<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.05.2016 09:25:27 bởi thanhkhe>
Trước hết TK muốn nói đây là tiểu thuyết dã sử chính xác hơn là truyện dài. Dã sử nhưng ngôn ngữ lại hiện đại. Nếu xét nét thì tác giả sẽ bị điểm trù nhưng TK thấy đây không phải chuyện gì to tát lắm, có thể bỏ qua. Vì sao? Vì tác giả đang viết cho ngừoi đương thời đọc một truyện của một thời đã xa. Ngưoi đương thời cần ngôn ngữ đương thời. Chỉ cần ngược lại hơn nửa thế kỷ thôi, văn của HỒ Biẻu Chánh đã làm các đạo diễn phim điên cái đầu mệt mỏi vì ngôn ngữ có những từ khó hiểu xưa quá và khi chuyển qua kịch bản phim đây là trở ngại không nhỏ và tốn thời gian công sưc của họ không ít.
Nhờ hoà nhập với nền văn hoá phương tây mà chữ quốc ngữ ra đời ngày nay nó đã phát triển đủ để diễn đạt những gì mà ngày xưa không lột tả hết. Ngày xưa những gì sâu sắc thường ẩn tàng trong ca dao tục ngữ, hát dặm hát đối hơn là trong những câu nói sinh hoạt đời thường.
Về văn phong chỉ tóm tắt là văn đẹp truyền cảm, không phải chỉ lác đác vài đoạn mà xuyên suốt tác phẩm đều giữ được trạng thái này.
Nếu chỉ dừng lại ở những dòng văn đẹp thì có lẽ TK không mất công phê bình làm gì!
Đọc VÔ BIÊN , TK nghĩ đây là một tác phẩm ,ang đầy tính nghệ thuật. Nghệ thuật đây không phải chỉ lời hay bóng bẩy. Đã gọi là nghệ thuật thì văn chương cũng giống như hội hoạ hay điện ảnh, buộc phải có những tiêu chuẩn để đânh giá . Đó là phải mang tính triết, mang hơi thở của thời đại thắm đẵm tính nhân văn, bố cục độc đáo.
Bất cứ tác phẩm mang tính nghệ thuật cao đều phải hư cấu không thể bê nguyên xi đời thực vào do đó nhà văn hay nghệ sĩ thường dùng nghệ thuật liên tưởng, tức dùng những quy ước hay ước lệ để diễn đạt tư tưởng. Tính triết và nghệ thuật liên tưởng được sử dụng rất nhiều trong VÔ BIÊN.
Bây giờ xét về tính triết học. TÍnh người, sự vô hình, hữu hình đã được triết gia bao thế kỷ từ đông sang tây nghiên cứu và tranh luận rất nhiều. Chả phải ngay cả trong nhiều thể chế ngừoi ta cũng hay bàn cãi thế nào là dân quyền nhân quyền đó sao?
Nhân vật Hải trong VÔ BIÊN khi còn sống luôn khắc khoải có cảm giác muốn vượt thoát. Anh ta mơ hồ thấy được cái quyền lực hiện hữu trong con ngừoi mình. Trước khi đi thi Hải nằm mơ thấy mình làm thơ ý tưởng cứ lai láng tuôn chảy không có gì có thể ngăn trở, chả khuôn phép gì cả! Bút nghiên và trang giấy nơi chứa đựng nhũng gì anh ta viết ra cứ to dần lên mênh mang không có điểm dừng làm ta nghĩ đến sự khao khát tự do tư tưởng của con ngừoi ngày hôm nay. Tự do cá nhân tự do tư tưởng đó là cái quyền quan trọng nhất của con người .
Khi Hải thất tình nhảy xuống sông tự vẫn, thân thể tấp vào một be bờ rồi ngộ ra rằng mình không còn thể xác cùng lúc lại cảm nhận rất rõ cái con ngừoi bên trong vô hình của mình. Đoạn này tác giả tả cái chết đẹp như một bức tranh: " Có chút ánh sáng. Sắc hồng nhạt, toả mờ mờ, đậm dần lên thành màu đỏ tía của ráng trời, chiếu trên mặt phẳng lấp loáng. Một khoảng lặng, sự chững lại lững lờ, tiếng nước róc rách.
Ánh mai phà hơi ấm qua màn sương hiện dần lên một bờ bãi chen chúc cỏ lau.
