        Phòng Nhì là nồng cốt của điệp báo Pháp, khai sinh từ trước thế chiến thứ hai, chuyên về quân sự. Hải, lục không quân Pháp đều có Phòng Nhì riêng. Bộ Tổng tham mưu quân lực cũng có một ban điệp báo, phụ trách các tùy viên quân sự ở hải ngoại. 
        Tổ chức điệp báo thật thụ của Pháp nằm trong phủ Thủ tướng, mệnh danh là SDECE (2), tổng nha Thu thập Tài liệu Hải ngoại và Phản gián điệp. Tiền thân của SDECE là BCRA (3) Phòng Tình báo và hành động trung ương, do Sút ten (4) lập tại Luân Đôn năm 1940, và đại tá Pát si (5) điều khiển.
 
-------------------------------
(18) Scotland Yard, công an riêng của thủ đô Luân Đôn là New Scotland Yard. (19) Rymen Jones.
(1) Deuxième Bureau. (2) Service de documentation Extérieure et de Contre-Espionnage.
(3) Bureau Central de Renseignements et d’Action. (4) Soustelle. (5) Passy.
 
 
 
 
97                                                                                           PHÒNG NHÌ PHÁP : MỘT TỔ CHỨC QUEN THUỘC
 
        Năm 1943, BCRA đổi tên là DGSS (6), tổng Nha Đặc vụ. Ngày Pháp được giải phóng, tống nha này thành Tổng nha nghiên cứu và Sưu tra, DGER (7). Phụ trách việc truy tầm tay sai quốc xã còn hoạt động lén lút sở DGER lại bị phe thân quốc xã thao túng, và gây ra nhiều chuyện đáng tiếc. Năm 1946, DGER được thanh lọc và đặt dưới sự kiểm soát của phủ thủ tướng, dưới tên mới SDECE.
        Tổng nha SDECE có nhiều sở, như sở phản gián, sở sưu tầm, sở nghiên cứu, thu thập tài liệu, và sở hành động, chuyên phá hoại, bắt cóc, phá ngục... Cho đến đầu năm 1964, những đơn vị đặc biệt của sở Hành động đều từ lữ đoàn 2 xung kích mà ra. Lữ đoàn 2 đã bị giải tán, song một số đơn vị bí mật khác được thành lập để thay thế.
        Bên trong SDECE còn một nha gọi là Nha 20, chuyên về công tác tối mật. Trên nguyên tắc, ngân sách điệp báo Pháp là 25 triệu phật lăng mỗi năm (năm 1963), nhưng trên thực tế, số tiền này có thể tăng thêm nhiều, rút trong kinh phí của phủ thủ tướng. Nhân viên chừng 1600 người đa số là quân nhân, và từ ba đến bốn trăm nhân viên ký khế ước đặc biệt.
        Năm 1962, tướng Gờ-rốt-xanh (8) tổng giám đốc SDECE, bị thay thế sau 5 năm điều khiển. Lên thay là tướng không quan Dáckiê (9). Nhân viên SDECE hoàn toàn hoạt động trong bóng tối. Gặp trường hợp liên quan tới pháp luật, họ phải nhường lại cho DST (10), nha Kiểm soát Lãnh thổ, trực thuộc Tổng Nha An ninh dưới quyền bộ Nội vụ và đặt trụ sở tại đường Sốt-xe (11), Ba lê. Nha Kiểm soát Lãnh thổ có 1200 nhân viên mà 700 là hoạt vụ. 
        Tháng 5-1964, ông quận trưởng hành chánh Rôsờ (12) được cử thay ông Đút tanh (13) làm giám
 
---------------------------
(6) Direction Générale des Services Spéciaux. (7) Direction Générale d’Études et de Recherches.
(8) Grossin. (9) Jacquier. (10) Direction de la Surveillance du Territoire. (11) Saussaies. (12) Tony Roche. (13) Daniel Doustin.
 
 
 
 
98                                                                                                                                                           GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
đốc DST. Ông Đút tanh giữ chức này từ 1958 đến 1964. Năm 1944, khi DST được thành lập, nhân vật điều khiển là ông Oa ranh (14), cựu thủ lãnh phản gián của tướng Đờ Gôn.
        Trước thế chiến, hệ thống điệp báo của Pháp hoạt động uể oải, và rời rạc, nên không đạt được kết quả tốt. Hồi đó, Pháp có bốn cơ quan điệp báo, song không có cơ quan điều chỉnh, nên thường xảy ra tình trạng dẫm chân lên nhau. Sự tê liệt do bổ nhiệm bồ bịch mà ra. Tùy viên quân sự cũng được bổ nhiệm vì cảm tình riêng. Chức tùy viên quân sự ở Bá linh trước ngày đại chiến Pháp Đức được giao cho một đại tá không biết tiếng Đức, tệ hơn nữa là người phụ tá cũng như người mà ông thay thế, đều mù tịt tiếng Đức như ông. Phòng Nhì còn phạm nhiều sai lầm kỹ thuật không thể tha thứ. Bằng chứng là một thành phố Đức (15) đã được chua trên địa đồ của Bỉ.
        Phòng Nhì thường do sĩ quan trung cấp điều khiển nên các tướng lãnh cầm quân không chịu nghe theo. Đại tá Phòng Nhì Gôsê (16) trình lên đại tướng tổng tư lệnh Gamơlanh (17) những tin tức xác đáng về mặt trận Ba lan, hầu thúc đẩy Gamơlanh thay đổi chiến lược cứng nhắc và lỗi thời, song đại tướng lẽ nào nghe đại tá nên Gamơlanh đã ném tài liệu vào sọt rác, để rồi quân đội Pháp thất trận thảm thương.
 
        7-  Tình báo Nhựt bản
 
        Dân tộc Phù tang có khiếu đặc biệt về điệp báo. Trong quá khứ, điệp báo Nhựt đã lập được thành tích vẻ vang. Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn nhận là các tổ chức điệp báo tây phương sinh sau đẻ muộn mà phát triển nhanh hơn điệp báo Nhựt bản.
        Phòng Nhì của Hải quân hoạt động khá hữu hiểu như đã được chứng tỏ trong việc đánh úp Trân châu cảng năm 1941. Trong lục quân, công tác tình báo
 
-----------------------------
(14) Warin. (15) Aix-la-Chapelle. (16) Gaucher. (17) Gamelin.
 
 
 
 
99                                                                                                                                                           TÌNH BÁO NHỰT BẢN
 
được giao cho Phòng Ba của bộ tham mưu, đứng đầu là một tướng lãnh. Phòng Bốn, chuyên về phản gián, gồm có Kempêtai, tức cảnh sát bí mật trong quân đội và ban đặc vụ Chánh trị Tốc Kô Ka.
        Hệ thống điệp báo Nhựt đã có từ nhiều thế kỷ trước, nhưng chỉ nẩy nở mạnh từ cuối thế kỷ 19, với sự xuất hiện của các đoàn thể ái quốc bí mật. Hội Hắc Hải ra đời năm 1880, với Tôyama làm đảng trưởng nhằm mục đích chống Nga. Hội này mở trường huấn luyện tình báo trên đảo Hốc kai đô (1) tại Hán khẩu,  trên lục địa Trung quốc, và trường thứ ba đội lốt dạy nhu thuật tại Vờlađivốttốc (2). Tại Hán khẩu, hội còn đỡ đầu một trung tâm du hí, vừa để làm trạm giao liên cho điệp viên hoạt động ở Tân cương và Trung Á, vừa làm dùng nơi mua vui cho các nhân vật Trung hoa mà hội muốn lấy tin tức.
        Năm 1898, Hội Tiến tới Thống Nhất Văn Hóa Viễn Đông ra đời. Hội này lập tại Thượng hải một trường huấn luyện nhân viên phục vụ trong vùng Viễn Đông. Năm 1908, hội có 272 điệp viên hoạt động tại Trung hoa, Diến điện, Ấn độ, Đông dương, Phi luật tân và Mông cổ. Năm 1939, với sự trợ giúp của quân đội Thiên hoàng, trường này có bốn ngàn học viên, và tiếp tục mở cửa cho đến năm 1945, Nhựt đầu hàng đồng minh.
        Hội đoàn quan trọng nhứt là đảng Hắc long thành lập năm 1901 bởi Usida (3). 
        Usida là người sáng lập trường nhu thuật Hắc Hải tại Vờlađivốttốc. Sudiama (4), phụ tá của Usida, là người điều khiển câu lạc bộ tình dục tại Hán khẩu. Năm 1944, đảng Hắc long có trên mười ngàn đảng viên, hoạt động khắp thế giới. Thủ tướng Kôki Hirôta cũng là đảng viên Hắc long. Năm 1943, đảng trưởng Kurusu (5) điện cho tổng thống Mỹ Rudơveo (6) và thủ tướng Anh Sớtsin, cảnh cáo
----------------------------
(1)    Hokkaido. (2) Vladivostok. (3) Ryohei Ouchida. (4) Sougiyama. (5) Yashihisu Kurusu.
 
 
 
100                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
đồng minh không đầu hàng, thì sẽ rước lấy thảm bại. Sự kiện này chứng tỏ đảng Hắc long rất mạnh. 
        Đảng Hắc long mở hai trường dạy gián điệp tại Đông kinh, ngụy trang dưới những tên hiền lành: trường Huấn luyện Quốc gia, do Phukútsima (6) điều khiển năm 1944, và trường ngoại ngữ Osaka và Đông kinh.
        Ngoài Hắc Hải và Hắc long, còn có những tổ chức tình báo nhân dân kém quan trọng như hội Đại Á Gikai, hội Đại Đông Á Thức tỉnh, và đảng Chó sói trắng. Năm 1932, đảng ái quốc Nhựt mở rộng tới vùng Cận và Trung đông. Một số sỉ quan Hắc long giả vờ theo đạo Hồi, học tiếng á rập đi hành hương thánh địa La Mếch để lấy tin và tuyên truyền. Năm 1944, các bí thư sứ quán Nhựt tại Kabun (7) và Ankara đều là đảng viên Hắc long.
        Điệp viên Nhựt lỗi lạc nhứt là Kendi Đôihara (8). Năm 21 tuổi, Đôihara lập mưu chụp hình em gái 15 tuổi trần truồng dâng cho một vị hoàng thân để làm vợ hầu. Nhờ em gái tiến thân, Đôihara được sang Trung hoa phụ tá tướng Honđô (9), tùy viên quân sự tại Bắc kinh. Đôihara trổ tài tình báo với mục đích giựt đổ chánh phủ Trung hoa.
        Dưới trướng, Đôihara có một đạo binh hành động gồm 5000 tội phạm đã trốn khỏi Nga sô sau cuộc cách mạnh của Lênin. Đôihara còn lập thêm một đạo quân 80.000 giặc cỏ, mang tên là hội Trường Mao (tóc dài).  Đôihara mở các tiệm hút thuốc phiện, các nhà chứa thổ. Nhân viên của Đôihara đi khắp nước Tàu bán á phiện. Các hãng thuốc lá ở Nhựt chế tạo riêng cho Đôihara một loại thuốc riêng tấm á phiện đề xuất cảng sang Tàu. Đôihara còn tuyển mộ phụ nữ Bạch Nga tị nạn để mở xóm bình hang tại Múc đen (10) và Hátbin (11).
 
-----------------------------
(6) Giichi Fukushima. (7) Kaboul. (8) Kenji Doihara. (9) Hondo. (10) Moukden. (11) Harbin.
 
 
 
 
101                                                                                                                                                         TÌNH BÁO NHỰT BẢN
 
        Năm 1913, Nhựt đánh chiếm Mãn Châu, Đôihara đặt Phổ Nghi làm vua bù nhìn. Sau đó, Đôihara tới Bắc kinh dùng tiền và tình lung lạc các nhân vật chánh quyền. Do trung gian của nữ tài tử Mai lan Phương, Đôihara tổ chức được viên bí thư của tướng Tưởng giới Thạch. Tưởng định đánh úp hải đội Nhựt tai Hán khẩu. Đôihara biết trước. Kết quả là viên bí thư bị Tưởng xử bắn về tội phản quốc. Tưởng còn hành quyết thêm tám trung tướng, song vẫn không chặn nổi ảnh hưởng gớm ghê của Đôihara.
        Kempêtai là tổ chức hết sức hùng mạnh trong quân đội Nhựt. Đứng đầu là một sĩ quan hiến binh cao cấp, nhân viên đều là tình nguyện. Muốn vào Kempêtai phải có ít nhứt sáu năm quân ngũ. Nhân viên Kempêtai được huấn luyện một năm về luật, ngoại ngữ, điệp báo, phép đánh kiếm, nhu thuật, và kỹ thuật cảnh sát.
        Năm 1945, Kempêtai gồm 70.000 nhân viên, trong số 24.000 là sĩ quan. Đó là chưa kể nhân viên bản xứ. Kempêtai vừa làm phản gián, vừa làm quân cảnh được quyền bắt giam một sĩ quan trên ba cấp, nghĩa là thiếu úy được quyền bắt thiếu tá, và được cả quyền quyết định trừng phạt tại chỗ. Nhân viên Kempêtai không phải chào sĩ quan các binh chủng khác.
 
