📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tuyên phi Đặng Thị Huệ (Ngô Văn Phú) - Tiểu thuyết lịch sử (HẾT) 🔒

14 trả lời, 1.953 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.11.2014 04:54:08 bởi hoi_ls>
 
 
TUYÊN PHI ĐẶNG THỊ HUỆ
(Tiểu thuyết lịch sử)
 
Tác giả: NGÔ VĂN PHÚ
NHÀ XUẤT BẢN DÂN TRÍ - 2010
Khổ 13 x 20. Số trang: 279
 
Đánh máy: hoi_ls
 
 
1    
 

Hội làng Phù Đổng đã đến gần. Rằm tháng Chạp. Các vãi già ngồi chật trong chùa để tìm lấy một người ngồi tướng.

Người đó phải là một cô gái đẹp nhất làng, trong nhà không có tang lớn, lại giàu có thì càng hay.

Những cô gái đẹp trong cả hàng tổng đều xôn xao trong dịp lễ hội này. Ai được chọn sẽ được hàng nghìn, hàng vạn con mắt để ý tới. Nhiều thầy khoá, những đại thương nhân, thậm chí những nhà đại gia bên kinh thành đều chọn người sang hội Gióng, để nhằm xem có người đẹp nào là chọn về bên vương phủ mình.
Vùng Gia Lâm là vùng có nhiều người đẹp nổi tiếng. Những cung tần, mỹ nữ, những mệnh phụ phu nhân thường là con gái vùng này.
Năm ấy Đặng Thị Huệ được chọn ngồi tướng của làng Gióng.
Phù Đổng là nơi Thánh Gióng sinh ra. Riêng chọn tướng, làng khắt khe hơn những làng khác. Họ lấy tích Đức Thánh thắng giặc Ân, bọn giặc coi như là tướng giặc lại hàng, đem diễu trước thần dân trong ngày chiến thắng. Sau này, để tôn thêm ý nghĩa, họ chọn đàn bà thay vào dẫn độ những viên tướng hoá trang mặt mày xấu xí, đầu cúi xuống vì nỗi thua một cậu bé lên ba bằng những cô gái đẹp, ý muốn nói, bọn tướng giặc chẳng qua nhát nhúa như đàn bà thời ấy vậy!
Nhưng dân chúng lại thấy lệ ấy rất hay. Bởi vì đằng sau sự giễu cợt khinh bỉ của các thầy nho, thì làng làng trong tổng, thực ra lại có một cuộc thi hoa hậu trong ngày lễ lớn...
Thị Huệ trẻ tuổi nhưng sắc sảo. Nhà cô bữa ấy còn nghèo. Ông bố sinh được hai chị em. Lân thì ngang tàng, còn Huệ thì thông minh và vô cùng xinh đẹp.
Năm mười ba tuổi, Huệ ra đường đã bị người chọc ghẹo. Mười bốn, mười lăm, đi đâu cũng bị trai làng, hoặc trai làng khác, rình rập trêu bỡn. Nhưng với cái miệng bẻo lẻo, cái uy của người có sắc đẹp, cô đảo mắt một lần, nhìn kỹ đứa cầm đầu và đứa sắc sảo trong bọn, liếc đứa này một liếc, đứa kia một liếc, đủ cho chúng nổi lên trong lòng ghen tỵ và đứa nọ ngăn đứa kia không gây nổi chuyện bậy bạ với cô. Huệ tần tảo tháo vát, cha mẹ mất sớm, cô buôn bán loanh quanh, chợ này chợ khác, buôn gì cũng lãi, làm gì cũng được, chẳng mấy lúc nức tiếng ở làng.
Năm ấy chọn thị Huệ, các vãi già cũng nổ ra những cuộc bàn cãi. Bà vãi Nhất nói:
- Ta chọn người về hầu Đức Thánh Đại Vương phải chọn người vừa đẹp, vừa hiền thục. Thị Huệ được về sắc, chứ chưa được về hạnh... tôi e rằng, các làng khác họ lại nói ra nói vào.
Bà vãi Nhì nói:
- Đẹp cũng có năm bảy đường đẹp. Hiền mà đẹp thì nhiều. Đẹp mà sắc sảo, lanh lợi mới khó. Tôi thấy cô Huệ thật đáng ngồi tướng. Làng ta năm nay, lại có nhiều khác vào ra cho mà xem. - Nói đoạn, bà tủm tỉm cười.
Soi đi, ngắm lại, trông giỏ bỏ thóc, cuối cùng người ta chọn một cô gái nhà giàu, gương mặt tròn như cái đĩa, lông mày rậm mà đen, phải tỉa đến vãi nước mắt mới được hai nhánh lông mày lá liễu. Người ta phải lấy phấn tầu trát vào mặt cô mới được làn da trắng. Và chân cô, phải dùng giẻ, buộc năm ngón chân, mới nong được vào đôi hài thêu kim tuyến...
Đặng Thị Huệ ức lắm. Hoá ra mình là con nhà nghèo, mà không ngồi tướng được. Được rồi, để ngày lễ hội xem sao.
Huệ đem tất cả vốn liếng buôn bán được, lên kinh thành, mua một bộ đồ thật đẹp. Nhờ nước da trời cho trắng như trứng gà bóc, nhờ sự linh hoạt, sắc sảo, khi Huệ xuất hiện, đám trai làng bâu cả vào xung quanh Huệ. Huệ cười với người này, đưa mắt với người kia, và cất tiếng hát đối đáp với họ, đám mê gái càng đổ đến vây bọc lấy xung quanh Huệ. Khi Huệ bước lên cây đu, thì hầu như cả sân đu đứng khép kín cả vòng trong vòng ngoài... Người nọ truyền người kia:
- Con Huệ hôm nay đẹp thế. Cái đám gái ngồi tướng chẳng đứa nào ra hồn. Chẳng qua, chúng nó có lợn, có xôi, có tiền khao làng mà được đó thôi... Ê đu lên! Bổng lên! Tuột váy đến nơi rồi!
Huệ hôm ấy coi như là người thắng cuộc. Cô nổi tiếng là người đẹp nhất trong tổng. Em của Huệ là Mậu Lân, kém Huệ chừng vài tuổi, vốn là một đứa ngỗ nghịch. Nó nhìn Huệ, cười hì hì mà nói:
- Chị Huệ à, hôm nay chị đẹp quá! Nếu em không phải là em ruột chị, thì em cũng quyết đấu với mấy thằng hảo hán để cướp lấy chị.
Huệ rất vừa ý về câu nịnh của em trai, song cũng vờ quắc mắt mà mắng yêu:
- Ăn với nói kìa! Hàng xóm mà nghe tiếng thì đẹp mặt nhỉ.
Lân quay cổ lại cãi:
- Bởi chị đẹp quá! Em mà say rượu thì chị cũng không thoát được tay em đâu.
Huệ tức quá nói:
- Đồ mất dạy! Cút đi cho rảnh mắt.
Lân nháy mắt với chị rồi mới đẩy cửa xông ra đám hội... Khi Lân trở về thì say mềm, đầu vai, tay chân bị đám trai trong lễ hội giành gái đánh cho chỗ thì sưng bằng quả ổi, chỗ thì tím bầm, chỗ nứt máu. Huệ chỉ thấy cửa bị đẩy toang, rồi một thây người, vứt đánh bịch một cái vào trong nhà. Huệ chạy đến, thì hoá ra Mậu Lân bị đánh sau một đêm hội tắt đèn.
Huệ sợ hết hồn, chỉ sợ em chết. Tuy Lân chơi bời láo lếu, nhưng Huệ rất thương em, nhất là từ khi mẹ mất đi. Nó muốn gì, Huệ cũng chiều. Huệ cho nó học võ, học chữ, nhưng cả hai nó đều học qua loa, võ vẽ. Chỗ nào có gái đẹp là nó mò đến. Nó tụm năm, tụm bảy bầy đủ các trò bẫy bắt gái để chọc ghẹo. Nó thường bị các tay chơi, những cánh con nhà giàu, đánh cho những trận thập tử nhất sinh như bữa nay vậy.
Huệ vôi đi lấy mật gấu, pha một tý cho Lân uống, rồi bóp khắp mình mẩy cho Lân. Huệ tự tay săn sóc em, tự mình làm lấy hết cả. Từ một xác chết, Lân dần dần cựa mình tỉnh dậy, mở mắt nhìn chị, rồi lại nằm thiếp đi vì mệt nhọc. Huệ khẽ kéo chăn đắp cho em ngủ, rồi đặt nồi cháo ý dĩ, nấu với chân giò cho em ăn. Ba hôm sau, thì Đặng Mậu Lân tập tễnh đi lại được.
 
*
*          *
 
Huệ đang yêu một khách thương giàu có. Hiện nay, chị em Huệ sở dĩ có đồng ra đồng vào lại mua sắm những thứ đắt tiền, cũng nhờ người tình chu cấp. Thương nhân họ Đỗ, có cửa hàng ở Kinh thành, hay về buôn tơ ở vùng Gia Lâm, đem bán ở hải ngoại, rồi lấy gấm vóc lụa là ở Tô Châu, Hàng Châu đem về bán cho những nhà quý tộc trong nước. Ông giàu có, tiền tiêu như nước. Muốn gì cũng được. Huệ mới quen ông vài tháng nay, nhân lọt mắt ông, trong một bữa đem chè xanh, bán cho một trưởng giả ở làng Bịu. Ông nhìn thấy Huệ, đem lòng quyến luyến ngay. Hôm sau, tìm cách lân la đến nhà. Huệ ra tiếp lời lẽ rất khéo léo. Lòng rất ái mộ. Từ đấy khi nào rảnh việc ông đều mò sang làng Huệ, tìm người đẹp. Vừa gặp Huệ, ông đã tặng chị em Huệ một tấm lụa và năm lạng bạc để ăn Tết. Huệ cố chối từ mà không nhận, ông năm nỉ rất chân tình. Bởi ông mê Huệ, nên giữ gìn chưa tỏ ra suồng sã. Huệ chỉ tiếc rằng, ông ta dáng người xấu xí cục mịch, mà Huệ đang ở tuổi dậy thì. Trai làng và những cậu ấm, các công tử trong vùng đều đang mắt la mày lét mỗi khi gặp Huệ... Huệ biết mình đẹp, có giá. Nhưng chọn ai bây giờ, thì Huệ còn đang tính toán.
Nhờ có tiền lụa của gã thương nhân, mà Huệ thành người đẹp tưng bừng nhất của cả đám hội của hàng tổng. Khi vãn hội, ngày hôm sau, chẳng ai còn nhắc nhở đến cái đám ngồi tướng ở làng này làng nọ, mà chỉ nhắc đến chuyện của Huệ. Từ sáng đến tối, Huệ đã gây ra đến năm đám đánh lộn nhau, đến về đầu chảy máu. Lại có con quan Đốc Đồng tận trấn Sơn Tây, định bắt cóc luôn Huệ, may mà nhờ có đám trung nam hàng tổng, xúm lại đánh trả. Không khí đằng đằng như trận mạc thật. Có một gã nho sinh liền đặt một bài thơ:
Gái làng Phù Đổng đẹp như tiên sa
Áo mớ bảy, mớ ba...
Các nữ tướng đều nhường làm hoa hậu
Trai làng mắt hau háu,
Cậu ấm nho sinh dãi giỏ ròng ròng...
Có một gã thương nhân
Đi theo cười tủm tỉm....
Sau những lần áo mỏng
Là làn da trắng ngà.
Sau những lần áo mỏng
Ngực mơn mởn, diết da
Gái Phù Đổng như tiên sa
Áo mớ ba, mớ bảy...
Có người đọc cho Huệ nghĩa bài thơ ấy, Huệ cười thích thú và thuộc lòng ngay.
Gã thương nhân vẫn còn lẽo đẽo bám theo Huệ. Huệ tiếp nửa mặn mà, nửa khủng khỉnh, do thế gã càng lao vào như thiêu thân thấy lửa.
Một buổi chiều, Huệ mới đi làm về đã thấy người chú họ đến bảo:
- Huệ, về, ngay, về ngay. Tắm rửa cho sạch sẽ, thay xống áo đẹp rồi ra đình.
- Có việc gì thế, thưa chú?
- Việc gì nữa. Chúa Thượng sai người về để tuyển cung phi.
- Cung phi là thế nào hả chú?
- Mày có biết bà Chúa Huyền bên làng Nành không?
- Cung phi là vợ Vua, vợ Chúa, bà Chúa Huyền trước được tuyển làm cung nữ, bây giờ cũng dự vào bậc phi của Đức Hiển Tông rồi đấy. Làng ấy có ba phi, được ưu đãi lắm. Thuế má nhẹ hơn các làng khác đến mấy bậc. Ruộng công cũng được nhà nước cắt đất cho thêm. Các quan tổng trấn, đốc đồng đều coi là đất bên ngoại của hoàng tộc ra sức mà cho hết mọi ưu đãi. Kỳ này nhà Chúa kén cung tần, nếu cháu mà trúng tuyển, thì cả làng được nhờ đấy!
- Tại sao là vợ Chúa thì lại hơn làm vợ Vua hở chú?
Ông chú ghé vào tai Huệ nói nhỏ:
- Con ơi, Chúa mới thực quyền, còn Vua chỉ ngồi làm vì thôi. Nhà Trịnh khôn thế đấy. Họ nhận là Chúa đương đầu trăm quan, nhưng đấy mới là Vua thật, còn Vua Lê kia dẫu cả Chúa cũng chịu Vua ban tước cho, nhưng chỉ là Vua giả thôi.
Đặng Mậu Lân, đứng ở ngoài cửa nghe lỏm, liền nhảy bổ vào, miệng bô lô, ba la, hát toáng lên:
Rằng Lê mà chẳng là Lê
Vườn thần, miếu ngự đã về tay ai.
Rằng oai thì thực là oai
Phủ Chúa tấp nập gấp mười phủ Vua.
Nịnh, trung, trung nịnh vào hùa
Nịnh Chúa thì mập, nịnh Vua thì gầy...
Ông chú quát và giơ chiếc hèo lên:
- Thằng súc sinh kia, có cút ngay ra ngoài không?
Đặng Mậu Lân nhảy phốc ra, còn ngoái lại nói:
- Chị cứ làm ái phi của Chúa cho em, em sẽ giúp chị gây thế lực.
Đặng Thị Huệ vội vàng đi sửa soạn để ra mắt các vị thái giám của nhà Chúa về tuyển cung tần.
 
*
*          *
 
Khi Đặng Thị Huệ từ trong nhà bước ra, đến ông chú cũng phải ngạc nhiên. Trang điểm tí chút, xống áo đẹp mặc vào, Huệ đã như một người khác. Huệ đẹp đến chim sa, cá lặn. Đặng Mậu Lân nhìn chị, mắt đờ đẫn, đầy tính gian manh. Nó lóp ngóp theo chị, hồi hộp mong chị được tuyển vào phủ Chúa. Tiên chỉ, lý trưởng của làng đích thân vào đón Huệ. Cả làng này, có tất thảy chín cô gái được ra mắt quan thái giám để ngài chọn cung tần. Tám cô gái kia, chỉ cắn gót so với Huệ. Đến những ông già, mắt kèm nhèm, răng rụng, khi đối mặt với Huệ, râu trê cũng vểnh lên, và đôi mắt nửa mù, nửa sáng cũng vờ vĩnh dí gần sát vào mặt vào ngực người đẹp. Huệ hơi khó chịu, lùi ra xa, tránh hơi thở chua và hôi hám của họ.
Huệ đứng vào hàng ngoài cùng của các cô gái. Viên thái giám béo mập, gọi từng cô vào một gian phòng riêng vây kín bằng gấm điều ở phía tảo mạc. Ở đó, để một chiếc ghế cao, phủ nỉ đỏ, ông ta bắt các cô cởi hết áo mớ ba mớ bảy, chỉ mặc một chiếc yếm mỏng và chiếc váy. Ông ta điều khiển các cô như một con rối. Đi lên, đi xuống, sang phải, sang trái, ngẩng mặt lên cúi mặt xuống. Ông ta đưa mắt từ trên xuống dưới, nhìn trán, lưỡng quyền, nhìn mắt, nhìn nhân trung, cằm tai, ngấn cổ. Ông ta bắt cởi yếm mà nhìn hai bên vú, hết nhìn trái, lại nhìn phải, màu đầu vú, da vú, nhìn rốn, nhìn bụng, nhìn lưng nhìn eo. Ông ta xoè bàn tay rộng đo xương hông, phía trước và phía sau. Ông ta bắt nâng váy để nhìn đùi, nhìn cẳng, bắt xoè tay giơ tay để nhìn bàn tay, bàn chân, ngón tay, ngón chân. Một viên lại ngồi bên ghi ghi chép chép vô cùng tỉ mỉ.
Mỗi một cô ngồi trong phòng kín đến tàn một nén nhang. Bên ngoài tuần phiên vẫn phải dẹp đám người tò mò đến mỗi ngày một đông, chen lấn, xô đẩy, lúc tràn vào tận cửa tảo mạc, lúc lại giãn ra tí tận bờ đầm. Cứ mỗi một cô gái từ trong buồng kín bước ra họ ùa lại, ngăn không nổi, cản không được. Họ reo hò như sấm. Người từ xa nói vọng vào những lời bông lơn, quấy quá, khiến hào lý, lính lệ lại phải quát vọng ra, mắng chửi những thằng sai quấy!
Mãi đến xế chiều, công việc hoàn tất, viên thái giám trở về kinh thành. Chín cô gái đẹp ai về nhà nấy. Dân làng vây bọc từ sáng sớm giờ cũng giải tán thưa dần, trừ những anh con trai háu gái, rỗi việc, có tiền, cứ đứng ngoài như kiến mất mồi, hết thở ngắn, than dài lại quay ra chọc giận lẫn nhau, dẫn đến đôi lần xô xát, suýt ẩu đả.
Gã thương nhân cũng có mặt từ sớm đến giờ ở cái vòng vây xem hội tuyển cung tần ấy. Khi Huệ trở về nhà, hắn cũng vội vàng theo về ngay.
Huệ mệt nhoài. Cô kiếm lưng cơm dâng lên tổ tiên, cô thắp hương ở cây nhang thờ Huyền Thiên công chúa, lầm rầm khấn vái trời phật, tiên thánh, ông bà, ông vải phù hộ cho mình được thoả ước muốn. Huệ mơ đến cảnh vàng son ở trong cung đình, cô mường tượng đến những sinh hoạt vương giả, tiệc tùng thâu đêm suốt sáng ở trong ấy... Huệ mơ đến được hầu Chúa rồi được Chúa yêu thâu đêm suốt sáng, đến nỗi Chúa bỏ các buổi chầu.
Cơm nước xong, mọi người đã ra về, Huệ còn ngồi bần thần ở trước sân, bát đĩa cũng không kịp rửa. Chợt có tiếng chào quen thuộc:
- Chào người đẹp, làm gì mà ngồi thừ ra đấy! - Huệ nhìn ra, thì ra chính là gã thương nhân. Cô vội đon đả:
- Kìa chào ông, ông đã tới.
Người đàn ông nhìn Huệ hồi lâu, rồi thở dài, khẽ nói:
- Tôi ở trong đám đông xem quan thái giám tuyển phi tần từ sáng đến giờ. Lúc này cũng theo chân em về đến tận nhà. Mấy lần lăm le toan bước vào song ngại bị đuổi, nên lại lảng ra, tìm quán ăn qua quít cho xong chuyện rồi mới trở lại.
Huệ cười, vồn vã:
- Mời ông vào trong nhà!
Người đàn ông theo chân vào. Huệ rót nước mời khách. Nhưng khách thì vẫn đắm đuối, mắt không rời khỏi người đẹp, người thì phờ phạc, thờ thẫn. Ông ta thốt ra những lời vội vã, sợ không nói thì chẳng bao giờ mới giãi bầy được:
- Em Huệ, em đã cuốn hút linh hồn tôi. Tôi đã nghiệm ra, nếu thiếu em, tôi không thể nào sống nổi. Em hãy đi theo tôi. Tài sản của tôi lúc này có khoảng năm trăm lạng vàng, vài ngàn lạng bạc. Vàng bạc ấy là của em. Trên kinh thành, tôi có khoảng vài ba cửa hàng tơ lụa gấm vóc. Cửa hàng ấy là của em. Em thương tôi đi, lấy tôi đi. Vàng tôi cũng chẳng cần. Nhà cửa điền trang tôi cũng chẳng cần, tôi chỉ cần được em yêu thương thôi. Chúng ta sẽ sinh con với nhau. Anh van em đấy!
Huệ nói:
- Ra thế, ông lấy vàng bạc, cửa hàng cửa hiệu để dụ tôi ư? Ông coi thường tôi quá!
- Trời ơi, em lại hiểu sai anh rồi. Anh chỉ muốn nói: giàu sang với anh chẳng là cái quái gì? Anh chỉ cần tình yêu của em.
Huệ cười tinh quái:
- Thế là ông lầm rồi! Ông ngu mất rồi! Tiền bạc, giàu sang mới là thứ người ta cần, chứ tình yêu, nếu nhờ nó mà sống, thì cũng chỉ sống được dăm bữa nửa tháng, thậm chí sống được một vài năm là hết đất. Nào ai sống ở trên đời này được bằng tình yêu!
Huệ phá lên cười, gã thương nhân sửng sốt. Gã chồm mình ra phía trước mà nói:
- Sao, em nói sao hả! Em cho rằng mọi thứ trên đời này đều giả dối hay sao?
- Tôi không nói thế! Nhưng tôi thấy, ông đem tình yêu đặt lên trên tiền bạc, nhất là một nhà buôn lớn như ông, thì tôi buồn cười.
Gã thương nhân, nói gần như hét:
- Sao, nghĩa là em cho tôi là giả dối!
Huệ nói:
- Chứ sao nữa! ông có thể nói với tôi câu ấy cũng như nói với bao nhiêu người khác. Đó là câu cửa miệng, là câu nghe vui tai mà không có thể làm chiếc gậy chống được.
- Em!
- Tôi chờ một thứ gì chân tình, hết mình, thậm chí có thể vì tôi mà chịu nhục, chịu khổ, chịu oan uổng, thậm chí chết được trước mặt mọi người kia. Nhưng bây giờ thì lỡ hết mọi thứ rồi. Tôi đang chờ để vào hoàng thành.
Tên lái buôn kêu thốt lên:
- Đừng em, Huệ ơi! Anh xin em đừng có ảo tưởng làm cung tần mỹ nữ. Đó là một nhà tù giam lỏng sắc đẹp bằng vàng son thôi. Vua Chúa nhiều vợ lắm. Đến hoàng hậu hoàng phi, cũng chẳng ăn ai, huống hồ là thứ cung tần. Đó chẳng qua là một thứ con đòi, nô lệ ở bên nhung gấm, phí uổng cả một đời con gái đẹp. Hãy nghe anh, hãy trốn đi với anh. Anh sẽ đưa em đến một nơi cũng có đủ vàng son, cao lương mỹ vị, hơn cả một cuộc đời vương giả! Anh hứa, anh xin hứa.
Huệ cười khẩy:
- Muộn mất rồi, người tình tuyệt vời giàu có của tôi ơi! Tôi nhìn vào con mắt và cái đầu gật gù của ông, tôi biết đích xác, tôi sẽ là vợ nhà Chúa nay mai rồi. Từ phút này, người ta thấy ông buông lời bất cẩn với tôi, ông cũng dễ bị khép vào tội mạn thượng, không chết chém, cũng tù mọt gông đấy!
Gã thương nhân van nài:
- Trốn cùng anh đi, em có vào phủ Chúa thì cũng chỉ làm được cung nữ thôi. Suốt đòi chết khô chết héo, cũng chưa biết mặt Chúa là gì... Chi bằng trốn theo anh.
Huệ đanh đá, nhìn thẳng vào mặt tên lái buôn:
- Ông coi thường tôi quá nhỉ! Còn mặt ông, còn mặt tôi đây. Ta đặt cuộc nhé! Một ngàn lạng bạc, ông có dám cược không? Tôi mà chịu làm cung nữ hả, rồi ông xem, rồi ông xem... Thôi cút đi cho rảnh mắt tôi, một kẻ tầm thường, nhìn người không qua nổi cái bóng của mình, thế mà cũng dám thỉnh cầu tình yêu của ta...
Huệ nổi giận thật sự. Gã thương nhân im tít, há hốc mồm. Huệ còn chưa nguôi cơn tức:
- Ông cho ta xuất thân từ dân chúng không phải là hạng quyền quý, là con nhà nghèo, chứ không phải nhà tam thiên mẫu, vạn khoảnh chi điền chứ gì! Do đó, vào phủ Chúa, ta chỉ làm cung nữ. Người đàn bà như ta, tự biết giành lấy chồng về mình, không cần thầy thợ nào hết. Ta nói cho ngươi biết, mả nhà ta để ở ngôi quốc mẫu đấy! Rồi ngươi xem!
Vừa lúc ấy, Đặng Mậu Lân đi ve gái về, thấy chị to tiếng, liền nhảy vào trong nhà. Gã thương nhân ngồi rúm ró, còn Huệ thì đang đi đi lại lại, vẻ bừng bừng tức giận. Lân quát:
- Lại thằng chó đẻ này hả! Nó làm gì chị thế, chị Huệ, để em sai người tống cổ nó ra... Thằng này láo, láo thật...
Nói đoạn, Lân túm cổ áo, kéo lão thương nhân, lôi xềnh xệch ra cổng, rồi đóng sầm hai cánh cổng lại...
 

0
2
 
Chúa Tĩnh Đô Vương họ Trịnh, vốn là một con người thông minh, quyết đoán. Thuở còn nhỏ, khí tượng lấn át người trên, oai trùm kẻ dưới, vốn đã được truyền ra tận băm sáu phố phường.
Hồi được phong Thế Tử, Trịnh Sâm đã tỏ ra một người xuất chúng. Ân Vương (Trịnh Doanh) rất yêu quý, chọn những thầy giỏi cả văn lẫn võ, làm thầy dạy cho Thế Tử. Lại chọn những người học giỏi như Nguyễn Khản, Phan Lê Phiên, được vào chơi trong phủ, để có dịp đua tài, trao đổi với nhau. Nhân một ngày lễ lớn trong cung, bà thái phi cho mời cả Thái Tử và Thế Tử vào cung ăn tiệc. Quan thái giám mời Thế Tử Trịnh Sâm ngồi cùng với Thái Tử Duy Vỹ, làm gợn lên những uất ức trong lòng bà. Thái phi chỉ sinh được con gái, đem gả cho Duy Vỹ.
Còn Trịnh Sâm chỉ là con một bá thứ, vợ Ân Vương. Thái phi nhất định không cho Thế Tử Sâm ngồi chung mâm với Thái tử Vỹ, và đuổi Sâm xuống ngồi mâm dưới, cho rằng vua, tôi không được ngồi cùng mâm, như thế là sai ngôi thứ. Sâm hận lắm. Ra đến ngoài hiên, chỉ mặt Duy Vỹ mà nói:
- Mày định làm Vua ư? Còn lâu! Nếu tao làm Chúa, thì không đến mày làm Vua đâu, dù là thứ Vua giả...
Quả nhiên Duy Vỹ được Thái phi che chở, vẫn không cứu nổi thân. Khi lên ngôi Chúa, Trịnh Sâm bày mưu hại Duy Vỹ, khiến Vỹ phải chết bất đắc kỳ tử trong ngục thất. Vĩnh Hoàng Đế, Lê Hiển Tông nhìn con chết mà không cứu nổi, đành gạt nước mắt...
Từ khi Tĩnh Đô Vương ngồi giữ phủ Chúa, trong hơn chục năm, chính sự vững vàng. Vương tiếp được chí cha, giữ yên được bờ cõi, không để Chúa Nguyễn phương nam tác oai, tác quái, chọn tướng giỏi, đưa ra để trấn trị. Lại cho quân sang Trấn Ninh đánh thành, chiếm đất để tỏ uy vũ, rồi rút về bắt lân quốc triều cống nghiêm chỉnh hàng năm. Phía bắc dẹp yên vụ xưng vương của Công Chất, dẹp các bọn giặc cỏ ở mạn biển, mạn núi đều bắt đầu lĩnh bỏ cũi đem về kinh đô, hoặc cho tướng giỏi, vây đánh, chém chết ở giữa trận tiền.
Chúa mở mang phủ Chúa, nguy nga lộng lẫy, vườn hoa của Chúa, buổi sáng ríu ran tiếng kêu tiếng hót của thú lạ, chim quý. Những cây cảnh, đá lạ, hoa thơm cỏ lạ, ở kinh thành và ngoại vi. Chúa ngầm sai bọn nội thị, thái giám lôi về. Thôi thì, cây mai già ở vùng Hương Tích, cây si trăm tuổi trong chậu cảnh của quan trấn thủ Sơn Nam, con vượn mặt xanh của vua Trấn Ninh, con vẹt trắng và ngù đỏ, biết nói, do tước vương Vân Nam gửi tặng. Chúa đều có cả. Chúa nghe lời bọn nội giám cho làm một hòn non bộ thật lộng lẫy, trông man mác như bốn bể đầu non. Chúa cho thả lên đó một bầy vẹt ngũ sắc, những buổi chiều rét, chúng gọi nhau náu ẩn, nghe xớn xác khó chịu, Chúa lại lấy thế làm vui.
Một lần vi hành sang Gia Lâm, thấy cây đa xanh tốt, Chúa buột miệng khen: Cây này mà đưa về trồng trong vườn Phủ thì đẹp đấy. Thế là chỉ vài ngày sau, quanh phủ sở tại với đám nội thị đã huy động dân chúng, đào xấn tận mấy trượng dưới đất, bứng bầu to bằng cả gian nhà, xẻ rãnh, dùng đá đưa xuống bè lớn, chở sang sông, đưa về Phủ Chúa chăm trồng cho bằng được, tốn kém không biết bao nhiêu mà kể.
Chúa lại xây ly cung ở Hồ Tây, xa hoa không kém gì trong vương phủ. Tuy thu nhỏ gấp nhiều lần nhưng cũng có lầu xem sóng, nơi câu cá, chỗ thưởng nguyệt, chỗ ngắm trăng, nơi xem hát, nơi mở tiệc ngoài trời. Đèn lồng hàng ngàn chiếc, bạch lạp lớn lấy từ Trung Hoa sang, thắp thâu đêm suốt sáng mỗi khi Chúa giáng lâm.
Lại sai các nội giám đầu bịt khăn hoa, mặc áo cung nhân hoặc thường dân, bày các đồ hàng hoá mà bán cho quan đại thần theo hầu quanh hồ, cho là những phút thư giãn sau việc triều chính cực kỳ căng thẳng.
Bọn nhạc công thành phải theo để sẵn sàng tấu nhạc. Khi hứng chí, Chúa tung tiền vàng ra thưởng, cho phép họ giành nhau mà cướp. Chúa trông thấy cười thích thú.
Các ly cung mạn xứ Đoài, ở tỉnh Đông cũng được thiết lập. Hội xuân, nơi đâu được Chúa ngự đến vãn cảnh, năm ấy làm ăn thịnh vượng. Bọn nịnh lại khéo tâu, Chúa tưởng thật, càng hay đi. Chuyến đi nào cũng tiền hô hậu ủng, võng lọng nghênh ngang, điều thuyền, điều kiệu, ngựa trạm, chạy tới, chạy lui bụi đường tung lên đến hàng chục dặm...
Chúa còn thích thăm những nơi danh lam thắng cảnh. Đi đâu cũng cho quần thần theo hầu. Thường bắt chước các bậc hào hoa, ra thơ, ra đề hạn vận mà ngâm vịnh. Chúa thường được cho là bậc thơ hay, nên càng hay làm thơ. Chúa viết chữ cũng thường thôi, nhưng quần thần khen là loại chữ đẹp. Chúa bề ngoài khiêm tốn, nhưng bên trong ưa nịnh, cũng thích lắm. Do đấy mới có chuyện đề chữ ở động Hương Thích, khắc thơ ở chùa Tiên...
Lại nói, Thị Huệ hồi hộp chờ đợi được tuyển vào cung như đất hạn chờ mưa rào.
Hai chị em hôm nào cũng bàn bạc, nếu vào cung thì làm những gì. Huệ vẫn đi buôn bán, tần tảo, nhưng đêm về thường bảo người chú hướng dẫn cho những điển lệ của triều đình, lại hay hỏi đến cách ăn chơi của nhà quyền quí. Lắm lúc Huệ đã tò mò hỏi cả tính nết của Chúa Trịnh, của Vua Lê. Người chú thấy cháu có vẻ khác thường, cũng hết lòng truyền dạy. Ông lại đem những sách Tầu, truyện Tầu nói đến chuyện các vị hoàng hậu cung phi lừng danh trong sử sách như Lã Hậu, Võ Hậu, Chiêu Quân, Tây Thi, nhất loạt kể cho cháu nghe.
Ông cũng hay lui tới kinh thành, nên những truyện lưu truyền trong dân chúng về vua Lê, Chúa Trịnh đều kể cho Huệ tỉ mỉ. Huệ lại mượn những câu chuyện tình sử Trung Quốc mà đọc. Đọc rồi ngẫm nghĩ, say đắm lắm…
Mậu Lân vẫn rong chơi suốt tháng. Ông chú quát nạt nhiều, cũng có đỡ đôi chút. Song Huệ lại rất chiều em. Lân đẹp trai, thông minh, nhưng tính tình táo tợn, ham hố bài bạc. Đã có bận, Lân lấy tiền của chị đánh gần hết cả vốn. Mãi gần sáng mói gỡ được bạc, nhưng cũng thiếu đến gần chục lượng. Sáng sớm, chị còn lúi húi trong bếp, liền để vào chỗ cũ. Huệ kiểm tra thấy thiếu, hôm ấy phải khất chủ hàng. Tối đến, Lân về, Huệ liền hỏi. Lân gãi đầu nhận, Huệ chỉ mắng em qua loa rồi thở dài, Lân biết Huệ thương mình lắm. Vốn ỷ lại vào chị đã quen, Lân rất mong chị được tuyển vào phủ Chúa. Lân cười khì khì bảo chị:
- Vợ vua như bà Huyền bên làng Nành, cả làng còn được nhờ. Chị làm vợ Chúa, phải xin phong cho em làm quận công.
- Mày chỉ lỗ mãng quen thân. Đã ăn đâu vào đâu, mà mồm miệng cứ trống hoang, trống huếch. Vợ một tên khố rách ở làng, ghét nhau nó còn gièm chán, huống chi lại mấp mênh vào phủ Chúa. Mày dại lắm, em ạ!
Lân quay cổ lại cãi chị:
- Cứ bán dại của em đi mà ăn...
Ba tháng sau, Huệ được nội thần của phủ Chúa sang đón về cung. Làng Phù Đổng lại được một lần nô nức như ngày hội. Dân làng chen đẩy nhau mà xem mặt người đẹp của làng mình. Mấy người không chọn Huệ ngồi tướng trong dịp tháng giêng vừa rồi, chợt giật mình lo sợ... Liệu Huệ có trả thù mình không? Họ vội tự trấn an. Chúa ban cho vàng bạc, đồ trang sức, hài, giầy, xiêm áo, nghi phục đến hai ba hòm, được khiêng về nhà từ hôm trước. Ông chú Huệ, bầy hương án, ra nhận chỉ dụ của Chúa, tuyển Huệ vào cung. Chúa cắt hơn năm mẫu công điền của làng Gióng, dành cho gia đình Huệ, lại ban phẩm hàm cho ông chú... Biết bao người trong vùng đều phải ghen lên với gia đình họ Đặng.
Mậu Lân khăng khăng đòi về ngay kinh thành với chị. Ông chú phải dàn xếp, giảng giải mãi, Lân mới chịu.
 
*
*          *
 
Thị Huệ vào trong cung vài hôm đã xông xáo khắp mọi chỗ, Huệ khéo mồm, khéo miệng, lại nhanh nhẹn. Huệ được vào hầu Vương thứ phi của Trịnh Sâm là Ngọc Khoan. Ngọc Khoan là người được Trịnh Sâm gần đây yêu quý nhất, trở thành người tin cẩn giao phó nhiều việc. Được lòng chủ, nhưng Huệ cũng không mất lòng bầu bạn.
Huệ rỉ rả gợi chuyện, biết được sự thân ái ngoài mặt mà ghen ngầm, oán kín ở bên trong, của ba bà phi Dương Ngọc Hoan, Trần Thị Lộc và Trương Ngọc Khoan.
Trong ba bà, bà nào cũng có kiểu khôn ngoan của riêng mình. Bà Ngọc Hoan là nguyên Vương Phi, thế lực lớn hơn cả. Bà được Khê Trung Hầu, viên nội thần kỳ cựu của Tĩnh Đô Vương yêu quý kính trọng nhất. Trong phủ Chúa, ai mà không biết chuyện, chỉ có Khê Trung Hầu, mới dám giả cách nghe nhầm Chúa gọi bà Vương thứ phi lên hầu là bà Trương Ngọc Khoan, hầu cứ gọi bà ngụy phi Ngọc Hoan lên hầu Chúa. Hôm thứ nhất đã thế, hôm thứ hai, thứ ba, Khê Trung Hầu, vẫn cứ nhầm. Chúa hậm hực, thứ phi Trương Ngọc Khoan tức tối lồng lộn cả lên. Mấy đêm liền mất ngủ, Ngọc Khoan không hiểu: Mấy tháng nay, đêm nào Chúa không gọi mình lên hầu chăn gối. Ngọc Khoan trẻ, lại biết cách hầu Chúa. Lúc Chúa thèm khát vội vã, phi tìm cách khéo léo để Chúa thật bình tâm, trong người thư giãn, thoải mái, lúc ấy, phi mới giở các ngón riêng của mình để Chúa đắm mình trong sảng khoái... Vậy mà mấy đêm nay...
Trương Ngọc Khoan ngầm oán, khóc đến sưng cả mắt. Đêm thứ tư, Ngọc Khoan mới được lên hầu Chúa như cũ. Phi cuống quít, vội vã. Đôi mắt sưng sửa mãi không được đẹp như cũ. Đến nỗi, phi lên hầu muộn đến nửa khắc. May mà Chúa còn bận xem sắc văn. Thấy Ngọc Khoan lên, Chúa bỏ án thư, chạy ra đón, tươi cười:
- Thế nào ái phi, sao bảo mấy hôm nay em khó ở!
- Tâu Chúa thượng, đó là Khê Trung Hầu tâu láo. Em vẫn mạnh khoẻ như thường!
- Có thật thế không?
- Sao lại không thật!
- Vậy mà Khê Trung Hầu, ba hôm nay... vẫn gọi Nguyên phi lên hầu Chúa!
Chúa thở dài, Ngọc Khoan không tỏ ra ghen tuông lại nói:
- “Tao khang chi thê bất khả hạ đường”. Với ai, chứ với Nguyên phi, em làm sao dám ghen ngược.
Chúa ôm Ngọc Khoan vào lòng nói:
- Khanh rất biết điều. Nhưng nàng biết đấy, ba đêm qua, ta nằm với một người mà vẫn chỉ nhớ đến một người.
- Đội ơn Thánh Chúa! Còn em ba đêm vừa rồi chẳng khác như người đã chết rồi!
- Ta thật có lỗi với nàng!
- Thánh Chúa đừng nói thế! Phận đàn bà của chúng em là thế mà!
Chúa thấy Ngọc Khoan tính tình dịu dàng, lòng đầy yêu mến! Chúa ôm người lên lòng, cử chỉ rất suồng sã, Chúa hỏi:
- Nàng không giận ta ư?
Ngọc Khoan nép mình vào ngực Chúa, thỏ thẻ:
- Em giận Trời làm sao được. Em giận Chúa làm sao được. Chúa như Trời, nơi bao la che chở cho em. Em giận làm sao được!
Chúa rất vui lòng, cởi áo Ngọc Khoan. Mặt rồng kề sát vào mặt hoa, khẽ thì thào:
- Ta chỉ mong có được một đứa con trai thôi. Em có làm được việc đó hôm nay với ta không?
Ngọc Khoan khẽ gật đầu.
Chúa thổi nến, và đưa Ngọc Khoan lên sập vàng...
Ngọc Khoan thấy Huệ đẹp, nói với quan thị thôi không dùng làm cung nữ ở với mình.
Đặng Thị Huệ được chuyển sang hầu hạ bà vương phi Trần Thị Lộc. Huệ đã rất hiểu tấm lòng u uất của phi. Phi là người đồng hương của Huệ, do thế mà chọn về ở cùng mình. Có những buổi, Phi cho Huệ ngồi hầu cả đêm, rỉ rả hỏi chuyện ở quê nhà. Từ những phong tục, tập quán, món ăn, thức uống, đến những lễ hội trò chơi trong vùng. Phi vốn trước cũng là con nhà thường dân do một câu hát khẩu khí, mà được Chúa Trịnh Sâm đi tuần du, đem lòng yêu thích mà đón về.
Bà phi họ Trần kể:
- Em có biết không, cái đêm rằm tháng giêng ấy ta đi hội Lim, quần áo cũng tầm thường thôi, không được đẹp như những người khác đâu! ... Hôm ấy, rằm tháng giêng, trăng đẹp hơn tất cả những Tết Nguyên tiêu ngày trước. Dẫu hội đèn như một thiên hà, suốt dọc giải đồi Lim, nhưng mà, nào ai nghĩ đến đèn đóm làm gì. Khi những câu hát đúm, hát giao duyên vang lên, trai gọi gái, gái gọi trai, thì hồn mình như bay khỏi xác mình. Mình không hèn nữa. Ta chỉ thấy như ngực căng ra, lòng đầy rộn ràng. Ta chỉ muốn tìm đến chỗ đám đông, nhiều con trai, mà chà, mà xát, mà tìm mà kiếm anh chàng mà mình hằng mơ, hằng khao khát. Mạnh khoẻ, táo tợn, giàu sang càng tốt, nếu không đủ ăn, đủ mặc cũng được...
Phi dừng lại. Huệ nhìn đôi mắt long lanh của bà đăm đăm nhìn về phía quê hương. Huệ biết trong đôi mắt ấy còn giữ nguyên những cờ xí, loa truyền, tiếng cọt kẹt của cây đu vừa dạo của đôi trai gái đang thì, những giọng hát về tiếng, trầm đục hoặc tha thiết, không khí xô bồ của đám hội, sự rủ rê buông thả với tuổi trẻ, sự kìm giữ nén chịu để bảo trọng nếp nhà, cái trinh bạch của người con gái... Phi dừng một lát, rồi lại hào hứng kể tiếp:
- Hôm đó, ta cất tiếng hát, câu hát, ta thường cho là hợp với lòng mình nhất. Câu hát ấy thế này: “Còn duyên ngồi gốc cây thông! Hết duyên ngồi gốc cây hồng hái hoa. Đã yêu nhau (nên) thăm cửa, thăm nhà... Cho thầy mẹ biết để đuốc hoa động trèo. Thất bát sông cũng lội, tứ cửu, tam thập lục đèo cũng qua...” Chắc là ta hát hay lắm. Lũ con trai bâu đến. Đã đến hồi trống cuối cùng bảo hiệu hội tắt đèn đã bắt đầu, thì ta thấy, đám con trai bị đám người rất khoẻ, gạt bắn sang hai bên. Rồi họ xông thẳng đến ta, dẫn đến một chiếc kiệu nhỏ, nhét ta vào đó, xe chạy như bay trên đầu mọi người. Lúc ấy cũng là lúc đèn tắt. Trăng vẫn sáng mờ mờ. Ta tưởng như đang trong một giấc mơ vậy.
Phi hình dung lại toàn bộ cảnh gặp gỡ đêm hôm ấy.
Trần Thị Lộc vẫn nguyên xống áo ngày hội được đem đến một hành cung, đầy đèn nến sáng trưng. Khi chân nàng vừa đặt lên bậc thềm đã có bốn thị nữ từ trong nhà bước ra, xiêm y tha thướt, dáng đẹp như tiên. Họ cúi chào rồi xúm đến đón nàng, dẫn nàng đi vào trong luồng nhà, đầy những cột lớn, sơn son thếp vàng của một cung điện. Nàng ngỡ ngàng chưa biết sao, thì hai thị nữ rẽ sang trái, còn hai thị nữ dẫn vào buồng tắm, có che những rèm gấm cực kỳ sang trọng. Nước tắm mùi thơm tho của những hương liệu quý giá đã toả ngát. Hơi nước nóng ấm đến khao khát được tắm gội ngay... Nàng tắm thoả thuê, ngây ngất. Khi nàng đứng dậy định mặc quần áo, thì thấy một chàng trai tuấn tú gạt màn bước vào. Chàng ngắm nàng từ đầu đến chân. Nàng sợ hãi ôm lấy bầu vú và khum người xuống. Nhưng giọng chàng, thật êm ái, khẽ nói:
- Nàng đừng sợ! Ta chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nàng thôi mà! Nàng mặc xiêm áo vào đi.
Rồi chàng tự tay cầm xiêm áo, đưa cho nàng mặc dần từng cái. Lộc đã mê chàng. Một ông hoàng chăng? Một cuộc gặp ở tiên giới chăng? Chàng thật quý phái và phong lưu. Cung cách của chàng hào hoa. Chàng đẹp, khoẻ mạnh và cũng hết sức dịu dàng trước nàng, một người đẹp ở chốn thôn dã. Khi Lộc mặc xong quần áo, chàng giơ tay ra cầm tay nàng và dẫn nàng ra khỏi buồng tắm. Mấy đứa thị tỳ đã đứng lui cả vào một cửa ngách, khi chàng dẫn nàng đi qua rồi, chúng mới dám trở lại buồng tắm để thu dọn...
Vương phi dừng lại, mắt đầy mơ mộng. Tiếng chim ngoài vườn Chúa lại vang. Những con vẹt đẹp mã, tiếng lại cộc cằn. Con chim cu áo màu đất, hót ít, mà khi đã hót thì tiếng của nó sao da diết. Phi nói với Huệ:
- Trong cuộc đời của ta, đêm ấy là đêm đáng sống, đáng nhớ nhất ở trên đời. Ta cảm thấy, Chúa là Trời và ta là Đất, Chúa là núi và ta là sông. Chúa là chim phượng còn ta là chim hoàng, chỉ những cánh rừng đại ngàn mới đủ để cho chúng dạo chơi và vun vén cho tình yêu đẹp nhất. Đêm ấy ta dâng hiến cho Chúa như bông hoa nở hết mình cho những hạt phấn để thành quả tốt cho cây, cho cành... Ta những tưởng ta sẽ sinh được đứa con ngày hôm đó với Chúa. Chúa thương ta hết mình. Chúa ngậm vào vú ta. Chúa cắn vào vai ta, ta dựa vào vai Chúa, vào mặt Chúa. Sự dịu dàng, sự thoả mãn của ta, làm cho Chúa rơi vào tận cùng mê đắm...
Bà phi dừng lại, Huệ nhận ra từ cuối mắt những giọt nước mắt long lanh hình to dần và rơi dần xuống đôi má phấn... Bà nói tiếp:
- Từ bữa ấy, ta đã thuộc về Chúa. Ta khát khao gì ở Chúa chăng? Ngai vàng ư? Không đâu! Ta sống nghèo, sống khổ ở chốn quê mùa đã quen! Giàu sang ai mà chẳng thích. Quyền thế ngang dọc như Chúa, mà cái thân hình đẹp đẽ, con người hào hoa ấy, khi về đến nội cung thì đã mệt phờ. Ta ít học, nhưng ta biết, quyền thế từ ngai vàng, uy lực càng lớn thì càng chuốc mệt mỏi... Giàu sang ư? Được ở hoàng cung, chẳng là nơi giàu sang nhất nước ư? Ta còn cần gì nữa. Điều ta cần chính là tình yêu của Chúa! Nhưng em ơi, làm sao ta giành được riêng cho mình, đối với con người mà cả nước trông vào ấy! Đến nguyên phi cũng còn chẳng làm gì được huống chi ta!
Nước mắt vương phi oà xuống má... Bà khóc dội lên một tiếng đủ cho Huệ thấy niềm yêu, sự đau xót và nén chịu đến chừng nào. Bà nói:
- Ta chỉ mong sinh được với Chúa một mụn con, trai hay gái cũng được. Đó chính là điều Chúa sẽ gắn bó với ta... Nhưng trời hại ta, trời hành ta... Ta biết làm sao được. Kiếp trước ta đâm ai, chém ai mà kiếp này ta khổ thế!
Huệ không biết làm thế nào, chỉ đến gần nhẹ nhàng nói:
- Lệnh bà đừng buồn. Chúa vẫn yêu quý lệnh bà. Những bữa nào Chúa đến, dáng của Chúa rất vui, có bữa Chúa nghỉ lại đây, đến nỗi quên cả buổi chầu đó ư...
Câu nói dường như làm dịu bớt nỗi đau của Vương phi Trần Thị Lộc. Bà quờ tay ôm lấy Huệ mà hỏi:
- Em có biết hát quan họ không?
- Dạ, hát được, nhưng không hay lắm!
Huệ cất tiếng hát. Phi lắng nghe, lòng dịu dần đi, mắt vời vời nhìn xa. Hình như Phi vẫn không thể nào quên được cái đêm Phi gặp Chúa trong Tết Nguyên tiêu, giữa đồi Lim, đêm hội tắt đèn...
 
