Lối thoát cuối cùng - Trang 287 ... 373
Ghi chú: Sách đánh trang sai trong vai trang: trang 371 tiếp tục 472 (thay vì 372).
CUỐN SÁCH CỦA Ô NHỤC
(Phần thứ nhất)
I
Chiếc xe chở Ante Petrovici và những kẻ tị nạn của các quốc gia đồng minh đi xa dần. Pillat và Marie mới thực sự cô đơn giữa một quốc gia xa lạ chưa bao giờ đặt chân đến và chưa hề quen biết ai cả. Không nhà cửa, không một đồng dính túi. Pillat nói :
- Chúng ta có thể đi đâu và làm gì đây? Chúng mình đã lầm lẫn khi bỏ khu rừng để về đây.
Nhưng tình cờ bỏ tay vào túi quần, Pillat tìm thấy 200 đồng Marks. Chắc là bác sĩ Petrovici trước khi đi đã kín đáo bỏ tiền vào túi chàng. Chàng thấy bạo dạn hơn lên khi cầm tiền trong tay, họ tiến về nhà ga và nhìn bản đồ. Thành phố gần nhất là Heidelberg; Pillat bảo:
- Heidelberg là một trung tâm sinh hoạt trí thức, anh sẽ kiếm việc làm ở Đại học đường, có thể là trong một thư viện nào đó cũng được.
Bước chân xuống Heidelberg; họ dừng chân trên bờ sông Neckar với một lô dự định tương lai. Người ta đang xây cầu trên sông. Pillat vội vã nói:
- Anh sẽ kiếm việc ở đây, làm thợ vậy. Ngay hôm nay, vì chúng ta không thể để mất giây phút nào. Điều còn lại, chúng ta sẽ xét sau.
Chiều hôm đó, để mặc Marie ngồi chờ, Pillat xuống công trường xin việc. Viên đốc công sốt sắng :
- Chúng tôi cần thợ làm và trả tiền công rất hậu. Ngoài số lương, thợ còn được ăn và hút thuốc; ông có thể trở lại đây ngay sáng hôm sau. Chỉ cần mang cho chúng tôi một giấy phép trú ngụ ở Heidelberg, thế là đủ.
Pillat cho là mình gặp hên, cám ơn rối rít và chạy nhanh về báo tin mừng cho Marie:
- Nào chúng mình đi xin giấy cư ngu. Sở cấp giấy gần đây lắm. Marie lại khệ nệ vác xác lên vai. Trong lúc chờ đợi, viên trưởng phòng nhân viên mời Pillat và Marie rất lễ phép. Họ cho biết :
- Ông bà sẽ có giấy phép cư ngụ ngay, nhưng phải có bằng chứng là ông bà đã có công ăn việc làm rồi mới được.
- Tôi đã nói với viên đốc công làm cầu rồi, ông ta bảo rằng sẽ mướn tôi nếu tôi có giấy phép cư ngụ.
- Nhưng trước tiên, ông phải có bằng chứng là ông đã làm việc.
- Thì tôi đã kiếm ra công việc rồi đó, người ta sẽ cấp chứng chỉ cho tôi, mười phút nữa tôi sẽ mang lại cho ông ngay mà.
- Nhưng tôi không thể cấp giấy phép cư ngụ nếu không có chứng chỉ làm việc.
Viên trưởng phòng là một người tị nạn từ vùng Đức bị Nga sô chiếm đóng, ông ta hiểu nổi thất vọng của Pillat và Marie :
- Ông không thể nào kiếm việc nếu không có giấy phép cư trú nhưng không có giấy chứng nhận đã có công ăn việc làm người ta lại không cấp giấy cư ngụ cho ông, không cấp phiếu thực phẩm, không được phép thuê phòng.
- Như vậy thì rõ là họ không cho phép chúng tôi ở Heidelberg chứ gì.
- Trên nguyên tắc thì người ta không cấm. Nhưng trên thực tế thì như vậy đó. Tại sao ông bà không cố sang tỉnh khác xem. Heidelberg bị nhân mãn rồi. Người ta chỉ thuê những người thực sự cư ngụ ở đây mà thôi. Nhưng dù sao, nếu ông đem lại đây bằng chứng là ông đã kiếm được việc, tôi cấp giấy cư ngụ ngay.
- Vậy thì tôi cố trở lại công trường một lần nữa xem sao. Và họ lại trở ra bờ sông Neckar. Viên đốc công không còn ở đấy nữa, Pillat đành vào lều ngồi chờ. Marie mệt lả ngồi chờ ở một cái ghế dài. Nàng dựa đầu lên ghế, tay nắm chặt gói hành lý sợ bị đánh cắp. Bỗng nàng thấy như có ai đặt tay lên vai. Nàng định đứng dậy, nhưng bàn tay đã nắm chặt, bàn tay mang găng của một người cảnh sát Đức. Một người khác cầm xắc hành lý vứt lên xe cam nhông, và cả hai đẩy Marie lên xe luôn thể. Marie muốn gọi Pillat nhưng xe đã nổ máy. Nàng định la lên thì một bàn tay đã bóp miệng nàng lại, bàn tay cũng như sắt, nàng có muốn cắn cũng không ăn thua gì. Có một số người đàn bà khác trên xe, toàn là trẻ đẹp cả. Họ tò mò nhìn Marie, nàng có cảm tưởng bàn tay không phải chỉ ở miệng nàng mà còn đè nặng lên cả cơ thể nàng, nhất là trên vú nàng.
Xe cam nhông đã dừng hẳn. Marie được dẫn vào một căn nhà trống, nàng khóc nức nở. Một người đàn bà ái ngại:
- Lần đầu tiên em đến nhà thương sao?
Marie chùi nước mắt ngạc nhiên:
- Đúng là nhà thương sao? Tại sao họ lại đưa tôi vào nhà thương?
- Thì nếu em không có gì họ sẽ thả ra lo gì.
Marie đứng dựa vào hai xắc hành lý, hai cái xắc chứa hết cả gia tài của nàng và Pillat, chứa luôn cả hương vị cơ thể hai vợ chồng, vì họ vẫn thường dùng làm gối trong hàng tháng. Nghĩ đến chồng, Marie òa lên khóc. Chàng sẽ ra sao nếu lúc trở lại không thấy nàng trên ghế. Nàng muốn van xin người ta để cho nàng đi, nhưng đã hết giờ làm việc, không còn ai ở đó nữa. Suốt đêm hôm đó, nàng khóc liên miên.
Sáng hôm sau, tất cả đều được đi tắm và sắp hàng hai. Một người đàn bà bên cạnh la to :
- Đừng có khóc nữa, tao có hai đứa con ở nhà không ai chăm nom tao còn không khóc đây.
- Nhưng sao họ bắt chúng ta chứ?
- Họ không bắt chúng ta đâu. Chỉ là một cuộc bố ráp thôi. Mày chưa hề bị bố ráp sao?
- Không. Nhưng tại sao lại bị bố ráp?
- Người đàn bà nào cũng bị bố ráp cả. Để họ đừng truyền bệnh cho lính Mỹ. Người đàn bà nào ở ngoài đường cũng có thể truyền bệnh cho lính. Tao đã bị bốn lần, còn mày chưa hả, sao thế?
Marie trả lời:
- Tôi không sống ở thành phố này.
Họ được đưa lên lầu một. Người đàn bà cạnh Marie giải thích:
- Nếu mày ở lại phố thì mày sẽ đến đây mãi. Lần sau mày sẽ quen đi, không khóc nữa.
Sau khi tắm xong, tất cả được dẫn vào một hành lang, và được đưa từng người một vào thăm bệnh. Nghe gọi tên, Marie bước vào. Đã có hai người mặc áo blouse trắng đang khám một người đàn bà trần truồng trên bàn, tay họ đều mang găng. Một người giận dữ la :
- Sao chưa cởi áo quần ra? Cô cởi mau đi.
Marie muốn bị đánh đập hơn là nghe mệnh lệnh đó. Nhưng hai người nữ y tá đã la mắng và cởi áo quần nàng ngay. Marie cố chống cự, nhưng họ đã nhấc bổng nàng lên bàn. Nàng bắt đầu la hét, vùng vẫy, kẹp chân chặt lại. Nhiều người chạy đến giữ kỹ nàng. Sau cùng nàng thấy một đám mây lạnh trên mặt và không biết gì nữa cả. Thân thể nàng đành phải tuân theo ý muốn của những bàn tay xa lạ. Lúc nàng tỉnh dậy, nàng hoảng hốt cố che kín thân thể để đừng trần truồng trước mặt những người lạ. Và trong khi cố che đậy sự trần truồng đó, bàn tay nàng đã bị những mũi nhọn chích nhè nhẹ, thì ra đám lông mềm mại không còn nữa, người ta đã cạo sạch mất rồi. Thất vọng, Marie mặc vội quần áo lại.
Người nữ y tá bảo:
- Cô có thể ra về.
Và Marie cúi đầu mang xắc ra về. Mỗi bước chân nàng cảm thấy những mũi kim châm nho nhỏ. Nàng nghẹn ngào khóc, nàng có cảm tưởng người ta sẽ nhìn qua lớp áo là nàng đã bị cạo lông rồi và cho mình là người đàn bà nhục nhã nhất trần gian.
Muốn kêu cứu cũng chả biết kêu cứu ai, Marie không còn can đảm nghĩ đến Pillat. Như một kẻ không hồn, nàng bước về phía sông Neckar, muốn trầm mình xuống sông tự vận.
Một giọng nói êm dịu vang lên:
- Em đi đâu suốt đêm, để anh kiếm mãi thế.
- Anh Pillat, em không thể nào nói cho anh nghe được, thà chết còn hơn nói rõ điều này cho anh nghe. (Nàng lại khóc nức nở và cảm thấy những đầu mũi kim đang châm chích.)
Lúc Pillat cầm tay, Marie uất ức bảo:
- Em trở về Piatra, em không muốn ở lại đây nữa.
II
Pillat và Marie đành rời bỏ Heidelberg, vì họ không có quyền ở đó nữa. Đến Stuttgart, họ được Petrovici ân cần tiếp đón như bạn bè chí thân. Họ đã chung sống có một đêm thôi, nhưng có những cuộc gặp gỡ đáng giá hơn cả một đời bên nhau.
Petrovici cung cấp thức ăn uống đầy đủ. Tổ chức quốc tế tị nạn đã giúp đỡ họ nơi ăn chốn ở đàng hoàng. Tuy vậy bác sĩ Petrovici vẫn đi cà nhắc nhiều hơn lên, điều đó chứng tỏ ông ta đang khổ tâm.
- Trên bất cứ thành phố nào ở Đức, anh không thể nào trú ngụ mà không có chứng chỉ làm việc, và anh không thể có chứng chỉ làm việc nếu không có giấy phép cư ngụ, đúng là một vòng lẩn quẩn. Trên thực tế, ông bà bị cấm cư ngụ nơi đây nhưng xin phép ra đi cũng không được. Một thước đất biên thùy Đức quốc đều có xe tăng canh gác. Biên giới đã được đóng kín bằng dây kẽm gai. Chỉ còn cách là sống chơi vơi trong không khí. Thật tai hại là con người không thể sống bằng và ở trong không khí.
Marie cắn mẫu bánh mì Ante vừa cho, ông này nói tiếp :
- Để dành quyền sống, Tây phương đã bán cho Sô Viết một nửa Âu Châu. Dân cư ở các quốc gia bị bán đứng cho Sô Viết phải trốn qua Tây phương để tránh nạn khủng bố và chết chóc.
Tây phương là cơ hội thứ hai cho công dân các nước bị Nga Sô chiếm đóng. Những kẻ đào tẩu đó phải băng ngang qua Đức quốc và ở đây họ bị bắt vào các trại tập trung, không thể nào thoát khỏi được nữa.
Marie hỏi:
- Ông nghĩ là không còn lối thoát nào nữa ư? Chúng tôi không đòi hỏi gì nhiều ngoài công ăn việc làm. Tôi thừa biết là chúng tôi không thể có nhà cửa như lúc trước, nhưng tôi chỉ xin họ để chúng tôi sống ra sao thì sống.
- Tôi không phải là nhà tiên tri, nhưng tôi nghĩ là không còn lối thoát nào nữa cả. Âu châu không còn nữa. Chỉ còn lại có Hoa Kỳ và Nga Sô đang chia nhau Âu châu. Cả hai đều gán lối sống của họ cho toàn thế giới. Muốn thế, họ hủy diệt cá nhân. Nga Sô đã loại bỏ hàng triệu người, hủy bỏ nhiều giai cấp trong xã hội. Hoa Kỳ không thế. Nhưng Hoa Kỳ bán đứng con người cho Sô Viết để Sô Viết loại bỏ họ. Giống như những giáo sư ở Đại học Coimbre, Hoa Kỳ tưởng là có thể tránh thiên tai bằng cách nướng người vào lửa, dần dần, Hoa Kỳ đã thiêu sống những tù binh Nga trước mắt chúng ta để tránh mọi trở ngại trong việc bang giao với Sô Viết. Hoa Kỳ đã dâng cho Sô Viết xứ Lithuanie, Lettonie, Esthonie để tránh một bất động chính trị với chính phủ Sô Viết. Hoa Kỳ đã hy sinh Ba Lan để tránh sự rạn nứt ngoại giao với Nga Sô. Sau đó, họ đã hy sinh luôn Lỗ ma ni, Tiệp khắc, Hung gia lợi, dần dần.
Nghe đến đây, Marie òa khóc. Petrovici giải thích tiếp:
- Sự nguy hiểm to tát cho mỗi cá nhân, mỗi giai cấp, mỗi dân tộc đến độ phải đau đớn tự đánh lừa mình, nhưng thời gian vẫn trôi không ngừng, không còn khúc quanh nào của lịch sử có thể có được nữa. Chỉ có những kẻ mơ mộng mới tin vào các khúc quanh đó.
Chủ nghĩa tin tưởng lạc quan đó là một sự hèn nhát. Chúng ta sinh vào thời đại này và chúng ta có bổn phận can đảm đi trên đường đã vạch sẵn, vì không còn con đường nào khác nữa.
Bổn phận đó đòi hỏi phải tồn tại ngay cả trong một hoàn cảnh bi đát và tuyệt vọng. Phải biết kiên nhẫn như người lính La Mã ngày xưa đã phơi xương trước cửa thành Pompei và bị chôn vùi bởi ngọn núi lửa Vésuve.
Pillat cãi :
- Những cơ quan chính của thân xác con người, như tim phổi đều sinh hoạt tự động, lòng tham sống và hy vọng con người cũng thế. Chấp nhận cái chết chỉ là một sự láo khoét của văn chương. Câu chuyện người lính La Mã của Spengler chờ dung nham núi lửa đến cuốn đi chỉ là một điều tưởng tượng, không đúng sự thật. Khi quân Nga bắt đầu xâm chiếm đất nước chúng tôi như những luồng dung nham, và khi chúng tôi hiểu là họ muốn loại bỏ chúng tôi thì chúng tôi phải trốn đi. Chúng tôi được may mắn thoát khỏi họng núi lửa, thoát khỏi bàn tay Sô Viết và bây giờ chúng tôi sẽ tìm cách để thoát khỏi cái nồi súp de Đức quốc này. Trên bình diện con người, bác sĩ hãy nói thật cho chúng tôi biết là bác sĩ có tìm cách để cứu lấy mạng sống của mình và thoát khỏi nơi này không?
- Có chứ.
Petrovici trả lời thế và chỉ những lọ mực, cục tẩy, khuôn dấu để la liệt trên bàn, rồi nói tiếp :
- Tôi cố để thoát hiểm bằng một lối duy nhất, đó là di cư. Các quốc gia bên kia Đại tây dương thường gởi đến nước Đức những phái đoàn thương mại để tìm nhân công giữa hàng ngàn người tị nạn. Họ chọn người như chọn súc vật và chỉ giữ lại những món hàng hảo hạng. Nghĩa là họ thích những thanh niên trẻ trung, tôi thì vượt quá giới hạn của tuổi trẻ rồi, vì thế cho nên tôi phải sửa lại giấy khai sinh. Và đó là điều tôi đang làm. Tôi lại tàn tật nữa, thiếu mất vài mi li mét dưới bàn chân phải, tôi thấp hơn người hảo hạng mà họ muốn, vài mi li mét nữa mới đủ 1m60. Tôi lại theo đạo Hồi giáo. Người hảo hạng mà họ muốn phải có đạo Thiên Chúa mới được. Tôi sắp cạo sửa tất cả điều đó, phải làm giấy tờ giả mạo mới mong thoát khỏi mạo hiểm được. Nhưng sự khó khăn thực sự là ở điểm khác, là làm sao để tách rời được khỏi nấm mồ Âu châu. Âu châu đã chết rồi. Và cũng như tất cả giai cấp trí thức trưởng giả tôi cũng biết phụng thờ các ngôi mộ. Thú thật khi phải rời bỏ Âu châu là một điều khổ tâm cho tôi. Âu châu đã bắt đầu chết lúc mà các trại tập trung quốc xã được dựng lên.
«Âu châu đã chết với mỗi tù nhân bị quốc xã thiêu sống, Âu châu chết một phần cùng với cái chết cháy của vợ tôi, nhưng sự thật Âu châu đã thở hơi thở cuối cùng ở Torgau, ở đó có ngôi mộ chôn Âu châu, ở đó có một thành phố nhỏ trên bờ sông Elbe đánh dấu nơi quân đội Nga Mỹ gặp nhau vào năm 1945. Ở đó, trước thi hài Âu châu, lính Nga và lính Mỹ đã ôm nhau hôn và uống Whisky cùng Vodka. Tang lễ của Âu châu đã được tưới bằng rượu ngoại quốc, Vodka, Whisky. Cũng như anh và vợ anh không cho nơi nào êm ái hơn là ở Piatra của xứ Lỗ ma ni, tôi cũng chỉ mến Âu châu thôi. Chính vì thế, mà tôi xem cơ hội này, cơ hội mà tôi đã tranh đấu và tìm cách sửa đổi giấy khai sinh là cơ hội thứ hai. Sự lưu đày ra khỏi quê hương chỉ là một khúc giáo đầu cho sự lưu đày ra khỏi Âu châu...»