      8-  Gián điệp Nhựt tại Trân châu Cảng
 
        Trước thế chiến thứ hai, sự phòng thủ của Hoa Kỳ chống gián điệp địch rất yếu ớt, vì chưa có một cơ quan phản gián trung ương. Tháng 9-1939, súng nổ tại Âu châu, tổng thống Rudơveo cho phép công an liên bang F.B.I. kiêm thêm phần hành phản gián. Song tình trạng tranh tối tranh sáng tại các cơ quan điệp báo đã vô tình tiếp tay cho địch, đặc biệt là tại Hạ uy di. 
        Tháng 11-1941, công an F.B.I. đặt dụng cụ nghe trộm đường giây điện thoại của tòa tổng lãnh sự Nhựt  
 
 
 
 
102                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
nghi ngờ là tổng hành doanh gián điệp trên quần đảo Hạ uy di. Phòng Nhì Hải quân xía vào khiến F.B.I. phải tự rút lui. Phòng Nhì này lại kèn cựa với một cơ quan phản gián khác, rốt cuộc chẳng ai làm gì được hết. 
        Tasibana (1) sĩ quan cao cấp hải quân được chánh phủ Đông kinh gởi qua Hoa kỳ học tiếng Anh. Tháng 5-1941, F.B.I. báo cáo bộ Ngoại giao Mỹ biết Tasibana là nhân viên do thám và yêu cầu bắt. Sau đó, Tasibana bị bắt giam. Ngày 14-6, đại sứ Nhựt Nomura thăm ngoại trưởng Mỹ và Tasibana được phóng thích mặc dù có tang chứng cụ thể.
        Thái đó quân tử tàu này làm Mỹ trở tay không kịp. Những quả bom đầu tiên rơi xuống Trân châu cảng trong khi tướng Mác Sôn (2) đọc báo trong cầu tiêu buổi sáng. Tại Mỹ, tổng giám đốc công an kẹt chưa về được văn phòng, cộng sự viện thân cận của ông thì tụ họp tại sân vận động để xem đấu bóng tròn.
        Nguồn tin hữu quyền tiết lộ hồi ấy Nhựt có ít nhứt bốn trăm điệp viên trên quần đảo Hạ uy di. Hoạt động đại qui mô này đặt dưới quyền của Kita, tổng lãnh sự Nhựt cáo già gián điệp. Cánh tay mặt của Kita là Okuda (3). Trước ngày Trân châu cảng nổi sóng, Nhựt phái tới một kỳ tài do thám nữa tên là Phudi (4). Người ta không biết gì về đời tư của Phudi, chỉ biết y đến Honolulu vào tháng 9-1941, theo lệnh đô đốc Yamamoto, tổng tư lệnh hải quân.
         Yamamoto là tùy viên hải quân tại Hoa thịnh đốn năm 1926 nên rất am hiểu người Mỹ, và sự am hiểu này đã giúp Yamamoto thảo kế hoạch tấn công chớp nhoáng và được chánh phủ Nhựt chấp thuận. Ngày 15-2-1941, Đông kinh ra lệnh cho gián điệp Nhựt tại Mỹ dốc toàn lực vào việc lấy
 
------------------------
(1)    Tachibana. (2) George Marshall. (3) Atojiro Okuda. (4) Ichiro Fuji.
 
 
 
103                                                                                                                         GIÁN ĐIỆP NHỰT TAI TRÂN CHÂU CẢNG
 
tin quân sự. Ngày 24-9, Đông kinh ra lệnh cho gián điệp Nhựt chia hải phận Trân châu cảng thành 5 tiểu khu. Ngày 1-12-1941, nội các chiến tranh Nhựt chấp thuận ngày tấn công do đô đốc Yamamoto đề nghị, đó là ngày 7-12. Ngày 2-12, Terasaki, chỉ huy gián điệp tại Mỹ, được lệnh hồi hương lập tức cùng bốn nhân viên phụ tá. Đại sứ Nhựt không biết Terasaki là chỉ huy gián điệp nên điện về xin y ở lại. Đề nghị này bị bác bỏ.
        Tại Honolulu, Nhựt còn có một điệp viên địa phương đắc lực. Y là Dim my (5), người Đức, gia nhập gián điệp Nhựt năm 1936. Từ 1936 đến 1939, y đã gởi ngân hàng được 70.000 đô la. Năm 1941, y kiếm thêm được 16.000 đô la. Tình báo Nhựt còn trả cho y 14.000 đô la khác trước ngày tấn công Trân châu cảng. Sự kiện này chứng tỏ điệp báo Nhựt biết tiêu xài mỗi khi cần thiết.
        Ngày 6-12, tổng lãnh sự Kita đánh bức điện cuối cùng về Đông kinh : bức điện này ghi đầy đủ danh sách các chiến hạm Hoa kỳ bỏ neo tại Trân châu cảng. Trong đêm tối, hải quân Nhựt lặng lẽ tiến tới Hạ uy di. Điện đài trên tàu nín lặng, rồi một lệnh đột ngột phát ra «hãy trèo lên núi Miitaka». Đó là lệnh tổng tấn công.
        Phi cơ Nhựt nhào xuống dội bom. Trước mặt mỗi phi công đều có bản đồ Trân châu cảng kẻ ô vuông. Mỗi phi đội được lệnh oanh kích một ô vuông. Bản đồ này, gián điệp Nhựt chẳng phải nhọc công tìm kiếm. Một điệp viên đã mua các tấm hình chụp cảng Trân châu bằng phi cơ. Một xấp hình dày cộm chỉ tốn một đô la Mỹ. 
        Nếu Hòa kỳ đặt gián điệp tại Đông kinh thì có lẽ Nhựt không đánh úp được Trân châu cảng, và biết đâu chẳng tránh được chiến tranh Nhựt Mỹ.
 
-----------------------------
(5) Jimmy, y còn đội tên là Friedell. Tên thật y là Otto Kuehn.
 
 
 
 
 104                                                                                                                                                        GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Đại tá Mátbơ (10), đã thảo ra kế hoạch M đề nghị lập một tổ chức lấy tin tại Nhựt, nhưng không được chánh phủ Mỹ nghe theo. Cho nên trước vụ Trân châu cảng, Mỹ không có điệp viên nào ở Đông kinh.
        Một ngày trước khi Trân châu cảng chìm trong lửa đạn, tùy viên hải quân Mỹ tại Đông kinh tuyên bố sẽ không thể có tấn công bất thần, vì hải quân Phù Tạng còn bỏ neo tại căn cứ chính Yokosuka. Sự thật là chiến hạm Nhựt đã ra khơi. Tùy viên Mỹ bị lầm vì thấy nhiều thủy thủ ngoài đường phố. Đám thủy thủ này là lục quân mặc binh phục hải quân để đánh lừa. 
 
        9-  Tình báo Liên bang Tây Đức
 
        Bá linh ngày nay được mệnh danh là thành phố bắt cóc. Thật vậy, các điệp viên Đông và Tây Đức, rình rập nhau ngày đêm tại Bá linh, áp dụng thủ đoạn để cướp phần thắng. Một số người Tây Đức bị phe Cộng bắt cóc, nhưng rất nhiều điệp viên Đông Đức đã bị lột mặt nạ.
        Phần lớn thủ lãnh cũng như nhân viên điệp báo Tây và Đông Đức đều xuất thân từ nước Đức thời chiến, cho nên muốn tìm hiếu hiện tại, không thể không nhìn về quá khứ.
        Ngày 31-8-1939, quân đội Đức tấn công Ba lan. Trước đó, mật vụ Đức đã dàn cảnh, vu cáo Ba lan vi phạm biên giới để lấy cớ động binh. Một toán mật vụ mặc binh phục Ba lan, bắn vào đài bá âm Gờliuyt (1), rồi để lại một cái xác. Vụ gắp lửa bỏ tay người này, đô đốc Canari được lệnh thi hành, song đã cương quyết từ chối nên Him-le đã phải giao cho mật vụ Dét ta pô.
 
--------------------------------
(8) Sydney Mashbir.
(1) Gleewitz.
 
 
 
 
105                                                                                                                                         TÌNH BÁO LIÊN BANG TÂY ĐỨC
 
        Sự kiện đó chứng tỏ Canari là một lãnh tụ điệp báo đúng đắn : Canari muốn thắng đối phương bằng mưu lược và tổ chức khoa học, chớ không muốn có hành động côn đồ. Chào đời năm 1887 gần Đớt mơn, trong vùng than đá phì nhiêu, Canari là con út một kỹ sư mỏ sung túc. Canari gia nhập thủy quân, tòng sự trong ngành tình báo trong thế chiến thứ nhứt. Trước đình chiến, Canari chỉ huy một tiềm thủy đĩnh.
        Ngày 1-1-1935, đột nhiên Canari được bổ nhiệm chỉ huy trưởng Phòng Nhì. Là thủy sư đô đốc, Canari lại ghét nhà binh, bằng chứng là sĩ quan nào dưới quyền đeo đầy ngực huy chương là bị ghét cay, ghét đắng. Canari dính vào một vụ mưu sát Hít le nên bị hành hình.
        Trước thế chiến thứ hai, Canari có dưới quyền 18.000 nhân viên thường trực, cả nam lẫn nữ, và hàng ngàn mật báo viên rải rác khắp nơi. Phòng Nhì được chia làm 5 ban, ban 1, ban 2, ban3, ban ngoại vụ và ban trung ương. Ban trung ương được đặt dưới sự điều khiển của đại tá Ot te (2), nhân vật thứ nhì sau Canari, và cũng chống Hít le quyết liệt. Ban ngoại vụ do một sĩ quan cao cấp hải quân tên là Bớt ne (3) chỉ huy, có nhiệm vụ liên lạc với ngoại quốc. Ban 3 phụ trách an ninh, phản gián và chống phá hoại. Ban 2 do đại tá Lahusen (4) cầm đầu chuyên về phá hoại và các công tác mật khác. Bạn 1 là ban tình báo bí mật (5).
        Ban này được chia ra 3 tiểu ban, lục quân, thủy quân, không quân và làm 5 nhóm. Nhóm G coi việc chế tạo các vật chứa chất nổ đặc biệt, các phương pháp chụp hình riêng, các loại mực bí mật, thông hành giả, giấy tờ giả, và một số phụ tùng khác cần thiết cho nghề gián điệp. Nhóm 1 phụ trách thông tin vô tuyến, và cung cấp điện đài bí mật cho các tiểu tổ do thám.
 
-----------------------------------
(2)    Hans Oster. (3) Burkner. (4) Von Lakousen. (5) tiếng Đức là Geheimer Meldediensi.
 
 
 
106                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Ban 1, ban tình báo bí mật, đặt trụ sở tại Bá linh, với một số nhân viên chọn lọc, gọi tắc là V (6). 
        Đối thủ của Phòng Nhì là Dét ta pô (7). Trong Dét ta pô, có một cơ quan mệnh danh là SD, tức là an ninh (8). SD có sứ mạng bảo vệ Đức quốc xã chống lại kẻ thù ngoại lai, bằng phương pháp tấn công (do thám) và phòng thủ (phản gián). Hê đờ rích (9), trùm Dét ta pô, nắm luôn cả SD. Hê đờ rích muốn thu hẹp Phòng Nhì của Canari vào một cơ quan lấy tin tầm thường. Hê đờ rích và Canari đều từ hải quân xuất thân, song Canari hơn Hê đờ rích về ngạch trật và tiếng tăm. Hê đờ rích đã kém còn bị liên can tới một vài vụ xấu xa. Canari đã làm đối thủ ngậm miệng, nhờ nắm được một tài liệu chứng tỏ Hê đờ rích, kẻ thừa lệnh Hít le tàn sát người Do Thái, lại mang máu Do Thái trong người.
        Him-le cai quản bộ An ninh viết tắc là RSHA (10). Song Him-le không nguy hiểm bằng Hê đờ rích. Hê đờ rích sinh năm 1904. Năm 1919, cậu Hê đờ rích là nhân viên một hội khủng bố và tuy còn thiếu niên đã giết người không gớm tay. Vào hải quân, y chỉ trèo tới cấp trung úy. Y bắt bồ với nhiều cô gái đào tơ, chẳng may đi đêm gặp ma, y làm ễnh bụng cô gái rượu của một ông kỹ sư hàng hải. Người cha đòi Hê đờ rích điều chỉnh tình trạng gia đình, song gã sở khanh nói toạc ra là không thể kết hôn với một thiếu nữ quá dễ dãi. Y bị tống cổ ra khỏi hải quân.
        Y bèn gia nhập đảng Quốc xã và phụ trách tình báo. Bên cạnh Hít le, y lên như diều gặp gió. Có lần y khám phá ra một viên chức cao cấp liên lạc bằng thư từ với một lý thuyết gia quốc xã (11), kẻ thù không đội trời chung với Hít le. Y đoạt trái tim và thân thể của vợ viện công chức cao cấp. Một đêm kia, sau cuộc truy hoan, y lục lọi phòng ngủ và đánh cắp được những bức thư quan trọng. Tự đó y được Hít le
 
----------------------------------
(6) V là viết tắc của vertrauen, nghĩa là bí mật. (7) Gestapo. (8) tiếng Đức là Sicherheistdienst.
(9) Reinhard Heydrich. (10) Reichssicherheithauptmamt. (11) Gregor Strasser.
 