Thân thể chàng tấp vào gần đó, đầu gối trên giề lục bình, phần dứoi nhìn xa như bị khuất dứoi một tấm mền tim tím. Màu áo nâu phản chiếu ánh mặt trời thấp thoáng phồng lên. Nãy giờ lòng ta lặng yên hay con nước lặng?. Lòng ta tụ rồi tan hay màn sương ? Ôi sao ta trôi tới đâu hoa lại bập bềnh nở tới đó? Màu hoa tím gờn gợn ủ ê nhẹ lan theo hay chính lòng ta sầu đau không lối thoát? Ta theo làn nước phiêu bạt như
vậy đã bao lâu? Từ khi nào trở thành phù du dạt trôi rồi vướng lại đây ngơi nghỉ? Ngờ ngợ chàng e rằng mình đã chết"
Và theo thời gian anh ta cảm nhận con ngừoi bên trong của mình đầy quyền lực. Anh ta thể hiện mọi cảm xúc của mình quá tự do đến nỗi không còn điểm dừng, vượt quá giới hạn gây phiền luỵ đến ngừoi khác. Đã gọi tự do thì không có giới hạn. Chỉ bằng vài câu thơ nhân vật Hải đã gói gọn tất cả nội dung của tác phẩm VÔ BIÊN. Vô biên hay vô cực là thuật ngữ dùng trong thần học triết học, toán học. Hệ toạ độ trong toán học có trục dọc gọi là trục tung, trục ngang gọi là trục hoành. Dọc ngang theo từ Hán Việt có nghĩa là tung hoành. Tung hoành ý ngầm là tự do làm mọi điều không sợ ai cả theo kiểu " chọc trời khuấy nước".
Hãy để ý những câu cống Hải mô tả thế giới anh ta hiện hữu:
Hồn ta khát khao vút cao vô tận - tương đương với trục tung tức là chiều dọc hay " chọc trời"
Nhiều khi hút sâu biết đâu khôn cùng - cũng là trục dọc hay " khuấy nước"
Ngờ như mở ra miên man vô hạn - tương đương trục hoành tức chiều ngang
Và một câu nữa của cống Hải cũng thật hùng hồn: " thà làm sóng gió biển đông còn hơn mực thước lồng nơi cung đình. ". Gió biển đồn ai mà ngăn được? Làm gì có khuôn phép?
Có thể so sánh câu thơ đầy súc tích của Cống Hải với một đoạn trong truyện Kiều:
Một tay xây dựng cơ đồ
Bấy lâu Bể Sở sông Ngô tung hoành
Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi
Sao bằng riêng một biên thuỳ
Sức này đã dễ làm gì được nhau
Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Thế nhưng những câu thơ của cống Hải có vẻ sát thời đại vi tính của chúng ta hơn. Thế giới vi tính ảo mà thực tuy không mà có nhưng thử hỏi mấy ai trong thời đại này không nghiền mạng? Giờ nhiều khi nhiều người không ăn cứ cắm đầu vào vi tinh 24 trên 24. Bữa nào rớt mạng là la ó om sòm.
Những người lướt mạng ngày hôm nay thường gặp nhau qua tâm tình. Các tâm hồn gặp nhau. Tâm hồn làm gì có hình thể? Những kẻ gặp nhau trong cõi " vô biên" hay gọi nôm na là thế giới mạng là như vậy! Hải là nhân vật trong truyện VÔ BIÊN. Nhưng sâu xa hơn Hải chính là chính là khái niệm về tự do mà con ngừoi ai cũng ước ao. Đó cũng chính là tính chất thật nhất của chúng ta. Chả ai muốn ràng buộc nên ai cũng hỉ hả khi được lướt mạng thoả thuê thậm chí còn " vượt tường lửa nếu cần".
Thế giới mạng là thế giới vô biên . Viết thoả thuê , nói thoả thuê. Cũng giống như Hải tưởng thế giới mạng mình đang lướt là vô biên nhiều người thay vì viết những điều hay có ích thì lại lợi dụng sự vô hình của mình viết nhăng viết cuội, viết tào lao vô bổ hoặc tệ hơn nữa là rảnh hơi thoá mạ ai đó mình không thích, mắc hội chứng ga-tô ( ghen ăn tức ở ) hè nhau ném đá ai đó có những lời lẽ hành động để lộ bản chất thực nhất của mình và biết đâu kẻ đó trong đời thực lại là kẻ đội lốt trí thức đạo mạo không biết chừng?
