📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Vượt cạn - Triều Vân 🔒

11 trả lời, 2.256 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.06.2014 12:22:04 bởi casau>
Vượt cạn
Tác giả: Triều Vân
Nguồn: sưu tầm
 
 
 
[font="verdana"]Con sông rộng, nước đang ròng sát, những mảng lục bình lá xanh hoa tím cùng rác rến thi nhau lao nhanh, do sức cuốn của dòng phù sa đục bẩn.
Bãi sình đen ngòm, lún phún những ngó bần trăng trắng, những rễ vẹt xám ngắt, hằn những vết chân người cùng khắp; những chiếc xuồng con biếng nhác, nằm thườn thượt đó đây, khiến bến chợ có vẻ buồn nhìn. Những cơn gió lộng đột biến, đột hiện, đưa hơi nóng, mùi bùn từ bãi nắng, tạo những con trốt tung bụi mù, khiến nản lòng kẻ bán, người mua.
Bạn hàng thôn xa, lần lượt quảy gánh xuống thuyền. Cầu ngắn, nước xa, người người đều xăn quần tận vế, lội bì bõm qua bãi lầy, miệng không ngớt hàn huyên lắm chuyện.
Trời càng trưa, nắng như đổ lửa, hàng vơi, khách vắng, chỉ còn lại đám dân nghèo kỳ kèo quà ế. Tân đang thất thu, ông kiên nhẫn ở lại chào hàng cho ông đi qua, bà đi lại. Từ ngày kinh tế thị trường được nhà nước chấp nhận, cái chợ trời quận nhỏ đã biến thành nơi doanh thương của các cán bộ về hưu, gốc tập kết. Nhờ họ mà Tân mượn gió bẻ măng, đổi nghề bán thuốc lá lẻ ra quán tạp hóa khiêm nhường. Họ có thế buôn bán lớn, ông nghèo mạt gom đồ cũ, sản phẩm địa phương, buôn qua bán lại cho đầy bát cơm. Ngày nào cũng như ngày nào, chỉ có những người biết nguồn cội của ông, mới ghé mua ủng hộ, mặc cho phẩm chất ra sao. Những lúc ế ẩm, là dịp ông suy gẫm thương thân: “Đời ta phong trần vô độ, nghề dạy không hay, nghề buôn không giỏi, quốc biến nên sự nghiệp lụn tàn. Nếu duy tâm một chút, mình là tuổi con cọp nên gàn là số; lão lai tài tận nên mạt là thời; sinh lộn địa dư, quốc chính hóa ngụy. Ối thôi! Duy tâm, duy vật, hợp nhân, thuận quả là niêm luật, chạy đâu cho khỏi ách trời, âu là đem thân già, gia hàng chợ cho qua một đời”.
Châu đưa ông trở lại thực tế :
- Ba cho ít tiền để làm mâm cơm giỗ mẹ!
Tân nhìn con cảm khái đức hiếu thuận. Châu là đứa con độc nhứt của gia đình ông. Từ ngày giải phóng, thằng bé theo cô để nương tựa. Nay hai cô cháu dẫn lũ trẻ về thăm ông, nhân ngày kỵ cơm của Mỹ, vợ ông. Đang miên man nghĩ ngợi, tiếng trẻ ồn ào khiến Tân hướng mắt về hoạt cảnh ngoài hiên. Mai đòn hàng đàng đầu, Minh lèo lái đàng đuôi. Hai con gà giò đang gấu ó trong giỏ hẹp, hai con vịt thi nhau mổ vào nhượng của Mai. Con bé than đau từng chặp. Hai trẻ đến bên ông, quẳng gánh. Mai tranh công :
- Mẹ con còn đang đi chợ mua thêm vài món cần thiết. Mẹ bảo chúng con mang quà về trước, chốc nữa mẹ về làm cỗ cúng mợ!
Tân xúc động, ông thay lời khen ngợi bằng cử chỉ chăm sóc các cháu ngoan. Ông kéo vạt áo lau mấy giọt mồ hôi lấm tấm trên mặt của đôi trẻ thơ, ông thầm nhủ: “Mình có phước thật, vợ tuy qua đời, nhưng được đứa em gái có lòng, cháu hiền, con thảo, ai bảo nghèo là đơn, khó là bạc!”
Để kéo dài cái hạnh phúc bất chợt hôm nay, để tưởng niệm người quá cố chung tình, Tân bảo con :
- Châu! Con đưa hai em về trước, cha ở lại chờ cô con một tí!
Đợi con, cháu khuất dạng, Tân lùi vào trong, khép cửa quầy hàng, rót chung rượu đầy vừa ngồi nhâm nhi, vừa trầm tư về đường xưa lối cũ...
Tân nhớ lại phong thái của mình qua bao năm tháng xuân thì và ngày tàn tạ khi vợ đã mất, tiền tài, danh vọng không cánh mà bay. Lỡ thời, để quân bình kiếp sống, ông trang điểm cho mình chút tư cách hiền nhân, cái khoan hòa của người yếm thế. Tân không còn cái háo của một gian thương, cái ngông của tay chơi bạt mạng.
Những bạn già ngày cũ, kẻ lão bệnh, người tật vong vì họ tiếp tục đánh bạc cuộc đời với thất tình, lục dục, trong khi Tân bình chân như vại.
Tân ngẫm, mình trụ chẳng phải tự căn, mình lành không do cốt thánh, nhưng duyên khởi là ở ngoại vi. Người xưa có dạy “thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Ngày mình còn đơn độc, mình hư chẳng lụy đến ai, mình hoang chẳng ai bình mình. Người mình nên gia thất, mình loạn thân bại, gia nhục, con bình, cháu luận.
Một dữ kiện khác là mối tương giao ngộ nghĩnh giữa Tân và cụ Chánh, thân phụ của Tân.
Cụ Chánh, một tác nhân, già khổ hạnh, lão thức thời. Cụ sống nặng với sách vở Tây, Tàu, kim, cổ. Cụ tự nhào nắn, pha chế, làm một phương thức cho nếp sống cá biệt. Mới trông qua có vẻ lập dị, nhưng xét kỹ, nó có chút hài hòa, nhờ hương vị tiếu lâm.
Một trong những cái lập dị của cụ mà Tân thấy rõ, cụ hay lẩm bẩm lời của một đại lão: “Thất nội cơ thô xú, vãn phản giảm sở khẩu, dạ ngọa bất phúc thủ!” để tránh dâm, phòng bệnh, ngừa dục.
Tân là trai mới lớn, tuy nể cha nhưng thà chết chứ không chịu vợ xấu, ăn kiêng, nằm ngửa.
Cụ Chánh là giáo làng, vợ mất sớm, gà trống nuôi con là cảnh. Con gái út, bản tính hết xôi rồi việc. Cô bé thích giao du ngoại giới. Thằng cả, thuần ân, thích hàn huyên cùng cha hơn la cà hàng xóm. Nghề giáo làm méo mó cuộc đời của cụ. Cụ giả nghiêm, giả bác với xã hội, nhưng cụ dồn các món nhân vô thập toàn và đại học chỉ đạo cho cận thần Tân, đứa con trai mến cha, nửa bước khôn rời!
Tình cha con càng đậm, sự tương đắc càng cao, khi thằng bé biết luận, suy, phản ảnh, phản pháo!
Trò chơi giữa một già, một trẻ khởi sắc hơn khi Tân đã thành cậu thanh niên. Cha con nhà nẫu trở nên ít nói, sống bằng vận dụng nội tâm, giao trả cho nhau bằng bút ký khi rơi vào hoàn cảnh khó diễn bằng lời. Những dòng bút ký dặn dò, chỉ phương gỡ rối, khi có loạn sự, thường thấy xảy ra.
Mức hữu hiệu các bút ký của cha, Tân tiếu lâm, gọi đấy là cẩm nang, bởi lẽ Tôn Tẫn khi bị Bàng Quyên chặt chân do tranh vị, gã phải giả điên để thoát hiểm, vì khi xuống núi, sư phụ trao cẩm nang, trong ấy chỉ ghi một chữ “cuồng”.
Tâm ngẫm, lời cha tuy thâm, nhưng mình luận cho tới thì mới hữu hiệu, lười suy, qui mạng hoạn! Cái đầu làm việc liên tục, tâm tưởng nhờ đấy không rỉ sét, cha gián tiếp đánh bóng và khai triển túi khôn cho mình, bảo cha lập dị là đắc tội!
Ở đời, mỗi người có một phương thức sống riêng, hành riêng, suy riêng, miễn đừng lấn phạm kẻ khác là được, đấy là tự do có giới hạn chính lý.
Đời của Tân, khởi đi là thất tình, xế bóng là thất thế, giữa đời có lắm cái thất khác đã nhờ cẩm nang của cha hóa giải, nhưng lắm lúc bị tổ trác, nên rước họa chất chồng!
Thông minh vốn sẵn tính trời, nhưng vướng phải tật lười ở tuổi ấu thơ, cậu Tân may mắn có bà mẹ hiền, biết cách dạy con.
Ngày Tân còn mài đũng quần ở cours enfantin, cours préparatoire, mẹ đôn đốc sự học hành bằng lời khuyên ngọt ngào, bằng kẹo gừng, mứt chuối. Khi lên cours moyen un, moyen deux, mẹ đem gương xưa đọ chuyện mới, tiếp trợ bởi bánh petit beurre, bánh champagne.
Gần cuối cours moyen deux, mẹ bị bạo bệnh qua đời, cha lâm cảnh gà trống nuôi con, cha bệnh, con đau. Phượng cảm cúm dài dài, mũi dãi lúc nào cũng thò lò. Thuở ấy chưa biết thương nhau, nên Tân gọi Phượng là Thủy Long công chúa, mũi tủa vòi rồng. Đến khi Tân bị đau ban bạch, đầu bị rụng tóc đến trơ miểng gáo, Phượng đáp lễ, gọi Tân là dị tăng Lỗ Trí Thâm, cậu cam tâm chịu đựng!
Trận đau thập tử nhất sinh đó, gốc ban bạch lậm vào nội tạng, Tân lâm cảnh nay đau mai yếu. Sự học do đấy tuột dốc. Cậu trở thành thùng rác để thầy trút cơn ẩn ức khi gặp ưu phiền. Tội nhẹ, thầy hành Tân làm ống thụt hơi. Hai tay nắm trái tai, động tác ngồi xuống đứng dậy liên tục đến khi nào thầy miễn mới được về chỗ ngồi. Tội nặng, thầy khẻ mấy đầu ngón tay đến sưng vù, hoặc roi mây thầy bổ lên lưng đau điếng. Cái đau thể xác không thấm thía bằng tia mắt khinh thường của mấy con bạn đồng môn!
Tân học cours moyen deux với thầy Tâm vào buổi chiều. Cụ Chánh dạy cours supérieur cũng ở phòng này, vào buổi sáng, nên hai ông giáo thường gặp nhau. Quà trao đổi câu chuyện lúc nào cũng đề cập đến Tân. Cha của Tân chỉ phì cười, cụ luận: “Bụt nhà không thiêng, nhờ thầy thẳng tay giáo hóa, cháu sẽ khá hơn!” rồi cụ lại làm một so sánh: “Tập quán của người Hoa thường đem con đợ bạn, nhờ vậy mà thân nên, nghề giỏi!” Bởi thế, thầy Tâm có bầm gan, tím ruột cũng ngậm tăm ra về!
Tân có nhiều khuyết điểm. Một số trong đó là lời ăn tiếng nói kém cỏi; hành vi, cử chỉ vụng về.
Kỷ niệm ghi thảm trạng khó quên đó, lúc Tân còn thiếu thời, điển hình như sau:
Vốn ân sư của Tân tuy nghiêm, nhưng vướng phải tâm tình nhiều kịch tính. Học trò của ông muốn có điểm cao, muốn chiếm lòng thầy, khi trả bài, ngoài trí nhớ giỏi, lời lẽ thanh tao, còn phải diễn xuất đạt. Lớp học của thầy do đó linh hoạt vô cùng, đối với những đứa học trò có khả năng, nhưng với Tân, nó là địa ngục lầm than!
Tân ham chơi, thường trốn học nên cả lớp mệnh danh cậu là le prince de l’école buissonnière. Tả thừa tướng của Tân là Chương, có tật ngủ gục trong lớp nên được gọi là Hibou. Hữu thừa tướng là Hân, thường ăn vụng trong lớp nên mang ám danh le citoyen mangeur.
Bộ ba đầy tật xấu này được bỏ xó ở cuối lớp, tuy cùng cảnh nhưng khác lòng: Tân cả tin; Hân nịnh hót; Chương ăn đầu sóng, nói ngọn gió!
Một hôm, thầy gọi Thiện, con của thầy Hương quản lên trả bài récitation, un bon écolier.
Mở đầu, bằng giọng ngọt ngào, Thiện phun châu nhả ngọc: “Chaque matin... je vais... à... l’école...”
Miệng đọc, thân hắn rảo quanh bằng những bước chân âm thầm, ngắn gọn, nhẹ nhàng như loài ma hoang lướt trên ngọn cỏ đêm sương!
Sau đó, hắn thánh thót: “... Le sac... qui pend... à... mon épaule...”
Miệng ngâm, ngón tay cái trỏ sau lưng, ngầm bảo gã đang sở hữu một túi kinh luân. Đoạn gã xòe năm ngón tay ngà, duyên dáng sờ nhẹ lên vai để nói lên, ta đang gánh một giang sơn bát nhã!
Nhưng tuyệt nhất và cải lương nhất là lúc gã vừa cười mím chi, vừa gục gật đầu, nhón gót, đặt tay lên đỉnh đầu để diễn tả sự trưởng thành: “... Dit que... je suis... un grand... garcon..!”
Sự nhịp nhàng cực hảo trong tri, hành của Thiện làm Tân mê mệt đến đánh rơi quyển tập, cậu đang lén dò bài. Tiếng động khẽ trong cõi tĩnh hóa ra tiếng sấm cảnh cáo kẻ gian. Mọi cặp mắt đổ dồn về Tân, ngầm bảo họa rơi trước mặt.
Khi Thiện hoàn tất nghĩa vụ, mặt thầy tươi như hoa nở. Thiện được thầy khuyên điểm cao và không quên kèm theo lời khuyến dụ đầy hoa gấm.
Chương nhột nhạt, cậu quay sang Tân, công kích :
- C’est le fantôme de l’opéra!
Tân bị kích động tâm tình nên quên giữ kẽ, cậu a dua phê :
- Dans les pays des aveugles, les borgnes sont rois!
Tiếng xầm xì qua lại, khiến thầy cật vấn :
- Hân! Chúng nó nói gì thế?
Hân ngoan ngoãn phúc trình :
- Thưa thầy! Anh Chương bảo “đó là con ma nhà hát lớn!”. Anh Tân phụ họa “Trong xứ mù thằng chột làm vua”, để bình phẩm anh Thiện.
Thầy giữ thản mặt, gằn :
- Trò đồng ý với chúng chứ?
Hân lắc đầu. Thầy lại vấn :
- Nếu không đồng ý thì phản kháng bằng cách nào để khỏi bị tội đồng loã?
Hân rét, nên đề nghị ngay :
- Xin thầy cho hai anh ấy trả bài theo kiểu intercalé. Hay, dở tùy thầy định tội.
Thầy nghiêm mặt :
- Được lắm! Tân, Chương lên trả bài!
Hai con chiên ghẻ riu ríu trình diện thầy. Thầy nhìn Tân soi mói. Tân cúi đầu tránh ánh mắt nghiêm khắc của thầy. Cậu ngẫm, một kẻ chuyên làm école buissonnière như mình thì làm sao thủ diễn cho trọn vai un bon écolier đây? Tân buồn, sinh ra sợ; từ sợ, cậu thấy tay chân vụng về. Bỗng thầy phán :
- Tân! Hãy ngẩng đầu cao, mặt thanh thoát, dáng hồn nhiên. Nào! Khởi sự!
Tân như cái máy, đầu cậu ngẩng cao, mắt hướng lên trần nhà, mặt cậu chưa kịp thanh thoát thì cậu bắt gặp một con nhện đen ngòm đang giăng tơ. Tân lo lắng! Người Tây phương đã từng nói sáng chagrin, chiều souci để tuyên báo nỗi niềm cho kẻ gặp nhện. Tân nghĩ, chắc mình sẽ sa lầy!
Thầy lại giục. Tân cuống cuồng, cậu cố gào: “Chaque matin, je... je vais...”. Cậu gắng thực hiện bước chân âm thầm của Thiện, nhưng vì đứng quá cận bục bàn của thầy nên khi vừa cất bước, cậu đã vướng chân đến té bò càng.
Tiếng cười của bạn, lời quở của thầy, sự ngượng của mình, khiến chữ nghĩa viễn du, để lại sau lưng tấm thân Tân, bầm dập bởi hình phạt, roi đòn. Ôi! Thần khẩu đã hại xác phàm là thế ấy!
Khuyết điểm kế của Tân là dại gái.
Tân đau ban mới lành, đầu óc khi nhớ lúc quên. Học hành do đó ngày càng kém cỏi. Cậu bị bỏ xó cuối phòng, cùng phường biếng học. Tập đoàn chiên ghẻ chia chác cho nhau các tật hư đa dạng. Sách vở khi mang về, khi bỏ sót lại trường. Mực, viết bỏ vung vãi trong hộc bàn. Học giỏi, học dở chẳng màng. Điểm cao, điểm thấp không kể. Đúng là cùi không sợ lở!
Tân có một người bạn đang học trường Tàu, tên A Phùng. Hắn hào phóng, chơi với bạn khá chí tình. Hắn nghe Tân đau bịnh ngặt nghèo, đưa Tân về cho cha hắn xem mạch, hốt thuốc cho đến khi lành bịnh. Nay, hắn nghe Tân mất đà chăm học, nhân dịp theo cha lên tỉnh bổ hàng, hắn mua cho Tân một hộp ngòi bút lá tre, một lọ mực hiệu Waterman, đoạn hắn đích thân đến tận trường, giao tận tay Tân các món quà ấy và không quên dán trên lọ mực miếng giấy có ghi “nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ”, bên dưới ghi sở hữu chủ “Tân”.
Sự cẩn thận của A Phùng, không ngờ là một lời khích bác kẻ tiểu nhân, chia xa tình bằng hữu. Tân bị lôi vào cơn trốt rối bời, làm đảo lộn lời nguyền tu tâm dưỡng tính theo ý nguyện A Phùng đã khuyên.
Một hôm, vào giờ orthographe, lọ mực waterman đã bị một đứa học trò gái của lớp buổi sáng, thay mực bằng nước mồng tơi. Lời khuyên của A Phùng được đổi bằng dòng chữ “nhà em có giậu mồng tơi, tặng chàng sắc mực, ngỏ lời gió trăng!”
Tân chết điếng. Tâm động, trí lo. Chuyện yêu thương chưa biết giả, chơn, nhưng bài ám tả lấy chi để viết? Chương, Hân khi vui thì cho chấm nhờ, lúc hờn thì lấy tay che. Bài ám tả của Tân hôm đó, lúc màu xanh, khi màu tím, lúc chừa trống trắng tinh. Tội lỗi bạn khuyên quên bẵng, sinh tình dỗ ngọt đối phương, Tân gỡ mảnh giấy của cô bé và thay vào câu: “Nhà anh thiếu giậu mồng tơi, có giàn thiên lý, đổi người trong mơ!”
Mấy hôm sau, Tân vào lớp, chưa an vị, cậu đã ngửi thấy mùi mứt me. Bởi đau ban mới mạnh, cơn thèm át hẳn lời khuyên của A Phùng, Tân lén nhấm nháp dần cho đến lúc chỉ còn lại miếng lá chuối khô ngoằn ngoèo.
Tối hôm ấy, Tân chột bụng, cậu đi cầu liên tục đến lờ đờ đôi mắt. Cậu hiểu ngay mình bị đối phương trát. Khổ chủ của gói mứt me đã pha thuốc xổ để hại mình.
Chẳng những thế, khi vào lớp, cậu nhận lời trong thơ với ý mắng mỏ: “Con thầy tối dạ, ham ăn; vướng mưu Tháo đuổi, họa giăng đêm dài!”
Hôm ấy ra về, Tân nghĩ, đánh gái bằng cành hoa còn không nỡ, thôi thì lấy văn chương ô mỵ cho xong: “Mực ta nàng mượn vẽ trăng, bùa mê trong mứt, khiến giăng tơ sầu!”
Tân đinh ninh câu ghẹo bất nhã này sẽ làm cho cô bé ngượng mà buông tha cho cậu yên vui học hành. Nhưng Tân đã lầm, vì trong bọn có một chàng đực rựa, giận Tân đã trêu hoa, nên phang cho cậu một câu đau điếng: “Nếp xôi cam phận nếp xôi; thằng Bờm yêu vói, họa rơi có ngày!”
Tân nổi máu anh hùng, quên cả lời dặn của A Phùng, cậu đáp lễ: “Với hoa ta dụng văn chương; với phường thịt bắp khoa trương sức hùng!”
Thế là buổi học hôm sau Tân bị bọn họ chận đường gây sự. Khi điểm mặt, Tân nhận ngay tất cả đều là bạn cùng lớp trước kia, nhưng vì bệnh nên Tân bị redoublank. Bọn họ lên học lớp do cha của cậu phụ trách. Vì bạn cũ nên Tân có tí nhân nhượng :
- Tôi nợ giang hồ đông đến chừng ấy người vậy sao? Thôi được! Vay lắm thì trả nhiều! Các bạn muốn gì cho biết?
Tân thủ thế. Nguyệt vênh váo :
- Ơ! Ham gây quá đi! Hãy nghe cô nương đọc thiệu, hài tội trước đã!
Này! Chúng tớ là bạn chung bàn. Đàng ấy bứt dây nên động rừng. Nếu biết điều thì mau mau tạ lỗi, cô nương niệm tình bỏ qua. Bằng chậm trễ, lệnh xé xác ban ra, e te tua phút chốc.
Mỹ tiếp lời :
- Người nhà cả mà! Anh vì lọ mực mồng tơi mà nỡ lòng ô mỵ thân em. Eo ôi! Con người có trái tim bằng đất sét!
Cả bọn bụm miệng cười. Tân ngượng. Mỹ thêm mắm nên Minh dặm muối :
- Anh đau ban mới mạnh hả? Ăn mứt me của em, anh thấy thế nào? Cái thứ bệnh ngặt nghèo của anh rất thích chua, ưa ngọt ác. Em hiểu thấu nên muốn giúp anh đã khẩu, dứt tật. Thế mà anh chưa vừa lòng, lại buông lời nghẹo nguyệt, trêu hoa.
Nguyệt cướp lời :
- Eo ôi! Lời con Thị Mầu tình quá chàng ơi! Chàng chớ tin con quỷ cái trắc nết ấy! Chính em mới là kẻ cho chàng tẩy đàm, xổ độc đó! Thị Kính của em hãy quay về đường xưa lối cũ, đừng để em giận, một sợi tóc trên đầu chàng cũng không còn để ngoáy mũi, váy tai!
Minh đấm Nguyệt thùm thùm, vừa cười ngặt nghẽo vừa đính chính :
- Mày yêu chàng đến phát điên nên ăn nói lộn lẹo hết rồi! Thị Mầu mê Thị Kính là gái giả trai. Còn tao với mày là con nhà lành, chàng là trai tơ, đừng để người ta tương tư, tội nghiệp!
Nguyệt mỉa :
- Thiện tai! Thiện tai! Chàng ơi, chàng thấy đó, năm phút trước, nó tỏ tình! Năm phút sau, nó trở mặt lạnh lùng. Còn em, em biết chàng đau ban, nên vẫn giữ một lòng khuyên: “Đầu chàng tóc rụng lơ thơ, chàng nên thí phát, em chờ kiếp sau!”
Cả đám ôm bụng cười bò. Tân bị trêu, cậu tức đến ói máu, nhưng mê Nguyệt nên cậu nhịn. Bây chừ nghe lời tuyệt tình, vừa buồn vừa giận, cậu hết kiên nhẫn, cất tiếng trả đòn :
- Má em lum lúm đồng tiền, cho anh hôn nhẹ, thử duyên kiếp này!
Nguyệt thẹn đến ngẩn ngơ. Côn yêu Nguyệt nên bất kể phải trái. Cậu thẳng tay vừa đấm vào mũi Tân, vừa hét :
- Mày đừng ỷ mày được tía của con Nguyệt để ý nên mày hách! Hôn này!
Tân bị đấm bất ngờ, cậu té ngửa. Máu mũi tuôn có dòng. Cậu vừa đau vừa ngượng và biết mình lỡ lời nên bụm mặt, bỏ đi.
Khi Tân đến cội đa đầu làng, thoáng thấy A Phùng và chàng trai lạ, cậu toan quay đi, nhưng đã trễ. A Phùng vội nhốt gà, cậu đon đả đến bên Tân, vừa chăm sóc vừa trách cứ :
- Hày! Ngộ nói có sai đâu! Ngộ bảo nị đừng ăn quế khâu và kẹo da trâu. Hai thứ đó tích nhiệt, dễ làm chảy máu cam lắm!
Nói đoạn, chàng quay sang chàng trai lạ, bảo :
- A Điệp! Nị đến đây giúp ngộ một tay. A Tân chảy máu nhiều quá!
Tân rầu rầu thố lộ :
- Bọn con gái làm nhục ngộ, thằng bạn trai của chúng hờn ghen nên trút giận vào ngộ!
A Phùng thở dài :
- Hày! Nị vướng ái tình rồi! Nị đưa bàn tay cho ngộ xem coi.
A Phùng vừa lầm bầm, vừa chọn tay Tân :
- Nam tả, nữ hữu, nị đưa bàn tay trái cho ngộ.
A Phùng quan sát, đoạn bình :
- Hày! Trí đạo của nị có vấn đề. Cả tâm đạo cũng chẳng khá hơn, chằng chịt đứt đoạn, rễ tre. Lắm mối tối nằm không. Nhiều người yêu, yêu nhiều người, nhưng chẳng ai lâu bền!
Tân nóng lòng, cậu gắt :
- Hiện tại, mình thương người ta, người ta có thương lại hay không?
A Phùng mò túi quần, rút ra bộ bài tây. Tân thoáng thấy vội xua tay, khẽ bảo những điều cần giữ trước khách lạ :
- Hôm nay ngộ buồn, lại có mặt Điệp, không nên bài bạc, dẫu có ghiền xập xám cũng chớ có binh!
A Phùng mỉm cười, đáp lại :
- Quỷ sứ mà mặc cà sa là nị đó! Bói bài chớ không phải binh. Chuyện xa thì xem chỉ tay, lấy tử vi; chuyện gần thì bói bài, lấy quẻ.
Tân gật gù :
- Ngộ tin mấy thứ này lắm. Thế nào ngộ cũng bảo A Phượng dẫn đến mấy con bạn của nó để cầu cơ và sau đó, có lẽ đến chùa Bà để xin xăm, coi lành dữ thế nào!
A Phùng xào bài, bảo Tân kinh, chọn nước. Sau đó gã sắp bài, rồi luận :
- Có ba con nữ đang hướng về nị. Hai con chằn ăn trăn quấn. Một con đa tình, yêu tha thiết nhưng rồi cách trở núi sông.
Tân chặn lại :
- Gần? Xa? Nị nói vậy, ngộ ở vá hay sao?
A Phùng xem kỹ. Nghiệm xong, gã tiếp :
- Người yêu tha thiết sẽ gặp trong tháng này, người tình trăm năm cũng lảng vảng không xa, nhưng sắt cầm thì còn xa xăm lắm! Quới nhân đó, nhưng có điều thiên cơ bất khả lậu!
Tân nài nỉ điều gì, A Phùng cũng chỉ nói chừng ấy thôi.
Điệp thấy vậy, chen vào :
- Câu A Phùng nói sau cùng, cần xem tử vi mới chính xác.
A Phùng trố mắt :
- Nị biết lấy tử vi?
Điệp gật gù :
- Chẳng những biết tử vi mà còn hiểu đôi chút về phong thủy nữa.
Tân mừng như bắt được vàng, nhưng e dè :
- Anh có thể chấm cho tôi một lá số không?
Điệp dài dòng :
- Tuy mới gặp già, nhưng qua tư cách, tôi rất kết, già chơi được!
A Phùng giục :
- Nị kết thì chấm tử vi cho nó đi. Đây là dịp nị tìm hiểu nó nhiều hơn.
Điệp quay sang Tân, cật vấn :
- Tân có thể cho tôi chi tiết về ngày, tháng, năm sinh ngay bây giờ?
Sau khi Tân cung cấp những gì Điệp cần, Điệp luận sơ :
- Tân tuổi Dần, sanh tháng Thân, vào ngày Dần, lúc giờ Hợi. Được hai Dần kèm. Thân, Hợi có chút xung khắc. Những hung, kiết tùy đắc địa hay hãm địa. Sự gia, giảm do tuần, triệt mà ra. Nói chung, căn cứ vào sự đối chiếu của các vì sao định mạng của Tân. Hay dở, đúng sai buộc kẻ lấy số phải luận cho tới nên mất thời gian khá dài. Bạn nên châm chước và thư thả cho tôi một ít lâu.
À này! Nội tổ sinh ở vùng nào? Lâm chung ở đâu?
Tân nhanh nhảu đáp :
- Tiền Giang là nơi sinh và nơi tử của nội tôi.
Điệp gật gù :
- Tiền hay Hậu Giang đều là phù sa nê địa, đất bồi không chân, mộ bia đè nặng, con cháu khó phát!
Sau này có tạo mãi vườn đất thì bạn cũng nên tránh đất gần nghĩa trang, tái dụng từ bãi rác, thế đất đầu voi đuôi chuột, gần cầu, cạnh xa lộ, thiết lộ, bốn mặt là đường xá sẽ gây ly tán. Nhà cửa nên tránh trước mặt có cây to, đá lớn, hồ nước bên phải; phía sau tránh hố sâu, đất lún, hồ to.
A Phùng bàn :
- Nị đi quá xa rồi, chỉ cần xem hai đứa nó hợp, xung thì tốt hơn.
Điệp gật gù :
- A Phùng nói rất đúng. Người sinh ra ảnh hưởng bởi ngũ hành. Mạng vợ, mạng chồng có thuận, có khắc tùy tương sinh hay tương khắc.
Tương sinh thì Kim dưỡng Thủy, Thủy dưỡng Mộc, Mộc dưỡng Hỏa, Hỏa dưỡng Thổ, Thổ dưỡng Kim.
Tương khắc thì Kim khắc Hỏa, Hỏa khắc Thủy, Thủy khắc Thổ, Thổ khắc Mộc, Mộc khắc Kim.
Điệp chắp tay sau lưng đi tới đi lui, bàn :
- Bạn bè giúp nhau khi lâm nạn mới quý. Tuy nhiên, để hữu hiệu hóa vấn đề, bạn chịu khó ngồi đây nghỉ, tôi luận cùng A Phùng một đôi điều, trước khi chúng ta bắt tay vào việc.
Điệp kéo tay A Phùng ra sau đình, gã bàn :
- Tân bị đánh đến sặc máu mà lẳng lặng ôm mặt tháo lui, chứng tỏ anh ta không có bản lãnh chi cả. Nị bảo phục thù thì phục thù bằng cách nào?
A Phùng phì cười :
- Nị lầm!
Điệp chận :
- Lầm? Có lẽ thế! Nị thân với anh ta tới mức độ nào?
A Phùng trầm ngâm :
- Ba nó là thầy giáo, ba ngộ là thầy thuốc, hai người cùng bàn chính sự, cùng chén thù chén tạc với nhau. Hai người quen biết nhau lâu lắm. Do đó nó và ngộ có dịp trở nên thâm tình. Ngộ hiểu tính nết của nó. Ai hiếp đáp nó, nó gắng chịu, sau đó nó sẽ đáp lễ trăm lần hơn.
Điệp gật gù :
- Ngộ thân với nị. Nị thân với hắn. Nị giúp hắn, ngộ sẽ hết lòng. Việc đầu tiên là tìm cách ngăn trở, nếu không, căn cứ lời nị tả, người ta đấm hắn, hắn sẽ đáp lại bằng dao găm thì khốn!
A Phùng gật đầu tán đồng :
- Bây giờ ta phải tìm thế hoãn binh. Chuyện trả đòn thì dùng cách luyện võ, yếu tố thời gian sẽ giúp hận lòng phôi pha. Còn chuyện đau tim vì gái thì hơi nan giải.
Điệp nghiêm nét mặt, phát biểu :
- Chuyện dù to như núi, nếu thực tâm giúp, đều có phương giải.
Điệp rảo quanh ao sen để tạo hứng, đoạn quyết định :
- Trước hết, luyện công cho hắn thoát cảnh bụng ỏng da chì. Kế đó, truyền võ giữ thế. Sau cùng, ngộ đưa em gái của ngộ hàn huyên để hắn vơi nỗi đắm nguyệt say hoa!
A Phùng xua tay, phản đối :
- Chuyện giúp nhau chỉ là hương hoa qua đường, sao lại đem cành vàng lá ngọc bẹo dáng trước chằng? Thằng Tân háo sắc có tiếng, lỡ chúng nó mê nhau thì nị mất cả chì lẫn chài!
Điệp nghiêm sắc mặt, cả quyết :
- Em gái của ngộ sành đời lắm! Gái Sài gòn có nanh có vuốt mà! Tuy nhiên, thằng Tân là người như mọi người, nó đâu có cái đuôi chồn ngoe nguẩy khác lạ đến em ngộ phải sợ lụy thân!
Nếu là duyên nợ hai đứa nó nên vợ nên chồng thì cũng tốt.
A Phùng chau mày :
- Nị liều mạng và chí tình quá! Ngộ chưa gặp người thanh niên nào toàn vẹn như nị. Có lẽ nị là người đã trải qua lò luyện thép về nhân tâm, nị là...
Điệp chận lại :
- Là gì cũng được, miễn là mọi chuyện, dù nhỏ hay to, dễ hay khó, đều phải hoàn thành tới nơi tới chốn.
Điệp tiến thêm một cấp :
- Tân chơi được lắm! Ta không nên đánh giá hắn qua học đòi, yêu vặt. Trí thức mà khoa trương tha nhân, nhưng khi dân nguy, quốc biến lại co đầu rút cổ thì còn thua cục phân!
A Phùng không an tâm :
- Nị nói toàn luận điệu đao to búa lớn. Ngộ có hai điều ngại. Ngại tri, hành bất nhất. Ngại đem khuôn vàng thước ngọc đo lường chuyện đùa của con trẻ.
Điệp mỉm cười đầy tự tin, lặp lại lời đã nói :
- Chuyện đời, dù có tính cá nhân hoặc cộng đồng, trò chơi hoặc quốc sự, nên nỗ lực bằng một phương thức duy nhất; trước để đạt quả, sau để nội luyện cho thuần thục. Những thành quả hôm nay là kinh nghiệm cho toàn thiện công tác trong tương lai.
Nói hay làm dở. Cố gắng để dở hóa hay. Cố gắng hơn để hay hóa tuyệt. Lúc bấy giờ, nói hay làm tuyệt. Hôm nay làm việc có tính trẻ con, ngày mai làm việc tiến bộ có tính rường cột nước nhà, sau này làm việc có tính của kẻ lãnh đạo quốc gia!
Thiếu tự tin là mầm chiến bại. Quan niệm của Tây phương cho rằng thiên tài chẳng qua là thành quả của sự cố gắng.
Thiếu tự tin khác hẳn với đức khiêm nhường. Đức khiêm nhường không có nghĩa là sợ phát ngôn chí quyết thắng, sợ ăn to nói lớn.
Ngoa ngôn là khi nào nói hay mà không gắng làm. Cộng đồng đa diện sẽ có đa sự để bàn. Đi cày, luận chính, cầm quân, giáo dục... đều là xây dựng quốc gia, dân tộc, đều có giá trị đáng kính như nhau.
Điệp suy nghĩ và bổ túc :
- Muốn thắng kẻ mạnh, quân nhà nhược phải dụng chiến tranh tâm lý. Niềm tin là đòn thắng. Triệt hạ đối phương là đáp số, yếu tố tinh thần mà niềm tin là ẩn số, sắc bén như gươm đao.
Về chuyện của mình, Côn mạnh, Tân nhược. Bọn mình không biết võ công, phải dùng chước. Nị chuyên môn đá gà, múa lân, hãy quan sát các thế liên hệ để đúc kết bằng những thế võ tưởng tượng, đặt những danh xưng thật kêu, thật kiếm hiệp để huy động tinh thần quyết thắng cho Tân. Riêng ngộ, ngộ biết chút đỉnh về luyện công, điều khí, ngộ sẽ chỉ vẽ cho Tân hàng ngày để phục hồi sức khỏe của hắn. Cường thân, võ dỏm, tinh thần sung mãn, xác suất thắng cao hơn!
A Phùng gật gù :
- Có lễ mới...
- Gạt bạn, theo luân lý là một cấm kỵ, nhưng phạm điều để đạt nghĩa cũng có thể châm chước, ta cứ như thế mà tiến hành.
Hai sư kê quay lại tìm Tân. Tân đang tựa gốc đa, mặt buồn xa vắng. A Phùng đến cạnh, ôn tồn :
- Nị thấy trong mình ra sao?
Tân đáp khẽ :
- Khá hơn! Kế hoạch hóa giải tâm tình ra sao?
Điệp ủy lạo :
- Tất nhiên là hoàn hảo. Với điều kiện bạn cần gắng sức một tí, có công tác tích cực thì chuyện tất thành.
A Phùng dỗ dành :
- Theo quẻ đã giao, mười mấy ngày nữa nị sẽ gặp người ngọc, tình yêu tuy sóng gió nhưng có quới nhân phù trợ thì cũng hài hòa. Tình thương như sương mai, tinh sạch nhưng dễ vỡ. Mỗi lần tan tác là một kinh nghiệm thương đau. Cái đau hiện hữu sẽ vun quén cho tình yêu mai hậu được vĩnh trường. Ngộ mong nị gắng vượt qua cái đau hôm nay để đón phúc ngày mai.
Còn chuyện rửa nhục giữa các đấng nam nhi, một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ; thân bị chạm thì tay vuốt ve, nên ngộ buộc lòng luyện võ, A Điệp ra sức luyện công cho nị. Khi thủ đắc tài sức, tâm tình tùy nị liệu phân, vì môn phái của ngộ có lời nguyền thế thân hành hiệp, bênh kẻ yếu, khuyên kẻ dữ, luyện quân tử, sửa tiểu nhân, nợ máu được trả bằng ân tình mà thôi.
A Phùng nhìn Tân dò xét phản ứng, đoạn bảo :
- Về võ thuột, thuở xưa Đại Thánh, Trư Bát Giới dùng chiêu thức cá nhân của khỉ, lợn để chống ma quỷ. Điểu tước, xà thú, kình ngư... nói chung vạn vật đều có thế thủ, thế công lợi hại để tự vệ, để tấn công đối thủ.
Môn phái của ngộ là môn phái gia truyền, rút tỉa từ những tuyệt chiêu của mỗi chủng loại trên, nhất là kim kê và kỳ lân. Quyền hư tuyệt kỹ của A Điệp phối hợp linh nghiệm truyền chiêu của ngộ, sẽ giúp nị thành nam nhân tự toại.
Tân sung sướng đến run người, cậu vội vàng vấn :
- Thế có cần lễ bái sư ngay không?
Điệp nhanh trí, vội vẽ :
-Có lễ mới giữ nghĩa. Nhưng nghĩa mà quá quỳ lụy thì mất đi tinh thần thượng võ. Thầy trò ta nên vòng tay bái nhau như các đại quan ngày xưa là tương kính vừa đủ.
Nói đoạn, les trois mousquetaires bái nhau rất ư là trọng nghĩa.
Sau đấy, A Phùng giở bội, ôm gà giới thiệu :
- Võ sĩ của ngộ có sắc lông đỏ đẹp, danh xưng Tam Dương Đại Trảm, cái tên nói lên cái thế lợi hại, nếu đấu thủ là người, đối thủ dùng chiêu này thì nạn nhân đã sinh ly tử biệt, bởi đầu là nơi tập trung Thủ, Túc tam dương kinh gồm có Đốc Mạch, Dương Kiêu Mạch, Dương Duy Mạch.
Điệp ôm gà, giới thiệu :
- Võ sĩ của tôi có sắc lông hoa đen, trắng của loài dạ điểu, cái đặc điểm trời cho là thế ngủ thòng đầu như gà chết nhưng thế võ thần kỳ, nên mệnh danh Phụng Y Tử Mỵ.
A Phùng tiếp lời :
- Bây giờ ta quan sát chiêu thức của các hiệp sĩ.
Hai sư kê thả gà. Hai con vật háo chiến thoát khỏi tay sư kê, ào ạt tấn công nhau túi bụi, đoạn dang xa vừa tầm thủ, cổ vươn thẳng, lông dựng đứng, đầu lắc lư, mắt đổ lửa, ghìm nhau tìm sơ hở của đối phương. Đoạn luân phiên nước nạp.
Một lúc sau, con gà điều bị vết thương ở ngực, nên rúc đầu vào cánh của con gà cú, dùng thế xoay dĩa.
A Phùng vội cất tiếng, bình :
- Thế xoay dĩa là thế chờ, thế du kích, tương quan đến thao tác của tứ linh, gọi là Kỳ Lân Vờn Địa, tìm sơ hở của đối phương để xuất chiêu kết chiến tình.
Con gà cú bị xoay vòng mãi, phần vết thương ở bàng quang do Tam Dương Đại Trảm ghi điểm lúc trước nên có vẻ mệt mỏi, lơ là. Tức thì, con gà điều bung cánh, ghi một vết nữa ở mí mắt của con gà cú. Con gà cú kêu lên đau đớn.
A Phùng phụ nhĩ :
- Đấy là thế Bàng Quang Đại Trảm. Nếu vết thương ấy áp dụng cho người, thì nạn nhân sẽ bị chạm đốc mạch và bàng quang kinh, kích động hiệu năng của não bộ, chạm thần kinh, tinh thần sa sút.
Con gà điều bồi thêm một nhát nữa vào cạnh bầu diều của con gà cú.
A Phùng lại bàn :
- Đấy là thế Kim Kê Đoạt Ngọc, nếu là người, nạn nhân sẽ bị giảm công năng tim, phổi. Nếu trịch xuống tí nữa sẽ ảnh hưởng đến Trung Tiêu gồm Tì Vị, thiệt hại đến công năng tiêu hóa. Thế này không gây nội thương thì cũng ngoại tật.
Mấy đòn của Tam Dương Đại Trảm làm Phụng Y Tử Mỵ ngất ngư, nhưng Phụng Y cố giữ thế tấn để hồi lực.
A Phùng bảo :
- Đấy là bảo kiện để khí túc qui nguyên, tạo điều kiện dưỡng thể để tấn kích tồn sinh.
Con gà điều háo thắng bay thật cao, quyết lấy đầu con gà cú. Con gà cú chờ con gà điều hạ vừa tầm, tung cước. Con gà điều bật ngửa, bầu diều bị xé rách, nó kêu lên đau đớn, chân chòi vào không gian.
A Phùng kết :
- Đấy là thế Phi Phụng Lại Quả. Con gà cú đã chuyển bại thành thắng, nhờ phép thu công!
A Phùng quay sang Điệp :
- Phần lý thuyết của ngộ đã xong, phần thực hành, ngộ xin nhường lại cho A Điệp.
Điệp chắp tay sau lưng, di động tới lui, cậu nói :
- Học chữ có chuyên thì mới thâm, học võ có cần thì mới tuyệt. Ngoài chuyên và cần, ứng sinh cần có chút năng khiếu thì mới siêu. Tôi chỉ giúp cho Tân phần chiêu thức, phần quyền biến thì do bản năng của Tân. Hơn nữa, vì Tân muốn sớm đương đầu với bọn họ nên tôi chỉ lược sơ một vài thế căn bản cho Tân mà thôi.
Tân mừng lắm, cậu sốt sắng đề nghị :
- Tôi y lời anh, tôi sẽ đến nhà anh hàng ngày để luyện tập.
Điệp nghiêm giọng :
- Tôi là người xa, xứ lạ mới đến đây. Cha tôi tính cẩn trọng. Em gái tôi tâm tình lãng mạn, nên chúng ta hãy chọn hồ sen ở hậu đình làng. Nơi ấy đất rộng, thoáng mát và yên tĩnh, rất thích hợp cho việc tập võ luyện công.
Từ ngày hẹn, Tân siêng năng tập luyện theo sự chỉ bảo của Điệp. Gần hai mươi ngày đều trôi qua.
Đầu tiên, Điệp nói về lý thuyết. Nhập thuyết, Điệp chỉ cách điều khí, phục hồi sinh lực và bảo kiện.
Về điều khí, nạp tâm là hít vào, thở cố là thở ra. Một chu kỳ điều khí gọi là thổ nạp.
Thổ nạp thông thường gồm nhu hòa tức thở đều; hoãn viên tức thở cắt nhịp; quân bình tức thở vừa; thâm trường tức thở dài hơi.
Thổ nạp thái cực, lưỡi co nơi nướu răng; miệng hé; bụng căng để nạp tâm; bụng thót để thổ cố; lưỡi hạ.
Thu công là huy liễm chân khí nảy sinh để khỏi loạn khí, sau khi luyện nội, ngoại công.
Đầu là nơi hội tụ: Thủ Tam Dương Kinh gồm: Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh, Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu Kinh, Thủ Dương Minh Đại Trường Kinh. Túc Tam Dương Kinh gồm: Túc Thái Dương Bàng Quang Kinh, Túc Thiếu Dương Đởm Kinh, Túc Dương Minh Vị Kinh. Các mạch dương có: Đốc Mạch, Dương Kiêu Mạch, Dương Duy Mạch.
Do đó ta phải dùng phép xoa nắn Thái Dương để điều hòa dương khí của Vị Kinh, Tam Tiêu Kinh; xoa nắn mắt để thông Đốc Mạch, Bàng Quang Kinh; chà sát hai bên má đả thông Vị Kinh, Đại Trường Kinh, Âm Kiêu, Dương Mạch Kiêu; ấn nhân trung, bóp ngăn mũi để kích Đốc Mạch; cào mỏ ác để điều hòa kinh khí; xoa quai hàm làm thông chân khí; xoa cổ để kích thích giáp trạng tuyến.
Các mạch kinh ở thân, tay, chân lên đầu đều đi ngang qua cổ nên khí huyết thường bế tắc ở đấy, nên:
Điệp bắt Tân ngồi chững chạc trên thềm đình, chân thòng xuống, đầu luân phiên quay sang trái, phải, ngửa cao, cúi xuống để thông khí đầu.
Để kích thích công năng tâm, phế; Điệp chỉ cho Tân hai tay đặt lên ngực, cánh chỏ liên tục đưa lên, hạ xuống.
Cườm tay có huyệt Đại Lăng, Thần Môn, Thái Uyên nên Điệp bảo Tân cọ mặt nắm tay cho tâm và phế bào tăng công năng.
Lưng bàn tay có huyệt Dương Trì, Dương Khê, Dương Cốc thuộc kinh Tam Tiêu, Tiểu Trường, Đại Trường, nếu cọ lưng nắm tay vào nhau khí hành sẽ lưu thông.
Nắm tay, hướng ngón cái là huyệt Hiệp Cốc thuộc Đại Trường Kinh; cọ sát nắm tay hướng ngón cái làm thông khí toàn bộ mặt và miệng.
Nắm tay hướng ngón út có huyệt Hậu Khê thuộc Thủ Thái Dương, Tiểu Trường Kinh. Cọ xát nắm tay hướng ngón út để thông kinh khí lưng cánh tay và phía sau đầu.
Các ngón tay là đầu của ba kinh Dương và Âm nên ma xát khẩu cái, kẽ tay, đấm lòng bàn tay khiến đả thông kinh Âm, Dương.
Để thông khí huyệt cùi chỏ; hai tay luân phiên; một tay nắm, đặt trước ngực; một tay xòe, duỗi thẳng trước mặt.
Để khích động trung tâm Tỳ, Vị; hai tay luân phiên; một tay nắm, đặt trước ngực; một tay nắm, duỗi thẳng sang trái hoặc sang phải.
Để tăng cường sức mạnh của tay, vai và điều hòa tỳ vị; hai tay luân phiên; một tay xòe, duỗi thẳng lòng bàn tay hướng đất; một tay xòe, duỗi thẳng lòng bàn tay hướng trời.Để tăng sức mạnh cho vai, lưng và điều hòa thận khí; hai tay luân phiên; tay bên này, choàng qua ngực, vịn vai; tay bên kia, nắm lại, đấm sau thắt lưng.
Để tăng hiệu năng của bụng và điều hòa khí huyết, hai tay đè lên đùi, người luân phiên xoay tròn phần lưng trở lên theo chiều thuận, nghịch.
Để trợ tiêu hóa, tăng cường thận, lưu huyết toàn thân; hai chân luân phiên; một chân duỗi thẳng theo thế ngồi; một chân co bó gối, đoạn đá lên trời.
Sau khi được luyện Bảo Kiện, Tân được chỉ phép Thu Công. Đó là sự tập trung ý chí để dẫn khí tại hai bàn tay, hai bàn chân cùng lúc lên cùi chỏ, đầu gối; tiến dần lên vai, lên háng; đoạn đưa vào Trung Đan Điền, tức Tỳ, Vị. Dùng phương pháp thổ nạp thông thường, khởi từ Trung Đan Điền, từ trong ra ngoài theo vòng trôn ốc, từ vòng nhỏ đến vòng lớn theo chiều kim đồng hồ, đúng ba mươi sáu vòng, vòng nhỏ nhất là một điểm ở Trung Đan Điền, vòng lớn nhất ở sát trái tim. Sau đó dụng ý chí dẫn khí theo vòng trôn ốc từ ngoài vào trong, từ vòng lớn đến vòng nhỏ ngược chiều kim đồng hồ, đúng hai mươi bốn vòng, vòng lớn sát trái tim, vòng nhỏ là một điểm ở Trung Đan Điền.

