Phần thứ hai
I
Tuy tối hôm trước thức khuya, sáng hôm sau Hảo cũng dậy sớm.
Dậy sớm đối với nàng đã thành thói quen trong liền bốn năm gần đây, từ khi nàng bắt đầu luyện tập thân thể. Thời ấy nàng mười bảy. Một hôm mẹ nàng thết tiệc, mời các quan Pháp, Nam ở tỉnh về dự. Thết tiệc là một nhược điểm của người đàn bà góa, hầu như một thị hiếu có từ khi còn sinh thời chồng. Cố nhiên có khiêu vũ, tuy bà Án không biết “nhảy”. Hảo thì đã được người anh họ dạy cho vài điệu dễ và nàng hãy còn e lệ - sự e lệ tự nhiên của cái tuổi mới lớn lên - nên chỉ giữ việc ngồi đặt đĩa vào máy hát.
Một người Pháp trẻ tuổi đến nói chuyện với nàng - Hảo nói tiếng Pháp khá thạo, tuy chỉ mới theo hết các ban Sơ học Pháp Việt - và khen cái nhan sắc của nàng. Người ấy lại bảo nàng: “Cô nên tập khiêu vũ vì khiêu vũ cũng là một môn thể thao. Cô sẽ nhờ môn thể thao ấy mà có một tấm thân nở nang, mạnh mẽ vì cô nên biết rằng có dung nhan xinh đẹp không đủ, phải có thân thể xinh đẹp nữa mới hoàn toàn là một mỹ nhân”.
Tuy đó chỉ là một câu tán tụng, và Hảo cũng biết thế, nhưng nàng đột ngột tìm ra được một khuyết điểm của nhan sắc mình. Từ đó nàng chăm luyện tập và sung sướng thấy thân thể mình một ngày một thêm cân đối, da dẻ mình một ngày một thêm hồng hào.
Đẹp, đó là mục đích của đời nàng. Nàng cho một thiếu nữ không đẹp thì không thể nào sung sướng được. Thông minh, có học vấn càng hay, nhưng thiếu cái nhan sắc cần thiết thì thông minh, học vấn cũng bằng thừa, cũng vứt đi. Thông minh, học vấn chi để làm tôi tớ cho nhan sắc mà thôi. Muốn đắc thắng, muốn có một tương lai vẻ vang, trước hết cần phải đẹp.
Hảo tin chắc như thế, vì luôn luôn nàng nhớ lại, nàng ngắm lại cái đời quá khứ vẻ vang của mẹ.
Mẹ nàng xưa là con một gia đình bán hàng tấm ở phố Hưng Yên. Thời bấy giờ Đào, tên mẹ nàng, nổi tiếng là đẹp nhất tỉnh và nhiều người lăm le muốn hỏi làm vợ, về sau nàng vào tay ông phủ Khoái Châu. Ông này đã có vợ cả, nhưng đó là một người đàn bà nhà quê hiền lành, và chỉ ham mê việc làm ruộng.
Vì thế, bà cả bỏ về làng và chỉ ba năm sau bà chết. Từ đó, tuy không chính thức kết hôn, Đào cũng nghiễm nhiên trở nên vợ kế ông quan họ Đặng đã thăng chức Án sát.
Bản tính thông minh, lại hay giao thiệp chơi bời với khắp các bà trong đám quan liêu, nàng đã đóng được vai bà lớn rất ra vẻ đường bệ và hách dịch. Đến nỗi ông Án cũng tự thú rằng lấy được nàng, ông thực nhẹ mình nhẹ mẩy. Ông là người quảng giao, thích khách khứa, tiệc tùng, thì người vợ của ông cáng đáng việc thết đãi cho ông được hoàn toàn chu đáo, hơn lòng ông ước nguyện. Điều đó cũng dễ hiểu, xa hoa vẫn là một thị hiếu của người đàn bà kia ngay từ thời người ấy còn là một thiếu nữ ở nhà cha mẹ.
Hảo mười tuổi thì cha nàng hồi hưu về làng sống trong một tòa lâu đài lộng lẫy, kiểu Âu Tây. Cuộc đời xa hoa vẫn tiếp tục. Ba năm sau, ông Án mất. Bẵng đi hơn hai năm tang chồng, miễn cưỡng sống trong sự giữ gìn, trong sự yên lặng, cái đời ầm ỹ vui thú của người đàn bà góa lại bắt đầu. Cái nhan sắc bốn mươi, vẫn còn đủ lộng lẫy để làm tôn những bàn tiệc long trọng.
Cái gia sản hơn chục vạn của chồng để lại tưởng tiêu không bao giờ hết, ngờ đâu mới thấm thoát có bốn năm trời đã hao hơn quá nửa. Người đàn bà chợt như tỉnh một giấc mộng và âm thầm nhớ đến câu tục ngữ:
“Ngồi mà ăn thì núi cũng lở”.
Trước kia bà không hẳn chỉ ngồi mà ăn. Bà cũng cho cấy thuê cấy rẽ gần trăm mẫu ruộng, nhưng lợi tức không thấm vào đâu với sự tiêu hoang phung phí, vì thế bà đem bán dần dần để có những món tiền phải cần dùng đến. Bán mãi cho tới ngày nay, ba phần bà không còn lấy một. Bà giật mình, vì chỉ làm qua một phép tính nhỏ là cũng thấy rằng chẳng bao lâu số ruộng còn lại sẽ hết. Đó là cái cớ chính khiến bà thiên gia đình lên Hà Nội. Lên ở Hà Nội, bà cũng chưa có mục đích buôn bán, kiếm lợi để cứu vãn lại tình thế nguy ngập đã bắt đầu. Lên ở Hà Nội chỉ cốt xa lánh một nơi nguy hiểm, còn ở làng bà còn phải tiêu pha rộng rãi, bà còn phải nay tiệc tùng mai khiêu vũ. Nếu bà bỗng thôi đi, người ta sẽ cho rằng bà sa sút, vả lại ở làng bà cần giữ thể diện, giữ oai vệ, của một bà quan to.
Mà thể diện, oai vệ bà cho chỉ có thể giữ bằng tiền, bằng ăn uống linh đình, bằng tiêu pha rộng rãi, bằng quà cáp biếu xén: sống tối tăm, sống lụi xụi, của một người đàn bà góa, thì sẽ bị người ta coi thường ngay. Thôi! Còn gì là thanh danh một bà đường quan hách dịch. Bỏ làng lên Hà Nội, tức là đến một nơi bình đẳng. Ở Hà Nội bà tiêu một tháng ba bốn trăm hay năm sáu chục cũng chẳng ai biết đấy là đâu mà dẫu biết, người ta cũng chẳng bình phẩm lôi thôi, ở Hà Nội sẽ chẳng phải mua chuộc ông nọ ông kia.
Bà đã tưởng bà sẽ bỡ ngỡ, sẽ khó chịu, sẽ thất vọng với cái đời sống mới này. Nhưng không, ngay buổi đầu bà làm quen, bà thân mật với nó ngay, nó không buồn tẻ như bà lo lắng.
Mà được thế là nhờ ở Hảo, con gái bà.
Hảo, đó là một cớ, cái cớ thứ hai khiến bà lên Hà Nội là Hảo đã hai mươi tuổi, cái tuổi già dặn của một thiếu nữ chưa chồng, chưa vị hôn phu, chưa cả ý trung nhân. Phải đâu Hảo không có nhan sắc! Trái lại thế, nhan sắc Hảo là thứ nhan sắc đặc biệt, nhan sắc lộng lẫy của hạng người sống cuộc đời phô trương, chứ không phải nhan sắc thùy mị ngây thơ của các cô sống đời rụt rè trong chốn phòng khuê những gia đình quan cổ.
