<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.12.2014 21:37:11 bởi casau>
Tội công thành
Tác giả: Arthur Koesler
Dịch giả: Quốc Ấn
Cuộc thẩm vấn thứ nhứt
Người ta không thể cai trị mà không giản ước
Saint-Just
Kẻ nào thành lập một nền độc tài mà không giết Brutus, hay kẻ nào thành lập một nền Cộng hòa mà không giết con cái của Brutus, thì kẻ ấy chỉ ngự trị không lâu.
Machiavel
(Discorsi)
Nào, nào, ông bạn, người ta không thể sống hoàn toàn không biết thương hại.
Dostoiewski
(Crime et Châtiment)
1.
Cánh cửa xà lim đóng sâm sau lưng Roubachof.
Ông đứng tựa vào cửa vài giây và đốt thuốc. Trên giường phía mặt có trải hai chiếc mền tương đối sạch sẽ và ổ rơm hình như mới dồn. Bồn rửa tay bên trái không có nút chặn, nhưng vòi nước còn dùng được. Kế đó, chiếc bồn vệ sinh mới được khử trùng và không có mùi hôi. Các bức tường đều xây bằng gạch thẻ, ngăn chận tiếng vỗ, nhưng những nơi đặt ống hơi nóng để sưởi và ống nước, tuy đã lấp lại bằng thạch cao, thì có âm vang khá đầy đủ khi vỗ vào; ngoài ra, ống dẫn hơi nóng hình như truyền âm rất tốt. Cửa sổ ở vào tầm mắt, nhìn xuống sân khỏi phải rút mình lên song sắt. Đại để gian phòng không đến nỗi tệ.
Ông ngáp, cởi áo ngoài, cuốn lại đặt lên ổ rơm làm gối. Ông nhìn xuống sân. Tuyết ánh màu vàng dưới ánh sáng trăng và đèn điện. Quanh sân, dọc theo các bức tường, có một con đường hẹp được dọn tuyết sạch để cho tù nhân đi bộ hằng ngày. Bình minh chưa ló dạng; những vì sao còn lấp lánh đưa ra tia sáng lạnh lẽo, dầu có đèn điện. Trên vòng rào bên ngoài, trước xà lim của Roubachof một lính canh, súng trên vai, đang đi qua đi lại, nện mạnh gót mỗi bước. Thỉnh thoảng, lưỡi lê sáng rực lên trong ánh đèn điện màu vàng.
Đứng bên cửa sổ, Roubachof cởi giày. Ông dụi thuốc, để chiếc tàn trên nền gạch gần giường, và ngồi mấy phút trên ổ rơm. Ông lại trở ra cửa sổ. Sân lặng lẽ; người lính canh đang quay bước; trên vòm chòi canh có đặt súng đại liên, ông thấy một phần dãy Ngân hà.
Roubachof nằm dài lên giường, đắp chiếc mền phía trên. Đã năm giờ sáng, và ở đây, vào mùa đông, người ta khỏi phải thức dậy trước bảy giờ. Ông buồn ngủ dữ dội, và tính rằng có lẽ không bị đưa đi thẩm vấn trước ba hay bốn ngày. Ông gỡ chiếc kiếng kẹp mũi, đặt bên điếu thuốc, mỉm cười và nhắm mắt. Ấm áp trong mền, ông cảm thấy được bảo vệ; lần thứ nhứt từ mấy tháng nay, ông không còn sợ giấc mơ nữa.
Vài phút sau, khi người gác dan tắt đèn bên ngoài và nhìn vào xà lim qua chiếc lỗ, thì Roubachof, cựu Ủy viên nhân dân, đã ngủ, lưng quay vào tường, đầu gối lên cánh tay trái cứng ngắc ló ra khỏi thành giường; nhưng bàn tay thỏng xuống và các ngón co quắp lại trong giấc ngủ.
2.
Một giờ trước đó, khi hai nhân viên thuộc ủy phủ Nội vụ đến để bắt ông, đập liên hồi vào cửa phòng Roubachof, thì đúng vào lúc ông đang nằm mơ thấy người đến bắt mình.
Họ đập càng lúc càng mạnh và Roubachof cố gẳng để thức dậy. Ông có nghệ thuật rứt mình ra khỏi những cơn ác mộng; từ nhiều năm nay, giấc mơ từ lần bị bắt đầu tiên thỉnh thoảng trở lại với một nhịp độ đều đều như sự vận hành của chiếc máy đồng hồ.
Lắm khi, với một sự chồm dậy bằng ý chí, ông ngưng được sức vận hành ấy để rút khỏi cơn ác mộng; nhưng lần này lại không hiệu nghiệm; những tuần lễ chót đã làm ông mòn mỏi, ông đổ mồ hôi và thở hồng hộc trong giấc ngủ; sự vận hành của chiếc máy đồng hồ cứ xoay và cơn mơ tiếp tục.
Ông mơ như thường lệ là có người đập mạnh vào cửa, là ba người đàn ông ở bên ngoài, sẵn sàng bắt ông. Xuyên qua chiếc cửa đóng kín, ông thấy họ đứng và đập vào khuôn cửa. Họ mặc đồng phục mới tinh, bảnh nhứt của đám cận vệ binh thuộc nền độc tài Đức; mũ và tay áo có mang phù hiệu chữ vạn; mỗi người cầm trong tay kia một khẩu súng ngắn to quá lố; dây nịt lẫn y phục nặng nề của họ nực mùi da mới. Giờ đây họ đã ở trong phòng, ngay đầu giường ông. Hai người trong bọn là những anh dân quê trẻ ưỡn ẹo, môi dầy, mắt như mắt cá; tên thứ ba là một người lùn mập. Họ đứng cạnh giường, tay cầm súng ngắn, hơi thở của họ hôi hám. Yên lặng hoàn toàn trong bóng đêm; chỉ nghe hơi thở khò khè của tên lùn mập. Bỗng có người giựt nước ở các từng lầu phía trên và nước tuôn xuống ống trong tường phát lên tiếng đều đều.
Sự vận hành của máy đồng hồ nới đi. Những tiếng đấm vào cửa vang mạnh hơn; ngoài kia, hai người đến bắt Roubachof luân phiên nhau đập cửa và hà hơi vào các ngón tay tê cóng. Nhưng Roubachof vẫn không thức nổi, dẫu ông biết rằng trong giấc mơ một cảnh rất nặng nề sẽ nối tiếp: Ba người kia vẫn ở đầu giường và ông cố mặc chiếc áo ngủ vào người. Nhưng tay áo lại ngược; ông không làm sao đưa tay vào được. Ông loay hoay mãi cho đến khi một sự tê dại xâm chiếm ông; ông không thể cử động trong lúc sự cử động rất cần thiết: ông sẽ xỏ tay áo đúng lúc không? Sự hoang mang kéo dài mấy giây đồng hồ, trong lúc ấy thì Roubachof rên rỉ; mồ hôi lạnh đẵm màng tang, như những hồi trống loạn xa xa, tiếng đập cứa xuyên qua giấc ngủ; cánh tay dưới gối co rúm lại trong sự cố gắng tìm cách xỏ vào tay áo ngủ. Chót hết, ông được giải phóng bằng một cú báng súng đầu tiên đánh vào sau vành tai...
Dư hưởng quen thuộc của cú báng súng đầu tiên ấy, sống lại trong ông hằng ngàn lần và luôn luôn mới mẻ, thường đánh thức ông. Ông tiếp tục run rẩy một lúc và bàn tay nắm chợt dưới chiếc gối, vẫn tìm loạn chiếc tay áo ngủ; vì thường thường, trước khi thức hẳn, ông còn phải trải qua giai đoạn cuối cùng mà cũng là giai đoạn khốn khổ nhứt. Đó là thời gian choáng váng đầy cảm giác hỗn độn của một sự thức giấc mà trên thật tế vẫn có thể trong mơ; ông tự hỏi phải chăng thật sự mình không nằm dài trên nền gạch ẩm ướt của một phòng giam tối tăm, với cái bồn dưới chưn và gắn trên đầu là bình nước với mấy mảnh bánh mì...
Ngay lần này, sự lo sợ ấy vẫn xâm chiếm ông mấy giây; ông không hiểu khi quờ quạng, bàn tay ông sẽ đụng cái bồn vệ sinh hay đụng cái nút bấm của ngọn đèn đầu giường. Kế đó, ánh sáng làm ông chóa mắt, rồi sương mù tan đi trong đầu. Roubachof thở thật sâu mấy cái liền, và như kẻ đau mới mạnh, khoanh tay trên ngực, tận hưởng một cách khoái trá cảm giác tự do và an ninh. Ông dùng dãi giường chậm cái trán đẫm mồ hôi và mảnh da sói sau đầu; ông nhìn với cái nháy mắt mỉa mai chiếc ảnh màu của Người số I, đảng trưởng, treo trên tường phía trên đầu giường - và nó cũng ở trên tường của tất cả các phòng lân cận, từng trên hay từng dưới, khắp các nhà trong thành phố và khắp nước minh mông, cái nước mà vì nó ông đã tranh đấu và chịu khổ sở, và hiện nay nó đang tiếp nhận ông trở lại trong thân thể to lớn và bảo bọc của nó. Giờ đây, ông đã hoàn toàn tỉnh ngủ; nhưng người ta vẫn tiếp tục đập cửa phòng.
3.
Đứng ở đầu cầu thang tối tăm, hai người đến để bắt ông hỏi ý kiến nhau. Vassilii, người gác cổng đã chỉ đường cho họ, đứng trong thang máy, hốc hác vì sợ hãi. Ông ta là một ông già ốm yếu; trên cái cổ rách của chiếc áo choàng lính mà ông khoác bên ngoài áo ngủ, người ta thấy một cái thẹo to đỏ hỏn làm ông có vẻ là kẻ mắc bịnh lao. Đó là dấu vết của một vết thương ở cổ hồi Nội Chiến, mà ông đã tham gia trọn vẹn trong đoàn du kích quân của Roubachof. Sau đó, Roubachof được phái ra hải ngoại, và thỉnh thoảng Vassilii mới nghe nói đến ông ta, qua tờ báo mà con gái ông đọc cho ông nghe mỗi tối. Ông bảo đọc những diễn văn của Roubachof trước Đại hội; những bài diễn văn ấy dài và khó hiểu, và Vassilii không bao giờ tìm lại được giọng điệu của con người nhỏ thó rậm râu, biết rất nhiều tiếng chửi thề ngộ nghĩnh mà cả Đức Mẹ thành Kazan cũng phải mỉm cười. Thường thường, Vassilii ngủ giữa những bài diễn văn ấy, nhưng luôn luôn thức giấc khi con gái ông, đến phần kết luận hay những đoạn được vỗ tay, trịnh trọng cất cao giọng. Mỗi lần nghe những câu nghi thức kết thúc những bài diễn văn: “Quốc tế lao động muôn năm! Cách mạng muôn năm! Người số I muôn năm!”; Vassilii thêm trong thâm tâm để con gái ông không nghe được, tiếng “Amen” thật rõ ràng; rồi ông cởi chiếc áo thợ ngắn, len lén làm dấu thập tự giá một cách hổ thẹn, và đi ngủ. Phía trên đầu giường ông, cũng có ảnh của Người số I, và cạnh đó là ảnh Roubachof thời chỉ huy du kích quân. Nếu ảnh ấy bị khám phá, có lẽ ông cũng bị vào tù.
Trời lạnh trong thang máy tối tăm và lặng lẽ. Người trẻ nhứt trong số hai nhân viên của ủy phủ Nội vụ muốn bắn vỡ ổ khóa, Vassilii dựa mình vào cửa thang máy; lúc nãy ông chỉ đủ thì giờ mang giày, và hai tay. Ông run rẩy đến nỗi không cột giày được. Người lớn tuổi hơn không đồng ý bắn súng; cuộc bắt bớ phải diễn hành bí mật. Cả hai hà hơi vào những bàn tay tê dại rồi lại đập cửa nữa; tên trẻ dộng bằng báng súng. Ở vài từng phía dưới, một người đàn bà hét lên với giọng chát chúa. Người trẻ bảo Vassilii “Bảo nó câm họng lại”. Vassilii la to: “Nín đi. Nhà chức trách”. Người đàn bà im ngay. Tên trẻ đổi phương pháp và dùng giày đạp vào cửa. Tiếng ầm ĩ vang lên khắp cầu thang; chót hết, cánh cửa bật tung.
Cả ba đứng ở đầu giường Roubachof, tên trẻ cầm súng ngắn trên tay, tên lớn tuổi đứng thẳng người, Vassilii ở vài bước sau họ, tựa mình vào tường. Roubachof vẫn chậm mồ hôi phía sau đầu; ông nhìn họ bằng đôi mắt cận thị và ngái ngủ.
- Công dân Roubachof, Nicolas Salmanovitch, nhân danh luật pháp, chúng tôi bắt ông. - Tên trẻ nói.
Roubachof mò dưới gối tìm cặp kiếng kẹp mũi và hơi nhổm lên. Với cái kiếng ấy, đôi mắt ông có sắc thái mà Vassilii và tên lớn tuổi đã biết qua những bức ảnh cũ của thời Cách mạng. Tên lớn tuổi càng đứng thẳng người hơn; tên trẻ hơn đã lớn lên dưới thời những nhân vật mới, bước một bước đến cận giường: cả ba đều biết rằng, để giấu sự bối rối, tên ấy sẽ nói hoặc làm một cái gì thô bạo.
- Cất súng đi, đồng chí - Roubachof nói - Hơn nữa, anh muốn làm gì tôi?
- Ông đã nghe rồi - Y nói - Mặc đồ đi, và đừng lộn xộn.
- Các anh có mang lịnh bắt tồi đó không? - Roubachof hỏi.
Tên lớn tuổi xuất trình một mảnh giấy, trao cho Roubachof và đứng thẳng người trở lại.
Roubachof đọc kỹ giấy ấy.
- Tốt lắm - Ông nói - Ba cái đồ này không có nghĩa gì cả; quỷ bắt các anh!
- Mặc đồ rồi đi mau. - Tên trẻ nói. Người ta thấy sự thô bạo không phải vì anh ta bối rối, mà là thái độ tự nhiên của anh ta.
“Chúng ta đã đào tạo được một thế hệ đẹp thật”, Roubachof tự bảo.
Ông nghĩ đến những tấm bích chương tuyên truyền trong đó tuổi trẻ luôn luôn được trình bày bằng những gương mặt tươi cười, ông cảm thấy thật chán chường.
- Đưa cái áo ngủ cho tôi, thay vì vọc cây súng của anh. - Ông nói với tên trẻ.
Tên này đỏ mặt, nhưng lặng im. Người lớn tuổi trao chiếc áo ngủ cho Roubachof, Roubachof xỏ tay vào áo.
- Ít ra lần này như vậy cũng được. - Ông nói với nụ cười gượng.
Ba người kia không hiểu nhưng không nói gì. Họ nhìn ông chậm chạp bước xuống giường và gom những y phục bèo nhèo.
Tòa nhà yên lặng trở lại từ sau tiếng la chói lói của người đàn bà, nhưng người ta cảm thấy tất cả những kẻ cư ngụ nơi đây đã thức giấc trên giường của họ, nín thở.
Kế đó có kẻ giựt nước, và nước tuôn xuống ống với một âm thanh đều đều.
4.
Chiếc xe đưa các nhân viên tới đây đậu trước cửa: một chiếc xe hiệu Mỹ, mới toanh. Trời còn tối; người tài xế mở đèn pha; con đường đang ngủ hoặc giả bộ ngủ. Họ lên xe, trước tiên là tên trẻ, rồi Roubachof, kế đó là người lớn tuổi trong số hai viên chức. Người tài xế cũng mặc đồng phục, mở máy. Nhựa đường dừng lại ở một góc đường; họ hãy còn ở trung tâm thành phố; chung quanh họ vươn lên những tòa nhà tân thời chín mười từng, nhưng đường sá là những con lộ gồ ghề như ở nhà quê, đầy bùn sình đông đặc, lấm tấm tuyết ở những nơi nứt nẻ. Người tài xế lái thật chậm và các ống nhún sang trọng của chiếc xe nghiến ken két và rên rỉ như một chiếc xe bò.
- Lái mau đi - Người trẻ tuổi bảo, vì không chịu nổi sự yên lặng trong xe.
Người tài xế nhún vai, không quay lại. Khi Roubachof lên xe, y đã nhìn ông một cách lạnh lùng, không hảo ý. Trước kia, Roubachof gặp tai nạn; người lái chiếc xe cứu thương cũng đã nhìn ông như vậy. Sự gập ghình chậm chạp trên những con đường vắng ngắt, với ánh đèn pha chập chờn trước họ thật khó chịu.
- Còn xa không? - Roubachof hỏi mà không nhìn những kẻ đồng hành. Ông suýt thêm - Từ đây đến bịnh viện.
- Cũng phải nửa giờ. - Người lớn tuổi mặc đồng phục bảo.
Roubachof rút gói thuốc, lấy một điếu đặt lên môi và đưa gói thuốc mời mọi người do thói quen. Tên trẻ từ chối hẳn, người lớn tuổi lấy hai điếu, trao một điếu cho tài xế đặt một tay lên vành nón kết, quẹt lửa cho mọi người, chỉ lái một tay. Roubachof cảm thấy nhẹ nhàng hơn; đồng thời, ông tự trách mình đã có cảm giác ấy. Đây đúng là lúc gây cảm tình, ông tự bảo. Nhưng ông không thể ngăn ý muốn nói lên và đưa ra quanh mình một ít hơi nóng của con người.
- Tiếc cho cái xe - Ông nói - Xe hơi ngoại quốc làm tốn vàng của ta không ít, vậy mà sau sáu tháng chạy trên đường của ta là kể như bỏ.
- Cái đó thì đúng, ông có lý. Đường sá của chúng ta quá lạc hậu - Tên lớn tuổi nói.
Giọng nói của người này cho Roubachof thấy rằng y hiểu cảm giác bị bỏ rơi của Roubachof. Roubachof cũng có cảm tưởng con chó được người ta quăng cho khúc xương; ông nhứt định không nói nữa. Nhưng tên trẻ nói với giọng rừng rú :
- Đường sá ở các nước tư bản tốt hơn hả?
Roubachof không thể nén cái mỉm cười :
- Anh chưa bao giờ ra khỏi nhà à?
- Nhưng tôi dư biết đường sá của chúng nó ra sao mà - Tên trả lời - Ông đừng giở trò lòe tôi.
- Nhưng thật sự anh cho tôi là người gì? - Roubachof hỏi một cách bình tĩnh. Tuy nhiên ông cũng phải nói thêm - Anh cần phải học chút đỉnh lịch sử của Đảng.
Tên trẻ nín lặng và nhìn trân trối lưng người tài xế. Không ai nói tiếng nào nữa. Lần thứ ba, người tài xế thắng bớt làm máy xe khịt khịt mấy cái rồi cho vọt tới, vừa chửi thề. Họ vượt qua vùng ngoại ô trên con đường gập ghềnh; ở đây không có gì thay đổi với những ngôi nhà cây tồi tàn. Trên cao, ánh trăng lợt lạt và lạnh lẽo rọi xuống khung cảnh đổ nát ấy.
5.
Trong mỗi hành lang của khám đường kiểu mẫu đều có ánh đèn điện. Ánh sáng tái nhợt ấy kéo lê thê trên những hàng song sắt, trên tường trống trải quét vôi, trên những cánh của xà lim có lỗ nhìn đen thui mang những bảng tên tù nhân. Thứ ánh sáng buồn cười ấy, những bước chân không tiếng vang của tù nhân trên nền gạch gây cho Roubachof cái cảm giác đã thấy qua rồi và trong vài giây đồng hồ, ông chìm đắm trong ảo ảnh mình hãy còn trong cơn mơ. Ông cố tự thuyết phục rằng không có gì trong quan cảnh trước mắt là sự thật. “Nếu ta tin tưởng được rằng mình đang mơ, ông nghĩ, thì thật sự đây là một giấc mơ”.
Ông cố tự dối mình nồng nhiệt đến nỗi cảm thấy chóng mặt; kế đó ông suýt nghẹt thở vì hổ thẹn. “Đâm lao phải theo lao, và phải theo tới cùng”, ông nói với mình. Họ đi tới xà lim số 404. Trên lỗ nhìn, có một mảnh giấy cứng mang tên ông, Nicolas Salmanovitch Roubachof. “Họ đã chuẩn bị đầy đủ cả”, ông nghĩ; nhìn tên mình trên tấm giấy làm ông có một cảm giác kỳ lạ. Ông muốn xin người gác khám thân mật cái mền, nhưng cánh cửa đã đóng ập lại.
6.
Cách khoảng đều đều, người gác khám nhìn qua lỗ dòm vào xà lim của Roubachof. Ông bình thản ngủ trên giường; chỉ có bàn tay ông thỉnh thoảng nắm chặt lại trong giấc ngủ. Trên nền gạch cạnh giường ông để cái kiếng kẹp mũi và đoạn thuốc hút còn lại.
Vào bảy giờ sáng, hai giờ sau khi bị đưa đến xà-lim số 404, một hồi kèn đánh thức Roubachof. Ông đã qua một giấc ngủ không mộng mị, và cảm thấy đầu óc sáng suốt. Kèn lặp lại ba lần một đoạn nhạc chát chúa. Những nốt nhạc chói tai vang lên rồi tắt dần; chỉ còn lại một sự yên lặng khó chịu.
Trời chưa sáng hẳn; chiếc bồn vệ sinh và bồn rửa mặt tượng hình lờ mờ trong ánh bình minh. Những song sắt cửa sổ thành những vệt đen trên kiếng dơ dáy; phía trên, bên trái, một mảnh báo dán vào mảnh kiếng bể. Roubachof ngồi lên, vói tay lượm cái kiếng kẹp mũi và khúc thuốc điếu cạnh giường rồi nằm trở lại. Ông gắn kiếng lên sóng mũi rồi đốt khúc thuốc tàn. Yên lặng vẫn kéo dài.
Trong mỗi ngăn quét vôi của cái ổ ong bằng xi-măng này, nhiều người phải ra khỏi giường cùng lúc, vừa chửi thề vừa mò mẫm trên nền gạch; thế mà nơi đây, trong các xà lim giam giữ những tù nhân bí mật, người ta không nghe gì cả, chỉ thỉnh thoảng có những bước chân xa dần trong hành lang. Roubachof biết ông bị bắt một cách bí mật, và ở đây đến bao giờ bị bắn mới thôi. Ông đưa những ngón tay xuyên qua chồm râu nhọn dưới cằm, hút đoạn tàn thuốc và nằm dài bất động.
“Tôi sẽ bị bắn”. Roubachof tự nói với mình. Ông nheo mắt quan sát sự cử động của ngón chân cái dựng đứng dưới chân giường. Trong hơi ấm áp, ông cảm thấy được yên ổn và rất mệt mỏi; ông thấy không có gì miễn người ta để cho ông nằm dài một cách lười biếng trong mền. “Vậy là họ sẽ bắn mầy” ông tự bảo. Ông lay động chậm chạp, mấy ngón chân trong vớ, và ông nhớ tới một câu thơ đã ví đôi chân của đấng Ki-Tô với con mang trắng trong một bụi cây gai. Ông chà mắt kiếng lên tay áo, cử chỉ ấy rất quen thuộc đối với những người hoan nghinh ông. Ấm áp trong mền, ông cảm thấy gần như hoàn toàn hạnh phúc và chỉ sợ có một điều, là phải ngồi dậy và cử động. “Vậy là anh sẽ bị tiêu diệt”, ông tự nói gần như la lớn vừa đốt thêm một điếu thuốc, dẫu ông chỉ còn có ba điếu. Những điếu thuốc hút trong lúc bụng đói có khi gây cho ông một cái say nhẹ nhàng; và ông đã ở trong trạng thái xuất thần do tiếp xúc với tử thần. Đồng thời, ông hiểu rằng trạng thái đó đáng trách và trên một quan điểm nào đó, không thể chấp nhận được, nhưng lúc nãy ông không sẵn sàng đón nhận quan điểm đó. Ông thích quan sát trò chơi lay động mấy ngón chân trong vớ hơn. Ông mỉm cười. Ông cảm thấy một làn sóng thiện cảm đối với bản thân dâng lên trong người ông, mà bình thường không ưa thích bản thân mình và sự tàn phá cái cơ thể đó gần đây gây một cái buồn thích thú cho ông. “Đoàn lão vệ binh đã chết - Ông tự nói nho nhỏ - Chúng tôi sắp bị tiêu diệt”. “Ôi! Tử thần, vị thuyền trưởng già nua, đã đến lúc rồi, ta hãy giở neo....”
