📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chuỗi án mạng A.B.C - Agatha Christie 🔒

37 trả lời, 659 lượt xem — Trang 2 / 2
Hai mươi chín
Ở Scotland Yards
 
Lại họp hành.
Phó đội trưởng điều tra tội phạm, thanh tra Crome, Poirot và tôi.
Phó cảnh sát trưởng nói:
“Ông Poirot ạ, đề nghị kiểm tra những chỗ kinh doanh bít tất trên diện rộng của ông rất là hay đấy”.
Poirot chìa tay ra.
“Có dấu hiệu nhận biết mà. Người đàn ông này không thể là nhân viên kinh doanh chính thức của công ty được. Ông ta bán trực tiếp chứ không phải qua đặt hàng”.
“Mọi thứ đã rõ ràng cả chưa, thanh tra?”
Crome xem hồ sơ rồi nói: “Rồi, thưa ông. Tôi xin báo cáo sơ qua tình hình cho đến hôm nay”.
“Vâng, xin mời anh”.
“Tôi vừa kiểm tra với Churston, Paignton và Torquay và lấy được danh sách những người mà ông ta đến chào bán bít tất. Tôi phải công nhận ông ta làm mọi thứ đâu vào đấy. Ông ta ở Pitt, một khách sạn nhỏ gần ga Torre. Quay lại khách sạn lúc 10 giờ 30 vào cái đêm cùng ngày diễn ra vụ án mạng. Có thể ông ta đã bắt chuyến tàu lúc 9 giờ 57 ở Churston, đến Torre lúc 10 giờ 20. Không ai nhận diện được ông ta ở trên tàu cũng như ở sân ga. Hôm thứ Sáu là hội đua thuyền Dartmouth nên tàu từ Kingswear về khá đông khách.
Bexhill cũng gần như thế. Ông ta ở khách sạn Globe và lấy tên chính mình để đăng ký nhận phòng. Chào bán bít tất cho khoảng chục địa chỉ bao gồm cả nhà bà Barnard và quán Ginger Cat. Rời khách sạn vào buổi chiều tối. Trở lại Luân Đôn chừng 11 giờ 30 sáng hôm sau. Đối với Andover thì trình tự cũng như thế. Nghỉ lại khách sạn Feathers. Chào bán bít tất cho bà Ascher và chừng sáu bảy người khác ở đường đó. Đôi bít tất mà bà Ascher được cô cháu gái (có họ là Drower) tặng cũng được xác nhận là do ông Cust bán”.
Phó đội trưởng nhận xét: “Vậy là tốt rồi”.
Thanh tra tiếp: “Dựa vào thông tin nhận được, tôi đến căn nhà mà Hartigan cho địa chỉ nhưng ông Cust đã rời đi chừng nửa tiếng. Tôi nghe bảo trước đó ông nhận được một cuộc điện thoại. Bà chủ nhà cho hay đó là lần đầu tiên ông có người gọi điện”.
Phó đội trưởng hỏi: “Ông ta có tòng phạm à?”
Poirot nói: “Không có đâu. Thế thì kỳ lạ quá... trừ phi...”
Vì ông bỏ lửng câu nói nên ai cũng nhìn ông vẻ dò hỏi. Tuy nhiên, ông chỉ lắc đầu nên thanh tra Crome nói tiếp.
“Tôi đã lục soát rất kỹ phòng trọ của ông ta. Việc tìm kiếm đó càng khiến nghi ngờ của chúng ta có cơ sở hơn. Tôi tìm được một tập giấy giống với loại giấy của mấy lá thư chúng ta nhận được, có một số lượng bít tất lớn và đằng sau tủ đựng bít tất là một cái hộp có cùng hình dạng và kích cỡ với mấy thùng đựng bít tất nhưng hóa ra bên trong không phải đựng bít tất mà là tám quyển thông tin đường sắt A B C!”
Phó đội trưởng bảo: “Chứng cứ khả quan đấy”.
“Tôi còn tìm thêm được thứ khác nữa”, thanh tra Crome nói giọng đột nhiên tràn ngập vẻ đắc thắng. “Chỉ mới tìm ra sáng nay thôi, thưa ông. Tôi chưa có thời gian để làm báo cáo ạ. Không tìm thấy con dao đó trong phòng của ông ta...”
Poirot nhận xét: “Họa là ngu mới đem nó về”.
“Xét cho cùng ông ta không phải người đầu óc minh mẫn”, thanh tra nhận xét. “Dù sao, lúc đó tôi nghĩ có thể ông ta đã mang nó về nhà và rồi nhận ra rằng giấu nó trong phòng thì nguy hiểm quá (như ông Poirot đã đề cập) nên ông ta tìm chỗ khác. Thế thì chọn nơi nào trong nhà đây? Tôi tìm ra ngay lập tức. Giá treo mũ và áo - không ai đụng đến chỗ đó cả. Phải vất vả lắm tôi mới nhờ người kéo được cái giá ra... và đúng là nó nằm ở đó!”
“Con dao à?”
“Đúng là con dao. Không còn nghi ngờ gì nữa. Vết máu khô vẫn còn bám trên đó”.
Phó đội trưởng khen vẻ hài lòng: “Làm tốt lắm, Crome ạ. Bây giờ chúng ta chỉ cần thêm một thứ nữa”.
“Thư gì ạ?”
“Người đàn ông đó chứ gì nữa”.
“Chúng ta sẽ tóm được hắn, thưa ông. Xin ông đừng lo”.
Thanh tra nói vẻ tự tin.
“Ông thấy sao, ông Poirot?”
Poirot như người vừa tỉnh mộng.
“Ông nói gì cơ?”
“Chúng tôi đang nói chuyện bắt hắn ta chỉ là vấn đề thời gian. Ông thấy sao?”
“Ồ, chuyện đó à... vâng. Chắc chắn rồi”.
Ông trả lời lơ đãng đến độ mấy người kia nhìn ông vẻ tò mò.
“Có gì khiến ông lo lắng sao, ông Poirot?”
“Điều khiến tôi rất lo lắng. Đó là tại sao? Động cơ gây án”.
Phó đội trưởng sốt ruột trả lời: “Nhưng anh bạn thân mến ơi, tên đó bị điên mà”.
“Tôi hiểu ý ông Poirot”, Crome nói, tử tế giải vây. “Ông ấy có lý đấy. Hẳn phải là do một ám ảnh nào đó. Tôi nghĩ chúng ta sẽ tìm ra căn nguyên vấn đề từ mặc cảm thua kém quá lớn của hắn ta. Cũng có thể do chứng sợ bạo hành và nếu thế hắn ta hẳn có liên quan tới ông Poirot. Có thể hắn có ảo tưởng ông Poirot là thám tử được thuê để rình bắt hắn”.
Phó đội trưởng nói: “Hừm. Đó là thuật ngữ thời thượng bây giờ. Ở thời tôi, nếu một người đàn ông bị điên thì là hắn bị điên thôi chứ chúng tôi không đi tìm mấy cái thuật ngữ khoa học để giảm nhẹ nghĩa của nó. Tôi nghĩ một ông bác sĩ thời nay sẽ đề nghị đưa người như A B C vào bệnh viện và 45 ngày liên tục chỉ nhắc đi nhắc lại với hắn ta rằng hắn là một người tốt rồi thả cho hắn về như thể hắn là một công dân có trách nhiệm của xã hội”.
Poirot chỉ mỉm cười không nói gì.
Cuộc họp giải tán.
Phó đội trưởng nói: “Ờ, Crome này, theo như anh nói, bắt hắn ta chỉ là vấn đề thời gian nhỉ”.
Thanh tra đáp: “Đáng lẽ chúng ta đã tóm hắn lâu rồi nếu trông hắn khác người bình thường. Chúng ta đã làm cho những người dân thường lo lắng”.
“Tôi đang nghĩ không biết giờ này hắn đang ở đâu”, phó đội trưởng nói.

0
Ba mươi
Không phải lời kể của đại úy Hastings
 
Ông Cust đứng bên cửa hàng bán rau củ.
Ông nhìn chằm chằm về phía bên kia đường.
Ừ, đúng là nó.
Bà Ascher. Người bán báo và thuốc lá...
Trên cửa sổ trống hoác là một tấm biển.
Cho thuê phòng.
Trống rỗng...
Thiếu sức sống...
“Ông gì ơi”.
Bà vợ ông chủ cửa hàng rau quả với lấy mấy quả chanh.
Ông xin lỗi rồi đứng dịch qua một bên.
Ông chậm rãi lê bước quay lại con đường chính của thị trấn...
Thật là khó... khó quá... bây giờ ông chẳng còn một xu dính túi.
Cả ngày không có gì vào bụng khiến ông cảm thấy rất khó chịu và choáng váng...
Ông nhìn lên tấm biển bên ngoài quầy báo.
Vụ án A B C. Kẻ giết người vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Các cuộc phỏng vấn với thám tử Hercule Poirot.