 
 
 
107                                                                                                                                         TÌNH BÁO LIÊN BANG TÂY ĐỨC
 
tin dùng. Năm 1931, mới 31 tuổi, Hê đờ rích được chỉ huy ngành tình báo đặc biệt của Đảng và tư lệnh đoàn quân xung phong. Núp bóng Hít le, y xô Đức quốc vào vũng máu. 
        Trước thế chiến, ban 1 của Phòng Nhì đã đặt ra một cơ quan nghiên cứu và thu thập tin tức về phòng tuyến Madinô của Pháp. Một số điệp viên quốc xã bị thộp cổ trong khi điều tra gần phòng tuyến. Sau đó đô đốc Canari thành công nhờ sự phản quốc của hai sĩ quan Pháp, Cờ rết (12) và Phờ rô (13).
        Đại úy Cờ rết, sĩ quan tùy viên của tướng tư lệnh quân khu Mết (14) đã chuyển cho Đức một phần họa đồ chiến lũy Madinô. Canari lại dùng tiền bạc mua chuộc đại úy Phờ rô, phụ trách tiếp tế cho binh sĩ đồn trú trong chiến lũy.
        Sau đó, Đức quốc xã đánh chiếm Tiệp khắc. Canari gởi sang Pờ ra gờ, thủ đô Tiệp, một số nhân viên có nhiệm vụ tịch thu mọi hồ sơ, tài liệu của Phòng Nhì Tiệp. Gián điệp Đức ăn cánh với một tên Tiệp phản quốc, đại tá Môraoet (15). Môraoet dẫn gián điệp Đức tới một kết sắt bí mật, trong đó quân đội Tiệp cất giữ bản họa đồ toàn diện của pháo đài bất khả xâm phạm Madinô. Sở dĩ Tiệp có họa đồ này vì khi định xây cất hệ thống phòng thủ, Tiệp đã phái một đoàn chuyên viên sang Pháp để thăm viếng pháo lũy Madinô.
        Ban IM của Canari đặt tai mắt khắp nơi để theo dõi hoạt động của hải quân Pháp. Một nữ điệp viên xinh đẹp của Đức (16), đã dùng nhan sắc quyến rũ được một sĩ quan hải quân Pháp, thân cận đô đốc Đát lăn (17), tư lệnh tối cao hải quân. Những chỉ thị tối mật của đô đốc Đát lăn đều được chuyển 48 giờ sau cho Canari ở Bá linh.
        Năm 1939, nhân viên Phòng Nhì Đức,
 
-------------------------------
(12) Credle. (13) Froge. (14) Metz. (15) Morawatz. (16) Lydia Oswald. (17) Darlan.
 
 
 
 
108                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
Ottô Ban (18) từ Pháp trở về đã mang theo một bản danh sách đầy đủ về các phi trường Pháp, kèm theo tin tức về các loại máy bay, nhân viên phi hành và hệ thống an ninh. Những bí mật quốc gia này, Ban lấy của một đại úy trẻ tuổi tòng sự trong bộ Không quân Pháp, tên là Cô (19). Tình yêu và tiền bạc đã xô đẩy Cô cũng như nhiều người Pháp khác vào vòng phản quốc.
        Để nắm đại úy Cô, tình báo Đức đã nhờ tới nhan sắc khuynh thành của một phụ nữ người An dát (20). Nàng trở thành người yêu của Cô và ở chung với y. Lương bổng ít, Cô đâm ra túng thiếu. Túng thì phải tính, Cô phải nặn óc xoay tiền. Khi ấy Ban xuất hiện. Y sẵn sàng trả các món nợ cho đại úy Cô, với một điều kiện...
         Đô đốc Canari còn tổ chức một màng lưới do thám đội lốt công thương gia tại Ba lan, có nhiệm vụ nằm lì. Nằm lì nghĩa là không làm gì, đợi thời cơ thuận tiện mới ra tay. Canari lại tung tiền mua chuộc một số người Ba lan để thu thập tin tức.
        Đức bại trận. Hítle chết trong đống gạch vụn Bá linh, đô đốc Canari, Hê đờ rích, và Him-le, các thủ lãnh điệp báo cừ khôi, đều ra người thiên cổ. Nga sô và Hoa kỳ chạy đua ráo riết trong việc chiếm hữu hồ sơ điệp báo, và thu dùng đạo quân điệp báo của Đức quốc xã.
        Tướng Ghê-len (21), một kỳ tài điệp báo, đã kịp thời hợp tác với Mỹ, đặt nền móng cho guồng máy an ninh Tây Đức thời hậu chiến. Năm 1942, Ghê-lên nhảy dù cùng các đơn vị tình báo xuống đất Nga. Ghê-len tập hợp những người Nga chống Cộng thành một đạo quân, đặt dưới quyền tướng Nga Vờlátsop (22). Là quân nhân chuyên nghiệp, không liên hệ với đảng Quốc xã, lại có tinh thần chống Cộng, Ghê-len
 
--------------------------
(18) Otto Baltes. (19) Pierre Cot. (20) Alsace. (21) Reinhard Geihlen. (22) Vlassop.
 
 
 
 
109                                                                                                                                         TÌNH BÁO LIÊN BANG TÂY ĐỨC
 
đã mang hồ sơ mật và bộ tham mưu ra đầu hàng Mỹ sau khi Hít le bại trận. Mùa hè 1945, Ghê len đáp máy bay bí mật về Hoa thịnh đốn. 
        Từ kẻ thù, Ghê len thành đồng mình đắc lực của Hoa kỳ. Sự liên kết này quan trọng vì Ghê len còn nhiều nhân viên hoạt động bên kia bức màn sắt. Sinh năm 1902 tại Bòrétlô (23), Ghê len gia nhập pháo binh năm 18 tuổi, và giữ cấp trung úy khi Hít le cướp chánh quyền. Chiến tranh nổ bùng, Ghê len mới đại úy. Từ 1939 đến ngày bại trận, Ghê len phục vụ trên chiến trường miền đông, chống Nga. Năm 1942, bộ tổng tư lệnh Đức lập hai sư đoàn biệt kích, và Ghê len đã nhảy dù với sư đoàn Frende Heere Ost.
        Ghê len có khổ người tầm thước, môi mỏng, tóc thưa, mỗi khi ra ngoài đều đeo kiếng đen, dường như muốn che mặt. Không ai chụp hình được Ghê len. Bức ảnh mới nhứt của Ghê len được chụp từ năm 1943. Cách đây hơn 10 năm, ông sống với vợ và bốn con trong một biệt thự tầm thường tại vùng Ba-vi-e, xóm giềng không bao giờ thấy mặt. Ghê len bắn rất giỏi, thường lái xe đua, ăn mặc lại giản dị. Người ta thường mệnh danh là ông tướng không mặt.
        Mùa thu 1944, một nhân viên của Ghê len được lệnh vượt phòng tuyến để tiếp xúc với một điệp viên làm việc trong một trại nhồi sọ sĩ quan Đức bị bắt tại Gót ky (24) trên đất Nga, cách vùng Đức kiểm soát một ngàn cây số. Y bèn cải trang làm thiếu tá Hổng quân, và tới gặp viên trưởng đồn Sô viết gần mặt trận trình chứng mình thư, đòi kiểm tra các khu vực chôn mìn. 
        Tới một thị trấn khác, y biến thành chánh trị viên quân đội. Trong mình y, mang trên một chục căn cước khác nhau, dĩ nhiên là căn cước giả, và nhiều phong bì tối mật đóng dấu tổng tư lệnh Hổng quân. Dĩ nhiên mật vụ Sô viết không dám đụng tới những phong bì này. Nhân viên của Ghê len hoàn thành công tác,  
 
----------------------------
(23) Breslov. (24) Gorky.
 
 
 
 
110                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
và sau mấy tuần lễ, thản nhiên quay lại phòng tuyến Đức. 
        Sự kiện này xác nhận tài tổ chức phi thường của Ghê-len. Vì vậy, Ghê-len được vinh thăng thiếu tướng trước khi đại chiến chấm dứt. 
        Cuối 1945, Tổ chức Ghê len thành hình dưới sự bảo trợ của C.I.A. Thoạt đầu đóng tại một trại binh Mỹ, gần Phờ răn pho, tổ chức Ghê-len lớn dần và di chuyển tới Pulắc(25), một làng nhỏ gần Muy-ních. Hàng năm, Mỹ cũng cấp cho Ghê-len sáu triệu đô la. Ghê-len ký với C.I.A. một mật ước gồm 5 điểm chính:
        -      Ghê-len tiếp tục hoạt động điệp báo tại Nga sô và các nước chiêu hầu. 
        -      Ghê-len hoạt động dưới sự điều khiển của C.I.A. 
        -      Nhân viên dưới quyền đều là người Đức, ngoại trừ nhân viên nằm lì sau bức màn sắt. 
        -      Tổ chức Ghê-len không hoạt động chống lại quyền lợi quốc gia Đức. 
        -      Khi Đức tái lập chủ quyền, Tổ chức Ghê-len sẽ trở về với chánh phủ Đức. 
        Sau khi bác sĩ Ottô Dôn (26) giám đốc điệp báo Tây Đức, trốn sang vùng Cộng sản, Tổ chức Ghê-len được nâng lên làm cơ quan chánh thức, ngân sách 41 triệu mã kim (năm 1958). Trước đó, Dôn tranh chấp kịch liệt với Ghê-len. Nhưng từ ngày Dôn bỏ đi, vai trò Ghê-len được nổi bật với sự ủng hộ mạnh mẽ của C.I.A. và của thủ tướng Ađênôơ (27).
        Có thể nói Tổ chức Ghê-len là cơ quan điệp báo hữu hiệu nhứt Tây phương. Toàn bộ tổ chức đều được bí mật hóa. Nhân viên Ghê-len đội lốt công thương gia, và các cơ sở đều núp sau chiêu bài hãng buôn, xí nghiệp, văn phòng, báo chí, hãng du lịch..., Ghê-len dùng rất nhiều P-Quellen, điệp viên thâm nhập và A-Quellen điệp viên nhị trùng (28). Khác với
 
---------------------------
(25) Pullach. (26) Otto John. (27) Konrad Adenauer. (28) Abwehr Quellen.
 
 
 
 
111                                                                                                                                         TÌNH BÁO LIÊN BANG TÂY ĐỨC
 
C.I.A. Tổ chức Ghê-len không nhận đơn xin gia nhập. Việc tuyển mộ được giao cho các chuyên viên đi tìm mầm non (29). 
        Hội hoạt động với C.I.A., Ghê-len có bốn ngàn nhân viên, trong số có ba ngàn phụ trách chánh trị, một ngàn chuyên gia quân sự. Khi được chánh thức hóa, chỉ còn hai ngàn được tái dụng. Hiện nay, Tổ chức Ghê-len (kỳ lạ, vì người ta vẫn gọi cơ quan điệp báo Tây Đức là Tổ chức Ghê-len) gồm 1240 viên chức, và một số nhân viên khế ước đặc biệt. 
        Ai cũng nhìn nhận Tổ chức Ghê-len đã làm cộng sản Đông Đức điên đầu. 
 
        10-   S.S.D. kẻ thù của Tây Đức
 
        Đối chọi với tướng Ghê-len, Cộng sản đã dùng ba chuyên viên về phá hoại, ám sát, và điệp báo, song cả ba đều thúc thủ truớc tài tổ chức của viên tướng lãnh không mặt. 
        Ba tay tổ này là Dét se (1), Un uy be (2) và Min kờ (3). 
        Năm 1918, Détse gia nhập đảng Cộng sản Đức. Y hoạt động gián điệp trong vùng than mỏ, cầm đầu tổ chức N, một tổ chức khủng bố. Bị lùng bắt, y trốn sang Nga sô năm 1927, gia nhập Hồng quân và được phái sang Á châu. Năm 1931, bí mật về Đức, y điều khiển màng lưới do tham kinh tế, song bị lộ diện, y phải xuống tàu trốn sang Mạc tư khoa lần nữa.
        Năm 1936, nội chiến diễn ra tại Tây ban nha, y trở thành tướng GôMê (4). Phe thân cộng bị đè bẹp, y về Nga, bị thanh trừng rồi được trả tự do. Được tấn công Nga sô, y được điện Cẩm linh đặt làm
----------------------------
(29) tiếng Đức là werbeabteilung.
(1) William Zaisser. (2) Ernst Wollweber. (3) Erich Mielke. (4) Gomez.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.05.2014 11:01:43 bởi Ct.Ly>
112                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
hiệu trưởng trường chống phát xít, có nhiệm vụ tẩy não những sĩ quan Đức bị bắt. 
        Năm 1945, y về Đức làm giám đốc công an công sản. Ba năm sau, y trở thành bộ trưởng Nội vụ, tiểu bang Sắc (5), Đông Đức. Năm 1949, y tổ chức ban an ninh mật vụ K-5 tại Đông Bá linh. Năm 1950, y vọt lên chức bộ trưởng Công an.
        Bất lực trong việc đàn áp phong trào bất mãn của dân chúng, y bị cất chức. Y quay về điền viên, dịch sách mác xít kiếm ăn. Năm 1958, y từ trần. 
        Unuybe lên thay Détse là một anh lùn, cao một thước năm, nặng đúng một tạ, người tròn như hòn bi, môi dày, răng vàng khấp khểnh, mắt cú vọ, tóc rụng gần hết. Con người xấu xa này lại uống rượu không bao giờ say, thay đàn bà như áo lót mình, và được coi là tay tổ phá hoại của Quốc tế Cộng sản mà y phụng sự trung thành gần nửa thế kỷ.
         Năm 15 tuổi, y bỏ nhà, xin làm trên tàu biển và gia nhập đảng Cộng sản. Trong nhiều năm lênh đênh, y xúi dục thủy thủ nổi loạn, cướp tàu, hoặc lên bờ cướp kho thực phẩm, đúng theo kế hoạch bạo động vô sản của Lê nin. Khi Hít le cầm quyền, Nga sô cử y điều khiển do tham chống Đức. Y trá làm kỹ sư của một công ty ma, đặt văn phòng tại Côpen ha gờ. 21 chiếc tàu của phe Trục đã bị đặt chất nổ đánh chìm. Phản gián treo giải thưởng kếch xù để giết hoặc bắt sống Unuybe, sông y vẫn trốn thoát.
        Thiên bất dung gian, y bị Thụy điển tóm cổ, song Nga sô đã can thiệp cho y rời khỏi khám. Y trở về Bá linh, 6 tuần lễ trước khi quân đội Sô viết kéo vào. 
        Sau chiến tranh, y điều khiển tổ chức do thám cộng sản và phá hoại các chuyến tàu tiếp tế của liên minh Bắc Đại tây dương. Y giữ chức bộ trưởng Công an Đông Đức được bốn năm. Năm 1957, sau cuộc
---------------------------------
(5) Saxe.
 