Hảo đẹp, bà Án biết thế. Bà cũng không thể không biết rằng có nhiều đám ngấp nghé muốn dạm hỏi, nhưng còn chưa dám ngỏ lời, vì thấy hai nơi con nhà quyền quý đều không được Hảo ưng thuận. Bà mẹ tự hỏi thầm: “Chẳng hay nó định kén chọn hạng nguời nào?” Bà bàn với Hảo về việc hôn nhân của con, thì nàng chỉ trả lời vắn tắt: “Thưa mẹ, chưa muộn”. Chưa muộn! Ngoài hai mươi rồi còn chưa muộn à? Bà biết thế nhưng không dám ép nài; bà như vì nể, sợ sệt con.
Một hôm, bà gọi chuyện để dò ý Hảo :
- Cô Ngân con bà Án Tuyên mới mười tám tuổi đầu mà đã làm bà huyện rồi đấy.
Hảo mỉm cười đáp :
- Bà huyện mà không sẵn tiền thì cũng chẳng làm gì.
Mẹ hơi có giọng gắt :
- Làm Tri huyện thì sao lại không sản tiền!
Con vẫn ôn tồn :
- Thưa mẹ, chán ông huyện chả nợ đìa ra đấy là gì, như ông huyện Du Tiên, ông huyện Thư Trì vẫn vay tiền mẹ, chẳng hạn.
Thấy mẹ yên lặng, nàng tiếp luôn :
- Với lại có nhiều tiền nhưng không để vợ tiêu. Họ có tiền mà họ để dành tậu nhà tậu ruộng hay họ giữ trong tủ sắt thì cái giàu có ích gì cho người vợ? Không những thế, có khi họ ham làm giàu quá, họ sinh ra bo xiết, keo bẩn, ăn chả dám ăn, tiêu chả dám tiêu... Làm vợ hạng người ấy thì thà tự tử.
- Mày cứ nói thế chứ... Với lại chả làm bà huyện thì còn làm gì nữa!
Hảo vẻ mặt trang nghiêm :
- Thưa mẹ, muốn làm bà gì thì làm, miễn là có tiền, có rất nhiều tiền.
Sau câu chuyện ấy, bà Án sinh ra lo sợ vẩn vơ. Nhất bà lại thấy con hay lên Hà Nội với mấy người chị em họ ở Thái bình về rủ đi, có khi cả vợ chồng những ông huyện trẻ về dự tiệc. Bà thấy khó lòng mà từ chối không cho phép con được. Vì bà thường nghĩ lẩn thẩn: “Mình là một người đàn bà góa mà còn thích ăn chơi, huống hồ nó đang tuổi sung sướng! Cấm đoán nó thì thực là vô lý!” Vả lại bà hình như ngầm muốn cho con bà cũng chịu một phần trách nhiệm về sự phá tán cái gia tài của chồng để lại. Sau này, dẫu sao nữa, Hảo cũng không oán trách bà được, mẹ có tiêu pha xài phí thì con có xin vài ba trăm để sắm quần áo hay nữ trang mẹ cũng cho ngay.
Nhưng bà Án không lo sợ về sự tiêu pha. Bà chỉ lo sợ về sự sa ngã của con thôi. Bà vẫn biết Hảo thường xử sự một cách dõng dạc đường hoàng trong những cuộc giao duyên với phái đàn ông, và nhận xét theo tâm lý - bà mẹ nào chả hiểu tâm lý con - Bà tin chắc rằng Hảo không thể sa ngã được. Nhưng lo sợ thì bà vẫn lo sợ. Để một thiếu nữ hai mươi một mình đi Hà Nội, có bà mẹ nào yên tâm hẳn được, vì thế, nhiều khi con xin đi Hà Nội bà làm ra mặt cưng con, bắt tài xế đánh ô-tô đưa nàng đi, và dặn ngay chiều phải đưa nàng về. Chẳng đừng được, thì bà thân đi với con, để tiêu nhảm ở Hà Nội thêm vài trăm bạc.
Vậy thì thiên gia đình lên ở Hà Nội là thấy giải quyết được cả hai vấn đề khó khăn trên kia; lại còn một vấn đề thứ ba nữa, một vấn đề chẳng kém phần quan trọng ấy là việc kén chồng của Hảo. Ở Hà thành thì chẳng thiếu hạng thanh niên phú quý, trí thức lịch thiệp. Thế nào chẳng có được một đám mà Hảo và bà đều ưng thuận. Còn như rử cho bọn họ kéo đến nhà mình, thì đó là một việc rất dễ dàng không cần phải suy tính trước.
Bà dự đoán quả không sai. Làm dân Hà thành chưa đầy nửa năm, bà đã thu phục được nhiều nhân vật, trong đủ các hạng. Mà được chóng thế một phần là nhớ khóe cạnh khôn ngoan của bà: bà mời con người anh bà đến cùng ở với bà. Giáo sư Vũ văn Hoằng, một trang thiếu niên trí thức đứng đắn mà ai cũng biết tiếng, sẽ giúp cho sự giao du buổi đầu của mẹ con bà. Việc gì cũng chỉ khó buổi đầu.
Chính nhờ về địa vị làm môi giới ấy mà giáo sư Hoằng vụt trở nên một người quảng giao. Biết bao sinh viên trường luật, trường thuốc, biết bao ông tham, ông giáo, ông huyện trẻ chăm chỉ đến chơi với chàng và thành những bạn thân của chàng, để hy vọng trở nên bạn thân của Hảo, của cô em gái xinh đẹp và lịch thiệp của chàng.
Riêng bà mẹ cũng có nhiều may mắn trong giao du. Ngay hôm mới tới Hà Nội ngẫu nhiên bà gặp Thanh Đức, một người bạn của ông chồng bà, thời chồng bà còn Tri phủ. Ông ta đã giúp đỡ bà trong các công việc dọn nhà, trang hoàng bài trí. Rồi đưa các chỗ thân thích bạn bè đến giới thiệu với bà. Biết Thanh Đức là một tay cự phú, bà hết lòng chiều chuộng, tiếp đãi một cách đặc biệt hẳn. Và thấy ông bạn xưa của chồng quá đỗi săn sóc trông nom đến mình, bà tưởng ông ta còn cảm về cái nhan sắc cuối thu - bà vẫn tự biết rằng bà chưa hết duyên, tuy đã bốn sáu bốn bảy tuổi đầu.
Tới khi bà đoán thấy rằng Thanh Đức say mê đắm đuối nhan sắc con gái bà, thì bà lo lắng nghĩ ngợi, cho đó là một sự vô lý lạ lùng. Trước thái độ bình thản của con, bà càng hoảng hốt sợ hãi. Bà thấy Hảo thân mật với bọn thanh niên. Bà cho đó là một lối xã giao, nhưng bà không khỏi ngờ vực, mỗi lần bà đưa mắt ngắm vẻ mặt tươi cười rạng rỡ của con, một mình ngồi đối diện Thanh Đức ở phòng bên và chăm chú nghe những câu tán tỉnh của ông ta.
II
Tập thể thao và tắm xong, Hảo ăn điểm tâm. Nàng vẫn ăn điểm tâm một mình. Vì một là nàng không thể đợi mẹ dậy cùng ăn được, bà Án hôm nào cũng ngoài tám giờ mới thức giấc, hai là những món ăn sáng nàng đã lựa chọn cẩn thận theo như lời dặn của thầy thuốc để thân thể nàng được nẩy nở đều đặn, không gầy quá, không béo quá, hai cái thái cực mà nàng rất sợ. Cùng ăn điểm tâm với bà Án, nàng sẽ phải chiều ý mẹ mà dùng bánh cuốn chấm nước mắm giấm ớt, hay cháo gà có răm với hạt tiêu, những thứ gia vị mà nàng không bao giờ được phép dùng tới nếu nàng muốn giữ gìn sức khỏe và nhan sắc. Luyện tập thân thể, giữ gìn vệ sinh, chăm nom sức khỏe, mục đích chỉ để tăng vẻ đẹp. Nếu đã không đẹp mà còn đi làm những việc ấy thì thực mất thì giờ vô ích. “Như Duyên chẳng hạn, Hảo tự nhủ, càng tập người càng thô, mặt càng yêu thì tập làm gì cho mệt xác. Nằm mà nghỉ có sướng hơn không?”
