<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.05.2015 11:29:23 bởi Ct.Ly>
Đánh máy: cunhoi
TÁC PHẨM HAY
CHỌN LỌC TRONG NĂM
HỒNG THẦU – LAN KHAI
TÂM LÝ ÁI TÌNH
THANH XUÂN XUẤT BẢN
I
- Nghĩa là nó sẽ mốc thếch mất cả chứ gì?
- Đúng thế.
- Nhưng theo ý tôi, sự du lịch vị tất đã còn ích lợi cho ta như anh Ngọc vừa nói…
- Tại sao?
- Anh không thấy cả thế gian bây giờ đương chạy vùn vụt đến chỗ âu hóa đó ư? Nói âu hóa có lẽ chưa đúng. Phải nói là máy móc hóa mới phải…
- Rồi sao nữa?
- Lại còn sao! Nếu một ngày kia, sự đi lại từ Á đông sang Mỹ châu sẽ nhanh chóng và tiện lợi hơn từ một xóm nhà quê lên chợ tỉnh bây giờ, và đi đến đâu, người ta cũng chỉ thấy nhan nhản những đường rải nhựa, những nhà chọc trời, những ống khói nhà máy, những đường xe lửa, điện thoại, vô tuyến truyền thanh, nhà chiếu bóng v.v… Lúc ấy thì trái đất ta ở này sẽ bị thu nhỏ lại và cảnh sắc sẽ tầm thường tẻ ngắt biết chừng nào? Người ta không cần phải ra khỏi cửa, chỉ việc nhắm mắt mà tưởng tượng cũng đủ biết hết cả những cái gì có trên mặt đất. Người ta còn học được gì ở sự đi chơi phiếm?
- Ừ, anh nói cũng có lý…
- Có lý đứt đi chứ lại cũng gì nữa
Khôi đập tàn thuốc lá, kéo một hơi, thở khói rồi tiếp theo.
- Không những thế, không những sự du lịch sẽ không còn ích lợi gì mà ngay cái thú bềnh bồng cũng không còn nữa, cái thú cầu sương diếm cỏ, cái thú xê dịch nó rất cần cho thằng người hiếu động. Là bởi, lúc ấy, người ta vì cứ đi khắp địa cầu, đến khi trở về nhà, người ta cũng sẽ chẳng giữ được một kỷ niệm êm đềm nào hoặc chẳng có gì mà kể lại cho chúng bạn nghe.
Ngọc có vẻ tần ngần.
- Ví dụ sẽ đúng như nhời anh nói thì người ta sẽ lấy gì thay vào cái thú đi chơi xa?
- Người ta sẽ đi chơi gần vậy, nghĩa là sẽ chui vào các tiệm hút, cô đầu, tiệm nhảy! Nếu người nào không dễ trác tang mình đến bậc ấy thì vào các rạp xi nê khảo cứu cái thuật bôi nhọ các kiệt tác văn chương của mấy ông dàn cảnh nô lệ của sự tầm thường thảm hại của công chúng hoặc là về nhà đóng cửa ngồi mà ngáp dài.
- Cái viễn tượng ấy thực không phải là một viễn tưởng có thể khiến ta nao nức được.
- Tất nhiên!
- Phiền thật!...
- Bởi thế cho nên chúng ta ngày nay còn đi được, còn chơi được, ta hãy đi cho nhiều, chơi cho thỏa vào…
- Hay nếu không tự mình đi được thì nên nghe các bạn mình, hơn nữa, mình nên bắt buộc các bạn mình phải kể chuyện ngoài xa cho mình nghe chứ gì?
Khôi vô tình, không biết đấy là một cái bẫy.
Chàng gật đầu:
- Phải!
Ngọc cười ha hả đoạn nói tiếp:
- Thế thì anh, một người đi nhiều, thấy lắm anh còn đợi gì không thuật các điều kiến văn lại cho tôi, bạn than của anh nghe?
Khôi lườm bạn
- À, ra họ dụng tâm cho mình vào bẫy!
- Cái bẫy ấy có mắc cũng chả nên oán. Là vì đấy là một dịp cho anh vợi bớt các điều mà bao nhiêu cuộc phiếm du đã dung cho anh để có chỗ mà thu thập cái mới chứ…
- Ừ, đã đành rành thế; nhưng ở đời này, dù đến ái tình cũng còn có thể phải mua mới có thì câu chuyện ngoài nghìn dặm xa tất cũng phải đánh đổi bằng cái gì ví dụ như một bữa rượu chẳng hạn…
- Gớm, tay róc thật. Nhưng mà thôi, gì chứ rượu thì được!
Ngọc quay vào nhà trong gọi đầy tớ:
- Thằng Tư đâu?
Thằng bé ở chạy lên:
- Cậu bảo gì con?
- Đây, mày cầm đồng bạc này ra hiệu mua cho tao nửa đĩa thịt bò xào, một con chim bồ câu rán và một chai rượu ông lão nhỏ…
Khôi nói thêm:
- Nhớ mua cho tôi hai xu lạc rang nhé.
- Vâng.
Khôi vừa nói vừa cởi bỏ áo ngoài vắt lên lưng ghế tỏ ra ý định ngồi lâu và trong khi ngồi, chàng cần được hưởng mọi sự sướng tiện.
- Tính tôi lúc nào làm việc gì là phải hoàn toàn thuộc về việc ấy.
Ngọc đùa bạn.
- Phải, tôi đã biết tính ông!
Khôi điềm tĩnh nói tiếp:
- Và tôi cho như thế chính là cái thuật sống rất thú vị vậy.
- Cái thuật sống ấy nhiều khi nguy hiểm cho kẻ khác rất nhiều, phải không anh?
Khôi cười:
- Cái thằng cha này xem ý bủn xỉn lắm thì phải!
Ngọc toan cãi thì thằng Từ đã đem các thức nhắm về.
Chủ nhân đứng dậy sửa soạn và một lát sau đôi bạn đã cùng nhau chén chú chén anh.
Ngọc hỏi Khôi:
- Trong cái đời bềnh bồng vô định của anh, anh chắc đã gặp nhiều sự lạ lắm?
- Cứ kể thì cũng lắm cái lạ thật, nhưng phong cảnh phần nhiều lạ hơn là người, vì thằng người dù là ở đâu chẳng qua cũng vẫn chỉ là thằng người.
- Ấy lại là một câu chuyện khác. Tôi nói lạ đây chính là ở những phong tục và cái cách sống riêng biệt của từng dân. Còn như cái bản chất thằng người đã đành là giống nhau.
- À, nếu vậy thì mắt tôi quả đã trông thấy lắm cái lạ, tai tôi quả đã nghe được lắm việc kỳ nó xảy ra ở những nơi rừng xanh núi tía, xa chúng ta không biết là bao nhiêu.
- Đấy, chính những chuyện ấy mà tôi vẫn chờ đợi ở anh vậy. Tôi them những cái lạ mà tôi, một kẻ ít đi nhất trong bọn nghệ sĩ chúng ta, vẫn thèm thuồng ao ước.
- Thế thì có khó gì! Anh cứ chịu tốn ít tiền mua rượu rồi toi sẽ kể cho mà nghe.
- Được rồi!
- Vô số là chuyện hay! Nào chuyện ma rừng, nào chuyện thần hổ, chuyện bùa phép, chuyện phi thống v.v…
- Thế thì ngay ngày hôm nay, anh kể cho tôi nghe một chuyện gì đó…
- Chuyện Hồng thầu vậy nhé?
- Hồng thầu?
