📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Nhà tài phiệt cuối cùng - F. Scott Fitzgerald

8 trả lời, 2.224 lượt xem — Trang 1 / 1
Nhà tài phiệt cuối cùng
Tác giả: F. Scott Fitzgerald
Dịch giả: Tuyết Sinh
 
Lời người dịch
 
Fitzgerald là ai?
Ông là người đã nhìn thấy rõ những nỗi vui buồn tế nhị nhất của con người, và đã biết dùng ngôn từ để mô tả những nỗi buồn vui đó một cách khéo léo, rõ ràng, tỉ mỉ nhất.
Những hàng chữ ông đã viết ra, những cuốn truyện ông để lại cho nhân loại là “trầm tích” để con ngươi mãi mãi về sau này biết rằng những ngươi sống trước mình hàng chục năm, trăm năm, ngàn năm, triệu năm đã có những tình cảm như thế đấy.
Cũng như Homer, Nguyễn Du, Shakespeare, Fitzgerald sẽ sống mãi với thời gian và không gian.
Nhờ những đứa con đó mà nhân loại có thể tìm lại dấu vết của mình. Tìm lại dấu vết để có một sức sống liên tục, để suy tư về số kiếp và định mệnh của mình đồng thời toan tính một dự phóng cho tương lai.
Nhà tài phiệt cuối cùng là cuốn truyện Fitzgerald đã gửi gấm cả cuộc đời mình trong đó. Ông đã viết nó vào lúc nghèo đói nhất, vào lúc ông tự tử không chết. Những tư tưởng sâu sắc nhất, những tình cảm cuối cùng ông đã đặt trong cuốn truyện này để gửi lại cho hậu thế.
Chúng ta đã đọc Đoạn trường tân thanh và đã khóc cho Nguyễn Du. Chúng ta hãy đọc thêm Nhà tài phiệt cuối cùng để khóc thêm cho Fitzgerald khốn khổ một giọt nước mắt. Như thế là công bằng, bởi vì những người đó đã chảy rất nhiều mồ hôi, nước mắt mới viết lên được các tác phẩm để lại cho chúng ta ngày nay.
Trước khi vào chuyện xin quý độc giả lướt qua vài nét chính về cuộc đời của Fitzgerald.

Scott Fitzgerald: cơn sốt của đời sống
“Mẹ ơi, sau này con có tất cả mọi cái mà bây giờ con chưa có hay không?” Cậu Fitzgerald đã hỏi mẹ câu đó lúc cậu bốn tuổi, sau này cậu đã có tất cả và Fitzgerald cũng đã trả lại cho xã hội tất cả. Ông chính là tác già những cuốn “Gatsby Huy hoàng” “Đêm trường êm dịu” và trở thành nhà văn lớn của Mỹ quốc. Cuối cùng, ông đã vĩnh biệt cuộc sống trong cảnh thanh bần và quên lãng của thế nhân.
Phải chăng cuộc đời thi nhân giống như ngôi sao lạ, ánh sáng huy hoàng của mình phát ra lại thiêu đốt chính cuộc đời của mình?
* * * * *
Francis Scott Key Fitzgerald chào đời ngày 24-9-1896 tại thành phố Saint Paul thuộc tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ. Ông là con trai duy nhất trong gia đình. Trưức khi sinh ông, cha mẹ ông đã có hai con gái, nhưng cả hai đều chết vì bệnh đậu mùa. Sau này Fitzgerald kể lại: “Trước khi sinh tôi ba tháng thì hai chị tôi qua đời. Tôi có cảm tượng cuộc đời văn sĩ của tôi bắt đầu từ đó. Tôi không biết tại sao nhưng nhất định là như vậy”.
Càng lớn lên cậu Fitzgerald càng tỏ ra là một học sinh xuất sắc, thông minh, ngoan ngoãn. Cận có rất đông bạn bè và được mời đi hết dạ hội này đến dạ hội khác. Các cô bạn gái thích ngồi nghe cậu kể chuyện hàng ngày không chán. Những kỷ niệm đó, Fitzgerald không bao giờ quên, và ông dã dùng để xây dựng nhiều nhân vật trong tiểu thuyết của ông sau này.
Năm 17 tuổi, Fitzgerald theo học ở đại học Princeton và bắt đầu viết bài cho những đặc san của nhà trường. Ông say mê viết suốt đêm và nhiều khi đến sáng lại liệng tất cả vào sọt rác.
Trong lớp, Fitzgerald thường mơ mộng và nhiều khi cậu chỉ nghe loáng thoáng được câu sau này vị giáo sư văn chương hay nhắc lại nhiều lần: “Mọi việc đều tùy theo quan điểm của mỗi người. Thưa quý vị, vấn đề nào cũng có phương diện chủ quan của nó”.

Túc cầu và binh nghiệp
Càng ngày những bài của cậu viết trong đặc san của nhà trường càng được nhiều người chú ý, và chẳng bao lâu cậu trở thành một cây viết chính trong ban biên tập. Tuy nhiên ngoài công việc làm báo, còn một môn khác mà cậu cũng say mê không kém, đó là môn túc cầu. Không có buổi chiều nào Fitzgerald vắng mặt trên sân cỏ.
Nhưng điểm đặc biệt nhất là chàng có cái nhìn thật quyền rũ, và một cách cư xử với bạn bè rất lịch thiệp, cởi mở.
Sau khi tốt nghiệp ở đại học Princeton, Fitzgerald gia nhập quân đội với cấp bậc Chuẩn úy. Năm 1918, đơn vị của ông đóng ở tiểu bang Alabama, và tại đây lần đầu tiên Fitzgerald đã gặp Zelda, một thiếu nữ mà chàng cảm thấy tình yêu chân thành của mình và của nàng cùng hòa chung một nhịp với nhau. Hai ngươi có gương mặt giống nhau và nhiều người lầm tưởng họ là hai anh em ruột. Nhưng sự giống nhau giữa hai khuôn mặt chưa bằng sự giống nhau giữa hai tâm hồn của chàng và nàng. Chẳng bao lâu mối tình của cặp Fitzgerald - Zelda đã được cả thành phố biết, và mọi người đều ước mong cho họ mãi mãi được hưởng hạnh phúc.

Những ngày lang thang ở Nữu Ước
Chiến tranh Âu châu kết liễu, Fitzgerald được giải ngũ, chàng liền lên đường đi Nữu Ước để tìm cư hội lập nghiệp. Trước đó chàng đã bàn chuyện hôn nhân với Zelda, nhưng nàng trả lơi: chỉ cưới nhau khi nào chàng kiếm được công ăn việc làm.
Tới Nữu Ước, chàng ôm khư khư những bản thảo đi khắp nhật báo này đến nhật báo khác mà vẫn không kiếm được công việc gì. Cuối cùng chàng đành phải nhận làm công việc viết các tấm bảng quảng cáo trong một hãng quảng cáo với số lương 90 dollars một tháng. Chàng phải sống chui rúc trong một căn nhà ổ chuột hôi hám ghê gớm. Thơ, truyện ngắn, kịch của chàng đem đến các báo và nhà xuất bản, chẳng có chỗ nào thèm đăng hay in.
Fitzgerald đã nhận được tất cả 225 lá thư của các nhật báo và nhà xuất bản trả lời từ chối không đăng hoặc in các tác phẩm của chàng. Chàng dán tất cả những lá thư đó lên vách và nằm suy nghĩ tìm hiểu lý do của sự thất bại. Cuối càng một an ủi nhỏ đã đến với Fitzgerald: chàng bán được một truyện ngắn cho tờ “Smart Set” với số tiến ba mươi dollars. Chàng liền khởi viết cuốn chuyện dài “This Side of Paradise”. Sau một năm trời cặm cụi sáng tác suốt ngày đêm, cuốn sách được hoàn thành và chàng tràn đầy hy vọng, hăng hái gởi tác phẩm đến nhà xuất bản Scribners. Một tháng sau đó, chàng nhận đirạc điện tín của nhà xuất bản báo tin bằng lòng in cuốn truyện nói trên.
Ngày đó chàng sung sướng đến ngây ngất. Zelda đem đến cho chàng một chai rượu mừng chiến thắng và nàng nhận lời làm lễ cưới với chàng.
Ngày 26 tháng 3 cuốn “This Side of Paradise” bắt đầu xuất hiện trong các tiệm sách.
Ngày 3 tháng 4, lễ cưới giữa Fitzgerald và Zelda diễn ra tại nhà thờ Saint Patrick ở Nữu Ước. Từ trong nhà thờ bước ra, chàng thấy tương lai mở rộng trước mặt và say sưa trong men chiến thắng. Chàng đã được cả tình lẫn tiền: Zelda đi bên cạnh và cuốn “This Side of Paradise” đã được in lại lần thứ hai. Báo chí nói đến một Thiên tài bí mật xuãt hiện. Các nhà phê bình ví chàng với Byron và Kipling (là hai đại văn hào Anh quốc). Báo chí còn thần thánh hóa mối tình của chàng với Zelda, và cái tên Fitzgerald được mọi người nhắc nhở để tượng trưng cho tiền tài, danh vọng, tình yêu và tuổi trẻ.
Sẵn tiền chàng thường cùng với bạn bè giắt đầy đô la trong túi đi nhậu nhẹt say sưa tối ngày sáng đêm. Có khi họ vào rạp hát và cười lớn trong khi cả rạp đang yên lặng, hay ngồi trên mui xe tắc xi đi dạo phố và nhiều hành động lố bịch khác nữa, nhưng dư luận đã dễ dàng tha thứ cho chàng. Ở nhà thì lúc nào cũng đầy những bạn bè, nào nhà văn, nhà thơ, kịch gia, tài tử, nhà báo...

Ngày vui chẳng được bao lâu
Với lối sống phung phí tiền bạc như thế, chẳng bao lâu Fitzgerald không còn được một đồng xu dính túi, Tháng 3-1922 cuốn “The Beautiful and Damned” xuất hiện với sự hoan nghênh của dư luận, nhưng tiền bản quyển chàng đã lấy trước và tiêu sạch cả. Chẳng những thế chàng còn nợ thêm nhà xuất bản một số tiền lớn nữa, và phải tiếp tục viết để trừ nợ dần. Chàng làm việc đến 12 tiếng một ngày và uống rượu liên miên, nhiều khi người ta thấy chàng say nằm ngủ ngay ở bãi cỏ trong công viên. Tình trạng ăn ngả thất thường và làm việc quá độ đó khiến ông mắc phải bệnh phổi, bệnh đau dạ dày và chứng mất ngả.
Năm 1924 Fitzgerald và Zelda sang Âu châu. Ông thuê một biệt thự xinh xắn ở Côte D’Azur và tiếp tục viết tác phẩm “Gatsby huy hoàng”. Năm 1925 tác phẩm hoàn thành và xuất hiện một cách thành công rực rỡ đối với dư luận, nhưng về phương diện tài chánh không làm cho ông thỏa mãn. Sách bán được 25.000 cuốn, chỉ vừa đủ để trừ nợ những số tiền ông đã nhận trước của nhà xuất bản.
Năm 1927 ông trở về Hollywood viết truyện phim nhưng sau đó ông lại bỏ sang Âu châu và sống lang thang ở Thụy Sĩ, một xứ mà ông nhận xét là “nhiều cái đã hoàn thành nhưng ít cái được bắt đầu”. Trong thời này Zelda bắt đầu bị đau thần kinh.
Năm 1929 ông phải đưa vợ về Mỹ để lo chạy chữa. Zelda tiều tụy đến nỗi không còn đủ sức lượm một trái banh ten-nít. Fitzgerald không bao giữ thốt một lời than vãn và tận lụy săn sóc vợ.

Đầu hàng định mệnh
Bệnh tình của Zelda càng ngày càng trở nên nặng và chẳng bao lâu trở thành điên thực sự. Fitzgerald, sống trong cảnh khốn cùng, ông viết truyện ngắn kiếm ăn lần hồi.
Sức lực mỗi ngày một thêm kiệt quệ. Nhiều đêm trường ông thức trắng đêm để viết. Cũng có khi thức đến sáng mà không viết được chữ nào!
Năm 1934 ông hoàn thành cuốn “Đêm trường êm dịu” nhưng số bán không được nhiều như ông mong mõi. Càng ngày ông càng uống rượu nhiều và bị ám ảnh bởi nợ nần, bệnh tật, ông viết một tiểu luận nhan đề là “Sự rạn vỡ” phán tách tình trạng của ông.
Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật thứ 40 của ông, tờ New York Post có viết một bài mô tả ông như là một người khốn khổ đáng thương nhất trên đời. Ông đọc xong bài báo quá thất vọng ông toan tự tử bằng morphine nhưng được cứu thoát. Hãng MGM lại mời ông viết truyện phim, ông đi Hollywood và gặp nữ ký giả Sheilah Graham. Hai người trở nên bạn thân, ông tâm sự: “Nhà văn mà không viết được nữa thì phải trở thành điên dại”.
Ngày 20-4-1940 sau khi cùng với Graham đi coi hát về, ông đang ngồi ở ghế nói chuyện về cuốn tiểu thuyết mới tên là “The last Tycoon” mà ông đã hoàn thành được một nửa. Bỗng nhiên như có một sức mạnh vô hình lôi kéo, đầu ông bật ngửa về phía sau và im lặng không nói nữa. Graham vội vàng lay gọi, nhưng Fitzgerald đã tắt thở. Ngoài trời, một vì sao sáng cũng vừa đổi ngôi trong lúc thiên tài rời bỏ cuộc sống.
Tháng Ba năm 1948 nhằm ngày 11, nhà thương điên ở Highland phát hỏa. Zelda cùng chín bệnh nhân khác ở tầng chót bị chết cháy. Người ta an táng Bà cạnh mộ Fitzgerald ở Rockville. Đó chính là nơi an sống ngàn thu của hai tâm hồn giai nhân và thi sĩ vậy.

Saigon ngày 30 tháng 3 năm 1974
Tuyết Sinh

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.12.2014 10:32:27 bởi casau>
Giới thiệu
 
Scott Fitzgerald chết bất thình lình sau một cơn đau tim (ngày 21 tháng 12 năm 1940), tức một ngày sau khi ông viết xong đoạn đầu trong chương Sáu của cuốn truyện “Nhà tài phiệt cuối cùng”. Văn bản được in sau đây nguyên là bản nháp của cuốn truyện sau khi đã được tác giả sửa chữa nhiều lần. Tuy nhiên, đây vẫn là một cuốn truyện đã được hoàn tất. Bên lề mỗi đoạn, Fitzgerald đều có chua thêm lời bình phẩm biểu lộ sự chưa thỏa mãn hoặc những điều ông muốn sửa chữa sau này khi duyệt xét lại. Ý định của ông là làm sao để cuốn truyện trở nên xúc tích và được xây dựng tỉ mỉ giống như tác phẩm “Gatsby đại nhân” (The Great Gatsby) và rõ ràng là ông còn muốn cho những cảnh mô tả trong tác phẩm trở nên sắc bén, linh động hơn, bằng cách cắt xén, tô điểm thêm. Lúc đầu ông định viết tác phẩm này trong vòng sáu chục ngàn chữ, nhưng cuối cùng trước khi ông chết, cuốn sách đã lên tới bảy chục ngàn, mặc dầu ông cho rằng mới viết được có hơn nửa câu chuyện. Vào lúc khởi thảo ông đã trù tính viết mười ngàn chữ để còn cắt xén, gọt dũa đi nữa là vừa. Nhưng rõ ràng sau này, tác phẩm đã vượt quá sáu ngàn chữ. Đề tài ở đây xúc tích hơn nhiều so với đề tài của cuốn “Gatsby đại nhân”. Nói về những phim trường ở Hollywood, ông cần phải trình bày nhiều chuyện hơn là khi viết về đời sống nhàn hạ của những nhân vật ở Long Islands trong tác phẩm Gatsby đại nhân. Nhiều khía cạnh cần được khai triển nhiều hơn.
Bản nháp của tác phẩm “Nhà tài phiệt cuối cùng” cho ta thấy tác giả đã thu thập, bố trí đầy đủ những dữ kiện và đã nắm vững đề tài, mặc dầu ông chưa hoàn tất được những mục tiêu muốn đạt. Tác phẩm này cũng cho ta thấy nhân vật Stahr trong truyện đã nổi bật lên một cách rõ ràng xác thực với đầy đủ sức mạnh và các đặc tính. Nhà sản xuất điện ảnh ở Hollywood này, với những nỗi khốn khổ cũng như danh vọng tuyệt đỉnh, nhất định là một khuôn mặt chính mà Fitzgerald đã tạo ra sau những suy tư lâu dài và cảm thông sâu xa. Những ghi chú của ông trong bản thảo về nhân vật Stahr chứng tỏ ông đã để ra ít nhất là trên ba, bốn năm trời nghiền ngẫm, sống chung với người trong truyện cũng như điểm xuyết đầy đủ những cá tính và theo dõi mọi hoạt động liên hệ tới nghề nghiệp của nhân vật đó. Amory Blaine và Antony Patch (trong tác phẩm Thiên đàng phía này - This Side of Paradise) là những nhân vật được dựng lên trong những dự phóng lãng mạn của tác giả; Gatsby và Dick Diver (trong tác phẩm Đêm tĩnh mịch - Tender is the night) là những nhân vật được dựng lên một cách khách quan, nhưng chưa có sự thông cảm sâu xa. Nhưng Monroc Stahr mới đích thực là nhân vật được tạo ra sau sự suy tính khôn ngoan tỉ mỉ. Nhờ sự khôn ngoan đó, nhân vật này đã được tác giả đặt vào vị trí đúng của nó trong bối cảnh đời sống.
“Nhà tài phiệt cuối cùng” vì thế chính là tác phẩm vững vàng nhất của Fitzgerald vào lúc ông đã trưởng thành trong văn nghiệp. Những tác phẩm trước, Fitzgerald nói nhiều đến vấn đề nghề nghiệp và sinh kế. Những nhân vật trong các truyện này là những người mới vào đời, những sinh viên với thói quen vung vít của tuổi hai mươi. Sức sống của những nhân vật này bùng lên mãnh liệt trong những dạ hội liên hoan để rồi chia tay rời rạc và chờ cơ hội khác của cuộc sống. Trong tác phẩm “Nhà tài phiệt cuối cùng”, sự tụ hội không còn quan trọng và chỉ xảy ra một cách ngẫu nhiên. Monroe Stahr, không giống bất cứ nhân vật nào khác của Fitzgerald, đã bị lôi cuốn vào một nền kỹ nghệ mới mà chính ông từng là người tiền phong sáng lập. Vận mạng của ông đã được gắn liền với những thăng trầm của nền kỹ nghệ này. Đó chính là kỹ nghệ điện ảnh ở Hoa Kỳ, đã được tác giả quan sát, phân tách tỉ mỉ, và bi đát hóa dưới một ngòi bút sắc bén, một sự phối hợp hoàn hảo mà người ta không thể tìm thấy trong các tác phàm trước của ông. “Nhà tài phiệt cuối cùng” là cuốn truyện hay nhất nói về Hollywood và đưa chúng ta vào những sinh hoạt của thế giới điện ảnh.
Trong phần còn lại của bản thảo dở dang, chắc hẳn tác giả còn muốn khai triển thêm những khía cạnh sinh hoạt của thế giới điện ảnh này.
Sau khi đọc “Nhà tài phiệt cuối cùng”, nên đọc hai cuốn “Gatsby đại nhân” và “Đêm tĩnh mịch” để thấy rõ những điều quan trọng tác giả muốn thực hiện trong tác phẩm “Nhà tài phiệt cuối cùng”. Những ý tưởng hình thành của đề tài trong “Đêm tĩnh mịch” đã đến với tác giả trong lúc đang viết, vì vậy các bộ phận nhiều khi không ăn khớp với nhau. Trong tác phẩm này, ngòi bút của tác giả đã trở thành bàn tay khéo léo để dồn tất cả tình tiết vào một mục tiêu đơn thuần rõ rệt. Trong khi xem lại những bản nháp và các ghi chú của tác giả về tác phẩm này, ta càng tin tưởng rằng Fitzgerald phải được coi là nhà văn lớn nhất Hoa Kỳ trong thời đại của ông T.S. Eliot cho rằng kể từ sau Henry James, Fitzgerald là người đã bước một bước quan trọng nhất trong văn học Hoa Kỳ. Và dĩ nhiên “Nhà tài phiệt cuối cùng” là một tác phẩm quan trọng tạo ra bước tiến đó.

Edmund Wilson

Đăng nhập để trả lời
0
 
Chương I
 
Mặc dầu không xuất hiện trên màn bạc, nhưng tôi đã sống giữa thế giới điện ảnh ngay từ lúc lên năm. Sau nay tôi được nghe kể lại rằng Rudolph Valentino đã có mặt trong bữa tiệc kỷ niệm sinh nhật năm tuổi của tôi. Tôi nhắc đến chi tiết này để cho thấy rằng ngay từ những ngày chưa có trí khôn, tôi đã được quan sát những hoạt động của thế giới này.
Vào lúc mười tám tuổi, tôi có viết một cuốn hồi ký với nhan đề “Ái nữ nhà sản xuất”, nhưng ở vào tuổi này người ta đâu có thiết tha gì lắm tới việc viết hồi ký, bất quá thì cũng như viết một bài đăng trên báo. Ba tôi ở trong kỹ nghệ điện ảnh cũng giống như người khác làm kỹ nghệ bông vải hoặc kỹ nghệ thép, và tôi không lấy gì làm ngạc nhiên, thắc mắc. Vào lúc sa sút nhất, tôi đã cam phận sống ở Hollywood như thể một bóng ma an phận chốn nhà hoang. Tôi biết có thể quý vị sẽ nghĩ khác, nhưng quả thực đối với tôi, không có gì làm cho tôi kinh hãi cả.
Nói thì dễ, nhưng làm cho mọi người hiểu được điều đó mới thực khó. Hồi còn sống ở Bennington, tôi thấy có những giáo sư làm ra vẻ lãnh đạm đối với Hollywood và các sản phẩm của điện ảnh. Họ ghét Hollywood cay đắng, làm như điện ảnh là một mối đe dọa đối với đời sống của họ. Trước đó, hồi còn học trong trường dòng, một ma-xơ người nhỏ bé, xinh xắn có bảo tôi kiếm cho xơ một bản chuyện phim để xơ dạy trong lớp học về môn viết chuyện phim, cũng giống như khi dạy về môn tiểu luận hay chuyện ngắn vậy. Tôi đã đưa cho ma-xơ một chuyện, và tôi chắc rằng xơ phải đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác trong khi đọc, nhưng không hề thấy xơ dạy cho lớp học. Sau đó ma-xơ đã trả lại tôi bản chuyện phim với một vẻ vừa ngạc nhiên vừa không có thiện cảm, và cũng không có một lời bình phẩm nào. Tôi tin rằng đó cũng là điều sẽ xảy ra trong câu chuyện này.
Quý vị có thể biết tường tận về Hollywood như tôi, hoặc giả coi đó là chuyện đáng bỏ qua vì không hiểu nổi. Cũng có khi hiểu được chút ít, nhưng chỉ lờ mờ, thấp thoáng. Không có tới quá năm người có thể quán triệt toàn thể kỹ nghệ điện ảnh. Và đối với một người đàn bà, thì có lẽ điều họ có thể làm được với tất cả sức lực, là cố gắng hiểu nổi được một trong năm nhân vật đó trong khi tìm hiểu về kỹ nghệ điện ảnh.
Tôi biết đến những nhân vật trong thế giới này từ một chuyến phi cơ trên đường từ đại học trở về nhà trong dịp hè. Hồi đó, sau cái chết của chị Eleanor, tôi thường đi một mình trên các chuyến bay buồn nản này. Một mình cô đọc trên chuyến phi cơ từ miền Tây về miền Đông, tôi thường đăm chiêu với những ý nghĩ về chị Eleanor lởn vởn trong đầu. Những chuyến bay xuyên tiểu bang như vậy thường rất chật vật vì thời tiết xấu, ít nhất là cho tới khi rời khỏi phi trương nhỏ bé trơ trọi ở Tennessee mới thoát nạn.
Thời tiết xấu khiến cho phi cơ dằn mạnh đến nỗi có nhiều người không muốn tiếp tục cuộc hành trình nữa. Trong số những người muốn bỏ ngang chuyến bay đó, có ba người ngồi ngay phía trước tôi, mà qua câu chuyện họ trao đổi với nhau, tôi chắc chắn họ là những nhân vật ở Hollywood. Trước hết là một người Do Thái đứng tuổi, thỉnh thoảng chen vào câu chuyện với một vẻ bồn chồn. Người ông ta trông có vẻ như một chiếc lò xo chỉ muốn bung khỏi ghế ngồi. Người thứ hai mập có nước da hơi xanh, vẻ mặt bình thản, trông hơi quen quen, hình như tôi đã có gặp ở đâu rồi. Có lẽ lúc đó tôi còn nhỏ lắm nên bây giờ tôi không cảm thấy buồn khi ông ta không nhận được tôi.
Cô chiêu đãi viên trên phi cơ người to lớn, duyên dáng, với cặp mắt đen, hình như đang được mấy người đàn ông này để ý tới. Cô ta hỏi thăm tôi :
- Chị có cần uống một viên át-pê-rin không?
Cô ta vịn vào thành ghế đi lên đi xuống một cách nhanh nhẹn trong máy bay, giữa lúc những cơn lốc tháng Sáu đang dằn vặt mạnh con tàu.
- Không.
- Em bận quá nên không còn thì giờ để ý đến chị.
Cô ta ngồi xuống cạnh tôi và cột dây an toàn vòng qua cả hai.
- Chị dùng kẹo cao su không?
Câu nói của cô ta khiến tôi nhớ tới miếng kẹo cao su đang ngậm trong miệng đã có tới cả tiếng đồng hồ. Tôi nhả miếng kẹo vào miếng giấy báo, gói lại cẩn thận rồi bỏ vào hộp đựng tàn thuốc tự động. Cô chiêu đãi viên nói với giọng bằng lòng :
- Em rất cảm ơn những người trước khi bỏ kẹo cao su vào đây mà còn biết gói lại cẩn thận.
Rồi chúng tôi ngồi im lặng một lát trong ánh sáng lờ mờ của phi cơ. Không khí trở nên mơ hồ, tôi có cảm tưởng như đang sống trong thời gian một buổi chiều tà trước khi ăn cơm tối. Có lẽ ngay cả cô chiêu đãi viên, cô ta cũng đang phải nghĩ lại xem tại sao mình lại ngồi ở đây.
Chúng tôi nói về một nữ minh tinh tôi có quen biết. Cách đây hai năm, cô chiêu đãi viện kể, cô ta có gặp nàng trên một chuyến bay. Người nữ minh tinh nhìn ra ngoài qua cửa sổ trong một tư thế đặc biệt khiến cho cô chiêu đãi viên có cảm tưởng nàng sắp nhảy khỏi phi cơ. Nàng cho cô chiêu đãi viên biết nàng đang sống trong lo sợ và tuyệt vọng. Nàng không ngán cảnh nghèo đói, nhưng lại sợ cách mạng.
Nàng tâm sự với cô chiêu đãi viên :
- Tôi biết điều tôi và má tôi phải làm. Chúng tôi sẽ trở về Yellowstone sống một thời gian để cho mọi chuyện qua đi. Sau đó chúng tôi sẽ trở lại. Họ không giết nghệ sĩ, phải không cô?
Câu chuyện cô ta kể tôi nghe thấy vui tai. Tôi liên tưởng đến câu chuyện cổ tích “gia đình nhà gấu Tory” và tưởng tượng ra cái cảnh hai mẹ con nàng sẽ được những chú gấu Tory đi kiếm sữa, kiếm mật về nuôi, rồi đêm đêm chúng khoanh chân, giấu vuốt nhọn làm gối đầu cho mẹ con nàng ngủ. Để đáp lễ, tôi kể cho cô chiêu đãi viên nghe câu chuyện của một ông luật sư và một ông giám đốc trong thời kỳ nổi loạn đó, đã bàn với cha tôi trong một đêm. Nếu quân cách mạng chiếm được Hoa Thịnh Đốn thì họ sẽ sắp sẵn thuyền giấu trên sông Sacramento, chèo đi lánh mặt độ vài tháng, rồi lại quay trở về “bởi vì sau cách mạng thế nào người ta cũng cần đến luật gia để bạch hóa tình trạng pháp lý của chế độ mới”.
Ông giám đốc thì bàn sẽ sắp sẵn đồ nghề để chuồn, gồm một bộ quần áo rách rưới và một đôi giày cũ. Những đồ này không biết ông có sẵn hay sẽ đi lương ở đâu. Ông sẽ trà trộn vào đám đông chạy loạn. Tôi còn nhớ câu nói lúc đó của Ba tôi :
- Nhưng họ sẽ xem bàn tay anh, và biết ngay anh chưa hề mó tay làm việc lao động bao giờ. Họ sẽ hỏi thẻ nghiệp đoàn.
Và tôi nhớ, nghe xong câu nói đó, vẻ mặt ông ta xìu hẳn lại, trộng vừa buồn cười vừa đáng thương hại.
Cô chiêu đãi viên hỏi tôi :
- Brady, Ba chị là tài tử phải không? Hình như tôi có nghe tên ông.
Vừa nghe đến tên Brady, cả hai người đàn ông ngồi ở hàng ghế đối diện đều ngẩng đầu nhìn tôi, cái nhìn của dân Hollywood như thể ném vào mặt người khác. Rồi người trẻ hơn có nước da xanh, bụng bự, mở khóa dây an toàn, đứng lên cạnh ghế chúng tôi :
- Hình như cô là Cecilia Brady? Có lẽ tôi không lầm, còn tôi: Wylie White.
Giọng nói của hắn có vẻ khẩn trương, nghe như câu hỏi của một điều tra viên, làm như tôi vừa lấy của hắn vật gì không bằng. Lời giới thiệu của hắn thừa, vì hắn vừa nói dứt câu thì một người đàn ông khác từ phía sau la lớn :
- Wylie, coi chừng té.
Vừa nói, người này vừa rời ghế chạy tới vịn vai hắn để lần đi lên phía phòng phi công. Wylie trố mắt nhìn, và có tiếng cô chiêu đãi viên từ phía sau nói vói lên :
- Không được nói chuyện trong phòng lái.
Tôi cảm thấy vui vui trước những hành động ngang bướng và biểu lộ uy quyền của dân Hollywood.
Một chiêu đãi viên khác lên tiếng :
- Xin quý vị nói nhỏ một chút; có nhiều hành khách đang ngủ.
Đi sau người đàn ông vừa chạy lên phía phòng lái là một người khác cũng chạy theo bén gót, người này hình như gốc Do Thái. Người đi trước giơ tay vẫy vẫy lại phía sau làm như từ biệt ai.
Tôi hỏi cô chiêu đãi viên :
- Ông ta có phải phi công phụ không chị?
- Không, đó là ông Smith, ông ta có phòng riêng trên phi cơ.
Nói xong, cô ta đứng lên, để lại một mình tôi với Wylie :
- Để tôi xem coi mình có phải hạ cánh xuống Nashville để tránh bão không?
Wylie White trợn mắt :
- Sao lại hạ cánh?
- Bão đang tiến về phía Mississippi Valley.
- Chúng tôi phải ở lại đây cả đêm nay à?
- Nếu bão tiếp tục thổi.
Để phụ họa với câu nói của cô chiêu đãi viên, phi cơ chao mạnh đẩy cô ta chúi về phía phòng lái. Người đàn ông Do Thái thì té ngồi xuống chiếc ghế gần đó. Sau một phút im lặng nghe ngóng tình hình, mọi người trở lại bình thường. Wylie giới thiệu :
- Cô Brady, anh Schwartz.
Người đàn ông vừa được giới thiệu cúi mọp đầu :
- Dạ, thưa chính tôi, có Chúa làm chứng!
Tôi nghĩ có lẽ trong suốt đời hẳn, hắn chỉ nên nhờ Chúa làm chứng cho một lần là đủ, chớ không nên đưa Chúa ra bừa bãi như vậy. Tiếp xúc với người đàn ông này, ta có cảm tưởng hắn ta đang thủ sẵn những lời nói để hoặc khiêu khích, hoặc ca hót mình. Nếu ta hỏi thẳng hắn: “Anh làm sao vậy?” thì hắn sẽ lí nhí qua hàng răng mọc không đều và cặp môi dày. Hắn không thể nói cho ta biết về nguyên nhân tạo ra thái độ của hắn.
Bề ngoài Schwartz không có vẻ gì khác thường. Chiếc mũi hơi lớn thuộc giống người Ba Tư, cặp lông mày cong không có gì lạ, cũng như chiếc mũi đỏ thuộc giống người Ái Nhĩ Lan của ba tôi vậy.
Wylie lại kêu lên :
- Chà! Nashville, như vậy có nghĩa là đêm nay chúng ta phải ngủ ở khách sạn và chưa về được tới nhà. À, nhưng... Nashville là quê hương, bản xứ của tôi mà.
- Vậy thì chắc ông phải mừng lắm khi thấy lại quê hương.
- Không.. Tôi đã ra đi tự lúc mười lăm tuổi và hy vọng không bao giờ trở về lại nữa.
Nhưng lần này thì hắn sẽ trở lại, bởi vì phi cơ đang hạ thấp lần lần. Tôi ghé sát mắt vào cửa sổ phi cơ, lấy tay che hai bên má, nhìn xuống dưới: quang cảnh thành phố hiện ra ở phía trái. Hàng chữ màu xanh “Xin cột chặt dây an toàn, không hút thuốc” đã được bật lên tự lúc phi cơ đi vào vùng có bão.
- Vừa rồi anh có nghe họ nói gì không? - Tự hàng ghế bên kia, Schwartz hỏi vọng sang.
- Họ nói gì vậy? - Wylie hỏi lại.
- Họ vừa gọi lão ta là Smith. Không biết lão ta nhận cái tên Smith đó từ hồi nào vậy?
- Có quyền, ăn nhằm gì.
Schwartz nói nhanh :
- À, không sao, nhưng tôi nghe tiếng “Ông Smith” thấy nó buồn cười gì đâu, Smith!
Những phi trường ở tỉnh lẻ là những bộ mặt độc đáo chơ vơ, buồn tẻ với những dãy nhà kho xây bằng gạch đỏ trên đường vào thành phố. Hành khách không ai xuống những phi trường trơ trọi này làm gì, ngoại trừ dân địa phương đi đâu trở về. Những phi trường này gợi lại cho ta hình ảnh của những ốc đảo từng được dùng làm nơi tạm ngừng chân của đoàn khách thương trong cuộc hành trình. Quang cảnh những hành khách thấp thoáng đi vào phi trường lúc nửa đêm là một hình ảnh đặc biệt lôi cuốn sự chú ý của một số người. Những người già chăm chú nhìn ngắm đều có vẻ ngạc nhiên, thích thú. Trong những chuyến bay xuyên lục địa, hành khách phần nhiều là giới giàu có ở miền duyên hải, họ đã từ miền Trung Mỹ ra đi lập nghiêp. Một vài người trong số du khách muốn hưởng cảm giác phiêu lưu, mạo hiểm, họ ăn bận giả làm tài tử. Tôi cũng ở trong số đó, vì tôi thường ước ao được mọi người chú ý tới mình thật nhiều. Đôi khi gặp phải người quen, họ thường nhìn sự ăn bận đội lốt của mình bằng một cái nhìn mỉa mai. Họ biết thừa mình đâu phải là tài tử mẹ ma gì.
Vừa đặt chân xuống phi trường, tôi và Wylie tự nhiên trở thành đôi bạn kể từ lúc anh ta giơ tay đỡ tôi từ trên phi cơ bước xuống đất. Sau đó anh ta bám riết tôi, và tôi cũng không thấy có gì phiền hà. Trong khi đi vào nhà ga phi cảng, tôi đã thấy rõ ràng rằng nếu phi cơ phải neo lại ở đây là kể như hai đứa chúng tôi cũng dính nhau luôn. Tuy nhiên cảm giác của tôi không còn bồng bột như lần tôi bị một thằng bồ cho rơi. Lần đó nhìn thằng bồ ngồi chơi dương cầm với con nhỏ Reina trong trang trại ở New England gần Bennington, ít ra tôi cũng đau đớn cảm thấy hắn hết còn muốn tôi. Guy Lombardo say sưa trong cung đàn với bản Top HatCheek to Cheek (Nón Cao, Má kề Má). Con nhỏ nắn phím cho hắn qua những âm thanh du dương. Tay nàng lướt nhanh, những phím đàn chìm xuống như lá thu rơi. Rồi tay hai đứa dính nhau khi nó chỉ cho hắn một nốt nhạc. Tim tôi đau điếng, vì là kẻ vừa mới học nghề yêu đương.
Lúc vào nhà ga phi cảng có cả Schwartz đi theo, nhưng ông ta hình như đang mơ mơ màng màng. Trong khi chúng tôi hỏi thăm tin tức trước quầy nhân viên phi cảng, Schwartz luôn luôn nhìn cánh cửa thông ra phi đạo, như thể ông ta đang lo sợ máy bay sẽ cất cánh bất tử và bỏ rơi ông ta lại. Tôi vào phòng rửa mặt. Trong thời gian đó, không biết chuyện gì đã xảy ra giữa hai người. Khi trở ra tôi thấy Schwartz và White đứng gần nhau. White đang nói và mặt Schwartz xám lại như người vừa bị đụng xe. Ông ta hết nhìn cánh cửa thông ra phi đạo. Tôi nghe được câu cuối cùng của White :
- Tôi đã nói với anh là cứ im lặng, tôi sẽ lo cho anh.
- À... ấy là tôi nói vậy...
Ông ta ngưng bặt khi tôi lại gần, và hỏi hai người có nghe tin tức gì mới không. Lúc đó là hai rưỡi sáng. Wylie trả lời :
- Họ cho biết bất cứ trường hợp nào, chung ta cũng chỉ có thể cất cánh trở lại sau ba tiếng nữa. Một số hành khách đã về khách sạn, nhưng tôi có ý kiến là tụi mình đi Hermitage xem nhà của Tổng thống Andrew Jackson.
- Tối thế này xem gì được? - Schwartz hỏi.
- Tối khỉ gi, chỉ hai tiếng nữa là Trời bắt đầu sáng rồi.
- Hai người đi đi, có lẽ tôi ở lại.
- Cũng được. Anh đi xe buýt về khách sạn chờ đi. Ông ta ở đó. Như thế càng hay.
Giọng Wylie có vẻ đanh lại trong những tiếng cuối cùng.
Schwartz nói nhanh :
- Thôi, tôi đi với anh luôn.
Chúng tôi leo lên taxi đi trong đêm tối. Schwartz có thái độ nhanh nhẹn, khuyến khích. Hắn nâng đầu gối tôi để vào trong xe và nói :
- Tôi phải kèm cô như kèm con gái tôi hồi xưa. Nó cũng xinh lắm, lúc đó tiền bạc tôi khá hơn bây giờ nhiều. Có thể nói là ném qua cửa sổ không tiếc.
Nghe hắn nói tôi có cảm tưởng là bây giờ vì thiếu tiền, hắn đã đem con gái cầm cố đâu đó rồi. Wylie an ủi :
- Rồi anh sẽ có con khác, sẽ lấy lại tiền. Phải ráng chờ một khúc quanh của định mệnh, anh sẽ giàu có không thua gì Ba cô Brady hiện nay. Phải vậy không cô Brady?
Tôi chưa kịp nói gì thì Schwartz hỏi :
- Hermitage ở mãi tận đâu? Coi chừng lỡ máy bay thì phiền lắm.
- Thôi đi cha! Muốn chắc ăn sao không bắt một em chiêu đãi viên đem đi theo luôn. Cậu có vẻ chịu cô chiêu đãi viên lắm, trông em cũng khá lắm đấy chứ?
Xe chạy một lúc khá lâu, trời sáng sủa hơn đôi chút khi ra tới vùng quê. Hai bên đường trơ trụi, thỉnh thoảng một thân cây chơ vơ mọc bên đường. Sau khi quanh gắt, một vùng trồng cây chợt hiện ra. Mặc dầu trong đêm tối, chúng tôi vẫn có cảm tưởng lá ở đây xanh hơn những lá ô liu màu xám ở California. Ở đâu đó, chúng tôi gặp một bác da đen đánh ba chú bò đi trước. Những con bò rống lên khi bị bác ta đánh dẹp sang một bên đường. Đó là những con bò thực với xương, với thịt đang tỏa ra hơi nóng. Bác da đen lần lần hiện rõ trong bóng tối với cặp mắt to màu nâu. Bác nhìn sát vào xe chúng tôi. Wylie ném cho bác một đồng hai mươi lăm xu. Bác ta nói “Cám ơn, cám ơn” và ngừng lại. Những con bò lại rống lên giữa đêm tối khi xe chúng tôi chạy qua. Tôi liên tưởng đến những con cừu mà tôi đã thấy lần đầu tiên, hàng trăm con, ở phim trường Laemmle. Thình lình xe hơi chúng tôi lái đâm vào giữa đàn cừu đó. Chúng dồn nhau chạy dạt ra. Chúng không lấy gì làm sung sướng khi được đưa lên màn ảnh, nhưng người đàn ông trên xe la lớn :
- Sướng không!
- Anh muốn được sướng như chúng sao, Dick?
- Khoái lắm chứ!
Và người đàn ông tên Dick đó tiếp tục đứng trên xe nhìn đàn cừu xô đẩy, chạy dồn vào nhau như một lượn sóng màu xám nhấp nhô. Tôi không còn nhớ cảnh này ở trong cuốn phim nào.
Chúng tôi đã ngồi trên xe một tiếng đồng hồ. Xe chạy qua giòng suối, qua một con cầu sắt cũ kỹ lót ván. Tiếng gà gáy vang đây đó, bóng dáng những đàn gia súc chuyển động mỗi khi xe chạy ngang một trang trại. Wylie lên tiếng :
- Tôi đã nói trời mau sáng lắm mà, thấy chưa? Quê tôi gần đây, căn nhà cũ bây giờ vẫn còn. Hồi đó gia đình có bốn người làm, ông cụ, bà cụ và hai cô em gái. Tôi đã bỏ nhà đi lập nghiệp ở Memphis và rốt cuộc là bây giờ đi tới chỗ kẹt không lối thoát.
Anh quàng một tay qua vai tôi nói tiếp :
- Cecilia, bằng lòng lấy anh không? Nếu cưới được em thì anh sẽ có dịp xí phần trong gia tài nhà họ Brady.
Anh ta nới lỏng tay để tôi có thể ngả đầu vào vai ảnh.
- Bây giờ cô đang làm gì? Cecilia, học?
- Em đang học ở Bennington. Ở Đại học.
- Ồ, ghê quá! Thế mà mãi bây giờ tôi mới biết. Hồi xưa tôi mới chỉ được học tới trung học. Nhưng tại sao tôi có đọc trong một tờ báo họ lại nói rằng đại học chỉ học đại, nghĩa là làm sao nhỉ? Tại sao thiên hạ cứ đồn rằng con gái mà học đến đại học thì... Nhưng thôi, đó là thành kiến xấu, dù sao thì kiến thức cũng là một sức mạnh.
- Đừng vội. Chúng ta sẽ còn gặp nhau nhiều ở Hollywood.
Anh ta có vẻ cụt hứng, nhưng vẫn nói tiếp.
- Ở đâu thì tính theo đó chứ cần gì. Bộ ở đây mình không có quyền biểu lộ cuộc sống riêng tư sao?
- Chính anh vừa xâm phạm vào cuộc sống riêng tư của người khác và làm phiền người ta. Thôi, chúng ta nên trở về là vừa.
Wylie chỉ Schwartz :
- Đâu được, phải để cho hắn ngủ thêm một chút. Suốt mấy tuần nay, đây có lẽ là lần đầu hắn chợp mắt được. Này, Cecilia, trước đây tôi có lăng nhăng với vợ của một nhà sản xuất ở Hollywood, chỉ trong một thời gian rất ngắn và sau đo bà ta đã bảo tôi bằng một giọng quả quyết: “Anh không được cạy răng nói cho ai hay chuyện này, bằng không tôi sẽ có cách làm cho anh không ngóc đầu lên được và tống cổ anh khỏi Hollywood. Bởi vì chồng tôi là người quan trọng hơn anh nhiều”.
Sau câu nói đó tôi thấy có cảm tình trở lại với Wylie, di trên một con đường nhỏ, giữa hai hàng cây và ngừng lại trước nhà lớn màu xám của Andrew Jackson. Người tài xế chỉ chỏ ngôi nhà giải thích, nhưng Wylie đã ra dấu chận anh ta lại và chỉ vào Schwartz. Chúng tôi rón rén xuống khỏi xe, người tài xế nói nhỏ :
- Ông bà có thể vào xem trong nhà được.
Tôi và Wylie đi tới ngồi tựa lưng vào một cây cột vĩ đại trước thềm tam cấp. Tôi hỏi :
- Schwartz là người thế nào? Ông ta là ai vậy?
- Quên hắn đi là vừa. Trước hắn làm người cầm đầu một tổ hợp nào đó, hình như là First National, Paramount hay Liên hiệp Nghệ sĩ gì đó. Bây giờ hắn xuống dốc, và bị văng. Nhưng thế nào hắn cũng trở lại. Người ta chỉ có thể bỏ điện ảnh khi nào bắt đầu làm bạn với ma túy hay nghiện rượu.
- Hình như anh không thích Hollywood.
- Thích lắm chứ sao không. Nhưng thôi, ngồi trước thềm nhà Andrew Jackson trong buổi bình minh này chúng ta nên nói chuyện gì khác thơ mộng hơn.
Tôi vẫn theo đuổi ý tưởng cũ và nói :
- Tôi thích Hollyood.
- Cũng được. Đó là một thành phố với những hoa thơm, cỏ lạ, nhưng bên dưới che giấu đầy mìn, bẫy. Đó là nơi thi thố tài năng của những kẻ khôn ngoan, lanh lợi. Trước đây, sau khi rời Savannah, Georgia, tôi tới đó. Ngày đầu tiên, tôi được mời dự một dạ tiệc ngoài trời. Người chủ nhà bắt tay tôi rồi bỏ đi mất tiêu. Quang cảnh xung quanh thật là lịch sự, đẹp đẽ: hồ tắm, cỏ xanh, đồ ăn, thức uống la liệt. Nhưng không một ai nói gì với tôi. Tôi cố bắt chuyện với nhiều người, nhưng không ai thèm trả lời. Tình trạng đó kéo dài trong suốt một giờ, rồi hai giờ. Sau cùng, tôi rời chỗ ngồi và ra khỏi dạ hội như một người điên. Tôi không còn nhận ra mình mãi cho tới lúc trở về tới khách sạn và nhận được một bức thơ do người thơ ký khách sạn giao lại, bên trên phong bì có đề rõ tên tôi.
Dĩ nhiên trước đó tôi chưa hề dự một buổi dạ hội nào như thế, nhưng nghĩ lại buổi dạ hội vừa qua, tôi nhận thấy đó là một sự thực phải chấp nhận. Tốt hơn, nếu không quen thân thì đừng nên lui tới các tiệc tùng đó, vì ở đây luôn luôn có những lưỡi búa vô hình nhè bổ xuống đầu, cổ chúng ta.
- Anh cần vượt lên trên những thói thường tình đó. Khi người đối xử tàn tệ với mình, mình không đáng nhục, nhưng sự nhục nhã đó thực ra phải được trả lại cho người.
- Thực tôi không thể ngờ một thiếu nữ trẻ như cô lại có thể thốt ra những lời khôn ngoan già dặn như thế.
Phương Đông đã rực ánh hồng. Lúc này Wylie có thể nhìn rõ thân hình tôi, một thân hình dong dỏng với những đường cong cân đối. Nước da có thể hơi xanh, nhưng tinh thần tôi minh mẫn. Giờ đây tôi không còn nhớ được hình ảnh của mình trong buổi hừng đông hôm ấy. Ở vào tuổi đó, tôi mang theo mộng đẹp phiêu du, sẵn sàng tiếp tục cuộc hành trình trong nhiều giờ nữa.
Wylie nhìn tôi say đắm. Giữa lúc đó thì Schwartz hiện ra với những lời nói lí nhí làm tan đi một cảnh mộng đẹp. Ông ta vừa dụi mắt vừa nói :
- Làm được một giấc trong xe đã quá.
Wylie đứng lên :
- Anh tới đúng lúc quá. Nào chúng ta bắt đầu đi xem nhà ổ của vị Tổng thống thứ mười Mỹ quốc, người anh hùng đã đem chiến thẳng về cho tiểu bang New Orleans, đối thủ của Ngân hàng Quốc gia, sáng lập gia của hệ thống mua quan bán tước trong chánh đảng cầm quyền.
Schwartz nhìn tôi như muốn dò hỏi ý kiến :
- Hắẳn có vẻ là một văn sĩ. Hắn biết rất nhiều và đồng thời không biết gì hết.
Wylie có vẻ cụt hứng :
- Nghĩa là làm sao?
Theo nhận xét thoáng qua của tôi, tôi cũng thấy rằng Wylie có vẻ văn nhân lắm. Và tôi vốn yêu văn nhân. Nếu bạn có bất cứ điều gì thắc mắc, cứ việc tìm tới hỏi họ, họ không bao giờ hà tiện câu trả lời cho bạn. Văn nhân thường có lối sống khác đời, bởi vì họ liuôn luôn sống với bản chất thực sự của con người, không cần che đậy, giấu diếm. Cũng như những nghệ sĩ, họ chỉ biết cố gắng diễn xuất sao cho lột được hết những đặc điểm của vai trò được giao phó, mà chẳng buồn nhìn vào trong gương xem mình có vẻ gì kỳ cục, lố bịch hay không.
Schwartz nhìn tôi :
- Phải không cô? Bọn văn sĩ là vậy, tôi không biết tìm danh từ gì để diễn tả về họ cho đúng. Nhưng tôi biết chắc sự thực là như vậy.
Wylie bình tĩnh nhìn thẳng vào mặt Schwartz :
- Đồng ý, nhưng dù tôi có mơ mộng cũng còn thực tế hơn bạn. Ít ra tôi cũng còn có một căn phòng để ngồi mà suy tư, còn bạn lúc nào cũng chạy cờ lông công khắp miền California, vậy mà rồi rốt cuộc chẳng ăn cái gì. Bạn còn chê tôi nữa hay không.
Schwartz không nói gì. Bộ mặt ông ta như bị phân tán ra từng mảnh, không còn hình dạng lúc đầu. Một con chim ở đâu bay tới đậu trên ống khói lò sưởi tòa nhà. Schwartz nhìn đăm đăm vào cánh chim. Con chim chợt bay đi, Schwartz lên tiếng :
- Thôi, các bạn nên trở lại phi trường là vừa kẻo lại lỡ máy bay.
Trời vẫn chưa sáng hẳn. Tòa nhà trông như một chiếc hộp màu trắng khổng lồ trơ trọi giữa cảnh hoang phế đã hàng trăm năm.Chúng tôi trở lại chỗ đậu xe. Tôi và Wylie lên xe. Schwartz vẫn đứng ở ngoài và đóng cửa xe lại. Mãi tới lúc này chúng tôi mới chợt nhận ra ý định ở lại của ông ta.
- Có lẽ tôi sẽ không đi Hollywood. Tôi đã quyết định từ lúc thức dậy trên xe. Ông tài xế đưa các bạn về phi trường rồi ông ta có thể trở lại đây đón tôi.
- Anh quyết định trở về thật sao? Chỉ vì... - Wylie hỏi với vẻ đầy ngạc nhiên.
- Tôi là con người của quyết định. Tôi thích quyết định. Các bạn đừng ngạc nhiên.
Schwartz nở một nụ cười gượng gạo, nói tiếp trong lúc người tài xế cho xe chạy để chờ máy nóng :
- Nhờ anh đưa giúp thơ này cho ông Smith.
Schwartz lấy thơ trong túi ra trao cho Wylie. Người tài xế hỏi Schwartz :
- Chừng hai giờ sau tôi trở lại được không ông?
- Được lắm. Tôi sẽ đi xem phong cảnh quanh đây.
Trên đường trở về phi trường, đầu óc tôi cứ lẩn quẩn nghĩ về Schwartz. Tôi cố hình dung lại những nét mặt ông ta trong lúc mới vừa gặp trên phi cơ và trong khi ngắm phong cảnh vừa rồi. Tôi lại nghĩ tới Andrew Jackson. Giữa Schwartz và Jackson có gì khác nhau không? Một người đã yên nghỉ trong phần đất hương hỏa thiên hạ dành cho mình; còn một người thì từ trại tập trung Do Thái nào đó, lê gót phiêu du khắp nơi để rồi giờ này cũng sắp đi tìm một nơi an trí. Liệu trong lúc lang thang ngắm phong cảnh ở nhà Jackson, Schwartz có hiểu nổi nhân vật này hay không. Chắc Schwartz sẽ nghĩ rằng Jackson phải là một người vĩ đại, có công lắm nên mới được người đời nhớ tới thế này. Ở cả hai đầu cuộc đời, con người đều cần đến sự nuôi dưỡng: trong lòng mẹ, và tại nơi an trí. Rốt cuộc rồi con người cũng phải tìm một chỗ nào đó để nương náu khi thiên hạ không còn cần tới họ nữa, và thưởng cho họ một viên đạn vào đầu.
Những thắc mắc, những tư tưởng mông lung này dĩ nhiên không thể trả lời trong chốc lát. Chúng tôi trở lại phi trường, cho nhân viên hãng máy bay biết Schwartz bỏ dở chuyến bay. Bão đã thổi đi nơi khác và tan lần ở miền núi, phi cơ cất cánh trong vòng nửa giờ sau đó. Hành khách với bộ mặt buồn ngủ rã mắt lại bị đưa từ khách sạn ra phi trướng. Nhiều người còn cố nán lại ngồi ngủ vật vờ trên những chiếc băng bộc nệm trong nhà ga phi cảng. Tôi tưởng tượng lại quãng đường vất vả vừa qua. Một cô chiêu đãi viên mới xuất hiện thay cho cô cũ. Cô mới này người cũng cao lớn, mắt đen, xinh xắn, nhanh nhẹn giống hệt cô cũ. Chỉ có điều cô ta bận một bộ đồng phục kiểu khác, tay xách chiếc va-li nhỏ đi qua chỗ tôi và Wylie đang ngồi chờ. Tôi hỏi Wylie với giọng ngái ngủ :
- Anh đã đưa thơ cho ông Smith chưa?
- À.
- Smith là ai vậy? Có lẽ vì người này mà Schwartz bỏ ngang chuyến đi.
- Lỗi tại Schwartz.
- Tôi có thành kiến đối với những người ưa dùng sức mạnh. Ba tôi cũng thỉnh thoảng mắc phải tật ấy, và tôi thường khuyên ông nên để dành sức mà làm việc khác ở phim trường. Hiện thời ông ấy vẫn còn xử dụng lối đó để bắt tôi trở lại học ở Bennington. Ấy thế, mà sau mỗi lần như vậy tôi vẫn thường cám ơn ông.
Tôi chợt nghĩ lại câu mình vừa nói và phân vân không biết có nên nói nữa hay không. Wylie lên tiếng :
- Sẽ có chuyện sập trời nếu hai xe hủ lô Smith và Brady dùng sức mạnh húc nhau.
- Bộ giữa ông Smith và Ba tôi có sự đụng chạm sao?
- Chưa hẳn thế, có thể nói là không. Nhưng nếu xảy ra thì lợi hai sẽ nghiêng về đâu?
- Ba tôi phải chiếm phần thắng.
- Tôi sợ chưa chắc.
Tôi chợt nghĩ lúc này không phải là lúc giãi bày tình cảm gia đình. Người phi công đã tới ngồi ở bàn, cạnh nhân viên kiểm soát, và ông ta sẽ lắc đầu khi theo dõi cử chỉ của một hành khách, bỏ hai đồng mười xu vào chiếc máy hát dĩa tự động rồi ngồi vật vờ ở băng ghế chống lại giấc ngủ. Bản nhạc đầu tiên ông ta chọn là bản “Mất” tiếng hát vang lên khắp phòng. Tiếp theo sau là bản “Đi” cũng cùng một đề tài na ná giống nhau. Người phi công lại lắc đầu, rồi ông rời khỏi bàn đi tới chỗ hành khách :
- Ông già, sợ chuyến này chưa đi được đâu.
- Hả!..?
Người hành khách say rượu đứng lên, người ông ta trông thật bê bối, tuy vậy vẫn có những nết dễ thương. Tôi thấy buồn thay cho gã, dầu tôi không thích hai bản nhạc mà hắn vừa chọn.
- Về khách sạn ngủ nữa đi, tối nay sẽ còn một chuyến máy bay nữa.
- Nhất định phải cưỡi gii... ó.
- Lần này không được đâu, cha nội!
Thất vọng hiện rõ trên nét mặt, gã say ngồi phịch xuống ghế. Chiếc loa phóng thanh đặt trên máy hát lên tiếng yêu cầu hành khách ra phi cơ. Lên phi cơ tôi muốn chạy lại chỗ Stahr và ngả người vào lòng anh ta. Có những người đàn ông mà bất cứ người con gái nào trông thấy cũng muốn tới gần dù có được mời hay không. Hẳn nhiên tôi không được mời, nhưng anh ta thích tôi và tới ngồi đối điện với tôi cho tới lúc máy bay cất cánh.
- Chúng ta phải đòi lại tiền. - Stahr nói và mắt nhìn tôi như muốn thu lấy tất cả hình ảnh. Tôi tự nghĩ nếu yêu tôi thì ông ta sẽ có cái nhìn như thế nào. Cặp mắt đó trông thật tinh ranh, tế nhị và muốn chế ngự người khác. Điều đó không có gì đáng trách, bởi vì vai trò của ông ta là cầm đầu nhiều người đàn ông khác. Một điều chắc chắn là ông ta không giống bất cứ người nào trong số những người đàn ông đó. Ông ta biết lúc nào nên giữ yên lặng, lúc nào nên rút về hậu trường để nghe ngóng. Từ chỗ đang đứng (ông ta không cao lớn lắm, nhưng người ta vẫn có cảm tưởng như thế) Stahr quan sát một diễn biến xung quanh như người chăn trừu quan sát đàn trừu của mình bất kể ban ngày hay ban đêm. Ông ta sanh ra không phải để ngủ hay nghỉ ngơi, và ông ta cũng không muốn điều đó.
Chúng tôi ngồi im lặng vì không biết nói gì. Tôi biết Stahr từ ngày ông ta bắt đầu làm ăn chung với Ba tôi, hơn mười năm trước đây. Lúc đó tôi lên bảy và Stahr hai mươi hai. Wylie ngồi ở hàng ghế bên kia. Tôi phân vân không biết có nên giới thiệu họ không. Stahr xoay xoay chiếc nhẫn xung quanh ngón tay khiến tôi nhìn ông ta có vẻ trẻ hơn, nhưng không dám nói ra. Tôi không bao giờ dám nhìn xa ông ta, và cũng không bao giờ dám nhìn thẳng vào mặt, trừ khi nào có điều gì quan trọng phải nói. Tôi biết ông ta đã chinh phục cảm tình nhiều người bằng lối đó.
- Này Cecilia, chú tặng cháu cái nhẫn này.
- Cám ơn chú, nhưng cháu...
- Chú có cả tá mà, lo gì.
Stahr đưa chiếc nhẫn cho tôi, một chiếc nhẫn bằng vàng khối với chữ S đúc nổi.
Bàn tay Stahr mềm mại và có những ngón tay nhỏ nhắn dễ thương, trái ngược hẳn với thân hình đồ sộ. Với hàng mi cong và cặp mắt đen, trông Stahr có vẻ trí thức lắm, nhưng tôi biết đó là một người sinh ra để chiến đấu. Những ai rõ về quá khứ của ông ta, đều biết rằng hồi còn nhỏ ông đã từng cầm đầu một băng thiếu niên. Mặc dầu là một cậu bé mảnh khảnh, lúc nào Stahr cũng dẫn đầu cả bọn, và thỉnh thoảng quay lại để ra hiệu lệnh.
Stahr để chiếc nhẫn vào lòng bàn tay tôi, bắt tôi nắm tay lại rồi đứng lên gọi Wylie :
- Tụi mình vô trong này. Cecilia, chờ chú nghe cháu.
Tôi nghe tiếng Wylie hỏi :
- Ông đã đọc thơ của Schwartz chưa?
- Chưa.
Tôi thực là chậm hiểu, vì mãi tới lúc này tôi mới nhận ra ông Smith chính là Stahr.
Sau đó Wylie có nói cho tôi biết về bức thơ mà Schwartz đã viết bên trong xe taxi như sau:
Ông Stahr, ông là người tôi thán phục nhất nên khi ông dùng tôi thì tôi biết tôi đã hết thời. Tôi không muốn tiếp tục cuộc hành trình nữa và khuyên ông nên cẩn thận! Tôi biết có nhiều chuyện sắp xảy tới.
Một người bạn: Schwartz.

