📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Túp lều của chú Tom - Harriet Beecher Stowe 🔒

36 trả lời, 2.136 lượt xem — Trang 1 / 2
Túp lều của chú Tom
Tác giả: Harriet Beecher Stowe
Người dịch: Minh Quân & Mỹ Lan
 
Vài hàng về tác phẩm và tác giả
 
TÚP LỀU CỦA CHÚ TOM là một tác phẩm nổi tiếng khắp thế giới. Đó là cuốn sách làm say mê hàng triệu độc giả. không riêng tại Châu Mỹ, mà ở khắp nơi, người ta vừa đọc vừa khóc vì câu chuyện thương tâm trong tác phẩm.
Chính danh tác này đã làm chấn động dư luận thế giới, lung lay tận gốc rễ chế độ nô lệ, khiến chế độ này phải đi đến chỗ bị bãi bỏ. Tổng thống Abraham Lincoln của nước Mỹ, người đã ký tuyên ngôn giài phóng nô lệ cũng tỏ lòng ngưỡng mộ, khâm phục tác giả.
Tác phẩm này được hoàn thành do sự phẫn nộ và xúc động của tác giả trước những phũ phàng tàn nhẫn do chế độ nô tệ gây ra mà tác già từng chứng kiến và nghe kể lại; phần lớn những nhân vật cũng như chi tiết trong tác phẩm đều là sự thật.


● ... Và tác giả:
Harriet Elizabeth Beecher Stowe (1811 - 1896) sinh tại Litchfield (Connecticut) con gái của giáo sĩ Lyman Beecher, 16 tuổi, Harriet sống tự lập bằng nghề dạy học, 26 tuổi Harriet thành hôn với giáo sĩ Calvin Stowe, bà sinh hạ được bảy người con (chết mất một đứa).
Bà tà một phụ nữ nhỏ nhắn, dáng dấp mảnh mai. Sự thành công ngoài sức tưởng tượng về tác phẩm vẫn không làm bà thay đổi, bà luôn luôn là một người mẹ hiền, vợ tốt luôn luôn khiêm nhường và dung dị. Được hỏi về kỹ thuật sáng tác, bà nhã nhặn trả lời là bà không có tài cán gì, chỉ viết dưới sự hướng dẫn cùa Thượng đế và lương tri.
Trong hai chuyến du hành ở Âu châu, bà được quần chúng tiếp đón nồng hậu, có người nài nỉ bà nhận những món quà quý giá, có người gởi đến bà cả rương tặng phẩm, dân chúng vây quanh bà. Người da đen hôn lên cà một đất, nơi mà bà đặt chân qua, tại New York.
Henri Dunant, một vĩ nhân thế giới, người đã có sáng kiến thành lập tổ chức Chữ thập đỏ có công lớn trong việc tìm mọi cách giảm thiểu đau khổ cho nhạn loại cũng nói rằng: ngoài thân mẫu ông, còn có ba phụ nữ khả kính đã ảnh hưởng đến đời ông, mà bà Harriet Stowe là một trong ba phụ nữ ấy.


0
 
Chương 1
 
Vào một buổi chiều tháng hai lạnh lẽo, trong gian phòng ăn tiện nghi tại thành phố P. của tiểu bang Kentucky, hai người đàn ông quý phái đang ngồi trầm ngâm trước cái chai không. Chẳng có một gia nhân nào thấp thoáng cạnh đó. Hai ghế ngồi được kéo lại rất gần nhau, hình như họ đang thảo luận một vấn đề quan trọng.
Thật ra vì lịch sự mà người ta dùng hai tiếng quý phái để chỉ chung hai người, chứ quan sát kỹ một chút thì khách quả không xứng đáng được xưng tụng bằng tiếng ấy. Gã không có phong thái của một người lịch sự và trí thức. Tầm thường và thô lỗ, gã vừa lùn tịt vừa béo phị. Điệu bộ lố lăng mà vênh váo, bần tiện chứng tỏ gã ta thuộc thành phần thấp kém vừa mới giàu nổi, mới vươn lên và đang đắc thế, ưa khoe khoang, lòe đời.
Cái lối ăn mặc của gã thật hết sức diêm dúa: áo gi-lê bóng loáng, sặc sỡ, cà vạt xanh điểm những chấm vàng, cái nơ kệch cỡm... Tóm lại, phục sức của gã thật phù hợp với con người lái buôn của gã. Hai cánh tay ngắn, phì nộn đeo nhiều vòng trang sức. Gã đeo một dây đồng hồ vàng với một chùm lắc to tướng. Trong lúc hăng say bàn luận, chuyện trò, gã lại có thói quen ưa khoa múa đôi tay cho các món trang sức này va nhau, kêu vang lên để được dịp biểu lộ hết vẻ hiu hiu tự đắc của mình ra.
Người đối thoại - là chủ nhân - thì ngược lại, khác hẳn gã: ông hội đủ các điều kiện mà người ta đòi hỏi ở một người quý phái. Cách trang trí xếp đặt trong nhà chứng tỏ ông là người lịch sự và giàu có. Như chúng ta đã nói trên, đôi bên đang thảo luận gay go một vấn đề, giọng ông Shelby :
- Đó là cách tôi xếp đặt công việc...
- Cách xếp đặt của ông? Không đâu, tôi không bằng lòng cách ấy.
Vừa nói, người khách vừa đưa cao ly rượu ngang tầm mắt.
- Dù sao đi nữa... Ông Haley ơi! Tom là một người hiếm có. Đối với tôi, Tom đáng giá hơn mọi vật trên đời này: hắn là một người tháo vát, giỏi giắn, lương thiện. Nhờ Tom, công việc trong trang trại này đều đặn như cái đồng hồ tốt.
- Lương thiện? Ông có thể bảo một tên mọi đen là lương thiện ư?
- Thật ra tôi còn muốn nói Tom trọng danh dự, chăm chỉ và ngoan đạo nữa kia. Tom đã trở lại đạo cách đây bốn năm trong dịp có nhà truyền giáo đi ngang. Tôi tin tưởng đức trung hậu của hắn vì từ sau đó tôi giao cho hắn tiền bạc, ngựa, nhiều thứ của tôi để Tom đi lại khắp miền trong xứ và lúc nào, ở đâu tôi cũng nhận ra là Tom đứng đắn, trung thành, xứng đáng với lòng tin của tôi. Tôi phải thành thật mà thú nhận với ông điều này: tôi rất buồn vì xa Tom, nếu có cách khác thì tôi không bao giờ... Nào! Haley! Vấn đề này thật khó khăn... May ra ông còn chút lương tâm.
- Tôi có đầy đủ thứ lương tâm mà một người chạy áp phe cần có để suy tính phải chăng - Giọng gã đầy vẻ giễu cợt - và tôi sẵn sàng làm tất cả những gì vừa ý bạn bè, ông Shelby ạ. Song thời buổi khó khăn... thật vậy, quá khó khăn.
Gã ngừng nói, thở dài sườn sượt và tợp thêm ngụm rượu.
- Này, Haley! Vậy thì... cuối cùng, anh đòi hỏi gì đây?
Ông chủ nhà lên tiếng sau một khắc im lặng nặng nề.
- Dễ chừng ông không còn ai, gái hay trai đặng bán cho tôi thêm với Tom hay sao?
- Có chứ! Nhưng tôi chẳng muốn xa ai cả. Nói cho đúng ra, chỉ khi nào đến nước cùng rồi, tôi mới nghĩ đến điều bất nhân ấy. Tôi không muốn phải xa những gia nhân của tôi, ông Haley ạ!
Đúng lúc đó cánh cửa phòng bật mở, một đứa bé lai cỡ bốn năm tuổi bước vào phòng. Thằng bé nom thật kháu khỉnh dễ thương: tóc nó đen óng như lụa, mịn màng bao quanh khuôn mặt tròn mịn, đôi mắt to, đen, cái nhìn sáng quắc xuyên qua hàng lông mi rậm và dài. Vẻ tò mò, nó quan sát khắp gian phòng. Nó mặc một cái áo dài lụa óng ánh, may thật khéo, vừa vặn, làm nổi bật nét xinh xắn của một đứa trẻ lai lên. Dáng bộ nó dung dị, tự nhiên, thoải mái chứng tỏ nó được chủ nhân rất mực thương yêu.
- Đến đây, bé Corbeau! - Ông chủ vẫy nó và ném cho nó chùm nho - Này, bắt lấy xem nào!
Thằng bé xòe đôi bàn tay nhỏ bé ra đón nhận chùm nho.
- Nào, bây giờ con múa hát cho ông xem nào!
Thằng bé bắt đầu bằng một bài hát kỳ lạ hơi man rợ, khá quen thuộc đối với dân da đen. Giọng nó trong vắt và thanh thoát. Vừa hát nó vừa múa tay, múa chân nom thật buồn cười. Tất cả những cử động của nó hòa hợp đúng nhịp với bài ca.
- Hoan hô cậu bé! - Gã buôn người vứt cho thằng bé phần tư trái cam.
- Bây giờ thì con bước đi như lão già Cudjox lúc bị cảm cúm đi! Jim!
Ngay tức thì, đôi tay mềm dẻo của nó buông thõng xuống và nó thay đổi điệu bộ. Một cái bướu nổi lên giữa hai vai, với cây can của ông chủ cầm ở tay, nó nhái hệt dáng bộ già nua, khổ sở của lão già tám mươi, đi khập khà khập khiễng quanh phòng, hết nghiêng sang phải lại nghiêng bên trái.
Hai người đàn ông cười rộ lên, vui vẻ.
- Giờ thì - Ông chủ lại giục - con hãy hát giống như lão Eldec đã hát ở nhà thờ cho ông nghe đi, Jim!
Lần này, Jim cố tạo vẻ mặt trang nghiêm, kéo dài khuôn một bầu bĩnh ra, hát một bài Thánh ca bằng giọng mũi.
- Hay quá sút! Hoan hô, hoan hô! Cậu bé thật giỏi!
Haley khen và đặt tay lên vai chủ nhân, nói tiếp :
- Tôi... tôi lấy cậu bé này là đủ rồi. Sao? Được chứ ông Shelby?
Chợt cánh của phòng bật mở ra, một cô gái nô lệ lai khoảng hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi nhẹ nhàng bước vào phòng...
Cùng một đối mắt long lanh sáng với đôi hàng mi dài, cùng một mái tóc đen và mướt như nhung. Cách ăn mặc trang nhã càng làm cho cô thêm nét xinh xắn. Đôi tay thanh, đôi chân nhỏ nhắn, gót chân thon của cô gái không thoát khỏi cái nhìn hau háu của gã lái buôn.
- Chuyện gì đó, Elisa?
Ông chủ hỏi khi thấy người tớ gái đứng lại ngập ngừng nhìn ông.
- Thưa ông, cháu đến tìm bé Jim. Xin lỗi ông...
Thằng bé lao về phía mẹ nó, không quên đem theo mấy thức ăn vừa nhận được.
- Được, dắt nó đi, Elisa!
Ông chủ nói. Người mẹ ôm chặt con trong tay, bước nhanh ra khỏi phòng.
- Chúa ơi! - Gã lái buôn cất giọng thèm thuồng - Đúng là một món hàng tuyệt vời! Ở Orléans, chỉ với con bé đó, ông có thể làm giàu to bất cứ lúc nào... Tôi đã thấy họ trả hàng “nghìn” để đổi lấy những cô gái kém xa con bé Elisa này...
- Tôi không muốn làm giàu bằng cách ấy.
Giọng ông Shelby khô khan, bực tức và như để đánh trống lảng, ông khui một chai rượu mới, hỏi ý kiến gã buôn người về phẩm chất thứ rượu này.
- Ngon! Ngon tuyệt! Thượng hảo hạng!
Gã cất tiếng nồng nhiệt khen nhưng không quên mục đích chính của mình. Ngay người lại, gã làm vẻ thân mật, đập tay lên vai chủ nhân, gã hỏi :
- Này, cô gái đó... giá bao nhiêu? Ông có thể...
- Haley! Tôi không bán nó đâu. Vợ tôi quý mến nó lắm, đừng nghĩ tới chuyện này, vô ích.
Haley cười khả ố :
- Hề hề... Đàn bà thì biết tính toán gì đâu. Chỉ cần cho họ biết là với con bé ấy có thể mua được vô số đồ trang sức xinh đẹp đáng giá, họ sẽ đổi ý ngay ấy mà. Tôi dám cá với ông như vậy.
- Haley! Tôi xin cho ông biết rõ hơn: đừng bàn đến chuyện này. Tôi đã nói là không được, tôi không đổi ý đâu.
Giọng ông quả quyết.
- Vậy thì ông giao cho tôi đứa bé, ông bằng lòng chứ? Tôi nghĩ là...
Chả nhân ngắt lời khách :
- Ông định làm gì thằng bé đó?
- À, tôi có một người bạn chuyên môn về ngành mua bán này. Anh ta cần những đứa trẻ kháu khỉnh để bán lại. Nhiều người giàu có đặt mua. Nhiều đại gia họ cần những đứa trẻ dễ thương như thế để mở cửa, dọn bàn, hầu hạ v.v... Chúng cũng đáng giá lắm đấy nhé! Riêng thằng bé này, nó có thể vừa là kịch sĩ, vừa là nhạc sĩ, chứ không chơi đâu. Nó...
- Tôi nghĩ là không thể bán nó...
- Vì lý do gì?
Cố nén bực tức, Haley hỏi gặn. Vẻ nghĩ ngợi, ông Shelby đáp :
- Lý do là, thưa ông, thế này này: tôi là một con người, tôi không muốn chia rẽ mẹ con nó. Tôi không đành lòng...
- Đứng vậy! Ôi! Tiếng gào khóc của người mẹ!... Tôi hiểu ý ông: có những trường hợp người phụ nữ rất đau khổ, tôi thì... hề hề... tôi ghét cay ghét đắng tiếng khóc lóc, lời kể lể của họ, nghe thật bực mình. Nhưng thưa ông, cũng có cách chứ: chẳng hạn tống khứ con mẹ nó đi đâu vài hôm hay một tuần. Khi nó trở về mọi sự sẽ êm thấm, xong xuôi hết... Vợ ông có thể cho nó đôi hoa tai, cái áo hay một thứ trang sức rẻ tiền lặt vặt là nó quên ngay ấy mà! Khó khăn gì!
- Ông dám nói vậy sao? Nói vậy mà nghe lọt tai sao?
Chủ nhân xẵng giọng. Haley dẫn dụ :
- Kìa, chớ nóng nảy.. Ông thừa biết là tụi da màu đâu giống dân da trắng ta? Chính ta dạy chúng biết điều hay lẽ phải trong mọi cách đối xử. Hiện giờ dư luận quần chúng vẫn nói là - Giọng Haley trầm trầm, ra tuồng tâm sự - những kẻ buôn người không có chút lương tri. Thật ra, đó là thành kiến sai lầm, vì tôi không hề xử sự tàn nhẫn như các đồng nghiệp khác. Ông biết không, tôi đã tận mắt chứng kiến đấy nhé, họ dùng sức mạnh dứt đứa trẻ khỏi tay mẹ nó để đem đi bán. Mẹ nó thì la hét như một mụ điên. Thật là một hành động tồi tệ. Làm thế thì hư hỏng món hàng đi chứ lợi gì? Đôi khi nó trở nên hoàn toàn vô dụng là khác. Tôi kinh nghiệm nhiều về điều này. Này ông Shelby, ta phải tỏ ra là văn minh, phải không?
Gã lái buôn người ngồi dựa ngửa ra ghế, khoanh hai tay lại, dáng bộ của một người đạo đức... giả hiệu. Có một cái gì vừa hài hước, trơ trẽn vừa mâu thuẫn trong lối lập luận của gã khiến cho ông Shelby không thể nhịn cười, song là nụ cười chua chát. Hứng chí vì tiếng cười của ông, gã thao thao tiếp :
- Thật lạ lùng, nhưng tôi không thể nào thay đổi lề lối làm việc cũng như cách cư xử này. Ông biết không: tôi có một người bạn cũ tên là Tom, Tom Liker. Anh ta rất khôn ngoan, nhưng riêng đối với bọn da đen thì thật đúng là một ác quỷ điển hình. Hắn cho rằng hắn xử sự rất đúng, không phải bàn cãi lôi thôi chi cả. (Mà thật ra các đồng nghiệp tôi đều giông giống hắn, y như họ không có tình cảm nữa). Tôi vẫn thường cự hắn: “Này, Tom! Khi trông thấy bọn phụ nữ đó khóc lóc thảm thiết vì mẹ con bị chia cách, tôi cho là tệ hơn họ bị đấm đá, mắng nhiếc tàn nhẫn nữa. Như thế thật không nên. Ừ, thì cứ cho là tiếng khóc lóc, rền rĩ ấy không làm hại về phần mình, dĩ nhiên; nhưng sẽ có hại cho người mua. Hơn nữa có thể anh làm hư hỏng bọn chúng: chúng sẽ bệnh bất ngờ, đôi khi trở thành quẩn trí, điên cuồng. Đặc biệt, bọn nô lệ da vàng thì không có thuốc nào trị nổi, vô phương cứu chữa. Sao anh không thử dịu dàng một chút, ờ, chẳng hạn như dỗ dành họ, nói năng tử tế với họ. Này, một chút từ tâm có lợi hơn so với lối đối xử thô bạo anh vẫn áp dụng lâu nay. Tử tế một chút sẽ có lợi hơn, nghe tôi đi, Tom Liker!”. Mà hắn không thèm nghe lời tôi, càng lúc càng độc ác, tàn bạo đến nỗi sau cùng tôi đành phải dứt việc mua bán với hắn. Thật ra thì cũng.... tiếc đấy: hắn tốt bụng và là tay lão luyện trong việc buôn người.
- Và phần ông, ông cho là ông biết cách xử sự hơn Liker ư?
- Chắc chắn như vậy, thưa ông! Bất cứ lúc nào liệu có thể tránh được là tôi tránh liền sự phiền toái. Ví dụ như tôi muốn bán một đứa nhỏ, việc đầu tiên là tôi cho người mẹ đi xa. Ông biết mà: phương ngôn có câu “xa mặt cách lòng”. Khi việc mua bán xong xuôi, mẹ nó trở về không còn nhớ tưởng gì đến con hết. Tụi... giống da đen là vậy, đâu phải như người da trắng mình? Chúng làm gì có ý niệm về tình mẫu tử thiêng liêng cao quý? Chúng đâu hiểu rằng mẹ phải nuôi con cũng như vợ ở với chồng. Này ông bạn, một tên da đen chỉ cần được đối xử tử tế là đủ, chứ không cần đến con cái chi đâu. Nhờ vậy việc mua bán rất dễ đàng...
- Tôi nghi ngờ lời ông. Tôi tin là những gia nhân của tôi chúng không chỉ muốn được đối xử tử tế là đủ mà họ còn muốn được coi như những con người đúng nghĩa kia, ông Haley ạ!
- Có thể, có thể... các người da trắng ở Kentucky này bày đặt, nuông chìu bọn chúng, xử tốt với chúng. Nhưng dù gì đi nữa, tôi không cho đó là tình người đối với người mà chỉ là do lòng thương hại. Tụi da đen chỉ là tụi da đen, thế thôi. Chúng sinh ra là để làm tôi mọi cho ta, cho ông, cho tôi, cho Dick, cho bất cứ ai. Chớ gieo vào đầu óc tối mịt của chúng những tư tưởng, hy vọng được giải phóng, điều đó chỉ khiến cho chúng cảm thấy rõ thân phận chúng, khiến cho công việc chúng nặng nề thêm. Tôi muốn, cách khôn ngoan nhất là chỉ nên coi chúng như bầy gia súc...
- Tôi sẽ suy nghĩ kỹ về lời ông và tôi sẽ bàn với nhà tôi. Tuy nhiên, có điều này tôi báo trước cho ông hay; nếu ông muốn mua bán êm thấm, trôi chảy, ông cần phải kín miệng một chút, vi nếu có tiếng đồn đãi nổi lên thấu đến tai gia nhân tôi thì khó mà làm dịu sự căm phẫn của họ.
- Dĩ nhiên, dĩ nhiên. Tôi xin hứa với ông. Và tôi cũng báo cho ông biết, là tôi gấp lắm, tôi cần biết ý kiến của ông càng sớm càng tốt về vấn đề này.
Gã đứng lên khoác áo choàng, đoạn chào chủ nhân ra về.
Nhìn theo gâ, ông Shelby lẩm bẩm bằng giọng tức tối :
- Ước gì ta có quyền giết sạch cái hạng người như Haley. Đúng là hạng vô liêm sỉ. Hắn lợi dụng chỗ yếu của ta để dồn ta vào ngả bí. Chúa ơi! Mọi lần, động có tên buôn người nào mở miệng hỏi mua Tom là lập tức ta dằn mặt hắn ngay: “Dễ chừng anh tưởng gia nhân tôi là súc vật sao mà dám hỏi mua?”. Song giờ đây, ta thất thế mà... ta dành chịu. Lại còn đứa con của Elisa nữa. Chao ơi! Làm sao mà mở miệng nói với bà ấy cho được... Với Tom cũng vậy! Ôi, mang công mắc nợ như ta hiện giờ... Khốn nạn quá đi, trời ơi! Hắn bắt bí ta...
* * * * *
Shelby là một người hiền hậu, dễ dãi và đầy lòng từ ái. Ông rất rộng lượng đối với tất cả gia nhân. Lúc nào ông cũng quan tâm đến sức khỏe và tiện nghi của những kẻ dưới quyền mình, song than ôi! Gần đây ông lỡ lao vào nhiều vụ đầu tư mù quáng; ông đã vay những món tiền đáng kể. Giấy nợ của ông hiện nằm trong tay gã buôn người Haley.
Đó là lý do chính khiến ông phải nhẫn nhục trong cuộc đối thoại vừa qua, ông đã nhượng bộ hắn.
Elisa, trong khi rút lui đã lén đứng lại gần cửa nghe lỏm câu chuyên giữa đôi bên và cô đã hiểu nghề nghiệp của khách lạ. Elisa còn muốn nán lại để tìm hiểu thêm song bà chủ gọi cô ngay lúc đó nên cô đành phải đi ra.
Tuy nhiên, linh tính báo cho cô biết là họ đang để ý đến con mình, điều này làm cho Elisa nghe đau nhói ở tim và trống ngực cô đập như trống trận. Bất giác, Elisa ghì chặt con vào lòng khiến đứa nhỏ trố mắt nhìn mẹ kinh ngạc.
- Elisa. Hôm nay con làm sao vậy? Hay là con không được khỏe?
Bà chủ ngạc nhiên hỏi khi thấy Elisa đưa cho bà lẫn lộn hết vật này đến vật khác, bà bảo đưa bà cái áo lụa cô lại đưa bộ đồ ngủ, cô đụng ngã cái bàn đựng đồ khâu may của bà. Nghe chủ hỏi, người tớ gái sực tỉnh, khựng lại :
- Bà ơi!
Cô ngẩng mặt nhìn lên thốt ra hai tiếng đó rồi im bặt, nước mắt ràn rụa trào ra. Cuối cùng cô ngả người trên ghế thổn thức khóc thành tiếng.
- Kìa, Elisa có chuyện gì vậy, hở?
- Bà ơi! Có một người lạ đang nói chuyện với ông nhà trong phòng, con nghe rõ hết...
- Con điên rồi sao? Họ nói về cái gì mới được chứ?
- Thưa, bà có tin là ông... ông muốn bán cháu Jim của con không?
Một lần nữa người mẹ đáng thương lại ngả vật ra ghế khóc nức lên.
- Đừng nói ngu! Con biết rõ ông mà, ông không bao giở giao thiệp với bọn buôn người ở miền Nam. Mà ông con cũng không có thói quen bán gia nhân của mình dù cho kẻ đó có làm điều lầm lỗi đi nữa. Mà ai điên khùng gì bỏ tiền ra mua thằng Jim của con, để làm gì chứ? Con nên nhớ Thượng đế tạo ra mọi người với một quả tim đầy tình thương như chúng ta, như con vậy. Thôi, lau nước mắt đi rồi giúp ta mặc áo và còn làm đầu tóc nữa. Con nên nhớ: đừng bao giờ nghe lén người khác chuyện trò, xấu lắm, biết không?
- Cảm ơn bà, song... không hiểu sao con thấy sợ...
- Đừng có ngốc quá như vậy! Đừng nhắc đến chuyện này với ta. Trong nhà này, dù sao đi nữa còn có ta đây, dễ thường ta để yên cho ai muốn làm gì tùy ý sao?
Cô tớ gái được trấn an nhờ những lời cúng rắn của nữ chủ nhân, mau mắn giúp bà trang điểm và tự cười rằng mình đã lo sợ một cách hão huyền.
Quả thật bà Shelby là một phụ nữ hoàn toàn về mọi mặt. Bà có đức độ, giàu tình cảm và thông minh. Với tâm hồn cao thượng và từ tâm vốn có của phụ nữ xứ Kentucky, thêm vào đó là niềm tin tưởng vô bờ vào đạo đức khiến cho mọi hoàn cảnh rắc rối của đời sống luôn được bà giải quyết khéo léo và cương quyết. Chồng bà, mặc dù không triệt để tin vào một tôn giáo nào, vẫn kính nể tôn giáo của vợ. Ông tỏ ra tôn trọng ý kiến bà, giao cho bà toàn quyền trong việc cai quản, dạy dỗ và nuôi nấng đám nô lệ. Ông không bao giờ nhúng tay vào việc này.
Không hẳn cho là vợ mình như bậc thánh, ông vẫn công nhận bà hội đủ hai đức lớn: thuần hậu và đạo đức. Ông hy vọng với ngần ấy đức tính bà đáng được lên Thiên đường sau khi chết và điều này tránh cho ông tự phụ về tư cách cá nhân mình.
Song bà Shelby lại không thực tế mấy. Vì vậy bà mù tịt về nỗi túng quẩn của chồng. Ngoài ra, bà vững tin vào người chồng phúc hậu của mình nên nhất định không tin chút gì về nỗi lo âu chính đáng của Elisa, đến nỗi bà không chú ý gì nữa sau mấy lời an ủi. Bà chăm chú sửa soạn cho buổi tiếp tân tối hôm nay, mọi điều khác đã được gạt ra khỏi đầu óc thuần khiết của bà.

📎 tlcct1
0
 
Chương 2
 
Elisa được bà chủ nuôi nấng từ tấm bé, cô lớn lên mặc nhiên hưởng nhận sự thương yêu và rộng lượng của ông bà Shelby. Vào tuổi thành nhân, Elisa kết hôn với George-Harris, một thanh niên đồng chủng cùng địa vị như cô ở trại láng giềng.
Chủ nhân của Harris cho anh làm công nhân trong một xưởng may bao. Tháo vát và khá thông minh, anh được nâng lên một địa vị cao nhất xưởng vì anh sáng chế ra được một cái máy dệt sợi gai.
Thật ra, nếu không vì vướng màu da và giai cấp xã hội, người ta có thể coi anh như một nhân tài có sáng kiến ngang với Whitney, người đã sáng chế ra máy dệt tơ lụa.
Harris tỏ ra là một người có đủ tư cách cũng như lòng nhân hậu, tất cả nhân viên trong xưởng từ lớn đến nhỏ đều một lòng quý mến anh. Mặc dù vậy, dưới con mắt luật pháp, chàng trai có khả năng này vẫn không được coi như một con người, như mọi công dân da trắng khác, mà là một đồ vật: tất cả đặc tính phi thường của chàng đều được đặt dưới quyền thao túng chuyên chế của lão chủ tầm thường, đầu óc ích kỷ, hẹp hòi. Do đó, khi những lời đồn đãi về khả năng và vật anh sáng chế ra bay đến tai lão chủ nhân da trắng này, tức thì lão đi ngay đến xưởng để xem xét. Lão nôn nả muốn biết sinh vật thuộc quyền sinh sát của lão làm được trò trống gì thật hay chỉ là lời đồn đại vô căn cứ.
Lão được ông Giám đốc tiếp đón niềm nở, xưng tụng lão vì lão đã có công thu nạp được một nô lệ tài ba, đặc biệt.
Harris, niềm hãnh diện của lão ở xưởng, đã chỉ cho lão cái máy do anh sáng chế. Anh không thể ngờ là với những lời giới thiệu máy một cách nồng nhiệt rành rẽ, anh đã vô tình chạm đến cái mặc cảm thấp kém, ngu dốt của lão ta. Hừ! Biết đâu một ngày sắp đến tên nô lệ này sẽ được chu du khắp xứ, chế ra vô số máy móc đặc biệt, phi thường và ngẩng đầu lên cao ngang hàng với bọn chủ nhân trưởng giả cỡ lão? Chỉ nghĩ đến đó là lão tức lộn tiết lên rồi. Không đâu. Lão thấy có bổn phận phải dìm nó xuống, phải đem nó về trại, bắt nó đào đất, cuốc đất... Đào và cuốc đất, vậy thôi. Đừng hòng có dịp thi thố tài năng! Đừng hòng! Rồi đầy, để coi nó làm gì nên trò trống được với lão. Thế là không do dự một giây, lão đòi bắt Harris về, không cho mướn nữa.
Quyết định bất ngờ của ông chủ da trắng làm cho viên giám đốc và hầu hết thợ thuyền trong xưởng kinh ngạc tột độ.
- Nhưng, thưa ông... - Người cai xưởng ngập ngừng hỏi - có lẽ ông quyết định hơi vội...
- Không vội đâu! Anh thừa biết là nó thuộc quyền tôi chứ?
- Dĩ nhiên, thưa ông. Nhưng... nếu ông vui lòng cho Harris làm lại, chúng tôi tăng thêm lương...
Lão chủ gạt phăng đi :
- Đây không phải là lý do. Tôi không thích cho mướn nô lệ nữa, hiểu không? Mà hễ tôi đã không muốn cho mướn là...
- Xin ông nghĩ lại, vả hiện giờ anh ấy đang đảm nhiệm một công tác đặc biệt vừa được giao phó.
- Hơn nữa, ông cũng nên nghĩ đến cái máy mà anh ấy sáng chế ra...
Một người thợ rụt rè lên tiếng bênh vực Harris. Lão chủ đê tiện cười nhạt :
- À! Cái máy! Một cái máy để khỏi làm việc mệt nhọc chứ gì? Đó chính là mục đích khiến hắn để tâm sáng chế, tôi đánh cá với các anh đó! Hừ! Cần chi phải chế ra máy móc: chính tụi da đen chúng há không là những cái máy hoàn hảo đó rồi ư? Thôi, khỏi bàn cãi lôi thôi, tôi muốn nó phải về trại.
* * * * *
Harris, sau đó phải về trại theo lệnh chủ nhân và được giao cho những công việc nặng nhọc nhất. Con người bị coi như một đồ vật đó không thể phản đối sự độc ác của chủ nhân bằng lời nói, nhưng bằng ánh mắt căm phẫn, vầng trán và nét mặt u tối, buồn rầu.
Chính trong thời kỳ làm việc thong thả và sung sướng ở xưởng, Harris đã gặp Elisa và kết hôn với nàng. Thời kỳ này, được cai xưởng tin cẩn, quý mến, anh có rất nhiều tự do.
Hôn lễ cử hành có sự tán thành của chủ nhân Elisa. Cũng như các phụ nữ từ tâm khác, bà Shelby vui vẻ đứng ra tổ chức lễ cưới. Bà rất hài lòng vì tớ gái của bà xinh đẹp và giỏi giang, lấy được một cậu thanh niên thông minh, có tương lai. Quả thật bà không chê Harris một điểm nhỏ nào. Tiệc cưới diễn ra trong phòng khách rộng lớn của bà và tận tay bà trang điểm cho cô dâu, cài hoa cam lên mái tóc óng mượt và phủ lên đó tấm voan trắng muốt. Bà Shelby cho là chưa bao giờ một tấm voan được phủ lên một mái tóc đẹp như thế. Thật là một lễ cưởi hoàn mỹ, không thiếu chi cả: găng tay trắng, voan phủ tóc, bánh ga-tô, rượu nho v.v...
Rất đông quan khách đến chúc mừng hôn lễ, chúc mừng tân nhân và chia sẻ niềm vui cùng bà chủ nhân từ.
Suốt hai năm ròng, Elisa gặp chồng thường xuyên và quả thật họ đã sống những ngày khá hạnh phúc. Có lẽ họ hoàn toàn sung sướng hơn nếu không xảy ra hai cái chết của hai đứa con đầu: Elisa bị sinh non. Elisa buồn lắm, gần như quẩn trí. Nhờ những lời an ủi dịu dàng của bà Shelby, nhờ tấm lòng từ mẫu của bà, cô mới chịu đựng và vượt qua thử thách đầu tiên trong đời làm vợ.
Thế rồi, Jim ra đời, Elisa trở lại hồn nhiên, vui vẻ như xưa. Elisa sống ngợp trong hạnh phúc như con cá trong nước vậy. Nàng không mơ ước chi hơn. Nhưng những ngày vui đó chấm dứt khi lão chủ độc ác bắt chồng nàng thôi việc ở xưởng, trở về trại làm việc dưới gọng kìm sắt của lão, tên chủ nhân pháp định vô lương.
Viên cai xưởng giữ lời hứa với người thợ da đen đáng mến, hai tuần lễ sau khi Harris thôi việc, thân hành đến thăm chủ Harris với hy vọng là ngọn lửa tức giận vô lý của lão ta đã tàn. Ông ta không nề hà gì, miễn sao được đưa chàng thanh niên đó trở về làm việc trong xưởng. Song chủ Harris trả lời điều yêu cầu chính đáng của ông bằng giọng bực tức và chắc nịch :
- Đừng phí công thuyết phục tôi, vô ích. Tôi biết tôi phải làm gì và tôi không đổi ý đâu.
- Thưa ông, tôi không lợi riêng trong việc này, tôi mong ông nghĩ lại, ông mà chịu cho Harris trở lại xưởng, ông sẽ được hưởng nhiều quyền lợi hơn.
- Biết rồi, tôi biết rõ điều này từ hôm đến xưởng lận kia. Nhưng tôi đã nói tôi không bằng lòng là tôi không bằng lòng. Chúng ta sống trong một nước tự do mà. Tên mọi đen này thuộc quyền tôi, tôi muốn sử dụng nó cách nào tùy ý tôi, chỉ vậy thôi.
Hy vọng cuối cùng của Harris tắt ngấm. Trước mặt anh lúc này chỉ còn một chuỗi dài những ngày đọa đày, tủi nhục. Đời sống chàng sẽ tối tăm hơn, thảm khổ hơn, không vì lao lực mà chính vì những lời mắng mỏ, khinh miệt độc ác của chủ nhân. Tất cả những thứ đó như những mũi nhọn xuyên sâu vào trái tim anh.
Một nhà luật pháp từng tuyên bố: “Treo cổ một người là hành động tồi tệ, dã man mà người ta dành cho đồng loại”. Ông có lầm chăng? Chủ nhân của Harris còn đối xử với anh tàn tệ hơn là treo cổ nữa kia, trời ạ!

📎 tlcct2
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.06.2015 18:44:51 bởi casau>
 
Chương 3
 
Bà Shelby đi ra trong khi Elisa đứng nhìn theo trong hành lang. Lòng buồn rầu, cô tần ngần đưa mắt nhìn theo chiếc xe cho đến khi khuất dạng. Chợt một bàn tay đặt lên vai làm nàng giật mình quay phắt lại và nụ cười nở trên môi làm sáng rực khuôn mặt u tối của nàng.
- Harris, anh đấy ư? Anh làm em hết hồn đi chứ. Chao, em đang mong được gặp anh biết chừng nào. Bà đi vắng trọn buổi chiều hôm nay. Anh hãy đến phòng em đi! Chúng ta có rất nhiều thì giờ để nói chuyện.
Vừa nói, Elisa vừa dắt chồng đi về phía phòng mình. Đó là một căn phòng nhỏ khá xinh nhìn ra mặt tiền, nơi nàng vẫn thường ngồi may vá vừa tầm tiếng gọi của nữ chủ nhân.
- Ồ! Harris! Em sung sướng quá đi!... Ủa, mà sao anh lạnh ngắt vậy, hở? Coi con kìa, nó mau lớn ghê không?
Jim bám chặt gấu áo mẹ, nhìn trộm cha trong lúc Elisa đưa tay vén những lọn tóc lòa xòa đoạn ôm chặt con vào lòng, người mẹ hãnh diện :
- Anh trông, con mình đẹp chứ, hở?
Harris chua chát bảo vợ :
- Anh nghĩ rằng giá nó đừng ra đời, tốt hơn... cả anh nữa, đáng lẽ anh cũng đừng...
Thiếu phụ sững sờ nhìn chồng rồi dựa đầu vào vai anh, khóc nức lên. Tiếng Harris vẫn đều đều vọng vào tai vợ :
- Thật khốn nạn! Anh chỉ là một thứ sinh vật - Giọng anh dịu dàng hơn - anh hối tiếc đã gây khổ lụy cho em, em đáng ra phải được sung sướng nếu không có anh, nếu không gặp và làm vợ anh. Tại sao ta lại gặp nhau?
- Harris! Anh có thể nói vậy được sao? Có gì xảy ra vậy, hở anh? Từ trước đến nay ta vẫn sống trong hạnh phúc mà?
- Đúng thế, em yêu dấu. Ta đã hạnh phúc...
Anh đặt con ngồi lên gối, nhìn chăm chăm vào mái tóc đen kịt và mượt, dùng những ngón tay cài vào mái tóc đó, anh lại tiếp :
- Đây là hình ảnh của em, Elisa ạ! Và em là người đàn bà đẹp nhất mà anh được biết, một người vợ hoàn toàn... Nhưng sao anh vẫn ao ước chúng ta chớ có gặp nhau hơn.
- Anh ơi! Em biết là anh buồn khổ vì bị bắt thôi việc ở xưởng, công việc hợp với khả năng anh, em biết chủ anh độc ác, ích kỷ. Nhưng em van anh, hãy kiên nhẫn... rồi đây... có lẽ nào...
- Kiên nhẫn? - Người chồng ngắt lời vợ, hằn học - Anh đã kiên nhẫn nhiều rồi. Lão đã bắt anh rời khỏi xưởng không có lý do nào khác hơn là lòng ganh tị nhỏ nhen của lão. Trong xưởng ai cũng hài lòng về anh, ai cũng xử tốt với anh. Anh đã không kêu ca, để mặc lão nhận hết nguồn lợi do công việc anh mang lại mà lão vẫn chẳng bằng lòng.
- Georges! Anh làm em hãi quá đi! Em chưa từng thấy anh phẫn uất đến mức này. Em lo quá, anh ơi! Em hiểu anh, em hiểu sự chịu đựng của anh... nhưng anh phải nghĩ đến tình yêu của chúng ta, đến Jim...
- Anh đã nhẫn nhục nhiều quá rồi, hết chịu nổi rồi. Tinh thần và thể xác anh đều kiệt quệ vì chịu đựng. Hễ có dịp là lão chộp lấy hành hạ anh, mạt sát anh. Anh đâu có phải vô tri giác? Anh có quyền được sống yên ổn, làm việc vừa với sức mình và có chút thì giờ để đọc sách và học hỏi thêm ngoài giờ làm việc chứ? Lão biết rằng mặc dù không nói ra, anh hiện đang bất mãn và lão quyết diệt cái mầm bất mãn này, lão tìm đủ mọi cách. Đúng đó em ơi! Một ngày kia...
- Anh Harris! Chúng ta sẽ ra sao? - Elisa ràn rụa nước mắt, giọng nàng khẩn thiết - Em lo sợ quá đi, anh ạ!
Harris kể cho vợ biết là mới hôm qua đây, trong lúc anh chất đá lên chiếc xe ngựa thì tiểu chủ đứng đó giơ cao ngọn roi quất vào con ngựa lớn làm nó kinh sợ. Anh đã dùng giọng lễ phép nhất để van xin cậu ta đừng làm thế mà cậu ta không nghe, cứ tiếp tục nghịch kiểu đó. Anh lại năn nỉ cậu ta, lần này cậu ta quay ngọn roi lại quất tưới lên mình anh. Anh nắm lấy cánh tay cậu, chỉ có thế thôi, cậu ta liền la hét rầm rĩ lên, dùng chân đá vào mình anh rồi chạy lại phía cha, mách là anh đánh cậu. Lão chủ hầm hầm bước ra, giận dữ nói là muốn dạy anh một bài học về sự kính trọng chủ nhân. Lão thực hành bài học ấy như sau: lão trói nghiến anh vào thân cây, chặt cành và cho phép con trai được đánh anh cho kỳ đến lúc nào thấy mệt, muốn ngừng thì thôi.
- Cậu con trai lão đã làm theo lời cha, và anh thì... Suốt đời anh, anh không bao giờ quên được cái nhục khổ ngày hôm qua đâu, em ạ!
Harris mím chặt môi, vầng trán cau lại, ánh mắt anh rực lửa căm hờn. Elisa run rẩy lắng nghe.
- Tại làm sao anh lại thuộc quyền lão? Tại làm sao? Anh cũng là người mà? Anh muốn biết điều này...
Elisa buồn bã cất tiếng :
- Dù sao, ta phải vâng lời ông bà chủ vì ta là người có đạo...
- Em có lý do để tuân lệnh chủ - Harris nói - vì chủ em nhân hậu và đã nuôi em như nuôi một đứa con, đối xử tốt với em. Còn anh, anh nhận được gì ở chủ anh: những cú đấm, những cái tát, những cái đá, những lời mạt sát, chửi rủa tàn tệ... Chưa kể đôi khi còn bị bỏ đói. Phải chăng đó là định mệnh trời dành cho anh? Anh nợ gì họ? Anh đã trả, đã trả công nuôi gấp trăm lần, anh hết muốn khổ rồi. Hết rồi!...
Harris nắm chặt tay lại, cau mày, dáng bộ hung tợn đến nỗi Elisa kinh hãi.
Nàng nín lặng run sợ vì nàng biết rằng những lời khuyên nên nhẫn nhục lúc này đã trở thành vô hiệu quả. Harris nói tiếp :
- Em còn nhớ con chó nhỏ, con Carlo em đã cho anh đó không? Nó là nguồn vui của anh đấy: ban đêm nó ngủ cạnh anh, ban ngày nó quấn theo anh đi khắp nơi. Nó như hiểu hết những khổ nhục của anh, đôi mắt nó làm anh dịu cơn buồn khổ đôi phần và thêm sức chịu đựng... Ngày hôm kia, anh nhặt cho nó vài cái xương sót lại ở dưới bếp, vài món ăn thừa. Lão nói sao em biết không? Rằng là anh nuôi nó gây tốn kém cho lão. Lão không muốn thấy tên da đen nuôi chó, và ra lệnh cho anh phải cột đá vào cổ nó, dìm nó xuống sông...
- Harris! Anh có thể nhẫn tâm làm theo lời chủ sao?
- Không! Làm sao anh có thể làm được điều đó? Nhưng lão thì... lão dám, em à! Cha con lão ném đá túi bụi vào con vật trong khi nó chới với giữa hồ. Carlo đưa mắt cầu cứu với anh, có lẽ nó ngạc nhiên vì thấy anh không đến cứu nó. Rồi thì... Anh bị một trận đòn đích đáng vì tội cãi lời lão. Cần gì? Lão sẽ có dịp biết rằng anh không phải hạng người có thể khuất phục vì đòn bọng. Một ngày kia... Hừ! Một ngày kia họ sẽ biết rằng...
- Harris - Elisa kêu lên thất thanh - Anh định làm gì? Đừng nhúng tay vào tội ác, nếu anh còn tin tưởng vào Thiên Chúa. Hãy cố gắng làm điều thiện. Chúa sẽ cứu vớt ta.
- Anh không phải là con chiên của ngài như em đâu. Elisa ơi, tâm hồn anh đầy dẫy khổ nhục, anh không thể tin tưởng vào Chúa. Em muốn anh đạo đức, mà tim anh hiện đang bị thiêu đốt vì lửa hận thù, làm sao dập tắt nổi. Cả em nữa, em chưa biết hết sự thật mà, nghe anh nói đây...
- Lão tính làm gì em được? - Elisa hấp tấp hỏi.
- À! Vừa rồi lão nói là lão đã lầm lẫn mà cho phép anh lấy vợ, người không thuộc vào hàng nô lệ của lão. Lão nói là lão ghét chủ em và những người trong trại này, họ kiêu hãnh ngẩng đầu cao hơn lão; là chính em đã gieo vào đầu anh những tư tưởng tự phụ, lão sẽ cấm anh qua đây. Sau cùng, lão nói anh phải bỏ em lấy một nô lệ của lão. Trước nay lão chỉ bóng gió xa xôi thôi, song hôm qua thì lão đã nói toạc ra như vậy, lão ra lệnh cho anh phải đem Mina về lều để sống chung, hoặc tuân lời lão, hoặc lão sẽ bán anh cho bọn buôn người bên kia sông.
- Nói kỳ chưa? Đám cưới của chúng ta đã hợp thức hóa ở Tòa Thị trưởng như người da trắng kia mà?
Giọng thiếu phụ ngây thơ, tin tưởng.
- Ủa, vậy ra em chưa biết rằng con gái nô lệ không có quyền lấy chồng sao? Luật lệ đó vẫn hiện hành trong nước này mà. Anh không thể giữ em làm vợ nếu chủ anh muốn chia rẽ hai ta... Em ơi! Chính vì thế mà anh nói rằng anh ao ước chúng ta đừng sinh ra, đừng có mặt trên cõi đời, cũng như anh ao ước con chúng ta đừng sinh ra, vì anh nghĩ đến số phận hẩm hiu dành cho nó sau này...
- Ồ! Ông chủ của em tốt lắm, ông không bao giờ tàn nhẫn như...
- Đúng vậy. Nhưng ai biết được ngày mai ra sao? Ông có sống hoài đâu? Nó sẽ được bán cho một kẻ nào đó, làm sao biết trước? Mặt mũi nó khôi ngô mà làm chi? Nó khôn lanh mà làm chi? Cái ân sủng mà trời dành cho nó rồi đây sẽ là lưỡi dao cắt nát tim em, để rồi coi! Nó đáng giá quá, rồi họ sẽ cướp con chúng ta cho mà coi!
Những lời nói của Harris như ngọn roi tàn nhẫn, phũ phàng quất vào mặt vợ anh. Hình ảnh gã buôn người lại hiện rành rành trước mắt cô. Cô xúc động đến nỗi mặt tái nhợt, môi run rẩy, cô thở đứt quãng một cách khó khăn và để tránh khỏi sự đối mặt với điều chồng báo trước, cô đưa mắt về phía trước nhà, nơi con mình đang đùa nghịch vô tư.
Jim đang chơi trò cỡi ngựa, oai vệ như viên dũng tướng thắng trận trên cái can của ông Shelby. Elisa do dự giây lâu, nửa muốn tiết lộ điều bí mật đang đè nặng tim mình cho anh biết, nửa lại cho là không nên vì anh đã quá nhiều thống khổ rồi.
“Không đâu. Ta không có quyền làm anh ấy khổ thêm, tội nghiệp anh! Ta không có gì phải lo sợ, làm gì có chuyện mua bán trong ngôi nhà tràn ngập tình thương này? Bà chủ không bao giờ nói dối, gạt ta đâu”.
- Elisa! Em ơi! Hãy tỏ ra can đảm nhé? Tạm biệt em, anh phải đi...
Thiếu phụ cuống quít :
- Anh tính đi đâu đây?
- Anh đi Canada - Harris cố nén rúc động, trả lời - Sau đó rồi anh sẽ kiếm cách chuộc em và con. Đó là hy vọng cuối cùng của chúng ta. Em có chủ tốt, chắc ông không từ chối, anh sẽ mua em và con. Phải! Nếu có Chúa nhân từ như em nói, ngài sẽ giúp chúng ta.
- Anh ơi! - Elisa rên rỉ - Nếu anh bị bắt thì sao?
- Không bao giờ. Tự do hay là chết, chỉ thế thôi. Anh sẽ không để cho họ chạm đến người anh.
- Anh định tự tử sao?
- Không cần phải làm vậy. Họ sẽ giết anh, phải, họ sẽ không giao anh sống sót cho tụi buôn người miền Nam.
- Harris ơi! Vì tình yêu của chúng ta, xin anh thận trọng. Anh đừng làm điều ác. Đừng giết ai mà cũng chớ tự giết mình. Anh đang bị thử thách nặng nề, xin anh thận trọng và nhớ cầu Chúa giúp anh.
- Anh sẽ nghe em! Mà em cũng phải nghe anh đây: chủ anh có dự tính độc ác khi sai anh đi về hướng này mang giấy tờ cho ông Symmer ở cách đây vài dặm. Lão nghĩ rằng làm vậy là anh sẽ gây phiền phức cho chủ em. Tuy vậy, lát nữa trở về anh sẽ tỏ vẻ tuân phục lão như không có dự định gì cả. Anh còn phải chuẩn bị vài thứ, người ta sẽ giúp anh. Cỡ một tuần nữa, sẽ có một số nô lệ bỏ trốn, trong số này có cả anh. Hãy cầu nguyện đi em! Có thể Chúa toàn năng sẽ nghe lời cầu xin của em.
- Anh Harris, anh cũng nên cầu nguyện và nhớ đừng nhúng tay vào tội ác.
Harris cầm lấy bàn tay vợ, nhìn sâu vào đôi mắt vợ thì thầm không thành tiếng :
- Thôi, anh đi!
Nhưng họ chưa chia tay được, họ đứng im tay trong tay như thế một lúc lâu. Cuộc chia ly của đôi vợ chồng trẻ trong nghịch cảnh làm Elisa thổn thức khóc không thành tiếng. Hy vọng tái ngộ thật mong manh, y như tơ nhện giăng trước gió. Nhưng rồi sau cùng, Harris cũng rứt tay ra khỏi bàn tay nhỏ nhắn của vợ mình.

📎 tlcct3
0
Chương 4
 
Căn lều của bác Tom là một kiến trúc thô sơ, nhỏ bé bằng gỗ gần kế bên ngôi nhà của chủ (Ngôi nhà, tiếng mà người nô lệ da đen dùng để chỉ nơi cư trú của chủ nhân cũng như căn lều chỉ nơi cư trú của họ).
Trước căn lều có mảnh vườn nhỏ xinh xắn. Hè đến, quả phúc bồn tử, quả dâu và vài thứ quả khác cùng với rau cải tươi xanh nhờ sự chăm sóc kỹ càng của Chloé, vợ bác Tom. Mặt tiền rợp mát do một cây thu hải đường to lớn đỏ rực và một bụi hồng đầy hoa. Các nhánh cây dày kịt đan vào nhau và rũ xuống che lấp hẳn căn lều thô sơ, tuy nhiên căn lều sáng rực lên và thay đổi theo màu sắc của hoa quanh năm, những bụi hoa cúc và dã yên thảo cũng tìm được một chỗ để chường mặt ra phô trương vẻ đẹp. Bác Chloé rất thích khung cảnh đó.
Giờ này bác gái đã dọn xong bữa tối cho ông bà chủ. Bác Chloé là đầu bếp chính của chủ nhân. Kiểm soát lại một lượt trên bàn ăn, ra lệnh cho những người thuộc quyền bày biện hoàn tất, bác trở về căn lều riêng của mình để lo bữa tối cho chồng.
Đứng bên bếp lửa hồng, bác Chloé đang chăm chú rán con cá vàng ngậy trên chảo rồi mở nắp vung ra và từ bên trong nồi mùi thơm nức mũi bốc lên, báo hiệu một bữa ăn ngon.
Khuôn mặt bác gái đen đủi, tròn và bóng loáng như được bôi lên đó một lượt lòng trắng trứng. Dáng người béo trục, phảng phất cái kiêu hãnh của một tay đầu bếp khéo nhất vùng. Đó là điều bác ta lấy làm hãnh diện nhất.
Trong trang trại không một chú gà tây nào, một con vịt nào, thím gà mái nào là không khiếp sợ khi thấy bà bếp lù lù xuất hiện gần chúng, thoáng thấy bác chúng hiểu ngay là ngày tàn của cuộc đời chúng sắp điểm rồi.
Về phần bác, động thấy chúng là lập tức bác nghĩ ngay đến cách chế biến chúng thành những món ăn thích khẩu cho chủ nhân. Quay? Luộc? Hầm? Nướng? Làm cách nào cho giòn tan, ngon ngọt, mềm mại và thơm tho? Đó là mối bận tâm chính của bác ta. Làm sao mà bầy gia súc không sợ chứ?
Có lẽ ta phải nhắc thêm đến tài làm bánh của bác Chloé: bác thay đổi các thứ bánh luôn luôn, như các cô các bà nhàn rỗi và thừa tiền ở các đô thị lớn chạy theo thời trang vậy. Nhờ thế, tuy ăn bánh bác làm mỗi ngày, chủ nhân không bao giờ thấy chán. Điều làm bác ta sung sướng nhất là được nghe những người thưởng thức cắc món do bác làm ra có đôi lời khen tặng.
Mỗi khi nhà chủ có khách đến thăm, ở lại, bác bù đầu vì tìm tòi đủ cách để thay đổi thực đơn đều đều, nhưng ta đừng tưởng tay đầu bếp này kêu ca, than phiền chút nào đâu. Không gì làm bác ta sung sướng hơn khi thấy một dãy va-li, rương hòm đặt dọc theo hành lang, vì đó là cơ hội để bác ta thi thố hết tài năng với mọi người.
Nhưng thôi, hiện giờ bác gái đang bện trong nhà bếp của bác, hãy để bác được yên với ngón sở trường mà đi sâu vào thăm thú bên trong lều.
Một cái giường kê sát góc, trên phủ một tấm ra trắng bong như tuyết đọng, cạnh giường là một tấm thảm khá rộng. Đây là chỗ ngả lưng thường xuyên của bác Chloé. Cái giường trắng tinh, tấm thảm và góc lều này là nơi trang trọng nhất. Bác không bao giờ cho phép lũ trẻ bén mảng đến nghịch ngợm. Góc này cũng được coi như phòng khách của căn lều. Đằng góc kia cũng kê một cái giường nhưng không được sạch sẽ bằng, chứng tỏ nơi đó được sử dụng thường xuyên.
Bên trên lò sưởi treo la liệt nhiều bức tranh sặc sỡ, đề tài rút từ Kinh thánh, ngoài ra còn có bức chân dung của Đại tướng Washington, thoạt nhìn qua, người ta chú ý ngay đến nét vẽ vụng về và màu sắc kỳ cục đến nỗi người ta có thể nghĩ rằng vị anh hùng này, do một sự huyền diệu, nhiệm mầu nào xui khiến được sống lại chắc chắn ông cũng thất vọng quay đi, không dám nhìn thẳng vào chân dung của chính mình.
Trong một góc nữa có hai đứa trẻ ngồi trên cái bâng cũ kỹ, tóc chúng quăn như len, mắt đen và sáng, má phinh phình bóng loáng; cả hai đang theo dõi em chúng trong khi con bé chập chững bước đi. Con bé cứ bước được vài bước về phía trước thì lại ngã nhào xuống. Mỗi bận em ngã như thế, hai anh nó được dịp vỗ tay reo hò tở mở, như thể chúng đang coi một trò xiếc thú vị, hấp dẫn.
Một cái bàn cũng cũ mèm đặt trước lò sưởi, được phủ lên bằng tấm khăn. Trên bàn, một bộ cốc dĩa, muỗng nĩa, kiểu xưa hơi... hiếm có. Điều này báo cho ta biết trước gia đình sắp có tiệc đấy.
Bác Tom, gia nhân đắc lực nhất của ông Shelby đang ngồi tại đó. Một người đàn ông vạm vỡ cao lớn, bộ ngực nở nang, tay chân rắn chắc cuồn cuộn bắp thịt, nước da đen bóng. Toàn thể dáng dấp bác biểu lộ những nét thuần túy của người Châu Phi. Nét mặt bác cương nghị nhưng hiền lành, bác là một người tốt bụng.
Bác Tom của chúng ta đang chăm chỉ làm việc với một cố gắng phi thường và kiên nhẫn tột độ, đức tính của người Phi châu: bác tập viết! Từng chữ một hiện ra ngoằn ngoèo trên tấm bảng đặt trước mặt bác. Cạnh bác là cậu bé Georges, cậu tiểu chủ tốt bụng đang hướng dẫn bác trong công việc khó khăn và hứng thú này. Cậu bé 13 tuổi đó lấy làm hãnh diện trong địa vị thầy giáo của mình, cậu tỏ ra lanh lẹ, hăng hái và vui vẻ.
- Không, không phải bên này, bố Tom ơi! Phía này cơ mà! Đây là chữ “g” mà.
Georges la lên khi thấy bác Tom bẻ quặc cái đuôi của chữ “g” về phía phải. Trong lúc Tom còn đang lúng túng, cậu lại tiếp :
- Bố Tom nhìn kỹ coi! Phải bẻ quặt về phía trái chứ! Còn đây là chữ “q”...
- À! Ra vậy đó! Cậu giỏi thật!
Bác Tom gật gù tán thưởng với vẻ khâm phục khi nhìn chữ “g” và chữ “q” do cậu viết lên bảng. Đoạn bác nhón lấy viên phấn, cặp giữa những ngón tay thô kệch và kiên nhẫn viết lại.
Đằng góc bếp, ngừng tay nấu nướng, đưa mắt nhìn cậu chủ, giọng thán phục, bác gái phụ họa theo chồng :
- Ờ! Người da trắng thật tài chớ! Như cậu Georges đây, mới có tí tuổi mà viết thạo, đọc thạo. Mà cậu còn chịu khó tối tối đến dạy cho ông, cậu tốt bụng quá đi thôi!
- Này bác ơi, tôi đói meo đây này, cái bánh chín chưa, hở bác?
- Sắp chín! Sắp chín rồi, cậu ơi! - Vừa nói bác Chloé vừa nhanh nhẩu mở nắp vung lên - Tuyệt diệu! Chín và vàng ngậy. Dám cam đoan là chỉ có tôi mới nướng vàng đều như thế này...
Bác nhìn cậu Georges bằng ánh mắt vui vẻ, tiếp :
- Cậu biết không: hôm kia bà chủ bảo cô Sally là phải theo học lóm nghề nấu nướng của tôi, mà cậu biết cô ấy đã nướng ra sao không? Cậu nghe đây: cô ấy nấu nướng làm sao mà cuối cùng cái bánh chỉ nở to một bên, cháy, và chai cứng hơn chiếc guốc của tôi nữa đó, cậu ơi! Tôi bảo cô Sally thế này chứ: “Cô Sally ơi! Tôi thương hại cho cái bánh, cô làm tội nó quá đi”. Thiệt vậy đó cậu, cô Sally mà nấu ăn...
Bác ngừng nói, nhún vai, biểu lộ sự chê bai tài nấu nướng của Sally - hay chế giễu cũng thế - rồi mở vung, lấy bánh ra, cái bánh ngon lành, thơm nức mũi làm ai nấy cũng rỏ dãi. Rồi bác dẹp bánh lại một bên, bắt tay làm các món khác cho bữa tối. Bác ra lệnh cho các con :
- Thôi! Pierre, Molise, lại dọn bàn! Cả con bé Polly, lại đây với mẹ nào! Và cậu Georges nữa, bây giờ xin cậu tạm dẹp sách vở lại, mời cậu ngồi vào bàn dùng bữa với chúng tôi.
- Mẹ tôi bảo tôi ăn trên nhà, nhưng tôi có linh cảm là bác có món đặc biệt nên tôi xuống đây đó, bác Chloé à!
Bác Chlóe đặt một miếng bánh nóng hôi hổi vào dĩa cậu chủ, nét mặt rạng rỡ :
- Cậu xuống đây chúng tôi mừng biết mấy mà kể! Cậu phải biết là già Chloé này lúc nào cũng quý cậu, dành cho cậu phần ngon nhất đó à! Thôi, mời cậu!
Georges tỏ ra biết thưởng thức tài của bác Chloé lắm, nên bác rất hài lòng. Bác tâm sự :
- Cậu còn nhớ món ba-tê gà hôm ông bà chủ tiếp Đại tưởng Knox chứ? Bute đó tôi và bà bàn hoài về món điểm tâm. Cậu này, tôi không hiểu sao các bà chủ hay có cái tật ưa chen vô công chuyện bếp núc của gia nhân. Bà chủ hay cật vấn tôi về món này, món kia, bảo phải làm như thế này, như thế này. Xin lỗi cậu, tôi nói vụng nghe: tôi thiệt hết sức bực mình cho nên cuối cùng tôi nổi đóa lên, quên cả lễ phép, tôi nói vầy đây: “Thưa bà, bà hãy nhìn hai bàn tay của bà coi, có phải ngón nào cũng thon nhỏ, thanh bai, trắng trẻo và mang đầy nhẫn ngọc, nhẫn vàng không? Chúng đâu phải để dùng vào việc bếp núc? Còn bàn tay của tôi thì thô tháp, đen đủi... Bà quên sao? Chúa đã sinh ra và an bài từ lâu rồi, mỗi bàn tay có phận sự khác nhau, có phải không? Những người có bàn tay như bà thì phải ngồi đúng chỗ trên phòng khách sang trọng, còn hạng như tôi thì lo làm món ba-tê gan gà thật ngon để...”. Cậu nghĩ coi, tôi bực quá đi cho nên...
Georges ngắt lời người bếp vui tính :
- Thế mẹ tôi trả lời bác ra sao?
- Nói sao hở? Bà nhìn tôi, hai mắt tròn xoe, đẹp ghê đi, rồi giây lâu, bà gật đầu nói: “Có lẽ đúng, có lẽ thím nói đúng đó Chloé ơi!”. Và bà chịu đi lên để tôi được tự do như ý muốn. Bà tốt thật, đáng ra, gặp bà chủ khác thì tôi bị bạt tai đó nghe cậu! Kể ra tôi hơi vô lễ, nhưng biết làm sao, mỗi người một việc chớ. Tôi thú thật là tôi không thể làm gì ráo nếu có mặt bà trong bếp, bà làm tôi rối trí thêm thôi, cậu à!
Georges là một thực khách thật thà, cậu ăn no cành hông và tận lúc đó mới để ý đến mấy mái tóc xoăn và những cặp mắt sáng rỡ từ góc lều đang nhìn cậu với vẻ thèm thuồng. Georges la lên :
- Chúa ơi! Bác cho tụi nó ăn với chứ! Lại đây Pierre, Moise, tội chưa!
Sau đó thầy giáo và học trò ngồi tựa thoải mái trên ghế, cạnh lò sưởi trong khi bác Chloé nướng thêm bánh tráng, rồi bác bế con bé nhất lên đầu gối cho nó ăn và cho hai anh nó cùng ăn. Hai thằng lớn vừa ân vừa chui dưới gầm bàn, la hét, đùa giỡn náo cả lên. Chốc chốc, chúng lại kéo chân em út nữa chứ.
- Lại đằng kia kìa! Bộ tụi bay không thể ngồi yên khi nhà có khách sao?
Bà mẹ vừa dùng chân quơ lia lịa xuống gầm bàn vừa cảnh cáo chúng mỗi khi nhận thấy chúng làm quá lố. Cha chúng cười dài :
- Chúng ngứa tay, ngứa chân quá mà, làm sao bắt chúng ngồi yên được chớ!
Ngay lúc đó, từ gầm bàn hai đứa chui ra, tay và mồm dính đầy những mật - mật mà mẹ chúng rưới lên bánh tráng cho chúng ăn - tiếp tục trêu chọc em gái hăng hơn. Bà mẹ hét dựng lên :
- Tụi bay có đi chỗ khác không? - Bác Chloé vừa la vừa lấy tay đẩy hai cái đầy bù rối rạ xa - Trời ơi! Tụi bay dơ dáy quá sức đi! Chạy ra giếng, mau!
Lần này bác đấm thùm thụp vào lưng hai con trai nhưng chúng chả tỏ vẻ sợ hay đau đớn chút nào, tuy vậy chúng cũng tuân lời mẹ chạy ra khỏi lều, vừa chạy vừa cười khúc khích.
- Thiệt là hai thằng bé cứng đầu, cứng cổ, khó dạy...
Giọng bác có vẻ hãnh diện hơn là phàn nàn, rồi với tay rụt cái khăn mặt cũ rách nhúng vào thau nước lau tay, lau mặt cho con bé út. Sau cùng, bác trao nó cho chồng. Con bé được đặt ngồi trên gối cha trong khi mẹ nó lo thu dọn bát dĩa ngổn ngang trên bàn ăn.
Con bé vuốt vuốt lên mũi cha, cào cào vào mặt cha và vùi hai bàn tay nhỏ bé mũm mĩm vào tóc cha. Nó có vẻ hoàn toàn thoải mái trong tư thế này.
- Thiệt y như một món đồ chơi ấy thôi!
Bác Tom nói và ẵm đứa bé dang xa xa như để có thể ngắm nó kỹ hơn. Rồi bác đứng dậy đặt nó lên đôi vai rộng và bắt đầu múa máy, cậu tiểu chủ thì dùng khăn vây vẫy quanh đứa bé trong lúc Pierre và Moise thì nhào lộn như những con gấu trong đám xiếc.
Bác Chloé không dự vào trò chơi ồn ào này, bác kêu: “Nhức đầu quá”. Song những lời than phiền của người đàn bà không làm cho ai quan tâm hết. Hình như những lời than phiền của bác đã được cả bọn nghe nhiều lần và không hề làm gián đoạn cuộc vui của họ. Tom tiếp tục múa may, hai đứa con trai tiếp tục nhào lộn, Georges tiếp tục ve vẩy khâu quanh họ...
* * * * *
Giữa lúc căn lều rộn rã tiếng cười đùa vui vẻ, vô tư thì trên nhà lớn của ông bà chủ, một cảnh tượng buồn nản diễn ra, khác hẳn.
Gã buôn người và ông Shelby ngồi đối mặt nhau trong phòng ăn, trên bàn là đủ thứ giấy tờ.
Ông chủ cặm cụi đếm từng tập giấy bạc và sau đó ông trao lại cho gã lái buôn người.
- Đủ rồi đậy! - Gã ta nói - Bây giờ chỉ còn ký tên nữa là xong hết.
Chụp lấy tờ giấy cam kết bán hàng. Ông Shelby đặt bút xuống ký, vội vàng và khổ sở, nóng nảy tỏ ra muốn cho chóng xong việc khó chịu này.
Ông đưa cho gã tờ giấy đã ký và số tiền. Haley rút từ trong cái cặp ra một tờ giấy nợ, coi lại thật kỹ rồi đưa cho ông chủ nhà. Ông vồ lấy, vẻ nhẹ nhõm như vừa trút đi được một gánh nặng nhiều ngày.
Haley đứng lên :
- Thôi, vậy là êm xuôi hết, há?
- Phải! Êm xuôi hết!
Ông Shelby uể oải lặp lại lần nữa ba tiếng “Êm xuôi hết!” và thở ra, vẻ ảo não. Gã buôn người có vẻ ái ngại - ấy, đôi khi Haley cũng tế nhị lắm - hỏi chủ nhân :
- Shelby ơỉ! Tôi thấy ông không được vui mấy, phải không?
Shelby ngậm ngùi nói :
- Tôi hy vọng là ông không quên lời hứa danh dự với tôi: đừng bán Tom cho hạng người gian ác...
- Kìa, ông bạn đa cảm ơi! Cứ tin nơi thằng Haley này đi! Tôi cam đoan sẽ giữ đúng lời hứa với ông mà.
- Ông phải biết, sở dĩ tôi nhẫn tâm bán Tom đi là vì tôi kẹt quá, nếu tôi còn có phương cách thì không đời nào...
- Và tôi nữa, tôi cũng có thể rơi vào trường hợp như ông. Tuy nhiên, tôi sẽ kiếm chỗ tốt cho Tom. Đừng sợ tôi xử tệ với Tom. Điều mà tôi có thể hãnh diện trước mặt Chúa Trời là tôi chưa từng làm điều tán tận lương tâm với bất cứ ai. Tin tôi đi!
Tin Haley? Làm sao tin nổi, nhưng sự thể đã đến mức này thì giả vờ tin lão cho đỡ khổ, còn hơn.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.06.2015 05:19:05 bởi casau>
Chương 5
 
Ông bà Shelby vào phòng ngủ. Ông ngồi dựa ra ghế bành, dáng bộ thoải mái và đang chăm chú đọc các thư từ do gã phát thư từ bưu điện đem đến lúc xế. Bà vợ thì đang chải lại mớ tóc trước gương. Đột nhiên, bà nhớ đến vẻ thất sắc của cô tớ gái ban chiều khi cô ta chải tóc cho bà. Chưa bao giờ Elisa có vẻ sợ hãi đến như thế, mặt cô nhợt nhạt, đôi mắt thất thần... Bà đâm nghi ngờ, quay sang hỏi chồng :
- Này anh, cái ông dùng cơm tối nhà ta vừa rồi là ai vậy? Em trông có vẻ... làm sao ấy... không có vẻ là người lương thiện mấy, phải không?
- À, Haley đó mà.
Ông chồng lơ đãng trả lời vợ, mắt vẫn dán vào tờ thư đang cầm trên tay.
- Nhưng ông ta đến nhà mình làm chi chớ? Có gì vậy, hở anh?
- À, anh có vài việc làm chung với ông ta trước đây ở Natchz...
- Chỉ có thế thôi ư? Mà ông ta thân đến cái mức đến nhà mình dùng bữa sao?
- Ừ! Không, hắn không tự ý đến, chính anh mời đó chớ. Anh có hàm ơn hắn chút việc... Em để ý làm chi...
Không thể úp mở mãi, bà vợ hỏi thẳng :
- Này, có phải hắn là người buôn nô lệ không?
- Kìa em yêu quý! Tại sao em lại hỏi anh câu này?
- Tại sao ư? Arthur ơi! Anh có điều gì giấu em phải không? Hồi xế, Elisa đến đây, nó có vẻ lo sợ lắm, nó khóc thảm thiết và kể cho em nghe là... là anh tiếp một tên buôn nô lệ và anh còn định bán con nó nữa... Tội nghiệp nó quá...
- Chúa ơi! Nó nói thế sao?
Ông Shelby không ngăn được tiếng kêu thảng thốt, kêu xong, ông lại dán mắt vào lá thư như đang chú ý vào đó, song thật ra, ông không đọc được chữ nào. Ông tự nhủ thầm: trước sau gì sự thật cũng là sự thật, nói bây giở hay để mai mốt cũng thế thôi.
Bà vợ hắng giọng nói tiếp, tay vẫn chải mớ tóc óng ả :
- Em bảo Elisa là đừng có ngu ngốc, là anh không bao giờ xử sự như thế với nô lệ nhà mình. Em bảo anh không bao giờ bán nô lệ, không bán đứa nào cả, nhất là con nó, lại càng không, không bao giờ...
- Em nói đúng. Anh đồng ý với em về điều này. Nhưng em chưa biết rõ hiện trạng... Anh đang bị kẹt... Anh khổ tâm lắm nhưng bắt buộc phải bán bớt đi vài người...
- Bán bớt đi vài người? - Bà Shelby kêu lên hoảng hốt - Trời ơi! Anh nói chuyện đứng đắn đó chứ, Arthur?
- Anh rất đứng đắn, em ạ! Anh thú thật với em là anh đã bằng lòng bán Tom...
- Cho gã buôn người đê tiện đó, hả?
- Phải!
Người chồng nuốt nước bọt, khó khăn tiếp :
- Vì không còn cách gì hơn...
- Chúa ơi! Tom? Người nô lệ trung thành với anh từ tấm bé, người nô lệ tốt bụng và phi thường đó? Ông Shelby ơi! Ông đã hứa cho Tom được tự do, cả tôi nữa, tôi đã nhiều lần nói điều này với Tom... Shelby ơi! Ông có thể... ông dám thế à? Và rồi (giọng bà run run vì xúc động và phẫn nộ) ông sẽ bán luôn thằng Henri, đứa con trai độc nhứt của con Elisa chứ chẳng không...
- Em ơi! Em không hiểu lòng anh, em phải thông cảm cho anh. Phải! Anh phải cho em biết tất cả sự thật: anh cũng bằng lòng bán Henri... Kìa, sao em nhìn anh như nhìn một quái vật như thể? Anh, anh chỉ làm một việc như bao nhiêu người quanh ta đang làm và sẽ làm, thế thôi.
Giọng người vợ nghẹn ngào, khổ sở :
- Làm sao đến nỗi này? Làm sao lại đến phải bán nô lệ trung tín của mình? Mà nếu có kẹt, cớ sao anh lại lựa hai người đó trong trăm ngàn đứa khác? Hết người rồi ư? Tại sao lại là hai người này, hở anh Arthur? Sao anh chọn họ?
Người chồng đáp mau :
- Tại sao ư? Tại vì hai người đó đáng giá hơn hết, em đã hiểu chưa? Anh đã nói với em là anh không muốn đâu. Em nghe đây: Haley còn đòi mua luôn cả Elisa nữa kia và gã hứa trả giá thật cao... nhưng anh biết là em không bằng lòng, phải không?
- Thằng khốn kiếp!
Người vợ la lên. Người chồng trầm giọng lại :
- Em ơi! Nghe hắn đề nghị, anh hết sức bất bình. Anh đâu phải vô lương tâm? Em biết anh mà. Anh không nghe lời gã, tuy là gã đã...
Bà Shelby ngồi xuống ghế, dịu giọng lại :
- Arthur, em xin lỗi anh! Em quá nóng... Anh làm em kinh ngạc quá. Em không bao giờ ngờ đến chuyện này. Có lẽ... có lẽ em đã quá thương xót những người nô lệ. Nhưng, anh nghĩ coi, Tom là một kẻ tôi tớ trung tín nhất, đáng quý nhất, em đoán chắc rằng, nếu anh cần, bác ấy dám hy sinh tính mạng vì chủ, không do dự. Arthur ơi!... Em nghĩ là Tom hơn một tên nô lệ tầm thường nhiều lắm, vượt bực...
- Anh biết, anh biết điều này hơn cả em, nhưng em cũng phải biết rằng đây là chuyện bắt buộc, hoàn toàn ngoài ý muốn.
- Tại sao ta không hy sinh bớt một số tiền? Nào, để coi... em sẵn sàng chịu thiệt thòi về phần em. Em sẽ cố gắng, Arthur ơi, Chúa đã dạy rằng... Này anh ơi! Em thấy rằng nếu cần ta phải hy sinh vì hạnh phúc của những người khốn khổ này. Anh nghĩ coi: em đã dạy dỗ họ, lo lắng cho họ, chăm sóc họ. Từ nhiều năm rồi em biết rõ cả những niềm vui nho nhỏ cũng như những nỗi ưu tư, những phiền muộn chất ngất của họ. Làm sao em dám ngẩng mặt lên trước mặt họ khi mà chỉ vì một món lợi vật chất chúng ta bán đi chú Tom, con người xứng đáng và tốt lành nhất trong đám người nô lệ của ta, người mà anh từng hứa cho được tự do? Làm thế, em đã phải phản lại, làm trái những gì em dạy họ, có khác gì xóa bỏ khỏi đầu óc họ những điều em từng khuyên nhủ họ nên yêu thương và kính trọng? Phải! Em đã dạy đám nô lệ của ta cách cư xử với xung quanh. Vợ ăn ở với chồng ra sao, con đối vởi cha ra sao, họ hàng nên thế nào... Nay anh làm thế thì khác chi tỏ cho họ biết rằng mọi liên hệ giữa người với người đều có thể xóa tan, biến mất vì tiền? Em vẫn thường tâm tình với Elisa về đứa con yêu quý của nó, về bổn phận người mẹ, nhất là một người mẹ có đạo: phải chăm sóc con, giáo dưỡng con nên người. Em sẽ ăn nói làm sao đây, khi anh cướp con nó bán cả hồn lẫn xác cho tên vô lại, bất lương? Bán để lấy tiền? Anh ơi, em đã bảo nó là linh hồn đáng giá hơn cả mọi vật trên đời này. Làm sao nó còn tin tưởng ở em khi ta bán con nó cho tên buôn nô lệ?
- Emilie. Đừng làm anh điên đầu thêm. Anh vẫn tôn trọng ý kiến em từ trước nay. Nhưng lần này, anh không thể nghe em được. Em phải hiểu đó là cách duy nhất để cứu anh. Anh không muốn chút nào, nhưng phải chọn cách này, một là bán hai người đó, hai là phải bán hết. Chúng sẽ phải ra đi hay tất cả phải đi. Haley hiện nắm giữ tất cả giấy nợ của anh. Nếu anh không thanh toán bằng cách ấy ngay bây giờ cho xong thì sẽ quá muộn. Anh đã cố tình giảm mọi chi tiêu, đào bới khắp nơi, đã vay mượn... Tóm lại anh đã làm đủ mọi cách trừ cách tồi tệ nhất: ăn xin. Anh sẽ trả xong món nợ lớn với giá tiền bán hai người này. Em hiểu rồi, đừng bắt anh lặp lại hoài điều khổ tâm.
Bà Shelby tháo cái đồng hồ vàng ra khỏi cổ tay, ngập ngừng nói :
- Em không có nhiều món trang sức quý giá, tuy vậy, cái này cũng... được đấy chứ? Nó khá đắt tiền. Để cứu thằng bé đáng thương, em sẽ hy sinh những gì em có, được không? Để em tính coi...
- Anh rất tiếc, Emilie ạ! Tình cảm của em đối với nô lệ thật cao quý, nhưng vô ích, không cứu vãn được gì. Mọi sự đã đâu vào đấy cả. Giấy tờ cam kết do chính tay anh ký đã nằm trong tay Haley. Ta chỉ còn cách cầu Chúa cho họ không bị hành hạ khổ sở, cho họ được sung sướng như khi ở với gia đình ta. Em chưa biết rõ tâm địa Haley, hắn có thể làm cho anh tán gia bại sản nếu anh trái lời hắn. Đáng ra, em phải mừng vì anh đã may mắn thoát được bàn tay độc ác của hắn...
- Hắn hung tợn lắm sao, anh?
- Trời! Hắn không phải hung tợn nhưng hắn quả là một con người quỷ quyệt và nhiều thủ đoạn, một con người chỉ biết có tiền bạc và lợi lộc vật chất. Lạnh lùng, sắt đá, khó lay chuyển hắn như thể khó lay chuyển được nấm mồ hay cái chết. Hắn dám bán cả mẹ già của hắn, nếu hắn thấy thủ lợi được, nếu bà có giá.
- Vậy mà bác Tom trung thành và thằng Henri xinh xắn dễ yêu của Elisa lại lọt vào tay hắn... sao cho nổi... hở trời cao?
- Em yêu quý! Anh nhức đầu lắm khi nghĩ đến điều này, anh muốn quên đi. Sáng mai Haley sẽ đến nhận hàng. Anh đã ra lệnh thắng ngựa sẵn sàng từ tinh mơ, anh phải rời khỏi trang trại. Anh không đủ can đảm để nhìn Tom, anh không xứng đáng nhìn Tom. Phần em, em cũng nên đi dạo đâu đó và dắt cả Elisa đi, đừng để sự thật đau lòng xảy ra trước mắt nó...
Bà Shelby la lên, phản đối liền :
- Không! Không! Em không thể đồng lõa trong việc gian ác này. Em sẽ đến thăm bác Tom, em sẽ ở cạnh họ, cạnh nỗi khổ to lớn khủng khiếp của họ. Họ sẽ thấy bà chủ của họ đau khổ cùng với họ, vì họ.
Bà ngừng lại một giây, rồi tiếp :
- Còn Elisa... Trời ơi! Em không dám nghĩ đến nó. Xin Chúa tha tội cho chúng ta. Trời ơi! Vì sao mà chúng ta phải chịu thử thách ghê gớm này, thật hcm cả cực hình. Tại sao...?
* * * * *
Cuộc đối thoại này lọt vào tai một kẻ thứ ba mà hai ông bà không hề ngờ đến.
Giữa phòng khách và phòng ngủ của chủ nhân có một phòng khá rộng. Elisa với trực giác bén nhạy, tinh tường đã không sao chợp mắt, lẻn vào trốn tại đó.
Đầu óc cô như bốc lửa, tim gan nóng nảy, rạo rực, cô ghé tai vào khe cửa nghe trộm từ đầu cuộc đối thoại, không sót tiếng nào.
Đợi cho cuộc trò chuyện chấm dứt hẳn, nàng run rẩy chạy về phòng, mặt tái mét, môi mím chặt.
Lúc này Elisa không còn cái vẻ hiền lành rụt rè như trước nay nữa. Cô cẩn thận bước lại hành lang, ngừng một lúc trước phòng bà chủ, giơ hai tay lên như muốn kêu cứu nhưng rồi cô quay lại, trở về phòng riêng.
Đó là một căn phòng nhỏ bé và yên tĩnh ở cùng tầng với phòng bà Shelby.
Trên giường, thằng bé bụ bẫm đang ngủ say, những lọn tóc lòa xòa buông rũ vô trật tự quanh khuôn mặt ngây thơ, cái miệng xinh xắn hé mở, hai bàn tay nhỏ bé, mũm mĩm bên ngoài tấm chăn đắp, trên vẻ mặt rạng rỡ một nụ cười như đóa hồng tươi dưới tia nắng mặt trời của một sáng đầu xuân.
- Tội nghiệp cho con tôi! Họ sẽ bán con, nhưng mẹ không bao giờ để yên, mẹ sẽ cứu con, dù bất cứ giá nào.
Không một giọt nước mắt nhỏ xuống gối, sự thống khổ tột độ như làm khô cạn nguồn nước mắt của thiếu phụ đáng thương, mặc dù nàng tưởng như nàng có thể khóc bằng chính máu tận tim mình, trong lặng lẽ và đơn độc.
Elisa lấy bút chì và một mẩu giấy rồi viết vội vàng:
“Bà yêu kính của con!
Xin bà hiểu con và đừng cho con là đứa bạc bẽo, vô ơn. Bà ơi! Xin bà đừng nghĩ xấu về con... Con đã nghe hết những lời bà nói với ông con trong đêm qua. Con đành phải ra đi để cứu con trai duy nhứt của con. Bà tha thứ và đừng nguyền rủa con. Con cầu xin Chúa ban phúc và thưởng công bà về lòng từ ái của bà.
Con: Elisa”.