- Phải, Hồng là đỏ, thầu là đầu. Hồng thầu tức là đỏ đầu, tên một thứ Mán suốt đời bịt đầu bằng vải tây đỏ…
- Thứ Mán ấy chỉ có cái tục bịt đầu bằng khan đỏ là đặc biệt thôi ư?
- Không. Phong tục họ ngộ lắm! Chính tôi đã suýt chết về tay họ. Nhưng, nếu anh muốn tôi kể cho anh nghe thì điều cần nhất là anh không được hỏi vặt…
- Điều ấy, tôi xin vâng.
- Tốt lắm!
Khôi cầm cốc uống một hớp rượu và gắp một món ăn rồi mới cất tiếng nói một cách ung dung.
II
Anh hãy tưởng tượng một động nhỏ gồm độ hai chục nóc nhà ở lọt thỏm vào một cái thung lũng rộng độ hai trăm mẫu vừa ruộng vừa nương. Chung quanh cái thung ấy có một dãy núi đá cao vây kín bốn mặt, y như một bức thành vậy.
Một con suối từ hốc núi phía bắc chảy qua thung và mất hút vào một cái khe ngầm luồn qua ngọn núi phía tây. Nó chính là mạch máu lớn tẩm tưới cho long thung lũng.
Các nhà trong động đều làm trên mô cao. Để có nước sạch mà dụng, họ lấy tre nối thành một cái ống máng dài, một đầu bắc vào tận nguồn xa trong núi, một đầu trỏ ra nhà người trưởng động rồi mới tự đấy truyền ra các máng phân đi các nhà khác.
Nhờ vì sẵn nước như thế nên mặt ruộng ướt quanh năm và cấy được cả hai mùa.
Lối vào thung không có.Người ta phải nhân một khúc suối mà lội ngược dòng mới vào được.
Nhưng, con đường duy nhất ấy, phải người nào quen lắm mới biết.
Và chính nó là một cái biểu hiện về sự độc lập của bọn người trong động.
Họ toàn là giống mán hồng thầu.
Trong các giống người mạn ngược, bọn hồng thầu này tính đa nghi hơn cả.
Họ không thích động chạm với các dân khác .
Mỗi khi dừng trước người lạ, họ thường có vẻ ngờ vực lấm lét và sẵn sang có những cử động bài ngoại một cách gần như một con ác thú khi thấy người lại gần.
Đấy có lẽ là một tính di truyền của một dân tộc hay bị ngược đãi, bị hà hiếp và bị giết hại. Dù sao mặc long, cái thói đa nghi ấy rất nguy hiểm cho những ai không may lạc vào trong gian sơn của họ.
Bấy giờ cách giao thông đã mở mang, một dân tộc dù dã man đến đâu cũng không thể giữ cách sống của m ình ra hẳn ngoài vòng hoạt động của phần đông nhân loại được.
Hồi xưa thì không thể. Nhờ về đường lối chưa mở mang nên, ở các nơi rừng xanh núi tía, bọn thổ dân dễ biệt tập từng nơi, triều đình riêng một biên thùy, các quan miễn là họ cứ đủ thuế là được, chứ cũng không hoạnh họe gì cả.
Nhờ thế mà có lắm nơi, dân thổ chước sống nghiễm nhiên thành như các quốc gia trong quốc gia vậy.Họ cũng có chúa tôi, có một cuộc sống hoàn toàn độc lập với những phong tục riêng, lề thói riêng, lại thưởng phạt riêng.
- Thành ra, trong thẳm rừng hoang, ngay bên cạnh cuộc sống của ác thú, vẫn ngấm ngầm một cuộc sống khác cũng thường vấy máu và đầy bí mật chẳng kém gì…
- Chính thế đấy! Đã có một nhà văn sĩ viết m ột câu rất đúng rằng những cuộc đời xa xôi ấy là những cái bí mật phủ sương mù…
- Hay!
- Cái bí mật phủ kín trong sương mù ấy, tôi đã có lần được vào tận nơi.
- Chắc hẳn ghé lắm?
Khôi gật:
- Tôi thực đã một phen hụt chết! Nay, mỗi lần hồi tưởng, hãy còn ghê rợn tóc gáy. Và cái kỷ niệm này sẽ còn giữ mãi trong lòng tôi đến suốt đời!
Khôi ngừng lại, nhắc cốc rượu uống một hớp.
Chàng vơ cái điếu thuốc lào, nạp thuốc, đánh diêm và, trước khi hút, còn khái luận một cậu về cái thú hút trong khi ăn.
- Trong bữu rượu, thỉnh thoảng làm một hơi thuốc lào kể có điều thú thật. Cái người nào đã gọi thứ cây ấy là tương tư thảo, người ấy hẳn là một thi sĩ.
- Đã đành rồi! Nhưng thời khắc này là cái thời khắc thuộc về bọn mán hồng thầu chứ có phải thuộc về giống cỏ tương tư đâu!
- Cũng có lẽ!
Khôi gật gù và cầm đũa gắp một miếng thịt đưa lên miệng.
- Hồi ấy, tôi mới mười tám tuổi. Nhân trong nhà túng bấn và cái nghề viết bài đăng báo không phải là một nghề đủ nuôi sống người, tôi liền vác bút và sơn lên rừng. Tôi định đi vẽ rong để kiếm tiền chu cấp cho một gia đình rất đông mà tôi là cái trụ duy nhất. Việc này có hai cái lợi: một là nó đem lại cho tôi rất nhiều tiền. Hai là nhờ nó, tôi được trải qua bao nhiêu là phong cảnh đẹp, biết bao nhiêu là chuyện lạ tích kỳ, có thể dung làm một cái kho tài liệu vô cùng cho văn chương của tôi về sau này. Chắc anh cũng không lạ gì rằng trong bao nhiêu năm nay, tôi vẫn có cái hy vọng trở nên một nhà tiểu thuyết. Muốn đạt được cái hy vọng ấy, tôi cần phải đi nhiều, lịch lãm nhiều, sống nhiều, sau khi đã đọc nhiều.
Cái thời kỳ đi vẽ này còn có một thú vị khác nữa, một kỷ niệm rất ngộ: giá bây giờ anh lên mạn ngược, dù vào các động Thổ Mán rất hẻo lánh, chắc anh cũng ngạc nhiên biết chừng nào khi thấy có những bức vẽ truyền thần bằng sơn dầu mà người kiểu mẫu đều là các người thổ dân ở ngay đấy, các bức vẽ ký tên tôi.
- Anh đi có một mình à?
- Không, tôi đi với một người bạn than tình cũng thích giang hồ là anh Hoàng Khắc Cơ. Anh ấy chết rồi, chết đã lâu lắm và chết một cách thảm hại.
Anh ta tức là vai chính trong câu chuyện phiêu lưu nguy hiểm mà tôi sắp kể anh nghe vậy.
Anh hãy tưởng tượng một người trai trẻ có bộ mặt xinh tươi, có một tâm hồn lúc nào cũng sáng sủa như một ngày nắng ráo và có một cái tài nói khôi hài dù ai cũng không thể nín cười được.
Cơ là con một ông ký sở công và là bạn đồng tuế và đồng học của tôi. Chúng tôi yêu nhau lắm, thường ăn với nhau một mâm, ngủ với nhau một giường.
Đến năm ấy, Cơ bỗng mồ côi bố.Bà mẹ anh ta vì hãy còn trẻ nên bước đi bước nữa.Cơ lấy làm buồn rầu lắm, đâm ra chơi bời dữ.
Sợ rằng bạn mình sẽ trở nên một người hư hỏng, tôi liền rủ Cơ đi phiêu lưu một chuyến thì anh nhận lời ngay.
