📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thằng đầu bò - Nguyễn Thái Hải 🔒

9 trả lời, 2.015 lượt xem — Trang 1 / 1
Tập truyện ngắn Thằng đầu bò
Tác giả: Nguyễn Thái Hải
 
 
“Con ma” trong buổi học nhóm
 
Không hiểu sao chiều nay bạn Hiếu đến trễ. Theo quy định của nhóm 4H, cứ đúng năm giờ rưỡi chiều thứ bảy và chủ nhật, bốn bạn phải có mặt tại nhà bạn Hóa để học nhóm, ôn bài vở trong tuần. Thế mà bây giờ đã sáu giờ kém mười lăm...
Hạnh ra sân ngóng về phía cuối đường. Người qua lại vẫn còn tấp nập. Chẳng lẽ Hiếu bận việc bất ngờ? Hay là “cô nàng” chưa kịp ăn cơm, giờ này đang vội vã lùa cho hết một hai chén trấn an cái bụng “xấu đói” của mình?
- Này bạn Hạnh! Tôi với Hóa thống nhất với nhau chỉ chờ bạn Hiếu tới đúng sáu giờ thôi.
Hùng buớc khệnh khạng cái thân hình hơi phát triển bề ngang của mình ra sân. Bạn giải thích thêm :
- Tối nay ti vi có kịch “Tôi và chúng ta”. Ba tôi nói hay lắm. Sáu giờ học tới bảy rưỡi là ngon lành. Sau đó tôi còn phải đạp về nhà cho kịp coi kịch...
- Kịch người lớn, biết bạn có hiểu biết hết không mà coi?
- Sao không! - Hùng hơi hếch mặt lên tự hào - Bạn quên rằng tụi mình đứa thì mười ba, đứa đã mười bốn tuổi rồi, sắp xong lớp bảy lên lớp tám. Tụi mình đã biết tự quản lớp, đã biết tự tổ chức học nhóm... Vậy không phải đã lởn rồi a?
Đột nhiên một vật gì trăng trắng lấp lóa, vụt từ trên cao xuống chỗ Hạnh và Hùng đang đúng. Vật ấy đâm sầm xuống. Riêng Hạnh không tránh kịp, bị vật ấy vướng vào người. Thì ra đó là một con diều băng.
Từ ngoài đường phố, một bạn trai mặc quần đùi, da đen như lọ chảo đang cầm ống lon cuốn nhợ chạy đến. Thấy cái diều của mình vướng vào người Hạnh bị rách một mảng, nó hùng hổ :
- Bắt thường đi! Rách diều tao rồi!
Hùng tức quá bước tới :
- Bạn kia ăn nói ngang ngược chưa! Diều băng trúng người ta không biết xin lỗi còn bắt thường!
- Mắc mớ chi tới mày! Ồ! Ga lăng hả? Hí hí! Coi cũng đẹp đôi. Hí hi...
Hạnh đỏ mặt :
- Nè bạn! Tụi tôi không giỡn chơi với bạn đâu!
- Giỡn! Ai giỡn với tụi bay. Tụi bay ở đâu tới đây? Muốn gây sự với Si đèn đèn này hả?
Từ trong nhà. Hóa chạy ra can thiệp :
- Nè! Học hành không lo cứ lo thà diều lam trớ ngại giao thông đường phố lại còn gây sự, tôi méc thím Tám thì đừng có trách...
Si đèn đèn khuỳnh tay, trợn mắt :
- Hù tao há? Giỏi méc đi! Lại thêm một thằng ga lăng. Hí hí...
Vừa nói, Si đèn đèn vừa bỏ chạy.
Rầm! Nó té bổ ngửa vì đụng nhằm Hiếu đang dẫn xe đạp đi tới. Đang bực mình, nhưng cả ba bạn Hạnh, Hùng, Hóa đều phải che miệng cười khúc khích. Si đèn đèn lồm cồm đúng dậy, xoa chỗ đau rồi trợn mắt với Hiếu :
- Bộ mày đui hả?
Không ngờ Hiếu đâu có dễ bắt nạt như Hạnh :
- Ai đui? Anh đui thì có! Người ta đi thì ngó về phía trước, còn anh đi lại ngó ngang. Bộ anh là cua hả?
Cả bọn phá ra cười khiến Si đèn đèn giận lắm. Nó xông tới định xô té Hiếu thì Hùng và Hóa, đã chạy ra can thiệp. Nó đành phải rút lui, không quên hăm dọa :
- Rồi tụi bay sẽ biết tay tao!
* * * * *
Theo kế hoạch học nhóm 4H, hôm nay bốn bạn ôn tập môn sinh vật. Hai bạn trai làm “thầy” trước, truy bài phần thực vật.
Bảy giờ tối, trời đã tối lắm. Đường phố vắng người, và mọi nhà đều đã lên đèn. Nhà Hóa có hai gian, gian chính trố cửa cái còn gian phụ chỉ có cửa sổ hướng ra mặt đường. Nhóm 4H học ở gian phụ, dưới ánh đèn nê-ông rất sáng. Lúc này bắt đầu qua phần hai bạn gái làm “cô”.
Hạnh vốn là học sinh xuất sắc nhiều năm trong lớp, vừa đoạt giải thi “đố em” toàn trường. Bạn cũng vừa giải đáp trơn tru mọi câu hỏi thực vật mà Hóa và Hùng đặt ra, có câu còn trả lời đỡ cho Hiếu. Nét mặt Hạnh nghiêm lại chuẩn bị đặt câu hỏi.
Hóa ghé tai Hùng nói rất khẽ :
- Coi kìa! Bà cụ non dễ sợ chưa!
Hạnh biết là Hóa đang nói xấu mình nhưng vì không nghe rõ nội dung nên đành phải lờ đi. Bạn ra câu hỏi :
- Bạn Hóa hãy phân biệt trùng biến hình và trùng có.
Hóa đáp “trúng tủ”.
- Trùng biến hình cũng là một tế bào như trùng cỏ nhưng cấu tạo đơn giản hơn. Nó không có màng dày và lông bơi bao bọc nên cơ thể luôn luôn thay đổi hình dạng để di chuyển.
Đến luợt Hiếu, bạn nhìn Hùng :
- “Chả” lời câu hỏi này của “cô” coi nè. em Hùng. Hệ tuần hoàn của giun đất thế nào?
Hóa huých tay Hùng nói nhỏ :
- Bà chằng tinh mà!
Hạnh liền chớp thời cơ, lên lớp Hóa :
- Yêu cầu bạn Hóa không được nói chuyện riêng!
Đúng lúc ấy một viên đất nhỏ rơi trên mặt bàn ngay trước mặt Hạnh. Hạnh đỏ mặt (Bạn Hạnh thì lúc nào cũng phản ứng bằng cách... đỏ mặt). Giọng Hạnh nghiêm nghị bảo Hóa :
-... và cũng yêu cầu không được giỡn trong giờ học!
Hóa phân bua :
- Nhưng mà...
Không ai tin lời Hóa. Hùng cũng nói :
- Thôi đừng giỡn nữa, để tôi trả lời câu hỏi ôn tập của bạn Hiếu.
... Một lát sau, trong lúc Hóa đang trả lời, hai tay đặt ngay ngắn trên bàn thì lại một viên đất nhỏ rơi trúng mình Hạnh. Không có lý do gì để nghi ngờ Hóa. Vậy... chỉ có thể là Hùng!
- Nè bạn Hùng...
- Tôi xin thề!
- Vậy không lẽ là Hiếu? Phải may không bà chằng?
Hiếu chưa kịp trả lời thì một viên đá nhỏ xíu đã rơi trúng vai Hiếu. Hiếu hốt hoảng :
- Chắc... chắc ma ném đá rồi!
Hạnh rùng mình, tự nhiên ngồi nép sát Hiếu lúc nào không hay. Bạn run run giọng :
- Ngoại tôi kể rằng ở dưới quê người ta ưa bị m.. ma n...ném...
Hùng rời khỏi ghế đi lại trong phòng quan sát :
- Tôi không tin có ma. Đây nè, các bạn coi. Cửa sổ nhìn ra đường, chắc chắn có người ngoài đường ném bọn mình.
Hóa reo lên :
- Tôi nhớ ra rồi. Thằng Si đèn đèn chớ chẳng ai khác. Chắc là nó trả thù tụi mình đó thôi. Tôi có cách giải quyết. Ta đóng cửa sổ lại, xong!
Cả nhóm bây giờ mới hoàn hồn và buổi học lại tiếp tục.
Được một lúc, bỗng...
Cạch!
Tiếng một viên đá rơi trên nên nhà.
Cạch!
Lại thêm một viên nữa.
Hạnh níu lấy Hiếu. Cả hai cùng nhìn về phía cửa sổ đã đóng. Cửa sổ không có khe hở, vậy đá từ đâu ném vào?
- M... ma đấy Hiếu ơi!
Hùng làm gan nói :
- Ma với cỏ gì! Tôi có nghe má tôi nói. Nếu là ma thiệt mình mà thách thức, nó sẽ ném liền. - Nói đến đây, Hùng lớn giọng
- Nè ma! Tụi tôi thách ma ném đá đó!
Trả lời Hùng là một viên sỏi được ném rơi ngay trên mặt bàn học nghe “cách” một tiếng. Hạnh và Hiếu líu cả lưỡi. Hóa cũng thối chí :
- Chắc là ma thật rồi. Tụi mình phải nghỉ học thôi. Để tôi báo cho ba má tôi biết.
Lạ thay, Hùng vẫn tỉnh bơ. Bạn nói trong lúc giơ tay ra hiệu cho các bạn không nên có ý kiến phản đối mình :
- Tôi đề nghị tụi mình vẫn tiếp tục học. Má tôi cũng nói ma nó chỉ phá phách thôi, chớ nó không hại ai đâu.
Rồi Hùng nói khẽ với Hóa :
- Các bạn ở lại tiếp tục học đi, tôi đi bắt “con ma”. Đừng để lộ là tôi vắng mặt.
Hùng lẻn ra khỏi phòng, vòng qua gian chính, ra sân, núp vào một khoảng tối. Trong phòng, nhóm 4H (mà lúc này chỉ còn 3H) tiếp tục ôn tập. Hùng nhướng mắt về phía ô văng nhà Hóa xây dưới hàng gạch thông gió. Chỉ một chút xíu thôi, bạn đã thấy một cái bóng nhỏ con lom khom trên đó, với tay vào một lỗ thông gió. Liền đó trong phòng học vang lên tiếng Hạnh :
- Trời ơi! Ma nó lại ném đá nữa!
Hùnti đứng thắng người, lấy tay bắc loa kêu lớn :
- Bớ người ta! Ăn trộm!
Ba má Hóa, các em Hóa, mấy người lối xóm, mấy người qua đường, người chạy ra, kẻ xúm lại. Bóng đen trên ô văng bị rọi đèn pin nhận diện. Nhóm 4H cùng kêu lên :
- Thàng Si đèn đèn!
Si đèn đèn bị buộc phái leo xuống theo đường nó đã leo lên. Trông nó thật thảm hại. Khi bị ba Hóa hỏi, nó mếu máo trả lời :
- Cháu chỉ phá tụi nó chớ cháu đâu có rình ăn trộm nhà hác!
Thím Tám chạy qua túm tay Si đèn đèn kéo về nhà :
- Để cho ba mày ổng trị tội. Con ơi là con!
Nhóm 4H không học tiếp nữa. Bốn bạn hẹn nhau ngày mai chủ nhật sẽ gặp nhau sớm hơn để học bù thời gian Hiếu đi trễ và thời gian “con ma” quậy phá hôm nay.
Lúc chia tay, Hóa dặn Hùng mà chính là để trêu Hạnh và Hiếu :
- Bạn Hùng nhớ hộ tống hai bạn ấy cấn thận nghe chưa. Kẻo ma nó hắt!
Hiếu cười khúc khích :
- Giờ này chắc “con ma” đang bị đòn bét mông. Đáng đời! Người gì đâu mà đen sì sì...
Hạnh lại lên lớp :
- Tại vậy mới có tên là Si đèn đèn.
Hùng đề nghị :
- Nghe bạn Hóa nói Si đèn đèn cũng học lớp 7 như tụi mình, hay là ngày mai tụi mình qua xin chú thím Tám cho bạn ấy học chung nhóm đi.
- Hổng được đâu. Tui ghét “con ma” đó lắm! - Hạnh nhăn mặt.
- Tui cũng vậy! - Hiếu hùa theo.
- Được rồi, đó là tôi đê nghị. Các bạn cứ suy nghĩ thêm chiều mai tụi mình lại bàn. Bây giờ tôi phải về trước. Sắp tới giờ diễn kịch “Tôi và chúng ta” rồi.
Hùng “vọt” trước. Hạnh và Hiếu đạp xe song song sát lề đi sau. Được một quãng, Hạnh bỗng nói :
- Coi vậy chớ tôi thấy đề nghị của bạn Hùng có lý. Hiếu à.
- Ờ! Cũng có lý!
Hiếu đáp.