Stahr đọc lá thơ hai lần, tay mân mê cằm, rồi ông giơ tay phân trần :
- Hắn đã mất bình tĩnh và hết xài. Tôi rất tiếc không hợp tác với hắn được. Nhưng tôi không ưa những người tìm tới tôi và nói vì họ muốn cứu tôi.
- Có thể như thế lắm. - Wylie nói.
- Kỹ thuật đó xưa quá rồi.
- Tôi thì lại khác, tôi giống như đàn bà, muốn được nhiều người chầu chực xung quanh. Tôi cần ý kiến của họ.
Stahr nhún vai, biểu lộ thái độ khinh thường. Wylie tiếp tục chọc quê Stahr, anh ta là một trong những người được Stahr cho phép làm điều đó :
- Cỡ người Napoleon như anh cũng khoái được thiên hạ ca tụng lắm chứ.
- Tôi ghê tớm chuyện đó, mặc dầu những kẻ hót tôi còn hay hơn mấy đứa thường ca anh nhiều.
- Nếu thế anh còn mướn tôi làm chó gì?
- Cái đó là chuyện buôn bán, vì tôi muốn mua trữ để dành những gì chứa đựng trong đầu óc của anh. Tôi là một nhà buôn.
- Anh đếch phải nhà buôn. Tôi biết nhiều về các thương gia và tôi rất chịu câu nói của Francis Adams.
- Tên đó nói gì?
- Adams bảo chỉ có những người như Gould, Vanderbilt, Carnegie, Astor là những nhà buôn thực sự, và sau những người ấy ông ta không còn tìm thấy ai tương tự nữa. Chính vì thế mà tôi nói anh không phải là nhà buôn.
- Adams có thể là một tên chứa đầy bụng chữ nghĩa. Hắn tự coi là xếp sòng trong thiên hạ, nhưng tư tưởng của hẳn đã chắc gì là khuôn vàng thước ngọc.
- Đó là một bộ óc lớn.
- Người ta không phải chỉ sống với óc. Bọn nhà văn và tụi nghệ sĩ các anh lầm lẫn, chuyện nọ xọ với chuyện kia. Cần phải có người uốn nắn lại ý nghĩ các anh. Các anh ghét ai thì hạ người đó xuống tới đất đen, còn phục ai thì ca hát bô bô luôn miêng. Các anh quan trọng hóa cá nhân và quan trọng hóa chính mình. Còn tôi, tôi cũng mến người và thích được người mến tồi, nhưng tôi không cần phơi bày lộ liễu những tình cảm đó. Tôi để nguyên trái tim ở vị trí kín đáo bên trong người, đó là chỗ thích hợp mà Thượng Đế đã chọn cho nó.
Stahr chợt đổi qua chuyện khác, ông ta hỏi Wylie :
- Anh còn nhớ tôi đã nói gì với Schwartz lúc ở phi trường không nhỉ?
- Anh bảo hắn: “Dù anh bám tôi cách mấy tôi cũng nhất định nói không là không”.
Stahr im lặng. Wylie nói tiếp :
- Hắn bị sa lầy, nhưng thái độ của hắn khiến tôi buồn cười. Tụi này đưa cô con gái của Brady đi chơi một vòng.
Stahr nhận chuông gọi tiếp viên :
- Tôi muốn ngồi ở phòng lái, cạnh phi công một lúc được không cô?
- Thưa ông không được, hãng cấm.
- Vậy cô bảo anh ta chừng nào rảnh vào đây với tôi.
Suốt buổi trưa hôm đó Stahr ngồi với phi công trong phòng lái. Máy bay lướt qua vùng sa mạc hầu như vô tận. Bãi cát chạy dài ngút ngàn với đủ mọi màu sắc khác nhau. Xế chiều thì những đỉnh núi bắt đầu xuất hiện bên dưới, đó là rặng Frozen Saw. Chúng tôi biết đã gần về tới nhà.
Nhiều lúc tôi có ý nghĩ muốn được làm vợ Stahr, muốn làm cho Stahr phải yêu tôi. Ôi! Thực là chuyện ảo, liệu trên đời này Stahr có còn thiều thứ gì để cho tôi dùng làm mồi quyến rũ ông ta. Nhưng rồi tư tưởng của tôi xoay chuyển, tôi còn ít tuổi, tôi có những tự hào của một thiếu nữ trẻ. Sức mạnh của người đàn bà bắt nguồn từ những ý nghĩ thầm kín, chẳng hạn như “mình đâu có thua gì ai”. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng tôi cũng chẳng kém gì nhan sắc của những thiếu nữ đẹp nhất từng tự ý tìm tới ngả vào lòng Stahr. Chút vốn liếng học vấn ở Đại học của tôi cũng có thể được coi là một lớp son phấn giá trị.
Nhưng bây giờ tôi biết mình đã lầm. Đối với những người đàn ông bản lãnh như cỡ Stahr, đàn bà không thể dùng chút học vấn để lòe họ được. Tuy vốn liếng học thức không bao nhiêu, và chỉ thu thập từ mấy lớp học chuyên nghiêp buổi tối, nhưng trong nhiều năm lăn lộn, Stahr đã để ý nghe ngóng và thu nhận nhiều hiểu biết trong những lãnh vực rất ít người theo kịp được ông ta. Nhưng trong cơn mê loạn, tôi nghĩ rằng cứ áp dạng chiến thuật mắt kề mắt, vai liền vai, và một ngày kia con tim của Stahr dù cứng rắn đến đâu cũng phải mềm sau những năm dài hoạt động. Tôi đã thảo ra nhiều kế hoạch, giăng nhiều cạm bẫy - mà bất cứ người đàn bà nào cũng có thể nghĩ ra - nhưng kết quả rốt cuộc như các bạn sẽ thấy cũng vẫn chỉ là con số không. Có khi tôi nghĩ rằng giá như Stahr nghèo và ít tuổi hơn một chút, thì có lẽ sự chinh phục của tôi đã thành công. Nhưng sự thực là trên đời này Stahr không còn thiếu thứ gì để tôi có thể tặng cho anh ta. Những sáng kiến của tôi đôi khi bắt nguồn từ những cuốn phim đã coi, tôi còn nhớ như phim “Đường 42” chẳng hạn. Thành thử có thể nói chính những cuốn phim mà Stahr đã sản xuất lại là những gì đã ảnh hưởng tới con người tôi nhiều hơn cả.
Chiến đấu trong lãnh vực tình cảm, thực khó ai có thể giúp được mình. Nhưng trong trường hớp này tôi nghĩ Ba tôi có thể giúp, cô tiếp viên có thể giúp. Chẳng hạn cô ta có thể đi lên phòng lái, ghé vào tai Stahr nói nhỏ: “Thiều nữ ngồi với ông hồi nãy có cặp mắt đa tình ghê gớm, người ta có thể thấy ái tình hiển hiện trong cặp mắt nàng”.
Người phi công cũng có thể giúp vào một câu như :
- Stahr, anh không biết thưởng thức sắc đẹp hay sao mà không xuống dưới kia ngồi với người đẹp cho rồi.
Wylie có thể giúp vào, qua những lời trao đổi, thay vì đứng nhìn tôi bâng khuâng như thế kia. Câu chuyện trao đổi có thể như sau :
- Ngồi xuống đi anh, sao? Có tin gì không? Chúng ta tới đâu rồi?
- Còn phải bay lâu.
- Ồ, vậy thì ngồi lại đây nói chuyện cho mau tới. Chuyện phim anh đang viết là chuyện gì vậy?
- Viết về đời sống hướng đạo, chuyện một hướng đạo sinh.
- Chắc là ý kiến của Stahr?
- Không biết chắc là ý kiến của ai, nhưng ông ta bảo tôi viết. Ngoài tôi ra, ông ta còn giao cho hàng chục người khác cùng viết về đề tài này. Đó là một lối làm việc Stahr mới nghĩ ra. Sao? Hai người dính nhau rồi à?
- Chưa, nhưng tụi này đã biết nhau từ lâu.
- Thất vọng hả? Được, để tôi giúp cho. Nhưng ngược lại, cô phải hứa sẽ dùng ảnh hưởng để đưa tôi vào một trong những cái ghế giám đốc.
Tôi nhắm mắt ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Khi tỉnh lại tôi thấy cô tiếp viên đang đứng bên cạnh và kéo chiếc mền mỏng đắp cho tôi. Nhìn qua cửa sổ xuống bên dưới chỉ thấy toàn một màu xanh. Trời bắt đầu tối. Cô tiếp viên nhìn tôi mỉm cười :
- Cái ông Smith hay Stahr gì đó thật là vui tính. Hình như tôi có nghe thấy tên ông ta ở đâu rồi thì phải, nhưng không thể nào nhớ ra.
- Trong phim.
- Ồ, phải rồi. Ông ta đang hỏi phi công về cách điều khiển phi cơ. Hình như ông ta thích máy bay lắm.
- Đúng.
- Một phi công nói với tôi anh ta cam đoan có thể chỉ cho ông bay một mình được chỉ trong vòng mười phút. Ông ta thực là người nhanh trí khôn.
- Rồi sao?
- Có một phi công hỏi ông ta thích nghe điện ảnh không và Stahr trả lời: “Thích chứ, làm điện ảnh tha hồ mà sờ soạn, giống như người ta sờ đậu phụng trong túi vậy”.
Nói xong cô tiếp viên cười khơ khớ có vẻ khoái lắm. Tự nhiên tôi cảm thấy muốn tát vào cái miệng đang cười toe toét của cô ta một cái. Đột nhiên cô ta ngừng cười và nói giọng nghiêm trang :
- Chết cha, tôi phải đi coi lại công việc.
Cô tiếp viên đi rồi, tôi đoán chừng chắc là tài đầu láo của Siahr đủ làm cho bọn phi công khoái tỷ lắm. Cô tiếp viên chỉ nghe lóm được vài câu mà cũng còn sung sướng đến thế.
Mấy năm sau, trong một chuyến máy bay tôi lại gặp đúng người phi công này, và anh ta kể lại hôm đó Stahr đã nói :
- Anh hãy nhìn khu rừng dưới kia, nếu bây giờ cần làm một đường xe lửa chạy ngang qua, nhưng khi nghiên cứu bản đồ ta thấy có sáu bảy lối đường sắt có thể đi qua, anh phải chọn lối nào bây giờ? Dĩ nhiên anh phải chọn đại một lối và bắt tay vào làm xem sao. Những đường vẽ trên bản đồ không thể xác thực bằng những gì mắt ta thấy tận nơi trong lúc làm việc. Chuyện đời cũng vậy, cứ bắt tay vào việc rồi sẽ tìm được câu trả lời đúng.
Người phi công nói với tôi đó là một lời khuyên rất giá trị. Trước khi hành động người ta phải bay lên cao, lên thật cao để nhìn cho rõ sự vật bên dưới một cách bao quát rồi sau đó hạ cánh xuống mà giải quyết vấn đề.
Động cơ máy bay đã tắt, ngũ quan tôi tự điều chỉnh để thích hợp với mặt đất, trong khi phi cơ hạ cánh. Dãy đèn sáng của căn cứ hải quân Long Beach hiện ra ở phía trước và mé bên trái. Santa Monica ở bên mặt. Trăng California đã nhô lên, màu vàng cam vĩ đại trên mặt Thái Bình Dương. Tôi thấy rạo rực trong cái cảm giác của kẻ đi xa trở về. Nhưng tôi biết cảm giác của mình dù mạnh tới đâu cũng không thể bằng Stahr. Tôi nghĩ đến quang cảnh của phim trường Laemmle, nơi Stahr đã hạ cánh để bắt tay vào hành động sau một chuyến bay lên thật cao, quan sát tình hình, nhận xét dáng đi và hướng đi của mỗì người. Trong công việc lâu dài, Stahr phải nhìn rõ những hy vọng cũng như sự chán nản của mỗi người để lượng định mọi phản ứng. Và ông đã hạ cánh, đã chọn lựa hành động, quyết hành động cho tới cùng. Cũng giống như lúc này phi cơ đang từ từ hạ cánh trên phi trường Glendale trong màn đêm ấm áp.

📎 ntpcc
Đăng nhập để trả lời
0
Chương II
 
Chín giờ đêm, một đêm trong tháng Bảy. Tiệm thuốc tây xế cửa phim trường vẫn còn bóng người đang lúi húi bên trong. Tôi ngừng xe, kiếm chỗ đậu. Lão già Johnny Swanson với bộ quần áo cao bồi nửa mùa đứng ở góc phố, ngẩng mặt nhìn trời. Hình ảnh của lão cũng đã từng vang bóng một thời trên màn bạc chẳng thua gì Tom Mix, Bill Hart. Lão có vẻ buồn, không muốn nói chuyện. Tôi vội vã băng qua đường, đi vào cổng phim trường.
Không khí trong phim trường không bao giờ im lặng hoàn toàn. Mặc dầu ban đêm, cũng vẫn có những toán chuyên viên làm việc tại phòng kỹ thuật tráng phim, phòng thâu thanh. Những người này thỉnh thoảng đi ra, đi vào trong câu lạc bộ. Nhưng về đêm, những tiếng động đã trở nên rõ rệt hơn: tiếng của một bánh xe lăn trên lối đi, tiếng động cơ nổ đều đều và giọng hát soprano của một ca sĩ từ loa phóng thanh vọng ra. Trong góc phim trường một người đi giày ống cao su đang lúi húi rửa chiếc xe lấp loáng dưới ánh đèn. Những tia nước phun lên lóng lánh trọng thật đẹp mắt. Tôi đi chậm lại khi trông thấy ông Marcus đang đứng thò đầu vào trong xe ông ta đậu trước cửa văn phòng hành chánh. Ông ta nói với người trong xe khá lâu trong khi đó giọng soprano trong máy phóng thanh vẫn vang lớn. Lại đây, lại đây, ta chỉ yêu có mỗi mình nàng. Câu hát cứ lặp đi lặp lại mãi. Tôi còn nhớ mãi bài hát này, vì trong suốt cuộc động đất xảy ra năm phút sau đó, cô ta cũng vẫn tiếp tục hát.
Văn phòng ba tôi đặt tại tòa nhà cũ với ban-công chạy dài có chấn song sắt. Ba tôi ở phòng chính giữa lầu hai, Stahr ở một đầu và đầu kia là phòng ông Marcus. Đêm nay đèn ở cả ba phòng đều bật sáng. Tim tôi đập mạnh, dạ dày cũng muốn cuồng lên vì cảm động khi tôi tiến lại gần phía phòng Stahr. Dù sao tôi vẫn còn đủ bình tĩnh. Trong một tháng ở nhà lần trước, tôi chỉ được gặp Stahr có mỗi một lần.
Văn phòng của ba tôi làm việc có nhiều điều rất lạ, nhưng ở đây tôi chỉ kể vắn tắt vài chi tiết. Muốn vào văn phòng ông, phải đi qua một phòng ngoài, phòng này có ba cô thơ ký, mặt cô nào cũng lạnh như đồng. Tôi còn nhớ tên của cả ba, đó là Birdy Peters, Maude gì gì đó và Rosemary Schmiel. Không biết có phải tên thực cô ta như vậy không, nhưng tôi vẫn nghe gọi thế. Dưới gầm bàn viết của cô này có gắn một cái nút điện tự động mở cửa phòng làm việc của Ba tôi. Cả ba trự này đều say mê những người giàu có và chính cô Birdy đã nghĩ ra cái biện pháp là các thơ ký đánh máy nếu trong một tuần bị bắt gặp ngồi ăn chung với nhau từ hai lần trở lên, sẽ bị lôi ra cảnh cáo. Trong thời gian này phim trường rất sợ những âm mưu lộn xộn.
Tôi đi lên lầu. Hồi này ông giám đốc nào cũng có phòng thật rộng. Nhưng phòng của ba tôi vẫn là lớn nhất. Căn phòng của ông cũng là phòng đầu tiên có chiếc cửa sổ kiểu Tây, gắn loại kính một chiều, ở ngoài nhìn vào không thấy gì. Tôi còn nghe người ta nói rằng giữa phòng có một cơ quan bí mật để đẩy những người khách khó chịu vuống một cái hầm bên dưới. Nhưng tôi không tin có chuyện đó. Trong phòng có một bức họa của Will Rogers, được treo thật cẩn thận. Tôi chắc bức tranh này được treo ở đây để cố tình nói lên sự liên hệ mật thiết giữa Ba tôi và Thánh Francis của Hollywood. Ngoài ra còn có một bức ảnh của Minna Davis với chữ ký bên dưới. Nàng chính là người vợ quá vãng của Stahr. Nhiều ảnh tài tử nổi danh khác và một bức ảnh lớn chụp hai mẹ con tôi. Cửa sổ mở ánh trăng sáng vằng vặc tự do lọt vào trong phòng. Mãi tận chiếc bàn tròn ở tuốt phía trong cùng, ba tôi đang ngồi với Jacques La Borwitz và Rosemary Schmiel.
Hình đáng ba tôi như thế nào, tôi chưa bao giờ để ý quan sát hay mô tả. Chỉ có một lần tình cờ gặp ông ở Nữu Ước, tôi thấy một người đàn ông đứng tuổi, cao lớn, hơi có vẻ thiếu tự tin. Người đó lại gần và tôi nhận ra chính là Ba tôi. Một cảm giác hoang mang chạy khắp người, có thể Ba tôi là người đàn ông rất lôi cuốn, với lưỡng quyền hơi cao và nụ cuời đặc biệt của dân Ái Nhĩ Lan.
Còn về Jacques La Borwitz thì khỏi nói. Tôi chỉ biết vắn tắt ông là một trong những phụ tá của Stahr, hạng người thuộc vào loại thiên lôi chỉ đâu đánh đấy, loại người khô khan vô tình cảm. Người ta không biết Stahr đã nhặt được những hạng người này ở đâu về. Hoặc giả chính những người ấy đã ép Stahr phải mướn họ. Dĩ nhiên Jacques La Borwitz cũng phải có tài riêng của ông ta, nhưng đó chỉ là cái tài của loại siêu vi khuẩn, cái tài của những con chó đực rình rập, đánh hơi chó cái và những khúc xương. Tacques La... đồ quỷ sứ!
Qua nét mặt và dáng điệu của ba người, tôi chắc họ đang nói về Stahr. Stahr vừa đưa ra một lệnh, một điều cấm? Có căng thẳng giữa Ba tôi và Stahr? Hay là Stahr vừa vất xó một cuốn phim của La Borwitz? Họ ngồi phản đối Stahr trong đêm tối và sự chống đối của họ không được ai hưởng ứng. Rosemary Schmiel ngồi với bảng ghi chú trong tay, làm như sẵn sàng chép lại những lời phản đối.
Tôi nhìn Ba tôi :
- Con phải đưa Ba về ngay, không thì quà tặng sinh nhật của Ba thối hết.
Jacques làm bộ ân hận :
- Ừa, hôm nay sinh nhật anh, vậy mà tôi không hay! Thế năm nay anh bao nhiêu nhỉ?
- Bốn mươi ba.
Thực ra số tuổi của ông nhiều hơn bốn tuổi. Jacques biềt điều đó và lão cầm bút viết vào cuốn sổ đang cầm trong tay. Không cần nhìn môi hắn lẩm nhẩm tôi cũng có thể đọc được. Cô Rosemary Schmiei cũng đang hí hoáy viết mãi có một chữ trên tấm bảng kẹp giấy trắng ghi chú trong tay. Khi cô ta vừa bắt đầu gom đi thì mặt đất rung chuyển dưới chân chúng tôi.
Chấn động ở đầy không mạnh bằng ở Long Beach, nơi mà nhà cửa bị hất đổ tung ra đường phố, cả một khách sạn trôi luôn ra biển. Nhưng trong suốt một phút đồng hồ, chúng tôi nằm dán bụng xuống mặt đất và tưởng chừng như cuống rún đã được nối liền trở lại với tử cung trong lòng đắt.
Bức ảnh mẹ tôi rớt xuống, để lộ ra chiếc kết sắt nhỏ chôn sâu trong tường phía sau bức ảnh. Tôi và Rosemary ôm cứng lấy nhau, và cùng kêu lên những âm thanh quái đản vang khắp cả phòng. Jacques đã biến đi đâu mất, còn Ba tôi thì đang níu chặt lấy cạnh bàn và nhìn tôi la to :
- Có sao không?
Bên ngoài cửa sổ, tiếng nhạc từ loa phóng thanh vẫn tiếp tục vang lên. Câu “Tôi chỉ yêu có em” được hát lên tới nốt nhạc cao nhất, ngừng một lát, rồi lại bắt đầu hát lại. Có lẽ bản nhạc đã được phát ra từ máy quay băng.
Căn phòng tạm trở nên yên tĩnh, tuy mặt đất vẫn còn hơi rung chuyển. Chúng tôi ùa chạy tất cả ra cửa. Jacques cũng vừa xuất hiện trở lại, tất cả chạy ra ngoài ban công. Đèn đuốc tắt hầu hết, và người ta la khóc, tiếng gọi nhau ơi ới. Chúng tôi chuẩn bị tinh thần để chờ đợi sự rung chuyển nữa, nhưng không thấy. Sau đó tất cả chạy vào phòng Stahr.
Phòng làm việc của Stahr lớn, nhưng không bằng phòng của Ba tôi. Stahr đang ngồi dụi mắt ở sa lông. Động đất xảy ra vừa rồi trong lúc Stahr đang ngủ, và ông ta nghi ngờ không biết chuyện thật hay là mình nằm mơ. Chúng tôi cho ông ta biết động đất thiệt vừa xảy ra, ông ta có vẻ khoái lắm. Chuông điện thoại reo. Tôi nhìn Stahr chăm chú. Nét da Stahr hơi xám và có vẻ mệt mỏi trong lúc nghe điện thoại và những lời báo cáo từ máy nội thoại. Mất Stahr chợt sáng lên :
- Ống nước cái bị bể, nước đang tràn về phía phim trường.
Ba tôi lên tiếng :
- Gray đang quay mấy cảnh làng kiểu Pháp ở phía sau phim trường.
- Lụt cả ở nhà ga, phía rừng, và một góc thành phố. Cái gì?... À, không có ai bị thương.
Đặt điện thoại xuống, Stahr đi lại bắt tay tôi thật lâu :
- Lúc đó cháu ở đâu, Cécilia?
Ba tôi hỏi Stahr :
- Anh có tính đi ra quan sát bên ngoài không?
- Để chờ một lát coi có nhận được tin gì khác nữa không. Một đường dây điện bị đứt. Tôi đã bảo Robinson tới sửa.
Stahr mời tôi ngồi xuống ghế và muốn được nghe tôi kể lại trận động đất vừa rồi.
Tôi bảo Stahr với giọng cứng cỏi của một người mẹ :
- Trông chú có vẻ mệt.
- Đúng. Tại buổi chiều không biết đi chơi đâu, nên chú lại ngồi làm việc.
- Để cháu dẫn chú đi chơi vào mỗi chiều thứ Bảy.
- Hồi còn độc thân, chiều thứ Bảy nào chú cũng đi đánh phé, rồi tất cả cùng nhậu say bí tỉ.
Cô Doolan, thơ ký của Stahr vào cho hay những thiệt hại. Stahr quay qua trấn an Ba tôi :
- Cứ yên trí, tôi đã gọi Robinson về. Hắn ta đủ sức lo mấy chuyện đó.
Stahr nhìn tôi nói tiếp :
- Ông này trước là một chuyên viên điện thoại làm ở Minnesota. Ông ta là người tháo vát và vui tính lắm. Lát nữa ông ấy tới thế nào cháu cũng có cảm tình ngay.
Thái độ của Stahr khiến tôi bật cười. Làm như là ông ta đã sắp đặt mọi chuyện, kể cả trận động đất này, để tôi được trông thấy Robinson của ông ta. Ông ta còn cố nhắc lại :
- Nhất định cháu sẽ có cảm tình với Robinson ngay mà. À, chừng nào cháu trở lại trường nhi?
- Thưa, cháu cũng vừa mới về tới nhà thành ra chưa định gì cả.
- Cháu định ở lại đây suốt cả kỳ hè sao?
- Chắc cháu sẽ đi sớm hơn.
Tôi suy nghĩ mông lung. Có thể Stahr đã bắt đầu cảm tôi. Nhưng nghĩ như thế có lẽ là vội vàng đốt giai đoạn quá chăng. Dù sao thì tôi cũng là gái nhà giàu và còn trẻ. Ý tưởng lấy Stahr lúc này tôi cũng không thấy hấp dẫn lắm. Có lẽ lấy một bác sĩ còn khoái hơn, bởi vì Stahr có bao giờ rời khỏi văn phòng làm việc trước mười một giờ đêm đâu.
Stahr nhìn Ba tôi :
- Còn mấy năm nữa thì cháu ra trường vậy anh?
Ba tôi chưa kịp trả lời thì Robinson bước vào. Tôi muốn la to lên, rằng tôi học thế là đủ rồi, tôi không cần phải học thêm gì nữa cả. Stahr chỉ Robinson và nhìn tôi giới thiệu :
- Đây là ông Robinson đó cháu.
Tôi ngắm người đàn ông vừa bước vào, chân ông ta đi hơi khập khiểng và có bộ tóc đỏ hoe. Tai tôi còn nghe Stahr nói :
- Ngồi đây, Robinson.
Cuộc gặp gỡ giữa tôi và người đàn ông này nhất định phải được gọi là một cuộc gặp gỡ định mệnh. Sau này chính ông ta đã nói cho tôi hay về tình yêu của Stahr trong đêm đó.
* * * * *
Dưới ánh trăng, khu đất trống phía sau phim trường trông thật là tiêu điều, xơ xác, chẳng khác gì một cuốn truyện bằng tranh rách nát từ thời thơ ấu. Trong khu đất rộng lớn này có đủ cả, nào là cảnh rừng già Phi châu, lâu đài cổ nước Pháp hay cảnh đường phố Broadway về đêm. Nhưng lúc này nhìn những cảnh đó chẳng còn thấy giống chút nào. Trong đêm thanh vắng, khu đất trống này trông tựa như một ngôi nhà không mái.
Lúc Stahr và Robinson trở lại thì trên khu đất ngập lụt tiêu điều, người ta đã bắt những ngọn đèn điện để soi sáng các hố sâu nguy hiểm. Robinson nói :
- Chúng ta phải bơm nước này ra ngoài phố. Làm vậy cũng bậy thiệt, nhưng tại ông trời, chớ tại ai.
- Ô, coi kìa!
Theo ngón tay chỉ của Robinson, tôi thấy một bức tượng gỗ lớn đang trôi bồng bềnh trên dòng nước lụt. Đây dường như là tượng thần Siva của Miến Điện gì đó. Điều buồn cười là ở bên trên có hai người đàn bà đang xử dụng bức tượng gỗ như một con thuyền lướt trên mặt nước, thoạt nhìn thấy giống như họ đang đi ngoạn cảnh giữa dòng sông vậy. Robinson la to :
- Hai mụ kia làm gì vây!
Hai người đàn bà bám chặt lấy đầu tượng. Mắt họ nhìn về phía chúng tôi cầu cứu. Pho tượng vẫn trôi theo dòng nước, thỉnh thoảng bị rác rến hay chỗ nước nông cản lại. Robinson xắn quần lội ra sát mé nước để nhìn cho rõ hơn :
- Phải để cho hai mụ này trôi xuống cống luôn mới được. Nhưng mà không được, tuần tới đạo diễn DeMille phải xài tới cái tượng đó.
Robinson đã lội ra ngoài xa, nước ngập tới mông ông ta. Tay cầm chiếc sào khều bức tượng, động tác của Robinson khiến cho bức tượng vừa quay vòng tròn và vẫn tiếp tục trôi theo dòng nước chảy xiết. Những người khác chạy tới phụ với ông ta và cuối cùng lôi được bức tượng với hai người đàn bà vào bờ. Đó là hai thiếu nữ khá trẻ và một trong hai cô rất đẹp. Vì bám chặt nên họ đã làm long đầu pho tượng ra và đang cầm trong tay. Robinson la :
- Ráp vào trả cho người ta đi, định lấy làm kỷ niệm nữa hay sao?
Người đàn bà ráp cái đầu pho tượng vào và Robinson kéo bà ta lên chỗ đất khô. Người kia tỏ vẻ lưỡng lự rồi cũng làm theo bạn. Robinson nhìn Stahr :
- Mấy người này bây giờ làm sao, thưa ông?
Stahr không trả lời. Cách ông ta hơn một thước, chính là khuôn mặt của người vợ đã chết đang sống lại mỉm cười với ông. Cặp mắt ấy, làn môi ấy, vầng trán kia, tất cả đều giống hệt Minna, không sai một mảy may nào. Hình ảnh cuối cùng của người vợ đã chết ngày nào hiện lên. Stahr như ngửi thấy cả mùi hương nến, đèn hoa phúng điếu trong phòng. Stahr muốn la to lên. Bỗng nghe cả tiếng Minna vọng bên tai :
- Xin lỗi quý vị, chúng tôi đi theo chiếc xe vận tải và bị lạc vào trong phim trường.
Lúc này một đám đông hiếu kỳ đã bu tới, gồm có những người thợ điện, thợ ống nước, tài xế. Robinson quát người này, sai người kia, xông xáo như một con chó săn giữa đàn trừu.
- Đem máy bơm lớn tới sân khấu số bốn... Cột dây thừng vào cổ tượng kéo lên... Bơm nước ra khỏi khu rừng cây, lẹ lên... Trời đất, mấy cái ống nhựa khốn nạn!...
Stahr đứng yên nhìn hai thiếu nữ theo viên cảnh sát đi ra khỏi cổng phim trường. Ông đi thử coi chỗ đau ở đầu gối đã hết chưa. Một chiếc xe ủi được đưa tới để đọn dẹp. Mọi người trông thấy Stahr đều hỏi thăm, chào hỏi :
- Thưa ông... Dạ, thưa ông, đêm nay ớn quá... Thưa ông, ghê quá, may mà không ai việc gì!...
Stahr vừa trả lời, vừa giơ tay làm hiệu đáp lại những câu hỏi thăm đó. Trong đêm tối, mọi người lăng xăng dọn dẹp xung quanh Stahr. Nhìn quang cảnh, tôi liên tưởng tới cảnh một vị Hoàng đế đứng giữa đám ngự lâm quân. Tuy không nói ra, nhưng họ coi Stahr là một vị anh hùng. Và Stahr quả có như thế thực. Hầu hết những người này đều làm ở đây từ lâu, có những người ngay từ lúc mới khởi đầu. Họ đã cùng với Stahr chia sẻ những thời kỳ vinh quang, phát đạt, cũng như chịu đựng những ngày dài trong ba năm trời lỗ lã vừa qua. Dù gặp hoàn cảnh khó khăn, Stahr không bao giờ để cho họ bị thiệt thòi. Lòng trung thành tin tưởng đó hiện thời đang bị lung lay khá mạnh. Hiện thời, ai cũng có thể bị sụm bất cứ lúc nào, giống như những bức tượng khổng lồ chân bằng đất sét. Dù sao, những người này vẫn còn tin tưỡng ở Stahr, như dân chúng tin vào vị hoàng tử cuối cùng của họ. Những lời chào hỏi của họ hình như nhuốm vẻ sa sút, chứng tỏ tinh thần không được cao cho lắm.

