Gián Điệp Quốc Tế
Tác giả: Người thứ 8
Thanh Đ Nguyễn đánh máy:
- Chasseurs d’espions, Oreste Pinto.
- Le Chef du contre-espionnage nazi parle, Walter Schellenberg.
- Secret Service Chief, U. E., Baughman.
- Gestapo, Edward Crankshaw.
- Mémoires d’un agent secret de la France libre, Rémy.
- Dix marches vers l’espoir, Rémy.
- J’étais le faussaire de Hitler, Walter Hagen.
- La vie privée de Staline, Jack Fishman, Bernard Hutton.
- Omnibus pour l’espionnage, Kurt Singer.
- L’Espionne No. 1, la Chatte, Gordon Young.
- Inside a Soviet Embassy, Alexander Kaznacheyev.
- United States Secret Service, Walter Brown, Harry Edward Neil.
- The Secret War, Sanché de Gramont.
- The U-2 Affair, David Wise, Thomas Ross.
- Sub Rosa, the OSS and American Espionage, Stewart Olsop, Thomas Braden.
- Handbook for Spies, Alexander Foote.
- Spy in the US, Pavel Monat.
- Empire of Fear, Vladimir Petrov.
- Le masque de l’agent secret, George Langelaan.
Từ nhiều thế kỷ, tình báo và gián điệp được coi là công tác vô cùng quan trọng. Công tác này tăng thêm quan trọng trong thế chiến thứ hai, nhất là trong trận chiến tranh lạnh hiện tại, một trận chiến tranh không mặt trận, và ít hy vọng chấm dứt trong tương lai nhìn thấy. Vì địa lý và lịch sữ, công tác điệp báo ở nước ta trở nên quan trọng khác thường.
Thế mà chúng ta vẫn chưa có một cuốn sách, một tủ sách chuyên môn về điệp báo. Là công dân, chúng tôi cảm thấy có bổn phận phải rút tỉa kinh nghiệm nước ngoài, đúc thành một cuốn sách nhỏ, gọi là làm duyên với những ai bôn khuăn trước tiền đồ tổ quốc.
Đây không phải là tài liệu huấn luyện vì tính chất khô khan làm mất hứng thú cho người đọc chưa quen. Đây cũng không phải tập truyện vì sự bay bướm làm cho điệp báo trở thành vấn đề trừu tượng, mà mục phiêu của chúng ta là cố gắng tiến tới một quan niệm, một tổ chức điệp báo xứng đáng với đòi hỏi của thời cuộc.
Điệp báo là một khu rừng rộng lớn. Ở nước ngoài, người ta đã vào hẳn bên trong, trồng trọt và lập nghiệp. Một mình đến trước cửa rừng bát ngát, xét thấy tài hèn, sức mọn, chúng tôi không dám phát lá, dọn đường, mà chỉ xin phép đúng ngoài, lấy tâm thành đốt lên ngọn lửa báo hiệu.
Vạn nhứt đốm lửa này lọt vào mắt nhiều người, nhứt là những người có trách nhiệm, thì đó là vinh hạnh lớn lao cho tác giả!
Mùa thu 1965
Để tiện cho một số bạn đọc, tác giả đã phiên âm các danh từ ngoại quốc ra tiếng Việt.
Việc phiên âm lấy giản dị làm tiêu chuẩn - càng giản dị càng tốt - nên nhiều khi không chính xác. Tác giả trân trọng cáo lỗi bạn đọc am tường ngoại ngữ.
Bên dưới mỗi trang, tác giả đã đành sẵn một chỗ đăng các danh từ ngoại quốc đã được phiên âm.
Trang để trống...
1- 500 triệu cuốn sách gián điệp
Một trong các hiện tượng kỳ thú của thời chiến hậu là sự say mê của độc giả đối với sách báo và tiểu thuyết dọ thám. Nếu hàng vạn đồng bào ta bỏ ăn, bỏ ngủ vì Cô Gái Đồ Long của Kim Dung, thì từ Đông sang Tây, hàng triệu người đổ xô đi tìm tác phẩm của Pitơ Sinê(1), Dăng Bờ-Ruých (2) và Ian Phờlêminh (3).
Nhiều điệp viên Anh, Mỹ, Pháp và Nga sô đã viết hồi ký hoặc thuật lại những thành tích bí mật. Ở tù ra, Selănbe (4), chỉ huy phản gián Đức quốc xã, đã mô tả những thủ đoạn quỉ khóc thần sầu trong một cuốn sách dày bằng nửa cuốn tự vị
--------------------
(1) Peter Cheyney. (2) Jean Bruce, cha đẻ của loại sách OSS.117. (3) Ian Fleming, người Anh, cha đẻ của loại sách James Bond, 007. (4) Walter Schellenberg.
(Bài bắt đầu đánh trang ở đây...)
16 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
Rémi (5), điệp viên của tướng Đờ-gôn trong thời kháng Đức, nghiễm nhiên trở thành một nhà tiểu thuyết gián điệp hữu hạng. Kín tiếng như Alen Đơlớt (6) cựu Tổng giám đốc Trung ương Tình báo C.I.A. cũng không quên lưu lại những tập sách giá trị về điệp báo Hoa Kỳ.
Cả ngàn tác phẩm được in ra trong vòng hai chục năm nay, tổng cộng gần năm trăm triệu cuốn. Trong 12 năm, Dăng Bờ-Ruých, tiểu thuyết gia Pháp, cống hiến trên một trăm tác phẩm và bán được 28 triệu cuốn, phá kỷ lục về xuất bản. Với 13 tác phẩm trước khi tạ thế, Phờlêminh đã đưa điệp viên tưởng tượng Dêmbon, bí hiệu 007, vào đời sống hàng ngày. Người ta mê Dêmbon đến nỗi thanh niên Tây phương đua nhau phục sức như Dêmbon, hội ái hữu Dêmbon mọc ra như nấm, 19 loại đồ chơi, các kiểu áo quần, nước hoa, xà bông mà Dêmbon dùng trong truyện được bày bán nhan nhản trên thị trường.
Gần đây, vụ máy bay trinh sát U-2 bị hạ trên vùng trời Sô Viết, vụ siêu điệp viên Aben của Nga Sô bị bắt tại Nữu Ước (7), cuộc chạy đua phóng vệ tinh gián điệp càng làm hoạt động điệp báo thành một vấn đề thời sự nóng hổi. Thật ra, điệp báo không phải là phát minh của thế kỷ hai mươi, bằng chứng là 400 năm trước Thiên Chúa giáng sinh, chiến lược gia Tôn Ngô đã viết sách dậy về gián điệp. Tôn Tử đã đề cập đến gián điệp đôi, gián điệp thâm nhập (8), phản gián, tâm lý chiến, các thủ đoạn đánh lừa đối phương, tóm lại những công tác điệp báo khoa học mà Tây phương mới khám phá và đang áp dụng.
-------------
(5) Rémy, tức Gilbert Renault, một người làm phim ảnh, tác giả tập Hồi ký của một điệp viên của nước Pháp tự do (Mémoire d’un agent de la France Libre) và nhiều tác phẩm khác. (6) Allen Dulles, tác giả cuốn The Craft of Intelligence (Nghề tình báo). (7) Rudolph Abel. (8) Gián điệp thâm nhập, Anh gọi là Penetration Agent, tiếng lóng của người Mỹ là Magic.
17 500 TRỊÊU CUỐN SÁCH GIÁN ĐỊÊP
Từ Viễn Đông, làn sóng điệp báo lan tràn Cận Đông, để rồi lên tới cực thịnh tại Châu Âu, Ai Cập là nước bị tiêm nhiễm đầu tiên. Năm 480 trước Tây lịch, Hi Lạp phái ba điệp viên sang Ba Tây để nghiên cứu địch tình. Năm 622, Mahômét (9) giáo chủ đạo Hồi thắng trận oanh liệt không cần bắn một mũi tên nhờ công tác tình báo.
Đầu thế kỷ 15, người Ý tiến thêm một bước chỉ việc thiết lập tòa đại sứ tại nước ngoài để thu nhặt tin tức. Hai thế kỷ 16 và 17 chứng kiến sự vùng dậy của các chủ nghĩa quốc gia, và đấu tranh tôn giáo, đồng thời cũng tạo ra những chuyên viên cừ khôi về tình báo ở Châu Âu, bắt đầu là Oansinhgam (10), ngoại trưởng kiêm lãnh tụ điệp báo của nữ hoàng Anh Elisabét, người đặt ra việc kiểm duyệt thư tín. Trên đất Pháp thì có Risơliơ (11). Cũng nhờ điệp báo mà Thụy Điển giữ vai trò cường quốc trong thế kỷ 17. Dưới triều Nã phá luân nước Pháp có Phusê và sau đó đại tá Savari (12). Tại Đức, cuối thế kỷ 19, có Sờtibe (13), người đã dùng nông gia, chủ tiệm và tôi tớ vào hoạt động điệp báo. Sau này, Mao trạch Đông bắt chước Sờtibe để lập ra công an nhân dân.
Trận thế chiến thứ nhất đã khánh thành phương pháp truyền tin bí mật bằng điện đài. Rồi đến thế chiến thứ nhì thị hoạt động tình báo và gián điệp vọt lên độ cao nhất.
2- Tình báo và gián điệp
Tình báo và gián điệp họp lại thành điệp báo. Thành thật mà nói, nhiều người còn lầm lộn giữa tình báo và gián điệp. Người công dân Việt lấy
------------------------------
(9) Mahomet. (10) Sir Francis Wolsingham. (11) Richelieu. (12) Joseph Fouché, Bộ Trưởng Công An Pháp (1759-1820) Savary. (13) Wilhelm Siteber.
18 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
tin tức cho chính phủ, hoặc đồng mình lấy tin tức để giúp ta chống Cộng, như vậy là làm tình báo. Tình báo là một công tác ái quốc, cao cả, đáng được khen ngợi và ủng hộ nhiệt tình. Còn địch – như Cộng sản và những ai chống lại ta – tới đây lấy tin tức là làm gián điệp. Ta lột mặt nạ, diệt trừ gián điệp địch là làm phản gián.
Căn bản của nghề điệp báo là biết mình, biết người. Nếu quân đội đồng minh không biết rõ hệ thống đường sắt trong vùng Đức tạm chiếm thì vị tất cuộc đổ bộ tháng 6-1944 lên đất Pháp đã thành công như dự tính. Thật vậy, đạo quân bí mật đã tuân lệnh đồng minh phá hoại những khúc đường sắt quan trọng, làm trì hoãn viện binh Đức. Đại tướng Aydenhao (1), tổng tư lệnh lực lượng đồng mình, đã nói hoạt động này có giá trị bằng 15 sư đoàn. 9 sư đoàn Đức không tới được miền Bắc Pháp để lâm trận. Nửa tháng sau ngày đồng minh đổ bộ lên Nótmănđi (2), quân Đức phải mất 8 ngày, lẽ ra chỉ mất 7 giờ, mới di chuyển được từ biên giới Thụy Sĩ tới Ba Lê.
Trong đại chiến thứ hai, trước khi nhóm hội tại Têhêran với Síttalin, cố tổng thống Mỹ Rudơveo (3) đã sai các sở bộ tập trung mọi tin tức liên quan tới đời sống của nhà độc tài sô viết. Năm 1945, ngoại trưởng Mỹ Bơnit (4) đã nghiên cứu các văn phẩm của Lênin, đặc biệt những đoạn nói về thương nghị trước khi qua Mạc tư Khoa thương nghị. Sửa soạn cho hội nghị 4 ngoại trưởng tại Bá linh, tháng 2-1945, bộ Ngoại giao Mỹ đã ra chỉ thị thu thập mọi tin tức về ngoại trưởng sô viết Môlôtốp (5). Năm 1939, một đại hội chính trị nhóm tại Lubếch (6), Hítle bắt liên lạc với một đại biểu là thiếu tá
---------------
(1) Eisenhower. (2) Normandie. (3) Roosevelt. (4) James Byrnes. (5) Vyacheslav Moleton. (6) Lubeck, một hải cảng Đức, cách biển Ban tích 15 cây số.
19 TÌNH BÁO VÀ GIÁN ĐỊÊP
Quítlinh (7), lãnh tụ cực hữu Na uy. Quítlinh báo cho Hítle biết rõ nội tình Na uy. Nhờ vậy, một năm sau, Hítle đã xua quân chiếm Na uy dễ như trở bàn tay.
Trước thế chiến thứ hai, gián điệp Nhật trà trộn trong số 10.000 dân chài Nhựt ở bờ biển Caliphótni (8) và Trung Mỹ. Trong số 500 tàu đánh cá, một số là của tình báo Phù tang. Năm 1937, một số lớn trong 47 thợ hớt tóc Nhật tại vùng kênh đào Panama là điệp viên Nhật. Tại Mễ tây cơ, phần lớn thợ trồng răng và nha sĩ Nhật có chân trong tổ chức gián điệp.
Từ năm 1931, chuẩn bị cho chiến tranh Đại đông á, tình báo Nhật đã hoạt động tại quần đảo Nam Dương, khi ấy do Hòa lan cai trị. Tại đây, Nhật mở nhiều nhà chứa, và khách sạn rẻ tiền, sạch sẽ, có đủ thứ vui. Một số y sĩ được gởi tới, giả làm công nhân, bồi bàn để nghiên cứu khí hậu, hầu ngăn các bệnh dịch một khi quân đội Nhật đổ bộ. Bác sĩ Subôta còn tổ chức một đạo quân «đĩ đực» gồm toàn thanh niên xinh xắn, khỏe mạnh để thỏa mãn dục tính của các viên chức Nam Dương mắc bệnh đồng tình ái (9). Đồng tình ái nghĩa là đàn ông chỉ thích ân ái với đàn ông, đàn bà ân ái với đàn bà. Nhờ phương pháp này, Nhật đã thu lượm được nhiều tin tức quan trọng.