Viết xong, Elisa nhanh nhẹn gấp tờ giấy lại đoạn ghi tên nữ chủ nhân lên đó rồi nàng đến ngăn kéo rút ra một bao áo quần của con, buộc thật chắc vào mình nàng bằng cái khăn. Dù trong lúc bối rối nhất, người mẹ vẫn luôn luôn chu đáo, vì thế nàng cẩn thận nhét thêm vào bao áo quần vài món đồ chơi mà nàng biết là con rất ưa thích, ngoài ra, nàng lấy thêm một con két sặc sỡ để con chơi lúc đánh thức nó dậy bất ngờ.
Người mẹ thật khó khăn mới dựng thằng bé dậy được, nó ngủ say quá. Sau cùng nó cũng cố gắng tỉnh ngủ và bắt đầu chú ý đến con chim trong khi mẹ nó quàng khăn vào cổ và đội nón lên cho nó.
- Mẹ, mình đi đâu bây giờ, hở mẹ?
Thằng bé tò mò hỏi khi thấy mẹ nó đến bên với cái áo ấm và đôi giầy.
Người đàn bà bế con lên lòng, ôm chặt nó và nhìn con bằng đôi mắt nồng nàn thương yêu khiến nó chợt linh cảm được phần nào điều quan trọng xảy ra.
- Chậc! Henri! Đừng nói to, coi chừng người ta nghe được thì khốn. Có một người đàn ông hung tợn sẽ đến đây bắt bé Henri của mẹ, đem đi thật xa, xa lắm đến một chỗ tối tăm, dễ sợ lắm. Nhưng mẹ đời nào để lão ấy bắt con mẹ đi? Mẹ sẽ mặc áo thật dày ấm cho con, đội mũ cho con và mẹ con ta trốn đi khỏi đây.
Vừa thốt những lời này người mẹ vừa mặc áo, cài nút cho đứa trẻ rồi bế nó lên tay, đoạn thì thầm vào tai con :
- Hãy tỏ ra ngoan ngoãn, nghe con Henri của mẹ!
Nàng khe khẽ mở cửa phòng, lẳng lặng bước ra ngoài.
Đêm lạnh và đầy sao. Elisa quấn chặt khăn quàng cổ cho con. Thằng bé ngây thơ nào đã biết gì về những điều ghê gớm đang chờ đón nó.
Con chó Bruno già nua - giống chó to lớn của miền Terre-Neuve - đang ngủ ở đầu hành lang cũng vừa thức giấc, gầm gừ khi mẹ con Elisa đến gần. Elisa dịu dàng gọi tên nó. Vốn đã từng đùa giỡn hàng trăm bận với cô nên con vật ve vẩy đuôi, chạy theo cô. Trong đầu óc đơn giản của con vệt này cũng có điều thắc mắc về sự đi dạo bí mật trong đêm của người thiếu phụ đáng thương. Sự việc xảy ra làm nó lưỡng lự, không biết có nên đi theo cô không?
Elisa bước đều tới; con vật thì dừng lại, hết nhìn ngôi nhà lại đưa mắt nhìn mẹ con thiếu phụ. Song rồi sau rốt Bruno có vẻ như đã dứt khoát, nó chạy theo người đi trốn.
Vài phút sau đó, người và vật đến túp lều của bác Tom. Elisa gõ nhẹ vào khuôn cửa.
- Lạy Chúa! Ai đến vào giờ này?
Bác gái bật dậy trong bóng đêm, hỏi vọng ra và đưa tay kéo tấm màn. Nhận ra tiếng Elisa, bác kêu lên :
- Ủa, con đấy à? Ông ơi, dậy mà coi này! Có cả con chó Bruno nữa chớ, nó cào lên cửa kìa. Có chuyện gì vậy, hở? Chờ chút coi, ta mở cửa.
Ánh sáng của ngọn đèn do bác trai vừa đốt lên soi rõ khuôn mặt bối rối và đôi mắt thất thần của Elisa.
- Cầu Chúa ban phước cho con, Elisa! Có chuyện gì mà coi con có vẻ sợ hái dữ vậy? Con có đau ốm chi không?
- Con đi trốn đây, cha Tom! Con đi trốn đây, mẹ! Con đi trốn, đem theo con trai con. Ông chủ... ông ấy bán con của con!
- Bán?
Đôi vợ chồng người nô lệ cùng thốt lên tiếng ghê gớm đó và họ cùng giơ tay lên như thể không sao tin được lời Elisa. Thiếu phụ da đen lập lại, giọng rõ ràng hơn :
- Phải! Bán! Hồi đêm, con đứng nấp ở cửa phòng ông bà chủ, con nghe rõ ràng hết: ông chủ nói với bà là ông đã bán thằng bé Henri này... cả cha nữa đó, cha ơi! Bán cả hai cho tên lái buân nô lệ. Sáng sớm, ông chủ sẽ đi khỏi trại và lão đó sẽ đến để nhận hàng... Con nói thật đó.
Trong lúc Elisa thao thao nói, bác Tom đứng sững, hai tay buông thõng, mắt mở trừng trừng vì quá kinh hoàng, như thể đang nằm mơ. Và rồi, giây lát sau, chậm chậm, từ từ, bác bắt đầu hiểu rõ sự việc, bác ngả ngồi xuống cái ghế cũ kỹ, gục đầu trên hai gối.
- Cầu Chúa thương xót chúng tôi - Bác gái rền rĩ - Trời ơi! Kinh khủng biết bao nhiêu! Tôi không thể nào tin được chuyện ghê gớm này, vậy mà nó lại là sự thật. Tom ơi! Ông đã làm gì nên tội, ông đã lầm lỗi gì đến nỗi bị chủ bán đi?
- Không đâu mẹ à! - Elisa nói với bác gái - Cha không có lỗi gì hết, mà ông chủ cũng không muốn bán cha đâu, tình thế bắt buộc mà. Cả bà nữa, chao! Bà tốt làm sao, con nghe bà cầu nguyện và van nài với ông xin ông đừng bán cha và thằng Henri, nhưng ông bảo là vô ích, ông mang nợ lão lái buôn, lão đòi ông phải bán cha và thằng Henri của con, ông phải nghe theo, lão có quyền đòi hỏi bất cứ điều gì. Nếu mà ông chủ không trả nợ cho lão, mai kia ông chủ sẽ phải bán hết gia sản và ông bà cũng phải ra đi nữa kia. Con nghe rõ ràng như thế: hoặc bán hai người, hoặc phải bán hết. Lão đó thật độc ác. Ông chủ nói ông nhức đầu lắm, ông bực mình lắm. Ước gì mẹ với cha nghe những lời bà nói. Bà thật là một con chiên ngoan đạo và đầy lòng nhân hậu. Con rất khổ tâm khi phải xa bà như thế này, nhưng con không thể làm gì khác hơn. Chính bà, bà cũng nói rằng một linh hồn đáng giá hơn cả mọi sự trên đời. Con của con cũng có một linh hồn. Nếu để họ bắt nó đi, linh hồn nó sẽ ra sao? Điều con sắp làm đây chắc là đúng, không phải là một hành động tồi tệ... Nếu điều này sai, con xin Chúa tha tội cho con, vì con không thể hành động khác hơn.
- Còn ông, ông chồng thân yêu của tôi ơi! Ông còn chần chờ gì nữa đây? Dễ chừng ông muốn chờ cho họ đến tóm cổ ông, bắt ông đưa qua bên kia sông sao? Bên đó họ để dân da đen chúng ta chết vì đói và cực nhọc. Tôi đây, tôi thà chết trăm ngàn lần còn hơn để bị đày qua đó. Này ông, còn kịp thì giờ, ông đi đi cho xong, ông trốn liền đi, với Elisa! Ông nhớ là ông có thông hành tự do để có thể đi đến bất cứ chỗ nào. Đi ngay đi, tôi sửa soạn hành lý cho ông đây! Tom ơi!
Bác gái bảo chồng. Song chồng bác lại không nghĩ như bác, ông thong thả ngẩng đầu lên, nhìn quanh với vẻ buồn rầu mà bình tĩnh lạ thưởng :
- Không! Tôi không đi trốn đâu. Elisa ơi! Con hãy đi ngay đi. Con làm đúng. Còn ta, ta mà cũng trốn đi thì... bậy. Chúa muốn con ra đi chứ không phải già Tom này.
Quay sang vợ, bác tiếp :
- Kìa, dễ chừng bà không nghe Elisa nói hay sao: hoặc tôi bị bán đi, hoặc tất cả mọi người và vật ở đây sẽ phân tán hết. Tôi thì khác, tôi có thể chịu đựng được đến đâu hay đó...
Có tiếng gì là lạ, khác thường như tiếng thở dài, thổn thức thoát ra từ lồng ngực vạm vỡ của bác Tom, bác trầm giọng tiếp :
- Ông chủ đã đặt tôi đâu, tôi sẽ ngồi đó. Tôi không bao giờ thiếu lòng tin, tôi không bao giờ phản lại chủ tôi, nhất là trong lúc này, lúc mà ông cần tôi để tránh khỏi phải tán gia bại sản, phải bán những người nô lệ khác. Bà ơi! Chủ tôi không thể bị phản, ông sẽ yên lòng để chăm sóc trang trại, bà và lũ trẻ sẽ nhờ được ông, và cả những người nghèo khổ khác như ta.
Nói xong, bác đi về phía cái giường cũ, trên đó có mấy mái đầu bé nhỏ bù rối, không thể cầm giữ nữa, bác nức lên khóc ròng.
Elisa vẫn đứng lặng bên cửa từ nãy giờ, lên tiếng :
- Con đã gặp chồng con lúc xế hôm qua. Lủc đó con đâu có ngờ được những điều sắp xảy ra. Bên ấy, họ dồn chồng con vào bước đường cùng và anh ấy nói là hôm nay sẽ bỏ trốn đi. Mẹ hãy nói cho anh ấy biết mọi chuyện bên này và chuyện con bỏ đi. Mẹ hãy nói với ảnh là con sẽ cố gắng để sang Canada, là con yêu anh hơn cả. Mẹ ơi! Nếu con không còn dịp nào gặp ảnh nữa, xin mẹ nói giủm con là...
Elisa ngừng bặt, quay vào vách một lúc rồi giọng buồn rầu hơn bao giờ, cô nói tiếp :
- Mẹ nói giùm anh ấy cố gắng sống lương thiện để còn được gặp con trên Thiên đàng. Mẹ gọi giùm Bruno, đóng cửa nhốt nó lại, tội nghiệp con chó, đừng để nó đi theo con.
Vài lời nhắn nhủ cuối cùng, những giòng nước mắt không cầm giữ nổi, nỗi bịn rịn trước phút chia ly, những câu chúc lành... Rồi sau rốt, người mẹ ôm chặt đứa bé còn ngái ngủ và sợ hãi trong đôi cánh tay, lặng lẽ bước mau giữa đêm sâu.

0
Chương 6
 
Sau cuộc thảo luận đêm qua, vợ chồng ông Shelby còn trằn trọc đến khuya. Vì thế, sáng hôm sau, họ dậy trễ hơn thường lệ.
- Lạ chưa kìa, sao hôm nay Elisa nó ngủ trưa đến thế nhỉ?
Bà chủ nói một mình sau khi rung chuông gọi cô tớ gái nhiều lần không thấy trả lời.
Òng Shelby thì đang đứng trước tấm kính soi, cạo râu. Cánh cửa bật mở, một tên gia nhân trẻ mang nước rửa mặt vào. Bà Shelby bảo tên này :
- André, con đến gõ cửa phòng Elisa nói là bà gọi mấy lần rồi mà chưa thấy cô ấy lên, nghe!
Bà thở dài và như nói một mình :
- Tội nghiệp con nhỏ quá đi!
Một lúc sau, André trở lại, vẻ hớt hải :
- Thưa bà, cửa phòng cô ấy mở tung, vật dụng bừa bãi. Con... con nghi là cô ấy đã bỏ trốn đi rồi.
Vợ chồng ông chủ nhìn nhau, mắt họ ánh lên như tia chớp trong khoảnh khắc, nhưng mỗi người đeo đuổi một ý nghĩ khác nhau. Ông thì la lên :
- Chắc nó đã nghi ngờ và trốn rồi!
Bà vợ thì thở phào như tuồng nhẹ nhõm, khác chồng :
- Cảm ơn Chúa! Em nghĩ Chúa từ tâm, xếp đặt thế lại hóa hay!
- Bà nói vậy mà nghe được ư? Nó bỏ trốn tôi sẽ bị rắc rối nhiều. Haley nhận thấy tôi có vẻ do dự khi thảo luận về Henri, gã khốn đó dám nghi là tôi đồng lõa trong vụ này, còn gì danh dự tôi...
Ông cao giọng nói và hấp tấp bỏ ra khỏi phòng.
Không khí trong nhà bỗng khác hẳn, người qua kẻ lại, tiếng đóng cửa, mở cửa rầm rập, thấp thoáng những khuôn mặt, vẻ nghiêm nghị, lo âu, tất cả mọi người, chủ lẫn tớ, da màu và da trắng đều xúc động như nhau.
Người độc nhất có thể cho mọi người tin tức về Elisa là bác Chloé, người đầu bếp chính của trang trại, song bác một mực im lặng. Một áng mây buồn phủ trên khuôn mặt bác, khuôn mặt vẫn luôn luôn, tươi tỉnh từ trước đến nay. Bác lặng lẽ lo dọn bữa điểm tâm cho chủ, vẻ lầm lì, khác lạ, như câm, như điếc, như đui trước biến cố tày trời.
Một chốc sau, một đám trẻ con hơn chục đứa da đen như quạ trông khá ngộ nghĩnh cùng đứng sắp hàng cạnh nhau trên bậc cấp để đón người khách lạ với tất cả tò mò, náo nức và luôn miệng bàn tán về ông ta.
- Tao chắc ổng giận đến muốn phát điên lên, tao dám cá đó nghe. - André bảo các bạn.
- Tao thì tao chắc ổng sẽ chửi thề cho coi. Hôm qua tao đã nghe ổng nói chuyện. - Jean le Noir tiếp lời bạn - Tao nghe rõ từ đầu đến cuối, tao núp trong phòng bà cất tách đĩa đó mà, tao nghe tuốt tuột hết trơn.
Cuối cùng, Haley, tên hung thần của dân nô lệ xuất hiện, chân mang giày da láng, tay lăm lăm ngọn roi quất ngựa.
Từ tứ phía đã đưa đến tai gã ta cái tin xấu đã xảy ra. Những cậu nhóc da đen quả thật đã đoán đúng: gã chửi thề ỏm tỏi, gã bật ra hàng tràng dài những câu thô lỗ khiến bọn chúng lấy làm thích chí. Và chúng nhanh nhẩu lùi lại phía sau để tránh ngọn roi hung bạo của lão. Chúng ôm lấy nhau, đùn cục lại, nằm lăn lộn trên thảm cỏ trước sân, la hét, làm trò hề nhốn nháo với từng chuỗi cười dài khoái chí.
- Đồ tiểu yêu! Ông mà tóm được chúng bây...
Gã lái buôn nô lệ nghiến răng ken két, nói. André còn tai quái trêu thêm :
- Làm sao ông bắt được chúng tôi nổi?
Và vô số những cử chỉ chọc ghẹo khắc làm gã phải chịu thua, bỏ đi.
Vừa đến phòng khách, hắn gằn giọng bảo chủ nhân :
- Này ông Shelby, thật là lạ lùng, con đó đã trốn đi, bế cả con theo.
- Ông Haley, xin ông giữ mồm giữ miệng, có nhà tôi ngồi đây, thưa ông. - Ông Shelby nói bằng giọng trịnh trọng.
Haley hơi cúi xuống chào nữ chủ nhân nhưng nét mặt lại lộ vẻ rất khó chịu :
- Xin lỗi bà, nhưng tôi xin phép lặp lại câu vừa rồi; thưa ông, điều đó có đúng không?
- Này ông Haley, nếu ông muốn nói chuyện với tôi, ông nên tỏ ra lịch sự!
Quay sang André, chủ nhân ra lệnh :
- André, đến cất mũ dẹp roi cho ông Haley và mời ông ngồi! - Rồi hướng về Haley, nói tiếp - Vâng, thưa ông Haley, tôi rất tiếc mà báo tin cho ông hay rằng thiếu phụ da đen đó đã nghe những lời ông hay nghi ngờ chi đó về số phận con nó, nên đêm qua đã mang con trốn đi.
- Tôi thú thật rằng tôi hy vọng người ta trọng danh dự trong việc làm ăn với nhau...
Haley đốp chát, giọng mỉa mai.
- Ông nói gì vậy, Haley? Đối với những kẻ dám chạm đến danh dự tôi, chỉ có một cách để tôi trả lời là...
Ông Shelby có vẻ giận dữ, vừa nói vừa chồm đến sát gã buôn người. Nghe giọng và nhìn thấy cử chỉ của ông, Haley có vẻ chùn lại, hắn từ tốn, hạ giọng :
- Thực là khó xử, đối với một kẻ trọng chữ tín trong công việc mua bán...
- Thưa ông Haley, nếu tôi biết là sáng nay ông đang bực mình thì tôi đã không trách thái độ bất nhã của ông lúc ông bước vào phòng khách nhà tôi. Tôi cũng xin nhắc ông: không ai có quyền chạm đến danh dự tôi, tuy nhiên tôi cảm thấy có bổn phận giúp đỡ ông. Ông có quyền dùng người và ngựa của tôi và gắng mà tìm lấy những gì thuộc quyền ông...
Đang từ giọng rắn rỏi, cách biệt, lạnh lùng, chủ nhân đột nhiên đổi sang thân mật :
- ... Nhưng ông Haley ơi! Điều hay nhứt nên làm bây giờ là ông hãy vui vẻ ngồi vào bàn dùng điểm tâm với chúng tôi, sau đó sẽ hay, vội vã không ích chi.
Bà Shelby đứng lên viện cớ bận việc không thể dùng chung bữa điểm tâm với hai người đàn ông. Bà ra lệnh cho một người tớ gái dọn café và thức ăn cho họ đoạn cáo lỗi và rời khỏi phòng.
Haley cố gắng tỏ vẻ thân thiện với chủ nhân :
- Shelby ơi, bà nhà có vẻ quý mến con tớ gái lắm nhỉ?
- Tôi không muốn ông nhắc đến vợ tôi.
Shelby trở lại lạnh lùng như lúc đầu, Haley chữa ngượng :
- Đó chỉ là câu nói đùa mà, ông thừa hiểu chứ, ông Shelby...
- Lúc này không phải là lúc nên nói đùa.
Nghe giọng dấm dẳng, cộc lốc của chủ nhân, gã lái buôn nô lệ uất lắm, gã cho là giấy tờ đã ký xong, hoàn toàn rũ sạch nợ nần nên Shelby trở nên phách lối.
Đám gia nhân trong trại vẫn còn xôn xao về chuyện Elisa trốn đi với đứa con: trong nhà cũng như ngoài đồng họ bàn tán sôi nổi về kết quả của sự việc. Đây là biến cố trọng đại nhất xảy ra tại trang trại này, khiến họ nhốn nháo và bối rối dữ.
Tên Samuel đen (Samuel có biệt danh này vì hắn đen trũi, đen kịt, đen hơn hết trong số nô lệ ở Côte d’Ebène) đang suy nghĩ lung lắm - làm việc bằng trí óc - hắn phán đoán về ảnh hưởng và tầm quan trọng của sự việc xảy ra bằng thứ trực giác bén nhạy khá thông minh của hắn.
- Ê, Samuel! Ê, Sam! Ông chủ cần mấy anh thắng yên hai con Bell và Jerry đó nghe.
Giọng André cắt đứt dòng suy nghĩ của Samuel, lôi hắn trở về thực tại :
- Thắng ngựa để làm chi vậy hở André?
- Ủa, vậy ra anh chưa hay chị Elisa đã bỏ trốn với Henri sao? Anh với tôi sẽ phải đi cùng ông Haley để giúp ổng tìm chị ấy.
- Được đây là một dịp may - Samuel hớn hở nói - Đến bây giờ tao mới được tin cậy. Mày sẽ thấy nếu tao đuổi kịp chị ấy... Hà, người ta sẽ có dịp thấy thằng Samuel này rất được việc à!
- Ê, anh Samuel! Anh nên hiểu là bà chủ không muốn anh bắt lại chị ấy đâu nhé! Anh phải liệu chừng đó nghe.
Samuel mở to hai mắt, gặn lại :
- André, sao mày biết chuyện này?
- Tại sao hở? Chính sáng nay trong lúc tôi đem nước rửa mặt vào phòng ông chủ, bà chủ bảo tôi đến phòng chị Elisa coi thử tại sao bà gọi chị ấy mấy lần mà chị không đến hầu bà... và rồi... và rồi khi biết chị trốn đi, bà đã không tỏ vẻ giận mà còn nói là bà cám ơn Chúa đã sắp đặt việc này. Chà, anh biết không, ông chủ thì cuống cuồng lên, ông nói thế này chớ: “Bà nói vậy mà nghe được tai sao?”. Nhưng sau cùng, bà đã thuyết phục được ông rồi. Tôi cho anh hay chuyện này, tôi biết rõ tại sao... Tốt hơn, tụi mình nên đứng về phía bà, tôi khuyên anh đó.
Samuel đen gãi gãi mái tóc bù xù của hắn, chắc chắn trong đó không có một khối óc thông thái nhưng hắn biết suy nghĩ chín chắn, cân nhắc lợi hại kỹ càng. Rồi hắn kéo quần lên, một thói quen của hắn mỗi khi gặp phải một điều khó xử. Hắn lầm bẩm một mình :
- Không nên tin chắc vào một điều gì trên cõi đời này.
Hắn nói với giọng trang trọng của một triết gia, nhấn mạnh vào tiếng này như tuồng hắn cho là ngoài cõi đời này, còn nhiều cõi đời khác nữa và hắn đi đến kết luận trên sau khi đã so sánh.
- Theo tao nghĩ - Samuel lưỡng lự giây lâu rồi tiếp - bà chủ cũng muốn bắt chị Elisa chớ chẳng không.
- Thì vẫn... bà muốn bắt chị Elisa về, song đấy là chuyện khác. Nhưng bà không khi nào lại muốn ông Haley độc ác bắt được thằng bé Henri, điều này...
- À... à...
Samuel gật gù, thở phào một cái, giọng trầm đặc biệt của dân da đen.
- Thôi, anh đi thắng ngựa nhanh nhanh lên một chút, đừng làm mất thì giờ. Bà chủ chờ anh mà anh cứ đúng nói lảm nhảm, tầm phơ.
Samuel hấp tấp đi bắt ngựa và một chốc sau hắn trở lại với con Bell và con Jerry. Hắn nhanh nhẩu nhảy xuống đất trong khi ngựa còn chạy và cột chúng gần một bức tường.
Con ngựa của Haley cạnh đó là một con ngựa còn trẻ, vốn rất nhát, đá hậu, hí vang lên và vùng vẫy dưới sợi dây cương. Samuel hét lên :
- Ồ! Đồ quỷ sống! Mày lên cơn hở? Tao có cách bắt mày phải đứng yên một chỗ.
Khuôn mặt đen trũi của hắn sáng lên một cách ranh quái.
Samuel đến gần cây tần bì to lớn tỏa bóng mát khắp sân, những cành nhỏ hình tam giác bén nhọn rơi rụng vương vãi xung quanh dưới đất; Samuel nhặt một cành, tiến lại sát con vật vuốt ve vẻ âu yếm như thể dỗ dành nó và nhanh như cắt hắn làm bộ như sửa lại cái yên ngựa mà thật ra là lén đút nguyên cả cái cành phía dưới yên. Hắn biết rằng chỉ cần có ai ngồi lên yên là con vật tức khắc lồng lên, dù nó không có vẻ bị thương tích, sây sát tí ti nào.
Thi hành xong thủ đoạn, Samuel xoa tay đắc ý, giương to đôi mắt, khuôn mặt rất hề, hắn nói :
- Rồi! Rồi đa! Lát nữa sẽ có chuyện... sẽ thấy...
Đúng lúc đó, bà chủ xuất hiện, ra dấu gọi hắn. Samuel tiến lại gần nữ chủ nhân.
- Samuel, chú làm gì đó? Tôi bảo André kêu chú từ lâu rồi.
- Chúa phò hộ bà! Con không thể bắt ngựa cho mau được, chúng chạy nhong khắp cánh đồng.
- Thôi được, Samuel! Nghe đây: bây giờ chú đi theo ông Haley để chỉ đường cho ông ấy, giúp ông ấy, Samuel, hãy săn sóc mấy con vật... Chú biết là tuần rồi con Jerry bị sái chân chứ? Đừng bắt chúng chạy nhanh quá, hiểu không?
Mấy tiếng sau cùng, bà chủ nói nhỏ và nhấn manh đặc biệt. Samuel thừa hiểu ý chủ nhân muốn gì, hắn mở to mắt lên, lễ phép :
- Thưa bà, xin bà tin con, con sẽ tuân lời bà, con chăm sóc mấy con ngựa kỹ, rất kỹ.
* * * * *
- Nè, André ơi! Tao sẽ không lấy làm lạ khi chốc nữa thấy con ngựa của ông Haley nhảy nhổm trong lúc ông ấy vừa trèo lên. Tao cho mày hay: đôi khi loài vật cũng biết tuân theo ý muốn của mình đó, mày ơi!
Samuel nói với André khi trở về bên gốc cây và thay vì kể rõ hành động mình, hắn chỉ thúc cùi chỏ vào hông thằng bạn nhỏ. André cũng thích chí, kêu lên “Ái chà” vui vẻ.
Rồi hai đứa cười rộ lên, đầu lắc lư, ngả nghiêng sang phải, sang trái, tay trong tay nhau chúng chờ đợi chuyện lạ sắp xảy ra.
Haley xuất hiện trước khung cửa. Bữa điểm tâm ngon và cốc café thơm ngát làm hắn quả có dịu lại chút ít. Mặt gã tươi tỉnh, vừa tiến ra sân gã vừa cười nói luôn miệng.
André và Samuel nhặt lấy nón - loại nón chúng tự kết lấy bằng lá dừa - rồi chạy lại phía mấy con ngựa để sẵn sàng giúp đõ ông khách quý của chủ nhân.
- A! Tụi bay đây rồi! Tốt lắm, bây giờ chúng ta lên đường ngay cho kịp, kẻo mất thì giờ.
- Vâng, thua ông!
Samuel lễ phép, vừa nói vừa đưa lão dây cương và giữ chắc bàn đạp trong khi André tháo dây hai con ngựa kia.
Đúng vào lúc Haley ngồi lên yên ngựa, con vật bỗng đột ngột phóng cao khỏi mặt đất, hất chủ nó rớt xuống bãi cỏ khô cách đó vài bước như ta vứt một trái mít già.
Samuel lao tới, chộp dây cương một cách can đảm, nhưng hắn chỉ kịp che cặp mắt con vật bằng chiếc nón lạ lùng của hắn, song chính cái nón kỳ cục đó lại làm con ngựa điên tiết thêm lên, lồng lộn thoát khỏi tay Samuel, hí lên mấy tiếng man rợ và sau vài cú đá hung hăng, nó phóng nhanh về phía cánh đồng, theo sau là con Bell và con Jerry mà André vừa tháo dây xong.
Một cảnh náo động tức thì diễn ra: Samuel và André thì vừa la hét luôn miệng vừa chạy quanh, chó sủa vang lên, Mike, Moise, Amanda, Fanny và một tá con nít da đen nữa của trại chạy tán loạn tứ phía, la ó, vỗ tay, cười đùa nhộn lên như thể chúng được dự vào một trò chơi thích thú.
Con ngựa của Haley, tuy nhát nhưng vốn là một ngựa non lại đã hăng lên rồi, nó gây cho đám khán giả nhốc con này một trò vui đáng kể. Nó phi thẳng một mạch đến bìa rừng thưa rồi dừng lại chờ cho người ta đuổi theo gần đến nó mới lại chạy tiếp, vừa chạy vừa đá hậu, và còn cất tiếng hí vang dữ tợn phóng thật sâu vào rừng.
Samuel rình rình chờ dịp thuận tiện là tóm con vật hung hăng lại. Chỗ nào có một con ngựa nổi cơn khùng bất ngờ là nơi đó thấp thoáng cái mũ kỳ quái kết bằng lá dừa của Samuel. Hắn kêu luôn kiệng :
- Này, này! Đến đây đi! Này! Này...
Tiếng kêu nửa như dọa dẫm, nửa như dỗ dành cốt để áp đảo tinh thần con vật.
Haley thì hết chạy sang trái lại chạy sang phải, nguyền rủa, chủi thề, dậm chân. Ông Shelby đứng trên bậc thềm cao, cố gắng ra lệnh một cách vô hiệu quả.
Còn bà Shelby thì sao? Bà đứng yên bên cánh cửa sổ trong phòng, theo dõi cảnh tượng buồn cười diễn ra trước mắt, mỉm cười hài lòng. Quả bà cũng có hơi ngạc nhiên, bà nghĩ rằng có cái gì khác lạ, có âm mưu... chi đây chứ chẳng không.
Cuối cùng, hai tiếng đồng hồ sau người ta thấy Samuel xuất hiện, vẻ hơi vênh váo một chút như thể hắn là một ông tướng vừa thắng trận lớn: ngồi chễm chệ trên lưng con Jerry, tay nắm chặt dây cương con ngựa của Haley.
Con ngựa thì đẫm ướt mồ hôi, con mắt đỏ quạch, cánh mũi phập phồng, nó vẫn còn như hục hặc muốn gây sự chứ chưa hẳn đã được thuần phục hoàn toàn. Giọng hãnh diện, Samuel la lên :
- Bắt được nó rồi đây! Không có tôi, đố ai trị con quỷ này cho nổi...
Nhưng Haley gắt gỏng, cau có ngắt lời Samuel :
- Không có mày... không có mày thì việc này đâu có xảy ra...
- Xin Chúa phò hộ ông Haley! - Samuel nói với gã ta bằng một giọng buồn rầu giả tạo - Ông không thấy tôi như vừa lội dưới ao lên đây sao: tôi ướt đẫm mồ hôi vì công việc của ông...
- Phải! Vì sự ngu đần của mày, tao bị trễ mất hơn ba tiếng đồng hồ. Thôi, lên đường ngay! Ta không muốn kéo dài thì giờ, đừng nói lôi thôi.
Làm bộ khổ sở, Samuel lại kêu lên :
- Thưa ông Haley, ông muốn giết hết chúng tôi, cả người lẫn ngựa hay sao? Chúng tôi gần kiệt sức mà mấy con ngựa cũng rã rời. Ông nên vui lòng nán lại chờ đến xế trưa. Con ngựa của ông cần nghỉ ngơi cho lại sức, ông nhìn kỹ nó coi! Nó đang ở trong tình trạng thế này này... Còn con Jerry thì khập khiễng. Hơn nữa, tôi đoán chắc bà chủ cũng không bằng lòng để khách quý như ông ra đi mà chưa dùng bữa đàng hoàng đâu, thưa ông. Xin Chúa phò hộ ông! Chúng ta sẽ không mất mát gì vì việc trễ nãi này, chị Elisa đi bộ xa không nổi đâu, chị ấy yếu lắm.
Nhận thấy cuộc đối thoại giữa đôi bên có vẻ gay cấn, bà Shelby liền bước xuống khỏi thềm đến gần can thiệp. Giọng từ tốn, lịch sự, bà nói lấy làm tiếc về tai nạn này, đoạn mời Haley vào nhà dùng bữa trưa. Bà hứa chắc là bữa ăn đã sẵn.
Haley biết là không thể làm cách nào khác hơn dành phải nhận lời nữ chủ nhán, và không bỏ được nét mặt cau có, gã đi xăm xăm vào phòng khách.
Samuel tròn mắt lên với một vẻ ranh quái vô cùng đắc ý, trịnh trọng dắt ngựa về chuồng.

0
Chương 7
 
Chưa bao giờ Elisa thấy lẻ loi và đau khổ tột cùng bằng lúc nàng bế con lầm lũi ra khỏi căn lều của bác Tom.
Nỗi phẫn uất, bất công mà chồng nàng đang hứng chịu, sự nguy hiểm đang chờ đón con nàng, hiện trạng của nàng giờ đây... tất cả quay cuồng như một cơn lốc dữ trong đầu nàng làm cho nàng lo lắng và bối rối không tả được. Cái gì sẽ đón chờ nàng trên con đường trốn tránh trong đêm khuya đây? Nàng đã thực sự rời khỏi ngôi nhà duy nhất nàng quen thuộc, rời bỏ nữ chủ nhân, một phụ nữ quý phái và tốt bụng mà nàng rất mực thương yêu và kính trọng. Đó là nơi nàng đã được sinh ra và lớn lên, khung cảnh thân thuộc gắn bó với nàng từ thuở còn thơ ấu cho đến tuổi trưởng thành.
Nàng đã lớn lên với những thân cây đầy bóng mát, chúng đã che chở nàng, chứng kiến những trò chơi của nàng thuở ấy. Rồi những khu rừng thưa mà nàng thường đi dạo vào buổi chiều trong những ngày còn được hạnh phúc bên người chồng trẻ đầy nghị lực và có tài. Tất cả những thứ này như thi nhau ẩn hiện trước mắt nàng, thấp thoáng dưới ánh sáng lạnh lẽo của những vì tinh tú, hình như cùng một loạt lên tiếng, trách móc nàng đã rứt bỏ chúng ra đi.
Tuy nhiên, vượt trên cả những kỷ niệm êm đềm đáng ghi nhớ đó, tình mẫu tử thâm sâu đã khiến nàng cương quyết; nàng cảm thấy mối hiểm nguy khủng khiếp đang đè nặng tim mình và càng lúc càng gần hơn.
Thằng bé Henri đã khá lớn và có thể đi bộ. Trong những dịp khác nàng rất vui sướng nắm tay con dắt nó đi, nhưng trong lúc này cái ý nghĩ sẽ mất nó, sẽ không còn dịp được bế nó trong tay làm nàng rùng mình, khiếp hãi. Vì vậy, Elisa ghì chặt con vào lòng, hấp tấp bước mau gần như chạy trong đêm sâu.
Mặt đất đóng băng nứt rạn dưới chân nàng. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm nàng giật mình, nghe ngóng. Tiếng xào xạc của cành lá, một cái bóng cây lay động cũng làm cho máu trong huyết quản riàng như ngừng chảy và bước chân nàng càng vội vã hơn. Cùng một lúc, Elisa ngạc nhiên về sức chịu đựng của mình: thằng bé có vẻ nhẹ hẩng đi trong tay người mẹ, tựa cái lông chim.
Thoạt tiên, nỗi sợ hãi và kinh ngạc làm nó tỉnh ngủ, rồi thấy cử chỉ lạ lùng của mẹ - Elisa bảo con đừng nói lớn và thở mạnh - khiến nó mang máng hiểu rằng có một sự đe đọa gì đây và nó tin là mẹ nó chỉ có thể cứu nó nếu nó chịu tuân lời, im lặng trong vòng tay mẹ. Mãi sau, khi cơn buồn ngủ kéo đến, thắng bé mới lên tiếng hỏi :
- Mẹ ơi! Con có thể ngủ được không, hở mẹ? Con có phải thức không?
- Không cần, con ạ! Nếu con buồn ngủ cứ ngủ đi...
- Con ngủ mà mẹ đừng bỏ con, nghe?
- Chúa ơi, bỏ con sao được? Không đâu, con cứ ngủ đi!
Người mẹ âu yếm trả lời con. Thằng bé nhìn mẹ bằng đôi mắt đen láy, sáng rỡ, mặc dù đôi mắ nó tái xanh :
- Mẹ nổi thiệt không? Chắc không?
- Chắc lắm, con hãy tin mẹ. Mẹ không bao giờ bỏ con, không bao giờ!
Người mẹ nói với giọng cương quyết và lạ đến mức chính nàng cũng sờ sợ vì có cảm tưởng đó không phải là tiếng nói của chính mình.
Thằng bé đáng thương mệt mỏi gục đầu xuống, ngủ thiếp trong tay mẹ. Hai bàn tay bé nhỏ bám chặt vào Elisa, hơi thở ấm phả lên cổ Elisa gây cho nàng cái cảm giác hăng hái, tin tưởng.
Bờ ranh của trang trại, khu rừng thưa... lần lượt nàng vượt qua khỏi... và nàng bước tới, bước tới mãi, không ngừng nghỉ một giây dù để lấy hơi, cho đến một lúc, những tia sáng đầu tiên của bình minh báo hiệu, soi xuống con đường lớn, cách trang trại của chủ nhân nàng nhiều dặm.
Elisa vẫn thường cùng đi với bà chủ đến thăm những người bạn trong miền lân cận, đến tận làng T. tận bên bờ sông Ohio nên nàng biết rõ vùng này. Nhưng nếu đi xa hơn, băng qua bên kia sông thì Elisa mù tịt hoàn toàn. Sang bên ấy, nàng chỉ còn biết nhắm mắt đưa chân, phó thác số mạng trong tay Chúa.
Khi xe cộ và ngựa bắt đầu qua lại trên con đường lớn thì Elisa - với thứ trực giác tinh tế và bén nhạy mà ai cũng có trong những trưởng hợp tương tự như hoàn cảnh nàng hiện nay - linh cảm rằng với bước chân bỡ ngỡ và vẻ mặt tràn đầy lo lắng thế này, nàng sẽ dễ bị người qua đường chú ý, nếu không muốn nói là nghi ngờ. Nàng bèn đặt con xuống, sửa lại quần áo, đội mũ ngay ngắn và cố gắng bước đi với dáng bộ chững chạc, bình thường.
Elisa có mang theo mấy trái táo và bánh ngọt. Elisa dùng táo để khuyến khích thằng bé: nàng lăn chúng trước mặt con cách nó vài thước và đứa bé vô tình cố sức chạy theo. Cứ thế, mẹ con nàng đi thêm được vài dặm nữa.
Một chốc sau, mẹ con nàng đến một cánh rừng, cạnh con suối chảy róc rách êm tai. Thằng bé vừa đói vừa khát, nó bắt đầu nhăn nhó. Hai mẹ con băng qua một hàng rào rồi Elisa đặt con ngồi khuất sau một tảng đá lớn, nàng dỗ nó và cho nó ăn. Henri rơm rớm nước mắt khi thấy mẹ không chịu ăn, nó dang đôi cánh tay nhỏ nhắn ôm cổ mẹ và đút vào miệng mẹ miếng bánh. Elisa nghẹn ngào bảo con :
- Mẹ không đói, Henri ạ!... Con yêu của mẹ ơi, mẹ không nuốt được khi con chưa thoát hiểm... mẹ con ta còn phải đi, đi nữa, đi mãi cho đến tận bờ sông.
* * * * *
Elisa lại vội vã lên đường... và rồi, giây lát sau lại giữ bước chân bình thường, chững chạc. Mẹ con nàng đã vượt qua được nhiều dặm đường ở những nơi nàng khá quen thuộc. Nàng nghĩ là nếu tình cờ gặp ai thì nhở vào sự đối đãi nhân từ của chủ nhân từ trước, người ta sẽ không nghi ngờ nàng đang trên đưởng trốn chạy. Ngoài ra, Elisa cũng may mắn là có màu da khá trắng, nếu không quan sát kỹ, người ta khó mà nhận ra dòng máu lai pha trộn trong huyết quản nàng. Cả Henri nữa, nó cũng trắng như mẹ, đó là một may mắn rất đáng kể lúc này. Nàng hy vọng có thể thoát hiểm không mấy khó khăn.
Mặt trời đứng bóng, Elisa ngừng chân ở một ngôi trại xinh xắn để nghỉ ngơi giây lát và dùng bữa trưa. Càng đi xa, mối de dọa càng giảm dần, đầu óc Elisa bớt căng thẳng. Tận lúc này, nàng mới cảm thấy đói và mệt nhoài.
Bà chủ trại tốt bụng và hơi lắm chuyện, đã luống tuổi, tỏ ra vui mừng được có người để trò chuyện. Bà tin ngay Elisa, không chút ngờ vực gì về những lời bịa đặt của thiếu phụ đáng thương khi nghe nàng nói bà chủ cho nàng đến chơi và ở lại nhà bạn một tuần lễ. Còn Elisa thì nghĩ thầm: “Vậy là mình đã gian dối”.
Một tiếng đồng hồ trước khi mặt trời lặn, Elisa đến làng T. bên bờ sông Ohio. Lúc này tứ chi rã rời, nàng hết sức mệt mỏi nhưng tinh thần hăng hái lạ thường. Cái nhìn đầu tiên mà nàng dành cho giòng sông, cũng giống như câu chuyện Jourdan trong kinh thánh: bên kìa bờ là tự do đang đợi nàng.
Lúc ấy thời tiết vào đầu xuân. Nước sông dâng cao và chảy xiết, cuồn cuộn kéo theo những tảng nước đá. Do hình dạng đặc biệt của bờ sông ở vùng này trong tiểu bang Kentucky, nhô lên một mõm đất cao chìa ra tận giữa dòng sông, nhiều tảng nước đá khổng lồ không tan kịp và chảy theo dòng nước, bị vướng lại. Chúng nằm ụ thành đống, chồng chất lên nhau nom như một bức màn cao sừng sững ngân cách sự liên lạc giữa hai bên bờ.
Elisa  đứng sững một lúc lâu nhìn quang cảnh này, lẩm bẩm :
- Trời ơi! Phà không chạy được sao?...
Nàng chạy ù về phía một quán nhỏ để hỏi thăm chi tiết. Bà chủ quán đang bận chiên cá và nấu món ra-gu cho bữa ăn chiều. Bà quay lại, tay vẫn cầm cái nĩa chú ý nghe giọng dịu dàng, khẩn thiết của người thiếu phụ.
- Thưa bà, có cái phà hay chiếc tàu chở người sang B. không ạ?
- Không đâu, hiện không tàu phà chi chạy cả.
Nỗi đau đớn và tuyệt vọng của Elisa khiến bà chú ý, bà ân cần hỏi :
- Này cô, cô cần sang sông lắm hay sao? - Hơi ngập ngừng một chút, bà tiếp - Có ai đau ốm chi chăng? Cô có vẻ lo lắng quá...
- Con cháu đang lâm nguy, cháu chỉ mới được tin chiều hôm qua. Cháu đi liền một mạch đến đây với hy vọng là có phà sang sông.
- Xui xẻo cho cô quá! Tôi nghe mà ái ngại cho cô...
Tình mẫu tử được đánh thức trong lòng bà. Bà dòm qua cửa sổ, hướng mắt về phía căn lều gỗ tối đen, cao giọng lên :
- Salomon ơi!
Eliaa thấy một người đàn ông với đôi tay dơ bẩn và ngực khoác tấm tạp dề da từ phía lều gỗ bước ra. Bà chủ sốt sắng :
- Salomon này, ông khách ấy có định sang sông ngay tối nay không?
- Thưa, ông ta nói sẽ cố gắng, nếu có thể được.
Bà chủ quay lại cô khách lạ giải thích :
- Có một ông khách sẽ đến đây để chở hàng hóa sang sông đêm nay. Ông ta sẽ ăn tối tại đây. Tốt nhất là cô nên nghe lời tôi ngồi nán lại chờ xem. Cháu bé kháu khỉnh quá...
Bà vừa nói vừa đưa cho nó cái bánh song kiệt sức nhiều giờ, nó khóc vì mệt, không vui vẻ đón nhận. Elisa nói với bà chủ quán :
- Thưa bà, cháu nó không quen đi bộ, cháu bị giục giã đi nhanh nên mệt...
Bà chủ quán bảo Elisa, dịu dàng :
- Cô đưa cháu vào nghỉ một lát đi.
Bà nói và mở cửa căn phòng nhỏ trong đó có cái giường sạch sẽ.
Elisa nghe theo, đem con lên giường và ẵm nó trong tay cho đến khi Henri chìm vào giấc ngủ. Còn nàng, làm sao nàng có thể nghỉ ngơi được khi mà cái ỷ nghĩ đang bị săn đuổi thôi thúc nàng như ngọn lửa âm ỉ, đốt cháy tận xương tủy nàng. Nàng ngồi cạnh con, buồn bã, nước mắt chảy dài và không ngớt nhìn những tảng nước đá bồng bềnh đang cuồn cuộn trôi theo dòng nước, ngăn cách nàng với sự tự do bên kia sông.
* * * * *
Trong lúc người mẹ can đảm đang cùng con trên đường trốn chạy thì ở trang trại, nữ chủ nhân cố trì hoãn cuộc săn đuổi của gã buôn người bằng cách mời gã nán lại dùng bữa. Bà tuyên bố là bữa ăn đã sẵn sàng, và dù lệnh dọn bàn ăn đã ban ra có sự hiện diện của Haley cùng với nhiều lần có tiếng giục giã, bác Tom gái, bà đầu bếp chính, mỗi lần nghe hối, lại gật gù lẩm bẩm trong miệng những tiếng vô nghĩa. Công việc nấu nướng được tiếp tục một cách chậm chạp khác với thói quen vui vẻ, nhanh nhẩu của bác hằng ngày. Đây là lần thứ nhất, bà đầu bếp này làm việc một cách miễn cưỡng, lâu lắc.
Cả nhà cũng linh cảm là hình như bà chủ đồng lòng với họ trong việc trễ nãi khác thường này. Và có nhiều cái làm người ta ngạc nhiên hơn, vì những cản trở cùng lúc xảy ra làm bữa ăn đã chậm càng thêm chậm: một tên hầu bàn vụng về làm đổ nguyên bát nước sốt, phải nấu lại; một thằng bé khác làm đổ thùng nước đang khiêng từ giếng về, lại phải chạy ra giếng lần nữa. Đã hết đâu, một đứa nữa làm đổ hết đĩa bơ.
Bác Chloé làm việc lơ là, lấy có, không chút hứng khởi. Bác trả lời những kẻ tỏ ra thắc mắc về hành động bác hôm nay bằng một câu với cái giọng rầu rĩ :
- Làm sao tôi hăng hái cho nổi? Lương tâm tôi không cho phép tôi nấu nướng ngon lành, dọn cho kẻ buôn người ăn đặng hắn có thể săn đuổi người khác như người ta săn thú! Tôi đâu phải là gỗ đá, vô tri. Phải hiểu cho tôi...
Bọn gia nhân, miệng cười chế giễu, vào nhà bếp tuyên bố là ông Haley đang cáu kỉnh, bực mình, là ông ta không thể ngồi yên trên ghế, là ông giậm chân đùng đùng, là ông bước tới bước lui trên phòng khách không ngừng.
Bác Tom trai nói :
- Tôi rất bằng lòng là sáng nay ông chủ không bỏ đi như ông đã đự tính. Nếu ông làm vậy tôi còn buồn nhiều hơn là bị bán nữa kia. Dù rằng ông làm vậy cũng là điều tự nhiên, ông muốn tránh... nhưng tôi, tôi biết ông từ khi ông còn nằm trong tã lót... tôi rất hiểu hoàn cảnh ông hiện nay và tôi vui vẻ mà tuân theo ý Chúa định. Ông có thể bị vỡ nợ nếu không bán tôi, ông hành động thế là phải lắm. Có điều khiến tôi không yên lòng là sau khi tôi đi rồi e công việc ở trại sẽ đình trệ ít nhiều. Ông chủ không thể để mắt khắp nơi được như tôi trước nay. Những đứa trẻ trong trại thật ngoan nhưng lại nhẹ dạ khờ khạo. Tôi lo quá!
Một hồi chuông vang lên, Tom được gọi lên phòng khách.
- Tom ơi! - Giọng ông chủ dịu dàng - Tôi phải báo cho chú biết là tôi nợ ông Haley đây mười ngàn đô la và ông ấy bằng lòng trừ hết số nợ nếu chứ chịu đi với ông đến nơi nào ông muốn. Hôm nay, ông Haley đang bận giải quyết vài chuyện cần, vậy ngày hôm nay chú được thoải mái làm gì tùy ý.
- Cảm ơn ông chủ.
Chú Tom bình tĩnh nói. Gã buôn người chen vô :
- Đừng quên điều này: nếu anh đánh lừa chủ anh, tôi sẽ không bỏ qua món nợ. Hừ, nếu chủ anh mà nghe lời tôi, ông đã không bị bọn da đen các anh qua mặt vù vù, tôi thì... tôi lạ gì các anh, luồn như trạch, các anh giống nhau hết, gian giảo...
- Thưa ông - Tom đứng thẳng trước mặt chủ nhân, đĩnh đạc nói - Khi tôi lên tám tuổi, bà chủ cũ của tôi, bà cụ thân sinh ra ông, đặt ông trong tay tôi mà nói rằng: “Tom ơi! Đây là chủ của con sau này, con hãy phục tòng nó, giúp nó tận tâm”. Tôi còn nhớ rõ, lúc đó ông chưa tròn một tuổi. Cho đến ngày nay, năm chồng tháng chất, có bao giờ tôi phụ lời ủy thác của cụ bà chưa? Có bao giờ tôi xao lãng bổn phận tôi đòi chưa? Ông nhớ lại coi, nhất là, nhất là kể từ ngày tôi được trở lại đạo đến nay...
Ông Shelby sững sờ vì xúc động, không sao cầm nước mắt. Ông cố gắng nói với người đầy tớ trung thành :
- Chú thật can đảm và có lòng. Tôi hiểu là chú nói đúng với sự thật và Chúa cũng chứng giám cho chú. Tom ơi! Nếu có phương thế khác, tôi không bao giờ bán chú đâu.
Bà Shelby nối lời chồng :
- Thật đó, chú Tom ơi! Chúng tôi sẽ tìm cách chuộc chú về khi nào chúng tôi qua cơn thử thách này.
Quay sang Haley, bà tiếp :
- Này ông Haley ơi, xin ông giữ lời hứa: cho chúng tôi biết đã bán chú Tom đây cho ai, ở địa chỉ nào, đặng chúng tôi có thể...
- Đó là chuyện tất nhiên, thưa bà! - Haley vồn vã - Nếu bà muốn, trong vòng một năm sau, tôi hứa sẽ đem Tom trở lại cho bà.
- Tôi sẽ mua Tom với giá cao.
Gã con buôn cười hềnh hệch, khả ố :
- Tốt lắm! Tôi sẵn sàng bán và cũng sẵn sàng mua, miễn tôi có lợi. Đó là những gì tôi mong muốn, chắc bà hiểu... Nghề của tôi mà, thưa bà!
Trước vẻ vô liêm sỉ, trân tráo của gã buôn người, đôi vợ chồng trại chủ cảm thấy nhục nhã, mất mặt nhưng họ cùng hết sức cố gắng để không lên tiếng sỉ vả gã; họ sợ làm gã nổi khùng lên, gã sẽ bỏ bữa ăn và tức khắc săn đuổi Elisa với đứa nhỏ vô tội.
Bà phải dùng hết mọi mẹo vặt của phái nữ để ngăn hành động của gã, bà cười thật tươi, bà trò chuyện thân mật, hỏi thăm về gã v.v... Tóm lại, bà tìm hết cách để giữ gã lại càng lâu càng tốt, cốt kéo dài thời gian đuổi theo Elisa mà gã rất nóng lòng thực hiện.
* * * * *
Sau bữa cơm trưa, vào khoảng hai giờ, Samuel và André dắt ngựa đến. Trông chúng lúc này thật tươi tỉnh và sung sức hơn bao giờ hết, dù rằng chúng vừa trải qua cuộc săn đuổi khó nhọc ban sáng. Chắc hẳn nhờ bữa ăn trưa, chúng lấy lại được phong độ và nhiệt thành.
Haley lại gần chúng, bằng giọng hách dịch, dặn dò chúng phải làm gì, làm gì và... phải gắng thành công. Gã nói thêm khi đến bờ rào cuối cùng của trang trại :
- Ta muốn đi thẳng tới bờ sông, ta biết rõ ý muốn của nó, chắc chắn là nó băng qua sông...
- Thưa ông, ông đoán rất đúng. Đó là ý định của người đi trốn. Nhưng thưa ông, có hai con đường đến bờ sông, đường đá và đường đất, ông chọn đường nào?
André ngơ ngác nhìn bạn, ngạc nhiên trước sự tiết lộ mới mẻ này, song rồi nó xác nhận tức thì lời bạn bằng những câu vô thưởng vô phạt. Samuel thêm vào :
- Theo tôi, tôi cho là chị Elisa sẽ theo con đường cũ, vì vắng vẻ, kín đáo hơn.
Haley tuy ngờ vực lời của hai tên da đen, song phải đồng ý là nhận xét này có lý.
Quả vậy, đó là con đường cũ kỹ trước kia dẫn đến bờ sông. Nay nó bị bỏ hoang, không dấu chân người lai vãng đã nhiều năm, từ khi có con đường mới. Đường cũ này chỉ còn trống quang trong khoảng một giờ đi bộ rồi thì nó bị cắt ngang bởi những hàng rào và những thửa ruộng nhỏ.
Samuel rất thông thạo đường này, còn André trái lại, hắn mù tịt vì lâu quá không hề đặt chân đến đây. André theo sau với vẻ trầm ngâm cẩn trọng, chốc chốc lại kêu lên là con đường gồ ghề, lồi lõm quá tệ đối với con ngựa Jerry. Có khi nó lẩm bẩm một mình không ai nghe rõ.
Haley cáu kỉnh lắm, hắn dọa dẫm hai tên gia nhân của ông Shelby :
- Cho tụi bay hay trưởc là đừng hòng qua mặt tao. Tao biết hết, tao biết rõ mưu mô của tụi bay! Nhưng tao thề là không bỏ con đường này nửa chừng đâu. André! Câm miệng đi!
- Ông có quyền làm điều gì ông thấy có lợi chứ, thưa ông! Chúng tôi đâu dám ngăn ông?
Samuel nói bằng giọng lễ phép và cùng lúc hắn ném cho bạn một cái nhìn ý nghĩa, chúng có vẻ rất đắc ý, quên cả giữ gìn kín đáo đối với Haley.
Thỉnh thoảng, Samuel đảo mắt nhìn quanh rồi bất chợt kêu to :
- Kìa! Tôi thấy cái gì giống cái mũ đàn bà ở kia kìa...
Hay nói với André :
- Hình như chị Elisa đang ở dưới vực sâu kìa!
Hắn chơi khăm: cứ đến một chỗ nào khúc khuỷu và có đá nhọn, những chỗ không thể đi nhanh mới thổt lên những câu khám phá mơ hồ tương tự.
Tóm lại, Samuel gây cho tên buôn người sự hồi hộp liên tục suốt, cả một giờ đồng hồ trong cuộc săn người.
Một lát sau, ba người đụng phải cái sân của một trang trại khá lớn. Song mọi người đều ra đồng làm việc hết, không một bóng người. Trại nằm vắt ngang con đường, thế là cả bọn không thể tiến lên theo hướng này được nữa. Samuel lấy làm đắc chí, nói bằng giọng vô tư :
- Đó, ông thấy chưa: tôi đã thưa trước mà ông có nghe đâu. Làm sao một người lạ như ông có thể biết rõ vùng này hơn tôi, một kẻ được sinh ra và lớn lên tại đây chớ.
- Đồ mất dạy, tại mày chớ tại ai.
Haley hét dựng lên. Samuel gân cổ cãi :
- Kìa, sao ông lại đổ lỗi cho tôi? Tôi có thưa trước với ông, chính thằng André cũng có nghe mà.
Gã buôn người giận sôi nhưng phải cố nén, rồi cả ba quay ngựa lại, hướng về con đường mới to rộng.
* * * * *
Những sự trễ nãi này quả có lợi không nhỏ cho Elisa. Gần một tiếng đồng hồ qua, con nàng được nằm ngủ bình yên thoải mái trong căn phòng của quán trọ, trước khi tên Haley lù lù xuất hiện.
Ngồi cạnh cửa sổ, Elisa đang nhìn về hướng khác, nàng không hay biết là kẻ săn đuổi đến sau lưng mình. Nhưng đôi mắt tinh anh của Samuel thì đã nhận ra nàng ngay lúc ấy, trong khi Haley và André đi sau hắn vài bước.
Đây là lúc hồi hộp nhất. Samuel hành động tức khắc (vì hắn vốn lanh trí), hắn để cho gió thổi tung cái mũ đặc biệt của mình và hét toáng lên, cũng bằng giọng rất là... đặc biệt. Tiếng hét báo động này làm Elisa giật nẩy mình lên, nàng vội vã nép người về phía sau.
Cả ba cùng dừng lại trước cửa quán, ngay sát bên cánh cửa sổ.
Căn phòng còn có một cánh cửa mở hướng ra sông. Nhanh như một mũi tên, trông giây phút thập tử nhất sinh này, không cần nghĩ ngợi lâu la chi, Elisa cúi xuống, cắp lấy đứa bé đang thiêm thiếp ngủ và phóng ba bước một xuống mấy bậc cấp ra bờ sông.
Tên buôn người - hay săn người cùng thế - vừa kịp thấy nàng là lúc nàng đã thoát ra phía bờ sông.
Lập tức Haley nhảy xuống ngựa, quát gọi Samuel và André rồi gã vội vàng rượt theo Elisa, không bỏ mất một giây.
Con mồi chạy trước, thợ săn chạy sau, thật là giây phút gay cấn đáng sợ. Elisa cảm thấy chân nàng cơ hồ không chạm đất, nàng như đang bay. Sau lưng nàng là kẻ thù theo bám sát...
Ngay lúc nguy hiểm tột độ đó, với sức mạnh phi thường mà Trời ban riêng cho kẻ cùng đường tuyệt vọng, Elisa thét to một tiếng man tợ, nàng sãi nhanh từ bờ, phóc một cái lên giòng nước đang chảy xiết và rơi xuống trên một tảng băng đá lềnh bềnh, lập lờ. Đó là một bước nhảy liều lĩnh không tính toán của kẻ sa cơ, tuyệt lộ, địên cuồng... coi cái chết nhẹ như chiếc lông chim.
André, Samuel và cả Haley không ai bảo ai cùng đồng thanh hét lên một tiếng và giơ cao tay lên trời khi trồng thấy cảnh tượng kinh hoàng diễn ra bất ngờ trước mắt.
Tảng băng khổng lồ rạn nứt kêu lên răng rắc và chìm lỉm dưới sức nặng của mẹ con Elisa... Không để mất một giây nào, nàng nhảy từ tảng băng này đến tảng băng khác, liên tục không ngừng. Miệng thiếu phụ cũng phát ra những tiếng thét man dại như để thêm nghị lực phấn đấu với cái chết ngay trước mắt. Nàng trượt ngã, gượng dậy, nhảy tới, ngã nữa, có khi nàng lăn một vòng song cuối cùng, nàng lại đứng lên, phóng tới.
Thiều phụ mất giầy, tuột vớ, tuột cả đôi ra khỏi chân, máu nhỏ ròng ròng dưới chân nàng song tuyệt nhiên Elisa không hề cảm thấy đau đớn chút nào. Nàng chỉ biết một điều quan trọng: bằng mọi giá nàng phải trốn khỏi nanh vuốt của kẻ mặt người lòng thú, dù có chết cũng cam. Khư khư giữ chặt đứa con yêu dấu trong đôi tay yếu đuối, nàng tiến tới không ngừng, bất chấp mọi trở ngại, dù do thiên nhiên hay loài người ngăn chặn. Những tảng băng lập lờ, vỡ ra, kêu lên răng rắc dưới đôi chân thoăn thoắt của nàng và dòng sông cuồn cuộn trước mặt nàng đều không làm nàng do dự. Elisa hành động như do một sức sai khiến huyền diệu bí mật, vượt ngoài khả năng của con người, có lẽ phần lớn vì tình thương tha thiết đối với đứa con độc nhất.
Bên kia bờ, Haley há hốc miệng đứng nhìn theo, bàng hoàng, kinh dị, sững sờ. Và rồi cuối cùng, như một phép lạ, như một giấc mơ, mẹ con Elisa đến được bên kia bờ, an toàn.
Một người đàn ông đưa tay cho nàng nắm, giọng ông ta cất lên nửa xót thương nửa khâm phục :
- Em là ai? Em can đảm lắm!
Elisa giật mình vì nhận ra khuôn mặt và giọng nói của người đàn ông, ông ta làm việc ở một trại sát canh trại chủ nàng. Nàng nói với ông :
- Thưa ông Symmer! Xin ông cứu tôi! Cho tôi trốn khỏi đây...
- A, Elisa! Cô không còn ở với ông bà Shelby nữa sao?
- Thưa ông, ông chủ tôi đã bán con tôi cho một nhà buôn nô lệ. Ông chủ mới đang rượt theo tôi kìa!
Nàng vừa nói vừa chỉ tay về phía bờ bên kia :
- Van ông, ông cũng có con, xin ông hiểu cho. Ông có con chứ, thưa ông?
- Phải, tôi cũng có một đứa con...
Ông Symmer trả lời, giọng cảm động và đưa tay đỡ thiếu phụ lên bờ, Elisa mừng rỡ đưa tay cho ông, bàn tay thô kệch nhưng tấm lòng rộng mở.
Người đàn ông ngừng lại khi họ cùng đến phía trên đê :
- Tôi rất hài lòng trong việc giúp đỡ cô, song tôi thú thật là không biết cho cô ở đâu. Điều mà tôi thấy nên làm ngay là chỉ cho cô biết nơi nên đến.
Ông chỉ cho Elisa thấy một ngôi nhà đồ sộ màu trắng nằm trơ vơ trên con đường chính của làng, tiếp :
- Hãy đến đó ngay đi! Ở đó toàn người tốt, tin cậy được. Họ sẵn sàng đón tiếp cô và con cô. Họ thường gặp cảnh này luôn.
- Xin Chúa phò hộ cho ông!
Elisa sung sướng nói. Người đàn ông ôn tồn :
- Cô đừng quan tâm, điều tôi làm không đáng chi đâu.
- Thưa ông, xin ông giữ kín giùm tôi chuyện này... Xin ông hứa...
- Cô cho tôi là hạng người gì đây? Cứ trông vào hành động vừa rồi của cô tôi nghĩ rằng cô đáng được tự do, dù cô thuộc vào thành phần nào đi nữa. Nếu tôi có quyền hạn thì cô đáng được tự do, rất đáng... và tôi tin là cô sẽ được tự do.
Elisa cảm ơn ông rồi đỡ lấy con, bước chân nàng vững vàng và đầy hy vọng. Người đàn ông đứng im, dõi mắt theo nàng. Ông lẩm bẩm :
- Ông Shelby có thể cho đây là một hành động không tốt của một người bạn đối với một người bạn, nhưng ta biết làm sao hơn? Nếu ông ấy bắt gặp tên nô lệ của ta trong trường hợp tương tự thế này, chắc cũng hành động như ta mà thôi. Làm sao ta có thể bắt giao cho chủ một thiếu phụ khốn khổ can đảm đã bị rượt đuổi như con vật và đã trốn thoát sau muôn vàn nguy hiểm? Ta không phải hạng chó săn, ta không thuộc hạng người săn đuổi đồng loại và không thể bắt giao những người nô lệ quả cảm, phi thưởng như thế này được.
* * * * *
Bên này bờ sông Haley vẫn chưa hết kinh ngạc, sững sờ. Sau cùng, khi con mồi mất dạng, gã sực tình đưa đôi mắt lờ đờ thất thần nhìn hai tên nô lệ đứng bên rồi gã lặng lẽ dò xét thái độ chúng.
- Vậy là tiêu tùng rồi!
Samuel dửng dưng nói. Haley tiếp bằng giọng chán nản pha chút thán phục :
- Chắc nó có bảy con quỷ nhập vô mình... nó phóng y như một con mèo rừng ấy thôi.
- Chúa ơi! - Samuel lại lễ phép - Tôi hy vọng ông vui lòng tha lỗi cho chúng tôi, chúng tôi đã không thể rượt theo chị ấy. Chúng tôi không đủ sức để vượt qua sông bằng cách ấy.
Và hắn phá lên cười, thích thú, không cần che giấu.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.06.2015 05:16:33 bởi casau>
Chương 8
 