Ông cố gắng nhớ đoạn còn lại của bài thơ, nhưng chỉ nhớ được bấy nhiêu. “Đoàn lão vệ binh đã chết”, ông lập lại vừa cố nhớ những gương mặt của họ. Ông chỉ gợi được ba hay bốn người. Từ vị chủ tịch của Đệ nhứt Quốc tế, bị xử tử vì tội phản bội, ông chỉ nhận được một mảnh vạt áo gi-lê bằng vải sọc vuông ở trước bụng hơi to của ông ấy. Người thứ hai là Thủ tướng Quốc gia cách mạng, cũng bị xử tử, đã gặm móng tay vào lúc nguy hiểm... “Lịch sử sẽ phục hồi danh dự cho anh”, Roubachof nghĩ, nhưng không tin tưởng lắm. Lịch sử bất cần anh gặm móng tay hay không. Ông hút thuốc và nghĩ đến những kẻ chết, đến việc hạ nhục họ trước khi họ chết. Tuy nhiên, ông không thể quyết định phải ghét Người số I, dầu người ấy đáng ghét. Thường thường, ông giữ bức ảnh của Người số I trên đầu giường, và đã hoài công cố gắng ghét bức ảnh. Hai người đã gán cho nhau khá nhiều tên riêng, tuy nhiên chót hết ông chỉ nhớ y là Người số I. Sự khủng khiếp mà Người số I gieo rắc chung quanh ông ta, xuất xứ trước tiên từ nguyên do là có thể ông ta có lý, và tất cả những kẻ ông ta đã giết phải nhìn nhận, dẫu đã lãnh một viên đạn sau ót, rằng dầu sao có thể ông ta có lý. Không có gì chắc chắn cả; chỉ còn cầu cứu đến sự phán định chua chát mà họ gọi là lịch sử, và lịch sử chỉ đưa ra lời phán quyết khi nào đôi hàm của kẻ cầu cứu đã tan rã thành bụi từ lâu. Ôi, Tử thần, vị thuyền trưởng...
Roubachof có cảm tưởng bị quan sát xuyên qua lỗ dòm. Không nhìn, ông cũng biết có một con người đang dán vào lỗ nhìn vào phòng giam; một lúc sau, chìa khóa kêu ken két trong ổ khóa. Một thời gian trôi qua trước khi cửa mở. Ngục tốt là một ông già nhỏ thó mang vớ, đứng ở cửa.
- Tại sao ông không ngồi dậy? - Ông ta hỏi.
- Tôi bịnh. - Roubachof nói.
- Bịnh gì? Ông không thể gặp bác sĩ trong ngày hôm nay đâu.
- Nhức răng. - Roubachof nói.
- Nhức răng hả? - Vừa hỏi, ngục tốt vừa lê chân chậm chạp đi ra, rồi đóng cửa.
“Giờ đây, ít ra cũng được nằm yên nơi đây”, Roubachof nghĩ như vậy, nhưng ý nghĩ đó không làm ông vui chút nào. Cái mền có mùi mốc và hơi nóng của nó làm ông khó chịu; ông quăng nó ra một bên. Ông gắng gượng quan sát sự cử động của các ngón chân, nhưng rồi cũng chán. Mỗi chiếc vớ của ông đều lủng một lỗ ở gót. Ông muốn mạn lại, nhưng ý nghĩ phải đập cửa và hỏi ngục tốt kim chỉ ngăn ông lại; có thể người ta không chịu cấp kim cho ông. Bỗng ông có ý muốn đọc báo. Ý muốn ấy nồng nhiệt đến nỗi ông cảm thấy mùi mực in và nghe tiếng lào xào của trang báo được lật qua. Có thể một cuộc cách mạng đã nổ bùng hồi tối vừa qua, hay một nguyên thủ quốc gia nào đó bị ám sát, hay một người Mỹ đã tìm được phương pháp xóa bỏ trọng lực. Vụ ông bị bắt chưa được đăng báo vì ở quốc nội nó sẽ được giữ kín ít lâu nữa, nhưng ở ngoại quốc, tin giựt gân này bị xì ra ngay, và người ta đăng cả ảnh ông, những bức ảnh cũ đã mười năm rút ra từ các tủ tài liệu nhà báo, và người ta công bố cả những câu chuyện vô lý gớm ghiết về ông và về Người số I. Giờ đây, ông không còn muốn đọc báo nữa, nhưng lại muốn biết một cách nồng nhiệt những gì trong đầu của Người số I. Roubachof thấy ông ta ngồi ở bàn viết, chống cùi chỏ lên bàn thật vững chắc, nặng nề và ủ rũ, đọc chầm chậm cho một nữ tốc ký viên ghi chép. Nhiều người khác đi tới đi lui, đọc và phun những vòng khói hay tự đùa với một cây thước. Người số I ngồi bất động, không táy máy, không phun vòng thuốc... Roubachof bỗng thấy mình đã đi tới đi lui cả năm phút rồi; ông xuống khỏi giường mà chính ông không hay. Hiện thời ông đang thực hành một nghi thức quen thuộc, là không đặt chân lên bìa viên gạch hoa mà hình vẽ ông đã thuộc lòng. Nhưng tư tưởng ông không một giây nào rời khỏi Người số I, đang ngồi ở bàn viết, đọc một cánh lạnh lùng, rồi lần lần biến thành bức chân dung của chính ông ta, bức ảnh màu danh tiếng treo ở trên mỗi đầu giường, mỗi tủ rượu khắp nước, và đang nhìn mọi người với đôi mắt lạnh lẽo.
Raubachof tới lui trong xà lim, từ cửa cái đến cửa sổ rồi trở lại, giữa cái giường, bồn rửa mặt và bồn vệ sinh, sáu bước rưỡi mỗi bận. Đến cửa cái ông quay sang phải, đến cửa sổ ông quay sang trái: đó là một thói quen lâu đời trong tù; nếu không đổi hướng mỗi khi quay lại, sẽ bị chóng mặt. Người số I nghĩ gì? Ông tưởng tượng một thiết đồ của bộ óc ấy, sơn xám một cách tỉ mỉ bằng màu nước trên một tờ giấy gắn kim lên một cái giá vẽ. Những vòng của chất xám nổi cuộn lên như những khúc ruột, đoạn này quấn với đoạn kia như những con rắn to, mờ dần một đám sương mờ ảo như vòng ốc của những tinh vân trên các bản đồ thiên văn... Những gì diễn ra trong những cuộc xám nổi vòng kia? Người ta biết tất cả về những tinh vân xa xôi kia, nhưng người ta chẳng biết gì về những tinh vân của khối óc kia. Có lẽ đó là lý do vì đó mà Lịch sử là sự phán định hơn là một khoa học. Có lẽ sau này, ở một tương lai xa xôi, người ta sẽ dạy lịch sử bằng những bảng thông kê và những thiết đồ về giải phẫu học tương tự. Giáo sư vẽ lên bảng một công thức đại số tượng trưng những điều kiện sinh sống của quần chúng một quốc gia nào đó trong một thời kỳ nào đó: “Các công dân, đây là những yếu tố khách quan đã chi phối diễn tiến lịch sử này”. Rồi, với cây thước, giáo sư chỉ một cảnh trí mờ ảo xam xám giữa não thùy thứ hai và thứ ba của bộ óc của Người số I: “Và bây giờ, đây là hình ảnh chủ quan của những yếu tố ấy. Chính hình ảnh này trong phần tư thứ nhì của thế kỷ 20 đã đưa tới chiến thắng của nguyên tắc độc tài”. Bao giờ nhân loại chưa đi tới điểm đó, thì chánh trị nếu chẳng phải là một sự đam mê đẫm máu, cũng là một thứ mê tín thuần túy và yêu thuật mà thôi... Roubachof nghe tiếng nhiều người đi cùng nhịp ngoài hành lang. Ý nghĩ đầu tiên của ông là: “Bây giờ, trận đòn sắp đến”. Ông dừng bước giữa phòng giam, lắng nghe, hàm đưa tới trước. Tiếng bước chân đừng lại trước một xà lim cạnh đó, một khẩu lịnh nhỏ đưa ra, có tiếng lách cách của chìa khóa, rồi yên lặng.
Roubachof đứng sững giữa cái giường và cái bồn vệ sinh, nín thở và nghe tiếng la đầu tiên. Ông nhớ ra rằng tiếng la đầu tiên, trong đó sự hãi hùng lấn lướt phần sau thể xác, thường thường là tiếng la đau khổ nhất; những gì kế tiếp có thể chịu đựng được vì người ta đã quen đi, và một thời gian sau, người ta có thể đoán ra phương tiện dùng để hành hạ khi nghe giọng và nhịp la hét. Chung quy, phần đông con người đều biểu lộ cùng một lối, có khác chăng là khí chất và giọng la; những tiếng hét yếu dần, trở thành rên rỉ và tiếng ai oán bị chận đứng. Thường thường, cánh cửa khép lại sau đó ít lâu. Tiếng chìa khóa lại khua; và tiếng la hét của nạn nhân nối tiếp thường phát ra trước khi bị đụng tới người, ngay khi nhìn thấy đám đầu trâu mặt ngựa ở ngưỡng cửa.
Đứng giữa phòng giam, Roubachof chờ đợi tiếng hét đầu tiên. Ông chà cái kiếng kẹp mũi vào tay áo và bảo lần này ông sẽ không la dầu chuyện gì xảy tới. Ông lặp mãi câu này như đọc kinh. Ông đứng chờ đợi; vẫn không có tiếng hét. Kế đó ông nghe tiếng chìa khóa lách cách; một giọng thì thầm mấy tiếng, cánh cửa xà lim đóng lại. Những bước chân tiến tới phòng giam kế đó.
Roubachof đến lỗ dòm nhìn qua hành lang. Đám người dừng lại ở phòng giam ngang mặt, số 407. Người ngục tốt già, theo sau là hai lao công kéo lê một thùng cây nhỏ đựng nước trà; người thứ ba mang một giỏ đầy đánh mì đen, và hai nhân viên đồng phục võ trang súng ngắn đoạn hậu. Không phải vụ đánh đập tù nhân, mà là phát bữa ăn sáng.
Đúng lúc họ đưa bánh mì cho người ở phòng giam số 407. Roubachof không thấy mặt người tù. Có lẽ hắn đứng ở vị trí quy định là một bước cách cửa; Roubachof, chỉ thấy hai cánh tay và bàn tay của hắn. Tay trần và ốm tong; giống như hai cây que song song, hai cánh tay thò ra khỏi cửa mở hé. Lòng bàn tay ngửa lên, cong cong thành hình cái chén. Nhận xong bánh mì, hắn ôm ổ bánh rút vào xà lim tối tăm. Cánh cửa đóng ập lại.
Roubachof rời khỏi lỗ dòm, đi qua lại trong phòng. Ông chà kiếng vào tay áo, đặt lên sóng mũi, thở thật dài một cách thoải mái. Ông hút gió chờ đợi bữa điểm tâm của mình. Ông hơi xúc động khi nghĩ tới hai cánh tay ốm yếu và lòng bàn tay của tù nhân. Hình ảnh đó gợi trong trí ông một cái gì mơ hồ mà ông không nhớ rõ. Hai bàn tay ngửa lên và cả cái bóng của chúng nó rất quen thuộc với ông - rất gần, nhưng lại rời khỏi trí nhớ như một bản nhạc thuở xưa hay không khí của một con đường hẹp ở một hải cảng nào đó.
7.
Đoàn người mở và đóng lần lượt các cánh cửa, trừ cửa phòng của ông. Roubachof trở lại lỗ dòm xem họ có tới không; ông muốn uống trà nóng. Ông thấy khói bốc từ thùng trà cùng những khoanh chanh mỏng nổi trên mặt. Ông gỡ kiếng dán một mắt vào lỗ. Tầm mắt bao quát bốn phòng giam ngang đó: Từ số 401 đến 407. Trên những xà lim là hàng song sắt dài hẹp; sau những phòng ấy là các xà-lim ở từng hai. Đoàn người trở lại dọc theo hành lang bên phải; đúng là họ phát bánh nước cho các phòng số lẻ, rồi tới số chẵn. Họ đã tới phòng số 408; Roubachof chỉ thấy lưng của hai tên đồng phục mang súng ngắn ở dây nịt da: những kẻ khác ở ngoài tầm mắt ông. Cửa đóng; giờ thì tất cả đều ở trước phòng 406. Roubachof thấy lại thùng trà ngút khói và người lao công với giỏ bánh mì. Cửa phòng lại rất nhanh; phòng không người ở. Đoàn người đến gần, đi ngang qua cửa của ông và ngừng trước số 402.
Roubachof dùng nắm tay đập liên thinh vào cửa.
Ông thấy hai người kéo thùng trà nhìn nhau rồi liếc lại cửa phòng mình. Ngục tốt bận rộn trước số 402 và làm như chẳng nghe gì cả. Hai tên đồng phục quay lưng vào trước lỗ dòm của ông. Họ đang trao bánh mì cho số 402; đoàn người lại đi tới. Roubachof càng đập cửa mạnh hơn. Ông rút một chiếc giày đập tiếp theo.
Tên cao lớn đồng phục quay lại nhìn cửa phòng Roubachof một cách lạnh lùng rồi quay đi. Ngục tốt đóng cửa phòng 402. Hai lao công kéo thùng trà hơi do dự. Tên đồng phục cao lớn nói gì với viên ngục tốt già, y nhún vai, chùm chìa khóa kêu rổn rảng, lê đôi giày rách đến tận cửa phòng Roubachof. Hai người kéo thùng trà theo sau y; lao công vác bánh mì nói gì với người ở phòng 402 qua lỗ dòm.
Roubachof lùi lại một bước chờ cửa mở. Sự căng thẳng ở người ông dãn ra ngay; giờ thì có trà hay không, ông cũng chẳng cần. Trà không còn bốc khói nữa, và những khoanh chanh trên mặt nước vàng nhạt còn lại có vẻ nhão nhẹt và teo lại.
Chìa khóa quay trong ổ, rồi con mắt gắn vào lỗ dòm biến đi. Cửa mở hoát. Roubachof ngồi trên giường mang giày lại. Ngục tốt để cửa mở cho người cao lớn đồng phục bước vào phòng giam. Người này có cái sọ tròn cạo nhẵn thín và đôi mắt lạnh lùng. Đồng phục cứng ngắc của y phát ra tiếng xột xạt; giày của y cũng nghiến như thế; Roubachof tưởng như nghe mùi da ở dây nịt y. Hắn dừng lại trước cái bồn vệ sinh và xem xét xà lim, có vẻ như hẹp lại vì hiện diện của y.
- Ông không lau chùi xà lim. - Y nói Roubachof - Tôi nghĩ rằng ông biết điều lệ chớ?
- Tại sao các ông quên bữa điểm tâm của tôi?
Roubachof nhìn thẳng vào viên sĩ quan qua chiếc kiếng kẹp mũi.
- Nếu ông muốn tranh biện với tôi, ông phải đứng lên. - Viên sĩ quan nói.
- Tôi không hề muốn cãi cọ cũng chẳng muốn nói chuyện với ông. - Vừa nói Roubachof vừa cột lạt dây giày.
- Vậy thì lần sau đừng đập cửa, hay tôi phải giải thích cho ông những biện pháp kỷ luật. - Viên sĩ quan trả lời.
Hắn quét mắt một vòng xà lim.
- Tù nhân không có nùi giẻ đề lau gạch. - Y nói với ngục tốt.
Ngục tốt nói gì với người mang bánh mì, anh ta chạy ngay theo hành lang. Hai lao công kia đứng như trời trồng trước cánh cửa mở, tò mò nhìn vào phòng. Viên sĩ quan thứ hai đứng quay lựng lại, hai chân soạt ra, hai tay chấp ra sau.
- Tù nhân cũng chẳng có đĩa đựng xúp. - Roubachof nói, vừa loay hoay cột mãi dây giày - Tôi cho rằng người ta muốn tránh cho tôi công khó tuyệt thực. Tôi hoan nghinh những phương pháp mới của quý ông.
- Ông lầm. - Sĩ quan ấy nói, vừa lạnh lùng nhìn Roubachof.
Một cái thẹo to vắt trên chiếc sọ cạo nhẵn, và hắn mang ở cổ áo băng Cách mạng bội tinh.
“Anh ta cũng có tham gia trận Nội chiến - Roubachof tự nói thầm - Nhưng thời kỳ ấy xa quá rồi...”
- Ông lầm. Ông không có bữa điểm tâm vì ông khai bịnh.
- Nhức răng. - Ngục tốt già nói, tựa mình vào cửa.
Anh ta luôn luôn mang giày vải, bộ đồng phục nhăn nheo và đầy những vết mỡ.
- Các ông muốn sao cũng được. - Roubachof nói. Ông muốn hỏi xem có phải sự thực hiện cuối cùng của chế độ này là trị bịnh bằng cách buộc bịnh nhân phải nhịn đói không, nhưng ông nín kịp. Quang cảnh này làm ông se lòng.
Người mang bánh mì chạy trở lại, vừa thở vừa vung một cái nùi giẻ bẩn thỉu. Ngục tốt đón lấy quăng vào một góc phòng, cạnh bồn vệ sinh.
- Ông còn yêu sách nào nữa không? - Viên sĩ quan hỏi với giọng không mỉa mai chút nào.
- Để tôi yên với lớp hài kịch của ông. - Roubachof nói.
Viên sĩ quan bước ra, ngục tốt quơ xâu chìa khóa xổn xảng. Roubachof đến bên cửa sổ, quay lưng lại họ. Cửa đóng lại ông mới nhớ mình quên một điều quan trọng, vội phóng tới cửa.
- Cho tôi giấy và viết chì. - Ông hét qua chiếc lỗ nhỏ.
Ông gỡ kiếng áp mắt vào lỗ xem họ có quay lại không. Ông la thật to, nhưng đoàn người tiếp tục đi trong hành lang như chẳng ai nghe gì hết. Ông chỉ còn thấy cái lưng của viên sĩ quan đầu trọc, bên dây nít lớn bản tòn teng cái bao súng.
8.
Roubachof tiếp tục đi bách bộ trong phòng giam, sáu bước rưỡi về phía cửa sổ, sáu bước rưỡi ở chiều ngược lại. Cảnh vừa rồi chấn động ông; ông nhớ lại từng chi tiết vừa lau kiếng mắt vào tay áo. Ông cố giữ sự oán ghét trong vài phút đối với viên sĩ quan có thẹo; ông nghĩ cảnh ấy trui rèn thêm ông để chuẩn bị tranh đấu tới đây. Nhưng rồi ông lại rơi vào một cố tật tai hại cưỡng bách ông đặt mình vào địa vị đối phương nhìn cảnh tượng với đôi mắt của kẻ khác. Ông ta ngồi đó, trên chiếc giường, cái ông Roubachof nhỏ thói rậm râu, vênh váo; và, với thái độ khiêu khích, ông ta xỏ chân vào chiếc vớ đẫm mồ hôi. Dĩ nhiên, lão Roubachof này có nhiều thành tích giá trị, và tự phụ trước một dĩ vãng oanh liệt, nhưng nhìn ông ta trên diễn đàn một đại hội đồng là một chuyện, và nhìn ông ta trên ổ rơm của một phòng giam là chuyện khác. Đó là lão Roubachof đầy huyền thoại đó sao? Roubachof nhân danh viên sĩ quan có đôi mắt lạnh lùng tự hỏi. Lão ta gây gổ như một đứa học trò đẻ có bữa ăn sáng mà không biết hổ thẹn. Chẳng lau chùi xà lim. Vớ lủng lỗ. Một nhà trí thức câu mâu. Âm mưu chống chánh quyền, dẫu vì tiền hay vì nguyên tắc, điều đó không quan trọng. Chúng tôi làm cách mạng không phải để vui lòng những kẻ độc đáo. Quả thật lão ta đã tham gia cách mạng; thời bấy giờ, lão chỉ là một người thường; nhưng hiện nay lão đã già và quá tự mãn, đúng lúc cần phải thanh toán. Có lẽ vào thời ấy lão cũng thế; trong cuộc Cách mạng có nhiều cái bọt xà bong đã nổ sau đó. Nếu lão còn một chút tự phụ, lão sẽ phải lau chùi xà lim.
Trong nhiều giây, Roubachof tự hỏi mình có nên đánh bóng nền gạch hay không. Ông do dự giữa phòng giam, rồi mang kiếng vào, tựa tay bên cửa sổ.
Trời đã sáng ngoài sân, một ngày xám xịt điểm màu vàng; thứ ánh sáng này không có vẻ cừu đich, và hứa hẹn sẽ đổ tuyết. Lúc ấy vào khoảng tám giờ - chỉ 3 giờ trôi qua thôi từ khi ông vào phòng này. Những bức tường bao quanh sân giống như trại lính, cửa sổ nào cũng có rào sắt, và những xà lim quá tối, ở ngoài nhìn vào chẳng thấy gì cả. Nếu có kẻ đứng ngay sau cửa của họ và nhìn tuyết trên sân như ông, cũng không thể nào thấy được. Tuyết rất đẹp, hơi đông đặc; nó nổ lách tách khi người ta bước lên nó. Bên này và bên kia con đường nhỏ chạy vòng quanh sân, cách tường độ mười bước, tuyết được quét dọn chất đống họp thành một bao lơn không đều đặn. Trên bức thành nối liền hai pháo đài phía trước, người lính gác đi tới đi lui. Có lần, khi quay mình lại, anh ta phun xuống tuyết làm thành một cầu vòng, và nghiêng mình trên rào nhìn xem nước miếng đông đặc của anh rơi nơi đâu.
“Bịnh cũ của tôi - Roubachof nói một mình - Nhà cách mạng không nên nhìn sự vật qua tư tưởng của kẻ khác”.
Phải chăng làm như vậy là đúng? Hoặc đó là một hành động cần thiết?
Làm sao biến cải được thế giới, nếu ta đồng hóa với tất cả mọi người?
Nhưng phải làm cách nào khác hơn để cải tạo thế giới?
Kẻ nào hiểu và tha thứ - kẻ ấy sẽ tìm đâu ra động cơ hành động?
Và tìm ở đâu để không thấy động cơ hành động?
“Chúng sẽ bắn ta - Roubachof nói - Chúng không cần chú ý đến những lý do của ta”. Ông áp trán vào kiếng cửa sổ. Lần lần ông nhận ra một âm thanh nhẹ; nhưng liên tục trong xà lim.
Ông quay lại, lắng nghe. Có kẻ gõ quá nhẹ đến nỗi mới đầu ông không phân biệt tiếng ấy đến từ bức tường nào. Trong khi ông lắng tai thì tiếng đó đứt. Ông bắt đầu gõ, khởi thủy vào tường phía trên bồn vệ sinh, liền với phòng 406, nhưng không thấy trả lời. Ông thử vào bức tường khác, ngăn phòng 402, cạnh giường ông. Nơi đây người ta trả lời ông. Roubachof ngồi thoải mái trên giường, nơi ông có thể xem chừng lỗ dòm; tim ông đập mạnh. Cuộc tiếp xúc đầu tiên bao giờ cũng gây xúc động.
Người bên phòng 402 gõ rất đều; ba lần với những khoảng cách ngắn, rồi dừng lại, rồi ba lần nữa. Roubachof lặp lại y như vậy để chứng tỏ ông đã nghe. Ông gấp muốn biết người kia hiểu “mẫu tự vuông” chăng - bằng không phải mò mẫm lâu để dạy y. Tường dầy và âm vang rất tệ; ông phải tựa đầu vào mặt tường để nghe rõ, đồng thời canh chừng lỗ dòm. Người bên phòng 402 chắc hẳn thực tập nhiều; anh ta gõ rõ ràng và không gấp gáp, có lẽ bằng một vật cứng như cây viết chì. Ôn lại số tiếng gõ, Roubachof đã hơi lụt về môn này, phải cố gợi ra trước mắt cái hình vuông trong đó các mẫu tự được chia thành hai mươi lăm ô - năm hàng ngang, mỗi hàng năm chữ. Người số 402 ban đầu gõ bốn tiếng - tức là hàng thứ tư: P - T; kế đó hai tiếng; tức là chữ thứ hai của hàng thứ tư: Q. Ngưng một lúc; rồi năm tiếng - hàng thứ năm: U - Z; rồi một tiếng - chữ thứ nhứt của loạt đó: U. Rồi hai tiếng và chót hết bốn tiếng; tức chữ thứ tư của hàng thứ nhì: I. Anh ngừng lại.
QUI? (Nghĩa là: Ai đó?)
Con người thật tế, Roubachof nói. Anh muốn biết ngay người đối thoại là ai. Theo nghi thức cách mạng, đáng lý anh ta phải bắt đầu bằng một khuôn sáo chánh trị nào đó; rồi anh ta có thể nói về chuyện về ăn uống, thuốc hút; và chỉ sau đó thật lâu, nhiều ngày sau, người ta mới tự giới thiệu, cũng có khi không bao giờ xưng tên tuổi. Nhưng đến nay, kinh nghiệm của Roubachof giới hạn ở những nước mà đảng bị đàn áp chớ không phải đảng đàn áp kẻ khác; đảng viên là những người mưu loạn, chỉ biết nhau qua tiểu danh - và hơn nữa họ thay đổi tên thường cho đến nỗi cái tên trở thành vô nghĩa. Ở đây, nhứt định không đúng như vậy. Roubachof tự hỏi có nên cho biết tên mình hay không. Số 402 nóng ruột. Anh lặp lại. Ai đó?