Dải lụa ở cuối truyện tuy là vật vô tri nhưng dứoi ngòi bút của tác giả nó trở nên sống động. Một lần nữa tác giả đã dùng nghệ thuật liên tưởng gợi cho ngừoi đọc nhiều suy diễn. Đây là sự sáng tạo. Dải lụa không đơn thuần chỉ là dải lụa. Tác giả đã truyền cho nó một cái hồn.. Dải lụa phất phơ bay không điểm tựa không có phần đầu không phần kết thúc. Dải lụa là quá khứ khổ đau dai dẳng. Rất nhiều ngừoi khó có thể quên quá khứ. Quá khứ luôn ám ảnh luôn ngăn trở ai đó không cho họ được yên ổn.
Nếu quá khứ là điều gì đó tồi tệ ta có thể quên để tiếp tục sống cho hiện tại. Nhưng tâm lý con ngừoi khiến ta nào dễ quên? Quá khứ của ta đã đành nhưng lại chồng chéo dây mơ rễ má đến những người quanh ta. Nhất là những người ta thương yêu nhất, khiến ta không thể bình thản mà sống được!
Quá khứ vô hình nhưng vẫn làm ta muộn phiền. Nó hành hạ ám ảnh ta. Phải làm sao thoát được quá khứ dây?. Trong VÔ BIÊN nhân vật Tùng đã nhìn dải lụa mà như nhìn thấy quá khứ một thời của ngừoi vợ yêu. Qua dải lụa anh ta liên tưởng đến những gì gây bất hạnh ngăn trở hạnh phúc gia đình mình.
Khi đã nhận ra, Tùng muốn xoá, muốn chém đứt dải lụa, muốn triệt tiêu quá khứ của Vân Sa , nguyên nhân gây đau khổ cho cả hai vợ chồng bấy lâu nay.
"Nãy giờ bị thu hút bởi dải lụa Tùng cố tìm ra điểm bắt đầu của cuộn vải trắng mà vẫn không sao tìm được. Rõ ràng không có điểm tựa nhưng tấm lụa vẫn lơ lửng không rớt xuống. Lụa cứ mãi tuôn ra như không có sự kết thúc vì cũng chưa thấy phần cuối dải lụa. Chàng có cảm giác dải lụa dài bất tận, dài như những đêm cô đơn khắc khoải khi chàng và Sa chưa hiểu nhau. Nhớ lại những lời Sa thêu tặng Hải trên dải lụa đã được chính Hải nhắc lại lúc nãy Tùng nghiến răng siết chặt kiếm trong tay đến nỗi lưỡi kiếm run lên bần bật."
"Dải lụa không còn dữ dằn ồ ạt như lúc khởi đầu mà đang nhè nhẹ buông từ trên cao dần hạ xuống lửng lơ ngay trên đầu khiến Sa tưởng mình đang bị xử tử buộc phải thắt cổ, miệng cứng lại cứ trân trối nhìn. Trời! Sao mình và Tùng lại ra đến nông nỗi này? Những dại dột của một thời quá khứ chỉ muốn quên đi nay lại đang quay về. Đã có lúc mình còn tưởng đó là điều vô giá đến mức phải hy sinh huỷ hoại danh dự gia đình, danh tiết, làm khổ biết bao người, giờ nó là đây sao?"
"Nó” đây rồi! Phải chặt đứt dải lụa này. Phải xoá sạch mọi ngăn cách vô hình! Phải xoá sạch mọi ám ảnh đã từng chi phối ngăn chặn tình yêu của mình. Tùng tiến lại gần hơn. Dải lụa đang uốn éo trên đầu Sa bỗng cuộn tròn. Nhìn vòng lụa từ từ xiết nhỏ, chàng nghĩ thầm, cái vòng luẩn quẩn này đã từng trói chặt tâm hồn Sa trong đêm tân hôn khiến cho mình không thể nào đến gần Sa, cũng như những bất hạnh sau đó mà cả hai đều phải gánh chịu. Giờ nó lại xuất hiện đang tìm cách trói nàng lại, kéo nàng ra xa mình! Nó là sự thách thức là mối đe doạ cho hạnh phúc của hai vợ chồng. Bây giờ tao đã nhìn ra mày rồi!"