Ánh sáng của ngọn lửa ấm phản chiếu reo vui trên tấm thảm và những bức tranh treo trên tường trong gian phòng khách xinh xắn, bộ tách trà cũng bóng loáng.
Ông nghị Bird cởi bỏ đôi bốt ra khỏi chân và sắp mang vào đôi vớ mới, đôi vớ mà bà vợ xinh đẹp của ông đã bỏ công đan cho chồng trong mùa tranh cử vừa qua.
Bà Bird thật đúng là hiện thân của hạnh phúc. Bà đang bận trông coi đám tôi tớ dọn bàn ăn, thỉnh thoảng lên tiếng la rầy lũ con nghịch ngợm, đáng yêu. Chợt bà cất tiếng hỏi chồng :
- Này anh, hôm nay có chuyện chi ở nghị trường không?
Ông Bird có vẻ ngạc nhiên khi thấy vợ mình tỏ ra quan tâm đến hoạt động chính trị. Như một số đàn ông khác, ông cho là đàn bà chỉ biết lo chuyện trong nhà, chăm sóc con cái, may vá và bếp núc thôi. Ông chồng tròn mắt lên, nhưng cũng trả lời :
- Này em yêu quý của anh! Anh và các bạn đồng viện vừa thảo luận và thông qua một đạo luật cấm dân chúng giúp đỡ những tên nô lệ trốn từ Kentucky sang đây. Em biết tại sao không? Thế này này: mỗi ngày bọn nô lệ trốn chủ một gia tăng khiến cho các bạn bên đó tức giận lắm, vì vậy tiểu bang chúng ta phải tỏ ra biết điều và có biện pháp ngay để bênh vực quyền lợi đồng ban, đặng họ dịu lạị.
- Đạo luật này ra sao? Chắc là cũng cấm dân chúng trong tiểu bang ta cho kẻ khốn khổ ngụ qua đêm? Có không, anh? Cấm chúng ta bố thí cho họ bữa ăn, vài bộ quần áo cũ và bắt chúng ta thản nhiên nhìn họ lọt vào tay bọn buôn người chứ gì?
- Dĩ nhiên, dĩ nhiên, tất những điều em vừa kể đều là giúp đỡ cả đấy.
- Anh John, còn anh thì nghĩ sao? Em muốn biết anh có đồng ý với bạn đồng viện của anh không? Anh có cho là đạo luật này công bằng đúng như lời Chúa dạy chăng?
- Maxy! Anh nghĩ... đúng như vậy.
- John, em không tin là anh cũng nghĩ như vậy. Anh không phản đối ư?
- Chúa ơi! Còn sự nghiệp chính trị, còn tương lai của anh, em phải...
- John ơi, anh không biết xấu hổ sao? Đáng lẽ anh phải chống lại chứ? Những con người khốn khổ vô tội ấy không nhà, không cửa... Cái đạo luật bất nhân, làm nhục con người. Em thề là em sẽ làm trái lại bất cứ lúc nào có dịp. Để rồi đây anh sẽ thấy. Hừ, thật đau xót biết chừng nào khi một phụ nữ bị coi là vi phạm luật pháp chỉ vì lòng nhân mà giúp cho đồng loại khốn khổ, những kẻ bị áp bức suốt đời, hành hạ suốt đời, sắp chết đói một bữa ăn nóng, một chỗ nằm nghỉ lưng.
- Mary yêu quý, hãy nghe anh nói đây. Những ý nghĩ của em rất tốt, rất nhân đạo, anh yêu em vì đức tính đó của em. Nhưng mà đôi khi người dân không nên để tình cảm chi phối bổn phận. Vấn đề ở đây không phải là tư vị một cá nhân, mà là bảo vệ quyền lợi quốc gia. Ta phải hy sinh tình cảm riêng để phụng sự dân tộc.
- Thôi đi anh, em không biết gì về đường lối chính trị, về lập trường của anh. Em, em chỉ biết đọc Kinh Thánh và em thấy rõ trong đó Chúa dạy ta phải cho kẻ đói ăn, cho người rách rưới mặc, an ủi kẻ khốn khổ. Thánh Kinh là lời Chúa, phải không? Vậy em chỉ biết vâng lời ngài.
- Nhưng vào trường hợp mà những hành động nhân đạo của en lại làm cho người da trắng bị thiệt thòi, bất hạnh thì sao?
- Vâng lời Chúa mà gây bất hạnh thiệt thòi cho kẻ khác ư? Em không tin vậy.
- Nghe anh đây: anh sẽ cho em thấy một chứng cớ rõ ràng...
- Không, John ơi! Dù anh có nói suốt đêm đi nữa anh cũng không lay chuyển được em đâu. Vô ích. Em hỏi anh này, anh có can đảm xua đuổi một kẻ khốn khổ, đói rét ra khỏi nhà vì hắn là tên nô lệ đang trốn tránh không? Anh dám làm không? Anh hãy trả lời thẳng thắn cho em nghe đi!
Thành thực mà nói, ông nghị Bird không phải là một kẻ cứng rắn, ông vốn nhạy cảm và tốt bụng. Ông không thể nào đang tâm hất hủi, xua đuổi một kẻ cùng khốn lọt vào nhà và cần sự che chở của ông. Hơn ai hết, bà Bird biết rõ tính chồng nên đã dựa vào đó mà tấn công ông tới tấp, làm ông hết đường chống đỡ.
Ông Bird quả thật đang lúng túng, ông đành trì hoãn câu trả lời bằng cách moi túi lấy khăn tay ra lau mắt kính. Trông thấy thái độ chồng, bà Bird biết ngay là ông đang yếu thế, bà càng hăng hái tranh luận để kéo ông ngả về phía mình.
Giữa lúc cuộc tranh luận đến hồi gay cấn nhất, bỗng lão già Cudjox - viên quản gia da đen của gia đình ông bà Bird - từ đâu lừng lững trờ tới, thì thầm với bà vài lời, tức thì bà đổi sắc đứng lên đi xuống bếp với lão, bỏ dở cuộc tấn công tình cảm.
Ông Bird như người được thoát hiểm, cảm thấy nhẹ nhõm, đưa mắt nhìn theo vợ với ánh mắt nửa vui thích, nửa bực bõ, đoạn xoay người lại ngay ngắn, ông tiếp tục đọc báo, tự nhủ rằng mình đã được yên thân.
Không lâu sau đó, ông nghe tiếng vợ gọi mình, giọng bà có vẻ xúc động, hớt hải :
- Này John ơi! Anh xuống đây ngay! Có cái này...
Đoán rằng có gì khác thường, ông Bird buông vội tờ báo đứng lên, hấp tấp bước vào gian bếp. Và rồi ông đứng lặng, ngẩn người vì cảnh tượng bất ngờ diễn ra trước mắt ông: một thiếu phụ gầy guộc, áo quần rách tả tơi, toàn thân ướt đẫm, cứng còng vì rét; một chân bị tuột mất giày, bàn chân bị nhiều vết xước rướm máu.
Nằm dài trên hai cái ghế được kê liền nhau, nom cô ta xanh xao như một cái xác. Quan sát kỹ một chút, ông nhận ra đó là một thiếu phụ mang hai giòng máu: của người da trắng và người da đen, mặc dù nàng không đen như những người mang giòng máu lai trong huyết quản, nàng vẫn có cái sắc đẹp đặc biệt, vừa u buồn vừa quyến rũ của người da đen.
Ông Bird đứng lặng thinh, tim đập mạnh trong lồng ngực, bồi hồi nhìn thiếu phụ bằn bặt, mê man trong lúc vợ ông và vú già da đen Dina đang tận lực cứu nàng hồi tỉnh.
Lão quản gia Cuxjox thì bế đứa con trai của nàng đặt trên gối, loay hoay khó nhọc trong việc cởi giày, tháo vớ ướt đẫm của nó để sưởi ấm đôi bàn chân nhỏ bé xinh xẻo.
Vú già Dina cất giọng thương xót :
- Tội nghiệp cô ta quá, thưa bà! Lúc mới vào đây cô ta cũng còn tỉnh táo. Cô van nài tôi cho cô được sưởi nhờ một chút, tôi hỏi cô từ đâu đến nhưng cô ta không kịp trả lời thì ngả ra bất tỉnh liền. Bà nhìn tay cô ta xem: chắc đó không phải là bàn tay quen làm việc nặng, vất vả đâu.
- Thật đáng thương.
Bà chủ nhà tiếp lời vú già, giọng xúc động. Thình lình, thiếu phụ hồi tỉnh mở to hai mắt đen láy nhìn quanh bằng cái nhìn xa vắng, thất thần như chưa thoát khỏi trạng thái mê hoảng. Rồi vài giây sau, mặt nàng lộ vẻ kinh sợ, nàng kêu lên thảng thốt :
- Trời ơi! Henri! Henri con đâu?
Nghe tiếng mẹ kêu, thằng bé tuột khỏi vòng tay lão quản gia chạy lại với nàng. Thiếu phụ ôm cứng lấy con vào lòng, thì thầm :
- Chao ơi! Con của mẹ! Con của mẹ đây rồi!
Nàng đã tỉnh hẳn, với dáng bộ nhớn nhác đáng thương, nàng quay sang bà chủ nhà, nói :
- Cháu van bà, xin bà rủ lòng thương che chở cho mẹ con cháu, đừng để họ bắt mẹ con cháu đi, tội nghiệp...
- Em hãy yên lòng! Ở đây không ai xử ác với mẹ con em đâu. Em sẽ được an toàn trong nhà này.
Giọng bà Bird khoan hòa, chứa chạn từ ái.
- Cháu đội ơn bà, Chúa từ tâm sẽ thưởng công cho bà.
Elisa nói thế rồi lấy tay che mặt, khóc lên rưng rức, không cầm giữ nữa.
Thấy mẹ khóc thằng bé biết là mẹ nó khổ lắm, bèn ôm chặt lấy mẹ, khóc theo.
Một lát sau, Elisa bình tĩnh lại nhờ sự săn sổc ân cần của nữ chủ nhân, cử chỉ hiếm có của người da trắng sống trong nhung lụa vốn có thói quen coi đồng loại khác màu da là hạng thấp kém hơn mình.
Một chỗ nằm tạm thời được gia nhân dọn cho nàng theo lệnh chủ ngay bên lò sưởi. Mặc dù cố gắng song chỉ giây lát nàng chìm trong giấc ngủ mê man. Tuy nhiên, sự hãi sợ bị cướp mất con đã ám ảnh tận trong giấc ngủ, nên dù đang ngủ say, nàng vẫn khư khư ghì chặt đứa trẻ trong lòng. Thật tội nghiệp: hai mẹ con đều kiệt lực vì cuộc hành trình gian khổ vừa rồi.
Trông thấy thế, bà chủ bảo gia nhân bế thằng bé ra đặt nằm riêng cho nàng được thoải mái đôi chút, song mọi cố gắng của họ đều vô ích, không sao gỡ được nó khỏi vòng tay mẹ. Trông thấy thế, mọi người đều nao lòng mà không sao khỏi xúc động trước tình mẫu tử thâm sâu của thiếu phụ. Sau cùng, bà chủ đành bảo gia nhân để cho mẹ con nàng yên trong tư thế đó.
Trở lên nhà trên, ông bà Bird cùng im lặng, một thứ im lặng khác thường, bà vợ ngồi đan áo còn ông chồng thì tiếp tục đọc bài báo bị bỏ dở hai lần.
Một lát sau không chịu được nữa, ông gạt tờ báo sang một bên, lên tiếng :
- Này mình, không hiểu cô ấy từ đâu đến?
- Đợi cô ta khỏe một chút, ta sẽ biết chứ khó chi?
Ông chồng lại cất tiếng sau một phút ngần ngại :
- Này, anh muốn bàn với em điều này...
- Chuyện gì vậy, hở anh?
- Cô ấy... cô ấy có vẻ cao hơn em nhỉ?
- Có lẽ, nhưng sao anh lại quan tâm đến điều này?
- Anh tự hỏi cô ấy có thể mặc được áo em không? Hay là em xuống lai áo em một chút... - Ông có vẻ ngượng ngập - tội nghiệp nó...
Một nụ cười tinh quái nở trên môi bà (một thoáng thôi) vì bà rất hài lòng về ý kiến của chồng. Bà nói :
- Vâng, để em xuống lai cái áo em, chắc được đấy.
Cả hai lại im lặng như cũ. Rồi ông phá tan im lặng lần nữa :
- Này em yêu!
- Lại chuyện gì nữa, hở anh?
- Cái áo choàng em vẫn hay khoác cho anh lúc ngủ trưa đó... Em có thể cho cô ấy không? Cô ấy đang cần.
Đúng lúc ấy, vú già Dina xuất hiện báo cho chủ hay rằng cô gái đã tỉnh và xin được gặp ông bà.
Ông bà Bird liền đứng lên, đi xuống bếp, theo sau họ là hai đứa con lớn (đứa bé nhất giờ này đã ngoan ngoãn lên giường).
Elisa ngồi bên lò sưởi mắt nhìn đăm đăm ngọn lửa hồng, vẻ mặt tỉnh táo nhưng đầy lo âu, khác hẳn với vẻ linh hoạt trong những ngày yên ổn và hạnh phúc trước kia.
- Em hãy kể cho tôi biết việc của em - Giọng bà Bird ôn tồn, ngọt ngào - tôi hy vọng em sẽ vơi bớt buồn phiền.
Elisa thở dài một cái và khẽ rùng mình - ôi, cái thở dài còn ý nghĩa hơn cả ngàn lời kêu than, van vỉ! - Nàng không thốt nên lời dù rằng nàng có không biết bao nhiêu điều cần tâm sự với bà chủ nhà rộng lượng này. Một lúc sau, nàng ngước mắt lên, đôi mắt long lanh đen láy nhìn thẳng vào bà Bird bằng cái nhìn sâu thẳm đầy ý nghĩa khiến cho bà Bird phải cố gắng để cầm nước mắt trước mặt nàng.
- Em đừng sợ gì hết! Tôi rất quý em, hãy coi tôi như một người thân. Hãy cho tôi biết rõ thân thế em, em từ đâu đến và đang cần gì.
- Thưa bà, con từ Kentucky đến.
- Từ bao giờ?
- Thưa, hồi chiều này.
- Em đi bằng gì?
- Thưa, con đã đi trên những tảng băng.
- Đi trên những tảng băng?
Tất cả những người có mặt cùng đồng thanh hỏi lại. Elisa chậm rãi xác nhận :
- Vâng, con đã nhảy trên những tảng băng. Nhờ ơn Chúa, con đã làm được. Con liều thật, nhưng cùng đường rồi, biết làm sao: họ đuổi theo sát gót, không còn lối thoát, phải liều.
- Chúa ơi! Những tảng băng rạn nứt, nổi bồng bềnh và trôi trên sông, thưa bà.
Lão quản gia kêu lên. Vẻ kinh hoàng trở lại trên khuôn mặt người mẹ phi thường :
- Đúng vậy đó, những tảng băng nứt rạn và vỡ ra nhưng con cứ nhảy bừa lên. Con không ngờ là được sang bờ bên này an toàn. Qua sông hoặc chết, con phải chọn một. Chắc Chúa từ tâm đã giúp con. Ngài luôn luôn thương kẻ cùng đường.
Mắt Elisa rực sáng, cương quyết. Ông Bird buột miệng hỏi :
- Cô là nô lệ phải không?
- Thưa ông, con là nô lệ, đúng vậy. Chủ con hiện ở Kentucky.
- Chắc họ đối xử tàn nhẫn với em?
- Thưa không, ông ấy là một người chủ tốt, tất nhất.
- Thế bà chủ ra sao? Bà dữ không?
- Thưa không, ông bà chủ con đều hiền lành, tốt bụng...
- Tốt? - Vậy sao cô lại bỏ trốn đi? Sao lại tìm đến đây, trải qua bao nhiêu nguy hiểm, để làm gì chứ?
Elisa ngẩng mặt nhìn dăm đăm vào bà Bird, tia nhìn dò xét và nàng thấy bà có để tang. Đột nhiên, nàng hỏi :
- Thưa bà, bà đã bao giờ mất một đứa con chưa?
Câu hỏi bất ngờ khơi lại vết thương đau: cách đây hơn một tháng, đứa con trai cưng nhất của gia đình này đã vĩnh viễn nằm trong lòng đất lạnh.
Ông Bird quay lưng, đi về phía cửa sổ, còn bà vợ không cầm được nước mắt, song cũng cố nén mà trả lời vắn tắt :
- Có, chúng tôi vừa mất một đứa con...
Và bà hôi tiếp :
- Nhưng tại sao em đặt câu hỏi này?
- Thưa bà, nếu bà có một đứa con mất đi thì bà hẳn thông cảm cho con: con đã mất liên tiếp hai đứa con. Con đã chôn chúng trên mảnh đất mà con bắt buộc phải rời bỏ. Con chỉ còn lại một đứa này đây. Con không thể ngủ yên nếu không có nó bên cạnh. Nó là tất cả những gì quý nhất mà con còn lại trên đời: nguồn an ủi, tình thương yêu. Thế mà, thưa bà, họ định cướp lấy đứa con độc nhất của con để bán cho bọn buôn người miền Nam. Họ sẽ bắt nó đi xa một mình, chia rẽ hai nơi, mẹ một chỗ, con chỗ khác, làm sao con chịu nổi?
Elisa ngừng lại một giây, giọng nàng buồn bã hơn bao giờ :
- Thưa bà, từ nhỏ đến giờ, mẹ con con chưa rời nhau một ngày, một giờ nào. Nếu để họ bắt con của con đi, con sẽ không sống nổi, vì vậy, con đã liều lĩnh đưa nó đi trốn trong đêm khuya khi vừa biết tin này. Người mua liền mở cuộc săn đuổi con ngay. Cùng đi với lão buôn người còn có hai gia nhân của chủ con, họ suýt tóm được con nếu con không liều mạng nhảy bừa lên băng sang đây. Thật con cũng kinh ngạc thấy mình thoát được họ. Khi đến bờ bên này con gặp một người đàn ông da trắng tốt bụng, ông ấy đã giúp con và chỉ con đến đây.
Elisa không khóc nữa, mắt nàng ráo hoảnh. Nàng đã trải qua nhiều thống khổ đến nỗi giờ đây nước mắt cạn khô đi. Song mọi người quanh nàng ai nấy cùng bồi hồi xao động.
Hai đứa con của ông bà Bird, sau một hồi lục lọi các túi để tìm khăn tay một cách vô ích - vì chúng luôn luôn bỏ quên đâu đó, các bà mẹ hẳn biết rõ điều này - liền sà đến ôm lấy gấu áo mẹ, òa lên khóc và lau nước mắt nước mũi của chúng vào cái áo đẹp đẽ của mẹ chúng. Bà Bird giấu mặt trong chiếc khăn tay, vú già Dina thì mặc cho nước mắt chảy rưng rưng trên khuôn mặt đen trũi hiền từ. Bà kêu to lên :
- Lạy Chúa, xin Chúa che chở cho chúng con!
Còn già Cudjox thì lấy hai tay chùi hoài lên mắt, trông ông ta vụng về lúng túng đến buồn cười.
Riêng ông nghị Bird, với tư cách đại diện dân chúng, ông không thể khóc lóc như một kẻ tầm thường: ông quay lưng về phía mọi người, nhìn qua cửa sổ, thở dài. Ông hỉ mũi lia lịa, tháo kính đeo mắt xuống, rút khăn lau, chừng như để tỏ cho mọi người biết rằng ông đủ tự chủ trước câu chuyện thương tâm, bi đát vừa nghe. Thình lình, ông quay lại phá tan bầu không khí ảm đạm bằng một câu hỏi :
- Thế sao lúc nãy cô nói chủ cô tốt lắm?
- Thưa ông, thật vậy: chủ con rất tốt, cả ông lẫn bà đều tốt, nhưng vì hiện ông bà đang gặp vận rủi, họ thiếu nợ lão buôn người nên bị lão ấy bắt chẹt phải bán con trai của con...
- Vậy còn chồng cô đâu?
- Thưa, chúng con cùng một hoàn cảnh: chồng con cũng là nô lệ nhưng anh ấy lại thuộc quyền một ông trại chủ khác. Ông này rất độc ác, đối xử tàn nhẫn với chồng con và còn bắt anh ấy không được gặp con. Mỗi ngày ông ấy mỗi ác thêm lên, ông ta còn dọa sẽ bán chồng con về miền Nam. Chắc là con không hy vọng gặp anh ấy nữa đâu, thưa ông.
Giọng cô bình tĩnh lạ thường, người ngoài cuộc có thể lầm là nàng đã chai lỳ trước thống khổ, song nhìn kỹ người ta thấy trong ánh mắt nàng một nỗi tuyệt vọng làm não lòng người.
- Giờ em định đi đâu?
Bà Bird dịu dàng hỏi Elisa.
- Thưa bà, con sẽ qua Canada, không biết có xa lắm không, thưa bà?
Elisa hỏi bà Bird bằng giọng ngây thơ, tin tưởng. Bà ôn tồn đáp :
- Xa hơn em tưởng. Nhưng em hãy bình tâm. Chúng tôi sẽ cố gắng giúp em. - Bà quay sang vú già Dina :
- Vú dọn ngay cho mẹ con cô ấy một cái giường trong phòng vú, gần bếp nhé! Sáng mai, tôi sẽ tính lại xem. (Bà lại bảo Elisa) Dù sao đi nữa, em đừng lo lắng thái quá, đừng sợ hãi gì nữa. Hãy tin tưởng ở Chúa từ tâm. Ngài sẽ che chở cho em. Và ta nữa, ta cũng gắng giúp em.
* * * * *
Vợ chồng chủ nhân trử lên phòng khách. Bà vợ đến ngả người trên ghế dựa canh lò sưởi, ông chồng đi đi lại lại trong phòng khách, vẻ tư lự, miệng lẩm bẩm :
- Rắc rối thật! Phiền phức thật!
Cuối cùng, ông tiến lại gần vợ :
- Này mình! Cô gái đó phải đi khỏi nhà ta trong đêm nay. Tên buôn người ma mãnh sẽ theo dấu cô ta mà đến đây sáng mai. Nếu như cô ấy một thân một mình thì việc che chở, giấu diếm cô cũng khá dễ dàng, đằng này lại thêm một đứa con nít nữa. Mình phải biết: tụi chó săn đánh hơi tài tình lắm, hắn chỉ liếc qua một cái là biết liền. Mà hắn khám phá ra mẹ con đứa bé trong nhà này thì... tương lai sự nghiệp chính trị của anh sẽ tiêu ma tức khắc. Một ông nghị mà chứa chấp nô lệ trốn trong nhà! Em nghĩ sao?
- Đi ngay đêm nay? Đi đâu mới được chứ?
- Đi đâu? Anh biết rõ chỗ mà mẹ con nó có thể dung thân...
Ông vừa nói vừa đi lấy đôi bốt. Mang xong một chiếc, ông chợt ngồi yên, chiếc kia cầm trên tay, mắt đăm đăm nhìn tấm thảm ra dáng nghĩ ngợi. Và rồi, ông nghĩ thành tiếng :
- Phải làm như vậy, không thể khác hơn, cho dù rằng... Chậc!...
Rồi ông tiếp tục mang thêm chiếc bất nữa và đến bên cửa sổ.
Vốn là một người đàn bà tế nhị, kín đáo, suốt đời không bao giờ thốt lên câu “Em đã bảo anh mà”. Vì vậy, trong trường hợp hiện tại mặc dù bà rất băn khoăn trước lối giải quyết của chồng, bà vẫn không tỏ ý phản đối. Bà ngồi yên, có vẻ sẵn sàng chờ nghe quyết định tối hậu của ông.
- Này em, anh có một ông bạn thân, anh Van Tromp, anh ấy từ Kentucky sang. Anh ấy có rất nhiều nô lệ song đã giải phóng hết rồi. Anh rất tốt, lời nói đi đôi với việc làm. Hiện anh ở cách đây cỡ bảy dặm, phía bên kia rạch, một vùng hẻo lánh ít ai lui tới, trừ khi có việc cần. Đó là một chỗ khó tìm thấy trong chốc lát, cô gái sẽ được yên thân khi ẩn náu tại đó. Hiềm có điều hơi bất tiện là không ai có thể đưa cô ta đến đó trong đêm nay, trừ anh.
- Ủa, chứ già Cudjox không đánh xe được sao?
- Cudjox cẩn thận, anh công nhận, nhưng muốn đến đó phải băng qua rạch hai lần, phải thuộc đường, biết chỗ nào nông, chỗ nào sâu. Anh thì anh lại đi hàng trăm bận, anh thạo từng khúc quanh. Vậy không còn cách nào hơn. Cudjox sẽ thắng ngựa vào xe lúc nửa đêm, anh sẽ đích thân đưa mẹ con cô ta đi. Muốn tránh nghi ngờ, lão sẽ cùng với anh ra đến quán rượu, làm như thể chở xe đi Colombus vào lúc ba hay bốn giờ. Người ta sẽ ngỡ là anh đến đấy vì công việc. Mà anh cũng có nhiều việc ở đấy vào sáng mai. Anh cũng không hiểu rõ thái độ anh ra sao vào sáng mai, trước vấn đề nô lệ. Thôi, mặc kệ!
- Anh John! Anh đã hành động đúng. Mình phải tỏ ra có lương tri - Bà vợ nói và đặt bàn tay nhỏ bé lên bàn tay chồng mình - Nếu em không hiểu anh, hiểu rõ tư cách anh thì làm sao em có thể yêu anh được, hở John?
Đôi mắt long lanh ngấn lệ vì sung sướng, thiếu phụ nhìn chồng âu yếm và ông nghĩ rằng mình quả hạnh phúc hơn người vì được có người vợ như bà.
Rồi ông xuống nhà để coi xe ngựa sẵn sàng chưa, nhưng đi đến cửa, ông dừng lại và sau một giây lưỡng lự, ông bảo vợ :
- Mary ơi! Em nghĩ sao về cái ngăn kéo đựng đầy di vật của... của thằng Henri yêu quý... Em nghĩ có nên...
Ông bỏ dở câu nói, quả quyết bước ra khỏi phòng.
* * * * *
Bà Bird mở cửa bước vào gian phòng ngủ nhỏ cạnh phòng bà, đặt đèn lên kệ và thò tay vào cái hộp, lấy chìa khóa ra, cho vào ổ khóa ở ngăn kéo quay một vòng, vẻ mặt đăm chiêu.
Bà chậm rãi mở ngăn tủ ra. Bên trong đầy những áo quần trẻ con đủ màu, đủ kiểu, một chồng khăn và vớ xinh xắn.
Tất cả đều không hẳn mới tinh khôi. Tất cả đều được dùng qua vài bận rồi. Có cả những đôi giày be bé được mang nhiều lần, có đôi hơi mòn ở gót, mũi nhọn, những chiếc giày ấy đâm thủng giấy gói bày ra ngoài. Có cả những món đồ chơi quen thuộc của trẻ con: con ngựa, chiếc xe, quả bóng tròn, con quay, cái vụ...
Ôi! Những kỷ niệm yêu dấu, chất chứa biết bao nước mắt và bao nhiêu tiếng thổn thức xuất phát tự con tìm người mẹ! Đứa con đã nằm trong lòng đất nhưng hơi hướm nó như còn lẩn quẩn đâu đây... Người mẹ đã cầm lòng, cố gắng nhiều bận, ngăn mình mở cái ngăn tủ này ra, nhưng hôm nay...
Bà Bird ngồi xuống bên ngăn tủ, gục đầu trong đôi cánh tay, rưng rức khóc. Những giòng nước mắt nóng trào ra, lăn dài xuống đôi cánh tay, có giọt rơi vào ngăn tủ. Rồi bà chợt ngẩng lên, vội vàng, nóng nảy chọn trong số những kỷ vật của con những món tốt và chắc, gói lại trong một gói.
Đoạn bà mở tủ áo lấy ra vài cái áo của mình, thứ vải giản dị, còn dùng được lâu rồi đem hết lại bàn may của mình. Bà soạn kim, kéo, chỉ, mang cái đề vào tay và bắt đầu chăm chỉ xuống lai áo cho dài như lời chồng đề nghị.
Bà Bird hăng hái làm việc này cho đến khi cái đồng hồ cũ kỹ treo trong góc phòng đổ mười hai tiếng đều đặn, tiếp đó bà nghe tiếng bánh xe ngựa lăn trước sân và đừng lại ở cửa ra vào. Bà cũng đã xong việc.
Ông bước vào, áo choàng vắt ngang cánh tay, giục vợ :
- Mary! Mình đánh thức cô ấy dậy, ta phải đi ngay, em à!
Bà Bird vội vã sắp xếp tất cả các thứ trên vào một cái hộp, đậy nắp lại và đưa cho ông nhờ ông mang ra bỏ vào xe. Phần bà, bà đi đánh thức Elisa.
Vài phút sau, người ta thấy Elisa xuất hiện ở cửa, con trai trong tay. Cổ quàng khăn ấm, mình khoác áo choàng, đầu đội mũ, mẹ con Elisa chững chạc trong những thứ do bà Bird tặng. Ông Bird giục nàng lên xe, bà giúp nàng leo lên ngồi vào trong. Elisa thò đầu ra cửa và giơ tay ra. Một bàn tay trắng trẻo thật đẹp giơ lên vẫy lại. Elisa dán chặt đôi mắt đen, to, chan chứa sự biết ơn và xúc cảm nhìn bà chủ. Nàng định thốt lên một câu ngỏ ý cảm ơn nhưng cố gắng một cách vô ích, môi nàng mấp máy không thành lời. Rồi nàng ngẩng cao mặt nhìn lên trời với cái nhìn mà người ta không sao quên được và tựa người ra thành ghế, hai tay bưng lấy mặt.
Chiếc xe lăn bánh...
Thật oái oăm: ông nghị Bird, một công dân yêu nước, người suốt tuần qua đã đem hết hăng say tin tưởng của một vị dân cử trong việc thông qua đạo luật trừng trị thẳng tay những ai chứa chấp và giúp đỡ bọn nô lệ đào tẩu, giờ đây đang có một hành động trái lại hoàn toàn!
Ông Bird đã tỏ ra hùng biện không thua bất cứ một bạn đồng viện nào trong việc cổ võ để cho ra đời đạo luật này. Trên diễn đàn, ông cực lực đả kích những kẻ chỉ vì chút tình cảm yếu đuối, thứ tình cảm rất đàn bà mà đặt quyền lợi của bọn nô lệ đào tẩu trên quyền lợi chính đáng của quốc gia! Đối với vấn đề này, ông quả đã tỏ ra hùng hồn như một luật sư, đã toàn thắng và sự tự tin của ông ảnh hưởng khá mạnh vào đám đông cử tọa.
Sự thật, cho tận đến lúc đó ông nghị của chúng ta chỉ mới biết kẻ đào tẩu qua tên tuổi trên giấy tờ truy nã, hay hơn thế, trên tranh vẽ khôi hài của một tờ nhật báo: một gã da đen gân guốc đang lầm lũi bước mau, gậy trên vai, lủng lẳng một gói hành trang!
Còn giờ đây, hình ảnh sống động của kẻ đào tẩu là hiện thân rõ ràng của thống khổ cùng tột: ánh mắt van vỉ, bàn tay run rẩy, xanh xao, tiếng khóc não lòng và tuyệt vọng của kẻ không nơi trú ẩn, bị săn đuổi như loài thú.
... Tất cả những thứ này, đối với ông thật xa lạ, làm sao ông có thể tin rằng kẻ nô lệ lại là một phụ nữ, một người mẹ và một đứa trẻ yếu đuối đáng thương, không thể tự vệ trước nanh vuốt bọn săn người?
Ông chợt nhìn thằng bé trong xe, và nhận ra là nó đang đội cái mụ bé nhỏ của con ông, đứa con cưng quý nhất đã xa lìa ông vĩnh viễn.
Phải! Mẹ con đứa trẻ hiện đang ở trong tay ông, giao phó sinh mạng cho ông, còn hơn thế nữa, trao trọn cả sự tự do mà người đàn bà còn coi trọng hơn sinh mạng.
Nếu ông đã lầm lẫn ở nghị trường thì giờ đây ông đang chuộc lỗi bằng hành động, ông thân hành đưa mẹ con cô ta đến nơi an toàn giữa đêm khuya thay vì quấn mình trong chăn ấm.
Mùa mưa đã đến từ lâu và đất đai của miền Ohio màu mỡ này giờ đây thành bùn dẻo quánh, lầy lội dưới cơn mưa. Đây là một con đường xưa lắm, cũ lắm, quanh co, khúc khuỷu. Ở những vùng đất rộng bao la của miền Tây, nơi mà bùn sình lầy lội có chiều sâu khó dò được, những con đường ở đó làm bằng những thân cây to lớn nằm sát nhau: người ta đổ đất, cỏ, lá cây và tất cả những gì có thể được lên sàn gỗ đó. Thổ dân trong xứ cho đó là một con đường tốt nhất, và họ rất sung sướng mà được đi lại trên con đường như thế.
Thời gian qua, nước mưa cuốn trôi lớp cỏ và đất bên trên, cuốn luôn những khúc gỗ, vứt chúng rải rác khắp nơi, phân tán chúng một cách vô trật tự, trông khá lạ mắt và để lại đây kia những khoảng lồi lõm, gồ ghe.
Chính trên một con đường như thế, ông nghị Bird đang đánh xe vượt qua, đầu óc căng thẳng vì nghĩ đến tai nạn sắp xảy ra, đang chờ đón mình ở dọc đường, tuy ông rất cẩn trọng.
Trời gần sáng khi chiếc xe vượt qua rạch lần thứ hai, dừng lại trước cánh cổng của một trang trại lớn. Phải rất kiên tâm mới đánh thức nổi những người ở trong đó. Và sau cùng, chính chủ nhân thò mặt ra mở cổng. Đó là một người đàn ông to lớn, vạm vỡ, mặc cái áo đi săn viền đỏ thẫm, mái tóc vàng hoe, biếng chải, nom ông có vẻ là một người không chú ý đến bề ngoài. Bộ râu, cũng như mái tóc không được cạo song toàn thể biểu lộ một người có tư cách, đáng tin.
Chủ nhân đứng yên mấy phút, cây đuốc cầm nơi tay, quan sát khách với vẻ lúng túng trông khá buồn cười. Làm sao ông không ngạc nhiên cho được? Và ông Bird phải dài lời thuật lại cho bạn nghe câu chuyện về mẹ con người phụ nữ mà ông phải cất công đưa lên xe giữa đêm khuya.
Van Tromp - chính đó lả ông Van Trorap - trước kia là một trại chủ giàu có nhất nhì tại xứ Kentucky, có rất nhiều nô lệ cũng như đất đai thuộc quyền sở hữu.
Tuy nhiên, ông vốn có một trái tim dễ xúc động, ông rộng lượng và vị tha. Nhiều năm qua, ông chứng kiến hậu quả đáng buồn trong cách cư xử của chủ nhân da trắng đối với dân da đen nô lệ. Sau rốt, không chịu nổi nữa, ông bán trại, vượt qua sông Ohio, mua một trang trại khác và giải phóng hết đám nô lệ dưới quyền mình. Ông chất họ lên một cái xe đầy nhóc: đàn ông, đàn bà, con trẻ, cho họ đi khẩn đất. Phần ông thì lui về phía vịnh và sống ẩn dật trong khu trại vắng vẻ này với lương tâm yên ổn của mình.
- Này anh Van, anh có thể cho mẹ con người này trứ tạm được không? Hiện cô ta bị săn đuổi...
- Tại sao không? Anh biết tối mà!
Giọng tự tin, ông chủ trại nói. Rồi ưỡn ngực phô cái thân hình lực sĩ của mình ra, ông thêm :
- Có tôi đây! Tôi và sáu thằng con trai tôi nữa, chúng đều cao lớn như cha và cha con tôi đón chờ bọn săn người đây! Anh nói với bọn săn người là tôi thách chúng đó, nghe? Rằng chúng muốn đến lúc nào tùy ý, tôi sẵn sàng nghênh tiếp!
Nói xong ông vò vò mái tóc rối của mình, cất tiếng cười to, sảng khoái.
Tinh thần cũng như thể xác đều kiệt quệ sau những lo lắng của cuộc hành trình, Elisa như người chết dở, bế con lê vào cửa, thằng bé thì ngủ say trong vòng tay mẹ.
Ông Van, đưa ngọn đuốc soi tận mặt nàng - dáng bộ cứng cỏi nhưng thật ra ông rất thương xót. Trông thấy nàng tiều tụy, khiếp hãi, ông không kìm giữ được một tiếng kêu tỏ sự trắc ẩn và ông mau mắn mở cửa một căn phòng ngủ nhỏ ngay bên gian bếp rộng lớn mà mọi người đang có mặt. Ông đưa nàng vào trong, đốt ngọn đèn, đặt lên bàn, cố dùng giọng từ tốn trấn an nàng :
- Giờ đây, cô không có gì phải sợ nữa, nhé! Có chuyện gì thì đã có tôi đây!
Vừa nói bằng giọng quả quyết, ông vừa chỉ mấy khẩu cạc-bin treo lủng lẳng trên thành lò sưởi :
- Ai biết tôi rồi thì cũng công nhận là bọn buôn người cũng như bọn săn người đều mất mạng nếu muốn vào nhà tôi bắt một kẻ nô lệ. Cô ngủ đi, cứ coi như có mẹ cô ngồi bên cạnh vậy đó, nghe rõ chưa?
Rồi bóng dáng to lớn của ông Van rời khỏi phòng. Đôi bạn trở lại câu chuyện về người đàn bà với đứa con đang trốn tránh :
- Tội nghiệp thật! Tôi không ngờ đấy nhé! Bị săn đuổi y như loài thú chỉ vì tuân theo tiếng gọi của lương tri, của tình mẫu tử. Mà cô ta can đảm đấy chứ! Tôi phục cô ta thật đấy...
Van dùng lưng bàn tay thô tháp và sạm nắng dụi mắt :
- Quên, tôi có điều này muốn kể cho anh biết luôn: tôi đã bỏ đạo từ lâu rồi. Anh biết tại sao không? Các giáo sĩ giảng trong nhà thờ là Hội Thánh cho phép duy trì chế độ nô lệ. Mà tôi, làm sao tôi nghe lời khuyên vô lý đó được? Cho nên tôi từ bỏ hết, Hội Thánh và giáo sĩ, nhà thờ. Tôi sẽ trở lại nhà thờ khi nào có một giáo sĩ chống lại việc duy trì nô lệ.
Ông ngừng lại, mỗ một chai rượu chát, mời bạn nâng ly :
- Uống đi và ở lại với tôi cho đến sáng mai - Giọng ông thân mật - Tôi sẽ gọi nhà tôi dậy, lo sắp chỗ nghỉ cho anh, không có gì phiền phức đâu.
- Cảm ơn anh, anh bạn thân nhất của tôi ơi! Nhưng rất tiếc là tôi phải đi ngay trong đêm nay, có việc cần đang đợi tôi ở Colombus, anh ạ!
- Thế thì thôi vậy. Nhưng hãy gượm, tôi sẽ chỉ cho anh một lối đi tắt, tốt hơn con đường lúc nãy. Con đường anh vừa vượt qua thật tồi tệ.
Ông Van lấy ngựa và cầm đèn lồng đưa bạn ra, theo con đường dọc theo trại.
Trước khi chia tay, ông Bird đặt vào tay bạn tấm chi phiếu 10 đô la :
- Anh cho tôi gửi cho cô ta.
Rồi họ chia tay.

0
Chương 9
 
Một buổi sáng tháng hai, bầu trời mịt mù ảm đạm, qua cánh cửa sổ của căn lều bác Tom, mọi người trong lều đều lặng lẽ trong dáng bộ u sầu buồn bã. Làm sao họ vui nổi khi trong tim họ trĩu nặng lo âu?
Cái bàn nhỏ kê bên lò sưởi, ở trên trải một tấm vải dùng để ủi áo quần. Vài cái sơ-mi vải thô sạch sẽ được mắc trên lưng ghế. Một cái sơ-mi khác trải lên bàn ủi, trước mặt bác gái.
Bác đang ủi áo, cẩn thận tỉ mỉ, bác di động chậm chạp cái bàn ủi trên áo, trên những nếp gấp. Chốc chốc, bác dừng lại để lau những giọt nước mắt chảy dài trên mặt.
Bên cạnh vợ, bác Tom gục đầu trong lòng hai bàn tay, cuốn Thánh kinh để mở đặt ngay ngắn trên đầu gối. Không ai buồn thốt lên một tiếng nào.
Còn sớm lắm, lũ trẻ vẫn yên giấc trên chiếc giường thô.
Vốn là một người đàn ông giàu tình cảm, huống chi đối với người thân, nên trước cảnh chia ly sắp đến, bác khổ sở không biết ngần nào mà kể. Bác đứng lên, chậm chạp bước đến giường ngủ của ba đứa con lặng lẽ nhìn chúng đang ngon giấc một cách vô tư, hồn nhiên. Bác đau xót tột cùng, kêu lên thành tiếng: “Tội nghiệp các con tôi!”.
Bác gái không nói một lời nào cả. Cái bàn ủi vẫn lướt ngang, dọc, tới, lui dù là cái áo đã được ủi thẳng từ lâu, thẳng quá rồi. Đột nhiên, bác ta buông bàn ủi xuống và với cử chỉ tuyệt vọng, bác gục đầu xuống bàn, khóc lên nức nở.
- Tôi biết, tôi biết là tôi phải chịu đựng, nhưng không biết tôi có chịu đựng nổi hay không? Tôi đâu có biết họ đưa ông tới đâu? Họ sẽ đối xử với ông như thế nào? Bà chủ đã nói rằng bà sẽ cố gắng chuộc ông về trong vòng một vài năm, khi bà có tiền. Nhưng từ đây đến đó còn lâu lắm mà ít có ai bị đưa xuống miền Nam mà được sống sót trở về: họ bị giết sạch. Tôi biết rõ lối cư xử độc ác của bọn người này.
- Chúa cũng có mặt tại đó mà, bà! Đừng quá lo sợ, vô ích.
- Phải, Chúa có mặt những nơi đó chớ sao, nhưng đôi lúc Chúa mặc nhiên quay lơ đi để cho những tội ác khủng khiếp xảy ra. Này ông Tom ơi! Tôi, tôi sợ lắm, hình như Chúa không thương xót những kẻ ở vùng đó đâu!
- Mạng sống của tôi, tôi phó thác trong tay Chúa. Không ai có thể cướp sống mạng người nếu ngài không cho phép. Mà dù ngài bằng lòng thế đi nữa, ta cũng phải cúi đầu tạ ơn ngài: vì chính tôi, lão Tom già này bị bán đi chớ không phải là bà với lũ con. Ở đây mẹ con bà sẽ được yên thân. Điều gì phải xảy đến chỉ đến với tôi thôi. Tôi tin rằng có Chúa che chở tôi. Bà phải có lòng tín như tôi vậy. Bà phải biết rằng, mọi sinh vật dù nhỏ nhoi đi nữa cũng được Chúa đoái thương. Chúa không bỏ sót một ai. Ngài cao cả, vĩ đại, nhân từ...
- Thôi đi mình! Đừng cố an ủi tôi làm chi, mình cứ nói đi, tôi không tin gì hết, không vững lòng gì hết. Ông ơi! Bàn cãi làm gì... có đi đến đâu không? Tôi biết mà, tôi biết mà... Thôi, thà tôi lo dọn cho ông một bữa điểm tâm thật ngon, một bữa chót, còn hơn. Chắc gì từ nay ông còn được ăn một bữa như bữa sáng nay?
Muốn biết rõ nỗi khiếp sợ, lo lắng của dân nô lệ da đen khi sắp bị bán cho bọn buôn người miền Nam, ta phải tim hiểu bản tính họ. Họ vốn là giống người hiền lành, an phận, muốn được ở yên thân một chỗ, quây quần, sum họp với gia đình, bè bạn xung quanh, họ không bao giờ có can đảm lìa bỏ nơi chôn nhau, cắt rốn, không có tinh thần mạo hiểm, phiêu lưu đến vùng đất lạ, dù cho đầy hứa hẹn đến bao nhiêu, vì vậy, bị bán xuống miền Nam là một viễn tượng kinh hoàng, một hình phạt ghê gớm nhất đối với họ. Sự tra tấn và hành hạ thể xác họ bằng roi vọt còn ít làm cho họ thất đảm hơn là câu đe dọa: sẽ bán xuống miền Nam.
Bữa điểm tâm thịnh soạn được dọn lên, bốc khói nóng hổi, ngon lành. Bà Shelby đã vui lòng cho bác gái nghỉ việc ngày hôm nay để thu xếp hành trang cho chồng. Bác gái thu hết can đảm để có thể làm bữa ăn trước khi vợ chồng chịu cảnh sinh ly.
Bác đã chọn làm thịt con gà mái béo nhất, nướng cái bánh đúng theo ý thích của chồng, dọn thêm chai rượu và vài thức ăn đóng hộp. Đúng là những món sang trọng chỉ xuất hiện trên bàn ăn nhà bác vào những dịp trọng đại nhất. Thừa dịp cha mẹ bận khóc lóc âu sầu, lũ nhóc con thưởng thức tận tình tất cả các món ăn trên bàn mà không bị mẹ chúng la rầy chi cả. Sau đó, chúng mới để ý đến thái độ cha mẹ, thấy mẹ khóc, cha ủ rũ chúng cũng khóc theo và dụi mắt liên hồi.
Bác trai đặt con gái út ngồi trên đầu gối, con bé mải mê đùa nghịch như thói quen, đưa tay cào vào mặt cha, nắm tóc cha và thỉnh thoảng bật lên cười một cách ngây thơ thích thú. Bác gái chua chát nói :
- Cười nữa đi con! Cười đi! Rồi đây sẽ đến phiên con lớn lên, con sẽ có dịp thấy chồng con bị bán và có khi chính con cũng có ngày à! Cả mấy thằng anh mày nữa, nếu được giá... chắc chắn! Phải chăng đây là số phận trời dành riêng cho dân da đen chúng ta, hở ông Tom?
Lũ trẻ chợt la lên :
- Bà chủ! Bà chủ đến!
- Bà chủ? Bà đến đây làm chi chớ? Ích lợi gì?
Bác Chloé có vẻ bất mãn, nói nhỏ.
Bà Shelby vào lều trong lúc bác Chloé vùng vằng, nhăn nhó đẩy cái ghế đến bên bà, song bà không để ý đến thái độ ấy. Bà xanh xao, buồn rầu trông thấy. Giọng bà nghẹn ngào khổ sở :
- Chú Tom ơi! Tôi đến đây để...
Đột nhiên bà ngưng bặt, đưa mắt nhìn quanh một loạt, từ bác Tom, vợ bác và lũ trẻ lóc nhóc đứng trước mặt mình rồi lấy khăn tay che kín mặt, khóc ròng. Bác Chloé hoảng hốt, mềm lòng, thôi hậm hực, bác lắp bắp :
- Ấy, thưa bà, bà đừng khóc nữa, đừng...
Nhưng rồi bác cũng khóc, không nói trọn câu. Căn lều vang lên tiếng nức nở. Bà Shelby lau nước mắt :
- Tội nghiệp chú Tom. Lúc này tôi không thể giúp chú gì được hết. Nếu tôi cho chú tiền chúng cũng sẽ cướp đi. Nhưng tôi thề danh dự là tôi sẽ không bao giờ quên chú, và hễ lúc nào có tiền thì việc đầu tiên là tôi chuộc ngay chú về đây. Xin Chúa công bình chứng cho lời tôi. Tôi xin hứa như vậy.
Lũ trẻ lại la lên :
- Ông Haley! Ông Haley!
Phải! Hung thần đã xuất hiện. Lão lấy chân đá tung cánh cửa đoạn đứng yên. Dễ chừng lão còn bực tức vì chuyên săn đuổi vô vọng đêm qua. Lão mỏi mệt nhiều có lẽ vì thất bại hơn là vì khó nhọc. Giọng lão hách dịch, khinh bỉ :
- Đến đây! Thằng da đen kia! Mày sẵn sàng rồi chứ, hở?
Bất chợt, lão buôn người trông thấy bà Shelby có mặt tại căn lều, lão vội vàng giở mũ, lễ phép :
- Kính chào bà!
Bác Tom gái đang gói hành lý cho chồng, vừa buộc chặt gói đồ, bác vừa đưa mắt quan sát lão ta, mắt bác ánh lên tia lửa hận và những giòng lệ lại lặng lẽ tuôn trào.
Riêng Tom, bác bình thản đứng lên theo chủ mới, vai mang cái gói vợ vừa trao cho. Bác gái tiễn chồng tận ngoài xe, tay bế đứa con gái út, bọn con trai lếch thếch theo sau.
Bà Shelby đến bên gã buôn người, giữ gã lại giây lát. Bà nói chuyện với gã, vẻ mặt có hơi phấn khởi -chắc gã đã hứa với bà là không hành hạ Tom, là sẽ biệt đãi Tom?
Còn những nô lệ khác của bà, trẻ già, trai gái xúm lại để từ giã người bạn già của họ, và cũng là người chỉ huy họ, giảng đạo lý cho họ nữa. Sự ra đi của Tom làm họ buồn rầu, tiếc thương không ít.
- Dang ra!
Haley quát dám nô lệ và ra lệnh cho bác Tom - mà kể từ đây thuộc quyền sinh sát của lão :
- Lên xe, mau!
Tom tuân lời trong lúc lão luồn tay dưới ghế ngồi lôi ra hai sợi xích sắt nặng nề buộc quanh hai mắt cá chân Tom. Một tiếng kêu phẫn nộ vang lên từ đám nô lệ da đen. Bà Shelby từ thềm nhà thấy thế, kêu lên :
- Ông Haley! Ông không nên làm vậy vô ích! Hãy tin tôi đi...
- Thưa bà, tôi không thể tin ai: chính tại đây tôi vừa mất một tên nô lệ đáng giá rồi. Tôi không muốn bị lừa lần nữa. Bà tha lỗi.
Hai đứa con trai, tận lúc này mới hiểu rõ số phận bi đát dành cho cha mình. Chúng lăn xả vào mẹ, níu cứng áo mẹ, khóc la, lăn lộn, rên rỉ không ngừng.
Bác Tom chậm rãi nói :
- Tôi tiếc không có mặt cậu Georges ở đây. Tôi muốn gặp cậu trước khi ra đi.
(Georges lúc đó đang ở chơi bên trại một người bạn, không hay biết điều bất hạnh của Tom, người nô lệ mà câu rất mực thương yêu). Bác Tom bảo vợ :
- Mình nhớ nói với cậu ấy khi cậu về là tôi nhớ cậu lắm, tôi biết ơn cậu lắm, nghe mình?
Haley ra roi. Tom đưa mắt nhìn thật lâu một lần cuối cùng căn lều yêu dấu, như ngại rằng không còn dịp được thấy nữa, không bao giờ được trở về.
Tom ra đi trong khi ông Shelby vắng mặt tại trang trại, ông đã bán Tom vì áp lực của gã buôn người, để thoát nợ, để khỏi phải chịu đựng Haley, con người mà ông ghê tởm, khinh bỉ.
Cảm tưởng đầu tiên của ông khi vừa đặt bút ký giấy là sự nhẹ nhõm, thoải mái như vừa được phóng thích sau nhiều ngày bị giam cầm.
Song than ơi! Những lời trách móc của bà làm ông hối hận tận trong giấc ngủ. Vẻ cam chịu của Tom càng khiến ông buồn rầu thêm. Ánh mắt, vẻ mặt Tom cứ chập chờn ẩn hiện trước mặt ông, lời nói chí tình của Tom như văng vẳng ở tai ông.
Cho dù ông tự nhủ là ông có quyền làm vậy, dù trong trường hợp không cần thiết đi nữa, người chủ da trắng có quyền bán nô lệ của mình; luật pháp công nhận - Tất cả chủ nhân da trắng đều hành động như thế, rất thường mà! Nhưng ông vẫn áy náy làm sao, ông vẫn không sao bình thản đứng nhìn Tom ra đi. Vì vậy ông đã tránh mặt từ sáng sớm, hy vọng mọi việc êm xuôi lúc trở về.
Còn vợ ông, người đàn bà thuần hậu ấy, bà nhất định không đi. Bà cho là mình có bổn phận phải ở lại để nhìn cảnh chia ly não lòng, để chia sớt niềm đau đớn.
* * * * *
Haley cho xe chạy vùn vụt giữa đám bụi mù mịt. Quang cảnh quen thuộc ven đường lướt qua trước mắt Tom như những bóng ma, bác ngồi lặng thinh, như không nghe, không thấy gì hết.
Lát sau, xe vượt ranh giới trại ông Shelby và đến con đường chính.
Được một dặm nữa, Haley dừng chân trước cửa một lò rèn. Gã vào đó để chọn mua cho Tom một cái còng vừa tay bác. Chỉ vào cái còng gã cầm trên tay, chỉ vào bác Tom đang ngồi ủ rũ trên xe, gã nói :
- Cái còng này quá nhỏ đối với tên nô lệ to con này.
Nhận ra Tom, người thợ rèn giật mình, kinh ngạc :
- Sao? Tom của trang trại ông Shelby mà bị chủ bán đi ư? Tôi không tin điều này, ông ấy không bao giờ bán nô lệ đâu, nhất là nô lệ cỡ Tom.
- Phải! - Giọng Haley ngạo nghễ - Ông chủ quý thằng ấy lắm, nhưng... chính ông ta đã bán nó cho tôi.
- Lạ thật! Chuyện khó tin quá. Shelby bán Tom! Tôi biết chú Tom này, một tên gia nhân đắc lực, trung thành của ông Shelby. Mà thưa ông, ông khỏi phải còng tay chú ấy làm gì, tôi cam đoan...
- Thôi đi bạn, cẩn tắc vô ưu. Chính những thằng nô lệ khôn ngoan trung thành mới là đáng sợ, chúng sẵn sàng bỏ trốn bất cứ lúc nào. Còn bọn ngu si thì kể gì, chỉ cần ăn no là được, chúng có biết chi đâu? Hạng như lão Tom này thì không ưa đổi chủ, nguy hiểm ở chỗ đó. Tôi có cách trị: xích kỹ chúng lại là vững tâm nhất, khỏi thắc thỏm gì ráo trọi. Trả tiền rồi đó, lại đắt giá nữa chứ. Thôi, đừng làm cố vấn cho tôi, bà Shelby ban nãy cũng nói như bác đấy, mà tôi đâu có nghe...
- Hình như bọn nô lệ da đen ở Kentucky này rất sợ và ghét vùng đất phía Nam: họ bị chết dễ dàng...
- Phải, khí hậu ở đó hơi độc, và còn nhiều thứ nữa kia.
- Chính thế, thật là một bất hạnh lớh cho Tom, một người tốt như thế mà phải đày xuống miền Nam. Ngay tôi đây, không liên hệ gì, trông thấy thế tôi cũng không vui được. Tội nghiệp chú ấy.
- Tuy vậy, hắn vẫn còn may mắn chán, tôi đã hứa sẽ đối xử tử tế với hắn, tôi sẽ bán hắn cho gia đình nào có tiếng và hiền lành, không đối xử khắc nghiệt với nô lệ da màu và tôi tin là hắn sẽ không đòi hỏi chi hơn.
- Nhưng ông quên rằng chú ấy phải xa lìa con và vợ chú...
- Ôi! Kể gì! Hắn sẽ có vợ khác, có con khác. Thiếu gì mọi cái ở đó.
Suốt cuộc đối thoại Tom ngồi yên trên xe, trước cửa lò rèn.
Thình lình bác nghe có tiếng vó ngựa nện lên đường lớn, khô khan và gấp rút. Rồi thì tiếng động nhanh hơn, rõ hơn và nhanh như cắt, cậu chủ nhỏ lao tới, leo lên xe vòng tay ôm chặt quanh cổ bác Tom, miệng kêu lên mừng rỡ trong khi Tom cũng mừng không kém nhưng chưa hết sững sờ vì sự có mặt bất ngờ này. Cậu nói bằng giọng hậm hực :
- Thật là nhục nhã! Thật là xấu hổ! Không ai cho tôi biết việc này cả. Nếu tôi là người lớn thì việc này không bao giờ xảy ra, không bao giờ!
- Cậu Georges ơi! Tôi mừng quá khi thấy cậu đến đây - Tom tươi ngay nét mặt lên - Tôi sẽ khổ sở ngần nào nếu ra đi mà không gặp cậu. Cậu đã tốt với tôi biết bao nhiêu, tôi xin thề như vậy!
Bác Tom dịch chân, cậu tiểu chủ nhìn thấy cái xiềng sắt, cậu lại kêu lên :
- Khốn nạn chưa! - Georges giơ cả hai tay lên trời - Tôi phải đập thằng quỷ sứ này một trận, tôi phải đập nó...
- Không! Cậu Georges? Cậu đừng gây với ông ta, ông ta giận lên thì chỉ khổ cho tôi thêm mà thôi, cậu à!
Bác Tom nói với cậu chủ, giọng khẩn thiết làm cho cậu hiểu rằng, sự nóng nảy của mình có hại cho Tom: cậu đâu có thể theo cạnh Tom để bảo vệ che chở như ý muốn? Tom hiện giờ thuộc quyền lão buôn người rồi. Georges dằn lòng xuống :
- Thôi, tôi nghe lời bác vi tôi tôn trọng bác, tôi thương bác lắm... Nhưng bố Tom ơi! Hễ nghĩ tới điều này thì tôi không chịu nổi, xấu hổ quá đi thôi! Bác có biết không: cả nhà đều giấu tôi chuyện này, có ai cho tôi hay biết gì đâu, may nhờ có anh Thomas báo tin cho tôi đó nghe... Hừ! Vậy mà tôi luôn luôn kính trọng họ đấy chứ... Khốn nạn quá đi!
- Georges ơi! Đừng nói như vậy, cậu lầm đấy...
- Hừ! Lầm à; không đâu! - Chợt cậu con trái đổi giọng thấp xuống và có vẻ bí mật - Này bố Tom, tôi có đem cho bố cái này này, đồng đô la vàng của tôi.
- Ồ, không đâu, cậu ơi, tôi không nhậh đâu, dù tôi rất quý cậu, quý hơn...
- Bác phải cầm lấy - Georges cương quyết nói - Tôi đã bàn với bác gái rồi, bác bày tôi đục một cái lỗ nho nhỏ giữa đồng vàng, xâu một sợi dây xuyên qua đó để bác mang vào cổ. Bác phải giấu nó trong áo, đặng thằng khốn đó không thấy, nó mà thấy thì, ờ, nó dám cướp đó nghe, bác Tom. Đừng để tôi buồn, bác phải nhận tôi mới bằng lòng.
- Coi, đừng, cậu Georges! Tôi không dám nhận đâu.
- Sao lại không? Bác cứ ngồi yên!
Cậu bé nói và nhanh nhẹn luồn sợi dây có buộc đồng vàng quanh cổ bác Tom, vẻ hăng hái :
- Đó, có gì đâu? Hễ khi nào bác nhìn thấy nó thì bác nhớ đến tôi và hãy tin là một ngày kia tôi sẽ sang tận đó tìm chuộc bác trở về. Tôi đã hứa với bác Chlóe và chắc chắn sẽ thực hiện lời hứa. Tôi sẽ tự lo và còn ba tôi nữa, tôi sẽ nhắc ông hoài, không để ông quên đâu.
- Đừng cậu! Đừng giục giã ông.
- Kìa bác Tom. Bác sợ gì? Với lại tôi sẽ biết cách, tôi sẽ lựa lời chứ.
- Georges ơi! Kể từ đây tôi xa cậu. Tôi mong cậu sẽ tỏ ra là một người đàng hoàng. Đừng quên là ông bà đặt nhiều tin tưởng ở cậu. Đừng để bị lôi cuốn vào những hành động xấu, để cho tuổi trẻ ngông cuồng làm hỏng đời mình. Đừng tưởng là cậu lớn rồi. Cậu nên nhớ là có rất nhiều thứ hạnh phúc mà Chúa ban cho ta hưởng đến hai lần, nhưng ngài chỉ ban cho ta độc nhất một cha, một mẹ thôi. Hơn nữa, tôi dám nói là cậu sẽ không tìm ra một phụ nữ nào từ tâm đại lượng, có lòng hơn bà, dù cho cậu có sống hơn trăm tuổi đi nữa. Hãy sống cạnh bà, lúc trưởng thành cậu sẽ là nơi cho bà nương tựa lúc tuổi già. Cậu Georges ơi, cậu nghe lời tôi nói chứ?
Georges nghiêm giọng trả lời :
- Vâng! Tôi xin hứa với bác đó, bác Tom! Tôi sẽ làm y như lời bác dặn dò. Tôi sẽ cố để nên người tốt sau này. Mà bác nữa, bác đừng nản chí nghe? Tôi sẽ cố gắng để có thể cất lại căn lều cho bác, từ nóc tận nền. Bác sẽ có một phòng khách thật ngon lành, một tấm thảm thật lớn, thật đẹp, khi tôi lớn lên. Tôi hứa phải làm cho bác sung sướng tuổi già để bù lại những khổ nhục do cha mẹ tôi gây ra, bác nhớ chưa?
Haley từ trong lò rèn trở mặt tới, tay lủng lẳng cái còng sắt. Georges hết sức bất bình nên dù đã hứa với Tom, cậu không thể làm ngơ, cậụ bảo gã ta :
- Ông Haley, sao ông lại tính còng bác Tom? Tôi sẽ bảo cho ba mẹ tôi biết cách cư xử tồi tệ này, ông phải nhớ...
Giọng thách thức, gã buôn người cười khẩy :
- À, cái đó là quyền của cậu, còn còng tên này hay không là quyền của tôi. Cậu chủ nhỏ ơi! Cậu đã quên là tôi trả tiền cho cha cậu mới bắt được tên mọi này đi hay sao?
Georges giận sôi lên :
- Ông không biết xấu hổ ư? Đáng lẽ ông phải biết chứ: cái nghề buôn người của ông... xiềng xích người ta như đối với súc vật. Thứ nghề hạ tiện...
- Cứ mắng đi cho sướng miệng! Nhưng mà này, thưa công tử! Công tử nghĩ kỹ chưa mà dám mạt sát kẻ khác chứ? Nếu không có hạng người làm cái nghề hạ tiện như kẻ hèn này thì ông già khả kính của cậu sẽ lúng túng lắm đấy nhé! Kẻ dư nô lệ và cần tiền thì bán, người thiếu nô lệ thì mua. Tôi theo đúng luật cung cầu mà, sao cậu lại bảo tôi phải xấu hổ, xấu hổ chỗ nào? Chả lẽ người sang trọng quý phái như cha cậu mà lại đánh xe đưa nô lệ đi rao bán, coi sao được? Đáng lẽ cậu cảm ơn tôi thì đúng hơn.
Georges tức lộn gan lên, nhưng không thể nào trả đũa lão ta, lão nói cũng đúng đấy chứ? Georges nói to :
- Sau này lớn lên, tôi sẽ không bao giờ làm người mua nô lệ mà cũng không bao giờ bán. Tôi ghét việc mua bán này, nhục nhã lắm. Trước nay tôi rất hãnh diện là một công dân ở đất Kentucky này, nhưng bây giờ tôi xấu hổ quá, quá lắm!
Cậu quay sang Tom :
- Thôi, tạm biệt bác Tom! Can đảm lên bác nhé!
- Vĩnh biệt cậu, cậu Georges! Xin Chúa từ tâm ban ơn cho cậu! Chúc cậu được nhiều phúc lành ở xứ Kentucky này.
Tom nhìn đăm đăm vào cậu chủ nhỏ bằng đôi mắt nồng nàn trìu mến, giọng nghẹn ngào thổn thức.
Georges lên ngựa, ra roi. Tom dõi mắt theo cho đến kỳ khuất bóng cậu, cho đến khi vó ngựa nhỏ dần, nhỏ dần và tắt hẳn.
Mắt Tom mờ đi, tai Tom ù đặc, miệng Tom câm lặng. Bác không nói, không thấy, không nghe gì nữa. Trong mơ hồ, ngôi trại của chủ nhân như hiện ra... cùng với cái bóng dáng nhỏ nhắn của cậu con trai. Bác nấc lên khóc, rồi đồng tiền cậu trai mang vào cổ bác chạm vào da lành lạnh khiến bác như được an ủi phần nào, Tom ép sát nó vào ngực mình, âu yếm.

0
Chương 10
 
Bây giờ, dưới mắt chúng ta là một cảnh đẹp mắt, vui lòng. Căn bếp rộng thênh thang, tưởng được sơn phủ nhiều màu sắc, nền gạch vàng rực được lau sạch và đánh bòng, không dính một hạt bụi con. Dụng cụ nấu bếp sáng loáng làm người ta liên tưởng đến những món ăn ngon lành. Lò nấu, bàn ghé tất cả đều cùng tình trạng ưa nhìn như thế.
Trong lòng chiếc ghế bành, Elisa ngồi đong đưa nhẹ, mắt chăm chăm vào công việc trên tay. Vâng, chính là Elisa: thiếu phụ lai da đen đã bồng con đi trốn ngày nào.
Nàng hiện gầy hơn trước, xanh xao trông thấy, khác xa khi còn ở Kentucky. Dưới hàng mi cong dài và đôi mẩt đen láy tỏa cái nhìn sâu thẳm, buồn rầu. Đau khổ đánh dấu bằng những nếp nhăn nơi khóe miệng nàng. Elisa đã chín chắn hơn trong đau khổ và thử thách.
Người thiếu phụ trẻ này là hiện thân của tự tin, can đảm sau bao nhiêu bất hạnh liên tiếp xảy ra. Bất hạnh đã tôi luyện nàng, giúp nàng vững vàng. Chốc chốc nàng ngẩng mặt nhìn con, Henri đang nô đùa tung tăng, vô tư như cánh bướm ở vùng nhiệt đới.
Cạnh Elisa là một bà cụ trên dưới sáu mươi, khuôn mặt điềm đạm, phúc hậu, chứa chan ánh sáng của lòng từ ái. Đó là những người mà năm tháng chất chồng càng làm họ đẹp thêm ra, những người mà thời gian không làm suy giảm ý chí phấn đấu cho điều thiện.
Một cái dĩa thiết đặt trên gối, bà cụ đang cẩn thận xếp lên đó những quả táo khô.
Áo choàng bằng lụa trắng như tuyết đọng, may theo kiểu của những người thuộc giáo phái Quakers. Một cái khăn tay bằng phin trắng mịn vắt chéo trước ngực làm thành những nếp gấp, cái khăn trùm đầu; tất cả biểu lộ giáo phái bà trực thuộc.
- Elisa! Mày vẫn còn giữ ý định sang Canada chứ?
Bà cụ hỏi nàng với giọng dịu dàng, mắt vẫn không rời những quả táo đang sắp xếp. (Tín đồ giáo phái Quakers xưng hô mày tao với nhau).
- Vâng, thưa bà, con phải ra đi, bất cứ giá nào. Con không thể ở đây. - Giọng nàng quả quyết hơn bao giờ.
- Sang bên đó mày sẽ làm gì? Phải suy nghĩ kỹ, con gái của mẹ ơi!
Con gái của mẹ! Bà lão đó thốt lên bốn tiếng trên bằng giọng âu yếm như thể nói với con ruột mình. Thật vậy, dáng dấp khoan hòa và khuôn mặt hiền lành của bà là hình ảnh một người mẹ hiền.
Elisa run rẩy, vài giòng nước mắt không cầm giữ được lăn dài xuống, song nàng tự trấn tĩnh, trả lời giọng tự tin :
- Con sẽ làm tất cả những gì có thể làm được. Con không sợ khó nhọc và hy vọng là không chết đói.
- Mày nên nhớ là mày có thể ở đây bao lâu cũng được, con ạ!
Bà Rachel Halliday ân cần bảo nàng.
- Cháu cám ơn bà. Bà rất tốt với cháu. Nhưng thưa bà (nàng đưa mắt nhìn con trai) chưa đêm nào cháu ngủ thẳng giấc trọn đêm. Mới hôm qua đây, cháu mơ thấy gã đàn ông đó bước vào sân...
- Tội nghiệp cho con tôi!
Bà Rachel lau nước mắt, nói tiếp :
- Con không nên lo lắng thái quá. Chúa không muốn kẻ đào tẩu nào bị bắt ra khỏi làng này, con phải tin như thế. Con không thể là người đầu tiên bị họ bắt... Chưa ai đến đây mà bị bắt bao giờ.
Cánh cửa vụt mở. Một người đàn bà nhỏ bé, lùn và béo bước vào, khuôn mặt rạng rỡ. Cô ta phục sức giống bà cụ Rachel.
- Ô! Ruth, mày mạnh chứ?
Bà Rachel hỏi và hai bên nắm chặt tay nhau.
- Còn phải hỏi, tôi mạnh như thường.
Cô này trả lời và giở cái mũ bé nhỏ đặc biệt trên đầu ra, dùng khăn tay phủi bụi, để lộ mái tóc quăn rủ xuống.
Đó là một thiếu phụ khoảng hai mươi bốn hay hai mươi lăm tuối chi đó, có vẻ cởi mở, thành thật khiến cho người đối diện có thể thân mật dễ dàng. Chải bụi cái mũ xong, cô đội lên đầu lại, vén những sợi tóc lòa xòa lên gọn gàng. Bà Rachel nói :
- Lại đây Ruth, ta giới thiệu Elisa Harris; cô bạn gái của chúng ta và đứa bé nữa, như tao đã nói với mày đó.
- Elisa ơi - Giọng Ruth cao lên - tao rất sung sướng được biết mày!
Vừa nói, Ruth vừa siết chặt tay Elisa như với một bạn cũ lâu ngày vừa gặp lại, đoạn tiếp :
- Tao có đem cái bánh cho con mày đấy!
Cô nói và đưa cái bánh hình quả tim cho đứa bé. Henri rụt rè đón lấy, cừng một lúc nó đưa mắt quan sát cô ta rất kỹ.
Bà cụ hỏi Ruth :
- Con mày đâu?
- Tao có dắt đến, vừa rồi con mày đã bế nó đi chơi bên trại láng giềng rồi.
Cửa lại bật mở và Mary - con gái bà Rachel - bước vào, gương mặt hồng hào, đôi mắt to màu nâu y hệt gương mặt bà Rachel, thằng bé trắng trẻo, bụ bẫm trên tay. Bà mẹ cô đón lấy đứa bé và khen là nó kháu khỉnh quá, Ruth hãnh diện mỉm cười :
- Phải! Nó ngoan lắm kia.
Và Ruth ra hiệu cho con, đứa bé ngoan ngoãn đứng yên chờ mẹ cởi áo choàng, khăn quàng cổ để con được thoải mái rồi đặt con xuống đất cho nó tự do chơi đùa một mình. Còn Ruth thì ngồi lại lấy chiếc vớ đan dở, tiếp tục công việc một cách chăm chỉ. Nhìn đôi bàn tay thoăn thoắt trên chiếc vớ hai màu xanh trắng, người ta không khỏi liên tưởng đến những cái vuốt ve, những cử chỉ săn sóc dịu dàng của người mẹ trẻ.
- Mary! Nếu mày ngoan thì đi đổ đầy nồi nước, bắc lên bếp cho tao đi!
Mary vâng lời mẹ xách nồi ra giếng múc nước và không bao lâu cô trở lại nhóm bếp nấu, miệng hát nho nhỏ một bài hát quen thuộc vui. Bà Rachel lại dùng một câu từa tựa như thế và Mary bắt thêm cái chảo lớn lên lò.
Bà cụ thong thả bày biện khuôn, bột v.v... và mang tạp dề vào bắt đầu công việc: bà làm bánh. Lần này, bà bảo con :
- Mary! Nếu mầy ngoan thì gọi John, nhờ bắt cho tao một con gà tơ thật béo, nào!
(Bà cụ có thói quen ưa dùng ba tiếng “nếu mày ngoan” khi muốn sai con làm việc gì và luôn luôn, các con bà tỏ ra ngoan như bà muốn).
- Ruth này, hôm nay Peters có khá không?
Bà cụ Rachel vừa chăm chỉ nhồi bột vừa hỏi.
- À, nó đỡ lắm rồi. Sáng nay, trước khi đến đây, tao có tạt qua thăm, dọn giường và thu xếp nhà cửa ngăn nắp. Xế nay sẽ có xe đến cung cấp bánh và pa-tê đủ dùng. Tao cũng hứa chiều trở về, ghé lại đón xe ấy.
- Còn tao, mai tao sẽ đến giặt giũ và sắp xếp quần áo hộ.
- Tốt đấy! Tao còn nghe nói là Anna Stanwood cũng ấm đấy nhá. John thức suốt đêm qua. Mai tao sẽ sang...
- John có thể qua đây dùng bữa nếu mày bận bên đó suốt ngày.
- Cảm ơn Rachel! Ta sẽ gặp nhau ngày mai và tính sau... Kìa, Siméon!
Siméon Halliđay, chồng bà Rachel là một ông già to lớn, vạm vỡ, mặc một cái quần dài và cái áo khoác ngoài bằng vải thô, đầu đội mũ rộng vành vui vẻ bước vào thân mật chào mọi người. Ông già nắm bàn tay bé nhỏ mũm mĩm trong bàn tay thô tháp của mình hỏi thăm sức khỏe mẹ con Ruth và chồng nàng.
- Cả nhà đều mạnh, cả John cũng vậy.
- Có tin gì không? Siméon?
- Peters bảo là đêm nay họ sẽ đến đây với vài người bạn.
Ông trả lời trong lúc rửa tay, rửa mặt.
- Tốt lắm!
Bà Rachel nói và liếc nhìn Elisa đang ngồi may vá trong phòng, dáng tư lự. Siméon hỏi vợ :
- Anh nhớ có lần Elisa nói chồng nó tên là Harris, phải không?
Rachel đăm dăm nhìn chồng, xác nhận.
Ông già thì thầm vào tai vợ :
- Rachel, chồng cô gái này có mặt trong đoàn người đi trốn, anh ta sẽ đến đây ngay đêm nay.
Bà Rachel phủi phủi hai bàn tay dính đầy bột, sửng sốt :
- Thật vậy ư? Vậy sao không cho cô ấy biết?
Người chồng chậm rãi :
- Đúng vậy, hôm qua Peters có đánh xe ngựa về phía đó, gặp hai người đàn ông và một bà lão. Một trong hai người có tên là Harris - Georges Harris. Cứ theo lời cô gái ấy kể thì anh ta đúng là chồng cô. Đó là một thanh niên có vẻ thông minh và dễ thương. Bây giờ ta đi báo tin cho cô ấy biết đây.
Ông già bảo vợ như thế nhưng trước khi cho Elisa hay tin này, ông kể cho Ruth hay trước. Nghe chưa dứt câu, Ruth mừng cuống lên, làm ồn cho đến nỗi gián đoạn cả tiếng nói người đối thoại. Bà Rachel điềm đạm hơn :
- Này Ruth, ta có nên báo tin cho cô ấy ngay bây giờ không?
Ruth hăng hái :
- Tại sao lại không? Nên chứ, nên cho cô ấy hay tức khắc. Chúa ơi! Phải báo tin ngay chú! Tao cứ nghĩ đến John, nếu John mà gặp cảnh đó thì...
- Lúc nào mày cũng nhắc đến chồng mày thôi.
Bà Rachel vui vẻ trêu Ruth.
- Ủa, nghĩ coi, còn gì quý hơn tình vợ chồng?
Ruth nắm tay bà Rachel kéo đi :
- Phải báo tin ngay! Đi đi! Đưa cô ấy vào phòng đi, để tao làm gà cho.
Bà Rachel thư thả trở lại gian bếp, nơi Elisa đang ngồi may. Bà mở cửa phòng ngủ nhỏ, dịu giọng bảo nàng :
- Vào đây, con gái của mẹ! Ta có tin này cho con hay.
Tất cả máu trong huyết quản như dồn hết lên mặt Elisa, một nàng đỏ bừng lên một giây rồi lại xám ngoét. Elisa cố gắng đứng lên, đưa mắt nhìn con trai, hồi hộp làm theo lời bà cụ một cách khó khăn, chậm chạp. Ruth phải trấn an Elisa :
- Đừng sợ, không phải tin buồn đâu. Hãy vào phòng đi!
Ruth nói và đẩy Elisa vào phòng, khép cửa lại đoạn trở ra bế con trai Elisa lên tay, vuốt ve âu yếm. Thiếu phụ tốt bụng bảo nó bằng giọng dịu dàng :
- Con sắp được gặp cha con! Con hiểu không?
Và Ruth lặp đi lặp lại câu ấy nhưng Henri ngạc nhiên mở to mắt nhìn cô, không hiểu gì cả.
Trong khi đó, trong phòng, bà Rachel thong thả báo tin cho Elisa biết.
- Chúa đã thương xót con mà đưa chồng con lại đây đó, con gái ơi!
Một lần nữa, đôi má Elisa ửng hồng lên rồi mặt nàng trắng bệch như sáp.
Nàng ngồi bất động như pho tượng. Bà Rachel đặt tay lên đầu nàng :
- Hãy bình tĩnh con ạ! Đó là sự thật: đêm nay chồng con sẽ đến đây với vài người bạn.
- Đêm nay? Anh ấy sẽ về đây?
Elisa thẫn thờ lặp đi lặp lại như cái máy. Những lời nói dịu dàng và tia nhìn bao dung, nồng ấm của bà Rachel chợt mông lung, mơ hồ thoắt hiện, thoắt biến, đầu óc nàng đảo lộn, nàng cảm thấy như người hụt hẩng, đặt bước vào khoảng không. Nàng sẽ gặp chồng nàng trong đêm nay? Điều đó là sự thực ư? Mọi vật trong phòng và cả bà Rachel đều quay cuồng trước mắt nàng, một bức màn đen phủ chụp xuống và sau cùng, Elisa không gượng nổi, nàng ngất lịm đi...
* * * * *
Khi tỉnh lại Elisa thấy mình nằm trên giường, được đắp một tấm chăn đơn, bên cạnh là Ruth đang thoa dầu nóng cho nàng. Thấy nàng đã tỉnh, Ruth vui mừng đứng dậy đi dọn bàn ăn.
Elisa uể oải một cách thích thú, như đứa trẻ dậy trưa được nuông chìu, nhẹ nhõm như một kẻ vừa trút được gánh nặng đeo mang nhiều ngày tháng.
Thật vậy, tinh thần nàng luôn luôn giao động kể từ giờ phút đầu tiên rời nhà chủ nhân trong đêm khuya, giờ đã dịu lại, hoàn toàn yên ổn, thoải mái.
Nàng ôn lại giấc mơ vừa trải qua và rồi, nàng mở to mắt lặng lẽ nhìn, ngắm xung quanh. Cánh cửa phòng ăn thông ra phòng khách lớn đang được mở rộng, bàn ăn được phủ khăn trắng muốt, có tiếng thì thầm trò chuyện và tiếng ấm nước sôi reo vui như một điệu nhạc quen tai. Ruth lăng xăng bưng bánh và thức ăn đặt lên bàn, chốc chốc lại dừng chân, đưa cho con trai nàng cái bánh hay đặt tay lên đầu nó, lùa các ngón trắng trẻo và mớ tóc nó vuốt ve âu yếm. Nàng thấy bà Rachel dáng bộ hòa nhã dịu dàng đến gần giường nàng kéo chăn đắp lại cho ngay ngắn, cặp mắt màu nâu trong sáng, tia nhìn ấm áp như ngọn lửa buổi chiều đông. Nàng thấy chồng Ruth bước vào và Ruth lao mình về phía đó, thì thầm vào tai chồng và chỉ tay về phía nàng rồi ngồi vào bàn, bế con lên tay. Họ quây quần quanh bàn và con nàng nữa: thằng bé Henri chễm chệ trong lòng một cái ghế khá lớn đặt cạnh bà chủ nhà và nó có vẻ bình yên sung sướng dưới sự chở che của bà Rachel.
Và rồi tiếng trò chuyện vui vẻ, tiếng muỗng nĩa chạm nhau lách cách. Chao! Giấc mơ của Hạnh Phúc! Nàng đã ngủ say sưa như chưa từng được ngủ kể từ khi đào tẩu tới hôm nay.
Nàng đã mơ đến một vùng đất phì nhiêu đẹp đẽ, một mảnh đất của sự yên ổn, an toàn với bờ sông xanh ngắt bao la, với những cù lao xinh xắn và dòng nước lặng lờ hiền hòa lấp lánh dưới ánh mặt trời. Tại nơi này, trong gian nhà ấm cúng và những người bạn mới đầy lòng từ ái, nàng và con được tự do... Rồi thì nàng nghe rõ ràng bước chân quen thuộc vững chãi của chồng nàng, nàng cảm thấy anh tiến đến gần nàng, từ từ từng bước một. Và anh đưa tay ra ôm lấy nàng, những giòng nước mắt nóng của Georges rơi xuống má, xuống mặt nàng và lần này thì nàng tỉnh táo hoàn toàn. Đây là một giấc mơ có thật!
Đêm đã xuống từ lâu. Bé Henri nằm ngủ say bên cạnh mẹ. Một ngọn đèn dầu tỏa ánh sáng dịu nhẹ trong căn phòng vắng Georges, đang thổn thức khóc bên đầu giường vợ. Họ không ngờ được gặp lại nhau.
* * * * *
Ngày hôm saụ là một ngày tưng bừng rộn rịp trong ngôi nhà của tín đồ phái Quakers.
Bà Rachel thức dậy từ tinh mơ, bao quanh là lũ con ngoan và xinh xắn. Các cô cậu sung sướng được mẹ bắt đầu điệp khúc: “Nếu mày ngoan” để cắt đặt việc làm. Bà bận rộn lo bữa điểm tâm đãi đôi vợ chồng khách lạ. Bữa điểm tâm của họ, những người dân trong thung lũng phì nhiêu xứ Indiana là một bữa ăn cầu kỳ, cần đến bàn tay phụ giúp của nhiều người.
John chạy ra, chạy vào ngoài giếng. Siméon le Jeune rây bột bắp để làm bánh. Mary được mẹ giao cho xay cafe, bà Rachel thì nhồi bột, nấu món ragu gà.
Giữa khung cảnh bận rộn đó, bà cụ nom như một tia sáng của một ngày nắng ấm thật tươi vui.
Khi vợ chồng Elisa và con nàng xuất hiện, họ được đón tiếp trọng thể và thân mật khiến thoạt đầu, họ tưởng như ở trong mơ.
Sau đó, mọi người cùng ngồi vào bàn, trừ mình Mary đang chiên dở những lát bánh bơ. Cô đợi cho chừng nào món bánh này vàng ngậy, thơm lừng mới vứt ra khỏi chảo.
Rachel ngồi ghế chủ tọa, chưa bao giờ bà cảm thấy hài lòng như lúc này. Bà luôn luôn tỏ ra tràn đầy lòng từ ái, và bàn tay của bà là bàn tay hiền mẫu, ngay trong cử chỉ nhỏ nhất là trao cho Georges mẩu bánh hay một tách trà. Ta có thể nói không ngoa là bà đặt cả tấm lòng mình trong thức ăn và thức uống mà bà ân cần mời anh ta.
Đây là lần thứ nhất trong đời người nô lệ, anh được ngồi cùng bàn vởi người da trắng. Vì thế, thoạt đầu anh cảm thấy lúng túng, ngượng ngập song chỉ vài phút sau, Harris lấy được tự chủ.
Đây đúng là một căn nhà! Anh được ngồi trong một căn nhà. Georges chưa bao giờ hiểu được ý nghĩa của tiếng này một cách rõ ràng như hôm nay.
Lòng tin ở đấng tối cao, ở Chúa cũng đến với anh lần đầu tiên như tia sáng của một ngày đẹp trời sau bao nhiêu lâu anh ngụp lặn trong bóng tối.
- Cha, nếu họ khám phá ra...
Siméon le Jeune ngập ngừng hỏi cha trong lúc phết bơ lên lát bánh.
Cha cậu thản nhiên nói :
- Tao sẽ nộp phạt, con ạ!
- Nhưng nếu họ bắt cha ở tù?
- Thì đã làm sao? Dễ chừng chúng mày cùng mẹ chúng mày không tự lực trông nom nhà cửa, trang trại được hay sao?
Ông cụ vẫn giữ nguyên vẻ mặt tươi tình, nói.
- Được chứ, thưa cha. Nhưng con hỏi cha: những đạo luật như thế không phải là một điều nhục nhã ư?
- Không nên và không có quyền chỉ trích các vị dân cử của ta - Người cha nghiêm giọng - Chúa đã ban cho ta của cải vật chất để thực thi công bằng và bác ái. Nếu các vị dân cử muốn buộc chúng ta trả giá các hành động tốt đẹp ấy, thì ta hãy trả, có vậy thôi.
- Con ghét các ông chủ nô lệ.
Giọng cậu con trai nồng nhiệt, không còn vẻ gì là một tín đồ ngoan đạo. Người cha có vẻ không bằng lòng song giọng ông vẫn hòa nhã :
- Này con trai của cha! Con làm cha ngạc nhiên. Đó không phải là những lời mẹ dạy con. Phần cha, cha sẽ đối đãi với ông chủ nô lệ cũng y như đối xử tất với một người nô lệ khi ông ta vì hoạn nạn đến gõ cửa nhà ta.
Cậu con trai đỏ bừng mặt lên và bà mẹ mỉm cười hài lòng :
- Siméon là một đứa con trai tốt, lớn lên nó sẽ giống cha.
- Thưa ông, vị ân nhân khả kính của tôi! Tôi e rằng sự có mặt của tôi sẽ gây ra nhiều phiền phức cho ông bà...
- Georges! Đừng lo ngại gì hết. Chúng ta sinh ra là để làm những việc như việc này. Nếu chúng ta thuộc hạng người không dám hy sinh vì chân lý, chúng ta đâu xứng đáng với sứ mạng được giao phó?
- Nhưng thưa ông, tôi thật không thể yên lòng...
- Đừng thắc mắc vô ích! Không phải vì anh hay vì một ai, mà chính là vì Chúa và toàn thể nhân loại mà chúng ta làm vậy. Hiện giờ, hãy yên tâm mà ở lại đây. Cỡ vài hôm nữa vào một đêm tối, Platcher sẽ đến đưa anh đi nơi khác. Bọn săn người đang nóng ruột rượt theo anh, chúng ta không để họ bắt anh đâu.
- Thưa ông, sao không đi ngay?
- Anh sẽ được an toàn vài ngày khi ở đây. Ở đây, mọi người đều trung tín và cẩn thận. Hơn nữa, đi ban đêm an toàn hơn.

