Sebastopol, tháng Tám năm 1855
I
Vào một ngày cuối tháng Tám trên con đường đá nối liền hai quận Douvanka và Baktchisarai ở bên ngoài thành phố Sebastopol có một chiếc xe ngựa đang di chuyển chầm chậm về phía thành phố bị bao vây.
Trên chiếc xe ngựa này có hai người ngồi, một sĩ quan và gã đầy tớ của chàng. Gã gia nhân cầm cương ngựa, chàng sĩ quan ngồi cạnh. Chàng sĩ quan hãy còn trẻ, có đôi vai nở và tấm thân vạm vỡ, lực lưỡng. Chàng có thể được coi là quân nhân đẹp trai nếu làn da mặt chàng đừng có màu vàng úa như màu lá chết và đừng có quá nhiều vết răn. Đôi mắt chàng màu nâu, linh động và có vẻ rất sắc rất tinh. Bộ ria mép của chàng hơi dầy và chàng có thói quen đưa lên môi cắn nhẹ đầu ria. Hai ngày nay chàng không được cạo râu nên dưới cằm chàng, nhiều sợi râu đen mọc ra lởm chởm. Chàng bị thương vì mảnh đạn đại bác ghim vào đầu trong ngày 10 tháng Năm, hiện nay đầu chàng vẫn còn được băng bó, nhưng chàng đã cảm thấy chàng khỏe lại hoàn toàn, chàng vừa rời bệnh viện Symperopol để trở về với Trung đoàn của chàng, đơn vị ấy hiện đang đóng ở đâu đó trong vùng vang động tiếng súng kia, nhưng cho tới lúc này, chàng vẫn chưa biết chắc là đơn vị của chàng hiện đang ở trong Sebastopol hay ở Severnia, ở Inkerman.
Tiếng trọng pháo nổ nghe thật gần, nhất là khi chiếc xe ngựa đưa chàng sĩ quan về với mặt trận đi vào một vùng đồng trống không có những ngọn đồi bao quanh ngăn đi tiếng động được gió đưa tới. Thỉnh thoảng, một tiếng nổ lớn lại làm rung chuyển mặt đất và làm cho chàng sĩ quan rùng mình mặc dầu chàng không muốn. Có lúc tai chàng lại nghe được những tiếng động khác nhỏ hon, như trống thúc quân hòa với những tràng súng tay. Tất cả những tiếng ấy hòa lẫn với nhau như tiếng sấm của một trận bão mùa hè, khi mưa bắt đầu rơi xuống. Mọi người chàng sĩ quan gặp trên đường đều nói rằng trong Sebastopol đang có trận pháo kích dữ dội. Không cần nghe mọi người nói, những tiếng nổ vang tới cũng cho chàng sĩ quan biết như thế. Chàng dục gã gia nhân thúc ngựa đi nhanh hơn.
Họ gặp một chiếc xe ngựa khác đi ngược đường. Đây là xe của những người nông dân chở lương thực tới tiếp tế cho Sebastopol nay trên đường trở về. Xe chở nhiều thương binh và bệnh binh. Trên xe nằm ngồi hỗn độn những người lính bộ binh bận quân phục xám, những binh sĩ hải quân bận áo xanh, những thanh niên dân sự tình nguyện lên chiến trường phục vụ đội mũ đỏ và những người lính địa phương râu ria. Khi hai chiếc xe gặp nhau trên con đường đá, chiếc xe của chàng sĩ quan phải dừng lại và nép vào vệ đường. Chàng sĩ quan nhăn mặt và nheo mắt nhìn qua đám bụi khô sang chiếc xe đang đi ngang để nhìn mặt những người nằm ngồi trong đó.
- Thưa ông... trong xe có người lính ở đơn vị mình...
Gã gia nhân nói với chủ, tay gã chỉ vào lòng chiếc xe ngựa đi ngang.
Một người lính, hai tay bị thương, ngồi thẳng người trong xe ngay sau lưng người nông dân đánh xe. Trông thấy chàng sĩ quan đang nhìn mình, anh định giơ tay lên mũ chào và cử động này làm cho anh chợt nhớ là hai tay anh đang bị thương. Một binh sĩ khác nằm cạnh anh. Chàng sĩ quan chỉ trông thấy hai bàn tay anh lính này đưa lên nắm lấy thành xe và hai đầu gối anh nhô lên. Người thương binh thứ ba có vẻ cùng đơn vị với hai anh vừa kể ngồi ở cuối xe, lưng quay lại, hai chân bỏ ra ngoài xe. Anh này chưa trông thấy chàng sĩ quan.
- Mấy anh kia... Trung đoàn H. phải không? - Chàng sĩ quan lớn tiếng hỏi.
- Thưa vâng. Kính Trung úy... - Người lính bị thương hai tay đáp.
- Trung đoàn đang ở đâu?
- Thưa ở Sebastopol. Nhưng hôm thứ tư, chúng tôi nghe nói Trung đoàn sắp di chuyển...
- Di chuyển đi đâu?
- Thưa Trung úy... đi đâu chúng tôi không được biết rõ. Có thể là sang Severnia. Chắc là sang Severnia...
Người thương binh kể lể như để chứng minh trường hợp bị thương của mình với thượng cấp :
- Từ nửa tháng nay, chúng nó bắn ta dữ quá. Chúng nó có quá nhiều đạn, chúng nó bắn cả ra biển. Dữ dội lắm.
Nét mặt người lính diễn tả sự khủng khiếp nhiều hơn là lời nói, nhưng Trung úy Koseltzoff, người từ ngày nhập ngũ đến giờ chỉ quen làm những công việc văn phòng và đây là lần chàng lên mặt trận lần thứ hai, tỏ ra khinh thường lời nói của người lính. Chàng nghĩ thầm: “Bọn lính ngu ngốc bao giờ cũng sợ quân địch, cũng đề cao quân địch”. Tuy vậy, trong đáy lòng chàng, Koseltzoff cũng sao xuyến. Để ngăn nỗi lo sợ có thể dâng lên, chàng gắt với gã gia nhân :
- Nicolaieff. Đi đi chứ. Bộ mày ngủ hay sao đó?
Nicolaieff giựt dây cương, gã thốt ra mấy tiếng dục ngựa trên vành môi dầy và chiếc xe ngựa lọc cọc chuyển bánh.
- Chỉ ngừng để cho ngựa ăn thôi - Chàng sĩ quan quyết định - Đi mau tới để gặp Trung đoàn trước khi họ di chuyển.
II
Vừa tiến vào đường Douvanka, nơi hai dãy nhà bên đường đều sụp đổ, chiếc xe ngựa của Trung úy Koseltzoff phải ngừng lại vì một doàn xe chở đạn đại bác dừng ở giữa đường.
Hai người lính bộ binh, ngồi trên tảng đá dưới bức tường đổ bên đường, đang ăn bánh mì và dưa hấu.
- Bạn đi đâu đây? Còn xa lắm không?
Người lính đang ăn dưa hấu cất tiếng hỏi một người lính bộ binh khác, vai đeo túi quân trang, đang đứng gần họ.
- Bọn tôi được lệnh đi lên nhập vào Trung đoàn - Người lính được hỏi đáp - Bọn tôi từ hậu phương xa lắm tới đây. Bọn tôi giữ hậu cứ của Trung đoàn nhưng mới đây, nhận được lệnh về là tất cả đều phải lên mặt trận, có điều rắc rối là bọn tôi không biết đích xác Trung đoàn hiện đóng ở đâu. Có người nói rằng tuần trước, Trung đoàn chúng tôi ở Korabelnaia. Bạn có biết Korabelnaia ở đâu không?
Một người lính già trên xe chở đạn nói xuống :
- Ngay trong thành phố, ngay trong thành phố... Korobelnaia là một mặt của Sebastopol. Mấy hôm trước bọn tôi vừa phải lên đó. Chỗ đó dữ lắm...
- Dữ? Dữ là thế nào? - Người lính vừa từ hậu phương tới lo sợ hỏi.
- Dữ là đánh nhau dữ chứ còn là thế nào nữa? - Người lính già thản nhiên dùng dao cắt miếng dưa ứa nước - Bạn có nghe tiếng nổ không? Đó, tiếng nổ ở Korabelnaia đó. Trên ấy, quân mình không có hầm tránh đạn, không có chiến hào, cứ nằm trên mặt đất mà chịu trận. Quân mình chết ở đó nhiều lắm...
Người lính mới đến có vẻ suy nghĩ rồi anh móc tẩu thuốc trong túi ra, đứng yên lặng nhồi thuốc, sau khi xin lửa châm thuốc, anh hút vài hơi rồi nói :
- Chúa cho ai sống là người ấy được sống. Chào các bạn, tôi đến Korabelnaia đây...
Nói xong anh rảo bước đi về phía tiếng nổ.
Người lính đang ăn bánh mì nói với theo :
- Nghỉ ở đây chút đã nào. Làm cái gì mà vội dữ vậy?
Người lính lên mặt trận vẫn bước đi bên đoàn xe chở đạn, anh nói nhỏ như người nói một mình :
- Vội hay không thì cũng vậy thôi. Mình đâu có thể ngồi ở đây mãi được...
III
Ở trạm liên lạc, nơi những sĩ quan đi công tác có quyền dừng lại ăn nghỉ, lấy ngựa, lấy xe để đi tiếp, Koseltzoff thấy nhiều người đứng chật trong trạm và trước cửa trạm. Khuôn mặt nổi bật nhất trong đám đông mà chàng nhìn thấy là mặt lão Trạm trưởng. Lão này gầy khẳng gầy kheo và có vẻ khó tính, đang cãi nhau với hai sĩ quan.
- Các ông mới chờ có hai mươi bốn tiếng đồng hồ đã ăn nhằm gì, còn phải chờ ít nhất là hai trăm bốn mươi bốn tiếng đồng hồ nữa may ra các ông mới có ngựa. Các ông Tướng đến đây cũng phải chờ...
Lão hung hăng tiếp :
- Không có ngựa là không có ngựa. Không lẽ tôi biến tôi thành ngựa cho các ông cưỡi sao?
Một chàng sĩ quan hầm hầm cao giọng :
- Nếu trạm không có ngựa là tất cả mọi người đều không có ngựa. Tại sao hồi nãy thằng đầy tớ ông nào đó mang đồ tiếp tế đi lại được cấp ngựa?
Chàng sĩ quan này có vẻ tránh nói đến tiếng “mày” nhưng mọi người nghe giọng chàng đều cảm thấy muốn “mày tao” với lão Trạm trưởng.
Người sĩ quan bạn chàng trẻ tuổi hơn, dịu giọng nói vói lão :
- Trạm trưởng... Ông nên biết rằng chúng tôi không cần ngựa để đi chơi. Chúng tôi đi có công tác khẩn cấp. Chúng tôi sẽ bắt buộc phải báo cáo tình trạng bê bối này với ông Tướng. Chúng tôi cũng sẽ phải báo cáo cả thái độ của ông, ông có vẻ bất kể quyền ưu tiên của những sĩ quan đi công tác...
Người sĩ quan thứ nhất gắt lên :
- Việc gì phải nói tử tế với nó? Hạng này tử tế không được...
Và đột nhiên, chàng quát :
- Ngựa... Mang ngựa ra đây...
Im lặng một lúc sau tiếng quát ấy. Rồi lão Trạm trưởng bắt đầu nói :
- Tôi không muốn gì hơn là cấp ngựa cho các ông. Để các ông chờ đợi, tôi được lợi cái gì? Ông nào đến cũng đòi có ngựa để đi ngay, ngựa mà lại là ngựa tốt nữa. Nhưng trạm tôi hết ngựa rồi thì tôi làm thế nào? Ở đây tôi bị chửi bới mỗi ngày. Đầy tớ các ông, các ông còn không nỡ nói nặng như nói với tôi. Các ông giết tôi, tôi chịu. Nhưng ngựa thì hiện giờ không có. Các ông muốn làm gì thì làm...
Nói xong, lão bỏ vào trạm và biển mất.
Koseltzoff xuống xe. Chàng đi vào trạm cùng với hai sĩ quan nọ.
- Chẳng sao - Chàng sĩ quan trẻ tuổi nói với bạn như để làm dịu cơn giận của bạn - Chúng mình đã làm hết sức mình có thể làm được. Chờ thêm vài ngày nữa cũng đâu có chết ai...
Koseltzoff phải vất vả nhiều mới tìm được một chỗ ngồi trong căn phòng đầy người, đầy khói thuốc, ngổn ngang những hành lý của trạm liên lạc. Chỗ chàng ngồi ở gần cửa sổ. Chàng ngồi đó và những ngón tay bận rộn vấn một điếu thuốc lá, chàng bắt đầu quan sát những khuôn mặt chung quanh và nghe tiếng nói chuyện quanh chàng. Đám đông tụ lại ở quanh bếp than cạnh cửa ra vào, trên bếp có một ấm đun nước trà bằng đồng méo mó và một nồi đun món gì đó đang sôi, nhiều gói giấy nhỏ đựng đường rơi vãi trên mặt cái bàn gỗ nhỏ đặt cạnh bếp. Một chàng sĩ quan trẻ tuổi, mặt nhăn không một sợi râu, đang bỏ trà vào ấm. Bốn chàng sĩ quan khác trạc tuổi chàng này nằm ngồi rải rác ở nhiều chỗ khác quanh đó. Một chàng, đầu gối lên cái áo khoác gập lại, nằm ngủ há miệng trên chiếc ghế dài. Một chàng khác đang bận rộn cầm dao thái nhỏ từng miếng thịt trừu cho người bạn cụt một tay cầm chĩa xiên ăn. Hai sĩ quan khác, một người bận chiếc áo khoác đặc biệt của những sĩ quan hầu cận, người kia bận bộ quân phục bộ binh mới đẹp, có hai cái yên ngựa để cạnh, ngồi riêng một nơi. Chỉ cần nhìn qua quân phục của hai sĩ quan này, người ta cũng biết họ không phải là sĩ quan chiến đấu trên mặt trận. Nét mặt họ biểu lộ vẻ hài lòng vì tình trạng đặc biệt của họ. Họ ngồi đó thảnh thơi hút thuốc như hai kẻ thỏa mãn nhất đời với hiện tại. Trong phòng còn có một y sĩ có đôi môi dày, một hạ sĩ pháo thủ trông có vẻ như người Đức đang ngồi đếm tiền. Bốn gã gia nhân, gã thì ngồi ngủ gật, gã thì mở rương hành lý ra kiểm soát lại đồ của chủ, là bốn người đàn ông cuối cùng trong phòng.
Koseltzoff nhìn một lượt quanh phòng và thấy chàng chẳng quen mặt một ai. Chàng thấy chàng có cảm tình với nhóm bốn chàng sĩ quan trẻ ngồi gần bếp lửa. Qua nét mặt và dáng điệu của họ, chàng đoán được ngay rằng họ là những sĩ quan mới ra trường, việc này làm chàng nhớ đến cậu em của chàng. Em chàng vừa ở trường huấn luyện sĩ quan pháo binh ra và đã đi thẳng tới chỉ huy một dàn trọng pháo nào đó trong Sevastopol. Nguợc lại, chàng có ác cảm nặng nề ngay với hai sĩ quan ăn mặc đẹp đang ngồi hút thuốc và nói chuyện riêng với nhau ở góc kia. Chàng thấy họ hỗn xược thật đáng ghét. Là sĩ quan từng chiến đấu và bị thương trên mặt trận, chàng vẫn còn mang dấu vết thương tích trên đầu, Koseltzoff thấy chàng có quyền và có bổn phận phải nói vài lời gì đó, phải làm vài cử chỉ nào đó, cho hai sĩ quan văn phòng kia cảm thấy tình trạng đáng khinh của họ, nghĩ vậy, chàng quyết định nhập bọn vói bốn chàng sĩ quan trẻ.
IV
- Mình sui. Sui thật là sui. Chờ đợi từ ngày đầu mà đến trận kết cục mình lại không được dự. Mấy trận lớn này là những trận cuối cùng đây...
Người nòi câu trên là chàng sĩ quan trẻ nhất bọn. Chàng nói với giọng ngại ngùng, do dư của người sợ mình nói ra một câu gì không đúng làm cho mọi người cười nhạo. Hai má chàng hồng lên như má con gái.
Chàng sĩ quan cụt một tay nhìn chàng trẻ tuổi và mỉm cười :
- Bạn còn có nhiều cơ hội dự trận mà, tin tôi đi...
Nét mặt chàng sĩ quan độc thù tươi hẳn lên vì nụ cười ấy. Chàng sĩ quan trẻ tuổi má hồng cũng cười, nhưng nụ cười của chàng là nụ cười lễ phép, kính nể. Chàng rót trà nóng ra ly bưng đến cho người đàn anh cụt tay. Và thật vậy, vẻ mặt, giọng nói, kiểu ngồi và nhất là cánh tay áo rỗng của người sĩ quan độc thủ làm cho chàng có cái vẻ thản nhiên, tự tại của người đã chịu đựng tất cả những gì người khác từng chịu đựng, đã biết rõ tất cả những chuyện người khác nói, đã trả xong nợ và đã thảnh thơi.
Đặt ly nước trà bốc khỏi cạnh lay người sĩ quan độc thủ, chàng sĩ quan trẻ nhất trong bọn trở lại hỏi người bạn ngồi bên bếp lửa :
- Đại úy quyết định sao ạ? Chúng mình nghĩ lại đây đêm nay nữa hay là sẽ tiếp tục đi với con ngựa ốm sắp chết của mình?
Người được hỏi chán chường lắc đầu tỏ ý bất lực không quyết định được. Chàng trẻ tuổi quay lại nói với chàng sĩ quan độc thủ :
- Đại úy nghĩ coi... Bọn chúng tôi bốn người, đi chung trên cái xe chở rơm, con ngựa của chúng tôi kiệt sức rồi, bắt nó kéo chúng tôi đi nữa chắc nó chết. Ở Sebastopol, Đại úy có vài ký vàng cũng không mua được một con ngựa. Chúng tôi phải đi bộ tới Symperopol mới mua được con ngựa này, mua bằng tiền túi của chúng tôi..
Chàng sĩ quan độc thủ gật đầu :
- Chắc là đắt lắm, hả?
- Thưa Đại úy, tôi không biết giá cả ra sao. Họ đòi bao nhiều tiền, chúng tôi phải trả từng ấy không có chuyện mặc cả, mở miệng mặc cả là họ quay đi luôn, không thèm nói chuyện với mình nữa. Chúng tôi mua cả ngựa, cả xe với giá 90 ruble. Đại úy nghĩ giá đó có đắt không?
Khi nói câu này, chàng nhìn cả Koseltzoff như để mời chàng phát biều.
Koseltzoff lên tiếng :
- Không đắt đâu nếu là ngựa tốt...
- Thật ạ? Ngựa tốt thì không tốt lắm nhưng cũng không hẳn là ngựa xấu. Nó chỉ hơi thọt một chân. Nhưng mấy ngày đầu nó cũng đi khỏe lắm. Có lẽ tại vì chúng tôi bắt nó kéo nặng quá. Có ngày lại không mua đủ được lúa mạch cho nó ăn no nên nó mới kiệt sức.