Hảo nghĩ liên miên, tay lơ đãng quấy chén sữa sô-cô-la: “Bắt đầu từ mai phải quay về ‘régime’ một dạo mới được. Đã hơi béo ra, vì hôm qua đến hiệu thuốc cân, lên gần năm mốt kí-lô rồi. Thế nào cũng phải xuống dưới năm muơi mốt mới nghe. Mà bụng đã có vẻ kém thon, vì độ rày mình lười tập ‘mouvement’ nằm quá”.
Có tiếng gõ cửa. Hảo ngửng lên. Tiếng Hoằng ở phía ngoài :
- Vào được không?
- Được, mời anh vào chơi.
Hoằng rón rén mở cửa tiến vào, miệng cười bẽn lẽn :
- Cô chưa ăn sáng?
- Em đương ăn.
Hảo ngắm nghía Hoằng từ đầu đến chân :
- Anh đi dự tiệc đâu đấy?
Hoằng mỉm cười :
- Định đến “dự tiệc” sáng với cô, nhưng cô lại ăn rồi.
- Chết chưa! Anh chưa...
Hoằng ngắt lời liền :
- Nói đùa đấy, tôi đã ăn bánh mì với sữa rồi.
- Thực đấy chứ?
- Lại chả thực!
- Nếu chưa thì em bảo nó bưng bữa sáng của anh vào đây cùng ăn cho vui.
Hảo vẫn lơ đãng quấy sữa :
- Này, anh Hoằng ạ, nguy quá, bụng em to ra...
Thấy vẻ mặt Hoằng ngơ ngác, sợ hãi, Hảo tiếp luôn :
- Anh chỉ được cái nghĩ bậy! Em bảo độ rày ít tập những “mouvement” nằm nên bụng em kém thon.
Hoằng thở ra :
- Ừ! Có thế! Nếu cô đem câu ấy nói với mợ thì mợ đến chết ngất đi được.
Hảo cười :
- Chết ngất đi cơ à? Tưởng dẫu có thực thì cũng là một việc thường! Dẫu sao cái việc thường hay phi thường ấy vẫn chưa xảy ra và có lẽ sẽ không bao giờ xảy ra, vậy chưa cần lo vội, phải không anh? Bây giờ hãy nói chuyện hiện tại đã. Nhưng anh sắp đi dạy học rồi thì phải.
Hoằng vơ vẩn nhìn đồng hồ tay đáp :
- Hôm nay thứ năm.
- Ồ nhỉ! Em chẳng còn nhớ ngày nào với ngày nào nữa. Có lẽ vì ngày nào của em cũng là thứ năm, chủ nhật.
Hảo thở dài nói tiếp :
- Em nhàn rỗi quá anh ạ.
Rồi lơ đãng như nói một mình :
- Chỉ sợ nhàn cư vi bất thiện!
Hoằng cười :
- Cô cũng chẳng nhàn gì, vì chẳng mấy lúc cô ở nhà mà tôi không thấy cô không đan một cái gì.
- Đó có lẽ cũng là công việc bày ra để khỏi làm điều bất thiện, vì nếu không đan thì lại chạy rông, hay đánh mạt chược, rút bất, lên quần ngựa.
Hoằng nịnh khéo một câu :
- Cô làm như cô hư lắm! Kỳ thực cô rất ngoan ngoãn nết na.
- Ngoan ngoãn nết na! Anh khen em kia à? Em muốn anh dạy dỗ răn bảo em hơn là cứ tán tụng em luôn miệng. Em mà hư thì anh có một phần trách nhiệm đấy nhé.
Câu nói âu yếm làm Hoằng đỏ bừng mặt.
Hảo nhận thấy thế nên nói lảng :
- Nhưng mà hình như anh có “rendez - vous” thì phải?
- Không, tôi chẳng đợi ai, mà cũng chẳng ai đợi tôi.
- Thôi, anh đừng giấu em nữa đi. Em thấy anh cứ chốc chốc lại xem giờ.
Mặt Hoằng càng đỏ, xem giờ đồng hồ tay đã thành một thói quen của chàng khi chàng bẽn lẽn. Sự thực thì chàng chỉ nhìn mà chẳng xem gì hết.
- Thực mà, tôi không... bận gì cả.
- Vậy chúng ta đi phố nhé? Có được không anh?
- Được lắm chứ.
- Anh ngồi chờ em một lát nhé.
Hảo uống vội vàng chén sữa sô-cô-la, ăn qua loa mấy miếng bánh mì, rồi đứng dậy nói :
- Báo hôm nay đây. Anh ngồi đọc xong thì em cũng sửa soạn xong.
Nàng sang phòng rửa mặt trang điểm. Hoằng ngồi lại một mình, cầm tờ báo hằng ngày đọc tin vặt. Bỗng chàng kêu lên :
- Trời ơi!
Tiếng Hảo ở phòng bên :
- Cái gì thế, anh?
Hoằng giọng hoảng hốt :
- Kính tự tử rồi!
Hảo thản nhiên :
- Thế à! Tự tử vì cớ gì thế, anh?
- Đây này, tôi đọc cho cô nghe! “Tự tử vì tình hay vì tiền? Ông Vũ văn Kính, một điền chủ ở hạt ta mà ai cũng biết tiếng, không rõ vì duyên cớ gì đã uống thuốc phiện giấm thanh tự tử; ông Kính là một trang thiếu niên học thức vừa nối nghiệp cha đứng trông coi cái đồn điền Ba Ngã được hai năm nay. Người ta đoán cái chết của ông Kính có dính líu đến chuyện tình, vì thấy sáng thứ hai ông Kính ở Hà Nội về, vẻ mặt buồn rầu, rồi ngay tối hôm ấy ông quả quyết lìa đời, và lúc khám nghiệm tử thi, nhà chức trách tìm thấy trong ví người bạc mệnh một bức ảnh mỹ nhân. Lại có người đồn rằng ông Kính tự tử vì tiền, vì thua bạc, nhưng đó toàn là lời phỏng đoán cả, ông Kính không để lại thư từ cũng không dối dăng lại người nhà một câu nào; ông chết đi, để lại một vợ trẻ và một đứa con gái lên ba”.
Hảo giọng thản nhiên, không chút cảm động, bảo Hoằng :
- Nhưng việc xảy ra ở tỉnh nào?
- À!... Đây rồi... Phải, Kính ở Phú Thọ, thế mà mình quên bẵng...