0
Chương 11
 
Không biết cây đũa thần mầu nhiệm nào đã biến đổi con sông Mississipi khiến ngày nay nó khác hẳn thời mà Chateaubriand đã tả trong một bài thơ. Đọc bài thơ đó người ta hình dung nó như là một con sông của khu rừng già đơn độc, của những sa mạc mênh mông, chạy dài giữa những kỳ công của tạo hóa. Sông Mississipi ngày nay khác hẳn.
Những tia nắng cuối của một ngày tàn đang run rẩy trên mặt nước êm ả giữa dòng sông rộng bao la như biển cả. Những cây sậy đong đưa, những cây trắc bá khổng lồ màu đen và những đám rong rêu bám trên thân cây thành từng chuỗi nom khá đặc biệt.
Con tàu chạy bằng hơi nước, chất ngập hàng hóa đang tiếp tục cuộc hành trình. Nhiều kiện bông gòn đóng chặt to tướng chất thành từng đống hai bên mạn tàu, và cả bên trong, cùng khắp, trông xa giống như một khối màu xám khổng lồ. Người ta phải chú ý lắm mới nhận ra được bác Tom, người bạn khiêm nhượng của chúng ta, ngồi co ro ở đầu mũi tàu, lọt thỏm vào giữa những kiện bông gòn to lớn, nom nhỏ bé lạc loài đến tội nghiệp giữa cảnh sông nước bao la và hàng hóa vô tình.
Haley bắt đầu đối xử với bác bớt khắc nghiệt hơn và công nhận là lời của ông bà Shelby cũng như người thợ rèn rất đúng: con người hiền lành đó cam chịu số phận hẩm hiu dành cho mình, không tỏ vẻ phản đối như gã tưởng. Ban đầu gã canh chừng Tom rất chặt chẽ, mỗi tối gã xiềng kỹ Tom lại... Dần dần, vẻ bình thản, nhẫn nhục của Tom đã thắng: gã nới lỏng sự canh giữ, tin tưởng ở lời hứa danh dự của bác và vui lòng cho bác đi lại trên tàu tùy thích, tự do.
Tom luôn luôn tỏ ra rất tốt và ân cần, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi có dịp. Không bao lâu bác chiếm được cảm tình của tất cả mọi người trong lúc giúp họ với sự hăng hái và tận tâm, vẫn là hai đức tính bác vốn sẵn có từ khi còn bé, hồi còn ở trang trại của cha mẹ ông Shelby tại Kentucky.
Khi nào không còn gì để làm nữa, bác rút lui về giữa những kiện hàng, trong một góc ở mũi tàu, bắt đầu châm chỉ đọc Thánh kinh.
Còn cách Nouvelle Orléans trên trăm dặm, mực nước sông cao hơn miền nó vượt qua, cả dòng nước vĩ đội chảy giữa hai bên bờ đê kiên cố, cao hai mươi bộ (khoảng chừng sáu thước). Đứng trên bong tàu, du khách có thể nhìn thấy cả vùng cho đến tận chân trời xa tít tắp.
Tom dõi mắt nhìn cảnh cỏ cây trời nước bao la, nối tiếp mà tâm trí hoang mang vì nghĩ đến chuỗi ngày sắp tới, không rõ lành dữ thế nào. Bác mường tượng đến một vùng đất xa xôi mà kẻ nô lệ như bác đang làm việc nặng nhọc, mường tượng đến ngôi làng đầy những căn lều thô sơ, tồi tàn xếp thành hàng cách xa những ngôi nhà xinh đẹp sang trọng và các hoa viên của chủ nhân. Rồi trí tưởng tượng lại đưa bác trở về với trang trại cũ ở Kentucky, nấp dưới bóng của những hàng sao già quen thuộc. Bác hồi tưởng ngôi nhà tráng lệ của chủ cũ, những gian phòng đồ sộ, sáng sủa rồi nhớ luôn căn lều bé nhỏ của mình, đầy hoa leo rực rỡ. Bác như thấy những khuôn mặt quen thuộc của bạn bè, những kẻ cùng từng bác sống chung từ tấm bé, thấy cả vợ bác bận bịu trong bếp lo bữa ăn chiều, và cả giọng cười, tiếng hét của lũ con, tiếng ngọng nghịu của con bé út khi bác đặt nó ngồi trên đầu gối...
Trong khoảnh khắc tất cả vụt biến đi, bác chỉ còn trơ lại với thực tại: những rừng trồng đầy mía và trắc bá chạy dài, trải dọc theo ven sông, rồi tiếng nổ ầm ì của con tậu đang rẽ sóng. Tất cả những điều này nhắc bác nhớ rõ, rất rõ rằng cuộc cuộc sống êm đềm cũ đã bị cắt đứt kể từ khi bác đặt chần lên cỗ xe ngựa của Haley.
* * * * *
Trong số hành khách dưới tàu có một người đàn ông trung niên, dáng dấp quý phái và giàu có, hiện cư ngụ tại Nouvelle Orléans. Đó là ông Saint Clare, cùng đi với ông là con gái ông cỡ bảy tám tuổi. Cô bé có một bà cô chị họ ông theo săn sóc.
Tom vẫn theo dõi và quan sát cô bé này - vì bác vốn yêu con trẻ - Con bé rất lanh lợi, hoạt bát. Hình như nó không thể ngồi yên một phút nào. Nó như một tia sáng mặt trời ấm áp hay một cơn gió lạ chợt đến, chợt đi.
Đó là một vẻ đẹp ngây thơ lý tưởng: hai má hồng hào nhưng không béo phì, bầu bĩnh giống như một số con nhà giàu da trắng khác. Dáng dấp uyển chuyển, dịu dàng, em đúng là hiện thân của một nhân vật thần thoại. Em di động như một cánh hoa. Nhìn gương mặt em, người ta liên tưởng đến một tâm hồn thoát tục. Tóm lại, em đẹp tuyệt vời với những đường nét cao quý ít thấy ở phàm nhân và ai có đầu óc thẩm mỹ đều phải công nhận em khác thường mà không sao giảng giải, chỉ cảm thấy thôi.
Hình dáng của mái tóc, nét thanh nhã của cái gáy, toàn thân em phảng phất một vẻ quý phái lạ lùng, mái tóc vàng óng ả rủ xuống quanh cô bé như một áng mây nõn, đôi mắt xanh thăm thẳm, thông minh mà tư lự nấp dưới đôi hàng mi cong vút, tất cả những cái đó khiến em nổi bật lên trong đám trẻ con và thu hút những cái nhìn mỗi khi em len lỏi giữa đám du khách, linh động và thanh thoát.
Tuy thế, em không hẳn là một đứa trẻ trang nghiêm và ủ rũ, vẻ ngây thơ, sung sướng hiện rõ trên mặt em như bóng mát của một tàng cây mùa hạ. Nụ cười rạng rỡ trên đôi môi như đóa hồng buổi tinh sương. Người cha và bà cô thật vất vả trong khi canh chừng theo dõi em. Em mới đó đã biến mất y như một đám mây xuân bảng lảng. Vừa tóm được em trong tay em đã chuồn mất liền sau đó, không kịp đề phòng.
Trong bộ quần áo trắng, em thoăn thoắt từ góc này đến góc kia, những lời trách mắng của cha và cô chưa lọt vào tai thì em đã lướt sang nơi khác.
Đôi khi, do một sự tình cờ, người thợ máy đang làm việc ngẩng đầu lên, bắt gặp đôi mắt mở to nhìn chăm chắm vào chiều sâu của lò lửa: cô bé lo lắng, thương xót anh ta vì công việc có vẻ nặng nhọc và nguy hiểm. Khi thì người cầm lái tàu dừng tay và mỉm cười vì bắt gặp khuôn mặt dịu dàng, hiện ra trước mắt mình đẹp như một bức tranh và biến mất sau cửa sổ phòng lái. Có lúc, em lạc chân vào những chỗ hiểm nguy thì vô số bàn tay chai và thô tháp chờ sẵn để nâng em ra khỏi đó tức thì.
Tom, với bản tính dễ xúc động, bị bóng dáng xinh đẹp nhỏ nhắn của em cuốn hút từ đầu. Bác theo dõi em một cách gần như sùng kính vì bác nhận thấy từ con người bé nhỏ ngây thơ đó có cái gì đặc biệt khiến bác liên tưởng đến hình ảnh một thiên thần mà trong Thánh kinh thường nhắc đến.
Cô bé thường có vẻ: xót xa, buồn bã, mất hết hồn nhiên vui vẻ khi đến cạnh đám nô lệ bị xiềng xích trên tàu. Em len lỏi giữa bọn người đáng thương nảy, lặng lẽ nhìn họ, đôi khi dùng đôi bàn tay bé nhỏ cố gắng để nâng những sợi xích sắt lên. Rồi em thở dài ảo não, bỏ đi. Mà không đi luôn, chỉ lát sau em trở lại với đôi tay đầy kẹo bánh, hạt dẻ, cam và vui vẻ phân phát cho họ, đoạn lại bỏ đi.
Tom đã nhìn kỹ em trước khi đánh bạo làm quen. Bác có nhiều cách để chìu ý và làm thân với trẻ bởi vốn khéo tay, kiên nhẫn. Hồi ở Kentucky, bác rất được các con của chủ thương mến. Và giờ đây, bác cũng đang tìm cách làm hài lòng vị thiên thần bé nhỏ. Thật ra, trong túi bác luôn luôn có đầy nhóc những thứ bỏ đi với kẻ khác mà hấp dẫn đối với trẻ con, miếng vỏ dừa, hạt trái anh đào v.v... Bác gọt thành những hình thủ ngộ nghĩnh, đan thành những cái giỏ tí tẹo xinh xinh.
Giữa những kiện hàng to lớn, xù xì, xấu xí, em tiến đến, thoạt tiên em nghiêng mình, dáng điệu như một chú chim sâu cạnh bác Tom, hơi rụt rè đón nhận những món đồ chơi bằng thứ nguyên liệu vô giá trị nhưng đã được làm bằng cả tấm lòng, mắt em sáng ngời thích thú, hàm ý cảm ơn. Thấy đã đến lúc thuận tiện, Tom bắt đầu gợi chuyện :
- Cô bé ơi, cô bé tên gì?
- Cháu tên là Evangélinè Saint Clare. Tên cháu dài quá, phải không? Nhưng ba và mọi người gọi cháu là Eva. Còn bác, bác tên gì, hở bác?
- Tôi tên là Tom, tôi ở Kentucky, trẻ em ở đó gọi tôi là bác Tom.
- Vậy thì cháu gọi bác là bác Tom nghe? Cháu thích chơi với bác lắm, bác Tom ơi!
- Tôi cũng vậy.
- Bác đi đâu vậy, hở bác Tom?
- Tôi cũng không rõ nữa, cô Eva ạ!
- Kỳ không, sao vậy? Bác không biết bác đi đâu là sao?
- Tại vì tôi bị bán đi. Tôi sẽ bị bán lần nữa, chưa biết chủ mới là ai.
- Ba tôi sẽ mua bác, bác chịu không? Nếu ba tôi mua bác, bác sẽ được sung sướng. Để tôi xin ba mua bác.
- Cảm ơn cô bé. Cô tốt lắm.
* * * * *
Tàu dừng lại một trạm nhỏ để lấy thêm củi. Eva nghe tiếng cha gọi vọi vàng chạy lại với ông. Tom cũng đứng lên đi giúp công nhân dưới tàu trong công việc lấy củi.
Eva đứng cạnh cha ở bao lơn tàu để xem tàu khởi hành, động cơ chuyển động mạnh để nâng cần trục lên làm mạn tàu tròng trành và trong một chớp mắt vì sự sơ suất bất ngờ, cô bé mất thăng bầng bị hất văng xuống dòng sông. Người cha hoảng hốt toan nhảy bừa xuống theo con nhưng vài người gần đó biết rõ khả năng bơi lội của ông nên đã kìm giữ ông thật chặt, không để ông thực hành ý muốn điên rồ, vô ích này.
Mọi người bỗng nghe một tiếng ùm thật lớn: Tom đã nhảy xuống nước ngay sau đó, bác chỉ cần bơi vài sải, chờ cho em bé nổi lên là lao tới cứu được em.
Bác vốn khỏe mạnh, dai sức cho nên việc này không mấy khó khăn đối với bác. Bác nâng cô bé lên, bơi dọc theo thân tàu và trong sự cảm động lẫn sung sướng, bác trao đứa trẻ cho hàng mấy chục cánh tay đưa ra đón nó, song kỳ thật nó chỉ thuộc về một người, ông Saint Clare, cha nó.
Ngày hôm sau vào buổi chiều, một buổi chiều nóng bức, chiếc tàu tiến gần đến Nouvelle Orléans. Trên boong tàu diễn ra một quang cảnh nhộn nhịp khác thường. Mọi người lo thu xếp hành lý, sửa soạn rời tàu. Bồi phòng lo lau chùi đánh bóng sàn tàu, chà láng để chuẩn bị cập bến, một cái bến lớn và sang trọng.
Bác Tom, vẫn rầu rĩ như thường lệ, khoanh tay trước ngực, vẻ lo lắng nhìn đám hành khách trước mặt mình.
Em bé Eva đứng giữa đám hành khách nhốn nháo ấy, hơi xanh hơn mọi ngày, dáng chừng còn xúc động vì tai nạn hôm qua. Cạnh em là ông Saint Clare, cùi chỏ chống lên kiện bông gòn, dáng bộ hờ hững, một xấp giấy tờ mở ra, trải rộng trước mặt ông.
Cha con họ rất giống nhau: cũng đôi mắt to và xanh lơ, cũng mái tóc nâu óng ả, nhưng cái nhìn thì khác biệt: ông không có vẻ mơ mộng trong cái nhìn, trái lại mắt ông sáng quắc, cái nhìn khinh mạn. Miệng ông thanh tú. Bên khóe biểu lộ vẻ kiêu hãnh và hơi châm biếm.
Với vẻ lơ đễnh, khinh khỉnh ông lắng nghe tên buôn người Haley đang thao thao kể lể đặc tính của món hàng.
Nụ cười mỉa mai nô trên môi, ông Cláre đợi cho lão ta dứt lời rồi mới ung dung lên tiếng hỏi :
- À, ông bạn, theo lời ông thì bao nhiêu đức tốt, tài hay tên da đen kia đều hội đủ, phải không? Vậy là hắn ta quả đáng giá, tôi đồng ý. Vậy ông bạn muốn bán bao nhiêu đây? Bao nhiêu để ông bạn không phải thiệt thòi mà tôi cũng chịu nổi. Nào, cứ nói đi, miễn đừng nói quá.
- Thưa ông, chỉ giá vốn thôi, tôi đã mua gã đến một nghìn ba trăm đô-la chẵn đó, ạ!
- Thế đấy! - Ánh mắt ông sắc bén chế diễu - Và ông bạn định để vốn lại cho tôi chứ gì?
- Thưa, kể cũng hơi đắt chút đỉnh, nhưng thưa ông, con gái ông có vẻ thích có một tên nô lệ như Tom, ông cũng nên chìu ý cô.
- Ông bạn không vì thấy con tôi thích mà bắt chẹt chứ?
- Thưa ông, không đâu. Ông thử nhìn coi: bộ ngực hắn nở nang, tay chân cuồn cuộn bắp thịt, thân hình vạm vỡ. Tôi không nói ngoa đâu, hắn hoàn hảo hơn một con ngựa nòi đó nghe, và cái đầu thì... ông xem: trán hắn rất cao, chứng tỏ hắn thông minh. Một tên da đen đáng giá đặc biệt chứ không phải tầm thường như các tên da đen xoàng xoàng đâu đó. Thứ xoàng xoàng thì đâu mà không có, thưa ông? Ông sẽ không phí tiền đâụ, hắn rất được việc, tôi cam đoan thế. Vả lại ông đã thấy: chính hắn cứu con ông!
Haley nuốt nước bọt, ngừng lại một giây rồi tiếp tục ca ngợi đức tính của Tom :
- Một mình hắn, hắn coi sóc cả một trang trại lớn, rất được lòng chủ nhân, nếu không vì một lý do chính đáng, ông ấy không chịu rời tên nô lệ đắc lực này đâu, thưa ông, đó là sự thật, tôi thề không thêm bớt.
- Thôi, đủ rồi ông bạn! Tôi không cần những đức tính đó đâu. Bọn da đen thông minh thì hay bỏ trốn và ăn cắp ngựa đem theo chứ được gì! Và vì nó quá thông mình, ông bạn phải bớt đi hai trăm đô la, theo ý tôi, ông bạn nghĩ sao?
Eva đứng cạnh cha, sốt ruột chen vào :
- Ba ơi, ba mua bác Tom đi ba. Con biết ba có tiền mà, ba! Con muốn ba mua bác ấy...
Eva nói và leo lên kiện hàng, vòng đôi cánh tay nhỏ bé quanh cổ cha.
- Để làm gì chứ? Nhà ta đâu thiếu nô lệ, hở con! Con cần một món đồ chơi? Một con ngựa gỗ, ba dễ chìu hơn. Tại sao con nằng nặc đòi ba mua gã da đen đó?
- Thưa ba, con chỉ muốn cho bác ấy được sung sướng mà thôi.
- Đó mới thật là lý do chính đáng mà ba không thể từ chối đối với con.
Người cha nói trong lúc Haley đưa cho ông tờ giấy tiứng nhận có chữ ký của ông Shelby. Ông đón lấy, không có vẻ chú ý mấy nhưng sau ông cũng để mắt vào, có lẽ vì tò mò thì đúng hơn, và ông chợt kêu lên thích thú :
- À, chữ viết khá đẹp và không có một lỗi chính tả nào. Nhưng mà này, cái tôn giáo... cái đạo giáo của Tom làm tôi hơi ngại. Không rõ tôn giáo đem ra chợ thì giá cỡ bao nhiêu, lâu quá không hề đọc báo nên tôi không biết... Theo ông, giá tôn giáo của tên này là bao nhiêu?
Tuy trêu chọc gã buôn người, ông Clare vẫn móc túi đưa ra một xấp bạc giấy.
- Thôi, kiểm lại tiền đi, ông bạn!
- Ông rất tốt, ông sẽ là người chủ đại lượng.
Hắn nói, vẻ hài lòng, đoạn rút bút ra, làm giấy bán ký tên và đưa cho ông Clare.
Vẫn thói châm biếm cố hữu, ông này cười nói :
- Nếu tôi đây mà bị đem bán, tôi tự hỏi không hiểu tôi đáng giá bao nhiêu? Hình dáng của cái đầu này, vầng trán cao này, đôi bàn tay này, đôi chân này, rồi sự hiểu biết, nền giáo dục, tài đức này và tôn giáo nữa chứ? Quỷ thần ơi! Mấy môn sau cùng chắc không được bao nhiêu, phải không?
Quay sang con gái, ông đổi giọng âu yếm :
- Eva ơi! Lại đây với ba nào!
Nắm tay con gái cưng, ông đi về phía mũi tàu, người đàn ông đặt tay dưới cằm Tom, cất giọng từ tốn :
- Này, tôi hy vọng là anh sẽ hài lòng về cô chủ mới bé nhỏ của anh đây!
Tom ngẩng đầu lên. Ai mà có thể không hài lòng khi nhìn thấy khuôn mặt ngây thơ, xinh xắn một cách thuần khiết như thế được! Và mặc dù trong thâm tâm, Tom hằng đồng hóa cô gái nhỏ với các vị thiên thần khả kính trong Thánh kinh, trên thực tế chưa bao giờ bác dám mơ ước được có một cô chủ như Eva. Bác rưng rưng lệ nhưng cố nén, kính cẩn trả lời :
- Thưa ông, tôi cầu mong Chúa sẽ ban phúc lành cho ông.
- Tôi cũng ao ước như vậy. Này, tên anh là gì? Tom hở? Anh cũng có thể hỏi để biết tên tôi. Này, Tom, anh biết cầm cương ngựa chứ?
- Thưa, tôi quá thạo việc này. Ở trại ông Shelby có cả tá ngựa.
- Vậy thì tốt lắm. Tồi sẽ giao anh đánh xe ngựa, với điều kiện này: là mỗi tuần, anh chỉ được say sưa một lần thôi, trừ những khi có lễ lạt...
Tom có vẻ ngạc nhiên và bị chạm vào tự ái, liền cải chính :
- Thưa ông, tôi chưa bao giờ uống rượu.
- À, họ có cho tôi biết điều này. Nhưng còn để coi sao. Nếu quả thế thì tốt lắm...
Ông đổi giọng, thôi khinh khỉnh mà dịu dàng hơn :
- Anh có vẻ phật ý phải không? Đừng phiền lòng làm chi. Hay là anh không ưa việc đánh xe?
- Ồ, thưa ông không, tôi thích lắm chứ!
Eva chen vào :
- Bác Tom đừng lo, bác sẽ được sung sướng. Ba chỉ hay đùa thôi, chứ ba tốt lắm. Ba xử tốt với tất cả mọi người.
- Cảm ơn con của ba, con nói tốt về ba hơi nhiều đó nhá!
Người cha nói và để mặc con với người nô lệ, quay đi.

0
Chương 12
 
Saint Clare là con trai một trại chủ giàu có nhất nhì tại Louisiana, nguồn gốc từ Canada. Ông cụ chỉ có hai anh em, khá giống nhau về tính tình cũng như sở thích. Một người làm chủ trang trại ở Vermont, một người trở thành nhà trồng tỉa ở Louisiana.
Mẹ Clare là người Pháp, có đạo Tin Lành đã cùng gia đình sang Louisiana từ thời có đợt di cư đầu tiên. Ông cũng chỉ có một người anh thôi. Riêng ông, với bẩm chất ốm yếu giống mẹ nên theo lời khuyên của bác sĩ, được gửi đến Vermont ở nhà người cậu. Tại đây, cậu con trai trải qua một thời gian khá dài suốt tuổi thơ. Người ta tin là khí hậu mát mẻ tại nơi này giúp cậu khỏe mạnh.
Từ thuở bé Saint Clare đã tỏ ra nhạy cảm, khiến cậu có vẻ dịu dàng của một cô gái hơn là cứng rắn như một cậu con trai. Thời gian qua, đến tuổi trưởng thành ông có một vẻ ngoài cứng rắn. Tuy vậy, tâm hồn thì vẫn không thay đổi, có lẽ nhờ tâm hồn đó, ông vẫn hiền lành và trẻ lâu. Ông có khiếu thẩm mỹ và không ưa kinh doanh. Vì vậy ông không chú ý đến việc tìm cách tăng gia sản nghiệp như phần đông thói quen của những người cùng địa vị. Cũng giống những người trong gia đình mình, ông ghét việc mua bán thủ lợi.
Khi sắp ra trường ông yêu một cô gái rất đẹp và nổi tiếng. Họ dính hôn với nhau. Gia đình cô gái sống trong một tiểu bang miền Bắc. Clare phải trở về Nam để thu xếp việc gia đình trong ít lâu.
Một hôm, chàng thanh niên nhận được một bưu kiện do chàng gửi cho người yêu bị hoàn trả lại với vài giòng ghi chú vắn tắt đại khái rằng “khi những thứ này chưa đến tay chàng thì vị hôn thê chàng đã là vợ người khác”, vậy thôi, không nói rõ lý do.
Clare tưởng có thể phát điên lên. Song cũng như bao nhiêu chàng trai thất tình khác, cậu tin là mình sẽ quên được con người phụ bạc, đáng khinh này. Cậu quá kiêu hãnh nên không cần tìm hiểu nguyên do. Lại sẵn có tiền, cậu đâm mình vào cơn lốc của tuổi trẻ, không bao lâu chàng nổi tiếng nhất vùng là một tay ăn chơi.
Rồi mọi sự qua đi và chàng cưới một cô gái đẹp, có đôi mắt đen láy xinh hơn cả vị hôn thê cũ. Ai cũng nghĩ là chàng được hạnh phúc.
Đôi vợ chồng hưởng tuần trăng mật trong một ngôi biệt thự lộng lẫy, giữa sự chúc tụng cua bạn bè, bên bờ hồ Ponchartrain.
Bất ngờ làm sao: một hôm người ta mang đến cho chàng một phong thư tuồng chữ rất quen thuộc. Cuộc đối thoại trong phòng khách đang hồi hăng say, thích thú, chợt nhận ra nét chữ của người cũ, người đàn ông bàng hoàng. Tuy nhiên chàng cố trấn tĩnh và kiếm một cớ chính đáng để rút lui khỏi đám đông.
Vào đến phòng ngủ một mình, chàng xé lá thư ra. Than ôi! Chàng hiểu rõ mọi điều song quá muộn, không còn cúu vãn được gì: vị hôn thê kể cho Clare hay mọi âm mưu của người giám hộ nàng; ông ta muốn nàng thành hôn với con trai ông ta, nên sắp đặt kế hoạch chia rẽ hai người. Thoạt tiên họ thủ tiêu tất cả thư từ của Clare gửi cho nàng, ngăn chận những thư nàng gửi đến chàng... Nàng kể rõ nhớ nhung phiền muộn của nàng trong khi bặt tin chàng, nỗi chán nản cùng cực của nàng và cơn bệnh của nàng. Cuối cùng nàng khám phá được âm mưu của họ. Thư kết thúc bằng lời lẽ âu yếm, chân thành, đầy hứa hẹn. Clare rối loạn tâm thần, xót thương và ân hận không biết bao nhiêu. Nhưng chàng biết làm gì trước một việc đã rồi?
Clare nhức đầu dữ dội. Sau cùng, chàng gượng ngồi lên, viết thư cho nàng. Chàng viết là đã nhận được thư nàng và hết sức cảm động, nhưng muộn quá rồi. Chàng viết là chàng nông nổi đã tin vào những lời xảo quyệt của họ, đã bị họ lừa và trong lúc quá tuyệt vọng, chàng đã thành hôn với một người con gái khác, dù chàng biết nàng không bằng vị hôn thê của mình. Mọi sự đã an bài. Cách tốt nhất là đôi bên hãy cố mà quên nhau, đó là giải pháp hoàn hảo nhất, là cách giải quyết của những con người có lương tâm và biết trọng danh dự của mình.
Nhiều ngày qua, Clare nằm dài trên giường, gương mặt ủ dột như người đau nặng làm cho vợ chàng đâm lo lắng. Chàng xanh xao đến nỗi vợ chàng kinh ngạc mà thật ra, chàng nào có đau ốm chi đâu!
Đồng thời, ngày một ngày hai, người chồng nhận chân được bản chất thật của vợ mình. Nàng rất thông minh, và chỉ có một đức đó mà thôi. Người chồng nhận thấy vợ mình là một con người ích kỷ, keo kiệt, nhác nhờn kinh khủng. Vốn là con một của một gia đình tỉ phú, quen sống trong sự nuông chìu từ tấm bé, muốn gì được ấy, nàng trở thành yếu đuối, hay cau có, ưa bắt người khác quy lụy mình. Bước chân vào đời, nàng là hiện thân của một mẫu người da trắng giàu có miền Nam Mỹ nói chung: không có chút tư tưởng phóng khoáng và coi chế độ nô lệ là một điều tự nhiên, như thể trời sinh ra người da đen là để cho những kẻ như nàng sai khiến, hành hạ tùy thích. Nàng ngỡ là Clare rất hạnh phúc được làm chồng nàng. Thực ra, nếu nàng tế nhị một chút, nàng thừa sức để làm cho Clare quên người cũ một cách dễ dàng. Song than ơi! Bà Clare là một người không bao giờ biết cố gắng là gì, bà không quan tâm đến kẻ khác, dù cho kẻ khác là chính chồng mình. Quen hợm hĩnh từ thuở còn con gái, nàng cứ tưởng ai cũng phải chìu chuộng, để ý đến nàng hơn là nàng để ý đến họ, dù đó là kẻ thân yêu gắn bó mật thiết nhất trong đời nàng. Càng được cưng chìu, nàng càng đòi hỏi làm cho Clare đâm nản.
Rồi thì những xung đột nho nhỏ bắt đầu, những cuộc cãi vả, những cơn hờn dỗi liên tục giữa hai bên. Tuy vậy, bản tính hiền hòa và rộng lượng, Saint Clare cố gắng chịu đựng vợ. Cho đến khi người vợ sinh đứa con gái đầu lòng, một đứa bé xinh xắn dễ yêu thì tuy không yêu vợ như ý muốn, Clare cảm thấy rất sung sướng và dồn hết tình thương cho đứa trẻ.
Clare may mắn có một hiền mẫu có nhiều đức tốt nên chàng lấy tên mẹ đặt cho con gái, ông hài lòng mà nghĩ rằng sau này con bé sẽ giống như bà nội. Vợ Clare tỏ ra rất bất mãn về điều này. Tình thương yêu đậm đà của chồng dành cho con gái khiến cho người vợ bất bình, song chỉ ngấm ngầm thôi.
Sau khi làm mẹ, người đàn bà càng thêm tồi tệ: sức khỏe suy giảm, tinh thần kiệt quệ hơn do nếp sống nhàn dật, không hoạt động, ảnh hưởng đến sắc đẹp. Bà ta xanh xao, yếu đuối và càng gắt gỏng, khó chịu hơn bao giờ. Lúc nào bà ta cũng tự cho mình là người đàn bà khổ sở nhất trên đời, dù rằng bà có diễm phúc có một người chồng xứng đáng nhất và một đứa con xinh đẹp tựa thiên thần.
Suốt ngày, bà ta chỉ biết than thở, kêu ca và luôn luôn có cảm tưởng mình là người đau ốm triền miên. Một tuần lễ, bà ta tự nhốt mình trong phòng hết ba ngày vì chứng đau đầu tưởng tượng. Có lẽ bà đúng là hiện thân của câu nhàn cự vi bất thiện. Mọi việc nội trợ bà phó mặc cho đám tôi tớ, không bao giờ để mắt, mó tay vào.
Clare cảm thấy tình trạng thế này kéo dài rất bất lợi cho gia đinh, nhất là con gái ông lại có một tâm hồn nhạy cảm và vô cùng tế nhị. Ông e răng không ai chăm sóc nó về phần sức khỏe và hướng dẫn phần tình cảm cũng như sự giáo dục, nhất là sự thiếu thốn tình mẫu tử sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho con. Vì thế, ông quyết định đến Vermont, nơi ông đã sống suốt thời thơ ấu và nài nỉ chị họ ông, cô Ophélia Saint Clare về sống với gia đình ông.
Cô này, đã quá tuổi lập gia đình từ lâu, là con đầu lòng và là chị cả một gia đình đông con, ngay từ nhỏ đã hấp thụ một nền giáo dục chặt chẽ.
Đề nghị của Clare là cả một vấn đề quan trọng trong gia đình cô Ophélia. Ông cụ thân sinh cô, một cụ già tóc trắng như cước, trịnh trọng lôi trong tủ sách ra tấm bản đồ, xác định thật chính xác vị trí đường kinh tuyến cũng như đường vĩ tuyến và đọc kỹ cuốn “Cuộc phiêu lưu của Flint về miền Nam và miền Tây” để tìm hiểu nơi mà con gái mình sẽ đi đến trong một ngày gần đây.
Bà cụ vốn sùng đạo, thì có vẻ lo ngại, không ngớt dò hỏi xem đó có phải là một xứ toàn người hung bạo chăng? Cụ còn so sánh vùng này với hòn đảo Sanwich hay một vùng tương tự, không chút ngần ngại.
Vị mục sư, ông bác sĩ, cô Rabodi, chủ tiệm bán quần áo v.v... đều được Ophélia tham khảo ý kiến về chuyến đi với người em họ. Không bao lâu chuyện này được coi như một đề tài chính trong các cuộc đối thoại trong làng. Vị mục sư, người chủ trương giải phóng nô lệ thì cho là chuyến đi này rất đáng khuyến khích. Trái lại, ông bác sĩ có óc thực dân thì cho là sự có mặt của cô Ophélia sẽ chứng tỏ cho dân chúng thành phố Nouvelle Orleans biết rằng những anh em ở miền Bắc lúc nào cũng hướng về họ. Chính ông ta luôn luôn cho rằng cần ủng hộ miền Nam.
Ophélia vóc dáng cao lớn, góc cạnh, xương xẩu. Người gầy và sắc sảo, luôn luôn mím chặt môi như người phải có một quyết định dứt khoát trước một vấn đề nghiêm trọng chi đó. Mắt đen, sắc, lanh lợi, cô nhìn quanh khắp nơi như tuồng luôn luôn có một công việc gì chờ đợi sẵn để cô xếp đặt thứ tự, ngăn nắp. Cử chỉ cô rắn rỏi, cương quyết. Tóm lại cô là một người nhiều nam tính. Cô rất ít lời và chỉ nói khi cần nói mà thôi.
Ngăn nắp, thứ tự, đúng giờ giấc, tư cách chững chạc, đạo đức mà khô khan, đó là tất cả thói quen của con người cô. Khó mà lay chuyển cô, cô như một cái đồng hồ có bộ máy hoàn hảo hay cái đầu tàu xe hỏa.
Dưới mắt cô, tội lớn nhất, đầu mối của mọi tội lỗi là sự nhẹ dạ. Cô hay lạm dụng hai tiếng mâu thuẫn mà cô rất ghét trong những trường hợp ai phạm đến cái kỷ luật sắt thép cô đã vạch ra. Cô tỏ ý khinh bỉ hạng người ỷ lại, không làm nên một việc gì hay không ý thức được hành động của minh, không biết cố gắng để làm việc. Song cô không bao giờ biểu lộ sự khinh miệt thành lời nói mà bằng thái độ lạnh băng như đá, đối với hạng người này.
Trong cái đầu óc trong suốt và khó tính đó còn có một tâm hồn thẳng thắn, một cá tính mạnh mẽ, ưa hoạt động. Cô thuộc làu các sách giáo khoa xưa và sách lịch sử của nước Anh. Dù chỉ hiểu biết giới hạn trong một phạm vi nhỏ, tư tưởng cô thật mãnh liệt dứt khoát, căn bản đạo đức của cô được đúc kết y như những công thức rõ rệt. Dù là đối với bạn bè, quyến thuộc hay láng giềng, cách xử sự của cô luôn luôn nghiêm chỉnh như nhau. Nhung trên hết cô tuân theo một thứ lề luật hướng dẫn: lương tâm!
Ophélia đúng là một mẫu người chỉ biết làm nô lệ cho bổn phận. Cô luôn luôn chứng tỏ rằng dù con đường đi đến bổn phận quanh co hay đầy lửa, nước đi nữa, cô không bao giờ chùn bước. Để làm tròn bổn phận, cô sẵn sàng chịu vứt xuống giếng hay đứng trước họng súng thần công! Bởi quá nghiêm khắc độc đoán, ngay cả với chính mình nên cô không bao giờ được thành công, và luôn luôn bị điêu đứng vì sự bất lực của mình.
Bẩm sinh và tính nết như thế nên đời sống cô như bị phủ một lớp sơn đen.
Thật buồn cười: làm sao một con người khắc khổ như cô mà có thể hợp được với Saint Clare vốn vui vẻ, ưa hài hước, hoài nghi, không ưa giờ giấc, coi thường kỷ luật? Tóm lại, Saint Clare là con người hoàn toàn khác hẳn cô chị họ của mình.
Nhưng cô lại chịu về ở nhà ông ấy, là vì cô rất thương yêu cậu em trai này không khác chi em ruột của cô. Thuở nhỏ, chính cô đã săn sóc, dạy dỗ ông, kể cả dạy ông giáo lý, cô đã chăm sóc ông từng ly từng tí, cho nên cô không khắc khe với ông như với mọi người khác. Phần ông, qua bao nhiêu năm tháng, ông vẫn giữ nguyên tình cảm thương yêu đặc biệt, kính trọng cô chị họ độc thân này.
Ophélia tự coi mình có bổn phận phải về Orléans để coi sóc nhà cửa cho em trai, săn sóc cháu gái để tránh hậu quả xấu cho gia đình này vì sự quyết định bồng bột nhất thời của em: cưới một cô vợ không ra gì. Mỗi lần nghĩ đến gia đình em tan vỡ vì cô em dâu, Ophélia đau nhói tận tim. Dù rằng cô coi ông như kẻ ngoại đạo - một điều mà người như cô khó tha thứ - cô vẫn thương ông, tươi cười mỗi khi ông pha trò và tha thứ cho em trai một cách rất rộng lượng, đến nỗi chính cô cũng lấy làm ngạc nhiên vì sự mâu thuẫn của chính mình. Thì ra trong tim cô, hình ảnh cậu bé Saint Clare vẫn còn ngự trị.
Cô cũng rất yêu cháu, mà thử hỏi làm sao người ta có thể không yêu được một đứa trẻ ngoan, hiền, tốt như Eva!
* * * * *
Con tàu tiến tới chậm chạp như một quái vật mệt mỏi rẽ sóng, đổi hướng để tìm chỗ nghỉ ngơi, len lỏi giữa đoàn tàu đông đảo.
Trong khi đó, Eva vô tư, sung sướng khi nhận ra những mái nhà cao vút, những ngọn tháp, khung cảnh quen thuộc của thành phố nơi em sinh trưởng.
Họ sửa soạn rời tàu. Cảnh tượng hỗn loạn như thường thấy mỗi khi tàu cập bến. Bọn con trai khuân vác ùa xuống, người qua kẻ lại, tiếng mẹ gọi con, chồng gọi vợ, tiếng hỏi han, lời từ biệt vang lên ơi ới. Mọi người cùng tranh nhau đổ xô về phía tấm ván nối liền từ boong tàu đến đất.
Ông Clare chọn một thằng con trai lanh lẹn để thuê nó khuân hành lý lên xe sau khi chờ cho mọi người lên gần hết để tránh cảnh chen lấn. Ông cũng ra lệnh cho gã đánh xe khuân giúp hành lý với thằng con trai.
- Bác Tom đâu ba?
Eva nhìn quanh đang tìm kiếm. Người cha đáp :
- Chú ấy ngồi trong xe ngựa rồi. Ba muốn thay chú vào chỗ tên đánh xe vẫn hay say sưa làm lật xe ta.
- Con tin là bác ấy sẽ làm ba hài lòng, bác ấy không bao giờ uống rượu đó, ba! Con cam đoan à, ba!
- Thong thả... thong thả! Con gái cưng của ba đừng vội khen khi chưa thấy rõ.
Ông Clare vui vẻ bảo con.
Chiếc xe dừng lại trước một ngôi biệt thự cổ, kiến trúc nửa Pháp nửa Tây Ban Nha. Hiện nay ở Nouvelles Orléans vẫn còn vài kiểu nhà như thế. Mọi người băng qua cổng hình vòng cung và cái sân rộng bao quanh nhiều ngôi nhà nhỏ vuông vức, đó là kiểu sân của dân xứ Maure. Một dãy hành lang rộng bao xung quanh, cột trụ láng bóng, tất cả đều nhắc người ta nghĩ đến thời kỳ vàng son của nước Tây Ban Nha cai trị miền viễn tây. Chính giữa sân một cái vòi phun nước thành những tia bạc lóng lánh, bọt trắng xóa trong cái hồ lát bằng đá cẩm thạch, trên thành hồ là những luống hoa xinh xắn. Trong hồ nước trong vắt, hàng đàn cá vàng bạc lượn qua lượn lại tung tặng như những viên ngọc di động. Quanh hồ là một lối đi lát bằng đá hoa thành nhiều hình thù ngộ nghĩnh.
Một thảm cô rộng trông dịu mắt như một thảm lụa xanh. Dưới hành lang ngay lối đi, hai cây cam to lớn luôn râm mát và tỏa hương thơm ngào ngạt. Vòng tròn quanh thảm cỏ là những chậu bằng đá cẩm thạch trồng các loài hoa quý, hiếm có nhất của miền nhiệt đới. Nhiều cây lựu khổng lồ hoa đỏ chói, đỏ như lửa, rồi những cây hoa nhài Ả Rập với tàng lá xum xuê, với những bông hoa như những ngôi sao bạc, những cây hoa hồng tươi tốt, cây phong lữ thảo, cây mỹ nữ anh... Tất cả hợp nhau thành một vòm đầy hương sắc đặc biệt.
Một cây dừa rừng già cỗi, lạ lùng mọc ngay giữa đám cây lá rậm rạp như một chứng nhân của thời gian, nổi bật lên, cao vút như thể nhìn những thực vật khác từ dưới thấp ngoi lên, xanh tốt, sống và chết dưới chân nó, những loại thực vật có một số phận ngắn ngủi, tạm bợ.
Dọc theo dãy hành lang mênh mông đó, người ta may những tấm màn bằng loại vải xuất xứ tận Châu Phi để ngăn bớt ánh sáng mặt trời.
Eva sung sướng, vui vẻ hơn bao giờ hết, nom em như một sơn ca sắp sổ lồng. Em liến thoắng :
- Cô ơi! Cô trông nhà cháu có đẹp không?
- Đẹp! Đẹp lắm, cháu ạ! Nhưng theo cô nó có vẻ... hơi xưa xưa và... ngoại đạo...
Ophélia vừa trả lời cháu vừa bước xuống khỏi xe. Tom thì nhìn quanh với vẻ bình thản, song trong lòng cảm thấy thích thú ít nhiều. Clare, chủ nhân ông là mẫu người bay bướm, lãng mạn. Ông ta mỉm cười khi nghe ý kiến bà chị họ và rồi bắt gặp ánh mắt khâm phục của tên nô lệ mới, ông quay sang Tom vui vẻ :
- Thế nào, bạn? Hài lòng không?
- Thưa ông, tôi rất sung sướng được về đây!
Mớ hành lý cồng kềnh được khuân xuống ngay sau đó. Đám đông tôi tớ da đen thuộc đủ mọi lứa tuổi: già có trẻ có, đàn ông, đàn bà và con nít từ nhà trên, nhà dưới, chuồng ngựa, nhà bếp túa ra để mừng òng chủ và cô bé trở về.
Cầm đầu đám đông là Adolphe, một gã da đen trung niên với bộ quần áo hơi quá phận khiến gã ta nổi bật lên. Thật vậy: nổi bật, vì gã đã mặc nhầm bộ quần áo của ông chủ (được ông chủ rộng lượng, gã hay lầm lẫn cái gì của chủ thành của mình luôn mà không bị trừng phạt gì cả). Nom dáng bộ gã thật khó mà giữ vẻ nghiêm chỉnh: gã vây vẫy cái khăn tay tẩm đầy nước hoa, dáng bộ yểu điệu như một phụ nữ làm duyên (nhưng rất vô duyên).
Rồi với vẻ nóng nảy, gã đẩy dồn hết đám tôi tớ vào tận hành lang :
- Lùi vô! Tất cả lùi vô. - Giọng gã đầy uy quyền - Bộ mấy người tính làm rộn ông chủ ngay lúc ông vừa đặt chân về nhà còn đang nhọc mệt sao, sao ngu vậy? Phải ý tứ chớ?
Ý thúc được câu nói có lý này, bọn nô lệ lùi ra, giữ một khoảng cách cần thiết, trừ hai tên lực lưỡng nhất có phận sự chuyển hành lý. Nhờ sự nhậm lẹ của Adolphe, sau khi trả tiền cho phu xe xong, quay lại, ông chủ chỉ còn thấy một mình Adolphe với cái áo xa tanh của ông, cái quần trắng muốt, cổ lủng lẳng sợi dây chuyền vàng chóe. Hắn chào chủ, trịnh trọng và cảm động.
- A! Adolphe đấy ư? Sao? Ở nhà mọi việc trôi chảy cả chứ?
Ông chủ hỏi vừa đưa tay cho hắn nắm (quả là ông chủ này rất bình dân!).
Àdolphe gãi đầu, gãi tai, trả lời :
- Thưa ông chủ, mọi việc hoàn hảo, rất hoàn hảo!
- Ồ! Vậy thì tốt lắm. Này, đợi chút nghe, tôi sẽ trở lại ngay.
Ông nói và đưa cô Ophélia vào phòng khách.
Eva thì băng qua hành lang và phòng khách, bước vào một phòng khác, nơi đó mẹ em cao lớn và xanh xao với đôi mắt đen láy đang nửa nằm, nửa ngồi trên giường ngủ.
- Mẹ! Con về này!
Eva sung sướng lao tới như một luồng gió ôm chặt mẹ, kêu lên và hôn bà tới tấp.
Để đón con gái độc nhất và thân yêu, người mẹ ôm hôn lại con với dáng bộ uể oải, mệt nhọc - bà ta luôn luôn tỏ ra mệt nhọc - miệng nói :
- Thôi, thôi! Đủ rồi, con gái của mẹ! Con sắp làm mẹ đau đầu đây.
Clare cũng vừa vào, ông bước đến ôm hôn vợ theo đúng phép lịch sự về tình nghĩa vợ chồng rồi giới thiệu cô Ophélia với bà ta. Bà vợ mở to mắt nhìn kẻ lạ với vẻ soi mói và chào cô một cách miễn cưỡng.
Đám tôi tớ túc trực đầy ở thềm cửa. Giữa đám người ấy và trên hết là Mammy, một phụ nữ da đen cỡ bốn mươi, có vẻ sung sướng và rất xúc động vì sự trở về của Eva.
- Vú Mammy!
Cô bé la lên mừng rỡ, chạy ra khỏi phòng và cũng lao vào bà ta như lao vào mẹ, nhưng Eva được bà đón tiếp một cách âu yếm, quý mến hơn nhiều: bà ta ôm chặt cô bé, cười mà nước mắt lưng tròng. Nom cái cách bà ôm ghì Eva, người ta có thể nghĩ là bà đang ôm giữ một báu vật quý giá nhất. Rồi cũng đến lúc bà ta phải buông cô bé và cô đi đến từng người một, đưa tay cho người này, ôm hôn người khác khắp một lượt, hết cả đám tôi tớ bu quanh.
Cô Ophélia đứng sững nhìn cháu, cô không thể tin được cử chỉ thân mật của cô bé dành cho đám nô lệ da đen, cô hết sức ngỡ ngàng và cô phàn nàn :
- Chao! Trẻ con ở miền Nam dám có những hành động kỳ quặc mà ngay chính tôi, tôi chưa từng có.
- Ý chị muốn nói gì, hở chị Ophélia?
- À, à... tôi muốn nói là tôi luôn luôn cố gắng xử tốt với tất cả mọi người, với cả nô lệ, tôi không bao giờ làm hại ai, tuy nhiên, ôm hôn... hôn...
Cô ngập ngừng không thể nói hết, Saint Clare cười :
- Ý chị muốn nói là không nên hôn nô lệ da đen chứ gì?
- Phải, không hiểu sao con bé lại... thế?
Clare chỉ cười trước sự ngạc nhiên và có hơi khó chịu của Ophélia. Ông quay sang phía đám tôi tớ, gọi to :
- Nào! Các bạn! Có mặt đủ cả chưa? Mammy? Jenny? Polly? Sukey? Các bạn vui mừng gặp lại ta chứ? Lại đây, lại đây...
Ông chủ vui vẻ đến gần từng người một, siết chặt tay họ, thỉnh thoảng lại kêu lên trong lúc mắt dòm chừng và chân hất nhẹ vào một đứa bé da đen bò lê bên cạnh ông :
- Coi chừng chứ các bạn! Coi chừng kẻo tôi dẫm nhằm lũ trẻ.
Khắp hành lang vang dội những lời chúc tụng và tiếng cười vui vẻ. Ông chủ phân phát cho đám tôi tớ những đồng tiền nhỏ, không sót người nào.
- Thôi, giờ các bạn đi làm việc nhé?
Đám đông tản mác dần, theo sau là Eva, tay xách cái giỏ nặng, to lớn, chất đầy hạt dẻ, trái táo, những vải băng, vải ren và vô số đồ chơi nhỏ, lỉnh kỉnh mà em mua suốt cuộc hành trình, chia cho họ.
Khi ông chủ quay lưng lại, ông bắt gặp Tom đang đứng thẳng bong, có vẻ bực bội trong lúc Adolphe khinh khỉnh tựa vào cái cột nhìn ngắm Tom với vẻ diễu cợt, dáng bộ rất là... kẻ cả. Công bình mà nói, Adolphe có vẻ của một công tử bột, diện kẻng, hợp thời trang! Và xui xẻo cho hắn vì cử chỉ kiêu ngạo của hắn đối với tên nô lệ mới làm ông chủ bất bình - dù ông vốn dễ dãi - cùng một lúc, ông nhận ra cái áo hắn đang mặc, ông quát lên :
- Adolphe! Anh xử sự với bạn mới kiểu đó hả? Anh học ai vậy chứ? Tôi là chủ anh đây, tôi có xử sự như thế bao giờ chưa?... Mà này, anh lại lấy áo tôi mà mặc nữa đấy ư?
Ông sờ tay vào cái áo đo đỏ. Adolphe vội chống chế :
- Thưa ông chủ, cái áo bị dính rượu nho giặt hoài không sạch. Một người sang trọng, quý phái như ông chủ không thể mặc một cái áo có vết bẩn, nó chỉ đáng dành cho hạng tôi tớ da đen.
Vừa nói, hắn vừa đưa tay vuốt mái tóc có tẩm dầu thơm, điệu bộ rất... tuồng. Thế là Clare nguôi giận :
- Thôi được! Lần này ta bỏ qua cho. Đây, ta đưa Tom lên trình diện với bà rồi sau đó anh đưa Tom xuống nhà, nghe chưa? Nên nhớ là Tom đáng giá gấp đôi anh đó, nghe chưa!
- Ông chủ giỡn hoài - Adolphe cười rộ lên, không chút e dè - Tôi rất mừng thấy ông chủ vui vẻ như vậy, thưa ông.
* * * * *
Saint Clare dắt Tom vào phòng khách. Tom lặng lẽ chiêm ngưỡng những tấm thảm mịn như nhung mà Tom biết là rất đắt tiền, rồi những tấm kính soi mặt, những bức tranh lụa, những bức tượng, những tấm màn treo. Tom thận trọng bước, gần như chân không chạm đất.
Clara bảo vợ :
- Marie này! Anh đưa về cho em một người đánh xe đây, hắn rất đáng tin cậy, hắn sẽ dong xe cho em đi khắp nơi thật an toàn, vì hắn không bao giờ uống rượu, anh biết em ao ước có một người đánh xe như vậy phải không? Em hãy nhìn hắn xem nào! Anh không quên em trong thời gian đi xa, thấy không?
Bà vợ nhìn Tom chăm chăm :
- Em chắc hắn cũng... cũng là bợm nhậu cho coi.
- Không. Anh dám chắc, là không. Người ta bảo đảm với anh điều này, Tom là người điều độ và đạo đức.
- Em cũng mong như thế, nhưng chưa dám cả tin.
- Adolphe! Đưa Tom xuống và nhớ những gì tôi dặn, nghe chưa?
Ông chủ gọi Adolphe, hắn bước lại tức thì, dáng bộ yểu điệu đưa Tom theo sau hắn.
- Trông hắn có sức khỏe nhỉ?
Marie nói với chồng. Saint Clare bảo vợ :
- Marie! Em hãy tỏ ra vui vẻ xem nào! Em không vui khi thấy anh về sao?
Ông chồng nói và ngồi xuống trường kỷ.
- Anh mới đi có hai tuần mà em ngỡ như lâu lắm...
- Đúng vậy, và anh có viết thư cho em, kể rõ lý do tại sao anh về trễ, em biết mà.
- À, lá thư... Lá thư ngắn mấy hàng đó hở, lá thư lạnh ngắt ấy hở?
- Người đưa thư vội vàng quá, anh chỉ kịp viết bấy nhiêu, em phải thông cảm.
- Với anh thì luôn luôn như vậy - Marie mai mỉa - anh luôn luôn tìm cách rút ngắn thư từ và kéo dài chuyến đi...
- Em lầm rồi...
Ông chồng nói và rút từ túi ra một cái hộp bọc nhung xinh xắn, mở nắp :
- Anh mang quà về cho em đây!
Đó là một tấm ảnh sáng và rõ như được chạm khắc hình hai cha con Clare, tay trong tay có vẻ âu yếm.
- Quà tận New York đó nghe!
Clare nói nhưng vợ ông nhìn tấm ảnh với vẻ hờ hững và như bất bình nữa :
- Ai mà chụp hình tệ đến thế này?
- Trời ơi! Em không biết gì hết, em nhìn kỹ đi: có phải giống cha con anh như đúc không?
- Anh đã ngăn em phát biểu ý kiến thì còn hỏi em làm chi?
Người vợ cau có nói và đóng sập nắp hộp lại. Clare hết sức bất bình, song cố nén, ông nghĩ thầm: “thứ đàn bà ác độc, ích kỷ” và hỏi lại :
- Nhưng em công nhận là hình cha con anh giống nhau chứ? Dù em có chê xấu đì nữa, em cũng...
- Cho em được yên thân chút coi nào! Cứ bắt em nhìn, em nói đến mệt. Anh biết em bị nhức đầu mà từ lúc anh về đến giờ, tiếng ồn làm em gần điên đầu luôn.
- Mợ bị chứng nhức đầu kinh niên hay sao thế?
Cô Ophélia nhổm lên khỏi lòng chiếc ghế bành - từ nãy giờ cô mãi ngắm nghía mọi vật bày biện trong nhà với vẻ thán phục - hỏi em dâu.
- Ôi! Em khổ vì chứng này, em như kẻ tử vì đạo vậy, chị ơi!
- Không đến nỗi đâu, uống nước trà pha với nước lá đổ tùng sẽ bớt, mợ ạ! Tôi quen một bà y tá, bà cho biết kinh nghiệm bản thân về thứ lá này đấy.
- Tôi sẽ cho hái lá đổ tùng ở vườn, gần bờ hồ để sắc cho nhà tôi dùng.
Người chồng nói và sốt sắng rung chuông, đoạn bảo Ophélia :
- Chị nên về phòng riêng nghỉ cho khỏe.
Ông bảo Adolphe đi gọi Mammy. Chị ta bước vào, mái tóc vừa được Eva trang điểm cho bằng một dải băng vàng rực.
- Mammy ơi! Đưa cô về phòng và thu dọn mọi thứ cho vừa ý cô, nghe!
Mammy lễ phép vâng lời, cùng đi ra với Ophélia.

0
Chương 13
 
Trong phòng ăn, người chồng ôn tồn bảo vợ :
- Này Marie! Anh tin là từ nay em sẽ được sung sướng: chị Ophélia sẽ gánh cái gánh nặng nội trợ thay em, chị là một phụ nữ đảm đang, hoạt động và khỏe mạnh. Chị sẽ giúp em nhiều lắm đấy! Em sẽ khỏi những lo phiền vụn vặt làm cho em già và xấu đi. Em bằng lòng nhé!
Marie gục đầu vào giữa lòng bản tay, uể oải đáp lời chồng :
- Sự có mặt của chị lúc này thật quý hóa đối với em, nhưng em e không bao lâu chị ấy sẽ nản, sẽ cũng như em, vì nhận ra chủ nhân ở tại đây không phải là người da trắng mà là bọn tôi tớ da đen.
- Em cứ để chị ấy tự nhận thức theo quan điểm chị ấy chứ, chị sẽ còn hiểu thêm nhiều điều khác, chị đâu kém thông minh?
- Thiên hạ trách ta duy trì chế độ nô lệ, làm như điều này đem lại cho ta nhiều lợi lộc, nhưng nếu ta không độ lượng, ta đã bán sạch chúng từ lâu rồi.
Eva nhìn chăm châm khuôn mặt mẹ mình với đôi mắt trang nghiêm mở lớn, cô bé hoàn toàn mù tịt về lời mẹ, em hỏi :
- Mẹ ơi, sao ta lại phải giữ họ, để làm gì, hở mẹ!
- Mẹ cũng không hiểu nổi... vì nỗi bất hạnh của gia đình này. Vì chính họ là nỗi bất hạnh của mẹ. Chính bọn chúng là nguyên nhân gây nên sự suy giảm sức khỏe của mẹ đấy. Bọn nô lệ nhà này là bọn tồi tệ nhất, không ai chịu...
- Marie! Sáng nay em có vẻ bi quan thái quá rồi đó. Em nói hơi quá sự thật. Coi như Mammy đó thì biết, nó không là một người hầu tận tâm nhất với em sao! Em sẽ ra sao nếu thiếu nó bên cạnh?
- Em đồng ý... nhưng có những điều anh không biết rõ về nó: lúc nào nó cũng nghĩ đến chồng con nó. Nó ích kỷ giống tụi da màu của nó.
- Ồ, tưởng gì, nghĩ đến chồng con mà là ích kỷ sao? Em nói đến hay!
- Em đã nói anh chưa biết rõ nó mà, nó ngủ mê lắm. Nó biết là em cần nó từng giờ, từng phút chứ gì? Mà nó chỉ biết ngủ, ngủ, ngủ như heo. Em thì bị đau nhức toàn thân, mà phải đánh thức nó... Ôi chao! Chỉ vì vậy mà sáng nay em mệt lử như thế này này...
- Con biết là vú đã thức nhiều đêm hầu mẹ.
- Ai nói với con điều này? Nó phàn nàn với con chứ gì!
- Thưa mẹ, không. Vú không phàn nàn gì cả, vú chỉ kể cho con biết mẹ trải qua những cơn đau nhức như vậy nhiều đêm, chứ không có ý phàn nàn đâu, mẹ ạ!
- Anh nghĩ là em nên sai một đứa khác thay phiên với nó, cho nó được ngủ, chứ bắt nó thức hoài... Con Jane hay con Rosa chi đó, được không? Chúng thức hầu em vài đêm chúng sẽ rút lui ngay, anh biết không đứa nào được như Mammy đâu, em thì cứ chê...
- Làm sao mà anh có thể đề nghị cách này? Thật anh không thèm suy nghĩ gì cả. Em thì yếu đuối, gió thổi cũng xiêu, em làm sao chịu được một bàn tay lạ săn sóc em? Em chỉ quen với con Mammy thôi. Đáng lẽ nó phải tận tâm với em và nếu nó được như vậy, nó thức rất dễ dàng. Nhiều người có tôi tớ thật trung tín, em thì... em bạc phước quả.
Bà vợ khó tính thở dài đánh sượt một cái chấm dứt lời than phiền. Cô Ophélia lắng tai nghe cuộc đối thoại giữa đôi vợ chồng một cách chăm chú, môi mím chặt, dáng bộ tựa như một chiến sĩ đang thăm dò địa thế trước khi tấn cống. Marie phân bua với chị chồng :
- Dĩ nhiên là con Mammy nó hiền lành, giỏi giắn, siêng năng, nhưng dù gì đi nữa, nó vẫn ích kỷ lắm lắm. Lúc nào nó cũng hướng đầu óc về phía con nó và chồng nó. Hồi em thành hôn, em bắt nó đi theo hầu em, còn chồng nó thì ba em giữ lại, vì thằng kia là tay thợ rèn giỏi lắm, ba em cần nó. Em đã giảng giải nhiều lần rằng nó đừng nuôi cái hy vọng hão huyền được gặp chồng con vô ích, hãy coi như bọn ấy chết rồi. Em sẽ kiếm cho nó một thằng chồng khác, vậy là yên. Nào có ngờ đâu, con quỷ cứng cổ không thèm nghe lời em. Con đó ghê lắm, chị ơi!
- Trung thành là một đức tốt. Chị ta có mấy đứa con?
- Hai đứa, chị ạ!
- Cuộc sinh ly này chắc làm chị ta khổ lắm. Sao mợ không nghĩ đến việc cho con theo mẹ?
- Sao được? Chúng sẽ chiếm hết thì giờ của mẹ chúng, vả lại chúng là hai đứa da đen dơ bẩn, chịu gì nổi? Con mọi này lúc nào cũng ngấm ngầm chống đối em về chuyện xa con, nó không chịu lấy ai cả. Em biết rằng ngay giờ đây, dù nó biết em rất cần nó, nhưng nếu có thể là nó bỏ về với con không do dự một giây. Quân bạc bẽo, phản trắc! Thời buổi này không có sự trung thành, chị ơi!
- Điều này không nên quyết đoán. Anh không tin!
Giọng người chồng có vẻ bất bình, phẫn nộ song cố nén, cô Ophélia nhìn em trai và thấy ông nở nụ cười có vẻ châm biếm. Marie kể lể :
- Em thương nó nhất đó, chị ơi! May sắm cho nó toàn tơ, lụa, vải mịn thượng hạng. Có khi em ngồi may cho nó cái mũ nữa chứ. Em đối xử vậy còn gì nữa. Chưa bao giờ em đánh nó một roi. Nó được uống café, đưởng trắng, trà... Ông chồng em muốn như thế đấy, ông bảo phải xử tốt với tôi tớ, mà tốt quá lố đi, chị ơi! Ông ấy để chúng tự tung tự tác, muốn gì làm nấy. Thật ra cũng tại anh ấy, chị ạ! Anh làm như chúng là những đứa con cưng ấy thôi. En thật quả nhức đầu vì nhắc đi nhắc lại hoài điều này với anh ấy mà anh không đổi tính.
- Và tôi, tôi cũng nhức đầu lắm đó, thưa bà!
Clare chen vào một câu và với lấy tờ báo đọc để khỏi tranh luận dài lời.
Eva nhẹ nhàng đến gần mẹ, choàng tay qua cổ mẹ, với bản tính hay suy tư và tốt bụng, em ấu yếm nhìn mẹ vẻ khẩn khoản. Marie hơi ngạc nhiên :
- Eva, con muốn gì đây?
- Thưa mẹ, con muốn được thức hầu mẹ một đêm, một đêm thôi, được không mẹ? Con chắc là con không làm mẹ bực mình và con không ngủ gục đâu. Mẹ chưa biết: có nhiều đêm con không ngủ được, con suy nghĩ...
- Eva! Bộ con điên hở? Con thật... khác người...
- Mẹ cho phép con chứ? Con biết là vú Mammy không được mạnh. Vú nói với con là mấy lúc nay vú bị đau nhiều ở đầu... Tội nghiệp vú!
- Chà! Đau đầu! Thật đúng là thối xấu của giống da đen: mới thức đôi chút đã kêu đau. Không được! Không thể khuyến khích chúng về điều này. Không bao giờ! Ở nhà tôi, đây là một nguyên tắc phải theo.
Marie quay sang chị chồng :
- Rồi chị sẽ thấy điều cấm đoán này cần thiết. Nếu để chúng tự do phàn nàn thì không bao lâu chúng sẽ đau đủ thứ, kêu van đủ thứ, nghe không xuể. Tôi đây, tôi có bao giờ phàn nàn đâu? Có ai biết tôi đau không? Theo tôi nghĩ, ta phải biết cắn răng chịu đau, không nên ta thán gì hết, đó là bổn phận, và tôi đã làm thế.
Ophélia đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác, nhưng câu sau cùng của bà em dâu mới thực làm cô sửng sốt. Nó mâu thuẫn làm sao! Clare thì bật lên cười lớn. Marie uất lắm, bà ta cất cái giọng của tên tử tội sắp lên đoạn đầu đài :
- Đó, chị coi: anh ấy cứ cười kiểu đó, mỗi khi em nói đến chuyện đau ốm. Rồi đây, em hy vọng là ảnh sẽ phải hối hận vì thái độ ảnh.
Nói xong, Marie đưa khăn lên lau mắt, vì bà... khóc.
Gian phòng trĩu nặng vì bầu không khí căng thẳng khó chịu. Clare đứng lên, nhìn đồng hồ để có cớ rút lui. Eva chạy theo cha. Còn lại hai phụ nữ, Marie vừa cất khăn tay vừa nói :
- Chồng em như thế đó, anh không bao giờ chịu tìm hiểu về nỗi đau đớn mà em phải chịu đựng trong bao nhiêu năm trời nay. Kể ra ảnh vô tâm cũng có lý vì em không bao giờ kêu ca gì hết. Em cam chịu, em tha thứ hết...
Ophélia hết sức bối rối. Trong khi cô im lặng suy nghĩ thì Marie lại lau nước mắt đoạn bắt đẩu cà kê về vấn đề nội trợ, về những bộ đồ sứ đắt tiền, về thức ăn, nhà cửa, về tất cả như thể bà muốn giao hết cho Ophélia quyền điều khiển và trách nhiệm. Bà ta đưa ra nhiều ý kiến, những điều quan sát, những lời dặn dò. Cũng may, cô Ophélia vốn là một người có óc tổ chức và thứ tự, nếu gặp người lơ mơ chắc không sao lĩnh hội nổi hết mọi điều.
- Bây giờ, em đã cho chị biết hết mọi sự, kể từ đây, chị có thể toàn quyền hành động, không cần đến ý kiến em. Em đau yếu thường xuyên, em không có sức khỏe, chị biết đấy! Em xin chị một điều này: chị để ý dùm cháu Eva. Ta phải châm sóc nó chu đáo.
- Cháu rất ngoan, tôi tin nó là đứa tốt nhất sau này. Tôi chưa từng gặp một đửa nào thông minh, có lòng như nó, vào tuổi ấy mà biết...
Lần đầu kể từ lúc ngồi trò chuyện với em dâu, Ophélia tỏ ra vui vẻ.
- Nó thật lạ, lạ hết sức, Nó có vẻ bất thường, nó chẳng giống em lấy một ly.
Lại thở dài não nuột, vì người mẹ đã nói ra sự thật làm tổn thương tự ái mình. Ophélia cũng cố gắng để khỏi nói lên một nhận xét vừa nghĩ: “Tôi, tôi cũng hy vọng là nó đừng giống mẹ nó”.
Bây giờ, người đàn bà ấy hết than phiền chồng, lại than phiền con :
- Con bé kỳ lắm, chị chưa biết rõ đó: nó quý bầy nô lệ da màu lắm kia. Dĩ nhiên, trẻ con nào mà không thích bè bạn, hồi em còn nhỏ em cũng đùa nghịch với tụi tôi tớ da đen đấy chứ. Nhưng mà không có nghĩa là thân mật quá mức. Eva thì khác, nó coi nô lệ ngang hàng với nó, em cố gắng mà không thể nào khuyên răn nó được.
Em nghĩ chắc là tại cha nó một phần lớn, chính anh ấy đã khuyến khích nó coi trọng tụi da màu. Anh ấy làm hỏng hết, hỏng hết, chỉ trừ... em thôi.
Ophélia vẫn giữ im lặng, cách biệt. Marie cao giọng thêm :
- Em biết có hai cách đối xử với bọn tôi tớ da đen: phải tỏ cho chúng thấy sự thấp kém của chúng và phải áp dụng kỷ luật chặt chẽ, không thể buông lỏng như Clare nhà em. Từ nhỏ em đã biết cách điều khiển bọn nô lệ, nhưng nhà em thì... em không hiểu rồi đây lớn lên, con bé sẽ làm sao xoay xở với một bầy nô lệ nhát nhờn, cứng cổ? Phải có ngôi thứ phân minh chứ. Em không nói quá đâu, chị nghe vừa rồi nó xin em thức thay Mammy chứ? Nó muốn cho Mammy được ngủ yên, chị thấy không? Đó là dấu hiệu báo trước những gì nó sẽ làm lúc trưởng thành.
Không thể im lặng nữa, bà chị chồng lên tiếng :
- Mợ Marie này, tôi nghĩ rằng nô lệ cũng là người như ta và họ cũng có quyền nghỉ ngơi khi mệt chứ?
- Dĩ nhiên rồi. Em có nói cấm chúng nghỉ đâu? Nhưng em muốn sự hợp lý. Đằng này con Mammy thì ngủ lúc ngồi, lúc đứng, lúc đi, bất cứ lúc nào, đang làm việc cũng ngủ. Ngủ nhiều cũng nguy hiểm chứ? Ôi chao! Anh Clare coi nô lệ như thể là các bông hoa quý, như cây sứ Trung Hoa ấy, có kỳ không?
Người đàn bà ngừng lại, thò tay xuống gối lấy ra một lọ thủy tinh nhỏ xinh xắn, rồi lè nhè tiếp giọng như ngọn gió rì rào thổi giữa hàng cây lài Ả Rập ngoài sân :
- Chị ơi, em không bao giờ kể lể gì về em, vì em không thích. Thái độ anh Clare ảnh hưởng tai hại đến sức khỏe em. Anh ấy không chìu em, em khổ sở bao nhiêu. Em đành phải tự an ủi là anh vô tình chứ cũng quý em. Nhưng chị ơi! Đàn ông họ ích kỷ lắm nhé. Em biết mà, em biết...
Ophélia với bản tính thận trọng cố hữu của người dân Nouvelle Angleterre, lại độc thân nên mù tịt về những nỗi khó khăn của gia đình; phần thì nghĩ đến trách nhiệm mình trong những ngày sắp đến, cô giữ vẻ thản nhiên lấy chiếc vớ (bao giờ cũng mang theo mình), tiếp tục đan để tránh những giờ nhàn rỗi cô cho là tai hại. Vừa chăm chú đan, cô vừa nghĩ thầm: “Mợ đừng hòng tôi mở miệng, vì tôi thấy không nên chen vô chuyện riêng của mợ. Mợ bảo là mợ chịu đựng, mợ không than phiền, nhưng mới tới mà tôi đã nghe tràn cả hai tai”. Người tế nhị một chút đã nhận ra ngay cái vẻ tượng đá trên mặt cô, song Marie thì không, bà ta vớ được người để kể lể, buông tha sao được? Có người để nghe bà là đủ rồi. Vừa hít hít cái lọ sau khi mở nút, bà ta nói :
- Chị ơi! Em đã giao cho nhà em tất cả của cải và dám nô lệ của em. Em có quyền sai khiến chúng như ý muốn chứ? Anh ấy có gia tài và nô lệ riêng, anh muốn làm gì tùy ý, còn của em... Anh gieo vào đầu óc chúng những tư tưởng ngông cuồng. Có khi, em có cảm tưởng là anh ấy đặt chúng ngang hàng với chủ nhân, nếu em không nói là hơn cả chủ nhân. Đồng ý là anh ấy rất tốt... Anh ấy quyết định cấm dùng roi vọt, dù công việc có ra sao đi nữa. Cấm cả em trừng phạt chúng bằng cách này. Anh ấy ra lệnh thế đấy, làm sao em cãi được. Anh ấy tuy hiền lành nhưng đã ra lệnh thì... Trời! Em khổ, em điên, em đau ốm vì bọn nô lệ này, vì nhà em... Em chịu đựng quá sức rồi...
- Nhờ ơn Chúa, tôi không hiểu chi cả về những điều mợ than phiền.
- Có thể thế. Nhưng rồi đây chị sẽ hiểu và sẽ trả giá rất đắt nếu chị ở lại đây lâu lâu. Chị sẽ thấy sự vô ơn, kỳ quái, khiêu khích ở con người ấy.
Thật y như có phép lạ, Marie nói không biết mệt, bà mở to mắt quên phắt rằng mình đang kêu đau ốm, nhọc mệt :
- Chị sẽ thấy bọn nô lệ bắt chủ chịu đựng hàng ngày, hàng giờ. Mà động chị có than phiền, ảnh sẽ nói là tại mình, là lỗi ở minh, và trừng phạt họ là bất công, là chúng ta đã tỏ ra không xứng đáng, không nên trách chúng. Em đã nói là ảnh coi nô lệ ngang hàng mà!
- Mợ có khi nào nghĩ rằng Chúa sinh ra họ cũng như chúng ta không? Họ cũng có thứ máu đỏ...
- Em chắc là Chúa không thể làm vậy đâu, chị ơi! Bọn da màu thấp hèn hơn ta, chắc chắn vậy.
- Mợ có nghĩ là họ có linh hồn không? Và linh hồn họ cũng bất tử chứ?
Người chị họ không nén giận nữa, gằn giọng hỏi. Marie trả lời sau khi ngáp dài :
- Dĩ nhiên họ có linh hồn, nhưng đặt linh hồn chúng ngang hàng với linh hồn chúng ta thì là chuyện không thể có được. Chồng em cứ cho là tách rời vợ chồng Mammy cũng như chia rẽ em với ảnh. Em nhiều lần giải thích là có sự khác nhau không thể so sánh như thế được, mà ảnh không nghe, không tin em. Anh còn dám nói là tình thương của Mammy đối với con nó cũng như tình thương của em dành cho Eva! Con nó, những đứa trẻ da đen bẩn thỉu đó! Ảnh ngoan cố lắm, cứ nằng nặc bắt em trả Mammy về với chồng nó, kiếm đứa tớ gái khác hầu em. À, cái gì thì em còn nhân nhượng chứ điều này thì quá lắm, em đâu chịu được? Lố bịch quá đi! Em không hay biểu lộ tình cảm ra mặt, em gắng chịu đựng trong im lặng, nhưng lần đó, em phát khùng lên, và anh ấy phải chịu thua em. Nhưng tận giờ đây, em hiểu rằng anh ấy không bao giờ đồng ý với em, cứ nhìn ánh mắt, cử chỉ và những lời bóng gió của anh ấy là hiểu ngay. Anh cố chấp dễ sợ.
Ophélia cố hết sức để khỏi nói ra lời, vì cô muốn giữ hòa khí với em dâu. Hai cây kim đan thoăn thoắt tới lui trong tay cô một cách hối hả, gấp rút như muốn biểu lộ tất cả bất bình dồn nén. Nhưng Marie vẫn tiểp tục lải nhải :
- Trong ngôi nhà này, nô lệ muốn gì được nấy, trừ lúc nào em khỏe, có khi em khỏe như bò ấy, chị ơi! Trời ơi! Giá mà Clare chịu làm như vài người khác.
- Mợ muốn cậu ấy làm gì nào?
- À, gửi chúng đến Calebasse hay bất cứ chỗ nào mà người ta dùng roi vọt trị chúng. Nếu em mà không kém sức khỏe coi! Em còn hành động cứng rắn gấp đôi anh ấy.
- Cậu ấy hành động cứng rắn như thế nào? Mợ vừa bảo cậu không bao giờ đánh đập nô lệ?
- Vâng, không bao giờ, nhưng đàn ông có cách riêng chứ chị. Chị chưa biết rõ ảnh, khi ảnh nổi giận lên, mắt ảnh như rực lửa. Em, em còn phải sợ thay! Khi đó, bọn nô lệ biết là phải tuân lệnh ảnh răm rắp. Với anh ấy thì chỉ một tia mắt, còn với em thì là một trận đòn. Bọn nô lệ không dám ồn ào khi ảnh cáu lên. Nhưng với em, bọn nô lệ mà không đánh đập thì làm sao dạy được? Chúng dữ tợn, giả dối, làm bơ làm biếng, đủ, đủ tật xấu.
Clare vừa bước vào, ông lên tiếng :
- Đó, lại bài ca cũ rích của em, cứ theo em thì chúng hội đủ tật xấu? Đây rồi ra trước tòa phán xét, chắc sẽ khủng khiếp lắm. Chao! Cái tội lười biếng của bọn nô lệ! Này chị Ophélia ơi! Chị có thấy vợ chồng em làm gương xấu cho bọn tôi tớ không?
Giọng trêu chọc, Clare nói và ngả người trên tràng kỷ, trước mặt vợ.
- Anh thì chỉ được cái độc ác không ai bằng.
- Thật ư? Anh tưởng là anh dựa trên nhận xét của em đấy chứ.
- Lại chọc tức em phải không?
- Thôi đi, Marie! Trời nóng quá rồi. Anh mệt vì thằng Adolphe. Em nên để cho anh được nghỉ ngơi bên nụ cười dịu dàng của em một chút, được không?
- Chuyện gì xảy ra về thằng Adolphe? Cái thằng hỗn láo đó, em không chịu nổi, tại anh dung túng nó quá chứ gì? Anh cứ để nó cho em, em sẽ trị thẳng tay, không có lôi thôi gì hết. Sao? Chuyện gì, anh thử nói em nghe coi!
- Ôi thôi, thật buồn cười. Suốt ngày nó học điệu bộ cử chỉ của tôi, càng lúc càng quá lố, thậm chí nó dám lấy áo quần của tôi mà mặc, ăn cắp cả nước hoa, tẩm vào người thơm ngát. Khăn tay của tôi, nó lấy cả tá, lại còn khoe khoang với bọn kia đủ thứ, y như một ông chủ... con.
- Hừ! Vậy mà anh chịu được, không biết chừng nào anh mới dùng đến quyền hạn của ông chủ đây? Phải dạy chúng chứ, không nên để chúng khinh nhờn mình đến độ như vậy được.
- Nói thì nghe dễ, nhưng thực hành mới là khó.
- Phải! Tôi nghĩ đến trách nhiệm của một người chủ nhân bọn nô lệ mà rùng mình, tôi không dám nhận trọng trách đó đâu. - Ophélia nói.
- Tôi không muốn dùng bạo lực, da đen cũng là người có lý trí, có linh hồn. Phải chịu khó giảng giải cho chúng hiểu. Nói cho công bằng, thằng Adolphe là một ngoại lệ. Coi như Tom đó, nó thật quả là người tốt, tin cậy được.
- Chưa chi đã khen rồi!
* * * * *
Tom là một người siêng năng nên việc dưới chuồng ngựa mà chủ nhân giao cho quá rảnh rỗi làm bác không vui. Bác chẳng phải đụng tay vào việc gì hết (dưới quyền bác có nhiều tên nô lệ nữa), bác chỉ kiểm soát chúng thôi.
Bà Marie than phiền rằng bà không chịu nổi mùi hôi của ngựa tiết ra từ người Tom mỗi khi bà cần đến Tom việc gì, mùi hôi ấy có hại cho thần kinh và sức khỏe bà. Cộng thêm lời yêu cầu của Eva, nên bác được thôi việc ở chuồng ngựa mà đặc biệt theo hầu Eva mỗi khi cô bé cần bác.
Với Tom đó là một đặc ân. Tom ăn mặc chững chạc, sạch sẽ nhưng không quá phận như kiểu Adolphe. Trong bộ quần áo bằng vải ra ủi thẳng, đầu đội mũ làm bằng lông hải ly, chân mang giày bóng láng, cổ áo cồn cứng và gài nút đàng hoàng, nét mặt nghiêm trang, lễ phép và phúc hậu, Tom thật có vệ xúng đáng nhận chức giáo chủ của thành Carthage, thời mà dân da đen của bác chiếm cứ nơi này.
Bác được ở một nơi thật sang trọng, khó lòng mà tỏ vẻ thờ ơ. Bác cảm thấy nhẹ nhõm, thanh thản trong lòng khi nhìn ngắm những đàn chim, những cây cảnh, hồ nước, bông hoa, hương thơm tản mạn trong không khí. Trong nhà thì màn treo, họa phẩm, những chùm đèn, những bức tượng và vô số đồ vật mạ vàng trưng bày làm rực rỡ phòng khách lớn y như lâu đài của Aladin.
Cô chủ nhỏ thì ngoan ngoãn, tốt bụng và tôn kính Chúa giống y như bác. Ông chủ thì rộng lượng - hơi quá rộng lượng, cho nên trong bọn nô lệ, có người trở nên xấc láo như Adolphe chẳng hạn - nhưng bác thì bác vẫn giữ một mực ngay thẳng, trung thành, siêng năng. Bà chủ tuy khó tính, song trừ khi phải đánh xe đưa bà đi đâu, ngoài ra không có gì đáng phàn nàn. Kỷ luật kiểu nhà binh như cô Ophélia mà cũng chịu công nhận là bác Tom có tư cách và đạo đức.
Mỗi sáng chúa nhật, Marie trang sức lộng lẫy để đến nhà thờ xem lễ. Bà ta tỏ ra là một tín đồ ngoan đạo nhất. Nhìn bà ta uyển chuyển bước từng bước kiểu cách trong hành lang, người ta phải công nhận là bà đẹp, một cái đẹp mong manh, quý phái. Và người ta sẽ cho là tư cách bà cũng giống đáng bộ bên ngoài!
Cạnh bà ta là cô Ophélia, một sự tương phản sống động không phải vì cô ăn mặc đơn giản mà là vì cô cứng nhắc, gốc cạnh, quá xương xẩu quá!
Thình lình bà Marie hỏi :
- Ủa, chớ Eva đâu chị?
- A, nó dừng lại trên cầu thang nói chuyện gì đó với Mammy.
Trong lúc đó thì Eva đang dúi một cái lọ nhỏ xíu xinh đẹp vào tay Mammy.
- Vú Mammy ơi! Con biết vú đang đau, vú tốt bụng. Con thương vú lắm...
- Em tốt lắm, Eva! Phải! Dạo này vú hay đau đầu, nhưng không sao đâu.
- Ồ, chuyến đi dạo sẽ làm vú hết đau, vú cầm lấy cái lọ này đi!
Eva nói và vòng tay quanh cổ vú. Mammy giật mình thối thoát :
- Chết, em cho vú một vật quý thế này à? Vú không dám nhận đâu.
- Tại sao không? Vú cần nó chứ con thì con cần gì? Con không đau đầu. Mẹ vẫn dùng nó mỗi khi nhức đầu, mẹ hít thứ dầu trong lọ đó. Cầm lấy cho con vui, vú à!
- Thôi, vú chìu em.
Mammy nói trong khi Eva nhét lọ vào túi vú, ôm hôn vú và nhảy ba bước một xuống cầu thang. Bà mẹ gạn hỏi :
- Con dừng lại trên đó làm gì vậy?
- Con cho Mammy cái lọ của con, để vú đem theo đến nhà thờ.
- Eva, đừng có điên. Chừng nào con mới khôn ra, mới chịu biết phải trái? Thôi, trở lại lấy lại đi! Nhanh lên nào!
Người mẹ vừa la con vừa dậm chân. Eva xịu mặt xuống, vẻ buồn bã. Người cha chen vào :
- Marie, hãy để cho con được tự do làm gì nó thích, miễn không có hại thì thôi.
- Thôi đi, anh nói vậy mà nghe được sao? Cứ để nó làm bậy bạ hoài sao?
- Bậy bạ vậy mà nó lên Thiên đàng dễ dàng hơn em và anh cho coi!
- Ba ơi! Ba đừng làm phiền lòng mẹ con.
Eva bảo cha giọng dịu dàng, và nó thúc cùi chỏ vào cha. Clare hỏi con :
- Này Eva, con thích nhà mình hay thích nhà bác Vermont hơn?
- Ở nhà mình hơn chứ, ba!
- Tại sao? - Người cha hỏi và sờ vào trán con.
- Ở nhà mình có nhiều người để con thương.
- Đúng là một câu trong những câu dở điên, dở khùng của mày đó, Eva.
Giọng mẹ em nghiêm khắc. Cha em hỏi em :
- Này, lúc nãy con ở đâu vậy? Sao con không có mặt trong phòng ăn?
- Con ở trong phòng bác Tom, nghe bác hát, dì Dina có mang thức ăn cho con rồi.
- Nghe Tom hát?
- Dạ, bác hát hay lắm. Rồi con đọc những đoạn trong Thánh kinh của con, rồi bác giải thích cho con nghe.
- Chúa ơi! Quả là trò hề hay nhất...
Người mẹ cười rộ lên, chế giễu. Clare nghiêm trang bảo vợ :
- Anh cho em hay, đừng có khinh miệt Tom, hắn giải thích Thánh kinh không tệ đâu. Tên nô lệ này rất sùng kính Chúa và có căn bản giáo dục cũng như đạo đức tốt. Hồi sáng nay, cần ngựa sớm nên anh đi ngang phòng hắn, bất ngờ anh nghe những lời cầu nguyện của hắn, thật chưa bao giờ anh nghe được những lời cầu nguyện thành khẩn như thế. Hắn khấn nguyện dâng anh cho Chúa, giọng hắn đầy nhiệt tám...
- Thứ đồ bịp bợm. Chắc là hắn biết anh đi ngang, hắn giả vờ...
- Kìa, sao em lúc nào cũng nghi ngờ, không nên nói thế...
Clare trách vợ và tiếp :
- Thật buồn cười: hắn đã kêu lên với Chúa những ý nghĩ về tôi một cách tự nhiên và nói rằng hắn nhận thấy tôi cần phải cố gắng nhiều, cầu Chúa giúp tôi trở lại đạo.
Cô Ophélia sốt sắng :
- Đúng đấy, cậu nên nghĩ đến điều này.
- Tôi biết ngay mà, tôi biết chị cũng muốn tôi trở lại đạo như Tom mà, đúng không? Để coi, phải không, Eva con?
Clare vui vẻ nói, vẫn bằng giọng bông đùa cố hữu.