 
 
 
113                                                                                                                                         S.S.D. KẺ THÙ CỦA TÂY ĐỨC
 
khởi nghĩa Hung gia lợi và chiến dịch bài trừ Sít ta lin, y phải từ chức, song Kut sep gọi y về Mạc tư khoa, gắn huy chương và cử làm tổng thanh tra gián điệp khối chư hầu. Ngày nay y đã quá lục tuần, tóc rụng hết không còn duyên dáng đối với đàn bà nữa. Tuy nhiên, y là trùm do thám duy nhứt bên kia bức màn sắt làm việc từ năm 1918 đến nay không bị mất chức.
        Kẻ lên thay y là một đảng viên cộng sản chuyên về bắt cóc, ám sát, tên là Min-kờ. Năm 1931, nhân dân Đức đang thích Hít le và ghét cộng sản, nên Min-kờ được lệnh gây rối và giết nhân viên cảnh sát. Y tốt nghiệp trường Phờrơndờ (6), dạy phương pháp cướp chánh quyền, tại Mạc tư khoa. Y hoạt động trong phe thân Cộng tại Tây ban nha, thời nội chiến. Từ 1940 đến 1945, y sống tại Nga sô. Y núp sau chiến xa Sô viết tiến vào Bá linh.
        Min-kờ hiện là chủ nhân SSD, tức là Công an Mật vụ Đông Đức (7). Năm 1945, SSD còn là cảnh sát tư pháp (8), do Hồng quân đặt ra trong vùng họ kiểm soát. Hồi đó, một ban cảnh sát chính trị gọi là K-5 được thành lập để tiêu diệt những người có tư tưởng tự do. K-5 áp dụng những phương pháp tra tấn vô cùng tàn bạo, còn tàn bạo hơn cả Dét ta pô quốc xã nữa. Sau đó, K-5 biến thành SSD.
        Cơ quan điệp báo Đông Đức, viết tắt là H.V.A. có một nha đặc biệt, chuyên về tâm lý chiến, chế tạo đồ giả, báo giả, truyền đơn giả, đem phát ở Tây Đức, hầu phá hoại hàng ngũ đoàn kết của nhân dân phía Tây và ly gián các cường quốc trong khối Bắc Đại tây dương.
        Hệ thống công an Đông Đức đặt dưới quyền kiểm soát của KGB Sô viết mà tổng hành doanh ở bệnh viện An tô ni út (10), với 800 nhân viên. Cơ quan R.U. Sô viết đóng tại Un đốp (11), một thị trấn nhỏ gần Bá linh chia ra bốn ban và có 250 sĩ quan phụ trách.
 
------------------------------
(6) Frunze. (7) Staatssicherheitsdeinst. (8) Kriminalpolitzei.
(9) Schou Hausen. (10) Saint Antonius. (11) Wunsdorf.
 
 
 
 
114                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Số 7 đường Bay-e (12), Pốt đam, là trạm giao liên của điệp báo Đông Đức với 50 nhân viên được huấn luyện để hoạt động trong khu vực tây phương. Trạm này có một ga ra chứa nhiều xe hơi kiểu tây phương, đeo số giả, hoặc số ngoại giao đoàn, xe nào cũng được gắn một thứ máy riêng, chỉ bấm nút là bảng số đổi khác trong khi xe chạy.
        Với 16.000 nhân viên hoạt động tại Liên bang Tây Đức, cộng sản Đông Đức tiêu hàng năm 125.000 Mỹ kim cho công tác gián điệp. Từ 1950 đến 1960, 2500 điệp viên Đông Đức bị bắt tại Tây Đức, 2186 bị phạt tù, còn 1900 xin qui thuận nên không phải ra tòa.
        Bên trong trụ sở KGB tại bệnh viện An tô ni út, có một ban phụ trách hoạt động bí mật về Tây Đức. Nhân viên thâm nhập và phá hoại đều được ban này huấn luyện. Ngoài ra còn có ban vô tuyến điện và ban do thám kinh tế.
        Đông Đức cung cấp cho Nga sô nhiều dụng cụ do thám tân kỳ, chẳng hạn máy ghi âm tí hon, đường kính 8 ly, đồng hồ đeo tay đựng máy ghi âm, điện đài nhỏ xíu giấu trong túi áo. Về dụng cụ chuyển tin thì có loại thùng hai đáy, thùng hai vỏ, giống như bình thủy. Cũng được chế tạo tại Đông Đức những súng lục ngụy trang thành bút máy, bút chì bắn ra một loại đạn làm nạn nhân tê liệt, máy ảnh gắn vào ve áo vét tông, trông như khuy áo. Ngoài ra còn có một dụng cụ giúp cho điệp viên nghe trộm dễ dàng.
        Sở do thám Đông Đức còn chế tạo ma túy. Chất ghiền được dùng để mua tài liệu, hoặc để làm suy nhược tinh thần những người cộng tác với mật vụ Cộng sản. Ma túy là con dao hai lưỡi nên nhiều điệp viên Cộng sản đã nghiền á phiện và bạch phiến. 
        Đông Bá linh có 3 trường dạy gián điệp. 
        Các nước cộng sản ở Đông Âu đều nằm trong
-------------------------------
(12) Bayerstrasse.
 
 
 
 
115                                                                                                                                         TÌNH BÁO LIÊN BANG TÂY ĐỨC
 
vòng kiểm soát của Nga sô ngoại trừ Nam tư, đều theo con đường riêng và An ba ni (13) theo Trung Cộng. 
        Điệp báo Tiệp khắc, Ba lan và Đông Đức hoàn toàn cóp nhặt theo khuôn mẫu Sô viết. Sở do thám Ba lan gọi là Z.2. Cố vấn tối cao của Z.2 là đại tá hải quân Sô viết A mô sop (14). Năm 1954, Amosop bị trục xuất khỏi Hoa kỳ về tội quả tang gián điệp dưới chức tùy viên hải quân tại sứ quán Nga sô.
        Trước thế chiến thứ hai, Ba lan chưa bị Nga sô nhuộm đỏ, tình báo Ba lan đã nêu được thành tích khâm phục. Tiền đồn quan trọng của gián điệp Ba lan trên đất Đức tọa lạc tại Bờrombe (15), sát biên giới hai nước, với 11 nhân viên. Một trong các nhân viên này đóng đô tại Đan-dích (16), và tạo phi thường bằng cách thâm nhập Phòng Nhì quốc xã.
        Ba lan đã dùng chiến thuật xưa như trái đất, chiến thuật mỹ nhân. Ba lan vốn có nhiều người đẹp. Cờ-lara (17) lại là hoa khôi, nên nàng thành công không mấy khó khăn. Nàng đóng vai thư ký tầm thường trong một nhà buôn đúng đắn tại Đan-dích.
        Người thon nhỏ, tóc vàng, mắt to và sáng, đôi môi dày, ướt, dường như được nặn ra để hôn đàn ông, tấm thân nõn nà, đều đặn, không một vết thẹo, nàng chài được viên đại diện địa phương của đô đốc Canari tên là Di-sơn (18). Y là một quân nhân chuyên nghiệp, ngoại quốc it biết tên song đuoc khâm phục ở Ba lan. Có thể nói Di-sơn là điệp viên xuất sắc bậc nhứt của Ba lan trong thế chiến.
        Sau 27 ngày kháng chiến anh dũng, Ba lan bị Đức quốc xã đè bẹp, song sở điệp báo Ba lan vẫn tiếp tục hoạt động. Tại Đốt-mơn, trung tâm kỹ nghệ chiến tranh của Đức, phản gián quốc xã đã bắt được 16
 
-----------------------------
(13) Albanie. (14) Igor Amosov. (15) Bromberg. (16) Dantzig. (17) Clara Shebinska. (18) Zychon.
 
 
 
 
116                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
người Ba lan thâm nhập vào nhà máy để đánh cắp tin tức. Trên một rương tài liệu tối mật đã lọt vào tay Ba lan. Người cầm đầu tổ chức đã nhập Đức tịch để dễ do thám và y đã hành nghề 11 năm mới bại lộ.
        Tình báo Trung cộng không hoàn toàn tuỳ thuộc vào Nga sô, nhứt là sau khi xảy ra sự tranh chấp Nga Hoa. Năm 1959, cố vấn điệp báo Sô viết đã rời lục địa về Mạc tư khoa. Hoạt động do thám của Bắc kinh đang lan sang Phi châu, Nam Mỹ và Âu châu. Cơ sở đại diện của Trung cộng tại Thụy Sĩ gồm trên một trăm nhân viên, hầu hết đều làm gián điệp. Tuy nhiên, Trung cộng còn thua kém đàn anh Sô viết quá xa. Gián điệp Trung cộng chuyên về phá hoại hơn là lấy tin. Về chiến thuật, hộ sính dùng ma túy và sắc đẹp. Dầu sao, còn phải đợi một thời gian nữa, điệp báo của Trung cộng mới trở thành đối thủ đồng cân đồng lạng với tây phương.
 
      11-      Gián điệp tư nhân
 
        Sau đây là một số tổ chức gián điệp tư nhân ra đời sau chiến tranh: 
        -      Hãng Quốc tế Tin tức (1). Tổ chức này do đại tá trừ bị Hoa kỳ A-mốt (2) thành lập, với tiền ủng hộ của nhà tỷ phú Ryan (3), ngân sách 50.000 đô la. Tổ chức này khoe khoang có thời dùng 7000 nhân viên, trong đó có 12 lãnh tụ điệp báo trên thế giới, tuy nhiên, con số này không đúng sự thật. Hãng Quốc tế Tin tức lấy tin tức khắp nơi và bán lại cho cơ quan nào muốn mua.
        Các tổ chức điệp báo tư nhân được thành lập rất nhiều tại Đức. 
        -      Liên đoàn Luật gia Tự Do (4). Ra đời năm 1949, với sự ám trợ của C.I.A., Liên đoàn gồm một bộ tham mưu 80 người, đóng trụ sở tại Bá linh, số 29, đường Li-mát (5). Liên đoàn sẵn sàng
 
------------------------------
(1) International Service of Information Foundation Inc. (2) Ulius Pete Amoss. (3) Clendenin Ryan.
(4) Untersuchungsausschuss Freiheitlicher Juristen, League of Free Jurists. (5) Limastrasse.
 
 
 
 
117                                                                                                                                                         GIÁN ĐIỆP TƯ NHÂN
 
cung cấp tin tức và phương tiện cho người dân Đông Đức nào muốn bỏ vùng Cộng sản sang phía Tây tị nạn. Nhờ hệ thống điệp báo hữu hiệu, Liên đoàn biết hết những vụ án bị mật diễn ra tại Đông Đức và kịp thời tố cáo với công luận thế giới. Để hạn chế hoạt động của Liên đoàn, Nga sô đã bắt cóc hai thủ lãnh nổi tiếng, năm 1952, bác sĩ Lin-sờ (6), năm 1957, bác sĩ Numan (7).
        -      Nhóm chiến đấu chống Phi Nhân loại (8). Nhóm này khai sinh năm 1948 với mục đích giúp đỡ chánh trị phạm và gia đình họ trong vùng cộng sản. Nhiều đội biệt kích của Nhóm đã thâm nhập Đông Đức để lấy tin và phá hoại. Nhóm này đã giải tán năm 1959.
        -      Liên minh Quốc gia của người Nga chống Cộng, viết tắt là N.T.S. (9). Ra đời năm 1930, gồm những người Nga tự do, nhằm lật đổ chế độ cộng sản. Liên minh đã gây được thanh thế phía sau bức màn sắt. N.T.S. còn đặt một trung tâm huấn luyện tại Bát-Gô-đét-be (10), huấn luyện điệp viên thâm nhập Nga sô. N.T.S. liên lạc với các cơ quan tình báo tây phương, song vẫn hoạt động độc lập, theo đuổi mục phiêu cách mạng.
        N.T.S bí mật phát nhiều truyền đơn, sách báo chống Cộng tại Nga sô. Từ năm 1953, năm Sít-ta-lin chết, 100 triệu tài liệu chống Cộng sản của N.T.S. đã vượt biên giới Sô viết. N.T.S. có nhà xuất bản riêng, in một tờ báo và nhiều báo chí khác, đồng thời in giả báo chí cộng sản với mục đích phản tuyên truyền nữa.
        Đài bá âm riêng của N.T.S. mệnh danh Nga tự do, phát thanh mỗi ngày mười tiếng đồng hồ. Năm 1958, gián điệp Đông Đức gài bom nổ chậm, đài bá âm bị hư hại nặng. Năm 1958, 800 du khách Sô viết tới viếng cuộc triển lãm ở Bỉ, nhân viên N.T.S. đã
 
-------------------------------
 (6) Walter Linse. (7) Erwin Neuman. (8) Kamfgruppe gegen Unmenschlichkett. (9) Narodno Troudoyov Soyouz. Dat tru so tai Francfort-sur-le-Mein. (10) Bad Godesberg.
 