0

3

 
Huệ được Vương phi Trần Thị Lộc giao cho việc chăm hoa trong nội cung... Hoa cỏ trong phủ Chúa, đi hàng dặm không hết. Quanh các dinh thự, chỗ nào cũng có lối cỏ, cây trồng... Chúa cũng là người đi nhiều biết lắm. Không kể những chậu cảnh, những cây thế, vườn của Chúa, riêng về hoa thôi cũng tỏ ra Chúa là sành điệu. Chúa chê phủ Thiên Trường trồng quất đến hàng mẫu hàng ngàn cây. Chúa nói: “Trồng nhiều cũng có cái hay của nó. Các vua Trần cho quất là thứ cao sang thanh khiết, thứ cây mà các Nho gia đề cao, nên lấy quất làm chủ thế ở đó. Cây quất lại có trong thơ của Khuất Nguyên, nên đời sau còn xưng tụng mãi... Vua Thái Tông, Nhân Tông nhà Trần đều là những bậc triết nhân, say trăm giáo, sau lại là những tổ sư của đạo Phật, yêu quất là phải... Còn ta, ta muốn trong vườn của ta trăm hoa đua nở, trăm loài chim đua tiếng, như vẻ đẹp của triều đình ta đang trị vì vậy!”.
Vườn Chúa có đủ các loại cây cảnh, tượng trưng cho bốn mùa: thông, mai, cúc, trúc... Những đào bích, và đào phai vừa phải. Những chậu mẫu đơn vàng, mẫu đơn đỏ, đại đoá, trung đoá và tiểu đoá, để theo những lối đi rất thích hợp. Cúc có loại vàng, loại màu da trời, màu trắng, đủ bông đơn, bông kép, có bông gọn nhỏ như một cụm tuyết. Có bông cánh dài mượt, vàng đậm hoặc trắng ngần trong những đám lá xanh... Những vuông hồng chưa tới đã thấy mùi thơm toả ngát. Có hồng nhung, hồng bạch, hồng tím, hồng vàng... Chúa tiếc rẻ mãi quan coi vườn làm chết mất một cây hồng nhung màu đen, do một thương nhân từ đất Ý Đại Lợi, đem đến làm quà tặng.
Những chậu cảnh đẹp nhất ở kinh đô đều được các nội giám tìm đủ cách đem về đây. Cây si ba trăm tuổi của ông Mền phố Hàng Cá, cây thiên tuế hai gốc của ông Cử Thập Tam trại, lại có cây mai quả ghép ở Đông Phù, cây mai chiếu thuỷ hoa mỏng và nhỏ li ti, gốc xù lên như một con lân vừa nhổm dậy. Chúa thích cây mai này lắm, truyền để ở ngay thềm hiên, để sau những lúc làm việc căng thẳng, lại tản bộ cúi mình quan sát những huyền diệu của các loài hoa thảo...
Cầu kỳ nhất là mấy chậu hoa trà... Phải có riêng một lão bộc để chăm mấy cây hoa trà cho Chúa. Chỉ có ông mới biết tưới trà lúc khô, lúc ẩm, để cho cây trà lúc nào cũng tươi tốt, và đâm bông vào mùa xuân. Mấy năm liền chăm hoa trà cho Chúa, duy nhất có một lần, ông được Chúa ngắm cây hồng trà và ban thưởng cho một lạng bạc. Ông giữ như một vật báu, gặp ai cũng khoe. Chậu trà của ông cha con Xuân quận công Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Khản đều chịu cho công phu, nhưng Chúa thì tết nhất, bao nhiêu công việc, có bao giờ được ngắm. Một lần, ông vui tính, nói đùa với Huệ:
- Hoa của tôi thua cả những bông hoa đẹp nhất trong vườn ngày thường.
- Sao thế, hở lão!
- Có gì đâu, hoa đẹp và hoa sang ngày Tết, thì người thưởng hoa bận bịu lắm thứ, mấy khi để mắt đến. Cô thấy không, Vương thượng có lúc thích hoa, có lúc lại thích cỏ. Một hôm, tôi thấy người đến bên chậu hồng trà của tôi. Tôi tưởng người lại ngắm và sẽ thưởng bạc cho tôi. Nhưng tôi cụt hứng ngay, người cúi mình ngắt một chùm hoa chua me đặt lên lòng bàn tay mà ngắm...
Câu nói vô tình của người chăm hoa cho Chúa, khiến Huệ hết sức lưu ý. Đúng thế, người ta thưởng hoa, còn tuỳ thuộc những phút vui buồn rất khác nhau của tâm trạng mình lúc ấy...
Huệ mang hoa lên nhà Chúa... Có hôm là những bát hồng thơm nhẹ, đặt trên gờ tường dưới chân một bức tranh cổ, có hôm là một chậu địa lan tím, cánh mỏng như gấm, hương rất thơm. Có hôm là một bát thuỷ tiên, do một bậc chơi hoa cảnh vào loại nhất nhì trong hoàng cung, đích thân tỉa cho hoa nở thật mượt và thật thơm. Có hôm là một cành phong lan đai - châu, sang trọng và quý phái...
Lúc đầu Chúa mải làm việc cũng không để ý. Chỉ có một lần, Huệ rón rén mang vào một chậu lan ngọc quế, nhẹ nhàng đặt lên đôn chàm do sứ nhà Thanh dâng tặng: Đôn chàm, chậu chàm, lan màu trắng nhỏ li ti như hoa quế mà khi Huệ đem hoa vào trong nhà thì hương thơm đã lan toả khắp căn phòng, một mùi thơm nhẹ mà nồng nàn, mà thanh sáng. Hoa thơm đến nỗi, Chúa phải ngừng tay, đến gần tận nơi mà ngắm. Huệ chỉ mong có thế. Cái phút một đời người may mắn mới có được là phút này đây. Huệ rắp ranh chờ nó hàng năm nay khi vào hầu trong phủ Chúa... Vậy mà tim Huệ vẫn đập thình thịch.
Chúa mặc áo thụng tía, không đội mũ, đi hia gấm. Chúa thốt lên một tiếng:
- Chà, hoa gì mà thơm thế.
Chúa đến để ngắm hoa, nhưng sững người khi thấy một cung nữ gọn gàng, nhanh nhẹn, da ngần trắng, cổ cao, đứng chết lặng nhìn mình. Chúa có vẻ thích thú vì sự sợ hãi, e thẹn tự nhiên của người cung nữ. Chúa cũng tìm thấy ở khoé mắt long lanh đen kia có điều gì đắm đuối và tinh quái.
Chúa hỏi:
- Nàng tên họ là chi!
- Bẩm đấng chí tôn, thần thiếp là Đặng Thị Huệ ạ!
- À, cũng là con gái đất Tiên Du đấy! - Chúa ngắm Huệ, thấy cái dáng rất thon và đẹp. Má Huệ đỏ bừng, họ cúi đầu xuống, những ngón tay đan xen vào nhau, bối rối... Chúa quên cả hoa, chỉ đắm đuối vào người con gái e lệ đứng trước mặt mình. Trong lúc hồi hộp, vẻ đẹp của nàng nhân lên, trông nàng càng hấp dẫn. Chúa rất chú ý. Bờ vai tròn của nàng như cũng đang run rẩy. Còn bờ ngực thì, ... phập phồng đầy quyến rũ. Lòng Chúa nổi hứng, đắm say. Chúa đưa tay, choàng lấy vai Huệ, rồi dìu nàng đi trong phòng văn, đến bên chiếc giường ngự, nơi Chúa thường lui về nằm thư giãn giữa lúc phán xét các công việc đầy căng thẳng. Huệ ngoan ngoãn chiều ý Chúa, như một con mèo nhỏ, đang háo hức được ve vuốt.
Chúa ngả Huệ xuống giường, ôm ghì lấy, tay lùa vào những lần áo ngoài rắc rối, để đặt lên bầu vú tuyệt diệu của người con gái đồng trinh. Chúa hết sức bất ngờ. Bầu vú tròn căng, da vú mát rượi, khiến cơn hứng thú của Chúa dâng lên tràn ngập. Chúa đưa tay lên bờ vai, vuốt dọc sống lưng, xoa nhẹ lên vành bụng và đùi. Những cảm quan trước vẻ đẹp nhận ra không phải bằng mắt, nhưng sự non tơ, kỳ diệu của trời cho, đã khiến cho Chúa nhận ra hết thảy.
Chúa đã gần gũi nhiều người đàn bà, mà chưa bao giò lại hào hứng đến thế. Bây giờ thì Huệ đã nằm trong vòng tay, cơn dục tình của Chúa. Huệ chiều, trong cái phút đầy sung sướng, chờ đợi hoà lẫn sự sợ hãi của người con gái lần đầu tiên gần gũi xác thịt với một người đàn ông.
Khi áo quần bị bứt ra khỏi thân thể, Huệ kéo lại trong sự ngại ngần đầy tự nhiên, khiến Chúa càng thích thú.
Chúa yêu Huệ, Huệ cũng sẵn sàng dâng hiến. Chúa hối hả, hăm hở như lần đầu. Chúa mệt, nhưng không chịu buông rời Huệ ra. Còn Huệ thì, bây giờ cô đã dạn dĩ hơn, ghì ôm lấy Chúa đầy yêu đương và ham muốn. Chúa ôm chặt lấy Huệ, thơm lên ngực lên cổ, lên má Huệ và nằm lại cùng Huệ một lúc lâu nữa...
Rồi cuộc tình cũng kết thúc. Huệ cúi mình vái lạy Chúa trở ra, trở lại buồng riêng của mình ở cung của bà vương phi Trần Thị Lộc, lòng đầy hồi hộp...
Huệ về rồi, Chúa ngồi vào xét các văn bản, chiếu biểu. Lòng Chúa không còn gắn gì với công việc, với chữ nghĩa nữa. Những dư âm của thân thể tuyệt vời của người con gái còn đang ám Chúa không thể nào rũ nổi ra...
Chúa gọi người hầu tới, thu dọn các giấy tờ rồi lên kiệu về phủ.
Đêm ấy, Khê Trung Hầu, quen lệ lên chầu Chúa xem đêm nay, Chúa vời vào ai vào chầu... Chúa không chấm Ngọc Khoan, Trần Thị Lộc mà trên chiếc thẻ vời người đẹp hiện ra một dòng chữ mới, tươi tắn: Đặng Thị Huệ.
Chỉ mấy hôm sau, Khê Trung Hầu đã được lệnh dọn dẹp một hậu cung mới ngay bên nhà Chúa. Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm có thêm một bà phi mới họ Đặng. Nàng được ban phẩm hiệu là Tuyên phi...
Đặng Thị Huệ chào từ biệt bà phi Trần Thị Lộc để sang nơi cung điện mới. Cả hai đều ân cần cùng với ngượng nghịu. Trần Thị Lộc luôn luôn kiềm chế, cố sức giữ lấy vẻ điềm nhiên mà không nổi. Nàng ngắm Huệ, nàng nhớ lại cái thuở được Chúa yêu dấu, đến nỗi quên cả nguyên phi Ngọc Hoan.
Trớ trêu thay, người mà được Chúa yêu thương nhất mực trong những ngày gần đây lại là người nữ thân cận của bà từ lúc nàng được vào cung đến nay.
Lòng bà cũng có cái gì thích thú, kiểu đàn bà, cho rằng, Trương Ngọc Khoan, từ những đêm Tuyên phi sang nhà Chúa này, sẽ nếm đủ những tủi khổ, như bà hằng nếm, khi Ngọc Khoan giành mất của bà sự ân sủng đặc biệt của Chúa.
Tĩnh Đô Vương yêu ai cũng say đắm đến cùng cực. Nhưng phút đầu tiên bên Chúa, tưởng chừng như ngoài mình, Chúa không còn biết đến ai nữa. Chúa chiều chuộng. Chúa bực bội vì mình lỡ miệng nhắc đến một ai đó mà mình tơ vương hồi còn Chúa được tuyển vào cung. Chúa ban tặng những quà quý mà các đình thần hoặc sứ giả cung tiến cho Chúa vào các buổi chầu. Chúa có thể chia sẻ với người mình yêu những điều làm Chúa băn khoăn, bực bội trong ngày...
Trần Thị Lộc nhìn Huệ trong bộ đồ vương phi. Nàng đẹp thật. Hoá ra, khi mình chưa có địch thủ của ai đó, thì mình xem thường họ. Và chỉ ở trong vũ đài, các đấu sĩ mới thật hết mình, cố sức tìm cho hết mặt mạnh, mặt yếu của đối phương. Cũng từ đó, để nhận ra mặt mạnh mặt yếu của chính mình.
Trần Thị Lộc đã nhận ra vẻ đẹp đầy bản lĩnh ở Huệ, thứ mà cả bà lẫn hai bà phi trước chưa hề có.
Bà ôm lấy vai Huệ, ôn tồn nói:
- Tôi tin rằng Vương phi sẽ có sự ân sủng của Vương thượng hôm nay. Chỉ mong rằng, thỉnh thoảng Tuyên Phi, nhớ tình xưa nghĩa cũ, đừng quên người đàn bà bạc phận này...
Đặng Thị Huệ cũng ôm chầm lấy bà, ân cần nói:
- Phi đừng nói thế. Em chẳng dám bao giờ quên ơn của chị. Nhờ chị mà em mới được hưởng những ân sủng của bề trên hôm nay...
Khi Huệ đi rồi, Trần Thị Lộc mới nhận đủ những sự hụt hẫng. Bây giờ bà mới thông cảm hết, nơi lạnh lẽo khổ sở của nghiên cứu bà phi “hờ” trong phủ Chúa. Bà chợt nghĩ đến nguyên phi Dương Ngọc Hoan, mối đồng cảm sâu sắc khiến Trần Thị Lộc phải gọi con đòi, đến ngay cung thất của bà...
Từ ngày Đặng Thị Huệ vào cung, Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm hầu như suốt ngày chỉ quẩn quanh với Huệ. Tuổi bốn mươi trải qua khắp chiến trận, ngày lại ngày đối mặt với những việc quốc gia trọng sự, Chúa thật mệt mỏi. Chúa muốn tách mình ra khỏi công việc hứng thú này mà không nổi. Chúa còn bực bội vì, triều thần từ thời Ân Vương Trịnh Doanh truyền vào, vẫn cho là thái phi muốn ngành thứ cầm quyền, thay ngành trưởng. Gần đây, trong các bậc đại thần lại dị nghị, ngành trưởng họ Trịnh dần dần bại, chỉ còn ngành thứ được ân huệ của trời đất mà thôi. Họ lại nói, mộ tổ họ Trịnh đào bới nhiều, khéo rồi cả trưởng lẫn thứ đều lụn bại... Chuyện ấy lọt đến tai Chúa, hỏi ra là một tên lính kiêu binh đặt điều, rồi một tên trưởng ngũ người xứ Nghệ thêu dệt thêm. Chúa truyền cho quan hình sự tra hỏi, hai đứa đều sợ hãi thú nhận. Chúa sai bẻ hết răng của hai đứa, đánh mỗi đứa ba mươi gậy, cho thân tàn ma dại rồi đuổi về quê. Hai thằng lính công thần giờ sống cũng như chết. Tuy nhiên lời thối của hai tên lính quèn cũng làm cho Chúa nghĩ ngợi nhiều. Dòng chính của Chúa, thì Chúa Trịnh Giang cũng chẳng có ai ra hồn. Tĩnh Đô Vương là người có tài thao lược, giữ được ngôi Chúa, định yên bờ cõi, phía Nam không để họ Nguyễn lấn ra, phía Bắc không để nhà Thanh lấn đất... Đến đời Chúa, để tránh khỏi Chúa Nguyễn hợp binh với đất Trấn Ninh, Chúa đã cắt binh đi hỏi tội, cắt tướng giới trấn trị ở phía Tây và phía Nam, cũng tạm là yên... Nhưng nhìn vào người nối dõi, Chúa không khỏi chạnh buồn... Khê Trung Hầu là người chăm sóc Chúa từ ngày thơ ấu, nhưng lão ta như một người lấn thần. Chính phi, người mà Chúa trọng nhưng không yêu. Người mà Chúa yêu, Chúa thương là Trương Ngọc Khoan kia, vậy mà, lão đầy tớ già ấy, cậy có công hầu hạ, giám giả điếc để thay thế Ngọc Hoan cho Ngọc Khoan, thì cùng là vợ Chúa, xa bà nọ, gần bà kia vài đêm, có gì phải quở trách kẻ dưới, để mang tiếng là người cố chấp.
Song, oái oăm thay, người đẹp mà Chúa muốn có một đứa con nối dõi chính là Vương thứ phi Ngọc Khoan kia. Chúa cho rằng, cái hùng tài cùng với sự hào hoa tài tử của Chúa, cộng với vẻ đẹp nhất nhì trong cả nước, cái trội nhất của dương, của âm trong con người của Chúa của Trương Ngọc Khoan sẽ sinh cho Chúa một vị thế tử như lòng Chúa vẫn thường khao khát.
Có lần, Chúa nói với Nguyễn Khản:
- Ta chỉ mong có một đứa con nối được chí cha ông, làm rạng danh họ Trịnh, vỗ yên đất Bắc, chỉ ngọn dáo vào phía nam hỏi tội Chúa Nguyễn, thống nhất lại giang sơn. Họ Trịnh đang cần một người như thế!
Khản nói:
- Phúc trời không phải ai cũng có, ai cũng được! Sớm cũng chẳng nên mừng. Chậm cũng chẳng nên than thở...
Chúa học cùng thầy với Khản từ thuở nhỏ. Có lúc đến nhà Khản, gặp khi Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm giảng bài cho con, Chúa bảo quân hầu dừng lại không vào để lắng nghe. Khi lên ngôi Chúa, Trịnh Sâm rất trọng cha con Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản, đều cho dự vào Nội Mật viện, phú quý vào bậc nhất ở Long Thành. Chúa thấy Khản nói rất có lý, nên cũng yên tâm.
Vậy mà, ít lâu sau, vẫn Khê Trung Hầu báo tin mừng cho Chúa là chính phi Dương Ngọc Hoan đã có thai. Đủ ngày tháng, mãn nguyệt khai hoa, sinh được một cậu con trai. Khi đến thăm mặt con, Chúa không vui lại buồn thêm. Đứa nhỏ hình dáng thô kệch, phảng phất giống mẹ mà không giống Chúa.
Khi Trịnh Tông lớn, nghịch ngợm, thích những trò võ biền hơn là văn chương, binh thư yếu lược. Dáng hình thì không có phong độ đế vương. Nói năng thì thô vụng. Chúa tuy có nơi nối dõi mà vẫn hờ hững, cho đến khi có thêm một con gái là Ngọc Lan, thì Chúa lại quấn quít, thương yêu Ngọc Lan hơn cả con trai... Trịnh Tông vẫn được Tĩnh Đô Vương cử các quan dạy học, để chờ đến đúng tuổi mười tám ra mở phủ Thế Tử. Song Chúa, từ khi có Tông, vẫn cứ thường khao khát có một đứa con trai nữa, may ra, nó ứng với lời đồn đại về mồ mả phong thuỷ của nhà Chúa ở đất Thanh Hoá chăng. Hơn mười năm đã trôi qua, trong nội cung của Chúa có ba bà phi, sắc nước hương trời, lại hàng trăm tiếp dư, tư dung, cung tần, thị nữ, mà vẫn chưa người nào có phúc sinh thêm cho Chúa một đứa con trai nữa... Những hi vọng của Chúa dường như lụi tắt, thì Chúa lại gặp được Tuyên Phi Đặng Thị Huệ. Chúa gửi gắm ở Tuyên Phi nguyện cầu khao khát thuở xưa. Nàng đẹp nhất trong số những người đàn bà ngày đêm mong được hầu hạ Chúa. Nàng cũng trẻ trong số những người đẹp trẻ nhất ở trong cung.
Chúa vốn có những ý nghĩ tinh nghịch, phàm bọn nội thần bị thiếu đi thứ của quý, cũng háo gái lắm. Cứ thấy cô nào xinh tươi là chúng tỏ lời bả lả. Vắng Chúa nhà gà vọc đuôi tôm là thế. Nhưng cái bọn nửa đời, nửa đoạn ấy thì làm gì được... Chúa thấy lũ hoạn quan trầm trồ về sắc đẹp của Đặng Thị Huệ, Chúa càng thích...
Sau những đêm ân ái của Chúa, Huệ đã tắt kinh. Cái tháng vắng thứ nợ đời tanh tưởi ấy, Huệ nửa tin nửa ngờ. Theo lệ trong Phủ Chúa, đều phải báo cho các viên nội thần để ghi lại ngày Chúa yêu, ngày vinh phước thụ thai và ngày sinh nở... Đã nhiều bà phi, cô hầu của Chúa báo có tin mừng rồi lại hoá không... Huệ đang được Chúa yêu, nhất nhất sao không muốn chiều lòng Chúa. Nhưng cô cảm thấy trong cơ thể mình có điều gì khác lạ. Cô không hào hứng đến cuồng nhiệt như những đêm đầu vào phủ Chúa nữa. Cô thấy mình mệt mỏi, thậm chí thấy thèm những vị lạ, vị khác những thức ăn thường ngày. Hay là mình đã có thai với Chúa! Trời ơi, nếu thế thì hạnh phúc nào bằng. Ước chi trời phật ban cho ta một đứa con trai đẹp và tài ba như Chúa. Chúa sẽ yêu nó. Và biết đâu đấy, Chúa sẽ nhường quyền cho nó...
Huệ vội xin Chúa cho về quê nhà để dâng lễ lên đền Gióng, lên Chúa và cảm tạ gia tiên. Những chùa miếu trong hoàng cung, Huệ đều đích thân đi cầu nguyện. Khi Chúa lên phủ đường làm việc, Huệ sai nội thần đến cầu những chùa lớn trong thành Thăng Long để may những sở nguyện sở cầu được toại nguyện...
Huệ tràn đầy hi vọng. Nàng thăm thú các nơi trong nội cung. Nàng đến thăm chính phi, thứ phi, nàng xem mặt đủ các cung tần trước đây đôi đêm được Chúa gọi vào hầu. Mỗi lần thăm thú về, nàng lại tự soi gương. Nàng tự tin ở mình, và thấy rằng hiện nay, nàng là người đẹp nhất trong phủ Chúa. Nàng chắp tay hướng lên trời thầm khấn Chúa đừng gặp ai đẹp hơn mình nữa, đừng có ai đến lấn mất những hạnh phúc trong tay mình, như mình từng cướp phần của bà phi trước như bà phi trước nữa đã cướp phần của bà thứ phi, như bà thứ phi lại cướp phần của bà chính phi...
Cho đến bữa Huệ thấy mình nôn oẹ, người mệt mỏi đờ đẫn, lưng đau như dần, ngực như càng thêm, giãn nở... nàng mới báo cho Khê Trung Hầu biết là mình đã có thai.
Tin ấy bay đến Chúa ngay đêm đó. Chúa mừng lắm, khi gần gũi Huệ, Chúa đã có những cử chỉ trân trọng khác thường ngày... Hôm sau, Chúa coi chầu xong việc là trở về, không ghé chơi nhà quan tư giảng Nguyễn Khản nữa... Chúa đi ngay đến cung Tuyên Phi Đặng Thị Huệ, áo tía mũ mãng cân đai vẫn còn nguyên. Trông Chúa rạng rỡ hơn cả mọi ngày.
Bữa ấy, Huệ chợt để ý đến viện ngọc dạ quang rất đẹp. Huệ liền chộp lấy rồi tháo ra xem. Chúa Trịnh Sâm rất quý viên ngọc này. Chúa hồi hộp chỉ sợ Huệ làm xây xát mờ mặt ngọc. Chúa liền nói:
- Nhẹ tay chứ, Tuyên Phi!
Trong người đang không được bình thường, Huệ thấy Chúa nặng lời, liền cau mặt nói:
- Thứ ngọc này thiếu gì ở vùng trong cơ chứ! Có làm sao thì tìm giả Chúa hạt khác là cùng chứ gì!
Liền quẳng hạt ngọc xuống đất, rồi ngùng ngoằng bỏ đi, không ở trong cung Tuyên Phi nữa... Chúa cho gọi cũng không lên hầu. Nhưng Huệ lại phái con đòi theo dõi xem Chúa khổ sở về mình không, ở bên điện Chúa như thế nào. Con đòi về tường thuật tỉ mỉ, Huệ đỏng đảnh nói:
- Cho chết, ai bảo Chúa cậy của. Bao nhiêu thứ chẳng tiếc huống hồ viên ngọc.
Cuối cùng Chúa chịu thua, dỗ dành mãi Huệ mới chịu trở về... Từ ngày bụng của Huệ cứ nổi dần lên, thì Chúa lại càng không lúc nào rời bên cạnh. Chúa luôn ôm ấp Huệ, say mê đắm đuối. Tuy nhiên, công việc triều chính Chúa vẫn lo toan... Một bữa, Huệ có vẻ mệt mỏi, dáng bước nặng nề, được Chúa ân sủng, Huệ lắm lúc lại nũng nịu quá mức. Chúa chẳng hề bực lại lấy thế làm thích. Nhiều thị tỳ, a hoàn khó chịu ra mặt, nhưng thấy Chúa quý Huệ, thương yêu Huệ hơn bất cứ người nào trong cung, cũng đành im miệng. Chúng đem kể lại cho các bà phi nghe. Bà Ngọc Khoan thì mím miệng, khóc. Bà Trần Thị Lộc thì mặt lạnh như tiền cười khẩy một tiếng, còn bà chính phi Dương Ngọc Hoan bồn chồn, ngồi đứng không yên.
Một bữa, dù thân hình Huệ đã nặng nề, Chúa vẫn bắt Huệ vào giường, ôm ấp.
Chúa ôm lấy Huệ, tay đặt lên bụng Huệ mà nói:
- Chân Chúa hiện đang ở trong bụng em chăng?
Huệ rất khéo miệng, lấy bàn tay mịn màng xoa mặt Chúa mà nói:
- Đấy là chân Chúa con, còn đây là chân Chúa bố !
Chúa thích lắm, ghì ôm lấy Huệ, lại vạch ngực vạch bụng Huệ ra mà ngắm, rồi nói:
- Ta muốn nhìn thấy mặt con ta quá!
Huệ trách yêu:
- Chúa chỉ gở mồm. Muốn con khoẻ mạnh phải đủ ngày đủ tháng chứ!
Chúa cười khì khì:
- Phải phải, ta lỡ mồm, ta quên mất. Nàng nói gì cũng đúng.
Đặng Thị Huệ được Chúa yêu, coi tam cung lục viện chẳng ra gì. Nhất là thời kỳ sắp sinh nở, cáu gắt quát mắng bất kể ai. Khê Trung Hầu được Chúa rất nể trọng, vậy mà có lúc cũng bị Huệ gắt mắng. Hầu cười hì hì:
- Lâu lắm tôi mới được người gắt mắng đấy, Tuyên phi ạ...
Rồi lặng lẽ bỏ đi...
Khi biết tin Đặng Thị Huệ có thai, người tức bực ấm ức nhất là mẹ con chính phi Dương Ngọc Hoan và thế tử Trịnh Tông. Theo lệ nhà Chúa đáng lý năm mười hai tuổi đã được ở riêng lập phủ Đông cung, lo việc tập sự, học hành thấu đáo để nối ngôi Chúa sau này. Dù Chúa có cử các quan lại đại thần đến làm thầy, nhưng khi đến kỳ hạn, quan a bảo mới, thay cho quan tả tư giảng cũ và Nguyễn Khản, vì quán xuyến lắm công việc, là Hân quận Công Nguyễn Dĩnh đến tâu xin cho Tông ra ở phủ đệ riêng, Chúa hỏi Nguyễn Dĩnh rằng:
- Con ta học hành ra sao?
Dĩnh bị hỏi bất ngờ lúng túng không biết trả lời ra sao thì Chúa truyền:
- Thằng Tông không nối được chí ta. Nó thích những thứ mà một vị tướng cũng làm được. Trong vườn trong nhà nó chỉ thấy cung và kiếm, xem đến sách vở thì quyển học không học chỉ xem những sách tầm phào mà một vị quan làng nhàng cần biết để thông thạo việc hàng ngày. Ngôi Đông Cung cần có người tài trí, lập kẻ tầm thường sợ lòng dân và sĩ tử Bắc Hà dễ suy đoán nọ kia. Ông hãy đem con ta về nhà, dạy bảo thêm. Nó còn bé, lúc nào đáng ngôi Đông Cung thì đặt vào, như thế có hơn không!
Dĩnh không dám nói gì thêm cả. Cho đến tuổi mười lăm, Tịnh Tông vóc dáng đã cao lớn, đĩnh đạc, cưỡi ngựa đã đường bệ lắm, nhưng Chúa vẫn không hề muốn cho lập phủ đệ riêng... Tông trong bụng cũng lo. Bà chính phi thường đến với con luôn, cũng nhiều lần ban tặng quà cáp nói bóng gió xa gần nhờ cậy Hân quận Công vận động các đại thần giục Chúa nghĩ đến ngôi Đông Cung. Nhưng Dĩnh vốn rụt rè, lưỡng lự, nên lại bỏ trôi...
Tin Tuyên Phi có thai khiến Trịnh Tông lo lắng lắm, nhưng uy quyền của cha quá lớn, Tông còn nhỏ, hễ bàn tán to nhỏ, thì lại được Hân quận Công nhắc khéo bảo Tông phải biết chờ đợi...
Tông vốn nông nổi, cũng thôi. Một vài viên đại thần, muôn học Lã Bất Vi đời nhà Tần buôn vua, bán Chúa, tìm cách gần gũi Tông để chờ cơ hội sau này thành cận thần, mưu cầu phú quý. Họ lui tới, lúc đông người thì nói những chuyện quang minh chính đại, song lúc vắng người lại xúc xiểm, gièm pha, bầy mưu đặt kế, thúc đẩy, làm cho Tông lại háo hức quyết giằng cho được ngôi Chúa về tay mình, lòng chất đầy sự oán hận và hằn học chính người đã đẻ ra mình đã thiếu lòng yêu thương, che chở...
Đặng Thị Huệ sinh con trai.
Tin này chấn động hoàng cung. Các lão thần ngơ ngác nhìn nhau dò hỏi. Chúa yêu Huệ, ghét con cả Trịnh Tông. Có con trai thứ, tất nhiên, Chúa sẽ quý đứa con của tình yêu hơn là đứa con của sự giao hoan lầm lẫn.
Phò Tông hay phò Huệ?
Phò Tông ư? Đó là hợp với luận thuyết của đạo Nho. Muốn cho trật tự không đảo lộn, trưởng phải là trưởng, thứ chỉ được ở ngôi thứ, thứ không lấn trưởng được.
Nhưng, lẽ đời, vua là tất cả. Vua muốn trưởng phải lùi làm thứ, muốn thứ thành trưởng điều đó có gì là lạ... Song, thời bình, thời thịnh, quần thần như một khối vàng ròng, triều nghi, định đoạt tồn vong là ở họ. Quốc Vương có kém thông minh một tý, mà có một giàn văn thần, võ tướng tài ba thì đều vượt khỏi những nguy biến để giữ yên rường mối. Cho nên Tô Hiến Thành phò ấu Chúa, việc Đinh Bộ Lĩnh bỏ Đinh Liễn lập Ngọc triều, Lê Lợi bỏ trưởng lập thứ đều gây ra những rắc rối lớn cho quốc gia đại sự. Song gần đây, thì Thái hậu phế Trịnh Giang lập Trịnh Doanh, để đòi Chúa Trịnh Sâm lại rạng rỡ một lần trong sử sách, thì, việc chọn Chúa giỏi cũng đâu có phải chuyện đùa.
Các bậc quốc lão, quốc công thêm một lần bạc tóc... Riêng Tuyên Phi Đặng Thị Huệ thì mừng vui khôn xiết. Nàng chắc rằng, với lòng yêu tột độ của Chúa với Nàng, con Nàng sẽ chiếm được ngôi Chúa, mà thực sự là ngai vàng của thiên hạ.
 
0

4

 
Trong hoàng thành có một nhân vật từ một viên tuỳ tướng, bỗng trở nên trụ cột của triều đình, nơi dựa tin cậy của Chúa.
Ai cũng biết, Chúa Trịnh Sâm vốn là kẻ am tường cả văn lẫn võ. Chúa thường nói với Nguyễn Khản:
- Nếu như phía Tây Nam Trấn Ninh không tráo trở, phía bên kia sông Gianh, Chúa Nguyễn không làm ta mất ăn mất ngủ, thì ta tội gì mà phải nuôi năm nghìn quân cấm vệ người Thanh, Nghệ, việc gì phải dựa vào bốn viên tướng giỏi cầm hàng vạn quân ăn không ngồi rồi ở tứ trấn; cũng chẳng phải ngày đêm nơm nớp chờ đợi tin thắng hoặc thua trận từ phía Nam dải Đèo Ngang truyền tới...
Trước đây, cận thần của Chúa là Nguyễn Khản, Nguyễn Dĩnh, Trần Thân. Lúc ấy Chúa chưa có Đặng Thị Huệ, chưa sinh Trịnh Cán, huân nghiệp của Chúa đang rờ rỡ. Chúa là người quyết đoán thông minh, trí lực hơn người. Được Chúa cha là Trịnh Doanh bù trì từ thuở ẵm ngửa cho đến lúc ra ở ngôi riêng ở Cung Thế Tử.
Khi ngồi vào ngôi Chúa, nhờ biết dùng người giỏi, Trịnh Sâm đã dẹp yên được loạn lạc, vỗ về được lân bang, sửa sang triều chính, loại bớt kẻ bất tài, dựa hẳn vào người có học không kể gì người thân thích hay ngoại tộc, người cao vọng hay kẻ xuất thân từ đám lưu dân.
Bởi thế, phủ Chúa ngày một tấp nập các sứ giả gần xa, các thương đoàn từ Ba Tư, Ấn Độ, Tân Gia Ba tới... Lại có cả những đoàn thám hiểm, những giáo sĩ đem những vật lạ từ phương Tây đến xin yết kiến.
Chúa rất quý trọng Nguyễn Khản. Khản là con Xuân quận Công Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ từ năm còn rất trẻ, Nguyễn Nghiễm từng là thầy học của Trịnh Sâm. Thuở còn tập văn ở nhà riêng Xuân Quận Công, Chúa và Khản thường tranh ngôi thứ nhất nhì...
Khi Trịnh Sâm lên ngôi Chúa, dùng Khản như cận thần, không những bàn bạc về quốc gia trọng sự, mà còn vui chung trong cuộc hoạ thơ, du ngoạn, Chúa từng cùng Khản bàn việc lập đại quan viên, dựng hành cung trên Hồ Tây, các trò vui, hát múa của đám quan hoạn và thị nữ thường Khản bầy vẽ ra cả.
Khản lại rất thích hát ả đào... Có hôm, Chúa vi hành đến chơi, thấy Khản tự gảy đàn làm kép, bả lả bên ca nữ, tay chân bá vai bá cổ, suồng sã như một kẻ tiện dân... Chúa lẳng lặng bỏ ra về. Hôm sau, khi bàn xong việc nước, Chúa đùa hỏi:
- Đại quân nhân khác người thường ở chỗ nào.
Khản đáp:
- Khác ở nghi vệ và phong độ.
Chúa cười:
- Hôm qua ta gặp một đại quan nhân, nhai nhồm nhoàm, tay bá cổ, áo quần xộc xệch, bả lả với đám ca nữ bình dân... Có lúc lại cầm đàn gảy những khúc nhạc tầm thường của đám ngồi đầu hè, giữa chợ, như thế đúng hay không đúng!
Khản biết Chúa quở mình, liền gãi đầu nói:
- Khản này có lúc quá vui, quá chén, những lúc ấy thì đại quan nhân trút lốt đâu mất, chỉ còn thằng Khản thấy hơi rượu ngon là mép rung rinh; thấy đào hát đẹp thì mắt lấm la lấm lét; thấy tiếng hát véo von thì tay muốn cầm đàn gẩy tang tịch tình tang... Tâu Chúa thượng, vận áo mũ đại quan nhân, cũng có lúc muốn đóng cửa, làm một vai tiện dân một chút...
Chúa thở dài, không quở mắng gì thêm nữa. Gần đây, liên tiếp mất mùa, Chúa lại quá ỷ vào tài cai trị của mình, bị đám cận thần bưng bít, cho là triều đình do mình sắp đặt đã mọi bề yên ổn... Nào hay, phe cánh vẫn luôn luôn tụ hội hàng ngày. Người ta cứ muốn xem Chúa ngả đằng nào thì chào đằng ấy, để kiếm chút lợi lộc trước mắt. Thi cử thì lấy việc ca ngợi đời thịnh trị mà ra đầu đề. Sĩ tử quen làm văn hoa mỹ mà thiếu bản lĩnh, thực học. Đỗ đạt rồi, lo tìm đại thần làm người nhờ cậy, che chở, kiếm lấy chút quan mọn trong triều rồi dần dần tiến thân, mà mất đức tính của người khổ học để lo kinh bang tế thế cho đời.
Đặng Thị Huệ thấy các lão thần thường không mặn mà gì với mình, liền lần tìm một người có thể phù trợ cho con trai mình trong lúc ngấp nghé ngôi Chúa và sau này nữa.
Triều đình đang có một quận công trẻ nhất trong đám quận công. Đó là Hoàng Đăng Bảo.
Đăng Bảo là cháu Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc, một danh tướng cột trụ của Chúa cha và Chúa con nhà Trịnh. Bảo đỗ thi hương năm Ất Dậu ngay năm sau, thi võ lại đỗ luôn tạo sĩ. Quận Việp thu nạp ngay ở dưới trướng, đem vào trấn thủ phương Nam, được phép điều binh khiển tướng. Dự các buổi bàn lấn đất Thuận Hoá, giao cho nhiều việc quan trọng, Bảo đều đảm đương được. Bảo lại khéo thu phục nhân tài, mạnh dạn trao cho ngôi thứ đích đáng, hợp với tài cán của họ, do thế hào kiệt tụ hội về dưới trướng quận Việp càng đông. Huy theo quận Việp lập công lớn, dẹp yên được trấn Thuận Hoá, tiếng tăm chú cháu Quận Việp - Quận Huy càng lừng lẫy. Những người hay lo xa, mỗi lúc thấy có tướng tài nổi lên, là lại sợ đến những chuyện lấn quyền thoán ngôi. Một hôm, quận Việp nghe trẻ con hát chơi ngoài đường rằng:
Bỏ một, ruộng tám thành tài
Lúc heo hắt ngọn, lấy ai bù trì?
Có người lại tung ra câu sấm: “Nhất thỉ trục quần dương”. Lại có người truyền đến tai Quận Việp đôi câu đối: “Thổ sất vân gian nguyệt, Hoàng hoa ánh nhật hương” đều là ám chỉ thanh thế lớn của Hoàng ngoài biên ải cả.
Hoàng Ngũ Phúc cho gọi Đăng Bảo đến và nói:
- Ta có nghe trẻ hát đồng dao, nho sĩ làm sấm, câu đối ám chỉ ta và ngươi, ngươi nghĩ thế nào?
Đăng Bảo thưa:
- Xin chú cho cháu nghe.
Quận Việp đọc câu ca vào đôi câu đối và nói:
- Câu “Nhất thỉ trục quần dương” nghĩa là một lợn đuổi bầy dê, đó là nói về cháu. Cháu chẳng tuổi Hợi là lợn ư. Câu đồng dao và đôi câu đối là nhắc đến họ Hoàng ta, thế át triều đình. Lòng ta trung thành với nhà Trịnh, ai cũng biết việc ta truyền binh thư, lối cầm quân gia truyền cho cháu, bởi vì lời nguyền của dòng họ mà thôi. Miệng thế làm sao bịt được. Tuy nhiên, ta nghĩ cháu nên đổi tên đi để cho người ta khỏi vin vào các câu hát, câu sấm, câu đối đang truyền giăng ở kinh thành và bốn trấn, lại bay đến hàng ngàn dặn đường ra tít ngoài biên ải này.
Đặng Bảo nghe Quận Việp nói, vái lạy mà thưa rằng:
- Tướng Công yêu cháu như con. Đặng Bảo có ngày nay đều là do Quan Tướng bù trì cho cả. Tướng Công đã dạy, con nào dám chẳng vâng mệnh. Việc thay tên, con không dám tự đặt. Chú không sinh ra con nhưng công đắp bồi còn hơn cả sinh thành, thì thay tên mới cho con còn ai khác ngoài chú nữa.
Quận Việp nghe rất cảm động, thân xuống đỡ Đặng Bảo đang cúi lạy và thân mật nói:
- Con còn thăng tiến hơn cả ta đấy. Ta rất hài lòng về những công việc ta đã làm cho con. Từ nay, nếu con ưng, ta sẽ gọi thay tên Đặng Bảo bằng Tố Lý.
Hoàng Tố Lý ôm gối Việp Quận Công mà nói:
- Suốt đời con được phú quí vinh hoa là nhờ chú, ơn này, con xin kết cỏ, ngậm vành.
Tố Lý bước ra, lâng lâng, ngạo mạn. Gã biết mình đã đủ lông, đủ cánh để bay tít lên mây...
 
*
*          *
 
Trịnh Sâm cho gọi Thế Tử A Bảo Hân Quận Công Nguyễn Dĩnh và Kiều Nhạc hầu Nguyễn Khản, chỉ huy cơ quan thứ nhất ở Hoàng thành vào hầu.
Chúa hỏi Dĩnh và Khản:
- Hai ông đã biết tin gì ở Thập(1) xứ chưa?
Nguyễn Dĩnh thưa:
- Tôi đã được nghe mật tấu, khi quốc lão Việp Quận Công qua đời, Chúa cho Tên Lợn làm chỉ huy Thập xứ, hắn lập tức xưng hùng, xưng bá, làm nhiều việc lấn quyền Chúa công trao cho, mầm phản hắn đã dấy trong lòng hắn, nếu không một sớm một chiều bẻ đi, hẳn gây ra hậu hoạ.
Chúa quay sang Kiều Nhạc hầu hỏi thân mật:
- Ông Khản, ông nghĩ thế nào?
Khản thưa:
- Phàm tướng giỏi ở ngoài biên ải, phải được thử thách. Như Việp quận Công, mấy đời thờ nhà Trịnh thì tài cao lại càng trung thành với Chúa. Còn như đám trẻ lên cầm quân, thường cậy tài, cậy sức, lòng dạ không biết đâu mà lường. Quận Huy mới ngổm dậy, nhờ Việp quận Công nâng đỡ mà làm được việc. Nhưng đã được Chúa Công cất nhắc rất nhanh, hẳn là hắn không tránh khỏi kiêu ngạo. Từ kiêu ngạo sang ý kia khác hẳn cũng chẳng xa gì.
Chúa nóng ruột hỏi:
- Vậy ta phải xử sự với tên chỉ huy Thập sứ thế nào?
- Huy cấm đổi tiền, trấn áp cường hào, chặn kiện cáo gây rối, thu dụng nhân tài... Ngần ấy việc chưa thể buộc vào tội phản loạn. Còn như tự phong cho người dưới trướng là tả hữu tham quân, thì hạch vào tội vượt quyền Chúa cũng chưa hết nhẽ, vì tướng cầm quân ở nơi có trận mạc thì bao giờ chẳng có phó tướng, tham quân. Họ có đặt những chức như một triều đình con đâu mà mình bắt bẻ được. Tội danh chưa gọi ra được, đem quân đến triệu về thì lòng dân không yên. Xứ Thuận Hoá vừa lấy được là do công của Quận Việp và Quận Huy, Chúa đã cho người tin cẩn ra trấn giữ. Nếu để Quận Huy ở sau lưng Thuận Hoá mà y không hết lòng thì Thập xứ là nơi lui binh, khéo lại là nơi chặn lối của quân ta. Tốt nhất triệu Huy về triều. Nếu Huy chịu về, thì cũng là điệu hổ ra khỏi rừng, bằng không về, thì ta đem quân hỏi tội cũng chưa muộn.
Trịnh Sâm nghe theo kế ấy. Công chúa họ Trịnh là vợ Quận Huy vẫn đang ở triều đình, ngày đêm vẫn sang hầu Đặng Tuyên Phi. Huệ nghe được chuyện kín sau rèm, liền nảy ra một ý riêng: Huệ muốn dựa vào Hoàng Tố Lý, nhân lúc y đang bị triều đình nghi vấn. Chỉ có y mới có thể phò con mình được.
Bữa ấy, Trịnh Công chúa sang chơi, Huệ tiếp niềm nở hơn mọi ngày. Huệ nói:
- Công chúa có người chồng thật giỏi giang, thật đáng kính phục.
Công chúa thở dài:
- Tuyên Phi khen em cũng biết vậy. Nhưng chồng càng giỏi, thì cảnh chồng biên ải, vợ khuê phòng không biết bao giờ chấm dứt.
Huệ cười tủm tỉm:
- Công chúa có muốn sum họp chăng?
- Nếu Tuyên Phi giúp cho em, thì em thật sự sung sướng.
- Ta làm sao giúp được, vả lại đàn bà, Tuyên Phi hay Thái Hậu thì dù có ngồi sau màn nhiếp chính cũng chẳng làm nên trò trống gì! Bà Lã Hậu nhà Hán lừng lẫy thế, mà rồi cũng phải trả quyền cho con... Này, Công chúa, ta rất quý lòng thành thật của Công chúa, nên mách bảo một chuyện này, Công chúa rất nên biết.
Tuyên Phi bèn thuật cho Công chúa nghe những chuyện cơ mật mình nghe lỏm được. Công chúa sợ, mắt dại ra, cuống quít nói:
- Trời ơi, chồng em hết lòng với triều đình, nào có dám làm điều gì kia khác. Chúa Thượng quá nghe lời gièm pha mà nghi oan đó thôi.
Huệ nói:
- Việc Chúa nghi oan hay không, Công chúa làm sao biết được.
Công chúa sụp xuống lạy:
- Xin Tuyên Phi ra ơn cứu giúp. Chỉ Tuyên Phi mới cứu được chồng em!
Thị Huệ ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
- Ta biết Chúa nói là làm. Tốt hơn hết đừng để Chúa triệu về. Công chúa hãy tức tốc cho người xuống thuyền, nương gió vào ngay Nghệ An nói rõ cho Huy Quận Công biết mà đối phó. Hay hãy dâng thư lên Chúa xin được về triều, về đến nơi rồi, còn tuỳ nghi mà xử trí...
Nhận được thư của vợ, Quận Huy sững sờ. Huy hơi bất ngờ, Huy cũng biết tự kiềm chế, sắc diện lấy lại như thường rồi ngồi lặng, tựa tráp suy nghĩ. Huy quyết định phải về triều. Quận Huy xé tan bức thư, đốt thành tro, rồi vẫn điều khiển quân sĩ như thường ngày, rồi dâng biểu lên Chúa Trịnh Sâm, mặt khác cho người gửi thư riêng đến vợ, khẩn khoản đừng để lộ cuộc gặp giữa Công chúa và Huệ, nhưng những việc làm của Huy thì nên nói cho Huệ biết.
Một buổi sớm Công chúa lại đến thăm Huệ, nhìn thấy chồi lan trắng hôm nay toả ngát hoa nở, cánh mỏng, nhị vàng, thật đài các, Công chúa buộc miệng khen:
- Lan đã hoa một dịp Tết, lại ra hoa một lần nữa, Quý Phi chăm hoa thật khó ai bằng. Mà lan nở hai lần thế này, hẳn là lộc của Quý Phi thật dồi dào...
Huệ ranh mãnh nói:
- Ta xuất thân từ đám người lam lũ, nên vừa trồng vừa hưởng. Cây lan này ta coi như ân nhân bởi nhờ nó mà ta được phụng thờ Chúa Thượng. Vì thế ta giữ chậu lan này ở cung này và muốn tự tay chăm sóc. Hoa lan cũng vì ta mà nở thêm một lần nữa đấy.
Chợt Đặng Thị Huệ nhớ ra việc, liền hỏi Công chúa:
- Ông Quận Huy nhà Công chúa đã về đến triều chưa. Nghe nói, ông dâng sớ về triều bằng được... như thế thật khôn ngoan đấy!
Công chúa vội nói:
- Đó là nhờ mưu trí sáng suốt của quý phi bầy vẽ cho. Ơn này, em xin kết cỏ ngậm vành...
Huệ thủng thẳng nói:
- Ông ấy ở biên ải thì anh hùng nhất khoảnh, nhưng về triều đình thì các vị trí trọng trách đã có người giữ cả rồi, bây giờ biết làm gì đây?
Phi nói xong, vờ như có việc bận; cáo vào phòng khuê, thay quần áo, để sang hầu chính phi Dương Ngọc Hoan.
Trước khi vào nhà, Tuyên Phi còn đoái lại, buông thêm một câu:
- Ở đời thế mới biết may hơn khôn. Giá cứ làm chức quan bé, lại văn võ điều kiêm toàn như ông Huy thì làm ở đâu chẳng được, đằng này lại đường đường một vị quận công... Họ Nguyễn Tiên Điền, họ Ngô Thanh Oai, họ Phan Từ Liêm, các chức đứng đầu các bộ, các viện trong phủ Chúa người ta giữ mất hết rồi. Hôm trước, có ông hầu tước nghe đâu cũng giỏi lắm, mà không có chỗ nào, chỉ còn một chức hành tẩu ở Bộ Lễ, thế mà ông ấy cũng chịu nhận đấy. Thám hoa mà làm hành tẩu, thật cũng phí đời...
Công chúa sững người, bần thần ở nhà khách. Càng mong cho chóng Quận Huy ra Bắc, để sớm liệu công việc.
Quận Huy về Thăng Long hết sức ngỡ ngàng. Phố phường đổi thay nhanh thật. Đời Chúa Trịnh Sâm mới có vài chục năm bình trị, mà đô thành đã tấp nập rộn rã khác thường. Cung vua vẫn tráng lệ như xưa, song phủ Chúa lại lộng lẫy hơn nhiều. Trịnh Sâm quả là một vị chúa có bản lĩnh. Ông ta đã làm được một việc mà các đời Chúa trước chưa làm nổi, xây dựng phủ Chúa tách biệt hẳn ra khỏi cung vua, lôi kéo theo rất nhiều lâu đài, dinh thự. Những dinh thượng thư, dinh quận công, tước hầu, tước bá đến châu tuần quanh đây. Đêm đến, từ cổng ngoài đến vườn trong, đèn treo lộng lẫy, lầu gác nguy nga, đàn địch, hát bội, hát chèo, trống vui, trông hài rôm rả... Dinh quan Kiến Nhạc Hầu Nguyễn Khản thì hầu như chẳng đêm nào không có tiếng đàn sáo. Ba mươi sáu phố phường buôn bán cực kỳ sầm uất. Hàng Ngang, Hàng Đào là nơi tơ lụa đầy ắp, đủ thứ lụa vải gấm vóc của Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản và Lưu Cầu...
Hàng Buồm hàng vàng bạc, châu báu khá phong phú, những thợ kim hoàn chế tạo được những đồ trang sức rất tinh xảo. Phố Cấm Chỉ là nơi những hàng cao lâu ken liền nhau. Cửa Nam với chợ hoa như bày không biết bao nhiêu hoa và cá cảnh, muôn mua thứ gì mà chẳng có. Lại có Hàng Giầy bán toàn hài hán, Hàng Lọng đủ các loại tàn tán từ lục phẩm đến nhất phẩm triều đình, các loại cáng, loại kiệu thứ thì sơn son thếp vàng, thứ thì đơn giản cho các cuộc hành trình xa...
Chất hào hoa thì ở phường Khán Xuân, nơi mà cứ tối đến các giai nhân, ăn vận lộng lẫy như các cung tần mỹ nữ, những chầu hát, cuộc rượu có khi ở trong nhà kín đáo, có khi ở hiên Thưởng Nguyệt, ở Trấn Ba Đình. Có nhà hát, quan viên mang cả lính hầu theo, cho đứng trấn ngay ở ngoài cổng, một mình bao cả một đêm, không có ai bén mảng. Các kỹ nữ thay nhau hầu rượu, cô này đến cô khác suốt cả đêm... Lại nghe nói có những thương khách nước ngoài, nghe những bài hát nhuần thấm hồn Việt, đã nằm lỳ đến hàng tuần không về, rồi chồng tiền hoàn lương cho cô đào hát mình yêu, đem tút lút về tận phương trời nào chẳng rõ...
Quận Huy mới thấy, làm tướng ở biên trấn, đầy lao tâm khổ tứ, lo giặc phía trước, lo dân phía sau, mắt phải biết đến từng vùng đất hiểm, đến trận sóng lớn, sóng nhỏ diễn ra trong mùa gió nồm, mùa gió bắc, phải biết ngóc ngách nơi có thể bày trận mạc, đóng quân; bụng phập phồng sợ lương thực triều đình đến chậm, hoặc Chúa điều cho không đủ nuôi quân vài tháng. Đánh giỏi được Chúa yêu thì triều thần ganh ghét, gièm pha. Giữ không nổi đất vua, đất Chúa thì bị giáng chức, thậm chí cho vào cũi giải vào kinh đô mà chịu những trọng tội... Hoàng Tố Lý cho rằng mình về kinh kỳ này hoá ra lại phải dịp. Đường đường một chức Quận Công, y không thể để cho người khác sai khiến được. Quận Huy về chầu Chúa, xem ra mặt Chúa lạnh lùng, các quan đại thần nhìn Quận Huy chẳng ai có vẻ mặn mà như hồi Huy theo Việp quận Công Hoàng Ngũ Phúc về triều tâu trình về việc tung quân đánh lấy xứ Thuận Hoá thuở nào...
Nhưng Hoàng Tố Lý này đâu có chịu ngồi im.
Chúa tuy hợp mưu với Nguyễn Dĩnh và Nguyễn Khản định giết Quận Huy, nhưng thấy Huy biết phục thiện, về triều trần tình mọi nhẽ, lai bỏ trôi đi. Vả lại tướng văn dễ kiếm, nhưng có được một viên tướng đánh Đông dẹp Bắc đâu có dễ dàng...
Quận Huy ngồi hàng ngày suy ngẫm về việc triều chính.
Quận Huy gọi Trịnh Công chúa đến và hỏi han hết việc. Công chúa nói:
- Đặng Tuyên Phi là người được Chúa Thượng yêu quý nhất. Người ấy nói gì Chúa cũng nghe, muốn gì được nấy. Một người đàn bà khôn ngoan vượt lên trên tất cả những người đàn bàn đẹp trong phủ Chúa. Nhưng bà ta không được các lão thần trong triều ưa thích, cho là một con mẹ nhà quê lấy sắc lộng hành... Chúa yêu Huệ nên yêu Trịnh Cán ra mặt, việc Chúa mưu giết quan tướng, bàn bạc với Nguyễn Khản, Nguyễn Dĩnh là có thật. Việc bà ta xui thiếp gọi quan tướng về triều là có ý muốn nhờ quan tướng bù trì cho Trịnh Cán...
Quận Huy ngồi yên lặng, không nói năng gì. Công chúa nói:
- Thiếp là con gái họ Trịnh. Ngôi Chúa còn thì thiếp cũng được nhờ cậy. Trịnh Tông hay Trịnh Cán cũng đều là cháu chúng ta cả. Việc triều chính đâu phải là chuyện của đàn bà. Tướng quân là người đã xông pha trước gươm giáo, công danh do tài trí mà có chứ đâu có nhờ tập ấm hoặc náu ẩn sau thế lực ông cha. Thiếp tin rằng tướng quân sẽ có phương lược tốt.
Quận Huy nhìn Công chúa nói:
- Ta đang có nhiều chuyện để lo nghĩ. Những điều tâm huyết của Công chúa, đúng là tình vợ chồng gắn bó mà nói, ta sẽ hết sức lưu tâm, chỉ mong Công chúa cứ gần gũi Tuyên phi cho.
Quận Huy lại tiếp tục đi kết thân với đám nho sĩ, đám tuỳ tướng của các nhà đại gia để nghe ngóng. Gần đây mạn Bắc không được yên ổn, Chúa cho Nguyễn Khản ra làm trấn thủ Sơn Tây, và Tuân sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân trấn Kinh Bắc. Chúa đổi tước hầu Kiều Nhạc thành Hồng Lĩnh hầu, Khản không được ở hoàng thành nữa mà phải đi trấn thủ ở tứ trấn. Việc gì mà miệng thế chẳng gièm pha. Có người nói đó là mưu điệu hổ ly sơn của Đặng Thị Huệ làm cho những kẻ đầy quyền thế, không được ở bên cạnh Tông nữa. Lại có người nói, hiện nay Chúa yêu Trịnh Cán hơn Trịnh Tông, song Cán còn nhỏ mà Tông thì đã được ở phủ Thế Tử. Tuy chưa chính thức vinh phong cũng là sự chấp nhận ban đầu của Chúa. Việc cho Nguyễn Khản, Nguyễn Khắc Tuân, Nguyễn Dĩnh đi làm quan xa, chính là Chúa có ý tứ tạo cho những vị này biết việc ở ngoài kinh đô để sau này vỗ về dân chúng cho lão luyện. Thế là Chúa vẫn nghiêng về Tông chứ không phải nghiêng về Cán.
Vả lại ngôi quốc mẫu hiện vẫn là bà Dương Ngọc Hoan. Bà vẫn được các đại thần vì nể. Mà các ông này thì chích máu chỗ nào cũng chỉ thấy hai chữ Khổng Mạnh, nào có thấy những máu canh tân như Vương An Thạch, Hàn Xương Lê...
Hoàng Tố Lý liền nghĩ:
- Ta thử xin theo Thế Tử xem sao. Nếu đám cận thần của Chúa chấp nhận ta, thì ta cùng họ giúp Trịnh Tông dựng nghiệp, còn như, Tông ngại ta thì ta theo Đặng Tuyên Phi phò Trịnh Cán, lúc đó cũng chẳng muộn gì!
Quận Huy đem vàng bạc châu báu đút lót cho tay chân của Thế Tử để nhờ họ nói với Trịnh Tông xin cho làm nơi nương tựa. Lại nhờ em trai họ của vợ vốn là người tin cẩn bậc nhất, đem một trăm lạng vàng và mười tấm đoạn Nam Kinh, thân đến nói với bọn hầu cận xin được cho Quận Huy vào yết kiến Thế Tử, để bàn về phương lược. Bọn hầu cận được Huy Quận Công cho rất nhiều vàng bạc, gấm đoạn nên đứa nào cũng vun vào cho Quận Huy.
Nhân một bữa Thế Tử đang vui, chúng liền đem lễ vật đặt trước mặt Thế Tử, và nói rõ thành ý của Quận Huy. Trịnh Tông vốn là người nông nổi, nóng nảy, khi Hoàng Tố Lý về triều đã có nhiều chuyện không hay về y đến tai Thế Tử. Lại có lời dị nghị cho rằng, Huy về để phò Đặng Thị Huệ chứ không phải theo Trịnh Tông. Huy rắp đưa Trịnh Cán vào ngôi Thế Tử. Do đó Trịnh Tông rất ghét nên khi thấy bọn hầu cận đứa nào cũng vun vào, Tông sinh nghi, nhìn hết đứa này sang đứa khác, khiến chúng cũng chột dạ.
Thế Tử nói:
- Chúng bay cố nói cho Quận Huy vào ra mắt ta, liệu có biết hắn là người như thế nào không?
Một đứa nói:
- Tôi nghĩ rằng, Quận Huy là người văn võ toàn tài, lại là nòi nhà tướng. Nếu Chúa Công dùng được người này bên cạnh Hồng Lĩnh Hầu, Tuân Sinh Hầu, A Bảo Nguyễn Dĩnh thì thế lực càng mạnh không ai dám ho he...
Đứa khác lại thêm vào:
- Quận Huy từng giúp quận Việp bình định phương Nam, nếu dùng được hắn, chính là đám quân sĩ đang ngày đêm đối mặt với Chúa Nguyễn cũng theo ta, như thế thật nhất cử lưỡng tiện.
Không ngờ câu nói ấy lại làm Trịnh Tông nổi giận. Tông nói với đám người thân cận rằng:
- Ta biết các ngươi hết lòng giúp rập cho ta ngồi vào ngôi Chúa. Song, ngươi có biết Quận Huy là người thế nào không? Nó là đứa chỉ muốn giành lấy quyền bính vào tay. Trừ Quận Việp là người vừa là thầy đỡ đầu, vừa là người truyền cho những bí quyết cầm quân dòng họ Hoàng cho nó, nó không dám làm phản, còn thì nó chưa hài lòng với chức Quận Công đâu. Mới tí tuổi đã dự vào hàng đầu các bậc Công hầu, nó vẫn chưa bằng lòng ư? Sao nó không ở xứ Nghệ mà làm phản. Đến cha ta cũng còn muốn giết nó. Bây giờ ta dùng nó, hoá ra ta chống lại cha ta hay sao? Nay mai, nếu ta được cha ta trao cho ngôi Chúa, ta sẽ tịch thu cả tài sản của nó chứ mấy lạng vàng, mấy tấm gấm này là cái quái gì.
Nói rồi, phất tay áo, quay vào trong nhà. Một trong đám hầu cận đến tận nhà Quận Huy, nói rõ ý của Thế Tử cho Huy nghe. Huy vẫn giữ sắc mặt rất điềm nhiên và nói:
- Ta cảm ơn các ông đã hết lòng giúp ta để gần Thế Tử, song người không thu nạp, thì biết làm thế nào? Ta chẳng là phò mã của họ Trịnh hay sao. Họ Hoàng ta nhờ có họ Trịnh mới thi thố được tài năng, lẽ nào ta lại quên ơn nhà Chúa...
Bọn hầu cận cho là Quận Huy thật tâm và Thế Tử thì nóng vội. Chúng biết Quận Huy cũng như con đò ở giữa dòng nước xoáy chưa làm gì nổi nên cũng chẳng chú ý gì thêm...
Bị Thế Tử Trịnh Tông chắn đường, bịt lối, Quận Huy không còn đường nào khác quay sang phò Đặng Thị Huệ và Trịnh Cán. Quận Huy bàn với vợ ở phòng riêng sau khi đuổi hết tả hữu ra ngoài.
Quận Huy nói:
- Ta đã nghĩ kỹ lời Công chúa. Đặng Thị Huệ đã có lời xa gần muốn chọn ta làm kẻ phù trợ. Lẽ nào ta dám phụ lòng Tuyên Phi.
Công chúa mừng lắm, liền nói:
- Nếu được Tướng quân giúp thì việc lớn lo gì không thành.
Quận Huy cầm tay vợ và nói:
- Ở ngoài biên ải có cái khó của nó. Nhưng giặc hiện hình trước mặt, nếu chúng có đánh sau lưng thì quân tuần tiễu, trinh sát giỏi cũng báo cho mình biết được. Còn về triều, lo những việc đại sự, thì người chống đối mình không phải là ít. Kẻ muốn hại mình lại ẩn trong bóng tòi, vô hình không nhận ra nổi. Nếu không khéo léo, mất mạng như chơi. Công chúa phải giúp ta hết lòng mới được.
Công chúa nói:
- Em thế nào hẳn quan tướng biết rồi, chẳng lẽ vợ chồng lại còn nghi ngờ gì nữa...
Quận Huy liền bàn với vợ, tìm cách mời Đặng Tuyên Phi cùng đi lễ chùa ở ngoại thành. Rồi Huy đến đó chờ sẵn để ra mắt.
Bên bờ sông hành cung chùa Trấn Quốc, Quận Huy nóng lòng chờ đợi. Huy ngồi chờ bên hành lang rồi lại đi dọc những bờ cây bóng toả xuống nước. Có lúc Huy buông mắt ra phía phủ Chúa, phía Hoa Viên để xem có chiếc thuyền ngự nào tiến đến chăng.
Chúa Trịnh Sâm yêu Đặng Thị Huệ rất mực. Đến Chính Phi cũng chẳng ngự thuyền rồng của Chúa. Huệ cố giữ ý, nhưng Trịnh Sâm cứ muốn Huệ ngồi thuyền rồng của mình. Chúa cho phép Huệ muốn đi đâu trên hồ, cứ lấy thuyền của Chúa mà đi. Thuyền của Chúa đầu rồng, nhưng sơn màu tía như áo Chúa chứ không sơn màu vàng như thuyền của Vua.
Huệ khôn ngoan, chỉ khi nào đi chơi hồ với Chúa thì mới dùng thuyền rồng. Nhưng thằng em trời đánh của Huệ là Đặng Mậu Lân một bữa đến thăm Huệ, liền nhảy tót xuống thuyền rồng, rồi sai chèo đi chơi dọc hồ một lượt. Huệ tức điên người. Từ lúc Mậu Lân giong thuyền đi, Huệ chốc chốc lại ra bờ hồ để ngóng... Cho đến lúc Lân cho thuyền cập bến nhảy lên bờ, Huệ nghiêm mặt lại, quát bảo:
- Lân, em lại đây!
Lân nhăn nhở cười hì hì tiến đến. Huệ giang tay tát thẳng vào mặt một cái và nói:
- Sao mày dám làm việc bạo thiên, nghịch địa thế hở thằng trời đánh kia...
Lâm ôm má, ngẩn mặt ra nhìn thì thấy Chúa đến, sợ đến thất sắc. Huệ nghe thấy bước chân của Chúa ở sau lưng, vẫn chưa nguôi giận, rít răng quát lên:
- Thằng súc sinh kia, tạ tội Chúa đi chứ!
Lân bị dồn nén, biết mình phạm lỗi lớn, liền cứ chân đất sụp lạy Chúa ngay trên đường:
- Thần, Đặng Mậu Lân, tội đáng chết, xin Chúa Công thương tình đại xá...
Chúa hôm nay có nhiều điều đắc ý, lòng rất khoan hoà. Chúa đến cung Đặng Thị Huệ, không thấy Huệ đâu, hỏi cung nữ mới biết Huệ ra bờ hồ liền dắt Trịnh Cán theo ra tìm, thì thấy hai chị em đang mắng nhau, Chúa ôn tồn hỏi:
- Có chuyện chi thế ?
Huệ cũng sụp xuống đất lạy Chúa nói:
- Em của thần thiếp đang tuổi phương cương, tội thật đáng chém, xin Chúa Thượng tha tội chết.
Chúa nâng Huệ dậy mà nói:
- Biết tội là được rồi. Ta tha thứ cho. Bận sau không được thế nữa...
Huệ quát:
- Mày không lạy tạ ơn Chúa rồi xéo đi đâu cho rảnh mắt hử...
Lân dập đầu lạy Chúa, lạy chị rồi lấm lét chuồn khỏi vườn ngự, lên kiệu ra về...
Chúa gọi Cán rồi cùng Huệ xuống thuyền đi chơi hồ, rất âu yếm, Chúa thấy Huệ còn tức, vỗ về:
- Phi giận là rất đúng. Nhưng ta đã tha tội cho Mậu Lân rồi. Nếu kẻ nào có hỏi thì Phi nhận là Phi đi là xong chuyện, có gì mà nghĩ ngợi.
Huệ sà vào lòng Chúa, ôm lấy người Chúa nói:
- Chúa thương em đến thế này thì mấy kiếp em cũng không đền ơn Chúa được.
Chúa riết Huệ vào lòng, thả Cán ra ngoài mạn thuyền, kéo rèm và ôm ấp Huệ. Huệ nằm gọn trong lòng Chúa, mắt nhìn Chúa đắm đuối, và nói:
- Trời xui cho em gặp Chúa Thượng. Giá Chúa Thượng không bận việc triều đình, thì em chẳng muốn buông cho Chúa Thượng đi đâu cả...
Trịnh Sâm cười ầm lên, nói:
- Thì ta cũng thế, xong công việc là lại phải tìm đến em luôn.
Chúa luồn tay vào ngực Huệ, nói suồng sã...
- Ta nhớ mùi hương da thịt của em, ta nhớ cái này lắm, nhớ mắt nhớ môi, nhớ mọi thứ trên cơ thể em...
Huệ giơ bàn tay đẹp che miệng Chúa:
- Chúa nói khẽ chứ! Con nó đứng ở ngoài kia. Nó nghe thấy đấy.
Chúa ôm Huệ càng chặt hơn nói:
- Ừ thì khẽ thôi! Em chiều ta nhé!
- Còn con!
- Đã có người giữ nó chơi ngoài ấy rồi!
Huệ ngả vào lòng Chúa...
Lần ấy, Huệ không dùng thuyền ngự mà cũng phải nhận là đi, song lần này đi gặp Quận Huy, Huệ nhất định dùng thuyền của Chúa, thấy thuyền Chúa ra hành cung, thì mọi người không dám bén mảng tới.
Trịnh Công chúa, vợ Quận Huy, đi cùng Tuyên Phi Đặng Thị Huệ... Đến hành cung, Công chúa ngước mắt tìm chồng, rồi đi sang bên chùa Trấn Quốc dâng hương.
Quận Huy nhìn thấy Tuyên Phi bỗng sững người. Sao lại có người đẹp đến như vậy. Chỗ đứng của nàng như toả sáng. Hoa và cây cũng tươi xinh thêm khi được nàng bước dạo qua. Lụa là, trang sức càng tôn thêm vẻ sang trọng cho nàng. Gương mặt, dáng đi đầy vẻ hấp dẫn và thông minh. Huy vái chào Tuyên Phi và nói:
- Tố Lý tôi xin chào quý phi. Thân võ tướng ở tít nơi biên ải, thường được nghe đức sáng và tài trí của Tuyên Phi, nay mới được ra mắt.
Huệ vời Quận Huy ngồi rồi khẽ cười mà hỏi:
- Ta nghe ông dâng vàng trăm lượng, đoạn Nam Kinh mười tấm, để xin phò Thế Tử Trịnh Tông có phải không?
Quận Huy thất sắc, không ngờ Đặng Thị Huệ lại hỏi độp mình như thế! Huy quận chưa biết trả lời ra sao thì Tuyên Phi đã đi đi lại lại, không cho Huy thấy vẻ mặt của mình. Nàng chậm rãi nói như người rất hiểu việc đời:
- Việc ông tìm người để nương tựa, chọn đúng cửa Thế Tử là đúng. Nhưng ông thấy đấy, Thế Tử thiếu gì người tài giúp rập, việc gì cần đến ông. Vả lại, ông ngồi chung chiếu với Nguyễn Khản, Nguyễn Dĩnh, Nguyễn Khắc Tuân thế nào được. Họ có cho ông ngồi, thì cũng chỉ dành chiếu dưới cho ông thôi. Tài năng như ông, trí tuệ như ông, sao lại hạ mình thế.
Quận Huy không ngờ Tuyên Phi lại sắc sảo đến thế, đứng ngây ra không mở miệng nói được câu nào. Tuyên Phi quay lại, miệng vẫn tươi cười :
- Ta có đứa con nhỏ rất thông minh, Chúa Thượng cũng hết lòng yêu quý. Nó thua Thế Tử hơn mười tuổi, nhưng, cầu trời cho Chúa khoẻ mạnh, con ta khôn lớn, thì ắt cơ đồ của nhà Lê - Trịnh hẳn được vững vàng. Cái đám hủ nho, một lũ đại thần cứ đi phò con cả, có biết đâu nhà Chúa đang cai quản thiên hạ chính là chi thứ. Cho nên Thế Tử có lớn mà không có tài. Thầy dạy giỏi bốn xung quanh mà chỉ thích bắn cung, cưỡi ngựa, cho là sách Thánh hiền chẳng mấy quan trọng, nếu có quyền binh trong tay... Ngươi không đón được ý Chúa sao. Thế Tử đã đến tuổi mở Phủ riêng mà Chúa đã chần chừ cho đâu...
Quận Huy thấy Tuyên Phi dừng lại, mới dám thưa:
- Tố Lý tôi là kẻ võ biền, không thấu đạt thời cuộc, không nhìn ra thành đồng vách sắt mà tựa lại định vớ phải chiếc bọt bẩn lúc sắp chết đuối. Vợ chồng tôi cũng là họ hàng của Chúa, mong Tuyên Phi nói cùng Chúa Thượng, tiếc con ngựa tuy không phải ngựa kỳ, ngựa ký đi ngàn dặm một ngày mà chỉ kham nổi việc mang vác, mà dùng đến, thì xin kết cỏ ngậm vành đến tận khi xuống suối vàng, và xin đem hết tình khuyển mã để hết lòng với chủ.
Nói đoạn sụp lạy trước Đặng Thị Huệ. Huệ đỡ dậy mà nói:
- Con ta nhỏ, rất cần người giỏi giúp đỡ. Người của ta cũng đang nắm quân cấm vệ và những phủ, viện quan trọng, nếu ông hết lòng cộng tác thì non sông xã tắc cũng được vẻ vang. Ông về nghĩ lại cho thật kỹ. Ta không ép ông đâu!
Huy lại sụp lạy, mặt đầy tôn kính mà nói:
- Được tôn thờ Chúa Thượng và Quý Phi thật là hồng phúc lớn cho Tố Lý này...
Huệ rất mừng, nhưng vẫn không lộ ra nét mặt, chỉ nói:
- Ông chờ dăm bữa, nửa tháng, ta sẽ nói với Chúa triệu ông vào hầu...
Quận Huy cuống quít tạ ơn. Huệ sang bên chùa dâng hương cùng Công chúa. Huy giữ nguyên vẻ người dạo thăm cảnh, chầm chậm theo lối khác rồi về...