0
Chương 14
 
Trong nhà Rachel Halliday chiều nay có vẻ rộn rịp khác thường. Bà cụ lăng xăng, bận rộn vì việc gói ghém lương thực cho những kẻ chuẩn bị đi xa. Bóng chiều đã ngả, từ chân trời,vầng dương đỏ rực chợt như dừng lại, rải những tia nắng cuối cùng, yếu ớt vào gian phòng nhỏ, nơi vợ chồng Elisa đang ngồi sát bên nhau.
Georges đặt con trai ngồi lên gối mình và tay nắm chặt tay vợ. Họ cùng ngồi lặng trầm ngâm, buồn bã, những vệt nước mắt loang loáng chưa khô trên má. Rồi Georges cất tiếng phá tan im lặng nặng nề :
- Phải, Elisa ạ! Anh biết rằng những điều em nói rất phải. Em rất xứng đáng, anh sẽ cố gắng để làm đúng như ý em muốn, xứng đáng là một người đàn ông tự do, một tín đồ ngoan đạo. Xin Chúa chứng giám cho anh, anh đã và sẽ cố gắng. Giờ đây, anh sẽ cố quên đi quá khứ u buồn, lìa bỏ những tư tưởng bi quan, hắc ám. Anh hứa với em, anh sẽ học hỏi Thánh kinh và trở nên người ngoan đạo, em sẽ thấy.
- Sau khi đến Canada, em sẽ giúp anh trong việc mưu sinh, em biết khâu may, giặt ủi, chúng ta sẽ sống cạnh nhau.
- Phải, chúng ta sẽ làm tất cả vì sự sống còn của nhau và của con ta. Chúng ta không sợ gì hết, chúng ta khỏe mạnh và có đôi cánh tay, như vậy há không đủ rồi sao? Anh nghĩ chúng ta không đòi hỏi gì hơn ở Thiên Chúa. Anh đã làm quần quật ngày đêm trong suốt 21 năm ròng mà không có một xu dính túi, không một tấc đất cắm dùi, không có gì cả. Nhưng bù lại, ngày nay, có lẽ họ sẽ để anh yên, không săn đuổi theo. Anh sẽ làm việc kiếm tiền gửi về trả cho ông bà chủ em để đổi lấy tự do cho em và con. Còn chủ cũ của anh thì khỏi, anh đã trả nhiều quá rồi. Anh không nợ nần chi nữa hết.
- Em vẫn chưa yên tâm, em còn lo lắm. Mình chưa đặt chân lên xứ Canada mà.
- Đúng vậy, nhưng anh cảm thấy phấn khởi lắm.
Có tiếng ồn ào từ bên ngoài vọng vào và tiếng gõ cửa làm Elisa hồi hộp, đứng lên mở cửa.
Siméon đang đứng với một tín đồ khác và ông giới thiệu anh ta tên là Phinéas Flascher. Đó là một chàng thanh niên cao lớn nhưng gầy như một cái sào, mái tóc đỏ hoe, khuôn mặt sắc sảo, lanh lợi, khác với vẻ bình thản, trầm lặng và hầu như thoát tục của ông Siméon. Họ giống nhau ở cách phục sức và vẻ niềm nở, chân thành đặc biệt của giáo phái Quakers.
- Georges ơi! Phinéas vừa được biết một tin quan trọng, liên quan đến số phận vợ chồng anh, một điều đáng lo.
- Tình trạng này, chúng ta chỉ nên ngủ với một mắt và một tai thôi. Đúng vậy, đêm vừa qua tôi đến một quán rượu nhỏ nằm riêng biệt bên kia đường. Lúc ấy, vì quá nhọc, nên tôi nằm dài trong một góc trên đống bao tải, đắp lên mình tấm da bò trong lúc chờ họ dọn chỗ ngủ cho tôi, và tôi đang thiu thiu ngủ...
- Với một mắt và một tai thôi chứ, Phénias?
Giọng ông Siméon cất lên trang nghiêm, tuy lời nói có vẻ như khôi hài.
- Không, tôi ngủ thật sự, ngủ mê mệt trong vòng vài tiếng đồng hồ chi đó. Vì quá mệt mà. Khi tôi giật mình, tôi thấy một nhóm đàn ông vây quanh bàn ăn uống, trò chuyện. Vì loáng thoáng nghe chúng bàn tán đến giáo phái Quakers tôi mới bắt đầu chú ý. Một tên có vẻ hậm hực bảo: “Tôi đoán không sai đâu, tụi nó trốn trong làng bọn Quakers”. Thì ra bọn họ đang bàn về vợ chồng anh Georges. Tôi lắng nghe kỹ mọi chi tiết kế hoạch của chúng dự trù. Trước hết, chúng sẽ bắt anh trả về cho chủ cũ ở Kentucky, đặng ông ta trừng phạt anh thích đáng làm gương cho những nô lệ nào chấp chới định trốn. Hai tên khác trong bọn thì bắt chị Elisa đến Nouvelle Orléans bán, chúng hy vọng sẽ không dưới một ngàn sáu hay ngàn tám đô la. Thằng bé thì trả về cho lão buôn người. Anh Jim và mẹ anh ấy cũng trả lại cho chủ ở Kentucky. Chúng bàn sẽ đưa theo hai cảnh sát viên ở ngôi làng kế làng ta lúc ập vào bắt các bạn... À! Chị Elisa sẽ được đưa ra tòa, có một tên nhỏ thó nhất trong bọn có giọng nói nhỏ nhẹ sẽ đứng ra nhận là chị thuộc quyền hắn. Chúng còn đoán rằng các bạn sẽ đi hướng nào. Phần chúng, chúng có khoảng bảy tám tên trong việc săn đuổi này, bây giờ chúng ta tính sao đây?
Tiết lộ bất ngờ đó làm ai nấy sững sờ giây lâu. Người nào cũng đờ ra như tượng gỗ. Bà Rachel với hai bàn tay đầy bột trắng, vẻ mặt ái ngại lo lắng. Ông Siméon thì im lặng dáng bộ suy nghĩ; Elisa ôm chặt chồng, đầu gục vào ngực anh, chết lặng. Phần Georges, anh siết chặt hai nắm tay, mắt anh tóe lửa.
Elisa như sực tỉnh, hỏi bằng giọng nghẹn ngào :
- Harris, ta sẽ làm sao đây?
- Tôi biết, tôi biết tôi phải làm gì.
Miệng cương quyết, anh bỏ vào phòng ngủ, mắt nhìn những khẩu súng, Phinéas lắc đầu, nhìn theo Georges và nói với Siméon :
- Anh ấy làm vậy có nên không?
- Được lắm chứ! - Siméon vẫn giọng từ tốn - Nhưng tôi hy vọng là các bạn sẽ không phải buộc lòng dùng đến những thứ ấy, trừ khi...
- Tôi không muốn quý vị liên lụy trong vụ này. Chỉ cần các ông cho tôi mượn một cỗ xe và chỉ cho tôi đường đi. Tôi đích thân đánh xe, Jim có một sức mạnh phi thường. Anh ấy can đảm lắm, tôi cũng vậy. Sự tuyệt vọng và cái chết khiến chúng tôi đủ sức vượt qua tất cả mọi trở ngại.
- Tốt lắm, anh bạn ạ! Nhưng với tất cả liều lĩnh can đảm cũng chưa đủ đâu. Anh cần một người hướng dẫn thạo đường. Phần anh thì lo chiến đấu...
- Nhưng tôi không muốn anh rước họa vào thân.
- Rước họa vào thân? Tai họa nào dám đến với tôi, đừng giỡn chứ, bạn!
Giọng Phinéas hài hước. Siméon nói :
- Phinéas rất thuộc đường, lại khôn ngoan và lanh trí. Anh ấy giúp anh là phải lắm, tốt lắm, Georges ạ!
Thật vậy: Phinéas là một tay lão luyện về nghề săn bắn, băng rừng tài tình, thú rừng mà gặp anh thì khó lòng thoát khỏi; ngang tàng, liều lĩnh nhưng vì phải lòng một cô gái thuộc giáo phái Quakers, anh ta chịu khép mình vào kỷ luật, gia nhập tập thể này. Hiện nay, anh ta là một tín đồ xứng đáng tuy nhiên lâu lâu vẫn bị khiển trách về một vài thói tật vong mạng của nếp sống cũ, song được cái anh ta biết phục thiện.
Bà Rachel tươi cười bảo :
- Phinéas có tật ưa xông xáo vào chỗ nguy hiểm, nhưng không sao, ta biết là con tim anh bị ràng buộc...
- Chúng ta đi ngay chứ?
Georges hỏi. Phinéas nói :
- Tôi thức giấc từ lúc bốn giờ chiều và đi liền một mạch về đây, gần như không ngừng để thở. Nếu bọn săn người theo đúng kế hoạch đã bàn thì ta có cỡ ba bốn tiếng đồng hồ để lên đường trước chúng. Chúng ta phải thận trọng không nên rời làng trước khi đêm xuống, vì ra đi lúc này sẽ có cuộc tiễn đưa kỳ quái, lỉnh kỉnh của dân làng, mất thì giờ và bất tiện, để lộ tông tích. Hai giờ nữa sẽ khởi hành. Tôi sẽ đi tìm bạn tôi, anh Michael Cross để nhờ anh ta cỡi ngựa đi trước dò đường và báo động cho ta nếu có gì bất trắc. Cũng cần tin cho Jim và mẹ anh ấy hay đặng chuẩn bị sẵn sàng và săn sóc ngựa. Tôi hy vọng ta sẽ đến trạm nghỉ đầu tiên trước khi chúng rượt kịp ta.
Nói xong, anh bước ra khỏi phòng, khép cửa lại ngay. Siméon bảe Georges :
- Phinéas là người gan góc, anh ta sẽ làm tất cả để giúp anh, anh hãy yên lòng, Georges ạ!
- Tôi vẫn ái ngại làm sao: vì chúng tôi mà các ông có thể... bị nguy.
- Thôi, đừng nói mãi câu ấy. Chúng tôi làm gì đều do lương tâm hướng dẫn, không thể khác hơn được. Chống lại bất công là bổn phận của chúng tôi.
Ông quay sang vợ :
- Bây giờ thì, Rachel ơi, sửa soạn nhanh nhanh lên, đừng để bạn ta đi với cái dạ dày lép kẹp dọc đường.
Trong khi bà chủ nhà và đàn con làm bánh, hầm giò heo, quay gà thì vợ chồng Georges ngồi trong gian phòng nhỏ, tay nắm tay, mặt nhìn mặt vì họ nghĩ rằng có thể trong chốc lát đây, họ sẽ bị chia cách mãi mãi, không còn lòng dạ nào mà nghĩ đến gì khác hơn. Chồng bảo vợ :
- Elisa em! Những kẻ có tình bạn, có nhà cửa, đất đai, của cải chắc họ không yêu nhau thắm thiết như chúng ta, vì chúng ta chỉ có nhau thôi. Trước khi chưa biết em, anh chỉ thương yêu có mẹ và chị anh, nhưng anh không được gần hai người thân yêu đó. Số phận dành cho người nô lệ là vậy: mẹ bị bán một chỗ, con bị bán chỗ khác, luôn luôn bị hành hạ mà có khi không vì phạm một lỗi lầm gì gì cả. Giờ đây, anh thề sẽ chiến đấu cho đến hơi thở cuối chứ không bao giờ để chúng bắt anh và mẹ con em. Chúng chỉ bắt được mẹ con em khi anh tắt thở, nhất định như vậy đó.
Có tiếng gõ cửa và Ruth bước vào :
- Tao chạy vội vàng đến đây để đem cho con mày mấy đôi vớ len, ở Canada lạnh lắm đó nghe.
Đưa cho Elisa ba đôi vớ xinh xắn tặng Henri xong, cô ta biến mất liền, không đợi nhận tiếng cảm ơn.
* * * * *
Một cỗ xe to lớn, kín mít dừng lại trước cửa. Trời đêm mát rợi và lấp lánh đầy sao. Phinéas hăng hái nhảy phóc khỏi xe, sắp xếp chỗ cho những kẻ ra đi. Georges thong thả bước ra, tay bế con, tay nắm chặt tay vợ, bước chân vững chắc, nét mặt cương nghị và nhẫn nại. Rachel và Siméon đi cạnh họ.
Siméon bảo những người đã ngồi sẵn trong xe hãy xuống xe để dọn lại chỗ cho đàn bà và con trẻ. Người bước xuống trước là một thanh niên da đen, khuôn mặt có nhiều nét giông giống Georges: quả cảm và liều lĩnh, cũng đầy sức khỏe. Anh ta xuống và đỡ bà mẹ xuống theo, một bà lão gầy guộc, hiền lành, vẻ nhớn nhác như lúc nào cũng sợ bị bắt, bị hành hạ. Georges hỏi anh ta :
- Jim, anh có súng không? Anh biết ta phải làm gì nếu bị tấn công chứ?
- Sao lại không? Tôi thừa biết mà, đừng lo chi hết. Anh bảo vệ vợ con anh cách nào thì tôi, tôi bảo vệ mẹ tôi cùng cách ấy. Chúng chỉ bắt được bà cụ khi bước qua xác chết của tôi thôi.
Jim nói, giọng tự tin, và ưỡn ngực hít một hơi dài bầu không khí thanh khiết vào lồng ngực vạm vỡ. Bà Rachel chen vào :
- Này, hai tấm da trâu đây, hãy lót trên băng ngồi. Đêm hôm khó tránh được ổ gà, đường xóc tợn lắm.
Elisa bịn rịn chia tay bà Rachel. Ông Siméon đỡ nàng lên xe và nàng ngồi vào một góc với bé Henri, bà lão mẹ Jim ngồi cạnh mẹ con nàng. Georges và Jim ngồi đối diện họ, trên cái băng thô sơ. Phinéas cầm cương ngựa.
- Tạm biệt! Chúc các bạn bình yên!
Siméon nói to. Cả bọn cùng đáp :
- Cảm ơn ông và xin Chúa ban phúc cho gia đình ông.
Thế rồi chiếc xe tiến tới trong bóng đêm, mặt đất đóng băng vỡ ra nghe rào rạo dưới bánh xe.
* * * * *
Xe xuyên qua rừng bằng con đường mới đắp nửa chừng, băng ngang những cánh đồng rộng bao la, những ngọn đồi rồi xuống thung lũng.
Thời khắc trôi qua.
Đứa trẻ vô tư đã chìm trong giấc ngủ say sưa trên tay mẹ. Bà cụ da đen khốn khổ nguôi dần sợ hãi và Elisa cũng không chống nổi cơn buồn ngủ kéo đến.
Người hứng khởi nhất là Phinéas, anh ta phải thức đánh xe nên luôn luôn tỏ ra hiếu động, hát, huýt sáo - nói cho công bình, những bài hát của anh quả thật không được thanh nhã mấy đối với tín đồ giáo phái Quakers - song người ta phải biết điều một chút, anh cần thức và quên dường dài chứ!
Cỡ ba giờ đêm, Georges nhận ra tiếng vó ngựa dồn dập từ xa vọng lại. Anh liền thúc vào hông Phinéas để anh này chú ý ngừng xe nghe ngóng.
- Đúng là Michael, tôi nhận ra vó ngựa anh ấy.
Phinéas nói và ngẩng lên ngoái về phía sau, vẻ bồn chồn. Từ phía đó, họ trông thấy tận đỉnh đồi một người đàn ông phi ngựa với tốc độ kinh hồn. Phinéas lẩm bẩm :
- Chính anh ta! Chắc có tin đây.
Lập tức, Jim và Georges nhảy xuống xe, yên lặng hướng mắt về phía người đưa tin, ngóng đợi. Người này phi ngựa thật nhanh, một lùm cây che khuất người ngựa trong giây lát rồi lại hiện ra, lộ rõ dần và tiếng vó ngựa vang lên gấp rút. Sau cùng, anh ta dừng lại trên một gò đất cao, vừa tầm tiếng gọi. Phinéas kêu to và Michael trả lời :
- Đúng, tao đây! Phinéas, tao chạy như bay để gặp tụi mày đây.
- Có gì lạ không?
- Sao lại không? Nghe đây: bọn nó ở sau lưng đó nghe, cả bầy, hàng chục đứa chứ không phải ít đâu, chúng sặc nồng mùi rượu, hung hăng như những con sói đói.
Michael chưa dứt lời thì một cơn gió thổi tốc đến và đưa lại tai họ nhiều tiếng vó ngựa dồn dập. Phinéas la to :
- Lên xe mau! Nếu các anh muốn chiến đấu. Dịp đó tới rồi đây! Nhưng hãy chờ tôi tìm một địa thế thuận tiện.
Hai người nhanh nhẹn lên xe, Phinéas thúc ngựa phi nhanh, bên cạnh là con ngựa nhỏ bé nhưng cũng nhanh không kém. Bọn đàn bà nín thở, khiếp sợ vì đã nhìn thấy từ xa một bóng người in bóng nâu đậm trên nền trời mờ sáng của ban mai.
Vượt qua một ngọn đồi, bọn săn người đã thấy bóng cái xe phía trước, rất dễ nhận ra nhờ màu trắng của tấm bạt che nổi bật lên. Nhiều tiếng la đắc thắng của bọn săn đuổi vang dậy, làm như chúng đã tóm được họ trong tay rồi vậy.
Elisa ôm chặt con trai vào lòng, bà cụ già thì không ngớt cầu nguyện. Họ chia chung một kinh hoàng không bút nào tả xiết.
Jim và Georges nghiến răng, tay ghì chặt khẩu súng chỉ chực nhả đạn vào bọn săn người.
Kẻ thù rút ngắn dần khoảng cách, chiếc xe đột ngột quẹo ngang và dừng lại sau một đống chất ngất những táng đá to lớn chồng lên nhau, ngổn ngang nổi bặt giữa một vùng đất bao la bằng phẳng. Cái kim tự tháp này lẻ loi, sừng sững giữa bầu trời trong sáng có vẻ như dành cho những kẻ cùng đường một chỗ nấp bất khả xâm phạm. Phinéas thông thạo địa thế vùng này như một phụ nữ thuộc đường ra chợ. Anh thường tạt ngang qua đây trong những bận đi săn bắn. Anh cho đó là chỗ nấp tốt và nóng nảy thúc ngựa phi thật gấp.
- Chúng ta ngừng lại đây tìm chỗ nấp an toàn. Tất cả xuống xe và theo tôi leo lên những tảng đá này.
Anh ta nhảy khỏi xe đoạn ra lệnh tiếp :
- Michael! Hãy cột ngựa anh vào xe và đánh xe đến ngay nhà Amariah, cho ông ấy hay mọi chuyện rồi đưa ông và những người trong trại ông ta đến đây ngay! Tụi khốn sẽ biết tay ta!
Trong nháy mắt, mọi người tuân theo lời Phinéas. Anh đón lấy bé Henri và bảo các bạn trèo lên các tảng đá theo chân anh. Anh ta nói khích vài câu để mọi người cố gắng, nhất là hai phụ nữ. Quả nhiên, chỉ vài phút, cả bọn đã trèo lên lưng chừng khối đá trong khi Machael lo cột ngựa mình vào chung với cỗ xe và dong cương chạy đi.
Phinéas luôn miệng thúc giục và với sự hướng dẫn thành thạo của anh, dưới ánh sáng lẫn lộn của các vì sao và bình minh, họ nhận ra một cái khe hẹp nhưng vừa một người qua, dẫn vào trong một hốc đá. Phinéas nói :
- Đây là một trong những cái hang chúng tôi vẫn nghỉ chân sau khi săn.
Anh nhảy loi choi như một con dê, từ tảng đá này sang tảng đá kia, đứa bé được anh giữ chặt trong tay. Kế anh là Jim cõng mẹ trên lưng và sau rốt là vợ chồng Elisa.
Đoàn người ngựa đã đến dưới chân đống đá và cũng lục tục xuống ngựa, vừa cãi cọ nhắng lên vừa chửi thề.
Bên trên chúng là những kẻ mà chúng săn đuổi tiến vào các khe hẹp nhìn thấy vừa rồi. Bất chợt hiện ra trước mặt họ một cái hố rộng cỡ ba bộ và sáu khoảng ba chục bộ, ngăn đôi những tảng đá, hai bờ vực thẳng đứng như bức thành của một lâu đài. Phinéas bình tĩnh nhảy qua hố thật dễ dàng và đặt đứa bé lên một tấm thảm rêu trắng mịn.
- Nào, các bạn nhảy qua đây! Bên này là sự sống...
Từng người một băng mình nhảy qua. Không ai bảo ai, họ cùng nấp sau một vách đá, khuất tầm mắt bọn săn người từ dưới nhìn lên.
- Tốt lắm! Bây giờ chúng ta cứ yên vị tại đây!
Phinéas nói và thò đầu ra khỏi các vách đá sừng sững để quan sát bọn người phía dưới. Bọn này cũng đang kiếm cách leo lên.
- Bọn chúng rất có thể bắt được chúng ta nếu chúng muốn, nhưng bắt buộc chúng phải tiến vào khe đá từng tên một, vừa tầm súng của ta. Các bạn đồng ý không?
- Vâng! Nhưng đến đây là phần việc của chúng tôi. Anh hãy để chúng tôi chiến đấu và nhận lấy hậu quả việc này.
- Không ai giành đâu mà nói mãi? Nhưng cũng để cho tôi chứng kiến chứ? Tôi hứa chỉ đứng xem thôi, chịu không? - Phinéas khôi hài - Kìa! Coi chúng ung dung chưa: chúng ngẩng đầu cao lên y như bầy gà mái sắp nhảy lên ổ vậy. Này, Georges! Ta có nên cho chúng vài lời cảnh cáo trước khi ra tay chứ? Ta hành động đường đường chính chính mà? Cho chúng hay là ta chỉ hạ chúng nếu chúng ngoan cố liều lĩnh tiến vào đây chứ?
Georges gật đầu tỏ vẻ đồng ý với lời Phinéas.
Hai cảnh sát viên với sự hỗ trợ của toán người tay sai bọn buôn nô lệ hung hăng tiến lên - Than ơi, họ bị mua chuộc chỉ bằng vài cốc rượu.
- Này Tom! Bầy thỏ của ta coi bộ ngoan há? Chúng sắp chui vô rọ hết rồi.
- Đúng vậy! Chúng ở trên kia, một bầy chung nhau, ta leo lên, thế là chúng phải xuống bằng ngả này, chúng đâu có thể xuống bằng ngả nào khác?
- Coi chừng đó Tom ơi! Có thể chúng nấp sau những tảng đá bắn vào ta à! Và nếu thế thì... chúng ta chết ráo chứ không chơi đâu.
- Bậy bạ! Mày thì lúc nào cũng nghĩ đến chuyện chết chóc, tụi da đen nhát như thỏ ấy, sợ gì?
Gã tên Tom át lời bạn, giọng hùng hổ. Một tên cãi lại liền.
- Trời ơi! Ta có quyền nghi ngờ chứ, bạn? Vả lại, bắt chúng thì lợi lộc gì? Bọn da đen... hừ, đừng có coi thường chúng. Đôi lúc chúng cũng can đảm, đừng tưởng chơi. Anh cứ hay nói tướng, làm sao không lo ngại: mỗi người chỉ có một mạng, không lo sao được? Rủi chết ai chịu cho? Anh chết thay tôi được không? Giỡn hoài.
Đột nhiên, Georges xuất hiện trên một tảng đá, giọng bình thản, rõ ràng :
- Này, các ông kia! Các ông là ai và muốn gì?
- Tao, tao đuổi bắt một bọn da đen trốn chủ. Georges Harris, Élisa Harris và con trai chúng, thằng bé Henri, thằng Jim với mụ mẹ già của nó nữa. Chúng tao thừa hành pháp luật. Có cảnh sát đi với chúng tao và một tờ trát đàng hoàng. Chúng tao có nhiệm vụ bắt tụi bay. Biết điều, biết thân thì chui đầu ra, đầu hàng đi! Mày là Harris phải không?
- Đúng! Tôi là Harris, nô lệ ở Kentucky, nhưng chuyện đó qua rồi. Giờ đây, tôi ở trên phần đất tự do, tôi là người tự do. Tôi giữ vợ và con tôi. Anh Jim cũng có mặt tại đây. Chúng tôi có vũ khí. Nếu các anh muốn bắt chúng tôi thì cứ lên đây. Nhưng nhớ là cứ một người tiến lên sẽ lãnh tức thì một viên đạn và cứ thế tiếp tục cho đến người cuối cùng...
- Chà! Bảnh quá ta! Nói như một công dân da trắng không bằng! Nghe đây bạn! Chúng ta là kẻ thừa hành luật pháp, còn bạn, bạn là cái thớ gì? Bạn là tên nô lệ trốn chui trốn nhủi như lươn... Thôi đi, đừng giỡn không đúng cách, bạn ơi! Bạn cùng đường rồi, tất cả các bạn đều cùng đường rồi. Nghe lời tụi này đi cho êm thắm.
Một tên lùn, bé loắt choắt thêm :
- Đúng, trước sau gì cũng nạp mạng, thì tốt hơn nên nạp mạng ngay đi cho vui vẻ...
- Tôi thừa biết là luật pháp đứng về phía các anh. Các anh muốn bắt vợ tôi để đem bán ở Nouvelles Orléans, các anh muốn bày con tôi ở chợ như bày một con bò chờ khách đến. Các anh muốn bắt mẹ Jim để trả lại cho mụ chủ tàn ác, đặng mụ ta hành hạ bà già, vì mụ không thể hành hạ con bà. Cả tôi và Jim nữa, các anh cũng muốn chúng tôi bị chà đạp dưới gót chân những kẻ mà các anh gọi là chủ nhân của chúng tôi. Nhưng còn khó lắm. Tôi không cần thứ luật pháp bất nhân, bất công của các anh. Chúng tôi đây! Chúng tôi ở dưới bầu trời tự do của Thiên Chúa, chúng tôi tự coi mình cũng tự do như các anh. Chúng tôi xin thề là sẽ chiến đấu vì sự tự do này hay là chịu chết, vậy thôi! Có gan, cứ lên đây! Nếu còn chút lương tri, các anh phải...
Georges nói, giọng sang sảng, cương quyết, tin tưởng, anh đứng thẳng người giữa vừng ánh sáng, trên tảng đá, oai nghi như pho tượng cổ. Những tia nắng chiếu rọi lên khuôn mặt rắn rỏi của anh, can đảm và uất hận cũng như sự tuyệt vọng bùng lên như ngọn lửa trong tia nhìn sáng quắc. Hai tay giơ cao lên, như anh muốn kêu gọi bọn săn người nhớ đến lời Chúa phán về sự bình đẳng giữa con người với con người.
Thái độ, ánh mắt, giọng nói của anh, tất cả những gì xảy ra khiến đám người bên dưới tiêu tán đi một phần hăng hái của lúc lên yên, chúng đứng ngớ ra một lát khá lâu. Những lời vừa thốt ra như có một sức mạnh vô hình thôi miên chúng, dù chúng vốn là bọn vô lại, thô lỗ nhất. Chúng cảm thấy xao xuyến, cả bọn cùng cảm thấy thế, trừ một tên: Marks. Hắn không xao động mảy may. Trong khi các bạn hắn theo dõi thái độ của Georges và như bị lôi cuốn vì những lời lẽ quả cảm đó thì hắn rút súng chĩa vào anh, nói trong lúc bóp cò súng :
- Đừng có nghe làm chi cho mệt. Cách tốt nhất là thịt thằng đen này đi cho yên!
Georges nhảy lùi lại một bước. Elisa bật lên một tiếng kêu thảng thốt, viên đạn lướt sát mái tóc người chồng và phớt ngang má người vợ, rồi ghim vào một tảng đá. Georges trấn an Elisa :
- Không sao đâu, em đừng sợ.
- Quả là một bọn đê tiện. Nhưng cũng do lỗi anh, thay vì nói dài, anh nên vắn tắt rồi nấp liền mà nghênh tiếp chúng chứ!
Phinéas nói. Bây giờ thì không còn nói năng kêu gọi gì nữa. Đôi bên sửa soạn chiến đấu.
- Jim, coi chừng! Hãy nhắm kỹ ở ngõ vào, tên đầu tiên để đó cho tôi, phần anh tên thứ hai. Phải nhớ: mỗi viên đạn phải làm ngã gục một tên, không nên phí phạm.
- Nhưng rủi anh bắn hụt thì sao?
- Không đâu. Tôi sẽ chỉ bắn trúng.
Georges nói một cách tự tin. Phinéas lẩm bẩm một mình :
- Anh chàng thật đúng là một người bất khuất.
Bên dưới, sau phát súng của Marks, cả bọn lao xao :
- Marks, anh hạ được một thằng rồi, nghe có tiếng la.
- Tới phần tao - Tom Loker hăng hái - Tao sẽ hạ thằng kế tiếp. Chúng có gì là ghê gớm? Tao sẽ hạ chúng liền tức thì à! Đứa nào theo tao không?
Nói xong, gã hăm hở leo lên những tảng đá nhanh như cheo. Georges nghe rõ ràng những lời huyênh hoang đó, anh im lặng hướng mũi súng về phía khe đá, nơi hắn sắp tiến lên. Tên thứ hai tiến theo Locker, bọn đi sau xô đẩy những tên phía trước trong khi vài tên phía trước cố trì hoãn. Càng lúc, chúng càng gần hơn, không bao lâu bóng chúng xuất hiện ở bờ hố.
Georges nổ súng, viên đạn xuyên qua hông Tom Locker, hắn rú lên như một con bò mộng, băng mình qua khoảng trống của cái hố và rơi xuống một táng đắ phẳng lì. Phinéas tức thì lao mình tới, giơ đôi cánh tay hộ pháp ra, xô mạnh gã một cái, miệng la lên :
- Này bạn, chúng tôi không cần anh lên tận trên này.
Locker rơi tõm xuống hố, lăn tròn theo triền dốc giữa những cành cây, bụi rậm, những mỏm đá chìa ra; cũng may là nhờ những vật này cản lại, nếu không chắc gã lăn tuột xuống vực sâu, mất mạng như chơi. Nhờ vây, gã được chặn lại giữa lưng chừng hố. Gã nằm thẳng đờ, rên rỉ thảm thiết, mất hết hùng khí.
- Cha chả! Tụi quỷ này hăng chứ chơi đâu!
Marks vừa nói vừa nhanh nhẹn tháo lui khỏi khe đá, nhanh nhẹn còn hơn khi tiến vào rất nhiều. Cả đám co giò chạy theo sau, một cảnh sát khá mập mạp chạy muốn hụt hơi. Marks ra lệnh :
- Này các bạn! Hãy vòng xuống dưới kia mà kéo Locker lên, anh ta bị thương đó nghe! Phần tôi, tôi đi lấy ngựa và kiếm thêm người tiếp viện.
Hai ba tiếng xầm xì phản đối, nhưng Marks giả điếc, lên ngựa lủi tức thì, bỏ cả bọn lại như rắn không đầu. Một tên phát khùng lên, chửi thề ỏm tỏi và tên khác phân bua :
- Đồ thứ chết nhát! Cầm đầu cái kiểu chó gì vậy chứ? Nó kêu tụi mình đi theo mà giờ lại bỏ nửa chừng, lo tẩu thoát một mình.
- Giờ tính sao đây? Đứng đó mà trách móc ích gì?
- Phải! Lo cứu thằng Loker!
Lần theo hướng có tiếng rên rỉ phát ra, cả bọn vạch cành cây, bụi rậm, chúng đem được Loker xuống đáy hố. Nằm thẳng đơ như cái xác, tuy vậy, miệng anh ta không ngớt chửi thề và rên la. Một tên can :
- Thôi đi ông tướng! Ông la hét hoài chỉ thêm mất máu, dễ chết lắm à!
- Đỡ tao dậy, đỡ... mau! Thằng Quakers hèn hạ! Không có nó, tao đã liệng xác tụi kia xuống vực hết rồi... Để rồi chúng biết tay tao!
Cả bọn hì hục hồi lâu mới khiêng gã lên vai, trở lên, đến chỗ bầy ngựa.
Locker vẫn tía lia miệng :
- Tụi bay chỉ cần đưa tao ra khỏi đây chừng một dặm, tới chỗ quán rượu... Cho tao xin cái khăn tay, cái giẻ gì cũng được, để tao đắp lên vết thương cầm máu, coi!
Từ trên cao, nhìn xuyên qua khe đá, Georges thấy bọn chúng cố gắng để giúp Locker ngồi lên yên ngựa, thân hình gã xiêu vẹo như thể không có xương sống và sau nhiều lần cố gắng một cách vô ích, gã lại bổ nhào xuống đất. Elisa thở dài, đáng thương xót :
- Em hy vọng ông ta không chết...
Nàng nói trong lúc cả bọn lặng im theo dõi cảnh tượng phía dưới. Phinéas bảo :
- Hạng như thế nên chết hơn là sống.
- Nhưng sau khi chết, sẽ còn bị sự phán xét.
Lời Elisa. Bà cụ từ nãy giờ cầu nguyện cũng lên tiếng :
- Linh hồn gã sẽ phải vào cửa địa ngục.
Phinéas thực tế hơn :
- Tôi đám cá là bọn kia sẽ bỏ thằng Loker này lại cho coi.
Quả nhiên, lời Phinéas nói đúng: cả bọn bàn cãi xì xào một lát rồi nhảy lên ngựa rút lui, bỏ mình Loker ở lại.
Đợi chúng đi khuất, Phinéas đề nghị :
- Thôi, chúng ta trở xuống. Tôi đã nói với Michael đến trại cầu cứu và trở lại đây với cỗ xe, nhưng tôi nghĩ là chúng ta có thể đi bộ một khoảng trong lúc chờ ảnh trở lại. Nãy giờ đứng một chỗ cuồng chân quá, bây giờ hãy còn sớm. Chúng ta chỉ còn cách trại cỡ hai dặm đường, nếu không có gì trở ngại trong đêm nay, chúng ta có thể đi xa.
Một lúc sau, Phinéas thấy chiếc xe trở lại với những người bạn.
- Tốt lắm! Michael, Stéphen và Amariah... Lúc này coi như chúng ta đã thực sự an toàn, sắp đi đến đích rồi.
Elisa nói :
- Chúng ta hãy dừng lại một chút, hãy làm một cái gì giúp đỡ người đàn ông khốn khổ đang rên rỉ ở kia, tội nghiệp...
- Đó là bổn phận của chúng ta, những người có đạo. Chúng ta hãy khiêng hắn lên xe và chở theo ta.
- Và chúng ta sẽ săn sóc hắn bằng những bàn tay của tín đồ Quakers.
Phinéas nói :
- Được lắm! Tôi không phản đối việc này. Khiêng hắn lên.
Phinéas, nhờ kinh nghiệm săn bắn và phiêu bạt nên có được chút ít hiểu biết về cách săn sóc vết thương, quỳ xuống bên kẻ bị thương và chăm chú quan sát.
Tom nói với giọng yếu ớt :
- Phải mày đó không, Marks?
- Không, không phải gã - Phinéas nói - gã lo lắng cho mạng sống gã hơn là của bạn... Gã đã bỏ đi từ lâu rồi!
- Tôi tưởng là đã chết rồi chứ! - Tom nói - Bạn bè thật chó má, nó bỏ rơi tôi! Bà già tôi vẫn thường nói là cuộc đời tôi sẽ kết thúc như thế này, mà tôi không chịu nghe...
- Bạn bớt giận! - Phinéas nói - đừng cử động mạnh. Bạn sẽ chết nếu không cầm được máu.
Tom nói thật yếu :
- Chính anh đã xô tôi?
- Nếu tôi không làm vậy, thì chính bạn lại sẽ xô chúng tôi, bạn hiểu chứ? - Phinéas vừa băng vết thương vừa nói - Này, này, để yên tôi băng bó cho; chúng tôi đây, chúng tôi không có âm mưu gì mờ ám cả. Chúng tôi chỉ tự vệ thôi. Chúng tôi sẽ đưa bạn về một ngôi nhà, nơi đó người ta sẽ chăm sóc bạn như chính mẹ bạn săn sóc bạn vậy.
Tom mệt nhọc rên rỉ và đôi mắt hắn ríu lại...
Trong khi đó Michael đứng bên cỗ xe: cả bọn kéo băng ngồi ra, xếp đôi những tấm da trâu lại, để chúng về một phía, và bốn người đàn ông khiêng Tom đặt nằm trên xe. Gã hoàn toàn bất tỉnh. Bà lão da đen sốt sắng ngồi trên sàn xe và nâng đầu của kẻ bị thương gác trên gối bà. Elisa, Georges và Jim ngồi dồn bên nhau, tiếp tục lên đường.
Georges hỏi Phinéas khi xe bắt đầu lăn bánh :
- Anh thấy gã ra sao?
- Đỡ lắm, viên đạn chỉ trúng thịt thôi, nhưng cái té mới nặng. Gã đã bị mất nhiều máu, điều này làm gã kiệt sức và mất hết cam đảm. Gã sẽ bình phục và nhờ đó có thể gã sẽ mở mắt ra, hiểu biết hơn.
- Chúng ta sẽ làm gì cho gã?
Georges hỏi.
- Chúng ta sẽ đưa gã về nhà Amariah! Ở đấy có bà cụ Stephen, đó là một bà y tá giỏi nhất vùng... Trong vòng 15 ngày, bà sẽ chữa gã bình phục.
Một giờ đồng hồ sau, cả bọn đến một ngôi trại xinh xắn, một bữa ăn thịnh soạn đang chờ họ. Tom được đặt nằm cẩn thận trên một chiếc giường sạch sẽ và êm ái hơn những nơi mà gã thường đặt lưng, vết thương gã được rịt thuốc và băng bó lại. Như một đứa trẻ mệt nhọc, gã uể oải mở mắt nhìn chăm chăm những tấm màn cửa sổ, rồi nhìn những kẻ mà gã muốn sát hại, nhưng giờ đây lại tận tình săn sóc gã. Rồi gã tỉnh táo hẳn khi nhớ đến lũ bạn vô lương, nhớ đến lời mẹ, và gã buông tiếng thở dài...

0
Chương 15
 
Bác Tom, con người thuần hậu, chất phác vẫn thường so sánh thân phận nô lệ sung sướng của mình hiện nay với địa vị Joseph ở Ai Cập trước kia. Ngày tháng trôi qua, càng hầu hạ ông Saint Clare lâu hơn, bác càng xác tín điều này khi hiểu chủ thêm.
Saint Clare vốn tính thờ ơ đối với vấn đề tiền bạc, không bao giờ quan tâm đến sự chi tiêu trong nhà. Từ trước đến nay, ông giao phó cho gã Adolphe tự quyền trong việc xuất phát mua sắm, chợ búa v.v... Mà gã này, tâm tính thì... như ta đã biết: ưa lẫn lộn của chủ thành của mình, cho nên sẵn tiền trong tay gã vung vãi không chút e dè, thận trọng. Ông chủ mặc cho hắn ta phung phí, không hề kiểm soát nên hắn càng được trớn, làm già.
Tom, trái lại, là một người cần kiệm, có lương tâm, coi trọng của chủ như của mình - có thể nói còn quý hơn của mình - luôn luôn gìn giữ từng chút một, luôn luôn cảm thấy mình có trách nhiệm phải giúp chủ hơn là phá hại của chủ, bác rất buồn lòng thấy tình trạng không tốt đẹp đó kéo dài.
Clare, do một sự tình cờ đã giao cho Tom đôi việc dính dáng đến tiền bạc và ông không khỏi kinh ngạc khi thấy khả năng đáng tin cẩn của người nô lệ mới: tận tâm, tiết kiệm. Trước nay, vốn sống trên tiền bạc, ông chi ra không bao giờ thèm nhìn con số cũng như thờ ơ khi nhận lại. Giá Tom mà gian xảo hay lợi dụng như kẻ khác thì có cơ hội để thủ lợi, nhưng Tom đã làm ông sửng sốt vì sự phân minh, ngay thẳng đặc biệt ở bác ta. Thật ra, Tom đã chống trả mãnh liệt với chính mình trước mọi cám dỗ vì tính dễ dãi quá mức của chủ nhân.
Clare rất hài lòng, mỗi ngày mỗi tỏ ra tin cậy Tom hơn, và Tom càng tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy ấy, không tơ hào, suy suyển một đồng nào.
Clare cũng bắt đầu cảm thấy sự vô trách nhiệm, phao phí, lạm dụng của Adolphe. Ông cảm thấy nếu cứ tiếp tục giao phó cho tên quản gia Adolphe mọi thứ chi tiêu, gã sẽ gây một lỗ thủng lớn trong ngân quỹ gia đình ông, không hàn vá nổi. Thật nguy hiểm mà giao cho con người hời hợt bừa bãi đó cái trách nhiệm lớn như trước nay ông nhắm mắt giao càn, vì bà vợ vốn là người vô tích sự không chịu quan tâm đến.
Tuy nhiên, vốn là người rộng lượng, ông không nỡ loại hẳn gã trong những công việc có liên quan đến tiền bạc. Ông dễ dàng bỏ qua mọi lỗi lầm của gã dù cho không phải gã vô tình và là những lỗi nặng đi nữa.
Một lòng yêu kính chủ, Tom nhận thấy ông chủ sống như một kẻ vô thần, không bao giờ nhìn đến cuốn Thánh kinh, không bao giờ đi lễ ở nhà thờ, lại hay chế giễu khi nghe ai đề cập đến vấn đề tôn giáo; ưa la cà đến các trà thất, rạp hát, vũ trường, những nơi ăn chơi trụy lạc; không phải chỉ đi vào những ngày thường trong tuần, mà đi cả trong ngày chúa nhật. Gần đây, ông còn hay say rượu nữa chứ.
Nếu sự phung phí tiền bạc của chủ làm Tom buồn thì sự phung phí sức khỏe và không có tác phong đạo đức của chủ càng lảm cho Tom buồn nhiều hơn. Vì vậy, tuy được chủ đối xử khoan dung, tử tế, Tom vẫn không bao giờ vui vẻ thực sự, bác buồn ngấm ngầm, và nỗi buồn đó dày vò bác, làm nét mặt bác luôn luôn lộ vẻ ưu tư như bác lo lắng cho chính thân phận của bác. Tom thường giam mình trong gian phòng nhỏ của bác, thành khẩn cầu nguyện, kêu gọi từ tâm của Chúa, xin gìn giữ linh hồn của ông chủ mà bác rất thương yêu, kính trọng.
Bác kiên nhẫn chờ cơ hội thuận tiện để có thể khuyên can chủ, nhưng bổn phận của một kẻ tôi đòi như bác thì muốn thực hiện được thiện chí đâu phải dễ dàng gì? Dù sao, bác vẫn không đổi ý, vẫn kiên tâm chờ đợi.
* * * * *
Một đêm kia, Saint Clare trở về nhà vào quãng hai giờ đêm, ông say khướt, không còn biết trời đất chi nữa. Người ta phải lấy làm lạ là ông có thể về đến cửa được.
Tom và Adolphe phụ lực khiêng ông vào phòng, đặt lên giường. Gã Adolphe có vẻ gần như thỉch thú về chuyện tệ hại này, phần nữa, gã quá quen thuộc cho đến nỗi gã còn chế giễu Tom là lẩn thẩn, là lo lắng không đâu, vô ích.
Khác với sự vô tâm của Adolphe, Tom bồn chồn lo sợ, thao thức trọn đêm, quỳ gối cạnh giường chủ, cầu nguyện, canh chừng và chỉ thở phào nhẹ nhõm khi thấy ông Saint Clare cựa mình, mở mắt vào lúc bình minh trở lại.
Vẻ mệt nhọc phở phạc ưu tư như hằn lên gương mặt thuần phác của người tớ da đen khiến cho ông chủ bối rối không ít.
Một chốc sau, trong bộ quần áo ngủ chỉnh tề, ông bước vào phòng đọc sách và hỏi bác Tom :
- Này, tại sao đêm qua anh không ngủ? Hở Tom?
Tom vẫn đứng im, ông hỏi tiếp :
- Có gì làm anh lo lắm phải không?
- Thưa ông, vâng! Tom đang lo lắng nhiều, nhiều lắm.
Chủ nhân đặt tờ báo xuống, buông luôn tách café uống dở, gặn lại :
- Chuyện gì khiến anh lo lắng? Coi mặt anh như thể sắp đưa ma.
Giọng ông vẫn luôn luôn pha chút hài hước. Tom buồn rầu nói :
- Thưa ông, tôi buồn lắm, chưa bao giờ buồn như hôm nay. Tôi thấy chủ tôi là người tốt, rất tốt với tất cả mọi người, nhưng...
- À, tưởng gì, chắc anh quên việc gì phải không? Không sao đâu, tôi nhận thấy là anh rất tận tâm, nếu đã quên thì không có gì phải áy náy. Coi như thằng Adolphe nó phá của biết bao mà tôi vẫn tha thứ...
- Thưa ông, ông lầm rồi. Tôi không quên bổn phận bao giờ, vì vậy nên tôi mới bận tâm không nguôi. Ông chủ nghĩ coi, ông là người chủ tốt lắm, với ai ông cũng tốt, nhưng riêng một người, ông lại không xử tốt...
- Anh muốn ám chỉ cái gì đây? Tôi nóng ruột rồi nghe, giải thích rõ hơn coi? Tôi xử tệ với ai đâu?
- Thưa ông, đêm qua tôi đã thức suốt đêm, suy nghĩ về hành động của ông, ông đã không tốt với ông, vâng; với chính bản thân ông, ông tự hủy hoại thân ông, ông không chú ý gì đến ông cả. Tôi đau đớn biết bao nhiêu vì không làm gì được để ngăn ông đi dần đến chỗ nguy hại...
Cố gắng thu hết can đảm vào đầu lưỡi để thốt được ngần ấy lời, Tom vội vã quay lưng lại, đặt tay lên quả nắm của cánh cửa, toan rút lui.
Saint Clare cảm thấy nóng bừng cả mặt song rồi... ông trấn tĩnh được, cười gượng đi che giấu cảm động :
- Chỉ có vậy mà anh cũng buồn khổ đến mức đó ư?
- Thưa ông, chỉ có vậy thôi! Tôi biết nói gì hơn để ông chủ hiểu rõ lòng tôi, hiểu rõ sự lo sợ của tôi?
Tom đột ngột quay lại và quỳ xuống cạnh chủ, van vỉ :
- Ông chủ ơi! Tôi quý yêu ông biết là ngần nào! Tuy tôi không phải là tôi tớ thuộc qựyền ông từ thuỏ còn nhỏ, tôi kính quý ông lắm. Ngày đêm tôi cầu nguyện, chỉ e ông sẽ sa xuống hố thẳm của tội lỗi, đến chỗ mất cả xác lẫn hồn. Thánh kinh có viết rằng “Tội ác giống như con rắn độc...”
Bác nghẹn lời không nói hết câu, thổn thức khóc, nước mắt tuôn đẫm má.
Saint Clare la lên :
- Tom! Anh điên rồì sao? Can gì mà khóc chứ?
Nhưng ông nói xong mắt cũng mờ lệ vì xúc động trước tấm chân tình hiếm hoi quý báu của người nô lệ thấp kém hơn mình. Ông nén khóc và dịu giọng bảo người nô lệ trung thành :
- Hãy đứng lên đi. Tom! Anh quá tốt làm tôi cảm thấy xấu hổ, vì không xứng đáng với những lo lắng và những giòng nước mắt của anh.
Tom không chịu đứng lên, bác vẫn quỳ một chỗ, khẩn khoản nài nỉ ông chủ mình phải gìn giữ sức khỏe và linh hồn.
- Này, Tom ơi! Nào tôi có ưng giao du với đám bạn bè đầy thói hư, nết xấu đó. Phải! Với tất cả danh dự, tôi nói cho anh biết điều này. Đã lâu lắm rồi, tôi ghét họ, tôi ghét cả chính tôi. Nhưng... Này Tom, đứng lên d0i! Lau khô nước mắt đi! Chớ, đừng làm như mang ơn tôi quá nặng như thế, tôi thật không xứng đáng...
Ông đỡ Tom đứng lên và thân mật dắt Tom đến cửa phòng :
- Tôi hứa với anh là kể từ nay tôi sẽ không say sưa bừa bãi nữa. Tôi sẽ cố gắng, anh sẽ thấy tôi không bao giờ ở trong tình trạng tồi tệ như đêm qua.
Tom tươi ngay nét mặt, đưa tay gạt những giọt nước mắt loang loáng trên má và quay ra, lòng thanh thản, sung sướng vì tin lời chủ hứa.
Và kể từ đó, ông Saint Clare giữ lời hứa với Tom. Người ta không hiểu có bao giờ ông mong mỏi vợ ông - người đàn bà kiêu kỳ, ích kỷ kia - có được đôi chút đức tính của một người tôi tớ da đen?
* * * * *
Tuy nhiên, nếu nói về nỗi khổ tâm của những người trong đại gia đình này, ta phải kể đến cô Ophélia, người được giao cho trọng trách điều hành mọi việc trong ngôi nhà to lớn ở miền Nam này.
Có một sự khác biệt giữa bọn nô lệ miền Nam, họ tùy thuộc nhiều vào đức tính của chủ nhân, nhất ià các bà chủ. Nhưng dù ở miền Nam hay miền Bắc, có những phụ nữ da trắng có một trình độ rất cao trong việc điều khiển cũng như dạy dỗ đám nô lệ của họ. Có người không cần phải khắc nghiệt, cứng rắn mà vẫn được nô lệ kính phục, tuân lời răm rắp.
Chẳng hạn như bà Shelby. Điều đáng tiếc là những bà chủ như thế này không có nhiều. Marie Clare cũng thừa hưởng nết đoảng của mẹ không thuộc vào loại phụ nữ khả kính này.
Vì vậy, ngày đầu tiên đứng ra đảm nhận trọng trách do vợ ông em họ giao phó, cô Ophélia đã đứng thẳng bốn tiếng đồng hồ, và sau khi quét dọn sạch sẽ gian phòng dành cho cô, một việc cô vẫn tự tay làm lấy từ lúc đến nhà này, trước vẻ kinh ngạc của chị bồi phòng; cô bắt đầu thanh sát nghiêm khắc tất cả các ngăn, các tủ và các phòng mà cô được giao chìa khóa.
Phòng ăn, phòng giặt giũ, phòng đựng đồ sứ, nhà bếp, kho rượu v.v... tất cả đều được cô quan tâm cẩn thận. Chao ơi! Biết bao bí mật cẩu thả bừa bãi được phơi trần trước mắt con người sắt thép này làm cho bọn tôi tớ vốn quen nhác nhờn một phen hoảng vía. Có đứa lo âu, thấp thỏm nhưng cũng có kẻ phản đối - ngấm ngầm thôi -phương pháp làm việc của cô gái già miền Bắc.
Riêng bà đầu bếp chính Dinad, người coi sóc tổng quát khu vực quanh nhà bếp, người có nhiều quyền hạn trong nhà bếp thì sự chống đối tỏ ra mạnh mẽ nhất, bộc lộ chứ không cần che giấu. Nói cho công bình, tài nấu nướng của bà ta không thua kém chi Chloé, vợ của bác Tom tại trang trại ông bà Shelby, nhưng bác Tom gái được hướng dẫn bởi một bà chủ ngăn nắp, bác sống từ nhỏ đến lớn ở một đại gia có tổ chức phân minh, thứ tự, sạch sẽ đâu ra đấy. Bà Dinad thì khác hẳn, hãnh diện và kiêu ngạo về tài nấu nướng của mình, bà không coi ai ra gì. Bà ta lại có tính bướng bỉnh, độc đoán, thích gì làm nấy, không biết phục thiện, không thèm nghe ai cả - (vả lại, đâu có ai đủ uy quyền để khiển trách bà ta, có một nữ chủ nhân thì suốt ngày chỉ những than đau, kêu mệt) vì vậy bà ta tha hồ tung hoành theo ý thích mình. Bà ta cho rằng trên đời này không có một kẻ nào có tài hơn mình, giỏi hơn mình, khôn hơn mình để đủ sức khiến bà ta có thể chịu để lọt tai một lời khuyên bảo. Cách của bà ta là cách hoàn hảo nhất, dù rằng nhìn vào gian bếp, người ta tưởng như nhìn vào khu rừng sau trận bão tố ghê người.
Phần lớn người phụ nữ da đen này chịu ảnh hưởng của bà chủ cũ, mẹ vợ ông Saint Clare, kế đó là bà chủ hiện thời: Marie Clare; mà hai người này thì có thiết để mắt vào khu vực bếp núc bao giờ đâu? Mụ Dinad được quyền sai khiến hàng tá tôi tớ dưới quyền (như tất cả các đại gia miền Nam). Bắt nạt đám tôi tớ dưới quyền mình và khúm núm, hết sức lấy lòng chủ nhân, đó là tài riêng của mụ. Mụ có trăm ngàn cách để bào chữa lỗi minh và cỡ vài chục đứa để mụ đổ lỗi cho, vì mụ luôn miệng nói: “Người đầu bếp chính không bao giờ có lỗi”.
Suốt ngày, mụ tha hồ khiển trách đứa này, la lối đứa kia, rộng miệng, to tiếng còn hơn cả bà chủ trên nhà, trong cái giang san riêng tại nhà bếp!
Tuy nhiên, nếu chỉ xét đến kết quả thì không có chỗ nào chê trách mụ cả, mụ được nể nang nhờ những kết quả rõ ràng ấy. Dù rằng mụ theo đuổi con đường quanh co, lồi lõm... nhưng vẫn đến đích một cách cừ khôi. Ấy vậy, cứ kiểu đó mụ điều hành bổn phận, những vật mà mụ bày ra trong bếp, ta có thể đếm và kinh ngạc mà thấy có nhiều như số ngày trong một năm! Nhưng hãy cứ yên tâm, mụ có cách chống chế: có thế chủ nhân mới có được những bữa ăn ngon lành, thịnh soạn mà người khó tính, sành điệu mấy cũng không thể đặt miệng vào chỗ nào để chê bai lấy nửa lời.
Túc trực xung quanh dưới quyền Dinad là một số tôi tớ, thuộc hạ của gia đình sang trọng này. Theo lệnh mụ, chúng ngồi la liệt quanh gian bếp, đứa bóc vỏ đậu, đứa gọt khoai tây, đứa nhặt rau, đứa thái hành, xắt thịt... đứa thì săm soi nhổ những bộ lông láng mướt của chú vịt béo hay chị gà mái tơ!
Mụ Dinad dáng bộ thư thả, uy nghi như một vị tướng đang sắp đặt trận đồ, ngồi bệch trên nền nhà, miệng phì phà cái ống píp mà mụ rất ưa thích và luôn luôn lập lòe lửa khói như một cái đỉnh trầm hương. Đừng tưởng mụ ngồi chơi, đó chính là lúc mụ làm việc hăng say hơn ai hết: với dáng bộ suy tư mà nhàn nhã đó, mụ moi óc tìm ra những món lạ, thức ngon, cống hiến cho thực khách sắp vào bàn lát nữa đây. Đôi khi, bữa ăn dọn trễ hơn thường lệ, nhưng có sao: ông Clare vốn dễ tính và lỗi đâu ở mụ: tại bọn tôi tớ dưới quyền kia mà!
Để điều chỉnh, sai phái bọn dưới quyền cho hiệu quả, thỉnh thoảng Dinad ngừng thở và hít khói, lấy tay cốc lên đầu đứa này một cái nên thân hoặc la đứa kia về tội lơ là bổn phận, chậm chạp chi đó.
Cô Ophélia mở cuộc thanh tra nhà bếp vào giữa một lúc như thế. Tin cô đi thị sát đã mọc cánh bay đến tai mụ trước nhiều giờ, nhưng mụ Dinad chớ đâu phải tay hèn mà lo sợ? Mụ quyết định sẽ cứng rắn đương đầu với cô, chống lại việc này và thề không chịu thay đổi gì cả. Đừng có hòng mà nói chuyện thay đổi, cải cách gì với mụ ta. Ngay bà chủ kia mà còn chưa bao giờ nghĩ đến cải cách nữa là...
Nhà bếp là một căn phòng rộng rãi, nền lát gạch, một lò sưởi lớn kiểu cổ chiếm một góc phòng. Ông chủ cố gắng thuyết phục mụ Dinad trong việc đập phá nó đi để xây một cái lò mà không xong, vì mụ ta nhất định không bằng lòng, và ông... chịu thua.
Với một tinh thần chống đối như thế, mụ Dinad ngồi tỉnh bơ tiếp tục phì phà khói thuốc với vẻ bình thản như không trong lúc cô Ophélia bước chân vào gian bếp. Mụ ngồi yên làm như không biết đến sự hiện diện của cô, như đang bận điều khiển đám thuộc hạ của mình song kỳ thật vẫn liếc xéo, theo dõi hành động con người phá đám, theo ý mụ.
Ophélia mở một ngăn tủ, cao giọng hỏi :
- Chỗ này đựng gì đây, già Dinad?
- Thưa cô, đủ thứ, đựng đủ thứ.
Mụ lễ phép giả tạo, bình tĩnh trả lời. Mà đúng như mụ nói, trong đó đựng đủ thứ: trước hết cô Ophélia thấy một cái khăn trải bàn có hoa sặc sỡ dính đầy máu tươi, chắc là vừa được dùng gói một miếng thịt sống. Giọng cô nghiêm khắc :
- Cái gì vậy, Dinad? Tôi nghĩ là bà không đến nỗi bừa bãi dùng khăn bàn đẹp đẽ thế này mà gói thịt chứ?
- Chúa ơi! Tôi không còn cái khăn nào khác, trong lúc lật đật quá, tôi dùng tạm rồi sẽ bỏ giặt, có sao đâu, thưa cô.
- Khùng thật!
Cô Ophélia lẩm bẩm trong miệng, dáng bực tức song vẫn cố nén, tiếp tục việc thanh sát. Trong ngăn tủ thứ hai, cô thấy cái dũa, vài ba hạt đậu khấu, một cuốn thánh ca của giáo phái méthodisme, một cuộn len, một cái áo ấm, một gói thuốc, một cái ống píp, vài tấm giẻ rách bẩn thỉu, những chiếc giày cũ, vài cái pháo, hai lọ sốt vàng ối nhưng không dựng sốt mà đựng pom-mát, một miếng nỉ được đục lỗ tỉ mỉ thì dùng gói mấy củ hành... rồi khăn ăn hoa hòe lộn trong khăn bàn nhăn nhúm, cặp que đan áo bên cạnh cái bao thư rách nát lòi ra vài cọng hành ngò bốc mùi thơm, có những thứ nồng nặc, hôi hám...
- Chỗ bà dành cất đậu khấu ở đâu, hở bà Dinad?
Cô hỏi, giọng của một người hết sức nhẫn nhục. Mụ Dinad đáp tỉnh bơ :
- Dạ, cùng hết, chỗ nào cũng được: trong tủ, trong cái tách nứt.
- Tôi thấy bà để chung đậu với cái dũa.
Con người ngăn nắp cố gắng để đừng nổi nóng lên.
- Dạ, sáng nay tôi để đó cho tiện. Tánh tôi... tôi ưa để mọi vật vừa tầm tay, cô à!
- Hừ, vừa tầm tay, nhưng đừng lộn pom-mắt với sốt chứ...
- Chúa ơi! Tôi bận bịu quá đó, tôi sẽ sắp đặt đâu ra đó trong vài bữa nữa.
- Còn khăn bàn thì sao?
- Ả, tôi để đó chờ đem bỏ giặt, vài bữa nữa sẽ giặt...
- Bà không có một chỗ nào để dành riêng mà đựng đồ sắp giặt sao?
- Có chứ, thưa cô! Ông chủ có sắm cho tôi một cái thùng, nhưng thùng có nắp mà nắp thì nặng trịch, thêm nữa tôi để mấy thứ đồ vật trên nắp, mỗi lần giở ra đậy lại mất công quá đi.
- Tại sao không để đồ lặt vặt trên bàn? - Cô Ophélia vẫn ôn tồn, kiên nhẫn.
- Dạ, để chớ, mà chật chỗ, cô thấy đó: ly tách, bát dĩa đầy nhóc bàn... không còn chỗ trống.
- Bà phải rửa hết ly tách, dĩa bát và dọn trống cái bàn.
Lần này mụ Dinard nổi tam bành lên, quên cả giữ lễ :
- Rửa dọn hết à? Nếu tôi làm theo lời cô thì chừng nào ông chủ mới được dùng bữa trưa đây? Tôi không thể mất thì giờ rửa ba cái đồ quỷ này. Các bà, các cô, nói xin lỗi... biết gì chuyện nhà bếp? Bà Clare không khi nào chen vô chuyện của tôi hết, thưa cô.
- Còn củ hành thì để...
- Ạ! Cái đó là tôi quên, tôi không định bỏ trong đó, tôi tính sấy cho khô đó chứ, thưa cô!
- Hành ngò thì gói trong bao thư...
Cô Ophélia nói và lôi túm hành ngò ra, đưa lên.
- Thưa cô, tôi nghĩ là cô không nên đụng đến mấy thứ này, cô làm lộn xộn hết ba cái đồ cần dùng của tôi, tôi muốn là, hễ khi cần đến tức thì có sẵn, khỏi mất công tìm...
- Nhưng bà phải nhận thấy bao thư rách chứ?
- Dạ, rách càng dễ lấy ra.
Giọng Dinad quyết liệt. Ophelia cao giọng :
- Bà không thấy là trong ngăn tủ lộn xộn sao?
- Có thể... có thể là tại cô, chính cô làm lộn xộn thêm - Lần này, bà ta chịu xê dịch, đứng lên ngăn tủ - Nếu cô chịu trở lên phòng khách, tôi mới có thể sắp đặt đâu vô đó đàng hoàng, thứ tự. Nói thiệt, tôi không thể làm gì được nếu có các bà làm rộn...
- Dinad, nghe đây: tôi sẽ sắp đặt thứ tự lại từ trên chí dưới, phải, tôi sẽ đích thân làm lấy. Và từ nay, tôi hy vọng là bà sẽ tiếp tục làm giống y như tôi.
Dinad làm như dẫm nhằm tổ kiến lửa, bà ta nhảy nhổm lên :
- Á, ý, cô ơi, đây không phải là việc của những người như cô... Tôi chưa bao giờ thấy quý cô, quý bà làm chuyện này, kể cả bà chủ trước của tôi, bà mẹ của bà Marie và cả bà Marie. Không! Không!
Mặc kệ mụ già phản đối, cô Ophélia thoăn thoắt xếp dọn, rửa ráy, bày biện, đâu ra đó, thứ tự, ngăn nắp từ chút một, nhanh nhẹn, mau mắn làm cho mụ Dinad sững sờ, sau khi đi lui, đi tới bằng những bước chân nặng nhọc, bực bõ.
Trong vòng hai ba hôm liền, cô Ophélia cải tạo cả nhà, nhưng những cố gắng ấy, trong sự bất hợp tác của đám tôi tớ, giống y như là những cố gắng của Sisyphe hay của dân xứ Danaides, của một con dã tràng xe cát trên bãi hiển.
Một hôm vì quá nản lòng, cô than phiền với Saint Clare :
- Tôi hết sức cố gắng, nhưng cậu ơi! Tôi có cảm tưởng như không thể nào tái lập trật tự trong nhà này.
- Đúng đó, chị ơi!
- Tôi chưa bao giờ gặp phải hạng người ngoan cố, hư hỏng, bừa bãi như bọn gia nhân nhà cậu.
- Em hoàn toàn đồng ý với chị đó, chị Ophélia.
- Cậu sẽ không còn thờ ơ kiểu này nếu cậu đảm nhận công việc của tôi.
- Chị thân mến ơi! Chị nên hiểu rõ điều này: chúng ta - em muốn nói hạng người làm chủ chúng ta đây - được chia làm hai thành phần: một hạng áp bức và hạng nữa... bị áp bức. Chúng ta là hạng tốt, ghét sự áp bức, vì vậy chúng ta gặp phải trở ngại. Giữ bọn nô lệ trong nhà, chúng ta phải gánh chịu hậu quả. Thật khó lập được trật tự mà không dùng kỷ luật sắt. Em không thích đánh đập, cho nên em phó mặc mọi việc đến đâu thì đến. Em không nỡ trừng phạt chúng bằng roi đòn, chúng biết rõ điều này nên lợi dụng lòng tốt của em.
- Nhưng, thử hỏi cậu, dù sao đi nữa cũng phải có ngăn nắp, giờ giấc đôi chút chứ, có lẽ nào lại tệ đến cái mức như nhà này...
- Ở Vermont miền Bắc, người ta quen kỷ luật khuôn khổ đi rồi, nhưng để làm gì chứ? Như em đây, giờ giấc mà làm chi? Em có bận rộn công việc gì đâu, chị thấy chứ? Vậy thì thứ tự, ngăn nắp, giờ giấc để đi đến đâu? Em có việc gì ngoài việc nằm ườn ra trên trường kỷ, đợi bữa ăn, vậy thì tôi tớ nó có dọn sớm một tí, hay trễ một tí đã làm sao, có hại gì đâu? Mà chị thừa rõ đó: Dinad dọn cho ta những bữa ăn ngon lành không chê vào đâu được. Từ rau cải, thịt, cá cho đến thức ăn tráng miệng, món bánh ngọt, món kem lạnh, ừ, em đồng ý là mụ ta lộn xộn, bừa bãi đấy... nhưng mà để ý làm chi? Em cam đoan chị cứ tiếp tục xuống bếp ít lâu chắc chị không dám nếm đến các món mụ làm nữa. Chị sẽ không chịu đựng nổi và chị sẽ phát điên cho mà coi. Tốt hơn, chị nên để mặc mụ ta.
- Tôi chắc cậu không biết hết mọi sự ở trong bếp, cậu chưa biết mà...
- Sao lại không: này, cái cây cán bột mụ ta vứt dưới gậm giường, cái dũa nằm trong túi áo lẫn với thuốc lá, mụ ta lau bát dĩa bằng cái khăn bàn ngày hôm qua, nhưng hôm nay thì lau bằng cái áo cũ của mụ chứ gì? Ôi thôi! Em thừa biết, em biết chán ra rồi, nhưng được cái là bữa ăn mụ dọn hoàn hảo, cà phê mụ pha ngon lành. Em, thì xếp hàng mụ vào ngang với các nhà lãnh đạo quốc gia và hàng tướng lãnh tài ba, mụ thành công vượt bực, chị đồng ý chứ?
- Còn sự hư hỏng, sự cẩu thả, sự phí phạm?
- À! Điều này thì... cũng không có gì là khó: hãy từ từ, chầm chậm thi hành biện pháp đề phòng, đừng để ý chi tiết mà nhọc trí; chị cất phăng chìa khóa đi, phương cách của em coi vậy mà hay à!
- Cậu Clare, đôi khi tôi thắc mắc: không hiểu bọn chúng có lương thiện không? Có nên tin tưởng chúng không?
Clare cười ngất trước vẻ trang trọng của bà chị :
- Thật là quá, quá! Lương thiện! Đòi hỏi chi điều đó? Ta phải làm thế nào đạt được điều mong mỏi này?
- Bộ dễ cả lũ không được một đứa tin được hay sao?
- Em có nói vậy đâu. Thỉnh thoảng Thượng đế cũng giỡn chơi bằng cách tạo vài tên thật thuần phác, hiền hậu, trung thành chp đến nỗi dù ai ác cảm với dân da đen đến đâu cũng không thể phủ nhận điều này. Nhưng thường thường thì, chị nghĩ xem: từ thuở lọt lòng mẹ bọn trẻ da màu đã ý thức được rằng chỉ có thể thành công bằng cách gian ngoa, điêu trá. Làm sao để lừa được cha mẹ chúng, chủ nhân chúng và con của chủ chúng, ngay các bọn đồng chúng nữa. Đó, mưu mẹo, gian dối, trở thành thói quen cần thiết, làm sao tránh được? Ta không thể đòi hỏi gì khác ở chúng, mà cũng chớ nên trừng phạt vì tật xấu này. Em cho là vô phương cảm hóa chúng... A! Người như Tom là một ngoại lệ khó hiểu, một phép lạ hiếm có.
- Cậu nói vậy, nghĩa là dân da đen không có lương tâm gì ráo?
- Lương tâm? Đó thật không phải là việc em tìm hiểu. Em chỉ biết chúng qua hành động chúng và như thế người ta có thể tin là dân da đen ám dân da trắng như một lũ quỷ dữ trên trái đất này. Có thể trên Thiên đàng mọi sự đổi khác.
- Thật khủng khiếp! Đám chủ nhân nô lệ như cậu phải lấy làm xấu hổ chứ!
- Em không dám chắc như thế. Ta thuộc về một tập thể tốt lành... Nhưng chị hãy nhìn từ trên xuống dưới coi, khắp mọi nơi sự việc xảy ra y như nhau. Hạng thấp hèn phải chịu hy sinh cho hạng trên, cả xác lẫn hồn. Bên Anh cũng vậy và trong khi ấy, dân theo Chúa chống lại chúng ta chỉ vì ta làm một việc như họ nhưng với phương pháp khác.
- Vậy theo ý cậu, nô lệ có nên được giải phóng chăng?
- Em không rõ lắm, có điều chắc chắn là ngày nay sự bất bình đang ngấm ngầm lan tràn khắp mọi nơi trên quả đất. Em nghĩ là không sớm thì muộn, thế thôi. Một sự đảo lộn khủng khiếp. Tai họa sẽ giáng xuống châu Âu, nước Anh và cả trên cả xứ sở này. Mẹ em ngày trước vẫn nói rằng một kỷ nguyên mới sắp đến và nhân loại sẽ thấy uy quyền của Chúa, Chúa dành sự tự do và hạnh phúc cho tất cả mọi người. Từ khi em còn nhỏ, mẹ em đã dạy em cầu nguyện cho ngày mở đầu kỷ nguyên này. Phần em, đôi khi em cảm thấy những tiếng thở dài, những lời van vỉ, những nỗi uất hận... tất cả những thứ đó như báo trước những ngày thay đổi... nhưng ai có thể sống để mà thấy được ngày này?
- Cậu Clare, có nhiều lúc tôi tưởng như cậu không phải là người vô thần, bất kính. Cậu có tâm hồn. Cậu...
Bà chị nói, mắt nhìn em ái ngại.
- Cảm ơn chị về ý nghĩ tốt cho em. Em thì như vừa ở Thiên đàng vừa ở Địa ngục. Trên lý thuyết, em đang đứng ngang trước cổng nước Trời, song trong thực hành em lại gần cát bụi. Mà thôi, bữa ăn sắp xong kìa, em hy vọng là chị không còn cho rằng em chỉ biết nói chuyện nhảm thôi, ít nhất, em cũng có thể nói chuyện đứng đắn một lần, phải không, hở chị?
* * * * *
Trong bữa ăn, Marie phàn nàn là bà không chịu được khi thấy bọn da đen ăn uống vồ vập, ngốn ngấu như thể bị bỏ đói lâu ngày.
- Có lẽ do những cùng khổ thiếu thốn lâu ngày khiến chúng khó lòng bỏ được thói xấu, chắc cần phải có biện pháp nghiêm khắc mới chế ngự nổi chúng. Tôi còn nhớ lúc trước cha tôi có một tên nô lệ lười biếng lạ lùng, gã luôn luôn tìm mọi cách để trốn việc, bỏ đi lang thang trên đồng cỏ, ăn cắp và phạm đủ tật xấu. Có khi bị bắt và bị đánh đập. Rồi chỉ ít lâu sau lại y như cũ, không sao hoán cải. Sau cùng, gã bỏ đi lần nữa, cho đến nỗi kiệt súc chết đi. Mà ở nhà cha tôi gã đâu có bị hành hạ, cha tôi đối xử với nô lệ rất tốt. Thật khó hiểu.
- Có một lần, tôi làm thay đổi được tên da đen mà tất cả mọi người đều tỏ ra tuyệt vọng về hắn.
Clare nói. Marie hăm hở bảo chồng :
- Em muốn biết anh chế ngự hắn cách nào, em tò mò muốn biết anh làm sao mà...
- Đó là một tên vạm vỡ, có sức manh vô song mà cũng bất trị nhất. Không ai trị hắn nổi, họ chuyển nhượng hắn từ tay người chủ này sang tay người chủ khác. Sau hắn thuộc quyền anh Alfred của tôi. Anh mua hắn với hy vọng là sửa trị nổi hắn. Ai ngờ, hắn hạ gục người canh gác và bỏ trốn. Gặp lúc tôi đến thăm anh tôi. Anh ấy đang tức giận tột độ. Tôi thì cho là lỗi ở anh ấy và tôi bằng lòng dự vào cuộc săn đuổi tên nô lệ làm loạn này. Người ta đồng ý là nếu tôi bắt được hắn, hắn sẽ thuộc quyền tôi và đồng ý để tôi chế ngự hắn theo phương cách riêng của tôi.
Bọn người đi săn hắn gồm bảy hay tám người chi đó, có súng ống đầy đủ và cả... chó săn. Coi bộ mọi người hăng hái trong cuộc săn này cũng như đi săn nai vậy đó, có lẽ do thói quen. Phần tôi, tôi cảm thấy bị khích động đôi chút, dù tôi là người ngoại cuộc, tôi nghĩ đến trong trường hợp họ giết chết tên này...
Ông Clare ngừng lại một giây trong lúc vợ ông và Eva có vẻ nôn nóng :
- Chúng tôi thúc ngựa phi nhanh, đàn chó thì sủa vang trời. Chúng tôi đuổi kịp hắn, hắn vừa chạy vừa nhảy như một con mang, chúng tôi rượt theo thật mệt lử mới thu ngắn được khoảng cách. Sau cùng, hắn ngừng lại bên một bụi mía rậm rạp, quay người đối mặt với chúng tôi. Tôi phải công nhận là hắn rất can đảm, mình hắn, hắn hạ gục hai ba con chó với hai nắm tay không, mỗi con nằm lăn lộn một bên Thế rồi, một phát súng nổ làm hắn gục xuống, mình mẩy đầy máu, hắn lê đến bên chân tôi. Cái nhìn của hắn vừa tuyệt vọng vừa bất khuất. Tôi không thể nào để mặc cho đám chó và người xông vào xâu xé hắn nên đứng ra ngăn họ lại. Tôi phải cố hết sức mới thuyết phục được những người đang say máu một hai đòi giết hắn ngay lúc đó. Tôi thân hành đưa hắn ra đến chợ và cuối cùng tôi mua hắn khỏi tay chủ cũ: anh Alfred.
Tôi đưa hắn về nhà tôi. Trong vòng nửa tháng sau, tôi đã biến hắn thành một người khác, hắn ngoan và hiền hơn một con cừu non.
- Anh làm sao?
Marie kêu lên.
- Thật giản dị: anh cho hắn ở trong phòng anh, nằm trên giường anh, anh tự tay băng bó vết thương của hắn, anh đích thân săn sóc hắn cho kỳ đến khi hắn hoàn toàn bình phục. Sau đó anh giải phóng hắn, anh bảo hắn có thể đi đâu tùy ý, anh không ngăn cản.
- Thế hắn nói sao? Hắn có đi không?
Cô Ophélia hỏi.
- Không! Tên cứng cổ bất trị ấy xé đôi tờ giấy và từ chối ra đi. Kể từ đấy tôi có một tên nô lệ đặc biệt: trung thành, siêng năng, lúc nào cũng một lòng với chủ hơn cả một con nghĩa khuyển. Sau đó, hắn trở lại đạo và thuần nết như một đứa trẻ. Hắn có phận sự trông nom khu vườn của tôi bên bờ hồ. Hắn chu toàn bổn phận đến mức tối đa, tôi chưa bao giờ thấy có gì trách hắn được.
Ông tiếp :
- Nhưng hắn đã chết vì bệnh đậu mùa, nguyên thế này: tôi vướng chứng ngặt nghèo này, thật là một điều đáng sợ - mọi người đều bỏ rơi tôi. Hắn thì không. Một mình Scipion - tên hắn - săn sóc tôi tận tình, có thể nói hắn giật tôi khôi thần chết, sự cố gắng phi thường đó đã cứu sống tôi nhưng than ơi: hắn bị lây bệnh và không ai cứu hắn được. Tôi chưa bao giờ thấy tiếc thương một nô lệ như thương tiếc hắn.
Eva càng lúc càng cảm động, em ngồi sát cạnh cha hơn, đôi môi hé mở, mắt long lanh rực sáng và khuôn mặt em ửng hồng lên. Khi cha em dứt lời em vòng tay quanh cổ cha, ràn rụa nước mắt, nức lên khóc.
- Coi kìa! Con yêu của ba! Con làm sao vậy? Đáng lẽ ba không kể chuyện này cho con biết. Con nhạy cảm quá.
Người cha hôn con âu yếm, khi thấy con run rẩy, ôm mình.
- Không đâu, ba ơi! Con không nhạy cảm đâu, ba đừng lo...
Em nói, cố làm ra vẻ cứng rắn như một người lớn :
- Con không có xúc động bậy bạ đâu, nhưng những chuyện như thế làm con đau nhói trong lòng.
- Con nói gì vậy, ý con muốn nói gì?
- Thưa, ba con không biết nói sao cho ba hiểu. Con thường nghĩ đến nhiều điều... Có một ngày kia, con sẽ kể cho ba biết rõ, con sẽ nói cho ba nghe con nghĩ gì.
- Con cứ suy nghĩ, ba không ngăn con, miễn là đừng khóc và làm ba buồn, thế thôi. Này, nhìn coi: trái đào xinh ghê chưa, ba hái cho con đấy!
Eva tươi cười đón trái đào nhưng trên mặt em còn phảng phất nét buồn vướng lại.
- Ra đây với ba! Ba chỉ cho con coi bầy cá đỏ đẹp lắm!
Người cha nói và nắm tay con, dắt ra sân.
Chỉ lát sau, người ta nghe tiếng hai cha con ông cười ròn rã, Eva ngắt bông hồng ném cha và hai cha con rượt đuổi nhau chạy khắp vườn.
* * * * *
Nơi bác Tom ở là một căn phòng nhỏ bé nằm bên canh chuồng ngựa. Căn phòng rất ngăn nắp, sạch sẽ, bên trong có một cái giường, một cái ghế, một cái bàn nhỏ bằng gỗ tạp; trên bàn người ta thấy cuốn Thánh kinh và tập Thánh ca của Tom.
Lúc này vào giờ rảnh rỗi, nên Tom đang ngồi trước bàn, chăm chỉ để làm việc riêng của mình, một công việc trọng đại nhất: viết thư cho vợ con mình. Công việc viết lách phiền toái khó khăn còn hơn hồi bác ở nhà ông Shelby tập viết rất nhiều. Thật dễ hiểu: lúc đó bác chỉ cố đọc và viết thông thạo để thoát khỏi tình trạng mù chữ, để có thể đọc Thánh kinh và vừa lòng cậu chủ nhỏ tốt bụng; còn giờ đây là bác vận dụng hết khả năng văn hóa của mình để truyền đạt tới những người thân yêu nhất tại Kentucky - mà bác biết đang ngày ngóng đêm trông - những cảm nghĩ, những ước muốn tha thiết nhất của mình, cũng như hỏi thăm sức khỏe mọi người, kể cả ông bà chủ đã bán bác đi vì thế kẹt và cậu Georges.
Thật ra, bác Tom nghĩ đến chuyện viết thư đã khá lâu, cho đến một hôm sự nhớ nhung dày vò bác tới mức không chịu nổi, bác đánh bạo hỏi Eva xin một tờ giấy viết thư. Và giờ đây là lúc con người đáng thương đó tập trung hết cố gắng, đem hết cái vốn liếng học hỏi thu thập từ khi còn ở Kentucky ra thực hành, hướng đến cái mục đích chính đáng đã khiến bác do dự, đã nghiền ngẫm ngày đêm.
Trước tiên, bác viết nháp trên tấm bảng. Chao ôi! Bác vấp phải một trở ngại khá lớn. Lâu quá không có dịp gần gũi đèn sách, bác quên mất đi nhiều nguyên âm, quên cả các phụ âm. Tuy nhiên, bác đâu dễ nản lòng? Bác cặm cụi, cố gắng một cách cực nhọc, khó khăn, nom thật đáng thương.
Thình lình, bác giật mình ngẩng lên vì cô bé Eva, vị thiên thần bé nhỏ kính yêu của bác bước vào lúc nào bác không hay biết, đang đứng cạnh bác và nhìn xuyên qua vai bác, lên tiếng hỏi :
- Ủa, bác Tom, bác làm gì đó, bác viết cái gì?
- Tôi đang viết thư đó cô Eva, tôi viết thư cho vợ tôi và lũ con tôi. Tội nghiệp, cả nhà đang đợi tin tôi, đợi từng giờ, từng ngày...
- Cháu giúp bác được à: Cháu có học mà, cháu đã thuộc làu tất cả các chữ từ hồi năm ngoái... Chà, nhưng cháu cũng hơi ngán: cháu có thể quên vài chữ chớ chẳng không.
Tom lấy làm sung sướng vì sự sốt sắng của cô chủ nhỏ dễ thương. Thế là hai người, một già một trẻ, tụm lại bên nhau: mái tóc vàng óng ả nhỏ nhắn của Eva và mái tóc đen, to lớn của người nô lộ. Cả hai có trình độ xuýt xoắt nhau, không xê xích mấy, dù rằng cô bé thừa thiện chí sẵn sàng giúp đỡ người lão bộc mà cô thương mến nhiều nhất so với đám nô lệ trong nhà cô.
Hai bên cùng hợp lực, suy nghĩ, nắn nót, gò gẫm một lát, tuy không dễ dàng chút nào nhưng rồi công việc cũng hoàn thành, Eva sung sướng ngắm nghía kỳ công và cất tiếng khen :
- Bác Tom nhìn coi: đẹp ghê há? Cháu tin là vợ bác sẽ mừng ghê gớm và con bác cũng vậy. Tội nghiệp quá! Để rồi cháu sẽ xin ba cháu, sau một thời gian nữa, trả bác về với gia đình. Cháu muốn vậy.
- Cảm ơn cô Eva! Cảm ơn lòng tốt của cô lắm. Bà chủ của tôi hứa là sẽ chuộc lại tôi ngay khi bà có thể. Con trai bà, cậu Georges cũng nói cậu sẽ tìm đến tận nơi tôi ở, một ngày kia. Cô Eva xem này: cậu ấy cho tôi đồng vàng này, chính tay cậu đục lỗ, xâu dây và đeo vào cổ tôi, coi như bảo đảm...
Bác nói và rút đồng vàng ra khỏi ngực đưa cho Eva thấy. Eva cũng tỏ ra tin tưởng như bác nô lệ :
- Thế thì cậu ấy sẽ đến. Cháu tin chắc...
- Tôi phải viết thư cho họ, cô thấy không? Đặng mọi người biết tôi đang mạnh giỏi thế nào, ở đâu. Tội nghiệp vợ tôi, bà ấy vẫn lo lắng cho tôi từng chút.
- Ê! Tom! Làm gì vậy? Hai người làm gì vậy hả?
Ba của Eva hỏi trong khi chân ông đặt ở cửa phòng, đưa mắt nhìn vào. Tom và Eva cùng ngẩng đầu lên một lượt :
- Thưa ông chủ, chúng tôi, cô Eva và tôi đang thảo một lá thư, thưa có được không, thưa ông? Viết gửi về Kentucky đó, thưa ông...
- Tôi không muốn làm các bạn nản lòng đâu, việc này đáng khuyến khích nhưng...
Ông chủ Clare ngừìig lại một chút, giọng ôn tồn :
- Tốt hơn hết, tôi sẽ viết lại giùm cho rõ ràng, sau khi tôi đi công chuyện đằng này một lát.
- Ồ, thưa ba, vậy thì hay lắm. Lá thư này quan trọng lắm, ba ơi! Bởi vì ba biết không? Bà chủ cũ của bác ấy hứa sẽ kiếm tiền chuộc bác về...
- Ba biết, ba biết, ba hiểu lắm mà. Để chốc về ba sẽ viết cho.
Miệng nói thế, vì tốt bụng không muốn Tom mất tin tưởng ở chủ cũ, song ông nghĩ hơi khác: ông không nghi ngờ thiện chí của bà chủ xa lạ ở Kentucky, nhưng ông đoán rằng đó chỉ là lời hứa của một người tốt bụng, thốt ra cốt để an ủi, xoa dịu nỗi khổ tâm của tên nô lệ bị bán đi. Dù sao để Tom tin tưởng vẫn hơn là làm cho bác thất vọng.
Saint Clare sai Tom đi thắng ngựa cho mình.
Ngay chiều đó, khi vừa về đến nhà thì việc đầu tiên của ông là viết lại lá thư Tom cho đàng hoàng, và Tom rất yên lòng vì thư được phong lại, bỏ vào thùng trước mắt mình.