📎 vc
0
2
 
Một hôm, khi tập xong Bảo Kiện, Tân và Điệp dắt nhau dạo quanh hồ sen, Điệp tâm sự :
- Sài gòn đang biến động ngầm nên gia đình tôi tạm dừng chân chốn này, gần trọn năm nay. Vì ở trọ nhà cô họ nên chúng tôi ít giao tế với dân địa phương. Những liên lạc tối cần thiết đều qua A Phùng cả. Anh ấy là người bạn tốt, người chung chí hướng với tôi, nhưng tôi chưa dám ngỏ lời vì còn một vài vướng mắc. Từ ngày tôi mới chân ướt chân ráo đến đây, A Phùng có nói về Tân rất nhiều. Phụng, em gái của tôi háo hức muốn gặp Tân để tìm hiểu. Nó là người của hội kín. Nay, tôi thố lộ cùng bạn vì thời gian qua, tuy ngắn ngủi, nhưng mấy lần gợi ý, tôi đều thấy bạn muốn làm một cái gì trước cao trào thanh niên hiện tại. Thời gian này hỗn tạp lắm, các cuộc tranh đấu vô tổ chức và xu hướng khá nghiêng ngửa, nếu lầm lẫn thì khó thối lui.
Nếu bạn thấy thích hợp thì tìm hiểu đường lối qua A Phùng, vì ba của hắn là một cái gì trong guồng máy lớn. Nếu không thì cũng tốt, đường ai nấy đi. Tôi thố lộ mà không hối vì tôi biết, vô hình chung, đường lối mà bạn sẽ chọn sau này đều, đường nào cũng đến La Mã cả!
Phụng, em của Điệp đã thấp thoáng ngoài cổng đình. Điệp đưa Tân đến giới thiệu. Cô bé có mái tóc demi garcon đen nhánh, dáng gọn gàng, tâm tình liến thoắng, dạn dĩ.
Vừa gặp Tân, Phụng đốp chát thân mật :
- Ồ! Anh Tân, anh là người mà Phụng hằng ái mộ, do sự diễn đạt của A Phùng. Hân hạnh được gặp anh.
Nói xong, cô xông xáo đến bắt tay Tân một cách thân mật. Tân cảm động, đáp trả :
- Tôi rất sung sướng được biết cô, một người con gái chân tình, không khách sáo như nhiều cô gái Sài gòn khác.
Phụng phì cười :
- Sài gòn là nơi tụ hợp người tứ chiếng. Đời sống khó khăn nên tuyệt chiêu là phương thức giành sống, nhưng gia đình Phụng cố tránh lạm dụng sách lược đó. Phụng thích tâm tình của người vùng này. Phụng học cách đãi ngộ của người địa phương. Xin anh đừng đem Sài gòn và địa phương để đánh giá Phụng.
Tân kiếm chuyện làm quà :
- Đô thị đông vui, về đây quạnh quẽ! Có lẽ Phụng buồn lắm hở?
Phụng lắc đầu :
- Vui, buồn là do mình, do lạc thú mình chọn. Chốn nào cũng có vui, buồn lẫn lộn, không hẳn thành hay quê. Nơi nào có người cùng chia cơm xẻ áo, nơi nào có đối tượng tình thương, tình yêu, nơi đó là đất của niềm vui. Tuy nhiên, là tập hợp, con trăm cha trăm tính nên không khỏi va chạm, gây buồn phiền. Càng buồn khi được vui, cái vui có ý nghĩa càng cao! Vì thế, có kẻ đồng hội đồng thuyền, có người đồng tâm đồng chí thì mãn nguyện lắm rồi!
Phụng ngưng một tí, đoạn mỉm cười, vấn :
- Anh chọn đồng thuyền hay đồng chí?
Tân chắp tay xá và đùa :
- Thưa người ngọc, tôi chọn đồng thuyền.
Tân kề tai Phụng, nhắc nhở :
- Nói khẽ một tí người ngọc! Quê hương này bắt đầu bất ổn, mình khó biết ai bạn, ai thù.
Phụng nhoẻn miệng cười :
- Người sao mà nhát gan lắm vậy? Phụng chẳng sợ kẻ lạ, chỉ ngại người thân, nên bẻ thước để đo lòng đấy thôi.
Phụng chuyển đề :
- Hai anh rửa tay, dùng thử món khéo em học được từ địa phương này. Đó là món khoai mì hấp cách thủy, ướp với caramel làm từ mật mía và nước cốt dừa. Để tăng thêm hương vị đậm đà, em cho phủ một lớp cơm dừa khô trắng nõn nà, béo ngầy ngậy. Món ăn giản dị mà no lâu!
Tất cả quây quần vừa ăn vừa nghe Phụng ca tụng :
- Quê hương này phong phú thật! Người địa phương đổ lắm mồ hôi để vun quén những đặc sản đa dụng:
Dừa, đắc dụng từ thân cây, bẹ, lá non đến trái. Tất cả dùng để biến chế các loại thực phẩm, mỹ phẩm, kỹ nghệ phẩm.
Mía cho đường, cho phó sản làm chất đốt lắm nhiệt năng, làm bột giấy cực mịn. Đường chế biến bằng thủ công nghệ, giữ trọn hương vị thơm ngon.
Tre, nứa, tầm vông rất dồi dào, được dùng trong mỹ nghệ, gia dụng làm bằng tay, kỹ nghệ làm giấy.
Nông phẩm súc tích, lúa tốt, ngô ngon, khoai, sắn hảo hạng. Lát cho chiếu đẹp. Dừa nước, tranh cho nhà xinh!
Lãnh địa này cùng các vùng phụ cận tạo nên các nguồn lợi dồi dào kể trên, đã xây dựng cho dân địa phương một đời sống no ấm, thanh bình vừa qua, nhưng cũng là duyên khởi đưa thổ dân vào bước đường lưu lạc giang hồ trong tương lai không xa! Thế mà...
Phụng ngập ngừng. Tân háo hức giục :
- Thế mà sao?
Phụng trở nên xa vắng, ỡm ờ :
- Vào một ngày thuận tiện, em sẽ nói rõ cùng anh.
Điệp mỉm cười ý nhị. Tân ngại ngùng chẳng hỏi thêm nửa lời.
Sau khi Tân bỏ công học bảo kiện và thu công trong một thời gian khá dài. Một hôm, Điệp buồn buồn, cật vấn :
- Tân bị đấm vào mặt một cách bất thần, có lẽ không nhận được thế trận của Côn đã dụng?
Tân suy nghiệm và cố nhớ những gì có thể nhớ. Một chặp, cậu mô tả :
- Chân trái hắn bước tới, chân phải hắn bình thế, tay mặt hắn đưa thoi, tay trái hắn thủ ngực.
Mắt Điệp sáng ngời, cậu gật gù, diễn giải :
- Ngày trước Tân suy yếu thân thể khiến tinh thần bạc nhược theo đà, lòng tự tin thiếu vắng, ý quyết thắng tất viễn du.
Thời gian vừa qua tuy ngắn, nhưng nhờ bảo kiện chuyên cần nên thu công lão luyện, giúp cho cơ thể tráng cường. Phụng đã mang đến sự sung mãn tinh thần. Bạn bè đem lại ý chí phấn đấu và lòng tự tin. Nay, Tân đã hội đủ thân tráng, chí cường, bạn chỉ cần một chiêu thức thật chính xác thì bạn sẽ đạt mộng.
Tân chăm chú. Điệp nghiêm trang, miệng đọc thiệu, toàn thân thao tác chiêu thức lý tưởng mà cậu sẽ vẽ vời cho Tân, căn cứ trên thế công của Côn đã hành :
- Đây là chiêu thức quyết định. Thế võ của ta trung hòa giữa tiến và thủ, lấy sự nhanh nhẹn để tạo bất ngờ, lấy sự chính xác làm bản năng đạt quả.
Khởi đầu, bạn xuống tấn, hai chân chùng. Tay trái là cái khiên che thân. Tay mặt là khí giới chống giặc. Thế này tương tự như mãnh xà thu hình chuyển lực, lựa nhược điểm của địch để khai thác mục tiêu tấn công.
Khi đối thủ xuất chiêu, phản ứng tức khắc của ta là chùng chân trái, đồng thời chân phải duỗi thẳng, thân ta do đấy được đưa nhanh sang trái để né đòn thù. Nhanh như chớp, tay mặt ta dùng để siết cổ tay của địch, đoạn vặn tréo cánh gà. Chân phải của ta gạt chân trái của địch, đang là chuẩn chịu sức nặng toàn thân của hắn đang ngã tới. Khi hắn vừa quỵ xuống, ta hoành thân một trăm tám chục độ, từ trái sang phải. Ta an vị trên lưng của địch thủ. Hai tay của ta giữ hai tay của hắn trên đỉnh đầu. Hắn trở thế con trâu nằm sấp. Ta đang ở thế cỡi trâu, giữ sừng. Thế này quyền môn của ta gọi là Mục Tử Chiêu Ngưu.
Điệp đình bộ, mắt hướng trời cao, đoạn dặn dò :
- Bạn hãy luyện thuần thục thế ấy, nhớ đừng để ai trông thấy! Từ đây, bạn có thể dượt bảo kiện và võ công một mình. Tuy nhiên, cần nhớ một điều: ta thắng địch bằng sức mạnh, địch sẽ trả bằng cường lực. Chuyện oan oan tương báo sẽ khó tránh. Thiết tưởng nên dụng đức để gieo duyên. Cái khéo chinh phục lòng người, tôi xin nhường cho bạn. Tôi tin bạn đủ khả năng.
Những chuỗi ngày sau đó thiếu bóng Điệp và thiếu dáng Phụng. Tân cảm thấy bồn chồn tấc dạ.
Một hôm Phụng xuất hiện. Cô mang đến cho Tân hai quả cam sành cô thết Tân. Sau lúc hàn huyên, cô nói lý do đến thăm Tân vì rõ nguồn cơn về chuyện Điệp và Phùng đang hỗ trợ cho Tân báo thù Côn. Điệp bận đi xa, bỏ quên mảnh ngọc gia truyền mà anh của cô bảo là bùa hộ mạng. Cô vội trao ngọc và bảo :
- Em thường thấy anh Điệp ngậm khi luyện võ. Em chẳng biết nó hữu hiệu tới đâu. Em lại thấy các anh chùng lén bàn chuyện đánh nhau. Em e anh hoạn nạn, em mượn đỡ ngọc này cho anh. Có kiêng có lành phải không anh?
Anh à! Nhưng theo em nghĩ, gieo nhân nào gặt quả nấy. Dùng lực sẽ được trả sức, gieo ơn được đáp nghĩa. Oan oan tương báo, chi bằng giảng hòa thì hơn.
Anh nhìn lại lịch sử nước ta thì rõ. Đánh rồi hòa, hòa rồi đánh vì căn không được giải quyết hợp lý. Anh hiểu chuyện người Pháp ở xứ ta chứ?
Tân đã được nghe Điệp úp mở về Phụng. Nay Tân muốn hiểu rõ hơn nên cậu đi sâu vào vấn đề :
- Xứ ta là thuộc địa của Pháp. Đời sống vật chất, tinh thần đều do Pháp chi phối. Từ khi các hòa ước năm 1862 và 1844 ra đời, quả thực bộ mặt của xã hội Việt Nam có chút thay đổi. Nếp sống bớt nghèo nàn hơn, giao thông mở rộng, văn hóa có phần khoáng đạt và có tinh thần dân chủ nhưng chưa sâu rộng. Sự kiện này, dưới con mắt của các nhà chính trị thì, Việt Nam là một thuộc địa đắc ý nhất của Pháp. Tất cả những lạc quan mà ta gọi là tiến bộ trên, đều nhằm phục vụ quyền lợi cho người Pháp cả.
Phụng gài :
- Anh là con nhà giáo, vậy anh có dịp gần gũi với sách vở, hẳn anh rõ các cuộc chiến đấu của ta chứ?
Tân muốn Phụng nói, vì hỏi tức là biết đáp số, cậu thoái thác :
- Cha anh dạy học cho Pháp nên trọng tâm của ông là thi hành giáo dục trong khuôn khổ vạch sẵn nên anh cũng chẳng biết nhiều.
Phụng mở giọng tuyên huấn :
- Năm 1917 Lương Ngọc Quyến từ Nhật về đến Hương Cảng, đã bị bắt và giải giao về Thái Nguyên. Khi Đội Cấn khởi nghĩa, ông có tham gia nhưng thất bại.
Năm 1923 Phạm Hồng Thái ám sát hụt Toàn quyền Merlin tại Sa Diện, Quảng Châu nên trầm mình tự tử.
Năm 1924-1925 Nguyễn Ái Quốc, Lâm Đức Thụ lập Á Tế Á và thành lập một chi trong nước mệnh danh Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội.
Năm 1926 Tân Việt Cách Mạng Đảng hoạt động ở Hà Tĩnh, Sài gòn.
Năm 1927 Nguyễn Thái Học lập Việt Nam Quốc Dân đảng.
Năm 1928 Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh lập Đệ Tứ Quốc Tế.
Năm 1929 Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội đổi thành Đông Dương Cộng sản Đảng.
Năm 1930 Việt Nam Quốc Dân đảng khởi nghĩa tại Yên Bái bị thất bại, 13 liệt sĩ bị lên đoạn đầu đài, một số bị đày Côn đảo, Sơn La, Lao Bảo.
Năm 1931, 1932, khắp Nam Bắc đều có mặt Cộng sản nằm vùng.
Phụng ngừng lại, cô nhìn Tân, đoạn phê :
- Anh là trai thời loạn, em không nghĩ là anh chẳng biết chi cả. Em bạo miệng lược thuật cho anh một số hoạt động chính trị chống Pháp, tuần tự theo thời gian, để gây niềm tin, hầu được anh chỉ giáo tiếp.
Tân đã đủ tin cô bé. Để chứng tỏ trách nhiệm tinh thần với một người nữ có lòng với dân nước, Tân thố lộ quan điểm :
- Trước sự quá đà của thực dân Pháp, trước sự bất lực của Nam triều, năm 1925 cụ Phan Bội Châu hô hào Đông Du, mong Trung - Nhật giúp ta thoát ách nô lệ của Pháp. Luồng gió mới này gây sự chú ý của kẻ có tư tưởng muốn cải cách xã hội. Phương thức hành động của họ tùy kiến thức ái quốc và tâm địa cá nhân nên phát sinh lắm đảng, nhiều phái. Thuở ban đầu lấy chủ trương chống Thực, cứu Quốc. Về sau, do tham vọng cá nhân, ý hướng chuyển sang diệt đối lập, giành nhân dân. Trường hợp tiêu biểu là Nguyễn Ái Quốc, lợi dụng Á Tế Á, sau khi cụ Phan Bội Châu bị Pháp giam giữ, để làm bàn đạp lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội. Và từ đó đàn áp Tân Việt Đảng, Việt Nam Quốc Dân đảng hầu lập Đảng Cộng sản.
Phụng vấn :
- Anh luận như vậy, có nghĩa là không bao giờ theo Cộng sản?
Tân nghiêm giọng :
- Pháp cướp quyền tự do của dân, quyền dân làm chủ của nước. Nhà làm cách mạng chống Pháp với chiêu bài chống thực dân đô hộ. Cộng sản cướp quyền tự do của dân, quyền dân làm chủ của nước. Nhà làm cách mạng phải chống Cộng sản vì chiêu bài tương tự, không cần phải luận lý cao siêu. Tuy nhiên, Pháp đang bị toàn dân nổi lên đòi tự chủ. Cộng sản đang thắng thế. Là con dân, mình chưa rõ ai sẽ tròng vào cổ mình bằng chiêu bài nào! Định luật guồng máy cũng tương đương luật rừng, la raison du plus fort est toujours la meilleure. Mình thắng thì được danh vua, mình thua bị tuyên án giặc!
Phụng hãy nhìn lại xem. Năm 1940, Nhật và phục quốc quân chiếm Lạng Sơn. Ít lâu sau, Pháp điều đình với Nhật dẹp lực lượng của Trần Trung Lập. Đại Việt Dân Chính của Nguyễn Tường Tam cũng bị vạ lây. Kế đến 1944, Việt Minh lấn lướt Dân Chủ đảng, Đại Việt Quốc Gia Liên Minh, Đại Việt Quốc Dân đảng. Cuộc kháng chiến chống Pháp biến thành mặt trận thanh toán nội tình.
Phụng nhìn thẳng vào Tân, hài tội :
- Anh luận chứng thế sự rõ ràng như vậy lại bảo chẳng biết gì!
Tân giật mình :
- Anh xem trộm tài liệu của cha, xin em kín miệng.
Phụng làm già :
- Tẩy của anh em đã nắm. Hồn của anh em bắt đầu giữ rồi! Bây giờ để trọn tình trước khi giở tẩy của em, em xin hỏi anh, anh nghĩ thế nào về Việt Nam Quốc Dân đảng?
Tân tiến thoái lưỡng nan, cậu chỉ đáp gọn :
- Có tinh thần quốc gia, chống cộng triệt để.
Phụng cười :
- Anh đã rõ cương lĩnh, anh giấu đầu lòi đuôi rồi!
Tân chống chế :
- Đại khái thôi.
Phụng gật đầu :
- Em đã hiểu phần nào về anh, em đã biết tâm tình của anh đối với em, qua tiếp xúc, qua anh của em, bạn của anh. Em muốn anh là ủng hộ viên cho Đảng nên em đã chuẩn bị đầy đủ tài liệu để anh hiểu rõ hơn, thuận thì kết.
Phụng rút xấp giấy nhỏ, ngụy trang trong giỏ đồ ăn, đoạn kéo Tân lẩn khuất trong bụi trâm bầu. Tân bắt đầu đọc :
- Mộng Tiên Phạm Tuấn Tài và Nhượng Tống Hoàng Phạm Chân điều khiển Nam Đồng Thư Xã và Thực Nghiệp Thời Báo là cơ quan cổ động cho Việt Nam Quốc Dân đảng.
Tư tưởng của Đảng dựa trên cương lĩnh “Trước làm dân tộc cách mạng, sau làm thế giới cách mạng”. Họ không chấp nhận giai cấp đấu tranh của Karl Marx mà chỉ triệt hạ chế độ quân chủ chuyên chế để lập thể chế Cộng Hòa với mọi quyền tự do dân chủ, tôn trọng tín ngưỡng.
Việt Nam Quốc Dân đảng ra mắt chính trường là một hội kín do Nguyễn Thái Học và Nhượng Tống chủ trương.
Sau Mộng Tiên Phạm Tuấn Tài được sự hậu thuẫn của Hứa Gia Ngũ, đại diện Trung Hoa Quốc Dân đảng tại Hà Nội, cùng với sự đồng ý của đảng viên, Việt Nam Quốc Dân đảng thành lập vào ngày 25-12-1927.
Về tổ chức chia làm ba thời kỳ: Thời kỳ kết nạp đảng viên, lập cơ sở nòng cốt. Thời kỳ bán công khai, lập công đoàn, binh đoàn, nông đoàn, học sinh đoàn, phổ biến báo chí, gởi người du học quân sự, chế tạo vũ khí. Thời kỳ tổng khởi nghĩa, lập đoàn cảm tử nổi dậy ở các thị trấn.
Phương thức tổ chức: lấy Chi bộ làm gốc, mỗi Chi bộ có 19 người trở xuống; kế đến là Huyện bộ, Phủ bộ, Tỉnh bộ, Kỳ bộ, Tổng bộ.
Chi bộ bầu Chi bộ trưởng và đại biểu của Chi bộ.
Các đại biểu thành Huyện bộ. Huyện bộ bầu Huyện bộ trưởng và đại biểu Huyện bộ lên Phủ bộ và cứ như thế lên đến Tổng bộ.
Mỗi Chi bộ có bốn ban: Ban Tổ chức, tổ chức các buổi họp, liên hệ các cơ quan đảng. Ban Tuyên truyền, quảng bá lập trường, điều nghiên vận động vào đảng. Ban Tài chính, lo kinh tài, thu nguyệt liễm. Ban Trinh sát, dò xét tình hình nội, ngoại.
Kỳ bộ, Tổng bộ có 8 ban: Ban Tuyên truyền, huấn luyện đồng chí, phổ biến sách báo. Ban Tổ chức, sắp đặt các cơ quan, các buổi họp quan trọng. Ban Kinh tài, giữ tiền bạc, lo sinh lợi. Ban Trinh sát, dò xét đối phương, đảng viên. Ban Tư pháp, xử phạm luật và phản đảng. Ban Ám sát, trừng phạt các phần tử phá hoại cách mạng hại dân. Ban Quân sự, tổ chức đoàn cảm tử quân, chế tạo vũ khí. Ban Giám sát, xét công việc của đảng ở mọi cấp.
Các đảng viên khi gia nhập phải hy sinh tuyệt đối cho cách mạng. Nếu thoát ly phải chịu án tử hình. Phạm luật phải chịu phê bình. Khai trừ sẽ bị tử hình.
Sự tiến triển của phong trào khởi đi từ Bắc Ninh, Bắc Giang lan xuống Thái Bình, Hải Dương, Kiến An, Hưng Yên, Nam Định. Ở Trung gồm Thanh Hóa, Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Thiết. Ở Nam gồm Gia Định, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Bến Tre, Chợ Lớn, Vũng Tàu, Sài gòn.
Năm 1928, Hội nghị Tổng bộ của Việt Nam Quốc Dân đảng họp tại Thể Giao, với 40 đảng viên, để bầu ban chỉ đạo. Thành phần gồm có: Chủ tịch Nguyễn Thái Học; Phó chủ tịch Nguyễn Thế Nghiệp; Trưởng ban Tuyên truyền Nhượng Tống; Phó trưởng ban Tuyên truyền Lê Xuân Huy; Trưởng ban Ngoại giao Nguyễn Ngọc Sơn; Phó trưởng ban Ngoại giao Hồ văn Mịch; Giám sát Nguyễn Hữu Đạt, Hoàng Trác; Ban Tài chánh Đặng Đình Điểu, Đoàn Mạnh Chế; Ban Ám sát Hoàng văn Tùng; Ban Tổ chức Phó Đức Chính, Lê văn Phúc; Ủy viên Tuyên truyền Trúc Khê Ngô văn Truyện.
Tháng 6-1928, Nguyễn Thái Học sang Thái Lan tính chuyện thống nhất cùng Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội nhưng bất thành vì nhóm này thiên tả.
Học vào Nam tiếp xúc với Nguyễn An Ninh, Đệ Tứ Quốc Tế; Trần Nguyên Phủ, Nguyễn Đình Kiên thuộc Tân Việt Đảng. Kết quả chẳng khả quan.
Tháng 12-1928, Học cho Chu Dưỡng Bình sang Quảng Tây để điều đình lập căn cứ tổng khởi nghĩa, nhưng bị từ chối.
Nguyễn Thái Học cho Đặng Đình Điểu bí mật thăm cụ Phan Bội Châu, lúc cụ bị giam ở Huế. Cụ nhận làm chủ tịch danh dự cho Đảng và khuyên nên cẩn trọng.
Tân xem đến đây, cậu e dè :
- Xem cương lĩnh của Đảng, anh rất thán phục. Xem cách tổ chức và điều hành, anh thấy hoàn bị, nhưng nghiêm nhặt quá! Tính anh lại lông bông. Em cho anh thời gian suy nghĩ đã, rồi sẽ liệu.
Cha anh có thuật chuyện Bùi Tiến Mai, làm thừa sai tại Dinh Tổng Đốc tỉnh Thái Bình. Y nhập Đảng, được Đảng tin cẩn qua nhiều công tác nên sau đó được cử làm đại biểu họp Tổng bộ. Năm 1929, y bị Pháp bắt. Y chỉ điểm các đồng chí thuộc các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Do đó y được bổ làm Tri Châu. Y bị Đảng kết án tử hình. Vụ ám sát bất thành vì người làm công tác bất cẩn.
Xét như vậy, anh thấy đường lối hay, kỷ luật nghiêm, nhưng sự bành trướng quá nhanh. Thành phần đảng viên hơi phức tạp, bí mật do đấy không trọn. Phụng cho anh thời gian tìm hiểu sâu xa hơn, Phụng và anh sẽ sát cánh. Phụng đã theo gương cô Bắc, cô Giang thì anh là trai cũng cần suy gẫm lại.
Hôm ấy sau khi từ giã Phụng, tâm tư Tân rối bời. Chuyện gì cậu tính cũng chưa ngã ngũ. Bí quá, tâm tính dị đoan lại thắng. Cậu thúc Phượng, em gái của cậu, đưa cậu đến nhà bạn của cô ấy để cầu cơ. Cô bảo chuyện tình duyên khá éo le. Xin xăm thì được quẻ thượng. Cậu chẳng biết đâu mà lường.
Chuyện thù tạc chưa đến đâu thì A Phùng, mặt rầu rầu, đến thông báo :
- Gia đình của Điệp đã lặng lẽ dọn đi nơi nào không rõ.
Tân bàng hoàng nửa lo cho người, nửa sợ cho mình. Cậu trách số phận của mình sao quá hẩm hiu. Lúc nào cũng vậy, hễ duyên vừa bén thì tình vội lìa; hễ công vừa chớm thì danh đã đi!
Tân hứa với Phụng để cùng sánh vai lập chí nhưng vào buổi cơm, cha đã thông báo Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ! Đức Nhật đang đương đầu với Đồng Minh. Pháp bắt giam các quốc sự phạm.
Ở Nam, Lê Hồng Phong và Nguyễn thị Minh Khai đã hô hào quần chúng khởi nghĩa.
Ở Đô Lương, Đội Cung điều động lính Bảo An chống lại Pháp.
Phục quốc quân hoạt động ở Lạng Sơn. Dân chúng khắp nơi đang khốn khổ nghèo đói vì phải phục vụ kỹ nghệ chiến tranh cho cả Pháp lẫn Nhật. Nạn đói đang hoành hành khắp nơi.
Những tin dồn dập do cha kể làm Tân sầu lo cho Phụng và Điệp. Nay, A Phùng đã mang tin chẳng lành, đúng như cậu dự đoán.
A Phùng cắt luồng cảm nghĩ của Tân :
- Chuyện ân oán giang hồ nị tính sao?
Tân chán ngán :
- Ngộ không nghĩ đến nữa! Buồn quá đi! Buồn cho ngộ thì ít mà buồn cho anh em của Điệp thì nhiều. Họ tốt với ngộ, ngộ đã mất họ rồi!
Tân mân mê miếng ngọc gia bảo. Cậu chẳng rõ đây là kỷ vật Phụng trao hay là món nợ phải mang để chờ ngày hoàn trả. Tìm người như thể tìm chim, biết đâu mà lường!
A Phùng lại vấn :
- Nị học võ của A Điệp đến đâu rồi?
Tân nhún vai :
- Ngộ học võ tuy có một, nhưng học nết của anh em nhà ấy đến mười, học khôn đến trăm, học làm người đến ngàn. A Phùng làm thế nào quen được họ?
A Phùng lắc đầu :
- Họ đến làm quen với ngộ, khi biết ông già ở trong Thiên Địa hội. Nó lém lắm! Ngày lại ngày, đến giả vờ xin xem mạch, mua thuốc, mua hàng. Sau đó, chuyện vãn với tính cách kính lão đắc thọ. Khi thấy ông già treo hình Tôn Văn, cờ thanh thiên bạch nhật, nó lại la cà nói chuyện chính trị. Đến khi ông già mến tánh, nó kết bạn với ngộ, nhưng nó chỉ chơi đá gà với ngộ thôi, chuyện hệ trọng thì không!
Tân lại hỏi :
- Nị có biết gia cảnh của họ không?
A Phùng trầm ngâm :
- Ngộ có hỏi, nó nói gia đình nó là thương gia trên Sài gòn. Ba nó xuống đây nghiên cứu thị trường dừa khô. Họ muốn lập kỹ nghệ dầu để ứng chế xà bông với cát lồi ở Phan Rang.
Tân lắc đầu :
- Tất cả đều nói khéo cả! Điều hay nhất, từ đây mình học phép không thấy, không nghe, không nói trước người lạ.
A Phùng gật đầu, đoạn nói :
- Chuyện gái ghiếc nị cũng tính gạt qua bên luôn?
Tân gật đầu, cậu lặp lại lời khuyên của Điệp :
- Trước khi gặp ngộ lần cuối, anh ấy khuyên ngộ nên có tinh thần hướng thượng để nhắc khéo ngộ đừng lụy sắc, nuôi thù.
A Phùng soi mói :
- Nị định chuyển hướng ra sao?
Tân xa vắng :
- Ráng lập thân. Khi nị xong chương trình căn bản, ngộ lấy xong certificat d’études primaires, mình lên tỉnh hoặc thủ đô học tiếp.
A Phùng bắt tay cam kết. Họ chia tay bỏ cờ bạc, bỏ đá gà, chăm học hành.
Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng. Tuổi thơ tính tu thân thiếu chững chạc, tật hư vẫn hoàn hư!
Một hôm, Tân lại bị bọn của Côn quấy rầy bằng lời trêu, trên thơ rơi: “Tưởng dung, sinh mộng đá vàng; gặp nhau, huyết lệ tuôn tràn, lỡ đôi!”
Tay cầm mảnh giấy mà lòng bứt rứt. Sau cùng, cậu quyết định gặp bọn Côn để cầu hòa, hầu yên để học. Cậu phúc thư: “Làm trai nặng nợ tang bồng; sá chi một mảnh má hồng hận nhau!”
Thế rồi họ gặp nhau ở đất thù ngày cũ. Vừa thoáng thấy Tân, Mỹ vội đến bên, ngăn :
- Anh đau chưa phục sức, chỉ đem thân làm bia thịt cho Côn nó dần như ngày trước! Cho em can!
Tân chạm tự ái, nhưng kịp nghĩ nên thú thực :
- Tôi đến đây với chân tình giao hòa mà thôi.
Côn nghe thấy, càng tự đắc :
- Lần trước lỗ mũi ăn trầu, lần này cái đầu sẽ xỉa thuốc. Già lấy gì để hoà?
Tân kiên nhẫn :
- Bạn đánh tôi đau thì sinh hận, tôi đánh bạn ngã cũng sinh thù. Oan oan tương báo, làm sao yên để học hành, để nên người đây Côn?
Côn vênh váo :
- Nếu tôi thắng già, tôi dần già bầm mình, già không được kêu oan. Ngược lại, già thắng tôi, già bảo gì tôi cũng tuân lệnh.
Tân nghiêm mặt :
- Quân tử nhất ngôn! Tôi xin bạn bè, người thân, người tình của bạn làm chứng lời nói của bạn hộ tôi! Tôi chấp thuận điều kiện của bạn. Nào, xin ra tay!
Tân ngậm ngọc, thủ thế. Mỹ thấy mảnh ngọc, cô toan tiến đến hỏi căn, thì Minh, em của Nguyệt, đẩy Côn về hướng Tân đang xuống tấn. Nguyệt ra dấu bảo Tân đi về, cô có vẻ lo lắng cho Tân.
Côn hứng chí, quen thói xưa, cậu cung tay, đưa thoi. Tân vội rùng chân trái, duỗi thẳng chân phải, lách mình sang trái né đòn. Nhanh như chớp, cậu nắm cổ tay của Côn xoay cánh gà, hoành thân, hất chân trái của Côn làm Côn té xấp. Tân ngự trên lưng Côn. Tay Côn bị khóa chặt trên đỉnh đầu của cậu.
Tân phủ dụ :
- Cực chẳng đã, tôi phải ra tay theo qui ước. Tôi mong Côn đừng nghĩ đây là sự phục hận. Côn đừng tự ái với bạn bè xung quanh. Tôi muốn kết thâm tình cùng Côn. Cha ông chúng ta đều giao hảo tốt, ta là con cháu, nên noi gương.
Nói xong, Tân đỡ Côn ngồi dậy, tuy nhiên cậu vẫn dự phòng.
Côn chưa kịp phản ứng gì thì Minh và Nguyệt đến bên Côn, khẽ bảo :
- Trò chơi của chúng ta kể ra tạm đủ. Côn đã hứa. Tân đã chí tình. Thôi thì cùng giữ hòa khí với nhau vậy!
Hai nàng con gái điều Côn đi xa.
Mỹ rụt rè đến bên Tân, làm lành :
- Lọ Mực của em cho em chất vấn đôi điều?
Tân cười hiền :
- Giậu Mồng Tơi của tôi cứ hỏi.
Mỹ cợt :
- Không phải Giậu Mồng Tơi mà là Giàn Thiên Lý.
Tân trả đũa :
- Bây giờ đã chấp nhận Giàn Thiên Lý rồi à?
Mỹ thẹn :
- Thêm một điều kiện.
Tân hân hoan :
- Có khó lắm chăng?
Mỹ cười duyên dáng :
- Dễ ợt! Anh cho em xem ngọc gia truyền đi nào.
Tân bối rối, nhưng kịp trấn tĩnh :
- Nó là bùa hộ mạng, kỵ âm, xin Mỹ cảm thông.
Mỹ có âm mưu nên đẩy đưa qua lề :
- À, em đoán đúng! Nhờ ngọc nên anh thắng. Em giả vờ để kiểm chứng thôi.
Tân làm già :
- Bây giờ đến phiên anh đáp lễ. Nguyệt và Côn liên hệ có sâu đậm lắm không?
Mỹ sa sầm nét mặt. Cô hờn giỗi một cách bóng gió :
- Giữa Giậu Mồng Tơi và Giàn Thiên Lý đã có ong bướm giao hương nên giữ! Còn chuyện ai đó, mặc họ!
Tân không hiểu mật ý của Mỹ nên cậu bật mí :
- Cha anh đã mở cửa cho trăng gieo ánh ngà rồi!
Mỹ run run làn môi, bênh vực tâm tình mình :
- Em không tin như thế! Cụ Cả đã kết, nhưng bác giáo thì tuyệt đối không, huống hồ Nguyệt cự tuyệt.
Tân phì cười, nói lóng :
- Đêm trăng tròn, cậu bé nhìn trăng soi, cậu chạy tới chạy lui và reo cùng cha, “con đi đâu, trăng cũng đeo đuổi cha ạ!”
Mỹ hết kiên nhẫn, cô bảo thẳng :
- Dù Nguyệt có mê mệt anh đi nữa, anh đã có tình ý với ai đó, thì cũng nên lánh cho trọn thủy chung với người ta, huống hồ...
Mỹ ngưng ngang, cô chuyển đề :
- À! Theo phép lịch sự anh hỏi về sự liên hệ giữa Côn và Nguyệt, thì em cũng thưa thốt một cách khách quan. Bởi lẽ, em không muốn chen vào đời tư của người ta.
Tuy nhiên Nguyệt và Côn đều là bạn thân của em, nên em thấy nói thật cũng vô hại. Nguyệt đãi Côn là muội huynh, bởi Côn lớn tuổi hơn và giữa họ dường như có ẩn tình.
Tân chưa cam lòng, cậu bắt cầu :
- Nguyệt quên ý niệm lửa gần rơm, hay sao?
Mỹ khoan hòa, nhẫn nhục trả lời :
- Côn thì say, Nguyệt lạnh lùng nên sơn keo chẳng đến.
Sơ ngộ, mình trao nhau ý tứ như vậy cũng tạm đủ. Anh cho phép Mỹ cáo từ.
Mỹ ôm uất ức quay về. Tân si tình đứng ngẫm: “Kẻ mình si không đến, cô bé miệng còn hôi sữa lại kề, thế mới hiểu ngang trái là chi! Mối tình tay ba đã đến!”
Tình son trẻ mau đến rồi mau quên. Thời gian trôi, gia đình A Phùng chuyển lên tỉnh để mở mang thương nghiệp. Điệp và Phụng bặt tin nhàn, cá. Tân sau khi lấy certificat d’études élémentaires cậu được phép lên thành học tiếp. Tinh thần cầu tiến khiến thế hệ thanh niên ganh đua học tập, những thói hư tật xấu cũng lẽo đẽo theo sau. Những thiếu niên ngày xưa nay đã thành nam thanh nữ tú. Một số lăn xả vào chính trường. Một số tham gia hội kín. Một số lang bạt giang hồ...
Riêng Tân, từ ngày lên thành, cậu giao tiếp rộng rãi với bạn bè; thu thập kinh nghiệm qua người khôn, kẻ dại, qua báo chí, qua thời cuộc. Cậu bị lôi cuốn hết đảng phái này đến hội đoàn nọ. Bạn có, thù có. Tuy nhiên Tân biết mình khờ vẫn khờ nên hoa hòe ngoài miệng, nhưng trong lòng ngán ngẩm tình người, tình nước. Cậu mang mặc cảm thân phận vô dụng cho nước, cho đời, nhưng trò chơi với lửa, cậu không đủ khả năng vượt thoát. Tân dật dờ như bóng ma hoang. Hè là thời gian để Tân lùi sâu dưỡng trí, để sống lại với những kỷ niệm đẹp ngày thơ.
Ba tháng hè năm đó, cậu được hưởng một ân huệ khó quên trong đời.
Quê hương của Tân may mắn chưa bị khổ nạn như các vùng chung quanh. Sự cần cù của người địa phương đã mang lại sự no ấm, thịnh vượng chung. Dân no, chính vững, Hội Tề cũ sáng kiến trấn an quần chúng trước thời cuộc đang rối ren, bằng tổ chức một lễ cúng đình rất trọng thể để tạ ơn thần thánh cho an bình, tạo cơ hội dưỡng dân, ủy lạo tinh thần đồng lao sản xuất. Việc tổ chức vui chơi đặt trên căn bản phép vua thua lệ làng: công thưởng, tội trừng, phân theo luật, pháp theo lệ, xử theo khoan hòa.

0
3
 
Ngàn năm một thuở vui chơi, nhà nhà giết gà, mổ lợn, mặc tình chè chén, vui say. Ruộng khô trơ rạ được khoanh vùng, bày trò đô vật, đấu trâu, chọi gà, đá cá, bài bạc trong ba ngày.
Đình làng được trang hoàng rực rỡ. Một gánh hát bội thời danh được mời nhập hội. Hàng quán mọc lên khắp nẻo. Chiêng trống vang trời lớp lễ bái, lớp quảng cáo tuồng xưa.
Những sinh hoạt hấp dẫn đó lôi cuốn nam phụ lão ấu ngày lẫn đêm. Nhưng dưới mắt Tân, chung qui lão mê trà rượu, thanh thích gái trai, trẻ tham quà bánh.
Riêng Tân, cậu mong cha cho phép ngao du sớm để chiêm ngưỡng các đóa hoa ngày cũ còn ghi dấu trong tim. Hơn nữa, A Phùng hứa hẹn quay về với tung tích của Phụng và Điệp. Sau đó, cậu sẽ nhập đình để thưởng lãm đào thanh, kép độc qua vở tuồng Võ Tòng Sát Tẩu, với bao tình tiết éo le, gay cấn.
Mặc dù đã lớn, nhưng Tân vẫn giữ chữ kính với cha, nên cậu cứ thấp thỏm đợi chờ. Các học trò cũ của cha từ xa đổ về, đều ghé thăm không ngớt. Đầu tiên là Tính, con của cựu Hương Thân, học trường Tây ở Sài gòn. Gã bắt chước ông Carnot trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, đáo xứ thăm thầy, trông dáng khệnh khạng vô cùng. Thứ đến là Nguyệt, con của cựu Hương Cả, là trăng treo trong trái tim nức nở của Tân. Nàng cũng là tác giả của gói mứt me hòa thuốc xổ hại cậu thuở trước. Oan gia lại gặp oan gia! Ngày xưa Nguyệt phe Côn, Côn làm càn nên ông Cả rối rít sang gặp cha của cậu để bán cái người đẹp cho con thầy. Ngày nay em học trường Đầm ở Sài gòn. Nàng đáo xứ, không quên vâng lời cha đem quà biếu thầy, thăm bồ; nhưng khi gặp Tính, cô ả mắt láo liên như đèn xe hơi lỏng ốc, khiến trái tim của Tân sùng sục máu trào!
Trong này, Tính khoe khoang học quartier europeén, đồng phục trắng, áo nỉ tím, có hai nút mạ vàng, giày da, cùng học trình; thì ngoài kia, các học sinh tứ xứ chờ đến lượt. Tân điểm mặt, cậu thấy có Hổ, Côn là con của cựu Hội Đồng; Thiện, Ngôn là con của cựu Hương Quản; Thảo, con của cựu Huyện Hàm; Lương, con của cựu Hương Hào. Một số khác đảo tới đảo lui, đủ mặt trai thanh gái lịch.
Cảnh lũ trẻ tấp nập khiến khách bàng quan ngỡ thanh thiếu niên làng mình trung thuận, nhưng Tân đi guốc trong bụng họ, họ đều là quỷ lộn chùa hoang!
Trước khi từ giã ra về, Tính tò mò hỏi cụ Chánh :
- Thưa thầy, anh Tân có nghỉ hè không?
Cụ Chánh đáp :
- Nó cũng từ Sài gòn về từ ngày hôm qua. Nó đang cấm cung trong phòng.
Nghe đến đấy, Nguyệt xông pha vào gặp Tân. Vừa thấy Tân, cô đầm miền quê nhào tới ôm Tân như cọp cái vồ được nai tơ. Cô tía lia :
- Tối nay anh xin phép thầy đi trảy hội với bọn này? Vui lắm! Nhiều trò hấp dẫn.
Tân bối rối, hỏi một tràng dài :
- Ở đâu? Mấy giờ? gồm những ai?
Nguyệt nhéo má Tân, cười giòn :
- Sợ bị gài như ngày nào, phải không?
Tân đỏ mặt :
- Không đâu! Chỉ muốn biết có hợp cảnh, hợp tình chăng!
Nguyệt nghiêm :
- Tám giờ tối, ở ao sau ven đình, đủ mặt bạn bè thân sơ để trao đổi quan điểm tình cảm, gia đình, xã hội.
Tân nhún vai :
- Bạn bè mình có vẻ tiến nhanh tiến mạnh với trào lưu quá hở Nguyệt?
Nguyệt nũng nịu :
- Có đi không thì bảo?
Tân vỗ vai Nguyệt, trấn an :
- Đi chứ! Anh muốn thấy tận mắt, nghe tận tai coi những ai, giở trò gì! Tuy nhiên con cái trong nhà, cần xin phép cha một tiếng.
Nguyệt buông Tân ra, nhắn vói :
- Phải đúng hẹn đấy nhá!
Cô ả chạy như bị ma đuổi, theo Tính bén gót! Tân nhìn theo, lắc đầu.
Các bạn của Tân lần lượt tràn vào nhà, trao đủ tin, bày đủ tình, đinh tai, nhức óc! Vừa vắng khách, Tân toan bước ra thì Mỹ bước vào. Cụ Chánh niềm nở một cách đặc biệt. Cô bé mà Tân chê miệng còn hôi sữa thuở nào.
Mỹ là con gái của cựu Hương Thân, em của Tính, bạn thân của Nguyệt, kẻ đã đem giậu mồng tơi đổi giàn thiên lý cùng Tân. Ngày còn bé, cô đã xử đẹp với Tân, khi cậu và Côn choảng nhau. Tân vì chê em còn hôi mùi sữa mẹ nên chẳng quan tâm. Giờ đây, qua khe cửa, Tân có thể điểm lại dung nhan của nàng.
Dáng nàng tuyệt hơn Nguyệt nhiều lắm! Mắt, mũi, môi, cằm đều diễm lệ, nhưng khi tổ hợp lên khung thì nét thẩm mỹ có vấn đề. Vậy mà vẫn còn là trang tuyệt sắc. Từ đấy Tân nhớ lại lời cha bình về sự tạo hình của hóa công: Ngài là nhà toán học đại tài. Với trò chơi éléments, qua phép tính séquence, série, sommation, ngài nhào nặn vạn điệp nhân sinh cá biệt, nào mỹ nhân, nào xú nữ. Từ đó, thân phận của họ sẽ là mệnh phụ hoặc tiện tỳ. Sự thể này, tương tự như nhạc sĩ với bảy khóa nhạc do, ré, mi, la, sol, la, si. Người tài phổ thành tuyệt phẩm, kẻ vụng tạo nên thường khúc.
Từ lâu, Tân nghe bạn bè truyền miệng về cô gái đang tuổi cập kê, có giọng khàn, lời kém duyên, dáng đàn ông, tướng sát phu, bạo võ.
Nay, đối diện với người ngọc, cậu thấy dư luận thiên vị vô cùng. Ngày ở tuổi hồng, Mỹ đã có nét ưa nhìn, lời đủ khả năng đưa người vào mộng, huống chi ngày nay hoa ngàn đang nở rộ châu thân.
Tân không biết xem tướng, nhưng thiên hạ bình đúng một điều. Người mà đáy thắt lưng ong, kẻ phối ngẫu phải yêu mệt đến chết mòn. Giọng khàn, lễ và duyên là tiếng sáo thiên thai ru hồn vào mộng ảo, Gương mặt nhìn tuyệt điểm, khiến rượu tình chưa mềm môi mà khách phàm phu đã bồi hồi điên đảo! Thế mới biết, người đời miệng có gang, mồm có thép. Hễ ăn chẳng được, họ phá cho hôi và yêu không đạt, họ gieo tiếng ác.
Qua cuộc đối thoại giữa Mỹ và cụ Chánh, cái duyên của người con gái biểu lộ qua cử chỉ trang nhã, lời nói tế nhị đã thu hút cảm tình của Tân tự bao giờ. Lúc nàng mới vào, Tân dửng dưng. Khi nàng vào chuyện, Tân để tâm lắng nghe. Khi nàng ra về, giọt sầu để lại tim Tân.
Tân háo hức. Cậu chưa phó hội cùng bạn bè. Họ chỉ mới dự kiến với cha cậu mà cậu đã thấy hoa ngàn đua sắc thắm; đến khi tao phùng, ắt hẳn rộ duyên.
Nghĩ đến đấy Tân vội bẹo hình để mong cha xuống chỉ tháo cũi xổ lồng. Thế nhưng cha vẫn trầm mặc với kinh thư. Tào Công vội đổi chước. Tân la cà đến kệ sách, cận bên cha. Cậu vói tay cầm một quyển, vờ tham khảo.
Cụ Chánh liếc mắt, cụ hắng giọng :
- Khá khen tuổi trẻ nên hiền! Chê hoa, ém nguyệt, chữ thiền sớm vương!
Tân giật mình. Thì ra cậu đang mân mê trong tay cuốn Thiền Hành Yếu Chỉ. Biết mình lỡ bộ, Tân đành làm già tra cứu, nhưng đầu óc đang theo bóng hình ai.
Cụ Chánh trầm giọng :
- Con học võ thuật đến đâu rồi?
Tân chân thành đáp lời cha :
- Con còn đang thời kỳ tìm ân sư cha ạ.
Cụ Chánh an ủi :
- Chọn mãi cũng thế thôi! Thầy nào cũng có chiêu thức riêng. Điều quan trọng là võ sinh có thiện tâm, thiện ý trong việc trau giồi kiến thức chuyên môn hay không!
Tân bực bội, trình bày :
- Thầy nào cũng danh xưng người của các hội kín, nhưng thường là cà lúc trường gà, khi sòng bạc thôi.
Cụ Chánh trấn an :
- Nhân tài hay ẩn!
Tân nhớ lại lúc học Tai Chi với thầy Tàu, những lần học bảo kiện với Điệp, những chỉ vẽ hoa hòe của A Phùng, một vài miếng Thiếu Lâm của các bạn ở Sài gòn, cậu trình bày để cha bớt lo :
- Lời cha chí lý vô cùng, con thọ giáo đã lâu, nhưng các sư phụ chỉ bắt luyện mãi bảo kiện và thu công vì đấy là điều kiện cơ bản để thụ võ. Con nóng lòng mới học qua các bạn. Từ đó, con đã biết các chiêu thức gia truyền như Kỳ Lân Vờn Địa, Bàng Quang Chi Bộ, Kim Kê Đoạt Ngọc, Thanh Long Cốt Trảo và vang danh nhất là Mục Tử Chiêu Ngưu!
Cụ Chánh mỉm cười :
- Mấy thế võ này cha nghe hơi lạ!
Tân bênh vực :
- Võ gia truyền mà cha!
Cụ Chánh nghiêm mặt :
- Có ngày mortellement blessé nghe con! Thời buổi ly loạn, kẻ tầm vong, người dao mác, con cậy mấy ngón nghề đó, cha e chẳng toàn thân!
Tân tiu nghỉu. Cụ Chánh chuyển đề :
- Năm nay được mùa, tiết thuận, thời hòa nên làng sinh hứng mở hội dưỡng dân. Nhân dịp này cha cho phép con vui chơi ba ngày, theo đúng châm ngôn giang hồ “khôn sống mống chết”. Con đã đến tuổi để nếm cay đắng ngọt bùi ở trường đời. Bấy lâu nay con sống trong vòng tay của cha, những gì cha chỉ giáo cho con chỉ là lý thuyết. Từ nay, cha chỉ là người cố vấn. Chim non phải tập bay, tập nhảy để chuẩn bị tẽ đàn. Tre già gục ngọn, măng non phải vượt thẳng cành! Làm trai nên mạnh tiến trên cõi đời, phải chấp nhận cả thương đau lẫn diễm phúc mới mong đạt được chuỗi kinh nghiệm sinh tồn.
Ngoài ngưỡng cửa là bể hoạ, núi phúc. Trong nội gia là sông thương, gò dạy. Hãy tận tình lèo lái tấm thân. Cha nhắn nhủ chừng bằng ấy lời thôi, tùy con định liệu. Chúc con vui chơi thoải mái!
Tân bước đi, mang nặng cảm tưởng đó là lời cha trăn trối. Mắt đẫm lệ khiến cậu vấp phải ngạch cửa. Tân ôm chân. Cậu nhắm mắt để nghe lời cha trách nhẹ nhàng :
- Đi đâu mà vội mà vàng, mà vấp ngạch cửa mà quàng phải chân!
Tân thổn thức :
- Thưa cha! Thà vấp phải đá mà quàng phải chân, ở ngoài đời, có lẽ đỡ khổ tâm hơn, trước mắt cha, khi lời cha vừa tuyên huấn!
Cụ Chánh mỉm cười khoan dung :
- Mới xuất hành đã vướng lục cực, phải tìm ngũ phúc để an hòa. Võ trợ, văn phù, may ra tai qua nạn khỏi!
Nói đoạn, cụ Chánh vội ghi đôi dòng vào mảnh giấy con. Cụ xếp gọn, vừa trao cho Tân vừa dặn dò :
- Đây! Cẩm nang xuống núi. Khi lâm nạn, con cứ theo đấy mà hành!
Tân nhận bùa hộ mạng, chào cha, lầm lũi ra đi.
Trời đã tối, trăng chưa lên. Đường đến đình làng xa thẳm. Gia cư thưa thớt. Ruộng ít, rừng nhiều. Mồ mả đầy dẫy hai bên, cái cao, cái thấp, cái đen đất thịt, cái trắng đá vôi. Cái nào cũng có truyền tích dị thường. Sương sa ướt đầm ngọn cỏ. Đom đóm lảng vảng mộ phần. Côn trùng trổi giọng nỉ non. Nghe đâu đây như hồn ma ta thán, như bóng quế vũ khúc mê cung. Lều tranh xù xụ không đèn. Dân làng trảy hội đình xa. Bóng đêm đồng lõa ngoại vi làm Tân ái ngại. Từ ngại chuyển sang sợ chỉ cách có mấy nhịp tim thăng trầm. Con tim sợ hãi mời gọi khối óc hoang mang. Trong cơn hoang mang, mầm dị đoan chóng lớn. Để trấn an nỗi sợ, Tân vừa bắt ấn phù, vừa ngâm thần chú, mong sóng vi ba của nội tâm áp đảo ngoại giới. Bỗng một hòn lửa đỏ len lỏi qua đỉnh dương cao. Tiếp theo là tiếng cú kéo dài từng chặp. Lồng ngực của Tân như muốn vỡ tung. Tân thôi bắt ấn, tay đang khoanh hầu. Miệng thôi niệm chú, môi mấp máy cầu. Cầu oan hồn Bà, Cậu tha lỗi bất tri. Lỗi bất tri của đứa bé con dám học lóm của pháp sư để trêu chọc thánh thần.
Tân vừa van vái vừa gia tốc đôi chân cho qua hoang địa của cây da xà và rừng dương cao đầy âm hồn phảng phất. Tiếng động của đôi chân vang dội như ma đuổi khiến cậu biến thế đi nhanh sang thế chạy. Bỗng tiếng hú lanh lảnh sau lưng. Tân khẽ quay nhìn, một bóng trắng lắc lư trên hương lộ, lúc ẩn lùm cây, lúc nhanh lao tới. Tân nhủ thầm, hết Bà Cậu quở lại vướng Quỷ vương. Lần này không bị cửu vĩ hồ cũng lậm bạch cốt tinh!
Trí não của Tân bắt đầu làm việc tích cực để tìm sinh lộ. Tân không sợ chết mà chỉ sợ điên vì bị hớp hồn. Tân nhớ, lúc mẹ còn sinh tiền, tuy rất sợ ma nhưng Tân và Phượng ưa nghe cô hàng xóm thuật chuyện yêu tinh. Nghe xong, cả hai anh em phải nhờ cô hàng xóm đưa về. Chuyện thấu đến tai mẹ. Mẹ không mắng thì chớ, mẹ dụng sự đam mê của con để làm động lực giáo dục. Từ đấy mẹ đem chuyện Liêu Trai Chí Dị làm quà. Học giỏi mẹ kể chuyện ngắn. Học xuất sắc mẹ kể chuyện dài. Học tồi mẹ treo để đó, cho đến khi nào tiến bộ, mẹ bắt đầu lập lại thông lệ. Nhờ vậy Tân và Phượng học xuất sắc. Cái hay của mẹ là sau mỗi câu chuyện, mẹ đều luận theo trình độ của con trẻ, nhằm luân lưu giữa đạo và đời, cân phân giữa tín ngưỡng và dị đoan.
Có một lần mẹ luận giữa ma và người. Căn cứ câu “hồn ma bóng quế” để luận ma lướt nhẹ trên ngọn cỏ. Ma là hiện tượng siêu hình. Căn cứ câu “người phàm mắt thịt”, “đầu đội trời, chân đạp đất” để luận người đi trên mặt đất. Người là biểu tượng hữu hình.
Nghĩ đến đấy, Tân quyết kiểm chứng. Cậu áp tai xuống lòng đất. Cậu nghe tiếng chân khua. Cậu tỉnh ngộ, đấy là kẻ gian. Tân liên tưởng đến thế tấn học được của Điệp, thế hồi mã thương trong binh pháp. Thế hồi mã thương vi tiên, đòn tấn vi trung, hai chiêu Kim Kê Bạch Ngọc và Thanh Long Cốt Trảo Vi Hậu để tấn công thượng thân và hạ thể của đối tượng.
Nói là làm, Tân cắm đầu chạy thật nhanh, nhưng vừa đến cây gáo, nơi mỹ nhân treo cổ vì tình thuở xưa, Tân chưa thực hiện được ý định thì đã bị người xuất chiêu. Sợi dây thừng căng qua đường đã làm cậu lộn nhào giữa đêm đen. Đầu cậu bị chấn thương đến bất tỉnh nhân sự. Bóng trắng mất đà cũng té xấp trên mình Tân. Gã căng dây nhanh chân chạy đến, đỡ bóng trắng, săn đón :
- Tính đây, em có sao không Nguyệt?
Nguyệt đứng dậy, ôm ngực thở dốc :
- Hơi đau một tí!
Đoạn cô nhìn Tân đang bất động, cô thở dài :
- Anh Tân có mệnh hệ gì, Nguyệt chẳng yên thân!
Tính quay lại thỉnh ý tên mõ làng :
- Có định cho hắn mò tôm không?
Tên mõ làng lắc đầu :
- Phong Trào sáng suốt lắm, chỉ cảnh cáo hắn thôi.
Nguyệt quay sang Tính, giọng bất mãn :
- Muốn hại tình địch, thiếu gì cách!
Tên mõ làng lên lớp :
- Cậu Tính tuy mới là cảm tình viên mà ngọn lửa cách mạng trong lòng cao vời vợi. Đồng chí Nguyệt đã quên rằng, hễ theo Phong Trào thì phải thoát ly gia đình. Lập trường của đồng chí bắt đầu chao đảo rồi đấy!
Gã quay sang, cật vấn Tính :
- Tên Lương không đến?
Tính vừa cau mày vừa khẽ đáp :
- Không.
Tên mõ đe dọa :
- Thà rằng như tên Tân, Phong Trào còn xét lại, chứ cái thế chân trong chân ngoài của tên Lương thì phải xem là phản cách mạng!
Nói đoạn, gã móc túi trao cho Nguyệt mảnh giấy cáu bẩn, giọng hằm hè :
- Đây là cáo trạng, tùy đồng chí xử liệu.
Bỗng có tiếng reo hò :
- Bắt lấy chúng nó!
Nguyệt vứt lên ngực Tân mảnh giấy có ghi “Thành phần tiểu tư sản, tư tưởng thực dân phong kiến!”, đoạn cô lủi theo Tính và tên mõ làng.
Hổ dẫn đầu đám đông. Dưới ánh đuốc chập chờn, cậu bàng hoàng :
- Thằng Tân nằm đây! Tính và Nguyệt đã chuồn!
Côn bước tới, nhặt tờ giấy trên mình của Tân, vừa đọc vừa hằn học bảo :
- Ở đâu có Nguyệt, ở đấy có Tân! Lần này con kỳ đà đã lãnh thẹo án treo và cặp sừng ngoại tình. Tao sẽ cho mày tỉnh để mày nhận rõ án đền!
Nói đoạn, cậu tè lên mình Tân. Lương nhanh tay đẩy Côn sang bên, giọng phân trần :
- Tân từ chối vào Phong Trào nên Tính và Nguyệt lãnh chỉ thị làm thịt thằng nhóc. Chúng ta đều là bạn nên tôi vẽ chuyện tranh gái để các ông đến giải thoát nó chứ có giục làm nhục nó đâu!
Nói đoạn, Lương giằng bản cáo trạng từ tay của Côn, đề nghị :
- Bọn trẻ chúng mình chỉ có mấy thằng, mấy con; thân nhau như anh em từ lúc học cours enfantin cho đến bây giờ. Vì cao trào tranh đấu, mình nhẹ dạ nghe đàn anh, sinh ra tùy hứng; có giận, nên chém nhau bằng sống chứ đừng xả bằng lưỡi. Vụ này, xin cho sang trang, nếu thố lộ đến tai người lớn sẽ trở nên phức tạp, hại cả đời son của nhau. Tôi hủy bỏ bản án này, các ông bà hãy coi như không thấy, không nghe, không nói.
Côn còn hậm hực, quay sang gây chuyện với Thảo, con của cựu Hương Hào :
- Mày trông chừng điểm xuất phát, mày thông báo cái kiểu gì mà để chậm chân thế? Mất con mồi là lỗi tại mày đó Thảo!
Thảo cằn nhằn với giọng bông đùa :
- Tao làm đúng trọng trách mày giao. Con Nguyệt ra khỏi nhà, tao phóng một trái hỏa châu lên ngọn dương để làm hiệu kỹ nữ xuất gia. Con Nguyệt làm hồ ly tinh để lùa con gà chết Tân vô rọ như ý của chúng. Mình đến chậm là ở khâu khác, mày soát lại xem!
Côn quay sang Thiện, Ngôn, con của thầy cựu Hương Quản:
- Hai anh em mày phục tại điểm hẹn, sao không ra tay để kéo dài sự kiện cho đến khi được cứu viện?
Thiện cười mỉa :
- Anh em tao chỉ phù kẻ đấu tranh giai cấp, quốc tế vô sản, chủ trương vô thần, chứ nào có giúp tên tiểu tư sản, thực dân, phong kiến đâu?
Hổ bênh em :
- Ông già làm việc cho Tây, con theo Phong Trào Thanh Niên là loạn rồi mày ơi!
Ngôn bênh anh :
- Trong đấu tranh giai cấp, gia đình làm sai, có thể nội gia đấu tố nhau để đạt chỉ tiêu cách mạng nữa mày ạ!
Anh em tao thấy lời thằng Lương chí tình nên không thấy, không nghe, không nói. Xin hai anh em mày đừng cạy miệng chúng tao!
Lương khoát tay :
- Ối giời ơi! Mấy ông chính trị gia miệng còn hôi sữa, cãi lý nghe thối lắm! Các ông chẳng khác nào những con vẹt. Thời buổi ly loạn này, trường hợp thù cá nhân nghe đầy tai, thấy ngộp mắt. Hãy xem gương thằng Tân để mà biết sợ đôi chút. Các ông yêu nước một cách quờ quạng, có ngày chết vì nước. Nước ở đây, theo nghĩa đen, đó là hiện tượng đi mò tôm, hoặc làm thằng chổng chết trôi.
Đã đến lúc nên tan hàng, đi xem hát bội là thực tế hơn cả. Ai ở lại, khi Tân tỉnh dậy, sẽ đớ lưỡi với nó. Xin để cho nó ôm ảo tưởng bị nằm vạ do đòn tình.
Nói xong, Lương cút nhanh. Các cô cậu khác có cớ rút êm.
Hổ cùng Côn chạy theo căn dặn Lương :
- Tao đi trảy hội, mày xem hát xong, đúng canh một, hãy đến gò mả nhà họ Quách để mình đả thông tư tưởng cùng bọn Nguyệt, Tính.
Lương gật đầu, đáp :
- Ý kiến hay! Tao nhất trí cùng anh em mày.
Bọn quỷ nhỏ vừa đi khỏi, nhờ gió thoảng, nhờ cơ thể đẫm nước, Tân hồi tỉnh. Cậu cảm thấy mệt nhừ, vẫn thích nằm dài để hồi tưởng sự việc, nhưng chẳng có dữ kiện nào để cậu tìm ra nguyên nhân. Tân bị đau sau gáy, ngực tức, hông rêm, mắt cay, môi mặn, mặt nhầy nhụa ướt. Cậu lấy tay quệt lớp nhớt trên mặt, đưa lên mũi ngửi. Mùi hoa lài chen lẫn hơi ammoniac thoang thoảng, khiến cậu suy luận về một đôi trai gái nào đó có ân oán giang hồ với cậu. Họ dùng địa điểm cây gáo này, là chứng tích của người con gái đã treo cổ chết cho tình yêu năm xưa. Họ dùng sợi dây oan nghiệt để giăng bẫy cậu. Họ là ai? Dụng ý gì? Chính trị hay tình cảm? Cậu ngẫm có lẽ đây là đòn thù về tình cảm nên có hương hoa lài, có mùi khai ammoniac. Tân ngao ngán thành lời: “Ta buồn số kiếp chính thân ta; to xác, nhỏ gan, lớn thật thà!”
Nghĩ đến đấy, cậu xót thương cho hoài vọng của cha. Cậu tự thú với lòng: “Chuyện buồn dồn dập đã nói lên tất cả cá tính của con rồi cha ơi! Còn lâu lắm con mới thành thân như cha hằng mong đợi! Sơn căn khả di, nhân bản bất dịch. Giáo huấn chỉ là chiếc gậy tư tưởng, trợ thủ cho một kẻ mù trí não như con!”
Tân sực nhớ đến cái hẹn cùng Nguyệt về buổi hội thảo cùng bạn bè tại ao sen bên đình. Cậu trỗi dậy, bước nhanh. Tiếng trống cổ động của gánh hát bội nghe rõ dần. Cậu hăng hái dồn chân về hướng ánh đèn xa xa.
Bỗng một đôi nam nữ chạy ngược chiều cùng cậu. Họ cười ngạo mạn về lời phẫn nộ :
- Mụ nội nhà bây! Bây mở hàng kiểu này, cả nhà tao sẽ ăn bắp trừ cơm!
Tân cảm thấy thèm ăn, vội sờ túi quần kiểm tiền, tay chạm phải cẩm nang của cha. Cậu đến bên ánh đèn, toan khai trí. Cậu bị bà hàng kê tủ đứng vì cơn giận chưa nguôi :
- Bộ chú đi ăn trộm hay sao mà thân thể xốc xếch lắm vậy?
Tân bất bình, nhưng muốn mượn ánh đèn nên cậu cười cầu tài, đoạn vẽ duyên :
- Bắp của dì trông hấp dẫn quá!
Bà hàng lạnh lùng răn đe :
- Đừng bắt chước hai đứa tiểu yêu vừa rồi, tao ế, tao đào mồ!
Tân sốt sắng chiếu lệ :
- Vâng, dì gói cho quả trong cùng!
Thừa cơ mụ bận bịu, Tân mở cẩm nang, liếc nhanh. Tân thất vọng xếp lại, rồi lại đọc. Bỗng cậu nhận ra chân lý, mừng thành tiếng: “Ồ!...”
Bà hàng trợn mắt :
- Mày đổi ý? Không tiền thì đi khuất mắt tao! Hôm nay bị mắc phong long nên gặp toàn tiểu quỷ!
Tân mê mẩn nhiều việc nên chẳng thèm chấp, cậu bào chữa :
- Ồ, không! Tôi định mua thêm quả kế bên cho người bạn.
Bà hàng dịu giọng :
- Lũ trẻ làng này chỉ thích nặng lời thôi!
Tân bực bội trao tiền, nhận bắp. Trước khi chuồn, cậu tỏ ra hào sảng :
- Dì giữ luôn tiền thối.
Bà hàng mắng vói :
- Đồ tiểu yêu lớn lối!
Tân hối hận về cách cho của mình. Tuy nhiên, điều quan trọng cậu lưu tâm là làm sao suy diễn cho đúng ý cha trong cẩm nang. Cha thay chữ “thọ” bằng chữ “phúc” trong câu “chỉ tam tai tẩu ngôn, sở dĩ thọ trường cửu” để nhắc nhở mình tìm lẽ phúc trong sự giao du. Tiếp đến, cha biến đổi câu “thất nội cơ thô xú” thành “nữ lưu cơ thô xú” nhằm khuyên ta nên chọn bạn kém sắc! Buồn lòng hơn, cha chấm câu bằng “Dạ ngọa bất phúc thủ”!
Mình là kẻ háo sắc, bạn gái xấu sao gây được cảm hứng, lại còn bảo phải nằm ngửa thì mất cả lạc thú trên đời! Thà rằng đi tu!
Nhưng nói đi thì cần suy lại. Nếu mình không bị chết ngất, với thế Kim Kê Đoạt Ngọc và Thanh Long Cốt Trảo, sẽ gây tai hại đến bậc nào?
Nghĩ đến đây, Tân thấy cha hoàn toàn có lý, cậu chắp tay hối cải: “Thiện tai! Thiện tai!”
Bỗng bàn tay ai đặt nhẹ lên vai. Tân liếc trộm. Một bàn tay ngọc! Tân chết điếng trong lòng! Cậu than thầm: “Ma nữ và đồng bọn lại tái chiêu chăng?”
Tiếp theo đó một giọng nữ hơi khàn nhưng duyên dáng, lẫn trêu chọc :
- Chàng ngao du một mình để giữ chay tịnh nên niệm “A Di Đà”! Nhưng đây là ao sen ven đình chứ chẳng phải chùa Hương! Thôi thì, lầm cảnh lạc tình, đã lỡ mộng, âu cũng nên cho thiếp được nối gót theo chàng để lễ đình một thuở?
Tân luống cuống nửa mừng nửa sợ. Sợ ma nữ trở cơn tác quái. Mừng hội ngộ cùng người đẹp có gương mặt với éléments diễm tuyệt. Dáng người đáy thắt lưng ong và cũng chính là tri âm về giàn thiên lý, giậu mồng tơi ở thiếu thời. Nét ngọc đã thay nhưng tâm tình vẫn giữ duyên và lễ.
Ngỡ Tân làm già, Mỹ khéo léo thi gan :
- Thiền sư tịnh bồ đoàn khá lâu! Nếu có ý từ, thiếp mang hoa lễ sang viếng chùa khác?
Tân cuống cuồng :
- Gặp lại người ngọc nên tâm tư đảo lộn với bao nhiêu lưu niệm vui buồn. Hơn nữa, Mỹ ăn nói khéo khôn. Tân đang lựa lời đáp lễ. Không có cảm kích nào bằng được Mỹ giữ mãi tình xưa.
Mỹ trấn an rất hợp :
- Các bậc trưởng thượng trong làng đã ca ngợi con bác giáo biết nghĩa nhân. Em cũng thích mẫu người như thế.
Tân biết mình kém xã giao nên chuyển đề :
- Chúng ta dạo quanh bờ hồ một tí, để ôn lại mộng đẹp ngày thơ. Mỹ nghĩ thế nào?
Mỹ gật đầu khen :
- Đêm tịnh, cảnh vắng, đem chuyện tâm tình để gợi giấc mơ xưa thì nên lắm!
Tân song đôi cùng Mỹ, miệng kể chuyện, mắt quan sát, lòng nổi sóng. Cậu thầm nghĩ: “Nếu bảo Mỹ có nhan sắc chim sa cá lặn thì hơi quá đáng, nhưng một cô gái có thân hình đáy thắt lưng ong, mắt lá răm lóng lánh tia sáng thông minh, ẩn dưới đôi mày đậm và cong vút thì đâu kém duyên thầm! Đôi môi dày, đỏ mọng và cong cớn, ai dám bảo không mơ ước một nụ hôn điên đảo. Chiếc mũi thon là nhịp cầu dẫn từ môi thắm đến vầng trán trong sáng khiến thanh cáo hóa sự đam mê có hơi phàm tục. Thân thể cân đối, nhịp nhàng qua các đường nét tuyệt hảo làm tăng sự gợi cảm. Còn hoa mộng nào hơn một người xuân nữ như vậy? Tân chỉ mơ ước một người tình đến thế cũng đủ vẹn duyên đời!”
Tân đang tưởng dung, Mỹ lật tẩy kẻ si tình :
- Anh đang nghĩ về Mỹ?
Tân mượn câu Kiều để chữa thẹn :
- Thông minh vốn sẵn tính trời!
Mỹ ướm :
- Phải thế không? Lắm người đã chê Mỹ có nhiều khuyết tật.
Tân chân thành, dẫn lý :
- Theo Tân, đó là mâu thuẫn của khuynh sắc.
Mỹ thăm dò thêm về Tân :
- Anh cho điểm ưu về Mỹ?
Tân tránh né :
- Gần như thế.
Mỹ bắt chẹt :
- Có nghĩa là giảm ưu?
Tân luống cuống :
- Cô phản ứng nhạy bén quá! Tôi xin hàng!
Mỹ buộc :
- Nếu nhượng bộ thì xin lấy cam kết!
Tân gật đầu. Mỹ ngửa lòng bàn tay, bảo :
- Xin lấy thệ.
Tân úp lòng bàn tay cậu lên tay Mỹ, bảo :
- Xin cam kết!
Mỹ tấn công :
- Từ giờ phút này, Mỹ là chủ, anh là khách, khách đã lấy thệ thì trở thành con nợ. Mỹ đề xướng điều gì, anh có bổn phận hưởng ứng, thế thôi.
Tân do dự :
- Làm trai, phải cho quyền phát biểu mới chính lý.
Mỹ trấn áp :
- Ơ! Ơ! Anh định chối thệ? Quân tử nhất ngôn mà.
Tân sực nhớ điều chi, cậu tò mò hỏi Mỹ :
- Thiên hạ truyền rằng ông Hương Thân có thứ nữ võ công cao cường, có đúng thế chăng?
Mỹ không đáp thẳng, cô luận :
- Võ công là phương tiện tự vệ, là lợi khí thế thiên hành hiệp.
Tân không an tâm. Cậu tìm cách kề cận Mỹ. Cậu chẳng thấy điều gì khác lạ ngoài mùi hương ngọt ngào của cơ thể. Vậy mùi hoa lài đích thị là của Nguyệt. Tân biết rõ ông Hương Cả bán cái Nguyệt cho Tân, nhưng tâm tình của Nguyệt luôn luôn được khép kín. Mỹ vốn thân với Nguyệt nên Tân thăm dò :
- Mỹ và Nguyệt là tri kỷ, có đúng không?
Mỹ làm khó dễ :
- Anh muốn đề cập đến Nguyệt nào? Nguyệt móm, con của thầy Hương Quản? Nguyệt lựu đạn, con của ông Trùm? Nguyệt xinh, chị của Minh loạn, con của ông Hương Cả?
Tân mù, nên dựa hơi :
- Nguyệt, học trò của cha tôi.
Mỹ lật tẩy :
- Anh rõ mà vẫn hỏi em, nhưng em cũng không hẹp lượng, em sẽ cho biết tính nết từng người. Anh bảnh trai, Nguyệt móm chắc anh chê! Anh có tư cách, Nguyệt lựu đạn chắc anh sợ! Chỉ còn Nguyệt xinh, cô nàng tuy đẹp nhưng tâm tình hơi đa trá một tí. Nếu anh có tài trị ngựa chứng hơn tên nài mới đến thì hãy tiếp tục thử lửa. Còn như giữ mãi thái độ quân tử Tàu thì nên tìm bạn đồng tâm, để tránh tình trạng Từ Hải lụy Kiều, Quan Vân Trường vướng Tào Tháo!
Tân rõ Mỹ ám chỉ cuộc tình tạm bợ giữa cậu và Nguyệt bằng lời lẽ của Hoạn Thư. Trước tình trạng tiến thoái lưỡng nan, cậu tránh né bằng câu hỏi vu vơ :
- Phải chăng em cũng đến đây dự hội thảo cùng các bạn?
Mỹ tỏ vẻ ngạc nhiên :
- Hội thảo? Hội thảo về chuyện gì? Gồm những ai?
Tân ngờ ngợ, hỏi mí :
- Anh Tính không đi xem hát à?
Mỹ lắc đầu :
- Em chẳng rõ. Bà Nguyệt đã đến rước ông ấy đi đâu từ lúc trưa trời.
Tân bủn rủn tay chân. Bây giờ cậu mới tin rằng Mỹ nói thật về sự gian díu giữa Tính và Nguyệt. Đúng! Nguyệt là ngựa chứng, Tính là nài gian! Tân bắt đầu ngờ vực tai nạn của cậu là do Nguyệt và Tính giàn dựng, qua mùi hoa lài của người nữ và mùi xú uế của kẻ nam. Tân giận mình cả tin đến phát đần! Vì tin yêu nên mình lúc nào cũng là bãi hoang, hứng mọi phế liệu của người đời!