Ông Cust nói một mình:
“Hercule Poirot. Không biết ông ta có biết...”
Ông tiếp tục bước đi.
Đứng nhìn chằm chằm vào cái biển đó cũng chẳng ích gì...
Ông nghĩ:
“Mình không đi nổi nữa...”
Lê từng bước một... bước đi thật là kỳ cục...
Từng bước từng bước một - kỳ quặc thật.
Kỳ quặc hết sức...
Nhưng dù sao con người cũng là loài động vật kỳ quặc mà...
Và ông ta, Alexander Bonaparte Cust, là người đặc biệt kỳ quặc.
Lâu nay ông vẫn thế...
Người ta lúc nào cũng chế nhạo ông...
Ông chẳng trách họ được...
Ông đang đi đâu đây? Ông chẳng biết. Ông sắp đến ngõ cụt rồi. Giờ ông chẳng nhìn đâu nữa ngoại trừ đôi chân mình.
Từng bước một.
Ông nhìn lên. Có ánh đèn phía trước. Và những con chữ...
Đồn Cảnh sát.
Ông Cust nói: “Kỳ quá”. Rồi ông cười rúc rích.
Rồi ông bước vào. Đột nhiên, khi ông bước vào, ông đi xiêu vẹo và ngã nhào về phía trước.

0
Ba mươi mốt
Hercule Poirot đặt câu hỏi
 
Đó là một ngày tháng 11 trong xanh. Bác sĩ Thompson và trưởng thanh tra Japp đến nhà báo cho Poirot biết kết quả thủ tục kiện ra tòa án hình sự vụ Alexander Bonaparte Cust.
Poirot bị viêm phổi nhẹ nên không tham dự buổi đó. May là ông không nhất mực muốn tôi ở bên cạnh ông.
“Vụ án đã được đệ lên tòa để xét xử”, Japp nói. “Vậy là đâu vào đấy rồi”.
“Không có gì bất thường nếu được biện hộ ở giai đoạn này chứ?” tôi hỏi. “Tưởng tù nhân luôn có quyền được biện hộ”.
“Theo thông lệ là thế”, Japp đáp. “Tôi nghĩ anh chàng Lucas muốn xử vụ này càng sớm càng tốt. Anh ta là người xét xử mà. Bệnh tâm thần là biện hộ duy nhất”.
Poirot so vai.
“Dù là bệnh tâm thần cũng không được xử trắng án đâu. Lĩnh án ở tù vô hạn cũng chẳng thua gì án tử hình cả”.
“Hình như Lucas thấy có một cơ hội đấy”, Japp nói. “Với chứng cứ ngoại phạm tốt nhất ở vụ Bexhill, toàn bộ vụ án sẽ nhẹ đi. Tôi nghĩ anh ta không biết vụ án này nghiêm trọng đến mức nào đâu. Dù sao, Lucas vẫn sẽ làm theo nguyên tắc. Anh ta còn trẻ và muốn gây ấn tượng với công chúng”.
Poirot quay sang Thompson.
“Ông nghĩ sao, bác sĩ?”
“Về Cust à? Nói thiệt là tôi chẳng biết nói gÌ. Ông ta đóng vai người bình thường giỏi quá. Dĩ nhiên là ông ta bị động kinh”.
“Đoạn kết hay quá trời luôn”, tôi nói.
“Lúc ông ta ngất đi ở đồn cảnh sát Andover á? Ờ, đúng là một hạ màn đầy kịch tính. A B C lúc nào cũng canh thời điểm quá chuẩn”.
“Có lúc nào người ta phạm tội mà không biết mình đã làm không?” Tôi hỏi. “Sự phủ nhận của ông ta nghe có vẻ rất thật”.
Bác sĩ Thompson hơi mỉm cười.
“Ông đừng có tin vào cái luận điệu đóng kịch ‘Tôi thề có trời đất’ đó. Theo tôi thì thằng cha Cust đó biết rất rõ mình đã gây ra các vụ án mạng”.
“Họ lúc nào cũng hùng hồn thế đấy”, Crome lên tiếng.
Đến lượt bác sĩ Thompson, ông nói: “Về câu hỏi của ông, người bị động kinh hoàn toàn có thể hành động ở trong trạng thái mộng du và hoàn toàn không biết mình đã làm gì. Nhưng thông thường thì hành động đó phải không ‘trái ngược với ý muốn của người đó khi họ tỉnh táo’.”
Rồi ông bác sĩ cứ tiếp tục nói về vấn đề này và nhắc tới chứng động kinh nặng và chứng động kinh nhẹ, và thú thật là những thuật ngữ đó khiến tôi hoàn toàn khó hiểu nhất là khi người có chuyên môn cứ huyên thuyên nói mãi.
“Tuy vậy, tôi phản đối giả thiết ông Cust gây ra những vụ này mà không hề hay biết. Giả thiết ấy có thể xét tới nếu không có những bức thư đó. Những bức thư đã bác bỏ cái lý thuyết kia vì chúng là minh chứng của việc lập mun và lên kế hoạch cặn kẽ cho hành vi phạm tội”.
“Nhưng rồi chúng ta cũng chưa biết giải thích thế nào về những bức thư mà”, Poirot lên tiếng.
“Điều đó khiến ông quan tâm à?”
“Đương nhiên rồi - vì người ta viết cho tôi mà. Và nói về mấy lá thư đó, Cust khăng khăng không biết. Đến chừng nào tôi chưa tìm ra được lý do vì sao người ta viết những bức thư đó cho tôi thì tôi cho là vụ án này vẫn chưa xử lý xong”.
“Vâng - tôi hiểu ý ông rồi. Chẳng có lý do gì ông ta muốn chống lại ông cả đúng không?”
“Đúng thế”.
“Tôi có ý này. Chắc là do cái tên của ông!”
“Tên của tôi ư?”
“Đúng thế. Rõ ràng Cust mang trên mình một gánh nặng áp lực từ người mẹ (tôi chắc là hội chứng Oedipus) khi bà đặt cho ông ta cái tên kép nghe rất kiêu: Alexander và Bonaparte. Các ông có để ý ý nghĩa của cái tên không? Người ta cho Alexander là bất bại và luôn khao khát đi chinh phục thế giới. Bonaparte là đại đế nước Pháp. Ông ta muốn có đối thủ mà kẻ đó phải cùng đẳng cấp với mình. Ờ, mà ông lại là chàng Hercules dũng mãnh đấy”.
“Ý của ông rất hay, bác sĩ ạ. Nó khiến tôi nghĩ đến...”
“Ôi, tôi chỉ nêu ra một ý thế thôi. Ờ, tôi phải đi đây”.
Bác sĩ Thompson đi rồi. Japp còn nán lại.
“Chứng cứ ngoại phạm này làm ông lo lắng à?” Poirot hỏi.
Thanh tra công nhận: “Cũng có đôi chút. Nói thật tôi không tin lắm bởi vì tôi biết đó không phải là sự thật. Nhưng rất khó phá. Cái gã Strange này đúng là một nhân vật khó chơi”.
“Ông miêu tả anh ta cho tôi nghe đi”.
“Anh ta chừng 40 tuổi. Kỹ sư ngành mỏ. Cứng đầu, tự tin và bảo thủ. Tôi có cảm giác anh ta cứ đòi chúng ta phải xét lời khai của anh ta ngay lập tức. Anh ta vội đi Chilê nên muốn thu xếp xong xuôi mọi việc ngay lập tức”.
Tôi nhận xét: “Anh ta là một trong những người quyết đoán nhất mà tôi từng gặp đấy”.
Poirot nói vẻ trầm ngâm: “Anh ta là loại người không chấp nhận rằng mình có thể sai sót”.
“Anh ta khăng khăng kể câu chuyện đó và không muốn ai chen ngang cả. Anh ta thề rằng anh ta tình cờ quen ông Cust tại khách sạn Whitecross ở Eastbourne vào chiều tối ngày 24 tháng 7. Anh ta thấy cô đơn và cần người trò chuyện. Tôi thấy Cust có vẻ là người rất biết lắng nghe người khác, ông ta không hề ngắt lời ai! Sau bữa ăn tối, anh ta và Cust chơi trò domino. Có vẻ Strange là một tay chơi domino rất cừ và anh ta rất ngạc nhiên khi biết Cust cũng chơi hay không kém. Domino đúng là trò chơi kỳ quặc. Người ta cuồng trò này quá trời. Họ có thể chơi hàng giờ đồng hồ liền. Rõ ràng Strange và Cust cũng thế. Cust muốn đi ngủ rồi mà Strange không chịu và đòi chơi ít nhất là cho tới nửa đêm. Và họ đã làm thế. Họ chia tay lúc 0 giờ 10 phút sáng. Và nếu Cust ở khách sạn Whitecross ở Eastbourne cho đến 0 giờ 10 phút sáng ngày 25 thì ông ta không thể thắt cổ Betty Barnard trên bãi biển ở Bexhill trong khoảng từ nửa đêm đến 1 giờ sáng được”.