📎 tdb
0
Khỏe như ý muốn
 
Chí kềnh mới chuyển trường lên thành phố học chung lớp chúng tôi từ đầu năm học này. Cái tên Chí chính thức trong khai sinh của nó được chúng tôi nhất trí gan thêm chữ “kềnh” vào, là căn cứ vào thân hình chắc khỏe cúa nó. Nó rất khỏe! Nó gạ kéo tay với cả lớp và thắng tuyệt đối chúng tôi, trở thành vô địch kéo tay lớp 8A12. Trong một cuộc tỉ thí kéo tay liên lớp 8 và 9, nó chỉ chịu thua một “vận động viên” của lớp 9B6. Nhưng anh này cao hơn nó một cái đầu và từng đoạt giải ba đẩy tạ toàn thành.
Chí kềnh học khá. Nó nhanh chóng được xếp vào “tứ trụ triều đình 8A12” cùng với “tam kiệt” trước đây là Long nhốp, Hà hột mít và tôi, tút Vinh ca rô. Càng chơi thân với nhau, chúng tôi càng khám phá thêm nhiều tài năng đặc biệt của Chí kềnh. Chẳng hạn tài kể chuyện của nó. Ôi! Thật là tuyệt! Chuyện của Chí kềnh kể bao giờ cũng hấp dẫn chúng tôi, lại lạ nữa, toàn những chuyện chúng tôi chưa hề được đọc trên sách báo. Thêm một điều đặc biệt nữa, trong các câu chuyện, bao giờ Chí kềnh cũng là một nhân vật trong đó.
Dưới đây là một câu chuyện do Chí kềnh kể mà nó là nhân vật chính...
* * * * *
Chí kềnh kể:
Năm lớp 6, tôi là một học sinh vóc dáng cũng không đến nỗi tệ lắm nhưng phải cái rất yếu đuối, rất đúng với câu nói của ông bà ngày xưa là “trói gà không chặt”. Hồi ấy, chỉ có mỗi việc học là làm tôi say mê. Đến trường, giờ nghỉ giữa buổi trong khi các bạn đều ra sân đùa nghịch giái trí thì tôi vẫn ngồi trong lớp cắm cúi ôn bài hoặc tranh thủ giải một bài toán. Còn ở nhà, ngoài thì giờ phải phụ giúp ba má, tôi cũng vùi đầu vào sách vở mà học. Bài tập toán trong sách làm hết, tôi dựa vào đó bịa ra những đề bài tập khác rồi giải, vừa làm thầy vừa làm trò. Nhờ vậy, tôi luôn luôn dẫn đầu lớp.
Trường tôi hồi ấy có một nhóm học sinh hay quậy phá bạn bè, do Thuật kều học lớp 7 cầm đầu. Nhóm này đã vài lần chọc phá tôi. Hôm ấy, chúng lại chận tôi trên đường từ trường học về nhà, quãng vắng vẻ. Thoạt tiên, Thuật kều bước ra giữa đường giơ tay thổi còi miệng: “T...o...é...t” giống như mấy chú cảnh sát giao thông ngăn xe ở ngã tư đường phố vậy. Tôi dừng lại, lo lắng. Nó nói :
- Ê! Chí thư sinh! Tụi tao nghe đồn mày có tài đi bốn chân rất tuyệt có đúng thế không?
Tôi đã đoán được ý định của bọn Thuật kều. Mặt tôi vừa tái đi vì sợ, lại đỏ lên vì mắc cỡ khi tưởng tượng rằng mình sẽ phái bò cho chúng nó xem. Tôi ấp úng :
- Ai... ai nói gì kỳ cục vậy?
Thuật kều phẩy phẩy ngón tay trỏ trước mặt :
- Tụi tao nghe tin đài phát thanh B... Ê tụi hay, B gì hà? À đúng rồi, BBC.
Cả bọn hùa theo :
- Đúng rồi! Đài phát thanh BBC.
- Các bạn muốn gì? - Tôi sợ hãi hói.
- Thân thiện thôi mà! Tụi tao muốn được xem mày biểu diễn cái tài đi bốn chân ấy. Nào! Bỏ cặp xuống! Bắt đầu đi!
Tôi dáo dác nhìn quanh rồi liều bỏ chạy. Nhưng bọn Thuật kều nhanh hơn, mấy đứa cùng chạy theo nắm áo tôi kéo lại :
- À! Mày định đào thoát há? Đâu có dễ!
- Diễn viên xiếc! Mày biểu diễn đi rồi tụi tao bồi dưỡng cho.
Thuật kều nắm ngực áo tôi :
- Mày không đi bốn chân, tao cho ăn tát!
Tôi vùng thoát khỏi tay Thuật kều, một lần nữa lại bỏ chạy. Bọn Thuật kều hò reo đuổi theo. Tôi chạy, luống cuống thế nào vấp phải một cái rễ cây gồ lên ven đường, ngã sấp. Bọn kia reo lên :
- Chúng mày coi kìa, Chí thư sinh nó bắt đầu biểu diễn tài đi bốn chân kìa!
- Hay lắm! Biểu diễn đi!
Tôi vừa đau vừa tức, ứa nước mắt. Bàn tay tôi bấu vào cái rễ cây quái quỷ muốn bóp nát nó để trả thù. Một mảng vỏ rễ cây bong ra, nằm gọn trong tay tôi, rất lạ, nó có một mùi thơm thoang thoảng, cái mùi thơm ấy lại lan ngay vào mũi tôi khiến tôi thấy dễ chịu hẳn. Bọn Thuật kều vẫn ôn ào :
- Sao lâu thế Chí thư sinh? Đi bốn chân đi chớ! Nhớ kêu ẳng ẳng nữa mới hay.
- Ồ chẳng lẽ đài ABC, à không, BBC hả chúng mày? Nó lại loan tin vịt cồ sao?
Tôi liên tục phát hiện ra một điều khác thường. Tôi dễ chịu hẳn, chưa hết, lại thấy khoan khoái, rồi lại có cảm giác là trong người mình đang có một nguồn năng lực rất mạnh. Tôi đứng bật dậy, quay lại nhìn bọn Thuật kều. Nhanh như sóc, Thuật kều nhảy đến bên tôi, lấy tay ấn vai tôi buộc tôi phải quỳ xuống đất. Tôi chống lại, đứng thẳng dậy, rồi lấy tay đẩy Thuật kều một cái. Bất ngờ quá! Tôi thấy nó lảo đảo rồi ngã ngửa xuống đất. Tôi kêu lên :
- Xin lỗi... tôi... tôi không cố ý...
Thuật kều đỏ mặt, nó lồm cồm đứng dậy, khoát tay bảo đồng bọn :
- Thằng này dám cãi lệnh tụi mình. Anh em! Tất cả xông vô cho nó một bài học. A lê! Một! Hai! Ba!
Năm sáu đứa xông vào đánh tôi. Tôi hoảng quá, quơ hai tay chống cự theo bản năng. Lại một lần nữa tôi bị bất ngờ. Bọn Thuật kều đứa nào bị tôi đánh trúng cũng kêu la í oái vì đau. Một đứa chợt kêu lên :
- Nó có võ tụi bay ơi! Chạy thôi!
- Đúng rồi! Nó có võ mà lâu nay nó giấu. Chạy! Chạy thôi tụi bay...
Mấy đứa nhặt cặp bỏ chạy trước. Thuật kều còn chưa tin, nó xông tới bên tôi một lần nữa. Tôi đá một cái. Thuật kều kêu lên “Ối” rồi ôm người nhăn nhó. Bấy giờ nó mới chịu nhặt cặp, ba chân bốn cẳng chạy theo các bạn.
- Nó có võ thật tụi bay ơi!
Tôi ngơ ngác chẳng hiểu gì. Chẳng lẽ cái mùi thơm của vỏ rễ cây kia lại có phép mầu làm cho tôi có một sức mạnh như thế? Ôi! Nếu đúng như thế thì thật tuyệt. Từ nay tôi đã có trong tay cái bí quyết giúp mình chẳng còn sợ đứa nào ăn hiếp. Tôi bỏ mảnh vỏ rễ cây vào cặp, đem về định làm một vài thí nghiệm...
* * * * *
Nghe xong đoạn đầu câu chuyện, Long nhốp có ý kiến :
- Chuyện của mày sao “thần thoại” quá, Chí kềnh ạ.
Hà hột mít thêm :
- Chắc là mày bắt chước phim truyện “Chú bé biết bay” chứ gì. Ở trong phim ấy thì nhân vật chính ngửi hoa thần, mày bịa là ngửi vỏ rễ cây!
Chí kềnh một mực đính chính :
- Không! Chuyện của tôi có thật mà! Nếu các bạn không tin thì tôi sẽ không kể nữa...
Tôi giảng hòa :
- Long nhốp và Hà hột mít góp ý thế thôi, có đứa nào nói là không tin đâu. Mày cứ kể tiếp đi Chí kềnh.
Sau đó cả Long nhốp lẫn Hà hột mít cùng phải tuyên bố rút lại ý kiến của mình, Chí kềnh mới chịu kể tiếp.
* * * * *
Chí kềnh kể:
Tôi đã làm một số thí nghiệm như sau:
Thí nghiệm 1: Một buổi chiều, tôi lấy mảnh vỏ cây ra hít nhẹ mùi thơm của nó rồi ra sau vườn chẻ củi. Thật thú vị, tôi đã “thanh toán” nhẹ nhàng ba khúc củi ba tôi đang chẻ dở. Tiếp đó, tôi xách nước giếng đổ đầy hồ trước khi tắm rửa, trong người vẫn chẳng thấy mệt mỏi chút nào.
Thí nghiệm 2: Tôi đi lấy thâm một đoạn vỏ rễ cây khác về hít thở. Nó không có mùi thơm và kết quả tôi chỉ xách được tám thùng nước đổ vào hồ đã mệt bở hơi tai!
Kết luận sau 2 thí nghiệm: Mảnh vỏ rễ cây tôi tình cờ có được, chỉ mảnh vỏ đó, là một vật nhiệm mầu có thể giúp tôi sức khỏe mỗi lần hít mùi thơm của nó!
Câu hỏi: Mùi thơm của mảnh vỏ rễ cây có còn mãi không? Hay là nó sẽ mất dần tác dụng?
Thí nghiệm 3: Chiều thứ sáu, tôi hít thử mùi thơm trong 15 giây rồi thử hít đất. Tôi hít được một trăm lẻ sáu lần. Thật là kinh khủng!
Thí nghiệm 4: Chiều thứ bảy, tôi hít mùi thơm cũng trong 15 giây nhưng chỉ còn hít đất được chín mươi tám lần.
Thí nghiêm 5: Chiều chủ nhật, tôi hít mùi thơm trong 20 giây, hít đất được bằng hôm trước.
Kết luận: Mùi thơm của mảnh vỏ rễ cây sẽ bớt dần theo thời gian, tác dụng của nó yếu dần và nhất định một lúc nào đó sẽ không còn tác dụng. Vậy, tôi phải tiết kiệm, chỉ sử dụng phép mầu khi thật cần thiết.
* * * * *
Long nhốp, cũng vẫn là nó, mở đầu bình luận :
- Các kết luận mày rút ra từ các thí nghiêm là rất chính xác.
Hà hột mít thì lại thắc mắc :
- Thế hiện nay mày hít đất được bao nhiêu lần?
- Tao ấy à, tao chỉ hít được mười lần là hết hơi rồi.
Tôi gạt cả hai đứa bạn vì nôn nóng nghe tiếp câu chuyện :
- Thôi đi, nghe Chí kềnh nó kể sẽ biết, cứ hỏi, hỏi mãi..
* * * * *
Chí kềnh kể tiếp:
Sau lần ra oai ngoài ý muốn với bọn Thuật kều, tôi bỗng nổi tiếng với những lời đồn. Nào là thằng Chí thư sinh có võ mà nó giấu. Nào là thằng Chí có tài nhảy xa mười thuớc, nhảy cao vượt khỏi hàng rào trường. Bạn bè lớp 6 và các lớp trên đều tò mò hỏi tôi chuyện có thật không? Tôi trả lời bằng những câu khiêm tốn, không xác nhận mà cũng không phủ nhận. Đại loại như :
- Thế bạn có tin đó là sự thật hay không?
- Lời đồn mà bạn!
Cứ thế, cho đến một hôm nọ...
Trên đường đi học về, tôi tình cờ chúng kiến thầy Xuân dạy lớp 9 bị một nhóm thanh niên chặn lại gây sự. Tôi nấp một chỗ nghe chuyện và được biết thầy Xuân đề nghị kỷ luật một học sinh lớp 9, anh ta cậy nhóm thanh niên nọ uy hiếp buộx thầy phải hứa bỏ ý định ấy. Thầy Xuân cương quyết không đồng ý. Lập tức bọn lưu manh vây lấy thầy.
Tôi vội lấy mảnh vỏ rễ cây thân ra hít một hơi dài - phải một hơi dài vì bây giờ nó đã bớt thơm so với trước kia - rồi tôi xông ra đám đông.
- Yêu cầu các anh dang ra để thầy giáo ra về.
Bọn thanh niên nhìn tôi cười hô hổ. Một đứa nắm cổ tôi hỏi :
- Ê nhóc! Mày có bị bệnh tâm thần không? Mày anh hùng đấy! Nhưng để tao xem cái đầu mày cứng đến đâu!
Cánh tay của thằng lưu manh ấn cổ tôi xuống, tưởng sẽ buộc tôi phải làm trò cười cho cả bọn. Nhưng tôi đã đấm một cú vào giữa ngực nó. Nó hự lên một tiếng, loạng choạng suýt té! Tôi bồi thêm cú đấm thứ hai. Thế là nốc ao một đứa. Đứa thứ nhì xông vào thử sức, tôi phóng ra một cú đá. Chỉ cú đá đó đã kết thúc trận so tài. Cả bọn kinh hoảng, chẳng cần tìm hiếu vì sao lại có một đứa bé khỏe mạnh đến thế, kéo nhau bỏ chạy!
Ngày hôm sau, chuyện tôi trừng trị bọn lưu manh cứu thoát thầy Xuân được thầy kể cho cả trường biết. Giờ ra chơi, bọn Thuật kều kéo tôi ra một góc sân trường :
- Nè Chí, mày dạy tụi tao đánh võ đi.
- Mày giỏi quá, đúng là văn võ song toàn. Dạy tụi tao đánh võ nghen!
Tôi lắc đầu :
- Nhưng tôi có võ nghệ gì đâu!
- Với tụi tao mày cũng giấu à?
Tất nhiên là tôi vẫn cương quyết từ chối vì sự thật là tôi nào có võ vẽ gì!
* * * * *
Lại Long nhốp ngắt ngang câu chuyện :
- Hồi hộp nhỉ! Mày chẳng có võ mà cái mảnh vỏ rễ cây thì lại càng ngày càng mất tác dụng.
Hà hột mít :
- Thế mày có tính được kế gì giải quyết về lâu dài không?
Lần này tôi thấy Chí kềnh không còn tỏ ra bực bội vì bị ngắt lời nữa. Chắc là nó đang khoái chí vì Long nhốp và Hà hột mít đã tin chuyện nó kể là có thật. Chí kềnh bèn hăng say kể tiếp...
* * * * *
Hẳn là tôi phải tìm cách bảo vệ các thành tích của mình chứ. Trước hết là để bọn Thuật kều khỏi ăn hiếp. Tôi nghĩ đến nước này thì chỉ còn một cách là tôi phải có võ thật. Nghĩa là tôi phải tập võ. Khổ một nỗi, nếu tôi xin ba cho đi học võ thì lộ hết, chỉ còn cách tự học. Nhưng... lại nhưng.. Tự học gì còn được chứ chưa ai tự học võ bao giờ. Nghĩ mãi tôi mới tìm ra một cách giải quyết: mỗi buổi sáng sớm, tôi thức dậy tập thể dục theo các bài thể dục ở nhà trường, sau đó tôi tự sáng tạo ra những “thế võ” dựa vào các động tác thể dục.
Trong khi đó...
Một buổi chiều ba tôi bị mệt, tôi phải thay ông xách nước đổ vào hồ. Tôi hít một hơi rõ dài mùi thơm rất nhẹ của mảnh vỏ rễ cây thần kỳ, xách nước được hai phần ba hồ thì mệt: phép mầu hết hiệu nghiệm. Một phần ba hồ nước còn lại, tôi phải dùng đến sức mạnh thật của mình. Những buổi sáng tập thể dục và tập võ xem ra cũng khá kết quả; cứ như trước kia thì tôi đã không hoàn thành nhiệm vụ.
Ba hôm sau tôi lại phải xách nước đổ vào hồ. Tôi lấy mảnh vỏ rễ cây ra thì hỡi ơi, nó đã hết mùi thơm. Tôi phái đổ nuớc vào hồ bằng sức thật của mình. Tôi đổ được nửa hồ nước.
Một hôm đến trường, bọn Thuật kều vây lấy tôi, nhao nhao nói :
- Nè Chí, tụi tao đã “bật mí bí mật” của mày rồi. Đúng là mày có võ. Sáng sớm nào mày cũng tập võ cả.
Thuật kều múa một đường võ mà nó học lóm được của tôi cho tôi xem. Nó nói :
- Thấy chưa! Mày nhận ra thế võ của mày chưa?
Một đứa khác nói :
- Nhưng tụi tao vẫn muốn được mày dạy. Rình xem tập, khó học lắm!
Tôi nín cười khi nhận lời dạy võ cho bọn Thuật kều!
* * * *
Trên đây là toàn bộ chuyện kể của Chí kềnh. Long nhố và Hà hột mít đã tỏ ra nghi ngờ ở đoạn đầu câu chuyện, tới đoạn cuối thì cả hai quên bẵng điều nghi ngờ của mình, lại còn đòi Chí kềnh dạy mình học... võ!
Phần tôi, tôi vẫn chẳng sao tin được cái phần thần thoại của câu chuyện. Tôi chắc chắn Chí kềnh bị ảnh hưởng bộ phim “Chú bé biết hay”. Nhưng với tôi, điều ấy chẳng quan trọng. Bởi vì có một điều quan trọng hơn sau đó đã xảy ra. Đó là tôi thích tập thể dục mỗi buổi sáng hơn. Cả Long nhốp và Hà hột mít cũng thế. Thú thật, trước khi nghe câu chuyên của Chí kềnh, ba đứa chúng tôi rất lười rèn luyện thân thể.
Còn bạn, bạn nghĩ gì về câu chuyện của Chí kềnh?