Coi, tại sao không? Roubachof tự nói. Ông gõ cái tên dài của ông: Nicolas Salmanovitch Roubachof, và chờ kết quả.
Trong thời gian rất lâu sau, ông không nhận được câu trả lời. Roubachof mỉm cười; ông ở vào tâm trạng hưởng thức sự ngạc nhiên của người láng giềng. Ông chờ trọn một phút, rồi phút nữa; chót hết, ông nhún vai và đứng lên. Ông trở lại cuộc đi dạo trong phòng giam, nhưng ở mỗi lần quay gót, ông ngừng lại lắng tai nghe. Tường vẫn câm lặng. Ông chà kiếng mắt vào tay áo, tiến bước chậm chạp, mệt nhọc về hướng cửa, nhìn hành lang qua lỗ dòm.
Hành lang trống trải; các đèn điện đưa ra thứ ánh sáng giả tạo tái nhợt; không có một tiếng động nhỏ. Sao số 402 lại câm như hến?
Có lẽ hắn sợ; sợ liên lụy với Roubachof. Có thể số 402 là một bác sĩ, hay một kỹ sư chánh trị, đang run sợ trước ý nghĩ có một kẻ láng giềng nguy hiểm. Chắc chắn anh ta không có kinh nghiệm chánh trị, đáng lẽ hắn không nên khởi đầu bằng cách hỏi tên. Chắc hắn ở trong tù một thời gian, anh ta tiến triển trong nghệ thuật gõ tường, và đang muốn chứng minh sự vô tội của hắn. Hắn còn thấm đầy sự tin tưởng đơn giản rằng có tội hay vô tội chỉ có hắn biết không quan trọng; hắn không có ý kiến nào về những quyền lợi cao cả thật sự đang lâm nguy. Có lẽ hiện giờ hắn ngồi trên giường, viết đơn phản kháng thứ một trăm cho nhà cầm quyền để không bao giờ được họ đọc, hay bức thơ thứ một trăm cho vợ để chẳng bao giờ vợ hắn nhận được; sự thất vọng xui anh để một bộ râu - một bộ râu nhọn như Pouchkine - anh không tắm rửa nữa và mang tật cắn móng tay cùng tật tự thỏa mãn dâm tính quá lố. Trong khám không có gì tệ hại hơn là có ý thức về sự vô tội của mình; sự kiện đó ngăn trở tù nhân thích nghi với đời sống trong tù và phá hoại tinh thần tù nhân... Bỗng tiếng gõ nổi lên trở lại.
Roubachof vội vã ngồi lại trên giường; nhưng ông cũng mất hết hai mẫu tự. Số 402 bây giờ gõ rất mau và không được rõ ràng; chắc chấn anh ta rất xao xuyến. Đáng đời ông lắm.
“Đáng đời ông lắm”.
Thật là chuyện bất ngờ. Người số 402 là một kẻ theo công thức chủ nghĩa. Anh ta ghét bọn đối lập là lẽ dĩ nhiên, anh ta tưởng rằng Lịch sử lăn trên đường rầy theo một lược đồ bất di bất dịch nhờ ở một anh bẻ ghi không hề lầm lỗi, là Người số I. Anh tin rằng việc anh bị bắt là kết quả của một sự hiểu lầm, và tất cả những tai biến từ mấy năm sau này - từ Trung Hoa đến Tây Ban Nha, từ nạn đói đến cuộc tiêu diệt đoàn Lão Vệ binh - đều do hoặc những chuyện ngoài ý muốn đáng tiếc, hoặc do hậu quả của những âm mưu quỷ quái của Roubachof và các bạn hữu của ông ấy thuộc phe đối lập. Bộ râu kiểu Pouchkine của số 402 biến mất; hiện nay anh ta có bộ mặt nhẵn nhụi cụa kẻ cuồng tín; anh siêng năng rửa xà-lim và tuân hành gắt gao quy lệ khám đường. Cần gì cãi cọ với hắn? Những kẻ như vậy vô phương cải hóa. Nhưng không thể bỏ sự tiếp xúc duy nhứt và cuối cùng với thiên hạ.
Ai? Roubachof gõ rất rõ ràng và chậm chạp.
Câu trả lời đến liền và có vẻ bị khích động:
Không dính dáng gì đến ông.
Cũng được, Roubachof trả lời, và cho rằng câu chuyẹn đã chấm dứt, nên đứng lên đi bách bộ trở lại trong phòng. Nhưng những tiếng gõ nổi lên trở lại, lần này thật mạnh và âm vang rõ ràng - chắc hẳn số 402 dùng chiếc giày để nhấn mạnh lời lẽ của y:
Vạn tuế Đức Hoàng Đế!
À! hiểu rồi, Roubachof tự nhủ. Thì ra còn những tên phản cách mạng thật sự và chánh cống - vậy mà chúng mình cứ tưởng ngày nay người ta chỉ thấy bọn chúng trong những diễn từ của Người số I, dưới hình thức những con vật tế thần để che đậy những thất bại của ông ấy. Nhưng đây là một con vật tế thần thứ thiệt, một bằng chứng hóa giải tội trạng bằng xương bằng thịt cho Người số I, một kẻ rống lên một cách tận tình: Vạn tuế Đấng Quân vương!...
Amen, Roubachof đánh tiếng ấy nhè nhẹ, với một nụ cười nhăn nhó. Câu trả lời đến tức tốc, vang vang hơn trước:
Đồ súc sanh!
Roubachof cảm thấy vui thích. Ông dùng kiếng gõ để đổi giọng, rõ ràng nhưng uể oải:
Không hiểu rõ lắm.
Hình như số 402 nổi điên. Hắn gõ Đồ súc si... nhưng ngưng ở đó. Có lẽ đánh bấy nhiêu thì cơn giận bỗng nhiên lại hạ, hắn tiếp:
Tại sao ông vào tù?
Giọng giản dị rất dễ cảm... Mặt người số 402 biến đổi. Nó trở thành gương mặt của một sĩ quan vệ binh, đẹp và ngu ngốc. Biết đâu anh ta có cái kiếng một tròng? Roubachof dùng kiếng gõ:
Khác chánh kiến.
Yên lặng giây lát. Chắc hẳn số 402 bươi óc để tìm câu trả lời chua chát. Và câu ấy đã tìm thấy:
Hoan hô! Đám lang sói xâu xé nhau!
Roubachof không trả lời. Ông chán trò giải trí này và trở lại cuộc bách bộ. Nhưng viên sĩ quan ở phòng 402 có vẻ thích chuyện. Hắn gõ:
Roubachof...
À! Giọng điệu đi lần đến chỗ thân thiện.
Sao đó? Roubachof trả lời.
Số 402 hình như do dự, rồi một câu dài vọng tới: Ông đã ngủ lần chót với một người đàn bà hồi nào?
Chắc chắn hắn có cái kiếng một tròng; hắn dùng nó để gõ, và con mắt không kiếng của hắn có lẽ giựt lia vì thần kinh căng thẳng. Roubachof không hề cảm thấy bị xúc phạm. Ít ra, người này tỏ ra chân thật; thà vậy còn khá hơn nếu hắn gõ những lời biểu dương quân chù. Ông suy nghĩ một chút, rồi đánh:
Từ ba tuần qua.
Câu trả lời tới liền:
Kể tôi nghe hết đi!
Quả thật, anh ta đi hơi quá lố. Phản ứng đầu tiên của Roubachof là muốn ngưng cuộc đàm thoại; nhưng ông nhớ ra rằng kẻ láng giềng của ông rất hữu ích trong vai trò trung gian với số 400 và các xà lim nối tiếp. Phòng bên trái ông chắc không có người ở; sợi dây liên lạc ngừng ở đó. Roubachof nặn óc tìm câu trả lời; khi còn là sinh viên, ông đã từng nghe trong một hí viện lúc những người đàn bà mang vớ đen vũ khích động kiểu Pháp.
Ông thở dài kiên nhẫn và dùng kiếng gõ:
Những chiếc vú vàng hực như những trái bôm...
Ông mong mỏi giọng điệu như vậy thích hợp. Ông đoán đúng, vì số 402 khẩn khoản:
Tiếp tục đi. Tả rõ chi tiết.
Giờ đây, hẳn anh ta đang nóng nảy vặt râu mép. Thế nào hắn cũng có một bộ râu mép nhỏ hai đầu uốn xoắn. Quỷ bắt y; anh ta là người trung gian duy nhứt; phải giữ sự liên lạc. Các sĩ quan bàn tán với nhau những gì trong câu lạc bộ của họ? Toàn là về đàn bà và ngựa. Roubachof chùi kiếng vào tay áo và chăm chú gõ:
Những chiếc đùi như đùi ngựa cái non rừng rú...
Ông ngừng lại, hết gì để nói nữa. Dầu thiện chí đến đâu, ông cũng cạn sức. Nhưng số 402 hoan hỉ:
Ông quỷ quái thật! Anh ta gõ một cách khoái trá. Có lẽ hắn cười om sòm, nhưng chẳng nghe gì cả; hắn tự vỗ đùi hay vặn râu mép, nhưng chẳng ai thấy. Sự dâm tà trừu tượng câm lặng gây một sự khó chịu cho Roubachof.
Tiếp tục đi, số 402 đòi hỏi.
Không thể được - Hết rồi - Roubachof báo cho y biết, nhưng ông hối hận ngay. Không nên làm phật lòng số 402. May thay, số 402 không tỏ vẻ phật ý. Hắn lì lợm gõ bằng chiếc kiếng một tròng:
Tiếp tục đi - Tôi van ông...
Hiện nay Roubachof dượt lại khá đầy đủ để khỏi cần phải đếm ký hiệu nữa; ông tiếp thụ như nghe hắn bằng lời nói. Hình như ông thật sự nghe giọng của số 402 van xin ông kể thêm về vấn đề luyến ái. Lời kêu gọi trở lại, gấp hơn:
Tôi van ông - Tôi khẩn cầu ông...
Hẳn số 402 hãy còn trẻ - có lẽ lớn lên trong cơn bôn ba hải ngoại, con của một gia quyến quân phiệt lâu đời, được gởi về nước với một chiếu khán giả - chắc hắn đang bứt rứt lắm. Chắc hẳn hắn đang vặn râu mép và mang kiếng một tròng trở lại, nhìn một cách thất vọng lớp vôi trên tường:
Nói nữa đi - Làm ơn mà - Làm ơn mà.
Có thể hắn quỳ gối trên giường, hai tay chấp lại - chấp lại như tay của tù nhân ở số 407 để lấy khúc bánh mì.
Roubachof biết ngay cử chỉ ấy làm ông nhớ lại cảnh nào - đó là cử chỉ cầu khẩn của đôi tay gầy ngửa ra trong tranh Pietà...
9.
Pietà... Viện bảo tàng danh họa của một thành phố Nam Đức, một chiều thứ hai. Không một ai trong viện, trừ Roubachof và một thanh niên mà ông đến đó để gặp; cuộc chuyện trò của hai người diễn ra trên một chiếc băng nhỏ vòng tròn bọc nhung, giữa một phòng trống trải, trên tường treo hàng mấy tấn da thịt phụ nữ nặng nề, tác phẩm của các tay danh họa xứ Flandre. Lúc ấy vào năm 1933, trong những tháng đầu khủng bố, trước khi Roubachof bị bắt ít lâu. Phong trào bị truy lùng, các nhân viên bị đặt ngoài vòng pháp luật, nã tróc, hạ sát bằng dùi. Đảng không còn là một tổ chức chánh trị nữa; chỉ còn là một khối thịt đầy máu me có hằng ngàn cánh tay và hằng ngàn đầu. Như tóc và móng tay móng chưn của người chết cứ tiếp tục mọc thêm, người ta vẫn nhận thấy những hoạt động trong các tiểu tổ tức là những bắp thịt và tứ chi của Đảng đã chết. Trong khắp nước, có những nhóm nhỏ hội họp những kẻ còn sống sót sau tai biến và tiếp tục mưu đồ trong bí mật. Họ gặp nhau dưới hầm rượu, trong rừng, ở nhà ga, bảo tàng viện và hội sở thể thao. Họ luôn luôn dời phòng, đổi tên và đổi thói quen. Họ chỉ biết nhau qua tiểu danh và không bao giờ hỏi thăm địa chỉ nhau. Mỗi người đặt sanh mạng mình vào tay kẻ khác, và không ai tin cậy đồng chí mình. Họ in truyền đơn để tự thuyết phục chính họ và kẻ khác rằng họ còn sống. Họ lẫn lút ngày đêm trong các đường nhỏ hẹp ở ngoại ô và viết lên tường những khẩu hiệu cũ để chứng minh họ còn sống. Bình minh, họ leo lên các ống khói nhà máy treo cờ, để cho biết họ còn sống. Ít ai thấy truyền đơn của họ, và được là họ mau mau liệng bỏ, vừa run sợ mà thấy thông điệp từ cõi chết hiện về; khi gà gáy, những chiến từ trên tường bị xóa, những lá cờ bị rứt khỏi các ống khói, nhưng chúng vẫn tái xuất hiện không ngớt. Vì khắp nước vẫn còn những nhóm nhỏ tự mệnh danh là “Kẻ chết đang nghỉ hè” và tận dụng đời sống của họ để chứng minh họ hãy còn sống.
Họ thiếu phương tiện liên lạc các nhóm với nhau; sợi dây thần kinh của đảng bị đứt và mỗi nhóm chỉ đại diện cho chính mình. Nhưng lần lần, họ dò đường trở lại chung quanh họ. Những tay chào hàng đáng kính từ ngoại quốc đến, với những chiếu khán giả và những rương hai đáy; đó là các vị Đại biểu. Họ thường bị tra tấn và bị chặt đầu; những kẻ khác thay chân họ. Đảng chỉ còn là một thân thể không sự sống, không thể cựa mình hay hô hấp, nhưng tóc móng vẫn tiếp tục mọc dài ra; các lãnh tụ gởi qua biên giới các giòng điện để tráng lại cái thân thể vô tri và khích động trong tứ chi những trận động kinh.
Pietà... Roubachof quên số 402 và tiếp tục đi sáu bước rưỡi mỗi hướng; ông thấy mình trở lại chiếc băng vòng tròn bọc nhung trong bảo tàng viện thoảng mùi bụi bậm và sáp đánh sàn gỗ. Từ nhà ga, ông đi thẳng tới nơi hẹn bằng xe tắc xi, và ông đã đến sớm vài phút. Ông gần như chắc chắn không bị ai quan sát. Chiếc va-li đựng đầy hàng mẫu mới nhứt của một nhà sản xuất Hòa Lan về dụng cụ cho các nha sĩ, được gởi ở nơi giữ đồ vật. Ngồi tại chiếc băng tròn bọc nhung, ông chờ đợi vừa nhìn qua chiếc kiếng kẹp mũi những khối thịt mềm trải trên các bức tường.
Người trẻ tuổi mang tên Richard lúc này là Trưởng nhóm của đảng trong thành phố này, đến trễ vài phút. Anh chưa hề thấy Roubachof và Roubachof cũng chưa thấy anh bao giờ. Anh đã đi xuyên qua hai phòng vắng người mới thấy Roubachof trên chiếc băng tròn. Một quyển sách nằm trên gối của Roubachof: cuốn Faust của Goethe do nhà Xuất bản quốc tế của Reclam ấn hành. Thanh niên nhìn quyển sách, liếc nhanh chung quanh, và ngồi xuống cạnh Roubachof. Anh rụt rè, ngồi ghé vào chiếc băng, cách một quãng xa Roubachof, chiếc mũ cát kết trên đầu gối. Anh là thợ sửa ống khóa và mặc một bộ y phục đen dành cho ngày chủ nhựt; anh biết rằng một người ăn mặc theo lối thợ thuyền sẽ bị chú ý trong một bảo tàng viện.
- Chào ông - Anh nói - Xin thứ lỗi đi trễ cho tôi.
- Được rồi - Roubachof nói - Trước tiên là danh sách các chiến hữu. Anh có mang theo đó không?
Thanh niên tên Richard lắc đầu.
- Tôi không mang danh sách theo mình - Anh nói - Tôi có tất cả trong đầu, địa chỉ và những gì cần biết.
- Tốt lắm. Nhưng nếu anh bị chúng bắt thì sao?
- Vì vậy, Richard, nên tôi có đưa cho Annie một bản danh sách. Annie, anh biết, là vợ tôi.
Anh ngừng lại, nuốt nước bọt, trái cổ động đậy; rồi lần đầu tiên, anh nhìn thẳng vào mặt Roubachof thấy đôi mắt anh đỏ ngầu; đôi tròng hơi lộ mang nhiều gân đỏ; trên chiếc cổ áo đen, một bộ râu hai ngày chưa cạo phủ cằm và gò má.
- Annie bị bắt hồi chiều hôm qua, anh biết không? - Anh nói, vừa nhìn Roubachof; và Roubachof đọc trong mắt anh niềm hy vọng ấu trĩ rằng ông, Đại biểu của Trung ương Đàng bộ, có thể làm một phép lạ để giúp đỡ anh.
- Thật vậy à? - Roubachof vừa nói vừa chùi kiếng vào tay áo - Vậy thì cảnh sát có cả bản danh sách sao?
- Không, - Richard bảo - bởi vì chị vợ tôi cũng ở trong căn nhà khi họ tới tìm vợ tôi vài chị ấy đã lén lấy được bản danh sách trong người vợ tôi. Đối với chị ấy thì không có gì nguy hiểm, anh biết không. Chị ấy là người của ta.
- Tốt lắm - Roubachof nói - Khi vợ anh bị bắt thì anh ở đâu?
- Chuyện như vầy - Richard nói - Anh biết không, từ ba tháng nay tôi không ngủ ở nhà. Tôi có người bạn thân làm nghề chiếu phim trong một rạp chớp bóng; tôi có thể đến với ảnh và khi trình diễn phim xong, tôi có thể ngủ tại phòng chiếu. Từ đó xuống thẳng dưới đường bằng một cầu thang an ninh. Lại có phim trước mắt... - Anh ngừng lại và nuốt nước bọt - Annie luôn luôn có giấy xem hát do bạn tôi tặng, anh biết không, và khi tắt đèn trong rạp thì nó nhìn về phòng chiếu. Annie không thấy tôi, nhưng nhiều lúc tôi thấy rõ mặt nó khi có nhiều ánh sáng trên màn ảnh.
Hắn ngừng nói. Ngay trước mặt hắn là bức tranh: “Phán xét cuối cùng”: những thiên sứ tóc quăn, mông và chân mập mạp bay giữa cơn giông tố vừa thổi kèn. Phía trái Richard là một bức tranh vẽ bằng nét bút của một họa sư Đức. Roubachof chỉ thấy một phần tranh, phần còn lại bị cái dựa lưng của băng nhung và đầu của Richard che khuất: hai tay gầy của Đức Mẹ ngửa lên trời, chụm lại thành hình cái chén rượu, và một khoảng trời trống trải vẽ bằng những nét ngang. Không thể thấy nhiều hơn nữa vì trong lúc nói chuyện, Richard giữ cái đầu bất động trên chiếc cổ đo đỏ, hơi cúi xuống.
- À này! - Roubachof nói - Vợ anh mấy tuổi?
- Mười bảy.
- Vậy à! Còn anh mấy tuổi?
- Mười chín.
- Mấy con? - Roubachof hỏi đầu hơi vươn lên, nhưng cũng không thấy bức tranh thêm bao nhiêu.
- Mới có thai đứa đầu. - Richard nói, bất động như một khối chì.
Yên lặng một lúc, rồi Roubachof bảo anh kể hết nhân viên của Đảng theo danh sách. Độ ba mươi cái tên. Ông hỏi vài câu và ghi nhiều địa chỉ trong quyền sổ đặt mua những dụng cụ nha khoa của nhà sản xuất Hòa Lan. Ông ghi trên những khoảng trống danh sách dài gồm những nha sĩ và những công dân lương thiện trong vùng, chép ra theo niên giám điện thoại. Khi ông viết xong, Richard nói :
- Bây giờ, thưa đồng chí, tôi muốn báo cáo vắn tắt về công tác của chúng tôi.
- Tốt lắm - Roubachof nói - Tôi nghe đây.
Richard báo cáo. Ngồi cách Roubachof chừng mấy tấc, trên chiếc băng hẹp, hắn hơi nghiêng ra trước, hai bàn tay to và đỏ đặt trên gối của cái quần dành cho ngày chủ nhựt; chưa lần nào anh đổi cách ngồi trong lúc nói chuyện. Rắn rỏi và chính xác như một kế toán viên, anh nói về những lá cờ trên mấy cái ống khói nhà máy, những khẩu hiệu trên tường và truyền đơn đặt trong các phòng của những nhà máy. Trước mặt anh, các thiên thần thổi kèn giữa cơn giông, sau cái đầu nghiêng nghiêng của anh, Đức Mẹ bị che khuất đưa hai bàn tay gầy; chung quanh hai người, trên các bức tường, những hông, đùi, vú khổng lồ đang ngắm họ.
Những cái vú vàng hực như những quả bôm trở lại trong trí Roubachof. Ông đứng sững lại ở viên gạch đen thứ ba kể từ cửa sổ của xà lim để nghe xem số 402 có còn gõ nữa không. Không có tiếng động nào cả. Roubachof nhìn qua lỗ dòm tìm người ở phòng số 407 đã ngửa tay lấy bánh mì. Ông thấy chiếc cửa sắt xám của xà lim 407 với cái lỗ dòm đen ngòm. Ánh đèn điện vẫn rọi sáng trong hành lang; một sự yên lặng chết chóc trùm phủ; người ta khó tin có những con người sống sau mấy cánh cửa đó.
Trong khi Richard báo cáo, Roubachof không ngắt lới anh lần nào. Trong số ba mươi đảng viên đàn ông và đàn bà mà Richard đã gom lại sau tai biến, hiện chỉ còn mười bảy. Hai trong số đó, một người thợ ở xưởng và người bạn gái của hắn, đã nhảy qua cửa sổ khi lính tới tìm họ. Một người khác đã đào nhiệm, bỏ thành phố, biến mất. Có hai người mà họ nghi là mật báo viên của cảnh sát, nhưng chưa chắc. Trong số ba người đã bỏ Đảng để phản đối Trung Ương đảng bộ, hai đã thành lập một nhóm đối lập và người thứ ba gia nhập vào đảng Ôn hòa. Năm người, trong đó có Annie mới bị bắt chiều hôm qua; người ta biết ít ra cũng hai người trong bọn họ không còn sống. Chỉ còn mươi bảy người tiếp tục phát truyền đơn và viết nguệch ngoạc lên tường.
Richard kể chuyện ấy với đầy đủ chi tiết vụn vặt để Roubachof hiểu rõ đầu đuôi gốc ngọn và những giao dịch cá nhân của hắn; hắn không biết rằng trung ương cục có đặt người tín nhiệm trong nhóm của hắn từ lâu, và người ấy đã cho Roubachof phần lớn những hoạt động của hắn. Hắn cũng chẳng biết người đó chính là bạn hắn chuyên viên chiếu phim điện ảnh mà hắn đã ngủ trong phòng chiếu; cũng chẳng biết từ lâu người đó là tình nhân của vợ hắn, Annie, kẻ bị bắt hôm qua. Richard chẳng biết gì hết, mà Roubachof lại biết rõ. Phong trào đổ vỡ nhưng cục tình báo vẫn còn hoạt động; có lẽ chỉ ngành này còn hoạt động, và lúc ấy do Roubachof chỉ huy. Chuyện đó, thanh niên mặc y phục đẹp có cái ót như bò mộng cũng chẳng hay biết. Tất cả những gì hắn biết, là Annie bị bắt đưa đi và bọn anh vẫn phải tiếp tục rải truyền đơn và viết lên tường; và anh cần phải trông cậy vào Roubachof như đối với cha đẻ anh, người đồng chí này được Trung ương Đảng phái đến; nhưng không nên để lộ tình cảm này cũng không nên cho thấy một chút yếu ớt nào của mình. Kẻ nào tỏ ra dịu dàng và tình cảm thì không xứng đáng với nhiệm vụ, phải bị loại khỏi phong trào, rơi vào sự cô độc và tối tăm.
Trong hành lang, những bước chân tới gần. Roubachof bước đến cửa, gỡ kiếng, đặt sát mắt vào lỗ dòm. Hai viên chức mang dây nịt da to bảng hộ tống một nông dân trẻ tuổi, theo sau là người già nhỏ thó thường mang xâu chìa khóa. Người nông dân có một con mắt sưng húp và một vệt máu đọng đen ở môi trên; lúc đi ngang, anh dùng tay áo chùi máu mũi, cái mặt trẹt của anh mất cả thần sắc. Cách đó không xa và ngoài tầm mắt của Roubachof, một cánh cửa xà lim mở ra rồi đóng sầm lại. Hai viên chức và ngục tốt trở lại.