Đăng nhập để trả lời
0
Chương III
 
Kể từ hôm trận động đất xảy ra cho tới ngày trở lại thăm phim trường, tôi đã nhận xét được nhiều sự việc. Tình cha con đối với Ba tôi đã có những thay đổi bất thường trên biểu đồ, với những đường biểu diễn xuống thấp lần lần. Tôi nhận thấy ý chí mạnh mẽ của ông không đủ để giúp ông trở thành một người đàng hoàng, đúng đắn. Tất cả những gì ông đã làm được khiến ông trở thành một con người quỷ quyệt. Nhờ quỷ quyệt và may mắn, ông đã cùng với Stahr nhào vào, chiếm được một gánh xiệc đang phát triển mạnh. Đó là nỗ lực trong đời ông. Những việc còn lại, chỉ là các phản ứng trong việc giữ vững địa vị đó. Về khoa ăn nói thì ông số dzách. Ông có thể thao thao bất tuyệt trình bày cho các chủ nhà băng ở Wall Street về những bí quyết làm phim. Nhưng thực hành thì ráp một đoạn phim, thu một lời đối thoại, ông làm cũng không nổi. Trong việc tìm hiểu thị hiếu cảm quan của khán giả, có lẽ ông còn thua một anh bồi bàn ở Ballyhegan. Ông không có gì hơn ngoài cái tài đánh hơi của một khách thương hồ trong các chuyện ta thường đọc. Ngoài ra, rõ ràng ông sống như một loại ký sinh trùng và ông cũng chẳng buồn che đậy điều đó. Hôm nào cũng quá trưa ông mới tới phim trường và sau đó đi dòm ngó, nghi ngờ mọi chuyện. Nhờ ông làm một việc gì thì thực hết sức khó khăn.
Stahr cũng là người gặp hên. Nhưng ngoài chuyện gặp hên, Stahr còn là người có thực tài. Ông ta thuộc loại những người tạo ra kỹ nghê, chẳng khác gì Edison, Lumière hay Griffith, Chaplin. Stahr chính là người đã tạo ra sức mạnh của điện ảnh, và đưa điện ảnh vượt lên trên kịch nghệ, tiến tới thời đại vàng son trước khi giai đoạn kiểm duyệt bắt đầu.
Bằng cớ chứng tỏ tài năng lãnh đạo của Stahr là người ta luôn luôn rình rập, dò thám xung quanh ông. Không những họ muốn biết những bí mật trong các giai đoạn diễn tiến làm phim. Nhưng người ta còn do thám cả những cảm quan của Stahr đối với chiều hướng của một sự việc sắp xảy ra. Họ muốn biết xem Stahr tiên đoán mọi việc sẽ xảy ra như thế nào. Stahr đã tốn nhiều hơi sức để tránh né các cạm bẫy rình rập đó. Sự kiện này đã khiến công việc của Stahr trở nên kín đáo, thay đổi luôn luôn và tiến hành một cách chậm chạp. Sự kiện đó cũng khiến cho việc mô tả đời sống của ông ta trở nên khó khăn. Kế hoạch làm việc của Stahr chẳng khác gì kế hoạch hành quân của một ông Tướng, trong đó các yếu tố tâm lý trở nên phức tạp, tỉ mỉ. Chúng tôi sẽ thêm vào sự mô tả những thành công cũng như thất bại của Stahr.
Nhưng tôi muốn phác họa để các bạn có được một cái nhìn bao quát về công việc của ông ta, và tôi xin cáo lỗi trước về những điều thiếu sót có thể có. Những hàng chữ sau đây tôi đã viết từ ngày còn đang ở Đại học với đầu đề “Một ngày của người làm điện ảnh”. Tôi cố gắng chỉ nói những chuyện thường xảy ra. Tuy nhiên có những chuyện bất thường phải nói, thì đó cũng đều là sự thực.
* * * * *
Vào buổi sáng sau đêm xảy ra trận lụt và động đất, người ta thấy một gã đàn ông đứng tần ngần, lưỡng lự trước cửa văn phòng hành chánh phim trường. Gã bước lên những bậc thang của chiếc cầu thang bằng sắt. Lên gần hết cầu thang, không biết vô ý thế nào, hắn trượt chân, té nhào đầu xuống nểền xi măng bên dưới: gãy một tay.
Cô thơ ký riêng Doolan cho Stahr hay tin này khi Stahr nhận chuông kêu cô ta lúc chín giờ. Đêm đó, sau khi động đất xảy ra, Stahr ngủ lại tại văn phòng một cách bình thản.
Stahr thở dài :
- Có phải Pete Zavras, chuyên viên thu hình không?
- Họ đã đưa gã đi bác sĩ rồi. Sẽ không có biên bản.
- Tai bay, vạ gió! Tôi biết hồi này gã đọi, nhưng chả hiểu tại sao. Hai năm trước, hồi hắn còn làm ở đây thì có vẻ được lắm. Mà không biết hắn tới đây làm gì? Ai để cho hắn vào đây?
- Hắn đánh lừa người gác bằng một thẻ ra vào cũ. Hay là việc hắn tới đây có liên quan tới trận động đất.
Doolan trả lời một cách hóm hỉnh. Cô này cũng thuộc loại cáo non, sắp thành cáo già. Cô ta là vợ của một viên phụ tá giám đốc.
Stahr tiếc rẻ :
- Tội thật! Hắn là tay chuyên viên thu hình cừ nhất ở đây.
Lúc nghe tin hằng trăm người chết ở Long Beach, một ý tưởng tự tử không thành vẫn còn lởn vởn trong đầu óc Stahr trong buổi sáng sớm. Stahr ra lệnh cho cô thơ ký theo dõi tình trạng của Zavras.
Vừa cạo râu vừa uống cà phê, Stahr vừa nghe báo cáo của cô thơ ký phát ra trong máy nội thoại :
- Ông Robinson nhắn nếu ông có cần gì thì kêu ông ấy ở phòng riêng.
Không khí ấm áp buổi sáng từ ngoài lọt vào. Doolan báo cáo thêm: một tài tử bị đau bất ngờ. Thống đốc California mở tiệc tiếp tân. Một soạn giả hành hung vợ ông ta vì vấn đề chuyện phim. Cả ba việc trên đây thực ra đều là phận sự của ba tôi, ngoại trừ trường hợp tài tử nói trên có giao kèo riêng với Stahr. Tuyết rơi sớm ở Gia Nã Đại khiến việc quay phim của hãng ở đó bị ảnh hưởng, Stahr nghĩ cách đối phó. Ông ta đọc lại chuyên phim. Không thể làm gì hơn. Stahr gọi cô thơ ký :
- Cho tôi nói chuyện với người cảnh sát đã dẫn hai thiếu nữ ra khỏi phim trường tối hôm qua. Hình như là Malone thì phải.
- Thưa vâng ạ. Thưa, ông Wyman đang chờ nói chuyện ở đầu dây về vụ cái quần làm sao đấy ạ.
Stahr nhấc ống nghe :
- A lô, Wyman đấy hả? Này, có hai ba người coi chiếu thử phim vừa rồi, họ nói trong suốt nửa cuốn phim, nút quần của Morgan đã quên không cài đấy... à, à.... dĩ nhiên họ có phóng đại lên, nhưng dù sao... à, à.. làm sao kiếm được mấy người đó, anh cứ cho chiếu lại nhiều lần đi, cho thật nhiều người xem thử coi họ có nhìn thấy không. Nghệ thuật là quan trọng và trường cửu, ô kê?
Tiếng cô thơ ký lại vang lên :
- Thưa, có Hoàng tử Đan Mạch tới thăm phim trường, ông ta rất đẹp trai... đối với một người... lớn con.
- Biết rồi, cảm ơn cô, còn tôi là người đẹp trai nhỏ con ở đây phải không? Cô bảo họ đưa ông ta đi xem những nơi dựng cảnh trong phim trường, và cho biết chúng ta mời Hoàng tử dùng cơm trưa liền bây giờ.
- Thưa vâng ạ. Thưa, có ông George Boxley xin vào. Ông ta có vẻ giận theo kiểu người Anh đấy ạ.
- Chờ mười phút nữa hãy cho ông ta vô. Robinson có kêu lại chưa?
- Thưa chưa.
- Cô kêu cho ông ta, hỏi dùm tôi xem ông ta có biết mấy người đàn bà bị nước cuốn vào phim trường trong đêm rồi không? Biết một trong hai người, ai cũng được.
- Thưa, có vậy thôi à?
- À, à, cô nhớ hỏi ngay ông ta dùm tôi, kẻo để lâu sợ ông ta quên mất. Nói là có việc quan trọng liên quan tới họ. À... cô hỏi ông ta xem có biết hai người đó thuộc hạng người nào, họ làm gì! Có phải họ là...
Cô Doolan đợi ông chủ nói tiếp, tay cô ghi những điều Stahr vừa nói lên bảng kẹp giấy ghi chú.
- À... à... Nói ông ta hỏi xem liệu họ có đóng phim... à quên... họ có khả năng diễn kịch không... À, nhưng thôi, đừng nói vậy nữa, cứ bảo ông ta cho biết họ đâu thôi.
Sau đó có tin của viên cảnh sát Malone cho hay một trong hai người đàn bà mà anh ta dẫn ra khỏi phim trường hôm qua hình như bị sổ mũi. Anh ta không biết họ ở đâu, nhưng cho hay họ có xe hơi hiệu Chevvy. Viên cảnh sát nghĩ rằng nếu muốn kiếm tông tích họ thì nên đi lục bằng lái xe trong thành phố! Ngoài ra anh ta không biết gì hơn và cũng không còn nhớ thiếu nữ mà anh nói bị sổ mũi là người đẹp hay người không đẹp. Nhớ được thế cũng là quá rồi. Ngay đến hình dáng của Minna, vợ của Stahr trước kia mà bây giờ mọi người trong phim trường cũng còn quên hết cả rồi, huống chi đối với một thiếu nữ gặp trong chốc lát.
* * * * *
Stahr mỉm cười đón tiếp George Boxley vừa bước vào trong phòng. Stahr cười tự nhiên, cởi mở, giống như nụ cười của người cha lúc gặp con. Điều đó thực là trái ngược vì Stahr ít tuổi hơn mặc dầu chàng ở địa vị cao. Trước đây đối với những người trên tuổi, Stahr thường có nụ cười ngưỡng mộ khi tiếp xúc với họ. Nhưng lần lần nhưng nụ cười đó được thay thế bằng những mệnh lệnh Stahr ra cho họ. Để khỏa lấp tự ái của họ, Stahr thường nở nụ cười cởi mở. Nụ cười đó luôn luôn nở trên môi nếu người đối thoại không lăng mạ, giận dữ, công kích hay có hành động quá đáng với chàng.
Nhưng Boxley không cười. Ông ta đứng sững như trời trồng, rồi ngồi phịch vào chiếc ghế gần đấy như thể có ai cầm hai tay ông ta kéo xuống. Lúc Stahr bật quẹt mời ông ta hút thuốc, Boxley cũng mồi thuốc một cách lơ đãng, làm như thể ngọn lửa đó là do thiên nhiên tạo ra, chớ không phải từ một người vừa bật lên mời mình.
Stahr nhìn Boxley một cách lịch sự :
- Chuyện gì vậy bác?
Nhà văn vẫn còn hầm hầm nhìn Stahr trong yên lặng. Stahr lại lên tiếng bằng một giọng nửa nhượng bộ, nửa cứng rắn. Cái giọng tự mãn của một ông hiệu trưởng trẻ tuổi vừa ra trường không được Stahr xử dụng nữa.
Boxley la lớn :
- Những điểm yêu cầu của tôi không được thỏa mãn gì cả. Các anh rất lịch sự nhưng hình như các anh đang âm mưu để hại uy tín của tôi. Hai anh thợ viết anh giao cho tôi, chúng chẳng làm được cái quái gì cả. Vốn liếng ngôn từ của chúng có lẽ không quá vài trăm tiếng.
- Sao bác không tự viết lấy?
- Tôi viết rồi. Tôi gởi thơ cho anh rồi.
Stahr nhỏ nhẹ :
- Tôi có đọc. Nhưng chỉ thấy bác tả một cuộc đối thoại, nói qua nói lại. Đối thoại hay, nhưng không có gì hơn cả.
Lúc này hình như có những bàn tay vô hình của hai con ma đang kềm chặt Boxley xuống ghế ngồi, ông ta nhúc nhích muốn đứng lên nhưng không nổi. Ông ta se sẽ gầm gừ, gần như muốn cười gượng chớ không có ý đùa giỡn :
- Chắc các anh chưa đọc kỹ đoạn đối thoại tôi viết. Hai nhân vật trong phim sẽ vừa đối thoại vừa đấu kiếm. Sau cùng một trong người bị rớt xuống giếng và phải kéo anh ta lên bằng cái thúng.
Nói xong Boxley lại đằng hắng. Stahr hỏi :
- Nếu viết tiểu thuyết, bác có viết như vậy không?
- Sao? Dĩ nhiên là không.
- Như thế là bác đã đánh giá trị cuốn phim một cách rẻ rúng quá.
Boxley có vẻ muốn tránh né :
- Phim ảnh phải có những tiêu chuẩn khác.
- Bác đã đi vào vấn đề phim ảnh bao giờ chưa?
- Hầu như chưa bao giờ.
- Có lẽ là tại vì người ta cứ cho những nhân vật trong phim đấu kiếm và rớt xuống giếng hoài!
Stahr nói tiếp :
- Phải, và có lẽ cũng tại những nét mặt dị hợm, những câu chuyện lố bịch, những đối thoại gò ép của các nhân vật trong phim. Bác phải thu gọn cuộc đối thoại lại trong chừng một phút thôi, sửa lại lời lẽ cho tự nhiên, đậm đà hơn là những câu của hai anh thợ viết, đó chính là công việc mà chúng tôi mướn bác làm. Bác cần phải tưởng tượng ra những gì lý thú, ý nghĩa hơn là những cuộc đối thoại nhạt nhẽo hay chuyện nhảy xuống giềng. Trong phòng làm việc của bác có lò sười và hộp quẹt để đốt lò không?
- Hình như có, nhưng tôi chưa xử dụng bao giờ.
- Hãy giả dụ bác đang ngồi trong phòng. Suốt ngày bác đã vật lộn để sáng tác, giờ đây bác quá mệt mỏi, không còn đủ sức để chiến đấu hay viết nữa. Bác ngồi thừ người nhìn sự vật, giống như chúng ta vẫn thường làm. Một cô thơ ký xinh đẹp mà bác đã từng trông thấy trước đó từ ngoài bước vào trong phòng. Bác lơ đễnh nhìn cô ta. Mặc dầu bác ngồi rất gần, nhưng cô ta vẫn không nhìn thấy bác. Cô ta tháo găng tay, mở bóp ra và dốc mọi thứ lên mặt bàn...
Stahr đứng dậy, ném xâu chìa khóa lên trên bàn :
- Cô ta có hai đồng mười đồng, một đồng năm đồng, và một hộp giấy. Cô thơ ký để yên đồng năm đồng trên mặt bàn và bỏ hai đồng mười đồng vào bóp, cầm đôi găng tay đi lại phía lò sưới, mở cửa lò, ném đôi găng vào. Hộp quẹt chỉ còn mỗi một cây, cô ta quỳ xuống cạnh lò sưởi, bắt đầu nhóm lửa. Một cơn gió lùa qua cửa sổ - ngay lúc đó thì chuông điện thoại reo. Cô gái nhấc ống nghe, trả lời “Alô”. Nghe một lát rồi nói vào máy giọng quả quyết: “Không, tôi không bao giờ mang găng tay đen bao giờ cả và cũng không có đôi găng tay đen nào!” Cô ta để ống nghe xuống, quỳ cạnh lò sưới, quẹt lửa. Ngay lúc đó, bác chợt nhìn xung quanh và thấy một người đàn ông khác nữa trong phòng, đang theo dõi mọi cử chỉ của cô gái...
Stahr ngừng kể, nhặt xâu chìa khóa lên bỏ vào túi.
Boxley mỉm cười :
- Rồi sao nữa? Anh nói tiếp đi.
- Không biết. Tôi mới chỉ nghĩ đến đấy.
Boxley hình như đã nhận ra điều sai lầm của ông ta :
- Đó là một bi kịch.
- Không nhất thiết phải vậy. Nhưng dù là gì, ta cũng cần loại bỏ những cử động dữ dằn, những mẫu đối thoại nhạt nhẽo rẻ tiền, và những nét mặt diễn tả ngô nghê. Chỉ có vấn đề câu nói, cần cho chải chuốt, và điều đó, một văn sĩ như bác dư sức làm. Nhưng bác cần phải cảm thấy hứng thú mới được.
Box ley hỏi với giọng tò mò :
- Thế đồng năm đồng để làm gì?
- Không biết.
Stahr chợt cười :
- À, phải rồi, đồng năm đồng đó để cho điện ảnh.
Hai cánh tay vô hình như đã buông Boxley ra. Ông ta ngồi thảnh thơi, tựa lưng vào thành ghế và cười :
- Như thế anh còn mướn tôi làm mẹ gì? Tôi có biết khỉ khô gì về vấn đề điện ảnh này đâu?
Stahr cười gằn :
- Bác sẽ biết. Nếu không, bác đã không hỏi tới đồng năm đồng.
* * * * *
Stahr và Boxley gặp Mike ở ngoài cửa văn phòng. Stahr giới thiệu hai người rồi quay hỏi Mike :
- Có gì không Bác?
- Không. Tôi cứ tưởng ông chưa đi làm.
- Sao mấy ngày nay nghỉ đi. Thiếu Bác là anh em mất vui.
- Tôi cứ tưởng anh em còn đang hoang mang.
- Bác cứ yên trí. Bây giờ biểu diễn vài ngón nghề cho tụi này coi thử chút được không nào?
Stahr nhìn Boxley :
- Bác Mike đây là hoạt náo viên. Bác làm nghề này từ lúc tôi còn đang bú mẹ. Mấy ngón nhào lộn của Bác thì tuyệt. Bác Mike cho ông Boxley đây coi thử tài bác chút.
- Thôi mà ông, ở đây đâu có chỗ, để hôm khác.
- Không được.
Cô Katy, phụ tá của cô Doolan cũng vừa đi tới :
- Bác biểu diễn tí đi bác.
Ngay lúc đó Mike đập hai tay vào mông, tung mình nhảy lên cao và lúc hạ xuống, hai tay ông ta giang ra như một cánh chim khổng lồ. Chân vừa chạm đất là ông chạy đâu mất biến.
Tiếng của cô Doolan :
- Thưa ông, có ông Hanson điện thoại từ Nữu Ước.
Mười phút sau, Stahr ấn nút máy nội thoại và tiếng cô Doolan :
- Thưa ông, có một nam tài tử đang chờ ông ở cửa văn phòng.
- Báo anh ta tôi đã đi khỏi theo lối sau rồi.
- Vâng. Nhưng anh ta tới lần này là lần thứ bốn trong vòng một tuần nay.
- Cô có hỏi thử anh ta cần gì không? Bảo anh ta đi gặp ông Brady thử coi?
- Anh ta không nói gì hết. Ông sắp phải đi họp. Cô Meloney và ông White chờ ông ở ngoài cửa. Ông Broaca chờ ở phòng ông Reinmund bên cạnh.
- Mời ông Roderiguez vô. Bảo ông ta tôi chỉ có thể nói chuyện trong vòng một phút.
Lức anh tài tử bước vào, Stahr vẫn còn đang đứng. Chàng hỏi anh ta giọng vui vẻ :
- Sao chuyện gì mà nóng nảy dữ vậy?
Anh ta chờ cho cô Doolan đi ra rồi mới lên tiếng :
- Anh ạ, có lẽ tôi hết thời rồi; tôi cần gặp anh.
- Hết cái gì? Anh có thấy anh sáng chói trong phim Variety không? Tuần rồi chiếu ở rạp Roxy tại Chicago, số tiền thu lên tới ba mươi bảy ngàn, anh không biết sao?
- Cú này nặng lắm anh à. Tôi đã tạo được mọi thử, và bây giờ lại kể như mất hết, không còn gì. Mọi sự đã mất hết ý nghĩa.
- Rồi. Anh nói đầu đuôi tôi nghe coi.
- Giữa tôi và Esther không còn gì nữa hết. Không còn gì có thể cứu vãn nổi.
- Lại chuyện gây lộn hả?
- Không phải, chuyện này buồn lắm. Nhiều khi tôi thơ thẩn như người mất hồn. Đấu óc hoang mang, có lúc tôi diễn xuất như người làm việc trong khi ngủ.
- Đâu có gì. Chiều hôm qua, lúc tan sở tôi thấy anh còn ngon lành lắm mà.
- Vậy sao? Có lẽ tôi cố tình như thế để che đậy con mắt của những kẻ tò mò.
- Anh và Esther bỏ nhau rồi sao?
- Có lẽ rồi sẽ phải đi tới chỗ đó. Không thể nào tránh được.
- Vậy thì chuyện gì? - Stahr hỏi có vẻ sốt ruột - Bị nàng bắt được tại trận à?
- Không, không phải chuyện đó, không có người thứ ba xen vào, chỉ tại tôi đã hết thời. Tôi bị sụm.
Thình lình Stahr chợt hiểu ra cả câu chuyên. Chàng hỏi :
- Làm sao anh dám chắc như vậy?
- Không còn nghi ngờ gì nữa. Sáu tuần nay rồi, tôi có làm ăn gì được đâu!
- Có khi chỉ tại anh tưởng tượng. Có đi bác sĩ chưa?
Anh ta gật đầu :
- Rồi. Tôi đã làm đủ mọi chuyện, kể cả... “thổi kèn”, nhưng đều vô hiệu. Có lẽ hết thuốc chữa!
Stahr chợt có một ý tưởng ngộ nghĩnh là thử khuyên anh ta tới hỏi Brady thử coi. Ông ta chuyên về việc giao tế công cộng, chắc cũng sành luôn trong vấn đề giao tế cá nhân. Stahr muốn cười, chàng phải quay mặt đi để lấy lại vẻ nghiêm trang.
Như đoán được ý tưởng của Stahr, chàng tài tử lên tiếng :
- Tôi đã gặp ông Brady rồi. Ông ta có vẻ lơ mơ lắm. Tôi đã làm theo cách ông ta chỉ, nhưng không thấy hiệu nghiệm. Mỗi bữa cơm, ngồi đối điện với Esther, tôi cảm thấy mắc cỡ, chịu không nổi. Nàng lúc nào cũng có vẻ rất sung sức và sẵn sàng. Càng nghĩ càng chán. Anh thấy phim “Ngày mưa” thu hai mươi lăm ngàn ở Des Moines, phá kỷ lục ở St Louis, hai mươi bảy ngàn tại Kansas City. Giới thanh niên trẻ hoan hô tôi hết mình. Bây giờ nghĩ lại tôi chỉ thấy mắc cở. Nhiều đêm tôi không dám về nhà, không dám leo lên giường.
Stahr bắt đầu cảm thấy hơi nản. Lúc anh ta mới bước vào trong phòng, Stahr có ý định mời anh ta đi dự một buổi dạ hội. Nhưng giờ đây Stahr đã bỏ ý định ấy. Chắc chắn anh ta không thể nào bước chân tới dạ hội trong khi đầu óc anh ta còn đang lẩn quẩn với những ý nghĩ như thế này.
Stahr nghe tiếng anh ta nói tiếp :
- Cuối cùng tôi nhất quyết tìm tới anh. Tôi thấy anh chưa bao giờ bị bó tay đối với bất cứ vấn đề nào. Tôi nghĩ dù anh có khuyên tôi đi tự tử, tôi cũng vẫn cứ tìm tới để xin anh một lời khuyên.
Máy nội thoại báo hiệu, Stahr ấn nút, tiếng cô thơ ký :
- Thưa ông, quá năm phút rồi.
- Xin lỗi. Bảo họ chờ tôi tôi chút xíu nữa.
Chàng tài tử lên tiếng với giọng buồn rầu :
- Năm trăm nữ sinh diễn hành qua nhà, vậy mà tôi không dám ló mặt ra đường, chỉ đành đứng lấp ló sau cửa sổ.
- Anh bình tĩnh ngồi xuống đây. Không đi đâu mà vội, chúng ta hãy từ từ giải quyết vấn đề.
Bên ngoài buổi họp đã phải hoãn lại tới hơn mười phút để chờ Stahr. Mọi người đều nóng lòng, nôn nao. Trong số những người dự buổi họp hôm nay có Wylie White và Jane Meloney. Người đàn bà nhỏ bé khoảng năm chục tuổi đó là đầu đề cho thiên hạ bàn ra tán vào hàng trăm thứ chuyện ở Hollywood này. Người thì bảo bà ta là “kẻ chuyên môn gạt tình”, “soạn giả xây dụng chuyện phim hay nhất Hollywood”, “hạt gạo cội”, “người khôn khéo nhất”, kẻ thì nói bà ta là “đồ ngựa già”, “con mẹ áp phe chuyên môn cầm nhằm lấy của người làm của mình”. Dĩ nhiên, về phương diện ái tình thì thiên hạ còn đồn nhiều hơn nữa. Có kẻ bảo bà ta là “con yêu tinh”, có người nói bà hãy còn là “gái trinh”, là kẻ chỉ biết “khẩu dâm” “thiệt đâm” và cuối cùng là “người vợ trung thành”. Thực ra nàng không phải một ma-ri-sến chánh cống, nhưng sau khi nổi tiếng trong làng điện ảnh thiên hạ thối mồm cứ đồn rằng nàng xuất thân từ hạng đó. Dù sao nàng là một người đàn bà tự lập, lợi tức của nàng hiện nay là một trăm ngàn một năm. Thẩm định giá trị của nàng có lẽ phải cần đến cả thiên tiểu luận. Nhưng chắc chắn nàng là người hiểu việc, biết việc, đáng tin và không quá ích kỷ. Hồi Minna còn sống, nàng và Minna từng là đôi bạn thân, và nhiều lần Stahr đã phải tìm cách giữ cho sự thân mật đó không trở thành quá lố, bất bình thường.
Nàng và Wylie ngồi đợi Sthar một cách kiên nhẫn. Thỉnh thoảng họ trao đổi vài câu với cô Doolan. Trong khi đó điện thoại từ phòng Reinmund cứ cách một phút lại gọi sang để hỏi Stahr tới chưa. Giám đốc Broaca cũng đang đợi trong phòng của Reinmund. Mười phút sau, máy nội thoại trong phòng cô Doolan nháy đèn, cô ta nhấc điện thoại gọi cho Reinmund và Broaca, ngay lúc đó Stahr và chàng tài tử từ trong phòng bước ra. Thấy anh ta quá bơ phờ, Wylie tò mò hỏi; anh ta định bắt đầu cà kê, dê ngỗng :
- Chà, bết quá!...
Nhưng Stahr đã chận anh ta lại :
- Không sao hết, anh cứ bình tĩnh trở lại làm việc hăng hái như thường theo cách tôi đã nói.
- Cảm ơn anh.
Jane Meloney nhìn theo anh ta :
- Bị cướp mất chỗ hay sao?
Stahr không trả lời câu hỏi, chàng nói lớn :
- Thành thực xin lỗi đã làm mất thời giờ của quý vị. Thôi chúng ta vào phòng họp.
* * * * *
Đồng hồ đã chỉ mười hai giờ, nhưng cuộc họp còn phải kéo dài trong chừng một tiếng nữa mới xong. Trong những buổi họp như thế này, không ai có quyền bỏ ngang, ngoại trừ một vài ông giám đốc bị gọi đi trong trường hợp tối cần thiết cho cuốn phim đang quay. Cứ tám ngày thì công ty phải cho ra được một cuốn phim dài cỡ như Miracle của Reinhardt.
Lâu lâu có một lần, nhất là cách đây mấy năm, Stahr thường phải làm việc suốt đêm cho một cuốn phim nào đó. Những đêm thức trắng như vậy, thì năng xuất làm việc ban ngày bị kém. Tuy nhiên sau một hồi đi từ quyết định này đến quyết định khác, sự hăng hái lần lần trở lại với Stahr. Stahr thuộc loại người muốn ngủ lúc nào cũng được, muốn làm việc lúc nào là làm, chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ là sự hăng say sẽ đến với chàng.
Cuộc họp để kiểm điểm công việc thực hiện phim trong tuần hôm nay, ngoài các soạn giả ra còn có Reinmund, một trong các kiểm soát viên ưu tú của hãng, và John Broaca, giám đốc hình ảnh.
Broaca, nguyên là một kỹ sư, người anh ta to, cao, tánh tình trầm tĩnh, vui vẻ, bình dân. Nhưng thỉnh thoảng có những hành động khó hiểu. Chẳng hạn có những hình ảnh mà Stahr thấy anh ta cứ cố tình nhét vào bất cứ cuốn phim nào. Những hình ảnh đó không hề được thay đổi: cùng một động tác, một công việc. Thí dụ cái cảnh một đàn chó quấn quýt với cô gái trong phòng. Sau đó là cảnh cô gái đó xuống chuồng ngựa và tát nhẹ vào hông con ngựa. Có lẽ lúc còn nhỏ, một ngày nào đó đứng sau hàng dậu nhìn ra ngoài, anh ta đã bắt gặp một cô gái đẹp cạnh nhũng con chó và ngựa. Từ đó anh ta bị ám ảnh, và nhất định cho rằng chỉ có những hình ảnh đó mới tiêu biểu cho sự khiêu gợi.
Reinmund là một thanh niên đẹp trai. Anh ta được học hành tương đối khá. Là con người có cá tính mạnh, nhưng từ nhỏ lại bị những người xung quanh kìm hãm, bảo phải làm điều này, điều nọ. Bây giờ anh đã tự tháo cũi, sổ lồng để mặc tình sống theo sở thích. Nhưng công việc giao cho anh ta luôn luôn được thực hiện đúng ngày giờ. Anh ta luôn luôn nhìn Stahr với đôi mắt say mê, thán phục, đến nỗi có người cho rằng anh ta muốn đồng tính luyến ái. Về phần Stahr, chàng có thiện cảm với Reinmund vì thấy anh ta là con người nhanh nhẹn, mẫn cán.
Wylie thì khỏi nói, ở bất cứ quốc gia nào anh ta cũng được coi là một nhà trí thức hạng nhì. Học thức và có tài hùng biện. Ngoài ra Wylie còn là người nhanh nhẹn, đơn giản, nhiều khi tỏ ra hồ đồ và hơi bi quan. Đối với Stahr, thỉnh thoảng Wylie để lộ lòng ganh tị. Nhưng anh ta che đậy được ngay, và sự ganh tị đó còn pha lẫn cả lòng ái mộ, thiện cảm.
Stahr lên tiếng :
- Kỳ hạn hoàn tất phim này còn hai tuần nữa kể từ thứ Bảy. Mọi việc tiến hành tốt đẹp.
Reinmund và hai soạn giả ngồi cạnh đưa mắt khen ngợi lẫn nhau. Stahr nói tiếp với giọng trầm ngâm :
- Tuy nhiên, tôi không tìm thấy lý do gì khuyến khích ta tiếp tục cuốn phim này. Vì vậy tôi quyết định đình chỉ.
Một phút im lặng nghẹt thở trôi qua, sau đó có những tiếng rì rầm, bàn tán, phản đối.
Stahr :
- Chuyện này không do lỗi của ai hết. Nhưng tôi chỉ thấy phim này thiếu những gì mà đáng lẽ nó phải có. Thế thôi.
Stahr nhìn Reinmund như có vẻ tiếc rẻ :
- Thật uổng, phim này diễn xuất khá lắm và chúng ta đã ném vào đó hơn năm chục ngàn.
Broaca hỏi nhanh :
- Xin anh vui lòng nói rõ thêm vấn đề.
- Dễ lắm. Lý do là càng đi sâu vào, ta càng thấy cuốn phim thiếu giá trị.
Cả Reinmund và Wylie đều đang nghĩ tới những ảnh hưởng đối với nghề nghiệp của họ do việc ngưng quay cuốn phim gây ra. Reinmund thì đã có được hai cuốn trong năm nay. Nhưng còn Wylie thì anh ta chỉ hy vọng ở cuốn phim này để tên tuối được trở lại màn bạc.
Jane Meloney chăm chú nhìn sát vào mặt Stahr :
- Xin anh giải thích thêm về những lý do khiến ta bỏ cuốn phim.
- Tôi không muốn Margaret Sullavan và Colinan đóng phim này... Tôi thấy họ không thích hợp.
Wylie năn nỉ :
- Xin anh đi vào chi tiết hơn một chút. Anh không bằng lòng điều gì? Về cảnh trí, đối thoại, khôi hài, hay là việc xây dựng cốt chuyện?
Stahr cầm tập chuyện phim ở bàn lên tay, rồi lại để rớt xuống, làm như tập chuyện quá nặng khiến chàng không đủ sức giữ lại :
- Công chúng! Sở thích của công chúng thực là khó chiều. Nhưng nếu tôi biết sở thích đó ở đâu, nhất định tôi phải tìm tới và nếu biết được sở thích đó đi tới đâu, tôi cũng sẽ theo đi đến cùng.
Reinmnd mỉm cười, nhưng sự lo lắng vẫn còn thấy trong khóe mắt anh ta :
- Khó mà chiều được công luận, nhưng tôi tưởng đối với phim này họ cũng không đến nỗi thờ ơ lắm.
Broaca phụ họa :
- Họ sẽ khoái là cái chắc!
Giọng của Stahr thật sắc :
- Chắc không? Tôi thấy phim này khó sống nổi. Càng xem càng không hiểu phim muốn nói cái gì?
Reinmund trả lời nhượng bộ :
- Dĩ nhiên có nhiều chỗ mình cần sửa lại. Chúng ta thấy cốt chuyện không hay, nhưng chúng ta đã đồng ý..
- Tôi không nói đến cốt chuyện, nhưng tôi muốn nhấn mạnh vào loại chuyện mà chúng ta đã quyết định lựa chọn để diễn tả. Chúng ta toàn quyền tự do lựa chọn theo sở thích, nhưng khi đã chọn một loại nào rồi thì chúng ta phải dồn mọi nỗ lực để diễn tả loại đó, trong từng hàng, từng chi tiết một. Chuyện phim này không phải loại chuyện tôi đã chọn. Cốt chuyện mà chúng ta đã mua là loại chuyện vui tươi, có hậu, đó là một câu chuyện tràn đầy hạnh phúc. Vậy mà khi quay ra phim này, khán giả chỉ xem thấy toàn là những suy tư, ngờ vực, bối rối. Cặp trai, gái lý tưởng trong phim đã khi không dứt tình với nhau một cách phi lý; rồi lại yêu nhau trở lại cũng vì những lý do tầm thường không đâu. Sau diễn biến đầu tiên, các anh đã thiếu chuấn bị về sự tái ngộ của hai nhân vật này.
Wylie nói chen vào :
- Thưa, đó là lỗi của tôi. Vì tôi tưởng rằng ngày nay các có thơ ký không còn say mê ông chủ như hồi năm 1929 nữa. Họ thấy mấy ông chủ đã tỏ vẻ sợ điều đó. Sự việc đã thay đổi theo thời gian.
Stahr nhìn Wylie một cách sốt ruột và sẽ gật đầu :
- Thay đổi hay không, ta không thể đem câu chuyện đó ra thảo luận ở đây. Chỉ biết rằng chuyện phim mà ta đã chọn cho phim này là một chuyện trong đó cô thơ ký mê ông chủ một cách say đắm, nếu anh muốn dùng những từ ngữ như vậy. Và không có chứng cớ gì cho thấy ông chủ sợ điều đó. Khi anh cho cô ta nghi ngờ ông chủ là anh đã đổi sang một loại chuyện khác rồi. Hoặc là chuyện của anh sẽ không thuộc vào một loại nào cả, sẽ không diễn tả gì hết. Những nhân vật trong chuyện này đều là những người hướng ngoại. Ta phải luôn luôn để cho họ sống tự nhiên trong cá tính đó, đừng bắt họ suy tư. Nếu muốn làm một phim triết lý thuộc loại kịch của Eugene O’Neill với đầy những nghi ngờ, thắc mắc về cuộc đời, thì chúng ta sẽ mua một cốt chuyện khác.
Jane Meloney từ đầu tới giờ luôn luôn theo dõi Stahr, bây giờ bà ta biết chắc rằng mọi việc rồi sẽ êm xuôi cả. Nếu thực tình muốn bỏ ngang cuốn phim này thì Stahr đã không phân tích dài dòng như thế. Bà đã sống trong cái trò chơi điện ảnh này lâu hơn ai hết, trừ ra Broaca, người đã từng dan díu với bà ta trong một cuộc tình ba ngày, xảy ra hai chục năm trước.
Stahr quay sang Reinmund :
- Anh cần nắm vững vấn đề trong lúc thực hiện. Nhớ là tôi muốn có loại phim vui tươi, hồn nhiên. Tôi đã phác họa những nét đại cương của hai nhân vật chánh để phù hợp với tài diễn xuất trẻ trung của cặp tài tử Corliss và McKelway. Từ nay anh phải lưu ý điều đó mới được. Nếu tôi còm-măng một chiếc xe du lịch thì anh đừng đưa cho tôi chiếc xe đua.
Stahr nhìn mọi người và tiếp :
- Bây giờ chúng ta có nên bàn tiếp nữa hay không? Tôi đã trình bày để quý vị thấy tôi không muốn thấy cái phim ấm ớ, vui không ra vui, buồn không ra buồn này. Chúng ta có thể đi tới không? Chúng ta có hai tuần. Sau thời gian đó, tôi cần cặp Corliss và McKelvvay cho một phim khác. Liệu chúng ta có nên tiếp tục cuốn phim này không?
Reinmund :
- Cần phải tiếp tục. Tôi đã nhận ra những điểm sai lầm. Đáng lẽ tôi phải cảnh giác Wylie từ trước mới phải. Lúc đó tôi cứ tưởng đó là những sáng kiến hay.
Broaca nói lớn :
- Stahr nhận xét rất có lý. Ngay từ đầu tôi đã cảm thấy phim này có điều gì lệch lạc, nhưng không phải lãnh vực của tôi.
Wylie và Rose nhìn nhau, ngầm trao đổi ý kiến. Stahr lại đặt câu hỏi :
- Yêu cầu quý vị soạn giả cho biết, quý vị có thể viết lại chuyện phim này với một sắc thái vui vẻ như tôi vừa trình bày hay không? Quý vị có cần thêm người giúp đỡ hay không?
Wylie trả lời :
- Cái đó có thể viết lại được.
Stahr quay sang phía Meloney :
- Còn chị thấy thế nào?
Meloney nhìn Stahr gật đầu. Stahr hỏi lại :
- Chị thấy vai trò của thiếu nữ trong phim này thế nào?
- Đương nhiên là tôi tán thành.
Stahr phản đối :
- Chị phải quên điều đó đi. Mười triệu người sẽ đả đảo thiếu nữ đó nếu cô ta xuất hiện trên màn ảnh. Chúng ta có tất cả một giờ hai mươi lăm phút. Một phần ba thời gian đó chúng ta cho thiếu nữ này xuất hiện như thể một người đàn bà lang chạ. Chắc chắn khán giả sẽ có cảm tưởng rằng nàng là một con điếm.
- Phải chăng đó là một đề tài lớn?
Vừa nói Meloney vừa cười và mọi người cùng cười theo.
Stahr nói có vẻ nghĩ ngợi :
- Đồng ý, đối với riêng tôi; có thể đó là một đề tài lớn. Có thể đối với sở kiểm tục, đó cũng là một đề tài lớn. Nhưng nếu chị muốn khai thác đề tài đó thì chúng ta phải kiếm một chuyện khác, chớ không phải chuyện này. Chị không có quyền sơn bảng cấm lên lưng thiếu nữ này, vì trong tương lai cô ta sẽ trở thành người vợ, người mẹ hiền. Hơn nữa...
Stahr ngưng lại, chỉ vào Wylie, nói tiếp :
- ... Ông tướng này cũng đam mê nhiều lắm, nên ta không thể để cho nàng làm nghề đó được.
Wylie cãi :
- Nàng đâu có ham chuyện đó. Lúc nào nàng cũng được yêu đầy đủ rồi mà.
- Đầy, nhưng mà rồi nàng lại vơi thì sao? Nhưng thôi, chúng ta tạm gác chuyện đó. Tôi thấy có một cảnh trong phim rất hay, vậy mà các anh lại cắt đi, đó là cảnh nàng ta muốn cho thời giờ đi nhanh bằng cách thay đổi đồng hồ.
Wylie có vẻ tiếc rẻ :
- Vì cảnh đó có vẻ lạc lõng.
- Sau đây là những ý kiến của tôi cần sửa đổi đối với cuốn phim này. Tôi sẽ nhờ cô Doolan trình bày với quý vị. Nếu thấy có điều gì không ổn, xin quý vị cho biết ý kiến ngay.
Sau câu nói của Stahr thì cô Doolan đã có mặt ngày trong phòng họp. Cô ta nhanh nhẹn trình bày các điều đã được ghi sẵn. Theo những trình bày này thì Stahr muốn rằng cô gái, vai chánh trong phim này là một thiếu nữ hoàn toàn với một vài khuyết điểm nhỏ. Tạo ra một thiều nữ hoàn toàn không phải để chiều ý khán giả, nhưng vì trong loại phim này cần phải có một thiếu nữ như thế. Nàng không có cá tính gì đặc biệt. Nàng chỉ là một cô gái tiêu biểu cho sức khỏe, nghị lực, tham vọng và tình yêu. Điều quan trọng trong phim này là người thiếu nữ đó đã tự nhận diện được con người mình trong hoàn cảnh. Nàng đã nắm được điều bí mật từng ảnh hướng tới đời sống của mọi người. Sự phân biệt giữa điều xấu và điều tốt lúc đầu thì lờ mờ, nhưng sau nó trở nên rõ ràng và nàng đã không ngần ngại chọn lấy điều tốt. Đó là đặc tính của loại phim này: nhẹ nhàng, rõ rệt, tươi sáng. Không có những hoài nghi.
Cuối cùng Stahr nói với một tiếng thở dài :
- Nàng không hề biết tới những xáo trộn của vấn đề lao động. Có thể là nàng sống vào năm 1929. Chắc quý vị đã thấy rõ cô gái trong phim này thuộc về loại thiếu nữ nào.
- Rất rõ.
Stahr nói tiếp :
- Bây giờ ta bàn tới những hành động của thiếu nữ. Luôn luôn, bất cứ lúc nào, nếu nàng xuất hiện trên màn ảnh là chúng ta thấy nàng tỏ vẻ muốn ngủ với Ken Willard, ông chủ của nàng. Anh hiểu ý tôi chưa, Wylie?
- Hiểu một cách say sưa.
- Bất cứ nàng làm gì, cũng là có mục đích để được ngủ với Ken. Nếu nàng đi ra phố, là ta phải cho nàng đi tới để ngủ với Ken; nếu nàng ăn là để nàng có đủ sức ngủ với Ken. Nhưng ta phải cho khán giả thấy rằng nàng coi chuyện đó là điều thiêng liêng, cao cả, chớ không có mặc cảm tội lỗi. Rất tiếc phải nói với anh những điều ấu trĩ này, nhưng tôi thấy những điểm đó đi bị bỏ quên trong cuốn phim.
Stahr cầm chuyện phim lên, mở từng trang. Những lời phê bình của Stahr được cô Doolan ghi lại và sẽ đánh máy ra phát cho mỗi người. Nhưng Meloney vẫn ghi chú riêng cho bà ta. Broaca thì ngồi mơ màng, hai tay che mắt nửa thức, nửa tỉnh. Ông ta đang nghi lại cái thời vàng son của soạn giả, cái thời vàng son không có kiểm soát viên, không có Stahr.
Ông ta giật mình tỉnh dậy, khi nghe nhắc tới tên mình.
- Broaca à, anh có thể kéo dài cái cảnh thằng nhỏ đang loay hoay trên một mái nhà dốc, tìm cách xuống không? Cảnh đó gây được một cảm giác vui vui, không nguy hiểm, không giật gân, đó chỉ là chú bé trên nóc nhà buổi sáng.
- Xong rồi, đó là vấn đề tạo ra yếu tố nguy hiểm.
- Không hẳn như vậy. Đừng cho thắng bé rớt xuống đất. Khi nó sắp sửa té thì ta đã cúp, qua cảnh khác rồi.
Meloney đưa ý kiến :
- Ta có thể cho thằng nhỏ leo qua cửa sổ phòng chị nó để trèo lên mái nhà.
- Đúng lắm, cô thơ ký ghi ngay vào dùm.
Broaca đã hoàn toàn tỉnh táo :
- Ta sẽ quay cảnh này từ phía dưới hướng ống kính lên trên. Thằng nhỏ khởi đi từ chỗ ống kính. Ống kính không đi theo đứa nhỏ, nhưng ta cho xen vào một hình ảnh thu gần và lại để cho nó đi tự nhiên. Ta không chú ý tới nó nữa, nhưng tập trung vào việc thu hình tổng quát của quang cảnh bầu trời và máy nhà.
Broaca là người rất mê cái nghề thu hình này. Ông ta thường đọc chuyện phim cho tới khi nhập tâm rồi mới bắt đầu thu hình, chớ không lật từng trang trong lúc quay phim. Broaca có thể xử dụng một cần trục để thay cho mái nhà, vì tạo một mái nhà ở mặt đất tốn kém hơn nhiều. Làm việc chung với người Do Thái nhiều năm, Broaca cũng nhiễm được cái tính tiết kiệm, và ông ta đâm ra tin rằng người Do Thái lúc nào cũng thiếu tiền.
Stahr lên tiếng :
- Diễn biển thứ ba tiếp theo sau dó là cảnh thằng nhỏ đánh ông cố đạo.
Wylie kêu lớn :
- Bộ anh muốn chọc mấy người Công giáo cho người ta tới cắt cổ mình sao chớ?
- Tôi đã hỏi Joe Breen rồi, việc cố đạo bị đánh không ăn nhậu gì tới giáo dân cả.
Stahr tiếp tục nói cho tới khi Doolan liếc nhìn đồng hồ, Stahr nhìn Wylie :
- Liệu có xong trước thứ hai được không?
Wylie nhìn sang Meloney, bà ta cũng trả lời bằng một cái nhìn chớ cũng chẳng buồn gật đầu như lần trước nữa. Thế là kể như chương trình nghỉ ngơi, du hí chiều thứ Bảy và ngày Chủ nhật tan ra mây khói. Nhưng Wylie cảm thấy mình là một con người mới, khác với con người lúc trước khi bước vào phòng họp. Với số lương một ngàn năm trăm đô la một tuần, không ai cảm thấy nề hà gì khi phải làm thêm để đối phó với tình trạng khẩn cấp đe dọa cuốn phim. Là một văn sĩ quá phóng túng đến độ gần như ẩu tả, bê bối, nên Wylie đã không thành công trong nghề viết. Nhưng từ khi làm việc chung với Stahr, Wylie đã thành công nhờ ở kỹ thuật và sự chăm sóc của Stahr. Những lời phê bình của Stahr chắc chắn sẽ theo Wylie khi anh ta ra khỏi phòng họp và sẽ văng vẳng khắp nơi trong lúc anh ta làm việc ở phim trường. Bây giờ hắn cảm thấy mình đã có mục tiêu rõ rệt để làm việc, một tinh thần đồng đội, một sự phấn khởi khôn ngoan hướng đến thành công chung cho mọi người. Quan niệm đó đã được Stahr lớn tiếng đề cao trong buổi họp, và vạch ra cho Wylie công việc của anh ta là tìm cách đặt những tảng đá vào đúng chỗ của nó trong việc xây đựng chuyện phim. Đó là điều phải làm với bất cứ giá nào và không cần biết đến kết quả sẽ tới đâu.
Nhìn qua cửa sổ, Meloney thấy một dòng nước nhỏ đang chảy dần về phía nhà ăn. Trưa nay nàng sẽ ăn cơm ở đó, và trong khi chờ đợi hắn đến nàng sẽ viết được ít hàng. Hắn hẹn một giờ mười lăm mới tới, hắn thường xức nước hoa của Pháp nhập cảng lậu qua biên giới Mexico. Những vụ lăng nhăng ái tình này, nàng tự nghĩ, nào có gì là tội đâu, cùng lắm thì coi là sự vi phạm một điều cấm chứ gì.
Broaca nhìn cách Reinmund o bế Stahr và cảm thấy con đường tiến thủ của hắn đang có mòi đi lên. Lương hắn chỉ có bảy trăm rưởi một tuần, ít hơn lương của các giám đốc, soạn giả, tài tử nhiều. Nhưng hắn lại có ảnh hưởng mạnh đối với Stahr, nghĩa là có quyền đối với mọi người. Chân hắn đi đôi giày cà là tèng mua ở khu chợ trời Beverly Wilshire. Broaca hy vọng đôi giày sẽ cứa chân gã thiệt đau. Nhưng mà rồi đây, hắn sẽ mua đôi đắt tiền ở tiệm nổi tiếng Peel mấy hồi. Hắn còn kém tuổi Broaca. Tuy là cựu quân nhân có nhiều chiến công, nhưng hắn đã bị Ike Franklin đánh một cái tát ngang mặt. Kể từ đó cho tới ngày giải ngũ, hắn không còn là con người nguyên vẹn như trước được nữa.
Stahr đã đứng lên, từ từ rút lui một cách lịch sự sau màn khói thuốc trong phòng họp. Trước khi rời khỏi ghế, Stahr còn cố nghe những lời trình bày của Reinmund và Doolan. Thế là buổi họp chấm dứt.
* * * * *
Cô thơ ký Doolan trình với Stahr :
- Thưa ông, có điện thoại của ông Marcus từ Nữu Ước gọi.
Stahr hỏi lại :
- Sao kỳ vậy, mới tối hôm qua tôi còn thấy ông ấy ở đây mà.
- Dạ, thưa ông ta đang chờ ở đầu dây. Đúng là tiếng cô thơ ký Jacob gọi từ văn phòng ông ấy đấy ạ.
Stahr cười lớn :
- Lát nữa ăn cơm trưa tôi sẽ gặp ông ấy, làm gì có máy bay nào đưa ông ấy tới Nữu Ước nhanh được vậy.
Cô Doolan hỏi lại trong máy điện thoại, và sau đó cho biết :
- Thưa, lầm thiệt. Tại vì hồi sáng ông Marcus có gọi điện thoại đi Nữu Ước báo tin về cuộc động đất và dặn Nữu Ước gọi trở lại để hỏi thăm ông. Cô thơ ký mới làm nên cô ấy hiểu lầm.
- Có lẽ vậy.
Hoàng tử Agge nghe Doolan nói có điện thoại từ Nữu Ước gọi, ông ta liền cảm thấy công việc làm ăn, tổ chức của người Mỹ thiệt là rộng lớn. Và ông ta thấy hãng có những sự liên lạc chặt chẽ. Thực ra đó chỉ là một trò tiểu xảo của Marcus, ông ta ngồi ở phía bên kia đường, điện thoại cho văn phòng của ông ở Nữu Ước bảo gọi về đây hỏi thăm Stahr.
Stahr nhắc lại :
- Phải, có lẽ cô ta mới nhận việc. Có tin tức gì khác nữa không?
- Dạ, thưa có ông Robinson vừa gọi tới, ông ấy nói sắp đi ăni bây giờ, và đã hỏi dò biết tên của một trong hai thiếu nữ hôm qua, nhưng ông ta lại quên mất rồi, chỉ còn nhớ mang máng hình như là Smith, Jones, hay Brown gì đó.
- Tốt lắm.
- Và ông ta nhớ cô ấy có nói cô vừa mới dọn tới Los Angeles.
- Tôi còn nhớ cô ta thắt dây nịt màu trắng có đục lỗ hình ngôi sao.
- Thưa ông, tôi đang hỏi thăm thêm tin tức về Pete Zavras, tôi mới nói chuyện với vợ ông ta.
- Bà ta nói gì?
- Tội lắm. Bà ta bị đau và nhà cửa không ai trông coi.
- Mắt bà ta có còn hy vọng gì không?
- Hình như bà ta chẳng biết gì cả. Mắt bà ấy chắc là sắp bị mù.
- Thiệt là kỳ cục.
Trong lúc đi ăn cơm trưa, Stahr vẫn còn bị bận tâm về câu chuyện này. Nó cũng tương tự như câu chuyện khó khăn của anh tài tử vừa rồi, đó là vấn đề sức khỏe của người khác, Stahr không thể nào quán xuyến hết thay cho họ được. Ngay đến sức khỏe của chính mình, Stahr cũng còn không có thời giờ nghĩ tới nữa là. Trên lối đi tới nhà ăn, Stahr vội vã tránh sang một bên nhường lối cho chiếc xe hơi điện không mui, trên chở đầy nhóc các cô gái ăn mặc quần áo sặc sỡ kiểu xưa. Những chiếc áo của các cô bay tủa theo gió trông thật đẹp mắt. Các cô nhìn Stahr với một con mắt đầy tò mò, Stahr cũng mỉm cười nhìn lại họ.
* * * * *
Mười một người bồi tiếp ông khách của họ. Khách quý ấy là ông Hoàng Agge. Bữa cơm được tổ chức tại Phòng ăn đặc biệt, Câu lạc bộ phim trường. Tất cả đều là những tay tỷ phú, những người cai trị thiên hạ bằng tiền bạc. Mọi người đều ăn uống trong sự lễ độ tối đa. Nhiều khi họ ăn trong yên lặng, tưởng chừng như quên cả sự hiện diện của khách. Thỉnh thoảng họ trao đổi với nhau một vài lời thăm hỏi về vợ con, gia đình hay có người rút khăn mùi xoa, cẩn thận, trịnh trọng chấm những giọt mồ hôi trên trán. Trong số người này cứ mười người thì hết tám người Hy Lạp và một người Anh. Đã từ lâu họ biết rõ về nhau và đánh giá lẫn nhau, tự lão già Marcus cho tới lão Leanhaum là những người nắm giữ một khối lớn cổ phần giá trị trong thị trường, và không bao giờ chịu chi ra quá một triệu một năm cho công việc sản xuất.
Lão già Marcus tuy đang gặp nhiều chuyện khó khăn, nhưng vẫn luôn luôn tỏ ra là tay sừng sỏ. Bản năng thương mại của lão báo cho lão biết những nguy hiểm, những âm mưu ngấm ngầm đang rình rập chung quanh mình. Và lão trở thành con vật nguy hiểm nhất khi những người khác cho là lão đã bị bao vây. Những người trước kia thường nhìn trộm vào khóe mắt lão để tìm hiểu những ý nghĩ thầm kín bây giờ cũng đành bó tay chịu thua. Lòng trắng trong hai mắt lão hình như tự nhiên nhiều ra để che đậy đi tất cả, khiến người ngoài nhìn vào không thể biết lão đang nghĩ gì. Bộ áo giáp của lão thiệt là hoàn hảo.
Nếu lão Marcus là người nhiều tuổi nhất thì Stahr lại là người ít tuổi nhất trong nhóm. Ít năm trước đây, khi lần đầu mới được ngồi chung với những người này, thì Stahr còn là một thanh niên hai mươi hai tuổi với nhiều bỡ ngỡ. Sau đó Stahr đã trở thành người giàu nhất trong số những người giàu nhất này. Rồi những sự tính toán của Stahr trở nên nhanh và chính xác khiến họ phải nể - bởi vì thực ra họ cũng chẳng phải là phù thủy hay chuyên môn gì. Phần lớn họ thành công do những may mắn hay một khả năng đặc biệt nào đó, mặc dầu thiên hạ vẫn cho rằng những người Do Thái có năng khiếu riêng về tài chánh. Nhưng họ là những người không có đầu óc thành kiến, nệ cổ, nên họ dễ dàng chấp nhận sự nổi bật của Stahr, thán phục tài ba của chàng và coi đó chính là một kết quả do họ tạo ra. Điều này cũng giống như các cầu thủ gạo cội lúc về già nhìn các mầm non tài ba và coi đó là kết quả công lao của chính mình.
Hiện nay thì Stahr được coi là đã vượt xa hơn nhiều những người hiện đang ngồi ở dây.
Ông Hoàng Agge ngồi giữa Stahr và Mort Flaishacker, luật sư của công ty, đối diện thì có ông chủ rạp hát Joe Popolos. Ông Hoàng hình như có ác cảm với người Do Thái và ông ta cố gắng gạt bỏ thành kiến đó. Là người thích phiêu lưu, từng phục vụ trong Đạo quân Hải ngoại, ông Hoàng có thành kiến đối với người Do Thái. Ông cho rằng họ có tự tôn mặc cảm quá lớn. Nhưng lúc này ông tỏ ra cởi mở hơn, ông nghĩ rằng có lẽ người Do Thái ở Hoa Kỳ đã đổi khác nhiều, chớ không như ở nơi khác. Nhất là đối với Stahr thì ông Hoàng rất khâm phục về đủ mọi phương diện. Ngoài ra, đối với những tay tư bản khác đang ngồi xung quanh, ông ta cho rằng đó chỉ là một bọn chó đói. Dù sao thì ông Hoàng cũng vẫn còn mang nặng dòng máu vua chúa trong huyết quản.
Ông Hoàng gọi Ba tôi bằng tên họ Brady, và để cho tiện, tôi cũng xin phép được gọi như vậy. Brady đang thắc mắc về một cuốn phim nên khi Leanhaum rời chỗ ra ngoài, ông ta liền lợi dụng chạy tới kéo ghế ngồi đối diện với Stahr :
- Không biết vấn đề làm phim về Nam Mỹ ra sao?
Ông Hoàng Agge nhận thấy sau câu nói đó của Brady, tất cả mọi người đều đổ dồn sự chú ý về phía Stahr. Họ chớp chớp mắt trước khi nhìn về phía ông ta khiến ông Hoàng có cảm tưởng rằng mí mắt họ đập phành phạch vào nhau như cánh gà vậy.
Stahr trả lời :
- Thì vẫn tiếp tục như thường.
- Với ngân khoản trước?
Stahr gật đầu.
- Tôi sợ mình gặp nguy hiểm. Lúc này tình hình bết quá, chắc không phim nào có thể hy vọng thành công lớn như những phim Thiên Thần sa đọa hay Ben Hur lúc trước được. Tôi sợ bỏ tiền ra thì dễ nhưng thu về là chuyện nan giải.
Rất có thể câu chuyện này đã được xếp đặt trước, bởi vì người ta thấy ông Hy Lạp vội vã nói chen vào :
- Chuyện đó thiệt là khó quan niệm nổi quá. Mấy lúc này tình hình đã thay đổi nhiều. Bây giờ chúng ta đâu có thể hành động như trong thời kỳ vàng son trước đây được nữa.
Câu nói của Popolos giống như những lời nói mớm để đưa người ta vào một cái bẫy trương sẵn nào đó.
Stahr hỏi :
- Marcus, anh nghĩ sao?
Mọi con mắt đổ dồn về phía cuối bàn để chờ câu trả lời của Marcus. Nhưng làm như thể đã được báo động trước, nên ngay lúc đó ông ta ra hiệu cho người hầu cận, tỏ ý muốn đứng dậy, ra ngoài. Tên cận vệ ôm xốc nách ông ta từ phía sau để đỡ ông ta đứng lên giống như người đang ôm một cái thúng lớn. Trong thế đứng đó, ông ta nhìn mọi người như muốn cầu cứu, xin phép được rút lui. Lúc này thực khó có ai tưởng tượng được rằng hàng tuần thỉnh thoảng ông ta vẫn đi nhót với một em người Gia Nã Đại.
Marcus trả lời :
- Stahr là nhà sản xuất tài ba, lỗi lạc. Tôi hoàn toàn tin tưởng nơi ông ta. Ngoài ra tôi không biết gì hết.
Mọi người đều im lặng trong khi ông ta rời khỏi phòng.
Brady lên tiếng :
- Không thể có một phim nào có thể có số thu tới hai triệu trong lúc này.
Popolos phụ họa :
- Đúng. Không thể có. Dù ta có nắm đầu khán giả mà ấn vào trong rạp cũng không thể thu nổi số tiền đó.
- Đúng.
Stahr ngừng lại một lát như để mọi người chuẩn bị sẵn sàng nghe mình, và ông ta nói tiếp :
- Số thu ở quốc nội có thể được một triệu hai trăm năm chục ngàn, may ra có thể lên tới một triệu rưởi, và ở ngoại quốc có thể được hai trăm năm chục ngàn nữa.
Mọi người lại im lặng. Sự im lặng lần này có vẻ pha lẫn ngỡ ngàng, bối rối. Stahr quay lại phía sau bảo người bồi kêu điện thoại cho chàng liên lạc với văn phòng.
Fleishacker nhìn Stahr :
- Nhưng còn vấn đề tiền bạc, liệu anh sẽ giải quyết ra sao? Hiện tại anh chỉ có một ngân khoản một triệu bảy trăm năm chục ngàn, nếu tôi không lầm. Vậy mà anh lại tính ném tất cả vào một cuốn phim không hy vọng có lời là thế nào?
- Không phải là không hy vọng, tôi không nhất quyết xác định như thế. Tôi chỉ mới phỏng đoán rằng cuốn phim sẽ thu về được một triều rưởi, chớ tôi chưa hề chắc chắn như vậy.
Không khí trong phòng càng trở nên im lặng hơn, đến nỗi Hoàng tử Agge có thể nghe thấy tiếng tàn thuốc của một điếu xì gà rơi vào khay gạt tàn. Fleishacker đang định nói. Ông ta nhìn chăm chú vào Stahr. Nhưng người bồi đã trao điện thoại cho Stahr :
- Thưa ông, văn phòng đang đợi ở đầu dây.
- À, phải, phải, à, Doolan đấy hả? À, à, tôi đã đoán trước về Zavras như vậy mà. Tôi dám cá cả nón, áo lắm... À, làm vậy, phải rồi, tốt lắm. Bây giờ thế này: cô bảo họ đưa hắn tới Bác sĩ John Kennedy dùm tôi. Nói họ chụp hình và cho biết kết quả khám nghiệm, rõ chưa?
Stahr đưa điện thoại trả lại cho người bồi, đặt sấp hai bàn tay trên mặt bàn rộng :
- Các anh có hay tin gì về Pete Zavras sắp bị mù chưa?
Một vài người gật đầu nhè nhẹ. Nhưng phần đông còn đang nín thở chờ xem Stahr có nói trở lại về vấn đề làm cuốn phim vĩ đại hay không.
Stahr nhìn mọi người một lượt :
- Chuyện thiệt là kỳ cục. Hắn chưa hề đi bác sĩ khám mắt bao giờ cả. Hắn cũng không hề biết tại sao các phim trường thôi không mướn hắn nữa. Có thể tại vì có những người không ưa hắn, hoặc tại những người mồm miệng hay bép xép, ngồi lê đôi mách nhiều quá mà làm cho hắn bị mất sở, thất nghiệp hơn một năm nay.
Mọi người rì rầm với nhau ra chiều tỏ ý thương hại. Stahr rút cuốn chi phiếu trong người ra ký một tờ và làm như sắp sửa đứng lên.
Fleishacker khẩn khoản trong khi Brady và Popolos chăm chú theo dõi :
- Xin anh cho biết rõ ràng hơn. Có phải anh nhất quyết sẽ thực hiện một cuốn phim mà anh tính có thể lỗ tới hai trăm năm chục ngàn?
Stahr trả lời một cách tự nhiên :
- Đó là một cuốn phim giá trị.
Mọi người hình như bắt đầu hiểu ra. Nhưng họ vẫn chưa tin là Stahr nói thực. Họ nghĩ nhất định Stahr phải có lời.
Stahr lại lên tiếng :
- Trong suốt hai năm nay, chúng tôi đã làm những cuốn phim có lời. Bây giờ chúng tôi nhất định thực hiện một cuốn chịu lỗ để tỏ thiện chí với khán giả, và chúng tôi hy vọng rằng nhiều khách hàng mới sẽ chiếu cố tới phim này.
Một vài người nghe Stahr nói vẫn còn nghĩ rằng đó là một cách quảng cáo khéo cho cuốn phim tương lai của ông ta. Nhưng dầu sao họ cũng thấy rằng tất cả vấn đề đã được ông ta trình bày rõ ràng.
Stahr vừa đứng lên vừa nói tiếp. Xương quai hàm của chàng bạnh ra, đôi mắt say sưa, rực sáng :
- Dù có lo chăng nữa, phim này cũng vẫn là một cuốn phim vĩ đại, còn hơn cả Thiên thần sa đọa. Chúng tôi làm phim này vì bổn phận, vì tinh thần trách nhiệm đối với khán giả tin tưởng vào điện ảnh chớ không vì tiền, đúng như lời của Pat Brady đã tuyên bố trong bữa tiệc tại Hàn lâm viện vừa rồi. Thực là một điều tốt đẹp khi các nhà sản xuất chịu bắt đầu thực hiện những cuốn phim lỗ lã.
Stahr nhìn về phía ông Hoàng, sẽ gật đầu. Ông ta cũng cúi đầu đáp lễ và cố gắng liếc mắt tìm hiểu phản ứng của các nhà tư bản đối với lời tuyên bố của Stahr vừa rồi. Nhưng ông Hoàng đã thất bại vì mặt người nào người ấy đều lạnh như tiền đồng. Họ không để lộ một vẻ gì và cũng không nói lời nào.
* * * * *
Ra khỏi phòng ăn đặc biệt, họ đi qua một góc phòng ăn riêng và ông Hoàng đã mở to mắt thích thú, ngạc nhiên vì những cảnh lạ lùng xung quanh lần đầu tiên trong đời ông ta được nom thấy. Những người đang ngồi ăn ở đây đều là những người sống trong thời Đế quốc La Mã còn thịnh hành. Từ những thiếu nữ trong chiếc áo choàng dài kéo lê cả mấy thước cho tới những người công dân, người lính La Mã trong y phục đầy vàng bạc, hay oai nghiêm trong các bộ nón, giáp. Từ chỗ ông Hoàng đứng tới chỗ những người đó đang ngồi ăn chỉ cách nhau một khoảng cách ngắn, nhưng hai thế giới họ đang sống lại xa nhau hàng trăm năm. Ông Hoàng cảm thấy quần áo của ông ta và những người thời đại này đang mặc trở nên xa lạ như trong các chuyện giả tưởng nói về tương lai.
Hoàng tử Agge chợt nhìn thấy Tổng thống Abraham Lincoln, và những cảm giác của ông ta cũng bỗng nhiên thay đổi. Từ lâu, Hoàng tử đã được giáo dục trong tinh thần chớm nở của chủ nghĩa xã hội tại Thụy Điển. Ông ta đọc nhiều về tiểu sử của Nicolay, một vị vua có đầu óc cách mạng. Hoàng tử đã được các giáo sư bảo cho biết Lincoln là một vĩ nhân đáng khâm phục. Nhưng ông ta cảm thấy không phục Lincoln vì có cảm tưởng bị bắt buộc. Giờ đây chính mắt ông ta được nhìn thấy Lincoln đang ngồi kia, trước một bữa cơm bốn mươi xu kể cả đồ tráng miệng. Hai chân bắt chéo, chiếc áo choàng như ôm chặt lấy vai ông để giúp ông chống lại hơi lạnh trong phòng. Hoàng tử Agge đứng trố mắt nhìn Lincoln một cách cảm động chẳng khác gì một đảng viên Cộng sản đi hành hương, đứng nhìn xác ướp Lenin tại công trường Kremlin. Ông Hoàng thầm nghĩ: đây đúng là Lincoln. Stahr đã đi trước một quãng khá xa và đang đứng lại chờ Hoàng tử. Nhưng ông này còn đang nhìn ngắm say sưa. Ông ta tự nhủ: đúng là Lincoln với tất cả ý nghĩa.
Lincoln chợt cầm miếng bánh ngọt đưa lên miệng cắn một miếng khiến ông hoàng hơi hoảng hốt, vội vã chạy theo Stahr.
Stahr bảo Hoàng tử với giọng tự nhiên, vô tình :
- Chừng độ nửa giờ nữa, chúng ta sẽ coi chiếu thử một vài cảnh. Từ giờ tới đó Ngài có thể đi xem nơi nào tùy thích.
Ông Hoàng trả lời :
- Thôi, để tôi đi chung với quý vị được rồi.
- Chúng tôi xin lỗi Ngài phải về văn phòng giải quyết một vài công việc, rồi sẽ xin trở lại.
Tại văn phòng, Stahr phải tiếp ông Lãnh sự Nhật Bản tới phản đối một cuốn phim gián điệp do hãng vừa sản xuất, có đoạn xúc phạm tới tinh thần quốc gia Nhật. Sau đó Stahr trả lời các điện thoại đã gọi tới trong lúc vắng mặt và đọc điện tín. Stahr nhận được tin tức thêm về cô gái chàng đang tìm kiếm. Cô thơ ký Doolan cho biết :
- Bây giờ ông ta đã nhớ được tên cô gái là Smith. Robinson mời cô ta tới phim trường, nhưng cô ấy từ chối.
- Smith. - Stahr trầm ngâm - Smith, chẳng giúp được gì, nhưng thôi, cô kêu cho công ty điện thoại hỏi thăm cổ của những người tên Smith vừa tới thành phố dùm tôi xem.
- Vâng ạ.