Cuộc oanh tạc Lết di ca (10) tại Ba lan, mở màn thế chiến thứ hai, có thể coi là điển hình cho phương châm «biết mình, biết người». Lết di ca là một thị trấn nhỏ, gồm 10.000 dân, tọa lạc trong quận Lốt (11), ở ngoài vùng hoạt động quân sự. Thế mà phi cơ Đức đã thi đua dội bom xuống. Có thể nói Lết di ca là thành phố bị oanh tạc dữ dội
-----------------
(7) Vidkun Quisling, thủ tướng chánh phủ Na uy thân Hítle năm 1940, bị hành hình năm 1945 về tội phản quốc. (8) Californie, một tiểu bang Mỹ. (9) Homosexualité. (10) Lecsyca. (11) Lodz.
20 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
nhứt trong thế chiến thứ hai. Các bộ tham mưu thắc mắc không hiểu vì sao phi cơ quốc xã lại phung phí đạn dược như vậy. Thì đợt không kích thứ 17 đã trả lời một cách hùng hồn.
Người ta nghe một tiếng nổ kinh hồn, làm toàn vùng chuyển động. Thị trấn Lết di ca tan ra thành bụi. Cửa kiếng trong vòng kính 80 cây số quanh thị trấn đều vỡ nát. Té ra Lết di ca là một trong các kho đạn dược bí mật của Ba lan.
Mấy ngày sau, một nhóm nhà báo ngoại quốc tới thủ đô Ba Lan bị tàn phá, dưới sự hướng dẫn của đại tá Đức Von Vêđen (2). Nhân dịp này, một kỷ giả hỏi Vêđen về sự bí mật ở Lết di ca. Đại tá Vêđen mỉm cười đáp:
- Chẳng có gì lạ cả. Đức quốc thắng lợi vì súng ống nhiều hơn, tốt hơn và nhứt là tình báo giỏi hơn.
Lời nói của Vêđen dội thêm một tia sáng mới vào kỹ thuật tình báo Đức. Trên thực tế, trong nhiều năm liền, Đức đã đặt tại Lết di ca một điệp viên đắc lực có nhiệm vụ vẽ họa đồ các kho chứa đạn dược. Chiến tranh bùng nổ. Lết di ca được coi là một trong các mục phiêu phải phá hủy đầu tiên. Kho đạn dược ngụy trang rất khéo nên điệp viên Đức phải hướng dẫn phi đội oanh tạc bằng làn sóng vô tuyến, đánh từ dưới đất lên. 16 lần ném bom không đạt được mục tiêu, bộ tư lệnh quốc xã không nản lông và ra lệnh oanh tạc lần thứ 17 và lần này thành công hoàn toàn.
Gián điệp Đức đã giúp phi cơ tiêu diệt hệ thống đường sắt của Ba lan. Thời khoá biểu chuyển vận được giữ kín, nhưng dọ thám Đức vẫn tìm ra. Ngày 5-9-1939, một đoàn xe lửa rời ga Vạcsôvi (13) để ra tiền tuyến, theo một lộ trình bí mật. Trước khi tàu
--------------------
(12) Von Wedel. (13) Varsovie, thủ đô Ba lan.
21 TÌNH BÁO VÀ GIÁN ĐỊÊP
tới địa điểm, một phi đội quốc xã từ trên trời bổ xuống và san phẳng nhà ga. Đoàn tàu bất hạnh đành nằm chết. Kẻ gây ra vụ này là một điệp viên núp trong văn phòng viên xếp ga Vạcsôvi. Y liên lạc bằng vô tuyến với bộ tổng tư lệnh Đức.
Ngày xưa, công tác đó thậm chí diễn ra trong thời chiến bằng cách cho người trà trộn vào hậu tuyến địch. Công tác nầy ít được cổ võ trong thời bình. Năm 1929, nhậm chức ngoại trưởng Mỹ, ông Henri Sờtimsơn (14) quan niệm rằng người «quân từ không nên đọc trộm thư tư của kẻ khác».
Chẳng ít thì nhiều, thái độ quân tử lỗi thời này đã dẫn tới thất bại Trân châu Cảng năm 1941. Mỹ trở tay không kịp trước cuộc tấn công bất ngờ của hải không quân Nhật. Ngày nay, các cơ quan tình báo đọc trộm thư từ, nghe trộm điện thoại là chuyện quá thông thường. Mỹ đào hầm xuyên qua Đông Bá Linh nghe trộm điện thoại của Nga sô. Sứ quan tây phương sau bức màn sắt thường bị Cộng sản gắn máy ghi âm nghe lén lút. Tháng 5-1960, Đại sứ Ca bốt Lốt trình trước Hội đồng Bảo an L.H.Q. một dụng cụ ghi âm cực nhỏ mà Nga sô giấu trong phòng đại sứ Hoa kỳ tại Mạc tư khoa. Một trận giặc lạ lùng – trận giặc nghe trộm – đang diễn ra sôi nổi tại Bá Linh giữa nhân viên gián điệp Đông và Tây Đức. Sự nghe trộm đã biến thành thói quen tai Nga sô : tất cả các phòng trong điện Cẩm linh đều có máy ghi âm bí mật, và nhà độc tài Síttalin đã ngồi suốt ngày bên cuộn băng nhựa để nghe trộm các cộng sự viên bàn tán.
Với những phát mình tối tân, đời sống riêng tư của con người không còn ý nghĩa nữa.
---------------
(14) Henri Stimson.
22 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
Máy ghi âm đã được thu nhỏ bằng cúc áo, chiếc đồng hồ tay có thể chụp hình rất rõ trong nhà không cần đến. Bắt đầu thế chiến thứ hai điệp viện Anh quốc phải dùng điện đài truyền tin cồng kềnh, nặng ba chục kí lô, giờ đây có những cái chỉ to bằng gói thuốc lá. Phụ huynh Mỹ đâm ra lo ngại về một đồ chơi trẻ con vừa được bày bán: cái máy tí hon này để ở ngoài sân có thể nghe lỏm được tiếng nói thầm thì trong phòng, và các chú bé tinh nghịch đã dùng nó theo dõi những phút tâm tình của cha mẹ.
Ngày nay, đạo binh điệp báo hoạt động khắp nơi, không kể ngày đêm, không kể thời chiến hay thời bình. Phi công Gari Pao-ớt lái U.2 bay cao hai chục cây số chụp hình đất Nga, ai cũng cho là kinh dị, ngày nay còn nhiều sự kinh dị hơn nữa. Hoa kỳ vừa hoàn thành một hệ thống radar có thể nhìn xa 5000 cây số, báo trước 15 phút nếu Nga sô phóng hỏa tiễn nguyên tử.
Giàn radar ghê gớm này còn thua vệ tinh Samốt (15) một bực. Ngày 3-2-1961, trái Samốt đầu tiên được phóng lên không gian từ căn cứ Ác ghen, tiểu bang Caliphọtni (16). Từ trên cao nhìn xuống, Samốt nhìn rõ như mắt người trong vòng 30 thước. Đó là một vệ tinh nặng 5 tấn, do một hỏa tiễn Át lát (17) bắn lên. Khổng lồ Át lát cao 25 thước, nặng 131 tấn, Samốt bay vòng trái đất mất 95 phút, chụp hình, in hình trên không gian rồi mới truyền xuống.
Em của Samốt là Miđát (18), trang bị thứ máy riêng có thể báo cho Mỹ biết trước nữa giờ, mỗi khi hỏa tiễn rời lãnh thổ Sô viết. Những vệ tinh Samốt, Miđát của Mỹ, Sìputních, Vóc-Tóc (19) của Nga sô đang
-----------------
(15) Samos, viết tắc của Satellite and Missile Observation System, hệ thống quan sát vệ tinh và hỏa tiễn. (16) Californie. (17) Atlas. (18) Midas. (19) Sputnik, Vostok.
23 TÌNH BÁO VÀ GIÁN ĐỊÊP
kết thành một mạng lưới dọ thám vô tiền khoáng hậu trên thượng từng vũ trụ, đấy cuộc chiến tranh gián điệp vào giai đoạn gay cấn nhứt của lịch sử loài người.
3- Ba con khỉ của đô đốc Canari
Nói đến điệp báo, không thể quên được đô đốc Uyn Hem Canari (1), tư lệnh Áp oe (2) nghĩa là phòng nhì của Đức quốc xã. Canari đã bị Hítle ra lệnh treo cổ bằng sợi dây thép nhỏ xíu của đàn dương cầm cốt cho tử tội đau đớn, vì có chân trong một âm mưu cướp chánh quyền, tuy nhiên, tên tuổi Canari vẫn còn sống mãi. Dưới quyền Canari, điệp báo Đức đã tiến một bước dài. Nhờ muôn ngàn thủ đoạn, phi thường có, gian manh có, Canari mở thêm trang mới cho lịch sử gián điệp hiện tại.
Điều làm dư luận nhớ nhất là các đồ trang trí trong văn phòng của Canari. Trên tường có một bức tranh Nhật bản, nhan đề là Tà quỷ. Tà quỷ là phương châm của ngành điệp báo. Trên bàn người ta thấy ba con khỉ bằng đồng đen. Bộ ba này vểnh tai nghe, mắt chăm chú nhìn về phía trước, nhưng miệng lại mím chặt. Nghe, nhìn, ngậm miệng còn là một phương châm khác của ngành điệp báo.
Diep bao va bao mat di doi nhu bong voi hinh. Tuy tru so cua tinh bao Anh quoc duoc nhieu nguoi biet, it ai biet duoc nguoi chi huy that su, trung uong tinh bao Phap dat tai dai lo Moc che (3) Ba le, song phan lon nhan vien hoat dong deu lam viec tai mot dia chi bi mat. To chuc tinh bao cua tuong Ghe len (4) Tay Duc, deu nup sau chieu bai thuong mai, ky nghe. Chang han tru so tinh bao khu vuc Ba vi e (5) duoc dat o Muy nich (6) trong toa nha cua
-------------------------
(1) Wilhelm Canaris. (2) Abwehr. (3) Mortier. (4) Gehlen. (5) Bavière. (6) Munich.
24 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
Công ty Kỹ nghệ, nam bộ Đức quốc, số 50, đường Gờ rát (7).
Tổng hành doanh tình báo Sô viết ở Mạc tư khoa được coi là cấm địa, không ai được tới gần. Tai Lăn gờ li (8), trụ sở Trung ương CIA, khách ra vào đều có binh sĩ đi kèm, thang máy có chìa khóa riêng, không được lên xuống tự do. Số điện thoại CIA được ghi trong niên giám, song người ngoài không thể nói chuyện với nhân viên bên trong. Kêu đúng tên cũng không được vì nhân viên dùng tên giả, đôi khi vợ muốn nói chuyện với chồng mà không gặp vì thế. Nhân viên CIA được lệnh giấu kín công việc của mình, ai hỏi thì nói là làm công chức, không nói rõ làm việc gì, làm ở đâu. Đề phòng địch, CIA đã xuất ra 105.000 mỹ kim, nghĩa là trên 10 triệu bạc Việt Nam để xây lò đốt tài liệu.
Việc tổ chức, kết nạp, huấn luyện cũng được giữ bí mật tuyệt đối. Tuy nhiên, nhiều khi bí mật cũng trở thành bật mí.
Dubilin (9), điệp viên Sô viết tại Mỹ trong vòng 15 năm, là một tay tổ nói dốc. Có lần y khoe với Morốt (10), gián điệp đôi người Mỹ, như sau:
- Tôi là trùm tình báo Sô viết xứ này, và tôi cảm thấy được tự do hoạt động cũng như tại mọi nơi khác.
Ben tờ li (11), nữ điệp viên Cộng sản xuất thú thuật lại là có một thủ lãnh do thám Nga tại Mỹ luôn miệng vây vo rằng y bất tử, không ai bắt nổi.
Bệnh ba hoa này là điều tối kỵ.
Ngay từ thế chiến thứ nhất, vấn để bảo mật đã được nêu lên hàng đầu trong các tổ chức trung ương. Selănbe, chỉ huy phản gián quốc xã thuật lại trong cuốn hồi ký những chi tiết rùng mình. Trong
--------------------
(7) Grasse. (8) Langley. (9) Vasili Zubilin. (10) Boris Morros. (11) Elizaneth Bentley.
25 BA CON KHỈ CUA ĐÔ ĐỐC CANARI
văn phòng y, ở đâu cũng có máy ghi âm bí mật, trong tường, dưới bàn, ngay cả trong cây đèn. Cửa sổ lợp bằng lưới thép, ban đêm được truyền điện và có máy chụp hình bí mật, hễ ai lại gần thì báo động, trong vòng năm phút một tiểu đội võ trang ập vào. Bàn giấy của Selănbe là một pháo đài tí hon với hai khẩu súng tự động có thể bắn ria quanh phòng. Loại súng này lúc nào cũng chĩa vào người khách, khi biến, chủ nhân chỉ cần bấm một cái nút là hai họng súng đua nhau khạc đạn, đó là chưa kể một cái nút điện khác, bấm vào là đoàn vệ sĩ xông vào phòng, súng lăm lăm trên tay.
Mỗi lần ra nước ngoài công tác, Selănbe được lệnh đặc một cái răng giả trong miệng, chứa thuốc độc cực mạnh, đủ sức giết người trong 30 giây đồng hồ. Ngoài ra, Selănbe còn đeo nhẫn đựng độc dược xi-a-nuya nữa (12).
4- Đệm mông và đệm ngực
Rất nhiều đàn bà dùng mông giả, vú giả, bằng cao su để đánh lừa đàn ông. Phải thạo đời mới biết thật, giả. Đặc điểm của nghề điệp báo cũng là lộng giả thành chân. Thật và giả lẫn lộn, lắm lúc thật thì tưởng giả, đến khi giả lại đinh ninh là thật. Thấy một thiếu nữ sạch sẽ, đẹp đẽ, ai dám bảo là ổ vi trùng. Có vào sâu mới biết. Đôi khi biết thì đã muộn rồi. Vì thế, người ta đã ví nghề điệp báo với nghề làm đĩ.