Roubachof đi bách bộ trong xà lim. Ông thấy lại mình ngồi gần Richard trên chiếc băng bọc nhung; ông nghe trở lại sự yên lặng đè nặng trên hai người khi thanh niên phúc trình xong. Richard không nhúc nhích; hắn chờ đợi, hai tay đặt lên đầu gối. Hắn ngồi đó như kẻ xưng tội và chờ đợi sự phán quyết của vị Giáo đạo. Sự yên lặng kéo dài khá lâu. Kế đó, Roubachof nói :
- Tốt lắm. Hết rối hả?
Thanh niên gật đầu; trái cổ động đậy.
- Có nhiều điều không rõ ràng trong phúc trình của anh - Roubachof nói - Anh nói nhiều lần về những truyền đơn và tài liệu do chính anh thảo ra. Chúng tôi đã thấy rồi, và nội dung bị đả kích nghiêm khắc. Có nhiều ý kiến trong đó mà Đảng không thể nào chấp nhận.
Richard nhìn ông có dáng sợ hãi; hắn đỏ mặt. Roubachof thấy da ở gò má anh đỏ rần lên và đám gân máu đỏ lòm ở hai mắt anh dầy đặc thêm.
- Hơn nữa, - Roubachof tiếp - chúng tôi đã gởi cho các anh nhiều lần những bản văn in sẵn để phân phối, có cả ấn bản đặc biệt khổ nhỏ của cơ quan chánh thức của Đảng. Các anh cũng đã nhận được.
Richard gật đầu. Màu đỏ vẫn không rời mặt hắn.
- Nhưng các anh không phân phối tài liệu của chúng tôi; anh cũng không đề cập tới điều đó trong báo cáo của anh. Thay vào đó, các anh đã cho luân lưu những bản văn do các anh sáng tác - không có sự kiểm soát và đồng ý của Đảng.
- Nh... Nhưng phải l... làm vậy.
Richard đã cố gắng lắm mới thốt được lời ấy. Roubachof nhìn hắn rất kỳ xuyên qua kiếng mắt kẹp mũi; ông đã không nhận thấy tật cà lăm của hắn trước đó. Lạ chưa, ông tự bảo, đây là trường hợp thứ ba trong mười lăm ngày. Những bất thường nho nhỏ mà chúng ta có trong Đảng lên tới một số lượng đáng ngạc nhiên! Phải chăng vì những hoàn cảnh trong đó chúng ta làm việc, hay chính tính chất của phong trào đã tán trợ cho sự tuyển chọn những bất thường ấy?...
- A... Anh ph... phải hiểu, thưa đồng chí - Richard nói với dáng điệu thống khổ càng lúc càng tăng gia - Gi... Giọng của các tài liệu tuyên truyền của các anh không hợp, b... bởi vì...
- Nói nhỏ một chút, - Roubachof bỗng nói với giọne cụt ngủn - và đừng quay đầu về phía cửa.
Một thanh niên cao lớn mặc đồng phục đen cận vệ quân của chế độ bước vào phòng với cô bạn gái của hắn. Đó là một cô gái tóc vàng phì nộn; hắn choàng tay sau cái lưng vĩ đại của cô gái, còn cô ta đặt cánh tay lên vai hắn. Họ không chú ý đến Roubachof và bạn đồng hành của ông, và ngừng lại trước những thiên thần thổi kèn, quay lưng về chiếc băng.
- Đừng ngừng nói chuyện. - Roubachof bình tĩnh nói nho nhỏ, và tự động móc túi lấy ra một chiếc hộp đựng thuốc hút. Rồi, nhớ ra không được hút thuốc trong bảo tàng viện, ông bỏ hộp thuốc vào túi trở lại. Thanh niên như tê liệt vì điện giựt, nhìn trân trối cặp trai gái.
- Đừng ngừng nói - Roubachof bình thản lặp lại - Có phải anh cà lăm từ nhỏ không? Trả lời và đừng nhìn lại đó nữa.
- V... Vài khi. - Richard nói một cách khó nhọc.
Cặp nọ đi dài theo hàng tranh. Họ dừng lại trước bức khỏa thân, vẽ một người đàn bà thật mập nằm ngửa trên một lớp xa tanh nhìn khán giả. Người đàn ông thì thầm mấy lời ý chừng muốn tỏ ra dí dỏm, vì thiếu phụ cười một cách ngu ngốc và liếc nhìn về phía hai người ngồi trên băng. Họ đến một bức họa tĩnh vật hình dung mấy con chim trĩ và trái cây.
- T... Ta có n... nên đ... đi không?
- Không. - Roubachof nói. Ông sợ một khi đứng lên thanh niên dao động như vậy có thể làm thiên hạ chú ý. Họ sẽ đi khỏi đây bây giờ. Chúng ta quay lưng lại ánh sáng; họ không thấy ta rõ ràng đâu. Thở chậm chậm và thật sâu nhiều lần liên tiếp. Sẽ khá ngay.
Thiếu phụ vẫn cười mãi và cặp ấy hướng chầm chậm về phía cửa ra. Lúc đi qua cả hai quay lại nhìn Roubachof và Richard. Họ sắp rời khỏi phòng tranh, khi cô ta chỉ ngón tay về bức tranh Pietà, hai người
dừng lại xem.
- Có phải tôi nói c... cà lăm l... là bất tiện không? - Richard hỏi nhỏ, mắt nhìn dán xuống sàn gỗ.
- Phải ráng tự chủ. - Roubachof nói với giọng lạnh lùng, ông không thể để cho tình cảm len vào câu chuyện.
- Chỉ một lúc là tôi b... bớt - Richard nói, trái cổ chuyển động liên hồi - Annie ch... chế nhạo tôi mãi vì chuyện đó.
Khi cặp nọ còn trong phòng là Roubachof không thể hướng dẫn cuộc đàm thoại. Lưng người đàn ông đồng phục sừng sững bên cạnh Richard. Sự nguy hiểm chung giúp thanh niên vượt qua sự nhút nhát; hắn nhích lại gần Roubachof một chút.
- Annie cũng yêu tôi - Hắn thì thầm tiếp với một giọng bình tĩnh hơn, sự sôi nổi trong lòng hắn đã đổi tính chất - Tôi không bao giờ hiểu thật sự v... vợ tí nghĩ gì. Nó không muốn có con, nh... nhưng không làm sao thoát được chuyện đó. C... Có lẽ họ không làm gì nó trong khi nó mang thai. Chắc như vậy rồi, anh biết không. Anh nghĩ xem họ có đánh đập đàn bà có thai không?
Hắn hất cằm chỉ người đàn ông mặc đồng phục. Vào lúc đó, người ấy bỗng dưng quay đầu lại nhìn Richard. Họ nhìn nhau khoảng một giây. Người nọ nói gì nho nhỏ với cô bạn đồng hành; cô ta cũng quay đầu lại. Roubachof lại nắm hộp thuốc, nhưng lần này ông buông trở lại trước khi rút ra khỏi túi. Cô gái nói nho nhỏ và kéo thanh niên đi. Cả hai đi chầm chậm khỏi bảo tàng viện, nhưng người đàn ông hơi ngập ngừng. Người ta nghe tiếng cười hềnh hệch của cô gái, rồi bước chân của họ xa dần.
Richard đã quay đầu lại nhìn theo họ. Nhờ đó, Roubachof có thể thấy bức vẽ rõ hơn; ông thấy đôi cánh tay mảnh mai của Đức Mẹ đến tận cùi chỏ. Những cánh tay ốm gầy của một cô gái nhỏ, nâng lên với một sự nhẹ nhàng vô hình về phía chiếc thánh giá vô hình.
Roubachof nhìn đồng hồ tay. Thanh niên nhích xa ông một chút trên băng.
- Chúng ta phải chấm dứt câu chuyện - Roubachof nói - Nếu tôi không lầm, anh nói rằng anh không phân phát tài liệu của chúng tôi là một sự cố ý, bởi vì anh không tán thành nội dung. Nhưng chúng tôi cũng không tán thành nội dung những truyền đơn của anh. Đồng chí có biết rằng có nhiều hậu quả xuất phát từ chuyện đó không?
Richard quay nhìn ông với đôi mắt đỏ lòm. Rồi hắn cúi đầu.
- Chính anh cũng biết rằng những bản văn mà các anh gởi đến chứa đầy vụng về. - Richard nói với giọng mất thần. Bỗng nhiên anh không cà lăm nữa.
- Tôi không thấy như vậy bao giờ. - Roubachof nói với giọng gắt gỏng.
- Các anh viết như không có chuyện gì xảy ra - Richard nói một cách chán chường - Đảng bị tàn sát, các anh lại viết những câu đẹp về cuộc trường hành thẳng lợi của chúng ta - cùng một loại láo khoét như những thông cáo hồi thế chiến. Đưa truyền đơn ấy cho ai, người ta cũng phỉ nhổ lên nó. Chính anh cũng biết như vậy.
Roubachof nhìn đứa trẻ ấy, hiện nghiêng người ra trước, cùi chỏ chống lên đầu gối, cằm trên hai nắm tay đỏ rần.
Ông xẵng giọng :
- Đây là lần thứ hai anh gán cho tôi một ý kiến không phải của chính tôi. Tôi yêu cầu anh đừng làm vậy nữa.
Richard nhìn ông bằng đôi mắt đỏ ngầu với dáng điệu của kẻ không tin người ta nói với mình như vậy. Roubachof tiếp :
- Đảng đang gặp một cuộc thử thách dữ dội. Nhiều đảng cách mạng cũng đã chịu đựng những hồi khó khăn hơn nữa. Yếu tố quyết định là ý chí bất khuất của chúng ta. Kẻ nào ngày nay mềm yếu không xứng đáng ở trong hàng ngũ của chúng tôi nữa. Kẻ nào gieo rắc một không khí khủng khiếp là nối giáo cho giặc. Những nguyên do thúc đẩy kẻ ấy làm như vậy đều hoàn toàn bất lợi. Thái độ của kẻ ấy làm cho y trở nên mối hiểm họa cho phong trào chúng tôi, và y sẽ bị đối xử thích đáng.
Richard vẫn ngồi đó, cằm trong hai bàn tay, quay mặt sang Roubachof :
- Như vậy tôi là mối hiểm họa của phong trào, tôi nối giáo cho giặc. Không biết chừng tôi được người ta mướn làm như vậy. Và Annie cũng vậy...
- Trong những tập tài liệu của anh, - Roubachof vẫn nói giọng gắt gỏng - mà anh nhìn nhận là tác người ta thường đọc thấy những câu như vầy: Chúng ta đã chịu đựng sự thất bại, Đảng đã gặp một tai họa khủng khiếp, và chúng ta phải trở lại điểm khơi đầu để xét lại toàn diện kế hoạch. Đó là sự đầu hàng. Như vậy là làm mất tinh thần và làm hại ý chí đấu tranh của Đảng.
- Tất cả những gì tôi biết, - Richard nói - là ta phải nói sự thật, vì mọi người đều biết tất cả rồi. Nếu ta bảo khác đi là lố bịch.
- Đại hội của Đảng vừa qua, - Roubachof nói - đã tuyên bố trong một quyết nghị rằng Đảng không hề gặp thất bại và chỉ thi hành một cuộc di tản chiến thuật; và không một lý do nào sửa đổi chánh sách đã đề ra trước đây.
- Chánh sách như vậy, là đồ liệng giỏ rác. - Richard nói.
- Nếu anh tiếp tục như vậy, tôi sợ mình phải chấm dứt ngay câu chuyện.
Richard nín một lúc. Phòng bắt đầu tối; trên tường những hình thể của các thiên thần và những người đàn bà mờ ảo thêm và trở thành u ám hơn.
- Tôi xin anh thứ lỗi, - Richard nói - tôi muốn nói rằng đường lối của Đảng sai lầm. Các anh nói rằng “di tản chiến thuật” trong khi phân nửa đồng chí chúng ta bị giết, những kẻ còn lại rất sung sướng thấy mình còn sống đến nỗi họ ồ ạt sang phe kia. Những quyết nghị trong đó các anh ở ngoại quốc, các anh chẻ sợi tóc làm bốn, thì ở đây không ai hiểu cả...
Những đường nét của Richard bắt đầu mờ ảo trong hoàng hôn. Hắn ngừng nói, rồi tiếp :
- Tôi thí dụ như Annie, chiều hôm qua đã thi hành một cuộc “di tản chiến thuật”. Tôi khẩn cầu anh. Anh phải thông cảm. Ở đây, anh biết không, chúng tôi sống trong rừng rú...
Roubachof chờ xem hắn còn gì nói nữa không, nhưng Richard không nói gì nữa. Màn đêm trùm phủ rất mau. Roubachof mở kiếng chùi vào tay áo.
- Đảng không bao giờ lầm lẫn - Roubachof nói - Anh và tôi, chúng ta có thể lầm. Nhưng Đảng thì không. Đảng là một cái gì vĩ đại hơn anh và tôi và hơn cả ngàn kẻ khác như anh và tôi. Đảng là hiện thân của tư tưởng cách mạng trong lịch sử. Lịch sử không hề biết tế nhị mà cững chẳng biết ngần ngại. Vô tri và không hề lầm lỗi, lịch sử chảy đến mục đích. Ở mỗi khúc quanh trên giòng của nó, lịch sử để lại số bùn mà nó cuốn theo và những thây người bị đắm. Lịch sử biết con đường đi của mình. Nó không bao giờ lầm lẫn. Kẻ nào không tin tưởng tuyệt đối vào lịch sử thì không có chỗ đứng trong hàng ngũ Đảng.
Richard không nói gì; tay nâng đầu, mặt bất động của hắn quay về phía Roubachof. Thấy hắn nín thinh, Roubachof tiếp :
- Anh đã làm trở ngại sự phân phối tài liệu của chúng tôi; anh đã loại bỏ tiếng nói của Đảng; anh đã phát ra những tập sách mà mỗi chữ đều trật và tai hại; anh đã viết: “Những kẻ còn lại của phong trào cách mạng phải tập họp và tất cả các lực lượng đối nghịch với bạo lực phải hợp nhứt; chúng ta cần chấm dứt những cuộc huynh đệ tương tàn quá lâu, và tiếp tục cuộc tranh đấu chung”. Như vậy là trật. Đảng, không thể kết hợp với bọn Ôn hòa. Chính bọn ấy không biết bao nhiêu lần, đã quyết tâm phản bội phong trào, và chúng sẽ tái phạm vào dịp tới và kế tiếp. Hòa giải với chúng là chôn cách mạng. Anh đã viết: “Khi lửa tới nhà, mọi người phải hợp tác dập tắt nó; nếu chúng ta tiếp tục tranh luận về những điểm của chủ nghĩa, chúng ta sẽ bị biến thành tro”. Trật. Chúng ta, ta chống lửa bằng nước; những kẻ khác đồ dầu vào lửa. Chúng ta phải quyết định xem phương pháp nào tốt, nước hay dầu, trước khi dung hợp các đoàn chữa lửa. Ta không thể làm chánh trị kiểu đó.; Chúng ta không thể công thức hóa một chánh sách vì phẫn nộ và vì thất vọng. Đường lối Đảng đã được quy định rõ ràng; như một con đường mòn nhỏ hẹp trên núi. Bước trật sang phải hay sang trái là xuống hố sâu. Không khí ở đó cũng ít oi, kẻ nào bị chóng mặt là mất mạng.
Bóng mờ hiện thời đã dầy đặc đến nỗi Roubachof không còn thấy đôi bàn tay của bức tranh Pietà. Chuông reo hai hồi, chát chúa và thấm thía; mười lăm phút nữa, viện bảo tàng sẽ đóng cửa. Roubachof nhìn đồng hồ tay; còn phải nói tiếng quyết liệt, rồi thì chấm dứt. Richard ngồi bất động bên ông, cùi chỏ đặt lên đầu gối.
- Thưa anh, - Hắn nói - tôi không có câu trả lời về những việc đó - Giọng hắn thều thào và mệt mỏi - Những gì anh nói hẳn phải đúng. Và điều anh nói về đường mòn trên núi rất đẹp. Nhưng tất cả những gì tôi biết là chúng ta đã đại bại. Những kẻ còn lại bỏ chúng ta. Có thể vì trời lạnh quá trên con đường núi mòn! Những kẻ khác - họ có nhạc và cờ đẹp và họ ngồi tất cả quanh ngọn lửa thật ấm. Phải chăng nhờ vậy mà họ thắng. Còn chúng ta, thì chúng ta chịu đủ mọi thống khổ.
Roubachof yên lặng nghe. Trước khi đọc bản án quyết liệt, ông muốn biết thanh niên còn muốn nói gì nữa không. Hiện nay không thể thay đổi bản án dẫu hắn nói gì đi nữa; nhưng ông vẫn chờ.
Bóng dáng mạnh dạn của Richard càng lúc càng mờ trong hoàng hôn. Hắn nhích ra xa Roubachof hơn nữa trên băng tròn; hai vai hắn cong xuống và mặt hắn vùi gần trọn vẹn trong hai bàn tay. Roubachof ngồi thẳng lên trên chiếc băng; ông chờ đợi. Ông cảm thấy đau nhói ở hàm trên; chắc hẳn chiếc răng cửa hư.
Một lúc sau ông nghe giọng nói Richard :
Roubachof đưa lưỡi rà chiếc răng đang làm ông đau. Ông thấy cần phải đưa ngón tay rờ vào nó trước khi nói lời quyết liệt, nhưng ông cố nhịn. Ông nói một cách bình tĩnh :
- Chiếu theo quyết nghị của Trung ương, tôi báo cho anh biết, anh Richard, rằng anh không còn là đảng viên nữa.
Richard không nhúc nhích. Lần này, Roubachof cũng chờ một lúc trước khi đứng lên. Richard vẫn ngồi. Anh chỉ ngẩng đầu lên nhìn ông và hỏi :
- Có phải vì việc này mà anh tới không?
- Đại để là vậy. - Roubachof nói. Ông muốn đi, nhưng đứng lại trước Richard và chờ đợi.
- Giờ đây, tôi sẽ ra sao? Richard hỏi.
Roubachof không nói gì. Một lúc sau, Richard nói :
- Bây giờ, tôi nghĩ rằng tôi cũng không thể ở trong phòng chiếu phim của bạn tôi nữa phải không?
Roubachof hơi do dự trước khi nói :
- Như vậy càng tốt cho anh.
Ông tự trách mình ngay đã thốt ra câu đó, đồng thời ông cũng không chắc Richard hiểu những gì ông muốn nói. Ông nhìn xuống hình hài sụp đổ của Richard :
- Tốt hơn là chúng ta ra khỏi bảo tàng viện riêng từng người. Chào anh.
Richard nhổm lên, nhưng vẫn ngồi. Trong bóng mờ, Roubachof không thể đoán được sự biểu lộ của đôi mắt đỏ ngầu, hơi lộ của hắn; tuy nhiên, chính hình ảnh mờ ảo của cái thân thể nặng nề ngồi bất động đó đã ghi mãi mãi vào tâm não Roubachof.
Ông ra khỏi gian phòng, đi xuyên qua phòng kế đó, cũng trống trải và tối tăm. Bước chân của ông nghiến ken két trên sàn nhà. Chỉ đến lúc tới cửa ra ông mới nhớ mình đã không nghĩ đến việc nhìn bức vẽ Pietà; hiện thời, ông chỉ biết chi tiết hai tay chấp vào nhau và những cánh tay gầy mà thôi.
Đến những bực thềm, ông dừng lại. Chiếc răng của ông càng nhức nhối thêm; bên ngoài, trời lạnh. Ông quấn quanh cổ chiếc khăn choàng len màu xám cũ. Những ngọn đèn đường đã cháy sáng trên công trường rộng và yên tĩnh trước bảo tàng viện; vào giờ đó rất ít người; một chiếc xe lửa nhỏ chạy rầm rầm trên thông lộ trồng cây hai bên, vừa giựt chuông. Ông tự hỏi có thể tìm được tắc xi không.
Richard theo kịp khi ông đến bực thềm chót; hắn thở hào hển, gần đứt hơi. Roubachof tiếp tục đi, không gấp gáp cũng không chậm lại và không quay đầu. Richard cao hơn ông cái đầu và mập hơn nhiều, nhưng hắn rút đầu xuống hai vai, có vẻ nhỏ nhoi bên Roubachof và bước chậm lại. Đi được vài bước, hắn nói :
- Phải chăng là lời cảnh cáo, khi tôi hỏi anh tôi có nên xa bạn tôi không thì anh nói: “Như vậy càng tốt cho anh”?
Roubachof thấy một chiếc tắc xi bật đèn pha sáng chói đang chạy lên thông lộ. Ông đừng lại bên lề, chờ xe tới. Richard đứng bên ông.
- Tôi không còn gì nói với anh Richard. - Roubachof vừa nói vừa gọi tắc xi.
- Đồng chí - nh... nhưng đồng chí đừng tố cáo tôi, đồng chí... - Richard nói.
Chiếc tắc xi chậm lại, chỉ còn cách chừng hai chục bước. Richard khòm lưng trước Roubachof; hắn nắm tay áo choàng của ông và nói thẳng vào mặt ông; Roubachof cảm thấy những giọt nước miếng của hắn văng lên trán ông.
- Tôi không phải kẻ thù của Đảng - Richird nói - Anh không nên đưa tôi đến lò thịt, đ... đồng chí...
Chiếc tắc xi dừng lại bên lề; hẳn người tài xế đã nghe tiếng sau cùng. Roubachof tính toán rất mau rằng mình có xua đuổi hắn cũng chẳng ích lợi gì; một cảnh sát viên ngừng xe cách đó lối một trăm thước. Người tài xế, một lão già nhỏ thó mặc áo da, nhìn hai người một cách bình thản.
- Tới nhà ga. - Roubachof nói khi bước lên tắc xi.
Người tài xế thò tay ra sau đóng ập cửa xe. Richard đứng trên lề đường, mũ cát-két trên tay; trái cổ của anh lay động dữ dội. Tắc xi khởi chạy, hướng về phía người cảnh sát rồi vượt khỏi nhân viên này. Roubachof không quay nhìn lại, nhưng ông biết Richard vẫn đứng trên lề nhìn trân trân đèn đỏ xe tắc-xi.
Vài phút sau, xe đi xuyên qua những con đường đông đảo; người tài xế quay đầu mấy lượt như muốn biết chắc người khách của ông ta còn đó hay không. Roubachof không biết rõ thành phố để chắc chắn quả đúng là xe đang hướng về nhà ga hay không. Đường phố yên lặng hơn; ở đầu một thông lộ là một tòa nhà đồ sộ có một chiếc đồng hồ to sáng loáng; xe ngừng trước nhà ga.
Roubachof bước xuống; những xe tắc xi ở thành này chưa có đồng hồ tính tiền.
- Bao nhiêu? Ông hỏi.
- Khỏi trả tiên. - Người tài xế nói. Ông ta có một gương mặt già háp và nhăn nheo; ông móc trong túi ra một khăn tay màu đỏ dơ dáy và hỉ mũi một cách trịnh trọng.
Roubachof nhìn ông ta chăm chú xuyên qua chiếc kiếng kẹp mũi. Ông chắc chắn chưa hề thấy gương mặt ấy lần nào. Người tài xế bỏ khăn vào túi.
- Đối với những người như ông, thì luôn luôn tôi chạy giùm. - Vừa nói người ấy vừa kéo thắng tay.
Bỗng ông ta đưa bàn tay ra. Một bàn tay già nổi gân đầy và móng đóng ghét.
- Chúc ông may mắn- Ông vừa nói vừa mỉm cười với Roubachof với dáng
bỡ ngỡ - Nếu người bạn trẻ của ông cần gì - tôi thường đậu xe trước viện bảo tàng. Ông có thể gởi cho y biết số xe của tôi, thưa ông.
Roubachof thấy bên tay phải mình một người phu khuân vác, đứng tựa cột nhìn hai người. Ông không nắm bàn tay đưa ra của ông tài xế; ông đặt vào đó một đồng tiền và vào nhà ga không nói tiếng nào.
Ông chờ một giờ trước khi xe lửa khởi hành. Ông uống tại quầy giải khát một thứ cà phê thật dở; chiếc răng dày vò ông. Trong xe lửa, ông ngủ gà ngủ gật và mơ thấy mình chạy trước đầu xe lửa. Richard và người tài xế tắc xi trong đầu xe; họ muốn cán ông vì ông không trả tiền xe cho họ. Những bánh xe ầm ầm lăn tới gần, và hai chân ông thì đã hết hơi sức. Ông buồn nôn thì giựt mình thức dậy, những giọt mồ hôi lạnh ướt trán ông; trong toa, thiên hạ nhìn ông một cách kỳ lạ. Bên ngoài trời đã tối; xe chạy hết tốc lực ngang qua một xứ địch tối tăm; phải chấm dứt vụ này với Richard; chiếc răng của ông nhức thêm. Một tuần sau ông bị bắt.
10.