Và Hoằng như nhìn thấy đứng sững trước mặt một thanh niên vạm vỡ, cao lớn, khổ mặt, thân hình, cho chí ngôn ngữ cử chỉ nết na giống một người Âu. Kính rất ít nói tiếng Việt, và khi trò chuyện rất hay làm điệu bộ. Hoằng không thể ưa được cái anh chàng động cãi lý là như sừng sộ với người ta ấy, nhưng nay nghe tin hắn tự tử, Hoằng cũng cảm động thương xót. Mới cách đây chừng hai tháng, Hoằng vì nể Hảo, đã miễn cưỡng ngồi đánh bất với hắn, trong suốt một đêm ròng. Không thấy ai lại thị của, lại coi rẻ tiền như hắn! Đặt một cuốn giấy bạc năm đồng, đặt không đếm, mà cửu vạn còn thò tay rút lấy để thua. Hắn cười, nói lớn rằng rút lấy mười để cướp trang của Hảo, nhưng kỳ thực hắn coi như có hân hạnh được Hảo thu tiền của mình; Hảo thì sáng suốt lắm, tính từng nước bài, thận trọng từng nước rút, tuy nàng làm ra vẻ hồi hộp, làm ra không cần ăn thua, đánh bạc chỉ cốt để tiêu khiển. Hoằng cũng nhận thấy thế, trước kia chàng cho rằng Hảo chỉ giữ gìn để khỏi thua, khi mà xã giao không thể tránh được những cuộc hội họp đỏ đen rất hợp thời trong đám sang trọng đời nay. Một hôm chàng chợt nghĩ: “Nếu Hảo không được bạc thì không hiểu nàng lấy tiền đâu mà tiêu xài rộng rãi quá sức tưởng tượng của Hoằng. Xin bà Án thì cũng phải có chừng thôi. Thì ra cờ bạc là một sự tính toán trong đời xa hoa của Hảo”.
Buồn rầu Hoằng quay nghĩ đến mình.
Chàng là người ghét chơi bời, nhất là ghét cờ bạc. Thế mà vì nể Hảo, chẳng một cuộc hội họp nào mà chàng không góp một chân. Đành rằng chàng chỉ đánh nhỏ và không cốt ăn thua như Hảo, nhưng cờ bạc bê tha thì vẫn là cờ bạc bê tha. Có lần ở trong lớp học chàng đã xấu hổ ngừng lại giữa một bài luân lý về cái hại đổ bác! Chàng ướt mồ hôi, lạnh cả người như vừa phạm tội gian ác và được nghe tiếng dõng dạc tuyên án, và chàng tự hứa, chàng quả quyết sẽ cản ngăn Hảo, không cho Hảo đi sâu mãi vào con đường lầm lỗi ấy nữa. Nhưng lòng quả quyết, chỉ tới nhà, khi chàng gặp Hảo, là đã tan vụn như ngói non. Không bao giờ chàng dám khuyên Hảo một câu. Đừng nói khuyên răn, đến trái ý Hảo chàng cũng sợ hãi cuống quýt lên rồi.
Bây giờ cũng vậy, những cảnh tượng bê tha về cờ bạc, mà cái chết của Kính vừa gợi vẽ ra trong ký ức chàng vẫn đương làm chàng băn khoăn muốn ngăn cản Hảo, và chàng đương đợi một cơ hội may mắn đến giúp chàng bắt đầu được. Bê tha nhất cái cảnh tượng rút bất ở giường ngủ của Hảo! Hảo mệt quá mà đêm đã khuya, lúc đó vào khoảng hai giờ sáng, nàng liền bàn thiên cuộc bất, từ bàn ăn vào giường ngủ. Cố nhiên ai nấy ưng theo. Còn Kính thì mừng reo lên. Hảo nằm đắp chiếc mền chiên trắng lên đến vai, và vừa ngái ngủ vừa rút bài...
Hảo đánh phấn xong, ở phòng bên bước ra đứng trước mặt Hoằng và hỏi :
- Anh ngắm hộ, cái áo len này, nó cắt có được không?
Hoằng ngả đầu về đằng sau, nghiêng đầu bên nọ bên kia, rồi khen: “Được lắm, với lại cắt áo cho cô rất dễ, chỉ những cô gầy, béo thân thể xộc xệch mà cắt được đúng áo mời tài”.
Hảo mỉm cười, sung sướng, vẻ mặt rạng rỡ, tuy câu khen ngợi của Hoằng nhắc lại lần này không biết là lần thứ mấy mươi. Hoằng lại tiếp luôn :
- Anh Hiên, professeur de culture physique ấy mà, hẳn cô cũng biết đấy. Anh ấy bảo chính những ông thợ may, nhất là những ông thợ may giỏi ngày nay đã làm hại các cô và cả các cậu nữa. Họ khéo độn, khéo thắt khiến các cô các cậu che đậy được cái thân lệch lạc, xấu xí. Thành thử các ngài không nghĩ đến tập thể dục nữa. Chính phủ cứ ra lệnh cấm độn y phục nam hay nữ thì chẳng bao lâu thanh niên nước nhà sẽ ra người hết.
Hảo cười to, nói :
- Anh đi xa quá, vả nếu chỉ có tấm thân nở nang, có chí quả quyết luyện tập thân thể mà không bỏ những tập quán xấu làm hèn yếu con người về phương diện vật chất cũng như về phương diện tinh thần, cái tập quán đánh bài đánh bạc chẳng hạn.
Hoằng mừng thầm đã tóm được dịp để khuyên răn Hảo. Nhưng Hảo lơ đãng cúi xuống ngắm nghía :
- Màu này được chứ?
- Màu nước biển là màu mùa thu.
Thấy Hảo mủm mỉm cười, Hoằng ngừng lại, hỏi nàng :
- Có phải màu nước biển là màu mùa thu không, cô?
- Em cũng không nghe ai nói màu nước biển là màu mùa thu, nhưng hình như đúng đấy, Thu thủy mà lại.
Hoằng vơ vẩn tiếp luôn :
- Phải. “Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc”.
- Anh giỏi chữ Hán nhỉ?
- Chuyện! Thập niên đăng hỏa của người ta, cô phải biết, tôi sắp soạn một cuốn chữ Hán dài tới hai nhăm vạn chữ.
Dứt lời Hoằng cười vui thú. Nhưng Hảo đã không để ý đến lời chàng nói. Nàng đương nghĩ tới chuyện khác. Và nàng đột ngột hỏi :
- Quái! Sao mãi bây giờ mình mới biết nhỉ?
Hoằng ngơ ngác nhìn, không hiểu. Chàng chợt nghĩ tới câu chuyện Kính tự tử mà cái áo len màu nước biển của Hảo đã làm cho hai người quên bẵng đi.
- Thì bây giờ mình xem báo mới biết.
Hảo vốn như mơ màng :
- Xem báo? Em nói chuyện anh... anh Cảnh kia mà. Sao mãi bây giờ chúng ta mới biết ông Thiện có con trai vừa đậu Cử nhân luật nhỉ?
Hoằng lạnh lùng :
- Vì mãi hôm qua mình mới mời ông ta lại chơi.
- Em lại cứ tưởng anh chơi bời quen biết rộng thì việc gì ở Hà thành anh cũng rõ kia đấy.
Câu nói, Hoằng nghe như trách móc. Chàng mát mẻ đáp lại :
- Cô nói như tôi là thổ công Hà Nội không bằng? Vả ông Thiện năm nay năm mươi mà có người con trai hăm nhăm hăm sáu là một việc rất thường, có gì mà cô phải lấy làm lạ?
Hảo giọng hơi gắt :
- Em có lạ rằng ông ấy có con đâu, em chỉ lạ một điều là mãi nay mới biết ông ấy có con trai lớn. Không bao giờ ông ấy nói chuyện ông ấy có con trai lớn. Một điều lạ nửa, em cứ tưởng ông ấy không ở Hà Nội, chỉ thỉnh thoảng về chơi thôi.
- Thì vẫn! Ông Thiện quanh năm ở đồn điền. Ở Hà Nội thường chỉ có Cảnh và một người em gái.
- Em gái Cảnh hay em gái ông Thiện?
- Em gái Cảnh, vào trạc tuổi cô. Hôm qua lúc đến tìm Cảnh tôi gặp cô ta ở cửa sổ nhìn ra... Người cũng đẹp.
- Cũng đẹp! Nghĩa là không đẹp lắm?
- Đẹp lắm thì không đẹp lắm, nhưng mà đẹp.
- Có thể mời đến chơi được không nhỉ?
- Sao không được?
Hảo như vừa nhớ ra :
- Phải rồi! Em nói mẹ em làm bữa tiệc mời ông Thiện và hai người con đến dự.