Poirot nhận xét vẻ nghĩ ngợi: “Vấn đề này khó giải quyết thật. Rõ ràng, nó khiến người ta phải suy nghĩ”.
“Đó là điều Crome phải suy xét đấy”, Japp nói.
“Gã Strange này quả quyết lắm à?”
“Đúng thế. Gã rất ngoan cố. Và khó mà phát hiện ra có sơ hở ở chỗ nào. Giả sử Strange nhầm lẫn và người đàn ông mà anh ta gặp không phải là Cust - tại sao ông ta phải nói ra tên ông ta là Cust chứ? Và chữ viết trong sổ đăng ký lưu trú khách sạn cũng là của ông ta. Không thể cho rằng anh ta là tòng phạm - những kẻ cuồng sát thường không có tòng phạm! Thế có phải cô gái sau đó mới chết không? Bác sĩ rất chắc chắn về chứng cứ của mình và dù sao ông Cust phải mất khá nhiều thời gian mới từ khách sạn ở Eastbourne đến được Bexhill cách đó chừng 14 dặm mà không bị phát hiện...”
Poirot nói: “Vấn đề là ở chỗ đó... đúng thế”.
“Đương nhiên, thẳng thắn mà nói thì đó không phải là vấn đề. Chúng ta quy cho Cust tội giết người ở vụ Doncaster - cái áo khoác có dính máu, con dao - không hề có một sơ hở nào ở vụ đó. Chúng ta không thể ép hội đồng xét xử xử trắng án cho ông ta được. Nhưng chứng cứ đó quả thật đã làm cho vụ án không trọn vẹn. Ông ta gây ra vụ án mạng ở Doncaster. Ở Chuston. Ở Andover. Thế thì, trời ạ, ông ta hẳn phải là thủ phạm của vụ Bexhill chứ. Nhưng tôi chưa biết bằng cách nào!”
Japp lắc đầu rồi đứng dậy.
“Bây giờ đến lượt ông đó, Poirot”, ông nói. “Crome đang rối như tơ vò rồi. Ông hãy vận dụng khối chất xám nổi tiếng của ông đi. Chỉ cho chúng tôi biết bằng cách nào ông ta thực hiện được vụ án đó”.
Nói rồi Japp ra về.
“Giờ thì làm sao hả Poirot? Tôi hỏi. “Mấy cái tế bào chất xám nhỏ nhoi của ông có làm gì được vụ này không?”
Poirot trả lời câu hỏi của tôi bằng câu hỏi khác.
“Hastings, nói cho tôi biết ông có nghĩ liệu có phải vụ án này đã kết thúc?”
“À, vâng, trên lý thuyết là thế. Chúng ta đã bắt được hung thủ. Và chúng ta hầu như có đầy đủ các chứng cứ rồi. Chỉ cần mấy chi tiết phụ nữa là xong”.
Poirot lắc đầu.
“Vụ án đã kết thúc! Vụ án đó! Vụ án là chính hung thủ, Hastings à. Chừng nào chúng ta hiểu hết hung thủ thì chừng đó bí ẩn mới hé lộ. Không phải cứ đưa hắn ra trước vành móng ngựa là chiến thắng đâu!”
“Chúng ta biết khá nhiều về hắn rồi đó chứ”.
“Chúng ta có biết gì nhiều đâu! Chúng ta biết hắn ta sinh ra ở đâu. Chúng ta biết hắn ta đã từng ra trận và bị thương nhẹ ở đầu và rồi được giải ngũ vì bị bệnh động kinh. Chúng ta biết hắn thuê trọ ở nhà bà Marbury gần hai năm rồi. Chúng ta biết hắn ta ít nói và nhút nhát - kiểu người mà ít ai để ý. Chúng ta biết hắn đã nghĩ ra và tiến hành những âm mưu gây án rất tinh khôn và gọn gàng. Chúng ta biết hắn mắc những sai lầm cực kỳ ngớ ngẩn. Chúng ta biết hắn ra tay không thương tiếc và rất tàn nhẫn. Chúng ta biết hắn cũng khá tốt bụng khi không để cho những người khác phải bị vạ lây vì những vụ án mà hắn ra tay. Nếu hắn muốn giết người mà không bị cản trở thì việc để cho người khác phải bị trừng phạt vì tội của hắn dễ như trở bàn tay. Tên này là một con người đầy mâu thuẫn, ông có nhận ra điều đó không, Hastings? Ngu ngốc và láu cá, tàn nhẫn và cao thượng - và phải có một yếu tố nổi trội nào đó hòa hợp hai phẩm chất trái ngược đó chứ”.
Tôi đáp: “Đương nhiên là thế nếu ông xem hắn như một đối tượng nghiên cứu tâm lý học”.
“Vụ án này ngay từ đầu đã có thêm yếu tố nào nữa nhỉ? Ngay từ đầu đến giờ tôi phải mò mẫm tìm đường để mong hiểu được tên giết người này. Và giờ đây tôi nhận ra rằng tôi chẳng biết gì về hắn ta cả, Hastings à! Tôi hoang mang quá”.
“Khao khát quyền lực...” tôi gợi.
“Ừ, điều đó cũng giải thích được nhiều khúc mắc lắm... Nhưng tôi chưa thấy thỏa mãn. Có nhiều điều tôi cần phải biết. Tại sao hắn ra tay mấy vụ này? Tại sao hắn chọn những người đó...?”
“Chọn theo bảng chữ cái mà...” tôi đáp.
“Betty Barnard có phải là người duy nhất ở Bexhill có họ là Barnard đâu? Betty Barnard... Tôi có một ý tưởng... Nó phải là sự thật... nó phải là sự thật. Nhưng nếu thế thì...”
Ông im lặng vài giây. Tôi không muốn ngắt lời ông. Thật ra tôi nghĩ lúc đó mình bắt đầu bị cơn buồn ngủ kéo đi.
Poirot lắc vai gọi tôi dậy.
Ông nói, giọng trìu mến: “Mon cher Hastings, [1] ông đúng là thiên tài”.
Tôi thấy hơi bối rối khi đột nhiên được quý mến quá như thế.
“Thật mà,” Poirot khẳng định, “ông luôn luôn giúp tôi, đem may mắn đến cho tôi. Ông khiến tôi phải nghĩ đến điều mà tôi bỏ quên đấy”.
Tôi hỏi: “Lần này tôi đã làm gì khiến ông nghĩ thế?”
“Khi tôi đang tự đặt câu hỏi cho mình tôi nhớ lại lời nhận xét của ông - nó lóe lên một hình ảnh thật rõ ràng. Tôi chưa nói với ông rằng ông có tài phát hiện ra những sự thật hiển nhiên. Những thứ hiển nhiên mà tôi lại không để ý”.
“Thế cái nhận xét xuất sắc lần này của tôi là gì?” tôi hỏi.
“Nó làm tôi thấy mọi việc sáng rõ hơn. Tôi tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi của mình. Đó là tìm được nguyên nhân của vụ bà Ascher (sự thật thì tôi đã thoáng thấy lâu rồi), của vụ ngài Carmichael Clarke, của vụ Doncaster và cuối cùng cũng là quan trọng nhất, đó là nguyên nhân chọn Hercule Poirot”.
“Ông giải thích rõ hơn xem nào?”
“Không phải lúc này. Trước tiên tôi phải tìm thêm một vài thông tin nữa đã. Tôi chỉ có thể có được thông tin đó từ Đội Đặc nhiệm của chúng ta. Và rồi, rồi thì, khi tôi đã có câu trả lời cho một câu hỏi mấu chốt của mình, tôi sẽ đi gặp A B C. Lúc ấy chúng tôi sẽ mặt đối mặt - A B C và Hercule Poirot - như hai đối thủ”.
“Rồi sau đó thì sao?” Tôi hỏi.
“Rồi sau đó chúng tôi sẽ trò chuyện!” Poirot đáp. “Je vous assure, [2] Hastings ạ, không có gì nguy hiểm bằng một cuộc đối thoại nhất là với người có điều gì cần giấu diếm! Một ông già thông thái người Pháp đã từng nói với tôi rằng lời nói là phát minh con người tìm ra để họ khỏi phải suy nghĩ. Không sai vào đâu được, lời nói còn là phương tiện tìm ra những gì mà người ta muốn giấu đi. Hastings ạ, người ta khó mà không có lúc để lộ suy nghĩ của mình và thể hiện cá tính của mình khi nói chuyện. Càng nói anh ta càng để lộ mình”.
“Ông mong Cust sẽ nói gì với ông?”
Hercule Poirot mỉm cười.
Ông nói: “Một lời nói dối. Và từ lời nói dối đó tôi sẽ tìm ra được sự thật!”