Roubachof úp trán vào cửa kiếng nhìn xuống sân. Ông thấy mỏi chân và đầu choáng váng vì đã đi quá nhiều. Ông nhìn đồng hồ tay; mười hai giơ kém mười lăm; ông đã đi bách bộ trong xà lim suốt gần bốn giờ liên tiếp, từ khi ông hồi tưởng đến bức tranh Pietà. Ông không ngạc nhiên điều ấy; ông đã khá quen với những mơ mộng trong tù, với sự say sưa tiết ra từ những bức tường vôi. Ông nhớ một người bạn trẻ, làm nghề hớt tóc, đã thuật với ông rằng trong năm thứ hai cũng là năm khổ cực nhứt ở xà lim, hắn đã suốt bảy giờ liên tiếp, hai mắt vẫn mở. Hắn đi mươi tám cây số trong một xà lim năm bước bề dài và bị những mụt bong bóng dưới chân mà không hay.
Nhưng lần này, việc ấy đến hơi sớm; ngay ở ngày đầu tiên, thói xấu ấy xâm chiếm ông, còn ở những lần bị giam trước kia, nó chỉ tới những tuần sau đó. Một chuyện kỳ lạ nữa, là ông đã nghĩ tới dĩ vãng; những tay mơ mộng kinh niên trong khám đường gần như luôn luôn chỉ mơ tương lai - và chỉ mơ về quá khứ những gì họ mong ước chớ không phải những gì đã xảy ra trên thật tế. Roubachof tự hỏi tinh thần ông sẽ còn dành cho ông những ngạc nhiên nào nữa. Kinh nghiệm cho ông biết rằng việc đứng trước cái chết bao giờ cũng tác động mạnh vào bộ máy suy tư, và gây những phản ứng ngạc nhiên nhứt - tương tự như những động tác của kim chỉ nam khi đến gần từ cực.
Trời vẫn đầy tuyết sắp rơi; trong sân, hai tù nhân đang đi dạo buổi sáng trên con đường nhỏ được quét dọn. Một trong hai người nhìn nhiều lần lên cửa sổ của Roubachof. Hình như tin ông bị bắt đã truyền ra. Đó là một người tiều tụy có nước da vàng khè và sứt môi; hắn mặc một chiếc áo đi mưa mỏng mà hắn ghì chặt lên vai như hắn đang run rẩy. Người kia nhiều tuổi hơn và trùm một cái mền. Họ không nói chuyện với nhau trong phiên đi dạo, và trong khoảng mười phút, một người đồng phục võ trang dùi cui bằng cao su và súng sáu dẫn họ trở vào khám. Cái cửa mà ông chờ họ tới ở ngay trước cửa sổ của Roubachof. Trước khi cửa đóng, người sứt môi nhìn thêm một lần nữa vẻ hướng Roubachof. Chắc chắn hắn không thấy Roubachof vì cái cửa sổ ấy, từ sân nhìn lên chắc phải thấy tối đen; nhưng hai mắt anh ta dán vào cửa sổ như đang tìm kiếm vật gì. “Tôi thấy anh mà không biết anh là ai; anh không thấy tôi nhưng hẳn anh biết tôi”, Roubachof tự nói với minh. Ông ngồi lên giường và hỏi người ở phòng sổ 402 :
- Những người đi dạo là ai?
Ông tưởng tượng rằng số 402 phật lòng sẽ không trả lời. Nhưng viên sĩ quan tỏ vẻ không hờn giận lâu; hắn trả lời ngay :
- Tù chánh trị.
Roubachof ngạc nhiên; ông tưởng người gầy còm sứt môi là một thường phạm trọng tội.
- Cùng loại với ông hả? - Roubachof hỏi.
- Không - Với ông. - Số 402 gõ, có lẽ với một nụ cười hài lòng. Câu tiếp theo âm vang hơn, có lẽ được gõ bằng kiếng một tròng.
- Sứt môi, người láng giềng của tôi số 400, đã bị tra tấn hôm qua.
Roubachof yên lặng độ một phút và chùi kiếng vào tay áo, dẫu ông chỉ dùng nó để gõ. Thoạt tiên ông muốn hỏi “tại sao?”, nhưng ông gõ :
- Bị tra cách nào?
402 đánh cộc lốc :
- Tắm hơi.
Roubachof đã từng bị đánh đập nhiều lần trong thời kỳ ở tù vừa qua, nhưng phương pháp này, ông chỉ nghe nói thôi. Do kinh nghiệm, ông biết rằng tất cả sự đau đớn thể xác đều chịu đựng được; nếu ta biết trước những gì xảy đến cho ta, thì ta chịu đựng được như một cuộc giải phẫu - thí dụ như nhổ một cái răng. Chỉ có mù mờ không biết trước mới thiệt là tệ hại; ta không một hy vọng nào đoán được trước phản ứng của ta, và không cho ta một tỷ lệ nào để đo lường khả năng chịu đựng của ta. Tai hại nhứt là sự sợ nói hay sợ làm một điều gì không thể cứu vãn được.
- Tại sao? - Roubachof hỏi.
- Khác biệt chánh kiến. - Người số 402 gõ với giọng mỉa mai.
Roubachof mang kiếng vào và tìm bao thuốc trong túi. Rồi ông gõ :
- Còn ông, mạnh giỏi thế nào?
- Mạnh luôn, cám ơn. - Số 402 gõ, rồi bỏ câu chuyện.
Roubachof nhún vai; ông đốt điếu thuốc áp chót rồi đi giong dài trở lại. Chuyện lạ lùng, những gì đang chờ đợi ông lại làm cho ông gần như vui thích, ông không buồn vẩn vơ nữa, cảm thấy đầu óc sáng sủa hơn, tinh thần linh hoạt hơn. Ông tới bồn rửa mặt, tay và ngực bằng nước lạnh, súc miệng rồi lau bằng khăn tay. Ông hút gió một đoạn nhạc và mỉm cười - ông hút gió sai nhạc một cách thảm hại, và chỉ cách đó mấy hôm có kẻ nói với ông: “Nếu Người số I là nhạc sĩ, có lẽ từ lâu ông đã tìm một lý do để xử bắn anh rồi”.
- Ông ta sẽ tìm được một lý do, ông trả lời song không tin tưởng chuyện sẽ xảy ra như vậy.
Ông đốt điếu thuốc cuối cùng và đầu óc minh mẫn, ông bắt đầu chuẩn bị một đường lối phải theo khi bị thẩm vấn. Khi còn đi học, bao giờ ông cũng bình tĩnh tự tin mỗi khi sắp phải qua một kỳ ghi đặc biệt khó khăn. Ông hồi tưởng lại tất cả những gì ông biết về đề tài “Tắm hơi”. Ông tưởng tượng chi tiết của tình trạng đó và cố gắng phân tách những cảm giác thể xác mà người ta có thể chờ đợi, hầu loại bỏ tất cả tính cách siêu nhiên của nó. Điều quan trọng là đừng để mình rơi vào trạng huống bất ngờ. Hiện thời ông tin chắc những kẻ sắp tra khảo ông sẽ không đạt được mục tiêu mong muốn; ngoài kia, những kẻ ấy chưa tới. Ông biết ông sẽ không nói điều gì không cứu vãn được. Phải chi họ có thể bắt đău sớm sớm.
Giấc mơ lại đến trong đầu ông: Richard và người tài xế tắc xi già đuổi theo ông vì họ cảm thấy bị ông lừa đảo và phản bội.
“Tôi sẽ trả tiền cuốc tắc xi”, ông nói với mình và mỉm cười ngượng ngập. Điếu thuốc cháy sắp hết làm nóng đầu ngón tay, ông buông nó xuống. Ông toan đùng chân dập tắt, nhưng lại thôi, cúi xuống lượm tàn thuốc dí chầm chậm đầu cháy đỏ vào lưng bàn tay, giữa hai lằn gân xanh ngoằn ngoèo. Ông kéo dài động tác ấy đúng nửa phút mà ông đo bằng kim chỉ giây của chiếc đồng hồ tay. Ông rất bằng lòng: bàn tay ông không rụt lại một lần nào trong ba mươi giây ấy. Ông trở lại cuộc đi bách bộ.
Con mắt quan sát ông từ nhiều phút qua rút khỏi lỗ dòm.
11.
Đoàn người phát bữa ăn trưa đi qua trong hành lang; lần này, xà lim của Roubachof cũng bị bỏ quên. Ông không muốn tự hạ mình nhìn qua lỗ dòm; vì vậy, ông không biết bữa ăn gồm những món gì; những mùi đồ ăn len vào đây phòng, nghe cũng ngon.
Ông cảm thấy thèm hút thuốc dữ dội. Phải tìm thuốc lá bằng cách này hay cách khác, để có thể tập trung tư tưởng; thuốc lá còn quan trọng hơn là ăn nữa. Ông chờ nửa giờ sau khi phân phối bữa ăn, rồi bắt đầu đập vào cửa. Mười lăm phút sau mới nghe tiếng giày cũ rách của viên ngục tốt già.
- Ông muốn gì? - Lão ta hỏi với giọng khó chịu.
- Đi tới câu lạc bộ kiếm thuốc lá cho tôi. - Roubachof nói.
- Ông có phiếu mua hàng không?
- Khi tôi tới đây, người ta lấy tiền của tôi hết rồi. - Roubachof trả lời.
- Nếu vậy phải chờ đổi tiền thành phiếu.
- Bao giờ xong chuyện đó trong cái khám kiểu mẫu của mấy người? - Roubachof hỏi.
- Ông có thể viết đơn khiếu nại. - Lão già nói.
- Ông biết rằng tôi không có giấy viết gì hết. - Roubachof nói.
- Muốn có giấy viết, phải có phiếu. - Ngục tốt bảo.
Roubachof cảm thấy cơn giận nổi lên; một sự ngăn tức quen thuộc dâng lên trong lồng ngực và hơi nghẹn chận ở cổ họng; nhưng ông cố gắng nén xuống. Lão già thấy đồng tử của Roubachof sáng lên một cách nghiêm khắc sau cái kiếng kẹp mũi; lão nhớ tới những bức tranh màu của Roubachof trong bộ đồng phục mà xưa kia người ta thấy khắp nơi; ông mỉm cười hóm hỉnh nhưng già yếu và lùi một bước.
- Thiệt là cái quân đồ bỏ. - Roubachof nói chầm chậm vừa quay lưng lại hẳn và đi về phía cửa sổ.
- Tôi báo cáo rằng ông mắng tôi. - Lão già nói sau lưng ông, và cánh cửa đóng sầm lại.
Roubachof chùi kiếng vào tay áo và chờ đợi hơi thở của mình trở lại bình thường. Ông cần thuốc hút, bằng không là không chịu nổi. Ông gắng gượng chờ mười phút. Kế đó, ông gõ vào tường của số 402.
- Ông có thuốc lá không?
Yên lặng một lúc, câu trả lời mới tới, rõ ràng và phân biệt từng tiếng :
- Không phải để cho anh.
Roubachof chẫm rãi trở lại cửa sổ. Ông thấy viên sĩ quan trẻ với bộ râu mép nhỏ, mang kiếng một tròng, mặt nhăn nhó một cách ngu đần nhìn trân trân vào bức tường ngăn cách hai người; sau chiếc kiếng một tròng con mắt đờ đẫn, mí mắt đỏ hoét mở thau láu. Anh ta nghĩ gì trong đầu? Chắc hẳn hắn nghĩ “Cho anh một bài học”. Hoặc “Đồ súc sanh, mầy đã bắn bao nhiêu người thuộc phe chúng tao rồi?”
Roubachof nhìn tường vôi; ông cảm thấy nguời kia đứng sau tường, mặt quay sang ông; ông tưởng như nghe hắn thở gấp. Ừ, bọn bây đã bị tao hành hình bao nhiêu người rồi, tao tự hỏi như vậy? Thật sự ông cũng không nhớ rõ. Từ lâu, lâu lắm rồi, trong cuộc Nội chiến. Ông đã cho hành quyết vào khoảng từ bảy chục tới một trăm. Rồi sao nữa? Có gì thắc mắc đâu; việc ấy diễn ra trên một bình diện khác hẳn vụ Richard, và ông sẵn sàng làm trở lại ngày nay. Dẫu hồi đó ông biết trước cuộc cách mạng chót hết sẽ đưa Người số I lên chánh quyền, ông cũng vẫn làm như vậy.
“Với mày, - Roubachof tự nói vừa nhìn bức tường vôi sau đó kẻ kia đang đứng, và có lẽ đã đốt một điếu thuốc rồi phà khói vào vách - với mày, tao không có việc gì phải thanh toán. Tao cũng chẳng thiếu mày cuốc xe nào. Giữa mày và tao, không có một điểm liên hệ nào cả, về tiền tệ cũng như về ngôn từ... Cái gì? Mày muốn gì bây giờ đây?”
Số 402 lại gõ. Roubachof trở lại bên tường, ông nghe :
- Gởi thuốc lá cho ông đây.
Kế đó, ông nghe hắn đập cửa nhè nhẹ để cho ngục tốt chú ý.
Roubachof nín thở; vài phút sau, ông nghe tiếng chân kéo xà lết của viên ngục tốt già. Hắn không mở cửa phòng số 402, nhưng hỏi qua cái lỗ nhỏ :
- Ông muốn gì?
Roubachof không nghe câu trả lời; ông rất muốn nghe giọng nói của số 402. Kế đó, lão già nói khá to để Roubachof nghe :
- Việc đó không được phép; nó trái với quy lệ.
Lần này, Roubachof cũng chằng nghe câu đáp. Rồi viên ngục tốt nói :
- Tôi sẽ báo cáo ông về lời lẽ nhục mạ tôi.
Lão kéo lê đôi giày rách trên nền gạch rồi tiếng chân mất hút ở cuối hành lang.
Yên lặng một lúc. Sau đó, số 402 gõ :
- Không may cho ông.
Roubachof không trả lời. Ông đi đi lại lại, cơn thèm thuốc lá như nung đốt cổ họng khô khan. Ông nghĩ đến số 402. “Nhưng dầu sao, tao cũng sẵn sàng cho hành hình chúng bây trở lại, nếu cần, ông nói to lên. Đó là hành động cần thiết và đúng. Có thể tao thiếu mày một cuốc xe. Đâu có ai hối hận về những hành động đúng và cần thiết?”
Cổ ông càng lúc càng khô. Ông thấy nặng đầu; ông đi đi lại lại không ngừng, và càng nghĩ ngợi, môi ông càng rung động.
Có cần phải đền bồi những hành động được chứng minh là chánh đáng không? Có một tiêu chuẩn nào khác hơn lý lẽ không?
Món nợ về một hành động đúng phải chắng là món nợ nặng nhứt nếu được đặt lên cán cân khác kia chăng? Món nợ của ông phải chăng được tính bằng hai, chỉ vì những kẻ khác không biết họ làm những gì?...
Roubachof ngừng lại ở miếng gạch đen thứ ba kể từ cửa sổ.
Ông mắc chứng gì vậy? Một cơn gió điên loạn tôn giáo chăng? Ông nhận thấy từ nhiều phút qua ông nói lầm thầm với chính mình. Và ngay bây giờ, ông cũng cảm thấy môi ông, ngoài ý muốn của ông, động đậy đẻ nói :
- Tôi sẽ trả.
Lần thứ nhất từ khi bị bắt, Roubachof sợ. Ông tìm thuốc lá, nhưng không còn nữa.
Ông lại nghe những tiếng gõ nhỏ và rõ ràng vào từng khoảng trên giường. Số 402 đánh tin cho ông :
- Thằng sứt môi gởi lời chào ông.
Ông thấy lại gương mặt vàng ẻo quay về hướng ông: tin ấy làm ông khó chịu. Ông gõ :
- Hắn tên gì?
Số 402 trả lời :
- Hắn không muốn nói tên. Nhưng hắn gởi lời chào ông.
12.
Trong buổi chiều, Roubachof cảm thấy càng bịnh hoạn hơn.
Ông bị những cơn rung từng chập. Cái răng cũng đau trở lại - răng chó hàm trên bên phải, dính liền với dây thần kinh thị giác. Ông không ăn chút gì từ khi bị bắt, nhưng những cơn lạnh run cầm cập làm ông rất khổ sở, hợp với sự ngứa ngáy nóng bỏng ở cổ họng ngăn ông lại. Tư tưởng của ông đu đưa giữa hai cực hấp lực: cực hình thèm muốn hút thuốc và câu: Tôi sẽ trả.
Những kỷ niệm vây bọc ông, làm ông ù cả tai. Những khuôn mặt, những giọng nói hiện ra rồi biến mất; mỗi khi ông toan giữ chúng lại thì chúng làm ông đau khổ; cả một dĩ vãng trở thành chông gai, mụn nhọt, đụng đến là đau tay, là vấy mủ. Dĩ vãng của ông là Phong trào, là Đảng; hiện tại và tương lai của ông cũng thuộc về Đảng; nhưng dĩ vãng, chính là Đảng đó. Và cũng cái dĩ vãng bỗng nhiên được đặt thành vấn đề. Thể xác nóng hổi và sống động của Đảng trước mắt ông hình như đầy vết thương - những vết ung độc rướm máu. Không còn đâu được trong lịch sử những đấng thánh thần bệnh hoạn như vậy. Chưa bao giờ một chánh nghĩa lại được tượng trưng tệ hại như vậy. Nếu Đảng là hiện thân ý chí của lịch sử, thì chính lịch sử đã bịnh hoạn.
Roubachof nhìn những vết thấm ướt trên tường. Ông kéo cái mền trên giường trùm vai; ông tăng gia tốc độ, đi tới đi lui với những bước ngắn mà mau, quay mình lại thật nhanh khi tới cửa hay cửa sổ, nhưng những cơn lạnh run vẫn tiếp tục luồn dài xuống xương sống. Tai vẫn ù và có những giọng mơ hồ pha lẫn với những giọng chát chúa mà ông không phân biệt được từ hành lang bay vào hay chính ông bị ám ảnh. “Chính dây thần kinh thị giác, ông tự bảo; đó là do cái chân răng chó bị gãy. Tôi sẽ nói chuyện ấy với bác sĩ ngày mai, nhưng trong khi chờ đợi, tôi còn nhiều việc phải làm. Ta phải tìm nguyên do những sự suy nhược của Đảng. Tất cả các nguyên tắc đều hay mà kết quả lại tệ hại. Thế kỷ này bịnh hoạn. Chúng ta đã bắt mạch sự tệ hại ấy và những nguyên do với một sự chính xác tinh vi, nhưng bất cứ nơi nào ta đặt dao mổ xuống, là một ung nhọt lại hiện ra. Ý chí của ta thuần khiết và nghiêm minh, đáng lý ta phải được dân thương. Nhưng dân lại ghét chúng ta. Tại sao chúng ta trở thành khả ố và bị thù ghét?
Chúng ta mang đến cho dân sự thật, thế mà trong miệng ta nó lại có vẻ là sự dối trá. Chúng ta mang đến cho dân tự do, vậy mà trong tay ta nó giống như con roi. Chúng ta mang đến cho dân một đời sống thật sự, vậy mà nơi nào ta cất tiếng là cây cối khô cằn và người ta nghe tiếng lá rụng. Chúng ta mang đến cho dân lời hứa hẹn về tương lai, nhưng lưỡi ta lại cà lăm và phát ra tiếng ẳng ẳng...”
Ông rùng mình. Một hình ảnh hiện trong đầu ông, một bức ảnh to trong khuôn gỗ: các đại biểu của Đại hội đồng Đảng đầu tiên. Họ họp chung quanh một chiếc bàn dài bằng cây, có những người chống cùi chỏ lên bàn, những người khác đặt tay lên đầu gối; râu rậm và tin tưởng, họ nhìn ống ảnh. Phía trên đầu mỗi người có một vòng tròn bao quanh một con số đối ứng vơi một cái tên in ở dưới. Tất cả đều có vẻ trịnh trọng, chỉ có cụ già nhỏ thó chủ tọa có trong đôi mắt hí của người Hung Nô một cái gì hóm hỉnh và thích thú. Roubachof là người thứ hai ở bên phải cụ, mang kiếng kẹp trên mũi. Người số I, nặng nề và thẳng tính, ở khoảng gần đầu bàn phía dưới. Người ta có thể bảo đó là buổi họp của một hội đồng tỉnh nào đó, tuy nhiên, chính những người ấy đã chuẩn bị một cuộc cách mạng vĩ đại nhứt trong lịch sử nhân loại. Họ lúc ấy chỉ là một nhóm nhỏ thuộc hạng mới mẻ: những triết gia tranh đấu. Họ biết cả các nhà tù Âu châu như những tay chào hàng biết các khách sạn. Họ mơ chánh quyền, mục đích của họ là tiêu diệt chánh quyền, là cai trị các dân tộc hầu chấm dứt thói quen để cho người khác cai trị mình. Tất cả những tư tưởng của họ đều được diễn dịch thành hành động, và tất cả mơ ước của họ đều được thể hiện. Họ hiện giờ ở đâu? Những khối óc đã thay đổi tiến trình thế giới, đã lãnh mỗi người một viên đạn. Kẻ thì ở trán, kẻ thì ở ót. Chỉ còn vài ba người, rải rác khắp thế giới, kiệt lực. Và hắn: Người số I.
Ông bị lạnh cóng và thèm hút thuốc thật dữ dội. Ông thấy mình trở lại hải cảng cũ kỹ ở Bỉ, cùng đi với một người mà ông gọi là chú bé Loewy. Loewy tánh vui vẻ, hơi có tật và hay ngậm ống vố thủy thủ. Hắn nặc mùi hải cảng, cái mùi do sự pha trộn của mùi rong biển hư thúi và mùi dầu hỏa; ông nghe tiếng chuông từ lầu chuông xưa cũ của Tòa thị sảnh; và thấy lại những con đường hẻm hẹp có những cửa sổ lồi ra, và trên lưới rào của những cửa sổ đó, mấy cô gái đĩ trong hải cảng phơi quần áo suốt ngày. Chuyện xảy ra hai năm sau vụ Richard. Người ta không có bằng chứng gì để kết tội ông. Ông không khai gì cả dưới những trận đòn của họ, dẫu họ đã đánh ông gãy hết cái răng này đến cái răng khác, và dậm nát kiếng mắt ông dưới gót giày cao cổ. Ông lặng im, chối tất cả và lạnh lùng nói láo một cách dụng tâm. Ông đã đi đi lại lại trong xà lim, và bò bốn cẳng trên nền đá của khám tối kỷ luật; và khi người ta xối nước vào ông để ông tỉnh lại, là ông mò mẫm tìm điếu thuốc rồi tiếp tục nói láo nữa. Thời ấy, ông không ngạc nhiên trước sự thù ghét của những kẻ tra tấn ông và ông tự hỏi tại sao họ lại thấy ông đáng ghét. Cả bộ máy tư pháp của nền độc tài đều nghiến răng, nhưng họ cũng chẳng tìm được bằng chứng gì về ông. Sau khi phóng thích ông, họ đuổi ông về nước - tổ quốc của cách mạng. Người ta tổ chức nào là tiếp tân, met-ting hoan hỉ và duyệt binh. Chính Người số I cũng đã xuất hiện bên ông nhiều lần trước công chúng.
Đã nhiều năm ông chưa trở về quê hương, và ông nhận thấy có nhiều điều thay đổi. Phân nửa số người rậm râu trong bức ảnh không còn nữa. Không ai được nhắc tên tuổi họ, hay có nhắc cũng chỉ để nói xấu - trừ cụ già nhỏ thó có đôi mắt của người Hung Nô, vị lãnh tụ trước kia, đã chết đúng lúc. Người ta sùng bái cụ như Đức Chúa Cha, còn Người số I như Đức Chúa Con; nhưng người ta xầm xì khắp nơi rằng Người số I đã làm chúc ngôn giả của cụ già để trở thành kẻ thừa hưởng của cụ. Nhiều người rậm râu trong bức ảnh cũ kỹ dẫu còn sống cũng không nhìn ra được. Họ cạo râu nhẵn nhụi, kiệt lực và đã tỉnh ngộ, đầy âu sầu. Thỉnh thoảng, Người số I vươn tay dài hạ một nạn nhân mới trong bọn họ. Thế là họ đập ngực thình thịch và đồng thanh sám hối tội lỗi. Mười lăm ngày sau, dầu hãy còn chống cặp nạng khi xê dịch, Roubachof cũng xin một sứ mạng mới ở hải ngoại. “Ông có vẻ gấp quá vậy”, Người số I nói, vừa nhìn tận mặt ông xuyên qua làn khói thuốc. Đã hai mươi năm qua hai người đứng đầu Đảng và họ luôn luôn gọi nhau bằng “ông”. Trên đầu Người số I có treo bức ảnh của cụ già nhỏ thó; bên cạnh đó trước kia là bức ảnh mà mỗi đầu người đều có đánh số, nhưng bức ảnh đó không còn nữa. Cuộc hội hội đàm chỉ có mấy phút, nhưng khi ông từ giã, Người số I đã siết tay ông thật lâu một cách đặc biệt. Sau đó, Roubachof đã suy nghĩ rất lâu về ý nghĩa của cái bắt tay đó, cũng như về sự mỉa mai kỳ lạ của cái nhìn đồng lõa mà Người số I đã ném cho ông qua đám mây khói thuốc. Rồi Roubachof đi ra trên cặp nạng; Người số I không đưa ông ra cửa. Hôm sau, ông đi Bỉ.
