📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại - Phạm Thanh

4 trả lời, 1.870 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.12.2014 13:22:40 bởi Ct.Ly>
Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại
 
Tác giả : Phạm Thanh
 
Nhà xuất bản : Sống Mới (năm 1959)
 
Cảm đề .
 
Vườn hoa văn nghệ thơm ngát
Sắc hương trăm thức nở đều
Sáng lên pha mầu thế hệ
Của lòng đất nước thân yêu
 
Gọi chút đưa người thanh khí
Hồn đang lâng lâng phiêu phiêu
Giữa giờ chuông đánh xua đêm tắt
Còn ngỡ không gian trước bóng chiều
 
Sài thành Xuân Kỷ Hợi 1959
PHẠM THÀNH
 
Lời Nói Đầu :
 
Thơ là nguồn cảm xúc của con người ở trước những sự vật xẩy ra trên vũ trụ hoặc thuộc về bản ngã hoặc thuộc về khách quan được tạo lên thành câu và thành lời …
 
    Thơ là một bộ môn trong các ngành văn - học và văn - nghệ. Nếu nói văn nghệ  và văn - học là các món ăn tinh thần cần thiết cho con người, thì chính thơ cũng là một trong những món ăn này vậy.
 
     Do đó, nói đến sinh hoạt xã - hội, người ta không thể bỏ thơ và những thi nhân ra ngoài mà không cần biết đến. Hơn nữa, sự nghiệp của thi nhân cũng như của các văn  nghệ sĩ khác lại là những sự nghiệp cao quý. Sự nghiệp ấy phải đem vào thật sự của tinh thần cùng khối óc sáng tạo và phải chân thành, chính ngay ở tại bản thân mình, phải chủ động, phải tự lực, không thể đi mượn, đi van xin cầu lụy, hoặc bằng thế lực hay là các mưu mô, thủ đoạn…
 
Trước đây, ở nước ta, trên đàn văn học và văn nghệ đã có quyển « Thi Nhân Việt Nam » của Hoài Thanh, Hoài Chân ra đời để giúp các bạn đọc biết sơ qua về thân thế và ít nhiều thi - phẩm của một số thi nhân. Nhưng sách ấy đến bay giờ đã lui xa thế - hệ vì từ xa đến nay đã gần 20 năm, mà trong khoảng thời gian ngót một phần tư thế kỷ này, trên thi đàn Việt Nam đã xuất hiện ra thêm không biết bao nhiêu nhà thơ nữa, nhất là tác phẩm ấy lại đã bỏ sót khá nhiều những nhà thơ ngay ở đương thời mà không đề cập đến.
 
    Vì vậy, và vì sự cần thiết của một số đông các bạn đọc, chúng tôi xin soạn ra tập này lấy tên là Thi Nhân Việt – Nam Hiện Đại để kịp thời cung ứng cho nhu cầu hiện nay.
 
Lấy 6 chữ : « Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại» đặt tên cho tác phẩm, mục đích chính yếu của chúng tôi không hơn gì là để giới thiệu những nhà thơ còn sống, còn viết và đang mới tiến lên. Nhưng theo nghĩa tương đối, chúng tôi nhận thấy cần phải kể đến một số thi nhân tuy đã quá cố, nhưng ảnh hưởng vẫn còn trong đàn văn trận bút ?
Còn về công việc phê bình hay dở thế nào của từng thi nhân và từng thi phẩm một, chúng tôi xin để quý bạn đọc nhận xét, và xin nhường quyền ấy, để các bậc đàn anh trong văn giới, thi giới cũng như các cây bút chuyên về nhận xét và phê bình.
 
                Sau hết, chúng tôi xin quý bạn đọc, nhất là các bạn thơ, và các bạn yêu thơ hiễu cho trong tập « Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại»  này còn rất nhiều thiếu sót vì trong thi đàn hiện nay số người cũ còn lại cũng nhiều và số người mới cũng thật là đông đảo, chúng tôi nhìn vào thấy đang nở lên như cả một vườn hoa muôn mầu, muôn thức, muôn hương, mà sưu tầm góp lại, thấy chẳng được là mấy, còn bao nhiêu bạn khác nữa, chúng tôi chưa biết được tiểu sử, cũng như chưa lựa được thi phẩm
 
                Chúng tôi mong quý bạn thông cảm, đồng thời xin hứa cố gắng sẽ làm cho mỗi lần xuất bản được kỹ lưỡng và đầy đủ hơn lên.
 