------------------------------------------------
[font="verdana"][size="3"][color="#000099"][1] Ông bạn Hastings thân mến.
[2] Tôi cam đoan với ông.
[/color][/size][/font]
0
Ba mươi hai
Bắt được một con cáo
 
Những ngày sau đó Poirot rất bận rộn. Ông biến mất vẻ bí ẩn và rất ít nói, ông nhăn trán một mình và một mực từ chối thỏa mãn sự tò mò cố hữu của tôi cũng như để tôi thể hiện sự tài giỏi mà có lần ông đã nhắc đến.
Tôi rất bực mình vì không được ông rủ đi cùng trong những chuyến đi về bí ẩn đó.
Tuy nhiên đến gần cuối tuần ông báo cho tôi ý định đi Bexhill và các vùng xung quanh rồi rủ tôi đi cùng. Khỏi phải nói, tôi sốt sắng nhận lời ngay.
Tôi vỡ lẽ ra ông không chỉ mời riêng tôi mà còn mời các thành viên trong Đội Đặc nhiệm nữa.
Poirot cũng khiến họ ngạc nhiên như tôi vậy. Tuy nhiên, vào cuối ngày đó, tôi vẫn chưa biết Poirot đang tính toán đi theo hướng nào.
Đầu tiên ông thăm gia đình ông bà Barnard và đề nghị bà vợ kể lại thời điểm ông Cust đến nhà bà và ông ấy đã nói những gì.
Rồi ông đến khách sạn nơi Cust trọ xin được xem quyến ghi chép về việc trả phòng của ông ta. Theo phán đoán của tôi thì không có thông tin mới nào thêm sau những câu hỏi của ông nhưng ông có vẻ hài lòng lắm.
Tiếp đến ông ra bờ biển nơi thi thể của Betty Barnard được tìm thấy. Ở đó, ông đi lòng vòng vài phút để xem kỹ bãi đá cuội. Tôi chẳng hiểu vì sao phải làm thế vì thủy triều lên khu vực đó ngày hai lần.
Tuy nhiên nhờ lần này mà tôi học được một điều rằng những hành động của Poirot thường bắt nguồn từ một ý tưởng nào đó - tuy chúng có vẻ rất vô nghĩa.
Sau đó, ông đi bộ từ bãi biển đến điểm gần nhất mà xe có thể đỗ được. Từ điểm đó, ông lại đi đến nơi xe buýt đi Eastbourne đợi khách trước khi rời Bexhill.
Cuối cùng, ông đưa tất cả chúng tôi đến quán Ginger Cat. Cô phục vụ béo tròn Milly Higley bưng ra cho chúng tôi mấy tách trà nguội ngắt.
Lúc ở đó, ông khen hình dáng cổ chân của cô với vẻ rất nịnh đầm.
“Cẳng chân của người Anh thường quá mảnh khảnh! Nhưng chân của cô thì hoàn hảo cô gái ạ. Chúng có da có thịt và cổ chân cũng tròn trịa nữa!”
Milly Higley rúc rích cười và bảo ông đừng nói thế. Cô biết các quý ông người Pháp rất hay nịnh đầm.
Poirot chẳng màng đính chính với cô quốc tịch của mình. Cái kiểu ông liếc mắt đưa tình với cô ta khiến tôi hoang mang và suýt choáng váng.
Voilà,” [1] Poirot nói, “tôi đã xong ở Bexhill. Giờ tôi sẽ đi Eastbourne. Tôi muốn điều tra một chút ở đó - thế thôi. Các anh chị không cần phải đi theo tôi. Giờ thì chúng ta hãy về khách sạn và làm một ly cocktail nào. Ly trà Carlton lúc nãy dờ ẹc!”
Trong lúc chúng tôi thưởng thức cocktail, Franklin Clarke tò mò hỏi:
“Tôi nghĩ mọi người ai cũng đoán ông đang muốn tìm kiếm điều gì đúng không nào? Ông phải phá được cái chứng cứ ngoại phạm đó. Nhưng tôi không hiểu điều gì khiến ông hài lòng đến thế. Ông đã tìm được thông tin nào mới đâu”.
“Đúng là chưa có”.
“Ờ, vậy thì sao ạ?”
“Hãy kiên nhẫn. Mọi thứ sẽ đâu vào đấy thôi, chúng ta cần thêm chút thời gian nữa”.
“Dù vậy trông ông vẫn có vẻ hài lòng lắm”.
“Cho đến giờ thì chưa có gì trái với suy tính của tôi cả - đó là lý do tôi hài lòng”.
Vẻ mặt ông trở nên nghiêm nghị.
“Ông bạn Hastings của tôi kể rằng hồi trẻ ông có chơi một trò chơi có tên gọi là Nói Thật. Ở trò chơi này, mỗi người lần lượt được hỏi ba câu hỏi - hai câu trong số đó phải trả lời đúng. Câu thứ ba thì thế nào cũng được. Câu hỏi thường là những câu chợt lóe ra trong đầu. Nhưng trước khi bắt đầu chơi mọi người phải thề rằng sẽ nói thật, và chỉ sự thật mà thôi”.
Ông ngừng nói.
Megan lên tiếng: “Thế thì sao ạ?”
Eh bien, tôi muốn chơi trò đó. Nhưng chúng ta không cần phải hỏi ba câu. Một câu thôi là đủ rồi. Mỗi người một câu”.
Clarke nói vẻ sốt ruột: “Đương nhiên chúng tôi sẽ trả lời bất kỳ câu hỏi nào ạ”.
“A, nhưng tôi muốn trò này nghiêm túc hơn thế. Các anh chị có dám thề rằng mình sẽ nói thật không?”
Ông nghiêm nghị đến độ những người khác đang lúng túng liền trở nên nghiêm túc. Tất cả họ đều thề theo yêu cầu của ông.
Poirot nhanh nhẹn bảo: “Bon. [2] Vậy chúng ta bắt đầu nhé...”
“Tôi đã sẵn sàng”, Thora Grey nói.
“À, thường thì tôi mời phụ nữ trước - nhưng lần này chúng ta không phải lịch sự thế. Chúng ta sẽ làm khác đi một chút”.
Ông quay sang Franklin Clarke.
Mon cher M. Clarke”, [3] anh nghĩ gì về mấy cái mũ mà các quý cô quý bà đội ở Ascot năm nay?”
Franklin Clarke trợn tròn mắt nhìn ông.
“Ông đang hỏi đùa ạ?”
“Dĩ nhiên là không”.
“Câu hỏi này nghiêm túc?”
“Ừ”.
Clarke mỉm cười.
“Ờ, thưa ông Poirot, tôi chưa từng đến Ascot nhưng tôi thấy họ đội khi đang lái xe thì tôi cho rằng mũ Ascot của các quý cô đúng là kỳ quặc hơn mấy cái mũ họ thường đội”.
“Kỳ quặc quá à?”
“Khá là kỳ quặc ạ”.
Poirot mỉm cười và quay sang Donald Fraser.
“Còn anh, năm nay anh đã đi nghỉ lúc nào thế?”
Đến lượt Fraser nhìn ông chằm chằm.
“Kỳ nghỉ của tôi ạ? Hai tuần đầu tiên trong tháng 8”.
Đột nhiên khuôn mặt anh ta run run. Tôi đoán câu hỏi đã khiến anh nhớ lại nỗi đau mất cô bạn gái yêu dấu của mình.
Tuy vậy, Poirot chẳng quan tâm gì đến câu trả lời. Ông quay sang Thora Grey và tôi nghe giọng ông có chút khang khác. Giọng ông có vẻ nghiêm nghị hơn. Câu hỏi ông thốt ra sắc sảo và rõ ràng.
“Thưa cô, nếu phu nhân Clarke qua đời và nếu ngài Carmichael hỏi cưới cô, cô có đồng ý không?”
Cô gái đứng bật dậy.
“Sao ông dám hỏi tôi câu đó chứ! Thật là... ông đang sỉ nhục tôi đấy!”
“Có thể thế. Nhưng cô đã thề nói thật mà. Ờ, có hay không?”
“Ngài Carmichael hết sức tốt với tôi. Ông xem tôi như con gái ông. Và tôi cũng yêu quý ông như thế - chỉ là tình yêu thương và lòng biết ơn thôi”.
“Xin lỗi, nhưng đó không phải là câu trả lời Có hay Không, thưa cô”.
Cô ta ngập ngừng.
“Đương nhiên, câu trả lời là không rồi!”
Poirot không nhận xét gì thêm.
“Cảm ơn cô”.
Ông quay sang Megan Barnard, sắc mặt cô gái rất nhợt nhạt. Cô thở khó nhọc như thể đang chống chọi với điều gì.
Giọng Poirot bật ra như tiếng roi vút.
“Thưa cô, cô hy vọng gì từ kết quả điều tra của tôi? Cô có muốn tôi tìm ra sự thật... hay không?”