Trên tàu, ông hơi bình tĩnh trở lại và nghiền ngẫm về sứ mạng của ông. Chú bé Loewy, với cái ống vố thủy thủ, đến đón tiếp ông. Hắn là trưởng khu phu bến tàu tại đây. Roubachof có cảm tình ngay với hắn. Hắn hướng dẫn Roubachof viếng các vũng tàu đậu, đưa ông đi trên những con đường ngoằn ngoèo trong hải cảng một cách hãnh diện như chính hắn đã kiến thiết tất cả vùng này. Trong mỗi tửu quán, hắn quen rất nhiều người, nào là phu dỡ hàng, thủy thủ và đĩ điếm; đâu đâu, người ta cũng mời hắn uống rượu và hắn chào trả lễ bằng cách nâng cái ống vố đến tận mang tai. Cả nhân viên cảnh sát chỉ huy lưu thông tại công trường trước chợ cũng nháy mắt chào lúc hắn đi qua, và các bạn hữu thủy thủ của những tàu ngoại quốc, vì bất đồng ngôn ngữ không nói chuyện được, cũng vỗ thân mật trên cái bướu của hắn. Thấy vậy, Roubachof không khỏi ngạc nhiên hài lòng. Không, chú bé Loewy không khả ố cũng không đáng ghét. Khu phu bến tàu tại thành phố này đối với thế giới là một trong những khu khéo tổ chức nhứt của Đảng.
Tối lại, Roubachof, chú bé Loewy và hai người nữa trong một quán rượu ở hải cảng. Một người tên Paul cũng đến với bọn họ; hắn là thơ ký hành chánh của khu, một cựu đô vật, sói đầu, mặt rỗ hoa mè, có hai lỗ tai vễnh ra. Bên trong chiếc áo vét-tông, hắn mặc áo len đen thủy thủ, và hắn có một cái nón trái dưa đen. Hắn có tài nhúc nhích lỗ tai đến nỗi hất được chiếc nón khỏi đầu cho rơi xuống. Một người cùng đi với hắn tên Bill; cựu thủy thủ đã viết một quyển tiểu thuyết về đời thủy thủ, từng được một năm nổi tiếng trước khi rơi vào quên lãng, và hiện thời hắn viết bài cho các nhựt báo ở Paris. Những người khác toàn là phu dỡ hàng, lực lưỡng và uống rượu rất dữ. Người vào không ngừng, ngồi hay đứng gần bàn, trả một “tuộc-nê” rồi chếnh choáng đi ra. Người chủ quán to con ngồi vào bàn của họ mỗi khi hắn rỗi rảnh được một lát. Hắn chơi kèn. Mọi người uống như hũ chìm.
Chú bé Loewy giới thiệu Roubachof là “một đòng chí từ bên kia” và không lời phê bình nào. Loewy biết ông là ai. Những người ngồi ở bàn, thấy Roubachof không có vẻ thích nói chuyện hoặc có những lý lẽ nào đó nên ra vẻ như vậy, cũng không đặt nhiều câu hỏi; và những câu hỏi họ đưa ra liên quan đến những điều kiện sinh sống ở “bên kia”; lương bổng, vấn đề nông nghiệp, sự khuếch trương kỹ nghệ. Những gì họ nói tỏ ra họ hiểu biết một cách đáng ngạc nhiên về những chi tiết kinh tế, và một sự dốt nát cũng đáng ngạc nhiên về tình hình tổng quát và không khí chánh trị ở “bên kia”. Họ hỏi thăm về sự bành trướng sản xuất trong kỹ nghệ kim khí nhẹ, như trẻ con hỏi thăm độ to chính xác của những quả nho Chanaan. Một lão phu bến già, đứng khá lâu gần quầy mà không gọi thức uống nào cả, đến khi chú bé Loewy mời lão uống một ly, lão mới nói với Roubachof sau khi bắt tay ông: “Ông giống cha già Roubachof quá”. “Nhiều người cũng nói như vậy”, Roubachof trả lời: “Quả là một cái tượng của cha già Roubachof”, lão phu bến nói vừa uống cạn ly. Ông được phóng thích chưa đầy một tháng, và biết mình còn sống chưa quá sáu tuần lễ; người chủ quán to lớn thổi kèn. Roubachof đốt một điếu thuốc rồi gọi rượu. Họ uống chúc thọ ông và nhân dân “bên kia”, còn Paul, thơ ký, thì đỡ chiếc nón quả dưa của anh bằng hai vành tai.
Sau đó, Roubachof và chú bé Loewy ngồi rất khuya trong một quán rượu ở hải cảng. Chủ quán buông sáo xuống và chồng ghế lên bàn, rồi tựa vào quầy mà ngủ. Chú bé Loewy kể với Roubachof cuộc đời của hắn. Roubachof không hề hỏi hắn và ông tiên đoán ngay những chuyện phức tạp xảy ra mai kia mốt nọ: không phải lỗi tại ông nếu các đồng chí cảm thấy bị thúc đẩy tâm tình với ông. Quả thật ông có ý muốn đi khỏi nơi này, nhưng bỗng nhiên ông cảm thấy thật mệt mỏi - phải nhìn nhận ông đã đánh giá quá cao sức lực của ông; vì vậy ông ở lại nghe.
Chú bé Loewy gốc gác không phải ở xử này, mặc dầu hắn nói ngôn ngữ tại đây như hắn vẫn ở chốn này từ trước đến nay và quen biết tất cả mọi người. Sự thật, hắn sanh trưởng ở một tỉnh miền Nam Đức quốc, và học nghề thợ mộc; chủ nhựt, hắn chơi đàn ghi-ta và thuyết trình về học thuyết Darwin cho các du khách của câu lạc bộ thanh niên thợ thuyền cách mạng. Trong những tháng dao động trước khi chế độ độc tài nắm chánh quyền, khi Đảng cần gấp khí giới, một cú táo bạo được thi hành trong thành phố: một chiều chủ nhựt, năm súng trường, hai mươi súng lục, và hai tiểu liên bị đưa lên một xe cam nhông chuyên dọn nhà từ một bót cảnh sát trong một khu phố tấp nập nhứt. Những người trên xe hàng đã xuất trình một bút lịnh đầy những con dấu chánh thức; trong bọn họ có hai người tự xưng là cảnh sát viên mang đồng phục chính cống. Số khí giới ấy sau đó bị khám phá tại một thành phố khác trong cuộc khám xét xưởng sửa xe của một đảng viên.
Vụ ấy chưa bao giờ ra ánh sáng một cách rõ ràng thì ngày sau đó, chú bé Loewy bỏ thành phố ra đi. Đảng hứa cung cấp cho hắn một chiếu khán và giấy căn cước, nhưng những trù liệu không có kết quả. Nghĩa là sứ giả của giới cao cấp trong đảng có bổn phận mang chiếu khán và lộ phí đã không đến nơi hẹn.
- Cũng những vụ tréo cẳng ngỏng đó xảy ra hoài trong đảng ta. - Chú bé Loewy tiếp với một giọng triết nhân. Roubachof không nói gì.
Tuy vậy, chú bé Loewy vẫn thoát được và cuối cùng vượt qua biên giới. Vì có trát câu lưu và ảnh hắn với cái vai mang bướu được dán ở các bót cảnh sát, hắn phải đi lang thang mấy tháng ngoài đồng bằng. Khi hắn đi đón đồng chí ở cấp “thượng từng”, trong túi hắn chỉ có tiền đủ xài ba ngày. “Trước kia tôi tưởng chỉ trong sách mới có những người nhai vỏ cây - Hắn nói - Chỉ có những cây Dương ngô đồng non là ngon hết thảy”. Kỷ niệm ấy thúc đẩy anh đứng lên lấy hai khúc xúc xích trên quầy. Roubachof nhớ tới xúp trong tù và các cuộc tuyệt thực, nên ăn với hắn.
Cuối cùng, chú bé Loewy qua biên giới Pháp. Vì không chiếu khán, mấy ngày sau hắn bị bắt; họ bảo hắn đi xứ khác rồi thả hắn ra. “Chẳng khác nào họ bảo tôi leo lên tận mặt trăng”, hắn đưa ra nhận xét. Hắn kêu gọi sự giúp đỡ của Đảng; nhưng tại xứ này, Đảng không biết hắn và trả lời rằng phải điều tra tại quốc gia nơi hắn được sanh ra. Hắn tiếp tục đi lang thang; mấy ngày sau, hắn bị bắt và kết án ba tháng tù ở. Hắn vào tù và làm một loạt thuyết trình cho một bạn cùng xà-lim, vốn là một người đầu đường xó chợ, về những quyết nghị của Đại hội đồng đảng vừa rồi. Đổi lại, con người lang thang ấy dạy hắn bí quyết kiếm ăn mỗi ngày bắt cách bắt mèo để bán da. Ba tháng trôi qua, một đêm nọ, người ta đưa hắn tới một cánh rừng trên biên giới Bỉ. Những anh hiến binh cho hắn bánh mì, phó mát cùng một gói thuốc lá Pháp. Họ bảo hắn: “Đi thẳng. Trong nửa giờ, anh sẽ tới Bỉ quốc. Nếu anh bị bắt lại nơi này, người ta sẽ đập anh vỡ mồm”.
Trong nhiều tuần lễ, chú bé Loewy đi vẩn vơ trên đất Bỉ. Hắn lại tìm đến Đảng, nhưng người ta nói y như ở Pháp. Vì hắn đã chán cây dương ngô đồng, nên làm thử nghề buôn mèo. Bắt mèo cũng dễ, và hắn đổi một da mèo trẻ không có ghẻ lấy được nửa ổ bánh mì tròn và một gói thuốc lá Pháp. Giữa việc bắt mèo và nhận bánh mì, có một nghiệp vụ tương đối không mấy thích thú lắm. Mau hơn cả là tay này nắm hai vành tai mèo, tay kia nắm đuôi rồi kê vào đầu gối bẻ cái rốp gãy lọi xương sống. Ban đầu, việc ấy làm ta phát nhợn; rồi lần lần quen đi. Khốn thay, chú bé Loewy bị bắt vài tuần sau đó, vì ở Bỉ cũng phải có đủ giấy tờ tùy thân. Thế là một cuộc diễn tiến xảy ra theo thứ tự thời gian, trục xuất, khoan hồng, bắt lần thứ hai, tù. Một tối đẹp trời, hai hiến binh Bỉ đưa hắn tới một khu rừng sát biên giới Pháp. Họ cho hắn bánh mì, phó mát với một gói thuốc lá Bỉ. “Đi thẳng - Họ bảo hắn - Trong nửa giờ anh sẽ tới đất Pháp. Nếu anh bị bắt lại nơi đây, họ sẽ đập anh vỡ mồm”.
Suốt năm kế đó, chú bé Loewy vượt biên lậu ba lần, với sư đồng lõa khi thì của các nhà cầm quyền Pháp, khi thì của các nhà cầm quyền Bỉ. Hắn cho rằng trò ấy đã diễn ra bao nhiêu năm rồi với mấy trăm người cùng loại với hắn. Hắn tiếp xúc không biết bao nhiêu lần với Đảng, vì mối lo ngại quan trọng nhứt của hắn là không để mất liên lạc với phong trào. “Chúng tôi không được tổ chức của anh báo trước việc anh tới đây, Đảng nói với hắn. Chúng tôi phải chờ kết quả cuộc điều tra. Nếu anh là đảng viên, anh phải trọng kỷ luật Đảng”. Trong khi chờ đợi, chú bé Loewy lo buôn bán mèo và cứ bị xua đuổi từ biên giới này sang biên giới khác. Hơn nữa, nền độc tài đã chiến thắng ở nước anh. Một năm nữa lại trôi qua và chú bé Loewy, chịu ảnh hưởng của những cuộc ngao du bất đắc dĩ đó, bắt đầu khạt ra máu và mơ mộng thấy mèo. Anh bị ám ảnh rằng cái gì cũng hôi mèo, đồ ăn, cái ống điếu, và cả những gái đĩ già tốt bụng đã thỉnh thoảng nuôi anh. “Vẫn không có trả lời về việc chúng tôi thăm dò tin tức”, Đảng nói. Lại một năm nữa, và có lẽ các đồng chí có thể cung cấp tài liệu về hắn hoặc đã bị ám sát, hoặc đang ở tù, hoặc đã mất tích.
- Chúng tôi rất tiếc, nhưng chúng tôi không thể làm gì được cho anh, Đảng nói. Đáng lý ra anh không nên tới mà chẳng chánh thức báo tin cho chúng tôi biết trước. Chính anh cũng không nên vắng mặt mà không được Đảng cho phép. Làm sao chúng tôi biết được? Có quá nhiều điệp viên và bọn người chuyên viên khích động toan len lỏi vào hàng ngũ ta. Đảng có bổn phận phải thận trọng.
- Tại sao anh kể cho tôi nghe tất cả những chuyện đó? - Roubachof hỏi. Phải chi ông đi trước thì hơn...
Người mà ông gọi là “chú bé Loewy” mở vòi vặn cho y một ly bia, rồi chào với cái ống vố.
- Bởi vì rất hữu ích- Hắn nói - Bởi vì đó là một thí dụ điển hình. Tôi có thể cung cấp cho đồng chí hằng trăm chuyện như vậy. Trong nhiều năm qua, những đồng chí lỗi lạc của chúng ta đã bị tan nát vì thế. Mỗi ngày đảng đã hủ hóa thêm. Đảng bị bịnh thống phong và sưng tỉnh mạch khắp tứ chi. Người ta không thể làm cách mạng như vậy được.
“Tôi có thể nói nhiều về chuyện đó”, Roubachof nghĩ, nhưng ông lặng im.
Tuy nhiên, câu chuyện của chú bé Loewy đi đến một ngõ thoát may mắn một cách bất ngờ. Trong khi thụ hình hết án này đến án khác, có lần nọ hắn ở chung xà lim với Paul, cựu đô vật. Paul lúc ấy là phu bến; hắn ngồi tù vi trong một cuộc đình công bạo động, hắn đã nhớ tới nghề xưa: hắn đã cho một cảnh sát viên nếm hai cái cúi đầu cưỡng bách tên là Nelson. Cú ấy được thi thố bằng cách luồn hai tay mình dưới nách đối phương, rồi đan hai bàn tay mình sau ót địch, buộc y phải cúi đầu cho đến khi xương cổ của y kêu răn rắc. Hắn được bạn hữu bao quanh đó vỗ tay hoan nghinh nhiệt liệt, nhưng sau đó, hắn cũng hiểu rằng trong cuộc đấu tranh giai cấp, cú Nelson đúp không phải là ngón đòn hay. Chú bé Loewy và Paul đô vật trở thành đôi bạn thân. Paul là thơ ký phụ trách hành chánh ở khu phu bến của Đảng; khi cả hai ra khỏi khám đường, Paul cày cục giúp Loewy giấy tờ và công ăn việc làm, đồng thời đưa hắn trở lại Đảng. Thế là chú bé Loewy có thể làm lại những cuộc thuyết trình về thuyết Darwin và về Đại hội đồng mới nhứt của Đảng trước các phu bến tàu, như chẳng có việc gì xảy ra. Hắn rất hài lòng, quên những con mèo và quên cả sự giận hờn của hắn đối với những kẻ cạo giấy của Đảng. Sáu tháng sau, hắn trở thành thơ ký phụ trách chánh trị của khu bộ sở tại. Miễn là kết quả tốt là kể như tốt từ đầu chí đuôi...
Roubachof đã cảm thấy mệt mỏi và già nua, hết lòng mong mỏi cho câu chuyện xuôi thuận. Nhưng ông lại biết ông được gởi đến đây với sứ mạng nào, và chỉ có một đặc tính cách mạng mà ông không bao giờ học được, tức là không thành thật với chính mình. Ông yên lặng nhìn chú bé Loewy qua chiếc kiếng kẹp mũi của ông. Trong khi chú bé Loewy không hiểu được cái nhìn ấy, có hơi ngượng ngập nên mỉm cười chào với cái ống vố, Roubachof nghĩ đến mấy con mèo. Ông lo ngại nhận thấy khí lực mình suy nhược vì có lẽ uống nhiều rượu quá; ông cũng không xua đuổi được ám ảnh thấy mình bị bắt buộc phải nắm hai lỗ tai và hai chân của chú bé Loewy rồi kê vào đầu gối bẻ gãy xương sống lẫn cái bướu. Ông thấy muốn bịnh và đứng lên để đi khỏi nơi đây. Chú bé Loewy đưa ông tận nơi ngụ; hắn tưởng Roubachof bỗng nhiên suy nhược; và kính cẩn yên lặng. Một tuần lễ sau, chú bé Loewy treo cổ tự tử.
Từ buổi tối ấy đến cái chết của Loewy, tiểu tổ Đảng họp nhiều phiên cũng không bi tráng cho lắm. Sự việc cũng giản dị.
Hai năm trước đây, Đảng đã kêu gọi giới cần lao khắp thế giới đấu tranh chống nên độc tài vừa hình thành tại trung tâm Âu châu, và áp dụng đối với chế độ ấy một cuộc tẩy chay chánh trị lẫn kinh tế. Không nên mua hàng hóa xuất xứ từ nước địch, không để một kiện hàng nào được gởi đến tiếp tế cho kỹ nghệ chiến tranh rộng lớn của quốc gia đó. Các khu bộ của Đảng thi hành các chỉ thị ấy một cách nhiệt thành. Các phu bến tại hải cảng nhỏ ở Bỉ này từ chối bốc giở các tàu hàng từ nước ấy tới, hoặc sẽ đi tới nước đó. Nhiều nghiệp đoàn khác cũng hưởng ứng với họ. Cuộc đình công rất gay cấn; có nhiều cuộc xung đột với cảnh sát, nhiều người bị thương và chết. Kết quả cuộc tranh đấu hãy còn ngang ngửa thì một đoàn thương thuyền gồm năm tàu hàng đen, cũ kỹ một cách lạ lùng, tiến vào bến. Mỗi chiếc đều mang ở sau lái tên của một đại lãnh tụ Cách mạng, vẽ bằng thứ chữ lạ lùng đang dùng ở “bên kia”, và ở mũi tàu phất phới lá cờ Cách mạng. Dân đình công say sưa chào đón đoàn tàu ấy. Họ tức tốc giở hàng trên đoàn tàu ấy ngay. Vài giờ sau, họ mới phát giác ra rằng các kiện hàng gồm toàn một thứ kim khí ít có được gởi cho kỹ nghệ chiến tranh của quốc gia bị tẩy chay.
Khu bộ bến tàu của Đảng triệu tập ngay một buổi họp ủy ban; họ trao đổi quan điểm với nhau. Cuộc tranh luận lan rộng khắp nước trong các hệ thống của phong trào. Báo chí phản động khai thác biến cố để chế nhạo Đảng. Cảnh sát không còn tìm cách phá vỡ cuộc đình công nữa, tuyên bố đứng trung lập và để cho giới lao động bến tàu tự do quyết định giở hàng cho đoàn thuyền đen ấy hay không. Cấp chỉ huy Đảng bãi bỏ cuộc đình công và ra lịnh dỡ hàng. Cấp ấy đưa ra những lời giải thích hữu lý về đường lối của Quốc gia Cách mạng, viện dẫn những lý lẽ khéo léo, nhưng số người bị thuyết phục rất ít. Khu bộ tách ra làm hai; đa số những đảng viên cũ từ chức. Trong nhiều tháng, Đảng chỉ còn cái tên; nhưng lần lần, sự suy sụp kỹ nghệ trong nước tăng gia Đảng tìm lại được nhân tâm và uy lực.
Hai năm trôi qua. Tại miền Nam Âu châu, một nền độc tài tham lam khác mở một cuộc chiến tranh xâm lược. Lần này nữa, Đảng cũng yêu cầu tẩy chay. Phản ứng của giới cần lao lần này càng bồng bột hơn lần đầu nữa. Hơn nữa, kỳ này chính các chánh phủ của nhiều quốc gia trên thế giới cũng quyết định ngăn chận những nguồn cung cấp nguyên liệu đến với nước xâm lược.
Không nguyên liệu, nhứt là không có xăng, thì kẻ xâm lược nguy ngay. Chuyện đang diễn tiến đến đó thì đoàn thương thuyền đen lạ lùng bắt đầu lên đường. Chiếc to nhứt của đoàn thuyền này mang tên cụ già nhỏ thó có đôi mắt của dân Hung Nô; các cột cờ đều có mang cờ Cách mạng, và trong các khoang có chứa xăng cho nước xâm lược. Chỉ còn vài hôm nữa là đoàn tàu đến bến này, nhưng chú bé Loewy và các bạn của hắn chưa biết chuyện đó. Roubachof có sứ mạng chuẩn bị việc này.
Ngày đầu, ông không nói gì cả mà chỉ dọ dẫm đường đất. Ngày hôm sau một cuộc hội thảo mở ra tại phòng họp của Đảng.
Phòng này rộng lớn, trống trải và hỗn độn, như tất cả những văn phòng Đảng ở các nơi khác trên thế giới. Việc đó một phần do sự nghèo khổ, nhưng nhứt là do một truyền thống kham khổ ủ dột. Các vách tường được trang trí bằng những bích chương tranh cử, cũ kỹ, những biểu ngữ chánh trị và thông tri đánh máy. Trong một góc phòng là chiếc máy quây rô-nêo đóng bụi. Trong một góc khác có một đống quần áo cũ dành cho các gia đình của những người đình công; cạnh đó những chồng sách mỏng và truyền đơn vàng cháy. Chiếc bàn dài là hai tấm ván đặt song song trên hai cái giá kê. Các cửa sổ đều bôi sơn lem luốt như trong một ngôi nhà đang xây cất. Trên trần thòng xuống ngay bàn một bóng đèn điện, bèn cạnh là cái bẫy ruồi bằng giấy có keo dán. Hiện diện quanh bàn gồm có chú bé Loewy với cái bướu của hắn; Paul, cựu đô vật; Bill, nhà văn và ba người khác.
Roubachof nói rất lâu. Không khí này rất quen thuộc với ông; sự xoàng xĩnh của căn phòng làm ông thoải mái. Trong không khí này, ông nhận thức được sự cần thiết và tính cách hữu ích của sứ mạng mình và ông không hiểu vì sao ông lại bực bội trong quán cà-phê ồn ào hồi hôm. Ông giải thích một cách chủ quan nhưng không phải là thiếu nhiệt thành tình trạng hiện hữu của các sự kiện, không quên gián tiếp ám chỉ mục tiêu thật tế của chuyến viếng thăm này. Cuộc tẩy chay của thế giới đối với nước xăm lăng đã thất bại vì sự giả trá và tham lam của các chánh quyền Âu châu. Nhiều chánh phủ làm ra vẻ kính trọng cuộc tẩy chai, còn nhiều chánh phủ khác lại trắng trợn vi phạm. Kẻ xâm lược cần dùng dầu xăng. Trong quá khứ, quốc gia Cách mạng đã đảm nhiệm cung cấp một phần lớn nhiên liệu cho nước đó. Nếu bây giờ mình ngưng bán, các nước khác sẽ ùa nhau chen vô kẽ hở đó: họ không đòi hỏi gì hơn là xua đuổi Quốc gia Cách mạng khỏi thị trường quốc tế. Những cử chỉ lãng mạn kiểu đó sẽ làm hại kỹ nghệ “bên kia” và luôn cả phong trào cách mạng trên toàn thế giới.
Paul và ba người thợ kia gật đầu chấp nhận. Họ suy luận chậm chạp; những gì đồng chí từ “bên kia” tới nói ra đối với họ đều xác đáng; không phải là một cuộc thuyết trình về lý thuyết, chẳng có ảnh hưởng thật tế đến họ. Họ không thấy rõ điểm chính xác mà Roubachof muốn đạt tới; không một ai trong bọn họ ngờ rằng đoàn thương thuyền đang đến gần bến họ. Chỉ có chú bé Loewy vả văn sĩ trao đổi nhau một thoáng mắt. Roubachof thấy rõ thái độ họ. Ông chấm dứt với một giọng lạnh nhạt :
- Đó là tất cả những gì tôi muốn nói với các anh về vấn đề nguyên tắc. Các anh phải thi hành các định quyết của Trung ương Đảng và giải thích đầu đuôi vụ này cho các đồng chí yếu kém chánh trị hơn, vì ta phải thí dụ rằng trong số đó có những người còn ngờ vực. Hiện giờ, tôi không còn gì nói nữa.
Một phút yên lặng. Roubachof gỡ kiếng ra và đốt thuốc. Chú bé Loewy nói với một giọng bình thường :
- Chúng tôi xin cám ơn diễn giả. Có ai muốn đặt câu hỏi không?