                Cuối cùng , xin tất cả nhận lấy ở đây, trong tập này lời chào của chúng tôi : « thân ái đoàn kết và tích cực xây dựng văn nghệ … »
 
Soạn giả và Nhà xuất bản.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.12.2014 21:02:49 bởi Ct.Ly>
Tản Đà
 
 
Là một thi nhân khét tiếng về ngông ở giữa giữa buổi giao thời Pháp – Nam, Ông Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu sinh năm 1888, tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nơi gần núi Tản sông Đà ; và mất ngày 17 tháng 6 năm 1939, tại nhà số 71 ngã tư Sở Hà - Nội
 
                Thân phụ ông là cụ cử nhân Nguyễn Danh Kế, làm quan đến án – sát. Thân mẫu là một người cũng có Nho học và cũng từng họa thơ với bà Nhan Khanh con gái quan phó - bảng Vân Đình.
 
Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, thuở nhỏ, ông Tản Đà cũng theo cử -nghiệp. Nhưng thi mấy lần đều không đổ. Rồi sau khoa Nhâm Tí (1912) ông theo học chữ Quốc - ngữ và bắt đầu viết Giấc Mộng Con.
 
                 Sau đó, Tản Đà được cụ Trịnh Xuân Nhan giáo thụ trường Hậu - bổ giới thiệu với ông Nguyễn văn Vinh, Thi văn của Tản Đà được đăng lên Đông Dương tạp chí, và được nhiều người chú ý.
 
                Khi phong trào cải lương ở Bắc nhóm lên, ông được ông Nguyễn đìng Cao mời về cộng tác. Ông soạn các vở tuồng Tây – Thi, Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai  v…v… Dần dà, ông cho xuất bản những tác phẩm : Khối tình con, Khối tình, Lên Sáu, Lên Tám, Đài gương và Đàn bà Tàu.
 
                Kế đó, Tản Đà được các ông Nguyễn huy Hội, Nguyễn mạnh Bảo mời làm chủ bút báo Hữu Thanh. Được ít lâu, ông từ chức và xuống làng Văn – quán cùng với hai ông Nghiêm thượng Văn, Đặng đức Tô lập Tản Đà thư cực ở hàng Gai
 
 
 
                Trong thời gian này, Tản Đà cho xuất bản các tác phẩm : Thiên Quốc Phong, Đại học và Quốc sử huấn mông. Rồi ra tờ An Nam tạp chí. Tờ này ra được ít lâu phải tự đình bản vì tài chánh ngặt nghèo, ông Tản Đà phải quay về dịch Đường – thi cho báo Ngày Nay, chú thích truyện Kiều và dịch Liêu Trai Chí dị cho nhà xuất bản Tân Dân, cùng giữ mục thi đàn cho Tiểu thuyết tuần san.
 
                Ngoài sự nghiệp thi văn trên này, ông Tản Đà còn thuyết minh cả triết học Phật giáo và giúp cho tờ « Tiếng Chuông Sớm » cơ quan của hội Phật giáo so sư cụ tổ Đinh xuân Lạc chủ trương
 
[sm=40.gif] 
THI TUYỂN
 
TỰ TRÀO
(Sau khi hỏng thi ở trường Nam Định)
Vùng đất Tây Sơn nẩy một ông,
Tuổi chửa bao nhiêu, văn rất hùng.
Sông Đà núi Tản ai hun đúc ?
Bút Thánh, câu Thần sớm vãi vung.
Chữ chữ nôm nôm nào kém cạnh ;
Khuyên khuyên, điểm điểm có hay không ?
Bởi ông hay quá, ông không đỗ,
Không đỗ ông càng tốt bộ ngông.
 
 
[sm=40.gif] o O o [sm=40.gif]
 
 
BỨC DƯ ĐỒ RÁCH
 
Nọ bức dư đồ thử đứng coi,
Sông sông núi núi khéo bia cười.
Biết bao lúc mới công vờn vẽ ,
Sao đến bây giờ rách tả tơi ?
Ấy trước ông cha mua để lại,
 Mà sao con cháu lấy làm chơi !
Thôi thôi có trách chi đàn trẻ ?
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi.
 
                          [sm=40.gif] oOo [sm=40.gif]
 
 
MẮNG CON QUỐC TIẾC XUÂN
(Gởi cho các chiến sĩ tại Đông Kinh Nghĩa Thục )
Ai khuyên con quốc nó đừng kêu,
Xuân đã qua rồi cứ gọi theo…
Sao cứ lo co trong bụi rậm,
Lại còn eo óc với trời cao !
Cỏ non nước lục chờ mi mãi,
 Liễu yếu đào tơ chán kẻ yêu.
Đen đủi chẳng nên năn nỉ phận,
Mặc cơn mưa sớm, hạt mưa chiều.
 
