📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

LẤP CON SÔNG MÁU

0 trả lời, 1.803 lượt xem — Trang 1 / 1
 
NGUYỄN XUÂN MỸ
 
 
 
 
LẤP CON
 
SÔNG
 
MÁU
 
 
 
 
TIỂU THUYẾT


 
 
 
 
 
 
 
 
                                   Anh SƠN, 
Anh muốn lấp con sông máu
                                   Anh đã chết trong con sông máu ấy.
                                   Vậy tập sách này là của anh. 
 
                                                                       Đ...
 
 
 


 
 
 
 
 
 
                                   Đôi cánh chim bằng tung gió loạn, 
                                   Một con sông máu rỉ hai lòng
 
 
                                                                                  Hai câu thơ này của một
thiếu phụ cám cảnh mình, 
viết ra để than thở nổi cách
                                                                                  trở núi xương sông máu.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
VÀI LỜI TỰA
 
                                                                                               Ai là người không đau xót
                                                                                   trước cảnh chém giết giữa NGƯỜI
                                                                                   với NGƯỜI. 
                                                                                               Trong cuộc chém giết giữa loài
                                                                                   người, bạn có mất một người thân, 
                                                                                   một người bạn, một người em, một
                                                                                   người chị, một đứa cháu, hay một
                                                                                   đứa con bao giờ chưa? 
                                                                                               Nỗi đau đớn của bạn, chính là
                                                                                   niềm bi thương của cả nhân loại
                                                                                   của cả cái thế hệ đang ngập lụt
                                                                                   trong máu xương này... 
                                                                                               Con sông máu đang cuồn cuộn
                                                                                   chảy giữa nhân gian, ôi thê lương
                                                                                   lắm!
 


 
 
 
 
                                                                                              Kẻ viết tập truyện này, đã
chứng kiến bao nhiêu cảnh bi đát
của xương trắng máu hồng, xúc
động nhiều phen, nên cố gắng ghi
chép những nguồn xúc cảm ấy lên
mặt giấy, cốt ý phơi bày những
trạng thái đau thương ấy ra trước
mắt nhân loại... 
 
                                                                                              Để cho những tiếng kêu
                                                                                  thương của nhân loại có thể vang
                                                                                  lên thành một mệnh lệnh màu nhiệm: 
                                                                                              - Hãy lấp con sông máu ấy lại! 
 
                                                                                                          NGUYỄN-XUÂN-MỸ
 
 
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
LẤP CON SÔNG MÁU
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
            ĐÂY không phải bến Tầm Dương. 
            Và nàng cũng không phải là một ca nữ đậu thuyền trên bến nước đợi khách áo xanh giữa những đêm trăng sáng đưa ngát men rượu hương tình... 
            Đây là một con sông có triều nước ngàu đỏ như màu máu thế nhân cuồn cuộn từ lòng biển dâng lên bất tuyệt. Những khóm cây xơ xác vì gió lộng, bến trời, nghiêng mình xuống mặt sóng để nghe những tiếng ồ ạt hùng vĩ từ ngoài cửa biến dội vào, dữ tợn nhất trong những đêm nhiều mây và lắm gió. 
            Và nàng là một cô lái đò, hàng ngày múa đôi chèo thon thon trên mặt sông và thỉnh thoảng hò lên vài điệu ái ân bay bổng đến tuyệt vời cho cả sông núi cùng nghe...
            Con đò ngang hẹp và thon như tàu lá chuối lớn ấy, ngày lại ngày, đưa khách sang sông. Nó là một cái nhịp cầu nối giùm mối đường cho khách thập phương chớ không phải là một quán trọ trên sông cho phường du tử tìm hoa, mặc dầu cô lái đò có một nhan sắc đẹp và tươi như bông hoa trinh nữ... 
            Nhưng, một đêm kia... Trời không trăng, song sao nhiều lắm, sáng lắm. 
            Ánh sao rung rinh rơi xuống mặt sông rồi vỡ ra sau một cơn gió gợn nhăn mặt nước, tựa hồ muôn vạn mãnh trâm vàng trôi nhấp nhánh trên đợt sóng lăn tăn... 
            Đêm hôm ấy, có một chàng tráng sĩ ghé bến này. Chàng cột con ngựa trắng toát vào gốc cây đa và tiến về phía con đò, xin một chỗ trú chân... 
            Giọng chàng tha thiết quá, khẩn cấp lắm và lại hổn hển mệt nhọc nữa...
            Lòng người thanh nữ đưa đò trở nên mềm như lá liễu đã ngấm sương. 
            Gió đêm vi vu lạnh, sóng đêm bát ngát buồn, và quanh quất đâu đây có mùi hoa dạ hương đưa ra một mùi hương ân ái say sưa... 
            Con tuấn mã bỗng hí lên như tiếng rên của trái tim cô quạnh, giữa lúc một đôi vạc nối cánh nhau bay vù trên trời loáng ánh sao... Đôi chim buôn vài lời âu yếm, tha thiết và trong trẻo như tiếng gọi của yêu đương. 
            Thế rồi... Thế rồi... 
            Đêm ấy, kẽ tráng sĩ lữ hành đã dùng chung trà thay ly rượu để ngâm những vần thơ say bên cạnh một nàng thanh nữ lòng trắng trong này đã vương một sợi giây diều... 
            Đêm ngắn quá và hương tình bốc lên cao quá, làm cho đôi mái đầu xanh quên cả tiếng pháo giao thừa liên tiếp nổ ở ven làng xa xa... 
            Họ quên cả mùa Xuân, vì trong lòng thanh xuân của họ, đang chứa cả một trời xuân bừng hương sắc tuyệt vời... 
            Đêm vui ngắn lắm!... 
            Và sáng hôm sau, người tráng sĩ bước chân lên bến nước bên kia, nhảy lên lưng con tuấn mả đang mơ thèm thiên vạn lý, mà quay đầu lại dặn cô lái đò thế này:
            -           Anh còn một nghĩa vụ với nước non, không thể lưu luyến ở bến sông này mãi được. Xin hẹn với em đến mùa Xuân sau sẽ trở về để cùng em ngắm hoa đào nở. Chỉ có núi đá là không thể gặp nhau, chớ với vố ngựa này anh sẽ còn gặp em nhiều nữa, nhiều nữa...
            Rồi chàng ngẩng đầu lên nhìn ánh bình minh, quất roi vào lưng ngựa trong khi cô lái đò đưa bàn tay run run lên chùi ngấn lệ long lanh... 
 
            Loạn ly! Loạn ly! 
            Bốn trời khói dậy, máu đổ ra đã lầy lúa cả đất nước. 
            Loạn ly! Loạn ly! 
            Bến sông này ngày đêm rậm rạp bước chân đi. Giòng nước đỏ ngầu phù sa ngày nay lại càng thắm hồng, y như một con sông máu. Sóng cuồn cuộn oằn oại chảy dưới muôn lớp cường phong và gầm rít lên nghe bi đát thống thiết tựa hồ lời rên siết của oan hồn từ lòng nước vang lên!
            Hay là dư âm của những trận ác chiến vừa xảy ra trên ngọn sóng? 
            Lá cây phần phật đập vào nhau hào hạo như tiếng binh đao giáo mác khua dưới trời gió... Những ngọn gió thông thống lùa trên mặt sông dài và gặp nhau trên lưng chừng trời mà phát ra những lời réo ú ú, nghe đến lạnh gáy, tưởng chừng là tiếng reo tở mở của muôn quân sĩ trong trận giao chiến hôm qua... 
            Để cho sóng nhạc thêm màu khủng khiếp thỉnh thoảng một tràng sét nổ chuyển động ngang trời thay cho những hồi chiêng trống vang vang giữa sa trường đang lụt máu và ngập đầu lân...
Loạn ly! Loạn ly! 
            Bến sông này đã bao lần dùng làm chiến trận, và nước sông này đã chở biết bao xác chết không đầu... 
            Người ta đánh nhau trên bờ, rồi người ta choảng nhau ở dưới sông... 
            Đôi bên bờ sông giờ đây không phải là hai bến nước nên thơ của cô lái ghe con đò nhỏ nữa. Nó đã thành hai phòng tuyến gớm ghiếc của đôi bên nghịch thù cùng một màu da, cùng một tiếng nói... 
            Loạn lạc đã đuổi giạt dân cư hai bên bờ sông đi xa rồi... Họ ngậm ngùi lìa bỏ vùng đất tổ, kéo nhau tìm về nơi vô định để tránh họa binh đao. 
            Họ đau lòng lắm. Họ men theo bờ sông đi ngược chiều gió biển... Lòng sông đỏ ngầu vẫn vang lên lời rên của sông máu, dội tình chua xót vào lòng họ. Cắn răng vào môi, họ nhìn sang bờ bên kia, và để cho nước mắt ứa ra trong mí mắt, ho bật lên một lời than giống nhau: 
            -           Tương tàn! Trời!
            Cô lái đò cũng bỏ hai bến nước quen thuộc mà đi theo bọn người tản cư ấy... Cô đi, bến nước cũng ngậm ngùi và cây da kia mà đã một lần có chàng tráng sĩ ghé cột cương con tuấn mã dưới ánh sao rụng – cũng bàng hoàng tiều tụy dần, có lẽ vì thương nhớ một mối tình đã khô héo vì khói lửa tương tranh... 
            Tình bến nước xưa, tình cây da cũ, tình con đò nhỏ, và tình hoa mộng của người tráng sĩ, chao ơi! Giờ đây loạn ly đã làm tan vỡ cả trên lòng cô lái đò tương tư! 
            Và mặt trăng không còn ghi những bức tranh thi vị của thuở thanh bình nữa... Sau những giờ cuồng loạn đẫm máu me, nó trở nên buồn thảm bi thương như màu nghĩa địa...
            Hai bên bờ, giờ đây thiếu con đò nhỏ nối liền nhịp cầu thân ái, lại càng xa xôi nhau... Chúng nó nhìn nhau hằn học qua mặt sóng đỏ ngầu, mênh mang... bốc khí hận... 
                                   Bèo lạc về đâu hàng nối hàng
                                   Mênh mang không một chuyến đò ngang
                                   Không cầu gợi chút niềm thân mật (1) 
(1) Thơ Huy Cận
            Con sông nằm trong lòng một lãnh thổ của một dân tộc chung một tổ tiên, một màu da, một tiếng nói ấy, bây giờ bỗng nhiên chia hai ranh giới của một cuộc chém giết gớm ghê!
            Không một chuyến đò ngang cho hai bên gặp nhau, cũng không một nhịp cầu để gợi niềm thân mật trong tấm lòng đồng bào... 
            Chém giết và chém giết!
            -           Tương tàn! Trời!
*
*   *
            Gió bấc cuối mùa đã thưa ngọn và bớt lạnh. Hơ ấm từ hướng Đông đưa về theo cánh nhạn trắng, báo hiệu rằng Xuân sắp qua... 
            Mùa phong ba hình như cũng dịu xuống. Sông không nổi loạn nữa, nhưng vẫn còn nguyên sắc máu. 
            Người ta không đánh nhau. Có lẽ họ đã mệt quá rồi. Ba năm chinh chiến, còn gì! Bao nhiêu máu đã xuôi chảy ra cửa biển và bao nhiêu xương thịt đã chìm dưới đáy sông! 
            Vả lại Tết đến nơi rồi! 
            Ai lại điên gì lăn mình vào lữa, giữa lúc hoa đào nở! Gì thì cũng phải giữ cổ lệ phong tục ông bà trong ba ngày Nguyên đán đã! (Hởi ôi? Người ta nghĩ đến phong tục ông bà mà quên bẳng rằng ông bà tổ tiên ấy là ông bà tổ tiên chung cho tất cả một giống người ở hai bên bờ sông.)
            Cũng vì Xuân đến mà mặt sông được yên nghỉ tạm. Tình Xuân quả có sức màu nhiệm đem nguồn êm ái đến ru dịu lòng người... 
            Chiều nay dưới làn mưa bụi phơn phớt ánh tà huy nhợt nhạt, người tráng sĩ năm xưa ra roi cho con ngựa trắng toát sãi vó trên con đường gồ ghề, chạy về bến sông cũ... 
            Bến sông lịm buồn. Cây cỏ tiêu sơ. Một nhánh đào lạc loài giữa bụi lau bở ngỡ nở vài cánh hoa e thẹn. 
            Ghìm con ngựa trên bến nước, chàng phóng mắt nhìn qua bờ bên kia. Khói sương dâng lên mang mang, bàng bạc ánh hoàng hôn... 
            Xa xa có tiếng trống thu không đổ dồn xuống cảnh chiều u uất. 
            Không một con đò! 
            Chỉ có giòng trường giang lãnh đạm tuôn triều nước đỏ bất tuyệt... Vài cánh én chiều sa lượn theo mấy cụm bèo lạc trên sông. 
            Chiều ba mươi Tết im lặng quá! Và buồn thảm quá! 
            Tráng sĩ nhảy xuống đất, buộc ngựa vào một gốc cây, đi lần xuống bến...
            -           Đò ơi! 
            Tiếng chàng vang lên giữa vô biên... 
            -           Đò ơi!
            Chỉ có giọng rì rào của sóng nước và xào xạc của lau lách, lẫn với hơi dội khô khan của tiếng gọi đò. 
            Gọi chán rồi chàng thở dài, khua chân xuống mặt nước cho bớt sự im lặng cô đơn... 
-           Đò ơi!
            Chàng lại gọi! Tiếng chàng tha thiết quá, rung động như một đêm nào năm xưa chàng đã tha thiết thốt ra với cô lái đò... 
            Nhưng vô ích. Loài người hiền lành đã đi rồi. Chỉ còn những kẻ háo chiến giờ này đang gật gù say chểnh choảng bên mâm rượu Xuân, sau những ngày say sưa với máu đào xương trắng... 
            Ai mà nghe! Đò đâu mà gọi! 
            Ngọn da bên kia nặng nề run qua cơn gió tối như những bàn tay thất vọng vẫy vẫy trên sông, con sông thiếu một nhịp cầu và một con đò! 
            Hoàng hôn xuống, gió tối lên, và bóng đêm tràn ra...
            Trong trí chàng tráng sĩ, hiện ra cái cảnh êm đềm năm xưa trên con đò nhỏ bên cạnh cô lái đò nhan sắc... Những lời ân ái hẹn hò từ trái tim chàng lại vang lên... Lòng chàng bứt rứt quá... Sông rộng thênh thang, không cầu, không đò, ôi, chua xót là cách trở! 
            -           Xin hẹn với em đến mùa Xuân sau sẽ trở về để cùng ngắm hoa đào nở! 
            Chàng có bao giờ quên lời hẹn hò đằm thắm ấy trên bến nước này... 
            Ba năm lăn mình vào chinh chiến, chàng mới có dịp này trở lại bến đò cũ tìm khách xưa... 
            Hoa đào đang nở kia, mà hỡi ôi, biết cùng ai ngắm... 
            Như một cái máy, chàng lại réo: 
            -           Đò ơi! 
            Và đó cũng là những tiếng kêu vô vọng dội vào hư vô... 
            Xa xa, có một ngọn khói bốc lên sau lùm cây đã trở màu đen xám... Chàng bỏ ngựa, đi lần về phía ấy... 
            Đó là một cái am nhỏ ẩn kín đáo dưới gốc xanh già chằng chịt rễ lâu năm... 
            Người chủ am khoác chiếc áo nâu sồng vào, mở cửa đón khách...
            Và đêm ấy, chàng tráng sĩ được ngã nhờ cái thân lữ thứ dưới bàn thờ Phật... 
            Và đêm ấy, nhà tu hành kể cho chàng nghe câu chuyện một cô lái đò ở bên kia sông...
*
*   *
            -           «Tội nghiệp cô ta! Mùa Xuân năm kia, trong lúc người ta đang đánh nhau dữ dội thì cô ta chèo đò về bến cũ... 
            Chèo qua chèo lại chán rồi cô ta nghĩ. Rồi cứ đêm đến lại khua mái chèo trên mặt sông. Hình như cô ta tìm một người nào thì phải. 
            Gặp ai, cô cũng hỏi thăm : 
            -           Có người tráng sĩ áo xanh cưỡi con ngựa trắng đi qua đây chăng? 
            Nào ai biết? 
            Đêm ba mươi Tết, cô ta chèo trên sông suốt cả đêm và hát mãi một câu: 
                        Người xưa này cố nhân ơi! 
                        Đã qua sông Dịch thì thôi không về...  (2) 
(2) Thơ Nguyễn Bính
            «Ông tính thời loạn này đâu phải để thơ thẩn như thế được, cô ta dại dột quá, chèo mãi, hát mãi, không biết rằng đôi bên sắp rục rịch một trận đại chiến... 
            Sáng hôm sau, họ đánh nhau dữ quá, binh đao giáo mác khua chan chát, sóng gió đập ầm ầm, tiếng hò reo vang dậy, chiêng trống đổ liên hồi... Cảnh vật cứ run lên như phát rét vậy...
            ... Và sau trận ấy, trên giòng sông đỏ máu, lều bều xác chết, không ai thấy cô lái đò chèo qua chèo lại nữa... 
            Sáng hôm mùng ba Tết, tôi vớt được một chiếc đò nhỏ dạt vào bến này. Trên mũi đò có một cành đào còn tươi, và phía lái còn vương lại mớ tóc dài mượt với một cái trâm bằng bạc mà tôi cẩn thận cất đi kìa... Có lẽ đó là chiếc đò của người con gái đáng thương ấy!»
            Ông lão áo nâu nói đến đây bỗng dừng lại vì bên ngoài hình như có tiếng ai hát trên sông... Giọng hát trong veo và ngậm ngùi quá! Nó quen quen và làm cho chàng tráng sĩ thấy đau nhói ở con tim...
            Ông lão khều ngọn đèn cao lên và nói tiếp: 
            -           Tiếng ma hát đấy, ông à! 
            Cứ đến Tết, trong ba đêm liền, là tiếng hát não nùng ấy lại nổi lên. Người ta đồn là chính oan hồn của cô lái đò hiện về hát khúc hận trường... Đấy!... Ông có nghe rõ không: 
                                   Lý-Lang ơi! Hởi Lý-Lang!
                                   Giận chàng thì giận, thương chàng vẫn thương (3) 
(3) Thơ Vũ-Son
            Có lẽ khối tình trong tim của cô chưa tan được nên cô hát mãi cái câu thê thảm ấy.»
            Chàng tráng sĩ họ Lý lịm đi bên câu chuyện trong khi ông già áo nâu cựa mình, thở ra một tiếng dài : 
            -           Chao ôi! Đời là bể khổ, tình là giây oan. Bao giờ con người diệt được những cái giây tình oan nghiệt ấy đi thì mới không còn địa ngục nữa...
*
*   *
            Từ ấy, người ta lại thấy chàng tráng sĩ áo xanh trên con ngựa trắng đi khắp bốn phương trời. 
            Ai có hỏi chàng đi đâu và để làm gì, thì chàng trả lời : 
            -           Tôi đi tìm cách lấp con sông ấy! 
            -           Con sông nào, tại sao mà phải lấp? 
            -           Tại có sông, mà không có cầu, cũng không có đò, thì phải lấp đi cho khỏi chia rẻ nữa... 
            Và chàng đi, đi mãi, mang cái chí lấp con sông màu nước đỏ ấy, đi khắp Bắc Nam... 
            Vì, các bạn ơi, con sông ấy là một con Gianh đấy! 
            Con sông ấy đang chảy nguồn máu tương tàn thê thiết của nòi giống Việt-Nam... 
 