0
4
 
Mỹ hối hận vì cô thiếu tế nhị, đã làm Tân đau khổ. Cô dỗ ngọt :
- Em xin lỗi đã chạm lòng anh. Thôi, hãy quẳng gánh ưu tư, chúng mình đi xem hát nhé anh?
Tân mâu thuẫn trong tình yêu Nguyệt. Yêu say nên cay đắng. Mất đối tượng cuồng si, tình yêu trở thành đi hoang như thuyền trôi trên sóng cả, bất chấp cặp bến nông, sâu. Giọng ngọt ngào của Mỹ đã cuốn hút lòng Tân. Cậu chấp nhận ngay lời đề nghị của cô :
- Vâng! Anh muốn cùng em sống trọn những niềm mơ ước thuở xưa.
Mỹ choàng vai Tân, đôi bạn rời bỏ hồ sen tiến về đình làng.
Quang cảnh ngày hội thật náo nhiệt. Người đông như kiến cỏ. Khán giả xem hát tràn ra đến sân đình. Tân cố len lỏi để đưa Mỹ vào trong, nhưng vô hiệu. Mỹ kề tai Tân bảo khẽ :
- Anh bạch diện thư sinh, bọn trai làng lực lưỡng, chúng chẳng nhượng anh đâu! Để em dẫn đầu, hy vọng họ sẽ cho qua.
Nói đoạn, cô nàng lách thật khéo. Trong phút chốc, cả hai đã vào đến tiền đình. Bấy giờ Tân mới thấy lời đồn về Mỹ chẳng ngoa. Thân đào thơ, vóc liễu yếu, nhưng nội lực thâm hậu. Cô đã đẩy lùi sức vóc của đám trai làng bằng thế và bằng trí, chứ chẳng kẻ nào nhường người nữ như lời cô khiêm nhượng.
Tuy nhiên sau cùng cả hai đành thúc thủ trước động lực ghiền xem hát của đại chúng. Cô và cậu đi tay không, thiên hạ kẻ xách ghế, người khuân cả chân ván gõ để làm chỗ ngự hầu xem cho mãn nhãn. Các chướng ngại vật đó xây hàng hàng lớp lớp tạo thành những vòng rào kiên cố. Mỗi khi đào thương, kép độc diễn trò cụp lạc, chẳng ai bảo ai, họ đồng loạt thân chồm miệng hét. Rừng người phía trước vừa xem hát bội vừa trình diễn thời trang uốn lưng, ngoáy thể. Thành phần đứng sau chỉ được thấy cảnh quan họ, xem mông đến phát chán chê!
Sự hứng khởi của tâm can là động lực gây chen lấn tích cực. Quần chúng đã đưa Tân và Mỹ đến tuyệt lộ là chiếc cột đình làng. Mỹ đành quay lưng lấy cột làm điểm tựa. Tân đem thế võ dỏm để giữ khoảng cách đôi đàng. Việc đi xem hát, vô tình tạo nên cơ hội hẹn hò. Câu chuyện bâng quơ về văn học nghệ thuật tiến dần thiện cảm sâu xa, trao nhau bằng ánh mắt đượm tình.
Bỗng trên sân khấu chuyển đoạn chị dâu cợt nhả em chồng; khán giả nháo nhào, nam nhân huýt còi, nữ lưu nguyền rủa mấy tên cơ hội thừa thế chạm thân ngà! Cơn sốt tình cảm làm điên đảo quần chúng; họ vùng lên, cố tràn về phía trước. Mỹ và Tân bị ép sát vào nhau như gà bị kẹt giỏ. Thân nhiệt làm đẫm mồ hôi. Cảm giác ngây ngất chen vào cơ thể. Mỹ nhắm nghiền đôi mắt, mắt từ từ ngẩng cao, môi hé mở theo nhịp tim dồn dập. Mùi hương kỳ diệu của mỹ nhân làm Tân choáng váng, cậu nhắm mắt để đón nhận nụ hôn thần thánh. Bỗng Mỹ thảng thốt :
- Ối! Đau em! Anh đừng...
Tân bừng mắt. Mỹ cúi gầm, hai tay đang che ngực. Sân khấu hạ màn, nghỉ giải lao. Khán giả tản mác. Mỹ nhờ thế, thoát khỏi hiện trường. Tân đuổi theo bén gót. Đến gốc đa đầu đình, Mỹ úp mặt vào thân đa, khóc thút thít :
- Anh kỳ quá đi! Em có tiếc gì với anh đâu, nhưng phải nhẹ nhàng một tí!
Tân sững sờ, phân trần :
- Chuyện gì thế em?
Mỹ nghẹn ngào :
- Anh bứt nút áo của em, và làm... em đau...
Tân giãi bày :
- Hai tay anh ôm trọn lấy em, nụ hôn còn chưa đạt, anh đâu dám bất lịch với em!
Mỹ quay lại làm biện chứng :
- Này!... Mảnh áo ngực bị rách rồi đó!
Tân nhặt sợi dây vàng bị đứt từ trên cổ của Mỹ, cậu trưng bằng :
- Kẻ gian đã đoạt mất mặt nữ trang, chỉ còn lại sợi dây đây này!
Nói đoạn cậu cởi áo ngoài khoác vào người cho Mỹ.
Mỹ cuống cuồng :
- Thôi! Nguy mất rồi!
Tân hồi hộp :
- Gì nữa hở em?
Mỹ khóc òa :
- Miếng ngọc gia truyền bị mất rồi!
Tân tròn xoe đôi mắt :
- Ngọc gia truyền? Dáng sắc ra làm sao?
Mỹ gục vào ngực Tân, thổn thức :
- Di ngọc của đời em đó! Nếu vì bội bạc, không muốn nên duyên thì anh cứ phụ, bày chi trò yêu hoa, đoạt ngọc! Tuyệt tích, kẻ cả lấy gì làm bằng để nói chuyện với nhau!
Tân thề bán mạng :
- Oan cho anh, anh không tước ngọc của em. Anh xin đưa em về, vừa đi, ta vừa có thời gian để giải quyết mối hệ lụy giữa nhau!
Mỹ lầm lũi đi. Tân lẽo đẽo theo sau, già hàm như Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê :
- Trước nhứt, xin em đừng nghĩ anh có hành động vũ phu; đành rằng nam nữ mới lớn lên, tâm tình khi đã hòa hợp, sự háo hức yêu đương không sao tránh khỏi, nhưng thuở ban sơ chỉ hôn hương, luyến sắc chứ nào dám tiến xa!
Thứ hai, vì chưa đạt đến mức độ biển hẹn non thề, tâm tưởng được thả lỏng nên có quyền đứng núi này trông núi nọ. Anh nặng tình cùng Nguyệt, nhưng Nguyệt hết có chuyện rắc rối cùng Côn, vừa sang tay anh, lại luyến tình cùng anh Tính. Nàng trở thành thứ duyên ảo, không có khả năng trấn áp tấm chân tình của anh đối với em.
Mỹ chưa nguôi :
- Duyên ảo? Tình chân? Có lẽ bóng thời gian đã xóa bao ký ức của anh rồi! Ngày em dùng hình ảnh giậu mồng tơi để đổi trao giàn thiên lý, là em nguyện dâng hiến tình em để gặt lấy nghĩa yêu thương của anh. Thế mà, gặp Nguyệt anh đã điêu đứng vì yêu. Anh giả vờ gợi chuyện cùng em để tìm hiểu đời tư của cô ta. Ngày nay em đóng vai nữ nhi trắc nết lên chùa ghẹo sư. Nhà sư Lỗ Trí Thâm xưa, hình ảnh của chàng áo trắng mồ côi mẹ, bị đau ban đến trọc đầu. Và nhà sư Lỗ Trí Thâm ngày nay, đầu bù tóc rối, mùi thoáng hoa lài, mùi hương mà Nguyệt tâm đắc. Gặp em, anh vẫn hỏi cung về Nguyệt.
Nếu quả là duyên ảo, tình chân, anh hãy trả lời em. Mùi hoa lài của Nguyệt vì sao vương vãi vào người của anh? Anh hỏi liên hệ thâm tình giữa em và Nguyệt để làm gì? Có phải khi được Nguyệt anh đĩ thõa, anh cố tìm duyên mới nơi em?
Tân ngẫm, Mỹ là một cô gái song toàn, vừa đẹp lại thông minh. Nàng nói câu nào, lý lẽ vững câu ấy. Nếu Nguyệt không phụ mình, có lẽ dù si Mỹ, mình cũng cố giữ thủy chung. Nhưng dù Nguyệt có phụ mình mà mình trưng cớ để lấy lòng Mỹ thì mình không xứng đáng với Nguyệt và cũng sẽ bị Mỹ đánh giá thấp hèn. Đã có một thời yêu thương thì hãy giữ tình yêu muôn thuở. Thăng trầm, tốt xấu là cung bậc của một tình yêu rất thật, rất đời. Nghĩ thế, Tân ôn tồn :
- Em đã khuyên anh đừng làm quân tử Tàu, hãy tìm người đồng tâm giao hưởng, nên anh muốn rõ ai coi anh là người đồng tâm để anh xin giao hưởng. Đây là câu đáp chân tình của anh đối với em.
Mỹ có lẽ đã hài lòng, nên cô trút tâm tình :
- Ngày em chỉ lên mười, gia đình đã bắt đầu khai hóa về chuyện mai hậu. Từ đó, em biết giữ thân để đãi người tình trong mộng. Nhưng giờ đây, công hóa ra dã tràng xe cát.
Ví dù, con tạo bắt ta kém sắc cũng khiến ta thành kẻ kỳ tài theo đúng luật bù trừ, huống hồ ngài đã cho em tất cả, đến đỗi kẻ xấu mồm đã gieo không biết bao nhiêu ngoa ngữ về em... Nhưng em không ngại, chỉ ngại người tình không kết mà thôi.
Suy cho cùng, một kẻ tiến tới có định chuẩn, một người đồng hành vô tri, thì sự giao cảm không thể xảy ra. Nếu trách người yêu thì ta là kẻ vô mục. Ta chỉ trách kẻ trưởng thượng không sớm khai thông ẩn tình cho đôi trẻ hiểu nhau.
Bây giờ, sự việc đã quá đà, dù có cải thiện, tình cũng chẳng đẹp như xưa!
Tân nghe đến đấy, đau lòng cho thân phận làm chiếc bóng bên đường! Cậu níu kéo tình yêu về mình :
- Em luận có chính lý, em buộc có oan tình. Ẩn tích anh chẳng hiểu ra sao! Chúng mình sơ ngộ đã gặp tai ương. Anh muốn làm tri kỷ cũng khó tựu thành. Anh như cổ thụ dưới trời, nắng thì hứng, mưa thì dầm, dông bão làm gãy cành, động rễ, cũng đành chờ mây tạnh, trời quang!
Mỹ trở cơn :
- Chính lý? Oan tình? Sơ ngộ? Tri kỷ? Ngọc thạch của anh đâu?
Tân cuống cuồng. Tình hai đứa có hy vọng đậm đà! Mỹ xử Tân như răn chồng phạm lỗi. Tân sợ Mỹ như chồng kính vợ yêu :
- Anh đang rối trong dạ, em cần gì, muốn gì thì từ từ bày giải, anh sẽ tường trình.
Mỹ làm già :
- Thuở trước anh đánh nhau với Côn, em đã nhìn ra truyền ngọc. Em mừng, nên xin anh cho xem. Anh lấy cớ ngọc kỵ nữ nhi, cứ mãi giữ tích, lơ là cùng em. Còn phần em, em đã nhận ra người mơ, em yêu anh và mãi tôn thờ. Bỗng một hôm, cả nhà nhận biết ông Cả và bác Giáo đã qua mặt ông Hội Đồng, rứt Nguyệt từ Côn đem chắp nối cho anh. Hành động ấy xem như là một bội hôn, một điếm nhục cho gia đình em, cá nhân em. Bây giờ, anh gắng mà giải thích cho em.
Mỹ nóng nảy, cô đổi ý :
- Khoan đã, hãy trình ngọc cho em, nếu còn lập luận, ngọc kỵ nữ nhi, thì hãy xa em tức thì.
Tân riu ríu, tháo ngọc trên cổ trao cho Mỹ. Mỹ ngắm nghía, mặt cô trở nên rạng rỡ :
- Mảnh ngọc của anh ghi chữ “nhật” ở trên, chữ “lưu” ở dưới. Mảnh ngọc của em vừa bị cướp có ghi chữ “nguyệt” ở trên, chữ “tình” ở dưới. Hợp ngọc thành trọn câu “nhật nguyệt lưu tình”. Nếu thuở ấy anh nghe lời em thì duyên mình đã đẹp.
Mắt của Mỹ long lanh, sống mũi hồng hồng, giọng khẽ rung động :
- Ngọc mất còn hy vọng Châu về Hợp Phố, nhưng ngôn ngữ viễn du, tình nhân lang bạt thì mộng nát, duyên tan!
Bậc trưởng thượng của chúng ta có giao nhưng chẳng kết. Ngoài mặt tỏ duyên, trong lòng nghi kỵ. Giữ hứa thì tốt, bội bạc vô can, không nặng gánh giang hồ như tục tảo hôn.
Thuật chơi chữ do đấy, xét ra cũng hời. Thay vì “loan phụng hòa minh” thì sửa “nhật nguyệt lưu tình” khiến chúng mình lỡ khóc lỡ cười. Nhật giữ ưu ái thì Nguyệt ém tâm tình. Anh không nói tiếng yêu em thì duyên em đành ẩn dạ. Cột tìm trâu chứ trâu nào tìm cột! Anh là vậy! Em là thế!
Tân yêu Mỹ vô cùng, nhưng chỉ có trời cao mới thấy cái đau khổ của kẻ vay tình người. Đôi trẻ sánh vai mà mỗi người riêng mang một thực trạng đau thương. Họ đã xa đình làng, cơn vui hè hội bị bỏ mặc sau lưng, tâm tình chìm sâu đáy vực. Sương sa, trời lạnh. Trăng trễ lững lờ. Gió lay cành cao. Côn trùng trò chuyện. Chó nhỏ khóc trăng, khiến đêm quê càng buồn thê thảm!
Mỹ phá tan sự yên lặng :
- Mộ đá trắng tinh trước mặt mà dân làng quen gọi mộ cổ nhà họ Quách, là nơi yên nghỉ của tổ tiên em. Mấy thế hệ trôi qua, đá mòn rêu phủ mà ân tình cứ mãi viễn du.
Tân thở dài :
- Anh có thấy, có nghe, nhưng mơ hồ lắm!
Mỹ hờn giỗi :
- Đem ruột thịt bỏ ngoài da là anh đó! Nhưng sự thật thà của anh làm em thương cảm, chín bỏ làm mười. Hãy vào trong mộ, em tĩnh tâm, thuật rõ đầu đuôi. Em quả thật không hiểu vì sao bác giáo chẳng khai thông cho anh!
Mỹ đưa Tân vào phần mộ. Cô chọn một chỗ kín đáo. Ngồi cận người yêu, tay cô mân mê bàn tay trắng xanh của Tân, cô vào đề :
- Thời liên quân Hoa Việt giao tranh với Pháp. Vào năm 1844, Millot, Tổng Tư Lệnh quân đội viễn chinh Pháp xua quân đánh Bắc Ninh. Hoàng Bá Viêm thương lượng với Hoàng Cảnh Tùng đem lực lượng trấn Bắc Ninh để tiện việc liên lạc với quân Cao Bắc Lạng, Hưng Hóa, Vĩnh Tường và Sơn Tây.
Trương Quang Đản, Tỉnh Biên Phó Sứ thấy Pháp chuẩn chiếm Bắc Ninh nên thông tri để Tổng Tư Lệnh Tàu là Đại tướng Hoàng Quốc Lan sang thống lĩnh liên quân Hoa Việt.
Tháng 3 năm 1884, Pháp vượt sông Hồng, giáp chiến liên quân Hoa Việt tại Mỹ Kiến, đồng thời đổ bộ đến phủ Lạng Thương, đánh đồn Naou của Tàu. Liên quân triệt thoái về Thái Nguyên.
Thừa thắng, tướng Négrier và Brière de l’Isle đánh Thái Nguyên. Tướng Thanh là Trần Đức Triều lui về Hưng Hóa.
Tháng 4 năm 1884, Pháp đánh Hưng Hóa. Tướng giặc Cờ Đen là Lưu Vĩnh Phúc rút vào Tuyên Quang.
Tháng 6 năm 1884, Trung tá Duchesme đánh tan giặc Cờ Đen tại Tuyên Quang.
Thất bại liên tiếp khiến Thanh triều ban hai sắc vụ đề ngày 12-4-1884, hài tội Tổng đốc và hai thượng quan thuộc tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, cùng xử tử cấp chỉ huy bại trận.
Chính trường Hoa Pháp xung khắc. Tại Paris, Pháp nhìn sứ thần Tăng Kỷ Trạch bằng ánh mắt lạnh lùng thì tại Bắc Kinh, Tàu cử công sứ Tricou thiếu đằm thắm.
Lúc ấy Trung tá Hải quân Fournier và Ủy viên Quan thuế Détring nhờ Lý Hồng Chương ký kết hòa ước Fournier với Thiếu tướng Lespes vào ngày 11-5-1884.
Mỹ tạm ngưng câu chuyện để nói rõ nguyên ủy, liên hệ tổ tông :
- Sở dĩ em dài dòng lịch sử là muốn nêu tâm tình ấm lạnh giữa bạn và thù, giữa kẻ cùng chiến tuyến với nhau. Vì lợi, Trung Hoa sát cánh Việt Nam để chống Pháp, theo sách lược môi hở răng lạnh. Khi bại chiến, thế nương tựa không còn cần thiết, tình Hoa Việt trở nên lạnh lùng. Tính tham lam và thói ỷ mạnh hiếp cô lại tái diễn. Tàn quân Trung quốc biến thành những toán cướp cạn các xóm làng quanh đấy.
Cấp to bị án đền bại trận, cấp nhỏ sợ vạ thanh trừng; một thiểu số bôn đào, dùng đất Việt để nương thân. Với chiếc đòn gánh, họ tạo cư lập nghiệp, sống trên lưng dân mình. Tuy nhiên cũng có một vài người tốt, được thổ dân kết nghĩa. Trong số đó có hai gia đình chúng ta. Bên anh ban ân, bên em dưỡng nghĩa. Sự rộng lượng của gia đình anh cảm hóa được sự bất xứng của gia đình em. Một hôm, nhân nhàn hứng, kẻ cả của chúng ta đã khai sinh ra sự tích của miếng ngọc bị xẻ đôi mà hiện trạng chỉ còn mình anh giữ được nửa mối ân tình.
Mỹ ngưng nghĩ vì xúc động. Cô thấp giọng :
- Anh nắm được trong tay nửa mảnh ân tình. Phần còn lại, anh đã đành tâm hiến dâng cho Nguyệt. Hành vi ấy đã bôi bác sự trung thuận của người yêu anh, khiến em nghi vấn đến tâm tình của đấng bẻ ngọc.
Nếu ngọc được bẻ dọc thành hai mảnh, “nhật lưu” và “nguyệt tình”, nhưng người nam vẫn nhởn nhơ vui chơi qua ngày tháng thì người nữ vẫn phải ôm mãi tình riêng.
Nếu ngọc được bẻ ngang thành hai mảnh, “nhật nguyệt” và “lưu tình”, nhưng chàng ngậm ngọc thì thiếp cũng ôm sầu.
Xét như vậy, dù ngọc bị chia đôi bằng cách nào, người nữ cũng rơi vào hoàn cảnh thụ động, luôn làm kẻ đợi chờ. Đó là sự bất công của bên anh. Như vậy, ân đã ban nửa vời thì nghĩa sẽ dưỡng lửng dạ!
Tân nghe xong, cậu càng chới với. Tình hờ bị gia trọng thêm thiếu chân thành, duyên nợ càng viễn du, nhưng quá yêu nên cố chữa :
- Nếu mình lỡ duyên vì cứ khư khư phiền tổ tông thiếu chân tình, thì người quá vãng đâu thể sống lại để sửa văn cho hợp ý trẻ!
Nếu ta xa nhau vì bảo cha mẹ không mở miệng nói lời đính ước thì cũng hơi vội vàng, bởi cha mẹ nào cũng muốn cho con thành thân, trước khi nên bề gia thất. Hơn nữa, cha mẹ của thế hệ chúng ta đang dành cho con quyền định đoạt mối lương duyên.
Vậy, theo anh, vấn đề nên đặt ra là chúng ta có yêu thương thật sự hay không? Còn kỷ vật chỉ là kim chỉ nam để hướng dẫn con đường tình ta đi mà thôi!
Mỹ không mấy hài lòng về các điều biện hộ của Tân. Cô tiến xa hơn :
- Em luôn luôn trọng chữ tín. Phần kỷ vật, đối với em là ván đóng thuyền. Em biết anh là kẻ lưu ngọc nên em xem anh là ý trung nhân. Do đó, dù anh đã giao du với Nguyệt, em vẫn đợi chờ một ngã lẽ. Nếu không, khi biết anh dan díu với Nguyệt, em đã chia xa từ lâu rồi! Duyên của đôi ta đã liền cánh, em còn kiên nhẫn để đưa anh về chung lối. Vậy, em xin anh nghe rõ những điều về Nguyệt. Em không phải nói xấu cô ta, nhưng bổn phận mà tất cả những kẻ muốn bảo vệ hạnh phúc của gia đình, đều phải làm.
Mỹ hắng giọng vào đề một cách trung thực :
- Ở đời, người lắm quyền, nhiều của chưa hẳn đều bạc ác, nhưng Nguyệt lại vướng sự tương quan với kẻ bất nhân.
Dân mình vốn hoài niệm cổ phong nên trọng nội, khinh ngoại. Khi Pháp mở rộng chương trình đào luyện cán bộ địa phương để phục vụ guồng máy đô hộ thêm phần hữu hiệu, họ cổ động thanh thiếu niên Việt Nam học chương trình Pháp. Một số ít con nhà nghèo tìm đường tiến thân. Phần lớn làm ngơ. Làng mình có cái nhìn quảng bác. Các cụ biết rằng đó là con đường để trở thành công cụ cho thực dân. Nhưng mình từ chối văn hóa của một xứ văn minh, là thiển cận. Do đấy, phụ huynh lần lượt cho con em theo học văn hóa Pháp. Trong số đó, có rất nhiều con của địa chủ và các quan chức ngày xưa, như Hổ, Côn, Nguyệt, Minh, Tính, Thiện, Ngôn, Thảo, Lương, kể cả anh và em.
Các người ấy thích chọn Mỹ Tho và Sài gòn. Sự xa nhà khiến họ nên thì nên lắm, hư thì hư nhiều.
Nguyệt, Minh và em học trường nữ. Lương, Thiện, Ngôn và anh thì học khắp các trường tư. Tính, Hổ, Côn học Chasseloup Laubat, Albert Sarraut. Họ thường chọn quartier européen. Riêng Côn sống ngoại trú nhằm tự do dan díu cùng Nguyệt, Minh.
Tân nhớ lại hiện trạng nên cay đắng :
- Tính cũng là dân chơi thứ thiệt, sao không ra tay thuở ấy, có hơn không?
Mỹ mỉa mai đáp lời :
- Đẹp dáng và lịch sự chỉ tổ rước bao phiền toái trước phường ỷ tiền, cậy sức mà thôi!
Mỹ nhích lại gần Tân hơn vì lạnh. Tân choàng vai để Mỹ ngả đầu lên gối. Mỹ thì thầm :
- Nguyệt càng lớn càng xinh. Minh càng ngày càng có dáng khiêu gợi. Hai nàng càng học cao, tinh thần càng lãng mạn. Họ sống trong xã hội càng đầy văn minh vật chất, phong cách càng đồi trụy. Chị em Nguyệt giao du rộng rãi, tự nhiên khiến các đấng si tình ai cũng ngỡ mình là sở hữu chủ của mỹ nhân. Ai càng lắm của thì hy vọng tình ái xác xuất càng cao. Nguyệt thông minh nên tiến xa hơn Minh một bậc. Cô du nhập nhiều chính kiến đương thời, khiến các bạn trai cũng đua đòi chung lối.
Trước tình cảnh đó, Côn thua thiệt trước anh tài tứ xứ. Gã dùng lợi thế đường xưa lối cũ để áp lực Nguyệt. Nguyệt càng trêu tức. Cô giao du với các đấng nổi danh. Côn đem đòn tự tử để thấu cáy Nguyệt. Ông Hội Đồng chạy sáng nhà sáng cửa về vụ đó. Chẳng rõ ông Hội Đồng và ông Hương Cả tính toán thế nào mà sang bác giáo để lấy anh làm tấm chắn ngăn Côn.
Tân thở dài, chặn lời Mỹ :
- Thằng ấy vẫn ngoan cố như thuở nào! Ngày xưa, làm nhục anh bằng vũ lực. Ngày nay, rút vòi với khách giang hồ, phải dùng đòn tự hủy vì tình!
Còn Nguyệt, ngày trước, đầu độc anh bằng tình cảm ỡm ờ. Nay, dùng duyên hờ để điên đảo quả tim anh.
Mỹ nâng tay Tân hôn nhẹ, đoạn tiếp :
- Côn hận anh, nhưng biết quyết định ấy là do kẻ cả nên vẫn lẽo đẽo theo Nguyệt và dùng thân xác Minh để bù trừ. Minh và Côn ăn chơi trác táng nhưng cả hai vẫn phải gắng học để khỏi bị đuổi về làng rước sự hổ ngươi. Ở đời, người trong xã hội có cấp tính riêng, công là công, gà là gà. Gà có nhốt lồng son, khi thả ra vẫn nhớ bươi rác tìm mồi. Ngày Côn sống với Nguyệt, còn giữ chút phong cách thanh cao. Khi Côn gần Minh, cả hai là cặp bài trùng sa đọa. Ngày vùi đầu với sách vở, đêm ngây ngất vũ trường, quán rượu. Một thời gian sau, Minh mang thai. Nguyệt biết được, thay vì trách, cô điểm nụ cười mãn nguyện. Cô chọn Tính làm người tình hờ một cách công khai. Tính có bản lĩnh nên không hờn ghen nhỏ nhen như Côn đã làm. Khi Nguyệt giao du với đám giang hồ, chính khách; Tính cũng tham dự, hợp đồng.
Ông Cả biết chuyện, nổi giận, đưa Minh về làng; trong khi ông Hội Đồng bình chân như vại, đổ càng nhiều của cho Côn chơi bời. Riêng Hổ, lúc nào cũng chăm học, giữ mực thước một người anh, chỉ khuyên khi nào cần, chỉ nói khi nào biết Côn lắng nghe. Với Nguyệt, Hổ đãi ngộ như một người anh cả, che chở, khuyên ngăn, khuyến dụ.
Tiếng sét ái tình từ Nguyệt đã đi xa do bài học nhục thể từ Minh mang đến, tiếp theo là lạc thú truy hoan tuyệt kỹ của mỹ nữ giang hồ, đào luyện Côn thành chàng họ Sở. Nguyệt lánh Côn, Côn xa Nguyệt. Gái làng chơi gần Côn, Côn xa Minh vì cái bầu oan nghiệt. Minh theo cha về làng, ôm hận trong chốn phòng the. Sợ nhục, cô quấn vải che lấp bụng bầu ngày càng phát triển. Sự gò thúc khiến cô bị sẩy thai. Để phi tang, thay vì đem chôn giấu, cô lại quấn thai nhi trong mo cau, đoạn đem thả trôi sông, nhờ nước xanh đưa tiễn. Do đó thiên hạ biết được gái hư. Tiếp theo cô gánh bao nhiêu hệ lụy do nhẹ dạ tin người. Không chịu nổi áp lực ngoại vi, nội thể, cô lén cha trở lại Sài gòn.
Tân thở dài :
- Nhục dục dưỡng tâm tà. Danh gia sa bể nhục!
Mỹ bồi thêm :
- Chưa thấm nhuần đâu anh! Ông Hội Đồng và ông Cả giục Côn xúc tiến hôn nhân với Minh cho vẹn đôi đàng. Côn làm ngơ! Minh hận đời, bỏ học. Cô chọn nghề vũ nữ để tìm vui và trả nghiệt. Vốn tuyệt sắc, trò chơi đầy màu mè đã luyện Minh thành đóa hồng rực rỡ đầy gai nhọn, khiến cho lắm vương tôn, công tử rướm máu con tim. Bấy giờ Côn quay lại làm kẻ ăn mày tình yêu, phong cách hạ tiện nhất trong nhóm tay chơi!
Tân hả hê, toan phát biểu cảm tưởng. Bỗng lời đối thoại ồn ào của đám con quan chức trong làng từ xa vọng lại. Cậu đưa Mỹ ẩn vào đám lức đầy hoa trắng.
Bọn trẻ tụ tập tại chòm mả đá ong, bên kia lộ. Côn mở lời :
- Tại sao mày cản tao quấy nhà con Nguyệt, hở Lương?
Lương tỏ ra cao kiến và biết điều :
- Trước hết, cha mẹ của nhau là bạn đồng liêu thuở xưa, nên giữ kẽ một chút. Thứ đến, ba tháng hè là dịp về quê để gây đậm thêm tình chòm xóm. Mình phá phách quá, người ta càng ác cảm với học trò. Sau cùng, Nguyệt và Tính lo du dương, dại gì về sớm để nhớ. Mày đến nhà Nguyệt cũng vô ích thôi!
Tao muốn nói thêm. Những lúc gần đây, thằng Tân học một nơi, con Nguyệt học khác chốn. Con bé sinh tâm tham gia hoạt động cho đoàn Phụ Nữ Cứu Quốc. Thằng Tính đeo đuổi con Nguyệt từ ngày còn ở trường làng. Thằng Tân cũng thầm yêu con Nguyệt. Mày được thế gần con bé, nhưng mày dùng đòn tự tử, khiến các cụ đem thằng Tân làm marque déposée của con Nguyệt để chặn mày làm càn. Thằng nhóc Tân lại lơ lửng con cá vàng với con bé Nguyệt nên thằng Tính khôn khéo sánh đôi luôn với con bé trong các buổi hội thảo và công tác thanh niên. Tao thì chân trong chân ngoài khiến lũ cách mạng cóc tin. Những công tác mật chúng thường chia cho nhau đảm trách. Mới đây chúng chỉ thị cho con Nguyệt và thằng Tính thi hành bản án cảnh cáo thằng Tân về tội bất hợp tác tại vùng Sài gòn và địa phương nhà. Tính, Nguyệt e bất thành nên chúng nhờ tao giúp. Tao nghĩ thằng Tân có lập trường quốc gia theo đường hướng riêng của nó. Tao thông báo cho chúng mày, chẳng những giải vây cho thằng Tân và giúp mày nối lại duyên xưa cùng Nguyệt, đưa nó về với bản năng riêng, bởi cao trào thanh niên đang trên đường quá đà.
Lương quay sang Hổ :
- Tao đồng ý với mày đến đây để thảo luận và hòa giải bất đồng giữa chúng mình.
Côn chen vào :
- Hòa giải? Không! Tao quyết ăn thua đủ. Thằng Tính đời nào chịu buông tha con Nguyệt.
Lương lắc đầu :
- Mày làm con Minh mang thai rồi đóng vai họ Sở. Con Nguyệt nó rét mày một nước!
Côn cau mày :
- Cám treo để heo nhịn đói à? Con Minh nó tình quá, ai mà chịu cho thấu!
Lương phì cười :
- Mày mâu thuẫn rồi! Tình quá sao không kết duyên? Đèo bồng con Nguyệt làm gì!
Côn thở dài :
- Khi ăn năn thì đã muộn! Em bây giờ cách biệt với tao hơi nhiều.
Lương mỉa mai :
- Với Nguyệt cũng thế thôi. Ông có dùng tứ mã cũng nan truy kịp nàng! Tôi như ông thí phát đi tu cho được việc!
Côn mắng xéo :
- Mày theo anh em tao đến đây để làm sư phụ hay sao?
Lương cao giọng :
- Tao là bạn của đôi bên, không muốn cho ai trong chúng mình bị ngã ngựa. Mày khinh tao không có khả năng hòa giải thì tao ở lại làm gì! Tính tao ăn cơm nhà đi vác ngà voi cho thiên hạ đã quen thói. Nghĩ lại hơi ridicule và sư tàng! Thôi, tao đi đây!
Lương bỏ đi. Hổ quay lại tâm tình cùng em :
- Xong mấy ngày hội, bõ nghỉ hè tại quê nhà, muốn lên Sài gòn tiêu tiền cho thỏa. Sau đó mình gắng học cho đàng hoàng.
Cha mẹ mình có của, không gia công học thì ngu lắm! Hãy học cao, tạo nên danh vị thì chuyện vợ chồng dễ đạt nguyện hơn. Mỹ nhân trong thiên hạ không thiếu. Tuy nhiên, giàu tiền mà mình nghèo kiến thức, nên danh mà vô tài, thiếu đức, gái nhà lành cũng quay mặt làm ngơ.
Chú đừng nghĩ rằng khi tay đã nhúng chàm, thân đã hư hỏng, rồi tha hồ lang chạ thì còn chi là nhân phẩm? Hãy thôi phá của vô lối. Tiền ăn chơi hãy đem vun bồi trí tuệ vậy.
Côn bướng bỉnh :
- Anh nghĩ cha không rõ việc chúng ta làm à?
Một hôm, trong lúc cha và bác giáo đàm đạo về sự xài phí của tôi, cha đã mượn lời của vị tham quan trong tuyển tập của ông Paulus Của để biện bạch: “Nếu mình làm quan đến trật phẩm mà vẫn thanh liêm thì không hậu súc. Nay, tôi tạo nên sự nghiệp này, không sao tránh khỏi hành vi bác tước của dân. Bởi vậy trời đã giả thủ ở con tôi, khiến cho nó phá. Nếu không thì, thiên phú bất đạo chi gia, để cha con tôi tọa hưởng của phi nghĩa hay sao?”
Hổ phì cười :
- Hay! Chú biết đem tiền tích để bênh vực lập trường phá của. Nhưng chú biết một mà không biết hai lời nói ấy, cha đã đóng vai con chiên ghẻ để ăn năn tội trước tông đồ của Chúa Jésus.
Đồng tiền làm ra, dù dưới hình thức nào, đều là núm ruột của kẻ đã thủ đắc. Chẳng ai đương nhiên đem tiền quăng ra cửa sổ. Cha thương chú nhiều, cha chi cho chú lắm. Cha gây tội để tích lũy đồng tiền cho con thành danh, chứ nào mong con đem tiền lót đường đưa tới sa đoạ!
Làm con không biết thương cha, làm quan không biết yêu dân là cảnh nhà ta đó chú ạ! Trên bất nghiêm, dưới bất xứng, ta đã đánh mất truyền thống quân, sư, phụ từ ngàn xưa!
Hổ hắng giọng :
- Anh cũng xin phép chú, anh đem truyện xưa tích cũ để bênh vực hệ thống trật tự xã hội và gia đình.
Một ngày nọ, sau khi tan học, anh thèm cơm Tây, anh đến một nhà hàng trên đường Pasteur. Khách đông vì ngon và rẻ. Chỗ ngồi không còn, anh mang ghế, xin phép ngồi chung bàn với một chàng trai dáng dấp trí thức. Trong lúc chờ cơm, anh bạn cùng bàn vui miệng, nói qua về các nhân vật mà thực khách bàn tán xôn xao:
Trần văn Thạch là học sinh externe của Chasseloup Laubat, bên ngoài có vẻ hách dịch, kén người giao tế, nhưng tâm tư chân thật. Thạch sang Pháp du học, nhiễm tư tưởng xã hội. Về sau là hội viên của Hội đồng Thành phố.
Phan văn Hùm, học Cao Đẳng Tạo Tác Hà Nội, giúp Nguyễn Tích Thiện lập Tích Thiện Học Đường để khai hóa giới trẻ. Sau, sang Pháp học Sorbonne, nhiễm tư tưởng xã hội.
Nguyễn An Ninh là con của nhà Cách Mạng Nguyễn An Khương. Trong khi ở Pháp, ông chịu ảnh hưởng của nhóm Libertaire. Năm 1925, ông cùng cụ Tây Hồ về xứ. Ông ở lại Sài gòn, đăng đàn diễn thuyết chống sự ngược đãi của thực dân Pháp đối với Việt dân. Ông dùng tờ La Cloche Fêlée làm phương tiện hành động. Ông bị bắt cùng với Jean de la Batie và Lâm Hiệp Châu. Ông là người của Đệ Tứ Quốc Tế, bị đày ra Côn đảo, chết tại đó.
Tạ Thu Thâu, người Long Xuyên, cha làm sở Tràng Tiền, khi trúng tuyển học bổng Chasseloup Laubat, thì cha mất sở, ông vừa đi học, vừa dạy học để nuôi gia đình. Ông đỗ cả Diplôm và Brevet. Ông từ chối sự giúp đỡ của Thạc sĩ Grandjean, lo tự cường dạy học ở trường Nguyễn Xích Hồng. Ông theo dõi hoạt động chính trị của Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, luật sư Morin. Ông lập đoàn thể chính trị mang tên Jeune Annam. Năm 1927, ông xuất bản tờ Le Nhà Quê, báo bị tịch thu. Sau đó, ông sang Pháp du học, giao tiếp với các văn nhân có khuynh hướng xã hội như Félicien, Challage Luc Durtain, Francis Jourdain. Ông gặp Nguyễn Thế Truyền và nhận lãnh đạo partie Annamite de l’indépendence. Năm 1930, ông tổ chức chống đối tử hình 13 liệt sĩ của Quốc Dân đảng, rước lấy hậu quả bị trục xuất về nước. Năm 1932, Tạ quân tổ chức nhiều buổi diễn thuyết được quần chúng hoan nghênh nhiệt liệt. Năm 1934, đảng Cộng sản Pháp cử Vaillant Courtier đến Sài gòn để lập cơ quan ngôn luận, bênh vực cho giới lao động. Nhóm Đệ Tam Quốc Tế cử Nguyễn văn Tạo ra đón, lúc ấy có Nguyễn An Ninh và nhóm Đệ Tứ Quốc Tế gồm Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường tiếp rước. Nhóm Đệ Tam bất lực nên đành hợp tác với nhóm Đệ Tứ cho ra đời La Lutte vào 4-10-1934. Năm 1935, nhóm La Lutte sợ rạn nứt Mặt Trận Vô Sản Thống Nhất nên đành chấp nhận Dương Bạch Mai đứng chung liên danh tranh cử vào Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn, vì lúc này chỉ có nhóm Đệ Tứ Quốc Tế gồm Tạ Thu Thâu, Trần văn Thạch, Phan văn Hùm, Phan văn Chánh mới có đủ tư cách tranh đấu với Pháp.

0
5
 
Ngày 3-3-1936, tại Pháp, ba đảng Xã hội, Cấp Tiến và Cộng sản lập Mặt Trận Bình Dân. Bộ trưởng Thuộc địa Marius Moutet của đảng Xã hội Quốc tế Lao động truyền cho Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier, chỉ thị cho Thống đốc Nam Kỳ Rivoal tìm nguyện vọng của dân tộc Đông Dương, hầu cải thiện đời sống của họ.
Lê Quang Liêm và đồng bọn trong Hội Đồng Quản Hạt và đảng Lập Hiến được lệnh hành động, liên hợp cùng Nguyễn Phan Long đưa tin trưng cầu dân ý về Chánh phủ Mặt Trận Bình Dân. Dân chúng hoan hô và Ủy Ban Lâm Thời tổ chức Đông Dương Đại Hội được thành hình, sĩ số là 35 người, thành phần gồm: Nhóm La Lutte, có Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Trần Văn Thạch. Nhóm Phú Hào, có Nguyễn Phan Long, Lê Quang Liêm, Trần Văn Khá, Võ Hà Trị. Vai cấp khác có Trịnh Đình Thảo, Bác sĩ Tân, Nam Đình!
Khi Thống đốc Pages sang Sài gòn, ông khiển trách các thành phần hưởng lợi Pháp lại chen chân vào Ủy ban Hành động khiến nhóm Lập Hiến và Hội Đồng Quản Hạt lập Đông Dương Đại Hội lần hai. Họ lấy thỉnh nguyện từ Hội Đồng Quản Hạt, hàng tỉnh, hương chức để cấu thành Hội Nghị Dân Biểu, đề bạt đúc kết, chuyển sang cho Marius Moutet.
Ngày 14-9-1936, Nguyễn Phan Long thông tri cho Ủy ban Hành động bản đúc kết của Hội Nghị Dân Biểu. Pháp giải tán phong trào Đông Dương Đại Hội, truyền Biện lý Dissès, Bồi thẩm Estève, mật thám bắt Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Phan văn Hùm, Huỳnh văn Phương...
Năm 1945, Việt Minh do Trần văn Giàu thuộc nhóm Đệ Tam Quốc Tế thanh toán tất cả đoàn viên của Đệ Tứ Quốc Tế, mặc dù cùng chủ trương vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo.
Hồ Văn Ngà nhà nghèo, chăm học, tài ba, gan dạ, chuyện phải làm là hành động bất chấp hậu quả. Ông đã từng tham gia bãi khóa tại Chasseloup Laubat đến mất học bổng. Ông sang Pháp du học Cao học Kỹ nghệ, Mỹ thuật, luôn đứng major, bị đuổi vì có khuynh hướng xã hội. Ông làm chánh văn phòng cho Khâm sai Nguyễn Văn Sâm, bị Việt Minh thủ tiêu vào 1945.
Trong đời của Ngà, có một tiểu truyện đáng lưu tâm.
Năm 1921, économe của trường Chasseloup Laubat vượt quyền trong việc nuôi ăn và tuyển sinh, khiến các nội trú bãi khóa bằng cách không trở lại trường sau khi được đưa đi dạo phố cuối tuần. Cha của Ngà hay được, từ Tân An lên Sài gòn tìm con. Ông trói Ngà, dẫn độ, trình Đốc học. Ông Đốc qui trách :
- Con của ông ngỗ nghịch, đã họp bạn bãi khóa, ông là cha, lỗi ấy về ông!
Ông lão đáp :
- Thưa quan Đốc! Quan đốc bảo thế, tôi tuy quê dốt cũng xin đỡ lời. Lúc ở nhà, tôi bảo sao, con tôi nghe vậy. Lúc ấy, tử bất giáo, phụ chi quá. Quan Đốc trách tôi là phải. Nhưng lúc đó nó biết vâng lời cha mẹ. Chỉ khi lên đây ăn học, được quan Đốc dạy dỗ, nó trở nên ngỗ nghịch. Hễ giáo bất nghiêm, sư chi noạ! Thưa quan Đốc, lỗi ấy về ai?
Nghe xong, Đốc học cầu hòa.
Hổ quay sang Côn, cậu kết luận :
- Chú thấy đó, người trọng lý, kẻ biết điều, sư và phụ đã gây cho giáo sinh thành những người hữu công để xây dựng một trật tự xã hội tuy tân tiến mà vẫn giữ hệ cấp quân, sư, phụ.
Côn ngoan cố, cãi lại :
- Lẽ của ông lão thâm trầm, nhưng tình của ông Đốc tế nhị. Chuyện đầu voi thành đuôi chuột. Nếu là tên thực dân thiếu giáo dục, tội nhỏ bãi khóa trở nên tội to xách động chính trị!
Hổ lắc đầu :
- Vấn đề đặt ra không chủ tâm lượng phải, trái mà chú trọng tính nên, hư. Ngày chú còn đóng phèn dưới quê, chú nên. Khi chú lên Sài gòn, chú sạch nước cản, chú sinh hư. Tôi lấy chuyện người để dạy đứa em lần lẫn, vì muốn em tôi nên thân!
Hổ nghiêm nghị :
- Còn nữa, thời Đông Chu, Tề Tương Công muốn tranh bá, nhưng bởi đắm sắc nàng Văn Khương, người em một cha khác mẹ, khiến thân không vẹn, quốc chẳng hưng. Công tử Tiểu Bạch nghe lời Bão Thúc Nha, khuyên cha lắm điều hay. Làm cha mà để con điểm khuyết, đó là bất xứng! Lỗ Hoàn Công vâng lịnh nhà Chu, sang lo hôn ước cho Tề Tương Công cùng nàng Vương Cơ. Thế mà Tề Hầu vì bị lộ chuyện tư thông với phu nhân của Lỗ Hầu là nàng Văn Khương, đã ra sát hại Lỗ Hầu, đó là bất nghĩa! Sau khi Vương Cơ nhìn rõ Tề Tương Công là kẻ dâm loạn, nàng sinh sầu đến thác. Tề ngại Chu chinh phạt vì ngược đãi Vệ Kiềm Mâu nên truyền Liên Xưng, Quản Chí Phủ ra trấn biên và hứa sẽ cho người hoán đổi vào mùa dưa sau. Đến hẹn, Tề Hầu vì lạc thú cùng góa phụ Văn Khương nên không giữ thệ. Đó là bất tín. Làm vua một nước mà bất xứng, bất nghĩa, bất tín thì bị tán mạng vào tay một bày tôi vô danh như Liên Xưng, quả là oan uổng cho một thời vang bóng!
Côn gầm :
- Anh hết đem chuyện nay, lại đưa chuyện xưa để ô mỵ tôi à? Anh lạc đề rồi!
Hổ lắc đầu :
- Ô mỵ? Lạc đề? Không đâu côn ạ! Anh làm nhục chú là anh tự mắng anh sao? Quyền huynh thế phụ mà! Thượng bất chính, hạ tắc loạn đấy chú! Cha lắm của, lắm quyền ở ngày còn trẻ, cha quên kiềm thúc mình. Tuy chú hiểu chuyện mà được nuông chiều nên chú không nghe lời cha. Tôi hiểu cha, tôi biết bổn phận của tôi nên tôi giữ mực thước để thay cha gìn em. Cha lầm, con lỡ thì giao nhục đấy Côn ạ!
Cha và ông Cả như nước với lửa. Cha hạ mình để tạ lỗi ông Cả, nài nỉ chú đính hôn với Minh để chính thức hóa đứa con trong bụng của Minh và ngăn con đường tình tội lỗi của chú hướng về Nguyệt. Thế mà chú làm ngơ để Minh làm sẩy thai con của chú. Chú toan dùng đòn ăn chơi để dụ Nguyệt vào tròng, khiến cha và ông Cả phải thương lượng việc gả bán với bác giáo về Tân, Nguyệt.
Minh nhẹ dạ để chú hành động sở khanh. Gái dại thì cam thân, có thể tạm nhận như vậy đi. Nhưng chuyện cha và ông Cả xây dựng hôn nhân cho chú và Nguyệt đâu có khó! Tại sao phải hạ mình cầu cạnh bác giáo, đem con gái quí mà gán cho thằng khờ? Bác giáo là người cao kiến và độ lượng. Cha và ông Cả là người khôn lanh. Họ biết rõ Nguyệt yêu Tân không đậm, trước sau gì cô ả cũng cho chàng Tân ôm sầu. Bác giáo cho con một bài học tình ái đầu đời, có mất mát gì đâu?
Kẻ cả chơi trò tròng tréo như vậy là tránh cho chú và Nguyệt một lỗi lầm có hại. Nhưng chờ đến kết quả hiện thực thì vừa mất giờ vừa bất trắc. Anh làm khác họ, nói xa nói gần đến chừng nào chú hiểu ý thì thôi! Côn à, chú không khờ, chú mù vì yêu thôi! Chuyện Tề Tương Công và nàng Văn Khương là đề tài không lạc đề và không nhằm ô mỵ chú chút nào hết!
Côn chớp mắt :
- Có nghĩa là...
Hổ ngắt lời :
- Hồn ai nấy giữ! Lòng ai nấy sáng! Nói ra nó làm sao ấy chú ạ! Tôi là kẻ hốt thuốc, cho toa.
Bỗng từ xa có tiếng thì thầm. Côn bảo :
- Dường như Tính, Nguyệt đang tới. Ta nên ẩn để xem họ toan tính gì!
Hổ ôn tồn :
- Anh không còn hứng thú kích người nữa. Ai làm gì mặc họ, đó là tự do cá nhân! Anh muốn gặp họ là để minh xác điều đó, bởi mình đã nghe Lương du vào chuyện gái trai một cách nhảm nhí. Không ngờ vướng vào vòng chính trị!
Bóng người càng gần. Hổ, Côn lẩn tránh. Bọn họ vẫn mổ xẻ vấn đề đang bàn cãi :
- Đang ăn yên, ở yên, sao Điệp lặng lẽ ra đi vậy? Tôi đoán cậu bị động ổ?
Điệp ôn tồn :
- Tôi thì không. Mã tà khám nhà như anh chị đã kể, là do chúng nghi cha tôi đang gieo mầm cho thanh niên. Còn tôi trở lại vì có ý tầm người yêu thôi anh Tính ạ!
Nguyệt chen vào :
- Chuyện khá hấp dẫn. Về nhà nói chẳng tiện, ta ngồi xuống đây, vừa ngắm trăng hóng gió, vừa bàn chuyện xem chúng tôi có giúp được Điệp điều gì chăng!
Tính tán đồng :
- Ý kiến hay! Hãy đề cập chuyện Thanh Niên trước để chúng tôi học hỏi. Chuyện tầm người, chắc chắn tôi giúp cậu dễ như trở bàn tay.
Điệp vấn :
- Anh, chị là người của Thanh Niên?
Nguyệt nhanh miệng :
- Không! Cao trào đang lên, hiểu rõ để đánh giá và tránh mang tiếng hủ lậu, chẳng biết gì! Mình đang tuổi thanh niên mà.
Điệp chân thành :
- Thế càng hay! Nếu anh, chị muốn rõ để học hỏi thì phải nói thời khai sinh và biến thể qua các cao trào vậy.
Năm 1940, Pháp bại trận. Tại Vichy, Thống chế Pétain lập chính phủ thân Hitler. Một mặt ông thần thánh hóa lãnh tụ để thu hút quần chúng. Mặt khác ông đoàn ngũ hóa thanh niên để làm hậu thuẫn.
Đề đốc Hải quân Decoux thay Toàn quyền Đông dương Catroux, cũng áp dụng chính sách trên, bằng cách lập phong trào Thanh Niên Thể Dục Thể Thao. Trung tâm huấn luyện đặt tại Phan Thiết. Từ đó, ngầm sinh Thanh Niên Nghĩa Dũng Đoàn, Tiền Phong Cảm Tử Đoàn, Thanh Niên Ái Quốc Đoàn...
Khi Nhật và Đồng minh khởi chiến, Thanh Niên Phòng Thủ Thụ Động ra đời, từ quận tới thị xã. Đoàn sinh mang băng tam tài, còi báo động, tập cứu thương, cứu hỏa hàng ngày...
Ngày 9-3-1945, Thanh Niên Tiền Phong ra mắt quần chúng tại vườn Ông Thượng với thủ lãnh là Nguyễn Vĩnh Thạnh.
Để trắc nghiệm sự ủng hộ của quần chúng đối với Phong Trào Thanh Niên Tiền Phong, Lãnh sự Nhật là Jida cho tổ chức tiệc trà tại số 14 đường Charner và lập ra một Uỷ ban Quản trị, gồm 20 người, trong số đó có Hội trưởng Kha Vạng Cận, Thư ký Phạm Ngọc Thạch, Thủ lãnh Thể thao Nguyễn Văn Thủ, Thủ lãnh Thanh niên Thái Văn Lung. Những người còn lại phụ trách ban Huấn Luyện, Tuyên Truyền, Xã hội, Tài Chánh, Y Tế, Phụ Nữ.
Dưới Thủ Lãnh là Tráng Trưởng, Thiếu Trưởng. Đoàn viên: tráng niên trên 20 tuổi, thiếu niên dưới 20 tuổi.
Giáo điều của Thanh Niên Tiền Phong là tổ quốc, danh dự, hào hiệp, kỷ luật, trong sạch.
Đồng phục: áo sơ mi trắng ngắn tay, quần đen ngắn, nón rơm, dép. Phù hiệu nền vàng sao đỏ, có ghi T.N.T.P. Chào nhau bằng tay trái. Bàn tay đặt lên vai, đứng nghiêm. Bài ca của Đoàn là Tiếng Gọi Thanh Niên của Lưu Hữu Phước.
Thanh niên đã tận tình lao động dưới nắng mưa để cứu đồng bào bị máy bay oanh tạc, khiến họ thu phục được lòng dân. Ban Tuyên Truyền còn dạy thanh niên về chính trị, phòng thủ. Họ rỉ tai với nhân dân về thời cuộc.
Ngày 1-7-1945, Thanh Niên Tiền Phong làm lễ tuyên thệ tại vườn Ông Thượng. Người ta nhìn cờ bay trước gió, nghe bài ca Thanh Niên Hành Khúc, nhìn thanh niên diễn hành, ai cũng cảm động rơi nước mắt. Riêng thanh niên, họ tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống, họ hy vọng đưa non nước đến vinh quang.
Ngày 19-8, Phụ Nữ Tiền Phong tụ tập ở Sân Vận Động Sài Gòn. Mưa rơi, gió lạnh mà lửa ái quốc đã bùng cháy trong lòng của họ.
Ngày 23-9-1945 Sài gòn tản cư. Một số quan lại không hiểu rõ ý nghĩa của Phong Trào nên đã xuyên tạc và gây khó dễ. Thanh Niên Tiền Phong dần dần tan rã.
Tại Nam Bộ, Trần Văn Giàu lập Thanh Niên Cứu Quốc Đoàn. Nhờ khéo vận động, đám trẻ từ Thanh Niên Tiền Phong, đa số đã hưởng ứng tập đoàn này. Đồng thời Giàu cũng lôi cuốn Phụ Nữ Tiền Phong bằng cách lập Phụ Nữ Cứu Quốc Đoàn.
Tháng 9-1945, chính tình miền Nam căng thẳng giữa Pháp với các thành phần quốc gia và cộng sản. Cộng sản Đệ Tam đã phỉnh gạt được các đoàn thể miền Nam, đứng ra lập chính quyền. Tại Đông Dương, họ được Anh, Mỹ, Nga, Tàu ủng hộ bảo toàn nền độc lập.
Điệp ngưng trong giây phút, đoạn cậu kết luận :
- Thực ra, nguyên nhân thúc đẩy Thanh Niên Tiền Phong lọt vào tay Cộng sản là do Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và Diệp Ba, là cán bộ nằm vùng trong Phong Trào. Hồ Văn Ngà là một yếu nhân trong Phong Trào bị lừa dối nên trao hết quyền hành. Do đó, Thanh Niên Tiền Phong thành công cụ của Cộng sản, gây thanh thế cho Việt Minh nắm chính quyền. Người quốc gia bị hạ sát gần hết.
Riêng các đảng phái quốc gia đã lập xong Mặt Trận Quốc gia Thống Nhất, nhưng vì mặc cảm thân Nhật và tưởng rằng Việt Minh được Đồng minh yểm trợ. Họ là kẻ yêu nước chân thành nên ngả theo phong trào Thanh Niên Tiền Phong để Việt Minh hoàn toàn thao túng.
Điệp nhìn sang Tính và Nguyệt, dặn dò :
- Phong trào Thanh niên hiện tại đã nhuộm hồng, xin anh, chị hãy cẩn trọng!
Hổ và Côn nghe đến đấy, vội lẳng lặng lùi vào bụi rậm, bỏ đi. Tính, Nguyệt cũng lờ, chuyển sang đề tài khác. Tính mở lời :
- Tôi thì không mê nhập Phong Trào Thanh Niên. Tôi biết Nguyệt có vẻ thích thú nên tìm hiểu. Nay thấy rõ vấn đề nên càng phải lánh. Có lẽ tôi cũng tìm cách khuyên Nguyệt nên từ. Còn chuyện bạn tình của Điệp ra sao cứ thẳng thắn trình bày, may ra tôi tìm được! Vùng này, tôi là thổ địa đó!
Điệp dè dặt khởi đầu :
- Anh có thân thiện với A Phùng và Tân không?
Tính hỏi vặn :
- Cậu thân tình với hai người ấy?
Điệp tránh né :
- Cha chúng tôi mới thâm tình, tôi thì không! Chỉ sơ giao với A Phùng và Tân mà thôi.
- Không thân mà tìm. Vậy là họ có ân oán với cậu? Hai gã ấy đều bảnh trai, học giỏi, gia đình thuộc thành phần khá giả, rất có thể là tình địch của cậu. Các ông cha, kẻ theo Quốc Dân đảng, người theo Thiên Địa hội. Vậy kẻ cả của cậu là chính khách? Cậu hãy thú nhận những liên hệ đó thì manh mối sẽ ra.
Điệp cười :
- Nếu hai đứa mình không phải là đồng môn thì tôi nghi anh là mật thám hoặc đoàn viên của Thanh Niên Cứu Quốc mất rồi! Thôi, để tôi khai!
Tính trấn an :
- Tôi và Điệp học chung trường. Thân thiện nhưng giữ kẽ với nhau. Nay, cậu thố lộ tâm tình, là bạn thân mà không giúp thì còn chi là tình!
Nếu gia đình Điệp là hội viên thờ Tam Thánh thì xác suất tìm duyên rất cao. Làng tôi đông dân, đa đảng. Đa số công nông, cha mẹ chuộng Đệ Tam, Đệ Tứ Quốc Tế; con cái thích Thanh Niên, Phụ Nữ Cứu Quốc. Thành phần còn lại, phần đông là giáo phái Phật, Hòa Hảo, Cao Đài. Một số gia nhập Quốc Dân đảng, Nghĩa Hòa Đoàn. Một số theo Tân Việt Cách Mạng.
Trong số gia đình theo Thiên Địa hội, một gia đình thuộc đoàn viên của Nghĩa Hưng Đoàn. Họ từ Hậu Giang đến đây lập nghiệp. Nội thất có hai cô gái rất xinh. Một gia đình khác theo Nghĩa Hòa Đoàn. Họ từ miền ngoài đến đây lập nghiệp đã lâu đời. Nội thất có một trai đĩnh ngộ, một gái thiên hương. Bạn hãy kiểm chứng xem sao!
Điệp hé màn :
- Thời ông cố của Điệp có kết giao với một người Hoa là bạn cùng chiến tuyến chống Pháp. Người này theo Thiên Địa hội. Sau khi giải giới, người lính nhà Thanh đó lưu lại xứ ta, lập nghiệp dưới sự giúp đỡ của ông tôi. Tình thân từ đó trưởng thành.
Tính chận lại, hỏi dồn :
- Người Hoa theo Thiên Địa hội? Còn kẻ cả nhà Điệp như thế nào?
Điệp ôn tồn :
- Ông của Điệp, thân không nên, danh không đạt, nhưng giao tình rất rộng, nhờ đó trở nên giỏi võ, thông chữ Hán, sành ngôn ngữ Miên, Lào. Sự kết bạn với các tay hảo hớn của nhiều chủng tộc lan tràn, ngày càng lún sâu vào thương, chính!
Nguyệt chen vào :
- Ông nhà đã gia nhập Thiên Địa hội của người bạn cố tri?
Điệp gật đầu. Nguyệt tiến thêm bước nữa :
- Tiểu sử của Hội như thế nào?
Điệp diễn giải :
- Người Hoa tại Việt Nam có lập chi nhánh Thiên Địa hội, lệ thuộc Nghĩa Hòa Đoàn mà địa bàn chính ở tỉnh Sơn Đông.
Nam Kỳ Nghĩa Hòa Đoàn chi hội thuộc Thiên Địa hội ở Mã Lai, Nam Dương, hoạt động dưới hình thức tôn giáo. Họ thờ Tam Thánh: Quan Vân Trường, Văn Thiên Tường, Nhạc Phi.
Hội gây quỹ phù Minh diệt Thanh, chủ trương nội đồng lao, ngoại hành hiệp.
Nhập hội là hành vi tự nguyện, ứng sinh phải trải qua nhiều thử thách về lòng can đảm.
Công tác nguy hiểm được giao phó phải cố đảm nhận, hoàn thành tốt. Hội viên thường được thử thách hành vi anh hùng, sẽ trở thành hội viên thực thụ.
Tính cật vấn :
- Tổ chức có hoàn bị như Quốc Dân đảng không?
Điệp ôn tồn diễn giải tiếp :
- Về tổ chức, trên hết là ông chủ, dưới là Kèo. Mỗi Kèo điều động 50 hội viên. Hội viên không cần tiếp xúc với Kèo. Địa điểm họp không nhất định. Sổ sách không cần lập. Họ nhận nhau bằng ám hiệu. Họ trao đổi tin tức bằng tiếng lóng. Kẻ phản đảng sẽ bị xử tử.
Tính hỏi thêm :
- Ảnh hưởng ra sao?
Điệp ôn tồn :
- Thiên Địa hội lôi cuốn sâu rộng đồng bào Nam Trung Bắc để chống Pháp. Pháp đã thẳng tay trừng trị. Pháp đàn áp khá hữu hiệu, nên Hội phân hóa thành nhiều hội kín khắp Biên Hòa, Gia Định, Bến Tre, Sóc Trăng, Long Xuyên, Châu Đốc.
Tính tiếp nối :
- Tại Sài gòn, Phan Phát Sanh lấy danh nghĩa hậu duệ của Nam triều, tự xưng Phan Xích Long hoàng đế, khởi nghĩa từ 1913 đến 1918 thì bị dẹp tan.
Hội kín lúc bấy giờ đa dạng, nhưng vẫn lấy châm ngôn “hoạn nạn tương cứu, sinh tử bất ly” để làm tôn chỉ hoạt động. Có đúng thế không?
Điệp điểm nụ cười mỉa :
- Anh còn sành hơn cả hội viên!
Điệp chắp tay xá :
- Em xin bái phục huynh trưởng.
Tính cười xòa :
- Đồng hội đồng thuyền là thế đấy!
Điệp cười và bày tâm tưởng :
- Điệp luôn luôn duy tâm. Điệp tin, mọi chuyện trên đời đều do con tạo xoay vần. Lớp lang nằm trong trật tự đã được an bày, đầy đủ éo le, gay cấn. Kẻ mất, ôm niềm cay cú. Người được, bộc lộ hân hoan. Thiên đàng, địa ngục cân phân, đang mở cửa chực chờ. Tình cảm đa cung đa bậc, thúc giục âm nhạc nảy sinh, cuồng nộ khơi mầm, điều lành ban bố, tội ác phô trương, đạo pháp ra đời, luật người khởi động...
Tính trêu :
- Khá khen cho cậu thông minh, nhưng lém vặt! Cậu đã đoán tôi là ai, nên cậu mới phơi bày tâm khảm. Cậu thân với Tân và A Phùng mà cậu giấu nhẹm tông tích. Cậu liên kết chặt chẽ với thân phụ của họ mà ém cung. Cậu đi công tác mà dám bảo chỉ tầm người!
May cho cậu đấy! Cậu gặp tôi, cậu không vướng họa mà lại được ngọc. Đó là phước đức lập trùng.
Điệp mừng rỡ :
- Thế anh là...
Tính tiếp lời :
- Cậu hữu lý lắm! Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Đã mấy thế hệ trôi qua. Hai họ của chúng ta lưu lạc giang hồ. Tìm người như thể tìm chim. Thế mà chúng ta từ bể bắc lại trùng phùng bể nam.
Nguyệt chen vào, chúc tụng :
- Điệp hòa Mỹ, đúng là châu hoàn Hiệp Phố!
Điệp hân hoan :
- Người ngọc của Điệp tên Mỹ? Người hẳn đẹp như tên?
Tính nghiêm nghị :
- Gia phả đã rõ, nhưng chứng tích có chăng?
Điệp lo lắng :
- Có. Nhưng Phụng, em gái của Điệp, đã trộm ngọc trao cho Tân nên Điệp mới tìm Tân để xin lại.
Tính dò xét :
- Tôi thì không đặt thành vấn đề, nhưng cha mẹ tôi thì trọng nghi thức. Hơn nữa, Mỹ thấy ngọc trong tay Tân, nó nghĩ Tân là ý trung nhân của nó, nó đã cảm nhưng muốn xác tín để nó sẵn sàng trao thân, nó giục tôi khám phá.
Nếu ngọc vào tay Tân, cậu có cam lòng để cho Mỹ cùng Tân nên duyên cầm sắt không?
Điệp phân vân :
- Tôi không muốn mất Mỹ mà cũng không muốn làm mất lòng Tân. Tân là người trung tín, đáng quí. Nhất là Phụng rất thương Tân. Nó không muốn Tân bị mất sỉ diện.
Nguyệt bàn :
- Cậu mâu thuẫn mất rồi, cân phân không hợp lý. Cậu phải bằng mọi giá giữ lấy Mỹ, đưa Tân về với Phụng. Đôi đàng đều đẹp cả!
Điệp cúi đầu :
- Chỉ còn cách chinh phục Mỹ quên ngọc. Tòng phu chứ đâu tòng ngọc!
Nhưng không sao! Tân rất quân tử, tôi nói phải, tất anh ấy sẽ nghe.
Tính thách đố :
- Nếu Tân đánh mất ngọc hay quyết giữ lấy thì sao?
Điệp tươi nét mặt :
- Nếu Tân mất ngọc thì trời giúp tôi. Tôi hơn Tân về gia phả. Tân không hoàn ngọc, đó là hành vi tự giết chết tình yêu giữa Mỹ và Tân.
Điệp tỉnh ngộ :
- Dù cho cầm ngọc di chứng trong tay hay không, mình vẫn lợi thế hơn Tân. Vậy mà cứ nghĩ quanh. Yêu nên sinh mù!
Nguyệt an ủi :
- Ngưu lang nên đến gặp Chức nữ thì vừa!
Đợi bọn họ đi xa, Tân dìu Mỹ ra khỏi nơi ẩn. Hai người chỉnh trang y phục. Tân toan thốt lời nhận tội, hối tiếc những việc đã làm đời Mỹ mất mát. Mỹ đưa ngón tay giữ miệng người yêu. Cô ôm Tân hôn nhẹ, mắt long lanh, cô nhìn trân trối, trao ngọc, dặn dò :
- Cái gì của anh là của anh vĩnh hằng!
Tân nhìn theo Mỹ cho đến khi hồng nhan khuất bóng. Tân quay về, ngang qua đình làng. Cuộc vui vẫn liên tục nhưng lòng Tân mang nặng một nỗi sầu tư. Cảm giác ngây ngất lúc hai đứa tay trong tay, thân kề thân còn vương vấn. Hương mái tóc mềm còn thoang thoảng đâu đây. Nụ hôn cuối còn nghe ấm. Lời thệ nguyện của nhau vĩnh hằng, nhưng thân xác của nhau sẽ nghìn trùng xa cách. Một thứ tình yêu thật lãng mạn, nhưng để làm gì chớ? Tại sao không bên nhau suốt đời mà lại cách nhau vĩnh viễn? Cậu ngậm ngùi: “Người đâu gặp gỡ làm chi!” Một phút lỡ lầm, trăm năm vương hận.
Khi đến nhà, Tân đẩy cửa bước vào. Cậu thấy cha còn ngồi bên án thư đọc sách. Đúng là cha đang chờ mình. Tân mặc cảm tội lỗi, cậu bày tỏ cảm tưởng :
- Con đi hoang để cha ngồi đợi, con cảm thấy áy náy vô cùng!
Cụ Chánh trấn an bằng lời dò hỏi đẩy đưa :
- Có lẽ con trải qua nhiều trò chơi hào hứng nên vết hằn còn đậm châu thân?
Tân che giấu bộ mặt đưa đám, cậu cười cầu tài :
- Cuộc chơi nào cũng thường để lại hoài cảm vui buồn lẫn lộn cả cha ạ! Con xin phép đi tắm gội.
Cụ Chánh gỡ kính, mỉm cười, truyền :
- Hãy ngồi xuống ghế để cha kiểm chứng bài học vỡ lòng khi con hạ san!
Cụ đi quanh Tân, vừa quan sát vừa điểm khuyết :
- Đầu bù tóc rối, áo ngoài để lại cho người! Quần ống thấp ống cao, bám đầy bụi bẩn!
Cụ nhích gần Tân hơn, và tiếp tục kiểm điểm :
- Thân thể thoang thoảng hương lài, pha mùi ammoniac, mùi xà phòng nội hoá!
Cụ đứng hơi xa, soi mói nét mặt :
- Nụ cười gượng gạo, ánh mắt thoáng sầu.
Cụ quay lại án thư và trầm giọng :
- Con mất mẹ lúc tuổi hồng, con gần gũi cha nên cha rõ con khôn từ tuổi lên ba.
Trong giai đoạn tuổi xanh, con tỏ ra đa sầu đa cảm. Cha đoán vào tuổi thanh, con sẽ vướng hận tình! Vì vậy khi con xin trẩy hội, cha giả vờ trao cẩm nang để nhắc khéo con nên cẩn trọng khi giao du với bạn gái, phải chân tình đãi ngộ bạn trai. Hời hợt trong hai phương diện đó sẽ gánh hậu quả mâu thuẫn về tâm tình.
Cha nói thế, con nghĩ thế nào?
Tân than thân :
- Có lẽ con sinh ra nhằm vì sao xấu nên thường gặp cảnh phước bất trùng lai, họa vô đơn chí.
Cụ Chánh ngăn lại :
- Ở tuổi thanh xuân ôm nỗi bi quan chỉ làm tổn hại ý chí tiến thủ mà thôi!
Phước bất trùng lai khiến Tái Ông vừa chuốc họa con bị té ngựa và mất ngựa, nhưng nhờ thế mà quí tử khỏi cảnh da ngựa bọc thây ngoài chiến tuyến. Như thế, không hẳn họa vô đơn chí hoàn toàn xấu!
Đời người cũng không hẳn thiếu song hỷ. Đây là biện chứng:
Vương An Thạch, thời Bắc Tống, lúc còn là thư sinh, trên đường kinh thí, khi dừng chân tại quán trọ của viên ngoại họ Mã, thấy chiếc đèn kéo quân kén rể có câu: “Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức, mã đình bộ”, có nghĩa đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt, quân ngừng bước.
Thạch đắm sắc tiểu thư nhà họ Mã nhưng không đối đáp được, đành lên đường dự thí.
Tại trường thi, Thạch ngang điểm cùng hai thí sinh khác. Để lấy điểm phúc khảo, giám quan nhìn lá cờ có tượng hổ, ứng khẩu: “Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyển, hổ tàng thân”, có nghĩa: cờ bay hổ, hổ bay cờ, cờ cuốn, hổ tàng hình. Vương An Thạch lấy câu xuất của viên ngoại họ Mã để họa câu xướng của giám quan.