0
Thằng đầu bò
 
Dưng không, Toàn trở thành văn sĩ, đồng thời cũng trở thành thằng...! Tại chị nhà báo Mộng Tuyết cả, chuyện chẳng có gì mà cũng thành ầm ĩ.
Số là vào cuối năm học, nhà trường mở cuộc thi sáng tác văn thơ và bắt buộc tất cả học sinh trong trường đều phải tham dự. (Eo ơi!). Thầy chủ nhiệm lớp Toàn giải thích :
- Ở tuổi các em nếu để cho các em tự do thì khó có việc gì thành. Dĩ nhiên nhà trường cũng biết là không nên bắt buộc các em, nhưng trong cuộc thi này, thực chất cũng chẳng khác một lần kiềm tra khả năng diễn đạt bằng quốc văn cộng với sự tưởng tượng của các em. Thôi thì các em nên nhiệt liệt hưởng ứng tự giác một cách... bắt buộc!
Toàn nặn óc cả tuần lễ không đươc câu chuyện tưởng tượng nào. Cháy nhà mới ra mặt chuột. Thế mới biết Toàn chẳng có cái gọi là sự tưởng tượng phong phú, bay bổng chi cả. Tới giờ chót, bí quá, Toàn bèn kể chuyện hồi nhỏ mình là một thằng nhóc hết sức bướng bỉnh nên từng bị nhiều trận đòn ra đòn. Chuyện có thật lại của chính mình nên Toàn viết ra khá dễ dàng. Chú chàng đặt tựa là “Thằng đầu bò”, giống cái tên mà cả nhà gọi mình hồi ấy.
Ít lâu sau, ban giám khảo công bố kết quả và... “Thằng đầu bò” trúng giải cao nhất! Ban giám khảo đúng là những người có con mắt xanh! Toàn nghĩ thế sau mấy phút chết đứng như trời trồng vì bất ngờ. Được thưởng năm mươi ngàn đồng, Toàn đem về nộp ba má bốn mươi ngàn, còn mười ngàn dẫn đám bạn thân đi ăn kem, suýt phải năn nỉ một đứa nào đó bù thêm.
Lẽ ra chuyện chỉ có thế nếu không có sự xuất hiện của chị Mộng Tuyết. Chị nhà báo đến làm việc với thầy hiệu trưởng, rồi Toàn được gọi lên văn phòng. Chị Mộng Tuyết khéo chọn tên, chị có làn da trắng như trứng gà bóc, ăn nói thì ngọt ngào như trong mộng. Chị phỏng vấn Toàn :
- Em viết “Thằng đầu bò” trong trường hợp nào?
Toàn ngay thật đáp :
- Dạ thưa chị, trường bắt buộc phải tham dự cuộc thi mà em thì không biết tưởng tượng, bí quá em bèn đem chuyện thật của chính mình ra viết.
- Hau quá! Thế ra trước đây đã có một thời em là “thằng đầu bò”.
Toàn gãi đầu ngượng nghịu :
- Thưa chị, đúng như vậy... Nhưng... chuyện ấy đã qua rồi ạ.
- Chị cũng nghĩ như thế - Chị Mộng Tuyết cười thông cảm với Toàn, ôi chao, nụ cười duyên hết ý! - Chị thấy thế này, cái chú nhóc “đầu bò” trong truyện tuy có bướng bỉnh, tuy bị phạt đòn, nhưng một đôi lần thực ra là chú nhóc ấy đã bị phạt oan và chú nhóc vẫn lấp lánh những đức tính của một đứa trẻ ngoan... Phải không em?
Toàn sướng phồng mũi. Nhà báo họ nói năng có khác... Lấp lánh những đức tính... Ôi! Rõ ràng là xuất khẩu thành thi.
Sau đó ít hôm, trên trang báo của tờ “học sinh hôm nay” xuất hiện bài viết của chị nhà báo Mộng Tuyết với cái tựa đề khá hấp dẫn: “Thằng đầu bò kể chuyện mình”. Nội dung bài báo không có gì khiến Toàn phải buồn lòng mà trái lại, đôi chỗ còn làm cho chú chàng ngượng đỏ mặt vì chị Mộng Tuyết bốc lên!
Một tháng sau nữa thì trên trang sáng tác của báo “Học sinh hôm nay” có in truyện ngắn “Thằng đầu bò” với tên tác giả in trang trọng: Nguyễn Minh Toàn, bên dưới ghi chú thêm: học sinh lớp 8 trường Văn Lang.
Đó cũng là những ngày sắp nghỉ hè. Toàn đến trường, trong đầu đang nghĩ về những chuyến picnic vui vẻ với bạn bè sắp tới thì nghe tiếng ai đó gọi :
- Ê! Chào Giăng sĩ Nguyễn Minh Toòng!
Toàn đỏ mặt. Văn sĩ ư? Ngượng lắm! Nhưng phải công nhận là nghe cũng khoái!
Đi một quãng, lại có tiếng gọi :
- Ê! Chào thằng đầu bò!
Lần này thì Toàn tái mặt. Thằng đầu bò? Đúng rồi đấy, nhưng chuyện ấy đã qua rồi. Ôi! Không biết đứa nào trong đám đông kia ác mồm ác miệng đến thế!
Gần tới lớp thì Toàn nghe một giọng con gái, giọng nói vui chứ không có gì ác ý, nhưng cái giọng ấy lại gọi Toàn thế này :
- Chào văn sĩ đầu bò!
Toàn dễ dàng nhận ra người thốt ra câu chào đó là Mỹ, cô bạn cùng lớp, nhà chung xóm với mình, cũng là bạn khá thân. Toàn đỏ mặt rồi tái mặt, rồi lại đỏ mặt. Thế này thì quá lắm rồi!
- Nè Mỹ, tôi không muốn bị gọi nhạo báng như vậy đâu!
Mỹ có lẽ đã nhận ra mình làm cho Toàn phật ý, liền nói :
- Mỹ xin lỗi Toàn vậy. Mỹ chỉ đùa gọi như vậy thôi chứ đâu có ý nhạo báng Toàn...
- Có ai lấy thước mà đo lòng người!
Toàn buột miệng. Ôi chao! Sao lại thế nhỉ! Mình mà cũng xuất khẩu là thành thi liền sao!
- Bộ Toàn giận Mỹ hả?
- Tất nhiên không thể vui rồi!
- Mỹ đã xin lỗi!
- Chửi người ta rồi xin lỗi thì dễ ợt, ai làm không được!
Mỹ giận, bực, tức, run, mất bình tĩnh. Rồi Mỹ không kiềm chế được mình :
- Đúng là... là... thằng... đầu bò!
Toàn cũng nổi xung thiên; giận mất khôn luôn :
- Còn ai đó là gì? Là... là... đế quốc Mỹ xâm lược! À mà không... Mỹ nhè! Mỹ nhè! Tưởng tôi không biết chuyện hồi đó hả?
Chưa hết giận, về nhà hôm ấy, Toàn lấy giấy bút ra viết luôn một mạch chuyện hồi nhỏ Mỹ là một cô nhóc hay nhè, lấy nước mắt cá sấu để vòi tiền ông nội, có lần bị ba đánh cho một trận nên thân. Toàn đặt tựa là “Mỹ nhè”.
Văn sĩ Nguyễn Minh Toàn coi vậy mà có giá. Truyện gửi đi chưa đầy một tháng đã được đăng. Cái tựa giữ nguyên xi “Mỹ nhè”. Nội dung đăng nguyên xi. Nhưng, sự bực tức trong lòng Toàn thì không còn nguyên xi nữa. Toàn thấy mình phản ứng thô bạo quá! Đúng là hành động của một thằng đầu bò.
Nghỉ hè, có lắm trò vui vậy mà Toàn cứ ra vô băn khoăn khó chịu mãi từ khi cái truyện “Mỹ nhè” được đăng. Một hôm Toàn quyết định qua nhà Mỹ để xin lỗi.
Toàn đã gặp Mỹ. Nhưng Mỹ thụt vào trong nhà, đóng cửa lại và nói vọng ra :
- Con nhỏ Mỹ đi vắng rồi!
* * * * *
Lên lớp 9, Toàn vẫn học chung với Mỹ. Nhưng hai đứa đã “gần mặt cách lòng” rồi! Đúng ra, trong lòng Toàn không ngơi ân hận. Lên lớp 9, sắp thi tốt nghiệp, rồi lên 10 đã thành học sinh cấp 3 như ai, người lớn rồi, nghĩ lại chuyện năm trước mới thấy là mình con nít quá! Đã mấy lần Toàn tìm cách làm quen để xin lỗi Mỹ, nhưng Mỹ đều lánh mặt.
Buồn quá, Toàn lại viết truyện. Lần này là chuyện “thằng đầu bò” trả thù, nói xấu “Mỹ nhè”, sau đó chú chàng ân hận tới nhà bạn xin lỗi. Khác với thực tế đã diễn ra, Toàn viết đoạn kết thế này: Thằng đầu bò hồi hộp gõ cửa. Cửa mở. Mỹ nhè vừa trông thấy bạn đã vội đóng cửa lại. Thằng đầu bò nói ngay: “Mỹ! Tôi qua xin lỗi Mỹ mà”, Mỹ nhè đứng sau cửa im lặng một lát. Cuối cùng nó nói vọng ra: “Con nhỏ Mỹ đi vắng rồi! Thôi! Vô nhà đi!”. Cửa lại mở!
Truyện ngắn “Cửa lại mở” của Nguyễn Minh Toàn lại được đăng. Chắc chắn là Mỹ có đọc nó trên báo “Học sinh hôm nay”. Toàn hồi hộp chờ hiệu quả của văn chương. Cầu trời cho bữa nào “thằng đầu bò” tới gõ cửa nhà Mỹ, mọi chuyện sẽ diễn ra y hệt như trong truyện!