"Dải lụa như bóng ma lởn vởn, mối tình đầu bằm dập đầy lo lắng nghi kỵ khổ đau. Trời ơi chưa bao giờ Sa tha thiết hơn lúc này được xé tan nó ra hoặc đốt cháy tiêu huỷ cho mất luôn không còn dấu vết gì nữa mới hả giận. "
"Dải lụa lại rút lên rồi hạ xuống quất ngang mặt Tùng thật mạnh như một cái tát. Tùng uất ức nhìn dải luạ. Nó chỉ là vật vô tri vô giác vậy mà nãy giờ nó đang lạnh lùng xử phạt mình. Nó như một dụng cụ giảo hình hết siết lại trói, bóp nghẹt, kéo lê, quất tát…Thật kinh khủng!" ( trích chương cuối)
Hải là tình yêu lỡ lầm một thời của Vân Sa. HẢi giờ là cái bóng của quá khứ. HẢi nay còn đâu thể xác?. Nhưng cái hồn mới quan trọng. Cái vô hình mới quan trọng. Tác giả dùng một tĩnh vật rất bình dị nhưng lại truyền vào đó những xúc cảm chuyển biến không dừng làm cho chúng rất động, khiến người đọc không còn phân biệt thực hay ảo, đúng hay sai, chỉ thấy rất có lý với những điều thật phi lý, chỉ thấy có điều gì đó rất thực trong cái tưởng như không thực.
Một lần nữa " dải lụa" hay quá khứ lại mang hơi thở thời đại. Tùng muốn quá khứ được xoá sạch. Vân Sa cũng thế . Trong thực tế ngày hôm nay " quyền được quên" là điều 17 trong "Quy chế bảo vệ dữ liệu" của tư pháp châu âu EU soạn ra do có những bí mật đời tư đã qua của một số người vô tình bị đưa lên mạng tưởng chỉ đơn giản vui vui nhưng lại ảnh hưởng đến hạnh phúc sự nghiệp tương lai của những ngừoi đó.
Ngoài ra hình tượng chiếc đèn tơ hồng được tác giả mô tả thật gợi dục nhưng cũng rất gợi cảm.
Dùng sự vật để ngừoi đọc liên tưởng và ngộ ra ý nghĩa sâu xa thay vì nói huỵch toẹt ra nói thẳng ra thô thiển đó là nghệ thuật. Bởi văn chương không chỉ dừng lại ở mô tả kể chuyển tường thuật như báo chí mà văn chương là phải chạm tới bản chất của vấn đề thấu vào bên trong, dùng cái gì đó tượng trưng để khơi gợi, gợi hồn, gợi nhắc:"Trên bàn lửa đã bén, lúc đầu yếu ớt run run, lớn dần ngả nghiêng chao đảo một chút rồi bắt đầu cháy thật đều kêu lách tách như reo vui. Hai ngọn lửa song song liếm dần chữ TÙNG và SA khắc bằng nhũ vàng đối nhau trên cùng một thân sáp được uốn cong. Nến đang hối hả cháy, hai cái tên từ từ tan chảy hòa vào nhau, sáp lỏng tuôn trào những dòng trong suốt đỏ hồng đọng lại thành vũng lênh láng trên mặt bàn."
"Đang quay cuồng trong cơn mây mưa bỗng mắt Sa mở to nhìn lên bức vách. Ánh nến dìu dịu nhưng cũng đủ sáng để soi tỏ bóng hai người giờ là một khối dính liền uốn lượn nhấp nhô phập phồng run nẩy có khi cũng cong lại như ngọn tơ hồng, một thân mà hai đầu…" ( trích chương 40)
Ngoài tính triết và nghệ thuật liên tưởng tác phẩm còn thắm đẵm tính nhân văn, không gian xuyên suốt truyện là một bệnh xá, nơi đó có một lão bộc câm nhưng hồn hậu, không nói chỉ hay lam hay làm, là ngừoi đã âm thầm nâng đỡ Vân Sa mỗi lần nằng muốn gục ngã. Đây cũng là nơi Vân Sa đọc được những lời tự tình của người cha chồng quá cố khiến nàng như thấy được chút ánh sáng cuối đường hầm, từ từ thoát ra bế tắc tăm tối. Cũng nhờ thế mà Vân Sa dần dần khám phá ra chính bản thân mình thể hiện năng khiếu về nghề y, sống hết mình với ngừoi bệnh như lời ngừoi đã khuất dạy: " Phải điều trị bệnh bằng cái TÂM"
Hình ảnh cu Tí thơ ngây nhưng vẫn lém lỉnh cũng là nét chấm phá khiến cho bức tranh làng quê một thời xưa cũ bỗng trở nên lung linh đáng yêu thi vị. Nhất là lúc cu Tí ê a học bài trên cây na khiến ta xót xa ngậm ngùi cho một thời giao thoa giữa chữ Hán và chữ Quốc ngữ, ngỡ nàng như vừa đánh mất thứ gì quen thuộc thân thương nay tìm lại được
Tác phẩm cũng cho ngừoi đọc hiểu hơn về những nét văn hoá truyền thống đang bị đánh mất phôi pha theo thời gian. Những sinh hoạt trong cung đình Huế, những vụ xử trước ĐÌNH làng, cúng tế, lễ lạc, lên đồng tuy xưa nhưng lại rất mới lạ với TK . Nói tóm lại đây là tác phẩm có giá trị chỉ tiếc là không được phổ biến rộng rãi và vì truyện dài nên không phải ai cũng có thời gian đọc và suy ngẫm.