 
 
 
118                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
tới tiếp xúc và tuyên truyền. Trên nguyên tắc, N.T.S. đã có mặt tại bất cứ nơi nào có người Nga, phía bên này bức màn sắt. 
        Ngày 18-7-1961, Cộng sản ném bom vào trụ sở N.T.S. tai Phờ-răn-pho, làm cửa kiếng vở nát, và để lại một hố sâu ba tấc, rộng một thước. Tháng 12-1958, một tay du đảng được thuê tiền để giết bác sĩ Po-rem-ky (11), chủ tịch N.T.S., đã qui thuận tây phương, và phanh phui âm mưu của gián điệp cộng sản.
        N.T.S. có ủy ban hành động gồm 100 người, phần lớn ở Phờ-răn-pho. 
        Đại úy mật vụ Sô viết Khốt-lốp (12), được lệnh ám sát O-kô-lô-vich (13), một lãnh tụ N.T.S. năm 1954. O-kô-lô-vich đã hai lần bí mật vào Nga sô, và bị mưu sát hụt nhiều lần. Khốt-lốp trái lệnh, xin tị nạn và gia nhập N.T.S.
        -      Văn phòng Tây phương (14) là một thông tấn xã tư chuyên về tin tức Đông Đức. Nhân viên thông tấn xã này đều mang bí danh, sợ Cộng sản ám sát. Thông tấn xã này có một thư khố chứa 90.000 phiếu lý lịch những người quan trọng ở Đông Đức. Cộng sản tố cáo Bôn-man (15) và Ráp (16), giám đốc thông tấn xã này là hoạt động gián điệp.
        Văn phòng Tây phương được chánh phủ Tây Đức trợ cấp.
        -      Đài bá âm Âu châu Tự do. Đài này ở trong một công viên ở Muy-ních, chuyên phát thanh
 
--------------------------------
(11) Vladimir Poremsky.
(12) Khokhlov.
(13) Georgi Okolovich.
(14) Osibuso.
(15) Helmuth Bohlmann.
(16) Elisabeth Rapp.
 
 
 
 
119                                                                                                                                                         GIÁN ĐIỆP TƯ NHÂN
 
..... Với 28 cơ sở, đài này truyền tin vào Ba lan, Hung, Tiệp, Lỗ và Bảo. Ngân sách hàng năm là 11 triệu đô la, phần lớn do sự cung cấp của công ty xe hơi G.M.C.  (17), Pho (18) và hãng xăng Et-sô (19). 
        Phe Cộng phải đặt hai ngàn trung tâm phá tuyến, mất trên 225 triệu đô la. Tuy bị phá, đài này vẫn nghe được, nhứt là về đêm. Đài Âu châu tự do có một cơ quan chuyên nghe đài Cộng sản, và 15 trung tâm thu thập tin tức đọc bức màn sắt.
        -      Đài tự do. Đài tự do hoạt động tại Muy-ních, phát thanh vào Nga sô và Đông Đức. Nhân viên gồm 150 người Nga tị nạn. Đài này vượt qua được các đại phá của Nga sô. Từ ngày đài ra đời năm 1953 tới nay, hai nhân viên đã bị cộng sản hạ sát. 
 
        12-      Gián điệp Cộng Sản trước thế chiến thứ hai
 
        Nga sô thiết lập tại Pháp từ năm 1924 một màng lưới do thám, tuyển mộ trong đám đảng viên Cộng sản. Vì tổ chức quá lỏng lẻo nên phản gián Pháp phăng ra và tóm trọn ổ năm 1927. Một tổ chức khác, do tướng Mu-ray (1), bí danh của một thủ lãnh Sô viết, điều khiển, cũng bị tan rã, Mu-ray bị bắt năm 1931.
        Bát-bê (2), tổng thư ký đảng Cộng sản Pháp, được tướng Bét-sanh (3), chỉ huy mật vụ Sô viết gởi sang Mạc tư khoa, để nhận chỉ thị về việc tổ chức gián điệp. Bát-bê từ chối. Sau đó, y mất chức tổng thư ký, và năm 1932, Nga sô đã thuyết phục được Đuy-cờ-lô (4) và Mác-ty (5), những kẻ thay thế Bát-bê. Công tác do thám này được điều khiển bởi một nhóm điệp viên chuyên nghiệp từ ...
 
--------------------------
 (17) General Motors Company. (18) Ford. (19) Esso.
(1) Général Muraille. (2) Barbé. (3) Bersin. (4) Jacques Duclos. (5) André Marty.
 
 
 
 
120                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Tổ chức của Nga sô lại bị bại lộ do tinh thần yêu nước của sinh viên cộng sản Ri-ki-ê (7). Làm giao liên giữa nhóm Phan-tô-mát (6) với tòa soạn Nhân loại (8), cơ quan của Trung ương Pháp cộng, Ri-ki-ê nhận thấy đó là một hành động do thám, nên đã tường trình với cảnh sát. Lãnh tụ Pháp Cộng, Đuy-cơ-lô phải trốn sang Nga sô, còn nội bọn bị bắt.
        Năm 1935, hiệp ước Pháp-Nga được ký kết, năm 1936, Mặt trận Bình dân ra đời, đảng Cộng sản công khai tham chính với nền đệ tam cộng hòa, nên Nga sô ra lệnh tạm ngưng công tác do thám bí mật.
        Từ 1920 đến ngày Hít-le nắm quyền, gián điệp Sô viết bị nhiều lần đảo điên ở Đức quốc. Điện Cẩm linh đưa qua Đức một số chuyên viên phá hoại, và thâm nhập, với ý định cướp chánh quyền, song cuộc nổi loạn tháng 10-1923 thất bại, nên Nga sô đành chú trọng vào công tác lấy tin bí mật. Từ 1926 đến 1933, gián điệp Sô viết đánh cắp được nhiều tài liệu.
        Năm 1933, Hít-le đập tan đảng Cộng sản Đức, tổ chức do thám của Nga sô bị tê liệt hoàn toàn. Nga sô bèn cử qua Bá linh hai tay tổ, Gờ-rum-phen (9) và Ra-bi-nô-vich (10). Năm 1936, Ra-bi-nô-vich chỉ tập hợp được hai chục nhân viên, nên hoạt động không đắc lực. Bị khủng bố dữ dội, gián điệp Sô viết phải dời tổng hành doanh ra nước ngoài.
        Cuộc thanh trừng đẫm máu tại Nga sô năm 1937 làm guồng máy do thám Sô viết bị yếu kém một thời gian. Put-na (11), tùy viên quân sự tại Luân đôn, bị triệu hồi và hành quyết. Hai điệp viên nổi danh Ót-lốp (12) và Kô-ri-vít-ky (13) bỏ trốn sang tây phương.
 
------------------------
(6) Fantomas. (7) Riquier. (8) Humanité. (9) Grumfield. (10) Rabinovich. (11) Putna. (12) Orlov.
(13) Krivitsky.
 
 
 
 
121                                                                                         GIÁN ĐIỆP CỘNG SẢN TRƯỚC THẾ CHIẾN THỨ HAI
 
        Năm 1937, Sê-li-ha (14), nhân viên sứ quán Đức tại Vạc-sô-vi, Ba lan, bị Nga sô mua chuộc bằng tiền và đem bán nhiều tài liệu mật. Sau đó, Sê-li-ha bị xử tử. 
        Trước thế chiến, gián điệp Sô viết chỉ hoạt động hạn chế tại Bắc Mỹ. Đô-den-be (15) lập một công ty phim ảnh làm bình phong cho công tác do thám. Theo lệnh Mạc tư khoa, Đô-den-be in đô la giả tại Hoa kỳ để lấy tiền. Bại lộ, y phải bỏ trốn.
        Nga sô lại thành lập tại Mỹ một công ty thương mãi trá hình tên là Am-to (16)  - cũng như công ty trá hình Ác-cốt (17) tai Luân đôn – song kết quả không mấy khả quan. Phải chờ tới thế chiến Nga sô mới bành trướng công tác gián điệp tới cao độ. 
 
        13-      Đại chiến: 4 tổ chức gián điệp Sô viết tại Âu châu
 
        Thế chiến nổ bùng, Nga sô đã có sẵn nhiều tiểu tổ gián điệp rải rác trên toàn Âu châu. Hầu hết đều có thể liên lạc bằng làn sóng ngắn. Có ba điện đài bí mật tại Ba lan, bốn tại Tiệp khắc, ba trong vùng băng-căng, trong số đó đài ở Sô-phia (1), thủ đô Lô-ma-ni, được coi là đắc lực. 
        Ngoài ra, còn bốn tổ chức tại Pháp, Bỉ, và Ba lan, Đức và Thụy sĩ. Phản gián Đức mở chiến lược tiêu diệt gián điệp cộng sản ở Pháp, Bỉ và Đức. Đó là chiến dịch Giàn nhạc đỏ (2). Tổ chức trên trung lập Thụy sĩ gọi là Ba đỏ (3). Sở dĩ gọi là ba đỏ, vì Đức bắt được làn sóng của ba điện đài bí mật.
        Tổ chức ở Bá linh do Bôi-sen (4) cầm đầu, qui tụ được nhiều phần tử thượng lưu, phần đông là thân cộng. Bôi-sen, bí danh là Co-rô, là thạc sĩ của trường đại học Bá linh, được đồng hóa làm đại úy, tòng sự  
 
----------------------------------
(14) Rudolph von Sheliha. (15) Dozenberg. (16) Amtorg Trading Corporation. (17) Arcos.
(1) Sofia. (2) Rote Kapelle. (3) Rote Drei. (4) Boisen.
 
 
122                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
tại bộ Không quân, phụ trách Phản gián. Bôi-sen được thượng cấp tin cậy, nên đến khi sự thật được phanh phui, mọi người bật ngửa. Y trạc ba mươi, người cao lớn, mắt xanh, tóc vàng. Vợ y, Hát-hi (5) bí danh Li-be-tát (6), cũng thuộc hoàng phái. Đẹp, quyến rũ, nàng đã giúp y đắc lực.
        Hác-nắc (7), tiến sĩ triết học, đảng viên Cộng sản thâm niên, giữ chức phó giám đốc trong bộ Kinh tế, là cánh tay mặt của Bôi-sen. Vợ Hác-nắc (8), gốc Hoa kỳ, dạy văn chương Anh tại đại học đường, bị chồng lôi cuốn, đã đóng vai nhân viên mật mã. Cúc-kop (9), soạn giả, có nhiệm vụ phát triển nhân viên trong giới ca kịch. Vợ y, Gờ-rê-ta, đảng viên Cộng sản cuồng tín, đã tẩu thoát khi toàn bộ tổ chức bị phá vỡ sau 14 tháng hoạt động. 
        Tổ chức do thám tại Bỉ, Hoà lan và Pháp do Din-be và Kent chỉ huy. Cầm đầu tại Thụy sĩ là Ra-đô (10).
 
        14-      Ken: lụy với tình
 
        Tăng cường hệ thống Đức, đại úy Sô viết Su-cu-lốp (1), một tay gián điệp cừ khôi, được phái sang Bá linh. Sau đó, y lập trụ sở tại thủ đô Bỉ. Màng lưới của y bao trùm cả Hòa lan và Pháp. 
        Su-cu-lốp đội nhiều tên giả và tên thường dùng là Ken (2). Tại Bờ-ruyt-xen, y giả làm một thương gia tỉ phú nam Mỹ, tên là Sie-ra (3), sinh sống một cách đế vương trong một biệt thự lộng lẫy. 
        Tổng hành doanh của Ken tọa lạc trong một tòa nhà khác ở đường At-tờ-bát (4). Ngụy trang
 
-----------------------------------
(5) Haas Heye. (6) Libertas. (7) Arvid Harnack. (8) Mildred. (9) Adam Cuckhoff. (10) Alexandre Rado.
(1) Victor Sukulov. (2) Kent, cac ten khac la Dupuis, Lebrun, Fritz, Cirin, Arthur, Alamo, Charles, Kent.
(3) Vincente-Antonio Sierra. (4) Attrebattes.
 