(1) Đây là bàn việc cơ mật. Chúa dùng chữ Thập (+) xứ để nói đến xứ Nghệ (x). Hai chữ Hán này gần giống nhau.
 


 
0

5

 
Họ Ngô Tả Thanh Oai nổi trội những danh sĩ. Khởi nguồn là Ngô Thì Sĩ. Sĩ người chăm chỉ, khoan hậu, hiếu học thông minh. Tập văn ở đâu đều được các thầy khen nức nở. Khi tập văn lên trường tỉnh thì bài nào cũng sáng giá. Các học quan đầu tỉnh yêu Sĩ, đồng lòng viết lời chuyển đạt xin cho Sĩ tập văn ở Quốc Tử Giám. Các vị danh thần đều cho văn của Thì Sĩ là hay, song khoáng dật, tung tẩy, không biết kìm hãm lúc cần kìm hãm. Để lộ phong tư tột bậc chính là điều người ta e ngại. Có người lại cho Sĩ ỷ tài, mục hạ vô nhân, dám khoe chữ trước mặt thầy, bạn, do đó ngấm ngầm ghét Sĩ. Đầu đời Cảnh Hưng, Thì Sĩ thi hương đỗ cử nhân, năm sau vào thi hội. Khảo quan lúc đó rất ghét Sĩ, bởi nghe lời gièm, khoá này Sĩ nói mình sẽ chiếm hội nguyên, nên bảo nhau, khi chấm nếu thấy giọng văn của Thì Sĩ, thì soi móc, tìm từng lỗi nhỏ vin thành lỗi lớn để đánh hỏng.
Có người yêu Thì Sĩ, dâng sớ lên Nghị Tổ Trịnh Doanh, Chúa liền bắt đem quyển văn của Sĩ cho mình xem, rồi gọi bọn khảo hạch đến bảo:
- Văn chương của người học trò này uyên bác, hồn nhiên, trung hậu, cớ sao bọn ngươi lại đánh hỏng.
Chủ khảo thưa:
- Người này có tài, chú ý đến đại cục mà quên tỉ mỉ, cẩn thận. Một bài văn mà phạm tới ba lỗi của trường thi, thì nên đánh hỏng, vả lại, khoa sau, nếu tài lực đích đáng thì bảng vàng vẫn có tên của hắn mà thôi.
Chúa Trịnh thở dài mà nói:
- Hiền tài không thể ba năm mới cho gặp mặt thiên tử. Sự đã rồi, ta không muốn vượt qua luật lệ có sẵn của trường thi, nhưng các ông thử xem mình có thật trọng tài Thì Sĩ hay là ghen tài với hắn.
Nói rồi tức giận đứng dậy đi vào... Các học quan bị quở càng tức tối. Khoa Bính Tuất (1766) Ngô Thì Sĩ lại đi thi. Giữa trường thi, ông nhiễm lạnh, đau bụng, luôn phải ôm bụng mà làm văn, cả một kỳ thi bốn trường, lai rai không khỏi. Kỳ đệ tứ, cơn đau quặn ruột, trán đẫm mồ hôi, mấy lần phải gác bút chườm bụng, đến gần tối mói nộp quyển, so với văn phong lần trước, kém sút hơn nhiều. Sĩ cho rằng kỳ này, mình không thể đỗ, hậm hực về chuyện không may, có lúc lại buồn nghĩ rằng số phận an bài.
Nào ngờ đến hôm yết bảng, lại thấy mình đứng đầu bảng, trên cả Nguyễn Bá Đương... Sĩ không hiểu ra sao. Vào dự yến Chúa đãi, Sĩ còn được Chúa mời lên cùng Bá Đương hỏi chuyện văn thơ, ưu ái lắm... Hỏi ra mới biết, chính Sĩ đau bụng, văn lực kém hơn bản lĩnh hằng có mà che mắt được các quan trường. Trong khi đó, Bá Đương, tức khí vì cho văn mình không phóng khoáng, bữa ấy lại viết bay bướm hơn thường ngày, nên các quan chấm trường không biết văn của ai vào ai cả... Vì thế, Ngô Thì Sĩ mới trúng, đỗ đầu khoa Tiến Sĩ năm ấy...
Thì Sĩ được Chúa Trịnh Doanh rất yêu, bổ nhiệm vào các chức quan văn ở triều đình, sau này cho ra trấn thủ trấn Lạng Sơn, một nơi biên ải cực kỳ quan trọng. Đường hoạn lộ của Ngô Thì Sĩ cũng vô cùng chật vật. Ông đang làm việc ở Quốc Sử quán chủ trương viết sử tục biên cho Đại Việt Sử ký toàn thư, thường được Nghị Tổ Trịnh Doanh mời đến hỏi công việc, và Chúa thường khen tài học của Ngô Thì Sĩ trước mặt bá quan. Lúc ấy Việp Quận Công cũng dự trong hàng bề tôi tin cẩn được bàn bạc cùng Chúa những việc lớn, vốn là người chỉ được đề cao về việc quân mà Hoàng Ngũ Phúc cho mình là dòng dõi gia thế xuất thân. Sau khi đỗ hội nguyên, Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm lên ngôi Chúa cũng yêu Thì Sĩ lắm, lúc nào làm được thơ hay, gọi Sĩ vào hoa viên thưởng trăng, bình phẩm. Chúa lại còn ban thơ cho Sĩ nữa. Khi Hoàng Ngũ Phúc ra trấn thủ Phương Nam, đối mặt với Chúa Nguyễn, quyền uy lệch triều đình, Thì Sĩ làm tham chính xứ Nghệ An. Ngũ Phúc dựa nhân tài vật lực ở xứ này rất nhiều. Cuộc phân tranh làm cho dân chúng ở địa đầu đất họ Trịnh ngày càng lao đao, khốn đốn. Thì Sĩ vốn nhân hậu, có ý muốn khoan dân, những đề đạt của ông trái hẳn với chủ trương của quan trấn thủ. Hoàng Ngũ Phúc vốn ghét sẵn Thì Sĩ, cho nên tâu với Chúa nhiều điều không đúng sự thực. Một lần Sĩ nói trong một bữa tiệc rằng:
- Cung quan lộc trong số tử vi của Thì Sĩ, có Hoá Lộc, Văn Khúc, Tả Phù, song lại có Phục Binh, nên làm Tham chính Nghệ An đã là may lắm.
Hoàng Ngũ Phúc cho rằng Thì Sĩ nói xỏ mình.
Quận Việp thu thập nhiều chuyện vu hãm Ngô Thì Sĩ trong mười năm không ngóc cổ lên được. Song Thì Sĩ là một người thông minh, thực học, giỏi xét đoán, Trịnh Sâm cũng là người không câu nệ, nên Chúa tôi lại hoà hợp được cùng nhau. Chúa gọi Thì Sĩ về triều, không để kìm nách Hoàng Ngũ Phúc nữa, sau đó chuyển lên trấn Lạng Sơn cho làm đốc trấn. Quả nhiên Thì Sĩ lo hoà hiếu được với tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông, đặt mốc, làm cõi đất rất phân minh. Ải Nam Quan được tu sửa, những thắng cảnh được tôn tạo, Thì Sĩ vỗ về dân chúng rất chân thành đôn hậu, được lòng cả người nghèo lẫn người giàu, gặp Sĩ ai cũng mời lên nhà sàn hoặc vào lều cỏ uống rượu, dân chúng từ Mẫu Sơn đến Thất Khê, từ Chi Lăng đến Tràng Định, thảy đều hết lòng ca ngợi. Chúa rất yêu quý Thì Sĩ, coi như một bậc trọng thần, xin gì cũng cho, từ quân quyền, lương thảo, người giúp việc, cho đến những vật phẩm đặc biệt để giao thiệp với những quan chức bản địa, hoặc bên kia biên giới.
Thì Sĩ rất liêm khiết, trung hậu. Khi về triều chỉ biếu Chúa vài lạng cao hổ cốt, một vài tấm thổ cẩm, cũng là thứ người ta biếu Sĩ, Sĩ thấy quý, dành lại dâng lên Chúa... Chúa rất thích sự chân thành, nói ngay trước mặt bá quan:
- Thì Sĩ làm quan ở biên giới, vất vả trăm bề, thân nho sinh mà ngày phải cheo leo vượt dốc núi đến tận nơi hiểm yếu, không bị kẻ xấu hãm hại, thì cũng chạm phải rắn rết độc và thú dữ. Người ta cho của ngon, vật lạ, lòng thành lại nhớ đến ta... Làm bề tôi như thế, quả thật hết lòng, ta thật hài lòng về ông.
Rồi cởi áo lót ban cho Sĩ... Thì Sĩ ứa nước mắt mà nhận. Triều đình ai cũng cảm kích... Người được Chúa yêu như bạn là Nguyễn Khản, phút ấy, cũng phải cúi đầu ngẫm nghĩ, thấy mình thờ Chúa chưa bằng họ Ngô ở Thanh Oai.
Gia đình Sĩ chuộng học. Bố của quan nghè hội nguyên là Đan Nhạc (Ngô Trân) rất hay chữ. Sĩ học chữ ở cha. Cha con tâm đắc lắm. Thời ấy, Sĩ chưa đỗ đạt, nhà còn nghèo túng, Đan Nhạc ngồi dạy học trò trong vùng, dạy cả con lẫn cháu.
Đàn con của Thì Sĩ học cũng rất thông minh, nhất là Ngô Thì Nhậm. Nhậm sắc sảo, ưa biện luận, thích thắng người. Khi ngồi học cùng với các anh, em và bè bạn, bao giờ cũng muốn văn của mình hay hơn người. Nhậm học rất nhanh, thông tuệ, sắc sảo. Ông nội là Đan Nhạc thường nói với Sĩ:
- Thằng Nhậm tài năng xuất chúng nhưng kiêu căng, khinh suất, dễ nhiều sơ hở. Người dùng được nó chỉ có những bậc phóng khoáng, lão thực, chứ loại tầm thường thì không thể nào “tin cậy” được. Ta già rồi, sau này con hãy kèm cặp nó!
Sĩ hiểu ý cha, khi Đan Nhạc mất, liền trực tiếp dậy con. Thì Nhậm rất phục bố, nhưng những lúc nhấp rượu lên môi, vui với bạn bè, bị kích động, thường nói:
- Thầy cho kiến thức. Cha cho hình hài, chứ đâu có cho sự nghiệp. Sự nghiệp là ở bàn tay và khối óc của mình...
Có người bạn nghe cười và hỏi đểu:
- Thì Nhậm có định làm Gia Cát Lượng thời nay không?
Nhậm trả lời ngay:
- Kẻ sĩ nhập cuộc, nên hay không, thành hay bại, không nói trước được. Song Nhậm này hẳn là không để cho ai sai khiến được mình, nếu như trong lòng chưa phục. Gia Cát Lượng giỏi việc ở Trung Hoa chứ chắc gì giỏi việc ở nước Đại Việt này.
Nói đoạn cười ầm lên. Sĩ không hợp tính con, rèn giũa đã nhiều, nhưng hiệu quả với Nhậm chưa được bao nhiêu. Sĩ thấy Nhậm lắm lúc ngụy biện, thích gì thì biện bác bằng được thứ mình thích.
Lúc thì sùng Nho, lúc lại sùng Phật. Lúc thì tôn Vương An Thạch như bậc thầy, lúc lại say sưa với pháp trị của Hàn Phi Tử. Sĩ tự hào về Nhậm mà cũng không ngớt lo toan về đứa con khác hẳn những đứa con khác trong nhà.
Tuy không hài lòng về tính nết của con, song về trí thông minh và học hành, Ngô Thì Sĩ vẫn quý Nhậm hơn trong đàn con cũng thông minh và hiếu học. Trước mặt bạn bè hay chữ, để luyện rèn con, Sĩ thường xin phép cho Nhậm ngồi dự thính nghe bình thơ hoặc tranh luận về những nghĩa lý uyên thâm của Kinh Dịch, cái hay cái dở của thuyết kiêm ái, thuyết pháp trị... Sĩ rất chuộng nho. Nhậm ngồi dự, có lúc nhịn không được về lối bàn kề rề, bài bản của các bậc cha chú, hoặc những lối nghĩ không dám vượt ra khỏi qui củ của người xưa. Nhậm xin phép cha và mọi người đứng lên biện bác, rất hùng hồn và đâu ra đấy, tuy đôi ba chỗ có phần ngụy tác. Thì Sĩ rất sung sướng, nghe con đàm luận từng mảng, từng câu rất chăm chú. Nhưng bao giờ kết thúc, Sĩ cũng ngoảnh mặt về bè bạn, xá dài một vái nói:
- Nhậm con tôi còn trẻ, mạnh mà cứng, mong các vị huynh trưởng bỏ qua cho những lời lỗ mãng.
Được cha rèn cặp. Nhậm tiến bộ rất nhanh và cũng hiểu được cái hay, cái dở của lớp người lớn tuổi, nên càng tin ở chí tiến thủ của mình. Nhậm ra sức học hỏi, mười sáu tuổi đã tập viết sách... Cũng là do Thì Sĩ vốn làm ở Quốc Sử quán hướng dẫn cho con, Nhậm viết cuốn “Nhị thập tứ sử toát yếu”. Bạn bè của Sĩ ai cũng cho là thần đồng. Kịp đến năm hai mươi tuổi, Nhậm viết cuốn “Tứ Gia thuyết phủ”, thì họ không còn dám khinh thường Nhậm là tuổi trẻ háo danh nữa...
Thì Sĩ cũng thấy tính nết và sức học của con trai vượt khỏi vòng tay của mình.... Ông chỉ cố gắng đến phút cuối cùng hướng con thiên về chuyên môn, khảo cứu. Lòng ao ước của ông là mong sao Nhậm được làm ở Quốc Sử quán hoặc là chức tu nghiệp ở Quốc Tử Giám, có thể góp phần làm sáng danh của các đại gia của các học thuyết và làm rạng rỡ họ Ngô nhà mình. Sĩ thường lo sợ nó với những người thân:
- Thằng Nhậm rồi sẽ là một người xuất chúng. Nhưng ham muốn của nó lớn quá, không biết dòng họ có được nhờ nó hay lại đắm đuối vì nó...
Cũng vì Nhậm phá cách như thế, nên đám anh em ruột của Nhậm như Thời Chí, Thời Thiến lại nhất nhất tôn sùng kính trọng cha tự nguyện làm theo gương của cha. Và họ cho rằng được như thế đã là toại nguyện. Bởi là con trai một danh gia, nên được các bậc khoa bảng bạn bè rất chú ý. Có lần được hỏi về đường hoạn lộ sau này, Ngô Thì Chí khiêm nhường nói:
- Tôi chỉ mong bằng một nửa của cha tôi cũng đủ vinh hạnh lắm rồi.
Còn Ngô Thì Nhậm nói:
- Trí lực là một chuyện, thời thế mới là quan trọng. Ai mà nói trước được với thới thế. Nhưng tôi là người lấy trí lực để thuận theo thời thế. Còn lên voi xuống chó là chuyện thường vẫn xảy ra ở chốn công danh.
Năm mười chín tuổi, Ngô Thì Nhậm đi thi hương đỗ đầu. Bốn năm sau, nhà nước thiếu người trong các chức nghiệp, mở khoa sĩ vọng, Nhậm đi thi trúng cách, và mấy tháng sau được bổ làm hiến sát sứ ở Hải Dương.
Là một viên quan trẻ, có thế cha, Ngô Thì Nhậm không hề nghĩ mình có ưu thế hơn người khác. Nhậm lấy sức học mà đoán định công việc, làm tròn chức trách, được quan đầu tỉnh rất tín nhiệm. Thì Sĩ vẫn lo con kiêu căng, tự phụ, hợm mình, tự tay viết thư cho người sai khiến con mình, lời lẽ khiêm cung, trao gửi con cho ông ta. Lại cho gia nhân đem rượu hồi, mật gấu, cao hổ..., đem tặng, cử chỉ rất thân tình, nên Nhậm được che chở, hướng dẫn ngầm ở bên trong. Nhậm không hề biết chuyện ấy, vẫn tin tự tài mình mà có. Thư viết cho cha, dù lời rất nhu thuận, song cũng hé lộ những điều tự tin, tự mãn. Thì Sĩ đọc rất kỹ thư Nhậm, nói với Thì Chí, đứa con trai ông rất tin cẩn rằng:
- Dòng họ của mình từ tay trắng mà lên, đáng lẽ phải thầm lặng mà trau dồi bản lĩnh, đặt cái giỏi của mình giữa sự tài giỏi của muôn người, coi sự khéo kéo của mình là sự vụng về của người khác. Con không thông minh sắc sảo bằng thằng Nhậm, nhưng con lại có điều ấy. Còn thằng Nhậm thì...
Ngô Thì Chí nói:
- Thì Nhậm thì sao hở cha?
Thì Sĩ đăm đăm nhìn vào vách núi mà nói:
- Con thử xem, trong một vườn hoa, bông nào đẹp nhất, thì chẳng bị hái đầu tiên đó sao...
Chí vốn đôn hậu, thưa:
- Thế là tốt chứ, chưa cha. Hoa đẹp, lộng lẫy, thì được tôn trọng và ưu ái, đó là điều hợp với lẽ thường.
- Con ơi, con nông nổi lắm!
Thì Sĩ giảng để Chí nghe:
- Hoa đẹp nhà này có, nhà kia không có, từ đó mà sinh lòng ghen ghét đố kỵ lẫn nhau. Năm nọ, chỉ vì các nhà quyền quý thích chơi thuỷ tiên, nhà nào cũng khoe là mình thanh lịch. Một vị trấn thủ, thuộc loại quan võ, giò thuỷ tiên nhà ông ta gầy mà xấu. Khi ông ta đi thăm các nhà, họ đều cứ đem thuỷ tiên của nhà mình ra mà khoe. Quan trấn thủ, bực lắm, nén giận, không nói gì. Đến năm sau, cấm các nhà buôn ở chợ lớn trong tĩnh không được bán thuỷ tiên... Năm ấy, chỉ nhà quan trấn thủ có thuỷ tiên. Các quan đến, quan trấn thủ đem thuỷ tiên ra khoe. Các hiệu thuộc dưới trướng của ông ta đều im thin thít đưa mắt nhìn nhau. Con xem đấy. Chuyện hoa đẹp ấy là có thật, cha không hề thấy trong sách... Vậy mà thằng Nhậm...
Thì Chí biết cha là người cẩn trọng, tinh tế, lặng yên không nói.
Trịnh Sâm rất yêu Thì Sĩ, cho là người trung hâu cũng muốn dựa vào họ Ngô để gây thêm uy thế cho mình ở đám sĩ phu Bắc Hà. Lại đọc quyển văn của Thì Nhậm ở khoa Sĩ vọng, nên rất lưu ý.
Năm Ất Mùi (1775), Thì Nhậm thi Hội đậu tam giáp tiến sĩ, đứng hàng thứ năm. Lúc này Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc đã thôi không thao túng được triều đình. Thì Sĩ đã được phục chức làm đốc trấn Lạng Sơn. Thì Nhậm đang làm giám sát ngự sử đạo Sơn Nam, được gọi về triều, ban chức Đốc đồng trấn Kinh Bắc, kiêm Đốc Đồng Thái Nguyên. Cha con họ Ngô bỗng trở nên một nhà vọng tộc lừng tiếng ở kinh thành. Khi tiễn cha đi trấn thủ Lạng Sơn, Ngô Thì Nhậm trong tiệc rượu, vẩy bút viết xong bài thơ, đọc ngay trong tiệc rượu. Đó là bài “Hạ tôn thiền, phó hùng trấn”, lời lẽ như sau:
Ngũ sắc tường vân giáp đạo kỳ
Sủng quanh thứ nhật bách thuyền kỳ
Nhất gia binh trượng liên tam trấn
Vạn lý trong cương khống nhị thuỳ.
Xuất cách thù ân chân ngộ Chúa,
Bồi hoan thắng họ toại vi nhi,
Vũ ban nguyện hiến Nam Sơn thọ,
Chú Cẩm đường tiền khánh thái mi.
 
(Mừng cha đi trấn thủ nơi quan yếu
Mây lành năm sắc, rợp cờ bay,
Ngày trọng, cao sang lắm vẻ hay.
Một nhà binh tướng quyền ba tỉnh,
Trăm dặn biên thuỳ đã mấy tay?
Ơn lớn ngửa nhờ thời gặp Chúa,
Vui lây vốn hiếm thoả lòng trai,
Múa say một khúc chúc cao thọ,
Nhà gấm mừng cha, dạ tỏ tày.)
Thì Sĩ biết lòng con, rất vui, cũng đọc thơ cho mọi người cùng nghe. Khi đến nhận chén mừng của Ngô Thì Nhậm, ông chân thành nói với con:
- Cha mong con hơn cha, làm rạng danh tiên tổ và dòng họ. Con ở ngay kề bên kinh đô, lo việc hình sự ở hai tỉnh lớn, cha chỉ khuyên con một điều đọc được ở trong sách: “Cẩn trọng nên việc lớn. Khiêm cung được phúc bền”. Có điều gì khúc mắc, chưa tường tận, con cứ thực lòng hỏi các bậc cha chú, bè bạn. Họ đều là những bạn bè thân thiết của cha con mình.
Thì Chí cũng siết chặt tay Thì Nhậm, cáo biệt lên đường đi Lạng Sơn.
 
*
*          *
 
Quận Huy vẫn nằm im ở nhà, nghe ngóng. Từ khi Thế Tử Trịnh Tông từ chối không dùng, Huy bực bội, tức tối lắm, định bụng thế nào cũng làm cho Tông mất ngôi Chúa. Lại nghĩ, bọn cận thần của Chúa, vốn trước được giao cho phò Tông, khi Chúa chưa có Cán, đều tưởng ngôi thứ của mình bền chặt. Bây giờ, Chúa lại có Thị Huệ bên mình, sinh thêm được Vương Tử Cán. Họ biết Chúa rất yêu Huệ, yêu Cán, song số phận của họ đã gắn bó với Tông hàng chục năm nay thiên hạ đều biết, họ trở cờ làm sao được. Vì thế đám Nguyễn Khản, Nguyễn Dĩnh, Nguyễn Khắc Tuân đành đâm lao theo lao. Họ chỉ con lo dựa vào Thái phi, là người trước và sau vẫn cứ muốn ngôi Chúa thuộc về cháu đích...
Năm ấy Chúa mệt nặng. Quan thái y được điều vào phủ, ngày đêm túc trực để chữa trị. Chúa vắng chầu hàng tháng. Mọi việc đều giao cho hai phủ Tham Tụng và Bồi Tụng, thay Chúa điều hành.
Trịnh Tông có một lũ tay chân, xuất thân từ nghề thư lại, vốn nhanh nhẹn, được việc, Chúa dần dần tin cẩn, việc lớn, việc nhỏ đều bàn với chúng. Từ khi Đặng Thị Huệ sinh Cán thì Tông luôn vung tay cho chúng tiền, để móc nối với bên cung Tuyên Phi, hầu moi lấy những tin tức về việc lập Thế Tử để liệu bề định đoạt.
Một bận, Thế Thọ đến cạnh Tông nói nhỏ vào tai:
- Chúa ốm nặng lắm, Thế Tử đã biết chưa?
- Hôm qua cha ta còn duyệt quân ở Giảng Võ đường thôi.
- Thế tử không chú ý đấy. Mọi ngày Chúa ra coi việc quân, thường cưỡi voi, đi tán tía mà đến. Hôm qua, Chúa phải đi kiệu đến đấy!
Đám quân ngự lâm tập luyện lâu quá, Chúa ngồi giữa nắng, về đến thềm thì trúng gió, ngã quật xuống thềm, bất tỉnh nhân sự. Thọ báo cho Tông tin ấy. Tông mừng lắm, bèn nói:
- Đêm qua ta nằm mơ mặc áo chầu chàm, đội mũ chữ đinh, đứng ở phủ đường ngơ ngẩn không biết đi đâu, không biết là điềm gì!
Nho sinh Đàm Xuân Thu vỗ tay reo lên nói:
- Tôi có đọc sách đoán mộng, thì việc đó chính là điềm nhà Chúa có tang.
Thế Thọ khuyên Trịnh Tông:
- Chúa ốm, là một dịp may hiếm có cho ta. Bây giờ, ta phải lo thực lực, nhỡ Chúa có mệnh hệ nào thì việc lớn mới xong được.
Thế tử hỏi:
- Vậy ta phải làm gì?
- Thế tử hãy xuất tất cả những vàng bạc châu báu, cho người đi sắm vũ khí, chiêu mộ binh sĩ, ếm sẵn trong thành. Nếu thấy Chúa mất, Thế tử ở bên màn trướng truyền tin ra, chúng tôi sẽ liệu định.
Trịnh Tông nói:
- Việc lớn không thể khinh suất. Lỡ việc không thành thì không những ngôi Chúa không giành được mà ta và các ngươi đều mất mạng. Ta lại nghe Quận Huy không được ta dùng, quay về bám gấu váy Đặng Thị Huệ. Huệ đã tâu với Chúa, tha tội chết cho hắn, giờ lại cho coi một đạo quân cấm vệ ở Cửa Đông. Việc đó không thể khinh xuất được.
Đàm Xuân Thu hiến kế:
- Quận Huy mới liên kết được với Thị Huệ, vả lại Chúa tuy yêu Cán, nhưng Cán ốm yếu lắm. Chúa cũng rất nể Thái phi, chưa định đoạt ngôi Chúa được. Thể lệ nhà Chúa phải mười hai tuổi mới được ra lập phủ riêng... mười tám tuổi mới phong Thế Tử. Chúa muốn truyền ngôi cho Cán, cũng phải lựa ý đại thần, xem xét điển lệ, chứ không thể làm vội được... Nay Chúa đang ốm nặng, tôi xin sang bên trấn Sơn Tây bàn với Hồng Lĩnh hầu, Thế Thọ lo liệu việc quân cho Thế tử, còn Sơn Thọ thì lập tức sang trấn Kinh Bắc bàn với Tuân Sinh hầu. Hai trấn này gần ngay Thăng Long, nếu họ hết lòng, khi Chúa viên tịch, đem quân về thì thế nào việc lớn cũng xong.
Trịnh Tông mừng lắm! Liền xuất châu báu, vàng bạc giao cho chúng để ngầm gây thế lực.
Bữa ấy, Tuân Sinh hầu vừa ở phủ đường trấn Kinh Bắc về tư thất thì Sơn Thọ đã chờ ở trong nhà. Thấy người của Thế tử, Tuân Sinh hầu vội vào tiếp ngay. Sơn Thọ vái lạy rồi tháo đường khâu ở gấu áo đoạn ra, đưa thư của Trịnh Tông cho Tuân Sinh hầu. Hầu bèn giở ra đọc. Thư vắn tắt có mấy dòng:
Trịnh Tông kính cẩn gửi thầy học là Tuân Sinh hầu,
Hầu là chỗ thân tín của Tông này, nhân có mộng lành và Kinh thành thời tiết có chiều thay đổi. Mùa xuân sắp đến, có chậu hoa không nở hưởng một mình, đưa Thẩm Thọ đến biếu Ngài mong được cho lời giải mộng, ơn dạy bảo vẫn hằng ghi tạc dạ, mong được đền đáp sau này. Mọi việc Sơn Thọ sẽ nói để Hầu rõ.
Trịnh Tông bái bút.
Sơn Thọ ở nhà khách chờ Tuân Sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân trả lời. Tuân là người cẩn trọng kín đáo, một mặt cho người tiếp đãi Sơn Thọ rất chu đáo, hỏi cặn kẽ mọi việc về Chúa, về Thế tử, về Quận Huy. Tuân là quan văn, tuy làm trấn thủ, nhưng quân quyền lại do quan phó trấn nắm. Dưới quyền có đốc đồng Ngô Thì Nhậm, vốn cũng là trợ giảng của Thế tử, nên Tuân Sinh hầu tin là Nhậm cũng ngả theo mình. Hầu muốn rằng nếu người thân cận của Thế Tử có đủ dũng lược, Nguyễn Khản trước sau phò Trịnh Tông, cắt quân từ Sơn Tây về, thì Nguyễn Khắc Tuân cũng sẽ kéo quân sang phối hợp. Còn nếu như một trong hai đạo quân kia thất bại, hầu sẽ án binh bất động và phe cánh Quận Huy và Đặng Thị Huệ trước sau đều phải thâu nạp Hầu, đó chẳng là kế “lấy biến ứng biến, lấy loạn trị loạn” ư...
Tuân Sinh hầu nghĩ được ra đối sách, rất hài lòng. Một mặt ra sức chiều chuộng Sơn Thọ, hứa hẹn rất đằm thắm, nhưng chỉ là lời lẽ đầu môi.
Thọ vốn cũng là một kẻ tinh đời, ở đấy một tuần, xem ra đoán được ý Tuân Sinh hầu. Thọ nằm đặt tay lên trán nghĩ:
- Phàm làm việc lớn phải dựa vào đám người trẻ, hăng hái, chứ mấy cái đám hầu tước, quận công lõi đời trong đường hoạn lộ, thấy cái hắc ẩn mới nhúng tay vào; thấy lợi trong tầm mới thò tay thủ túi. Họ giống như con cá no mồi, khó mà lôi kéo vào những chuyện tày đình được.
Sơn Thọ cũng mong Thế tử nên công nghiệp, thì cái thứ cao không cao, thấp không thấp như mình mới đắc dụng được.
Sơn Thọ nghĩ đến Ngô Thì Nhậm. Thọ từng thu học ở Nhậm, năm Nhậm cáo quan về nhà cư tang, Nhậm dạy học thường chú ý đến những học trò giỏi, nên cũng chẳng biết Sơn Thọ là thằng nào? Thọ học Nhậm thấy giảng những triết lý cao siêu về Hàn Phi Tử, về Lý Tư, về Vương An Thạch, có lúc lại bàn đến các tông chỉ của Thích Ca Mâu Ni, Đường Huyền Trang, Trúc Lâm Tam Tổ, nghe thì thấy rất hay mà nắm bắt thật khó, Sơn Thọ liền bỏ học đi làm thư lại ở phủ Thế tử. Sau Thế tử thấy khôi ngô nhanh nhẹn, liền tuyển chọn vào làm tay chân gần gũi.
Thấy Tuân Sinh hầu chưa quyết, Sơn Thọ liền tìm cách ra mắt Ngô Thì Nhậm.
Thầy trò gần mặt không nhận ra nhau. Nhậm hỏi:
- Ông là ai ? Ông mới ở Kinh thành sang ư?
Sơn Thọ cung kính thưa:
- Thưa quan nhân, tôi chính là học trò của quan nhân, xin phép cho được xưng hô thầy, trò cho tiện.
- Cám ơn anh, xin cứ tự nhiên.
Sơn Thọ nói:
- Thưa thầy, tôi là người của Thế tử.
Nhậm hơi chột dạ, song vẫn giữ thái độ rất điềm tĩnh, nhẹ nhàng đáp:
- Vậy ư? Có chuyện gì vậy?
Sơn Thọ nói:
- Thế nước đang biến động, ở miền biên ải phía Thuận - Quảng đang cần được mở rộng. Quan văn đang được tin dùng. Chúa là người từng trải và giỏi giang, nhưng từ ngày có Đặng Thị Huệ ở bên, thì lại mắc vào vết cũ của thời xưa như nhà Chu mất vì Bao Tự, Phù Sai đắm đuối Tây Thi, Đường Minh Hoàng lao đao về Quý Phi họ Dương... Vết xe đổ làm sao không lấn sâu vào được... Tôi thấy thầy nên nghĩ kỹ, nếu thầy giúp cho Thế tử thì sau này, ắt hẳn công danh phú quý không thể nào lường nổi?
Nhậm cười nói:
- Công danh, phú quý ư? Người khác cho cũng thật quý. Song nó ở đây này!
Nhậm lấy tay chỉ vào đầu mình... Sơn Thọ biết Nhậm rất kiêu căng, lặng im không nói gì nữa. Nhậm lại hỏi:
- Chúa thượng bệnh tình ra sao?
Thọ nói lấp lửng:
- Bệnh của Chúa là bệnh thời khí và ham muốn. Việc nước bề bộn, một mình phải phán quyết, thế mà đêm lại hết dạ hội này sang dạ hội khác triền miên bên Thị Huệ, thì sức gấu, sức hổ cũng không cứ nổi, huống chi sức người.
Nhậm lại hỏi:
- Ta nghe Quận Huy vừa được Thị Huệ tin dùng đã lấn lướt tất cả các cựu thần, việc đó có đúng không?
Sơn Thọ nói:
- Quận Huy cho người lo lót vàng lụa, một trăm lạng vàng cho Thế tử, nhưng Ngài không nhận, đem trả. Huy quay sang nương tựa cấu kết với Đặng Thị Huệ, phù Trịnh Cán, vì thế được mời dự vào Chính Phủ, cho mở phủ Trung Nhuệ. Từ lúc đó, các đám lau nhau ở triều chính lại ngả sang Huy và Huệ, thế lực rất lớn...
Nhậm kiêu hãnh nói:
- Thằng ấy khéo mồm nhưng tham lam và quỷ quyệt. Việc hoàn toàn tuỳ thuộc Chúa thân ai dùng ai thôi. Chúa mà còn thì tài trị nước hiện nay không ai bằng Chúa đâu...
Sơn Thọ biết Ngô Thì Nhậm cũng chưa muốn ngả sang một phe nào, Tông hay Cán, mà chỉ muốn trước sau thờ Chúa thôi.
Sơn Thọ cáo từ thầy học về phủ Tuân Sinh hầu. Hầu vẫn lơ lửng không mặn mà lắm. Thọ biết ý, liền cáo từ xin về Kinh đô.
Thế Thọ được Trịnh Tông phái sang ngầm báo với Khê Trung hầu, vốn là người tin cẩn của Chính phi và hết lòng với Trịnh Tông. Thế tử lại cho tay chân phao tin là sắp được cất quân vào Thuận Quảng đánh Chúa Nguyễn, nhân đấy mà cho Đàm Xuân Thu đem hàng ngàn lạng bạc cấp tốc sắm sửa vũ khí... Công việc rất gấp gáp nhưng hơi lộ liễu.
Trong cung có Đốc đồng Thái Nguyên là Nguyễn Huy Bá vốn cũng là kẻ hãnh tiến. Bá người làng Phú Thị, thạo việc, dáng nhanh, môi thâm, da màu rỉ sắt, mắt luôn luôn chớp và nhìn trộm, lại thích la cà quán rượu để nhặt nhạnh các tin đồn bậy bạ rồi từ đó, thấy có chuyện dính líu đến danh giá nhà đại gia nào thì đến tìm cách nói xa gần mà hứa giúp đỡ, hoặc vòi vĩnh. Làng xóm ai cũng ghét. Ít lâu sau, Bá lên Thăng Long kiếm ăn, buôn bán nhì nhằng, lại quen thói cũ khinh bạc, kết liên với đám nha lại, quân hầu của các tước hầu, tước bá.
Đánh hơi thấy việc Quận Thụy (Trịnh Lệ), muốn giành ngôi Chúa với Tĩnh Đô Vương (Trịnh Sâm), Huy Bá liền đem tố giác với Chúa, Quận Thụy bị bắt về triều hỏi tội, do đó mà Huy Bá được tiến vào triều. Bá là em họ Nguyễn Huy Cơ, vốn làm Tham nghị cho Quận Thụy. Nhờ bán anh và chủ cũ, Huy Bá được trao chức của anh họ, rồi về triều ít bữa được bổ làm Đốc đồng ở Thái Nguyên, vừa đi lĩnh chức. Biết Tuyên Phi đang được Chúa sủng ái, Bá cho con dâu cả vào hầu hạ, Đặng Thị Huệ rất tin cẩn vì ả khéo nịnh. Được con dâu tiết lộ cho một vài việc có dính líu đến hai tước hầu hiện đang trấn thủ ở Sơn Tây và Kinh Bắc, để dò la tung tích. Khi ấy, nhân từ Thái Nguyên về triều Huy Bá liền ghé Kinh Bắc thăm Đốc đồng Ngô Thì Nhậm, mượn cớ trao đổi việc có liên quan có hai trấn. Bá đang uống rượu liền bảo Nhậm đuổi tả hữu ra ngoài để nói việc quan trọng. Nhậm bèn đuổi hết tuỳ tùng thân thuộc ra. Bá nghiêm mặt hỏi:
- Ông có dính líu đến việc Tuân Sinh hầu, nhân lúc Chúa ốm định làm bạo thiên nghịch địa không?
Ngô Thì Nhậm ngạc nhiên, nghiêm mặt hỏi:
- Sao ông lại gắp lửa bỏ tay người vậy. Cha con tôi hai đời nay được Chúa hết lòng trọng dụng, đâu dám ra lòng kia khác, ông ngồi ở nhà tôi, không thể nói bậy được đâu.
Huy Bá thấy Ngô Thì Nhậm nổi nóng, biết là mưu xảo của mình có thể thành liền thủng thẳng nói khích:
- Quan Đốc đồng tiến sĩ xuất thân ơi, so với ông, tôi chỉ là một thằng biện lại mà được chức to, nhưng mà ông ngây thơ lắm. Thì ai có bảo ông phản Chúa Trịnh đâu. Có điều ông định thờ Trịnh Tông hay thờ Trịnh Cán sau này đấy?
Ngô Thì Nhậm biết Huy Bá không phải tay vừa liền nói cứng:
- Tôi là quan văn, chỉ biết việc làm tròn phận sự ở nơi mình nhậm chức, chuyện gì khác quả thực là tôi không biết.
Huy Bá nói:
- Chính vì tôi quý họ Ngô nhà ông, nên mới mượn cớ vào thăm ông. Ông là Tham tướng cho Tuân Sinh hầu, chắc việc gì ông cũng đều biết cả.
Ngô Thì Nhậm nhìn thẳng vào mặt Huy Bá, nói:
- Những việc trong trấn thì tất nhiên các quan đầu trấn phải lo, sao ông lại hỏi tôi những việc vòng vo thế nhỉ!
Huy Bá làm ra vẻ thân mật, vỗ vai Nhậm nói:
- Ông Nhậm ơi, ông thông minh mà vẫn chưa lường hết việc đâu. Ông là một người có tài, lại trẻ, Tuân Sinh hầu là một bậc lõi đời trong hoạn trường, rất được tin cẩn, vai vế ngang hàng với bậc thân phụ của ông. Bởi ông làm phó cho ông ấy mà ông ta phải bàn những việc phải bàn với ông. Cũng có việc ông ấy không bàn với ông đâu!
- Việc không bàn là việc gì vậy?
Huy Bá nheo mắt cười rất nham hiểm nói:
- Việc nhân Chúa ốm, mưu với Thế tử, đem quân về kinh thành, nếu như Chúa mệnh hệ nào, sẽ phò Trịnh Tông, phế Trịnh Cán vậy! Ông không biết ư?
Nhậm sợ toát mồ hôi, thú nhận:
- Quả thật việc này tôi chưa hề biết!
- Thế thì may cho ông đấy... ông có thấy người của Thế tử sang ở bên này hàng mấy ngày không. Nghe đâu y cũng sang thăm cả ông kia mà!
Nhậm thẳng thắn nói:
- Y là học trò sang thăm xã giao thôi.
Huy Bá chỉ cần nắm được chừng ấy tin tức, liền không về Thái Nguyên mà về thẳng Kinh đô vào ra mắt Quận Huy. Huy nghe hết mọi sự của Bá, chắc mẩm lần này sẽ triệt được vây cánh chính của Trịnh Tông, liền bảo Bá:
- Người cứ đem tất cả những chuyện nghe được, nắm được ở trấn Sơn Tây, trấn Kinh Bắc làm tờ mật tâu, ta sẽ đem vào trình Chúa cho.
Quận Huy lại cho người theo sát người của Đàm Xuân Thu đang đi sắm sửa vũ khí cất giấu ở những nhà thuộc hạ tín cẩn của Chúa.
Trịnh Sâm nhờ các quan thái y hết sức chữa chạy, bệnh tình đã đỡ, đi lại được. Mấy lần Quận Huy định tâu với Chúa, nhưng lại vướng người lạ, chưa thể nói được.
Chỉ một bữa, Đặng Thị Huệ đích thân nấu cháo cho Chúa, Huy muốn nói, thì Chúa đã đích thân đến bên cạnh Huệ bảo:
- Việc này để các thị tỳ làm, việc gì Tuyên Phi phải mó tay vào. Ta muốn đi dạo hoa viên, nhân lúc trời ấm!
Huệ nói:
- Ơn trời đất được thấy Chúa công khoẻ, thiếp mừng lắm. Mấy hôm trước, Chúa thường se mình, thiếp sợ quá.
Chúa cười vui:
- Ta biết Phi hết lòng với ta trong lúc ốm đau. Tự tay nếm thuốc, nếm thức ăn... Có lúc lại đích thân nấu những thứ ta thích cho ta ăn... Còn ta thì mơ mơ màng màng, lúc nào cũng phải nắm tay phi mới khỏi sa vào mộng mị...
Huệ nói:
- Tạ ơn Chúa thượng. Hôm nay người khoẻ hơn mấy hôm trước nhiều. Đó là hồng phúc lớn của thiên hạ.
Chúa ôm lấy người Huệ dẫn đi, lòng đầy ưu ái. Huệ nói:
- Trong lúc Chúa ốm, Quận Huy một mình cáng đáng những việc vượt quá cả sức, cả chức của mình.
Câu gợi ý khá sắc sảo, khiến Chúa không thể bỏ qua. Trịnh Sâm hỏi:
- Việc gì vậy?
- Chúa không được khoẻ, thần thiếp không dám nói.
Chúa cau mày, bảo:
- Việc hệ trọng thì phải nói thì mới lo liệu được chứ.
Huệ chỉ chờ có thế, liền tâu luôn:
- Mọi việc Quận Huy đã nắm kỹ. Thiếp là đàn bà, bởi hết lòng yêu và thờ Chúa, nên chỉ mách lẻo thế thôi...
Chúa đi chơi với Tuyên Phi về cho gọi Quận Huy đến ngay.
Nghe Chúa gọi, Quận Huy vội thủ trong tay áo tờ khiếu tố của Huy Bá. Chúa đang bực vì mình mới ốm có dăm bữa, nửa tháng mà triều đình đã lập tức bè nọ, cánh kia. Chưa biết bè nào, cánh nào dám dính vào tội tày trời này. Chúa sốt ruột mong Quận Huy tới. Thấy Huy, liền hỏi:
- Tuyên Phi nói ông biết điều gì đó rất hệ trọng, có đúng không?
Quận Huy vội thưa:
- Thần thì, Chúa công bệnh tình rất nặng, nay mới đỡ, nên không dám kinh động, vả lại, với đám quân Trung Nhuệ trong tay, thần tin là còn có thể lo liệu được, nếu như đám loạn thần dám giở trò điều kia khác...
Thấy Quận Huy hết lòng với mình, Chúa dịu giọng:
- Việc quan trọng thế cơ à?
Quận Huy liền đưa tờ sớ tố cáo Thế tử, Hồng Lĩnh hầu Nguyễn Khản, Tuân Sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân và một số người khác nữa...
Chúa xem, mặt dần dần đỏ, cơn tức giận không kìm lại được, nói to lên rằng:
- Thằng Tông là con ta mà dám láo thế à? Tuân Sinh hầu là thầy ta. Nguyễn Khản là bầy tôi yêu cũng là bạn học thời bé của ta, nay lại đổ đốn hết như thế này hử!
Quận Huy im lặng không nói gì. Thấy Chúa to tiếng, Tuyên Phi đứng bên ngoài rèm, vẫn đang chú ý theo dõi, liền vội chạy vào, đỡ lấy Chúa đến ngồi ở giường đệm. Giọng của Huệ rất mềm mại:
- Đấy, Chúa Công lại tức giận rồi, Chúa ốm thập tử nhất sinh, nay mới được thế này là mừng lắm rồi... Xin Chúa cứ để việc triều chính cho các quan đại thần.
Trịnh Sâm nói:
- Bỏ mặc làm sao được. Những ngươi ta tín cẩn nhất đều phò tá thằng Tông, không ai nghĩ đến ta cả. Đến cả cái lão Khê Trung hầu, theo hầu ta từ lúc ta còn ở phủ Thế tử, cũng lại ngả về Thái hậu và thằng Tông. Mầm mống bạo loạn đều ở thằng con ngỗ ngược này. Ta phải trị nó mới được.
Quận Huy vội can:
- Thế tử đâu có lỗi, song nếu như Hồng Lĩnh hầu và Tuân Sinh hầu, hai viên trấn thủ ở sát nách kinh thành không chủ trương hoặc xúi bảy, thì cái đám nha lại, tay chân của Thế tử như Thế Thọ, Sơn Thọ, Đàm Xuân Thu, vía cũng không dám thóc thách. Binh quyền của Nguyễn Khản và Nguyễn Khắc Tuân vẫn còn nguyên. Chúa công giận trị tội Thế tử, tức là trị ngọn mà không trị gốc. Chi bằng cứ nghiễm nhiên như không. Hôm nào Chúa công khoẻ, nên ra coi chầu, vỗ về mọi người, nhắc nhở qua loa công việc. Thế tử thấy thế ắt cũng phải lo tẩu tán đám người và binh sĩ định làm loạn. Bấy giờ Chúa sẽ cho đòi Nguyễn Khản, Nguyễn Khắc Tuân về thành, giam trong phủ, trừng trị cả một bọn, có thể mói dẹp yên được hậu hoạn.
Trịnh Sâm cho thế là phải, càng tin cẩn Quận Huy, có biết đâu Huy mượn gió bẻ măng, trị hai người trước đây từng điều mình về triều đình hại, nhằm triệt bớt uy thế của dòng họ Hoàng vốn là công thần mấy đời của nhà Trịnh.
Bữa ấy, về nhà, Quận Huy đắc ý lắm, liền gọi Công chúa họ Trịnh đến, hai vợ chồng ăn cơm riêng hàn huyên đến tận khuya.
Quận Huy nói:
- Công chúa bây giờ đã hết lo chưa?
Vốn là người đôn hậu, Trịnh Công chúa nói:
- Vợ lo cho chồng, chồng lo cho vợ, biết đến bao giờ cho hết. Em lo cho phu tướng là công việc hàng ngày. Chỉ khi nào phu tướng về đến nhà, thấy nét mặt tươi tỉnh như hôm nay, em mói cười lên được.
Quận Huy ôm lấy vợ và nói:
- Công chúa vẫn lo thế kia à?
- Làm sao không lo được. Khi phu tướng đặt chân về kinh thành, quân hầu đày tớ xớn xác, lúc nào mắt cũng hướng về cổng trước và cổng sau, nơm nớp sợ triều đình đem quan quân đến nhà làm điều quá quắt. Lại khi sang nhờ cậy Thế tử, bòn hết của nả, bán cả đồ tư trang mới được trăm lạng vàng và ít đồ quý, vậy mà đồ biếu bị trả về. Thế lực của Thế tử cũng nghiêng triều. Họ Trịnh nhà em, cứ ngành trưởng, ngành thứ, con lớn, con bé lúc nào cũng ngòm ngòm nhìn vào ngôi Chúa... Những lúc ấy, bên ngoài vẫn tươi cười, vẫn lụa là, nhưng thân là Công chúa, mệnh phụ của Quận công, nhưng trong lòng thì sợ hãi hơn cả đứa cùng đinh hết gạo, người ốm kinh gió mạnh.
Quận Huy vỗ vỗ vào lưng vợ cười nói:
- Ta có người vợ hiền lại là cành vàng lá ngọc thế này thì lo việc lớn không thành. Nhưng đại hạn qua rồi, Công chúa không phải lo nữa...
Liền đem hết chuyện nói cho Công chúa nghe, rồi cười đắc ý hỏi:
- Xoay chuyển được tình thế này, ta cũng nhờ vào tay Công chúa đấy.
Công chúa nói:
- Em chỉ là người lo xin ở cửa sau thôi, nếu tướng công không có tài, thì đâu được như thế này.
Quận Huy hết sức chiều chuộng vợ, song Công chúa hết lo khuynh gia bại sản về chồng nắm quyền binh uy lực lớn khiến nhiều kẻ muốn triệt hạ, nay lại lo chồng liền kề bên người đẹp Tuyên Phi. Mà Quận Huy cũng vốn là một người hiếu sắc.
Quận Huy thấy vợ không được vui, liền hỏi:
- Công chúa có điều gì chưa đắc ý?
- Ồ không, tướng công, lo toan của đàn bà thì biết bao giờ cho hết...
Huy ranh mãnh nhìn Công chúa mỉm cười:
- Tao khang chi thê bất khả hạ đường(1), huống chi Công chúa còn là ân nhân của ta...
 