Ngày 10-1-1940, bắt đầu thế chiến thứ hai, một phi cơ liên lạc của Đức quốc xã bị lạc trong sa mù, hết xăng, nên phải đáp liều xuống đất Bỉ. Trong phi cơ có bản kế hoạch của Hítle, tung quân qua Bỉ, để tấn công chớp nhoáng qua Pháp. Không có lửa, viên thiếu tá hoa tiêu phải mượn
(12) cyanure.
26 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
của người địa phương để đốt tài liệu, song lực lượng an ninh Bỉ đã kịp thời tịch thu số giấy tờ chưa cháy hết.
Chuyên viên phản gián Anh-Pháp, nghiên cứu các tài liệu, cho rằng Hítle lập kế đánh lừa. Mãi khi chiến tranh chấm dứt người ta mới biết đó là kế hoạch thật một trăm phần trăm.
Năm 1943, đến lượt tình báo Đức nát óc, Badờna (1), bồi phòng của ông Hớt ghét sen (2), đại sứ Anh tại Ankara (Thổ nhĩ Kỳ) mở trộm két sắt, chụp tài liệu mật đem bán cho Môi dích (3), phụ trách gián điệp sứ quán Đức.
Đó là tài liệu vô cùng quan trọng nên Môi dích nhận mua với giá rất cao 20.000 Anh kim, nghĩa là trên 4 triệu bạc Việt Nam, cuốn phim đầu tiên. Môi dích cấp tốc về Bá Linh báo cáo với ngoại trưởng Riben tờ rốp (4) và nội vụ được trình qua Him le (5) trùm công an, lên cho Hítle. Tình báo Đức gửi cho Badờna một thứ sáp đặc biệt để lấy dấu ở khóa tủ sắc của đại sứ Anh rồi chuyển về Bá linh rèn chìa khóa giả, đồng thời lại cấp cho y một máy ảnh cực tốt.
Tất cả tiền đưa cho Badờna đều là bạc giả. Có lẽ là vì bạc giả ám ảnh nên tình báo Đức không tin tài liệu do Badờna bán là tài liệu thật. Himle cho là phản gián Anh mượn tay Badờna để đánh lừa. Các sử gia cho rằng cục điện chiến tranh có thể đổi khác nếu tình báo Đức tin dùng Badờna.
Sự trà trộn giữa thật và giả đã lên tới cao độ trong vụ mệnh danh là «đại tá Lincôn» (6). Đài bá âm Mạc tư khoa loan rằng đại tá Lincôn, sinh
---------------
(1) Elyesa Bazna, bi danh Cicéron.
(2) Sir Hugh Knatchbull Hughessen. (3) Moyzicsh.
(4) Ribbentrop. (5) Himmler. (6) Robert T. Lincoln.
27 ĐỆM MONG VÀ ĐỆM NGỰC
ngày 10-10-1909 tại Át-căn-sát (7), Hoa-kỳ chuyên về buôn lậu rượu, là điệp viên nguy hiểm bực nhất của Mỹ. Lincôn, theo đài này, đã đơn thương độc mã chống lại nhân viên an ninh Sô viết trong vùng núi Ba tư. Lincôn còn lén vào thị trấn nguyên tử tối mật Atomgờrát (8) ở Nga sô, và mang về Mỹ một trái bom khinh khí toàn vẹn. Ngoài ra, Lincôn còn chặn đứng các bộ lạc phiến loạn tại A phú Hãn (9), giải giới một đạo binh Nhật định ám sát đại tướng Mắc Attơ (10), khám phá ra Hítle trốn trong một cái động ở Nam Mỹ giữa khi toàn thế giới đinh ninh là nhà độc tài quốc xã chết thành than ở Bá linh.
Nghe nói như vậy, ai cũng hy vọng được biết sự thật về người hùng Lincôn. Sự thật lại khác, vì tình báo Mỹ không có nhân viên nào tên là đại tá Lincôn. Đúng ra Lincôn chỉ là sản phẩm của tưởng tượng, và Nga sô đã bị lỡm.
Lincôn được sinh ra trong một buổi nhậu nhẹt tại Têhêrăn, Ba Tư, năm 1948. Đài bá âm Mạc tư khoa lên tiếng tố cáo một điệp viên Mỹ có tài xuất quỷ nhập thần, nên đại sứ Mỹ Uyli (12) và cố vấn chính trị Đuhơ (13) lập mưu chơi cho một vố. Cả hai bên bịa ra đại tá Lincôn.
Nga sô tưởng Lincôn có thật nên nhân dịp ông Đao gờ lớt (14), chánh thẩm Tối cao pháp viện Mỹ, qua châu Á để leo núi, đài Mạc tư khoa la lối là ông này làm gián điệp và có liên lạc với đại tá Lincôn. Về Mỹ, được nhà báo phỏng vấn, ông tòa Đao gờ lớt bực mình trả lời:
- Đúng, Lincôn cùng đi với tôi trong mọi công tác bí mật.
-------------------
(7) Arkansas. (8) Atomgrad. (9) Afghanistan.
(10) Mac Arthur. (11) Téhéran. (12) John Wiley.
(13) Gerald Dooher. (14) William Douglas.
28 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
Mãi hai năm sau, sự thật mới lôi ra, và thiên hạ được một mẻ cười nôn ruột. Một ký giả Mỹ, ông Sơnbớtdơ (15), nói toạc móng heo trên tờ Nữu ước thời báo, song không hiểu sao, đài Mạc tư khoa cứ khăng khăng một mực, không chịu nhận cái dốt của mình.
Mẩu chuyện này chứng tỏ rằng khám phá đệm mông, đệm vú của đàn bà tuy khó, cũng chưa khó bằng khám phá sự thật về gián điệp.
5- Bộ ngực lép kẹp của Mata Hari
Từ nhiều năm nay, nói đến gián điệp lừng danh ta thường kể tên Mata Hari. Sở dĩ có sự quan tâm này vì chúng ta chỉ đọc sách báo Pháp là nước đã hành quyết Mata Hari với tư cách gián điệp Đức trong thế chiến thứ nhất.
Hàng triệu dòng được viết về Mata Hari trên báo chí quốc tế, nhưng hỡi ôi, sự thật trăm phần trăm về Mata Hari lại bị bỏ quên. Theo huyền sử, nàng có sắc đẹp tuyệt trần, sự thật nàng chỉ có những nét tầm thường, tầm thường hơn nữa là bộ ngực quả mướp của nàng, khiến mỗi khi múa thoát y vũ, nàng đều che ngực không dám cởi bỏ hết. Nàng còn có một cái xấu khác, cái xấu thường làm con gái ế chồng, đó là chứng hôi nách.
Mata Hari không phải là vũ sư đại tài mà chỉ là vũ nữ hạng dưới, kém đến nỗi nhảy sai nhịp điệu. Mặc dầu bản cáo trạng nói rằng nàng chịu trách nhiệm về cái chết của 50.000 binh sĩ và hàng ngàn thủy thủ Pháp, sự thật chẳng có gì hết.
Khi nàng bị lên án tử hình, báo chí cho biết
-----------------
(15) Cyrus L. Sulzberger.
29 BỘ NGỰC LÉP KẸP CỦA MATA HARI
có hai quốc vương, một thủ tướng đa tình vận động ân xá cho nàng, nhưng một cuộc điều tra vô tư sau này đã xác nhận là không ai xin tha cho nàng cả.
Truyền thuyết ly kỳ nhất là khi Mata Hari bị đưa ra hành quyết, nàng chỉ mặc một cái áo lông, bên trong trần truồng, và lúc sắp khai hỏa nàng mở tung áo ra, để lộ tấm thân nỏn nà, khiến binh lính run tay bắn trật ra ngoài. Sự thật là tử tội bị trói vào cọc, và luật sự của nàng, một ông già 75 tuổi muốn hoãn ngày hành quyết chờ đại chiến chấm dứt, đã bịa đặt là nàng đang có mang với ông. Mưu kế này thất bại và Mata Hari phải thọ hình.
Theo tài liệu đã được kiểm nhận, Mata Hari không hề là gián điệp chuyên nghiệp. Nàng có lấy tin tức nữa thì cũng là tình cờ. Tòa án nước Pháp đã phạm một lỗi lầm lịch sử khi ra lệnh bắn Mata Hari. Chẳng qua là mùa Xuân 1917, Đức đang thắng, công luận Pháp la ó là họ bị phản bội nên các tướng lãnh và chánh trị gia cần phải đổ tội cho một kẻ phản bội nào đó. Lúc ấy Mata Hari đang ngồi tù về tội tình nghi dọ thám. Nàng được nhiều người biết tiếng nên đã bị đưa ra làm bung xung.
Dầu sao Mata Hari cũng thuộc về lịch sử. Cho mãi tới ngàn năm nữa, người ta vẫn không quên được người đàn bà tứ tuần đa tình, thay tình nhân như thay đồ lót, người vũ nữ đầu tiên nhảy thoát y cực kỳ khiêu gợi tại Âu Châu.
Chỉ có thế mà Hoa Lệ Ước cũng sản xuất nhiều cuốn phim giựt gân về Mata Hari. Hết cô đào nổi danh Gờrêta Gátbô (1) đến Dan Morô (2) thủ vai chính. Nào đã thôi đâu, người ta còn lôi cả «con gái» Mata Hari lên màn bạc. Một công ty điện ảnh Ý sản xuất một cuốn phim đắt khách tựa đề «con gái của Mata Hari». Đó là Bănđa (3), một cô gái lai Nam Dương.
-----------------
(1) Greta Garbo. (2) Jeanne Moreau. (3) Banda McLeod.
30 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
Bănđa là điệp viên thực thụ. Điều này không ai phủ nhận. Song đến nay, chưa có tài liệu đích xác nào chúng tỏ nàng là con đẻ của Mátgarêta Den (4) tức Mata Hari.
Bănda không còn nữa. Nàng đã bị hành hình trong trận chiến tranh Cao Ly.
Giai thoại về Mata Hari và Bănda một lần nữa chứng tỏ rằng tìm hiểu gián điệp là một vấn đề vô cùng tế nhị.
6- Bà chúa gián điệp
Gạt Mata Hari là ngoài bảng vàng gián điệp không có nghĩa là phái yếu không có những tay do thám đại tài. Bằng chứng là từ mấy chục năm nay, người ta vẫn chưa hết khâm phục tài ba của Cô Đốc, tức là Elidabét Sờrắcmule (1).
Công dân Đức Elidabét đã góp phần lớn vào nền điệp báo Đức trong thế chiến thứ nhứt. Cũng như Mata Hari, hàng chục cuốn sách được viết về Cô Đốc, trong đó nàng được mô ta như một điệp viên xuất quỷ nhập thần.
Năm 1915, tin tức đầu tiên về Cô Đốc được xứ Đức vọt ra ngoài, nhân một điệp viên Đức đầu hàng. Y đổ bộ lên đất Anh, với nhiệm vụ do thám. Lên tới nơi, y đâm ra hoảng sợ và xuất thú với công an. Lúc ấy, người ta mới biết Cô Đốc là hiệu trưởng một trường gián điệp ở Ăn Ve (2).
Tọa lạc tại số 10, đường Pê pi ni e (3), trường này là mẫu mực cho các trường dạy do thám được mở ra trên khắp thế giới. Đặc điểm của trường là có 2 cửa. Khoá sinh được chở tới của trước bằng xe
-----------------------
(4) Margaretha Gertruida Zelle.
(1) Elspeth (hoặc Elizabeth) Schrapmuller. Mademoiselle Docteur.
(2) Anvers. (3) Rue de la Pépinière.
31 BÀ CHÚA GIÁN ĐIỆP
hơi bịt bùng. Tốt nghiệp, khoá sinh ra về bằng cửa hậu.
Cửa mở, khoá sinh được dẫn vào một căn phòng lớn, đồ đạc tươm tất: có tủ đựng sách vở, địa đồ, một máy hát đĩa. Ngoài cửa có dán một miếng giấy để bí danh của khóa sinh. Phòng được khoá bên ngoài, giống như nhà giam, khóa sinh ở trong phòng trong suốt thời gian huấn luyện không khác tù nhân, cửa chỉ mở ra để đưa thức ăn vào mà thôi.
Mỗi phòng có một tấm gương riêng. Phía sau tấm gương, Cô Đốc có thể theo dõi sự sống của khóa sinh mà y không biết. Sau khi khoá sinh bị cô lập đúng một tuần, các huấn luyện viên mới lần lượt tới dạy. Cô Đốc đích thân biên soạn sách giáo khoa. Các trường điệp báo hiện nay vẫn còn dùng sách của Cô Đốc viết ra cách đây bốn chục năm. Sau đây là 12 nguyên tắc giáo dục mà Cô Đốc đề ra cho nhân viên do thám:
1- dẫu biết ngoại ngữ cũng đừng nói, để thúc đẩy người khác tự do nói trước mặt mình.
2- khi hoạt động ở nước ngoài, đừng khi nào viết hoặc nổi tiếng mẹ đẻ.
3- khi đi lấy tin, hãy dụ kẻ đưa tin ra xa chỗ y ở, xa địa bàn hoạt động của ta. Bắt y tới chỗ hẹn bằng đường vòng quanh, tốt nhứt là hẹn ban đêm. Kẻ đưa tin bị mệt mỏi sẽ bớt xảo quyệt, bớt nói dối, bớt kỳ kèo, như vậy có lợi cho ta.
4- khi lấy tin, đừng cho kẻ đưa tin biết ta chú trọng đến một tin nào đặc biệt, vì y sẽ khám phá ra mục đích của ta.