                                                                                  Mùa đông Kỷ Sửu
 
 
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
HẠ-SAN
 
 
 
            Ngọn Thất-sơn ngồi im lặng dưới vòm trời thấp, nghiêm trang như một pho tượng đá hùng vĩ. Sừng sững giữa vũ trụ, ôm trong lòng những cây cối gò đất, núi đá, khu Thất-sơn oai vĩ, đường bệ như đứng làm chúa tể cho cả một vùng sơn lãnh hoang vu. 
            Loài người sống ở ven sườn núi chẳng bao giờ thấy hết được cả vòm trời tròn trĩnh bao la. Ngọn núi cao ngất vượt lên những hàng cây um tùm xanh đen đã án mất một nữa trời trước con mắt họ rồi. 
            Những buổi sáng sương mù nhiều, hay những phút hoàng hôn có ráng đỏ như màu máu vương lên ánh nắng quái, ngọn Thất-sơn lại có một vẽ riêng, oai linh và màu nhiệm, cái oai linh và màu nhiệm của Thiên Thần.
            Ấy thế mà khói lửa của mùa chiên chinh cũng dâng lên đến tận chỗ thâm nghiêm cao vút ấy. 
            Ngôi chùa Linh sơn Tự ngồi hiền lành bên một hang đá, nay không còn nữa. Ngọn lửa đã làm cái việc xâm lấn vào tận đây trong một đêm tối trời, sát phạt ngôi chùa cổ kiên cố, thành ra bình địa. Sáng hôm sau, hòa thượng Tuệ Thăng ôm cuốn kinh Hoa-Nghiêm đứng tựa vào một gốc cây xam xám màu khói, ngắm những đóng tro ngun khói đen bên cạnh những cây cột bị thương loang lổ. Người nhắm mắt lại, niệm Phật. 
            Vài tháng sau, một chiếc am nhỏ được dựng lên trên nền đá còn nám đen những tàn tích của đêm đốt phá. 
            Dưới chân Phật, hòa thượng vẫn cần cù gõ mõ tụng kinh. Ngôi chùa lớn hay nhỏ, không phải là một vấn đề vấn vương trong trí óc kẻ thí phát. Kỷ niệm cái đêm kinh khủng ấy cũng đã đuoc ngọn nước cành dương vẩy ra, làm tan rả cả rồi. 
            Lòng hòa thượng lâng lâng nhẹ gần như đã siêu thoát về cõi Bồng lai. Những lúc nhàn rỗi, người ra đứng trên mỏm đá, thản nhiên phóng tầm mắt xuống thế gian... Những ngọn khói bốc lên ngùn ngụt ở mấy rặng cây xanh mờ dưới chân núi, những báo hiệu của chiến tranh ấy, không làm vang vào lòng người đệ tử nhà Phật ấy hơn một tiếng Nam-mô êm và lặng như một chiếc lá rừng vào buổi chiều không gió!
            Cuộc đời yên tịnh của hòa thượng mấy tháng nay, bất ngờ lại bị khuấy lên, và khuấy mãi lên. Súng lác đác nổ ở xa xa rồi men lại gần, rõ hơn, hăm dọa hơn. 
            Trong những đêm loạn rừng ấy, hòa thượng thức niệm kinh lần tràng chuỗi đen trắng năm canh. Dưới chân Đức Từ-bi, hòa thượng rèn lòng mình cho bình tĩnh, đủ cho âm thanh của súng đồng có rên rĩ vang động đến đâu cũng không làm sao gợn lên một chút nào. 
            Cỏi trần với bao nhiêu bấn loạn, rối bời của nó không còn vương vít một chút nào trong cánh cửa am vắng trên ngọn Thất-sơn hùng vĩ. 
            Súng càng nổ, rừng càng loạn, hòa thượng càng tụng kinh nhiều. Lòng người hầu đã chai lại như vách tường đá trơ trơ cùng thiên cổ. 
            Vạn nhứt loài người có đốt cái am này nữa, hòa thượng sẽ cất cái khác để tu cho trọn quả phước của một kiếp người đã khoác áo cà sa.
*
*   *
            Khu rừng nổi loạn đã gần sáu tháng rồi. Loài người ác đọc không để cho hòa thượng liệm hồn vào chuông mõ. Họ lại đốt, lại phá. 
            Chiếc am mây đã ba lần bốc lửa. Ba lần bàn tay nhẫn nại của hòa thượng lại cần cù dựng lên. Lòng tu của người bén rể bền chặt như những gốc cổ thọ phong rêu kia rồi. Và không bao giờ rừng núi nghe được một lời oán trách, phiền hà bay ra từ đôi môi chỉ biết niệm Phật ấy. 
            Người ta đốt, hòa thượng xây dựng lại. Đốt nữa xây dựng nữa. Có khó nhọc mới dày công quả, hòa thượng nghĩ vậy. Tất cả đều là thử thách tạm bờ của Sa tăng đối với hòa thượng. Con đường về Tây trúc tuy dài, song càng kiên nhẫn, càng lao khổ, thì lại càng dày quả phước. 
            Triết lý của hòa thượng Tuệ Thăng trước cuộc thế rối bời này là vậy.
*
*   *
            Đã hai đêm hai ngày rồi súng nổ dữ quá. Ánh lửa đỏ nhấp nhô lên giữa rừng xanh, ghê rợn như những vòi lửa phun từ hàm rồng ra trên từng mây xám phong ba. Khói bốc lên nghi ngút làm đen cả vòm trời. 
            Đôi bên địch thủ đánh nhau rát lắm. Có lẽ họ đánh quên ăn, quên ngủ và có lẽ đây là một trận quyết tử để thanh toán một món nợ đời, một mối thù độc địa giữa thế nhân. Cho nên nó ác liệt quá chừng, trời đất núi non cũng đến rúng chuyển vì nó. 
            Tuy nhiên, từ chiếc am nhỏ mới cất lại lần thứ tư, tiếng mõ kinh vẫn âm ra đều đều như con suối trong veo chảy róc rách từ ngàn đời đâu đây, mặc kệ những loạt súng ròn tan nổ trong nắng và trong sương. 
            Đêm chìm trong bóng tối u uất nặng nề, thì ngọn lửa lại bắt đầu bật rỏ lên sáng rực. Và súng lại thi nhau nổ liên hồi. Gần quá rồi. Có lẽ người ta đang đánh nhau sát bên am. Tiếng nổ chát chúa quá đã đôi phen làm cho hòa thượng giựt mình vì tiếng đạn bay vèo vèo ngang tai. Người vẫn tụng kinh và chầm chậm khua lên một hồi chuông cho lòng trở về với thanh thảnh. 
            Cả đêm súng nổ. 
            Cả đêm hòa thượng không rời chiếc dùi mõ và pho kinh. 
            Trời bắt đầu rầng rậng sáng, thì tiếng súng cũng thưa dần. Trong màn sương thỉnh thoảng có một viên đạn rít lên giận dữ! Một vật gì nặng nề lắm bỗng nhiên gieo phịch xuống chân am. Có tiếng hổn hển thở khó khè như tắc nghẽn. Hình như người ta đang vật lộn nhau. Hòa thượng nghe rõ những tiếng huỳnh hụych của từng cái đấm cái đạp. 
            Người vẫn tụng kinh đều đều.
            Cuốn kinh Kim Cang đã đến trang chót, người từ từ đứng dậy, mở cửa bước ra. 
            Bình mình lên yếu ớt. Trời rạng đông, ánh sáng mập mờ vương nhẹ trên màn sương nặng trình trịch khói đạn và khói lửa. 
            Bên chân am, dưới ven một tảng đá, có một hình thù đen ngòm đang cữ động. Hòa thượng nheo cặp mắt nhìn qua màn sương mờ ảo. Ấy là hai thân người. Họ đang vật lộn nhau. Hai bàn tay nghiêm khắc xiết chặt vào hai cần cổ, những tiếng ằng ặc nghẹn ngào đưa ra lẫn lộn trong hơi thở khò khè. Rồi họ buông nhau ra để cho tay chân làm cái việc đấm đá túi bụi. Rồi họ ôm ghì lấy nhau, ghì chặt thêm. Cuộc vật lộn càng ác liệt. 
            -           Chết cha mày, cắn tao. Có một tiếng mệt nhọc thốt ra nho nhỏ, song đầy căm hờn. 
            Trời sáng dần. Núi rừng đã hiện ra qua màn sương trăng trắng đục. Hòa thượng đã nhìn rõ từng cữ chỉ của hai con người đang thèm máu nhau. 
            Mặt loang lổ máu, quần áo rách tơi bời, họ nằm thở rốc như cặp gà chọi đến lúc mệt, để rồi vài giây sau lại bắt đầu đấm vào mặt nhau, đá vào bụng nhau, cào xé, cấu cắn nhau, ác liệt hơn. 
            Tuệ Thăng hòa thượng không giữ được lòng bình tĩnh nữa rồi. Cảnh máu xương diễn ngay trước mặt người có năng lực ghê gớm, khêu sống dậy những cảm giác cũ trong trái tim đang bị sung nóng giữa một phút kích thích quá chừng... 
            Trong chớp mắt, một kẻ đã rút dao ra.
Đối phương cố dùng toàn lực bẻ oặt cánh tay cầm dao ấy. Một cái gì rờn rợn chạy rần trong xương sống hòa thượng. Người nhắm mắt lại. Một tiếng kêu thét lên. Rồi hai tiếng.
Lúc Tuệ Thăng hòa thượng mở mắt ra thì hỡi ôi, toàn là máu... Kẻ có dao đã thọc vào ngực đối phương, trong lúc kẻ sau này há hốc miệng ngoạm sâu vào cổ bên địch mà nhai rứt cho đứt huyết quản. 
Máu và máu... Máu tung tóe vọt ra như suối trên cổ và trên lưng của đôi bên. Họ bắt đầu thở mau và lả dần. Vài phút sau, bốn bàn tay buông nhau ra, hai thân mình giãy chết đành đạch trên vũng máu đen đặc dần... Nhìn cái miệng người hả bốc ra đỏ lòm những máu, hòa thượng rùng mình một cái. 
Núi rừng tang thương phờ phạc sau đêm hỗn loạn, giờ đây vẫn còn vắng tiếng súng... Người cúi xuống nhặt hai xấp giấy văng ra bên cạnh hai xác chết. Ấy là hai tờ căn cước. Chớp hai con mắt đã rơm rớm nóng, người đọc: 
-          Nguyễn-văn-Việt, cha tên Nhân, mẹ Lê-thị-Ái. 
-          Nguyễn-văn-Nam, cha tên Nhân, mẹ Lê-thị-Ái...
Cặp mắt hiền từ của hòa thượng mở lớn ra ngạc nhiên, và ngước lên bầu trời le lói nắng, như để hỏi... Trời sáng nay nhiều mây, thấp và buồn. Hòa thượng thở dài bi đát nói một mình : 
-          Chao ôi, họ là hai anh em ruột, cùng mang chung một dòng máu. Thế mà... Có lẽ vì một sự xung khắc ác liệt của lý tưởng. 
Người đứng trên mỏm đá, não nề và chua xót nhìn xuống thế gian mặc cho hai ngấn nước mắt lăn từ từ trên má...
*
*   *
            -           Bạch hòa thượng, con chán lắm rồi. Ở dưới kia người ta vừa ăn Tết vừa giết nhau. Con không thể sống thêm một phút nào ở cái xã hội đảo điên này nữa. Con vượt đèo leo núi lên đây để cầu xin người chỉ một con đường siêu thoát... 
            Hòa thượng mỡ bừng cặp mắt ươn ướt ra để nhìn. Đó là một thiếu nữ còn trẻ. Nàng khóc thảm thiết quá. Mùi hương trầm bát ngát dâng lên hòa với khói nhang nghi ngút. Tiếng thút thít của người thiếu nữ vang khe khẽ vào cảnh im lặng, nghe thê lương như tiếng khóc của nhân loại từ lòng đất âm lên.
            -           Mẹ con chết, cha con chết, anh con chết, thân nhơn con chết hết trong cuộc chém giết này. Khổ quá, con còn sống làm sao được giữa chỗ người ta giết nhau ấy. Con đã bán hết gia tài của cha mẹ, chia cho người nghèo phân nửa, còn thì đem theo đây, lòng nguyện để cất một cảnh chùa và đúc tượng Phật mà gởi thân vào nương chốn từ-bi... Như thế họa may con mới nguôi được phần nào đau đớn... Bạch hòa thượng, thí phát cho con ngay bây giờ, hòa thượng ơi!!
            Ngọn núi cao chót vót mờ sau làn khói gây thêm màu tịch mịch. Hòa thượng im lặng nghe thiếu nữ kể tình cảnh chua xót...
            -           Con! Ta sẽ chỉ cho con một đường. Con đường để diệt cái khổ. Con đường ấy là con đường xuống núi...
            Hòa thượng nhắm mắt lại, chỉ ngón tay xuống trần gian... Thiếu nữ ngơ ngác. Hòa thượng tiếp: 
            -           Giữa lúc mà loài người và đất nước chúng ta đang chìm trong bể khổ thế này ta không nên trốn cái khổ, sợ cái khổ... Trái lại, ta phải làm một cái gì để diệt cái khổ ấy... Muốn thế, ta phải hạ san... 
            -           Hòa thượng không gỏ mỏ nữa? 
            -           Con coi kìa, hai xác chết còn nằm kia, loài người còn nhiều tham vọng quá, để rồi gây khổ cho nhau. Loài người đang khổ lắm. Ta hạ sẵn để hành đạo ngay bên cạnh loài người, ngay bên cạnh cái khổ. Có ở gần cái khổ, mới cứu khổ được nhiều, có ở gần người bịnh đang rên mới hàn gắn ngay vết thương của họ được. Phải, con ạ, ta sẽ bỏ am, xuống núi đây. Hành lý đã sẵn rồi. Ta đi bây giờ, đi để tìm cho đất nước ta một mùa Xuân vĩnh viễn tươi đẹp... Lúc ấy ta sẽ lại lên núi...
            Mặt trời ló ra, rừng sáng bật lên. Ánh nắng vàng như lửa chiều nhấp nhánh trên chiếc am nhỏ mà nếu Hòa Thượng Tuệ Thăng ở lại nó sẽ thành một cảnh chùa lớn... 
            Khua cây gậy lọc cọc, hòa thượng lên đường về với thiên hạ... 
            Khói lửa vẫn bốc lên mù mịt, và súng vẫn nổ liên hồi trong ngọn gió đầu năm...
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Yêu nhau
trên vũng máu
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
            Đêm tối quá, âm u và cô tịch. Gió thì thào trong cành lá như điệu nhạc huyền bí bất tuyệt. 
            Ngôi chùa Hoa-An-Tự ngồi trang nghiêm dưới gốc chòm cây cổ thọ lắng mơ một cái gì cao vút thanh bình ở cõi Niết Bàn xa tít. Tiếng mỏ của Sư Bà Huệ Thông vọng ra, rơi vào không gian đều đều như tiếng suối rót mơ hồ ở tận đâu đâu... 
             Và cũng xa xa, giữa cảnh cô liêu tịch mịch ấy, hốt nhiên vang lên vài tiếng nổ, rồi từng loạt, từng loạt nối nhau kêu ròn như pháo tết.
            Sư Bà vẫn trầm tịnh thả hồn nhập vào câu kinh tiếng mỏ. Tiếng bà trong và cao, vang ra khắp gian chùa vắng lặng, khi trầm khi bổng, êm như tiếng đàn lướt trên nhung lụa. 
            Mấy pho tượng Phật, từ bi ngồi trên bệ phảng phất qua ánh bạch lạp lung linh nhìn đời bằng những cặp mắt hiền từ đầy trắc ẩn. 
            Bên ngoài súng nổ càng ngày càng dữ. Thêm vào không khí rùng rợn ấy, gió mùa cũng nổi lên, để hòa tấu cho đầy đủ một bản nhạc quay cuồng có điệp khúc khủng khiếp. 
            Có tiếng gõ cửa gấp gáp. Tiếng then gỗ chạy ngang cánh cửa, vài tiếng kẹt kẹt, và một ngọn gió lùa hắt vào gian chùa. 
            Sư Bà vừa đọc nốt hàng chót của pho kinh, ngoảnh lại phía sau. Trong bóng tối chập chờn le lói ánh nến yếu ớt, có tiếng êm êm của ni cô:
            -           Bạch Sư Bà, có một chàng trẻ tuổi xin vào tá túc... 
            Sư Bà cúi xuống ngần ngại. Dường như người ôn lại câu thành ngữ : «Nam nữ thọ thọ bất thân» và nghĩ đến cấm giới nghiêm khắc của nhà chùa. 
            Một tiếng rên khư khư vọng lên trong xó tối. 
            -           Thưa bà, người ấy bị thương... 
            -           Bị thương à? Thôi được, con đưa người vào trai phòng, rồi ta xuống. 
            Lòng trắc ẩn, đến phút này đã thắng một thành kiến và cấm điều.
*
*    *
            Ni cô vừa gài xong mối băng cuối cùng trên chân trái người khách, thì hình như trong gió mưa lại có tiếng tốc tốc gõ vào cánh cửa. 
            Nàng ngừng tay, nhìn Sư Bà. 
            -           Để đây cho ta. Con hay ra mở cửa. Lại một chiến binh bị thương nữa chứ gì. 
            Bà thở dài, cái thở dài đượm màu chua xót trước thế sự. Bàn tay khô khẳng của Bà vuốt trên vết máu và bùn còn dính ở khuôn mặt xanh xao nhưng phảng phất nét cương nghị của người thương binh: 
            -           Khách đã thấy bớt chưa? 
            Chàng trẻ tuổi mệt nhọc, từ từ hé mắt ra, yếu ớt nói: 
            -           Cảm ơn người. Tôi dể chịu rồi.
            Có tiếng chân người nặng nề chầm chậm đi đến trai phòng. Rồi ni cô lại hiện ra, dắt theo một người nữa. 
            Người ấy tựa vào cánh tay ni cô, tập tễnh lê từng bước, miệng anh lầm thầm nói những tiếng khó nghe. 
            Sư Bà vói tay vặn cho ngọn đèn cao lên một chút ánh sáng rõ hơn, cảnh vật hiện ra đầy đủ. 
            -           Lại một chiến sĩ bị thương? 
            -           Dạ, nhưng là một người ngoại quốc.
            -           Một người ngoại quốc à! Mô Phật, người ngoại quốc hay đồng bào, cánh cửa từ bi cũng vẫn mở rộng. Khi máu chảy ra, lòng nào không đau xót. 
            Ngoài trời, tiếng súng chỉ còn thưa thớt nổ, yếu ớt như những tràng cười gượng sau một đêm vui gần tàn. Nhưng gió mưa thì vẫn còn tiếc rẻ vài giờ cuồng loạn liệt oanh. Cây cối cựa mình răng rắc, kẽo kẹt và reo lên ào ào. Trên mái nhà, mưa gieo nặng hột từng chập. 
            Ni cô băng bó cho người ngoại quốc ấy vừa xong, Sư Bà từ thiện đắp lên mình chàng một tấm mền dầy. 
            Người khách cựa mình, thở dài, ngơ ngác nhìn gian phòng lạ, chập chờn sáng. 
            -           Ông là người Pháp? Ni cô hỏi. 
            Khách mở cặp mắt kinh ngạc ngắm ni cô mộc mạc trong bộ áo nâu sồng, rút đời vào chốn chuông mỏ này, mà cũng biết nói một thứ tiếng với mình:
            -           Thua cô, phải! Tôi là một chiến sĩ Pháp. 
            -           Ông có mệt lắm không? 
            -           Không, một vết thương xoàng ở đùi thôi. Tôi có thể hầu chuyện cô được. 
            -           Ông từ chỗ súng nổ lại đây?
            -           Vâng. Tôi đi lạc, vì trời tối quá, không một ánh sao. 
            -           Chàng khẽ thở dài, hỏi thêm. 
            -           Súng còn nổ, thưa cô? 
            -           Chỉ là những hơi ngắn chót của một hồi chuông đấy thôi, ông ạ. Mưa gió thì hình như lớn hơn! Ông có lạnh chăng? 
            -           Cảm ơn sự lo lắng của cô. Nằm trong tấm mền dầy, giữa gian phòng ấp áp này, tôi có cảm tưởng như nằm bên lò sưởi, nghe gió reo và tuyết bay ngoài trời tối, trong một đêm mùa đông nào ở xứ Bretagne yêu dấu của tôi... 
            -           Ông ở Bretagne à, cái xứ mưa một năm 10 tháng ấy à! Có phải vậy không ông, anh tôi thường viết thư về bảo thể! 
            -           Cô có người anh ở xứ tôi, ồ hân hạnh biết mấy!
            -           Vâng, anh tôi qua đây đã 12 năm nay và biệt vô âm tín từ khi quân Đức gieo loạn ly ở nước Pháp... Hình như anh đã bị quân Đức giết... 
            Ni cô ngậm ngùi nhìn ngọn đèn đã lu lu: 
            -           Chị dâu tôi, chị Yvonne, cũng là người Pháp miền biển ấy đấy. 
            Gió trổi mạnh hơn. Hơi lạnh thầm qua vách tường vào nhà. Ni cô rùng mình. 
            Bên giường kia, chàng chiến sĩ Việt Nam cựa mình, ú ớ trong một cơn mê...
            -           Chúc ông ngủ khỏe! 
            -           Cảm ơn cô. Xin chúc cô như vậy. 
            Ni cô bước ra, một chút tình gia đình lưu luyến chớm lên, giữa gió mùa... 
*
*        *
            Sáng bữa sau, trời đẹp. 
            Ánh lê mình tưng bừng trải trên cảnh vật. Trận phong ba hồi đêm chỉ để sự nghiệp lại một ít lạch nước trắng đụt uể oải chảy xuống hồ. Vài giọt nước trong veo óng ánh sáng còn đeo trên nhánh lá hay cành hoa.
            Màu quang đảng nổi bật lên trong ánh nắng đào. Chim chóc ríu rít kêu, như hỏi thăm nhau vài câu bình yên. 
            Ni cô khẽ đẩy cửa phòng bước vào. Người chiến sĩ Việt đã thức rồi. Chàng cựa mình muốn ngồi nhỏm dậy. 
            -           Ông đừng cử động mạnh. Thế nào, đã bớt chưa? 
            -           Tôi khỏe nhiều rồi, ni cô ạ. Đêm qua tôi thiếp đi lúc nào không hay, đánh một giấc đến giờ. 
            -           Cầu trời Phật hộ trì ông mau mạnh. 
            -           Hình như bên giường kia cũng có người đau, thưa ni cô? 
            -           Phải đấy ông ạ! Một chiến sĩ cũng bị thương như ông. Lát nữa ông ta thức, tôi sẽ giới thiệu và chắc ông sẽ có người bạn để chia vui sẻ buồn ở đây.
            Vừa lúc ấy, người khách ngoại quốc cũng cựa mình thức dậy. Ni cô nhanh nhẹn bước qua ân cần như người nhà, nói với người khách Việt: 
            -           Xin lỗi ông nhé! 
            Nàng đến bên giường người Pháp, điềm đạm hỏi: 
            -           Đêm qua ông ngon giấc? 
            -           Cảm ơn cô. Tôi ngủ được nên thấy khỏe khoắn. 
            Người khách Việt trố mắt nhìn. Một chiến sĩ Pháp! Một chiến sĩ Pháp! Thật một sự gặp gỡ kỳ quặc. Mới hôm qua đôi bên nằm trên đôi trận tuyến địch thù! 
            -           Trời bữa nay chắc đẹp lắm, thưa cô. Tôi nghe chim hót lanh lảnh...
            -           Ông nói đúng đấy. Người ta cũng vẫn bảo: «sau giông tố trời quang đãng» phải không Ông? 
            -           Cô thông minh quá, tôi thành thật khen ngợi. 
            -           Này ông khách à, ông đừng kinh ngạc, tôi sẽ giới thiệu cho ông một người bạn mới. 
            -           Hân hạnh.
            -           Ông tên chi nào? 
            -           Antoine Gérald. 
            Nàng quay sang người khách Việt:
            -           Còn ông? 
            -           Nguyễn-văn-Lĩnh! 
            Nàng nhìn đôi bên, điềm đạm nói: 
            Tôi xin mạn phép giới thiệu. Đây là ông Antoine, một chiến binh Pháp, và đây là ông Lĩnh, chiến binh Việt Nam. Mong rằng hai ông sẽ là đội bạn thân mật. 
            Antoine kinh hoàng. Lĩnh thêm bở ngở. 
            Trước sự xúc động đột ngột của hai tâm hồn, ni cô tự nghĩ phải đem họ lại gần nhau hơn:
            -           Phải, mới hôm qua, hai ông còn là người của hai chiến tuyến, còn thèm máu nhau. Bây giờ gặp nhau trong một mái chùa, đột ngột gọi nhau bằng cái tiếng thân ái bạn. Hai ông ạ, ông Antoine và ông Lĩnh ạ, cánh cửa từ bi có cái mầu nhiệm ấy đấy. Bao nhiêu cuồng vọng, ác nghiệt, thù hận đều tan rã trước cửa từ bi. Dưới chân Đức Đại bồ tát, tất cả sanh linh đều là con một nhà.  Không có sự thù nghịch, không có sự dị chủng, không có sự đâm chém nữa. Chỉ có tình bác ái mênh mông không biên giới và không vĩ tuyến nào. Chỉ có lòng từ bi vô cùng vô tận. Cánh cửa từ bi đã không từ chối mở ra với một người dị chủng, thì nó có cái vai trò nối liền mối giây thân ái giữa hai kẻ khác nước, giữa nhiều sắc tộc, màu da.
            Hai ông ạ, vả lại hai dân tộc Pháp Việt sanh ra có phải để bắn giết lẫn nhau đâu? Tình thân hữu và tình nhân loại còn đẹp như ánh sáng ngoài kia... 
            Hai khách nhìn nhau. Họ cúi xuống lòng mình rồi lại ngẫng nhìn nhau. Trái tim họ xúc động mãnh liệt. Ngại ngùng như nhau, họ ném qua nhau những cái nhìn thèn thẹn, nhưng đượm tình thân ái. Không ai bảo ai, họ đồng nhỏm dậy, bước xuống đất, tập tễnh đi tới, giang cánh tay ôm chầm lấy nhau như hai trẻ ngây thơ... 
            -           Anh có đau không, Antoine? 
            -           Anh có đau không, Lĩnh? 
            Mắt nhìn mắt, tay nắm tay, mà họ sát vào nhau. Họ không nói gì thêm, những cử chỉ cảm động ấy đã nói rất nhiều. Hai con tim áp vào ngực nhau làm nổi lên trong lòng họ một nhịp sống mới: họ yêu nhau rồi!
            Trên chùa, hồi chuông sớm nổi lên, ngân dài trên vạn vật muôn loài được thấm nhuần cái tiếng từ bi bác ái của Đức Cao-Cả...
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Quả Báo
 