*
*          *
 
Ngô Thì Nhậm biết chuyện của Sơn Thọ thì sửng sốt vội chạy sang dinh của Nguyễn Khắc Tuân.
Nhậm hỏi:
- Tôi nghe nói, có việc của phủ Thế Tử quan trọng lắm, có phải không, đại quan?
Tuân Sinh hầu làm như không biết:
- Chuyện gì vậy hở quan Đốc đồng?
Ngô Thì Nhậm thấy Tuân Sinh hầu cố giấu mình nên nó toẹt luôn ra:
- Sơn Thọ sang chỗ tôi, có nói phủ Thế tử nhân khi Chúa ốm, sợ Quận Huy liên kết với Tuyên Phi, nên bàn sắm sửa vũ khí định cùng hai trấn kéo về Thăng Long khi Chúa băng hà... Thọ nói đã trình với quan lớn rồi.
Tuân Sinh hầu biết là Thọ có nói chuyện kín với Ngô Thì Nhậm, liền hỏi:
- Ý ông thế nào?
Nhậm nói:
- Thế Tử quá sợ ngôi Chúa về tay Trịnh Cán, nên mới cố tình làm thế. Hơn nữa Quận Huy hiệu quân ở bốn trấn, thì Sơn Nam, hắn đã từng quen thân, Hải Đông thì quân biển mạnh, quân kỵ yếu, lại là chỗ tôi đã từng ngồi lo việc hiến sát, bạn bè tôi bên ấy cũng đông, hắn cũng không lo tuy cũng ngại. Chỉ còn trấn Sơn Tây là Hồng Lĩnh hầu và trấn Kinh Bắc ta, là chỗ đáng gờm của Quận Huy. Thế tử nôn nóng, việc mà lộ ra thì có khác gì chui đầu vào rọ.
Tuân Sinh hầu không thích Nhậm, cho là Nhậm hậu học lại thích bàn chuyện lớn, liền im lặng không nói gì. Nhậm ra sức thuyết phục, phân trần:
- Thế tử dù không được Chúa yêu, nhưng được Thái hậu và các đại thần nhiệt thành bảo trợ. Ngôi Chúa trước sau cũng về ông ta. Vả lại, cần đừng làm cho Chúa phật ý trong lúc này. Quan lớn và Hồng Lĩnh hầu được Chúa thượng giao cho bù trì cho Thế tử, giả như, Chúa có mệnh hệ nào thì vẫn lo toan đem nước thuộc về cho Ngài. Vậy mà Thế tử lại nghe mấy đứa hầu, xúi bảy, nôn nóng... Chúa thượng là người sáng suốt, dù đang bệnh, được tin này, cũng đủ nóng giận, lúc ấy Quận Huy và Đặng Thị Huệ hầu bên màn trướng lựa gió, bẻ măng thì làm sao giữ nổi thân, xin quan lớn hãy minh xét.
Tuân Sinh hầu nói:
- Ông là tuỳ giảng cho Thế tử, Sơn Thọ hẳn cũng nhắn gửi điều gì đó...
Ngô Thì Nhậm nói:
- Hắn định trao tiền cho tôi, bảo tôi cử người lên Lạng Sơn mua ngựa cho Thế tử, Đặng Mậu Lân vào việc binh biến. Tôi làm sao giúp được việc ấy...
Tuân Sinh hầu thấy Nhậm có vẻ vẫn còn rất trọng Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, ý tứ khác hẳn mình, liền nói:
- Trấn thủ một trấn, tôi và ông chỉ biết làm tròn phận sự trong trấn của mình. Có lẽ thế là hơn cả!
Nói đoạn đứng dậy gọi lính đem ngựa để đi xuống các phủ huyện.
Mấy ngày sau, có lệnh từ phủ Chúa đòi Nguyễn Khắc Tuân và Ngô Thì Nhậm phải về phủ Chúa ngay.
Tuân Sinh hầu chột dạ, nhưng cũng vội lên kiệu về kinh thành.
Tới phủ Chúa, đến nhà Tả Xuyên, Nguyễn Khắc Tuân thấy thầy học của Thế tử là Hồng Lĩnh hầu Nguyễn Khản, quan A bảo cho Thế Tử là Hân Quận Công Nguyễn Dĩnh cũng ngồi cả đấy. Nguyễn Khắc Tuân thấy phải được ra mắt Chúa để giãi bầy gan ruột của mình. Cái đám cận thần của Thế tử nhìn nhau, lặng im như thóc. Tuân biết sự việc lành ít dữ nhiều, liền đi thẳng vào điếm Quyển Bồng, nơi Chúa ngồi xét các việc của các đại thần tâu xin. Tuân khẩn khoản xin được gặp Chúa. Bọn người hầu nể Tuân bẩm vào. Một lúc sau, từ nơi Chúa ngồi, Quyết Trung Hầu ra, nói to cho mọi người nghe rằng:
- Chúa truyền cho Tuân Sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân rằng: Ông ta và Thế tử muốn chống lại Chúa thì cứ sắp sẵn binh mã, Chúa sẽ cho người ra đối địch.
Tự nhiên đầu gối của Tuân Sinh hầu run bắn lên. Hầu lảo đảo bước ra, gặp Ngô Thì Nhậm ở Tiểu Bút điếm. Nhậm cũng đang được các quan trong Nội Mật Viện mời vào hỏi chuyện. Thấy nét mặt của Nhậm bình thản, biết là Nhậm đã nói những diễn biến gần đây ở Kinh Bắc cho họ. Tuân Sinh hầu nói:
- Ông liệu có bị liên lụy gì với tôi chăng?
- Thì tôi đã chẳng khuyên ông đừng dại mà manh động cùng Thế tử ư?
Tuân cúi đầu không nói gì, buồn bã đi về nhà... Nguyễn Khản, Nguyễn Khắc Tuân chờ Chúa gọi, đến bốn năm ngày vẫn chưa thấy động tĩnh. Thấy Nhậm là người được để ra ngoài vụ án, Nguyễn Khản nói chuyện Khắc Tuân mới rõ. Lại nghe nói Ngô Thì Nhậm được Phủ Bồi tụng bảo phải làm rõ việc Thế tử cùng với Hồng Lĩnh hầu và Tuân Sinh hầu mưu loạn, liền sang gặp Thì Nhậm, có ý bảo Nhậm viết sao cho khéo để họ nhẹ tội hơn. Nể lòng vì là những bậc làm quan đồng triều với cha mình, Nhậm nói, trong tờ khải lên Chúa, Nhậm sẽ đổ cho bọn tôi tớ liên kết với đám hầu cận của Chúa là Thẩm Thọ, Sơn Thọ và Đàm Xuân Thu. Hai tước hầu mừng rỡ ra về... Nhưng sau khi tờ khai của Nhậm dâng lên, Chúa lập tức giận dữ... Rồi Chúa lại đích danh sai Ngô Thì Nhậm cùng một số người khác phải đích thân tra xét vụ này... Do đó, Kinh thành đồn ầm lên rằng Ngô Thì Nhậm lừa thầy phản bạn. Ngô Thì Sĩ đang ốm nặng ở trấn Lạng Sơn, được người nhà lên mách, lòng rất buồn bực. Ông nửa tin nửa ngờ. Ông rất biết cái nết thích hơn người, ham hố chức quyền của con... Một đời ông lấy tài ra thờ Chúa, giúp nước; được hai đời Chúa yêu từ lúc còn là học trò mới đỗ đạt, lên voi xuống chó cũng nhiều, cuối cùng cũng tìm được cách sông. Đó là, cứ tài mà làm, cứ việc trên bảo mà làm cho tốt. Đừng mộng đại thần, tể tướng, sai khiến trăm quan mà làm gì... Nhậm hình như cách tiến thân lại khác hẳn cha. Nhậm cho rằng, tài lớn phải được thi thố, phải tìm cho được người dùng mình. Có lẽ Nhậm muốn Chúa chú ý đến mình mà dấn sâu vào vụ mưu loạn của Thế Tử thế này để mang tiếng cho cả dòng họ Ngô ở Tả Thanh Oai..., Sĩ còn mặt nào mà trông thấy bạn bè nữa...
Nhậm vẫn chưa lên hầu cha được. Sĩ bệnh nặng lại thêm bị bệnh uất đến bất thần, mặt đỏ nhừ, thổ huyết ra mà chết.
Nhậm được các anh em ruột bàn, dâng sớ về cư tang cha, không dính vào xét xử vụ án nữa. Do đó, Nghĩa Phái Hầu Lê Quý Đôn mới bắt tay vào tra xét. Mấy tháng sau, án mới định, và dâng lên Chúa xem...
Nghĩa Phái Hầu Lê Quý Đôn trình Chúa tất cả sự tình của vụ án, nêu rõ tội trạng từng người. Chúa cho gọi Quận Huy, Quận Hoàng, Quận Khanh, Quận Châu, Quận Điểm, Tứ Xuyên hầu và Thuỳ Trung hầu đến dự, đọc cho hết tội trạng của Trịnh Tông mưu biến, rồi ứa nước mắt nói với họ rằng:
- Làm cha không ai nỡ chém con, làm Chúa không ai nỡ bỏ cận thần tin cẩn. Nay thằng con cả của ta hám ngôi Chúa, các đại thần tin cẩn lúc nào cũng ở bên ta bàn bạc việc lớn, việc nhỏ, ơn lộc dồi dào lại quay ra phản ta. Vậy thằng Tông, Nguyễn Khải, Nguyễn Khắc Tuân, Nguyễn Dĩnh và một lũ hèn mọn ấy, tội trạng ra sao, các ông hãy nghị tội chúng nó. Ta chờ ý kiến các ông.
Nói rồi, quay về phủ Chúa. Đến chiều, Nghĩa Phái Hầu Lê Quý Đôn, đến dâng bản nghị tội của các đại thần. Lời lẽ khá sắc bén:
“Trịnh Tông là con đích, Chúa thượng ra sức yêu thương, bù trì gây dựng cho từ khi trứng nước, lòng tham, chí đoản, mê muội làm càn. Rắp binh khí, liên kết với thầy học để mưu chuyện đại nghịch, tội ác bạo thiên nghịch địa, không thể tha thứ, nên xử trảm để nêu lời răn cho kẻ bất hiếu.
Tuân Sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân, Hồng Lĩnh hầu Nguyễn Khản, nối đời ăn lộc Chúa, người được Chúa quý trọng khác thường, tước lộc đứng đầu trăm quan, nay lại đem lòng phản phúc, liên kết với đứa con ác, quên nghĩa lớn thờ Chúa xưa... Việc ấy ở người thức giả không thể cho là tội nhẹ được, cũng dự vào tội chết chém.
Hân quận công, làm đến chức A bảo cho Chúa thượng, lại được giao tiếp dạy dỗ thái tử, đáng lý biết việc xấu phải can, can không được phải tố cáo. Nay cứ im lìm không nói, tảng lờ như không biết. Vậy thì lòng trung ở đâu? Tội chết rành rành, nhưng là thầy học cũ, nên cho tam ban điển lệ...”
Chúa xét tội trạng, cầm bút, mắm miệng ghìm cả cơn bực, cơn đau, phê rằng:
“Ta đọc kỹ lời bàn của các đại thần, xem nghĩa sách từ Kinh Xuân Thu, thì đứa con ác Trịnh Tông, phải trị thật nặng. Nhưng tình cha con ruột thịt, lòng ta đau như cắt, mở lượng hải hà, truất ngôi trưởng xuống làm con thứ. Tên Tông phải biết tội, suốt đời lo tròn đạo làm tôi.
Nguyễn Khắc Tuân, Nguyễn Khản, vốn là những người biết chữ Thánh hiền, tam cương, ngũ thường không nhớ, giúp ác hành ác, trở giáo định làm loạn triều đình, tội ấy tha làm sao được. Nhưng nghĩ Tuân là người hầu hạ từ nhỏ, Khản là bạn học cũ từ xưa, hai đời đã thờ họ Trịnh, ta cho tự liệu định lấy.
Khê Trung hầu hầu bên màn trướng, ân sủng đặc biệt không riêng gì cho hắn, mà cho cả gia tộc ở làng. Tước có, đất phong có, sau lại nối giáo cho giặc. Tội cũng tự liệu.
Riêng a bảo Hân Quận Công Nguyễn Dĩnh, trải thờ hai triều, từng là thầy học của ta, biết mưu đại nghịch, nhưng không tham dự vào. Xét tính thật thà, nhút nhát, châm chước tội hình, tha tội chết, lột tuột chức tước, đuổi về quê quán làm dân thường...”.
Lệnh ban xuống, Khê Trung Hầu, Tuân Sinh Hầu biết có sống cũng chẳng ra người liền uống thuốc độc tự tử. Hân quận Công bị tịch biên gia sản, quân hầu, đầy tớ tản mát hết, mặc áo vải thô, đi chân đất, rũ rượi bước ra khỏi dinh thự nguy nga ở ngay kề phủ Chúa...
Hồng Lĩnh hầu trốn biệt đi đâu không rõ. Bọn Sơn Thọ, Thẩm Thọ, Đàm Xuân Thu... đều bị chém và bêu đầu ngay trước cổng thành...
Có viên thư lại của Nguyễn Khắc Tuân, khảo tra rất đau, vẫn gan góc không chịu nhận, biết rõ lòng dạ và oan ức của Tuân... nhưng Nghĩa Phái hầu Lê Quý Đôn cũng cứ ghép vào tội tử hình. Khi lôi ra y uống rượu rồi đập vò nói lớn:
- Ta can dự gì vào việc này mà bị đến tội chết. Trời không có mắt. Đất này không có quan rồi. Mù hết. Câm hết. Điếc hết rồi.
Rồi viết một bài thơ:
“Không tội cớ sao mà chết chém.
Trời không có mắt, đất không quan.
Một thằng gian nịnh, một con đĩ,
Lật ngửa bàn cờ, nhạo thế gian”.
Và giơ ngọn bút trước mặt lũ đao phủ:
- Ta chết oan, ta giắt ngọn bút này, dương thế không có Bao Công thì ta đi kiện Diêm Vương vậy.
Ai nghe thấy cũng phải nuốt nước mắt vào trong.
Huy Quận Công thấy Tuân Sinh Hầu, Khê Trung Hầu đã chết, Hân quận Công đã mất sạch chức tước, Hồng Lĩnh hầu trốn lủi như chó cụp đuôi, trong lòng rất đắc ý.
Gặp Tuyên Phi Đặng Thị Huệ, y nói:
- Bây giờ Chính phi đã có thể ăn ngon ngủ yên rồi. Phe cánh Trịnh Tông thực sự đã bị vặt gần trụi…
Tuyên Phi vỗ về:
- Công lao của ông sẽ được bù đắp đích đáng, chỉ sợ ông không hết lòng với mẹ con ta thôi!



(1) Người vợ trong lúc hàn vi, thì không thể bỏ được.
 


 
0

6

 
Đặng Mậu Lân từ ngày theo chị lên Kinh thành, đều lấy ăn chơi làm sở thích... Lân đòi chị cho ở nhà riêng. Có thứ gì quý của chị cũng tìm cách chiếm riêng mà đem bán đổ, bán tháo để tiêu xài.
Từ khi Đặng Thị Huệ được Trịnh Sâm sủng ái, Mậu Lân càng trở thành nơi tụ tập của bọn đầu trâu, mặt ngựa. Nhiều tay giang hồ tứ chiếng theo Lân dạo chơi ở những ca quán giữa kinh thành, những lễ hội ở các vùng có nhiều gái đẹp. Chúng hống hách khi đến, phá phách khi ở, hăm doạ khi đi, chỗ nào cũng khó chịu. Có chỗ bô lão, hào lý uất ức bảo nhau đem đơn lên quan phủ, quan huyện. Xem đơn tố cáo xong, quan nào cũng đưa mắt nhìn nhau, vỗ về những người lương thiện vài câu rồi bỏ đấy. Bởi ai dám động đến Cậu Trời.
Mậu Lân được đám ăn chơi tôn làm Cậu Trời, khoái chí lắm, càng tỏ ra mình là một kẻ hào hoa, một tay chơi có hạng, một em vợ yêu của Chúa...
Tuy chẳng được phong phẩm hàm chức tước gì, song Mậu Lân cho xây nhà to hơn cả phủ Tham Tụng, cổng lớn nghênh ngang gần bằng cổng các cung điện của hoàng thành. Bọn thợ xây dựng lại khéo nịnh, muốn bày vẽ cho Lân thứ gì, Cậu Trời cũng nghe theo. Lân chơi bời lêu lổng, từ sáng đến tối, suốt ngày ở ngoài đường, thế mà trong nhà cũng có lầu đọc sách, lầu bình thơ, lầu xem sóng, lầu ngắm trăng... Trong phủ của Cậu Trời có cả một sân khấu riêng như cung vua phủ Chúa... Đêm nào ăn chơi ở ngoài Hoàng thành thì thôi, đêm nào đem gái đẹp về nhà, Lân thường cởi trần, mặc quần ngủ, ngồi ôm người đẹp, sờ nắn hôn hít làm nhiều trò bỉ ổi ngay trước đám lâu la, hầu hạ... Chúng được Lân cho ăn uống ngả ngốn. Đoàn hát nào được Lân mời, cũng sợ khiếp vía. Bởi có ca nữ mới tuyển, xinh đẹp, trinh trắng, Cậu Trời mới cho gọi đến diễn cho Cậu xem. Cậu nhìn, Cậu ngắm, Cậu cười, Cậu thưởng, có lúc đang tích tuồng diễn dở, Cậu cho tắt đèn, đến kéo ca nữ lột quần áo vào màn trướng mà thoả thích, rồi lại bắt diễn tiếp. Những gánh hát, gánh tuồng tử tế, đều tránh mặt Cậu Trời. Nhưng có những đoàn do ma cô làm chủ gánh, thì tập tành qua loa, săn lùng gái đẹp, đến xin hát ở phủ, để lấy tiền thuê, tiền thưởng cho nhiều. Hát thì ít, trò tiêu khiển, vầy hoa, ngủ nghê thì nhiều. Cậu Trời cứ khoảng vài tuần lại cho đầy tớ đến gọi.
Lân tìm những loại thuốc bổ dưỡng, những lộc hươu, cao hổ để uống... Người lúc nào cũng bừng bừng thú tính. Y chọn những cây thuốc kích dục, cường dương, uống tiết chim sẻ, ăn cà sơn dương, suốt ngày đi lùng gái ở kinh thành... Y tự làm bài hát, hát nghêu ngao, hoặc bắt các ca nữ hát, lời dung tục, nhảm nhí...
Lân chọn vài chục tên hầu cận, tên nào cũng lực lưỡng, khoẻ mạnh, giỏi võ. Chúng như làn gió đen thổi dọc kinh thành... Vô phúc cho cô gái nào dù con nhà tử tế hoặc con nhà thứ dân, thấy ngon mắt, hoặc lúc cơn thú tính bốc lên, Cậu Trời cho lính bắt lấy, quây màn ở ngay cạnh đường mà thoả mãn dục tính. Rồi vứt tiền lên thân thể loã lồ mà đi...
Có một cô gái quê xinh đẹp, khoẻ mạnh, lòng đầy mơ ước lấy một thầy khoá học giỏi ở làng, đi bán cá ở chợ Cửa Nam, bị Lân để ý, theo đến Hàng Cỏ thì cho lính chặn lại... Cô gái đặt gánh cá xuống. Lân xông đến, cô cầm đòn gánh, phang vào đầu Lân, Lân tránh được, cười hề hề, xông đến định ôm lấy, lôi vào màn riêng bọn lân la đang căng để hãm hiếp. Cô gái không biết làm thế nào, dãy đạp không nổi, giả vờ mệt quá để chiều Lân. Đến lúc Lân cởi quần áo để hành sự thì cô vùng dậy, lấy tay bóp nghiến hạ bộ, lấy răng cắn vào mũi của Lân, Lân kêu thét lên. Bọn thủ hạ phải xông đến cứu Lân mới thoát.
Lân uất quá, rút dao, xẻo hai vú rồi bỏ lại bên hè... Cô gái đau đớn quằn quại mãi, được người cứu chữa cho về nhà, sau xấu hổ, lại thắt cổ tự tử...
Tội tày trời của Lân trong kinh thành ai cũng chau mày, nghiến răng tức tối, nhưng không ai làm gì nổi. Quan trấn thành, nhiều lần, do áp lực của dân chúng, cho bắt Lân đến hỏi tội, nhưng ít phút sau, có người của phủ Chúa đến đưa giấy riêng, lại mở cửa ngục tha Cậu Trời về. Mậu Lân càng đắc ý, không coi ai ra gì cả...
Đặng Thị Huệ thấy em chơi bời hư hỏng liền gọi đến hỏi chuyện. Trước mặt chị, Mậu Lân lại làm ra vẻ điềm đạm chín chắn. Những điều Tuyên Phi hạch hỏi, Mậu Lân đều tìm cách lấy lòng chị, mà để Huệ bỏ qua cho.
Đặng Thị Huệ nghe được chuyện hiếp cô gái ở Hàng Cỏ, giận em, hỏi:
- Con gái nhà lành của người ta đi ở đường, sao mày dám bắt hiếp trước mặt mọi người. Mày định bôi nhọ mặt chị đấy phải không?
Mậu Lân gãi đầu cãi:
- Thưa chị, em đâu có dám hư đốn đến như thế. Nhưng quả tình, cái máu huê tình của dân vùng mình nó thế. Chị ơi, hội tắt đèn hàng năm chỉ có một buổi công khai, chứ hội tắt đèn ngầm, thì con trai, con gái Kinh Bắc, lúc nào chẳng có... Con bé mới xinh đẹp làm sao, trông cứ ngồn ngộn. Em thì đang say rượu, cũng bả lả một tý. Nhưng nó lăng loàn, dám cầm đòn gánh đánh Cậu Trời, lại dùng răng cắn vào mặt em... Em phải cho bọn đàn em của em trị cho nó chứ...
Huệ thấy em nó vậy cũng cho qua, mắng mỏ mấy câu rồi nói:
- Chị thấy cậu lêu lổng mãi rồi, cũng nên tu tỉnh lại. Cũng nên kiếm cho Cậu một người vợ tử tế để kiềm chế Cậu... Mà Cậu cũng phải học hành thi cử rồi còn giành lấy tước hầu, tước công chứ...
Mậu Lân gãi đầu nói:
- Công hầu suốt ngày phải lo hầu Chúa, hầu vua, em chỉ thích hầu các người đẹp thôi.
Đặng Thị Huệ bật cười rồi nói:
- Cái máu trai lơ của Cậu phải đem chích đi mới được...
Mậu Lân buột miệng nói:
- Thì chị cũng...
Nhưng Lân im ngay, thè lưỡi ra sợ hãi. Huệ thấy Lân vẫn loăng quăng sống thoải mái như hồi còn vất vả, chị em nương tựa lẫn nhau ở quê, nên không chấp. Cô nghĩ đến chuyện phải kèm cặp lo toan cho em, liền dịu dàng, thân mật bảo Lân:
- Em ơi, em thương chị, thương dòng họ, hãy tu chí lập nghiệp đi... Chơi bời, rượu chè, cờ bạc, lân la ở nơi ca quán chỉ hỏng người đi thôi. Nhân lúc ơn Chúa dành cho nhà ta, em hãy ghép mình dần vào khuôn phép. Chỉ cần em chỉn chu một tý, thì việc gì em muốn mà không được... Chị nghĩ, Cậu cần phải lập gia đình thôi, đường đường một nam nhi rồi đấy.
- Chị định đưa em về cửa nhà ai thế?
- Thì cũng phải là nhà công hầu, khanh tướng chứ!
- Muốn gì thì gì, vợ em phải đẹp nghiêng nước nghiêng thành!
- Được rồi, đồ háo sắc, tao sẽ kiếm cho mày một đứa con gái đẹp nhưng nghèo rớt mồng tơi.
Lân cười khanh khách:
- Em chẳng sợ, vợ em nghèo, như có chị làm, chính phi của Chúa, thứ gì mà em chẳng có...
 
0

7

 
Quận Huy triệt hạ được Nguyễn Khản, Tuân Sinh Hầu, Khê Trung Hầu, a bảo Hân Quận Công Nguyễn Dĩnh, rất đắc ý...
Bây giờ Huy ngồi trên đầu trăm quan, uy thế rất lớn. Huy lại luôn luôn luyện đám quân Trung Nhuệ rất tinh luyện, biến chúng như một thứ quân đặc nhiệm có thể đương đầu với tất cả các đạo quân bảo vệ hoàng cung. Mặt khác, Huy thay được dần những viên chỉ huy tín cẩn của Chúa, bởi đã già nua, đưa vào những viên tướng trẻ của mình... Lại thải hết những quân lính ở tứ chiếng, ở kinh đô, lấy đa phần là người cùng quê với Chúa với mình để tuyển vào đạo quân thiện chiến của Kinh thành... Huy dùng Nghĩa Phái Hầu Lê Quý Đôn vào đến chức Bồi tụng, rồi lại tâu Chúa chuyển ra ngoài biến trấn đất Quảng để vỗ về thiên hạ, thu phục lòng dân, chỉ giữ lại triều những viên quan văn để sai khiến an phận thủ thường, việc võ biền phó mặc mấy vị quận công.
Quyền uy của Huy bây giờ rất lớn - Chỉ có Quận Huy mới được ở bên cạnh Chúa, tâu gì Chúa cũng nghe, xin gì Chúa cũng cho.
Trịnh Sâm lại yêu quý Tuyên Phi Đặng Thị Huệ, do đó, ngoài triều Quận Huy thiết kế, nội cung Tuyên Phi xui xiểm, việc gì mà không thành. Lúc ấy, phía Nam, quyền thần Trương Phúc Loan cũng lấn át Chúa Nguyễn. Tây Sơn ở Bình Định đã nổi dậy, quân Trịnh đã lấy được Phú Xuân, vượt Hải Vân lấy đất Quảng Nam, lập ra viễn châu Thuận - Quảng. Đất đai của nhà Trịnh được rộng mở. Chúa càng cho rằng huân nghiệp của mình rạng rỡ. Chúa biết Huy là kẻ trong triều đình khiển được trăm quan, cử ra biên trấn có thể thành tướng giỏi, lại tin mình điều khiển được Quận Huy, là ân nhân của Quận Huy. Huy chỉ có phò mình và Thị Huệ thì mới thành người, mới giàu sang phú quý, do đó Huy phải cúc cung tận tụy với mình...
Đặng Thị Huệ từ khi dựa vào Quận Huy, thì càng tin rằng mình là người có thể làm tất cả. Huệ càng ra sức giữ sắc đẹp, càng hết lòng nâng giấc, chiều chuộng đón ý Chúa. Trận ốm lớn của Chúa, Huệ tự tay chăm lo bên màn trướng, tự tay nâng nằm, nâng dậy, nếm thuốc mới, tự tay bón thuốc, nếm canh, tự tay cơm cháo cho Chúa. Mỗi lúc Chúa tỉnh, Huệ lấy hơi ấm của mình để phục hồi sức sống cho Chúa, tìm lấy những lời nói vui, đẹp ý Chúa, để Chúa vui, cười, ăn dần, ngủ dần, đến hồi phục, thoát được trận ốm lớn, tưởng không qua khỏi.
Huệ lại tự tay giặt giũ, trông nom giường cứt, chiếu đái, đến nỗi đám cung tần, thị tỳ đều thấy rõ Huệ yêu thương Chúa thật lòng, không chối cãi nổi...
Khi Trịnh Sâm khỏi, biết hết chuyện, thấy Huệ ngày đêm chăm lo cho mình, nên lại càng yêu hơn. Riêng mấy bà phi thì mỗi người nghĩ một kiểu.
Nguyên Phi Dương Ngọc Hoan, sau con mình là Thế Tử Trịnh Tông bị phế truất, lòng còn đầy uất ức. Bà lo toan héo hắt, suốt ngày hầu hạ Thái Hậu. Cũng may Thánh Mẫu là người thuần hậu, biết Nguyên phi là người đức hạnh, hiền thục, do đó mới bảo trì cho cả hai mẹ con không đến nỗi bị lâm vào nạn lớn, thậm chí phải tội chết hay giam vào ngục tối.
Nguyên phi một lòng thờ Chúa, không một chút oán giận, chỉ biết khóc thầm. Nhưng nàng Ngọc Khoan và Trần Thị Lộc thì oán Chúa và tức Đặng Thị Huệ ra mặt. Họ thường rủa thầm, oán sâu chỉ mong Huệ gặp nạn, thất sủng mới hả những nỗi cô quạnh, bị ruồng bỏ bởi Chúa, từ khi Huệ được sủng ái...
Những điều kín đáo nhất, Thị Huệ đoán biết được cả. Nhưng Tuyên Phi rất khôn ngoan. Những buổi Chúa bận coi chầu, Đặng Thị Huệ thường đến vấn an Thánh mẫu, mẹ Trịnh Sâm, sang thăm hỏi Nguyên phi và các bà chính, thứ phi khác, đem những lụa là, gấm vóc tặng cho họ, lại cho đến cả cung nữ yêu của họ... Ai cũng biết Huệ giảo hoạt, chứ trong bụng chẳng quý hoá gì mình, nhưng bên ngoài vẫn phải ân cần giữ lễ và giữ hoà khí với Huệ.
Riêng Thánh Mẫu, thì căm ghét Huệ hết mức, thường nói với người thân của mình rằng:
- Từ ngày con yêu nghiệt ấy vào cung, làm đảo lộn cả triều chính. Chúa mê muội, đắm đuối vào nó, định phế trưởng lập thứ. Lại ruồng bỏ, đàn áp các cựu thần, thiên về dùng Quận Huy, ta còn sống ngày nào, quyết phải chặn đứng mưu mô giảo trá của yêu nữ này mới được.
Do đó, việc Trịnh Tông, dự trữ lực lượng, định khi Chúa có mệnh hệ nào, thì giành lấy ngôi Chúa, Thánh Mẫu biết, không ngăn cản, cũng không tố giác, cũng mong triệt hạ được vây cánh của Đặng Thị Huệ và Quận Huy mà thôi.
Tuyên Phi một buổi vào hầu Chúa, thấy Chúa rất vui liền nói:
- Huệ này được Chúa yêu thương, ơn kết cỏ ngậm vành cũng không báo được. Lòng chỉ mong sao giúp Chúa giữ vững ngôi bảo tộ, trị dân, mở nước, huân nghiệp sáng ngòi. Nhưng, cũng biết rằng, đã có người yêu thì thế nào cũng có kẻ ghét. Nhất là Huệ lại giành hết những phần trước đây họ được hưởng.
Chúa hỏi:
- Phần của phi được là do phi có. Phi đẹp lại hết lòng thờ phụng ta. Ta yêu phi. Yêu là điều dễ có ở cung đình đâu... Ta thấy vua Chúa bởi nhiều quyền, nhiều của, muốn ai cũng được, đòi gì có nấy. Họ nào có biết tìm lấy một người yêu đích thực cho mình. Ta khác họ, ta đi tìm lấy người yêu cho mình, dù rằng, có những ngươi đẹp cha mẹ cưới cho hoặc quần thần chọn về. Ai có thể ghen với em được.
- Tạ ơn Thánh thượng. Người con gái nghèo ở ven thành được Chúa sủng ái, thật đã quá lòng mong mỏi. Thần thiếp chỉ canh cánh một nỗi rằng, vì mình mà hậu cung của Chúa không yên ổn, thì trong lòng dù sung sướng ở bên Chúa cũng vô cùng áy náy. Huệ đã thực lòng đến với Thánh mẫu với các nguyên phi, thứ phi của Chúa, nhưng họ cho là Huệ giả dối, không thực bụng, nên Huệ không biết ứng xử như thế nào?
Chúa an ủi:
- Người đời thường chỉ biết nghĩ cho lợi riêng của mình. Chỉ mong em cứ thực lòng, để mọi người thấy rõ lòng trung hậu của mình là được.
Huệ thấy Chúa tin mình có lòng thành, liền nói:
- Thiếp muốn xin Chúa Thượng cho việc này nữa. Mậu Lân là em thiếp, tuổi đã trưởng thành. Tuy mang tiếng chơi bời, nhưng cũng vốn là nếp nho phong, lại rất thông minh lanh lợi.
Chúa nói vui:
- Mậu Lân tuấn tú đấy chứ. Sao vẫn chưa thấy đả động gì đến chuyện hôn nhân.
Huệ liền sụp lạy Chúa, rồi ôm lấy gối thưa ngay:
- Nếu được Chúa tác thành cho thì em thiếp mới nên người được.
Chúa ôm lấy Huệ, hôn lên mái tóc, âu yếm nói:
- Em muốn ta giúp gì nào. Nói ngay đi!
- Thiếp nghe thần phi được hai người con gái, một là Ngọc Thuyên đã gả cho Dương Trung hầu Bùi Thế Toại, con trai của Đoan quận Công Bùi Danh Đạt. Nếu được Chúa thượng rủ lòng thương thì xin Chúa ban ơn gả Công chúa thứ hai của thần phi là Ngọc Lan cho Đặng Mậu Lân?
- Gả Ngọc Lan cho Mậu Lân?
Chúa hỏi lại, Huệ hơi bị bất ngờ. Ngọc Lan là cô con gái Chúa rất thương yêu. Con gái lớn đã gả bán cho người ta rồi. Đạt lại ở tít trong xứ Nghệ, Chúa xót con gái lớn, không làm gì được, nên càng yêu con gái thứ hai. Mấy đứa con trai thì con cả là Trịnh Tông đã chẳng ra gì. Trịnh Cán thông minh, nhưng ốm đau quặt quẹo suốt. Ngọc Lan thuỳ mị, dịu dàng, yếu đuối, rất cần phải chăm chút. Chúa thương lắm! Nhưng gả Ngọc Lan phải chọn một chàng rể thế nào cho đáng mặt, chứ gả con cho Đặng Mậu Lân, đẹp trai thì có, nhưng tài cán tính nết nào có ra gì? Ngộ nó lại hành hạ con gái mình, thì cũng ăn năn suốt một đời với nó...
Chúa sững sờ, chưa quyết, Tuyên Phi liền nói mát:
- Hay là Chúa khinh chị em thiếp vốn là con nhà thường dân mà không gả... Thì, chị nó bây giờ cũng là ái phi rồi, nay mai Trịnh Cán được Chúa phù trì cho vào Phủ Thế tử, thì Mậu Lân sẽ cũng đường đường một vị quốc cữu, như thế Ngọc Lan không đủ vinh hoa hay sao.
Chúa im lặng không nói gì. Huệ dịu giọng đến bên Chúa, ôm lấy vai Chúa, nói:
- Chúa công là một bậc anh hùng hào kiệt ở đời. So với các đời Chúa trước, công lao rạng rỡ. Trong triều đầy những người tài giỏi. Biên trấn mở mang tận đến Thuận Quảng. Phương Bắc, Trung Hoa vì nể. Phía Tây, Trấn Ninh phải hàng năm triều cống rất nghiêm cẩn... Gần đây, phe cũ hư đốn, Chúa dùng Quận Huy, vỗ về bốn trấn, trọng dụng người tài. Việc nước như thế không ai trách cứ nổi. Nhưng từ ngày Chúa công yêu thần thiếp, thì các bà phi đều ghen tức hằn học. Nào thiếp có cướp chồng của ai. Nếu như Chúa yêu người nào đẹp thì ân huệ đâu có phải do Chúa cho ai là người ấy được. Họ do ganh ghét mà ra thôi. Do đó, thiếp xin Chúa công gả con cho Mậu Lân, cũng là mong làm cho mọi người thấy tấm lòng của thiếp biết phận mình ở trong cung, muốn bồi đắp việc ở hậu cung cho kiêm ái, hoà thuận... Như vậy, lẽ nào Chúa không nghĩ đến.
Trịnh Sâm thấy Huệ nói có lý, liền đến ngồi bên cạnh Tuyên Phi, thác giọng bị bất ngờ, ôn tồn nói:
- Tình nghĩa của phi ta rất biết. Thánh Mẫu và các quý phi của ta, biết ta yêu Tuyên phi, nhưng họ không chê trách nổi điều gì, cũng là do Tuyên phi khéo xử sự. Song việc này không đơn giản như việc thăm viếng, quà cáp. Vả lại, muốn gả con gái cho ai là quyền ta. Nhưng cũng phải để ta bẩm với Thánh Mẫu và nói cho Thần phi, mẹ của Ngọc Lan biết nữa chứ!
Biết Chúa nhận lời, Thị Huệ nũng nịu sà vào lòng Chúa:
- Em biết mà! Chúa chẳng bao giờ nỡ từ chối em.
Chúa tuy bên ngoài tỏ ra rất vui vẻ, nhưng trong bụng, vì ngại Tuyên phi phật ý, lại nghĩ, hi sinh cô con gái yêu mà êm thấm hậu cung, cũng là chuyện thường tình - Sâm nghĩ rằng mình còn nắm quyền, tất cũng chăm sóc lo liệu được cho con gái.
Ngay hôm ấy, Chúa tất tả đến thỉnh kiến Thánh Mẫu, mẹ đẻ ra Chúa, lại đến bàn với Nguyên phi và Thần phi. Thánh mẫu vẫn giận Huệ, quát lác thôi hồi, sau Chúa kiên nhẫn trình bày. Thần phi vốn hiền lành, thấy con mình được Thị Huệ chọn làm vợ cho em, hẳn là cũng được một đời giàu sang, không hơn là lấy một kẻ cứ lủi thủi ở biên trấn như con rể và con gái trưởng của bà, do đó, bà chỉ xin Trịnh Sâm để mắt mà hạn chế sự hung hãn ngỗ ngược của Đặng Mậu Lân.
Trịnh Sâm chấp nhận.
Còn nguyên phi Dương Ngọc Hoan, mẹ Thế Tử, thì Chúa Trịnh chỉ nói qua cho biết.
Chúa Trịnh đến thăm con gái. Ngọc Lan hồn nhiên chạy ra chào. Chúa choàng tay ôm con. Lòng Chúa se lại. Con gái của Chúa mảnh mai yếu đuối quá. Lan như một cành hoa đẹp đứng trước gió! Ở thâm cung, ngay sát kề phủ Chúa, Ngọc Lan thường mê mải đọc sách, chặm hoa, và cũng thường hay vãng cảnh chùa chiền danh thắng Công chúa tâm hồn mơ mộng, thích những sự thiêng liêng huyền ảo. Trong buồng khuê, cách bầy biện cũng tế nhị, thanh khiết. Màn trương màu trắng, bằng những hàng thêu ren của Ba Tư, Flô-răng-xơ, Chúa đều ban cho Công chúa cả...
Kỷ ngồi, án thư, Công chúa đều chọn màu thanh nhẹ, không thích màu vàng son chói lọi. Quần áo thường nhật, Ngọc Lan hay chọn màu da trời, màu trắng cho mùa hè, màu hạt dẻ, màu đỏ thắm cho mùa đông. Do đó, khác hẳn với các bà phi, các cung tần, mỹ nữ trong cung, Công chúa hiểu biết rộng rãi, không chỉ kiến thức, kinh truyện mà còn biết cả những phong tục đẹp, trang phục, những vật khảo cổ lâu đời...
Công chúa gần đây lại thích đọc kinh... Thấy cha đến, Công chúa vui lắm. Nhân có bài thơ Đường của Lý Thương Ẩn, nàng rất thích, liền đem ra hỏi Chúa. Chúa cầm bài thơ, trước hết xem chữ viết rồi nói:
- Chữ con viết cũng như ngươi, mềm mại, đẹp nhưng yếu đuối quá!
- Thì chữ đàn bà mà lại.
Công chúa bèn nói:
- Cha thử viết chữ cho con xem..
Chúa liền cầm bút viết chữ “Thiên hạ thái bình”. Công chúa cầm lên xem nói:
- Chữ của cha khoáng đạt, vững chãi, nhưng những nét cuối thường chưa xứng với cả khối. Cha có nét mác rất đẹp, nhưng những nét ngang hay chấm còn chưa lưu ý...
Chúa cười:
- Con gái ta hay thật. Con nói như thầy học của ta xưa ấy.
Ngọc Lan cũng cười nói:
- Con đâu dám hỗn hào thế. Đó là con bình phẩm thôi mà.
Trịnh Sâm đọc cả bài thơ Vô đề của Lý Thương Ẩn do Công chúa dịch. Những chữ Nôm còn chưa ráo mực:
KHÔNG ĐỀ
Gặp nhau thường khó, khó chia tay,
Ngọn gió thôi đành, hoa lắt lay,
Dẫu thác, thân tằm tơ vướng vít,
Thành tro, giọt nến, lệ vơi đầy,
Soi gương buổi sớm, buồn phơ tóc,
Ngâm ngợi thơ đêm, sợ nguyệt gầy,
Đường tới Bồng Lai xa chẳng mấy,
Chim xanh nhắn hỏi giúp mình đây...
Chúa khen:
- Chữ con viết đẹp lắm. Thơ dịch cũng hay. Nhưng sao con gái ta thích những bài thơ sắc tình như thế này?
Công chúa đáp:
- Thưa cha, con đọc thơ Đường nhiều, thấy ít bài nói được nỗi riêng tư thầm kín như Lý Thương Ẩn, mà con thì cho rằng, trong thơ ai nói được cái riêng tư thì ngươi ấy thành công. Cha cũng là người hay làm thơ. Như vậy có phải không ạ?
Trịnh Sâm rất ngạc nhiên, không ngờ con gái lại có những ý nghĩ sâu sắc như thế. Cha con đôi lời với nhau rồi Chúa liền nói với Công chúa:
- Cha thấy con yếu đuối, mẹ con lại quá hiền lành, cha thì tuổi cao rồi, lại bệnh tật, do vậy, cha muốn lo gia thất cho con.
Công chúa nói:
- Cha ơi, con mới mười mấy tuổi. Cha đã vội gì!
- Không được đâu con ạ! Con là đứa con gái ta yêu nhất, thương nhất. Nếu như không lo được chuyện chồng con cho con. Nay mai thế nào, ta ân hận mãi, làm sao cho yên lòng được.
Công chúa thấy Trịnh Sâm hết lòng thương mình, lại vốn là người nhu mì hiếu thuận, không nói gì thêm nữa. Do đó, Trịnh Sâm cho là con đã ưng thuận, liền chuyển sang nói chuyện văn thơ với con gái...
Chúa hồi cung, gặp Đặng Thị Huệ, Huệ bươn bả đến đón, sà vào lòng Chúa, rồi hỏi:
- Chúa đã quyết việc gả Công chúa Ngọc Lan cho Đặng Mậu Lân chưa?
Chúa giả vờ nói:
- Ta bận quá nhiều việc triều chính nên chưa nói được.
Đặng Thị Huệ lập tức giận dỗi, ngoay ngoảy ngồi quay mặt ra...
Chúa Trịnh không lấy thế làm bực mình, lại cười rồi kéo Huệ vào lòng, vuốt tóc, thơm lên mắt và nói:
- Em lúc nào cũng chỉ nghĩ đến công việc của mình. Cả ngày hôm nay, ta sang thỉnh ý của Thánh mẫu, của Thần phi, lại sang bàn bạc với con gái... Vậy mà, về đây, chẳng được lời cảm ơn nào, lại còn chuốc oán...
Huệ lập tức lăn vào lòng Chúa, cầm lấy tay Chúa đặt vào ngực mình rồi nói:
- Tại Chúa chứ, ai bảo Chúa trêu em, nói dối em... Nếu Chúa nói thật, em đâu có thế.
Rồi ôm lấy đầu Chúa, dụi mặt mình vào cổ, nũng nịu như một con mèo. Huệ nói:
- Chúa đã ưng, cho em trai của em được định ngày cưới hỏi.
Chúa cười hỏi:
- Lấy con gái Chúa không rẻ đâu.
Huệ ép ngực mình vào ngực Chúa nói:
- Trời đất này là của Chúa. Giang sơn này là của Chúa. Chúa lấy bao nhiêu, ban lại chừng nấy có gì mà sợ.
Chúa cười vui:
- Lấy là lấy mà cho là cho. Việc nào phải đi việc ấy, không thể lẫn lộn được. Ngọc Lan là em, đã có đám cưới chị là Công chúa Ngọc Thuyên, mọi việc đã có người Bộ Lễ sẽ bàn bạc để bên nhà được tường. Phi phải cậy đại thần làm mai, chọn vị quốc lão đứng chủ hôn... sao cho thật nghiêm chỉnh.
Huệ cảm động thật sự, nói:
- Ơn của Chúa, em dẫu chết đi sống lại mấy kiếp cũng không sao đền đáp nổi...
Liền cậy Quận Huy làm mai, Tứ Xuyên hầu Phan Lê Phiên làm chủ hôn.
Lễ dạm dẫn, 1000 lạng bạc, một trăm lạng vàng, lụa Hàng Châu 10 tấm, gấm Tô Châu 10 tấm, 9 viên ngọc bích, 9 viên ngọc hồng và còn nhiều thứ quý giá nữa...
Lễ hỏi gấp hai lần lễ dạm. Còn dẫn cưới thì đoàn đi dài đến hai ba dẫy phố. Vàng bạc, châu báu lụa là đi đến đâu làm bừng sáng cả một quãng đường dài... Người dẫn lễ đi kiệu hồng, lọng hồng, phẩm phục từ bọn phu khiêng cũng đủ sang trọng, chỉ kém người của Chúa một bậc... Đến người của vua Lê Hiển Tông cũng phải thốt lên:
- Đám cưới của em trai Tuyên Phi, tuy màu sắc không dùng màu vàng của vua, màu tía của Chúa, song nghi thức thì chỉ vua, Chúa mới dồi dào long trọng đến như thế...
Ở Cửa Nam, nơi tụ tập nhiều đám bói toán, tướng số, thầy đồ hàn vi lập tức truyền đi một câu hát như sau:
Đám cưới thằng ăn cướp,
To hơn đám con vua,
Vàng, tía dẫn cao quý,
Thưa con đi tô hô...
Lại có câu hát tiếp rằng:
Tiếc thay một đoá hải đường,
Chùa thiêng chẳng gặp, gặp phường bán buôn.
Tiếc thay cành liễu xanh rờn,
Con trâu lấm húc gãy cành, tróc da...
Lời hát đến tai, Thị Huệ tức lắm, cho gia nhân, mặc áo thường dân đến gây gổ, đập gãy răng, vả cho sưng miệng mới thôi...
Chúa Trịnh tuy gả cho cho Đặng Mậu Lân, nhưng vẫn chưa thật yên tâm. Chẳng qua nể lời Thị Huệ mà ưng cho thôi, vả lại, Thị Huệ thường bưng bít mọi chuyện ngỗ ngược tày trời của Mậu Lân, chỉ nói tốt cho Mậu Lân...
Trước hôm cho lễ dạm hỏi, Chúa đòi Mậu Lân vào phủ dụ. Thị Huệ biết trước, liền cho người gọi em đến. Lại ngầm báo cho Lân những bài thơ Chúa rất thích, những bài văn mà Chúa vẫn thường hay bình luận với các đại thần để Mậu Lân xem trước... Hôm ấy vào hầu, Chúa hỏi han rồi nhân lúc bàn về văn chương, liền hỏi:
- Câu thơ “Minh nguyệt sơn đầu khiến, hoàng Khuyển ngoạ hoa tâm” nên dịch như thế nào?
Đặng Mậu Lân đã nghe lỏm được giai thoại về câu thơ này, liền lấy câu của một thầy đồ nho dịch ở quán rượu mà đọc luôn rằng:
“Chim Nguyệt hói đầu núi! Sâu chó nằm lòng hoa”.
Trịnh Sâm rất ngạc nhiên, vặn hỏi:
- Sao minh nguyệt không dịch là trăng sáng mà lại dịch là Chim Nguyệt, Hoàng Khuyển không dịch là Chó vàng mà lại dịch là Sâu chó...?
Đặng Mậu Lân liền đem lời đối đáp của một nhà nho, bàn bạc văn chương trong quán rượu bữa nọ, nói liền một mạch:
- Tâu Chúa Thượng, đây là giai thoại văn chương giữa Vương An Thạch và Tô Đông Pha... An Thạch muốn thử tài Đông Pha, mới đưa hai câu thơ này cho họ Tô xem. Nhà thơ liền lấy bút chữa “Minh Nguyệt sơn đầu khiến” thành “Minh Nguyệt sơn đầu chiếu”, “Hoàng Khuyển ngoạ hoa tâm”, thành “Hoàng Khuyển ngoại hoa âm”... Vì họ Tô cho rằng. Trăng sáng không thể kêu ở đầu núi mà chó vàng không thể nằm ở lòng hoa được. Mãi về sau Tô Đông Pha bị đi đầy đến Tô Châu, vùng núi non này có loài chim là Minh Nguyệt và có loài sâu phá mùa rất dữ dân gọi là Hoàng Khuyển... Bấy giờ nhà thơ mới biết mình nhầm.
Chúa khen Mậu Lân chịu đọc. Song nhìn tướng Mậu Lân tuy có đẹp mã nhưng nét ngỗ ngược hiện ra ở mắt, ở cử chỉ... Liền nhớ đến một vài tờ sớ tấu của những vị ở toà Đô Ngự Sử, thẳng thắn vạch tội Đặng Thị Huệ và Đặng Mậu Lân, liền cho lui, rồi gọi cận thần là Sử Trung vào bảo:
- Ta rất quý Tuyên Phi mà gả con gái yêu của ta cho Mậu Lân. Phi nói hay nói tốt cho Lân rất nhiều. Nhưng sớ tấu vạch tội Lân cậy quyền, cậy thế ăn chơi làm càn cũng có. Sự thể ra sao, người có biết không.
Sử Trung dập đầu nói:
- Chúa không bắt tội thì thần mới dám tâu bày.
- Thì ta hỏi sự thực kia mà...
Sử Trung liền đem mọi việc bạo thiên nghịch địa của Mậu Lân ra nói với Chúa. Chúa ngạc nhiên, thừ người ra một lúc lâu, không nói gì cả... Hình như Chúa thấy mình đã tính toán sai việc gả con cho Lân.
Chúa bảo Sử Trung:
- Ta không ngờ, Mậu Lân lại hoang dâm ngỗ ngược như thế. Nó chưa bỏ được cái thói chó hoang ngoài đồng. Con gái ta là cành vàng lá ngọc, không thể để cho muốn làm gì thì làm. Sử Trung, ta giao cho ngươi, phải lo người canh gác, hộ vệ Công chúa. Con gái ta như cây liễu trước gió, thằng vũ phu ấy nó trắng trợn ham hố, Ngọc Lan khiếp hãi cả đời, không được đâu. Người có làm được không?
Sử Trung vốn là người tin cẩn, trung hậu, hứa:
- Tuân ý Chúa công, tiểu thần xin hết lòng.
Liền chọn thêm mười hộ sĩ khoẻ mạnh, ba bốn thị tỳ ở kề bên phòng của Ngọc Lan... Công chúa lại ở trong phủ Chúa, Lân không đường đột đến thăm được. Lễ dạm, Công chúa chỉ đứng sau rèm xem mặt. Lễ hỏi thì Công chúa chỉ ra chào Tuyên phi và Mậu Lân, khi Tuyên Phi đích thân đưa em trai mình đến thăm Công chúa.
Khi rước dâu, Sử Trung đã khéo kết liên với mấy công tử, cũng là bạn chơi bời của Đặng Mậu Lân, chuốc rượu cho say... Khi Lân về phòng riêng của Công chúa thì đã chân nam đá chân chiêu, thấy thị tỳ đã bờm xơm từ cửa. Cả bốn cô thị tỳ, cười cợt bả lả, chuốc rượu thêm cho Lân, say mềm, gục ngủ ngay ở bên ghế ngoài phòng của Công chúa... Lân ngủ như một thây chết. Đến sáng, Công chúa dậy, lên kiệu về nhà mình, thị nữ mới khiêng Lân vào giường, y nằm lỳ đến tận quá ngọ mới dậy... Rồi Công chúa cũng phải về nhà chồng. Sử Trung và đám tỳ nữ, đám hộ sĩ, theo lệnh Chúa, đều đến nhà lo bảo vệ Công chúa.
Chúa Trịnh, khi cho con đến dinh Đặng Mậu Lân, gọi Lân đến mà bảo:
- Mậu Lân, ngươi bây giờ nghiễm nhiên đã thành phò mã. Mọi việc làm hãy cho nghiêm túc đứng đắn. Ngọc Lan vốn yểu tướng, thuở bé đậu sởi liên miên, ta muốn ngươi hãy nghĩ đến sức khoẻ của Công chúa!
Mậu Lân tuy bên ngoài vâng dạ nhưng trong bụng rất tức tối... Tuy nhiên, Lân lại được Tuyên Phi nhắn bảo: Chúa Trịnh rất yêu Công chúa Ngọc Lan, đừng làm gì phật ý Chúa... Nếu chưa được như ý, thì hãy tìm cách khác mà tiêu khiển.
Mậu Lân tuy lấy vợ, nhưng vẫn ham thói rong chơi. Những ca lâu, tửu quán Lân thường qua, y vẫn dan díu với những cô đào hát có đủ tài, lẫn sắc. Xóm Bình Khang biết Lân là Cậu Trời, vung tiền qua cửa sổ, nên cũng chiều chuộng Lân hết mức. Có đêm, Lân bao cả ba bốn nhà hát, chạy sang nhà này một tí, nhà kia một tí, bỡn cợt người đẹp này, vầy vò người đẹp kia, cười nói, la hét, rượu chè, văng tục rất khả ố.
Bữa ấy, Chúa cho các tân khoa vinh qui, kinh thành mở hội. Bao nhiêu người xô ra xem mặt các quan Trạng, quan Bảng và quan Thám...
Mậu Lân cũng nghênh ngang cho sắm ngựa, võng lọng rất oai phong, đi sau đám tân khoa ấy. Lại cho đoàn bát âm, tấu nhạc dọc đường, lấy tiền kẽm vung ra cho người xem cướp nhặt. Thành thử, kinh thành bữa ấy có hai đám rước. Một đám vinh qui của các quan tân khoa, một đám rước ăn chơi khoe của của Cậu Trời. Khi đi qua xóm Bình Khang, chị em đào hát xô ra đón, Mậu Lân vung tiền thưởng càng nhiều. Lại cho hai cô đào hát son phấn loè loẹt, cô ngồi trước, cô ngồi sau, cợt nhả với nhau trên yên ngựa đi suốt mấy phố, rồi kéo nhau về xóm ăn chơi, uống rượu, nghe hát.
Mậu Lân kéo cô đào đẹp nhất, làm tình giữa cuộc rượu, rồi lại xông vào uống cho rõ say. Một công tử, bạn của Mậu Lân, cũng là một tay ăn chơi, cứ nhìn Lân nô giỡn với đám con hát, tủm tỉm cười.
Mậu Lân lúc trước còn không để ý, sau nhân lúc rượu bốc, lại tỏ ra mặt yêng hùng trước mặt các chị em, Lân liền hất hàm hỏi:
- Này, công tử Hoàng, vợ dặn gì mà đến đây cứ ngồi ngây như tượng thế.
Công tử Hoàng cười đáp:
- Nể Cậu Trời ta đi chơi thôi, vợ ta con quan bồi tụng, lá ngọc cành vàng, yêu ta đến đỗi, nhà cửa lại đàng hoàng, thì về hú hí với vợ hơn, chứ ăn chơi ở đây làm gì để mang tiếng.
Mậu Lân hùng hổ, lại đang cơn say, túm lấy cổ áo công tử Hoàng hỏi:
- Thế mày đến đây để làm gì?
- Ta đến đây để nghe hát vì vợ ta không hát được!
- Mày nói thế để làm gì?
Công tử Hoàng lại mủm mỉm cười, ghé tai Lân nói:
- Mày lấy con gái của Chúa, đã mó được đến người Công chúa chưa?
Mậu Lân hét to:
- Vợ của ta, ta muốn làm gì lúc nào cũng được.
Công tử Hoàng lại nói:
- Tao nghe, mày chỉ quen bắt nạt dân thường, hãm hiếp gái ngoan nghèo ngang đường, còn con gái Chúa, thì dù là vợ, mày cũng không dám đụng đến chân lông!
- Ai bảo mày thế?
- Thì chuyện Sử Trung được mật lệnh của Chúa cho hộ sĩ đến bảo vệ Công chúa, thiên hạ nói giăng giăng kia.
Đặng Mậu Lân đang cơn say, tức lắm, bị công tử Hoàng nói khích, liền xách gươm, bảo đám lâu la đứng dậy, lại thách:
- Công tử Hoàng, rồi mày xem. Tao là Cậu Trời kia mà. Vợ tao là vợ tao chứ. Con Chúa chứ con Trời tao cũng chẳng coi ra gì. Chẳng qua tao còn để dành đấy mà thôi...
Công tử Hoàng vốn là tay giỏi võ, ăn chơi cũng ngang tàng, Lân kết liên để cho mạnh vây cánh, do đó, y cũng không dám mắng mỏ bạn, chỉ thách:
- Mày cược gì với tao nào?
- Ngủ với vợ khó gì mà phải cược. Nhưng Cậu đã thách tớ cược đấy, Cậu Trời ạ... Mà Cậu cũng không ngủ được với con bé ấy đâu. Khéo mà mất mạng đấy.
Đặng Mậu Lân hung lên:
- Mi định cược bao nhiêu?
- Năm trăm lạng!
- Xoè tay ra.
- Thì xoè!
Cậu Trời đập đánh bốp một cái vào bàn tay của Công tử Hoàng, rồi đùng đùng đứng dậy về nhà...
Về đến dinh, Mậu Lân xông thẳng đến phòng riêng Công chúa. Sử Trung ngăn lại.
Mậu Lân, quắc mắt, lông mày xếch ngược, rút kiếm ra quát:
- Lui ra!
- Quan nhân không được vào!
- Sao ta lại không được vào phòng của vợ ta.
- Công chúa yếu đuối, còn đang thời chữa bệnh, cần giữ gìn, Chúa thượng sai tôi đến đây chỉ có việc ấy, xin quan nhân hãy rán sức kiềm chế, đợi lúc nào Công chúa khoẻ mạnh, tươi tỉnh vui vẻ, hãy nghĩ đến chuyện hoa nguyệt. Vợ chồng còn cả đời, đâu chỉ có một vài ngày mà vội vàng.
Mậu Lân huơ gươm lên, chửi:
- Đồ chó má! Mày là thằng ngu mới làm việc này cho Chúa! Con gái đã gả bán rồi. Tiền của châu báu của tao như núi, mà từ lúc dạm vợ cho đến lúc cưới xin về nhà tao rồi, vẫn cứ là của niêm phong, gần không được gần, hỏi không được hỏi, chưa nói đến chuyện đầu gối tay ấp. Chỉ có Chúa mới đặt ra cái chuyện lạ đời ấy thôi.
- Sử Trung tôi nghĩ, ông là con rể, không nên nói những lời thiếu tôn kính.
- Ông ta xúc phạm ta, ta việc gì phải tôn kính ông ấy. Vợ ta, ta có quyền sai bảo, có quyền ra vào phòng khuê, cái đó luật lệ nào ngăn cấm. Nếu con Chúa quý như tiên, như Phật thì gả cho ta làm gì... Thử hỏi, chị ta cũng được cấm đoán như thế, Chúa có chịu được không! Ông ấy quá lắm, ta không chịu nổi nữa. Ra đi...
Sử Trung nói:
- Chúa tin cẩn, tôi mói đến đây. Dẫu chết cũng không lui ra được.
- À, thằng này vừa ngu vừa láo. Muốn chết hả - Mậu Lân gầm lên.
Sử Trung vẫn giăng hai tay ngăn Đặng Mậu Lân ở trước cửa, những tưởng Lân sợ oai Chúa không dám làm gì mình. Nào ngờ, rượu say, cơn điên nổi lên, Lân giang kiếm đâm thẳng vào ngực Sử Trung một nhát, Sử Trung gục xuống. Phía trong, đám thị tỳ đóng kín cửa buồng lại. Lũ hộ sĩ xông đến, Lân rút gươm chém đuổi cũng tản mất cả. Công chúa Ngọc Lan sợ run lên, chỉ một mực khóc sướt mướt, ôm chặt lấy cô thị tỳ yêu nhất, không dám rời. Trong đám thị tỳ, có một đứa lanh lợi, nhân lúc Đặng Mậu Lân quát tháo, đâm chết Sử Trung, đã lén được ra ngoài, theo lối cổng sau vào vương phủ, tìm đến tận nơi Chúa đang ngồi, khiếp hãi, tâu lại sự việc. Chúa nghe, tức lắm, truyền cho nội giám gọi ngay Quận Huy đến.
Chúa nói:
- Đặng Mậu Lân đang làm loạn, ông đem quân đến bắt nó, giam trong ngục đại hình và đưa Công chúa về cung cho ta.
Quận Huy thấy Chúa đang giận, không dám trù trừ vội đi ngay. Mậu Lân nguôi cơn nóng thì sự đã rồi, nên khi Quận Huy đến, không dám chống cự, chỉ nói với Huy:
- Ông nể mặt chị ta mà đừng mạnh tay với ta đấy nhé! Mọi việc ông lựa lời xin Chúa cho ta. Ta biết dại rồi, ông Quận Công ạ.
Quận Huy trước mặt ba quân, không nói gì, chỉ bắt Đặng Mậu Lân, bỏ vào cũi, giam vào ngục đại hình, và cho người đưa Công chúa Ngọc Lan trở về nhà bà Thần phi họ Hoàng ở phủ Chúa. Công chúa gặp lại được mẹ, ôm chặt lấy, không nỡ rời. Một lát sau, Chúa cũng đi kiệu sang để phủ dụ, trông thấy cảnh con gái bám chặt vào mẹ mình gầy như con nhái bén, mặt cắt không còn hột máu, thương lắm. Liền gọi quan thái y đến chăm sóc sức khoẻ, vỗ về hai mẹ con rồi về phủ. Chúa cho gọi người của Viện Đô Sát đến xét tội Đặng Mậu Lân ngay. Hôm sau, quan coi Bộ Hình và Viện Đô Sát dâng án lên, Mậu Lân phải tội tử hình. Chúa xem nghĩ ngợi rất lâu, chưa tiện phê, thì thấy Tuyên Phi mặt mày rầu rĩ, đầu bù, tóc rối, chạy đến sụp lạy trước mặt Chúa.
Chúa vẫn còn đang tức và giận Mậu Lân, rất thương Huệ, nhưng vẫn chưa đưa tay ra nâng dậy.
Quận Huy thì vẫn ngồi ở phía ngoài chờ lệnh Chúa y án Đặng Mậu Lân, Đặng Thị Huệ đi qua, hầm hầm, không thèm nhìn mặt.
Chúa vẫn ngồi im không nói. Tuyên Phi tâu xin:
- Mậu Lân tội tầy trời. Nhưng nhà thiếp một chị, một em, nếu Chúa giết nó thì lấy ai nối dõi tông đường cho được. Xin Chúa mở lượng trời bể, nghĩ đến thần thiếp, nghĩ đến Vương Tử Cán là con yêu của Chúa, hãy tha chết cho Mậu Lân.
Chúa nghiêm giọng nói:
- Mậu Lân quá quắt lắm. Phi không biết đâu, cả kinh thành đều biết tiếng ăn chơi phá phách của hắn. Hắn lại chém chết Sử Trung, một người trung hậu, ta rất yêu quý, nói năng hỗn hào không coi Chúa ra gì... Em của Phi, chứ con của ta, ta cũng chém.
Tuyên Phi biết Chúa giận lắm, liền vươn người lên, ngửa cổ mà nói:
- Em thiếp tội không thể dung được, nhưng nó chết, thiếp biết làm sao ăn nói với dòng họ, làm sao về nhà trước bàn thờ tổ tiên để thắp hương... Thôi thì, Chúa hãy giết thiếp đi rồi hãy giết nó.
Chúa bắt đầu lúng túng, đi đi lại lại trong phòng, Đặng Thị Huệ lại kêu lên:
- Nếu Chúa không nỡ giết, thì khi chôn cất thằng Lân xong, thiếp cũng treo cổ lên để tạ tội với dòng họ, rằng mình được Chúa yêu mà không cứu nổi đứa em trai duy nhất của nhà... Thiếp rất yêu Chúa, thương Chúa, nhưng tình cảnh này, sống không được nữa...
Rồi dập đầu côm cốp xuống sàn nhà. Chúa thấy bất nhẫn, liền gọi nội giám, vực Tuyên Phi ra...
Chúa bỏ tờ sớ nghị hình, ra vườn cho đỡ căng thẳng, khi trở vào mói phê vào bên cạnh mấy chữ: Đầy ra châu xa!
Rồi gọi Quận Huy vào bảo trả về cho Bộ Hình và Viện Đô Sát y án.
Đặng Thị Huệ được Quận Huy cho biết, mừng lắm. Huệ lại nhờ Huy cho quân sĩ đi theo, sợ Chúa giận cho người ngầm giết Mậu Lân, lại cậy nhờ Huy nói với quan trấn thủ nơi Mậu Lân phải lưu đầy, chăm sóc và để mắt cho. Quận Huy nhất nhất nghe theo.
Mậu Lân trước khi bị giải ra Thuận Hoá xin đến gặp chị. Tuyên Phi hẹn cho gặp. Lúc chị em gặp nhau, trông thấy em cũng rất thương, nhưng Đặng Thị Huệ mặt vẫn lạnh như băng. Khi Lân đeo gông, chân lê xích đến trước lạy chị và nói:
- Em đã biết tội, xin chị nghĩ tình máu mủ, thương cho trót.
Huệ đứng lặng nhìn em không nói gì và nói:
- Làm con để cho dòng họ bị nhục lây là một tội lớn. Sung sướng không thoả, lại cậy thế làm càn đến nỗi không đáng tội mắc vào tội đó, là tội thứ hai... Bỏ cả tổ tiên, quê hương không ai thờ cúng, đi về; thân xác thành tù nơi xa, chí trai chỉ biết hưởng thụ, không giúp được gì cho mình cho đời, là tội thứ ba... Chị tiếc không được làm đàn ông, phải làm phận gái. Mày được làm đàn ông mà đớn hèn thì đi đi cho rảnh mắt.
Mậu Lân khóc, hứa sẽ cải tà qui chính, rồi bước đi theo lính giải đường trường. Tuyên Phi trở về, nước mắt ròng ròng, một mình khóc trong kiệu...
 