Nhờ hoà nhập với nền văn hoá phương tây mà chữ quốc ngữ ra đời ngày nay nó đã phát triển đủ để diễn đạt những gì mà ngày xưa không lột tả hết. Ngày xưa những gì sâu sắc thường ẩn tàng trong ca dao tục ngữ, hát dặm hát đối hơn là trong những câu nói sinh hoạt đời thường.
Về văn phong chỉ tóm tắt là văn đẹp truyền cảm, không phải chỉ lác đác vài đoạn mà xuyên suốt tác phẩm đều giữ được trạng thái này.
Nếu chỉ dừng lại ở những dòng văn đẹp thì có lẽ TK không mất công phê bình làm gì!
Đọc VÔ BIÊN , TK nghĩ đây là một tác phẩm ,ang đầy tính nghệ thuật. Nghệ thuật đây không phải chỉ lời hay bóng bẩy. Đã gọi là nghệ thuật thì văn chương cũng giống như hội hoạ hay điện ảnh, buộc phải có những tiêu chuẩn để đânh giá . Đó là phải mang tính triết, mang hơi thở của thời đại thắm đẵm tính nhân văn, bố cục độc đáo.
Bất cứ tác phẩm mang tính nghệ thuật cao đều phải hư cấu không thể bê nguyên xi đời thực vào do đó nhà văn hay nghệ sĩ thường dùng nghệ thuật liên tưởng, tức dùng những quy ước hay ước lệ để diễn đạt tư tưởng. Tính triết và nghệ thuật liên tưởng được sử dụng rất nhiều trong VÔ BIÊN.
Bây giờ xét về tính triết học. TÍnh người, sự vô hình, hữu hình đã được triết gia bao thế kỷ từ đông sang tây nghiên cứu và tranh luận rất nhiều. Chả phải ngay cả trong nhiều thể chế ngừoi ta cũng hay bàn cãi thế nào là dân quyền nhân quyền đó sao?
Nhân vật Hải trong VÔ BIÊN khi còn sống luôn khắc khoải có cảm giác muốn vượt thoát. Anh ta mơ hồ thấy được cái quyền lực hiện hữu trong con ngừoi mình. Trước khi đi thi Hải nằm mơ thấy mình làm thơ ý tưởng cứ lai láng tuôn chảy không có gì có thể ngăn trở, chả khuôn phép gì cả! Bút nghiên và trang giấy nơi chứa đựng nhũng gì anh ta viết ra cứ to dần lên mênh mang không có điểm dừng làm ta nghĩ đến sự khao khát tự do tư tưởng của con ngừoi ngày hôm nay. Tự do cá nhân tự do tư tưởng đó là cái quyền quan trọng nhất của con người .
Khi Hải thất tình nhảy xuống sông tự vẫn, thân thể tấp vào một be bờ rồi ngộ ra rằng mình không còn thể xác cùng lúc lại cảm nhận rất rõ cái con ngừoi bên trong vô hình của mình. Đoạn này tác giả tả cái chết đẹp như một bức tranh: " Có chút ánh sáng. Sắc hồng nhạt, toả mờ mờ, đậm dần lên thành màu đỏ tía của ráng trời, chiếu trên mặt phẳng lấp loáng. Một khoảng lặng, sự chững lại lững lờ, tiếng nước róc rách.
Ánh mai phà hơi ấm qua màn sương hiện dần lên một bờ bãi chen chúc cỏ lau.