Đăng nhập để trả lời
0
Chương IV
 
Đạo diễn Red Ridingwood chạy tới đón Stahr lúc chàng đến gần sân khấu, nơi ông ta đang thu hình.
Stahr tỏ vẻ lạnh nhạt trước lời chào hỏi của Red, chàng tiến lên trước Red và dù ông ta cố gắng đi nhanh cho kịp, Stahr vẫn đi nhanh hơn để giữ khoảng cách giữa hai người. Hình như thái độ của Stahr có vẻ bất mãn đối với việc làm của hắn. Red có thể dễ dàng nhận thấy điều đó bởi vì trước kia khi còn làm chủ một phim trường, chính Red cũng đã từng có những cử chỉ như vậy.
Stahr bước vào căn phòng mới được dựng lên để làm bối cảnh quay một đoạn vào ngày mai. Red lên tiếng :
- Cảnh dựng thế này chưa được. Thiếu óc tưởng tượng, mặc dầu ánh sáng thì thừa.
Stahr hỏi lại nhà đạo diễn :
- Anh có nhiều óc tưởng tượng hay, tại sao không tự làm lấy mà còn điện thoại hỏi tôi?
- Tôi cũng định làm. Không ngờ anh lại xuống đây.
Red tự tin dù sao mình cũng là một nhà đạo diễn. Lãnh vực hoạt động của ông ta và Stahr khác nhau: mọt đàng lo về cảnh trí cũng như hành động, cử chỉ của các nhân vật trong phim; một đàng lo về phương tiện thực hiện cuốn phim. Red tin rằng đó là hai lãnh vực khác nhau và ông ta yên trí, Stahr không thể nào xía sang địa hạt chuyên môn của ông ta để bắt bẻ điều này điều kia được. Trước kia, khi còn làm với Goldwyn, đã có lần Red và ông ta cãi nhau về việc xếp đặt một cảnh. Cuối cùng Red thách thức Goldwyn đạo diễn cảnh đó trước sự chứng kiến phê bình của chừng năm chục người. Ông ta làm không được và nhờ đó uy tín của Red tăng thêm.
Stahr tiến lại nơi đặt máy quay phim. Cô đào chánh đang sửa soạn để được thu hình. Một vài du khách tới thăm phim trường tò mò nhìn cô ta. Thấy Stahr tới, họ quay về phía chàng, rồi lại nhìn qua chỗ cô đào. Những người này thuộc nhóm hiệp sĩ Columbus, họ tới đây để mục kích những giấc mơ hành hiệp bằng xương, bằng thịt.
Srahr tiến tới bên cạnh ghế cô đào chánh đang ngồi. Cô ta mặc một chiếc áo hở vai, hở ngực. Trên những chỗ da trần đó người ta bôi một lớp mỡ óng ánh trước mỗi lần thu hình, và sau được rửa đi ngay. Tóc cô ta đã được nhuộm và hóa trang những vệt máu bê bết. Nhưng ánh mắt thì sáng như sao băng và chắc chắn sẽ được thu vào trong phim.
Stahr chưa kịp nói gì thì đã nghe một giọng khen từ phía sau :
- Em diễn xuất khá thiệt!
Câu nói vừa rồi là của viên phụ tá đạo diễn. Tuy hắn khen cô đào, nhưng thực ra là có dụng ý khen Stahr và khen nhà đạo diễn, vì Stahr là người đã tìm ra cô và ký giao kèo với cô ta, còn nhà đạo diễn là người nắn nót từng cử chỉ của cô.
Stahr hỏi thăm cô đào với giọng vui vẻ :
- Sao, khỏe chứ?
- Vâng. Chỉ thỉnh thoảng hơi bực mình với mấy ông chuyên viên phòng quảng cáo.
- Không sao. Để tôi sẽ bảo họ để cô yên.
Thực ra chính thái độ của cô ta đã làm nhiều người rất khó chịu. Họ đặt cho cô cái biệt hiệu “con đ. chó”. Chính cô ả đã tự tạo cho mình cốt cách đó. Số là sau khi đóng vai nữ hoàng cai trị một xứ da đen ở Phi Châu, ả cứ tưởng rằng mọi người toàn là dân da đen cả, nên hay có thái độ trịch thượng. Thực ra người ta coi cô ả như con quỷ cái, nhưng lại cần đến trong cuốn phim này.
Red và Stahr đi ra phía cửa sân khấu. Nhà đạo diễn lên tiếng :
- Có mòi khá lắm. Diễn xuất của nàng rất đúng phong độ.
Hai người đã đi xa sân khấu, không ai nghe được tiếng họ nữa. Stahr ngừng lại và nhìn thẳng vào mặt Red :
- Anh đang quay những đoạn phim vô ích. Đem ra chiếu thử, tôi có cảm tưởng đó là một con sến không hơn không kém.
- Tôi cố gắng hết sức để đạt được diễn xuất hoàn hảo...
Stahr nói nhanh :
- Anh đi theo tôi.
- Liền bây giờ sao? Anh để tôi bảo họ nghĩ đã chứ.
- Không sao. Kệ họ.
Stahr vừa nói vừa đẩy cánh cửa ra ngoài. Bên ngoài xe và tài xế của chàng đã đợi sẵn. Thực là không mất đi đâu một phút nào trong lúc thời giờ quý báu. Chàng bảo Red :
- Anh lên xe đi với tôi.
Tới lúc này thì Red đã thấy rõ sự việc trầm trọng, ông ta cũng chợt hiểu tất cả: con nhỏ đã hại ông ta ngay từ ngày đầu tiên, khi nàng đòi để tự ý diễn xuất theo ý muốn riêng. Vì là người hiếu hòa, nên Red đã chiều cô ả cho xong chuyện, để ả khỏi nói lôi thôi.
Stahr nói tiếp vào ý tưởng trong đầu Red :
- Anh không điều khiển nổi con nhỏ. Tôi nói một đàng anh làm một nẻo. Tôi cần có ý nghĩa trong cử chỉ của cô ta, nhưng chàng thấy gì, chỉ toàn là những cái trơ trẽn. Tình hình này tôi e không thể nào tiếp tục.
- Anh định bỏ phim này?
- Không, nhưng tôi phải để Harley thay anh.
- Cũng được.
- Red à, tôi rất tiếc. Để chờ một dịp khác chúng ta sẽ hợp tác trở lại.
Xe ngừng trước cửa văn phòng của Stahr. Red lên tiếng :
- Anh để tôi quay nốt cảnh này được không?
Stahr gằn giọng :
- Harley đang làm dùm anh rồi.
- Khỉ thiệt!
- Lúc tôi với anh đi ra khỏi sân khấu thì hắn đi vào. Tôi đã đưa chuyện phim cho hắn tối hôm qua.
- Anh để tôi trình bày câu chuyện...
Stahr nói với giọng cương quyết :
- Hôm nay tôi bận quá, nghe nói hình như anh bị mất tinh thần từ mấy bữa trước.
Đó là một câu nói rất đau đớn đối với Red. Thế là ông ta bị mất việc một cách lãng nhách. Kế hoạch cưới cô vợ thứ ba đương nhiên phải bỏ. Chuyện bực tức này cũng không thể hé răng nói ra được. Vì Stahr là người nhiều triển vọng nhất có thể cho ông ta việc làm trở lại đồng thời cũng là người hầu như luôn luôn quyết định rất đúng.
Red hỏi bất ngờ :
- Tôi phải trở lại lấy cái áo vét, vắt quên trên ghế sân khấu.
- Khỏi. Tôi cầm theo cho anh đây rồi.
Bàn tay Stahr để trên đùi Red từ lúc nào không hay, và chàng đang cố gắng làm một cử chỉ thân ái.
* * * * *
Phòng chiếu phim của Stahr là một rạp hát thu nhỏ với bốn hàng ghế dựa cao quá đầu bọc da. Phía trước hàng ghế đầu có một dãy bàn dài trên để điện thoại, máy nội thoại và bóng đèn mờ. Sát tường là một chiếc dương cầm cao nghễu nghện không biết đã được kê ở đây từ bao giờ. Phòng mới được trang hoàng lại và nệm ghế cũng được bọc lại mới cách đây một năm, vậy mà bây giờ đã bắt đầu rách sau nhiều ngày giờ làm việc liên miên.
Tại phòng chiếu phim này, từ hai rưởi đến sáu rưởi Stahr ngồi để xem những đoạn phim đã thu hình được trong ngày. Những giờ phút này là lúc đầu óc căng thẳng ghê gớm, vì Stahr phải đối phó với những việc đã rồi, những “fails accomplis”. Đây chính là kết quả nhãn tiền của biết bao công lao, từ những tháng dài mặc cả mua bán, thảo kế hoạch, viết chuyện phim, sửa chuyện phim, chọn tài tử, dựng cảnh, đặt ánh sáng, tổng dượt, thu hình, đồng thời cũng là kết quả của những giờ phút lo lắng, hy vọng, thất vọng, những sự kết hợp của bao người với mồ hôi, nước mắt. Tới giờ phút này trận đánh coi như tạm ngưng để kiểm điểm các báo cáo từ chiến tuyến gởi về.
Hiện diện trong phòng chiếu phim, ngoài Stahr còn có đại diện của các phòng kỹ thuật cùng các kiểm soát viên và quản lý liên hệ tới cuốn phim. Không có sự hiện diện của các đạo diễn, vì công việc của họ coi như đã chấm dứt. Tới lúc này không thể làm lại nhiều được vì tiền bạc đổ ra đã cạn rồi. Ngoài ra còn có lý do tế nhị để giữ tự ái khỏi bị tổn thương nên các đạo diễn không dự là phải.
Mọi người đã tề tựu đông đủ. Stahr lặng lẽ bước vào phòng, những tiếng nói chuyện nhỏ rì rầm ngưng lại. Stahr ngồi vào ghế dành riêng cho chàng, và khi Stahr thu một chân lên ghế thì đèn trong phòng bắt đầu tắt. Một ánh lửa diêm quẹt lóe lên ở hàng ghế cuối rồi cũng tắt luôn. Tất cả đều im lặng.
Trên màn ảnh hiện ra một toán lính Gia Nã Đại gốc Pháp đang đẩy chiếc ca-nô ngược dòng sông nước chảy xiết. Sau mỗi đoạn thu hình người ta nghe rõ tiếng hô lớn của đạo diễn “Cắt”, các tài tử lợi dụng vài phút để nghỉ ngơi, vuốt mặt, hoặc đôi khi họ cười lớn một cách thích thú. Cảnh này được thu hình trên mặt bồn nước trong phim trường. Sau tiếng hô của đạo diễn thì nước cũng ngừng chảy, gió ngừng thổi. Stahr chọn lựa hình ảnh cho mỗi cảnh và xác nhận việc làm tiến triển tốt, ngoài ra không phê bình gì thêm.
Cảnh tiếp theo là cuộc đối thoại giữa cô gái Gia Nã Đại (Claudette Colbert) và người liên lạc viên (Ronald Colman). Cô gái đứng trên ca-nô, mặt cúi gầm xuống. Phim vừa chạy được một đoạn ngắn thì Stahr lên tiếng hỏi bất ngờ :
- Bồn nước đã tháo cạn chưa?
- Thưa, rồi... Thưa ông, người ta cần lấy hồ để....
Stahr cắt ngang câu nói của chuyên viên kỹ thuật :
- Cho nước trở lại ngay. Cảnh thứ hai này cần phải quay lại.
Đèn bật sáng. Một trong những ông quản lý rời ghế, đứng lên tiến lại gần chỗ Stahr ngồi. Stahr dằn giọng :
- Một cảnh hoạt động đẹp nhưng phải vất bỏ. Ống kính không tập trung vào đầu cô gái. Máy thu hình phải đặt cao hơn để luôn luôn thu được bộ tóc của cô ta. Khán giả sẽ mua vé để được coi bộ tóc đẹp của cô gái. Phải độn tóc cô ta cho cao lên nữa.
Đèn tắt trở lại. Ông quản lý rờ rẫm tìm đường đi ra ra ngoài. Những đoạn phim tiếp tục được chiếu. Có tiếng Stahr hỏi :
- Các anh thấy không, có một sợi tóc. Coi thử coi ở ống kính máy chiếu hay là ở trong phim.
Lúc đoạn phim gần hết, Claudette Colbert mới ngửng mặt lên và người ta thấy rõ cặp mắt ướt át của cô. Stahr lên tiếng :
- Đó, luôn luôn phải như thế này mới được. Chỗ này diễn xuất rất khá. Các anh làm sao cho xong ngày mai hoặc chiều nay càng tốt. Nếu là tay thu hình Pete Zavras thì đã không phải mất công làm lại. Các anh nhớ rằng kỹ nghệ điện ảnh này chỉ có sáu tay thu hình có thể phó thác tin tưởng hoàn toàn.
Đèn bật sáng. Nhân viên kiểm soát và quản lý liên hệ bước ra :
- Thưa ông, mấy đoạn này quay hôm qua và còn đang tiếp tục. Có lẽ phải đến đêm nay mới xong.
Đèn tắt. Trên màn ảnh hiện ra cái đầu của thần Siva pho tượng nhiều chỗ loang lỗ, rõ ràng là những dấu vết của trận lụt đêm hôm trước. Xung quanh pho tượng là một số tín đồ.
Thình lình, Stahr lên tiếng :
- Khi nào quay tiếp cảnh này, anh nên cho vài đứa con nít leo lên pho tượng. Cảnh nghịch ngợm của chúng hợp cho mình lắm. Xem lại thử coi có đụng chạm gì tới vấn đề tôn giáo không? Tôi chắc là không có gì đâu.
- Thưa vâng.
Chièc thắt lưng bạc đục lỗ hình ngôi sao và người thiều nữ lại hiện ra trong óc Stahr. Tên nàng là gì? Smith Jones, hay Brown? Liệu thiếu nữ mang chiếc dây lưng đó có...?
Trên màn ảnh, cảnh thành phố Nữu Ước hiện ra trong một phim nói về các đảng cướp. Stalir có vẻ thảnh thơi, nhưng sau đó đột nhiên la lớn :
- Giục bỏ. Chuyện phim bậy bạ, tài tử lựa không đúng, không ra ngô khoai gì cả. Mấy ngoe kia trông có vẻ gì là tướng cướp đâu, trông như một lũ ốm đói. Chuyện gì mà kỳ cục vậy hả anh Lee?
Lee Kapper trả lời :
- Cảnh này được viết ngay tại chỗ hồi sáng. Burton muốn có để thu hình luôn ở sân khấu số 6.
- Đồ bỏ. Luôn cả đoạn này nữa. Không thừa tiền đâu để in những đoạn phim vô giá trị như thế. Anh thấy không? Cô gái không tin tưởng ở lời nói của mình. Cary nữa cũng thế. “Em yêu anh”, nói gì mà ấp úng lúng búng như gà mắc đẻ vậy! Quần áo gì mà đắp vào người cô ta nhiều thế kia?
Một âm hiệu vang lên trong phòng tối. Máy chiếu phim ngừng, đèn bật sáng. Mọi người chờ đợi trong im lặng. Nét mặt cũng như tiếng nói của Stahr đều thản nhiên :
- Ai viết cảnh này vậy?
- Thưa, Wylie White.
- Hắn có đau yếu gì không?
- Hình như có.
Stahr ngẫm nghĩ :
- Cho bốn soạn giả viết lại cảnh này tối nay, rồi sẽ chọn một. Coi thử xem Sidney Howard đã tới làm chưa?
- Thưa ông ta tới nhận việc hồi sáng.
- Nhờ ông ta viết lại cảnh này. Giải thích cho ông là mình muốn cái gì. Cô gái phải ở trong tình trạng khiếp sợ tuyệt độ, chân tay luống cuống. Mình chỉ cần tạo được một cảm xúc sợ sệt cho khán giả cũng là đủ rồi, họ không thể nào có tới hai ba cảm xúc trong một lúc. A này, Kapper à...
Ông giám đốc nghệ thuật ngồi ở hàng ghế thứ hai vội nghiêng mình về phía trước :
- Dạ.
- Bối cảnh đoạn này tôi thấy không được đúng lắm.
Có những cái nhìn trao đổi ý kiến với nhau trong phòng.
- Xin ông cho biết ở chỗ nào.
- Cách trang trí trong phòng hình như không được đúng. Đồ đạc trông bê bối quá, mà hình như lại thiếu một cái gì. Tối nay anh thử đi coi lại cảnh trí này xem. Đồ trong phòng nhiều quá. Thử thêm vào một khung cửa sổ xem, căn phòng có thể sẽ khoáng đạt hơn.
Kapper đứng lên, vén tay áo nhìn đồng hồ :
- Tôi đi coi lại ngay bây giờ. Có lẽ phải làm luôn đêm nay thì sáng mai mới có thể tiếp tục thu hình được.
- Đúng vậy, Lee này; anh có thể cho thu thêm cảnh trí xung quanh luôn đi.
- Vâng, tôi cũng nghĩ vậy.
- Bết quá. Mấy cảnh đánh lộn xong chưa.
- Thưa chiếu liền bây giờ.
Stahr gật đầu. Kapper vội vã đi ra. Đèn tắt. Màn ảnh hiện ra cảnh đánh lộn túi bụi giữa bốn người trong một căn phòng nhỏ. Stahr cười :
- Coi kìa, Tracy đang đuổi thằng cha kia ngộ quá. Tôi cá thế nào hắn cùng bắt được.
Bốn người tiếp tục đánh, đánh mãi một kiểu không hề thay đổi. Thỉnh thoảng họ lại cười với nhau, hoặc chạm nhẹ vào vai nhau như thể bạn bè giỡn chơi. Chỉ có một tài tử trẻ trong số bốn người là đánh có vẻ nguy hiểm thiệt. Nếu để tự do, một mình anh ta có thể giết cả ba tên kia như chơi. Nhưng rốt cuộc anh ta cũng sợ không dám để cho bị đánh vào mặt, và đạo diễn đã che đậy yếu điểm này bằng cách di chuyển ống kính hoặc cho thay đổi vị thế xen kẽ.
Lần lần từng cặp một vừa đánh vừa dẫn nhau ra phía cửa rồi cuối cùng tất cả đều rời khỏi phòng. Đúng là: Gặp nhau, múa máy một hồi rồi dông.
Sau đó là cảnh một cô bé ngồi đọc sách dưới gốc cây. Phía trên có một cậu bé khác cũng đang ngồi xem sách ở một cành cây lớn. Cô bé có vẻ chán và muốn nói chuyện với bạn. Nhưng cậu ta không chú ý tới cô bạn. Cái núm của trái táo cậu đang ăn rớt xuống đầu cô bé.
Có tiếng người nói trong phòng tối :
- Thưa ông, cảnh này kéo dài hơi quá.
- Không sao. Rất hay. Cảnh này gây một cảm giác đẹp.
- Tôi thấy hơi lâu.
- Đôi khi chỉ vài ba thước phim đã quá lâu và phải cắt. Nhưng cũng có cảnh đã kéo dài vài trăm thước vẫn còn là ngắn. Tôi cần phải gặp chuyên viên ráp nối trước khi anh ta làm cảnh này. Đây chính là cái cảnh mà khán giả sẽ nhớ mãi khi xem phim.
Lời nói của Stahr là phán quyết tối hậu, không có vấn đề bàn cãi nữa. Nguyên tắc phải theo là Stahr luôn luôn nói đúng. Bằng không thì tổ chức của phim trường sẽ rối loạn, sụp đổ hết.
Một giờ nữa lại trôi qua với những cảnh vật hư hư thực thực trên màn ảnh ở cuối phòng, kèm theo những sự phân tích, phê bình. Làm sao để những cảnh đó có thể trở thành cảnh mộng đẹp, hay đối với đông đảo khán giả, chớ không bị thờ ơ, tẩy chay. Cuối cùng là hai đoạn phim trắc nghiệm tuyển chọn tài tử. Đoạn phim trắc nghiệm dự tuyển hôm nay gồm có hai người, một nam và một nữ. Sau những giờ trí óc bị căng thẳng trong việc xem xét các đoạn phim chánh, mọi người đều cảm thấy nhẹ nhõm khi chiếu tới phim trắc nghiệm. Stahr bỏ chân xuống đất, chờ mọi người phát biểu ý kiến. Một đại diện kỹ thuật cho biết ông ta thấy có thể hợp tác được với cô nữ tài tử dự tuyển. Những người khác tỏ vẻ lãnh đạm! Mấy năm trước đã thấy có người giới thiệu cô gái này. Từ hồi đó tới giờ không biết cô ta lang thang làm nghề gì, nhưng tài nghệ thì chằng khá hơn chút nào. Stahr ngừng một lát rồi tiếp :
- Riêng người đàn ông thì có vẻ khá. Liệu chúng ta có thể xài hắn trong vai ông Hoàng nước Nga của phim Sleppes được không?
Ông giám đốc tuyển lựa vội vàng lên tiếng :
- Hắn chính là một ông Hoàng người Nga thực sự. Nhưng hắn mắc cở và không chịu đóng vai đó. Hắn theo Cộng sản.
Stahr nói giọng thản nhiên nhưng cương quyết :
- Hắn chỉ có thể đóng được mỗi một vai đó. Không chịu thì thôi.
Đèn trong phòng bật sáng. Stahr gói miếng kẹo cao su vào một mẩu giấy, bỏ vào hộp đựng tàn thuốc rồi quay sang nhìn cô thơ ký. Cô ta nói nhanh :
- Thưa, đang diễn thu tại sân khấu số 2.
* * * * *
Stahr tới quan sát sơ qua việc diễn thu, máy quay phim và các tài tử đang làm việc trước hậu cảnh là một màn ảnh trên đó hình ảnh được chiếu lên bằng một máy chiếu đặc biệt. Sau đó là một cuộc họp tại văn phòng Marcus để bàn về cuốn phim Manon và đoạn kết có hậu hay không có hậu. Lập trường của Stahr vẫn là từ hơn một thế kỷ nay, nhiều phim chẳng cần có hậu mà vẫn thu được tiền đều đều. Sự trình bày của Stahr rất minh bạch hữu lý nên vấn đề đã được thông qua để chuyển sang việc cho mượn một số tài tử lấy tiền giúp vào quỹ cứu trợ những người bị nạn lụt không có nhà ở tại Long Beach.
Trong cuộc lạc quyên ngay sau đó, năm người trong số những nhân vật tham dự cuộc họp đã cúng vào quỹ cứu trợ hai mươi lăm ngàn đô la. Họ cho với thái độ của nhà giàu bố thí, chớ không phải vì lòng bác ái.
Trở về văn phòng, Stahr nhận được tin từ phòng mạch bác sĩ cho hay tình trạng mắt của Zavras khả quan: 19-20. Trong thơ bác sĩ cho biết đã thực hiện việc chụp hình mắt cho y. Stahr đi lại trong phòng một cách trầm ngâm trong khi cô thơ ký nhìn ông với đầy vẻ thán phục. Hoàng tử Agge ghé lại để cảm ơn Stahr về cuộc viếng thăm phim trường. Trong khi hai người đang nói chuyên thì một viên phụ tá giám sát tới dùng tiếng lóng cho Stahr hay có soạn giả tên Tartalon gì đó đã “tìm ra” và không chịu tiếp tục công việc nữa.
Stahr giải thích với ông Hoàng :
- Họ là những soạn giả lỗi lạc, nhưng ở đây chúng tôi không có được những soạn giả như thế.
Ông Hoàng ngạc nhiên :
- Tại sao kỳ vậy? Mình thấy người nào giỏi thì cứ mướn chớ?
- Đúng, họ hay ở ngoài, nhưng khi vô đây rồi thì lại hết hay. Vì vậy chúng tôi phải có phương pháp riêng.
- Nghĩa là sao?
- Chúng tôi mướn hết, đủ loại soạn giả, chằng hạn thi nhân bất mãn, văn sĩ bị đá lên đá xuống, sinh viên đại học. Chúng tôi ghép họ vào từng cặp một và giao cho mỗi cặp một đề tài để sáng tác. Nếu thấy cặp nào làm việc không được như ý thì chúng tôi cho thêm một cặp nữa cùng làm. Có khi một đề tài mà chúng tôi giao cho tới ba cặp khác nhau.
- Họ có thích lối làm việc như vậy không?
- Dĩ nhiên là không. Nhưng họ không phải thiên tài. Chỉ có cách đó mới thúc đẩy họ làm việc khá được. Nhưng cặp Tarleton này là một trường hợp đặc biệt. Đó là hai vợ chồng và công việc làm rất khá. Họ vừa tìm ra đề tài mình đang viết còn được giao cho những người khác nữa. Hai người cảm thấy tự ái tổn thương vì tác phẩm của mình bị đem pha trộn, gán ghép vào với tác phẩm của người khác.
- Nhưng ai là người pha trộn, gán ghép.
- Chính tôi. Thôi, hôm nào rảnh, xin mời Ngài trở lại chơi.
Sau đó Stahr đã gặp vợ chồng Tarleton và nói với họ tác phẩm họ viết rất hay. Stahr nhìn bà Tarleton và làm như có thể đọc được những câu chính tay bà ta đã viết trong chuyện phim. Bằng giọng ân cần, Stahr bảo họ nếu không bằng lòng viết chuyện phim nữa thì họ sẽ được giao cho một công việc khác, có nhiều thì giờ hơn và ít bị thúc hối. Nhưng đúng như sự tiên đoán của Stahr, họ đã xin được ở lại viết chuyện phim, dù có bị viết chung với người khác. Stahr trình bày với họ nguyên tắc làm việc như vậy thiếu tôn trọng soạn giả, nhưng rất có lợi về phương diện thương mại và đang nảy nở tốt đẹp. Duy chỉ có một điều Stahr giấu không nói cho ai biết, đó là chính Stahr đã nghĩ ra lối làm việc này.
Họ vừa đi thì cô Doolan tới cho Stahr hay một cách đắc ý :
- Thưa ông, người đàn bà có cái dây nịt đang chờ ở đầu dây điện thoại.
Stahr vào văn phòng, ngồi xuống sau chiếc bàn viết và cảm thấy bao tử như muốn nổi cuồng lên. Chính ông ta cũng không biết cái gì làm cho mình trở nên háo hức. Câu chuyên liên quan tới người thiếu nữ này thực ra không làm cho Stahr quan tâm bằng vấn đề đôi mắt của Zavras. Chàng chỉ muốn biết xem nàng có phải là nghệ sĩ không, và muốn mời nàng tới phim trường để chụp mấy tấm ảnh vì thấy nàng trông giống Minna. Cũng như trước đây thấy một thiếu nữ giống Claudette Colbert, chàng cũng đã mời cô ta đến phim trường để chụp ảnh giống như bức ảnh của Claudette. Stahr nhấc điện thoại lên :
- Alô.
- Alô.
Nghe tiếng nói của nàng, tự nhiên Stahr cảm thấy một cảm giác sợ hãi chạy khắp người. Chàng ngưng lại một lát để lấy bình tĩnh.
- Phải dày công lắm mới kiếm ra cô. Chúng tôi chỉ biết tên cô là Smith, mới tới thành phố này và ngoài ra có một sợi dây nịt, vậy mà rốt cuộc cũng tìm ra.
- À, đúng rồi, đêm hôm động đất tôi mang sợi dây nịt đó.
- Vậy bây giờ cô đang ở đâu vậy?
- Ông là ai? - Giọng nói của nàng đầy vẻ lịch sự và nhẫn nại.
- Monroe Stahr.
Một thoáng im lặng trôi qua. Hình như nàng không biết Stahr là ai. Tên của chàng thực ra có xuất hiện trên màn ảnh bao giờ đâu.
- À, phải rồi. Ông là chồng của Minna phải không?
- Đúng vậy.
Một cảm giác bâng khuâng chợt đến với Stahr. Chàng nhớ lại hình ảnh thiếu nữ giống hệt Minna, vợ chàng, trong đêm động đất vừa qua. Bây giờ đây lại nghe nhắc tới tên Minna. Hay là chính nàng đã dẫn dụ chàng vào một cạm bẫy nào đây. Một cơn gió thổi qua cửa sổ khiến mấy tờ giấy trên bàn bị lật đi lật lại. Stahr ước ao có thể bay qua cửa sổ như cơn gió, bay ngay tới nơi ở của thiêu nữ này xem mặt mũi nàng ra sao, nàng là ai? Stahr nở một nụ cười héo hắt, nụ cười gượng của kẻ đang cần lấy lại can đảm, bình tĩnh.
- Tôi ao ước được gặp cô. Liệu cô có thể vui lòng quá bộ tới phim trường chơi một lát không?
Một thoáng im lặng và sau đó là lời từ chối :
- Rất tiếc, nhưng có lẽ tôi không thể nào tới được.
Câu nói cuối cùng như một lời từ chối khẳng định, một nhát búa cuối cùng hạ xuống. Thường thường chính những lúc này lòng tự phụ thầm kín của Stahr mới nổi dậy và giúp chàng thuyết phục đối phương :
- Tôi rất muốn được gặp cô, vì có một “câu chuyện riêng”.
- Phải, nhưng tôi e...
- Hay là để tôi tới gặp cô?
Nàng có vẻ ngần ngừ :
- Thực ra có nhiều điều phiền khó nói.
- Ồ, không sao. Chắc là cô đã có gia đình rồi. Nếu vậy, tôi xin mời cả ông nhà tới chơi.
- Lại càng không thể được.
- Lý do?
- Thực ra ngay cuộc nói chuyện này tôi cũng đã thấy hơi kỳ kỳ, nhưng vì cô thơ ký của ông cứ nài nỉ. Tôi chắc đã đánh rớt vật gì tại phim trường trong đêm động đất.
- Tôi tha thiết xin được gặp cô chỉ trong vòng năm phút.
- Để đưa tôi lên màn ảnh hay sao đây?
- Hoàn toàn không phải thế.
Lại yên lặng ở đầu dây bên kia. Stahr nghĩ rằng hay là chàng đã làm phật lòng nàng.
- Có thể gặp ông ở đâu?
Câu hỏi của nàng thực là ngoài sự tiên đoán của Stahr. Chàng vội vã trả lời :
- Ở đây, hay là ở nhà cô cũng được.
- Không. Tôi muốn một nơi nào khác.
Stahr lục soát nhanh trong óc để tìm ra một địa điểm. Nhà riêng, tiệm ăn, quán nước hay một nơi nào ngoài phố? Tiếng nàng lại vang lên trong máy :
- Sẽ gặp nhau lúc chín giờ ở đâu đó.
- Chín giờ tôi sợ không được.
- Vậy thì thôi.
- Được rồi, chín giờ. Mà ở chỗ nào gần gần đây đi. Tiệm thuốc tây gần phim trường nhé...
* * * * *
Sáu giờ thiếu mười lăm. Còn hai người khách nữa đang đợi bên ngoài. Hai người này hôm nào cũng đến vào cái giờ mệt mỏi này để rồi lại bị khất vào ngày khác. Họ không phải là nhân vật quan trọng trong giới làm ăn, nên không bắt buột phải tiếp họ vào những lúc mệt mỏi này.
Nhưng họ cũng không phải hạng quá tầm thường để ta có thể từ chối một cách dứt khoát. Rốt cuộc là họ lại bị khất tới ngày khác. Sau đó Stahr ngồi im lìm một mình trong phòng để nghiền ngẫm về nước Nga. Không phải Stahr thực sự nghĩ tới nước Nga, nhưng là nghĩ việc làm phim nói về nước Nga. Kể ra thì chàng biết rất nhiều chuyện liên quan tới nước Nga. Stahr đã ra lệnh cho cả lô soạn giả viết về nước Nga, và các chuyên viên khảo cứu thêm các tài liệu từ cả năm nay. Nhưng rốt cuộc Stahr thấy chuyện nào cũng có thể gây ra cho khán giả những cảm tưởng không đúng về nước Nga. Stahr đã dùng đủ mọi cách, đủ mọi từ ngữ để diễn đạt những câu chuyên đó, mà rồi cuối cùng vẫn gặp phải những điều không được như ý và những chuyện rắc rối. Từ nãy tới giờ chàng đã mất thêm nửa giờ đồng hồ nữa ngồi suy nghĩ mà cũng chẳng thấy đi tới đâu. Stahr tự nghĩ chàng đã xử rất đẹp với nước Nga, chàng chỉ muốn làm những phim để khán giả có cảm tình tốt với nước này. Nhưng chính ý định đó đã gây ra lắm chuyện nhức đầu. Tiếng cô thơ ký vang lên trong máy nội thoại :
- Thưa, có ông Drummon đang chờ ở ngoài, và có ông Kirstoff với bà Cornhill muốn gặp để nói về chuyện phim Nga.
- Rồi, mời vào.
* * * * *
Sau đó, từ sáu rưỡi tới bảy rưỡi Stahr lại ngồi coi những đoạn phim vừa thu hình lúc buổi chiều. Nếu không bị bận tâm về người đàn bà bí mật thì Stahr sẽ ngồi cả buổi tối ở phòng chiếu phim hoặc phòng ghi âm. Nhưng chuyện bất thường đã xảy ra từ đêm hôm có trận động đất vừa rồi, nên hôm nay Stahr quyết định đi ăn cơm tối vào giờ này. Vừa ra tới cửa, Stahr gặp ngay Pete Zavras nhìn mình mỉm cười :
- Anh là người tạo ra những bi hài kịch trong giới điện ảnh, chẳng thua gì các kịch tác gia Hy Lạp xưa kia. Anh chính là một Aeschylus, Euripides, Aristophanes hoặc Menander.
Stahr cúi đầu :
- Nhân vật nào vậy?
- Những người đồng hương của tôi.
- Anh làm phim về Hy Lạp hồi nào vậy?
- Làm con mẹ gì. Nhưng anh là người đã cứu tôi, nên từ nay tôi coi như kẻ đồng hương.
- Bây giờ khá chưa?
- Chỉ còn hơi đau phơn phớt một chút. Dù đau một chút cũng không có gì ân hận.
- Hôm đó có chuyện gì xảy ra vậy?
- Tôi tính tới tìm mấy tên ngồi lê đôi mách, bịa chuyện để cho chúng một trận. Chỉ có cách đó mới giải quyết được vấn đề. Chuyện của tôi chẳng khác chi điều bí ẩn của Oedipus, phải liều giải quyết một lần tại đền Delphic mới xong.
- Tôi không được học nhiều. Anh xài điển tích khó hiểu quá.
- Xin lỗi anh. Học cho nhiều mà làm gì? Tôi đã đậu cử nhân ở Salonika, mà rồi anh thấy đời vẫn lận đận hoài.
- Rồi có ngày anh sẽ khá.
- Tôi để sẵn số điện thoại đây, cần gì hay muốn giết đứa nào anh cứ việc kêu tôi.
Stahr nhắm mắt lại và khi mở ra thì bóng dáng Zavras như đã mờ dần sau tia nắng cuối cùng. Stahr ngồi ghếch lên mặt bàn kê phía sau, cố lấy giọng tự nhiên :
- Gặp nhiều may mắn nghe.
Bóng tối đã tràn ngập căn phòng cô thơ ký, Stahr vẫn cố đi mò trở lại văn phòng. Tiếng khóa cửa đóng nghe khô khan. Stahr tìm một viên thuốc. Sau khi uống chàng ngồi xuống ghế chờ cho chất benzedrine ngấm dần trước khi đi dùng cơm tối.
* * * * *
Lúc đi ăn cơm ở câu lạc bộ phim trường trở về, Stahr gặp một người đi trên chiếc xe bỏ mui đưa tay vẫy vẫy. Chàng nhìn theo và nhận ra đó là một tài tử trẻ tuổi đi với cô đào của hắn. Ánh hoàng hôn cuối cùng đã lịm tắt trên lối đi. Giờ phút này Stahr chợt cảm thấy sự huy hoàng của mình cũng đang phai mờ dần để bắt đầu những giây phút của một cuộc mặc niệm vĩnh cữu. Cảm giác của Stahr mất đi lần lần, và hình như Minna bắt đầu sống lại bên chàng. Bao kỷ niệm của Minna quấn quýt vây quanh chàng. Stahr thẫn thờ ấn máy, kêu người đem xe tới. Đây là lần đầu tiên trong năm, chàng xử dụng tới chiếc xe của hãng dành cho mình. Chiếc limousine to lớn trông có vẻ nặng nề, mệt mỏi sau nhiều ngày nằm trong ga ra với giấc ngủ dài.
Rời phim trường, Stahr vẫn còn cảm thấy căng thẳng. Nhưng chiếc xe không mui đã kéo bầu trời xuống gần và chàng để ý nhìn mặt trăng hiện ra nơi cuối đường. Con người có một ảo giác thú vị, đó là mỗi lần nhìn mặt trăng họ đều thấy khác. Kể từ ngày Minna nằm xuống, thành phố này đã thay đổi nhiều vởi ánh sáng chan hòa ban đêm càng ngày càng nhiều, như khu chợ trái cây ban đêm mới có này chẳng hạn, la liệt nào là cam, lê, nho, táo. Đèn stop của một chiếc xe chạy phía trước thỉnh thoảng lại lóe lên mỗi khi tới gần ngã tư. Ở một góc phố vắng, hai người đàn ông khiêng một chiếc trống sáng óng ánh lướt nhanh với đầy vẻ bí mật.
Trước cửa tiệm thuốc tây, một người đàn bà đứng đợi sẵn. Nàng cao cũng cỡ Stahr. Dáng điệu hơi bối rối có vẻ gần như sợ sệt. Stahr đậu xe, bước tới, nhìn nàng bằng một cái nhìn lịch sự, kính nể. Nếu không có cái nhìn đó, chắc nàng đã không bằng lòng đi theo Stahr. Họ yên lặng đi băng qua đường. Dù chỉ với một thoáng nhìn, khi đi tới gần lề đường Stahr cũng biết chắc rằng nàng là một thiếu nữ xinh xắn dễ coi, nhưng không phải một người đẹp, một người nhan sắc như Minna. Tới gần nơi đậu xe, nàng lên tiếng :
- Chúng mình đi đâu? Không có tài xế hả.
- Khỏi cần. Tôi là tay võ có hạng.
- Khiếp, mấy người đàn ông nói gì nghe cũng ớn thấy mồ.
Nàng vừa nói vừa cố gắng mỉm một nụ cười.
Stahr cũng vừa chợt cảm thấy vui vui về ý nghĩ của mình. Nhưng sự thích thú thoáng qua rất mau. Nàng vừa chui vào xe vừa nói :
- Ông cần gặp tôi có chuyện gì không?
Stahr đứng bất động. Chàng muốn bảo cô ta xuống khỏi xe ngay, nhưng nàng đã ngồi yên ấm và chàng chợt nhận thấy hoàn cảnh này do chính mình đã gây ra. Stahr cắn răng không nói gì. Chàng đi vòng qua đầu xe, mở cửa, ngồi vào sau tay lái. Ánh sáng đèn đường soi rõ khuôn mặt nàng. Stahr nhìn khuôn mặt đó và chàng cảm thấy khó có thể tin được rằng đây lại là thiếu nữ mà chàng đã nhìn thấy trong đêm động đất. Mặt nàng không giống thiếu nữ hôm đó chút nào. Stahr lên tiếng :
- Tôi đưa cô về. Nhà cô ở đâu?
Nàng lộ vẻ ngạc nhiên :
- Làm gì mà vội vậy. Hay có điều gì khiến ông phật ý?
- Không. Có gì đâu. Cô tới là tử tế lắm rồi. Tại đêm rồi tôi nhìn cô thấy giống một người quen. Nhưng không phải. Có lẽ tại ánh đèn.
- Thiệt vậy sao? Kỳ quá.
Cả hai cùng im lặng một lúc. Thình lình nàng lên tiếng như vừa mới nghĩ ra một ý tưởng hay :
- Xin lỗi, phải hồi trước ông là chồng của Minna Davis?
Stahr cố gắng cho xe chạy thật nhanh, làm bộ như không nghe thấy gì. Nàng nói tiếp :
- Tôi đâu có giống Minna. Nếu ông muốn kiếm người giống Minna thì có lẽ đó là bạn tôi. Đêm hôm đó nàng đi cùng với tôi.
Lúc này Stahr không còn ham gì nữa. Chàng chỉ muốn mau mau đưa cô gái này về và quên mọi chuyên lẩm cẩm đi, thế thôi.
- Liệu có phải nàng không? Nhà cô ấy ở phía trước kia.
- Nhất định không phải. Tôi nhớ rõ cái thắt lưng của cô.
- Vậy thì thôi.
Xe chạy trên đường ngoằn ngoèo của một sườn đồi. Ánh điện rung rinh trên dãy nhà trệt như muốn tan vỡ theo những âm thanh ra-dô buổi tối.
- Ông thấy ngọn đèn cao cao cuối cùng kia không? Đó là nhà Kathleen. Còn nhà tôi thì ở trên đỉnh đồi.
Ngừng một lát, nàng lại lên tiếng :
- Thôi, được rồi, ông cho tôi xuống đây.
- Cô vừa nói ở trên đỉnh mà?
- Tôi muốn vô nhà Kathleen.
- Tôi sợ...
Nàrg đột nhiên đổi giọng, cương quyết như thể hết còn kiên nhẫn, nói :
- Tôi bảo cho tôi xuống đây.
Stahr đi theo thiếu nữ về phía một căn nhà nhỏ có tàn cây che khuất cả mái nhà. Nàng bước lên những bậc dốc, Stahr cũng bước theo. Nàng nhận chuông và quay lại định chào Stahr.
- Rất ân hận đã làm ông thất vọng.
Stahr cũng cảm thấy ân hận đối với nàng, ân hận cho cả hai.
- Thành thực xin lỗi cô. Chính tôi mới là người phải ân hận.
Một ánh sáng lọt qua khe cửa và có tiếng đàn bà từ trong vọng ra :
- Ai đó?
Rồi giai nhân chợt hiện ra trước khung cửa. Khuôn mặt kia chính là khuôn mặt Minna. Nước da ngời sáng với làn môi tươi và nụ cười đằm thắm khuynh thành đổ nước. Nét duyên đáng của giai nhân tưởng như có thể làm say mê cả một thế hệ.
Cũng như đêm hôm trước, tim chàng rộn lên như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Lần này chàng không cần giấu diếm và để cho tình cảm của mình được tự do bộc lộ.
Nàng lên tiếng :
- Ồ, chị Edna! Không vào nhà được, em vừa mới xịt thuốc muỗi. Trong nhà đầy mùi thuốc cả.
Edna bắt đầu cười, cười thiệt lớn tiếng :
- Em nghĩ có lẽ ông ta muốn tìm chị, Kathleen ạ. Nhưng lại lầm ra em.
Trong thoáng giây đôi mắt Stahr và Kathleen tìm gặp nhau, quấn quít và thình lình yêu nhau khiến cho cả hai cùng không ngờ tới. Ánh mắt nhẹ nhàng êm ái như một vòng tay, và cấp bách như một lời cầu khẩn.
Edna lại lên tiếng :
- Ông ấy điện thoại cho em. Hình như ông ta nghĩ rằng...
Stahr đã ngắt ngang câu nói của nàng và tiến vào vùng có ánh sáng :
- Chúng tôi cảm thấy ân hận về thái độ thiếu nhã nhặn đêm hôm qua.
Điều mà chàng thực sự muốn nói hình như không phải như vậy. Nàng đứng sát bên Stahr, nghe chàng nói một cách chăm chú, không hề tỏ vẻ mắc cở. Edna hình như đã lui ra xa, ở ngoài bóng tối.
Giọng nàng êm ái :
- Thưa, có chi đâu. Ông rất tử tế, chúng tôi bị lạc.
- Tôi rất mong sẽ có dịp mời cả hai cô trở lại, đi thăm phim trường.
- Dạ thưa ông có thể cho chúng tôi biết ông là ai không? Chắc phải là một nhân vật quan trọng lắm?
Edna nói với giọng nửa như diễu cợt :
- Là một nhà sản xuất, chồng của Minna trước kia. Ông ta nói với em như vậy, nhưng hình như ông ta còn giấu một cái gì, hình như ông ấy muốn ăn tươi nuốt sống chị thì phải.
Kathleen nói nhanh :
- Im đi, Edna.
Hình như đã nhận ra hành vi quá trớn của mình, Edna vội vàng :
- Thôi, mai điện thoại cho em nhé.
Nói xong nàng vội vã đi xuống đường. Nàng sẽ không bao giờ biết tới mối tình lạ vừa chớm nở giữa Stahr và Kathleen, như một tia lửa mới sáng lên trong đêm tối mà nàng vừa nhận thấy.
Kathleen nhìn Stahr :
- Hôm qua mà không gặp được ông, chắc bị nước cuốn đi luôn!
Stahr không tìm được một câu nào để nói. Cá hai cùng im lặng. Tự nhiên họ cảm thấy mình trơ trọi. Nàng nhớ lại cảm giác cô đơn hôm bị nước cuốn bồng bềnh trên pho tượng. Stahr cũng nghĩ tới quang cảnh lúc đó. Thế giới xung quanh như mờ dần, chàng chỉ còn thấy hiện ra trước mắt hình ảnh của nàng bơ vơ trên pho tượng, và một vùng ánh sáng từ trong khung cửa chiếu ra. Chàng cố nói một câu để tìm lại thực tại xác thực :
- Hình như cô là người Ái Nhĩ Lan.
- Đúng. Tôi có ở Luân đốn một thời gian khá lâu. Ông nhận ra được cũng hay quá.
Ánh đèn của chiếc xe buýt quét ngang qua chỗ hai người đang đứng. Họ im lặng chờ cho chiếc xe chạy qua. Stahr lên tiếng :
- Edna có vẻ ghét tôi dữ. Hình như cô ấy có ác cảm đối với các nhà sản xuất.
- Chị ấy không có gì đâu. Dễ thương lắm. Chị ấy mới dọn về ở đây.
Nàng nhìn Stahr, nhận thấy chàng có những nét mệt mỏi giống như những người đàn ông khác. Nhưng nàng quên ngay ý tưởng đó khi nhìn sừng sững giữa trời trong đêm lạnh. Nàng hỏi :
- Chắc các cô bám ông dữ lắm, để được đưa lên màn bạc?
- Họ đã được thỏa mãn.
Stahr chưa nói hết sự thực. Chàng biết những cô gái đó vẫn còn đầy ra đấy, ngay ở ngoài ngưỡng cửa, nhưng họ đã chờ đợi quá lâu và tiếng kêu la, cầu khẩn của họ trở nên quen thuộc không khác gì tiếng ồn ào của xe cộ ngoài đường phố. Nhưng như thế, địa vị của Stahr càng trở nên cao hơn, hơn cả địa vị của một Hoàng đế. Nhà vua chỉ có thể có một Hoàng hậu. Nhưng các cô cho rằng chàng có thể có rất nhiều. Tiếng Kathleen cắt ngang ý tưởng của Stahr :
- Chắc nhiều lúc ông thấy nản với họ lắm. Ông có định đưa tôi lên màn ảnh không đây?
- Không.
- May lắm. Tôi chẳng bao giờ muốn làm tài tử. Hồi ở Luân Đôn cũng có người tới yêu cầu tôi cho họ thu hình trắc nghiệm. Sau khi suy nghĩ một hồi, tôi đã từ chối.
Sau câu nói của nàng, Stahr nhận thấy cả hai người cùng đứng bất động làm như cuộc gặp gỡ sắp chấm dứt, chàng trở lại xe và đi vào trong nhà. Stahr chợt cười lớn :
- Cô tính bắt tôi đứng suốt đêm ở ngoài này như người tới đòi nợ hay sao đây?
- Xin lỗi, trong nhà chắc vẫn còn mùi thuốc. Để tôi vô lấy ghế ra mời ông ngồi tạm.
- Khỏi.
Stahr biết đây là lúc phải rút. Có thể chàng sẽ gặp lại nàng, có thể không. Chuyện như thế, không có cách nào khác. Chàng nói :
- Liệu cô có tới thăm phim trường không? Tôi không dám chắc có dẫn cô đi xem các nơi trong phim trường được không. Nhưng nếu cô tới, cứ điện thoại trước cho tôi.
- Tôi sẽ hết sức cố gắng, nhưng không dám hứa chắc.
Chàng biết có thể vì một lý do nào đó, nàng sẽ không đến. Nàng đã thoát khỏi tay Stahr. Nhưng dù sao, chàng cũng không thể nấn ná thêm, chàng phải cáo lui, dù chưa có được một cái gì trong tay, như số điện thoại của nàng chẳng hạn. Không lẽ lại tự tiện hỏi, Stahr cảm thấy không thể làm như vậy lúc này.
Nàng cùng đi với chàng ra xe. Chàng thấy rõ sắc đẹp rực rỡ của nàng tỏa ra trong bóng tối. Ra khỏi bóng tối, hai người đi cách nhau khoảng nửa thước ánh trăng. Stahr nói nhỏ như thể chỉ để chính mình nghe :
- Thế thôi hé!
Nhưng chàng đã chợt nhận thấy vẻ tiếc rẻ trên gương mặt nàng, và sau đó là một sự biến đổi đột ngột trên nét mặt đó. Hình như một bức màn cấm ngăn cách lối đi của họ vừa được gỡ xuống. Nàng nói hơi có vẻ khách sáo :
- Mong có dịp tái ngộ.
- Nếu không được gặp lại nhau, tôi sẽ ân hận suốt đời.
Họ cảm thấy xa nhau sau những lời khách sáo đó. Nhưng sau khi Stahr quành xe trở lại thì nàng vẫn còn đứng chờ ở đó và giơ tay lên vẫy chàng. Stahr cảm thấy hạnh phúc chợt tràn tới trong lòng. Chàng tự cảm thấy an ủi vì trên đời vẫn còn có những nhan sắc không bị đem đặt lên bàn cân của phòng tuyển lựa tài tử.
Nhưng khi về tới nhà, đột nhiên Stahr cảm thấy buồn đau. Vết thương cũ trong tâm khảm bắt đầu nổi dậy. Người làm đem trà tới. Stahr cầm một trong hai bản chuyện phim lên. Đây là công việc Slahr phải làm buổi tối. Hôm nay chàng cảm thấy nó mới nặng nề, uể oái làm sao! Trong một thoáng Stahr nghĩ tới Minna. Hình ảnh hiện rõ dần trong trí chàng. Chàng cố giải thích với nàng rằng chuyện vừa rồi sẽ không đi tới đâu hết, rằng trên đời này không ai có thể so được với nàng. Chàng cảm thấy ân hận.
* * * * *
Đó là một ngày làm việc và sống của Stahr mà tôi đã cố gắng ghi lại từng chi tiết. Tôi không thể viết về những lúc đau ốm của chàng vì không được biết tới, mặc dầu đôi khi tôi có nghe Ba nói rằng thỉnh thoảng Stahr cũng bị đau. Nhờ có sự thăm viếng phim trường của ông Hoàng Agge hôm đó, mà tôi đã có dịp ở lại ăn cơm trong phim trường. Trong bữa ăn ông Hoàng đã tuyên bố rằng ông có ý định làm một phim chịu lỗ, một phim thật giá trị như Stahr nói, chứ không thèm làm những phim lấy lời! Ông ta cũng cho biết hiện tại đang nắm một khối lớn nhiều loại cổ phần và rằng sẽ ký giao kèo làm phim chung với Stahr.
Về phần Wylie hắn cũng đã nói với tôi rất nhiều chuyện, nhưng nội dung của những chuyện đó toàn là xoay quanh vấn đề, vừa ghen ghét, vừa thán phục Stahr. Riêng tôi, thì tôi cảm thấy mình đã yêu Stahr mất rồi, yêu từ đầu tới chân, không còn nghi ngờ gì nữa. Vì vậy những lời tôi viết ra đây đều là những lời của một kẻ đang yêu. Biết như vậy để quý vị có thể lượng định lấy giá trị của những lời lẽ đó.