 
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
            Vịnh mở mắt ra thì trời đã sáng rõ. 
            Những tia nắng chói của một buổi sớm mùa hè oi ả xuyên qua cửa sổ nằm ngang bụng gã thành những vệt sáng như những lưỡi kiếm... 
            Vịnh nhỏm dậy, giựt mình. Ô hay! Rõ ràng là những lưỡi dao sáng loáng... Gã mở mắt ra tròn xoe, đưa hai tay lên ôm lấy đầu, chà xát cho mớ tóc rối bồng lên, rồi dụi mắt! Rõ ràng mấy lưỡi dao chập chờn nằm ngang người mình. Giấc mơ lần lượt trở lại với trí gã... 
            ...Cánh cửa phòng bỗng sịch động rồi hé ra. Một người con gái mặc toàn đồ trắng toát, tha thướt bước vào... Nàng chầm chậm tiến lại gần giường gã, và cứ mỗi bước đi là có một giọt nước mắt nhỏ từ cặp má lạnh và xanh rơi xuống tà áo trắng... Mắt nàng đượm một vẻ sầu vô tận. Những niềm đau khổ tiết ra từ hai con mắt quầng đen và sâu thẩm như vực giếng. Nàng hiện ra buồn và khổ như cả một mùa đông giá lạnh mưa phùn. 
            Gã thấy trên nét mặt đau khổ ấy một vài nét quen quen và chắc chắn người trước mặt không xa lạ với mình... Nhưng kìa, người con gái đã tiến đến bên thành giường gã. Nàng dừng lại. Vinh run lên muốn chạy. Bỗng đôi mắt nàng sáng lên, trợn tròn xoe, tóe ra những tia lửa độc ác, phóng thẳng vào mặt gã. Ôi chao! Gã lại run lên, co giò chạy, nhưng toàn thân cứ quýnh quýu lại như bị vọp bẻ. Nàng lại còn nghiến răng nghe kèn kẹt. Hồi nãy nàng buồn thảm và dịu dàng bao nhiêu, thì bây giờ nàng tỏ ra đanh ác bấy nhiêu. Đôi má nàng phừng lên như ông tướng trận. Cặp mi đen lay láy hồi nãy nằm sát xuống bộ mặt dịu hiền và tang tóc nay dựng lên coi thấy sợ. Gã hết cả hồn vía, toan la lên. Nhưng vô ích, cổ họng như bị chặn nghẹt rồi! Khổ cho gã quá! Chạy không được, la cũng chẳng thành tiếng, gã mềm như con sên. Nào đã hết đâu! Nàng rút trong lưng ra hai thanh dao sáng loáng... Ánh sáng ngời lên, làm lạnh toát cả người gã. Máu trong người gã như đã đọng lại, mặc kệ trái tim phập phều vì sợ hãi. Nàng sẽ ám sát gã chăng.  
            Nhưng chưa! Nàng lắp bắp nói gì kìa! Gã ù cả tai, nghe chẳng ra tiếng, song hình như cũng được hiểu rằng nàng đến với gã để trả một mối thù... Thế rồi hai cánh tay yếu đuối lụng thụng trong mảnh áo trắng muốt, cố giơ hai thanh dao lên rồi hạ mạnh xuống bụng gã... Gã choáng váng, hét lên rồi lịm đi... 
            Và bây giờ gã mới thức giấc thì trời đã sáng bạch.
            Gã thức dậy để lại thấy những thanh dao nằm ngang trên bụng mình! Gã ôm đầu, sợ muốn phát điên lên. Giấc mơ quái gở hồi đêm làm rồi loạn cả tâm hồn gã. Mấy vệt sáng vô tình lại còn làm cho gã rối loạn thêm... Gã thấy rờn rợn phía sau gáy và lắng nghe một cái gì lành lạnh chạy dài xuống xương sống! Gã nhắm nghiền mắt lại.
            Bên ngoài, mặt trời đã lên dần, treo chót vót trên ngọn cây, và tỏa ra những tia lửa gắt nóng. Thiên hạ đang xôn xao sống, mỗi người một việc. 
            Hình như sự nhắm mắt đã định tỉnh lại tâm thần cho Vịnh. Gã thấy mình hơi tỉnh táo. Một ngọn gió quý báo và man mát thoảng bay vào buồng đem theo một ít hương hoa từ ngoài vườn vào. Gã thấy khỏe khoắn, tỉnh táo rồi can đảm mở bừng mắt ra. Chớp chớp vài cái cho bớt chói, gã nhìn ngay xuống bụng! 
            Mặt trời lên cao đã đem mấy vệt sáng lần ra ngoài. 
            Gã hoàn hồn và hiểu rồi, nhưng vẫn ngại ngùng nhìn hai ba vết sáng lúc đó đang nằm gác ngang ngưỡng cửa buồng gã. 
            Gã nhỏm dậy, nhảy xuống đất, co tay, vươn vai cho đỡ mỏi, rồi buồn rười rượi, gã vác cái mặt nóng bừng ra lu nước...
            Rửa mặt xong, đốt một điếu thuốc rồi, Vịnh cảm thấy mình hoàn toàn bình tỉnh lại. Gã ngồi trên ván ngắm ra ngoài sân nắng, qua làn khói thuốc rồi lại vơ vẩn nhớ đến giấc mơ quái gở ban đêm. Gã cố nhớ lại nét mặt người con gái trong mơ. Không phải lạ, quen lắm... Gã cố moi dĩ vảng trong trí để tìm... Chỉ vài phút sau, gã đã nhớ đến và thét lên như điên: 
            -           Trời! Cô Thanh! Cô Thanh! 
            Mắt gã lại trợn trừng lên. Tay gã chới với trên không như tìm một vật gì để tựa. Gã lắc lư cái đầu như người nhập đồng. Rồi gã đưa hai tay lên ôm lấy đầu, té ngửa ra, lăn từ trên ván xuống đất, kêu lên thất thanh: 
            -           Cô Thanh! Tôi đã giết oan cô đấy!
            -           Cô Thanh! Cô hãy tha mạng cho tôi. 
            Gã kêu rống như con heo bị thọc huyết, rồi lại rên khừ khừ. Mấy đứa trẻ chơi gần đây thấy lạ, xúm lại xem, rồi thấy thái độ gã, nhứt là cặp mắt long lên sòng sọc, chúng sợ hải rủ nhau chạy và la lên: 
            -           Hắn điên rồi!
            Vài phút sau, hàng xóm kéo đến, vài người đàn ông đỡ hắn dậy trong khi mấy người đàn bà bỉu môi nhìn gã lạnh lùng: 
            -           Lại tiền oan nghiệp chướng đây chứ gì! 
            -           Làm ác đức cho lắm vào để rồi nên cơ đận này! 
            Người ta dìu gã vào nhà, phun vào mặt gã một vài cụm nước lạnh rồi rước một ông thầy pháp lại vẻ bùa phép lằng nhằng trên cái mặt tái xanh của gã. Không biết có hiệu nghiệm gì đó cái lối chữa kỳ khôi ấy chăng, nhưng nữa giờ sau gã cũng tỉnh lại và thấy đói bụng. 
            Nhưng từ ấy, vài ngày gã lại nổi một cơn điên. Gã cứ trợn mắt lên, xoay tròn thân như cái cối xoáy, rồi ngã lăn đùng ra giơ chân tay lên trời như con heo bị trói và kêu lên thất thanh như bị tra tấn: 
            -           Tôi lạy cô! Cô tha tội cho tôi! 
            Phần nhiều gã nổi cơn vào lúc trời nóng bức. Người ta biết vậy nên hể nghe gã la, thì xúm lại quăng tòm gã xuống rạch là gã tỉnh lại ngay! 
            Lúc đã tỉnh táo và ăn uống no bụng rồi gã mời mọi người lại, kể một câu chuyện... Nét mặt gã lúc ấy đau đớn và thê thảm lắm! Đầy một vẻ hối hận. Giọng gã đều đều và bi thiết như kẻ đọc bài kinh sám hối. Gã kể đi kể lại thế này:
            -           Hồi ấy tôi làm tá điền cho bà Hội đồng Xương. Bà thương tôi lắm. Ông Hội đồng chết rồi để lại cho bà một cô con gái mỹ miều, cô Thanh, với một gia sản lớn lao. Tôi được bà tin cậy và cất nhắc lên làm cập rằng coi lẫm lúa. Thế rồi đến lúc lộn xộn. Có một bữa, Tây đến chiếm mất vùng tôi ở và đóng binh ngay ở nhà bà Hội đồng, làm cho bà và cô Thanh tản cư. Tôi cũng đi theo gần đấy. Rồi không biết ma xui quỷ giục làm sao, tôi lại giết bà với cô Thanh. À, à, không phải tôi làm, mấy thằng khốn nạn nó xúi biểu tôi, bảo tôi rằng bà Hội đồng có tiền của, nên giết đi mà có lợi... Tôi hăng quá, đang đêm lẻn đến chém bà một dao, cô Thanh một dao, chết ngay lập tức... 
            Nói đến đây, Vịnh rơm rơm nước mắt rồi hốt nhiên hét lên rầm rầm, ôm đầu chạy huyên thiên. Gã đã nổi cơn điên.
            Mùa hạ năm nay nóng bực quá. Hoa phượng rầu rĩ rơi từng cánh xuống đất, đỏ như màu máu tươi và héo xấu đi rất mau. Ve sầu kêu ra rả bốn phía mà than thở cho nổi thống khổ của con người giữa cảnh loạn ly.   
            Vịnh càng điên dữ. Gã hết hát lại khóc, rồi cười, rồi la! Trong đầu gã lúc tỉnh, luôn luôn có hình bóng người con gái buồn thảm hiện đến ám ảnh. 
            Lúc điên, gã dữ như một con thú, đập ngực, đập đầu, dẫy dụa và đòi đâm người này, chém người kia...
            Nhưng một buổi chiều kia, giữa đám trẻ con đang xem gã làm cái trò điên, một ông thầy chùa rẻ bước tìm đến xoa đầu gã. Gã cười. Ông nói vài câu với gã rồi rủ gã đi. Gã ngoan ngoãn theo như một đệ tử trung thành... 
            Từ ấy, vùng này yên. 
            Người ta không còn thấy gã điên lang thang đầu làng cuối xóm nữa... Vài người biết truyện kể rằng ngày nay gã đã thành một người tu hành đón nguồn ma ha của đức Phật từ bi mà sám hối tội lổi. 
            Trong những hồi chuông chùa từ bi như lời nói của Phật, gã điên ấy cố tìm lấy một lẽ sống lương thiện để làm một cuộc đời mới trên đường mầu nhiệm bác ái về nẻo từ bi. Cuối đời gã tu ấy gởi vào chân Phật để lấy câu kinh tiếng mỏ rửa bớt những vết máu động trong tâm hồn một kẻ sát nhơn...
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Một chuyện
Tình hoang đường
- Viết cho cháu Sơn – Châu
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ngày ấy đã xa rồi. Những câu chuyện bi thiết này không chết trong quan tài dĩ vãng. Nó vẫn sống trong lòng người, trong lòng đời, trong lòng anh, trong lòng tôi, và trong lòng mọi người đa cảm, tựa hồ rể cây một gốc cổ thụ đã ăn sâu vào lòng đất để sống một cuộc đời bất diệt trong ấy... Mặc dầu câu chuyện ấy có vẻ hoang đường! 
Anh Sơn ơi!
Đêm nay, trong lúc ngọn gió bấc đầu mùa đến khua lộc cộc trên cánh cửa phòng tôi – căn phòng nho nhỏ của một gác trọ trên một giòng sông buồn rười rượi suốt tháng quanh năm – tôi lại chua xót mơ tưởng rằng đấy là bàn tay anh quờ quạng trên then cửa tìm về với tôi, trong hơi thở đầu tiên của gió đông...
Lòng tôi thao thức. Và giữa lúc thiên hạ đang yên ngủ, tôi tung chân ngồi dậy ra mở toan cánh cửa phòng... để đón anh! 
Anh có vào với tôi hay không? Nào ai biết! 
Ngọn đèn dầu lửa héo hắt rung lên. Tôi hy vọng được gặp linh hồn anh trên cơn gió ấy... 
Hồn tôi tìm về dĩ vãng, buồn mang mang. 
Nếu sự thần giáo cách cảm có thể dùng làm con đường bưu điện giao thiệp cho người dương thế với cỏi âm ty, thì chắc chắn trong giờ phút này, có linh hồn anh bên cạnh tôi...
Hai chúng ta đã chung một ngọn đèn – vẫn ngọn đèn hoa kỳ thắp bằng dầu lửa, khập khiễng như một anh thương binh đã giải ngũ – và trên bàn viết này, mấy bài thơ của anh, của tôi vẫn nằm chung với nhau cùng kê đầu trên trang giấy của một cuốn sách đã bao lần ở trong lòng bàn tay chúng ta... 
Anh Sơn! Anh về đấy à! Chắc anh đau lòng lắm nhỉ! 
Mối sầu đem xuống tuyền đài chưa tan! Anh đã bạc mệnh giữa tuổi xanh phơi phới, và trong lúc cánh cửa hạnh phúc vừa mở ra đón anh. Chao ơi! Não nề thật! Song anh hãy an lòng đi! Trong một thôn nhỏ bé bên cạnh con sông có giòng nước phù sa đỏ lòm, ở hướng mặt trời mọc kia, con của anh, thằng Châu, đã lớn rồi. Nó vẫn mạnh khoẻ và chị ấy, vợ anh, người vợ yêu quý của anh, người vợ trẻ đẹp của anh, vẫn sống nề nếp trong gia đình bên họ ngoại...
Anh hãy an lòng đi. Chị Sơn là người chung tình, chị vẫn chung tình với anh... Mắt chị quầng đen vì bao nhiêu đêm tuôn lệ ướt gối chăn, để tưởng nhớ đến mối tình thắm thiết của anh chị, bị gẫy đổ trong cơn gió loạn... 
Và đây là một bằng cớ chung tình của chị... Nét sầu hiện trên mặt người quả phụ đau khổ ấy, làm cho tôi tin rằng cái đức thờ chồng nuôi con của chị sẽ được lâu dài... 
Tôi nghĩ miên man như vậy ô hay, lạ thật!
Nhưng Sơn à, tôi hiểu anh nhiều hơn ai. Lòng tôi với lòng anh đã cảm thông nhau đến tận độ trong những ngày mà hai kẻ đầu xanh sống chung với nhau như một đôi nhân tình... Tôi hiểu anh. Anh có tấm lòng của một nghệ sĩ. Anh đã yêu cái gì là tha thiết với nó lắm, tha thiết đến có thể chết được, vì nó... Và anh cũng đã tha thiết yêu vợ anh trong một mối tình ngẫu nhiên, giữa thời loạn... Khối tình ấy, dù nó không kết thành một trái tim bằng đá đỏ như trái tim chàng Trương Chi kia, nhưng tôi chắc nó cũng theo hồn anh xuống cõi hoàng tuyền, không bao giờ tan... 
Tôi hiểu lòng anh. Vì tôi còn nhớ một câu chuyện tình mà anh đã kể cho tôi nghe nhiều lần...
*
*   *
            ...« Chàng là một nghệ sĩ. Nét bút tài tình của chàng đã vẽ cho thiên hạ bao nhiêu bức tranh tuyệt mỹ. Gót chân hồ hải của chàng đã đi khắp bốn phương... Chỗ nào có cảnh đẹp, là tự nhiên người thấy chàng nghệ sĩ đẹp trai ấy xách va ly đến... Với một cái giá vẽ một tấm vải, vài hộp sơn, dăm cây bút lông, chàng hồn nhiên ca hát với chim, với gió, với vạn vật để chụp lại trên mặt vải một cảnh hoàng hôn em ả, một phút bình minh lộng lẫy, hay là một cơn phong ba bão tố! 
            Đời, đối với chàng, thật là đẹp như mộng. 
            Nó lại càng lộng lẫy huy hoàng hơn khi chàng gặp một thiếu nữ có sắc đẹp kiều diễm... Nàng đẹp thật. Bao nhiêu đóa hoa đứng bên cạnh cái sắc đẹp diễm lệ của nàng, đều phải lu mờ đi như những chòm sao bên cạnh mặt trăng sáng rõ...
            Tiếng dương cầm thảnh thót sau một rặng liễu tơ xanh mướt, đã cuốn hút cả tâm hồn chàng nghệ sĩ... Sức tưởng tượng được tiếng đờn khích động, chảy ra dồi dào và phì nhiêu trên ngọn bút lông của chàng, tựa hồ một chiến sĩ lâm trận nghe trống chiêng dậy lồng lộng trong nhịp ca chiến thắng huy hoàng... 
            Chàng say mê, vẽ, vẽ như điên cuồng... 
            Nét bút thoăn thoắt trên mặt vải, mắt chàng sáng rực lên... Và chỉ trong nữa giờ, khi tiếng dương cầm lảnh lót ngân cái dư âm cuối cùng của một bản đàn cổ điển êm và chậm kia, thì trên mặt vải, một người con gái đẹp như tiên nữ đã hiện ra!
Đằng sau dáng liễu thướt tha có những đường tơ mềm mại theo nhau chảy xuống mặt hồ thu êm lặng, người thiếu nữ mà sức tưởng tượng dòi dạo của chàng trong nữa giờ khích động đã vẽ nên, ôi! Thật là một trang tuyệt thế giai nhân... Một sắc đẹp khuynh thành lồng trong một khung cảnh nên thơ, có năng lực màu nhiệm làm sống lại cả cái bản đờn thanh tao vừa từ trong ngần lá liễu bay ra... Cứ nhìn vào sự linh động rung rinh của đường tơ liễu và cứ ngắm người thiếu nữ huyền ảo trong tranh, nghệ sĩ có cảm tưởng nghe thấy phảng phất trên mặt hồ nước gợn lăn tăn, làn sóng êm mơ của bản nhạc thần tiên vừa dứt!
Giữa phút say mê diệu kỳ này, chàng nghệ sĩ bỗng giật mình. Có tiếng nói ở sau lưng mình: 
-          Ồ! Thần tình quá! 
Tiếng nói êm như tiếng sáo chiều hôm, chàng nghe quen thuộc lạ... Và như đã có điện tín của âm dương báo trước rồi. Chàng có cảm giác chớp nhoáng rằng người đẹp trang bản đờn đang đứng phía sau mình và thốt lên lời khen ngợi ấy...
Quả thật là Nàng... 
Chàng quay lại kính cẩn: 
-          Kính chào Nàng!
Bức vẽ bằng tưởng tượng ấy, quái lạ thay, lai giống in Nàng, Nàng bằng xương bằng thịt đang đứng trước mặt chàng, bên hồ thu, tơ liễu rung...
Nhưng chàng không ngạc nhiên, vì lẽ chàng còn đang ở trong một cơn mơ thoát trần... Người kinh ngạc đầu tiên, chính là Nàng. 
-          Ông làm thế nào mà vẽ giống em quá, thưa ông? 
Chàng cũng chẳng biết trả lời ra sao, im lặng như một người không biết nói... Hai con mắt chàng như đôi con thuyền đang bị đánh đắm trong biển mơ, hai con mắt tha thiết quá! 