Cô gái ngẩng đầu lên vẻ kiêu hãnh. Tôi nghĩ tôi biết chắc câu trả lời của cô là gì. Tôi biết Megan khao khát tìm ra sự thật.
Câu trả lời của cô ấy bật ra rõ ràng - và làm tôi sửng sốt.
“Không!”
Tất thảy chúng tôi đều giật nảy. Poirot chồm tới trước để nhìn kỹ khuôn mặt cô.
Ông nói: “Cô Megan này, cô không muốn sự thật nhưng - ma foi [4] - cô có thể nói ra được sự thật đấy!”
Ông quay ra phía cửa rồi quay lại và nhìn về phía Mary Drawer.
Mon enfant, [5] nói cho bác biết cháu có bạn trai chưa?”
Mary hiểu câu hỏi của ông, cô gái hơi bối rối và đỏ mặt.
“Ôi, bác Poirot. Cháu, cháu, ờ, cháu không chắc lắm”.
Ông mỉm cười.
Alors, c’est bien, mon enfent”. [6]
Ông nhìn quanh để tìm tôi.
“Nào, Hastings, chúng ta phải đi Eastbourne thôi”.
Xe đang đợi bên ngoài và chẳng bao lâu chúng tôi đã bon bon trên đường ven biển nối từ Pevensey đến Eastbourne.
“Tôi muốn hỏi ông vài điều có được không, Poirot?”
“Không phải lúc này. Hãy tự đưa ra kết luận về những gì tôi đang làm đi”.
Tôi rơi vào im lặng trở lại.
Poirot có vẻ đang vui, ông ngâm nga một đoạn nhạc. Khi chúng tôi đi ngang qua Pevensey ông đề nghị chúng tôi dừng lại và thăm tòa lâu đài ở đó.
Lúc chúng tôi quay lại xe, chúng tôi dừng một lát để xem lũ trẻ - nhìn trang phục của các cháu, tôi đoán các cháu gái này là hướng đạo sinh, chứng đang hát một đoạn đồng dao nghe rất chói tai...
“Chúng đang hát gì thế Hastings? Tôi không nghe được lời bài hát”.
Tôi lắng nghe cho tới khi nghe ra được đoạn điệp khúc.
“... Bắt được một con cáo
Nhốt vào trong chuồng báo
Không cho nó chạy tháo”.

Poirot lặp lại: “Bắt được một con cáo, bỏ vào trong chuồng báo, không cho nó chạy tháo!”
Đột nhiên khuôn mặt ông nghiêm lại và lạnh tanh.
“Thật là kinh khủng, Hastings ạ”. Ông im lặng vài giây rồi nói tiếp. “Ở đây người ta săn cáo à?”
“Tôi có biết đâu. Tôi chưa bao giờ có điều kiện đi săn. Và tôi nghĩ ở đây người ta không đi săn nhiều đâu”.
“Ý tôi là ở nước Anh nói chung ấy. Một môn giải trí kỳ quặc. Ngồi rình bên ngoài hang rồi hú lên vài tiếng đúng không? - rồi cuộc rượt đuổi bắt đầu - chạy qua cánh đồng - qua hàng rào rồi kênh mương - còn con cáo thì cứ chạy và đôi khi nó chạy vòng lại - nhưng mấy con chó nhà...”
“Chó săn chứ!”
“... chó săn lần ra dấu vết và cuối cùng họ bắt con cáo và nó chết - thật chóng vánh và man rợ”.
“Tôi thấy có vẻ dã man quá, nhưng thật sự...”
“Con cáo thích điều đó à? Đừng có nói chuyện les bêtises [7], ông bạn. Tout de même [8]”, chết dã man và chóng vánh còn tốt hơn là những gì mà những đứa trẻ kia hát...
“Bị nhốt trong chuồng mãi mãi... Không, điều đó chẳng hay ho tí nào”.
Ông lắc đầu. Rồi ông nói, giọng có vẻ khác chút xíu: “Ngày mai tôi đi gặp ông Cust”, rồi ông nói thêm với tài xế:
“Chúng ta quay về Luân Đôn thôi”.
Tôi la lên: “Không phải ông muốn đi Eastbourne à?”
“Không cần nữa đâu. Tôi biết... đầy đủ những thứ mà tôi cần rồi”.
------------------------------------------------------
[font="verdana"][size="3"][color="#000099"][1] Thế này nhé.
[2] Tốt.
[3] Anh Clarke thân mến.
[4] Tôi tin.
[5] Cháu ơi.
[6] Thế là tốt rồi, cháu gái ạ.
[7] Vô lý.
[8] Cũng vậy thôi.
[/color][/size][/font]
0
Ba mươi ba
Alexander Bonaparte Cust
 
Tôi không có mặt ở buổi nói chuyện giữa Poirot và người đàn ông kỳ quặc Alexander Bonaparte Cust. Vì Poirot có mối quan hệ với cảnh sát và vì một số tình huống đặc biệt của vụ án nên ông ấy dễ dàng xin được giấy phép của Bộ Nội vụ nhưng giấy phép đó không bao gồm cả tôi; hơn nữa, theo ý Poirot thì cuộc nói chuyện phải hoàn toàn riêng tư - chỉ hai người đàn ông mặt đối mặt.
Tuy nhiên, ông kể cho tôi chi tiết sự việc diễn ra giữa họ nên tôi có thể tự tin viết xuống rành rọt như thể tôi đã có mặt ở đó.
Ông Cust co rúm người lại khiến lưng càng khòm xuống nhiều hơn. Mấy ngón tay ông cứ vô thức búng búng vào áo khoác mình.
Tôi tưởng tượng ra Poirot ngồi im lặng và nhìn người đàn ông ngồi đối diện một hồi lâu.
Không khí đã trở nên yên bình, dễ chịu, và thư thả hơn...
Hẳn đó là khoảnh khắc đầy kịch tính khi hai đối thủ gặp nhau trong một vở kịch dài dằng dặc. Nếu tôi là Poirot, có lẽ tôi sẽ thấy rất hồi hộp kịch tính.
Tuy nhiên, Poirot không thế, ông rất thản nhiên. Ông chú tâm tạo một chút ảnh hưởng lên người đàn ông đối diện.
Cuối cùng ông nhỏ nhẹ nói:
“Ông có biết tôi là ai không?”
Người kia chỉ lắc đầu.
“Không, không, chắc là tôi không biết. Hay ông là người của ông Lucas? - Họ gọi là gì nhỉ? - Cấp dưới. Hay có thể ông Maynard cử ông đến?”
(Maynard và Cole là các luật sư biện hộ).
Giọng ông Cust lịch sự nhưng không hào hứng lắm. Dường như ông ta đang mải mê với cái thế giới trừu tượng bên trong con người mình.
“Tôi là Hercule Poirot...”
Poirot nói ra những từ ấy rất nhẹ nhàng... và đợi đối phương phản ứng.
Ông Cust hơi ngẩng đầu lên.
“Ồ, vậy à?”
Ông ta nói câu đó tự nhiên theo kiểu thanh tra Crome hay nói - nhưng không hề có chút gì là hợm hĩnh cả.
Rồi vài phút sau, ông ấy lặp lại câu đó.
“Ồ, vậy à?” ông nói, và lần này giọng khác hẳn - có chút gì đó quan tâm và tỉnh táo hơn. Ông ta ngẩng đầu lên nhìn Poirot.
Hercule Poirot cũng nhìn lại và gật đầu một hai lần gì đó.
Ông nói: “Đúng thế. Tôi là người mà ông đã viết thư đây”.
Ngay lập tức ông Cust không nhìn Poirot nữa. Ông ta cụp mắt xuống và nói với vẻ bực mình cáu kỉnh.
“Tôi chưa bao giờ viết thư cho ông cả. Những lá thư đó không phải do tôi viết. Tôi đã nói đi nói lại mấy lần rồi mà”.
Poirot đáp: “Tôi biết chứ. Nhưng nếu ông không viết thì ai viết?”
“Kẻ thù. Chắc tôi có kẻ thù. Họ đều hại tôi. Cảnh sát... tất cả mọi người... đều chống lại tôi. Đó là một âm mưu rất lớn”.
Poirot không nói gì.
Ông Cust nói tiếp:
“Mọi người đều chống lại tôi... lúc nào cũng thế”.
“Ngay cả khi ông còn nhỏ ư?”
Ông Cust có vẻ như đang cân nhắc câu trả lời.
“Không... không phải... hồi đó thì không. Mẹ tôi rất yêu quý tôi. Nhưng bà tham vọng lắm... cực kỳ tham vọng. Đó là lý do vì sao mẹ đặt cho tôi cái tên kỳ quặc ấy. Mẹ có một ý nghĩ buồn cười là sau này tôi sẽ trở thành một nhân vật tầm cỡ thế giới. Mẹ luôn giục tôi phải khẳng định mình - nói về ý chí... mẹ bảo ai cũng có thể làm chủ số phận của mình... mẹ bảo tôi có thể làm bất kỳ điều gì!”