0
Chương 16
 
Một buổi sáng đang bận những công việc như ta đã biết thì cô Ophélia bỗng nghe tiếng ông em trai reo lên, vui vẻ dưới chân cầu thang :
- Chị ơi! Xuống đây mà coi này! Có chuyện hay lắm, chị ơi!
- Cái gì đó, cậu?
Miệng hỏi, chân đi xuống thang lầu, và vì cô là một người không bao giờ chịu ngồi không cho nên cô mang theo cả que đan và len. Clare cười rất tươi :
- Em tặng chị một món quà... hiếm có!
Nói xong, ông đẩy tới trước mặt chị một đứa trẻ da đen cỡ lên tám hay chín tuổi chi đó.
Con bé quả thật là đen, đen bóng, từ ngọn tóc đến ngón chân. Đôi mắt to, sáng quắc như hai hạt thủy tinh nhìn láo liên khắp xung quanh. Nó há hốc miệng ra khi nhìn thấy những đồ vật xinh đẹp sang trọng bày biện trong phòng khách lớn của gia đình này, để lộ hàm răng trắng nổi bật. Tóc nó xoăn tít, cuốn thành nhiều lọn nhỏ, bù xù bao quanh đầu. Khuôn mặt nhỏ bé choắt lại, vừa có nét sắc sảo, ma mãnh lại vừa nghiêm trang buồn bã.
Còn áo quần nó... Người ta có thể gọi đó là áo quần không, khi mà chỉ là một mớ giẻ rách chằm nhíu lại, vá víu lung tung che từ ngang vai xuống tới gối. Nó đứng yên, hai tay vòng trước ngực, nhưng con ngươi nó lộ ra một sự hiếu động khác thường, nó không có vẻ nhu mì của một đứa con gái mà toát ra một vẻ gì rất... con trai... rất du côn. Tóm tắt lại thì nó là một đứa hình dung cổ quái, tướng mạo lạ lùng.
Cô Ophélia chưa từng trông thấy một đứa bé gái nào giống như nó, nên cô quay lại em trái, vẻ mặt cau có, hỏi ông ta :
- Hết chuyện đùa rồi chắc, sau cậu lại rước nó về đây làm chi vậy, cậu Clare?
Ông em trai cười - cũng nụ cười như lúc đầu - nói với chị mình :
- Coi! Em tính đem nó về cho chị giáo dục nó, theo quan điểm tốt lành của chị chớ để chi. Em tin rằng con bé này đúng là điển hình của dân tộc da đen, chưa được khai hóa. Nó như mảnh đất hoang mà chị, chị sẽ là nhát cuốc khai phá đầu tiên. Chắc chị thích lắm? Công việc có vẻ hợp với người tín đồ ngoan đạo! - Ông huýt sáo, đoạn búng tay đánh tróc một cái, gọi con bé như lối người ta gọi con chó trong nhà, đoạn bảo nó :
- Hát lên một bài cho ta nghe đi! Mày cũng biết múa nữa phải không? Múa đi xem!
Đôi mắt buồn rầu của con bé sáng lên một cách thích thú, lém lỉnh, rồi nó vâng lời, cất giọng hát một khúc hát quen thuộc của dân da đen. Giọng nó sắc và thân mình nó uốn éo, nó nhịp tay, dợm chân, nhảy múa, trình bày một điệu múa kỳ lạ, man rợ. Chốc chốc, nó đổi giọng khàn khàn rồi nhào lộn tiếp hai ba bận, cuối cùng nó rú lên như một cái đầu mấy tàu hỏa và ngồi xuống sàn nhà, chắp tay lại với nhau, mặt nó trở lại lầm lì, bướng bỉnh y như cũ. Song trong cái nhìn của nó có vẻ gian dối không sao che giấu nổi.
Ophélia kinh ngạc đến lặng người đi, nhưng ông Clare thì có vẻ hài lòng, giọng ông tinh quái :
- Đây là cô giáo mới của mày. Ta giao mày cho cô ấy đó nghe! Phải vâng lời cô, nghe chưa!
- Thưa ông, vâng!
Con bé nói với giọng lễ phép song ánh mắt nó thì khác hẳn. Clare nhắc lại :
- Phải tỏ ra là học trò ngoan, nghe chưa? Topsy.
- Thưa ông, vâng!
Topsy lại tỏ ra lễ phép một cách giả tạo trả lời, hai tay khoanh trước ngực.
Ophélia bấy giờ mới phàn nàn :
- Này, cậu Clare, cậu làm vậy có nghĩa gì đây? Nhà này há không đầy nhóc thứ yêu quái này rồi sao? Cậu thấy chứ: mỗi sáng thức giấc, vừa mở mắt là tôi thấy một đứa bé da đen ngủ trước cửa phòng. Dưới gầm bàn một cái đầu đen nhũi. Rồi trên cầu thang một đứa, giữa lối đi một đứa nữa. Chúng đông gần bằng kiến, suốt ngày la hét, đùa giỡn, leo trèo, vật lộn cùng khắp. Chưa chán sao mà còn đem về thêm một đứa để làm chi?
- Thì em đã nói rồi: để chị giáo dục theo chiều hướng tốt đẹp của chị. Chị cứ thử đi!
- Cậu không cần phải nói khích tôi làm gì. Tôi đã làm nhiều việc khó hơn. Nhưng cậu coi tôi có rảnh không chứ?
- Coi, tín đồ ngoan đạo mà nói vậy, nghe sao cho xuôi tai? Chị thấy công việc các giáo sĩ không? Có vị đã đem về hàng chục đứa như con Topsy này, chịu khó săn sóc từng ly từng tí, dạy dỗ, kiên nhẫn đủ thứ...
- Cậu so sánh kỳ cục, cái đó là việc của các Thánh Tông đồ, tôi làm sao bì với các ngài được, các ngài hy sinh đến mức tối đa. Nhà này, với ngần ấy đứa đã đủ mệt cho tôi rồi, cậu biết mà.
Clare bỏ hết vẻ mặt bỡn cợt :
- Em xin lỗi chị, thật tình em không có ý muốn trêu chọc chị hay làm mệt chị thêm đâu. Số là con bé Topsy này ở với một cặp vợ chồng bán quán nghèo nàn, họ hay say rượu, ngày nào em có dịp đi ngang là y như nghe tiếng họ chửi bới hay đánh đập nó, họ rượt nó ra tận ngoài dường. Em chịu không nổi. Em muốn giải thoát nó khỏi cảnh khổ sở đó nên đã mua nó về và em hy vọng chị sẽ giáo dục nó nên người. Em thì em không làm gì hơn được, nhưng chị...
Trong lúc ông Clare nói, cô Ophélia quan sát kỹ con bé và cô không khỏi động lòng trắc ẩn, cái nhìn cô dịu dàng hơn. Thật cô không sao tưởng tượng được có người cùng khổ đến mức này.
- Tôi sẽ cố gắng, xem sao. Cậu coi, nó bẩn thỉu quá sức và gần như trần truồng...
Vừa nói, cô vừa lại gần nó thận trọng, dè dặt như người ta đến gần một con nhện đen.
- Thì đem nó xuống dưới nhà, bảo bọn kia xát xà phòng tắm rửa cho sạch và cho nó áo quần tử tế vào.
Cô Ophélia công nhận đó là điều đầu tiên phải làm, cô đưa con bé vào bếp. Mụ Dinad nhìn con bé bằng đôi mắt miệt thị :
- Chà, tôi mong là con quỷ nhỏ này không làm quẩn chân tôi, tôi mệt quá đi rồi!
Jane và Rosa thì tỏ vẻ kinh tởm, Rosa khỉnh khỉnh nói :
- Khéo làm bận thêm trong nhà. Không biết ông chủ nghĩ sao mà đem cái thứ da đen dơ đáy về đây...
Mụ Dinad nguýt Rosa một cái, giọng kẻ cả :
- Chê đen hở? Còn mày thì gì đó? Mày xuất thân từ gia đình da trắng chắc? Thôi, đừng có làm bộ Rosa ơi! Mày coi kỹ lại, mày rờ sau ót mày coi!
Mụ nói mỉa thế là vì cô gái này vốn là một nô lệ lai hai màu da. Riêng cô Ophélia trông thấy thái độ của bọn gia nhân là cô đủ chán, cô không muốn sai họ tắm rửa cho con bé nữa. Cùng một nguồn gốc, song cả bọn làm như họ là thứ quý tộc da trắng trước con bé khốn khổ đen đủi này, như họ có quyền khinh bỉ nó, hất hủi nó mà không chút áy náy, ngượng ngùng.
Rõ ràng là không đứa nào muốn dịch chân. Vì vậy mặc dù không tránh khỏi ghê tởm con bé, cô thân hành tắm rửa cho nó. Một người cương quyết như cô, không bao giờ vì một trở ngại nhỏ mà lùi lại hay bỏ dở công việc, mặc dù là vừa tắm rửa, kỳ cọ cho nó cô vừa cố gắng hết sức để khỏi nôn ọe vì mùi hôi hám từ thân hình gớm ghiếc đó tỏa ra. Và rồi, những lằn roi ngang dọc, thâm tím, có vết còn rớm máu, có vết đã chai thành sẹo chằng chịt trên lưng và khắp thân thể nó làm cho con người sắt đá ấy phải xót thương.
Nhưng Jane thì không, chị ả chỉ những vết bầm đó nói với giọng hiểu biết :
- Cô thấy chưa? Tôi đã nói con nhỏ này là con quỷ cái mà. Tôi thấy là biết liền, ông mua nó uổng tiền mà. Nó khó trị lắm đa! Để rồi coi!
Topsy nghe những lời mạt sát đó với vẻ buồn rầu, trang nghiêm nhưng đôi mắt thì chăm chú nhìn vào đôi hoa tai lủng lẳng trên tai Jane.
Khi được thay áo quần tử tế, lành lặn và cắt tóc xong, trông nó cũng khá, không đến nỗi nào. Ophélia ngồi trầm ngâm nhìn nó, phác họa trong trí chương trình giáo dục của mình. Cô hỏi nó :
- Topsy, em mấy tuổi?
- Thưa cô, em không biết.
Giọng nó có vẻ hài hước, hai hàm răng trắng nhỡn bày ra.
- Sao em lại không biết em mấy tuổi? Không ai nói cho em biết hay sao? Mẹ em đâu? Mẹ em là ai?
- Ý, em đâu có mẹ.
Nó lại cười, vẻ như trêu chọc người đối diện.
- Vậy chớ ai sinh ra em?
- Đâu có ai sinh em ra?
Nếu là một người nhút nhát chắc đã chán rồi, song cô Ophélia thì không. Cô rất tự tin, cô vạch ra một con đường và cô đi cho kỳ đến đích. Cô nghiêm nghị bảo Topsy :
- Không phải là chuyện cợt đùa đâu, em phải trả lời câu tôi hỏi: em con ai, ở đâu, cha mẹ làm gì...
- Em đã nói rồi, em không có cha có mẹ gì hết. Có một người buôn bán nuôi em với nhiều đứa nữa, vậy thôi.
Nó có vẻ thật thả khi trả lời câu hỏi. Jane chen vào :
- Đúng đó cô, tụi lái buôn mua lũ quỷ này khi còn nhỏ xíu, nuôi lơn lớn rồi bán lại, bắn thật mắc nghe cô!
- Em sống với người chủ đó bao lâu?
- Dạ không biết!
- Trả lời tử tế đi, Topsy! Một năm hay nhiều hơn, ít hơn?
- Không biết mà!
- Em có nghe nói về Đức Chúa Trời không?
- Dạ không.
- Em biết ai tạo ra em không?
- Dạ không, em chắc không ai hết.
Nó lại cười rộ lên như có gì thích thú lắm vậy. Ophélia nghĩ là nên đặt câu hỏi khác :
- Em biết may vá chi không?
- Dạ, không.
- Vậy em biết làm gì? Em làm gì khi ở với chủ cũ?
- Em biết xách nước, rửa bát đĩa, mài dao, làm chuyện gì họ biểu.
- Người ta có tử tế với em không?
Con bé lần này hơi ngập ngừng :
- Dạ... dạ tử tế.
Ophélia chăm chú trong câu chuyện dễ nản lòng này. Ông Clare tựa lưng vào ghế từ nãy, quan sát, chen vô :
- Đúng như em nói từ lúc đầu: nó là một mảnh đất mới, chị hãy gieo lên đó hạt giống lành đi!
Những người như cô Ophélia tự coi mình có bổn phận gieo rắc ánh sáng cho những kẻ tối tăm, đưa họ lên khỏi vũng bùn của sự dốt nát, giáo dục cho ra con người... Cô không thể coi việc này như một thí nghiệm như trò đùa kiểu ông em Clare được.
Cô tự thấy không phải cô chỉ dạy nó khuôn phép bề ngoài mà phải cải tạo tư tưởng nó, làm sao cho nó nên ngoan nên tốt. Dĩ nhiên trong đó có cả việc tập đọc, tập viết, tập cho nó có lòng tin về Đấng Tối cao, hiểu biết và phân biệt thiện ác, tốt xấu v.v...
Phải, đó là công việc khó khăn, nhưng con người cương nghị ấy không dễ nản lòng.
* * * * *
Ophélia đưa Topsy vào phòng mình và từ đó nó thuộc về cô, quanh quẩn trong khu vực riêng biệt của cô, vì cô không thể nào để nó lẫn lộn với đám tôi tớ kiêu ngạo, ích kỷ nhà dưới được.
Cô tập nó trải ra giường, thay bao gối, quét dọn lau chùi. Thật ra nếu không kiên nhẫn, thì chắc cô tự làm lấy còn khỏe hơn nhiều. Song cô đã tự hứa là huấn luyện nó thành thục nên cô phải cố gắng chịu đựng nó.
Chịu đựng! Quả thật không ngoa. Vì là nó không phải ngu ngốc mà trái lại rất ma mãnh. Nó có thể hoàn thành công việc nếu nó thấy thích làm, còn không thì, ôi thôi, khó mà lay chuyển nó. Nó lại hay phá phách hơn con khỉ, lanh lẹ hơn con sóc nhỏ, quỷ quyệt như loài cáo, nham hiểm hơn loài mèo! Thật quả là bất trị. Nó muốn thì ăn cắp ngay, mà rất tài tành, không sao thấy được.
Một hôm, nó ăn cắp đôi găng tay của cô và cái ruy băng cột tóc cho vào tay áo rồi khoanh tay trước ngực, dáng bộ như một học trò ngoan. Nhưng rủi cho nó: trong khi cử động tay để trải ra giường, nó làm hai món ăn cắp tuột ra. Cô Ophélia rầy nó :
- Tại sao em lại ăn cắp của cô? Mà lấy làm gì hai thứ này?
Nó nhìn hai tang vật với cặp mắt ngờ nghệch chối biến :
- Dạ, em đâu có ăn cấp, tự nhiên mà nó...
Trước cặp mắt nghiêm khắc của Ophélia, nó không nói được gì nữa để chạy tội, nhưng nó làm cái vẻ mặt thật ngây thơ vô tội làm cô tức muốn điên lên. Nếu không thấy tận mắt, không ai tin nó gian được.
- Em có biết nói dối là có tội không?
- Dạ, em đâu có nói dối? Tự nhiên nó dính vô tay áo em đó, cô ơi!
Ophélia dọa :
- Nếu em còn tiếp tục gian dối, tôi phải đánh đòn em.
Cô ngỡ nó sẽ tỏ ra sợ hãi, nào ngờ trước sự kinh ngạc của cô, nó nói trơn tru một cách tự nhiên :
- Dạ, cô phải đánh em mới được.
Một hôm cô có việc đi vắng nhà, nó lấy khăn quàng cổ của cô choàng vào, đứng trước gương soi mặt, nhăn nhó, múa may làm đủ trò.
Cứ mỗi lần như vậy, bị la rầy, dẫn dụ, dỗ dành hay mắng nhiếc xong, nó cũng tỏ vẻ hối hận chút đỉnh, nhưng không bao lâu lại trở về thói cũ. Cô Ophelia bảo nó :
- Em phải tỏ ra ngay thẳng. Còn gì nữa kể hết ra, thú tội đi, cô sẽ tha em. Em còn lấy cái gì của ai nữa không? Ngày hôm qua, em chạy rong cả ngày. Nói thật hết đi, em đã làm gì. Phải thú nhận...
- Thưa cô, em lấy chuỗi ngọc đo đỏ của cô Eva ...
- Trời ơi, chuỗi hồng ngọc cùa cháu Eva? Còn gì nữa?
- Dạ, với lại đôi hoa tai của chị Rosa...
- Em để hai thứ đó đâu, đem hết lại đây cho cô ngay, mau lên!
- Dạ, còn đâu mà đưa, thưa cô? Em đốt sạch trơn rồi.
- Lại nói dối, em muốn bị đòn sao chứ?
Cứ nhì nhằng như thế hồi lâu, cô Ophélia tra gạn gì nó cũng cứ một mực rằng đã đốt tuốt hai món nữ trang của Rosa và Eva.
- Tại sao em lấy của người ta mà đốt đi...
- Dạ, tại em ghét mấy cái đó, em ưng đốt đi...
Thình linh, Eva xuất hiện, chuỗi hồng ngọc nằm ngay ngắn trên cổ. Cô Ophélia ngạc nhiên quá :
- Eva, chuỗi hồng ngọc cháu tìm đâu ra đó?
- Dạ, thưa cô có tìm gì đâu? Cháu đeo cả ngày, đêm qua cháu quên tháo ra trong lúc ngủ.
- Ủa, chứ không phải cháu bị mất hôm qua sao?
- Thưa cô, làm sao mất được...
Cô Ophélia đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khắc khi Rosa đội giỏ áo quần ủi xong bước tới: đôi hoa tai vẫn lủng lẳng trên tai ả ta. Cô quay sang Topsy :
- Này, tại sao em lại tự nhận đã ăn cắp hai thứ đó chi vậy?
- Dạ, thì cô biểu em thú nhận hết đi, em phải thú nhận chớ sao giờ?
Nó nói tỉnh bơ, nhe răng trắng nhỡn làm cô Ophélia không biết dùng lời lẽ ra sao để mà răn dạy, dùng phương pháp nào mà trừng phạt.
- Nghe đây: Em nên thật thà, cái gì có thì nói có, không thì nói không. Không lấy mà nói có lấy, đó cũng là dối láo, hiểu chưa?
- Ủa, vậy cũng là dối láo, cũng có tội hở cô?
Rosa hằn học :
- Tôi mà có quyền, tôi quất cho tóe máu ra, thứ đổ quỷ ranh!
Eva tỏ ra nghiêm khắc - em vốn dịu dàng, tử tế và không bao giờ dùng quyền chủ nhân với mọi người - với Rosa :
- Chị Rosa, chị đừng ác như thế. Tồi không muốn nghe chị nói thế đâu.
- Thưa cô, cô tốt quá không được. Tụi da đen ghê gớm lắm, phải trừng trị thẳng tay. Phải đánh đòn những đứa như con nhỏ này mới xong...
- Thôi, tôi đã nói là chị đừng có độc ác mà! Chị đừng bàn đến chuyện này, đâu phải là phần việc của chị?
- Eva giống ông chủ, cô hiền lắm. Với ai cô cũng tốt hết.
Rosa vừa nói vừa rút lui. Eva nhìn Topsy bằng đôi mắt dịu dàng :
- Tội nghiệp chị! Chị ăn cắp làm chi, nói dối làm chi. Ở đây không ai xử ác với chị đâu. Chị cần gì, em sẽ cho chị, đừng ăn cắp, chị Topsy à!
Lần thứ nhất trong cuộc đời khốn khổ, cực nhục, con bé này nghe một câu nói dịu dàng và cái nhìn bao dung làm nó xúc động sâu xa, nó rơm rớm nước mắt, nhưng liền đó nó chai lỳ lại ngay. Nó ngỡ là có thể, người ta trêu chọc nó, chứ không ai thương được nó, một đứa trẻ da đen, không cha, không mẹ, hạ tiện, thấp hèn.
Có lần cô Ophélia nhốt Topsy vào căn phòng tối. Cô phân bua với Clace; vì cô biết ông ghét lối giáo dục này :
- Tôi không thể làm khác hơn, cậu phải biết...
- Chị cứ tự nhiên làm theo ý chị, miễn đi đến đích. Em không có ý kiến gì hết. Em đã từng thấy họ đánh nó bằng cái xẻng, mà không chỉ với cái xẻng đâu: tất cả cái gì vừa tầm tay họ, quơ gì đập nấy như đánh súc vật chứ không phải con người.
Ông ta ngừng lại giây lát, đổi thế ngồi cho thoải mái, tiếp :
- Nhưng rồi mọi sự có đi đến đâu không? Sự ngược đãi của chủ nhân đối với nô lệ đôi khi cũng đăng lên cả trên mặt báo. Mà hễ chủ càng ngày càng ác, càng tệ thì nô lệ càng ngày càng bướng bỉnh, cứng cổ thêm, chủ lại càng khắc nghiệt thêm. Y như nha phiến với người nghiện nó: càng ngày càng phải tăng số lượng lên mà độ cảm nhạy giảm dần đi. Tôi biết rõ điều này, thật là cái vòng lẩn quẩn. Tôi, ít nhất về phần tôi, tôi không chấp nhận bạo lực, và như vậy, than ơi, nô lệ của tôi lại đâm ra nhác nhờn, bừa bãi. Thôi, giờ đến phiên chị, chị thử giáo dục con bé này theo phương cách của chị đi!
- Cảm ơn cậu, tôi sẽ cố gắng xem sao!
* * * * *
Khi cô Ophélia dạy Topsy học, nó tỏ ra tiến bộ khác thường, chỉ ít lâu là nó đọc trôi chảy. Nhưng khi học may vá thì khó khăn hơn: nó không muốn ngồi yên một chỗ với cái công việc tỉ mỉ, kiên nhẫn ấy. Nó lén cô bẻ gãy kim hoặc vứt ra cửa sổ, hay nhét vào khe hở ở tường. Nó bứt đứt chỉ, làm rối tung lên, hay giấu biến cả chỉ lẫn kim. Nó lanh như một tay làm ảo thuật và rồi làm bộ hiền lành không ai ngờ được.
Phải công nhận là nó quỷ quyệt hết chỗ chê: nó bắt chước ai cũng giống hết, nó nhảy múa, leo trèo, quay vòng tròn, huýt sáo, bắt chước tiếng kêu và bất cứ tiếng động gì. Lũ trẻ con đi theo sau nó vào giờ chơi, há hốc miệng vừa kinh ngạc vừa khâm phục.
Eva cũng tỏ ra thích nó nữa. Thật y như con rắn độc mê hoặc con bồ câu trong trắng hiền lành, Ophélia thấy cảnh tượng ấy, cô lấy làm lo lắng, thổ lộ nỗi e ngại với em trai :
- Cậu coi, con nhỏ đó có thể gây ảnh hưởng xấu cho cháu Eva, phải tìm cách cho nó khỏi tác quái... Nếu Eva là con tôi thì...
- Chị quá cẩn thận vô ích. Không sao đâu, mặc kệ lũ trẻ với nhau.
- Cậu sao mà quá vô tâm, cậu không thấy con Topsy như con quỷ đó sao?
- Không. Tôi dám đoan quyết với chị như thế. Với đứa khác thì sợ tiêm nhiễm thói xấu của nó, với Eva thì không, không bao giờ. Eva khác thường, tôi biết con tôi, chị chớ quan tâm.
Mà con bé Topsy phi thường thật: thoạt đầu, dám con nít con em của bọn gia nhân ông Clare khinh thường nó - như kiểu mụ Dinad, ả Rosa và Jane - nhưng chẳng bao lâu chúng thấy Topsy hay hay, thấy theo con bé này vui quá. Topsy ăn cắp tài lắm; giấu đâu không ai thấy, mọi vật trong phòng tắm, ngay cả trên cổ, trên tay một người nào đó nữa, như là mọc cánh bay đi. Đứa nào vô phúc mà chọc tức nó hay khi dể nó ấy ư? Không sớm thì muộn sẽ bị nó trả thù đích đáng. Chẳng hạn một cái áo ủi thẳng bị nhàu đi hay lủng đi. Không ai tìm ra thủ phạm, dù ai cũng biết thủ phạm chính là Topsy. Hai người bị Topsy ghét nhất là Jane và Rosa, chúng tìm cách tố cáo với cô Ophélia để cô trừng phạt Topsy nhưng chúng thất bại, vì không có bằng cớ đích xác làm sao kết tội con bé này trước mặt cô? Hơn nữa, hai ả từ đầu đã tỏ ra ác độc với con bé, nên chúng không được cô Ophélia tin lời, cô không bằng lòng nghe chúng kể tội Topsy.
Chỉ một thời gian ngắn, những kẻ phách lối, kênh kiệu trong nhà chủ nhân kiềng mặt con Topsy, không còn cái lối khinh bỉ, nhiếc mắng nó ra mặt nữa, phải để nó được yên thân.
Khi nào ngoan ngoãn, Topsy trải khăn giường rất phẳng phiu, đặt cái gối thật ngay ngắn, nó lau quét, dọn đẹp trong phòng cô Ophélia ngăn nắp, sạch sẽ, nhưng khốn thay: nó không luôn luôn ngoan ngoãn.
Một hôm nữa, cô đi thăm người bạn, giao nó dọn phòng và lại sơ ý bỏ quên chìa khóa trong ngăn kéo, không đem theo mình.
Khi cô về, một cảnh tượng bừa bãi, ngổn ngang diễn ra trước mắt: thay vì bao áo gối vào gối, nó lột ra, khăn giường thì lôi xuống đất, lấy áo ngủ của cô mà tròng vào làm bao gối cho cái gối ôm, gối cái đầu tóc xoắn tít của nó lên gối cô, khi thì thòng đầu xuống dất, miệng hát líu lo, rồi chạy lại soi gương, cười nức lên như quỷ nhập. Khăn choàng đỏ của cô nó quấn lên đầu, đi qua đi lại, diễn trước gương dáng bộ ưỡn ẹo như một cô đào hát đóng vai công chúa!
- Topsy! - Cô chủ la lớn - Ai cho phép con làm như vậy?
- Thưa cô, không biết, con thích phá chơi.
- Con có biết rằng cô sẽ phạt con không?
- Dạ, phải đánh con đó, cô! Chủ cũ của con đánh con tối ngày. Như vậy mới được à, cô!
- Cô không muốn đánh con đâu. Topsy? Con có thể tốt ngoan, tại sao con lại giở chứng như vậy, hả?
- Thưa cô, con có thói quen muốn ăn đòn. Chắc cô phải đánh con!
Đôi khi không kiên nhẫn nổi, cô Ophélia phải trừng phạt nó bằng roi. Nó la hét, khóc lóc một chút rồi thì nửa giờ sau, đứng trên bao lơn, bu quanh là lũ nhỏ da đen, nó vênh váo, khoe :
- Ý, cô Ophélia đánh tao, mà chẳng đau cóc khô gì hết. Hồi trước bà chủ cũ bả đánh tao đứt thịt ra kia mà còn không thấm tháp gì nữa là, tao đâu có ngán ai. Tao chì lắm à, tụi bây ơi!
Rõ ràng là nó coi roi đòn của cô Ophélia như trò đùa. Nó ưỡn ngực lên, đáng bộ như vị tướng hành quân về, vừa thắng trận :
- Tao ngon lành lắm à: tao có tiếng lắm à! Ai làm gì nổi tao? Bà chủ cũ của tao bả đánh chửi tao hết nửa ngày, còn có nửa ngày làm chuyện khác! Nói cho tụi bây biết! Tao đây, Topsy đây!
Tuy nhiên, nó học giáo lý đến đâu nhớ kỹ đến đấy. Trả bài rất thông suốt, đôi khi khá thông minh làm cho cô Ophélia rất hài lòng. Có bận, ông em ưa hài hước giễu cô :
- Chị bận tâm dạy giáo lý cho nó làm gì? Em thấy vô ích đó, chị ơi!
- Sao cậu biết là không có ích? Con người phải có căn bản đạo đức...
- Chị tin là nó hiểu ư?
- Dù chưa hiểu, một ngày kia nó sẽ thấm nhập thấu đáo điều hay trong đó.
- Em ngờ lắm...
- Cậu Clare, tôi muốn cậu đừng có coi cái gì cũng là trò đùa. Phải đứng đắn!
Biết chị sắp giận, Clare vội vàng xin lỗi. Đôi khi, ông bênh vực Topsy. Con nhỏ tinh quái này biết rõ ông chủ rộng lượng, nó biết cái cách nấp dưới sự che chở của ông khi cô Ophélia nổi nóng. Nó có nhiều cách làm cho ông động lòng, nó cũng biết cách làm cho ông móc túi dúi tiền cho nó. Có đồng nào, nó mua hạt dẻ, đường phèn phân phát khắp hết cho lũ trẻ. Topsy tỏ ra hào phóng, thảo ăn.

0
Chương 17
 
Một buổi chiều mùa hè trong trang trại của ông Shelby ở Kentucky. Tất cả các cửa lớn, cửa sổ trong nhà đều mở rộng. Gió thoang thoảng, man mát.
Trong căn phòng khá rộng ăn thông với phòng khách và hướng ra mặt tiền ngôi nhà, ông Shelby ngồi tựa cửa ngửa ra ghế, chân duỗi thẳng, bắt chéo nhau, miệng phì phèo điếu xì gà sau bữa cơm tối.
Bà vợ thì đang cặm cụi với mớ áo quần, hình như là không chăm chú lắm vào công việc, bà đang có gì muốn thảo luận với chồng mà chưa tiện nói ra. Bà không thể mở đầu một cách dễ dàng. Song sau cùng, bà cũng nói được :
- Này mình, Chloé vừa nhận được thư chồng đó nghe!
- A! Tốt lắm! Sao? Chú ấy mạnh giỏi chứ? Chắc là gặp được một người chủ tốt? Tôi mừng lắm...
- Chú ấy được may mắn gặp người chủ tốt, lại giàu có, coi bộ không vất vả gì cả, được đối xử tử tế lắm thì phải.
- Thế ư? Thế thì còn gì bằng. Tôi rất yên bụng - Giọng ông vui vẻ thành thực - Có thể chú ấy sẽ không còn đòi về đây nữa, há?
- Ông lầm rồi! - Chú nài nỉ mình mau mau tìm cách chuộc chú về. Tội nghiệp!
Bà Shelby có vẻ nóng nảy. Người chồng buồn rầu nói :
- Thật là khó xử cho mình. Công việc làm ăn thì cứ như cái xe đang xuống dốc, không ngừng lại được. Tôi như người lún xuống bùn, rút chân này, lún sâu chân kia. Vay của chỗ này trả cho chỗ kia, đắp đổi, vá víu. Rồi thì thời hạn tới trước khi tàn điếu thuốc; quay đi quay lại, chưa kịp trả tiền lời, thì đến tiền vốn. Và những hóa đơn, thuế má chồng chất...
- Mình ơi! Tôi muốn mình đừng ham kinh doanh nữa, bán bớt ít ngựa hay vài cái nông trại đi mà trả nợ cho yên.
- Kìa, Emilie! Em nói thật kỳ... Em là một phụ nữ tốt bụng, nhưng cũng giống như các bà vợ khác, không biết gì đến công việc làm ăn của chồng cả.
- Đó là tại anh, anh không cho em dự vào công việc làm ăn. Sao anh không cho em biết anh thiếu nợ những ai, bao nhiêu, những khoản gì, xem em có thể giúp anh chút gì chăng?
- Thôi, em hãy để tôi yên! Làm sao tôi kể cho em hết mọi chi tiết trong công việc làm ăn của đàn ông? Em nên biết là công việc của tôi khác với việc mụ bếp nhà mình, đâu có sắp đặt dễ dàng như mụ ấy cắt bánh sắp lên dĩa bàn? Nếu nó dễ dàng thì tôi đâu đến nỗi điên đầu.
Câu sau cùng, ông hơi to tiếng. Đó là cách thông thường của đàn ông khi họ cãi với vợ và thấy sắp đuối lý. Bà vợ thở dài, im lặng. Phải, bà là đàn bà đâu biết đến việc kinh doanh to lớn của ông?
Song thực tế, bà rất thiết thực, sáng suốt, có cá tính mạnh mẽ hơn ông tưởng. Bà nhận thấy mình có bổn phận thi hành đúng đắn một lời hứa danh dự đối với tôi tớ dưới quyền. Bà buồn rầu thấy ông không sốt sắng như mình trong việc này, ông có vẻ muốn trì hoãn?
- Em không tin là mình không chuộc chú ấy nổi. Tội nghiệp vợ con chú! Thím cứ nghĩ đến chuyện này hàng ngày, kể từ khi chú bị mình bán đi. Anh nghĩ coi. Nỡ nào để họ xa nhau hoài...
- Em đừng tưởng tôi vui sướng chi. Hừ! Lời hứa! Tôi nào ngờ ngày nay tình trạng thế này. Tốt hơn, em nên tìm lời an ủi thím ta, nói rõ là đừng hy vọng gì nữa. Có thể vài năm tới đây Tom sẽ có vợ khác, còn thím thì cũng...
- Anh Shelby! Tôi xin anh! Họ có làm phép hôn phối, anh quên sao? Họ cũng như chúng ta mà, sao anh có thể nói câu ấy được? Tôi làm sao có thể mở miệng nói câu tàn nhẫn ấy với thím Tom? Tôi dạy họ cái gì?
- Than ơi! Em đã vô tình làm họ bị trói buộc, làm họ khổ vì mớ giáo lý của em... vì thứ đạo đức phiền toái của em...
- Giáo lý gì của em? - Bà vợ hết kiên nhẫn - Đạo đức gì của em? Mà dù cho của em thì đã sao?
- Thôi, thôi! Đừng bàn chuyện đó, anh đau đầu quá rồi? Anh không có ý đụng đến đạo đức của em, anh chỉ nói là đạo đức đó không hợp với những người như vợ chồng Tom trong cảnh ngộ của họ, hiểu chưa?
- Phải! Ông chồng tôi ơi! Ông có lý lắm! Nhưng tôi tin cho ông hay: nếu ông đã viện cớ này, cớ nọ để trì hoãn, để khỏi thực hiện lời hứa với họ, thì đó là quyền của ông. Còn tôi đây, tôi xin nói rõ: tôi sẽ, bằng mọi cách, thực hiện được lời hứa danh dự với họ, tôi không thể làm khác với lời nói. Tôi sẽ kiếm tiền chuộc chú ấy một ngày gần đây.
- Em làm gì cho ra tiền?
Bà vợ cương quyết đáp :
- Em sẽ dạy nhạc...
- Thôi đi! Đừng có hóa rồ, tôi không muốn em tự hạ mình, làm giảm giá trị đến mức đó.
- Dạy nhạc mà giảm giá trị? Mà tự hạ? Thôi đi ông ơi! Tôi, thì tôi cho là tôi sẽ tự làm giảm giá trị của tôi đi nếu tôi nuốt lời hứa kia, chớ còn như dạy nhạc...
- Tôi biết, tôi biết em có tâm hồn cao thượng, tốt lành, nhưng trước khi làm gì, em phải suy xét chín chắn một chút, Emilie ơi!
Câu chuyện bị ngưng lại vì đúng lúc đó bác Tom gái xuất hiện :
- Thưa bà. Mời bà xem qua mấy con gà sắp làm thịt, bà thích con nào làm món gì...
- Tùy ý thím, muốn làm con nào, làm món gì cũng được. Tôi đang bận... với lại bếp núc là chuyện thím rành hơn cả tôi mà, Chloé!
Chloé xách mấy con gà trong tay, có vẻ suy nghĩ. Thật ra bác ta theo dõi câu chuyện từ đầu, bác không hiểu sao chủ bác lại lo lắng tiền bạc trong khi của cải trước mắt không thèm nhìn tới, giao phó cho mình quyết định? Thấy dáng bộ người bếp, bà Shelby biết là bác đã hiểu hết mọi chuyện, hiểu vợ chồng bà đang bất đồng ý kiến về chuyện bác Tom trai. Bà hỏi Chloé :
- Thím nghĩ gì đó, thím Tom?
- Thưa bà, tôi đang nghĩ... rằng sao ông bà giữ nuôi bọn tôi tớ nhiều quá, mà công việc thì có là bao nhiêu đâu? Hiện giờ có nhiều chủ trại cho thuê lại nô lệ, rất có tiền mà đỡ tốn hao chứ để chúng tôi ngồi ăn như núi lở, ăn mà không làm gì hết. Bà nghĩ coi, tôi nói có đúng không?
- Coi, thím Tom ơi! Thím lại tính... thím muốn tôi cho thuê bớt đứa nào chăng? Thím đề nghị...
- Thưa bà, tôi không có đề nghị gì. Nhưng tôi... tôi có ý muốn...
Thấy bác ta ngần ngừ, bà chủ khuyến khích :
- Cứ nói ý thím tôi nghe coi, không sao đâu.
- Thưa, tôi nghe chú Sam nói ở Louisville có một hiệu bánh ngọt đang thiếu nhân công. Họ hứa trả mỗi tuần lễ tới bốn đô-la cho người nào đến làm cho họ.
- Rồi sao nữa? Nói tiếp coi!
- Thưa bà, tôi nghĩ là đã đến lúc giao cho cô Sally lo việc bếp núc nhà này, cô ấy lớn rồi, bao nhiêu năm ở cạnh tôi, học được khá nhiều, giờ cũng đảm nhận được công chuyện. Nếu bà vui lòng cho tôi đi xuống đó, tôi sẽ kiếm được bộn tiền. Thưa bà, gì chớ làm bánh thì tôi... nghề của tôi mà, thưa bà.
Bà chủ hơi băn khoăn :
- Nhưng thím đi rồi lũ nhỏ làm sao đây? Bỏ chúng ở nhà, thím không nhớ chúng sao? Và ai coi chừng chúng?
- Thưa, không sao đâu, tụi nó cũng đã lớn rồi, với lại sau khi xong việc nhà bếp, Sally coi chừng giùm tôi được. Nó nhận rồi, nó cũng ngoan lắm, thưa bà.
Bà Shelby có vẻ trầm ngâm :
- Louisville xa quá, thím Tom ơi!
- Thưa bà, không can gì, ở cuối sông mà xa bao nhiêu? Xa sao bằng chỗ ông Tom nhà tôi đang ở? Phải không, thưa bà? Mà xa đây thì lại gần chỗ ông ấy...
Giọng bác thành khẩn, nồng nhiệt, mắt nhìn chủ chăm chú chờ câu trả lời.
- Thím Tom ơi! Thím thật can đảm, nhưng còn cả trăm dặm mới đến chỗ chú Tom đang ở.
Bác Tom gái buồn rầu ra mặt làm bà chủ động lòng, bà an ủi :
- Nhưng có sao đâu, rồi đây sẽ đến lúc gần nhau. Tôi thấy không có gì ngăn thím đi làm việc cả. Và tôi cho thím biết; số tiền thím làm được thím cứ cất đó, dành cho đủ mà chuộc chú về. Tôi không giữ đâu. Nó thuộc quyền thím, vì là công lao của thím.
Khuôn mặt đen đúa của người vợ sáng rực lên, niềm hy vọng, tin tưởng về ngày sum họp làm bác mừng rỡ, bác nói to :
- Chúa ơi! Bà có lòng tốt quá! Tôi đội ơn bà lắm. Tôi đi liền, tôi không cần gì hết. Áo, quần, giày dép, không cần! Tôi để dành tất cả số tiền...
Chợt bác băn khoăn, vầng mây u ám lại thoáng hiện lên mặt bác :
- Thưa bà, một năm có mấy tuần lễ?
- 52 tuần cả thảy.
- 52 tuần! Mỗi tuần được tới bốn đô-la. Thưa bà, tổng cộng là bao nhiêu?
Bà chủ mau mắn đáp :
- 208 đô la một năm.
- Khá quá chớ, thưa bà! Mà phải mất mấy năm để có thể...
- Phải bốn hay năm năm mới đủ tiền chuộc chú ấy về, nhưng thím đừng lo. Tôi sẽ kiếm tiền phụ thêm với thím cho mau. Tôi dạy...
- Thưa bà, đừng! Bà đừng làm gì hết, cũng đừng dạy nhạc, ông không bằng lòng, vì nó giảm giá trị của gia đình. Tôi mong trong nhà này không bị giảm giá trị vì Tom. Tôi làm được, thưa...
- Đừng ngại, tôi biết cách giữ giá trị chớ, thím Tom. Tôi làm gì bậy mà thím lo? Bây giờ, thím tính đi làm ngày nào?
- Tôi nghe chú Sam sắp xuống đó đi công chuyện ông sai. Tôi sẽ đi theo chú ấy. Tôi đã sắp xếp đâu đó đàng hoàng, chỉ còn chờ lệnh bà thôi. Bà vui lòng thì còn gì mà lo? Chắc sáng mai đi.
Thím thêm :
- Xin bà vui lòng viết cho tôi vài chữ nhận tôi là người tốt và cái thông hành.
- Tôi phải bàn qua với ông, chắc không sao, ông cũng bằng lòng. Tôi sẽ viết giấy cho thím và thông hành. Yên bụng đi!
Chloé hớn hở ra mặt trở về lều.
Georges cũng vừa đến thăm bác, người đàn bà vừa sắp đặt áo quần cho các con vừa khoe :
- Cậu Georges này, có một chuyện hay lắm, cậu biết không: ngày mai tôi đi Louisville để làm công trong hiệu bánh, kiếm tiền chuộc Tom đó. Bà cho rồi. Cậu coi, tôi phải sửa soạn cho lũ nhỏ trước khi đi. Chắc phải lâu lâu mới về. Cậu coi: bốn đô-la một tuần chớ ít ỏi gì, mà bà vui lòng cho tôi hết, bà không lấy xu nào, đặng tôi để đành.
Georges tỏ ra sốt sắng, vui vẻ :
- Hay lắm, tốt lắm! Tôi mong bác Tom về cũng như bác vậy. Chừng nào bác đi?
- Sáng mai, đi với chú Sam. Cậu ở nhà mạnh giỏi, nghe cậu. À, tôi muốn nhờ cậu một chuyện, được không?
- Tại sao không? Chuyện gì, bác nói liền coi, tôi sẵn sàng giúp bác mà.
- Viết cho ông Tom lá thơ, kể rõ đầu đuôi chuyện này. Đặng ổng mừng, biết không!
- Chắc chắn rồi. Để tôi đi lấy giấy bút, chờ chút nghe bác Tom. Tôi sẽ viết dài, kể hết, chuyện bác, chuyện lũ nhỏ, chuyện nhà tôi, chuyện bầy gà... kể hết.
- Phải à! Trong khi cậu viết, tôi làm món ăn thật ngon cho cậu. Rồi đây, chắc còn lâu lắm cậu mới có dịp dùng bữa trong lều này với già Chloé.

0
Chương 18
 
Mấy năm ròng rã trôi qua, Tom sống tại gia đình ông Clare. Tuy được đối đãi tử tế, không vất vả chi, song bác vẫn hướng mắt về Kentucky, nơi bác phải lìa bỏ ra đi, cam chịu xa con, xa vợ vì số phận hẩm hiu của người nô lệ thuộc quyền sở hữu người chủ da trắng.
Tất cả gia tài bác có gồm vỏn vẹn hai cuốn sách: Thánh kinh và Thánh ca mà bác luôn luôn cầm đến khi rảnh rỗi cũng an ủi bác được đôi phần. Bác biết hòa mình theo hoàn cảnh mới, âm thầm buồn nhưng không tỏ lộ ra, cố gắng làm tròn bổn phận với chủ mới, cũng rất tốt với mình.
Và rồi, thư bác được hồi âm. Kể làm sao cho xiết nỗi vui mừng của con người nô lệ đáng thương đó! Bác nhận ra tuồng chữ của cậu chủ nhỏ tốt bụng, nay có vẻ rắn rỏi hơn, đẹp hơn. Bác run rẩy cầm lá thư lặng đi một lát rồi mới bình tĩnh lại mà đọc được. Bác đọc to cho đến nỗi có ai ở phòng bên cạnh chắc họ sẽ nghe rõ từng lời. Ủa, mà bác sợ gì ai phải giấu diếm? Bác cứ đọc to để hưởng trọn niềm vui, để xác quyết rằng lá thư có thật, nằm trong tay bác.
Nhờ cánh thư đó, Tom biết rõ tình cảnh gia đình ông chủ, biết vợ được bà chủ rộng lượng cho đi làm thuê ở hiệu bánh tại Louisville, tiền được cất riêng để chuộc mình. Bà cũng tính đi đạy nhạc đặng mau có đủ số tiền phụ vào với vợ bác. Hai con trai bác làm việc siêng năng và con bé út thì đi vững vàng rồi, rằng trong lúc vợ bác xa căn lều yêu dấu, con Sally đã lớn (bao năm qua còn gì) sẽ săn sốc lũ trẻ. Mọi người cũng trông coi giúp. Căn lều sẽ đóng cửa trong thời gian bác gái vắng mặt, nhưng Georges với ngọn bút tài hoa của cậu học trò trung học đã nhắc đến việc sẽ sửa sang nó lại, nới rộng nó thêm cho phong quang, đẹp đẽ như cậu hứa ngày nào, khi Tom được trở về.
Cậu cũng không quên nói rõ về sự học hành tiến bộ của mình, ba mẹ vẫn được sức khỏe, duy việc làm ăn thì sa sút chút ít. Cậu cũng không quên kể chuyện bầy gà sinh sôi, nảy nở ra sao, con mái thế nào, con trống thế nào v.v... không sót một chi tiết nhỏ.
Tom âu yếm, nâng niu bức thư như một báu vật và Eva được đặc biệt chia sớt niềm vui lớn lao này. Đọc đi, đọc lại, một già một trẻ cũng đồng ý đi đến kết luận là bức thư đó văn chương toàn hảo, tuyệt vời, chữ viết đẹp, có một không hai trên thế gian này, chắc chắn như vậy!
Đọc hoài không chán, rồi cả hai còn nảy ra cái sáng kiến là lồng kính lá thư như kiểu người thợ chụp ảnh lồng kính hình thân chủ, treo lên để nhìn thấy hoài hoài.
Song đến đây, họ gặp một khó khăn không sao giải quyết: làm thế nào mà có thể nhìn thấy suốt hai mặt lá thư nếu lồng kính nó?
Tình bạn của hai bên theo thời gian, mỗi ngày mỗi thêm thắm thiết. Khó mà xác quyết cái tình cảm đó ở một giới hạn nào. Bác Tom yêu quý Eva như người thủy thủ Ý đối với Chúa Hài Đồng khi lênh đênh trên biển cả. Một thứ tình cảm vừa tôn kính, vừa thương yêu như không phải thứ tình cảm thông thường dành cho hạng phàm nhân. Mỗi ngày bác càng cảm thấy tình yêu đó như thiêng liêng hơn và có khi bác lo sợ vẩn vơ, tưởng như Eva là một báu vật mong manh, có thể vỡ tan một ngày nào đó...
Bởi vì một đôi khi em có nhiều câu nói làm bác không khỏi rùng mình. Bác luôn luôn làm Eva vui lòng, chìu ý em đối với bác là việc quan trọng nhất.
* * * * *
Gia đình ông Saint Clare ở trong biệt thự xinh đẹp, bao quanh bốn phía là hoa viên. Nhiều loài hoa hiếm và quý gần phòng khách, những con đường nhỏ đưa xuống bờ hồ, mặt hồ lấp loáng như dát bạc dưới ánh mặt trời.
Mỗi chiều, khi mặt trời sắp lặn, chủ tớ Tom và Eva hay ra ngồi trên ghế trong khu vườn để ngắm cảnh và trò chuyện, hoặc đọc Thánh kinh cho nhau nghe. Tâm hồn em rất nhạy cảm, những đoạn trong Thánh kinh ảnh hưởng đến thần kinh em không ít. Em thường mơ đến cõi Thiên đàng. Em hỏi :
- Bác Tom này, bác biết Thiên đàng hiện ở đâu không?
- Trên trời trong những đám mây đó, Eva à.
- Cháu tin là cháu sẽ thấy được Thiên đàng một ngày gần đây! Bác thấy đám mây kia không? Giống như những đôi cánh to lớn, mong manh bằng ngọc, có đám thì như bằng vàng... Bác Tom ơi! Bác cháu mình hát những bài hát có Thiên thần đi! Này, bác biết không: có khi cháu ngủ, cháu thấy Thiên thần đó, bác ơi!
Họ cùng hát. Rồi Eva lại làm Tom giật mình :
- Cháu sẽ đến đó, bác Tom ơi!
- Eva nói gì vậy? Em đi đâu?
Eva đứng dậy, chỉ tay lên trời. Mặt trời sắp lặn, ánh sáng của ngày tàn chiếu lên mái tóc óng ả của em, càng làm cho em có vẻ thoát tục, siêu phàm. Tom giật nẩy mình, bàng hoàng, run sợ nghẹn ngào.
- Phải! Cháu sẽ đến đó, nay mai...
Tom có lo sợ hão huyền không? Mấy tháng gần đây, bác để ý thấy em mỗi ngày mỗi khác đi, em xanh xao, gầy guộc, rồi đôi khi em hồng hào một cách khác thường, hơi thở em gấp và ngắn, em mau mệt trong lúc chơi đùa. Vài lần em ho khúc khắc. Em hay mơ mộng, ít còn nghịch ngợm, và em hay nói đến Thiên đàng...
Bác cũng nghe lỏm cô Ophélia bảo ông Clare rằng em bị ho lao và đó là bệnh khó chữa thời bấy giờ. Tom nhìn Eva chăm chú, em đang lúc hồng hào nhưng bác biết em không được mạnh, chợt có tiếng cô Ophélia :
- Eva! Vào nhà đi cháu, sương xuống rồi đó.
Tòm dắt cô chủ nhỏ đi vào ngay. Phần cô Ophélìa, cô rất ngại cho sức khỏe mỏi mòn của cháu, cô cũng lo sợ như Tom. Vướng phải bệnh này có rất nhiều đứa trẻ không sao thoát chết. Nhưng hễ động cô có đề cập đến điều lo lắng này, tức thì cha đứa trẻ gạt đi :
- Chị cứ lo lắng không đâu, con nít đôi khi nó... thế có sao đâu.
Thật tình, ông tự dối mình, ông cũng đang lo, nhưng không muốn ai biết rõ điều này. Ophélia không chịu thua :
- Cậu hãy nhìn thẳng vào sự thật: Elisa Jams, Hélène rồi Marie Sanders đều chết vì thứ bệnh quái ác này.
- Chị đừng nói đến chết chóc, em buồn lắm. Em xin chị! Nếu chị thương em xin chị coi chừng cháu kỹ kỹ một chút, đừng để nó ra gió chiều nhiều, đừng cho nó chơi chạy nhọc quá. Rồi mọi việc sẽ êm xuôi.
Người cha cố dùng giọng bình tĩnh bảo người cô. Ophélia thương hại em, không nói ra, nhưng cô nghĩ: “Hừ, êm xuôi! Tôi chỉ sợ không êm xuôi như cậu nói thôi”.
Mỗi ngày, Clare càng quấn quít gần con không rời, ông đi dạo bằng ngựa với Eva... như ông cũng tiên cảm bất hạnh lớn lao sắp đến. Ông luôn miệng bảo con :
- Con khá lắm, con hồng hào lắm. Bệnh ho này không can gì, sơ sịa thôi mà, trẻ con nào cũng bị ho đôi khi, đừng quan tâm.
Điều làm ông lo lắng hơn cả chính là sự khôn ngoan quá sớm của Eva và sự suy nghĩ về những gì mà vào tuổi đó, con nít khác chưa hề nghĩ tới.
Một hôm, em hỏi mẹ :
- Mẹ ơi! Sao ta không dạy cho mấy người nô lệ biết đọc, biết viết?
- Để làm gì? Vô ích quá mà.
- Sao mẹ cho là vô ích? Con thấy nó có ích lắm chớ, thưa mẹ?
- Con nói kỳ cục quá, biết đọc biết viết hay không, bọn nô lệ vẫn không làm việc giỏi hơn. Không cần thiết đối với bọn họ, họ sinh ra để làm việc, con phải hiểu...
- Nếu họ biết đọc, họ sẽ đọc Thánh kinh, họ sẽ hiểu Chúa có lòng thương tất cả mọi người, không phân biệt..
- Khi nào cần, sẽ có người đọc cho họ nghe.
- Nhưng con tưởng tự đọc được vẫn hơn chứ, thưa mẹ? Biết đọc thì khi nào muốn biết là tự mình đọc biết liền khỏi nhờ ai. Mẹ coi, như cô Ophélia đó, cô dạy cho Topsy...
- Con Topsy? Hừ! Mẹ chưa từng thấy con bé nào tồi tệ như nó. Để coi cô con giáo dục nó ra sao cho biết.
- Mẹ này, con thấy vú Mammy của con cũng tội ghê, vú ưng đọc lắm, mà phải nhờ con đọc giùm. Con nghĩ nếu một ngày kia con không còn đọc cho vú nghe nữa thì vú sẽ buồn biết chừng nào...
Người mẹ ích kỷ ấy không bao giờ chịu chú ý đến lời con mình. Bà ta đang săm soi mấy thứ nữ trang quý giá trong tủ, nghe con nói thế, bà lơ đãng trả lời :
- Phải, một ngày kia lớn lên, con sẽ có nhiều việc bận tâm hơn là suốt ngày đọc Thánh kinh và săn sóc bọn nô lệ, công việc đó không xứng đáng cho con gái cưng của mẹ đâu. Con phải lo giao thiệp, trang điểm, sửa soạn áo quần cho hợp với phong cách của một thiếu nữ con nhà danh giá. Con coi đây: mẹ để dành những thứ này cho con cả đấy. Đây là thứ nữ trang đắt nhất, mẹ đã mang nó vào buổi dạ vũ đầu tiên trong đời mẹ, không phải cô gái nào cũng có diễm phúc được có nó đâu, con phải biết...
Eva bước lại gần mẹ, nâng một xâu ngọc bích lên ngắm nghía, dáng suy nghĩ, một giây sau, em nói :
- Mẹ nói món nữ trang này đắt tiền lắm, hở mẹ?
- Phải! Ba con mua nó tận bên Pháp đó; con ơi! Nó đáng giá bằng một gia tài của hạng xoàng xoàng đó, con ơi!
- Con ưng có một vật như thế này, mẹ à.
- Thì rồi một ngày kia, nó sẽ là của con chớ của ai.
- Một ngày kia... chậm quá, con muốn có bây giờ...
- Bây giờ? Con định làm gì xâu ngọc quý này?
Giọng người mẹ ngạc nhiên. Eva bình tĩnh :
- Dạ, con sẽ bán nó đi, mua một cái nhà trong xứ nào tự do, con đem đám nô lệ của mình đến đó, dạy họ học, đọc và viết...
Câu nói trang nghiêm của cô bé bị bà mẹ ngắt ngang bằng chuỗi cười lanh lảnh, chế giễu :
- Chà, chương trình to lớn đó, con sẽ mở trường nội trú, dạy toán, dạy vẽ và dạy chúng đàn dương cầm nữa chứ?
Eva vẫn tiếp tục giấc mơ của mình :
- Con dạy họ đọc Thánh kinh, dạy họ viết đàng hoàng. Không làm được những điều đó, họ khổ sở lắm...
- Sao con biết họ khổ sở lắm?
Người mẹ có sắc giận. Đứa trẻ tốt bụng trả lời, giọng xác quyết :
- Thưa mẹ, con biết rõ chứ. Cứ nhìn bác Tom với vú Mammy, họ khổ... Còn nhiều người nữa, mẹ không biết chứ con thì... Để họ dốt nát, tội nghiệp.
- Thôi đi! Một đứa con nít như con mà tính chuyện to lớn, kỳ cục. Đừng làm mẹ đau đầu, mẹ đã đau đầu vì ba con nhiều rồi.
Bà cau có bảo con gái. Luôn luôn bà đau đầu mỗi khi cuộc đối thoại làm phật ý bà. Đau đầu! Có nghĩa là bà không thích thảo luận phải trái gì nữa, hãy để bà yên với mớ tư tưởng hẹp hòi, với tâm hồn nhỏ nhen, khe khắt, ích kỷ của bà.
Eva biết ý mẹ, em nhẹ nhàng lui ra. Song kể từ hôm ấy, em cố gắng dạy Mammy đều đặn vì em biết rõ hơn ai hết, em không còn ở lại trần thế bao lâu nữa, em tận dụng năng lực mình để làm điều tốt.

0
Chương 19
 
Một hôm, ông Alfred đưa con trai đến chơi, ở lại nhà em trai vài hôm. Như ta đã có dịp biết qua về tính khí anh em nhà này: Clare thì vóc dáng mảnh khảnh, tâm tính hiền lành, tốt bụng. Người anh khác hẳn: nóng nảy, khắc nghiệt. Tóm lại, họ rất khác nhau về tính nết, dù vậy, họ rất thương nhau. Con trai ông Alfred cũng giống cha: tóc đen, dáng dấp cao lớn, có vẻ kiêu ngạo, bảnh trai và độc đoán. Cậu bé 13 tuổi đó tuy còn nhỏ đã có cái vẻ hung hãn của một chủ nhân ông da trắng rồi.
Vừa gặp cô em gái, con chú ruột mình, Henrique tỏ ra vui vẻ lắm. Eva cũng mừng không kém, hai anh em định cỡi ngựa đi dạo chơi một vòng.
Eva có con ngựa bạch còn nhỏ, rất đẹp, lông nó trắng như tuyết và mịn như nhung, nó như cái nôi êm ái dành cho cô bé xinh đẹp, và chính nó, nó cũng xứng đáng với cô chủ nhỏ.
Bác Tom lo dắt con ngựa bạch của Eva ra cùng lúc với một thằng bé lai da đen tên Dodo khoảng mười bốn tuổi cũng đang dắt con ngựa ô giống Ả Rập đen tuyền đến cho cậu chủ.
Henrique rất hãnh diện về con ngựa này. Thay vì đón lấy dây cương, cậu ta xem xét con vật thật kỹ, cau mặt lại, quát to :
- Dodol Thằng mọi nhác nhờn kia! Mày chưa chải lông ngựa sáng nay, phải không?
- Thưa cậu, tôi có chải, tại vì...
Thằng bé chưa nói dứt câu, Henrique đã giơ cao ngọn roi lên, giận dữ :
- Câm lại! Ai cho phép mày trả lời tao?
Dodo, tên nài ngựa lai da đen này khá xinh xắn và không đen mấy, vì vậy khi bị mắng oan, nó đỏ bừng mặt lên :
- Thưa cậu...
Henrique không cần nghe nó phân bua chi cả, cậu quất tưới lên đầu, lên mặt đứa nô lệ với dáng bộ cực kỳ hung tợn, rồi còn bắt nó quỳ xuống và đánh cho kỳ đến mỏi tay.
- Đồ khốn! Để mày nhớ đừng có hỗn láo với chủ mày. Phải nhớ săn sóc ngựa tao cho kỹ càng. Nếu còn dắt nó đến như kiểu này nữa thì sẽ còn khổ với tao.
Tom can thiệp :
- Thưa cậu, cậu quá nóng nên không rõ: Dodo đã chải ngựa kỹ lắm trước khi dắt đến đây cho cậu, nhưng con ngựa vừa nghịch, nằm lăn xuống đất nên lấm láp trở lại. Cậu đã đánh oan nó...
- Câm đi! Tao không hỏi, ai cần giải thích?
Henrique vẫn cái giọng chủ nhân ông nói với bác Tom và quay đi. Eva trong bộ quần áo kỵ mã xinh xắn đang nhìn sững cảnh tượng thô bạo mà anh cô đang thủ diễn, cảnh tượng không bao giờ xảy ra trong gia đình cô giữa chủ với tớ. Mặt cô tối sầm lại, làm Henrique biết là em mình phật ý, vội vàng chống chế :
- Em đừng giận anh, anh thật ân hận vì điều lố bịch này, lại bắt em chờ lâu, phải không? Chịu khó đợi một chút đi, em Eva!
Eva buồn rầu nói :
- Anh ác lắm, anh có thể đánh đập người ta như vậy sao? Em không ngờ đấy, tội nghiệp Dodo quá!
- Cái gì? Ác? Tội nghiệp à? Eva thân mến của anh ơi! Em hơi đâu mà để ý đến tụi mọi đen.
Giọng Henrique hơi xẵng trở lại. Eva nói :
- Em nói thật, em không thể là Eva thân mến của anh đâu, nếu anh còn cư xử với người dưới kiểu đó.
- Trời ơi! Em chưa biết rõ thằng quỷ này. Nó nói dối như ranh, gian hết chỗ chê. Phải đánh nó, chính ba anh cũng bảo vậy đó, em ơi!
- Bác Tom là một người có tư cách và đáng tin, bác không bao giờ nói sai, bác đã nói với anh là bác thấy Dodo có chải kỹ ngựa, mà anh cứ gạt đi, mắng luôn người ta.
- Vậy ư? Nếu có một tên nô lệ nói thật thì quả là chuyện hi hữu, chứ thằng Dodo thì ôi thôi, nó nói dối đều đều.
- Em nghĩ rằng có thể nó nói dối, vì quá sợ anh.
- Này, em chú ý đến nó hơi nhiều đó, Eva ơi!
- Em không chú ý đến nó nhiều đâu, chỉ tại anh đánh nó tàn nhẫn mà nó không có lỗi gì nên em thấy phải lên tiếng, vậy thôi.
- Thì có sao đâu, có thể lần này nó oan, nhưng còn bao nhiêu lần khác nó đã đáng đòn mà anh không đánh, hay không biết để trị tôi nó. Nhưng mà thôi, nếu em không thích thấy nó bị đòn, thì anh sẽ không đánh nó trước mặt em.
Eva không hài lòng với lối dàn xếp của anh cô, nhưng cô thấy vô ích nếu còn cãi cọ thêm. Henrique giống cha cậu cũng như Eva giống cha mình.
Dodo đã chải lại ngựa và vừa dắt tới. Henrique tỏ vẻ hài lòng :
- À, lần này thì khá lắm đây. Thôi, giờ thì lại giữ ngựa cho em tao trong lúc tao đỡ em tao lên ngựa.
- Làm sao người ta bưng bít chân lý mãi được? Rồi cũng như ở Pháp cho mà xem! Như ở St. Dominique chẳng hạn...
- Xứ ngoài khác, xứ ta khác. Ta phải chặt chẽ chứ, ta chống lại thứ lý thuyểt tai hại ấy...
Alfred nói và dí mạnh gót giày xuống như định chà nát hệ thống tư tưởng trái với ý muốn ông.
- Để xem! Tôi, thì tôi cho là chúng ta đang làm sứt mẻ mối liên lạc giữa nhân loại với nhau. Ta cư xử với đồng loại như với súc vật, lối giáo dục của ta - mà điển hình là con trai anh đó - tàn ác, phi nhân, sẽ phải thay đổi, không phải một hai người mà cả một cơ cấu quốc gia.
- Chú hùng biện dữ há? Nhưng đừng lo xa. Rồi sẽ có cách, yên tâm! Hạng như tôi không chịu nhượng bộ đâu. Tụi hạ lưu thì ngàn đời vẫn là tụi hạ lưu...
- Nhưng có một ngày kia, bọn hạ lưu lại nổi lên... rồi thì, anh đã chà đạp họ ra sao, họ sẽ chà đạp anh như thế, không sai.
- Tôi đã nói ta thừa nghị lực mà!
- Phải! Với những công dân như con trai anh chứ gì? Trông nó xử sự tôi không khỏi đặt câu hỏi: nó có đủ tư cách không? Một người không đủ bình tĩnh, tự chủ như nó... Người xưa có nói “Kẻ nào không tự trị được mình thì khó lòng mà cai trị được kẻ khác”. Anh công nhận lời ấy đúng chứ?
Lần đầu tiên trong cuộc đối thoại, Alfred có vẻ suy tư :
- Chú nói đúng, đó là điều khó khăn đấy. Tôi cũng thắc mắc về điều này. Tôi có ý muốn gởi nó lên miền Bắc, có môi trường thuận tiện cho việc giáo dục trẻ hơn. Ở đây, nó có vẻ cao quá, nó là chủ nên nó dễ sinh kiêu ngạo, hư hỏng. Nền giáo dục của ta, tại đây, coi ra không mấy thích hợp. Miền Bắc, giữa những người bình đẳng, việc giáo dục dễ dàng.
Họ cùng cảm thấy không nên cãi vã nhiều hơn. Anh em đến thăm nhau mà lại cãi nhau? Họ đã cãi nhau nhiều lần, rốt cuộc cũng không ai nhượng bộ ai, mỗi người giữ nguyên ý tưởng, quan niệm của mình. Vì vậy, họ chấm dứt cuộc cãi cọ, bày bàn cờ ra.
* * * * *
Hai anh em chơi cờ cho đến khi hai đứa trẻ phi ngựa trở về. Clare đứng lên.
- Anh coi, hai đứa có dễ thương không? Thật là một bức tranh sống động và đẹp, quá sức đẹp.
Thật vây, anh em Eva trông thật dễ yêu: Henrique với mái tóc đen bóng, mắt sáng, nụ cười tươi, nét mặt rắn rỏi. Eva thì tóc vàng óng như tơ sống, nét mặt cao quý như thiên thần, nón không vành màu xanh, bộ y phục kỵ mã cùng màu. Cuộc đi chơi bằng ngựa vừa rồi làm em ửng hồng đôi má. Alfred nhìn con và cháu âu yếm, trả lời em :
- Phải, quá đẹp! Mà rồi đây cháu Eva sẽ là cô gái đẹp nhất làm nhiều cậu trai chết mệt đây nhé! Tôi cam đoan...
Clare bỗng nghẹn ngào khi nghĩ đến sức khỏe mỏng manh của con, nhưng ông không muốn tiết lộ với anh, ông nói cho qua :
- Phải, có thể... nhưng làm sao biết chắc điều này?
Giọng ông trầm xuỗng bất ngờ và ông vội vàng đến đỡ con xuống ngựa, ôm nó vào lòng, vẻ lo ngại :
- Con gái ba, con mệt phải không?
- Ồ, thưa ba, không mệt đâu.
Nhưng lời em trái với sự thật, em thở đứt quãng làm cha em thêm hãi :
- Con ơi! Sao con phi ngựa mau làm gì? Con biết là có hại cho sức khỏe của con mà?
- Thưa ba, con vui quá nên quên mất.
Người cha quay lại nói với đứa cháu trai :
- Này Henrique, con phải trông chừng em đừng cho nó phi ngựa nhanh quá.
- Thưa chú, cháu sẽ trông chừng em.
Henrique trả lời chú rồi đến cạnh ghế trường kỷ, nơi chú vừa đặt em gái xuống, nắm tay em.
Giây lát sau, Eva cảm thấy khỏe lại. Hai người lớn lại chơi cờ.
- Eva này, anh muốn ở lại chơi với em lâu hơn, nhưng ba chỉ bằng lòng ở hai ngày thôi. Nếu được ở chơi lâu với em, anh sẽ sửa tính, anh sẽ không hung dữ nữa, anh không ác ý, nhưng anh nóng thật. Em thấy chứ, anh hay cho nó tiền lắm, anh rộng rãi chứ không xử tệ, anh cho nó áo quần đẹp nữa. Nói thật, nó ở với anh cũng sung sướng chứ.
- Anh có thể sung sướng nếu xung quanh không ai tử tế, thương mến anh?
- Dĩ nhiên là không.
- Vậy mà anh làm khổ nó, một đứa cô độc, không có thân nhân như mình. Nó bị xa lìa mẹ nó, anh không thương nó chút nào hết sao?
- Chúa ơi! Làm sao mà em có thể nói thế chứ? Ai mà thương bọn nô lệ da màu cho nổi?
- Tại sao lại không thương được?
- Em có thương bọn nô lệ của ba em không?
- Có, em thương họ lắm.
- Đừng có nói khùng. Eva ơi!
- Thánh kinh dạy ta phải thương yêu mọi người.
- Ôi, Thánh kinh thì dạy đủ trăm thứ, ai hơi đâu mà theo cho hết được?
Eva im lặng, không cãi lại anh họ nữa. Nhưng rồi mắt em ràn rụa lệ, em nhỏ nhẹ bảo Henrique :
- Dù vậy đi nữa, em xin anh cố gắng xử tốt với Dodo, vì em vậy, được chứ?
- Vì em? Được, anh sẽ cố gắng thương yêu tất cả mọi người. Còn em, em là người anh thương yêu nhất.
- Em rất vui vì lời hứa của anh, và em mong anh đừng quên.
Chuông rung báo hiệu giờ ăn, hai anh em ngừng trò chuyện, vào nhà.