[sm=40.gif]
 
CHIẾC TÀU AN – NAM
 
Bốn bể năm châu náo cuộc đời,
Con tầu bản quốc chị em ơi !
Tấm thân dầm nước đà nên sắt,
Tiếng hiệu non sông mới hét còi .
Vồn vã gió mưa cơn giục khách,
Mông mênh trời bể bước ra khơi.
Hỏi thăm Âu Mỹ bờ đâu bến,
Mở máy quay guồng mấy độ chơi.
 
[sm=40.gif]

MUỐN LÀM THẰNG CUỘI
 
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi !
Trần thế em nay chán nữa đời.
Cung quế đã ai ngồi đó chửa ?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
Có bầu có bạn cant hi tủi,
Cùng gió cùng mây thế mới vui.
Rồi cứ mỗi đêm rằm tháng tám,
Tựa nhau trông xuống thế hian cười.
Trời sinh ra kiếp con quay,
Quay tít mù xanh nghĩ cũng hay.
Lì – mít giang sơn khi chóng mặt,
Đùng lăn thiên địa lúc rời tay.
Lăng băng thân thế đi đi đứng.
Nghiêng ngả quan hà, tỉnh tỉnh say.
Thân tớ ví to bằng quả đất,
Cũng cho thiên hạ có đêm ngày ?
 
 
[sm=40.gif]

THĂM BÙ NHÌN
 
Lơ láo kìa ai đứng cạnh bờ ;
Trần ai tri kỷ đã ai chưa ?
Ba thu mưa gió người trơ mộc ;
Bốn mặt giang sơn áo phất cờ.
Được việc thế thôi cày chẳng biết,
Khinh đời ra dáng gọi không thưa.
Lâu nay thiên hạ văn minh cả,
Bác mấy ngàn năm vẫn thế ư ?
 
 
[sm=40.gif]

THÚY KIỀU HẦU RƯỢU HỒ TÔN HIẾN
 
Tiếng sấm ân tình bốn mặt ran,
Tướng quân chi tiếc cánh hoa tàn.
Đôi hàng nước mắt đôi hàng sóng,
Nửa đám ma chồng nửa tiệc quan.
Tổng đốc ví thương ngừơi bạc mệnh ;
Tiền đường đâu đến mả hồng nhan,
Kìa kìa nắm đất bên sông nọ,
Hồn có nghe chăng mấy giọng đàn.

 
[sm=40.gif]

CÁI GIỐNG YÊU HOA
 
Cái giống yêu hoa lạ lạ đời,
Mắt xanh chưa lọt đã mê tơi.
Chim trời cá nước duyên ai đó !
Xa cách ngoại trăm nghìn dặm đất,
Ước ao trong sáu bảy năm trời.
Cái mê vô ích mà mê dại !
Mê dại mà mê mãi chẳng thôi.
 
 
[sm=40.gif]

NHỚ MỘNG
 
Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi ,
Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi.
Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng ;
Tỉnh mộng bao nhiêu lại ngán đời.
Những lúc canh gà ba cốc rượu ;
Vài khi cánh điệp bốn phương trời.
Tìm đâu cho thấy người trong mộng ;
Mộng cũ mê đường biết hỏi ai ?
 
[sm=40.gif]
PHONG THI

Suối tuôn róc rách ngang đèo,
Gió thu bay lá, bóng chiều về tây.
Chung quanh những đá cùng cây ;
Biết người tri kỷ đâu đây mà tìm ?
Hỏi thăm những cá cùng chim,
Chim bay xa bóng, cá chìm bặt tăm.
Bây giờ vắng mặt tri âm,
Lấy ai là kẻ đồng tâm với mình ?
Nước non vắng khách hữu tình,
Non xanh nước biếc cho mình nhớ ai ?
 
Đêm thu gió đập cành cau,
Chồng ai xa vắng, ai sầu chăng ai ?
Đêm thu gió hút ngoài tai,
Gió ôi có biết chồng ai nơi nào ?
Đêm thu gió lọt song đào,
Chồng ai xa vắng, gió vào chi đây ?
Đêm khuya gió lọt đồi mây,
Gió ơi, có biết nỗi này cho chăng ?
 