- Các bạn đang trên đường lên mặt trận? - Koseltzoff hỏi.
- Thưa vâng.
Hy vong dò hỏi được tin em trai mình, Koseltzoff lại hỏi :
- Đơn vị nào vậy?
- Thưa Trung úy, Trung đoàn Pháo 92. Sáu anh em chúng tôi vừa tốt nghiệp và tình nguyện lên phục vụ ở Sebastopol. Hai người đi trước chắc bây giờ đang khoái trá nã những viên đạn xuống đầu địch, có điều cho đến bây giờ chúng tôi vẫn chưa biết chắc Trung đoàn Pháo 92 đóng ở đâu. Có người nói là ở Sebaslopol, có người lại nói là đóng ở Odessa.
- Sao các bạn không hỏi cho rõ ở Sympheropol? Ở đó người ta phải biết chứ?
- Không ai ở đó biết rõ qua một chuyện gì cả. Thật là quái dị, chuyện không ai có thể tưởng tượng được. Bạn tôi đến hỏi ở Bộ Chỉ Huy Tiểu khu còn bị họ chửi nữa. Họ bảo chúng tôi cứ đến Sebastopol khắc biết. Họ làm như chúng tôi sợ lên mặt trận vậy. Nếu sợ, anh em tôi đã không tình nguyện. Thái độ của bọn đó thật khốn nạn...
Koseltzoff được dịp đẩy nhẹ một câu :
- Những tên ở văn phòng tên nào cũng thế cả...
Trước vẻ thân thiện của Koseltzoff, chàng sĩ quan má hồng, cằm không râu tỏ ra bạo dạn hơn. Chàng móc bao thuốc lá đến mời Koseltzoff :
- Trung úy hút điếu này, khỏi phải vấn mất công.
Koseltzoff rút một điếu. Chàng sĩ quan mang bao thuốc đến mời người sĩ quan độc thủ :
- Mời Đại úy...
Chàng có vẻ do dự không biết mình có nên tự tay rút điếu thuốc gắn lên môi cho người đàn anh cụt tay để bàn tay còn lại của ông ta khỏi phải làm việc hay không. Người sĩ quan độc thủ đưa bàn tay trái ra rút điếu thuốc đưa lên môi và chàng trẻ tuổi vội vã đánh diêm.
- Đại úy vừa từ Sebastopol về đến đây - Chàng nói với giọng nói vừa nồng nàn vừa thành kính - Ở Petesburg, chúng tôi suốt bgày suốt đêm nói với nhau về các vị, những anh hùng của Sebastopol...
Đoạn cuối của câu này chàng nhìn về phía Koseltzoff. Cử chỉ này biểu lộ sự kiện chàng coi Koseltzoff cũng là một anh hùng của Sebastopol như người Đại úy cụt tay. Vẻ mặt, lời nói và cả dáng người của chàng đều biểu lộ sự kính trọng.
- Các bạn nghĩ sao nếu đơn vị của các bạn đã rút ra khỏi mật trận và các bạn phải trở về trưởng? - Koseltzoff vừa cười vừa hõi.
- Thưa... anh em chúng tôi đang sợ như thế. Đã đi rồi mà phải trở về thì... không còn biết nói sao. Lại còn chuyện chúng tôi vội vã ra đi nên không chờ nhà gửi đến thêm tiền, anh em tôi lại phải chung tiền mua con ngựa và cỗ xe, rồi còn mua thêm bao nhiêu thứ nữa. Ấm đun nước trà này là của chúng tôi...
Chàng trẻ tuổi hạ giọng :
- Chúng tôi tiêu gần hết tiền rồi. Bây giờ mà phải trở về thì lôi thôi to...
- Đi đường các bạn không được lãnh tiền à?
- Thưa không. Họ cho chúng tôi biết là tới Sebastopol, chúng tôi sẽ được lãnh lương ngay ở Trung đoàn. Cứ đến được Trung đoàn, dù không có lương ngay, chúng tôi cũng chẳng lo.
Koseltzoff và người sĩ quan cụt tay cùng gật đầu tỏ vẻ đồng ý.
V
Đúng lúc ấy, một mụ đàn bà trạc bốn mươi tuổi ngoài, tay bưng cái bát sành to gần bằng cái tượng xuất hiện ở giữa khung cửa ra vào. Mụ gọi lớn vào phòng :
- Ông nào gọi nấu cháo gà, làm ơn lấy dùm nha...
Moi người trong phòng đều yên lặng, người nọ nhìn người kia, rồi tất cả đều quay lại nhìn mụ đàn bà. Dường như trong phòng không hề có ai bảo mụ nấu cháo gà hết cả.
Mu đàn bà lại hộc lên :
- Ông nào gọi cháo gà...
Chàng sĩ quan trẻ tuổi đang đứng cạnh người Đại úy cụt tay bỗng lên tiếng :
- A.. Koseltzoff gọi cháo gà... Chờ chút... Để tôi gọi hắn.
Koseltzoff ngạc nhiên đến sững sờ. Chàng tên là Koseltzoff, ở đây còn có ai trùng tên với chàng? Chàng có gọi cháo gà, cháo vịt hồi nào đâu? Hay là Nicolaieff, gã đầy tớ của chàng, gọi cháo cho chủ? Chàng chưa kịp nói gì người sĩ quan trẻ tuổi đã đi đến cuối phòng, gọi lớn :
- Koseltzoff... Dậy ăn cháo...
Đằng sau những rương hành lý xếp cao ở cuối phòng còn một người nam ngủ nữa mà Koseltzoff không biết. Từ sau những rương hành lý ấy một chàng thanh niên đúng bật dậy. Chàng này còn quá trẻ, chỉ đáng gọi là thiếu niên. Chàng trạc mười bảy, mười tám tuổi, tóc đen, mắt sáng. Chàng nhanh nhẹn bước qua chân ông y sĩ môi dầy ngồi ở đầu ghế, miệng nói :
- Xin lỗi... Xin lỗi...
Trung úy Koseitzoff nhận ra chàng thiếu niên đó là em ruột của mình. Chàng nén mừng rỡ để khỏi phải đứng bật dậy. Chờ cho em đi ngang mặt, chàng gọi :
- Này chú...
Koseltzoff Em nghiêng đầu nhìn :
- Chú có biết tôi là ai không? - Koseltzoff Anh hất hàm hỏi.
- Trời ơi... Trời... Nhất rồi...
Koseltzoff Em sung sướng la lên, rồi trước sự ngạc nhiên của mọi người, hai anh em ôm nhau, hôn lên má nhau. Họ hôn nhau hai lần, Koseltzoff Anh nói :
- Tao đang định hỏi thăm chú mày không ngờ chú mày nằm ngủ khoèo ở ngay bên cạnh...
Vẫn nắm cánh tay anh, Koseltzoff Em nói với chàng sĩ quan trẻ tuổi :
- Féderson... Ông anh mình đây... Ông anh ở Sebastopol mình vẫn nói chuyện với cậu đó... Mình được tin ổng bị thương, tưởng là đến Sebastopol phen này anh em không gặp nhau chứ... Không ngờ mới tới đây đã đụng ổng rồi...
Rồi chàng liến láu tiếp :
- Féderson... Lấy dùm tô cháo. Ăn dùm đi. Cho anh em mình nói chuyện với nhau một lát. Đi... Dùm tí...
Féderson, chàng sĩ quan trẻ tuổi má hồng đi ra cửa đỡ lấy tô cháo :
- Cứ để đây, nói chuyện xong hai anh em cùng ăn...
- Mừng quá không ăn được nữa... Ăn dùm đi cho nóng. Lát nữa mình gọi tô khác, còn tiền mà sợ gì... Ăn dùm mình đi Féderson...
Hai anh em dắt nhau ra khỏi phòng. Họ ngồi bên nhau trên thềm nhà lạnh. Koseltzoff Em líu tíu hỏi anh liên tiếp hết câu nọ đến câu kia, chàng không để cho ông anh kịp hỏi một câu nào về chàng. Koseltzoff Anh chưa kịp trả lời câu này, Koseltzoff Em đã hỏi câu khác. Chàng đòi cởi cả băng ra để xem vết thương trên đầu ông anh. Koseltzoff Anh mỉm cười và chịu khó trả lời các câu hỏi của em. Mãi đến lúc cậu em thưa hỏi, chàng mới hỏi em câu hỏi duy nhất mà chàng cần hỏi: tại sao em chàng lại không gia nhập Ngự Lâm Quân như gia đình đã xin cho mà lại tình nguyên đến Sebastopol?
- Tại vì em muốn đến Sebastopol, tại vì em muốn được chiến đấu...
Koseltzoff Em đáp. Rồi như thấy rằng đó chưa đủ lý do để mình làm trái ý muốn của gia đình, chàng vội vã tiếp :
- Anh nghĩ coi... Đi chiến đấu, em có cơ hội thăng cấp nhanh hơn phục vụ trong cái binh chủng cù lần chuyên môn gác cửa đó, em phải mất ít nhất là mười năm mới lên được cấp Đại tá. Mười năm là hết đời mình rồi còn gì? Chắc anh biết Pháo binh bọn em có ông Todtleben? Lúc ổng đến Sebastopol, ổng đeo lon Trung tá... Chỉ hai năm sau ổng đã đeo lon Thiếu tướng... Đi đánh nhau, đâu phải ai cũng chết? Mà có chết đi nữa thì... thì... mình cũng như người khác...
Và chàng thiếu niên mỉm cười, đôi mắt nhìn anh long lanh trìu mến :
- Em nghe nói ông Tướng giữ anh ở hậu cứ, anh nhất định đòi lên Sebastopol...
Koseltzoff Anh mỉm cười :
- Chú mày nói khéo lắm... Mồm mép chú mày trơn như thoa mỡ...
Kozeltzoff Em cũng cười. Hai anh em im lặng nhìn nhau một lát, rồi Koseltzoff Em lại nói, lần này giọng chàng trang trọng hơn và chàng cũng, nói với vẻ khó khăn hơn :
- Thực ra, chuyện mau được lên cấp với em cũng chẳng phải là việc quan trọng. Lý do chính của em là... - Nói đến đây hai má chàng đỏ lên như chàng đang thú nhận một chuyện gì đáng xấu hổ - lương tâm em sẽ cắn rứt em nếu em không đi... Em chắc anh hiểu em hơn ba má. Em biết ba giận em lắm khi em đã không chịu vào Ngự Lâm Quân như ba bảo, em còn ra đi không về chào ba. Em sợ nếu em về nhà, nhìn thấy ba má, nhất là thấy má, em sẽ không còn đi nổi nữa. Em sẽ khổ lắm nếu em phải sống ở Pelesburg trong lúc mỗi ngày có bao nhiêu người chết để bảo vệ tổ quốc. Em cũng muốn đến Sebastopol để được gần anh nữa...
Koseltzoff Anh cũng cảm động, chàng giấu sự xúc động của mình bằng cách móc túi đựng thuốc lá ra vấn :
- Chủ mày chỉ là thằng tò mò muốn biết đánh nhau ra làm sao. Chú mày muốn làm người hùng... Nhưng thôi, đã quyết định thì đừng bao giờ hối hận...
Như sợ làm cho em buồn, chàng đổi chuyện :
- Sebastopol rộng lắm. Anh em mình đâu có ở chung một chỗ được.
- Nói cho em biết sự thật về những chiến hào ra sao? Có thực là khủng khiếp như người ta nói không?
- Cũng khá... khủng khiếp. Lúc đầu đến đó ai cũng sợ, nhưng sống ở đó đuợc ít ngày, mình sẽ quen đi. Rồi em sẽ thấy.
- Còn chuyện này nữa... Sebastopol có thể bị thất thủ không anh? Em thì nghĩ rằng chuyện đó không thể nào xểy ra được.
- Chuyện đóỏ chỉ có Chúa mới biết...
- Đi chuyến này em gặp nhiều chuyện sui sẻo quá. Em bị mất cắp nhiều đồ quá. Cả cái mũ sắt của em cũng bị chúng lấy mất. Lúc em đến trình diện ở đơn vị, không biết các sĩ quan sẽ nhìn em ra sao.
Vladimir Koseltzoff, người em, có nét mặt giống như Michael Koseltzoff, người anh. Cái khác nhau giữa hai anh em chỉ là cái khác nhau giữa một nụ hoa vừa hé nở và một bông hoa đã nở. Mái tóc của Vladimir dầy hơn tóc anh, có nhiều lọn quăn lại ở hai bên mang tai, tóc ở sau gáy chàng bồng lên, kiểu tóc bồng, ở nhưng chàng thiếu niên đẹp trai mà những người đàn bà đa tình rất thích. Làn da mặt chàng chưa dầy dặn phong sương, vẫn còn nhiều lúc ửng hồng lên ở hai má. Đôi mắt chàng lớn hơn và trong sáng hơn mắt anh. Và trên vành môi hồng của chàng chỉ mới có những sợi ria nâu thật mịn. Vành môi ấy luôn luôn nở nụ cười để lộ hàm răng trắng bóng. Chàng đứng đó trong chiếc áo ngoài cởi nút để lộ chiếc sơ-mi đỏ bên trong, cổ quấn khăn choàng hoa theo kiểu nhưng thanh niên quý phái, thân hình mảnh mai nhưng vẫn không yếu đuối, đôi vai nở, điếu thuốc lá tỏa khói xanh ở những ngón tay dài, một bên mông dựa nhẹ vào thành lan can, vẻ mặt sáng lên vì niềm vui hồn nhiên, đôi mắt nhìn chằm chặp vào mặt người anh chàng là hiện thân của người thiếu niên yêu đời đáng yêu nhất. Người ta khó có thể rời mắt nhìn chàng. Chàng thành thật sung sướng với việc tình cờ gặp gỡ ông anh của chàng ở đây, người anh mà chàng vẫn cho là người hùng và vẫn kiêu hãnh kể chuyện với các bạn. Chàng biết anh chàng không được học nhiều, học cao bằng chàng nhưng ngược lại, anh chàng là người mà chàng coi là đã có đầy đủ kinh nghiệm về cuộc đời, là người không kém cạnh bất cứ một ai.
Vladimir Koseltzoff chỉ mới được biết về đời nhờ một người đàn bà thích gần những chàng trẻ tuổi đẹp trai. Trong thời gian ở trường huấn luyện Sĩ quan Pháo binh, những ngày nghỉ, chàng đều sống ở nhà nàng. Mạc Tư Khoa cũng giúp cho chàng biết thế nào là cuộc đời vì chàng có lần được dự một dạ hội khiêu vũ lớn tổ chức ở nhà ông Thượng nghị sĩ bác ruột của chàng. Chính ông bác Thượng nghị sĩ này đã xin cho chàng gia nhập ngành Ngự Lâm Quân.
VI
Tuy yêu thương nhau, anh em Koseltzoff vẫn có những tính nết khác nhau. Sau vài giây im lặng. Koseltzoff Anh bỗng nói :
- Anh có xe, anh đưa em đến Sebastopol. Em vào lấy đồ đi, chúng ta lên đường ngay.
Người em đỏ mặt và tỏ vẻ bối rối :
- Đi thẳng tới Sebastopol ư?
- Ừ. Đi thẳng tới Sebastopol. Anh chắc em không có nhiều hành lý, xe anh còn đủ chỗ cho em. Con ngựa của các bạn em sẽ đỡ phải kéo thêm một người. Như thế tiện cho em mà cũng tiện cho cả các bạn em nữa.
- Để em vào nói cho các bạn em biết...
Chàng tuổi trẻ đi vào nhà trạm. Trước khi bước qua khung cửa, chàng cúi đầu nghĩ thầm:
“Đi thẳng tới Sebastopol? Mình sắp đi vào chỗ chết? Mình sợ ư? Nhưng sớm hay muộn gì mình cũng tới đó. Chi bằng tới đó với anh mình”.
Sự thực là khi còn ở Petesburg, chàng sôi nổi muốn được có mặt trong thành phố Sebastopol dũng cảm ngay, nhưng càng đến gần mặt trận, sự nồng nàn của chàng càng dịu đi. Nhiều lúc chàng thầm mơ ước cứ được đi như thế mãi không bao giờ đến nơi. Tất nhiên là chàng không thổ lộ ý muốn thầm kín này với bất cứ ai. Ngoài mặt, chàng vẫn tỏ ra nóng nảy muốn được tới ngay mặt trận.
Koseltzoff Em vào nhà trạm ở lại trong đó quá lâu, lâu đến nỗi Koseltzoff Anh sốt ruột phải bước vào xem có chuyện gì xảy ra. Ông anh đẩy cửa nhìn vào và thấy cậu em đứng trước mặt người Đại úy trưởng nhóm như cậu học sinh đang bị ông Hiệu trưởng sỉ mắng. Trông thấy ông anh nhìn vào, Koseltzoff Em vội nói :
- Em đi ngay, chờ em chút nữa.
Một lát sau người em bước ra khỏi nhà trạm tìm anh. Chàng thở dài :
- Em không đi với anh được...
- Nói chi vậy? Tại sao?
- Để em nói anh nghe. Em hết tiền, em thiếu tiền ông Đại úy...
Người anh nhíu đôi lông mày. Sau đó một lúc khá lâu anh mới hỏi :
- Nhiều không?
- Không nhiều lắm - Người em ngượng ngùng đáp - Ba trạm đường vừa qua, ông ấy bỏ tiền ra chi hết mọi thứ cho em. Em lại có đánh bài với ông ấy, bị thua...
- Volodia... Đã không có tiền ăn đường mà còn đánh bài là bậy lắm. Nếu em không gần anh ở đây rồi em sẽ giải quyết ra sao?
Người anh nói bằng một giọng nghiêm khắc nhưng tránh không nhìn vào mặt em.
- Em sẽ được lãnh tiền di chuyển và tiền lương ở Sebastopol. Tới đó, em sẽ trả nợ ông ấy. Vì vậy em phải cùng đi với ổng...
Người anh móc túi đựng tiền ra và lấy hai tờ giấy 10 ruble và một đồng 3 ruble :
- Anh chỉ có từng này... Em cần bao nhiêu?
Koseltzoff Anh tỏ ra hơi quá đáng một chút khi nói rằng mình chỉ có khoản tiền này mà thôi, chàng còn bốn đồng tiền vàng nửa khâu giấu trong nẹp áo nhưng chàng tự hứa là sẽ không bao giờ chàng đụng đến những đồng vàng đó.
Sau khi cộng mọi thứ tiền nợ lại, Kosetlzoff Em chỉ nợ có 8 đồng ruble mà thôi. Người anh đưa cho người em số tiền ấy với lời nói thêm rằng người ta không bao giờ nên đánh bạc khi người ta không có tiền để trả. Người em không nói gì nhưng lời nói của ông anh làm cho chàng cảm thấy chàng là kẻ không được lương thiện mấy. Bất mãn vì thái độ của người anh mà chàng thương mến và kính trọng về câu chuyện rắc rối mà chàng cho là nhỏ mọn này, Koseltzoff Em lẳng lặng cầm tiền vào nhà trạm thanh toán để ra đi.