Đi như chúng tôi đã đi, không ai có thể mạo hiểm một mình được. Cần phải có bạn không những để khi ốm đau, hoạn nạn có người giúp đỡ mình mà ngay những khi gặp một cảnh đẹp, một việc lạ, mình cũng lại cần phải có bạn để cùng chia với nhau cái khoái cảm hoặc trao đổi với nhau những ý tưởng mình chợt có.
Nhờ về chuyến phiêu lưu ấy, tôi nhận ra rằng chúng mình bất cứ làm gì, rất cần phải có bạn.Không có người yêu, không có vợ còn chịu được, chứ không có bạn thì không xong.
Tiếc thay, sau cuộc lãng du, Cơ đã chết một cách thê thảm khiến cho bây giờ nhắc lại chuyện cũ, lòng tôi không thể không bùi ngùi.
Tôi còn nhớ khi Cơ hấp hối, tôi cầm tay anh thương khóc, anh có mỉm cười mà bảo tôi:
- Anh buồn làm gì! Người ta ở đời này tụ tán bi hoan chẳng qua là vờ cả vì chính cuộc đời con người cũng chỉ là một giấc mơ mà thôi. Anh thử xem như tôi, bấy nhiêu tuổi đầu, lăn lóc với sự sống bao nhiêu, mắt trông, tai nghe, lòng cảm bao nhiêu, ấy thế mà tất cả cái công phu ấy rút lại có gì? Hão! Hão! Sống chẳng qua là đọc một quyển tiểu thuyết mà chính mình là một vai, Hóa công là tác giả vậy. Một trò giải trí, thế thôi!...
III
Lại nói chuyện Cơ với tôi.
Hôm ấy, chúng tôi từ chợ Ngọc ra đi ý định dò đường từ Yên bảy xuống Phú thọ
Hành lý và đồ vẽ gói làm hai gói, tôi đeo một và Cơ đeo một. Chúng tôi mỗi người cưới một con ngựa buông cương cho chúng đi thong thả để vừa ngắm phong cảnh hai bên đường vừa nói chuyện.
Bấy giờ đương mùa thu, tiết trời còn ấm và rang mây ban sáng rất đẹp tuy trước lúc mặt trời mọc, rừng núi còn bị sương mù bao phủ…
Cơ trỏ những cánh rừng đằng xa mà tiết thu đã làm vàng úa nhiều khoảng:
- Có đi đến đây mới biết hai câu thơ của Tản Đà là hay.
- Câu nào?
Anh cất tiếng ngâm:
“Sắc thu nhuộm ố quan hà,
Cỏ vàng, cây đỏ, ánh tà tà dương”
Chữ nhuộm ố thật tuyệt! Nghe câu thơ, tôi cũng thấy lòng dào dạt thi hứng. Tôi để ý nhìn những cây to bắt đầu vàng lá trên nền xanh những cây kroong nở hoa đỏ rực làm cho từng mảnh rừng trở nên như một tấm áo gấm của một thi sĩ lãng mạn cổ thời bị những vết hoen ố sau một tiệc lớn ở nơi lầu hồng có nhiều giai nhân, nhiều thơ và rượu. Gần hơn nữa là những cánh đồng úa màu rạ héo trên đó lẻ loi một vài ngọn đồi con trồng cọ là nơi người ở.
Đứng xa xa mà trông những nếp nhà thấp thoáng sau lớp cỏ mọc cao, thực chẳng khác chi những các kiệu hoa của các bà chúa trong cổ tích hiện thấp thoáng dưới bóng tàn quạt.
Chúng tôi cứ mặc cho ngựa thủng thẳng đi bước một. Dọc đường, thỉnh thoảng hiện ra một cô sơn nữ cưỡi trên lung trâu hoặc một vài người đàn bà ở rừng về, trên vai một gánh măng tre kixu kịt…
Tất cả người, vật, cỏ, cây đều chìm đắm trong một không khí lặng lẽ.Cái lặng lẽ miều rừng nó đè nặng xuống tâm hồn người ta như một sức ép nghìn đời.
(Kiểm duyệt bỏ (1))
- Tâm hồn họ tê liệt đến nỗi khi phát tiết ra ngoài là y như nhuốm buồn. Anh cứ để ý nhận các câu hát của họ thì thấy rõ rằng dù là câu hát vui, cái giọng cũng rền sĩ như oán than vậy.
- “Phải, anh nói đúng!”
Dứt lời, Cơ cất tiếng hát:
(Kiểm duyệt bỏ (1))
“Ai đem tôi đến chốn này
Bên kia thời núi, bên này thời khe
Bầu trời bị áng mây che
Cuộc đời lãng tử éo le muôn sầu!”
Dứt câu hát bỗng Cơ gọi tôi: “- Này anh Khôi này!...
Tôi ngẩng đầu:
- Gì?
“- Cái sức chi phối của hoàn cảnh mạnh thật!”
- Anh định nói gì?
“- Tôi muốn nói rằng tâm tình của mỗi cá nhân cũng giống như của dân tộc, thường là cái phản ảnh của các điều kiện địa lý và thời tiết.
- Đồng ý.
“- Có phải không anh?”
Tôi ngắt:
- Cái điều anh nói có giá trị tâm lý lắm!
Cơ giảng giải:
“- Này nhé, bọn chúng mình sinh trưởng ở hạ du mỗi lần phóng tầm con mắt qua song cửa là y như thấy một cảnh phẳng lặng, bát ngát, một đường chân trời thường xám mốc như một nét chỉ xanh phai và một vòm mây lúc nào cũng vẩn màu nước gạo. Trong hoàn cảnh ấy, tâm tình và ý tưởng của người ta đều bị pha loãng đi, vì như mấy hạt muosi rơi trong một bát nước lớn. Sự kết tinh không thể có được.Người miền rừng, trái lại, hồ trong ra ngoài là y như nhỡn quang vấp phải sườn núi dốc. Họ bắt buộc nhìn lên cao và do thế tư tưởng họ dễ lạc vào cõi siêu hình. Các vị giáo chủ thường sinh ở miền rừng núi. Thêm nữa, cuộc sống tàn bạo và nhuốm màu của điều thú dễ gây cho người ta những tình cảm bạo dạn, lớn lao. Các bậc anh hung thường hay sinh ở miền rừng. Cái vẻ hoa ngàn, mây sớm trăng đêm, gió chiều, những tiếng chim, tiếng gió, tiếng suối, tất cả đều có ảnh hưởng đến giác quan và cảm xúc của người ta và tạo ra thi nhân nghệ sĩ.Bọn người thành thị chúng đã sống ở trong một hoàn cảnh tẻ ngắt, đều đều ngày nào cũng giống ngày nào nên thường hay quay sức hoạt động tinh thần vào nội tâm.Các nhà học giả, các nhà văn tâm lý đều là sinh ra ở chỗ đô hội.
Ấy là nói những trường hợp cá nhân.
Các dân tộc cũng vậy thôi.
Dân miền lạnh, sống một đời khó khăn nên có tính hoạt động hơn dân miền nóng có những ruộng đất phì nhiêu.
Tôi cười:
- Lý luận giỏi lắm rồi, nhưng tôi thì thấy kiến nó bò bụng dữ lắm đấy!
“- Tôi cũng đói!”
- Ta xuống ngựa, ngồi nghỉ trên than cây đổ kia mà đánh chén thì thú lắm!
Cơ lắc:
-“Theo ý tôi thì cứ mặc cho ngựa nó đi, được đoạn đường nào hay đoạn trường ấy. Mình có thể cứ vừa ngồi trên yên vừa đánh chén được kia mà! Nếu mình dềnh dang ngồi nghỉ, tôi e sẽ gặp tối trước khi đến chỗ trọ cũng không biết chừng!