0

8

 
Ngô Thì Nhậm cử tang cha xong lên triều nhậm chức. Nhậm được Huy mời vào trướng đãi tiệc. Quận Huy nói:
- Sự biến của Thế tử mưu loạn, nếu không có ông, thì kinh thành đâu có được như hôm nay. Ta đã tâu lên Chúa thượng, dành cho ông chức Hữu thị lang bộ Công rồi đấy.
Nhậm ra vẻ khiêm tốn nói:
- Tôi tài học bạc nhược, chức lại quá cao, sợ không kham nổi. Chỉ mong đại quan nhân cho làm một chức nào đó, có thể giúp nhà nước soạn những sách cổ, bàn bạc lời lẽ của Thánh hiền, đó là sở nguyện.
Quận Huy rót rượu cho Ngô Thì Nhậm và nói:
- Tài của ông có thể làm đến tể tướng chứ chức Thị lang nào có bõ bèn gì. Ông là người thức thời lại sắc sảo, xin hãy cùng ta và Tuyên Phi làm thế chân vạc ở triều đình này.
Ngô Thì Nhậm biết Huy muốn lôi mình thành vây cánh, không nói gì, lặng lẽ uống rượu. Quận Huy lại còn đưa Nhậm vào ra mắt Chúa, gặp Tuyên Phi, nhắc lại công lao vụ án hồi Chúa ốm, Chúa Trịnh phủ dụ rồi gọi nội giám ban cho thêm một bộ áo chầu mới. Ngô Thì Nhậm lạy tạ lui ra...
Nhậm vào phủ Chúa làm việc, các quan chức đồng triều đều ghẻ lạnh. Chỉ có những người thân với Quận Huy thì lăng xăng săn sóc. Người ta lấy vụ án năm Canh Tý để đánh giá Nhậm, cho Nhậm có học mà mưu mô phản trắc, không đàng hoàng theo lối chính nhân quân tử. Chức Thị lang của Nhậm là giết cả cha và ba đại thần khác là thầy học, là bạn của cha mà có… Nhậm biết, lòng cũng dao động chán nản, ít đi lại tiếp xúc. Chức Thị lang bộ Công chỉ lo việc xây dựng tu bổ đền đài nhà cửa đường sá trong hoàng thành; xây cất phủ dinh cho các đại thần, bầy soạn những cảnh quan để Chúa tế trời, tế đất, phối hợp điều những xe cộ, kiệu cáng cho các đại thần, vua chúa trong những ngày Quốc lễ, đại lễ... Những việc chỉ cần xem qua một lượt điển lệ, cách bố trí của người xưa, nghe ý của Chúa và các quan Tham Tụng, Bồi Tụng chỉ xuống mà làm cho đúng ý, không phải là những chuyện trị dân, xét án của một trấn, một tỉnh lớn. Chức thì lớn, việc nhiều, nhưng nhàm, không phải động não... Nhậm nhân thế mà đọc kỹ thêm sách Thánh hiền, xem xét sâu về việc trị nước, chí lại rất thâm trầm, chờ thời để thi thố tài năng...
Tuyên Phi Đặng Thị Huệ từ ngày dựa vào Quận Huy, thanh thế lừng lẫy, hầu như đã thâu tóm được cả triều đình. Hoàng Tố Lý bây giờ đứng đầu trăm quan. Các quan gặp Huy không dám gọi tên, gọi chức, chỉ dám gọi là quan Chánh Đường. Huy quận công oai trùm lên cả Nội Mật Viện, thực sự quyền bính chỉ còn sau Chúa... Các quan biết vậy, những đại thần phe của Thánh mẫu thái tôn, mẹ của Chúa Trịnh, cứ im miệng làm tròn chức trách mà hưởng giàu sang, còn những quan chức phe Quận Huy thì từ việc nhỏ đến việc to đều hết sức tỏ ra mẫn cán, hết lòng vì Chúa, vì Tuyên Phi, vì quan Chánh Đường.
Quận Huy cũng chọn những chỉ huy quân Ngự Lâm ở Hoàng thành phần lớn là quân Thanh Nghệ, từ thời các Chúa, là người của mình. Hằng năm, cứ mùa xuân và mùa thu, quân Ngự Lâm lại được tập luyện, thi võ và cất nhắc. Sự thực đó là những cuộc thay người khéo léo và tinh tế, Huy Quận công đích thân nhúng tay vào... Về hoàng thành có vài năm mà Quận Huy đã trở thành một phú gia địch quốc. Người ta nói trong nhà quan Chánh Đường thứ gì cũng có, có thứ còn quý hơn cả bên phủ Chúa, bởi vì, bây giờ ở Thăng Long người buôn lớn rất nhiều. Các lái buôn đi đường biển vào rất đông. Phố Hiến, Kinh Thành, chợ sông chợ biển, chỗ nào cũng tấp nập. Người của Tuyên Phi và Quận Huy đều là những kẻ biết móc nối, biết ban phát lộc cho đám thương nhân, lại rành về những hàng hoá hiếm quý tung ra bán cho những nhà buôn lớn ở Kinh Thành, do đó, họ giàu lên rất nhanh...
Chúa Trịnh thì, từ sau trận ốm nặng, không được khoẻ như trước. Mọi việc triều chính thâu tóm vào tay Quận Huy cả...
Tuyên Phi Đặng Thị Huệ sinh được Vương Tử Cán, dựa được vào Quận Huy, lúc nào cũng đắm đuối vào việc lo sao cho Chúa nhường ngôi cho con mình, phế Trịnh Tông. Sau vụ án năm Canh Tý, dẫu Chúa hành tội Trịnh Tông như thế vẫn thỏa đáng, nhưng Chúa chưa giết Tông, nên Đặng Thị Huệ vẫn cảm thấy Tông như cái gai trước mắt chưa nhổ được.
Còn Vương Tử Cán, nuôi mãi vẫn cò lả quá bé, nhiều lần Huệ giục Quận Huy, lôi kéo các đại thần, dâng sớ lên với Chúa sách phong Thế Tử cho Cán, có lúc Tuyên Phi tâu xin thẳng với Trịnh Sâm, nhưng Chúa ôm lấy Huệ mà nói:
- Ái Phi sao cứ vội vàng mà làm gì. Phong hay không phong, đó chỉ là vẻ bên ngoài. Ta dành ngôi Chúa cho ai, cái đó mới quan trọng. Phải biết kiên nhẫn chờ đợi.
- Chờ đợi, chờ đợi... Bao giờ Chúa Thượng cũng chỉ có một lời khuyên như thế thôi. Chúa Thượng chưa thật hết lòng vì mẹ con thiếp!
- Chưa hết lòng ư? Chưa hết lòng mà Phi và Vương Tử Cán được như thế.
Tuyên Phi vặn vẹo:
- Đấy khi gọi con, chỉ có Chúa và thần thiếp Chúa cũng chỉ mới gọi nó là Vương tử, đâu có gọi là Thế tử...
Chúa nghiêm sắc mặt mà nói:
- Phi đòi hỏi quá cũng không được đâu. Một lời nói, một cử chỉ của ta đều có ảnh hưởng đến nhiều người khác. Thôi dẫn ta vào thăm con ta đi...
Cán đang chơi với các a hoàn ở trong sân. Cán ngồi giữa các a hoàn, mỗi người mặc màu áo khác nhau bò lồm cồm để sẵn sàng làm ngựa cho Cán cưỡi chơi.
Trịnh Cán cầm chiếc roi chỉ vào lưng từng cô a hoàn:    
- Con này! Con này! Con này! Này này! Con này!
- Ngài cưỡi con nào?
- Không con nào cả! Tất năm con!
Các a hoàn lại bảo:
- Cưỡi một con thì được, làm sao cưỡi cả năm con một lúc.
Trịnh Cán lại dãy nảy lên:
- Không cưỡi một đâu, cưỡi cả năm con kia...
Chúa và Tuyên Phi vào thấy ngay cảnh tượng ấy. Chúa rất vui. Các a hoàn định đứng lên khấu đầu bái kiến Chúa và Tuyên Phi, nhưng Chúa bảo:
- Cứ chơi với Vương tử... Ta miễn lễ.
Rồi Chúa quay sang Trịnh Cán hỏi:
- Sao con không cưỡi một con mà đòi cưỡi cả năm con!
- Cha không biết gì cả? Một con một sắc thôi không đẹp. Phải cưỡi cả năm con, mới đủ màu ngũ sắc chứ!
Chúa rất đẹp lòng, cho là Cán có khẩu khí đế vương. Nhưng Chúa ôm Cán mà nói:
- Mày có máu làm Chúa từ lúc nứt mắt ra hử? Không biết sau này có làm nên trò trống gì không?
Rồi trao cả Cán cho ca hoàn, giang tay đưa Tuyên Phi vào phòng...
 
*
*          *
 
Tuyên Phi rất yêu con và luôn luôn lo lắng về con. Trịnh Cán, thông minh, đẹp, nhưng lại yểu tướng. Cán luôn ốm đau quặt quẹo, bụng to, rốn lồi, tay chân nhỏ, da mặt khô, biếng ăn, thức khuya mói chịu ngủ, thích nằm, thích vuốt ve, ít chạy nhảy, tính nết hiền nhưng thất thường, từ năm lên sáu, qua một cơn sởi, người bấy bớt lại càng bấy bớt.
Chúa đích thân cho tìm danh y khắp nơi về chữa chạy. Cán rất đãi thuốc, thầy nào cắt cho dăm bảy thang, kê đơn, bốc thuốc, định phương pháp trị liệu đều dựa dẫm người trước, sợ không vừa ý Chúa. Để có hiệu quả, họ dùng thuốc công phạt nhiều, cốt để chuyển động chút ít, lấy lòng tin của Chúa, của Tuyên Phi, cho được dự vào hàng thái y ở nội cung, cũng đủ vinh hoa...
Huấn đạo Nguyễn Thực đang làm quan ở tỉnh có bốc thuốc cho mấy đứa trẻ con trong nhà chữa được bệnh cam, bệnh sởi, vốn quen Quận Huy, liền được vào hầu bệnh. Thực đâu có phải thầy thuốc chuyên nhưng khéo nói, khéo tán, được lòng Quận Huy, được lòng Chúa, do đó thăng lên chức Tiến triều.
Một gã nhà buôn từ Vân Nam xuôi sông trở về, vào yết kiến quan chánh đường Quận Huy, lễ lạt rất hậu. Nhân thấy gã buôn thuốc, Quận Huy cũng vỗ về biết đôi chút về thuốc, hỏi cách chữa cho trẻ bị cam xài, y nói vanh vách. Quận Huy nói với Tuyên Phi, Phi cũng cho mời vào chữa cho Trịnh Cán. Bệnh của Cán tuy không thuyên giảm, nhưng người béo tốt, tươi tỉnh hẳn lên. Thầy Tầu ấy là Chu Nghĩa Long. Chỉ có thế mà Chúa đã quý Long lắm. Nhân lúc ban thưởng lại hỏi thêm Long về sách vở. Long nhanh mồm, cứ lấy các sách Đông Chu, Tam Quốc mà bàn, lại bàn rất hợp ý Chúa... Thuốc cho Trịnh Cán, Long đã hết ngón, liền cứ thú thực với Chúa. Chúa cho Long là người thật thà... Long muốn lập nghiệp ở nước Việt, lại cũng ham chức tước. Quận Huy được Long đút lót rất nhiều, liền tâu với Chúa cho Chu Nghĩa Long trông coi việc quân, lại lấy tước hầu ban cho gã...
Tuyên Phi cho rằng Vương tử Cán là người tiên, người Phật chăng, nếu cầu cạnh không đúng chỗ, thì hẳn là Vương tử chưa được khoẻ mạnh. Do đó, Tuyên Phi nghe ở đâu đền đài có tiếng linh thiêng, đều thưa với Chúa đến cầu xin và tu bổ. Lúc thì Chúa xuống Sơn Nam, cầu Liễu Hạnh, Chúa đích thân vào Hương Tích cầu Quan Thế Âm bồ tát, phù hộ cho con trai mình... Chúa đến trước đền Hán Thọ đình hầu Quan Vân Trường ở bên hồ Hoàn Kiếm để bán khoán Vương tử Cán, lấy sớ, lấy tên thần ban cho về trong cung... Tuyên Phi nghe nói ở làng Nhân Mục có một đạo sĩ, dòng dõi Từ Vinh, Từ Đạo Hạnh, pháp thuật cao cường, hô phong hoán vũ, liền tâu với Chúa, cho vào trong cung, xem tướng số và bói quẻ cho Vương tử Cán.
Đạo sĩ vào cung, dáng đẹp như tiên, tay cầm phất trần, mặc áo lụa hồng, thắt đai bạch, trông như Thái Bạch Kim Tinh. Khi cho tiếp kiến Vương tử, ông già đặt phất trần trên ghế, lạy bốn lạy, rồi cứ thần mặt ra nhìn Vương tử, mắt long đỏ lên như thôi miên. Vương tử Cán trông linh hoạt hẳn lên, đang ngồi trên sập, nhảy xuống sàn đất, chạy sà vào lòng Tuyên Phi mà hỏi:
- Chị sinh, người này ở trên trời xuống đấy ư?
Tuyên Phi lại dấy lên một niềm hy vọng mới, ôm lấy Vương tử và nói:
- Ông ấy là Thái Bạch Kim Tinh đấy!
- Thái Bạch Kim Tinh là ai hở chị sinh?
Tuyên Phi để kiêng thần Thánh khỏi bắt đi, nên cho Vương tử gọi mình là chị sinh. Đặng Thị Huệ nhìn con âu yếm nói:
- Đó là một vị tiên rất giỏi và đẹp ở tít trong cung của Ngọc Hoàng, là một chân nhân có phép biến hoá thần thông, phép thuật rất cao cường.
- Thế có thể biến được con kỳ lân bằng gỗ này thành con kỳ lân thật không?
- Thôi Vương tử đừng hỏi nữa, chân nhân sẽ vì Vương tử mà cầu Thánh thần phù trợ cho đấy.
Khi Chúa coi chầu về, Huệ liền nói chuyện Từ đạo sĩ đến thăm Vương tử Cán với Chúa, lại dẫn đạo sĩ vào yết kiến. Chúa hỏi đến các thuyết lý về đạo Lão về Đạo Đức Kinh, Nam hoa Kinh, về Thái Thượng Lão Quân đều trả lời rất rành mạch. Chúa lại hỏi:
- Khí số của con ta thế nào?
- Vương tử do mộng mà sinh, do mong mà có, tinh thần ở cõi ảo, thể xác ở cõi thực... ảo thực chưa liên minh. Phía trời còn lưu giữ, phía đất còn nhân nhượng chưa tiếp nhận, do đó thần thái tinh anh, nhưng chưa khoan khoái, nội lực tụ mà chưa phát huy, do đó phải lập đoạn tràng xin với Cõi Trời, để Thiên địa hoà đồng, ứng phù hoà hợp, như thế bệnh tật sẽ dứt, tinh anh lanh lợi khác thường.
Chúa nghe tâu, vui vẻ nói:
- Vậy thì ngươi lập đàn tràng cầu Trời, khấn đất cho con ta đi! Chỉ mong sao cho hiệu quả, mọi thứ đã có quan Chánh Đường...
Đàn tràng lập tức được đặt ở giữa hoa viên của Phủ Chúa. Đàn cao năm trượng, dựng bằng đất. Năm tầng, bầy năm hương án quay ra đông tây nam bắc, Trên đỉnh cao lại có một hương án lớn. Cờ ngũ sắc phía dưới hình vuông, phía trên cờ đuôi nheo. Người đứng trùm kín mặt dàn đều năm tầng đàn, mặc phẩm phục cũng theo năm màu, theo các phương. Mỗi phương một màu: đen, xanh, đỏ, vàng, trắng..., tay cầm những ngọn đuốc lớn. Đạo sĩ vận áo đại lễ, cầm phất trần, lễ từ đàn thứ nhất, đến đàn thứ hai, cầu nguyện chư Phật, chư tiên ở cõi trời, cõi đất hãy đến, linh nghiệm cho hồ lô thuốc của đạo sĩ chưng cất đủ bảy ngày, bảy đêm, ở trên thượng tầng... Đêm đến, một mình đạo sĩ đọc những lời kinh huyền bí, thỉnh thoảng lại hét to một tiếng “cấp cấp như luật lịnh”. Gió thổi hất những ngọn đuốc mờ ảo hình người hình cây, loằng ngoằng trên nền đàn, nền đất, nền trời... như hàng đàn âm binh cùng đến hưởng ứng...
Đạo sĩ khấn trời, khấn đất, phù thuật xong, lấy thuốc trong hồ lô, lấy bùa trấn yểm ở các nơi trong hậu cung cho là có tà khí, Đặng Tuyên Phi dẫn Vương tử Cán đến đàn tràng. Công tử thấy lạ, có vẻ thích thú trèo hết cả năm tầng lại cười nói, chỉ chỏ linh hoạt khác thường... Đến tối về nhà, ăn cơm ngon và ngủ yên, Tuyên Phi mừng lắm, cho là đạo sĩ cao tay, cầu nguyện có linh ứng, thưởng cho đạo sĩ rất nhiều.
Nhưng khi đạo sĩ nhận vàng ra khỏi thành, đàn dỡ đi, thì bệnh tật của Vương tử lại hoàn nguyên như cũ. Rốn vẫn lồi, tướng vẫn yểu, lại biếng ăn, biếng ngủ, chỉ tiếng nói là lảnh lót như ma khôn...
Quận Huy cố chiều Tuyên Phi, lùng tìm thấy thuốc khắp nơi, song vẫn chưa có gì hiệu nghiệm.
Có đứa nịnh Chúa, tố cáo trong cung có người ghen tức với Tuyên Phi trấn yểm bùa, mướn đồng cốt, kết hình nhân Vương tử, chôn người gỗ ở trong cung để phù thuật, trấn áp, do đó thần khí lúc nào cũng bị âm binh, âm tướng ám ảnh, bệnh tật triền miên, không thoát ra được. Chúa giận lắm, sai người niêm phong tất cả các phòng riêng ở tam cung, lục viện, cho nội thị sục tìm đào bới từ trần nhà đến sàn đất, thấy có gì nghi hoặc thì xem xét, có đúng như lời tố cáo không.
Bọn đồng cốt thấy động, liền trốn hết, thu sạch vết tích, không lùng tìm được gì, chỉ thấy mấy đạo bùa vắt trên ngọn cây, hỏi đến các phi, tần của Chúa, thì họ nói đó là bùa từ đàn tràng của Chúa cầu siêu cho Vương tử bữa nọ bay đến.
Có một cung phi còn nói:
- Bùa hôm ấy, gió thổi bay khắp hoàng thành, đông như bươm bướm, làm sao thu nhặt hết. Chúng tôi biết phận mình đâu dám làm điều xằng bậy...
Không sao tìm ra chứng cớ, Chúa định phạt kẻ tố cáo xằng, nhưng Tuyên Phi xin cho, Chúa lại thôi...
Khi Thế tử Trịnh Tông, do vụ án Canh Tý bị giáng truất xuống làm con út, thì bệnh của Vương tử Cán năm ấy lại hơi đỡ. Mùa đông ấy, trời rét buốt, bệnh đậu mùa lan tràn khắp kinh thành, nhiều trẻ bị bệnh đợt đầu đều chết. Bệnh truyền từ nội thành ra ngoại thành, các thầy thuốc nổi tiếng ở băm sáu phố phường và ở trong vùng đã không cứu xuể...
Dịch bệnh kéo dài đến vài tháng, trẻ con chết có vài ngàn... Có nhiều cửa hàng lớn phải đóng cửa vì phải kiêng cữ cho trẻ mắc bệnh...
Không may cho Vương tử Cán, cũng mắc bệnh ấy. Đặng Thị Huệ cuống quít lo sợ. Chúa Trịnh cũng lo sợ theo, vội gọi các thầy thuốc giỏi ở trong cung đến chẩn trị. Chữa bệnh đậu mùa, thường đã nhiều qui tắc. Trước hết, lo sao cho trẻ được kín gió, bên trong trợ lực bồi dưỡng sức khoẻ để chống những tai biến đột xuất. Đậu mọc xuôi thường từ trán xuống chân; nếu mụn đỏ chia đều, phát triển bình thường, rồi tự nung mủ, kết vẩy là an toàn, nếu giường chiếu không sạch, bồi bổ và thuốc trị không đúng làm cho mụn không lên hết được, hoặc dày quá làm cho sức chịu đựng không nổi, trẻ sẽ lịm dần mà chết trong cơn sốt cao hoặc tâm thần hoảng loạn...
Đậu càng cuối trận dịch càng nhẹ. Do thế, được các thấy thuốc xúm nhau vào chữa một bệnh mà các bài thuốc trong các sách cổ đã bàn kỹ, nên bệnh của Vương tử Cán phát triển bình thường và cuối cùng đã lành bệnh, chỉ để lại vài nốt sẹo hoa trên trán, trên mặt và trong thân người.
Vương tử Cán qua được trận đậu mùa này, Đặng Thị Huệ thở phào nhẹ nhõm. Chúa Trịnh còn mừng hơn ai hết.
Hôm Vương tử được ra sân chơi, đi lại bình thường, ôm con vào lòng, Chúa Trịnh nói với Tuyên Phi và Quận Huy:
- Con ta lúc bé cam sài thế này, có lẽ với nhà thường dân cũng là chuyện thường. Bởi con nhà Chúa nên quá lo lắng thế thôi. Đến như Vương tử lên đậu rồi cũng qua khỏi kia mà..., như vậy lo gì mà nó chẳng nên người.
Trong lúc vui vẻ, Trịnh Sâm ban thưởng rất hậu cho các thầy thuốc, lại thưởng mỗi người một lượng vàng, năm lượng bạc, cho ai ngày đêm hầu hạ Vương tử... những người khác kẻ nào có công cũng thưởng bốn lạng bạc, ai công lao chút đỉnh cũng được một lạng... Từ đấy trong cung ngoài triều đình, ai cũng hướng về Vương tử và Tuyên Phi, không còn ai muốn phò Thế tử cũ là Trịnh Tông nữa…
 
*
*          *
 
Chúa Trịnh từ khi ốm nặng trở lại, không được khoẻ như trước, Công việc coi chầu ở phủ Chúa, thường buổi có, buổi không. Lê Quý Đôn được điều ra Thuận Quảng vỗ về dân mới. Triều chính chỉ nằm trong tay Quận Huy thao túng. Huy thì dương dương tự đắc, cho mình từ ngày về triều, sau khi ngả hẳn về phe cánh Tuyên Phi, hết lòng thờ Trịnh Sâm, phò Trịnh Cán thì không việc gì là không thuận.
Dinh phủ của Quận Huy được Bộ Công xây dựng liền kề trong phủ Chúa. Huy khôn mà tham ngầm, không mấy ai biết. Bề ngoài Huy có vẻ khiêm nhường, dinh thự không sa hoa lộng lẫy, khách khứa vào ra có khi ít hơn cả những quan tham tụng, bồi tụng. Nhưng Quận Huy chọn những tay thân tín, sành sỏi, biết tiếp khách, biết chọn việc, biết giao dịch nơi kín đáo và nhiều hiệu quả, cho nên chỉ mấy năm Quận Huy đã giàu có khác thường.
Quận Huy có trong nhà mấy hòm châu báu, vàng nên có bận, quản gia phải chọn xây một phòng riêng, hàng ngày cứ đổ vào trên sàn, sau cho người đúc thành thỏi lớn, chất riêng vào một kho...
Những thứ sang trọng như lụa là, gấm vóc Quận Huy chỉ nhận đủ ban phát cho các quân hầu, đầy tớ, thị nữ trong nhà... Nhưng những đồ cổ từ nhà Minh, nhà Thanh, do các sứ thần, các lái buôn gửi đến, thì Huy đều nhận cả...
Lại những thứ lạ như đồng hồ phương Tây, kính viễn vọng Huy để vài cái để giải trí và thoả mãn tính tò mò của khách, còn phần lớn Huy giao cho một gia nhân tin cẩn móc nối với các vương hầu đang ham của lạ, mới, đem đổi lấy đồ cổ hoặc định giá bằng vàng bạc.
Lại có những đại quan nhân đem chim thú lạ biếu Quận Huy, thứ gì quý đẹp, Huy đem biếu Chúa, như con vượn bạc má, con khỉ mặc quần, chim thanh yến, đồi mồi, báo gấm... khiến cho đại hoa viên của Chúa Trịnh thành nơi thưởng ngoạn bậc nhất của kinh đô.
Một bận một thương gia Ý đem đến một giống hồng trồng tận chân núi Địa Trung Hải, cánh đen, nhị vàng, lộng lẫy, kiêu sa, lại gửi kèm theo một cuốn sách nhỏ dặn dò kỹ lưỡng cách chăm sóc, Huy đem vào biếu Tuyên Phi Đặng Thị Huệ, Tuyên Phi thích lắm, mời Chúa đến thưởng hoa và xem tuồng Tạ Ngọc Lân lăn lửa.
Chúa Trịnh rất vui, đêm ấy ở lại với Đặng Thị Huệ, không kiêng cữ. Lại đem chậu hoa về phòng thắp nến suốt đêm, trò chuyện ân ái đến tận sáng, hôm sau Chúa ngủ đến tận lúc mặt trời bằng con sào mới dậy.
Huệ hết lòng hầu hạ, khi dậy, Chúa còn đê mê trong hương hồng đen lan toả trong phòng. Buổi ấy, Chúa thường nhắc với Đặng Tuyên Phi, coi như một đêm mỹ mãn với Phi. Và cả hai người hết lòng tin cậy Quận Huy, yên tâm mà trao quyền bính để Quận Huy có thể một mình cáng đáng trong lúc Thánh thể chưa thật cường tráng như xưa...
Quận Huy dựa vào quân cấm vệ lúc ban đầu để tham gia triều chính. Đám quân Thanh Nghệ được Huy cho hưởng những bổng lộc đặc biệt. Có khi chúng yêu sách rượu thịt, tiền nong, Huy cũng phải chiều.
Khi Quận Huy lăn lưng vào thao túng triều đình, việc quân chểnh mảng đi, lo kéo bè, kết cánh, thì bọn kiêu binh lại càng lên nước. Chúng thường bỏ doanh trại ra băm sáu phố phường, la cà các quán rượu, ở những cửa hàng để rong chơi.
Chúng tụ tập bạc bài, gà chọi, có đứa đem cả ca nữ về doanh trại để hát... Chúng kết liên thành từng nhóm, đồng huyện, đồng xã, để đi hạnh họe dân chúng... Những quán ăn lớn có lúc bàn nào cũng đầy nghẹt áo kiêu binh. Chúng ba hoa, ăn nói sỗ sàng, tục tĩu, trêu chọc các bàn ăn khác. Ai nhẫn nhục thì thôi, ai tức bực kháng cự, thì chúng bâu đến, gây sự, nhẹ thì cạo lông mày, cạo một bên râu, thậm chí lột quần áo, vứt ra ngoài đường rồi cười hô hố; nặng thì chúng rút đoản dao dí vào ngực, bắt tự mình nộp hết tiền bạc dắt trong người, lại phải sụp lạy, đập đầu xuống đất để tạ lỗi...
Dân chúng kêu ca đến tai Quận Huy, Huy gọi mấy tên chỉ huy đến quở trách, rồi lấy mấy đứa hung hãn làm quá đem phạt, đem đầy răn bảo... Chúng bớt được vài bữa, sau lại đâu hoàn đấy... Quận Huy có bận những việc khác, nên đành thả lỏng việc quân ngũ, định bụng sẽ có lúc phải rèn cặp lại... Trước mắt, Quận Huy hết sức chiều chuộng đội quân thiện chiến và cũng khá bất kham này...
Đặng Thị Huệ thấy Trịnh Sâm không được khoẻ như trước mà Vương tử Cán vẫn còn bé, nếu theo như tục lệ thông thường, thì bao giờ mới được lập phủ Thế tử. Do đó, Huệ cho gọi Quận Huy vào và hỏi:
- Ông còn đợi bao giờ mới nghĩ đến việc lập Vương tử Cán làm Thế Tử?
Quận Huy sửng sốt khi nhìn thấy mặt Đặng Thị Huệ đỏ bừng trong cơn giận dữ. Huy bàng hoàng thần người ra một lúc. Sao lại có người đẹp đến thế. Trong cơn giận, mắt Tuyên Phi long lên mà đen, ngực thở rộn ràng, gò má ửng hồng, thế chắc rắn cương nghị, một vẻ đẹp khác hẳn những người đàn bà khác.
Quận Huy thần người ra ngắm Tuyên Phi, đến nỗi không biết Tuyên Phi vừa nói gì. Đặng Thị Huệ cảm nhận được cái chất mê đắm của đàn ông trong phút chốc ấy, nhưng nàng đâu có để ý, mà là chuyện ngôi Thế tử của đứa con trai.
Huệ gặng một lần nữa:
- Khi ông chạy sang cửa ta, ông hứa hẹn ra sao? Bây giờ quên hết rồi ư?
Quận Huy như bừng tỉnh vội thưa:
- Ơn lớn của Tuyên Phi tôi ghi lòng khắc cốt, có bao giờ dám quên.
- Vậy thì làm những gì mà ta bảo đi chứ...
- Dạ thưa...
- Thưa... thưa... cái gì?
- Tôi làm sao nói cho hết được trăm quan đồng thanh lập Vương tử Cán làm Thế tử được, nhất là Vương tử chưa đủ tuổi lập phủ đệ riêng.
Tuyên Phi hứ một tiếng khinh bạc, rồi nói thẳng vào mặt Quận Huy:
- Ông mà cũng ăn nói kiểu ấy với ta ư? Nói trắng ra là ông không hết lòng. Khi ông đến với Thế tử Tông, ông đem nhiều vàng bạc lắm kia mà. Khi ông quay về phò tá Chúa và ta, ông cũng biết đem các thứ mà Chúa và ta thích để tặng. Còn bây giờ trong trăm quan, kiếm lấy một vị ở phủ Tham tụng hoặc Bồi tụng dễ bảo, làm một tờ sớ, nói đến việc phải định vị Thế tử cho yên lòng dân, rồi sai người đi lấy sự ủng hộ của những người cùng phe cánh của ta ở các dinh phủ, các viện. Người nào có công nhiều hứa sẽ thăng chức lớn, người nào công vừa thăng chức vừa, người công nhỏ nhất cũng thăng một vài trật. Vàng lụa trong kho ta đó, ta giữ làm gì, ngươi cứ bảo nội tán, các bảo mẫu lấy mà trang trải, việc gì mà không xong.
Quận Huy cúi mặt, ngắm lén Tuyên Phi rồi vờ tâu:
- Nhưng tôi làm sao lay chuyển được ý tứ Thánh mẫu thái tôn...
- Việc ấy để ta nói với Chúa. Không cần phải đến ông? Được chưa?
- Dạ được...
Quận Huy về nhà, liền đi ngay đến phủ Khanh Quận Công Trịnh Kiều và Hoàng quận công Nguyễn Hoàn, cả hai đều ưng thuận ngay.
Kiều là chú của Trịnh Sâm, Hoàn là thầy học của Trịnh Sâm, nên hai vị đều hăng hái. Nguyễn Hoàn thảo sớ, Trịnh Kiều thì thân xuất ban tâu trước ngôi Chúa xin định vị ngôi Thế tử. Trịnh Sâm ra vẻ như trù trừ chưa quyết, thì một loạt các quan đại thần đã được Quận Huy mách bảo hãy a tòng vào việc lập Thế tử, người trước người sau, mỗi người viện một lẽ đều đến việc Chúa phải phá nếp cũ, không chờ Vương tử Cán đủ tuổi mới cho mở phủ, dựng ngôi, mà phải phong cho Cán ngay từ bây giờ...
Trịnh Sâm tưởng trăm quan đều hết lòng với mình, lòng rất vui, nhưng hẹn để buổi chầu sau sẽ quyết định, rồi lui về phủ Chúa.
Ngay chiều hôm đó, chính phi, các quí phi là Dương Ngọc Hoan, Trương Ngọc Khoan, Trần Thị Lộc và các bà tiệp dư khác, bị Chúa bỏ quên trong cung, đều ghen tức với Tuyên Phi liền kéo đến Thánh mẫu nói Người hãy ngăn việc lập Thế tử Cán. Thánh mẫu thái tôn liền đi ngay sang phủ Chúa. Trịnh Sâm thấy mẹ đến, vội ra tiếp đón. Thánh mẫu hỏi han sức khoẻ của Chúa rồi ra đại hoa viên xem hoa... Tuyên Phi cũng xin đi hầu, nhưng Thánh mẫu giơ tay nói không cần.
Xem hoa xong, trở lại phủ Chúa, Trịnh Sâm gọi dâng yến cho mẹ, nhưng Thánh mẫu xua tay nói rất ân cần:
- Mẹ không ăn đâu con ạ. Mẹ chỉ muốn nói riêng với con một điều quan trọng, con có nghe không?
Trịnh Sâm đuổi hết tả hữu người hầu ra ngoài, Thánh mẫu nói:
- Mẹ tự hào về con. Cha con nối nghiệp bác con mà họ Trịnh giữ vững được giang sơn. Đến đời con, việc chọn lập Thế Tử đúng, nên con đã không hổ với cha ông làm cho họ Trịnh vẻ vang thêm. Nước non mở rộng, nước láng giềng triều cống, trăm quan nhiều người tài giỏi đáng tin cậy... Chỉ có việc lập Thế Tử, nếu con chọn đúng người kế vị thì tức là tụ hội được đức tin, yên triều chính. Ta nghe nói con định lập cháu Cán làm Thế tử ư?
- Thưa mẹ, đó là ý của triều đình. Họ cũng có những ý nghĩ tốt đẹp như mẹ về vận mệnh quốc gia. Do đó, họ thấy Vương tử Cán xứng đáng với ngôi Thế tử, họ dâng sớ và đồng thanh mong con định vị ngôi kế nghiệp Chúa cho yên lòng dân thôi. Chẳng hay mẹ không bằng lòng hay sao?
Thái Tôn Thánh mẫu dịu lời và nói:
- Trịnh Tông và Trịnh Cán đều là cháu của ta cả. Việc phế trưởng lập thứ, nếu như đúng với tôn vị, tài năng thì cũng là lẽ thường trong thiên hạ, ta cũng chẳng cần bàn thêm với con. Họ Trịnh ta, từ hồi Thế Tổ dựng nghiệp đến nay, cũng từng xảy ra rồi. Mẹ không hề coi Cán hơn Tông, hay Tông hơn Cán. Có điều Trịnh Tông đã lớn tuổi và khoẻ  mạnh, còn Vương tử Cán còn nhỏ tuổi, lại đau yếu luôn... Chúa hãy tạm lui lại việc đặt người vào ngôi Đông cung có được không?
Trịnh Sâm biết mẹ không ưng Tuyên Phi và Trịnh Cán, song cũng không dám nói năng quá lời, chỉ thưa rằng:
- Thưa mẹ, con đã nghĩ rất nhiều. Nếu tạm lui, tạm khất mãi, ngôi Đông cung chưa hẳn là ai, thì chỉ là đầu mối sinh ra bè cánh... Do đó, con phải lo toan từ bây giờ. Ngôi tôn của thiên hạ, không thể coi thường, phải giao phó vào tay người xứng đáng. Con ở ngôi Chúa, lấy xã tắc làm trọng, không thể đem tình riêng đem ngôi Chúa cho đứa con này, hay đứa con kia. Trịnh Tông là thằng bất hiếu, thiên hạ biết đã giăng giăng..., cho nó ngồi ngôi Chúa được ư? Cha chưa chết đã lo tiếm ngôi, tội ấy không chém là may... Còn mẹ lo Vương tử Cán còn ít tuổi, thì con đâu đã già. Nó thông minh, tuấn tú, có thể tin được. Còn như nó yếu đuối, thì cả nước này không lo chữa được cho nó ư? Đến bệnh đậu, nguy hiểm là thế nó cũng vượt qua được, thì nó ắt thành người, mẹ không phải lo… Giả dụ, trời không tác phúc cho dòng này, thằng Cán bệnh không khỏi, thì con cũng không trao ngôi Chúa cho cái thằng con hư đã gây ra vụ án năm Canh Tý được, con thà trả lại ngôi Chúa cho con Quận Công, để dòng trưởng lại lo việc quốc gia đại sự còn hơn.
Thánh mẫu thái tôn thấy ý Chúa đã quyết như thế không dám nói gì thêm.
Ngay hôm ấy, Trịnh Sâm họp trăm quan, sai làm tờ tâu lên vua Lê Hiển Tông xin lập Trịnh Cán làm Đông cung thế tử...
Đặng Thị Huệ và Quận Huy hả hê lắm. Bè cánh của Tuyên Phi lại được một phen nịnh bợ và cố lấy lòng Huệ và Huy. Dân chúng ghét cả hai, liền đặt vè:
Thằng Quận mà quấn cành hoa
Cành hoa đang nở loà xoà Quận ơi.
Bao giờ cho đến tháng mười,
Cành hoa héo quắt Quận thời cũng tong
Lẳng lơ con đĩ đánh bồng
Để cho thằng Quận đèo bòng đa mang...
Tịch tình tang, tịch tình tang
Bao giờ thì hết đa mang đèo bòng...
 
0

9

 
Kiêu binh ở thành Thăng Long đã dần dần tụ hội lại với nhau. Quân lính ở Thanh Hoá, phần lớn được tuyển từ các huyện Nga Sơn, Hoằng Hoá,... Hà Trung và ở phía bắc tỉnh, đều là vùng đất khởi nghiệp của Chúa Trịnh nên đều hết lòng với họ Trịnh. Mạn Lam Sơn thì tuyệt nhiên không được ở lính cấm vệ, trừ mấy tên lính già, theo vua Lê từ còn nhỏ. Lính Thanh thường khó bảo, lúc ngả theo ngành cả, lúc ngả theo ngành thứ, nên cũng khó chiều.
Vả lại, từ khi những viên quận công xứ Nghệ có công lập phòng tuyến chống lại nhà Nguyễn, rồi về triều cầm quân Ngự Lâm, nên thường đem những lính tâm phúc của mình theo về. Người Nghệ có máu ngang tàng, lại dễ đem mồi lợi trước mặt ra nhử, cho nên dưới thời Chúa Trịnh Sâm, cấm binh trong hoàng thành, lính Nghệ gấp đôi lính Thanh. Kịp khi Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc, quyền uy lấn lướt trăm quan, thì ở Hoàng thành, đâu đâu cũng gặp những tên lính đi đứng ngang tàng, nói năng chọ chẹ...
Lính kiêu binh xa nhà, hám lợi, thấy gì đều vơ vét tích cóp. Trong trại lính chỗ nào cũng ăm ắp hòm xiểng. Từ những tên chỉ huy đến những gã lính trẻ măng mới tuyển, hòm xiểng cứ ăm ắp, đặt đầy ở dưới gầm giường. Nhiều đứa có bà con buôn bán ở băm sáu phố phường thì đem của cải ra phố gửi. Mỗi khi được về phép, đứa nào đứa nấy hì hục sắp xếp, khuân vác có khi thâu đêm suốt sáng.
Trong doanh trại cũng có những cuộc đổi chác mua bán ngầm. Những lính cũ thường dắt đám lính mới vào phe. Hương xã nào rủ người hương xã ấy. Không có người cùng Hương xã thì kết liên với người cùng huyện ki cóp từng đồng, từng món để đến khi mãn lính về quê, cố làm một cuộc đổi đời.
Từ lúc Chúa Trịnh bị ốm, việc quân có phần xao nhãng hơn xưa. Nhất là khi Quận Huy đang tổ chức quan võ được đưa vào phủ Tham Tụng rồi hầu hạ bên phủ Chúa, nên đám kiêu binh hoàn toàn do người Nghệ cai quản.
Phường Khán Xuân vốn gần với phủ Chúa, do đó đám kiêu binh có dăm ba chữ hoặc tài ăn nói cũng hay ra quán gặp gỡ uống rượu ở tửu quán. Khán Xuân hai dãy quán rất dài. Có những tửu quán kiêm ca quán. Vào ca quán tốn tiền, phải là những công tử hoặc những quân nhân phong lưu nho nhã mới dám bén mảng. Bọn kiêu binh thì chỉ dám la cà ở các tửu quán mà thôi. Trong phường Khán Xuân, có một tên biện lại ở Kinh, người huyện Thanh Chương, Nghệ An, ở làng Bằng, tên là Vũ. Vũ vốn dòng công thần nhà Lê, từ thuở đức Thái Tổ, nhưng sau con cháu cậy quyền thế, lấn át người, bị dân trong vùng ghét, nhân chuyện cướp ruộng kéo đến kiện cáo rồi phá nhà đến khuynh gia bại sản. Đến đời Vũ thì sa sút, túng bấn, phải vào rừng ra chợ để kiếm sống.
Song đất Thanh Chương là đất học, Vũ cũng là người có chí, linh lợi, nên cũng đóng sách được dăm bảy tháng. Nhà ở bên nhà thầy đồ, tối tối cắp sách sang hỏi, nên cũng đọc thông viết thạo. Vũ lại thích các loại truyện và sử, mượn sách thầy mà đọc, do đó cũng vỡ vạc ra nhiều lắm.
Một hôm, quán mưa, vắng khách, Vũ cũng ở nhà, thấy một người khách có vẻ người miền trong, ngồi khuất vào một góc, lầm lì uống rượu, không nói gì cả.
Thấy vậy, Vũ từ trong nhà bước ra hỏi:
- Vũ vô kiềm toả năng lưu khách. Duyên mưa nên mới được gặp người. Tôi nghe giọng gọi nhắm của Ngài, biết Ngài là người miền trong. Chẳng hay quí tính cao danh của Ngài là gì và người ở đâu ta ạ....
Thấy chủ quán có vẻ ân cần, lại giọng đồng hương nên khách cũng đứng dậy thi lễ, rồi nói:
- Tôi họ Bùi, tên Bật Trực, quê lại làng Yên ở huyện La Sơn, vốn đã làm đến chức viên ngoại lang. Vừa rồi không biết nịnh quan trên ngả theo Quận Huy, nên mất chức...
Vũ thấy nói đến Quận Huy, nổi cơn giận nói:
- Quận Huy chẳng qua bám váy Tuyên Phi mà leo lên đầu lên cổ thiên hạ, chứ nó tài cán gì. Triều đình từ ngày Chúa ốm cũng “ốm lơ ôm lửng” hỏng cả lũ rồi!
Bùi Bật Trực vội lấy tay che miệng Vũ:
- Ấy chết, đây là nơi tửu quán, xin ông giữ mồm giữ miệng.
Vũ nói:
- Ông đừng lo, ca quán, tửu quán, họ chỉ lo làm tiền chứ họ chú ý gì đến chính sự. Còn những đám khách thân ai, sơ ai trong phủ Chúa, Vũ này còn lạ gì nữa.
Bậc Trực có vẻ mến Vũ liền nói:
- Ông cho biết quý danh đi. Chẳng hay người ở đâu mà khảng khái vậy.
- Tôi dòng dõi công thần nhà Lê đây, tổ nhà tôi theo đức Thái Tổ khởi nghiệp, quê ở huyện Thanh Chương... Tôi tên là Vũ, ở làng Bằng, cho nên lên tên chữ luôn là Bằng Vũ.
- Hoá ra ông cũng là người ven sông Lam đấy! Chỉ có điều ông ở Thượng nguồn, còn tôi ở gần biển mà thôi...
- Tôi thấy ông cho biết lai lịch thì xem ra ông cũng không ưa gì Quận Huy.
- Người nịnh, người hám lợi thì theo Huy, chứ người có khí phách ai lại chịu.
- Tôi và ông chỉ dính dáng đến nhà vua một tí, chẳng bao giờ nó chịu dùng đâu.
- Ông thì tổ tiên còn phò Thái Tổ, chứ tôi cũng là người phò họ Trịnh chứ có phải hơi hám đến vua Lê đâu mà Quận Huy cũng không dùng.
- Sao thế?
- Chẳng là tôi có quen biết Chiêu Lĩnh bá, mà Chiêu Lĩnh bá thì lại là con Viêm quận công Nguyễn Trọng Viên vốn là em mẹ đức Thánh Mẫu Thái Tôn.
Vũ cười:
- Thế thì Quận Huy không dùng ông là phải! Bởi vì Thánh Mẫu Thái Tôn không ưa gì Tuyên Phi, lại có ý bênh Thế Tử cũ là Trịnh Tông!
- Ra ông cũng am tường việc trong phủ Chúa quá nhỉ?
- Thì ngày nào chẳng có người trong phủ ra uống rượu ở quán tôi. Chính tôi lại giúp anh em mua bán, sắm sửa nữa đấy chứ!
Bùi Bật Trực bùi ngùi nói:
- Người xứ Nghệ cương trực thẳng thắn, cho nên ít khi được trao cho những việc cẩn trọng.
- Ông lầm rồi, ông Nguyễn Khản, người huyện Nghi Xuân, con Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, bạn với Chúa, được tin cậy hết lòng một thời đó thôi.
- Nhưng từ khi Huy Quận lên, thì Nguyễn Khản cũng lao đao suýt bỏ mạng. Sau vụ án Canh Tý phải lẩn trốn vào trong đám dân giã, có dám ló mặt ra đâu.
Vũ giậm chân nói:
- Thằng Quận Huy chó chết, ta phải bàn với anh em kiêu binh vặt lông gí... nó đi mới được.
Bùi Bật Trực xụyt một tiếng rồi nói:
- Nếu ông hết lòng diệt quận Huy thì ta nên kết làm anh em, mưu đại sự...
Vũ bằng lòng ngay...
Hai người uống cạn vò rượu rồi bàn bạc mãi cho đến lúc tan mưa mới đứng dậy.
 