Đăng nhập để trả lời
0
Chương V
 
Tôi tới Wylie vào một buổi sáng sớm khi nhận được điện thoại của anh ta. Tôi cảm thấy trong người khoan khoái, mới mẻ. Tôi chọn mặc một bộ đồ kỵ mã, để làm bộ như mình đã ra đi phi ngựa từ lúc mới sớm tinh sương. Tôi nói với Wylie :
- Hôm nay mà bắt gặp xe của Stahr ở đâu là tôi lăn vào bánh xe chận lại.
Wylie hỏi :
- Cô có biết xe đó thuộc loại gì không? Đó là một thiếc xe tốt nhứt Mort Fleisbacker đã bán cho Stahr, Đừng làm vậy tội cho chiếc xe lắm.
- Anh mà biết gì tâm trạng kẻ đang yêu. Anh đã có vợ giấu ở chỗ khác rồi, tôi biết thừa.
- Đó là chuyện đã qua, không nên nhắc tới. Nhưng cô nắm con tẩy lớn quá, hỏi làm sao tôi không ham cho được? Có bao giờ cô tự hỏi nếu không phải con gái của tỷ phú Brady, thì thử hỏi liệu có được mấy người để ý tới cô?
Thực ra trong thâm tâm không bao giờ tôi có tư tưởng ỷ vào cái thế mạnh gia đình giàu có của mình để tìm chồng. Có người thường cho thế là khôn: bạn dựa vào thế lực gia đình để có quyền lựa một người chồng theo ý muốn. Ngược lại, người nào lấy được bạn cũng là có phước lắm, vì họ đã lấy được một số tiền lớn như thể trúng lô độc đắc vậy. Vấn đề thiệt là đơn giản.
Nhưng khi xe bắt đầu chạy về hướng Laurel Canyon ý nghĩ của tôi bắt đầu xoay chuyển. Tôi với tay mở ra-dô trên xe, bản nhạc “Rộn ràng trong tim ta” vang lên. Tôi cảm thấy không thể nào tin ở những tính toán như trên của thiên hạ. Tuy không có nhan sắc nguyệt thẹn, hoa nhường, nhưng bộ mã tôi cũng thuộc loại khá đấy chứ. Tôi biết mặt mình hơi tròn quá, nước da không được hồng hào lắm, xem tựa như người “yêu” quá nhiều. Nhưng bù lại tôi có cặp giò thiệt đẹp và ngực cũng không cần mặc xú chiêng. Tuy không được no tròn lắm, nhưng hạng người cỡ Wylie thì còn đòi hỏi gì hơn nữa? Tôi hỏi anh ta :
- Anh nghĩ gì khi thấy tôi tới vào lúc sáng sớm như thế này?
- Đối với một người làm ăn bận rộn ở Hollywood này, cô tới họ sớm như vậy là khôn lắm. Vì lúc đó, cô là người đầu tiên trong ngày họ được gặp. Lần sau cô có thể tới vào lúc bốn giờ sáng.
- Đúng vậy. Sau một đêm ngủ một vì ban ngày phải gặp gỡ quá nhiều người, tuy có những người trông không tệ lắm. Tôi sẽ tới giờ đó để vặn nút cho óc họ bắt đầu làm việc trở lại.
- Tôi thấy hơi ớn. Có vẻ ồn ào quá.
- Anh kêu tôi tới có chuyện gì đây? Đừng đi quá trớn nghe.
- Tôi yêu cô, và yêu tiền của cô. Nhưng tôi yêu cô hơn. Hy vọng rằng Ba cô sẽ nâng tôi lên hàng phụ tá giám đốc.
- Cuối năm nay tôi sẽ lấy một sinh viên học giỏi con nhà giàu ở Southampton và sẽ về sinh sống ở đó.
Tôi đổi đài để tìm nghe bản nhạc Đi hay bản Mất là hai bản hát thịnh hành nhất trong năm. Âm nhạc lúc nào cũng có tác dụng làm cho người ta cảm thấy dễ chịu hơn. Hồi còn nhỏ không lúc nào tôi thấy những cơn buồn như thế này. Hồi đó luôn luôn có nhiều bản nhạc rất hay khiến tôi say mê như bản “Trời xanh” qua tiếng hát của Goodman, hay bản “Ngày xong” với giọng ca của Whiteman. Ngoài ra còn rất nhiều ban nhạc khác. Nhưng bây giờ thì chẳng cần kén chọn, tôi thích bất cứ bản nhạc nào, ngoại trừ cái bài lẩm cẩm “Hỡi cô gái nhỏ, hãy chăm chỉ một ngày” mà thỉnh thoảng Ba tôi thường hát lên.
Hai bản “Mất” và “Đi” nghe buồn quá, không hợp với lúc vui vẻ này. Tôi vặn đài khác và bắt được bản “Yêu người Yêu cảnh”. Đây chính là bài tủ của tôi. Xe đi lên đồi, tôi nhìn lại phía sau, không khí trong vắt, bầu trời sáng sủa, tôi có thể nhìn rõ lá cây trên đỉnh ngọn Sunset cách đó ba kí lô mét. Không khí trong lành buổi sáng đã khiến người tôi cảm thấy lâng lâng, khoan khoái. Tôi cất tiếng hát theo: “Xinh xinh cảnh sắc... nao nao lòng em”. Wylie hỏi :
- Bộ cô sắp hát cho ông Stahr nghe đấy hẳn? Chừng nào hát thì nhớ thêm dùm tôi một câu “Wylie rất xứng đáng lên chức phụ tá giám đốc” nhé.
- Không bao giờ, bài hát riêng sẽ chỉ có tôi và Stahr thưởng thức. Stahr sẽ nhìn tôi và nhủ thầm: “Ồ, chưa bao giờ thấy con nhỏ xinh như hôm nay”.
Wylie thản nhiên :
- Hồi này thiên hạ không nựng nhau bằng những câu như thế. Kiểu đó xưa rồi.
Rồi chàng sẽ tiếp: “Bé Cecilia của anh”, giống như đêm hôm động đất chàng đã nói với tôi: “Em đã thành đàn bà hồi nào mà anh không nhận ra kìa”.
- Cô khỏi cần làm mấy trò con nít đó. Cứ đứng yên cũng ăn tiền rồi.
- Dĩ nhiên tôi sẽ đứng đó. Chàng sẽ tới ôm hôn tôi, làm như thế chàng là một đứa bé không cần để ý tới...
Wylie thở dài :
- Đó đúng là đoạn đối thoại tôi đang viết và phải nộp cho ông ta ngày mai.
- Rồi chàng sẽ ngồi xuống, hai tay ôm mặt nói: “Anh không bao giờ nghĩ tới bé như thế này”.
- Thôi, đủ rồi, đừng làm mất thì giờ thêm. Sáng nay tôi còn phải đi làm.
- Rồi chàng sẽ tiếp: đã từ lâu anh ao ước được như thế này.
Wylie làm bộ rùng mình :
- Hãy đi thẳng vào việc cho rồi. Hút lấy máu của hắn, máu của tên tài phiệt. Nếu phải truyền lại máu đó vào người, tôi thấy cũng ớn quá.
- Rồi chàng sẽ lên tiếng...
Wylie cắt ngang câu nói :
- Biết rồi. Thôi im đi cho tôi nhờ. Điều tôi cần biết là cô sẽ trả lời hắn ta như thế nào?
- Rồi sẽ có một người nào đó từ ngoài bước vào hỏi chàng...
- Và cô vội vàng nhảy xuống khỏi cái giường tuyển lựa tài tử của hắn, mặc vội quần áo vào.
- Anh muốn tôi xuống xe đi về không đây?
Chúng tôi đang ở khu đồi Beverly với những hàng thông xanh cao đem từ đảo Hawaii về trông thật thơ mộng. Hollywood thực là một thành phố phân chia giai cấp rõ rệt hơn đâu hết. Cứ nhìn vào từng khu gia cư là biết thành phần nào ở đó. Đây là khu sang trọng của các viên giám đốc. Các chuyên viên kỹ thuật thì ở những khu nhà trệt phía xa xa. Khu biệt thự này trông thật là thơ mộng, không thua bất cứ thắng cảnh nào ở Mỹ quốc.
Tiếng hát từ ra-dô vọng ra: “Ai hỏi em về chữ yêu đương... Mỗi chân tình là mỗi chân tình”.
Tim tôi rộn ràng. Lửa tình dậy dâng trong khóe mắt. Mặc dầu không hoàn toàn tự tin sẽ thành công, tôi cũng vẫn muốn chạy thẳng tới ôm hôn chàng, làm như thế chàng đã một lần đi qua đời tôi. Hay tôi sẽ không dám làm thế, tôi chỉ đứng đó và lí nhí một lời chào hỏi ngắn ngủi không diễn tả nổi ý muốn của mình.
Nhưng trái với dự đoán của tôi, chàng chỉ đứng yên sẽ mỉm cười nhìn tôi. Trông chàng không có vẻ gì là bối rối. Chàng thản nhiên một cách gần như lạnh lùng, hai tay vẫn để trong túi quần.
Tôi hỏi Wylie :
- Tối nay anh đi bum với tôi không.
- Bum nào?
- Bọn soạn giả mở đàng nhà lão Đại sứ.
Wylie có vẻ suy nghĩ một lát rồi trả lời :
- Có lẽ không đi cùng được. Tôi tới trễ, vì còn mắc coi chiếu thử một phim ở rạp Glendale.
Ôi! Mộng và thực thường khác nhau lắm vậy thay! Vậy thì tôi lại sống trong mộng: Chàng không đứng nhìn tôi nữa, mà đi lại bàn, ngồi xuống ghế. Tôi tiến lại, áp đầu trên mặt bàn giấy cạnh điện thoại và ngước mắt nhìn chàng. Cặp mắt đen láy của chàng âu yếm nhìn lại tôi, nhưng chàng không có một cử động nào khác. Đối với đàn ông thỉnh thoảng cũng có những lúc họ coi đàn bà không ra gì cả. Tất cả mọi cố gắng khiêu khích của tôi chỉ khiến chàng nói được một câu :
- Cecilia, sao cháu không lấy chồng cho rồi?
Rất có thể chàng sắp sửa đề cập tới thằng cha Robby nào đó và bắt đầu nói những câu mai mối. Tôi hỏi chàng :
- Người con gái phải làm gì để người mình yêu chú ý tới mình?
- Thì cứ nói thẳng với người đó là mình yêu họ.
- Hay là cháu làm bộ xua đuổi người ta.
- Có thể. - Chàng vừa nói vừa mỉm cười.
- Nhưng đố chú biết hiện bây giờ người đó có ở đây không?...
Chàng trả lời một cách bất ngờ :
- Chú muốn cưới cháu quá. Nhiều lúc chú cảm thấy cô đơn kinh khủng. Nhưng chú già quá rồi, không còn làm ăn gì được.
Tôi đi vòng qua bàn, tới đứng sát bên cạnh chàng :
- Anh sẽ làm ăn với em.
Chàng nhìn tôi với đầy vẻ ngạc nhiên. Đây chính là lần đầu chàng được biết rằng tôi đã muốn đến độ kinh khủng rồi.
Chàng có vẻ khổ sở :
- Không được đâu cháu. Đối với chú ngoài điện ảnh ra không còn gì đáng kể cả... Ý chú muốn nói là chú không còn thì giờ đâu để...
- Anh không thể yêu em được sao?
Một lần nữa, câu trả lời của chàng lại đi ra ngoài sự tưởng tượng của tôi :
- Chú cháu mình biết nhau từ lâu, nhưng thực không bao giờ chú nghĩ tới chuyện này. Chú nghe người ta nói cháu và Wylie sắp sửa cưới nhau mà?
- Và anh không có phản ứng gì hết?
- Có chứ. Chú sắp nói chuyên đó với cháu. Hãy chờ vài năm cho hắn nguội đã.
Câu chuyện ngưng ngang ở đây khi cô Doolan từ ngoài đi vào với bảng ghi chú trên tay. Sự thực xảy ra đúng như trong giấc mơ tôi đã thấy. Duy có điều khác là chính Stahr đã ấn một nút chuông bí mật để kêu cô ta vào.
Thế rồi tôi chợt tỉnh giấc mơ. Không thấy Stahr đâu, nhưng chỉ có một tấm hình của chàng tôi đang cầm trong tay. Đôi mắt trong hình đăm đăm nhìn tôi, một cái nhìn tế nhị thông cảm, rồi bỗng dưng tối sầm lại dưới hàng lông mày rậm như chất chứa hàng ngàn kế hoạch, cạm bẫy.
Gương mặt đó hình như không bao giờ để lộ ra những cơn thịnh nộ, giận dỗi thường tình, mà chỉ có sự yên lặng tự tin sâu xa, hình như đang xếp đặt những toan tính trong trận chiến lâu dài của chính mình bày ra. Khuôn mặt chàng thiệt bô trai, bô hơn tất cả những hình tài tử. Hình của chàng chính là tấm ảnh quý nhất đối với tôi, và từng được tôi cất giữ kín đáo trong hộc tủ cá nhân có khóa tại trường.
Đó là chuyện tôi đã kể cho Wylie nghe. Và khi một người con gái nói chuyện với một người đàn ông về một người đàn ông khác: đó chính là lúc họ đang yêu.
* * * * *
Tôi nhận ra nàng từ lúc Stahr chưa tới. Nàng không hẳn là một người đẹp, vì thực ra ở Hollywood này không nhan sắc cá nhân nào có thể nổi bật lên trên sắc đẹp nhà nghề của những nữ minh tinh. Tuy nhiên nước da trắng hồng hào đặc biệt của nàng hình như tỏa ra một sức hấp dẫn, khiến người ta phải nhìn lại nàng lần nữa và tự hỏi: “Con nhỏ nào lạ vậy kìa?”
Nàng ngồi ở một bàn khuất sau cây cột lớn. Gần đó hình dáng của một nữ minh tinh đã về chiều sắp hết thời tự nhiên trở nên bối cảnh khiến cho nàng nổi bật lên. Cô minh tinh nửa mùa này thỉnh thoảng lại lăng xăng nhảy với một vài kép cù lần, mặt cứ nghệt ra như mặt bù nhìn coi dưa. Nhìn cử chỉ lăng xăng của cô ta, tự nhiên tôi nhớ đến những lần đầu tiên đi dự dạ hội với Má. Bà đã bắt tôi đi liền mấy bản với một thanh niên, để được nổi bật giữa vùng ánh sáng của đèn rọi. Cô minh tinh nửa mùa bắt chuyện với dăm ba người nào đó, và tôi cũng bị lôi cuốn vào câu chuyện của nhóm bè bạn xung quanh nên hết còn chú ý tới cô ta.
Trong sự nhận xét của tôi và Wylie, tất cả mọi người trong buổi dạ hội này hình như đều tới đây với mục đích tìm kiếm một cái gì. Wylie nói nhỏ vào tai tôi :
- Cô mà cứ giữ mãi cái điệu bộ đăm chiêu thì chỉ tổ cho thiên hạ ghét. Ở chỗ này, muốn giữ tư cách, muốn tỏ ra tự trọng, không gì hơn là cứ làm ra bộ vui tươi, cười cười, nói nói giống như những nhân vật trong tiểu thuyết của Hemingway ấy. Bề ngoài xơn xớt nói cười, nhưng trong bụng nhiều khi họ đang ghét nhau cay đắng và đang nghĩ cách hạ nhau đấy.
Nhận xét của Wylie có lẽ đúng. Kể từ những năm 1933 trở đi, người giàu càng ngày càng trở nên cô độc, họ chỉ có thể cảm thấy hạnh phúc khi ở một mình.
Tôi đã nhìn thấy Stahr bước lên những bậc thềm, rồi đứng lại ở bậc chót, hai tay đút trong túi quần, mắt dớn dác nhìn xung quanh. Lúc này đã khá khuya, những ngọn đèn hình như có vẻ lu dần, mặc đầu lúc nào nó cũng vẫn thế. Sàn nhảy đã vắng người, ngoại trừ một gã lưng đeo tấm bảng quảng cáo đang múa may, quay cuồng. Những năm trước đây thì vào giờ này của một cuộc dạ hội, thường có nhiều kẻ say sưa ăn nói lảm nhảm. Nhưng bây giờ thói quen đó không còn. Cô minh tinh nửa mùa hình như đang nhìn qua vai anh kép của cô ta để tìm những kẻ say sưa đó. Tôi nhìn theo lúc cô ta đi trở lại chỗ ngồi, và...
... tôi ngạc nhiên bất chợt thấy Stahr đang nói chuyện với nàng, với người con gái có nước da đặc biệt đó. Họ mỉm cười, nhìn nhau âu yếm như đang sống trong một thế giới mới.
* * * * *
Trước đó mấy phút, lúc đang đứng ở bậc thềm chót ngoài cửa, Stahr quả thực không nghĩ tới chuyện có thể gặp nàng ở đây. Xem cuốn phim chiếu ra mắt hồi tối đã làm chàng thất vọng, sau đó Stahr đã gây với Borwitz ngay trước cửa rạp và bây giờ chàng đang cảm thấy hối hận. Chàng đã tiến lại chỗ nhóm bạn của Brady đang ngồi, vì chợt thấy Kathleen ở đó. Nàng ngồi giữa chiếc bàn dài trải khăn trắng muốt.
Cảnh vật xung quanh hình như thay đổi hẳn khi chàng tiến lại gần nàng. Mọi người đều dạt ra xung quanh, ở bàn chỉ còn lại một mình nàng và chiếc bàn như thể dài thêm ra mãi để biến thành một thiên tòa cho nàng ngự trị. Hai người nhìn nhau và mỉm cười với nhau. Chiếc bàn nàng đang ngồi như chợt biến đi nơi khác: nàng và Stahr nhẹ dìu nhau trong điệu luân vũ. Khi ôm sát nàng vào người, Stahr cảm thấy như mắt chàng hoa lên, thân hình nàng chợt trở nên mờ ảo. Thường thường cái sọ của người đàn bà nhắc nhở cho người đàn ông ý thức về sự hiện hữu của họ. Nhưng đối với nàng, Stahr không cảm thấy điều đó. Họ say sưa dìu nhau trong tiếng nhạc. Họ đưa nhau qua tấm gương, đi sang một phòng nhảy khác, ở đó có những bộ mặt khá, nhưng họ cũng chẳng thèm chú ý tới. Stahr thì thầm bên tai nàng :
- Sao em không cho anh biết tên?
- Kathleen.
- Kathleen. - Chàng nhắc lại.
- Chắc anh đang nghĩ đến số điện thoại của em. Em phải nói ngay là em không có điện thoại.
- Sao em không tới phim trường thăm anh?
- Không được anh à. Nhất định không thể được.
- Lý do? Em đã có chồng?
- Chưa.
- Em còn độc thân?
- Không hẳn. Nhưng có thể như thế.
- Em có đi với hắn ở đây không?
- Không. Sao anh tò mò thế?
Nói xong nàng chợt cười lớn. Nhưng rồi nàng có cảm tưởng Stahr đã đi sâu vào đời nàng, không cần đếm xỉa đến những chuyện xảy ra xung quanh. Mắt nàng như một biển tình, mời gọi Stahr lặn ngụp trong đó. Hình như chính nàng đã nhận ra điều đó, nên vội vã bảo Stahr với giọng sợ sệt :
- Thôi đi anh. Em đã hứa nhảy bản này với người khác.
- Anh không muốn để vuột em. Tại sao chúng mình không đi ăn với nhau?
- Không được, anh à.
Giọng nàng trở nên rung động, nhẹ nhàng, khiến cho người nghe biết ngay rằng điều nàng bảo không được chính là được. Cánh cửa tuy đã khép lại, nhưng vẫn còn hở một khe đủ để cho bạn lách vào, nhưng phải làm cho nhanh.
- Thôi anh à. - Nàng nói lớn và sau đó nàng chợt buông vai Stahr, ngừng nhảy, đứng im nhìn chàng mỉm cười.
- Gần anh, em thấy như muốn nghẹt thở.
Nàng xoay người, vén đuôi áo, bước trở qua phòng bên.
Stahr đi theo tới lúc nàng trở về chỗ ngồi ở bàn cũ. Trước khi rời nhau, nàng còn nói :
- Cảm ơn nhiều, chúc anh ngon giấc đêm nay.
Sau đó nàng đi nhanh như người chạy trốn.
Stahr cũng quay trở về chỗ dành riêng cho chàng. Tại đây chàng gặp đủ những bộ mặt làm ăn thuộc đủ mọi giới: tư bản, kỹ nghệ, quý phái. Họ đang hăng hái nói về chuyện ngựa. Trong đó Marc là người nói hăng nhất. Stahr nghĩ thầm, xưa kia đã có thời dân Do Thái thờ thần Ngựa. Lúc đó chắc dân Cô-zắc ngồi trên lưng ngựa, và người Do Thái đứng dưới nên ngày nay họ thường coi ngựa là tiêu biểu cho sự thịnh vượng, giàu có, quyền thế. Stahr ngồi yên, làm bộ chăm chú nghe và đôi khi gật đầu nếu có người hỏi tới ý kiến của chàng. Nhưng mắt Stahr luôn luôn kín đáo theo dõi chiếc bàn khuất sau cây cột lớn. Nếu không có tình cảm sâu đậm, mãnh liệt nảy nở giữa chàng và nàng, thì Stahr vẫn nghi ngờ đây là một cuộc âm mưu của bàn tay nào đó để đưa chàng vào cái bẫy mỹ nhân kế. Chính sự lẩn trốn của nàng đã đánh tan mọi nghi ngờ của chàng. Và giờ đây, một lần nữa, nàng lại đang tìm cách thoát khỏi tay chàng. Nhìn cử chỉ của những người ngồi ở bàn nàng, Stahr biết họ đang từ biệt chia tay nhau. Nàng cũng vừa đứng lên, rời khỏi bàn.
Wylie đùa một cách ranh mãnh :
- Rồi, thế là nàng Cám ra đi. Hoàng tử có muốn đi tìm nàng thì cứ việc đem chiếc hài đã lượm được tới tiệm giày Rê-gơ ở số 812, Đại lộ Phía Nam là tìm ra tung tích của nàng ngay.
Stahr đi theo nàng dọc theo hành lang ra tới cửa, tại đây một mệnh phụ trọng tuổi đứng trên bục cao xung quanh căng giấy để chào quan khách. Stahr thì thầm bên tai nàng :
- Em giận anh nên bỏ về hay sao?
- Đâu có, đằng nào rồi em cũng phải về chứ, ở mãi đây sao?
Sau đó nàng đổi sang giọng mỉa mai :
- Nhảy với anh mà họ bàn tán, làm như em vừa được nhảy với một ông Hoàng không bằng. Một người yêu cầu được vẽ ảnh em, và một người khác muốn được gặp em ngày mai.
- Anh cũng muốn được gặp em ngày mai. Nhưng có điều khác là anh muốn hơn họ rất nhiều.
Nàng nói với giọng hơi mệt mỏi :
- Bộ anh nhất định như thế sao? Em đã chán đất Anh vì ở đó đàn ông cứ nhất định làm theo ý muốn riêng của họ. Em cứ tưởng rằng ở đây có phần khác. Bây giờ chắc anh đã thông cảm tại sao em không thể chiều ý anh?
- Thường thì như vậy. Nhưng trong trường hợp nay, anh đã cảm thấy điên mất rồi, anh không còn là người bình thường nữa. Bằng bất cứ giá nào, anh cũng phải gặp lại em và nói chuyện với em, mong em hiểu cho lòng anh.
Nàng có vẻ lưỡng lự :
- Anh mà điên sao được, anh không thể làm như vậy. Nhưng anh nhất định muốn gặp em để làm gì?
- Để làm gì? Chính anh cũng không biết nữa.
- Vậy để em nói nhé, anh muốn chiếm em, muốn đưa em nhốt trong nhà mộng của anh.
Stahr trả lời sau một giây ngẫm nghĩ :
- Anh đã quên được em... cho tới khi anh bước qua cánh cửa này.
- Có thể đầu óc anh muốn quên em. Nhưng ngay từ hôm đầu chúng mình gặp nhau, em đã chắc chắn anh không thể nào quên được em...
Nàng chợt im lặng. Gần đó một người đàn ông và một người đàn bà tham dự dạ tiệc đang nói những lời chia tay nhau: “Anh cho gởi lời hỏi thăm chị với các cháu nhé. Nói dùm tôi nhớ chị ấy ghê lắm đó”. Người đàn ông trả lời: “Chị cũng cho tôi gởi lời thăm anh ấy và các cháu nhé”. Những câu nói như thế Stahr không thể nào thốt lên được. Đi gần tới chỗ thang máy chàng mới nghĩ được câu nói :
- Có thể em đã nói đúng.
- Ồ, anh nhận có thế sao?
- Anh không nhận gì cả. Nhưng đó chính là chuyện do em tạo ra... bằng cách đi đứng, cử chỉ, lời nói của em trong lúc này, khiến anh không thể nào quên em.
Chàng cảm thấy nàng đã có vẻ mềm lòng và đặt nhiều hy vọng :
- Ngày mai Chủ nhật, thường thì anh cũng bận lắm. Nhưng nếu em muốn đi chơi đâu hay gặp ai ở Hollywood này, anh sẽ đưa em đi.
Thang máy đã ngừng và cánh cửa mở ra, nhưng nàng không vào và nói với Stahr :
- Sao anh khiêm nhượng thế. Lúc nào cũng chỉ thấy anh nói tới chuyện đưa em đi chơi và thăm phim trường. Thế có bao giờ anh cảm thấy cô đơn không?
- Ngày mai anh sẽ cảm thấy cô đơn nhiều nhất.
- Ôi, thiệt là tội nghiệp cho anh! Tội nghiệp cho con người hùng, con người có biết bao minh tinh quỳ dưới chân, nhưng anh lại đi chọn em!
Chàng mỉm cười. Chàng để cho minh được tự do đón nhận sự sung sướng do những lời nói của nàng đem lại. Thang máy đã trở lên lại. Nàng bấm nút cho thang ngừng và bảo Stahr :
- Em là một người đàn bà yếu đuối. Nếu em nhận lời gặp anh ngày mai thì rồi ra, liệu anh có để cho em sống yên thân không? Không, chắc là không. Anh sẽ đưa em vào những cơn lốc phiêu lưu dữ nhiều lành ít. Không, đa tạ tấm thạnh tình của anh, nhưng em nói: không thể được.
Nàng bước vào thang máy. Stahr bước theo, rồi họ mỉm cười nhìn nhau. Hai người đi xuống tầng lầu ba. Họ nhìn xuống dưới nhà thấy một đám đông hiếu kỳ lố nhố chờ coi mặt các tài tử, đang bị cảnh sát chận lại. Kathleen sẽ rùng mình, nói với Stahr :
- Em thấy ớn quá. Hồi nãy đi lên đây, em thấy hình như đám đông đó nhìn em một cách tức giận vì em không phải là một tài tử nổi tiếng.
- Để anh sẽ đưa em xuống lối riêng, không gặp họ.
Stahr dẫn nàng đi quanh co một hồi qua những cửa tiệm, cuối cùng họ ra tới chỗ đậu xe với không khí mát lạnh của buổi tối. Cả hai đều cảm thấy người nhẹ nhõm, rũ sạch không khí ồn ào, mỏi mệt của buổi dạ hội. Stahr chỉ cho nàng một dãy nhà trệt ở phía bên kia con đường :
- Hồi xưa có nhiều tài tử sống ở khu này.
- Thế bây giờ thì sao?
- Bây giờ phim trường dọn ra vùng quê và họ cũng đi theo. Tuy nhiên, mỗi khi trở lại đây anh vẫn thấy thích thú.
Có một điều không nói cho nàng biết là xưa kia, vợ chàng, Minna, cũng ở một căn nhà phía bên kia đường cùng với mẹ nàng. Bất chợt Kathleen hỏi chàng :
- Năm nay anh bao nhiêu rồi?
- Anh cũng không nhớ đến tuổi tác của minh, hình như ba mươi lăm thì phải.
- Hồi nãy em nghe người ta nói với nhau trong bữa tiệc là anh sắp thôi hoạt động.
- Anh sẽ thôi khi nào sáu chục tuổi. - Chàng gằn giọng - Sao, ngày mai em có đi với anh không?
- Anh đón em ở đâu?
Chàng suy nghĩ và thấy không thể tìm ra một nơi hẹn nào thích hợp. Một nhà hàng, một dạ tiệc, một hồ tắm, tại nhà một người bạn. Tất cả đều không có vẻ thích hợp với nàng. Stahr đoán thầm có thể nàng là em hay con gái của một nhân vật tai mắt nào đó nên không muốn xuất đầu lộ diện ở những nơi công cộng. Cuối cùng chàng đưa ý kiến ngày mai cứ đến đón nàng rồi sẽ quyết định sau xem nên đi đâu. Nàng trả lời :
- Khỏi, mai anh cứ đón em ở ngay chỗ này được rồi.
Chàng gật đầu và chỉ lên mái hiên chỗ hai người đang đứng.
Chàng mở cửa xe cho nàng ngồi vào sau tay lái. Đó là một chiếc xe cũ nếu mua lại ở tiệm thì chỉ độ tám chục đô. Stahr đứng nhìn theo xe nàng từ từ lăn bánh. Ở phía cổng bin-đinh có tiếng hoan hô khi một tài tử xuất hiện. Stahr lưỡng lự không biết có nên chường mặt ra hay không.
* * * * *
Sau đây là đoạn do chính Cecilia kể. Vào khoảng ba giờ sáng Stahr mới trở lại và mời tôi nhảy một bản. Chàng hỏi, như thể vừa mới trông thấy tôi :
- Sao, vui chớ Cecilia? Chú mắc bàn chuyện với một người khách lâu quá.
Chàng có vẻ giấu diếm một cách thận trọng câu chuyện chàng đi với Kathleen. Chính thái độ đó cũng là một điều bí mạt tôi không hiểu nổi. Stahr nói tiếp với một vẻ rất ngây thơ :
- Chú phải lái xe đưa ông ta đi một vòng. Phố xá nhiều chỗ thay đổi quá mà mình chẳng để ý tới gì cả.
- Vậy sao chú?
- Đúng vậy, có nhiều con đường thay đổi hoàn toàn đến nỗi chú không nhận ra được nữa. Nhiều chỗ trông tựa như một thành phố mới mọc lên.
Ngừng một lát rồi chàng lại tiếp :
- Thực chú cũng không biết nó đã thay đổi tới độ nào.
Tôi hỏi liều :
- Người khách vừa rồi chú nói chuyện là ai vậy?
Chàng trả lời hàm hồ :
- Ồ, một ông bạn cũ. Một người chú quen biết từ lâu lắm.
Trong lúc Stahr vắng mặt ở buổi dạ hội, tôi đã sai Wylie đi làm một cuộc điều tra cấp tốc xem nàng là ai. Anh ta đã tới hỏi thăm tin tức một nữ minh tinh về chiều. Cô này sốt sắng mời anh ta ngồi và nói năng lăng xăng, nhưng cô ta cũng không biết nàng là ai. Có thể nàng là bạn của một người bạn của một người nào đó. Có khi ngay cả người đã dẫn nàng tới đây cũng không biết gì về nàng.
Tôi và Stahr tiếp tục nhảy trong âm thanh thánh thót của bản nhạc I’m on a see saw. Nhảy lúc này thực là thoải mái. Sàn nhảy trống trơn và tôi cũng như Stahr đều cảm thấy cô đơn lạ, cô đơn hơn lúc nàng còn có mặt nơi đây. Người con gái đó ra đi hình như mang theo cả buổi tối của chúng tôi đi theo nàng, bỏ lại căn phòng trống trải, vô tri này. Giờ đây kể như không còn gì nữa hết. Tôi đang nhảy với một người đầu óc để tận đâu và người đó nói với tôi toàn những chuyện bâng quơ vô vị.
* * * * *
Trưa hôm sau họ gặp nhau, và điều lạ là tự nhiên cả hai cùng cảm thấy xa lạ, lạnh nhạt như thể họ mới quen nhau ở một xứ khác. Nàng trông không còn phải là cô gái mà chàng đã ôm trong tay ở cuộc khiêu vũ tối qua nữa. Hôm nay nàng đội chiếc nón hai màu xanh hồng có thắt nơ. Nàng đang đi ở khu đất trống bên kia, và chợt ngừng lại nhìn kiếm Stahr. Chàng bận bộ đồ màu nâu, thắt cà vạt đen. Chàng cảm thấy có vẻ ngượng nghịu, không được thoải mái như lúc mặc đồ làm việc thường. Nàng thấy Stahr trông không giống lúc mặc đồ dạ hội tối qua. Gương mặt, tiếng nói của chàng cũng không giống lần đầu tiên gặp nàng trong bóng tối trước cửa nhà.
Nhưng Stahr đã nhận ra nàng, chàng không thể nào lầm khuôn mặt rạng rỡ của nàng đặc biệt giống khuôn mặt Minna, và cả màu tóc nhạt gợn sóng cũng thế. Chàng muốn ôm nhẹ nàng trong một cử chỉ quen thuộc, và chỉ một thoáng nhận xét chàng đã có thể biết được từ cổ cho tới xương sống của nàng cũng như quần áo nàng đang mặc trong người. Nàng nói nhỏ như thể thì thầm bên tai Stahr :
- Bộ anh đứng chờ ở đây suốt đêm hôm qua sao?
- Anh chưa hề nhúc nhích từ hôm qua tới giờ!
Một lần nữa, cả hai lại thấy lúng túng, chẳng biết đưa nhau đi đâu bây giờ. Nàng đưa ý kiến :
- Em muốn đi uống trà. Anh xem có nơi nào người ta không nhận ra chúng mình không?
- Em cứ làm như chúng ta là những người mang tai, mang tiếng phải lẩn tránh vậy.
- Chớ còn gì nữa. - Nàng vừa nói vừa cười.
- Vậy thì ra bãi biển. Có lần anh ra đó và bị những con hải cẩu đuổi muốn chết.
- Rồi hải cẩu pha trà được không chớ?
- Biết đâu. Chúng đã được huấn luyện. Nhưng không chắc chúng làm nổi, có điều chắc là chúng không nói bép xép. Mà việc quái gì em cứ phải lẩn trốn vậy?
Sau một lát suy nghĩ, nàng trả lời nhỏ nhẹ.
- Có thể em lo cho tương lai. Nhưng biết đâu đó chỉ là một chuyện lo lắng không đâu.
Lúc Stahr bắt đầu cho xe chạy, nàng chỉ chiếc xe cũ kỹ của mình hỏi chàng :
- Xe để đây liệu có an toàn không anh?
- Không chắc. Hồi nãy anh thấy mấy tên lạ mặt râu quai nón rình rập gần đây.
Kathleen nhìn chàng, vẻ lo lắng :
- Thiệt không anh?
Stahr mỉm cười. Nàng nói tiếp :
- Lúc nào em cũng tin anh. Em thấy anh rất vui vẻ tế nhị, vậy mà sao có nhiều người lại sợ anh?
Nàng chợt nhận thấy những nét lo lắng, mỏi mệt trên gương mặt chàng :
- Công việc anh vất vả lắm sao? Có thiệt Chúa nhật nào anh cũng làm việc không?
- Không. Hồi xưa, lúc anh có nhà cửa đàng hoàng mỗi Chủ nhật có bạn bè tới thăm chơi thì anh thường chơi ten-nít và tắm với họ. Đã lâu lắm anh không đi bơi lại.
- Tại sao vậy? Bơi tốt lắm, bây giờ ai cũng đi bơi hết.
- Bỏ lâu không bơi, hình như bây giờ anh thấy chân nhỏ lại. Hồi nhỏ anh chơi thể thao nhiều và thỉnh thoảng chơi banh ở ngay bãi biển này. Sân chơi banh của anh ở đây đã bị một cơn bão cuốn đi mất tiêu từ hồi nào.
- Người anh cũng có vẻ dân xì-po lắm đấy chứ.
Chàng lắc đầu :
- Không phải. Bây giờ anh chỉ còn biết vui với công việc. Việc làm của anh rất dễ bị say mê.
- Anh thích nghề điện ảnh này từ lâu lắm rồi sao?
- Không, hồi xưa anh chỉ muốn trở thành một người trưởng phòng kế toán. Đó là người biết mọi chuyện, cái gì để ở chỗ nào.
Nàng mỉm cười :
- Bây giờ thì anh đã làm hơn thế nhiều.
- Em lầm. Hiện giờ anh cũng vẫn là một người trưởng phòng kế toán. Nếu trời có ban cho anh một cái tài gì, thì đây chính là tài của anh. Là một người trưởng phòng kế toán, nên anh có thể biết bất cứ vật gì ở chỗ nào mà mọi người không biết. Em cũng nên tập lấy thói quen để biết tại sao cái đó lại như thế, nó ở chỗ nào, chỗ của nó có phải ở đó không? Khi anh biết được như thế, thì họ bắt đầu giao công việc cho anh. Công việc càng nhiều thì càng trở nên cầu kỳ, và có nhiều cái phải nhớ. Chẳng bao lâu anh đã có một xâu chìa khóa để tìm bất cứ vật gì ở đâu. Xâu chìa khóa đó, nếu anh phải trả lại cho họ, họ sẽ không biết chìa nào dùng để mở khóa nào.
Xe ngừng lại ở đèn đỏ. Một em bé bán báo vừa chạy vừa la lớn: “Chú chuột Míc ki đã bị giết. Randoff khai chiến với nước Tàu”. Nàng bảo Stahr :
- Mua tờ báo anh.
Lúc xe bắt đầu chạy lại, nàng nắn vành nón lên và dùng hai bàn tay xoa mặt. Thấy Stahr để ý nhìn, nàng mỉm cười.
Stahr nhận thấy ở nàng một sự tỉnh táo và bình tĩnh. Đó là những đức tính cần thiết nhất trong giai đoạn này. Ở California này hiện nay đang có một không khí chán nản, mỏi mệt lan tràn khắp nơi. Hàng ngày người ta thấy có những thiếu niên nam nữ đầu óc rã rời lang thang đây đó vô mục đích. Không bù lại có nhiều người ở miền Đông đang phải chiến đấu với thời tiết một cách tuyệt vọng, vậy mà họ vẫn giữ vững tinh thần. Chính Stahr cũng nhận thấy những nỗ lực cầm cự để giữ vững tinh thần lúc này tự nhiên trở nên khó khăn, và chàng cũng không hiểu lý do tại đâu. Nhưng chàng biết chắc rằng ở những nơi khác, nghị lực và sức phấn đấu lại đang dâng lên một cách mãnh liệt.
Bây giờ họ đã cảm thấy thân mật. Nàng không có một hành động thừa thãi nào. Mọi cử chỉ của nàng đều có mục đích bảo vệ và làm gia tăng sắc đẹp của mình, phô bày sắc đẹp đó ra khỏi những chỗ bị che giấu bằng cách này hay cách khác. Chàng ngắm nghía, nhận xét nàng giống như lúc thu hình vậy. Stahr nhận thấy nàng rất tự nhiên, không có vẻ gì cố ý, gò bó. Dáng điệu nàng rất khoan thai, không có gì bối rối. Trong kho ngôn từ riêng của chàng, Stahr cho rằng người nàng tiềm ẩn sự cân bằng, tế nhị và cân đối, nàng rất ngoan.
Xe chạy tới Santa Monica, nơi đây có những dãy nhà của tài tử ở chơ vơ ngoài hòn đảo nhỏ Coney. Chàng quẹo xe chạy xuống sườn đồi dốc giữa mặt biển và trời xanh bao la trải rộng. Xe chạy dọc theo bãi biển, gần tới bãi tắm với những lượn cát vàng khi rộng, khi hẹp. Chàng chỉ tay về phía trước :
- Ở tuốt mé biển đàng kia, anh mới xây một biệt thự, anh cũng chưa biết để làm gì nữa.
- Để cho em.
- Rất có thể.
- Em nghĩ nếu anh xây cho em một biệt thự lớn trước khi anh nhìn thấy mặt em thì mới thực là điều tuyệt.
- Biệt thự này không lớn lắm đâu, và cũng chưa xong mái nữa. Anh không biết em thích kiểu mái như thế nào.
- Chúng mình không cần làm mái. Họ nói ở đây không bao giờ mưa mà anh...
Nàng chợt ngưng ngang câu nói như thể sợ nhớ tới một chuyện gì.
Nàng tiếp :
- Em nhớ tới một chuyện đã qua.
- Sao? Một căn nhà không mái khác à?
- Vâng. Một căn nhà không mái khác.
- Ở đó có vui không?
- Không. Đã lâu lắm. Em ở đó với một người, anh ta cố giữ em. Em muốn bỏ đi. Cuối cùng anh ta giữ không nổi, và em thoát.
Chàng lắng nghe những lời nói của nàng, cân nhắc từng câu nhưng không phê phán. Nét mặt nàng không có gì thay đổi dưới vành nón rộng xanh hồng. Có lẽ năm nay nàng chừng hai mươi lăm. Ở tuổi này nếu nàng chưa yêu hoặc chưa được yêu thì thật uổng.
Nàng bảo Stahr :
- Nếu chúng mình chung sống với nhau, chúng mình sẽ phải có con. Nhưng anh chưa thể có con chừng nào nhà còn chưa có mái.
Đúng vậy. Bây giờ chàng đã biết ít nhiều về đời nàng. Không còn như tối hôm qua nữa, lúc đó họ chỉ nói những chuyện bâng quơ. Đúng như trong sách vở đã dạy: “Chúng ta không biết gì về con gái hết. Chúng ta không cần biết nhiều. Nhưng chúng ta phải biết một ít”. Lai lịch của nàng giờ đây đã lờ mờ hiện ra, dù sao thì cũng rõ rệt hơn lúc chàng mới thấy nàng trên đầu pho tượng thần Siva, bồng bềnh giữa dòng nước lụt chan hòa ánh trăng.
Họ tới một nhà hàng vắng khách vì nhiều xe bị cấm vào khu này ngày Chủ nhật. Từ trên xe bước xuống, một con hải cẩu chạy lại kêu lên nho nhỏ như nhận ra Stahr. Chủ của nó kể chuyện rằng chú hải cẩu này khi đi xe nhất định không bao giờ chịu ngồi ở băng sau, mà cứ đòi ngồi trên trốc đầu xe hoặc phía sau xe. Rõ ràng là loài người đang làm nô lệ cho loài hải cẩu mà không nhận ra.
Kathleen nói :
- Em muốn đi coi ngôi nhà mới của anh. Em không đi uống trà nữa đâu.
Nàng uống một chai Coca rồi họ lại lên xe tiếp tục đi khoảng mười lăm cây số nữa dưới ánh nắng gay gắt. Xe chạy xuống một vùng đất thấp ở bờ biển và đây chính là nơi đang xây cất căn nhà của Stahr.
Những đợt sóng thi nhau đánh vào các ghềnh đá, nước bắn lên tung tỏa cả chỗ xe đậu. Máy trộn hồ, gỗ, đá còn để ngổn ngang cả, trông giống như một vết thương trong bức tranh vẽ cảnh bờ biển. Hai người đi dọc theo hàng rào cao bao bọc xung quanh ngôi nhà.
Nàng nhìn những ngọn đồi cằn cỗi ở phía sau, và có vẻ thất vọng vì ánh nắng chói chang, gay gắt. Stahr nhìn theo nàng và lên tiếng :
- Em đừng tìm kiếm những cái mà ở đây không có. Em cứ tưởng tượng như mình đang đứng trước một quả cầu có vẽ bản đồ. Hồi còn nhỏ anh luôn ao ước có một quả cầu như thế.
- Để anh có cảm tưởng rằng trái đất đang quay phải không? - Nàng hỏi Stahr sau một phút suy nghĩ.
Stahr gật đầu :
- Đúng. Và lúc nào cũng có cảm tưởng chỗ mình đang đứng sắp trở thành ban đêm hoặc ban ngày.
Hai người đi dưới những giàn cây còn bắc xung quanh tường. Phòng khách chính đã được trang bị đầy đủ với cả những kệ sách xung quanh, màn ảnh và giá đặt máy chiếu phim. Cửa phía sau phòng khách trông ra khu đất vừa mới được trồng cỏ. Ở đó nàng lấy làm ngạc nhiên thấy có kê hai bàn pinh-pông và nhiều chiếc ghế bọc da. Stahr giải thích :