0
Sinh nhật
 
Đồng hồ điểm bảy tiếng đều đặn, hồn nhiên như nó vẫn hồn nhiên. Những chiếc lá khế đã cúp xuống, chìm vào giấc ngủ sớm. Ngọn đèn tròn bảy mươi lăm oát lâu lắm mới được phép rực sáng từ lúc trời mới xế chiều, hào hứng nhìn ngắm khắp sân. Chiếc bàn tròn hàng ngày vốn là nơi học tập của chị em Phương, tối nay giấu mình dưới chiếc khăn phủ màu xanh nõn chuối, nằm bên gốc khế. Trên mặt bàn, chục cái ly bông úp quanh chiếc bánh sinh nhật mười bốn ngọn nến, im lặng và náo nức chờ đợi.
Từ lúc năm giờ rưỡi, khi Phương và anh Khoa kê bàn ghế, dọn ly, bánh... bé Yên đã bám sát Phương, nhắc đi nhắc lại câu hỏi: “Thế bao giờ bạn chị Phương tới?”. Tướng Khôi lúc nào cũng đùa được, trề môi dưới trả lời thay Phương: “Sáng mai!”.
Khi ấy câu hỏi của bé Yên và lời đáp của tướng Khôi còn được Phương vui vẻ bằng cái gật đầu rất điệu kèm theo nụ cười :
- Phải đấy! Sáng mai!
Và bé Yên ngây thơ thắc mắc :
- Thế sao chị Phương dọn bánh ra từ bây giờ?
Lúc này thì đã khác!
Phương không cười nổi nữa. Bảy giờ rồi, trễ nửa giờ so với giờ mời mà bọn quỷ sứ vẫn chưa thấy đứa nào đến. Tất cả là do lỗi “ông cố vấn” Khai mà. Mà cũng tại Phương nữa, ai bảo đi nghe lời xúi bậy của anh Khoa...
Cách nay cả tháng, Phương đã tâm sự với anh Khoa về việc tổ chức sinh nhật lần thứ mười bốn của mình. Bố mẹ đã nói nhiều lần với anh em Phương là chỉ những sinh nhật chẵn: mười, mười lăm... của mỗi đứa bố mẹ mới tổ chức tiệc mặn. Còn lại các năm khác chỉ được làm nhẹ nhàng: bánh kẹo, nước ngọt...
- Nhưng mốt bây giờ cứ phải là ăn mặn cơ! - Phương thủ thỉ với anh Khoa - Anh nghĩ coi, bạn bè tụi nó tới đứa nào cũng mua quà tặng mình mà mình chỉ đãi bánh với kẹo, coi... trùm sò quá! Hồi đầu năm học rồi, nhỏ Đông Hà mời sinh nhật, tụi em để bụng đói tới dự, cuối cùng chỉ được ăn bánh ngọt uống nước sirô tắc. Ra về, đứa nào cũng “phê” nó “tới số” luôn.
- Vậy Phương muốn thế nào?
- Ơ... Anh là “ông cố vấn” của em mà!
- À... ờ... Nhưng... cũng phải để cho “ông cố vấn” có thì giờ suy nghĩ đã chứ!
Ít hôm sau, anh Khoa cố vấn cho Phương thế này :
- Anh đã nghĩ kỹ lắm rồi. Mình không nên làm cho bố mẹ buồn. Tiền bạc trong nhà chẳng dư giả gì, Phương biết đấy...
Phương tiu nghỉu :
- Tưởng anh bàn thế nào chứ...
- Có, anh có bàn với Phương đấy chứ! Thế này nhé. Ta vẫn nghe lời bố mẹ, tổ chức nhẹ nhàng bánh trái thôi. Nhưng ta rút kinh nghiệm vụ của Đông Hà. Phương sẽ nói thắng với bạn bè khi mời là mình chỉ tổ chức đơn giản, sự có mặt của các bạn là quý rồi, nếu có tặng quà kỷ niệm thì chỉ cần tượng trung thôi.
- Nói vậy kỳ lắm, em không nói được đâu...
Dù sao, cuối cùng Phương vẫn phải nghe theo lời anh Khoa. Tuy nhiên, thay vì phải trực tiếp nói với bọn quỷ sứ “mục đích yêu cầu” thì “ông cố vấn” đã nghĩ ra cách đánh máy trong giấy mời như sau :
- “Mời bạn đến dự sinh nhật thứ mười bốn của Phương được tổ chức vào lúc bảy giờ tối ngày... sau bữa cơm chiều”.
“Ông cố vấn” xoa hai bàn tay, vui vẻ nói với Phương :
- Bạn bè Phuơng sẽ thừa thông minh để hiểu thế nào là sau bữa cơm chiều! - Anh gật gù tự khen mình - Sau bữa cơm chiều! Ồ! Thật là tế nhị, lịch sự! Một sáng kiến tuyệt vời!
* * * * *
Bảy giờ mười lăm, chiếc bàn tròn kê bên gốc khế vẫn bỏ trống. Phương nhìn anh Khoa đang ngồi đọc sách mà ứa nước mắt :
- Tại anh đấy! Tại anh mà tụi nó rủ nhau xù hết rồi!
Anh Khoa có vẻ nao lòng nhưng vẫn cố bình tĩnh bằng cách pha trò :
- Khoan hãy khóc nào cô nương. Sao lại có vụ xù. Để xem. Bớ... bớ thiên lý nhãn của ta đâu? Hãy cho ta biết xem bọn quỷ sứ bạn của em ta hiện đang ở đâu? À... ờ... chúng đang rủ nhau đi hả? Tốt lắm... Rất cám ơn...
Phương không cười nổi.
“Ông cố vấn” kiên trì :
- Xin lỗi! Thiên lý nhãn của ta đó hả? Sao? Thế nào? Chúng đang đạp xe đến à? Hay lắm! Xin cảm ơn...
Đúng lúc ấy có tiếng reo của bé Yên từ ngoài cổng :
- Bạn chị Phuơng tới, chị Phương ơi!
Tướng Khôi nhảy chân sáo vào, mở miệng là biết đùa :
- Đông lắm, hàng mấy chục người lận!
Tiếng thắng xe đạp, tiếng cười nói ồn ào ngoài cổng làm khô nước mắt cho Phương. “Ông cố vấn” ngáp phải ruồi, cái mặt hất lên :
- À... thiên lý nhãn của ta đó hả? Đến rồi à? Tuyệt lắm!
Bọn quỷ sứ bạn Phương đến không thiếu đứa nào. Trên tay mỗi đứa đều có một gói quà. Chúng tranh nhau hỏi và nói cho Phương nghe :
- Trò đợi tụi tôi dữ lắm phải không? Trái tim bé bỏng đã rớt ra ngoài chưa hả cô nương?
- Chắc trò tưởng tụi tôi xù vì cái vụ “sau bữa cơm chiều” hả?
- Trái lại! Tụi tôi rất thích cái câu ấy. Tụi tôi nhất trí sẽ học tập trò, từ nay sẽ tổ chức sinh nhật “sau bữa cơm chiều” cho gọn nhẹ.
- Tôi đề nghị đăng ký đây là sáng kiến cấp nhà nước! Thật là một sáng kiến “tuyệt vời”.
- Trò biết vì sao tụi tôi tới trễ không? Lúc đầu tính hùn nhau mua quà chung, sau lại đổi ý, mỗi đứa mua một món quà cho xôm-tụ-tập-trung-gian.
- Bởi vậy tụi tôi mới tới trễ-tràng-giang-hồ-hởi.
- Nhưng trò cũng phải rút kinh nghiệm. Mời “sau bữa cơm chiều” mà ghi là bảy giờ thì hẻo quá. Nhà tôi sáu giờ rưỡi mới ăn cơm lận!
Sau một hồi lao nhao vẫn không để cho Phương nói câu nào, cả bọn xúm quanh :
- Dang hai tay ra nè, cô nương!
- Đây là quà của tui, cầm lấy!
- Còn đây là quà của tui...
Phương chớp chớp mắt, nghẹn lời. Dường như những chiếc lá khế đang thức dậy, ngọn đèn tròn thì quắc mắt nhìn Phương và các bạn. Còn chiếc đồng hồ trong nhà, nó vừa điểm một tiếng: đã đúng bảy giờ rưỡi tối!
Tiếng anh Khoa vang lên :
- Thôi, xin mời các cô nương ngồi vào bàn đi chứ, ta bắt đầu tiệc-tùng-phèng-la-lối!
Gớm! “Ông cố vấn” bắt chước kiểu nói của bọn quỷ sứ bạn Phương đến là nhanh. Phương nhìn anh, chịu cái lý của anh: chuyện gì khó khăn cứ nói thật chân tình với bạn bè thì thế nào cũng được giải quyết tốt đẹp.
Sẽ phải nói thế nào đây với anh Khoa, vè một lời cảm-ơn-nghĩa-cử-động!