- Anh nói có lẽ.
Tôi vừa đáp vừa mở cái mo cau bọc một nắm cơm gạo nương dẻo như cơm nếp và thơm như cốm và một gói thịt gà rán hành mỡ.
Chúng tôi cho hai ngựa đi sát nhau để chia nhau ăn.
Cơ tấm tắc khen:
“- Cứ chê Mán! Họ ăn ranh đáo để!”
Tôi cười:
Cái ấy đã cố nhiên: cơm nướng với thịt gà rán thì thực là thần tiên!
(1) Những câu này bị kiểm duyệt bỏ hồi còn bị pháp thuộc vì tôn trọng quyền tác phẩm chúng tôi để y vân.
IV
Mặt trời đã lặn một lúc lâu. Đằng phương tây, bên trên đỉnh núi mờ mờ tím, rang mây chỉ còn hơi phơn phớt mầu son loãng.
Tự các lòng thung, bốc lên một thứ hơ, làm tỏa lan và bao phủ dần cả vật sắc.
Hơi lạnh bắt đầu thầm như dội nước xuống vai chúng tôi, làm cho cả hai cùng cảm thấy một sự buồn man mác và, trong một phút chúng tôi thèm thuồng cái cảnh một gian buồng ấm áp và đầy những tiếng cười giòn của con trẻ sáng rực bởi một đôi mắt nhung âu yếm.
Tự nhiên, tôi nhớ đến mấy vần thơ của nữ thi sĩ Thanh quan:
Ngàn mai gió cuốn, chim bay mỏi;
Dặm liễu sương sa, khách bước dồn!
Kẻ chốn chương đài; người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn!...”
Cơ gắt:
“ - Đã buồn chết người đi thế này lại còn ngâm thơ buồn!”
- Cũng buồn kia à?
“ - Hẳn đi chứ!Người ta gặp những thời cảnh này dễ mấy ai đã không cảm thấy chi giang hồ chùn lại và cũng trở nên tầm thường như ai.Là vì người ta dù dù sao cũng chỉ là người mà thôi!”
Tôi nhìn quanh mình:
- Chết nhửa! Làm thế nào ấy giờ. Quanh đây, hình như không có nhà cửa gì thì phải!
Cơ cũng ngơ ngác nhìn quanh:
“- Có lẽ không thật! Ta thử tìm xem…”
Tự nhiên, chúng tôi cảm thấy một lo sợ hồi hợp.
Cơ đã nói trúng một ý nghĩa của tôi:
“ – Nếu không tìm được nơi trú thì nguy quá! Chỗ này rừng rú hoang vu, hai an hem biết làm thế nào? Không nói chi đến khoản kia (ý Cơ định nói hùm, nhưng theo tục đường rừng, người ta hay kiêng), nguyên cứ sương lạnh cũng đủ chết!”
Chúng tôi nhìn nhau, sự lo lắng hiện rõ trên mặt…
Là bởi, nơi ấy quả nhiên như lời Cơ nói, là một chỗ hoang vu lạ!
Phía trước là một bãi cỏ gianh bát ngát (rừng gianh thường là nơi trú ẩn của hổ) tay phải là một dãy núi đá ngọn chìm trong sương. Về bên trái, một cánh rừng cây rậm nom lù lù như cả một bức thành bằng bóng tối…
Chúng tôi muốn đâm hoảng!
Lắng nghe xa gần chỉ có tiếng cú kêu từng giọt, từng giọt thấm lạnh vào tâm hồn; và tiếng suối ồ ồ đâu đó…
Các chuyện huyền bí mà óc tưởng tượng bị sảng loạn của người dân thổ trước đã khéo thêu dệt ra quanh con chim đêm nọ cứ kể tiếp nhau vẩn vơ trong óc tôi…
Tiếng cú kêu, theo như óc tin của dân rừng núi, bao giờ cũng là một điềm gở nó báo trước một tai nạn phi thường.
Cũng như con chim báng!
Ấy là một thứ chim hung thần mà tôi chưa từng mắt thấy nhưng đã một lần được nghe nó kêu.
Ghê lắm!
Dù người không mê tín mà giữa đêm khuya canh vắng, nơi rừng thiêng nước độc, bỗng nghe con chim lạ lung ấy thì cũng phải rợn tóc gáy.
Nói là nó kêu thì không đúng. Phải nói là nó gào lên,nó rú lên mới đúng sự thực.
Nguyên một đêm, tôi đương nằm một bên bàn đèn với một ông Mán già, bỗng nghe ngoài đêm mù mịt có một cái gì dội lên một đột ngột và khủng khiếp: “A…i…ôi…i…”
Tôi giật mình nhỏm dậy:
- Quái! Hình như có ai bị nạn!...
Ông già Mán điềm nhiên nghe; mắt lim rim nửa thức nửa ngủ…
Tôi gọi ông ta:
- Này, ông không nghe tiếng à? Có ai bị hùm nó đuổi thì phải!...
Ông già thủng thẳng đáp:
- Làm gì có!
- Đấy thôi?
- Không phải.
- Ồ!...
- Đấy chỉ là một con chim nó kêu…
- Một con chim à?
- Ông lão gật:
- Ừ, một con chim, tên nó là con chim báng.
Tôi bỡ ngỡ:
- Con chim báng? Lạ nhỉ!...
- Nó kêu độc lắm đấy…
- Độc như thế nào?
- Nó kêu thì có người chết. Ai chửa con so lấy cái chõ úp lên đầu mà nghe thì biết nó gọi tên người nào…
Ấy đại khái, ở đường rừng, mỗi con vật lạ đều có một tích lạ, một bầu không khí bí mật bao phủ quanh nó như thế.
Con cú cũng vậy.
Tôi xưa nay không tin tưởng gì mà trong trường hợp này lòng tự nhiên cũng đam hoang mang lạ.
Tôi bảo Cơ:
- Anh có nghe tiếng không, nghe tiếng con chim cú?
- Có. Sao nữa?
- Con chim ấy kêu độc lắm?
Cơ nhìn tôi và bật lên một chuỗi cưòi giòn.
Nhưng tiếng người nổi dậy trong yên lặng ấy nghe không hợp chỗ.
Cơ chứng cũng có cảm tưởng như tôi nên cười xong thì không nói gì nữa.
Tôi khẽ nói, giọng chế giễu:
- Sao anh lại cười và cười xong lại thôi?
Cơ cũng hạ thấp giọng xuống:
- Chả cứ một mình tôi!
- Ồ, dễ anh tưởng tôi…
- À không, tôi có tưởng tiếc gì đâu!
- Thế thì được!...
Bỗng Cơ ngừng nói, anh đạp vào vai tôi, mặt ngẩn ra như lắng nghe, mắt sáng quắc…
Tôi hỏi:
- Cái gì thế?
- Nghe mà xem!...
Tôi rùng mình:
- Ừ, nhưng nghe cái gì mới được chứ?
- Cái gì như tiếng giã gạo!
- Đâu?
Cơ trỏ vào ngọn n úi đã bên tay phải:
- Ở phía này.
- Trong núi làm quái gì có người ở! Anh chỉ được cái nghe hoảng!...
Tuy nói thế mà tôi cũng lắng nghe…
Ừ, mà có tiếng giã gạo thật!
Một tiếng thậm thịch đều đều nó phải là cái tiếng phát ra do một ý định chứ ngẫu nhiên sao có được như thế!
- Anh nói có lẽ phải!
Cơ mừng quýnh:
- Đích xác rồi chứ còn có lẽ gì nữa!