Mắt nàng thì thật là tuyệt trần! Nó đẹp một cách mơ màng huyền diệu, phản chiếu cả một hồ thu trước mặt mà tơ liễu tựa hồ những lông mi đen biếc nên thơ mọc trên bờ đôi mắt trong sáng của Nàng...
Như Lưu Nguyễn đã một lần lạc đến động Thiên Thai, Chàng nghệ sĩ đê mê đến tuyệt đỉnh, khi trên đôi môi thẳm yên chi của người đẹp nở lên một nụ cười lộng lẫy... Và khi mà bàn tay búp măng trắng như ngọc ngà của nàng đưa lên vuốt những sợi tóc mây lòa xòa trên vừng trán thanh tân kia thì chàng đã say, say túy lúy như một lưu linh đã uống cạn năm bảy hủ Hoàng hoa tửu rồi! 
Ôi! đôi bàn tay ngọc đẹp diệu kỳ! Chỉ đẹp đến thế là cùng! 
Cuộc gặp gỡ bằng tưởng tượng của tâm hồn Chàng với tiếng dương cầm sau rặng liễu giờ đây đã biến thành sự thật hiển nhiên! 
Thật là một giấc mơ diệm ảo, tưởng chừng giấc Nam Kha của cố nhân cũng chẳng đẹp bằng...
Nó lại còn thần tình hơn như người đời vẫn nói «như gấm thêu hoa». Vì cuộc gặp gỡ này đã se thành mối giây kết chặt hai tâm hồn Chàng và Nàng với nhau. 
Đôi trai tài gái sắc ấy đã thành duyên tơ tóc, một mối duyên đẹp hơn tất cả những cái gì yêu kiều mà bao nhiêu thi nhân nghệ sĩ đã ca tụng xưa nay. 
Nhưng nếu cứ như thói thường, cuộc tình duyên tình cờ ấy được kéo dài đến «răng long đầu bạc» thì làm gì lại có câu chuyện éo le đoạn trường này... 
Xưa nay hồng nhan hay bạc mệnh và cái gì đã bắt đầu bằng một sự tình cờ, tất nhiên cũng sẽ có một kết quả bất thường éo le. 
Cuộc tình duyên đầm thắm như bức vẽ, êm ái như giấc mơ ấy, tiếc thay, vừa hết mùa Xuân là cũng tàn tà cái ngày trăng mật đang mặn mà!
Mùa đông qua rồi mùa Xuân tới, tình của Chàng và Nàng vẫn đẹp như thơ! 
Nhưng khi mà đàn én trắng chuẩn bị chắp cánh bay về với Biển Đồng xa rộng, khi mà nắng đã bắt đầu gay gắt và hoa phượng bắt đầu nở đỏ cả một góc trời, thì một tai nạn đột nhiên bay đến trong đời tình ái của đôi vợ chồng son trẻ này! 
Ôi! Tai ác! Thật là ghê gớm như một tiếng sét lở lên hốt nhiên trong lúc trời đang thanh lặng!
Một tai nạn đến, chàng qua đời giữa cái tuổi xanh 25, còn phơi phới màu hy vọng và rào rạt nguồn hạnh phúc. 
Thế là Nàng thành một góa phụ, cũng giữa tuổi xanh hơ hớ, với một sắc đẹp còn khả dĩ làm nghiêng ngửa lắm cơ đồ... 
Người chung quanh cũng mũi lòng ái ngại cho sự đau khổ của Nàng góa phụ trẻ trung ấy! Và mỗi khi nàng than kể đến cái chết của chàng là có nhiều người phải rơi sa những hàng lệ thật tình! Nàng còn nhớ : 
-          Anh ấy gần chết mà vẫn không nhắm được mắt lại. Nước mắt cứ tràn ra trên hai gò mà xanh xao của anh! Cổ anh nghẹn ngào nói mà không thành tiếng, anh muốn nói với tôi những lời yêu đương cuối cùng với câu từ biệt... Nhưng không nên lời... Tôi còn như bị thôi miên vì ánh sáng cuối cùng của cặp mắt ứa lệ khi anh nhìn tôi đến phút tắt hơi!
Anh đã nấc lên, nấc lên không ngừng khi hai bàn tay đã lạnh giá và cứng đơ. Anh thương tôi lắm, và không thể nhắm mắt lúc vĩnh biệt tôi...» 
Nàng đau khổ vô cùng, ủ rũ như rặng liễu trưa mùa hạ. 
Người ta tưởng chừng mối sầu trong lòng nàng không bao giờ nguôi được, và như thế thì linh hồn chàng ở cõi chết cũng còn được an ủi... Song, người ta phải một phen rất ngạc nhiên khi, một năm sau, thấy nàng son phấn lại là ôm cầm bước sang thuyền khác!
Nàng không sầu nữa, và vui hớn hở, áo mới lê thê, tóc dài xanh mướt, lại về nhà chồng trong một buổi sáng mùa Xuân, lòng hân hoan như cô gái trinh tiết mới lấy chồng, và hồn nhiên như trong đời mình chưa có bóng một gã đàn ông nào đi qua, chớ đừng nói một cái khăn tang hay một nấm mồ! 
Nàng là một sắc đẹp. Cô con cháu đích tôn của thần Vệ nữ ấy đã quyến rũ bao nhiêu ong bướm. Một con bướm hạnh phúc và may mắn nhứt được nàng mở rộng rèm hoa cho lọt vào trong một buổi đầu Xuân có hoa thủy tiên thơm ngát, có pháo đỏ ngập sân, và rặng liễu bên vệ hồ reo một khúc nhạc Xuân thanh nhã đón chiếc oanh vàng từ trên trời cao rộng theo đàn én trắng từ biển Đông bay về!
Lòng nàng lại hơn một lần tràn hạnh phúc. 
Và khúc dương cầm cổ điển êm và chậm năm xưa, bây giờ lại thanh thót reo lên dưới 10 ngón tay búp măng ngọc ngà có đầu móng đỏ như máu ấy! 
            Mây gió bay phơi phới! 
            Muôn lá hoa phơi phới! 
            Tình xuân phơi phới! 
            Lòng nàng cũng phơi phới!
Khúc dương cầm vừa dứt, dư âm còn văng vẳng chạy quanh bốn bức tường vừa mới sơn lại bằng cái màu xanh nhạt mơ màng, bỗng nhiên Nàng cảm thấy lòng mình ngậm ngùi... 
Khúc đàn năm xưa! 
Ôi! Khúc đàn năm xưa đã khích động một chàng nghệ sĩ để tưởng tượng vẽ ra một bức tranh tố nữ ngàn vàng! Và bức tranh lịch sử ấy đã đóng vai Ông Tơ Bà Nguyệt mà se mối giây đỏ từ lòng nàng qua lòng người nghệ sĩ... 
Bức tranh thần giao cách cảm ấy vẫn còn kia. Những nét vẽ linh động hình như còn có bàn tay run rẩy của nghệ sĩ vờn trên mặt vải! Rặng liễu buông tơ xuống mặt hồ gợn sóng lăn tăn, là cả một kỷ niệm bất tử của tác phẩm tuyệt trần này! 
Mắt nàng mọng lên, rưng rưng đỏ. Lặng lẽ, hai giọt nước mắt trong như kim cương từ từ rơi ra!
Đau buồn, Nàng gục xuống cây dương cầm. Vài phím đờn bị động thốt ra những chữ «ré, mi» giọng thượng bỗng khô khan, the thé, và đứt đoạn như tiếng kêu thét lên của một con vật bị thương! 
 Lịm đi trong một phút của dĩ vãng, Nàng lắng nghe lòng mình nói lên một nhạc điệu ai oán vô cùng! 
Thời Xuân ấy, thời xuân mà tấm lòng trinh tiết của một nàng con gái mở cánh cửa đầu tiên để đón ánh sáng hạnh phúc, ôi! Giờ đây đã qua rồi!
Cái cảnh tục huyền này như giây đàn đã đứt được nối lại, chưa chắc đã thắng nổi những giây phút chạnh lòng thảm thiết như hôm nay! 
Thế nhưng, nỗi buồn dầu có tha thiết đến thế nào, cũng chỉ là dĩ vãng... Và lòng người con gái ấy, khi đã say theo tiếng gọi yêu kiều của một cuộc đời hạnh phúc mới, có buồn cũng không hơn nỗi buồn của một thi nhân trong một con mưa gió! 
Khi nỗi buồn ấy đã theo trào tư tưởng, từ ngòi bút chạy ra trên mặt giấy thành ít vần thơ rồi, thì nó cũng đã tan biến theo một ngọn gió mau mắn nhứt thổi qua! 
Nàng cũng thế, có tâm hồn dễ xúc động vì buồn thì nó cũng rất dễ khích động vì cái vui. Cái tâm hồn dễ cảm của người con gái đẹp mà đa tình ấy không có bề sâu mà chỉ thoang thoảng như đợt mây trắng bay phớt ngang ánh sáng chiều rồi tan vào hư vô mà thôi...
Khi có một loạt pháo tết vang lên đì đùng ở ngoài ngỏ, và có tiếng nô cười của đoàn trai thanh gái lịch dập dìu trước hiên tây, thì hình như nỗi buồn quá khứ ấy đã chắp cánh và sắp bay đi một chỗ không biên giới nào rồi! 
Kìa, người chồng mới của Nàng đã vào, trên hai tay, khệ nệ những món quà Xuân để đẹp lòng tố nữ! 
-          Anh đã vào đấy ư! 
-          Ô kìa! Sao em tôi lại có nước mắt trên má đào?
Chàng âu yếm hỏi nàng và dìu nàng lấy chiếc khăn thơm tho nhứt, nhè nhẹ lau hai hạt kim cương còn đọng trên gò má phơn phớt phấn hồng của nàng! 
Cảm động, nàng nắm lấy tay người chồng mới, trái tim rung lên từng nhịp hấp tấp! 
            Rồi câu âu yếm, câu âu yếm
            Tình lên men ngát giữa trời Xuân!
-          Em cho anh nghe một bản đàn Xuân? 
Tới giây phút này, thì Nàng đã quên cả cái kỷ niệm đau thương có thể gợi lên trong tiếng dương cầm rồi! Và nở một nụ cười cho thật xứng đáng là con cháu thần SẮC ĐẸP, Nàng dắt tay chàng lại gần cây đàn, kéo một chiếc ghế cẩm thạch đến sát ghế đờn, mời:
-          Anh ngồi đây và muốn em đờn bản nào? 
-          Một bản đàn Xuân để chúc tụng cho mối tình đôi ta xuân trẻ mãi! 
Ngoan ngoãn, mười ngón tay ngọc ngà trắng muốt – ôi! Bàn tay mỹ miều – lần đi nhẹ nhàng trên phím đờn. 
Cây đờn vô tri vô giác đã một lần xây nên một mối tình duyên bằng cái giọng bổng trầm thảnh thót, giờ đây lại ca hát một bản yêu đương khác thoảng màu ân ái êm đềm!
Nó có biết đâu rằng trong «vụ ái tình» của đời người con gái này, chính nó đã đồng lõa gây ra nhiều uẩn khúc đoạn trường! 
Bản đàn Xuân vừa dứt, người chồng say mê đặt bàn tay mình lên trên mười ngón tay trắng trong ấy cảm động: 
-          Em đờn khích động quá! 
Bốn mắt nhìn nhau. Sóng yêu đương gợn lên long lanh và đằm thắm! 
Mười ngón tay siết chặt lấy nhau và hai đôi môi rạng nở nụ cười ân ái! 
Một bản nữa và một bản nữa... 
Hai lòng cùng say, say Xuân, say đờn, say khúc thượng hoàng!
Đón Xuân lên muôn điệu
Hai lòng chung một giây...
Có tiếng pháo nổ ngoài trời gió... 
Người đàn ông nói: 
-          Pháo lại nổ đấy em ạ! Chúng ta ra ngoài đi!
Nàng mơ màng nhìn ra : 
-          Ô kìa! Hoàng hôn rồi, để em thắp đèn lên và mời anh ra phòng khách ăn bánh Tết của em!
Hai cái vai sát vào nhau. Bốn bàn chân son nhip trên mặt gạch bông đỏ ối sắc hoa xuân, tha thướt, tha thướt đi ra khỏi phòng... 
Vừa lúc ấy, cây dương cầm bỗng nhiên reo lên thành tiếng! 
Ô hay! Lạ lùng! 
Kinh ngạc, nàng quay lại. Tiếng đàn dứt! 
-          Anh có nghe tiếng đàn không? 
Người đàn ông có lẽ hãy còn say nên không nghe cái gì, vội vàng cười đáp: 
-          Em nghe lầm chăng, đâu có gì nào? 
Rồi họ ra ngoài phòng khách:
Cây dương cầm, trong bóng tối của căn phòng lại nổi lên những tiếng kêu!
Ngoài phòng khách, tiếng yêu đương bặt ngừng! 
Một sự im lặng nặng nề gieo trên bầu không khí. Ngoài xa tiếng pháo lẹt dẹt vẫn thưa thớt vọng về... 
Chầm chậm, êm êm, tiếng dương cầm ai oán nổi lên. Giọng bổng trầm thê thiết như sóng lòng của một người thất vọng, cảm động hội hộp tới thớ máu chót của con tim...   
Ấy là một bản đàn cổ điển, cái bản đàn oan nghiệt đã giăng sợi giây tình và gieo duyên nợ giữa Nàng với Chàng năm xưa.
Tiếng nhạc tỏa ra không gian, càng ngày càng thảm thê ai oán, tưởng chừng xưa nay chưa có lời than thở nào não nề cho đến thế! 
Nàng kinh ngạc, xoe tròn đôi mắt đẹp: 
-          Anh, anh, ai đàn trong ấy? 
Tiếng đàn bây giờ lại thêm vẻ ghê rợn làm cho hai người cảm thấy có một cái gì lành lạnh chạy dài cốt trong trung tâm của xương sống... 
Với người đờn ông kia thì tiếng đàn ấy không quen. Nhưng Nàng, Nàng đã nghe bản ấy nhiều lần, đã nghe tiếng đàn đó bao nhiêu phen và đã để cho con tim rộn rực niềm hạnh phúc bên cạnh Chàng, lúc sinh thời...
Bản đàn ấy, Chàng vẫn quen đàn cho Nàng nghe. Nhưng nó không thê lương thảm thiết như hôm nay...
Đàn khơi rĩ máu vết thương xưa... 
            Bâng khuâng tình cũ than ai oán... 
Người đàn ông đứng dậy, dìu Nàng đến đứng trước cửa phòng âm nhạc, nhìn vào bóng tối đen... Một cảnh tượng lạ lùng hiện ra trước sự kinh ngạc của hai người... 
-          Một người lạ!... 
Người đàn ông nói lẩm bẫm rất nhỏ.
Nàng kinh ngạc muốn rú thét lên, song còn đủ bình tĩnh để thắng lại. 
-          Trời ơi! Trời ơi! Anh ấy hiện hồn về... 
Trước cây dương cầm trong bóng tối chập choạng do ánh đèn của phòng khách rơi rớt vào, một người đàn ông chăm chú đàn. Đầu hơi nghiêng về phía sau, mắt ngó lên bức tường chỗ có treo bức tranh «Tố Nữ bên Ngàn Liễu». Chàng say đắm vờn hai bàn tay trên phím dương cầm. 
Bản đàn đã đến đoạn chót. Tiếng ngân dài nghe lại càng ai oán hơn. Dư âm ấy tượng trưng cho một nỗi lòng đau khổ lắm... 
Rồi Chàng chầm chậm và nặng nề đứng dậy, ngắm phía cây dương cầm bằng cặp mắt tha thiết... Run tay, Chàng rờ rẩm những phím đàn, thân hình cây đàn, rồi quỳ xuống, sờ soạng như một người say rượu đến mất trí không còn làm chủ được động tác của mình nữa... Nét mặt Chàng lúc ấy là hiện thân của Thần Đau Khổ. Nó tiết ra trên khóe mắt một nổi niềm bi thương không bờ bến...
Cứ thế, Chàng lập lại cái cữ chỉ ấy, làm như tha thiết luu luyến lắm đối với những đồ vật thân mến đã tạo nên những kỹ niệm và hạnh phúc của đời mình... 
Bước một bước, lại lùi một bước, Chàng tần ngần lưu luyến không muốn đi... Mắt chàng lại hướng về bức tranh Tố Nữ, một tác phẩm lịch sử của lòng Chàng. 
Tần ngần im lặng ngắm Nàng trong bức tranh, giây lâu chàng gục đầu xuống hai bàn tay. Hẳn chàng khóc, khóc cho sự tan vở của đời mình, và khóc cho cảnh tang thương biển ảo. 
Khi ngẩng đầu lên, nét mặt chàng có vẻ hằn học, sự hằn học của một người về viếng thăm chốn cũ thân yêu của mình mà phải thấy người bạn đời mà mình thương nhớ, đã qua tay kẻ khác. Chiếc ghế của mình ngồi, ngày nay một người đàn ông lạ đến xâm chiếm mất rồi. Và cái chỗ ngồi trang trọng nhứt trong trái tim của Nàng bây giờ cũng đã có kẻ khác đến lật đổ hình ảnh Chàng xuống mà soán đạt rồi! 
Có còn gì nữa! Cái bàn thờ nguội lạnh nhang khói kia, lại còn thêm vẻ mỉa mai châm biếm! 
Có lẽ những ý tưởng ấy đã làm cho Chàng hằn học và quay gót đi về phía cánh cửa sổ mở ra vườn bích đào đang trổ bông Xuân!!!
*
*    *
            Anh Sơn ơi, 
            Câu chuyện có vẻ hoang đường thật đấy. 
            Giữa thế hệ của khoa học này, ai mà tin được sự hiện hồn của cõi âm ty! 
            Nhưng chắc anh cũng nghĩ như tôi khi kể chuyện ấy cho tôi nghe, và thì cũng nghĩ như anh khi kể chuyện cho người khác nghe, rằng cái phần thực hay hư không cần thiết lắm. Ma có thể hiện hồn hay không, cũng chẳng quan hệ... 
            Ta cần tìm trong câu chuyện, cái ý nghĩa tượng trưng của nó! 
            Phải không anh! 
            Mà câu chuyện này là tượng trưng đầy đủ của sự thật... Một người chồng sẽ vô cùng đau khổ khi thấy vợ mình qua tay kẻ khác và hình ảnh mình bị xô xuống dưới chân cho kẻ khác bước lên!
            Não nề thay! 
            Người trên trần thế đau, thì kẻ ở âm ty cũng đau, nào ai tránh khỏi định luật ấy, khi con người có trái tim trong lồng ngực...
            Tôi hiểu anh nhiều, Sơn ạ! Anh tha thiết với cái gì mà anh yêu thích. Lúc sống thì thế, lúc chết cũng không thay đổi, chắc anh vẫn còn ôm ấp khối thương nhớ xuống cỏi tuyền đài! 
            Yên lòng nhé! Sơn ơi! Chị ấy vẫn xứng đáng cho anh tha thiết, và con anh, thằng Châu nó sẽ lớn lên để kế nghiệp cho anh trên con đường nhiệm vụ của người chiến sĩ quốc gia... 
            Cái cảnh của anh không phải chỉ có một. Nó là cảnh chung của thời loạn này trên đất nước chúng ta, và trên tất cả hoàn vũ...
            Hiện giờ, còn có bao nhiêu nàng quả phụ thương con xót chồng, ôm gối chiếc giữa đêm đông, nên lòng đau mà giữ mối tình trinh bạch với người đã khuất đi... 
            Nghĩ vậy, nên tôi viết câu chuyện này ra mặt giấy trong một đêm lạnh rạt rào như đêm nay, dù nó có vẻ hoang đường, phải không anh?
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Một cái chết vô nghĩa
 