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.06.2014 04:58:58 bởi casau>
Nửa điểm thêm
 
Trước ngày hội diễn văn nghệ học sinh cấp hai, khi các đơn vị đã đăng ký đủ chương trình dự thi của mình thì hầu như mọi người đều đoán được ai sẽ là người đoạt giải nhất đơn ca.
Thầy Mai, người phụ trách câu lạc bộ ca nhạc của Nhà thiếu nhi, vui vẻ nói với Hồng Loan, cô bé có cái lúm đồng tiền, học trò cưng của mình :
- Chuẩn bị ăn khao nghe trò!
Hong Loan bẽn lẽn :
- Thầy nói làm em hồi hộp quá!
Thầy Mai gật gù, mái tóc muối tiêu vừa dày vừa dài coi rất nghệ sĩ mà nét mặt thì lại nghiêm :
- Nói vậy chớ trò vẫn phái hết sức tập trung khi biểu diễn mới chắc ăn.
Cô Tuyên phụ trách đội văn nghệ trường Lê Lợi của Hồng Loan thì nhắc nhở cô bé mảnh khảnh có giọng hát tuyệt vời :
- Nhớ nghe Hông Loan. Hội phụ huynh tặng cho em nào đơn ca nhiều điểm nhất hội diễn một chiếc áo dài. Nhiều điểm nhất chớ không phải giải nhất đâu nghe. Ráng lên đó.
Bạn bè Hồng Loan nhao nhao lên :
- Hồng Loan nó nhiều điểm nhất là cái chắc rồi cô ơi.
- Có thầy Mai trong ban giám kháo, còn lo chi hả cô!
- Nè Hồng Loan được thưởng chiếc áo dài, sướng ghê nha!
Phần Hồng Loan, cô bé rất phấn khởi. Cô bé nghe cô Tuyền kể lại thì các “ca sĩ ngôi sao” của năm trước đều không còn xuất hiện ở hội diễn này vì các chị ấy đều đã lên lớp 10. Còn những “địch thủ” mới của cô bé thì đều xoàng cả. Có những bạn còn rất “vô danh”. Dù sao, Hong Loan vẫn nhớ lời thầy Mai căn dặn. Cô bé không hề lơ là tập dượt. Cô bé chú ý nghe đoạn nhạc dạo đầu để “vào” cho thật ngọt, chú ý phát âm rõ và đúng, cũng không quên diễn cảm bài hát bằng đôi mắt, nét mặt, đôi tay...
Trước ngày hội diễn, Hồng Loan thủ thỉ với má :
- Má ơi, thế nào con cũng được thưởng chiếc áo dài. Vậy là qua năm con lên cấp ba, má chỉ phải may cho con một chiếc nữa thôi để con mặc thay đổi.
Má âu yếm bảo cô bé :
- Ờ, con cố gắng nghe chưa. Nhà minh nghèo, con đỡ đần ba má được chút nào hay chút ấy.
Trường Lê Lợi là một trường lớn, có đến gần hai ngàn học sinh, lại có truyền thống luôn tích cực tham gia các hội diễn văn nghệ, năm nào trường Lê Lợi cũng có số diễn viên đông đảo nhất, chương trình phong phú nhất và thường cũng chất lượng nhất. Ban tổ chức thường chọn trường Lê Lợi biểu diễn ngay sau lễ khai mạc để lấy khí thế chung cho hội diễn.
Năm nay cũng không ngoại lệ mọi năm. Sau phần thủ tục khai mạc, ban tổ chức giới thiệu đội văn nghệ trường Lê Lợi...
Tiết mục thứ năm là đơn ca của Hồng Loan. Cô bé nhí nhảnh trong chiếc duýp hồng bước ra sân khấu giữa tiếng vỗ tay ái mộ “ngôi sao” của các khán giả nhỏ tuổi. Cô bé tự giới thiệu trước khi ban nhạc trỗi lên giai điệu mở đầu. Rồi tiếng hát của cô bé cất lên, hay bổng khắp hội trường đang im lặng thưởng thức :
Tuổi hồng trên đôi tay
Qua con đường đến trường mỗi ngày.
Dịu dàng lá me bay
Nắng vấn vương áo trắng thơ ngây...

Một tràng pháo tay, rồi lại tiếp tục một tràng pháo tay nữa tán thưởng Hồng Loan khi cô bé hát xong, chào lui vào hậu trường. Nơi bàn giám khảo, nhiều vị gật gù khen ngợi. Nụ cười nở trên môi thầy Mai, chánh chủ khảo.
Cuối buổi thi, Hồng Loan gặp thầy Mai. Thầy nói :
- Tốt lắm! Trò hát xuất thần. Tôi thật không ngờ.
Hồng Loan vô cùng sung sướng.
Những buổi thi sau đó, Hồng Loan luôn có mặt. Cô bé hoàn toàn yên tâm vì chưa có “địch thủ” nào qua mặt được cô bé. Buổi thi cuối cùng gồm ba trường nhỏ ở ngoại ô. Trường nhỏ nên không có ban nhạc riêng, ban tổ chức phải nhờ nhạc công đệm giùm. Hồng Loan nói với bạn ngồi cạnh :
- Kiểu này thì đơn ca sẽ rớt hết.
Quả thật, đã có hai “ca sĩ ngoại ô” bị “rớt” vì không “vào” được bài hát sau khi nhạc dạo đầu chấm dứt. Ca sĩ thứ ba được giới thiệu tên là Phương Thúy, một cái tên lạ, một gương mặt chưa ai quen. Cô bé Phương Thúy mặc đồng phục học sinh cấp hai, duýp xanh, áo trắng, thắt khăn quàng đỏ, coi “quê quê” làm sao! Nhưng khi tiếng hát của Phương Thúy cất lên, mọi người đã không khỏi ngạc nhiên. Cô bé rất chững chạc truớc ban nhạc lạ, vào đúng nhịp, đúng tông. Tiếng hát ngọt ngào của cô bé đã khiến cả hội trường lặng đi. Hồng Loan cũng lặng đi vì bất ngờ, vì thán phục và... buồn thay, vì cả ganh tị nữa! Phần thưởng trước mắt cho Phương Thúy là hai tràng pháo tay nối nhau, là những lời xầm xì trong khán giả, là những cái gật đầu của giám khảo.
Hồng Loan bỗng thấy lo sợ...
* * * * *
- Thưa thầy, tôi đại diện đội văn nghệ trường Lê Lợi xin được trao đổi với thầy một việc...
- Chào cô Tuyền. Lại có cả Hồng Loan nữa à. Mời cô và trò Loan ngồi. Nào, có chuyện gì xin cho tôi được nghe...
- Thưa thầy, chúng tôi được biết điểm thi đơn ca của em Hồng Loan...
- Tôi xin phép được ngắt lời. Việc dò hỏi điểm thi truớc khi công bố kết quả là vi phạm...
- Chúng tôi biết và xin nhận lỗi với thầy. Nhưng việc này không lộ ra ngoài nên thầy có thể yên tâm. Chúng tôi được biết Hồng Loan bằng điểm với Phương Thúy.
- Và cả hai em đều đạt giải nhất đơn ca. Cô và trò Loan muốn khiếu nại gì chăng?
- Thưa không. Chúng tôi chỉ muốn xin thầy vừa với cương vị chánh chủ khảo, vừa là thầy dạy nhạc của Hồng Loan, thầy cho em ấy thêm nửa điểm.
- Ồ! Tôi chưa hiểu. Tại sao phải làm như thế?
- Thưa thầy, chúng tôi xin giải thích. Số là hội phụ huynh trường chúng tôi có hứa sẽ tặng thưởng thêm cho Hồng Loan chiếc áo dài nếu em ấy đạt điểm cao nhất.
- Tôi hiểu rồi.
- Thưa thầy, chúng tôi thiết nghĩ thầy có thể cho Hồng Loan thêm nửa điểm để giúp em ấy mà không làm ảnh hưởng gì đến kết quả hội diễn. Phương Thúy và Hồng Loan vẫn giải nhất. Điểm thi thì đã quy định là không công bố. Thầy chỉ cần đại diện ban giám khảo xác nhận số điểm của Hồng Loan là cao nhất, và sự xác nhận này cũng chỉ có hội phụ huynh trường Lê Lợi biết mà thôi...
- Thôi được rồi, tôi ghi nhận đề nghị của cô. Tôi sẽ suy nghĩ kỹ và quyết định sau. Hồng Loan à, cho thầy khen em lần nữa, hôm đó em hát xuất thần. Tôi rất hãnh diện vì em.
Cô Tuỳèn bấm tay Hồng Loan như thầm nói :
- Em nghe thầy Mai nói không. Như vậy là có hy vọng thầy sẽ cho em thêm nửa điểm rồi đó!
* * * * *
“Trò Hồng Loan mến.
Tôi chắc là trò thất vọng dữ lắm khi tôi chỉ xác nhận trò bằng điểm Phương Thúy. Trò có thể trách tôi cũng như cô Tuyên và những người biết chuyện có thể trách tôi.
Tôi đã suy nghĩ kỹ. Đúng như cô Tuyền phân tích, việc cho trò thêm nửa điểm không ảnh hưởng gì đến kết quả hội diễn. Vả chăng, tôi có thể công khai đưa ý kiến với ban giám khảo cũng được. Nhưng tôi lại nghĩ đến một điều. Đó là khi tôi trò thêm nửa điểm thì đồng thời tôi đã trừ đi nơi trò nhiều điểm hơn về tính trung thực. Tôi cũng tự trừ điểm mình đã không trung thực giống như trò vậy.
Tôi biết hoàn cảnh gia đình trò. Vì vậy tôi có ý tặng trò toàn bộ số tiền bồi dưỡng giám khảo của tôi để góp thêm chi phí may áo dài cho trò. Trò hãy gặp tôi để cho tôi biết trò đã nghĩ gì sau khi nhận thư này.
Tôi rất hy vọng sẽ không thất vọng về trò.
Thầy Mai”.