VII
Nikolaieff, sau khi tỉnh táo lại bằng hai ly rượu brandy gã mua lại được của một người lính, giựt dây cương và chiếc xe lại lọc cọc đi trên con đường đá nối liền Belbek với Sebastopol. Hai anh em ngồi sánh vai nhau trên xe thân hình họ sát vào nhau nhưng mỗi người theo đuổi một dòng ý nghĩ riêng. Họ không nói gì vời nhau từ lúc xe chuyển bánh.
“Tại sao anh mình lại giận mình?” Người em nghĩ: “Bộ ảnh nghi rằng mình bày đặt ra chuyện thiếu nợ để lấy tiền của ảnh sao? Anh có vẻ giận mình lắm. Thật tội, anh em vừa mới gặp nhau đã giận nhau rồi, mà lại giận nhau vì chuyện tiền bạc thật là hạ tiện. Lẽ ra anh em mình phải vui lắm mới phải chứ? Hai anh em thương yêu nhau cùng chiến đấu dũng cảm trong Sebastopol anh dũng. Mình còn trẻ nhưng chỉ sống ở Sebastopol một tuần, hai tuần là nhiều, mình sẽ tỏ cho mọi người thấy mình cũng già dặn không kém gì ai. Rất có thể là trước buổi tối hôm nay, anh em mình đã tới đó và anh em mình sẽ tham dự ngay một trận đánh dữ dội. Ông anh mình chắc chắn phải can đảm lắm. Ảnh thuộc loại người nói ít mà làm nhiều. Tối nay, anh em mình sẽ đi lên thẳng chiến hào, mình đến với dàn trọng pháo đang chờ đợi mình để rót đạn xuống đầu quân địch, anh mình trở lại chỉ huy Đại đội của ảnh. Bỗng dưng bọn Pháp ào ạt tràn sang tấn công. Mình bắn chúng chết thật nhiều nhưng chúng quá đông, chúng chạy thẳng đến trước họng súng của mình. Không còn bắn được nữa - mình nguy rồi. Bỗng anh mình xuất hiện, tay kiếm vung lên chém ngã bọn Pháp súm lại ở cửa hầm. Mình vớ lấy khẩu súng tay và chạy theo anh. Binh sĩ chạy theo mình. Bọn Pháp vây anh mình. Mình trở lại cứu anh. Rồi mình bị thương ở cánh tay. Đang chạy, anh mình ngã xuống vì một viên đạn trúng đầu. Mình dừng lại để đỡ anh nhưng anh đã chết. Đặt anh nằm xuống, mình cầm cây kiếm đẫm máu của anh, hô lớn: ‘Những người dũng cảm hãy theo tôi... Chúng ta phải trở lại báo thù cho những người đã chết...’ Binh sĩ phấn khởi quay trở lại hết với mình... Nhưng bọn Pháp quá đông... Càng giết chúng càng kéo đến... Rồi mình cũng ngã xuống... Hai anh em cùng hy sinh anh dũng... Đẹp biết chừng nào...!”
Koseltzoff Em mơ màng như thế theo nhịp lắc lư của chiếc xe. Tuy đó chỉ là tưởng tượng và mơ mộng, nhưng ai có thể biết chắc rằng một chuyện như thế có xảy ra hay không?
Chợt quên giận hờn, người em cất tiếng :
- Anh đã đánh cận chiến với địch lần nào chưa?
Người anh lắc đầu :
- Chưa. Sư đoàn anh đã mất hai ngàn người nhưng toàn là chết vì đạn trọng pháo của địch. Anh cũng bị thương vì mảnh đạn trọng pháo. Chiến tranh không diễn ra như em tưởng đâu. Volodia ơi...
Tiếng gọi thân làm cho người em mủi lòng. Lòng chàng ấm lại và chàng hỏi anh sau vài giây im lặng :
- Anh giận em ư?
- Giận em? Sao anh lại giận em?
- Em tưởng anh giận em vì chuyện hồi nãy...
- Không đâu.
Người anh quay lại nhìn mặt người em, bàn tay anh vỗ nhẹ lên đầu gối em.
- Em xin lỗi. Vậy mà em tưởng anh giận em.
Koseltzoff Em quay đi để giấu đôi mắt ứa lệ.
VIII
- Đây là Sebastopol ư?
Volodia cất tiếng hỏi khi chiếc xe đưa hai anh em lên đến đỉnh ngọn đồi.
Dưới mắt họ hiện ra vùng biển, bến tậu với cả ngàn cây cột buồm, rồi mặt biển xanh thẫm màu dưới bóng chiều đang xuống, dàn chiến hạm đậu riêng một khu, bãi cát ngổn ngang những thùng gỗ, thùng sắt, những tòa nhà kho viền quanh bến tàu rồi những căn nhà trong thành phố. Nhiều đợt khói trắng xanh, bốc lên từ những sườn đồi bao quanh thành phố. Mặt trời đã lặn xuống biển.
Volodia nhìn xuống thành phố chàng hằng mơ tưởng trong bao nhiêu đêm mà trong lòng không cảm thấy qua một chút sợ hãi, kinh hoàng nào cả. Trái lại chàng cảm thấy sung suớng thấy hài lòng với ý nghĩ là chỉ nửa tiếng đồng hồ nữa thôi, chàng sẽ được đi, được sống ở ngay trong lòng thành phố tượng trưng cho nguy hiểm và anh dũng đó. Chàng say sưa ngắm nhìn cảnh vật như muốn làm quen thật nhanh với chúng.
Trước khi vào thành phố, hai anh em phải đi hỏi đơn vị của họ hiện đóng ở đâu và họ phải tới trình diện ở đâu. Để hỏi rõ những chuyện cần biết này họ dừng lại trạm liên lạc ở bên ngoai thành phố. Trạm liên lạc và chỉ dẫn đặt trong một lều vải nằm gần một khu toàn là nhà gỗ. Một đống lớn gồm những khúc cây vừa được chặt xuống nằm bên căn lều vải nảy. Trong lều, hai anh em Koseltzoff thấy một sĩ quan mặt cái áo sơ-mi trần màu vàng bẩn ngồi sau mặt bàn bừa bộn những giấy tờ, những quyển sổ và một bình trà, một bình rượu, một cái ly dơ không rõ bên trong có cặn trà hay cặn rượu. Vài mẩu bánh, vài miếng trứng cá vụn rơi trên bàn. Người sĩ quan ngồi đó đang mải đếm một tạp giấy bạc. Sau lưng ông ta có kê một cái giường sắt, trên giường nệm, gối, mền, tất cả đều có vẻ bẩn. Dưới gầm giường xếp đầy những chai rượu, nhiều chai không, nhiều chai còn rượu. Một tấm thảm rách ngăn đôi căn lều. Sau tấm thảm căng đó còn kê một cái giường sắt nữa giống hệt cái giường bên ngoài, trên giường trong này, một sĩ quan khác đang nằm ngủ.
- Nhiều tiền quá... Chết chửa... Nhiều tiền quá... - Koseltzoff Anh nói lớn khi bước chân vào lều - Vassili Mikhailovich... Cho anh em vay một ít được không?
Ngưồi sĩ quan đang đếm tiền có vẻ không vui khi thấy có người bước vào, y thu tập giấy bạc lại, tay phải giơ lên chào nhưng vẫn không đứng dậy :
- Nếu là tiền riêng của tôi, tôi chia với bạn ngay. Rất tiếc đây là tiền của Nhà nước...
Y nhìn Koselizoff Anh và hỏi tiếp :
- Trung úy đi với ai vậy?
- Đây là em ruột tôi. Sĩ quan pháo binh vừa mới ở trường ra. Bọn này ghé vào hỏi thăm đơn vị hiện đóng ở đâu...
- Mời ngồi... Mời hai vị ngồi... Mời hai vị uống Porter, được không?
- Porter thì được lắm...
Volodia, bị khớp vì vẻ từng trải đầy chất ngạo mạn bất cần đời, bất cần kỷ luật của người sĩ quan phụ trách trạm liên lạc nhất là vì vẻ nể nang mà ông anh chàng biểu lộ với người sĩ quan này, ngồi xuống mép ghế, nghĩ thầm: “Ông này được mọi người kính trọng như vầy chắc là phải tài ba và can đảm lắm”.
- Trung đoàn tôi hiện đang ở đầu, ông? - Koseltzoff Anh hỏi.
Đang mải cúi xuống tìm chai rượu dưới gầm giường, người sĩ quan hỏi lại :
- Trung úy nói chi?
Koseltzoff Anh nhắc lại câu hỏi.
- Sáng nay tôi vừa gặp Seifer. Hắn cho biết là Trung đoàn đang đóng ở Pháo đài Số Năm.
- Chắc không?
- Chắc chứ. Seifer nói mà. Thằng cha đó nói dối tổ mẹ đi nhưng chắc là nó không nói dối về nơi đóng quân đâu.
Rượu được rót ra ly. Ba người đang uống thì một sĩ quan khác vào lều. Ông này mang phù hiệu sĩ quan tiếp vận trên vai. Sau cái hất hàm chào lại mọi người, ông sĩ quan tiếp vận này ngồi ngay xuống ghế :
- Vassili Mikhailovich... Cho một ly với...
Rồi ông quay lại thân mật hỏi Vounha :
- Chú này chắc là vừa mới từ Petesburg đến hả?
Volodia vội vã gật đầu :
- Thưa vâng.
- Chú tình nguyện đến đây ư?
- Dạ.
- Sao lại tình nguyện? Bộ chú hết chuyện làm rồi hay sao? Quái lạ... Tôi không thể hiểu được tại sao lại có người tình nguyện đến cái chỗ chết rấp, chết rúi này..
Và ông quay lại nói với hai sĩ quan ngang hàng :
- Nếu tôi có thể, tôi sẽ đi bộ về Petesburg. Tôi chán ngấy đến mang tai cuộc sống ở đây rồi.
- Sống ở đây ông khổ sở gì nào? - Koseltzoff Anh hỏi - Sĩ quan tiếp vận như ông là sướng nhất rồi... Nhiều người muốn được sống như ông mà không được...
Người sĩ quan tiếp vận quay lại nói với Volodia :
- Cuộc sống ở đây nhiều nguy hiểm, thiếu thốn đủ mọi thứ, có tiền cũng không mua được những thứ mình cần có. Sống như trong địa ngục. Tôi không hiểu nổi tâm trạng những người trẻ tuổi như chú này. Chú đòi đến đây để làm cái gì? Để được cái lợi gì? Chú muốn được cụt chân, cụt tay cho đến hết đời ư?
Koselizoff Anh bất mãn trả lời thay em :
- Người chiến đấu vì tiền, người chiến đấu vì danh dự...
Người sĩ quan tiếp vận cười khẩy :
- Danh dự cái khỉ mốc, danh dự ở chỗ nào khi mình chẳng có gì mà ăn cả? Bạn trả lời dùm tôi danh dự ở chỗ nào khi ta sống như những con vật chờ chết?
Rồi, với nụ cười khinh thị như đã chán nói chuyện với bọn ngớ ngẩn, ông ta nói với người sĩ quan liên lạc :
- Máy hát để đâu rồi? Mở nghe chơi vài bản cho vui đi. Cho nghe bản Lucia. Mình khoái nghe bản đó ghê đi...
Trong bóng tối xuống dầy đặc, hai anh em Koselfzsoff lại tiếp tục đi vào Sebastopol, Volodia hỏi anh :
- Vassili Mikhailovich có phải là một sĩ quan tốt không anh?
- Không tốt mà cũng không xấu - Người anh đáp - Hắn chỉ có cái tật là hà tiện chịu không nổi. Số tiền mà mình thấy hắn đem hồi nãy là tiền hắn để dành được đấy. Còn tên Tiếp vận thì thật tệ. Có ngày anh cho nó một bài học...
IX
Đêm đã xuống hoàn toàn khi hai anh em đến đầu cây cầu lớn ở ngoài thảnh phố. Tâm trạng của Volodia không hẳn là buồn nhưng như có một khối đá đè nặng lên tim chàng. Tất cả những gì chàng nhìn thấy, tất cả những gì chàng nghe thấy đều chẳng phù hợp chút nào vói những gì chàng nghĩ về Sebastopol, những gì chàng tưởng tượng về người và cảnh Sebastopol trong thời gian chàng còn ở trong trường huấn luyện, nhất là trong những ngày chàng và các bạn vừa mãn khóa, kiêu hãnh trong những bộ quân phục mới, đứng sắp hàng trong phòng khánh tiết bóng lộn, sáng choang của nhà trường để chờ đón Nga hoàng. Khi từ biệt họ, Nga hoàng đã gọi họ là “các con yêu” với đôi mắt rưng rưng lệ. Người và cảnh thật của Sthastopol khác hẳn với người và cảnh Sebastopol trong giấc mơ của chàng.
- Tới đây là mình bắt đầu vào Sebastopol - Koseltzoff cất tiếng - Nếu họ để cho mình qua cầu trong đêm nay, anh sẽ đưa em đến trại Nicholas. Em sẽ ngủ tạm ở đấy đêm nay. Còn anh, anh đi thẳng lên chiến hào. Anh sẽ hỏi đúng đơn vị của em ở đâu và sáng mai, anh trở lại đưa em đi.
Volodia cầu khẩn :
- Làm vậy mất công. Cho em theo lên chiến hào, em muốn được ngủ cùng một chỗ với anh đêm nay Trước sau gì em cũng phải lên đó. Chẳng thà làm quen trước đi. Anh lên đó được, em cũng lên đó được.
- Em đừng nên lên ngay đêm nay.
- Cho em lên với. Xin anh cho em đi theo.
- Anh khuyên em đừng đi theo, nhưng nếu em muốn...
Nền trời không mây tối đen, chỉ có vài ánh sao cùng với những vệt sáng đạn bay và ánh lửa phát ra từ những nòng súng, những trái đạn nổ, soi sáng trời đêm. Đầu cầu với nhiều chiếc xe đậu chờ vào thành phố in hình trên nền trời. Những tiếng nổ giờ đây nghe rõ hơn, gần hơn, làm rung động không khí và chuyển động mặt đất. Tiếng sóng biển rì rào nghe như tiếng nhạc đệm cho những tiếng nổ. Gió từ biển thổi vào làm lạnh da mặt mọi người. Hai anh em xuống xe đi bộ đến gần đầu cầu.
Người binh sĩ gác cầu la lên trong bóng tối :
- Ai?
Koseltzoff Anh đáp :
- Hai sĩ quan muốn vào thành phố.
- Không được qua cầu. Hết giờ rồi...
- Chúng tôi phải vào...
- Hỏi sĩ quan trực.
Người sĩ quan ngồi ngủ gật trên phiến đá dưới gầm cầu nghe tiếng người đứng dậy nói lên :
- Các bạn vào được nhưng đi ra không được ạ. Muốn vào thì vào đi.
Nước chảy mạnh dưới gầm cầu, nước đập vào chân cầu bắn lên gần chỗ hai anh em đứng chờ chiếc xe ngựa của họ tới. Gió ở đây thổi mạnh hơn và nước biển đang dâng lên, thủy triều chảy vào trong đất làm cho cây cầu gỗ như nghiêng đi. Sóng biển vỗ ì ầm. Ngoài xa kia có ánh đèn từ đoàn chiến hạm chiếu xuống. Một chiếc tàu đi từ Severnia tới nổ máy phành phạch trên mặt nước đen. Ánh lửa của một trái đạn nổ nháng lên soi sáng trong một giây đồng hồ bóng hai người đứng ở đầu mũi tàu
Vết lửa của những đường đạn bay tiếp tục kẻ vạch nền trời trên Sebastopol, tiếng nổ mỗi lúc một gần hơn, lớn hơn và đáng sợ hơn. Một làn sóng lớn đánh tới chân cầu bắn lên làm ướt gấu quần Volodia. Hai người lính súng trên vai kéo lê chân đi qua cầu. Rồi có tiêng chân ngựa chạy tới. Có người từ trong thành phố đi ra. Koseltzoff Anh nhìn bóng dáng quen thuộc của người ngồi trên lưng ngựa lộp cộp qua cầu gỗ và kêu lên :
- Mikhail Semenovich... phải không?
Người sĩ quan trên lưng ngựa ghì cương :
- Ai đó?
Koseltzoff Anh xưng tên.
- Ủa? Trở lại rồi à? Bình phục hoàn toàn chưa?
- Chiến đấu được rồi. Còn anh, đi đâu đó?
- Đi Severnia lấy đạn. Mình có thể bị địch đánh sang bất cứ lúc nào...
- Martzeff đâu? Việc đi lấy đạn là của hắn mà?
- Martzeff bị thương rồi, mất một chân.
- Tội chưa. Trung đoàn mình ở Pháo đài Năm phải không?
- Phải. Nhưng trước khi tới đó, anh nên ghé qua Quân Y Viện trong thành phố. Anh em mình nằm ở đó đông lắm. Họ sẽ nói nhiều chuyện mới cho anh biết...
- Phòng của tôi ở Morskaia còn nguyên không?
- Trúng đạn sụp từ lâu rồi bạn ơi? Lâu lắm rồi. Lần nầy trở lại, bạn sẽ không còn nhận ra Sebastopol nữa. Không còn qua một người đàn bà nào ở trong Sebastopol, không còn một quán ăn, quán rượu nào mở cửa hết. Quán cà-phê cuối cùng đóng cửa hôm qua. Không cả những cuộc tấu nhạc ngoài trời. Không còn gì cả. Chán lắm. Thôi, chào bạn. Chúng mình gặp lại nhau sau...
Nói xong, người sĩ quan dục ngựa chạy đi.
Một cảm giác kinh hoàng ghê gớm đến bóp chặt lấy trái tim Volodia. Chàng có linh tính như một trái đạn đại bác sắp rớt xuống đúng chỗ chàng đứng và chàng nhất định phải chết vì nó. Màn đêm ẩm ướt, những tiếng động ghê rợn của chiến tranh hòa với tiếng sóng biển ì ầm đập vào ghềnh đá... tất cả như muốn ngăn cản không cho chàng bước thêm một bước tới nữa, tất cả như muốn nói cho chàng biết rằng không có gì tốt lành đợi chờ chàng ở trước mặt, rằng nếu đi tới nữa, chàng không còn bao giờ có dịp đi trở lại, tất cả như khuyên chàng mau mau quay lại, mau đi thật nhanh ra khỏi vùng đất do Tử Thần ngự trị này. Chàng nghĩ thầm: “Ai biết có những gì sẽ xảy ra? Có thể đã muộn quá mất rồi. Định mệnh đã an bài...” Và chàng rùng mình vì ý nghĩ thầm kín ấy. Chàng cũng rùng mình vì nước biển lạnh đã thấm vào bên trong đôi giày bốt dưới chân chàng. Chàng thở dài và đi xa người anh hơn chút nữa.
“Lạy Chúa... tôi sẽ phải chết ở đây ư?” Volodia nghĩ thầm và bàn tay chàng tự động đưa lên làm dấu thánh giá “Xin Chúa cứu tôi...”
- Chúng mình lại lên xe đi tiếp, Volodia - Người anh nói khi chiếc xe ngựa qua cầu theo kịp họ - Em có nhìn thấy đạn nổ không?