- Có thì phải mau mau lên, không... nhỡ, ông Thiện lại đi đồn điền.
- Chủ nhật này nhé! Vậy phải gửi thiếp mời ngay từ hôm nay nhỉ? Nhưng thôi đi chứ.
- Mẹ em đã dậy rồi đấy.
Nàng lắng tai nghe tiếng dép.
- Hôm nay cụ dậy sớm nhỉ! Chờ tí nửa mình hãy xuống... À! Sao anh biết ông Thiện năm mươi tuổi?
- Tôi cũng đoán phỏng... Thì cũng chừng tuổi ấy.
- Em cứ tưởng ông ấy độ ngoài bốn mươi.
- Không thể nào, Cảnh lại không đến hăm nhăm, hăm sáu rồi à? Vậy ông Thiện ít ra phái bốn bảy, bốn tám, mà biết đâu Cảnh lại không có một vài anh hay chị?
- Được, rồi sẽ biết. Bây giờ thì hãy đi chơi đã.
Hai người xuống nhà vào phòng riêng của Hảo, người đầy tớ gái đương ngồi lau bàn ghế, đứng lên nói :
- Thưa cô, anh tài xế chờ cô mãi, anh ấy...
Hảo ngắt lời :
- Anh ấy đâu?
- Thưa cô, bà sai anh ấy xuống phố có tý việc. Anh ấy bảo đưa hầu cô tờ giấy này.
- Đâu? Đưa đây!
Hảo cầm tờ giấy chữ viết bút chì nhẩm đọc rồi trao lại cho Hoằng :
- Năm con, ông Thiện có năm con.
Hoằng đọc to :
- “Bốn gái và một trai. Người con gái đầu lòng lấy ông Huyện, người thứ hai lấy chồng Tham tá. Người thứ ba là con trai, hiện đã đỗ cử nhân luật. Người con gái thứ tư vừa lấy chồng đốc-tờ, người con gái út tên là Oanh đã đỗ tú tài, chưa chồng”.
Rồi Hoằng cười nói :
- Điều tra tường tận lắm. Cô mà làm trinh thám thì hẳn là đắc lực.
Hảo vẻ mặt suy nghĩ :
- Thì ra Cảnh là con một.
Nàng hỏi người đầy tớ gái :
- Nhài, cụ đã xơi sáng chưa?
- Thưa cô, cụ lớn đương xơi, cụ lớn bảo mời cô và cậu xuống xơi, con bẩm cậu và cô đã thất lễ rồi.
Nhài bỏ xuống bếp, Hảo bảo Hoằng :
- Vậy chúng ta đợi một lát nữa, để cụ ăn xong đã.
Nàng ngồi im lặng, nhớ lại cuộc phụ đồng chén tối hôm trước, bỗng nàng hỏi :
- Anh có tin phụ đồng chén không?
Hoằng mỉm cười hỏi lại :
- Nhưng cô có tin không đã!
Rồi chàng nói buông sõng :
- Để đến chủ nhật cô hỏi Cảnh!
- Luyện nghe chừng đáo để lắm, phải không anh!
- Nghe đâu thế. Tôi ngờ rằng Luyện đã bài trí cuộc gặp gỡ tối hôm qua.
Hảo chau mày :
- Cuộc gặp gỡ?
- Phải, cuộc gặp gỡ của hai cha con ông Thiện.
- Bài trí như thế để làm gì mới được chứ?
- Nào biết!
Hảo giọng không bằng lòng :
- Vậy thì anh ấy chẳng bài trí gì cả. Hai người gặp mặt nhau là do một sự ngẫu nhiên.
- Cũng có lẽ thế, mà cũng có lẽ Luyện đã muốn cho có cuộc gặp gỡ.
Hảo khó chịu :
- Anh hay ngờ vực lôi thôi lắm! Cha con người ta luôn luôn trông thấy mặt nhau. Bài trí ra cuộc gặp gỡ để làm gì?
Hoằng như trêu tức :
- Gặp nhau ở nhà khác, gặp nhau ở đây khác, khác nhiều.
Hảo có dáng giận dử, nói lảng :
- Sang phòng ăn đi! Chắc mẹ em xơi xong rồi đấy.
Thực thế, bàn ăn đã thu dọn. Bà Án ngồi uống nước xỉa răng.
Hảo đùa bỡn hỏi mẹ :
- Hôm nay mẹ không bắt tóc sâu?
Bà Án cười :
- Nó mọc nhiều lắm, mẹ sợ bắt mãi thành trọc mất, nên từ nay mẹ để vậy.
Hoằng chữa thẹn cho cô :
- Thưa cô, sợ để thế ngứa.
- Cô già rồi cháu ạ. Để đầu hoa râm là phải.
Bà thở dài nói tiếp :
- Chả còn mấy năm nữa mà đầu tóc bạc phơ!
Rồi bà hỏi :
- Hai anh em đi chơi đâu đấy.
Hảo đáp :
- Chúng con xuống phố có tí việc.
- Hôm nay thứ năm, anh giáo nghỉ, mẹ toan cho tài xế đi mời ông Thanh Đức đến đánh mạt chược, nhưng lại không biết nhà ông ấy ở đâu...
Rồi bà phàn nàn :
- Có thế mà cứ quên không lần nào hỏi xem ông ấy về Hà Nội ở phố nào, với lại cái ông ấy cũng lạ, hôm nào về cũng đến thẳng đây rồi lại ở đây đi thẳng đồn điền, không mấy khi lai vãng qua nhà qua cửa, cho nên mẹ thấy cũng không cần hỏi chỗ ở của ông ấy làm gì. Mãi hôm qua con ông ấy lại chơi mẹ mới biết ông ấy có nhà ở Hà Nội đấy.
Hoằng nói :
- Thưa cô, cháu biết nhà ông Thanh Đức.
- Vậy cháu bảo tài xế đi mời nhé?
Hảo gạt phắt :
- Thôi mẹ ạ, anh con bận chút việc phải xuống phố. Để khi khác. Hay là thế này: Mẹ mời ông Thanh Đức và hai con ông ấy chủ nhật này đến xơi cơm rồi đánh mạt chược, hay tổ tôm, tùy mẹ.
- Thế cũng được. Nhưng ông Thanh Đức có hai con ở Hà Nội à?
- Một trai một gái.
- Vậy con viết thiếp mời hộ mẹ.
- Vâng, thưa mẹ con viết thiếp mời ngay nhé?
- Ừ, tùy con.
Sau khi Hoằng và Hảo ra đi, bà Án ngồi lặng hồi lâu, như cố tính toán xếp đặt việc khó khăn.
III
Cũng sáng hôm ấy, Cảnh thức giấc có cảm tưởng vừa qua một giấc chiêm bao. Nằm suy nghĩ trong vài phút, Cảnh nhớ lại ngay rằng giấc chiêm bao ấy chỉ là những sự thực đã xảy ra đêm hôm trước, và liền đó sự ngờ vực lại nhóm lên, mãnh liệt như lúc ban đầu, người vợ kế của cha sẽ là Hảo: “Phải, không Hảo thì còn ai vào đấy? Chả lẽ là người đàn bà góa, chả lẽ là bà Án?... Nhưng mà sao lại không thể là bà Án được?”
Cảnh ngừng ngay lại, không dám luận lý nữa, chàng cho sự phân vân ngờ vực giữa hai mẹ con Hảo trong lức này, ở trường hợp này, là thừa, là sáo nữa, sáo trong tư tưởng cũng như trong thực tế. Chàng thấy chàng không thành thực, hơn thế, chàng thấy chàng có vẻ kịch, đóng một vai kịch, chẳng khác Rodrigue trong sự phân vân giửa tình và hiếu và chàng bật cười: “Là ai, rồi sẽ biết, mà muốn biết ngay cũng không khó khăn lắm, chẳng hạn hỏi thẳng ông cụ...”