0
Tha lỗi cho Hương chim nhé
 
Chích! Chích!
Chú chim nhỏ cô đơn chuyền qua lại trên cành vú sữa và luôn miệng kêu. Hương bắt gặp chú chim ấy từ mấy ngày nay, vào các buổi sáng khi cô bé giúp mẹ Hoa lo cho các em ăn sáng ở góc phòng khách. Cả ngày, và nhất là buổi sáng, phòng khách tràn ánh nắng nhờ hai khung cửa sổ, có lẽ đã được trồng từ trước khi làng cô nhi được xây lại. Chú chim nhỏ trông chẳng khác bạn chim của Hương ngày cô bé còn sống với cậu mợ Dương. Nó cũng có cái mỏ bé xíu dễ thương luôn “Chích! Chích!” và nhảy nhót không biết mỏi chân. Chỉ có điều, Hương không thể nào biết được nó có phải là bạn chim cũ của cô bé sau một thời gian tìm kiếm, đã đến chia vui cùng cô bé hay không?
Ôi! Chú chim nhỏ đã từng đến chơi với Hương khi cô bé quay nước giếng mỗi buổi sáng ngày ấy...
* * * * *
Được tin bố Hương mất, cậu Dương tức tốc về quê. Đường sá quá xa xôi, khi cậu Dương về tới thì mọi chuyện đã xong xuôi. Cậu thắp nhang trước mồ bố Hương, đứng lặng một lúc rất lâu. Khi trở về nhà, cậu bàn với mẹ Hương đem cô bé về nhà cậu để cậu nuôi dạy phụ chị một tay. Mẹ Hương bằng lòng. Thế là Hương phải chia tay với mẹ, với chị Trâm, thằng Cún. Hương không muốn rời bỏ quê hương nhưng cô bé hiểu trong hoàn cảnh này, cô bé còn ở lại là mẹ còn chịu thêm một gánh nặng. Con tàu Thống Nhất đưa cậu cháu Hương qua gần hai ngàn cây số sau ba ngay đêm vất vả. Càng đi xa quê hương, cảnh sắc càng lạ mắt với Hương. Cả đến thời tiết cũng chẳng giống. Trời đang lạnh phải mặc áo ấm, chỉ qua một cái đèo dài đã trở nên nóng nực. Cuối cùng, tàu vào ga cuối, hai cậu cháu gọi xích lô về nhà cậu Dương ở ngoại ô thành phố.
Gia đình cậu Dương có bốn người: cậu mợ Dương và hai em Hằng, Dụng. Là vai em nhưng Hằng lớn hơn Hương hai tuổi, còn Dụng thì nhỏ hơn một tuổi. Con chị người mảnh khảnh như Hương nhưng thằng em lại to lớn, bậm trợn. Tính nết hai đứa cũng khác nhau, một đứa hiên lành ít nói, đứa kia hung hãn, hay gây sự. Cậu Dương nói với Hương rằng vì đang giữa năm học nên Hương cứ ở nhà, phụ giúp mợ được việc gì thì giúp, qua năm sau cậu sẽ xin cho Hương đi học. Cậu còn gọi chị em Hằng, Dụng ra căn dặn phải thương yêu chị Hương. Con Hằng gật đầu nói “Dạ” trong khi thằng Dụng cười hì hì...
Những tuần lễ đầu tiên qua đi...
Một buổi tối, vừa thiu thiu ngủ, Hương giật mình tỉnh dậy vì tiếng cãi cọ của cậu mợ Dương. Tuy hai người lớn đã cố nói nhỏ, nhưng những âm thanh gay gắt vẫn nghe rõ trong cảnh tĩnh mịch của vùng ngoại ô. Cậu Dương nói: “Nó là cháu ruột tôi”. Mợ Dương cười mỉa: “Nhưng nó có phải là con tôi đâu! Trong khi nó vẫn là một miệng ăn và tôi phải chi tiền chợ!”... Hương hiểu ngay là sự có mặt của mình đã làm cho mợ Dương khó chịu. Cô bé tủi thân nhớ mẹ, nhớ chị Trâm và thằng Cún ở cách xa mình đến gần hai ngàn cây số. Cô bé chỉ biết khóc âm thầm.
Chú chim nhỏ chỉ đến có một mình. Lần đâu tiên trông thấy nó, Hương đã nghĩ: “A! Một con chim mồ côi giống mình đây mà!”. Chú chim nhỏ nhảy chuyền trên cành khế bên giếng nước, luôn miệng “Chích! Chích!”. Hương vừa quay nước giếng lên thùng phuy cho cả nhà dùng, vừa trò chuyện với chú chim nhỏ. Cô bé nói với chim và tưởng tượng ra những câu trả lời của chim :
- Chim ơi! Chim thấy chị Hương quay nước giếng giỏi không?
- Chích! Giỏi lắm! Chích! Nhưng cũng tội nghiệp lắm.
- Chị Hương tự nghĩ ra việc làm cho mình đấy chim ơi. Để mợ Dương hiểu là chị Hương cũng góp phần làm công việc trong gia đình. Để mợ đừng ghét chị Hương. Chim có hiểu không?
- Hiểu rồi! Chích! Chị Hương ngoan lắm! Chích!
Lâu ngày, Hương xem chú chim nhỏ như bạn. Cô bé hay để dành những hạt thóc trong khi nhặt sạn gạo thổi cơm, để làm quà cho chim. Cô bé rải thóc xuống sân giếng, gọi: “Chích! Chích!”. Chú chim nhỏ liền đáp xuống. Chú vừa mổ thóc vừa nghển cổ, dáo dác nhìn Hương, nhìn chung quanh. Hương nói với chim :
- Chim ơi đừng sợ. Chị Hương không làm hại chim đâu.
Một hôm Hương đang quay nước thì cái gầu bị đứt dây, rơi tòm xuống giếng. Giếng sâu hàng chục thước, cô bé chẳng biết làm cách nào để vớt gầu lên được. Mợ Dương nghe báo, cau mặt. Mợ túm lấy tóc Hương, tay cầm cây chổi lông gà quất túi bụi vào lưng, vào mông cô bé. Mợ mắng Hương :
- Đồ ăn hại! Đồ phá phách! Sao mày cứ như cái gai trước mắt tao thế hả?
Hương đau lắm. Nếu sự đau đớn của thể xác là một thì nỗi đau trong tâm hồn cô bé phải gấp nhiều lần hơn. Nhưng cô bé không dám khóc mà chỉ van xin :
- Con xin lỗi mợ. Mợ tha cho con.
Những lằn roi lại giáng xuống người cô bé :
- Tha này! Tha này!
Buổi chiều cậu Dương đi làm về, thấy Hương ủ rũ, cậu hỏi :
- Cháu làm sao vậy?
Hương đáp dối :
- Dạ, cháu thấy trong người khó chịu...
- Vậy thì để cậu lấy thuốc cho cháu uống.
Hương thấy thương cậu Dương quá. Cô bé cứ phân vân mãi, không biết mình có nên nói với cậu, xin cậu cho trở về quê nhà với mẹ, no đói cực khổ có nhau không?
Một buổi sáng chủ nhật, Hương vẫn quay nước giếng và đợi chú chim nhỏ bạn mình đến chơi.
Chích! Chích!
Hương sung sướng nhìn chim và lại trò chuyện với chim đồng thời tưởng tượng ra lời đáp của chim :
- Chim ơi! Hôm nay chị Hương có nhiều thóc cho chim ăn đấy. Lại có cả mấy hột đậu xanh nữa
- Chích! Thích quá đi! Chích! Thành ra chim còn sướng hơn cả chị Hương nữa.
- Đúng rồi! Chim có một mình nhưng chim được chị Hương chăm sóc. Còn chị Hương phải lủi thủi ngày này qua ngày nọ. Chị Hương nhớ quê lắm, nhớ mẹ, nhớ chị Trâm, nhớ thằng Cún lắm...
Hương rải thóc xuống sàn giếng. Chim sà xuống mổ thóc và nghển cổ nhìn cô bé như mọi khi...
Chợt: Vút...!
Một viên sỏi nhỏ từ trong nhà bay ra, trúng sàn giếng và vang lên. Chú chim nhỏ đang ăn thóc hoảng hốt đập cánh bay vút lên cây khế rồi lại vỗ cánh bay mất dạng.
Từ trong nhà, thằng Dụng chạy ra tay cầm cái ná thung. Nó tắc lưỡi tiếc rẻ :
- Suýt chút nữa em hạ được con chim rồi!
Hương ôm ngực vì sợ. Cô bé bảo Dụng :
- Con chim ấy là bạn của chị. Dụng đừng bắn chết nó tội nghiệp lắm!
- Hì hì! Chị Hương nói nghe mắc cười quá. Người mà làm bạn với chim à. Nó mà tới nữa, em lại bắn.
- Không! Dụng đừng làm thế, ác lắm!
- Em cứ bắn đấy! Em cứ bắn! Em bắn để lấy thịt chim rán cho ba nhắm rượu.
Mấy buổi sáng sau đó, không thấy chú chim nhỏ đến nữa, Hương vừa mừng vừa nhớ. Thật ra, Dụng đi học buổi sáng, chim chỉ cần tránh mặt vào sáng chủ nhật thôi. Nhưng làm sao chim hiểu được điều ấy, còn Hương thì chẳng biết làm cách nào cho chim hiểu.
Buổi sáng chủ nhật lại tới, Hương thầm mong chim đừng tới với mình, trái với ngày thường cô bé vẫn muốn nhìn thấy chim. Nhưng ác nghiệt thay, Hương đang quay nước thì nghe tiếng “Chích! Chích!” trên cành khế. Cô bé nhìn lên, trông thấy chú chim bạn mình đang đậu trên đó. Hương lấy vội gói thóc trong túi ra rải xuống sân và nói :
- Chim ơi! Chim xuống ăn nhanh lên rồi hay đi ngay nhé. Ngày mai chim hãy đến chơi với chị Hương lâu hơn.
Chim sà xuống...
Hương nhìn về phía cửa bếp. Cô bé bắt gặp Dụng lấp ló nơi đó, chiếc ná thung đã giương lên, căng dây. Cô bé vội kêu lên :
- Đừng bắn, Dụng ơi!
Nghe tiếng Hương, chú chim nhỏ kịp bay vụt lên trước khi viên sỏi từ chiếc ná thung bay đến chỗ nó đang mổ thóc. Không bắn được chim, Dụng ném ná thung, lăn ra vừa khóc và kêu :
- Má ơi! Chị Hương ăn hiếp con nè má ơi!
Mợ Dương từ trên nhà chạy xuống. Mợ chẳng hỏi han Hương câu nào. Mợ túm tóc Hương, tay kia vớ cây củi và cứ thế quất túi bụi vào người cô bé.
- Đồ ăn bám! Mày dám chọc ghẹo con trai tao nữa hả? Từ nay nhớ mà chừa nghe chưa?
Hương cắn răng chịu đựng trận đòn.
Tối hôm ấy Hương bị nóng sốt. Khi chăm sóc cho cháu, cậu Dương phát hiện ra những lằn roi trên người Hương và cô bé đành phải kể hết sự thật.
Cậu và mợ Dương cãi nhau một trận kịch liệt.
Vài hôm sau, cậu Dương dẫn Hương đến làng cô nhi xin được gởi cô bé với lý do đặc biệt. Hương được giao cho mẹ Hoa. Mẹ Hoa dẫn Hương về ngôi nhà lợp ngói thật đẹp có tấm bảng nhỏ ghi số 8. Mẹ Hoa gọi chín đứa bé khác đã ở sẵn trong nhà ra chào Hương bằng chị và mẹ dạy Hương :
- Từ nay con gọi mẹ bằng mẹ và gọi các em đây là em. Con sẽ là chị hai của chúng nó...
* * * * *
Chích! Chích!
Chú chim nhỏ đến chuyền trên cành vú sữa bên ngôi nhà số 8 của mẹ con Hương vào mỗi buổi sáng, bây giờ đã trở thành bạn mới của cô bé. Những hôm có thóc, Hương rải xuống nền gạch ngoài hiên, chú chim liền đáp xuống mổ thóc. Cô bé cùng lũ em đứng sau khung cửa sổ nhìn ra thích thú. Chú chim mổ thóc, cái đầu nghển lên nhìn quanh, y hệt như bạn chim của Hương ngày trước. Cô bé tự hỏi: hay đấy chính là bạn chim cũ của mình?
Hương nói chuyện với chú chim bằng tưởng tượng :
- Bây giờ chị Hương đã có mẹ, có các em rồi, chị Hương không còn khổ nữa..
- Chích! Thế chị Hương có còn nhớ mẹ, nhớ quê không?
- Sao lại không! Chị Hương nhớ lắm chứ. Mẹ Hoa bảo bao giờ có điều kiện mẹ sẽ đưa Hương về thăm quê đây...
- Chích! Thích quá! Thích quá!
Bỗng một hôm mẹ Hoa bảo Hương mặc quần áo đẹp rồi theo mẹ lên phòng khách lớn của làng cô nhi. Ở đó đã có mẹ giám đốc ngồi nói chuyện với cậu mợ Dương và cả hai em Hằng, Dụng. Hương chào cậu mợ rồi ngồi nép vào bên mẹ Hoa.
Me giám đốc nói với Hương :
- Cậu mợ con đến xin đón con về đó Hương à.
Hương nắm tay mẹ Hoa, nép sát hơn vào người mẹ.
Cậu Dương nói :
- Cậu đã phân tích phải trái cho mợ nghe và mợ đã ân hận...
Mợ Dương lấy khăn thầm nước mắt :
- Đùng oán giận mợ nghe Hương. Mợ hứa sẽ thương yêu nuôi dạy cháu như con vậy.
Mẹ giám đốc hỏi :
- Thế nào? Con bằng lòng về với cậu mợ chứ?
Hương nhìn mẹ Hoa. Nước mắt cô bé đã lăn dài, cô bé tin là mợ Dương nói thật lòng. Nhưng cô bé cũng đoán chắc là mẹ Hoa đang rất hồi hộp. Mấy tháng sống với mẹ Hoa, Hương đã xem người mẹ nuôi như mẹ ruột. Thời gian ấy cũng đã tạo nên tình thương yêu của Hương với chín đứa em. Tất cả nơi đây, cả hai mươi ngôi nhà mang số, cả mẹ giám đốc, cả các mẹ ở những nhà khác, cả những đứa trẻ mồ côi ở những nhà khác... đều đã trở thành thân thương với Hương.
Mẹ Hoa cũng lên tiếng hỏi Hương :
- Con về với cậu mợ chứ, Hương?
Hương nghẹn ngào :
- Không! Con ở lại đây với mẹ, với các em con...
Dỗ danh mãi không được, mọi người đành phải chiều ý Hương, trước mắt vẫn để cho cô bé ở lại làng cô nhi thêm một thời gian nữa.
Lúc chia tay, Hương nắm tay Hằng, xoa đầu Dụng. Chợt nhớ đến chú chim nhỏ ngày nào, cô bé hỏi Dụng :
- Con chim hồi đó có trở về tìm chị không hả Dụng?
Dụng đáp, giọng hớn hở hồn nhiên :
- Có! Nó có vẻ tìm chị đấy chị Hương à. Nhưng em đã bắn chết nó rồi! Em đưa má rán cho ba nhắm rượu, ba khen thịt chim ngon lắm.
Hương run lên. Nước mắt cô bé lại rơi. Nhưng cô bé không trách Dụng. Nó còn nhỏ, nó chẳng hiểu gì...
* * * * *
Chích! Chích!
Chú chim nhỏ cô đơn trên cành vú sữa đang đáp xuống mổ thóc. Bây giờ thì Hương đã biết chắc nó không phải là bạn chim cũ của mình rồi. Cô bé nói với bạn chim mới :
- Nhớ đừng bay đến những nơi có bọn con trai chơi ná thunb nghe chim.
Hương lại nhớ đèn chú chim nhỏ ngày nào, chú chim mồ côi tội nghiệp...
Tha lỗi cho Hương, chim nhé!