Muốn ăn rau sắng chùa Hương,
Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa.
Người đi ta ở lại nhà,
Cái dưa thời khú, cái cà thì thâm.
Ai ơi đợi với tôi cùng,
Tôi đi kiếm rượu cho chồng tôi sơi
Chồng hư mang tiếng mang tai.
Tiếng tai thiếp chịu, hơn ai không chồng.
 
Con cò lặn lội bờ ao,
Phất phơ đôi giải yếm đào gió bay.
Em về dục mẹ cùng thày,
Cắm sào đợi nước biết ngày nào trong ?
Con cò lặn lội bờ sông,
Ngày xanh mòn mỏi, má hồng phôi pha.
Em về dục mẹ cùng cha,
Chợ trưa dưa héo, nghĩ mà buồn tênh.

 
[sm=40.gif]

THỀ NON NƯỚC
Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi, không về cùng non
Nhớ lời “nguyện nước thề non”
Nước đi chưa lại, non còn đứng không
Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương
Trời Tây ngả bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc, nét vàng phôi pha
Non cao tuổi vẫn chưa già
Non thời nhớ nước, nước mà quên non
Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non còn nước hãy còn thề xưa
Non cao đã biết hay chưa
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước chưa nguôi lời thề.

[sm=40.gif]
NÓI CHUYỆN VỚI ẢNH

Người đâu? Cũng giống đa tình,
Ngỡ là ai, lại là mình với ta.
Mình với ta dẫu hai như một,
Ta với mình tuy một mà hai?
Năm nay mình mới ra đời, mà ta ra trước đã ngoài đôi mươi.
Cuộc nhân thế câu cười tiếng khóc,
Nghề sinh nhai lối dọc đường ngang.
Đầu xanh ai điểm hơi sương,
Những e cùng thẹn, những thương cùng sầu.
Đôi ta vốn cùng nhau một tướng,
Lạ cho mình sung sướng như tiên,
Phong tư tài mạo thiên nhiên
Không thương không sợ, không phiền không lo.
Xuân bất tận trời cho có mãi,
Mảnh gương trong đứng lại với tình.
Trăm năm ta lánh cõi trần
Nghìn năm mình giữ tinh thần chớ phai.


[sm=40.gif]

CON CÁ VÀNG
 
Nước trong xanh, lơ lửng con cá vàng.
Sân ngô cành bích, con chim Phượng hoàng nó đậu cao.
Anh tiếc cho em phận gái má đào,
Tham đồng bạc trắng gán mình vào cái chú Tây đen.
Sợi tơ mành ai khéo xe duyên,
Để bức tranh Tố nữ đứng bên ông tượng đồng.
Chị em ơi, ba bảy đường chồng …

[sm=40.gif]  
HỎI GIÓ
 
Cát đâu ai bốc tung trời ?
Sóng sông ai vỗ, cây đồi ai rung ?
Phải rằng : dì gió hay không ?
Phong tình đem thói lạ lùng trên ai ?
 
Khoái tai phong dã ?
Giống vô tình cây đá cũng lê tơi.
Gặp gió đây hỏi một đôi lời,
Ta hỏi gió quen ai mà phảng phất ?
Thử thị Đà giang phi Xích bích,
Dã vô Gia cát dữ Chu lang !
Ai cầu phong ? Mà gió tự đâu sang ?
Hay mải khách văn chương tìm kết bạn ?
Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán :
Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong.
Nên chăng gió cũng chiều lòng.

[sm=40.gif]

LẠI SAY

Say sưa nghĩ cũng hư đời,
Hư thời hư vậy, say thời cứ say.
Đất say đất cũng lăn quay,
Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười?

Say chẳng biết phen này là mấy!
Nhìn non xanh chẳng thấy, lại là say.
Quái! Say sao say mãi thế này?
Say suốt cả đêm ngày như bất tỉnh.


Thê ngôn tuý tửu chân vô ích
Ngã dục tiêu sầu thả tự do (*)

Việc trần ai, ai tỉnh ai lo
Say túy lúy nhỏ to đều bất kể.
Trời đất nhỉ! Cái say là sướng thế!
Vợ khuyên chồng, ai dễ đã chừa ngay?
Muốn say lại cứ mà say!


1921


(*) Vợ bảo: say rượu thật vô ích. Ta muốn giải sầu nên cứ mặc sức uống

[sm=40.gif]
Tống Biệt
Lá đào rơi rắc lối thiên thai
Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt.
Nước chảy, hoa trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi ....
 