Tới đầu cầu bên kia, hai anh em gặp một đoàn xe ngựa chở thương binh ra khỏi thành phố. Một xe, trên chất đầy đồ đạc, do một thiếu phụ cầm dây cương.
Hai anh em ngồi sánh vai nhau trên chiếc xe ngựa cọc cạch đi dài theo bức vách trại Nicholas, cả hai cùng im lặng, tai họ lắng nghe tiếng đạn nổ quanh họ, tiếng đạn bay qua đầu họ và những tiếng nổ trên chiến hào. Sau cùng, họ đến cổng trại Nicholas. Ở đây, họ được cho biết rằng Tiểu đoàn Pháo Số Năm, đơn vị mà Volodia phải đến, hiện đang đóng ở Korabelnaia. Người anh quyết định đưa người em đến đó và trên đường đi, họ ghé vào bệnh viện thăm một sĩ quan bạn bị thương.
X
Vừa bước chân vào căn phòng đâu tiên đầy những chiếc giường sắt, giường nào cũng có người nằm, hai anh em như muốn nôn mửa vì thứ mùi khó ngửi, nặng nề đặc biệt của những phòng nhà thương. Hai Dì Phước bước tới gặp họ. Một bà trạc năm mươi tuổi, nét mặt nghiêm khắc, tay ôm một đống bông, băng và nẹp gỗ. Dì Phước thứ hai đi theo còn rất trẻ, chỉ khoảng hai mươi tuổi, nước da trắng xanh với đôi mắt mở lớn trông thật xinh. Dì Phước trẻ này trông thật hiền từ và yếu đuối dưới vành mũ vải trắng che mái tóc vàng. Koseltzoff Anh nói với Dì Phước già là chàng muốn thăm Đại úy Martzeff, người vừa bị cụt một chân trong ngày hôm trước.
- Đại úy Martzeff? - Di Phước già hỏi lại - Trung úy là người nhà của ông hay là...?
- Thưa... tôi là bọn đồng ngủ của ảnh.
- Đưa hai ông này đến giường Đại úy Martzeff - Dì Phước già quay lại nói bằng tiếng Pháp với Dì Phước trẻ. Sau đó, Dì ôm bông, băng đến đứng với một y sĩ đang săn sóc thương binh trong phòng.
Volodia đứng nhìn ngây và Koseltzoff gọi giựt em :
- Đi... Nhìn gì nữa?
Dì Phước trẻ nhìn Volodia và hỏi Koseltzoff :
- Ông này mới tới, phải không ạ?
- Thưa vâng. Nó mới tới. Nó là em tôi.
Di Phước nhìn Volodia kỹ hơn, đột nhiên Dì khóc nức lên một tiếng nghẹn ngào :
- Lạy Chúa... Lạy Chúa... Bao giờ mới hết người chết?
Hai anh em theo chân Dì Phước trẻ vào gian phòng dành riêng cho sĩ quan. Martzeff nằm đó. Y nằm ngửa, một cánh tay gân guốc đặt dưới đầu. Những nét răn rúm trên khuôn mặt vàng nhợt của y là nét mặt của người đàn ông đang nghiến chặt hai hàm răng lại để khỏi kêu lên vì đau đớn. Từ chiếc mền nỉ phủ phần người dưới của Martzeff chỉ có một bàn chân thò ra. Bàn chân duy nhất này vẫn đi vớ và những ngón chân ngọ nguậy như đang bị cù nhột.
- Ông thấy sao? Dễ chịu không?
Dì Phước khẽ hỏi Martzeff, Dì cúi xuống nhẹ nâng đầu y lên để đặt lại chiếc gối. Volodia nhìn rõ những ngón tay dài búp măng của Dì Phước, trên một ngón tay ấy có đeo một chiếc nhẫn vàng.
- Có các bạn ông đến thăm ông... - Dì Phước trẻ dịu dàng nói tiếp.
Martzeff có vẻ bất mãn và khó khăn khi y nói :
- Tôi đang đau mà, để tôi nằm yên. Khổ lắm... Đừng đụng vào người tôi...
Và y mở mắt nhìn lên khuôn mặt Koseltzoff :
- Anh là ai?
Koseltzoff ngạc nhiên khi thấy Martzeff không nhận ra mình, nhưng cũng xưng tên. Martzeff thở dài :
- Xin lỗi... Xin lỗi... Đau quá nên quên cả bạn. Chúng mình từng sống với nhau một chỗ...
Martzeff không tỏ vẻ gì vui mừng khi có bạn đến thăm. Y nhìn ngây Volodia đứng sau lưng Koseltzoff.
- Đây là em tôi. Nó mới từ Petersburg tới...
Koseltzoff vội vã giới thiệu. Martzeff lại thở dài :
- Chiến tranh kết thúc với tôi rồi. Vậy là hết. Trời ơi... Đau quá... Chết luôn còn đỡ khổ hơn... Không biết làm sao cho nó chóng hết đau...
Y đưa cả hai bàn tay lên che mặt như muốn giấu không cho người bạn đồng ngũ nhìn thấy những giọt lệ ứa ra trên mắt y.
- Để cho ông ấy nằm yên. Ông ấy đau...
Dì Phước trẻ nói như thì thầm với hai anh em. Đôi mắt Dì cũng đầy lệ.
Hai anh em ra khỏi nhà thương, trước đó họ đã quyết định sẽ cùng đi lên Pháo đài Số Năm và cùng ngủ ở đó một đêm nhưng tới đây, họ đột ngột thay đổi chương trình. Họ chia tay ở đây nhưng người anh không nói cho người em biết về lý do chính làm chàng thay đổi: chàng không muốn để cho em mình chịu đựng những nguy hiểm vô ích trong đêm đầu tiên em chàng đặt chân vào Sebastopol.
- Nikolaieff sẽ đưa em đến Korabelnaia. Bây giờ, để anh đi một mình. Nội trong ngày mai, anh sẽ gặp lại em...
Đó là lời cuối cùng người anh nói với người em trong cuộc gặp gỡ nhau bất ngờ này.
XI
Tiếng trọng pháo vẫn nổ dữ dội như khi Volodia mới đặt những bước chân đầu tiên vào Sebastopol. Giờ đây Volodia đi trên đường phố Ekatherinenskaia vắng tanh không một bóng người và tràn đầy bóng tối. Gã gia nhân Nikolaieff đưa chàng đi đến Korabelnaia nhưng gã vẫn đi sau chân chàng. Chàng tuổi trẻ chỉ có thể nhìn thấy những bức tường trắng đứng trơ vơ giữa những tòa nhà sụp đổ và những phiến đá nằm hai bên đường chàng đi. Chỉ thỉnh thoảng chàng mới gặp vài binh sĩ, vài sĩ quan lầm lũi đi. Chàng nhận thấy mọi người đều đi sát vào những vách tường. Đi qua Bộ Tư lệnh Hải quân, chàng nhìn thấy ánh lửa le lói cháy trong vườn cây. Tiếng chân của chàng và tiếng chân của Nikolaieff, gã này vừa đi vừa thở phì phò như người chạy mệt, vang lên trong im lặng.
Những ý nghĩ mơ hồ, lẫn lộn trong óc Volodia. Hình ảnh Dì Phước trẻ đẹp với đôi mắt đẫm lệ, cái chân cụt của Martzeff, bàn chân duy nhất cua Martzeff ngọ nguậy trong chiếc vớ len, bóng tối ánh lửa đạn nổ, những cảnh chết chóc... theo nhau ẩn hiện trước mắt chàng. Tâm hồn trẻ trung và dễ xúc cảm của Volodia như bất mãn vì sự cô đơn của chính chàng: chàng tình nguyện tới chỗ chết này nhưng chẳng ai thèm để ý gì đến chàng. Chàng cũng chịu đựng nguy hiểm như mọi người, chàng cũng có thể chết hoặc bị thương như mọi người vậy, chàng đâu có kém gì ai? “Mình sẽ đau đớn, mình sẽ chết... xong họ vẫn thản nhiên. Chẳng ai thèm khóc mình”. Volodia nghĩ thầm. Chàng vẫn tưởng rằng tới đây, chàng sẽ được mọi người chào đón, bày tỏ cảm tình như với một người hùng. Nhưng sự thật hoàn toàn khác hẳn. Ở đây ai lo thân người ấy và tất cả đều lạnh nhạt với nhau. Tiếng đạn nổ mỗi lúc một lớn hơn, gần hơn và Nikolaieff càng đi càng thở dài nhiều hơn mặc dầu gã không mở miệng ra nói nửa lời.
Khi hai hai người đi ngang cây cầu gỗ sang khu Konibelnaia, họ cùng nhìn thấy một trái đạn xé gió rơi xuống mặt biển làm cho sóng bắn tung lên. Tiếp đó, hình như cũng trái đạn ấy lại từ dưới nước bắn lên, vọt đi chỗ khác truóc khi chịu chìm hẳn.
Nikolaieff kêu lên :
- Mẹ kiếp. Đã rơi xuống rồi nó vẫn không chịu nằm yên.
- Đạn xuống nước bắn trở lên như thế là thường...
Volodia nói, và chàng ngạc nhiên khi nghe thấy tiếng nói của chàng sắc the thé như tiếng đàn bà.
Qua khỏi cầu, họ gặp một đoàn người khiêng cáng trên có thương binh, một đoàn xe ngựa rồi một đơn vị binh sĩ khoảng một Đại đội đi ngược đường. Người sĩ quan chỉ huy đơn vị này ghì cương ngựa và cúi xuống nhìn tận mặt Volodia. Khi nhận ra chàng không phai là người quen, y thúc ngựa đi không nói một tiếng.
“Cô đơn. Cô đơn. Mình sống hay mình chết, chẳng ai thèm biết đến mình...” Volodia cay đắng nghĩ và chỉ thêm chút nữa là chàng bật khóc thành tiếng.
Chàng đi vào một khu phố có những căn nhà nhỏ, gần như nhà nào cũng đổ nát chẳng ít thì nhiều, nhà nào cũng từng trúng ít nhất là một trái đạn trọng pháo. Đêm tối luôn luôn sáng lên vì ánh lửa những trái đạn nổ. Một người đàn bà có vẻ say rượu, quần áo rách rưới cùng với một gã thủy thủ, trong một căn nhà đổ kia bước ra, đâm sầm phải Volodia “Xin lỗi... Xin lỗi..” Mụ vội vã nói và chàng trẻ tuổi tránh xa mụ. Trái tim chàng càng lúc càng nặng hơn trong ngực chàng.
Bỗng dưng, Nikolaieff nói sau một tiếng thở dài. Volodia cảm thấy gã gia nhân hầu hạ ông anh chàng đang sợ hãi ghê gớm :
- Không biết ông ấy vội đến đây làm gì? Nằm bệnh viện ở hậu phương sướng hơn ư? Ông ấy thúc đi thật nhanh đến đây. Tôi hỏi cậu ở đây có cái gì cho mình phải đến?
Volodia không trả lời được câu hỏi này. Nếu còn ở Petersburg, chắc chắn chàng đã trả lời được dễ dàng bằng một câu hùng hồn, nhưng giữa cảnh này thì nói thế không được. Tâm trạng áo não, nặng nề của chàng cũng không cho phép chàng nói được một câu hùng hồn. Vì vậy, chàng chỉ nói để cho có nói :
- Vết thương của ổng lành rồi...
- Lành đâu mà lành. Đó rồi cậu coi. Tới đây ổng sẽ đau lại và lần này, tôi khó còn đưa ổng về được tới nhà. Ở bệnh viện chỗ ổng nằm, còn nhiều sĩ quan bị thương nhẹ hơn ổng nhiều, họ khỏe hơn ổng nhiều, mà họ đâu có vội đi tới đây như ổng... Tới đây thì sung sướng nỗi gì? Cậu nghĩ coi... không cụt cái tay thì đi đứt cái chân. Trước sau cũng lãnh đủ. Chẳng có ai thoát. Chúng nó bắn như vầy làm sao mình không chết? Cả ngày lẫn đêm... Biết đạn rơi chỗ nào mà tránh... Người ta cứ nói... đạn tránh mình chớ mình không tránh được đạn nhưng theo tôi thấy thì ở dây, đạn nổ không có tránh mình rồi đó. Đạn nó cứ nhè đúng đầu mình mà rớt xuống...
Gã thở phì phò rồi nói tiếp bằng giọng than thở :
- Tôi phải đưa cậu đi nên tôi đưa cậu đi, song tôi lo lắm. Xe với ngựa tôi gửi thằng bạn giữ dùm. Thằng đó không tin được. Hành lý còn để nguyên trên xe. Nếu mất món gì, tôi phải chịu trách nhiệm.
Đi vài bước nữa họ đến trước một bãi đất rộng. Nikolaieff dừng lại. Volodia thấy rõ là gã vội vã xa chàng :
- Đến rồi đó cậu - Nikolaieff nói - Cậu chỉ việc đi vào hỏi người lính canh.
Volodia bước lên một mình. Khi không còn nghe thấy tiếng thở phì phò của Nikolaieff sau lưng nữa, chàng cảm thấy chàng cô đơn và bị bỏ rơi hoàn toàn. Trái tim chàng lạnh như băng đá. Đứng lại giữa bãi đất trống, chàng nhìn quanh xem có kẻ nào nhìn mình hay không? Rồi chàng đưa hai tay lên ôm lấy đầu, nói nhỏ một mình, giọng lạc đi vì sợ hãi :
- Mình sợ ư? Mình là một thằng hèn nhát ư? Mình từng ước mơ được chết vì Tổ quốc, chết vì Nga hoàng kia mà? Mình vẫn nghĩ mình sẽ sung sướng và hãnh diện chết trên mặt trận. Sao tới đây mình lại hèn như thế này? Mình là thằng khốn nạn. Mình thật đáng khinh...
Và chàng khóc nức lên vì thất vọng. Sau đó khi cơn xúc động dịu đi, chàng lau nước mắt và đi thẳng tới vọng gác, hỏi lính canh đường vào nhà ông Tiểu đoàn trưởng.
XII
Ông Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Pháo binh ở trong một toà nhà nhỏ hai tầng lầu hãy còn nguyên vẹn. Một lối đi trải sỏi dẫn đến cửa chính vào nhà. Qua khung cửa sổ vỡ kiếng được che bằng giấy bồi có ánh đèn le lói. Người lính hầu ngồi ngay trước cửa phòng, miệng ngậm tẩu thuốc, đang ngủ gật khi Volodia tới trước mặt y. Y đứng bật dậy nhưng không chào nghiêm chàng. Sau khi vào phòng báo có Chuẩn úy Koselizoff tới trình diện với ông Tiểu đoàn trưởng, y bước ra mời Volodia vào phòng.
Trong phòng này, giữa hai khung cửa sổ, trước một tấm kiếng soi mặt nứt rạn nhiều vết như một tấm mạng nhện khổng lồ, Volodia thấy kê một cái bàn gỗ, trên bàn đầy giấy tờ, nhiều chiếc ghế gỗ hình dáng khác nhau chung quanh hàn. Sau bàn là một cái giường sắt có tấm màn căng che. Một viên Trung sĩ có bộ ria khá đẹp, đeo kiếm ngắn, đứng gần bàn. Trên ngực áo viên Trung sĩ rậm râu này sáng lóng lánh một cây thánh giá bằng bạc và chiếc huy chương kỷ niệm Chiến dịch Hung Gia Lợi.
Ông Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng, một sĩ quan trạc bốn mươi tuổi, người thấp lùn và hơi mập quá khổ, trán hói tóc, bộ ria mép cũng rậm lâu ngày không tỉa, xén như che kín cả miệng, ngồi sau bàn.
Volodia bước vào phòng. Chàng chào nghiêm và nói dõng dạc, trơn tru câu nói chàng đã thuộc nằm lòng :
- Chuẩn úy Pháo binh Koseltzoff xin trình diện Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng.
Ông Thiểu tá giơ tay lên làm phác một cử chỉ chào lại chàng, rồi không đưa tay ra bắt tay Volodia, ông chỉ tay xuống ghế, mời chàng ngồi. Volodia đến ngồi mớm lên cái ghế ở một đầu bàn. Trong lúc bối rối, chàng cầm cày kéo để gàn bên tay và nghịch với cây kéo.
Ông Thiếu tá đứng dậy, hai tay chắp sau lưng đi đi lại lại quanh phòng. Dường như ông đang bàn tính một chuyện gì đó chưa xong với viên Trung sĩ. Ông có vẻ suy nghĩ, thỉnh thoảng mắt lại nhìn cây kéo trong tay Chuẩn úy Koseltzoff.
Sau cùng, ông đừng lại và nói với viên Trung sĩ :
- Từ ngày mai phải cấp thêm lúa mạch cho ngựa kéo pháo ăn. Hồi này, ngựa của tiểu đoàn mình coi bộ gầy ốm lắm rồi. Trung sĩ nghĩ sao?
- Thưa Thiếu tá, nên lắm. Bây giờ lúa mạch đang rẻ, kho dự trữ của tiểu đoàn mình có nhiều...
Viên Trung sĩ tán đồng ngay ý muốn của thượng cấp. Như nhân dịp, y nói tiếp ngay :
- Thưa Thiếu tá... còn việc Thượng sĩ Frantzone xin tiền mua cây thay trục bánh xe? Trong kho của mình hết trục dự trữ rồi.. Xin Thiếu tá cho lệnh...
- Mua chứ. Cái gì chứ trục bánh xe kéo pháo là phải lo trước. Mai xuất tiền cho hắn mua... Chỉ đừng có mua sẵn nhiều quá thôi. Tiểu đoàn mình có thể sẽ không ở đây lâu. Di chuyển mà mang theo nhiều thứ, phiền lắm...
Ông Thiếu tá lại bước đi. Chợt ông ngừng trước mắt Volodia :
- Quân trang của Chuẩn úy đâu?
Tội nghiệp Volodia. Lúc ấy, không thấy ai để ý đến mình, chàng đang suy nghĩ đến những chuyện đâu đâu và câu hỏi đột ngột ấy làm chàng giựt mình. Vội buông kéo xuống bàn, chàng ấp úng nói là chàng đến đây với ông anh chàng, Trung úy Bộ binh Koseltzoff, và quân trang của chàng còn để trong xe của ông này. Ngày mai ông anh chàng sẽ cho người mang quân trang đến cho chàng.
Như không cần nghe lời giải thích của Volodia, ông Thiếu tá quay phắt lại hỏi viên Trung sĩ :
- Mình để ông Chuẩn úy này ở đâu cho tiện đây?
- Ông Chuẩn úy? - Viên Trung sĩ nhắc lại. Rồi y liếc mắt nhìn Volodia, cái liếc mắt của y như ngầm nói: “Trời đất... Sĩ quan gì còn con nít như vầy nè?”. Rồi y trả lời :
- Thưa Thiếu tá, để ông Chuẩn úy ngủ ngay dưới nhà, trong phòng ông Đại úy. Ông Đại úy đêm nay lên Pháo đài nên giường ông ấy bỏ trống...
- Chắc Chuẩn úy đang mệt, cần nghỉ ngơi... Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng nói với Volodia - Ông xuống nhà dưới ngủ đi. Ngày mai tôi sẽ gặp lại ông.