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
            Anh ta bước xộc vào bếp, mắt ngước lên xà nhà. Mặt anh phờ phạc như là đã đánh mất đâu ba cục vía, một phần hồn cho ma xó rồi thì phải. Nhìn quanh quất một hồi, anh ta uể oải bước tới gở sợi giây buộc lòng thòng trên đầu gạt-măng-dê mà vợ anh thường dùng để treo bó hẹ hay mớ rau. 
            Mân mê một hồi anh ta cằn nhằn : 
            -           Nhỏ thế này thì làm khỉ gì được! 
            Rồi anh ta xụ mặt xuống, nặng như là có cục đá đeo thêm vào.
            Con mèo đói từ hồi chiều kêu lên meo meo như khiêu khích, lại càng làm cho anh ta cáu kỉnh thêm. Nó vẫn kêu mãi chớ! Cái tiếng meo meo nghe thật là dễ ghét. Anh vớ cây củi, hăm hở rượt theo. 
            Con mèo chạy nhanh hơn anh ta nhiều. Bất ngờ, anh vấp phải sợ giây mà vợ anh dùng để cột con heo đã trộng cảy. 
            -           Éc! Éc! Con heo la inh ỏi! 
            -           Ờ! Sao mà cái tiếng heo kêu lại êm tai đến thế! Nghĩ cũng lạ! 
            Anh gặp được sợi giây rồi! À, có thế chớ. Sợi giây này bảnh quá. Anh nghĩ thế rồi cứ thấy lòng rối beng lên như tơ vò chín đoạn.
            Vì anh sắp làm một đại sự đây. Thật vậy, anh ta tính treo cổ lên xà nhà chết phứt cho rảnh... 
            -           Ừ! chết phứt cho rảnh nợ trần gian. 
            Anh tự nhắc cho lòng anh như vậy, không biết là lần thứ mấy mươi. 
            Thật ra thì anh cũng biết rằng chết treo trên xà nhà, lủng la lủng lẳng, cái lưỡi thè lè, tứ chi xuông đuột, kể ra thì xấu xí quá. Nếu có tấm kiếng treo trước mặt, dễ thường anh cũng mắc cở chết đi! Nhưng không may cho anh ta là ở nhà bếp chỉ có bốn bức tường nám khói đen thui mà thôi! 
            Anh quả quyết, quăng sợi giây lên xà nhà rồi cột chặt nó vào đó. Anh say mê làm việc ấy, hình như đã quyết tính phen này đi về bên kia thế giới tìm thiên đàng xem sao!
            Rồi anh đánh một cái thòng lòng ở đầu mối giây thòng xuống : ở đây, anh đã định rồi, lát nữa sẽ chui đầu vào, rồi xô cái ghế dưới chân là xong hết, là vĩnh biệt cả cái đời khổ sở này, vĩnh biệt cả con chó con mèo, con heo và con vợ... 
            Gió bên ngoài xào xạc thổi qua ánh nắng. Lòng anh nóng thêm. Con heo được thả lỏng vẫn kêu eng éc. Anh thấy vui vui tai, có lẽ chỉ có nó chứng kiến cái phút long trọng này của đời anh. 
            Chiếc thòng lòng rỏ xuống bắt anh ta suy nghĩ. Coi nó giống như một cái dấu hỏi có vẻ kỳ quái. Dấu hồi ấy xen vào tâm trí đang lộn xộn của anh ta, như là gào lên mà hỏi : 
            -           Chết không? 
            -           Hay là không chết?
            Rồi nó nhảy múa trong đầu anh như một bản Rumba có đèn đỏ vậy. Tần ngần vài phút giữa không khí nặng nề ấy, anh ta lắng tai nghe chín tiếng đồng hồ thong thả gò trên nhà. 
            Vợ anh sắp về. Anh nghĩ vậy, rồi chặc lưỡi một cái mạnh, quả quyết nhảy lên ghế, chui đầu vào trong. 
            Con heo lại kêu như vui mừng thấy chủ làm trò xiệc. 
            Không biết có phải tại anh chưa tới số hay sao mà đã ba lần, cứ đạp cái ghế văng ra, là sợi giây đứt cái phịch, liệng anh lăn cù xuống đất, đau ê ẩm cả mình mẩy. 
            Anh giận quá. Tính chết phứt cho rồi mà còn rắc rối mãi. Hồi sáng tính đi mua một sợi giây luột đề về chết cho ngọt, mà sờ lại túi, chẳng còn xu nào! Rầu! 
            Bỗng có tiếng chú chệt mua heo rao eo éo ở ngoài cửa. Và con heo kêu eng éc nghe vui tai lạ! Thật là một bản hòa tấu hay quá, lạc vào tai anh.
            Mắt ánh sáng lên. Miệng anh nở một nụ cười tinh ma. Thế là anh ta chạy bay ra cửa kêu «Chệt! Chệt» như một thằng vô giáo dục vậy. 
            Một lát sau, chú lái heo dẩn con heo vốn liếng của vợ anh đi rồi, anh bỏ gấp vài trăm bạc vào túi, chạy vội vàng ra cửa như bị ma rượt. Đừng tưởng anh ta đi mua giây lượt về thắt cổ mà lầm! Anh ta lại đi sòng bài cào hay tài xỉu gì đấy!
*
*   *
            Tên anh ta là Bồ, thứ năm. Người ta thường gọi là Cậu Năm Bồ. Cậu Năm là con một đại điền chủ ở Rạch Giá. Sanh ra trong ngưỡng cửa trọc phú, cậu có tánh xài tiền ngay từ hồi nhỏ. Âu cũng là luật thừa trừ của Tạo hóa dùng cậu làm đối tượng cái tánh bỏn xẻng của ông Huyện Hàm Tòng, cha cậu. Lớn lên, cậu xài tiền như đổ nước. Học hành bơ biếng, cậu chẳng bằng ai. Nhưng về ngón ăn chơi thì ít người theo kịp cậu. 
            Góp lúa, bán lúa rồi ăn chơi, đó là lẽ sống của cậu từ khi được tự do sử dụng cái gia tài kếch xù của cha mẹ để lại. 
            Ngồi không, ăn xài, đến núi cũng phải lở. 
            Vừa đến năm loạn lạc nổi lên trên đất Việt thì cậu cũng gần thành thằng bạch đinh, chỉ còn sót lại một cái danh từ trống rỗng gần như mỉa mai: Cậu Năm.
            Lang bạt đi tản cư chạy chết được ít lâu cậu trở về thành vào hàng nhanh chân nhứt. 
            Trong thời hổn độn, vàng thau pha lộn, Cậu Nam Bồ nhờ vận may phất lên, giàu có được một độ. Giữa đám đồng bào nghèo rách vì thời cuộc, cậu Năm nổi bật lên với bộ cánh sang trọng và lối ăn xài huy hoắc. 
            Mèo mả, cờ bạc, hút xách, ba bốn vách tường cậu ngã vào tuốt. 
            Chẳng ai biết rằng cậu mấy vợ, cũng như không ai hiểu đêm nay cậu đánh giấc nơi nào. Đời cậu sống chỉ để mà ăn chơi trụy lạc, bất cứ ở thời đại nào. Nước mất hay còn, cậu không cần quan tâm làm gì! Sự mất còn của một dân tộc đối với cậu không quan trọng bằng sự hớt mớ tóc uốn quăn quăn trên đầu. 
            Nhưng đã bảo cậu là kẻ vô tài. Giữa đám gà cậu có thể làm con phượng, nhưng giữa đám phượng, cậu chỉ là con gà che. Người ta về thành đàn đống, cậu thấy mình sa sút về tiền bạc. Rồi lại cơn nghiền nặng hút nhiều, và thua bạc đậm đà. 
            Tiền bạc phù vân của cậu chẳng mấy chốc lại tiêu vào những trận cười suốt sáng, tiệc rượu năm canh, và mây khói phù dung, đồng tiền sấp ngửa. 
            Và bây giờ cậu nghèo, ở nhà ăn bám người vợ sau cùng, mới theo về với cậu cách đây gần một tháng. 
            Hôm qua, bán một bộ quần áo tuýt so cuối cùng được trăm bạc, cậu tính vào tài xỉu thử vận lần nữa xem nó có lên không. 
            -           Bất quá thua thì thôi, còn ăn thì lại tha hồ hút tràn mây gió. Cậu tự bảo cậu, hay lừa dối cậu như vậy. 
            Con số đỏ đã bay đi mất hút trong đời cậu rồi. Bộ đồ cuối cùng ấy lại tiêu ma vào dăm tiếng hối a oan nghiệt.
            Cậu thơ thẩn về nhà, chán đời nhứt trong những kẻ chán đời. Vợ cậu đi từ sáng sớm, nhà trống trải, lạnh quá. 
            Đời cậu giờ này mới thấm thía buồn. Tiền hết, quần áo hết, nhà trống lổng, đời thật chỉ có một màu đen với cậu. 
            -           Hừ, còn sống làm gì nữa. Cậu lấy hết can đảm mà tự bảo thế. 
            Mà không chết cũng không xong. Nợ nần như chúa chổm, biết trốn vào lỗ nào kín hơn dưới nắp quan tài. 
            Thế là cậu tính chuyện thắt họng.
*
*   *
            Mợ năm về nhà thấy mất con heo, chửi bới om sòm. Rồi không biết làm gì, bỏ cả cơm nước chẳng thèm nấu, mợ đi đánh bài. 
            Và chiều ấy, cậu Năm, sau khi đã đốt cả con heo của vợ vào Tài Xỉu, bén mảng về nhà như con chó cụt đuôi. Cậu ngó trước ngó sau, lấm lét như tên ăn trộm rồi lại bỏ đi, lòng buồn như một bến sông lạnh, cuối mùa thu vắng khách... 
            Đêm ấy giữa lúc mợ Năm đang vui với 20 cây bài tứ sắc bên hàng xóm, bỗng có tiếng súng nổ và tiếng chó sủa. 
            Mợ cũng chẳng quan tâm làm gi, cứ ung dung đánh bài. Thời buổi loạn ly này, ai hơi đâu mà lo chuyện súng nổ. 
            Đêm trôi qua nặng nề, trăng suông mờ lạnh thê lương như màu thế gian tang tóc.
            Sáng hôm sau, khi mợ Năm về tới nhà, thấy xác cậu Năm nằm gục trên vũng máu trước hàng ba, viên đạn xuyên ngang ngực. Mợ rú sợ hãi, hô hoán lên. Một vài người hàng xóm vác bộ mặt lãnh đạm và sợ sệt chạy lại. 
            Tay cậu Năm còn cầm một chiếc chìa khóa mới tinh giống in chìa khóa tủ của mợ Năm. Cũng là người thông minh, mợ hiểu ngay. Và tự nhiên thấy nổi giận, mợ tru tréo lên xỉa xói vào xác chết : 
            -           Trời ơi, lại tính về mở tủ của tôi! 
            Thì ra đêm ấy, cậu Năm biết vợ cậu vắng, tính lẽn về đánh cắp ít tiền đi gở gạc bài cào mặc dầu lúc ấy đã giới nghiêm... 
            Sự liều lĩnh đó đã đánh giá đời của cậu công tử ăn chơi trụy lạc ấy...
*
*   *
            Mười bữa sau, mợ Năm trút bỏ khăn tang vào một xó tủ, trang điểm má hồng môi son, để lại bước sang thuyền khác. 
            Cái chết của cậu Năm không làm cho ai để ý, mà cũng vô nghĩa đối với mợ. 
 