Vừa lúc đó, một người lịch sự bước vào, bắt tay Petrovici, lạnh lùng chào Marie và Pillat.
- Tôi vừa mới được cử giữ chức cố vấn chính trị và các vấn đề eo biển Balkan bên cạnh Bộ chỉ huy Hoa Kỳ ở Âu châu.
- Thành thật mừng ông.
Trả lời thế và Petrovici quay qua giới thiệu Marie và Pillat :
- Đây là một trong những đồng bào của ông bà, ông Aurel Popesco.
- Hân hạnh được biết ông bà.
Và ông ta vội vã bước đi, đến ngưỡng cửa ông ta còn quay lại :
- Phái bộ Gia nã đại đến đây ngày mai để tuyển lựa những người được di cư lúc 8 giờ sáng, vậy bác sĩ muốn trình diện thì phải dậy sớm nghe.
Petrovici nói cho Pillat biết :
- Aurel Popesco thuộc thành phần được ưu đãi vì hắn có một giấy chứng nhận là «nạn nhân của phát xít» và chính nhờ đó mà hắn được làm việc cạnh bộ chỉ huy Hoa Kỳ. Trước đây hắn là một trong những tên chỉ huy của phong trào phát xít ở Lỗ ma ni, chắc là anh biết rồi chứ. Hắn ta đã gây nhiều tội ác man rợ. Hắn đã trốn qua Đức. Người Đức nhốt hắn ở Buchenwald với những tên phát xít khác từ Lỗ ma ni trốn sang. Rồi người Mỹ giải thoát tất cả tù binh ở trại Buchenwald cấp cho họ chứng chỉ «nạn nhân của phát xít» và trong thành phần đó có lũ phát xít quá khích đó là trường hợp của Aurel Popesco.
Ngừng ở đó, Petrovici quay qua Pillat :
- Anh cứ trình diện với phái bộ Gia nã đại ngày mai, tôi không thể đến đó vì giấy tờ cạo sửa chưa xong. Tôi rất tiếc vì không hiểu bao giờ mới có phái bộ thứ hai tiếp theo. Nhưng anh thì cứ trình diện. Anh ngủ đây đi và mai tôi dẫn đi.
III
Sáng hôm sau khoảng 7 giờ Marie và Pillat sắp hàng trong đám người chờ phái bộ Gia nã đại, đám người khốn nạn thuộc nhiều hạng tuổi và nhiều quốc tịch khác nhau. Nhưng họ cùng chung một ước mơ là được trở thành người tiều phu ở Gia nã đại.
Toàn là những người trước đó có nhà cửa, gia đình, nghề nghiệp đàng hoàng, nhưng vào ngày chiến thắng, tổ quốc của họ đã rơi vào tay Sô Viết, họ buộc lòng phải trốn đi, từ bỏ nhà cửa, gia súc, gia đình tất cả. Giờ đây họ trở thành những kẻ vô sản chính hiệu. Trên thế giới có đến hơn trăm triệu người như thế rải rác trên các đường phố.
Mặt luôn luôn cúi gầm xuống đất, họ chờ đợi cơ hội được đi Gia nã đại, nhưng khó khăn lắm. Trong hàng triệu người vô sản đó, Gia nã đại chỉ chọn một số giỏi dang mà thôi.
Chín giờ xe của phái bộ Gia nã đại mới đến, còi vang inh ỏi. Họ gọi tên thí sinh ngay tức khắc. Cứ gọi đến hàng chục người một lần. Lúc đến trước bàn giấy, Pillat ngửi thấy mùi nước hoa Cologne, mùi thuốc lá và xà phòng, dấu hiệu của tình trạng toàn hảo của các thương gia. Ba người Gia nã đại nhìn chăm chăm từng thí sinh, từ đầu đến chân như là lúc đi mua ngựa, vì họ phải trả tiền di chuyển cho ai được di cư.
- Anh ở quốc gia nào?
- Lỗ ma ni. Pillat trả lời.
Phái bộ Gia nã đại chỉ thích người Bắc âu vì họ cao lớn và cần cù hơn, với lại họ ít ngoan cố và sống lâu.
- Anh làm nghề gì?
- Cựu thẩm phán.
Trả lời như thế Pillat thấy hình như họ không bằng lòng, vì ai cũng nhìn chàng một cách khó chịu. Một người hô ngay:
- Gọi người tiếp theo.
Rồi bảo Pillat ra ngoài. Chàng hỏi lại:
- Các ông không nhận tôi sao?
- Trường hợp anh thế là xong rồi.
- Tôi muốn biết là tôi được nhận hay không?
- Không. Chúng tôi không nhận anh.
- Các ông thấy tôi có gì không vừa ý?
- Chúng tôi không dùng những người trí thức. Anh có thể ra ngoài. Hai chữ trí thức được phát ngôn một cách hằn học và dữ dằn. Pillat hỏi ráng :
- Các ông nghĩ là một người trí thức không đốn ngã một cây ở Gia nã đại sao?
Và giọng nói của chàng có vẻ van nài :
- Xin các ông rộng lòng nhận tôi đi.
- Không.
- Các ông chê giới trí thức ở chỗ nào? Chúng tôi có thể làm công việc như những người khác vậy chứ.
- Không, anh không làm được như họ. Người trí thức không làm được việc lao động, vì không có bắp thịt. Anh có thể ra ngoài đi, anh bị từ chối rồi.
Pillat bỏ đi, không còn gì để hỏi nữa, lý do đã quá rõ ràng cho chàng hiểu rồi. Chàng bỏ đi, rời khỏi văn phòng mà không hiểu phải đi đến nơi nào. Marie đợi chàng ở ngoài đường. Nàng nhảy chồm đến Pillat, hót lấy cổ chàng và khóc.
- Em được họ chấp nhận rồi. Có 100 người mà chỉ một mình em được nhận mà thôi.
Marie ôm cứng lấy Pillat, nàng chưa bao giờ sung sướng như thế từ ngày bỏ Piatra mà trốn đi. Nhưng trong cơn hạnh phúc đó nàng có cảm tưởng là vai, mặt, cổ của chồng lạnh ngắt như người chết. Nàng hoảng hốt.
- Họ không nhận anh sao?
- Không, họ không thích người trí thức. Người trí thức không có bắp thịt.
IV
Lúc Pillat và Marie bỏ đi, thì trong một toán mười người khác bước vào văn phòng phái đoàn Gia nã đại, có một người đàn ông vạm vỡ đứng tuổi bước vào trước ba người Gia nã đại. Ông ta hơi cảm động nhưng bước đi vững chắc, đến trước bàn giấy ông nghiêng mình chào như đã có thói quen nghiêng mình trước vị linh mục trong làng.
- Ông thuộc quốc gia nào?
Người nông dân rụt rè một chút rồi trả lời:
- Tôi tên là Ion Kostaky, người Lỗ ma ni, 40 tuổi, tôi là dân cày ruộng và ngoài ra tôi không biết một tiếng Đức nào nữa cả.
Kostaky đọc thuộc lòng câu trên bằng tiếng Đức, không sai tí nào như ông đọc một câu thơ. Đọc xong, ông nhìn kỹ ba người lạ để xem họ quyết định tối hậu như thế nào.
Cả ba người rũ ra cười. Người ngồi giữa hỏi:
- Ông học câu đó ở đâu thế?
Ion Kostaky muốn đoán câu hỏi đó có nghĩa gì, nhưng không thể được. Tuy nhiên, ông thấy ba người đó nhìn mình kỹ càng và không tỏ ý chê bai. Buộc lòng ông ta lập lại:
- Tôi tên là Ion Kostaky, người Lỗ ma ni, 40 tuổi. Tôi là dân cày ruộng, và ngoài ra tôi không biết một tiếng Đức nào nữa cả.
- Hoan hô, tuyệt hảo (họ cười ngất), đúng là một công dân tương lai tài ba của Gia nã đại, ông được nhận.
Ion Kostaky nhìn họ, trông thấy họ cười đùa nhưng không hiểu họ nói gì. Ông trưởng phái đoàn nói:
- Du Kanadian, verstanden? (ông là người Gia nã đại, hiểu chưa?) Kostaky thấy ngón tay ông ta chỉ về phía mình và nghe tiếng «Gia nã đại» ông Kostaky biết là mình được chấp nhận; ông thầm cám ơn trời, rồi nghiêng mình trước phái đoàn như đã nghiêng mình trước cha Thomas Skobay ở Piatra.
Viên thư ký cầm tay ông và giải thích:
- Ông dễ thương lắm. Ông cứ ăn và ngủ ở đây. Sau đó ông sẽ đi Gia nã đại với mấy ông này. Trong lúc chờ đợi, ông được chấp nhận vào phái đoạn rồi đó.
Sau đó, Kostaky được đưa xuống ăn uống và hút thuốc, bao nhiêu khó khăn trở ngại đều không còn nữa. Nhưng đang lý biểu lộ niềm hạnh phúc đó, Kostaky lại bật khóc. Iliéna, nhà cửa ở Piatra, Marie và Pillat, tất cả chỉ còn là hình bóng trong ký ức ông mà thôi. Không nhà cửa, làng mạc, gia đình, ông không thể nào vui được, và không ăn uống gì được nữa. Qua cửa sổ, qua làn nước mắt, ông muốn thấy lại làng mạc, nhà cửa, gia súc, tất cả những người thân yêu; nhưng sự thực chỉ là những người xa lạ đang qua lại trước cửa sổ.
Dù xuất phát từ đâu, tất cả những người tị nạn đều gặp nhau ở Đức Quốc. Pillat gặp lại Motok, ăn mặc rất lịch sự, tay đeo đồng hồ vàng, xách cặp da và hút thuốc Mỹ. Cùng với Aurel Popesco, Salomon, Motok buôn chợ đen rồi giàu to. Nhưng hắn vẫn muốn bỏ đi.
Ở Đức, người ta có thể chết đói hay là buôn lậu rồi bị bắt giam vì thế mà Motok đến trình diện cùng một lượt với Marie, Varlaam, Pillat và Petrovici trước phái đoàn Úc Châu vừa mới đến Stuttgart.
Bác sĩ Petrovici, như thường lệ, lên tiếng tố cáo hiện đại.
- Âu Châu là lục địa biến đổi nhiều nhất. Âu Châu bán công dân theo kích thước và sức nặng cho các lục địa khác. Tất cả phái đoàn đó đến đây chỉ nhìn chúng ta theo kích thước và sức nặng. Không có gì nữa trong con người liên quan với họ trừ trọng lượng và bề cao.
Mọi người được yêu cầu điền vào tờ giấy kể lại cuộc đời mình từ trước đến nay, xong họ được đưa vào một căn phòng rộng đầy đủ dụng cụ y khoa để căn đo, khám nghiệm. Đàn ông đàn bà ở hai phòng khác nhau. Phần thí nghiệm kỹ càng như ở trong một bệnh viện. Cô ý ta người Anh lễ phép nói :
- Các ông đừng để giấy tờ xuống đất, vi trùng nhiều lắm đó.
Ante Petrovici cắn giấy vào miệng và cởi áo quần. Tất cả thí sinh đều trần truồng trước ba người nữ y tá tóc vàng cùng với những dụng cụ y khoa trắng tinh. Ở đằng trên những dụng cụ đó, những người tị nạn có thể trông thấy xứ Úc đại lợi như là một mảnh đất hứa hẹn.
- Nắm hết sức đi.
Người nữ y tá bảo Petrovici nắm chặt một dụng cụ như nắm gươm.
- Trời, ông chưa bao giờ đo sức mạnh bắp thịt sao?
Sau đó, cô ta đưa dụng cụ đó cho Pillat. Con đường đi Úc đại lợi phải đi qua quả nắm đó.
Sau khi đo sức mạnh bắp thịt, mười người trần truồng đó được trích máu đầu ngón tay nhỏ lên từng tấm kiếng nhỏ. Không thể qua Úc châu nếu không cho một giọt máu.
Petrovici run sợ. Pillat bình thản nhìn những mảnh kiếng đựng máu chàng và đồng bạn.
Rồi sau đó lại bị lấy máu ở mạch máu bỏ vào các ống nghiệm. Chưa hết, mỗi thí sinh phải thổi mạnh vào một ống cao su để đo dung tích buồng phổi.
Và đến phần quyết định cho Petrovici. Mặt ông ta tái nhợt khi bước chân đến cái thước đo bề cao. Pillat thấy ông ta thóp bụng nhón chân cao lên một chút. Người y tá ra lệnh:
- Ông đứng thẳng như thường đi.
Petrovici đành phải đứng yên, nhưng vẫn cố nhón lên chừng 2cm. Nên khi người nữ y tá hô to độ cao của mình, Petrovici sung sướng thấy mình đã thắng cuộc, ông ta nói nhỏ với Pillat:
- Tôi chỉ cần 2cm thôi, và thế là được rồi đó.
Sau khi cân đo, tất cả lại được đưa vào rọi kiếng. Pillat, Motok, Petrovici sắp hàng chờ. Bàn tay mang găng của bác sĩ sờ soạng từng người trong bóng tối. Mọi người chừng 10 phút. Đến lượt trung úy Varlaam, người tráng kiện nhất trong bọn. Bác sĩ hỏi:
- Ông nằm nhà thương bao lâu?
- Tôi chưa bao giờ nằm nhà thương cả. Varlaam quả quyết trả lời như thế.
Vị bác sĩ chỉ vết sẹo trên ngực Varlaam rồi bảo:
- Ông đã bị thương ở đây, vì sao ông nói là không bao giờ nằm nhà thương cả?
- Tôi chưa bao giờ nằm nhà thương, chỗ bác sĩ chỉ đó là một vết trầy da. Tôi là phi công, một hôm tôi bị một mảnh đạn nhưng không hề bị thương nặng. Áo tôi bị cháy và da tôi bị trầy đôi chút. Hồi đó họ băng sơ cho tôi và ngày hôm sau tôi lại nhận công tác như thường. Tại sao bác sĩ cứ đinh ninh là tôi bị thương?
- Ông có một vật lạ trong phổi ngay nơi chỗ có vết sẹo, rất có thể là một mảnh đạn.
Varlaam mỉa mai trả lời:
- Nếu tôi có mảnh đạn trong ngực thì tôi đã có cảm tưởng là nó ghim vào phổi chứ?
- Tôi sẽ chụp hình và ông sẽ thấy nó tận mắt.
Varlaam lại được đưa vào phòng tối. Mấy người khác lo mặc áo quần.
Bác sĩ bảo Varlaam mặc áo quần lại, trong lúc đợi rửa phim, Varlaam lại biện minh cho lý lẽ của mình :
- Nếu tôi có mảnh trong phổi, tôi đã không hoàn thành hàng ngàn phi vụ trên đất địch, ở Nga Sô và tôi đã không nhận hàng nửa tá huy chương.
- Thì ông nhìn đây.
Vị bác sĩ cầm phim đưa ra trước cửa sổ, Varlaam nhìn mà không quan tâm đến những bóng mờ trên phim. Bác sĩ giải thích:
- Ông thấy rõ chấm đen nầy chứ, đúng là một vật lạ trong phổi ông rồi đó.
- Nếu thật sự có mảnh đạn, điều đó đối với tôi không quan hệ gì. Nó không có gì làm tôi khó chịu cả. Vật lạ đó không cản trở tôi trong hai năm trời, ngày cũng như đêm, bay trên nền trời của xứ địch. Vật lạ đó không cấm tôi ăn, ngủ, nhẩy đầm, tôi hoàn toàn khỏe khoắn, cho nên nó không phiền hà gì tôi và tôi đã từng bay cao hàng ngàn thước qua các giàn trọng pháo mà tôi cũng không thấy khó chịu gì cả. Với mẫu kim khi đó trong ngực, tôi đã trở thành anh hùng của không quân, thi cùng với nó tôi sẽ trở thành người chăn cừu, người làm ruộng hay phu quét đường phố ở Úc châu, vì tôi cho là các ông không có công việc gì khác cho các người tị nạn.
- Chúng tôi chỉ nhận những người di cư có những buồng phổi tốt, lành lặn.
- Tôi cũng mong là tất cả những dân Úc châu đều có bộ phổi như tôi là cùng.
Nói xong, Varlaam hằn học gài nút áo và rời phòng khám không cần ngoái cổ lại chào ai cả.
Vị bác sĩ còn tiếc rẻ :
- Chúng tôi có thể cho hắn cái may mắn là sẽ mổ cho hắn mảnh dạn nầy. Nếu hắn muốn nghe lời tôi khuyên nhủ, hắn sẽ trình diện lần khác nhưng với thái độ đó...
Mấy người tị nạn lại được vào phòng tối khác để nha sĩ khám răng bằng quang tuyến. Vị nha sĩ nói với Petrovici :
- Ông cần chụp phim hàm răng. Có lẽ điều nầy không làm ông ngạc nhiên. Ở Úc châu, chúng tôi có mức sống mà các ông không thể tưởng tượng nổi ở Âu châu. Cô thể là Âu châu có trình độ văn hóa cao hơn nhưng về mức sinh sống thì chúng tôi cao hơn nhiều. Cũng thường tình vì chúng tôi ở trên một lục địa còn mới mẻ.
Rồi vừa chụp hình hàm răng Petrovici, vị nha sĩ nói thêm:
- Khoa xã hội học chúng tôi không giống các ông ở Âu châu. Ví dụ Khoa vệ sinh xã hội chúng tôi tân tiến hơn. Chúng tôi đã giải quyết vấn đề chủng tộc rất khoa học, vì ở Úc châu ai cũng có tinh thần khoa học cả. Nhờ tinh thần đó mà trong vài năm nay ở Úc châu chúng tôi có một dân tộc rất khá; sở dĩ thế là nhờ chúng tôi biết săn sóc kỹ lưỡng các cuộc hôn nhân, các cuộc pha giống, các vấn đề di cư, nghĩa là bằng các phương pháp rất ôn hòa và khoa học. Chúng tôi không giải quyết vấn đề chủng tộc như các ông ở Âu châu, bằng cách thức man rợ như Hitler như việc đốt cháy người Do thái và các nòi giống thấp kém khác. Chúng tôi cư xử với các nòi giống thấp kém đó bằng các phương pháp khoa học chứ không đốt họ đi. Vấn đề chủng tộc cũng có dưới nhãn quang khoa học, nhưng chúng tôi không giải quyết trong các trại tập trung. Chúng tôi nghiên cứu vấn đề đó trong các phòng thí nghiệm và các văn phòng để đưa đến một giải pháp nhân đạo.