Volodia đứng lên, chào nghiêm.
- Chuẩn úy uống trà không? Để tôi bảo nó đun?
Ông Thiếu tá hỏi tiếp, nhưng Volodia đã ra tới cửa. Chàng quay lại, chào nghiêm lần nữa rồi ra khỏi phòng.
Người lính hầu ngồi trước cửa đưa chàng xuống nhà dưới. Volodia theo y vào một căn phòng hẹp sặc mùi ẩm mốc, bên trong có những đống đồ đạc xếp lên nhau như phòng chứa đồ. Trong góc phòng, trên chiếc giường sắt, có một người đàn ông mà Volodia nghĩ là một binh nhì đang nằm ngủ. Người này nằm không mền, không gối, chỉ có cái áo choàng khoác lên người.
Người lính tới lay vai người đang ngủ :
- Peter Nikolaievitch... Dậy đi... Có ông Chuẩn úy mới tới ngủ giường này...
Y quay lại nói với Volodia :
- Anh này là Vlang, hạ sĩ...
Volodia vội vã nói :
- Cứ để cho anh ấy ngủ, tôi tìm chỗ khác...
Nhưng Vlang đã nhổm dậy và ra khỏi giường. Vlang là một thanh niên cao, to, thân thể nở nang với khuôn mặt bảnh trai nhưng có vẻ không được thông minh lắm. Vlang vắt tấm áo lên vai, vừa ngái ngủ vừa đi ra cửa, miệng nói :
- Không sao. Tôi ra ngoài sân ngủ cũng được.
XIII
Nằm một mình trong căn phòng lạ, thoạt đầu Volodia cảm thấy cơn sợ hãi trước cái chết trở lại. Nghĩ rằng nếu ngủ đi được, chàng sẽ quên hiện tại, quên chính chàng và quên sợ hãi. Volodia thổi tắt ngọn nến và nằm xuống giường, lấy chiếc áo khoác ngoài đắp lên người. Chàng kéo áo che kín đầu. Hồi nhỏ, chàng vẫn sợ bóng tối, và cho đến bây giờ thói quen sợ bóng tối đó vẫn còn với chàng, Bỗng dưng, chàng nghĩ đến chuyện một trái đạn trọng pháo có thể xuyên qua mái nhà, rơi xuống đây, nổ tung và giết chết chàng. Volodia nằm yên lắng nghe. Tiếng chân đi của ông Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng vẫn vang lên trên đầu chàng.
“Nếu có chuyện đó xảy ra, ông ấy sẽ chết trước”. Volodia nghĩ thầm “Xong mới đến mình. Mình sẽ không chết một mình”. Ý nghĩ này làm cho chàng dịu lại và chàng sắp sửa ngủ đi khi một ý nghĩ khác chợt đến: Sebastopol có thể bị địch quân tràn ngập ngay trong đêm nay, bọn Pháp có thể kéo đến phá cửa phòng này và chàng không có qua một thứ võ khí gì để tự vệ. Ý nghĩ này lại làm chàng tỉnh thức hoàn toàn. Chàng ra khỏi giường và tìm quanh phòng. Sự sợ hãi cái chết có thể đến làm chàng quên sợ bóng tối. Chàng tìm nhưng không thấy trong phòng có một vật gì có thể dùng tạm làm võ khí. “Mình đúng là thẳng hèn nhát”. Chàng lại nghĩ về chàng như thế. Chàng nằm xuống giường và cố gắng không nghĩ ngợi gì nữa. Nhưng giờ đây, những hình ảnh chàng nhìn thấy trong ngày trở lại ám ảnh chàng, và những tiếng đạn nổ liên tiếp làm rung chuyển cánh cửa sổ gần giường chàng nằm vẫn gợi cho chàng nhớ lại nơi chàng đang sống nguy hiểm đến là chừng nào. Những hình ảnh nối tiếp nhau hiện lên rõ trước mắt chàng. Chàng nhìn thấy những thương binh người đầy máu tươi, những viên đạn trọng pháo nổ tung, rồi chàng nhìn thấy Dì Phước trẻ đẹp đang băng bó vết thương cho chàng, đôi mắt đẫm lệ, rồi chàng hấp hối, bà mẹ chàng mang linh cữu chàng về chôn ở quê nhà, bà quỳ gối cầu nguyện cho linh hồn chàng dưới chốn Đức Mẹ, những giọt lệ nóng chảy trên má. Giấc ngủ nhất định không đến với chàng mặc dầu chàng rất mệt.
Bỗng nhiên ý nghĩ về một Đấng Thiên Liêng nhìn thấy tất cả, nghe được tất cả những lời cầu nguyận đến với Volodia. Chàng quỳ gối xuống bên giường, làm dấu thánh giá rồi chấp hai bàn tay lại trước ngực như chàng từng được người lớn dạy làm từ thời thơ ấu. Cử chỉ đơn sơ này gợi lên trong chàng một cảm giác yên lành vô biên, cảm giác mà từ lâu rồi chàng không cảm thấy.
“Nếu tôi phải chết, đó là vì tôi vô dụng ở cõi đời này. Nếu quả thực như thế, xin thánh ý của Chúa thực hiện. Lạy Chúa... Nếu tôi phải chết... Xin cho tôi được chết ngay... Còn nếu như can đảm và thiếu cứng rắn là cần thiết cho đời tôi, xin Chúa tránh cho tôi khỏi bị nhục nhã, tôi không sao chịu đựng được nhục nhã. Và xin Chúa hãy hướng dẫn tôi làm những gì tôi phải làm theo ý Chúa”.
Cầu nguyện xong, linh hồn yếu đuối, thơ dại, sợ hãi của chàng trở thành mạnh mẹ, chàng bình thản ngay, tâm hồn như cánh chim phơi phới bay vào một miền bao la bừng sáng. Chàng nằm đó mơ màng đến cả ngàn chuyện, ghi nhận cả ngàn cảm giác, rồi chàng bình yên đi vào giấc ngủ, chàng không còn nghe, còn thấy tiếng nổ ì ầm đã trở thành nhàm chán của những trái đạn và tiếng cánh cửa sổ rung rinh.
XIV
Trung úy Koseltzoff gặp một bình sĩ thuộc Tiểu đoàn mình ở giữa đường, chàng đi theo binh sĩ này về Bộ chỉ huy Tiểu đoàn ở Pháo lũy Số Năm.
- Trung úy đi sát vào tường... - Người lính nói.
- Để làm gì?
- Đỡ nguy hiểm hơn, Trung úy... Ở đây, đạn chúng nó bắn qua đầu mình...
Người lính vừa trả lời vừa nghiêng tai lắng nghe tiếng viên đạn xé gió hay qua con đường và rơi mạnh vào một nơi nào đó trong vùng đất khô cứng. Nhưng Koseltzoff vẫn đi ở giữa đường, bất chấp lời khuyến cáo. Chàng đang đi trong con đường cũ, giữa cảnh cũ như trước khi chàng bị thương, quanh chàng vẫn vang lên những âm thanh cũ, trên đường đi chàng cũng gặp những người thương binh, những chiến hào, ổ súng. Cảnh vật y hệt cảnh vật của mùa xuân năm nay. Chỉ có điều khác là cảnh đêm nay thê thảm hơn, đen tối hơn và có vẻ chiến tranh hơn. Nhà cửa đổ nát nhiều hơn và khắp thành phố chẳng còn đâu có ánh đèn - trừ nhà thương - không còn bóng dáng phự nữ thanh lịch trong phố và cuộc sống tương đối vô tư, bất cần ngày xưa đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó một cái gì âu lo, mệt mỏi. Sebastopol như người kiệt lực không còn gượng sống được nữa.
Sau cùng, chàng đến một khu xa thành phố nhất của Pháo lũy. Ở đây, một binh sĩ trong Đại đội cũ do chàng chỉ huy nhận ra chàng.
- Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng hiện ở đâu? - Koseltzoff hỏi.
- Thưa Trung úy... Thiếu tá đang ở trong hầm - Người lính sốt sắng đáp - Trung úy để em dẫn đường...
Người lính đưa Koseltzoff qua nhiều chiến hào ngoắt ngoéo nữa mới tới cửa hầm. Một thủy thủ ngồi hút tàu thuốc trước cửa hần. Qua những kẽ hở của cánh cửa gỗ, Koseltzoff nhìn thấy ánh đèn trong hầm.
- Trung úy Koseltzoff muốn vào gặp Thiếu tá. - Người lính dẫn đường nói.
Người thủy thủ đứng dậy :
- Để tôi vào báo.
Cảnh cửa mở. Từ bên trong có tiếng nói vọng ra :
- Nếu nước Phổ chịu giữ trung lập thì rồi nước Áo...
- Nước Áo thì đáng kể gì. Cái gì? Mời Trung úy vào đây.
Chưa từng hao giờ đặt chân vào một hầm trú ẩn loại này bao giờ - vào mùa xuân, khi chàng bị thương, Sebaslopol mới bắt đầu tạo tác loại hầm này dành cho những bộ chỉ huy - Koseltzoff ngạc nhiên trước vẻ sang đẹp, tiện nghi của căn hầm. Sàn hầm lát ván nhẵn chứ không khải là nhưng tấm gỗ thô, tấm bình phong che cửa ra vào. Trong góc hầm đặt một bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh lớn gần bằng người thật, một ngọn đèn màu hồng soi sáng bức tượng này. Hai chiếc giường kê sát vào vách hầm. Trên một giường có một sĩ quan đang nằm ngủ. Một cái bàn gỗ kê ở giữa hầm, trên mặt bàn hai chai rượu đã mở nút và nhiều ly rượu. Ông Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng, ông này mới lên làm Tiểu đoàn trưởng và đặc cách thăng chức Thiếu tá thay ông Tiểu đoàn trưởng tử trận trong thời gian Koseltzoff bị thương, ngồi sau bàn cùng với một sĩ quan hầu cận.
Tuy không có tự ti mặc cảm đối với bất cứ ai, chàng vẫn nghĩ chàng đã làm tròn bổn phận của chàng, Koseltzoff cũng thấy hơi ngai ngại khi phải gặp lại người bạn cũ nay đã trở thành vị chỉ huy trực tiếp của chàng.
Chàng đứng chào nghiêm và nghĩ thầm khi nhìn thấy ông Thiếu tá đứng lên chào lại chàng: “Thật là lạ lùng. Hắn chỉ mới lên nắm tiểu đoàn có được hơn một tháng vậy mà hắn đã có vẻ có uy quyền ra gì, uy quyền hiện rõ trong thái độ của hắn, trên mặt hẳn, trên cả quân phục của hắn nữa. Cách đây chưa lâu cũng chính anh chàng Batretcheff này còn là Đại úy, còn đùa rỡn với mình, còn mặc cả tuần không chịu thay một cái áo sơ-mi hôi như cú, vẫn giấu bánh với rượu đi để ăn uống một mình. Vậy mà lúc này trông hắn đã khác hẳn. Mắt hắn như muốn nói với mình: Mặc dầu trước đây tôi là bạn anh, nay tôi đã là vị chỉ huy của anh. Tôi dư biết anh nghĩ gì về tôi nhưng tôi cóc cần, tôi chỉ biết một điều là anh đang thèm muốn địa vị của tôi, anh đang ước ao được như tôi...”
Ông Thiếu tá nhìn chàng và lạnh lùng nói :
- Trung úy đi vắng hơi lâu đấy...
- Thưa Thiếu tá... vết thương của tôi vẫn chưa lành hẳn.
- Chưa lành hẳn thì Trung úy trở lại làm chi? - Thiếu tá Batretcheff muốn phê bình một câu về vẻ béo tốt của Koseltzeff nhưng lại thôi, ông hỏi tiếp - Trung úy chiến đấu được rồi chứ?
- Thưa vâng. Tôi trở lại để chiến đấu.
- Tốt. Chuẩn úy Zaitzeff sẽ đưa ông tới Đại đội cũ ông từng chỉ huy. Sáng mai ông sẽ được nhận lệnh.
Nói xong, Thiếu tá Batretcheff nghiêng đầu chào. Cái nghiêng đầu này cho Koseltzoff biết rằng cuộc gặp đã kết thúc.
Trên đường đi ra khỏi Bộ Chỉ Huy, Koseltzoff nhún vai nhiều lần. Chàng có vẻ cáu giận nhưng thực ra, chàng không giận Batretcheff, nỗi giận hờn của chàng mơ hồ như chàng giận chính chàng vậy.
XV
Trước khi đi gặp lại các sĩ quan khác trong Tiểu đoàn, Trung úy Koseltzoff đi đến gặp những binh sĩ trong Đại đội của chàng. Những thành chiến hào có những miểng ván chống cho đất khỏi sụp lở, những ổ súng chàng đi ngang, và bầu trời tối đen luôn luôn sáng lên vì ánh đạn nổ, tất cả đều quen thuộc với chàng. Những hình ảnh này đã ghi sâu trong tiềm thức chàng từ trước ngày chàng bị thương. Một vẻ đẹp lạ kỳ từ dĩ vãng hiện về làm chàng nhớ lại những cảnh cũ với một cảm giác thích thú, bồi hồi thực sự, như trước kia chàng từng được sống sung sướng ở đây. Đại đội của chàng được đặt trong dãy chiến hào có mái che dẫn tới Pháo đài Số Sáu.
Bước vào căn hầm có mái che nhưng hở một bên, chàng thấy bên trong có nhiều binh sĩ đến nỗi chàng không còn chỗ mà đặt chân. Ở cuối hầm có một ngọn nến nhỏ đang cháy. Một người lính cầm cây nến này soi lên cuốn sách do một người lính khác cầm đọc. Nhiều người lính ngồi quanh nghiêng đầu về phía người đọc và nghe với vẻ chăm chủ, thành kính. Nhờ ánh nến, Koseltzoff nhận ra cuốn sách đó là cuốn “Kinh Cầu Nguyện”.
- Tắt nến đi... - Một người nào đó trong bọn la lên.
“Sách này hay lắm...” người lính đang đọc nói và tỏ vẻ sẽ tiếp tục đọc bất kể lời yêu cầu tắt nến. Nhưng khi nghe tiếng Koseltzoff gọi viên trung sĩ chánh, mọi người trong hầm đều yên lặng. Viên Trung sĩ chánh đứng lên từ giữa đám người ngồi xúm xít. Y vội vã gài lại nút áo và dẫm bừa lên chân các bạn. Y vội vã bước tới gần chàng sĩ quan.
- Sao? Khá không? Đại đội mình vẫn như thường chứ? - Koseltzoff vui vẻ hỏi trước.
- Kính chào Trung úy. Anh em xin có lời chào mừng Trung úy bình an trở về... - Viên Trung sĩ cũng vui vẻ nói - Trung úy bình phục hoàn toàn rồi chứ? Cám ơn Chúa! Anh em nhớ Trung úy lắm...
Koseltzoff có vẻ được binh sĩ Đại đội mến thương. Mọi người ồn ào chào chàng và bảo nhau là Trung úy Đại đội trưởng đã trở lại, Trung úy Mikhail Semenovitch Koseltzoff bị thương ở mặt trận này cách đây ba tháng.
Koseltzoff cao giọng :
- Anh em mạnh cả chứ?
- Kính chào Trung úy... - Những người lính cùng nói lớn.
- Hồi này... đánh nhau ra sao?
- Không được khá lắm, Trung úy. Bọn Pháp mạnh hơn mình. Chúng nấp dưới chiến hào bắn lên nhưng chúng không chịu thò đầu lên khỏi chiến hào..
- Chúng mình sẽ lôi cổ chúng ra khỏi đó...
- Anh em tôi cũng mong như thế...
Sau khi hỏi qua viên Trung sĩ về quân số của Đại đội, số thương binh, tình trạng võ khí, đạn dược, Koseltzoff rời đám binh sĩ để đi tới gặp những sĩ quan khác trong tiểu đoàn.
XVI
Căn hầm của các sĩ quan lớn hơn, sạch hơn và vững chắc hơn. Trong hầm cũng có nhiều người nhưng không chen chúc như trong hầm binh sĩ. Có vài sĩ quan nằm ngủ trên những chiếc ghế dài kê sát vách hầm, nhiều sĩ quan khác ngồi rải rác trên những thùng đạn. Nhóm sĩ quan đông nhất ngồi ngay trên sàn hầm. Họ đang đánh bài.
- A! Kostltzoff trở lại. Hoan bô... Vết thương khỏi thật chưa? - Nhiều giọng nói vang lên chào đón Koseltzoff khi chàng bước vào hầm.
Ở đây, giữa những sĩ quan, chàng cũng được mến thương. Người ta tỏ vẻ vui mừng thật tình khi thấy chàng trở lại.
Sau khi bắt tay những sĩ quan quen, Koseltzoff ngồi xuống với đám sĩ quan đang đánh bài. Một sĩ quan, gầy nhom, có cái mũi dài và bộ ria mép vểnh lên hai má, sào cỗ bài với những ngón tay dài trắng, trên một ngón tay có đeo một cái nhẫn triện lớn. Ông này có vẻ đang khó chịu vì thua. Bên tay phải ông này là một ông Đại úy tóc bạc, nửa nằm nửa ngồi, một tay chống lên cằm. Rồi đến một sĩ quan ngồi chồm hổm. Sĩ quan này mặt đỏ, cười gượng, đánh bạc không tiền và làm cho các sĩ quan có tiền khó chịu. Một sĩ quan cao và gầy, đầu hói, tay cầm một tập giấy bạc, thỉnh thoảng lại đếm từng tờ. Ông này là người đang được bạc.
Kosellaoff ngồi đó, uống một ly rượu và xem các bạn đánh bạc.
- Mikhail Semenovitch... Nhập cuộc đi chớ? Đặt tiền đi, còn chờ gì nữa - Người sĩ quan đang sào bài nói - Tôi đoán anh đem về đây thiếu gì tiền. Đúng không?
- Trái lại là khác - Koseltzoff đáp - Tiền ở đâu mà đem về đây? Tôi tiêu hết tiền ở các thành phố trong đất liền rồi...
- Chắc cậu chơi bời dữ lắm ở Sympherol, hả? - Ông sĩ quan tóc bạc nheo mắt hỏi.
- Bậy nào. Bị thương chưa lành mà chơi bời gì? Chơi bời để cho mà chết à? - Koseltzoff nói, nhưng chàng không cố gắng làm cho các bạn tin ở lời chàng. Rồi chàng cũng ngồi vào một chân, đưa tay ra cầm những lá bài giơ lên coi :
- Tiền thì không có nhưng cờ bạc mời thì đánh chơi - Chàng nói tiếp - Biết đâu đấy? Tôi có thể vồ hết tiền của các bạn và các bạn sẽ hối hận vì nài ép tôi chơi. Vừa đánh bài vừa uống rượu cho vui...
Sau kin uống ly rượu thứ hai, Koseltzoff đã mất ba đồng ruble cuối cùng của chàng. Đến lúc này, chàng sĩ quan mặt đỏ ngồi chồm hổm đã nợ số bạc một trăm năm mươi đồng ruble.