5- lấy tin xong, tìm cách cất giấu một cách khôn ngoan, nếu phải ghi chữ số và kích thước, hãy ngụy trang dưới hình thức sổ tiêu vặt.
6- khi đốt thư hoặc giấy tờ, đừng quên rằng
32 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
tro tàn hoặc mẫu giấy cháy dở có thể hại ta. Chuyên viên của địch có thể đọc được dễ dàng.
Đừng tưởng xé vụn và vứt giấy đi là xong đâu. Ngay cả việc xe vụn giấy và ném vào cầu tiêu cũng chưa chắc là an ninh tuyệt đối.
7- đừng có lời nói và cử chỉ bí mật, trừ khi ta định moi tin từ của miệng của một kẻ ba hoa.
8- khi tìm nơi ngủ, nên kiếm nơi nào có ít nhứt hai cửa. Hãy nghĩ cách thoát thân và luôn luôn dượt lại.
9- phải luôn luôn để ý xem có bị theo không, và phải học cách làm cho người ta không theo mình được.
10- đừng bao giờ quá chén. Chỉ nên lui tới những phụ nữ mà mình biết rõ và tin được.
11- đừng ba hoa, đừng ra vẻ ta đây. Đừng tỏ ra quá khôn ngoan. Đi chậm bao giờ cũng tốt. Thiên tài số một trong nghề do thám là người mà không ai để ý.
12- đừng dễ tin và nhẹ dạ. Đừng vội kết luận khi thấy ai thân tình hoặc ghét bỏ mình. Đừng vội cho tin này đúng, tin kia sai. Hãy bình tĩnh nghiên cứu.
Xuyên qua 12 nguyên tắc, người ta thấy Cô Đốc là thầy dạy gián điệp, không phải là gián điệp, hành động. Tuy nhiên đã có rất nhiều huyền sử về Cô. Báo chí gán cho Cô Đốc nhiều tên khác nhau (4). Có người còn gọi Cô là Mắt Cọp, Cọp Đỏ, Mèo Đen, Bà chúa Gián điệp nữa. Báo chí còn loan tin Cô Đốc hoạt động trong hậu tuyến quân đội Pháp và sau đó sang Nga và bị bắn chết.
-------------
(4) như Bertha Henrichsen Marthe, Shragmuller Frau Kohr, Fraulein Janssen, Anna Maria Lessex.
33 BÀ CHÚA GIÁN ĐIỆP
Trên thực tế, Cô Đốc chỉ là một phụ nữ có nhan sắc trung bình. Sinh năm 1888, tại Men Dít, gần Đót mơn (5), nàng có khiếu thông mình tuyệt vời. Tòng học tại đại học đường Phờ ri bua (6), nàng tốt nghiệp tiến sĩ triết lý, vì thế mới có tên là Cô Đốc.
Thế chiến thứ nhất, nàng đi Bá Linh, xin được tòng quân. Tình cờ qua Bỉ công cán, nàng gặp trên xe hỏa một sĩ quan phản gián Đức, thiếu tá Kíp (7). Thiếu tá Kíp biệt phái nàng vào cơ quan kiểm duyệt dân sự tại Bờruyxen (8). Từ đó, nàng dấn thân vào điệp báo và trở nên nữ sĩ quan đầu tiên và duy nhất của quân đội Đức. Nhờ thiên bẩm, nàng thành công vẻ vang trong công tác phản gián và huấn luyện do thám.
Nàng từ trần tháng 2-1940, thọ 52 tuổi. Nàng mất vì bệnh lao tủy. Sau khi nàng tạ thế, mật vụ Đức xung công hết giấy tờ riêng của nàng vì phương diện an ninh. Trong đời, nàng chưa hề hoạt động gián điệp. Nàng chỉ là một chuyên viên lỗi lạc về gián điệp.
7- Gián điệp phái yếu
Phụ nữ có khiếu về điệp báo hay không? Câu hỏi này vẫn chưa ai trả lời được dứt khoát. Có dư luận cho rằng phụ nữ khó thể thành công vì bản tính nhẹ dạ luôn luôn thay đổi, dễ bị ngoại cảnh chi phối. Song cũng có dư luận tin tưởng vào vai trò phụ nữ.
Thế chiến thứ hai khám phá ra nhiều nữ điệp viên đại tài như Sanson (1) của Anh quốc, Ben (2), người có nghị lực phi thường và tầm kiến văn rộng lớn đã giúp Anh quốc tạo ra nước Irắc (3) với
---------------
(5) Mengede, Dortmund.
(6) Friboung. (7) Kiefer. (8) Bruxelles, Bỉ quốc.
(1) Odette Sanson. (2) Gertrude Bell. (3) Irak.
34 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
hoàng thân Phay San trên ngai vàng. Sau khi cô Ben tạ thế, cô Sìtát (4) cũng dấy được một sự nghiệp xuất chúng ở Trung đông.
Trong thế chiến thứ hai, hồi C.I.A. còn mang tên O.S.S. (5) cơ quan Chiến Lược Vụ Mỹ đã điều khiển một trường dạy nhảy dù, huấn luyện 3800 đàn ông, và 38 đàn bà. Cả thảy 20.000 chuyến nhảy, chỉ có 50 lần bị từ chối, và người từ chối không nhảy không phải là phụ nữ.
Một phụ nữ Ý, nhân viên O.S.S. đã lập kỳ công trong việc tổ chức cấp dưỡng nhiều đơn vị du kích chống phát xít tại miền bắc nước Ý. Một phụ nữ Pháp ngang nhiên đứng giữa ngã tư, chỉ đường cho một đạo binh Đức rút lui đúng vào ổ phục kích của đồng minh. Một phụ nữ Mỹ đã lén lút mang dụng cụ phá hoại vào Âu châu cho các đơn vị giải phóng quân.
Một trong các nữ điệp viên lừng danh của O.S.S. là một thiếu nữ Mỹ to lớn, thân hình đều đặn, nói giỏi tiếng Pháp và Đức. Nàng được thả dù hai lần xuống đất Pháp bị tạm chiếm và đều thành công. Nàng chỉ đòi một ân huệ trước khi rời khỏi phi cơ, đó là uống một ly cỏ nhát thật lớn. Không có rượu cỏ nhát, nàng nhất định không nhảy. Lại có một phụ nữ khác nhảy dù xuống đất Pháp cho O.S.S. và phản gián Đức theo sát. Mặc dầu bị bại lộ, nàng vẫn đánh điện về Anh gởi toàn tin tức đặc biệt. Đoạn nàng bắt tay vào việc huấn luyện và trang bị các đạo quân kháng chiến. Nhờ sự can đảm của nàng, ba tiểu đoàn quân đội bí mật được có thời giờ chuẩn bị đánh vào sau lưng địch.
Trong thời gian phục vụ O.S.S., nàng chỉ đòi một đặc quyền: vốn mang chân gỗ, nàng xin nhảy dù xuống được phép kẹp chân gỗ vào nách để khỏi gãy
-----------
(4) Frega Siark. (5) Office of Strategic Services, sẽ nói tại đoạn sau.
35 GIÁN ĐIỆP PHÁI YẾU
chân khi chạm đất. Và chân gỗ của nàng được nguyên vẹn. Ba lê được giải phóng. O.S.S. mất liên lạc với nàng. Ai cũng lo ngại tưởng nàng thiệt mạng. Song nàng vẫn còn sống. Nàng phải lánh mặt tránh phản gián quốc xã. Và nàng là người đàn bà duy nhứt và thứ nhất được chính phủ Hoa Kỳ ban tặng huy chương về can đảm.
Trung úy Ma-en-nen (6), nhân viên Bộ Nội An Đông Đức, trốn sang phía Tây năm 1961, tiết lộ rằng Cộng sản dùng phụ nữ có nhan sắc để thâm nhập các sứ quán tây phương, tại Bon (7), thủ độ Cộng hòa liên bang Tây Đức. Mưu mô này, theo lời Ma-en-nen, đã đạt được phần nào kết quả.
Một số phụ nữ làm gián điệp cho Cộng sản đã bị sa lưới. Đa-e (8) là nhân viên Đức tại Na-uy. Sau thời chiến, nàng làm cho tình báo Mỹ. Nàng lại bỏ Mỹ, gia nhập tình báo Tiệp khắc. Lúc bị bắt, nàng chưa đầy 26 tuổi. Có lẽ thấy đời nàng còn dài nên quan toà chỉ kết án nàng 12 năm tù.
Ha bờ lít (9), một thiếu phụ khác người Đức, đánh cắp tài liệu mật trong hồ sơ của chồng, viên chức trong chính phủ địa phương Ba vi e (10), rồi gửi sang Tiệp khắc bằng đường bưu điện trong phong bì đóng dấu Nhà nước. Nàng bị phạt 7 năm tù.
Đi tờ rít (11) là nhân viên Hội Thiếu phụ Trẻ Thiên Chúa Giáo, một hội hết sức nghiêm khắc của Hoa kỳ. Nhân viên của Hội không nghĩ đến tình yêu, song nàng lại đem lòng yêu một sĩ quan Cộng sản đẹp trai người Tiệp khắc. Chàng là sĩ quan điệp báo. Nàng đánh cắp tài liệu trao cho chàng. Trước vành móng ngựa, nàng thú nhận là gián điệp vì tình. Kết quả 9 năm tù.
Phi-phe (12) - tên nàng khó đọc thật đấy, song
---------------
(6) Guenther Maennel. (7) Bonn. (8) Gertrude Daerre.
(9) Maria Hablich. (10) Bavière. (11) Edith Dietrich.
(12) Margaret Pfeiffer.
36 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
cái đẹp của nàng thì ai cũng đọc được làm nghề kiểu mẫu. Đường cong hỏa diệm sơn của mỹ nhân làm sĩ quan Mỹ đồn trú tại Ba vi e thật điên bát đảo. Kẻ nào yêu nàng sẽ được đền đáp rộng rãi, không những bằng xác thịt mà còn bằng tiền bạc nữa. Thật nhiều tiền bạc, nếu là bí mật quốc phòng. Trước tòa, nàng bào chữa là nàng phải làm gián điệp cho Cộng sản là vì sợ đứa con trai của nàng bị bắt cóc. Dầu sao, nàng cũng bị kết án 4 năm tù.
Đót hô phe (13) là nữ thư ký duyên dáng trong một văn phòng tổ chức du lịch Mỹ tại Phờ răn pho (14), Đức quốc. Nàng kết bạn với nhiều công dân Mỹ bằng một chiến thuật giản dị mà hữu hiệu: gặp người đàn ông hảo ngọt nào, nàng cũng liếc mắt đưa tình, rồi từ từ mở ví tay lấy một xấp ảnh chụp nàng uỡn ẹo trong bộ đồ tắm nhỏ xíu, hoặc không có mảnh quần áo nào hết.
Khỏi phải bàn, các chàng trai si tình đều híp mắt. Nàng không tỏ ra khó khăn về yêu đương, nàng còn hứa những món tiền kếch xù nữa, miễn hồ... Một đêm kia, sau cơn ân ái, một tình nhân của nàng tố giác nàng với phản gián Mỹ. Thật ra, phản gián Mỹ theo dõi nàng từ lâu. Kẻ làm trung gian giữa nàng với gián điệp Tiệp khắc là Han (14), một tên lưu manh mang nhiều tiền án, vừa lãnh lương mật vụ Cộng sản vừa làm việc cho phản gián Hoa kỳ. Giai nhân có thân hình núi lửa bị kết án 9 năm tù ở.
Trước thế chiến thứ hai, Nga sô đã tổ chức được một màng lưới do thám ở Bắc Mỹ. Trong số có hai phụ nữ, Mát sinh (16) và Ben tờ li (17). Cả hai đều phản tỉnh và đầu hàng phản gián Hoa kỳ.
Mát sinh, người Đức, hoạt động năm 1935 trong
------------------
(13) Elisabeth Dorhofer. (14) Francfort.
(15) Hans Kurt Pape. (16) Hede Massing.
(17) Elizabeth Bentley.
37 GIÁN ĐIỆP PHÁI YẾU
tổ chức Sô viết tại Mỹ và là vợ thứ nhứt của Ét lơ (18), một trong các giám đốc tình báo Nga sô tại Mỹ. Mấy năm sau, Mát sinh tỉnh ngộ và viết sách thuật lại những bí mật của tiểu tổ do thám mà nàng tham dự (19).
Bentờli là một thiếu phụ trẻ, học rộng, làm việc trong chính phủ, có tư tưởng cấp tiến nhưng dần dà bị Cộng sản nhồi sọ và nhuộm đỏ. Năm 1943 Gôlốt (20), một người Nga theo Mỹ tịch, giữ vai trò quan trọng trong guồng máy Sô viết, quyến rũ nàng và kéo nàng vào tổ chức. Năm 1943, Gôlốt chết, nàng được cử ra thay thế. Mặc dầu phụng sự lâu năm cho Nga sô, nàng đột nhiên hoài nghi chủ nghĩa Cộng sản. Năm 1945, sau nhiều ngày tự vấn lương tâm, nàng ra trình diện cảnh sát liên bang Hoa kỳ.
8- Sứ giả tình ái của gián điệp Sô viết
Mỹ nhân kế vẫn là cạm bẫy muôn thở đối với đàn ông. Dưới thời Sít ta lin, công an Sô viết huấn luyện rất nhiều con gái đẹp rồi đưa tới bắt tình với các nhà ngoại giao Tây phương. Những phụ nữ này được gọi là Mozhnos, tức là «con gái được phép». Dùng Môdơnô, Nga sô thành công đã nhiều mà thất bại cũng lắm.
Nora Mu ray (1) đã thuật lại cuộc đời
Chú thích:
(18) Gerhard Eisler.
(19) Đó là cuốn Sự Vỡ Mộng, the Deception.
(20) Golos. (21) Out of Bandage.
(1) Nora Murray.