0
Lại mưa
 
Cơn mưa không lớn mà vẫn làm cho nước hồ dềnh lên, ngập cả cột mức. Ở phía đập, người ta đang mở cống xả nước. Nơi bến ca nô, bác gác đèn tiên đoán nước còn cao ít ra là hai ngày nữa vì rừng vẫn tiếp tục đổ nước vào suối Bờ Bao sau cơn mưa. Mặc dù vậy, chiếc ca nô vẫn rời bến tiến vào lòng hồ trước khi rẽ phải, thực hiện chuyến đi đến bìa rừng phía Bắc.
Hồ Bờ Bao mới có từ mùa nắng trước, khi ngưòi ta đắp đập ngăn dòng chảy của con suối Bờ Bao. Nước ngập cách hai bên bờ suối cũ mỗi bên vài cây số, theo suốt tám cây số chiều dài suối. Nước ngập làm cho cây cối bị thối rễ, trút lá xuống lòng hồ, trơ thân cành như một khu rừng mới bị trúng thuốc khai quang. Người ta kéo đổ nhiều thân cây lớn rồi vận chuyển lên bờ làm gỗ, củi tùy loại. Nhưng không phải tất cả đều có thể kéo đổ. Những thân cây còn lại hợp với ít lùm tre vẫn xanh tươi khó hiểu, tạo nên một cảnh đẹp bất ngờ mà những người thiết kế hồ Bờ Bao chưa hề nghĩ tới.
Lệ cũng công nhận là cảnh tuyệt đẹp từ khi chiếc ca nô rẽ phải, bắt đầu tiến vào khu rừng trụi lá giữa lòng hồ. Chiếc máy ảnh trong tay Lệ được dịp bấm lia lịa. Một giò phong lan vẫn xanh tươi trên thân cây khô trụi. Những tổ chim bằng rơm bỏ trống trên các chạc ba. Một cánh chim chấp chới trên bầu trời. Mặt trời chiếu sóng sánh dưới nước. Lò đốt than xa xa bên bờ ngút khói... Tất cả hứa hẹn sẽ cho Lệ những tấm ảnh màu mà cô có thể hãnh diện khoe với bạn bè cùng lớp.
Chiếc ca nô len lách giữa những “bộ xương cây” và theo người tài công thì phải luôn bám theo dòng suối cũ mà ông thuộc như lòng bàn tay nếu không muốn bị mắc cạn. Lắm lúc chiếc ca nô phải tắt máy, sử dụng mái chèo dự bị để len qua một vùng lềnh bềnh nhánh cây gãy trôi tụ lại. Cuối cùng, nó tắt máy hẳn và đâm đầu vào bờ. Cửa rừng!
Chính tại nơi đó, cửa rừng, Lệ đã gặp và quen Nhu, cô bé mười lăm mảnh khảnh, nước da mét xanh vì bị sốt rét từ khi hồ Bờ Bao đẩy cửa rừng tới tận nơi này, một nơi rừng còn rậm và ít dấu chân người. Nhu gọi Lệ bằng chị, Lệ gọi Nhu bằng tên, đôi khi là em. Nhu thích nghe Lệ kể chuyện Sài Gòn trong khi Lệ cần nhiều thì giờ cho việc đi rừng chơi và chụp ảnh. Lệ lên rừng và ở lại lán trú của cha con Nhu vài ngày là vì thế. Chú Song, ba Nhu, vui vẻ nhận lời hướng dẫn Lệ đi rừng không phải vì nhiệm vụ được giao mà còn với cả sự tự hào, thích thú.
Cảm ơn chú Song đã giúp Lệ mấy chuyến vào rừng thú vị. Chỉ đáng tiếc là trong mấy ngày ở lại, có đến ba con mưa bất ngờ đã giữ chân Lệ phải ở lại lán. Mưa rừng dù lớn hay nhỏ cũng đều khiến Lệ có cảm tưởng như bão rớt. Tiếng mưa rơi lẫn với tiếng gió rừng gào thét, không khác nào lời đe dọa của thiên nhiên. Lán dột, bốn bề lại không mấy kín đáo nên nền lán sũng nước đã đành, lại lạnh, lạnh ngắt. Lệ ngồi co ro với Nhu trên chõng tre. Và không có gì để làm khác hơn là Nhu hỏi Lệ chuyện Sài Gòn. Lệ trả lời các câu hỏi của Nhu. Nhưng rõ ràng là hai đứa có hai tâm trạng khác hẳn nhau.
Cứ nhớ lại thì biết. Lúc gió nổi, mây đen trời bắt đầu rắc mưa xuống rừng, Lệ đứng bên chú Song nơi cửa lán nhìn ra. Lệ lắc đầu chán nản :
- Lại mưa!
Âm thứ nhất chùng hẳn xuống, âm thứ hai thất vọng.
Trong khi đó Nhu lại cao giọng, cả hai âm đều ngắn và phấn khởi :
- Lại mưa!
Ngồi bên nhau trên chõng, trùm mền kín người, câu chuyện của Nhu không dứt.
- Chị Lệ ơi, chợ Bến Thành bây giờ có lớn hơn trước không? Em xa Sài Gòn tới năm năm rồi đó.
- Chị Lệ ơi, sở thú có thêm con vật gì lạ không? Hồi xưa, tháng nào ba cũng dẫn em đi chơi sở thú...
Những câu hỏi bất tận...
Đôi khi, chú Song chen vào :
- Nhu! Con hỏi gì dữ vậy?
Khi đó, Nhu lấm lét nhìn ba, nhỏ giọng :
- Con nhớ Sai Gòn!
Chú Song chợt buồn thiu. Lệ đã biết hoàn cảnh chú. Thím bệnh nặng không có tiền chạy chữa nên qua đời ở Sai Gòn. Chú thù ghét chốn đô hội, đưa con gái lên rừng sinh sống...
Những cơn rừng rừng tai quái. Nhưng làm sao ngăn được. Đang là mùa mưa mà. Cả đến buổi sáng ca nô đến đón Lệ về, mưa cũng bất chợt rơi. Lệ lại kêu lên :
- Lại mưa!
Vẫn một âm chùng và một âm thất vọng.
Có điều, không có hai âm “Lại mưa” vui vẻ của Nhu. Nhu mới lên cơn sốt chiều hôm trước, còn nằm lả trên chõng, người phủ kín mền. Lệ tới bên từ giã Nhu. Cô bé mười lăm vẫn chưa tỉnh. Lệ đặt bàn tay mình lên trán cô bé, nóng hổi. Tạm biệt Nhu. Mong Nhu sớm hết bệnh... Lần sau trở lại, Lệ hứa sẽ kể cho Nhu nghe thật nhiều chuyện Sài Gòn...
* * * * *
Hè năm nay Lệ lại lên hồ Bờ Bao, lại đi ca nô xuyên lòng hồ đến cửa rừng phía Bắc. Chú Song vẫn ở lán gác rừng của mình, đã được sửa sang tươm tất hơn. Chú vẫn nhiệt tinh hướng dẫn Lệ đi chơi rừng và chụp ảnh. Và, vẫn có những cơn mưa bất chợt ào xuống ngăn một chuyến đi đã dự tính của hai chú cháu.
Nhưng trước mỗi cơn mưa như thế, chỉ có chú Song với nét mặt buồn buôn, khẽ lắc đầu rồi chép miệng :
- Lại mưa!
Vô tình sao mà chú nói giống hệt Lệ năm trước. Một âm chùng và một âm thất vọng.
Còn Lệ, Lệ không thốt lời nào mà chỉ khẽ cắn môi, im lặng. Hồ Bờ Bao và cảnh rừng đã mất đi sự quyến rũ với Lệ rồi.
Vì cách nay nửa năm, một cơn sốt rét đã cướp đi sự sống của Nhu! Chẳng còn ai để Lệ kể chuyện Sài Gòn mà Lệ đã chuẩn bị rất nhiều!