- Tuần trước anh có tổ chức một bữa cơm trưa ở đây, mặc dầu nhà chưa làm xong. Cỏ với mấy thứ đồ đó mới được đưa tới cả.
- Cỏ thiệt hả anh. - Nàng vừa hỏi vừa cười.
- Thiệt chứ.
Phía xa khỏi bồn cỏ là địa điểm đang đào để làm hồ tắm, hiện thời thì các loại chim biển tới ngự trị, chúng bay túa lên khi thấy hai người tới. Nàng hỏi :
- Anh tính sống ở đây một mình, không bóng dáng đàn bà thiệt sao?
- Có thể. Anh là người ưa phát họa chương trình, nhưng hiện thời thì chưa có dự tính gì. Có lẽ đây là nơi thích hợp để đọc chuyện phim. Còn ngoài ra, phim trường mới thiệt là nhà anh.
- Em nghe nói những người làm ăn thường sống như vậy.
Stahr chợt nhận thấy giọng nói của nàng có vẻ lên mặt dạy đời :
- Người ta sanh ra mỗi người đều có số mệnh khác nhau. Nhiều người cứ bảo anh phải làm gì kẻo rồi ít nữa sẽ trơ trọi một mình trong tuổi già khi không thể làm việc được nữa. Nhưng anh nghĩ vấn đề đâu có đơn giản như vậy.
Một trận gió nổi lên. Họ cảm thấy đã tới lúc nên quay trở về. Vô tình, Stahr móc chìa khóa xe ở túi quần ra cầm quay quay trong tay. Chợt hai người người nghe tiếng chuông điện thoại vang lên từ đâu đó. Không phải ở trong nhà mà có lẽ từ ngoài sân cỏ. Hai người chạy ra vườn, nhớn nhác tìm kiếm giống như hai đứa trẻ chơi trò ẩn núp. Cuối cùng họ tìm thấy máy điện thoại ở trong một cái hộc nhỏ, gắn sâu vào tường cạnh sân ten-nít. Tiếng chuông reo đứt đoạn tự nhiên gây cho họ một cảm giác ngờ vực. Stahr tỏ vẻ lưỡng lự :
- Hay là kệ cho nó reo, đừng trả lời.
- Em không làm vậy trừ khi em biết người ở đầu dây bên kia là ai.
- Một là điện thoại của người khác, hai là họ đoán bậy mình ở đây. - Nói xong Stahr nhắc máy lên.
- Alô... Từ xa gọi tới, vâng, ở đâu? Vâng, tôi là Stahr đang nghe đây.
Nét mặt Stahr thay đổi một cách rõ rệt. Chàng có vẻ xúc động lắm. Đã lâu lắm, hàng chục năm nay, bây giờ mới có một lần chàng để lộ cảm xúc ra ngoài mặt như vậy và nàng là người may mắn được trông thấy. Không phải Stahr không muốn để lộ cảm xúc của mình, nhưng chàng thấy những lúc như thế có vẻ trẻ con quá. Chàng quay ra nói vội với nàng :
- Tổng thống.
- Ông chủ công ty của anh hay sao?
- Không. Tổng thống Hoa Kỳ.
Thấy nàng đang để ý nhận xét mình, Stahr cố làm ra vẻ tự nhiên, coi thường, nhưng giọng nói của chàng vẫn hơi run :
- Được rồi, tôi sẽ giữ máy chờ đây.
Sau khi trả lời trong điện thoại, chàng quay ra nói với nàng :
- Trước đây anh đã có nói chuyện với ông ta.
Nàng chăm chú theo dõi. Stahr mỉm cười và nháy mắt với nàng để tỏ ra trong lúc quan trọng bận rộn nhất chàng cũng vẫn không quên nàng.
Stahr nói vào máy :
- Alô!
Chàng lắng nghe một lát, rồi lại lên tiếng :
- Alô!
Chàng hơi nhăn mặt, nhưng vẫn nói với giọng lịch sự :
- Xin Ngài vui lòng nói lớn một chút.
Sau đó Stahr hỏi nhanh :
- Ai? Sao?
Nàng nhận rõ những nét bực tức hiện ra trên mặt chàng, Stahr lên tiếng :
- Tôi không muốn nói với hắn. Không!
Rồi chàng quay qua nói với nàng :
- Chuyện quái đảng ngoài sức tưởng tượng, một người rừng muốn nói chuyện với anh.
Stahr nghe người ở đầu dây kia giải thích một hồi, rồi chàng nhắc lại :
- Thôi đi, Lew à. Ai mà biết nói gì với người rừng bây giờ?
Chàng dùng ngón tay làm hiệu, ngoắc Kathleen lại gần, để ống nghe vào gần tai cho nàng nghe thấy những tiếng thở hổn hển và gầm gừ. Người ở đầu dây bên kia lên tiếng :
- Stahr à, đây là người rừng thiệt chớ không phải giả đâu. Hắn giống hệt với người rừng mà ông McKinley đã tìm ra vậy đó. Ông Horace Wiekersham hiện có mặt ở đây và ông ta có cả cuốn phim của người rừng của McKinley để mình nhận xét...
Stahr có vẻ sốt ruột :
- Hồi xưa mình cũng đã cho một con đười ươi đóng phim và... Gilbert đã bị nó cắn mất một mảng thịt... Thôi, được rồi, anh để cho hắn nói thử coi.
Sau đó Stahr lấy giọng chậm rãi như khi nói với một đứa trẻ :
- Alô, ông người rừng có nghe tôi nói không?
Chàng biến đổi sắc mặt và quay qua nói với Kathleen :
- Nó nói “Alô” em ạ.
- Anh thử hỏi tên là gì xem nó nói sao.
- Alô, người rừng! Trời đất quỷ thần, gì vậy? Anh có biết tên anh là gì không?... Hình như nó không biết... Này, Lew đấy à? Thôi đi nhá, chúng ta không sản xuất loại phim Kinh-Kong đâu. Không, trong phim Đười ươi tóc dài mình cũng không cần đến người rừng... Không. Không có nói gì đến vần đề đười ươi hay người rừng trong đó cả... đó chỉ là đặt cái tựa vậy mà... Đười ươi ở đây là tên đặt cho một nhà trinh thám đó. Ừ,... ừ. Thôi, cúp nghe.
Stahr đã bực bội với Lew, vì lúc trước chàng lầm tưởng đó là điện thoại Tổng thống kêu tới. Nghĩ lại thái độ và cử chỉ của mình Stahr cảm thấy ngượng với Kathleen.
Nhưng ngược lại, tuy ái ngại cho chàng, nhưng nhờ đó nàng cảm thấy mến Stahr hơn và tỏ vẻ vui thích vì chuyện người rừng vừa rồi.
* * * * *
Hai người ra về lúc xế trưa. Họ lái xe dọc theo bờ biển với mặt trời đuổi theo ở phía sau. Nhìn lại bóng dáng căn nhà xa xa, họ cảm thấy nó có vẻ dễ thương hơn trước. Ngôi nhà hình như đã được sưởi ấm nhờ cuộc thăm viếng vừa rồi. Ánh nắng gay gắt trở nên dễ chịu hơn, khi họ biết rằng mình không nhất thiết bị giam hãm ở đây như trường hợp những người bị cô lập trên cung trăng. Từ một khúc quanh ở bờ biển, hai người nhìn về phía chân trời ở đàng sau ngôi nhà chưa có hình thù nào nhất định. Những áng mây màu hồng khiến căn nhà thân mật lạ lùng với một tương lai đầy hứa hẹn.
Xe chạy qua bãi tắm Malibu, hai người cảm thấy họ đang đi trở về gần với xã hội văn minh hơn khi nhìn những chiếc thuyền đánh cá, những dãy xe hơi đậu ngổn ngang trên các sườn đồi gần bãi biển, trông chẳng khác nào những con kiếng đang bò. Mặt biển nhấp nhô hàng ngàng chiếc đầu đen rải rác khắp nơi.
Càng ngày những vật dụng của khách tắm biển càng hiện ra nhiều hơn. Nào là dù, nệm, khăn lông, giỏ quần áo, lò nấu ăn... Thôi thì đủ thứ xiềng xích con người tạm thời tháo bỏ ngổn ngang trên bãi cát. Người ta tới đây lặn hụp, nhúng chân, tay vào những bồn nước thiên nhiên của trái đất này, những mong gọt bỏ được phần nào đớn đau cuộc thế. Riêng Stahr, đã từ lâu chàng cảm thấy biển không còn phải của mình, và chàng cũng quên không còn biết xử dụng làm sao nữa.
Stahr cho xe chạy vào một con đường quẹo lên sườn đồi, bỏ lại lũ người ngổn ngang ở bãi biển. Từ đây bắt đầu là ngoại ô thành phò. Chàng ngừng xe đổ thêm xăng. Đứng tựa vào sườn xe, Stahr có vẻ hơi bồn chồn :
- Chúng ta đi kiếm cơm ăn thôi chứ?
- Cứ việc theo chương trình của anh.
- Không, chiều nay anh chẳng có việc gì làm và cũng không biết đi đâu.
Chàng nói vậy và biết rằng nàng cũng không hơn gì mình. Quả nhiên nàng đồng ý ngay :
- Anh có muốn ăn cơm trong tiệm tạp hóa phía bên kia đường không?
- Em thích vậy sao?
- Em thích như vậy, vì trong đó có một vẻ thâm u, lạ lùng đặc biệt.
Họ đưa nhau vào tiệm tạp hóa có bán đồ ăn, ngồi lên hai chiếc đôn cao ở một quầy ăn trong góc tiệm, kêu thức ăn. Hai người ăn ngon lành trong bầu không khí thân mật, và kể từ giờ phút này họ cảm thấy sợ sự cô đơn. Họ cùng ngửi thấy đủ thứ mùi vị của các thứ hàng trong tiệm, và nhận thấy ở cô bồi bàn hình như có một không khí bí mật bao quanh với bộ tóc nhuộm đen đã bạc màu. Lúc họ đứng lên thì trong dĩa của mỗi người chỉ còn sót lại có vài lát khoai chiên.
Bên ngoài trời đã bắt đầu tối. Lúc này có mỉm cười chắc chàng cũng chả trông thấy được. Nàng lên tiếng :
- Cảm ơn anh nhiều, hôm nay em được hưởng một cuộc đi chơi thiệt là vui.
Gần tới nhà nàng, xe bắt đầu lên dốc, tiếng động cơ kêu lớn hơn, ánh sáng của những căn nhà trệt bắt đầu hiện ra. Màu sắc và âm thanh đó như báo cho hai người biết đã tới lúc chia tay, cuộc vui hầu tàn. Stahr bật đèn xe và cảm thấy hơi đau ở bao tử. Bỗng nhiên chàng buột miệng :
- Hay chúng ta đi ra bãi nữa đi.
Nàng nói nhanh như thể đã đoán trước được ý định của chàng :
- Thôi anh à. Em sẽ viết cho anh một lá thơ để nói rõ hơn về trường hợp của em. Anh làm việc vất vả quá, cần nghỉ ngơi đôi chút, và nên lập gia đình trở lại. Dù sao cảm tình của em đối với anh vẫn nguyên vẹn như hôm nay.
Chàng phản đối :
- Thôi, anh xin em, đừng nói những chuyện đó. Hôm nay chúng ta hãy sống trọn vẹn cho nhau và chỉ biết có hai đứa mình. Anh muốn được gần em để nói về chuyện của chúng mình nhiều hơn.
Nhưng nếu muốn được gần nhau nữa thì nhất định chàng phải vào phòng của nàng, vì xe đã gần tới trước cửa nhà và nàng đang lắc đầu lia lịa.
- Em có việc phải đi bây giờ. Em đã quên không nói cho anh hay trước.
- Anh biết em không đi đâu hết. Nhưng thôi, chả sao.
Chàng đi theo nàng tới trước bậc cửa, đứng ngay ở chỗ vết chân mà chàng đã đứng trong đêm trước, trong khi nàng mò tay trong ví tìm chìa khóa cửa.
- Thấy chưa em?
- Đây rồi.
Nàng đã bước vào trong nhưng còn đứng lại ở cửa nhìn lại chàng. Nàng nghiêng hẳn đầu ra ngoài, ngó bên phải, bên trái cố nhìn rõ mặt chàng trong đêm tối. Thình lình chàng nắm lấy bàn tay nàng kéo lên miệng đặt vào đó một cái hôn. Rồi chàng ôm lấy vai nàng và kéo vào đêm tối. Cằm chàng rà nhẹ trên má nàng. Nàng sẽ kêu “Ơ”, nhưng rồi nàng nhắm mắt lại, để mặc cho những cảm giác diễn tiến. Bàn tay nàng nắm chặt chiếc chìa khóa đang cầm. Nàng lại kêu lên se sẽ: “Ơ”, rồi đột nhiên khoảng cách đêm tối giữa chàng và nàng tự nhiên biến mất. Nàng cảm thấy mình vừa hòa tan vào một thế giới khác.
Lúc hai người đã rời nhau, nàng sẽ lắc đầu không phải để phủ nhận cảm giác vừa qua, nhưng hình như nàng lấy làm ngạc nhiên. Tình cảm của nàng luôn luôn như vậy, sự việc xảy ra là do chính hành động của nàng tạo nên, nhưng rồi nàng lại muốn lìa xa tình cảm đó: một việc làm còn nặng nề và khó khăn hơn gắp bội. Nàng không thể trách chàng, vì người đàn ông bao giờ cũng đầy thèm muốn, và chính nàng đã bằng lòng. Nàng đã chỉ chiều theo ý của chàng, tuy nhiên nàng cảm thấy mình không có quyền dự phần vào sự thèm muốn đó. Lần này nàng đã thất bại, nhưng sau này liệu sẽ còn bao nhiêu lần thất bại khác nữa. Nếu bây giờ nàng đi vào đóng cửa lại cũng chưa hẳn là một sự chiến thắng. Nhưng đó chỉ là một sự trở về với con số không nàng không có gì hết.
Nàng nói sẽ :
- Em thiệt không muốn có chuyện như vậy. Em không bao giờ có ý như thế.
- Cho anh vào chứ?
- Í, không, không anh à!
- Vậy thì ra xe, chúng ta đi nữa.
Nàng cảm thấy như người sắp chết đuối vớt được phao. Nàng đồng ý ngay, nàng muốn chạy trốn khỏi nơi đây, và có cảm tưởng sự trốn chạy này là giai đoạn chót của cuộc phiêu lưu. Nàng lờ mờ cảm thấy như thế, và muốn đi ngay như tội nhân rời khỏi phim trường. Lúc xe bắt đầu chạy, hai người cảm thấy những cơn gió mát vuốt ve bên má và dần dần trở nên tỉnh táo. Bây giờ nàng đã phân biệt được đen, trắng rõ ràng. Nàng lên tiếng trước :
- Em muốn trở lại căn nhà ngoài bãi biển.
- Tới đó sao?
- Vâng. Lúc này em chỉ muốn ngồi trên xe đi đâu cũng được.
* * * * *
Lúc hai người trở lại bãi tắm Santa Monica bầu trời đã tối sẫm, một cơn mưa nhẹ hạt kéo tới. Stahr ngừng xe bên đường, kéo mui lên và bảo Kathleen: “Bây giờ thì nhà có mái rồi em nhé”.
Hai cây gạt nước quay đều đều như chiếc đồng hồ quả lắc. Nhiều xe ướt đẫm lũ lượt từ bãi biển chạy ngược trở về thành phố. Đi một quãng nữa, chàng lọt vào vùng sương mù. Không còn trông thấy lề đường đâu nữa. Đèn pha của những chiếc xe ngược chiều trông như thể những ngọn đèn để yên một chỗ, cho tới khi chúng lóe sáng lên vụt qua xe mình mới hết.
Hai người cảm thấy nhẹ nhõm. Hình như họ đã trút bớt gánh nặng lại phía sau. Vài cơn gió lạnh lọt qua khe kính vào trong xe mát rượi. Kathleen âm thầm bỏ nón ra để ở băng sau và chậm rãi làm gọn lại mái tóc. Stahr chăm chú theo dõi cử chỉ của nàng và khi bắt gặp, nàng chỉ mỉm cười.
Nhà hàng có con hải cẩu tinh khôn chỉ còn lờ mờ một ít ánh sáng ở phía trước. Stahr quay bớt kính xuống, ngó ra ngoài để nhìn đường. Một lúc sau, xe ra khỏi vùng sương mù, con đường dẫn tới ngôi nhà chàng hiện ra rõ dưới ánh trăng nhạt. Ngoài mặt biển vẫn còn những chấm sáng.
Trời tối, căn nhà trông như có vẻ nhỏ lại. Ánh đèn mờ mờ ở cổng hiện ra. Hai người lom khom đi qua những chướng ngại gỗ, đá ngổn ngang vào tới trong nhà. Họ vào căn phòng độc nhất vừa làm xong hãy còn đầy mùi mạt cưa, gỗ mới khắp nơi. Stahr ôm nàng trong tay, mặt hai người gần kề và họ nhìn thấy rõ hai con mắt của nhau trong bóng tối lờ mờ. Nàng chợt nói sẽ :
- Chờ một chút nữa anh.
Tại sao nàng lại cần một phút chờ đợi như thế? Để nàng suy nghĩ lại những việc đã qua và hoàn cảnh hiện tại. Suy nghĩ để làm gì nàng cũng không biết, nhưng chắc chắn một phút đó không thể khiến nàng đủ sức ngừng lại ở đây được. Chiếc áo mưa của Stahr đã tụt xuống sàn nhà, và nàng thấy chàng hơi run run.
Ngay lúc đó nàng cảm thấy cánh tay chàng đang ôm nàng nới lỏng ra. Nàng vội vàng nói những lời khuyến khích và kéo ghì đầu chàng xuống ngực mình, hai đầu gối nàng sẽ chuyển động để trút bỏ một cái gì đó, nàng vẫn đứng, một tay ôm chàng và đá vật đó ra gần chiếc áo mưa. Lúc này Stahr không còn run nữa, chàng ôm nàng, rồi họ cùng quỳ xuống và lăn lộn trên chiếc áo mưa.
* * * * *
Sau đó họ cùng nằm im lặng, không ai nói gì. Chàng cảm thấy tự nhiên thương mến nàng vô tả, và ôm ghì nàng thật chặt đến nỗi một chiếc nút áo bị đứt bung ra. Tiềng kêu của chiếc nút áo bị đứt đưa họ trở về với thực tại. Chàng nắm tay nàng :
- Để anh đỡ em dậy.
- Không. Kệ em.
Nàng nằm trong đêm tối với đầu óc vơ vẩn, mơ hồ, tưởng rằng chàng là một kẻ xuất sắc không bao giờ thấm mệt, nhưng sau cùng rồi nàng cũng để cho chàng dìu lên... Khi nàng trở lại, căn phòng đã được bật sáng bởi một bóng đèn duy nhất giấu trong tường. Chàng nói :
- Đây là hệ thống ánh sáng một bóng đèn. Anh tắt đi nhé.
- Không, em thích để vậy, em muốn nhìn rõ anh.
Hai người ngồi trên một băng ghế dài gần cửa sổ với đế giày của mỗi người chạm vào nhau. Nàng lên tiếng :
- Trông anh có vẻ suy tư.
- Em cũng vậy.
- Anh lấy làm lạ lắm sao?
- Chuyện gì?
- Chuyện chúng mình vừa rồi. Có bao giờ anh nghĩ hay muốn rằng mình là một, nhưng rồi cuối cùng vẫn là hai.
- Anh thấy mình rất gần gũi nhau.
- Em cũng vậy.
- Cám ơn em.
- Cám ơn anh.
Rồi cả hai cùng cườí.
- Có phải đêm rồi anh cũng muốn vậy không?
- Anh không rõ lắm.
- Em không biết tới bao giờ đàn ông mới thoát được chuyện đó. Có lúc thì họ dửng dưng. Có lúc thì làm như chết đến nơi nếu không có chuyện đó.
Đó là một cái vòng lẩn quẩn và chàng cảm thấy mến nàng hơn vì những nhận xét tế nhị của nàng. Đuổi bắt để nhận diện lại quá khứ chính là điều sở thích say mê của chàng.
Nàng lên tiếng nối theo ý tưởng của chàng :
- Em ở tệ với Edna quá.
- Nàng là ai?
- Đó chính là người mà anh đã lầm với em. Anh đã điện thoại cho cô ta. Cô ta ở bên kia đường, trước cửa nhà em. Bây giờ thì chị ấy dọn đi Sancta rồi.
- Bộ cô ta làm đó hay sao mà dọn tới khu đó?
- Cũng gần như vậy.
- Kỳ thiệt.
- Chị ấy có đời sống bình thường y như những người khác. Em đâu có biết chị ấy làm nghề đó. Mãi tới lúc dọn đi chị ấy mới cho em hay.
Chàng thấy nàng rùng mình và vội vàng lấy chiếc áo măng-tô khoác lên vai nàng, rồi mở tủ lôi ra một đống nệm và gối. Có cả một hộp nến trong tủ. Chàng thắp nến để chung quanh và cắm lò sưởi điện.
- Tại sao Edna lại có vẻ sợ anh?
- Vì anh là một ông chủ hãng. Chắc nàng hay bạn của nàng đã từng gặp những chuyện ghê gớm với mấy ông chủ hãng như anh. Tội nghiệp!
- Tại sao em lại quen nàng ta?
- Cô ấy sang nhà em chơi. Chắc cô ta tưởng rằng em cũng thuộc loại lang bang. Cô ta cố làm quen với em, lâu rồi hai đứa thành bạn với nhau.
Nàng đứng lên để chàng trải nệm lên chiếc băng :
- Em vô dụng quá. Còn gì sửa soạn nữa không anh?
- Có gì đâu, em cứ ngồi yên đi cho ấm một chút.
Stahr quàng tay ôm ngang lưng nàng. Họ ngồi im lặng một lát rồi nàng tên tiếng :
- Edna đã cho em biết vì sao lúc đầu anh đi kiếm em.
- Cô ta nói gì với em?
- Cô ấy bảo tại vì em giống Minna. Có nhiều người cũng đã từng nói với em như vậy.
Chàng nghiêng người khỏi nàng và gật đầu. Nàng cầm bàn tay chàng để lên má nàng :
- Có phải em giống nàng ở chỗ này không, đây nữa phải không?
- Đúng. Thiệt là kỳ lạ, em trông giống nàng còn hơn cả chính hình ảnh của nàng trên màn ảnh nữa.
Nàng đứng lên, nói sang chuyện khác và làm một cử động như thể nàng vừa cảm thấy sợ sệt điều gì. Nàng tiến tới mở tủ, đứng lúi húi một lát và khi quay ra nàng mặc một chiếc yếm làm bếp nhỏ. Nàng nhìn quanh phòng một lát và phê bình :
- Chúng mình mới dọn tới, dĩ nhiên nó phải bừa bộn.
Rồi nàng mở cửa đi ra hành lang, đem vào hai chiếc ghế, lấy khăn lau khô. Chàng chăm chú theo dõi từng cử chỉ của nàng và sợ rằng thình lình nàng có thể tan biến đi mất. Chàng đã nhìn nhiều thiếu nữ trong các phim trắc nghiệm tuyển chọn tài tử, và thấy rằng sắc đẹp của họ mỗi lúc một biến mất đi lần lần, và cuối cùng chỉ còn là những cử động nghèo nàn giống rhư một pho tượng biết đi với cử chỉ máy móc của một hình nhân múa rối làm bằng giấy. Ở Kathleen, chàng nhận thấy những nét mềm mại tự nhiên, nhưng sự mềm mại đó lại hầu như một ảo giác rất dễ dàng tan biến. Nàng lên tiếng khiến tư tưởng Stahr bị cắt ngang :
- Hết mưa rồi anh à. Hôm em mới tới, trời mưa một trận kinh khủng, tiếng nước đổ xuống nghe như tiếng vó câu của hàng ngàn con ngựa đang chạy.
Chàng cười :
- Rồi em sẽ thấy thích những trận mưa như thế, nhất là khi em có ý định ở lại đây. Sao, em có tính ở lại không? Bây giờ nói cho anh nghe được chưa, gì mà có vẻ bí mật quá?
Nàng lắc đầu :
- Chưa phải lúc, mà cũng không có gì đáng nói.
- Không thì lại đây với anh vậy.
Nàng đi lại đứng gần chàng. Stahr cọ má vào chiếc yếm làm bếp của nàng và cảm thấy những sợi vải mềm mại.
- Anh không được khỏe lắm.
- Khỏe về chuyện này hả?
Nàng nói nhanh :
- Không phải vậy. Ý em muốn nói là anh làm việc nhiều quá.
- Đừng giở giọng mẹ con.
- Thôi, em hổng thèm nói nữa. Vậy anh muốn em làm gì bây giờ?
Stahr nghĩ thầm: anh muốn em là một cô gái chịu chơi. Nhiều lúc chàng chỉ muốn cho cuộc đời trở nên tan vỡ hết. Nếu quả thực là chàng sắp chết như lời của hai ông bác sĩ đã nói, thì trước khi chết một thời gian chàng muốn rằng mình không phải là ông Stahr tỷ phú, giàu có nữa. Nhưng chàng muốn trở thành một thanh niên thuộc loại nghèo mà ham, lang thang theo đuổi những mối tình tuyệt vọng, những bóng dáng giai nhân, nhưng không có gì để tặng cho người đẹp cả. Phải, chàng đã chán cảnh giàu có, và chỉ muốn trở thành một thiếu niên vô danh đi lang thang trên đường phố tối.
Kathleen sẽ lên tiếng :
- Anh cởi dùm em cái yếm làm bếp ra với.
- À.
- Liệu còn ai đi ngoài bãi không anh. Em muốn đem nến ra cắm ở bên ngoài.
- Thôi, đừng em.
* * * * *
Nàng nằm nghiêng người trên mặt nệm trắng nhìn chàng :
- Em có cảm tưởng như mình là thần Vệ Nữ.
- Tại sao em nghĩ vậy?
- Anh thử nhìn em coi, không giống là gì?
- Ừ, em cho là giống thì nó giống.
- Có nhiều lúc em cảm thấy thiệt sung sướng, và thấy anh thiệt dễ thương.
- Em có vẻ biết nhiều chuyện.
- Anh nói sao em không hiểu.
- Qua cử chỉ và ngôn ngữ của em, anh thấy em là người hiểu biết nhiều.
- Nếu nói về học vấn thì chưa bao giờ em đặt chân tới trường Đại học. Nhưng người đàn ông mà em đã có nói với anh, hắn có ý định giáo dục em. Hắn bắt em đọc đủ mọi loại sách, kể cả các sách về triết học và hội họa. Em nghĩ rằng có lẽ hắn giữ em ở lại là vì muốn giáo dục em.
- Em đã đọc những tác giả nào?
- Em chẳng nhớ quái gì. Bây giờ thì em quên hết và sau này chắc chả bao giờ em gặp ai như hắn nữa.
Suhr có vẻ cảm động :
- Em nên cố nhớ, không được quên, vì học vấn là điều đáng quý.
- Em đâu còn phải là học sinh.
- Em có thể nhớ để dạy lại cho con cái sau này.
- Thiệt sao?
- Đúng vậy. Vì còn nhỏ không được học, nên bây giờ muốn biết điều gì anh cứ phải chạy đi hỏi lung tung. Anh hay hỏi những nhà văn, nhà thơ say sưa, vì họ không bao giờ tiếc lời nói cả.
- Được, em sẽ cố nhớ để dạy cho con. Nhưng nhiều lắm, làm sao nhớ hết. Mình càng học càng thấy nhiều chuyện khác chưa biết. Đúng là càng học càng thấy dốt. Nếu hắn mà không điên điên, khùng khùng thì có lẽ hắn cũng làm được nhiều việc lắm.
- À, vâng, em đã yêu với tất cả sự bồng bột.
Nàng mơ màng nhìn qua cửa sổ và tiếp :
- Này anh, ngoài bãi có ánh đèn, chúng ta thử ra xem.
Chàng nhảy vội xuống đất :
- Hả, có lẽ cá găm xuất hiện.
- Cái gì anh?
- Hồi chiều anh thấy các báo có loan tin tối nay cá găm xuất hiện mà.
Chàng chạy vội ra ngoài xe. Nàng nghe tiếng mở cửa xe và sau đó chàng trở vào với tờ báo trên tay :
- Mười giờ mười sáu phút. Tức là còn năm phút nữa.
- Nguyệt thực hay là gì vậy anh?
- Không, giờ cá xuất hiện ở bãi. Em bỏ giày, vớ ra đi với anh.
Ngoài bãi bầu trời trong xanh dưới trăng sáng. Thủy triều bắt đầu dâng. Hàng đàn cá găm đông đảo chờ sẵn ngoài khơi. Đúng mười giờ mười sáu phút, chúng theo nước dâng, tràn vào bãi biển phơi mình trắng xóa trên bãi cát, bơi lượn xung quanh chân người. Chúng bơi từng hai con, ba con một hay có khi từng đàn cả chục con. Một người da đen hăm hở nhặt từng con bỏ vào hai chiếc sọt lớn. Anh ta lượm mỏi tay, chẳng mấy lúc đã đầy sọt. Anh ta cười với Stahr :
- Giá có vài sọt nữa cũng chứa không hết.
- Cá này anh đem đi bán ở đâu?
- Đem lên Malibu. Nhưng hình như những người làm điện ảnh không thích ăn cá mấy.
- Đi xa quá như vậy mà bán được bao nhiêu tiền, có bỏ công không?
- Nhân tiện tôi đi chơi luôn và mua mấy tờ báo về đọc. Tuy sống bằng cá, nhưng tôi chỉ có một cái thú là đọc báo.
Những lượn sóng bắt đầu vỗ vào bãi và kéo theo cá ra khơi, để lại bãi cát vàng trơ trọi như trước. Anh da đen hỏi Stahr :
- Ông làm gì?
- Điện ảnh.
- Ồ, tôi chưa bước chân vào rạp chiếu bóng bao giờ.
- Tại sao vậy?
- Tôi thấy nó chẳng ích lợi gì. Tôi cấm luôn cả mấy đứa nhỏ không cho đi coi xi-nê bao giờ.
Stahr nhìn anh ta, và Kathleen nhìn Stahr. Nàng nói :
- Cũng có phim hay chớ.
Một đợt sóng mạnh chạy vào bờ, nước bắn lên tung tóe khiến anh ta không nghe được câu nói của nàng. Nàng muốn thay đổi quan niệm của anh ta đối với điện ảnh, nên nhắc lại lần nữa, nhưng anh ta tỏ vẻ lãnh đạm. Stahr hỏi :
- Những người da đen khác có thích điện ảnh không?
- Họ chả hiểu những cuốn phim đó muốn nói cái gì. Mỗi tuần mỗi đổi phim khác, chẳng có một vấn đề gì nhất định, chắc chắn.
Có lẽ chỉ có những cá găm trắng phau kia là chắc chắn nhất. Đã nửa tiếng rồi, chúng vẫn còn tiếp tục tiến vào từ ngoài khơi. Gã da đen gánh hai thúng cá đầy lên khỏi bãi, tiến vào đường cái, không hề biết rằng quan niệm của anh ta có thể khiến kỹ nghệ điện ảnh phải lung lay.
Stahr và Kathleen cũng trở về. Nàng nghĩ không biết làm sao cho bớt lạnh. Gió lúc này đã thổi mạnh. Từng đợt sóng thi nhau đập vào bờ, bột trắng bắn tung tóe. Nàng lên tiếng :
- Tội nghiệp mấy anh cột nhà cháy, mấy ảnh chả biết điện ảnh là cái gì cả.
- Đừng trách họ. Họ có loại điện ảnh riêng của họ.
Về tới phòng, Kathleen đi giày vớ vào ngồi trước lò sưởi :
- Em cảm thấy thích California hơn. Có lẽ tính em hơi lang bang, không được nết na lắm.
- Không hẳn như vậy.
- Anh biết không như vậy?
- Gần em anh thấy vui.
Nàng thở dài một tiếng sẽ và đứng lên, rất sẽ nên Stahr không nghe thấy.
- Anh không thể để mất em. Dầu em nghĩ thế nào về anh. Nhưng chắc em cũng đã thấy tình anh đối với em như thế nào rồi...
Chàng ngừng lại một lát, hình như không chắc chẳn lắm về lời nói của mình :
- Em là người đàn bà đẹp say đắm, mà không biết đã từ bao giờ anh chưa từng gặp. Anh không thể không nhìn em suốt ngày. Đôi mắt em khiến cho cả thế giới này khi nhìn thấy phải thở dài...
Nàng vừa cười vừa kêu lớn :
- Thôi anh đi, cho em xin! Anh làm em về nhà có lẽ phải đứng trước gương soi cả tuần lễ xem thử mắt mình như thế nào. Đối với một cô gái ở nước Anh thì em kể là có hàm răng khá.
- Răng em rất đẹp.
- Nhưng so với các cô minh tinh điện ảnh ở Hollywood này thì em chưa đáng xách dép cho họ....
- Em không được nói vậy. Nhận xét của anh rất chính chắn.
Nàng đứng lặng thinh, nhìn mình, rồi nhìn chàng, rồi lại nhìn mình. Hình như nàng muốn nói điều gì nhưng lại thôi không nói nữa. Cuối cùng nàng thốt nhanh :
- Thôi, đi anh!
* * * * *
Họ lái xe trở lại con đường cũ. Ngày hôm nay như thể là bốn lần họ đi qua con đường này, và mỗi lần đều cảm thấy mình là một con người khác. Vui buồn, háo hức, tò mò, thèm muốn, tất cả hình như đã lùi vào quá khứ. Bây giờ là lúc trở về với con người thực của chính mình, với tất cả tương lai, dĩ vãng của mình và công việc ngày mai bày ra trước mắt. Chàng bảo nàng ngồi sát lại phía mình. Nàng làm theo, nhưng cũng không cảm thấy gần nhau hơn. Sự thân mật trước đây mấy tiếng đồng hồ không còn để lại dư âm gì cả. Mấy lần chàng đã định lên tiếng mời nàng về nhà ngủ với mình, nhưng lại thôi, vì sợ nàng biết mình là con người quá cô đơn. Lúc xe bắt đầu lên dốc chạy về hướng nhà nàng, Kathleen đưa tay lại phía sau rờ tìm một vật gì đó ở nệm xe.
- Em kiếm gì vậy?
- Có lẽ nó rớt ra ngoài rồi. - Nàng vừa trả lời vừa mò tìm trong xắc tay.
- Mà cái gì vậy em?
- Một bao thơ.
- Quan trọng không?
- Không.
Lúc tới nhà, Stahr bật đèn trong xe, và nàng lật cả nệm xe lên kiếm cũng không thấy. Nàng bảo Stahr :
- Thôi, không sao đâu anh. Chắc rớt ra ngoài xe mắt rồi. À, địa chỉ thực sự hiện tại của anh bây giờ là chỗ nào?
- Bel-air. Không có số nhà.
- Bel-air là ở đâu?
- Một khu đang mở mang gần Santa Monica. Nhưng mà em cứ kiếm anh ở phim trường tiện hơn.
- Vâng, được rồi. Thôi, em về, cảm ơn ông Stahr nhiều.
Chàng nhắc lại, một cách ngạc nhiên :
- Ông Stahr?
- Cám ơn anh, chúc anh ngon giấc đêm nay. Vậy được chưa?
Chàng cảm thấy như bị đẩy xa khỏi nàng thêm chút nữa.
- Tùy em.
Stahr cảm thấy không chịu được không khí ngăn cách giữa hai người. Chàng nhái theo điệu bộ nàng hay làm, nghiêng đầu bên này, bên kia nhìn nàng và nói không thành tiếng: “Em biết chuyện gì sẽ tới với anh không?” Nàng thở dài và để chàng ôm mình trong vòng tay, và trong giây lát cảm thấy mình hoàn toàn thuộc về chàng. Trước khi tình thế thay đổi, Stahr thì thầm lời tạm biệt bên tai nàng và quay trở ra xe.
Lái xe vòng trở xuống đồi, Stahr cảm thấy một bản họp tấu lạ lùng, mãnh liệt, chỗ sai, chỗ đúng nổi lên trong lòng lần đầu tiên. Chủ đề có lẽ đã hiện ra, nhưng nhạc sĩ mới bắt tay sáng tác nên chưa nhận thấy ngay. Hòa tấu khúc trong lòng chàng có thể lẫn lộn với tiếng còi xe đủ loại trên mặt lộ kia. Cũng có lúc lại thâm trầm như tiếng trống đổ đều trong đêm trăng. Chàng lắng nghe thứ âm nhạc vừa mới bắt đầu nổi lên đó, thứ nhạc chàng cảm thấy thích nhưng không hiểu nổi.
Bên cạnh những âm thanh là hình ảnh người da đen với hai thúng cá trắng phau cũng hiện lên. Có thể giờ này anh ta đang ngồi ở nhà đợi Stahr, hay chờ chàng trong phim trường. Anh ta đã bảo cấm không cho con cái đi xem chiếu bóng. Thực là một thành kiến sai lầm cần phải gột bỏ bằng cách này hay cách khác. Một phim, hai phim, nhiều phim, một thập niên điện ảnh sẽ phải phá bỏ được thành kiến đó. Từ lúc nghe anh ta nói, Stahr đã quyết định loại bỏ bốn phim trong chương trình sản xuất, trong đó có một cuốn vừa bắt đầu tbực hiện tuần này. Đó là những cuốn phim khó hiểu. Stahr suy nghĩ lại những lời nói của anh da đen và thấy chúng vô giá trị. Chàng lấy lại một phim trước đây đã quăng trả cho bọn chó sói Brady, Marcus và đồng bọn để tính chuyện khác. Quyết định làm lại cuốn phim này là vì người da đen.
Stahr vừa lái xe về tới nhà là đèn trước cửa đã bật sáng, và người Phi Luật Tân giúp việc cho chàng tới đem xe vào ga ra. Trong thư phòng, Stahr thấy tờ giấy ghi một dọc tên những người đã gọi điện thoại tới:
“La Borwitz
Marcus
Harlow
Reinmund
Reinmund
Fairbanks
Brady
Colman
Skouras
Fleishacker,” vân vân...
Người giúp việc Phi Luật Tân đem vào cho chàng một bao thơ :
- Thưa cậu cháu thấy nó rớt ra ngoài xe.
- Cảm ơn bác, tôi đang kiếm từ nãy tới giờ.
- Thưa, tối nay cậu có coi phim không ạ?
- Không, cảm ơn bác, bác cứ việc đi ngủ đi.
Stahr cầm bức thơ lên và ngạc nhiên nhận thấy đề gởi cho chính chàng. Chàng tính bóc ra coi, nhưng chợt nhớ lại nàng đã tìm kiếm bức thơ trên xe và có ý muốn thu hồi lại. Giá nhà nàng có điện thoại thì chàng có thể gọi tới để hỏi cho rõ trước khi đọc. Chàng cầm bức thơ trong tay, nó đã được viết lúc trước khi hai người đi chơi với nhau và chàng có thể cho rằng những điều nàng viết trong thơ hiện không còn giá trị nữa. Bức thơ lúc này chỉ còn là một kỷ vật đánh dấu những cảm tình của nàng đối với chàng trong một lúc nào đó.
Dù sao Stahr cũng không muốn đọc bức thơ trước khi chưa hỏi lại nàng. Chàng ngồi vào bàn trước một chồng chuyện phim và cầm tập trên cùng để xuống đùi. Chàng lấy làm hãnh diện vì đã tự chủ được mình; không xé bức thơ ra điều đó chứng tỏ đầu óc chàng luôn luôn sáng suốt. Với Minna trước kia cũng thế, chàng không bao giờ bị mất bình tĩnh, kể cả lúc mới gặp nhau trong một mối tình hết sức thơ mộng, vương giả. Tình nàng đối với chàng luôn luôn tha thiết cho tới lúc chết. Và điều xảy ra ngoài ý muốn, khiến chàng ngạc nhiên là lòng trìu mến đã đưa chàng tới chỗ yêu nàng và yêu luôn cả sự chết. Chàng cảm thấy nàng quá cô đơn trong cõi chết và muốn cùng đi với nàng tới nơi đó.
Nhưng nếu nói chuyện “mê dại vì gái” thì chưa bao giờ chàng bị mắc vào cái tật ấy cả. Chính đứa em của chàng mới là loại người dại gái, hắn đã bị hết bà này tới bà khác, rồi bà khác nữa làm cho tả tơi như chiếc mền rách. Nhưng Stahr thì không, ngay từ lúc còn trai trẻ mới lớn lên, chàng cũng chỉ yêu có một lần, chưa bao giờ đến bận thứ hai, giống như người chỉ uống thứ rượu có một lần rồi thôi. Trí óc chàng đổ dồn vào những cuộc phiêu lưu khác ích lại hơn là những phút mua vui qua cảm giác mạnh. Giống như những nhân vật xuất sắc khác, chàng học được tính lạnh lùng bình thản ghê gớm. Vào khoảng mười một mười hai tuổi, chàng đã biết từ chối không bao giờ chấp nhận những điều dối trá, lừa đảo, sai lầm, nhục nhã, những điều mà loại người như chàng thường xử dụng. Nhờ đó Stahr đã không trở thành một tên vô loại, nhưng chàng đã học được lòng nhân từ, vị tha, kiên nhẫn, cảm tình.
Bác người làm Phi Luật Tân đem tới cho chàng một khay trên có nước lọc, trái cây, hạt dẻ. Stahr lật mở tập chuyện phim đầu tiên và bắt đầu đọc. Chàng đọc luôn trong ba tiếng đồng hồ, thỉnh thoảng ngừng lại để sửa chữa. Thỉnh thoảng chàng ngừng đọc, nhìn lên, mỉm cười với những ý tưởng sung sướng mơ hồ không phải do chuyện phim tạo ra. Mỗi lần cảm thấy như thế chàng lại để một phút suy nghĩ tìm ra nguyên nhân. Và chàng biết rằng niềm hạnh phúc đó chính là do những ý nghĩ về Kathleen, và chàng lại nhìn lá thơ - có một cái thơ để trước mặt cũng thấy vui vui.
Đã ba giờ sáng, đường gân máu ở mu bàn tay chàng bắt đầu giật giật và chàng biết đã tới lúc nên đi nghỉ. Kathleen giờ này chắc đã chìm sâu trong giấc ngủ mệt mỏi, đôi khi nàng trằn trọc nghĩ tới một người lạ đã gây cho nàng những cảm giác mạnh, người đó không ai khác hơn là chàng, đã sống cạnh nàng trong ít giờ ngắn ngủi vừa qua. Stahr thầm nghĩ nên mở lá thơ ra xem thử coi nàng nói những gì.
* * * * *
“Anh Stahr mến,
Em viết thơ này nửa giờ trước khi tới nơi hẹn với anh. Khi nào chia tay, em sẽ trao thơ cho anh. Em muốn báo cho anh biết em sắp lập gia đình trong một ngày gần đây, và không thể tới thăm anh được nữa.
Đáng lẽ em phải cho anh biết từ đêm hôm qua, nhưng thái độ anh có vẻ bất cần và không muốn biết tới điều đó. Chiều nay trong cuộc đi chơi vui vẻ này, nếu em đem chuyện đó ra nói chắc sẽ làm anh mất vui, và em không muốn thế. Bây giờ thì anh phải nghe em nói sự thực, đằng nào cũng một lần. Em phải nói để anh thấy rằng em cũng chỉ là một cô gái tầm thường như những cô gái khác. Một con bạn tới thăm em tối hôm qua và nó bảo em như thế. Cô ta nói mọi người đều tầm thường cả, ngoài anh ra. Em nghĩ rằng cô ta đã nói như vậy, thì anh nên cho cô ta một việc làm nếu có thể được.
Em rất sung sướng nếu có được rất nhiều cô gái đẹp như vậy vây xung quanh... Em không muốn nói hết câu nhưng chắc anh cũng đã hiểu. Và có thể em sẽ gặp anh trễ, nếu em không thể đi ngay bây giờ.
Chúc anh mọi sự như ý
Kathleen Moore”