Tác giả: Người thứ 8
Thanh Đ Nguyễn đánh máy:
- Chasseurs d’espions, Oreste Pinto.
- Le Chef du contre-espionnage nazi parle, Walter Schellenberg.
- Secret Service Chief, U. E., Baughman.
- Gestapo, Edward Crankshaw.
- Mémoires d’un agent secret de la France libre, Rémy.
- Dix marches vers l’espoir, Rémy.
- J’étais le faussaire de Hitler, Walter Hagen.
- La vie privée de Staline, Jack Fishman, Bernard Hutton.
- Omnibus pour l’espionnage, Kurt Singer.
- L’Espionne No. 1, la Chatte, Gordon Young.
- Inside a Soviet Embassy, Alexander Kaznacheyev.
- United States Secret Service, Walter Brown, Harry Edward Neil.
- The Secret War, Sanché de Gramont.
- The U-2 Affair, David Wise, Thomas Ross.
- Sub Rosa, the OSS and American Espionage, Stewart Olsop, Thomas Braden.
- Handbook for Spies, Alexander Foote.
- Spy in the US, Pavel Monat.
- Empire of Fear, Vladimir Petrov.
- Le masque de l’agent secret, George Langelaan.
MẤY GIÒNG TÂM SỰ
Từ nhiều thế kỷ, tình báo và gián điệp được coi là công tác vô cùng quan trọng. Công tác này tăng thêm quan trọng trong thế chiến thứ hai, nhất là trong trận chiến tranh lạnh hiện tại, một trận chiến tranh không mặt trận, và ít hy vọng chấm dứt trong tương lai nhìn thấy. Vì địa lý và lịch sữ, công tác điệp báo ở nước ta trở nên quan trọng khác thường.
Thế mà chúng ta vẫn chưa có một cuốn sách, một tủ sách chuyên môn về điệp báo. Là công dân, chúng tôi cảm thấy có bổn phận phải rút tỉa kinh nghiệm nước ngoài, đúc thành một cuốn sách nhỏ, gọi là làm duyên với những ai bôn khuăn trước tiền đồ tổ quốc.
Đây không phải là tài liệu huấn luyện vì tính chất khô khan làm mất hứng thú cho người đọc chưa quen. Đây cũng không phải tập truyện vì sự bay bướm làm cho điệp báo trở thành vấn đề trừu tượng, mà mục phiêu của chúng ta là cố gắng tiến tới một quan niệm, một tổ chức điệp báo xứng đáng với đòi hỏi của thời cuộc.
Điệp báo là một khu rừng rộng lớn. Ở nước ngoài, người ta đã vào hẳn bên trong, trồng trọt và lập nghiệp. Một mình đến trước cửa rừng bát ngát, xét thấy tài hèn, sức mọn, chúng tôi không dám phát lá, dọn đường, mà chỉ xin phép đúng ngoài, lấy tâm thành đốt lên ngọn lửa báo hiệu.
Vạn nhứt đốm lửa này lọt vào mắt nhiều người, nhứt là những người có trách nhiệm, thì đó là vinh hạnh lớn lao cho tác giả!
Mùa thu 1965
Để tiện cho một số bạn đọc, tác giả đã phiên âm các danh từ ngoại quốc ra tiếng Việt.
Việc phiên âm lấy giản dị làm tiêu chuẩn - càng giản dị càng tốt - nên nhiều khi không chính xác. Tác giả trân trọng cáo lỗi bạn đọc am tường ngoại ngữ.
Bên dưới mỗi trang, tác giả đã đành sẵn một chỗ đăng các danh từ ngoại quốc đã được phiên âm.
PHẦN THỨ NHỨT
HUYỀN SỬ MATA HARI
Trang để trống...
1- 500 triệu cuốn sách gián điệp
Một trong các hiện tượng kỳ thú của thời chiến hậu là sự say mê của độc giả đối với sách báo và tiểu thuyết dọ thám. Nếu hàng vạn đồng bào ta bỏ ăn, bỏ ngủ vì Cô Gái Đồ Long của Kim Dung, thì từ Đông sang Tây, hàng triệu người đổ xô đi tìm tác phẩm của Pitơ Sinê(1), Dăng Bờ-Ruých (2) và Ian Phờlêminh (3).
Nhiều điệp viên Anh, Mỹ, Pháp và Nga sô đã viết hồi ký hoặc thuật lại những thành tích bí mật. Ở tù ra, Selănbe (4), chỉ huy phản gián Đức quốc xã, đã mô tả những thủ đoạn quỉ khóc thần sầu trong một cuốn sách dày bằng nửa cuốn tự vị
--------------------
(1) Peter Cheyney. (2) Jean Bruce, cha đẻ của loại sách OSS.117. (3) Ian Fleming, người Anh, cha đẻ của loại sách James Bond, 007. (4) Walter Schellenberg.
(Bài bắt đầu đánh trang ở đây...)
16 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
Rémi (5), điệp viên của tướng Đờ-gôn trong thời kháng Đức, nghiễm nhiên trở thành một nhà tiểu thuyết gián điệp hữu hạng. Kín tiếng như Alen Đơlớt (6) cựu Tổng giám đốc Trung ương Tình báo C.I.A. cũng không quên lưu lại những tập sách giá trị về điệp báo Hoa Kỳ.
Cả ngàn tác phẩm được in ra trong vòng hai chục năm nay, tổng cộng gần năm trăm triệu cuốn. Trong 12 năm, Dăng Bờ-Ruých, tiểu thuyết gia Pháp, cống hiến trên một trăm tác phẩm và bán được 28 triệu cuốn, phá kỷ lục về xuất bản. Với 13 tác phẩm trước khi tạ thế, Phờlêminh đã đưa điệp viên tưởng tượng Dêmbon, bí hiệu 007, vào đời sống hàng ngày. Người ta mê Dêmbon đến nỗi thanh niên Tây phương đua nhau phục sức như Dêmbon, hội ái hữu Dêmbon mọc ra như nấm, 19 loại đồ chơi, các kiểu áo quần, nước hoa, xà bông mà Dêmbon dùng trong truyện được bày bán nhan nhản trên thị trường.
Gần đây, vụ máy bay trinh sát U-2 bị hạ trên vùng trời Sô Viết, vụ siêu điệp viên Aben của Nga Sô bị bắt tại Nữu Ước (7), cuộc chạy đua phóng vệ tinh gián điệp càng làm hoạt động điệp báo thành một vấn đề thời sự nóng hổi. Thật ra, điệp báo không phải là phát minh của thế kỷ hai mươi, bằng chứng là 400 năm trước Thiên Chúa giáng sinh, chiến lược gia Tôn Ngô đã viết sách dậy về gián điệp. Tôn Tử đã đề cập đến gián điệp đôi, gián điệp thâm nhập (8), phản gián, tâm lý chiến, các thủ đoạn đánh lừa đối phương, tóm lại những công tác điệp báo khoa học mà Tây phương mới khám phá và đang áp dụng.
-------------
(5) Rémy, tức Gilbert Renault, một người làm phim ảnh, tác giả tập Hồi ký của một điệp viên của nước Pháp tự do (Mémoire d’un agent de la France Libre) và nhiều tác phẩm khác. (6) Allen Dulles, tác giả cuốn The Craft of Intelligence (Nghề tình báo). (7) Rudolph Abel. (8) Gián điệp thâm nhập, Anh gọi là Penetration Agent, tiếng lóng của người Mỹ là Magic.
17 500 TRỊÊU CUỐN SÁCH GIÁN ĐỊÊP
Từ Viễn Đông, làn sóng điệp báo lan tràn Cận Đông, để rồi lên tới cực thịnh tại Châu Âu, Ai Cập là nước bị tiêm nhiễm đầu tiên. Năm 480 trước Tây lịch, Hi Lạp phái ba điệp viên sang Ba Tây để nghiên cứu địch tình. Năm 622, Mahômét (9) giáo chủ đạo Hồi thắng trận oanh liệt không cần bắn một mũi tên nhờ công tác tình báo.
Đầu thế kỷ 15, người Ý tiến thêm một bước chỉ việc thiết lập tòa đại sứ tại nước ngoài để thu nhặt tin tức. Hai thế kỷ 16 và 17 chứng kiến sự vùng dậy của các chủ nghĩa quốc gia, và đấu tranh tôn giáo, đồng thời cũng tạo ra những chuyên viên cừ khôi về tình báo ở Châu Âu, bắt đầu là Oansinhgam (10), ngoại trưởng kiêm lãnh tụ điệp báo của nữ hoàng Anh Elisabét, người đặt ra việc kiểm duyệt thư tín. Trên đất Pháp thì có Risơliơ (11). Cũng nhờ điệp báo mà Thụy Điển giữ vai trò cường quốc trong thế kỷ 17. Dưới triều Nã phá luân nước Pháp có Phusê và sau đó đại tá Savari (12). Tại Đức, cuối thế kỷ 19, có Sờtibe (13), người đã dùng nông gia, chủ tiệm và tôi tớ vào hoạt động điệp báo. Sau này, Mao trạch Đông bắt chước Sờtibe để lập ra công an nhân dân.
Trận thế chiến thứ nhất đã khánh thành phương pháp truyền tin bí mật bằng điện đài. Rồi đến thế chiến thứ nhì thị hoạt động tình báo và gián điệp vọt lên độ cao nhất.
2- Tình báo và gián điệp
Tình báo và gián điệp họp lại thành điệp báo. Thành thật mà nói, nhiều người còn lầm lộn giữa tình báo và gián điệp. Người công dân Việt lấy
------------------------------
(9) Mahomet. (10) Sir Francis Wolsingham. (11) Richelieu. (12) Joseph Fouché, Bộ Trưởng Công An Pháp (1759-1820) Savary. (13) Wilhelm Siteber.
18 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
tin tức cho chính phủ, hoặc đồng mình lấy tin tức để giúp ta chống Cộng, như vậy là làm tình báo. Tình báo là một công tác ái quốc, cao cả, đáng được khen ngợi và ủng hộ nhiệt tình. Còn địch – như Cộng sản và những ai chống lại ta – tới đây lấy tin tức là làm gián điệp. Ta lột mặt nạ, diệt trừ gián điệp địch là làm phản gián.
Căn bản của nghề điệp báo là biết mình, biết người. Nếu quân đội đồng minh không biết rõ hệ thống đường sắt trong vùng Đức tạm chiếm thì vị tất cuộc đổ bộ tháng 6-1944 lên đất Pháp đã thành công như dự tính. Thật vậy, đạo quân bí mật đã tuân lệnh đồng minh phá hoại những khúc đường sắt quan trọng, làm trì hoãn viện binh Đức. Đại tướng Aydenhao (1), tổng tư lệnh lực lượng đồng mình, đã nói hoạt động này có giá trị bằng 15 sư đoàn. 9 sư đoàn Đức không tới được miền Bắc Pháp để lâm trận. Nửa tháng sau ngày đồng minh đổ bộ lên Nótmănđi (2), quân Đức phải mất 8 ngày, lẽ ra chỉ mất 7 giờ, mới di chuyển được từ biên giới Thụy Sĩ tới Ba Lê.
Trong đại chiến thứ hai, trước khi nhóm hội tại Têhêran với Síttalin, cố tổng thống Mỹ Rudơveo (3) đã sai các sở bộ tập trung mọi tin tức liên quan tới đời sống của nhà độc tài sô viết. Năm 1945, ngoại trưởng Mỹ Bơnit (4) đã nghiên cứu các văn phẩm của Lênin, đặc biệt những đoạn nói về thương nghị trước khi qua Mạc tư Khoa thương nghị. Sửa soạn cho hội nghị 4 ngoại trưởng tại Bá linh, tháng 2-1945, bộ Ngoại giao Mỹ đã ra chỉ thị thu thập mọi tin tức về ngoại trưởng sô viết Môlôtốp (5). Năm 1939, một đại hội chính trị nhóm tại Lubếch (6), Hítle bắt liên lạc với một đại biểu là thiếu tá
---------------
(1) Eisenhower. (2) Normandie. (3) Roosevelt. (4) James Byrnes. (5) Vyacheslav Moleton. (6) Lubeck, một hải cảng Đức, cách biển Ban tích 15 cây số.
19 TÌNH BÁO VÀ GIÁN ĐỊÊP
Quítlinh (7), lãnh tụ cực hữu Na uy. Quítlinh báo cho Hítle biết rõ nội tình Na uy. Nhờ vậy, một năm sau, Hítle đã xua quân chiếm Na uy dễ như trở bàn tay.
Trước thế chiến thứ hai, gián điệp Nhật trà trộn trong số 10.000 dân chài Nhựt ở bờ biển Caliphótni (8) và Trung Mỹ. Trong số 500 tàu đánh cá, một số là của tình báo Phù tang. Năm 1937, một số lớn trong 47 thợ hớt tóc Nhật tại vùng kênh đào Panama là điệp viên Nhật. Tại Mễ tây cơ, phần lớn thợ trồng răng và nha sĩ Nhật có chân trong tổ chức gián điệp.
Từ năm 1931, chuẩn bị cho chiến tranh Đại đông á, tình báo Nhật đã hoạt động tại quần đảo Nam Dương, khi ấy do Hòa lan cai trị. Tại đây, Nhật mở nhiều nhà chứa, và khách sạn rẻ tiền, sạch sẽ, có đủ thứ vui. Một số y sĩ được gởi tới, giả làm công nhân, bồi bàn để nghiên cứu khí hậu, hầu ngăn các bệnh dịch một khi quân đội Nhật đổ bộ. Bác sĩ Subôta còn tổ chức một đạo quân «đĩ đực» gồm toàn thanh niên xinh xắn, khỏe mạnh để thỏa mãn dục tính của các viên chức Nam Dương mắc bệnh đồng tình ái (9). Đồng tình ái nghĩa là đàn ông chỉ thích ân ái với đàn ông, đàn bà ân ái với đàn bà. Nhờ phương pháp này, Nhật đã thu lượm được nhiều tin tức quan trọng.