*
*        *
 
Trịnh Sâm từ sau lần ốm dậy, tưởng lại khoẻ lên, nào ngờ, gặp những chuyện rắc rối trong việc phế Thế tử Tông, lập Thế tử Cán, dù là người điềm tĩnh, song gặp phải những điều tư lự, nghĩ hết mọi nhẽ, mong vỗ yên được triều đình và trăm họ, nên thần thái suy nhược, lưng đau, tay buốt, sợ gió, sợ nắng... Có một lần, để tỏ ra phong độ của mình vẫn như xưa, Chúa Trịnh lại dạo chơi Hồ Tây... Hàng năm, Chúa ốm lâu, các hành cung đều quạnh vắng, bữa ấy chỗ nào cũng hân hoan chờ Chúa đến.
Trịnh Sâm lên du thuyền từ bờ Hồ Tây, đi thăm lễ các chùa chiền cùng Tuyên Phi và Thế tử, sau đó lên núi Tử Trầm, núi Dục Thuý, lại quay về cung Thụy Liên. Chúa đi đến đâu, đàn sáo tấu nhạc vang lừng, các thị tỳ đem những bài ca, điệu múa hay ra trình diễn để Chúa xem. Mỗi chỗ, Chúa xem một ít, ban thưởng cho tiền bạc, lại đi nơi khác.
Ở cung Thụy Liên, đám quan võ dàn binh lính cờ xí ra khắp bốn mặt hồ và chiến tướng mặc áo võ bào, uy nghi lẫm liệt, dẫn Chúa đến duyệt đơn vị. Chúa ban rượu thịt và tiền thưởng cho họ. Riêng đám quan hoạn, nội sai thì lại vận quần áo đàn bà, bày bán các đồ nữ trang, các đồ chơi của các nhà buôn vượt biển mang đến, những lọ cổ, cây cảnh chúng nhặt nhạnh hoặc chiếm đoạt được ở đâu không rõ, đều đem bầy bán. Từ lâu, ốm đau không chơi Hồ Tây được, lần này Chúa mua khá nhiều, mua cho Tuyên Phi, cho Thế tử, cho Quận Huy và những người Chúa yêu quý trong cung vì có công hầu hạ khi Chúa ốm, hoặc giúp Chúa tố cáo kẻ phản nghịch, hoặc lập công ngoài biên trấn...
Lần đi chơi ấy của Chúa, những kẻ trung thành với Chúa, gần gũi nhất trong phủ Chúa, đều hả hê... Có người vừa được ban thưởng vừa bán được hàng hoá, có đến hàng trăm lạng...
Tiếng tăm Chúa hào phóng, biết người biết của lại đồn vang khắp kinh thành.
Chúa về hơi mệt bởi đi quá nhiều, làm quá sức. Hôm sau Chúa lại bỏ buổi chầu. Người không được khoẻ như mấy hôm trước.
Những buổi cần thư giãn, Chúa hay đến bên hoa viên, về mùa xuân, Trịnh Sâm thích ngồi bên mấy đám hồng trà. Về mùa hạ, Chúa ngồi bên hòn non bộ đẹp nhất, phía dưới là bãi cỏ phẳng, là là đến tận mép hồ. Một vườn lựu đầy hoa đỏ lấp ló trong những bụi lá trông như lũ bướm đến mở hội, toàn một loại bướm đỏ...
Chúa ngồi đón gió xem mặt trời lặn trên hồ, toả ra một ráng đỏ trên nền xa, ánh hoàng hôn phủ lên mặt hồ, phả vào những vườn lựu, gió có hương cây từ phía sau thổi đến. Chúa ngồi trên tảng đá đông để hồn mình hoà với cỏ, với cây, với sông, với hồ, ngắm trời ngắm đất, lòng dịu đi trăm điều suy nghĩ, đắm mình vào việc nước triền miên suốt cả một ngày...
Lúc đó tiếng chuông chùa vọng đến. Cả chiều trời như cùng huyền diệu theo những tiếng riêng của cõi từ bi, lòng Chúa nghĩ đến luân hồi, đến thiện ác thật vời vợi.
Mùa thu, Chúa thăm vườn cúc, vườn mẫu đơn, và có khi gọi rượu, gọi trà uống trong lúc chiều buông. Có lúc Chúa xuống thuyền một mình, đem theo một nội thần, men hồ đến khu rừng bàng Yên Thái để ngắm ánh vàng đỏ của tán lá óng ánh nắng chiều...
Chúa Trịnh là một thi nhân trong từng phút giây dành riêng cho Chúa.
Từ ngày gặp Tuyên Phi, Chúa thấy được thêm một điều. Cả một đời chinh chiến, ngồi trên ngôi Chúa tể thiên hạ, sống giữa những sự giàu sang tột đỉnh, cung tần mỹ nữ đến bên cung vua cũng không nhập nhịp và mỹ lệ bằng... nhưng Chúa không hám lắm sự giàu sang. Chúa rất thích gần những người đẹp khi đèn lồng trong Phủ thắp riêng rực rỡ. Có buổi Chúa cùng các bà phi xem hát. Cuối tuần Chúa sang chầu Thánh mẫu thái tôn, vấn an sức khoẻ của Người rồi lại về cung chuyện trò riêng...
Chúa gần ba người đẹp nổi tiếng trong nước Ngọc Khoan, Trần Thị Lộc, và bây giờ là Tuyên Phi Đặng Thị Huệ. Chúa hợp với Huệ hơn cả. Huệ có sức hấp dẫn của người đàn bà đẹp, và hình như sống hết mình cho Chúa. Huệ có những lúc đòi nọ, đòi kia, nhưng không phải là ham của, thích giàu sang, mà đến từ tình thương của người mà có. Huệ yêu em quá mức đến nỗi Đặng Mậu Lân lộng quyền quá đáng đến hư hỏng. Huệ yêu Chúa, quý Chúa như tận đáy lòng. Từ ngày được Chúa yêu, thì nhất nhất từ việc ăn mặc của Chúa; đi xa, đi gần, Huệ đều tự tay chăm sóc ân cần, những cử chỉ chỉ ở Huệ mới có... Huệ lại có những vẻ đẹp tự nhiên, áo đơn áo kép, Huệ mặc đều đẹp. Những lúc Huệ chải tóc, Chúa cứ muốn ngắm Huệ mãi không thôi. Bàn tay Huệ lam lũ từ nhỏ nhưng vẫn đẹp. Tay hồng, ngón thon, nắm vào ấm rực...
Huệ lại chịu học, chịu đọc, chịu hỏi, nói năng tự nhiên, không nể sợ như những bà phi khác.
Những ngày Chúa ốm, Huệ không chú ý đến trang điểm, ngày đêm hầu hạ bên giường ngự.
Thuốc tự sắc, tự nếm, nâng Chúa dậy, ngọt ngào mời uống. Nệm giường Huệ tự trải, tự xếp. Huệ đoán được lúc Chúa muốn ngồi dậy, muốn đi dạo, hoặc gọi mình đến bên để hỏi han trò chuyện. Có hôm, Chúa thiếp thiếp trên giường hai, ba ngày, Huệ lo lắng ngồi hầu đến quên ăn, quên ngủ, quên cả đến với đứa con trai yêu quý.
Các thị nữ hầu hạ cùng Huệ bên Chúa đều thuật lại cho Chúa biết. Đến Thánh mẫu Thái Tôn, không ưa gì Huệ, mà thấy Huệ hết lòng nâng giấc Chúa, cũng phải mủi lòng. Từ đó bà đến thăm Chúa cũng hỏi han Huệ dăm, ba câu. Lại thấy Huệ lo lắng đến võ vàng, Thánh mẫu còn cho thị tỳ đến ban cho một cân bạch sâm, bảo Huệ phải lo đến sức khoẻ.
Khi Chúa bình phục, gần Huệ, có lúc muốn ân ái, nhưng Huệ hết sức can ngăn, hẹn Chúa chờ cho đến lúc thật khang kiện, lời lẽ rất chí tình, Chúa đành phải nghe. Những đêm ấy, Huệ nằm bên Chúa, kể nhiều chuyện vui cho Chúa nghe. Chúa cười nói rất hoan hỉ, rồi ngủ thật ngon lành. Sáng dậy, Chúa mặc triều phục ra coi chầu. Huệ tiễn Chúa, Chúa còn quyến luyến cầm tay nói đùa:
- Ở trong cung vui với nàng thích bằng mấy việc phải ra ngồi lên ngôi Chúa!
Huệ níu lấy tay Chúa nói:
- Thế thì Chúa là thường dân đi!
Chúa cười nói:
- Đợi ta coi chầu xong, ta sẽ làm thường dân một buổi.
Bữa ấy, Chúa mặc áo dân chài, xuống thuyền nan, ra bờ hồ câu cá. May sao bữa ấy, được khá nhiều cá! Chúa đem về vui vẻ bảo Tuyên Phi:
- Này bà chài ơi, đem cá mà nấu ăn đi chứ!
Đặng Thị Huệ đón giỏ cá, rất ngạc nhiên. Nàng vừa ở bên quê ngoại về, vội vàng cởi áo dài, mặc áo ngắn, đem cá ra mổ, nấu nồi canh cá giấm rất ngon dâng Chúa. Chúa thích lắm...
Hôm sau tiếng đồn giăng giăng ra ngoài hoàng thành. Có người nói Chúa đã mê Huệ đến nỗi quên cả nghi thức Chúa tể... Có người thì lại thích thú ca ngợi tính ưa phóng khoáng dân giã của Người. Lần này thì Chúa ốm lại.
Chúa hụt hẫng, đêm nằm hay mê sảng. Ban ngày Trịnh Sâm tư lự bên cửa sổ, Thị Huệ vẫn quẩn quanh bên Chúa. Linh tính của Huệ cho thấy có một điều gì hệ trọng sắp xảy ra... Trịnh Cán, từ lúc được phong Thế tử, thì vẫn là đứa trẻ con, nuôi trong nhung lụa, gấm vóc. Hàng tháng, hàng năm sức khoẻ của Cán chẳng bao giờ dư dật. Tuyên Phi có nhiều nỗi lo ngấm ngầm ở trong lòng, không dám nói ra...
Cán được phong Thế tử, một bầu đoàn đại thần được Chúa uỷ nhiệm theo phò tá. Ba ông a bảo, một ông tả tư giảng, một ông hữu tư giảng, mấy ông tiến sĩ trợ giảng, hôm nào cũng hong hóng ở bên phủ Thế tử, nhưng nào có công việc gì! Thế tử rốn vẫn lồi, chân vẫn khẳng khiu, vẫn biếng ăn, vẫn không rời khỏi mấy ông thầy thuốc. Chiếc ngai Thế tử ngự ngồi có một bận, nào đã được ngồi vào lần thứ hai. Chỉ khổ cho đám nô tỳ và nội sai. Lau rửa chăm sóc các đồ nghi vệ, nội thất, sáng nào cũng như sáng nào, mà chẳng được đón ngôi tôn giáng lâm...
Do đó, phủ Thế tử, chợt biến thành những khu hoa viên cho họ. Mấy ông a bảo, ngồi bên ghế đá đọc sách, thỉnh thoảng họ lại sà vào chiếc bàn cờ quân ngà đặt dưới vòm trúc. Có lúc ba bốn năm ông tiến sĩ tụ họp bàn một nghĩa sách của Kinh Dịch. Có một quẻ sơ cửu mở đầu, gồm vẻn vẹn năm chữ “Càn Nguyên Hanh Lợi Thinh” mà các ông bàn suốt cả buổi. Lúc đầu còn từ tốn, sau tức nhau về chữ nghĩa, mặt đỏ phừng phừng, người này chê người kia dốt, người trẻ bảo người già bạc tóc vẫn chưa hết nghĩa sách, suýt nữa xảy ra xô xát. May có mấy ông a bảo đến can mới thôi.
Đám thị tì thì chia nhau thành từng nhóm, nhóm này hôm nay ở nhà lo công việc lau quét, hầu hạ nước nôi mấy bà bảo mẫu của Chúa và chăm cây tưới hoa, thì nhóm kia thay áo lẻn ra phố phường tranh thủ mua sắm, rồi gửi cho họ hàng bên ngoài những thứ quý giá, đổi chác được ở trong phủ, đem về những đồ nữ trang, những vật trang sức, những khăn áo mới bày bán ở băm sáu phố phường, bán lẫn cho nhau, và bán cho đám nội sai, nội thị.
Bọn quân hầu đầy tớ ở phủ Thế tử nhàn cư vi bất thiện, đứa thì rủ nhau ra phường Khán Xuân, rượu chè trai gái; đứa thì lấn quấn ở bên bờ hồ Tây lén lút đánh bạc, sát phạt lẫn nhau.
Chồng ốm, con đau, Tuyên Phi đêm nào cũng thắp hương ở điện thờ nhà mình, đến những chùa chiền chung quanh khấn vái.
Tiền thuốc, tiền thưởng cho thầy thuốc của Thế tử không biết bao nhiêu mà kể. Bây giờ bệnh của Chúa lại ngã lại, Đặng Thị Huệ lại càng lo.
Huệ sang nhà Quận Huy nói:
- Chúa Thượng ốm lần này, yếu như lần trước. Ta thì ở sâu trong cung cấm. Các danh y ở Thăng Long, tứ trấn, thầy Tầu, thầy ta, mời hết cả rồi, chỉ tốn tiền mà bệnh thì đãi thầy đãi thuốc rồi đâu lại đóng đấy... Ta lo lắm.
Nói rồi Huệ ứa nước mắt. Dáng Tuyên Phi buồn lại có một vẻ đẹp riêng. Quận Huy thừ người ngắm Tuyên Phi. Huệ nói tiếp:
- Ông nghĩ gì mà thừ người ra thế?
Quận Huy bừng tỉnh nói chữa:
- À., à..., tôi đang nghĩ đến một danh y.
- Ở đâu vậy?
- Ông thầy thuốc này là con một vị thượng thư tiền triều, tít tận vùng Hương Sơn kia... Ông là danh y của cả một vùng. Dân chúng sùng bái lắm. Các công khanh ở Thanh Nghệ có người nhà ốm đau đều cậy đến tay ông ấy cả...
- Sao ông không mời về chữa cho Thế tử và Chúa...
- Tôi có nghĩ đến trước đây. Song lại nghĩ, kinh đô là nơi nhân tài kiệt xuất, xứ Nghệ lại quá xa xôi. Vả lại, người ta là danh y của một vùng đất, con bệnh xa gần lúc nào chẳng thỉnh cầu, một sớm một chiều có dễ ra hầu được đâu... Hơn nữa, có mấy ông thầy cũng tin cẩn được, đang chữa cho Thế tử và Chúa, gọi về nhiều thầy chỉ tổ cho họ cãi lẫn nhau, người này gièm người kia, khiến cho quyến đoán bớt đi, chữa không được thẳng tay như ý. Vả lại kỳ ấy, bệnh của Chúa và Thế tử đều giảm.
Tuyên Phi nhăn mặt nói:
- Nhưng lần này thì phải mời ông ta thôi. Thế tử tuy không đến nỗi ngại lắm, nhưng ta muốn Ngài khoẻ, để sang bên phủ làm việc cho yên tâm thiên hạ... Còn bệnh của Chúa, xem ra... ta lo lắm...
- Lệnh bà đừng quá nghĩ. Phúc lộc của Chúa còn dày dặn lắm.
- Ta là vợ yêu của Chúa Thượng, phải lo cho Chúa khoẻ lại càng sớm càng tốt. Từ sau vụ án năm Canh Tý, lòng người phân tâm, tuy họ chưa dám ngọ ngoạy... Chúa ốm lần trước, thằng Tông đã trở mặt... Chúa lại nhân từ, không nỡ giết con, trị tận gốc. Mà nhà Trịnh, thì từ hồi lập nghiệp đã xảy ra vụ Trịnh Tráng - Trịnh Xuân, có một không hai trong sử sách. Ta không lo sao được.
Quận Huy cố tình hỏi trống không:
- Mấy thang thuốc của vị thiền sư chùa Quán Hoà, Chúa uống thấy thế nào?
- Chúa ngự yên được chút ít, nhưng trán vẫn nồng, bụng vẫn không tiêu, dáng vẫn mệt mỏi. Theo ta, ông hãy cho mời ông lang ở xứ Hương Sơn về đi. Ông ta tên là gì nhỉ?
- Dạ là Lê Hữu Trác, biệt hiệu Hải Thượng Lãn Ông.
Đặng Thị Huệ hứ một tiếng:
- Ông già lười à? Tên gì mà kỳ cục vậy!
- Thì người có tài mới hay bày ra cái trò khiêm nhường ấy. Xem ra ông ta không theo gương các anh không thi cử đỗ đạt gì, chỉ chuyên tâm về thuốc, cứu dân độ thế, ngoài thì giờ chữa bệnh thì làm thơ, gảy đàn, câu cá, sống theo kiểu nho sĩ ẩn dật... Nhưng y lý thì giỏi, chữa bệnh lừng danh, có người đã hộp quan, lại chữa cho sống được, có bệnh tưởng như bó tay mà xoay chuyển được tình thế. Hồi trấn nhậm ở trong ấy, đi đến đâu tôi cũng thấy dân chúng ca tụng ông ta...
- Vậy thì ông hãy cho người triệu ông ấy về đi...
Hôm ấy Quận Huy tâu với Chúa, xin sắc chỉ, rồi thảo thư cho Quan Trấn Thủ Nghệ An như sau:
“Quan nội sai Huy Quận Công Hoàng... vâng chiếu chỉ truyền cho quan trấn thủ Nghệ An là Côn Lĩnh Hầu, phái người ngay, tìm cho được một người thầy thuốc quê ở xã Liêu Xá, huyện Đường Hào, con một vị cố thượng thư tiền triều, người ấy là Lê Hữu Trác hiện ở quê ngoại tức xã Trịnh Diệm, huyện Hương Sơn Nghệ An. Phải dò tìm cho được đến nơi, rồi cho lính tới triệu về cung đợi mệnh.
Nay chỉ truyền
Năm Cảnh Hưng thứ 42 ngày 29 tháng 11”.
Lê Hữu Trác được vời, lấy cớ già yếu thoái thác, nhưng mấy hôm sau, được thư của quan trấn thủ, giục phải lên kinh ngay để chữa bệnh cho Thế tử.... Bức thư không dám nói đến chữa bệnh cho Chúa, sợ người biết được, kinh động lòng quân dân ở các tỉnh xa xôi gần biên trấn...
Hải Thượng Lãn Ông vội vã thu xếp lên đường ngay.
Trong Trịnh phủ, Chúa đã bớt đôi phần, đi lại đọc sách được. Tuyên Phi mừng lắm. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đến kinh đô, mãi không được vào hầu xem bệnh cho Thế tử. Quận Huy tiếp Lê Hữu Trác có một lần, tay bắt mặt mừng, rồi lại bấn búi vào công việc. Lê Hữu Trác ở chốn non xanh nước biếc đã lâu, về kinh đô, hôm nay xem bệnh của người này, ngày mai xem bệnh cho người kia, toàn là các quan nghe tiếng mà đến tìm. Hải Thượng Lãn Ông chữa được cho vài ba người, nhưng bệnh của họ thì khác hẳn với những người thế tục. Một bữa, một quan thái y, vốn cũng mến tài Hải Thượng Lãn Ông, mời về nhà chơi. Thấy ông chân tình, Lê Hữu Trác cũng thổ lộ hết những sầu muộn khi ngồi không, chờ việc ở kinh đô. Quan thái y họ Nguyễn nói:
- Chữa bệnh cho Vương hầu, phải chờ một tháng mới thực được sờ đến tay, bắt mạch. Nay cụ chữa bệnh cho vua chúa, chờ một tháng đã lấy gì làm lâu?
Lê Hữu Trác hỏi:
- Vậy Ngài trước kia vào hầu thuốc cho Thế tử chờ mất bao nhiêu ngày?
Thái y họ Nguyễn vuốt râu khoan hoà nói:
- Tôi phải sắm vai cao đạo mới được sớm vào hầu.
- Xin cho nghe chuyện.
- Có gì đâu, khác hẳn cái đám quan thái y đến trước tôi, tôi đến hầu ông Quận Huy, chờ đủ một tuần, rồi tuần thứ hai bỏ đấy, bảo với ông đang được chữa cho Thế tử rằng, tôi ở đây ở đó, nếu cần thì cứ gọi... Vài hôm tôi lại đến một lần, đến rồi lại đi...
Lê Hữu Trác reo lên:
- Hay lắm. Tôn ông thật là cao kiến, tôi có thể noi theo được. Tôi quê nội ở ngoài này, quê ngoại ở trong kia, hành nghề ở quê ngoại. Đường sá xa xôi đến hàng trăm dặm, rất ít được về. Nếu dịp này chưa được vào hầu bệnh có lẽ cũng xin về quê nội thăm bà con, họ hàng, sửa cái lễ bái yết phần mộ tổ tiên.
- Nên lắm! Thầy thuốc hầu Thế tử đến nay chính thức có đến mười ông. Còn nghe danh đến, chữa vài lần, rồi bãi miễn thì từ ngày Thế tử sinh đến nay sáu, bảy tuổi thì có đến hàng trăm rồi... Quan Chánh đường trước quen cũ, cụ lại chữa bệnh cho ông ấy... Chúng tôi được ông ấy ca ngợi cụ lắm, thế nào cụ cũng được vào hầu bệnh sớm.
Hải Thượng Lãn Ông nói:
- Tôi không ngờ chữa bệnh cho các nhà quyền quí cũng có một cách riêng. Trong kia, tôi cũng đã chữa cho các quan đầu tỉnh rồi, họ cũng quí thầy thuốc lắm!
- Ở trong ấy, to nhất là các quan trấn, rồi đến các phủ huyện, các chức sắc trên đầu ngón tay. Ở phủ Chúa, các đại thần có đến hàng ngàn, mà các thầy thuốc thì thực giả lẫn lộn. Đấy cái thằng thầy Tầu được đón vào, thực ra chỉ có bài thuốc chữa cam trẻ con, Thế tử uống hợp, đỡ mà bọn thái y hầu trong phủ Chúa kẻ nhiều cũng mười năm, kẻ ít như tôi cũng còn bốn năm, đều bị nó đánh bại cả. Thằng ấy khôn lắm, khi thấy Thế tử đã quen thuốc, nó bèn quay ra nói chuyện võ, rồi xin Chúa ban cho một chức quan ở đám ngự lâm, thế là cũng đủ phú quý một đời. Chữa bệnh cho vương hầu lạ lắm, cụ ạ..
- Tôi mói đến kinh đô được mấy bữa mà cũng cảm thấy thế. Chỉ muốn trở lại Hương Sơn, kiếm ăn bên mấy người làm ruộng, đánh cá, kiếm củi, họ nghèo, bổng lộc không nhiều, nhưng tình của họ thì chất phác, đôn hậu lắm!
- Tôi nghe cụ cũng đã được các bậc đại thần mời đến xem bệnh cho nhiều lắm kia mà.
- Cũng có đấy, nhưng bệnh của họ khác lắm, làm sao mà chữa được!
- Sao cụ lại nói thế?
- Bệnh của họ là bệnh giàu sang. Họ lao tâm tổn trí vào việc cạnh tranh danh vọng. Đến khi nhà giàu nứt đố đổ vách, giữ hết chức nọ, chức kia, sự cạnh tranh đối phó càng nhiều lắm! Quyền lực trong tay, rượu ngon gái đẹp, đêm nào cũng say, cũng đắm. Có người cũng xuất thân từ khoa bảng, đạo lý đầy mồm, nhưng bả giàu sang như một thứ ma tuý, dính vào trước lạ sau quen, rồi nghiện ngập không dứt ra nổi. Trường đời quăng lên quật xuống. Rượu gái tàn phá thân xác, thê thiếp người nào cũng lộng lẫy, một cái thân xác kia chia sẻ cho đủ các thứ đòi hỏi ấy, thì tim sắt cũng hư, thận bằng đồng cũng thủng. Tôi bắt mạch mười ông thì mạch ông nào cũng nổi mà gấp. Răng rụng rất sớm, da thịt bùng nhùng. Sâm nhung bồi bổ mấy cũng không lại được. Mà bệnh đã hỏng đến thiên chân, ham muốn vẫn không ngưng nghỉ thì làm sao chữa được. Đó bệnh Vương hầu, tôi xem mười ông thì giống nhau cả mười.
Nguyễn thái y vái Hải Thượng một vái và nói:
- Cụ quả là một danh y, là bậc thầy của tôi vậy.
Hôm sau Hải Thượng Lãn Ông lại đến chầu để vào thăm bệnh cho Thế Tử. Ông cũng muốn gặp Quận Huy, để xin phép được về quê. Lính canh chỉ cho sang chỗ quan Chánh đường đang ngồi hầu Chúa. Giữa đường, gặp được Quận Huy, Huy liền mời Lê Hữu Trác quay lại chỗ cũ, pha trà mời uống rồi bảo:
- Cụ ra ngoài này hẳn khác ở trong Châu Hoan chắc là vất vả lắm nhỉ?
Lê Hữu Trác tạ rằng:
- Tôi tuổi già sức yếu, tài cán chỉ dám tung tẩy ở nơi sơn lâm cùng cốc. Xin Quận Công thương mà xin cho được lui về.
- Không được, ta đã bẩm với Chúa Thượng, Ngài đã chuẩn y. Nhưng lệ của việc hầu thuốc Thế Tử có những quy định hãy nén lòng chờ đợi.
- Lâu ngày xa quê nội, chưa được về thăm, xin quan chánh đường cho phép về quê ít ngày, thì tôi thật đội ơn...
- Cụ đi có lâu không?
- Đường xa sông nước cũng phải mất mươi ngày.
- Không được! Mười ngày thì lâu quá, thôi cụ cứ đi năm ngày nhé!
Nói rồi Quận Huy chào lui về phủ...
Hải Thượng Lãn Ông vội vã thu xếp về quê ngay. Lê Hữu Trác ở quê được mấy hôm, chưa đi thăm hết được bà con bên nội, đã thấy có sắc chỉ của Chúa, gọi về ngay thăm bệnh cho Thế Tử. Ông không dám trù trừ vội cáo biệt thân thích, đi luôn.
Đi bộ, đi đò từ trưa hôm trước đến gần nửa đêm thì về đến nơi nghỉ. Sáng hôm sau, Hải Thượng Lãn Ông vội sửa soạn áo mũ lên kiệu vào phủ. Việc gấp, nên người phu kiệu la hét dẹp đường, kiệu chạy như bay, đám hầu hạ trong buổi sóm trời lạnh mà mồ hôi môi đầm trán, thở dốc... Vào phủ, thấy lính tráng nghi vệ đông hơn bữa trước vào. Hải Thượng Lãn Ông đến điếm chờ Hậu mã. Điếm trông ra hồ lớn. Mùa này lá sen vừa nở, đung đưa trên làn nước xanh. Nhà chờ sơn son thiếp vàng, kiểu cách nghi vệ đế vương rất tôn nghiêm. Riêng bộ ghế sơn màu cánh dán, thếp vàng, kiểu ghế nhà Minh, kèo đục chạm mai điểu, chiếc án thì cẩn những hoa văn sắc sảo, thếp vàng rực rõ. Mặt bàn, mặt đôn bóng loáng, điếu cổ, chén cổ, bầy đồ trà đợi khách. Vị trà rót ra thơm cả căn phòng, nhấp một chút, nóng ran trong miệng, tỉnh táo khác thường. Bên tường treo một bức tranh của người nhà Minh sang sứ tặng. Bức tranh sơn thuỷ, vẽ một con gà trống, đứng sau đá, đang nghển cổ gáy, dưới đề dòng chữ “nhất minh thiên hạ bạch”(1). Các danh y, thái y đều túc trực ở đây, xúm xít hỏi han. Quận Huy có mặt ở đấy, hỏi:
- Cụ về quê chơi có vui không?
- Đa tạ... Lâu ngày chưa được về quê. Lòng dạ cũng bời bời lắm. Thật là hợp với cảnh trong câu thơ Đường: “Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi”(2). Chỉ tiếc không được ở nhà lâu để chào hỏi ông chú bà bác.
Lê Hữu Trác thấy đám thầy thuốc đưa mắt nhìn nhau, không biết họ ưa mình, hay họ đang khích bác, chờ xem tài chữa bệnh, bốc thuốc của mình.
Vào trước phủ, Thế tử chưa dậy. Khi dậy mặt trời gần con sào, Lê Hữu Trác vẫn chưa thấy động tĩnh gì. Lại thấy người hầu từ phòng trong bưng mâm cơm ra. Quan chánh đường nói:
- Đã gần trưa, mời cụ dùng cơm với tôi, rồi ta sẽ vào hầu Thế tử.
Hải Thượng Lãn Ông rất ngạc nhiên, không ngờ mình lại được ưu ái đến như thế. Bữa cơm trong phủ Chúa, thịnh soạn lạ thường. Rượu rất ngon, thức nhắm đều là những thứ ngoài phố phường không kiếm đâu ra, lại được đầu bếp giỏi nấu nướng ăn ngon và hợp khẩu vị lắm. Xong bữa cơm có sức lực gấp mấy lúc trước, khí huyết vận động lưu thông, hoạt bát khác thường.
Quan chánh đường hầu như thuộc lầu giờ giấc chờ đợi, đưa thầy thuốc vào hầu bệnh. Để kiêng kỵ, mong cho Thế tử như thể là người mạnh giỏi nên ở phòng chờ xem bệnh cho Thế tử, ai nấy đều gọi thuốc là “chè”, từ các thị nữ cho đến các quan Thánh đường, họ gọi rất tự nhiên, quen miệng. Hải Thượng Lãn Ông hiểu ra ngay, và tự răn mình hãy nhớ kỹ, sợ khi hầu bệnh Thế tử lại buộc miệng nói sai với quy định. Vào đến “Phòng chè” thì các lối đi dẫn sang các nơi trong phủ Thế tử đã như mê hồn trận, Quận Huy sợ Hải Thượng Lãn Ông lạc lối, nên bảo:
- Cụ phải đi sát vào tôi, kẻo lạc đường, tôi dẫn thầy thuốc mà đến nơi ngoảnh không thấy, thì gay đấy...
Lê Hữu Trác thấy Quận Huy cũng là người ân cần, vui tính nên càng tự tin hơn. Thế tử người yếu, nên cửa ngoài vào rồi đóng lại, nơi chưa tới thì cửa chưa mở. Luồng đi tối đen. Có chỗ che màn gấm thì chỉ thấy một vạch trắng dọc, từ đấy mà bước theo cho kịp quan chánh đường.
Khi bước qua tấm rèm gấm che ngang thì thấy giữa luồng nhà kê một chiếc sập thếp vàng, trên có một cậu bé chừng năm, sáu tuổi đang ngồi, mặc áo vóc đại hồng, hai bên có mấy người đang đứng hầu. Cạnh sập, có một chiếc kỷ cũng sơn son thếp vàng, trên đặt một chiếc chăn gấm. Hải Thượng Lãn Ông đoán là để cho mình ngồi bắt mạch cho Thế Tử. Gian bên có một chiếc màn gấm che ngang, phía trong đèn lồng toả sáng, cung nhân mặt hoa da phấn, lúc ở bên buồng Thế tử, lúc sang bên ấy, Hải Thượng Lãn Ông đoán chắc là Chúa Trịnh vừa ngồi với Thế tử, thấy thầy thuốc đến liền lánh sang đó, để cho thầy xem mạch cho con trai mình.
Lê Hữu Trác được bảo dừng lại. Quận Huy tiến đến bên sập thái tử, cúi chào, rồi sang phòng Chúa ngự... Ít lâu sau lại thấy sang bên này và truyền lệnh:
- Lạy bốn lạy...
Ông già thầy thuốc, tóc bạc phơ, vội lom khom lạy đủ lễ trước Thế tử bé, Thế Tử nhìn ngắm Lê Hữu Trác lạy, cười bảo rằng:
- Người này lạy khéo!
Nghe người nói vui, bên trong có tiếng thị nữ khúc khích. Ý hẳn Chúa cũng vui vì câu nói đó.
Tiếng Quận Huy sang sảng:
- Thầy thuốc có tuổi, cho phép ngồi hầu mạch, không phải đứng.
Lê Hữu Trác ngồi xuống. Thế tử đặt tay lên chăn gấm, động tác rất quen thuộc, hẳn là Ngài đã quá quen với công việc này.
Xem mạch xong, nét mặt ông già đăm đăm tư lự thì phía bên trong có tiếng nói nhỏ, chắc là tiếng Chúa Trịnh.
- Cho xem cả thân thể nữa!
Người hầu đến thưa Thế tử cởi áo cho xem.
Ông già dí mặt xem sắc da, lấy tay xoa một lượt lên bụng, nắm bắp chân bắp tay, xem gan bàn tay, rất kỹ lưỡng.
Quan Chánh đường lại truyền lệnh:
- Thầy thuốc xem xong lạy tạ, rồi lui ra...
Thế tử chưa mặc áo xong, vẫn đứng trên sập. Lê Hữu Trác lạy hai lạy rồi theo quan tiểu hoàng môn ra ngồi ngoài phòng đợi.
Một lát sau Quận Huy trở ra bảo:
- Cụ xem mạch, thấy ra sao, cứ việc tâu rành rõ. Nên dùng thuốc thế nào, cứ kê đơn ra mọi thứ mà tâu lên.
- Thưa, vâng!
Quận Huy lại nói:
- Thế tử se mình có đến gần nửa năm. Ăn uống biếng, gày gò. Các thầy thuốc trước đoán bệnh kê đơn đã nhiều, nhưng xem ra bệnh chính chưa chuyển động là bao. Người bẩm sinh đã yếu, lại được giữ gìn quá mức, nên sức khoẻ bình thường. Bụng thường to, đầy, ăn không được bao. Cả ngày chỉ quanh việc dỗ uống thuốc, ăn cơm mà hết buổi. Có thầy thuốc dùng thuốc mạnh công bệnh thì bụng nóng, người mệt, không chịu nổi. Dùng thuốc lạnh, thì tay chân lại lạnh theo, việc tiêu hoá ứ trệ, càng ứ trệ, đại tiện sẻn liệu mà chữa. Nếu bệnh chuyển thì Chúa thượng và Tuyên Phi mừng lắm đấy.
Nói rồi, ông lại sai người trông coi thái y viện đem tất cả các đơn thuốc Thế tử đã dùng để Hải Thượng Lãn Ông tham khảo...
Quận Huy bây giờ chỉ biết có Trịnh Sâm và Đặng Thị Huệ. Huy lại hi vọng, nếu mình giúp rập Thế tử nên công chuyện, thì sau này, chức phụ chính đại thần, không thể nhường cho ai. Từ ngày Quận Huy ngả theo Đặng Tuyên Phi, biết bao nhiêu việc, Huy đã tận lực gồng người ra mà toan tính. Đám sĩ phu, quan lại Bắc Hà cũng dễ mua chuộc. Từ Nghệ An ra đây, Huy như một “hàng thần lơ láo”, thế rồi, vụ án Canh Tý phát giác, hạ bệ Trịnh Tông, diệt Nguyễn Khản, Nguyễn Khắc Tuân, đâu có phải chuyện đùa. Kịp đến, Huy lại giúp Đặng Tuyên Phi, lấy lòng bá quan, phong cho Trịnh Cán làm Thế tử... Trịnh Sâm và Đặng Thị Huệ đều hả hê... Quận Huy bây giờ chỉ mong sao chữa bệnh cho Trịnh Cán thành người khoẻ mạnh, để có thể nối được Trịnh nghiệp, đó là điều tâm đắc nhất. Do đó, thuốc men, thầy chữa bệnh của Thế Tử, một tay quan Chánh đường lo liệu hết cả.
Để cho Hải Thượng Lãn Ông đọc hết các đơn kê của thầy thuốc, Quận Huy lại triệu Lãn Ông đến mà hỏi:
- Ông thấy các thầy thuốc trước chữa bệnh cho Thế tử thế nào?
- Tôi kính xem các đơn thấy có hai điều gần giống nhau. Một loại đơn muốn trị có hiệu quả ngay, đau đâu trị đấy. Lại có một loại đơn thì lưỡng lự, chưa dứt khoát, lúc thiên về thận lúc thiên về gan, lúc thiên về tỳ... Đơn kê dễ hợp với người cho phép dùng đơn, mà chưa dám có chính kiến bạo dạn.
Quận Huy thấy Lãn Ông nói rất tự tin, sợ ông chưa thấy hiểu hết bệnh của Thế tử, vả lại, Huy cũng cho mình là người uyên bác, liền nói:
- Tôi theo dõi đã nhiều. Những vị thầy thuốc trước cũng là tay lừng danh ở kinh kỳ này đấy. Tôi cho rằng, y lý gì thì y lý, có bệnh là cứ phải chữa cái đã. Đuổi được tà khí rồi mới bổ. Đó chẳng là phép hay nhất sao?
Lãn Ông không nói gì, chỉ cười và ngắm gương mặt Quận Huy. Huy thấy hơi lạ, cau mày nói:
- Ông nhìn tôi như vậy, là ý tứ gì.
Lãn Ông biết Huy phật ý, liền xuề xoà:
- Tôi đang nghĩ người thầy thuốc cũng như Quận Công đấy. Nghĩa là làm tướng cầm quân, vừa phải giỏi binh pháp lại quen thực tiễn thì mới là tay thao lược được.
Quận Huy biết Lãn Ông không phải vừa, nhưng vì công việc chữa bệnh cho Thế tử, nên đứng dậy, bảo:
- Thôi ông cứ nghĩ cho kỹ rồi bốc thuốc kê đơn đi.
Lãn Ông nhớ lại những cảm giác chân xác ban đầu về mạch, về thanh, sắc, về da dẻ hình thể của Thế Tử. Trong thâm tâm, ông cho rằng Trịnh Cán sinh trưởng vào nơi quyền quý, bởi chăm lo quá mức, người khí sinh ra không được hoàn hảo như đám con cái người bình dân... Tạng phủ trời cho đã kém, nhồi nhét nhiều thứ quá bổ, nên lục phủ, ngũ tạng không kham nổi, đâm ra trệ. Rồi lại gặp đám thầy thuốc tâng công, thấy quan Chánh đường gợi ý, lại dùng thuốc công phạt. Thế tử như cây khô bị sâu, lại tống thuốc trị sâu vào, cây chịu sao nổi, đã hao kiệt lại càng hao kiệt. Do đó, sách lược hay cứ phải bổ đã. Thân thể tiếp thu được thì chữa bệnh sau cũng chưa muộn. Một nguyên do khác, khiến Lãn Ông không muốn trị bệnh cho Thế tử công hiệu nhanh, bởi ông sợ phải giữ lại kinh đô, sung vào Thái y viện, chầu chực chữa cho vua Chúa và cung tần mỹ nữ. Điều này ông rất khiếp sợ. Nếu mê mải thị thành, ham giàu sang, thì một người chịu học hỏi như ông, gia thế lại có người hiển đạt, thì theo nghề khoa cử, chứ theo nghề thuốc mà làm gì.
Khi quan chánh đường quay lại, chờ xem đơn ông kê, Lãn Ông đang hí húi ghi được mấy vị thuốc đầu, đang nghĩ tiếp. Quận Huy vui vẻ hỏi:
- Thế nào ông-già-lười, phương lược đã sẵn rồi chứ? Công hay thủ đấy?
Hải Thượng Lãn ông nói:
- Thưa quận công, tôi xét ngọc thể của Thế Tử gầy gò, mạch nhỏ yếu, đó là do âm dương có chút nào quan cách chưa điều hoà như người đồng lứa vốn có. Sách lược của tôi là phải dùng bổ cho hiệu lực tỳ và thận. Đó là củng cố gốc để lấy nhựa làm tươi tốt ngọn ngành, tạo lấy bản lĩnh của thân thể, lấy chính khí tự thân của Thế tử đuổi tà khí ở bên trong. Nếu phương lược này đúng, thì bệnh Thế tử chắc là khỏi.
Quận Huy nói:
- Tuyên Phi theo đuổi đến hàng chục danh y. Chúa thượng cũng là người biết y lý. Ta cho rằng phương sách của ông dẫu tốt, nhưng bệnh của Thế tử thì cần chuyển biến nhanh. Ta quý ông mới gà cho ông đấy. Ông thử xem xét kỹ lại chăng?
Lãn Ông nói:
- Tôi đã chẩn bệnh kỹ hơn người thường rất nhiều. Tôi chữa cho các trẻ năm sáu tuổi ngang lứa với Thế tử cũng nhiều, nhưng, chữa bệnh thì mỗi người một cách, với Thế tử, tôi nghĩ chỉ có cách vừa rồi là hợp nhất!
Quận Huy thấy vậy, khẽ thở dài và bảo:
- Thôi, cụ cứ kê đơn tiếp đi.
Lãn Ông liền cúi xuống ghi tiếp rằng:
“Thầy thuốc xứ Nghệ An là Lê Hữu Trác, vâng mệnh hầu mạch Thế tử xin được tâu bày:
- Vâng thấy mạch tế, sắc mà không có sức, biểu hiện âm hư của lá lách mà ra, hoả cửa dạ dày lại vượng, không thể giữ được dương khí, khiến lửa ngầm chạy loạn ra ở mọi nơi, không kiềm chế được. Do đó, bề ngoài thấy mập, nhưng là mập mềm nhẽo, không phải là hồng nhuận của thân thể khoẻ mạnh. Sự mập mạp đó là bề nổi, chứng tỏ trong rỗng, ngoài nổi mà thôi. Thần mạo muội được kết luận đó là căn nguyên từ tỳ thận mà ra, nhất là tỳ. Do đó phải bổ tỳ thì bệnh tự dẹp. Nay vâng kê đơn để lượng trên xem xét”.
Kê đơn xong, Lãn ông đưa cho Quận Huy. Một vài quan thái y cũng ghé mắt xem qua... Quận Huy đọc kỹ một lượt, rồi nói với đám thầy thuốc xung quanh:
- Phương thuốc của ông già này khác xa với chúng ta lắm!
Rồi cầm vào phía trong nhà để dâng lên cho Trịnh Sâm xem. Lãn Ông được về nhà nghỉ chờ mệnh tiếp.
Hôm sau, ông được gọi đến, quan chánh đường báo cho ông biết rằng, ông đã được Chúa ban thưởng cho chức Hộ-phiên-câu-kê, lại gọi quan tiểu hoàng môn lấy chiếc thẻ dài bằng gang tay, bịt bạc hai đầu, có ghi chữ “nội sai”, cầm thẻ này có thể vào cung cấm cả ban đêm. Lãn Ông cũng được cho hai tên lính theo hầu, và bốn tên để khiêng kiệu...
Quận Huy nói:
- Phương thuốc của cụ được xem xét kỹ lưỡng. Phái công phá bài bác dữ lắm. Phái mộ tài cụ cũng ca ngợi hết lời... Bởi thang cũ, đơn cũ của một vị thái y vẫn còn công hiệu, nên chưa dùng vội cứ ra ngoài thành nghỉ, chờ mệnh. Tôi cũng nói riêng cho cụ hay là Chúa thượng xem đơn của cụ rất kỹ rồi khen rằng “Người thầy thuốc này tinh thông y lý, giữ lại có lúc cũng phải dùng đến”, bởi thế mói có việc ban chức cho cụ.
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác vái tạ Quận Huy rồi lui ra.



(1) Gáy một tiếng sáng cả muôn nhà

(2) “Lúc bé rời làng, già trở lại...” - lời trong một bài thơ Đường nổi tiếng.
 


 
0

10

 
Trịnh Sâm bị trận ốm nặng thường hay sợ nắng, sợ gió. Do đó, nơi Chúa ngự, che chủm, hành lang tối như hũ nút. Ban ngày đi vào những nơi rợp bóng cây, nội giám phải thắp đèn lồng hoặc cầm nến. Chúa càng ốm yếu, càng yêu thương Đặng Thị Huệ, bởi Chúa thấy Huệ yêu mình thật sự, nghĩ đến con trai của mình hết lòng. Khi người ta ốm, mọi sinh hoạt không được bình thường như cũ, bị luôn luôn kiềm chế, thì nhìn những thứ thường ngày mình có, mình coi thường bỗng yêu quý lên gấp bội. Có hôm Chúa ngồi bên vườn hoa, không ngắm những cỏ hoa lộng lẫy trong vườn, mà lại ngắm con chuồn chuồn kim bay đi bay lại trong đám cỏ tóc tiên, ngắm con châu chấu non, chưa có cánh, hai hạt mắt nâu nhỏ ti, mình xanh màu ngọc lục, tưởng chẳng có màu gì đẹp hơn, đôi chân mảnh mai và óng chuốt, mà nghĩ ngợi về vũ trụ của những loài bé nhỏ hồn nhiên.
Có hôm, Chúa ngồi ngắm Đặng Thị Huệ, cởi áo gấm ngồi sắc thuốc bên bếp lò dân giã, nhìn ánh lửa ánh lên khuôn mặt đẹp tư lự của Huệ, nhìn bàn tay Huệ úp trắng ngần lên hai cái tai của ấm thuốc, dốc ấm lên, chắt thuốc vào bát, xem độ thuốc đã được chưa, rồi Huệ bưng bát thuốc lên, tự nếm, đi lại trong phòng... Cái dáng ấm cúng của người vợ hết lòng với chồng như bất kỳ một gia đình thường nào khác, lòng Chúa vời vợi yêu thương quí trọng. Bởi thế, thuốc đắng thế nào khi Huệ khuyên Chúa cũng uống.
Người mà Chúa sợ, Chúa yêu quý nể trọng như Thánh mẫu Thái tôn, hôm nào cũng sang thăm Chúa một lần, có lúc Chúa ứa nước mắt vì thấy mẹ vất vả vì mình, lo lắng cho mình. Tuy bà thấy Thị Huệ lộng quyền, xui Chúa làm nhiều điều không được như ý bà, song thấy Huệ tận tụy bên Chúa, bà cũng không ghét bỏ như trước. Nhưng giữa bà và Tuyên Phi vẫn có điều gì đó xa cách, khiến mẹ chồng, con dâu không xích lại gần nhau lại. Bà thương quí Chúa lắm. Khi Chúa còn nhỏ, ốm đau tự tay bà ủ ấp Chúa, không giao cho các bà bảo mẫu, chừng nào Chúa thật tươi tỉnh, xởn xơ mới chịu giao cho người ta chăm. Nhưng bây giờ, bà có thể ân cần ngồi bên Chúa hàng giờ, khuyên nhủ Chúa, nhưng Chúa không cảm nhận được từ bà những tình cảm mẹ con như ngày xưa nữa. Ý bà vẫn muốn bù đắp cho Dương Ngọc Hoan và Trịnh Tông. Bà không bao giờ ủng hộ Tuyên Phi và Trịnh Cán... Chỉ có thế, hai mẹ con ngồi bên nhau, nói năng những lời rất đỗi yêu thương mà tự đáy lòng đã bời bời trăm thứ.
Chúa thương mẹ, song cho là mẹ cố chấp, không thực sự cầu thị.
Thánh mẫu Thái Tôn thì vẫn cứ tình sâu nghĩa nặng với mẹ con Dương Ngọc Hoan hơn. Bà thấy rằng Cán và Tông, thì chọn Tông vẫn hơn Cán nhiều bởi Tông đã trưởng thành. Chúa thành kiến với Tông từ lúc sinh ra, cho nên Chúa có bao giờ đối xử như tình cha con với con trưởng. Cán thì sáu bảy tuổi, nếu có làm Chúa cũng bị Quận Huy lấn quyền, tiếm quyền, rồi sau đó chuyện gì nữa sẽ xảy ra, làm sao lường hết được.
Rút cục, hai mẹ con gần nhau, thương nhau mà vẫn không xích gần được thêm chút nào. Có lúc Trịnh Sâm não lòng thấy mẹ nhìn mình, nước mắt cứ ròng ròng chảy xuống. Tuyên Phi thấy vậy, lại tìm cách đứng dậy lảng đi chỗ khác.
Thánh mẫu Thái Tôn ghét Quận Huy nhất, nhưng không làm gì được. Có một lần, bà đến, thấy Quận Huy ngồi đó, tâu việc cơ mật cùng Chúa. Chúa nghe hết việc mới đứng dậy ra đón bà. Quận Huy thấy bà sụp lạy, bà chỉ ừ hữ cho bình thân. Suốt buổi hôm ấy, ngồi bên con, gương mặt bà chẳng vui vẻ gì, khác hẳn thường ngày, rồi bà đứng dậy lẳng lặng ra về, ba bốn hôm sau mới trở lại.
Việc trong phủ Chúa một mình Quận Huy cáng đáng. Đặng Thị Huệ thấy Chúa ốm liền hỏi Quận Huy:
- Ông vẫn thao túng được triều đình đấy chứ?
- Sao Tuyên Phi lại hỏi thần như vậy?
- Chúa khoẻ được ít lâu, vừa coi được mấy buổi chầu, vồ vễ trăm quan chưa được bao lâu, thì lại lăn ra ốm. Ông có thấy có đám nào lòng dạ kia khác không?
- Tuyên Phi yên tâm, tôi đã bẻ hết nanh vuốt của Thế Tử Tông rồi. Bè đảng lớn chỉ có mấy đại thần bâu quanh Tông thôi, những kẻ khác thì an phận thủ thường, nhát nhúa lắm!
- Ông không được coi thường bọn chúng. Chúng ta mới diệt được Nguyễn Khắc Tuân và mấy đưa hầu hạ quanh Trịnh Tông, tài cán chẳng là bao. Nguyễn Khản từng làm trấn thủ Sơn Tây và Hưng Hoá, kỳ vừa rồi đáng lý phải chết, nhưng Chúa vì nghĩ tình bạn cũ, Khản lại khéo léo làm thơ riêng, dâng cho Chúa, Chúa cảm động mà tha chết, cho giam lỏng ở kinh đô, nếu hắn liên hệ được với tay chân khác, trốn ra được, tụ tập bè đảng, thì không phải là chuyện đùa...
Rồi Đặng Thị Huệ tìm mọi cách hại Trịnh Tông, song Thánh mẫu Thái Tôn cũng không phải vừa, bà đến bên giường Trịnh Sâm nói:
- Con ốm đau, mệt mỏi, mẹ không muốn nói chuyện này với con. Vợ nào cũng là vợ, một ngày nên nghĩa. Có thể yêu vợ này, xa vợ kia, nhưng con đừng để mang tiếng bất nghĩa... Con nào cũng là con. Thằng Tông có bất hiếu, có ngu đần vụng dại cũng là con của Chúa. Mà, nó đã có hành động gì đâu, chẳng qua là hình sự gom lời, lấy chứng thành vụ án lớn của kinh thành. Vụ án đã gây kinh động cả Thăng Long, mẹ rất mừng con sáng suốt, không giết Trịnh Tông, xử sự được yên lòng trong thành ngoài nội. Nhưng con không giết nó, thì cũng đừng để người khác giết nó... Nếu nó chết về tay người khác, thì thiên hạ vẫn đô tiếng cho con là bất nhân... Con hãy nghĩ cho kỹ.
Chúa nghe mẹ nói thế, lúc đầu có vẻ bực giận, nhưng sau nghĩ lại, không nói với Đặng Thị Huệ, nhưng ngầm bảo Quận Huy, không được để người nào ám hại Trịnh Tông, do thế, Huy cũng sợ, không cho bọn tay chân hạ độc thủ.
Đặng Thị Huệ căm tức lắm, một bữa trách Quận Huy:
- Ông chưa thật hết lòng với ta!
- Có chuyện gì vậy thưa Chính phi(1), tôi...
- Mấy lần ta nói với ông phải giết Trịnh Tông đi, sao ông lại cứ để chúng nhơn nhơn như thế. Thằng Khản, thằng Tông còn sống, thì có ngày ông cũng chết mà mẹ con ta cũng chẳng toàn mạng đâu.
Quận Huy không dám lộ chuyện Chúa đã mật dụ cho mình, chỉ phân trần:
- Nhưng tội họ đã rõ, họ đã bị giam cầm, đi đâu cũng phải bẩm bái, thì còn lo gì nữa.
- Không được, nếu có chuyện gì xảy ra thì ngươi đừng nhìn mặt Chúa, mặt ta nữa.
Huệ gắt gỏng, mặt đỏ bừng bỏ đi. Ngay hôm ấy Quận Huy phải gọi người đến cho bốn đội quân Ngự lâm canh giữ Tông và Khản, mấy ngày sau Tuyên Phi nghe biết, mới nguôi nguôi giận.
 