[sm=40.gif]
THƠ TẢN ĐÀ
📎 tanda|tan da1




Đăng nhập để trả lời
0
Thúc - Giạ - Thị
 


 
Là một nhà thơ lão thành nhất trong các nhà thơ còn sống và còn viết, cụ Thúc giạ Thị chính tên là Ưng Bình sinh năm Đinh Sửu, dương lịch 1877.
 
            Giòng giõi hoàng tộc, cụ Thúc giạ Thị là cháu nội Tuy lý Vương một thi gia nổi tiếng ở thế kỷ 19 mà vua Tự Đức đã phải khen là ngang với các nhà thơ Thịnh Đường (Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán, Thi đáo Tung Tuy thất Thịnh Đường)
 
                Cụ học đến thi đỗ cử nhân Hán tự và quan đến Lễ bộ Thượng thư. Nhưng cái thích của cụ không phải ở chỗ nơi lá ngọc cành vàng, ở chỗ khoa hoạn và công danh hiển đạt mà thích ở rượu thơ đàn hát, ở gió trăng sông núi.
 
               Cụ làm thơ rất nhiều, nhưng ít có đăng báo. Tuy nhiên nói tới cụ, không mấy người không biết vì cụ là một nhà thơ nổi tiếng ở sông Hương núi Ngự được nhiều người chú ý, và hiện nay là hội chủ Hương bình thi xã ở Huế.
 
                Về phạm vi thơ, trước đây cụ có ít bài đăng trên các báo Đông phong tạp chí ở Sàigòn, Ngày mai ở Huế và mới đây có xuất bản tập thơ Tình Thái Giạ, một thi phẩm được làng thơ đặc biệt thưởng thức.
 
                Là một nhà thơ thuộc về phái cổ, năm nay đã ngoài tám mươi rồi, nhưng đặc biệt ở trong thơ cụ vẫn còn cái tinh thần khoáng đạt, và nhiều lúc như đang vươn lên ở trước thế hệ kỷ.
 
[sm=40.gif]
 
TỰ THUẬT
 
Đình hưu vách mảy lại ngâm nga,
Tức cảnh câu thi Tết gọi là.
Khoe cánh tìm hương con bướm liệng,
Vui lòng rủ bạn tiếng oanh ca.
Ngành cây cổ thụ đương xây lá,
Ngọn bút tao đàn cứ trổ hoa,
Thưa rằng : Nay đã tám mươi ba.
 
Xuân Kỷ Hợi 1959
 
oOo
 [sm=40.gif]
 
TIẾT TRÙNG DƯƠNG NĂM ĐINH MÃO
Ở HÀ TỊNH
 
Xa ngái nhau chi mấy dặm trường,
Gió mưa thêm chạnh tiết Trùng Dương.
Hoa lau trổ bạc đầu phơi tuyết,
Đoá cúc phai vàng mặt giải sương.
Trăm giận, nghìn thương câu cảm tác,
Một say, mười tỉnh chén tha hương.
Non Hồng thử dạo lên cho đến,
Bẻ nhánh thù du giữ lấy hương.
                                         1928
 
 [sm=40.gif]
ĐƯỜNG NA - BẸ
 
Trải khắp non sông một tỉnh nầy,
Ngả đường Na -Bẹ mới qua đây.
Trước sao cả núi, sau đều núi !
Trên những là cây , dưới cũng cây !
Năm động bảy đèo lên với xuống.
Trăm khe ngàn suối chuyển rồi xây.
Cõi Lào, đất Việt, phương Đông Á,
Mà bản phân cương viết chữ Tây !
                                           1929
 
 [sm=40.gif]
BUỔI CHIỀU ĐI DẠO BỜ SÔNG, TỨC CẢNH
 
Cám thương danh lợi cả hai thằng,
Kẻ chống người chèo bộ xí – xăng.
Ghét cụm bèo trôi che bóng nước,
 Giận chòm mây nổi khuất vành trăng.
Chim khôn nhát bẫy nhìn không đậu,
Cá dại ham mồi thấy phải ăn.
Câu hát bên sông thêm chạnh nỗi.
Ông chài lơ lửng có nghe chăng !
                                         1933
 
 [sm=40.gif]
CẢM HỨNG
 
Thế giới ba ngàn vậy ở đâu ?
Họa đồ trông thấy chỉ năm Châu.
Gió mây xáo lộn tuồng thiên diễn,
Sông núi in nguy quả địa cầu.
Nước biển no lòng con chuột lúi,
Cây rừng dựa tổ cái chim sâu,
Có chi chi cũng quyền ông Tạo,
Ai dại chi mà khóc bễ dâu !
                                               1940
 