- Ta thử vào xem làm sao…
- Cái ấy đã nhất định rồi!
TÂM LÝ ÁI TÌNH
THANH XUÂN XUẤT BẢN
I
- Nghĩa là nó sẽ mốc thếch mất cả chứ gì?
- Đúng thế.
- Nhưng theo ý tôi, sự du lịch vị tất đã còn ích lợi cho ta như anh Ngọc vừa nói…
- Tại sao?
- Anh không thấy cả thế gian bây giờ đương chạy vùn vụt đến chỗ âu hóa đó ư? Nói âu hóa có lẽ chưa đúng. Phải nói là máy móc hóa mới phải…
- Rồi sao nữa?
- Lại còn sao! Nếu một ngày kia, sự đi lại từ Á đông sang Mỹ châu sẽ nhanh chóng và tiện lợi hơn từ một xóm nhà quê lên chợ tỉnh bây giờ, và đi đến đâu, người ta cũng chỉ thấy nhan nhản những đường rải nhựa, những nhà chọc trời, những ống khói nhà máy, những đường xe lửa, điện thoại, vô tuyến truyền thanh, nhà chiếu bóng v.v… Lúc ấy thì trái đất ta ở này sẽ bị thu nhỏ lại và cảnh sắc sẽ tầm thường tẻ ngắt biết chừng nào? Người ta không cần phải ra khỏi cửa, chỉ việc nhắm mắt mà tưởng tượng cũng đủ biết hết cả những cái gì có trên mặt đất. Người ta còn học được gì ở sự đi chơi phiếm?
- Ừ, anh nói cũng có lý…
- Có lý đứt đi chứ lại cũng gì nữa
Khôi đập tàn thuốc lá, kéo một hơi, thở khói rồi tiếp theo.
- Không những thế, không những sự du lịch sẽ không còn ích lợi gì mà ngay cái thú bềnh bồng cũng không còn nữa, cái thú cầu sương diếm cỏ, cái thú xê dịch nó rất cần cho thằng người hiếu động. Là bởi, lúc ấy, người ta vì cứ đi khắp địa cầu, đến khi trở về nhà, người ta cũng sẽ chẳng giữ được một kỷ niệm êm đềm nào hoặc chẳng có gì mà kể lại cho chúng bạn nghe.
Ngọc có vẻ tần ngần.
- Ví dụ sẽ đúng như nhời anh nói thì người ta sẽ lấy gì thay vào cái thú đi chơi xa?
- Người ta sẽ đi chơi gần vậy, nghĩa là sẽ chui vào các tiệm hút, cô đầu, tiệm nhảy! Nếu người nào không dễ trác tang mình đến bậc ấy thì vào các rạp xi nê khảo cứu cái thuật bôi nhọ các kiệt tác văn chương của mấy ông dàn cảnh nô lệ của sự tầm thường thảm hại của công chúng hoặc là về nhà đóng cửa ngồi mà ngáp dài.
- Cái viễn tượng ấy thực không phải là một viễn tưởng có thể khiến ta nao nức được.
- Tất nhiên!
- Phiền thật!...
- Bởi thế cho nên chúng ta ngày nay còn đi được, còn chơi được, ta hãy đi cho nhiều, chơi cho thỏa vào…
- Hay nếu không tự mình đi được thì nên nghe các bạn mình, hơn nữa, mình nên bắt buộc các bạn mình phải kể chuyện ngoài xa cho mình nghe chứ gì?
Khôi vô tình, không biết đấy là một cái bẫy.
Chàng gật đầu:
- Phải!
Ngọc cười ha hả đoạn nói tiếp:
- Thế thì anh, một người đi nhiều, thấy lắm anh còn đợi gì không thuật các điều kiến văn lại cho tôi, bạn than của anh nghe?
Khôi lườm bạn
- À, ra họ dụng tâm cho mình vào bẫy!
- Cái bẫy ấy có mắc cũng chả nên oán. Là vì đấy là một dịp cho anh vợi bớt các điều mà bao nhiêu cuộc phiếm du đã dung cho anh để có chỗ mà thu thập cái mới chứ…
- Ừ, đã đành rành thế; nhưng ở đời này, dù đến ái tình cũng còn có thể phải mua mới có thì câu chuyện ngoài nghìn dặm xa tất cũng phải đánh đổi bằng cái gì ví dụ như một bữa rượu chẳng hạn…
- Gớm, tay róc thật. Nhưng mà thôi, gì chứ rượu thì được!
Ngọc quay vào nhà trong gọi đầy tớ:
- Thằng Tư đâu?
Thằng bé ở chạy lên:
- Cậu bảo gì con?
- Đây, mày cầm đồng bạc này ra hiệu mua cho tao nửa đĩa thịt bò xào, một con chim bồ câu rán và một chai rượu ông lão nhỏ…
Khôi nói thêm:
- Nhớ mua cho tôi hai xu lạc rang nhé.
- Vâng.
Khôi vừa nói vừa cởi bỏ áo ngoài vắt lên lưng ghế tỏ ra ý định ngồi lâu và trong khi ngồi, chàng cần được hưởng mọi sự sướng tiện.
- Tính tôi lúc nào làm việc gì là phải hoàn toàn thuộc về việc ấy.
Ngọc đùa bạn.
- Phải, tôi đã biết tính ông!
Khôi điềm tĩnh nói tiếp:
- Và tôi cho như thế chính là cái thuật sống rất thú vị vậy.
- Cái thuật sống ấy nhiều khi nguy hiểm cho kẻ khác rất nhiều, phải không anh?
Khôi cười:
- Cái thằng cha này xem ý bủn xỉn lắm thì phải!
Ngọc toan cãi thì thằng Từ đã đem các thức nhắm về.
Chủ nhân đứng dậy sửa soạn và một lát sau đôi bạn đã cùng nhau chén chú chén anh.
Ngọc hỏi Khôi:
- Trong cái đời bềnh bồng vô định của anh, anh chắc đã gặp nhiều sự lạ lắm?
- Cứ kể thì cũng lắm cái lạ thật, nhưng phong cảnh phần nhiều lạ hơn là người, vì thằng người dù là ở đâu chẳng qua cũng vẫn chỉ là thằng người.
- Ấy lại là một câu chuyện khác. Tôi nói lạ đây chính là ở những phong tục và cái cách sống riêng biệt của từng dân. Còn như cái bản chất thằng người đã đành là giống nhau.
- À, nếu vậy thì mắt tôi quả đã trông thấy lắm cái lạ, tai tôi quả đã nghe được lắm việc kỳ nó xảy ra ở những nơi rừng xanh núi tía, xa chúng ta không biết là bao nhiêu.
- Đấy, chính những chuyện ấy mà tôi vẫn chờ đợi ở anh vậy. Tôi them những cái lạ mà tôi, một kẻ ít đi nhất trong bọn nghệ sĩ chúng ta, vẫn thèm thuồng ao ước.
- Thế thì có khó gì! Anh cứ chịu tốn ít tiền mua rượu rồi toi sẽ kể cho mà nghe.
- Được rồi!
- Vô số là chuyện hay! Nào chuyện ma rừng, nào chuyện thần hổ, chuyện bùa phép, chuyện phi thống v.v…
- Thế thì ngay ngày hôm nay, anh kể cho tôi nghe một chuyện gì đó…
- Chuyện Hồng thầu vậy nhé?
- Hồng thầu?
- Phải, Hồng là đỏ, thầu là đầu. Hồng thầu tức là đỏ đầu, tên một thứ Mán suốt đời bịt đầu bằng vải tây đỏ…
- Thứ Mán ấy chỉ có cái tục bịt đầu bằng khan đỏ là đặc biệt thôi ư?