0
6
 
Thi xong, Vương An Thạch đem câu xuất của giám quan để họa câu xướng của viên ngoại họ Mã. Ngày hôn lễ cử hành cũng là ngày Vương An Thạch được tin đỗ thủ khoa tiến sĩ. Đấy là song hỉ.
Ai bảo cuộc đời không có lập trùng phúc đức? Con nên lạc quan một chút, Tân ạ!
Tân cúi đầu lắng nghe. Cụ Chánh nghiêm nghị đặt vấn đề :
- Ở đời cũng có lắm người bảo “chính tôi, tôi cũng chẳng hiểu tôi”, ấy là câu nói yếm thế mà thôi. Thực ra, không ai hiểu mình bằng mình.
Để đánh giá con, cha muốn nâng cao trình độ hiểu biết của con, cha xin hỏi, đức tính nổi bật của con là gì?
Tân nhìn cha, ngần ngại đáp :
- Con thương con, con yêu người. Con tin con, con tin người. Con tin có thế giới siêu hình, đó có phải là duy tâm không?
Cụ Chánh gật gù :
- Cha không là hiền triết, cha không là nhà thần học. Cha chỉ lấy túi khôn của người đời đã sống để giúp con có cái nhìn tương đối chín chắn cho tương lai của con.
Trước khi đề cập tiêu đề này, cha muốn biết những điều sau đây:
Hãy giải thích lý do đầu bù tóc rối? Vì sao thoang thoảng mùi bẩn? Lẽ nào sầu não tâm tư?
Tân dài dòng trả lời :
- Vì duy tâm nên con tin có sự liên hệ giữa người, cảnh và tạo hóa. Thiên, địa, nhân hòa hợp thành hiện trạng sinh động, đa năng, đa hiệu, từ tiên khởi cho đến hậu chung.
Con rất sợ uy của thế giới vô hình. Trong ấy cũng đầy đủ thiện, ác như thế giới hữu hình của chúng ta. Phàm nhân thì con có thể biết người, biết ta để đối phó. Xác suất vượt trội có thể đạt. Nhưng với lực siêu hình, ta bất tri, bất thức, ta đành bó tay làm nạn nhân, nếu họ có ác cảm cùng ta. Khổng Minh xưa đã từng xõa tóc bày hương án, nói chuyện với các vì sao, thì chuyện con tin hồn hoang vất vưởng không phải là vô căn. Người xưa đã bày lễ, nhạc, cúng tế không phải là điều ngẫu nhiên mà là ngẫu duyên giữa hai thế giới hữu và vô hình.
Con đã tin thì sinh nể, từ nể khiến sợ, từ sợ cố lánh, đã lánh. Trong đêm đen đi trẩy hội, con đã gặp lửa đỏ xuất hiện đọt dương cao, tiếp theo tiếng cú là bóng trắng đuổi theo. Con tháo chạy đến cây gáo, nơi có thời truyền miệng quỷ lộng vườn hoang, con bị phục kích đến lâm nạn bất tỉnh nhân sự. Tác nhân của trò chơi là Tính, Nguyệt. Kẻ phá trò chơi vì tranh gái gồm có con cái của quan chức hội tề, trong đó có Hổ, Côn. Do đó con là người thọ nhận mùi hương hoa lài, mùi khai ammoniac, lâm cảnh đầu bù tóc rối, mà cha đã thấy và đặt nghi vấn.
Còn chuyện “anh về để áo lại đây”, con vướng cảnh “ba đồng một mớ trầu cay, sao anh chẳng nói những ngày còn không”.
Sau tai nạn, Mỹ đến với con. Chúng con được hưởng một đêm xem hát đầy hoa mộng. Nhưng tình lỡ trăm năm do hủ tục đính ước hôn nhân.
Thật vậy, đến bây giờ Mỹ vẫn còn quan niệm possession vaut titre. Thoạt tiên, con may mắn giữ nửa mảnh ngọc nhật lưu, Mỹ giữ nửa mảnh ngọc nguyệt tình. Căn cứ ngọc, cô yêu mù về con!
Đến khi mất ngọc bởi kẻ gian cướp. Vì chưa rõ tác nhân, nên Mỹ và con rơi vào một cuộc tranh luận.
Nếu ngọc mất thì nghĩa vợ chồng căn cứ vào đâu để ràng buộc nhau?
Đến đây Mỹ đã tỉnh ngộ, cô luận: Nếu ngọc mất, ta nên căn cứ vào chân tình của phối ngẫu. Nhưng nếu một trong hai lâm cảnh bị sét ái tình hoặc họ là ngoại nhân, lợi dụng thời cơ để chiếm hữu người yêu của kẻ khác, mà ta chưa khám phá được, hậu vận sẽ có vấn đề. Chi bằng nên yêu lấy hương, lấy hoa mà thôi!
Cuộc vui do đấy kém nồng. Tiếp theo vị hôn phu do gia phả của Mỹ xuất hiện. Con được hưởng coup de grâce là nụ hôn giã từ trong câm lặng!
Thưa cha! Đêm nay thuyền tình của con đã bị chàng Điệp bứt lèo, nàng Mỹ bẻ lái mất rồi! Con đã để áo, kẻ lâm cảnh gió tây lạnh lùng là con chứ không phải Mỹ!
Cụ Chánh nhìn lên trần nhà để che giấu cơn xúc động. Cụ biết, trả Tân về với tự do, cậu sẽ không bao giờ ngủ được trong đêm nay. Cụ cố kéo dài sự trống vắng trong lòng con, bằng hằng hà văn sử :
- Con đã nhận mình là người của trường phái duy tâm. Duy tâm liên hệ đến đạo và đời. Sống đạo cần phân biệt giữa tín ngưỡng và dị đoan; giữa sáng đạo và cuồng tín. Kẻ duy tâm lấy nhân bản làm gốc, lấy đạo làm nền, lấy tình làm hồn.
Đời là môi trường đem thực thi đạo làm người. Yêu cuồng, mê muội, tin bừa, khác nào con tàu đang trên đà sẩy lối. Bội ước tình yêu, lừa đảo bằng hữu, vong ân quân sư phụ, bán rẻ quê hương, chấp nhận vô thần là thứ tâm tình của ma quỷ.
Tâm tình của con hôm nay bị rơi vào hai trong vô số hệ luận, xuất phát từ nguyên ủy trên. Đó là tín ngưỡng và tình yêu.
Trong tín ngưỡng, con tin có thượng đế, đấy là an vi. Nhưng cơ khổ, hỏa mù của dị đoan đã khuấy động đức tin cao trọng của con mất rồi!
Trong tình yêu, con dâng cả ân tình cho đối tượng, nén nhục dục, lấy hương hoa đãi nhau, đó là đưa thương cảm lên cung thánh thiện. Như thế vẫn chưa đủ. Lương duyên cần chứa chân thành. Vì quá yêu, con trá ngọc để lưu tình, đáng lý con được, lại mất. Ngọc không có giá trị bằng lòng lành. Không có possession vaut titre ở thời đại này. Khi yêu xích xiềng cũng vô nghĩa, nhưng mảnh ngọc vô tri được đặt trên nền tảng duy tâm, đó là chữ tín. Con là người duy tâm mà đánh mất chữ tín trong tình yêu nên tình đã vỗ cánh bay đi! Hãy rendez à César ce qui appartient à César!
Tuy nhiên, sau khi con nhận sự bẽ bàng, thiết tưởng không gì bằng cha con mình nên ôn cố tri tân.
Về tín ngưỡng, đạo giúp người an nội, tha nhân, ái quốc. Dị đoan bắt nguồn từ suy tưởng viển vông, cứu cánh vị kỷ, khiến thứ dân tán gia, vong mạng, vua chúa bại quốc, thân tàn. Cha sẽ minh chứng bằng đơn cử giai thoại về Trạng Quỳnh và Tuyên Vương.
Về tình yêu, người nữ là nửa hồn thương đau của kẻ mày râu; là xương cốt của trang nam tử, theo Thánh kinh; là cung đàn muôn điệu của thi, nhạc. Cha sẽ minh chứng sự đa dạng của tình duyên đôi lứa qua tính trắc nết trong truyện Văn Khương và Tề Tương Công; họa khuynh sắc trong truyện Bao Tự và U Vương; duyên cơ hội giữa Tức Vĩ và Sở Văn Vương; vợ chồng như y phục giữa Sái Thị và Ung Củ; giữ tiết giữa Ngụy Thị và Khổng Phủ Gia; lừa tình giữa Mị Châu và Trọng Thủy; vọng tình giữa Đỗ Thị và Bách Lý Hề.
Cụ Chánh châm chén trà cúc, vừa nhìn khói tỏa vừa luận chuyện đời :
- Bây giờ, cha khởi sự nói về quan niệm tận diệt dị đoan của Trạng Quỳnh.
Xưa nay thức giả nhìn quan Trạng qua tinh thần trào lộng, hành vi nghịch ngợm, nhưng cũng thán phục tinh thần giáo dục quần chúng rất khéo, ý chí bài phong đả thực vô cùng khôn ngoan và can đảm.
Bằng những dữ kiện ấy, ta có thể tuyên vị ông là nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà giáo dục đa năng, một chính trị gia cấp tiến.
J.J. Rousseau, Montesquieue, Voltaire là thủy tổ của cuộc cách mạng nhân bản năm 1789. Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu nối gót tạo ảnh hưởng cuộc Cách Mạng Tân Hợi năm 1911.
Trạng Quỳnh là người của thời Lê Hiến Tông (1497-1504) mà đã nặng tư tưởng trọng nhân, yêu dân, chối bỏ hủ tục, hủy diệt dị đoan, đề cao tự chủ, chống đối Bắc phương.
Làm một so sánh qua thời gian, qua hành động, mình bảo ông là nhà chính trị tiền phong, cấp tiến và can đảm, có lẽ không đến nỗi ngoa ngôn.
Lúc thiếu thời, chưa đỗ đạt, vô quyền để thực hiện các ý định đó, ông đã dụng trí khôn, mưu lược có hơi xách mé nhưng hậu quả đạt như nguyện. Do chủ trương chính lý, đắc lợi cho quần chúng nên dù kẻ khó tính đến đâu, tin nhảm thế mấy cũng đành ngậm tăm. Hơn nữa, thiếu hẳn cơ sở để buộc tội về hành vi khôn khéo của ông, họ dần dần thức tỉnh và sau cùng thấy đó là thích đáng và tin cẩn hoàn toàn.
Khi đỗ đạt, quan trạng đã thủ đắc sự học, trang bị cái suy để làm một cuộc cải tổ tư tưởng sâu rộng hơn trong quần chúng, diệt tận gốc mọi hủ tục, phá vỡ mọi âm mưu của các đối tượng lợi dụng sự u mê của dân để thủ lợi.
Theo huyền sử, cũng nói lên nhiều giai thoại rất khôn khéo làm các thức giả Bắc phương phải thán phục ông.
Đây là một trong những tiểu truyện mà ông đã bài xích dị đoan:
Dân làng, nơi ông Quỳnh ngụ, đồn Bà Chúa Liễu ở đền Sòng rất linh.
Tò mò, cậu đến viếng. Số tiền thiên hạ dâng trên án khá to khiến cậu động lòng, vội xuýt xoa :
- Độ rày tôi túng mà chúa lại thừa. Chúa gia ơn cho tôi vay để sinh lợi.
Nói đoạn, Quỳnh vịn quẻ âm, dương mà khấn :
- Nếu chúa thuận cho tôi vay một phần tư thì xin khiến hai đồng tiền nằm xấp; một phần ba, cùng nằm ngửa; một nửa thì nhất âm, nhất dương!
Dứt lời, Quỳnh gieo quẻ. Cậu chẳng đợi kết quả, vội vỗ tay reo :
- Tiền múa chúa cười! Chúa thương tôi nghèo nên cho vay cả. Xin cảm ơn!
Nói xong, cậu gom sạch tiền cúng của bá tánh.
Tân nghe đến đấy, cậu cười ha ha, bày tỏ cảm nghĩ :
- Ông Quỳnh khéo quá hở cha? Muốn lấy tiền của bá tánh xài chơi mà bảo là vay. Hễ vay thì phải trả. Nhưng chừng nào mới trả? Cả Chúa Liễu đến Quỳnh đều không đặt thời hạn. Chúa đã sơ hở thì chúa cam đành.
Quỳnh dụng quẻ âm, dương là phương thức dị đoan để giựt tiền của kẻ dị đoan. Tiền là núm ruột. Ruột đau con xót. Tin nhảm bắt đầu đưa vào ngờ vực và sẽ thức tỉnh đến chừa!
Cụ Chánh bàn rộng :
- Dân mình hiền hòa, chơn chất. Khi gặp biến, thường bối rối không tìm ra giải pháp, phải nhờ kẻ khác chỉ giáo hoặc chấp nhận rủi may. Từ đấy mới nảy sinh giới đồng bóng. Nếu được người sáng suốt khuyến cáo thì viện lý có kiêng có lành. Lòng thành là sức mạnh để vượt khốn khó. Khốn khó đã qua, tin tà đã giúp nên thần tượng lên ngôi; ngay cả hòn đá lăn lóc góc miếu cũng tôn thành thần.
Cụ Chánh vấn điếu thuốc rê, tiếp tục câu chuyện đang dở dang :
- Màn vay tiền đã làm uy của Chúa Liễu suy giảm. Quỳnh trở lại đền Sòng để cầu khoa cử đạt thành, với lời khấn dâng quà đáp lễ.
Tân nhóng ý cha :
- Quỳnh muốn sinh sự nữa hở cha? Theo chỗ con biết, ông ấy hay chữ mà lại thông minh đĩnh ngộ. Đường khoa cử rộng thênh thang ấy mà! Cần gì cầu khoa?
Cụ Chánh chỉ cười mỉm, đoạn tiếp nối :
- Quỳnh thi đỗ khoa ấy. Để tạ ơn, cậu dắt bò mẹ lẫn bò con nhập đền. Cậu cột bò mẹ vào chân ngai của bà Chúa. Cậu khấn trả lễ, xong dắt bò con ra về. Bà mẹ lồng lên, chạy theo con, gây sụp đổ đền Sòng.
Tân nổi hứng, cậu cao giọng :
- Biết lắm mà! Nhổ cỏ phải nhổ cả rễ! Muốn diệt dị đoan cho tận gốc, cậu Quỳnh phải phá vỡ sào huyệt của Chúa Liễu.
Cụ Chánh thấy con bớt sầu muộn, đã phản tỉnh, cụ vui miệng khai triển thêm :
- Đấy là việc của Quỳnh còn thiếu thời nên có hơi xách mé. Cậu phải dụng chước để tránh né cường độ phản kháng của thành phần cực đoan trong quần chúng. Cậu đã rõ yếu tố thời gian là tiên dược để bàng nhân thức tỉnh.
Đến khi đỗ Trạng, quan ngài đường đường chính chính khai sáng thứ dân. Tuy đầy uy, lắm mưu, nhưng Trạng dùng phép dạy dân đơn giản theo trình độ hiểu biết của họ để họ dễ tiêu hóa vấn đề. Cụ can đảm hành hiệp để cho dân mục kích, từ thấy họ mới nhận, từ nhận mới tin, từ tin mới sửa: Nạn nhân giác ngộ, gian phạm bỏ nghề, tà thần thất sủng!
Để minh chứng quan niệm và thực nghiệm trên của Cống Quỳnh, ta đơn cử thí dụ điển hình sau đây.
Trong vùng của Cống ngụ, có một tượng đá lõa thể, không rõ xuất xứ, đang tác quái. Biết được, quan ngài đến tận nơi, mới nhận lẽ bất bình. Tượng được dựng giữa đường, miệng cười khiêu gợi, tay trỏ âm hộ, nhưng qua lời thiên hạ đồn, hễ ai phê phán điều chi, đều lãnh tai ương. Để khử tà, quan Trạng đề thơ lên tượng đá, mắng:
Khen ai đẽo đá, tạc nên mày,
Khéo đứng ru mà đứng mãi đây?
Trên cổ, đếm đeo trăm chuỗi hạt,
Dưới chân, đứng tréo một đôi giày.
Ấy đã phất cờ trêu ghẹo tiểu,
Hay là bốc gạo thử thanh thầy?
Có ngứa, gần đây nhiều gốc dứa,
Phô phang chi ở đám quân này!
Tương truyền, khi quan Trạng vừa đề xong cáo trạng, tượng đá xuất hạn, thôi linh ứng!
Tân khoái trá, ứng khẩu :
- Tập quán xứ mình khiêm cung. Đối nhân đa kính. Đối vật đa trọng. Kính nhân, trọng vật. Kính vua quan, thánh thần. Hòn đá gốc đa được tôn thần, thì tượng gợi dục nói trên được phong thánh là lẽ thường. Sợ quá sinh khiếp nhược đến tâm bệnh cũng là điều có thể giải thích.
Nhưng hiện tượng đổ mồ hôi, thiết nghĩ nên đặt lại vấn đề. Nếu thánh linh, khi bị sỉ nhục sẽ ra uy hại kẻ đã mắng mình; sẽ biết xấu hổ về sự trần truồng; thôi cười, giấu bàn tay thô bỉ, khiển động thân đá để nhặt lá che thân. Thế nhưng y tượng vẫn để cho quan Trạng tạo uy một cách an lành, miệng vẫn cười toe, tay vẫn làm trò gợi dục, thì làm gì có hiện tượng đổ mồ hôi? Đấy chẳng qua là ngẫu sự vật lý do khí nóng gặp đá lạnh mà thành.
Dân gian thấy vậy, huyễn hoặc hóa vấn đề?
Cụ Chánh lắc đầu, kiên nhẫn khuyên Tân :
- Hãy khoan bình luận. Ta nên thẩm xét thêm một hiện tượng huyền bí khác, đó là bùa chú và pháp ấn.
Phật giáo Đại Thừa và Yoga qui nạp Phật lực qua: Giáo, là tu theo kinh luật, tiêu biểu là phái Kriya Yoga; Lý, là tìm chân từ thiền định, như phái Raja Yoga; Hạnh, là giải thoát bằng hành trì, trong đó có pháp Bhakta Yoga; Quả, là thủ đắc do sự xác tín Thân, Khẩu, Ý của tín đồ, đại diện là phái Mantra Yoga.
Mantra Yoga là pháp môn mật nhiệm, sử dụng thần chú, tức Mantra và chân ngôn, tức Dharani bằng chữ Phạn.
Người trì tụng chỉ cần tin tưởng để âm thanh vi ba hướng dẫn đến tĩnh. Đó là phương pháp nhiếp tâm để đạt đến Đại Định, Tâm, Ngữ, Ý.
Thần chú cần được liên hợp với hình ảnh như luân xa, chữ vạn, linh phủ, tức khoán bùa, để tăng thêm quán tưởng hầu đạt đến Đại Định, tức Samadhi.
Hình ảnh, màu sắc, âm thanh được sắp xếp theo biểu tượng, tức logos nào đó, sẽ gây sức mạnh tinh thần, có khả năng tác động đến vạn vật theo ý muốn.
Theo Phật giáo Mật Tông, biểu tượng là pháp ấn, tức bắt ấn bằng tay; là linh phù, tức bùa, là cách xếp đặt đạo tràng tức Mandala. Còn chú tâm là thiền định, tức tam muội Samanda.
Cụ Chánh tập trung tư tưởng, chuyển đề :
- Sau phần qui cách, ta hãy xem qua phương lập trình và giải mã của bùa chú.
Về lập trình, linh phù là ký hiệu mật truyền có khả năng tác động đến môi trường chung quanh như gia trì, bảo vệ kẻ thọ nhận linh phù... Tuy nhiên mức hữu hiệu tùy đạo lực của người trì tụng và lòng thành khẩn của kẻ thọ nhận.
Hiệu lực của linh phù, cấp nhỏ dùng để trị bệnh, cấp trung để hộ mệnh, cấp đại tác động cầu mưa, trấn gió, hạ bão, dập lửa.
Ký hiệu của linh phù thiên hình vạn trạng. Sự chú tâm là yếu tố làm vận hành linh phù.
Về giải mã, trì tụng thần chú là phương tiện đạt đến giác ngộ.
Hiệu lực của thần chú đưa tâm thức, tức khai triển các luân xa trong cơ thể của kẻ trì tụng, hòa nhịp với vi ba của ngoại giới. Đó là giao thoa linh cảm.
Thần chú có thể điều khiển thân xác, khống chế cảm xúc, qua giao thoa linh cảm của nhau.
Thần chú là một mật niệm, không có ý nghĩa với ngoại nhân, nhưng nó là phương tiện tập trung tinh thần của hành giả để hòa nhịp với ý thức vũ trụ.
Cụ Chánh nhìn con như ngầm bảo, đã đến lúc ta có thể đàm luận. Cụ kết luận :
- Một vị linh mục đáng kính đã cho rằng, Phù Chú Giáo chủ trương làm thức tỉnh năng lực vũ trụ trong thâm tâm con người. Hoặc chiêm ngưỡng ngẫu tượng, mục đích để nhập vào thần tượng mình chiêm ngưỡng, trở nên chính vị thầy ấy!
Cụ Chánh nhìn lên không trung để cố nhớ câu thần chú siêu đẳng, cụ bảo cùng con :
- Đây là câu thần chú cao trọng nhất, làm kẻ trì tụng có thể ngang hàng với vị không thể ngang hàng: “Gaté, gaté, paragaté, parasamgaté, Boghi, Svaha!”
Nó có tác dụng đem lại lòng tự tin cho kẻ trì tụng.
Cụ Chánh tựa lưng vào thành ghế, hai tay xoa vào nhau, giọng cụ nghiêm túc :
- Ta đã nghe phái Bhakta Yoga thuyết giảng về pháp môn mật nhiệm. Họ đã đứng trên quan niệm siêu hình để giải thích các bí cung.
Nay, ta dùng tư duy của khoa học để giải mã một số ẩn sự, phối kiểm một vài khía cạnh của bí cung. Thật vậy, khoa học đã giúp thời đại chúng ta đạt mộng thăng thiên, độn thổ, độn thủy, đằng vân, giá võ, thiên lý nhãn, thiên lý nhĩ, kiếm quang, thiết chưởng... mà chỉ có các đại tiên, chư thánh trong Phong Thần và Tây Du mới có khả năng xuất chiêu.
Trong phép tạo hình, tạo lực, ta quan sát các tiến trình sau đây:
Tế bào tạo chi và phận. Chi, phận kết hợp sinh vật, thảo mộc...
Nguyên tử cấu tạo phân tử, phân tử tác hợp vật thể.
Tế bào và nguyên tử tác tạo, qua xúc tác, để gây nên các loại, hạng, thứ lớp trong vũ trụ, đó là thể.
Cơ sinh điện, điện sinh năng, năng tạo động tác.
Cảm sinh linh, linh sinh ứng nghiệm về nhận thức, xúc cảm.
Thể, cơ, cảm tạo vũ trụ sinh động quyền biến vô biên, vô tận như quái thể trăm đầu, chặt trước, sinh sau; diệt cũ, tạo mới và giữ trọn chu trình sinh, lão, bệnh, tử.
Sự tác tạo là do tác nhân hay ngẫu hợp do tác động. Lúc khởi nhận, một số có thể giải thích được phổ cập vào sinh hoạt của quần chúng, một số căn nguyên mà nhân loại chưa nắm vững, thông thường được qui trách vào chung với những hiện tượng kỳ bí mà khoa học chưa khám phá được. Sự kỳ bí đó, nhà khoa học luận chứng bằng thực nghiệm để dò tìm, nhà thần học dùng triết lý để khai triển, giới bình dân đem tâm tư để đối phó, kẻ cấp tiến lấy đạo và đời để xử, người lạc hậu lấy mê tín để xin an hoà!
Sau khi nhập đề lung khởi với thằng con thích nghe chuyện ma, thích bói toán và hay sợ vớ vẩn, cụ đơn cử một thí dụ về kẻ yếu bóng vía :
- Khi có một sự mất quân bình trong cân não, sự loạn mạch sẽ xảy ra, bệnh chứng sẽ kéo đến; nhẹ, vương ác mộng; nặng, phát điên cuồng.
Trong cơn kinh loạn, sợ người thì thấy dị nhân, sợ vật thì thấy dị thú, sợ cảnh thì thấy quái tượng.
Những ảo giác nào khó giải thích, người ta thường gán cho ngạ quỷ khuấy, linh thần quở.
Thuốc tiên đành bó tay trước tâm bịnh; kẻ dị đoan nhờ pháp sư trừ tà; người sáng cậy bác sĩ tâm thần trị bệnh. Pháp sư và bác sĩ tuy dùng phương tiện chữa trị khác nhau, nhưng cứu cánh vẫn là đưa con bệnh trở về sự an hòa trong tâm tưởng. Nhưng vô phúc, thầy pháp kém chiêu, bác sĩ non lý, con bệnh mê muội quá độ, dù bán hết gia sản, con bệnh sẽ mang chứng trầm kha và sa địa ngục!
Căn cứ vào những luận cứ trên và qua thí dụ vừa kể, hiện tượng đổ mồ hôi của tượng đá sau khi bị Trạng Quỳnh mắng, ta thấy hiện tượng giao thoa sóng vi ba của hành giả và ngoại vật là vấn đề khoa học. Cái uy và cơ năng của Trạng Quỳnh phát tiết, tác động vào masse moléculaire của tượng đá, giao thoa sóng sẽ tạo nhiệt năng, nhiệt và hành sinh nước đọng từ không khí. Điều cần nhớ, nhà khoa học đại tài Isaac Newton đã khám phá sự liên hệ giữa các thân thể do ba hằng số: lực hấp dẫn, lực hạt nhân và lực từ trường. Từ đó cho phép ta suy gẫm sự đối tác giữa Cống Quỳnh và tượng đá có một liên hệ cân xứng như thế nào đó về tâm và thể lực mới ngẫu sinh bí truyện trên!
Cụ Chánh đứng dậy, đến sập gụ pha tí trà ngon, nhìn tách trà nghi ngút khói, cụ tiếp :
- Như cha đã nói cùng Tân, tín ngưỡng giúp người an nội, tha nhân, ái quốc; dị đoan khiến thứ dân tán gia, thiệt mạng, vua chúa bại quốc, vong thân.
Thật vậy, đời nhà Chu, Tuyên Vương thân chinh ra Thái Nguyên, lo mộ quân chống loạn Khuyển Nhung, khi về đến Kiểu Kinh, ngài nghe trẻ hát đồng dao về họa cung tên; sau đó, Thái Sử Bá Dương Phụ phúc trình, đấy là lời thông truyền bởi Hỏa Tinh Huỳnh Hoặc, khuyên vua nên lánh chiến chinh và lưu ý đến hiện tượng âm thịnh, dương suy.
Vua đem chuyện tâm sự với Khương Hậu, ngài được cáo tri về cung nhân đã mang thai bốn mươi năm, vừa hạ sinh một bé gái vào đêm qua. Hài nhi đã bị thả xuống dòng thanh thủy vì Khương Hậu nghĩ đó là quái kiếp.
Vua cho vời mẹ của đứa trẻ, y thị trình tích :
- Dưới thời Hạ Kiệt, tại Bao Thành, hai thần xuất hiện và hóa rồng làm vương dãi khắp sân chầu; vua toan hạ sát, quan Thái Sử can ngăn, khuyên nên trữ linh khí vì đấy phúc thần ban.
Từ Hạ đến Ân, trải qua 644 năm, sang đến Chu được 300 năm, hòm son chứa dãi long thần bỗng phát quang, nội thị dâng truyền để vua thưởng lãm, vua lỡ tay đánh rơi, dãi rồng hóa con giải lẫn vào cung nội rồi biến mất. Tỳ nữ lúc ấy mới 12 tuổi, dẫm phải vết chân giải nên cấn thai, sau bốn mươi năm đã sinh nữ nhi mà lệnh Hoàng Hậu đã thả trôi!
Lời tiên cáo của Hỏa Tinh, hiện tượng quái nhi trong cung nội làm vua điên đảo; ngài truyền Đỗ Bá truy tông tích trẻ trôi sông; Tả Nho đốc thúc Tư Thị Quan nghiêm cấm sản xuất, mua bán cung tên.
Ngày hôm sau, Tư Thị Quan bắt được người đàn bà mang mấy cái túi đựng tên bằng cỏ Cơ, nhưng làm sẩy ông chồng mang cung bằng gỗ Yểm như thiên truyền. Nữ phạm bị xử trảm giữa chợ. Người chồng được chim muông chỉ điểm vớt được trẻ, trốn sang Bao Thành.
Sau ba năm bình yên, nhân ngày địa tế, Tuyên Vương ăn chay, túc trực tại Thái Miếu. Đêm khuya, từ mái Tây hiên, một nữ nhân xuất hiện, vua truyền đánh đuổi. Mỹ nữ cười, khóc ba tiếng rồi gom các thần chủ đem đi, vua vội đuổi theo, ngài tỉnh cơn mộng.
Bá Dương Phụ giải mộng, nữ họa cận kề: Vua trực nhớ đến trẻ trôi sông. Đỗ Bá bị tuyên án tử vì lơ là tìm trẻ bởi tin nữ họa cung tên đã tiễu trừ giữa chợ. Tả Nho vì bạn hết lời can gián, vua vẫn giết Đỗ Bá. Tả Nho tự tử chết theo.
Một hôm vào thu, vua đi săn về, bỗng thấy Đỗ Bá, Tả Nho hung hăng chắn lối. Vua giật mình chớp mắt, rồi chẳng thấy chi. Vua vấn cận vệ, ai cũng bảo không thấy chuyện gì.
Vua đang nghi hoặc thì cỗ xe của Đỗ Bá và Tả Nho đã xuất hiện trước mặt, ngài rút gươm toan chém. Đỗ Bá, Tả Nho nhiếc vua và giương cung xạ tiễn. Vua thét lên chết ngất. Các quan chẩn trị và đưa ngài hồi trào.
Tuyên Vương từ khi thấy âm hồn của Đỗ Bá và Tả Nho, cứ nhắm mắt là thấy bóng kẻ thù. Bệnh của vua ngày càng trở nặng; ngài truyền Thiệu Hổ và Doãn Cát Phủ để ký thác thái tử.
Khi trở ra, Thiệu Hổ bảo :
- Câu đồng dao xưa đã đoán họa cung tên. Nay vua trông thấy ma quỷ dùng cung tên hại mình, mạng tất nguy!
Bá Dương Phụ bảo :
- Tôi xem thiên văn thì thấy tai họa xảy ra cho cả nước, chứ chẳng cứ gì một mình vua!
Đêm hôm ấy Tuyên Vương băng hà.
Cụ Chánh nhìn Tân thấy cậu có vẻ mệt mỏi, cụ đứng dậy, kết luận :
- Con thấy đó, hoang tưởng do tâm mê muội. Vua đức mỏng sẽ thất thân, mất nước; dân tán mạng, gia vong!
Sau khi Tuyên Vương băng hà, U Vương mê Bao Tự làm Đông Chu mất dần vai trò đứng đầu liệt quốc!
Cá nhân con, nhìn hỏa châu của bọn trẻ tinh nghịch ra hồn hoang của quỷ ma. Chỉ trong một đêm, không biết bao nhiêu là tiểu họa xảy đến, do một chút lung lạc tinh thần!
Thôi, hãy tắm giặt, nghỉ cho khoẻ. Cha có nhiều việc cần bàn với con vào ngày mai.
Tân đứng dậy, che miệng ngáp dài, cậu lảo đảo tiến vào trong. Lúc bàn chuyện với cha, cậu thấy hơi choáng váng đầu óc, thân thể hơi uể oải. Nhưng khi cha trả lại tự do, hình bóng Mỹ bắt đầu hành hạ. Thân thể trở nên mệt mỏi vô cùng, kéo theo sự lười biếng, nỗi chán chường, sự bất cần tất cả. Tân gieo mình lên giường rộng, lăn lộn chán lại nằm ngửa, cậu gắng tránh né suy tư để cầu xin một giấc ngủ ngắn ngủi, nhưng sự nhớ nhung cứ mãi kéo về mỗi khi chợp mắt.
Cơn sốt nhập cung, tâm tư đi vào điên đảo. Khúc phim chung lối cùng người yêu lai đáo không ngừng, những nét gợi cảm tuôn tràn như sóng xô trong tâm tưởng. Tân khổ sở về ánh mắt đa tình, nụ cười hồn nhiên, chiếc hôn nồng thắm, thân thể gợi tình, lời nói lắm duyên. Các đặc thù đó, hình ảnh hoa mộng đó còn gần gũi như đang trong tay nhau, quay cuồng trong vũ điệu Nghê Thường... lung linh như sương sớm, nhấp nhô như sóng gợn, nhẹ lướt như mây chiều, chìm đắm vào hư không...
Trong cõi mù sương vô thức... Mỹ ẩn hiện như tiên nga với đôi cánh nhiệm mầu... Mỹ là bướm trắng, Tân là bướm vàng, rong chơi trong vườn mộng ngát mùi lài, mùi ammoniac... Nguyệt là đóa hồng màu máu thắm, vươn lên cành đầy gai góc. Nhụy hoa vương mùi lài, mùi ammoniac... Đài hoa mở cửa đón bướm nhập đền... Thâm cung biến thành ngục tối... Bướm trắng tả tơi... Bướm vàng trở về với thân xác gầy còm... Xác bướm thành thủy triều cuốn thân gầy vào vực thẳm... Nguyệt xuất hiện với cánh dơi đen ngòm, chân đại bàng giữ lấy dáng xinh của Mỹ... Gương mặt của Nguyệt tươi thắm như thiên thần, mắt sáng, mũi thon, môi cong cớn đỏ chót... Miệng Nguyệt hé nụ cười phù thủy... Nguyệt đẩy Mỹ đến gần xác Tân đang bềnh bồng trên sóng... Mỹ chới với ôm Tân vào lòng, mắt Mỹ long lanh, giọt nước thủy tinh chan hòa trên mắt Tân... Làn môi cong cớn của ngày mộng hé nụ... Hai chiếc răng nanh như ngà voi... cắm sâu vào cổ Tân... Tân nghẹn ngào...
Tân ú ớ, vùng vẫy. Cậu bật dậy, mắt nhắm nghiền trong cõi mộng du. Phượng đến kịp thời giữ anh lại. Tấm thân mềm nhũn của Tân ngã vật xuống giường, mắt trợn trừng, mồ hôi đầm đìa, miệng vẫn còn há hốc, thoáng nét kinh hoàng. Phượng như sắp bật khóc, cô khẽ vực :
- Anh Hai làm sao thế? Hãy tỉnh lại! Đừng làm em sợ...
Tân nhướng mắt nhìn Phượng, hé nụ cười khô héo, nắm tay em, bảo khẽ :
- Không sao! Anh chỉ bị ác mộng!
Tân kéo em ngồi mép giường, hôn tay và chất vấn :
- Trong cơn mê, anh đã làm gì, nói gì?
Phượng rưng rưng khẽ đáp :
- Anh chới với như kẻ đắm thuyền, miệng không ngớt réo gọi chị Mỹ.
Tân thở dài. Phượng trách hờn :
- Đáng kiếp cho Lỗ Trí Thâm!
Tân gắng nâng tay, nhéo má em, mắng yêu :
- Thủy Long công chúa đã thừa nước đục thả câu!
Phượng phụng phịu :
- Hồi ghét, ghét cho cay! Hồi thương, thương cho đậm, là anh đấy!
Tân thoáng buồn, Phượng lý sự :
- Lúc trước chị ấy đeo thì anh làm cao tránh né. Bây giờ có chuyện chi mà tương tư, gọi thương như gọi đò vậy?
Tân lắc đầu không muốn đứa em thơ ngây buồn lây. Cậu tìm cách lái Phượng sang chuyện khác :
- Anh thế đấy! Dường như Phượng cũng cùng sách vở thôi?
Phượng phản kháng :
- Khác chứ! Phượng chê bọn con trai.
Tân trêu :
- Nhưng mê con gái! Coi chừng đấy! Tướng suông đuột, bảnh trai vô cùng!
Phượng nhéo mũi anh, phản đối :
- Nói bậy! Ta là Thủy Long công chúa!
Tân cười cười, tiếp tục trêu :
- Vậy là cậu chịu nhận mũi dãi lòng thòng như hai vòi rồng rồi nhé!
Phượng đánh bép vào má anh, Tân vẫn không buông tha :
- Cậu có cái mặt tuyệt đẹp, tay chân thon thon, tướng cao lòng nhòng. Nếu không có các đặc điểm ấy thì Phượng là Tống Ngọc đó!
Phượng thắc mắc :
- Bạn bè trong lớp không gọi em là Tống Ngọc mà gọi là Tử Đô thì sao?
Tân phì cười :
- Biết lắm mà! Đứa nào vậy? Con trai hay con gái?
Phượng thú thật :
- Con Hoàng và con Yến.
Tân nhếch mép :
- Chết chắc! Nghe này cô bé, Mạnh Tử đã bảo: “Ai không biết Tử Đô là đẹp thì người ấy không có mắt!” Câu nói ấy ngài dùng để ca ngợi một gã con trai tuấn tú!
Tân sực nhớ điều chi, cậu vội hỏi thêm :
- Hai ả ấy, ngoài cách tuyên dương mi, họ có hành vi chi khác không nào?
Phượng hơi ngượng, mặt đỏ au, cúi đầu im lặng. Tân giục :
- Muốn làm công chúa hay làm Tử Đô? Nếu muốn anh giữ cho em danh vị Công Chúa thì nên chân thành bật mí.
Phượng mắt long lanh, ấp úng đáp :
- Con Hoàng mỗi lần gặp em thì mân mê đôi tay em và hôn rất ngọt.
Tân ôn tồn :
- Còn ả kia?
Phượng ngượng ngùng :
- Con Yến thì hôn lên má.
Tân vỗ vai em một cách thân mật, cậu nghiêm giọng :
- Nếu con trai mê em thì có lối gỡ. Con gái mê em thì chuyện khá tế nhị! À này, cảm giác của em như thế nào khi bị tấn công?
Phượng cúi đầu, đáp khẽ :
- Hơi bực mình.
Tân xoa đầu em và khen :
- Tốt! Không nên kéo phe bạn gái quá thân mật. Hãy kết giao trong tình trạng hồn nhiên giữa trai lẫn gái. Tình cảm dành riêng mãi mãi cho một đối tượng cùng phái tính, tạo thành một thói quen không tốt, sẽ khó tách rời sau này!
Phượng buồn buồn, thú thật :
- Em giao tế với bọn con trai thì cả lớp gọi em là Phượng đực rựa! Em cảm thấy hơi tủi phận.
Tân nghiêm giọng :
- Sao lại thế? Em mới mười hai đã được tướng thon thon, dong dỏng cao, tay chân dịu dàng, mặt đẹp hơn trăng, nước da trắng ngọc; anh bảo đảm, một ngày không xa, em sẽ là giai nhân đầy hương sắc. Anh đã bảo em là công chúa vì ngụ ý như thế đấy! Hãy gạt bỏ mặc cảm ấy đi!
Phượng đỏ mặt tía tai, nhưng thoáng vẻ vui mừng.
Tân thở dốc, Phượng vội lui vào bếp mang lên cho anh chén bông cúc chưng đường phèn. Cô vừa sờ trán anh, vừa băn khoăn nói :
- Lại lên cơn sốt rồi! Anh uống nước hoa cúc cho hạ hoả!
Phượng đề nghị :
- Từ ngày hôm qua đến giờ, anh không ăn gì cả. Chốc nữa em nấu cháo cá cho anh ăn lấy sức.
Tân lắc đầu :
- Miệng đắng lắm, chỉ cần nấu cháo trắng thật nhừ để anh nhấm nháp cầm hơi được rồi!
Phượng tỏ ra sành sỏi :
- Anh ốm tương tư chứ chẳng phải đau thương hàn mà ngại lủng ruột. Phải ăn cháo cá, cháo thịt mới mau bình phục, nhứt là cháo bò!
Tân trêu :
- Bác sĩ bảo ăn cháo rồi bò đi tầm người phải không?
Phượng nguýt dài :
- Nói nhảm! Cháo thịt bò thật đấy chứ bộ! Em nói vắn tắt một tí cũng bắt bẻ. Thảo nào chị Mỹ chẳng thèm yêu Lỗ Trí Thâm nữa!
Tân sa sầm nét mặt. Cậu gượng bình :
- Tiếng Việt của mình phong phú lắm, trong sáng lắm! Tư tưởng của người mình lại thâm. Em nên phát ngôn chững chạc thì hơn.
Phượng vẫn vô tình :
- Chững chạc quá nên người ta ngại yêu anh!
Tân chớp mắt. Phượng chợt tỉnh ngộ. Cô vội chữa :
- Anh khờ quá đi! Làm cao chi cho khổ đời!
Tân mân mê tay em. Cậu ngẫm lời Phượng tuy thật thà nhưng thâm thuý lắm! Nếu mình tỏ tình với Mỹ trước khi mình biết Điệp, mình có chính lý để yêu Mỹ, Mỹ có toàn quyền để yêu mình. Mình có xác suất nên duyên cùng nàng, vì nàng đang có khuynh hướng trao thân cho mình. Nhưng sau khi Điệp xử đẹp với mình, giúp mình vượt khổ. Sau khi mình nhận ngọc từ tay Phụng, Phụng nhân ái với mình, Mỹ gia tăng yêu thương mình hơn. Đáng lẽ mình phải tiến cử để Mỹ và Điệp hòa hợp; mình trọn nghĩa với Điệp, trọn tình với Phụng. Mình lại vì sự say đắm của Mỹ, mình buông thả cho thân xác xô ngã tất cả đạo lý. Mình chiếm được xác thân của Mỹ, nhưng tình yêu cao trọng của Mỹ dành cho mình bị tổn thương, khi nàng khám phá ra mình là kẻ vay ngọc, mượn tình. Hành động đê hèn này mình mang một cái án kẻ trộm tình trước mắt Mỹ, Điệp và Phụng.