Cuộc oanh tạc Lết di ca (10) tại Ba lan, mở màn thế chiến thứ hai, có thể coi là điển hình cho phương châm «biết mình, biết người». Lết di ca là một thị trấn nhỏ, gồm 10.000 dân, tọa lạc trong quận Lốt (11), ở ngoài vùng hoạt động quân sự. Thế mà phi cơ Đức đã thi đua dội bom xuống. Có thể nói Lết di ca là thành phố bị oanh tạc dữ dội
-----------------
(7) Vidkun Quisling, thủ tướng chánh phủ Na uy thân Hítle năm 1940, bị hành hình năm 1945 về tội phản quốc. (8) Californie, một tiểu bang Mỹ. (9) Homosexualité. (10) Lecsyca. (11) Lodz.
20 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
nhứt trong thế chiến thứ hai. Các bộ tham mưu thắc mắc không hiểu vì sao phi cơ quốc xã lại phung phí đạn dược như vậy. Thì đợt không kích thứ 17 đã trả lời một cách hùng hồn.
Người ta nghe một tiếng nổ kinh hồn, làm toàn vùng chuyển động. Thị trấn Lết di ca tan ra thành bụi. Cửa kiếng trong vòng kính 80 cây số quanh thị trấn đều vỡ nát. Té ra Lết di ca là một trong các kho đạn dược bí mật của Ba lan.
Mấy ngày sau, một nhóm nhà báo ngoại quốc tới thủ đô Ba Lan bị tàn phá, dưới sự hướng dẫn của đại tá Đức Von Vêđen (2). Nhân dịp này, một kỷ giả hỏi Vêđen về sự bí mật ở Lết di ca. Đại tá Vêđen mỉm cười đáp:
- Chẳng có gì lạ cả. Đức quốc thắng lợi vì súng ống nhiều hơn, tốt hơn và nhứt là tình báo giỏi hơn.
Lời nói của Vêđen dội thêm một tia sáng mới vào kỹ thuật tình báo Đức. Trên thực tế, trong nhiều năm liền, Đức đã đặt tại Lết di ca một điệp viên đắc lực có nhiệm vụ vẽ họa đồ các kho chứa đạn dược. Chiến tranh bùng nổ. Lết di ca được coi là một trong các mục phiêu phải phá hủy đầu tiên. Kho đạn dược ngụy trang rất khéo nên điệp viên Đức phải hướng dẫn phi đội oanh tạc bằng làn sóng vô tuyến, đánh từ dưới đất lên. 16 lần ném bom không đạt được mục tiêu, bộ tư lệnh quốc xã không nản lông và ra lệnh oanh tạc lần thứ 17 và lần này thành công hoàn toàn.
Gián điệp Đức đã giúp phi cơ tiêu diệt hệ thống đường sắt của Ba lan. Thời khoá biểu chuyển vận được giữ kín, nhưng dọ thám Đức vẫn tìm ra. Ngày 5-9-1939, một đoàn xe lửa rời ga Vạcsôvi (13) để ra tiền tuyến, theo một lộ trình bí mật. Trước khi tàu
--------------------
(12) Von Wedel. (13) Varsovie, thủ đô Ba lan.
21 TÌNH BÁO VÀ GIÁN ĐỊÊP
tới địa điểm, một phi đội quốc xã từ trên trời bổ xuống và san phẳng nhà ga. Đoàn tàu bất hạnh đành nằm chết. Kẻ gây ra vụ này là một điệp viên núp trong văn phòng viên xếp ga Vạcsôvi. Y liên lạc bằng vô tuyến với bộ tổng tư lệnh Đức.
Ngày xưa, công tác đó thậm chí diễn ra trong thời chiến bằng cách cho người trà trộn vào hậu tuyến địch. Công tác nầy ít được cổ võ trong thời bình. Năm 1929, nhậm chức ngoại trưởng Mỹ, ông Henri Sờtimsơn (14) quan niệm rằng người «quân từ không nên đọc trộm thư tư của kẻ khác».
Chẳng ít thì nhiều, thái độ quân tử lỗi thời này đã dẫn tới thất bại Trân châu Cảng năm 1941. Mỹ trở tay không kịp trước cuộc tấn công bất ngờ của hải không quân Nhật. Ngày nay, các cơ quan tình báo đọc trộm thư từ, nghe trộm điện thoại là chuyện quá thông thường. Mỹ đào hầm xuyên qua Đông Bá Linh nghe trộm điện thoại của Nga sô. Sứ quan tây phương sau bức màn sắt thường bị Cộng sản gắn máy ghi âm nghe lén lút. Tháng 5-1960, Đại sứ Ca bốt Lốt trình trước Hội đồng Bảo an L.H.Q. một dụng cụ ghi âm cực nhỏ mà Nga sô giấu trong phòng đại sứ Hoa kỳ tại Mạc tư khoa. Một trận giặc lạ lùng – trận giặc nghe trộm – đang diễn ra sôi nổi tại Bá Linh giữa nhân viên gián điệp Đông và Tây Đức. Sự nghe trộm đã biến thành thói quen tai Nga sô : tất cả các phòng trong điện Cẩm linh đều có máy ghi âm bí mật, và nhà độc tài Síttalin đã ngồi suốt ngày bên cuộn băng nhựa để nghe trộm các cộng sự viên bàn tán.
Với những phát mình tối tân, đời sống riêng tư của con người không còn ý nghĩa nữa.
---------------
(14) Henri Stimson.
22 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
Máy ghi âm đã được thu nhỏ bằng cúc áo, chiếc đồng hồ tay có thể chụp hình rất rõ trong nhà không cần đến. Bắt đầu thế chiến thứ hai điệp viện Anh quốc phải dùng điện đài truyền tin cồng kềnh, nặng ba chục kí lô, giờ đây có những cái chỉ to bằng gói thuốc lá. Phụ huynh Mỹ đâm ra lo ngại về một đồ chơi trẻ con vừa được bày bán: cái máy tí hon này để ở ngoài sân có thể nghe lỏm được tiếng nói thầm thì trong phòng, và các chú bé tinh nghịch đã dùng nó theo dõi những phút tâm tình của cha mẹ.
Ngày nay, đạo binh điệp báo hoạt động khắp nơi, không kể ngày đêm, không kể thời chiến hay thời bình. Phi công Gari Pao-ớt lái U.2 bay cao hai chục cây số chụp hình đất Nga, ai cũng cho là kinh dị, ngày nay còn nhiều sự kinh dị hơn nữa. Hoa kỳ vừa hoàn thành một hệ thống radar có thể nhìn xa 5000 cây số, báo trước 15 phút nếu Nga sô phóng hỏa tiễn nguyên tử.
Giàn radar ghê gớm này còn thua vệ tinh Samốt (15) một bực. Ngày 3-2-1961, trái Samốt đầu tiên được phóng lên không gian từ căn cứ Ác ghen, tiểu bang Caliphọtni (16). Từ trên cao nhìn xuống, Samốt nhìn rõ như mắt người trong vòng 30 thước. Đó là một vệ tinh nặng 5 tấn, do một hỏa tiễn Át lát (17) bắn lên. Khổng lồ Át lát cao 25 thước, nặng 131 tấn, Samốt bay vòng trái đất mất 95 phút, chụp hình, in hình trên không gian rồi mới truyền xuống.
Em của Samốt là Miđát (18), trang bị thứ máy riêng có thể báo cho Mỹ biết trước nữa giờ, mỗi khi hỏa tiễn rời lãnh thổ Sô viết. Những vệ tinh Samốt, Miđát của Mỹ, Sìputních, Vóc-Tóc (19) của Nga sô đang
-----------------
(15) Samos, viết tắc của Satellite and Missile Observation System, hệ thống quan sát vệ tinh và hỏa tiễn. (16) Californie. (17) Atlas. (18) Midas. (19) Sputnik, Vostok.
23 TÌNH BÁO VÀ GIÁN ĐỊÊP
kết thành một mạng lưới dọ thám vô tiền khoáng hậu trên thượng từng vũ trụ, đấy cuộc chiến tranh gián điệp vào giai đoạn gay cấn nhứt của lịch sử loài người.
3- Ba con khỉ của đô đốc Canari
Nói đến điệp báo, không thể quên được đô đốc Uyn Hem Canari (1), tư lệnh Áp oe (2) nghĩa là phòng nhì của Đức quốc xã. Canari đã bị Hítle ra lệnh treo cổ bằng sợi dây thép nhỏ xíu của đàn dương cầm cốt cho tử tội đau đớn, vì có chân trong một âm mưu cướp chánh quyền, tuy nhiên, tên tuổi Canari vẫn còn sống mãi. Dưới quyền Canari, điệp báo Đức đã tiến một bước dài. Nhờ muôn ngàn thủ đoạn, phi thường có, gian manh có, Canari mở thêm trang mới cho lịch sử gián điệp hiện tại.
Điều làm dư luận nhớ nhất là các đồ trang trí trong văn phòng của Canari. Trên tường có một bức tranh Nhật bản, nhan đề là Tà quỷ. Tà quỷ là phương châm của ngành điệp báo. Trên bàn người ta thấy ba con khỉ bằng đồng đen. Bộ ba này vểnh tai nghe, mắt chăm chú nhìn về phía trước, nhưng miệng lại mím chặt. Nghe, nhìn, ngậm miệng còn là một phương châm khác của ngành điệp báo.
Diep bao va bao mat di doi nhu bong voi hinh. Tuy tru so cua tinh bao Anh quoc duoc nhieu nguoi biet, it ai biet duoc nguoi chi huy that su, trung uong tinh bao Phap dat tai dai lo Moc che (3) Ba le, song phan lon nhan vien hoat dong deu lam viec tai mot dia chi bi mat. To chuc tinh bao cua tuong Ghe len (4) Tay Duc, deu nup sau chieu bai thuong mai, ky nghe. Chang han tru so tinh bao khu vuc Ba vi e (5) duoc dat o Muy nich (6) trong toa nha cua
-------------------------
(1) Wilhelm Canaris. (2) Abwehr. (3) Mortier. (4) Gehlen. (5) Bavière. (6) Munich.
24 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
Công ty Kỹ nghệ, nam bộ Đức quốc, số 50, đường Gờ rát (7).
Tổng hành doanh tình báo Sô viết ở Mạc tư khoa được coi là cấm địa, không ai được tới gần. Tai Lăn gờ li (8), trụ sở Trung ương CIA, khách ra vào đều có binh sĩ đi kèm, thang máy có chìa khóa riêng, không được lên xuống tự do. Số điện thoại CIA được ghi trong niên giám, song người ngoài không thể nói chuyện với nhân viên bên trong. Kêu đúng tên cũng không được vì nhân viên dùng tên giả, đôi khi vợ muốn nói chuyện với chồng mà không gặp vì thế. Nhân viên CIA được lệnh giấu kín công việc của mình, ai hỏi thì nói là làm công chức, không nói rõ làm việc gì, làm ở đâu. Đề phòng địch, CIA đã xuất ra 105.000 mỹ kim, nghĩa là trên 10 triệu bạc Việt Nam để xây lò đốt tài liệu.
Việc tổ chức, kết nạp, huấn luyện cũng được giữ bí mật tuyệt đối. Tuy nhiên, nhiều khi bí mật cũng trở thành bật mí.
Dubilin (9), điệp viên Sô viết tại Mỹ trong vòng 15 năm, là một tay tổ nói dốc. Có lần y khoe với Morốt (10), gián điệp đôi người Mỹ, như sau:
- Tôi là trùm tình báo Sô viết xứ này, và tôi cảm thấy được tự do hoạt động cũng như tại mọi nơi khác.
Ben tờ li (11), nữ điệp viên Cộng sản xuất thú thuật lại là có một thủ lãnh do thám Nga tại Mỹ luôn miệng vây vo rằng y bất tử, không ai bắt nổi.
Bệnh ba hoa này là điều tối kỵ.
Ngay từ thế chiến thứ nhất, vấn để bảo mật đã được nêu lên hàng đầu trong các tổ chức trung ương. Selănbe, chỉ huy phản gián quốc xã thuật lại trong cuốn hồi ký những chi tiết rùng mình. Trong
--------------------
(7) Grasse. (8) Langley. (9) Vasili Zubilin. (10) Boris Morros. (11) Elizaneth Bentley.
25 BA CON KHỈ CUA ĐÔ ĐỐC CANARI
văn phòng y, ở đâu cũng có máy ghi âm bí mật, trong tường, dưới bàn, ngay cả trong cây đèn. Cửa sổ lợp bằng lưới thép, ban đêm được truyền điện và có máy chụp hình bí mật, hễ ai lại gần thì báo động, trong vòng năm phút một tiểu đội võ trang ập vào. Bàn giấy của Selănbe là một pháo đài tí hon với hai khẩu súng tự động có thể bắn ria quanh phòng. Loại súng này lúc nào cũng chĩa vào người khách, khi biến, chủ nhân chỉ cần bấm một cái nút là hai họng súng đua nhau khạc đạn, đó là chưa kể một cái nút điện khác, bấm vào là đoàn vệ sĩ xông vào phòng, súng lăm lăm trên tay.
Mỗi lần ra nước ngoài công tác, Selănbe được lệnh đặc một cái răng giả trong miệng, chứa thuốc độc cực mạnh, đủ sức giết người trong 30 giây đồng hồ. Ngoài ra, Selănbe còn đeo nhẫn đựng độc dược xi-a-nuya nữa (12).
4- Đệm mông và đệm ngực
Rất nhiều đàn bà dùng mông giả, vú giả, bằng cao su để đánh lừa đàn ông. Phải thạo đời mới biết thật, giả. Đặc điểm của nghề điệp báo cũng là lộng giả thành chân. Thật và giả lẫn lộn, lắm lúc thật thì tưởng giả, đến khi giả lại đinh ninh là thật. Thấy một thiếu nữ sạch sẽ, đẹp đẽ, ai dám bảo là ổ vi trùng. Có vào sâu mới biết. Đôi khi biết thì đã muộn rồi. Vì thế, người ta đã ví nghề điệp báo với nghề làm đĩ.