(KIỂM DUYỆT BỎ MỘT ĐOẠN)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tâm sự người đao phủ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
            Chưa có bao giờ Lão Sát buồn như hôm nay. Lừ đừ như một nhà thơ say, Lão Sát liệng thanh gươm còn dính máu xuống đất, và lè nhè bảo: 
            -           Lấy tao miếng dẻ lau đây, Hai! 
            Thanh gươm ấy là cả một nghề nghiệp sinh nhai của gia đình lão, lão cưng nó lắm. Ấy thế mà bữa nay lão đã phải quăng nó xuống mặt đất như liệng một cái vỏ chuối vô dụng, thì đủ biết nổi bực rọc trong người lão thế nào! 
            Đôi con mắt lão đỏ ngầu, lừ đừ và chầm chậm nhìn ngang từ trái qua mặt, con mắt đỏ vì say máu và say rượu của người đao phủ ấy hôm nay rơm rớm ướt và như chứa một nổi buồn bực sâu xa lắm... Với cái giọng cáu kỉnh, lão lại gọi con:
            -           Hai, bảo đem miếng dẻ lau mà lâu thế? 
            Thằng con lão vừa được tám tuổi, cầm một cái áo rách chạy ra: 
            -           Không có dẻ lau, cha ạ! 
            -           Thế cái gì đấy? 
            -           Cái áo của cha đem về kỳ trước... 
-          À! À! Cái áo của thằng tướng cướp cửa Đông chết chém kỳ đầu tháng... 
Lão đưa tay giật mạnh cái áo ấy và nhặt thanh gươm lên... Thanh gươm sáng quắc và nhọn hoắt ngời cái ánh bạc long lánh và tiết ra một luồng âm khí lạnh ghê gớm... Một vết máu dài màu đỏ thẫm còn động trên lưỡi gươm coi đến ghê... Lão Sát trợn mắt lên, thở dài, và từ từ cầm chiếc áo rách mà lão đã lấy của tên tử tù bị chém kỳ trước để lau vệt máu của người tử tù chém kỳ này, còn động trên thanh gươm sát nhân ấy...
Lão Sát, con người chém đầu quen tay như thợ thịt ấy, con người xưa nay chỉ biết uống rượu, múa võ, hét lớn và chém những cái cổ, ngọt như chém chuối, rồi lại uống rượu, rồi lại chém, con người đao phủ ghê gớm được các quan Tàu tin cậy và yêu chuộng ấy, bỗng nhiên hôm nay lại đâm ra buồn bực lạ lùng! 
            Lão Sát thở dài, bỏ thanh kiếm còn đang lau dở xuống chân mình, và nhớ lại cái cảnh pháp trường hồi nãy... 
            Bữa nay, lão đã chém ba cái cổ. Ba khuôn mặt sao mà đanh thép và khôi ngô đến thế. Ba con người sao mà can đảm lạ lùng. Trước lưỡi gươm hươi sáng loáng và đường gươm múa như vũ bão của lão, ba cái miệng gần chết ấy vẫn cười lên ha hả... và lại còn nguyền rủa xâm lăng...
            -           Hởi đao phủ! Người một kẻ mù quáng hiến mình làm tay sai của quân Tàu tàn bạo! Người không thấy hổ thẹn sao... Chúng ta chết vì Tổ Quốc, không tiếc gì thân mình, sống rất đau lòng mà phải rơi đầu dưới đường gươm của một người đồng bào! Hởi đao phủ, hãy để cho một quân Tàu chém chúng ta! Hãy trả sự tàn bạo lại cho quân xâm lăng tàn bạo... Hãy bỏ cái nghề chém mướn ấy đi... 
            Lão Sát nhớ lại những lời đanh thép của ba quốc sĩ bị chém hôm nay, mà cảm thấy đau lòng vô cùng... Càng nghĩ càng thấm thía, lão bưng mặt khóc hu hu và tức tưởi như một đứa trẻ con... 
            Cái nghề chém mướn của lão hôm nay đã thành một cực hình đay nghiến tâm hồn lão...
            Pháp trường hôm nay có vẻ nghiêm trọng khác thường. Quân Tàu chia nhau từng tốp gác bốn phía làm thành một cái lưới mà không có chuyện gì lọt qua được... Trên đài cao, bọn quan Tàu nghí ngố chỉ trỏ xuống dưới sàn, mà tại những cây nọc, bốn người tử tù đã bị trói sẵn tại đấy... 
            Trời âm u, gió lành lạnh như sắp mưa. Mặc dầu mới sáng, mà nắng lên một màu vàng như màu mặt trời sắp chết. Không khí nặng nề bao trùm trên cảnh vật... 
            Những cái mặt phì nộn của bọn quan Tàu có vẻ vui sướng bao nhiêu thì cái mặt Lão Sát bữa nay buồn bực bấy nhiêu... 
            Bữa nay, Lão Sát biết trước, sẽ phải chém bốn người tù quốc sự, bốn người quan trọng của đảng bí mật xưa nay vẫn âm thầm chống lại quan quân Tàu...
            Lão liếc nhìn quanh pháp trường, và sự đau khổ hiện ra rõ rệt trên nét mặt choắt cheo của lão... Lê cây gươm một cách nặng nề, lão tiến đến trước bọn quan Tàu, chờ mạng lịnh... 
            -           Bữa nay, bốn tên trọng phạm, mi hãy chém cho ngọt gươm! 
            Trái với mọi lần, cứ chém như cái máy, lần này Lão Sát hỏi lại: 
            -           Bốn tên ấy tội gì, thưa thượng quan? 
            Bốn quan Tàu nhìn nhau, rồi một tên vui tính cười to lên: 
            -           Lão này bữa nay lại hỏi kỳ quặc vậy? Bốn tên phản động thì cứ chém, mà còn lôi thôi gì nữa... Hay lại muốn uống rượu đây? 
            Như chợt nhớ đến điều gì, Lão Sát nói to:
            -           Rượu! Rượu! Chính thị! Xin cho tôi một hủ nữa, để chém cho ngon! A hà! Rượu! Rượu! 
            Mặc dầu từ sáng sớm đến giờ, lão đao phủ đã uống khá nhiều rượu, và đã say chếnh choáng ngã nghiêng, nhưng nghe nói đến rượu, lão vẫn thấy thèm khát lắm... 
            Lão tính lấy rượu để quên nổi bực rọc ám ảnh trong trí từ lần chém đầu ba người quốc sĩ kỳ trước... 
            -           Rượu! Rượu! Cho tôi rượu đi! 
            Lão cầm hủ rượu tu một hơi dài, liệng phịch cái bình rỗng xuống đất... Chiếc bình vỡ tan tành, lão cười lên sặc sụa và vụt! Lão tung gươm lên như một nhà mãi vỏ chuyên nghiệp giữa đám khán giả hiếu kỳ và sôi nổi... 
            -           Chém! Chém!
            Lão Sát hét lên như một ông tướng xuất trận... Đường gươm của lão tung lên múa vi vút, lẫn với những tiếng «Sát» ghê rợn của lão thốt ra... Gươm bay sáng loáng dưới ánh mặt trời, linh động như rồng lộn và nổi gió như sắp có phong ba... 
            Bọn quan Tàu thích chí cười lên ha hả... Một hồi trống chiêng nổi lên âm u như tiếng vang của địa ngục: 
            -           Thùng! Bi li! Bi li! Thùng! 
            -           Sát! Lão đao phủ hươi một đường gươm dài lia trên dãy nọc và trong nháy mắt bốn cái đầu văng ra, lăn long lóc trên bãi cỏ vấy máu như những trái dừa khô vừa rụng... 
            Cái đầu cuối cùng lăn ngay vào chân lão, trên môi vẫn còn nở một nụ cười... Lão trợn mắt, quăng gươm đi và hãi hùng nhìn cái đầu lâu biết cười ấy... 
            -           Trời ơi! Trời ơi!
            Lão thét lên và cúi xuống ôm chầm lấy đầu lâu : 
            -           Trời ơi! Chú Phàn! Chú Phàn! Chú Phàn đấy mà! Em tôi đấy mà!
            Phải! Cái đầu lâu ấy là em ruột của lão, Phàn, người em cùng máu mủ với lão, hôm nay lại chết dưới đường gươm linh động nhứt đời của chính lão! 
            Chưa có lần nào lão múa gươm hay là chém ngọt đao như hôm nay... Hôm nay, lão đã chém luôn người em ruột của lão, người em cả đời lặn lội tranh đấu chống bọn quân Tàu tàn bạo... 
            -           Trời ơi! Chú Phàn! Tôi đã chém đầu em tôi! Tôi đã giết em tôi! 
            Lão nức nở khóc, ôm ghì cái đầu lâu be bét máu vào lòng. 
            Trời âm u, gió lồng lên, gầm rít như ác thú... Chuyển mưa, thiên hạ tản mác ra về. Chỉ còn Lão Sát ngồi giữa pháp trường mà khóc như gió mưa, và như một người điên...
*
*   *
            Mà lão điên thật. Sau khi đã bẻ gẩy thanh gươm, lão xách áo ra đi, lang thang đây đó, lúc hát lúc cười, nghêu nga ca và khóc những câu lâm ly thống thiết. Mắt lão đỏ sọng lên vì máu, vì rượu, và vì nước mắt... 
            Rồi một bữa kia, giữa chợ, có ông thầy chùa đến vò đầu lão, cười với lão và dắt lão đi theo... 
            Lão hớn hở đi, và mất hút đến bây giờ...
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mười năm cấm cố
(Kiểm duyệt bỏ trọn bài)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lẽ sống của người bịnh
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
            Anh đã nằm nhà thương lần nào chưa? 
            Nếu chưa, anh hẳn không biết được những mẩu chuyện hay hay và lạ tai của cái xã hội người bịnh ấy. Những chuyện này xảy ra rất thường trong khu nhà có dấu hồng thập tự ấy, song bên ngoài, nếu anh chỉ là kẻ qua đường thì anh không thể biết được. 
            Tôi là một công dân rất trung thành của xã hội nhà thương bởi vì da mặt tôi lúc nào cũng tái mét, bởi vì bộ ngực của tôi nó thiểu nảo quá, không phồng hơn chiếc đồng hồ quả quít Oméga. Một năm có bốn mùa, có lẽ tôi đau đến tám chứng bệnh...
            Nếu người mạnh các anh ưỡn ngực đi ngoài đường với một chút tự hào trong lòng rằng «ta là một thanh niên khỏe» thì tôi, thằng tôi ốm yếu này, trái lại, có thể tự hào rằng với cái thân hình còm cõi của tôi, tôi đã biết được nhiều chuyện mà hạng người mạnh các anh không được biết. 
            Tôi bảo rằng, đây là một món lãi tinh thần của bọn người đau yếu. 
            Anh thử vào ngủ một đêm trên chiếc giường sắc nhỏ hẹp của nhà thường xem! Tôi không hứa với anh những hứng thú thi vị đâu. Nhưng tôi chắc, nếu có một sự quan sát tế nhị, anh sẽ có được nhiều cảm giác lạ.
            Đã bao giờ anh ăn cơm ngon lành cạnh một người cùi chưa? Nếu anh đến với tôi ngay khi tôi đang viết bài này, tôi sẽ đãi anh một bữa cơm với cái khung cảnh ấy. Chung phòng tôi, ở giường bên cạnh, có một người đàn bà Cao miên bị lựu đạn nổ gẫy cánh tay. Chổ thịt nhầy nhụa ấy hôm nay bắt đầu thúi. Nó tiết ra, giữa hơi canh-ky-dốt nặc nồng, một mùi hinh hỉnh nặc nồng hơn. Anh không thở thì anh sẽ chết ngạt, ngay đến cuốn vệ sinh lớp đồng ấu cũng đã dạy ta thế, còn nếu anh để cho buồng phổi làm việc điều hòa thì anh sẽ được ngửi liên tiếp cái mùi ghê tởm ấy! Tôi không biết tả thế nào, hình dung thế nào, cho màu sắc gì để diễn ta hết năng lực của nó, chỉ có thể nói rằng đó là cái mùi thường tiết ra ở những thây ma chương phình trôi trên mặt sông...
            Ấy thế mà quen đi, phải quen đi, thở hít nó, và một ngày hai bữa ngồi ăn cơm bên cạnh nó. Và cấm than phiền, vì phép lịch sự ở đây. Người ta sẽ nói nặng ngay vào mặt anh, nếu anh tỏ ra phiền hà: 
            -           Thầy trả tiền, tôi cũng trả tiền để nằm đây! 
            Anh đã ngủ bên cạnh xác chết lần nào chưa? Tôi không tả hết được cảm giác của tôi trong cái đêm mà ông lão nằm chung phòng với tôi, hấp hối phều phào thở hắc mãi ra, để rồi chết lịm đi luôn trong một cơn ho rũ rượi, dưới ánh đèn chập chờn... Tôi còn nhớ rằng ngay lúc ấy ý nghĩ chán đời đến giục tôi nên đi tìm một bộ áo cà sa! 
            Vài lần như thế, cũng quen đi.
            Có những đêm, vào khoảng ba bốn giờ khuya, bốn bề im phăng phắc, bổng nhiên giấc ngủ của tôi bị phá dậy bởi những tràng ho liên tiếp, rồi những tiếng ụa mửa nghẹn ngào, hay những hơi thở phập phều bi đát của một thân hình sắp tan rã. Cố nhiên từ đấy đến sáng tôi không thể nhắm mắt được nữa. Thức để mà nghe những tiếng động nảo nề ấy, anh ạ, nó là cả một cực hình. Các anh đã chả bảo rằng, trong những giờ phút kích thích như thế người ta mới thật sống, mới có được những cảm giác lạ làm tiến hóa cho đời sống... mới có thể làm nên một «cái gì»! 
            Các anh sẽ có được «những cái gì» nếu ở cảnh tôi, tôi cũng tin vậy, vì ở chính trái tim tôi, tôi cũng cảm thấy đau nhoi nhói, tôi cũng muốn vươn lên, muốn phá vở không khí để làm một cái gì to lớn... Song tôi chẳng làm được, vì, rất dể hiểu, tôi là một bịnh nhơn lưu niên...
*
*   *
            Sáng hôm qua, người ta mới phát giác một cái thay ma trong bể chứa nước của nhà thương. Bịnh nhơn uống nước vào, cảm thấy cái mùi hinh hỉnh của thịt thúi vương mãi ở lỗ mũi, họ báo động lên ngay! Một giờ sau, có sự phát giác ấy mà người ta xì xào là một vụ tự tử. Kẻ xấu số là một anh cu ly chuyên xách nước trong nhà thương, nghe đâu mới tuần trước, vợ anh đã cuốn cả cái gia tài nho nhỏ của anh để theo một gã đàn ông trẻ hơn anh. 
            Bây giờ thịt anh đã lữa ra trong bể nước, có lẽ anh đã nằm trong ấy cả ba bốn ngày rồi. 
            Chiều hôm qua, cùng một ngày, lại có một vụ tự tử nữa. Nó hơi kỳ dị một chút đối với các anh. Một Huê kiều đã uống nguyên chai nước tro để tìm cái chết. Vì một cớ rất buồn cười. 
            Sáng ngày, anh ta vào nhà thương rọi kiếng. Thầy thuốc bảo rằng anh bị bịnh phổi. Về nhà, chẳng biết nghĩ thế nào, lo đến thế nào, sợ vi trùng lao đến đổi nào, và thất vọng đến độ nào mà anh lại tự tử.
            Không biết có phải anh nghĩ rằng chết bây giờ còn sướng hơn chết dần chết mòn về sau? 
            Tôi chịu không thể triết lý một câu trước hai vụ tự tử này? Xin nhường cho các anh. Tôi nhớ đến một câu chuyện cũ, đã hơi xa xôi rồi, câu chuyện của những người bịnh. Chuyện sau này kể ra để các anh cùng nghe.
*
*   *
            Gia đình ông Phán Cảnh bên cạnh nhà tôi, là một gia đình phong phú. Ông bà đều hiền lành, mà không biết quả báo từ cái kiếp luân hồi xa lắc xa lơ nào, con cái đều tật bịnh. 
            Hà, cô con gái đầu lòng của ông mang một cái bịnh đoạn trường đau khổ nhứt của đàn bà, cái bịnh xấu xí. Tuổi dậy thì đã qua vèo như gió bên song cửa, thân hình cô cứ choắt cheo lại. Khuôn mặt lệch lạc, đôi môi to như trái chuối cơm, lưỡng quyền dồ lên thi với cái trán hơi xói. Tốc đỏ quách như màu râu tôm càng làm cho cái đầu cô to thêm ra. Thêm vào khuôn mặt xấu thậm tệ ấy, cái bướu mọc lù lù trên lưng như đè đẹp cả cái đời cô xuống tối đen. Chỉ còn có cặp mắt thôi. Cặp mắt ấy mi dài, nó tiết ra một ánh sáng ngời, biểu lộ sự thông minh! Con người tàn tật ấy, thật ra đã chết tất cả, chỉ có cặp mặt sống thôi.
            Trái lại, Ngân, em trai cô, là một thanh niên tuấn tú khôi ngô. Ngân đẹp trai, mặt đều đặn, người mảnh khảnh. Tất cả cái đẹp mỹ miều, cậu cướp hết và ngược lại, bao nhiêu xấu xí cậu trút cả về phần chị. Ngân đẹp trai thật. Nước da anh lúc nào cũng trắng như trứng gà bóc, trắng bóng. Anh có dáng điệu ẻo lã của một văn sinh trói gà không chặt. Nhưng, hỡi ôi, trong cái bề ngoài khả ái ấy, có con ma trụy lạc nấp sẵn để tàn phá một đời thanh niên. 
            Tôi nhiều hơn Hà hai tuổi. Nàng coi tôi như một người anh. Tôi thường qua nhà ông Phán chơi. Trong những lúc ấy, tôi để ý thấy nét mặt rầu rầu của người con gái xấu số ấy, bật lên vài ánh sáng vui vui. 
            Có lẽ nàng hiểu rằng tôi đối với nàng nhiều thương xót. Ngoài vuông cửa sổ kia, người ta mãi vui với những thân hình mỹ miều, có ai ngó vào tận lòng một cô gái gù quanh năm chỉ làm bạn với mấy cuốn sách giữa một thư trai vắng và lạnh, như chứa cả mùa đông! Đời vô tình đã hắt hủi con người tật nguyền đau khổ ấy!
             Có một lần, dưới ánh trăng sửa chảy mênh mang trên cảnh vật, Hà bảo tôi ngâm thơ Hàn Mặc Tử cho nàng nghe... Nàng hỏi tôi rất nhiều, rất tỷ mỹ về thân thế của nhà thi sỉ phong cùi ấy... Bữa đó, nàng bẽn lẻn trao cho tôi hai bài thơ nhờ sửa và phê bình. 
            Cũng như họ Hàn đã điên cuồng lên dưới ánh trăng và làm nên những vần thơ thấm thiết, Hà vẽ trên mặt giấy nỗi lòng đau khổ u uẩn của một thanh nữ thiếu sắc đẹp để hưởng hương vị của cuộc đời hoa mộng. Nàng diển tả tâm sự của kẻ tật nguyền ra, tuy thơ không điêu luyện, song nghe cũng thê thiết lắm. 
            Tôi lại càng ngậm ngùi cho số phận nàng, và cứ mỗi lần qua chơi, tôi lại đến an ủi nàng vài câu, khích lệ nàng trên đường nghệ thuật. 
            -           Như thân tôi, sống làm gì, anh nhỉ? 
            Vừa khi ấy, có một người ăn xin đui mù lê cây gậy lộc cộc đến cất miệng xin tiền. 
            Tôi bảo:
            -           Người đui mù kia, ánh sáng đã hoàn toàn khép lại với đời họ rồi, thế mà họ vẫn sống đấy. Đói rách hàng ngày họ vẫn sống.