0
Chương 20
 
Vì có cha con Henrique đến chơi, Eva ham vui nên đã phí sức nhiều trong những lúc phi ngựa, đùa giỡn. Khi cha con ông bác trở về thì Eva cũng bắt đầu thấm mệt, sức khỏe suy yếu thêm lên.
Hai ngày tiếp, em nằm trong phòng, không bước ra khỏi cửa. Ông Clare dù đã biết con vướng phải thứ bệnh ngặt nghèo nhưng trước nay ông luôn luôn từ chối việc mời bác sĩ khám cho con. Để biết sự thật đau lòng ấy ư? Ông không thể chịu nổi điều này, vì vậy ông chần chờ cho đến tận bây giờ, không thể nào trì hoãn nữa: ông phải cho mời bác sĩ.
Marie Saint Clare, người mẹ vốn không chút trách nhiệm gì đối với con gái, thậm chí bà không nhận thấy là sức khỏe con bị hăm dọa thật sự, vì... than ơi, bà đang bận chú ý đến vài chứng bệnh mới mà bà tin là mình vừa vướng phải. Người đàn bà ích kỷ đó lúc nào cũng đinh ninh mình là người khổ sở, bất hạnh nhất trên đời. Tuy nhiên bà ta lại không chịu tin rằng xung quanh bà, có thể có người đau ốm, khổ sở. Nếu nghe ai nói đến điều ấy, lập tức bà cho kẻ ấy hoặc thiếu nghị lực hoặc lười biếng. Bà nhất định là mình nghĩ đúng.
Cô Ophélia đã nhiều lần nhắc nhở bà chú ý đến sức khỏe đứa trẻ, song bà ta thản nhiên nói :
- Tôi có thấy nó đau ốm gì đâu mà chị lo? Nó chạy nhảy, chơi đùa luôn.
- Nhưng mợ không thấy nó ho khúc khắc sao? Hơi thở nó đứt quãng...
- Chứng ho ấy hở? Ăn thua gì... Tôi ho cả đời. Hồi bằng tuổi con Eva có một lần tưởng tôi kiệt sức rồi đây, con Mammy thức canh chừng tôi suốt đêm. Ôi! Cái thứ ho đó mà nghĩa lý gì?
- Nhưng đêm cháu nó đổ mồ hôi...
- Tôi, tôi đổ mồ hôi suốt mười năm đây chị ơi! Chị biết không: áo quần ngủ của tôi ướt đầm, Mammy phải đem phơi khăn trải giường tôi nữa kia. Thứ mồ hôi của con Eva ăn thua gì, đâu có bao nhiêu...
Ophélia thôi không đả động đến việc này với người mẹ nữa. Rồi khi Eva bệnh nặng, bác sĩ xác nhận thì bà đổi giọng, rằng là mình biết rõ mọi điều, rằng mình linh cảm bất hạnh sắp đến, rằng mình là người mẹ đau khổ nhất, rằng mình đã đau yếu như vậy mà phải chứng kiến đứa con yêu độc nhất chết trước mình.
Suốt đêm, bà ta hành hạ Mammy phải thức hầu mình, còn ban ngày thì không ngớt gào khóc, rên than về cái tai họa khủng khiếp này.
- Marie em! Đừng vội thất vọng...
Clare dỗ dành vợ, bà ta la lên :
- Anh Clare, anh không có quả tim của một người mẹ. Anh không chịu hiểu em, không bao giờ anh chịu hiểu nỗi đau đớn của em.
- Marie ơi! Em đừng nói thế, còn nước còn tát, bệnh nào rồi cũng có thuốc chữa chứ.
- Em không hiểu sao anh có thể thản nhiên trong khi tình trạng sức khỏe đứa con yêu của ta đã đến mức này. Em đâu được như anh? Em đau đớn vô cùng, chưa bao giờ em khổ đến thế này, em đã quá sức chịu đựng.
Mọi người trong nhà đều mong Marie bình tĩnh bởi ai cũng khổ sở trước cảnh này, nhưng bà ta lại làm cho náo loạn thêm, căng thẳng thêm bầu không khí xung quanh, vì tính nết khó chịu của bà ta. Bà ta làm như thể tất cả mọi người đều lãnh đạm trước nỗi khổ sở của mình, như không ai biết xúc cảm cả.
Em Eva nghe được, em rất thương mẹ, âm thầm khóc vì nghĩ là mình vô tình làm mẹ đau lòng.
* * * * *
Hai tuần lễ sau đó, bỗng tình trạng sức khỏe của con bệnh thay đổi làm cho ai nấy cùng mừng rỡ: con bệnh tưởng như không chống nổi với tử thần đột nhiên lại bình phục chóng váng, bất ngờ, Eva đi lại như thường và em còn ra vườn chơi giây lát nữa. Em cười đùa vui vẻ làm ba em hết sức sung sướng, ngỡ rằng em đã thoát khỏi nguy hiểm, khoe với mọi người.
Chỉ duy có hai người không vui được: bác sĩ và cô Ophélia, vì họ hiểu một cách sáng suốt điều gì sẽ đến.
Và còn một người thứ ba cũng không lầm, đó là chính Eva. Em biết trước rằng em sẽ chết, nhưng em vẫn dịu dàng, bình tĩnh như thường. Em tin là em sẽ lên Thiên đàng. Phải! Và chắc chắn em sẽ bình thản đi dần cái chết hơn nếu em không nghĩ đến những người thân yêu mà em sắp phải lìa bỏ, nhất là ba em, người mà em yêu kính nhất đời.
Em cũng thương yêu mẹ mặc dù cái tính ích kỷ khó chịu của bà, Eva vẫn cho là mẹ mình rất tốt, bà có lý. Em tự nhủ rằng mẹ em rất đáng yêu, dù đôi khi nó không cắt nghĩa được vì sao.
Eva cũng thương đám nô lệ, vì em biết em là ánh sáng, là nguồn an ủi đối với họ.
Em thật lòng muốn làm một cái gì để giúp đỡ những người nô lệ, không chỉ riêng nô lệ của cha em mà là tất cả các nô lệ khác, để bù vào nỗi thiệt thòi, bất công mà họ gánh chịu. Tuy nhiên sức khỏe em không cho phép em thực hiện được thiện chí ấy.
Một hôm, trong lúc đọc Thánh kinh, em ngừng lại nói với bác nô lệ :
- Bác Tom ơi, cháu biết rồi, cháu biết tại sao Chúa Jésus chịu chết vì chúng ta...
- Tại sao, Eva nói nghe coi!
- Tại vì... tại vì chính cháu đây, cháu cũng muốn vậy.
- Eva! Em giải thích rõ coi, tôi không hiểu ý em.
- Cháu không thể giải thích rõ ràng, nhưng bác Tom ơi, bác còn nhớ chứ: khi mình đi dưới tàu đó... Kẻ thì mất chồng, người thì mất mẹ, có nhiều bà mẹ khóc vì bị bắt mất con. Cháu thấy họ khốn khổ quá. Bác Tom ơi! Cháu không bao giờ quên những cảnh đó. Cháu cảm thấy sung sướng mà chết, nếu cái chết của cháu có thể chấm dứt được tình trạng đau lòng cháu đã chứng kiến ngày nào. Phải! Cháu nói thật đó, bác Tom! Cháu thật lòng muốn chết vì họ!
Eva nói, giọng em nhiệt thành, cảm động, bàn tay nhỏ nhắn xanh xao đặt trong bàn tay to lớn của bác Tom.
Tom nhìn em bằng đôi mắt yêu kính. Nghe cha gọi, cô bé đứng lên vào nhà, Tom ngồi lặng nhìn theo em và đưa tay lên lau mắt.
Một chốc sau, ông Clare nói với vú Mammy :
- Tôi nghĩ rằng ta cố giữ con bé lại trần thế một cách vô ích thôi. Thiên Chúa đã khắc dấu của Ngài lên trán nó.
Mammy đưa hai tay lên trời :
- Thưa ông, quả vậy, tôi cũng nói như ông mãi. Em không giống các em bé bình thường khác. Trong mắt em có một cái gì thật huyền diệu. Tôi vẫn hay thưa bà như thế. Bây giờ chắc ngày đó đã sắp đến... ai cũng nhận thấy điều này. Tội nghiệp con chiên bé nhỏ của Chúa!
Eva lại cạnh cha ở hành lang, mặt trời lặn chiếu xuyên phía sau em, làm cho suối tóc vàng óng bồng bềnh, má em ửng hồng và cơn sốt âm ỉ trong người em làm cho ánh mắt em rực sáng khác thường :
- Con yêu quý của ba! Mấy hôm nay con có vẻ khá lắm. Có phải con khỏe nhiều không?
- Thưa ba! - Eva nói với cha quả quyết - Con có vài điều cần thưa với ba đã lâu rồi. Con muốn thưa ngay bây giờ, trước khi con kiệt sức.
Saint Clare cảm thấy run sợ hồi hộp trước những lời này. Eva ngồi lên đầu gối cha, tựa cái đầu nhỏ nhắn vào ngực ông, tiếp :
- Ba ơi, ba lo lắng cho con nhiều quá, nhưng vô ích đã đến lúc con sắp phải xa ba... Con sẽ đi và không bao giờ trở về nữa, ba ơi!
Em ngừng lại thở dài. Người cha cố gắng nói với con bằng giọng hết sức vui vẻ, nhưng sự xúc động làm ông run run :
- Xem kìa! Con yêu quý của ba! Sao con lại nghĩ quẫn thế? Sao con tỏ ra nản lòng? Phải chiến đấu chứ! Đừng để những tư tưởng đen tối ám ảnh chứ. Này Eva, ba mua cho con một pho tượng nhỏ...
Em nhẹ nhàng gạt pho tượng ra một bên :
- Ba ơi! Ba lầm rồi: con không khỏe được đâu. Con sắp xa ba thật rồi. Con không tiếc gì đâu, con chỉ thương ba thôi, phải! Con chỉ buồn vì phải xa ba và những người thân yêu. Nhưng con sẽ đi xa, thật xa...
- Con ơi! Sao con nghĩ kỳ vậy? Con xem, ai cũng thương yêu con, con được chiều chuộng, sung sướng, con có thiếu thốn gì đâu?
- Vì những người con thương yêu, con bằng lòng ở lại. Ba ơi, ba không hiểu: có nhiều điều làm con buồn lòng lắm, nên con không thiết sống mà con lại cũng không muốn xa ba. Vì vậy mà con rất khổ tâm.
- Eva, con nói gì vậy? Ai đã làm cho con phải khổ tâm?
- Chúa ơi! Những điều đó đầy dẫy và xảy ra mỗi ngày. Con buồn vì thương xót đám nô lệ. Họ thật tốt, họ dễ mến. Con mong muốn họ được tự do.
- Eva, con nhìn xem: họ vẫn được sung sướng trong nhà ta mà, ba có xử tệ với họ đâu?
- Thưa ba, đúng vậy. Nhưng nếu sau này xảy ra chuyện gì cho ba thì họ sẽ ra sao? Rất ít người có lòng tốt giống ba, như bác Alfred đó, như mẹ con nữa. Bộ không có cách nào để trả cho nô lệ tự do sao?
- Khó mà thi hành được lắm, con ơi! Cả thế giới đều lên án chế độ nô lệ. Cả ba nữa, ba cũng chống lại điều này, ba thật lòng mong muốn không còn một người nô lệ nào trên quả đất, nhưng làm thế nào để thực hiện được, điều đó không phải là việc dễ.
- Ba ơi, ba rất tốt, rất đáng yêu, ba lại biết cách nói làm cho người ta xúc động. Ba có thể bỏ chút thì giờ khuyến khích mọi người làm điều đó hay không? Khi con chết rồi, xin ba hãy vì tình thương con mà làm điều tốt. Con rất muốn, làm điều này, thưa ba!
- Chết? Khi con chết? Sao con có thể nói với ba câu này, hở con? Con có biết rằng con là tất cả cái gì quý báu của ba trên đời?
- Ba này, vú Mammy cũng thương yêu con vú, vú thường khóc mỗi lần nhắc đến con vú. Bác Tom cũng rất yêu thương con bác mà bác phải xa cách chúng. Ba ơi! Thật là khủng khiếp khi phải chứng kiến những việc như thế mỗi ngày.
Giọng người cha trìu mến :
- Eva con! Đừng buồn nữa, đừng nói đến chết chóc nữa. Ba hứa với con rằng ba sẽ làm tất cả những gì con muốn.
- Ba yêu dấu! Ba hứa với con đi! Hứa rằng bác Tom sẽ sớm được tự do...
Em ngập ngừng không chịu nói hết câu. Sau đó một lát, em mới tiếp :
- Sớm... trước khi ra đi.
- Được! Ba hứa với con, ba sẽ làm những gì con muốn.
- Ba ơi! Con ao ước có ba cùng đi với con.
Eva nói, áp má vào má ba, đôi má đang hâm hấp nóng.
- Đi đâu, hở con?
- Đi đến cõi Thiên đàng, ở đó là nơi yên ổn, đầy tình thương yêu và hòa bình. Ba không muốn đi với con ư?
Giọng em ngây thơ, tin tưởng. Ông Clare ôm chặt con vào lòng không trả lời. Eva nhắc lại :
- Ba sẽ đi với con chứ, thưa ba?
- Rồi ba sẽ đi với con. Ba không quên con đâu.
Trời tối dần, bóng tối phủ vây cha con họ, nhưng ông Clare vẫn ngồi yên ôm chặt lấy đứa con yêu. Ông không còn nhìn thấy đôi mắt sâu thẳm của em nữa, nhưng tiếng nói em vẫn vọng vào tai ông, tưởng như giọng nói của Thiên thần. Rồi ông như nhìn thấy ngày phán xét cuối cùng, rồi ông nhìn thấy cả quá khứ mình đang tuần tự diễn ra trước mắt. Ông như nghe mẹ ông cầu nguyện, hồi tưởng lại những nguyện vọng lúc thiếu thời...
Ông bế con vào nhà, cho phép người hầu phòng đi nghỉ và vẫn ôm con trong tay cho đến khi nó ngủ thật say.

0
Chương 21
 
Phòng ngủ của Eva rất rộng, hướng ra phía hành lang, một phía ăn thông với phòng ba mẹ em và một phía ăn thông phòng cô Ophélia. Cha em rất hài lòng vì gian phòng trang trí rất hợp với con gái ông.
Cửa sổ treo màn lụa màu trắng và màu hồng. Tấm thảm, kiểu tân Ba Lê, giữa là những chùm hoa hồng rực rỡ, xung quanh viền lá và những nụ hồng. Giường ghế dựa, làm bằng tre nhưng cách chế biến thật tinh xảo, khéo léo. Phía đầu giường một cái đế bằng bạch ngọc trên đó đặt một tượng Thiên thần xinh xắn đang giương cánh tay cầm một vòng hoa kết bằng lá sim.
Từ vòng hoa ấy phủ xuống giường một cái mùng the hồng có kẻ sọc bằng chỉ bạc. Ghế trường kỷ cũng bằng tre, trên đó đặt thêm vài cái gối dựa bọc gấm hồng, thêu rất công phu, màu sắc trang nhã hợp với màu giường.
Giữa phòng, trên cái bàn tre nhỏ, có lọ hoa, trong lọ luôn luôn cắm đầy hoa và vài cuốn sách, vài món nữ trang nho nhỏ, một cái giá sách bằng ngà voi chạm trổ tỉ mỉ. Ba em đã cho em cái bàn này khi em bắt đầu tập viết.
Trên lò sưởi có một tượng nhỏ Chúa Jesus đang kêu gọi đám trẻ con, mỗi bên là những bình đá hoa. Tom rất sung sướng được lãnh việc cắm hoa vào các bình ấy mỗi sáng. Ngoài ra, phòng còn treo nhiều tranh vẽ những đứa trẻ trong nhiều tư thế khác nhau rất linh động, xinh xắn. Tóm lại, nhìn quanh phòng, chỗ nào ta cũng bắt gặp những hình ảnh của tuổi trẻ, của sắc đẹp và sự thanh bình.
Mỗi sáng thức dậy, Eva thường nhìn những vật trưng bày tại đây và những đồ vật ấy gợi cho em nhiều ý tưởng dịu dàng, thuần khiết.
Cái sức khỏe phục hồi vừa qua của Eva như ngọn đèn tàn trước gió, bây giờ thì em yếu quá, rất ít khi em ra hiên như dạo trước, mắt sâu thẳm của em không ngớt hướng ra phía cái hồ, nơi những tia nước phun lên và rơi xuống đều đặn.
Một buổi xế kia, cuốn Thánh kinh mở trước mặt, bàn tay xanh gầy của em thong thả lật từng trang. Bỗng, Eva nghe tiếng mẹ em quát the thé :
- Con quỷ kia! Lại phá phách nữa phải không?
Tiếng theo đó là tiếng nổ ròn của một cái tát và tiếng nói quen thuộc của Topsy :
- Thưa bà, con... mang hoa vào cho cô Eva.
- Khéo bào chữa nhỉ! Eva đâu cần thứ hoa mày hái, đồ vô tích sự!
Eva vội vàng rời ghế bước lại, can thiệp :
- Thưa mẹ, con cần thứ hoa đó lắm, cho con đi mẹ! Con rất thích.
- Sao? Phòng con đầy hoa rồi mà.
- Thưa mẹ, không dư đâu. Topsy ơi! Chị đem đến cho tôi đi!
Topsy đến gần Eva đưa bó hoa vừa hái cho em, nét mặt ủ dột, ngượng ngập, đầu cúi thấp, không giống như xử chỉ của nó thường ngày. Eva đón lấy bó hoa ngắm nghía và khen :
- Đẹp quá! Topsy! Cảm ơn chị! Chị biết lựa hoa đấy, mỗi ngày chị nhớ hái cho tôi một bó như thế này nhé?
Topsy có vẻ sung sướng. Bà Clare cau có nói :
- Thật điên khùng! Con cần gì thứ hoa đó chứ?
- Xin mẹ cứ mặc con. Con muốn chị ấy hái hoa cho con, mẹ không thích sao? Thưa mẹ?
- Tùy con đấy, cưng của mẹ! (bà quay sang Topsy) Topsy, mày có nghe cô bảo gì không? Làm theo ý cô đi!
Topsy nhìn xuống đất, dáng bộ kính cẩn và nó quay đi, Eva nhận thấy nước mắt nó chảy ròng ròng xuống đôi má đen đủi.
- Mẹ ơi! Con biết rằng chị ấy muốn làm một cái gì cho con.
Người cha lặng lẽ nhìn mớ tóc dài óng ả của con lần lượt bị đứt rời, rơi lả tả xuống gối em, và em nhặt lên cầm trong tay, quấn vào những ngón tay nhỏ bé của mình một cách trìu mến, rồi em nhìn cha em.
Vào lúc đó, bà Marie bước vào, rên rỉ :
- Đúng là tôi đã nói mà! Chính điều này làm tôi thêm đau yếu và mau đi dần đến cõi chết, mà có ai chịu nghe tôi đâu. Clare, rồi anh sẽ thấy là tôi nói không sai...! - Giọng bà Marie đay nghiến.
- Phải! Bà thì bao giờ mà nói sai được? Nhưng này, bà nói đúng như vậy chắc bà thích lắm hở?
Giọng ông chua chát. Bà vợ thì tựa người vào ghế dựa, lấy khăn tay che mặt lại.
Đôi mắt trong xanh của Eva hết nhìn cha lại nhìn sang mẹ, vẻ mặt buồn rầu. Trong cái nhìn ấy có cái gì thoát tục, hiểu biết... hiểu biết cả sự khác biệt giữa mẹ và cha.
Rồi em chợt ra hiệu cho cha lại gần, ngồi cạnh em :
- Ba ơi, con biết sức khỏe của mình. Con biết con sẽ chết. Sức khỏe con tàn tạ dần. Có nhiều điều con cần làm và cần nói. Thật vậy, mà ba lại không muốn nghe con. Con không thể làm khác hơn, ba ơi! Ba nghe con bây giờ chứ?
Ba em trả lời, một tay che mặt, một tay nắm tay con :
- Con nói đi! Ba sẵn sàng nghe con!
- Thưa ba, con muốn nhìn mặt moi người trong nhà ta một lần, con có vài điều cần nói với họ.
- Được!
Người cha thổn thức nghẹn ngào.
Cô Ophélia đi thông báo, chỉ lát sau tất cả nô lệ đều đủ mặt, vây quanh cạnh giường em.
Eva ngồi dựa ra nệm, tóc xõa quanh mặt, đôi mắt đỏ ửng một cách khác lạ tương phản với màu da trắng thường ngày, tay chân và thân hình em gầy guộc một cách thảm thương, nhưng đôi mắt linh động lại càng như to hơn, sâu thẳm và cái nhìn trìu mến chứa chan tình cảm. Cái nhìn đó làm cho bọn nô lệ xúc động đến nghẹn ngào, họ trao đổi nhau những cái nhìn và cúi đầu, im lặng.
Chao ơi! Khuôn mặt xinh xắn đó, mớ tóc óng ả đó... hiện giờ đã bị cắt ngắn và đặt lên gối. Cha thì che mặt lại, mẹ thì khóc rưng rức. Cảnh tượng não lòng làm sao, sự im lặng thê thảm làm sao.
Em ngồi thẳng lên, nhìn kỹ từng người với vẻ mặt không sao tả nổi, nhiều phụ nữ phải lấy tạp dề che mặt lại. Eva nói với họ :
- Tôi gọi các bạn lại đây, vì tôi thương yêu các bạn lắm. Phải! Tôi yêu tất cả các bạn và tôi có vài điều cần nói với các bạn vì tôi sắp lìa bỏ nơi này, lìa bỏ các bạn. Trong vài ngày nữa thôi...
Tiếng khóc tập thể bật lên cùng khắp làm Eva phải ngừng lại một lúc, rồi em nói tiếp, giọng em làm cho họ im bặt, lắng nghe :
- Tôi biết, tôi biết rõ các bạn rất thương tôi!
- Đúng vậy: chúng tôi rất quý cô! Chúng tôi đều chúc lành cho cô!
Cả bọn cùng đồng thanh.
- Tôi biết mà! Nội đây, không một ai là không quý mến tôi, ai cũng tốt với tôi cả. Tôi sẽ tặng các bạn một vật để sau này nhìn thấy nó, các bạn sẽ nhớ đến tôi, nhớ rằng tôi luôn luôn thương nhớ các bạn. Tôi sẽ lên Thiên đàng và tôi cũng mong gặp các bạn trên ấy...
Thật là một quang cậnh cảm động, không bút nào tả xiết: đám nô lệ vây quanh em, mắt mờ vì lệ, họ chen nhau để nhận từ tay cô chủ nhỏ cái dấu hiệu cuối cùng của tình thương. Họ quỳ xuống, khóc nức lên, cầu nguyện cho em và hôn tà áo trinh trắng của em.
Ophélia biết rằng Eva sẽ mệt thêm vì chuyện này, cô khuyên mọi người nên lui ra sau khi nhận được món tóc nhỏ Eva cho họ. Cuối cùng đến Tom và vú Mammy, Eva bảo Tom :
- Bác Tom ơi! Cầm lấy đi! Cháu dành cho bác chút tóc đẹp nhất. Này bác, cháu rất sung sướng khi nghĩ rằng cháu sẽ gặp bác trên Thiên đàng (với vú Mammy). Vú ơi! Vú thật tốt và dễ thương, con cũng biết là vú sẽ được Thiên đàng với con.
- Eva ơi! Tôi làm sao sống nổi nếu không còn em? Em mất đi thì tôi còn gì ở đây nữa, em ơi!
Mammy khóc nghẹn ngào. Cô Ophélia đẩy nhẹ Tom và Mammy ra ngoài. Cô tưởng là mọi người đi hết rồi, song quay lại, cô chợt thấy Topsy, cô hỏi nó :
- Ủa, mày lại đây từ lúc nào?
Topsy lau nước mắt :
- Thưa cô, con ở kia kìa.
Và nó lại gần Eva :
- Eva ơi! Em là đứa ngỗ ngược, nhưng... cô có cho em chút tóc không?
- Sao không, chị Topsy! Tôi cũng có dành cho chị. Tôi không quên ai cả. Này, mỗi lần nhìn tóc tôi chị hãy cố gắng giữ mình thành cô gái ngoan. Chị nhớ nhé, tôi rất yêu thương chị!
- Tôi sẽ cố, mà chắc là khó lắm, cô Eva ơi!
- Chúa sẽ giúp chị, Ngài sẽ thương mà giúp chị!
Topsy lấy tạp dề che mặt lại, cô Ophélia dắt nó đi ra trong lúc nó nâng niu món tóc như báu vật. Cô Ophélia đóng cửa lại. Từ nãy giờ, bà cô không hề khóc, song cô lo lắng cùng cực cho sức khỏe của Eva.
Saint Clare, người cha đau khổ ngồi lặng không nhúc nhích suốt buổi và tận bấy giờ vẫn ngồi yên, che mặt... Eva đặt tay vào tay cha :
- Này ba của con! Ba yêu quý của con ơi!
Ba em khẽ rùng mình, giây sau, ông mới hỏi con :
- Con không cho ba một ít tóc của con ư?
Ông gượng cười, nụ cười héo hắt.
- Thưa ba, phần còn lại là của ba mẹ, nhưng thưa ba, ba nên đưa cho cô Ophélia đáng yêu một ít. Con, con chỉ sợ sau khi con chết rồi, mấy người nô lệ đáng thương kia sẽ bị bỏ quên nên tự tay con, con phải cho họ.
* * * * *
Eva suy yếu nhanh chóng. Hy vọng tàn rồi. Gian phòng xinh xắn ngày nào giờ trở thành phòng bệnh... Ngày đêm, cô Ophélia tận tình săn sóc đứa cháu đáng thương. Cô cẩn thận, chu đáo không khác chi một y tá lành nghề, tận tâm.
Bác Tom luôn luôn có mặt để chờ dịp được hầu hạ em, vị Thiên thần khả kính của bác. Eva tỏ ra trầm tĩnh, sẵn sàng chờ cái chết đến.
Bác dìu em hay bế em ra vườn, đi dạo dưới mấy cây cam, khi thì bác hát cho em nghe những bài Thánh ca mà cả hai cùng thích.
Đôi lúc ông Clare bế con mình, nhưng ông mau mệt, Eva bảo cha :
- Ba ơi, để bác Tom bế con. Bác Tom dễ thương lắm, bác thích bế con lắm. Bác luôn luôn muốn giúp con, bác muốn làm cho con bất cứ điều gì.
- Còn ba, thì sao?
- Ồ, ba thì ba làm cho con tất cả. Đối với con, ba là tất cả cái gì quý báu. Nhưng bác Tom mạnh hơn ba, bác không mau mệt như ba.
Mà không chỉ mình bác Tom là muốn được săn sóc Eva, tất cả mọi người đều muốn thế, vú Mammy còn muốn hơn ai hết.
Vú luôn luôn nghĩ đến cô chủ đáng yêu nhưng vú không có cơ hội nào cả. Mẹ Eva cần vú suốt ngày cũng như đêm. Đang giữa khuya, bà ta đánh thức vú dậy để đấm bóp, sai khiến một điều gì đó. Khi thì tìm cái khăn tay, khi thì vì một tiếng động, khi thì kéo màn lên để căn phòng được sáng, khi thì buông màn xuống vì chói mắt bà. Hết việc này, đến việc kia.
Không bao giờ vú có thể hở tay giây phút để sang thăm Eva, chỉ khi nào bà chủ sai việc gì đi ngang phòng em, vú đưa mắt nhìn vào, thế thôi. Thế mà vẫn chưa hài lòng, bà kêu than.
- Khổ thân tôi: đã yếu ốm, đau bệnh mà còn mệt vì đứa con yêu nữa. Tôi thật quá khổ... cô đơn, không ai ngó ngàng đến.
Saint Clare không nhịn được, ông bảo vợ :
- Tôi tin là chị Ophélia đã giúp mình nhiều về việc này, chị ấy săn sóc con cho em...
- Anh là đàn ông nên anh đâu có biết gì? Làm sao người mẹ không lo lắng khi con mình trong tình trạng như thế này? Em làm sao mà bình tĩnh nổi như anh chứ?
Saint Clare chỉ cười nhạt không trả lời vợ. Đau khổ tột cùng vì cái chết sắp đến của đứa con độc nhất, đứa con ông coi quý hơn mọi thứ trên đời, song ông cố gắng vượt bực để bình tĩnh chịu đựng, mặc cho bà vợ lắm lời tha hồ dằn vặt ông.
Bác Tom được Eva tâm sự tất cả mọi điều, cả những điều mà em sợ là cha buồn lòng, không dám nói ra. Tom biết thần chết lởn vởn đâu đây, sẵn sàng giơ lưỡi hái ra... nên bác không ngủ trong căn phòng riêng nữa, suốt đêm bác túc trực ở hành lang, canh chừng mỗi tiếng động khẽ ở phòng Eva. Một đêm, cô Ophélia tỏ ý không bằng lòng điều này, cô bảo là con chiên ngoan đạo phải ngủ trong phòng mình tử tế, không có cái lối bạ đâu nằm đó như thể là con vật, v.v...
- Thưa cô, có chứ, tôi ngủ trong phòng đàng hoàng, nhưng thưa cô, hiện giờ thi...
- Hiện giờ thì sao?
- Xin cô làm ơn nói nhỏ, tôi không muốn đến tai ông Clare, thế này này: tôi nghĩ là phải canh chừng em Eva.
Cô Ophélia đưa mắt nhìn bác nô lệ trung thành và hiểu câu nói nửa chừng ấy, cô không bất bình nữa, trái lại cô hết sức cảm kích vì sự tận tâm của bác ta.
Một buổi chiều, Eva có vẻ khỏe hơn thường lệ, em ngồi lên, sửa soạn, sắp xếp mọi vật của mình, đồ trang sức, đồ chơi quý giá, chỉ định từng cái cho từng người. Em có vẻ vui thích, phấn khởi làm cho cha em lại một lần nữa, tự dối lòng: “Chắc con ta qua khỏi, chắc nó sẽ mạnh...”.
Nửa đêm hôm ấy, giờ phút em trút linh hồn sắp điểm, bức màn chia cách hiện tại và tương lai vĩnh cửu sắp buông!
Bác Tom nghe tiếng cửa phòng bật mở, tức thì bác hiểu gì rồi, cô Ophélia gọi bác :
- Tom ơi! Mời bác sĩ, mau lên!
Rồi cô qua phòng Saint Clare :
- Clare, sang đây mau!
Chỉ giây lát Tom cùng bác sĩ vào phòng, ông thầy thuốc im lặng nhìn em rất lâu rồi hỏi cô :
- Cháu trở bệnh lúc nào vậy?
- Khoảng nửa đêm, thưa bác sĩ.
Bà mẹ em cũng vừa thức dậy, bà vào phòng, vẻ hoảng hốt :
- Anh Clare, có gì vậy? Cái gì? Ophélia ơi!
- Im! - Giọng người cha khàn đục - Eva chết...
Mammy nghe tin dữ liền chạy đi đánh thức hết mọi người. Đèn sáng rỡ. Cả nhà nhốn nháo vì tiếng chân di chuyển, những khuôn mặt buồn bã lo âu xuất hiện. Song Clare không còn thấy ai khác ngoài con. Ông thì thào :
- Lạy Chúa, tôi chỉ mong nó tỉnh lại và nói chuyện với tôi, một lần cuối...
Rồi ông cúi sát con, âu yếm gọi :
- Eva!
Đôi mắt xanh sâu thẳm tưởng đã nhắm kín vĩnh viễn bỗng mở ra, nụ cười nhợt nhạt nở trên đôi môi trắng bệch, Eva như muốn ngồi lên. Clare hỏi :
- Con ơi, con có nhận ra ba không?
- Ba yêu quý!
Em kêu khẽ và với chút tàn lực còn sót lại trong người, Eva vòng tay choàng cổ cha, nhưng liền đó em buông thõng tay xuống. Clara ngẩng lên, ông thấy tay chân con co giật và em cố gắng quờ quạng đưa tay ra trước như tìm tay ông. Ông kêu rú lên thảm thiết :
- Chúa ơi! Khủng khiếp cho tôi...
Người cha bất hạnh quay đi, vẻ mặt thất thần, ông chộp lấy tay Tom đang đứng cạnh ông, gào lên :
- Tom! Bạn ơi! Tôi chết đi còn hơn chứng kiến cảnh này!
Tom giữ tay chủ trong tay mình, mặc cho nước mắt lăn dài không ngăn lại.
- Tom ơi! Cầu nguyện đi! Ta phải chịu đựng thử thách quá sức này!
Eva chưa chết: em thở hổn hển đứt quãng, thỉnh thoảng đôi mắt em lại mở ra bất động, dại đi. Nhưng mặt em ngời sáng một cách huyền diệu, khiến cha em dịu được đôi phần thống khổ. Ông âu yếm gọi :
- Eva! Con còn thấy cha không?
Em không nghe cha nói, nhưng em còn gắng mỉm cười thật tươi và tiếng đứt quãng, em thì thào :
- Ôi! Tình yêu... hạnh phúc... thanh bình...
Và rồi, em tắt thở.

0
Chương 22
 
Những bức tượng nhỏ và tranh trong phòng Eva được phủ màn trắng, người ta đi lại nhẹ nhàng, bước chân chậm rãi lẫn trong tiếng thở dài ảo não.
Ánh sáng được lọc qua mấy tấm màn buông rủ, tăng thêm phần trang trọng, lặng lẽ này.
Trên cái giường trải ra trắng tinh và dưới sự che chở của vị thiên thần giương cánh, Eva, đứa trẻ trọn lành đã ngủ, giấc ngủ vĩnh viễn ngàn đời, không còn bao giờ bị thức dậy để chứng kiến những cảnh làm đau nhói tim em.
Em mặc cái áo dài trắng tinh khiết mà em vẫn ưa mặc lúc sinh thời. Ánh sáng màu hồng xuyên qua màn, rọi đến bên em như muốn sưởi ấm em. Đôi mi dài khép chặt, khuôn mặt nghiêng qua một bên như em đang ngủ. Khuôn mặt tỏa ra một vẻ thiêng liêng cao quý mà Đấng tối cao dành riêng cho những tâm hồn thuần khiết như em.
Rosa nhón chân vào phòng với một lẵng hoa hồng trắng. Ả lùi lại một bước vẻ cung kính vì vừa gặp ông Clare, song thấy ông không để ỷ, ả đến gần giường người chết, đặt quanh em mấy cái hoa. Hương thơm dịu nhẹ tỏa ra phảng phất, làm người cha đứa bé như đang sống trong một giấc mơ.
Cánh cửa chợt mở, Topsy hiện ra ở ngưỡng cửa, mắt sưng húp vì khóc nhiều quá, nó giấu cái gì dưới tạp dề. Bị Rosa ra dấu ngăn lại, Topsy vẫn bước vào. Rosa hách dịch nói nho nhỏ :
- Đi ra! Mày không có việc gì ở đây.
- Mặc tôi, tôi cũng mang hoa cho Eva, một cái hoa vừa nở, một cái thôi.
- Đi ra!
Rosa quyết liệt hơn. Ông Clare dậm nhẹ chân xuống nền nhà :
- Để nó vào đây! Nó có quyền vào...
Rosa đành lùi ra. Topsy tiến tới, đặt cành hoa độc nhất của nó dưới chân Eva... rồi bất ngờ, nó rú lên một tiếng man rợ, nằm lăn dưới chân giường khóc òa lên. Cô Ophélia cố gắng đỡ nó dậy và dìu nó ra song vô ích. Nó gào lên :
- Eva! Tôi cũng muốn chết, tôi muốn chết mà!
Tiếng khóc của nó có cái gì thê thảm cho đến nỗi máu dồn lên mặt ông Clare và lần đầu từ khi con nhắm mắt, ông bật khóc.
- Này con! Eva đã lên trời rồi, Eva sẽ là Thiên thần đấy, con ơi!
Giọng cô Ophélia dịu dàng chưa từng thấy, và cô gọi nó bằng tiếng con âu yếm lạ thường.
- Eva lên trời? Eva thương con lắm! Từ đây con không được thấy cô, con không còn ai nữa...
Rồi nó rống lên khóc nữa, như tuồng chưa được khóc bao giờ. Ông Clare bảo nó :
- Phải! Không ai còn được thấy Eva! Cả ta nữa!
Ông quay sang người chị :
- Chị ơi! Gắng mà an ủi con bé đáng thương này!
- Tôi không muốn được sinh ra, tôi muốn chết! Tại sao tôi lại được sinh ra và sống làm chi?
Cô Ophélia dịu dàng dỗ nó và đưa nó ra khỏi phòng Eva. Chính cô cũng phải động lòng vì con Topsy quái quỷ. Cô khóc rưng rưng. Cô đưa nó về phòng mình, bảo nó :
- Này Topsy, cô đây, cô cũng yêu con, mặc dù cô không trọn tốt, trọn lành như Eva. Nhưng cô hy vọng là sẽ học được nơi Eva tình thương hiếm cố, thứ tình thương cao quý như chúa Ki-tô. Cô hứa sẽ thương con, sẽ giúp con trở thành người tốt.
Giọng cô nồng nàn, nhiệt thành hơn lời nói. Mà nhiệt thành hơn nữa là những giòng nước mắt ràn rụa trên má cô.
Kể từ lúc ấy, cô chiếm được lòng tin nơi đứa trẻ bị bỏ rơi này, một lòng tin vững chắc và vĩnh viễn.
* * * * *
- Eva ơi! Suốt cuộc sống ngắn ngủi của con, con đã làm được biết bao nhiêu điều hữu ích. Còn ba đây, ba đã làm gì cho đời? Và ba sẽ làm gì trong những năm dài vô vị còn lại sau này?
Người cha than thở một mình.
Gian phòng lại chìm trong lặng lẽ. Những bước chân khua động hành lang, những lời thì thào của bọn người vào viếng bé Eva. Rồi thì tang lễ được cử hành.
Xe đậu hàng hàng trước cửa. Khách đến thăm và được đưa vào. Những băng tang xéo ngang ngực, những băng trắng trên đầu, những người khóc lóc... những tiếng cầu nguyện... vẫn không làm ông tỉnh táo. Ông đi như bước trong mơ, mắt khô cạn lệ và ông chỉ thấy một vật: cái đầu tóc óng ả và khuôn mặt sáng rỡ của Eva.
Rồi tấm ra phủ kín mặt em và nắp áo quan đậy lại... ông như mê đi...
Cho đến khi ông nghe tiếng đất ném xuống huyệt và lấp đầy. Ông lại nghe loáng thoáng lời kinh trang nghiêm :
- Ta là sự phục sinh và sự sống! Ai tin nơi ta, người ấy sẽ được sống đời đời!
Làm sao Saint Clare tin được rằng con ông, Eva xinh xắn, tốt lành từ thể xác đến tâm hồn lại có thể lìa ông quá sớm đến thế này?
Tất cả mọi người đều đau khổ, lòng trĩu buồn khi trở về ngôi nhà quen thuộc, kể từ nay không bao giờ còn thấy bóng dáng Eva.
Marie đóng kín cửa phòng. Nằm dài ra giường, bà khóc lóc, rên rỉ, trách móc không ngừng. Bằng mọi cách, bà ta bắt lũ tôi tớ phải túc trực hầu hạ không hở tay một chút, không có chút thì giờ nào để khóc nữa. Mà tại sao bọn này khóc chứ? Nỗi khổ đau này là của riêng bà ta, riêng mình bà ta thôi. Marie làm như trên đời không có ai có quả tim biết xúc cảm như bà hết. Rồi bà lại trách :
- Coi! Ông ấy không nhỏ một giọt nước mắt nào hết! Ông ấy không kể gì đến tôi cả, người đâu mà sắt đá đến mức. Ít nhất ông cũng phải biết là vợ ông khổ đau chứ.
Cái bề ngoài của bà chủ làm cho vài tên nô lệ nông nổi ngỡ là bà ta khổ sở lắm, nhất là lúc bà lên cơn vật vã. Rồi bà ta cho vời bác sĩ đến, và tuyên bố là mình sắp chết.
Cả nhà lại nhốn nháo lên, bọn tôi tớ chạy chân không bén đất, lo mang nước nóng đến cho bà, chà xát cho bà bằng nỉ mỏng v.v... Cuối cùng, mọi sự êm rơ! Bà ta sống nhăn như vẫn sống và tiếp tục than van, kêu ca làm rầy kẻ khác, nhất là bọn tôi tớ, đặc biệt là vú Mammy.
Bác Tom, người nô lệ tinh ý và trung thành luôn luôn hướng hết tâm trí về phía ông chủ. Bác biết ông thản nhiên bề ngoài nhưng lòng ông khổ sở hơn bao giờ. Mặt nhợt nhạt, người cha ngồi yên trong phòng con gái, cuốn Thánh kinh mở ngỏ, nhưng bác biết là ông không đọc được chữ nào, không thấy gì và mắt ông ráo hoảnh, nhưng tim ông như tan nát vì cái chết của Eva, khác hẳn vợ ông.
Sau cùng, Saint Clare dọn nhà về thành phố. Ông không thể nào sống được trong ngôi biệt thự đầy kỷ niệm thân yêu của Eva: căn phòng, khu vườn, dãy hành lang... chỗ nào cũng như có hình bóng em, lúc nào cũng như có tiếng nói dịu dàng của em vang lên. Và ngôi mộ nhỏ nằm đó.
Không, Saint Clare không chịu nổi. Ông phải quên, phải lấp cái khoảng trống do cái chết con ông gây ra, phải bù vào sự vắng vẻ bằng muôn ngàn tiếng động trong quán rượu, ngoài đường phố.
Băng tang trên mũ, người đàn ông đó ngồi tại các trà thất đọc báo, đàm luận đủ mọi vấn đề: thời sự, chính trị kinh tế, thương mãi. Không ai hiểu rõ nỗi lòng ông, trừ có một người: Tom!

0
Chương 23
 
Ngày tháng lạnh lùng qua, những sầu khổ do cái chết của Eva gây ra rồi cũng nguôi ngoai dần đối với mọi người. Riêng ông Clare, ông đi lại, tới lui, làm việc, ăn uống, ngủ nghê, ông hoạt động theo thói quen một cách máy móc, không còn cảm thấy mảy may sinh thú.
Ngày trước, khi Eva còn sống, ông vì em mà làm việc chút đỉnh, nghĩ ngợi việc này, việc khác, còn bao nhiêu thì giờ ông dành hết cho con. Ông làm gì cũng chỉ vì con ông, cho con ông, Eva là nguồn vui duy nhất của ông.
Bây giờ đây mọi cái đều vô nghĩa đối với ông. Ông cũng không tìm thấy an ủi ở tôn giáo. Bản chất tốt, tâm hồn cao thượng nhưng lại ghét sự gò bỏ và những hình thức bề ngoài. Ông có lương tri nhưng lại là người không tín ngưỡng, ông tin rằng không cần phải có ai hướng dẫn cuộc đời mình, có lẽ ông hơi kiêu ngạo?
Tuy vậy, từ khi con mất đi, ông trở thành khiêm nhượng, trang nghiêm, ông chịu khó cầm đến cuốn Thánh kinh của Eva. Vấn đề nô lệ là điều ông quan tâm nhất.
Sau khi về thành phố Orléans, ông nghĩ ngay đến việc giải phóng Tom theo đúng lời trăn trối của đứa con yêu quý. Ông lo thu xếp hợp pháp những thủ tục cần thiết cho việc này.
Mỗi ngày ông quan tâm đến vấn đề giải phóng nô lệ hơn, nhưng ông không thích gần bất cứ một ai, trừ Tom. Một hôm, ông gọi người tôi tứ trung thành này lại bảo :
- Tom ơi! Tôi đang lo lập giấy tờ cần thiết để giải phóng anh. Anh sẽ là một người tự do. Lo sửa soạn hành lý đi thì vừa, anh sắp được trở lại Kentucky.
Tom sáng rực mắt vi sung sướng, bác đưa tay lên trời, kêu to :
- Cầu xin Chúa ban phúc lành cho ông!
Bác phấn khởi đến nỗi ông chủ phật ý, vì ông thấy Tom quá sốt sắng khi sắp rời mình. Giọng ông khô khan :
- Tom, ở đây với tôi anh khổ lắm hay sao?
- Thưa ông chủ, không phải tôi mừng vì sắp rời nhà ông, mà mừng vì được trở thành một người tự do.
- Đừng vội mừng, vì chưa chắc anh có thể sống sung sướng sau khi được tự do.
- Thưa ông, chắc vậy rồi. Tôi biết là không được sung sướng bằng ở với ông. Nhưng dù sao... thì, thưa ông, làm một người tự do, dù cho nghèo khổ, cũng vẫn hơn. Tôi nghĩ là ông cũng đồng ý điều này.
- Phải, tôi đồng ý với anh chứ. Anh sẽ từ biệt nơi này, cỡ tháng tới đây thôi, không lâu đâu. - Giọng ông có vẻ bực bội - Không ai biết anh sẽ ra sao, song anh sẽ được tự do, chắc chắn...
Người chủ hơi vui trở lại, và ông đứng lên đi tới, đi lui trong phòng khách. Tom sẽ sàng lại gần ông, thấp giọng thưa :
- Thưa ông, tôi sẽ chưa đi trong khi ông chủ còn phiền muộn như thế này. Tôi xin ở lại trong khi ông còn cần đến tôi...
- Anh ở lại trong khi tôi còn phiền muộn? - Ông chủ vừa nói vừa đưa mắt nhìn ra cửa sổ - Rồi khi tôi hết phiền muộn thì sao?
- Dạ, tôi vẫn ở lại, cho đến khi ông trở nên một tín đồ Ki-tô giáo.
- Anh có ý định ấy thật ư?
Ông chủ hỏi Tom, tay đặt lên vai bác :
- Tom! Anh là một con người có đức độ và tư cách, nhưng tôi nỡ nào bắt anh phải xa vợ con lâu hơn? Hảy chuẩn bị mọi thứ đi! Và nhớ nói với vợ con anh là tôi cũng mến họ lắm, nghe Tom!
- Thiên Chúa cần đến ông! Tôi mong ngày ấy mau đến!
Tom nói qua màn lệ. Chủ bác cười :
- Tom, anh tin là Thiên Chúa cần bọn phàm nhân chúng ta lắm sao?
- Thưa ông, tôi tin vậy.
Cuộc nói chuyện chấm dứt vì có người đến thăm ông Clare.
* * * * *
Sự đau khổ xúc động của bà Marie Saint Clara cùng giống như những xúc động khác, giúp bà ta có dịp hành hạ tôi tớ hơn và trong số này Mammy là người khổ nhất. Tội nghiệp vú: tình thương vú dành cho Eva cũng như tình thương Eva dành cho vú không còn nữa. Bây giờ đây, lòng vú tan nát, vú khóc suốt ngày đêm. Không còn Eva, không ai an ủi vú nên vú càng đau khổ, phần thì thương con ở xa, vú trở thành chậm chạp, vụng về. Mặc tình cho bà chủ khắc nghiệt mắng mỏ, sỉ nhục, vú như không còn để ý gì nữa.
Cô Ophélia cũng xúc động vì cái chết của Eva, từ trước tuy là một người tốt bụng nhưng cứng cỏi, bây giờ bỗng nhiên đổi khác: cô trở nên dịu dàng với mọi người. Cô trầm tĩnh, khiêm tốn hơn, suy tư hơn. Và việc mà cô quan tâm nhất, người mà cô yêu mến nhất là con bé Topsy.
Cô không còn ghê tởm khi lại gần nó, vì cô nhớ lại Eva thường nhìn nó bằng đôi mắt trìu mến dịu dàng.
Cô cảm thấy như Thiên Chúa đã phó thác nó cho cô, cô có bổn phận giúp nó thành người đức hạnh, toàn thiện.
Topsy không thể một sớm, một chiều thành cô gái ngoan lành nhưng đời sống và cái chết của Eva đã gây cho nó một niềm tin yêu ở cuộc đời, một sự thay đổi lớn lao.
Topsy không còn cái vẻ ngang ngạnh, hỗn láo, nó biết thương yêu, phục thiện, hy vọng. Một đôi khi nó nản lòng nhưng luôn luôn nó lại cố gắng...
Một hôm, Rosa đi gọi Topsy hộ cho cô Ophélia. Topsy chạy lại vẻ vội vàng, giấu cái gì trong ngực. Rosa chộp lấy cánh tay con bé, hách dịch quát :
- Con ranh kia! Giấu cái gì đó? Lại ăn cắp chứ gì?
- Thả tôi ra, chị Rosa! Vật tôi cất không can gì đến chị...
Con bé la to, vừa la vừa cố gắng thoát khỏi tay thô bạo của Rosa.
- Đồ gian dối! Tao biết mày từ lâu rồi...
Rosa giữ chặt cánh tay con bé và lục soát người nó. Topsy phát khùng lên, nó không chịu thua, chống đối Rosa một cách quyết liệt. Tiếng ồn do hai đứa gây ra làm cho cả cô Ophélia lẫn ông Clare đều nghe. Rosa phân trần :
- Nó ăn cắp!
- Không! Tôi không ăn cắp cái gì hết.
Topsy hét dựng lên và khóc nức nở. Cô Ophélia ra lệnh :
- Đưa đây cho cô xem! Con đang giữ cái gì?
Topsy ngần ngại nhưng vì cô đã ra lệnh thế nên buộc lòng nó phải lôi từ ngực ra một chiếc vớ. Cô chủ tháo ra coi.
Thì ra đó là một cuốn lịch sách nhỏ xíu, một gói giấy cũng nhỏ, bọc mớ tóc vàng óng của Eva, cả hai thứ đều do Eva cho nó trước khi em chết, cái ngày đáng ghi nhớ, không riêng cho nó mà cho tất cả mọi người. Cuốn sách được nó bọc quanh bằng một cái băng đen.
Saint Clare nhìn quang cảnh ấy bằng đôi mắt thương xót và ông xúc động sâu xa. Ông ôn tồn hỏi nó và đưa tay cầm cái băng đen :
- Topsy, sao con lại cột băng đen quanh cuốn sách chi vậy?
- Tại vì... thưa ông, tại vì... nó là của cô Eva. Con xin ông! Ông đừng tháo nó ra.
Rồi nó ngồi bệch xuống sàn nhà, lấy tạp dề che đầu, khóc nức lên. Có một cái gì khác thường, nửa hài hước nửa cảm động: chiếc vớ cũ, cái băng đen, mớ tóc vàng mượt, cuốn lịch sách cộng với nỗi thất vọng liều lĩnh của Topsy.
Saint Clare gượng cười, nước mắt đọng quanh mi, ông dỗ nó :
- Thôi, thôi! Đừng khóc nữa, Topsy! Không ai lấy của con đâu. Ta trả lại cho con ngay đây!
Ông gom hết mọi vật lại đưa cho nó rồi kéo cô Ophélia qua phòng khách.
* * * * *
- Chị Ophélia ơi, tôi tin rằng con bé này khá lắm. Chị nên săn sóc nó. Tâm hồn nó nhạy cảm và tôi tin là những đứa như thế có thể tốt được. Đừng bỏ rơi nó, tội nghiệp.
Ông Clare nói và chỉ tay về phía sau lưng.
- Cậu nói đúng đấy! Tôi hy vọng nhiều lắm, nó có vẻ tiến bộ, nhưng mà...
Cô ngừng lại, đặt tay lên cánh tay người em họ :
- ... Này, tôi muốn hỏi cậu một câu: nó thuộc về ai đây? Cậu hay tôi?
- Kìa, em đã giao nó cho chị từ khi dắt nó về, cái hồi... nó bẩn thỉu, gớm ghiếc... Chị quên sao?
- Không hơp pháp, cậu Clare. Tôi muốn rằng nếu quả cậu định cho tôi con bé, thì phải hợp thức hóa. Có thế, tôi mới đưa nó vào những vùng tự do, giải phóng nó, có thế, những cố gắng, công khó của tôi mới không vô ích.
- A! Ophélia! Chị có những ý định quá khích, em không thể...
- Đừng đùa bỡn không phái lúc. Clare! Ta nói chuyện đứng đắn coi! Tất cả mọi cố gắng của tôi đều vô ích nếu tôi không cứu nó thoát khỏi tình trạng nô lệ tai hại này. Nếu cậu thật lòng thương nó, hãy nghe tôi: làm một cái giấy giao nó cho tôi. Viết giấy, ký tên đàng hoàng coi!
- Được rồi, được rồi mà! Em sẽ làm theo lời chị...
Clare ngồi xuống, mở rộng tờ báo... Cô Ophélia nghiêm giọng giục :
- Không phải là sẽ làm mà là làm ngay bây giờ, cậu em ơi!
- Đi đâu mà vội thế, chị Ophélia?
- Chỉ có lúc này là thuận tiện, phải làm chủ ý chí mình. Này! Cầm lên: giấy bút mực đủ cả rồi, viết ngay đi, chớ có chần chờ!
Saint Clare, như mọi người khác, có tính hẹn lần, không thích bị bắt buộc, ông hơi bực bõ vì bị thúc đẩy quá đáng. Ông kêu lên :
- Nhưng mà, có gì chị hối hả đến mức ấy? Một lời em nói không đủ hay sao, em đâu có phải là hạng nuốt lời mà chị lo chứ? Chị sao mà... giống như người Do Thái ấy thôi! Chị bày đặt, làm phiền phức thêm ra chi vậy?
- Tôi thì muốn cái gì cũng minh bạch. Biết đâu đấy: cậu có thể chết bất ngờ, có thể bị suy sụp hay bị một sự gì đó... Lúc đó, chăc chắn là con bé sẽ bị bán đấu giá ngay.
- À! Chị lo xa quá đấy nhé. Nhưng thôi, em đã lọt vào tay một người chuyên chế, cách tốt nhất là làm theo lời chị cho yên thân! Nào...
Saint Clare viết tờ nhượng quyền cho cô Ophélia rất nhanh, vì ông vốn thành thạo các thể thức giấy tờ loại này. Viết xong, bên dưới ông ký tên mình bằng chữ hoa rất lớn, rõ ràng. Văn kiện được hoàn tất trong khoảnh khắc, ông đưa cho bà chị :
- Rồi đây! Em tin là chị hài lòng nhé?
- Cảm ơn cậu, cậu tử tế lắm. Nhưng này - Cô cười nhẹ - có cần một nhân chứng không?
- Ơ! Cần gì... nhưng mà nếu chị muốn thì... Marie em!
Ông vừa gọi vừa đẩy cửa phòng vợ :
- Này em, chị Ophélia muốn em viết cho chị ấy vài chữ và ký tên vào đây cho hợp pháp.
- Cái gì thế? - Marie đón tờ giấy vừa nói vừa đọc - Ồ! Thật khôi hài! Nhưng em tin là chị ngoan đạo, chị sẽ đủ can đảm làm chuyện lẩm cẩm này. Em sẵn sàng nhường con bé cho chị ấy.
Và Marie lơ đãng ký tên lên tờ giấy, Clare đưa cho bà chị :
- Rồi đấy nhé! Hoàn toàn hợp pháp như ý chị.
Rồi ông quay lại phòng khách tiếp tục đọc báo. Người chị khôn ngoan bỏ mặc em dâu với cái thế giới riêng tư của bà ta, đi theo em trai ra phòng khách, tay vẫn còn cầm tờ giấy vừa được ký xong.
Cô ngồi xuống ghế, bắt đầu chăm chú vào công việc đan thêu của mình.
Gian phòng im lặng. Bỗng, cô ngừng lại, ngẩng nhìn Clare :
- Này, cậu em, cậu có bao giờ nghĩ đến bọn nô lệ của cậu trong trường hợp cậu... chết không?
- Ơ! Không.
Ông Clare lại tiếp tục đọc báo. Bà chị vẫn không chịu để ông được ngồi yên :
- Này, tôi tin là lòng tốt của cậu hiện nay sẽ vô ích đối với chúng... Không biết cái gì sẽ xảy ra cho chúng khi ngày ấy đến?
Thật ra, đó là điều mà cô Ophélia tốt bụng luôn lo nghĩ. Ông Clare trả lởi một cách lơ đãng :
- Em cũng định giải quyết một ngày gần đây.
- Khi nào chứ?
- Thong thả, lo chi...
- Nhưng tôi hỏi cậu: nếu rủi ro, cậu có mệnh hệ nào thì... sao?
Saint Clare buông tờ báo, nhìn chị đăm đăm :
- Chị Ophélia! Dễ chừng chị thấy em có triệu chứng bệnh sốt da vàng hay bệnh thổ tả chi đây chăng? Sao chị cứ thúc giục em hoài về những công việc mà người ta chỉ lo sắp xếp trước khi chết, chi vây hở?
- Clare thân mến! Cái chết có thể đến bất ngờ cho bất cứ ai, cậu hay tôi mà không báo trước...
Ông Clare đứng lên, ném tờ báo và đi ra hành lang, dáng bộ bực bội. Thật tình, ông muốn chấm dứt cuộc nói chuyện với bà chị, vì ông khó chịu, nhưng ông lại nhắc đi nhắc lại hoài đến tiếng chết một cách vô tình, máy móc... Chết?
Tựa mình vào bao lơn đưa mắt nhìn vòi nước phun lên rồi rơi xuống trong bể mà ông ngỡ như mình nhìn xuyên qua đám sương dày xám xịt, ở đó ẩn hiện những cành hoa, cây cối, những chậu cảnh và ông lại lặp lại cái tiếng làm khủng khiếp đối với mọi người: CHẾT! Ông tự nhủ :
- Kỳ thật, chỉ có một chữ đó thôi, một việc đó thôi mà ta cứ quên bẵng đi. Ta sống hăng hái, phấn khởi, trẻ trung, hy vọng, tham muốn... rồi cũng đến ngày vĩnh viễn ra đi...
Ông rời chỗ tựa, đi dọc theo bao lơn, ra chiều suy nghĩ, gần như quên hết ngoại cảnh, mãi đến lúc Tom thưa ông là giờ uống trà đã đến từ lâu, chuông rung hai bận rồi.
Clare ngồi vào bàn chiếu lệ, không chú ý gì đến việc thưởng thức trà ngon. Rồi cả ba người: ông, vợ ông và bà chị qua phòng khách, không trao đổi với nhau một câu nào.
Bà vợ nằm dài ra ghế trường kỷ, trong cái mùng bằng lụa rồi chỉ vài giây sau, bà ta đã ngủ say.
Ophélia thì vẫn với công việc muôn thuở của cô: đan áo! Saint Clare đến trước dương cầm dạo qua vài nhạc khúc trầm buồn, vẻ mặt mơ màng, người đàn ông nhu chìm trong quá khứ, độc thoại với âm nhạc.
Một lát sau, ông lại mở ngăn tủ, lấy ra một cuốn sách, bên trong, những trang giấy đã ngả vàng vì thời gian qua, rồi chậm rãi, ông lật từng trang. Ông tâm sự với Ophélia :
- Này, chị coi này: đây là một cuốn trong những cuốn của mẹ em ngày xưa, chữ mẹ em viết đây. Mẹ em đã trích khúc nhạc trong bài Requiem của Mozart và sửa lại cho hợp ý bà.
Ophélia đứng lên lại gần cậu em, đón tập nhạc, xem.
- Mẹ em rất thường hát, đôi khi em tưởng như tiếng hát của bà văng vẳng đâu đây.
Ông lại tâm sự và ngồi vào, đàn một khúc trang nghiêm và bắt đầu bản La tinh...
Rồi gian phòng chìm trong im lặng, khuôn mặt Clare có vẻ mơ mộng và một nỗi buồn thoáng hiện.
- Không hiểu sao chiều nay em bỗng nghĩ đến mẹ em, em có cảm tưởng mẹ em không xa em, bà lẩn quất đâu đây, trong cõi vô hình... Em nghĩ đến những gì bà thường nói với em. Lạ thật, đôi khi quá khứ hiện về sống động.
Ông đi lại trong phòng khách một lúc rồi lại nói :
- Em tưởng nên đi dạo một chút xem sao. Chiều nay chúng ta nói về những gì?... Em phải suy nghĩ kỹ xem.
Và ông cầm mũ, bước ra. Tom theo chủ đến sân, lễ phép hỏi xem ông cần bác đi theo không?
- Không cần, Tom ạ! Tôi sẽ trở về sau một tiếng đồng hồ.
Tom ngồi lại dưới hàng hiên. Thật là một buổi tốt đẹp trời. Dưới ánh trăng sáng rỡ, vòi nước sóng sánh như bạc lỏng! Tiếng nước rơi xuống bể rì rào... Đột nhiên, bác nghĩ gia đình mình, đến căn lều đơn sơ mà ấm cúng.
A! Không bao lâu nữa, Tom sẽ được tự do, được trở về với vợ con. Tom sẽ làm việc cật lực để đủ tiền chuộc vợ con. Bác sung sướng biết bao khi cảm thấy bắp thịt còn rắn chắc, sức khỏe còn dồi dào, rồi đây không bao lâu bác sẽ dùng sức mạnh đó làm việc cho chính mình, phục hồi tự do cho những người thân yêu.
Bác lại hướng tư tưởng về ông chủ hào phóng, đẹp trai, trẻ tuổi Clare, ký thác ông ta theo Chúa cao cả bằng những lời kinh thành khẩn hằng ngày. Và bác lại nhớ đến cô tiểu chủ Thiên thần với khuôn một có vẻ đẹp huyền diệu, mái tóc vàng óng ả. Eva như từ trong bọt nước hiện ra, tiến lại gần bác, Eva đi như lướt, nhẹ nhàng huyên ảo, vòng hoa lài cài trên tóc, má ửng hồng và đôi mắt xanh chan chứa niềm vui.
Trong lúc Tom mải mê nhìn em, bỗng em rời bác, má trở thành nhợt nhạt, đôi mắt sâu chiếu ra tia sáng rực, cái nhìn thoát tục, hào quang bao quanh đầu em... và Tom mê đi.
* * * * *
Người nô lệ da đen bàng hoàng dụi mắt vì những tiếng búa đập cấp bách và tiếng chân người dồn dập, tiếng nói ồn ào bên ngoài.
Bác vội vã chạy ù ra mở cửa. Mấy người lạ bước vào. Họ khiêng theo cái giá, trên đó một người đàn ông đang nằm, đắp ngang mình bằng tấm áo khoác. Ánh đèn chiếu sáng khuôn mặt nạn nhân và Tom nhận ra, bác thét lên một tiếng, một tiếng đầy kinh hoàng và tuyệt vọng, làm hốt hoảng cả nhà.
Bọn đàn ông khiêng ông Clare thẳng vào cửa phòng khách, nơi cô Ophélia thường ngồi đan áo.
Tai họa giáng xuống thật nhanh chóng, bất ngờ: ông Clare đến quán cà phê để đọc báo. Có hai tên say rượu đang cãi nhau ầm ĩ tại đó, toan hành hung nhau. Clare và vài người khác muốn ngăn họ lại, nhưng rủi cho ông, ông bị đâm một dao trí mạng ở cạnh sườn trong khi cố gắng tước vũ khí của một trong hai tên này.
Trong khoảnh khắc, gian nhà đầy những tiếng gào khóc ảo não. Bọn nô lệ bứt tóc, lăn ra đất, người chạy tới, chạy lui tứ hướng, nhớn nhắc, lo sợ. Marie kinh hoàng tột độ. Chỉ mình cô Ophélia tỏ ra tỉnh trí nhất.
Cô ra lệnh đặt ông Clare nằm trên ghế trường kỷ ở phòng khách. Nạn nhân ngất lịm vì máu ra nhiều quá, cô Ophélia biết cách giúp cho ông thở được. Một chốc sau, ông hồi tỉnh, mở mắt nhìn quanh phòng rồi đôi mắt ấy dừng lại thật lâu trước chân dung mẹ ông.
Bác sĩ được cấp tốc vời đến. Không cần ông ta phải nói lời nào, chỉ nhìn ánh mắt và dáng bộ ông, người ta biết rằng không còn chút hy vọng gì cứu sống nạn nhân. Tuy nhiên, ông ta cẩn thận băng bó vết thương với sự chứng kiến của Ophélia và Tom.
Bọn nô lệ chen nhau quanh khung cửa, khóc nức nở. Nạn nhân nhìn chăm chăm bọn người này trong lúc Ophélia và bác sĩ cố sức đuổi họ ra. Ông thều thào nói :
- Tội nghiệp họ! Họ thật đáng thương!
Trên nét mặt thanh tú của nạn nhân thoáng vẻ ân hận, Adolphe thì không sao đuổi được, hắn như người mất trí, hắn lăn ra sàn nhà. Riêng bọn kia chịu rút lui vì lời nài nỉ khẩn thiết của cô Ophélia, họ nghĩ rằng chủ họ thoát chết hay không tùy thuộc vào sự vâng lời và tỏ ra bình tĩnh của họ.
Clare rất khổ nhọc khi muốn nói, mắt nhắm nghiền. Người ta có cảm tưởng ông đang chịu nhiều thống khổ trong lòng. Giây sau, ông đặt tay lên tay Tom trong khi Tom quỳ bên chủ :
- Tom! Tội nghiệp cho anh...
- Thưa ông...
- Tôi sắp chết...
Người chủ nắm chặt tay người nô lệ hơn :
- Hãy cầu nguyện đi, Tom!
Rồi những câu ông hát ban chiều trở về trong trí ông, những lời cầu nguyện dâng lên thành khẩn. Môi hé mở, từng đoạn Thánh ca được phát ra thành tiếng.
- Trời ơi! Ông ấy mất trí rồi!
Bác sĩ kêu to.
- Không đâu! Trước phút cuối cùng... tôi... sẽ hồi tỉnh... trước phút cuối!
Đột nhiên, với sự cố gắng tột độ, nạn nhân cất tiếng, song sau đó ông kiệt lực vì sự cố gắng này.
Khuôn một nhợt nhạt của người hấp hối chợt có vẻ bình tĩnh, hài lòng. Ông nằm lặng yên một lúc lâu. Rồi, trước khi trút linh hồn ông còn mở mắt ra lần chót, ánh mắt thoáng hiện sự vui vẻ, ông thì thào hai tiếng :
- Mẹ ơi!

0
Chương 24
 
Saint Clare thở hơi cuối cùng. Nỗi hãi hùng, đau đớn và nuối tiếc bao trùm từ trên xuống dưới trong ngôi biệt thự to lớn.
Ông từ giã cõi đời quá sớm, giữa thời kỳ mà sức lực con người đang dồi dào và riêng với địa vị ông, còn nhiều hứa hẹn ở ngày mai. Ông còn quá trẻ. Nhiều người, cùng khóc vì thương ông và vì tuyệt vọng.
Marie, với bản chất yếu đuối sẵn, lại càng tệ hơn. Suốt thời gian chồng hấp hối, bà ta ngất đi và tỉnh lại không biết bao nhiêu bận. Người bạn đời của bà, người đã cùng bà sống chung trong sợi dây liên lạc huyền nhiệm của hôn nhân, bây giờ đã vĩnh viễn lìa bà, không thốt lên được cả một lời từ biệt.
Cô Ophélia vốn là một phụ nữ đầy nghị lực, biết tự chủ trước đau khổ lớn lao này, cô không rời Clare một giây trong lúc đó. Cô chủ tâm vào đó với tất cả sức lực của mình. Cô đã làm tất cả những gì phải làm và tự thâm tâm, cô như hòa nhịp với lời cầu nguyện thành khẩn, dịu dàng mà người nô lệ đáng thương đang dâng lên Đấng tối cao, phải: Tom thành khẩn dâng linh hồn chủ mình trong tay Chúa.
Tang lễ ông Clare được cử hành với đầy đủ nghi thức long trọng. Băng tang, cờ trướng đen, kinh cầu nguyện, những người tiễn mang vẻ mặt trầm tư ủ dột, bọn tôi tớ đau khổ và tuyệt vọng hoàn toàn.
Rồi sau đó, nếp sống tẻ nhạt, đều đặn lại trở về. Người ta tự hỏi mình: số phận mình sẽ ra sao đây? Một câu hỏi đầy lo sợ, buồn rầu.
Marie, trong bộ chế phục, ngả mình trên ghế dựa êm ái, đưa mắt nhìn bọn nô lệ quanh bà, nhìn những băng tang, chứng tích của sự mất mát.
Ophélia thì hết thiết nán lại đây. Đâu còn gì để giữ cô nữa? Eva và Clare cũng đã ra đi.
Riêng đám nô lệ thì nỗi lo sợ không sao tả xiết, chúng tiên cảm thân phận chúng đen tối hơn bao giờ hết: ông chủ tốt bụng rộng lượng mất đi, chúng thuộc quyền bà chủ, người rất độc ác, ích kỷ, không chút từ tâm. Than ơi! Bức thành che chở chúng đã sụp đổ...
Tom dáng bộ mơ màng đứng ở trên thềm nhà. Còn Adolphe buồn bã tư lự ra mặt. Gã biết, hơn ai hết, rằng từ lâu Marie rất ghét gã, nhưng hồi ông chủ còn sống, gã không sợ bà ta, vì ông vẫn bênh vực gã. Giờ đây, gã không ngớt hồi hộp nhìn khuôn mặt bà chủ, không biết bà ta sẽ đối xử ra sao.
Bọn buôn người đã được mời đến. Sau khi hỏi ý kiến ông Alfred - anh chồng bà - bà quyết định bán tuốt hết bọn nô lệ trong nhà, bán luôn trang trại. Bà ta sẽ chỉ giữ lại vài người của mình lúc trước và rồi đây bà sẽ đem chúng về ở với cha.
- Tom ơi! Anh biết chứ: chúng ta sẽ bị bán đó, anh ơi!
Adolphe tâm sự với Tom.
- Sao anh biết?
- Tôi nấp sau màn, nghe ráo, bà chủ đã bàn chuyện với ông gì... đại diện pháp luật lúc nãy. Vài bữa nữa, chúng ta sẽ bị bán đấu giá à!
Tom khoanh tay lại, thở dài nặng nhọc :
- Ước gì ý muốn của Chúa được thi hành!
- Anh Tom ơi! Chúng ta sẽ không bao giờ có một ông chủ như ông Clare nhà này. Nhưng tôi thì... tôi thà bị bán đi hơn là ở với bà Clare.
Tom lặng lẽ bỏ đi chỗ khác. Bác nhớ rõ: bác tràn đầy hy vọng về sự tự do, trước đây có mấy ngày... Nghĩ đến chuyện mình phải xa vợ con mãi mãi, bác tự ví mình như một thủy thủ, trước mắt đã thấy được cái tháp chuông của giáo đường ở đất liền và những ngôi nhà quen thuộc của ngôi làng mình sinh trưởng, mà rồi phải vĩnh viễn chia lìa!
Tom siết chặt đôi cánh tay vào ngực, cố ngăn nước mắt để cầu nguyện. Bác thèm khát tự do biết ngần nào, hơn cả bao giờ. Bác lẩm bẩm :
- Lạy Chúa, con xin vâng theo Thánh ý Chúa!
Bác nghĩ đến Ophélia, người đã tỏ ra rất tốt với bác từ khi Eva mất đi, cô dành cho bác một thứ cảm tình sâu đậm. Bác tìm đến cô, nói :
- Thưa cô, ông chủ có hứa cho tôi được tự do. Ông cũng đã có làm giấy tờ nhưng hình như chưa xong. Vậy giờ đây, xin cô vui lòng nhắc với bà chủ giúp cho tôi chuyện này. Tôi hy vọng bà chủ sẽ làm theo ý ông định.
- Tôi sẽ cố gắng giúp anh chuyện này, anh Tom! Tôi sẽ hết lòng. Nhưng sự quyết dịnh thì tùy thuộc mợ ấy. Và tôi cảm thấy không hy vọng mấy. Tuy nhiên, hãy chờ xem.
Cuộc trò chuyện này diễn ra lúc cô đang sửa soạn hành trang trở về nhà cô ở miền Bắc. Vẻ đăm chiêu, cô cầm cái áo đan dở rồi sau cùng, quả quyết bước vào phòng em dâu.
* * * * *
Cô Ophélia định bụng sẽ cố gắng tỏ ra mềm mỏng để thuyết phục Marie, có thế mới mong giúp được Tom điều khá khó khăn này, vì cô hiểu rõ tính nết em đâu.
Marie đang nằm dài trên trường kỷ, cùi chỏ chống lên gối dựa. Jane thì đang trình trước mặt bà chủ một xấp hàng sẫm màu, vừa ra phố mua về. Marie ngắm nghía xấp hàng :
- Được đó, nhưng tôi chỉ sợ không được hợp với màu tang...
- Không sao đâu, thưa bà, bà Đại tá D. cũng có tang mà mặc thứ hàng này đó à!
- Chị xem thử coi, chị Ophélia?
- Tôi thì... tệ lắm, không am hiểu chút gì về thời trang. Tôi tin là mợ có khả năng hơn tôi về điều này.
- Hiện em không có cái áo nào ra hồn, em muốn may gấp một cái để tuần tới có mà mặc khi đi đường.
- Ủa, mợ đi sớm vậy ư?
- Vâng, anh Alfred có biên thư cho em, theo ý anh ấy và ý bọn lái buôn mà em đã thương lượng thì nên bán gấp bọn nô lệ và đồ đạc. Còn nhà thì thong thả, tính sau.
- Có một chuyện, tôi cần bàn với mợ, mợ Marie ạ! Số là cậu Clare có hứa cho Tom được tự do. Cậu cũng đã làm giấy tờ được một phần, xin mợ vui lòng hoàn tất phần còn lại...
- À! Chắc chắn là em không bao giờ hoàn tất phần còn lại rồi đa.
Marie gay gắt, tiếp :
- Tom là một đứa giỏi giắn siêng năng, em công nhận, nhưng... hắn cần gì tự do? Để chi chứ? Được ở đây không sướng hay sao?
- Dù sao - Cô Ophélia kiên nhẫn - cậu Clare đã hứa rồi.
- Chao! Thằng nô lệ nào mà không muốn tự do? Cái giống ngu đần lúc nào cũng mơ ước hão huyền, mơ ước những điều không bao giờ với tới. Phần tôi, trên nguyên tắc, tôi phản đối việc giải phóng nô lệ, bất cứ trường hợp nào, hoàn cảnh nào. Trong tay chúng ta, chúng mạnh khỏe và biết làm lành, lánh dữ, nhưng rời khỏi ta thì trong một sớm một chiều chúng sẽ trở thành lười biếng, say sưa, thất nghiệp ngay. Tôi từng thấy trước mắt, hàng trăm ngàn vụ như thế. Giải phóng! Không, đừng có nói đến hai tiếng đó với tôi, vô ích.
- Nhưng Tom không như bọn nô lệ khác, anh ta ngăn nắp, có tư cách, có đạo hạnh, xứng đáng, mợ nên nghĩ kỹ...
- Tôi cần gì đến điều này? Tôi cũng thấy cả trăm đứa ngoan lành như hắn, nhưng hễ rời chủ một thời gian ngắn thì y như...
- Mợ sắp bán hết nô lệ, phải không? Rủi Tom lọt vào tay một người chủ ác độc thì sao?
- Có họa là điên mới nghĩ thế. Một trăm người chủ, họa hoằn mới có một người độc ác. Nhiều người tốt hơn chị tưởng đó, chị ơi! Tôi đã sinh trưởng tại miền Nam này, tôi chưa từng thấy người chủ nào xử tệ với nô lệ. Tôi thấy không có lý do sợ hắn rơi vào cảnh ấy.
- Mợ Marie, mợ nên nghe tôi: giải phóng Tom là nguyện vọng cuối cùng của chồng mợ, đó cũng là một trong những lời cậu ấy hứa sẽ làm bên giường cháu Eva thân yêu của chúng ta, khi cháu hấp hối. Tôi thiết nghĩ mợ chớ nên bỏ qua...
Nghe chị chồng nhắc đến chồng con, Marie giấu mặt trong khăn tay thổn thức khóc rồi... hít manh lọ dầu. Giọng bà ta dấm dẳng, cay đắng :
- Mọi ngưdí đều chống đối tôi, không ai nể nang gì tôi hết, cả chị nữa! Tôi không ngờ là chị có thể tàn nhẫn đến mức nhắc lại đại bất hạnh của tôi... Hừ! Các người không biết thương xót tôi mà! Không chút nể nang mà... Khốn nạn cho thân tôi: có mỗi một đứa con mà tử thần cướp mất. Còn chồng tôi, người thân nhất cũng ra đi. Phải hiểu thống khổ này cho tôi chứ. Ít nhất, cũng nên tế nhị đôi chút chứ! Sao lại nhắc đến những kỷ niệm đau lòng này với tôi? Các người biết rằng tôi vẫn không ngớt bị ám ảnh vì bất hạnh này mà. Hừ! Có thể các người nhắc đến vì lòng tốt... nhưng sao các người có thể vô tâm đến thế chứ?...
Thế rồi Marie khóc nghẹn, khóc nức và gọi Mammy đến mở tung cửa sổ ra, đưa cho lọ dầu... rồi sai Mammy chải tóc cho mình, sắp xếp áo quần cho mình.
Lợi dụng lúc bà ta bận bịu, Ophélia lặng lẽ rút lui về phòng cô. Cô buồn rầu thấy mình thất bại trong việc thuyết phục người em dâu ích kỷ.
Marie có hàng trăm lý do để chống trả trước sự tấn công về mặt tinh thần và tình cám của Ophélia, bà ta bù lu bù loa lên mỗi lần nghe nhắc đến Eva và chồng bà, đến những lời trối trăn của hai người.
Ophélia chỉ còn một tia hy vọng chót, tuy rất mong manh: viết thư cho bà Shelby, kể rõ sự thất bại này cùng sự bất hạnh sắp xảy đến cho Tom, yêu cầu bà Sheìby can thiệp kịp thời, dứt khoát.