Petrovici muốn bịt tai lại. Từ khi bà vợ Lidia của ông bị đốt cháy, Petrovici không chịu nổi những bàn cãi về chủng tộc cao sang và thấp hèn. Từ lúc mà Milan Paternik đã nhân danh các nguyên lý của hắn để giết chết chính mẹ hắn cũng như 800 người Serbes và Do Thái, ông không muốn nghe ai nói đến vấn để chủng tộc nữa, ngay cả một giải pháp ôn hòa.
Petrovici thấy ngã bệnh chỉ vì nghe nói đến chữ chủng tộc, bởi vì nhân danh chữ đó, Lidia đã bị đốt. Thân thể Lidia đã từng ngủ bên cạnh ông, những ngón tay Lidia đã từng uyển chuyển trên phím đàn vĩ cầm cũng đã bị đốt nhân danh chủng tộc. Petrovici thấy tim mình khắc khoải vì chữ chủng tộc đồng nghĩa với lò sát sinh, sát nhân. Ở cửa miệng ông nha sĩ người Úc đó, sự pha giống y hệt như ở súc vật, Petrovici muốn trốn khỏi căn phòng. Vị nha sĩ đã đưa phim về phía cửa sổ và mỉa mai :
- Nào, ông nhìn xem, bộ răng của ông đấy.
Petrovici lại gần nhìn hình bộ xương đầu của mình. Một cái gì đăng đắng đầy miệng ông ta. Không ai muốn người ta chỉ cho mình xem một bộ xương và bảo rằng đó là cái đầu của chính mình. Chỉ còn cái xương đầu y hệt như bộ xương của người chết.
- Ông có thấy bộ răng của ông chưa?
Petrovici tái mặt, trong lúc vị nha sĩ nói tiếp :
- Ông thấy rồi phải không? Vậy thì ông không thể nào đến Úc châu với bộ răng như thế được.
Petrovici định không trả lời nhưng ông ta nhẫn nại:
- Tôi sẽ chữa răng, ông xem bao nhiêu là biến cố vừa mới đổ lên đầu dân Âu châu.
- Nhưng trong lúc này, ông không thể di cư sang Úc châu. Không thể nào được cả. Trên nguyên tắc, chúng tôi không chấp nhận những người mang hàm răng giả, nhưng ông cứ ráng xem sao. Chúng tôi không chấp nhận hàm răng giả, Úc châu như thế đó. Mà ông nhìn xem, ông thì chắc chắn phải cần một hàm răng giả rồi đó.
- Nhưng các phần khám nghiệm khác tôi đã qua được cả rồi.
Nói thế và Petrovici xiết chặt cái cà vạt như muốn tự xiết cổ cho chết vì cái ô nhục này to tát quá.
- Phần hàm răng là chính yếu, hoàn toàn chính yếu. Tôi không hiểu là điều này đối với Âu châu thế nào, chứ với Úc châu, bộ răng có phận sự đặc biệt, ưu tiên, trong nghĩa chính xác của nó.
Petrovici điếng người vì những tư tưởng đó. Ông ráng cãi :
- Nếu giả thử tôi là một người tài ba, như Michel Ange hay Goethe chẳng hạn, liệu ông có từ chối quốc tịch Úc đại lợi chỉ vì tôi thiếu vài cái răng không? Tôi đặt câu hỏi này hoàn toàn vì tò mò mà thôi. Bởi vì nếu như thế thì chúng tôi cho là kỳ dị quá. Tôi muốn nói là những giá trị nơi con người như luân lý, trí thức, nghề nghiệp, có những thiên tài về tình thần có giá trị hơn vài cái răng chứ.
- Không có gì bằng và thay thế được một bộ răng tốt cả. Những khám phá khoa học mới đây rất chính xác, và khi chúng tôi được giao trọng trách về vấn đề di cư, chúng tôi cứ y theo những nguyên tắc khoa học. Ông nói đến những giá trị luân lý ư? Tất cả đều phải đi qua cửa miệng. Tất cả nền luân lý đều phải thế, ông chấp nhận như thế không nhỉ? Và từ của miệng hôi thối, chỉ phát xuất những điều xấu xa. Răng xấu thì vấn đề tiêu hoá cũng xấu. Tiêu hóa xấu thì năng lực làm việc kém đi và hay bị cáu kỉnh, điều này gây ra bất mãn và từ bất mãn sẽ đi đến xung đột, đi đến việc không tôn trọng hợp đồng làm việc chẳng hạn. Hợp đồng đó mà không tôn trọng thì sẽ gây ra nạn thất nghiệp; có nghĩa là nạn nghèo đói và phản động, con đường dẫn đến tội ác hỗn loạn và những âm mưu chính trị và nếu ông hỏi tại sao thì câu trả lời đã sẵn sàng. Chỉ vì ông thiếu mấy cái răng. Một quốc gia mà công dân toàn mang bộ răng yếu ớt là một quốc gia suy yếu về tất cả khía cạnh tinh thần và kinh tế. Tôi nói với ông giản dị có thế thôi, chứ vấn đề thật ra đã được nghiên cứu kỹ càng hơn nhiều.
Tất cả yên lặng. Vị nha sĩ vẫn cầm cái phim đầu của Petrovici nơi tay. Motok, Pillat, Petrovici không nói nửa lời.
- Tạm thời ông không thể nào di cư được, Chúng tôi buộc lòng từ chối ông. Pillat cầm tay Petrovici kéo ra đường. Marie chờ trước cửa có vẻ hài lòng, nàng chỉ sợ Pillat bị từ chối nên hỏi ngay.
- Anh được nhận không?
Pillat gật đầu. Nàng phóng lại ôm chầm lấy chồng nhưng Pillat không hôn trả, chàng đứng yên như bức tượng. Petrovici nói:
- Hy vọng là việc tôi bị từ chối không làm phiền lòng ông bà. Đương nhiên là ông bà đang vui sướng rồi đó nghe.
VI
Trước khi đi Úc đại lợi, Pillat đến hội Hồng Thập Tự ở Francfort :
- Chúng tôi sẽ di cư sang Úc châu, và sẽ khởi hành trong vài tuần nữa. Nhưng trước khi đi, chúng tôi muốn biết là ở Đức hiện có một người Lỗ tên là Ion Kostaky xin tị nạn đến không? Ông ta là cha vợ tôi. Tôi tin là Hồng Thập Tự có đầy đủ danh sách những người tị nạn. Nếu ông ta không đến Đức thì chắc là chết hay bị người Nga bắt rồi.
Viên thư ký trả lời :
- Ông bà không còn hy vọng gì gặp lại Ion Kostaky nữa, tại sao ông bà lại không đến tìm sớm hơn, ông ta đã di cư qua Gia nã đại cách đây 15 hôm rồi. Chưa chắc chắn, viên thư ký còn đọc rõ tên họ, sinh quán, nghề nghiệp của Kostaky cho Pillat nghe. Marie khóc ròng:
- Đúng là ba rồi chứ còn ai nữa.
Và họ buồn rầu đi bộ đến ga xe lửa. Tàu đi Stuttgart vừa mới chạy, chuyến sau cũng phải đến ngày mai mới có, họ đành ở lại phòng đợi nhà ga cho qua đêm, cả hai đều ân hận là không kiếm Kostaky sớm hơn. Trên đầu họ một bản thông cáo dán sẵn : «Nhà ga đóng cửa lúc 10 giờ. Không được ở lại trong phòng đợi hay trên sân ga». Bên cạnh đó một bản thông cáo khác: «Ai đi ngoài đường sau mười một giờ sẽ bị bắn».
Họ đành lại phải đứng dậy đi. Khách sạn không còn nữa, nhà cửa bị dội bom nát hết cả rồi. Một người qua đường cho biết là có một nhà trú ẩn ở trước nhà ga. Họ bước vào trong một căn hầm đổ nát có giường cho thuê. Mệt mỏi, cả hai nằm xuống giường, lấy xách kê đầu. Marie vẫn khóc tỉ tê vì không còn hy vọng gặp lại cha, rồi lại nghĩ đến đứa con còn trong bụng. Pillat bảo :
- Em biết không, anh đã tìm ra tên đặt cho con rồi. Nếu là con gái, chúng ta cứ gọi là Doina Australia. Doina có nghĩa là tên một bài hát Lỗ ma ni nói về sự lưu đày não nề. Còn Australia thì để kỷ niệm tổ quốc mới của chúng ta.
Marie sung sướng nghĩ rằng họ sẽ đến Úc châu và con nàng sẽ sinh ra trong một quốc gia chứ không ở trên bước đường lưu lạc như bây giờ. Như thế họ thiếp đi trong giấc ngủ có tên Doina Australia ám ảnh.
Lúc họ tỉnh dậy, ánh sáng đã chiếu vào căn hầm. Cái áo Marie để trên đầu và đôi giày biến đâu mất. Không còn ai trong hầm nữa, nên họ chẳng biết phàn nàn cùng ai cả. Pillat xổ xách tay ra chỉ còn kiếm được một đôi giày lính. Marie mang vào, rộng thênh thang, nàng nức nở khóc. Xổ xách tay Marie ra, Pillat tìm thấy một gối mềm. Thì ra đó là một cái áo trắng bằng Voile.
- Áo cưới của mẹ đó. Em mang theo lúc đi. Em nghĩ là...
Trong nước hồi đó không còn tục đám cưới theo nghi lễ tôn giáo nữa. Marie mang theo với hy vọng một ngày nào họ sẽ lại làm đám cưới ở nhà thờ. Pillat bảo :
- Thôi em cứ mặc đỡ áo này đi. Thắt chặt dây lưng một tí sẽ ngắn bớt lại ngay.
Marie đành phải mặc áo cưới vì không còn cách nào khác. Giày rộng thênh, áo cưới, và xách mang trên vai, Marie vừa đi vừa khóc, nhưng không ai nhìn nàng cả. Không còn ai ở đây ngạc nhiên về điều gì nữa cả.
Họ đến sở cảnh sát. Viên cảnh sát trưởng lắng nghe rồi bảo:
- Tôi có thể cấp cho ông bà một giấy chứng nhận là ông bà đã khiếu nại bị mất cắp. Với giấy chứng nhận đó, ông bà đến trình ở sở cấp phát quần áo và xin phiếu mua áo. May là ông bà chỉ mất quần áo thôi đó, lần sau đừng có vào trong nhà trú ẩn đó nữa. Mỗi đêm người ta thường thấy người bị ám sát chết trong hầm đó là thường.
Sở cấp quần áo ở ngay bên cạnh. Người ta mời ngồi và cùng lắng nghe câu chuyện sau đó, viên công chức hỏi giấy cư ngụ. Pillat trả lời:
- Chúng tôi có giấy tờ, chứng nhận di cư và, một giấy khác chứng nhận bị mất cắp.
- Chúng tôi không thể cấp phiếu mua áo quần nếu không có giấy cư ngụ.
- Nhưng đây là trường hợp đặc biệt. Ông nhìn xem, vợ tôi không thể lên đường bằng bộ áo cưới và giày lính thế này được. Ông nghĩ lại xem. Tôi van ông cấp cho, trong trường hợp đặc biệt này, vì ngoài cái áo cưới này, vợ tôi không còn cái nào khác.
- Đối với luật lệ, vợ ông trần truồng. Áo cưới không được xem như là áo quần mặc thường ngày. Trước mặt tôi và trước mặt pháp luật, bà đang ở trần, hoàn toàn trần truồng, nhưng dù thế nào đi nữa, chúng tôi không thể cấp phiếu mua áo được, cần phải có chứng chỉ cư ngụ.
Pillat nhớ lại là muốn có giấy cư ngụ phải có giấy làm việc và muốn có giấy làm việc phải có chứng chỉ cư ngụ và bây giờ...
Biết van nài vô ích, họ lên tàu đi Stuttgart, Marie mang áo cưới và giày lính với đôi mắt đỏ hoe. Niềm an ủi duy nhất cho nàng là chẳng ai trên tàu thèm để ý đến nàng cả. Không ai chú tâm đến cái áo cưới kỳ dị đó, bởi con người không còn để ý đến nhau nữa.
Không còn gì phi thường, lạ lùng đối với họ nữa. Và đó chính là điều phi thường nhất: phi thường ở chỗ không còn gì đáng cho là phi thường nữa.
VII
Lúc Pillat đi rồi, một phái đoàn Argentine đến Stuttgart. Tất cả ai bị các phái đoàn trước từ chối đều đến trình diện.
Có cả Motok, Varlaam và bác sĩ Petrovici lúc nào cũng mang theo giấy tờ giả mạo.
Lúc họ được đưa vào phòng, ai cũng ngạc nhiên. Phái đoàn Argentine không có dụng cụ máy móc gì cả, không máy đo bắp thịt, máy quang tuyến. Chỉ có hai người đàn ông và một người đàn bà mặc đồ đen có mang thánh giá bằng vàng trước cổ – người đàn bà là trưởng phái đoàn và hình như gốc Tây Ban Nha, và có vẻ cương quyết lắm. Bà hỏi Motok:
- Ông làm nghề gì?
- Công chức hỏa xa.
- Công chức gì?
- Kiểm soát viên. Tôi biết bốn thứ tiếng, có mười hai năm thực hành.
- Trong lúc này, chúng tôi chỉ chọn những người có nghề tay chân thôi, thợ may, thợ mộc, thợ luyện kim, sau này, chúng tôi sẽ chọn người có nghề khác. Nhưng ông đừng thất vọng. Hãy tin ở Chúa. Chúa phán xét con người và giúp người thành công và chỉ có Chúa mới mang lại vinh quang.
Motok nhìn đôi mắt lạnh lùng của người đàn bà. Hắn ngửng đầu nhìn và bắt gặp đôi mắt Chúa từ trên thánh giá. Chúa Giê su muốn giữ Motok lại, muốn để cho hắn nói, nhưng người đàn bà đã dõng dạc ra lệnh:
- Người tiếp theo.
Đến lượt Varlaam.
- Tôi là phi công.
- Chúng tôi có đủ phi công rồi. Tất cả phi công của các nước thất trận đều tị nạn ở Argentine. Trong lúc này chúng tôi chỉ cần thợ máy bay thôi. Tiếc thay ông không phải là thợ máy.
Rồi đến lượt Petrovici.
- Tôi là giáo sư trường sửa đồng hồ Iéna.
Vừa nói Petrovici vừa để lên bàn chứng chỉ có chữ ký của vị chủ tịch hiệp hội các nhà sửa đồng hồ ở Thuringe và mười hai người giáo sư khác. Có ghi bằng chữ vàng là hiệp hội thợ sửa đồng hồ chấp nhận bác sĩ luật khoa và toán học Ante Petrovici là giáo sư sửa đồng hồ của hội.
Thế là người đàn bà mỉm cười, thiện cảm, Petrovici tự giới thiệu thêm :
- Lúc tôi còn là sinh viên, tôi đã học sửa đồng hồ ba năm tại một tiệm ở Iéna. Hồi đó, sinh viên vẫn thường tự học thêm thủ công nghiệp. Năm tôi đổ tiến sĩ luật và toán, tôi lấy luôn chứng chỉ sửa đồng hồ. Tôi có thể tháo ráp một đồng hồ tay trong ba mươi phút. Lấy được chứng chỉ đó khó lắm.
- Và đó mới là điều quan trọng. Argentine hiện đang cần giáo sư sửa đồng hồ. Bây giờ ông hãy qua khám nghiệm y khoa đi. Tôi tin chắc là ông hoàn toàn có sức khỏe; người nào có nghề thủ công cũng là người khỏe mạnh cả.
Ante Petrovici thầm nghĩ : Không ngờ vận hội của mình lại là cái mảnh bằng học một cách tài tử hồi còn trẻ. Argentine không muốn mảnh bằng tiến sĩ luật hay thạc sĩ toán, cũng không thích khả năng hành chánh dồi dào của một cuộc đời công chức dài đăng đẳng của mình. Argentine chỉ thích mình ở chức vụ giáo sư sửa đồng hồ, thế mà từ lâu mình bỏ quên hình dạng đó nơi con người mình, người thợ sửa đồng hồ trong ông thạc sĩ toán và tiến sĩ luật Ante Petrovici. Mảnh bằng duy nhất còn giá trị : sửa đồng hồ.
Trong lúc người đàn bà đang viết phiếu khám nghiệm y khoa, Petrovici tiếp tục nghĩ về mình.
- Đó là điều còn lại sau cùng của mình, một người sắp làm nghề sửa đồng hồ ở Tân thế giới, một thợ thay lò xo đồng hồ, thay mặt kiếng vỡ, sửa con lắc và chuông báo trong các đồng hồ đánh thức của xứ Argentine, cho những người ở Tân thế giới. Và đó là điều mà Tân thế giới tìm được nơi mình. Hoan hô bác sĩ Petrovici. Tân thế giới chỉ đòi hỏi một điều thôi : nghề sửa đồng hồ. May mà mầy còn có cái nghề sửa đồng hồ nếu không thì mầy chết rồi. Vì chính Tân thế giới điều khiển vũ trụ và Tân thế giới không cần người trí thức mà chỉ cần thợ sửa đồng hồ. Điều duy nhất mà Âu châu mang lại cho con cháu là đem bán chúng ta theo thước tấc và sức nặng, bán từng lá phổi, từng phân mét cho Tân thế giới. Và Tân thế giới chỉ chọn những gì họ thích, nơi mình, họ chỉ chọn có nghề sửa đồng hồ.
Người đàn bà hỏi:
- Ông có đạo Thiên chúa?
- Vâng, đương nhiên là có đạo Thiên chúa rồi.
Petrovici nuốt nước bọt, choáng váng rồi cố rướn cổ lên để tìm một ít không khí để thở. Ở đàng sau phái đoàn, tượng Chúa trên Thánh giá hình như xoắn lại, không vì đau đớn mà vì thương hại cho Petrovici bị bắt buộc phải nói dối. Petrovici sinh ở Bosnie dưới thời lệ thuộc Thổ nhi kỳ, dân Bosnie bị bắt buộc theo đạo Hồi giáo. Ông nội Petrovici tuyên thệ bỏ đạo Thiên Chúa vì sợ bị chặt đầu và đành theo Hồi giáo. Đó là lý do tại sao Petrovici theo Hồi giáo như đa số dân Bosnie.