Tiếng chuông đồng hồ “Wesminter” ở phòng khách dưới nhà vọng lên rõ từng tiếng, thong thả và ngân nga như một điệu âm nhạc buồn. Cảnh đếm nhẩm, rồi tung chiếc chăn ra, vùng ngồi dậy, tự nhủ thầm: “Chín giờ rồi!” Chàng chạy sang phòng rửa mặt, quay về phòng ngủ vội vàng mặc quần áo, như người hấp tấp sửa soạn ra ga, và sợ lỡ giờ xe hỏa sắp tới.
Y phục trang sức xong, Cảnh ngồi thừ trên ghê nệm, vẻ mặt, dáng bộ chán nản. Có lẽ chàng vừa chợt thấy cái việc cần kíp phải làm ngay của chàng đã lỡ dịp rồi, hoặc không còn có nghĩa gì nữa và chàng đành bỏ rơi.
Yên lặng một lúc lâu, Cảnh trở lại bình tĩnh, lấy thuốc ra hút; rồi ra đứng tỳ ở cửa sổ huýt sáo nhìn xuống sân.
Có tiếng gõ cửa phòng, tiếp liền tiếng Oanh :
- Anh thức hay ngủ?
- Thức, em cứ vào!
Oanh mở cửa, cười, giơ ra một tấm thiếp :
- Đố anh biết thiếp mời của ai?
- Thiếp mời anh?
- Mời thầy, anh và em.
Cảnh giật mình, tâm linh như vừa báo cho chàng biết rằng người gửi thiếp là Hảo, và chàng hỏi :
- Có phải...
Bỗng chàng sợ hãi ngừng lại.
- Đố anh đoán được là ai?
- Anh chịu. Ai thế em?... Hay anh Đoan?
- Không phải nhé! Bà Đặng Khác Thuần nhé! Bà Đặng Khắc Thuần nhé!
Cảnh ngơ ngác :
- Bà Đặng Khắc Thuần?
- Vâng, bà quả phụ Đặng Khắc Thuần.
Vô tình Cảnh hỏi :
- Tên bà ấy là Đặng Khắc Thuần à em?
- Chừng thế. Cũng bây giờ em mới biết. Trước em chỉ nghe người ta gọi là bà Án.
Cảnh đỡ lấy cái danh thiếp trên tay em, cầm tò mò đọc: “Madame veuve Đặng Khắc Thuần, 9... phố Quan Thánh” và buột miệng kêu :
- Đích rồi, chỗ ở đúng.
- Anh cũng biết? Anh đã đến đấy!
Cảnh lí nhí đáp :
- Đã.
Và đọc luôn: “
Xin mời ông và lệnh lang, lệnh nữ chủ nhật này...”
- Chủ nhật này? Hôm nay mời là thứ... thứ mấy, nhỉ?
- Hôm nay là thứ năm, còn những ba hôm nữa.
- Nhưng thầy đâu?
- Thầy đi từ sáng sớm. Có lẽ thầy lên đồn điền.
- Vậy phải từ chối chứ?
- Thầy không về thì cố nhiên là phải từ chối, nhưng biết đâu thầy lại không đến đấy.
- Đến nhà bà ta?
- Hay nhà cô ta cũng thế.
Cảnh nhìn thẳng vào mắt em, hỏi :
- Vậy em tin chắc rằng cô ta... rằng thầy sẽ cưới cô ta làm vợ... Anh thì anh cho... khó lòng Hảo bằng lòng... Hảo ưng thuận.
- Tên cô ta là Hảo?
Và Oanh mỉm cười. Cảnh tiếp luôn :
- Anh chẳng trinh thám gì cả. Tối hôm qua cô ta mời anh đến chơi và từ lúc ở nhà cô ta về anh đã hai ba lần nói đến cái tên ấy với em. Chẳng qua em quên đấy thôi.
- Vâng thế thì em quên thực. Nhưng chính cô ta mời anh đến chơi? Câu chuyện ngộ nghĩnh nhỉ!
- Thật ra thì đó là câu chuyện ngẫu nhiên: một linh hồn đã gọi anh đến, một linh hồn người chết. Hảo và Hoằng và mấy người bạn Hoằng phụ đồng chén. Thế rồi hồn bắt đi tìm anh đến.
- Phụ đồng chén? Anh có tin phụ đồng chén không?
- Tin hay không, đó là một chuyện khác. Chỉ biết ông Hoằng lại đây tìm anh, và anh đã đến.
- Ông Hoằng là ai?
- Ông Hoằng là anh em cô cậu với Hảo. Ông ta ở cùng nhà với Hảo. Hình như ông ta chiều Hảo lắm, Hảo bảo làm gì, sai đi đâu là vâng lời răm rắp.
Oanh cười sung sướng vì thấy câu chuyện mỗi lúc một thêm ngoắt ngoéo, đầy chi tiết mới lạ, nàng hỏi :
- Ông Hoằng làm gì, hử anh?
- Làm giáo sư. Lúc ông ta đến tìm anh, anh cứ tưởng ông ta là người nhà ai, vì ăn mặc lôi thôi quá, đánh cái áo trắng dài, cái quần trắng dài, đầu đội mũ dạ, chân đi dép Nhật Bản. Hình như ông ta vội vàng ra đi nên không kịp nghĩ tới ăn mặc chỉnh tề. Đương phụ đồng chén thì thầy và bà Án xem chiếu bóng về.
- Thầy?
Oanh kinh ngạc hỏi.
- Ừ, thầy về. - Cảnh thản nhiên kể tiếp - Lúc ấy trời mưa to. Rồi tan cuộc phụ đồng chén.
- Thì ra anh gặp thầy ở nhà... cô ta. Thầy có ngượng không?
- Không, việc quái gì thầy ngượng!
- Thế mà tối hôm qua anh không cho em biết ngay, anh tệ quá.
- Tối hôm qua có thầy ở nhà, anh sợ thầy nghe thấy.
Sự thực tối hôm trước, Cảnh trí rối bời tâm hồn xao xuyến, chưa bình tĩnh mà thuật lại câu chuyện đương làm đảo điên tất cả người chàng.
Oanh thở dài nói :
- Thế nghĩa là có thực rồi.
- Có thực thì cũng chưa chắc có thực.
Oanh giọng hơi gắt :
- Vậy thế nào mới có thực? Đưa bà mẹ vợ đi xem cinéma.
- Ấy chính thế mà anh ngờ rằng không có thực. Sao thầy không mời Hảo cùng đi. Chẳng lẽ thầy yêu cô ta, say mê cô ta mà lại để cô ta ở nhà phụ đồng chén với một lũ bạn đẹp trai... hơn mình?
Oanh cười :
- Chặc... với lại cần lấy lòng bà mẹ hơn lấy lòng cô con nhiều. Bà mẹ bằng lòng là xong.
Cảnh chau mày :
- Là xong! Dễ dàng quá! Anh thì anh cho trái ngược thế. Cần nhất phải Hảo bằng lòng. Em chưa biết đấy. Anh chỉ thoáng qua cũng rõ rằng quyền bính ở trong tay cô con, ở cả trong tay Hảo. Hảo muốn sao là mẹ phải theo vậy.
- Ấy là anh đoán.
- Nhưng đoán đúng... Em có chắc thầy đi đồn điền rồi không?
Oanh cười :
- Anh băn khoăn lắm nhỉ! Chừng anh sốt ruột muốn hỏi thầy.
- Không phải thế, nhưng phải trả lời người ta chứ.
- Điều ấy thì không lo. Ban nãy em đã trả lời miệng người mang thiếp rằng thầy đi vắng khi nào thầy về sẽ có thư phúc đáp... À này anh ạ, nếu chuyện có thực, thì sẽ có việc vui mừng của thầy trước hay việc mừng của anh trước đấy?