Ngày 10-1-1940, bắt đầu thế chiến thứ hai, một phi cơ liên lạc của Đức quốc xã bị lạc trong sa mù, hết xăng, nên phải đáp liều xuống đất Bỉ. Trong phi cơ có bản kế hoạch của Hítle, tung quân qua Bỉ, để tấn công chớp nhoáng qua Pháp. Không có lửa, viên thiếu tá hoa tiêu phải mượn
(12) cyanure.
26 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
của người địa phương để đốt tài liệu, song lực lượng an ninh Bỉ đã kịp thời tịch thu số giấy tờ chưa cháy hết.
Chuyên viên phản gián Anh-Pháp, nghiên cứu các tài liệu, cho rằng Hítle lập kế đánh lừa. Mãi khi chiến tranh chấm dứt người ta mới biết đó là kế hoạch thật một trăm phần trăm.
Năm 1943, đến lượt tình báo Đức nát óc, Badờna (1), bồi phòng của ông Hớt ghét sen (2), đại sứ Anh tại Ankara (Thổ nhĩ Kỳ) mở trộm két sắt, chụp tài liệu mật đem bán cho Môi dích (3), phụ trách gián điệp sứ quán Đức.
Đó là tài liệu vô cùng quan trọng nên Môi dích nhận mua với giá rất cao 20.000 Anh kim, nghĩa là trên 4 triệu bạc Việt Nam, cuốn phim đầu tiên. Môi dích cấp tốc về Bá Linh báo cáo với ngoại trưởng Riben tờ rốp (4) và nội vụ được trình qua Him le (5) trùm công an, lên cho Hítle. Tình báo Đức gửi cho Badờna một thứ sáp đặc biệt để lấy dấu ở khóa tủ sắc của đại sứ Anh rồi chuyển về Bá linh rèn chìa khóa giả, đồng thời lại cấp cho y một máy ảnh cực tốt.
Tất cả tiền đưa cho Badờna đều là bạc giả. Có lẽ là vì bạc giả ám ảnh nên tình báo Đức không tin tài liệu do Badờna bán là tài liệu thật. Himle cho là phản gián Anh mượn tay Badờna để đánh lừa. Các sử gia cho rằng cục điện chiến tranh có thể đổi khác nếu tình báo Đức tin dùng Badờna.
Sự trà trộn giữa thật và giả đã lên tới cao độ trong vụ mệnh danh là «đại tá Lincôn» (6). Đài bá âm Mạc tư khoa loan rằng đại tá Lincôn, sinh
---------------
(1) Elyesa Bazna, bi danh Cicéron.
(2) Sir Hugh Knatchbull Hughessen. (3) Moyzicsh.
(4) Ribbentrop. (5) Himmler. (6) Robert T. Lincoln.
27 ĐỆM MONG VÀ ĐỆM NGỰC
ngày 10-10-1909 tại Át-căn-sát (7), Hoa-kỳ chuyên về buôn lậu rượu, là điệp viên nguy hiểm bực nhất của Mỹ. Lincôn, theo đài này, đã đơn thương độc mã chống lại nhân viên an ninh Sô viết trong vùng núi Ba tư. Lincôn còn lén vào thị trấn nguyên tử tối mật Atomgờrát (8) ở Nga sô, và mang về Mỹ một trái bom khinh khí toàn vẹn. Ngoài ra, Lincôn còn chặn đứng các bộ lạc phiến loạn tại A phú Hãn (9), giải giới một đạo binh Nhật định ám sát đại tướng Mắc Attơ (10), khám phá ra Hítle trốn trong một cái động ở Nam Mỹ giữa khi toàn thế giới đinh ninh là nhà độc tài quốc xã chết thành than ở Bá linh.
Nghe nói như vậy, ai cũng hy vọng được biết sự thật về người hùng Lincôn. Sự thật lại khác, vì tình báo Mỹ không có nhân viên nào tên là đại tá Lincôn. Đúng ra Lincôn chỉ là sản phẩm của tưởng tượng, và Nga sô đã bị lỡm.
Lincôn được sinh ra trong một buổi nhậu nhẹt tại Têhêrăn, Ba Tư, năm 1948. Đài bá âm Mạc tư khoa lên tiếng tố cáo một điệp viên Mỹ có tài xuất quỷ nhập thần, nên đại sứ Mỹ Uyli (12) và cố vấn chính trị Đuhơ (13) lập mưu chơi cho một vố. Cả hai bên bịa ra đại tá Lincôn.
Nga sô tưởng Lincôn có thật nên nhân dịp ông Đao gờ lớt (14), chánh thẩm Tối cao pháp viện Mỹ, qua châu Á để leo núi, đài Mạc tư khoa la lối là ông này làm gián điệp và có liên lạc với đại tá Lincôn. Về Mỹ, được nhà báo phỏng vấn, ông tòa Đao gờ lớt bực mình trả lời:
- Đúng, Lincôn cùng đi với tôi trong mọi công tác bí mật.
-------------------
(7) Arkansas. (8) Atomgrad. (9) Afghanistan.
(10) Mac Arthur. (11) Téhéran. (12) John Wiley.
(13) Gerald Dooher. (14) William Douglas.
28 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
Mãi hai năm sau, sự thật mới lôi ra, và thiên hạ được một mẻ cười nôn ruột. Một ký giả Mỹ, ông Sơnbớtdơ (15), nói toạc móng heo trên tờ Nữu ước thời báo, song không hiểu sao, đài Mạc tư khoa cứ khăng khăng một mực, không chịu nhận cái dốt của mình.
Mẩu chuyện này chứng tỏ rằng khám phá đệm mông, đệm vú của đàn bà tuy khó, cũng chưa khó bằng khám phá sự thật về gián điệp.
5- Bộ ngực lép kẹp của Mata Hari
Từ nhiều năm nay, nói đến gián điệp lừng danh ta thường kể tên Mata Hari. Sở dĩ có sự quan tâm này vì chúng ta chỉ đọc sách báo Pháp là nước đã hành quyết Mata Hari với tư cách gián điệp Đức trong thế chiến thứ nhất.
Hàng triệu dòng được viết về Mata Hari trên báo chí quốc tế, nhưng hỡi ôi, sự thật trăm phần trăm về Mata Hari lại bị bỏ quên. Theo huyền sử, nàng có sắc đẹp tuyệt trần, sự thật nàng chỉ có những nét tầm thường, tầm thường hơn nữa là bộ ngực quả mướp của nàng, khiến mỗi khi múa thoát y vũ, nàng đều che ngực không dám cởi bỏ hết. Nàng còn có một cái xấu khác, cái xấu thường làm con gái ế chồng, đó là chứng hôi nách.
Mata Hari không phải là vũ sư đại tài mà chỉ là vũ nữ hạng dưới, kém đến nỗi nhảy sai nhịp điệu. Mặc dầu bản cáo trạng nói rằng nàng chịu trách nhiệm về cái chết của 50.000 binh sĩ và hàng ngàn thủy thủ Pháp, sự thật chẳng có gì hết.
Khi nàng bị lên án tử hình, báo chí cho biết
-----------------
(15) Cyrus L. Sulzberger.
29 BỘ NGỰC LÉP KẸP CỦA MATA HARI
có hai quốc vương, một thủ tướng đa tình vận động ân xá cho nàng, nhưng một cuộc điều tra vô tư sau này đã xác nhận là không ai xin tha cho nàng cả.
Truyền thuyết ly kỳ nhất là khi Mata Hari bị đưa ra hành quyết, nàng chỉ mặc một cái áo lông, bên trong trần truồng, và lúc sắp khai hỏa nàng mở tung áo ra, để lộ tấm thân nỏn nà, khiến binh lính run tay bắn trật ra ngoài. Sự thật là tử tội bị trói vào cọc, và luật sự của nàng, một ông già 75 tuổi muốn hoãn ngày hành quyết chờ đại chiến chấm dứt, đã bịa đặt là nàng đang có mang với ông. Mưu kế này thất bại và Mata Hari phải thọ hình.
Theo tài liệu đã được kiểm nhận, Mata Hari không hề là gián điệp chuyên nghiệp. Nàng có lấy tin tức nữa thì cũng là tình cờ. Tòa án nước Pháp đã phạm một lỗi lầm lịch sử khi ra lệnh bắn Mata Hari. Chẳng qua là mùa Xuân 1917, Đức đang thắng, công luận Pháp la ó là họ bị phản bội nên các tướng lãnh và chánh trị gia cần phải đổ tội cho một kẻ phản bội nào đó. Lúc ấy Mata Hari đang ngồi tù về tội tình nghi dọ thám. Nàng được nhiều người biết tiếng nên đã bị đưa ra làm bung xung.
Dầu sao Mata Hari cũng thuộc về lịch sử. Cho mãi tới ngàn năm nữa, người ta vẫn không quên được người đàn bà tứ tuần đa tình, thay tình nhân như thay đồ lót, người vũ nữ đầu tiên nhảy thoát y cực kỳ khiêu gợi tại Âu Châu.
Chỉ có thế mà Hoa Lệ Ước cũng sản xuất nhiều cuốn phim giựt gân về Mata Hari. Hết cô đào nổi danh Gờrêta Gátbô (1) đến Dan Morô (2) thủ vai chính. Nào đã thôi đâu, người ta còn lôi cả «con gái» Mata Hari lên màn bạc. Một công ty điện ảnh Ý sản xuất một cuốn phim đắt khách tựa đề «con gái của Mata Hari». Đó là Bănđa (3), một cô gái lai Nam Dương.
-----------------
(1) Greta Garbo. (2) Jeanne Moreau. (3) Banda McLeod.
30 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
Bănđa là điệp viên thực thụ. Điều này không ai phủ nhận. Song đến nay, chưa có tài liệu đích xác nào chúng tỏ nàng là con đẻ của Mátgarêta Den (4) tức Mata Hari.
Bănda không còn nữa. Nàng đã bị hành hình trong trận chiến tranh Cao Ly.
Giai thoại về Mata Hari và Bănda một lần nữa chứng tỏ rằng tìm hiểu gián điệp là một vấn đề vô cùng tế nhị.
6- Bà chúa gián điệp
Gạt Mata Hari là ngoài bảng vàng gián điệp không có nghĩa là phái yếu không có những tay do thám đại tài. Bằng chứng là từ mấy chục năm nay, người ta vẫn chưa hết khâm phục tài ba của Cô Đốc, tức là Elidabét Sờrắcmule (1).
Công dân Đức Elidabét đã góp phần lớn vào nền điệp báo Đức trong thế chiến thứ nhứt. Cũng như Mata Hari, hàng chục cuốn sách được viết về Cô Đốc, trong đó nàng được mô ta như một điệp viên xuất quỷ nhập thần.
Năm 1915, tin tức đầu tiên về Cô Đốc được xứ Đức vọt ra ngoài, nhân một điệp viên Đức đầu hàng. Y đổ bộ lên đất Anh, với nhiệm vụ do thám. Lên tới nơi, y đâm ra hoảng sợ và xuất thú với công an. Lúc ấy, người ta mới biết Cô Đốc là hiệu trưởng một trường gián điệp ở Ăn Ve (2).
Tọa lạc tại số 10, đường Pê pi ni e (3), trường này là mẫu mực cho các trường dạy do thám được mở ra trên khắp thế giới. Đặc điểm của trường là có 2 cửa. Khoá sinh được chở tới của trước bằng xe
-----------------------
(4) Margaretha Gertruida Zelle.
(1) Elspeth (hoặc Elizabeth) Schrapmuller. Mademoiselle Docteur.
(2) Anvers. (3) Rue de la Pépinière.
31 BÀ CHÚA GIÁN ĐIỆP
hơi bịt bùng. Tốt nghiệp, khoá sinh ra về bằng cửa hậu.
Cửa mở, khoá sinh được dẫn vào một căn phòng lớn, đồ đạc tươm tất: có tủ đựng sách vở, địa đồ, một máy hát đĩa. Ngoài cửa có dán một miếng giấy để bí danh của khóa sinh. Phòng được khoá bên ngoài, giống như nhà giam, khóa sinh ở trong phòng trong suốt thời gian huấn luyện không khác tù nhân, cửa chỉ mở ra để đưa thức ăn vào mà thôi.
Mỗi phòng có một tấm gương riêng. Phía sau tấm gương, Cô Đốc có thể theo dõi sự sống của khóa sinh mà y không biết. Sau khi khoá sinh bị cô lập đúng một tuần, các huấn luyện viên mới lần lượt tới dạy. Cô Đốc đích thân biên soạn sách giáo khoa. Các trường điệp báo hiện nay vẫn còn dùng sách của Cô Đốc viết ra cách đây bốn chục năm. Sau đây là 12 nguyên tắc giáo dục mà Cô Đốc đề ra cho nhân viên do thám:
1- dẫu biết ngoại ngữ cũng đừng nói, để thúc đẩy người khác tự do nói trước mặt mình.
2- khi hoạt động ở nước ngoài, đừng khi nào viết hoặc nổi tiếng mẹ đẻ.
3- khi đi lấy tin, hãy dụ kẻ đưa tin ra xa chỗ y ở, xa địa bàn hoạt động của ta. Bắt y tới chỗ hẹn bằng đường vòng quanh, tốt nhứt là hẹn ban đêm. Kẻ đưa tin bị mệt mỏi sẽ bớt xảo quyệt, bớt nói dối, bớt kỳ kèo, như vậy có lợi cho ta.
4- khi lấy tin, đừng cho kẻ đưa tin biết ta chú trọng đến một tin nào đặc biệt, vì y sẽ khám phá ra mục đích của ta.