            Bữa nay họ đói, song trong trí họ lúc nào cũng chồm lên một hy vọng ngày mai sẽ đẹp, sẽ đem lại no ấm thỏa thuê... Bíu vào hy vọng ấy họ sống, ngày lại ngày... Họ có mầm hy vọng leo lét ấy làm thỏa mãn lẽ sống, còn Hà, Hà hơn họ ở đức thông minh, ở tầm trí thức, Hà hãy sống tất cả cho tâm hồn đi, hãy đem nghệ thuật thỏa mãn tâm hồn đi... Đời sẽ đẹp lên và đáng sống... 
            Từ ấy, nàng không than với tôi nữa, và làm thơ nhiều hơn. Thơ nàng trở nên điêu luyện và có câu rất trác tuyệt. 
            Người ăn mày đui ngày hai bữa lê lộc cộc cây gậy trên hè phố này, đã thành một người bạn của Hà. Hắn quen lệ ghé vào đây, nhận một chén cơm, một cái bánh hay một đồng tiền. Dần dần hắn hồng hào lên, đi thẳng lưng, và trên nét mặt đau khổ thỉnh thoảng đã có nở những nụ cười tươi êm đẹp. 
            Hắn vui, và Hà cũng vui. Đôi bạn tàn tật hình như đã cảm thấy đời hướng lên...
            Ngân hình như sinh ra để ăn chơi. Cái đẹp trai của anh đã giúp ích cho anh không ít trong công tác trăng gió. Cắp sách đến trường, hết lớp này qua lớp kia, hết năm này qua năm nọ, nhưng anh học chữ rất ít. Mới một tí tuổi đầu đã ăn mặc trai lơ, chưng diện như một ông Hoàng nho nhỏ. Ông bà Phán chiều con, quên mất con đường dốc đang đưa Ngân về vực thẳm... 
            Tôi sống gần gia đình ấy gần hai năm, rồi có chuyện phải đi xa. Hà quyến luyến tôi lắm. Lấy tư cách một người anh, tôi bảo nàng trong lúc chia tay: 
            -           Đời lúc nào cũng đang sống, nếu ta biết tìm lẽ sống. Hà nên nhớ lời anh. 
            Rồi từ ấy tôi đi biền biệt trên đường phiêu linh. Hà hẹn viết thư cho tôi, nhưng tôi có ở đâu lâu mà có một địa chỉ!
            Bẵng đi mấy năm. Rồi khói lửa nổi lên. Tôi nghe phong phanh rằng Hà đang mang một dấu chữ thập đỏ trên trán để làm cái việc hàn gắn vết thương cho loài người, cho những kẻ đau khổ... 
            Bỗng một hôm, tình cờ mở đến một tờ tuần báo, tôi được đọc bài thơ của Hà làm từ ngày ở gần tôi. Tôi bắt đầu chú ý đến cái tên Ngân-Hà ký dưới mấy bài thơ có tôn chỉ xã hội. 
            Và, tết năm ngoái tôi về tỉnh cũ, gặp Hà trong căn nhà xưa. 
            Hà gầy đi nhiều, càng choắt cheo lại. Tôi có cảm tưởng như đứng trước một bà già gần xuống mồ. Nhưng khi Hà nhếch miệng cười, thì những nét buồn thảm ấy đều bay hết. 
            Nàng kể chuyện nhà cho tôi nghe. Ông Phán bà Phán đã chết rồi. Ngân thì sanh ra hư hỏng chơi bời quá độ đến bây giờ mắc bịnh lao trầm trọng, đang chờ chết ở một nhà thương kia...
-          Còn Hà? Tôi hỏi – Hình như Hà đã làm được nhiều việc hữu ích cho đời hơn cả bọn trai chúng tôi? 
Hà nhìn vào đồng tử tôi, nói: 
-          Em nhớ câu dặn lúc ra đi của anh làm châm ngôn. Và em cố gắng làm theo lời của anh. 
Nàng dơ cho tôi coi mấy vết thẹo to tướng ở bắp chân và nói: 
-          May mà băng bó lành lặn, thiếu một chút chiến tranh đã tặng thêm cho em một tật nữa... 
Nàng ngập ngừng tiếp: 
-          Nhưng dù sao, em cũng vẫn sống, sống mãi đến khi trời bắt chết, vì em đã tìm thấy lẽ sống rồi anh ạ!
*
*   *
            Này các anh, người con gái tật nguyền ấy đã băng bó cho hơn ba trăm chiến sĩ đất nước bị thương. Bây giờ nàng sống chung quanh một lũ hơn 20 đứa bé tàn tật nạn nhân của chiến tranh. Nàng nuôi chúng, và thành người mẹ nuôi hiền từ âu yếm nhứt trong các người mẹ... 
            Những bài thơ, những câu chuyện ngắn của nàng hứa hẹn rất nhiều cái hay cái đẹp cho văn hóa nước ta... 
            Người con gái tàn tật ấy đang vui sống như những thanh niên khỏe các anh và có lẽ đã làm được nhiều ích lợi hơn chúng ta. 
            Còn cậu Ngân, xinh trai mạnh khỏe kia đã đốt cả cái xinh trai, đã hoang phí cả cái mạnh khỏe trời cho ấy vào cuộc sống tối đen để đến nỗi ngày nay thành thân tàn ma dại đấy! 
            Các anh nghĩ thế nào? 
            Tôi thì tôi có thể khinh ngay ra mặt những thằng người mạnh khỏe như Ngân.
            Đối với những chú chệt uống nước tro tự tử vì sợ bịnh phổi, hay anh cu ly đâm đầu vào bể nước vì mất tình yêu, tôi thương hại cho họ. 
            Tôi kính phục cái đức sống cao đẹp của những cô Hà tàn tật đã biết quên cái tàn tật của mình để hàn gắn những tàn tật của người khác. Tôi cũng phải kính phục cả cái đức nhẫn nại của những bịnh nhơn – tôi không bào chữa cho tôi đâu anh ạ – cố vật lộn với đau khổ bịnh tật mà sống, có can đảm sống bên cạnh cái chết để hy vọng ngày mai sáng sủa dâng ánh nắng tươi lên, chớ không chết uổng một cách đen tối vô nghĩa như những Ngân, những chú chệt, những anh cu ly trên kia... 
            Có lẽ cái quan niệm cuối cùng này hơi trái tai các anh đấy nhỉ? Phải, vì các anh chưa sống trong nhà thương!   
Bữa nay gần Tết rồi đấy. Rộn rịp lắm, cái xã hội người mạnh các anh rộn rịp lắm!
            Còn con bịnh chúng tôi vẫn kiên nhẫn. Xuân năm nay mình đau yếu thì ráng tỉnh dưỡng để chờ Xuân khác. 
            Trong biển khổ, thế nào cũng có ngày nở lên những đóa hoa sen chói hào quang, miễn mình có lòng trong sạch và đừng nản chí là được. 
            Các anh ăn một cái Tết vui vẻ nhe, vui để làm những chuyện hữu ích mà bọn bịnh chúng tôi chưa làm được... 
(Đêm 30-12-49)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tám kẻ giang hồ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
            Trăng sáng thật, song gió lạnh quá. 
            Có lẽ vì bao nhiêu gió của những miền khói lửa dồn cả vào chốn rừng sâu thăm thẳm này, cho nên mới mùa thu mà khí lạnh đã đến sớm quá. 
            Màu trăng trắng như sửa, mơ màng qua màn sương mỏng phản chiếu màu xanh đen của lá rừng đẹp và buồn như một bức tranh tang! 
            Ngọn núi cao nhất đã biến mất trong chiếc áo sương. Chỉ còn mấy con đồi thâm thấp, ngồi im bên sườn núi, tựa hồ mấy con chiên hiền lành ngồi ngủ bên cạnh thảm cỏ xanh ngon, đã đổi thành màu đen của đêm, mặc dầu trăng Trung Thu đêm nay sáng lắm!
            Đoàn người đi nối đuôi nhau, bây giờ đã đến đầu một cây cầu. Như một chiếc vòng cung, cây cầu sắt mảnh dẻ nằm vắt ngang một cái khe sâu thẳm tưởng chừng không có đáy. 
            Có tiếng nước chảy róc rách đều đều, trộn với tiếng gió vi vu, tiếng lá xào xào, và văng vẳng tiếng thác mơ hồ đổ ở đâu xa... 
Một người trong bọn cất tiếng: 
            -           Cầu Pạch Hổ, anh em a! 
            -           Thế à? Vậy thì gần tới Thạch Kỳ rồi! 
            -           Đành vậy, song qua được cây cầu cheo leo này là cả một chuyến đi mạo hiểm và tốn thì giờ. 
            -           Thế kia à?
            -           Tôi đã mất người bạn đồng hành độc nhứt trong vực thẳm này đây! Thật là thảm khóc. 
            Một người đang gật gù ở dưới gốc cây ở đằng chót đoàn, vói lên hỏi một cách nóng ruột: 
            -           Khó thế nào cũng mặc, ta phải qua đi chớ, miễn là còn được một thanh sắt nối liền hai bờ... 
            Người mở lời đầu tiên trả lời: 
            -           Không còn thanh sắt nào nguyên vẹn cả! Nó gẩy rồi. Và sự gẩy đổ ấy đã có một lịch sử thật bị thương, nó đưa một chiếc xe hoa với cặp uyên ương xuống vực thẳm ngay trong ngày cưới... 
            -           Ồ, câu chuyện lạ nhỉ?
            -           Phải! Người ta bảo là số mệnh đấy. Hình như hai linh hồn chết yểu ấy linh thiêng lắm, cho nên dân vùng này còn nghe tiếng hát thê lương não nùng của họ trong những đêm tối trời hay mưa gió... 
            Người ngồi dưới gốc lại nói: 
            -           Dẹp quách câu chuyện tơ tóc ấy đi anh Thái, ta hãy tính đến chuyện qua cầu để rồi còn tới quán Bông uống trà và ăn bánh Trung Thu thưởng trăng và giải lao chớ! 
            -           Tán thành ý kiến của anh Đồng! 
            -           Nào ta qua cầu! 
            -           Bây giờ phải tính thế này. Người nào có tài leo nhảy, nắm một đầu giây luộc, đi đến múc chỗ cây cầu gãy, nhảy một cái cho qua nhịp cầu còn lại ở bên kia rồi cột chặt đầu giây vào thành cầu. Anh em ở sau cứ việc đánh đu qua.
            Một người bộ dáng còn trẻ trung đứng ngay dậy, tình nguyện:
            -           Tôi đi trước cho. 
            -           Anh Trung à! Tốt lắm... 
            Như một đoàn khỉ vượn đi ăn đêm, 8 người lần lượt qua cây cầu Bạch Hổ cheo leo và rên siết ẻo ẹt dưới sức nặng của những người thân hình phốp pháp, lực lưỡng. 
            Xa xa, tiếng thác mơ hồ vẫn đổ đều trong tiếng gió rì rào. Ngoài ra, rừng cây im lặng, tắm ánh trăng thu, huyền bí và vắng vẻ... 
            2 giờ sau, đoàn người đã qua cầu. 
            Họ lại lầm lũi lên đường rừng khúc khuỷu quanh co... 
            Một người có óc hài hước bật lên nói:
            -           Bánh Trung Thu quán Bông của cô Sáu Lìn ngon lắm, ráng quên mỏi chân, anh em nhé! Chúng ta 8 người nhất định ăn chẵn 4 cái bánh... Phong lưu bỏ lúc phong trần mà. 
            -           Trà Long Chẻng với bánh Trung Thu, loạn ly này mà được hưởng của ấy, kể cũng may đấy chớ, anh em nhỉ...
*
*   *
            Trung Thu lại đến một lần nữa. Mười hai tháng nặng nề qua, trên giòng thời gian ấy lại ghi thêm bao nhiêu là tang thương nữa. Khói lửa xây thành trên đất nước, mù mịt cả quê hương. 
            Trăng vẫn sáng và rừng vẫn còn khoác nguyên vẹn tấm áo xanh đen của năm xưa. Núi và đồi vẫn ngủ yên dưới màu sương thu. Chỉ có gió thu là thổi nhiều hơn càng đem cái lạnh đến sớm hơn mọi năm. 
            Đêm này có hai khách bộ hành vượt ngang khu rừng này để đến xóm Thạch Kỳ. 
            Họ so vai nhau, mau mắn bước trên con đường rừng gồ ghề, lắng nghe tiếng thác đổ ở xa, rót vào lòng mình bao nhiêu hơi gió lạnh lùng.
            -           Lạnh rồi! 
            -           Mới giữa thu! Năm nay lại lạnh hơn năm ngoái đấy. 
            -           Gần tới cầu Bạch Hổ chưa! 
            -           Vài ngàn nữa thôi. 
            -           Trăng ngang đỉnh đầu, có lẽ lối 2 giờ ta tới Thạch Kỳ nhỉ! 
            -           Còn phải tính thời giờ leo qua cầu Bạch Hổ... 
            Hai người đã tới cầu. Họ ngồi nghỉ một chút, rồi không đàm luận như tốp người năm ngoái, họ giơ ngay sợi giây luộc ra nhanh nhẹn bước lên cây cầu cheo leo ấy, như là đã quên thuộc qua đây nhiều lần rồi... 
            Họ không cần nhảy qua quảng cầu gãy nữa, chỉ quăng sợi giây. Đầu giây quấn vào thành cầu, còn một đầu họ ghịt vào thành cầu bên này... Rồi cũng như cặp khỉ leo cây họ đánh đu sang... 
            -           Leo cái lối này lại nhớ đến anh Thái! Chính ảnh đã bày ra kiểu leo giây này... 
            Người kia buột miệng thở dài một cái, trong lúc có ngọn gió mạnh chạy ngang, làm rung chuyển vòm cây bên ven vực... Cả một trận mưa lá! 
            -           Mau qua. Chúng ta có thể đến quán Bông lối 1 giờ. 
            -           Có phải cái quán uống trà ăn bánh Trung Thu năm ngoái đấy chăng? 
            -           Chính đấy! Năm nay chỉ có hai ta. 
            Một nổi buồn kéo đến. Hai người nhìn nhau trong đêm tối, hai bàn tay sờ soạng, gặp nhau, rồi siết chặt lấy nhau... Họ chia cho nhau nổi niềm thương nhớ 6 bạn đồng hành năm ngoái, đã tản lạc và mất mát đi...
            Chỉ còn hai ta! 
            -           Hai ông dùng trà nhé! 
            -           Dạ, cô cho trà ngon và bánh ngọt... 
            Cô chủ quán còn trẻ, hữu duyên, có cặp mắt huyền đen láy, sâu thẳm dưới làn mi dài, và mơ màng như chứa một tâm sự gì kín đáo lắm. 
            Nhanh nhẹn, cô đem ra 8 cái chén, một bình trà và 4 dĩa bánh Trung Thu vàng chói. 
            -           Ô kìa! Sao lại 8 cái chén hở cô? 
            -           Và lại đến 4 dĩa bánh giống nhau, hai đứa tôi ăn làm sao hết? 
            Có chủ quán nghiêng mái tóc ra ngoài ánh trăng, thoáng nhìn một cái về khu rừng phía xa, chậm rãi trả lời:
            -           Tôi ngỡ hai ông còn 6 người bạn đồng hạnh nữa chớ! Xin lỗi hai ông nhé... 
            Đôi bạn nhìn nhau. Trong lòng họ, nguồn lưu luyến, bâng khuâng và thương nhớ lại trào lên... 
            -           Sao cô lại đoán thế, hở cô? 
            E thẹn, cô chủ quán trả lời trong một cái cười gượng: 
            -           Tôi cũng không hiểu tại sao nữa...
            Và bỗng nhiên mắt cô chớp mau, ươn ướt. 
            Một người tên Tường cất tiếng : 
            -           Phải, cô ạ, chúng tôi cả thảy 8 người Năm ngoái cũng đêm Trung Thu này ghé đây ăn bánh uống trà thưởng trăng... Nhưng năm nay, tan tác cả rồi, còn đâu!
            Tường im lặng rồi nói một mình: 
            -           Ôi! Bầy chim tan tác sau một trận bảo! À, anh Thành, hay là ta đốt nhang lên cúng các anh ấy về thưởng trăng với ta. 
            Thành gặt đầu, buồn tràn lên khóe mắt long lanh... 
            Ba nén nhang bốc khói rung rinh theo chiều gió... Tường van vái: 
            -           Hỡi hương hồn các anh Trung, anh Đồng, anh Tài, anh Thái, anh Thi, anh Tấn, có quanh quất đâu đây, xin về thưởng trăng với anh em tôi... 
            Cô chủ quán trịnh trọng nói: 
            -           Hai ông cho tôi góp lời với, tôi có quen với một người trong 8 người khách giang hồ... đã qua đây một đêm trăng sáng... 
            -           Thế ư? Có phải anh Thái chăng?
            -           Dạ, chúng tôi cùng ở một làng, và cùng chung một giấc mơ... 
            Nói đến đây, cô cúi xuống để giấu nổi cảm động đã tràn lên mí mắt và xuống má. 
            Ánh trăng chênh chếch thừa dịp phớt ngang mái tóc đen huyền của cô, loang loáng như ánh sao rơi... Cô lâm râm khấn vái rồi nói: 
            -           Các ông buồn lắm? 
            -           Dạ, còn gì buồn hơn trên đường hồ hải, mất dần những bạn cố tri? 
            -           Trăng đêm nay đẹp hơn năm ngoái... 
            -           Nhưng ảm đạm quá, cô à... 
            Tường đứng phắt dậy, mắt sáng lên:
            -           Ở đây có xóm Hoàng Hoa không cô? 
            -           Thưa ông, xóm Hoàng Hoa thì không có, nhưng rượu cúc thì cũng đủ uống để tiêu một vài mối sầu... 
            -           Cô ý nhị quá! Thôi, cho chúng tôi một bầu rượu to bằng cái bầu của ông tiên Lý Thái Bạch đi cô! 
            Hai mái đầu xanh gục vào nhau... Một cái bỗng ngửng lên rồi một bàn tay đưa lên vuốt mớ tóc rối bồng... Tường cất tiếng ngâm : 
                                    Mời anh cạn hết chén này
                        Trăng vàng ở cuối non tây ngậm buồn
                                    Tiếng gà đã rộn trong thôn  
Nữa đường phiêu lảng chỉ còn đêm nay
                                    Để lòng với rượu cùng say (1) 
            -           Thơ ở đâu thế? 
            -           Của anh Thái đấy mà! Rồi lại ngâm tiếp:
                                    Giờ này còn của hai ta
                        Giang hồ rượu ấy còn pha lệ người (1)
(1) Thơ Lưu Trọng Lưu
            Xong, anh nốc cạn ly rượu chót, đứng dậy bảo Thành: 
            -           Nào, mời tráng sĩ lên đường chớ. 
            Thành nửa mơ nửa tỉnh : 
            -           Hãy thắng cho ta con ngựa giỏi nhứt tầu đi! Ta sẽ vượt qua muôn trùng vạn lý để đến chốn huy hoàng lộng lẫy như cung Quãng kia...