Ông ta im lặng một chốc.
“Đương nhiên mẹ tôi hoàn toàn sai. Tôi tự nhận ra điều đó khá sớm. Tôi không phải là loại người có thể thăng tiến trong cuộc sống. Tôi luôn làm những điều ngu ngốc - tôi cư xử kỳ quặc. Và tôi rất nhút nhát - tôi sợ con người. Ở trường tôi rất khổ sở- bọn con trai biết được tên của tôi và trêu tôi suốt... Ở trường tôi rất tệ - cả trong các hoạt động vui chơi cho đến học tập và mọi thứ khác”.
Ông ta lắc đầu.
“May mà mẹ tôi đã qua đời. Lúc nào bà cũng thất vọng... Ngay từ hồi học ở trường Cao đẳng Thương mại tôi học rất ngu - tôi mất thời gian nhiều hơn người khác khi học đánh máy và tốc ký. Tuy thế tôi không hề thấy mình ngu - ông hiểu ý tôi chứ”.
Ông ta đưa mắt nhìn Poirot với vẻ van lơn.
“Tôi hiểu ý ông mà. Ông cứ kể tiếp đi”. Poirot đáp.
“Chỉ là tôi có cảm giác mọi người nghĩ tôi ngu. Điều đó khiến tôi như tê liệt đi. Sau đó khi đi làm tôi cũng bị thế”.
Poirot nhắc: “Và sau đó ra chiến trường ông vẫn bị thế à?”
Bỗng dưng mặt ông Cust sáng bừng lên.
Ông ta nói: “Ông biết không, tôi thích chiến trường lắm. Những gì tôi trải nghiệm ở đó, tôi rất thích. Lần đầu tiên tôi có cảm giác mình cũng như bao nhiêu người khác. Chúng tôi đều như nhau. Tôi có thua kém gì ai đâu”.
Nụ cười trên môi ông ta dần tắt.
“Và rồi tôi bị thương vào đầu. Bị nhẹ thôi. Nhưng họ phát hiện ra tôi hay bị kích động... Đương nhiên tôi biết có những lần tôi không ý thức được mình đang làm gì nữa. Bị đãng trí ấy mà. Và đương nhiên, một vài lần tôi còn bị ngã. Nhưng tôi nghĩ chắc không phải vì thế mà họ cho tôi giải ngũ. Không, tôi không nghĩ thế”.
Poirot hỏi: “Rồi sau đó thì sao?”
“Tôi kiếm được một chân làm thư ký. Đương nhiên, hồi đó tôi cũng kiếm được kha khá tiền. Và sau khi giải ngũ tôi sống cũng không đến nỗi tệ. Dĩ nhiên là lương tiền ít hơn bây giờ... Và... tôi không được thăng tiến gì. Tôi thường bỏ lỡ những cơ hội lên chức. Tôi chưa cố gắng nhiều. Càng ngày càng khó khăn hơn... khó khăn hơn... Đặc biệt là sau khủng hoảng kinh tế. Nói thật với ông, lúc đó tôi kiếm không đủ tiền mà sống (và làm thư ký thì vẻ bề ngoài cũng phải coi cho được) thì tôi được công ty chuyên sản xuất bít tất nhận vào làm. Tôi vừa có lương vừa có tiền hoa hồng!”
Poirot nhẹ nhàng hỏi:
“Nhưng ông có biết là cái công ty mà ông bảo ông làm việc cho họ nói rằng họ không hề thuê ông không?”
Ông Cust lại bị kích động.
“Đó là vì họ có âm mưu - hẳn là họ đang có mưu đồ gì đó”.
Ông ta nói tiếp:
“Tôi có chứng cứ viết tay - chứng cứ viết tay hẳn hoi. Tôi còn giữ những bức thư họ gửi để hướng dẫn tôi những nơi cần đến và danh sách những người tôi phải chào hàng”.
“Thật ra không phải là chứng cứ viết tay mà là chứng cứ đánh máy”.
“Cũng như nhau cả thôi. Đương nhiên một công ty sản xuất hàng bán si lớn như thế thì phải đánh máy thư từ chứ”.
“Ông Cust, ông không biết là máy đánh chữ có thể nhận dạng được sao? Tất cả các lá thư đó đều được đánh từ một chiếc máy đấy”.
“Thì sao chứ?”
“Mà cái máy đó là của ông - cái máy tìm thấy trong phòng của ông đấy”.
“Cái máy đó công ty gửi cho tôi khi tôi mới được nhận vào làm mà”.
“Vâng, nhưng những lá thư này được nhận sau đó. Vì thế có vẻ như ông đã tự mình đánh máy chúng và gửi đi đúng không?
“Không, không phải! Đó chỉ là mưu đồ hãm hại tôi thôi!”
Đột nhiên ông nói thêm:
“Ngoài ra, những lá thư của họ cũng được đánh bằng một loại máy giống thế”.
“Giống loại máy nhưng không phải là cùng một máy”.
Ông Cust khăng khăng lặp lại:
“Đó là một âm mưu!”
“Và mấy quyển thông tin đường sắt A B C cũng được tìm thấy trong tủ của ông mà?”
“Tôi chẳng biết gì về mấy quyển đó cả. Tôi tưởng mấy thùng họ gửi chỉ toàn bít tất”.
“Sao ông lại đánh dấu tên bà Ascher trong danh sách đầu tiên ở Andover?”
“Bởi vì tôi quyết định bắt đầu từ nhà bà ấy. Người ta phải bắt đầu từ đâu đó chứ”.
“Vâng, đúng thế. Người ta phải bắt đầu từ đâu đó chứ”.
Ông Cust nói: “Ý tôi không phải thế! Ý tôi không giống như ý ông đang ám chỉ đâu!”
“Ông biết tôi đang ám chỉ điều gì à?”
Ông Cust không nói gì. Ông đang run lẩy bẩy.
Ông nói: “Tôi không làm chuyện đó! Tôi hoàn toàn vô tội! Tất cả đều là sự nhầm lẫn. Ờ, ví dụ vụ án thứ hai - cái vụ ở Bexhill nhé. Lúc đó tôi đang chơi domino ở Eastbourne. Ông phải thừa nhận điều đó chứ!”
Giọng Cust có vẻ đắc thắng.
Poirot nói, giọng ông đăm chiêu nhưng ngọt xớt: “Vâng. Nhưng việc ghi sai một ngày thì quá dễ nhỉ? Và nếu ông cũng ương bướng cứng đầu như anh chàng Strange, thì ông chẳng bao giờ nghĩ có khả năng ông sẽ mắc lỗi cả. Những gì ông đã nói thì ông cứ bám riết nó thôi... Anh ta là loại người thế đấy. Còn về sổ đăng ký lưu trú khách sạn người ta rất dễ ghi nhầm ngày khi họ ký tên - có thể lúc ấy chẳng ai để ý điều đó”.
“Tối đó tôi đang chơi domino mà!”
“Hình như ông chơi bài domino rất giỏi nhỉ”.
Câu đó khiến Cust khá bối rối.
“Tôi... tôi, ờ, tôi cũng nghĩ vậy”.
“Trò này hấp dẫn và đòi hỏi nhiều kỹ thuật chơi đúng không?”
“Ồ, có nhiều cách chơi lắm, nhiều lắm! Hồi trước chúng tôi hay chơi trong thành phố vào giờ ăn trưa. Ông sẽ rất ngạc nhiên khi thấy những người hoàn toàn xa lạ tụ tập lại với nhau để chơi domino”.
Ông cười khúc khích.
“Tôi nhớ một anh nọ - anh này tôi không thể quên được vì những gì anh ta nói với tôi - chúng tôi vừa uống cà phê vừa nói chuyện và chúng tôi chơi domino. Ờ, chỉ sau 20 phút tôi thấy như tôi đã hiểu anh ta từ lâu lắm rồi”.
Poirot hỏi: “Anh ta đã nói với ông điều gì thế?”
Mặt ông Cust tối sầm lại.
“Những lời anh đó nói khiến tôi sợ - sợ hãi khủng khiếp. Anh ta bảo số phận của con người được viết trong lòng bàn tay của họ. Rồi anh ta đưa tôi xem bàn tay của anh ta và mấy đường chỉ tay chỉ ra rằng anh ta đã từng hai lần suýt chết đuối - và anh ta đã suýt chết hai lần thật. Rồi anh ta nhìn chỉ tay của tôi và phán những câu hết sức kỳ lạ. Anh ta nói tôi sẽ trở thành một trong những người nổi tiếng nhất nước Anh trước khi tôi qua đời. Và nói là cả nước sẽ bàn tán về tôi. Nhưng anh cũng nói... anh ta nói...”
Ông Cust trở nên suy sụp... ông ấp úng...
“Nói sao?”