Bà trưởng phái đoàn hài lòng nhìn chứng chỉ rửa tội mà Petrovici tự tạo ra để được phép sửa đồng hồ tại Argentine :
- Chúng tôi chỉ nhận người có đạo Thiên chúa thôi. Ông đi khám nghiệm y khoa xong trở lại đây. Tuổi giới hạn là 40, ông hình như chưa quá 40. Với là chắc ông không bị tàn tật?
Người đàn bà nhìn giấy tờ. Toàn là đồ giả mạo hết, nhưng bà không hề biết. Petrovici nghĩ đến vài phân mét còn thiếu, nhưng ông ta thừa biết phải thóp bụng, nhón chân làm sao rồi. Ông ta nghĩ đến cái răng sâu, đến bàn chân phải không có lòng bàn chân và lo sợ hết sức. Nhưng người đàn bà nói:
- Những người thợ giỏi. Những người sùng đạo và khỏe mạnh. Đó là tiêu chuẩn của xứ Argentine. Ông hội đủ tất cả các điều kiện.
Petrovici lại khó thở, cố tìm không khí nào cho dễ thở. Ở trên cao có lẽ không khí trong sạch hơn. Ông ta ngẩng đầu lên. Trên thánh giá, Chúa Jésus đang nhìn vào đôi mắt Petrovici và hình như bảo : Chúa sẽ giúp đỡ cho những ai không có lòng bàn chân ở chân phải. Và giúp đỡ những ai cao không đầy 1m60. Ante Petrovici, con đừng sợ gì cả, bởi vì dù con theo Hồi giáo, Chúa cũng giúp đỡ người Hồi giáo như thường. Chúa ở bên cạnh con, ngay cả khi giáo hội của ta không thừa nhận con.
Petrovici bước ra ngoài mà không hề đi cà nhắc, đi như là ông ta không có một chân thấp hơn chân kia. Chúa đã nâng Petrovici lên một chút để cho người đàn bà đó không thấy Petrovici đi cà nhắc.
VIII
Về đến nhà, Petrovici đã thấy Pillat trong phòng, Marie mặc áo cưới từ Francfort trở về một cách ô nhục. Họ kể cho Petrovici nghe về Kostaky và vụ mất cắp áo quần. Cầm một miếng biscuit nhai, Petrovici hứa hẹn :
- Chờ đây, tôi sẽ đi kiếm cho bà một cái áo và một đôi giày. Petrovici đi cà nhắc đến ngọn đồi trên cao của Stuttgart. Khu phố trên đồi là khu phố duy nhất không bị dội bom. Những biệt thự ở đó đã bị người Mỹ tịch thu và nhường lại cho người Do Thái còn sống sót ở trại tập trung. Đó là một xóm Do Thái bị quản thúc theo lối mới. Ở đó, hằng ngày tiêu thụ hàng triệu tiền marks. Mỗi đồ hộp vừa mới ở nhà hàng bán ra đều đã tung vào khu Do Thái đó, trước khi qua hàng chợ đen. Tất cả những tác phẩm nghệ thuật, vàng bạc, tất cả vật dụng có giá của Đức quốc phải đi qua khu phố đó trước khi đến Hoa Kỳ. Mỗi điếu thuốc của lính Mỹ phải qua khu phố đó trước khi đến tay người dân. Ở đây không thiếu gì cả. Một số người trở thành triệu phú trong vài ngày. Ở đây có cả áo lông, tranh ảnh nghệ thuật, thức ăn, trái cây ngoại quốc, thuốc lá. Điều duy nhất mà người Do Thái ở đây không được phép giữ đó là tiền đô la. Quân cảnh lùng bắt rất thường để tịch thu đô la. Nhiều triệu phú trong vài phút trở lại nghèo nàn như lúc vừa mới bước chân từ trại tập trung ra.
Petrovici bước vào nhà bà Salomon. Ông không biết bà Salomon nguyên là cô Eddy Thall, bạn thân của Lidia, vừa ở miền núi Oural đến, đã làm trong chương trình thay đổi khí hậu ở Sô Viết. Ông cũng không biết là đứa con của Salomon vừa mới bị giết ở Varsovie.
Không ai biết gì về hành tung của ông bà Isaac Salomon cả trừ chuyện họ là nạn nhân của chủ nghĩa phát xít và bà Salomon là một trong những người đàn bà giàu nhất khu Do Thái ở Stuttgart. Petrovici ngỏ ý :
- Tôi đến xin bà một cái áo cho vợ một người bạn vừa bị mất cắp và không còn gì để mặc nữa.
Bà Salomon mở va ly và trao cho Petrovici hai cái áo đã cũ. Trong phòng, chỉ có một giường nằm, hai ghế, một bàn gỗ với nhiều va ly chồng chất lên nhau.
- Tôi đã được di cư sang Argentine.
Bà Salomon chỉ bức ảnh một trang trại đặt trên đầu giường bảo :
- Tôi cũng sắp di cư. Đó là một trang trại tôi mua được ở Gia nã đại. Chúng tôi hy vọng sẽ khởi hành trong vài tuần nữa.
Trang trại có ngôi nhà hai tầng và nhiều phòng rộng.
- Isaac đang lo chạy áp phe. Chiều mai anh ấy mới về với số tiền cần đủ cho chúng tôi đi Gia nã đại. Chắc là lần áp phe chót của anh ấy đó. Sau đó chúng tôi sẽ đi xa và yên ổn sinh sống.
Petrovici biết là Motok cùng đi với Isaac Salomon để lén lút bán mấy chiếc cam nhông hàng hoá trong vùng Sô Viết, nếu họ không bị bắt họ sẽ giàu to. Petrovici muốn về, nhưng bà Salomon cản lại :
- Aurel Popesco sẽ đến đây. Ở lại đây chơi chút đã.
Salomon bắt đầu nói về trang trại của bà ở Gia nã đại qua bức ảnh. Nàng ăn mặc thật sang với toàn đồ trang sức đắt tiền, giày dép đều đắt giá và theo kiểu Mỹ.
- Tôi nóng lòng rời bỏ người Mỹ cũng như hồi xưa tôi muốn trốn thoát trại tập trung. Thật ra người Mỹ đã chiến đấu để giải phóng người Do Thái ra khỏi các trại tập trung và hủy bỏ chủ nghĩa chống Do Thái. Ngày chiến thắng đã đến rồi. Và chúng tôi lại được quản thúc trong khu phố này, được ăn ở miễn phí, được tự do làm gì thì làm. Chúng tôi có thể trở nên triệu phú nhưng vừa lúc chúng tôi kiếm được tiền là người Mỹ đến đây để tịch thu ngay. Isaac đã nhiều lần giàu có. Nhưng đều bị quân cảnh lấy không còn một xu dính túi. Chưa đủ, lúc mà một đô la đến tay người Do Thái thì nó không còn giá trị gì nữa cả. Người Do Thái chúng tôi không trả tiền để du lịch được, không thể mua nhà được vì họ cấm chúng tôi trả tiền bằng đô la; chỉ còn một cách là mỗi khi kiếm được tiền chúng tôi đem chôn đi.
Nhưng chúng tôi cũng kiếm cách để giải quyết nỗi lo ngại đó, bằng cách là chúng tôi chia đôi tiền có được với một người Mỹ nào đó để họ chuyển cho chúng tôi sang Gia nã đại. Vài tuần nữa chúng tôi sẽ bỏ khu phố này mà đi.
Vừa lúc đó thì Aurel Popesco và Varlaam đi vào. Bà Salomon dấu vội tấm hình trang trại, nhìn hai người vừa đi vào và nhận ra Varlaam ngay. Đúng là viên sĩ quan đã đến Bucarest đòi cư ngụ trong ngôi nhà của bà bị chánh phủ tịch thu, nhân danh những luật lệ về chủng tộc. Nhưng Varlaam không nhận ra bà Eddy. Bà cố nhắc :
- Hình như chúng ta đã gặp nhau rồi thì phải.
Varlaam nhìn thật kỹ và không thể nhận ra nổi. Bà Salomon chắc chắn:
- Tôi chắc là chúng ta đã gặp nhau một lần.
Nhưng sau đó, bà không nhắc câu nói đó nữa mà chỉ nghĩ «Mình già đến độ người ta không nhận ra nữa ư?» cũng với ý tưởng đó, nỗi buồn to tát xâm chiếm tâm hồn bà. Varlaam quả quyết:
- Tôi không nghĩ là chúng ta đã gặp nhau. Với lại trí nhớ tôi khá lắm.
- Thôi chả quan hệ gì. Nói về công việc thì hơn. Ông bạn Aurel Popesco có nói với tôi là ông muốn di cư, nhưng ông bị tất cả các phái đoàn từ chối. Tôi có thể cho ông một cơ hội để trở về làm phi công như cũ. Muốn thế ông phải ký hợp đồng với Israel. Ông sẽ gia nhập không quân Do Thái với cấp bậc cũ mà ông đã có, nghĩa là trung úy phi công. Với tiền lương đầy đủ cộng với phụ cấp công vụ. Hợp đồng có giá trị trong suốt thời gian có chiến tranh giữa Do Thái và Ai Cập.
Bà Salomon giải thích thêm:
- Thay vì phải ở lại Đức lén lút bán bơ và thuốc lá với viễn tượng mỗi ngày là sẽ vào tù với những tên du đãng, ông nên làm chiến sĩ thì hơn. Về phương diện tinh thần thì thật là một vinh dự khi chiến đấu để bảo vệ cho Thánh địa Palestine.
Nghĩ đến các nước bên kia Đại dương không thèm chấp nhận mình làm thợ đốn củi, hay là quét nhà, Varlaam đáp ngay:
- Tôi nhận lời.
- Nhận lời thôi chưa đủ. Ông phải ra đi ngày mai tức khắc.
- Chả có gì giữ tôi lại nơi đây cả.
Bà Salomon chỉ thêm vài thủ tục cần làm, phải đi đến văn phòng quân sự trước mặt để ký hợp đồng, hay chụp hình và may quân phục.
- Ông sẽ ra đi trong bộ đồng phục sĩ quan của Do Thái, nhưng đừng mang tên cũ nữa.
- Nhưng có cần đổi tên lắm không?
- Ông cần có một tên Do Thái, lúc mà ông mang quân phục Do Thái.
Để tôi kiếm cho. Ông thích tên David không, tên có vẻ chiến sĩ lắm đó. Tiếp theo là Ozias, tên hay đó, phi công David Ozias của không lực Do Thái.
Bà Salomon đưa cho Varlaam 500 đô la, như là tiền đặt trước. Trước khi đi, Varlaam sẽ nhận lương một tháng bằng đô la. Bà Salomon hỏi:
- Ông biết giá tiền trên thị trường chứ nhỉ? Nói vậy chứ về tiền tệ đổi chác chắc với ông là một việc lạ lùng. Hiện nay giá trị con người ở ngân hàng Mạc tư khoa là một con số không. Ở Nữu Ước cũng không hơn không kém. Các phái đoàn bên Đại Tây Dương đến Đức mua người với một giá rẻ mạt, rẻ hơn cả một vé tàu hạng ba trên tàu thủy. Vì thế mà họ mua theo kích thước và sức nặng rồi chở lên tàu như súc vật. Trước khi đi ông sẽ nhận hơn hai ngàn đô la. Như vậy là tại ngân hàng Tel Aviv nhân vị cao hơn hết. Tôi nghĩ là hiện tượng đó có được là vì Israel là một quốc gia có tín ngưỡng. Trong một quốc gia như thế thì con người còn một chút giá trị. Tiếc thay Israel là quốc gia sùng đạo duy nhất trên thế giới.
Varlaam đã muốn đi. Nhưng bà Salomon gạn hỏi:
- Nhìn kỹ tôi một lần nữa xem có nhận ra tôi không?
Varlaam nhìn mái tóc đã bạc, đôi mắt đã nhăn chung quanh và trả lời :
- Thưa bà, tôi chưa bao giờ gặp bà.
Bà Salomon ứa lệ, nhưng ráng vui :
- Đừng quên tên ông đó nghe, David Ozias.
Cùng lúc, nàng nghĩ «Mình đã già lắm rồi».
*
Aurel Popesco bắt đầu nói chính trị như thói quen của ông ta.
- Trong vài ngày nữa sẽ có hội nghị của những quốc gia Âu châu bị Nga Sô chiếm đóng. Tôi đã cho người Hoa Kỳ biết rằng hội nghị đó là một biến cố chính trị hết sức quan trọng của thời đại này. Những lãnh tụ đảng Cộng sản Đông Âu muốn tách rời Nga Sô để thành lập một liên minh các nước Cộng sản quanh sông Danube. Chủ tịch liên bang sẽ là vị thống chế những người Slaves miền Nam. Mạc tư khoa đã biết rõ kế hoạch đó, và đã dùng Boris Bodnariuk trong công tác ám sát vị thống chế đó, trong lúc đó Hồng quân sẽ đổ bộ lên bờ Địa Trung Hải, có thể Hồng quân sẽ tiến đến Ý Đại Lợi. Tôi đã báo động cho Hoa Kỳ, và như thế không những tôi đã cứu Ý Đại Lợi và Vatican mà cứu cả nền văn hóa Tây phương; nhờ tôi mà quân đội Mỹ biết được đà tiến của Nga Sô. Chính tôi và ông bạn Milan Paternik đã có công cứu vớt Tây phương khỏi sự xâm lăng của Nga Sô.
Ante Petrovici chua chát:
- Ông bỏ thì giờ để cứu vớt một nền văn hóa và để giết người luôn thể. Ông giết người đã cứu nền văn minh, cứu văn hóa, cứu giáo hội ư? Hãy cứu người đi đã, và điều đó đáng hơn là cứu nhân loại. Bởi vì không có nhân loại, chỉ có người và con người mà thôi, ông bạn Aurel Popesco!
Nói xong, Petrovici cám ơn Salomon về hai cái áo, và ra về, ông ta đi cà nhắc hơn bao giờ hết.
IX
Aurel Popesco thì cố giải thích cho bà Salomon vì sao các vị lãnh tụ cộng sản các quốc gia bị Nga chiếm đóng muốn chống đối Mạc Tư Khoa, vì sao Sô Viết sẽ giết thống chế những người Slaves miền Nam và lợi dụng cơ hội đó để tiến vào Đông Âu.
Trong lúc đó bà Salomon chỉ nghĩ đến trang trại của bà ở Gia nã đại. Bà lơ đãng nhìn ra cửa sổ thấy Varlaam ở văn phòng quân sự đi ra.
- Chính trị không liên quan gì đến tôi cả.
Nói xong, bà mời Aurel Popesco xuống lầu. Trời xẩm tối. Tất cả người Do Thái đều ra đường trước nhà. Trong tất cả khu phố của người Do Thái, đâu đâu cũng có hiện tượng đó. Lúc hoàng hôn xuống, người Do Thái nào cũng bỏ nhà, xuống phố để nghe ngóng tình hình. Sợ hãi đã thấm tận xương tủy. Cho nên trước khi vô nhà, gài cửa đi ngủ, họ phải ra đường để lấy tin tức về giá cả tiền tệ, về chính trị, về các phong trào chống Do Thái. Họ hỏi hết tất cả vấn đề để xem thử nên ngủ hay cần phải thức trắng đêm, để tính toán xem thử có gì đến với họ trong đêm, và họ có thể ngủ yên hay không. Aurel Popesco nhìn những người Do Thái đang tụm năm tụm ba trên đường phố. Bỗng nhiên xe cam nhông và xe quân cảnh Mỹ xuất hiện, bao vây khu phố. Bà Salomon giải thích:
- Họ lại đi kiếm đô la đó. Cứ mỗi tuần hai, ba lần, quân cảnh Mỹ xuất hiện nơi đây khi người ta báo cáo là có một vụ làm ăn mang lại khá nhiều đô la. Họ đến tịch thu hết đô la xong rồi lẹ làng chuồn đi. Ngoài đô la ra, họ không thèm để ý đến điều gì khác nữa.
Lính Mỹ đã bao vây một vài căn nhà. Bà Salomon nói tiếp:
- May mà Isaac không có nhà. Các vụ vơ vét đó đã làm chúng tôi điên đầu.
Cho nên ông thấy là tôi khoái bỏ đi lắm, chỉ khi nào đi khỏi đây chúng tôi mới sống tự do được. Isaac cũng thế, anh ấy không thể chịu đựng nổi. Đã nhiều lần họ lấy hết tiền của chúng tôi, lấy sạch sành sanh chẳng còn đô la nào cả. Bây giờ, họ có lên phòng tôi thì cũng chỉ tìm thấy áo quần dơ thôi.
Bà Salomon và Popesco đành đứng lại nhìn, không bước lên được, đường xá bị ngăn chặn hết.
- Chúng tôi sẽ được yên ổn ở Gia nã đại, ở đó chúng tôi có thể sống như bao nhiêu người khác.
Vào lúc đó có tiếng một vật gì lớn rơi xuống, đám đông la hét om sòm. Lính Mỹ tăng cường hàng rào ngăn chặn. Aurel Popesco nhón chân lên nhìn và bảo:
- Hình như có ai nhảy qua cửa sổ tự tử.
Đám đông vây quanh căn nhà có người tự tử, nhưng không ai đến gần được. Bà Salomon tái mặt, phải vịn vai Aurel Popesco.
- Tôi không còn chịu đựng nổi cảnh tượng này nữa. Giá mà tôi được rời khỏi nơi này càng sớm càng hay.
Xe hồng thập tự chạy đến, vài y tá đem xác chết lên xe. Mọi việc chỉ xảy ra trong vài phút.
Eddy Thall nhờ Aurel Popesco dẫn về phòng:
- Tôi kiệt sức rồi, không lên lầu một mình được nữa.
Họ rẽ đám đông đang bàn tán về vụ tự tử để trở về phòng.