            Hai chàng khách say trăng, say rượu, say buồn và say cố tri, say ngày mai ấy khoác tay nhau đi, đi nữa... 
            Cô chủ quán mỉm cười chào, và nói: 
            -           Hai ông không ăn bánh à? 
            -           Có đấy chớ! Chúng tôi chỉ ăn một cái thôi, còn ba cái kia để dành cho 6 người bạn... 
            Thế rồi, trong đêm trăng giữa gió lạnh, họ cùng lạnh lùng bước lên con đường thiên lý hải hồ, chả biết có còn ngày nào qua cầu Bạch Hổ và uống trà ăn bánh ở quán Bông nữa chăng? 
            Giữa lúc ấy, cô chủ quán đỡ ba dĩa bánh và sáu cái chén lên một cách kính cẩn, lòng xót xa, vương vấn như nỗi lòng của một ông vua Đường thuở xưa đã vương vấn sau một đêm du nguyệt điện...
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hai tiếng mầu nhiệm 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
            Rạp hát bóng rất im lặng, ngoài tiếng sè sè của mấy cánh quạt máy chạy vi vút trên trần. Chỉ còn năm phút nữa là mở màn. Dung ngồi ở hàng ghế thứ ba, lơ đảng ngắm mấy tấm hình nghệ sĩ màn ảnh treo trên vách... 
            -           Tắt giùm điếu thuốc đi! 
            Tiếng người cảnh sát làm chàng giựt mình. Vội vàng, Dung quăng điếu thuốc xuống sàn, lấy gót giày dí lên. Lúc ấy chàng mới nhận thấy bên cạnh mình, một cái ghế còn trống... Cũng vừa lúc ấy, một thiếu nữ rẽ hàng người bước vào. Theo ngón tay người xếp chỗ, thiếu nữ lặng lẽ ngồi xuống. Đôi tay nàng thu vén tà áo dài phía sau, mềm mại yểu điệu quá làm cho Dung phải chú ý. 
            Thiếu nữ mặc toàn đen. Làn tóc biếc đen chải rất khéo và uốn rất mỹ thuật, tỏ ra nàng là một người không thiếu thẩm mỹ về trang sức. Vài sợi tóc mai bỏ lơi trên thái dương, nối tiếp đôi má hường với mái tóc đen lại càng làm nổi bật màu da trắng sữa của nàng dưới ánh điện xanh dịu... Nàng đẹp, đẹp thật, trước con mắt của Dung. Một vẻ đẹp kín đáo tiết ra ở màu đen của tóc, của áo nhưng lại có những nét đẹp rất sắc sảo lộ trên nền trán rộng và cái mũi dọc dừa nhỏ nhắn kia... Không nhìn ngang ngửa, đôi mắt rất mỹ lệ của thiếu nữ phóng thẳng lên màn ảnh... 
            Đèn tắt dần và tiếng máy chiếu bóng nổi lên sè sè giữa im lặng... Dung chỉ nhìn nàng được có thế, đèn tắt cả rồi... 
            Suốt buổi hát, Dung lắng nghe không thấy thiếu nữ trở mình hay làm một cử chỉ nào. Cũng không một tiếng cười, mặc dầu phim bữa nay là một phim rất hài hước với anh kép pha trò rất đạo mạo là Fernandel. Không một tiếng nói, cũng không một tiếng thở dài của người thiếu nữ ngồi bên. Dung cảm thấy mình đang ngồi bên cạnh một con người kỳ dị... 
            Đèn phựt sáng. Phim hết. Khán giả lần lượt ra. Trong làn sóng người chen chúc, nàng đi trước, Dung theo sau... 
            Trời đêm nay mưa to. Cả thành phố như lụt trong biển nước. Những con đường nhựa đen nhẩy trải mình dưới ánh điện vàng khè. 
            Dung ái ngại đạp trên vũng nước. Thiếu nữ vẫn điềm nhiên đi trước Dung, như không thèm để ý đến một ai cả. Vẫn với cái vẻ điềm nhiên ấy, nàng bước lên một chiếc xe hơi và mở đèn, rồ máy. Dung đứng trước xe của nàng để đón một chiếc tắc xi... Ánh đèn pha của xe nàng làm cho chàng chói mắt, gấp gay và quay mặt lại... Chiếc «traction» từ từ bò tới ngang chỗ chàng đứng rồi dừng lại. Thiếu nữ trong xe nói vọng ra:
            -           Xin lỗi ông, tôi vô ý chớp đèn làm cho ông chói mắt... 
            Dung ấp úng : 
            -           Này, thưa cô... 
            -           Ông không gặp tắc xi à? Hay ông cho phép tôi đưa ông về nhà... 
            Và không đợi cho Dung trả lời, nàng đã mở cửa trước : 
            -           Mời ông lên... 
            Chiếc xe được sang số, chạy vút dưới trời mưa... 
            -           Cám ơn cô! 
            Không trả lời thêm, thiếu nữ nói:
            -           Ông về đâu? 
            -           Paul Blanchy, thưa cô! 
            -           Paul Blanchy, thế thì tôi mời ông ghé nhà tôi chơi uống chút rượu cho ấm đã rồi hãy về. Tôi cũng ở đường ấy, khúc dưới này... 
            Dung ngập ngừng:
            -           Sợ bất tiện cho cô. 
            -           Có sao. Tôi mời ông kia mà! 
            Dung không kịp băn khoăn tính toán thêm thì chiếc xe đã đến trước cửa một biệt thự nhỏ. Thiếu nữ quen thuộc lái chiếc xe chạy tuốt vào sân. 
            -           Mời ông vào nhà! 
            Dung nãy giờ đã ngạc nhiên, bây giờ lại còn ngạc nhiên thêm khi nàng lấy xâu chìa khóa ra chính tay mở cửa và bảo: 
            -           Tôi ở có một mình. Người làm, đêm họ về cả. 
            Đèn điện bật lên. Qua chiếc abat-jour rất duyên dáng, ánh đèn nhuộm một màu hường lạt căn phòng khách chưng bày theo kiểu tân thời...
            Dung đang mải mê suy nghĩ, thì thiếu nữ đã vồn vả: 
            -           Mời ông ngồi đây... Ông uống chút rượu mạnh nhe! 
            -           Vâng, cám ơn cô! 
            -           Rhum hay Cointreau nào? 
            -           Thứ nào mà cô thích, tôi muốn cùng uống chung với cô một thứ rượu... 
            Dung trở nên mạnh bạo và câu chuyện bắt đầu vui bên cạnh hai ly rượu Rhum sóng sánh vàng dưới ánh điện... Thiếu nữ bắt đầu: 
            -           Thưa ông, xin ông bỏ qua cho sự đường đột này... Sở dĩ tôi dám mời ông về nhà chơi thế này là vì đã biết ông từ lâu... 
            Dung ngạc nhiên thêm:
            -           Hân hạnh cho tôi! 
            -           Vâng, tôi đã biết ông từ lâu, có phải ông Dung chủ thầu khoán không ạ? 
            -           Vâng, chính là tôi. 
            -           Và trước kia làm nghề buôn lậu trên Lèo? 
            Dung giựt mình. Cả cái quá khứ ấy, với bao nhiêu là bí ẩn, với bao nhiêu cắn rứt của lương tâm, chàng đã cố đào sâu chôn chặt nó xuống, để sống một cuộc đời mới, với một nghề nghiệp mới, ấy thế mà cô thiếu nữ kỳ dị này lại được biết... 
            Nàng cười khanh khách, tiếp theo: 
            -           Ô kìa! Ông Dung, ông ngạc nhiên đấy à! Để tôi kể hết cho ông nghe một chuyện, nó sẽ làm cho ông ngạc nhiên thêm nữa... Ông có bằng lòng nghe không? 
            Dung im lặng, nhìn thiếu nữ như để moi lại trong dĩ vãng xem có phải là một người quen thuộc chăng. Mù mịt, mù mịt, cũng như trời mưa mù mịt ngoài kia chàng chẳng nhớ gì cả. Thiếu nữ bưng ly rượu uống ực một hơi rồi xoa tay nói tiếp:
            -           Ông không thích nghe, tôi cũng cứ nói. Câu chuyện ly kỳ lắm có lẽ nào ông lại chẳng ưa... Ngày ấy, cách đây bẩy năm, bẩy năm phải không ông Dung, từ hồi ông đi buôn chuyến thuốc phiện lậu đầu tiên ở Lèo? 
            -           Phải! 
            -           Bẩy năm! Hồi ấy, cô Nguyệt ở đường Cổ Ngư là một thiếu nữ nổi tiếng đẹp ở Hà Thành... Bao con mắt phải đắm đuối trước nhan sắc kiều diễm của nàng... Những cánh thư tình phấp phới bay đến mỗi ngày như đàn bướm mùa xuân. Những tin mối lái đi về rầm rập tựa hồ đàn én đưa thoi... Nhưng cô Nguyệt vẫn không để một ai lọt vào mắt xanh ai cả... Có một chàng sinh viên trường Cao Đẳng nọ, chắc là nghèo lắm, nên mặc dầu đường xa, mà hàng ngay vẫn đi bộ ngang nhà cô Nguyệt để đến trường... Chàng đi như thế đã cả năm mà không một lần nào để ý nhìn vào nhà cô Nguyệt cả, làm như không cần biết rằng trong cánh cửa khuê phòng ấy có một nhan sắc diễm lệ... Chính ở chỗ người ta không để ý mình, không vẻ văn minh, lại làm cho cô Nguyệt phải chú ý đến chàng sinh viên nghèo đó... Sau một đôi lần làm quen, Nguyệt nhận thấy ở chàng sinh viên nghèo ấy cái khí phách ngang tàng của một thanh niên, cái ngang tàng nó làm cho chàng vượt hẳn lên khỏi sự tầm thường của đám người trẻ tuổi trụy lạc xa hoa ở Hà Nội son trẻ thời đó...
            Từ phục đến yêu, trái tim Nguyệt gần như đã giao phó cả cho chàng, chàng chỉ cần đưa bày tay ra là nó nằm ngay vào... Chàng cũng không phải là vô tư vô giác cho nên đã đáp lại tình yêu của Nguyệt bằng một mối tình cao thượng và cũng không kém tha thiết... 
            Nhưng một ngày kia, chàng đến báo cho Nguyệt biết rằng: 
            -           Chúng ta sẽ là vợ chồng. Nhưng anh muốn có một sự nghiệp trong tay trước đã. Anh không muốn cưới cái giàu có của Nguyệt để thành một kẻ giàu có. Anh muốn chính cánh tay anh gây dựng nên một cái gì bảo đảm cho đời chúng ta và con cái chúng ta sau này. Vậy, anh hẹn với em ba năm. Ba năm anh sẽ về và đám cưới em sẽ linh đình như đám cưới một bà hoàng hậu... một bà hoàng hậu của lòng anh... 
            Nguyệt không kịp suy nghĩ thì chàng lại quả quyết nói thêm : 
            -           Ba năm! Chả là bao!
            -           Nhưng anh làm gì ở đâu? 
            -           Không tiện nói ra em ạ. 
            Chàng lấy khăn ra lau những giọt lệ chia ly trên má Nguyệt, rồi đi, sau những cái vẫy tay lưu luyến... 
            Ba năm sau, chàng vẫn chưa về. 
            Nguyệt đã đau khổ trong chờ mong, lại còn sầu thăm thẳm trong nổi thất vọng. 
            Ba năm, người yêu không về Nguyệt đã khóc hầu như cạn nước mắt, trong lúc ong bướm vẫn tấp nập ngoài tường hoa... 
            Rồi bỗng một hôm kia, có một người bạn của chàng đến báo cho Nguyệt cái tin Chàng đã chết...
            Thiếu nữ nói đến đây, ngừng lại. Cặp mắt nàng sáng rực lên một cách lạ lùng. Dung ngượng nghịu thêm vào câu chuyện: 
            -           Thảm quá, cô nhỉ!
            -           Vâng, thảm quá. Chàng đã chết và này, ông Dung, ông có biết không, chàng đã bị một người bạn giết chết. Người bạn ấy đã hạ sát chàng để đoạt số tiền lời rất lớn đáng lẽ phải chia đôi...
            Thiếu nữ nói đến đây, đứng dậy, nàng mở cửa và nhìn ra ngoài trời mưa, rồi lại đóng ập vào và quay lại bảo Dung: 
            -           Ông có lạnh không... Mời ông vào đây sưởi cho ấm rồi hãy về... 
            Dung đứng dậy theo nàng vào một phòng bên... Ánh đèn bật lên. Thiếu nữ cười khanh khách, nghe đến rùng rợn:
            -           Ông Dung! Ông Dung! Ông hãy nhìn xem ai trên ảnh kìa! 
            Dung ngước nhìn một tấm ảnh bán thân treo trên lò sưởi, kêu lên ngạc nhiên: 
            -           Hoán! Trời ơi! Hoán!
            Thiếu nữ cười lên rất to làm cho Dung rùng mình:
            -           Ha ha! Dung! Hởi kẻ sát nhân! Anh đã thú tội rồi đấy! Anh hãy kể lại cho tôi nghe về cái chết của chàng... 
            Dung biết thế nguy, và bản năng người đàn ông vùng dậy, chàng lùi lại một bước để đối phó.  Nhưng thiếu nữ vẫn cười và mau lẹ rút khẩu súng lục ra dí vào ngực chàng: 
            -           Anh Dung! Anh đã ở trong tay tôi. Anh chạy thì tôi bắn! Đời tôi đến đây là hết rồi. Tôi đã chết gần nửa đời vì tuyệt vọng, vì anh đã giết mất người chồng chưa cưới của tôi. Anh có nhớ hôm nay là ngày mấy không? 
            -           24 tháng 5!
            -           Phải, 24 tháng năm. Hôm nay tôi mãn tang chồng tôi, và cũng ngày này, cách đây ba năm, anh nở lòng phóng ba nhát dao vào ngực anh Hoán, bạn đồng hành của anh, tại một khu rừng Thuợng Lèo... Anh chiếm đoạt tiền của, thoát ly đời buôn lậu, vào Saigon lập nghiệp, sống êm ấm giữa giàu sang, chắc anh tưởng rằng cái tội ác của anh không ai hay biết đấy nhỉ! Anh đã lầm to! Tôi theo dõi anh từ mấy năm nay và cố ý đợi đến cái ngày mãn tang chồng, cái ngày mà anh đã giết Hoán, để trả mối thù kia... Anh có biết không, tôi đã biết từ trưa nay rằng anh sẽ đi xem chiếu bóng ở Majestic và số ghế của anh là 245! 245! Ồ con số khốc hại!
            Tôi đã sắp đặt để mời anh về đây và giờ này, trước bức ảnh của người chết, chúng ta thanh toán món nợ máu năm xưa... Anh hiểu chưa? 
            Dung rùng mình nhìn họng súng đen ngòm như thần Chết hả miệng...
            -           Anh Dung! Kẻ phản bạn! Kẻ sát nhân! Anh hối hận đấy hẳn. Tôi đã sống âm thầm trong nhẫn nhục để chờ hôm nay. Hôm nay Thượng Đế đã đưa anh vào tay tôi, anh sẽ trả cái quả mà anh đã gây ra cái nhân ấy... Một lát nữa, a ha! Khi mà rượu đã ngấm vào cơ thể tôi, và làm cho máu tôi đủ nóng lên rồi, con dao kia sẽ thay tôi mà nói chuyện với anh... Tôi muốn anh cũng phải chết bằng con dao mà anh đã giết Hoán... 
            Thiếu nữ rút trong mình ra một con dao găm cán bằng gỗ bóng mượt với cái lưỡi sáng hoắc... Dung la lên: 
            -           Trời ơi! Con dao rừng!
            -           Ha ha! Phải đấy, con dao rừng mà anh và Hoán đã dùng để chia nhau từng mẫu bánh, từng miếng thịt, mà cũng là con dao rừng đã tự tay anh cắm ngập vào trái tim Hoán ba lần... Con dao này ngày xưa đã nhuộm máu Hoán, thì bây giờ nó phải nhuộm máu của anh mới đủ nhiệm vụ của nó! Anh hiểu chưa... 
            Dung hối hận. Cuốn phim quá khứ đầy tội ác diễn lại chớp nhoáng trong trí anh. Anh rùng mình nhìn lưỡi dao sáng loáng kia... 
            Mắt thiếu nữ sáng quắc lên, nảy ra những tia lửa. Nàng đặt con dao vào ngay cuống họng Dung mà tay kia vẫn không rời cò súng: 
            -           Ha ha! Dung! Anh hãy nhìn đây, anh hãy nhìn kỹ tôi đi! 
            Nàng run lên, mặt đỏ sọng!
            Dung bị thôi miên trong cái nhìn ghê gớm của nàng. Chàng quên cả sự chạy trốn và cả sự chống cự. Tâm trí chàng rối loạn lên trong sự cắn rứt ghê gớm của lương tâm... Chàng đưa cổ ra như một kẻ tử tù, cứng cỏi bảo thiếu nữ: 
            -           Nguyệt! Cô cứ giết tôi đi. Tôi không chống cự đâu... 
            Nguyệt nghiến răng, mím chặt môi. Lưỡi dao vung lên thành một vệt dài sáng quắc... Dung lẩm bẩm : 
            -           Tổ Quốc! 
            Lưỡi dao bỗng dừng lại trên cổ Dung, và thiếu nữ trợn mắt lên, hổn hển hỏi dồn: 
            -           Cái gì? Anh vừa nói cái gì? Tổ Quốc! Tại sao anh lại nói câu ấy vào giờ này? Hử? 
            Dung chỉ còn đợi cái chết, trở nên rất bình tĩnh:
            -           Tổ Quốc! Cô không hiểu à? Tôi tiếc cho tôi bỏ dở dang một nhiệm vụ đối với Tổ Quốc... 
            -           Một nhiệm vụ với Tổ Quốc...?
            Thiếu nữ mệt mỏi nói câu ấy và bỏ rơi con dao xuống nền nhà... Tiếng thép khua lên sang sảng, ghê ghê... Nàng ôm đầu rú lên khóc và chạy biến vào nhà... 
            Dung bàng hoàng goi: 
            -           Nguyệt! Cô Nguyệt! 
            Chẳng có ái thưa cả. Chàng dội mưa về nhà, ngủ một giấc toàn là ác mộng. 
            Bữa sau, có một thằng bé đến trao cho chàng một bức thơ...
            Anh Dung,
            Tôi đã cả quyết giết anh để trả thù cho cái chết của Hoán và cho nỗi lòng đau khổ của tôi. Nhưng hai tiếng Tổ Quốc đã có năng lực mầu nhiệm làm cho tôi ngừng tay lại. Tổ Quốc đã cứu mạng sống anh đấy, vậy anh hãy trả cái ơn ấy cho Tổ Quốc. Còn tôi, không bao giờ tôi quên Hoán thì cũng không bao giờ tôi quên rằng anh đã giết Hoán... Chúng ta sẽ lại gặp nhau ở một ngày mà anh đã đền xong nợ với Tổ Quốc... 
                                                                                              N G U Y Ệ T
*
*   *
            Chàng bàng hoàng xếp lá thơ, thở dài hối hận... Có một chiếc xe traction chạy vụt ngang. Dung nhìn thấy hình ảnh người thiếu nữ áo đen trên ấy. 
 
 
 
 
                                                                                  NGUYỄN-XUÂN-MỸ
                                                                                  Mùa thu Tân Mão
 




Đăng nhập để trả lời
0