0
7
 
Mình chẳng còn mặt mũi nào để gặp lại người thanh niên có lý tưởng, cô gái đoan trang, và người yêu thiên thần.
Càng nghĩ Tân càng yêu Mỹ và thương thân mình. Lý trí không thắng nổi tình yêu. Những lẽ phải vừa luận đã bị ma quỷ có sừng đem chôn đáy mộ. Tân trở lại dối lòng, dối gia đình. Tân không hài lòng Mỹ là hoa có chủ. Tân không muốn Mỹ về làm bổn phận dâu con của gia đình Điệp. Tân chẳng cam lòng làm chiếc bóng bên đường để nhìn Mỹ Điệp thành gia. Cậu giục Phượng :
- Em có lý! Phượng cần giúp anh một việc.
Phượng băn khoăn :
- Chuyện gì giúp cho anh đỡ khổ, em đều gắng.
Tân nghe tim mình đau nhói vì sự chí tình của hòn máu xẻ đôi. Tân bối rối, cậu đang ở hoàn cảnh của kẻ đắm thuyền, bám víu được gì để hy vọng sống còn đều khó bỏ qua. Còn nước còn tát. Cậu xua em thi hành một nhiệm vụ mà hậu quả chẳng có chút hy vọng mảy may :
- Em sang xem xét tình thế của chị Mỹ hộ anh!
Phượng xuống bếp hoàn tất nồi cháo cho anh, dặn dò :
- Cháo nguội, anh gắng ăn cho lại sức. Không ai thương mình bằng cơm với cháo đâu anh. Em đi đây.
Tân ôm em hôn lấy hôn để. Cậu nghẹn ngào :
- Anh hứa!
Phượng khuất sau cửa phòng. Tân tư lự. Cha con nhà mình đau yếu rề rề. Người đau lúc nào cũng gắng tự lực càng nhiều càng tốt. Kẻ mạnh luôn luôn yểm trợ càng thường càng hay. Chuyện này đã thành nếp. Do đó khi Tân ngã bệnh cậu rất ngại cha khổ, em cực. Cậu gắng ngậm đắng nuốt cay một mình. Vô thức đã tố cáo tội trạng si tình. Nếu Phượng rõ thì cha hay. Cha hay sẽ cực lòng cha. Đêm qua mình đã cung khai tội trạng đầu bù tóc rối, thân bẩn mùi hôi; mùi hương cùng mặt mày ủ ê, cha đã khổ công đem truyện Trạng Quỳnh, truyện Văn Vương để giáo đa. Hôm nay, nếu cha rõ tội si tình, mấy lời giáo đầu về ôn cố tri tân về tình yêu trong đêm rồi, sẽ thành trường thiên duyên hận vào những ngày sẽ tới.
Tân nghĩ vẩn vơ một lúc rồi chìm sâu trong cơn sốt.
Cụ Chánh có kinh nghiệm về cảnh gà trống nuôi con nên lúc nào cũng để mắt đến hai đứa con yêu. Những hoạt cảnh tự nãy giờ giữa hai anh em Tân, cụ đã rõ, đến khi Phượng luồn ngõ sau đi làm gián điệp cho Tân về Mỹ, cụ vội ra sau bếp đem bát cháo cá mà Phượng đã gia công, vào cho Tân. Thấy con đang sốt, cụ lấy chăn mỏng thay cho mền dày, nhúng khăn ướt đắp trán cho con, đoạn cụ lên nhà trên soạn thuốc giải nhiệt thì thầy Hương Quản xuất hiện. Thầy Hương Quản giáo đầu, báo cáo thời sự :
- Hôm 13-8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Ngày 25-8-1945, Bảo Đại thoái vị. Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh giữ Chủ tịch Chính phủ Lâm thời. Sự kiện này làm tôi lo ngại quá anh Hai!
Cụ Chánh rối trong lòng nhưng cố giữ thản nhiên; cụ an ủi :
- Ngày Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ, dân chết đói vì cung cấp cho cả Nhật và Pháp. Bây giờ Nhật hàng, Bảo Đại thoái vị, Hồ Chí Minh nắm quyền, nhưng nghe đâu dường như tướng Tiêu Văn đang vận động với Việt Nam Quốc Dân đảng, Đại Việt Quốc Xã và Đông Dương Cộng sản Đảng hợp lại thành một chính phủ quốc gia liên hiệp. Việc rủi ro về mạng sống chỉ còn thuần nét chính trị thôi!
Thầy Hương Quản phàn nàn :
- Làng mình xưa nay bằng an nhất xứ. Nay, làng xóm đã bị nhiễm độc chính trị ở mọi giai tầng. Đám trẻ từ thành thị bạo động cách khác. Nhóm dân bưng biền phát kiến cách khác. Bọn bất lương thừa cơ hoành hành khắp nơi. Tôi không chịu nổi tiếng bấc tiếng chì của giới trí thức. Tôi nghe nhức nhối đầu óc về cách nói chính trị kiểu cách của công nông. Tôi ghét hành vi trộm cắp vặt vãnh, táo bạo của bọn mất dạy. Vì vậy, tôi đến đây xin vấn kế anh về cách chạy làng. Trong đám Hội Tề cũ thiếu chi người, sao lại chĩa mũi dùi riêng tôi?
Thứ đến, đêm qua tôi đi tuần thám hộ cho địa phương, ngoài chuyện thu gom truyền đơn, biểu ngữ; giàn xếp mấy vụ đánh ghen, mấy cuộc đụng độ về chính kiến, về tôn giáo; có một vụ cướp giật mà nạn nhân có liên hệ đến cháu Tân. Số là có thằng choai choai cướp được miếng cẩm thạch mẻ. Nó đem cầm thế cho mụ bán bắp nướng là em gái tôi. Nhờ thế tôi điều tra và biết được rằng, tang vật thuộc quyền của cháu Mỹ, bạn gái của Tân.
Cụ Chánh trầm ngâm, đoạn phát biểu :
- Trước nhứt, anh Hương Quản tạm giữ miếng ngọc, để tôi điều nghiên sự vụ. Nghe đâu vật này có liên hệ đến nhiều người. Cách giải quyết khá tế nhị, không thể đơn phương quyết định được.
Thứ đến, tuy bọn Hội Tề cũ của chúng ta đã hết thời và về vườn cả. Lúc hưng thời, không ai làm việc nghiêm túc và chí tình bằng anh. Làm việc cho Tây thì Tây khen. Làm việc cho làng nước thì làng nước mến. Trật tự đâu vào đó, dân chúng yên ổn làm ăn, cũng nhờ một tay của anh. Do đó, mỗi khi làng có hữu sự, đều nghĩ tới anh. Ngày xưa ăn lương, anh làm việc tích cực. Những lúc làm chùa, anh cũng hết lòng, chẳng húng hiếp ai. Sự xuất hiện của anh giữa lúc này, họ vẫn tưởng là anh còn tại chức nên chĩa mũi dùi vào anh. Cá nhân anh được lòng nhà cầm quyền, nhưng chung qui tất cả hương chức thời cũ, tuy thôi việc hoặc bị bãi nhiệm, vẫn là cái gai trước mắt các mặt trận chống Tây, nhất là Việt Minh. Họ thực sự là đoàn viên của Cộng sản. Đảng này lợi dụng giới công nông để làm cách mạng nhưng quyền và lợi đều do Đảng nắm. Thành phần của giới này khá phức tạp. Một số có mối thù cá nhân thuở trước, sẽ thừa nước đục để trả đòn. Xét ra, bọn mình khó có đất dung thân. Mình đã chọn định mệnh cho mình. Sinh nghề tử nghiệp là duyên. Hãy lấy câu sinh ký tử qui để sống cầm canh trong an vi vậy!
Vừa lúc ấy ông cựu Hội Đồng bước vào. Ông trực nhập :
- Khổ tâm quá anh giáo ạ! Mấy ông cán Cộng đang xúi tá điền ngưng đong thóc trả tôi, nhưng lại thu gom, nại thế nuôi quân. Tôi làm già. Nông dân vừa trả hụ hợ, vừa mượn oai hùm, dọa cho tôi mò tôm. Thật là bất công!
Thầy Hương Quản ngứa nghề, vấn :
- Cán bộ xuất hiện bao giờ?
Ông Hội Đồng chán ngán, đáp :
- Lúc trước thì lén lút vào đêm. Bây giờ công khai ban ngày. Nhật ngã, Pháp suy, quốc gia yếu nên họ lộng hành!
Ông Hội Đồng quay sang cụ Chánh để vấn kế :
- Anh giáo bao giờ cũng sáng nước cờ. Tôi định bỏ của, dưỡng mạng. Anh liệu có nên chăng?
Thầy Hương Quản vốn không ưa bản tính của ông Hội Đồng. Lúc hưng ông hách, lúc suy ông lộ nết hùm hóa thỏ. Thầy nghe thấy ông tỏ giọng hèn, vội buông lời châm chích :
- Anh Hội Đồng à! Anh từng ăn lộc Pháp thì giờ đây anh phải trả nợ về Lang Sa. Dầu cho anh có đào hang, trốn chui trốn nhủi thì bọn Việt Minh cũng un khói cho anh trổ ngách xuất đầu lộ diện mà thôi!
Ông Hội Đồng thành công tài chánh là do dùng cái khiên nhịn nhục đỡ phía trước, bàn tay hám lợi lùa của thiên hạ vào kho báu phía sau. Ông không giận lời trêu cay nghiệt mà lại vừa cười hì hì, vừa ngọt ngào cám cảnh :
- Anh Hương Quản quả thật sáng suốt, đã vạch rõ cho tôi cái nhân và cái quả, nhưng anh không dạy phép đỡ đòn. Vậy, tôi muốn thưa với anh giáo một việc.
Cụ Chánh tự nãy giờ ngồi nghe hai con hùm đánh võ mồm. Bây giờ bất chợt bị gõ cửa nên đành đáp lễ :
- Chẳng mấy thuở anh Hội Đồng mới nhờ cậy. Chuyện dầu trọng đại đến đâu, ta lấy lòng thành đãi nhau thì đều ổn cả!
Ông Hội Đồng lấm lét nhìn thầy Hương Quản, đoạn ngỏ ý :
- Quả đúng như vậy! Trước kia, vụ con Nguyệt, con Minh động trời như vậy mà nhờ anh giáo can gián, nhờ anh Hương Quản nới tay nên gia trung chúng tôi vượt qua đại hạn.
Thầy Hương Quản được dịp kể công. Thầy đắc ý, cao giọng :
- Anh Hội Đồng à! Phép vua thua lệ làng là ở chỗ đó. Sự đồng thuận là yếu tố hữu hiệu để giải quyết vấn đề pháp lý. Thế có đúng chăng anh giáo?
Đã bị vấn thì cố mà đáp, cụ Chánh ôn tồn phân giải :
- Chuyện cháu Nguyệt, cháu Minh là hiện tượng xử chìm xuồng! Tuy rằng sự đồng thuận phát sinh hiệu lực pháp lý bất thành văn trên phương diện dân sự tố tụng, nhưng vẫn còn tồn đọng yếu tố tội phạm về mặt hình sự tố tụng.
Thật vậy, nếu nguyên đơn trở quẻ, họ chống án thì bị cáo sẽ vác chiếu ra tòa. Cháu Minh có thể bị gán tội sát nhân bởi thai nhi chưa được giảo nghiệm trước khi bị thả trôi sông!
Chuyện Hội Tề xử chìm xuồng là vi luật, không nên tái diễn, hầu tránh tội đồng lõa, hay ít nhứt, khỏi bị khiển trách làm thiên lệch cán cân công lý!
Ông Hội Đồng tái mặt :
- Cháu bị sẩy thai mà anh giáo?
Cụ Chánh chậm rãi chỉ điểm :
- Thai nhi không được cấp báo để giảo nghiệm mà lại đem phi tang. Xác thả trôi sông. Thai nhi không được bác sĩ khám. Chỉ có bác sĩ hữu quyền mới tạo biện chứng trước tòa để thẩm định buộc hay tha!
Thầy Hương Quản áy náy :
- Làng xã có ai được thuần huấn về luật đâu anh Hai?
Cụ Chánh nghiêm giọng :
- Chính tôi cũng chẳng sành, nhưng lấy lương tâm để luận khi được hỏi đến. Chuyện này xin dành lại cho giới chức có thẩm quyền và chuyên nghiệp thôi. Nơi thâm sơn cùng cốc có lắm chuyện tai hại bằng trời mà cũng triệt tiêu! Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, chỉ là sáo ngữ mà thôi!
Ông Hội Đồng lại chuyển mục :
- Thưa anh giáo! Tôi cũng xin anh niệm tình bỏ qua chuyện thằng Côn xúc phạm cháu Tân đêm qua!
Cụ Chánh mỉm cười :
- Đó là chuyện con trẻ. Có sức chơi, có sức chịu là luật giang hồ. Tôi dạy con tại gia chưa đủ, Côn là thầy để dạy Tân học lấy đắng cay, vinh nhục. Anh Hội Đồng đáp nghĩa như vậy thật là vạn đội!
Vừa lúc ấy, cựu Hương Cả bước vào. Thầy Hương Quản niềm nở đón. Ông Hội Đồng và ông Cả lườm nhau. Cụ Chánh đưa ông Cả vào phân ngôi chủ khách xong. Cụ đến bàn thờ lấy chai rượu Martini et Rossi cùng hộp lạc rang và mấy cái cốc nhỏ, bày lên bàn. Cụ phân trần :
- Lâu lắm rồng mới đến nhà tôm đông đủ như thế này. Tuy đơn chiếc, tôi cũng thết khách những gì trong nhà có sẵn để tỏ thảo tình.
Nói đoạn cụ rót rượu mời. Sau đó cụ mở lời :
- Có chuyện chi đến anh Cả phải nhọc lòng quá bộ?
Ông Hương Cả nốc rượu, đánh khà khoái trá :
- Vụ con Nguyệt lại tái diễn!
Ông Cả chưa lọn ý, cựu Hương Thân xuất hiện, ông cất tiếng :
- Xin chào làng nước!
Ông Hương Thân tiếp lời ông Cả, bóp méo sự thật :
- Con Nguyệt và thằng Tính nghe lời con Mỹ tổ chức phục kích cháu Tân để tìm nguồn gốc của miếng ngọc gia truyền, kéo theo là trận tái phục kích của cháu Hổ và Côn. Bầy trẻ làm bậy, cha mẹ gánh phiền!
Ông Cả tiếp lời nói ngoa của ông Hương Thân :
- Phải! Tử bất giáo phụ chi quá! May là đủ mặt bạn bè, khỏi cực lòng đi đến từng nhà để giải hòa. Cả bọn chúng tôi sơ xuất trong việc con cái nên động đến quí tử của gia sư. Tôi đề nghị nâng ly giảng hòa.
Mấy cái đầu bạc gật gù gật gưỡng, nhậu!
Ông Hương Thân bản tính ồn ào, quên lẽ cẩn tắc bất cập. Ông đem chuyện trẻ con đổ vạ cho làng :
- Phong Trào Thanh Niên Cách Mạng càng làm tới. Họ rình rập ngày đêm, hết rỉ tai lại đem cờ xí, truyền đơn, biểu ngữ kết bè thả trôi sông để tuyên truyền chống Pháp, diệt cường hào ác bá. Mặt khác, Tây lùng sục, nghi nan dân tình, công chức. Đồng thời Đại Việt Dân Chính, Dân Chủ Đảng, Đại Việt Quốc gia Liên Minh, Đại Việt Quốc Dân đảng cùng các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo tổ chức giành quyền tự chủ.
Thầy Hương Quản góp ý, lờ đi chuyện con nít :
- Cuộc chiến bùng nổ, Việt Pháp đang ghìm nhau. Đảng phái, dân chúng nổi dậy đòi quyền sống. Cá nhân chúng mình ở thế gọng kìm, tôi ngại lắm!
Ông Hương Thân bạo mồm, hù thầy Hương Quản :
- Anh Hương Quản lo là phải! Anh ân oán giang hồ hơi nhiều!
Thầy Hương Quản giọng rầu rầu, kể lể sự tình :
- Ăn cơm chúa phải múa tối ngày! Sinh nghề tử nghiệp oan trái! Hương Quản nào chứ Hương Quản này có bao giờ hống hách với dân đâu! Mình da vàng mà! Đâu phải ai làm việc cho Pháp đều là Việt gian cả! Đâu phải ai theo cách mạng cũng thuần yêu dân, yêu nước đâu! Sao gọi là ân oán giang hồ?
Ông Cả gật gù :
- Tây, Ta, chí sĩ đều có kẻ phá giới, nhảy rào cả! Guồng máy vô tình lắm. Trục nhỏ cưỡng lại vòng lớn sẽ bị nghiền nát. Anh có than thân cũng vô ích!
Ông Hương Thân thở dài, chống chế :
- Bao giờ mới có một guồng máy tốt? Cơ khổ! Tôi là người Minh Hương, thấy Cách Mạng 1789, Cách Mạng 1911 dựa vào nhân bản nên thờ Tôn Văn, treo cờ Thanh Thiên Bạch Nhựt, nào có nghĩa tôi xé rào đâu anh Cả?
Ông Hội Đồng ngứa mồm, gài ông Hương Thân :
- Anh treo cờ Thanh Thiên Bạch Nhựt và hình Tôn Văn? Vậy anh có biết nguyên nhân, hậu quả của việc mình làm không?
Ông Hương Thân tự ái, quên cả giữ gìn, vội dài dòng :
- Tôn Dật Tiên là ông tổ của cuộc Cách Mạng ở Trung quốc. Ông được xem là quốc phụ của dân Hán, vì đã đưa họ thoát vòng hệ lụy của tập đoàn phong kiến Mãn Thanh, tránh được sự thôn tính của liệt cường Âu châu.
Tôn Văn sinh tại xã Tuý Hương, huyện Hương Sơn, tỉnh Quảng Đông. Cha là Tôn Đạo Truyền, làm nghề thợ may ở Ma Cao.
Lúc thiếu thời, ông học trường Công giáo ở Honolulu. Ông đỗ y khoa tại Ma Cao, đổi tên là Tôn Dật Tiên.
Năm 1895, ông bước vào chính trường. Do ảnh hưởng Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, ông thấm nhuần tư tưởng của J.J. Rousseau, Montesquieue, Voltaire, ông liên lạc với vua Quang Tự để lật đổ Tây thái hậu, nhằm phá cổ duy tân, chuyển ác lập thiện. Âm mưu bất thành, Quang Tự bị đầu độc, Tôn Dật Tiên sang Mỹ để hoạt động.
Năm 1900, Bát Quốc Liên Quân buộc Thanh triều ký nhiều hiệp ước bất bình đẳng.
Năm 1901, chính biến Mậu Tuất thất bại, ông sang Nhật, Âu để cầu viện.
Ngày 10-10-1911, Cách Mạng Tân Hợi thành công ở Vũ Xương, lan dần Hán Khẩu, Thượng Hải. Chế độ Cộng hòa ở Nam Kinh được thành hình.
Ngày 1-1-1912, Tôn Dật Tiên được công nhận làm Tổng thống lâm thời của Trung Quốc Cộng hòa. Sau đó Viên Thế Khải được Nghị hội Cách mạng bầu làm Tổng thống, Tôn Dật Tiên làm giám đốc thiết vận. Mặc dầu Quốc Dân đảng thắng thế trong cuộc bầu cử, Viên Thế Khải giải tán quốc hội, khủng bố cách mạng.
Năm 1913, cuộc đảo chính Viên Thế Khải bất thành, Tôn Dật Tiên trốn ra nước ngoài. Viên Thế Khải công bố hiến pháp, ấn định nhiệm kỳ Tổng thống là 10 năm.
Năm 1915, Nhật chiếm Sơn Đông, buộc Viên Thế Khải chấp nhận nhị thập nhất điều. Viên Thế Khải xưng vương. Dân vận động tổng khởi nghĩa, Khải buộc lòng trở lại chế độ Cộng hòa. Thất thời, Khải tự tử. Lê Nguyên Hồng lên thay.
Đệ Nhị Thế chiến bùng nổ, liệt cường đưa Trung Hoa lâm chiến với Đức. Tôn Dật Tiên gửi kháng thư cho Anh. Trung quốc bị loạn sứ quân Mãn Châu, Hoa Bắc, Hoa Nam.
Năm 1921, Cách mạng thành công tại Hoa Nam, thiết lập Đệ Nhị Cộng Hòa, Tôn Dật Tiên là Tổng thống. Lúc ấy Quốc Tế Cộng sản thành hình ở Nga, Tưởng Giới Thạch được cử sang Moscou để cầu viện. Nga cử phái bộ Borodine và Galen, trong số đó có Lý Thụy, sang vấn chính.
Tháng 6-1924, với cố vấn Nga, trường võ bị Hoàng Phố được thành lập, dưới sự điều khiển của Tưởng Giới Thạch.
Năm 1924, Bắc Kinh cử Đoàn Kỳ Thụy, Tào Côn; Nam Kinh cử Hồ Hán Dân để dự Hội nghị Thống nhất Trung quốc.
Ngày 31-12-1924, Tôn Văn đến Bắc Kinh và từ trần ngày 12-3-1925.
Ông Hội Đồng rót rượu trao cho ông Hương Thân :
- Đây là ly rượu thưởng, chúng tôi đã rõ ông là ai rồi.
Ông Hương Thân tiếp nhận. Trước khi cạn chung, ông nói :
- Xưa kia, nhà truyền giáo Tây phương biết dân Á châu thâm Khổng, bản chất cứng cỏi mà vẫn dấn thân. Tôi là loại dân cứng đầu đó. Tôi lại không đến đổi ngu để nhận thức giữa bạn và thù. Tôi rõ bạn thì ngại chi chuyện luận về cương lĩnh mình theo?
Hơn nữa, lẽ công bình đảng đã vạch rõ: tử dành cho kẻ phản, hiểm nguy ban cho kẻ anh hùng! Tôi há sợ chết mà bỏ truyền thông tư tưởng của đảng hay sao?
Nói đoạn, ông Hương Thân nốc chung rượu, hân hoan :
- Tiểu sử đảng và đảng trưởng không quan trọng bằng cương lĩnh. Cương lĩnh ích quốc lợi dân thì người mới chọn mà dâng hiến trọn đời.
Xin mời quý bạn cùng nghe.
Dân Trung Hoa biết được tư tưởng của J.J. Rousseau, Montesquieue, Voltaire qua Vạn Pháp Tinh Lý và Xã Ước Luận của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, nên không tin tưởng nền quân chủ thống trị bởi Hán tộc.
Tôn Dật Tiên đã tuyên bố tìm chân lý khó, thực hiện chân lý dễ. Giác ngộ quần chúng hiểu quyền lợi và nhiệm vụ quật cường, đó là tri nan; khi đã thông con đường để vùng dậy, đó là hành vị.
Điều sinh tồn của một dân tộc là sự tương quan giữa tư tưởng và chủ nghĩa: Chủ nghĩa là một tư tưởng, một tín ngưỡng, một lực lượng. Nhân loại khi nghiên cứu một chân lý, tư tưởng nảy sinh trước tiên, tín ngưỡng xuất hiện kế, tạo thành một sức mạnh sau đó.
Chủ nghĩa dân tộc là phương tiện sinh tồn của nhân loại. Chủ nghĩa này bị bỏ rơi, đồng thời chủ nghĩa thế giới bành trướng, dân tộc sẽ hủy diệt. Muốn phát triển chủ nghĩa dân tộc thì phải theo tiến trình: gia tộc, tông tộc, quốc gia. Đó là dục bình thiên hạ, tiên trị kỳ quốc. Muốn tu, tề, trị, bình thì cá nhân phải trung, hiếu, nhân ái, tín nghĩa, hòa bình. Đó là trung với dân, hiếu với quốc, ái dân như tử. Giữa dân và quốc, phải vô hiệu hóa chủ nghĩa đế quốc để duy trì địa vị dân tộc trên trường quốc tế, trong nhân loại.
Chủ nghĩa Dân Quyền và Nhân Sinh là đường lối gây thực lực chính trị. Chính là chúng nhân chi sự. Trị là quản lý công việc của mọi người. Như vậy, dân có quyền chăm nom công việc chính trị. Quyền là lợi khí quan trọng để bảo vệ sự sinh tồn của nhân loại, thiết lập một nền chính trị dân chủ cho Trung quốc. Uy quyền của nhân loại trải qua bốn thời kỳ: hồng hoang, thần quyền, quân quyền, dân quyền. Thời hồng hoang, người dùng sức tranh với thiên nhiên và thú, chưa biết dùng quyền. Thời thần quyền, người tranh với trời. Thời quân quyền, người tranh với người, quốc gia tranh quốc gia. Thời dân quyền, dân tranh với vua, quan; người lương tranh với kẻ ác; công lý đương đầu với cường quyền.
Thầy Hương Quản nhìn cụ Chánh với sắc diện vui mừng :
- Anh Hương Thân có con mắt tinh đời. Chúng mình tuy làm việc cho Tây mà đích thực đều là công bộc vì đồng tiền. Tôi đang lo sốt vó để tìm con đường chọi lại mọi áp lực chính trị. Anh ấy đã lái chí hướng của tôi.
Chúng ta sẽ gặp nhau có ngày.
Ông Hương Cả móc họng ông Hội Đồng vì thù xưa :
- Anh Hương Quản đã tìm được đường thoái, còn anh Hội Đồng nên thức thời một chút. Mê bơ sữa quá, nhắm mắt ôm chân Tây, có ngày Việt Minh họ cắt đầu treo gốc cẩm để hù trẻ đó!
Ông Hội Đồng trả đũa. Ông cười hì hì, phản pháo :
- Tôi mất đầu. Thiên hạ nhìn cơ thể béo tốt cũng phán một câu thương tiếc: “Kẻ giàu sang sao không sống lâu để hưởng”. Nhưng có người, ngoài liêm khiết, trong mãi lọc lừa của dân đến ốm go gầy mòn. Khi họ làm thằng chổng trôi sông, thiên hạ bảo: “Hắn phì nhiêu giả tạo!”
Ông Cả lườm :
- Anh gài anh Hương Thân móc cả ruột gan ra để trình làng. Anh muốn gì ở tôi mà móc ngoéo vậy?
Ông Hội Đồng bưng chung rượu nốc cạn. Đoạn ông cười hì hì, đáp :
- Tôi đâu nêu đích danh Cả, sao Cả ra miệng? Tôi chỉ đề cập đến rể con của họ, gây khó cho cha vợ thôi!
Ông Hương Cả sừng sộ :
- Anh nói trắng trợn như vậy còn trả treo làm gì?
Ông Hội Đồng phân trần :
- Thằng Tính, rể tương lai của anh, nó ve vãn thằng Hổ, thằng Côn con tôi, thằng Lương con anh Hương Hào, thằng Tân con anh giáo nhập Thiên Địa hội. Bộ nó muốn bầy trẻ bỏ học hay sao?
Ông Hương Thân đỡ lời :
- Anh Hội Đồng cho phép tôi phát biểu. Thằng Tính là con trai tôi, tôi đã ảnh hưởng nó. Tâm địa của nó thường theo đuổi ý tưởng tha nhân. Gặp ai nó cũng mời gọi thương nước yêu nòi. Tình cảm không đủ hiệu lực lôi cuốn người hơn lý tưởng họ hằng mong. Con tôi có tâm địa nhưng thiếu khôn ngoan nên đã gây phiền bạn bè và cô bác, xin...
Thầy Hương Quản vội cướp lời :
- Anh Hương Thân lịch sự thái quá! Chuyện này cũng tương tự như kẻ bán có quyền quảng cáo, người mua tự do lựa chọn và quyết định. Như vậy, kẻ trách cứ, người xin lỗi, đều làm chuyện thừa thãi cả! Không ai có thể độc quyền yêu nước, nhưng người có lòng cũng chẳng nên làm ngơ khi quốc nạn. Sợ con thất học mà để mất nước, mất dân, dốt lại hoàn dốt. Trí thức lại thua thằng mù chữ như tôi hay sao?
Ông Hội Đồng tõn tè, lái sang chuyện khác :
- Thực ra tôi đang cùng đường nên mới sang đây vấn kế anh giáo, không ngờ gặp được anh Hương Thân, người mà tôi hằng ái mộ. Bầy trẻ nhà tôi mách rằng anh ấy là người của Thiên Địa hội. Tôi muốn nhờ quới nhơn tiến cử, nhưng e quá đường đột nên đưa đà nói chuyện chủ nghĩa Tam Dân để tìm chính quả.
Anh Hương Thân à! Nếu anh có lòng tha nhân xin anh trình bày nốt lai lịch và chủ trương để tôi thông suốt mà theo!
Ông Hương Thân từ tốn :
- Anh Hội Đồng có thiện ý như thế, tôi chẳng tiếc công. Việc vào Đảng cũng khá tế nhị, xin anh về suy cạn rồi tôi sẽ tiến cử đến kẻ có thẩm quyền nói hết, nói tất.
Thầy Hương Quản gật gù :
- Chúng ta quấy rầy gia chủ hơi nhiều, chuẩn bị nhổ neo là vừa. Nào! Dô! Dô!
Tất cả cử tọa đều hưởng ứng. Riêng ông Hội Đồng chỉ nâng ly và phẩm bình lời nói ngọng của thầy Hương Quản :
- Ông thần lưu linh mà đọc ám tả thì trò nhỏ đành cắn bút chào thua! Vô thì vô!
Ông nốc cạn và đánh khà một tiếng có vẻ khoái trí.
Ông Hương Cả nhớ hận cũ nên đỡ đòn cho thầy Hương Quản :
- Người dốt chữ nghĩa có thiện chí thì còn hy vọng hay chữ, chứ kẻ dốt nhân cách, có căng nọc đét đít, tính mất nết cũng tồn căn!
Ông Hương Thân giảng hòa :
- Chúng mình là kẻ đồng hội đồng thuyền, trống đánh xuôi kèn thổi ngược mãi, chìm xuồng thì chết cả!
Ông Hội Đồng cười hì hì :
- Ngày xưa háo thắng, háo danh, háo sắc, háo tiền tài nên tôi làm bậy hơi nhiều, anh Hương Cả dạy cũng phải lời. Xét cho cùng, bầy trẻ bây giờ khá giác ngộ nên nhìn gương mà bọn già chúng mình đáng ngả mũ chào. Tôi dù có lì như trâu, roi đòn thời gian giáng xuống lương tâm đau lắm, đâu cần phải bị căng nọc, chịu ăn roi mới chừa! Những gì tôi xúc phạm tới bạn bè ngày trước, cũng xin niệm tình bỏ qua. Tôi cũng như nhân vật trong Crime et châtiment, tôi mãi chờ punition từng phút, từng giờ, việc mà tôi đã phá gia cang của anh Hương Cả. Do đó anh Cả có ra tay giết tôi chết, tôi cũng cam đành hơn là nghe anh than khéo!
Bọn nhỏ đã trưởng thành, nó đã biết cả và thông cảm tha thứ cho nhau, đùm bọc nhau. Còn tôi, tôi không dám xin anh Cả tha thứ. Anh có hành hạ cách gì tôi cũng cam!
Ông Hương Cả đứng dậy, cặp nách chiếc dù có cán cù ngoéo, chậm chậm bước ra, nghiêng chào bè bạn. Khi đi ngang qua ông Hội Đồng, ông Cả vịn vai người bạn già lắc nhẹ, rồi câm lặng quay đi. Ông Hội Đồng xúc động quên cả chào giã từ, ông lầm lũi trốn chạy. Thầy Hương Quản lắc đầu, đoạn bắt tay gia chủ rồi lui ra.
Đợi tất cả mọi người đi xa, ông Hương Thân bảo khẽ cùng cụ Chánh :
- Mỹ về nhà đã gặp ý trung nhân của cháu, chuyện đã vỡ lẽ nhìn gà hóa cuốc, cháu rất ngại về lời xúc phạm đến ân sư và quí tử của thầy. Tử bất giáo phụ chi quá, tôi đích thân sang đây để xin anh giáo niệm tình thứ lỗi cho chúng tôi nhờ!
Cụ Chánh ôn tồn :
- Chuyện mấy đứa nhỏ nhà ta trêu nhau trong đêm đã đưa đến một cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa. Nó giúp ta rõ chính kiến của nhau, giải quyết những uẩn khúc tưởng chừng vô vọng, tạo nên thân tình để nương nhau theo con đường gần dân, cận nước. Đó là điều đáng lưu ý, còn mối tình con của đôi trẻ thì, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng. Dù chúng mình gắng cưỡng lý cũng chẳng thành gia. Đem lỗi, phải mà đong, vong tình càng nặng!
Ông Hương Thân nặng nghĩa, đuối lý, đành kính cẩn chia tay.
Khách vừa lui. Cụ Chánh khép cửa, vội lui vào buồng thăm con. Bát cháo nguội lạnh, nhìn con nằm co ro, nước mắt hoen mi. Cụ xúc động than khe khẽ: “Thuyền quyên chuyển bến hẹn hò; xác xơ đầu bạc, gầy gò tóc xanh! Tình sử nhà ta lại tái diễn nữa rồi! Vết xe cha đi, rong chưa mờ, chân mềm con trẻ lại vương rêu! Rõ là nghiệp chướng!”
Phượng đẩy cửa bước vào. Cụ Chánh ra dấu đến kề, cụ khẽ vấn :
- Con bồ câu trắng của cha đem hung tin về đó chăng?
Phượng tròn xoe đôi mắt :
- Sao cha biết?
Cụ Chánh xoa đầu con gái cưng :
- Ông Hương Thân, cha của đôi uyên ương vừa thông tri lúc nãy!
Tân trở mình. Cụ Chánh sờ đầu con, cụ bảo :
- Trán nóng hầm! Cơn sốt đang hành đây!
Cụ Chánh quay sang Phượng, cụ chỉ thị :
- Con đem hâm nóng bát cháo, đoạn đến bàn thờ lấy gói thối nhiệt tán cho anh con uống trừ căn!
Cụ Chánh đánh thức Tân và thay quần áo sạch cho con. Tân cố gắng ngăn cảm xúc, nhưng mắt hoen mi đã tố giác cậu khóc thầm trong cơn mê.
Cụ Chánh an ủi :
- Cảm người, thương cha, mến em cứ khóc cho hả. Đấy là lối thoát. Đừng nén cơn đau, ẩn ức tích tụ thì càng nguy! Tuy nhiên nên nhớ rằng, làm trai cho đáng nên trai, xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan!
Tân ôm vai cha, cậu thều thào :
- Dù sao con cũng là nam nhi, sự bi lụy chỉ lộ trong lúc mê hoảng thôi cha ạ. Khi thức giấc, can đảm chịu đựng cũng có thừa! Cha không phải bận tâm.
Cụ Chánh gật gù :
- Thế là tốt! Hãy xem lỡ mối duyên đầu là cái khiên dùng để chống giặc tình, hầu đạt vương hậu tương lai. Không nên bi sầu theo kiểu xe tang theo ngựa trắng!
Phượng đã dọn thuốc và cháo sẵn sàng cho anh. Cụ Chánh khuyên Tân :
- Cha biết con không thèm ăn. Tuy nhiên từ đêm qua không có cơm cháo gì cả. Hãy cố ăn cho chắc dạ để thuốc vào không hành bao tử.
Cụ Chánh quay sang bảo Phượng :
- Phượng! Con đem bức thư cha gửi cho chú Tăng Hưng, cha của A Phùng, nhờ cậu Sáu lơ xe đò Phước Hiệp trao hộ!
Phượng tò mò và lo âu :
- Cha định đưa anh Hai lên tỉnh dưỡng bệnh?
Cụ Chánh kiên nhẫn trả lời con cưng :
- Cha muốn liên lạc với cha của con Phụng?
Phượng vỗ trán, chau mày :
- Phụng nào vậy cha?
Cụ Chánh nhướng mày :
- Còn phải hỏi! Nhà mình quen thân với mấy Phụng, hả con?
Phượng sực nhớ, cô phì cười :
- Tí nữa thì quên! Chị Phụng, người tình không chân dung của anh Hai!
Cụ Chánh trêu :
- Sao lại không chân dung?
Phụng tếu :
- Chân dung của chị Phụng bị chị Mỹ áng mất rồi!
Cụ Chánh ra ám hiệu bảo Phượng đừng đá động đến Mỹ. Cụ chuyển đề :
- Con lý sự mãi, trễ mất chuyến xe thì hỏng.
Phượng nhoẻn miệng cười, nhanh chân đến bàn, nhặt thư cha, biến dạng.
Đợi em đi khỏi, Tân tò mò hỏi cha :
- Chú Tăng Hưng, chú Hương Thân, cha của Điệp và Phụng là người của Nghĩa Hòa Đoàn phải không cha?
Cụ Chánh trầm ngâm, đoạn ngước nhìn Tân đặt vấn đề :
- Tại sao con hỏi thế?
Tân giải bày :
- Thân với A Phùng nên con rõ chú Tăng Hưng. Con nghe các chú, các bác và cha bàn lúc nãy. Con hiểu được chí hướng của chú Hương Thân. Cha lại nhờ chú Tăng Hưng trao thơ cho cha của Điệp và Phụng, nên con suy diễn thế ấy!
Cụ Chánh gật gù :
- Con luận gần đúng nhưng có chút khác biệt. Cha của Phụng và Điệp là người của Quốc Dân đảng. Hai người ấy thân nhau vì chung thù chống Pháp mà thôi.
Tân ngần ngừ, đoạn nhìn cha e dè :
- Vậy cha là người của Quốc Dân đảng?
Cụ Chánh ngó lên trần :
- Chuyện cha trao cho anh Thuận, cha của Điệp và Phụng là muốn kết thông, vì Phụng là cô gái khá vẹn toàn!
Tân mạn phép ngăn lời cha :
- Xin phép cha cho con thưa. Con đã rõ chú Thuận là người của Quốc Dân đảng vì Phụng cùng chí hướng với chú ấy, và rõ Điệp lại theo Nghĩa Hòa Đoàn, do chính miệng của anh ấy nói. Do đó nên con mới dám hỏi ý của cha.
Cụ Chánh nhìn thẳng đứa con yêu, nghiêm nghị phát biểu cảm tưởng :
- Con nay đã trưởng thành, dù cha nói thật đời tư của cha, chí hướng của cha cũng vô hại. Phải. Cha là một hội viên thông thường của Quốc Dân đảng. Kẻ sĩ trong cơn tao loạn nên kề vai với người cùng lý tưởng để gánh vác việc nước dù lớn hay nhỏ, ở lãnh vực nào cũng được, miễn ích quốc lợi dân là điều nên làm.
Cha như thế, con thì sao?
Tân không khẳng định vội lập trường, cậu dài dòng trưng bằng :
- Cao trào chống Pháp đang lên, cứu cánh đồng nhứt, nhưng phương tiện đa diện, hóa ra đa đảng, đa phái, có hơi xung khắc nhau. Dân gian chia nhau trăm hướng, gia đình xé lẻ nhiều phương. Theo chỗ con biết, gia đình chú Hương Thân, Tính và Mỹ cùng cha hoạt động cho Nghĩa Hưng Đoàn. Nhà chú Thuận, Phụng cùng cha là hội viên của Quốc Dân đảng, Điệp hợp tác cùng chú Hương Thân. Bác Hội Đồng lừng khừng, Hổ yểm trợ Quốc Dân đảng, Côn làm việc cho Tây. Chú Hương Quản nghiêng về Nghĩa Hòa Đoàn, các con là Thiện và Ngôn theo Cao Trào Thanh Niên Cách Mạng. Chú Hương Hào và Lương lại bất nhất.
Trong cụm bạn bè ở cái quận nhỏ như thế, mới hôm nào chung lối trong mái trường. Nay đi học xa, tiêm nhiễm nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau nên đã bắt đầu nhìn nhau bằng tia mắt tị hiềm, vì đảng phái, độc quyền yêu nước, nên ý nghĩa đoàn kết chống ngoại bang bị thiên lệch đôi chút.
Cụ Chánh thăm dò con lần nữa :
- Bạn bè của con đã thế, còn con thì sao?
Tân thẳng thắn trình bày :
- Tiên khởi, đảng phái nào cũng đề cao bởi dân, vì dân, do dân, bằng nhiều hình thức. Lúc cùng khốn, chủ trương dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, được đảng trưởng, nhà lãnh đạo đem chia đều trong tâm khảm của đoàn viên. Để hoàn chỉnh cứu cánh bài phong, chống thực, đảng nào cũng dùng phương tiện kỷ luật hoặc từ tốn hoặc sắt đá để giữ kẻ dưới trướng. Cái tự do quí giá của cá nhân bị tạm cắt xén một phần hoặc toàn phần. Hiện tượng guồng máy bắt đầu. Chiến đấu càng gian khổ, guồng máy càng tinh vi. Khó khăn càng chồng chất, guồng máy càng đanh thép. Ý nghĩ quân vi quí, xã tắc thứ chi, dân vi khinh nở nhụy, khai hoa vào ngày vinh quang đạt thành sở nguyện. Nếu may, kẻ lãnh đạo lấy đảng phái làm lực lượng cân bằng quốc chính. Tự do của thuộc cấp, của dân, tuy đã mất nhưng còn được sống trong trật tự, an ninh. Nếu rủi gặp kẻ lãnh đạo có tham vọng cá nhân, có đầu óc đảng phái, tập đoàn chiến đấu trở thành guồng máy kềm kẹp trực tiếp đảng viên và gián tiếp quần chúng. Hậu bị đã trở thành bởi đảng, vì đảng, do đảng. Quyền lợi của dân bị đe doạ, tự do ban đầu của dân bị đánh tráo! Tất cả hậu chung đều đảo ngược với duyên khởi!
Cụ Chánh gặng hỏi :
- Con nhìn đảng phái dưới lăng kính khá bi quan!
Tân khai triển :
- Phe đảng luôn luôn dùng tôn chỉ siêu việt, cương lĩnh hào nhoáng để thuyết phục người, dùng kỷ luật uyển chuyển, tinh vi để giữ người, dùng địa vị để mua chuộc sự trung thành. Nhưng dân, là thành phần đa số, họ không cần những thứ ấy. Quan niệm của họ rất đơn giản: tay làm, hàm nhai; đừng ai cướp cơm, đừng ai quấy rầy họ là họ vui!
Cụ Chánh ngăn :
- Quan niệm an thân? Thụ động?
Tân phúc :
- Thưa không! Dân hưởng ít, đóng góp nhiều. Đảng phái làm họ vui, họ hỗ trợ tích cực để giữ vững hòa khí. Đảng phái làm họ buồn, họ lánh xa để đảng khác lấn lướt, hủy diệt giúp họ. Đảng phái làm họ giận, họ nổi điên. Chính quyền làm họ mất lẽ sống, họ vùng lên tỏ thái độ.
Từ ngàn xưa, giải quyết loạn nước, chống ngoại xâm, chỉ có dân, không có đảng, nên ý chí đồng nhất là sức mạnh làm nên lịch sử non nước trường tồn. Cá nhân Lê Lợi, Trưng, Triệu... xuất hiện kịp lúc, giải quyết kịp thời. Thượng minh, hạ chính, nội an, ngoại bình, một tấc đất không mất, một vinh dự không nhơ.
Điều quan trọng hơn cả, một cá nhân làm sai dễ sửa hơn một đảng phái làm xằng. Một lãnh tụ độc tài dễ lật hơn một đảng chuyên quyền. Họa nước, hoạn dân tùy thuộc rất sâu xa giữa cá nhân và đảng phái!
Cụ Chánh nhóng ý :
- Con không thích gánh vác? Làm trai cho đáng nên trai cơ mà?
Tân ôn tồn thưa :
- Thưa cha, bàn tay năm ngón, kích thước, sở dụng khác nhau, ngón út không so ngón cái. Anh hùng trong thiên hạ tài trí, sở chiêu cách biệt. Đo thất phu không sánh hiền nhân.
Kẻ cơ hội nắm quyền, thất phu tài thô, trí thiển dễ đưa dân, nước đến tai ương. Thời thế tạo anh hùng không vinh, không vững.
Trong tao loạn, hiền nhân chẳng ngại gian nguy, lấy tài trí để trị bình, vận nước dễ đạt, dễ an. Anh hùng tạo thời thế, danh vang, bền đỗ.
Nói chung, kẻ kém biết lùi phía sau để nhượng vị, biết tiến phía trước để phù thế, là người quân tử. Kẻ giỏi biết dấn thân trước đại sự, biết chia gian khổ, biết ban ân huệ của đất trời cho người chung hướng, tha thứ đối phương, tác tạo ấm no cho dân, đấy là bậc trượng phu.
Dù giỏi hay kém, khi gặp biến, đều chung lưng hành hiệp, không cần ràng buộc bởi phe phái, tùy thời cơ ứng khởi, tùy lực lượng ra tay, thì khó bảo là người không thích gánh vác việc ngoài, không xứng danh trai!
Cụ Chánh bắt bí :
- Thế thì hiện tượng đảng phái, con sẽ giải thích ra sao?
Tân rõ ý cha trắc nghiệm đời sống của cậu với đời sau này. Cậu đặt điều kiện :
- Đảng phái đều tốt cả, nếu chung chí hướng, chung gian khổ, chung phúc lợi, nhưng quyền lợi của toàn dân phải thượng tôn triệt để, phải vun bồi tận lực, vinh nước phải vang danh.
Cụ Chánh đẩy Tân đến chân trời xa :
- Nếu những lý tưởng đó đều đạt, con sẽ là hội viên của đảng phái nào?
Tân ôn tồn :
- Con vẫn tôn trọng, nhưng vẫn ngoài đảng!
Cụ Chánh vạch rõ lợi hại :
- Kẻ độc lập dễ bị thiệt thòi.
Tân giữ vững lập trường :
- Con thích quan niệm của thằng Bờm! Con trọng nếp sống của người Bohémien! Con thích tự do, tuy không được libre comme le vent, vì quyền tự do của kẻ khác, nhưng dù sao sự thơ thới giúp con yêu đời. Dĩ nhiên giá tự do phải chấp nhận điều bất trắc.
Cụ Chánh gật gù, mỉm cười không nói.
Tân rõ sự tế nhị của cha, cậu thêm :
- Thưa cha! Thế độc lập, thế tự do là thế hòa để sống khách quan hơn, nó không có ý nghĩa bất hợp tác với xã hội, với cộng đồng mà là thái độ tương nhượng, tiến thủ sao cho hợp qui cách giữa người và ta, trong tinh thần biết tự chủ.
Cha của con là người sáng suốt, là đảng viên của một đảng tốt. Con là dân biết phù đảng tốt, lánh đảng xấu. Cha nhập đảng vì lòng yêu nước, con thương cha, tức con thương nước. Cha tu, tề nghiêm chỉnh, ắt cha trị bình không khó, tuy nhiên cha không tham, chỉ đóng góp theo thời. Con chính kiến không sáng, tài cán tầm thường, thân tu chưa trọn, thất tình lục dục đầy căn, gia ắt tề không vẹn, quốc chỉ phục chứ không có khả năng bình.
Con hiện đang cố tu tâm dưỡng tánh, xin cha đem truyện xưa tích cũ mà điểm khuyết cho con nhờ!
Cụ Chánh cười hiền hòa :
- Cha tôn trọng ý của con. Trong lúc nghỉ hè, cha con ta đều an nhàn, con đang bị tiếng sét ái tình làm điên đảo. Dạy con, không gì hay bằng lấy điển tích mà soi. Còn sáng hay mù là do con nhận xét. Cha điểm khuyết cho thêm phần hứng thú.
Theo chiều hướng đó, cha nhớ đâu thuật đó. Con cố nắm ý cốt truyện, đoạn luận cho cha nghe. Vậy cha bắt đầu:
“Diệp Sinh, nửa đời luân lạc, thi mãi không đậu, sau theo quan đỡ đầu về dinh, kèm thí sinh, cả hai đều đỗ đạt cùng khóa. Nhân đi phó nhậm, tiện đường, Sinh ghé thăm quê. Vợ nhà thoạt thấy chồng, kinh hãi quỳ thưa: Nhà nghèo, xác liệm chưa chôn, xin chàng niệm tình đừng hiện hình qui trách!
Nghe đến đấy, thi thể Diệp Sinh chỉ còn là đống áo mão tại hiện trường.
Bấy giờ mới rõ lại, lúc vị quan mời Diệp Sinh về kinh, chàng đang đau nặng, hồn rời xác theo người cho vẹn ước mơ!”
Cụ Chánh dứt lời. Tân diễn ý :
- Thế mới biết cái tinh anh của một người bất đắc chí mạnh mẽ vô cùng!

0
8
 
Làm người, thuở cha sinh, lòng vô tư lự, trắng trong như trang giấy, thèm khát du nhập ngoại kiến. May mắn, được học hỏi kinh thư của thánh hiền thì tiếp thu điều hay, đẩy lùi ngu dốt. Vô phúc, rơi vào tay ma quỷ, lợn lòng nổi dậy, thú tính thoát thai để dung nạp tội ác chất chồng, thân sa đoạ, họa gieo người! Có mấy ai tự giác ngộ như Diệp Sinh đâu! Đấy là gương xưa, cha đem soi cho con một lẽ sống vậy!
Cụ Chánh ra phòng khách, mang khay trà vào. Trên khay, Tân thấy có nhiều lọ đựng các con bọ đủ màu.
Cụ Chánh vừa rót hai tách trà cúc, phân phối cho hai người, vừa khơi mào :
- Tình yêu trai gái đa diện như sắc hoa, cha sẽ tùy cường độ yêu thương mà thuật chuyện, con căn cứ đó mà thấm nhuần.
Nói đoạn, cụ lựa một con bọ đỏ sậm, đặt lên khay, cụ vào truyện :
- Tống Mục Công nhớ ơn anh là Tống Tuyên Công truyền ngôi, nên sau đó phế con là Công tử Phùng, chuyển vị cho Tống Thương Công. Công tử Phùng trốn sang Trịnh, Tống Thương Công do đó đánh Trịnh đến ba lần.
Quan Thái tể Hoa Đốc là bạn của Công tử Phùng, ngoài mặt không ngăn, nhưng trong lòng bất bình về việc gây hấn đó.
Tống Thương Công tin dùng Khổng Phủ Gia hơn Hoa Đốc. Khổng Phủ Gia là chồng của trang quốc sắc Ngụy Thị. Ganh địa vị chồng, đắm hương sắc vợ, Hoa Đốc giàn độc mưu:
Khổng Phủ Gia từ ngày thua Trịnh ở Đái Quốc, lúc nào cũng thao luyện binh mã. Binh sĩ khốn đốn vì bại chiến. Nay, nhọc nhằn trong thao luyện nên khi nghe Hoa Đốc phao tin Khổng Phủ Gia chuẩn chiến, toàn quân mang nỗi kinh hoàng!
Để rõ thực hư, quân sĩ mang cả thê nhi đến dinh của Hoa Đốc để cầu bàu. Sau lúc giằng co, Hoa Đốc trang bị gươm giáp, xuất dinh, đem lời mỵ nhân, khuyến dụ đám đông trút lỗi bại chiến lên người Khổng Phủ Gia.
Quân sĩ đồng thanh phát biểu :
- Họ hàng chúng tôi trải qua bao năm chinh chiến, tử vong gần tiệt. Nay Tống Vương và Khổng tướng lại sinh sự với Trịnh bang, vốn binh hùng sĩ dũng, thì có khác chi đem dê dâng hổ. Chúng tôi quyết sinh tử với Khổng Phủ Gia, thà chết tại quê nhà hơn bỏ xác ở đất khách!
Hoa Đốc vờ nhân nghĩa :
- Khổng Phủ Gia vốn là bề tôi lương đống của chúa công ta. Phạm quí là điều không nên!
Quân sĩ nhao nhao :
- Nếu chúng tôi được ngài đứng ra lãnh đạo, ngay cả hôn quân, chúng tôi cũng chẳng từ.
Quân sĩ dìu Hoa Đốc lên xe, đến vây dinh của Khổng Phủ Gia. Bấy giờ Khổng tướng đang ngồi uống rượu, được tin gia nhân cấp báo có Hoa Đốc đến bàn chuyện, vội mũ áo chỉnh tề ra nghênh tiếp.
Vừa thoáng thấy Khổng Phủ Gia, Hoa Đốc quát :
- Thằng giặc hại dân đang lộ diện, sao chẳng sửa trị ngay đi?
Khổng Phủ Gia chưa thốt nên lời, đầu đã lìa khỏi cổ. Hoa Đốc sai kẻ tâm phúc vào trong bắt Ngụy Thị đem ra xe.
Trên đường về nhà Hoa Đốc, Ngụy Thị dùng dây lưng thắt cổ tuẫn tiết.
Cụ Chánh nhường lời lại cho Tân để thăm dò sự thẩm thấu vào Tân. Tân luận :
- Sắc đẹp của nữ nhân có thể so sánh như giải lụa đào, như gươm sắc. Khi trời ban cho nhan sắc nên cần kèm theo phúc đức. Nếu không, giai nhân như kẻ được ban cho giải lụa trong tam ban trào điển, người yêu của giai nhân như tên tử tội, máy chém đang kề trên cổ chờ thời.
Ngụy Thị, nhan sắc ba đào, đã gây nên cái họa chết chém cho chồng và tự ban cho mình sự tuẫn tiết bằng giải thắt lưng.
Khổng Phủ Gia kỳ tài nhưng mạt vận. Ông Thời đi khỏi, ông Giỏi cũng bó tay. Tống suy, Trịnh cường, bại tướng đành ngửa cổ cho sĩ tốt lấy đầu, kéo theo sự điếm nhục bị cướp vợ. Sắc, vận đi đôi là ở đấy. Sắc, nết tạo nên vết son cũng từ đấy mà ra!
Cụ Chánh gật gù, hớp ngụm trà cúc, lựa một con bọ cam thể, đặt lên khay trà, lược truyện :
- Vua An Dương Vương thứ mười tám lo xây thành Cổ Loa hình trôn ốc để chống giặc dữ nhưng thành đắp đến đâu sụp đến đấy.
Thanh Giang Sứ xuất hiện, mách :
- Một ca kỹ thác đã lâu, cốt vùi ở Thất Diệu Sơn đã hợp cùng Bạch Kê Tinh tác quái ở quán của Ngô Công, ta hãy đến đấy mà trừ thì việc khuấy phá xây thành mới chấm dứt!
Khi vua và Thành Giang Sứ đến vấn, Ngô Công trình :
- Quý khách nên rời chốn này, vốn không an lạc.
Vua phán :
- Sống chết có mạng, ngươi chớ lo!
Đêm ấy ma quỷ và Thanh Giang Sứ giao chiến ác liệt. Đến gần sáng, chúng mới lui về Thất Diệu Sơn.
Theo lời chỉ giáo của Thanh Giang Sứ, vua truyền Ngô Công giết con Bạch Kê. Con gà trắng vừa thác thì đứa con gái của Ngô Công cũng trút linh hồn. Vua cho quật mồ của ca kỹ, đốt nắm xương tàn, vứt xuống dòng sông.
Sau đó, vua và Thanh Giang Sứ lên Việt Thường Sơn gặp con cú sáu chân, đang ngậm sách thuật, đấy là hiện thân của Bạch Kê Tinh. Thanh Giang Sứ hóa thành Bạch Thử, leo lên cắn chân cú, cú buông sách thuật, vua đoạt lấy, căn cứ vào đấy, xúc tiến xây thành.
Loa Thành rộng một ngàn trượng, uốn vòng chín tầng, giặc dữ đến đâu cũng khó luồn đến triều nội.
Thanh Giang Sứ khuyên vua :
- Việc bình, loạn do trời nhưng cũng ở người, nên lấy nhân làm gốc, phúc hưởng dài lâu.
Nói xong, Thanh Giang Sứ trao cho vua chiếc móng để làm thần nỏ, đoạn hóa ra con rùa vàng, biến vào lòng đại dương.
Đời An Dương Vương năm thứ bốn mươi tám, Tần Thủy Hoàng sai Nhâm Ngao, Triệu Đà dàn quân trên Thiên Du Sơn để gây hấn. Vua đem quân đến sông Cà Lồ ứng chiến, dùng nỏ thần đánh bại quân Tần lắm lần, khiến Triệu Đà phải đắp lũy chờ cơ, đồng thời đem hôn nhân giữa Trọng Thủy - Mị Châu để cầu hòa. Trọng Thủy ở rể theo phong tục Văn Lang. Sự khéo léo của con trai Triệu Đà đã mua đứt lòng tin của vua Âu Lạc và công chúa.
Để khai triển quan niệm, nước Nam Việt ngoài Quế Lâm, Nam Hải phải có Âu Lạc mới thành đế quốc. Triệu Đà cho Trọng Thủy dò la nguyên nhân giữ thịnh trị của Âu Lạc. Sau khi nắm vững huyền thoại, Trọng Thủy bảo Mị Châu :
- Tôi vì đạo hiếu phải thăm cha, tình đôi ta là thiên thu bất diệt, bình sự giữa các quốc gia khá mong manh. Nếu có biến, làm thế nào để hội ngộ?
Mị Châu tin tưởng sự liên kết giữa lân quốc qua hôn nhân nên không quan tâm cái lý quanh co của chồng, nàng đáp :
- Tôi là nữ nhi nông cạn, chỉ mong điều chàng nói không bao giờ xảy ra. Nếu chẳng may có loạn thì hãy theo vết lông ngỗng mà tầm!
Khi Trọng Thủy đi rồi, quân Nam Việt tràn ngập Âu Lạc, vì thần nỏ đã bị Trọng Thủy đánh tráo mất rồi.
Vua Âu Lạc đưa con gái lên yên ngựa, cùng bôn đào theo dọc đường bể. Khi vua đến gần Mộ Dạ Sơn, huyện Đông Thành thì trời tối. Giặc đuổi cận kề, vua đến bãi biển khấn Thanh Giang Sứ. Thần Kim Qui rẽ sóng, đến bảo :
- Nhà vua khó thoát nạn! Chính giặc đang ngự sau lưng ngài!
Vua An Dương Vương hiểu ngay nguyên ủy, tuốt gươm giết Mị Châu, đoạn theo thần Kim Qui về thủy cung.
Trọng Thủy theo vết lông ngỗng, tìm thấy xác Mị Châu, thương tiếc. Chàng chôn nàng ở Cổ Loa Thành. Một hôm nhung nhớ, Trọng Thủy đến nơi lưu niệm. Chàng nhìn đáy giếng, nơi Mị Châu thường đến tắm, chàng mơ hồ hình bóng vợ, vội gieo mình để hội ngộ! Một chuyện tình đã kết cuộc!
Cụ Chánh ra bàn thờ, thắp mấy nén hương, đoạn quay vào lắng nghe Tân luận :
- Triệu Đà là giặc, là bại tướng mà An Dương Vương vội nhận làm thông gia. Trọng Thủy là cừu mà Mị Châu vội thuận làm chồng yêu. Lấy yêu tin để đãi chính. Bản chất của chính là pháp bất vị thân, là vô tình, thì chuyện mạng vong, nước mất là điều khó tránh.
Người đời thường bảo, yêu là cùng nhìn về một hướng. Muốn tình trở nên tri kỷ phải cùng tập quán, tư tưởng, ngôn ngữ, bản thể. Mị Châu hời hợt, Trọng Thủy tính toán. Tình hời hợt dễ kết, nhưng có tính toán nên không nồng thắm và bền chặt!
Cụ Chánh gật gù, mở hộp nhỏ vấn điếu thuốc con, phì phà một lúc, cụ chọn con bọ màu vàng đặt lên khay trà, cạnh hai con bọ màu đỏ và cam. Cụ vào truyện :
- Trong bữa tiệc Sở Văn Vương tiễn Sái Hầu về nước, vua Sở chỉ mỹ nữ ngồi gảy đàn, bảo kẻ đối ẩm bình sắc. Sái Hầu nhớ mối thù xâm lấn của Tức Hầu, nên thừa cơ trả đòn :
- Gái đẹp trong thiên hạ tuy nhiều, nhưng tôi thiết tưởng không ai bằng Tức Vĩ. Mắt sóng thu, má anh đào, dáng diễm kiều, tâm thanh lịch!
Sở Văn Vương tỏ ao ước. Sái Hầu khích bác :
- Cái uy của Đại vương, dẫu Tề Khương, Tống Tử cũng đạt nguyện, huống hồ người đàn bà trong tầm tay!
Để toại ước, Sở Văn Vương mượn tuần du sang nước Tức. Trong nghi thức, Tức Hầu đãi Sở Văn Vương. Khách mỉm cười bảo chủ :
- Ngày trước ta có chút công với quí quốc. Nay ta đến đây, phu nhân lẽ nào chẳng mời ta một chung rượu?
Tức Hầu không dám trái ý, cho mời phu nhân. Một lúc sau, tiếng ngọc khua êm ả, Tức Vĩ cực kỳ lộng lẫy, lịch sự bước ra, sụp lạy Sở Vương. Sở Vương đỡ dậy. Tức Vĩ nâng tay ngà, rót rượu vào chén ngọc, khoan thai trao cho cung nữ đệ lên Sở Văn Vương. Sở Văn uống cạn. Tức Vĩ cáo lui. Sở Văn đắm đuối nhìn theo.
Hôm sau, Sở Văn Vương bày tiệc ở công xá, cho giáp sĩ phục quanh, đoạn mời Tức Hầu tham dự. Nửa tuần rượu, Sở Văn mượn hơi men :
- Ta có công với quí quốc, quân ta đến đây, quân Hầu không vì ta mà khao thưởng hay sao?
Tức Hầu nói khéo :
- Nước tôi nhỏ bé, khó lòng khao thưởng cho đủ. Ngài để cho chúng tôi bàn bạc.
Sở Vương đập bàn, phục quân bắt trói Tức Hầu. Kẻ tâm phúc truy lùng Tức Vĩ. Tức Vĩ thở than :
- Dắt hổ về nhà thì tránh sao khỏi hoạ!
Nói xong, ra sau vườn toan gieo xuống giếng để hủy mình. Đấu Đan, tướng Sở, kịp nắm áo can ngăn :
- Phu nhân không nên lấy cái chết để vợ lẫn chồng cùng rơi vào tuyệt lộ.
Đấu Đan đưa Tức Vĩ trình Sở Văn Vương.
Sau khi phong phu nhân cho Tức Vĩ, Sở Vương an trí Tức Hầu ở Như Thủy. Tức Hầu uất ức đến thác.
Sống với Sở Vương được ba năm, Tức Vĩ sinh Hùng Hi, Hùng Vận. Tuy được yêu nhưng Tức Vĩ tịnh khẩu. Mãi đến một hôm, Sở Vương bức bách, Tức Vĩ tấu trình :
- Thân thiếp phải thờ hai chồng, đã không biết chết để thủ tiết, còn mặt mũi nào chuyện vãn cùng ai?
Sở Văn Vương trút tội cho Sái Hầu, đoạn đem quân chinh phạt nước Sái để đẹp lòng Tức Vĩ.
Tân tiếp lời cha, cậu đưa ra một so sánh :
- Khổng Phủ Gia bị Hoa Đốc giết vì khuynh sắc của Ngụy Thị. Ngụy Thị tuẫn tiết theo chồng, nàng giữ được tiếng trinh liệt. Tức Vĩ không thể hành động như Ngụy Thị vì sẽ dây họa cho chồng. Nàng muốn cho chồng được yên thân nên đã cân phân giữa chữ nghĩa đối với Tức Hầu và chữ tòng đối với Sở Văn Vương. Nàng bỏ chồng theo thù với hy vọng thời gian sẽ chuyển hận ra yêu. Nàng đã biết rõ, trước áp lực do yêu cuồng, nàng có muốn gìn vàng giữ ngọc cũng chẳng ích chi. Thôi thì cũng đành nhắm mắt đưa chân, mặc cho thiên hạ sự!
Tình yêu của Tức Vĩ là loại tình yêu uyển chuyển tùy thời.
Cụ Chánh gật gù. Cụ chọn con bọ màu xanh đặt cạnh các con đỏ, cam, vàng. Cụ rít điếu thuốc rê, nhìn vệt khói quyện quanh, cụ mơ màng vào truyện :
- Bách Lý Hề, người nước Ngu, tên Tĩnh Bá. Ngoài ba mươi tuổi, ông mới lập gia đình cùng Đỗ Thị. Cả hai sinh hạ một trai. Một hôm Đỗ Thị bảo chồng :
- Thiếp thường nghe, làm trai cần lập chí! Phu quân vì quyến luyến vợ con nên không tạo danh. Thiếp e chàng phí phạm kiếp tu mi. Phần thiếp, thiếp có thể tự kiếm sống. Phu quân chớ ngại!
Nói xong, trong nhà chỉ có con gà mái đang ấp, Đỗ Thị đem làm thịt. Dưới bếp hết củi, y thị chẻ phên tre để đun. Bữa cơm gạo đỏ, gà béo nàng dụng tiễn chồng tạo danh, dựng nghiệp. Lúc phân kỳ, nàng ân cần nhắn nhủ :
- Lúc chàng được phú quí, chớ phụ lòng nhau!
Bách Lý Hề sang nước Tề, không người tiến cử cho Tề Tương Công nên lâm cảnh ăn xin nơi đất Điệt ở tuổi bốn mươi. Kiển Thúc thấy vậy, đem chàng về nhà thết tiệc, đoạn bàn chính sự. Bách Lý Hề nói đâu ra đấy. Cảm thông, hai người kết làm anh em. Kiển Thúc lớn hơn Bách Lý Hề một tuổi nên giữ vai anh. Từ đó Bách Lý Hề kiếm sống bằng nghề chăn trâu.
Lúc bấy giờ Công tử Vô Tri giết Tề Tương Công để đoạt ngôi, trương bảng cầu hiền. Bách Lý Hề xin đi. Kiển Thúc can :
- Tiên quân có con đang lưu vong. Ngôi vị của Vô Tri không yên vững.
Sau đó nghe Vương tử Đồi thích trâu, Bách Lý Hề xin đi. Kiển Thúc góp ý :
- Kẻ trượng phu không nên khinh thường, khi đem thân theo người. Đã làm quan cho người, khi họ hoạn nạn, bỏ đi là bất trung, không từ là bất trí. Lần này, em đi phải cẩn thận cho lắm. Ta thu xếp việc nhà, sẽ sang đấy thăm em!
Sau khi nghe diễn ý cách nuôi trâu khá hay, Vương tử Đồi chấp nhận Bách Lý Hề làm gia thần, nhưng Kiển Thúc đến kịp thời, bảo riêng :
- Vương tử Đồi chí lớn, tài kém, giao du phường xiểm nịnh, tất có ngày làm càn, rồi cũng hỏng việc. Chi bằng ta sớm bỏ đi!
Bách Lý Hề sực nhớ vợ con, có ý muốn về nước Ngu. Kiển Thúc bàn :
- Nước Ngu có Cung Chi Kỳ, vốn người ta biết, ta cũng muốn đến thăm hắn.
Cả hai đến nước Ngu. Đỗ Thị đã tha phương cầu thực. Kiển Thúc tiến cử Bách Lý Hề cho Cung Chi Kỳ và được phong làm Trung Đại Phu. Tuy nhiên, Kiển Thúc cũng dặn dò :
- Ta xem vua nước Ngu vốn người nông cạn mà lại tự đắc, nên cũng chẳng phải vua hiền!
Bách Lý Hề đáp :
- Em nghèo khổ đã lâu, khác nào cá cạn, chỉ mong có chút nước dưỡng thân.
Kiển Thúc an ủi :
- Em vì nghèo phải ra làm quan, ta không thể ngăn. Mai sau có muốn thăm anh, hãy đến làng Minh Lộc, nước Tống. Ta chọn, vì phong cảnh tĩnh mịch.
Nguyên Tấn Hiến Công mê nàng Ly Cơ và thương Tề Hề nên ghét bỏ Thế tử Thân Sinh, vốn đôn hậu lại nhiều công trạng chống giặc.
Ly Cơ muốn lập Tề Hề nên liên kết với Lưu Thi, đề bạt Thân Sinh đơn chinh nước Xích Địch. Thân Sinh chẳng những không chết mà còn lập công đầu. Sau đó, nước Quắc, một đồng minh của nước Ngu, sang quấy nhiễu. Ly Cơ lại tiến cử Thân Sinh. Tấn Hiến Công ngại Thân Sinh lập thêm công trạng, tư thế càng vững, mối lo của ngài càng tăng nên bàn cùng Tuân Tức. Tuân Tức dùng kế ly gián, vừa dùng gái đẹp mê hoặc vua nước Quắc, vừa đem của mua chuộc nước Nhung Địch gây hấn với nước Quắc. Cung Chi Kiều hiểu được cơ mưu, nhưng vua nước Quắc đã không nghe, lại còn đày Kiều ra trấn Hạ Dương. Quắc quân thắng Nhung Địch ở Vĩ Nhuế, nhưng bị cầm chân ở Tang Điền.
Tuân Tức đề nghị đem lễ vật mua chuộc nước Ngu để mượn đường đánh Quắc. Tấn Hiến Công đem ngọc bích và ngựa quí, là hai thứ mà vua Ngu đắc ý.
Cung Chi Kỳ can gián vua nước Ngu :
- Tục ngữ có câu “môi hở răng lạnh”. Nước Tấn thường xâm lấn nước khác nhưng để ta yên vì ta và nước Quắc biết liên kết. Nếu Quắc mất thì ta chẳng còn.
Vua nước Ngu phán :
- Vua nước Tấn không tiếc bảo vật để đem biếu ta, ta tiếc gì một lối nhỏ mà ngăn cản? Vả lại, thế lực Tấn hơn Quắc. Ta mất lòng Quắc mà được lòng Tấn, lưỡng lợi chu toàn. Thôi! Ngươi hãy lui ra!
Cung Chi Kỳ toan nói nữa. Bách Lý Hề nắm lấy vạt áo. Cung Chi Kỳ biết ý, đành thôi.
Khi ra ngoài, Cung Chi Kỳ vấn :
- Tại sao ngươi không nói giúp một lời, mà lại ngăn ta?
Bách Lý Hề dẫn giải :
- Tôi thiết nghĩ, đem lời phải nói với kẻ ngu, khác chi đem ngọc ném ra đường. Xưa, Kiệt giết Long Bàng, Trụ diệt Tỉ Can vì hay can gượng!
Cung Chi Kỳ than :
- Thế thì nước Ngu tất mất. Ta nên sang nước khác?
Bách Lý Hề cả quyết :
- Ngươi đi thì phải, nhưng rủ thêm người thì mang thêm tội. Âu là để ta thư thả một chút.
Lý Khắc và Tuân Tức nhờ đấy kéo quân sang đất Quắc ngay, trong lúc vua nước Quắc đang lâm chiến với Nhung Địch. Tấn quốc nhờ nước Ngu đánh Hạ Dương. Khi vua nước Ngu đến đấy, Chung Chi Kiều mở cửa nghênh đón, chẳng ngờ quân Tấn trà trộn, khi qua được cửa ải liền tấn công. Chung Chi Kiều sợ vua Ngu bắt tội nên vội đầu Tấn.
Vua Quắc rời Tang Điền về trấn Thượng Dương, bị Tấn khổn vây. Vua Quắc nghĩ tiên quân đã từng làm khanh sĩ nhà Chu, hàng là nhục, nên bỏ trốn sang Chu. Lý Khắc đem của cải trong kho biếu vua nước Ngu.
Tấn Hiến Công kéo quân sang nước Ngu. Vua nước Ngu nghênh đón và tổ chức săn bắn tại Cô Sơn. Bỗng quân báo nội thành bị phát hỏa. Vua Tấn khuyên vua Ngu bình tâm. Bách Lý Hề tâu :
- Tôi nghe đồn nội thành có biến. Chúa công nên về!
Vua Ngu về được nửa chừng, dân tình cho biết, quân Tấn đã chiếm kinh thành. Vừa lúc ấy tướng Tấn xuất hiện, bảo :
- Ngày trước hiền hầu cho mượn đường, ngày nay lại cho mượn nước. Ta xin có lời cảm ơn.
Vua Ngu thối lui, bị Tấn Hiến Công đánh, mới than cùng Bách Lý Hề :
- Tiếc thay! Ngày trước ta không nghe lời can của Cung Chi Kỳ!
Đoạn vấn Bách Lý Hề :
- Lúc bấy giờ sao ngươi không ngăn ta?
Bách Lý Hề đáp :
- Chúa công chẳng nghe Cung Chi Kỳ, đời nào chúa công chịu nghe tôi! Bấy giờ tôi không can, là muốn lưu lại cái thân tôi để ngày nay theo phò chúa công.
Bỗng Chung Chi Kiều đến dụ hàng :
- Hiền hầu nghĩ lầm mà bỏ nước Quắc. Nay, thay vì bỏ trốn sang nước khác, nên đầu Tấn thì hơn.
Lúc ấy Tấn Hiến Công lại đến :
- Ta đến đây để đòi ngọc bích và ngựa của ta!
Thấy Bách Lý Hề còn lẽo đẽo theo vua nước Ngu, có người khích :
- Ngươi nên bỏ đi, còn theo vua Ngu làm gì!
Bách Lý Hề thản nhiên đáp :
- Ta ăn lộc của vua nước Ngu đã lâu, vậy ta phải cố theo để đền ơn.
Tấn Hiến Công vào thành nước Ngu. Tuân Tức tâu :
- Mưu kế của tôi đã thành tựu, tôi đem ngọc bích và ngựa đã làm của hối để trả lại chúa công.
Tấn Hiến Công đưa vua nước Ngu về Tấn và toan giết. Tuân Tức tâu :
- Vua nước ấy là đứa ngu ngốc, chẳng làm nên chuyện gì, giết mà chi để chuốc thêm tiếng ác!
Tấn Hiến Công mới đổi chước, đem ngọc và ngựa khác tặng cho và ngon ngọt bảo rằng :
- Ta không dám quên cái ơn cho mượn đường đánh nước Quắc.
Tấn Hiến Công phong Chung Chi Kiều làm đại phu và ngỏ ý nhờ Chung phủ dụ Bách Lý Hề. Bách Lý Hề khẳng khái trả lời :
- Hãy chờ cho hết đời chúa công tôi, bấy giờ tôi sẽ vâng lời.
Chung Chi Kiều đi rồi, Bách Lý Hề thầm than :
- Người quân tử bỏ nước mình mà đi, tất không chịu đến nước cừu địch, huống chi lại làm quan. Ta có làm quan, cũng không làm quan cho nước Tấn!
Bấy giờ Tần Mục Công lên ngôi đã sáu năm, liền sai Công tử Trí sang hỏi con gái của Tấn Hiến Công là Bá Cơ để làm vợ. Trên đường về, Công tử Trí gặp người mặt đỏ, mũi cao, râu rậm, hai tay xốc hai cái cày, quân sĩ ướm thử, chẳng ai cân nổi. Sưu tra, đấy là Công tôn Chi, có họ với Tấn Hiến Công, nên sau đó được Tần trọng dụng.
Chung Chi Kiều vốn không ưa Bách Lý Hề nên đề nghị cho Bách hộ tống Bá Cơ. Bách than thầm :
- Ta có tài mà không gặp minh chủ để thi thố; già đời còn phục vụ đàn bà như gia nô, còn gì nhục hơn!
Đến nửa đường, Bách Lý Hề trốn sang Tống nhưng bị thợ săn ở Uyển Thành thuộc nước Sở bắt trói. Bách Lý Hề đành khai lý lịch và nghề chăn trâu. Thợ săn đem về cho nuôi trâu. Cách chăm sóc chu đáo đến thấu tai vua Sở. Triều đình cho vời Bách Lý Hề. Sở Vương cật vấn :
- Cách nuôi trâu phải thế nào?
Bách Lý Hề giải bày :
- Ta nuôi trâu, phải cho ăn điều độ, không nên bắt làm quá nhọc. Ta lúc nào cũng phải nghĩ đến trâu.
Sở Vương khen :
- Nhà ngươi nói chí phải! Chẳng những cách chăn trâu phải thế mà các nuôi người trong thiên hạ cũng đến thế mà thôi!
Sở Vương phong Bách Lý Hề chức ngữ nhân, lo chăn ngựa xứ Đông Hải.
Tần Mục Công xem sổ theo hầu Bá Cơ có tên Bách Lý Hề, nhưng chẳng thấy người nên cật vấn Công tôn Chi :
- Bách Lý Hề người nước Ngu, nay đã trốn đi rồi! Ngươi ở nước Tấn tất rõ người ấy?
Công tôn Chi thưa :
- Bách Lý Hề là người hiền. Người rõ vua nước Ngu là kẻ không thể can nên không can. Người theo vua nước Ngu sang Tấn mà không chịu làm quan cho Tấn, thế là người trung. Người có tài mà vẫn chấp nhận làm việc mọn, là người nhẫn!
Tần Mục Công mơ ước :
- Nếu ta được Bách Lý Hề thì hay biết mấy!
Công tôn Chi nghị :
- Tôi nghe thê nhi của Bách Lý Hề ở nước Sở, chắc Bách Lý Hề trốn sang nước Sở. Âu là ta cho người đến đấy truy tầm.
Kẻ tâm phúc sau đó mật báo :
- Bách Lý Hề chăn ngựa cho vua Sở tại xứ Đông Hải.
Tần Mục Công vấn Công tôn Chi :
- Ta đem lễ vật đến nước Sở để chuộc người, có nên chăng?
Công tôn Chi luận :
- Cách ấy không đem được người về.
Tần Mục Công thắc mắc :
- Tại sao?
Công tôn Chi giải bày :
- Vua Sở bắt Bách Lý Hề chăn ngựa vì không biết đó là người hiền. Nếu ta đem lễ vật để xin người thì hóa ra ta điềm chỉ nhân tài cho kẻ khác dụng, biết đến bao giờ người mới đến tay ta? Chi bằng chúa công hài tội theo hầu mà bỏ trốn, lấy lễ xin người mang về mà sửa trị, theo cách Bão Thúc Nha cướp Quản Di Ngô khỏi tay nước Lỗ!
Tần Mục Công khen phải, sai người đem năm bộ da dê sang biếu vua Sở và xin dẫn độ Bách Lý Hề về Tần. Vua Sở ngại mất lòng vua Tần nên thuận ý ngay. Người xứ Đông Hải tỏ lòng thương xót. Bách Lý Hề trấn an :
- Vua nước Tần có chí làm bá chủ, đâu cần bắt tội một tên hầu. Nay, người triệu tôi về là có ý muốn dùng. Chuyến này tôi đi chắc nên phú quí, chớ nên buồn.
Tần Mục Công sai Công tôn Chi ra tận bờ cõi nghênh đón, rồi triệu vào, chất vấn :
- Năm nay ngươi bao nhiêu tuổi?
Bách Lý Hề tâu :
- Tôi vừa bảy mươi tuổi.
Tần Mục Công nuối tiếc :
- Tiếc thay! Già lắm rồi!
Bách Lý Hề điềm nhiên đáp :
- Chúa công sai tôi đi đuổi chim muông, bắt loài thú dữ, thì tôi già thật. Nhưng nếu khiến tôi làm việc chính trị, thì tôi còn trẻ nhiều! Ngày xưa, ông Lã Vọng tám mươi tuổi còn đi câu ở bến sông Vị. Văn Vương đem người về làm Thượng Phụ, đã dựng nên nghiệp nhà Chu. Nay, tôi gặp chúa công, tôi còn sớm hơn Lã Vọng mười năm.
Tần Mục Công thấy lời nói khí khái, kính cẩn hỏi :
- Nay nước ta giáp với Nhung Địch, làm thế nào để trở nên cường thịnh?
Bách Lý Hề đáp :
- Nguyên đất Nhung Kỳ là nơi hiểm trở. Văn Vương, Vũ Vương nhờ đất ấy làm nên cường thịnh. Nay Chu không biết giữ mà đem biếu ta, ấy là trời muốn cho ta mở mang bờ cõi. Vả lại, ở phía tây có đến vài mươi nước nhỏ. Nếu ta kiêm tính các nước ấy thì đất có thể cày cấy được, dân có thể dùng được. Các nước chư hầu ở Trung quốc, còn ai tranh nổi với chúa công?
Bấy giờ chúa công tìm cách tiến vào Trung quốc thì nghiệp bá chủ vào tay chúa công chẳng khó!
Tần Mục Công nghe xong, liền đứng dậy nói rằng :
- Nay, ta được ngươi giúp, khác nào Tề được Trọng Phụ!
Sau ba ngày đối đáp, Tần Mục Công toan giao chức Thượng Khanh. Bách Lý Hề tâu :
- Tôi có người bạn tên Kiển Thúc, tài giỏi hơn tôi nhiều. Nay chúa công muốn sửa sang chính trị thì nên dùng người ấy.
Nguyên khi tôi định theo Công tử Vô Tri ở nước Tề, Kiển Thúc đã ngăn nên tôi thoát tai vạ Vô Tri. Sau khi tôi định theo Vương tử Đồi, Kiển Thúc đã can, tôi tránh được họa Vương tử Đồi. Sau tôi theo nước Ngu, Kiển Thúc bảo trông chừng, nhưng vì cùng khổ nên tôi liền nhận quan nên bị Tấn bắt. Nay, Kiển Thúc ở làng Minh Lộc nước Tống, xin chúa công cho người triệu về ngay.
Theo lịnh Tần Mục Công, Công tử Trí giả thương buôn đến làng Minh Lộc. Trên đường đi, lúc nào cũng nghe nông phu hát đồng dao ý ung dung, tự toại. Công tử Trí bảo thuộc hạ :
- Nơi nào có người quân tử ở, thì đổi được phong tục dở. Nay, đến nơi Kiển Thúc ở, ngay người cày cũng có tư cách thanh cao, vậy ông ấy là người hiền!
Theo sự chỉ dẫn của người cày ruộng, Công tử Trí đến rừng trúc, bên hữu có đá, bên tả có suối, ở giữa là túp lều tranh. Công tử Trí gõ cửa, một đứa bé con mở cửa, kính cẩn hỏi :
- Quí khách tìm ai thế?
Công tử Trí đáp :
- Tôi đến thăm Kiển Thúc tiên sinh!
Đứa bé kính cáo :
- Thầy tôi cùng hai cụ láng giềng đi xem suối Thạch Hương, một chốc sẽ về!
Một chập xuất hiện người trai cao lớn, mắt tròn, mày rậm, mặt vuông, mình dài, đang vác hai chiếc chân hươu. Công tử Trí đón chào. Người ấy vội đặt chân hươu xuống đất, vái chào đáp lễ, tự xưng :
- Tôi là Kiển Bính, tự Bạch Ất. Thân phụ tôi là Kiển Thúc.
Kiển Bính mời Công tử Trí vào nhà. Sau đó họ cùng bàn luận việc ruộng nương, võ nghệ. Chuyện đâu ra đấy. Công tử Trí khen thầm: “Cha hiền tài sinh con thảo ngay. Bách Lý Hề tiến cử không sai!”
Một chập sau Kiển Thúc về. Công tử Trí đàm luận xong và trao thư của Bách Lý Hề về việc tiến cử. Kiển Thúc trình bày :
- Ngày trước, vua nước Ngu không dùng Bách Lý Hề, đến nỗi mất nước. Nay, vua Tần biết trọng người hiền, thiết tưởng một mình Bách Lý Hề cũng đủ. Lão phu từ lâu không còn nghĩ đến việc đời nữa, nên xin tha cho lão phu. Các lễ vật này, lão phu xin nộp lại. Nhờ ngài thưa lại cùng triều đình.
Công tử Trí trình lý :
- Nếu tiên sinh không đi thì Bách Lý Hề không nhậm chức!
Kiển Thúc ngẫm nghĩ, đoạn thở dài mà rằng :
- Bách Lý Hề có tài mà bấy lâu nay không gặp minh chủ. Âu ta nên đi một phen, chẳng bao lâu cũng về đây cày ruộng.
Công tử Trí và cha con Kiển Thúc qui Tần.
Tần Mục Công vấn nạn cùng Kiển Thúc :
- Bách Lý Hề bảo tiên sinh là người hiền, xin tiên sinh chỉ bảo!
Kiển Thúc giải bày :
- Nước Tần ta giáp Nhung Địch, đất hiểm, quân hùng, nhưng không sánh với các nước Trung quốc vì không có uy đức. Không uy thì người không sợ. Không đức thì người không mến. Người không mến không sợ thì ta khó làm bá chủ.
Tần Mục Công vấn :
- Uy và đức, điều nào nên thực hiện trước?
Kiển Thúc đưa sự tương quan :
- Đức là gốc, uy chỉ hỗ trợ. Có đức, không uy thì không sao giữ được nước! Có uy, không đức, sao yên được dân!
Tần Mục Công đưa ý cải thiện :
- Ta muốn sửa đức, lập uy thì làm thế nào?
Kiển Thúc đề phương thức :
- Dân Tần của ta nhiễm rợ phong, không biết lễ nghĩa. Nay, muốn dân tôn kính bề trên phải dùng giáo hóa và hình phạt. Có giáo hóa thì biết ơn, có hình phạt thì biết sợ. Quản Di Ngô điều khiển được thiên hạ vì lẽ ấy!
Tần Mục Công nhóng ý :
- Thể theo lời của tiên sinh, mộng bá chủ của ta có dễ hình thành không?
Kiển Thúc đặt điều kiện :
- Thế cũng chưa đủ. Muốn làm bá chủ thiên hạ, cần ba điều kiêng: Chớ tham lam, chớ tức giận, chớ vội vàng. Tham lam sinh lầm lỗi; tức giận vướng khó khăn; vội vàng gây đổ vỡ. Hội đủ các điều kiện trên, trở nên bá chủ là hậu quả tất nhiên!
Tần Mục Công băn khoăn về ưu tiên :
- Công việc ngày nay, điều gì cần hơn?
Kiển Thúc trình bày diễn tiến :
- Tề Hầu già yếu, công nghiệp bá chủ ngày một suy. Chúa công thu phục các nước Nhung Địch ở cõi tây này. Sau đó tìm cách tiến vào Trung quốc, dùng ân nghĩa để bổ khuyết Tề Hầu. Thế thì có ai tranh được bá chủ nữa?
Tần Mục Công hả dạ, khen rằng :
- Tiên sinh và Bách Lý Hề quả là bậc trưởng thượng của thứ dân!
Nói xong, phong Kiển Thúc làm Hữu Thứ Trưởng, Bách Lý Hề làm Tả thứ trưởng, cùng làm Thượng khanh, gọi là Tể tướng và phong cho Kiển Bính làm đại phu.
Tần Mục Công nghe nước nào có hiền tài cũng phái người tìm. Nước Tần do đấy ngày một cường thịnh.
Đỗ Thị làm thuê kiếm ăn vẫn không đủ, nên đưa con sang Tần, hành nghề giặt thuê.
Con trai Bách Lý Hề tên Thị, tự Mạnh Minh, quen thói lêu lổng, hay theo người đi săn bắn, chẳng chịu làm ăn gì cả. Đỗ Thị khuyên gì cũng chẳng nghe.
Đến lúc Bách Lý Hề làm tể tướng nước Tần, Đỗ Thị nghe tiếng, thấy dạng đôi lần, nhưng không dám nhận.
Khi trong dinh Bách Lý Hề cần người giặt thuê, Đỗ Thị tình nguyện xin giúp. Sự cần mẫn khiến người trong mến mộ.
Một hôm Bách Lý Hề ở nhà trên, nghe các phường nhạc giúp vui. Đỗ Thị bảo người quản dinh là nàng biết cầm ca. Phường nhạc sau khi hỏi căn, trao cho nàng đàn cầm, nàng dạo lên cung điệu bi thương, ai oán và nàng được chấp thuận cho hát. Qua lời hát diễn ý ngày còn cơ hàn, lúc lang thang tầm sinh kế nuôi con, nhớ chồng; diễn tả ẩn tình cách biệt giữa vợ hèn và chồng làm tướng quốc...
Bách Lý Hề nghe xong, nhận ngay ra vợ nhà, vội đứng dậy ôm chầm, rơi lệ!
Cụ Chánh dùng trà giải lao, nhường lời cho Tân. Tân xúc động, trút tâm tình :
- Thế nhân có câu “giàu vì bạn, sang vì vợ”, nhằm vạch rõ tầm quan trọng của bằng hữu và hiền nội, đối với đấng mày râu! Bằng hữu thường mang đến tiền tài, danh vọng qua giao tế. Vợ nhà đem vinh dự qua sự chu toàn đức độ, toàn thiện gia trung cho cả chồng lẫn mình; dù thịnh vượng hay nghèo khó, giấy rách vẫn giữ lấy lề, để mong giữ được cái trang trọng của kiếp người.
Ca dao cũng có đoạn “cái cò lặn lội bờ sông; gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non” để nói lên đức tính đảm đang, tinh thần chịu đựng, đề cao trách nhiệm, tuyệt đối hy sinh của người đàn bà Á Đông cho danh vị của chồng, cho bước đường tiến thân của đấng phu quân!
Đỗ Thị gạt bỏ sự quyến luyến, cố khuyên chồng sớm lo danh phận. Đôn đốc chồng bằng trút sạch hiện vật, con gà mái ấp, phên nhà để tạo một chút ấm lòng, một phút phồn vinh; trấn an chồng bằng lời nói chắc nịch, tự mình có thể đảm đang gia thế, quyết tâm theo đuổi mục tiêu bằng lang thang làm thuê làm mướn từ nước này đến nước khác để nuôi thân và nuôi con; tự trọng vô cùng khi biết chồng làm quan mà không đường đột xác minh; tế nhị vô cùng, phải dùng lời ca tiếng đàn để xem người xưa có chấp nhận vợ nhà hòa hợp hay chăng!
Thưa cha! Con chẳng còn lời nào xứng đáng hơn là nhận cơ duyên xây dựng trên nghĩa thủy chung như nhứt!