0
Cánh cửa sổ không còn khép lại
 
Tai nạn ngày ấy nhiều người đã quên hoặc không còn nhớ rõ mọi diễn biến. Chỉ biết rằng đó là một tai nạn do pháo, và nạn nhân, chú bé Công đã phải bị cưa cụt cả hai chân. Từ đó, gắn cuộc sống với chiếc xe lăn, Công nghỉ học khi chưa kịp thi tốt nghiệp phổ thông cơ sở. Chú bé sống buồn bã, mặc cảm.
Công gọi tôi là chú Hai, vì tôi là hàng xóm chứ chúng tôi không có họ hàng gì. Mà không, nói cho hết lẽ thì có họ đấy, chúng tôi cùng họ Nguyễn (mà họ Nguyễn ở nước ta thì có thiếu gì!). Cũng cần nói cho hết lẽ về chuyện hàng xóm của chúng tôi. Nhà chúng tôi không chung vách, không sát vách, nghĩa là đối diện nhau cách nhau con đường cư xá. Công có một người anh đã đi làm xa, ba má cũng còn ngày ngày đến công sở. Trong giờ làm việc, nhà chỉ còn một mình Công. Để đề phòng kẻ gian, ba má Công khoa trái cửa và để ngỏ cửa sổ giúp Công có thể nhìn ra ngoài và khách có thể nhắn gì đó với Công khi cần.
Nhưng, cứ khi ba má đi khỏi một lát, Công lại chồm người qua bàn viết kê sát cửa sổ, với tay khép hai cánh cửa lại. Em không muốn nhìn thấy những người lành lặn qua lại trên đường, không muốn giao tiếp với xã hội, hay vì lý do gì, không ai rõ. Chỉ biết rằng nhiều lần tôi cùng ba ma em đã cố gắng động viên, thuyết phục em mở cửa sồ mà không thành công. Em im lặng trước những câu hỏi hoặc lời lẽ của người lớn. Nét mặt em buồn rười rượi.
Ngày ngày, cửa sổ nhà Công vẫn khép...
Một buổi sáng cách nay gần một năm, tôi bận việc nhà, đi làm trễ. Vừa mở cổng đẩy xe ra tôi thấy cánh cửa sổ nhà Công đang đóng bỗng bật mở. Từ trong cửa sổ, tiếng của Công vọng ra :
- Chủ Hai! Chú Hai ơi!
Tôi tưởng có chuyện gì không hay xảy ra với Công, vội dựng xe chạy qua ngay và rối rít hỏi :
- Có chuyện gì vậy cháu? Chìa khóa cửa đâu, đưa đây chú mở cửa vô giúp cho...
Công ngồi trên xe lăn, sau bàn viết, cười bẽn lẽn :
- Không có chuyện gì gấp đâu chú Hai à... Cháu... cháu chỉ muốn nhờ chú chuyển giùm cháu lá thư này...
Tôi thở phào nhẹ nhõm :
- Vậy mà chú tưởng... Nào, đưa thư đây chú gửi cho.
- Dạ, thư đây! - Công trao thư qua cửa sổ - Chú Hai ơi, chú đừng cười cháu nghen!
- Sao vậy?
- Vì... cháu gửi bài cho tòa báo...
- Ồ! Hay quá! Thì ra cháu viết văn!
- Dạ không! Cháu chỉ dịch mấy bài sưu tầm nhỏ về khoa học.
- Hoan hô cháu! Nhưng tài liệu ở đâu cháu có để dịch vậy?
- Của ba cháu mua về. Cháu mượn xem và thử dịch...
- Thì ra bấy lâu nay cháu đóng cửa để ôn luyện sinh ngữ phải không?
- Có như thế... Nhưng cũng không hẳn chỉ có thế, chú Hai à...
Hôm ấy, lòng tôi rất vui vì thấy chú bé Công đã tìm được cách sống thích hợp với hoàn cảnh của mình mà hòa nhập với cuộc sống chung quanh.
Sau đó, lần lượt nhiều bài dịch ngắn của Công xuất hiện trên báo. Nụ cười đậu trên môi em và niềm vui thì tràn ngập lòng ba má em, lây lan sang cả tôi, người bưu tá đặc biệt của Công. Em mở toang hai cánh cửa sổ trước nhà cho ánh sáng tràn vào. Người lối xóm qua lại ai cũng có thể thấy Công thường ngồi trên xe lăn, sau bàn viết, trước mặt là mấy cuốn tạp chí tiếng Anh và gần đây là cuốn tự điển Anh Việt loại lớn mà em mua bằng tiền nhuận hút của nhiều bài dịch gom lại.
Hôm nọ, Công trò chuyện với tôi. Em hỏi :
- Chú Hai thường đưa bài giùm cháu, chắc chú Hai biết mấy cô chú ở tòa báo. Họ tốt bụng lắm phải không chú Hai?
- Sao lại hỏi chú về chuyện đó?
- Cháu tin chắc là họ tốt bụng lắm và cháu ao ước có dịp gặp mặt họ.
- Kìa, cháu chưa giải thích thắc mắc của chú.
- Thế này chú Hai à... Có lẽ biết hoàn cảnh của cháu nên các cô chú ở tòa báo thương. Họ đã giúp đỡ cháu bằng cách sửa lại cho đúng những chỗ cháu dịch sai hoặc chưa thật chính xác. Cháu giữ bản nháp, cháu so sánh với bài được in, cháu biết liền. Nhờ vậy cháu học tập được nhiều kinh nghiệm dịch thuật. Bài mới nhất, cháu chỉ bị sửa có hai từ thôi chú Hai à. Đây, hôm nay chú chuyển dùm cháu cái thư cảm ơn các cô chú ở tòa báo. Còn đây là một bài dịch mới của cháu...
- Được, cháu đưa cả đây. Chú sẽ chuyển đến tận tay người cháu muốn cảm ơn.
Quả thật Công có nhiều tiến hộ trong việc học và dịch tiếng Anh. Như thường lệ, sáng hôm đó, ngồi nơi bàn làm việc của mình tại cơ quan, trước khi làm nhiệm vụ, tôi mở bài dịch của Công nhờ gởi cho tòa báo, để kiểm tra lại so với bản gốc, như bao lần trước tôi đã làm giúp em. Tôi vui mừng thấy Công đã dịch tốt, không cần sửa chữa nữa.
Tôi dán bao thư lại và hình dung ra Công giờ này đang ngồi sau khung cửa sổ không còn khép như trước kia, cặm cụi tra tự điển dịch một bài sưu tầm mới.

0
Chuyện bịa đặt năm ấy
 
Khi lên bảy tuổi, tôi là một đứa trẻ nhút nhát. Giữ ra chơi, tôi mặc kệ những đứa khác ra sân chơi đủ trò, nào bắn bi, rượt bắt, nhảy lò cò... Tôi cứ ngồi tại chỗ, nếu không có đứa bạn nào nhận lời rủ chơi cờ ca rô thì tôi chơi một mình! Thỉnh thoảng, vào một hôm nào đó, đã chán với những trò chơi ngoài sân, những đứa khác mới chịu ngồi lại lớp. Không phải là không có lý do đâu! Chúng ngồi trong lớp là để nghe tôi kể chuyện, một câu chuyện cổ tích mà ba má tôi mới kể cho nghe đêm trước hay một chuyện nào đó do tôi tự tưởng tượng ra.
Giờ ra chơi hôm ấy, nhân một đứa bạn hỏi về chỗ ở của gia đình tôi mấy tháng còn ở thuê trên phố, tôi vui miệng kể lại chuyện cây đa khổng lồ trong thành Đá ong bị cháy hồi đó. Đây là một chuyện có thật. Thành Đá ong là một thành cổ có từ thời Pháp, là nơi đồn trú của một đơn vị lính Pháp. Sau này, người Pháp về nước, thành Đá ong trở thành một khu vực bỏ hoang, cây cối um tùm rậm rạp. Trong số những cây cối ở đó, có một cây đa rất lớn, tàn cây che khuất cả một khu vực rộng bằng hàng chục căn nhà. Nhà tôi ở cách thành Đá ong một con đường, vì vậy tôi được tận mắt chứng kiến cảnh cây đa khổng lồ kia bi cháy. Từ khi ngọn lửa còn nhỏ, người ta đã lo chữa cháy rồi. Nhưng lửa mỗi lúc một cao, phừng phừng mạnh mẽ. Cuối cùng, cả đến xe cứu hỏa cũng đành bất lực trước cây đa cao ngất biến thành một ngọn đuốc tưởng chừng muốn đốt cháy bầu trời. Cây đuốc khổng lồ đó đã cháy suốt một đêm, qua sáng hôm sau mới tàn dần.
Tôi vừa kể xong thì Quán, một thằng bạn lớn hơn tôi hai tổi, vốn là một đứa bậm trợn, hay ăn hiếp bọn con gái, đã nói thêm :
- Nó kể đúng đấy! Hôm cháy cây đa trên tỉnh, nhà tao ở đấy, ai cũng ra đường đứng xem. Tao leo lên nóc nhà, thấy ngọn lửa cao thật là cao, dễ sợ lắm!
Nhàn, đứa con gái học dưới tôi một lớp, là đứa viết chữ đẹp nhất trường và thường được cô giáo Thư nhắc làm gương cho bọn tôi, le lưỡi :
- Eo ơi! Khiếp quá đi thôi!
Tôi làm oai :
- Sợ gì! Tao đứng bên nhà nhìn cây đa cháy từ đầu đến cuối. Tụi mày biết không. Lửa cháy nóng rát cả mặt, người tao cứ như đang lên cơn sốt vậy. (Tôi bắt đầu tưởng tượng) Cứ như người ta đi trong sa mạc ấy. Mồ hôi vừa chảy ra đã bị hơi nóng làm bốc hơi mất!
Quán lại chen vào :
- Nó nói đúng! Nóng kinh khủng... Tao đúng gần đấy tao biết!
Một đứa chợt phát hiện :
- ơ... Sao vừa rồi mày bảo nhà mày ở đây?
Quán rất nhanh trí :
- Ừ thì đúng như thế. Nhưng sau đó tao theo ba tao đi lên tỉnh xem cây đa cháy, tao đứng gần đấy thật mà. Không tin chúng mày hỏi nó xem?
Tôi biết tỏng là Quán bịa chuyện nhưng không hiểu sao lại thấy vui vui, vì thế tôi gật đầu :
- Đúng đấy, thằng Quán đứng bên cạnh tao. Chúng tao xem cây đa cháy cả đêm...
Quán khoái chí, bốc lên, nó tiếp tục bịa đặt :
- Tụi mày biết không, cây đa ấy cao lắm. Nó cao bằng cái nhà mười mấy tầng ấy. Còn cái gốc của nó, dễ đến chục đứa tụi mình nắm tay nhau vòng quanh mới kín. Thế mà nó vẫn bị cháy. Ghê chưa!
Đột nhiên, con Nhàn hỏi :
- Nhưng tại sao nó bị cháy?
Quán ấp úng :
- Ơ... cái chuyện ấy... tao... à... tao chỉ đến xem lúc nó cháy, làm sao tao biết được.
Tất nhiên tôi cũng chẳng biết. Nhưng tôi hoàn toàn có điều kiện bịa ra một câu trả lời nào đó. Trong một giây thoáng qua tôi đã nghĩ ra cái nguyên nhân vụ cháy. Tôi nói :
- Tao và bạn tao làm cháy cây đa ấy đó!
- Mày nói thật không?
- Sao lại không?
- Thế chúng mày làm sao mà nó cháy?
- Làm sao ấy à? Gốc cây đa ấy có một cái bọng. Trong cái bọng ấy có một con rắn. Bọn tao lấy lửa đốt rắn rồi lửa làm cháy cây đa.
Con Nhàn lại le lưỡi :
- Chúng mày ghê thật! Chúng mày dám đốt rắn làm cháy cây đa!
Hôm ấy tôi đã rất tự hào vì nghĩ răng mình là một anh hùng. Thằng Quán láo toét cũng tự hào chẳng kém gì tôi!
* * * * *
Thời gian qua đi. Ngày nay chúng tôi đã là những người lớn. Mỗi người có nghề nghiệp và gia đình riêng. Thỉnh thoáng chúng tôi vẫn gặp lại nhau, có lẽ nhờ trí tưởng tượng mà tôi trở thanh một người viết văn. Còn Quán thì thành một nhà buôn giàu có. Con bé Nhàn viết chữ đẹp ngày nào trở thanh một cán bộ bảo tang.
Một hôm, tôi tình cờ đọc được bài báo cùa Nhàn viết về thành Đá ong. Trong bài, khi viết về vụ cháy cây đa, Nhàn đã ghi: “Một đám trẻ đốt rắn trong bọng cây đã vô tình gây ra vụ cháy”.
Tôi bỗng nổi da gà. Rồi tôi tức tốc tìm đến nhà Quán. Tôi đưa cho Quán xem bài báo và kể rõ chuyện bịa đặt của mình năm nào. Nghe xong, Quán cười ha hả nói :
- Tưởng gì chứ! Cái bà Nhàn ấy thật dễ tin, thì cứ đế cho bà ấy tin như thế. Rồi dần dần nó sẽ thành một sự thật giống như thật. Chẳng hại gì ai!
Tôi không phản bác lại ý kiến của Quán vì tôi biết mình có làm điều đó cũng vô ích.
Từ giã Quán, tôi không về nhà mà đi thẳng đến phòng bảo tàng của Nhàn. Tôi là người viết văn, rất cần đến trí tưởng tượng. Nhưng tưởng tượng không bao giờ đồng nghĩa với bịa đặt, dẫu như Quán nói, trong trường hợp này sự bịa đặt chẳng hại gì ai! Quán có phần lý của mình, nhưng anh ấy còn không biết một điều: chuyện bịa đặt năm ấy làm lòng tôi nhức nhối!
 
HẾT
0
Thằng đầu bò - Nguyễn Thái Hải
 
Đã mang vào thư viện
 
Chúc casau luôn vui




0