 
 
123                                                                                                                                                         KEN : LỤY VỚI TÌNH
 
làm thương gia Nam-Mỹ, Ken giao dịch với Đức tuyển mộ nhân công cho kỹ nghệ chiến tranh quốc xã. Nhờ tài tổ chức khéo léo, Ken đã thu, lượm được nhiều thành tích khả quan. Mùa thu 1941, các kế hoạch quân sự của bộ tư lệnh quốc xã đều được Ken chuyển về Mạc tư khoa. Có lần do thám quốc xã đoạt được bộ mật mã của Nga sô. Ken đã báo tin cho Phản gián Sô viết cướp lại kịp thời.
        Nhờ phương pháp Trắc giác (5), Đức phăng ra điện đài PTX của Ken ở Bờ-ruyt-xen. Đàn em của y bị sa lưới, y thoát về Mạc-xây (6), miền nam nước Pháp. Lần này, Phản gián lại tìm được một điện đài khác của Ken. Tháng 11-1942, Ken bị bắt cùng một một nhân viên truyền tin giữa lúc liên lạc vô tuyến với Mạc tư khoa.
        Cũng như nhiều điệp viên khác xa nhà, Ken yêu một góa phụ, Bát-da (7). Y yêu nàng tha thiết và sẵn sàng hy sinh vì nàng. Nắm đuoc yếu điểm, Phản gián Đức dùng nàng để «săng ta» Ken. Sợ tình nhân bị hại, y phải quy thuận. Không những y tố cáo hết nhân viên dưới quyền, y còn tiếp tục vâng lệnh Đức, tiếp tục liên lạc điện đài với Mạc tư khoa, để cung cấp tin tức giả mạo. Trong nhiều tháng, Nga sô đã bị lừa. Trong thời gian này, Đức dùng 60 điện đài để chuyển tin tức láo khoét về Mạc tư khoa.
        Năm 1944, Ken rút lui cùng tàn quân Đức. Sau đại chiến, dường như y được Nga sô tái dụng. Nhưng từ nhiều năm nay, người ta không nghe nhắc tới Ken nữa. Có tin cho biết y bị Nga sô thủ tiêu sau khi trái chanh đã hết nước. Nhân tình y dường như đang sống tại Pháp. 
        Ken mới là người phụ tá. Cầm đầu hệ thống gián điệp là Din-be (8). Bị bắt, Ken tố cáo Din-be, song
 
------------------------------
(5) radio-goniométrie. (6) Marseille. (7) Margarette Barcsa. (8) Gilbert tc Leopold Templer.
 
 
 
 
124                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
điệp viên xuất quỷ nhập thần nay vẫn cao bay xa chạy. 
        Tên tuổi Din-be đã lẫy lừng từ Thượng hải, Ba lê tới Á-căn-đình. Sinh năm 1905 tại Ba lan, y là đảng viên Cộng sản trung kiên. Gia nhập đệ tứ phòng Sô viết, y được đưa đi huấn luyện trong 5 năm. Tốt nghiệp trường do thám, Din-be trở thành một nhà trí thức lịch lãm, nói thạo tiếng Ba lan, Nga, Do thái, Đức, Pháp, Anh và Y-pha-nho.
        Tới Ba lê, y đội tên Din-be, giám đốc công ty xuất nhập cảng ma Si-mếch (9). Phía sau văn phòng tráng lệ là một sào huyệt bí mật, chứa điện đài và kết sắt. Do cửa trong, y có thể lẻn vào phòng bí mật, và từ đó ra đường hẻm bên ngoài bằng cầu thang riêng nối liền công ty Si-mếch với một tòa nhà khác.
        Trong phòng, y gắn một đồng hồ quả lắc tân kỳ. Cứ 24 tiếng, y tự tay lên giây một lần. Đồng hồ phát ra một tín hiệu riêng, chỉ có các điện đài dưới quyền y mới bắt được. Nếu tín hiệu ngưng tiếng, tức là Din-be lâm nạn, nhân viên của y phải rút vào bóng tối.
        Từ hãng Si-mếch, y tổ chức một màng lưới do thám đại qui mô bao trùm các đô thị Âu châu. Y có điện đài khắp nơi, và riêng ở Pháp có hai cái. 
        Phụ trách hệ thống truyền tin là Hân (10), đảng viên Cộng sản trung kiên. Ngày 13-12-1941, cơ sở truyền tin tại Bỉ bại lộ, ba nhân viên bị bắt. Din-be cũng ở trong số này, song y khai là nhà buôn, không may lọt vào vụ bố ráp nên bị oan. Chẳng hiểu y ăn nói hay ho thế nào mà Phản gián Đức trả tự do. Trở về Ba lê, y báo động cho các cơ sở gián điệp Sô viết.
        Ngày 30-6-1942, Hân bị tóm cổ trong khi đang lúi húi đánh tin ở Bờ-ruyt-xen. Sau nhiều ngày tra tấn, dỗ dành và mua chuộc, Đức đã thuyết phục được y và đã dẫn bắt phụ tá của Din-be (11). 
        Đại úy Đức Mô-đe (12), giả làm nhân viên Sô
 
-------------------------------
(9) Simex. (10) Hans, tức Hermann, Bergmann, tên thật là Johanns Wenjel. (11) Grossvogel. (12) Moder.
 
 
 
 
125                                                                                                                                                         RA-ĐÔ : YÊU LÀ CHẾT
 
viết, gọi giây cho cô thư ký của Din-be, nói là có việc gấp cần gặp ông chủ. Mô-đe hỏi: 
        -      Din-be đi vắng à? Đi đâu? Tôi muốn gặp ngay. 
        Trong một giây đồng hồ bắn loạn, cô thư ký hớ hênh đáp là Din-be vừa đi chữa răng. Mô-đe hỏi gặng: 
        -      Chữa răng ở đâu?
        Chợt nhớ ra, cô thư ký ngập ngừng: 
        -      Tôi... tôi không biết. 
        Nàng cúp điện thoại, và gọi ngay tới phòng nha y báo tin cho Din-be. Báo hại là y vừa bị đánh thuốc mê nên không trả lời điện thoại được. Phản gián Đức nghe trộm đường giây nên phăng ra địa chỉ. Din-be vừa nhổ răng xong, ra đến ngoài thì xe hơi xích lại. Trùm do thám Din-be đầu hàng và giúp phản gián Đức phá tan hệ thống Sô viết. 
        Tháng 6-1943, Din-be ra đường, có hai vệ sĩ đi kèm. Y xin vào tiệm thuốc và chuồn bằng cửa hậu. 
        Sau khi Pháp được giải phóng, y quay về Ba lê sống không dám ló mặt, sợ đồng minh hài tội. Năm 1945, y được gọi về Mạc tư khoa và từ bấy đến nay, tuyệt vô âm tín. 
 
        15-      Ra-đô : yêu là chết
 
        Ai cũng nhìn nhận nếu Ra-đô không lụy vì tình thì vị tất hệ thống gián điệp của Nga sô ở Thụy sĩ trong thế chiến thứ hai bị tan ra từng mảnh vụn. Ra-đô có thể được coi là một trong những tai mắt đắc lực nhứt mà Mạc tư khoa đặt ở Âu châu. Chưa có tổ chức nào lại thu thập được nhiều tin tức như Ra-đô, bằng chứng là năm 1942, hàng tháng Ra-đô chuyển về Nga sô 800 bức mật điện, bằng ba điện đài xử dụng không ngớt. Cũng chưa có tổ chức nào bắt được nhiều tin tức quan trọng như Ra-đô. Vì y đã báo cho Sít-ta-lin biết ngày Hít le định tấn công Nga sô.
 
 
 
 
126                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Ra-đô, người Hung gia lợi, chuyên về đồ họa, là một người thấp, tròn, diện mạo trầm tư. Cho tới năm 1937, y sống ở Ba lan, quản đốc một hãng thông tấn nhỏ. Sau đó, y qua Thụy sĩ lập hệ thống do thám cho Hồng quân.
        Người ta không hiểu tại sao một kẻ nhút nhát, hơi chút là toát mồ hôi, luôn mắc phải những khuyết điểm sơ đẳng của nghề gián điệp như Ra-đô lại đoạt được nhiều thắng lợi ghê gớm đến thế. Thật vậy, nhờ móc nối với những phần tử chống Hít le tại Đức, lấy tin mật trong bộ tư lệnh quốc xã, Ra-đô đã ảnh hưởng không nhỏ tới cục diện thế chiến thứ hai.
        Ngày 7-4-1939, Ra-đô tóm được một mệnh lệnh của Hít le về việc chuẩn bị xâm lược Ba lan. Nhận được mật điện của Ra-đô, Sít ta lin bèn quyết định liên minh với Hít le. Sau đó, Mặc tư khoa ra lệnh cho Ra-đô ngưng do thám chống Đức, nhưng Ra-đô không chịu. Thực tế chứng tỏ là Ra-đô nhìn xa thấy rộng hơn nhà độc tài Sô viết. Vì đến khi quân đội Hít le tấn công Nga sô, Ra-đô đã có sẵn một guồng máy lấy tin đầy đủ kinh nghiệm để làm thỏa mãn điện Cẩm linh.
        Ra-đô có 50 nhân viên dưới quyền. Sít-si (1) và Tay-lo (2) là hai phần tử xuất sắc nhứt. Sít-si là bí danh một thiếu nữ vô danh ở nam Âu, kết hôn với một người Thụy sĩ hầu được gia nhập quốc tịch Thụy sĩ cần thiết cho nàng hoạt động do thám. Bề ngoài nàng là nhân viên cần mẫn của văn phòng Lao động Quốc tế, một cơ quan của hội Quốc Liên. Tay-lo, người Đức, là đồng nghiệp của Sít-si, trong văn phòng Lao động.
        Ngày 11-6-1941, Ra-đô báo cho Mạc tư khoa ngày Hít le dự định xua quân qua biên giới Sô viết. Phản gián Đức chộp được làn sóng của Ra-đô, song không hiểu được nội dung bức điện. Tại điện Cẩm
 
----------------------------------
(1)   Sissi. (2) Taylor, tên thật là Schneider.


 
 
127                                                                                                                                                         RA-ĐÔ : YÊU LÀ CHẾT
 
linh đang có phiên họp, tướng Ku-nét-sop (3), tổng giám đốc phản gián, trình ngay bức điện quan trọng cho Sít ta lin. Nhà độc tài nhún vai, không tin là đúng. Nếu Sít ta lin không hoài nghi Ra-đô thì thế chiến thứ hai đã kết thúc sớm hơn nhiều, tiết kiệm được hàng triệu nhân mạng.
        Phản gián Đức biết được tại Thụy sĩ có một tổ chức do thám của Nga sô, song không tìm ra manh mối. Trong thế chiến, hoạt động do thám là việc rất dễ tại Thụy sĩ, vì đó là một quốc gia triệt để tôn trọng quyền lợi cá nhân, lại là ngã tư của Âu châu, thể thức gởi tiền kín đáo tại các ngân hàng rất thuận lợi cho việc chuyển ngân gián điệp. Mặt khác, Thụy sĩ, một nước trung lập đúng đắn, gián tiếp khuyến khích các điệp viên ngoại quốc lấy tin về Đức, hầu ngăn chặn Hít le thôn tính nước này.
         Đức muốn bóp chết gián điệp Sô viết, nhưng không dám làm mạnh, sợ đụng chạm Thụy sĩ. Phản gián quốc xã bèn theo giỏi Bali (4) một cô gái đa cảm, và đa tình, mà họ nghi ngờ hoạt động cho Nga sô. Từ nàng, Đức phăng dần ra Ra-đô.
        Sinh quán tại Giơ-neo, nàng là nữ cán bộ Cộng sản hăng say, có chân trong nhóm Ni-côn (5), thuộc Phòng Thông tin Điệp báo của Quốc tế Cộng sản. 
        Ni-côn hiến người đẹp cho Ra-đô để y gắn bó với Mạc tư khoa thêm phần mật thiết. Ra-đô chết mê, chết mệt, bỏ rơi luôn vợ.
        Gậy ông đập lưng ông, kế mỹ nhân của Công sản lại bị phản gián Đức học mót và quật ngược lại. Lãnh sự Đức tại Giơ-neo ra lệnh cho Hân (6) một thanh niên Đức, chinh phục nàng. 
        Là đồ đệ mù quáng của Mác, nàng lại là đàn bà, và là đàn bà khát tình, nên dễ bị lôi cuốn vào những sa ngã xác thịt. Chán ngấy sự quê mùa, thô
 
-----------------------------------
(3)   Kuznetsov. (4) Margaret Bali. (5) Léon Nicole. (6) Hans Peters.
 