- Không. Phong tục họ ngộ lắm! Chính tôi đã suýt chết về tay họ. Nhưng, nếu anh muốn tôi kể cho anh nghe thì điều cần nhất là anh không được hỏi vặt…
- Điều ấy, tôi xin vâng.
- Tốt lắm!
Khôi cầm cốc uống một hớp rượu và gắp một món ăn rồi mới cất tiếng nói một cách ung dung.
II
Anh hãy tưởng tượng một động nhỏ gồm độ hai chục nóc nhà ở lọt thỏm vào một cái thung lũng rộng độ hai trăm mẫu vừa ruộng vừa nương. Chung quanh cái thung ấy có một dãy núi đá cao vây kín bốn mặt, y như một bức thành vậy. Một con suối từ hốc núi phía bắc chảy qua thung và mất hút vào một cái khe ngầm luồn qua ngọn núi phía tây. Nó chính là mạch máu lớn tẩm tưới cho long thung lũng.
Các nhà trong động đều làm trên mô cao. Để có nước sạch mà dụng, họ lấy tre nối thành một cái ống máng dài, một đầu bắc vào tận nguồn xa trong núi, một đầu trỏ ra nhà người trưởng động rồi mới tự đấy truyền ra các máng phân đi các nhà khác.
Nhờ vì sẵn nước như thế nên mặt ruộng ướt quanh năm và cấy được cả hai mùa.
Lối vào thung không có.Người ta phải nhân một khúc suối mà lội ngược dòng mới vào được.
Nhưng, con đường duy nhất ấy, phải người nào quen lắm mới biết.
Và chính nó là một cái biểu hiện về sự độc lập của bọn người trong động.
Họ toàn là giống mán hồng thầu.
Trong các giống người mạn ngược, bọn hồng thầu này tính đa nghi hơn cả.
Họ không thích động chạm với các dân khác .
Mỗi khi dừng trước người lạ, họ thường có vẻ ngờ vực lấm lét và sẵn sang có những cử động bài ngoại một cách gần như một con ác thú khi thấy người lại gần.
Đấy có lẽ là một tính di truyền của một dân tộc hay bị ngược đãi, bị hà hiếp và bị giết hại. Dù sao mặc long, cái thói đa nghi ấy rất nguy hiểm cho những ai không may lạc vào trong gian sơn của họ.
Bấy giờ cách giao thông đã mở mang, một dân tộc dù dã man đến đâu cũng không thể giữ cách sống của m ình ra hẳn ngoài vòng hoạt động của phần đông nhân loại được.
Hồi xưa thì không thể. Nhờ về đường lối chưa mở mang nên, ở các nơi rừng xanh núi tía, bọn thổ dân dễ biệt tập từng nơi, triều đình riêng một biên thùy, các quan miễn là họ cứ đủ thuế là được, chứ cũng không hoạnh họe gì cả.
Nhờ thế mà có lắm nơi, dân thổ chước sống nghiễm nhiên thành như các quốc gia trong quốc gia vậy.Họ cũng có chúa tôi, có một cuộc sống hoàn toàn độc lập với những phong tục riêng, lề thói riêng, lại thưởng phạt riêng.
- Thành ra, trong thẳm rừng hoang, ngay bên cạnh cuộc sống của ác thú, vẫn ngấm ngầm một cuộc sống khác cũng thường vấy máu và đầy bí mật chẳng kém gì…
- Chính thế đấy! Đã có một nhà văn sĩ viết m ột câu rất đúng rằng những cuộc đời xa xôi ấy là những cái bí mật phủ sương mù…
- Hay!
- Cái bí mật phủ kín trong sương mù ấy, tôi đã có lần được vào tận nơi.
- Chắc hẳn ghé lắm?
Khôi gật:
- Tôi thực đã một phen hụt chết! Nay, mỗi lần hồi tưởng, hãy còn ghê rợn tóc gáy. Và cái kỷ niệm này sẽ còn giữ mãi trong lòng tôi đến suốt đời!
Khôi ngừng lại, nhắc cốc rượu uống một hớp.
Chàng vơ cái điếu thuốc lào, nạp thuốc, đánh diêm và, trước khi hút, còn khái luận một cậu về cái thú hút trong khi ăn.
- Trong bữu rượu, thỉnh thoảng làm một hơi thuốc lào kể có điều thú thật. Cái người nào đã gọi thứ cây ấy là tương tư thảo, người ấy hẳn là một thi sĩ.
- Đã đành rồi! Nhưng thời khắc này là cái thời khắc thuộc về bọn mán hồng thầu chứ có phải thuộc về giống cỏ tương tư đâu!
- Cũng có lẽ!
Khôi gật gù và cầm đũa gắp một miếng thịt đưa lên miệng.
- Hồi ấy, tôi mới mười tám tuổi. Nhân trong nhà túng bấn và cái nghề viết bài đăng báo không phải là một nghề đủ nuôi sống người, tôi liền vác bút và sơn lên rừng. Tôi định đi vẽ rong để kiếm tiền chu cấp cho một gia đình rất đông mà tôi là cái trụ duy nhất. Việc này có hai cái lợi: một là nó đem lại cho tôi rất nhiều tiền. Hai là nhờ nó, tôi được trải qua bao nhiêu là phong cảnh đẹp, biết bao nhiêu là chuyện lạ tích kỳ, có thể dung làm một cái kho tài liệu vô cùng cho văn chương của tôi về sau này. Chắc anh cũng không lạ gì rằng trong bao nhiêu năm nay, tôi vẫn có cái hy vọng trở nên một nhà tiểu thuyết. Muốn đạt được cái hy vọng ấy, tôi cần phải đi nhiều, lịch lãm nhiều, sống nhiều, sau khi đã đọc nhiều.
Cái thời kỳ đi vẽ này còn có một thú vị khác nữa, một kỷ niệm rất ngộ: giá bây giờ anh lên mạn ngược, dù vào các động Thổ Mán rất hẻo lánh, chắc anh cũng ngạc nhiên biết chừng nào khi thấy có những bức vẽ truyền thần bằng sơn dầu mà người kiểu mẫu đều là các người thổ dân ở ngay đấy, các bức vẽ ký tên tôi.
- Anh đi có một mình à?
- Không, tôi đi với một người bạn than tình cũng thích giang hồ là anh Hoàng Khắc Cơ. Anh ấy chết rồi, chết đã lâu lắm và chết một cách thảm hại.
Anh ta tức là vai chính trong câu chuyện phiêu lưu nguy hiểm mà tôi sắp kể anh nghe vậy.
Anh hãy tưởng tượng một người trai trẻ có bộ mặt xinh tươi, có một tâm hồn lúc nào cũng sáng sủa như một ngày nắng ráo và có một cái tài nói khôi hài dù ai cũng không thể nín cười được.
Cơ là con một ông ký sở công và là bạn đồng tuế và đồng học của tôi. Chúng tôi yêu nhau lắm, thường ăn với nhau một mâm, ngủ với nhau một giường.
Đến năm ấy, Cơ bỗng mồ côi bố.Bà mẹ anh ta vì hãy còn trẻ nên bước đi bước nữa.Cơ lấy làm buồn rầu lắm, đâm ra chơi bời dữ.
Sợ rằng bạn mình sẽ trở nên một người hư hỏng, tôi liền rủ Cơ đi phiêu lưu một chuyến thì anh nhận lời ngay.