0
9
 
Cụ Chánh vấn thêm điếu thuốc rê khác. Cụ phì phà, đoạn lựa con bọ màu lam, đặt kế con bọ đỏ, cam, vàng, xanh, đoạn vào truyện :
- Tề Hi Công có hai người con gái tuyệt đẹp. Tuyên Khương đã gả cho nước Vệ. Văn Khương là trang quốc sắc tài cao, học rộng.
Thế tử Chư Nhi là con khác mẹ, nhưng Văn Khương quyến luyến từ thuở thiếu thời.
Thế tử Hốt giúp Tề dẹp Bắc Nhung. Tề Hi Công mến mộ nên thường ngỏ ý với Trịnh Hốt sẽ gả Văn Khương cho. Văn Khương biết được nên đem lòng yêu.
Sau đó Thế tử Hốt chối hôn. Văn Khương ốm tương tư. Chư Nhi vịn cớ thăm bệnh và bạ chung giường. Tề Hi Công bắt gặp, trách mắng. Chư Nhi cáo lui. Văn Khương lâm trọng bệnh.
Lúc ấy Công tử Huy mối mai Văn Khương cho Lỗ Hoàn Công. Chư Nhi hay được, trao cho Văn Khương một cành hoa, kèm theo bài thơ trêu ghẹo. Văn Khương làm bài họa để tỏ tình quyến luyến.
Lỗ Hoàn Công đến Hoan Ấp để rước dâu.
Tề, Lỗ giao tranh sau đó. Tề thua liên quân Lỗ, Trịnh. Tề Hi Công uất hận, sinh bệnh mà thác, quyền truyền cho Chư Nhi tức Tề Tương Công.
Tề Tương Công muốn gây thế lực nên cầu hôn với nhà Chu. Vua Chu truyền Lỗ Hoàn Công đích thân sang Tề chu toàn hôn ước. Tề Tương Công cho sứ sang Lỗ để đưa đón.
Văn Khương được tin, chạnh lòng nhớ người xưa, mới đánh tiếng xin theo chồng sang Tề.
Đại phu Thân Nhu can rằng :
- Cứ theo lễ, con gái khi đã lấy chồng, nếu cha mẹ hãy còn, mỗi năm được về thăm nhà một lần. Bây giờ phu nhân đã mất cha mẹ, chả lẽ em lại về thăm anh? Vã lại nước Lỗ của ta vốn là một nước biết giữ lễ. Tôi thiết tưởng không nên làm việc ấy.
Vốn là người hay chiều vợ, Lỗ Hoàn Công bất đắc dĩ trái lời Thân Nhu. Tề Tương Công đón vợ chồng vua Lỗ tại Lạc Thủy rồi đưa về Lâm Chi.
Lỗ Hoàn Công trình mệnh bàn hôn sự. Tề Tương Công thết tiệc. Tiệc tan, Tề Tương Công giả cách đưa Văn Khương thăm các cung tần ngày xưa. Cả hai đem nhau vào phòng kín soạn sẵn để trà rượu, mây mưa.
Sáng hôm sau, mặt trời đã lên cao mà Văn Khương vẫn còn say ngủ. Lỗ Hoàn Công thẩm tra, vua Tề chưa có chính phi, chỉ có Liên Thị, em của Liên Xương, là thứ phi mà thôi!
Lỗ Hoàn Công sau đó hạch hỏi Văn Khương. Nàng nói dối là ngủ lại với Liên Thị. Vợ chồng cãi nhau, thấu tai Thạch Chi Phân Như. Tề Tương Công nghe phi báo nên kinh sợ. Tiếp theo là tin vua Lỗ xin cáo lui. Biết chuyện đã lộ, vua Tề bày tiệc đãi vua Lỗ tại Ngưu Sơn. Khi Lỗ Hoàn Công say túy luý, Tề Tương Công sai Công tử Bành Sinh, vốn là cựu thù với nước Lỗ, đưa Lỗ Hoàn Công về công quán. Giữa đường, Bành Sinh đã bóp nát xương sườn của Lỗ Hoàn Công cho đến chết.
Tề Tương Công giả thương xót, đoạn thông báo nước Lỗ mang xác về quê.
Quân hầu thuật lại sự ám toán của Bành Sinh. Công tử Khánh Phủ đòi xua quân đánh Tề. Thi Bá ngăn vì Tề mạnh và chuyện ám muội không nên để các nước khác rõ. Cách hay nhất là nên đặt nghi vấn trong xe, để Tề dụng Bành Sinh làm vật hi sinh!
Khi nước Lỗ đặt nghi vấn, Tề Tương Công trút hết tội lỗi lên đầu Bành Sinh. Bành Sinh mắng :
- Đứa hôn quân vô đạo kia! Mày bày mưu lập kế để gian dâm với em gái. Bây giờ lại đổ tội hại người cho ta. Ta chết đi, sẽ làm ma quái báo cừu!
Sau khi Vương Cơ và Tề Tương Công thành hôn, Tề Tương Công là hạng dâm đãng, Vương Cơ là người nhu hòa nên không tương đắc. Vương Cơ rõ chuyện vua tư thông với em gái, buồn chán, sinh bạo bệnh mà thác.
Để lấy uy dọa Lỗ Trang Công báo thù cha, Tề Tương Công đánh nước Kỷ. Muốn cứu nước Kỷ, Lỗ xin Trịnh giúp. Trịnh từ nan, vì nội bộ có vấn đề. Lỗ lui binh, Kỷ xin đầu Tề.
Lúc ấy Vệ Sóc xin Tề giúp đánh Vệ Kiềm Mâu, kẻ do vua Chu lập nên. Tề Tương Công không còn nể Chu vì nàng Vương Cơ đã thác. Tề hợp Tống, Vệ, Trần, Sái đánh Vệ Kiềm Mâu. Tề truyền Liên Xưng, Quản Chí Phủ trấn Qui Khâu để ngăn Chu. Tề Tương Công ước hẹn mùa dưa sau sẽ cho người thay thế hai tướng Liên, Quản.
Mùa dưa đến, Tề Vương bội ước. Liên Xưng dùng em gái là Liên Thị làm nội ứng, đồng thời hắn lập Công tôn Vô Tri, con của Công tử Di Trọng Niên, cháu của Tề Hi Công, là anh em họ của Tề Tương Công, để mưu loạn.
Nhân Tề Tương Công đi săn ở Cô Phần, Liên Xưng đem quân mai phục. Sáng hôm sau, Tề Tương Công lên núi Bối Khâu, truyền phóng hỏa, vây rừng để săn muông thú. Một con lợn to, đầu trâu không sừng, mình hổ không vằn, từ trong lửa phóng ra. Tề Tương Công truyền Mạnh Dương xạ tiễn. Mạnh Dương bảo, đấy là Công tử Bành Sinh chứ nào phải lợn! Tề Tương Công cho rằng Bành Sinh đã chết, nên đoạt cung tên của Mạnh Dương, bắn luôn ba phát nhưng vô hiệu. Lợn đưa hai chân trước lên cao, đứng thẳng như người, vừa đi vừa khóc. Tề Tương Công cả kinh, ngã xuống xe, chấn thương chân trái, đánh rơi chiếc giày thêu. Lợn tinh cướp giày, biến dạng.
Đêm về, Tề Tương Công đau chân, truyền Mạnh Dương kèm tay rảo bước, mới hay mất giày. Tề hỏi căn, đoạn hành hạ Đồ Nhân Phí đến đổ máu, vì tội hộ giá không tròn. Đồ Nhân Phí mang thương ra ngoài, gặp phải Liên Xưng đang truy Tề Tương Công, gã trình thương tích và xin tiếp tay. Liên Xưng tin dùng, gã vào trong cắt đặt, Mạnh Dương mặc long bào, giả Tề Tương Công đang say giấc; Thạch Chi Phân Như chặn Liên Xưng; Tề Tương Công nấp sau cửa khép; đoạn gã trở ra, đâm nhầu Liên Xưng. Liên Xưng nhờ giáp trụ nên thoát chết, trở tay lia kiếm giết Đồ Nhân Phí, xông vào trong diệt luôn Thạch Chí Phân Như và trảm thủ kẻ mặc long bào mới hay mình lầm đòn thù.
Khi Liên Xưng đến khung cửa khép hờ, thấy có chiếc giày thêu bên ngoài. Hắn mở cửa, bắt gặp Tề Tương Công đang run rẩy. Gã hài tội :
- Ngươi gây chinh chiến khiến lê dân đồ thán, ấy là bất nhân; phế bỏ công tôn, trái lời cha dặn, ấy là bất hiếu; gian dâm cùng em gái, ấy là bất lễ; bắt tướng trấn đồn, bội ước, ấy là bất tín. Nhân, hiếu, lễ, tín ngươi đều phạm, nào xứng làm người! Ta vì Lỗ Hoàn Công lấy mạng ngươi rửa thù!
Nói xong, phân thây Tề Tương Công ra làm nhiều mảnh.
Cụ Chánh tựa vào lưng ghế, phì phò điếu thuốc, mắt nhìn Tân dò xét. Tân nhíu mày :
- Đúng là gieo gió thì gặt bão! Oan oan tương báo! Công tử Bành Sinh thù vặt nên giết Lỗ Hoàn Công hộ Tề Tương Công. Tề Tương Công sợ nhục nên phụ nghĩa chúa tôi, ra tay giết Bành Sinh. Bành Sinh uẩn thác hứa làm quỷ báo cừu, hắn đã dùng chiếc giày thêu để mượn tay Liên Xưng phục hận. Liên Xưng oán Tề Vương bội ước nhưng mượn tích Tề Tương Công tư thông với em gái đến sinh tâm ám hại chồng người. Liên Xưng đã lấy danh nghĩa báo cừu cho Lỗ Hoàn Công, để phân thây vua nhà làm nhiều mảnh!
Nhưng vấn đề hôm nay là cha muốn dạy con về tình yêu nam nữ, nên con xin nói về hành vi của Văn Khương.
Đối tượng tình yêu của Văn Khương là món quà thay thế. Tề Hi Công có cái lỗi là giáo dục con cái quá hời hợt. Hai anh em cùng cha khác mẹ, đứng trên phương diện đạo lý là huynh muội như nhứt, nhưng yếu tố khác mẹ là cửa ngõ để nam và nữ cùng bước vào. Nam và nữ không thể là bằng hữu mà là bạn tình, tình đạt mức đậm đà là chiếm hữu toàn diện nội tâm và ngoại thể. Tề Tương Công và Văn Khương quyến luyến nhau từ nhỏ, lớn lên trong nhung lụa, chia xớt buồn vui, nửa bước không rời. Bằng hữu còn khó chia, huống chi trai gái. Do đó, Lỗ Hoàn Công chỉ có nghĩa, nhưng Tề Tương Công mới có tình. Vì vậy, Văn Khương đã vật vã trước dục vọng thấp hèn, như kẻ thèm trái cấm, nhưng biếng trèo cao, đành quơ quào cành hạ.
Tình yêu của Văn Khương là loại tình bệnh hoạn. Sự thiếu chín chắn chẳng những làm điếm nhục bản thân nàng, mà còn gây tai ương cho kẻ khác. Nàng xin theo chồng cho có đôi, lại hoang dâm cùng anh một cha khác mẹ. Sự mê muội khiến tình lang giết chồng nàng, hại tôi lương đống của mình, làm đảo lộn nghĩa chúa tôi, cuối cùng chết nhục nhã dưới tay một thuộc hạ vô danh.
Nàng là đóa hồng đầy gai!
Cụ Chánh mỉm cười hài hòa, cụ chọn bọ màu chàm, đặt cạnh con bọ màu đỏ, cam, vàng, xanh, lam. Cụ vào truyện :
- Hoa Đốc bày mưa giết Khổng Phủ Gia xong, thừa cơ giết luôn Tống Thương Công, đoạn sang Trịnh rước Công tử Phùng về nối nghiệp. Trước khi qui cố hương, Công tử Phùng sụp lạy Trịnh Trang Công và cung hứa :
- Tôi sống được là nhờ chúa công. Về nước, may được lên ngôi, tôi xin một lòng thần phục, không bao giờ dám sai.
Trịnh Trang Công truyền ngôi cho Công tử Hốt, tức Trịnh Chiêu Công và đưa Công tử Đột sang Tống để tránh tranh vị. Công tử Đột cùng mẹ là Ung Thị bàn bạc cùng Công tử Phùng, tức Tống Trang Công để cướp ngôi Trịnh Chiêu Công. Thừa cơ, Sái Túc vâng lệnh Trịnh Chiêu Công đi sứ sang Tống. Tống Trang Công làm áp lực buộc Sái Túc thề độc, rồi lập Công tử Đột. Mặt khác, gài Công tử Đột rằng :
- Ta cùng Ung Thị muốn cho Công tử về nối ngôi. Nay, Trịnh đã lập Công tử Hốt, hắn có đưa mật thư bảo ta giết Công tử thì hiến ba thành để tạ ơn. Ta không nỡ, nên nói riêng cho Công tử rõ!
Công tử Đột tin thật, nên khấu đầu thưa :
- Tôi nhờ uy của chúa công mà được về nước, chúa công dạy thế nào tôi cũng xin vâng, cứ gì ba thành!
Tống Trang Công bắt Công tử Đột làm tờ thệ ước hiến ba thành cùng vàng bạc và thóc. Quyền bính phải giao cho Sái Túc. Sái Túc phải gả con gái cho Ung Củ và phong làm đại phu.
Khi Sái Túc về nước, không vào chầu. Các quan đến thăm. Sái Túc phao tin Nam Cung Trường Vạn vâng lệnh Tống sẽ chinh phạt Trịnh, muốn yên thì phải phế Hốt lập Đột. Cao Cừ Di vốn có tư thù với Trịnh Chiêu Công, nay nghe phù Đột, vội tán đồng. Các quan ngỡ hắn có mưu với Sái Túc, lại thấy quân mai phục, nên đành sụp lạy tôn vinh Công tử Đột, tức Trịnh Lệ Công. Công tử Vĩ trốn sang Sái. Công tử Nghi trốn sang Trần.
Tống Trang Công cho người mang thư chúc mừng Trịnh Lệ Công và đòi ba thành cùng vàng, bạc, thóc. Sái Túc nghị nên nộp một phần vàng, bạc, thóc; còn thành xin hoãn lại vì sợ dân loạn.
Tống Trang Công nổi giận. Trịnh Lệ Công phải nhờ Lỗ Hoàn Công đem trả cái Thương Di mà Tống đã lễ Trịnh ngày xưa, để xin tha cho việc nộp thành. Tống Trang Công nghe nói tới việc cũ, đỏ mặt bảo: “Việc này đã lâu, tôi quên mất, để tra cứu lại!”, đoạn tiếp tục đòi ba thành. Trịnh Lệ Công làm phiền Lỗ Hoàn Công lần nữa. Lỗ Hoàn Công bất đắc dĩ xin hẹn Tống tại Hư Qui. Tống Trang Công không đi phó hội, chỉ sai sứ, nhắn Lỗ Hoàn Công đừng chen vào việc riêng giữa Tống, Trịnh. Lỗ Hoàn Công cả giận, mắng rằng: “Dẫu thường dân tham lam mà bội tín cũng chẳng ra gì, nữa là ông vua của một nước lớn!”
Lỗ, Trịnh hội ở Vũ Phủ để nghị sự đánh Tống. Tống Trang Công thay vì nghe lời Công tử Ngự Thuyết xin cầu hòa, lại nghe lời Nam Cung Trường Vạn đem quân đánh Lỗ, Trịnh. Hai bên giao chiến, Lỗ - Trịnh bắt được Mạnh Hoạch, Tống bắt được tướng Trịnh. Trong lúc trao đổi tù binh, Lỗ - Trịnh được tin Tề đánh Kỷ nên liên quân kéo đến giúp Kỷ. Tống đem quân giúp Tề và lôi cuốn thêm Vệ. Lỗ - Trịnh thắng Tề. Tề Hi Công thua buồn đến thác. Thế tử Chư Nhi lên thay, tức Tề Tương Công, vội hợp cùng Tống, Vệ, Sái để đánh Trịnh. Trịnh Lệ Công toan chống trả. Sái Túc chỉnh: “Ai xin đánh sẽ bị trị tội!”. Nói đoạn treo miễn chiến bài. Liên quân Tề, Tống, Vệ, Sái đến cửa thành đốt phá, lấy cột thái miếu của Trịnh đem về Tống làm cửa thành để gây điếm nhục.
Trịnh Lệ Công thấy thế uất ức, có ý muốn giết Sái Túc. Vả lại Hoàn Vương, vua nhà Chu, băng hà, Trịnh Lệ Công toan sai người chịu tang. Sái Túc đem chuyện Chúc Đam bắn vua Chu ngày xưa để ngăn. Mối thù Sái Túc càng đậm trong lòng Trịnh Lệ Công.
Một hôm Trịnh Lệ Công dạo chơi ngoài vườn, thấy đàn chim bay qua, Lệ Công thở dài. Ung Củ thưa :
- Tiết xuân đầm ấm, chim muông vui hót, chúa công được tôn hầu, sao lại u sầu?
Trịnh Lệ Công đáp :
- Chim tự do bay nhảy, ta thua chúng nên chạnh buồn.
Ung Củ chân thành bày giải :
- Chúa công nói thế, làm tôi liên tưởng đến kẻ soán quyền. Vua như cha, tôi như con. Con không lo cho cha là kẻ bất hiếu. Bề tôi không giúp được vua là bất trung. Nếu chúa công cho Củ này là người không đến nỗi hèn mạt mà giao bất cứ việc gì, Củ này cũng xin tận lực.
Trịnh Lệ Công vấn :
- Ngươi đối với Sái Túc như thế nào?
Ung Củ bày nỗi lòng :
- Cam phận rể thì có, tình yêu thì không! Sái Túc gả con cho tôi chẳng qua do nhà Tống ép buộc. Sái Túc còn mến Trịnh Chiêu Công, vì sợ uy Tống nên chưa dám thay lòng.
Trịnh Lệ Công treo giải :
- Ngươi giết được Sái Túc, ta sẽ cho người chức ấy.
Ung Củ dựng mưu :
- Xứ Đông Giao bị Tống phá, dân tình phiêu bạt, khốn đốn. Thiết tưởng chúa công truyền Sái Túc đem lụa, thóc cứu trợ. Tôi sẽ bày tiệc rượu, rồi đánh thuốc độc giết hắn.
Trịnh Lệ Công căn dặn Ung Củ nên thận trọng. Khi về thấy Sái Thị, Ung Củ chột dạ. Tinh ý, Sái Thị cật vấn :
- Trông nét mặt phu quân, thiếp đoán trong triều có chuyện lạ. Vợ chồng với nhau, dù việc to hay nhỏ, cũng nên thông đạt, chớ ngại!
Ung Củ vẽ duyên :
- Chúa công sai thân phụ ra Đông Giao cứu trợ dân. Ta nhân đấy muốn bày tiệc đãi người!
Sái Thị đấu lý :
- Phu quân muốn chúc thọ, cứ gì phải ra Đông Giao?
Ung Củ vụng về :
- Đó là lệnh của chúa công, phu nhân hỏi làm gì!
Sái Thị sinh nghi, ép rượu Ung Củ. Nhân lúc gã ngủ mê, Thị giả cách hỏi :
- Chúa công sai mày giết Sái Túc, mày quên rồi à?
Ung Củ ú ớ trong cơn mê :
- Việc đó tôi nào dám quên!
Sáng hôm sau, Sái Thị dọa :
- Đêm qua phu quân say rượu, đã nói ý định giết thân phụ!
Ung Củ ngớ ngẩn :
- Nếu việc ấy là thật thì phu nhân nghĩ sao?
Sái Thị giục hoãn cầu mưu :
- Có chồng thì phải theo chồng chứ sao!
Ung Củ khờ khạo thuật rõ mọi việc. Sái Thị mưu toan :
- Tôi e thân phụ lưỡng lự, chưa chắc đã đi. Gần đến hôm ấy, tôi sẽ về trước mà xúi giục mới được!
Ung Củ cả tin :
- Nếu xong việc, ta đạt chức phận của thân phụ thì phu nhân cũng được hiển vinh.
Gần đến ngày, Sái Thị về hỏi mẹ :
- Cha và chồng, đàng nào thân?
Mẹ bảo :
- Hai đàng đều thân cả.
Sái Thị so sánh :
- Hai đàng, đàng nào thân hơn?
Mẹ lượng :
- Cha thân hơn.
Sái Thị muốn rõ nguồn cơn :
- Tại sao thế?
Mẹ giải :
- Con gái lúc chưa chồng, chỉ biết có cha. Có chồng, có thể đổi chồng khác chứ không thể đổi cha khác. Chồng định tự người, cha định bởi trời. Chồng ví với cha thế nào được!
Nghe thế, Sái Thị rơi lệ, buông lời dứt tình :
- Nay con vì cha, không nghĩ tới chồng nữa!
Nói đoạn, y thị thuật âm mưu của chồng cho mẹ. Mẹ nàng thông báo cho cha.
Đến ngày hẹn, Sái Túc sai Cường Thư, bảo hộ vệ giấu kín vũ khí trong người, đồng thời truyền Công tử Át đem quân mai phục ở Đông Giao.
Khi nhập tiệc, Sái Túc vờ thân mật :
- Ta vì việc nước mà làm, ngươi bày vẽ mà chi!
Ung Củ lý sự :
- Nhân tiết xuân trầm ấm, con dâng ly rượu chúc thọ cha!
Nói xong, Ung Củ rót chén rượu đầy, quỳ xuống chúc thọ. Sái Túc vừa đỡ chung rượu, vừa túm lấy Ung Củ, quát :
- Thất phu, mày dám láo với ta à!
Cường Thư và thủ hạ trói Ung Củ, chém đầu, quăng xuống dòng Chu Trì.
Cụ Chánh dùng lời của Trịnh Lệ Công để chấm dứt cốt truyện :
- Đem quốc sự để bàn với đàn bà, tránh sao cho khỏi vong mạng!
Tân tiếp lời cha :
- Thiên hạ thường khuyên “thà làm tớ người khôn, hơn làm thày kẻ dại”, người đáng trách là Trịnh Lệ Công chứ không phải Ung Củ.
Công Tử cưỡng ý cha, rời Tống qui Trịnh để gây rối là bất hiếu; nghe lời Tống Thương Công để gây loạn nước là bất trung; cãi lời cha, nghe lời giặc để soán ngôi anh là bất nghĩa; tham ngôi báu, hứa dâng đất là bất tri; sợ dân loạn, giữ lại ba thành là bất tín; ham làm vua, nhận áp lực của Tống, hạ mình làm bù nhìn là bất mục. Con người bất hiếu, bất trung, bất nghĩa, bất tri, bất tín, bất mục thì chọn người hời hợt là phải. Cả thầy lẫn tớ đã thua trí một người đàn bà, đến kẻ vong mạng, người mất ngôi là chuyện hiếm hoi.
Dân gian cũng có câu “huynh đệ như thủ túc, vợ chồng như y phục”, nên Sái mẫu đã dạy Sái thị “chồng định tự người, cha định bởi trời”!
Sái mẫu đã khéo trao quyền quyết định từ hoặc giữ cho Sái Thị. Một ngày cũng là tình, hai ngày cũng là nghĩa, đành rằng chồng gieo gió thì phải gặt bão, nhưng không hẳn mỗi khi chồng có lỗi, vợ nhà lại thừa thắng ly hôn. Trên đời cũng có lắm người đàn bà trinh liệt, lấy lý xây dựng chồng, chồng khờ thì dạy khôn, chồng giỏi thì góp công đưa chồng lên thang danh vọng, bởi thế cổ nhân có câu “giàu vì bạn, sang vì vợ”. Thế mới thấy rằng, Sái Thị vô tình và hẹp lượng.
Sái Thị là người mưu lược, nhìn sắc mặt của chồng, biết chồng sanh tâm; nghe lý luận của chồng, biết chồng gian dối; khai thác mật truyện bằng lấy giấc ngủ, giả cách vua để biết sự thật. Một người như thế, nếu thương chồng thật sự, có đủ năng trí để cứu chồng khỏi sa đoạ, cứu cha thoát lâm nguy, đâu cần phải hỏi ý mẹ, dùng quyền cha. Người có trí mà ác tâm thì gây họa cho thiên hạ là ở chỗ đó. Y thị đã chọn “thà rằng tử biệt”, một người đàn bà trung thành với chủ trương “vợ chồng như y phục” nên nhẹ chữ ân tình.
Về cá nhân Ung Củ thì không còn lời nào để bôi bác cho vừa. Con người nhiều khuyết điểm mà giữ trật phẩm, quyền uy tạo nên hoạ, cái họa trong giang hồ: “khôn sống mống chết”. Quan đại phu chết một mình là cái phước cho thiên hạ!
Cụ Chánh hài lòng, cụ cười khà, bảo :
- Con có tiến bộ, cha hy vọng con sẽ nhìn thấy một phần lỗi lầm của chính con và hiểu được phần nào chân dung cuộc tình mình.
Nói đoạn, cụ lựa con bọ màu tím, đặt cạnh các con bọ sắc đỏ, cam, vàng, xanh, lam và chàm, cụ vào truyện :
- Sau khi Tuyên Vương qua đời, Thái tử Cung Nát lên ngôi, lấy hiệu là U Vương. Ngài là kẻ bạo ngược, dù mang tang vẫn đam mê tửu sắc, chẳng thiết chính sự. Các hiền thần Thiệu Hổ, Doãn Cát Phủ đã qua đời, vua lại dùng Quắc Công, Sái Công và Doãn Cầu, đều là phường xu nịnh.
Kỳ Sơn bị thiên tai, Đại phu Triệu Thúc Đái khuyên vua lánh tửu sắc, lo chiêu hiền đãi sĩ để thiên thuận, nhân hòa. Vua nghe lời đàm tiếu của Quắc Công, đuổi Triệu Thúc Đái, hạ ngục Bao Quýnh vì dám biện hộ cho bạn đồng liêu.
Kẻ bán cung tên tiên triều, sau khi vớt trẻ trôi sông, trốn sang Bao Thành, đem bán cho nhà Đại Tự, bé con nêu danh là Bao Tự. Năm mười bốn tuổi, cô bé quê là trang quốc sắc. Một hôm Hồng Đức mua Bao Tự, đem dâng cho U Vương để cứu cha là Đại phu Bao Quýnh thoát cảnh lao tù.
Được Bao Tự, U Vương chìm đắm chốn Quỳnh Đài, phó mặc việc triều chính. Thân Hậu, nhân vắng vua, đến hạch tội Bao Tự. Sau đó, Thái tử Nghi Cữu lại nặng tay hành hạ quý thiếp của vua cha, nên bọn xu nịnh thúc vua đày Thái tử sang Thân quốc.
Thân Hậu bị thất sủng, thương nhớ con nên mượn tay nữ y Ôn Uẩn mang thư, giục Nghi Cữu dâng sớ hồi quê để lo chính sự. Mật thư bị Bao Tự bắt được, Tam Công hùa theo Bao tự gây áp lực khiến Nghi Cữu bị phế, Thân Hậu bị đưa vào lãnh cung.
Bao Tự tuy nên chánh cung, nhưng sắc diện mãi u sầu, vũ nhạc vẫn không làm nàng vui. U Vương động lòng dò căn, y thị thẫn thờ đáp :
- Thiếp chẳng thích thứ gì cả, chỉ còn nhớ năm xưa, tiếng xé lụa nghe khá vui tai!
U Vương truyền cung nữ, mỗi ngày xé một trăm tấm lụa để mua vui Bao hậu. Thế nhưng quí phi vẫn tắt nụ cười. Quắc Công hiến kế :
- Trên đỉnh Ly Sơn, tiên vương đã lập hai mươi chòi canh, có trang bị trống chầu. Khi quốc biến, chỉ cần phóng hỏa chòi canh, gióng trống, là chư hầu đem quân tiếp trợ. Nay tuy bình, lửa dậy trống khua, giục chư hầu đến mua vui cho mẹ nước, cha dân cũng nên!
U Vương khen phải. Trịnh Bá Hữu khuyên :
- Tín hiệu ấy là để cứu nước. Nay, vô cớ đem lý mua vui. Chữ tín không thủ, họa đến thiếu trợ, quân không viện, nước tắc vong!
U Vương không nghe. Vua và hoàng hậu ngự Ly Sơn, truyền đốt chòi, gióng trống. Chư hầu kéo đến đủ mặt, nhìn nhau ngơ ngác! Bao Tự cười vang! U Vương vẽ lý trấn hầu, đem nghìn vàng ban thưởng.
Cụ Chánh kết luận :
- Sự thể phi lý đến nhân gian bảo “nghìn vàng mua lấy trận cười” hoặc “nụ cười xé lụa” là tiền tích!
Cụ hớp hụm trà, đoạn tiếp :
- Để thay lời bình, ta nên đem hậu lai để đánh giá duyên khởi bằng lý của Thân Hầu: “Xưa, Kiệt yêu Muội Hỉ khiến Hạ mất. Trụ Vương mê Đắc Kỷ làm Thương tan. Nay bệ hạ bỏ chánh, lập thứ, xin gẫm lại để tránh họa mới!”
U Vương mặc Thân Hầu, chuộng Quắc Công nên truyền Quắc Công lãnh chỉ đánh Thân quốc. Tiên hạ thủ vi cường, Thân Hầu đem lợi lộc khiển Khuyển Nhung đánh Kiểu Kinh. U Vương đốt lửa, gióng trống trên đỉnh Ly Sơn để cầu viện. Nhưng viện chẳng thấy mà giặc đã hiện, Quắc Công phải lãnh ấn tiên phuông và bị Bột Đinh chém chết. Trịnh Bá Hữu giết Cổ Lý Xích phù vệ hoàng gia, nhưng bị thọ tiễn mà thác. Khuyển Nhung giết U Vương, Bá phục Thái tử và đưa Bao Tự vào nội trướng.
Tân nhớ lại những tiền tích cha đã lược qua, cậu luận :
- Truyện Tàu hay thần thánh hóa cốt truyện, huyền hoặc hóa cá nhân để khởi duyên và kết hậu, hầu gây tác dụng sâu đậm vào tâm khảm quần chúng. Để xây dựng nhân vật, Bao Tự đầy ác tật, sử gia nhấn mạnh, tiền thân của y thị là linh khí của Long thần, được mang từ thị nữ mới mười hai tuổi và sanh ra lúc ả được năm mươi hai tuổi. Mạng của nàng cao số đến chim muông phải hộ giá, khỏi chết về nạn trôi sông. Để gây hậu thuẫn cho trang quốc sắc thiên hương đã thế thiên hành quả một liệt quốc, mà nguyên thủ là vua của các vua, phải trang bị cho nàng cái kiêu tính thích nghe xé lụa, chỉ cười khi gạt hầu, hai thứ triệt, tuần cho một vương quốc có một quá trình oanh liệt, đang trên đà xuống dốc qua sấm truyền.
Cụ Chánh vội ngăn lời Tân, cụ phát biểu :
- Con đã dựa thời vận, lấy lý trời để bàn, thì bao nhiêu tội lỗi đều trút cho thiên cơ hết, khiến ta không tìm thấy manh tâm của Bao Tự.
Đứng trên phương diện nhân tâm để phân tích, thì ta thấy rằng: Bao Tự mẹ là cung nữ, dưỡng mẫu là dân giả, sống trong vùng hẻo lánh, nàng lớn lên chỉ trông cậy vào sắc đẹp mà thôi. Thời cơ đưa nàng bất chợt lên tuyệt đỉnh danh vọng, nàng vội xem thường Thân Hậu, đó là bất nhường; nàng thiếu tính từ tốn nên cố tình hạ bệ chánh cung, đày ải thái tử, đó là bất nhân; thiếu dạ thương người lại kiêu kỳ chấp nhận nghe xé lụa làm vui, phung phí tài sản dân quốc, đó là bất kiệm; không màng công sản, gây dân khốn khó còn có cơ cày sâu cuốc bẫm mà bù đắp, nhưng nàng lấy quốc sự gạt hầu làm thích, đó là bất trí. Mẫu nghi thiên hạ mà bất nhường, bất nhân, bất kiệm, bất trí thì thu phục lòng dân đã khó, huống hồ chư hầu đa mưu túc trí, cường thịnh một phương thì là vạn nan!
Con dân có câu “đồng vợ đồng chồng, tát biển Đông cũng cạn”. Thế nên Bao Tự và U Vương đều bất nhường, bất nhân, bất kiệm và bất trí, khiến sự suy sụp của đại Chu cực nhanh, cực mạnh và nghiệp bá bị chôn vùi dưới tay của Khuyển Nhung, một nước chưa đáng cấp hầu. Vua Khuyển giết U Vương, Nghi Cữu Thái Tử như trở bàn tay, dụng Bao Tử như món quà giải trí và bỏ rơi nàng khi bị chư hầu giải giới, khiến nàng dùng giải lụa để kết liễu một đời hữu sắc, vô tâm, vô trí và vô tài!
Cụ Chánh đứng dậy, cụ rảo bước, tiếp lời :
- Tình yêu thực là đa diện, đa sắc, cha chỉ đơn cử chừng ấy câu chuyện, hy vọng con mau tỉnh ngộ!
Tân thích thú nhìn bộ côn trùng bảy màu, khen ngợi :
- May mà bộ sưu tập về côn trùng của cha để dạy Vạn Vật, đã giúp con hiểu biểu tượng của tình yêu.
Cụ Chánh phì cười, cụ đính chính :
- Con đừng nghĩ đây là biểu tượng tình yêu qua màu sắc cha dùng là sai lệch. Người Âu đã dùng sắc hoa để làm biểu tượng cho tình yêu. Còn cha dùng màu sắc của mống trời để làm cho lối kể chuyện có phần đỡ chán. Tuy nhiên, tình yêu vốn vô sắc, vô hình, nhiều cường độ khác nhau, nhẹ nhất là vương vấn, nặng nhất là sầu tương tư đến thác, “mối tình mang xuống tuyền đài chưa tan!”
Từ ý nghĩ đó, cha đem tình yêu tán sắc ra đỏ, cam, vàng, xanh, lam, chàm, tím để đơn cử cho bảy thể cách tình yêu.
Mống trời, tức arc en ciel, là sự khúc xạ ánh sáng của mặt trời qua môi trường nước trên biển cả, trong không khí, in thất sắc lên nền trời. Nếu bảy sắc này, con cho nó xoay quanh một trục đồng tâm thì nó hòa thành vô sắc, như sự vô hình của tình yêu. Khi ánh sáng bị khúc xạ, tán sắc ta mới biết nó có bảy màu, cũng như kẻ bị sét ái tình đánh trúng, mới biết mình đau, mình lụy tình!
Cụ Chánh dụi tắt điếu thuốc, cụ hớp ngụm trà cuối cùng, cụ thu mấy con bọ cho vào lọ, cất vào phòng thí nghiệm tí hon của cụ, đoạn cụ bảo :
- Con hãy đi tắm rửa, lo ăn uống cho khỏe mạnh. Nếu thấy còn hứng thú thì tiếp tục rong chơi.
Cụ bước ra khỏi phòng, ngồi vào án thư, toan đọc nốt cuốn truyện đangdở dang, thì Thà, người mõ làng, bước vào.
Cụ Chánh gỡ cặp kính, săn đón :
- Cháu Thà đấy à? Lại vấn chuyện ruộng nương phải không? Ông Hội Đồng có giảm tô cho cháu không?
Thà hỏi vặn :
- Bác giáo đã nói giúp luôn cho cháu như đã hứa nữa à?
Cụ Chánh thân thiện :
- Ờ! Con cháu đã nhờ thì bác phải lo ưu tiên.
Thà gãi đầu, tỏ thắc mắc :
- Nhưng ông Hội Đồng chỉ giảm tô cho kẻ khác mà làm ngơ phần cháu. Ông ấy khinh cháu chăng?
Cụ Chánh cười :
- Đừng nghĩ thế! Nên nghĩ ngược lại thì hợp lý hơn! Theo bác, ông ấy quí cháu, không liệt cháu thuộc hạng cá mè một lứa. Dù sao cháu cũng là hương chức kia mà! Cháu có bần hàn như họ đâu! Phải thế không? Mình tuy về vườn cả, nhưng tình vẫn giữ!
Thà phật ý :
- Chủ, Cả khác, mõ khác bác giáo à!
Cụ Chánh ôn tồn :
- Không có quân, sao có tướng? Quân giỏi tướng mới thành danh; quan tài vua mới nên bá. Theo quan niệm của bác, nếu một mình ngón cái thì bàn tay sẽ vô dụng. Vai trò của cháu rất quan trọng, cháu là gạch nối giữa công quyền và dân. Cháu trực tiếp với dân, là tiếng nói thiết thực. Cháu nói hay, nói đúng, công bộc dân mới làm tròn việc nước. Kẻ nào thiếu hiểu biết mới đánh giá thấp mõ làng mà thôi. Bác nói thật, đừng nghĩ đấy là ngoa ngôn, ngụy biện!
Thà trở chứng :
- Hôm nay, tất cả tá điền không chịu góp lúa ruộng cho ông Hội Đồng nữa!
Cụ Chánh tròn xoe đôi mắt :
- Xưa nay vẫn đóng góp đều đặn cho ông ta mà? Tại sao lại trở chứng?
Thà chẳng cần giấu giếm :
- Cán bộ Thanh niên bảo là ông Hội Đồng bóc lột sức lao động.
Cụ Chánh gật gù, đoạn cụ vấn :
- Lúc trước, ai đề nghị lấy đất của ông Hội Đồng để sản xuất? Nếu bác không lầm là do tá điền? Ông Hội Đồng có của, bỏ đất hoang, ông ấy không đói. Tá điền không đất cày, sẽ đói vì không có lúa để nuôi gia đình. Vay đất người để kiếm sống, thuận nhau mới hợp tác sinh lợi. Lợi có thì chia nhau hưởng cho đúng luật công bình.
Thà phản đối :
- Nhưng đất là của trời, của nước!
Cụ Chánh ôn tồn :
- Thà à! Bác muốn làm Hội Đồng lắm. Bác muốn có nhà cao cửa rộng, muốn vinh thân phì gia, muốn có đất, nhưng con thấy bác chỉ là thầy giáo quèn, bán cháo phổi để nuôi thân. Nhà bác trống trước hở sau. Đất bác phải mướn của Chà Và. Xứ của họ cách mình một đại dương. Vậy, vấn đề đặt ra là, tài cán và công lao. Con nhìn, mái tóc ông Hội Đồng đã trắng, trán đã hằn những nếp nhăn, tuổi thanh niên ông ấy cũng nghèo như ai, phải gắng học, làm việc tích cực, sự dành dụm do công lao tích tụ mới thành nghiệp vĩ ngày nay. Mình mượn sự sản của ông ấy để được sinh tồn mà không chia lợi lộc cho ông ta, là mình bóc lột ổng đấy con ạ!
Bác không chống lý ông cán bộ Thanh Niên, bởi bác và ông ấy là kẻ vô can; chỉ có ông Hội Đồng, tá điền mới có quyền luận phải quấy với nhau. Hãy lấy công tâm mà đãi nhau mới phải!
Nếu con muốn nhờ bác giảm tô lần nữa thì bác không ngại đến viếng ông Hội Đồng hộ con.
Vừa lúc ấy Côn bước vào, cậu lễ phép :
- Thưa bác giáo mạnh giỏi!
Đoạn cậu nhìn sang Thà :
- Anh Thà khỏe chứ? Anh và mấy cô, bác tá điền làm em mỏi chân, mỏi miệng mà thóc chẳng thu được hột nào!
Đoạn cậu thiếu cẩn trọng, tánh trẻ hay ngang, cậu thốt :
- Cha em đã thông cảm sự khốn khó của cô bác mà chấp thuận giảm thu một phần khá khá mà cô bác vẫn không vừa ý. Nếu họ chê đất chê điền của nhà em, cha em sẽ lấy lại cho người khác canh tác vậy!
Thà bất mãn :
- Lần trước gặp bác giáo, được nghe lời chỉ dạy đáng ngàn vàng, lại có cậu và cậu Tân đưa lời đâm họng. Lần này tôi được bác giáo khai sáng rất nhiều, lòng dạ nghe mát, cậu lại chế nước sôi bằng giọng trào máu! Bọn tôi có đói đến bò lết cũng chẳng màng thứ đất phèn, đồng khô cỏ cháy ấy đâu!
Côn nhún vai, quay sang thăm hỏi cụ Chánh :
- Cháu nghe anh Tân đau nên đến viếng! Thưa bác, anh ấy thế nào rồi?
Tân cất tiếng :
- Vào đây Côn, tụi mình trò chuyện.
Côn bỏ mặc Thà đối đáp cùng cụ Chánh. Cậu nhanh chân bước vào buồng trong.
Tân lăn vào nhường chỗ. Côn ngồi mép giường. Cậu mở lời :
- Tôi chơi ngông làm ông đau. Trong số bạn bè, tôi và ông choảng nhau nhiều nhứt, nhưng ưu ái nhứt!
Tân cười thông cảm :
- Thế mới là tuổi trẻ đấy Côn! Càng chạm mạnh, càng đã đời, càng lưu nhớ dài lâu!
Côn thêm vào :
- Chẳng những thế lại đồng hội đồng thuyền về luyến ái!
Tân lắc đầu :
- Hay ho gì việc tình phụ ông ơi! Mình là gà chết!
Côn đánh bốp vào vai Tân :
- Bọn mình nhiều mối tối nằm không! Người ta mối nào ra mối nấy, mình chạm nàng nào, nàng ấy cho de, vô duyên thật!
Tân dàu dàu nét mặt. Côn làm bồ câu đưa tin :
- Nhưng ông diễm phúc hơn tôi. Các người đẹp bỏ tôi ra đi, di lại hận. Còn các nàng của ông họ đi, nhưng để lại tình.
Tân cười đau khổ :
- Ở lại thì mới đẹp, đi mà để lại tình thì mình chết héo Côn ạ! Thương hoài ngàn năm ông ơi!
Côn vỗ vai Tân, tò mò :
- Ông có rơi vào sự dại dột của tôi không?
Tân đỏ mặt, gật đầu.
Côn đánh bốp vào đùi Tân :
- Thế thì thương hoài ngàn năm là đúng! Tôi yêu Nguyệt ít hơn yêu Minh. Vậy, ông yêu Mỹ nhiều hơn yêu Nguyệt. Một ngày cũng là vợ chồng là thế đấy! Thảo nào...
Tân bật dậy :
- Thảo nào là sao?
Côn liếc chừng cụ Chánh, đoạn kề tai :
- Mỹ từ hôn Điệp. Họ chỉ xem nhau là bạn bè. Chính vì lẽ ấy, anh chàng Điệp thâm thù ông!
Tân buông người xuống giường, than thở :
- Tội nghiệp cho nàng! Tôi đã gieo tội ác!
Côn an ủi :
- Nên mừng chứ Tân! Vợ chồng cũ không rủ cũng tới mà!
Tân lắc đầu :
- Minh xa ông vĩnh viễn vì ông tính sai. Nàng xa tôi vĩnh viễn vì tôi lỗi lầm! Ông phụ người ta. Còn tôi lừa người ta. Vì thương nên tôi dối, vì dối nên tôi mất nàng. Nếu nàng lấy chồng thì tôi không khổ, nàng ở vậy khiến lương tâm tôi đau. Nếu nàng có con thì tôi bị dày vò lương tâm!
Côn thở dài :
- Người nữ nào cũng dịu hiền lúc yêu, kiên cường lúc hận. Họ giận dai lắm. Tân nên kiên nhẫn chờ.
Côn nắm tay Tân, nói lời giã từ :
- Ngày mai tôi trở lại Sài gòn.
Tân chận :
- Chưa hết hè, sao lui sớm vậy?
Côn nghiêm giọng :
- Nghe lời ông Hổ, tôi lo ôn bài để thi khoa kiến thức phổ thông và khoa thi chuyên nghiệp để làm công chức.
Tân khuyên bạn :
- Lấy Brevet xong, Côn ra Hà Nội học tiếp rồi đi Tây. Nhà đủ phương tiện, bỏ học làm gì?
Côn lắc đầu chán nản :
- Tôi sớm ăn chơi, ngựa đã quen đường cũ, khó tu tỉnh. Hơn nữa, thời cuộc rối ren quá. Tôi hơi ngờ vực về tương lai xứ sở, học không vô!
Tân lắc đầu, cậu biết rõ tính ý của Côn, đã quyết thì khó lay chuyển, nên đành vuốt đuôi :
- Nếu đã thích an nhàn thì cố đeo mục đích.
Côn ngắt lời Tân, cậu vấn :
- Còn ông? Quyết học đến nơi đến chốn à?
Tân cười hiền :
- Bể học mênh mông, khó mà đạt đến chốn. Tôi đeo theo sư phạm vì tính tôi vừa thích tự do mà lại yêu khuôn phép. Mâu thuẫn vô cùng!
Côn an ủi :
- Xét ra chẳng có gì gọi là mâu thuẫn cả! Người thích tự do, không muốn ai ở trên đầu mình và không chà đạp ai dưới gót. Nghề giáo tương đối thích hợp cho ai lưng chừng ở hai thái cực đó.
Côn đứng dậy, nói ý giã biệt :
- Lần này đến thăm bạn, tôi có linh tính một sự từ biệt. Tâm tình hôm nay như vậy đã thỏa lắm rồi!
Côn bắt tay, chúc: “Bonne chance!”
Tân đưa tiễn: “Bon voyage!”
Côn rời Tân, cậu bước ra, tên Thà đã đi. Cậu nhắn gửi với cụ Chánh :
- Thưa bác giáo, anh em chúng con đi học xa nhà. Cha con tính tình hời hợt trong giao tế với mọi người, nhất là tá điền. Con mong bác giáo vì tình lương hữu, đỡ đần hộ cho cha chúng con. Ơn ấy chúng con xin ghi tạc!
Cụ Chánh khuyên nhủ :
- Con lưu tâm thì thầy cảm nhận. Thật ra, bạn đồng liêu thời cũ, từ xưa đã có tập quán đùm bọc lẫn nhau, huống chi thời loạn lạc này!
Con hãy an tâm chu toàn sự học, vui chơi cũng nên chừng mực.
Côn vâng dạ rồi cáo lui.
Cụ Chánh sực nhớ lời người bạn già nhắn gửi về Tân. Cụ vào phòng, gợi ý :
- Tuần rồi, chú Tửng cha của Phùng, có thông tri. Hiện Phùng đang lo cơ sở thương mại trên tỉnh. Chú quay về trông coi tiệm thuốc bắc ở Ngãi Đăng hầu tiện việc trông nom bang Phúc Kiến sở tại. Trước khi bắt tay vào việc, chú bảo con cần lên gặp chú để nghị sự.
Cụ Chánh vừa phì phà điếu thuốc, vừa bàn lợi hại :
- Người Hoa sống trên đất lạ, quê người nên việc gì họ cũng đắn đo kỹ lưỡng. Cha khẳng định rằng có điều chi khá quan trọng nên chú mới phối trí như vậy. Con chẳng nên bỏ qua.
Tân suy nghĩ một chặp, đoạn cậu mở lời thăm dò :
- Đường đi nước bước ra sao hở cha?
Cụ Chánh chỉ vẽ chi li :
- Con lấy xe đò lên tỉnh. Khi đến Tân Trung, con chịu khó lội bộ vào giồng Cẩm Sơn.
Tân thắc mắc :
- Sao lại đi bộ?
Cụ Chánh giải thích địa thế :
- Dân địa phương dùng xe bò, xe đạp để lưu thông. Nghĩ lại, đi xe đạp khá bất tiện. Thế đất thay đổi, lộ trình khúc khuỷu, quanh co.
Cụ Chánh tiếp tục hướng dẫn :
- Tính từ tụ điểm Tân Trung. Nếu trực chỉ là lộ trình lên tỉnh. Rẽ sang phải là lối về Tân Hương. Rẽ sang trái là vào lãnh địa Cẩm Sơn. Từ ngã tư đến Miếu Bà là giồng đất cát. Dân địa phương chỉ canh tác thuốc lá, bắp đậu, khoai mì ở hai bên đường. Giáp vùng canh tác là rừng chồi, rừng tre. Mùa nắng, giếng sâu cũng cạn nước, thổ dân phải dùng xe bò tải nước từ Phú Trạch và vùng lân cận. Từ Miếu Bà đến đình Cẩm Sơn là đất pha. Dân địa phương canh tác mọi thứ ngũ cốc ở hai bên đường. Giáp vùng canh tác là rừng trâm bầu, tre nứa và tạp giống. Địa thế có vẻ sầm uất. Từ đình Cẩm Sơn đến cầu liên thôn là đất phù sa. Ruộng lúa cò bay thẳng cánh. Giáp vùng canh tác là rừng dừa. Giáp rừng dừa là rừng lá, ô rô, cóc kèn, bần, vẹt với sông rạch chi chít. Khu vực chợ Cẩm Sơn là lãnh địa của ông Huấn Thời, một đại điền chủ lắm ruộng nhiều vườn. Gia cư của ông chiếm hằng mấy mẫu đất vuông, rất kín cổng cao tường.
Đứng về phương diện giao thông, trục lộ đơn độc, lúc đất cát, lúc đất pha, lúc phù sa nê địa, rất bất tiện cho việc lui tới. Mùa nắng đi xe đạp, lúc lảo đảo như người say, lúc nhảy cà cồng như ngựa phi nước kiệu. Khách bộ hành sẽ chịu cảnh phồng chân, bỏng cẳng. Mùa mưa, chỉ có thể đi bộ vì lọt vào vùng đất phù sa, sình lún đến mắt cá!