- Trả tiền đi chứ? - Người sĩ quan đầu hói, tay cầm tập giấy bạc, thúc dục.
- Sáng mai... Sáng mai... - Kẻ bị đòi nợ hứa hẹn không lấy gì làm chắc chắn cho lắm.
- Đánh bạc là phải có tiền mặt. Ai lại đánh nợ bao giờ? - Người đòi nợ lắc đầu - Chơi kiểu này không chấp nhận đươc.
- Bộ anh không tin tôi sao?
Ôag Đại úy tóc bạc đang nằm nghiêng bỗng ngồi dậy, lên tiếng :
- Tám ruble của tôi đâu? Tôi thua hai mươi ruble, trả tiền các bạn đàng hoàng. Đến lúc tôi được lại tám ruble, không bạn nào chịu chi cho tôi là nghĩa làm sao?
- Anh này nợ hết, lấy đâu ra tiền mà trả anh? Mấy ván sau này đặt tiền toàn bằng miệng không à...
Ông Đại úy tóc bạc nổi giận :
- Tôi đánh bạc với anh, tôi có đánh với anh không tiền này đâu? Tôi đánh bạc có tiền đàng hoàng mà...
Ông sĩ quan mặt đỏ không tiền cũng lớn tiếng :
- Tôi nói ngày mai tôi trả là ngày mai tôi trả. Các anh làm cái gì mà dữ dội quá vậy? Tiền cờ bac mà...
Mọi người ai cũng nói một câu để can những kẻ to tiếng. Căn hầm ồn ào lên một lúc...
Chúng ta hãy buông tấm màn phủ xuống cảnh cờ bạc tầm thường này. Ngày mai, cũng có thể là ngay trong đêm nay, những con người ti tiện này có thể đi đến gặp cái chết, hiên ngang, vui vẻ, kiêu hãnh, và họ sẽ có thể chết bình yên, chết không hối tiếc. Họ vẫn có thể là những “người hùng” khi có hoàn cảnh, khi cần đến. Nhưng ngay cả những “người hùng” chân chính cũng không thể bất cứ lúc nào cũng tỏ ra mình là người hùng. Ánh lửa hùng trong tâm hồn họ khong thể cứ sáng mãi. Song, đến phút cuối cùng, ánh lửa đó vẫn còn đủ sực bốc cháy để giúp họ chết như những người hùng.
XVII
Ngày hôm sau cuộc pháo kích vẫn tiếp tục với mức độ dữ dội không khác gì ngày vừa qua. Vào khoảng 11 giờ trưa, Volodia Koseltzoff đến gặp những sĩ quan bạn trong Tiểu đoàn Pháo của chàng. Chàng bắt đầu làm quen với những khuôn mặt mới này, trò chuyện với họ và bắt đầu cảm nghĩ như họ. Cuộc đối thoại có vẻ trí thức nhưng vẫn khiêm tốn của các sĩ quan pháo binh thích hợp với bản chất của Volodia. Chàng cảm thấy dễ chịu được ngồi chung với họ và thấy kính phục họ. Ngược lại, vẻ trẻ trung dễ mến và thái độ hãy còn rụt rè, ngượng nghịu của Volodia làm cho các sĩ quan đàn anh từng trải có cảm tình ngay từ phút đầu.
Người sĩ quan nhiều tuổi nhất Tiểu đoàn, một Đại úy tóc hung, trán rộng, để tóc dài hai bên thái dương, vẫn là người theo đúng truyền thống của sĩ quan pháo binh: lịch sự, hào hoa với phụ nữ, luôn luôn chứng tỏ mình là người học rộng, biết nhiều. Ông Đại úy này hỏi Volodia về những điều chàng hiểu biết về khoa học, về những phát minh và nói đùa chàng về vẻ trẻ trung, bô trai của chàng. Ông coi Yolodia như con ông và chàng trẻ tuổi lấy làm cảm động. Thiếu úy Dedenko, một sĩ quan trẻ, chỉ hơn Volodia khoảng bốn, năm tuổi, cũng làm cho chàng có cảm tình mặc dầu ông này có mái tóc bù, bận bộ quân phục nhầu nát, hay nói to và thường cáu kỉnh vô cớ, vì dưới cái vỏ ngoài không mấy hào hoa này, Volodia cảm thấy con người can đảm và giá trị của Dedenko. Dedenko sốt sắng nói cho Volodia biết về tình trạng của tiểu đoàn pháo binh hiện nay và cố gắng chứng tỏ cho chàng biết rằng tất cả những khẩu đại pháo ở Sebastopol hiện nay đáng lẽ ra đều phải vứt đi hết từ lầu rồi để thay thế bằng những khẩu mới. Ngược lại, Trung úy Tchernovitzky, người có đôi lông mày luôn luôn nhếch cao, bận bộ quân phục chải chuốt có đeo sọi dây vàng đồng hồ ở túi, không làm Volodia thấy có cảm tình mặc dầu ông ta tỏ ra lịch sự hơn ai hết. Trung úy Tchernovitzky hỏi Volodia nhiều câu về Nga hoàng, về ông Tổng trưởng Bộ Chiến tranh, ông cũng kể cho chàng nghe những chiến công ở Sebastopol bằng một vẻ nồng nàn giả tạo, ông than phiền về tình trạng những người yêu nước chân chính có quá ít ở Sebastopol, ông biểu lộ sự hiểu biết và trí thông minh của ông cùng nhiều tư lưởng cao đẹp khác nhưng Volodia vẫn cảm thấy, tuy răng rất mơ hồ, sự giả dối của Tchernovitzky, chàng cũng nhận thấy rằng hầu hết những sĩ quan khác đều có vẻ tránh nói chuyện với Tchernovitzky.
Hạ sĩ Nhất Vlang, người mà Volodia đánh thức đêm hôm qua, ngồi khiêm tốn trong một góc phòng. Vlang ngồi im, không lên tiếng góp chuyện nhưng sẵn sàng cười khi có ai khôi hài hoặc trả lời khi có người hỏi đến. Anh rót rượu mời các sĩ quan và chăm chỉ cuốn thuốc lá hầu tất cả mọi người. Vlang có cảm tình ra mặt với Volodia sau khi chàng trẻ tuổi này xử sự với anh không kiêu kỳ như một sĩ quan với một hạ sĩ gần như là binh sĩ. Đôi mắt Vlang luôn luôn nhìn xem Volodia có thiếu gì không, có cần gì không, và anh đoán trước được cả những ý muốn của Volodia.
Lúc sắp sửa đến bữa ăn trưa, Đại úy Kraut từ pháo đài về bước vào phòng. Đại úy Kraut là một sĩ quan tóc vàng, dáng người thanh thanh, khá đẹp trai, mang bộ ria mép đỏ và đôi tóc mai cũng màu đỏ, tính tình vui vẻ.
- Người hùng của chúng ta về đây rồi - Ông Đại úy già nói khi Kraut bước vào phòng - Frederic Christianovich. Uống gì nào? Trà hay brandy?
- Tôi đã bảo pha trà nhưng trong khi chờ uống một chút brandy cũng chẳng sao....
Và Kraut nói với Volodia khi chàng trẻ tuổi đứng lên chào :
- Hân hạnh được quen biết Chuẩn úy. Xin hãy mến thương chúng tôi và tha thứ cho chúng tôi. Tôi là Đại úy Kraut. Tôi vừa nghe nói anh mới đến đây đêm qua...?
- Thưa vâng. Và đêm qua, tôi ngủ nhờ giường của Đại úy. Xin cám ơn..
- Đêm qua, anh ngủ có được không? Giường tôi đã bị gãy một chân nhưng ngay lúc đang bị bao vây này, không tìm ra thợ sửa.
Dedenko cất tiếng :
- Nghe nói chúng rót đạn vào chỗ anh đứng, không hề hấn gì ư?
- Tôi thì không, nhờ ơn Chúa che chở, nhưng Skvortzoff thì bị thương...
Kraut đột nhiên đứng dậy và đi đi lại lại trong phòng như người đang bồn chồn không thể ngồi yên được một chỗ. Qua thái độ của chàng người ta thấy rõ rằng chàng là người cảm thấy sung sướng vì vừa yên lành thoát được một tai nạn lớn.
XVIII
Một cái bàn lớn, trên phủ tấm khăn trải bàn đã hoen ố vết rượu được kê ở giữa căn phòng nơi ông Tiểu đoàn trưởng đã tiếp Volodia trong đêm qua. Ông Tiểu đoàn trưởng bắt tay Volodia và hỏi thăm chàng về Petersburg cùng chuyến đi từ đó tới đây của chàng.
- Nào, mời quý vị nâng ly... - Ông Tiểu đoàn trưởng nói, và ông tiếp với một nụ cười - Những sĩ quan trẻ tuổi có lẽ không khoái brandy...
Trưa nay, ông Tiểu đoàn trưởng không còn cái vẻ nghiêm trọng và xa cách, lạnh lùng như Volodia từng thấy ở ông đêm qua. Ông có vẻ như một gia chủ hiếu khách, lịch thiệp hơn là một sĩ quan chỉ huy ngồi với sĩ quan dưới quyền mình. Tuy vậy, từ ông Đại úy trở xuống đến Thiếu úy Dedenko, tất cả đều tỏ vẻ kính trọng ông.
Bữa ăn trưa gồm vài món không lấy gì làm ngon lắm nhưng cũng không đến nỗi dở lắm, muỗng đều bằng gỗ, trên mặt bàn chỉ có một bình đựng nước đã sứt miệng nhưng mỗi người ăn đều có hai cái ly, một ly rượu, một ly nước. Cuộc nói chuyên tiếp diễn đều đặn, không lúc nào quá ồn ào nhưng cũng không lúc nào im lìm. Các sĩ quan nói đến trận Inkerman, một trận lớn mà Tiểu đoàn Pháo của họ tham dự. Mọi người tuần tự trình bày những cảm nghĩ của mình về trận đánh và những nhận xét về nguyên nhân thất bại. Ai nấy đều ngừng nói và chăm chú nghe mỗi khi ông Tiểu đoàn trưởng cất tiếng. Rồi họ than phiền về tình trạng thiếu đạn dược, vì họ không có những khẩu đại pháo bắn được xa như địch quân. Họ bàn đến những võ khí sắp được đưa tới Sebastopol, đề tài này giúp cho Volodia có dịp trình bày những hiểu biết của chàng. Điều đáng kể nhất là không có ai than thở nửa lời về việc họ phải sống quá lâu trong Sebastopol và có nhiều bạn đồng đội của họ đã chết. Vấn đề này như là một vấn đề được họ nghĩ đến quá nhiều và chính vì được nghĩ đến quá nhiều nên không ai nói ra nữa.
Volodia ngạc nhiên nhiều, chàng còn cảm thấy ngầm bất mãn nữa, khi không thấy ai nói gì về nhiệm vụ chàng phải làm ở đây, chàng có cảm tưởng như chàng chỉ đến Sebastopol để ngồi ăn chung với các sĩ quan đàn anh này và để chờ đợi họ hỏi gì thì trả lời.
Trong bữa ăn, một trái đạn đại bác rơi nổ ngay gần nhà. Vách phòng, trần phòng, sàn phòng rung động như trong một cơn động đất, khói thuốc súng khét lẹt bay qua khe cửa sổ vào phòng.
- Chắc Chuẩn úy ít khi thấy cảnh này ở Petersburg? Ở đây, chúng tôi đã quá quen với những bất ngờ này. - Ông Tiểu đoàn thản nhiên nói với Volodia, rồi ông quay lại nói tiếp - Vlang... Đi coi dùm xem đạn rớt ở đâu.
Vlang ra khỏi phòng rồi trở vào báo đạn rớt trong vườn cây, không ai hề hấn gì. San đó, mọi người không ai nhắc đến trái đạn nữa.
Gần cuối bữa ăn, một nhân viên văn phòng bước vào đưa cho ông Tiểu đoàn trưởng ba bi thư dán kín. “Thưa Thiếu tá, thư này tối khẩn. Một liên lạc viên vừa mang tới từ Bộ Chỉ Huy Trung đoàn”. Người nhân viên văn phòng nói. Nhóm sĩ quan ngồi im nhìn những ngón tay của ông Tiểu đoàn trưởng bóc bì thư có mang dấu đỏ “Tối khẩn” và lấy từ trong ra một tờ giấy.
- Không biết là lệnh gì đây? - Mọi người thầm nghĩ - Lệnh cho Tiểu đoàn rút ra khỏi Sebastopol để về hậu phương nghỉ hay là lệnh đưa toàn thể Tiểu đoàn lên pháo lũy?
- Lại nữa...
Ông Tiểu đoàn trưởng bực dọc kêu lên và vứt tờ giầy xuống bàn.
- Chi vậy. Apollo Serguéitch? - Người sĩ quan cao tưổi nhất hỏi.
- Họ đòi mình cấp ngay một sĩ quan và hai mươi binh sĩ lên giữ một dàn súng cối. Sĩ quan và binh sĩ của mình còn không đủ cho những dàn pháo của Tiểu đoàn mình, lấy đâu ra người đi bổ xung cho Tiểu đoàn khác..?
Sau vài tiếng gầm gừ trong cổ họng, ông Tiểu đoàn trưởng dịu lại :
- Nhưng lệnh là lệnh, mình vẫn phải tuân hành. Một vị trong số quý vị sẽ phải đi. Phải có mặt ở đó lúc 7 giờ tối. Gọi ông Trung sĩ văn phòng vào đây cho tôi. Bây giờ, vị nào sẽ đi nào? Xin quý vị dàn xếp và quyết định cho.
Tchernovifzky chỉ tay vào Volodia :
- Có Chuẩn úy này có vẻ đang muốn phục vụ đây...
- Thưa vâng, tôi tình nguyện đi... - Volodia nói trong lúc chàng cảm thấy mồ hôi lạnh toát ra ở lưng và cổ.
Đại úy Kraut lên tiếng :
- Chúng ta ai cũng sẵn sàng đi cả, kể cả ông Chuẩn úy mới đến. Nhưng chẳng nên chỉ định. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng để cho chứng ta được tự do, vậy chúng ta nên rút thăm cũng như mọi lần trước.
Mọi người đều tán thành. Kraut cắt cẩn thận nhiều miếng giấy nhỏ, viết hàng chữ lên một miếng giấy, vo tròn lại và bỏ vào lòng một cái mũ. Vừa làm việc này, ông vừa nói đùa và được dịp, ông yêu cầu ông Tiểu đoàn trưởng cho thêm rượu. “Để anh em thêm can đảm...” Ông nói. Dedenko ngồi rầu rỉ. Volodia mỉm cười. Tchernovitzky đoan quyết rằng mình sẽ là người rút phải thăm đi. Riêng có Đại úy Kraut là hoàn toàn bình thản.
Thăm làm xong, mọi người mời Volodia hân hạnh rút trước. Volodia thò tay vào lòng mũ, chàng đã lượm một phiếu, nhưng những ngón tay của chàng lại tự động bỏ phiếu này xuống để lấy lên phiếu khác. Chàng mở phiếu ra xem. Trong phiếu có mấy chữ “Sĩ quan đi”.
- Quý vị khỏi phải rút nữa, tôi được đi rồi... - Volodia nói sau tiếng thở dài.
- Hay lắm. Đây là màn thử lửa của Chuẩn úy. Cầu Chúa phù hộ cho ông...
Ông Tiểu đoàn trưởng nói với nụ cười hiền từ trong lúc mặt ông nhìn bộ mặt thất thần của chàng sĩ quan trẻ tuổi :
- Chuẩn úy nên sửa soạn ngay đi. Để giúp ông, tôi đặc biệt cho Hạ sĩ Vlang cùng đi với ông.
XIX
Vlang, hào hứng vì công tác này, chạy vội đi sửa soạn. Anh xong rất nhanh vì anh từng quen với những chuyến đi khẩn cấp lên pháo đài như thế này. Anh trở lại ngay để giúp Volodia sửa soạn, anh khuyên Volodia nên đem theo áo lạnh, một tập “Sự tích Sebastopol” cũ để đọc cho đỡ buồn, một ấm pha cà-phê có đèn cồn gắn liền và nhiều thứ lặt vặt tưởng là vô ích nhưng sẽ rất cần thiết cho cuộc sống của một sĩ quan trong pháo đài. Đại úy Kraut khuyên Volodia nên đọc lại ngay những trang nói về súng cối và cách xử dụng súng cối trong quyển “Cẩm Nang của Sĩ quan Pháo binh” và nên chép lại ngay những trang này mang theo.
Volodia làm theo lời khuyên của Kraut, chàng ngồi ngay vào bàn chép lại mấy trang sách, chàng sung sướng và ngạc nhiên khi thấy rằng trước sự nguy hiểm, chàng không tỏ ra hèn nhát và đáng khinh như chàng sợ đêm qua. Như chàng đã hết sợ, chàng đã quen với sợ hãi và không còn thấy sợ hãi nữa. Vào lúc sáu giờ tối hôm đó, khi mặt trời đã xuống sau những bức tường thành Nicholas, viên Trung sĩ chánh chàng từng gặp ở văn phòng Tiểu đoàn trưởng tới tìm chàng, cho chàng biết là tiểu đội binh sĩ đã sẵn sàng và đã đến giờ chàng lên đường.
- Tôi đã đưa bản danh sách đội viên cho Vlang - Viên Trung sĩ nói - Chuẩn úy có thể hỏi nó...
“Không biết mình có nên nói với họ vài lời trước khi lên đường không?” Volodia nghĩ thầm trên đường đi tới trước mặt 20 người lính xếp hàng đôi đứng chờ chàng trong sân Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn. Hạ sĩ Vlang hô toán lính này chào nghiêm khi Volodia đến - Hay là mình chỉ nên hỏi họ câu rất thường như “Sao? Các bạn mạnh không?” Mình nên hỏi họ câu đó là phải...
Quyết định như vậy, chàng mạnh dạn nói lớn :
- Sao? Các bạn mạnh không?
Toán lính vui vẻ đáp lại chàng bằng những câu “Cám ơn Chuẩn úy...”. Giọng nói trẻ trung và trong trẻo của chàng reo vui bên tai họ. Volodia ra hiệu cho Vlang để Vlang ra lệnh cho toán lính bước đi. Chàng đi đầu và mặc dầu trái tim chàng đập mạnh như chàng vừa chạy qua nhiều cây số, nhịp bước của chàng vẫn nhẹ nhàng và vẻ mặt chàng vẫn tươi cười. Khi họ đi lên ngọn đồi Malakoff, Volodia để ý thấy Vlang, người tỏ ra rất can đảm trong Bộ Chỉ Huy, bắt đau đi lom khom và cúi đầu thấp xuống như những viên đạn đang bay ngang trời chỉ nhằm vào chính mình hắn vậy. Nhiều người lính cũng đi lom khom như Vlang và đa số những khuôn mặt đều biểu lộ nếu không phải là vẻ sợ hãi, cũng là vẻ lo âu. Thái độ của những người này làm cho lòng tự tin trở lại trong Volodia.