*
*          *
 
Gia đình Viêm Quận Công Nguyễn Trọng Viên dạo này hay thức khuya. Bởi từ buổi gặp mặt với Bằng Vũ, Bùi Bật Trực đã tìm cách gần gũi với Chiêu lĩnh bá Nguyễn Trọng Chiếu, con trai lớn của Quận Viêm. Chiếu là người phương cương hăng hái. Nguyễn Trọng Chiếu là cháu cưng của Thánh mẫu Thái Tôn, hay được gọi vào hầu chuyện. Quận Viêm thường ít dấn thân vào những chuyện rắc rối, không muốn đụng chạm đến ai, và nếu có ai khích bác, đụng chạm đến mình thì cũng nín nhịn cho qua chuyện không thích gây gổ. Bởi thế, khi Quận Huy về triều, đến xin làm tay chân cho Thế tử Tông, Thế tử đuổi thẳng cánh, ông cũng chẳng quan tâm.
Kịp đến khi, Quận Huy tập hợp được bè cánh, liên kết với Đặng Tuyên Phi, thao túng triều đình, ông có chút quyền lực trong tay, cũng án binh bất động.
Thánh mẫu Thái Tôn không nhờ cậy được ông điều gì. Cũng nhờ lối sống giữ thân cho chắc ấy mà sau này Quận Huy thâu tóm được binh quyền, để lấy lòng Thánh mẫu Thái Tôn, lại cho Quận Viêm chỉ huy một đạo quân lớn ở Cấm thành. Đó là quân Nhưng, Kiệu, thường được điều động trong các ngày Thánh mẫu, vua Lê, Chúa Trịnh xuất ngoại, hoặc những ngày đại lễ. Nhưng bọn này vì thế lại biết lắm chuyện trong cung hơn là những đội quân khác. Chúng phần lớn loại là người xứ Nghệ An, có một số ở Thanh Hoá... Do đó, mọi chuyện ồn ào trong cấm quân đều khởi sự từ quân của quận Viêm cả... Chiêu lĩnh Bá Nguyễn Trọng Chiếu không những không ngăn cấm chúng, mà còn thích thú vì có đám lính sắc sảo, linh hoạt hơn hẳn những đội quân khác. Một hôm, Nguyễn Trọng Chiếu có món gỏi cá ngon, mời Bùi Bật Trực đến chơi uống rượu. Sau khi nói chuyện văn chương, xênh phách, Trực liền khích Chiếu rằng:
- Vai vế của tướng quân ngang với Chúa Trịnh. Mà trong hoàng cung, người tin cậy lại học hành đến nơi đến chốn này, tôi xem ra có mình ông. Vậy mà Chúa thường không dùng ông, lại dùng Quận Huy, thì thật là bất nhẫn.
Trọng Chiếu đặt bát rượu xuống nói:
- Ông Trực ơi, cảm ơn ông khơi dậy trong tôi chí tiến thủ, song cung quan lộc của tôi có Thiên La trấn cửa, làm sao mà thuận buồm xuôi gió được.
Bùi Bật Trực nói:
- Nhà ta đây, Thánh mẫu Thái tôn là mẹ của Chúa. Một thời tiên chúa rất yêu quý. Cho đến bây giờ Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm vẫn vô cùng nể trọng. Viêm Quận công là bậc quốc cữu trước từng được Tiên Chúa giao cho coi một vạn cấm binh ở hoàng thành. Đến thời Chúa hiện nay, rút bớt quyền lực của tướng công trao cho Nguyễn Khản và mấy ông khác theo Chúa thượng từ thời còn trẻ. Điều đó cũng đúng thôi. Tôi chỉ sợ tướng quân thoái chí, chứ triều đình này còn biết bao nhiêu cơ hội. Tướng quân không biết rằng đức năng thắng số ư... Tướng quân mới có Thiên La trấn ở cung Quan Lộc, người khác cung mệnh có Triệt đóng thì sao!
Nguyễn Trọng Chiếu bắt đầu ngấm rượu nói:
- Lắm lúc ta cứ muốn ra ngoài biên ải, lập công một trận, rạng rỡ như ai.
Bùi Bật Trực nói:
- Muộn rồi. Từ sau vụ án Canh Tý, thì những ai thân thích với Thế tử Trịnh Tông đừng hòng mặt mũi sủi tăm được.
- Đấy, ông xem, đến tên lính quèn cũng còn phải đổi ra biên trấn, huống chi ta lại là vai chú của Trịnh Tông, cháu của Thánh mẫu Thái Tôn, người luôn đỡ đầu cho đứa cháu đích tôn của mình.
Bùi Bật Trực và một miếng gỏi cá, uống thêm một ngụm rượu lớn, nhếch mép cười mỉm:
- Đường chính không thẳng thắn, thì ta tìm đường tắt đến vườn quả cũng được chứ sao?
- Ý ông thế nào. Cha ta và ta đã coi ông là người tâm phúc ở nhà này. Ta quý ông nhất trong đám mạc khách ở trong nhà, cần gì mà phải giấu nhau nữa.
Bùi Bật Trực nói:
- Tướng quân có thấy Quận Huy từ sau vụ án Canh Tý rất lộng hành không?
- Điều đó thì còn phải bàn gì nữa.
- Quận Huy dựa vào ai, tướng quân có biết không?
- Hẳn là Chúa thượng và Đặng Tuyên Phi rồi!
- Đây là chỗ dựa bên trên, cũng quan trọng nhưng không đủ cho hắn thao túng triều đình đâu.
- Vậy thì dựa vào mấy ông đại thần ở phủ Tham Tụng và phủ Bồi Tụng ư?
- Đấy không phải chỗ dựa, mà là tay chân mới, Quận Huy tâu với Chúa ngồi cùng làm việc với hắn mà thôi!
- Thế thì dựa vào ai?
- Tướng quân quả là thật thà. Vua, Chúa, quận công, vương hầu, tất cả đều dựa vào quân lính mà thôi. Ấy, cái anh tốt đen ấy mà làm nên sự nghiệp cả đấy. Tướng quân thử nhớ xem vua Lê Thái Tô xưa nếm mật nằm gai cũng là nhờ quân sĩ hết lòng mới đánh được giặc Minh, Thời Trung Hưng, nếu Trịnh Kiểm không cầm quyền coi lính thì sao giành được ngôi Chúa... Huy Quận công về đây, cái khôn ngoan của hắn là nịnh Đặng Thị Huệ, nắm ngay đạo quân Trung Vũ. Hắn ngày đêm mượn cớ luyện quân, mà tạo cho những quân lính của hắn thành đạo quân tinh nhuệ nhất ở hoàng thành, các đạo quân tinh nhuệ khác cũng vô cùng nể hãi. Do đó, mới chân ướt chân ráo về triều, sau hai năm đã trèo lên đầu lên cổ trăm quan, điều hành mọi việc trong triều ngoại nội... Đó chẳng là Quận Huy dựa vào quân sĩ là chính ư?
- Đúng quá! Ông thật là cao kiến.
- Bây giờ muốn phá Quận Huy, cũng phải từ quân lính mà phá ra...
- Thế nghĩa là thế nào?
- Có gì đâu! Quận Huy chỉ làm chủ được một đạo quân Trung Vũ, chứ đâu làm chủ được tất cả các đạo quân khác ở trong hoàng thành. Quận Huy từ ngày nắm quyền chỉ xu phụ công hầu tin cẩn của Chúa mà quên quân lính ở hoàng thành. Đám lính chán nản ra phố phường tác oai tác quái làm loạn. Quận Huy sợ mất lòng dân lại nạt lính. Quân lính đang mang oán Quận Huy, lúc này là lúc ta ra tay được đấy!
Chiêu Lĩnh bá Nguyễn Trọng Chiếu nói:
- Theo như ngài nói, tức là bây giờ ta phải khích bọn kiêu binh, chỗ dựa của Quận Huy làm loạn, xui chúng bỏ Cán lập Tông, như thế mối bứt được Quận Huy ra khỏi quyền uy được, có phải không?
Bùi Bật Trực nói:
- Đúng là như thế. Tướng quân đúng là con nhà nòi. Chỉ cần tướng quân nói với tướng công, còn tôi thi lo khuấy động đám kiêu binh, nếu cả hai bên đều nghe, thì phương lược của chúng ta có thể thành công được!
Nguyễn Trọng Chiếu ghé sát đến Bùi Bật Trực hỏi:
- Ông là mạc khách, làm sao len lỏi vào đám quân lính để kích động chúng được?
Bùi Bật Trực ôm vai Chiêu Lĩnh bá, khẽ bảo:
- Ông có biết Mạnh Thường Quân xưa nuôi hàng nghìn mạc khách ở trong nhà, đều là loại vô dụng, đến khi sa cơ lỡ vận, chỉ một người xui đốt hết văn tự nợ đi, mà được việc. Người ấy, coi như là tôi hôm nay đấy!
Nguyễn Trọng Chiếu nghe Bùi Bật Trực nói, rất cảm động, liền ôm vai Bùi Bật Trực nói:
- Tôi không như cha tôi đâu, ông yên tâm. Kỳ này nếu thành công thì tôi và ông, ta sẽ nương tựa nhau suốt một đời, chỉ khuyên ông rằng, đám quân sĩ cũng hàng nghìn, hàng vạn kiểu người. Chúng chỉ như cái khiên, cái giáo, nếu biết dùng đúng lúc, đúng chỗ thì đều được việc; chúng cũng như đám cháy, cơn lốc, nếu để tung hoành thì sự phá phách cũng không phải nhỏ đâu!
Hai người hôm đó, ý hợp tâm đầu, mê nhau như trai gái.
Tuyên Phi Đặng Thị Huệ lo lắm. Bây giờ quyền lực thâu tóm ở trong phe cánh của mình cả rồi, thì hai con người mình trông cậy, nhờ suốt một đời lại đều là hai con người ốm yếu cả. Trịnh Sâm cầm quyền qua tay Quận Huy, còn Trịnh Cán, tuy đã được phong Thế tử, nhưng chưa làm nổi điều gì đê triều thần có thể hướng về được. Còn Quận Huy cúc cung tận tụy đấy, nhưng nếu chồng và con mình không khoẻ mạnh, thành người thì sau này lòng dạ Quận Huy thế nào, có ai mà biết được.
Suốt ngày Đặng Thị Huệ đắm đuối vào lo toan đủ trăm thứ nên người cũng phờ phạc, hao gầy đi. Phi có lúc minh mẫn, có lúc thì cuống quít. Ai bảo cầu đâu, khấn đâu cũng cầu, cũng khấn. Thấy bệnh tình của Trịnh Sâm ngày một xấu đi, Phi lo cuống cuồng, tức tốc bảo Quận Huy phải triệu ngay Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác vào cung.
Lãn Ông chờ mãi không thấy được vào hầu thuốc, cứ quanh quẩn hết đi thăm bệnh cho tước vương này, quận công nọ, tước hầu kia... Bệnh của họ nói chung là: người tạm gọi là có đức thì khí huyết hao tổn vì công việc; người say nghề thì nghèo, lại hay suy tưởng, nên lúc nào cũng bàng bạc, trắng không ra trắng, hồng không ra hồng; còn đại loại là đám đắm đuối vào tửu sắc, đứa thì bất lực, đứa thì lưng còng rạp, thở không ra hơi, đụng tay vào con bệnh, tâm linh người thầy thuốc ít có phút đồng cảm mà hết lòng vào chữa trị. Lãn Ông nghĩ một cách là chữa cho họ cảm thấy khoẻ lên, hi vọng, còn bệnh của họ, người thì tâm bệnh, người thì danh bệnh, người thì sắc bệnh, có hoạ thần y Thánh y mới chữa nổi!
Bữa ấy, Lãn Ông sang ngoạn cảnh ở Chùa Lý Bát Đế phía Gia Lâm, được quan đốc trấn Kinh Bắc mời về chơi, ngâm vịnh, thưởng hoa. Đang lúc đắc ý thì thấy người nhà Quận Huy đem theo lính, phu trạm sừng sực tới.
Viên nội sai gấp gấp nói:
- Có Thánh chỉ triệu quan Hộ Phiên Câu Kê về triều. Quan chánh đường nửa đêm hôm qua còn đến nhà tôi truyền báo. Xin cụ quay về ngay cho.
Lãn Ông nghe thế, quay lại vái chào quan Đốc đồng trấn Kinh Bắc, từ tạ rằng:
- Cái nghề thầy thuốc của tôi là thế, mong Quan Lớn đại xá cho. Cái thân Lão-già-lười này thì suốt đời làm đầy tớ cho hình hài, biết làm sao được. Xin hẹn tái ngộ.
Quá ngọ từ dinh quan Đốc Đồng, Lãn Ông đi cáng tận gần tối mới đến bên sông. Thương lính và phu trạm mệt, ông-già-lười bảo viên nội sai vào quán bên đường cơm nước rồi đi thẳng đến bến Bát Tràng, Hải Thượng Lãn Ông hỏi qua về tình hình bệnh của Chúa, thì viên nội sai nói:
- Chúa vẫn đi lại được nhưng không khoẻ, Chúa thở dốc, kém ăn. Chẳng qua Tuyên Phi cuống lên cứ đòi triệu cụ về cho bằng được đó thôi.
Hải Thượng Lãn ông nói:
- Trời tối sập mất rồi. Sông thì to, nước cường, đi đò nhỏ phải hai chuyến. Dù có gọi thuyền to sang ngang thì cũng phải chỉnh đốn áo mũ mới vào chầu Chúa được. Mà về đêm Chúa cần được nghỉ ngơi hơn ban ngày, tôi sợ kinh động đến sự cần yên tĩnh của Chúa. Chi bằng ta ngủ lại bên này mai sớm sang đò, như thế chẳng tiện hơn sao?
Viên nội sai nghe theo. Mờ sáng hôm sau, Lãn Ông đã sang sông, mặc triều phục, đến thẳng dinh Quận Huy. Chúa đang nghỉ ở cung điện phía đông. Quận Huy làm việc ở nhà Thập Tự.
Thấy Hải Thượng Lãn Ông vái chào, Quận Huy mừng rỡ nói:
- Cụ đã về đấy à? Xem ý cụ cũng mải chơi đấy nhỉ!
- Bẩm thì tuổi già, lâu ngày mới ra Bắc Hà mà ngoài này chỗ nào không có danh thắng đi hàng năm không hết. Vả lại chờ lâu không có lệnh chỉ truyền đòi, tôi cũng mạn phép du một chút, đâu có dám quên nhãng nhiệm vụ.
Quận Huy đuổi hết tả hữu ra rồi nói:
- Vừa rồi, Thánh thượng thấy lầu Ngũ Long báo có cuộc đua thuyền của thuỷ quân ở cung Vọng, người háo hức đòi đi xem. Mặc dù màn che, trướng rủ, nhưng người lại thích đứng ngoài khoang, về lại vui với Tuyên Phi hơi quá quy định của Thái y viện, sáng hôm sau không dậy nổi. Vả lại năm sáu năm nay, bệnh cũ lại phát, nguyên khí suy tổn, chỉ qua một đêm, sáng nay xem ra bệnh nặng lắm hãy chờ đây, chờ ta vào xem, thỉnh mệnh Chúa thượng, rồi vào xem mạch hầu thuốc nhé...
Rồi đứng dậy, sửa áo mũ, Quận Huy còn ngoái lại nói đùa:
- Ông mà chữa cho Chúa thượng khỏi, thì ta cho người võng lọng đưa ông đi du ngoạn hàng năm cũng được.
Quận Huy đi rồi, Hải Thượng Lãn Ông bắt đầu ngẫm nghĩ:
- Thế mói biết hàng đống thái y bên mình Chúa, mà chẳng ai đáng mặt thầy thuốc. Bệnh không chuyển mói triệu mình vào. Mong sao cảm gió còn dễ quay trở, chỉ e lâu ngày kiêng kỵ, Tuyên Phi lại đẹp hớp hồn, dính vào bệnh phạm phòng, thì thật khó cứu...
Quận Huy vào chầu Chúa thăm thẳm không thấy ra... Hải Thượng Lãn Ông không hiểu mô tê ra sao, đành cứ chầu chực, không dám bỏ đi đâu, trong lòng vừa chán vừa bực, không dám nói ra, càng nghĩ càng thấy rằng, dù có được đứng đầu Thái y viện ở đây, cũng chẳng bằng về cái xó Hương Sơn, non xanh nước biếc, chữa bệnh cho những gia đình dân giã.
Gần tố, Quận Huy mới thấy ló mặt ra. Ông ta nói:
- Cụ chờ lâu hẳn sốt ruột. Nhưng tôi không làm sao thoát ra được. Chúa thượng suốt buổi hôm nay vật vã chân tay, cáu kỉnh, lại nóng âm, có lúc mê đi rất lâu... Tuyên Phi không muốn cho thầy thuốc vào chầu ráng đợi ở đây, sáng mai vào hầu mạch vậy!
Hải Thượng Lãn Ông nói:
- Tôi được triệu gấp, đi cả ngày hôm qua, sáng sớm qua đò, tuổi lại cao, xin quan chánh đường cho về nhà nghỉ ngơi qua đêm nay, sáng mai xin vào hầu thuốc sớm.
Quận Huy hôm ấy lại vào hầu thuốc suốt đêm. Đặng Thị Huệ lo lắm. Bệnh của Trịnh Sâm, tưởng chỉ bình thường hoá ra quá nặng. Từ sáng tới giờ, Chúa không dậy nổi, nằm mê mệt. Bữa trước, Chúa đứng ở mũi thuyền lâu, tươi tỉnh nói cười thoải mái, và bữa nay mê man, lịt mịt, bệnh tật hành hạ, đến nỗi đầu óc mụ mẫm, sốt nóng triền miên, chân lạnh bụng lạnh, ngực và đầu lại nóng, chạm tay vào như sờ vào hòn than.
Nghỉ một đêm, dậy sớm pha ấm trà nóng, ra quán xôi, ăn một bát thật ngon, sở thích của Hải Thượng Lãn Ông chỉ có thế. Hải Thượng Lãn Ông lên kiệu vội vã vào phủ Chúa, rợ rằng đến chậm, sẽ bị quở trách.
Trên đường gặp hai ba người đi ngược lại truyền vào hầu thuốc. Phu cáng phải chạy gấp lên, gặp ai cũng mặc. Có người không tránh kịp bị xô bật sang một vệ đường. Đến cửa phủ Chúa, Lãn Ông vội vã xuống cáng đi vào. Quận Huy đứng ở thềm, mặt mày phờ phạc vì thức đêm, nét lo toan gần như cũng nhiều hơn buổi tối hôm trước. Ông ta nói:
- Cụ chờ đây. Ta vào bẩm Chúa trước đã nhé!
Quận Huy vào một lúc thì thấy Trạch Trung Hầu ra, cúi đầu chào rồi nói:
- Mời cụ vào ngay cho.
Thạch Trung Hầu đi trước, Lãn Ông chăm chú theo sau. Hai người đi qua một hành lang ngắn đến một ngôi nhà cao. Lên mấy bậc thềm, đi qua gian trước thì đến phòng ngủ của Chúa Trịnh, Thạch Trung Hầu ngoái lại, nắm lấy tay áo của Hải Thượng Lãn Ông. Hình như ông ta sợ ông-già-lười lại ngó nghiêng, không chịu vào ngay. Hai người qua mấy lần trướng màn bùng nhùng, đến lúc đứng trước một chiếc sập vàng, có treo màn lụa hồng, mặt trước màn là bức trướng kim tuyến và mới phủ lên. Quận Huy và một viên tham tụng đứng hầu ở bên trái sập ngụ. Phía sau giường ngự là một bức tường gấm nhung đỏ lớn. Phía trong có tiếng thì thào, lại thấy bức trướng rùng rùng nhẹ, như có người qua lại chạm phải. Lãn Ông chắc rằng, các bà phi, cung tần thấy thầy thuốc đến đều tránh vào đây. Trước sập Chúa ngự, trên một chiếc đôn lớn, đặt một giá nến lớn bằng đồng, trên thắp một ngọn nến hồng cực lớn, ánh sáng soi rõ cả căn phòng.
Thạch Trung Hầu dẫn Lãn Ông tới, đứng sang bên phải sập hầu Chúa. Lãn Ông đứng cách sập hơn mười bước, định sụp lạy thì quan Chánh đường truyền lệnh:
- Cho miễn lạy.
Chúa Trịnh nằm trên võng, từ sáng đến giờ xem ra khoẻ hơn. Chúa đã tỉnh, sốt cũng lui, người đã ăn được một bát yến...
Chúa nằm trên sập đưa tay ra cho Lãn Ông bắt mạch. Trịnh Sâm nhìn vào mặt Lê Hữu Trác rồi nói:
- Ta trông vẻ mặt ông giống mặt quan Thượng thư bộ Lễ Lê Hữu Kiều xưa đấy! Thì ra cũng là nhà dòng dõi...
Quận Huy nói:
- Mời cụ vào hầu mạch.
Hải Thượng Lãn Ông chắp tay, cúi mình lễ phép vòng qua trái bước tới. Viên tham tụng mời Lãn Ông ngồi. Đầu ghế bên kia là Quận Huy. Lãn Ông ngồi vào giữa, chỉnh đốn tư thế. Trịnh Sâm đặt tay lên chiếc gối gấm, nói:
- Các ông hãy cùng thầy thuốc họ Lê xem mạch đi.
Quận Huy hiểu ý liền ngồi xích lên. Viên tham tụng ngồi lui ra, Lãn Ông cũng nhích người theo. Quận Huy xem mạch xong, thì bảo:
- Cụ hầu mạch đi.
Lãn Ông cầm tay Trịnh Sâm đặt vào gối gấm, tay phải đặt lên cổ tay Chúa, ngón giữa và ngón cạnh đặt vào mạch lắng nghe. Có lúc ngón tay nâng lên, đặt xuống để xem mạch lúc mạnh lúc yếu cho tường tận thêm... khi đã thấy chấn mạch đủ để đoán bệnh rồi, thì buông tay ra, định đứng dậy, nào ngờ viên tham tụng lại nhích tới, lại tiếp tục hầu mạch cho Chúa.
Lãn Ông thầm hiểu, thì ra, mạch của Chúa phải có hai đại thần, cùng biết qua y lý, cùng xem để định liệu thuốc men...
Mấy người ngồi lui ra chiếc ghế sau. Lãn Ông vẫn cúi đầu khiêm cung. Quận Huy liền bảo:
- Cụ thấy thế nào, cứ thưa hết với Chúa thượng, để còn định các vị thuốc.
Lãn Ông nói:
- Thần Lãn Ông, được hầu mạch Chúa thượng, xin được tâu bầy: hai mạch quan, thốn hai bên tay phải, tay trái đều nổi rất to, mạch căng và nhanh. Mạch đỏ bên trái (tả xích) thì trầm, nhanh; mạch đỏ bên tay phải (hữu xích) thì lại phồng nổi, nhanh, ấn mạnh thì thấy yếu ớt.
Trịnh Sâm hỏi ngắt quãng, chứng tỏ đã trống hơi:
- Hai ông thấy thầy thuốc nói thế nào?
Quận Huy thưa:
- Thần thấy thầy thuốc họ Lê nói đúng, nhưng cảm thấy khác một chút, là mạch không căng lắm.
Quan tham tụng nói:
- Bẩm thần cũng thấy thế.
Chúa cười:
- Hai ông làm sao tinh tường bằng thầy thuốc được. Mời thầy Lê cơm nước chu đáo cho ta...
Lãn Ông lui ra, lặng lẽ kê đơn thuốc cho Trịnh Sâm. Bỗng Quận Huy lại đến.
Lãn Ông hơi cau mày khó chịu, rồi nét mày cũng giãn ra, theo tính nhu nhược của lão già cầu an. Lãn Ông nghĩ: Cái thằng Quận Huy này chẳng trách Chúa tin cũng là phải. Nó biết hầu hạ người đáng hầu hạ, qụy lụy người đáng qụy lụy, hầu Chúa hết lòng hơn cả con trai, vợ yêu... Song Lãn Ông cũng không cho là Quận Huy quá xấu như những sĩ phu Bắc Hà vẫn thường dè bỉu về ông ta.
Lãn Ông tin rằng, Quận Huy vẫn là người trọng sự chân thật và tình nghĩa. Quận Huy đến bên cạnh Lãn Ông kể lể hết cội nguồn gốc gác của bệnh của Chúa. Lãn Ông nghĩ:
- Phò Vua, phò Chúa phải như gã Quận Công này thì mới được tin cậy đến trèo lên đầu lên cổ trăm quan được.
Thấy Lãn Ông chưa nói gì, Quận Huy nói:
- Bệnh tình Chúa thượng thế nào?
Lãn Ông nói:
- Xin cứ cho uống thử thang thuốc này đã, sau xin được nói.
Rồi Lãn Ông ngồi kê đơn:
Thục địa: 5 lạng
Sơn dược: 3 lạng, tẩm nước cơm (sao 3 lần)
Sơn thù: 2 lạng (bỏ hạt, cho vào rượu nấu)
Mẫu đơn: 1 lạng năm đồng cân (sao)
Bạch phục linh: một lạng năm đồng cân (tẩm sữa)
Mạch môn: một lạng hai đồng cân
Ngũ vị: 8 đồng cân (để sống)
Phụ tử chế rồi: 5 đồng cân (kiêng lửa)
Tất cả các vị cho vào ấm đất sắc thật đặc, cho thêm hai lạng cao Lộc Nhung, một lạng củ ký, hoà đều, lại trộn bột quế lõi, đậy kín. Một lần Ngự dùng một thìa con hoà với nước sâm đặc.
Dưới lại viết câu:
“Thần, Hộ Phiên Câu Kê Lê Hữu Trác cẩn tấu”.
Quận Huy xem đơn nói:
- Thang thuốc này trị giá hàng trăm lạng bạc, ông cắt thuốc khác hẳn những thầy thuốc mà Chúa đã cho hầu hạ bao năm nay, thế là thế nào?
Lãn Ông nói:
- Ông có chịu nghe tôi nói không. Trước bệnh nhân với thầy thuốc thì thiên tử hay lê dân cũng chỉ là con bệnh. Khi đã quyết đoán được bệnh thì phải quyết đoán kê đơn, bốc thuốc.
- Ông thử kể bệnh không giấu giếm một chút nào ta xem nào, để ta còn liệu định.
Lãn Ông ngần ngừ một lúc, mặt trầm lại thưa:
- Tôi thấy quan Chánh đường hết lòng vì Chúa, nên cũng xin thú thực. Tôi chẩn bệnh thấy mình Chúa gầy rộc, da dẻ khô, nước tiểu vàng đục, đại tiện sẻn, bụng đầy, ợ hơi. Trong người thường âm dương quan cách, nóng bốc lên từng cơn, miệng khát, lưỡi dộp, ho mất tiếng... Những chứng bệnh này đều do tính huyết khô kiệt, mạch lại quá gấp chứng tỏ tim yếu. Tôi e rằng vị khí quá suy yếu... Chỉ còn chút hi vọng.
Quận Huy sốt ruột gặng hỏi:
- Ông nói tiếp đi!
- Tôi nghĩ rằng các thầy thuốc khi được vào cung, đều muốn Chúa tin, do đó, hay dùng thuốc công phá bệnh ngay, khiến Chúa thành nơi họ tung hoành trận mạc. Do thế mà thân thể hao kiệt, may mà Chúa còn là bậc thiên tử, thân thể vốn được nuôi dưỡng từ bé, chứ không thì không cứ nổi đến bây giờ.
Quận Huy vốn là người thông minh nghĩ ra ngay, liền bảo:
- Quả là đúng như lời ông nói. Trong cái đám quan thái y này, người thầy thuốc giỏi thì ít mà bọn hám lợi thì nhiều. Chỉ hiềm ta tiến cử ông quá muộn. Song trong đời ta, ta chưa thấy ai cắt thang thuốc bạo dạn, mà đắt đến chừng ấy.
Lãn Ông bình tĩnh cười nói:
- Thì là thuốc của vị Chúa tể đứng đầu thiên hạ kia mà.
Quận Huy nói:
- Cung cách của ông giống hồi ta làm tướng ở Nghệ An, phải tự tin và quyết đoán ở việc của mình làm, như thế công việc mới có hiệu quả.
Quận Huy đem đơn thuốc vào cho Chúa Trịnh xem, đến quá ngọ, Lãn Ông lại được gọi vào hầu mạch. Quận Huy và viên quan tham tụng vẫn được ngồi hầu cùng xem mạch. Thạch Trung Hầu thì hầu hạ phục dịch Chúa. Trịnh Sâm để Hải Thượng Lãn Ông xem mạch xong liền hỏi:
- Ông nói mạch của ta nhanh, sao lại còn dùng quế phụ?
Lãn Ông thưa:
- Bẩm Chúa thượng, thần thấy mạch nhanh, là do những cơn nóng giả từ phế gây ra, chứ tỳ thận thực ra lại hàn, do đó dâng bài thuốc có quế phụ là ổn đáng.
Chúa hỏi:
- Ta thấy nóng ngực, sao bụng lại đầy không tiêu hoá được?
Lãn Ông nói:
- Tâu, sách thuốc có nói: xem mạch mà thấy hiện tượng hoả nổi ngoài da, da dẻ nóng âm, thì chỉ là nóng “giả”. Bên trong lạnh mà gây ra nóng ở ngoài vậy thôi. Bởi “vị” lạnh nên ăn không tiêu bụng đầy chính là trên nóng dưới lạnh, sách gọi là trên thực dưới hư?
Chúa lại hỏi:
- Thế nước tiểu vàng, tức là nóng, ông lại bảo bên trong lạnh là làm sao.
Lãn Ông thưa, giọng chắc chắn:
- Tâu, sách thuốc Nội Kinh có nói: ở giữa không đủ sức điều hoà, thận chính là phần giữa vậy, chính vì vậy mà tiểu tiện khác thường, chính là do từ tỳ vị lạnh mà ảnh hưởng tới.
Chúa Trịnh nói:
- Ông thầy thuốc đã nói thế, thì cứ chế một thang, uống thử xem sao!
Quận Huy tâu:
- Thần tin là Quan Hộ Phiên Câu Kê đã hết lòng và bài thuốc là thoả đáng.
Lãn Ông trở ra, người mệt lử. Ông càng thấy đắm mình chữa bệnh cho vương hầu, vua chúa, chỉ chuốc lấy những phiền hà rắc rối vào thân. Người thường chữa bệnh, đón đúng thầy, đúng thuốc thì chỉ hết lòng tin theo thôi, như thế thì bệnh mới chuyển biến nhanh chóng được, có đâu lại vặn vẹo từng ly từng tý thế. Mà Quận Huy và viên tham tụng kia, có thể giỏi việc điều hành chính sự, nhưng y lý thì đâu là thầy thuốc giỏi mà Chúa lại nghe hơn cả mình.
Khi tiễn ra quán đợi, Quận Huy lại còn tỏ vẻ chưa tin, chắc là ông ta lại lấn bấn về những câu vặn hỏi của Chúa với Lãn Ông. Ông ta nói:
- Mạch đã to, nhanh lại dùng quế, chẳng là phụ thêm cho cơn nóng ở trong người. Tôi e không phải là “nóng giả” như cụ nói đâu, kiên quyết đến thế, kể cũng đáng ngại!
Viên tham tụng cũng tỏ ra hiểu biết hùa theo:
- Cách của cụ, khác gì lửa cháy đổ thêm dầu.
Hải Thượng Lãn Ông hơi khó chịu, nhíu lông mày nói:
- Tôi dẫu chỉ là gã thầy thuốc ở tít nơi cùng trời cuối đất, nhưng cũng biết trách nhiệm trước một bậc Vương giả. Hoạ phúc đều ở trong một thang thuốc. Nếu tính toán không kỹ càng, thì cái thân già chưa chắc về nổi quê cũ đất Hương Sơn. Xin hai vị đại thần cứ yên tâm, tôi xem hết các đơn thuốc thấy trước chữa cho Chúa thượng toàn dùng vị mát mà không chuyển, tức là chẩn đoán chưa đúng bệnh, thấy nóng mà dùng mát, thế thôi. Tôi cho rằng tỳ thận là hai nơi tạo ra cái nóng bị lạnh, nên dùng quế phụ để hỗ trợ cho các thứ bổ khác. Nóng đây là sắc ấm của dưỡng chất, chứ đâu phải là nóng của quế!
Quận Huy thấy mình chưa hiểu hết cái tính thâm của đơn thuốc, nhưng vẫn ra vẻ là người hiểu biết, liền nói:
- Ta cũng thử thêm xem cụ có kiên quyết không thôi. Vậy bây giờ hãy cứ bốc thuốc đi...
Hải Thượng Lãn Ông đem đơn tự đến cân thuốc. Ông già vừa cân vừa xuýt xoa ước ao, nếu mình được cái chỗ thuốc này mà cứu bệnh cho đám người dân giã thì hay biết mấy. Hai vị đại thần ngồi kèm bên Lãn Ông, nhìn vào từng mã cân tiểu ly, cho đến lúc cân hết cả thang thuốc mới đứng dậy. Thuốc được đem cho mấy viên nội sai, chỉ chuyên ngồi bên bếp lò chờ sắc thuốc cho Chúa và Thế tử. Hải Thượng Lãn Ông dặn dò kỹ lưỡng rồi quay về điếm nghỉ để chờ cho thuốc sắc xong.
Vừa đến chỗ nghỉ đã thấy quan hầu của Thái Tôn Thánh Mẫu đến hỏi:
- Thánh mẫu truyền chỉ cho cụ hầu mạch bốc thuốc cho Chúa thượng ra sao thì tâu lên.
Hải Thượng Lãn Ông hơi khó chịu, thấy rằng làm thầy thuốc cho vua chúa rắc rối quá lắm so với làm thầy thuốc cho thường dân. Song, vốn là con nhà quan, ông biết rằng, chỉ một lời nói hớ, cũng đủ mang vạ vào thân, nên ôn tồn thưa:
- Tôi vừa cắt thuốc cho Chúa thượng, chưa thể tâu trước được. Nhờ người về bẩm với Thái Tôn Thánh mẫu đợi cho Chúa dùng xong một thang thuốc này mới bẩm rõ được.
Thấy ngồi chờ ở đây còn phải hỏi han nhiều thứ, Lãn Ông liền cáo quan Chánh đường lui về nhà nghỉ. Quận Huy nói:
- Sớm mai, ông phải có mặt ở đây chờ mệnh đấy!
Mờ đất hôm sau Lãn Ông đã có mặt. Ông ngủ một giấc ngon lành, người tỉnh táo hơn trước. Tuy đến rất sớm, Lãn Ông được triệu ngay vào. Tự dưng ông đâm ra hồi hộp. Ông rất mừng thấy Chúa đã ngồi dậy được, thần thái hơn hẳn hôm qua. Chúa nhìn ông có vẻ thân mật, đưa tay ngay cho xem mạch, còn nói đùa:
- Thầy thuốc hôm nay hầu mạch hơi sớm phải không?
- Dạ, đó là vinh dự lớn của hạ thần!
- Ở quê Châu Hoan của ông, chắc các con bệnh trọng vọng ông lắm nhỉ, làm gì phải thức khuya dậy sớm thế này!
- Dạ, đó là nghề nghiệp của thầy thuốc, lúc nào bệnh khoan thì mới khoan được, lúc nào khẩn cấp thì dẫu chỉ là một đứa trẻ nghèo, cũng không dám trễ nải.
Chúa nghe cảm động khen:
- Ông thật là một lương y. Ta uống thang thuốc của ông đêm qua thấy dễ chịu, bụng đã tiêu không đầy, thấy muốn ăn!
Lãn Ông thưa:
- Thần nghĩ, Chúa thượng nên dùng một chút cơm nóng với chút canh nấm, nếu ăn thấy ngon miệng là tốt. Thần xin cắt thêm một thang nữa sắc theo lối thần cao, đợi khi Chúa thượng thuần sắc, thì xin hầu cả những thức ăn dân giã, sơn cước để phối hợp, thì bây giờ chắc là sẽ thấy muốn ăn giả bữa luôn.
Chúa thấy Lãn Ông rất thật thà, liền cười và gật đầu...



(1) Quận Huy gọi nịnh
 


 
0

11

 
Tuyên Phi thấy Chúa chuyển bệnh mừng lắm, nàng vào hầu Trịnh Sâm, nói:
- Chúa thượng bị trận ốm lớn vừa qua là do thiếp không biết giữ gìn, tội thật đáng chết.
Đuổi hết mọi người ra thật xa. Trịnh Sâm, bảo Đặng Thị Huệ ngồi đến gần rồi nói:
- Vợ chồng với nhau, làm sao mà tránh được sự gần gũi. Đến bây giờ ta mới tiếc thời trẻ không gần được nàng, để đến khi ốm yếu bệnh tật, không còn là một trang thanh niên tuấn tú để tận hưởng mọi thứ thời trẻ nữa...
Nghe Chúa Trịnh nói, Đặng Thị Huệ bỗng ứa hước mắt. Chúa cảm động lắm, kéo tay lại gần nói:
- Sao nàng lại khóc.
Huệ thưa:
- Thưa Chúa thượng, em nghĩ rằng, em đã được làm vợ yêu của người cai trị cả thiên hạ, mà phúc lớn chưa được trọn vẹn... Con trai thông minh, tuấn tú nhường ấy mà từ lúc sinh ra cứ quặt quẹo suốt. Còn Chúa Thượng bởi việc nước gánh vác nặng nề. Em những tưởng cái đám thầy thuốc, cận thần bên mình Chúa đều là người giỏi, nên quá tin ở họ. Vậy mà xem ra họ chỉ là người khéo hầu hạ, nịnh nọt mà thực tài, ngoài Quận Huy ra, kể ra chưa thấy có ai... Để đến nỗi, bệnh tình của Chúa Thượng ập đến như cơn lốc mới biết sợ, em thật lo lắng quá!
Trịnh Sâm ôm lấy vai Huệ, áp mặt mình vào má Huệ, ngồi thừ ra và nói:
- Có nàng ở bên, ta tin là sẽ khỏi bệnh.
- Em cũng mong Ngài sớm bình phục, khoẻ mạnh như hồi em còn là con hầu, mỗi khi thấy Ngài đi trận về.
- Hồi ấy, ta oai phong, tuấn tú lắm phải không.
Huệ cười, người mềm mại, thân thiết, khẽ nép đầu vào vai Trịnh Sâm:
- Bởi thế em mới ngày đêm ao ước được gần Ngài, được trọn đời dâng hiến thân con gái cho Ngài.
Huệ đưa vòng tay ôm lấy lưng Chúa, áp bộ ngực tròn đẹp, rộn ràng vào ngực Chúa. Chúa cũng ngây ngất cái phút êm đềm ấy. Chúa hít mạnh da thịt Huệ, lùa tay vào áo, lần tới bộ ngực mịn màng của Huệ... Chúa nói:
- Ước gì ta khoẻ như hồi ngự giá đi dẹp giặc ngày xưa...
Chúa ôm chặt Huệ vào lòng... Huệ chợt nhớ ra nói:
- Thôi thế thôi! Em xin Chúa thượng hãy kiềm chế, nay mai người thật khoẻ, em và người sẽ sống những đêm thần tiên trên hành cung Hồ Tây như bữa nào!
- Ta cũng mong được như thế đấy!
 
*
*          *
 
Quận Huy được Tuyên Phi gọi vào, hai người ngồi trước thềm Quán Nghinh Phong. Gió thổi lồng lộng. Tóc Tuyên Phi bay trước gió. Nắng ấm vàng rượi sưởi trên các cây hoa ở vườn Chúa!
Tuyên Phi hỏi:
- Ông bận bịu lo chữa bệnh cho Chúa, liệu có để mắt đến việc triều chính không?
Quận Huy nói:
- Mọi việc vẫn trôi chảy cả! Tôi vừa cử mấy viên tướng giỏi vào nam tăng cường cho việc mở mang đất Thuận Quảng, đạo đến giáp Trấn Ninh đề phòng đám Chúa đất người Mường liên kết với các vị thân vương ở đất Ai Lao. Lại cũng tăng thêm cho tỉnh Lạng Sơn một nghìn quân tinh nhuệ và một viên tướng trẻ...
- Tình hình bốn trấn ven kinh đô ra sao?
- Sơn Tây và Kinh Bắc đã thay thế người thân tín của ta. Duy trấn Hải Đông, bọn giặc ở vùng Đồ Sơn cũng nên lưu ý. Tôi đã bàn kỹ phương lược với viên trấn thủ ở đó. Ở Sơn Nam Hạ, tôi nghe quan trấn thủ ở đấy vốn rất nể Nguyễn Khản, định tìm người thay thế, nhưng chưa ngắm được ai...
Tuyên Phi cau mày nói:
- Vây cánh của Nguyễn Khản không thể coi thường đâu. Thôi, ta cũng hỏi thế để yên tâm thôi, chứ biết ông cũng đã mệt nhoài vì công việc rồi. Ta chỉ muốn nhắc ông: Vừa lo việc chữa bệnh cho Chúa, nhưng không một phút được lơi tay nắm lấy quyền lực khi Chúa ốm đau.
Quận Huy hết sức ngạc nhiên, khi thấy Đặng Thị Huệ lại lo lắng đến những việc lớn như vậy. Huệ nói tiếp:
- Chúa Trịnh, ta và ông hiện nay như thế chân kiềng, một chân yếu hai chân kia phải ráng gánh vác. Nếu một chân gãy, thì hai chân kia cũng đến bỏ đi, nếu không thì cũng là đồ hỏng thôi.
Quận Huy lại càng kinh ngạc nói:
- Tôi xin ghi lòng những lời dặn dò của Quý Phi, không dám sao lãng. Chỉ xin Quý Phi hết lòng cùng tôi để giữ cơ nghiệp cho nhà Trịnh.
Đặng Thị Huệ nói:
- Điều ấy thì ông khỏi lo. Con gái đất Gia Lâm của ta bao giờ chẳng hết lòng vì chồng con...
Quận Huy cúi mặt xuống rồi lén ngước nhìn trộm Tuyên Phi. Lần đầu tiên, y xao xuyến trước một người đẹp thông minh và quả quyết. Quận Huy khẽ thở dài.
 
*
*          *
 
Đặng Tuyên Phi cho mời Hải Thượng Lãn Ông vào phòng Thế tử. Đầy tớ, con hầu đứng chầu hầu còn rất đông ở đó...
Tuy tuổi đã cao, vốn sống nghiêm túc, thấy chung quanh toàn là những người đẹp. Lãn Ông tự nhiên đâm lúng túng. Các cô vẫn ở trong cung, vốn thiếu hơi đàn ông, nên dù là ông già, cũng không giữ được nghiêm cách, cứ chỉ chỉ chỏ chỏ, thầm thầm thì thì, Hải Thượng Lãn Ông càng lúng túng. Hải Thượng Lãn Ông thấy một người đàn bà sắc sảo, đẹp lộng lẫy, ngồi trên chiếc ghế tựa lớn. Ông già biết đó chính là ái phi của Chúa, định sụp lạy, thì Tuyên Phi nói:
- Miễn lễ cho cụ, mời cụ ngồi.
Lãn Ông ngồi ở chiếc ghế chéo với Tuyên Phi ở giữa có một chiếc bàn nhỏ. Tiếng Tuyên Phi ấm và dịu dàng:
- Mang quà tặng ra đây!
Từ trong rèm gấm thị nữ mang một khay bạc lớn đặt ở trên bàn và một bộ quần áo lụa vàng Hàng Châu, áo may theo kiểu đạo sĩ.
Tuyên Phi nói:
- Nhờ quan chánh đường đã biết tài thuốc của cụ, mà kinh đô mới đón cụ ra đây. Lần thăm cho Thế tử bữa trước, ta vẫn chưa để ý, quá ỷ lại vào Chúa thượng, nên không để cụ chữa cho con trai ta... Bữa nay, thấy cụ chữa cho Chúa thượng, bệnh trọng thế mà chuyển biến trông thấy, quả là một bậc danh y. Ta xin cụ, vì người trần mắt thịt, không nhận ra tài danh qua lần áo vải.
Lãn Ông nghe lòi nói chí tình, hết sức cảm động, liền xá một vái rồi thưa:
- Thưa Quý Phi, tôi là thần dân của triều đình, được gọi đến làm sao không hết sức được.
Tuyên Phi vui vẻ nhìn ông-già-lười nhẹ nhàng nói:
- Cụ là người đôn hậu, không mê danh lợi, thích an nhàn, chắc là triều đình nghi thức ràng buộc, khó chịu lắm nhỉ!
Hải Thượng Lãn Ông thảng thốt sợ hãi, bèn nói:
- Dạ được hầu hạ cửa nhà Chúa, thật là vinh dự cho lão già quê mùa này, đâu có dám phàn nàn...
- Ta hiểu lòng cụ. Bởi thế rất quý cụ. Triều đình ban thưởng cho cụ mười tiền, đó cũng là lễ nghi qui định thôi. Chứ nếu cụ chữa cho Chúa thượng và con ta khỏi, thì bạc vàng châu báu, đất đai, cụ muốn bao nhiêu ta cũng có thể nói với Chúa thượng ban cho cụ.
Lãn Ông lại vội vã thưa:
- Bẩm Tuyên Phi, thân già này đã đến cõi. Vả lại phúc phận của một con người, một gia đình, một dòng họ đều do số trời định đoạt cả. Già này quả là không dám nài nỉ điều gì.
Đặng Thị Huệ nói:
- Ta biết, ta biết chứ. Nhưng cụ ra quê nội ngoài này, chẳng lẽ lại tay không ư. Đi về tốn kém, cũng cần chút ít quà cáp cho người thân, rồi nhà cửa vườn tược cho người đi xa mà hoang phí, nơi thờ phụng tổ tiên cần tu sửa, há chẳng cần đến bạc tiền ư? Ta hiểu điều đó, nên có chút bạc tặng cụ, đó là tấm lòng thành thực, cụ không nên câu nệ.
Lãn Ông rất phục Tuyên Phi, cho là nàng hết sức hiểu biết và chu đáo, liền chịu nhận số bạc thưởng. Tuyên Phi nói:
- Thầy thuốc là ân nhân của người bệnh. Từ bữa nay, là người vợ gần gũi của Chúa thượng, là mẹ của Thế tử, ta coi cụ như bậc bề trên, bậc thần tử có công lớn, mong cụ hết lòng. Chiều nay ta phiền cụ vào thăm bệnh của Thế tử giùm cho ta. Nếu cụ bận thì đến mai cũng được, không sao cả...
Lãn Ông thấy Tuyên Phi chân tình, quý mình thật sự liền nói:
- Nếu được Quý Phi tin cậy, thì già này vô cùng cảm kích, chiều nay, xin đến hầu mạch Thế tử.
Chiều hôm ấy, Quận Huy lại đích thân dẫn Hải Thượng Lãn Ông vào xem bệnh cho Thế tử Trịnh Cán.
Khác với lần thăm bệnh trước, hình hài Thế tử gầy xác, bụng to, da nhợt tái, gân xanh, rốn lồi trội hẳn lên, hơi thở khò khè, thiểu lực. Lãn Ông xem kỹ mạch tay thấy mạch chìm, nhỏ, không có thần. Gương mặt Lãn Ông thảng thốt sợ hãi. Theo lệ của triều đình, khi xem bệnh của Thế tử, chỉ toàn đàn ông đứng bên. Ngay Tuyên Phi là mẹ của Thế Tử cũng chỉ hồi hộp đứng ở sau rèm...
Lãn Ông thấy mười phần bệnh của Thế tử, chín phần nguy kịch nhưng vẫn cố giữ vẻ mặt thật điềm tĩnh, không bộc lộ, trừ phút kinh ngạc ban đầu.
Quận Huy hỏi:
- Cụ thấy thế nào, cứ nói cho thật.
Lãn Ông khẽ nói:
- Việc chữa bệnh cho người bệnh cho kỳ khỏi, là ước vọng của thầy thuốc và cũng là mong mỏi của người có bệnh.
Rồi vái lạy Thế tử lui ra. Quận Huy vội vã theo cho đến tận điếm ngoài, ngồi xuống ghế. Quận Huy mới ghé tai hỏi Lãn Ông:
- Cụ thấy sao, bệnh nặng hơn trước phải không?
- Tôi cảm thịnh tình của Tuyên Phi và sự tiến cử của quan Chánh đường, nên không dám giấu giếm. Bệnh của Thế tử gay go lắm!
- Đó là bệnh gì vậy? Có phải bệnh cam không?
- Phàm trẻ con ốm yếu, người ta cứ gọi là một cái tên chung là bệnh cam. Nhưng bệnh của Thế Tử, tôi e rằng là một bệnh tứ chứng nan y đấy!
Quan chánh đường thảng thốt hỏi:
- Là bệnh gì vậy?
- Bệnh cổ.
Quận Huy trợn tròn mắt trắng dã, hoảng hốt vặn hỏi:
- Bệnh cổ! Cụ nói láo! Ta không tin!
Lãn Ông thấy Quận Huy nổi giận, im lặng không nói gì...
Cơn hoảng hốt đã lui, quan Chánh đường thở dài một tiếng thật to, rồi hỏi:
- Nếu đem hết học viện tinh thông của cụ ra sức cứu chữa, thì liệu có cứu vãn được chăng?
Hải Thượng Lãn Ông nói:
- Tôi cho rằng từ lâu Thế tử uống nhiều thuốc công phạt quá để đến nỗi tinh huyết khô kiệt, nên quả là bệnh do thuốc gây ra mà khô kiệt, thì dùng thuốc bổ mạnh vào, cũng là cách tạo cơn mưa rào cho ruộng đại hạn vậy. Tôi chữa theo cách ấy. Lành dữ thế nào còn chờ công hiệu của thuốc.
Đơn thuốc đem vào rồi, Đặng Tuyên Phi vẫn chưa cho cắt thuốc bởi có lời gièm pha, cho rằng, bụng đã đầy sao thuốc lại lấy bạch truật và thục địa làm chủ vị, như thế chỉ tổ gây lạnh và khó tiêu hay sao?
May trong một quan thái y được triệu vào hỏi, vốn rất nể trọng Lãn Ông, thấy xem mạch, cắt thuốc đầy bản lĩnh và hợp nhẽ, liền nói:
- Thế tử lâu nay uống nhiều thuốc tiêu tẩy của các thầy lang trước nên bụng căng to, nay dùng thục địa và bạch truật tức là dùng vị bổ để làm nhuần khô xác, bụng tự tiêu đi, tôi nghĩ rằng rất nên uống.
Bởi thế, thuốc mới được cắt và sắc dâng lên Thế tử...
Trịnh Sâm sau khi uống thuốc của Hải Thượng Lãn Ông, khoẻ hẳn lên, ăn uống được nhưng sự mệt mỏi hụt hẫng hình như lại tăng thêm. Chúa cảm thấy khác thường, nên gọi Đặng Thị Huệ đến ngồi bên cạnh và nói:
- Ta cảm thấy trong người ngày càng suy kiệt, khó qua khỏi được. Ta được nàng ngần ấy năm thì cũng là hạnh phúc lắm rồi. Nếu ta có mệnh hệ nào thì nàng cố gắng mà nuôi con, quyết đoán công việc, lựa chọn người giỏi mà tin dùng. Cơ nghiệp họ Trịnh nằm trong tay nàng đấy.
Đặng Tuyên Phi nước mắt chứa chan, gục mặt vào ngực Chúa, kêu to lên:
- Không, không thể thế được! Chúa thượng phải sống. Ngài phải sống, dù chỉ nằm đấy. Ngài là em. Ngài chết thì em cũng chết theo thôi!
Chúa cảm động lắm, khẽ vuốt lưng Tuyên Phi mà nói:
- Cảm ơn em! cảm ơn em! Thôi đành hẹn sang kiếp khác thôi.
Chợt quan nội sai truyền mệnh nói:
- Thái Tôn Thánh mẫu tới!
Huệ vội lau nước mắt, sửa áo, đứng dậy ra đón Thánh mẫu. Chúa nhìn thấy mẹ thì, nước mắt ứa ra. Thánh mẫu cũng chan hoà nước mắt. Chúa bảo Tuyên Phi nâng mình dậy.
Chúa dốc sức nói trong nghẹn ngào:
- Con chắp tay lạy mẹ về những buồn khổ con luôn gây cho mẹ. Bây giờ, trời bắt con phải chết, không sống để thờ phụng mẹ được, mẹ tha thứ cho con. Xin mẹ đừng nghĩ gì về con để đau lòng mẹ, và mong mẹ giúp cho ngôi Chúa mới còn non dại có thể duy trì được nghiệp lớn... Mong mẹ hiểu lòng con.
Chúa cho vời Khanh Quận Công Trịnh Kiều, là vai chú của Chúa và Hoàn Quận Công Nguyễn Hoàn, là thầy học của mình. Chúa nói:
- Tôi xin cúi đầu lạy chú, lạy thầy. Bệnh tình của tôi nặng, nay đã nguy cấp. Triều đình không thể một ngày không có ngôi Chúa. Tôi đã dành ngôi tôn cao quý này cho Thế tử Trịnh Cán. Mong rằng khi tôi nằm xuống. Chú và thầy hết lòng giúp cho Chúa mới thoát khỏi lúc khó khăn này...
Đặng Thị Huệ thấy Chúa mệt, liền xin Chúa nằm xuống. Nhìn trước nhìn sau không thấy Quận Huy đâu, Đặng Thị Huệ rất sốt ruột. Bởi cái phút Chúa còn khoẻ mới phê vào tờ di chúc cố mệnh được. May sao, Quận Huy đã cầm giấy và bút nghiên vào.
Quận Huy lại gần Chúa, nói to rằng:
- Xin Chúa thượng hãy ghi tên cho những đại thần nhận di chúc, lo việc lớn!
Chúa xua tay ra hiệu mình không viết nổi!
Quận Huy lại thưa để mọi người cùng nghe tiếng:
- Nay Thánh thể không yên mà tên các đại thần trong tờ di chúc còn để trống. Xin Chúa cho phép Kháng Quận Công được viết thay.
Trịnh Kiều đã được Quận Huy bàn bạc trước liền lúi húi đặt tờ di chúc lên án điền tên họ chức tước của những vị được trao giúp rập tâu Chúa sau này. Đó là:
- Khang Quận Công Trịnh Kiều, chú ruột của Trịnh Sâm.
- Hoàn Quận Công Nguyễn Hoàn, thầy dạy học của Chúa.
- Tứ xuyên hầu Phan Lê Phiên, người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Thị lang bộ Hộ, dự vào hàng tham tụng.
- Huy Quận Công, Hoàng Tố Lý (tức Hoàng Đình Bảo)
- Châu Quận Công Lê Đình Châu, có chân trong Viện Cơ mật, là người tin cẩn của mấy đời Chúa Trịnh.
- Diễm Quận Công Trần Xuân Huy, người gần gũi nhất của Trịnh Sâm, giờ được đặc trách giao cho kèm cặp Thái tử, chức a bảo, Tri hộ phiên.
- Thuỳ trung hầu Tạ Danh Thuỳ, viên tướng trẻ trấn thủ Thanh Hoá, là người được Quận Huy cất nhắc.
Trịnh Kiều điền tên xong đọc cho Trịnh Sâm nghe. Chúa gật đầu, được một lúc sau tắt thở...
Quận Huy trút một tiếng thở dài, nhưng trong lòng hết sức thoả mãn. Bởi, triều đình từ nay, hoàn toàn nằm trong tay y thao túng...
Quận Huy và sáu vị đại thần có mệnh lo công bố di chúc của Tĩnh Đô Vương và đưa Chúa mới lên ngôi.
Trịnh Cán được mang áo long bào màu tía, ngồi lên ngôi Chúa. Chúa phải bế từ trong cung ra, đặt lên ngai. Chúa nhỏ bé, ốm yếu, ngồi không vững, lọt thỏm giữa một cung điện mênh mông.
Trăm quan nối nhau làm lễ suy tôn ngôi Chúa rồi đi lo tang cho tiên Chúa. Tuyên Phi mặc áo lụa trắng, tang phục, ôm bên linh cữu khóc ngặt đi... Chợt thấy Quận Huy đưa Chúa nhỏ về, vội chạy ra đón... Các thị nữ đón Chúa nhỏ vào cung... Tuyên Phi ở lại với Quận Huy. Hai người chợt nhìn vào mặt nhau. Quận Huy sững sờ thấy Đặng Thị Huệ trong bộ đồ tang lại đẹp gấp mấy thường ngày. Thấy Quận Huy mặt thần ra, Đặng Thị Huệ không để ý, liền nói:
- Ông phải lưu ý đến thằng Tông đấy nhé! Canh gác cho cẩn mật vào. Nó mà xổng ra bây giờ thì tức là thả hổ về rừng đấy.
Quận Huy mới thấy Tuyên Phi quả là người đàn bà mạnh mẽ, để mắt đến những việc lớn ngay trong lúc bối rối nhất.
Huy nói:
- Tôi đã tăng thêm người cho bốn đội Nhưng, Kiệu, Khuông, Dực canh gác ngày đêm rồi...
Đặng Thị Huệ bước ra... Quận Huy cố tình xoay người để cánh vai mình chạm vào ngực Tuyên Phi. Phi ngước mắt nhìn Quận Huy rồi bước vào nơi quàn thi hài của Chúa... Nàng lại khóc và mê đi trong mùi trầm, mùi nhang khói mù mịt cả trong phòng.
Dương Phi, mẹ của Trịnh Tông, biết viên tướng trẻ Thuỳ Trung hầu, trước đây ở kinh đô vẫn thường được Thế tử giao du, chơi đá cầu, và cùng nhau thí võ. Khi Thuỳ Trung hầu được Quận Huy tin cẩn, Trịnh Tông bị giam ở nhà Tả Xuyên, ngay cạnh Phủ Chúa, Tạ Danh Thuỳ vẫn thường bảo đám quân canh giữ để mắt, nếu có ai đến ám hại thì bảo. Thánh mẫu Thái Tôn biết Thuỳ có tình cũ nghĩa xưa với Thế tử cũ, liền cho người thân tín đến cảm ơn và ban quà tặng. Tạ Danh Thuỳ rất cảm kích...
Khi Đặng Thị Huệ bắt Quận Huy giam lỏng Thế tử Tông, Tạ Danh Thuỳ cho gọi mấy tay đội trưởng của mấy đội cận vệ đến dặn dò, do đó, Thế tử vẫn được an toàn. Thế tử Tông là người phóng túng, lại biết cho quà cáp bọn lính canh. Tuyên Phi lại bấn bíu về nhiều chuyện khác, không để mắt đến được, do đó Trịnh Tông vẫn được xổng xểnh, có hôm còn được bí mật đưa về cung cũ chào mẹ và bà nội... Mấy bà cháu, mẹ con ôm nhau khóc, đám lính Khuông, Dực, Nhưng, Kiệu thấy vậy cũng đâm ra thương hại. Chúng cho rằng Trịnh Tông dù sao cũng chân tình thẳng thắn. Còn Tuyên Phi Đặng Thị Huệ thì lúc nào cũng gò vào khuôn phép, lưu ý đến lính thì ít mà mưu lợi riêng thì nhiều. Khi Trịnh Sâm chết, Đặng Thị Huệ lại kiềng Trịnh Tông, do đó, lại đòi Quận Huy lo chuyện ráo riết giam giữ Thế tử cũ. Thánh mẫu Thái Tôn và Dương Phi rất lo sợ, Thánh mẫu bảo Dương Phi:
- Ta già rồi, mọi việc Thị Huệ kết liên với Quận Huy thao túng hết. Ta chưa biết lòng dạ Quận Huy ra sao? Không biết nó có chịu phò nhà Trịnh ta hay lại đem lòng kia khác. Còn Tiên chúa, Quận Huy còn nể mặt. Nay di chúc đã có tên nó, nó lại cầm đầu cả bảy vị quận công, hầu tước, chịu cố mệnh, giết ai chẳng được, muốn cướp ngôi Chúa, giành quyền thâu tóm thiên hạ, nào có khó gì!
Dương Phi bảo mẹ:
- Con xin sang chịu lụy gặp Quận Huy nhờ cậy hắn che chở cho Thế tử Trịnh Tông, có được không mẹ.
- Nguy hiểm lắm, con ơi. Ngộ nó buộc con vào tội rồi vu cho chuyện nọ, chuyện kia thì làm sao?
- Mẹ đừng sợ. Trước dân chúng, con vẫn là mẹ đích của Trịnh Cán, còn Tuyên Phi là mẹ đẻ thôi. Dù sao bây giờ con cũng là Thái phi ở phủ Chúa này, hại con thì đám cựu thần thân với nhà Trịnh cũng chẳng để yên đâu...
Thánh mẫu Thái Tôn thở dài nói:
- Ừ, con cứ thử sang xem, nhưng phải giữ gìn đừng cho con đĩ Đặng Thị Huệ biết đấy!
Dương Thái Phi nhờ người sang nói với Quận Huy, Quận Huy lúc đầu lưỡng lự, sau suy tính lại, liền chịu tiếp Thái phi.
Dương Ngọc Hoan đem sang 30 lạng vàng, một mâm bạc, một chiếc đồng hồ của viên linh mục vào yết kiến Thánh mẫu thuở trước biếu bà, Thánh mẫu bảo Dương Thái phi đem cho Quận Huy...
Quận Huy thấy Thái phi đến với lễ vật quá hậu, bèn từ tạ:
- Bẩm Thái phi, tôi là thần tử, đáng lý phải sang hầu bên cung chứ đâu dám để Quốc mẫu đến tận nhà, lại cho tặng vật nhiều thế!
Dương Thái Phi nói:
- Con tôi là đứa hư hỏng, gây ra tội tày trời. Tiên Chúa giận truất ngôi Thế tử, thật cũng đáng đời. Đáng lý tôi là mẹ cũng bị truất quyền, nhưng nhờ lượng trời bể mà không nỡ quở trách tình xưa nghĩa cũ. Quận công nghĩ thương tình cũng đã hết lòng che chở cho... Nay, phụ vương của nó chết rồi, nó bị giam trong ngục cũng biết ăn năn hối lỗi. Dám mong Quận công hết lòng đùm bọc tiếp, để mẹ con tôi sớm tối được nhìn mặt nhau là đủ rồi, không dám điều gì kia khác.
Quận Huy nói:
- Thưa Thái phi, tôi là con rể của họ Trịnh, lại phò Tiên chúa hết lòng. Việc xử sự trưởng thứ là do thời thế tạo ra, Chúa nổi giận mà làm, tôi chỉ biết tuân theo ý Chúa. Trịnh Tông là Thế tử cũ, cũng là con của Chúa. Chúa để lại không giết, tức là lòng cũng còn thương. Tôi đâu dám làm sai ý tiên Chúa, nhất là di hài của Tiên chúa vẫn còn quàn ở trong nội điện. Thái Thi đã có lòng nhờ cậy thì Tố Lý này xin nhận lời, mong Thái phi yên lòng không phải lo ngại...
Dương Ngọc Hoan mừng lắm, về thưa với Thánh mẫu. Thánh mẫu nói:
- Thằng giặc ấy chính là người làm mất họ Trịnh ta đấy, tin làm sao Đặng Thị Huệ. Chẳng qua bây giờ qua sông thì phải lụy đò thôi! Con phải cẩn thận kẻo nó nói một đằng làm một nẻo đấy!
Dương Thái phi không nói gì.
 
0

12

 
Quận Huy hứa sẽ nới lỏng cho Trịnh Tông, quả có thực hiện thật. Do đó dám quân canh gác mới không tra hỏi kỹ. Những người coi chừng Thế Tử bị đổi đi nay lại được điều động lại.
Tuy vậy, Thánh mẫu Thái Tôn vẫn chưa tin. Còn Dương Thái Phi Ngọc Hoan thì nhân lúc Quận Huy nới tay, liền báo cho đám gia thần tìm cách đến thăm Thế tử.
Thế tử Trịnh Tông được đem vào nhà Tả Xuyên. Một người hầu, được chính Quận Huy duyệt, đó là tên đầu bếp tên là Dự Vũ, một hôm nhân lính canh đi ra xa, Dự Vũ đem cơm đến, Trịnh Tông liền hỏi:
- Nhà ngươi thấy từ khi Tiên chúa mất, tình hình dân chúng ra sao?
Dự Vũ nói:
- Năm nay mất mùa, người nghèo đổ về kinh thành đông lắm. Thóc cao, gạo kém. Quân lính bị gia đình thúc ép, cũng thi nhau đổ ra phường phố kiếm chác. Cũng mua đồ rẻ, hoặc cậy đông, cướp giật, chưa tối, các cửa hàng đều phải đóng cửa! Quân lính bây giờ cũng cứng đầu, cứng cổ lắm. Họ thấy Quận Huy cố nép vào váy Đặng Thị Huệ nên cũng khinh nhờn.
Thế tử Tông hỏi:
- Dân chúng nghĩ về ta như thế nào?
- Nhiều người còn nhắc đến chuyện Thế tử bị hãm hại. Không tin tưởng gì vào Chúa bé, họ còn đặt đồng dao...
Thế tử sốt ruột hỏi:
- Họ đặt thế nào?
- Cành to dạo cành bé,
Cành bé đập cành to...
Được thua rồi thua được,
Thua được thành được thua...
Thế tử Tông mừng rỡ thốt lên:
- Hay lắm! Như thế Trịnh nghiệp vẫn có thể còn! Nhưng những người giỏi giang của ta bây giờ chết và bị lưu đầy cả... Biết làm sao được... Ta chỉ còn một gia thần là Gia Thọ ở Kinh Bắc. Người ấy khéo léo, vụ án năm Canh Tý thoát được là do khôn ngoan. Người đem thư của ta sang bên đó, nói là Gia Thọ liên hệ với bà nội và mẹ ta mà lo việc lớn...
Dự Vũ tìm cách nhờ người đem thư đi ngay. Gia Thọ mừng lắm sang ngay hầu Thánh mẫu Thái Tôn lo việc lớn. Thánh mẫu ngầm đem vàng bạc cho Gia Thọ được tuỳ nghi sử dụng...
Thọ liên hệ ngay với quân Tam Phủ. Đội Khuông, Dực, Nhưng, Kiện giữ Thế tử đều nghe theo cả...
Trong quân ngự lâm náo động hẳn lên... chỗ tụm năm, tụm ba háo hức muốn làm binh biến, dẹp Quận Huy và Đặng Tuyên Phi... Gia Thọ đã liên hệ được với Bằng Vũ, kéo nhau đến Bùi Bật Trực. Bật Trực lại đưa Vũ vào bàn với Chiêu Lĩnh Bá, cả bốn người lại kéo nhau đến phường Khán Xuân bàn chuyện kín, sau đó liền bảo Chiêu Lĩnh Bá Nguyễn Trọng Chiếu đưa đến yết kiến Viêm Quận Công.
Thấy họ kéo đến mưu loạn, Viêm Quận Công vốn an phận thủ thường, thất sắc, nói:
- Việc này không phải chuyện thường, không bàn bạc kỹ, mất đầu cả lũ như chơi...
- Chẳng lẽ ông là quốc cữu, không chịu giúp chúng tôi, thì ai có thể đưa Thế tử Tông nắm lấy ngôi Chúa yên thiên hạ được.
Viêm quận công bất đắc dĩ nhận lời, bàn với Thánh mẫu Thái Tôn... Bà hết sức ủng hộ song Viên Quận công vẫn còn sợ quân Tam Phủ không làm nên chuyện, bèn xui Thánh mẫu mời Quận Hoàn đến bàn chuyện.
Nguyễn Hoàn chưa biết chuyện gì, liền đến ngay.
Thánh mẫu Thái Tôn nói:
- Ông là công thần trải thời hai triều, lại được vào hầu Tiên chúa, chịu cố mệnh, chẳng lẽ ông lại chịu để cho kẻ quyền thần lấn át, cướp không sự nghiệp của họ Trịnh?
Nguyễn Hoàn nói:
- Tôi dẫu là thầy của Tiên chúa, nhưng ở những năm đầu Chúa mở mang cơ nghiệp, sau già lão, nhường lại binh quyền cho người ta cả rồi. Nếu cất mình khi còn non, thì e rằng...
Thánh mẫu nghiêm mặt lại nói:
- Vậy là ông vẫn còn e ngại Quận Huy phải không?
Nguyễn Hoàn nói chữa:
- Không phải là e ngại, song tôi đã từng làm Tham Tụng ở phủ Chúa nhiều năm thấy rằng, nhiều loạn binh đao một ngày thì hồi phục hàng năm chưa xong... Cuối cùng dân chúng là người chịu đựng khổ sở mãi, xin Thánh mẫu liệu cho kỹ...
Thánh mẫu thở dài nói:
- Thôi được, ta hoãn cho một ngày, để đích thân ta sang thuyết phục Quận Huy xem sao!
Quận Hoàn về, Dương Thái Phi Ngọc Hoan ra ôm lấy gối mẹ và nói:
- Con xin mẹ đừng đi.
- Sao vậy con. Gái già này vì cơ nghiệp họ Trịnh này, không thân chinh không xong...
Dương Ngọc Hoan nói:
- Mẹ bây giờ là cái trụ lớn để ba quân tin mà làm theo. Nếu như Quận Huy biết rõ ý định mà giữ mẹ lại, uy bức quân sĩ, thì việc lớn con e hỏng mất.
- Vậy bây giờ phải làm thế nào?
- Phải chọn một viên tướng võ tin cậy mà phái đi truyền ý lớn của quân sĩ phò Chúa lớn, phế Chúa nhỏ, nếu Quận Huy nghe theo, bỏ Thị Huệ và Trịnh Cán theo mình, thì cũng là một kế hay!
- Ai làm được việc đó.
- Phó tri phiên Nguyễn Kiêm có thể đi được. Người ấy vốn có lòng trung nghĩa.
- Gọi Nguyễn Kiêm vào ngay đây cho ta...
 