Đi như chúng tôi đã đi, không ai có thể mạo hiểm một mình được. Cần phải có bạn không những để khi ốm đau, hoạn nạn có người giúp đỡ mình mà ngay những khi gặp một cảnh đẹp, một việc lạ, mình cũng lại cần phải có bạn để cùng chia với nhau cái khoái cảm hoặc trao đổi với nhau những ý tưởng mình chợt có.
Nhờ về chuyến phiêu lưu ấy, tôi nhận ra rằng chúng mình bất cứ làm gì, rất cần phải có bạn.Không có người yêu, không có vợ còn chịu được, chứ không có bạn thì không xong.
Tiếc thay, sau cuộc lãng du, Cơ đã chết một cách thê thảm khiến cho bây giờ nhắc lại chuyện cũ, lòng tôi không thể không bùi ngùi.
Tôi còn nhớ khi Cơ hấp hối, tôi cầm tay anh thương khóc, anh có mỉm cười mà bảo tôi:
- Anh buồn làm gì! Người ta ở đời này tụ tán bi hoan chẳng qua là vờ cả vì chính cuộc đời con người cũng chỉ là một giấc mơ mà thôi. Anh thử xem như tôi, bấy nhiêu tuổi đầu, lăn lóc với sự sống bao nhiêu, mắt trông, tai nghe, lòng cảm bao nhiêu, ấy thế mà tất cả cái công phu ấy rút lại có gì? Hão! Hão! Sống chẳng qua là đọc một quyển tiểu thuyết mà chính mình là một vai, Hóa công là tác giả vậy. Một trò giải trí, thế thôi!...
III
Lại nói chuyện Cơ với tôi. Hôm ấy, chúng tôi từ chợ Ngọc ra đi ý định dò đường từ Yên bảy xuống Phú thọ
Hành lý và đồ vẽ gói làm hai gói, tôi đeo một và Cơ đeo một. Chúng tôi mỗi người cưới một con ngựa buông cương cho chúng đi thong thả để vừa ngắm phong cảnh hai bên đường vừa nói chuyện.
Bấy giờ đương mùa thu, tiết trời còn ấm và rang mây ban sáng rất đẹp tuy trước lúc mặt trời mọc, rừng núi còn bị sương mù bao phủ…
Cơ trỏ những cánh rừng đằng xa mà tiết thu đã làm vàng úa nhiều khoảng:
- Có đi đến đây mới biết hai câu thơ của Tản Đà là hay.
- Câu nào?
Anh cất tiếng ngâm:
“Sắc thu nhuộm ố quan hà,
Cỏ vàng, cây đỏ, ánh tà tà dương”
Chữ nhuộm ố thật tuyệt! Nghe câu thơ, tôi cũng thấy lòng dào dạt thi hứng. Tôi để ý nhìn những cây to bắt đầu vàng lá trên nền xanh những cây kroong nở hoa đỏ rực làm cho từng mảnh rừng trở nên như một tấm áo gấm của một thi sĩ lãng mạn cổ thời bị những vết hoen ố sau một tiệc lớn ở nơi lầu hồng có nhiều giai nhân, nhiều thơ và rượu. Gần hơn nữa là những cánh đồng úa màu rạ héo trên đó lẻ loi một vài ngọn đồi con trồng cọ là nơi người ở.
Đứng xa xa mà trông những nếp nhà thấp thoáng sau lớp cỏ mọc cao, thực chẳng khác chi những các kiệu hoa của các bà chúa trong cổ tích hiện thấp thoáng dưới bóng tàn quạt.
Chúng tôi cứ mặc cho ngựa thủng thẳng đi bước một. Dọc đường, thỉnh thoảng hiện ra một cô sơn nữ cưỡi trên lung trâu hoặc một vài người đàn bà ở rừng về, trên vai một gánh măng tre kixu kịt…
Tất cả người, vật, cỏ, cây đều chìm đắm trong một không khí lặng lẽ.Cái lặng lẽ miều rừng nó đè nặng xuống tâm hồn người ta như một sức ép nghìn đời.
(Kiểm duyệt bỏ (1))
- Tâm hồn họ tê liệt đến nỗi khi phát tiết ra ngoài là y như nhuốm buồn. Anh cứ để ý nhận các câu hát của họ thì thấy rõ rằng dù là câu hát vui, cái giọng cũng rền sĩ như oán than vậy.
- “Phải, anh nói đúng!”
Dứt lời, Cơ cất tiếng hát:
(Kiểm duyệt bỏ (1))
“Ai đem tôi đến chốn này
Bên kia thời núi, bên này thời khe
Bầu trời bị áng mây che
Cuộc đời lãng tử éo le muôn sầu!”
Dứt câu hát bỗng Cơ gọi tôi: “- Này anh Khôi này!...
Tôi ngẩng đầu:
- Gì?
“- Cái sức chi phối của hoàn cảnh mạnh thật!”
- Anh định nói gì?
“- Tôi muốn nói rằng tâm tình của mỗi cá nhân cũng giống như của dân tộc, thường là cái phản ảnh của các điều kiện địa lý và thời tiết.
- Đồng ý.
“- Có phải không anh?”
Tôi ngắt:
- Cái điều anh nói có giá trị tâm lý lắm!
Cơ giảng giải:
“- Này nhé, bọn chúng mình sinh trưởng ở hạ du mỗi lần phóng tầm con mắt qua song cửa là y như thấy một cảnh phẳng lặng, bát ngát, một đường chân trời thường xám mốc như một nét chỉ xanh phai và một vòm mây lúc nào cũng vẩn màu nước gạo. Trong hoàn cảnh ấy, tâm tình và ý tưởng của người ta đều bị pha loãng đi, vì như mấy hạt muosi rơi trong một bát nước lớn. Sự kết tinh không thể có được.Người miền rừng, trái lại, hồ trong ra ngoài là y như nhỡn quang vấp phải sườn núi dốc. Họ bắt buộc nhìn lên cao và do thế tư tưởng họ dễ lạc vào cõi siêu hình. Các vị giáo chủ thường sinh ở miền rừng núi. Thêm nữa, cuộc sống tàn bạo và nhuốm màu của điều thú dễ gây cho người ta những tình cảm bạo dạn, lớn lao. Các bậc anh hung thường hay sinh ở miền rừng. Cái vẻ hoa ngàn, mây sớm trăng đêm, gió chiều, những tiếng chim, tiếng gió, tiếng suối, tất cả đều có ảnh hưởng đến giác quan và cảm xúc của người ta và tạo ra thi nhân nghệ sĩ.Bọn người thành thị chúng đã sống ở trong một hoàn cảnh tẻ ngắt, đều đều ngày nào cũng giống ngày nào nên thường hay quay sức hoạt động tinh thần vào nội tâm.Các nhà học giả, các nhà văn tâm lý đều là sinh ra ở chỗ đô hội.
Ấy là nói những trường hợp cá nhân.
Các dân tộc cũng vậy thôi.
Dân miền lạnh, sống một đời khó khăn nên có tính hoạt động hơn dân miền nóng có những ruộng đất phì nhiêu.
Tôi cười:
- Lý luận giỏi lắm rồi, nhưng tôi thì thấy kiến nó bò bụng dữ lắm đấy!
“- Tôi cũng đói!”
- Ta xuống ngựa, ngồi nghỉ trên than cây đổ kia mà đánh chén thì thú lắm!
Cơ lắc:
-“Theo ý tôi thì cứ mặc cho ngựa nó đi, được đoạn đường nào hay đoạn trường ấy. Mình có thể cứ vừa ngồi trên yên vừa đánh chén được kia mà! Nếu mình dềnh dang ngồi nghỉ, tôi e sẽ gặp tối trước khi đến chỗ trọ cũng không biết chừng!