Chàng vui vẻ tự nói thầm: “Mình đang đi trên đồi Malakoff. Mình tưởng tượng nơi này khủng khiếp gấp ngàn lần như thế này nhưng mình vẫn đi, ngang nhiên mà đi, không chút sợ hãi, không cúi đầu dưới những viên đạn thù. Mình ít sợ hơn những người khác và mình đâu có phải là thằng hèn nhát..”
Tâm trạng hào hùng này của chàng bị xúc động mạnh vì cảnh tượng chàng thấy diễn ra trước mắt khi, trong bóng tối đang xuống, chàng đi đến pháo lũy Korniloff, trên thành pháo lũy này có bốn người lính đang khiêng một xác người đẫm máu, chân không giày, để quăng xuống chân pháo lũy. Volodia đứng ngẩn người nhìn xác chết lăn tròn trên tường đất và nằm im trong một cái hố bùn sình. May mắn cho chàng là ngay sau đó chàng gặp vị chỉ huy pháo lũy. Ông này cho người đưa chàng tới ngay dàn súng cối đang chờ đợi chàng. Chúng ta sẽ không nói đến chuyện người hùng trẻ tuổi của chúng ta chịu đựng bao nhiêu nguy hiểm trong đêm hôm đó. Chúng ta cũng không nói đến việc chàng thất vọng đến chừng nào khi chàng thấy rằng thay vì có dịp trổ tài theo đúng phương pháp bắn súng cối như chàng được dạy và được thực hành trên những ngọn đối Volkovo ở Petersburg, chàng thấy chàng đứng trước hai súng cối gãy chân, nòng súng của một khẩu bị xây sát vì vết đạn, khẩu thứ hai nằm gục trong một xó hầm. Dù có tận lực sửa chữa gấp rút ngay từ lúc này hai khẩu súng cối này cũng không thể bắn được trước 8 giờ sáng mai. Tất cả những điều kiện phải có để xử dụng súng cối được ghi trong “Cẩm Nang” đều không có ở đây. Tuy vậy, một ông hạ sĩ già, người từng lên pháo lũy này với hai khẩu súng cối kia từ những ngày đầu tiên, bảo đảm với chàng rằng hai khẩu súng vẫn còn bắn được rất chính xác, ông hứa sẽ sửa lại hai khẩu súng cho chàng thật hoàn hảo vào trước sáng sớm mai. Tay xách cây đèn bão, người hạ sĩ già thản nhiên đi lại trong hầm như ông đang đi trong nhà bếp nhà ông vậy.
Volodia cùng toán lính đi theo chàng được đưa vào một căn hầm đục ngay vào lòng đồi đá cứng. Hầm này sâu khoảng ba thước, dài chừng mười lăm thước và có những thân cột chống thật lớn. Volodia sẽ ngủ ở đây với những người lính của chàng.
Vlang là người đầu tiên lao mình qua khung cửa nhỏ nhảy chồm vào hầm. Cái nhảy vội vàng làm anh gần té ngồi trên sàn hầm lát đá tảng. Rồi anh ngồi co ro trong góc hầm, không còn dám thò mặt ra ngoài nữa.
Toán lính chia nhau chỗ nằm dọc theo vách hầm. Vài người ngồi dựa lưng vào vách hoặc lên những thân cột, móc tẩu thuốc ra đốt hút trong khi Volodia sửa soạn lại cái giường gỗ nhỏ dành cho sĩ quan ở trong góc vững chắc nhất của căn hầm. Chàng đốt một cây nến cắm ở đầu giường, ngả lưng trên giường và hút một điếu thuốc lá.
Trên đầu họ âm vang những tiếng nổ liên tục của những phát đạn trọng pháo bắn đi. Một khẩu đại bác đặt ngay gần đó làm cho cả căn hầm rung chuyển một khi đạn nổ. Trong hầm mọi người đều im lặng. Những người lính vẫn còn rụt rè vì sự có mặt của người sĩ quan mới, chỉ trao đổi nhau những câu thật ngắn và đủ nghe. Có một con chuột đang gặm nhấm một vật gì đó trong những hốc đá và Vlang, vẫn chưa hết sợ, thỉnh thoảng lại thốt ra một tiếng thở dài não nuột.
Volodia, nằm trên chiếc giường nhỏ trong góc hầm đầy người nhưng yên ổn này, căn hầm đầy bóng tối chỉ được soi sáng bởi cây nến duy nhất cháy leo lét trên đầu giường chàng, thả hồn mơ mộng và nhớ lại cảm giác ngày xưa còn bé khi chàng chơi đi trốn, đi tìm, chui vào tủ áo và trốn dưới những bộ áo xiêm treo trong đó của mẹ chàng, những giây phút đó cậu bé con Volodia nhịn thở, lắng tai nghe những tiếng động bên ngoài, vừa sợ bóng tối, vừa cảm thấy mình được bóng tối bảo vệ.
Ở đây cũng vậy. Tuy ở đây chàng không được yên ổn lắm như ngày xưa nhưng tình cảnh cũng không đến nỗi nào bi đát lắm, Volodia cảm thấy vui và hài lòng.
XX
Chừng mười lăm phút sau, những người lính trở nên bạo dạn và bắt đầu nói chuyện. Nhóm hạ sĩ quan nằm, ngồi quanh giường của Volodia và những ông này là những người nói lớn trước nhất.
Bên ngoài có một người lính hớt hải chạy vào hầm và anh này trở thành đề tài nói chuyện của mọi người.
- E... Sao không đi chơi ngoài phố? Về đây làm chi vậy? - Một giọng nói vang lên - Bộ ở ngoài phố hết đàn bà, con gái rồi sao?
Người lính mới chạy vào vừa cười vừa thở :
- Ngoài phố đông đàn bà, con gái lắm. Họ đang chờ bạn ra để ôm luôn bạn đấy. Họ khiêu vũ hấp dẫn ghê đi, họ hát những bài ca thật hay... Họ đang mong bạn. Thật đấy mà...
- Vassina không khoái... đạn. Hắn không, chịu ra đâu. Tin đi... - Một người khác nói.
Yassina, kẻ bị gọi đích danh, chậm rãi nói :
- Khi cần đến là một chuyện, khi không cần đến lại là một chuyện khác. Chúng bắn đâu có dữ bằng hôm Hai Mươi Tư, vậy mà hôm ấy, tôi vẫn đi phây phây, hứng đạn đều đều. Còn bây giờ mình chưa cần phải giơ đầu ra, dại gì mà chết vô ích? Các Xếp có khen mình nếu mình chết vô ích không?
Câu nói sau cùng của Vassina làm nhiều người phát lên cười.
- Vậy mà tên Melnikoff vẫn cứ ở ngoài ấy không chịu vào. Thằng cha kỳ thiệt...
Ôno ha sĩ già ngồi dưởi chân giương Volođia gật đầu :
- Ừ.. Thằng cha đó kỳ thiệt. Anh nào ngồi gần cửa gọi dùm nó vào đi. Để nó chết ngoài đó, ích gì?
- Melnikoff là ai? - Volodia hỏi.
Ông hạ sĩ già đáp :
- Thưa Chuẩn úy.. nó là thằng không biết sợ là gì cả. Thằng đó đang đi cửa ở hầm đấy. Chuẩn úy thử nhìn tướng nó coi. Nó như con gấu.
Vassina thản nhiên tiếp :
- Thằng đó nó có bùa ngải đó, Chuẩn úy...
Vừa đúng lúc đó, Melnikoff, một binh nhì rất mập - việc binh nhì béo tốt trong thành phổ bị bao vây này là một cái gì hiếm có - tóc đỏ, trán rô, mắt xanh và lồi, bước vào hầm.
- Melnikoff - Volodia hỏi - Anh không sợ đạn đại bác à?
- Sao tôi lại phải sợ đạn đại bác? - Melnikoff đứng giơ tay gãi cổ, hỏi lại, rồi tiếp - Số tôi không chết vì đại đại đác, tôi biết như thế.
- Anh thích sõng ở đây lắm ư?
- Thưa Chuẩn úy, tôi thích lắm. Ở đây có chuyện lạ xảy ra mỗi ngày...
Melnikoff bật lên mấy tiếng cười ngây ngô sau khi gã trả lời Volodia.
- Can đảm lắm - Volodia khen - Có dịp, tôi sẽ nói với Thiếu tướng về anh...
Chàng nói đến ông Tướng bằng một giọng thân mật mặc dầu chàng chưa biết ở đây thực sư có mấy ông Tướng và những ông này tên là gì.
- Anh cần được vào toán xung kích đánh sang chiến lũy địch - Volodia tiếp - Anh có thích gia nhập toán xung kích không?
- Xung... thì xung chứ, sợ gì..?
Melnikoff ngồi xuống giữa đám lính và Volodia không còn trông thấy gã nữa.
Những người lính không ngủ xúm lại đánh bài. Họ không đánh bài ăn tiền mà là ăn búng, ăn gõ. Người ăn búng lên mũi hay gõ nắm tay lên đầu gối kẻ thua. Những tiếng cười vang lên. Ông hạ sĩ già pha ấm trà mời Volodia uống. Chàng uống trà và nói chuyện vui với nhóm hạ sĩ quan quanh chàng. Chàng muốn làm thân với họ và hài lòng khi thấy họ tỏ ra kính trọng và thân mật với chàng. Nhiều người thấy ông Chuẩn úy dễ tính trở thành nói nhiều. Họ kháo nhau về tin đồn trận chiến ở đây sắp kết thúc vì ông Hoàng đệ Constantine sắp đưa lính Huê Kỳ tới đánh giải vây Sebastopol. Một người trong bọn quả quyết rằng hạm đội Huê Kỳ sắp đến và bọn Pháp sẽ không có đường mà chạy, chúng sẽ bị bắt sống hết. Người khác nói rằng sắp có cuộc ngưng bắn kéo dài hai tuần lễ để quân lính đôi bên nghỉ ngơi và trong cuộc ngưng bắn này anh lính nào nổ súng sẽ bị phạt bảy mươi lăm đồng kopek.
Vassina nói rằng khi y được về làng việc thứ nhất mà y làm là đóng chặt cửa ở nhà với vợ y liền một tháng, không tiếp khách cũng không cho vợ đi nửa bước ra khỏi nhà. Y nói bằng giọng nói quan trọng như y sắp thực hiện việc này đến nơi làm cho mọi người cười vui. Volodia cũng cười vì những mẫu chuyện lẩm cẩm này. Chàng không còn cảm thấy qua một chút sợ hãi nào nữa. Bầu không khí dầy đặc hơi người trong căn hầm chật chội cũng không làm cho chàng khó chịu chút nào. Ngược lại, chàng thấy yên tâm và lạc quan.
Nhiều người lính nằm ngủ đã ngáy ròn. Vlang cũng nằm cuộn mình trong cái áo khoác như con sâu trong góc sâu nhất của căn hầm. Người hạ sĩ già trải chiếc áo khoác của ông dưới chân giường Volodia và trước khi nằm xuống, ông trang trọng làm dấu thánh giả. Volodia bỗng nảy ra ý muốn đi ra khỏi hầm ngắm cảnh trời đêm trên chiến hào.
- Co chân.. Co chân cho Chuẩn ủy đi... - Người lính nằm gần giường chàng nhất vội nói và những người lính nằm cạnh co chân lại, nhường lối. Volodia tưởng Vlang đã ngủ, nhưng không, Vlang vùng dậy nắm áo chàng :
- Lạy Chúa - Vlang kêu lên - Ông đi đâu? Ra ngoài đó làm chi? Khổ lắm... Ông không biết... Đạn ngoài đó bán như mưa. Ông ra là chết. Vô ích...
Nhưng Volodia vẫn đi ra khỏi hầm. Chàng ngồi xuống phiến đá bên cửa hầm cạnh Melnikoff.
Không khí mát và trong, nhất là sau khi Volodia vừa hít thở không khí dầy dặc hơi người trong hầm kín, trời đêm có nhiều sao sáng. Giữa những tiếng súng, đạn nổ, chàng nghe rõ tiếng bánh xe chở đạn đi đâu đó trong đêm và tiếng nói của những người lính công binh đang làm việc trong những pháo đài. Trên đầu chàng, ánh sao thi đua lấp lánh với ánh những viên đạn bay ngang. Trước mắt họ, nhiều bóng đen đang vác những bao đất xếp thêm lên thành pháo lũy. Một bóng đen đứng hẳn trên đầu tường đất, bất chấp những làn đạn bay ngang, kéo những bao đất lên xếp lại cho ngay ngán và lấy chân dận dận.
Volodia chỉ tay lên bóng đen đứng trên đầu tường, hỏi Melnikoff :
- Ai đó?
- Thưa Chuẩn úy... tôi không biết ai. Để tôi lên hỏi coi...
- Đừng...
Nhưng Melnikoff đã đứng dậy và bước lên đầu tường. Gã đứng đó với bóng đen một lúc khá lâu mới trở xuống :
- Hắn là Vladimir, Hạ sĩ, Tiểu đội trưởng Tiểu đội Công binh... Chỗ đó bị một viên đại bác bắn trứng hồi chiều. Hắn đang cho đắp đất vá lại.
Mỗi lần có viên đạn rít gió bay tơi như sắp rơi thẳng xuống đầu, Volodia lại rúm người lại. Và mặc dầu Vlang thập thò trong cửa hầm mấy lần năn nỉ chàng vào hầm, Volodia cũng ngồi được ba tiếng đồng hồ ngoài trời. Chàng cảm thấy hứng thú được liều thân trước hiểm nguy và ngồi ngắm đường đạn bay. Trước khi chàng trở vào hầm lúc nửa đêm hôm ấy, chàng tin rằng chàng đã biết chắc địch quân có bao nhiêu khẩu trọng pháo, vị trí của những khẩu này ra sao và đạn địch rơi vào khu nào nhiều nhất.
XXI
Ngày hôm sau - ngày 27 tháng Tám - sau bảy tiếng đồng hồ ngủ say, Volodia ra khỏi hầm, mạnh mẽ và tươi tỉnh. Vlang đi theo chàng nhưng vừa nghe tiếng một viên đạn rít gió bay tới, y lật đật lùi lại. Đầu y đập cốp vào cây gỗ trên cửa hầm làm cho toán lính cười ồ lên. Hơn nửa số binh sĩ ngủ trong hầm đã ra ngoài đứng hít thở khí trời buổi sáng. Họ đứng tụ quanh cửa hầm trong khi Melnikoff đi đi, lại lại khắp nơi; thản nhiên như không.
Ba người lính ngồi trên những phiến đá ngoài cửa hầm, nơi Volodia ngồi nhìn trời với Melnikoff đêm qua. Trong số này có một chủ lính trẻ, với mái tóc quăn của dân Do Thái, lượm một mảnh đạn đồng rớt ngay dưới chân, đặt lên phiến đá và dùng một cục đá khác làm búa, đập mảnh đạn thành hình một cây thánh giá giống như kiểu cây thánh giá gắn với huy chương Thánh George. Hai người lính kia nói chuyện nhưng mắt vẫn nhìn chú lính trẻ làm việc. Cây thánh giá thô sơ do chú này tạo nên trông thật đẹp.
Tiếng nói của họ vẳng đến tai Volodia :
- Hết trận chiến này không chừng mình được giải ngũ luôn lắm ạ.. Tôi chỉ còn phải ở hết hai năm nữa thôi, mà tôi ở đây đã được sáu tháng rồi...
- Còn hai năm thì phải ở hết hai năm chứ, lính đi đánh nhau đâu có được giảm thời hạn phục vụ...
Đúng lúc ấy, một viên đạn đại bác bay qua đầu nhóm người và rơi xuống nổ tung chỉ cách Melnikoff một khoảng rất gần.
Một người lính kêu lên :
- Tí nữa thì Melnikoff tan xác...
- Bậy nào. Còn xa lắm mà. - Melnikoff cãi lại.
Chú lính trẻ có mái tóc quăn Do Thái đưa cây thánh giá vừa mới làm xong cho Melnikoff :
- Tặng anh thánh giá này vì anh can đảm...
Hai người lính đang bàn chuyện giải ngũ vẫn tiếp tục nói :
- Thời bình hay thời chiến cũng vậy thôi, binh sĩ bao giờ cũng phải phục vụ hết thời gian luật định mới được giải ngũ...
- Nhưng nếu mình chiến thắng thì có thể khác, Hoàng đế sẽ duyệt binh ở Warsaw, sẽ đặc cách cho chiến binh hữu công được hưởng ân huệ, hoặc là thăng cấp, thưởng tiền...
Lại một trái đạn đại bác nữa rớt gần đó nổ vang một tiếng lớn. Một người lính đùa :
- Coi chừng... Chỉ từ giờ tới tối nay, anh dám được đặc cách lên thiên đường lắm ạ.
Mọi người nghe tiếng đều cười. Chỉ vài tiếng đồng hồ sau đó, khi buổi trưa chưa qua hẳn, hai người trong bọn họ đã được “đặc cách lên thiên đường” và khi buổi tối chưa xuống hẳn, thêm năm người trong bọn họ bị thương nặng nhẹ, nhưng những người còn lại vẫn cười đùa, nói rỡn với nhau như thường.
Trong buổi sáng này, hai khẩu súng cối đã được sửa lại và vào lúc 10 giờ sáng, Chuẩn úy Volodia Koseltzoff được lệnh tụ họp binh sĩ dưới quyền của chàng đi vào pháo đài. Khi nhóm binh sĩ dưới quyền chỉ huy của Volodia bắt tay vào việc, họ quên hết âu lo và sợ hãi. Riêng có Vlang là vẫn còn hoảng hốt. Volodia không còn nghĩ đến hiểm nguy và chết chóc nữa. Niềm vui làm tròn bổn phận thúc đẩy chàng hăng hái chỉ huy, chàng cảm thấy niềm hãnh diện khi thấy mình không hèn nhát, ngược lại chàng sung sướng thấy mình đầy can đảm, thêm vào đó là cảm giác được chỉ huy hai mươi người đàn ông hoàn toàn nghe lệnh chàng, làm theo ý muốn của chàng... Tất cả những thứ đó làm cho Volodia trở thành “người hùng” thực sự.
Ông Thiếu tá Chỉ huy trưởng những pháo đài ở pháo lũy này, trong khi đi một vòng kiểm soát các ổ súng, mặc dầu đã quen với đủ hình thức quả cảm của không biết bao nhiêu là sĩ quan vì ông đã chiến đấu ở đây tới tám tháng liên tiếp, cũng vẫn phải thán phục chàng sĩ quan trẻ tuổi, đẹp trai chỉ huy cuộc pháo kích với vẻ nhiệt thành đầy uy tín này. Volodia ra lệnh bắn bằng một giọng hùng dũng rồi nhanh nhẹn nhảy lên đầu tường thành nhìn xem đạn mình bắn rơi vào đâu trong chiến tuyến địch.
Tới 11 giờ 45, cả đôi bên cùng ngừng pháo kích. Và đúng 12 giờ trưa, địch quân mở cuộc tấn công ồ ạt sang Pháo lũy Hai, Pháo lũy Ba, Pháo lũy Năm.