0
10
 
Khu vực chợ Cẩm Sơn gồm hay dãy phố lá san sát vào nhau, ôm lấy con đường đất nhỏ. Việc mua bán thu hẹp vào các sản phẩm địa phương. Cây cầu sắt là gạch nối rất quan trọng cho sự tương giao giữa làng Cẩm Sơn và làng Ngãi Đăng. Từ dốc cầu đến đình Ngãi Đăng là lãnh địa của ông Hương Sư Vàng. Chợ Ngãi Đăng nằm cạnh dốc cầu. Chợ này là chốn trao đổi hóa phẩm và dịch vụ giữa dân cư của hai làng Cẩm Sơn và Ngãi Đăng. Chợ rất rộng, mái lá, sườn bằng danh mộc. Đầu chợ gồm các hàng mỹ phẩm, tơ lụa, dịch vụ thủ công nghệ. Giữa chợ bán tạp phẩm và thức ăn. Cuối chợ là hàng rau cải; chí bờ sông là chợ tôm cá và ghe hàng viễn xứ. Bên trái nhà lồng, bắt đầu từ dốc cầu cho đến sân banh là dãy phố ngói của ông Hương Sư Vàng. Đa số các chủ hiệu buôn đều là người lưu lạc giang hồ, dùng nghề mua bán để mai danh ẩn tích. Bắt đầu là tiệm kim hoàn của một tổ sư thất thời, đem nghề khéo để kiếm sống qua ngày. Kế đến là tiệm thuốc Vạn An Đường của chú Tửng, bang trưởng Phúc Kiến, người của hội kín. Lần lượt sau đó là tiệm may của cô Sương và mẹ là góa phụ của một nhà chính trị nào đó. Tiệm hớt tóc của chú Hai Tây; quán ăn của bà Năm, nạn nhân của Thổ dậy tại Sóc Trăng; quán bán bánh kẹo của chú Dành; các tiệm thuốc bắc của chú Dũ, chú Xác Khê. Bên phải nhà lồng là một dãy phố lá, kéo dài từ dốc cầu cho đến sân banh, gồm có tiệm chạp phô của Tám Hai Căn; tiệm bán đồ gốm của chú Chín Lư; lò bún của Tư Thà; lò sát sinh của chú Tám Thịt; tiệm làm bánh ngọt của Tùa Chón; lẫm lúa của Ba Chành; cuối cùng là quán rượu của chú Tư Quán.
Kế đầu nhà lồng là sân banh. Qua sân banh là vườn dừa, lác đác mồ mả. Giáp mí vườn dừa là ruộng sâu, trong cùng của ruộng sâu là rừng lá sầm uất. Từ vườn dừa đến đình Ngãi Đăng, hai bên là rừng tranh, rừng sậy, là cứ địa của cò trắng, chim dòng dọc, chim mía. Từ đình Ngãi Đăng đến trường tiểu học Ngãi Đăng, hai bên là ruộng lúa, trong cùng ruộng lúa là vườn dừa, tận cùng vườn dừa là rừng lá. Từ trường tiểu học đến nhà bảo sanh của cô mụ Nhàn, dân cư tụ tập đông đảo hơn, nhà cửa khang trang. Từ nhà bảo sanh đến ngã ba lộ tẻ của con đường liên tỉnh, nhà cửa san sát, khá giả.
Con đường xuyên thôn hình chữ U xẻ Cẩm Sơn, Ngãi Đăng làm hai phần. Cái túi chữ U, địa chất thay đổi gây lắm thứ rừng cây từ trâm bầu, lức, tre, nứa, tranh, sậy đến dừa, lá. Phía ngoài của túi chữ U là vùng đất bồi do phù sa bởi sông ngòi, lạch nhỏ ngoằn ngoèo chi chít, ôm lấy ruộng nương, rẫy bái, rừng dừa nước, bãi lầy ô rô, cóc kèn, vẹt, bần, mái dầm...
Xét như vậy, đây là hiểm địa dưới mắt chú Tửng. Chính vì thế chú chọn nơi này vừa làm nơi ẩn tế, vừa làm chốn luyện người đồng tâm. Từ đó cha suy nghiệm rằng, nếu cuộc thương lượng giữa Việt Minh và Pháp không thành tựu, chốn này sẽ diễn ra trò chơi mèo bắt chuột. Nếu mèo dồn chuột ngõ Tân Trung, chuột trổ ngách ngõ Tân Huề và ngược lại. Nếu mèo dàn hàng ngang, chuột sẽ tràn ra hướng sông Cái hoặc lộn ngược về Tân Hương. Nếu mèo vây quanh, chuột tản mác vào rừng ô rô, cóc kèn, rồi hóa thành linh miêu. Bấy giờ chưa biết mèo nào cắn mỉu nào!
Sau đấy Tân vâng ý cha, cậu làm một chuyến giang hồ, ngao du hang cùng ngõ hẻm. Nắng hè biến trạng du hành của cậu thành khổ dịp. Đầu cậu làm mồi cho lửa hạ thiêu đốt, chân cậu hiến cho cát nóng nướng trui, cho đất lồi dần thịt. Thỉnh thoảng Tân lủi vào mấy rặng trâm bầu, nằm sải tay, tai lắng ba tiếng cu kêu, bốn hồi gà gáy, lòng cậu bỗng dưng ấm ức nhớ người.
Bỗng từ xa một bóng hồng nhan với tà áo bà ba trắng phấp phới, với quần mỹ a đen lấp lánh nắng rung, nghiêng vành nón ghé vào tránh nắng. Tân ngồi bật dậy, lựa lời làm thân. Qua câu chuyện, rõ ra nàng là con gái của ông Hương Sư Vàng. Cô Chín Châu, người đẹp chốn thôn trang, trên không mời, dưới không với, đang thời vò võ chiêu phu.
Đôi bạn đồng hành trao nhau những lời hàn huyên nóng bỏng, quên cả nắng táp, mặc cho đường xa. Tuổi thôi cách biệt. Tình thôi phân vân.
Trong thời gian Tân viếng chú Tửng, thỉnh thoảng cô Chín Châu làm hướng đạo đưa Tân đi dạo khắp hang cùng ngõ hẻm. Riêng chú Tửng, ngoài thông lệ hướng dẫn Tân trong việc học tiếng Hoa, xem toa, chẩn mạch, hốt thuốc, chú đã đưa Tân ra tận sông Cái. Ở đấy, chú chỉ vẽ cho cậu cách làm rẫy, quan sát địa hình địa vật, kế mưu sinh thoát hiểm, thậm chí bàn bạc đến cả chuyện thương, chính.
Với chân tình của cô Chín Châu, với sự thương mến của chú Tửng, mấy tháng hè của Tân trôi qua nhanh chóng. Ngày từ biệt vô cùng bịn rịn, niềm đau cũ vẫn còn canh cánh bên lòng, thương yêu mới chất chồng thêm nặng, Tân cảm thấy bứt rứt không an, nhưng niên học đã kề, cậu vội quay về vui với cha đôi ngày rồi trở lại Sài gòn lo nghiên bút.
Ngày tháng qua mau, mùa thi lại đến, Tân xong examen, đang chờ kết quả. Trong cơn rảnh rỗi, cậu đến vũ trường thăm Minh. Trong lúc hai người đang hàn huyên thì Côn đến viếng người yêu năm cũ. Minh vẫn còn hờn Côn. Sự lãnh đạm của Minh khiến Côn lôi cuốn Tân vào cơn say túy lúy. Trong lúc xuống tinh thần, Côn thố lộ quyết định chuyển hướng tương lai. Tuy đã lấy xong bằng Brevet, cậu không thi vào chuyên ngành như dự liệu. Cậu sẽ xung vào lính Pháp để xả láng với đời. Tân thấy bạn đi ngược trào lưu nên hết lời can ngăn, nhưng Côn không nghe.
Hè năm đó, đa số bạn bè ở lại Sài gòn, Tân nhớ niềm vui năm cũ, thương mến gia đình, cậu tháp tùng Tính, Nguyệt, Lương va hai anh em Thiện, Ngôn về quê thăm nhà.
Sau khi Trung Hoa giúp Việt Nam Quốc Dân đảng chiếm cứ nhiều tỉnh ở Bắc Việt, tướng Tiêu Văn hỗ trợ việc xúc tiến một chính phủ liên hiệp. Trong đó Hồ Chí Minh là Chủ tịch; Nguyễn Hải Thần, phó Chủ tịch; Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng Ngoại giao; Trương Đình Tri, Bộ trưởng Y tế; Chu Bá Phượng, Bộ trưởng Kinh tế.
Quốc Trưởng Bảo Đại đồng ý thoái vị. Nguyễn Hải Thần lưu vong sang Tàu vì bất đồng chính kiến. Do đó Hiệp định Sơ Bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, được ký kết giữa Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh cùng Sainteny, gồm mấy điểm chính yếu sau: Việt Nam thuộc Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp. Số phận của Miền Nam sẽ do trưng cầu dân ý. Quân đội Pháp sẽ triệt thoái từng phần trong thời gian 5 năm. Việt Nam có quyền nhận và đặt lãnh sự với các quốc gia lân bang. Tài chánh tự trị, nhưng chịu thuế chung. Ngày 24 tháng 4 năm 1946, Hiệp Định được đưa ra bàn cãi sâu rộng. Qua nhiều quan điểm bất đồng, Việt Pháp đã dùng chiến tranh để làm phương tiện trả giá vào ngày 19 tháng 12 năm 1946.
Việt Minh đã dùng chiến thuật tiêu thổ. Những kiến trúc kiên cố, họ buộc gia chủ ký phép cho tiêu hủy khi Tây đến. Đường xá bị đào xới. Cầu cống bị tháo gỡ. Sông ngòi được ngăn chận. Họ khích động căm thù thực dân. Nam, phụ, lão, ấu được trang bị dao, mác, tầm vông, súng hai lòng. Nói chung, những phương tiện nào có thể giết người, đều được sử dụng tích cực. Những chiến dịch khủng bố cũng áp dụng triệt để. Kẻ nào bị tình nghi Việt gian đều bị chặt đầu hoặc cho trùm bao bố, thả trôi sông.
Trước cơn loạn, cụ Chánh vịn cớ Tân đau nặng, xin phép chánh quyền địa phương cho lên Sài gòn chữa trị. Quần chúng đổ xô tìm chỗ an toàn. Phương tiện chuyển vận thiếu thốn, phải mánh mung Tân mới được một chỗ cuối cùng. Hành khách ai cũng giả trang thành Hoa kiều và dân thiểu số. Xe đò trải qua nhiều nút chặn, lúc do Pháp, lúc do Việt Minh. Tân ăn vận theo học sinh nên qua trót lọt, nhưng khi đến Ngã Ba Trung Lương, những kẻ từ thủ đô đổ về thì được nhập nội, những người trai tráng từ quê lên thành đều bị ngăn lại. Sự việc mâu thuẫn này khiến Tân hoang mang. Cậu tự đặt câu hỏi, đâu là cõi an toàn? Pháp, Việt Minh, ai tà, ai chánh, ở thế giành dân trong nhân loạn?
Niềm tin của cậu bắt đầu thu hẹp vào gia đình. Gia đình là chiếc phao cuối cùng, sẵn sàng cứu vớt cậu. Còn Pháp và Việt Minh đều là những tay phù thủy đáng tởm, xem mạng dân rẻ như bèo! Nhưng gia đình của Tân đơn chiếc. Từ ngày Phượng lên giúp cô điều hành ngoại thương, gia đình chỉ còn có cha. Cha đã già, thời bất ổn, hẳn cha đang cần Tân. Nghĩ thế, Tân quay vội về làng, mặc cho thế sự đẩy đưa.
Những ngày sau đó, quốc lộ liên tỉnh bắt đầu bị phá hủy. Giao thông bị gián đoạn. Hy vọng nghiên bút của Tân trở thành viễn du. Những kỷ niệm đi về trên quốc lộ chợt sống dậy trong lòng Tân. Những mối tình chớp nhoáng và tan biến nhanh như khói tỏa trên các chuyến xe đò chật ních học sinh vào những dịp hè, sẽ không bao giờ còn nữa! Quốc lộ thân yêu bị cắt đứt thành những đoạn ngắn. Nền đá trắng tráng nhựa đen được thay bằng những con lạch sâu, nước xoáy đến chóng mặt. Những chiếc cầu vững chãi được thay bằng những nhịp ván mỏng manh, những thân tre gầy còm, những thân dừa trơn trợt.
Những đòn thù cá nhân bắt đầu nở rộ. Tiên khởi, Lương, thằng bạn có lòng, thường ăn cơm nhà vác ngà voi, hay tỏ ra hào hiệp trước bất công, bỗng bị mất tích. Ba ngày sau, xác nổi lình bình ở bến chợ, tay còn bị trói ké sau lưng. Dân địa phương chưa hết hoang mang thì Tính, Nguyệt biệt tăm chốn giang hồ. Ông cựu Hương Thân, cha của Tính, phát hoảng, ông bỏ của, trốn về quê xưa. Cụ Chánh thấy thời cuộc xáo trộn, cụ giấu Tân trong buồng gói. Mọi sinh hoạt ngoài đời, cụ đích thân lo liệu.
Chuyện dữ xảy ra cho bọn trẻ chưa yên thì nạn tai của kẻ cả lại đến. Ông Hội Đồng bị đám tá điền hành hạ, đấu tố cho đến chết. Thầy Hương Quản bị hai thằng con là Thiện và Ngôn hăm he. Cả sợ, thầy treo cổ tự tử. Hai đứa bất hiếu tử chẳng động lòng, chúng đang hăng tiết lập công bằng cách moi móc chuyện cũ của hầu hết dân làng để hành tội.
Xóm làng theo đà soi mói nhau. Cao trào đã điềm chỉ cá nhân Tân, khiến cậu bị trả quả trong mọi công tác lao động. Tuy không quen việc tay chân, để tránh đòn thù, Tân gắng hoàn thành công tác, chẳng phản kháng một lời. Công tác gần rồi lại công tác xa. Cậu bị đưa tận Ngãi Đăng để đào phá hương lộ. Cậu hội ngộ với cô Chín Châu và chú Tửng. Hai người đều khuyên Tân kiên nhẫn để họ tìm cách đưa cả gia đình về địa phương này cho được gần nhau.
Xong công tác, Tân về thì được láng giềng thông tin cụ Chánh đã bị thành phần bất mãn dẫn đi biệt tăm đã mấy hôm rồi. Tân lặn lội tìm cha khắp nơi nhưng vẫn biệt vô âm tín. Cậu vội thông báo cho chú Tửng. Chú giả cách người Hoa đi buôn phế liệu để vào tận hang cùng ngõ hẻm. Khi đã đạt kết quả, chú chờ đêm đến, hướng dẫn Tân đi giải thoát cụ Chánh. Đến bìa rừng cận sông Cái, Tân khám phá ra cha của cậu đang hôn mê trong chòi chăn vịt. Sức cụ đã kiệt, tâm cụ đã loạn. Miệng cụ lặp đi lặp lại mấy thành ngữ nào phong kiến, hủ lậu, nào tiểu tư sản, ngụy biện...
Chú Tửng và Tân luân phiên cõng cụ băng đồng và đưa thẳng về lãnh địa của chú. Sau đó chú gắng chạy chữa cho cụ. Sức cụ đã bình, trí cụ đã loạn. Cụ là một người điên hiền lành. Chú đã mất người bạn tri kỷ. Từ đấy, ai cho cụ ăn chi cụ cũng cười. Ai nói năng gì cụ cũng cười. Miệng cụ lâm râm điều chi chẳng ai rõ. Dần dà cụ trở thành kẻ bị đời quên lãng. Cụ chỉ còn độc nhất một tình thương của đứa con chí hiếu, tuy lắm nạn tai nhưng Tân khi được gần cha là cậu tận tình chăm sóc. Cậu nhìn cha đang cười, đang lâm râm những thành ngữ mà kẻ vô tâm kết án một thần tượng trong trái tim của Tân, Tân không hổ mà càng cao ngạo với đời về những gì cha đã có và đang có.
Chiến sự ngày một khốc liệt. Cầu Ngãi Đăng và Cẩm Sơn bị tháo gỡ. Nhà lồng chợ bị sang bằng. Ruộng chỉ canh tác cầm chừng, vừa đủ ăn. Gia súc thưa thớt. Mọi sinh hoạt hầu như ngưng đọng. Các quận lỵ Hương Mỹ, Tân Hương, Thạnh Phú... đều bị máy bay bỏ bom xăng đặc thiêu hủy. Hoa kiều bắt đầu thi gan tái tạo, sau mỗi đợt lãnh họa. Hết oanh kích, Tây lại ruồng bố khắp nơi. Duy cái túi chữ U của liên thôn Cẩm Sơn, Ngãi Đăng lại bình an vô sự. Chốn này trở thành một lãnh địa vô chính phủ.
Sự bình an đơn độc trong khi cả vùng rộng lớn bị bất ổn cũng sẽ bị nhiễm họa. Yếu tố đất lành chim đậu đã thu hút dân vùng khác. Họ chọn nơi này làm đất tản cư. Sự thiếu thuần nhất, tính bảo mật không còn. Máy bay bắt đầu oanh kích chợ Ngãi Đăng. Phố xá đều bị lủng lỗ chỗ, kèo cột đều hằn vết đạn.
Tuy sống trong tình trạng không bị bên nào cai quản, nhưng tinh thần tự nguyện đã giúp họ tự ổn định đời sống. Chú Tư Quán là người điềm đạm, chí thú làm ăn, tính hay thương người. Chú hầu như có mặt ở bất cứ nơi nào có cưới gả, ma chay. Do đó chú được lòng của mọi người, bất kể Hoa, Việt. Chú Tửng là bang trưởng của Hoa kiều, giàu lòng tha nhân nên rất được lòng chòm xóm. Ông Hương Sư Vàng là chủ của hầu hết bất động sản trong vùng, lại có cô con gái thích làm việc thiện nên hòa hợp được các giới. Những người có uy đó, tự động đứng ra gánh vác việc dân khi hữu sự. Theo sự yêu cầu của cô Chín Châu và sự đồng ý của chú Tửng, Tân đảm nhiệm việc dạy dỗ cho mấy đứa nhỏ học hành và mở lớp bình dân học vụ vào buổi tối cho kẻ lớn tuổi.
Chú Tư Quán tự nguyện đứng làm cai, điều động những buổi chợ đêm trong vườn, cận sân banh. Kẻ mua, người bán trao đổi hàng hóa bên cạnh các mộ hoang. Họ bị buộc chấp nhận hai thứ tiền, tiền cụ Hồ và tiền Đông Dương. Cứ một đồng Đông Dương ăn mười đồng Cụ, tiền Đông Dương được chủ trương xé đôi cho tiện việc trao đổi, nhưng đích thực là ngầm hủy diệt tiền cũ. Chú cai chợ là người chu đáo, chú hô hào bà con đào hầm cá nhân quanh chợ và vệ đường. Chú tạo một cái mõ tre, khi Tây tới hoặc máy bay xuất hiện, chú điều động di tản bằng mõ hồi một. Những trẻ đùa nghịch, chơi bắn nhau bằng ống thụt trái bố, đều bị chú khiển trách. Chúng luôn luôn tuân chỉ, bởi những điều công ích mà chú đã làm. Chú thường chế nhiều món ăn lạ rồi mời mấy cụ láng giềng, đem rượu đế mua vui. Cách xử sự khôn khéo khiến nam, phụ, lão, ấu đều mến chú, chú tượng trưng một thứ quyền trong vùng vô chính quyền, vô trật tự.
Sự an cư của vùng, đất lành chim đậu, dân tản cư tứ xứ đã đến định cư ngày một đông. Dân thị thành đem cái hay của thành phố truyền bá. Trẻ con thủ đô là cái loa kể chuyện lạ cho con nít vùng quê. Ông kỹ sư Mạnh từ Sài gòn đã dùng phế liệu, ứng chế đèn đóm cho dân họp chợ. Ông Tư binh công xưởng của Việt Minh cũng rèn cuốc xẻng cho dân dùng. Các anh bộ đội bị thương xuất ngũ cũng thành hôn với con gái vùng này. Ngay cả người tù binh gốc Đức cũng ở lại hòa đồng với địa phương. Tử sĩ của quân đội Việt Minh cũng lấy sân banh để làm nơi an nghỉ.
Bộ đội thỉnh thoảng diễn hành qua chợ để phô trương sự lớn mạnh qua các vũ khí thu được như F.M. đầu bạc, súng Thompson.
Máy bay chuồn chuồn khởi sự xuất hiện trên chín tầng xanh. Máy bay Dakota bắt đầu oanh tạc. Những loạt đạn của súng liên thanh gây tổn thất nhân mạng, tài sản khá nhiều. Để bảo vệ gia đình đông người, chú Tửng cho xây hầm trú ẩn tập thể trong vườn dừa, sau nhà. Từ đó, Tân chăm sóc cha chu đáo hơn. Khi vắng nhà, cậu nhờ ông tài phú lo hộ. Khi ở nhà, cậu ở đâu thì cha ở đấy. Những ngày gần đây, máy bay thám thính cứ vần vũ quanh vùng. Tiếp theo đó là những cuộc oanh kích khá chính xác ở các địa điểm chủ yếu, khiến quần chúng nghi nan có kẻ điềm chỉ. Láng giềng bắt đầu nhìn nhau bằng ánh mắt nghi kỵ.
Mãi một hôm, ông Hương Sư Vàng đi thăm bẫy cua lúc tờ mờ, ông nhận diện đầu lâu của một người tên Diệu đang bị treo tòn teng trên cành cây gáo ở dốc cầu. Bên cạnh là bản án hài tội Việt gian. Dân địa phương càng hoang mang. Họ rất thấu hiểu thành ngữ Việt gian không thuần ám chỉ kẻ theo Tây mà hàm ý tất cả những ai chống lại Việt Minh. Từ trước chỉ có chính quyền hai bên quấy nhiễu sự an lành của cư dân, bây giờ đã xuất hiện thành phần thứ ba trong cuộc chiến. Thành phần này phát xuất từ giáo phái và người có tinh thần quốc gia thuần túy trong quần chúng. Dân đã trở thành mục tiêu để hai bên vừa mua chuộc vừa khủng bố. Cư dân trong vùng lo ngại là chí lý.
Sự bất mãn của thổ dân càng cao khi nhóm dân quân du kích bắt đầu lộ diện công khai. Thỉnh thoảng nhóm người này dẫn độ những kẻ lạ mặt đến sân banh để hành quyết. Những người này, trước khi trở thành du kích, họ là những công, nông bản chất hiền lành với tay liềm, tay búa để sinh sống. Nhưng khi họ cầm dao, cầm súng, họ giết người một cách thản nhiên. Họ được người lãnh đạo tuyên xưng là minh, là chính, xúi giục họ chém giết kẻ đối kháng dưới từ ngữ là ngụy, là gian. Thành ngữ này họ áp dụng cho kẻ theo Pháp, kẻ đồi trụy trong tứ đổ tường thì dễ hiểu; nhưng gán ép cho kẻ yêu nước chân chính thì cần nên xét lại ai ngụy, ai gian. Công, nông là thành phần tay lấm chân bùn, có công sản xuất nuôi dân. Nhưng thiếu kiến thức lãnh đạo thì làm sao lèo lái đất nước, làm sao đắc dụng trong doanh thương. Sự chênh lệch kiến thức và thực lực kinh tế là nguyên nhân tạo ẩn ức về thù hận. Giữa chủ trương Marxisme đầy bạo động và chủ trương Capitalisme có vẻ ôn hòa, thì Marxisme đã khơi dậy sự ẩn ức của công nông.
Xét như vậy, Tân kết luận, yếu tố quyết định tội lỗi của công nông không đặt trên căn bản chủ thuyết mà chính là yếu tố tâm lý. Đó là sự ẩn ức sinh lý thù hận. Marxisme chỉ là áo khoác mà trụ cốt là tính ác độc của loài người. Chủ thuyết có thể thay, nhưng la raison du plus fort vẫn giữ mãi với không và thời gian. Những anh cán binh này cứ lai, đáo giết người với tấm lòng thù hận, xác của nạn nhân được vùi dập sơ sịa bên cạnh mồ mả của các người được tôn vinh là liệt sĩ. Ngụy và minh, chính và gian cùng nằm dưới ba tấc đất của một thôn nghèo xa xôi, hẻo lánh. Có lẽ linh hồn của họ đang tranh cãi về các thành ngữ đầy sáng tạo của kẻ ăn đầu sóng, nói ngọn gió. Địa phương này càng hỗn tạp hơn khi bộ đội chính qui mượn đường chuyển quân vào lúc trời ngả bóng. Những người chiến sĩ áo đen nón tai bèo qua làng nhằm mục đích chiến thuật thì ít mà chủ tâm tuyên truyền thì nhiều.
Ngày họ còn ăn mặc vải thô, trang bị thô sơ bằng mã tấu, súng hai lòng; lúc chuyển vận họ nghiêm trang đến đổi như đang đi quân hành. Những lúc sau này, kẻ mặc trang phục đen nội hóa, người vận kaki xanh, kaki vàng, thu nhặt của Tây. Vũ khí gồm súng trường, tiểu liên Thompson, mortier. Lắm kẻ diện đồng hồ Thụy Sĩ. Đấy là lúc họ dừng chân bên phố để ba hoa kể chiến tích, khoe trang cụ và vật dụng thu được của Pháp. Dân để ý súng đạn thì ít, nhưng chú ý y phục bằng kaki và đồng hồ Thụy Sĩ thì nhiều. Thậm chí có vài cậu trẻ trong vườn thoát ly theo bộ đội, không thuần là nổi máu thù Tây.
Bộ đội lui tới thường, Tây sẽ ruồng bố lắm. An địa trở nên chiến trường. Dân địa phương chém vè ra sông, vào rừng. Tân cực khổ về việc điều động cha trốn tránh khi cụ loạn trí. Sau lúc tàn cuộc, tổn thất của kẻ lâm chiến không đáng kể, nhưng dân chúng thiệt hại khá nhiều. Nhà cửa bị thiêu đốt. Của cải thất tán. Nhân mạng thảm thương. Người già, chậm chân bị hà hiếp. Thanh niên sơ sẩy bị bắt đi. Phụ nữ vài người bị thất tiết. Tiêu biểu nhất là gia đình của cán bộ Năm Thông, con của địa chủ Huấn Thời ở Cẩm Sơn. Tây lùng bắt ông ta, nhưng thằng Bích, kẻ tôi tớ vướng bệnh khật khùng. Tây tới, hắn không trốn, chúng nó ngỡ là Năm Thông nên sát hại hắn ta, đoạn ném xác vào trang trại đang bốc lửa ngùn ngụt. Sau đó Tây càn quét cả vùng.
Sau đợt truy lùng qui mô bằng thủy, lục; Pháp đã hiểu rõ địa thế của vùng đất xưa nay được xem như bất khả xâm phạm. Từ đấy chúng không còn nhọc lòng lùng địch bằng đường bộ. Chúng dùng chiến thuật lấy trời phạt đất, dụng không diệt địa. Máy bay, bom đạn đã thay sức người để triệt hạ đối phương. Họ đã tiết kiệm xương máu đồng đội và vô hiệu hóa phần nào chiến thuật du kích. Bộ đội và du kích đã trà trộn trong dân. Dân trở thành bia đạn cho thực dân, tấm chắn cho người tuyên xưng cách mạng vì dân.
Trong cao điểm của hỗn loạn, Tân đã bất lực trong việc bảo vệ cha. Cụ Chánh đã tử vong trong mưa đạn vì cụ không thể tự vệ. Cha đối với Tân là niềm tin yêu tuyệt đối. Cha mất đi, nỗi đau dằng dặc đêm ngày như lửa ngầm lan chậm thớ cây, Tân trở nên còm cõi. Cậu vùi đầu vào việc nhà và phế mặc chuyện cộng đồng. Cộng đồng này, theo Tân, nó đã bị nhiễm độc, không còn dễ thương như xưa!
Một hôm Tân đang phơi thuốc ngoài sân, cậu thoáng thấy anh em Thiện, Ngôn trong trang phục bộ đội. Cậu vội lùi sâu vào nhà. Cậu trình bày cùng chú Tửng về những hành vi mờ ám của họ đã gieo rắc cho đồng bào địa phương của cậu thuở trước. Ngày hôm sau, chú Tửng đưa Tân ra rẫy, giao cho cậu trọng trách khác. Ngày ngày Tân lo trồng rau cải. Đêm đêm Tân học thêm dược lý, chẩn bịnh. Thỉnh thoảng cậu giữ trách nhiệm tiếp thu hàng hóa, y dược do A Phùng chuyển từ thành về, qua đường dây buôn lậu từ bên kia sông Cái.
Công việc bận bịu ngày đêm nhưng lòng Tân mãi thổn thức về tình xưa, nghĩa cũ. Tân chưa bao giờ thấy nỗi tuyệt vọng của mình thảm hại như hiện trạng!
Vào một đêm ba mươi của tháng hạ. Trời đen như mực. Gió lặng như tờ. Theo thông lệ, Tân đang cặm cụi học hỏi bên ngọn đèn mù u le lói thì liếp cửa hé mở. Tân y hẹn đứng lên tiếp kẻ chuyển hàng. Khách hôm nay là một thiếu nữ, trang phục toàn đen, đầu che nón lá khuất cả mặt. Tân toan cất tiếng làm hiệu. Chiếc nón lá hạ thấp. Tân há hốc kinh ngạc. Những éléments kiều diễm quen thuộc của gương mặt người xưa đang hiện hữu. Tân ôm chầm lấy Mỹ và lắng nghe câu nói lúc hai đứa tạ từ :
- Cái gì của anh là của anh vĩnh hằng!
Tân câm lặng, cậu giữ mãi thế thượng hạnh phúc bất chợt. Bằng một giọng ngọt ngào muôn thuở, pha lẫn một chút xúc động, Mỹ cảnh tỉnh người yêu :
- Sự nguy hiểm đang chờ chúng ta. Ngày vui còn dài. Anh nhanh chân ra ngoài để tạ từ ân nhân, rồi ta đi!
Tân còn đang phân vân thì Mỹ đẩy cậu ra khỏi mái tranh. Chú Tửng đã chực sẵn. Chú ân cần dặn dò :
- Ngày này, A bạc đã chuẩn bị từ lâu cho cả gia đình con. Ý chưa kịp thực hiện thì cha con đã lìa trần. Thôi! sinh ký tử qui. Có luyến cũng khó qua định mệnh của trời! A bạc chúc hai con thượng lộ bình an.
Nhớ lời A bạc dặn, dù ở hoàn cảnh nào, gia đình các con và gia đình A Phùng cũng gắng đùm bọc lẫn nhau để vững tiến!
Tân chưa kịp thưa thốt thì chú Tửng đã nhanh tay quảy bao hàng, biến vào đêm đen để tránh cảnh ngậm ngùi lúc chia tay.
Mỹ vội đưa Tân xuống thuyền. Nàng khéo léo ngụy trang chàng trong lớp hàng hóa, đoạn cho thuyền ra khơi. Dòng sông rộng, nước lững lờ, mái chèo êm ả, thuyền vượt qua mấy chiếc tuần duyên trong vô sự. Trời mờ sáng, Mỹ đã chuyển Tân sang bến yên lành.
Nàng và chàng đến nhà hàng Tàu, cận bến xe đi Sài gòn, lục tỉnh. A Phùng thoáng thấy Tân, bỏ quày hàng, chạy đến ôm vai, than nhỏ :
- Hày! Ngộ tưởng nị tiêu tùng theo ông già rồi chứ! Thôi, sinh ký tử qui, đừng buồn!
A Phùng giao khoán công việc cho tài phú, chàng đưa Tân lên lầu. Nghe ồn ào, Phụng đến cầu thang. Tân vừa tới nấc thang chót, Phụng chạy đến ôm chầm, mừng rỡ :
- Trái đất tròn! Tạ ơn trên bọn mình đã gặp lại! Chúng em lo ngại cho anh vô cùng!
Mỹ đến bên Tân, giới thiệu :
- Phụng, nay là hiền nội của anh Phùng đấy anh ạ!
Phụng khéo lánh, giục :
- Mỹ vào bồng con ra chào cha đi!
A Phùng kề tai Tân, bảo khẽ :
- Nị báo hại vợ con sầu khổ bao năm!
Tân cảm thấy cơ thể mình như nhũn ra. Chàng ngạc nhiên và sung sướng ngập lòng khi nghe Phụng và A Phùng đề cập đến con thơ, vợ yếu :
- Con tôi? Vợ tôi? Tạ ơn trên sự trùng phùng này.
Phụng gật đầu :
- Chị ấy yêu anh trọn tình, dâng hiến trọn đời. Ngày đầu gặp gỡ anh Điệp, chị đã khẳng định, chỉ chấp nhận tình bằng hữu. Chị đã dùng thời gian để đo lường dạ người tình. Anh Điệp thiếu kiên nhẫn, đã sa ngã và cuối cùng kết hôn với kẻ khác. Anh qua bao nhiêu thăng trầm mà vẫn hoài vọng người xưa. Thời điểm hôm nay là ngày xướng danh cho mối tình thiên thu diễm tuyệt.
Phụng dứt lời, mẹ trẻ con thơ đã hiện diện. Mỹ bảo con :
- Châu vòng tay ạ cha đi nào!
Cậu bé nhoẻn miệng cười rồi úp mặt vào lòng mẹ. Cậu nghiêng nghiêng, lén nhìn người lạ, có danh xưng ngồ ngộ là cha.
Tân bước tới, điểm nụ cười cầu hòa cùng bé con. Chàng đưa đôi tay mời gọi. Bé thơ chỉ cười, Phụng đôn đốc :
- Cha đấy! Ngoan đi Châu!
Bé con khẽ lắc đầu. Niềm chua xót dâng lên cao. Nỗi đau len lén vào tim, Tân gượng cười, bảo :
- Cha đây mà! Cha thương Châu lắm lắm!
Mỹ hôn nhẹ con, cổ võ :
- Sang cha, cha yêu bé hơn cả mẹ!
Tân cười hiền. Chàng đưa tay mời gọi lần nữa. Bé nhào vào tay cha, bá cổ, mặt hướng về mẹ thăm dò. Mỹ gật đầu, nở nụ cười hạnh phúc.
Tân tay bồng con, tay ôm vợ. Tân thú tội :
- Tuổi trẻ yêu lắm, bồng bột quá! Anh đã phạm lỗi với nhiều người.
Mỹ mân mê ngực chồng, bảo khẽ như hơi thở thoáng nhẹ, vừa đủ để chàng nghe :
- Anh chẳng có lỗi với ai cả! Anh hành động do cảm nghĩ chí tình, do sự trung thuận và hứng chịu trách nhiệm. Em yêu anh với cả con tim. Em muốn độc chiếm tình anh. Em muốn đôi ta là uyên ương hằng hữu nên em đã dâng hiến. Kết quả tình yêu là niềm mong đợi tất yếu. Chuyện mang nặng đẻ đau, theo em, nó không thuần nghĩa gian khổ mà chan hòa ý niệm hạnh phúc. Chuỗi khổ hạnh của kẻ tu trì là phần thưởng từ lúc thí phát cho đến khi đạt thành chánh quả. Nhụy rữa, hoa tàn là tiến trình tất yếu của trái thắm tươi!
Con em là biện chứng tình yêu của đôi ta. Bé là trái tim nói lên mức độ yêu thương nồng thắm của chúng mình, là dây tương quan hạnh phúc. Dù ta có nghìn trùng xa cách, cũng ngưỡng vọng qui trình.
Anh thường lấy toán học để trêu hương sắc của em. Con của chúng ta là kết hợp tất cả éléments ưu tú của đôi lứa chúng mình. Con em là một sommation đúng nhất! Ai đã từng sinh con mới hiểu cả nỗi đau và niềm hạnh phúc giữa mẹ con. Ai đã từng được yêu và yêu trọn vẹn mới hiểu được sự tương đắc giữa vợ chồng!
Trên mâm cơm hội ngộ, A Phùng đùa :
- Ngộ đã xem bói cho A Tân, ngộ thấy nó bị ba con nữ hành hình. Đời nó sẽ điêu đứng. Duyên tình tuy trắc trở, nhưng cuối cùng đạt mộng. Nào có sai?
Phụng vui miệng, nàng hưởng ứng một cách không giấu giếm :
- Ông xã đã biết hết mọi sự, em chẳng giấu làm gì...
A Phùng giành khám phá sự thật :
- Hày! Nếu bà xã của ngộ không làm tài lanh thì duyên nợ của bọn mình đảo lộn cả.
A Phùng gắp miếng bào ngư cho Phụng, vừa cười hì hì vừa trêu vợ :
- Phụng à! Em thương A Tân đứt ruột nên em đã trộm miếng ngọc của thằng anh đem trao cho kép để làm bùa hộ mạng. Trớ trêu thay, em đem người yêu se duyên cho kẻ khác. Hậu quả, em mất kép, thằng anh mất đào. Đau lắm chứ hử?
Phụng đấm vào lưng chồng. Nàng trách :
- Anh nói thế khác nào anh từ chối phúc đức trời ban em cho anh, phải không?
A Phùng cười cầu tài :
- Vì anh được đại phúc nên mới xướng danh em để cho ai kia thương tiếc đấy chứ!
Phụng đỡ lời chồng :
- Ông xã ăn nói vô duyên, bông đùa không hợp cách. May mà anh Tân là bạn thân, chị Mỹ như ruột thịt, nếu không, ông xã sẽ bị ăn đòn. Đem em mà so bì sao xứng?
Mỹ pha trò cho thêm phần thân thiện :
- Chị em tôi luôn luôn đùm bọc cho nhau. Anh em của nhà anh, ngoài miệng nói thương nhau tha thiết, nhưng trong lòng cứ tháu cáy nhau hoài. Anh phải cảm ơn chồng em. Chàng lỡ duyên nên anh mới được một bà vợ tài sắc vẹn toàn.
A Phùng cười ha hả, trêu gan :
- Anh em tôi tuy trong bụng chứa cả bồ dao găm, còn đỡ hơn chị em của các bà ngoài đùm bọc, dạ trong dâu!
Mỹ bạo miệng, trả đũa :
- Cụ nghĩ thế, đừng trách chị em tôi nhé! Được! Tôi sẽ đem Phụng gả cho chồng tôi để ai kia khỏi gieo lời bội bạc!
A Phùng chắp tay cười khì khì :
- Hiền nội của A Tân chơi trội hơn cả Hoạn Thư. Đùa nhau đến thế đủ lắm rồi. Xin hoà!
Tân là tác nhân gây loạn, tự nãy giờ ngồi nghe người trong gia đình tinh nghịch đùa nhau. Chàng thấy đã đến lúc thuận tiện để biện bạch tội tình :
- Tôi là người duy tâm. Tôi tin có đấng thiêng liêng. Tôi tin có thuyết nhân quả. Những tin yêu đó giúp tôi gắng gieo duyên khởi tốt để gặt hậu chung lành. Nhưng nhân vô thập toàn, tuổi trẻ bồng bột, tôi vì yêu nên gây nhiều hệ lụy cho những kẻ tôi thương. Đấng thiêng liêng đã rộng lượng, người thân đã khoan hòa. Ngài đã kết thành khối những người tôi ưu ái, những hoài bão tôi hằng mong. Các người yêu tôi đã mở rộng tầm tay đón nhận tôi. Trong giờ phút hội ngộ này, lời tri ân thiết tưởng không cân xứng với những điều tôi được đãi ngộ. Tôi xin lấy tình thâm để chung lối cho đến mãn đời, như thế có lẽ đầy đủ ý nghĩa hơn.
A Phùng an ủi :
- Tôi là thằng con cưng. Tân chỉ là bạn của tôi, nhưng cha tôi ưu ái Tân hơn tôi. Cha tôi là người mực thước. Cách đối xử đó đã nói lên tư cách của Tân như thế nào rồi. Tôi có rất nhiều bạn. Bạn tôi nhiều loại. Thú thật, chẳng có đứa nào ảnh hưởng tôi bằng Tân. Mỹ được nhiều người mến mộ, nhưng không ai làm Mỹ hạnh phúc bằng Tân. Phụng, vợ tôi, thương anh rất mực, nhưng cũng khó so với thiện cảm mà bà ấy giành cho Tân. Vì vậy, những gì Tân phát biểu là cần, nhưng xét ra không tất yếu. Lời nguyện chết sống có nhau mới là điều đáng hoan nghênh mà thôi, nó đúng tâm nguyện của chúng ta.
Tôi không có anh em, chúng mình kết thân từ nhỏ, tôi coi Tân như thằng em chí thương.
Tôi là người Hoa, sinh ở đất Việt, sống và lớn lên ở đây. Tôi nói và viết tiếng Việt sành sỏi. Tôi lại cưới vợ Việt. Cha tôi còn cao hơn tôi một bậc. Ông hoạt động trong cộng đồng người Việt. Thế nên tình thân của tôi và Tân không có một ngăn trở, một tị hiềm nào.
Sự thâm tình đã có, ước vọng từ đó thiết thực hơn. Ngày nào Tân có điều kiện tiến thân, thì đừng quyến luyến tình gia đình mà bỏ lỡ cơ hội tốt. Thú thực, tôi không muốn Tân theo vết nghề làm thầy thuốc bắc, khai thác nhà hàng như tôi. Những dịch vụ này làm nhụt chí tiến thủ của một người có nhiều tiềm năng như Tân.
Tân vốn ít nói, nghe nhiều. Chàng lẳng lặng tiếp thu tâm tình của mọi người trong gia đình. Bữa cơm thân mật mở đầu cho những chuỗi ngày tạm bợ của chàng bên A Phùng. Ban ngày, vợ chồng Tân phù trợ điều hành nhà hàng ăn với gia đình Phùng. Ban đêm, chờ con ngủ, vợ chồng hết tâm tình lại chuyển sang kế hoạch lập nghiệp. Đôi uyên ương toan tính mãi mà chưa ai đưa ra được một sáng kiến khả dĩ giúp họ thoát cảnh ăn nhờ ở đậu, bởi đôi đàng đều rơi vào hiện trạng tứ cố vô thân.
Vào đêm giao thừa của xuân năm ấy, nhân nhàn rỗi, Mỹ thủ thỉ cùng chồng :
- Ngày xưa, Ngụy Thị giết con gà mái ấp độc nhất, chẻ phên để làm cơm tiễn chồng tìm bước công danh. Bách Lý Hề cám cảnh mà nên khanh sĩ nhà Tần. Nay, em quyết ôm con, theo chàng nửa bước chẳng rời, em gắng buôn gánh bán bưng để chàng tiếp tục ăn học, làm nên nghiệp vĩ. Chàng nghĩ thế nào?
Tân như mở tấc lòng. Chàng trình bày dự tính đã lâu :
- Anh sẽ làm khác Bách Lý Hề. Cũng như em, anh chẳng xa em đến nửa bước. Chúng ta cùng sát cánh để dựng tương lai.
Chúng mình đã từng ở Sài gòn qua những năm tháng ăn học, mình đã hiểu phần nào sinh hoạt trên ấy. Tuy nắm sẵn gia sản của cha để lại, nhưng không nên phí phạm. Khởi đầu, ta chọn một căn nhà nhỏ trong khu lao động, trên đường Matelot Manuel ở Khánh Hội để an cư. Ta điều động một xe hủ tiếu để khiêm nhường lập nghiệp, đồng thời anh tiếp tục học. Khi đã yên vững, anh chuyển sang làm thư ký khai quan thuế ở bến Nhà Rồng. Em thôi buôn bán. Hãy tận dụng thời gian nhàn rỗi để học thêm, để vợ chồng con cái sống cho nhau.
Anh dự định khi đỗ xong trung học sẽ xin làm công chức, thuận đà cho chương trình đại học. Bấy giờ, tiến tới đâu ta liệu tới đó.
Trong lúc vui xuân, Tân đem ý định trình bày cùng vợ chồng Phùng. Phùng chẳng những tán trợ mà còn đề nghị giúp vốn. Tân tránh chịu thêm ân, nên bảo có gia sản của cha để lại.
Sau Tết, vợ chồng Tân đưa nhau lên Sài gòn. Việc đầu tiên, Tân đưa Mỹ đến thăm cô và em gái. Bao năm cách trở, khi gặp lại, cô cháu, anh em sụt sùi kể lể nhớ nhung và ngậm ngùi vì cái chết của cụ Chánh.
Riêng Phượng và Mỹ, ngày xưa là nhịp cầu tri âm. Ngày nay là liên hệ gia đình, tình cảm gắn bó rất nhiều, đến độ Tân phải trêu Phượng :
- Tử Đô đã chết mệt vì nhan sắc chim sa cá lặn của chị dâu rồi đấy! Cậu nhớ lời dặn của anh ngày xưa chăng?
Phượng đùa trả lễ :
- Công Chúa đã cho Lỗ Trí Thâm ăn cháo bò nên bò lạc được giáng tiên! Giáng tiên mê công chúa thì đúng hơn.
Tân quay sang Mỹ phân trần :
- Ngày Phượng còn thơ, cô ấy dong dỏng cao, tướng suông đuột; tay chân, mặt mày mỹ miều đến nỗi bạn gái mê, bạn trai gán cho danh Phượng Đực Rựa. Cô ta về mách anh. Anh an ủi, sau này Phượng sẽ đẹp như công chúa, cô ấy mới an lòng!
Mỹ điểm xuyết nhan sắc Phượng :
- Phượng có nhan sắc quyến rũ thật đấy chứ anh!
Mỹ trêu Phượng :
- Công chúa đã chọn được cây si nào chưa?
Phượng vừa nhìn Tân, vừa đáp lời Mỹ để trả đũa :
- Ngày xưa chị hờn anh Tân, chị bỏ đi về quê ngoại. Anh ấy ốm tương tư. Em bảo, em sẽ nấu cháo bò cho anh ấy ăn. Anh ấy trêu, bác sĩ dặn anh ăn cháo xong rồi bò đi tìm người thương phải không? Lời nói trêu ấy, nay đã thành lời tiên tri. Em đang học năm thứ hai y khoa. Chàng của em đang học năm thứ tư, trên em hai lớp. Vâng, anh Điệp là ý trung nhân của em.
Tân rạng rỡ nét mặt, khen ngợi :
- Giỏi thật, anh không ngờ! Cha mình sáng suốt thật! Nếu để em tại quê nhà, giờ này em đi bán bắp nướng rồi! À, gia phả của anh chàng Điệp ấy ra sao?
Phượng hăng hái :
- Ông bố có hãng làm xà bông. Cô em gái tên Phụng. Chị Phụng, người tình không chân dung của anh đó mà!
Cả Tân và Mỹ đều đồng loạt nhận ra người xưa. Trái đất tròn, kẻ sơ đều thành người thân cả rồi. Mỹ nên duyên cùng Tân, Điệp kết tình cùng Phượng, Phụng thành thân cùng Phùng.
Phượng ướm lòng Mỹ :
- Nếu chị đừng từ chối mối duyên tình với anh Điệp thì chị đâu sa vào cảnh gian truân như hiện tại?
Mỹ cười hiền hòa, nhìn thẳng vào đôi mắt của Phượng, chỉnh :
- Điệp biết chị thất thân cùng anh Tân mà vẫn kết. Đó là chân tình. Điệp rõ chị sẽ chờ đợi anh Tân mà vẫn nuôi hi vọng. Đó là yêu mù. Cuộc đời tình ái không mãi đẹp như thơ, không lặng lẽ như mặt nước hồ thu. Lúc ngoài tầm với thì người ta thương nhau tha thiết. Khi nên nghĩa vợ chồng, đời sống khó khăn, bất đồng ý kiến dễ xảy ra. Lúc ấy, người ta sẽ lôi những lỗi lầm xưa để làm khổ nhau. Đấy là tâm trạng có thể xảy ra, đối với Điệp. Phần chị, dù rằng anh Điệp có cách xử thế lương y như từ mẫu, tề gia thủy chung như nhứt chăng nữa, cũng không làm chị hối tiếc. Trái tim có lý lẽ của nó. Người con gái có gì cao quí bằng chữ trinh. Chị không hẳn là cô gái lăng loàn. Hôn lễ, đối với chị, không xem là lễ tấn phong hoàng hậu của lòng ai. Khi đã chọn mặt gửi vàng thì dâng hiến cả linh hồn lẫn thể chất, không đòi hỏi gì cả. Về phần anh Tân, ngoại diện không tệ, nội tâm không kém ai, tài trí chẳng thua một người trung bình, tình yêu dành cho chị thật chân, thật đam mê, thật tôn thờ; chỉ tội có một điều, đời chàng lận đận quá! Nghèo không than, khó không nản, ngang trái vẫn thủy chung. Về lý, đó là người trai lý tưởng; về tình, chị và anh ấy đã đồng điệu.
Chàng của chị, nếu không bị giam hãm trong thời gian tản cư, thì chàng cũng chẳng kém ai. Tuy nhiên, anh ấy còn trẻ, bước đường công danh còn dài. Đường dài mới biết ngựa hay! Cô em chồng của chị đã thử lầm người rồi!
Phượng ôm Mỹ, cười thỏa mãn. Cô bảo khẽ :
- Em thương anh của em rất nhiều. Ngoài tình ruột thịt, còn là kẻ đối tác khi mồ côi mẹ quá sớm. Đời sống quá thăng trầm, tình huynh muội càng đậm đà. Em không muốn ai làm khổ anh ấy. Anh ấy đã có thời gian khá đau khổ vì yêu chị. Em không muốn tình trạng ấy tái diễn. Em thành thật cáo lỗi vì lượng giá sai về chị!
Mỹ bẹo má Phượng, với giọng kẻ cả :
- Mẹ mất sớm, em thiếu tình nuông chiều. Chị sẽ thay mẹ làm điều đó cho em. Trưởng thành về thể chất, tâm tư em còn bé bỏng lắm Phượng ạ! Chị được làm thiên chức đó chăng?
Phượng vùi đầu vào ngực Mỹ. Châu chạy đến giành mẹ. Phượng quỳ xuống ôm cháu, mắt rướm lệ, khẽ mắng :
- Đồ chó con ích kỷ!
Một tuần sống tại nhà cô vì cô quyết giữ vợ chồng Tân ở mãi bên cô, bởi cô không có con trai. Tân đem chuyện ra riêng để lập chí. Cô giận, Tân nài nỉ mãi cô mới tha cho. Phượng và Tân tương đắc, Phượng tuy luyến thương Mỹ nhưng vẫn cảm thấy bị mất mát. Khi nghe Tân quyết định ra riêng, cô ôm sầu lặng lẽ.
Khi dàn xếp chuyện tình cảm gia đình xong, Tân sang Khánh Hội. Chàng len lỏi trong các xóm lao động, tìm một căn nhà cho vừa túi tiền. Vì muốn trữ kim an toàn đến tối đa, Tân đành chọn một căn nhà mái lá, vách ván gần cuối đường Matelot Manuel. Nhà lụp xụp, cận đường nhựa, lắm tiếng ồn bởi vó câu của mấy xe thổ mộ ngược xuôi. Mặt tiền có lắm hàng gánh cơm tấm, chè xôi. Mặt hậu là đầm lầy, nước đọng sắc đen, mùi hôi. Những bãi rác cứ lấn dần, lấn dần ao tù. Người lao động đã tranh chỗ với thiên nhiên, vô tình đã làm giàu cho mấy tên Chà Và chủ đất.
Láng giềng của Tân đa số xuất thân là trai tứ chiếng, gái giang hồ, nhưng được một điều là ăn ngay nói thẳng, ăn to nói lớn. Tình cảm của họ thay đổi như tiết tháng tư. Mới vui cười đó, lại gây gổ đó! Mới nâng niu đó, lại dập vùi đó! Trẻ con sắc thái còn đa diện hơn mây trời, sóng biển. Nhi đồng lúc giận, lúc vui, khi khóc, khi cười. Dăm ba cô chú hứng chí văng tục, giải quyết hơn thua bằng tay thoi, chân đá. Ở các fontaines thì triết lý hỉ, nộ, ái, ố càng điển hình hơn. Thuận tình thì sắp hàng chia nước cho ngọt lòng, mát dạ. Nghịch ý thì tay ném thùng, khua vang như tiếng phèng la, tay múa đòn gánh như đào Tiều biểu diễn. Nước đổ, máu tuôn. Kẻ la oang oác, người khóc tỉ tê. Sân khấu cuộc đời thê thảm và sống động lắm!
Tân nhớ chuyện Mạnh Mẫu dạy con nên ngại. Mỹ trấn an :
- Đây là bước đầu đời của diễn trình thăng tiến. Vạn sự khởi đầu nan. Một thoáng, rồi khổ lụy cũng sẽ qua.
Tân càng sống gần Mỹ, chàng càng khám phá trong nàng tiềm tàng tính nhẫn nại, đức khoan dung, sách lược uyển chuyển khôn khéo. Cái sắc đẹp thanh cao, lời nói từ tốn, âm điệu hiền hòa khiến kẻ đối tác nghe và hành theo ý hướng của nàng. Cái ý hướng đó được sắp đặt có lớp lang, hợp nhất, không gượng ép, gò bó; kết thúc bằng một chút an ủi, một niềm hi vọng tất đạt. Trước những vấn đề mà xác suất không cao, nàng không bao giờ đề cập đến. Từ đó, nàng tạo cho mình một vòng đai tín nhiệm của mọi người.
An cư xong, vợ chồng Tân chuyển sang giai đoạn lạc nghiệp. Chàng bàn cùng vợ chuyện xuất vốn tạo giàn xe bán hủ tiếu lưu động. Cái nghề do A Phùng truyền lại. Mỹ chờ đêm đến, khi con đã an giấc nồng, nàng gối đầu lên tay chồng, thỏ thẻ :
- Khi đọc câu ca dao “cái cò lặn lội bờ sông; gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”, em ngẫm, khóc ở đây không do than thân trách phận mà khóc vì cảm thương chồng mộng cao chí cả, trong khi cái cò tài hèn sức mọn. Cần lao nàng đổ nhiều. Hiệu năng cho chồng thu hoạch kém. Nàng dùng nước mắt cho vơi sầu. Sầu đã vơi, niềm tin yêu sẽ đến, cố gắng mới bắt đầu. Nàng tiếp tục vai trò gánh gạo nuôi chồng ăn học. Em cảm thấy thẹn với cò khi bắt chồng em hầu hạ cho những kẻ không đáng hầu, qua những tô xúp.
Do đấy, em quyết định sẽ đi bán hàng bông ở chợ Xóm Chiếu. Việc nhẹ nhàng, vừa gần nhà, tiện trông con, có giờ học, không cầu lụy ai, lắm khi ai đó lại cầu mình.
Tân phản kháng nhẹ nhàng :
- Anh là chủ gia đình, sức khỏe có thừa, ở không ăn học, lương tâm cắn rứt, thiên hạ gièm pha. Vùng này toàn người lao động, lời phê phán của họ chính trực và cay đắng lắm! Việc buôn gánh bán bưng không phải vai trò của tướng mạo khuê các như em!
Mỹ hôn chồng, bằng giọng nũng nịu để gây áp lực :
- Em đã nói với chàng, đó là giai đoạn tạm thời. Tay có làm thì hàm mới nhai. Em ở không, tô son đánh phấn hầu làm đẹp cho chồng, nhưng láng giềng nào nghĩ thế. Họ còn kết án em nặng nề hơn. Mình đẹp mặt nhưng đói lòng sao bằng người ta tay chai, mày rám mà tạo dựng nên nhà cao cửa rộng, nhất hô bá ứng! Đấy mới thật là sang cả, mới chân phú quí, vinh hoa.
Chàng tưởng rằng chỉ có hạng chằn cái mới thống lĩnh vai tài muội hay sao? Giao thương, quan trọng là nụ cười tươi thắm, lời nói ngọt ngào, lý lẽ hợp tình. Bằng những thứ ấy, em chỉ mong thu hoạch được đồng tiền mọn cho bữa cơm ngon, chứ em nào đòi hỏi đóng vai anh chị để gom tiền lớn, yến tiệc linh đình đâu chàng?
Tân hơi xiêu lòng. Thuở xưa chàng chẳng rõ Muội Hỷ, Đắc Kỷ, Bao Tự ăn nói thế nào để mê hoặc Kiệt, Trụ, U Vương; chứ đời nay, lời của vợ chàng lắm cung bậc thăng trầm, âm hưởng của nó làm xoáy con tim, bàng hoàng khối óc. Điều gì nghe cũng hay, cũng chí lý cả!
Ấy vậy, nàng lại dứt điểm bằng giọng ngọt lịm, nhưng cay như gừng :
- Cô bác quanh đây chỉ phê phán là khi nào chàng làm nhọc, em lười biếng hoặc em nỗ lực với công việc mà chàng ngơ. Huống hồ, em ra tay gánh vác, chàng phù trợ, thời gian còn lại chàng gắng học để thu ngắn con đường sống bằng lao động chân tay. Ai hiểu được dự liệu đó, họ sẽ khen ngợi và quí kính vô vàn.
Thế là từ đấy Tân cùng vợ lo luôn bán hàng bông tại chợ Xóm Chiếu và chợ Cầu Ông Lãnh. Mỹ vừa nách con vừa lo chạy hàng. Tân chỉ thực hiện những gì Mỹ nhờ. Thời gian còn lại chàng cặm cụi học tiếp chương trình dang dở khi xưa. Năm nào chàng cũng trúng tuyển. Không khóa một thì cũng khóa hai. Nhưng chẳng bao giờ đạt được mention với đời. Chàng tự an ủi, thê nhi, gia đình cũng là một thứ mention đáp đền cho kẻ hiếu học.
Thời gian thắm thoắt trôi qua. Khi Tân trúng tuyển tú tài một, chàng bắt đầu kế hoạch hóa gia đình. Chàng đã đủ khả năng hội nhập đời sống kinh tế và văn hóa của đô thị. Chàng bắt đầu xa dần lao động chân tay để tập tễnh bước đến ngưỡng cửa của lao động bằng trí óc. Chàng vào nghề khai quan thuế cho các hãng nhập cảng nhỏ. Khi ăn nên làm ra, vợ chồng Tân rời khu lao động Khánh Hội, tạo mãi nhà đất tại vùng Ngã Tư Phú Nhuận. Mỹ lập một cửa hàng buôn bán văn hóa phẩm tại địa phương mới, hầu vừa giúp chồng, vừa có đủ thời giờ để hai mẹ con nàng học hành.
Vợ chồng, con cái của tiểu gia đình này quay cuồng với nghề nghiệp, với học vấn. Thành quả tài chánh khả quan, thủ đắc kiến thức đáng kể. Tân hoàn tất tú tài toàn phần, Mỹ xong Trung học đệ nhất cấp. Châu vào tiểu học.
Mặc cảm thua thiệt, sự sợ hãi giai tầng trí thức đã giảm thiểu phần nào trong tâm khảm của Tân. Mộng theo đuổi chương trình đại học không còn là ảo tưởng như Tân hằng nghĩ. Ngày quần quật với công việc, đêm chăm chỉ học hành. Đến giấc ngủ, hai vợ chồng vẫn dành hàng giờ để tâm sự một cách hứng khởi về tương lai, sự nghiệp.
Tân đậu toàn phần ở khóa hai nên các ngành chuyên môn đầy bảo đảm cho tương lai xán lạn đã qua kỳ tuyển dụng. Văn không thích ứng cho nghề nghiệp chàng đang hành xử. Luật gồm nhiều ngành hợp với mưu sinh của chàng. Tuy chàng rất ngại luận lý, sợ giáo điều, nhưng hết lối đành dằn nén âu lo để tìm sinh lộ. Để lao vào sự học, Tân đổi nghề. Nghề nghiệp hiện tại choán gần hết ngày. Giờ giảng huấn ở Đại học khá nhiều và thay đổi bất nhất. Tân không muốn ăn cắp giờ của sở để dụng vào sự học. Chàng đành bỏ mối lợi lớn về tài chánh. Chàng xin dạy giờ ở các tư thục. Thỉnh thoảng chàng mở các lớp huấn luyện thi Toán Lý Hóa cho học sinh Đệ Nhất Cấp, bởi nó song hành với sự thích thú mà chàng học thêm ở những phân khoa tại Đại học Khoa học, sau những giờ toàn luận lý ở Đại học Luật khoa.
Để bảo vệ hạnh phúc cho nhau, gia đình Tân sắp xếp chương trình hành động sao cho thích nghi. Những ngày đầu tuần, mọi người ngoài giờ mưu sinh, dồn nỗ lực học hỏi tại trường, trong thư viện. Những ngày cuối tuần, họ đưa nhau du ngoạn nơi danh lam, thắng cảnh, tham dự mọi sinh hoạt về văn học, nghệ thuật, thể thao, thăm viếng bạn bè...
Phần thưởng cuối năm của khổ luyện, mọi thành viên trong gia đình đều đạt nguyện. Tân đỗ chứng chỉ Luật năm thứ nhất, lấy luôn cả chứng chỉ Toán Lý Hóa tại Đại học Khoa học. Mỹ đỗ tú tài một. Châu lên lớp nhì, các môn đều được điểm cao, với lời phê tốt trong học bạ. Một năm thành công về nghiên bút, thăng tiến về tài chánh, thoát ách lao động chân tay, cho gia đình Tân.
Hết Hè, gia đình Tân sinh hoạt nghiêm túc hơn. Đây là niên khóa quyết định. Chương trình học của Tân bước vào năm thứ hai, có tính thâm cứu, nhiều lý luận, nặng biện minh. Các bộ môn mới lạ, cá biệt gây thích thú trong việc sưu tầm. Thư viện là nơi để truy các nguyên lý đó. Luật tuy đã rào đón rất chi li trong việc bảo vệ quyền lợi cho tập thể loài người, nhưng người đa trá, gây tội ác đa diện là giềng mối nảy sinh đa lệ. Như thế, người đã vô tình se dây để tự trói, tự cắt bớt sự tự do của chính mình.
Càng học, Tân càng thấy mông lung. Rõ là dủ học dủ ngu. Muốn giảm dủ ngu, Tân phải đọc nhiều, học nhiều, nhớ nhiều. Sự đỗ đạt là bằng chứng bớt dủ ngu. Muốn đỗ, phải mất công sức và thời giờ thật nhiều, nhiều lắm!
Mỹ đang luyện thi tú tài toàn phần. Chương trình học của nàng nhằm luyện kiến thức căn bản tổng quát. Nó là chiếc chìa khóa để cho ai muốn vào đời để thử lửa ân oán giang hồ. Kiến thức này giúp ứng sinh giảm thiểu rủi ro trong mưu sinh, thăng tiến hiểu biết trong nghệ nghiệp phổ thông. Nó còn là gạch nối cho ai muốn tiếp nối con đường mở rộng có tính chuyên biệt.
Châu đang theo đuổi mức thang cuối của bậc tiểu học. Chương trình của cậu cũng có những khó khăn tương tự như mẹ. Châu thường nghe cha nói mãi, niên học này, gia đình ta đang là cá vượt cửu cấp. Con cố vượt qua tiểu học để lên trung học. Mẹ cố hoàn tất trung học để lên đại học. Cha gắng vượt lên năm cuối của chương trình đại học để lên cao học. Nếu chúng ta không chuyên thì mất đà, bởi rừng nhu biển thánh, kẻ vào thì nhiều, người ra thì ít, kiến thức tuy thừa, bảng vàng lại hiếm. Ta hãy nhìn nỗi thống khổ của đàn anh mà gắng nhồi nhét ý thánh càng nhiều càng hay. Tuy nhiên phải lọc lừa như thế nào cho nó tiêu hóa, nhập tâm. Nếu cẩu thả sẽ bị tẩu hỏa nhập ma.
Tân nói hay, nhưng thực hành kém; cuối niên phải đến khóa hai chàng mới lên được năm thứ ba tại trường Luật. Các chứng chỉ khác tại Đại học Khoa học đều hỏng cả. Mỹ thầm lặng nhưng nàng lại đậu tú tài toàn phần khóa một với mention bien. Châu đậu xong bằng tiểu học không khó khăn mấy. Bấy giờ Tân mới cảm thấy vợ con chàng thông minh đĩnh ngộ hơn chàng nhiều. Con đường học vấn của họ hanh thông, trong khi chàng khổ học như người ta đấu đô vật.
Chiến sự lúc bấy giờ bỗng trở nên khốc liệt. Nghĩa vụ quân sự tuy cấp thiết, nhưng để quân bình các lãnh vực kinh tế, tài chánh, giáo dục, xã hội, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa đã ban hành chế độ hoãn dịch vì lý do công vụ, gia đình, giáo phái và học vấn. Nó là thước đo sự tận tụy, lòng hiếu học của công chức, học sinh, sinh viên. Nó biểu dương lòng nhân đạo đối với gia đình đơn chiếc, tính chất duy tâm của chủ nghĩa Tự Do Nhân Bản.