- Anh nói có lẽ.
Tôi vừa đáp vừa mở cái mo cau bọc một nắm cơm gạo nương dẻo như cơm nếp và thơm như cốm và một gói thịt gà rán hành mỡ.
Chúng tôi cho hai ngựa đi sát nhau để chia nhau ăn.
Cơ tấm tắc khen:
“- Cứ chê Mán! Họ ăn ranh đáo để!”
Tôi cười:
Cái ấy đã cố nhiên: cơm nướng với thịt gà rán thì thực là thần tiên!
(1) Những câu này bị kiểm duyệt bỏ hồi còn bị pháp thuộc vì tôn trọng quyền tác phẩm chúng tôi để y vân.
IV
Mặt trời đã lặn một lúc lâu. Đằng phương tây, bên trên đỉnh núi mờ mờ tím, rang mây chỉ còn hơi phơn phớt mầu son loãng.
Tự các lòng thung, bốc lên một thứ hơ, làm tỏa lan và bao phủ dần cả vật sắc.
Hơi lạnh bắt đầu thầm như dội nước xuống vai chúng tôi, làm cho cả hai cùng cảm thấy một sự buồn man mác và, trong một phút chúng tôi thèm thuồng cái cảnh một gian buồng ấm áp và đầy những tiếng cười giòn của con trẻ sáng rực bởi một đôi mắt nhung âu yếm.
Tự nhiên, tôi nhớ đến mấy vần thơ của nữ thi sĩ Thanh quan:
Ngàn mai gió cuốn, chim bay mỏi;
Dặm liễu sương sa, khách bước dồn!
Kẻ chốn chương đài; người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn!...”
Cơ gắt:
“ - Đã buồn chết người đi thế này lại còn ngâm thơ buồn!”
- Cũng buồn kia à?
“ - Hẳn đi chứ!Người ta gặp những thời cảnh này dễ mấy ai đã không cảm thấy chi giang hồ chùn lại và cũng trở nên tầm thường như ai.Là vì người ta dù dù sao cũng chỉ là người mà thôi!”
Tôi nhìn quanh mình:
- Chết nhửa! Làm thế nào ấy giờ. Quanh đây, hình như không có nhà cửa gì thì phải!
Cơ cũng ngơ ngác nhìn quanh:
“- Có lẽ không thật! Ta thử tìm xem…”
Tự nhiên, chúng tôi cảm thấy một lo sợ hồi hợp.
Cơ đã nói trúng một ý nghĩa của tôi:
“ – Nếu không tìm được nơi trú thì nguy quá! Chỗ này rừng rú hoang vu, hai an hem biết làm thế nào? Không nói chi đến khoản kia (ý Cơ định nói hùm, nhưng theo tục đường rừng, người ta hay kiêng), nguyên cứ sương lạnh cũng đủ chết!”
Chúng tôi nhìn nhau, sự lo lắng hiện rõ trên mặt…
Là bởi, nơi ấy quả nhiên như lời Cơ nói, là một chỗ hoang vu lạ!
Phía trước là một bãi cỏ gianh bát ngát (rừng gianh thường là nơi trú ẩn của hổ) tay phải là một dãy núi đá ngọn chìm trong sương. Về bên trái, một cánh rừng cây rậm nom lù lù như cả một bức thành bằng bóng tối…
Chúng tôi muốn đâm hoảng!
Lắng nghe xa gần chỉ có tiếng cú kêu từng giọt, từng giọt thấm lạnh vào tâm hồn; và tiếng suối ồ ồ đâu đó…
Các chuyện huyền bí mà óc tưởng tượng bị sảng loạn của người dân thổ trước đã khéo thêu dệt ra quanh con chim đêm nọ cứ kể tiếp nhau vẩn vơ trong óc tôi…
Tiếng cú kêu, theo như óc tin của dân rừng núi, bao giờ cũng là một điềm gở nó báo trước một tai nạn phi thường.
Cũng như con chim báng!
Ấy là một thứ chim hung thần mà tôi chưa từng mắt thấy nhưng đã một lần được nghe nó kêu.
Ghê lắm!
Dù người không mê tín mà giữa đêm khuya canh vắng, nơi rừng thiêng nước độc, bỗng nghe con chim lạ lung ấy thì cũng phải rợn tóc gáy.
Nói là nó kêu thì không đúng. Phải nói là nó gào lên,nó rú lên mới đúng sự thực.
Nguyên một đêm, tôi đương nằm một bên bàn đèn với một ông Mán già, bỗng nghe ngoài đêm mù mịt có một cái gì dội lên một đột ngột và khủng khiếp: “A…i…ôi…i…”
Tôi giật mình nhỏm dậy:
- Quái! Hình như có ai bị nạn!...
Ông già Mán điềm nhiên nghe; mắt lim rim nửa thức nửa ngủ…
Tôi gọi ông ta:
- Này, ông không nghe tiếng à? Có ai bị hùm nó đuổi thì phải!...
Ông già thủng thẳng đáp:
- Làm gì có!
- Đấy thôi?
- Không phải.
- Ồ!...
- Đấy chỉ là một con chim nó kêu…
- Một con chim à?
- Ông lão gật:
- Ừ, một con chim, tên nó là con chim báng.
Tôi bỡ ngỡ:
- Con chim báng? Lạ nhỉ!...
- Nó kêu độc lắm đấy…
- Độc như thế nào?
- Nó kêu thì có người chết. Ai chửa con so lấy cái chõ úp lên đầu mà nghe thì biết nó gọi tên người nào…
Ấy đại khái, ở đường rừng, mỗi con vật lạ đều có một tích lạ, một bầu không khí bí mật bao phủ quanh nó như thế.
Con cú cũng vậy.
Tôi xưa nay không tin tưởng gì mà trong trường hợp này lòng tự nhiên cũng đam hoang mang lạ.
Tôi bảo Cơ:
- Anh có nghe tiếng không, nghe tiếng con chim cú?
- Có. Sao nữa?
- Con chim ấy kêu độc lắm?
Cơ nhìn tôi và bật lên một chuỗi cưòi giòn.
Nhưng tiếng người nổi dậy trong yên lặng ấy nghe không hợp chỗ.
Cơ chứng cũng có cảm tưởng như tôi nên cười xong thì không nói gì nữa.
Tôi khẽ nói, giọng chế giễu:
- Sao anh lại cười và cười xong lại thôi?
Cơ cũng hạ thấp giọng xuống:
- Chả cứ một mình tôi!
- Ồ, dễ anh tưởng tôi…
- À không, tôi có tưởng tiếc gì đâu!
- Thế thì được!...
Bỗng Cơ ngừng nói, anh đạp vào vai tôi, mặt ngẩn ra như lắng nghe, mắt sáng quắc…
Tôi hỏi:
- Cái gì thế?
- Nghe mà xem!...
Tôi rùng mình:
- Ừ, nhưng nghe cái gì mới được chứ?
- Cái gì như tiếng giã gạo!
- Đâu?
Cơ trỏ vào ngọn n úi đã bên tay phải:
- Ở phía này.
- Trong núi làm quái gì có người ở! Anh chỉ được cái nghe hoảng!...
Tuy nói thế mà tôi cũng lắng nghe…
Ừ, mà có tiếng giã gạo thật!
Một tiếng thậm thịch đều đều nó phải là cái tiếng phát ra do một ý định chứ ngẫu nhiên sao có được như thế!
- Anh nói có lẽ phải!
Cơ mừng quýnh:
- Đích xác rồi chứ còn có lẽ gì nữa!
- Ta thử vào xem làm sao…
- Cái ấy đã nhất định rồi!