0
Chương 25
 
Vài hôm sau khi cô Ophélia thất bại trong việc thuyết phục Marie trả tự do cho Tom thì Adolphe, Tom và khoảng nửa tá nô lệ khác được giải đến giao cho ông Skerggs, chủ trại giam nô lệ ở đại lộ X. để bán đấu giá vào ngày sau.
Như mọi nô lệ khác, Tom xách kè kè bên mình một cái rương nhỏ đựng vật dụng riêng tư. Đám nô lệ được nhốt qua đêm trong một phòng dài, trong đó lúc nhúc đầy bọn đàn ông đủ mọi lứa tuổi, tầm vóc cũng như màu da. Từ trong phòng văng vẳng đưa ra những chuỗi cười vui vẻ, ngớ ngẩn.
- À! Tốt lắm! Rất tốt! Các bạn cứ tiếp tục vui vẻ, những người của tôi lúc nào cũng phải thật vui vẻ. À! Sambo này, ai là hoạt náo viên ở đây vậy, hử?
Sambo, tên da đen to lớn, lải nhải kể những chuyện chọc cười nhạt thếch, tuy nhiên cũng đủ gây hứng thú cho đám nô lệ khốn khổ này.
Riêng Tom, bác làm sao hòa được vào niềm vui ấy! Bác đặt cái rương một chỗ, cố ý tránh càng xa đám đông ồn ào chừng nào càng tốt chừng ấy, ngồi lên đó quay mặt vào vách tường.
Bọn buôn người cố gắng, bằng mọi cách với một sự kiên tâm nhất trí, tạo cho nô lệ cái không khí vui vẻ ồn ào. Đó cách để nhận chìm đi những tâm sự, những ưu phiền, lấp đi khoảng trống vắng trong lòng bọn người bất hạnh. Mục đích bọn buôn người này, ngay từ lúc mua họ ở các chợ miền Bắc đem về bán ở miền Nam là gấp rút biến họ thành những kẻ lạnh lùng tàn nhẫn, không tình cảm. Chúng thu thập đầy đủ hàng hóa từ các tiểu bang Virginie, Kentucky. Chúng cấp tốc tải hàng về những khu vực thuận tiện và có khí hậu tốt, thường là ven sông với mục đích nuôi cho mập mạp, coi được. Chúng rất thận trọng trong việc cho họ ăn uống, bởi vì vài tên có thể buồn rầu, gây ảnh hưởng không tốt cho chúng. Chúng sắm cả đàn violon, cho phép bọn họ tha hồ múa hát, giải trí.
Vài tên trong bọn không chịu chung vui, vì nhớ đến gia đình, vợ con, thân nhân, liền bị chúng coi như kẻ phá hoại, đáng ngại và không do dự gì, chúng lập tức dành cho họ cách đối xử tàn nhẫn, ác độc.
Kẻ sắp bị bán phải tỏ ra vui vẻ, phấn khởi, vô tư lự, nhất là trước mặt khách hàng. Đó là những gì mà lũ buôn người đòi hỏi ở người bị bán, có thế chúng mới bán được giá, không sợ lỗ lã, thiệt thòi.
- Tên da đen này mắc chứng gì vậy kìa?
Sambo vừa hỏi vừa bước lại gần Tom sau khi chủ hắn ra khỏi phòng. Hắn to lớn, lực lưỡng, đen tựa gỗ mun, vui vẻ nói liên hồi và lúc nào cũng sẵn sàng để làm trò hề chọc cười thiên hạ. Thấy Tom không nhập bọn, hắn thúc một cái vào hông Tom, có vẻ cợt đùa :
- Mày làm gì vậy? Suy tư kỹ quá, hở?
- Mai, tôi sẽ bị hắn đấu giá.
Tom buồn rầu hỏi. Sambo cười khùng khục :
- Bán đấu giá? Hà, hà, các bạn ơi! Quả là một trò vui! Này, các bạn trông tên này có vẻ buồn cười, hở?
Rồi hắn thân mật đặt tay lên vai Adolphe :
- Ê, tên bạn mày cũng vậy, hở?
- Để tao yên! Tao xin mày!
Adolphe lạnh lùng với chút kiêu hãnh, nói và lùi lại, dáng bộ chán nản.
- Chao ơi! Các bạn coi này: đây là một nô lệ da trắng đó nghe! Trắng như sữa, mà lại thơm phưng phức nữa chứ!
Hắn tiến sát gần Adolphe, đưa mũi ngửi ngửi :
- Chúa ơi! Tên này có mùi thơm y hệt như gã bán thuốc lá dạo... Một món hàng thơm lừng, hắn làm căn phòng này thơm lây đó nghe.
- Tao bảo để tao yên, nghe rõ chưa?
Adolphe giận dữ la to.
- À, à, điệu quá ta! Làm phách dữ ta! Làm như có giá lắm đấy! Đồ thứ nô lệ da trắng! Ê! Đừng coi rẻ tụi này chớ!
Sambo nhại lại dáng điệu Adolphe, trông thật khôi hài. Hắn tiếp :
- Đồ thứ phách lối, cho mày hay, tụi tao đây cũng từng ở những gia đình danh giá à, nghe!
- Phải! Tao có một ông chủ rất có hạng, ông dám mua hết tụi bay đó.
- Bảnh quá hả? Bộ ổng thuộc gia đình quý phái chớ gì?
- Tao thuộc gia đình ông Saint Clare.
Adolphe vênh mặt nói, Sambo giễu thêm :
- Nếu quả thật như mày nói, thì tao dám chắc ổng rất sung sướng khi vứt bỏ được mày, ông chủ mày ấy. Ổng dám bán chúng mày với một mớ đồ sứ sứt mẻ lắm à.
Adolphe nổi khùng lên vì những lời mai mỉa, hắn chửi thề om lên và lao vào địch thủ đấm đá lung tung. Đám đông được dịp cười rộ, cổ võ. Tiếng ồn đến tai chủ, ông ta chạy lại :
- Ê, có gì vậy? Ngưng ngay! Ngưng ngay!
Tay nhịp nhịp ngọn roi, ông ta ra lệnh. Bọn nô lệ chạy như đàn vịt, trừ Sambo, vì hắn tin ở tài làm hề của mình vốn được chủ cưng chìu. Đứng yên tại chỗ, hắn rùng vai, rụt cổ trước những lời đe dọa của chủ nhân.
- Thưa ông, không phải lỗi tôi, không phải lỗi tôi! Chúng tôi lúc nào cũng muốn yên thân, tại bọn mới đến gây sự trước, chúng kiếm chuyện với tôi.
Quay lại phía Tom và Adolphe, không cần gạn hỏi nguyên do, lão chủ quất cho mỗi người vài roi, vài cái đá và cú đấm, đoạn ra lệnh cho cả bọn phải hòa thuận rồi bỏ đi.
* * * * *
Dưới một bầu trời rực rỡ, bọn đàn ông khắp xứ tụ họp, đảo qua đảo lại trên lề đường lát gạch xanh; ở khắp bốn phía của cái bờ rào vòng tròn, người ta dựng sẵn những cái bục cao dành cho bọn quảng cáo viên và hộ giá viên.
Hai trong số những bục này, nằm ở phía đối diện với bờ rào, bị chiếm cứ bởi những tên quảng cáo, áo quần bóng loáng và đẹp đẽ, với tài nói năng lưu loát pha lẫn giọng Pháp với Anh, đang cố gắng nâng cao giá của những người nô lệ bị bán. Một cái bục thứ ba, còn trống, được bao quanh bởi một đám đông đứng chờ giờ khai mạc.
Trong đám nô lệ bị bán có những nô lệ của Saint Clare: Tom, Adolphe và những tên khác đang đứng chờ tới phiên mình sẽ được bọn khách hàng hỗn tạp này mua hay chê tùy theo ý thích của bọn họ. Họ quây quần chung quanh đám nô lệ, ngắm nghía, trầm trồ, cãi cọ... y như bọn nài bu quanh con ngựa vậy!
- Kìa! Alfred, anh đến đây chi vậy?
Một người đàn ông lịch sự vừa lên tiếng, vừa vỗ vai một người đàn ông khác ăn bận chải chuốt trong khi ông này đang chăm chú ngắm nghía Adolphe qua hai tròng kính.
- À, chào anh! Tôi đang cần một tên gia nhân. Tôi nghe nói là họ bán bọn nô lệ của Saint Clare, tôi nghĩ có thể lựa chọn trong bọn chúng một đứa.
- Anh định mua bọn người của Saint Clare thật sao? Chúng hoàn toàn hư hỏng, bất trị, một bọn vô liêm sỉ như bầy quỷ dữ.
- Ồ, anh hãy yên tâm! Nếu vào tay tôi, chúng sẽ được sửa đổi tâm tính ngay, chúng sẽ thấy rõ là chúng hiện làm việc cho một ông chủ khác hẳn ông Saint Clare... Tôi nhất quyết rồi! Tôi sẽ mua tên này. Bộ vó hắn coi vừa mắt tôi lắm.
- Đó là một tên điên! Hắn sẽ lấy tất cả quần áo anh mà bận cho xem! Anh sẽ thấy!
- Rồi anh sẽ thấy: hắn không thể giỡn mặt kiểu này đối với tôi. Chỉ việc bỏ nhốt hắn vào trại cải huấn vài lần, không bao lâu hắn sẽ đổi khác. Tôi sẽ cho anh tin tức về việc này. Tôi sẽ biến đổi hắn lại từ trong chí ngoài! Này, tôi sẽ mua hắn, tôi nhứt định dứt khoát...
Trong khi đó, Tom đứng đấy, vẻ mặt tư lự, đưa mắt nhìn tất cả những khuôn mặt chen chúc quanh bác, và tự hỏi không hiểu ai trong bọn ấy bác sẽ phải gọi là chủ...
Tom thấy đủ hết hạng người, già, trẻ, cao, lùn, béo trục, gầy nhom, vuông vắn, đủ cỡ và đủ hạng. Bác thấy hầu hết đều là kẻ tầm thường, thô lỗ, một bọn người thật giống hệt nhau, giống hệt như những vỏ dăm bào ta nhặt lấy bỏ vào trong giỏ hay bỏ vào lửa... mà không cần phải để ý phân biệt chi cả!
Có thể nói không ngoa là không có được một ông Saint Clare thứ hai.
Vài phút trước khi cuộc bán đấu giá mở màn, một người đàn ông lùn tịt và béo phệ, với chiếc áo sơ-mi không gài nút trên để hở nguyên bộ ngực, cái quần dài dơ dáy và cũ kỹ, dùng hai cùi chỏ vẹt đám đông sang hai bên để len lỏi vào trong, như thể đang có việc chỉ cần kíp lắm. Gã đến gần bọn Tom và bắt đầu ngay cuộc khám xét tỉ mỉ.
Thoạt nhìn mặt gã, Tom đã cảm thấy ghê tởm không tránh được. Cảm giác này càng gia tăng khi gã đến gần bên bác. Dù dáng gã loắt choắt, ta thấy gã khỏe như một lực sĩ. Gã có cái đầu tròn như một quả bóng, hai mắt to lớn màu xám xanh, núp bóng dưới hàng lông mi vàng, rậm rạp, một mái tóc thô cứng màu hung. Tất cả những thứ đó, như ta thấy, không cho ta chút cảm tình nào... Hai má gã phồng lên vì bã thuốc mà gã có thể phun ra bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào. Hai bàn tay to lớn lạ thường, chai đá, đầy lông, sạm nắng với những móng tay để dài bẩn thỉu.
Gã đàn ông này quan sát đám nô lệ một cách trắng trợn. Gã hất ngược cái cằm Tom lên, bắt bác há to miệng ra để xem xét hai hàm răng, bắt duỗi tay ra, co tay vào để nhìn ngắm bắp thịt bác. Gã bước quanh bác và bắt bác nhảy cao, nhảy xa để ước lượng sức khỏe của đôi chân.
- Lúc trước mày sinh sống ở đâu?
Gã hỏi Tom bằng giọng cộc lốc.
- Ở Kentucky.
Tom vừa trả lời, vừa đưa mắt nhìn quanh như để tìm kiếm đâu đó một sự cầu cứu.
- Mày làm việc gì?
- Tôi chăm sóc trang trại.
- Tốt lắm!
Gã bỏ đi sau khi nói. Cuộc bán đấu giá mở màn.
Adolphe bị lọt vào tay người đàn ông lúc nãy đã biểu lộ ý định mua bán với một giá khá cao. Những tên nô lệ của Saint Clare lần lượt vào tay kẻ khác. Sau rốt, gã lái buôn nói với Tom :
- Đến phiên mày, thằng kia! Nào! Mày nghe chứ?
Tom leo lên một cái bục, đưa mắt lo âu nhìn quanh, tim thắt lại. Người ta nghe thấy nhiều tiếng ồn ào, thật hỗn độn đến nỗi không phân biệt được chi cả. Quảng cáo viên đang hét to những đặc tính của Tom bằng tiếng Anh và Pháp với đám khách hàng, trong khi bọn này ồn ào cho giá một cách hỗn loạn. Cuối cùng, một tiếng búa nện vang; người ta chỉ nghe hai tiếng chót: đô-la, vang lên rõ ràng và dứt khoát.
Vậy là xong, Tom đã được bán, bác có một người chủ mới. Bác bước xuống bục gỗ. Gã đàn ông nhỏ thó đầu tròn hung hăng chụp lấy hai vai bác, đẩy bác vào một góc, ra lệnh cho bác, giọng khó khăn :
- Đứng yên đấy, thằng kia!
Người chủ mới tên là Legree, chủ một trại trồng trọt bên bờ sông Rouge.

0
Chương 26
 
Trong lòng một chiếc tàu ngược dòng sông Rouge, Tom ngồi bệch, dây xích ở tay, dây xiềng ở chân... với một con tim nặng nề sầu khổ gấp mấy lần xiềng xích! Đối với bác, bầu trời lúc này như mù mịt, không trăng lẫn sao. Giờ đây trước mắt bác, những giấc mơ hạnh phúc lùi xa dần như hai hàng cây ven ở sông, cả ngôi trại ở Kentucky, vợ, con và ông bà chủ tốt bụng; cả ngôi nhà của Saint Clare với vẻ rực rỡ, sang trọng, mái tóc vàng óng của Eva, cái nhìn thần thánh của cô bé, và một Saint Clare kiêu hãnh, tự tin, hào hoa, đôi lúc thờ ơ, nhưng luôn luôn tốt bụng, những giờ phút rỗi rảnh ung dung... Tất cả những thứ đó như chìm vào dĩ vãng, xa bác mãi mãi. Số phận bác sẽ ra sao?
Đó là một trong những nỗi niềm cay đắng nhất của một tên nô lệ. Là một người da đen nhạy cảm, từng được sinh sống trong một gia đình phúc hậu, bác đã được hưởng nơi ấy những tình cảm tốt đẹp, một đời sống sung sướng, thế mà giờ đây lại bị rơi vào những bàn tay thô bạo; như một món đồ ngày xưa được dùng để trang trí cho một gian phòng khách xinh đẹp, giờ đây hư hỏng, bị vứt vào kho phế thải. Tệ hơn nữa, trong sự so sánh trên có một cách biệt lớn lao: một cái ghế hay một cái bàn hư hỏng vốn vô tri vô giác, còn con người lại có tri giác. Thế mà pháp luật đã từng tuyên bố là người ta có thể giữ hay bán đi một con người như một món đồ vật. Tuy nhiên người ta không thể dìm chết phần tâm linh, xóa bỏ cái thế giới biết nuôi kỷ niệm, hy vọng, biết yêu thương, lo âu và mơ ước, phần đặc biệt ở nơi con người...
Simon Legree, người chủ mới của Tom, đã thu thập ở Nouvelles Orléans đủ tám tên nô lệ. Xích tay hai tên làm một, hắn dẫn cả bọn lên boong chiếc tàu hơi Pirate đang bỏ neo ở bến, sẵn sàng để ngược dòng sông Rouge.
Tàu khởi hành.
Lúc ấy, chủ nhân Legree, với dáng bộ hung hãn mà ta đã đề cập đến, muốn làm một vòng nhận diện kỹ càng từng tên nô lệ lần nữa. Gã dừng lại trước mặt Tom. Người ta đã khoác lên người Tom một bộ đồ đáng giá nhất lúc đem chưng bán: một chiếc áo sơ-mi hồ cứng nhắc và đôi giày bốt láng bóng. Legree lên tiếng :
- Đứng dậy!
Tom đửng lên.
- Cởi bỏ những thứ này ra!
Vướng víu vì những sợi xích, bác Tom không thể thi hành nhanh chóng lệnh gã, như ý muốn, gã bèn giúp bác, bằng cách giựt mạnh cái cổ áo và cho ngay vào túi mình.
Rồi, gã đi về phía chiếc rương của Tom, mà gã đã lục lọi kỹ càng ban nãy; gã quơ lấy cái quần cũ kỹ và cái áo gần rách mà Tom chỉ bận những khi làm việc dưới chuồng ngựa. Gã cởi xích cho tên nô lệ và chỉ cho bác một cái khe hẹp giữa mấy kiện hàng :
- Đến đấy và thay bộ đồ này ngay!
Tom vâng lời và lát sau trở lại.
- Cởi giầy ra!
Legree đưa bác một đôi giày khác xấu xí thô kệch, ra lệnh lần nữa.
Tom lặng lẽ tuân lời.
Tom, mặc dầu phải vội vã trong việc thay đổi quần áo, vẫn không quên nhét cuốn Thánh kinh thân yêu vào túi áo. Legree sau khi xích bác trở lại, bắt đầu lục lọi túi áo bác. Hắn rút ra một chiếc khăn bằng lụa và lấy cất vào túi áo mình, vài món lỉnh kỉnh vô giá trị khác song là một kho tàng đối với Tom vì nhờ chúng, bác đã đem lại cho Eva nhiều niềm vui, trong khi đối với gã lái buôn lại làm bẩn mắt gã nên gã vứt cả xuống sông.
Tom, trong lúc vội vã, đã quên giấu cuốn Thánh ca. Legree lấy ra và lật vài trang :
- À! À! Lại một bọn ngoan đạo, tao biết, mày thuộc giáo phái nào? Ki-tô, hở?
- Dạ đúng, thưa ông chủ!
Tom trả lời bằng giọng chắc nịch.
- Nếu vậy, kể từ đây mày sẽ không thuộc về nó nữa! Tao không muốn nghe thấy ở nhà tao có lũ da đen ca hát, cầu nguyện và than thở. Mày nên ghi nhớ điều này và liệu hồn mày đó!
Miệng thốt lên những lời đe dọa, gã dậm chân thình thịch và ném trên người Tom cái nhìn bằng đôi mắt xám xịt, dữ dội :
- Hiện tại, tao là Giáo hội của mầy! Hiểu không? Hãy làm theo lời tao bảo!
Gã ngắm nhìn vẻ mặt buồn bã của Tom một lúc và bỏ đi không quên xách theo chiếc rương của Tom, trong ấy chứa đựng một mớ quần áo sạch sẽ của bác, đi về phía mũi tàu, và chẳng bao lâu một đám thợ và thủy thủ trên tàu bu quanh hắn.
Rồi thì miệng bô bô diễu cợt về cái giống nô lệ mà muốn làm chủ nhân, gã bán tất cả những gì chứa trong rương, luôn cái rương, làm như gã chính là chủ cái rương. Gã nhẫn tâm tẩu tán vật dụng của Tom trước đôi mắt uất hận của bác. Cuộc bán đấu giá chiếc rương được xem như trò đùa thú vị và gây nên cả một sự hỗn loạn trên tàu. Thật là dịp may hiếm có cho bọn giang hồ trên sóng nước!
Khi công việc được giải quyết xong xuôi, Legree trở lại với món hàng của mình.
- Bây giờ thì Tom ơi! Mày hẳn thấy là tao đã vứt bỏ dùm mày tất cả hành lý cồng kềnh vô dụng. Ráng giữ gìn bộ đồ mày đang bận đó, mày sẽ không có thêm một bộ đồ nào khác nữa đâu! Tao thích những tên da đen biết chăm sóc quần áo mình, ở nhà tao, một bộ đồ thường được dùng qua đúng một năm. Nào! Tất cả tụi mày - Gã vừa nói vừa lùi lại vài bước về phía sau - hãy nhìn tao! Nhìn thẳng vào mắt tao... thật thẳng! Được! Vậy nó! Tốt!
Và gã dậm mạnh chán kèm theo mỗi câu nói. Như bị thôi miên, tất cả những cặp mắt đều hướng về đôi mắt xám xịt long lanh của gã.
Gã vừa nói vừa quơ quơ cái nắm tay to lớn nặng cân, trông khá giống cái búa của thợ rèn.
- Tụi mày thấy nắm tay này chứ! Liệu hồn với nó đó, nghe!
Và gã giáng xuống trên bàn tay Tom, tiếp :
- Nhìn xem những đốt xương này! Tao báo trước cho tụi bay biết là cái nắm tay này tương đương với cái búa sắt, đủ sức hạ gục bọn da đen chúng mày. Tao chưa từng gặp tên da đen nào mà phải đấm đến cú thứ hai, đâu, nghe!
Hắn giơ cái nắm tay ấy dứ dứ sát mặt Tom, làm bác phải nhắm kín mắt, ngả người về phía sau tránh né.
- Tao đây! - Gã tiếp - Tao không có thứ giám thị nào khác hơn là thứ này... Tao đích thân làm giám thị tụi bay... và tao báo trước là không có gì tụi bay làm mà tao không biết. Phải chụm hai chân lại, đứng thẳng người và không được nhúc nhích khi nào tao nói. Với tao, chỉ có cách đối xử thế đấy! Tụi mày sẽ không tìm thấy ở nơi tao một chút dịu dàng nào cả, tao không hề biết thương xót đâu, nghe!
Những người đàn bà đáng thương không dám thở mạnh, cả đám nô lệ ngồi bệch dưới sàn tàu, mặt đầy vẻ sợ hãi và lo âu. Gã chủ quay lưng lại bỏ đi giải khát bằng một ly rượu nhỏ.
- Đó là cách đối xử dành cho bọn da đen của tôi!
Gã nói với một người đàn ông, có vẻ phúc hậu, đứng gần bên gã trong suốt bài diễn văn vừa rồi.
- Đó là phương cách của tôi... phải bắt đầu thật dữ tợn... phải cho chúng biết những gì sẽ đến với chúng...
- Vậy hả!
Người lạ nói, mắt nhìn gã với vẻ tò mò của một người bỗng nhiên đứng trước một hiện tượng quái đản.
- Vâng, đúng vậy! - Legree nói tiếp - Tôi đây, tôi không phải thuộc hạng chủ trại phong lưu như các anh, với những ngón tay trắng muốt như cành hoa huệ, để bị những tên quản lý da đen khốn nạn lừa bịp và ăn chặn. Hãy nhìn dáng điệu lúc ra lệnh của tôi đây! Sao! Hãy nhìn nắm tay tôi đây! Anh nghĩ sao? Nhờ những thứ này, vốn cứng đầu như đá, bọn da đen đã phải chịu nghe tôi... đúng chứ?
Người lạ ấn ngón tay trên cánh tay gã vừa đưa ra và trả lời :
- Cũng khá cứng đấy chứ! - Rồi ông nói thêm - Chắc có lẽ sự luyện tập thể xác như thế này cũng cần kèm theo một con tim cứng rắn chứ?
- Chúa ơi! Đúng vậy! - Hắn cười hô hố, trả lời - Tôi có thể hãnh diện về điều này. Không ai có thể làm tôi xiêu lòng nổi, kể cả bằng tiếng than khóc cũng như những lời dịu ngọt, tôi dám tin chắc vậy à!
- Anh quả thật khác thường!
- Đúng! - Legree trả lời - Ở đằng kia có thằng tên Tom, nó có vẻ đặc biệt lắm đấy, tôi đã mua được nó với giá khá cao để dùng vào việc đánh xe hay quản đốc công việc. Nó có một tật xấu là nó không chịu phương cách đối xử của tôi... Còn mụ đàn bà da vàng kia... Mẹ kiếp! Mụ có vẻ bệnh hoạn, tôi đã mua được mụ với giá rẻ mạt, chỉ có thể dùng được mụ trong vòng một hay hai năm thôi. Tôi biết tận dụng sức lực bọn da đen... Phải! Tôi đã tận dụng chúng đến kiệt sức, và tôi sẽ mua những tên khác thế vào đó, như vậy đỡ lo lắng và phí tổn...
- Thông thường, anh tận dụng được chúng trong bao lâu?
- Chúa ơi! Tôi không biết rõ lắm... còn tùy theo sức lực của mỗi tên! Những tên vạm vỡ thì cỡ sáu hay bảy năm, còn bọn ốm yếu thì cỡ hai hay ba năm. Hồi xưa, tôi đã cố hết sức để giữ chúng lâu. Khi chúng bệnh hoạn, tôi chăm sóc chúng, cho chúng quần áo, chăn đắp và tất cả! Bây giờ, bệnh hoạn hay khỏe mạnh măc xác chúng, chúng phải làm đầy đủ bổn phận như nhau... vì làm như hồi trước không có ích chi cả. Tôi đã tốn nhiều công và tiền bạc. Bây giờ, cứ tận dụng chúng đến chết, rồi mua tên khác thế chỗ. Tôi thấy cách này lợi hơn nhiều... và, so sánh kỹ thì vắt chanh bỏ vỏ vẫn là cách tiện hơn nhiều!
Người lạ bỏ đi, ông ta đến ngồi bên một hành khách khác đang chăm chú lắng nghe cuộc đối thoại này từ đầu với vẻ mặt khinh bỉ không thèm che giấu.
Chiếc tàu vẫn tiến ngược dòng sông, chở theo bọn người đau khổ. Nó lướt trên dòng nước đục ngầu, chảy xiết, dọc theo những khúc quanh ngặt nghèo và bất ngờ của con sông Rouge.
Cuối cùng nó dừng lại bên một ngôi làng nhỏ; Legree dắt cả bọn lên bờ.

0
Chương 27
 
Tom và những nô lệ khác đứng lúc nhúc ở thùng sau của một chiếc xe cồng kềnh đang nặng nề lăn bánh trên con đường gồ ghề.
Phía trước xe là Simon Legree. Hai người đàn bà, vẫn còn bị xích, ngồi bệch trên đáy thùng xe giữa mớ hành lý. Xe thẳng hướng tiến về phía trang trại của Legree, ở cách đấy không bao xa.
Đấy là con đường vắng vẻ và hoang sơ, chạy dài với hàng trăm khúc quanh, xuyên qua một rừng thông. Từng cơn gió rít mạnh trên các nhánh cây. Ở ven đường những thân cây trắc bá vươn cao từ mặt đất ẩm ướt và lầy lội, buông rủ từ trên xuống những chuỗi rong rêu đen kịt, một màu đen tang tóc.
Đây đó, vài con rắn với những hình thù xấu xí bò lướt trên những gốc cây bị đốn ngã và những cành gãy vụn nằm rải rác, mục nát trong những vũng nước.
Quả thật là một con đường đáng sợ, phù hợp với tâm trạng của những kẻ đứng sau xe. Còn gì khủng khiếp và buồn bã hơn đối với những kẻ bất hạnh này khi mà cứ mỗi giây, mỗi phút qua đi là họ lại cảm thấy mỗi xa hơn những gì họ nuối tiếc, mến yêu, mơ tưởng.
Đó cũng là ý nghĩ của tất cả những ai thấu hiểu được nỗi chán nản tột cùng, nỗi buồn bã sâu xa của những tên nô lệ đáng thương này, khi trông thấy con đường định mệnh chạy dài trước mắt.
Chỉ có mỗi một mình Legree tỏ vẻ vui sướng; thỉnh thoảng gã lấy trong túi áo ra chai rượu, tợp một ngụm.
Trang trại đã hiện ra trước mắt mọi người.
Ngôi trại này, lúc đầu, thuộc quyền sở hữu của một nhà quý phái giàu có và có óc mỹ thuật nên nó có một thời kỳ xinh đẹp lạ thường. Ông ta chết vì vỡ nợ. Legree chiếm đoạt và gã dùng nơi đây, cũng như tất cả mọi vật nằm trong tay gã, để kiếm tiền. Trong trại có vẻ tiêu điều khi từ tay một người biết chăm sóc lọt vào tay của một kẻ tham lam, tàn bạo.
Trước ngôi nhà, ngày xưa là cả một vườn cỏ xanh tươi tốt, với đủ thứ cây cảnh, ngày nay chỉ còn là một khu cỏ mọc rậm rạp, vô trật tự, được tô điểm thêm nhờ rơm rạ, nhờ những mảnh vụn của vỏ chai và đủ thứ rác rến.
Đây đó, một thảm cỏ bị nhổ mất và mặt đất trơ ra. Những cây bông lài ủ rũ, những cây cảnh xinh đẹp giờ đây nghiêng ngả dưới sức trì kéo của đám ngựa mà người ta cột chúng vào thân cây. Khu vườn rộng lớn bị chiếm cứ bởi đủ loại cỏ dại, rải rắc giữa đám cỏ dại này, một thứ cây quý cố gắng đơn độc ngẩng đầu lên. Ở khung cửa nhà lồng kính thì không còn một tấm kính nào cả. Trên những tấm ván mục nát trong nhà, ta còn thấy một vài chậu hoa khô héo, bị bỏ quên. Những thân cây úa tàn, những chiếc lá quắt queo chứng tỏ ngày xưa nơi đây là cả một vườn hoa!
Chiếc xe lăn bánh trên con đường vào trại, ngày xưa lấp cát, giờ cỏ dại mọc tứ tung giữa hai cây sứ Trung Hoa trồng ven đường, hình dáng xinh đẹp và lá cây xanh tốt như muốn chứng tỏ chỉ có mình chúng không bị tàn phai và khuất phục trước bản chất thô bạo của người chủ mới. Những tư tưởng cao quý ấy như ăn sâu vào tận rễ chúng khiến chúng càng ngày càng cao hơn và tươi tốt hơn giữa vùng đất đầy thử thách, bất hạnh.
Ngôi nhà thật vĩ đại và đẹp đẽ. Nó được xây theo lối kiến trúc ta vẫn thường thấy ở châu Mỹ. Tứ phía được vây quanh bằng một hành lang hai tầng, tất cả cửa đều mở trống. Nền nhà bên trong được lót toàn bằng gạch hoa.
Giờ đây, ngôi nhà trông thật tang thương. Có những cánh cửa sổ được che đậy qua loa bằng những tấm ván, một vài cửa sổ chỉ còn một cánh, vài cái khác có kính được thay bằng những tấm giẻ. Tất cả những thứ này biểu lộ một vẻ ghê rợn tiêu điều trong trang trại.
Trên mặt đất nằm vương vãi những đống rơm, những miếng gỗ, mảnh vụn của những kiện hàng và những thùng tròn. Ba bốn con chó, có vẻ dữ tợn, bị đánh thức bởi tiếng rít của bánh xe, chạy xáp lại như muốn cắn xé tất cả. Những tên nô lệ trong trại phải cố hết sức ngăn cản chúng xâu xé Tom và đám bạn đồng hành.
- Tụi mày thấy những gì đang chờ đón tụi mày đấy!
Legree vừa nói vừa vuốt ve bầy chó với vẻ tự đắc khó ưa và quay người về phía đám nô lệ :
- Tụi mày chắc hẳn thừa hiểu những gì sẽ đến với tụi mày nếu tụi mày bỏ trốn chứ? Những con chó này đã được huấn luyện thành thạo trong việc săn đuổi bọn da đen tụi mày. Chúng nuốt trửng tụi mày dễ dàng như bỡn. Tụi mày liệu hồn đó!
Gã nói với một tên gia nhân ăn bận rách rưới, đầu đội một chiếc mũ mất vành đang lăng xăng bên gã :
- Công việc ở nhà trôi chảy chứ? Sambo?
- Thưa ông chủ, tốt lắm.
Gã nói với một tên da đen khác, tên này cũng đang cố gây cho gã một sự chú ý :
- Quinbo, mày làm đúng theo lời tao dặn chú?
- Dạ đúng!
Hai tên da đen này là những nhân vật chính yếu trong trại, chúng đã được biến cải theo ý muốn của Legree. Gã biến chúng trở nên hung dữ và man rợ như đám chó săn hung tợn của gã. Với bao cố gắng và luyện tập, gã đã thành công. Quả là một kỳ công lớn.
(Người ta để ý thấy bọn giám thị da đen luôn luôn dữ tợn hơn bọn da trắng. Người ta rút từ nhận xét này một kết luận thật đau lòng đối với giống dân da đen: là, một tên da đen giám thị còn ác độc gấp bội một tên da trắng. Chúng đối xử tàn tệ với đồng chủng chỉ cốt để lập công).
Cũng như nhiều vị quân vương chuyên chế mà lịch sử thường nói đến, Legree cai trị lãnh thổ mình bằng cách gây mâu thuẫn và chia rẽ chúng thêm. Sambo và Quinbo ghét nhau ghê gớm (những tên nô lệ khác ở trại cũng ghét cả hai tên ấy). Nhờ vậy, tên này canh chừng tên kia và canh tất cả những tên khác. Ngược lại, chúng cũng bị canh chừng bởi tất cả những tên khác! Đó là sự giám sát tổng quát và đầy đủ có lợi cho Legree. Không gì thoát khỏi tai mắt gã.
Legree tỏ ra có chút săn sóc đặc biệt với hai tên thân tín này, một thứ săn sóc có thể gây nguy hiểm cho chúng. Bởi vì chỉ cần một lời xúi giục, một dấu hiệu nhỏ nào đó của chủ là tên này sẵn sàng cắt cổ tên kia.
Nhìn cảnh tượng hai tên ấy xun xoe bên Legree, ta thấy chúng không khác hơn súc vật là bao! Những đường nét thô bạo, nặng nề và cứng rắn, đôi mắt mở to đần độn nhìn láo liên, đầy vẻ ham muốn, giọng nói khàn đục của chúng, bộ đồ bận trên người rách tả tơi và phất phơ trước gió của chúng... tất cả những thứ ấy hòa hợp hoàn toàn với địa vị hạ tiện của chúng bên tên chủ vô lương.
Chủ hắn ra lệnh :
- Này, Sambo! Mày hãy dắt bọn này về nơi trú ngụ đi. Đây là một mụ đàn bà tao mua cho mày đó - Gã vừa nói vừa đưa tay đẩy mạnh người đàn bà nô lệ về phía hắn - Tao đã hứa là sẽ đem về cho mày, vậy là mày bằng lòng chứ?
Người đàn bà giật nẩy mình và ngả về phía sau :
- Ồ, thưa ông, chồng tôi hiện còn sống ở Nouvelles Orléans.
- Ừ, thì đã sao? Bộ bây giờ tao không được quyền bắt mày lấy thằng khác sao? Im đi và cút khỏi mắt tao!
Legree chụp lấy cây roi. Tom không thể nghe thêm được câu gì nữa: bác phải đi theo Sambo đến nơi trú ngụ.
Nơi ở của bọn nô lệ gồm dãy lều cất thô sơ, cách khá xa tòa nhà của chủ. Nơi đây mang một vẻ tối tăm, ảm đạm đến cùng tận. Tom cảm thấy gần như tuyệt vọng. Bác vẫn còn liên tưởng đến căn lều bé nhỏ, thật giản dị, nhưng là nơi bác có thể nghỉ ngơi trong thảnh thơi và thanh tịnh, là nơi bác có một cái bục nhỏ để đặt cuốn Thánh kinh, là nơi thật yên tĩnh để bác có thể đến suy tư.
Sau những giờ làm việc mệt nhọc, bác sẽ bước vào một trong những căn nhà lều ở đây. Thay vì bàn, ghế, giường, là một ổ rơm đầy rác rến nằm trơ trọi giữa nền nhà; nền nhà là mặt đất bằng phẳng, nhẵn bóng, trơ trụi nhờ ở muôn vàn bàn chân dậm lên!
- Tôi sẽ ở đâu đây?
Bác hỏi Sambo với giọng nhỏ nhẹ.
- Tao không biết nữa... chắc ở đây quá... Tao chắc là ở đây còn dư một chỗ. Căn lều cũng đã dầy đặc người, tao không biết phải nhét mày vào đâu đây.
Trời tối mịt khi đám nô lệ làm việc trở về những căn lều tồi tàn này; đàn ông đàn bà, ăn bận rách rưới, khổ sở, đáng thương. Có lẽ không một ai trong bọn họ còn hơi sức mà để ý những kẻ mới đến cả.
Những tiếng ồn ào phát xuất từ dãy lều này không có gì hấp dẫn, toàn là những giọng nói như nghẹn ở cuống họng và khàn khàn, cãi cọ dành giựt cối xay bột bằng tay mà họ sẽ thay phiên nhau xay những hạt bắp còi để lấy làm bánh cho buổi ăn tối, một bữa ăn tồi tệ và nghèo nàn!
Họ đã phải quần quật làm việc ngoài những cánh đồng, từ lúc tinh sương, khom mình trên những công việc nặng nhọc dưới ngọn roi canh gác của tên giám thị. Hiện lúc này là lúc được mùa, công việc gặt hái hối thúc và người ta muốn triệt để tận dụng sức lực của từng tên một trong bọn họ.
Trong khi đám đông đi tới đi lui trước mặt Tom, bác đưa mắt tìm kiếm một khuôn mặt có chút thiện cảm. Những người đàn ông mặt mũi tối tăm, ủ dột, nhẫn nhục; những người đàn bà ốm yếu, buồn bã, chán nản; những tên mạnh hiếp đáp kẻ yếu đuối. Đó là lòng ích kỷ hung hăng và thô bỉ mà ta chỉ thấy xuất hiện ở những kẻ quá đỗi cùng cực. Bị đối xử như những con vật, bọn người khốn khổ này đã ở một mực thấp hèn nhất mà con người có thể rơi xuống!
Tiếng nghiến của bánh xe cối xay bột vọng đều đều giữa đêm tối gây một âm thanh buồn bã. Vì số máy xay quá ít, nên những tên khỏe mạnh đuổi những tên ốm yếu ra xa, phiên của bọn này chỉ đến vào lúc thật khuya.
- Đây này! - Sambo vừa nói vừa đi về phía người đàn bà nô lệ và vứt trước mặt bà một bao hạt bắp - Mày tên gì vậy?
- Lucy!
- Nghe đây, Lucy! Bây giờ mày đã là vợ tao, đi xay những hạt bắp này và lo nấu cho tao bữa ăn tối, nghe chưa?
- Tôi không phải là vợ anh và tôi không muốn làm vợ anh - Lucy nói với sự gan dạ bất chợt và nóng bỏng tìm thấy giữa nỗi tuyệt vọng - Anh đi chỗ khác đi!
Sambo nói với vẻ de dọa :
- Coi chừng tao đạp cho mấy đạp bây giờ!
- Giết tao đi, nếu mày muốn... càng sớm càng tốt... tao muốn chết lắm rồi...
- Ê này, Sambo! Mày xử sự với kẻ khác như thế à! Tao sẽ mách lại với chủ.
Quinbo lên tiếng, trong lúc đang bận bịu bên cái cối xay bột mà hắn đã giành được từ tay những người đàn bà khốn khổ. Sambo trả đũa :
- Và tao, đồ thằng già, tao sẽ mách với ông ấy là mày lấn áp những người đàn bà để giành lấy cối xay bột. Mày phải tôn trọng trật tự chớ!
Tom kiệt sức vì đói và mệt, Quinbo liệng cho bác một bao bắp hạt, ra lệnh :
- Này, thằng kia, giữ lấy và xay dần mà ăn, người ta chỉ phát cho mày một bao vào tuần tới, nghe chưa?
Tom chờ đợi thật lâu mới tới phiên mình được xay. Xúc động vì hai người đàn bà khốn khổ quá ốm yếu không xoay nổi bánh xe, bác liền xay giúp họ. Bác khơi lại ngọn lửa, nơi từ nãy đến giờ biết bao ổ bánh đã được nướng chín, và bác sửa soạn cho bữa ăn tối nghèo nàn.
Tom giúp những người đàn bà này một việc nhỏ, nhưng là một cử chỉ tương thân cao quý hiếm thấy ở chốn này. Thật là một điều mới mẻ đối với họ, và cử chỉ thương yêu này đã đánh thức con tim gần như chai đá của họ, gợi lên một vài nét dịu dàng rạng rỡ trên khuôn mặt họ. Bản tính khả ái như sống lại, hai người đàn bà muốn chính tay làm bánh và nướng cho bác. Nhờ đó, Tom rỗi rảnh ngồi bên bếp lửa và lấy cuốn Thánh kinh ra... Bác đang cần được sự an ủi.

0
Chương 28
 
Chỉ một thời gian ngắn bác Tom hiểu được những gì đáng gờm đang chờ đón bác ở tại trang trại này. Tuy vậy, bác dốc lòng làm hết bổn phận. Vốn là một người lanh lợi, tháo vát, siêng náng, biết chịu đựng nên Tom tránh được nhiều phiền phức thông thường mà địa vị thấp hèn dành cho mình. Tom hứng chịu những nỗi bất công, những lời sỉ nhục nhưng bác vẫn kiên tâm, bình tĩnh, một đức tính của kẻ ngoan đạo có lòng tin tưởng nhiệt thành vào đấng tối cao, đến sự phán xét công minh một ngày sắp tới cũng như tin vào một may mắn sẽ đến với mình.
Legree đã quan sát kỹ người nô lệ đăc biệt này, gã muốn cất nhắc Tom lên hàng đầu các nô lệ khác. Tuy nhiên, Tom có một điểm làm gã ghét đắng ghét cay: đó là sự thánh thiện ở Tom. Do lòng đố kỵ tự nhiên của một kẻ xấu xa trước một người tốt, gã giận sôi mỗi khi thấy không một cử chỉ hung bạo tàn nhẫn nào của gã đối với bọn nô lệ mà không gây chú ý ở Tom, chú ý với sự bất mãn không ra lời nhưng ngấm ngầm, lặng lẽ.
Nếu sự bất mãn xảy ra giữa hai người bình đẳng thì người ta có thể dễ dãi bỏ qua, nhưng đây là thứ bất mãn của một nô lệ da đen đối với chủ nhân da trắng khiến cho tên chủ rất bận lòng. Hạng người như Simon Legree, làm sao dung được một kẻ dám tỏ ra có lòng tốt hơn gã, biết thương xót kẻ thế cô yếu đuối, những kẻ mà gã tận dụng và sẵn sàng hành hạ không chút nương tay? Vả chăng, trong đám nô lệ cùng khốn, bị dồn vào chỗ tàn tệ đến mức gần ngang súc vật mà lại có một kẻ nổi bật lên như ngọn đèn trong đêm tối mịt, như cánh sen đơn độc giữa bùn làm gã chịu không nổi.
Sức khỏe, khả năng, sự dẻo dai bền bỉ của Tom thì gã thích, còn tâm hồn cao quý, hay giúp đỡ kẻ yếu lại làm gã phật lòng. Tom phá hỏng dự tính của gã: lúc mua Tom gã đã tiên đoán là Tom sẽ được việc cho gã, gã sẽ dùng Tom như một thứ quản lý đắc lực điều hành mọi việc trong lúc gã vắng mặt tại trại. Muốn vậy, Tom phải hội đủ hai điều gã cần nữa: cứng rắn và tàn bạo. Gã ngỡ là sẽ thay đổi tâm tính con người đặc biệt này sau hai tuần lễ, gã tin là gã thừa sức để huấn luyện Tom như ý mình muốn. Nhưng gã đã lầm to...
Một buổi sáng trên đường ra đồng làm việc, Tom chợt để ý đến một nô lệ mới có dáng dấp và phong cách đặc biệt.
Đó là một thiếu phụ dong dỏng cao khoảng trên dưới bốn mươi, hai bàn tay và đôi chân đẹp lạ thường, ăn mặc sạch sẽ, dung mạo đoan trang. Khuôn mặt, của thiếu phụ là dạng khuôn mặt của những nhân vật trong các câu chuyện lãng mạn, đầy ngang trái và nước mắt.
Nàng từ đâu đến? Nàng là ai? Tại sao nên nỗi này? Tom rất quan tâm nhưng bác hoàn toàn mù tịt, vì đây là lần đầu bác trông thấy bà và tuy bước đi cạnh Tom, bà ta lặng lẽ, kiêu hãnh, khuôn mặt sáng rỡ dưới ánh nắng ban mai.
Tom từng sống giữa những gia đình sang trọng, bác linh cảm là thiếu phụ chắc thuộc vào lớp trên của xã hội, thế mà nguyên do nào khiến bà trở thành một nô lệ, rơi vào tay tên chủ da trắng tàn bạo như Legree thật là một điều đáng tiếc. Nàng im lặng đi cạnh Tom, không trao đổi cả một ánh mắt, một lời nói.
Tom hăng hái bắt làm việc. Vì bọn phụ nữ ở một khoảng cách khá xa, nên thỉnh thoảng Tom lên nhìn, theo dõi họ. Bác nhận thấy thiếu phụ này làm việc rất giỏi, tỏ ra lanh lợi và khéo tay hơn nhiều người khác. Song bà ta làm với một vẻ khinh khỉnh, như thể bất cần công việc và hoàn cảnh hiện tại của mình.
Cạnh đó là Lucy, người đàn bà bệnh hoạn, yếu đuối bị mua cùng lượt với Tom. Thiếu phụ này nom thật thảm thương, run rẩy trong lúc làm việc như sắp ngã quỵ, người mà Tom đã thấy tỏ ra can đảm liều lình khi từ chối làm vợ Sambo đêm đầu tiên họ về trại. Hình như bà ta đang đọc kinh.
Tom thương xót, lặng lẽ lại gần Lucy, lấy bông trong giỏ mình bỏ vào cho bà ta một ít. Người đàn bà đáng thương la lên :
- Không! Đừng giúp tôi, bác sẽ bị khổ lây...
Đúng lúc đó, Sambo lừng lững xuất hiện. Vốn căm thù thiếu phụ sẵn từ lâu, hắn giơ cao ngọn roi, cất giọng khàn khàn :
- Lucy! Tao biết mày làm biếng lắm, tao bắt được quả tang...
Hắn đá Lucy một cái mạnh (hắn mang đôi giày kệch cợm bằng da bò), thiếu phụ ngã lăn ra, bất tỉnh. Còn Tom, hắn quất một roi vào giữa mặt. Tom lặng lẽ trở lại với công việc.
Sambo gầm lên :
- Tao có cách làm mụ đàn bà này tỉnh dậy, tức thì à!
Hắn rút từ tay áo ra cây kim cúc (chắc là thường xuyên thủ sẵn bên mình) dáng bộ hung hăng, tiếp :
- Cái này còn hiệu nghiệm gấp mấy dầu nóng đó nghe!
Nói xong, hắn dùng kim đó ghim ngay đỉnh đầu Lucy, thật sâu, làm cho người đàn bà khốn khổ tỉnh lại, ngồi bật lên. Sambo quát :
- Đứng lên ngay! Làm việc đi! Đồ ăn hại! Nghe tao nói chứ? Hay là chờ tao ra tay lần nữa?
Như bị kích thích bởi một nguồn sinh lực mới, Lucy trở lại làm việc như người khỏe mạnh... làm việc với tất cả hàng hái của một kẻ tuyệt vọng.
Tom một lần nữa, tỏ ra coi thường nguy hiểm tiến lại vứt mớ gòn vừa hái vào giỏ Lucy. Cử chỉ của bác làm cho phụ nữ lạ mặt chú ý - thật ra bà ta chú ý từ đầu - ngẩng nhìn Tom bằng đôi mắt đen láy và lần này, chính bà đưa cho Tom một nắm gòn. Bà bảo Tom :
- Anh không biết rõ thân phận anh hay sao? Hay anh biết mà vẫn cố ý? Từ khi đến nơi này, lúc nào tôi cũng thấy anh ưa giúp đỡ kẻ khác. Tốt hơn, anh nên lo lắng cho bản thân anh.
Tên Sambo thấy bà giúp Tom liền xông đến, dứ dứ ngọn roi, đe dọa. Bà lại trở về công việc mình. Tom nhìn sững bà ta, vì bà làm việc một cách thành thạo quen thuộc. Trước khi trời tối, giỏ bà đã đầy ắp bông gòn mặc dù trong ngày bà nhiều lần giúp bác.
Mặt trời khuất bóng, bọn nô lệ mệt lử, giỏ gòn đội trên đầu, nối bước nhau trở về trại. Tại đây gòn sẽ được cân và cất vào kho.
Lúc này Legree đang nghe hai tên thân tín báo cáo hành động của bọn nhân công nô lệ trong ngày, Sambo nói :
- ... Tom sẽ gieo ảnh hưởng ở đây, thưa ông chủ. Tôi bắt được nó bỏ gòn vô giỏ con mụ Lucy. Rồi một ngày kia, nó sẽ chứng tỏ cho tụi da đen hiểu là chúng bị bóc lột. Ông chủ cần quan tâm đến điều này, đến thằng Tom.
- À, tên da đen khốn kiếp! Tao sẽ cho nó một bài học mới được. Tao có cách mà! Để nó cho tao, tao có cách!
- Còn mụ Lucy nữa, thưa ông. Nó là hạng phụ nữ nham hiểm, ghê gớm...
- Coi chừng! Sambo, tao tin là mày thù hận nó quá đáng vì lý do riêng...
- Kìa, thưa ông chủ, bộ ông không biết là nó cãi lời ông, không chịu làm vợ tôi sao chứ? Nó cãi lệnh ông... rõ ràng mà!
- Đòn vọt sẽ bắt nó nghe theo, nhưng hiện giờ mùa màng đang cần đến nhân công, nên tao nới tay đôi chút, hiểu ra chưa? Nó ốm yếu, mà thứ phụ nữ ốm yếu thì chỉ cần bắt chúng làm ngược với ý muốn là đủ giết chết chúng rồi.
Legree vừa nói vừa khạc đờm. Sambo nói :
- Con Lucy quỷ quyệt lắm, suốt ngày không làm việc, làm biếng quá, thưa ông! Chính thằng Tom làm thay mụ cả ngày.
- Nếu thật vậy thì... thì thằng Tom sẽ sung sướng được chính tay hắn đánh Lucy. Đây là một bài học thấm thía cho cả đôi bên.
Gã chủ cười, tiếng cười nham hiểm, khàn đục, hạ tiện. Trời phú cho gã có tiếng cười rất tương xứng với con người gã :
- Sự trừng phạt chính tay Tom sẽ hữu ích hơn là do tay tụi bay, một lũ vô dụng, hiểu chưa?
- Thưa, giỏ mụ đủ số cân, vì có thằng Tom với cô Cassy giúp, chắc chắn như vậy.
Sambo tâu thêm. Legree ngần ngừ một giây và hắn đi đến quyết định :
- Đừng lo, để tao cân gòn, chính tao cân!
Nói xong, hắn chửi lên một tràng, đủ ngôn từ thô lỗ và bước qua phòng cân bông.
Tại đây, chậm rãi từng người một, kiệt lực vì làm việc vất vả suốt ngày, bọn nô lệ bước đến, sợ hãi, lo âu đưa giỏ bông cho chủ chờ sẵn, để cân.
Legree cầm trên tay một tấm bảng ghi tên từng người một. Sau khi cân gã ghi thêm số gòn cân được. Giỏ bông của Tom đủ số cân nhưng bác lo lắng nhìn sang Lucy, người đàn bà bác đã hứa giúp.
Thiếu phụ này thất thểu bước lại đưa giỏ gòn cho Legree. Gã đặt lên cân và tuy đủ cân lượng nhưng gã vẫn hét toáng phủ đầu :
- Đồ nhác nhờn, lại không đủ ký. Đứng yên đó! Rồi tao sẽ trị tội mày...
Quay sang Tom, gã ra lệnh :
- Tên kia, đến đây!
Tom vâng lời, gã dặng hắng một cái :
- Tom! Mày thừa biết tao mua mày không phải để làm công việc nặng nhọc này chứ? Tao, chính tao đã cho mày biết ngay từ ngày đầu rồi: tao sẽ cho mày chỉ huy bọn nhân công. Và giờ đây, mày bắt đầu đảm nhiệm chức vụ mới. Nghe tao đây: Tóm cổ con Lucy, quất cho nó mươi roi, coi nào! Mày biết cách quất không? Chắc biết hả? Mày chứng kiến nhiều lần rồi mà?
- Xin lỗi ông chủ, tôi xin ông tha tôi công việc này. Tôi chưa từng làm thế, chưa bao giờ! Tôi không làm được, thật vậy, thưa ông, tôi không làm được...
- Mày sẽ học hỏi nơi tao nhiều điều mà mày chưa từng làm, chưa từng biết, từ đây cho tới ngày mày tắt hơi. Coi đây!
Gã chộp cây roi gân bò, quất mạnh, liên tục lên mặt bác. Một trận đòn làm tối tăm mặt mũi cả những kẻ đứng ngoài. Sau khi mỏi nhừ cánh tay, hắn ngừng lại, hỏi :
- Sao? Giờ mày còn giữ giọng lưỡi ban nãy rằng thì là không thể làm công việc tao sai không?
- Thưa ông, tôi sẽ làm tất cả mọi việc ông sai, không từ bất cứ việc gì dù nặng nhọc cực khổ đến bao nhiêu, bất kể ngày đêm giờ giấc, cho tới khi tôi tắt thở, đúng như vậy. Nhưng cái việc ông bảo vừa rồi thì không được, không bao giờ, vì tôi cho đó là việc trái, một điều quấy...
Tom chậm rãi nói, tay quẹt những giòng máu bò dài trên khuôn mặt. Gã mặt người lòng thú ấy sửng sốt lúng túng, đứng lặng mất vài giây rồi gã bật lên cười hô hố :
- À, tên da đen ngu ngốc kia! Điều tao bảo mày là điều quấy hở? Cha chả! Bộ đám súc vật như lũ bay mà cũng biết phải quấy sao? Bất ngờ quá há? Hay mày tự cho là ngang hàng với tao đây? Hay là mày cho mày là một nhà quý phái lạc bước sa cơ? Thưa ông Tom? Hừ! Lại lên mặt thầy đời, dạy chủ phân biệt phải trái nữa chứ! Mày dám nói quất mụ Lucy là điều quấy hử?
- Thưa ông, đúng vậy! Người đàn bà đó yếu đuôi, bệnh hoạn, làm sao có thể nhẫn tâm dùng roi vọt đánh bà? Tôi không dám làm vậy đâu. Không thể được! Nếu ông chủ muốn giết tôi đi nữa, thì tôi cam chịu chết còn hơn là đánh đập bất cứ ai ở tại đây. Phải! Nếu muốn, ông cứ giết tôi. Ông có quyền...
Tom nói, dịu dàng chậm rãi mà quyết liệt lạ lùng, trong mỗi tiếng hàm chứa cả một ý chí sắt đá thần thánh, không lay chuyển được bằng sức mạnh phàm tục, bạo tàn.
Legree giận run, sùi cả bọt mép, mắt gã xám xịt thêm, quắc lên dữ tợn, bộ ria mép như dựng đứng. Tuy vậy, giống như con ác thú muốn vờn mồi trước khi xé xác, tiếp tục cười gằn chế giễu Tom bằng những lời cay độc :
- Tóm lại, mày là con chó sùng đạo ở giữa bọn người tội lỗi phải không? Một ông Thánh sống? Hay là nhà quý tộc? Ngài đến đây để hoán cải bọn phàm nhân? Nếu quả vậy, mày phải có quyền năng há? Này, nghe đây tên khốn: mày là con chiên ngoan đạo thì mày phải nhớ đến câu này trong Kinh thánh “Hỡi tôi tớ! Hãy vâng lời chủ mi!”. Tao đây, tao là chủ mày mà! Tao đã trả tới một ngàn hai trăm đô-la để mua mày, cả xác lẫn hồn mà. Chà, cái thân xác đen đúa, bẩn thỉu của mày có giá đó chứ? Mày thuộc về tao, biết chưa?
Gã kèm theo sau câu nói một cú đá dữ tợn, bằng chiếc giày bốt nặng nề.
- Trả lời tao ngay!
Tom ngã quỵ xuống vì những ngọn đòn ác liệt. Vì cái đau thấm thía của thể xác, bác gục xuống nền đất. Nhưng câu hỏi như một tia sáng quý báu rọi giữa cảnh thâm u tăm tối. Bác gượng đứng lên, thẳng người, đôi mắt ngước nhìn lên trời với vẻ nhiệt thành, tin tưởng và trong khi máu chan hòa cùng nước mắt chảy ròng ròng trên khuôn mặt, bác nói, từng tiếng một rõ ràng :
- Không, không! Làm sao ông mua được linh hồn tôi? Linh hồn tôi không thuộc quyền ông. Linh hồn tôi thuộc về Đấng tối cao, xứng đáng. Mặc! Mặc kệ hết! Ông cứ hành hạ thể xác tôi! Ông hãy hành hạ đi, nếu ông muốn thế. Ông chỉ có thể xác tôi thôi!
Legree hét lên, vẻ mặt cực kỳ hung tợn :
- Tao không mua nổi hả? Mày sẽ thấy! Sambo! Quinbo! Đến đây coi! Tụi bay dần thằng chó chết một trận nên thân cho tao, một trận đủ cho nó nằm liệt cỡ một tháng, coi nào!
Hai tên da đen to lớn vồ lấy Tom, khuôn mặt man rợ của chúng thoáng vẻ hài lòng. Đó là dịp để chúng được thi thố quyền hành, thứ quyền hành tối tăm, súc vật. Lucy rú lén một tiếng thất thanh.
Cả đám nô lệ như cùng bị dựng đứng thẳng lên do một cái lệnh vô hình. Hai tên Sambo, Quinbo lôi xệch bác Tom đi, không một sức kháng cự nào.
* * * * *
Đêm đã khá khuya, bốn bề như là dìm trong bóng tối. Tom nằm dài trong căn lều bỏ trống thuộc dãy nhà kho, giữa những dụng cụ tồi tàn, sứt mẻ, những mớ gòn bị hư và nhiều món đồ vật phế thải khác, miệng rên rỉ, mình mẩy giống tựa tấm giẻ lau nhúng vào suối máu.
Trong đêm vắng vẻ, tiếng muỗi vo vo, hàng vạn con vang đều đăn. Bác khát cháy cổ, thứ hình phạt khủng khiếp nhát đè nặng trên sức chịu đựng của con người đáng thương này. Bác thì thào :
- Lạy Chúa tôi! Chúa nhân từ hãy ghé mắt thương con, giúp con...
Đột nhiên, Tom nghe có tiếng chân gần phía mình nằm rồi một tia sáng lóe lên trước mắt, bác kêu :
- Hãy cho tôi xin hớp nước, vì tình yêu Chúa, xin cho tôi... ai đó?
Bà Cassy - chính bà ta - đặt cái đèn lồng xuống đất, lấy chai nước cầm theo mình, đỡ đầu Tom lên, cho uống. Trong cơn sốt hầm hập, Tom uống cạn cả cốc nước lớn một hơi. Bác thì thầm :
- Cảm ơn bà!
- Đừng gọi tôi bằng bà. Tôi cũng như bác, tôi là tên nô lệ đáng thương, cùng số phận như bác, còn đáng thương gấp trăm lần bác...
Giọng bà thương xót :
- Này, người đàn ông khốn khổ ơi! Chịu khó nằm lên đây, hãy nghe tôi!
Bà đi về phía cửa kéo lại một ổ rơm, trải lên đó những tấm khăn tẩm nước ướt.
Tom khó khăn lắm mới lết lên được ổ rơm, vì thương tích đầy mình, thân mình bác mềm nhũn và đẫm máu.
Thiếu phụ có vẻ thành thạo trong việc săn sóc các vết thương, bà khéo léo, nhẹ nhàng và lanh lẹ băng bó cho bác. Chỉ chốc sau, Tom cảm thấy dễ chịu đi nhiều.
Cassy đặt lên đầu Tom một kiện gòn nhỏ thay cái gối, đoạn dịu dàng nói :
- Tôi đã làm tất cả những gì có thể để giúp bác.
Tom mấp máy môi toan ngỏ lời cảm ơn nhưng bà ngăn lại :
- Đừng nói gì hết, bác Tom! Hãy ngủ đi, nếu có thể, cho khỏe lại.
Bà đặt chai nước cạnh Tom, soạn đủ vật dụng cần thiết về đêm cho người bệnh rồi nhẹ nhàng lùi ra.

0
Chương 29
 
Phòng khách của Simon Legree là gian nhà dài và rộng, ở một góc là một lò sưởi to lớn, đồ sộ; ngày xưa, bốn vách tường được dán một lớp giấy hoa đắt tiền và đẹp đẽ. Thứ giấy này, giờ đây, mục nát, rách tơi tả, phai màu, biến bức tường thành lởm chởm đầy những miếng vá. Một thứ mùi ẩm mốc, ngai ngái, hôi hám làm người ta khó chịu, muốn nôn, thoát ra từ sự hoang tàn, ẩm ướt, đổ nát; cái thứ mùi ta thường bắt gặp ở những tòa nhà cũ kỹ bỏ trống lâu năm. Trên vách, lấm chấm những dấu vết của bia và rượu nho.
Nhiều nơi khác dính dầy vệt phấn. Trong lò lửa lập lòe ngọn than hồng. Trời vào mùa này không lạnh lắm, nhưng ở trong căn phòng rộng rãi ấy, vào mỗi chiều tối, thường mang vẻ ẩm ướt lạnh lẽo, hơn nữa Legree cần có lửa để đốt điếu xì gà và đun nóng rượu Punch của gã. Ánh sáng đỏ rực của đống than nóng bỏng cho phép ta thấy được những vật dụng trong phòng: yên ngựa, bàn chải, dây cương, roi; những chiếc áo choàng và đủ thứ đồ đạc, quần áo, vất ngổn ngang bừa bãi đây đó.
Những con chó khổng lồ mà ta đã nói hồi đầu, nằm yên ở những chỗ ưa thích.
Legree đang tự tay sửa soạn cho mình một món giải khát gồm nước pha rượu và chanh. Gã chế nưởc từ cái ấm cũ kỹ, sứt mẻ vào trong tách, miệng làu bàu :
- Tên Sambo khốn nạn là đầu mối gây nên cuộc cãi vã vừa rồi giữa ta với tên nô lệ mới đến! Giờ đây Tom trở nên vô dụng trong suốt tuần lễ tới, khi mà mùa màng cần được gặt gấp.
Ngay lúc ấy, cánh cửa xịch mở, Sambo bước vào. Hắn cúi đầu chào gã và đưa cho gã một gói giây nhỏ.
- Gì vậy hở thằng chó?
- Một miếng bùa ngãi, thưa ông chủ!
- Cái gì?
- Một vật mà những tên da đen đến xin ở tụi phù thủy, giữ nó sẽ tránh được sự đau đớn khi bị đánh đập, thằng Tom đeo nó quanh cổ bằng một sợi dây đen.
Legree vốn đầu óc đặc sệt mê tín như phần đông bọn đàn ông hung bạo và vô tín ngưỡng. Gã cầm lấy gói giấy và chậm rãi mở ra.
Gã thấy một đồng đô-la và một cuộn tóc dài vàng óng, mớ tóc vàng như sống động, quấn quít quanh những ngón tay của Legree.
- Đồ khốn!
Gã thét to kinh hãi, dậm hai chân trên mặt đất bành bạch và rũ rũ những sợi tóc khỏi những ngón tay, như thể vừa bốc nhằm tổ kiến :
- Những thứ này ở đâu vậy? Đem chúng đi ngay! Bỏ vào lửa đi! Bỏ vào lửa!
Nhưng rồi gã ném nguyên lọn tóc vào lò sưởi, hét dựng :
- Tại sao mầy dám đem đến cho tao những thứ thổ tả đó?
Sambo đứng yên, miệng há to, lặng im sửng sốt.
- Đừng bao giờ đem đến cho tao cái thứ quỷ này nữa!
Gã vừa la tiếp vừa đưa nắm tay ra dọa Sambo, trong khi tên này nhanh chân lỉnh mất dạng; gã liền ném tiếp đồng đô-la qua cửa sổ.
Sambo cảm thấy nhẹ nhõm sau khi ra khỏi phòng và đến lúc tên này bỏ đi xa, Legree mới thấy xấu hổ về cơn sợ hãi quá trớn của gã lúc nãy. Gã ngồi xuống ghế với dáng điệu của một con chó săn trong cơn giận dữ, rồi bắt đầu nốc rượu, không nói một tiếng nào nữa.
Legree mắc chứng bệnh gì vậy? Và trong cái lọn tóc vàng óng vô hại đó có gì ghê gớm đến nỗi khiến một tên đã quá quen thuộc với những hình thức tàn bạo như gã mà lại khiếp sợ đến thế?
Để trả lời câu hỏi này, ta phải trở lại những ngày thơ ấu của gã.
* * * * *
Dù giờ đây gã là một con người thật cứng rắn, thật bạo ngược, thật tàn nhẫn, song trước kia gã cũng như mọi người có một thời nằm trong lòng mẹ...
Người ta đã từng lẩm bẩm cầu kinh và hát Thánh ca ở đầu giường gã; vầng trán chai đá, sừng sỏ của gã cũng từng được thấm nước Thánh lúc rửa tội. Trong thời thơ ấu của gã, cứ mỗi sáng chúa nhựt, khi hồi chuông vừa ngân nga, một người đàn bà với mái tóc vàng óng dẫn gã đến giáo đường để xem lễ và cầu nguyện.
Ở thật cách xa đây, trong xứ Nouvelles Angleterre, bà mẹ ấy đã nuôi nấng đứa con trai duy nhất của bà bằng tình thương đậm đà, với những cử chỉ săn sóc trìu mến.
Song mang giòng máu của người đàn ông có trái tim cứng rắn, lòng yêu thương của bà mẹ phúc hậu này không đủ sức cầm giữ gã, gã đã bước theo dấu vết của người cha. Bản tính thích huyên náo, phóng đãng, hung bạo, gã xem thường những lời khuyên nhủ, bất chấp những câu trách mắng của bà. Gã đã rời bỏ bà mẹ, dầu lúc ấy còn quá trẻ, đi tìm kho tàng ngoài biển khơi.
Gã có trở về nhà lại một lần. Bà mẹ tràn đầy tình cảm lúc nào cũng muốn có một người để thương yêu, săn sóc đã níu chặt lấy gã và cố gắng khuyên răn, nài nỉ, cứu gã ra khỏi cái đời sống đầy tội lỗi ấy, nhưng không được bao lâu.
Đối với Legree, đấy là những chuỗi ngày đầy ân sủng!
Các thiên thần đầy tốt lành đã gọi gã trở về lại với họ. Gã hầu như muốn đến với họ, ơn cứu rỗi sắp vào tay gã.
Nhưng gã cưỡng lại như có một sự tranh đấu trong gã. Tội ác đã thắng, và gã tận dụng tất cả sức lực, bản chất hung dữ của gã để trấn áp những cắn rứt của lương tâm.
Gã uống rượu, gã chửi thề không ngớt, gã càng ngày càng trở nên táng tận lương tâm.
Một đêm kia, như một tia sáng cuối cùng lóe lên giữa nỗi tuyệt vọng, bà mẹ sụp quỳ dưới chân gã: nhưng gã đá bà té văng ra, gã để bà nằm bất tỉnh trên nền đất rồi bỏ lên tàu.
Lần cuối cùng mà Legree nghe nói về mẹ gã, đó là vào một đêm chè chén say sưa, gã ngồi giữa đám bạn trụy lạc của gã, có kẻ dúi vào tay gã một lá thư.
Gã mở ra: một lọn tóc dài rơi trên tay gã, nó quấn quít quanh những ngón tay gã y như lọn tóc trong mình tên nô lệ da đen.
(Lá thư viết là mẹ gã sắp chết, trước khi chết, bà đã tha thứ và chúc lành cho gã).
Tội ác với bản chất tối tăm và xấu xa như có quyền lực bí mật khiến kẻ có tội phải kinh hoàng và sợ hãi cho dù đang cầm trong tay mình một món đồ vật đẹp đẽ và cao quý nhất. Người mẹ đáng thương thật phúc hậu, với những câu kinh cuối cùng, với tình yêu cao cả đã tha thứ gã, nhưng đối với con tim của tên quỷ sứ lại biến thành một phán quyết kết tội và đày đọa gã. Thái độ này của bà khiến gã liên tưởng đến giờ phán xét hãi hùng và nghiêm minh của Thiên Chúa! Legree nổi lửa đốt lá thư, đốt luôn lọn tóc.
Khi gã thấy chúng uốn éo và thành tro trong ngọn lửa, gã rùng mình liên tưởng đến ngọn lửa trong hỏa ngục. Vì vậy, gã muốn say sưa, để tâm trí được giải khuây và khỏi bị ám ảnh bởi cái kỷ niệm phiền phức này.
Tuy nhiên đôi khi giữa canh khuya, lúc mà sự im lăng trang nghiêm của đêm dài ép buộc lý trí của kẻ ác trở về với chính hắn, gã như thấy ẩn hiện hình ảnh người mẹ, mặt mày tái mét đứng sừng sững ngay đầu giường gã, rồi quanh những ngón tay gã thấy như có nhũng sợi tóc quấn quít, thế là mồ hôi lạnh toát ra trên khuôn mặt gã, gã bật dậy phóng ra khỏi phòng, đầy kinh hãi.
* * * * *
Những giọt mồ hôi đọng lại trên trán Legree, cơn khiếp hãi khiến con tim gã đập thình thịch. Gã có cảm tưởng như thấy một bóng trắng ẩn hiện và di động trước mặt gã trong phòng, gã rùng mình khi chợt nghĩ có thể đấy là hình bóng của mẹ mình.
Gã tự trấn an :
- Nào! Đấy chỉ là ảo ảnh thôi, lúc này, nên để tên ấy yên. Mình có sợ mấy thứ mắc dịch này không? Mình có cảm tưởng như bị bùa phép mê hoặc... Dám lắm! Từ hôm ấy trở đi, mình hay bị rùng mình và đổ mồ hôi... Không hiểu làm sao mà tên ấy có cái lọn tóc này? Không có lẽ là lọn tóc của...? Ồ! Không! Mình đã đốt thành tro rồi mà? Chắc chắn là mình đã đốt rồi mà... thật là kinh dị nếu những sợi tóc có thể tự chúng rời khỏi đầu của người chết! Nào! Ta phải kêu Sambo và Quinbo đến để nghe chúng ca hát và nhìn chúng múa những điệu vũ điên cuồng của nòi giống chúng... May ra chúng có thể giúp ta quên được những ý tưởng khủng khiếp này.
Gã đội mũ lên, bước ra hành lang và rung một hồi chuông để gọi hai tên da đen thân tín.
Khi gặp chuyện buồn phiền, Legree vẫn thường dễ dãi cho phép hai tên hèn hạ này vào trong phòng khách và sau khi đã đốt nóng bụng chúng bằng vài ly Whisky, gã bắt chúng múa, hát, hay đánh lộn, vật lộn, tùy theo ý thích nhất thời của gã.
Lúc ấy cỡ một hai giờ sáng. Cassy, sau khi đã chăm sóc bác Tom đáng thương, trên đường về lều, nghe những tiếng la hét, những tiếng hú, những tiếng nện chân thình thịch cúa đám chủ tớ, hòa lẫn với tiếng sủa của bầy chó. Tất cả tạo thành một thứ âm thanh man rợ quái dị của cuộc lễ ở Âm ty.
Bà đến gần và nhìn vào.
Legree và hai tên giám thị, trong tình trạng say sưa dữ dội, ca hát, gào hú, xô đẩy bàn ghế và hết tên này đến tên khác làm những cử chỉ thật quái đản, lố lăng.
Cassy tựa cánh tay bé nhỏ trên thành cửa sổ... Ta có thể đọc được trong ánh mắt bà những nét lo lắng, giận dữ và khinh bỉ, bà tự hỏi :
- Cứu mọi người ở đây thoát khỏi tay bọn khốn khiếp này phải chăng là một tội?
Legree, mê mệt vì say sưa, nằm dài ra ngủ ngay tại phòng khách.
Lúc thức dậy, gã muốn đến gặp riêng Tom mà không ai có mặt cả. Gã muốn, nếu không thành công trong việc khuyến dụ được Tom bằng những lời đe dọa, gã sẽ hoãn trả thù và đợi dịp khác.
Những tia nắng rực rỡ của buổi bình minh chiếu rọi vào nơi trú ngụ khiêm tốn của tên nô lệ. Những tia nắng dịu dàng này, với vẻ rạng rỡ của một ngày sắp bắt đầu như đem xuống cho bác Tom ý nghĩ bác là hậu duệ của David, là sao hôm rực rỡ. Những lời cảnh cáo và khuyên nhủ của Cassy không làm mềm lòng bác. Trái lại, tâm hồn bác như vươn lên cao theo tiếng gọi phát xuất từ cõi thiêng liêng.
Bắc nghĩ có lẽ cái ngày sắp đến đây là ngày cuối cùng của đời bác, tim bác như rộn rã đập trước niềm xúc động cao cả này, trước nỗi hạnh phúc hằng mong đợi này. Bác nghĩ là có thể tất cả những gì huyền nhiệm mà bác luôn mơ tưởng, cái ngai vàng rực rỡ sáng chói, bao quanh là những cầu vồng đủ màu sắc, đám thiên thần bé nhỏ vận toàn trắng với giọng nói dịu dàng như tiếng reo của suối, với vương miện, với vòng hoa, với những cây đàn thụ cầm bằng vàng, tất cả những thứ này cuối cùng sẽ xuất hiện dưới mắt bác trước khi ngày tàn.
Nhờ vậy, không chút lo sợ khi bác nghe thấy tiếng bước chân và giọng nói cùa tên đao phủ. Legree lên tiếng, trong lúc bàn chân không chút xót thương đá vào người bác.
- Ê, thằng kia! Mày thấy thế nào? Tao đã nói với mày là tao sẽ dạy cho mày biết một vài điều mới lạ. Mày thấy điều ấy chưa? Hở? Bài học này có làm mày thấm thía chưa? Mày còn tỏ ra cứng đầu nữa không? Mày có còn ý định hoán cải tội lỗi của chủ mày băng bài giảng nào nữa không?
Tom lặng im không trả lời.
- Nào! Đứng dậy coi, tên súc sinh!
Legree vừa ra lệnh vừa đá thêm cho bác một cú nữa.
Đứng dậy, đó là điều khó khăn đối với một kẻ mà thân xác đã mềm nhũn và rã rời như Tom. Tom cố gắng một cách khó nhọc. Legree bật lên một tràng cười thô bạo.
- Sáng nay sao mày có vẻ xìu quá vậy Tom? Hình như tối qua mày bị cảm lạnh hẳn?
Dầu vậy, Tom cũng gượng bò dậy rồi bác đứng thẳng người đối diện với ông chủ, vầng trán bình thản và sáng sủa.
- Quỷ thần ơil Mày còn đứng nổi à? Này! Tao thấy hình như trận đòn chưa thấm tháp chi đối với mày. Nào, Tom, bây giờ quỳ xuống và xin lỗi tao về thái độ hỗn láo vừa qua.
Tom vẫn đứng yên.
- Quỳ xuồng, thằng chó!
Legree vừa quát vừa quất Tom một roi.
- Thưa ông Legree - Tom trả lời - tôi không thể làm vậy! Tôi chỉ làm những gì tôi xét thấy đúng; tôi sẽ làm như thế này mãi mãi. Tôi sẽ không bao giờ chịu làm điều chi xấu xa cả... cho dù hậu quả có như thế nào đi nữa!
- Á! Ấy là chỉ vì ông chưa biết rõ hậu quả đó thôi, ông chủ Tom! Ông tưởng trận đòn đó là ghê gớm lắm rồi đấy hả? Lầm! Chưa đâu! Chỉ mới là cảnh cáo thôi... Ông có nghĩ đến cảnh ông bị cột vào một gốc cây và người ta nổi lửa đốt xung quanh ông không? Chắc sẽ thú vị lắm, Tom hở?
- Thưa, tôi biết là ông chủ dám làm những chuyện tày trời, nhưng...
Bác đứng ngay người, chắp tay lại, tiếp :
- Nhưng, ông chủ chỉ có thể giết chết thể xác tôi là cùng, ông chủ không thể làm gì hơn và sau cái chết, tôi còn có cõi sống đời đời.
Cõi sống đời đời! Chỉ cần bốn chữ này thôi cũng đủ khiến tên nô lệ đáng thương thêm sức lực, hy vọng... và khiến tên vô lương đau nhói ở tim như vừa bị vết chích của loài bò cạp. Legree nghiến chặt hai hàm răng, nhưng chính cơn giận dữ khiến gã như nghẹn lời; và Tom như một con người vừa thoát khỏi sự kềm kẹp, nói với giọng rõ ràng, trầm tĩnh :
- Thưa ông Legree, ông đã mua tôi, tôi sẽ là một tên nô lệ tốt và trung tín của ông. Tôi sẽ cố phục vụ ông với đôi cánh tay tôi, với tất cả đời sống tôi, với tất cả sức lực tôi. Nhưng còn linh hồn tôi, tôi không thể trao nó vào tay một người phàm tục, tôi giữ gìn nó để trao cho Thiên Chúa: những giới răn của Ngài, tôi đặt trên tất cả, trên cả sự sống, trên cả cái chết. Ông có thể tin chắc như vậy, thưa ông Legree, tôi không chút mảy may sợ chết. Tôi đang sẵn sàng chờ nó đến bất cứ lúc nào! Ông có thể đánh đập tôi, bỏ đói tôi, thiêu đốt tôi... những thứ này sẽ mau đưa tôi đi đến nơi tôi hằng mong ước được đến!
- Mày sẽ phải khuất phục trước tao!
Legree giận dữ quát.
- Ông sẽ phải thất bại, có kẻ giúp tôi chiến thắng!
- Tên quỷ sứ nào giúp mày vậy hả, Tom?
- Thiên Chúa, đấng tối cao.
- Đồ khốn nạn!
Chỉ với một cú đấm, Legree làm Tom ngã chúi.
- Liệu hồn mày - Gã nói với Tom - hiện thời tao tạm để mày yên bởi vì đang lúc được mùa và tao cần nhân công; nhưng tao sẽ không bao giờ quên những gì mày vừa nói. Tao sẽ ghi nhớ tất cả những thứ ấy như một món nợ, và mày sẽ trả tao bằng tấm da đen đúa già cả của mày! Hãy nhớ lấy đó, Tom!
Nói xong, gã bỏ đi ra.

0
«« « 1 2 » »»