Thân thể chàng tấp vào gần đó, đầu gối trên giề lục bình, phần dứoi nhìn xa như bị khuất dứoi một tấm mền tim tím. Màu áo nâu phản chiếu ánh mặt trời thấp thoáng phồng lên. Nãy giờ lòng ta lặng yên hay con nước lặng?. Lòng ta tụ rồi tan hay màn sương ? Ôi sao ta trôi tới đâu hoa lại bập bềnh nở tới đó? Màu hoa tím gờn gợn ủ ê nhẹ lan theo hay chính lòng ta sầu đau không lối thoát? Ta theo làn nước phiêu bạt như
vậy đã bao lâu? Từ khi nào trở thành phù du dạt trôi rồi vướng lại đây ngơi nghỉ? Ngờ ngợ chàng e rằng mình đã chết"
Và theo thời gian anh ta cảm nhận con ngừoi bên trong của mình đầy quyền lực. Anh ta thể hiện mọi cảm xúc của mình quá tự do đến nỗi không còn điểm dừng, vượt quá giới hạn gây phiền luỵ đến ngừoi khác. Đã gọi tự do thì không có giới hạn. Chỉ bằng vài câu thơ nhân vật Hải đã gói gọn tất cả nội dung của tác phẩm VÔ BIÊN. Vô biên hay vô cực là thuật ngữ dùng trong thần học triết học, toán học. Hệ toạ độ trong toán học có trục dọc gọi là trục tung, trục ngang gọi là trục hoành. Dọc ngang theo từ Hán Việt có nghĩa là tung hoành. Tung hoành ý ngầm là tự do làm mọi điều không sợ ai cả theo kiểu " chọc trời khuấy nước".
Hãy để ý những câu cống Hải mô tả thế giới anh ta hiện hữu:
Hồn ta khát khao vút cao vô tận - tương đương với trục tung tức là chiều dọc hay " chọc trời"
Nhiều khi hút sâu biết đâu khôn cùng - cũng là trục dọc hay " khuấy nước"
Ngờ như mở ra miên man vô hạn - tương đương trục hoành tức chiều ngang
Và một câu nữa của cống Hải cũng thật hùng hồn: " thà làm sóng gió biển đông còn hơn mực thước lồng nơi cung đình. ". Gió biển đồn ai mà ngăn được? Làm gì có khuôn phép?
Có thể so sánh câu thơ đầy súc tích của Cống Hải với một đoạn trong truyện Kiều:
Một tay xây dựng cơ đồ
Bấy lâu Bể Sở sông Ngô tung hoành
Bó thân về với triều đình
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi
Sao bằng riêng một biên thuỳ
Sức này đã dễ làm gì được nhau
Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Thế nhưng những câu thơ của cống Hải có vẻ sát thời đại vi tính của chúng ta hơn. Thế giới vi tính ảo mà thực tuy không mà có nhưng thử hỏi mấy ai trong thời đại này không nghiền mạng? Giờ nhiều khi nhiều người không ăn cứ cắm đầu vào vi tinh 24 trên 24. Bữa nào rớt mạng là la ó om sòm.
Những người lướt mạng ngày hôm nay thường gặp nhau qua tâm tình. Các tâm hồn gặp nhau. Tâm hồn làm gì có hình thể? Những kẻ gặp nhau trong cõi " vô biên" hay gọi nôm na là thế giới mạng là như vậy! Hải là nhân vật trong truyện VÔ BIÊN. Nhưng sâu xa hơn Hải chính là chính là khái niệm về tự do mà con ngừoi ai cũng ước ao. Đó cũng chính là tính chất thật nhất của chúng ta. Chả ai muốn ràng buộc nên ai cũng hỉ hả khi được lướt mạng thoả thuê thậm chí còn " vượt tường lửa nếu cần".
Thế giới mạng là thế giới vô biên . Viết thoả thuê , nói thoả thuê. Cũng giống như Hải tưởng thế giới mạng mình đang lướt là vô biên nhiều người thay vì viết những điều hay có ích thì lại lợi dụng sự vô hình của mình viết nhăng viết cuội, viết tào lao vô bổ hoặc tệ hơn nữa là rảnh hơi thoá mạ ai đó mình không thích, mắc hội chứng ga-tô ( ghen ăn tức ở ) hè nhau ném đá ai đó có những lời lẽ hành động để lộ bản chất thực nhất của mình và biết đâu kẻ đó trong đời thực lại là kẻ đội lốt trí thức đạo mạo không biết chừng?
Dải lụa ở cuối truyện tuy là vật vô tri nhưng dứoi ngòi bút của tác giả nó trở nên sống động. Một lần nữa tác giả đã dùng nghệ thuật liên tưởng gợi cho ngừoi đọc nhiều suy diễn. Đây là sự sáng tạo. Dải lụa không đơn thuần chỉ là dải lụa. Tác giả đã truyền cho nó một cái hồn.. Dải lụa phất phơ bay không điểm tựa không có phần đầu không phần kết thúc. Dải lụa là quá khứ khổ đau dai dẳng. Rất nhiều ngừoi khó có thể quên quá khứ. Quá khứ luôn ám ảnh luôn ngăn trở ai đó không cho họ được yên ổn.