* * * * *
Cảm giác đầu tiên của Stahr sau khi đọc xong lá thơ hầu như là một sự sợ hãi, nhưng sau đó chàng tự nhủ lời lẽ trong thơ đã hết giá trị bởi vì chính nàng đã có ý định lấy lại. Nhưng sau đó chàng nghĩ lại hai tiếng “Ông Stahr” mà nàng đã thốt ra lúc chia tay, đồng thời nàng còn hỏi địa chỉ của chàng. Biết đâu giờ này nàng đã viết xong một lá thơ khác, cũng với những lời lẽ tương tự như bức thơ này. Chàng cảm thấy bực tức một cách phi lý khi không thấy nàng nói đến những chuyện xảy ra trong cuộc đi chơi vừa rồi. Chàng đọc lại lá thơ lần nữa, nhưng vẫn không tìm ra được sự giải đoán nào khác. Tuy nhiên, lúc chia tay trước cửa nhà, chàng nhận thấy nàng đã có thái độ dứt khoát rồi. Nàng đã cố tình làm như thế không hề có cuộc đi chơi với chàng vừa rồi, không hề có bóng dáng người đàn ông nào khác trong ý thức nàng. Nhưng lúc này chàng không thể tin như vậy. Hình ảnh tất cả cuộc phiêu lưu lúc chiều chợt hiện lên rõ rệt khi chàng hồi tưởng lại. Chiếc xe, ngọn đồi, cái nón nàng đội và ngay cả bức thơ nữa, bay lên tứ tung chẳng khác gì những mẩu giấy vụn trong đống xà bần trước cửa nhà. Và rồi, hình ảnh Kathleen ra đi với những cử chỉ quen thuộc của nàng như lúc nàng hơi nghiêng đầu nhìn vật gì, thân hình mạnh mẽ, rắn chắc và hai bàn chân trần của nàng nổi bật trên mặt cát mịn. Bầu trời xám bạc, mưa gió âm u chợt nổi lên cuốn sạch cả đàn cá trắng trên bãi. Chỉ có một ngày mà mọi cái đều đã biến mất hết, không còn gì, ngoài chồng chuyện phim trên bàn.
Chàng bỏ lên lầu, những bậc thang đầu tiên khiến chàng nhớ tới cái chết của Minna hiện về chập chờn, và chàng phải cố gắng quên đi một cách khổ sở. Từng bậc, từng bậc, chàng đi lên cho tới hết cầu thang. Sàn gác trống trải vây chung quanh, với những cánh cửa không người bên trong. Trong phòng chàng, Stahr lặng lẽ cởi bỏ cà vạt, giày, vớ. Lúc này mọi sự hầu như đã tắt hẳn, ngoại trừ một hình ảnh còn sót lại, đó là chiếc xe hơi của khách sạn. Stahr để đồng hồ báo thức mười giờ.
* * * *
Cecilia trở lại kể tiếp. Tôi thiết tưởng trong vấn đề này tôi nên quay trở lại nhận xét, mô tả chính những hành động của mình có lẽ là hay hơn cả. Những hành động của mình lúc này đã khiến tôi cảm thấy xấu hổ. Nhưng ai mà chả sượng sùng khi muốn kể lại những câu chuyện hay.
Hôm đó tôi nhờ Wylie tới bàn Martha Dodd, để hỏi thăm về lai lịch của cô gái lạ, nhưng anh ta chẳng biết thêm được gì cả. Đột nhiên tôi chú ý tới cô ta một cách ghê gớm trong suốt cả cuộc đời. Tôi đoán chừng - và không sai - thế nào Martha Dodd cũng phải biết về cô gái đó. Thực là chuyện vô lý nếu có người ngồi chung một bàn với mình được mọi người chiêm ngưỡng bái phục đến độ muốn trao vương miện cho, mà mình lại không biết đến tên tuổi của họ.
Tôi vừa mới quen biết Martha Dodd qua một vài câu chuyện, nên không tiện hỏi thẳng cô ta về người con gái đó. Nhưng sáng hôm sau là thứ Hai, tôi đã tới phim trường và đi kiếm Jane Meloney.
Jane Meloney là bạn từ lâu. Tôi thường nghĩ tới nàng giống như một đứa trẻ nghĩ đến những người thân thích trong gia đình. Nàng là soạn giả, nhưng tôi mới có quan niệm cho rằng soạn giả thì cũng chẳng hơn gì thơ ký. Có khác chăng là ở chỗ mấy nàng này thường hay léng phéng đến mấy tiệc trà và được mời đi ăn nhiều hơn. Ngoài ra, khi nói về họ người ta cũng thường coi như mấy cô thơ ký. Tuy nhiên có một số soạn giả kịch trường từ Miền Đông tới ở ít lâu rồi lại ra đi thì được mọi người kính trọng ra mặt. Nhưng nếu có người nào định ở lì không chịu ra đi, thì lần lần rồi cũng lại bị hạ xuống ngang hàng với giai cấp cổ trắng.
Phòng làm việc của Jane ở tòa nhà dành riêng cho bọn văn sĩ già. Họ ngồi làm việc từng hàng ổ mỗi khu vực khác nhau. Đó là bọn văn nhân già yếu nhưng còn gân guốc, bị bỏ sót lại từ những ngày xa xưa, nhưng hàng ngày vẫn còn cố rên lên khừ khự với cái giọng của những tên văn nô cô độc, những tên ăn mày không bị gậy. Người ta kể chuyện rằng một hôm có ông giám đốc mới tới, ông ta xuống thăm bọn này làm việc và sau đó lên hỏi ở văn phòng xem những người đó là ai. Văn phòng cho biết họ được coi như những soạn giả. Ông giám đốc nói :
- Tôi cũng nghĩ vậy, nhưng tôi đứng coi cả mười phút mà thấy hai người trong bọn không hề viết một hàng nào.
Jane đang ngồi trước máy chữ, lúc đó đã gần tới giờ nghỉ ăn cơm trưa. Tôi nói thẳng với nàng rằng tôi đang gặp phải một địch thủ lợi hại, một con thuộc loại ngựa đen mà ngay cả tên tuổi tôi cũng chưa biết. Jane nói :
- À, chuyện đó hình như chị có nghe ai đó nhắc tới.
Tôi biết thừa, ai đó chính là Ned Sollinger, cháu của Jane hiện là tùy phái trong văn phòng Stahr. Trước đây nàng gởi hắn lên Nữu Ước học ở trường thuốc. Nhưng sau khi bị một cô gái cho leo cây, hắn đã cắt bộ phận kín của một cái xác phụ nữ gởi cho cô gái và bỏ về đây làm lại cuộc đời bắt đầu từ nấc thang thấp nhất và hiện thời hắn cũng vẫn còn lẹt đẹt ở cái chân tùy phái đó. Tôi hỏi Jane :
- Chị nghe nói gì?
- Hình như đêm động đất nàng té xuống cái hố phía sau phim trường và bị chìm. Stahr đã nhảy xuống cứu nàng lên. Có người thì nói nàng đã nhảy khỏi ban công từ trên lầu xuống đất và bị gẫy tay.
- Nàng là ai?
- À, đấy lại là chuyện khác, cũng hay lắm.
Chuông điện thoại reo. Tôi nóng lòng chờ đợi trong khi nàng nói chuyện lòng thòng rất lâu với Joe Reinmund. Hắn ta hình như muốn tìm biết qua đường dây điện thoại xem nàng có thuộc hạng ngon lành không, hay là xem thử nàng đã từng viết chuyện phim nào bao giờ chưa. Nàng đã được nhắc nhở nhiều kể từ hôm nàng có mặt trên sân khấu trong lúc Griffith phát minh ra lối thu hình gần! Trong lúc nói chuyện thỉnh thoảng nàng lại rên lên se sẽ, vặn vẹo mình mẩy, nhăn mặt trước ống nói và áp ống nghe vào gần ve áo để tiếng nói chỉ phát ra một cách yếu ớt, đồng thời nàng vẫn nói chuyện với tôi :
- Sao, ngoài những buổi hẹn với em, ông ta còn đi ăn mảnh ở chỗ khác nữa à?... Ông ta hay hỏi chị mỗi câu hỏi như thế này đến hàng chục lần... Rồi, thế là xong bản dự thảo thời biểu làm việc chị phải gởi cho ông ấy...
Và nàng lại quay nói vào điện thoại :
- Không, nếu cái đó đưa tới Monroe thì không phải của tôi làm đâu. Tôi muốn đi cho tới cùng.
Nàng lại nhắm mắt lại và rên se sẽ :
- Rồi bây giờ ông ta lại tuyển lựa nữa... tuyển lựa luôn cả những vai phụ... Hắn chọn Buddy Ebson... Trời đất, ông ta muốn nói tới Donald Crisp... ông ta để cuốn sách chỉ dẫn tuyển lựa trên đùi, tôi có thể nghe cả tiếng lật sách soàn soạt... Sáng nay ông ta đóng vai nhân vật quan trọng, ông ta là một ông Stahr thứ hai... Ấy, lạy Chúa, tôi còn hai cảnh nữa phải viết trước khi đi ăn cơm trưa.
Sau cùng Reinmund cúp hay là bị ai ngắt ngang ở đầu dây bên kia chả biết. Người làm ở Câu lạc bộ đem cơm trưa tới cho Jane và đem cho tôi một chai Coca Cola, vì mùa hè đó tôi cữ không ăn cơm trưa. Jane đánh máy một câu trước khi ăn. Tôi rất chú ý tới cách viết của nàng. Một hôm tôi thấy nàng và một soạn giả trẻ khác lấy một câu chuyện trong tạp chí “The Saturday Evening Post”, thay đổi nhân vật và cốt chuyện đi rồi họ bắt đầu viết. Họ viết từng hàng một cứ dòng sau trả lời dòng trước giống như một người ráng hết sức mình để làm một việc gì cho có vẻ hay ho, hoặc ra vẻ can đảm, quý phái. Tôi muốn được thưởng thức câu chuyện đó trên màn ảnh, nhưng không thấy.
Tôi thấy nàng thật dễ thương, tựa như một món đồ chơi cũ kỹ rẻ tiền. Mỗi tuần nàng kiếm được ba ngàn đô-la, nhưng ông chồng nàng đã đem uống rượu sạch cả và còn đánh nàng chết lên, chết xuống. Ấy vậy mà bây giờ tôi phải bám vào nàng để có thể xoay quanh, chống lại tình địch. Tôi gạn hỏi :
- Chị không biết tên con nhỏ đó sao?
- À... phải rồi, ông ta có gọi điện thoại cho nàng, nhưng sau đó cho cô thơ ký Katy Doolan biết là bị lộn tên gì đó.
- Hình như ông ấy tìm ra rồi. Chị có quen Martha Dodd không?
- Có phải con nhỏ hay ồn ào, lắm chuyện đó không?
Giọng nói của nàng lên cao dần như người đóng kịch trên sân khấu.
- Chị mời cô ta đi ăn cơm với mình mai được không?
- Ồ, nó thiếu gì đồ ăn mà mình phải mời. Có một gã Mễ Tây Cơ...
Tôi phải giải thích với Jane rằng mình mời không phải thương gì cô ta, nhưng mình có mục đích khác. Nàng đồng ý và nhắc điện thoại gọi cho Martha Dodd.
* * * * *
Trưa hôm sau chúng tôi đi ăn ở tiệm Bev Brown Derby. Đó là một tiệm thưa khách với không khí trầm lặng, chậm chạp. Thực khách tới ăn ở đây có một số khách quen cố định, và trông người nào cũng hình như muốn ngủ cả. Vào buổi trưa, tiệm có vẻ bừng lên đôi chút. Mấy người đàn bà làm một màn trình diễn lâu vào khoảng năm phút đầu bữa ăn. Nhưng cả ba chúng tôi đều dửng dưng không chú ý tới. Tôi thì nóng lòng chỉ muốn hỏi ngay những điều tò mò cần biết. Marth Dodd là một cô gái ở đồng ruộng mới tới đây. Nàng chẳng hiểu gì cả và chỉ biết mở thiệt to đôi mắt nhìn mọi chuyện. Nàng vẫn cho rằng cuộc đời ở đồng ruộng mà nàng đã sống mới là cuộc sống thực sự, còn những ngày ở đây chẳng qua là một sự chờ đợi dài. Nàng nói :
- Vào năm 1928 nhà em có ba mươi mẫu đất, một sân rộng với phong cảnh tuyệt đẹp và cả hồ tắm nữa. Mùa xuân nào em cũng ở giữa rừng hoa cúc dại mọc cao tới đầu.
Tôi cắt đứt câu chuyện bằng cách bảo nàng tới gặp Ba. Đây là một hành động để chuộc lỗi với nàng, đồng thời che đậy sự dụng tâm lợi dụng khác của tôi. Ở Hollywood này không ai nhị tâm, quanh co như vậy, muốn gì cứ việc nói thẳng ra, bằng không thì rồi thiên hạ cũng biết và sẽ coi bạn chẳng còn ra gì. Sự vòng vo chỉ làm cho bạn mất thì giờ thấy rõ.
Chúng tôi chia tay với Jane ở cổng phim trường, nàng có vẻ nhờm chán cho sự hèn nhát của tôi. Martha thì như mở cờ trong bụng vì hy vọng sắp kiếm được việc làm, một hy vọng không lớn lắm vì đã bảy năm trời bị mọi chỗ từ chối, nhưng lúc này nàng âm thầm chấp nhận một sự nôn nóng trong hy vọng, và tôi sẽ hết sức nói với Ba. Họ không bao giờ thi ân cho những người đi kiếm một việc làm cố định như Martha, vì họ tiếc không muốn bỏ ra những số tiền lớn trong một lúc. Nhưng họ để cho người ta đi lang thang, sống lây lất với những số tiền nhỏ kiếm được nhờ làm những công việc lặt vặt. Như thế chẳng thà kiếm tàu chở họ ra khỏi thành phố lại còn có phần nhân đạo hơn. Riêng tôi trong vụ hè đó, Ba tôi đã rất hãnh diện đi khoe cùng khắp là tôi kiếm được đủ tiền mua các đồ nữ trang đắt tiền. Và Bennington, Chúa ơi, tội nghiệp, anh chàng quý phái. Tôi bảo đảm với anh ta rằng mình vẫn sống rất bình thường, mặc áo may-ô, ăn thịt gà thường lệ, và giấu biệt không hề nói tới những bộ quần áo xếch xy, diêm dúa. Tuy nhiên chính Ba đã lo cho anh ta tốt nghiệp đại học. Ông thường nói một cách sung sướng: “Con sẽ có đầy đủ mọi thứ hết”. Phải, tôi nghĩ thầm, trong những cái ông chuẩn bị cho tôi có cả hai năm theo học ở Florence tại một trường mà tôi phải cố gắng hết sức mới còn là người giữ được trinh duy nhất trong trường và cuộc tập sự tại Boston, Massachusetts. Tôi thực đã trở thành một bông hoa mắc tiền trong giới thượng lưu quý phái.
Vì vậy tôi chắc chắn thế nào Ba tôi cũng vì tôi mà làm một cái gì đó cho Martha Dodd, và chúng tôi mạnh dạn tiến vào văn phòng của ổng. Tôi lại còn có mộng lớn là kiếm việc làm cho cả chàng cao bồi Johnny Swanson nữa, rồi lại còn cả Evelyn Brent, và một số các bạn hữu khác. Ba là người rất có duyên, và nhiều thiện cảm, ngoại trừ một lần tôi gặp ông bất ngờ ở New York, lần đó có một cái gì khiến tôi có cảm tưởng ổng không đáng làm cha mình. Dù sao ổng cũng vẫn là ba của tôi, vì tôi ổng có thể làm bất cứ việc gì trên cõi đời này.
Trước khi vào phòng Ba tôi, chúng tôi đi qua phòng ngoài của hai cô thơ ký và nhận thấy chỉ có một mình Rosemary Schmiel đang nghe điện thoại ở bàn giấy của cô Birdy Peter. Rosemary ra hiệu khoát tay bảo chúng tôi ngồi chờ nhưng tôi đã có chủ kiến riêng và bảo Martha cứ việc đi theo tôi, rồi tôi ấn nút chuông ở phía dưới bàn giấy Rosemary và mở cửa phòng Ba tôi tiến vào. Rosemary gọi giật lại :
- Ba cô mắc đi họp... À, không họp, nhưng tôi cần phải...
Cô ta nói được đến đây thì tôi đã đi qua một phòng nhỏ ngăn cách giữa phòng thơ ký và văn phòng làm việc của Ba tôi; qua một lần cửa nữa và thấy Ba mồ hôi nhễ nhại, mặc có mỗi một chiếc áo sơ-mi trần, đang cố gắng mở một cánh cửa sổ. Hôm đó trời nóng, nhưng không đến nỗi nóng quá như vậy, và tôi tưởng rằng ông bị đau. Nhưng Ba tôi trả lời :
- Không, Ba không sao cả. Có chuyện gì vậy?
Tôi liền đem tất cả câu chuyện trình bày về trường hợp kiếm việc của Martha và những người cùng hoàn cảnh như cô ta. Họ cứ phải đi lui, đi tới văn phòng của ông mãi để xin việc hoài. Tại sao không cho họ một việc làm thường xuyên, chắc chắn. Ông có vẻ cảm động khi nghe tôi nói và luôn luôn gật đầu đồng ý. Tôi cảm thấy gần gũi với ổng hơn lúc nào hết. Tôi tiến đến ôm hôn vào má ổng. Mồ hôi ông vã ra ướt đẫm cả áo sơ-mi và người hơi run run. Tôi nói :
- Ba không được khỏe lắm. Hay là có chuyện gì bực mình?
- Không, Ba vẫn khỏe.
- Vậy thì chuyện gì?
- Chà, cái thằng khốn nạn Monroe, thằng lỏi con, nó kiếm chuyện với Ba hoài.
Tôi hỏi lại với giọng lạnh lùng :
- Chuyện gì xảy ra?
- Thằng oắt con, lúc nào hắn cũng ngồi lù lù như ông cố đạo rồi chỉ tay ra lệnh, sẽ làm cái này, sẽ bỏ cái kia. Ba bực muốn điên lên rồi, Ba không thể nói được nữa. Đi ra ngoài với Ba một lát.
- Người Ba như thế này mà đi đâu?
- Đi ra, Ba kể cho con nghe. Ba đừ, nhưng hắn cũng hết ăn uống nổi.
- Ba đi chải đầu và sửa lại quần áo đi. Con muốn Ba nói chuyên với Martha Dodd một lát.
- Ngay ở đây bây giờ sao? Ba có bao giờ trốn cô ta dâu!
- Thì ở ngoài kia vậy. Ba đi rửa mặt và thay cái sơ-mi khác đi.
Với một dáng điệu thất vọng ra mặt, ông đi vào phòng tắm được thiết trí sát ngay văn phòng. Không khí trong phòng oi bức lạ, hình như căn phòng đã được đóng kín cửa cả tiếng đồng hồ vậy. Tôi nghĩ có lẽ tại vậy mà Ba tôi bị đau nên đi mở thêm hai chiếc cửa sổ nữa ra.
Tiếng Ba tôi vọng ra từ trong phòng tắm :
- Con ra trước đi, một lát Ba ra liền bây giờ.
- Ba liệu xử đẹp với nàng. Nhưng đừng có tỏ vẻ thương hại đấy.
Làm như thể tiếng của Martha vậy, tôi vừa chợt nghe có tiếng người rên se sẽ ở đâu đây ngay trong phòng này. Tôi nín thở, và hồi hộp lắng nghe. Tiếng rên lại nổi lên, rồi nghe rõ ràng không phải từ trong phòng tắm vọng ra, cũng không phải từ phòng ngoài đưa vào. Nhưng nó phát ra từ một cái tủ đứng kê ngay phía trước mặt tôi. Không hiểu sao lúc đó tôi lại can đảm đến như vậy. Tôi chạy ngay lại, mở phăng cánh tủ ra, cô thơ ký Birdy Peters của Ba tôi trần truồng như nhộng từ trong tủ té lăn ra ngoài, y như thể một xác chết trong xi-nê. Cùng ùa ra theo với nàng là một làn hơi nghẹt thở, tù túng từ trong tủ kín. Nàng ta nằm ngay đơ trên lối đi trong phòng, mình mẩy ướt đẫm mồ hôi, một tay hãy còn cầm cái áo, hay cái quần gì đó và ngay lúc ấy thì Ba tôi từ trong phòng tắm chạy ra. Tôi cảm thấy ổng đứng ở đàng sau, và không cần quay lại tôi cũng có thể tưởng tượng được nét mặt ổng, vì tôi đã từng làm ổng ngạc nhiên trước đây ở New York. Tôi nói nhanh :
- Mặc đồ vào. Mặc đồ cho cô ta!
Vừa nói tôi vừa vớ một miếng vải ở chiếc đi-văng gần đó ném cho cô ta.
Tôi ra khỏi văn phòng. Nhìn thấy nét mặt của tôi, Rosemary Schmiel tỏ vẻ sửng sốt. Sau đó không bao giờ tôi găp lại cô ta và cả Birdy Peters. Vừa đi ra ngoài, Martha vừa hỏi: “Chuyên gì vậy chị?”. Thấy tôi không nói gì, nàng tiếp: “Như thế là chị đã hết sức giúp em rồi, mà không được thì thôi, tại có lẽ mình tới không nhầm lúc. Để em đưa chị lại thăm một con bạn rất đẹp của em, con nhỏ mà tối hôm đó đã nhảy với Stahr và ngồi chung bàn với em đó, chị có thấy không?”
Thế là nàng đã thỏa mãn ý nguyện của tôi. Duy có điều là nhờ ở sự việc tôi đã bới nước cống trong gia đình lên để ngửi.
* * * * *
Tôi không còn nhớ nhiều về việc tới nhà Kathleen. Một trong những lý do là vì hôm đó nàng đã đi vắng. Cửa không khóa, Martha vừa đẩy vào, vừa gọi một cách rất thân mật: “Kathleen”. Căn phòng trông có vẻ trơ trọi, giống như những phòng ở khách sạn. Cũng có bình bông, nhưng hình như loại bông mua ở chợ, chớ không phải loại bông được người khác gởi tới tặng. Martha tìm thấy trên bàn một miếng giấy viết “Xin để địa chỉ lại. Tôi đi kiếm việc. Mai trở về”.
Martha đọc đi đọc lại mảnh giấy, nhưng hình như không phải nàng viết cho Stahr. Căn nhà mà chủ đi khỏi sao có vẻ vắng lặng thiệt. Không phải có ý nghi ngờ nàng ẩn núp đâu đây, nhưng tôi cũng để ý quan sát một lượt xem có gì giá trị không. Chỉ thấy vẻ im vắng. Một con ruồi từ đâu bay tới đậu trên nền nhà, không buồn để ý tới chúng tôi, trong khi cơn gió thổi bay một góc chiếc màn cửa. Martha lên tiếng :
- Không biết con nhỏ đi kiếm việc gì? Hôm Chủ nhật nó còn đi chơi với Stahr mà.
Nhưng tôi không còn để ý gì nữa, và chợt cảm thấy mộr cái gì kinh khủng rình rập đâu đây - máu của nhà tư bản, tôi nghĩ tới một cách ghê sợ. Thình lình tôi hốt hoảng kéo Martha ra ngoài sân. Nhưng không kịp nữa, tôi cảm thấy mặt mũi tối tăm, trước mắt toàn một màu đen ghê gớm, và chợt nhớ lại thân hình trần truồng của cô thơ ký. Tôi thường có những ý nghĩ tốt đẹp về thân hình của mình, cho rằng nó có những đường cong rất mỹ thuật. Tôi thật không thể nào tưởng tượng nổi có người lại đem nhốt mình trần truồng kín mít trong một cái hộc ở tường giữa lúc đang làm việc ban ngày ban mặt.
* * * * *
Stahr mỉm cười, nhìn Boxley :
- Nếu có ghé qua tiệm thuốc, làm ơn xin dùm cái đơn thuốc với nhá.
- Có cần đến dược sĩ điều chế không?
- À, nếu có gặp dược sĩ thì xin dùm toa thuốc cho một người đang bị đau nặng.
- Nặng lắm không?
- Nặng lắm. Và sau đó, nhớ rằng những gì bạn đã nhìn thấy qua cửa sổ khiến bạn khoái tỷ, chăm chú theo dõi, có thể quay thành phim được đấy nhé.
- Bộ anh muốn nói tới vụ án mạng ngoài cửa sổ hả?
Stahr mỉm cười :
- Đó là tại bạn nghĩ vậy. Có thể tôi chỉ muốn nói tới chuyện con nhện giăng tơ trên ô kính cửa thì sao?
- Dĩ nhiên. Tôi thấy hết mà, yên trí.
- Bạn thấy thì mặc kệ bạn, không liên quan gì đến tụi này đâu nghe. Chuyện ổ nhện thì bạn dòm một mình trong khi vụ án mạng thì lại định đổ lên đầu tụi tui là không được đâu.
- Có lẽ tôi nên rút là vừa. Đã ba tuần lễ rồi, chẳng làm dược việc mẹ gì. Bao nhiêu ý kiến đưa ra, bọn soạn giả chẳng ai chịu viết cả.
- Tôi cần bạn ở lại, vì bạn biết nhiều chuyện khác ngoài vấn đề làm phim...
Boxley nói lớn :
- Mấy chuyện đó nhức óc thấy mẹ. Bạn không có quyền để tình trạng này...
Boxley chợt nghĩ lại. Anh ta biết Stahr hiện là người lèo lái con thuyền của công ty. Chàng đang đợi cơn gió dữ qua đi, chuẩn bị lại thuyền bè cho chuyến vượt biển với những kế hoạch khéo léo. Bằng không thì cả công ty sẽ sụp đổ và biến thành một đồng đất đá ngổn ngang, trong đó có thể tìm thấy cả những hòn cẩm thạch quý giá từng được gọt dũa để trang hoàng nơi các đền đài trong quá khứ. Boxley lên tiếng :
- Tôi mong anh sẽ bắt tay xúc tiến ngay chương trình thực hiện ào ạt.
- Phải chờ có đủ điều kiện làm việc. Thí dụ bây giờ anh là họa sĩ tài ba như Rubens chẳng hạn, nhưng lúc anh đang thích vẽ chân dung của Đức Jésus mà tôi lại bắt anh đi vẽ bọn trọc phú như Bill Brady, hay tôi, hay Gary Cooper, hay Marcus thì thử hỏi anh có lòng dạ nào mà vẻ không? Vấn đề điều kiện cho việc thực hiện hằng loạt của chúng ta bây giờ là phải tìm được những câu chuyện hay truyền tụng trong dân chúng. Sau đó chúng ta mới đem thi vị hóa, làm cho nó trở nên huy hoàng, lộng lẫy, rồi trả lại cho họ xem. Và sau đó là địa, phải chi địa thật nhiều, bạn có không, Boxley?
Boxley thầm nghĩ: tối nay thế nào mình cũng ngồi với Wylie ở quán Troc để tán dóc về việc làm và thái độ của Stahr. Nhưng dù sao thì Boxley cũng là người đã từng đọc Lord Chanwood và anh ta phải công nhận rằng trường hợp của Stahr hiện tại cũng giống như hoàn cảnh Tổng thống Lincoln trước kia, một mình với hai bàn tay đơn độc mà phải chiến đấu trong một trận chiến có nhiều mặt trận. Chính Stahr là người đã đưa điện ảnh tới chỗ phát triển mạnh mẽ trong vòng mười năm qua. Ngày nay nội dung của những cuốn phim thuộc “loại A” đã trở nên phong phú, xúc tích hơn cả những gì đang diễn ra trên sân khấu kịch trường. Lincoln dù sao cũng còn là một ông tướng hay nếu muốn có thể trở thành người thường, ngược lại Stahr chỉ là một nghệ sĩ.
Stahr lên tiếng :
- Tụi mình xuống chỗ thằng La Borwitz một chút coi. Chắc nó đang đói địa đây.
La Borwitz và hai soạn giả nữa cùng với một cô thơ ký tốc ký và một ông giám thị đang ngồi bí xị không biết viết tiếp ra làm sao. Stahr biết họ ngồi như vậy đã từ mấy tiếng đồng hồ rồi. La Borwitz rụt rè lên tiếng :
- Có nhiều nhân vật quá, không biết phải làm sao bây giờ!
Stahr khịt mũi se sẽ :
- Đứng. Nhiều nhân vật chính là chỗ dụng ý của cuốn phim.
Nói xong, Stahr móc trong túi ra một đồng năm mươi xu, ngẩng nhìn ngọn đèn treo lủng lẳng giữa phòng và liệng lên, mọi người nghe một tiếng keng, đồng bạc đã rơi vào cái dĩa đựng ngọn đèn. Chàng nhìn những đồng bạc lẻ đang cầm trong tay và chọn một đồng hai mươi lăm xu.
La Borwitz nhìn Stahr một cách bi quan. Việc dựng lên nhiều nhân vật trong cuốn phim này chính là sáng kiến đắc ý của Stahr. Bây giờ sáng kiến đó đang trở thành chuyện xây lâu đài trên bãi cát. La Borwitz thừa lúc mọi người đứng quay lưng về phía mình, anh ta co hai bàn tay vung mạnh lên cao khỏi đầu, thật cao đến độ hai bàn tay như lìa khỏi cổ tay bay lên, và anh ta lại bắt lấy, ráp vào khi nó đang rơi xuống. Sau động tác đó, anh ta cảm thấy trong người dễ chịu hơn.
Một anh soạn giả đã lấy ra mấy đồng bạc cắc cầm trong tay, và sau đó luật chơi được công bố ngay: Phải ném đồng bạc qua những sợi dây treo đèn, làm sao cho nó không chạm vào sợi dây mà lại rơi vào trúng dĩa đựng đèn là ăn, và tất cả những người khác phải chung tiền.
Cuộc chơi kéo dài sôi nổi khoảng nửa tiếng. Chỉ có một mình Boxley không chơi, anh ta ngồi chúi mũi vào tập chuyện phim, cô thơ ký ngồi đếm từng ván một. Cô ta làm một con toán nhẩm và thấy khoảng thời gian bốn người chơi như vậy công ty vẫn phải trả cho họ số tiền tới sáu, bảy trăm đô la. Cuối cùng La Borwitz ăn được tất cả năm đô-la rưỡi, và một người lao công đem thang tới, trèo lên lấy số tiền trong dĩa đèn xuống.
Đột nhiên Boxley lên tiếng :
- Các anh viết cái gì mà tôi đọc chỉ thấy loạn xà ngầu lên, như món gà tây nhồi nhân thập cẩm vậy.
- Anh nói sao?
- Đây không phải là chuyện phim.
Mọi người nhìn về phía Stahr và chàng cố giấu một nụ cười.
La Borwitz nói lớn :
- Vậy thì ở đây chỉ còn có mình bạn là tổ sư điện ảnh thôi, chớ còn ai nữa đâu!
Boxley trả lời thẳng thắn :
- Rất nhiều câu nói hay ho, nhưng không có dịp thuận tiện thích hợp để nói lên. Không phải phim, mà cũng chẳng ra tiểu thuyết. Thiệt tình tôi không biết mô tả làm sao, nhưng quả thực có cái gì không ổn. Đọc lên không thấy gây được một xức cảm nào cả.
Những bản thảo này cũng không hơn gì những bản họ đã đưa cho anh ta đọc cách đây ba tuần lễ. Stahr quay đi và sẽ liếc mắt quan sát từng người. Boxley nói tiếp :
- Không cần bỏ bớt nhân vật. Phải thêm vào nữa là đàng khác. Đó chính là chủ ý của cuốn phim, tôi cũng nhận thấy như vậy.
Hai anh soạn giả :
- Chủ ý của cuốn phim là thế.
La Borwitz nói theo :
- Đúng, đó là chủ ý cuốn phim.
Sự chú ý của những người xung quanh gợi ý cho Boxley :
- Chúng ta để mỗi nhân vật tự nhìn vảo bộ mặt của họ ở một vị trí khác. Thí dụ: viên cảnh sát sắp sửa bắt tên ăn trộm thì anh ta chợt nhận thấy mặt của tên trộm giống anh ta quá. Chúng ta nên có lối xây dựng tương tự như vậy. Có thể gọi đó là đặt mình vào địa vị của người khác.
Thình lình họ bị lôi cuốn vào công việc làm, giống như chú mèo đang chơi vòng, ngửi thấy hơi chuột liền đeo cả vòng ở cổ chạy đi bắt. Có thể ngày mai họ sẽ lại vất bỏ những gì đã viết ra hôm nay, nhưng dù sao sinh lực đã đến với họ trong giây lát. Trò chơi liệng tiền cũng có tác dụng của nó chẳng thua gì sự suy nghĩ của Boxley. Stahr là người đã tạo ra bầu không khí lôi cuốn họ vào sự làm việc hào hứng như vậy. Chàng không dám tự nhận mình là tài xế của cỗ xe, nhưng chàng có những hành động, cảm tưởng và đôi khi cả dáng điệu nửa giống như một đứa trẻ lăng xăng bày hết trò chơi này đến trò chơi khác.
Stahr lặng lẽ ra khỏi phòng, chàng không muốn khua động làm họ mất hứng. Lúc đi qua Boxley, chàng chạm nhẹ tay vào vai anh ta một cái, cử chỉ đó có giá trị thắm thiết như một cái hôn vậy.
* * * * *
Bác sĩ Baer ngồi chờ trong phòng làm việc của Stahr. Cạnh ông ta là một người da đen đang lúi húi với cái máy vẽ đồ biểu nhịp đập của tim to bằng cái va-li lớn. Stahr gọi đùa đó là cái máy khám phá nói dối. Chàng cởi áo ra để trần tới thắt lưng, và cuộc khám sức khỏe hàng tuần bắt đầu.
- Anh thấy trong người thế nào?
- À, như thường.
- Có thấy khó chịu chỗ này không? Ngủ được không?
- Không. Chỉ được chừng năm tiếng. Dù có vào giường sớm cũng nằm không chớ không ngủ được.
- Uống mấy viên thuốc ngủ tôi đã cho đó.
- Mấy viên thuốc màu vàng uống vào thấy choáng váng.
- Vậy uống hai viên đỏ.
- Thì lại thấy ác mộng.
- Một vàng, một đỏ. Uống viên vàng trước thử xem sao?
- Tôi hả? Tôi thì đã có tôi lo săn sóc cho chính mình được rồi.
- Giỡn hoài, sao nhiều đêm tôi thấy anh thức suốt đêm.
- Thì hôm sau tôi ngủ bù.
Sau đó chừng mươi phút, Baer cho biết :
- Có vẻ tốt. Áp suất máu lên tới năm.
- Vậy là tốt hả?
- Tốt! Tối nay tôi sẽ coi lại biểu đồ nhịp tim. Chừng nào thì anh có thể đi nghỉ ít lâu?
- À để chừng nào công việc thư thư một chút mới được. Chừng năm sáu tuần nữa may ra.
Baer nhìn Stahr với con mắt đầy cảm tình, mối thiện cảm đó đã nảy nở trong thời gian Baer săn sóc sức khỏe cho chàng từ ba năm nay. Ông ta nói :
- Hồi cách đây mấy năm anh khỏe hơn bây giờ nhiều.
- Yên trí, tôi sẽ khỏe trở lại.
Baer nghĩ thầm: Không, chàng sẽ không bao giờ khỏe trở lại được. Hồi Minna còn sống, nàng thường bắt chàng nghỉ ngơi đôi chút. Nhưng từ ngày nàng chết đi tới giờ, Baer đã cố gắng để ý tìm xem ai là người thân thiết nhất của Stahr để có thể thay thế Minna, săn sóc cho chàng, nhưng tìm không ra. Cứ tình trạng này thì Stahr không thể nào sống lâu thêm được. Trong vòng sáu tháng nữa, cái chết của Stahr sẽ được định đoạt dứt khoát. Có nghiên cứu biểu đồ nhịp tim cũng vô ích. Ai có thể thuyết phục được một người như Stahr, ăn rồi nằm nghỉ chơi không trong sáu tháng trời bây giờ? Làm vậy có lẽ chàng sẽ còn mau chết hơn. Chàng vẫn làm bộ nói mạnh, nhưng không thể che giấu tình trạng kiệt quệ của sức khỏe đã rõ rệt lắm rồi. Lao động là liều thuốc bổ, nhưng cũng có thể trở thành liều độc dược đối với sức khỏe con người. Trường hợp của Stahr, công việc đã thôi thúc quá độ khiến chàng không thể vui hưởng những giây lát nghỉ ngơi thoải mái được nữa. Đó là lối sống phản thiên nhiên, Baer biết vậy nhưng không thể làm gì hơn. Ông ta không dám có ý nghĩ chữa bệnh cho con bệnh nữa, mà chỉ còn cố giữ sao cho bệnh nhân sống thêm được ngày nào hay ngày đó. Baer nói :
- Anh ráng lo giữ sức khỏe.
Rồi hai người trao đổi với nhau một cái nhìn. Không biết Stahr có hiểu ý nghĩa trong cái nhìn đó không. Rất có thể chàng đã biết, nhưng có điều không biết rõ chuyện đó sắp tới vào ngày, giờ nào? Stahr nói :
- Dĩ nhiên. Như thế tôi khỏi còn trách ai được nữa.
Người da đen đã thu dọn xong các dụng cụ. Baer đứng lên :
- Tuần tới nghe.
- O. K. tuần tới.
Cánh cửa vừa khép, Stahr ấn nút máy nội thoại. Tiếng cô thơ ký Doolan lập tức vang lên :
- Thưa, ông có quen ai là Kathleen Moore không ạ?
- Cô nói sao?
- Thưa, có cô Kathleen Moore đang chờ ở điện thoại. Cô ta nói là ông dặn cô ta kêu lại.
Nét mặt Stahr thoáng vẻ giận. Đã năm ngày trôi qua, không biết có còn gì nữa không.
- Cô ấy còn chờ đó không?
- Dạ, còn.
- Rồi, để cô ta nói.
Trong giây lát, Stahr nghe tiếng nàng sát bên tai. Chàng hỏi với giọng trầm, nhưng chắc chắn :
- Sao, em lấy chồng rồi chớ?
- Không, chưa.
Trí nhớ chàng hiện lên hình ảnh nàng. Stahr ngồi xuống ghế và có cảm tưởng nàng tựa vào bàn, cúi xuống nói vào tai chàng. Stahr lên tiếng, giọng chàng bình tĩnh, thản nhiên nhưng hơi khó khăn :
- Em kêu anh có chuyện gì không?
- Anh thấy lá thơ rồi phải không?
- Đúng. Ngay đêm hôm đó.
- Em muốn nói với anh về chuyện đó.
Dần dần chàng cảm thấy mình bị đối xử một cách tàn nhẫn.
- Em định nói gì nữa?
- Em tính viết cho anh một lá thơ khác, nhưng lại thôi.
- Anh cũng biết vậy.
Cả hai cùng im lặng.
Nàng chợt lên tiếng :
- Ồ, vui lên chớ. Stahr chớ đâu phải một kẻ tầm thường mà có vẻ yếu quá vậy?
Chàng nói có vẻ hơi dằn giọng :
- Anh cảm thấy bị đối xử hơi tàn nhẫn. Không biết em còn gọi cho anh để làm gì. Ít ra cũng để cho anh có một cảm tưởng đẹp về em.
- Em không thể tưởng tượng hôm nay anh có vẻ xìu quá vậy. Chắc anh sắp sửa chúc em may mắn và cúp đấy hẳn?
Đột nhiên nàng cười và tiếp :
- Có phải anh định nói vậy không? Em chỉ sợ anh cúp bất tử.
Chàng nói một cách thẳng thắn :
- Anh không ngờ em còn gọi lại.
Nhưng hình như nàng không để ý câu nói của chàng, nàng cười lớn. Tiếng cười của đàn bà và con nít luôn luôn là những tiếng kêu biểu lộ sự vui thú. Rồi nàng hỏi :
- Anh có biết tình cảnh em lúc này không? Em có cảm tưởng như bị một con sâu lông lá, nóng hổi rơi ngay vào mồm trong một mùa dịch sâu ở Luân Đôn.
- Anh xin lỗi.
Nàng năn nỉ :
- Em cần gặp anh. Em không thể nói hết ở đây được.
- Anh bận lắm. Tối nay có buổi chiều phim ra mắt ở Glendale.
- Có phải anh định mời em đấy không?
- Anh đi với George Boxley, một văn sĩ người Anh. Em có muốn đi cùng không?
Nói xong, Stahr chợt cảm thấy ngạc nhiên về chính lời của mình.
- Như thế làm sao mình nói chuyện được?
Chàng đang định nói thì cô thơ ký cúp để chàng có thể nói chuyện với ông giám đốc thu hình. Đây là chỉ thị từ trước tới giờ vẫn vậy. Stahr nói vội “Chờ” và tay chàng ấn vào nút máy. Giọng Kathleen đầy tin tưởng :
- Mười một giờ được không anh?
Ý tưởng lái xe đi lòng vòng khiến chàng cảm thấy không ổn. Giá chàng có thể nghĩ ra được một câu gì đó để từ chối thì chàng đã nói ngay. Nhưng Stahr không muốn làm một con sâu mà nàng vừa nhắc tới. Đột nhiên chàng thấy không có thái độ rõ rệt và chỉ còn cảm thấy dù sao thì ngày hôm nay như thế cũng là đầy đủ rồi. Tối nay chàng có quyền... một trò chơi lại được bắt đầu, chuyển tiếp hay sẽ đi tới tận cùng.
* * * * *
Chàng gõ cửa, nghe tiếng nàng trả lời bên trong và đứng chờ dưới bóng hiên. Phía dưới sườn đồi vang lên tiếng kêu của một chiếc máy xén cỏ. Một người nào đó xén cỏ vào giữa nửa đêm. Trăng sáng vằng vặc, chàng nhìn thấy rõ ông ta, đang đứng cầm hai càng của máy nghỉ một lát trước khi đẩy ngang qua mảnh vườn cách chỗ chàng đang đứng chừng ba, bốn chục thước. Xa xa, không khí nửa đêm giữa mùa hè có vẻ rộn rã... với những mối tình yêu quàng, yêu vội, những mãnh lực thúc đẩy con người nhúng tay vào tội ác. Người ta không còn hy vọng gì nhiều ở mùa hè nên ráng sống chụp giựt với những gì đang có sẵn, còn nếu chưa có thì phải ráng làm sao cho có.
Sau cùng nàng từ trong nhà đi ra, với nét mặt rất vui vẻ, khác hẳn hôm trước. Nàng mặc váy và cốn lên một chút trong lúc đi xuống chỗ đậu xe. Thái độ vui tươi, sung sướng, can đảm, nhí nhảnh của nàng khiến Stahr nghĩ tới một bài hát có tựa đề “Cột chặt thắt lưng. Ta cùng lên đường, cưng ơi”. Hôm nay Stahr đi chiếc xe limousine có tài xế lái. Giữa tài xế và chỗ Stahr ngồi có kính ngăn và màn che kín. Không khí kín đáo, ấm cúng trong xe khiến hai người cảm thấy thân mật ngay, nhất là khi xe quẹo khiến họ ngả vào nhau trong bóng tối thì sự xa lạ đã hoàn toàn tan biến mất. Chàng cảm thấy vô cùng thoải mái sung sướng trong cuộc đi chơi hôm nay. Nếu chàng biết trước được giờ chết thì sẽ không chịu chết vào lúc này.
Chuyện dĩ vãng được nàng làm sống trở lại. Nàng có thái độ bình tĩnh, hai mắt long lanh, rực sáng nhìn xoáy vào cõi xa xôi một cách sống động, đưa Stahr tới những miền xa xôi, những nhân vật mà nàng đã gặp. Câu chuyện lúc đầu có vẻ hơi mơ hồ, với “người đàn ông đó”, tức là người nàng đã yêu và đã sống với anh ta. Rồi tới “một người Mỹ” là người đã cứu nàng khi nàng sắp chết đuối vì gặp chỗ cát lún khi tắm biển.
- Người Mỹ đó tên gì?
- Ồ, tên với tuổi, có gì quan trọng đâu mà anh phải hỏi cẩn thận. Dĩ nhiên cái tên đó không thể nào so với tên Stahr, một người giàu có được. Trước đây người đó ở Luân Đôn, nhưng bây giờ anh ta và nàng sắp sửa tới sinh sống ở thành phố này. Anh ta đang lo ly dị với người vợ cũ. Không phải vì nàng, nhưng việc đó đã xảy ra từ trước.
Stahr lại hỏi :
- Nhưng còn người đàn ông đầu tiên thì sao? Trường hợp nào em quen với anh ta?
À, thoạt đầu là một sự giúp đỡ, thi ân. Ở vào cái tuổi từ mười sáu tới hai mươi mốt, mọi chuyện đều vì miếng ăn, do miếng ăn mà ra cả. Ngày nàng bị gọi ra tòa cùng với người dì ghẻ, cả hai chỉ còn trong túi có một hào, họ phải mua hai chiếc bánh sáu xu ăn cho khỏi bị xỉu.
Ít tháng sau thì người dì ghẻ chết và nàng phải nghĩ cách bán thân để kiếm cho ra một hào khác, nhưng lúc đó nàng quá yếu ớt, không còn đủ sức bò ra tới đường phố. Đường phố ở Luân Đôn lúc nào cũng hầu như rất ồn ào.
- Vậy họ hàng không còn ai sao?
Cũng có những người ở tận miền Ái Nhĩ Lan, họ gởi bơ tới cho nàng. Rồi còn cháo gà nữa. Một ông cậu tới thăm nàng, khi nàng đã ăn no ông ta giở trò ba mươi lăm. Nàng không phản đối và sau đó ông ta lén giấu vợ cho nàng năm mươi Anh kim.
Stahr lại hỏi :
- Thế em không làm gì sao?
- Có chứ. Một hồi em đã làm cho hãng buôn xe hơi. Em đã bán được một chiếc xe.
- Sao em không kiếm một việc làm chắc chắn?
- Khó quá anh à. Hình như mọi người có cảm tưởng rằng những người như em là loại người chỉ chuyên môn đi cướp việc làm của người khác. Có lần em bị một mụ đàn bà đánh khi em tới định xin làm bồi phòng cho một khách sạn.
- Tại sao em lại bị ra tòa?
- Đó là chuyện xui xẻo do dì ghẻ em gây ra. Em đâu còn ai. Ba em bị một tên da đen giết chết lúc người mới hai mươi mốt tuổi, khi đó em còn chưa biết gì. Người có viết để lại cho em một tác phẩm, đó là cuốn “Lời nguyên cuối cùng”. Anh có bao giờ đọc cuốn đó chưa?
- Anh ít đọc sách.
- Em hy vọng anh sẽ mua tác phẩm đó và quay thành phim. Cuốn sách đó không dài lắm, và hàng năm nhà xuất bản vẫn trả cho em mười hào Anh tiền bản quyển.
Rồi nàng gặp “Hắn”. Hắn đưa nàng đi chu du khắp nơi, hầu hết những chỗ đã được chàng thâu vào phim. Có những thành phố chàng chưa hề nghe nói đã được nàng nhắc nhở vì đã từng sống ở đó. Sau đó hắn đổ đốn, say sưa li bì và ngủ cả với con người làm. Hắn mê cô này và tìm cách đẩy nàng đi với những người bạn của hắn. Nhưng họ cố gắng hàn gắn mối tình giữa nàng và hắn. Mọi người khuyên nàng đã thương hắn thì nên thương cho trót, cho tới cùng. Họ cố gắng thuyết phục nàng bằng đủ mọi cách. Nhưng nàng đã gặp người Mỹ này và bỏ đi luôn.
- Đáng lẽ em phải đi từ trước.
- Phải, nhưng anh thấy đâu có dễ dàng gì. Em đã phải chạy trốn một ông Vua.
Chàng có vẻ thất vọng hoàn toàn. Nàng cố gắng tạo một không khí phấn khởi. Những ý tưởng mơ hồ thoáng qua khiến chàng cảm thấy nghi ngờ mọi cái.
Nàng tiếp :
- Dĩ nhiên Vua đây không phải là Hoàng đế nước Anh, nhưng chỉ là một gã thất nghiệp. Ở Luân Đôn người ta quen gọi thế. - Nàng vừa nói vừa cười. - Ở Luân Đôn có rất nhiều vua.
Nàng ngừng một lát như thể suy nghĩ và nói tiếp với giọng gần như thách thức :
- Hắn cũng hấp dẫn lắm, cho tới lúc hắn bắt đầu sinh chứng và say sưa.
- Hắn là vua nghề gì?
Nàng trả lời và Stahr cố gắng nhớ lại một khuôn mặt nào đó trong cuốn phim thời sự cũ.
Nàng nói tiếp :
- Hắn học rất nhiều. Hắn có thể dạy học bất cứ môn gì. Nhưng cũng giống như một ông Vua, hắn không thích làm việc nhiều, hay ít ra là không bằng anh. Không ai làm việc dữ như anh cả.
Lần này Stahr cười sau khi nghe xong.
- Những người đó hình như luôn luôn lo sợ họ sẽ trở thành lỗi thời. Họ bỏ rất nhiều thì giờ vào việc lo chải chuốt, theo thời. Chẳng hạn có người cố gắng vào cán bộ nghiệp đoàn. Người thì lo cắt những bài tường thuật thể thao trong báo chí mỗi khi có những trận đấu bán kết hay chung kết giải quần vợt. Đi đâu họ cũng ôm khư khư những bài báo đó để tỏ ra ta đây là người theo sát thời sự. Em đã thấy rất nhiều lần như vậy.
Xe của hai người chạy qua công viên Griffith, qua phim trường Burbank nằm chìm trong đêm tối, qua phim trường và đang trên đường đi Pasadena với đầy các bảng hiệu nê-ông của những lữ quán bên đường. Chàng muốn nàng hết sức, nhưng đêm đã quá khuya, vả lại cuộc đi chơi hôm nay như thế kể ra cũng là đầy đủ thú vị lắm rồi. Tay trong tay, nàng ngả đầu vào vai chàng thủ thỉ: “Trời, anh dễ thương quá, em chỉ muốn được ở mãi bên anh”.
Nhưng đầu óc nàng không hoàn toàn thuộc về chàng như cuộc đi chơi chiều Chủ nhật hôm nào. Dư âm của những khích động trong cuộc phiêu lưu nàng vừa kể đã khiến nàng trở nên thẫn thờ, buồn khổ. Chàng không dằn được tính tò mò và bâng khuâng tự hỏi không biết nàng có chịu nói thêm về chuyện người tình Mỹ của nàng không.
- Em quen người Mỹ này từ bao lâu?
- À, chừng năm sáu tháng gì đó. Tụi này gặp nhau thường và thông cảm với nhau. Anh ta hay nói: “Bây giờ thì sóng gió kể như đã qua hết rồi”.
- Vậy tại sao em còn kèu anh làm gì?
Nàng ngập ngừng :
- Em muốn gặp anh thêm một lần. Hơn nữa - đáng lẽ hôm nay anh ấy về tới, nhưng đêm qua em nhận được điện tín anh ấy cho biết sẽ ở lại thêm một tuần nữa. Em muốn có bạn để nói chuyện, dù sao thì anh cũng vẫn là một người bạn.
Chàng cảm thấy muốn nàng kinh khủng. Nhưng với một phần sự sáng suốt còn lại, chàng nghĩ thầm: chắc em muốn biết mình có thương em hay không. Nếu biết chắc là mình có ý định lấy em thì lúc đó em sẽ tính đến chuyện cho anh chàng kia rơi. Nhưng em sẽ không nghĩ tới chuyện đó chừng nào mình còn chưa dứt khoát lập trường. Chàng hỏi :
- Em có yêu người Mỹ này không?
- À, có chứ. Anh ấy đã cứu vớt đời em. Và đã đi nửa vòng thế giới vì em. Em phải nhớ tới điều đó.
- Nhưng em có yêu anh ta không?
- À, có. Em yêu anh ấy.
Những tiếng “À, có” cho chàng biết rằng nàng không yêu anh ta, nhưng thực ra là nàng yêu chàng. Chàng ôm nàng trong tay, gắn chặt môi mình vào môi nàng một lúc lâu và cảm thấy ấm áp. Tiếng nàng thì thào :
- Đêm nay, đừng anh.
- À.
Xe chạy qua cây “cầu tự vận” với một đường dây xích mới được chăng ngang trên cao dọc theo lan can cầu để ngăn không cho người ta nhảy xuống sông. Nàng nhìn sợi dây, cười :
- Ngu gì mà đi tự tử. Người Anh không bao giờ chịu chết nếu họ chưa thực hiện được điều họ muốn.
Xe chạy vòng quanh một khách sạn và trở lại đường cũ. Đêm nay, một đêm tối trời, không trăng. Sự thèm muốn háo hức đã qua, hai người cùng ngồi im, không ai nói gì nữa. Câu chuyện về những ông vua thất nghiệp nàng kể khiến chàng nhớ lại hình ảnh thoáng qua của con đương phố chánh ở Erie, Pensylvania với lối đi lát sỏi trắng như những viên ngọc. Hồi đó chàng mới mười lăm tuổi. Trên đường có một tiệm ăn với những con tôm hùm bày trong tủ kính, một cái hang hình con ốc với cỏ dại xanh um và ánh sáng chan hòa phía trên, nhưng bên dưới, sau bức màn cửa màu đỏ là những bộ mặt lạ lùng, bí mật ngôi trầm tư trong tiếng vĩ cầm réo rắt. Đó là lúc chàng sắp sửa đi New York. Người con gái này tối nay đã đưa chàng trở về dĩ vãng với hình ảnh của những con tôm hùm, những con cá tươi ướp đá. Nàng giống như một con búp bê xinh đẹp. Minna không bao giờ giống một con búp bê xinh như nàng.
Nàng nhìn chàng và ánh mắt như thầm hỏi: “Liệu em có lấy người Mỹ này hay không?”. Chàng không trả lời. Sau đó một lát chàng lên tiếng :
- Chúng mình kiếm chỗ nào đi chơi cuối tuần này.
- Anh tính bàn chuyên ngày mai sao chớ?
- Anh sợ bàn tới.
- Vậy thì mai em sẽ cho anh biết.
- Cho anh biết ngay đêm nay đi. Anh sợ...
Nàng cười :
- Sợ lại tìm thấy lá thơ nữa trong xe à? Không có nữa đâu, em đã nói với anh hầu như hết mọi chuyện rồi còn gì.
- Hầu như.
- Vâng. Chỉ còn lại vài chi tiết nhỏ.
Những chi tiết đó là gì? Có lẽ ngày mai nàng sẽ nói hết. Chàng không tin đó là những chi tiết quan trọng, chàng không muốn tin như thế. Chắc chả còn vụ lăng nhăng nào khác nữa, ngoài ba năm chung sống lửng lơ chân trong, chân ngoài với anh chàng vua thất nghiệp kia của nàng.
- Cười lên anh. Em đã học được thói quen cười lên để quên đi mọi chuyên.
Chàng không cười :
- Tại sao hắn không cưới em. Nếu hắn cưới em thì bây giờ em đã trở thành một bà Simpson nào đó chẳng hạn, chớ đâu còn...
- Ồ, hắn đã lấy vợ rồi. Hắn đâu có lãng mạn.
Nàng chợt ngưng ngang câu nói, và Stahr hỏi tiếp :
- Thế còn anh thì sao?
Nàng ầm ừ một cách miễn cưỡng :
- Anh có một phần. Trong anh có tới ba, bốn con người khác nhau, về những con người đó đều lần lượt xuất đầu lộ diên. Đó là đặc điểm của người Mỹ.
Chàng mỉm cười :
- Em đừng vì thế mà bắt đầu tin tưởng quá nhiều ở người Mỹ. Họ để lộ bộ mặt ra đấy, nhưng rồi thay đổi đấy, nhanh lắm.
Nàng có vẻ nghĩ ngợi :
- Vậy sao anh?
- Họ thay đổi liền, rất nhanh, và không gì làm họ quay trở lại được nữa.
- Anh làm em lo quá. Từ trước tới giờ em vẫn có cảm tưởng người Mỹ là cái gì an ninh, bảo đảm lắm.
Đột nhiên nàng có vẻ cô đơn quá, và chàng nắm lấy tay nàng :
- Mai mình đi đâu? Hay là đi chơi núi. Mai có rất nhiều việc phải làm, nhưng anh cóc cần. Nếu chúng ta đi lúc bốn giờ chỉ độ xế trưa là tới rồi.
- Em không dám chắc chắn lắm. Đôi khi em thấy thật là khó nghĩ. Dù sao em cũng là một thiếu nữ tới California với mục đích làm lại cuộc đời.
Ngay lúc này chàng có thể bảo nàng: “Em đã làm lại cuộc đời rồi. Đây là cuộc sống mới của chúng mình”. Vì chàng cảm thấy không muốn xa nàng nữa. Nhưng một con người lớn, không mơ mộng đã nổi lên, ngăn cản không cho chàng nói như vậy, nên để đến mai hãy hay. Nàng vẫn nhìn chàng với đôi mắt bâng khuâng. Nàng nghiêng đầu với một dáng điệu đặc biệt và nhìn đi, nhìn lại từ trán tới cằm chàng.
... Dịp may của anh đã tới đó, Stahr. Tốt hơn anh nên đem nàng đi ngay bây giờ. Nàng là người của đời anh nàng thuộc về anh. Nàng là cứu tinh của anh và sẽ giúp anh tìm lại cuộc sống. Nàng sẽ săn sóc anh, khiến anh trở nên mạnh mẽ để thực hiện điều đó. Nhưng anh phải lấy nàng ngay từ giờ phút này. Hãy nói lên, và hãy cùng nàng ra đi chung sống trong hạnh phúc. Anh cũng như nàng, đâu có ai biết: ngoài xa xăm kia, người Mỹ đó đã thay đổi chương trình. Lúc này tàu anh ta đang đi ngang vùng Albuquerque; tàu chạy rất đúng giờ, chỉ sáng mai là anh ta có mặt nơi đây.
... Tài xế quẹo xe, tiến về phía nhà Kathleen trên đồi. Trời tối, nhưng không khí có vẻ ấm áp. Tuy chỉ đi quanh quẩn trong thành phố một lát, nhưng khi trở về tới đây tự nhiên Stahr cảm thấy mừng rỡ. Chiếc xe này, căn nhà ngoài bãi biển, khoảng đường dài hai người vừa đi qua với những nhà cửa mở mang san sát, tất cả đều như chào đón chàng. Sườn đồi phía trước như bừng sáng, trong lòng chàng những âm thanh reo mừng nổi lên rộn rã.
Lúc chia tay, đột nhiên Stahr lại cảm thấy không thể nào sống xa nàng, về tuổi tác, hai người chỉ chênh lệch nhau có mười năm, nhưng chàng cảm thấy nóng lòng, sốt ruột giống như tâm trạng của một ông già khi yêu cô gái mười sáu, mười bảy, yêu quàng, yêu vội để còn chạy trốn thời gian. Tiếng tích tắc của đồng hồ vang lên cùng với tiếng tim đập trong lòng chàng, như thúc đẩy chàng đuổi theo nàng, đi vào trong nhà và nói: “Mình sẽ sống trọn đời bên nhau, em”.
Kathleen ở trong tình trạng lưỡng lự, một lớp băng giá màu hồng bạc đang đợi mùa Xuân tới để tan theo. Là người Âu châu, nàng luôn luôn có vẻ khiêm nhượng bề ngoài để che giấu sức mạnh bên trong, nhưng lòng tự trọng cao độ không thể cho phép nàng đi xa hơn nữa. Nàng không bao giờ có ảo tưởng trong việc nhận định tình cảm của người đàn ông.
Stanr :
- Ngày mai mình đi chơi núi.
Hàng ngàn người đang chờ đợi ở sự phán đoán, cân nhắc của chàng lúc này. Bạn có thể đột nhiên trở nên bạc nhược, mất hết những khả năng từng giúp bạn trong nhiều chục năm trời nay.
Sáng hôm sau là thứ Bảy, chàng bận rất nhiều công việc. Lúc hai giờ, sau khi đi ăn cơm trưa về, chàng thấy một chồng điện tín để trên bàn: một tàu của công ty bị chìm ngoài khơi Arctic; một tài tử bị ô nhục; một văn sĩ bị đưa ra tòa vì một triệu đô-la; người Do Thái bị chết thảm dưới đáy biển. Bức điện tín sau cùng chàng đọc thấy:
Em lấy chồng trưa nay. Chào anh. Ghim theo bức điện chánh còn có một bức phụ. Gởi trả lời qua hệ thống Liên hiệp Điện tín Miền Tây.