Bà Salomon cảm thấy cái gì trơn ướt dưới chân. Thì ra bà đang đi trên vũng máu, đúng chỗ mà người chết vừa lao xuống. Eddy Thall muốn hỏi thử ai vừa mới tự tử, nhưng cặp mắt bà cứ trơ tráo nhìn vũng máu trên đường nhựa, vũng máu mà bà vừa bước chân lên, đôi giày hoa mỹ kiểu Hoa Kỳ đã dính máu. Vừa bước lên lầu, bà vừa thấy trước mặt hình ảnh vũng máu, chiếc xe hồng thập tự và đám đông đang vây quanh bà.
Một người Do Thái vừa nhảy qua cửa sổ tự tử, và điều đó xảy ra sau ngày chiến thắng. Vào lúc mà người Do Thái đã là sở hữu chủ những trái bom nguyên tử và viên giám đốc kỹ nghệ nguyên tử, Lilienthal, lại là một người Do Thái cùng quê hương với Lidia. Bà Salomon vẫn nói :
- May mắn là chúng tôi sẽ đi Gia nã đại.
Bà ta đã chóng mặt phải tựa lên tay Aurel Popesco mà đi. Bà muốn rửa đôi giày trước khi vào nhà để máu đỡ dính nền nhà.
- Ai tự tử đấy nhỉ?
- Tôi không biết. Người Mỹ chở ông ta vào nhà thương nhưng hắn chết rồi.
Vào phòng, bà Salomon nằm dài xuống giường.
- Làm ơn cho tôi thức gì uống, lạnh càng tốt. May là chúng tôi rời bỏ nơi nầy, từ giã cái xứ bạc bẽo nầy. Sung sướng mà đi được. Nếu Isaac có thể về sớm hơn được nhỉ? Nhưng mà Isaac chỉ trở về vào ngày mai khoảng 6 giờ và từ đây cho đến 6 giờ chiều mai, tôi phải ở đây một mình, cô đơn quá.
Bà khóc nho nhỏ. Qua làn nước mắt, bỗng bà thấy cái mũ của Isaac trên ghế. Bà mở to mắt ngạc nhiên. Rồi trên giường có cả áo choàng của Isaac đó nữa. Bà vùng dậy tưởng mình mê ngủ:
- Isaac về rồi hả? Anh ấy đâu rồi?
Cửa phòng xịch mở, và hai cảnh sát Do Thái bước vào. Bà Salomon hỏi:
- Isaac về rồi sao?
Hai người cảnh sát vẫn yên lặng. Bà Salomon nhảy chồm về phía họ với bộ áo vết trên tay, liên hồi hỏi Isaac ở đâu, nhưng hai người cảnh sát vẫn không trả lời. Họ bất động cho đến lúc bà Salomon ngả dài trên sân nhà với bộ áo của chồng bà còn trên tay. Hai người cảnh sát ẩm bà lên giường và giải thích:
- Tụi Mỹ ở lầu một, Isaac vội vã bước lên lầu. Rồi tụi Mỹ thấy ông ta bước vào phòng. Vài giây sau, ông ta lao mình qua cửa sổ.
Aurel Popesco hỏi:
- Nhưng mà đúng là Isaac hả?
Hai người cảnh sát cẩn thận nhìn lại bà Salomon đang bất tỉnh.
- Vâng, đúng là Isaac tự tử. Ông ấy là bạn ông? Hình như ông ấy có nhiều đô la và sợ bị tịch thu.
Hai người y tá vào phòng và bắt đầu đánh gió cho bà Salomon đang nằm sấp trên giường.
- Hình như Isaac Salomon bị mệt mỏi quá sức. Điều đó ông là bạn chắc ông hiểu rõ. Vâng, ông ta bị giao động quá mức, nên không thể trách ai về vụ này được. Đúng ra tụi Mỹ không có ý định khám xét nhà ông ấy. Họ rất ngạc nhiên về vụ tự tử này, và đã ngừng ngay cuộc bố ráp.
Trên giường, dưới người bà Salomon có cái cặp của Isaac Salomon đầy ắp cả đô la.
Hai người y tá lật bà nằm ngửa ra cho dễ chịu. Trước khi rời phòng, hai người cảnh sát nói với Aurel Popesco :
- Chào ông. Không phải lỗi của ai cả. Lỗi của người Mỹ lại càng không đúng mấy. Chúng tôi có chứng kiến vụ này. Ngay lúc mà Isaac nhảy qua cửa sổ, người Mỹ đã ngừng cuộc bố ráp.
X
Nguồn tin của Aurel Popesco đúng ngắt. Vào buổi chiều Isaac tự tử, Boris Bodnariuk đã nhận được lệnh ám sát vị thống chế những người Slaves miền Nam.
Sau khi đã loại bỏ hẳn giai cấp trưởng giả, Boris Bodnariuk được thăng chức bộ trưởng bộ chiến tranh.
Hắn đến Niamtz vài ngày bằng phi cơ riêng do ông bạn phi công Anatole Barsov mà hắn đã làm quen trong bệnh viện lái. Phi cơ hạ cánh ở phi trường Piatra được thành lập trên khu đất của nhà Pillat và vườn rau của Ion Kostaky. Nhà Kostaky dùng làm văn phòng. Làng Piatra đã thay đổi rất nhiều. Bodnariuk lên xe hơi. Trước khi tạm biệt, hắn bắt tay Anatole Barsov và viên phi công phụ Igor Poltarev, cầu chúc cả hai vui vẻ.
Đường sá Piatra nay đã rộng rãi và lát gạch. Trong làng đã có một xưởng kỹ nghệ. Giữa thành phố Molda và làng Piatra có một nhà gạch lớn dùng làm nhà tù. Người ta cũng đã quốc hữu hóa đất đai. Đa số nông dân làm việc trong xưởng kỹ nghệ, ăn ở quán, chỉ về nhà ngủ thôi. Nhà của Piatra gần như bỏ hoang. Không còn khói thổi cơm mỗi chiều, vì nông dân từ xưởng về muộn vội vã đi ngủ rồi lại ra đi vào tảng sáng. Không còn ống khói trên nhà, không còn rào dậu quanh nhà. Chó mèo cũng vắng bóng, hoa cỏ hiếm hoi. Người cũng ít khi xuất hiện trong làng, trừ ngày chủ nhật. Ngay cả vào ngày nghỉ, họ cũng phải đến phường hội họp, nên nhà nào cũng vắng vẻ cả.
Xe Boris đã lên đến khu rừng thông. Boris hài lòng:
- Lần đầu tiên, nhờ Sô Viết mà con người không phấn đấu riêng rẻ cho đời sống. Cá nhân không còn lo âu cho ngày mai nữa. Bởi tất cả đều chung lưng làm việc. Thật là một công trình vĩ đại hữu ích cho con người. Thế mà họ lại chống đối. Cho nên lũ đó phải bị loại bỏ để cho cuộc cách mạng đầu tiên vĩ đại trong lịch sử có thể hoàn thành được.
Trong một biệt thự ở khu rừng thông, Boris phải soạn một bài diễn văn cho hội nghị các quốc gia Đông Âu. Và hắn được nghỉ ngơi ba ngày, trong cái yên tĩnh của khu rừng. Boris quấn chặt khăn cổ, gài nút áo, chui vào mền đắp kín chăn. Chưa bao giờ hắn được nghĩ ngơi. Đây là lần đầu tiên dưỡng sức trong đời. Trong ba ngày, hắn được ở một mình trong núi rừng yên tĩnh.
Trong lúc đó thì Anatole Barsov và Igor Poltarev nghỉ ở trong làng Piatra, thong thả uống rượu Vodka.
Barsov được xa vợ ít hôm là một điều hạnh phúc, bởi vợ hắn cãi vả suốt ngày làm hắn đâm ra chán nản. Hắn không trách gì Olga, chỉ nghiệt là bà ta cứ kiếm chuyện rầy la hắn mãi. Vợ hắn như là chong chóng, quay mãi không bao giờ ngừng. Igor mở chuyện:
- Tối nay mầy sẽ không cãi cọ với Olga nữa đâu. Không tối nay và không tối nào nữa cả. Bà ta chỉ còn cãi vả với mấy bức tường, vì chúng mình sẽ đi tối nay.
- Đi đâu mầy?
- Như là tụi mình đã định. Đã có đủ xăng. Bay từ sân bay Piatra này thì cũng dễ như ở Bucarest. Xăng có đó, tao sẽ chỉ cho mầy xem.
Barsov nhớ rõ từng câu nói của họ mấy tháng trước. Một hôm, cả hai cùng đi công tác chung. Poltarev đã từng đi công tác ngoại quốc. Hắn biết rõ Luân Đôn, Ba Lê, Nice, Bá Linh... kể chuyện xong, Poltarev hỏi thẳng Barsov:
- Mầy muốn trốn với tao sang Mỹ không?
Barsov giận dữ:
- Tao không muốn làm một kẻ phản bội.
- Tao cũng thế, tao không phải là kẻ phản bội. Tao đặt vấn đề cho mầy xem trước đã. Mầy không đồng ý với vợ mầy và với cấp chỉ huy mầy ở không đoàn. Mầy là bạn của ông bộ trưởng Bodnariuk, đúng đấy, nhưng hắn ta bận việc hoài không bao giờ nói chuyện với mầy cả. Tao hỏi mầy thử mầy có muốn lấy máy bay trốn đi, xa Olga, xa không đoàn, xa nợ nần, xa luôn cả chương trình hằng ngày không? Xa tất cả. Bay sang một xứ xa lạ nào đó, tự do làm giàu, không còn ràng buộc vợ con, cấp chỉ huy.
Barsov nhớ rõ mồn một câu chuyện đó: «Tao thì nghĩ mãi vấn đề này, Poltarev nói tiếp, tưởng tượng là tao lên máy bay với người bạn thân đi đến một nơi nào xa lạ. Nghĩ thế và tao thấy được một viễn ảnh đẹp nhất đời tao như là lúc uống rượu, tắm nắng».
- Mầy không hiểu đó là những giấc mơ phản động sao? Tao sẽ tố cáo mầy lên cấp chỉ huy.
- Mầy là bạn thân của tao, mầy không tố cáo tao đâu.
- Nhưng trước tiên tao là một người lính và một công dân Sô Viết, bạn mầy chỉ là điều thứ yếu.
- Mầy sẽ không tổ cáo tao, không có gì xấu xa trong câu chuyện tao nói với mầy cả. Tao biết mầy cũng ước mơ được ra đi trên một chuyến bay đến tận cùng thế giới. Phi công nào cũng mơ ước như thế.
- Tao có mơ ước chứ, cũng mơ ước bay thật xa, nhưng cùng lúc đó, tao cũng mơ ước trở về, đáp trên mảnh đất Sô Viết mà tao yêu mến và nguyện trung thành.
Poltarev bình thản nói thêm:
- Tao cũng thế, tao thích trở về trên mảnh đất Sô Viết, bởi vì tao cũng trung thành và yêu mến tổ quốc nhưng mầy phải công nhận là sau những giờ bay trên nền trời xanh thẩm, lúc mà tất cả đều ở dưới chân mầy, thì thật là khổ tâm nếu phải trở lại trái đất, chịu đựng những cặp mắt xoi bói của tên chỉ huy trưởng vì mầy không gài nút áo đàng hoàng.
Poltarev khéo nói lắm:
- Mầy thấy chưa, trở lại trái đất là một điều khổ tâm cho một người phi công. Trái đất xấu xa, chật hẹp và dơ bẩn. Trái đất không giống bầu trời tí nào cả. Sau mỗi lần bay, tâm hồn mầy sẽ bực bội với ý nghĩ là sẽ trở về trái đất trong một căn hầm, trả nợ, làm tiền, thi hành những mệnh lệnh ngu xuẩn, cãi vả với chỉ huy trưởng, với bà mẹ vợ và vợ mầy, chịu đựng những mỉa mai của bạn bè. Trở lại với tất cả những điều đó thì chán lắm, nhất là sau khi đang bay bổng trên trời mà mầy làm chủ hết mọi việc, mà các ngôi sao nở trên vai mầy như là huy hiệu thống chế. Thành ra mầy không thể không có cùng những ý nghĩ như vậy. Tất cả phi công nào cũng mơ ước như thế cả.
Bây giờ ngồi trước Poltarev, Anatole Barsov nhớ rõ mồn một buổi nói chuyện hôm đó, sở dĩ thế là vì từ sáu tháng nay hắn cũng nghĩ nhiều về điều đó, nghĩ về từng câu nói trao đổi giữa hai bên. Hắn đã trả lời Poltarev như thế này: «Trên quan điểm của mầy thì mầy có lý lắm, nhưng chúng mình trước tiên là những công dân Sô Viết, thứ đến mới là phi công chứ».
Cuội nói chuyện chấm dứt ngang đó, sau này lại chính Barsov đã khơi mào trở lại câu chuyện :
- Mầy biết là tao cũng muốn lái máy bay trốn đi, với một người bạn và không bao giờ trở lại không đoàn nữa.
Poltarev hỏi lại cho chắc ăn :
- Mầy nghĩ là nên làm thế hả?
- Vâng, tao nghĩ đến điều đó mỗi tối, và tao phải công nhân đó là những giờ phút đẹp nhất trong ngày.
- Đúng là mầy đã tìm thấy một thứ hạnh phúc trên đời. Dạo này mầy it uống rượu và mập ra, ít cáu kỉnh. Người ta bảo một giấc mơ cũng làm cho cuộc đời êm đềm hơn.
- Nếu ai nghe chúng mình nói thế, cả hai đều bị bắt mất. Chúng mình sẽ bị khổ sai chung thân, vì điều nầy quan hệ lắm.
- Mơ mộng mà cũng bị tội nặng sao?
- Tất cả tội ác và phản bội đều bắt nguồn từ giấc mơ. Vì thế mà đồng chí Boris Bodnariuk đã bảo là giấc mơ cũng bị trừng phạt nặng như hành động. Từ giấc mơ qua sự thật chỉ có một bước ngắn ngủi, nên công lý phải trừng phạt giấc mơ cũng như hành động, phải trừng phạt tội ác trong giấc mơ và tội ác đã phạm ngang nhau. Vả lại, tao nhận thấy là công lý Sô Viết đã bắt đầu làm như thế rồi. Cho nên, trong lúc mơ mộng tao có cảm tưởng là đã phạm trọng tội.
Poltarev thúc giục:
- Nếu vậy thì mầy có đủ can đảm thực hiện điều đã mơ ước không nghĩa là leo lên máy bay và lái đi xa?
- Không, không bao giờ tao phản bội.
- Nhưng nếu mầy đã mơ ước thì có ngày mầy sẽ hành động, đã phản bội trong giấc mơ thì có ngày sẽ phản bội trong hành động.
Cuộc cãi cọ đã đến hồi gay gắt. Barsov dọa sẽ trình lại với Boris. Poltarev khéo léo nói :
- Nhưng, mầy cũng phải khai trước tòa án là mầy đã mơ ước trốn đi mỗi tối, phải khai là mầy mơ ước làm sao đánh cắp một chiếc máy bay để đào ngũ. Và khai như thế có nghĩa là thế nào mầy biết không? Đào ngũ bằng tưởng tượng nhưng chưa thực hiện vì thiếu phương tiện. Quan toà thừa biết là nếu mầy đã đủ xăng nhớt, mầy sẽ thực hiện giấc mơ ngay. Và họ sẽ kết án mầy như tao.
- Không, tao không phải là kẻ phản bội. Mầy là một thành phần nguy hiểm. Tao không tố cáo mầy, nhưng tao tránh không nói chuyện với mầy nữa kể từ chiều nay. Tao không muốn phản bội.
Poltarev lại bào chữa:
- Không phải là một điều phản bội. Đó là chuyện thường tình của một phi công. Phi công thường mơ ước bay thật xa. Cho nên không thể cho điều đó là phản bội đất nước Sô Viết. Ông bạn Barsov ơi, đó là lòng trung thành của phi công với trời cao. Phi công chúng ta gần với trời cao hơn. Nếu bảo chúng ta phản bội thì tất cả phi công đều phản bội cả vì phi công nào cũng mơ ước như thế. Vài phi công mơ ước bay xa, họ phản bội không riêng gì quê hương mà phản bội tất cả trái đất. Và dĩ nhiên, trời xanh thì đẹp đẽ, còn đất thì dơ bẩn và xấu xí. Vì vậy nên tại sao mầy là một phi công thực thụ, mầy sẽ bay xa với tao. Hơn nữa, mầy cũng thích xa hoa, tiền bạc, âm nhạc, đàn bà, tất cả những gì đẹp đẽ, mầy sẽ bay với tao để thực hiện giấc mơ mỗi tối của mầy.
Barsov giận dữ:
- Để thực hiện giấc mơ phản quốc?
- Tao cũng yêu tổ quốc chứ, đi đâu thì tao cũng yêu nhớ về tổ quốc. Nhưng tao sẽ đi với mầy như tao đã từng mơ ước. Tao sẽ tổ chức đời sống của tao tùy theo sở thích. Tao muốn biết các nước khác như thế nào, tao muốn có tiền, muốn nhảy đầm, nghe nhạc, có người yêu trẻ đẹp, lịch sự. Và chuyện đó có phải là chuyện phản bội đâu.
- Mầy không phải là công dân Sô Viết, mầy là một tên phản quốc.
- Tao đã trữ 100 lít xăng. Lúc nào tao có đủ, tao sẽ cho mầy biết. Tao sẽ gọi mầy, mầy nhớ đến ngay.
Tối đó, Barsov không tố cáo Poltarev, ngày sau cũng thế. Nếu gặp lại Boris thì hắn đã kể hết, nhưng Boris đã đi xa. Barsov không thể thổ lộ với ai cả. Vài ngày sau, Poltarev bảo:
- Chúng ta sắp đi rồi. Tao rất mừng là mầy đã nhận lời. Bay với người bạn thân thì thích lắm. Với lại tao cũng không thể bay một mình được.
- Ô hay, tao đã nhận lời gì đâu.
- Mầy không tố cáo tao dù mầy đã thấy tao trữ nhiều xăng có nghĩa là mầy nhận lời trốn đi với tao. Bây giờ, tố cáo tao thì cũng trễ rồi. Nếu mầy tố cáo tao, mầy cũng sẽ bị bắn.