XXII
Ở bên này vịnh biển, giữa Inkerman và những chiến hào phía Bắc thành phố Ssbastopol, vào lúc gần trưa, có hai sĩ quan Hải quân đứng trên ngọn đồi gọi là đồi Vô Tuyến Điện. Trên đỉnh ngọn đồi này có trồng cột dây thép gió cao vút. Một sĩ quan đang chiếu ống nhòm nhìn qua vùng biển sang vùng chiến hào. Một sĩ quan thứ ba, ngồi trên lưng ngựa, có người lính Cossack đi theo, đến dừng ngựa gần họ.
Mặt trời lên cao trên biển, sóng biển lấp lánh ánh nắng vui. Gió thổi nhẹ làm cho mặt biển rợn sóng. Bên kia vịnh biển, thành phố Sebastopol hiện ra rõ ràng với tòa giáo đường lớn đang xây cất dở dang, những thân cột đá trắng, bến tàu, những đại lộ vắt ngang lưng đồi xanh, tòa nhà thư viện sang đẹp, những mặt hồ trong thành phố nước xanh như da trời mùa thu. Và trên tất cả những thứ đó, những đám mây trên thành phố nhuộm màu xanh đen, thứ màu do khói thuốc súng hợp lại tạo thành. Thành phố đó vẫn là thành phố Sebastopol trù phú và vui sống ngày nào hội mở, thành phố Sebastopol đẹp và kiêu hãnh, một bên là biển xanh, một bên là những ngọn đồi vàng đang bốc khói. Thành phố rực rỡ dưới ánh nắng buổi trưa.
Dọc theo những đường chiến hào, trên những đỉnh đồi, bỗng dưng có những đợt khói nhỏ bốc lên. Rồi những đợt khói bốc lên từ khắp nơi. Mặt trận chuyển động dữ dội trước mắt những người sĩ quan nhìn sang từ bên này vịnh biển.
- Anh có thấy Pháo lũy Hai của mình hết bắn trả rồi không? - Người sĩ quan trên lưng ngựa đột ngột lên tiếng - Có lẽ là bị tiêu diệt rồi.
- Có lẽ - Người sĩ quan đang nhìn ống nhòm đáp - Còn pháo lũy trên đồi Malakoff bắn trả yếu quá, địch bắn ba, chỉ bắn trả được có một. Nguy quá... Pháo lũy Korniloff cũng hết thấy bắn trả rồi...
Người sĩ quan đứng cạnh nói :
- Không sao đâu. Hôm nào cũng vậy, cứ đến mười 12 giờ trưa là họ ngừng bắn. Họ ngừng để ăn. Chúng mình cũng về ăn trưa thôi chứ...
- Đừng... Đừng... Để tôi coi...
Người sĩ quan đang nhìn qua ống nhòm nói bằng một giọng sợ hãi.
- Gì vậy? Thấy gì lạ không?
- Lính ra khỏi chiến hào... có cuộc tấn công rồi...
- Lính mình hay lính địch?
- Lính địch tiến sang chiến tuyến mình. Chúng đi hàng một. Kìa... Chúng sang đông quá... Đi như kiến... Thấy không?
Giờ đây, họ nhìn bằng mắt thường cũng thấy những chấm đen chạy qua khoảng đất trống giữa hai chiến tuyến. Quân Pháp đang kéo sang chiến tuyến Sebastopol. Tiếng súng tay nổ nghe như tiếng mưa rơi mạnh trên cửa sổ. Những dãy người đen bị bao phủ trong màn khói nhưng vẫn tiến tới, tiến tới, mỗi lúc một gần hơn. Những người đừng nhìn cảm thấy có tiếng la hò vọng tới trong gió...
- Chúng đại tấn công quân mình...
Người sĩ quan mặt xanh đi vì xúc động, đưa ống nhòm cho bạn.
Bốn người đứng trên đồi, ba sĩ quan và một binh sĩ, cùng lặng đi.
Khoảnh khắc sau, người sĩ quan trên lưng ngựa cất tiếng :
- Có đại tấn công chúng cũng không thể chiếm được...
- Trời đất... Hỏng rồi... Coi kìa - Người sĩ quan đang chiếu ống nhòm hoảng hốt kêu lên - Lá cờ... Cờ Pháp cắm trên đồi Malakoff...
Hai sĩ quan kia cùng kêu :
- Không thể thế được...
XXIII
Koseltzoff Anh, sau một đêm đánh bạc với các bạn, đã thua, được rồi thua lại hết tiền, kể cả những đồng tiền vàng được khâu trong nẹp áo và thề sẽ không bao giờ đụng đến, nằm ngủ vào lúc mờ sáng trong một căn hầm của Pháo đài Số Năm. Chàng vẫn say ngủ khi những tiếng kêu khủng khiếp vang lên trong dãy chiến hào bao quanh :
- Địch tấn công... Tấn công...
Một giọng nói hét lên bên tai chàng :
- Mikhail Semenovitch.. Dậy mau... Địch tấn công...
- Để người ta ngủ. Trò này cũ rồi...
Koseltzoff cựa mình và định xoay mặt vào trong ngũ tiếp, nhưng mắt chàng đã mở và chàng nhìn thoáng thấy bộ mặt xanh xao, khiếp sợ của ngườì sĩ quan vừa chạy vào đánh thức chàng. Người sĩ quan đó cuống cuồng chạy ra ngay khỏi hầm và vẻ sợ hãi của người sĩ quan này làm cho chàng biết rằng cuộc tấn công có thật. Ý nghĩ những người khác có thể cho là chàng hèn nhát khi họ không thấy chàng xuất hiện làm Koseltzoff ngồi bật dậy và chạy lao đi tìm Đại đội của chàng.
Bên ngoài, các dàn trọng pháo đều im tiếng nhưng tiếng súng tay nổ dữ dội hơn bao giờ hết. Đạn nhỏ bay tôi không phải là từng viên một mà là từng đàn như đàn ong, như những đàn chim bay qua đầu người trong đồng cỏ mùa thu. Những đường chiến hào đầy khói, đầy tiếng người kêu la chửi rủa. Cách cửa hầm khoảng một trăm thước chàng gặp các binh sĩ Đại đội chàng đứng dọc theo bờ chiến hào.
- Góc phía đông bị địch tràn ngập rồi - Một sĩ quan trẻ kêu lớn - Ta thua...
- Thua làm sao được.! - Koseltzoff quát lớn. Chàng rút cây kiếm đã bắt đầu han rỉ ra khỏi bao và hô - Anh em theo tôi...
Tiếng hô lớn và vững chắc của chàng làm tăng thêm can đảm cho chính chàng, và chàng cầm kiếm chạy trong chiến hào. Chừng năm mươi người lính chạy theo chàng. Vừa ra khỏi chiến hào, một trận mưa đạn hay đến chào đón họ. Hai viên đạn cùng trúng vào người Koselloff trong một lúc nhưng chàng không còn đủ thì giờ để tìm hiểu xem đạn ghim chỗ nào trong thân thể chàng, chàng bị thương có nặng không hay chỉ xây sát nhẹ, bởi vì trong làn khói mờ mịt trước mắt chàng, chàng nhìn thấy thấp thoáng những bóng quân phục áo xanh, quần đỏ không phải là quân phục Nga và bên tai chàng vang lên những tiếng không phải là tiếng Nga.
Một quân nhân Pháp đứng trên đỉnh pháo đài đang giơ mũ vẫy vẫy và la hét những câu gì đó. Ý nghĩ chàng có thể chết làm cho sự quả cảm trong Koseltzolf hạ xuống, nhưng chàng vẫn giơ kiếm lảo đảo chạy về phía những bóng quân phục xanh đỏ...
Rồi mắt chàng hoa lên và cảnh vật quay cuồng quanh chàng. Chàng cảm thấy đau nhói ở ngực và chàng ngã xuống. Nửa tiếng đồng hồ sau chàng thấy chàng nằm trên một cái cáng ở gần tường trại Nicholas. Chàng biết chàng bị thương nhưng không thấy đau đớn. Tuy vậy, chàng cảm thấy khát, chàng muốn được uống một ly nuớc lạnh và nằm lại cho dễ chịu hơn
Một y sĩ có bộ ria đen tới quỳ gối bên chàng và mở nút áo chàng. Koseltzoff nhìn bộ ria của người y sĩ đang xem xét vết thương của chàng nhưng không làm chàng đau đớn chút nào. Người y sĩ đậy vạt áo lại trên ngực người sĩ quan bị thương và lặng lẽ đi sang xem vết thương cho người nằm cạnh, ông chùi những ngón tay ướt máu tươi của ông lên ống quần. Koseltzoff nhìn theo ngươi y sĩ nhưng chàng đang nhớ lại những gì vừa xảy ra trên Pháo đài Số Năm, nơi chàng ngã xuống và được người ta khiêng về đây. Chàng cảm thấy hài lòng và tự khen ngợi mình. Chàng đã làm tròn bổn phận một cách dũng cảm. Đây là lần đầu tiên kể từ ngày chàng gia nhập quân ngũ chàng đã làm tròn một việc mà không ai có thể trách cứ gì được chàng. Kể cả chàng cũng không tự trách gì được. Người y sĩ chỉ tay về phía chàng cho một vị linh mục râu đỏ, tay cầm cây thánh giá, vừa đi tới.
- Mình sắp chết chăng? - Koseltzoff tự hỏi khi chàng thấy vị linh mục đến gần.
- Tôi sắp chết ư? - Chàng khó khăn cất tiếng thều thào hỏi.
Vị linh mục không trả lời nhưng đọc một câu kinh và đưa thánh giá đến trước mặt chàng. Cái chết không làm cho Koseltzoff sợ hãi gì cả. Bàn tay đã yếu của chàng run run đưa thánh giá lên môi trong lúc nước mắt chàng chảy ra.
- Mình đuổi bọn Pháp về rồi chứ? - Chàng hỏi tiếp, giọng chàng đã vững hơn.
- Chúng ta chiến thắng hoàn toàn trên khắp các chiến tuyến...
Vị linh mục đáp. Ông giấu sự thật để cho người sắp chết đỡ khổ, nhưng sự thật là quân Pháp đã chiẽm được đồi Malakoff và lá cờ Pháp đang tung bay trên đỉnh đồi này.
- Chúng ta thắng! Cám ơn Chúa...
Người sĩ quan sắp chết khẽ nói nước mắt ràn rụa trên má chàng nhưng chàng không biết là chàng khóc. Chàng thoáng nghĩ đến người em chàng giờ này đang ở đâu đó trong những chiến hào kia. Và chàng nói :
- Xin Chúa cho em tôi cũng được sung sướng như tôi.
XXIV
Volodia đang chờ đợi ăn bữa trưa khi tiếng kêu báo động vang lên: “Bọn Pháp tới...” Tiếng kêu này làm cho máu chàng như chảy dồn hết trở về trái tim, chàng cảm thấy toàn thân lạnh ngắt và chàng ngẩn người ra mất mấy giây đồng hồ, không còn biết mình nên làm gì, nên nói gì. Rồi chàng nhìn quanh và thấy những người lính dưới quyền chàng cài vội lại những nút áo, theo nhau chạy ra khỏi hầm. Một người nào đó, có thể là Melnikoff, nói đùa một câu :
- Ra tiếp mấy bạn quý này chơi.
Vlang vẫn không rời xa Volodia nửa bước, hai người cùng chạy ra khỏi hầm để tới ổ súng. Sự hèn nhát của Vlang có mãnh lực làm cho Volodia thêm can đảm hơn là sự thản nhiên của những người lính. Volodia nghĩ thầm: “Mình không thể hèn như tên nay...” và chàng chạy nhanh vào ổ súng. Qua ở cửa hầm, chàng nhìn rõ bọn lính Pháp đang rùng rùng chạy qua bãi trống về phía chàng. Những cây lưỡi lê sáng loáng cắm trên đầu súng của chúng lấp lánh trong nắng. Trong những chiến hào gần chàng nhất, Volodia cũng nhìn thấy những chiếc lưỡi lê này.
Volodia hô “Bắn...”, những người lính dưới quyền chàng đã làm việc này trước khi chàng ra lệnh. Đạn súng tay nổ ran quanh chàng làm át cả tiếng nững trái đạn súng cối bay ra khỏi nòng súng. Voldia, quên hết hiểm nguy, chạy giữa hai khẩu súng tới tấp nhã đạn.
Tiếng la ó vang trời hòa vói tiếng đạn nổ. Chợt có tiếng kêu tuyệt vọng vang lên: “Chúng đến sau lưng mình” Volodia quay lại nhìn ra cửa ổ súng và nhìn thấy một bọn lính Pháp chạy đến. Một tên Pháp có bộ ria đen dừng lại ở cửa hầm chỉ cách chàng mười bước, chĩa súng bắn chàng.
Volodia đứng như người chết sững, chàng không tin ở mắt chàng. Bắn xong một phát, không chờ xem chàng có trúng đạn hay không, tên lính Pháp cầm súng chạy đi luôn, không vào ổ súng. Lần này, vài người lính Nga chạy ngang cửa, dẫn đầu là Hạ sĩ Vlang.
- Theo tôi... Chuẩn úy... chạy theo tôi...
Vlang kêu lớn ngoài cửa ổ súng. Tay gã cầm một cây sắt và gã quay lại đập, phang cây sắt túi bụi lên hai tên lính Pháp vừa trờ tới. Trong đường hầm chật hẹp, cây sắt nặng và ngắn tỏ ra lợi hại hơn những cây súng trường dài và vướng víu.
- Theo tôi... Chạy đi... Còn chờ gì nữa...
Vlang lao đầu chạy, nhưng khi về tới được một chiến hào còn đông quân mình đang chĩa súng bắn vào bọn Pháp, Vlang dừng lại và quay nhìn về phía ổ súng xem chàng Chuẩn úy trẻ tuổi mà gã có cảm tình ra sao... Gã chỉ nhìn thấy một xác người có vẻ là Chuẩn úy Volodia nằm sấp ngay chỗ cửa ổ súng và cả khu này đầy nghẹt lính Pháp. Bọn Pháp đang đứng dàn hàng dọc theo bờ chiến hào quanh ổ súng này và đang tới tấp bắn...
XXV
Vlang tìm lại được tiểu đội binh sĩ cùng lên mặt trận với gã Chuẩn úy Koseltzoff hồi chập tối hôm qua ở dãy chiến hào thứ hai. Trong số hai mươi bịnh sĩ chỉ còn có tám người về được đến đây
Khoảng 9 giờ đêm hôm đó Vlang cùng tám binh sĩ sống sót này ngồi trong con tàu máy chạy qua vùng biển về Svernia. Con tàu đầy lính bị thương, ngựa và những khẩu súng lớn. Mặt trận Sebastopol đắm chìm trong yên lặng. Khắp nơi không đâu còn tiếng súng.
Sao cũng sáng lấp lánh trên nền trời đêm như đêm qua những gió thổi mạnh hơn và mặt biển động. Nhiều đám cháy lớn bốc lên ở những Pháo lũy Một và Hai. Trên bến tàu Sebastopol cũng có lửa chảy và ánh lửa soi vàng mặt nước.
Trên tàu không một người nào lên tiếng nói. Chỉ thỉnh thoảng giữa tiếng máy tàu, tiếng sóng đập vào mạn tàu, người ta nghe tiếng ngựa thở phì phì, tiếng vó ngựa đập trên ván tàu và tiếng thương binh rên rỉ. Kể từ tối hôm qua cho tới lúc này, Vlang chưa ăn qua một miếng gì vào bụng và bây giờ gã thấy đói. Gã móc miếng bánh khô trong túi ra đưa lên miệng nhai nhưng khi gã nghĩ tới Volodia, gã quên ăn và khóc nức lên làm cho mấy người lính ngồi cạnh gã ngạc nhiên.
- Coi kìa... Hạ sĩ Vlang vừa ăn vừa khóc... - Vassina nói.
- Sao hắn khóc vậy? - Một người hỏi.
- Coi... Họ đốt trại của bọn mình - Vassina nói tiếp sau tiếng thở dài - Bao nhiêu anh em mình chết, mà chết vô ích, vì sau cùng, bọn Pháp cũng chiếm được Sebastopol...
- Chúng mình còn sống là may rồi... Chúng mình nên cám ơn Chúa...
- Anh em mình chết vô ích là thế nào? - Một giọng nói cứng rắn vang lên - Bọn Pháp cũng phải chết bao nhiêu tên mới vào được Sebastopol. Chúng còn chết nhiều hơn mình. Mà chúng đâu có ở lại trong đó được lâu? Chúng ta sẽ trở lại đuổi chúng ra khỏi đấy khi Hoàng đế ra lệnh. Chúng ta sẽ có thể chết nhưng anh em ta sẽ chiếm lại Sebastopol. Trong đó còn có gì cho chúng hưởng? Toàn là nhà đổ, mình đã phá hủy hết công thự trước khi rút đi. Chúng nó cắm cờ trên đồi Malakoff thật đấy nhưng chúng nó sẽ không dám thò đầu ra khỏi thành phố.. Chờ đấy - Người nói hướng về phía thành phố - Chúng mày chưa hết khổ đâu. Chúng tao sẽ trở lại...
Kẻ thù của họ không nghe thấy lời đe dọa nhưng cũng biết rằng có một sự gì khác lạ đang xảy ra trong Sebastopol kiêu dũng, và những tiếng nổ lớn làm rung chuyển mặt đất, tình trạng lặng lẽ đầy chết chóc tiếp theo những tiếng nổ lớn ấy trong thành phố làm cho chúng run sợ. Sau những ngày chiến đấu mãnh liệt vừa qua, chúng không dám tin ngay rằng những người giữ Sebastopol lại bỏ đi trong đêm nay, và chúng bồn chồn chờ đợi cho hết đêm dài.
Quân đội Sebastopol, như một dòng sòng cuồn cuộn và sôi động, tràn bờ từ từ trôi ra khỏi thành phố trong đêm đen. Họ ra đi bỏ lại sau lưng họ những địa điểm chiến đấu mà không biết bao nhiên người bạn họ đã ngã xuống, đã rỏ máu lên mặt đất. Họ đã chiến đấu ở những địa điểm đó trong chín tháng trời chống lại một quân đội đông gấp đôi họ, mạnh gấp đôi họ và đêm nay, họ được lệnh phải rời bỏ nơi đó.
Đám đông người, ngựa, xe, súng... dồn tụ lại ở những đầu cầu gió lộng. Ngựa kéo những cỗ trọng pháo rầm rầm chạy qua cầu trong khi những gã đầy tớ của các sĩ quan, ôm đồm hành lý, lạc chủ không được phép qua cầu, đứng khóc ròng. Cũng lúc ấy năm trăm người thương binh nằm trên những phiến đá lạnh trên bến tàu nhìn lên trời sao cầu nguyện cho được chóng chết và người hạ sĩ pháo binh già mười sáu năm không rời xa khẩu đại pháo của mình, sau khi nhận được lệnh mà anh không hiểu vì sao lại có cái lệnh kỳ cục ấy, hợp sức với những người bạn đẩy khẩu đại pháo thân yêu của anh xuống biển...
Qua khỏi vịnh biển, khi sắp bước lên đất liền, gần như người lính nào cũng bỏ mũ, làm dấu thánh giá và quay lại nhìn thành phố Sebastopol bỏ ngỏ lần cuối...
HẾT