 [sm=40.gif]
DẠO CHƠI TRONG VƯỜN, TỨC CẢNH
 
Xởn gió sưa mưa buổi tạnh trời,
Dạo quanh vườn cũ ngắm thu chơi.
Máy thắm phù dung lụy nhỏ rơi.
Xây tổ bầy ong đương rủ bạn,
Liệng vành con bướm vẫn trêu ngươi.
Tình nầy, cảnh ấy, khi hiu quạnh,
Khói lửa xa xa nhớ cuộc đời.
                                 1940
📎 thucGiaThi




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.12.2014 23:43:01 bởi Ct.Ly>
Cao – Ngọc – Anh
 
Là một nhà thơ rất giỏi về Hán học và là cao niên nhất trong các nữ sĩ ở Việt Nam hiện nay, nữ sĩ Cao Ngọc Anh năm nay 82 tuổi, tức sinh năm 1878
Bà tên thật là Cao thị Hòa, quê tại Lam Sơn tỉnh Nghệ An (Trung Việt), nữ sĩ là con gái cụ Đông các Cao Xuân Dục, bào muội ông Hiệp tá phó bảng Cao Xuân Tiếu.
 
Xuất thân trong gia đình thế gia vọng tộc, nữ sĩ sớm được thân phụ cho theo đòi nghiên bút.
 
Năm 19 tuổi, nữ sĩ kết duyên với ông án Nguyễn Duy Nhiếp con cụ cần chánh Nguyễn Trọng Hiệp.
 
Về làm dâu nhà họ Nguyễn, nữ sĩ sanh hạ được 3 con (một 5 tuổi, một 3 tuổi và một mới 4 tháng) thì ông Nguyện Duy Nhiếp từ trần.
 
Năm ấy, nữ sĩ mới 26 tuổi, nhưng quyết ở vậy thờ chồng nuôi con, và đem tâm sự gởi vào văn thơ.
 
Nữ sĩ chẳng những giỏi về thơ nôm mà còn cả về thơ chữ Hán. Ai đọc tập Khuê sầu Thi nhân của nữ sĩ cũng phải khen là tú khẩu cẩm tâm. Trong tập này, nữ sĩ viết đủ các loại : bát cú, tứ tuyệt, ngũ ngôn, hát nói, văn tế … Và có người đã khen bài « Đào hoa khẩu chiếm » của nữ sĩ không kém chi bài « Hoa đào năm ngoái » của Thôi Hộ đời Đường.
 
Nữ sĩ hiện ở Sàigòn và là một hội viên của hội Khổng học Việt Nam. Tuy tóc đã bạc nhiều, mắt phải luôn luôn đeo kính, nhưng tinh thần vẫn sáng suốt, nói năng vẫn ôn hòa và cử động vẫn còn hoạt bát lắm
 
 
THI TUYỂN
 
 oOo
 
 
ĐÀO HOA KHẨU CHIẾM
 
Tích niên lang tháp song đào thụ,
Kim kiến đào hoa bất kiến lang,
Giả sử hoa thần như hữu thức,
Vị lang tiều tụy giảm dung quang.
Tự dịch :
 
Song đào chàng mới trồng năm trước,
Nay thấy đào hoa chẳng thấy chàng
Ví khiến thần hoa như có biết,
Vì chàng nhan sắc giảm phần chăng ?
 
 
HOÀNG HÔN
 
Hoàng hôn tối thị vô liệu lại,
Nhân tự thương tâm, nhật tự tà.
Lâu thượng nhất huỳnh tùy nguyệt độ,
Liêm tiền sổ điển họa phong ca.
Văn chương hồi thủ đô trần mộng.
Phú quý nhàn phao khán lạc hoa.
Tận nhật bế môn duyên để sự,
Sầu thời yếm kiến túc nhân đa.
 