Poltarev cười to, và khuyên Barsov lấy xăng thêm nữa. Barsov vẫn từ chối. Hắn vẫn vừa suy nghĩ vừa nhìn những ngôi nhà vắng vẻ ở Piatra, rồi uống thêm một ly rượu. Poltarev vội thu chai rượu đi.
- Đừng uống nữa. Vài giờ nữa phải đi rồi. Tất cả đều sẵn sàng. Tao đã có đủ xăng.
- Nhưng tao không muốn đi, tao muốn chết hơn là phản bội.
Poltarev chỉ máy bay đậu trên sân và nói:
- Từ chối bây giờ thì quá chậm. Ở bên kia, hạnh phúc đang chờ chúng mình. Mầy biết là phi công lương tháng bao nhiêu ở Mỹ không? Hơn cả tiền mình kiếm được ở đây một năm. Và nếu mầy biết là cuộc đời ở đó đẹp lắm, chắc mầy sẽ cám ơn tao nhiều.
- Nhưng tao không nhận lời phản bội.
Barsov vừa nói vừa nhìn chiếc phi cơ và lập lại:
- Tao không thể phản bội được.
- Tao đã giấu xăng trong mấy hộp thức ăn ở hầm máy bay. Có đủ để bay xa rồi.
- Nhưng nếu tụi Mỹ bắt hai đứa mình và trả lại cho Sô Viết?
- Thôi đừng sợ nữa. Tao bảo đảm với mầy là tám ngày nữa tụi mình đã ở trung tâm Nữu Ước với thuốc lá trên môi và túi đầy ắp tiền.
- Mầy bảo đảm thế à? Làm sao mầy chắc chuyện đó được?
- Bởi vì tao đã ở ngoại quốc và tao biết chuyện rõ lắm rồi.
Cả hai cùng yên lặng ngắm chiếc máy bay. Barsov nghĩ đến Olga và nói:
- Tao đi với mầy.
- Nếu có chuyện gì xảy ra tao tự tử. Và thế là đúng lắm. Một kẻ phản quốc phải chết. Tao đã là một kẻ phản quốc, phản quốc từ ngày đầu tiên tao bằng lòng nói chuyện với mầy cách đây sáu tháng.
Và hai giờ sau họ bước lên máy bay thì Barsov mới cảm thấy sung sướng. Hắn ta nói với Poltarev:
- Tao sung sướng đã trốn đi thế này, như chưa bao giờ sung sướng thế.
- Hạnh phúc sẽ có trong tương lai. Cuộc đời chỉ mới bắt đầu thôi. Mầy không hiểu là đời đẹp lắm đấy. Mọi người mơ ước được bỏ đi. Mầy có may mắn lớn lao đã được đi như mầy đã từng mơ ước.
Thế là chiếc máy bay của ông bộ trưởng chiến tranh Boris Bodnariuk của Lỗ ma ni hướng về phương Tây, phía Áo quốc. Barsov bảo: «Đây là giờ trọng đại nhất của đời tao». Bởi vì lần đầu tiên trong đời phi công, hắn mới cảm thấy hắn bay thật sự bay trong tự do, như những con chim bay theo ý muốn - Một chuyến bay thực sự.
XI
Bốn giờ sau cuộc đào ngũ của hai phi công đó, Boris vẫn không hay biết gì cả, bởi vì Boris vẫn còn nằm trong biệt thự trên đồi thông. Cho dù có giường nệm êm ái, hắn vẫn không thể ngủ được. Hắn còn phải thảo bài diễn văn phải đọc trước hội nghị Bucarest nhân lễ kỷ niệm nữ anh hùng Tinka Neva và sự thành lập liên ban các nước cộng hòa nhân dân Sô Viết quanh sông Danube. Không chịu nổi tiếng tích tắc của đồng hồ, hắn đứng lên cho đồng hồ dừng lại. Nửa đêm, bỗng có xe đậu lại trước biệt thự, hai vị đại tá Sô Viết đi vào, Boris đoán là có việc hệ trọng xảy ra. Một người bảo ngay:
- Sô Viết lại bị phản bội một lần nữa. Thống chế những người Slaves miền Nam từ chối không đến Bucarest để dự hội nghị các nước cộng hòa nhân dân quanh sông Danube, hắn vẫn ở yên trong dinh có hai trung đoàn canh gác. Trong vài ngày hắn sẽ hủy bỏ hòa ước với Sô Viết.
Boris giận run lên. Hắn đã thông báo cho Mạc tư khoa bao nhiêu lần về việc thống chế những người Slaves có liên lạc với Tây phương, về việc ông ta bỏ hội nghị liên bang để xa rời hẳn Sô Viết và liên hiệp với các nước tư bản. Boris thừa biết là việc phản bội này không phải vì tiền cũng như vì dị biệt ý thức hệ, mà chỉ vì vị thống chế đó là một kẻ kiêu ngạo, hắn muốn trở thành quan thầy, một kẻ độc tài. Trong khuôn khổ các nước cộng hòa của liên bang Sô Viết, điều đó không thể nào có được, nên ông ta phải đánh ván bài Hoa Kỳ vậy.
Người Mỹ đã hứa với ông ta (với điều kiện là ông ta đoạn giao với Sô Viết) là sẽ để cho ông ta làm chủ tịch liên bang các nước Lỗ, Bảo Gia Lợi, Hung Gia Lợi, Nam Tư, Albanie, Áo Quốc. Và lúc ông ta đã được bảo đảm trở thành quan thầy nhờ người Mỹ, ông ta đã phản bội. Boris vừa mời nước vừa cáu kỉnh nói:
- Tôi đã chắc là tên thống chế đó sẽ phản bội. Hắn với tôi là bạn thân, nhưng ngày mà tôi thấy hắn nuôi con chó trong nhà một cách đam mê, tôi biết chắc hắn sẽ phản bội trong tương lai. Người nào có đam mê một điều gì đương nhiên sẽ là một kẻ phản bội. Người nào đam mê một con chó không thể là một người cộng sản. Với lại, hắn ta còn có một đời sống quá xa hoa. Hắn mặc y phục còn sang hơn cả Goering. Khăn choàng viền vàng, áo quần bảnh chọe, biệt thự huy hoàng. Cho nên đương nhiên là có ngày hắn sẽ phản bội. Hắn đã phản bội giai cấp công nhân. Chỉ cần nhìn bộ áo và con chó là biết ngay hắn sẽ phản bội. Mỗi lần tôi trông thấy con chó của viên thống chế đó, tôi muốn rút súng ra bắn chết con vật trước mắt hắn. Tên đảng viên cộng sản gan dạ đó chỉ vì con chó mà phản bội, bởi vì các đam mê khác sẽ tiếp theo cái đam mê đầu tiên là lòng yêu thích con chó.
- Mạc tư khoa muốn đồng chí đến xứ Slaves miền Nam. Tên thống chế đó phải bị bắt hay bị giết trước khi hắn công bố kế hoạch phản bội.
Ông đại tá kia nói tiếp:
- Chúng ta hiện có năm sư đoàn trong nước, ngày mai nhiều sư đoàn khác từ Lỗ ma ni, Áo Quốc và Hung Gia Lợi sẽ vượt sông Danube. Đồng chí có quyền sử dụng một phi đội đã sẵn sàng. Tùy theo nhu cầu, chúng tôi có thể điều động số máy bay mà đồng chí yêu cầu. Mạc tư khoa muốn đồng chí có mặt ở biệt thự tên thống chế đó. Ngay trong biệt thự đồng chí có sẵn một tiểu đội cảnh sát, một tiểu đoàn nhảy dù và một phân đội nghĩa quân Albanie mà đồng chí có thể tin cậy được. Tất cả đều đã được huấn luyện kỹ càng và sẽ đột nhập vào biệt thự. Tôi sẽ cung cấp đầy đủ chi tiết của kế hoạch lúc đi trên máy bay. Mạc tư khoa rất tin tưởng khi trao nhiệm vụ này cho đồng chí. Tên thống chế đó là bạn thân của đồng chí, hắn chưa hề nghi ngờ gì đồng chí cả. Dù sao hắn ta phải bị bắt hay bị ám sát trong 48 giờ tới đây, nghĩa là trước khi âm mưu phản bội của hắn được công khai hóa.
- Tên thống chế đó biết là đồng chí sẽ đến thăm hắn ngày mai, và hắn đã xác nhận trên đài phát thanh là hắn đang chờ đồng chí. Đồng chí là con người duy nhất có thể vào được cái ổ đó để giết con rắn độc. Bây giờ phải hành động gấp.
Boris vội vã mặc áo, vừa nghĩ thầm: «Một người cộng sản thực sự không được có một đam mê nào cả, phải vươn lên khỏi đời sống nô lệ, nhất là không còn bản năng bảo thủ. Phải hy sinh đời sống của chính mình cũng dễ dàng như hy sinh một chiếc áo, một ống điếu, vì tất cả đều thuộc về Sô Viết, kể cả mạng sống.
Boris suy tính về chương trình loại bỏ tên thống chế. Trong gian nhà bên cạnh, hai đại tá đang đùa giỡn với con ở, Boris bực mình. Hắn ghét đàn bà, vì đàn bà có thể là một đối tượng đam mê của người cộng sản, đàn bà vốn là kẻ thù của hắn, của đảng và của Sô Viết. Bỗng một người dừng trước cửa, đưa cho Boris một điện tín:
«Phi cơ của đồng chí đã vượt biên giới và đáp xuống khu vực người Mỹ ở Đức. Đào ngũ có tính toán trước của hai viên phi công Igor Poltarev và Anatole Barsov. Xem lại các tài liệu có bị mất hay không.»
Boris xé bức điện tín và đốt đi. Hắn muốn bình tĩnh nhưng không thể được. Vốn đã căm thù kẻ phản bội nhưng chưa bao giờ hắn ghét kẻ phản bội bằng đêm nay. Hắn mơ ước có một điều là bóp cổ viên thống chế có con chó nuôi trong nhà để trả thù cho tất cả những vụ phản bội từ trước và sắp xảy ra, từ Natacha đến Barsov, Poltarev và mọi người.
Và chính với bầu máu nóng đó mà hắn bước lên máy bay cùng hai tên đại tá Nga Sô. Họ cùng bay về biệt thự tên thống chế phản bội, bay đến ổ rắn độc. Lúc máy bay cất cánh từ phi trường Piatra, Boris nói:
- Tôi muốn là chỉ một viên đạn sẽ giết một lúc tên thống chế và con chó của hắn.
XII
Vài ngày sau hôm Isaac Salomon tự tử, bác sĩ Ante Petrovici đến nhà Daniel Motok. Ông này bảo :
- Tôi mới bác sĩ đến đây để nhờ một việc. Tôi buôn lậu với Isaac Salomon, bây giờ cảnh sát đang truy tầm, thế nào tôi cũng phải đi. Nếu Gia nã đại, Úc, Argentine nhận tôi thì tôi đã không đi buôn lậu. Bây giờ nếu tôi bị bắt, tôi bị năm năm tù. Hôm nay tôi phải trốn qua Hoa Kỳ trong hai giờ đồng hồ nữa và mong bác sĩ giúp cho tôi.
Phòng Motok đã sắp đặt có thứ tự. Một va ly để trên giường và chiếc tủ gỗ lớn ở đằng sau cửa. Motok nhìn đồng hồ và bảo :
- Họ đã mời tôi trình diện nhiều lần rồi, nên họ có thể đến đây bất cứ lúc nào. Tôi có biết là lính Mỹ có quyền gởi về nhà những chiến lợi phẩm lấy được ở Âu châu. Họ có toàn quyền gởi bất cứ thứ gì để ghi lại chiến công của họ trong cuộc thánh chiến giải phóng Âu châu, để trang hoàng nhà cửa. Và tôi đã tạo được một kiện hàng này.
Motok chỉ một cái két mới nguyên có đề tên : Bà Blanche Schmith New York City N.Y.
- Tôi sẽ chui vào két này. Người lính Mỹ John Schmith khoảng sáu giờ sẽ đến đây nhận kiện hàng và gởi ra phi trường. Tôi nằm ở trong, nhưng bên ngoài sẽ có chữ chiến lợi phẩm. Nếu tôi không bị chết ngột lúc đi đường thì tôi sẽ đến Hoa Kỳ an toàn. Lúc tôi đã chui vào trong, xin nhờ ông đậy nắp kỹ càng và giao gối hàng này cho John Schmith. Khi hắn đã mang lên xe Jeep xong, ông giao cho hắn ta năm trăm đô la. Tôi chỉ nhờ ông từng ấy việc.
Búa, đinh và đô la đã để sẵn trên bàn. Motok chờ bác sĩ Petrovici trả lời. Ông này hỏi lại :
- Người lính Mỹ có biết là ông nằm trong két không?
- Không, hắn ta nhận các điều kiện sau đây: Tôi cho hắn năm trăm đô la để trả tiền cước chuyên chở, kiện hàng không được nặng quá 500 kg và không được chứa đồ quốc cấm, một người nào đó phải mang kiện hàng từ nhà ra đến xe Jeep. Tôi đã hứa với hắn là tôn trọng tất cả điều kiện trên. Sáu giờ hắn sẽ đến đây. Bà Blanche Schmith là mẹ hắn, nhưng kiện hàng này sẽ đến phi trường Nữu Ước và có người đến nhận ngay.
- Như vậy anh tự xem như là chiến lợi phẩm mà lính Mỹ có quyền gởi về nhà trong trận thánh chiến ở Âu châu?
- Những két chiến lợi phẩm không bị mở ra kiểm soát ở phi trường. Sự kiểm soát hoàn toàn bằng quang tuyến X, tụi Mỹ biết ngay thứ gì ở trong.
- Nếu vậy thì vô lý và nguy hiểm cho anh lắm. Anh quên rằng thân thể con người có chất kim khí và chất mà quang tuyến X có thể thấy được sao? Thân người có bộ xương. Cảnh sát sẽ trông thấy bộ xương anh, dù họ không nhìn được tim, máu cùng nổi tuyệt vọng của anh, mà họ chỉ cần nhìn bộ xương thôi, tất cả những gì còn lại nghĩa là thịt, máu, bộ óc, da con người không quan trọng gì đối với họ cả. Cảnh sát không đánh giá con người ở các thứ đó. Chỉ có bộ xương là quí thôi. Họ sẽ khám phá ra bộ xương sống, xương hàm, xương đầu của anh. Chính quyền sẽ không nhìn thấy trái tim anh, tôi đồng ý, nhưng cảnh sát nhờ dụng cụ tối tân để nhìn được bộ xương anh trong kiện hàng, và không bao giờ họ cho anh lên máy bay. Một bộ xương người không thể nào vượt qua biên giới được.
Motok mở nắp két ra, ở bên trong được lót một lớp giấy thiết lấy từ các gói thuốc lá và chocolat:
- Bộ xương của tôi sẽ được thứ giấy nầy che chở ông khỏi lo. Ante Petrovici đành yên lặng. Motok nói tiếp :
- Két nầy do tôi làm lấy. Tôi có trữ đủ cà phê, sinh tố và rượu Cognac, nghĩa là có đủ cho một cuộc hành trình. Kiên nhẫn thì tôi có thừa, chỉ cần một ít may mắn nữa mà thôi. Tôi nghiên cứu kỹ kế hoạch nầy từ nhiều tuần nay rồi. Ý nghĩ nầy xuất hiện khi tôi đọc báo thấy một thiếu nữ đi Hoa Kỹ bằng cách trốn trong một kiện hàng. Nhưng trước khi máy bay cất cánh, cô ta ngột thở và phải kêu cứu.
Petrovici chán nản:
- Tôi không nhận giúp anh. Tôi không thể làm điều anh yêu cầu được. Giả tỉ anh đến Hoa Kỳ mà anh còn sống và không bị phát giác dù là điều nầy khó xảy ra được, thì anh sẽ làm gì ở Nữu Ước? Chỉ vài giờ sau anh sẽ bị bắt và cho hồi hương ngay. Hoa Kỳ đã cho hồi hương hàng triệu người di cư một cách bí mật. Ngày nào cũng có tàu chở loài người đó rời bến tàu Mỹ đi về phía Âu châu. Sau bao nhiêu cố gắng, anh sẽ bị đưa xuống tàu có kẽm gai bao quanh và trở về nhà lại. Bao nhiêu tàu như thế đang đi trên đại dương, đang chở tù nhân bồng bềnh trên nước để đi về phía Âu châu. Từ ngày chiến thắng, tù nhân không những ở trên đất mà còn ở trên mặt biển, trên đại dương nữa. Anh có muốn trốn một nhà tù trên đất liền để bị nhốt trong hầm giam nổi trên nước?
- Ông từ chối thì thật tôi khó xử quá. Ngoài ông ra tôi không còn nhờ ai đóng đinh trên nắp két nầy được nữa. Bạn bè tôi biến mất hết rồi. Isaac Salomon thì đã tự tử. Varlaam đã đi Palestine rồi. Aurel Popesco đã trở thành một công chức cao cấp không thể nào gặp được. Pillat thì quá đa cảm, không nhờ việc nầy được. Tại sao bác sĩ nỡ lòng từ chối?
- Bởi vì, đối với tôi việc nầy đồng nghĩa với tự tử. Tôi không thể hoàn thành việc làm như thế được. Motok, anh tha thứ cho tôi. Tôi cảm thấy thương hại cho con người, không những chỉ riêng anh, riêng tôi, mà xót thương cho tất cả con người đã bị đẩy đến những giải pháp tuyệt vọng như thế. Không những riêng chúng ta, trên hoàn cầu, có hàng trăm triệu người phải nghĩ đến
lối thoát tuyệt vọng cuối cùng như anh. Anh nghĩ lại xem, hàng trăm triệu người như thế. Nghĩa là một nửa dân số Hoa Kỳ, hai lần dân số nước Pháp, toàn là những người lang thang, tuyệt vọng, mất hết quyền sống. Chưa bao giờ có một giai cấp vô sản như thế hiện hữu trên thế giới. Chúng mình là những kẻ vô sản đau đớn nhất trên trái đất. Chỉ vì những hiệp ước, hội nghị giữa Tây phương với Quốc xã, với Sô Viết sau đó, mà hiện giờ có hàng trăm triệu người cù bơ cù bất trên khắp nẻo đường đang đi kiếm một lối thoát cuối cùng trong tuyệt vọng. Cho nên tôi không có can đảm để giúp anh một việc như thế.