 
 
128                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
kệch, và nhất là sự già nua của anh chồng hờ, nàng đổ xô đi tìm thú lạ. Chẳng bao lâu, nàng gặp Hân. Y trẻ hơn, đẹp hơn, lại lịch thiệp hơn Ra-đô. Y lại còn có tài ru ngủ nàng trong những đêm dài lạnh lẽo. 
        Nàng ngã vào lòng Hân, cắm sừng lên đầu Ra-đô. Nàng chỉ biết Hân là anh thợ hớt tóc khôi ngô và dịu dàng, chứ làm sao biết đuoc y là nhân viên Phản gián quốc xã. Trong những phút đầu gối, tay ấp được Hân du hồn vào cõi mộng, nàng không tiếc nhân tình bất cứ điều gì. Vả lại tấm thân ngàn vàng còn đem hiến, thì tiếc chi một vài chi tiết cỏn con về Ra-đô. Vì thế, Hân đã đoạt được cuốn «Việc ấy xảy ra trong tháng 9» mà Ra-đô dùng làm chìa khóa mật mã (7).
        Phản gián Đức rụng rời tay chân khi hiểu được hết những bức mật điện do Ra-đô đánh về Mạc tư khoa. Một sĩ quan cao cấp quốc xã thú nhận là không một bí mật quân sự nào không bị Ra-đô chuyển tới bộ tổng tham mưu Sô viết.
        Nếu Nga sô không tham quá thì Ra-đô còn được hoạt động. Đằng này, Nga sô lại ra lệnh cho Ra-đô lấy tin về hệ thống bố phòng của Thụy sĩ. Vô hình chung, chạm với công an, tổ chức có nhiệm vụ phá vỡ các ổ gián điệp ngoại quốc để bảo vệ nền trung lập Thụy sĩ, khác với sở Phản gián ND (8) chơi nước đôi, nhắm mắt cho do thám Anh, Mỹ, Nga hoạt động, hầu chận đứng tham vọng thôn tính Thụy sĩ của Hít le.
        Tháng 10-1943, anh thợ hớt tóc đa tình ngầm đưa tin cho công an, và Bali bị bắt. Cơ sở truyền tin của Ra-đô bị khám phá. Toàn thể nhân viên sa lưới, song Ra-đô trốn thoát. Năm 1944, hệ thống «ba đỏ»  xụp đổ. Đàn em của Ra-đô không thương y vì
 
-----------------------------
(7) Cuốn sách Đức này tựa đề Es geschad in September. (8) Nachrichtendien.
 
 
 
 
129                                                                                                                                                         RA-ĐÔ : YÊU LÀ CHẾT
 
trong thời gian hoạt động, y đã xoay trên một trăm ngàn đô la. 
        Sau đại chiến, Ra-đô móc nối viên trưởng phái bộ Sô viết tại Pháp và được triệu hồi về Mạc tư khoa. Nga sô vẫn nghi ngờ y đi hàng hai với Anh quốc. Trên đường đi Nga sô, y trốn tại Ai cập và gia nhập tình báo Anh. Độ nhiên, y bị đuổi, và một đại tá Sô viết tới Ai cập để nhận lãnh y. Một lần nữa, y trốn vào tòa nhà của phái bộ Anh ở Pờ-ra-gờ, Tiệp khắc, song cũng như lần trước, y bị giao hoàn cho Nga sô. Không hiểu bây giờ y ra sao. Dường như y đã bị hành hình.
        Nói tới Ra-đô mà quên Rớt-lơ (9) là điều thiếu sót vì mọi tin tức quan trọng đều do Rớt-lơ cung cấp. Người ta không rõ Rớt-lơ là tên thật, hay tên giả. Chỉ biết y là chủ nhân một nhà xuất bản xoàng xĩnh tên là Vita Nova. Y người thấp béo, theo đạo Thiên Chúa, và có tư tưởng chánh trị phóng khoáng.
        Y sinh năm 1897 tại Đức, trong một gia đình viên chức thủy lâm, làm báo, trước khi trở thành giám đốc một gánh hát tại thủ đô Bá linh. Phe quốc xã lên cầm quyền, y bỏ trốn qua Thụy sĩ, tổ chức chống lại chế độ Hít le. Chẳng bao lâu, y bắt liên lạc với những phần tử chống Hít le ở Đức. Trong nhiều năm lãnh lương của Nga sô, y không chịu cho biết ai đã gởi tin từ Đức ra cho y. Y chỉ nói đó là một võ quan cao cấp thuộc bộ tổng tư lệnh quốc xã, bí danh là Oet-te (10). Đến nay người ta vẫn chưa khám phá ra Oet-te là ai.
        Rớt-lơ đã hợp tác với Nga sô trong sự thoả thuận của Phản gián Thụy sĩ. Y lại hợp tác với tình báo của chánh phủ lưu vong Tiệp khắc ở Luân đôn mà đại diện ở Thụy sĩ là đại tá Sờ-vô-bô-đa (11) bí danh là cậu Tom.
 
------------------------------
(9) Rudolph Roessler. (10) Werther. (11) Svoboda.
 
 
 
 
130                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
        Tổ chức «Ba Đỏ» đổ vỡ. Rớt-lơ cũng bị bắt, song không bị truy tố, nhờ sự can thiệp của Phản gián Thụy sĩ. Tuy nhiên, ngựa quen đường cũ, y móc nối năm 1947 với do thám Tiệp khắc, và trong sáu năm liền, cung cấp cho cộng sản Tiệp khắc những tin tức quân sự tây phương. Tin tức của y được thu vào phim vi ti, bỏ vào bình mật ong, gởi làm quà ra ngoại quốc.
        Chẳng may một bình mật ong do y gởi lưu trữ tại bưu điện Đút-xen-đốp (12) bị trả lại vì không ai nhận. Địa chỉ đứng gởi ở Thụy sĩ là địa chỉ ma, nên nhà đương cuộc mở gối ra xem xét tìm thấy trong bình mật có hai cuộn phim tí hon.
        Rớt-lơ bị bắt. Y chỉ bị xử rất nhẹ, 12 tháng tù. Theo án lệnh, y bị trục xuất về Đức sau khi mãn tù. Song chánh phủ Thụy sĩ nhận thấy y sẽ bị giết nếu trở về Đức, nên khoan hồng cho ở lại. Từ đó người ta không nghe nói tới Rớt-lơ nữa. Dường như y bỏ nghề đi khuya về tắt, và rút vào hậu trường, sống cuộc đời ẩn dật ở vùng quê Thụy sĩ.
 
        16-      Gián điệp Cộng sản sau đại chiến thứ hai
 
        Vì Nga sô đứng về phía Tây phương đề đánh bại Hít le, nên sau thế chiến thứ hai, một phần công luận trong thế giới tự do đã bị ru ngủ và mắc lừa. 
        Anh-Mỹ, nhứt là Mỹ, vọt lên hàng đại cường quốc, do đó gián điệp Sô viết đã hướng về Mỹ. Ở Âu châu, Nga sô chỉ lưu tâm tới Bá linh, còn Pháp, Ý, Bỉ, Hòa lan, Na uy, Thụy điển, Đan mạch được coi là thứ yếu. 
        Riêng tại Pháp, trong hai năm đầu sau chiến tranh, Nga sô đã tung hoành như chỗ không người, nhờ sự tham chánh của đảng Cộng sản. Không nhiều
-------------------------------------
(12) Dusseldorf.
 
 
 
 
131                                                                                                         GIÁN ĐIỆP CỘNG SẢN SAU ĐẠI CHIẾN THỨ HAI
 
thì ít, những bộ trưởng cộng sản (1) đều giao thiệp với mật vụ Sô viết. Ngay cả chủ tịch Ủy ban Nguyên tử năng (2) cũng đã cung cấp tài liệu nguyên tử cho Mạc tư khoa, với tin tưởng ngây thơ là sự chia đều những bí mật nguyên tử sẽ giúp nhân loại tránh khỏi thế chiến thứ ba.
        Vụ do thám nổi tiếng nhứt ở Pháp thời hậu chiến là vụ đánh cắp tài liệu về chiến tranh Đông dương chuyển cho Việt Minh. Hồi đó, chiến lược của Pháp về Đông dương được cứu xét trong những phiên họp thường kỳ tối mật của bộ Quốc phòng, với sự tham dự của tổng thống và một số ít nhân vật cao cấp. Thế mà mỗi cuộc thảo luận đều lọt vào tay đảng Cộng sản Pháp rồi từ đó, chuyển cho Hồ chí Minh ở Việt Nam.
        Cuộc điều tra của công an cho biết hai nhân viên trong phòng lưu trữ tài liệu của Uỷ hội Quốc phòng tên là La-bờ-rút (3) và Tuyết-panh (4) đã cung cấp biên bản các phiên họp cho Ba-ra-nét (5) một nhà báo thân Cộng. Ba-ra-nét đem nộp cho trung ương đảng Cộng sản Pháp, đồng thời bán lại cho Đi-đờ (6), phụ trách Phản gián. Pháp cộng còn có một nguồn tin khác, ngoài Ba-ra-nét. Cuộc điều tra trở nên rối beng, ông cò Đi-đờ mất chức, Duy-cờ-lô, lãnh tụ cộng sản, bị giữ một thời gian, bộ ba La-bờ-rút, Tuyết-panh, Ba-ra-nét bị truy tố. Nội các Măn-đét-phờ-răn (7) lên thay nội các Lanien (8).
        Trong lúc ấy, Điện biên phủ thất thủ, chánh tình nước Pháp rối như tơ vò, thủ tướng Măn-đét vội điều đình với Việt Minh, chia đôi nước Việt Nam tại hòa hội Giơ-neo. 
        Ngày 20-5-1956, nghĩa là hai năm sau, tòa án
 
--------------------------------
(1) Billoux, Lecoeur, Thorez. (2) Joliot Cusie. (3) Labrousse. (4) Turpin. (5) Baranès. (6) Jean Dides.
(7) Mendès France. (8) Laniel.




Đăng nhập để trả lời
0

132                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
quân sự Ba lê mới tuyên phạt La-bờ-rút sáu năm, Tuyết-Panh bốn năm, và tha bổng Ba-ra-nét. Người ta cho rằng Việt minh đã nắm được những hồ sơ mật của Pháp nên mới dốc toàn lực đánh chiếm Điện biên phủ, kết thúc chiến tranh Đông dương. 
        La-bờ-rút và Tuyết-Panh chẳng qua chỉ là bộ hạ, còn kẻ chủ mưu vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Bộ trưởng Nội vụ Mi-te-răn (9) ra lệnh tiếp tục điều tra để đưa toàn bộ ra tòa, nhưng đó chỉ là một hành động lấy lệ, vì trên thực tế, vụ đánh cắp tài liệu mật đã được xếp xó. 
        Trước khi Bá linh trở thành trung tâm gián điệp chỉ có một vụ được nổi tiếng ở Tây Đức gọi là vụ «núi lửa» (10).
        «Núi lửa» là bí danh của một tổ chức do thám Sô viết, có nhiệm vụ đánh cắp những bí mật liên quan tới chương trình tái võ trang của chánh phủ Tây Đức. Một gián điệp đôi được đưa vào trà trộn, và năm 1952, «núi lửa» bị lột mặt nạ.
        Oet (11), nhân viên cao cấp bộ Thương mãi Đông Đức, linh hồn của «núi lửa» bị kêu án bốn năm tù ở. 
        Một trong các hành động khác của Nga sô là đưa tay sai vào tổ chức chống cộng N.T.S. Đát-kô (12) lập nghiệp tại Muy-ních, đội lốt cựu tù nhân trốn khỏi vùng cộng sản, xin gia nhập N.T.S. Y tỏ ra chống Nga sô dữ dội nên được giới lãnh đạo tin cậy. Đát-kô bí mật gởi báo cáo về N.T.S. cho Mạc tư khoa. Nhưng năm 1952, y bị nhà chức trách Mỹ bắt giam và lên án mười năm tù.
        Sô-run-si (13), đại úy Hồng quân tại Đông Đức, trốn qua tây phương năm 1948 vì một chuyện tình.
 
------------------------------
(9) Mitterrand. (10) tiếng Đức là Vulkan. (11) Ludwig Weiss. (12) Darko Tschirkowitsch.
(13) Nikita Chorunshi.
 
133                                                                                                         GIÁN ĐIỆP CỘNG SẢN SAU ĐẠI CHIẾN THỨ HAI
 
Nhà chức trách Mỹ cung cấp giấy tờ giả cho y và kiếm việc làm. Gián điệp Sô viết phăng ra chỗ y ở, bèn đe dọa nếu y không đánh cắp tin tức thì gia đình y còn ở lại Nga sô sẽ bị nguy hại. Sô-run-si đành nghe lời. 
        Y len lỏi vào NTS và cơ quan Phản gián Mỹ. Làm huấn luyện viên một trường gián điệp của NTS, y tiết lộ hết bí mật với Nga sô. Bốn nhân viên NTS nhảy dù xuống đất Nga năm 1953 bị bắt và hành quyết vì Sô-run-si. Để NTS tin dùng y hơn, Nga sô đã cho phép y tố giác một nhân viên do thám trung cấp hoạt động tại Tây Đức.
        Đi đêm có ngày gặp ma, một nhân viên giao liên Sô viết, từng làm gạch nối giữa Sô-run-si với Mạc tư khoa, bỏ trốn sang vùng Mỹ kiểm soát và tố giác y. Y bị phạt 14 năm tù. Sau đó, y được giảm còn bốn năm. 
        Nữ gián điệp Sô viết được người ta thương hại nhiều nhứt hồi ấy là Ma-ri Nút (14).
        Mari sống trong một gia đình nghèo, lấy chồng gặp trắc trở, định lên sân khấu làm diễn viên thì bị trúng bom và khuôn mặt bị hư hại. Nhờ giải phẫu thẩm mỹ, nàng có một khuôn mặt mới, song lại khánh kiệt. Năm 1947, nàng mang cái áo lông cuối cùng đi bán thì người chủ tiệm (15) lại là nhân viên do thám Sô viết.
        Nàng được giới thiệu với đại úy Đức hồi hưu Kon-dờ (16), một người đẹp trai và lịch thiệp. Đã 42 tuổi, lại phòng đơn gói chiếc, nàng xiêu lòng trước sự thuyết phục của Kon-dờ, và trở thành nhân viên giao liên giữa hai vùng Đông và Tây Đức. 
        Nam 1949, Kon-dờ thiệt mạng một cách bí mật. Cộng sản cử Ma-ri lên thay y, chỉ huy tổ chức do thám. Nàng gặp Pi-tơ-sen (17), một thanh niên khả
 
-------------------------
(14) Maria Knuth. (15) Frankenberg. (16) Kunze. (17) Petersen.
 