Không ai hỏi gì cả. Một lúc sau, một trong ba người phu bóc hàng nói một cách vụng về :
- Không có gì quan trọng đáng thắc mắc. Các đồng chí bên kia biết rõ họ phải làm gì. Còn chúng tôi thì tự nhiên chúng tôi phải hoạt động cho cuộc tẩy chay. Đồng chí có thể tin cậy vào chúng tôi. Tại hải cảng của chúng tôi, không có một món gì được chuyển tới quân khốn nạn đâu.
Hai người bạn của hắn gật đầu tán thành. Paul đô vật xác nhận những lời nói đó: “Nhứt định rồi”; hắn
nói với một cái nhăn mặt gây hấn, rồi hắn lay động hai vành tai để làm mọi người cười.
Roubachof ban đầu tưởng mình ngồi trước một đám chống đối nổi loạn; lần lần ông hiểu ra rằng thật sự những người kia chưa hiểu rõ lời lẽ ông đưa ra. Nhưng chú bé Loewy nhìn xuống và im lặng. Bỗng nhiên, văn sĩ nói một cách nóng nảy :
- Các anh không thể tìm một hải cảng khác cho những áp phe nho nhỏ của các anh lần này sao? Tại sao cứ chọn chúng tôi mãi?
Các phu bến nhìn hắn ngạc nhiên; họ không hiểu hắn muốn nói gì với mấy tiếng “áp phe nho nhỏ”; họ không hề nghĩ tới việc đoàn thương thuyền đen sắp sửa len qua sương và khói mù để cập bến của họ. Nhưng Roubachof dã chờ đợi câu hỏi như vậy :
- Chuyện đó đã được chỉ định, trên bình diện chánh trị lẫn địa lý - Ông nói - Hàng hóa sẽ được chuyển đi từ đây bằng đường bộ. Chúng tôi không có lý do gì giấu diếm hành động của chúng tôi: ta nên thận trọng tránh những xúc động, chớ để cho báo chí phản động khai thác.
Văn sĩ trao đổi một cái nhìn với Loewy. Các phu bến nhìn Roubachof, không hiểu gì cả; người ta thấy ông đang chậm chạp bươi óc tìm giái pháp cho vấn đề.
Thình lình Paul nói với một giọng thay đổi hẳn và cộc lốc :
- Nhưng thật ra là chuyện gì?
Mọi người nhìn hắn. Cổ hắn đỏ lòm, và hắn lõ mắt nhìn Roubachof. Chú bé Loewy cũng nói cộc lốc với Paul :
- Bây giờ anh mới thấy chuyện như vậy sao?
Roubachof nhìn một vòng rồi bình tĩnh bảo :
- Tôi quên không cho các anh biết chi tiết. Năm tàu hàng của ủy phủ ngoại thương sẽ tới đây sáng mai, nếu thời tiết tốt.
Ngay lúc ấy mà gần trọn một phút sau họ mới hiểu. Không ai nói lời nào. Tất cả đều nhìn Roubachof. Kế đó, Paul từ từ đứng lên, liệng chiếc mũ cát két xuống đất rồi rời phòng họp. Hai bạn anh quay đầu đưa mắt theo dõi anh. Không ai nói gì. Chót hết, chú bé Loewy tằng hắng và nói :
- Đồng chí thuyết trình viên vừa trình bày lý do của vụ này: nếu họ không cung cấp hàng, kẻ khác sẽ cung cấp. Ai còn muốn nói nữa?
Người phu bến đã nói khi này đứng lên :
- Người ta dư biết bài hát đó rồi. Khi đình công, luôn luôn có kẻ nói: nếu ta không làm, kẻ khác sẽ làm thay ta. Ta nghe nhiều những câu như vậy rồi. Bọn ôn hòa cũng nói như vậy.
Lại lặng im. Bên ngoài, người ta nghe Paul đóng cửa ra vào vang lên. Kế đó Roubachof nói :
- Thưa các đồng chí, quyền lợi của việc khuếch trương kỳ nghệ của ta “bên kia” phải được đặt ra trước hết. Những tình cảm đẹp không đưa ta đến đâu cả. Các đồng chí hãy nghĩ lại.
Người phu bến hất hàm một cách khiêu khích và nói :
- Nghĩ kỷ rồi. Chúng tôi nghe luận điệu đó nhiều rồi. Các ông bên đó, các ông phải nêu gương. Cả thế giới đều nhìn về các ông. Các ông nói chuyện đoàn kết, hy sinh, kỷ luật, và đồng thời các ông lại dùng hạm đội vào một công cuộc của bọn ôn hòa.
Nghe những lời ấy, chú bé Loewy thình lình ngẩng đầu lèn; hắn tái mặt; hắn đưa ống điếu chào Roubachof và nói nhỏ rất mau :
- Những lời của đồng chí vừa nói cũng là ý kiến của tôi. Có ai còn nói gì nữa không? Phiên họp bế mạc.
Roubachof chống nạng đi ra. Những biến chuyển tiếp theo đà đã quy định và không thể tránh được. Trong khi đoàn tàu nhỏ cũ kỹ vào bến, Roubachof trao đổi vài công điện với giới chức thẩm quyền bên kia. Ba ngày sau, các lãnh tụ của khu bộ phu bến bị khai trừ khỏi Đảng, chú bé Loewy bị tố cáo là chuyên viên khích động trong cơ quan chánh thức của Đảng. Ba hôm sau, chú bé Loewy thắt cổ chết.
13.
Đêm càng tệ hại hơn nữa. Roubachof không thể ngủ trước bình minh. Những cơn run rẩy đến với ông từng chập đều đều: chiếc răng làm ông nhức nhối. Ông có cảm giác tất cả các trung tâm phối hợp trong óc ông đều đau đớn và sưng vù; hơn nữa ông còn bị kết tội phải gợi lại một cách khổ sở những hình ảnh và giọng điệu. Ông nghĩ tới Richard với bộ lễ phục đen ngày chủ nhựt và cặp mắt đỏ au: “Nhưng anh không thể đưa tôi vô lò thịt, đồng chí...” Ông nghĩ tới chú bé có bướu Loewy: “Có ai muốn nói nữa?” Có biết bao nhiêu người muốn nói. Vì phong trào không cần phải tế nhị: nó lăn đến mục đích với sự vô tâm và đặt thây của những kẻ chết đuối dài theo các khúc quanh của giòng nước. Đáy của nó có nhiều xoáy và nhiều khúc quanh; đó là luật của bản thể nó. Và kẻ nào không thể theo được giòng khúc khuỷu của nó là bị quăng lên bờ ngay; đó cũng là luật của nó. Các nguyên động lực của mỗi cá nhân không làm nó bận tâm. Lương tâm cá nhân cũng chẳng dính dáng đến Đảng vì Đảng chỉ lưu tâm đến những gì diễn ra trong đầu và trong lòng cá nhân đó thôi. Đảng chỉ biết có một tội: đi ra ngoài con đường đã vạch sẵn; một hình phạt duy nhứt: chết. Cái chết không phải là sự bí mật trong phong trào; cái chết không có gì là cao cả; đó là giải pháp hợp lý cho những vụ khác biệt chánh kiến.
Roubachof kiệt lực, chỉ ngủ được trên giường trong những giờ đầu của buổi sáng. Điệu kèn tuyên bố bình minh của một ngày mới đánh thức ông; một lúc sau, viên ngục tốt già và hai người đồng phục đến tìm ông để đưa ông đi khám bịnh.
Roubachof mong được đọc tên trên mảnh giấy cứng dán trước cửa phòng của người sứt môi và số 402, nhưng họ đưa ông sang hướng khác. Xà lim bên mặt ông không người ở. Đó là một trong những phòng giam cuối cùng ở đầu hành lang này; cánh giam những tù nhân bí mật được đóng bằng một cửa bê-tông cốt sắt nặng nề, mà viên ngục tốt già mở một cách mệt nhọc. Họ đi xuyên qua một hành lang dài, Roubachof đi trước với ngục tốt già, hai người đồng phục đoạn hậu. Nơi đây, nhiều tên người được ghi trên mảnh giấy của mỗi xà lim; và từ mỗi phòng bay ra những tiếng chuyện trò, tiếng cười và cả tiếng hát; họ đang đi trong khu thường tội. Họ đi qua cánh cửa mở của người thợ hớt tóc, một tù nhân có bộ mặt của một tù khổ sai lâu năm, giống như mõ chim đang được cạo râu, và thợ đang hớt tóc hai nông dân; cả ba nhìn một cách hiếu kỳ Roubachof và đoàn hộ vệ ông đi qua. Họ tới một cánh cửa có vẽ dấu hiệu hồng thập tự. Ngục tốt kính cẩn gõ rồi cùng vào với Roubachof; hai người đồng phục chờ đến ngoài.
Phòng y tế nhỏ hẹp, có mùi mốc, mùi phénol và thuốc lá. Một cái thùng và hai cái chậu đều đầy gòn và băng dơ tận miệng. Viên bác sĩ ngồi ở bàn, quay lưng lại, đang đọc báo vừa nhai một miếng bánh thoa thịt mỡ.
Tờ báo đặt trên một đống dụng cụ, kềm và ống chích. Khi ngục tốt khép cửa lại, viên bác sĩ chẫm rãi quay người. Ông sói đầu và có một cái sọ mang những chùm tóc bạc, làm Roubachof nghĩ đến con đà điểu.
- Ổng nói ổng nhức răng. - Viên ngục tốt già nói.
- Nhức răng hả? - Bác sĩ hỏi, vừa nhìn Roubachof mà không cần thấy ông - Mở miệng ra, mau lên.
Roubachof nhìn ông xuyên qua cặp kiếng kẹp mũi.
- Tôi hân hạnh lưu ý ông, - Roubachof bình tĩnh nói - tôi là chánh trị phạm và tôi có quyền được đối xử đàng hoàng.
Bác sĩ quay sang ngục tốt :
- Y là thứ người gì vậy?
Lão già nói tên Roubachof. Ông nhận thấy hai con mắt chàu quảu của chim đà điểu đè nặng lên ông một giây. Rồi viên bác sĩ bảo :
- Ông bị sưng má. Mở miệng ra.
Vào lúc có, cái răng của Roubachof không làm ông đau nhức nữa. Ông hả miệng.
- Ông không có cái răng nào cả ở hàm trên bên trái. - Bác sĩ nói, vừa đưa ngón tay vào miệng Roubachof.
Bỗng Roubachof tái mặt phải tựa vào tường.
- Nó đây! - Viên bác sĩ bảo - Chưn răng chó bên mặt bị gãy và còn dính trong hàm.
Roubachof phải thở thật sâu mấy lượt. Sự đau nhức chạy dài từ hàm đến mắt và lan đến ót. Ông nhận thấy từng chập đều đều mỗi cái bôm của máu trong đầu. Bác sĩ ngồi xuống trở lại và mở tờ báo.
- Nếu ông bằng lòng thì tôi nhổ cái chưn đó - Ông nói, rồi cắn vào chiếc bánh - Tôi không có thuốc tê ở đây. Cuộc giải phẫu có thể kéo dài nửa giờ hoặc cả giờ.
Roubachof nghe tiếng nói của bác sĩ như xuyên qua một đám sương mù. Ông dựa vào tường và thở thật sâu.
- Cám ơn ông - Roubachof nói - Thôi để khi khác.
Ông nghĩ tới người sứt môi và trò “tắm hơi” mà hắn phải chịu đựng, và cử động kỳ dị của ông hôm qua khi ông châm tàn thuốc vào mu bàn tay. “Sự việc càng thêm tệ”, ông tự nói.
Về tới xà-lim, ông nằm vật xuống giường và ngủ ngay.
Buổi trưa, khi phát xúp, họ không quên ông nữa; từ đó, ông nhận đều đều phần ăn của mình. Nhưng cơn nhức răng cũng bớt và ở mức độ chịu đựng được. Roubachof mong rằng mụt mủ quanh chưn răng tự nó đã bể rồi.
Ba ngày sau ông được đưa đi thẩm vấn lần đầu tiên.
14.
Lúc đó là mười một giờ sáng khi họ tới tìm ông.
Nhìn vẻ nghiêm trọng của ngục tốt, Roubachof đoán biết ngay họ đi đâu. Ông theo ngục tốt với một sự sáng suốt uể oải, ảnh hưởng của một sự từ bi bất ngờ nào đó mà ông thường gặp trong những giờ phút nguy hiểm.
Họ đi trên con đường cũ mà cách đây ba hôm họ đã đến bác sĩ. Cánh cửa xi-măng mở ra rồi đóng lại vang động; điều lạ lùng, Roubachof nghĩ, sao mình, lại thích nghi mau lẹ với một nơi hung dữ như vầy; ông có cảm giác thở không khí của hành lang này từ bao năm rồi, như cái không khí độc hại của tất cả các khám đường mà ông đã biết qua đều được chất chứa nơi này.
Họ đi qua cửa người thợ hớt tóc và cánh cửa đóng kín của bác sĩ, nơi đây có ba tù nhân chờ đợi dưới sự canh gác của một ngục tốt ngủ gà ngủ gật.
Sau cánh cửa này, Roubachof phát giác những vùng xa lạ. Ông đi gần một cầu thang khu ốc đưa xuống dưới sâu. Có gì ở dưới đó? Những nhà kho? Những xà-lim kỷ luật? Với kinh nghiệm của một chuyên viên, Roubachof cố suy đoán. Cái dáng của cầu thang này không có vẻ gì tốt lành.
Họ đi qua một cái sân hẹp và không cửa sổ; đó là một cái hầm giữa các khu nhà, nhưng nhìn lên còn thấy một mảnh trời. Phía bên kia sân này các hành lang có vẻ tươi sáng hơn; các cánh cửa không còn bằng xi-măng nữa, mà bằng cây có sơn với những tay nắm bằng đồng; những viên chức bận rộn đi ngược chiều với họ; sau một cánh cửa, người ta nghe tiếng ra-điô; sau cánh cửa khác, có tiếng máy đánh chữ. Họ đang ở trong các văn phòng hành chánh.
Họ ngừng trước một cánh cửa chót, ở cuối hành lang; ngục tốt gõ cửa. Ở trong, có người đang điện đàm; một giọng bình tĩnh nói to: “Chờ một chút”, và tiếp tục trả lời một cách kiên nhẫn “Phải” và “Đúng rồi” trong ống nói. Giọng nói có vẻ quen lắm với Roubachof, nhưng ông không nhận ra của ai. Đó là một giọng đàn ông dễ nghe, có hơi khàn khàn; ông chắc chắn đã nghe giọng nói đó ở đâu rồi. “Vào đi”, giọng ấy bảo; ngục tốt mở cửa rồi khép ngay lại sau khi Roubachof bước vào. Roubachof thấy một cái bàn; một bạn cũ ở trường đại học cũng là vị cựu đại đội trưởng của ông, Ivanof, ngồi sau chiếc bàn đó; ông nhìn Roubachof mỉm cười rồi trả ống nghe vào chỗ cũ.
- Ta lại gặp nhau trở lại. - Ivanof nói.
Roubachof đứng gần cửa.
- Thật là một ngạc nhiên thích thú. - Ông lạt lẽo trả lời.
- Anh ngồi đi! - Ivanof nói một cử chỉ lễ phép. Ông đứng lên, cao hơn Roubachof nửa cái đầu. Ông nhìn Roubachof mỉm cười. Cả hai ngồi xuống - Ivanof sau hộc tủ, Roubachof phía trước. Họ nhìn nhau một lúc cho thỏa hiếu kỳ. Có một ít trìu mến trong nụ cười của Ivanof. Roubachof ở vào thế chờ đợi thận trọng. Ông nhìn xuống phía dưới bàn, hướng về chân phải Ivanof.
- Ồ! Tốt lắm - Ivanof nói - Chân giả, có những khớp tự động, bằng thép cờrômê không sét; tôi lội, cỡi ngựa, lái xe và khiêu vũ. Hút một điếu thuốc nghen?
Ông đưa sang Roubachof một bao đựng thuốc bằng cây.
Roubachof nhìn những điếu thuốc và nghĩ đến chuyến thăm viếng đầu tiên của ông tại bịnh viện quân sự sau khi cưa chân Ivanof. Ivanof đã yêu cầu ông tìm giúp cho loại thuốc cực độc vêrônal, và trong cuộc tranh luận kéo dài suốt buổi chiều, ông ta đã cố gắng chứng minh với Roubachof rằng ai cũng có quyền tự sát. Chót hết, Roubachof yêu cầu cho mình thời gian suy nghĩ; và tối đó thì ông phải dời đi một vùng khác của mặt trận. Nhiều năm trôi qua trước khi ông gặp lại Ivanof. Ông nhìn những điếu thuốc trong hộp cây, được vấn bằng tay với thuốc lá Mỹ màu vàng và xoắn.
- Những lời hỏi thăm thường lệ còn không hay là sự khai hấn đã mở ra rồi? - Roubachof hỏi - Nếu giả thuyết thứ hai đúng thì tôi không tham dự đâu. Anh biết nghi thức?
- Anh làm bộ đần, Ivanof.
- Vậy thì tốt, chúng ta hãy làm bộ đần. - Roubachof nói. Ông đốt một điếu thuốc của Ivanof, hít một hơi dài, cố không ra vẻ thích khoái.
- Còn bịnh tê thấp ở hai vai anh ra sao!
- Tốt lắm, cám ơn - Ivanof nói - Còn vết phỏng của anh thì sao?
Ông mỉm cười rồi thản nhiên đưa ngón tay chỉ vào bàn tay trái của Roubachof. Trên mu bàn tay, giữa những lằn gân xanh, nơi mà ba ngày trước đây ông đã châm tàn thuốc, một mụt trong bóng cỡ bằng đồng xu nổi lên. Trong một phút, cả hai nhìn bàn tay Roubachof đặt trên đầu gối. “Sao hắn biết? - Roubachof tự hỏi - Hắn cho người dọ dẫm mình”. Ông cảm thấy thẹn hơn là giận; ông hít một hơi chót rồi liệng điếu thuốc.
- Về phần tôi, thì những lời hỏi thăm thường lệ đã chấm dứt. - Ông nói.
Ivanof thổi những vòng khói tròn và quan sát Roubachof, vẫn với nụ cười mỉa mai một cách thân ái :
- Đừng kiếm chuyện.
- Nếu tôi không lầm, - Roubachof đáp - chính các người kiếm chuyện với tôi mà. Ai trong hai chúng mình đã bắt người kia? Anh hay tôi?
- Chính chúng tôi đã bắt anh. - Ivanof nói.
Ông dập điếu thuốc, đốt điếu khác và đưa hộp thuốc sang Roubachof, nhưng ông này không nhúc nhích.
- Quỷ bắt anh! - Ivanof nói - Anh nhớ vụ vêrônal?
Ông nghiêng mình tới thổi khói thuốc vào mặt Roubachof.
- Tôi không muốn người ta bắn anh. - Ông nói chậm chậm. Ông ngã ngửa trên ghế bành - Quỷ bắt anh! - Ông lặp lại với một nụ cười.
- Anh tử tế với tôi lắm - Roubachof nói - Mà tại sao các người có ý định bắn tôi chớ?
Ivanof để vài giây trôi qua. Ông hút thuốc và vẽ trên giấy chậm với cây viết chì. Hình như ông tìm chữ.
- Nghe đây, Roubachof. Có một điều tôi muốn lưu ý anh. Tự nãy giờ nhiều lần anh nói “các người” - để chỉ Nhà nước và Đảng, đối chọi lại tiếng “Tôi” - tức là Nicolas Salmanovitch Roubachof. Đối với công chúng, lẽ tất nhiên phải có một vụ án và một sự chứng minh hợp pháp. Từ cá nhân tôi đến cá nhân anh, những gì tôi vừa nói với anh là đầy đủ lắm rồi.
Roubachof suy gẫm lời nói của Ivanof; ông sững sờ. Trong một lúc, làm như Ivanof đã đánh đúng âm giai mà trí óc ông đáp ứng tức tốc. Tất cả những gì ông tin tưởng và thuyết cho kẻ khác cũng tin tưởng như vậy, tất cả những gì mà cho những cái đó ông đã đấu tranh từ bốn mươi năm nay đang xâm chiếm tâm trí ông như một lượn thủy triều không thể cưỡng lại được. Cá nhân không là gì cả, Đảng mới là tất cả; cành cây tách khỏi cây mẹ sẽ phải khô... Roubachof chùi kiếng vào áo. Ivanof, tựa vào lưng ghế, hút thuốc và không cười nữa. Bỗng mắt Roubachof chú ý đến một hình vuông sáng hơn phần còn lại của giấy hoa dán tường. Ông biết ngay bức ảnh có những gương mặt nhiều râu và những cái tên có đánh số trước kia máng ở đó. Ivanof nhìn theo mắt bạn nhưng không thay đổi sắc mặt.
- Lý lẽ của anh đã hơi quá thời rồi - Roubachof nói - Điều anh lưu ý tôi rất đúng, chúng ta đã quen dùng số nhiều “chúng ta” và cố gắng tránh ngôi thứ nhứt của số ít. Tôi lại mất đi thói quen của cách nói chuyện đó; anh còn giữ nó. Nhưng ai là “chúng ta” mà anh nhân danh để nói chuyện ngày nay? Cần phải định nghĩa rõ ràng tiếng đó.
- Tôi đồng ý với anh - Ivanof nói - Tôi rất vui niừng thấy mình đi rất mau tới trung tâm điểm của vấn đề. Nói cách khác: anh nhìn nhận rằng tiếng “chúng ta” - nghĩa là Đảng, Nhà nước và quần chúng đứng sau lưng - chỉ đại diện cho quyền lợi của cách mạng.
- Tôi không đề cập tới quần chúng trong vụ này. - Roubachof nói.
- Từ bao giờ anh có thái độ khinh khi giới bình dân như vậy? - Ivanof hỏi - Phải chăng điều đó cũng có liên hệ ít nhiều đến sự thay đổi văn phạm nghiêng về ngôi thứ nhứt của số ít?
Ông ngả người tới trước với một dáng điệu đùa cợt hảo ý. Hiện thời, đầu ông đã che khuất vết sáng của tường; và bỗng nhiên cái màn tại bảo tàng viện đến trong óc của Roubachof; đầu của Richard ở giữa ông và hai tay chấp lại trong tranh Pietà. Ngay lúc đó, một cái đau nhói xuyên qua hàm, trán và tay. Trong một giây, ông nhắm mắt lại.
“Bây giờ, tôi trả”, ông nghĩ. Ngay sau đó, ông không nhớ gì nữa nếu ông đã chẳng nói to lên.
- Anh muốn nói gì? - Giọng Ivanof hỏi: Hình như giọng đó ở sát bên tai ông, bỡn cợt và hơi ngạc nhiên.
Sự đau đớn đi qua; sự yên lặng và bình an đến trong tâm trí ông.
- Đừng xen quần chúng vào - Ông lặp lại - Các người chằng biết gì về họ. Có lẽ cả tôi cũng vậy. Xưa kia, khi hãy còn tiếng “chúng ta” lớn, chúng ta hiểu rõ quần chúng hơn ai cả. Chúng ta đã đi vào chiều sâu của họ, chúng ta hoạt động trên chính chất liệu của lịch sử...
Ông rút một điếu thuốc trong cái bao để mở trên bàn của Ivanof mà không nhận thức được cử động của mình. Ivaaof chồm tới đốt cho ông.
- Vào thời đó, - Roubachof tiếp - người ta gọi chúng ta là Đảng của Bình dân. Những kẻ khác, họ biết gì về lịch sử? Những cái nhăn mày thoáng qua, những cơn xoáy nho nhỏ, và những lượn sóng tràn bờ. Họ ngạc nhiên về những hình thức đổi thay trên mặt mà chẳng biết giải thích. Nhưng chúng ta đã lặn xuống dưới sâu, trong những khối không hình thức nhứt định, những khối không tên mà ở thời nào cũng hợp thành chất liệu của lịch sử; và chúng ta là những người đầu tiên đã tìm ra các quy luật chi phối những vận chuyển đó - những quy luật về sự bất động của nó, về những chuyển biến chậm chạp trong cách cấu tạo phân tử và quy luật về những đợt phún xuất bất ngờ. Đó là sự vĩ đại của học thuyết chúng ta. Đám Jacobins là những nhà luân lý học; chúng ta là những nhà kinh nghiệm học. Chúng ta đã đào trong lớp bùn sơ khai của lịch sử và tìm ra được những quy luật của nó. Chúng ta biết rõ nhân loại hơn bất cứ kẻ nào khác; vì vậy mà cuộc cách mạng của chúng ta thành công. Bây giờ, các người đã chôn tất cả trở lại đất đen...
Ivanof, ngồi sâu vào ghế bành, chân vươn đài ra, vừa nghe vừa vẽ trên giấy chậm.
- Tiếp đi - Ông nói - Tôi hiếu kỳ muốn biết anh muốn đi tới đâu.
Roubachof hít thuốc lá một cách sảng khoái. Chất nicotine làm ông hơi cháng váng sau một thời gian vắng thuốc.