Trước khi bỏ ra về Ante Petrovici nói tiếp:
- Cũng có thể chính quyền sẽ cho phép gởi kiện hàng nầy đi cho dù họ khám phá ra bộ xương ở trong đó. Bởi vì những người lính can đảm có thể gởi về nhà những chiến lợi phẩm như là một chiếc gươm, một bộ áo, những hạt nút của địch quân bị ngã gục để trang hoàng nhà cửa thì tại sao họ không có thể gởi về một chiếc sọ hay một bộ xương người như là một chiến lợi phẩm? Gởi như thế lại càng chứng tỏ lòng can đảm tột độ của họ đối với cha mẹ hay người yêu của họ chứ sao. Chiến lợi phẩm thường hay được gởi về tổ quốc nhất là những sợi dây người lính dùng để treo cổ các tướng lãnh của quân thù. Đã thế tại sao họ lại không gởi những bộ xương cho tiện việc. Vì thế anh có thể không bị ho phiền hà gì trong chiếc hòm bay đó vì họ xem anh như một chiến lợi phẩm. Rất có thể tôi đã bị lòng căm hờn chi phối nhiều quá. Motok, anh tha lỗi cho, tâm hồn tôi đã quá nhiều lần nổi loạn.
Motok nhìn đồng hồ bảo :
- Nếu ông không giúp tôi, tôi đành kiếm người khác vậy. Tôi phải vào trong hòm nầy trước 6 giờ. John Schmith sẽ đến đây đúng 6 giờ.
XIII
Ante Petrovici từ chối không đóng đinh vào chiếc thùng đựng Motok. Nhưng anh chàng nầy đã nhờ được một người bạn khác làm công việc đó. Đúng 7 giờ sáng chiếc thùng có Motok ở trong đến phi trường, được đặt cạnh chiếc máy bay đi Nữu Ước, cùng với các kiện hàng chiến lợi phẩm khác. Không ai khám phá được Motok đang ở trong, hắn lắng tai nghe được tiếng chong chóng quay, tiếng hành khách nói chuyện với nhau.
Hai người đàn ông đến gần thùng đựng Motok, họ nói với nhau bằng tiếng Nga. Motok đoán họ cũng là những hành khách bắt buộc như mình, nên hắn lắng nghe xem họ nói những gì. Một người tên là Igor và một người tên là Anatole Barsov. Hai người nầy đang cãi cọ với nhau. Theo dõi câu chuyện, Motok mới biết họ là hai phi công Sô Viết đã đào ngũ và những người Mỹ đang chở họ về Hoa Kỳ. Igor bảo:
- Mầy thật ngu độn. Nếu mầy cứ tiếp tục nói với tụi Mỹ là mầy trốn đi không vì những lý do chính trị thì tụi hắn sẽ trả mầy về nhà mầy ngay.
- Nhưng tao không thể nói dối được.
- Nhưng ít nhất mầy cũng phải nói những gì mà tụi Mỹ thích chứ. Bởi vì người Mỹ không cần những sĩ quan Sô Viết trốn qua xứ họ vì đã cãi nhau với vợ hay vì không thể trả hết nợ được. Người Mỹ nhận chúng mình và hậu đãi như những ông hoàng bởi họ cho là chúng mình trốn đi vì thù ghét chế độ. Cho nên thay vì nói với báo chí về những tàn bạo của Staline, của Boris, của cả chế độ cộng sản, mầy cứ lập lại như một thằng ngu là suốt ngày mầy cãi với vợ con, với cấp chỉ huy không đoàn và mầy đã bị thương ở chiến trường như thế nào. Mấy chuyện đó không liên hệ gì với tụi Mỹ cả, họ muốn mầy nói về Staline hơn.
- Tao không biết gì về Staline cả. Tao cũng chưa bao giờ thấy ông ta nữa, làm sao mầy bảo tao kể chuyện ông ta được.
- Thì mầy cứ bảo với họ là mầy có thấy Staline trong một cuộc duyệt binh, thấy ở đằng xa, rằng không ai có thể lại gần ông ta vì chung quanh toàn là lính gác người Caucase cao đến hai thước và trang bị vũ khí đầy đủ. Như là tao đã bảo với họ như thế. Mầy không để ý là tụi Mỹ thích những câu chuyện như thế lắm sao.
- Tao không thể làm như thế được.
- Thì cứ nói với họ là mầy trốn đi vì những lý do chính trị, rằng sự khủng bố đang ngự trị trên đất Sô Viết, rằng không ai muốn sống ở Nga Sô cả. Ít nhất là mầy cũng nói với họ là sĩ quan Sô Viết hút toàn thuốc lá dở ẹt, và chúng mình ăn uống không đầy đủ.
- Ừ, tao có thể nói với họ là ăn uống, thuốc men không đầy đủ, vì điều đó có thật.
- Bảo với tụi Mỹ là mầy đã chóa mắt vì xe cộ của họ, vì áo quần, sự ăn uống của họ, mầy thích thú đến cả với miếng sô cô la thơm ngon của họ, nói với họ là những thứ đó không có ở Nga Sô. Tụi Mỹ là những kẻ buôn bán, nên họ thích ai ca tụng họ là những quân nhân và nhà ngoại giao giỏi. Nếu mầy nói với họ như thế thì kể như sự nghiệp mầy đã tạo dựng xong xuôi rồi đó.
Barsov trả lời:
- Tao có lương tâm, tao không phải là một thằng nói dối. Mầy thì có thể như thế được.
- Mầy ngu lắm. Nếu mầy không nghe tao, tai họa sẽ đến với mầy, rồi mầy xem.
Nhân viên máy bay đã mang kiện hàng có Motok ở trong nhẹ nhàng đặt lên phi cơ. Họ đã trông thấy trên kiện hàng chữ «chiến lợi phẩm» và họ thừa biết là họ phải cẩn thận đối với các kiện hàng đó.
XIV
Boris Bodnariuk bay đến nước những người Slaves miền Nam. Hai vị đại tá Sô Viết yên lặng không nói, cả Boris cũng thế. Gần như cả ba đang buồn ngủ, nhưng thật sự cả ba đang nghĩ đến kế hoạch ám sát viên thống chế xứ đó.
Viên đại tá to lớn đang ngậm kẹo ho. Đến gần Boris, ông ta mời một viên kẹo và bảo nhỏ:
- Trưa nay sẽ có một bữa ăn khoản đãi đồng chí ở biệt thự tên thống chế đó. Chúng ta phải để súng lục tại phòng thay áo. Nhưng người của chúng ta sẽ trao lại súng khác vào túi chúng ta. Như thế là khi ngồi vào bàn ăn, chúng ta sẽ gồm có năm người được trang bị vũ khí rồi đó.
Yên lặng. Máy bay đang bay vào mây mù. Boris nhổ viên kẹo ho vào khăn tay. Viên đại tá bảo:
- Giờ nầy quân ta đang tiến vào xứ tụi Slaves miền Nam. Đến tối viên thống chế đó sẽ bị giết. Quân ta sẽ chiếm trọn xứ đó, chỉ cách Vatican vài trăm cây số. Công cuộc loại bỏ viên thống chế đó mở đường cho Hồng quân tiến vào Ý Đại Lợi, Ba Lê, Luân Đôn. Cho nên hành động chúng ta hôm nay là một hành động rất quan trọng cho diễn biến của lịch sử. Tất cả tùy thuộc vào sự khéo léo của chúng ta.
Nhìn đồng hồ, viên đại tá cười nói tiếp :
- Từ đây cho đến một giờ trưa, con chó của viên thống chế sẽ bị mồ côi. Một con chó không có thống chế nữa.
Viên đại tá lại ngậm thêm một viên kẹo ho. Máy bay đang bay thật cao, hình như đang nghiêng về bên phải. Boris quá mệt mỏi. Một người trong phi hành đoàn quay lại, la to:
- Cháy.
Boris soát lại dù nhảy, và nhìn qua cửa sổ. Máy bay vẫn tiếp tục bay, nhưng đã hơi nghiêng. Hắn nắm chặt tay định đập vỡ cửa kính. Đáng lý phải hỏi phi hành đoàn xem thử phải làm những gì, hắn ta lại nắm chặt tay như hồi 15 tuổi hắn quyết định bơi qua sông Dniestr, hệt như thế.
Bên ngoài chỉ toàn là mây trắng. Boris không thấy sợ hãi gì cả. Hắn nhét cặp da vào trong áo và quàng áo choàng lên ngực. Hắn đoán là hắn đang ở trên không phận nước Đức. Nếu phi cơ không đáp được, hẳn phải nhảy bằng dù. Chỉ có một điều làm hắn khó chịu là vì kẹo ho trong cổ. Hắn ho đến muốn ói thứ đó ra. Phi cơ đã đầy khói rồi.
Boris đập vỡ cửa kính, nhưng không khí tràn vào lại càng ngột thở hơn nữa. Khói tràn cả phi cơ, hắn đứng dậy tìm cánh cửa lớn, vì cửa sổ nhỏ quá, không nhảy ra ngoài được. Gài chặt áo lại, Boris tức là đã không kiếm của lớn được trước khi khói tràn vào ngập phi cơ. Giờ nầy không thể kiếm được nữa, cái bụng lại bắt đầu khó chịu. Mùi kẹo ho làm hắn buồn nôn. Hắn nghiêng cả người, tưởng như sắp ngạt đến nơi. Có ai la to bên tai, nhưng hắn không trả lời được. Hắn gập người lại, và tưởng như đang ở trong đêm tối mù mịt và trong một cơn buồn nôn vô tận vì chất kẹo ho. Hắn rủa thầm: «Đồ thứ kẹo khốn nạn!».
Cơn buồn nôn đã thu nhỏ cơ thể hắn vào hư vô. Cơ thể hắn đã phản bội hắn. Đâu đâu cũng toàn là chuyện phản bội. Anatole Barsov phản bội. Viên thống chế nuôi con chó đẹp cũng phản bội. Và bây giờ chính cơ thể hắn cũng không tuân lệnh hắn nữa.
Chán nản, hắn nhắm mắt lại. Chỉ còn có mùi kẹo ho trong cổ. Hắn ghét cay cái mùi kẹo nầy cũng như hắn ghét cay lũ phản bội. Ghét hết các thứ phản bội, nhưng nhất là sự phản bội của cơ thể hắn.
Bây giờ chỉ còn lại một cơn buồn nôn, một sự rơi xuống vực thẳm và hư vô.
Lúc hắn mở mắt ra, chung quanh toàn màu trắng. Ánh sáng đó làm hắn chảy nước mắt. Nhắm mắt lại, thì hắn lại có cảm tưởng rơi vào một màn tối dày đặc. Hắn thầm nghĩ «Lại là một thứ phản bội khác nữa đây». Hắn cố nhấc chân lên, nhưng không được. Muốn đưa tay lên, cũng không được nữa. Tay chân hắn đã chết hết cả rồi. Boris nghĩ «Kẻ thù Sô Viết đã biết nhiệm vụ của mình và chúng nó đã gây ra tai nạn».
Boris lại mở mắt ra. Thì ra hắn rơi trên núi tuyết. Hắn muốn nhúc nhích, nhưng thân thể không vâng theo ý muốn hắn nữa. Chỉ còn lý trí và một mắt còn nghe theo hắn, nhưng mắt hắn chỉ còn trông thấy màu trắng, nhắm mắt lại thì toàn màu đen bao phủ.
Chỉ còn một mắt mở được, con kia rất có thể đã rơi mất. Hắn nhắm mắt lại. Đen tối. Lại mở mắt ra, toàn màu trắng. Nhưng không phải toàn là màu trắng của tuyết mà là những người đàn bà mặc quần áo trắng, những người đàn ông trắng, bức tường trắng, nệm trắng... Hắn thầm nghĩ :
- Mình chỉ còn một mắt. Y hệt như Angelo. Với một mắt thì chỉ thấy hoặc đen hoặc trắng. Chỉ thấy có hai màu mà thôi; mà đen, trắng có phải là màu sắc đâu.
Boris cố tìm trong trí nhớ một màu khác, nhưng ngay cả trong trí nhớ cũng chỉ có hai màu đen và trắng. Tất cả dỉ vãng của hắn chỉ là đen hoặc trắng mà thôi.
Vào lúc đó, Boris không biết là hắn đã đạt đến lý tưởng của Đảng và các đồng chí hắn. Tức là chia vũ trụ làm hai màu : đen và trắng. Cũng như hắn nhắm mắt thì thấy đen và mở mắt thấy trắng, nhân loại cũng thấy sự vật trắng hay đen tùy theo nhu cầu của lịch sử. Điều đó đã là lý tưởng rồi. Một vũ trụ trong sáng, chính xác không màu sắc. Màu sắc vừa vô ích vừa rắc rối. Trắng và đen là đủ rồi. Hoặc có hoặc không là đủ rồi. Vũ trụ không cần giải đáp nào khác ngoài hai chữ có hay không. Những câu trả lời khác đều là phản động, hay chỉ là những dị biệt nho nhỏ.
Boris cảm thấy một vật lạ bên tai, sau đó hắn nghe được. Hắn quên là hắn đang có thính giác. Độ sau nầy, hắn không còn nghe gì nữa cả. Hắn đã sống trong câm điếc. Hắn không còn cảm nhận đau đớn, thế mà bây giờ đây mi mắt của hắn cho hắn biết lại thế nào là đau đớn. Bỗng một giọng nói rắn rỏi, bằng tiếng Anh:
- Chúng tôi muốn nói chuyện riêng với bệnh nhân.
Cái máy nghe để bên tai Boris thật lạnh, hình như lần đầu tiên cảm giác lạnh lẽo đó xâm chiếm con người hắn, hắn có nhớ ra rằng đôi lúc cũng có ấm áp, nhưng lúc nầy hắn chỉ thấy toàn là lạnh lẽo.
Mở mắt, Boris trông thấy hai sĩ quan Sô Viết. Những người áo trắng đi hết rồi, hai sĩ quan nọ hình như đang bận áo toàn đen. Một viên sĩ quan nói bằng tiếng Nga:
- Nhờ mũi thuốc, đồng chí sẽ tỉnh táo chừng một giờ. Hãy cho chúng tôi biết là đồng chí có nghe hiểu chúng tôi nói gì không, nếu không, chúng tôi sẽ chích thêm một mũi thuốc nữa. Chúng tôi cần hỏi đồng chí vài điều. Chúng tôi được bộ chỉ huy Sô Viết ở Vienne gởi đến đây.
Họ đưa cho Boris tấm căn cước để xem thử Boris có đọc và hiểu được không. Boris thấy rõ khuôn dấu sở mật vụ Sô Viết và cảm thấy yên tâm hơn. Một người lại bảo:
- Đồng chí đang nằm trong một bệnh viện của người Mỹ. Đồng chí có nhớ những gì đã xảy ra không?
Người kia giải thích tiếp:
- Đồng chí đi từ Piatra bằng phi cơ và rơi trên núi, đồng chí là người sống sót duy nhất sau tai nạn đó, mấy người kia đều chết hết. Người Mỹ mang đồng chí lại đây, và báo tin cho chúng tôi. Suốt hai tuần nay chúng tôi có nói chuyện với đồng chí nhưng vô ích. Người ta bảo là trong cơn mê sảng, đồng chí đã khai đồng chí tên là Boris Neva, và chính người ta đã ghi tên đó vào sổ bệnh viện. Tốt lắm, đồng chí cần giữ nguyên lời khai đó. Cần nhất là đừng để cho tụi Mỹ biết lý lịch của đồng chí. Thế nhưng, đồng chí có nhớ rõ tên của đồng chí không nhỉ?
- Boris Bodnariuk.
- Chúng tôi sẽ cho đồng chí hồi hương trong chừng 10 hôm nữa. Trong lúc chờ đợi, nhớ giữ cái tên Boris Neva. Bây giờ, đồng chí cố lập lại những gì chúng tôi vừa nói.
- Tôi bị tai nạn phi cơ, được chở đến bệnh viện Mỹ với cái tên là Boris Neva. Tôi sẽ được hồi hương trong 10 ngày. Tôi không được để lộ lý lịch của tôi.
Vị đại tá thân mật vỗ vai Boris. Lần đầu tiên, Boris mới nhận biết được vai của mình. Vị đại tá bảo :
- Tôi rất tiếc là không thể mang đồng chí đi ngay được. Người Mỹ bảo là chưa thể di chuyển được, chúng tôi sẽ lại thăm đồng chí đều đều.
Boris hỏi thêm:
- Đây là một vụ phá hoại hay phản bội?
- Thủ phạm sẽ bị trừng phạt và thủ tiêu.
- Nếu chúng bị thủ tiêu thi tốt lắm.
Boris nói thế và nhắm mắt lại. Hắn lại rơi vào một màn đêm đen tối.
XV
Vài ngày sau, hai viên sĩ quan Sô Viết lại đến thăm Boris. Cả ba nói chuyện rất lâu. Viên đại tá bảo :
- Tai nạn phi cơ vừa rồi thật là một tai họa. Viên thống chế xứ người Slaves miền Nam không bị thủ tiêu thì sự phản bội của hắn ta đã công khai hoá. Sô Viết đã bị mất Địa Trung Hải, cánh cửa mở để đi về phương Tây và vịnh Adriatique. Tai hại quá nhưng chúng ta phải cố hàn gắn những gì có thể hàn gắn được. Bây giờ tên thống chế đó trở thành tên bồi phòng cho lũ Tây Phương. Những rủi ro đó thật cũng tại vì đồng chí không thể giết hắn đúng lúc được. Đồng chí đã làm chủ tình thế nhưng chỉ vì phi cơ bị rớt. Nói cho hợp lý thì việc thay đổi tình thế tuỳ thuộc vào đồng chí. Bây giờ đồng chí đã bị què quặt, nhưng khối óc, trái tim vẫn còn thì đồng chí vẫn có thể tiếp tục phục vụ.
Họ cũng kể cho Boris nghe là Sô Viết không từ bỏ kế hoạch ám sát viên thống chế đó, nhưng bây giờ khó khăn hơn nhiều:
- Công việc thủ tiêu đòi hỏi thời gian. Chúng ta đã thành lập một hệ thống toàn hảo, vì chúng ta sẽ thanh toán tên thống chế đó, chắc chắn như thế, nhưng còn lâu lắm. Lúc này, chúng ta chỉ nuôi ý tưởng thủ tiêu hắn ta mà thôi.