 
134                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
ái, có tư tưởng thân Nga sô. Có lẽ vì nhan sắc về chiều, ban đêm nằm một mình không chịu nổi, nên Ma-ri kết nạp Pi-tơ-sen. Trong thời gian đầu, Pi-tơ-sen trao cho nàng nhiều tài liệu quan trọng. Nàng bèn giao cho y những công tác bí mật hơn trước. 
        Cuối tháng 4-1952, nàng bị bắt cùng toàn thể thuộc viên. Hỡi ơi! Nàng đã buồn, càng buồn thêm vì kẻ báo bắt nàng không ai xa lạ. Đó là chàng trai khôi ngô thân Cộng Pi-tơ-sen! Chàng chính là nhân viên của sở Phản gián Tây Đức. 
        Ra tòa năm 1953, Ma-ri phải nằm trên băng ca. Nàng đã bị mổ hai lần trong nhà giam vì bệnh ung thư. Nàng lại mắc bệnh lao phổi. Còn dấu giếm gì nữa! Nàng khai hết sự thật, vì nàng biết là gần đất xa trời, vả lại sau bao năm tình phụ nàng cảm thấy không thèm sống nữa. Tòa án chỉ phạt bốn năm tù.
        Thời chiến hậu, tại Hoa kỳ chỉ có một vụ đáng kể. Vụ đại tá Sô viết A-ben đội lốt thợ ảnh, điều khiển một tổ chức do thám vô cùng hữu hiệu. 
        Trước đó, còn hai vụ khác: vụ tạp chí A-mê-ra-sia (18) và vụ Gu-sen-kô (19). 
        Tờ A-mê-ra-sia xuất bản từ năm 1937, là sào huyệt của do thám Sô viết. Năm 1945, tổng thống Tờ-ru-man (20) ra lệnh bắt bọn cầm đầu, sau khi biết rõ hàng chục hồ sơ mật của bộ Ngoại giao, bộ Chiến tranh, bộ Hải quân bị đánh cắp. Tuy nhiên vì chiến tranh mới chấm dứt, cảm tình với Nga sô chưa phai nhạt, nội bọn chỉ bị phạt vạ mà thôi.
*     Trong khi ấy, đại tá Da-bô-tin (21), tuỳ viên quân sự tòa đại sứ Sô viết tại Gia-nã-đại, lặng lẽ tổ chức một màng lưới do thám. Cuối 1944, Da-bô-tin đã có 20 nhân viên Gia-nã-đại, và một số cộng sự viên đội lốt thông tín viên hãng Tát, nhân viên
 
--------------------------------
(18) Amerasia. (19) Igor Gusenko. (20) Truman. (21) Zabotin.
 
 
135                                                                                                         GIÁN ĐIỆP CỘNG SẢN SAU ĐẠI CHIẾN THỨ HAI
 
sứ quán, tài xế và người gác cửa. Hai thủ lãnh cộng sản Gia-nã-đại (22), đều là nhân viên của Da-bô-tin. Năm 1945, guồng máy của Da-bô-tin hoạt động tới mực cao nhứt. Nếu Gu-sen-kô không qui thuận tây phương, có lẽ còn lâu nữa hệ thống do thám Sô viết mới được phát giác.
        Hai năm trước, Gu-sen-kô, nhân viên mật mã, tháp tùng đại tá Da-bô-tin đến Ót-ta-oa, Gia-nã-đại (23). Đảng viên Cộng sản trung kiên, Gu-sen-kô tốt nghiệp trường gián điệp, được cấp trên tin cậy, và phái qua Gia-nã-đại, phụ trách mật mã, phần việc quan trọng của tổ chức Da-bô-tin.
        Cuộc sống tự do ở Gia-nã-đại làm vợ chồng Gu-sen-kô chán ngấy thiên đường Sô viết. Biết phải hồi hương, Gu-sen-kô bí mật sửa soạn bỏ trốn. Y đánh cắp nhiều tài liệu quan trọng giấu đi một nơi. Ngày 6-9-1945, y tới bộ Tư pháp Gia-nã-đại xin gặp ông bộ trưởng. Lúc ấy đã 8 giờ tối, văn phòng đóng cửa từ chiều. Dầu Gu-sen-kô nói là có tài liệu mật cần trao cho ông bộ trưởng, y vẫn không được gặp. Thất vọng y xô cửa một tòa báo lớn. Thư ký tòa soạn dặn y sáng mai lại gặp ông chủ nhiệm. Suốt đêm, y không chợp được mắt.
        Hôm sau, y mang vợ và đứa con đi theo. Ông bộ trưởng Tư pháp từ chối không tiếp, tòa báo cũng không tiếp, và yêu cầu y giao dịch với nhà chức trách. Y lếch thếch tới bộ Ngoại giao. Tại đó, người ta gọi giây nói cho thủ tướng Kinh (24). Kỳ quặc thay, thủ tướng không muốn dính vào, và yêu cầu Gu-sen-kô về sứ quán Nga sô hoàn trả các tài liệu đánh cắp.
        Ban đêm, vợ chồng y đổi chỗ ngủ. Sứ quán Sô viết kiểm điểm hồ sơ thấy mất nhiều bèn phái một toán mật vụ tới bắt y. Y không ở nhà, toán mật vụ bẻ khoá vào. Gu-sen-kô báo tin cho cảnh sát biết, toán mật vụ bèn phải tay trắng ra đi. Sáng
 
-----------------------------------
(22) Sam Carr và Fred Rose. (23) Ottawa. (24) MacKenzie King.
 
 
136                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
sớm, vợ chồng Gu-sen-kô được cảnh sát đưa tới một địa điểm an ninh. Vụ Gu-sen-kô nổ bùng ra trước công luận thế giới. 
        Da-bô-tin phải trốn về Mạc tư khoa, và bị phạt 10 năm tù về tội bất cẩn. Vợ chồng Gu-sen-kô thay họ đổi tên rút vào bóng tối, sau đó, Gu-sen-kô viết hồi ký tiết lộ những bí mật về tổ chức do thám cộng sản.         Chánh phú Gia-nã-đại giựt mình sau khi nghiên cứu các tài liệu của Gu-sen-kô. Phản gián Anh, Mỹ đã hợp tác chặt chẽ với Gia-nã-đại để phá tan tổ chức Da-bô-tin, một tổ chức đại qui mô, trong đó có nhiều nhân vật hữu danh. Nhờ Gu-sen-kô, người ta phăng ra màng lưới gián điệp nguyên tử của Nga sô tại Bắc Mỹ. Ra tòa, 13 người bị kêu án.
        Nhà bác học nguyên tử A-lăn-May (25) người Anh bị phạt 10 năm tù. Y là điệp viên cừ khôi nhứt của Nga sô trong lãnh vực nguyên tử. Là nhà vật lý học nổi tiếng, May được phái sang Gia-nã-đại năm 1943 để tham gia các cuộc thí nghiệm nguyên tử. Da-bô-tin tiếp xúc với May. Năm 1945, May chuyển cho Da-bô-tin hai mẫu kim khí uyraniom đánh cắp trong phòng thí nghiệm. Da-bô-tin dùng phi cơ riêng chở về Mạc tư khoa. Sau khi trái bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ nổ ở Nhựt, May đưa cho Da-bô-tin một bản báo cáo đầy đủ về cách chế bom. Tên A-lăn May nằm trong danh sách các điệp viên Sô viết mà Gu-sen-kô nộp cho chánh phủ Gia-nã-đại.
        Pôn-tơ-cót-vô (26) cũng là một khoa học gia làm gián điệp cho Nga sô, song không ở trong tổ chức của đại tá Da-bô-tin. Năm 1940, Pôn-tơ-cót-vô, người Ý, sang Hoa kỳ, gia nhập đảng cộng sản, và lợi dụng chức vụ của mình tại trung tâm thí nghiệm nguyên tử để đánh cắp tài liệu. Vợ y là đảng viên Cộng sản, người Thụy sĩ. Y bị bại lộ vì sự tố giác của một cựu đồng chí. Đánh hơi thấy nguy biến, vợ chồng y giả vờ qua Phần lan nghỉ hè và từ đó trốn sang bên kia bức màn sắt.
 
--------------------------------
(25) Allan Nunn May. (26) Pontecorvo.
 
 
137                                                                                                         GIÁN ĐIỆP CỘNG SẢN SAU ĐẠI CHIẾN THỨ HAI
 
        Hoa kỳ còn khám phá ra một màng lưới do thám nguyên tử khác của Nga sô. Phút (17) đảng viên Cộng sản Đức trốn ra ngoại quốc sau khi Hít le nắm quyền, theo học tại Anh quốc, trở thành một nhà khoa học vật lý nguyên tử nổi tiếng.
        Năm 1942, Phút gia nhập quốc tịch Anh. Năm 1943, Phút sang Mỹ, tham dự các cuộc thí nghiệm nguyên tử. Từ trung tâm A-la-mốt (28), Phút trao cho nhân viên giao liên Sô viết Gôn (29) nhiều tài liệu về cuộc thí nghiệm trái bom nguyên tử đầu tiên. Trở về Anh, Phút tòng sự tại trung tâm nguyên tử Hát-oeo (30). Sau một thời gian im hơi lặng tiếng Phút bắt liên lạc với sứ quán Sô viết ở Luân đôn. Rồi Phút thay đổi thái độ, Phút muốn ra khỏi mê hồn trận, trở về vị trí nhà khoa học thuần túy, không phản bội tổ quốc thứ hai của mình. Nhưng khi ấy đã muộn. Phản gián Anh đã theo dõi Phút. Năm 1950, Phút bị bắt, và thú nhận tội lỗi của 8 năm gián điệp cho Nga sô. Phút ra tòa, lãnh 14 năm tù, nhưng chỉ ở 9 năm thì được phóng thích và trở về Đông Đức.
        Gôn là công dân Mỹ ở trong tổ chức A-kô-lép (31) lãnh sự Nga sô tại Nữu ước: nhiệm vụ của Gôn là liên lạc với nhà bác học Phút. Gôn lại nhận lệnh của A-kô-lép, liên lạc với Gờ-rin-lát (32) thợ may, làm việc tại trung tâm A-la-mốt. Bị bắt, Gôn khai ra Gờ-rin-lát và Gờ-rin-lát khai ra vợ chồng Rô-den-bơ (33).
        Gờ-rin-lát được động viên làm hạ sĩ và đưa tới trung tâm nguyên tử A-la-mốt. Y không thích chính trị cũng như không thích do thám. Vợ y muốn tới ở chung với y nhưng không có tiền. Nàng bèn than thở với chị dâu là Eten Rô-den-bơ (34). Vợ chồng Rô-den-bơ chỉ đợi có thế. Họ bỏ tiền cho vợ Gờ-rin-lát, để người vợ lôi chồng vào vòng tội lỗi. Đến khi sa lưới, Gờ-rin-lát
 
-------------------------------
(27) Klaus Fuchs. (28) Alamos. (29) Harry Gold. (30) Harwell. (31) Yakovlev. (32) David Greenglass.
(33) Rosenberg. (34) Ethel Rosenberg.
 
 
138                                                                                                                                                         GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
 
khai hết để gỡ tội. Vì thế, y chỉ bị kêu án 15 năm tù. 
        Vợ chồng Rô-den-bơ là đảng viên Cộng sản trung kiên. Ra tòa, cả hai đều bị tử hình. Chánh phú Mỹ sẵn sàng ân xá nếu họ chịu cung khai. Song họ cố tình nín lặng. Cả hai lên ghế điện vào tháng 6-1953. 
        Vụ Rô-den-bơ đổ bể, một cặp vợ chồng dính líu vào tổ chức A-kô-lép, bỏ trốn sang Anh. Họ được đưa vào một màng lưới gián điệp do một thiếu tá Sô viết đội tên giả Lon-đên (35) cầm đầu. Tổ chức này cũng bị phá vỡ.
        Mê hồn trận có nhiều lối vào nhưng rất ít lối ra. Trận chiến tranh lạnh càng khẩn trương, mê hồn trận càng mở rộng. Vào mê hồn trận, biết bao người đã chết. Kẻ bị thương, hoặc may mắn thoát hiểm đều phải có tài xuất quỷ nhập thần. Và đây là phần thứ ba của cuốn Gián điệp Quốc tế:  
        Xuất quỷ nhập thần.
 
----------------------------------------------
(35) Lonsdale.
 





Đăng nhập để trả lời
0