TỰ DỊCH :
 
Chiều hôm rất đỗi buồn khôn tả,
Người đã đau thương bóng lại tà.
Trên gác đòm lòe, trăng dọi bóng ;
Trước rèm chim hót, gió hòa ca.
Ngẫm xem chữ nghĩa như trò mộng ;
Nhẹ ném giầu sang tựa cánh hoa.
Đóng cửa thâu ngày âu cũng thế,
Khi buồn chán thấy khách vào ra
 
  oOo
 
 
CÁNH NƯỚC LỤT
(Gởi Bà sầm Phố)
 
Phảng phất xa nghe tiếng sóng dờn,
Trời thu như gợi tấm lòng son.
Kiến ong vơ vẩn tìm cây cối,
Hoa cỏ tơi bời tủi nước non.
Trăng sớm xa trông miền cổ độ ;
Mây chiều như vẽ bóng cô thôn.
Quần thoa ai kẻ tri âm đó,
Ngâm họa vài câu đỡ lúc buồn.
 
oOo
 
 
THĂM ĐOÀN HƯỚNG ĐẠO Ở NÚI BẠCH MÃ
 
Đường lên hướng đạo đá cheo leo,
Mỏi gối chồn chân cũng gắng trèo.
Trên núi mịt mù mây phủ kín ;
Dưới khi róc rách nước trong veo.
Cờ vàng một ngọn treo cao ngất,
Nhà ngói vài gian bỏ vắng teo.
Ướm hỏi rừng xanh ai chủ đó,
Ù ù gió thổi tiếng thông reo.
 
 
 oOo
 
 
DẠO THUYỀN TRÊN HƯƠNG GIANG VỚI CÔ ĐÀO TUYẾT NGỌC
(Ca trù)
 
Nhất diệp khinh châu lăng vạn khoảnh,
Giữa sông Hương mà lanh lảnh tiếng Hồng Lam.
Khúc cao ca dìu dặt với cung đàn,
Bỗng gặp khách Trường an thi xã.
Văn tự tiền duyên giai cố ngã,
Cầm ca cựu khúc tức tân thanh.
Vẻ thiên nhiên lắm thú hữu tình,
Kìa gió mát trăng thanh ta với bạn.
Kho tạo hóa chi vô tận tạng,
Góp cùng nhau lạng mạng cuộc mua vui,
Kìa kìa cá nước chim trời.
 
 
VĂN TẾ MẸ
 
Mây Hàng một đám xa xa, cõi trần thế mơ màng nửa giấc ;
Núi Dĩ nghìn trùng thăm thẳm, cuộc tang thương đau đớn trăm năm.
Phũ phàng chi mấy trời xanh,
Chua xót thay lòng con đỏ.
Nhớ mẹ xưa
Tình đời cần kiệm,
Nết đất thảo hiền.
Vào bậc bố kinh,
Vốn dòng thi lễ.
 
Liễu yếu đương tuần đãi giá, chốn phòng khuê trăm nết giữ gìn,
Đào non vịnh chữ nghi gia, việc trung quỷ một mình cáng đáng.
Tay nội trợ đã nên tài phụ tướng.
Lòng trai thành thêm rạng đức tổ tôn,
Kiều mộc một cây, cát lũy tuyết sương che chở ;
Vườn xuân mấy độ, địch hoàn khuya sớm khuyên răn.
Này phú này quý, này thọ, này khang, này ninh, ở hậu trời cho đủ phúc ;
Nào rể, nào dâu, nào con, nào cháu, nào chắt, khi vui cảnh cũng chiều người.
Thiếu gì võng, thiếu gì dù, thiếu gì cửa tía nhà son, nền chung đỉnh nên ngôi mệnh phụ ;
Mà vẫn cày vẫn cửi, vẫn vườn rau ao cá, việc điền viên vui thú nông gia.
Phong lưu khác thói thường tình, cuộc tiêu khiển mượn vui ty trúc ;
Tình tứ nên câu tuyệt diệu, nhà tập rèn vả cũng bút nghiên.
Tuy lò tạo đúc khuôn xanh, cho vuông được vuông, cho tròn được tròn, rủi may âu cũng số trời, con nào quản lênh đênh chút phận ;
Mà nhà xuân đầy sắc tía, sinh hoa mừng hoa, sinh nụ mừng nụ, tươi tốt đã đành mặt đất, mẹ giúp nên vinh hiển một nhà.
Bể rộng non cao, công đức kể muôn nghìn ức triệu ;
Ngày qua tháng lại, xuân thu mong tám chín mười mươi.
Ai ngờ !
Con mới quy ninh,
Mẹ đã vĩnh quyết.
Biển thọ chúc song đường cụ khánh, nét chữ vàng chưa lạt màu son ;
Số nhân sinh bách tuế vi kỳ, gương tóc bạc bỗng lòa nước thủy.
Đã buồn nỗi năm canh  giấc điệp, khoái đoạn trường gửi đá vọng phu ;
Lại đau lòng một phút xe loan, giọt hàng lệ nên dòng từ mẫu.
Thơ thẩn Lục đường mượn hứng, rượu Bùi tương chén đầy chén cạn, lúc thu thanh cảm nỗi cha già ;
Vội vàng Lê các từ quy, áo Mạnh công mũi nhặt mũi thưa, bóng xuân nhật thương tình anh cả.
Nỗi xa, xót đàn con ríu rít, tìm Bà ngoại ngơ ngơ ngác ngác, biết lấy ai chia ngọt chia bùi ;
Nỗi gần, thương hai chị ngẩn ngơ, nhớ mẹ già viếng viếng thăm thăm, cực những lúc chạy đi chạy lại.
Ngoài nghìn đặm nặng tình tang tử, mẹ vội về chi ?
Dưới cửu tuyền chăm việc thần hôn, chàng ơi thay với !
 