0
11
 
Đối với gia đình Tân, Mỹ đồng ý chính phủ rất sáng suốt, nhưng nghĩa vụ quân sự trong thời chiến là niềm bất trắc mà chồng con nàng khó tránh khỏi. Sau khi trúng tuyển vào Đại học Sư phạm, nàng cương quyết hủy bỏ ý định trở thành nhà mô phạm. Nàng chọn Văn khoa, vừa học cầm chừng, vừa hướng vào nghiệp thương. Nàng xin vào làm nhân viên ngân hàng để quân bình ngân sách gia đình, nếu nhỡ chồng con gãy đổ sự học, sa chân vào nghiệp lính. Ngân hàng là giai đoạn đầu để nàng chen chân vào sở tín dụng. Nắm được tín dụng, là nắm trái tim của nghiệp thương. Tín dụng giao duyên giữa các ngân hàng trong Hiệp Hội, gia ân cho doanh nhân trong toàn cơ cấu của thương trường. Từ đó, Mỹ sẽ từ bỏ ngân hàng để trở thành một doanh gia, đã thông suốt lề lối phương thức huy động tài chánh, hoán chuyển cung cầu của thị trường. Nàng sẽ chú trọng các hóa phẩm ăn khách, dùng kỹ thuật tung hứng vật giá để sinh lợi một cách quang minh chính đại. Khi lợi tức sung mãn, nàng sẽ đầu tư vào đất đai, gia cư để ngoại phô, nội kích các dịch vụ có tính ngoại giao.
Nói là làm. Sau một thời gian cực lực làm việc, tận tâm trau giồi sự học, lao lách vào thương trường, Mỹ đã nắm được địa vị chánh sở tín dụng của một ngân hàng có tầm vóc, đồng thời nàng hùn hạp với một số nhà nhập cảng mười tám ngành, chủ tâm của nàng là sắt, cement, đường. Về sở học, nàng đã sang năm thứ hai ở Đại học Văn khoa.
Riêng Tân, hoàn tất Cử nhân Luật. Chàng có ý định thi vào Cao học Hành chánh vì chàng ôm mộng sáng vác ô đi tối vác về. Đời sống công chức thầm lặng nhưng được cái phúc gần gũi thê nhi. Ước nguyện của chàng bất thành vì có một vài trục trặc nhỏ nên đành thôi.
Con đường quan chức lại kém may mắn, ngày chàng ra trường, các ngạch thẩm phán, thanh tra không tuyển bổ. Nhóm Kinh tế Hậu Chiến, bạn bè thân tín cũng chiếm hết phần. Tân quay sang gõ cửa các maitres, nguyên là sư phụ, chàng cũng bị chối từ. Parrain của Tân là luật sư thành danh. Ông cụ bỏ nghề làm trạng để giữ vị ở Thượng Nghị Viện. Tân ngại nhờ cụ vì e lâm cảnh bỏ thì thương, vương thì tội.
Tiến thân không xong, Tân thoái về trường, ghi danh cao học. Cả năm chuyên cần vì Tân biết mình đang đứng trước vực thẳm, nhưng cố cũng hoài công trước lệnh Tổng Động Viên. Tân đành xếp bút nghiên theo nghiệp chiến chinh. Tân hài lòng với thân phận, với xã hội, với tổ quốc vì tất cả đều chính lý, không tránh vào đâu được. Chàng đã tận nhân lực và bây giờ đã tri thiên mạng.
Khởi đầu đời lính, Trung Tâm 3 Tuyển Mộ và Nhập Ngũ lo cấp phát quân trang, quân dụng và tô điểm cho Tân mái đầu gần như trọc. Trung tâm Huấn luyện Quang Trung khai tâm cho chàng thế tác chiến căn bản và quân phong, quân kỷ. Trường Võ khoa Thủ Đức giúp chàng đẩy lùi tinh thần vị kỷ, luyện tính cứng cỏi, thẩm định chính xác, quyền biến kịp thời trước mọi trở lực quân binh.
Trong thời gian thụ huấn về nghệ thuật lãnh đạo, chỉ huy, kỷ luật cứng rắn đến vô tình đã đè bẹp tính phóng túng, tinh thần nổi loạn xưa nay trong chàng. Cái kỷ cương đồng điệu đó hóa đá con tim dần dần. Đời quân ngũ đã du chàng vào truyền thống thi hành trước, khiếu nại sau. Ngụy cách này là cái duyên đối địch hữu hiệu, nhưng cũng là cái bẫy để cấp trên đì cấp dưới, ở mọi binh chủng, mọi chính thể, mọi ý thức hệ mà thôi. Huynh đệ chi binh chỉ thể hiện rõ ràng giữa những người đang lâm chiến với kẻ thù, sinh mạng của nhau đang dưới tay tử thần. Ngoài ra nó là một sáo ngữ khá buồn nôn.
Quân trường trong thời loạn là nơi hội ngộ của người thương, kẻ ghét, của mọi đẳng cấp trong xã hội. Tân đã gặp lại các đồng môn, thân quyến, học trò, thầy và tớ.
Những ngày trực tuyến, những đêm trên vọng gác của quân trường, vì chưa quen với đời sống quân ngũ, Tân thường vọng về gia đình, trường xưa, bạn cũ. Sau đó, chàng ôm mặc cảm tội lỗi về chí làm trai trong thời chiến. Sự việc tuy đã rồi, làm con dân, lệnh nước buộc sao thì gắng vào khuôn phép. Nhưng kẻ có lòng, người hiểu việc, nhất là kẻ ở trong cảnh, Tân suy nghĩ nhiều, hối tiếc lắm về sự khiển dụng nhân sự, đòn phép ngừa loạn, chống ngoại của đương kim chính quyền. Tân không dám phê phán vì e bị chê thiển cận. Tân không dám chỉ trích vì ngại bị hiểu lầm vị kỷ cá nhân, chạy chối nghĩa vụ quân sự, bênh chính, phụ binh. Vì vậy, chàng âm thầm mơ ước.
Nhìn lại quá trình của cận sử, sau khi lật đổ chế độ dân sự đã từng bình quốc, an dân, quân đội đã nắm quyền. Qua bao cuộc chỉnh lý đầy bất ổn, cuối cùng chính quyền dân cử được thành hình, nhưng phong cách vẫn đầy hơi hướm nhà binh, nhiều biện pháp mạnh, thường thấy ở một chế độ quân phiệt. Qua chiến sử Tân thấy, chế độ quân phiệt có tác dụng trị an tạm bợ, hậu quả làm suy thoát sự lớn mạnh về an cư, lạc nghiệp, hưng quốc.
Xét về mặt khiển dụng nhân lực, chính quyền đương kim không đặt người đúng vị nên không đạt hiệu năng cao. Nhìn lại hàng ngũ lãnh đạo, đa số xuất thân từ quân đội nhưng hàng cố vấn vẫn có những người có trình độ kiến thức cao. Tân thiết nghĩ, chính quyền không đến nỗi thiếu hợp lý để xây một quốc sách về nhân dụng. Nhưng có lẽ do áp lực từ nhiều phía, họ đành hy sinh một thiểu số con dân mà theo ý họ là không đắc dụng. Tuy nhiên, nếu ai có lòng thành với tổ quốc, ai cao kiến về thế dựng nước, họ sẽ thấy tầm quan trọng của thiểu số này trước thế chiến du kích, đánh nhau bằng văn không tuyệt đối dụng võ.
Kẻ sĩ biết mình không giỏi chiến chinh, nhưng có năng khiếu kinh, chính. Họ đã dùng cơm nhà, áo vợ để học hỏi nên thân. Thân đã thành, họ mong kề vai gánh việc nước theo sở trường đang có để nên danh. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, họ được trọng dụng để an dân, bình quốc trước thế chiến du kích. Loại chiến tranh này nhắm vào tâm lý quần chúng hơn đem gươm súng răn đe. Đến khi quân đội chỉnh lý và cả Đệ Nhị Cộng Hòa, đường lối an dân thay đổi, vì thế giặc đã nương theo loạn để trưởng thành. Đương kim chính quyền nghĩ rằng phải dụng quân để đối kháng, nhân lực được động viên bừa bãi, bất kể tuổi tác, văn hóa.
Các nho sinh được đưa vào quân trường trong ngắn hạn, rồi đem bổ sung khắp chốn, khắp ngành. Kẻ cầm súng tác chiến thiếu chuyên, thiếu khiếu đến thượng sĩ già cũng phải ngơ. Người được đưa phục vụ ngành nông mục, quân nhu, quân cụ, công binh. Khi nhận nhiệm sở, lớ ngớ đến lính chuyên ngành bỉ mặt. Những ngang trái này do thiếu sở trường mà ra. Nhà lãnh đạo có bao giờ để mắt trông vào. Hiệu năng kém, thế nước suy! Danh của kẻ sĩ không đạt. Gia đình sụp đổ. Quốc nạn phải đến là việc tất nhiên!
Riêng các tráng sĩ, họ là người chuộng võ nghiệp. Họ tự nguyện đăng ký vào các quân trường chuyên nghiệp. Họ được huấn luyện chiến thuật, chiến lược dài hạn và tươm tất. Chí sắt đá, lòng tự tin, có bản lĩnh, họ là con yêu ngăn giặc hữu hiệu. Chiến trường là đất dụng võ, chiến tích là thang thăng tiến mà họ từng mong đợi. Chiến thắng là niềm kiêu hãnh của chí trai. Sinh, tử là đòn thử thách mà họ can đảm chấp nhận. Khi kinh nghiệm chiến trường khá đầy đủ, hỗ trợ hữu hiệu trong việc mưu sinh thoát hiểm thì một số khá đông danh tướng, danh tá lại được bổ nhiệm vào phủ, bộ, tỉnh, quận, thị xã. Như vậy, họ đã dẫm chân lên phần hành của cán bộ hành chánh. Cái thất sách ở chỗ là kẻ cầm quân giỏi, ngăn giặc hay không được dùng vào việc bình trị mà lại đem dùng vào việc hành chánh. Họ hoàn toàn bỡ ngỡ với mọi phương thức xây dựng hạ tầng cơ sở của quốc gia. Hiệu năng của các anh hùng quân đội, do đó cũng hoàn không.
Xét như vậy, Tân thấy rõ, đương kim chính quyền đã khiển dụng sai nhân lực, nên thành quả kiến quốc thiếu hữu hiệu. Hơn nữa, đưa sĩ quan có trình độ tham mưu tại chiến trường sang lãnh vực hành chánh, chứng tỏ việc động viên thành phần tốt nghiệp đại học, rất cần cho lãnh vực dân sự, không thuần là lý do thiếu quân số! Từ đó Tân đặt nghi vấn. Chính sách động viên giới trí thức vào quân đội có oan uổng cho họ hay không?
Để tìm đáp số của câu hỏi, Tân nghĩ đến việc đương kim nguyên thủ quốc gia đã có một số cố vấn cao cấp tại Tổng thống phủ, đang lo đôn đốc nhóm kinh tế hậu chiến, nghiên cứu sâu rộng về sách lược khai thông hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến thiết cho một quốc gia đầy tương lai xán lạn. Thành phần chuyên viên ưu tú, đa số cùng promotion với Tân. Qua tế phân của họ về hậu chiến, có đề cập đến việc sử dụng nhân lực, tài lực, vật lực. Trong phần khiển dụng nhân lực, có nghiên cứu thật nghiêm túc về việc tái phân quân nhân vào lãnh vực kinh tế, tài chánh, giáo dục. Họ không quên đề cập đến việc nâng cấp trình độ những kẻ đã tốt nghiệp đại học để tạo dựng những chuyên viên ưu tú cho mọi lãnh vực trong xã hội. Từ đó Tân có thể kết luận, đương kim chính quyền đã hành động bất nhất trong việc động viên thành phần tốt nghiệp đại học vào quân đội, đã gây oan uổng cho cá nhân họ và làm phí phạm tài nguyên về nhân lực của quốc gia. Tiến xa hơn, Tân đặt nghi vấn. Đương kim chính quyền động viên giới trí thức vào quân đội với mục đích gì? Có chính lý không?
Nhìn qua giới lãnh đạo quốc, họ là những vị tướng tá cao cấp, đa số cũng đã ít nhiều nhúng tay vào đảo chánh một chính phủ dân sự, có hiệu năng an dân, hưng quốc một thời. Họ đã từng gây nên những cuộc chỉnh lý, từng chạm trán với chính khách thường ngăn chặn một chính phủ quân phiệt, để sau đó nền Đệ Nhị Cộng Hòa hình thành, nhưng hơi hướm nặng mùi quân cách. Để nắm thế thượng phong, nhất hô bá ứng, vị tổng tư lệnh tối cao của quân đội dùng chính sách động viên, bất kể tuổi tác và trình độ học vấn, để thực hiện tham vọng nắm hồn xanh, vía dại của con dân. Quân đội là một tập thể thuần nhất, không phân biệt sắc tộc, kiến thức văn hóa, thành phần tôn giáo. Phương châm thi hành trước, khiếu nại sau đã vô hiệu hóa kẻ khôn, người dại, kẻ dốt, người học cao. Họ là những con tốt, chỉ biết ngoan ngoan thi hành kỷ luật của quân đội. Đó là đáp số mà Tân đã thắc mắc vì sao đương kim chính quyền động viên giới trí thức vào quân đội. Còn về chuyện có chính lý hay không, Tân ngẫm thêm bước nữa.
Thành phần tốt nghiệp đại học ở xứ ta không nhiều vì thiếu phổ thông hóa cấp trung học, gạn lọc hóa ở đại học. Trong học lý kinh tế về thuyết giá trị, valeur marginale là thước đo sự quí hiếm. Chính kẻ tốt nghiệp đại học đáng được bảo vệ. Thế nhưng chính quyền không có biện pháp nâng đỡ. Họ thành thân là do cơm nhà, áo vợ, dùi mài kinh sử trong khốn khó. Khi họ thành thân là kẻ hoàn toàn có thực tài. Họ sẽ đạt năng hiệu cao nếu đạt vị đúng sở trường, sở đoản. Ngược lại, động viên họ vào quân đội là đưa họ sai môi trường, khác nào đưa cá vào vũng lầy. Đặt họ vào vai trò xoàng xĩnh trong quân ngũ là thiếu chính lý.
Sau khi đã suy nghĩ về sự khiển dụng sai lầm về nguồn nhân lực, Tân lại ngẫm đến đòn phép mà đương kim chính quyền đã dụng thành phần có học vào việc ngăn nội loạn, ngừa ngoại xâm.
Những ngày Tân còn học ở trường Luật, chàng đã chứng kiến nhóm sinh viên quốc, ngoài chuyện vui học, họ đã ý thức được cái khó của chính quyền về việc kiểm soát thành phần bất hảo trong học đường. Với tấm lòng thành, họ dùng phương thức sinh viên vụ vào hoạt động xã hội và đoàn ngũ hóa học đường, qua các ban đại diện, và thành lập một Tổng Hội Sinh Viên, trụ sở được đặt tại ngã tư Duy Tân - Hồng Thập Tự. Với sự tổ chức khá chặt chẽ của họ, nhóm phản chiến, thành phần thân Cộng đành len lỏi vào đảng phái, tôn giáo để loạn xuống đường.
Tân đã chứng kiến, học sinh liên trường đã từng chém nhau vì chính kiến tại công trường chợ Bến Thành, chứ chưa bao giờ có một hỗn loạn nào tại các đại học, vào thời buổi ấy.
Chính quyền đã từng bắt giữ những tên đầu xỏ, nhưng rồi vẫn phải thả hổ về rừng, trước áp lực của lực lượng nón chở, dù che. Trong khi đó sinh viên đã tích cực ra tuyên cáo vạch rõ hành vi của bè phái. Tích cực hơn, họ đã can đảm chống lại các phán quyết sai lầm của chính phủ, điển hình là tiêu hủy Hiến Chương Vũng Tàu. Họ kề vai với chính quyền qua dân nạn, điển hình là việc làm của Đoàn Thanh Niên Học Đường vào biến cố Mậu Thân.
Sau thời gian học tập, đợt người của Tân lớp ra trường, lớp bị động viên vào quân đội, sinh hoạt sinh viên bị xuống cấp dần. Từ đó, nhóm phản chiến và thân Cộng, được đảng phái, tôn giáo che chở. Chúng nắm trọn các ban đại diện đại học, thao túng Tổng Hội Sinh Viên, xuống đường liên tục, phản tuyên truyền về sách lược an dân, cứu nước của chính phủ. Giới truyền thông bị nhiễm độc. Quần chúng có khuynh hướng đối lập với chính quyền. Đồng minh bị áp lực của xứ họ. Loạn nước khởi nguồn từ một sơ hở nhỏ như lỗ kim, xoáy mòn chính trường thành khủng hoảng chính nghĩa, biến chiến trường khởi đi từ du kích chiến sang trận địa chiến. Hạt cát lầm lẫn đó, dưới mắt Tân, là sự bạc đãi của chính quyền đối với học sinh, sinh viên quốc gia. Tân là lính, sự suy nghĩ của lính về lính chắc không thiên vị mấy! Tân là dân tốt nghiệp đại học, người của thứ dân, suy nghĩ về thân phận của thứ dân, chắc có lẽ không ngoa! Tân đã phục vụ trong lãnh vực của dân và lính, nơi nào cũng gắng làm tròn. Nhưng sự hữu hiệu của công việc kém, do không hợp sở trường, sở đoản. Tương lai của Tân bị vướng nạn, gia đình Tân rơi vào khốn khó, vận nước của Tân bị thăng trầm, những thương tiếc của Tân, hy vọng những ai hiểu được chắc không nỡ lòng thẩm trách nặng lời!
Sau khi Tân ngẫm về người, Tân quay lại xét mình. Trước, Tân sống ngoài đời, tự do thì phóng túng. Bây giờ, là lính bị ràng buộc thì phải tuân hành. Kẻ nào dại dột đi ngược lại định luật guồng máy sẽ bị cơ chế nghiền nát làm vạn mảnh. Ấy thế, thuở xưa Tân đã dại dột làm điều đó. Bạn bè, bậc trưởng thượng tại quê nhà đã làm chuyện đó. Thanh niên đầy nhiệt huyết, đặt lầm lý tưởng trên tay của kẻ bất nhân, các bậc trưởng thượng tin vào lý thuyết suông của người bất nghĩa, nên trẻ và già đều bị lợi dụng đến thân tàn ma dại.
Riêng Tân, chàng quyết giữ thế nhu hòa không nghiêng ngả bên nào. Thời buổi ấy, Tây, Ta, Việt Minh đang ở thế nhập nhằng, tráo trở. Thần chiến đã mượn tay quốc gia và cộng sản để dạy cho Tân bài học thiếu thức thời, vết hằn ngày xưa đã nói lên quan niệm nông cạn của Tân ngày thơ ấu. Bây giờ, Tân đã nhận chân chính nghĩa thì phải ép mình thi hành theo guồng máy thì mới gọi là thức thời.
Từ đấy, Tân thôi lẩm cẩm nghĩ ngợi xa vời. Tình nhà, nợ nước đối xử cân phân.
Chiến sự ngày một gia tăng, thế nước ngày càng suy thoái. Cuồng vọng cưỡng chiếm của địch lên cao. Làn sóng đỏ đã xôi đậu lãnh vực nông thôn, quấy rối thị thành. Chốn quê lâm cảnh ngày của ta, đêm của địch. Thị thành bị pháo kích liên miên, cao trào khuấy động quần chúng hầu như hằng ngày, hằng buổi. Chính phủ ban bố tình trạng thiết quân luật. Lệnh cấm trại trăm phần trăm cứ nay dụng mai bãi. Quân trường, trại lính ở trong thế khẩn trương.
Phép cuối tuần thường bị hủy bỏ. Mỹ phải dẫn con thăm nuôi Tân luôn. Các khóa sinh lấy câu lạc bộ làm niềm vui, sau giờ huấn luyện. Đàn anh thường dùng hình phạt huấn nhục để đì đàn em cho đỡ cơn ẩn ức. Tân không thích trò đùa dai đó. Chàng thường lên câu lạc bộ mượn bia và cà phê để giải sầu, tán gẫu cùng bạn bè để trút muộn.
Một hôm, nhân thông lệ thăm nuôi, Tân la cà lên câu lạc bộ để đón vợ. Vừa đến ngưỡng cửa, Tân đã chạm mặt viên sĩ quan ngồi bàn đầu. Sau phần chào kính, Tân chọn bàn trong cùng, gọi nước giải khát để chờ gia đình. Trong lúc an nhàn, chàng để mắt đến vị cán bộ khi nãy vì gương mặt của ông ta khá quen mà chàng vẫn không nhớ là ai. Mỗi lần như thế, Tân đều bắt gặp ánh mắt của ông ta luôn hướng về chàng.
Đang phân vân, thì Mỹ xuất hiện. Tân bước ra đón vợ. Vị sĩ quan tiến đến bên Mỹ, vỗ vai Tân, khẽ gọi :
- Tân!
Mặt ông ta trở nên rạng rỡ. Tân trố mắt ngạc nhiên. Mỹ nhìn hai người, nàng nặng lời trêu cợt :
- Anh vợ và em rể đã đãi ngộ bằng đôi mắt trâu trợn.
Tân vỡ lẽ, chàng hân hoan, bào chữa :
- À! Thì ra anh Tính! Còn bà Nguyệt đâu? Anh chị tuyệt tích giang hồ từ khi làng xóm tung tin bị bắt cóc nên Tân không nhận ra là phải!
Tích bắt tay Tân, đáp thắc mắc :
- Nguyệt đang dạy học ở Hậu Giang. Chuyện hơi dài dòng. Ngồi xuống đây, ta sẽ tâm sự sau.
Khi an vị, Mỹ lo bày thức ăn, gọi nước uống. Tân nóng lòng gợi chuyện :
- Anh kể rõ đầu đuôi biến cố năm xưa đi nào!
Mỹ trêu ghẹo Tân :
- Nguyệt bây giờ là chị dâu của chàng rồi nghe chàng!
Tân cười hổ ngươi. Tính cười xòa, khởi chuyện :
- Bây giờ là người nhà với nhau cả, anh chẳng giấu giếm những hành động mờ ám của anh chị, đối với dượng, lúc còn thiếu thời.
Nguyệt vốn theo Phụ Nữ Cứu Quốc thuở nọ. Thiện, Ngôn nguyên là đoàn viên của Thanh Niên Cứu Quốc. Họ được chỉ thị của cán bộ Thà, nguyên là mõ làng ngày cũ, để ám toán dượng vì dượng đã cưỡng chống không hợp tác như hầu hết thanh niên, thanh nữ đã đồng thanh theo cao trào cách mạng cứu nước, được Việt Minh ban bố.
Sự thâm độc của họ là nhằm khai thác sự tin yêu của giới trẻ bằng chiêu bài diệt thực dân, phong kiến để cứu nước, kiến quốc. Ai hưởng ứng, được xướng danh anh hùng; ai cưỡng chống, sẽ bị ám toán. Đó là biện pháp làm gương cho kẻ khác.
Nguyệt vốn là người tình hờ của dượng. Tôi yêu Nguyệt, mến dượng. Khi Nguyệt được chỉ thị thi hành án lệnh trừng trị dượng, tôi xin tình nguyện tham gia, một để đưa Nguyệt ra khỏi Đảng, hai để tìm cách giảm nhẹ sự quá đà lúc họ xử lý dượng, trước sự chứng kiến của hai cán bộ trung kiên là Thiện và Ngôn. Một điều may mắn là có sự can thiệp của Lương. Lương vốn là tay trong, tay ngoài của Đảng. Lương giả cách đưa nội vụ vào trò đánh nhau giành gái. Côn vốn yêu Nguyệt nên lôi cuốn Hổ theo Lương đến phá hỏng kế hoạch của tên Thà, thay vì gây án mạng. Hắn chỉ kịp trao Nguyệt bản án tội tiểu tư sản, cưỡng chống cách mạng để áp đặt lên mình dượng, khi dượng bị đánh bẫy đến bất tỉnh nhân sự.
Tính hớp ngụm bia từ tay Tân trao ly. Đoạn tiếp :
- Khi Hiệp ước Sơ bộ tan vỡ, Pháp và Việt Minh đánh nhau. Để gây uy thế, để thêm lực lượng chống Pháp, Việt Minh lấy chiêu bài diệt ngoại xâm, đả phong kiến làm động lực. Thế nhân dân lần lần ngả theo họ. Khi đã hoàn chỉnh cơ cấu, họ bắt đầu thanh lọc hàng ngũ, triệt hạ đối lập. Tệ trạng thù cá nhân cũng thừa gió bẻ măng. Địa chủ, cựu hương chức là nạn nhân đầu tiên. Làng mình ông Hội Đồng bị hoạ, Lương bị giết, cụ Chánh, cha của dượng bị ám toán, thầy Hương Quản tự sát, cha của anh bỏ xứ trốn biệt, sau khi anh và Nguyệt trốn vào Cái Nước Láng Tượng để tránh bị thanh trừng.
Tân tò mò, hỏi vặn :
- Vùng Cờ Đỏ là sào huyệt của Việt Minh. Sao anh không theo họ tập kết mà trở thành lính Cộng Hoà?
Tính phì cười, đáp :
- Dượng vấn anh như quan tòa lấy cung.
Tân cười xòa. Tính tiếp chuyện :
- Anh đã ngán ngược cái thói tráo trở của họ, nên khi ông già cho người vào giải cứu là anh lên ngay Sài gòn. Nguyệt chán nản, bê tha. Sau khi gặp lại Hổ, họ là anh em một cha khác mẹ, nên khi được tin ông Hội Đồng thác oan, Nguyệt tu tỉnh học hành, còn Côn thì hận đời đăng vào lính Tây. Côn chỉ chọt cho Tây phá phách cùng khắp. Hậu quả, sinh nghề tử nghiệp, chàng ta bị phục kích đến vong mạng. Cha chết, em trai chết, em gái hư hỏng, Hổ buồn, sang Tây du học.
Hổ đi rồi, Nguyệt vào sư phạm và ra dạy học. Anh xong trung học, tiếp tục học Dược, phất phơ rồi phải nhập ngũ. Sau đó anh được đi tu nghiệp ở Fort Benning, Hoa kỳ. Lúc trở về, làm cán bộ quân trường. Có độ nổi máu anh hùng, anh xin đi tác chiến. Một thời gian sau bị thương, anh được trở về quân trường làm cán bộ như hiện trạng. Đời anh chữ danh không có, nhưng chữ tình lại nên. Anh và Nguyệt sống với nhau rất đầm ấm.
Tính quay sang, vấn Mỹ :
- Ngày xưa em và Nguyệt đồng sắc; Nguyệt đoan trang, em ủy mị. Nay, Nguyệt ủy mị, em đoan trang. Phép lạ nào đã đưa em thành nội hiền thê, ngoại thương tướng vậy Mỹ?
Mỹ tựa vai Tân, cười cười rồi phát biểu :
- Chỉ có cha con nhà này mới tẩy cục lười, cái ngáo của em mà thôi! Thương chồng, con thì trở lực nào em cũng vượt thoát.
Ngày xưa em đứng bến rau cải; kiện tướng ngân hàng; tài muội thương cảng. Lúc vào là trò, lúc ra là sư. Nghề dạy nghề nên phận. Phận luyện phận nên danh. Danh dưỡng danh nên nghiệp. Em bỏ nghề hàng bông vì viễn ảnh chồng em sẽ tòng quân. Em lìa ngân hàng vì phận cừu non bị sói già giăng bẫy đến ôm lấy hàm oan.
Ngân hàng này thoát thai từ một cơ sở bị khánh tận, được quản trị bởi một cơ quan tín dụng bán công. Sau đó nó được chuyển sang cho một lão thương gia có vốn, dốt dịch vụ ngân hàng nhưng đầy tráo trở chốn thương trường. Sau thời gian chấn chỉnh nội bộ, lão chịu khó học hỏi, lắng nghe chuyên viên, đánh hơi thương nghiệp kịp thời, kịp lúc. Nhờ đấy, em rộng đường thi thố tài năng thiên bẩm, em nâng cao khối tín dụng trong thời gian kỷ lục. Thành công về tiền tài, lão nuôi tham vọng làm chính trị. Tuy nhiên, trình độ kiến thức về kinh, chính kém, lão bị các tay phù thủy khoa bảng giáng cho nhiều đòn chí tử. Thương vụ của ngân hàng bị ảnh hưởng lây. Lão bực dọc, tay chân là đám chuyên viên chỉ biết xiểm nịnh, vẽ chuyện để lấy lòng chủ. Chiến dịch ô mỵ lẫn nhau khởi động. Em là mũi dùi chịu nặng nhứt. Họ muốn bứng em ra khỏi nơi mà họ ngỡ là béo bổ.
Hậu quả, em bị cho ngưng việc, không vì lỗi kỹ thuật mà bị dàn dựng những chuyện tình cảm không đâu. Chồng em vốn là cựu nhân viên, anh ấy hiểu rằng đấy là trò cả vú lấp miệng em, là chiêu bài thầy chùa ăn bắt thầy pháp chịu. Chàng khuyên em đừng tiếc nuối cái xã hội hỗn tạp đó. Nhưng tầm tay của lão chủ đã giăng khắp nơi, em đến đâu cũng được từ chối khéo. Cuối cùng có ông Tiến sĩ Tổng giám đốc một ngân hàng bạn, biết rõ khả năng của em, đã nồng hậu tiếp đón em. Trong thời gian ngắn ông ấy chỉ vẽ cho em lắm phương thức có tính giáo khoa căn bản, cộng với khả năng của em, thầy trò em đã đưa ngân hàng lên hữu hạng.
Em biết mình có tài kinh doanh. Em rời nghề ngân hàng, xin các định chế tài chánh bạn giúp vốn để lập công ty nhập cảng mười tám ngành. Vào nghề, tuy tiến chậm nhưng học, học lắm kinh nghiệm. Em thông suốt lần cơ chế thương trường, biết cách quân bình cơ chế cung cầu kinh, tài; thẩm định chính xác hóa giá sản phẩm, điều động nhân lực, tài lực sao cho thuận lợi nhất. Vậy, bây giờ em xin hỏi ý kiến chồng em và anh, em có nên đi sâu vào tự do kinh doanh hay không?
Tính sốt sắng :
- Lãnh vực chuyên môn, anh mù! Chuyện ân oán giang hồ, anh yểm!
Tân trách yêu :
- Thời gian qua, anh phấn đấu để đạt thân danh. Thiếu nó, hoạn họa xảy đến cho gia đình, mình trở nên bất lực.
Em quá thương chồng con, em bị hà hiếp mà vẫn cam tâm. Ở đời, dù mình thấp cổ bé miệng, kẻ có thế xấn tới, mình chỉ lùi một bước để tỏ hiếu tình. Nếu họ làm già, lấn thêm bước nữa thì mình có chết cũng xả thân cưỡng lại. Nếu không, họ cũng dồn ta đến bước đường cùng. Đường nào cũng tới La Mã cả!
Mỹ bào chữa :
- Anh bận bịu với quân trường. Em là đàn bà lại ở thế tự do, chỉ trời hại mới chết thôi. Em cũng chẳng phải là kẻ u mê. Em không muốn anh khổ tâm!
Mỹ giải bày tâm can, để gây tin tưởng cho chồng :
- Trong thời gian thực hiện nghiệp vụ thương mãi, em nhận thấy thị trường lúa gạo đang ăn khách. Sự bột phát xuất cảng của loại sản phẩm này, gây ảnh hưởng dây chuyền đến sản xuất, phân bón, thuốc trừ sâu và phụ phẩm. Doanh nhân đang đổ xô khai thác để làm giàu. Em thiết tưởng mình nên chen chân vào đấy. Chàng nghĩ sao?
Tân nhìn vợ cảm thương, chàng trình bày những bất trắc :
- Người Hoa có tình đoàn kết nên không ngại vốn. Người Việt đang kinh doanh địa hạt này là kẻ có thế.
Thế và vốn trong xuất cảng gạo, nhập trợ phẩm canh tác, ta có thể ví như năng lực trong việc phóng phi thuyền lên không gian. Tiên khởi, phi thuyền cần lực đẩy cực mạnh của hỏa tiễn để đưa nó vào không gian xa tít. Khi hỏa tiễn đưa được phi thuyền lọt vào quĩ đạo, phi thuyền sẽ tự xoay mãi quanh địa cầu, không cần sức đẩy tiên khởi nữa. Nghiệp vụ tương quan giữa lúa gạo và trợ phẩm cũng thế! Các tiến trình được phân tích chi li như sau:
Lúa sinh lợi do di truyền. Trợ phẩm, phân bón, thuốc trừ sâu sinh lợi do hóa họp, tạo nên dưỡng sinh cho cây lúa. Nông dân sinh lợi do công sức. Doanh nhân sinh lợi do mưu kinh tài.
Lúa, phụ phẩm là yếu tố sinh lợi. Nông dân, doanh gia là tác nhân sinh lợi. Các nguồn lợi thể hiện bằng hiện vật, hiện kim.
Một hạt lúa, qua ngày mùa sẽ sinh trăm hạt lúa mới. Hạt lúa mới là sự thặng dư, là mối lợi do di truyền. Nông dân canh tác, ngày mùa là lợi do công sức. Công sức có sẵn, nhưng muốn có giống để tăng sản lượng, có phân để tăng thu hoạch, có thuốc trừ sâu và các phụ phẩm để dưỡng cây, thì nông dân phải nhờ đến doanh gia giúp vốn. Muốn có vốn để yểm trợ tổng thể trong sản xuất, doanh gia phải vay các định chế tài chánh. Doanh gia và định chế tài chánh sinh lợi nhờ hiện kim. Hiện kim muốn có phải xuất cảng lúa gạo, lúa gạo muốn có phải cậy đến nông dân.
Chu trình đó, cái lợi được ban bố đều giữa nông dân, doanh gia và các định chế tài chánh. Chỉ có định chế tài chánh mới làm việc hữu hiệu trong việc sinh lợi khởi đầu. Sau khi doanh gia và nông dân gặt hái và tích tụ mối lợi, sẽ có lúc không cần sự yểm trợ tài chánh của các định chế nữa. Nghiệp vụ thương mại về lúa gạo, phân bón, thuốc trừ sâu và phụ phẩm, từ đó sẽ luân chuyển đều đặn, số thặng dư tài lợi ngày một chất chồng.
Nhìn vào thị trường này, ta thấy đa số do người Hoa điều động, lý do chính là sự đoàn kết của họ trong sự huy động vốn tiên khởi để ứng trước cho nông dân làm mùa. Từ đó họ gây áp lực bội thu với nông dân. Em có thực lực để kinh doang chăng? Mộng ước của em mong manh quá!
Mỹ mỉm cười tự tin. Nàng phân trần :
- Tập thể người Hoa nhờ đoàn kết. Một số người Việt nhờ thế lực. Sự đoàn kết giữa một thiểu số người giàu, thế lực của một số người có máu mặt, sự huy động vốn nhờ đấy mà nên. Cái nên ấy cũng chỉ có chừng mực. Cái nên ấy do ngoại nhân giúp đỡ, sao bằng cái thế của người xuất thân từ hiệp hội ngân hàng mà ra. Đường đi nước bước của định chế ngân hàng, em đã từng dùng ngân hàng mẹ đẻ ra ngân hàng con; ngân hàng con nuôi tròn các xí nghiệp. Em đã hi sinh nghề dạy cao quý, em đã khổ nhọc với nghiệp vụ ngân hàng để đổi lấy duyên tri kỷ giữa em và cơ chế tài chánh, thì em sẽ được Hiệp Hội Ngân Hàng làm đầu tàu đưa em vượt trội các người giàu, kẻ có thế lực. Người và nghiệp vụ thông hoạt với nhau, mộng ước của em đâu đến đổi mong manh như chàng nghĩ!
Tính nóng lòng giục :
- Sự ứng vốn và hoàn trái ra sao?
Mỹ thú thực mọi dự tính :
- Trước khi hỏi ý kiến chồng em và anh để xin lấy quyết định, dự án kinh doanh của em đã được ngân hàng bạn thông quá rồi! Họ đã căn cứ sự thành công và sự sòng phẳng của em trong thời gian em hoạt động nhập cảng mười tám ngành, để ký thỏa ước. Công việc chỉ là đại tượng hóa phương thức vi phân mà thôi. Sản lượng nhập cảng tuy dưới danh nghĩa của siêu đại công ty, nhưng sở hữu chủ thực sự là ngân hàng ứng vốn. Khi em ký hợp đồng mua bán với khách hàng, ngân khoản em đem giao nộp cho ngân hàng ứng vốn, lượng sản phẩm tương ứng sẽ được tháo khoán. Hóa giá để tính mọi bội thu linh tinh, trong có lãi suất ngân hàng và những mối lợi của em.
Vốn của một ngân hàng đã to, huống chi là Hiệp Hội. Vốn lớn, nhập cảng nhiều, vốn tích lũy sẽ to. Đến một lúc nào đó, em sẽ đủ sức tự tài trợ lấy nghiệp vụ một cách riêng rẽ mà thôi!
Tân vuốt mái tóc vợ, ôn tồn :
- Ngày xưa khi anh thấy em xuất hiện chung cùng bè bạn, em là người con gái có tính hiền thục nhứt trong đám người nữ vô cùng tinh nghịch. Trải qua bao thăng trầm, em thành thân thật nhanh, tài phát triển cực lẹ, những giọt nước mắt trong âm thầm cũng thoáng qua mau. Chuỗi ngày gian khổ anh đã rõ, anh chẳng lấy làm vui cho lắm khi biết em cả quyết khuếch trương doanh nghiệp. Càng cao danh vọng, càng nhiều gian lao! Hiểu thế, nhưng phận lính hèn chỉ biết thương và lo mà thôi!
Mỹ rơm rớm nước mắt, dùng lời trấn an :
- Em không còn quá tin người như thuở xưa. Lần kinh doanh này, em dự định bảo Phụng làm đại lý miền Tây, Phượng làm đại lý miền Đông, chị Nguyệt bỏ dạy học, về phụ điều hành tại trung ương. Tất cả đều là người nhà, việc bảo mật khá vẹn toàn. Xác suất thành công nhiều hơn.
Tính thắc mắc :
- Tại sao phải bảo mật?
Mỹ giải thích :
- Dịch vụ xuất nhập cảng, nhất là lúa gạo, phân bón và sản phẩm phụ thuộc, cũng có sách lược về thị hiếu của giới tiêu thụ, bản chất hóa phẩm, định lượng, định giá cung cầu. Thăng trầm là do mình tính vụng hay khéo, kín hay hở! Sau này, khi va chạm thực tế, các anh sẽ rõ hơn.
Hết giờ thăm nuôi, Tân từ giã gia đình để đi trở về trại.
Từ đấy, giấc mộng trở thành đại phú mãi ám ảnh vợ chồng Tân. Tuần nào Mỹ cũng lên để cho biết diễn tiến và hỏi ý kiến của chồng. Tân ngẫm, thuyết tài mệnh tương đố mà Nguyễn Du thêu hoa dệt gấm trong truyện Kiều, nếu đem so sánh với trường hợp của gia đình Tân, hãy còn kém một bậc. Mỹ đẹp và giỏi nhưng gặp toàn ngang trái, gia trọng thêm ông chồng đã kém, lại thất thời. Hắn có muốn giúp nàng, sự việc cũng quá tầm tay. Càng nghĩ, Tân càng rối dạ. Những đêm thực tập di hành lạc hướng, những ngày chấm địa hình mò mẫm, khiến Tân liên tưởng đến Mỹ cũng đang lạc hướng và mò mẫm trong thương trường.
Mấy lần thăm nuôi gần đây, Mỹ cho biết nàng đã gọi cổ đông. Trong lúc chờ đợi thì ngân hàng ân nhân đã giới thiệu cho nàng lão cự phú quê ở Cái Vồn. Uy thế đâu chẳng thấy, chỉ thấy lão cứ mãi bòn rút lợi tức của công ty, với lý do tạo địa bàn tiêu thụ cho công ty, nhưng thực ra là gây thế chính trị cho cá nhân lão!
Kho hàng tại bến Phạm Thế Hiển cũng bị chủ kho và đàn em làm chuột, họ xé rách bao bì, gây hao hụt khi chuyển vận. Họ gom phân rơi rớt đem bán cho mấy người trồng rau cải quanh vùng. Những lúc hàng về dồn dập, chủ kho vặn vẹo đủ cách để đòi tăng giá mướn kho.
Các thuộc hạ sinh phe đảng, toa rập đem hóa đơn ra mại tại chợ Le Fèvre để sinh lợi tư.
Tại cảng, thủ hạ bắt tay với nhà bốc xếp để vô bao bì không đủ lượng, bán mật tin về phẩm chất của hàng hóa cho các siêu đại khác, xúi giục tổ viên của siêu đại nhà không lãnh quota.
Tân nghe cả, chỉ ghi nhận, thầm lặng đặt kế hoạch, bởi ngày chọn ngành kề cận.
Hôm ngày học Đại Đội Lui Binh, là bài học chiến thuật cuối cùng. Khi về trại an nghỉ, Tân nằm, tay gối đầu giường, toan tính đến ngày sắp ra đơn vị, thì Sanh, thằng bạn nằm tầng dưới, khẽ bảo :
- Ê Tân! Tao nghĩ có điềm gở khi học bài Đại Đội Lui Binh.
Tân đáp vừa đủ cho hai đứa nghe :
- Cóc chịu mở miệng thì trời cũng phải gầm! Mày định xỏ xiên chuyện gì đây?
Sanh phàn nàn :
- Mày cũng thường câm như tao, sao chơi nhau đau thế?
Tân đấu dịu :
- Tao khác, mày khác. Gia đình tao đang rối, còn mày là công tử ăn chơi mà lỵ!
Sanh bày tỏ nỗi lòng :
- À thì ra thế! Tao khinh mấy thằng lóc chóc hay làm sư tàng trong Đại Đội nên tao lánh. Mày thì khác!
Tân ra mặt kẻ cả :
- Tao nghĩ mày nên đổi thái độ. Bây giờ mình là lính, một giai tầng hi sinh nhiều, hưởng thụ ít, bất trắc lắm, sự lành thưa; không nên ăn đầu sóng, nói ngọn gió như ngày còn dân sự. Mày không hòa đồng, khi ra đơn vị, trên không thương, dưới không thân, thì khó sống!
Thôi! Mày đầu cũng chứa năm bảy thứ sạn, nói năng chi cũng thừa! Hãy trở lại vấn đề đang bàn dở!
Sanh giãi bày cảm tưởng :
- Lần này mình học lui binh, trong lúc Đồng Minh rút quân từng phần, ta e bại chiến!
Tân biện bạch dài dòng :
- Tao thì lạc quan hơn. Đồng minh rút quân, chứng tỏ ta đã chiến đấu hữu hiệu trên chiến trường. Mày hãy nhớ lại biến cố Mậu Thân. Việt cộng dùng đòn này để thử sức chiến đấu của quân ta. Chúng đã đại bại, nếu đồng minh chịu yểm trợ ta xua quân vào tận sào huyệt của chúng, thì cờ vàng đã bay phấp phới tại Hà Nội. Mỹ lơ là để ta chiến đấu đơn độc trong lúc ấy là để thử sự lớn mạnh của quân lực mình. Ta đã làm ngạc nhiên cả Cộng và Đồng minh nên hiện tượng rút quân từng phần là nhằm thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh. Tao chỉ lo ngại một điều, chỉ sợ chính quyền và giới truyền thông của Mỹ không khai thác sự chiến thắng trong Mậu Thân của ta mà để phe phản chiến bảo là Việt cộng đồng nổi dậy khắp miền Nam để giục nhân dân Mỹ trói tay chính quyền. Ta chiến đấu hay mà thiếu quân dụng, trong khi Nga Tàu viện trợ tận lực cho đàn em của chúng thì trời cứu! Vì vậy, phải quyết tâm fight not for pride, but for our safety mới được!
Sanh kê nhẹ :
- Nói hay nhưng đầu quân chậm là tại sao vậy?
Tân phì cười, đỡ đòn :
- Xã hội gồm kẻ võ giỏi thì cũng cần có người văn hay. Quân đội gồm người hùng thì cũng có đứa hèn; hùng cả thì chỉ có tướng, làm sao có quân! Lá gan của tao là gan gà! Đùa đấy! Đang học ngon trớn, được hoãn dịch vì lý do học vấn, nay lệnh tổng động viên thì cũng đầu quân cho phải đạo. Giặc tới nhà đàn bà phải đánh. Dù gan gà cũng phải nở to như gan bò cho đỡ hổ mặt.
Còn chú mày, sao đợi đến râu dài, sắp chống gậy mới chịu mặc treillis?
Sanh giọng rầu rầu :
- Tao còn hèn hơn mày một bậc. Cha tao giàu xụ, vợ tao là tài muội trong ngành phân bón và thuốc trừ sâu. Tao lại được hoãn dịch vì lý do gia cảnh. Ông già vừa qua đời, nên tao phải thi hành nghĩa vụ quân sự!
Tân trêu :
- Thì ra công tử đem tâm sự trút vào tai tôi vì mất đi thú du dương mí vợ và tiêu ma những ngày quăng tiền ra cửa sổ?
Sanh được dịp khoe giàu, khoe sang :
- Ông bố giàu nứt đố đổ vách mà tao chẳng động một xu. Vợ chồng tao chỉ tung một vài chưởng mọn thì tiền cũng vào như nước. Thế thì ngu gì không bar rượu, gái ghiếc?
Tính tao thực tế, không đạo đức giả. Những ai cho rằng thích nằm gai nếm mật vì yêu nước. Những ai ăn củ mì, lậm sốt rét bảo rằng giải phóng Miền Nam vì thương dân Nam đang đói khổ. Các đấng anh hùng này, tao cần nhờ Diêm Vương thẩm tra tâm địa. Riêng tao, tao cắn răng chiến đấu vì nghĩa vụ thế thôi. Tao đánh giặc để sinh tồn chứ không muốn làm anh hùng. Tội thì nhận, công thì ngực đây, cứ gắn huy chương!
Tân phản đối :
- Mày thẩm định quá tuyệt đối đến sai lệch! Quả thực, những người có lòng, đứng trước mọi bất công, mọi trái đạo lý, nghĩa tha nhân khiến họ hành hiệp với cả tấc lòng. Nếu không có những người này, trật tự xã hội bị đảo lộn! Ngược lại, những kẻ nặng tình riêng, đa số, tao chỉ nói đa số thôi nhé, họ thi hành nhiệm vụ một cách miễn cưỡng.
Riêng trường hợp của mày, tao đặt giả sử, ngày nào đó, mày bồng súng đối địch, lúc ấy mày nghĩ gì?
Sanh cao giọng. Tân ngăn. Hắn hạ giọng :
- Còn phải hỏi! Tao vốn ăn chơi, lười học, tao chỉ đỗ tú một, chẳng chuyên môn gì cả, việc ra đơn vị tác chiến là cái cẳng rồi! Tao lại to xác, dễ lãnh đạn. Trước sự chết, phải tính chứ mậy! Tao chọn lính dù. Thế mà thọ! Việt cộng nghe đến mũ đỏ là rét. Ra trận, binh chủng này khôn khéo, tùy thế, đều xung phong chứ không núp ló để Vẹm rỗi tay nhả đạn. Hơn nữa, Mũ Đỏ đến đâu, Vẹm chém vè đến đó.
Những ngày sống trong quân trường, Tân rõ thằng nhà giàu này ương ngạnh thực sự, nói là làm. Chàng lại nghe hắn xưng sành sõi trong nghề mà Mỹ, vợ chàng đang chập choạng trong vũng lầy, nên gợi ý để học hỏi :
- Ê Sanh! Vợ chồng mày làm thế nào để hốt bạc dễ dàng vậy?
Sanh lại được gãi trúng chỗ ngứa nên thao thao bất tuyệt :
- Của cải trời cho chung thiên hạ, thằng nào chịu khó suy cùng nghĩ cạn thì thò tay nhặt làm của riêng. Vợ tao tinh ma nên ả thành tài muội trong nghề một cách chớp nhoáng. Nhưng trời không để cho hùm có vây. Cao nhơn tắc hữu cao nhơn trị, ả đang đương đầu với một bà tên Mỹ, nguyên dân nhập cảng mười tám ngành, thấy ngành nghề của gia đình tao đắc lợi nên bà ấy vừa khai sinh siêu đại gì đó, tao đã quên tên, chỉ nhớ marque déposée Bồ Câu Bông Lúa. Bà ấy rất trẻ đẹp, ăn nói khéo, tính toán hay nên con vợ của tao đâm mê, xưng em gọi chị ngọt xớt. Đối với người nữ khác, mụ xài sang bằng mày tao, mi tớ cả. Tao hỏi căn tại sao. Vợ tao mô tả, bà ta thông minh, xông xáo, tính xác suất rất tài, quyết định đúng lúc, đúng việc. Những mánh mung của gia đình tao bả đã đi guốc trong bụng nhưng tế nhị bằng cách lèo lái để đoạt lợi mà không mất lòng.
Tân chận lại :
- Vợ chồng mày mãi ca ngợi người bằng từ, tao chỉ muốn được đơn cử bằng việc.
- Trong dịch vụ phân bón, vợ tao tuy trẻ nhưng thành công đến giới nhà nghề phong cho tước nữ hoàng phân bón, nàng hành động không khác một tài muội, bao sân tất cả kho phân tại Phạm Thế Hiển, nàng có tài làm chuột, thay hình đổi dạng các bao bì... Từ ngày bà Mỹ xuất thế, lượng nhập cảng của bà vượt hơn các siêu đại khác, cái lạ là phẩm tồn kho của bà đều cực tốt, đúng thị hiếu của giới tiêu thụ, nên đó là dịp để vợ chồng tao thao túng, thu lợi bất chánh trên nghiệp vụ của bà ta.
Tân lại thắc mắc :
- Mày trình bày cái lạ của hóa phẩm, thị hiếu của giới tiêu thụ. Cái lạ và thị hiếu đó ra sao?
Sanh lập lại sự kiện :
- Mỹ thành công vì đã nghiên cứu đúng thị hiếu của giới tiêu thụ, nhất là nông dân. Bao bì phải có màu cờ và đôi bàn tay xiết chặt tình giao hảo giữa Việt Mỹ, nghĩa là hàng viện trợ made in USA trăm phần trăm. Loại bao bì này khiến lượng bán nhanh và giá cao vô địch. Đó là nói về sự lợi hại của bao bì. Nhưng yếu tố quyết định là phẩm chất và màu sắc của loại phân. Phân DAP, thường được nông dân gọi là phân tiêu, bởi dáng sắc nó như hạt tiêu. Loại này muốn được giá phải màu đen huyền, nếu xam xám là hỏng. Phân KCL, tức Chlorure de Potassium, thường được nông dân gọi là phân ba màu, màu sắc phải cực rực rỡ, nếu lu lu mờ mờ cũng hỏng. Phân urée phải trắng tinh, nếu ngả màu vàng, xám thì hỏng nốt!
Những người hiểu biết về hóa chất đều bảo, đa số sự ngả màu không ảnh hưởng đến tác dụng tăng trưởng của thảo mộc vì thành phần nguyên tử trong phản ứng hóa học tạo nên phân tử của mỗi loại phân không thay đổi.
Nhà xuất cảng từ Mỹ, Nhật cũng khẳng định cho giới nhập cảng rằng, điều kiện đòi hỏi của nông dân khá nhức đầu, vì công thức sản xuất urée cho ra màu trắng hay ngà, DAP dù đen hay sọ, KCL sắc thắm hay nhạt, đều đồng nhất về phẩm nên giá xuất cảng của họ không lệ thuộc vào màu sắc. Còn bao bì dù là plastic trong suốt hoặc in hình đều không sai biệt giá ấn định.
Dựa vào những thị hiếu của nông dân, mụ vợ của tao thay quần, đổi áo cho các bao phân, lươn lẹo, tráo trở màu sắc để thu lợi rất lớn.
Bà Mỹ hiểu được, bà nhập bao bì có logo rồi bọc ngoài các xuất phẩm gói ghém bằng plastic trong, bán theo giá bình, được giới tiêu thụ hoan nghênh. Việc mua bán của bà ấy hanh thông tuyệt lộ.
Hơn thế nữa, theo luật của Bộ Kinh Tế nhằm ngăn chặn thế độc quyền, buộc các tổ viên nhỏ phải đứng trong hàng ngũ của một vài siêu đại. Siêu đại đứng ra nhập cảng và chia quota cho tổ viên. Tệ trạng màu sắc khiến tổ viên thường ưỡn ẹo, lắm lúc từ chối quota, gây khó khăn cho các siêu đại. Bà Mỹ khá hơn các tổng giám đốc khác. Mỗi lần tàu cặp bến, bà đích thân liên lạc với thuyền trưởng để nắm vững màu sắc và logo dù hóa phẩm ở hình thức đã được vô bao hoặc ở hình thức phân xá. Khi chia quota, những tổ viên bỏ cuộc, bà đều mua lại những hóa phẩm tốt, bao bì có logo và bán cho nông dân bằng giá phải chăng.
Những lúc hàng về dồn dập, thiếu kho, bà cho chất lên sân tráng cement, trưng dụng thợ mộc dựng kho cấp thời để tránh chủ kho làm cao.
Tất cả những luồn lách do màu sắc, bao bì, làm chuột, ưỡn ẹo về kho hàng, bỏ quota, mánh mung hóa đơn, hao hụt bốc xếp, bà định giá thị trường để giúp nhà sản xuất lúa gạo đạt được ngày mùa trong số vốn khiêm nhường.
Việc làm của bà được lòng nông dân và giới tiêu thụ, nhưng mất lòng đồng nghiệp hơi nhiều. Bà biết thế mà vẫn giữ vững lập trường. Riêng vợ tao lại kết mà không oán mới là lạ! Từ đó tao nghĩ, chẳng phải tác chiến như bọn mình mới gọi là gian nguy, mới gọi là nhát gan hay anh hùng.
Tân thở phào nhẹ nhõm. Mỹ đã khôn khéo vượt qua những khó khăn lúc tiên khởi. Nàng đã kiên trì học hỏi không ngừng, nàng đã cảm hóa được nhiều người. Chiến trường không phải nơi độc tôn đem lại chính nghĩa, nêu cao những người hùng hữu và vô danh! Mỹ là người hùng vô danh trong lòng Tân.
Thời gian chọn ngành đã đến. Sau lễ mãn khóa khá cảm động tại Vũ Đình Trường, trước đài Tử Sĩ nghi ngút hương khói để tưởng niệm khóa đàn anh, lắm vị đã hi sinh, Sanh chọn lính dù và về quân trường dù để thụ huấn tiếp. Tân được về phục vụ tại Nha Quân Pháp. Trong thời gian nghỉ phép trước khi trình diện nhiệm sở, Tân phụ với Mỹ lo chấn chỉnh lại nhân sự.
Ngày Tân ra trường là ngày A Phùng vào thụ huấn tại Quang Trung vì cha mới mất. Thương tiếc ân nhân và nhớ lời dặn dò, Tân bảo Phùng gắng học và tìm cách hoán đổi với bạn cùng khóa để anh em về gần nhau nơi phục vụ. Riêng Phụng, vợ Phùng, được vợ chồng Tân cho làm đại lý miền Tây để chung hưởng phúc lợi. Phượng, em gái của Tân, vợ bác sĩ Điệp, giữ chi nhánh miền Đông. Nguyệt đã thôi dạy, nàng về cùng lo điều hành siêu đại tại thủ đô. Thời gian qua, hai chị em lo đánh đấm trong thương trường khá thành công. Nguyệt nhờ đấy gần Tính và hưởng trọn hạnh phúc, sang giàu. Tăng Diệu Minh, vợ của Sanh, làm phụ tá phân phối miền Trung cho Mỹ. Hai bà vợ lính trở nên rất tương đắc, tuy tính tình khác nhau khá nhiều.
Châu càng lớn càng quấn quít cha, nhưng hoàn cảnh tiến thân, Tân quyết để vợ tại thủ đô để đeo đuổi sự nghiệp mua bán và lo đào luyện cho con ước nguyện mà Tân không đạt.
Thân đã tu, gia đã tề, Tân không có khả năng bình thiên hạ nên chỉ phục vụ lý tưởng quốc gia. Là một quân nhân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, Tân đeo đuổi tôn chỉ Danh Dự, Tổ Quốc, Trách Nhiệm để làm phương châm thi hành công vụ. Chính sách của quốc gia minh định Chiêu Hồi là ngưỡng cửa để chào đón những cánh chim lạc lối tìm về tổ ấm. Quốc lệnh, pháp bất vị thân để dành cho những thành phần ngoan cố, dựa ngụy thuyết để chia rẽ tình đồng bào. Những người ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản phải chịu cảnh giam giữ để quốc thái dân an. Những chiến sĩ Cộng hòa đào thoát khỏi nhiệm vụ, sẽ chịu ràng buộc tái phục vụ dưới hình thức lao công chiến trường để có thời gian gẫm tội, hầu trở về phục vụ chính nghĩa quốc gia.
Những ngày Tân phục vụ tại đơn vị, vốn là gần địa phương lúc chàng thiếu thời. Những người trẻ ngày xưa, thỉnh thoảng xuất hiện trong phần hành của chàng. Khi phán quyết về họ, Tân luôn luôn thầm nghĩ, ngày thơ chàng phạm nhiều lầm lẫn, tuổi thiếu của họ đã lạc đường. Mãnh lực guồng máy có trăm phương ngàn kế để đưa thanh thiếu niên vào tròng. Sự hăng say của tuổi trẻ, lý tưởng siêu việt để thành người hùng là yếu điểm để cơ chế khai thác. Đã lầm vì tuổi trẻ, khi trưởng thành thấy sai mà không sửa thì mới đáng trách, thấy sai mà bị kềm kẹp, khi được giải thoát biết quay về với chính nghĩa thì nên khoan hồng. Đó là đường lối của quốc gia. Đem hận rửa thù là phương cách của ngụy chính. Mình ngụy mà bảo người ngụy là gian ngôn.
Hơn nữa, ông bà ta thường bảo nhất thế phán, tam thế hoạn, để chỉ sự hời hợt trong luận tội người, vì vậy Tân đến độ sợi tóc xẻ làm tư.
Ngày trước, Bao Công xử án Quách tặc thần, phải giả cách Diêm Vương để tầm sự thật rồi buộc tội; thì ngày nay chẳng có lý do gì mình áp đặt lỗi lầm lên người vô tội. Vai trò của người lính quân pháp cũng khổ hành lắm! Điều tế nhị là gắng làm sao để kẻ đối diện mình giác ngộ để lôi cuốn những bằng hữu của họ tung cánh chim tìm về tổ ấm trong an hoà!
Những ngày Tân ở đơn vị ít khi được về phép. Mỹ thường đem con xuống thăm, hai vợ chồng tuy xa nhau vì nghiệp vụ riêng, nhưng tình yêu vô cùng mặn mà. Những lần đầu thưa thớt, có tài xế đón đưa. Thương nghiệp đi lần đến mức chuyển vận nhịp nhàng, hanh thông. Bấy giờ Mỹ chỉ cần bổ khuyết, đôn đốc mà thôi. Nàng có dư thời giờ để dạy con, thăm chồng. Hầu như tuần nào nàng cũng lái xe đưa bạn bè cũ, mới xuống thăm Tân. Mối giao hảo lớn mạnh theo thương vụ và tài chánh bội thu. Sau cùng, họ hợp nhau thành khối để tương trợ nhau khắp mọi mặt.
Sau biến cố Mậu Thân, thế quân sự và chính trị của ta đã đem lại niềm tin tất thắng. Chính quyền đã nghĩ ngay đến chương trình cho thời hậu chiến. Phủ Tổng thống đã có nhiều vị thứ trưởng tài ba, đặc trách việc hữu hiệu hóa lãnh vực phát triển, hợp lý hóa nhân sự để chỉnh trang nội bộ, mở rộng ngoại giao, tìm nguồn tài trợ, nghiên cứu đầu tư... Theo chiều hướng đó, hàng loạt sắc lệnh đặc biệt đã đưa một số chuyên viên từ quân đội trở về khối đặc nhiệm của Tổng Bộ. Trong giai đoạn khó khăn, dễ rơi vào khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội, quốc gia rất cần những người có tinh thần tự giác, làm việc hăng say. Nguyên thủ quốc gia đã đặt niềm tin vượt khó đó trên vai người lính có kỹ thuật, kỷ luật.
Tân may mắn được thằng bạn nối khố tiến cử chàng cho đàn anh. Chàng được về làm việc chung với một số đông chuyên viên từ bốn vùng chiến thuật đổ về.
Trước khi trình diện nhiệm sở mới, Tân đến gặp Hưng để cùng đến thăm anh chị Tổng Thanh Tra Ngân Hàng. Anh là người tính tình cương trực, rộng lượng, hoạt bát, rất hăng say với chức vụ, là một đàn anh tốt của một đoàn thanh tra trẻ trung, đa số xuất thân từ trường Luật. Bởi Hưng là đàn em mực thước nên được anh quí mến và tin cậy. Do đó khi Hưng đưa Tân đến tiếp xúc với anh chị, anh chị đã dành cho Tân mối thiện cảm đặc biệt. Hơn nữa, anh chị rất rõ về Mỹ nên tình tương thân trở nên đậm đà. Do đó anh chị đích thân gởi gấm Tân cho người bạn tương đắc là ông Tổng Trưởng của chàng.
Ông Tổng Trưởng trẻ trung, nguyên giám đốc Nguyên Tử Lực Cuộc, tính tình điềm đạm, giao tế khôn ngoan, kiến thức dồi dào, rất phù hợp với vai trò vô cùng phức tạp để điều động kế hoạch phát triển cho thời hậu chiến.
Ông đã điều động số chuyên viên kỹ thuật gốc quân đội đầy nhiệt tình, để phân phối access properties của Hoa kỳ, qua sự điều hợp của các phủ, bộ, đại diện quân đội, hầu thỏa mãn nhu cầu canh tân hạ tầng cơ sở quân, chính.
Ông đôn đốc thành phần chuyên viên từng du học tại quốc ngoại, hiện phục vụ tại Quỹ Phát Triển, tận lực tìm nguồn tài trợ tại quốc ngoại để thực hiện các dự án đầu tư.
Ông trực tiếp cân nhắc các giới chức điều hành xí nghiệp bán công, canh tân và hữu hiệu hóa cơ chế sản xuất.
Để cập nhật hóa sự tiến bộ, để hiện đại hóa guồng máy các lãnh vực công quyền, ông luôn luôn tạo điều kiện dễ dàng cho các chuyên viên tu nghiệp có định kỳ tại ngoại quốc.
Thời gian sau đó, khối Đặc Nhiệm của Tân được phục vụ dưới quyền của vị tổng trưởng mới, nguyên là bộ trưởng bộ Kinh tế. Vị này rất lỗi lạc trong vai trò nối tiếp phần hành của vị Tổng trưởng đáng kính tiền nhiệm.
Sau cùng, để đạt nhu cầu cao cấp, vị Tiến sĩ xuất thân từ Hoa Kỳ về, đảm trách vai trò tổng trưởng hiện tại. Để đạt năng suất cho đầu tư, tân Tổng Trưởng xuất ngoại liên tục để xin ngoại viện. Tiến sĩ đang trên bước đường cầu viện thì ngày tổ quốc lâm chung cận kề. Thứ trưởng nản lòng, phó mặc cho thời cuộc đẩy đưa!
Tân nhờ đấy biết được vận nước lâm nguy. Vợ chồng chàng đau lòng nhìn lại công sức đã gầy dựng. Số tồn kho hóa phẩm như núi, vốn liếng trong ngân hàng khá nhiều, trong khi lãnh địa mất dần từ Ban Mê Thuột. Mất cao nguyên là mất phòng tuyến ngăn ngừa hữu hiệu làn sóng đỏ.
Hi vọng của vợ chồng chàng thành tuyệt vọng khi địch tiến đến Tây Ninh, An Lộc.
Tin hành lang cho biết Bộ đang lập danh sách cho người di tản. Tân chờ mãi. Rắn mất đầu, tin vui trở thành đồn nhảm.
Tân và vợ quay về cầu cứu với ông bà god father, god mother, gặp lúc ông Giám đốc Nghi Lễ đề nghị cho cả nhà tháp tùng di tản. Do đó Tân từ sự giúp đỡ của người bạn luật sư, con rể của nhân viên bộ Ngoại Giao. Ngay cả thằng bạn hải quân đốc thúc tháp tùng hải trình, Tân cũng lờ luôn!
Khi giặc bắt đầu pháo bừa bãi vào thành phố, parrain của Mỹ và Tân, báo ông Giám Đốc Nghi Lễ đã rút êm từ thuở nào. Trên trời, những đợt bốc người vội vã, vợ chồng Tân ôm con nhìn những chiếc trực thăng bay qua trong mơ ước!
Sáng hôm sau, thiết giáp của Cộng lăn bánh trên đường phố. Hai bên đường, dân và lính Cộng Hòa lầm lũi bước đi. Đến bất cứ con hẻm nào, lính của ta đều rẽ vào, vứt vũ khí, quân trang, âm thầm lẩn khuất vào đám đông...

Bà Phượng bước vào, vỗ vai ông Tân, giục :
- Về lo cúng tế cho vợ, sao ngồi thừ người thế hở anh cả?
Phượng có lòng nhắc nhở đến người chị dâu quá vãng, khiến ông Tân thương cảm người em rể qua đời. Anh rể, em vợ cùng đi cải tạo một ngày. Tân được về an lành. Điệp qua đời vì bạo bệnh. Bác sĩ mà chết vì bệnh kiết lỵ trong lúc học tập cải tạo mới là đắng cay! Nghĩ đến sự vô phúc của em gái, ông Tân làm một cử chỉ chăm sóc. Ông vuốt mái tóc bạc phơ của cô em góa bụa đã có một thời xuân sắc, để san sẻ chút tình. Bà Phượng cảm kích, bà trao tờ báo, toan cám cảnh thời cuộc thì đã có người nhận định trước bà :
- Ta đã học lóm kinh tế thị trường của người Cộng Hòa mất rồi!
Ông Tân, bà Phượng nhìn ra hàng hiên. Người cán bộ hồi hưu vừa đi, vừa xăm xoi tờ báo trên tay. Ông tiếp nối sự bực mình :
- Học làm giàu chưa đủ. Phải học thêm cách chia của cho kẻ khác nhờ!
Lão đi xa, bà Phượng điểm khuyết :
- Phải học cả cách cởi trói nữa mới vẹn toàn!
Ông Tân điểm nụ cười héo hắt. Ông đẩy nhẹ cô em ra khỏi quán, ông khóa trái khung cửa hẹp hầu chôn vùi một dĩ vãng đầy sóng gió, nhưng lắm sắc màu!
 
HẾT
0
Đã mang vào thư viện
 
Chúc casau ngày cuối tuần vui vẻ
 
📎 thank




0