Nếu quá khứ là điều gì đó tồi tệ ta có thể quên để tiếp tục sống cho hiện tại. Nhưng tâm lý con ngừoi khiến ta nào dễ quên? Quá khứ của ta đã đành nhưng lại chồng chéo dây mơ rễ má đến những người quanh ta. Nhất là những người ta thương yêu nhất, khiến ta không thể bình thản mà sống được!
Quá khứ vô hình nhưng vẫn làm ta muộn phiền. Nó hành hạ ám ảnh ta. Phải làm sao thoát được quá khứ dây?. Trong VÔ BIÊN nhân vật Tùng đã nhìn dải lụa mà như nhìn thấy quá khứ một thời của ngừoi vợ yêu. Qua dải lụa anh ta liên tưởng đến những gì gây bất hạnh ngăn trở hạnh phúc gia đình mình.
Khi đã nhận ra, Tùng muốn xoá, muốn chém đứt dải lụa, muốn triệt tiêu quá khứ của Vân Sa , nguyên nhân gây đau khổ cho cả hai vợ chồng bấy lâu nay.
"Nãy giờ bị thu hút bởi dải lụa Tùng cố tìm ra điểm bắt đầu của cuộn vải trắng mà vẫn không sao tìm được. Rõ ràng không có điểm tựa nhưng tấm lụa vẫn lơ lửng không rớt xuống. Lụa cứ mãi tuôn ra như không có sự kết thúc vì cũng chưa thấy phần cuối dải lụa. Chàng có cảm giác dải lụa dài bất tận, dài như những đêm cô đơn khắc khoải khi chàng và Sa chưa hiểu nhau. Nhớ lại những lời Sa thêu tặng Hải trên dải lụa đã được chính Hải nhắc lại lúc nãy Tùng nghiến răng siết chặt kiếm trong tay đến nỗi lưỡi kiếm run lên bần bật."
"Dải lụa không còn dữ dằn ồ ạt như lúc khởi đầu mà đang nhè nhẹ buông từ trên cao dần hạ xuống lửng lơ ngay trên đầu khiến Sa tưởng mình đang bị xử tử buộc phải thắt cổ, miệng cứng lại cứ trân trối nhìn. Trời! Sao mình và Tùng lại ra đến nông nỗi này? Những dại dột của một thời quá khứ chỉ muốn quên đi nay lại đang quay về. Đã có lúc mình còn tưởng đó là điều vô giá đến mức phải hy sinh huỷ hoại danh dự gia đình, danh tiết, làm khổ biết bao người, giờ nó là đây sao?"
"Nó” đây rồi! Phải chặt đứt dải lụa này. Phải xoá sạch mọi ngăn cách vô hình! Phải xoá sạch mọi ám ảnh đã từng chi phối ngăn chặn tình yêu của mình. Tùng tiến lại gần hơn. Dải lụa đang uốn éo trên đầu Sa bỗng cuộn tròn. Nhìn vòng lụa từ từ xiết nhỏ, chàng nghĩ thầm, cái vòng luẩn quẩn này đã từng trói chặt tâm hồn Sa trong đêm tân hôn khiến cho mình không thể nào đến gần Sa, cũng như những bất hạnh sau đó mà cả hai đều phải gánh chịu. Giờ nó lại xuất hiện đang tìm cách trói nàng lại, kéo nàng ra xa mình! Nó là sự thách thức là mối đe doạ cho hạnh phúc của hai vợ chồng. Bây giờ tao đã nhìn ra mày rồi!"
"Dải lụa như bóng ma lởn vởn, mối tình đầu bằm dập đầy lo lắng nghi kỵ khổ đau. Trời ơi chưa bao giờ Sa tha thiết hơn lúc này được xé tan nó ra hoặc đốt cháy tiêu huỷ cho mất luôn không còn dấu vết gì nữa mới hả giận. "
"Dải lụa lại rút lên rồi hạ xuống quất ngang mặt Tùng thật mạnh như một cái tát. Tùng uất ức nhìn dải luạ. Nó chỉ là vật vô tri vô giác vậy mà nãy giờ nó đang lạnh lùng xử phạt mình. Nó như một dụng cụ giảo hình hết siết lại trói, bóp nghẹt, kéo lê, quất tát…Thật kinh khủng!" ( trích chương cuối)
Hải là tình yêu lỡ lầm một thời của Vân Sa. HẢi giờ là cái bóng của quá khứ. HẢi nay còn đâu thể xác?. Nhưng cái hồn mới quan trọng. Cái vô hình mới quan trọng. Tác giả dùng một tĩnh vật rất bình dị nhưng lại truyền vào đó những xúc cảm chuyển biến không dừng làm cho chúng rất động, khiến người đọc không còn phân biệt thực hay ảo, đúng hay sai, chỉ thấy rất có lý với những điều thật phi lý, chỉ thấy có điều gì đó rất thực trong cái tưởng như không thực.