5- lấy tin xong, tìm cách cất giấu một cách khôn ngoan, nếu phải ghi chữ số và kích thước, hãy ngụy trang dưới hình thức sổ tiêu vặt.
6- khi đốt thư hoặc giấy tờ, đừng quên rằng
32 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
tro tàn hoặc mẫu giấy cháy dở có thể hại ta. Chuyên viên của địch có thể đọc được dễ dàng.
Đừng tưởng xé vụn và vứt giấy đi là xong đâu. Ngay cả việc xe vụn giấy và ném vào cầu tiêu cũng chưa chắc là an ninh tuyệt đối.
7- đừng có lời nói và cử chỉ bí mật, trừ khi ta định moi tin từ của miệng của một kẻ ba hoa.
8- khi tìm nơi ngủ, nên kiếm nơi nào có ít nhứt hai cửa. Hãy nghĩ cách thoát thân và luôn luôn dượt lại.
9- phải luôn luôn để ý xem có bị theo không, và phải học cách làm cho người ta không theo mình được.
10- đừng bao giờ quá chén. Chỉ nên lui tới những phụ nữ mà mình biết rõ và tin được.
11- đừng ba hoa, đừng ra vẻ ta đây. Đừng tỏ ra quá khôn ngoan. Đi chậm bao giờ cũng tốt. Thiên tài số một trong nghề do thám là người mà không ai để ý.
12- đừng dễ tin và nhẹ dạ. Đừng vội kết luận khi thấy ai thân tình hoặc ghét bỏ mình. Đừng vội cho tin này đúng, tin kia sai. Hãy bình tĩnh nghiên cứu.
Xuyên qua 12 nguyên tắc, người ta thấy Cô Đốc là thầy dạy gián điệp, không phải là gián điệp, hành động. Tuy nhiên đã có rất nhiều huyền sử về Cô. Báo chí gán cho Cô Đốc nhiều tên khác nhau (4). Có người còn gọi Cô là Mắt Cọp, Cọp Đỏ, Mèo Đen, Bà chúa Gián điệp nữa. Báo chí còn loan tin Cô Đốc hoạt động trong hậu tuyến quân đội Pháp và sau đó sang Nga và bị bắn chết.
-------------
(4) như Bertha Henrichsen Marthe, Shragmuller Frau Kohr, Fraulein Janssen, Anna Maria Lessex.
33 BÀ CHÚA GIÁN ĐIỆP
Trên thực tế, Cô Đốc chỉ là một phụ nữ có nhan sắc trung bình. Sinh năm 1888, tại Men Dít, gần Đót mơn (5), nàng có khiếu thông mình tuyệt vời. Tòng học tại đại học đường Phờ ri bua (6), nàng tốt nghiệp tiến sĩ triết lý, vì thế mới có tên là Cô Đốc.
Thế chiến thứ nhất, nàng đi Bá Linh, xin được tòng quân. Tình cờ qua Bỉ công cán, nàng gặp trên xe hỏa một sĩ quan phản gián Đức, thiếu tá Kíp (7). Thiếu tá Kíp biệt phái nàng vào cơ quan kiểm duyệt dân sự tại Bờruyxen (8). Từ đó, nàng dấn thân vào điệp báo và trở nên nữ sĩ quan đầu tiên và duy nhất của quân đội Đức. Nhờ thiên bẩm, nàng thành công vẻ vang trong công tác phản gián và huấn luyện do thám.
Nàng từ trần tháng 2-1940, thọ 52 tuổi. Nàng mất vì bệnh lao tủy. Sau khi nàng tạ thế, mật vụ Đức xung công hết giấy tờ riêng của nàng vì phương diện an ninh. Trong đời, nàng chưa hề hoạt động gián điệp. Nàng chỉ là một chuyên viên lỗi lạc về gián điệp.
7- Gián điệp phái yếu
Phụ nữ có khiếu về điệp báo hay không? Câu hỏi này vẫn chưa ai trả lời được dứt khoát. Có dư luận cho rằng phụ nữ khó thể thành công vì bản tính nhẹ dạ luôn luôn thay đổi, dễ bị ngoại cảnh chi phối. Song cũng có dư luận tin tưởng vào vai trò phụ nữ.
Thế chiến thứ hai khám phá ra nhiều nữ điệp viên đại tài như Sanson (1) của Anh quốc, Ben (2), người có nghị lực phi thường và tầm kiến văn rộng lớn đã giúp Anh quốc tạo ra nước Irắc (3) với
---------------
(5) Mengede, Dortmund.
(6) Friboung. (7) Kiefer. (8) Bruxelles, Bỉ quốc.
(1) Odette Sanson. (2) Gertrude Bell. (3) Irak.
34 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
hoàng thân Phay San trên ngai vàng. Sau khi cô Ben tạ thế, cô Sìtát (4) cũng dấy được một sự nghiệp xuất chúng ở Trung đông.
Trong thế chiến thứ hai, hồi C.I.A. còn mang tên O.S.S. (5) cơ quan Chiến Lược Vụ Mỹ đã điều khiển một trường dạy nhảy dù, huấn luyện 3800 đàn ông, và 38 đàn bà. Cả thảy 20.000 chuyến nhảy, chỉ có 50 lần bị từ chối, và người từ chối không nhảy không phải là phụ nữ.
Một phụ nữ Ý, nhân viên O.S.S. đã lập kỳ công trong việc tổ chức cấp dưỡng nhiều đơn vị du kích chống phát xít tại miền bắc nước Ý. Một phụ nữ Pháp ngang nhiên đứng giữa ngã tư, chỉ đường cho một đạo binh Đức rút lui đúng vào ổ phục kích của đồng minh. Một phụ nữ Mỹ đã lén lút mang dụng cụ phá hoại vào Âu châu cho các đơn vị giải phóng quân.
Một trong các nữ điệp viên lừng danh của O.S.S. là một thiếu nữ Mỹ to lớn, thân hình đều đặn, nói giỏi tiếng Pháp và Đức. Nàng được thả dù hai lần xuống đất Pháp bị tạm chiếm và đều thành công. Nàng chỉ đòi một ân huệ trước khi rời khỏi phi cơ, đó là uống một ly cỏ nhát thật lớn. Không có rượu cỏ nhát, nàng nhất định không nhảy. Lại có một phụ nữ khác nhảy dù xuống đất Pháp cho O.S.S. và phản gián Đức theo sát. Mặc dầu bị bại lộ, nàng vẫn đánh điện về Anh gởi toàn tin tức đặc biệt. Đoạn nàng bắt tay vào việc huấn luyện và trang bị các đạo quân kháng chiến. Nhờ sự can đảm của nàng, ba tiểu đoàn quân đội bí mật được có thời giờ chuẩn bị đánh vào sau lưng địch.
Trong thời gian phục vụ O.S.S., nàng chỉ đòi một đặc quyền: vốn mang chân gỗ, nàng xin nhảy dù xuống được phép kẹp chân gỗ vào nách để khỏi gãy
-----------
(4) Frega Siark. (5) Office of Strategic Services, sẽ nói tại đoạn sau.
35 GIÁN ĐIỆP PHÁI YẾU
chân khi chạm đất. Và chân gỗ của nàng được nguyên vẹn. Ba lê được giải phóng. O.S.S. mất liên lạc với nàng. Ai cũng lo ngại tưởng nàng thiệt mạng. Song nàng vẫn còn sống. Nàng phải lánh mặt tránh phản gián quốc xã. Và nàng là người đàn bà duy nhứt và thứ nhất được chính phủ Hoa Kỳ ban tặng huy chương về can đảm.
Trung úy Ma-en-nen (6), nhân viên Bộ Nội An Đông Đức, trốn sang phía Tây năm 1961, tiết lộ rằng Cộng sản dùng phụ nữ có nhan sắc để thâm nhập các sứ quán tây phương, tại Bon (7), thủ độ Cộng hòa liên bang Tây Đức. Mưu mô này, theo lời Ma-en-nen, đã đạt được phần nào kết quả.
Một số phụ nữ làm gián điệp cho Cộng sản đã bị sa lưới. Đa-e (8) là nhân viên Đức tại Na-uy. Sau thời chiến, nàng làm cho tình báo Mỹ. Nàng lại bỏ Mỹ, gia nhập tình báo Tiệp khắc. Lúc bị bắt, nàng chưa đầy 26 tuổi. Có lẽ thấy đời nàng còn dài nên quan toà chỉ kết án nàng 12 năm tù.
Ha bờ lít (9), một thiếu phụ khác người Đức, đánh cắp tài liệu mật trong hồ sơ của chồng, viên chức trong chính phủ địa phương Ba vi e (10), rồi gửi sang Tiệp khắc bằng đường bưu điện trong phong bì đóng dấu Nhà nước. Nàng bị phạt 7 năm tù.
Đi tờ rít (11) là nhân viên Hội Thiếu phụ Trẻ Thiên Chúa Giáo, một hội hết sức nghiêm khắc của Hoa kỳ. Nhân viên của Hội không nghĩ đến tình yêu, song nàng lại đem lòng yêu một sĩ quan Cộng sản đẹp trai người Tiệp khắc. Chàng là sĩ quan điệp báo. Nàng đánh cắp tài liệu trao cho chàng. Trước vành móng ngựa, nàng thú nhận là gián điệp vì tình. Kết quả 9 năm tù.
Phi-phe (12) - tên nàng khó đọc thật đấy, song
---------------
(6) Guenther Maennel. (7) Bonn. (8) Gertrude Daerre.
(9) Maria Hablich. (10) Bavière. (11) Edith Dietrich.
(12) Margaret Pfeiffer.
36 GIÁN ĐỊÊP QUỐC TẾ
cái đẹp của nàng thì ai cũng đọc được làm nghề kiểu mẫu. Đường cong hỏa diệm sơn của mỹ nhân làm sĩ quan Mỹ đồn trú tại Ba vi e thật điên bát đảo. Kẻ nào yêu nàng sẽ được đền đáp rộng rãi, không những bằng xác thịt mà còn bằng tiền bạc nữa. Thật nhiều tiền bạc, nếu là bí mật quốc phòng. Trước tòa, nàng bào chữa là nàng phải làm gián điệp cho Cộng sản là vì sợ đứa con trai của nàng bị bắt cóc. Dầu sao, nàng cũng bị kết án 4 năm tù.
Đót hô phe (13) là nữ thư ký duyên dáng trong một văn phòng tổ chức du lịch Mỹ tại Phờ răn pho (14), Đức quốc. Nàng kết bạn với nhiều công dân Mỹ bằng một chiến thuật giản dị mà hữu hiệu: gặp người đàn ông hảo ngọt nào, nàng cũng liếc mắt đưa tình, rồi từ từ mở ví tay lấy một xấp ảnh chụp nàng uỡn ẹo trong bộ đồ tắm nhỏ xíu, hoặc không có mảnh quần áo nào hết.
Khỏi phải bàn, các chàng trai si tình đều híp mắt. Nàng không tỏ ra khó khăn về yêu đương, nàng còn hứa những món tiền kếch xù nữa, miễn hồ... Một đêm kia, sau cơn ân ái, một tình nhân của nàng tố giác nàng với phản gián Mỹ. Thật ra, phản gián Mỹ theo dõi nàng từ lâu. Kẻ làm trung gian giữa nàng với gián điệp Tiệp khắc là Han (14), một tên lưu manh mang nhiều tiền án, vừa lãnh lương mật vụ Cộng sản vừa làm việc cho phản gián Hoa kỳ. Giai nhân có thân hình núi lửa bị kết án 9 năm tù ở.
Trước thế chiến thứ hai, Nga sô đã tổ chức được một màng lưới do thám ở Bắc Mỹ. Trong số có hai phụ nữ, Mát sinh (16) và Ben tờ li (17). Cả hai đều phản tỉnh và đầu hàng phản gián Hoa kỳ.
Mát sinh, người Đức, hoạt động năm 1935 trong
------------------
(13) Elisabeth Dorhofer. (14) Francfort.
(15) Hans Kurt Pape. (16) Hede Massing.
(17) Elizabeth Bentley.
37 GIÁN ĐIỆP PHÁI YẾU
tổ chức Sô viết tại Mỹ và là vợ thứ nhứt của Ét lơ (18), một trong các giám đốc tình báo Nga sô tại Mỹ. Mấy năm sau, Mát sinh tỉnh ngộ và viết sách thuật lại những bí mật của tiểu tổ do thám mà nàng tham dự (19).
Bentờli là một thiếu phụ trẻ, học rộng, làm việc trong chính phủ, có tư tưởng cấp tiến nhưng dần dà bị Cộng sản nhồi sọ và nhuộm đỏ. Năm 1943 Gôlốt (20), một người Nga theo Mỹ tịch, giữ vai trò quan trọng trong guồng máy Sô viết, quyến rũ nàng và kéo nàng vào tổ chức. Năm 1943, Gôlốt chết, nàng được cử ra thay thế. Mặc dầu phụng sự lâu năm cho Nga sô, nàng đột nhiên hoài nghi chủ nghĩa Cộng sản. Năm 1945, sau nhiều ngày tự vấn lương tâm, nàng ra trình diện cảnh sát liên bang Hoa kỳ.
8- Sứ giả tình ái của gián điệp Sô viết
Mỹ nhân kế vẫn là cạm bẫy muôn thở đối với đàn ông. Dưới thời Sít ta lin, công an Sô viết huấn luyện rất nhiều con gái đẹp rồi đưa tới bắt tình với các nhà ngoại giao Tây phương. Những phụ nữ này được gọi là Mozhnos, tức là «con gái được phép». Dùng Môdơnô, Nga sô thành công đã nhiều mà thất bại cũng lắm.
Nora Mu ray (1) đã thuật lại cuộc đời
Chú thích:
(18) Gerhard Eisler.
(19) Đó là cuốn Sự Vỡ Mộng, the Deception.
(20) Golos. (21) Out of Bandage.
(1) Nora Murray.