Cảnh gắt :
- Thôi, đừng nói đến câu chuyện ấy nữa, anh sốt ruột lắm.
- Việc gì mà sốt ruột?
- Nhưng anh cứ sốt ruột thì biết làm thế nào?
Rồi để chấm hết câu chuyện, Cảnh hỏi em :
- Em đã ăn sáng chưa? Có gì cho anh ăn không? Anh đói lắm.
- Nhưng gần mười giờ rồi còn ăn uống gì nữa. Chờ bữa cơm trưa ăn cho ngon miệng anh ạ.
- Em pha cho anh cốc cà phê sữa vậy.
- Vâng. Em đi pha ngay nhé!
Oanh ra khỏi phòng. Cảnh mừng rằng đã thoát được câu chuyện mà chàng tưởng sẽ kéo dài không bao giờ dứt.
Nhưng ngồi một mình, câu chuyện ấy lại âm thầm nói tiếp. Và tránh được bàn cãi với em, chàng vẫn tự bàn cãi với chàng.
Bây giờ thì lòng chàng chỉ loay hoay về sự ngờ vực. Sự ngờ vực làm chàng khổ sở đến nỗi chàng không còn sáng suốt bình tĩnh mà nghĩ tới việc gì khác nữa. Cả đến hình ảnh mỹ nhân cũng không còn để dấu vết! Mặt nước nổi sóng in sao được bóng trăng tròn?
Lúc này Cảnh rất mong gặp cha để hỏi cho biết rõ và chàng cô tìm ra những câu hỏi lọt tai, những câu hỏi đỡ sống sượng. Những câu mà con có thể nói với cha được!
“Bẩm thầy, con nghe nói thầy sắp tục huyền. Có phải không ạ?” Câu ấy Cảnh cho chưa được ổn. Vả nếu cha chàng gật thì chàng vẫn chưa rõ tục huyền với ai, điều mà chàng muốn biết đích xác, vì trừ Hảo ra cha chàng tục huyền với ai chàng cũng mặc, chàng cũng bằng lòng. Vậy phải hỏi: “Thầy sắp lấy cô Hảo, phải không?” Câu hỏi đại khái sẽ như thế, nhưng xoay sao cho khéo, cho có vẻ lễ phép và thân mật. Chẳng hạn: “Bẩm thầy hôm qua cô Hảo nói chuyện với con, nhắc mãi đến thầy, con xem ra có chiều mến yêu thầy lắm”. Nói thế nhất định không được rồi. Vì ông cụ có thể tưởng Hảo luyến ái mình, mà bỗng nảy ra ý muốn tha thiết lấy Hảo làm vợ, ý muốn mà trước kia ông cụ chưa có hay đã có, nhưng còn bấp bênh. Như thế, có khác gì xúi giục cha lấy Hảo. Cảnh âm thầm suy nghĩ và mỉm cười. Chàng vừa chợt có dã tâm nói xấu Hảo với cha. Để khỏi tự thẹn, tự bỉ rằng mình sẽ là một người sàm báng, không tốt, Cảnh cho ngay rằng đó chỉ là một mưu mẹo khôn khéo để dò biết sự thực mà thôi.
Có tiếng kẹt cửa. Chàng giật mình quay lại, Oanh đi vào bưng cốc cà-phê sữa đặt trong chiếc khay nhỏ, cười nói :
- Anh dùng tạm. Chắc không được ngon. Vì em pha cà-phê với nước trong thermos (bình thủy). Em muốn chóng nên không bảo nó đun nước sôi.
- Cũng được, em ạ.
Cảnh đỡ lấy cốc ở tay Oanh, uống một hớp rồi ngẫm nghĩ bảo nàng :
- Cũng ngon đấy, em ạ. Cám ơn em nhé.
Oanh như có vẻ suy nghĩ, nhìn qua cửa sổ như ngắm nghía ngọn cây sữa xa. Và không quay lại, bảo anh :
- Anh ạ, em rất mong thầy nhận lời.
Cảnh để cốc cà-phê xuống bàn hỏi :
- Nhận lời ai cơ em?
- Nhận lời mời dự tiệc ấy mà. Em muốn gặp mặt mẹ con bà ta.
Cảnh không trả lời câu hỏi của em.
- Anh thì anh rất không tin, không tin một tý nào.
Oanh ngơ ngác :
- Anh không tin cái gì? Không tin thầy nhận lời?
- Anh không tin thầy sẽ cưới Hảo. Đây nhé, nếu người ta định lấy thầy thì khi nào người ta lại mời ba bốn ngươi con thầy đến dự cùng một bữa tiệc với mẹ con người ta, mà có lẽ chỉ với mẹ con người ta thôi hay với Hoằng nữa là cùng.
Oanh vần im lặng, suy nghĩ; Cảnh lại nói tiếp :
- Ừ, nếu người ta định lấy thầy, thì những mặt người ta muốn tránh cho tới khi thành vợ thành chồng, là những đứa con, là bọn chúng mình... Đó là một lẽ rất thường, rất tự nhiên... Đằng này không... người ta... Không, anh quyết không... Phải thế này, em à, chắc thầy cũng có nhiều lần giúp đỡ bà ta, cho bà ta vay muợn chẳng hạn... Thế rồi người ta phải tử tế lại... Thiệt gì cách giao thiệp nhã nhặn những lời nói... thân mật... có khi...
Cảnh ngừng lại cất tiếng cười.
- Phải, có khi âu yếm nữa. Đàn bà con gái thì bao giờ ngôn ngữ cử chỉ chẳng âu yếm, nhất khi người ta lại có ý muốn, người ta lại định bụng làm ra thân mật, âu yếm, anh chắc thế, vì anh thấy Hảo khéo lắm. Bữa tiệc cũng vậy. Đó là một dịp để thêm sự thân mật với... với nhà ta... Chả người ta biết thầy yêu mến anh em mình mà! Người ta cho rằng mời cả anh em mình đến dự tiệc với thầy thì thầy cảm động lắm. Có thế thôi.
Oanh lơ đãng đứng nghe. Bỗng nàng lắng tai chú ý rồi báo Cảnh :
- Hình như thầy về. Đích rồi! Còi ô-tô nhà.
Một lát sau, quả thực xe ông Thiện qua cổng tiến vào vườn, sỏi trên lối đi kêu lạo xạo.
Cảnh và Oanh lặng lẽ đứng chờ. Tiếng ông Thiện hỏi: “Cậu Cảnh và cô Oanh có nhà không?” Oanh vội chạy ra cầu thang nói xuống :
- Bẩm thầy có ạ, chúng con có nhà.
Nàng xuống phòng khách, Cảnh cũng mỉm cười theo xuống, rắp đem thi hành mưu kế đã dự định.
Vừa thấy Oanh ông Thiện vui cười nói :
- Thầy đã hỏi giá sắt. Cao lắm.
- Thầy mua sắt?
- Ừ để làm nhà. Thầy đương dựng dãy nhà làm chè.
Cảnh tới sau, nói :
- Con cứ tưởng thầy đi đồn điền rồi.
- Thầy đi bây giờ đây.
- Có giấy mời thầy dự tiệc đấy.
Ông Thiện hỏi vội vàng :
- Ai mời? Mời hôm nào?
Cảnh làm như chưa xem thiếp mời, bảo Oanh :
- Giấy đâu em?
- Em để trên buồng anh.
Oanh chạy lên lấy thư xuống đưa cho cha, ông Thiện đọc, vẻ mặt nghĩ ngợi, hàm răng trên cắn môi dưới :
- Đằng bà Án. Mời cả anh em con.