Một lần nữa " dải lụa" hay quá khứ lại mang hơi thở thời đại. Tùng muốn quá khứ được xoá sạch. Vân Sa cũng thế . Trong thực tế ngày hôm nay " quyền được quên" là điều 17 trong "Quy chế bảo vệ dữ liệu" của tư pháp châu âu EU soạn ra do có những bí mật đời tư đã qua của một số người vô tình bị đưa lên mạng tưởng chỉ đơn giản vui vui nhưng lại ảnh hưởng đến hạnh phúc sự nghiệp tương lai của những ngừoi đó.
Ngoài ra hình tượng chiếc đèn tơ hồng được tác giả mô tả thật gợi dục nhưng cũng rất gợi cảm.
Dùng sự vật để ngừoi đọc liên tưởng và ngộ ra ý nghĩa sâu xa thay vì nói huỵch toẹt ra nói thẳng ra thô thiển đó là nghệ thuật. Bởi văn chương không chỉ dừng lại ở mô tả kể chuyển tường thuật như báo chí mà văn chương là phải chạm tới bản chất của vấn đề thấu vào bên trong, dùng cái gì đó tượng trưng để khơi gợi, gợi hồn, gợi nhắc:"Trên bàn lửa đã bén, lúc đầu yếu ớt run run, lớn dần ngả nghiêng chao đảo một chút rồi bắt đầu cháy thật đều kêu lách tách như reo vui. Hai ngọn lửa song song liếm dần chữ TÙNG và SA khắc bằng nhũ vàng đối nhau trên cùng một thân sáp được uốn cong. Nến đang hối hả cháy, hai cái tên từ từ tan chảy hòa vào nhau, sáp lỏng tuôn trào những dòng trong suốt đỏ hồng đọng lại thành vũng lênh láng trên mặt bàn."
"Đang quay cuồng trong cơn mây mưa bỗng mắt Sa mở to nhìn lên bức vách. Ánh nến dìu dịu nhưng cũng đủ sáng để soi tỏ bóng hai người giờ là một khối dính liền uốn lượn nhấp nhô phập phồng run nẩy có khi cũng cong lại như ngọn tơ hồng, một thân mà hai đầu…" ( trích chương 40)
Ngoài tính triết và nghệ thuật liên tưởng tác phẩm còn thắm đẵm tính nhân văn, không gian xuyên suốt truyện là một bệnh xá, nơi đó có một lão bộc câm nhưng hồn hậu, không nói chỉ hay lam hay làm, là ngừoi đã âm thầm nâng đỡ Vân Sa mỗi lần nằng muốn gục ngã. Đây cũng là nơi Vân Sa đọc được những lời tự tình của người cha chồng quá cố khiến nàng như thấy được chút ánh sáng cuối đường hầm, từ từ thoát ra bế tắc tăm tối. Cũng nhờ thế mà Vân Sa dần dần khám phá ra chính bản thân mình thể hiện năng khiếu về nghề y, sống hết mình với ngừoi bệnh như lời ngừoi đã khuất dạy: " Phải điều trị bệnh bằng cái TÂM"
Hình ảnh cu Tí thơ ngây nhưng vẫn lém lỉnh cũng là nét chấm phá khiến cho bức tranh làng quê một thời xưa cũ bỗng trở nên lung linh đáng yêu thi vị. Nhất là lúc cu Tí ê a học bài trên cây na khiến ta xót xa ngậm ngùi cho một thời giao thoa giữa chữ Hán và chữ Quốc ngữ, ngỡ nàng như vừa đánh mất thứ gì quen thuộc thân thương nay tìm lại được
Tác phẩm cũng cho ngừoi đọc hiểu hơn về những nét văn hoá truyền thống đang bị đánh mất phôi pha theo thời gian. Những sinh hoạt trong cung đình Huế, những vụ xử trước ĐÌNH làng, cúng tế, lễ lạc, lên đồng tuy xưa nhưng lại rất mới lạ với TK . Nói tóm lại đây là tác phẩm có giá trị chỉ tiếc là không được phổ biến rộng rãi và vì truyện dài nên không phải ai cũng có thời gian đọc và suy ngẫm.