- Như anh thấy, tôi nói khá đủ để người ta chặt đầu tôi. - Ông nói với một nụ cười, vừa nhìn vào khoảng vuông sáng trên tường, nơi mà trước kia đã treo bức hình đoàn lão vệ binh. Lần này, Ivanof không theo dõi ánh mắt ông nữa - Nhưng được - Roubachof nói - Thêm hay bớt một người có nghĩa gì? Tất cả đều bị chôn vùi, con người, sự khôn ngoan và những mơ ước của họ. Các người đã tiêu diệt nó. Các người thật sự cho rằng quần chúng đứng sau lưng các người à? Những tên soán nghịch khác ở Âu châu cũng quả quyết như vậy với sự chứng minh như các người.
Ông lấy một điếu thuốc nữa và tự đốt lấy vì Ivanof ngồi bất động :
- Xin lỗi về sự tự mãn của tôi, - Roubachof tiếp - nhưng thật sự anh có tin rằng dân luôn luôn ở sau lưng các người không? Họ chịu đựng các người, câm nín và nhẫn nại, như họ đã chịu đựng những kẻ khác ở những nước khác, nhưng họ không phản ứng nữa trong các từng lớp của họ. Quần chúng đã trở lại điếc và câm, họ lại trở thành khối vô danh im lặng của lịch sử, dửng dưng như biển cả đối với thuyền bè mang trên mặt. Tất cả ánh sáng đi qua đều được phản chiếu trên mặt, nhưng dưới sâu là bóng tối và yên lặng. Từ lâu rồi, chúng ta đã xốc lên những chiều sâu, nhưng việc đó đã dứt rồi. Nói cách khác - Ông ngừng lại và đặt kiếng lên sống mũi - hồi thời ấy, chúng ta đã làm lịch sử; giờ đây, các người làm chánh trị. Đó là tất cả sự khác biệt.
Ivanof ngồi sâu vào ghế bành và phun những vòng khói :
- Rất tiếc, nhưng sự khác biệt không được rõ ràng trước mắt tôi. Có lẽ anh nên vui lòng giải thích thêm.
- Đúng rồi - Roubachof nói - Một nhà toán học có lần nói rằng đại số là khoa học của những kẻ lười biếng - Người ta không tìm biết xem X đại diện cho cái gì, mà lại giải toán với ẩn số đó như đã biết rõ giá trị của nó. Trong trường hợp của chúng ta, X đại diện cho những khối người vô danh tức là nhân dân. Làm chánh trị, tức là giải toán với ẩn số X mà không cần biết tính chất thật sự của nó. Làm lịch sử, tức là nhìn nhận ẩn số X với cái giá trị thật sự của nó trong phương trình.
- Hay, - Ivanof nói - nhưng có hơi trừu tượng. Để trở lại những sự việc cụ thể hơn: vì những lẽ đó, anh muốn nói rằng “chúng ta” - nghĩa là Đảng và Nhà nước - không còn đại điện các quyền lợi của Cách mạng, của quần chúng, hoặc theo ý anh, không đại diện được cho sự tiến hóa của nhân loại được nữa.
- Lần này anh đã hiểu. - Roubachof cười nói.
Ivanof không đáp lại nụ cười của ông.
- Anh có quan niệm đó từ bao giờ.
- Tuần tự: trong những năm sau này. - Roubachof nói.
- Anh có thể nói rõ hơn không? Một năm? Hai? Ba năm?
- Đó là một câu hỏi đần độn - Roubachof nói - Anh thành niên hồi mấy tuổi? Mười bảy? Mười tám tuổi rưỡi? Mười chín tuổi?
- Chính anh giả bộ đần độn - Ivanof nói - Mỗi giai đoạn mở mang trí thức của ta là kết quả của những biến cố nhứt định. Nếu thiệt sự anh anh muốn biết: tôi thành nhân hồi mười bảy tuổi, lần đầu tiên tôi bị đày.
- Thời đó, anh là một con người khá đàng hoàng - Roubachof nói - Mà thôi, đừng nghĩ tới vụ đó nữa.
Ông liếc nhìn khoảng trống sáng trên tường và liệng tàn thuốc.
- Tôi lặp lại câu hỏi - Vừa nói, Ivanof hơi ngả người tới trước - Anh thuộc tổ chức đối lập từ bao giờ?
Điện thoại reo. Ivanof giở ống nghe, nói: “Tôi bận việc”. Và gác máy. Ông lùi trở lại trên ghế bành, đưa thẳng chân, chờ đợi câu trả lời của Roubachof.
- Anh biết rõ cũng như tôi, rằng chưa bao giờ tôi tham dự một khối đối lập có tổ chức nào cả.
- Cũng được - Ivanof nói - Anh buộc tôi phải làm cái công việc khổ sở của người cạo giấy.
Ông rút trong hộc tủ ra một tập hồ sơ.
- Ta khởi sự từ năm 1933 - Vừa nói, ông vừa mở những giấy tờ ra trước mặt - Khởi đầu nền độc tài tiêu diệt Đảng trong quốc gia mà sự chiến thắng của ta rõ rệt đến rất gần. Anh được gởi đến đó một cách bất hợp pháp với nhiệm vụ thanh trừng và tổ chức lại các cấp cán bộ...
Roubachof dựa lưng vào ghế nghe tiểu sử mình, ông nghĩ tới Richard, vào lúc hoàng hôn trên thông lộ trưác bảo tàng viện, nơi đó ông đã gọi tắc xi.
- ... Ba tháng sau: anh bị bắt. Hai năm tù. Tánh hạnh gương mẫu, họ không tìm được bằng chứng nào về anh. Anh được phóng thích và hồi hương vinh quang...
Ivaaof ngừng lại, liếc nhìn bạn và tiếp :
- Người ta tổ chức các lễ mừng anh trở về. Chúng ta không gặp nhau, có lẽ anh quá bận... Nhưng không vì vậy mà tôi phiền anh. Dầu sao, không ai mong anh đi viếng từng bạn cũ. Nhưng tôi thấy anh trong hai buổi họp trên diễn đàn. Anh còn chống nạng và có vẻ mệt đừ. Đáng lý anh phải vào một viện bài lao nào đó dưỡng sức vài tháng, rồi giữ một ghế trong chánh phủ - sau bốn năm công cán ở ngoại quốc. Nhưng trong vòng mười lăm ngày, anh lại xin một sứ mạng mới ở hải ngoại...
Thình lình, ông chồm tới sát mặt Roubachof :
- Tại sao? - Và lần đầu tiên giọng Ivanof chua chát - Tôi cho rằng anh không thấy thoải mái nơi đây phải không? Trong khi anh vắng mặt, có những thay đổi trong nước mà anh không tán thành.
Ông chờ Roubachof nói một điều gì; nhưng Roubachof ngồi yên trên ghế và chùi kiếng vào tay áo, không trả lời.
- Ít lâu sau, bọn đối lập đầu tiên bị nhìn nhận là phạm tội rồi bị thanh toán. Có nhiều bạn thân của anh trong số đó. Khi được biết phe đối lập mục nát đến mức độ nào, thì sự phẫn nộ trong nước nổ bùng. Anh không nói gì cả. Mười lăm ngày sau, anh đi ngoại quốc, dầu anh vẫn còn phải chống nạng...
Roubachof tưởng như uế khí ở các bến tàu trong hải cảng nhỏ bé, gồm mùi rong biển mục thúi pha lẫn với mùi dầu hỏa đang quanh quẩn trước mũi ông; Paul đô vật lay động hai vành tai; chú bé Loevvy chào với cái ống điếu... Chú ấy đã tự treo cổ vào cây đà của gian phòng sát nóc nhà. Cái nhà cũ kỹ rung động mỗi khi một chiếc xe cam nhông chạy ngang qua; sáng ngày tìm thấy chú bé Loewy, người ta nói với ông rằng thây của hắn quay chầm chậm dưới sợi dây, đến nỗi mới đầu họ tưởng hắn còn động đậy.
- “Sứ mạng anh thành công vẻ vang, anh được cử làm Trưởng phái bộ thương mãi ở B... Lần này, anh cũng làm tròn nhiệm vụ một cách hoàn toàn. Hiệp ước thương mãi với nước B... là một thành công cụ thể. Bề ngoài, hạnh kiểm của anh luôn luôn gương mẫu và không chê trách vào đâu được. Nhưng sáu tháng sau khi anh giữ chức vụ đó, thì hai cộng sự viên thân cận nhứt của anh trong đó có nữ bí thư của anh là cô Arlova, bị triệu hồi, tình nghi âm mưu hoạt động cho phe đối lập. Cuộc điều tra xác nhận những sự hoài nghi đó. Người ta chờ đợi anh công khai phủ nhận hành động của họ. Anh vẫn giữ yên lặng.
Sáu tháng sau nữa, chính anh bị triệu hồi. Vụ án đối lập thứ hai đang xúc tiến. Trong vụ án đó, tên anh được nhắc nhở nhiều lần; cô Arlova mong chờ ở anh để được giải tội. Trong những trường hợp như vậy, im lặng đồng nghĩa với thú tội. Anh biết vậy mà vẫn từ chối đưa ra lời tuyên bố công khai trước khi Đảng gởi tối hậu thư cho anh. Chỉ đến lúc cái đầu của anh bị hăm dọa, anh mới chịu chiều ý Đảng đưa ra một tuyên ngôn trung thành, do đó Arlova bị kết án ngay. Anh biết chuyện gì đã xảy ra cho cô ấy...”
Roubachof nín lặng; ông nhận thấy cái răng của ông nhức trở lại. Ông biết rõ chuyện gì đã xảy ra cho Arlova. Chuyện gì ra cho Richard, cho chú bé Loewy và cho chính ông sau này nữa. Ông nhìn lên cái khuôn sáng trên tường, dấu vết duy nhứt còn lại của những người mà đầu được đánh số. Một lần nọ, Lịch sử đã chọn một con đường ít ra cũng đã hứa hẹn với nhân loại một hình thức của đời sống xứng đáng hơn; giờ đây là hết rồi. Như vậy, cần gì những lời lẽ, những nghi lễ như thế nữa? Cô Arlova cao lớn hiện ở một nơi nào đó trong không gian trống rỗng, ngắm nhìn bằng đôi mắt bò cái tơ đồng chí Roubachof, đã là thần tượng của cô và cũng đã đưa cô đến cõi chết. Chiếc răng của ông càng lúc càng đau thêm.
- Anh có muốn tôi đọc bản tuyên bố công khai của anh lúc đó không? - Ivanof hỏi.
- Không, cám ơn. - Roubachof nói và nhận thấy giọng ông khàn khàn.
- Anh nhớ bản tuyên bố của anh - mà người ta có thể xem như lời thú tội - chấm dứt bằng những lời kết án quyết liệt phe đối lập, và xác nhận sự ủng hộ vô điều kiện của anh đối với chánh sách của Đảng cũng như đối với cá nhân của Người số I.
- Đủ rồi - Roubachof nói với giọng giận run - Anh biết cái loại tuyên bố như vậy được làm cách nào rồi. Nếu anh không biết là cái may cho anh. Vì Thượng đế, yêu cầu anh chấm dứt hài kịch này đi.
- Chúng ta chấm dứt - Ivanof nói - Chúng ta ở vào thời gian hai năm trở lại đây. Trong hai năm đó, anh đã đảm nhiệm chức vụ Trưởng cơ sở sản xuất Nhôm. Một năm trước đây, vào dịp vụ án đối lập thứ ba, những bị cáo quan trọng đã kể tên anh nhiều lần trong những thời điểm tương đối mơ hồ. Sự kiện đó không phát giác được điều gì đích thực, nhưng sự nghi ngờ lan rộng trong Đảng. Anh lại đưa ra một tuyên cáo mới trong đó một lần nữa anh tuyên bố trung thành với chánh sách của ban Lãnh đạo tối cao, và anh kết án bằng những lời lẽ rõ ràng hơn tội trạng của phe đối lập... Chuyện đó cách đây sáu tháng. Và bây giờ, anh nhìn nhận rằng, từ nhiều năm nay, anh cho rằng chánh sách của Trung ương sai lầm và nguy hại...
Ông ngưng một chút rồi ngồi lại trong ghế bành cho thật thoải mái.
- Những lời tuyên bố trung thành đầu tiên của anh chỉ là những chiến lược để đi đến một mục đích nào đó. Tôi yêu cầu anh lưu ý rằng tôi không giảng luân lý với anh. Cả hai chúng ta đã được đào tạo trong một truyền thống chung, và về các vấn đề này, chúng ta có những quan niệm giống nhau. Anh đã tin tưởng rằng chúng tôi sai lầm và anh mới đúng. Nếu lúc đó anh nói huỵch toẹt như vậy là bị khai trừ khỏi Đảng, anh không thể tiếp tục hoạt động cho sự thành công của những tư tưởng của anh. Anh phải hy sinh bớt những gì chướng ngại để có thể theo đuổi một chánh sách mà anh cho rằng chỉ có chánh sách đó mới hay đẹp mà thôi. Ở địa vị anh, có lẽ tôi cũng phải hành động như vậy. Cho đến nay, mọi việc đều xuôi thuận.
- Rồi sao nữa? - Roubachof hỏi.
Ivanof tìm lại được nụ cười khả ái :
- Đấy là điều tôi chưa hiểu. Hôm nay anh nhìn nhận công khai đã tin tưởng trong nhiều năm qua rằng chúng tôi đã làm hư cuộc Cách mạng; và đồng thời, anh chối không hề âm mưu chống chúng tôi. Có phải quả thật anh tưởng tượng chúng tôi sẽ tin anh chỉ dửng dưng nhìn chúng tôi trong khi anh tin chắc rằng chúng tôi đưa quốc gia và Đảng đến chỗ diệt vong?
Roubachof nhún vai :
- Có thể tôi đã quá già, đã hết đường rồi.... Nhưng anh tin sao cũng được.
Ivanof đốt một điếu thuốc. Giọng ông dịu dàng và thắm thía :
- Anh nên nói thật với tôi, có phải anh đã hy sinh Arlova và phủ nhận những người ấy - Ông hất hàm chỉ về hướng vệt sáng trên tường - chỉ để bảo vệ tánh mạng anh thôi phải không?
Roubachof nín thinh. Một thời gian khá lâu trôi qua. Đầu của Ivanof càng tiến sát đầu Roubachof :
- Tòi không hiểu anh. Cách đây nửa giờ, anh làm một bài diễn văn đầy giọng điệu đả kích dữ dội chánh sách của chúng tôi; một vài lý lẽ trong đó đủ cho anh mất mạng. Thế mà bây giờ anh lại chối một suy diễn hợp lý, giản dị vô cùng, là anh có tham gia một nhóm đối lập, vì về điều này, chúng tôi lại có bằng chứng thật phong phú.
- Vậy à! - Roubachof nói - Nếu các người có nhiều bằng chứng như vậy thì cần gì những lời tự thú của tôi? Mà bằng chứng về cái gì?
- Trong số đó, - Ivanof chẫm rãi nói - có những bằng chứng về một mưu toan sát hại Người số I.
Yên lặng. Roubachof mang kiếng trở lại.
- Tới phiên tôi hỏi một câu - Ông nói - Thật tình anh tin một câu chuyện ngu xuẩn như vậy, hay anh giả bộ tin?
Ánh mắt Ivanof lóe ra một nụ cười gần như dịu dàng.
- Tôi đã nói với anh. Chúng tôi có nhiều bằng chứng. Rõ ràng hơn: những lời thú nhận. Rõ ràng hơn nữa: những lời thú nhận của kẻ do anh xúi dục phạm tội mưu sát đó.
- Hoan nghinh - Roubachof nói - Nó tên gì?
Ivanof vẫn mỉm cười :
- Câu hỏi quá tò mò.
- Tôi có thể đọc lời tự thú đó không? Có thể nào đối chứng không?
Ivanof mỉm cười. Ông phun khói thuốc thẳng vào mặt Roubachof với dáng điệu bỡn cợt thân thiết. Roubachof không thích cử chỉ ấy, nhưng không tránh.
- Anh nhớ vụ Vêronal? - Ivanof chẫm rãi nói - Tôi tưởng đã từng xin anh thứ độc dược đó. Bây giờ, địa vị đã đảo lộn, chính anh sắp sửa nhảy xuống vực sâu. Nhưng tôi sẽ không tìm thuốc độc giúp anh đâu. Lúc đó, anh thuyết phục tôi rằng tự tử là một thứ lãng mạn tiểu tư sản. Tôi sẽ giữ thế nào cho anh không tự tử được. Thế là chúng ta sẽ huề nhau.
Roubachof im lặng, và tự hỏi Ivanof nói láo hay thành thật. Vào lúc đó, ông cảm thấy một ý muốn lạ lùng, gần như một sự cần dùng của cơ thể, là chính những ngón tay mình rờ rẫm vệt sáng trên tường. “Ám ảnh, ông tự nhủ. Tôi đi trên những miếng gạch đen, tôi lẩm nhẩm những câu vô lý, tôi chùi kiếng mắt vào tay áo - Coi, bây giờ cũng bị ám ảnh nữa...”
- Tôi hiếu kỳ muốn biết, - Ông nói lớn lên - anh có phương pháp nào trong đầu để cứu tôi. Chớ còn cái lối anh mở cuộc thẩm vấn thì hình như có mục đích trái ngược.
Nụ cười của Ivanof nở to ra một cách vui vẻ :
- Anh ngu quá! - Vừa nói, ông vừa vói tay qua bàn nắm nút áo veste của Roubachof - Tôi bắt buộc phải để anh nổi giận một lần, bằng không, anh có thể nổi giận không đúng lúc. Anh không thấy rằng tôi không có tốc ký viên sao?
Ông rút điếu thuốc khỏi hộp, nhét vào miệng Roubachof, tay vẫn nắm nút áo.
- Anh hành động như một đứa trẻ. Một đứa trẻ lãng mạn. Bây giờ, ta phải tạo ra một lời tự thú nho nhỏ, và bấy nhiêu đó cũng đủ cho hôm nay.
Roubachof gỡ được tay Ivanof. Ông nhìn bạn xuyên qua cặp kiếng :
- Lời tự thú đó chứa đựng những gì?
Ivanof vẫn tươi cười :
- Trong đó sẽ viết rằng anh nhìn nhận, từ năm nào đó, có tham gia nhóm đối lập nào đó; nhưng anh quyết liệt chối rằng đã tổ chức hay chuẩn bị một cuộc ám sát; ngược lại, anh đã rút khỏi nhóm đó khi được biết những kế hoạch sát nhân và khủng bố của phe đối lập.
Lần thứ nhứt từ khi mở đầu cuộc tranh luận, Roubachof mỉm cười :
- Nếu đó là mục đích của cuộc nói chuyện này, chúng ta có thể ngừng ở đây.
- Để tôi nói hết những gì tôi muốn nói với anh - Ivanof tiếp mà không biểu lộ sự nóng nảy - Tôi biết chắc là ngay bây giờ anh không chịu. Ta thử nhìn qua khía cạnh luân lý hay khía cạnh tình cảm của vấn đề. Anh không tố giác ai trong việc thú nhận này. Tất cả bọn họ đã bị bắt rất lâu trước anh và phân nửa trong bọn họ đã bị thanh toán; anh cũng biết như vậy. Còn những kẻ khác, thì chúng tôi đã có đầy đủ lời thú nhận và tất cả những bản tự thú như chúng tôi muốn. Tôi nghĩ rằng anh hiểu và sự thành thật của tôi thuyết phục được anh.
- Nói cách khác, chính anh cũng không tin câu chuyện âm mưu chống Người số I - Roubachof nói - Vậy tại sao anh không để tôi đối chứng với cái tên X vô danh nào đó, đã đưa ra lời tự cho là thú nhận
như vậy?
- Hãy suy nghĩ một chút đi - Ivanof nói - Anh hãy đặt mình vào cương vị tôi - mà cương vị của chúng ta cũng có thể đảo ngược - và hãy tự trả lời câu hỏi của chính anh.
Roubachof suy nghĩ.
- Anh đã nhận được những chỉ thị minh bạch từ cấp trên về lề lối hướng dẫn vụ án của tôi phải không?
Ivanof cười.
- Nói như vậy thì có hơi sống sượng. Thật sự, người ta chưa quyết định trường hợp của anh phải sắp vào hạng A hay hạng P. Anh có biết là gì không?
Roubachof gật đầu. Ông đã biết việc ấy.
- Anh bắt đầu hiểu - Ivanof nói - A, có nghĩa là vụ án hành chánh; và P có nghĩa là vụ án công khai. Đa số các vụ án chánh trị đều được xử theo lối hành chánh - nghĩa là những vụ không có lợi gì nếu đem ra xử công khai... Nếu anh thuộc hạng A, thì anh sẽ bị truất khỏi thẩm quyền của tôi. Thủ tục tố tụng của ủy ban hành chánh là bí mật, và như anh biết, có hơi sơ sài. Không hy vọng đối chứng hoặc những trò kiểu đó. Nghĩ đến vụ...
Iranof kể ra ba bốn cái tên, và liếc nhanh về vệt sáng trên tường. Khi ông quay sang, Roubachof nhận thấy lần đầu tiên gương mặt ông lộ vẻ băn khoăn, mắt bất động như ông không lấy Roubachof làm điểm nhắm, mà điểm nhắm là một vật ở một khoảng cách sau lưng ông.
Ivanof lặp lại nho nhỏ tên của những người bạn cũ.
- Tôi biết rõ họ như anh biết - Ông tiếp - Nhưng anh phải nhìn nhận rằng chúng tôi vẫn tin tưởng những người đó và anh đại điện cho tàn cuộc của Cách mạng, con các anh thì tin tưởng ngược lại. Đó là điểm trọng yếu. Các phương pháp tiếp tục theo đường lối suy diễn hợp lý. Chúng tôi không có thì giờ để mất trong những điểm pháp lý tế nhị. Hồi thời anh, anh có làm như vậy không?
Roubachof không nói gì cả.
- Tất cả đều tùy thuộc, - Ivanof tiếp - nếu anh được sắp vào hạng P, và nếu vụ này còn trong tay tôi. Anh cũng biết những vụ đưa ra xử trước công chúng được chọn lựa trên quan điểm nào. Tôi phải chứng minh một thiện chí nào đó ở anh. Muốn vậy, tôi cần lời khai của anh với một số thú nhận. Nếu anh ra vẻ anh hùng, nếu anh cứ muốn cho người ta cảm giác rằng không ai làm gì được anh, anh sẽ bị xử quyết, tin vào những lời thú nhận của tên X. Nếu anh thú nhận từng phần, sự kiện đó giúp nền tảng cho một cuộc thẩm sát sâu rộng hơn. Trên nền tảng đó, tôi có thể đạt được một cuộc đối chứng; chúng ta sẽ bác bỏ phần nguy hại của cáo trạng và chúng ta chỉ nhận tội trong một vài giới hạn thật hạn chế. Dầu vậy, chúng ta cũng khó thoát khỏi dưới hai mươi năm tù; như vậy, trên thật tế, chỉ ở hai hoặc ba năm, rồi thì ân xá; và trong năm năm anh sẽ trở về với chúng tôi. Giờ đây, anh nên vì tôi mà suy nghĩ chính chắn trước khi trả lời cho tôi.
- Đã nghĩ tất cả rồi - Roubachof nói - Tôi bác đề nghị của anh. Đúng lý, thì anh có thể hữu lý. Nhưng tôi đã chán cái loại luận lý đó rồi. Tôi đã mệt mỏi và không muốn chơi trò đó nữa. Anh vui lòng cho dẫn tôi về xà lim.
- Cũng được - Ivanof nói - Tôi cũng chẳng trông mong anh nhận ngay. Một cuộc đàm thoại loại này thường có ảnh hưởng rất chậm. Anh có mười lăm ngày. Anh sẽ xin gặp tôi khi nào anh suy nghĩ kỹ rồi, hoặc gởi cho tôi một tờ khai. Tôi tin anh sẽ làm một tờ khai.
Roubachof đứng lên; Ivanof cũng đứng lên; ông ta lại cao hơn Roubachof nửa cái đầu. Ông bấm một cái nút gần bàn viết. Trong khi hai người chờ ngục tốt tới tìm Roubachof, Ivanof nói :
- Cách đây vài tháng, anh có viết trong bài báo chót của anh rằng thập niên đang tới này sẽ quyết định về số phận thế giới trong kỷ nguyên của chúng ta. Chắc anh không muốn ở trong này để nhìn sự kiện đó xảy ra!
Ông mỉm cười với Roubachof. Trong hành lang nhiều tiếng bước chân tới gần; cánh cửa mở ra. Hai ngục tốt bước vào và chào. Không nói một tiếng nào Roubachof đứng vào giữa hai người; họ lên đường trở về xà lim, của ông. Không còn tiếng động nào nữa trong các hành lang; từ một vài xà lim vang ra những tiếng ngáy to, người ta tưởng như tiếng rên siết. Trong khắp ngôi nhà, ánh sáng đèn điện đưa ra một màu vàng nhạt và hài hước.