*
*          *
 
Quận Huy trong lòng vẫn thầm mê Tuyên Phi Đặng Thị Huệ, nhưng sợ Chúa và lại sợ tính phương cương của Huệ, nên chưa dám tỏ tình...
Khi bệnh tình của Chúa nhỏ này càng lấn bấn, không sao chữa khỏi, Tuyên Phi hết chăm bệnh cho chồng, cho con, mệt mỏi quá mức... có hôm mệt mỏi ngủ thiếp đi... Cũng lúc đó, Quận Huy có việc cơ mật liền vào tìm Tuyên Phi... Bấy giờ Quận Huy quyền nghiêng nước, ai cũng sợ. Trong cung thị tỳ đều là người của Tuyên Phi, kẻ hầu người hạ, đều là người của Quận Huy, nên thấy Huy đến, biết là có việc quan trọng, đều lui ra cả...
Quận Huy đánh tiếng, Tuyên Phi vẫn thiêm thiếp ngủ.
Trong giường đệm chập chờn ánh nến, dưới tầng màn hồng, chăn hồng, Huệ đắp chiếc chăn mỏng đến nửa ngực đang thiêm thiếp ngủ… Gương mặt nhưng một vầng trăng vừa hiện lên, toả sáng dịu cả một gian phòng cung điện... Vầng trán, đôi lông mày, con mắt, gò má, đôi môi, hài hoà thật tuyệt vời. Vài sợi tóc loà xoà trên mặt, càng làm thêm vẻ gợi cảm... cổ cao, ngấn ngực trắng ngần, bờ ngực mệt mỏi thở rộn ràng, trông thật hấp dẫn...
Quận Huy đánh tiếng. Tuyên Phi vẫn lặng lẽ ngủ... Quận Huy nghĩ:
- Hay là nàng giả ngủ, để chiều theo ý ta...
Và cơn thèm muốn từ đâu bỗng dâng lên... Quận Huy đứng dậy giả cách đi đi lại lại, vẻ chờ đợi... cũng là xem thử các cửa ngách, cửa chính có đứa hầu nào tò mò mà đứng lại rình rập không?
- Không có ai cả...
Quận Huy mừng lắm, trở lại bên giường Tuyên Phi khẽ gỡ chăn, rồi nằm xuống bên cạnh. Đặng Thị Huệ vẫn ngủ mê mệt. Không thấy Huệ phản ứng gì, Quận Huy càng tin lời phán đoán của mình là đúng, liền mạnh dạn, phủ chăn ôm lấy người đẹp, và lùa tay đặt lên ngực...
Tuyên Phi trong lúc mơ màng lại tưởng là Trịnh Sâm, liền cựa mình, quay mặt lại... Quận Huy sung sướng vô cùng, liền ôm lấy, định cởi xiêm áo của Tuyên Phi, miệng thì gọi:
- Trời ơi, cảm ơn nàng, cảm ơn nàng, ta đã chiếm được nàng rồi! Ta đây mà, ta đây mà, ta khao khát nàng từ bao lâu rồi, hôm nay quả trời cho đây.
Rồi lay người Huệ, để cho Huệ tỉnh thật dậy... Khi Tuyên Phi choàng mắt, nhìn kỹ thấy Quận Huy, thì vùng dậy và kêu to:
- Trời ơi, sao... sao... Ai thế này?
Quận Huy vội hụt hẫng, cũng nhỏm dậy theo, miệng lắp bắp:
- Tuyên Thái Phi(1), xin chớ kêu... tôi Quận Huy đây mà!
Tuyên Phi định thần lại nói:
- À ra ông đấy à? Sao ông lại làm cái trò nỡm này!
Quận Huy nói:
- Xin Thái phi tha lỗi, tôi thấy bà đẹp quá...
Đặng Thị Huệ nói:
- Ông đã thề trước Tiên chúa thế nào, quên hết rồi ư?
Quận Huy cúi mặt không nói gì!
Để cho Quận Huy đỡ mất thể diện, Đặng Thị Huệ nói:
- Ông nên nhớ, Tiên chúa yêu ta thật, vượt hết mọi gièm pha nghi lễ. Ta làm sao quên Người được. Khi Người sống, ta chỉ trông thấy Người là đã hạnh phúc lắm rồi. Bây giờ chết, ta thường thường mơ thấy Người, sống với nhau như hồi mới tìm gặp mặt nhau... Ta làm sao quên Tiên chúa được... Để yên lòng mọi người, ta lại vào ngủ như cũ, ông hãy lui ra ngay, coi như là không dám kinh động giấc ngủ của ta... Việc bữa nay, ta coi như không có...
Nói rồi lại quay về giường gấm ngủ...
Quận Huy trở ra về, vừa xấu hổ, vừa tiếc... Huy vẫn đinh ninh không ai biết gì, không ngờ lại có hai đứa thị tỳ nhìn thấy, đưa mắt nhìn nhau... Chúng rất phục Tuyên Phi và lại càng ghét Quận Huy...
Rồi tai vách mạch rừng, hai cô thị tỳ vui miệng lại lộ chuyện ra với một cô thị tỳ bên cung của Thái Tôn quốc mẫu. Tin tức lập tức được loan truyền ra khỏi hoàng thành.
Quận Huy về nhà buồn bã lệnh cho quân sĩ không tiếp ai. Đến tối thấy có viên Phó tri Phiên Nguyễn Kiêm xin gặp. Quận Huy cũng muốn biết tình hình quân cơ nên cho vào...
Trông thấy Nguyễn Kiêm, Quận Huy hỏi ngay:
- Ta bận nhiều việc, quân Tam Phủ giao cho ngươi cả, liệu chúng có làm loạn không đấy?
Kiêm cứng cỏi trả lời:
- Quận công là ngôi thứ hai sau Chúa, bây giờ Tiên chúa mất còn Chúa nhỏ, ông hỏi tôi thế, hay là buộc tôi vào tội chết đấy?
Quận Huy bèn chữa:
- Ta nhiều việc quá, tính tình đâm ra nóng nảy, chỉ cần hết lòng với ta, thì giàu sang chung đỉnh, ta không quên những bạn cùng chí hướng đâu?
Nguyễn Kiêm thăm dò:
- Ông là người biết tuỳ cơ ứng biến rất khéo, từ người bị Tiên chúa gọi về định hãm hại lại trở thành người tin cẩn bậc nhất của Tiên chúa. Ông có chịu nghe lời nói thật không?
Quận Huy đứng dậy ôm vai Nguyễn Kiêm nói:
- Ông hết lòng vì ta, thì ta cũng hết lòng với ông. Đã hết lòng với nhau, thì lời nói thật mói là lời cần nói với nhau nhất.
Nguyễn Kiêm nói:
- Ông phò Tuyên Phi và tân Chúa thờ tiên Chúa là rất phải, và cũng vì thế mà tránh được năm bè bảy cánh... Nhưng Thế tử nhỏ ốm yếu lắm, khó bề cầm quyền được, người ta đang nghiêng về phò Thế tử cũ là Trịnh Tông. Thánh mẫu Thái Tôn uy lực rất lớn với các cựu thần của Chúa. Mỗi cựu thần đều nắm giữ một thế lực quan trọng. Tuy nhiên, Thánh mẫu là đàn bà, không muốn gây chuyện trong nhà đâm chém lẫn nhau, vẫn phủ dụ những người hăng hái lật đổ Chúa nhỏ Trịnh Cán. Đó là người quốc mẫu nhân từ thuần hậu. Thánh mẫu rất sợ ông nghe lời Tuyên Phi giết Thế tử lớn, nên cho tôi đến xin nhận cho Tông được coi tướng quân là a bảo, Tuyên Phi là mẹ nuôi, Trịnh Tông thoát tội chết một lần, không dám bạo loạn nữa đâu. Tình thế giải hoà là rất tốt, xin tướng công chớ bỏ lỡ... Như thế thì quân Tam Phủ cũng hết cớ làm bậy.
Thấy Nguyễn Kiêm nói rất có lý, Quận Huy vội nói:
- Ta nhờ ông về bẩm với Thánh mẫu giùm: Tố Lý này trước sau vẫn hết lòng với họ Trịnh. Thánh mẫu là người trong tam cung, lục viện còn nghĩ đến an nguy của xã tắc, huống hồ là tôi đang chịu cố mệnh của Tiên chúa. Việc nhận làm a bảo cho Thế tử cũ không phải là ý của tiên Chúa. Linh cữu của Người còn quàn tại đây, nếu tôi lại có ý làm trái với di chúc, thì chính không phải yên lòng trăm quan mà lại gây rối loạn thêm. Chuyện này xin được bàn sau. Vả lại Tiên chúa chỉ có hai người con, nếu Chúa nhỏ yếu đau không kham nổi việc quốc chính, thì tất nhiên ngôi Chúa phải đến Thế tử cũ chứ còn thuộc về ai được nữa.
Nguyễn Kiêm vái lạy đi ra.
Quận Huy ngồi thừ ngẫm nghĩ:
- Họ lại định xui ta ngả theo họ. Có chết ta cũng không đời nào theo. Chẳng qua bây giờ phe Trịnh Tông thấy ta còn nắm giữ binh quyền nên tìm cách dàn hoà vậy thôi, ta nghe họ ắt là họ sẽ lấn tới. Nhưng rà xiết quá cũng xui họ bạo loạn, chi bằng cũng tương kế tựu kế mới được.
Nguyễn Kiêm nhìn nét mặt cử chỉ hiểu rõ thâm ý của Quận Huy liền về thưa với Thánh mẫu Thái tôn. Thánh mẫu thấy việc không thể làm lơ được liền bảo Nguyễn Kiêm bàn với Quận Huy. Hoàng quận công lưỡng lự nhưng Chiêu Lĩnh bá thì rất hăng hái muốn kích động quân Tam Phủ khởi sự ngay... Chiêu Lĩnh bá liền bàn với Bùi Bật Trực và Bằng Vũ và những viên Đội trưởng coi quân cấm vệ ở Tam Phủ. Quân lính ồn ào đến muốn ép Quận Huy phải nộp Chúa nhỏ và Đặng Thị Huệ... Kinh đô náo động lời đồn ran ran... Một kẻ nào đó lại đặt vè, kích động quân sĩ...
Này này Quân Tam Phủ
Mắt ngươi có sáng không.
Tai ngươi có thính không...
Chính cung là người đẹp
Cung cấm cần nghiêm phòng...
Quan Chánh đường phạm thượng...
Người đẹp bỗng hai chồng...
Ô uế trong tẩm điện
Loạn dâm tận hoàng cung
Này này quân Tam Phủ
Mắt ngươi có thấy không...
Người nhà mách đến tai Quận Huy, Huy tức lắm, bắt ngay những gã thích ngồi tung tin ở quầy rượu đem bẻ răng, rút lưỡi, vả vào miệng cho đến chết rồi đem bêu đầu ở các cửa ô, treo ở bên dưới xiềng xích lủng lẳng dòng chữ:
“Phần thưởng này dành cho những kẻ tung tin nhảm”.
Hình phạt nặng ấy có làm giảm đi chuyện phao tin ở chỗ quán rượu, quán trà, nhưng lòng dân chúng lại càng căm phẫn. Có một viên nho sinh đầu quân, nhân đó làm luôn bài hịch...
Dân một nước, ai không mong bề tôi giỏi, vua hay.
Kinh thành lớn ai chẳng muốn giàu sang thịnh trị...
Quân Tam Phủ khởi lên thời Trung Hưng,
Dẹp nịnh, phò nguy trải bao đời Chúa...
Há để một ả lăng loàn, lấy sắc đẹp thao túng triều nghi...
Há để một thằng thất phu, cậy thế mạnh lấn át quyền tướng sĩ...
Trịnh Tông có tội gì?
Con trưởng lại hạ làm con thứ...
Trịnh Cán có công gỉ?
Nhãi oắt ốm đau, ngồi vào ngai Chúa...
Thóc cao gạo kém điêu đứng sinh linh...
Rượu thịt bỏ ôi tiệc nhà quyền quý!
Sự thật vốn là sự thật,
Sao đến nỗi rút lưỡi bẻ răng...
Gian tà vẫn lối gian tà, sao vẫn nhởn nhơ hể hả ?
Gươm giáo trong tay, sao không tỏ nghĩa trượng phu,
Uy lực nắm quyền, sao chẳng khuông phù chân Chúa!
Ráp thành một khối quét lũ gian tà
Thời vận đến rồi, hỡi tuân Tam Phủ...
Bài hịch được truyền miệng ngay đến với mọi cơ binh. Nguyễn Hoàn thấy lòng quân hướng về Trịnh Tông, cũng đành để con trai là Chiêu Lĩnh Bá và Nguyễn Kiêm lo việc lớn...
Quân sĩ suốt đêm không ngủ..., binh khí sẵn bên mình. Bằng Vũ, Bùi Bật Trực, Chiêu Lĩnh Bá đã mật báo cho tất cả các cơ quan, đúng sớm mai sẽ hành sự...
Một viên nội sai thấy sắp có binh biến liền vào trình Quận Huy nói:
- Tướng công có biết Kinh thành đang náo động không?
Quận Huy cười nhạt nói:
- Thành Thăng Long từ ngày ta ở xứ Nghệ ra đây có lúc nào yên tĩnh. Cứ mặc cho nó náo động. Gọi cho ta Quận Châu và Thuỳ Trung hầu vào đây!
Một lúc sau, hai người cùng đến. Quận Huy nói:
- Hai ông vẫn nắm được quân Tam Phủ chứ!
Quận Châu nói:
- Cho đến sáng nay tôi cắt đặt công việc, quân lính đều răm rắp nghe theo cả. Họ có bàn bạc làm bậy, thì một ngày cũng không xong được...
Thuỳ Trung Hầu nói:
- Hay là quân lính phản ứng về việc hành hình một tên lính ngạo mạn phao tin đồn bậy!
- Các ông đi ngay một lượt nữa xem sao, rồi về đây trình cho ta rõ...
Khi Quận Châu và Thuỳ Trung Hầu đi rồi, viên nội sai nói thầm vào tai Quận Huy, Huy đuổi hết tả hữu ra ngoài. Viên hầu cận đưa cho Huy xem tờ hịch. Quận Huy xem xong toát mồ hôi, lấy khăn lau trán mà nói:
- Tình hình xấu đến như thế này ư? Sao Quận Châu và Thuỳ Trung Hầu không biết.
- Quân lính bàn ngầm ai dám để lộ việc chết người. Quận Châu và Thuỳ Trung Hầu có biết có khi họ cũng không dám nói thật với tướng công!
- Bây giờ làm thế nào?
- Tôi nghĩ, tướng công còn có tướng tâm phúc ở tứ trấn. Hãy đem Chúa nhỏ và Tuyên Phi ra ngoài thành, nếu chúng nổi loạn lấy quân ngoài đánh vào, tôi chắc là tài cầm quân của tướng công sẽ dẹp được quân Tam Phủ!
Quận Huy kêu lên:
- Không ổn! Ta bây giờ đang giữ nền nếp trật tự của triều đình. Vô cớ lại đem Chúa ra ngoài hoàng thành, họ vu cho ta định cướp ngôi Chúa rồi từ đó gây biến, thì lại càng khó bề trấn an được lòng dân!
- Vậy thì làm thế nào?
- Ta đã phò Tiên chúa, Tuyên Phi và Chúa nhỏ, thì đành chịu chung số phận với họ thôi! Ta phiền ông thu xếp lo sẵn đường chạy thoát cho Tuyên Phi và Chúa nhỏ khi có biến, còn ta, ta phải đối mặt với bọn loạn thần mới được.
Vừa lúc đó Quận Châu và Thuỳ Trung Hầu về, đem theo một tên tiểu tướng có vẻ nghi ngờ. Quận Huy đích thân tra hỏi, viên võ quan sợ, liền phun ra hết. Quận Huy nói:
- Đem thằng này giam vào ngục.
Rồi nói với Quận Châu và Thuỳ Trung Hầu:
- Khuya rồi, hai ông không nên về, hãy nghỉ lại đây cùng ta...
Nói rồi mệt mỏi quay về tướng phủ...
 
*
*          *
 
Sáng sớm khi vừa thức dậy, Quận Huy mặc áo đại trào, theo thông lệ, cùng các đại thần cố mệnh và tham tụng, bồi tụng cũng vào chầu lễ cúng cơm của Tiên chúa. Tuyên Phi mặc áo đại tang túc trực ở đó.
Cứ trông thấy Tuyên Phi, Quận Huy tự nhiên chân tay luống cuống, không được bình thường, tim đập rộn ràng. Ngây người ra một lúc rồi nhân lúc mọi người không để ý, Quận Huy hỏi:
- Tôi đã cho người đưa Quốc mẫu và Chúa ra ngoài thành rồi. Bữa nay có biến, sao còn ở đây?
- Ông tính nhầm rồi. Chúa không thể ra khỏi kinh thành được. Mà Chúa là con ta, còn bé bỏng thế, thế nước thì chênh vênh, ta bỏ đi làm sao được.
Huy quận thở dài nói:
- Bà thật là người phi thường!
Đặng Tuyên Phi không đáp, lúi húi các thêm tuần rượu nữa cho buổi lễ cúng cơm của Tiên chúa...
Quận Huy thấy nóng ruột, vội quay luôn về phủ.
Vừa lúc ấy, Bằng Vũ nhận lời với Triêm Vũ hầu, Bùi Bật Trực, nhảy vào phủ Tham Tụng nổi trống.
Vũ ngang nhiên đi thẳng tới cổng lớn leo lên lầu, cầm dùi lớn, đánh ba hồi chín tiếng trống, rung động cả hoàng thành.
Quận Huy quát:
- Thằng nào không có lệnh mà dám đánh trống thế. Lôi cổ nó vào đây.
Quân lính của Quận Huy đóng hết cửa phủ lại, rồi xông đến bắt Bằng Vũ, trói nghiến lại. Quận Huy quát:
- Mày động hiệu cho quân lính làm loạn có phải không? Lôi cổ nó ra chém!
Bằng Vũ lúc này mới thấy sợ, chắc chết đến nơi, song Thuỳ Trung Hầu liền đứng ra can Quận Huy:
- Mưu loạn không chỉ có thằng này. Hãy giữ nó lại, khi nào tóm gọn được cả bọn chém cũng không muộn.
Quận Huy thừ mặt một lúc rồi ra lệnh:
- Giam cổ nó vào ngục đại hình!
Quân hầu cận vội lôi cổ Bằng Vũ đi ngay. Vừa lúc đó có tiếng reo ầm ầm của lính Tam Phủ từ các dinh phủ, cung điện cùng kéo về nơi Quận Huy đang ở. Tiếng reo rầm trời, dậy đất:
- Giết chết đứa lộng quyền đi! Giết chết thằng nghịch tặc Quận Huy đi!
Chúng thấy cửa phủ đóng, bèn đập cửa rầm rầm. Quận Huy cho gọi người đến viết tờ khải dâng lên Điện Đô Vương Trịnh Cán đại ý nói vâng lệnh đi dẹp loạn, rồi bảo quân lính đem voi chiến ra. Vừa lúc ấy Quận Châu trên nóc cổng phủ vừa đi xuống.
Quận Huy nói:
- Ông làm chỉ huy quân Tam Phủ, sao lúc này còn đứng đây, phải ra răn đe bọn lính làm loạn chứ!
Quận Châu sợ Quận Huy lại leo lên cổng phủ nói to, vọng xuống:
- Quân sĩ không được náo động, hãy giữ lễ! Tử cung của Tiên chúa còn giữ ở đây, sao lại ồn thế. Các ngươi muốn gì cứ viết tờ khai lên Chúa rồi cho bắn tên vào đây!
Mấy tên cầm đầu ở phía trước xông lên nói:
- Quận Châu đấy phải không? Tôi tưởng ông cũng là người hiểu việc, hoá ra ông định theo thằng giặc Huy hiếp vua lừa dân hả! Mở cửa ngay ra, nếu chúng ta vào được thì các người sẽ bị băm ra như cám...
Quận Châu thét lên:
- Muốn gì cứ nói! Ta sẽ trình lên Chúa cho.
- Muốn cái đầu của Quận Huy và con nặc nô Đặng Thị Huệ... Mở cửa ra...
Quận Huy nhảy lên mình voi, vừa khi quân lính phá tung cổng phủ ùa vào... Quận Huy lẫm liệt thét lên, tiếng thét như sấm:
- Bớ ba quân! Các ngươi đâu phải về đấy ngay, không được náo loạn, ta sẽ chém đầu chúng mày...
Phía sau có người chừng lại, lại có đám lính sợ hãi ngồi cả xuống. Bùi Bật Trực, Gia Thọ và Dự Vũ đều đứng ở hàng đầu đám kiêu binh thấy không thể tiến không được, liền xông lên reo hò, vẫy tay hò quân sĩ cùng tiến. Họ lại hò hét:
- Thằng nghịch tặc đã dẫn xác đến, giết chết nó đi anh em ơi!
Thấy phía trong hầu như không có quân lính hoặc vệ sĩ chi cả, đám quân Tam phủ giơ đao kiếm nhất tề xông lên, vây chặt lấy voi của Quận Huy. Voi giơ đầu ra húc, lấy ngà đâm. Nhưng voi thấy đông người, không có lối nên chỉ đứng một chỗ dùng ngà để đâm vào người. Quân Tam phủ chỉ cốt tránh cặp ngà, rồi lấy dao, kiếm đâm chém túi bụi vào voi chiến. Lại có người bê cả viên gạch lớn, giáng mạnh vào voi khiến voi chùn vòi lại, tức tối gầm hí ầm lên... Quận Huy giương cung để bắn, vì giương mạnh quá cung bị đứt giây, lấy đoản kích ném bị thương một đứa thì gạch đá phía dưới ném tới tấp vào mình và quản tượng.
Quân Tam Phủ chuẩn bị câu liêm, nhất loạt giơ lên, móc chân, móc cổ Quận Huy và quản tượng. Một tên lính gan góc, nhân lúc quản tượng mải đối phó với lũ lính bên phải voi chiến liền phi thân lên, giơ câu liêm móc cổ được quản tượng lôi xuống rồi ào đến vây kín dày đặc hơn. Voi quay trở lại. Quận Huy lại cầm lao lao chết mấy đứa nữa, quân lính hăng tiết nhao nhao nhảy lên định chém, nhưng voi cao quá không bốc mình lên được. Chợt có mấy đứa nghĩ ra kế công kênh nhau lên, lấy câu liêm móc cổ Quận Huy... Lập tức bốn phía đều làm theo, một rừng câu liêm nhất tề nhè cổ Quận Huy mà móc.
Quận Huy tránh bên này, tránh bên kia đều không thoát cuối cùng cũng bị móc ngã xuống. Quân lính xúm đến dùng tay chân đánh đấm cho đến lúc mềm nhũn ra, máu mũi, máu mồm, máu tai đổ ra chết mới thôi.
Chưa hết. Bọn chúng đang say máu, lột áo, phanh ngực Quận Huy, mổ lấy gan tươi, rửa bằng rượu, lấy dao xẻo từng miếng chia nhau ăn tươi cho hả giận, rồi đem xác vứt ra ngoài cửa Tuyên Vũ.
Em ruột của Quận Huy là Lý Vũ Hầu Hoàng Lương đóng quân ở lầu Ngũ Long, nghe trong hoàng thành có biến liền vội đem một đội tinh binh định vào thành xem hư thực ra sao. Nhưng Lương mới đến chùa Báo Thiên thì đã gặp quân Tam Phủ quát đứng lại. Họ lấy đá ném về đầu và giết chết rồi ném xác xuống hồ trước mặt.
Quân lính đã giết xong anh em Quận Huy liền kéo luôn vào nhà Tả Xuyên, nơi giam lỏng Thế tử cũ Trịnh Tông.
Họ phá tung cửa reo từ ngoài reo vào:
- Mời ngài lên ngôi Chúa trị vì thiên hạ!
 
*
*          *
 
Đặng Thị Huệ bị quân Tam Phủ cầm tóc lôi xềnh xệch đến nộp cho Thánh mẫu Thái Tôn. Mẹ của Trịnh Tông là Thái phi Dương Ngọc Hoan cũng có mặt ở đấy.
Thánh mẫu thấy mặt Đặng Thị Huệ câng lên chẳng có gì là sợ hãi, nét bướng bỉnh vẫn còn giữ nguyên trên mặt. Bà quát:
- Con yêu nữ họ Đặng kia, quỳ xuống!
Đặng Thị Huệ từ tốn lạy Thánh mẫu nói:
- Con lạy mẹ. Một đời con được Tiên chúa yêu vì. Con chỉ biết có Chúa và con trai của con là Trịnh Cán. Tiên Chúa là người anh hùng cái thế, trời làm chết yểu nên con mới thân tàn ma dại thế này... Khi được tin cậy, con vẫn giữ lễ với mẹ; khi sự biến thế tử Tông, con có thể gièm pha để hại, nhưng lòng con đâu nỡ giết. Mẹ gọi con là yêu nữ, con đành chịu... Mẹ giết con, con cũng xin cúi đầu cho mẹ chém. Nhưng con lặn lội cả đời, được gặp một người như Tiên chúa, có chết xuống suối vàng, con cũng chẳng hổ thẹn nhìn thấy mặt người.
Cơn giận của Thánh mẫu cũng nguôi ngay khi thấy Tuyên Phi thực lòng giãi bày. Nhưng bà vẫn tỏ uy nghiêm của một bậc đại mẫu của thiên hạ:
- Mày để Chúa nhỏ ở đâu?
- Loạn trong hoàng cung nhanh quá, cung tần mỹ nữ đều khiếp hãi. Con sợ Chúa Điện Đô Vương (Trịnh Cán) bị hại nên sai quận Điểm bế cháu nấp ở hậu cung.
Thị Huệ quỳ mọp xuống chân Thánh mẫu nói:
- Thưa mẹ, con cắn rơm cắn cỏ con lạy mẹ. Con sinh con một bề, được một mình Chúa. Nếu Chúa mới giết Điện Đô Vương, thì con cũng không thể nào sống được.
Thánh mẫu bảo Dương Thái Phi:
- Con đi tìm ngay Điện Đô Vương về đây cho ta. Nó là con trẻ, ốm yếu từ khi sinh ra đến giờ, nào biết chính trị là gì? Chẳng qua người ta khoác áo Chúa vào cho nó để làm khổ nó... Con phải chăm sóc nó như tình mẹ đích chăm con nhỏ, giùm ta...
Nước mắt bà oà ra không ngăn nổi. Rồi bà bảo vào tai Dương Thái Phi:
- Thị Huệ biết lỗi rồi, con tha tội cho nó. Cho nó ăn uống tử tế, rồi trả nó về cung cũ.
Dương Thái phi vâng lệnh, rồi cho thị nữ dìu Đặng Tuyên Phi về cung.
Đặng Thị Huệ rũ như tàu lá chuối.
Điện đô vương Trịnh Cán được Quận Diễm lôi đi trốn trong hậu cung một ngôi chùa nhỏ ngay trong Hoàng thành, cả ngày không được một thứ gì vào bụng, lần đầu Tiên chúa thấy đói khóc eo éo... Quận Điểm sợ hãi, cứ giữ Chúa trong buồng cung thờ tối om, muỗi đốt một lượt dày ở tay ở mặt Chúa. Chúa khóc mãi, thiếp đi... Quận Diễm cũng quá mệt, ngủ thiếp cho đến lúc quân lính sục đến mới biết.
Họ đều bị đưa ngay vào phủ Chúa mới. Lúc ấy Chúa nhỏ, một ngày không thuốc và không được ăn, trông như một con mèo hen. Quận Diễm giao Chúa nhỏ lại cho những người coi phủ Chúa.
Trịnh Tông thấy Trịnh Cán rũ như tầu lá, lại được mẹ và Bà mật dụ không giết Chúa nhỏ, liền truyền đưa Cán xuống nhà Tả Xuyên, nơi giam giữ cũ của mình...
Chúa nhỏ đặt nằm trên giường, bẹp dí như xác một con nhái bén, thoi thóp.
Những người hầu cận đi báo với Chúa mới.
Trịnh Tông nói:
- Thằng Cán em ta quặt quẹo từ lúc đẻ ra đến giờ. Đại danh y như Hải Thượng Lãn Ông thân đến cứu chữa, mỗi thang thuốc trị giá hàng trăm quan tiền, đủ cho một nhà nông sinh sống cả năm, cũng không cứu được. Nay cứ treo biểu khắp Hoàng thành, xem có ai đến chữa cho nó thì chữa.
Nói đoạn, coi như công việc xong rồi, liền bỏ đi...
Bảng gọi thầy thuốc buổi đầu treo lên, người ta tò mò đến xem, sau lại thấy mời thầy chữa cho Chúa cũ là Trịnh Cán, dân chúng không hiểu ra sao cả.
Mấy ông thầy lang ở cửa hàng thuốc Bắc cho đó là mưu thâm của Trịnh Tông. Tông biết Cán là chỉ còn chờ chết, vô phương cứu chữa, nên treo biển cầu danh y, chẳng qua là để thiên hạ biết mình là người “nhân từ” thôi. Ai chẳng biết Trịnh Cán không giết thì trước sau cũng chết, mà có sống thì cũng thân tàn ma dại, mang thân cũng không xong, thì phải lo lắng nỗi gì.
Kẻ đáng giết là Quận Huy thì đã giết rồi. Quân Tam Phủ ghét Huy Quận, xông đến phá tan dinh phủ, hôi cướp hết của cải, lôi hết gia nhân thân thuộc, đánh chém vứt xác xuống hồ..., trừ những người nào nhanh chân trốn thoát mà thôi.
Kinh thành có Chúa mới, không yên ổn, mà lại nhiễu loạn thêm.
Triều đình mới toàn một lũ người thân với đám kiêu binh, nhờ chúng phò Trịnh Tông lên ngôi Chúa mà vinh hoa phú quý, thực học chẳng có là bao.
Bằng Vũ là một tên ngỗ nghịch, chỉ là người liều lĩnh dám vào đánh trống hội quân làm loạn, mà cũng được phong tước hầu, tôn vinh làm Suý Trung Dực vận công thần, làm tổng quản đội quân chầu chực hậu cung. Dự Vũ là một thằng hầu môi giới với Gia Thọ, Quận Hoàn, Quận Viêm mà cũng được làm Tuyên Lực công thần… Bùi Bật Trực cũng được một chức quan lớn. Buổi chầu, ngồi đầu hàng văn võ bá quan đều là những tay võ biền, những kẻ sáo mép, phía sau họ là lo sao cho quyền lợi của bọn kiêu binh được thoả mãn, ngoài ra không còn bàn được việc gì cho ra thể thống.
Nhiều đại thần tài giỏi tìm cách thoái lui về vui thú điền viên.
Trịnh Tông đem hết cả kho tiền ban phát cho bọn quân kiêu binh, chúng vẫn không thoả mãn. Các đội Khuông, Dực, Nhưng, Kiệu, những kẻ lỏng lẻo cho Chúa mói hồi bị giam cầm đều đòi trả công. Cái đám đương đầu với Quận Huy kẻ chết đòi trả công cho kẻ chết, kẻ bị thương đòi tước nọ, chức kia..., còn cái đám hàng nghìn người dự buổi phanh thây Quận Huy, thì đòi phải được làm tri huyện, đô giám, hiệu uý...
Trịnh Tông được chúng đưa lên ngai Chúa, trước mắt, chiều đến đâu cũng đành phải chiều.



(1) Lúc này Trịnh Sâm mất rồi, Đặng Thị Huệ là mẹ của Chúa mới, nên Quận Huy gọi là Tuyên Thái Phi.
 


 
0

13

 
Đặng Thị Huệ qua mấy đêm biến động, người rạc đi, mắt trũng xuống. Tuyên Phi lần đầu tiên thấy mọi thứ ở trên đời đều là ảo ảnh.
Bây giờ, với bà, chỉ là khu nhà quàn di hài của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm. Hương nến bập bùng thâu đêm, suốt sáng, hương trầm toả ngát cả căn nhà. Bà mê trong mùi trầm. Bà nghiện mùi trầm, đến nỗi, nếu không có mùi trầm, bà không sao chịu được. Cũng có lúc Tuyên Phi lang thang dưới ánh nắng hồng buổi sớm. Bà đi qua những viên hộ sĩ, những đại thần toàn bằng đá, đi qua chiếc sân dài lát gạch đỏ, lá đa lá si qua một đêm trút đầy trên vai tượng, trên sân; những chiếc lá dày thô của một loại cây bóng toả um tùm, tạo ra những sự che chở vô hình của thiên nhiên.
Đôi khi Tuyên Phi coi những tán đa, tán si ấy là những chiếc ô trời kỳ diệu. Ở đó có những đôi chim hót với nhau những tiếng hót thắm thiết lạ kỳ, có những mùa quả vàng chi chít óng ánh trên cây. Có những giọt nắng, giọt trăng kỳ ảo, có lúc thân mật, có lúc ma quái đến dễ sợ...
Tuyên Phi sống nửa tỉnh, nửa mê, như một bóng ma... Công việc của bà là nấu những bữa cơm cúng trong lễ cúng cơm đúng một trăm ngày, sau đó, là đèn nhang suốt ngày cho linh phòng quàn di hài của Chúa... Giúp việc cho bà là mấy viên thái giám, mấy bà cung tần cũ, chán cảnh đời, trước đây rất kính Chúa Tĩnh Đô mà chưa một lần được gọi vào hầu...
Tuyên Phi hay ngồi ở chiếc ghế riêng của mình. Chiếc ghế bà kê trong phòng riêng ở cung điện riêng mà Trịnh Sâm dành cho bà... Bà đem chiếc giường cũ, những chăn mền, màn gối dùng thuở Chúa còn sống, kê ngay ở gian phòng, bên linh phòng của Chúa Trịnh. Bà sống với người chết với tất cả tấm lòng yêu nồng nàn như thuở Chúa Tĩnh Đô chưa chết. Ở đó bà hồi tưởng lại tất cả những tháng ngày đẹp đẽ sống bên Chúa. Những buổi đi thuyền ngự trên Tây Hồ. Những lúc cùng Chúa ăn đào tiên, uống rượu nho, thưởng trăng ở lầu vọng nguyệt. Những đêm trung thu từ mặt hồ, đến Đại hoa viên, đèn lồng của các cung nữ trong hội thi đèn đủ kiểu, từ đèn các con thú như đèn cá, đèn thỏ, đèn kỳ lân, đến những đèn hoa quả như đèn hoa sen, đèn quả đào, đèn quả bầu tiên với những giải lụa điều gắn theo, mỗi thứ đèn do một phi tần, son phấn rất trẻ, cầm trong tay, giả vẽ trẻ thơ, hát những bài đồng dao, diễu qua mặt Chúa...
Những đêm ngồi xem trình diễn những tích tuồng Tây Thi, Tây Vương Mẫu phó hội bàn đào, hay Phàn Lê Hoa ba lần giận bỏ Tiết Đinh Sơn, những câu hát hay, hòm tiền trước mặt Chúa và Tuyên Phi vứt thưởng xuống sân khấu dày như những hạt mưa ngâu vào tiết Mạt phục. Phi quăng thưởng còn dè dặt, Chúa lại thưởng nhiều hơn, khiến Tuyên Phi bị kích động, thưởng nhiều hơn Chúa... Chúa không chịu thua, Phi lại thưởng nhiều hơn... Những tài tử phía dưới biết Chúa và Tuyên Phi đang phút hào hứng càng ra sức hào hứng hát thật hay, diễn thật đạt, đến nỗi cả Chúa và Tuyên Phi cũng đắm theo vai diễn quên cả trò nghịch ngợm thưởng tiền. Khi vai diễn đến độ cao trào đã giảm Tuyên Phi mói nhớ ra, vứt tiền hết lớp này đến lớp khác xuống thưởng. Ông bầu của đêm diễn ra nhận tiền nhặt không xuể, vừa nhặt vừa dừng lại vái bái vọng lên phía trên lầu xem diễn của Chúa và Tuyên Phi.
Tuyên Phi không thấy Chúa thưởng tiền, liền hỏi:
- Sao Chúa không thưởng!
Chúa cười thật hiền lành:
- Hết rồi còn đâu mà thưởng.
Nhưng Chúa lại cầm lấy hai đồng tiền còn sót lại, đưa cho Phi một đồng, Chúa giữ một đồng và nói:
- Em cầm lấy, giữ lấy những đêm vui không thể lặp lại của chúng ta!
Phi chỉ còn gục mặt vào ngực Chúa, ôm lấy người Chúa để tạ ơn lòng yêu thương cực độ của Chúa với mình...
Có hôm, Tuyên Phi đem một đồ nữ trang đưa cho viên nội sai và bảo:
- Ngươi đem đi bán, mua cho ta một vò rượu Tiên Du, mấy trăm vải ngon đầu mùa, nói với người coi linh đường gọi cho ta một tay thái giám đàn hát thật giỏi, một cung tần gõ phách thật hay vào đây.
- Ngộ Chúa mới không cho thì làm thế nào?
- Cứ bảo ngày tuần của Tiên chúa, Tuyên Phi muốn người ấy vào đàn và ngâm thơ như buổi còn Chúa...
Viên nội sai không dám sai lời. Quả nhiên những đòi hỏi của Tuyên Phi đều được thoả mãn. Đêm ấy Tuyên Phi lấy trong hòm ra bộ quần áo đẹp nhất nàng thường mặc để ngâm thơ cho Chúa nghe. Bà cởi bộ đồ tang, vận bộ áo chính cung lộng lẫy, đến trước linh cữu của Trịnh Sâm, lạy ba lạy, rồi lặng lẽ, quay lại ngồi trên chiếu nói với hai tài tử:
- Ta đã cầu hồn của Chúa về. Các ngươi hãy đánh đàn, gõ phách cho thật hay, như buổi vào hầu thơ của Chúa...
Bà gật đầu để đàn phách nổi lên. Sau đó bà cất giọng ngâm 5 bài thơ Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai, giọng đầy truyền cảm:
 
1
Thiên Thai vạch lối đá thanh tân
Mây cỏ hoa yên, sạch bụi trần.
Khói ráng loà nhoà tình bảng lảng,
Nước cây mờ mịt, mộng bâng khuâng
Vọng vang gà gáy ran trăng núi
Khuấy động chó trời sủa lộng hang
Đất ấy là nơi nào vậy nhỉ?
Hỏi ai là chủ chốn Đào Nguyên?
 
2
Xanh ngắt màu cây lẫn sắc trời,
Mịt mù khói toả nẻo xa khơi
Bóng mây đầy núi chim khôn đậu
Tiếng nước quanh khe, sáo giục ngồi.
Động cát xanh xanh trời đất lạ,
Thềm cây thắm thắm tháng ngày trôi.
Dưới hoa ước bóng hồng ra đón
Quát chó tiên, không nỡ cắn người.
 
3
Ân cần lưu tiễn chốn Thiên Thai
Đâu dễ trời tiên lại gặp đây!
Người nhé, rượu mây về gắng uống,
Tiên ơi, thư ngọc chớ rời tay.
Ngàn hoa cửa động vui chào đón,
Xuôi biển, nước nguồn ngược khó thay!
Đầu suối ngẩn ngơ tình cách biệt
Mênh mông trăng sáng chiếu rêu dày.
 
4
Đàn ngọt Nghê Thường chớ ríu ran,
Mộng tiên đâu giống mộng trần gian,
Động riêng trời ấy xuân yên ả
Cõi thế đường kia, nguyệt khẽ khàng
Bãi ngọc cỏ tiên viền ngấn biếc
Hoa đào thả suối ngát làn hương
Sương mai đàn ngọc mong manh gió,
Kiếp khác xui em mới gặp chàng!
 
5
Lại đến Thiên Thai hỏi Ngọc Chân,
Rêu xanh đá trắng nhuốm phong trần.
Động sâu quạnh quẽ ùn xênh điệu
Xóm cũ tiêu điều vắng hạc ngàn
Màu sắc hoa cây dường đổi khác,
Hình hài khói ráng chẳng còn xuân.
Hoa đào suối chảy nguyên như cũ
Chuốc rượu ai mời để tớ nâng?
 
Phi hát và trước lờ mờ hương khói, Chúa nhẹ nhàng mặc áo bào tía hiện ra, mủm mỉm cười, rồi nhẹ nhàng ngồi đối diện với Phi, chống tay lên chồng gối mơ màng nghe hát.
Chúa thích nhất là bài thơ đầu, đặc biệt là hai câu:
Khói ráng loà nhoà tình bảng lảng
Nước cây mờ mịt mộng bâng khuâng...
Chúa thường bắt Tuyên Phi ngâm lại nhiều lần câu ấy. Còn Tuyên Phi, vốn hay khích Chúa, thì có lúc, Chúa không thích nghe lại cứ lấy giọng thật sang mà ngâm mấy câu ở bài ba:
Người nhé, rượu mây về gắng uống,
Tiên ơi, thư ngọc chớ rời tay...
Chúa không thích sự ly biệt chia tay, có lúc cau mày hỏi:
- Sao em lại cứ thích câu này?
Tuyên Phi hỏi lại:
- Câu ấy là câu tình nhất?
- Sao lại tình nhất!
- Thưa, bởi việc người và tiên không ở được với nhau, đó là luật của trời, hai chàng Lưu Nguyễn bất đắc dĩ phải chia tay, do đó, tình ý đều dồn hết vào hai câu đó.
Chúa cáu, vặn lấy được:
- Thế em cho mình là tiên, ta là người ư?
- Không phải, em cũng là người như Ngài thôi!
- Đang sum họp thế này, sao cứ thích chuyện xa cách!
Tuyên Phi thích chí, biết Chúa nổi cơn ghen tức, bèn nói:
- Thơ của người ta, thơ nói chuyện tiên, sao Chúa lại cứ vận vào mình?
- Ta không thích nói chuyện gở!
Chúa giận bỏ ra ngoài sân, đứng ở bên thềm, Tuyên Phi phải đến bên Chúa mà nói:
- Ngài vào đi, em hát lại bài thơ đầu mà Ngài thích để Ngài nghe...
Chúa lại cười ngay, ôm lấy vai Huệ mà cũng đi vào, cử chỉ đầy âu yếm.
Trong hương trầm ngào ngạt, trong những cung đàn, tiếng phách thuở ấy, Tuyên Phi ngâm lại những bài thơ ấy, với một giọng trầm đục, buồn buồn... Và khi đến hai câu thơ:
Khói ráng loà nhoà tình bảng lảng
Nước cây mờ mịt mộng bâng khuâng!
thì nước mắt bỗng oà ra trên gương mặt người đàn bà đau khổ...
 
*
*          *
 
Thái hậu Dương Ngọc Hoan ngồi bên cạnh Thánh mẫu Thái Tôn nói:
- Đặng Thị Huệ dạo này như một bóng ma, lảng vảng ở bên mộ Chúa, có lúc lại như hoá điên, con nghĩ không nên để cho Thị hầu ở bên lăng tẩm nữa, sợ rằng không được nghiêm trang ở nơi tôn miếu.
Thánh mẫu nói:
- Con nặc nô ấy là một người khuấy đảo triều đình một thuở, tội to lắm, nhưng bây giờ thời của nó hết rồi.
- Thánh mẫu thương người quá. Thuở ả ấy được Tiên chúa yêu chiều hết mức, thì ả ấy có coi mẹ con mình ra gì đâu!
Thánh mẫu thở dài:
- Con ơi, sông có khúc người có lúc. Đánh kẻ chạy đi, không nên đánh kẻ chạy lại, Thị Huệ lúc cấu kết với Quận Huy làm nghiêng ngửa cả triều đình, muốn gì được nấy. Quyền uy nhất của Chúa, mà nó giận có một buổi đã phải làm lành. Nó cũng muốn leo tót lên ngôi cao, bắt chước Võ Tắc Thiên, Lã Hậu ở bên Trung Hoa, song nhà nó chưa có phúc lớn, đến nỗi, phúc phận không tròn được một giáp. Chúa yêu thương nó đến thế, mà ngoài tứ tuần đang tuổi mở mang bờ cõi, dựng nghiệp lớn thì trời bắt đi mất. Quận Huy chết rồi không nói làm gì! Nhưng thử hỏi điểm mặt triều đình hiện nay, ai giỏi giúp rập Chúa hết lòng như hắn. Mà xét cho cùng, Thị Huệ yêu Chúa, vì Chúa hết lòng. Mà đã là người đàn bà vào cung, thì ai chẳng muốn được Chúa để mắt đến. Bởi thế, lúc Quận Huy - Thị Huệ đang lên như diều gặp gió, như cánh tay phải, cánh tay trái của Chúa, ta được nhiều kẻ xúi bảy xui lấy quyền làm mẹ để phế truất chúng, ta đã thử làm vài lần nhưng Chúa cũng là người sáng suốt lắm...
Thánh mẫu ngừng lại, không tiện nói ra để Dương Thái phi nghe cái điều mà bà cho là con bà quyết đoán dùng Quận Huy là đúng. Huy trung thành hết mực với Chúa, kể cả lúc quân Tam Phủ làm loạn, có thể trốn đi mà không chịu trốn, vẫn cố ý ở lại phò cho bằng được Tuyên Phi và Trịnh Cán. Điều khó hiểu nhất ở nơi bà là Quận Huy vì Đặng Thị Huệ hay vì đứa cháu nhỏ ốm yếu, èo uột của bà... hay là nó định như kiểu Lê Hoàn ngày xưa phò nhà Đinh, sau này lấy cả giang sơn của họ Đinh, và được cả thái hậu Dương Vân Nga... Nhưng dù sao, trời cũng đã phạt Quận Huy rồi. Đứa cháu nhỏ của bà không chịu nổi những biến động, lại bị Trịnh Tông, bề ngoài có vẻ yêu thương, nhưng thực ra để cho khiếp hãi mà chết, như thế cũng đủ đền lại những trớ trêu mẹ nó gây ra cho Thế tử cũ Trịnh Tông rồi!
Bà nói tiếp:
- Con ơi, với người đàn bà, chồng và con là chỗ dựa tốt nhất. Bây giờ Đặng Thị Huệ hai thứ đó đều tuột khỏi tay cả... Mà Tiên Chúa và Chúa Nhỏ chết đi, thì còn gì để nương tựa nữa mà chẳng điên điên dại dại hở con... Có lẽ vì thế nó không thể rời nơi tẩm điện của Tiên Chúa được!
Thánh mẫu nhớ lại đây không phải một lần Thái phi Dương Ngọc Hoan giục bà bắt giam Tuyên Phi vào ngục thất. Lần trước, khi buộc Thị Huệ rời khỏi tẩm điện, Huệ đã rút dao giấu sẵn trong mình đâm vào cổ định tự vẫn, may mà viên nội sai đứng gần nhanh tay giằng được dao, chỉ gây một vết thương nhẹ ở cổ...
Thánh mẫu nói:
- Thôi, cứ để nguyên như thế, sau khi lễ đại tường, đưa Chúa về quê cha đất tổ, chắc hẳn Tuyên Phi sẽ về theo đó, con khỏi phải lo.
Dương Ngọc Hoan cúi đầu đi ra.
 
*
*          *
 
Tuyên Phi có một viên nội sai cùng quê trước đây ở làng bị bọn hào phú lấn chiếm đất đai, làm nhiều chuyện uất ức, được Phi giúp đỡ, che chở nên không việc gì, vẫn ghi lòng nhớ ơn. Phi cũng quên luôn gã. Gã lại hầu hạ ở bên cung Trường Thọ của Thánh mẫu Thái Tôn. Thỉnh thoảng hắn vào theo Thánh mẫu vào tẩm điện của Tiên chúa, thấy Thị Huệ gầy xác người xanh mướt, điên điên dại dại, lòng rất thương.
Nhớ khi xưa ở làng Thị Huệ có một thương nhân rất mê đắm, y liền bí mật đến bàn với gã, ông ta hết sức nhiệt tình. Hai người bàn kế với nhau, nếu Đặng Thị Huệ chịu nghe, thì nhân lễ đại tường cho Tiên chúa sắp tới, nên lập đàn tràng siêu sinh tịnh độ. Nhân đấy, thương nhân sẽ cho nữ hoà thượng và nữ đạo sĩ vào hành lễ, đem quần áo thầy chùa để Đặng Thị Huệ cải trang mà cứu ra khỏi hoàng thành, sau đó sẽ liệu.
Viên nội sai, lừa buổi vắng người lên đến bàn trước với Tuyên Phi. Nghe nói, Đặng Thị Huệ ngửa cổ lên bật cười khanh khách, khiến viên hoạn quan vô cùng kinh hãi.
Rồi hết trận cười, Tuyên Phi cầm lấy tay viên nội sai nói:
- Ta cảm ơn những người vì ta, thương ta... Số phận ta đã được trời đất định đoạt rồi. Ta ở đây, không đi đâu cả...
 
0

14

 
Lễ đại tường của Chúa Trịnh Sâm đã tới. Tuyên Phi hai năm ở với thây ma chết, người teo tóp như một vị tôn giả ép xác. Phi buồn lắm.
Khác hẳn lệ thường trong lần áo tang bằng lụa trắng Hàng Châu mỏng, Phi mặc nguyên nghi phục chánh cung của ngôi Chúa. Vương miện vàng óng ánh, đính năm viên ngọc ngũ sắc. Áo màu vàng chanh, cổ đính hạt ngọc đẹp nhất mà Chúa Trịnh Sâm tặng cho nàng. Nàng đi đôi hài vàng. Nàng ngắm rất lâu trong gương, trang điểm đẹp như thời rực rỡ nhất, mỗi lúc đợi Chúa thôi chầu trở lại. Lòng nàng rộn ràng tính vui như những buổi đầu được Chúa yêu thương nhất.
Nàng cầm trong tay chiếc quạt lụa. Trước khi mặc áo tang, nàng đến bên bàn thờ nhỏ, thờ Chúa Cha và Chúa con, hai người thân yêu nhất của Nàng. Chiếc bát hương nhỏ, hai chiếc bài vị tự tay nàng viết lấy, nàng quỳ lạy chồng, lạy con và lầm rầm khấn vái.
Nhìn gương mặt nàng trong lúc đắm mình với những linh hồn chết khi đầy yêu thương, lúc lại hân hoan như người tù sắp được cởi trói để trở về với những hạnh phúc chỉ những người chịu khổ nạn thoát ra mới có.
Nàng khao khát, nàng chờ đợi, nàng hi vọng, nàng buồn tủi... Và nàng oà khóc úp mặt vào chiếc án gian nhỏ...
Một cơn gió lùa theo luồng cửa rộng mở. Những người nội sai của buổi hành lễ đại tường cùng vào. Họ vái lạy Tuyên Phi và mời:
- Bẩm lệnh bà, đại lễ sắp bắt đầu, mời lệnh bà đến Lăng Tiên Chúa...
Nàng đến. Nàng mặc áo tang đi bộ, không lên kiệu, dù đường rất ngắn. Viên quan đến đón nài nỉ:
- Tâu lệnh bà, xin bà giữ đúng nghi thức cho!
Tuyên Phi nghiêm sắc mặt nói:
- Họ không giết ta, không giam ta ở lãnh cung là may. Lên kiệu mà làm gì! Kiệu này đâu phải kiệu Tiên chúa xưa thường đến đón ta, thứ kiệu họ thí cho ta, thì một phi tần bậc tám bậc chín chứ gì! Ta không thèm ngồi!
Đám thị tỳ vừa đến đưa mắt nhìn nhau. Một cô nói:
- Tuyên Phi vẫn đáo để như xưa...
Nàng bước vào buổi tế chót để đưa di hài của Tiên Chúa vào Lăng. Dáng đi của nàng khoan thai. Nàng đi một lượt trông nom xem những đồ hành lễ đã chu tất chưa. Phong độ của nàng giống hệt thuở những buổi tiệc lớn, Tiên chúa còn sống, nàng có trách nhiệm không được để một sơ xuất gì dù rất nhỏ. Nàng đến bên linh cữu quàn Tiên chúa, lạy bốn lễ ba vái, miệng thầm khấn:
- Trong đời của em, ai chiều em, quý em được bằng Chúa thượng. Đừng phụ lòng em nhé.
Rồi nàng quay ra khi thấy tiếng quan hoàng môn cao giọng báo:
- Chúa Thượng, Thánh mẫu Thái Tôn, Thái phi giáng lâm...
Mọi người đứng chờ đều cúi rạp xuống lạy, Tuyên Phi chỉ lạy khi Thánh mẫu Thái Tôn đi qua. Còn mẹ con Trịnh Tông, thì nàng chỉ quỳ chứ không chịu cúi lạy.
Các viên đại thần đưa mắt nhìn nhau, nhưng giờ hành lễ đã đến, họ cũng chẳng làm gì được nàng. Dương Thái phi xẩm mặt, hứ một tiếng, còn Trịnh Tông thì mặt lạnh như tiền, coi như không có chuyện gì xảy ra...
Trống chiêng đã nổi! Thánh mẫu và Chúa vào đúng chỗ dành cho họ. Quan hành lễ xướng lên:
- Chánh cung Thái phi tựu vị...
Cùng một lúc người ta thấy Dương Ngọc Hoan và Đặng Thị Huệ đều bước ra. Nhưng Tuyên Phi nhanh chân hơn, đã đến đúng vị trí của ngôi thứ trong buổi tế dành cho vợ chính của Tĩnh Đô Vương, Tiên chúa Trịnh Sâm. Dương Ngọc Hoan tức đến nghẹn cổ, nhưng tình huống xảy ra bất ngờ, tôn nghiêm khiến bà không làm gì được. Các quan hành lễ ngơ ngác nhìn nhau, cổ vươn lên như một lũ cùng lúc bị nghẹn.
Nàng không chờ ai xướng lễ, tự mình lạy Tiên Chúa, đủ lạy, nước mắt chan hoà rồi kêu lên:
- Chúa thượng, Chúa thượng, em đến với Ngài đây!
Xung quanh chưa kịp nhìn thì thấy nàng sập mình xuống, vẫn ở trong tư thế quỳ lạy. Người ta xô vào cứu. Nhưng không kịp nữa. Một lưỡi dao nhỏ đã lách đúng vào tim. Nàng tự hoá thân để bay lên trời cùng với thiên truyện tình yêu nàng đã sống trọn vẹn trong suốt cuộc đời.
 
Ngày Bính Tý, tháng 3, Ất Hợi
16.4.1995
N.V.P
 
0
Tuyên phi Đặng Thị Huệ - Ngô Văn Phú
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn hoi_Is đã góp sức cho thư viện




0