Đăng nhập để trả lời
0
Chương VI
 
Tôi chẳng hay biết gì về chuyện này. Tôi đã lên Lake Louise và lúc trở về tôi cũng không hề đi ngang qua phim trường. Nếu không có cú điện thoại của Stahr thì tôi đã về Miền Đông vào giữa Tháng Tám.
- Chú muốn gặp một đảng viên của Đảng Cộng Sản. Cháu giúp chú được không?
Tôi hơi ngạc nhiên :
- Mà ai mới được chứ?
- Bất cứ người nào?
- Thiếu gì ngoài phố kia?
- Không, chú muốn gặp một người trong những tổ chức của họ - ở Nữu Ước chẳng hạn.
Hè năm trước tôi đã bị lôi cuốn vào những hoạt động chánh trị khá nhiều. Giá Harry Bridge còn sống thì tôi có thể thu xếp để anh ta gặp Stahr. Nhưng anh ta đã bị chết trong một tai nạn xe hơi sau kỳ tựu trường, và từ đó tôi mất liên lạc với họ.
Tôi có nghe nói tới một người thuộc nhóm Dân Mới ở gần đâu đây trong thành phố này. Tôi hỏi đùa Stahr :
- Chú bảo đám an ninh cho họ chớ?
Stahr trả lời nghiêm chỉnh :
- À, đúng vậy. Kiếm dùm chú người nào biết nhiều về lý thuyết, bảo họ đem theo sách vở càng tốt.
Stahr làm nhữ chàng muốn gặp một hội viên thuộc một tổ chức văn hóa không bằng.
- Chú muốn cô tóc vàng hay cô tóc nâu?
Chàng nói vội :
- Ồ, một nam đảng viên.
Nghe giọng nói tự nhiên của Stahr, tôi cảm thấy phấn khởi. Vì tôi vừa chợt nghĩ tới chuyện xảy ra trong phòng Ba tôi hôm nào, và có cảm tưởng như mình đang bơi một chiếc du thuyền đi trong vũng đờm lỏng vậy. Thái độ của Stahr đã thay đổi hẳn không khí và còn thay đổi cả quan điểm nhận định của tôi. Chàng nói :
- Chú nghĩ không nên để Ba cháu biết. Có thể bảo anh ta cải trang thành một nhạc sĩ người Balgarian hay gì đó?
- Ồ, chắc họ không chịu ăn bận đàng hoàng.
Công việc dàn xếp gặp gỡ không dễ như tôi nghĩ lúc đầu. Họ sợ mang tiếng là bị mua chuộc, vì lúc đó cuộc tranh chấp giữa Stahr và các soạn giả thuộc nhóm Guild đang bị bế tắc hoàn toàn sau hơn một năm thương lượng. Họ còn hỏi tôi những “đề nghị” của Stahr như thế nào? Sau cùng Stahr bảo tôi nói với họ rằng chàng muốn thảo luận với họ trong việc làm cuốn phim nói về cuộc Cách mạng ở Nga. Chàng đã thực hiện xong cuốn Bác sĩ Caligari và cuốn Chú khuyển Andalou của Salvator Dali, hai phim này có thể gây ra những sự va chạm với họ. Stahr cảm thấy hoảng đối với mớ phim nói về Nga độ chừng hai chục cuốn. Theo sáng kiến của Wylie, Stahr đã bảo phòng viết chuyển phim cho chàng một bản chừng hai trang tóm tắt các nét chánh của Phong trào Cộng sản.
Nhưng chàng là người không chịu tin hoàn toàn vào sách vở. Chàng lý luận theo đường lối riêng của mình, bắt đầu mò mẫm tự tìm hiểu những sự kiện lịch sử từ hàng ngàn năm trước đi lần tới thế kỷ mười tám. Chàng say sưa nuôi hy vọng sẽ làm sống lại được những sự kiện lịch sử đó qua phim ảnh.
Cuộc gặp gỡ diễn ra tại nhà tôi; trong căn phòng lịch sự nhất được mệnh danh là “căn phòng bọc da”. Đây là một trong sáu căn phòng do trang trí gia Sloan trình bày từ nhiều năm trước, và cái tên của nó tôi còn nhớ mãi. Toàn thể nền nhà được trải nệm len màu xám sáng, đó là một màu rất tế nhị khiến người ta nhiều khi không đám bước chân lên. Những chiếc bàn mặt bóng láng như bạc, hay bọc da, những bức ảnh màu kem, và những đồ trang hoàng nhỏ bé mỏng manh khác, tất cả đều như mới tinh sương khiến người ở trong phòng hầu như không dám thở mạnh vì sợ làm dơ bẩn hay đổ vỡ. Đứng ở cửa nhìn vào khi cơn gió nhẹ lay động cuốn nhẹ một góc màn cửa lên thì thấy thật là tuyệt. Giống như những phòng khách cổ xưa của người Hoa Kỳ, căn phòng này chỉ mở cửa vào ngày Chủ nhật. Nhưng tôi nhận thấy đây là dịp thích hợp để xử dụng tới nó. Dù bất cứ chuyện gì xảy ra, cuộc họp này cũng là một kỷ niệm làm tăng thêm giá trị cho căn phòng và cho cả ngôi nhà của chúng tôi.
Stahr tới trước. Chàng có vẻ nóng ruột và hơi bối rối, ngoại trừ giọng nói lúc nào cũng trầm trầm và luôn luôn cân nhấc cẩn thận. Stahr có một khả năng đặc biệt khi tiếp xúc với người khác, chàng sẽ tiến thẳng, tới bạn, gạt bỏ một cái gì đó sang bên cạnh và tìm hiểu tất cả con người bạn, làm như chàng bị thúc đẩy làm như thế và không thể cưỡng lại được. Có một lý do nào đó khiến tôi hôn chàng trước khi đưa chàng vào căn phòng bọc da. Chàng hỏi tôi :
- Khi nào cháu đi học trở lại?
Trước đây chúng tôi đấ từng nói tới vấn đề hấp dẫn này.
Tôi hỏi :
- Nếu cháu thấp hơn một chút nữa, chú có thích không? Cháu sẽ đi giày đế mòng và ép tóc cho xẹp bớt xuống.
Stahr mở đầu :
- Tối nay mình đi ăn cơm tối. Thiên hạ có bảo là hai cha con chú cũng chẳng cần.
Tôi nói để chàng yên trí :
- Cháu thích người già, miễn là đừng có chống gậy và hết xí quách.
- Cháu đã yêu nhiều chưa?
- Cũng tạm đủ.
- Người ta thường chạy ra, chạy vô trong tình trường, phải không cháu?
- Cháu đọc trong báo thấy Fanny Brice bảo rằng cứ ba năm thì người ta lại thay đổi ái tình một lần.
- Đúng. Chú đã thấy nhiều như vậy. Không biết làm sao người ta sống nổi. Mỗi lần như thế trông họ có vẻ đừ lắm. Sau rồi trông thấy hết, nhưng sự thực thì vẫn còn ê ấm và ai trông cũng biết.
- Chú làm nhiều phim quá.
Stahr vẫn cố tình trở lại chuyện cũ :
- Không biết tới lần thứ ba, thứ bốn họ có còn thấy đừ không, hay là lúc đó họ quen đi rồi.
- Càng ngày càng dữ tợn, nhất là lần cuối cùng.
- Chú cũng nghĩ vậy. Nhất là lần cuối.
Tôi không thích chàng nói câu đó. Nói như vậy chứng tỏ tuy bên ngoài không có gì, nhưng trong bụng chàng đang khổ lắm.
Chàng lại lên tiếng :
- Thật là độc hại, nhưng khi qua rồi thì thấy khá hơn.
- Thôi đi chú. Có lẽ vần đề này chú không rành như điện ảnh đâu.
Brimmer, người đảng viên Đảng Cộng Sản đã tới và đang đi vào để gặp chàng. Tôi vội chạy ra cửa đón, và tự nhiên thấy mình ở trong tay anh ta.
Brimmer là một người dễ coi. Vóc dáng anh ta hơi kém những tiêu chuẩn lý tưởng do Spencer Tracy đặt ra, nhưng vai nở và mặt rộng. Lúc anh ta và Stahr bắt tay nhau tôi tự nhiên nghĩ rằng đây là hai con người tỉnh táo, tinh ranh nhất tôi từng gặp. Mỗi câu nói hai người đều cân nhắc kỹ lưỡng và thường nhỏ nhẹ xuống giọng ở cuối câu, đồng thời quay nhìn về phía tôi cho đúng phép lịch sự. Stahr hỏi :
- Các anh định tính chuyện gì? Các anh khiến bọn trẻ của tôi nhốn nháo hết cả.
Brimmer trả lời :
- Để họ đề cao cảnh giác một chút, phải vậy không anh?
- Lúc đầu chúng tôi muốn để cho một nhóm nhỏ người Nga tự do vào nghiên cứu cơ sở kiểu mẫu của chúng tôi. Nhưng rồi các anh lại tính làm tan vỡ tinh thần hợp tác của cơ sở kiểu mẫu đó.
Brimmer nhắc lại :
- Tinh thần hợp tác, phải anh muốn nói tới tinh thần hợp tác trong một công ty không?
Stahr có vẻ hơi nóng nảy :
- Ồ, không, không phải thế. Ý tôi muốn nói là hình như các anh đã luôn luôn theo dõi công việc sản xuất của tôi. Tuần trước, một gã soạn giả say sưa, từng lang thang đầu đường, xó chợ cũng xồng xộc vào văn phòng tôi đòi bàn công chuyện, thế là nghĩa lý gì?
Brimmer mỉm cười :
- Thưa anh, tôi không phải là người có thể can thiệp vào việc làm của ông soạn giả đó.
Hình như hai người đã uống trà với nhau. Lúc tôi quay trở lại thì Stahr đang kể cho Brimmer nghe câu chuyện khác về anh em ông Warner và cả hai cùng cười. Stahr nói :
- Khiêu vũ gia Nga Balanchine đã lầm anh em Warner với anh em Ritz. Ông ta không còn phân biệt được ai là chủ của mình và ai là người mình đang huấn luyện. Ông ta thường nói: “Tôi hết dạy nổi anh em nhà Warner”.
Họ đàm thoại trong không khí êm ả của buổi trưa. Brimmer hỏi Stahr tại sao các nhà sản xuất không ủng hộ Liên Minh chống chủ nghĩa Quốc xã. Stahr trả lời :
- Tại vì các anh xúi bọn soạn giả làm loạn trong cơ sở của chúng tôi. Nhưng nhìn vào đường xa thì cảc anh sẽ thấy rằng các anh chỉ phí thời giờ vô ích. Bọn nhà văn là đồ con nít, ngay lúc bình thường họ cũng chẳng chịu nghe ai nữa là khi tình hình đã trở nên rối loạn.
Brimmer nói với giọng thích thú :
- Họ có thể ví như những nông gia, còn các anh giống như người ở thành thị. Họ sản xuất, nhưng các anh là người hưởng lợi. Chẳng khác gì nhà nông cầy cấy, nhưng khi có những bữa tiệc linh đình họ lại không được dự.
Tôi nghĩ vẩn vơ về cô gái của Stahr, không biết những liên lạc của hai người đã chấm dứt hẳn chưa? Sau này khi được nghe kể tất cả câu chuvên về Kathleen, đứng dưới trời mưa trên con đường Goldwyn loang lổ, tôi cho rằng thời gian đó là vào khoảng một tuần sau khi nàng gởi điện tín cho Stahr. Bức điện tín mà nàng đã may mắn tìm được cách gửi cho chàng. Hôm đó, người đàn ông ở xe lửa bước xuống, anh ta dẫn nàng đi thẳng ngay vào Bưu Điện, không một mảy may ngờ rằng đó chính là nơi nàng đang cần tới. Lúc đó vào khoảng tám giờ sáng. Kathleen nóng lòng nghĩ hết cách làm sao để gởi được bức điện tín cho Stahr. Trên lý thuyết, nàng có thể ngừng lại và nói với anh ta: “Em quên chưa nói với anh, em đã gặp một người đàn ông”. Nhưng trường hợp này không thể nào làm như vậy vì sự gắn bó giữa hai người đã quá sâu đậm, đã đi quá xa qua bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, tin tưởng, chiến đấu. Sự gắn bó giữa hai người chẳng khác gì một chiếc xe chạy trên đường rầy, vật nào muốn ngăn cản sẽ bị nghiến đứt ngay lập tức. Anh ta đứng chờ nàng viết và nhìn thẳng vào bức điện tín. Nàng hy vọng anh ta đứng ở phía bên kia bàn nên khó đọc ngược được...
Khi tôi để ý trở lại tới câu chuyên trong phòng thì Stahr và Brimmer đã đồng ý với nhau ở quan điểm là hành động của các văn sĩ không có gì chắc chắn. Họ đã đồng ý bỏ rơi bọn soạn già khốn nạn đó. Stahr nói :
- Họ không được chuẩn bị và không có khả năng nắm quyền hành. Không gì có thể thay thế được ý chí. Nhiều khi thấy chán nản, anh cần phải ngụy tạo ra một ý chí đi tiếp tục công việc.
- Tôi đã từng cảm thấy thế.
- Vấn đề nhất định là như vậy, không thể nào làm khác hơn. Hàng tuần tôi đều gặp phải hoàn cảnh như vậy. Khi không còn một lý do nào nữa để thúc đẩy công việc anh bắt buộc phải tìm cách tạo ra một lý lẽ nào đó.
- Tất cả các nhà lãnh đạo đều làm như vậy, lãnh đạo giới lao động cũng như trong phạm vi quân sự.
- Chính vì vậy mà tôi phải giữ một lập trường cố định trong vấn đề tranh chấp với nhóm soạn giả Guild. Hình như họ muốn có quyền hành trong công ty, nhưng tôi sẽ không bao giờ nhượng bộ. Tôi chỉ có thể cho ho tiền mà thôi.
- Nhưng nhiều khi anh cho họ ít quá. Mỗi tuần chỉ có ba chục đô la.
Stahr hỏi với giọng ngạc nhiên :
- Ai đâu? Ai có số lương như vậy?
- Đối với những soạn giả thường, dễ thay thế.
- Công ty tôi không có soạn giả nào như thế.
À, phải rồi, trong công ty anh có hai người được trả với giá lương đó.
- Một người là Ransome và người nữa là O’Brien.
Stahr nhìn tôi mỉm cười :
- Những người đó mà là soạn giả cái gì? Họ chỉ là anh em bà con của Ba của cô Cecilia đây.
- Còn một vài người nữa trong phim trường.
Stahr lấy trong túi ra một ve thuốc nhỏ, trút vào ly trà và dùng muỗng khuấy tan, rồi hỏi đột ngọt :
- Tiếng “rút” có nghĩa là gì nhỉ?
- Rút? Đó là một mánh khóe các công ty xử dụng để chấm dứt hoặc làm tan vỡ những cuộc đình công.
- Tôi cũng nghĩ thế. Ở công ty tôi có một soạn giả lãnh lương mỗi tuần một ngàn rưỡi đô-la. Nhưng anh thường đi trong câu lạc bộ, tới phía sau ghế ngồi của những soạn giả khác và nói: “Rút”. Nếu anh ta không chấm dứt cái trò đó thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ mà thôi.
Brimmer cười :
- Tôi mong có địp được thấy cảnh đó.
- Nếu muốn, hôm nào rảnh mời anh lại phim trường chơi một ngày.
Brimmer cười có vẻ thích ra mặt.
- Không dám, nhưng tôi thường nghe nói anh là người làm việc kinh khủng và hữu hiệu nhất miền Tây Hoa Kỳ. Tôi mong có dịp được xem anh làm việc. Nhưng chỉ sợ tôi sẽ thất vọng.
Stahr nhìn tôi :
- Chú khoái ông bạn của cháu quá. Ông ấy hơi nóng tính, nhưng dễ thương.
Nói xong chàng nhìn sát vào mặt Brimmer hỏi :
- Anh người miền nào nhỉ?
- Gia đình tôi lập nghiệp ở miền Tây này từ năm sáu đời rồi.
- Chắc anh được nhiều người quen biết ủng hộ lắm?
- Vâng. Ba tôi trước là quản giáo.
- Không, tôi muốn hỏi những người trong tổ chức Cộng sản ấy chứ? Nghe nói có một cán bộ Cộng sản tay tổ người gốc Do Thái có ý định làm tiêu luôn công ty Ford phải không anh? Tên anh ta không biết là gì này...
- Frankensteen?
- À, đúng rồi. Không biết các anh, có ai tin chuyện đó không?
Brimmer trả lời gọn lỏn :
- Cũng có một số ít.
- Nhưng chắc không có anh trong đó?
Brimmer nhún vai :
- Có lẽ họ nói hơi quá đáng. Nghĩ kỹ, chắc anh thấy tôi có lý. Chuyện đó thì ngoài khả năng của tôi.
- Ồ, biết đâu đấy. Có thể ngày nào đó, anh cũng sẽ làm tiêu một công ty khác. Nhưng theo tôi nghĩ thì đó chỉ là những chuyện tán dóc.
- Nghĩ thế nào là quyền của anh. Nhưng Frankensteen cũng có lý của ông ta. Những đại công ty cũng như những nhà tài phiệt rồi ra sẽ bị tiêu diệt lần trong thời đại này, vì hệ thống đó đã lỗi thời.
- Liệu các anh có đinh tiêu điệt luôn chánh phù Mỹ không?
- Không, nhưng có thể chính anh sẽ là người làm việc đó.
Câu chuyện cãi vã của hai người cứ như thế xoắn xuýt lấy nhau, cố tìm những lời dằn mặt, nói móc họng nhau chẳng khác gì những cuộc đôi co của đàn bà. Nhưng đối với đàn ông thì nguy hiểm hơn, vì có thể kết thúc bằng cách làm cho bàn ghế trong phòng tan nát hết. Tôi mở cửa sổ, nhìn ra ngoài vườn bông, một vườn bông màu vàng đặc biệt của vùng California.
Lúc đó đang vào giữa mùa hè, nhưng những tia nước phun ra khắp nơi trông chẳng khác gì tiết Xuân. Tôi thấy rõ Brimmer nhìn ra ngoài vườn và sẽ thở dài. Anh ta sẽ rướn người lên và hình như lớn thêm ra. Sự thực thì nếu bỏ cặp kính đen to tổ bố kia ra, trông anh ta cũng có vẻ đẹp trai lắm đấy chứ. Vậy mà cứ nhất dịnh tránh xa con gái. Sau đó chúng tôi chơi vài ván bóng bàn, anh ta đánh cũng khá. Rồi Ba tôi ở đâu đi tới, tôi nghe thấy tiếng ông hát cái bài dễ ghét Cô gái nhỏ, hãy chăm chỉ một ngày. Nếu sau này có nghĩ lại, chắc Ba tôi cũng thấy rằng ông vừa đi tới là chúng tôi im lặng, không nói gì nữa. Lúc đó khoảng sáu rưỡi, xe tôi đậu sẵn ở lối đi, và tôi đưa ý kiến ba người đi ăn cơm tối ở tiệm Trocadero.
Brimmer có vẻ do dự, giống như trường hợp của Cha O’Ney ngày nào ở New York khi được tôi và Ba tôi mời đi xem đoàn vũ nữ người Nga. Tiệm ăn sang trọng không phải chỗ quen thuộc của anh ta. Trong lúc đang ăn, có ông phó nhòm Bernie tới đòi chụp hình, nhưng Stahr đã đuổi đi. Tôi thấy tiếc rẻ vì muốn có một tấm ảnh.
Stahr đã khiến tôi ngạc nhiên khi chàng uống tời ly rượu thứ ba. Tôi nói :
- Bây giờ thì cháu chắc chắn là chú bị thất tình.
- Tại sao cháu lại nghĩ vậy?
- Vì chú đã uống tới ly cocktail thứ ba.
- Ồ, đã lâu không uống, hôm nay chú phải uống chớ có gì đâu.
Tôi đếm những chiếc ly: “Hai... ba”
- Chú uống mà chẳng thấy mùi vị gì ngon cả, chắc phải có chuyện gì đây.
Tôi nhìn ánh mắt chàng, thấy hơi sầm lại, nhưng rồi lại qua ngay. Brimmer nói :
- Đây là ly rượu đầu tiên của tôi trong tuần. Tối bắt đầu uống rượu từ khi còn ở trong Hải quân.
Sự tinh ranh đã trở lại trong đôi mắt chàng, chàng nhìn tôi :
- Tên chó đẻ trông giống như cái hộp đựng xà bông này đã từng ở trong Hải quân sao?
Brimmer hơi bối rối, không biết phải đối phó thế nào. Nhưng sau cùng rõ ràng hình như anh ta tính chung tất cả vào cuộc gặp gỡ buổi chiều nay, mà tôi đã dàn xếp với anh ta, anh ta chỉ mỉm cười nhẹ trước câu nói của Stahr. Stahr cũng mỉm cười lại. Tôi yên tâm khi thấy không có gì xảy ra, mọi người coi đó là thói quen của người Mỹ. Tôi cố nói nhiều để Stahr không có dịp lên tiếng. Nhưng sau đó chàng đã có vẻ bình thản trở lại. Chàng nhìn Brimmer như muốn nói riêng với anh ta :
- Tôi có một kinh nghiệm bàn thân như thế này: Có một ông đạo diễn thuộc loại cừ nhất ở Hollywood này, tôi chưa hề bất đồng ý kiến với ông ta điều gì bao giờ. Nhưng ông ta có một cố tật là bất cứ cuốn phim nào, ông ta cũng tìm cách nhét vào một chuyện đồng tính luyến ái, hay là một cái gì tương tự như thế. Câu chuyện đó ông ta dàn cảnh rất khéo khiến tôi không thể cắt bỏ đi được. Nhưng mỗi lần cuốn phim được đem ra chiếu là Hội Bảo vệ Luân lý lại nhao nhao lên phản đối, và rốt cuộc họ tìm cách cắt xén một đoạn ở trong cuốn phim lành mạnh khác để bù vào.
Brimmer có vẻ đồng ý :
- Đó là một trong những khó khăn điển hình của mọi tổ chức.
- Điển hình cái gì. Đó là một cuộc vật lộn bất phân thắng bại giữa tôi với anh ta. Nhưng vừa rồi anh ta bảo tôi anh ta đã được một ông giám đốc thuộc nhóm Guild che chở, và tôi không thể làm áp lực với anh ta được nữa. Như vậy đó, các anh có thấy rằng việc tranh đấu lộn xộn của các anh đã gây nhiều khó khăn thêm cho tôi chưa?
Brimmer mỉm cười :
- Thực ra thì chúng tôi đâu có kiểm soát được các đạo diễn.
Stahr có vẻ tự phụ :
- Họ đều bồ với tôi cả.
Cũng giống như Edward Seventh từng khoe anh đã sống trong xã hội quý phái nhất Âu châu. Stahr nói tiếp :
- Nhưng bọn đạo diễn không bao giờ tha tôi, dù tôi là người đã dạy bảo họ từng li, từng tí trong việc trao dồi nghề nghiệp. Họ cứ nghĩ rằng sân khấu là đất của riêng họ, tôi không có quyền xía vô. Kỳ này tôi mướn một lô một lốc bọn soạn giả để họ bầu bạn với nhau, và biến thành đảng viên công sản hết thử coi.
Gary Cooper vừa vào trong tiệm cùng với một số người khác, những người này hầu như ngồi bất động và họ chỉ thở khi nào thấy Cooper thở trước. Một người đàn bà khác vào trong tiệm đứng nhìn quanh quẩn một lát, khi quay mặt lại thì hóa ra là Carole Lombard. Dù sao thì hôm nay Brimmer cũng thấy được nhiều nhân vật trong giới điện ảnh.
Stakr kêu liền một lúc hai ly whiskey soda. Chàng không ăn gì, và luôn miệng chửi họ lười biếng thế này thế kia và tuyên bố chẳng coi ai ra gì, vì chàng có quá nhiều tiền. Những lời lẽ đó tôi đã được nghe ba tôi nói nhiều lần với bạn bè của ông. Tôi tưởng rằng ít ra Stahr cũng phải biết những câu như thế không đem ra nói ở ngoài công ty. Có thể chàng chưa được nghe ai nói như thế bao giờ nên không biết là nó chướng tai. Sau cùng chàng ngồi yên và uống hết một ly cà phê đen. Tôi yêu chàng nên dễ dàng bỏ qua. Nhưng tôi giận Brimmer. Tôi không muốn anh ta nhìn thấy những yếu điểm của Stahr như thế này. Nếu những cảnh này được đưa lên màn ảnh thì thiên hạ sẽ chỉ còn coi Stahr là một thứ đồ bỏ. Tôi muốn mọi người coi Stahr là một thiên tài trong việc tổ chức và điều hành kỹ thuật hiện đại.
Stahr lên tiếng như thế muốn bào chữa cho thái độ vừa rồi của mình :
- Tôi là một nhà sản xuất, tôi rất khoái bọn soạn giả và không bao giờ đuổi bất cứ ai, nếu họ biết làm công việc của họ.
Brimmer có vẻ khoái :
- Chúng tôi không cần biết điều đó. Điều chúng tôi nhắm là chính những nhà tư bản các anh.
Stahr gật đầu, dằn giọng :
- Phải lắm, nếu bạn bè của tôi mà có mặt đông đủ ở đây, chắc họ đã đồng thanh yêu cầu tống cổ anh và các đồng chí của anh ra khỏi thành phố này.
Brimmer có vẻ hơi giận :
- Tôi xin ghi nhận lòng tốt của anh. Thực tình mà nói, chúng tôi cũng nhận thấy động tới anh là khó lắm, vì anh là một chủ nhân có nhiều thiện cảm của công nhân, hơn nữa ảnh hưởng của anh rất lớn.
Stahr nghe Brimmer một cách lơ đãng, chàng nói :
- Tôi không bao giờ nghĩ rằng óc của tôi lớn hơn óc của một nhà văn, nhưng tôi luôn luôn nghĩ rằng bộ óc của họ phải thuộc về tôi, vì chỉ có tôi là người biết xử đụng bộ óc đó. Cũng giống như những người La Mã xưa kia, tôi nghe nói rằng họ không có tài phát minh, sáng chế, nhưng có tài xử dụng mọi cái. Anh thấy vậy không? Tôi không dám quả quyết điều đó hoàn toàn đúng, nhưng ngay từ nhỏ tôi đã có quan niệm như vậy.
Brimmer có vẻ chú ý tới câu nói vừa rồi của Stahr. Đây là lần đầu tiên từ chiều tới giờ, tôi thấy anh ta chú ý một cách đặc biệt. Anh ta trả lời Stahr :
- Anh là người biết mình lắm.
Lúc này tôi nghĩ rằng đã tới lúc Brimmer muốn cáo lui. Anh ta tò mò, muốn tìm hiểu xem Stahr là người thế nào, và bây giờ thì anh ta đã thỏa mãn. Tôi vẫn còn hy vọng thay đổi được cảm tưởng của Brimmer đối với Stahr, nên khẩn khoản yêu cầu Brimmer đi cùng xe với chúng tôi về nhà. Nhưng khi đi được nửa đường, Stahr đòi ngừng lại ở một quán rượu để uống nữa, và tôi biết rằng mình đã có quyết định sai lầm.
Hôm nay là chiều thứ Bảy, một buổi chiều êm ả, với rất nhiều xe cộ ngoài đường đưa mọi người đi nghỉ cuối tuần. Stahr duỗi tay ra phía sau nệm xe và chạm vào tóc tôi. Tự nhiên tôi thầm ao ước giá hoàn cảnh này xảy ra mười năm trước đày thì hay biết mấy. Hồi đó tôi và Brimmer đều lên chín. Anh ta đang học ở một trường miền Trung Tây. Còn Stahr thì đang vui vẻ yêu đời với một niềm tự tin mãnh liệt. Lúc đó có lẽ cả tôi và Brimmer đều nhìn Stahr cười xòa là xong. Những hoàn cảnh bây giờ đã khác nhiều: tất cả đã thành những người lớn, mọi việc khó lòng giải quyết một cách êm đẹp trong tiếng cười, nhất là khi người ta đang bị ma men cũng như sự mệt mỏi hành hạ.
Xe đã vào bên trong biệt thự, tôi lái một vòng quanh vườn, Brimmer lên tiếng cáo lỗi :
- Tôi xin phép phải đi gặp một người bạn bây giờ.
Stahr nói ngay :
- Không, anh phải ở lại. Tôi chưa cho anh biết tôi muốn gặp anh để làm gì. Chúng ta hãy đánh ping pong, uống rượu nữa rồi sẽ quần thảo với nhau.
Brimmer có vẻ do dự. Stahr bật đèn lên, cầm lấy chiếc vợt ping pong, và tôi vào nhà lấy rượu với ly ra. Tôi cảm thấy không dám cưỡng lời của chàng.
Lúc trở lại, tôi thấy hai người không chơi ping pong gì cả, nhưng Stahr đang cầm cả một hộp banh mới liệng vào Brimmer và anh ta cố gạt từng trái ra ngoài. Thấy tôi tới, chàng thôi liệng và đỡ lấy chai rượu, rót một ly rồi kéo chiếc ghế ra ngồi uống ở chỗ có đèn sáng, mắt mở to nhìn ra đêm tối, đầy uy nghiêm và nguy hiểm. Trông chàng xanh quá và hình như thân thể trở nên trong suốt, đến nỗi người ta có thể hầu như nhìn thấy chất độc của rượu đang ngấm dần vào cơ thể kiệt quệ. Chàng lên tiếng :
- Chiều thứ Bảy, thời gian để nghỉ ngơi.
- Chú chẳng nghỉ gì cả.
Chàng trông giống như người đang cầm cự trong một cuộc bại trận và sắp trở nên điên loạn. Đột nhiên chàng lên tiếng :
- Tao phải chính tay cho mày một trận mới được.
Brimmer bình tĩnh :
- Anh không mướn thằng nào khác làm thay được sao?
Tôi ra hiệu cho anh ta im.
Stahr lại lên tiếng :
- Tao phải chính tay đập mày mới hả. Tao sẽ đánh cho mày hộc máu ra và ném mày lên xe lửa, tống cổ mày đi cho rảnh mắt.
Chàng đứng dậy tiền về phía trước. Tôi vội vàng ôm lầy chàng níu lại :
- Thôi, cho cháu xin. Chú kỳ quá.
Chàng nói giọng lè nhè :
- Thằng này đã dụ dỗ bọn trẻ làm bậy. Bọn trẻ làm mà không biết mình đang làm gì.
Tôi quay qua nói với Brimmer :
- Thôi anh về trước đi.
Đột nhiên Stahr vùng khỏi tay tôi, tuột cả áo ra, và chàng đã đứng sát Brimmer. Anh ta lùi lại, chạy xung quanh chiếc bàn, vẻ mặt khó chịu và hình như đang nghĩ trong bụng: “Con người gần như bệnh hoạn thế này tại sao lại có thể nắm giữ cả một công ty lớn”.
Stahr tiến tới gần hơn, giơ nắm tay lên. Hình như Brimmer đã nắm lấy cánh tay Stahr bằng tay trái của anh ta và giữ yên như thế trong một phút. Sau đó tôi quay đi chỗ khác, không còn dám nhìn tiếp.
Lúc quay lại, tôi thấy Stahr nằm dưới chân bàn và Brimmer đang cúi nhìn chàng. Tôi lại bảo Briinmer :
- Anh về đi, để mặc em.
Anh ta nhìn lại Stahr một lần nữa rồi đi vòng qua bàn :
- Thôi, tôi về chị. Từ lâu tôi muốn được đánh một tên tỷ phú, nhưng thực không ngờ chuyện lại xảy ra ở đây.
Stahr vẫn nằm yên, bất động.
Tôi bảo Brimmer :
- Vâng. Thôi anh về đi.
- Thành thực xin lỗi chị. Để tôi giúp chị một tay.
- Không có gì đâu anh. Anh cứ để mặc tôi.
Anh ta nhìn lại Stahr một lần nữa, hơi có vẻ sợ hãi trước nét mặt im lìm, bất động của chàng. Sự im lìm này đã do chính anh ta tạo ra trong một giây đồng hồ trước. Chờ cho anh ta đi khá xa khỏi sân cỏ, tôi liền quỳ xuống nắm lấy tay chàng. Sau một lát Stahr tỉnh dậy và đầy vẻ mệt mỏi bơ phờ. Chàng lồm cồm đứng lên quát lớn :
- Nó đâu rồi?
Tôi ngây thơ hỏi lại :
- Chú hỏi ai?
- Thằng Mỹ chó chết đó. Tại sao em lại ưng lấy nó. Khốn nạn quá.
- Hắn đi rồi. Cháu có lấy ai đâu.
Tôi đẩy chàng ngồi xuống ghế và nói dối :
- Hắn đi được nữa tiếng rồi.
Mấy trái ping pong nằm rải rác trên bãi cỏ như những vì sao. Tôi mở vòi nước và đem tới một chiếc khăn mùi xoa ướt. Không có dấu vết gì ở mặt, chắc chàng bị đánh trúng ở đầu. Chàng loạng quạng đi ra sau một gốc cây. Tôi nghe hình như chân chàng đá phải một hòn gạch gì đó. Sau đó chàng có vẻ khá hơn, nhưng vẫn không đủ sức đi vào trong nhà. Tôi đem chai rượu lại cho chàng uống một ngụm whiskey nữa, bây giờ chàng mới có vẻ tỉnh trở lại. Vừa ở trường ra, tuy có chút kiến thức, nhưng đây là lần đầu tôi phải đối phó với những sự kiên bất ngờ như thế này. Dù sao mọi việc rồi cũng qua khỏi.
* * * * *
Chúng tôi vào nhà. Ông bếp cho biết Ba tôi đang ngồi với Marcus và Fleishacker ở hành lang. Tôi và chàng ngồi lại trong căn phòng bọc da. Chúng tôi nói chuyên một lát. Tôi ngồi ở ghế sa lông, Stahr ngồi ở chiếc đôn bên cạnh.
Chàng hỏi :
- Chú có đánh hắn không?
Tôi trả lời :
- À, có, chú đánh anh ta ghê quá.
Sau một lát nghĩ ngợi, chàng nói :
- Thiệt là kỳ. Chú đâu có định đánh hắn. Chú chỉ muốn đuổi hắn đi. Nhưng có lẽ hắn hoảng quá và đánh lại chú.
Dù chàng có giải thích thế nào thì tôi cũng vẫn cho là hợp lý. Tôi hỏi :
- Liệu chú có còn giận hắn không?
- Ồ, không, chú bị say quá.
Chàng nhìn quanh trong phòng và hỏi :
- Ồ, ai trang trí phòng này vậy nhỉ? Hình như chú chưa vào đây bao giờ thì phải. Có phải nhân viên trang trí của phim trường không?
- Không, do chuyên viên trang trí ở New York.
Stahr trở lại giọng vui vẻ cố hữu của chàng :
- Rồi, mình phải đi chơi một lát mới được. Cháu có muốn ngủ ở trang trại của Doug Fairband không? Cháu tới chơi chắc ông ta mừng lắm.
Sau đó chúng tôi tiếp tục đưa nhau đi rong chơi suốt hai tuần lễ và chỉ còn chờ ngày cưới nhau.
* * * * *
Viết tới đây thì tác giả chết. Đoạn sau đây được viết lại do sự góp nhặt trong đống giấy não ông để lại, trong đó ông đã phác họa những nét chánh cho những diễn biến sắp xảy ra như sau:
* * * * *
Sau cuộc gặp gỡ với Brimmer, Stahr đi về Miền Đông. Phim trường bị đe dọa cúp lương và Stahr phải tìm cách thuyết phục các cổ đông của Công ty. Từ lâu đã có sự tranh chấp giữa Stahr và Brady trong việc kiểm soát phim trường. Giờ đây sự tranh chấp đã đi tới chỗ gay cấn nhất. Chúng ta không được biết kết quả về công việc trong chuyến đi của Stahr ra sao. Tuy nhiên chàng đã nhân dịp này để thăm Washington lần đầu tiên. Lúc đó nhằm vào mùa hè, không khí thủ đô nóng bức đến nghẹt thở. Stahr bị cúm và đi lang thang ở thủ đô với cơn sốt bên trong cũng như sức nóng bên ngoài. Chàng không bao giờ quen được với cái nóng ở đây.
Từ Washington trở về Hollywood, Stahr nhận thấy lợi dụng lúc chàng đi vắng, Brady đã giảm lương của nhân viên phim trường năm mươi phần trăm. Đầu tiên, Brady triệu tập một phiên họp các soạn giả viết chuyện phim và nói với họ bằng giọng đau đớn, nếu họ bằng lòng giảm lương năm mươi phần trăm thì Ban Giám Đốc cũng chịu chung như thế. Và nếu được như vậy thì các thơ ký và nhân viên cấp dưới sẽ được giữ nguyên mức lương cũ. Toàn thể soạn giả chấp thuận. Nhưng sau đó bị Brady qua mặt: các thơ ký và nhân viên cấp dưới cũng đều bị giảm lương cả, Stahr đã bị phản đối vì việc làm trên đây của Brady và chàng đã va chạm kịch liệt với Brady. Tuy vậy Stahr vẫn chống đối sự đòi hỏi của nghiệp đoàn, vì chàng lý luận rằng bất cứ một nhân viên thấp kém nào cũng có thể tự cải tiến để tiến lên trở thành nhân viên cao cấp được, như trường hợp của chính chàng chẳng hạn. Từ trước tới nay thực ra Stahr vẫn coi tất cả những người trong phim trường không phân biệt chức vụ lớn hay nhỏ đều là bạn cả. Mặt khác Wylie White cũng chống lại Stahr mặc dầu anh ta biết rằng việc giảm lương nhân viên không phải là chủ trương của chàng. Những người Cộng sản cũng chống Stahr, họ coi chàng là bảo thủ. Trong khi giới tài phiệt ở Wall Street thì lại cho Stahr là một tên theo Cộng sản. Nhưng Stahr có chủ trương riêng của chàng để đối phó với hoàn cảnh hiện nay, đó là việc thành lập một thứ Liên hiệp Nghiệp đoàn Công ty. Ý kiến này được Brady nhiệt liệt tán thành.
Còn đối với công việc ở phim trường thì chàng đã có ý định rút lui từ lúc đi Washington, nhưng sau đó chàng bị kẹt vì việc tranh chấp bùng nổ giữa chàng và Brady, khiến chàng không thể dễ dàng rời bỏ phim trường, vì như thế là đầu hàng. Trong khi đó, Stahr vẫn đi chơi với Cecilia. Cô này trong một cuộc nói chuyện với cha đã để lộ cho Brady biết rằng Stahr có một người tình khác. Lập tức Brady điều tra ra Kathleen và biết rằng Stahr vẫn còn liên lạc với nàng. Brady định gài bẫy để làm săng-ta Stahr, vu cho chàng cái tội âm mưu giết chồng của Kathleen. Stahr bực tức, bỏ rơi luôn Cecilia. Đồng thời Stahr tìm cách tố ngược là chính Brady đã nhúng tay vào cái chết của chồng một thiếu phụ mà ông ta yêu. Nhưng cả hai người cùng không ai có bằng cớ.
Brady muốn thủ tiêu Stahr. Biết được tin đó, Stahr cũng tương kế, tựu kế, mướn bọn giết mướn ra tay thủ tiêu đối thủ trước. Sau đó Stahr lên phi cơ đi New York. Nhưng ở trên phi cơ Stahr hối hận, định khi tới phi trường thì gọi điện thoại báo hủy bỏ việc giết Brady. Nhưng phi cơ gặp tai nạn, Stahr chết.
Cecilia quá đau đớn về cái chết của cha và của Stahr nàng mắc phải bệnh lao và chết trong một viện bài lao.
Đoạn cuối cùng là hình ảnh Kathleen đứng ngoài phim trường dưới trời mưa. Nàng đã ly dị với chồng vì anh ta âm mưu với Brady để hại Stahr. Nàng theo đúng ước vọng của Stahr là không bao giờ gia nhập nghề điện ảnh. Nàng mãi mãi chỉ là kẻ đứng bên lề của những thảm cảnh do điện ảnh gây ra.
 
HẾT
Đăng nhập để trả lời
0
Nhà tài phiệt cuối cùng - F. Scott Fitzgerald
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn casau thât nhiều
 
Chúc casau Giáng Sinh vui vẻ và năm mới an lành
 

📎 merry-christm..




Đăng nhập để trả lời
0