Cái nhìn của Poirot đầy sức hút. Ông Cust nhìn ông rồi quay đi rồi nhìn lại như một con thỏ đang sợ hãi.
“Anh ấy nói... nói rằng... có vẻ tôi sẽ chết bất đắc kỳ tử - anh ta cười rồi nói: ‘Có vẻ như ông sẽ bị tử hình’, rồi anh ta cười bảo là anh chỉ nói đùa thôi...”
Bỗng dưng ông Cust trở nên im lặng, ông không nhìn Poirot nữa - mắt ông liếc qua liếc lại...
“Đầu tôi... Tôi bị đau đầu ghê gớm... chứng đau đầu đôi khi là một căn bệnh dã man. Và có những lúc tôi không biết - tôi không biết...”
Ông ta suy sụp.
Poirot chồm tới trước. Ông nói rất khẽ nhưng rất quả quyết.
“Nhưng ông biết ông đã gây ra án mạng đúng không?”
Ông Cust nhìn lên. Cái nhìn bình thường và trực diện. Tất cả những sự chống cự đều tan biến. Kỳ lạ thay ông ta trông rất bình an.
“Vâng, tôi biết”. Ông nói.
“Nhưng ông không biết tại sao ông lại ra tay? Tôi nói thế có đúng không?”
Cust lắc đầu.
Ông đáp: “Không, tôi không biết”.

0
Ba mươi bốn
Poirot chốt lại vụ án
 
Chúng tôi ngồi tập trung cao độ để nghe Poirot đưa ra những giải thích cuối cùng về vụ án.
Ông nói: “Từ trước đến nay tôi đã lo lắng suy nghĩ về nguyên nhân vụ án này. Hôm trước Hastings bảo tôi rằng vụ án đã kết thúc. Tôi đáp vụ án là người gây án! Điều bí ẩn không phải ở những kẻ giết người nói chung, mà là bí ẩn về A B C. Tại sao hắn ta thấy cần phải thực hiện những vụ án mạng này? Tại sao hắn lại chọn tôi làm đối thủ?
Nói rằng hắn ta bị bệnh tâm thần là không chính xác. Lập luận người ta làm chuyện điên rồ chỉ vì người đó bị điên thì thật là hồ đồ và ngu ngốc. Một người điên cũng hành động logic và hợp lý như người tỉnh táo - nếu như ông ta có quan điểm thiên kiến riêng. Ví dụ, nếu một người đàn ông đi ra đường và chỉ mặc độc nhất một tấm khố mà ông ta lại thích ngồi xổm thì hành vi của ông ta đúng là cực kỳ lập dị. Nhưng một khi chúng ta biết người đàn ông đó khăng khăng cho rằng mình là Mahatma Gandhi, thì hành vi đó trở nên vô cùng hợp lý và logic.
Mấu chốt của vụ án này là chúng ta phải tưởng tượng một bộ óc minh mẫn đến độ hắn cho rằng thực hiện bốn vụ án mạng hay nhiều hơn và thông báo trước việc đó bằng thư gửi cho Hercule Poirot là logic và hợp lý.
Ông bạn Hastings đây có thể xác nhận với các anh chị rằng từ lúc tôi nhận được bức thư đầu tiên tôi bồn chồn, lo lắng lắm. Ngay lúc đó tôi cảm thấy bức thư có điều gì rất bất ổn”.
Franklin Clarke lạnh lùng nhận xét: “Ông đã phán đoán đúng rồi mà”.
“Vâng. Nhưng vấn đề là, ngay từ ban đầu, tôi đã mắc một sai lầm nghiêm trọng. Tôi đã để cho cảm giác của tôi - cảm giác rất mạnh về bức thư đó - vẫn chỉ là cảm tưởng thôi. Tôi xem như là một trực giác thông thường. Đối với một bộ óc ổn định và sáng suốt thì không có cái gọi là trực giác - một sự phỏng đoán cảm tính! Đương nhiên người ta có thể đoán - và đã là đoán thì có thể đúng hoặc sai. Nếu đúng, người ta gọi là trực giác. Còn nếu sai thì thường người ta không đề cập tới nó nữa. Nhưng cái người ta thường gọi là trực giác thật ra chỉ là cảm tưởng dựa vào suy luận logic hay kinh nghiệm. Khi một chuyên gia cảm thấy có gì bất ổn ở một bức tranh, một món đồ nội thất hay một chữ ký trên tờ séc, thì cảm giác của anh ta hoàn toàn dựa vào nhiều dấu hiệu và chi tiết nhỏ. Anh ta không cần phải kiểm tra tỉ mỉ - nhờ vào kinh nghiệm của anh ta - kết quả cuối cùng là cảm tưởng đã được xác định rằng có gì đó bất ổn. Nhưng đó không phải là sự phỏng đoán mà là cảm tưởng dựa trên kinh nghiệm.
Ờ, tôi phải thừa nhận rằng mình không đánh giá bức thư đầu tiên đúng mức. Điều đó khiến tôi cực kỳ bứt rứt. Cảnh sát cho đó chỉ là trò đùa. Tôi thì xem đó là chuyện nghiêm túc. Tôi tin rằng có một vụ giết người sẽ xảy ra ở Andover như đã nêu. Và như các anh chị biết đấy, một vụ án mạng đã xảy ra thật.
Lúc đó tôi hiểu rằng chưa có cách nào để biết được kẻ gây án. Cách duy nhất là cố gắng hiểu xem kẻ gây ra vụ đó là người như thế nào.
Tôi có được một vài dấu hiệu. Bức thư - loại tội phạm - người bị giết. Điều mà tôi phải tìm hiểu là: động cơ phạm tội, động cơ gửi lá thư”.
Clarke gợi ý: “Sự quan tâm của công chúng”.
Thora Grey thêm vào: “Chắc hội chứng sợ thua kém là nguyên nhân chính”.
“Đương nhiên đó cũng là thông tin cần để ý. Nhưng sao lại là tôi? Sao lại là Hercule Poirot? Sẽ có nhiều người biết hơn nếu gửi những bức thư đó đến Scotland Yard chứ. Và thậm chí sẽ được lan truyền rộng hơn nữa nếu gửi cho một tòa soạn báo. Báo sẽ không in bức thư đầu tiên nhưng khi vụ án thứ hai diễn ra, A B C sẽ được báo chí giúp chuyển tải đến nhiều người liền. Vậy thì sao hắn chọn Hercule Poirot? Phải chăng là vì lý do cá nhân? Trong thư có thể thấy rõ có chút khuynh hướng bài ngoại nhưng chưa đủ mạnh để giải thích vấn đề thật thỏa đáng.
Sau đó bức thư thứ hai đến và rồi xảy ra vụ giết Betty Barnard ở Bexhill. Bây giờ có vẻ tôi biết rõ ràng hơn (những điều tôi nghi ngờ) rằng các vụ án được tiến hành theo bảng chữ cái nhưng trong khi mọi người đã kết luận như vậy sự việc đó vẫn để lại trong đầu tôi câu hỏi chính. Tại sao A B C cần phải thực hiện những vụ giết người này?”
Megan Barnard cựa quậy trong ghế ngồi.
Cô nói: “Chẳng phải hành động đó được gọi là... khát máu sao ạ?”
Poirot quay sang cô gái.
“Cô có lý, cô gái ạ. Đúng là như thế. Thèm muốn giết người. Nhưng điều đó không khớp với những dữ kiện của vụ án lắm. Một kẻ cuồng sát thích giết người, thường mong muốn giết càng nhiều người càng tốt. Đó là một thèm muốn lặp đi lặp lại. Kẻ giết người loại đó thì tốt nhất là hắn giấu nhẹm những dấu vết của mình - chứ không phải rêu rao cho người ta biết. Khi chúng ta xem xét bốn nạn nhân hắn chọn hoặc đúng ra là ba trong bốn vụ (vì tôi hầu như chẳng biết gì về ông Downes hay ông Earlsfield cả), chúng ta nhận ra nếu kẻ sát nhân muốn, hắn có thể giết nạn nhân mà không để lại bất kỳ nghi ngờ gì. Franz Ascher, Donald Fraser hay Megan Barnard và cả ông Clarke nữa - đây là những người mà cảnh sát sẽ tình nghi đầu tiên nếu họ không lấy được bằng chứng trực tiếp. Người ta sẽ không nghĩ đến một kẻ cuồng sát giấu mặt đâu! Vậy thì vì sao tên sát nhân lại cần phải gây chú ý về phía mình? Sao lại phải để lại ở mỗi thi thể một quyển thông tin đường sắt A B C? Có phải hành động đó là do bị ép buộc? Liệu có khả năng có một hội chứng nào đó liên quan đến quyển thông tin đường sắt?
Tại thời điểm này, tôi thấy khó mà xâm nhập vào trí óc của tên sát nhân được. Chắc chắn không phải là vì lòng hào hiệp đúng không? Hay hắn sợ người vô tội bị quy trách nhiệm gây ra vụ án đó?