Boris bổ túc thêm:
- Trotzky cũng bị ám sát về phương diện chính trị trước khi hắn bị giết. Trong các trường hợp phản bội, khi kẻ bị ám sát đào tẩu được thì việc kết án tinh thần và chính trị cũng làm cho thủ phạm khổ sở lo âu...
- Muốn kết án Trotzky, chúng ta cần bản cáo trạng năm 1938.
- Thì điều đó cũng có thể tái diễn vậy, rất cần thiết nữa là đàng khác. Các nước tân cộng hòa, như Lỗ ma ni, Hung gia lợi, Bảo gia lợi hoặc kín đáo hoặc lộ liễu đều muốn tạo phản. Bản cáo trạng về viên thống chế mang tinh thần trưởng giả nọ sẽ quét sạch tất cả ám muội chính trị ở các quốc gia đó. Lúc rời khỏi bệnh viện này, tôi sẽ đề nghị một bản cáo trạng kết án lũ âm mưu kia ngay.
Viên đại tá trả lời:
- Bản cáo trạng đó đã xong xuôi. Tháng tới chúng ta sẽ mở ở Bucarest một tòa án kết tội tên thống chế đó. Chúng ta sẽ chứng minh rằng hắn ta đã bị lũ tư bản Tây Phương mua chuộc, rằng hắn đã tìm cách nô lệ hoá những dân tộc đã được Sô Viết giải phóng khỏi ách thống trị của lũ tư bản Anh – Mỹ. Hàng ngàn tội trạng đã được phơi bày. Chúng nó đã thu nhận tất cả. Chỉ còn thiếu một nhân vật chính, một người cộng sản ưu tú đóng vai tội nhân để trình bày những giai đoạn và mặt trái của sự phản bội. Thiếu một người như đồng chí, nguyên phó chủ tịch liên bang Danubienne. Chúng ta còn thiếu một người đóng vai y hệt tên thống chế, để tự thú tội, một người nào đó để bị kết án như là đại diện cho tên thống chế đó. Chúng ta thiếu có bấy nhiêu, còn ngoài ra sẵn sàng hết cả rồi.
Boris bảo :
- Tôi đã không chết trong tai nạn máy bay, bây giờ tôi xin để tùy quyền đồng chí định đoạt.
- Đồng chí muốn đến Bucarest để đóng vai tên thống chế có tư cách trưởng giả đó ư?
- Hắn ta phải bị đào thải về phương diện chính trị. Chúng ta sẽ mang tội nếu để chậm trễ bản án đó. Còn ai hơn tôi trong công việc đâm một nhát dao chí tử vào tên phản bội đó?
Boris nghĩ đến cái may mắn tột cùng của một người công sản so với các người khác. Hắn chỉ là một tên tàn phế, thế mà vẫn còn phục vụ đảng thật phi thường.
Viên đại tá có vẻ nhắc nhở :
- Nạn nhân chính sẽ bị kết án tử hình đấy.
- Dĩ nhiên đó là hình phạt xứng đáng nhất cho sự phản bội.
Nói xong, Boris nhắm mắt lại, và lại rơi vào bóng tối. Hắn nghĩ là một đời người sống toàn với tiểu tiết chỉ là một đời người thấp kém.
Đời sống cao thượng chỉ cấu tạo bằng «có» hoặc «không», bằng «đen» hoặc «trắng», thì mới là một đời hoàn hảo.
- Như thế chúng tôi có thể thông báo là đồng chí tình nguyện đến Bucarest để tự thú tội trên cương vị tên thống chế?
- Nhu cầu của lịch sử đòi hỏi điều đó.
Boris thản nhiên trả lời như thế. Vị đại tá dặn thêm :
- Trong lúc nầy phải cẩn thận đấy, đừng để lộ tông tích.
Ông ta để xuống gối Boris một khẩu súng lục, vổ vai Boris và từ giã. Lúc cánh cửa đã đóng lại, Boris thầm nghĩ :
Sợ hãi cái chết là một thành kiến của tụi trưởng giả. Bây giờ mình đã quyết định chết, mình không còn sợ hãi gì cả, trái lại, mình còn cảm thấy khoan khoái, tỉnh táo, vì mình đang sống trong lịch sử, lần đầu tiên, mình gắn liền với lịch sử, mạnh dạn sống với lịch sử. Sợ chết chỉ là một thành kiến mà thôi.»
XVI
Buổi chiều, Boris đứng tựa ở cửa sổ. Tuy chưa bình phục hẳn, hắn cũng đã có thể đi lại được. Hắn sẽ được hồi hương vào trưa mai. Mấy vị sĩ quan trong bộ chỉ huy Sô Viết ở Vienne đã hứa với hắn như thế.
Boris suy nghĩ nhiều về thứ kinh nghiệm sắp đến trong đời hắn lúc hắn trở về thú tội, một thứ tội phản bội mà hắn không hề phạm. Nhờ hành động đó, một số lớn thành phần vô ích, nguy hiểm sẽ bị thủ tiêu và địa vị của đảng sẽ được cũng cố hơn bao giờ hết. Đó là mặt phải của sự thử thách, trong khi mặt trái của nó là sự hủy thể của cá nhân. Boris tự phân tích rất chu đáo và thành thật, bởi hắn muốn tìm hiểu xem mình có sợ chết hay không. Hắn đã từng nói về sự khinh thị của một người công sản đối với cái chết của một cá nhân để cho đảng sống mãi.
Trên nguyên tắc thì Boris đang chấp nhận lý thuyết đó và không ngần ngại xin được xử tử hình. Về phương diện lý trí, cái chết vô nghĩa hơn những gì lịch sử, tôn giáo và văn chương đã đề cập đến. Cho nên lúc hắn muốn tự tử, hắn không sợ hãi gì cả. Động tác vô nghĩa đó không có gì khó khăn đối với hắn cả.
Bây giờ bỗng nhiên hắn khám phá ra một điều gì không ưng ý với hắn, hình như một giọng nói âm thầm đang trổi dậy. «Sau khi giả vờ tự thú, mầy sẽ bị kết án, nhưng mầy sẽ không bị xử tử». Boris lấy làm xấu hổ về ý nghĩ đó, nhưng hắn không thể không nghĩ được, bởi hắn vẫn hy vọng là nếu hắn tự thú, đảng sẽ không xử tử hắn nhưng con đề cao hắn nữa. Hắn tự hỏi: «Hay là vì sợ chết mà mình có cái ảo tưởng đó». Hắn muốn xóa bỏ ý nghĩ đó đi, nên lại bảo thầm: «Mình sẽ được xử tử, mình sẽ bị xử tử, xử tử». Nhưng giọng nói âm thầm lại vang lên : «Đảng sẽ tán dương công lao của mầy và không bao giờ để mầy chết. Hành động tự kết án đó sẽ được khao thưởng, kỷ niệm và tôn thờ».
Boris không muốn có ảo tưởng đó, hắn muốn chắc là hắn sẽ chết, chết thực sự theo chính lời yêu cầu của hắn. Lý trí nói với hắn rằng: «sự việc sẽ xảy ra như thế, nhưng hắn không thể nào làm câm ngay cái giọng nói âm thầm bên trong rằng hắn sẽ sống mãi.
Một chiếc xe ngừng trước cửa bệnh viện. Một người thanh niên vận âu phục, dáng điệu bỡ ngỡ bước xuống xe. Vị y sĩ trưởng đang đứng giữa sân với một bác sĩ khác ngay dưới cửa sổ của Boris. Thanh niên nọ lại gần, Boris lắng nghe câu chuyện. Thanh niên tự giới thiệu :
- Tôi là Milan Paternik, cố vấn chính trị cho bộ chỉ huy các lực lượng Âu châu (hắn đưa căn cước và thư giới thiệu). Tôi mang theo một người đàn bà đã đến kỳ sinh nở.
- Không thể được, ở đây, chúng tôi không có trại sản phụ khoa. Vị y sĩ trưởng trả lời. Nhưng Milan nài nỉ :
- Đây là một trường hợp ngoại lệ. Vị chỉ huy trưởng yêu cầu ông nhận bà ta và săn sóc kỹ lưỡng.
Bác sĩ đọc bức thư. Marie sắp đẻ, đang nằm trong xe. Aurel Popesco đã tìm cách để nàng được nhận vào quân y viện vì không còn bệnh viện nào ở đây nữa. Milan Paternik đích thân đem nàng đến.
- Bác sĩ chúng tôi ở đây không chuyên về sản khoa, đáng lý chúng tôi không nhận, nhưng vì có lệnh trên, chúng tôi sẽ làm theo.
Milan lập lại:
- Xin bác sĩ vui lòng, đây là trường hợp bất khả kháng.
Boris chú ý đến chữ «trường hợp bất khả kháng, ngoại lệ» mà Milan cứ lập đi lập lại mãi. Bác sĩ cáu kỉnh :
- Tôi không hiểu nổi, thật là quá đáng, ai đời lại gởi vào quân y viện người đàn bà sắp sinh, đúng là họ muốn đùa với chúng tôi rồi.
Boris giật mình lẩm bẩm : «Mình hiểu, vâng, mình hiểu tại sao người ta gởi người đàn bà nầy đến đây».
Hắn trông rõ Pillat và Milan Paternik đỡ Marie xuống xe. Trong óc Boris, giả thuyết người Mỹ đã biết lai lịch hắn càng ngày càng rõ rệt. Nép sau tường, hắn nhìn kỹ Marie, nhưng không nhận ra nàng. Boris thầm nghĩ:
« Họ đưa Pillat và người đàn bà nầy đến đây để có thể nhận diện mình. Muốn biết chắc mình có phải là Boris không, tụi Mỹ đã đưa đến đây một người bạn học cũ của mình, cách tốt nhất để nhận diện mình là Boris Bodnariuk, bộ trưởng bộ chiến tranh Lỗ ma ni chứ không phải là công dân Số Việt Boris Neva». Boris nhớ lại lời khuyên của các sĩ quan Sô Viết «Đứng để lộ tông tích». Rồi nhớ lại câu nói của viên bác sĩ «Thật là quá đáng, ai đời lại gởi đến đây một người đàn bà sắp sinh. Tại sao lại đúng vào quân y viện chúng tôi», và câu nói của Milan Paternik «Đây là một trường hợp bất khả kháng, ngoại lệ...».
Thế là Boris chắc rằng Pillat đã được gởi đến đây để nhận diện hắn. Nhẩm tính, còn 16 giờ nữa thì đến lúc hồi hương, nhưng nếu người Mỹ nhờ Pillat nhận diện được hắn thì hắn khó trở về nước được nữa. Bản cáo trạng ở Bucarest kết tội tên thống chế trưởng giả đó sẽ bị hủy bỏ. Boris thầm bảo: «Mình đừng để họ biết tông tích chứ».
Phòng bên có tiếng nói chuyện, lúc đầu bằng tiếng Anh, sau đó bằng tiếng Lỗ ma ni. Milan Paternik đang nói chuyện với y tá, Pillat nói với người đàn bà có thai. Milan nói :
- Chồng bà sẽ ở đây, ông ta ngủ ở ghế nầy.
Boris lắng nghe: «Sao lại ngủ đúng phòng bên cạnh phòng mình? Không còn nghi ngờ gì nữa. Họ gọi Pillat đến đây để nhận diện mình. Chốc nữa hắn sẽ đến phòng mình với một lý do nào đó để nhìn mặt mình đúng theo chỉ thị đã nhận được». Boris bỗng để ý là cửa phòng hắn không khoá: «Lại thêm một lý do nữa, sao họ lại lấy mất chìa khóa phòng mình?».
Boris lại cửa sổ và thấy Milan Paternik lên xe về một mình. Ở phòng bên, Pillat và Marie đang chuyện trò với nhau bằng tiếng Lỗ. Marie đang than phiền. Boris lại thầm nhận xét : «Nghe rõ như họ đang đứng nói chuyện trong phòng mình». Mọi sự xảy ra thật đáng ngạc nhiên nhưng hắn vẫn bình tĩnh, hắn vẫn cố không để bị nhận diện – Pillat thì đang ở phòng bên và hắn còn đến 16 giờ nữa mới hồi hương được. Boris vừa nhìn cửa lớn vừa thầm nghĩ: «Hắn có thể ám sát mình, và bảo rằng đó chỉ là một cuộc trả thù riêng. Đối với công chúng giải thích âm mưu đó như thế thì tạm ổn. Người Mỹ muốn ám sát mình để không cho mình trở về nước thi hành bản án tên thống chế phản bội đó. Chắc thế rồi».
Boris nhìn qua cửa sổ, không có gì đáng ngại, vườn bệnh viện chỉ có tuyết phủ, đường phố cách xa chừng hai trăm thước. Boris quyết định. Tay hắn xiết chặt khẩu súng trong túi áo ngủ. Hắn mở tủ và thấy áo quần hắn họ vẫn để nguyên, áo choàng, quần dài bị cháy. Hắn không tiền, không giấy tờ và không thuộc đường vùng nầy, nhưng không sao, điều chính là hắn phải bỏ đi đêm nay, sau đó sẽ tự liệu lấy, chân lạnh cóng chưa đi được, nhưng hắn vẫn cố nghĩ là hắn sẽ bí mật lên tàu lửa trong đêm.
Nhìn vào tấm kiếng, Boris thấy mình hơi tái. Mặc vội áo quần, giấu khẩu súng dưới gối, Boris lên giường nằm. Lúc bác sĩ và y tá đến khám bệnh, Boris than nhức đầu, và thích ngủ hơn ăn. Boris nghĩ đến kế hoạch trốn khỏi bệnh viện.
Hắn có thể nhảy qua cửa sổ là ra khỏi bệnh viện dễ dàng, nhưng nếu hắn có tiền để mua vé xe lửa thì mọi sự sẽ giản dị, đằng nầy hắn không có lấy một xu, đó là một điều thiếu khôn ngoan, đáng lẽ là hắn phải xin hai viên sĩ quan Sô Viết kia trước mới phải.
Lúc nầy, nữ y tá trực đi ngang, hắn giả vờ ngủ, phòng bên cạnh vẫn còn tiếng nói của Pillat và tiếng rên siết của Marie.
Boris mặc áo trong bóng tối, phải gỡ băng chân ra mới đi được, dù chân còn đau. Xong xuôi hắn nhảy qua cửa sổ xuống vườn bệnh viện còn đầy cả tuyết.
Thế là lúc y tá trực đêm đi kiểm soát bệnh viện lúc hai giờ sáng thấy giường Boris Neva trống rỗng, mặt khác lại có dấu chân trên tuyết dưới cửa sổ, họ bèn báo động tức khắc với cảnh sát và quân cảnh. Điện thoại reo suốt đêm. Người ta lục soát các chuyến xe lửa. Tám giờ sáng, hai viên sĩ quan đến bệnh viện, thì viên y sĩ trưởng giải thích :
- Boris Neva biết là ông ta sẽ hồi hương lúc 12 giờ nên ông ta đã chọn tự do. Ông ta không muốn trở về Nga Sô. Hàng ngàn người đã làm như thế, có gì đáng ngạc nhiên đâu. Ông ta sợ không dám trở về với Sô Viết nữa.
Nhưng hai viên sĩ quan Sô Viết không chấp nhận lời giải thích đó.
- Boris Neva là công dân đã được tẩy não, giả thuyết đào ngũ không thể chấp nhận được. Chúng tôi yêu cầu lập biên bản đàng hoàng.
- Các ông có thể lập biên bản ngay.
Y tá, gác dan được mời đến. Tất cả đều khai là không hề hay biết gì cả. Bệnh nhân người Nga Sô đó có vẻ cau có vào buổi tối. Ông ta từ chối không chịu ăn uống và không chịu để bác sĩ khám bệnh, rồi đòi đi ngủ sớm. Hai giờ sáng thì người ta đoán là ông ta nhảy qua cửa sổ xuống vườn, trèo tường đi ra đường.
Đành phải đợi cảnh sát bắt giữ bệnh nhân mới hỏi được. Nhưng hai viên sĩ quan Sô Viết giận dữ hứa sẽ phản kháng chính thức vụ nầy và đòi một biên bản đặc biệt. Trong lúc đó, máy phóng thanh bệnh viện thông báo: «Trân trọng thông báo với chính quyền và đồng bào là có một công dân Sô Viết đã trốn khỏi bệnh viện quân đội đồng minh sau khi đã được săn sóc các thương tích chu đáo do tai nạn máy bay. Ai biết bệnh nhân trốn ở đâu phải thông báo ngay cho chính quyền. Các điểm đặc biệt của bệnh nhân như sau: một vết sẹo lớn trên trán, vết thương ngực và tai chưa lành. Chân cong chưa đi được nhiều. Áo choàng da màu nâu, ủng đen, khăn choàng đỏ».
Nhưng hai viên sĩ quan Sô Viết bỏ đi không thèm nghe thông cáo. Lúc đó đã 9 giờ sáng. Cửa phòng mổ mở ra đúng lúc họ bước ngang. Người nữ y tá nói với Pillat đang đứng ở hành lang:
- Con gái. Mẹ tròn con vuông rồi đó. Ông có thể đến thăm trong chốc lát.
Pillat đặt tên ngay:
- Doina Australie.
Chỉ có mình chàng là không biết gì về vụ bệnh nhân Sô Viết trốn khỏi bệnh viện. Vì từ lúc đến đây, chàng chỉ có một điều phải lo lắng, đó là Marie, và bây giờ thì phải lo đến hai người. Marie và đứa con đầu lòng Doina Australie. Chàng vui đến rớt nước mắt, muốn ôm choàng cả hai người. Trong lúc chàng lẩm bẩm, «Doina Australie, con và mẹ đều mạnh khỏe cả» thì máy phóng thanh vẫn lập đi lập lại: «Chúng tôi lập lại các điểm đặc biệt: áo choàng da màu nâu, ủng đen, khăn choàng đỏ».
Pillat thì vẫn cứ lẩm bẩm: «Doina Australie. Con và mẹ đều mạnh khỏe cả».