Thương thay !
Chút tình máu mủ ;
Mấy đoạn ruột già.
Mẹ con vẫn tình sâu,
Sống thác là sự lạ.
Ba năm tóc rối, núi Hồng sơn cao đắp dạ sầu ;
Chín khúc tơ vò, sông Lam thủy chảy đầy nước mắt.
Nghĩ đến cù lao chín chữ, khôn đúc người vàng ;
Gọi là báo đáp ba xuân, kính dâng lễ bạc.
Than ôi !




Đăng nhập để trả lời
0
Thượng - Tân - Thị
 
Là một tay Nho học thuộc phái Bảo hoàng, nhà thơ Thượng tân Thị chính tên là Phan quốc Quang, người phủ Thừa thiên (Huế) sinh vào khoảng năm 1880.
 
Cụ vào Nam từ khi ông Thành Thái Tây du. Sau khi bao phen đông bôn tây tẩu, cụ đã trở nên người chán đời, với cái vẻ thu lời nghe tiếng nói vào cho mình và tự mình trả lại với đời rất ít. Cụ là một ông đồ dạy chữ nho ở một xóm hẻo lánh thuộc xã Tam Bình, quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long và đã từng làm thơ đăng trên nhiều tờ báo ở Sàigòn trước đây như : Đuốc nhà Nam, Đại Việt tạp chí, và Nam kỳ tuần báo, v…v…và là bạn thanh khí của các ông Trần Chánh Chiêu, Đặng Thúc Liêng, Hồ biểu Chánh, Diệp văn Kỳ trước đây.
 
Chính cụ là tác giả bài thơ thập thủ liên hoàn « Khuê phụ thân » trước đây, một bài thơ thay lời bà Thành Thái gởi cho chồng, dưới ký tên Nguyễn thi Phi, tức là một bà Phi nhà Nguyễn, mà dư luận đương thời cho là một áng thơ kiệt tác, nhưng lại lầm tưởng tác giả là bà Nguyễn hoàng Phi, một bà phi của vợ vua Thành Thái.
 
 
THI TUYỂN
 
KHUÊ PHỤ THÂN
 
Chồng hỡi chồng ! Con hỡi con !
Cùng nhau chia cách mấy thu tròn.
Ven trời góc bể buồn chim cá,
Dạn gió dày sương tủi nước non.
Mộng điệp khéo vì ai lẽo đẽo.
Hồn quyên luống để thiếp thon von.
Ngày qua tháng lại trông đăm đắm,
Muôn dặm xa xôi mắt đã mòn.
 
Đã mòn con mắt ở Phi Châu,
Có thấy chồng con đâu ở đâu.
Dẫu đặng non xin cùng bể tốt,
Khó ngăn gió thảm với mưa sầu.
Trách ai dắt nẻo khôn lừa dọc,
Khiến thiếp ra thân chịu dãi dầu.
Bớ bớ xanh kia sao chẳng đoái,
Xui lòng oằn oạisuốt canh thâu.
Canh thâu chưa nghi hãy con ngồi,
Gan ruột như dầu sục sục sôi.
Nghĩa gá ấp yêu đành lỡ dở.
Công cho bú mớm chắc thôi rồi!
Quyết gìn giữ dạ tròn sau trước,
Biết cậy nhờ ai tỏ khúc nhôi ?
Dâu bể xanh xanh trời một gốc,
Hỡi chồng ôi ! với hỡi con ôi !
 
Con ôi ruột mẹ ngấu như tương,
Bảy nổi ba chìm xiết thảm thương !




Đăng nhập để trả lời
0