Ba người cùng im lặng, và không ai nhìn ai. Oanh mở đầu :
- Ban nãy con bảo anh người nhà rằng lúc nào thầy về sẽ có thư phúc đáp.
Cảnh tiếp :
- Vậy thầy có nhận lời không?
- Được, thầy rẽ qua đằng ấy.
Cảnh và Oanh đưa mắt nhìn nhau.
- À, nhưng các con... Các con đến nhé?
Cảnh vờ không hiểu :
- Đến với thầy bây giờ?
- Không, chủ nhật đến dự tiệc ấy chứ.
Oanh giọng nũng nịu :
- Con thì con ký cả hai tay.
Cảnh mỉm cười :
- Con cũng vậy.
- Vậy được rồi!
Cảnh làm như hỏi cho có chuyện :
- Bẩm thầy, bà Án Thuần giàu lắm, có phải không?
- Cũng chả giàu lắm.
- Bẩm không giàu mà sao ăn tiêu rộng rãi như một bà hoàng thế! Tiệc tùng khách khứa luôn.
- Không giàu lắm, nhưng mà cũng vào bực khá giả.
- Lại cả cô con nữa. Chả làm gì, chỉ ngồi mà ăn tiêu như thế, núi cũng phải lở. Con chắc trước kia nhà ấy giàu lắm.
- Hình như thế.
- Ăn tiêu đã vậy, lại còn bạn bè chơi bời... bạt mạng.
Ông Thiện cô giữ điềm tĩnh, bảo con :
- Không, con cứ tưởng thế đấy, chứ người ta cũng là nhà nền nếp. Người ta tiêu pha rộng rãi nhưng người ta cũng làm ra tiền để mà tiêu pha rộng rãi.
Cảnh mỉm cười :
- Bẩm thế bà Án có buôn bán?
- Có chứ. Con đừng thấy nhiều người ngồi một chỗ mà tưởng người ta không buôn bán. Thời buổi kinh tế này thường thường những người không có vẻ buôn bán lại chính là những người lãi hàng nghìn hàng vạn. Người ta buôn đấy, rồi bán đấy, chẳng cần có cửa hàng cửa họ gì cả đâu.
- Bẩm những tay đầu cơ chứ gì! Vậy chừng bà Án cũng là một nhà đầu cơ.
Ông Thiện cười :
- Đầu cơ! Cái tiếng mới to làm sao! Nói rộng ra và rất đúng lý thì phàm những nhà phú thương đều là những nhà đầu cơ tuốt. Hàng đương lên giá, giữ lại không bán vội, thế cũng là đầu cơ chứ gì. Đằng này người ta thấy cửa hàng kia cần tiền, người ta mua hàng giúp rồi gửi đây để chờ giá cao hơn đem bán, có khi lại đem bán ngay cho chính cửa hàng đã để hàng cho mình. Hai trường hợp trên này có khác gì nhau? Nếu cho là đầu cơ thì cả hai cũng là đầu cơ. Thầy cho ở đời thì bao giờ cũng khôn sống mống chết. Đứa nào dại, không biết che đậy để bại lộ việc làm của mình sẽ bị coi là đầu cơ và sẽ bị pháp luật trị tội nữa. Con trót lọt được thì vẫn chẳng tiếng tai gì. Đó là tất cả mánh khóe làm giàu ở đời này và đời nào cũng vậy.
Cảnh thản nhiên đứng nghe cha. Chàng chỉ muốn dò ý cha về việc lấy Hảo. Còn câu chuyện đầu cơ và làm giàu thì chàng có cần gì biết tới. Chàng hỏi thêm :
- Bẩm, bà Án chỉ kiếm tiền bằng cách buôn bán... giấu diếm ấy thôi.
- Bà Án còn ngồi cái họ nữa. Con tính cầm cái họ mà không lãi à: cầm một bát họ một nghìn, lãi tới ba nghìn là thường. Thế mà nghe đâu bà ấy cầm một bát, con bà ấy cầm một bát.
- Bẩm thế thì một tháng kiếm đã có mấy trăm bạc rồi.
- Đấy con xem.
- Nếu vậy ai chả muốn cầm cái họ!
Ông Thiện cười :
- Con tưởng dễ lắm đấy! Phải giao thiệp rộng, phải có tư bản, phải kén chọn những người tử tế ngồi họ chứ. Nếu không có thì sạt nghiệp. Hãy nói chỉ một nhà quân mua họ rồi bỏ đi mất hay vỡ nợ không đóng được nữa cũng đủ sạt vào đấy gần nghìn bạc rồi, nếu chơi họ một nghìn thôi. Huống chi trong một bát họ có thể hai ba nhà chơi cái lối khiếm nhã hay bất đắc dĩ ấy. Vì thế trước khi mời một người họ thường phải lui tới chơi bời với người ta hàng tháng hàng năm để biết tính nết, gia thế người ta đã, tóm lại, một cái cần phải quảng giao, phải tinh khôn, phải thông minh...
Cảnh mỉm cười :
- Thảo nào mà cô Hảo có nhiều bạn, cả bạn trai nữa.
Ông Thiện đăm đăm nhìn con :
- Sao con biết?
- Tối hôm qua thầy cũng trông thấy các bạn của cô ta.
- Ồ! Đó là bạn ông giáo Hoằng đấy chứ.
- Con thấy đối với cô Hảo họ cũng tự do lắm.
- Trong bọn thiếu niên nam nữ ngày nay, ngôn ngữ tự do là một sự thường rồi.
Ông Thiện cười lớn nói tiếp :
- Thầy cứ tưởng con chẳng lạ gì điều ấy.
Oanh cũng cười, yên lặng nhìn anh.
Cảnh hơi ngượng, vì thấy rõ sự tà khuất của mình. Chàng lặng thinh, lòng tự thẹn. Ông Thiện, nét mặt trở nên suy nghĩ.
Bỗng ông vui vẻ nói :
- Vả lại chuyện riêng của người ta thì thầy biết đâu. Đến chuyện riêng của con thầy cũng chẳng biết được nữa là!
Cảnh kinh ngạc nhìn cha. Ông Thiện lại tiếp luôn :
- Cũng có lẽ con đoán đúng vì có thể cô Hảo chẳng đứng đắn tý nào, nhưng thầy đã nói đó là việc riêng của cô ấy, có liên can gì đến con mà con cần lưu ý tới.
Oanh thích chí cười ròn, nàng có vẻ sung sướng lắm.
- Thôi thầy đi đồn điền. Các con ở nhà nhé.
Cảnh nhắc :
- Thầy nhớ chủ nhật về dự tiệc.
Ông Thiện như chợt nhớ ra :
- Ờ nhỉ! Suýt nữa thầy quên, vậy tối thứ bảy thầy về. Thầy đi đây. Cái áo paderssus nó đã đem ra cho thầy chưa, con?
- Bẩm đã.
Ông Thiện vừa đi ra hiên vừa nói :
- Bắt đầu rét rồi đấy.
Cảnh và Oanh tiễn cha tới xe, ô-tô qua cổng, ông Thiện giơ tay ra ngoài cửa xe vẫy và nói :
- Au revoir, mes enfants!(Chào, các con)
Sau một phút im lặng, Oanh báo Cảnh :
- Có lẽ không phải thực, anh ạ.
Cảnh tươi cười đáp :
- Đấy, anh đã bảo.
Nhưng có một điều Cảnh không biết, là chàng đã ngã vào cái bẫy mà chính chàng giương ra. Ông Thiện từ tối hôm trước vẫn ngờ vực thái độ của con đối với Hảo, nay thấy con nói xấu nàng, ông cho rằng ông có thể ngờ vực oan, nhân tiện ông thêm vào một câu úp mở về đời tư của Hảo, để dứt hẳn cảm tình của Cảnh, nếu Cảnh còn có một chút cảm tình đối với nàng.