Mặc dù tôi không thể trả lời câu hỏi chính của mình, những thứ mà tôi linh cảm được giúp tôi biết nhiều hơn về tên sát nhân”.
Fraser hỏi: “Cụ thể là gì ạ?”
“Đầu tiên là hắn có một đầu óc tư duy theo hệ thống biểu bảng. Đối với hắn chuyện các vụ án xếp theo bảng chữ cái rất quan trọng. Tuy vậy, hắn chẳng đặc biệt quan tâm gì đến loại nạn nhân cả - bà Ascher, Betty Barnard, ngài Carmichael Clarke, tất cả họ đều cực kỳ khác nhau. Nạn nhân không hề được phân theo giới tính, tuổi tác và điều đó khiến tôi rất tò mò. Nếu người ta giết người không cần phân biệt giới tính hay tuổi tác thì thường là hắn muốn loại bỏ những ai cản trở hắn hay làm hắn khó chịu. Tuy nhiên, giết người theo thứ tự bảng chữ cái lại bác bỏ suy đoán đó ở vụ án này. Những kẻ giết người loại khác thường chọn một loại nạn nhân nhất định nào đó - thường thường là người khác giới. Hành động bừa bãi của A B C khiến tôi thấy mâu thuẫn với việc hắn chọn nạn nhân theo bảng chữ cái.
Thế nên tôi dám đưa ra một suy luận nho nhỏ. Đó là sự lựa chọn của A B C khiến tôi nghĩ đến một anh chàng yêu thích đường sắt. Thường thì đây là đam mê của đàn ông nhiều hơn đàn bà. Bé trai thường thích tàu lửa hơn các bé gái. Ngoài ra, nó có thể là dấu hiệu của một bộ óc chưa trưởng thành. Mô-típ mang tính ‘con trai’ vẫn chiếm ưu thế.
Cái chết của Betty Barnard và cách gây án cũng cung cấp cho tôi những dấu hiệu khác. Kiểu chết của cô ấy đặc biệt gợi lên nhiều nghi vấn. (Xin lỗi anh Fraser) Nghi vấn đầu tiên, cô ta bị thắt cổ bằng chính dây thắt lưng của mình - thế nên hẳn cô ấy bị một người mà cô thân thiết hoặc có quan hệ tình cảm giết. Khi tôi biết một vài đặc điểm về tính cách của cô ta thì trong đầu tôi xuất hiện một hình ảnh.
Betty Barnard thích được tán tỉnh. Cô ấy thích những anh chàng điển trai chú ý đến mình. Thế nên để thuyết phục được cô đi chơi với hắn, A B C hẳn phải là người có chút hấp dẫn - sự hấp dẫn của người khác giới! Nói như kiểu người Anh các anh chị thì anh ta phải có khả năng ‘ve vãn’. Anh ta phải có khả năng nhanh chóng làm quen! Tôi tưởng tượng cảnh trên biển như sau: người đàn ông khen cô gái có chiếc thắt lưng đẹp. Cô gái cởi nó ra rồi anh ta quấn nó quanh cổ cô gái như đang trêu đùa, rồi có lẽ anh ta nói: ‘Anh thắt cổ em nhé’. Hoàn toàn với vẻ đùa cợt thôi. Cô gái cười khúc khích rồi anh ta siết chặt...”
Donald Fraser đứng bật dậy. Anh ta nổi giận đùng đùng.
“Trời ơi, ông Poirot”.
Poirot đưa tay ra dấu.
“Chừng đó thôi. Tôi không nói thêm nữa đâu. Xong rồi. Chúng ta chuyển qua vụ án tiếp theo, vụ ngài Carmichael Clarke. Ở vụ này tên sát nhân trở lại với phương pháp đầu tiên - đánh vào đầu. Vẫn là theo chuỗi thứ tự bảng chữ cái nhưng có một yếu tố khiến tôi hơi lo lắng. Để cho chắc chắn lẽ ra tên sát nhân phải chọn các thị trấn theo một chuỗi nhất định nào đó chứ.
Nếu Andover là tên thứ 155 trong chuỗi các tên bắt đầu bằng chữ A, vậy thì vụ án B cũng phải là ở thứ 155 chứ hay nó là thứ 156 còn C là là 157. Nhưng ở đây các thị trấn cũng được chọn theo kiểu tùy tiện”.
“Chẳng phải ông suy diễn vấn đề hơi quá sao, Poirot?” tôi gợi ý. “Chính ông cũng thường ngăn nắp, gọn gàng đấy. Nó gần như trở thành bệnh của ông rồi còn gì nữa”.
“Không, đó không phải là bệnh! Ông suy nghĩ gì kỳ quá! Nhưng tôi phải thừa nhận tôi suy diễn vấn đề đó hơi quá. Bỏ qua nhé phần này nhé!
Vụ Churston chẳng giúp ích gì thêm cho việc điều tra của tôi cả. Chúng ta không gặp may vì bức thư thông báo vụ đó đi lạc thế nên chúng ta không có sự chuẩn bị nào.
Nhưng ngay khi vụ D được thông báo, một hệ thống bảo vệ dữ dội đã được lập ra. Hẳn A B C không còn hy vọng thoát tội nữa.
Ngoài ra, vào lúc này, tôi đã có trong tay những manh mối về vụ mấy cái bít tất đó. Rõ ràng sự hiện diện của một người bán bít tất tại hiện trường của mỗi vụ án hoặc gần đó không thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên được. Do đó, người bán bít tất chắc chắn là kẻ sát nhân. Tôi cho rằng, miêu tả của cô Grey về hắn không tương ứng với hình ảnh người đàn ông siết cổ Betty Barnard mà tôi hình dung ra.
Tôi sẽ nói nhanh qua những phần tiếp theo. Vụ giết người thứ tư diễn ra - vụ giết người đàn ông tên George Earlsfield - có vẻ như là nhầm lẫn với người tên Downes. Hai người này có cùng cỡ người và cùng ngồi gần hắn ta trong rạp chiếu phim.
Và giờ đây rốt cuộc tình huống đã đảo ngược. Mọi thứ đang chống lại A B C thay vì đứng về phía hắn. Hắn bị nhận diện - truy lùng - và cuối cùng là bị bắt.
Theo cách nói của Hastings thì vụ án đã kết thúc!
Đối với công chúng thì đúng là vậy. Người đàn ông bị bắt vào tù và cuối cùng chắc chắn sẽ bị giải đến Broadmoor. Thế là không còn vụ giết người nào nữa. Sân khấu hạ màn! Kết thúc! An nghỉ ngàn thu.
Nhưng đối với tôi thì chưa! Tôi chẳng biết gì, chẳng biết gì cả! Chẳng biết tại sao hay vì nguyên cớ gì.
Và có một điều bực mình nhỏ. Ông Cust đó có chứng cứ ngoại phạm vào cái đêm vụ án ở Bexhill xảy ra”.
Franklin Clarke nói: “Ngay từ đầu tôi đã thấy rất lo lắng”.
“Vâng. Tôi lo lắng lắm. Cái chứng cứ ngoại phạm đó nghe có vẻ rất thật. Nhưng nó không thể là sự thật ngoại trừ... và giờ đây chúng ta lại đi đến hai suy đoán rất thú vị.
Thưa các anh chị, giả sử thế này, Cust thực hiện ba vụ là A, C, và D mà không gây ra vụ B thì sao”.
“Ông Poirot. Không thể nào...”
Poirot đưa mắt ra hiệu cho Megan Barnard yên lặng.
“Im lặng nào, cô gái. Tôi ủng hộ sự thật! Tôi đang cố gắng xử lý những lời nói dối đây. Giả sử A B C không thực hiện vụ thứ hai. Nên nhớ vụ án xảy ra vào sáng sớm ngày 25 - đó là ngày ông ta đến gây án. Giả sử ai đó đã hót tay trên của ông ta thì sao? Trong trường hợp đó ông ta phải làm gì? Thực hiện vụ giết người thứ hai, hay trốn luôn và chấp nhận vụ đầu tiên là do quỷ thần ra tay?
Megan nói: “Ông Poirot ơi! Ông suy nghĩ hoang đường quá! Tất cả các vụ án hẳn phải do cùng một người gây ra chứ ạ!”
Ông không để ý gì đến cô gái và tiếp tục:
“Giả thiết đó cũng góp phần giải thích một dữ kiện - sự mâu thuẫn giữa tính cách của Alexander Bonaparte Cust (người này không thể ve vãn một cô gái nào) và tính cách của người giết Betty Barnard. Hồi trước, người ta có kể mấy vụ về nghi phạm giết người lợi dụng những vụ án do người khác gây ra. Ví dụ, không phải tất cả các vụ án của Jack Đào Mỏ đều do hắn ta ra tay. Cho đến bây giờ mọi thứ điều diễn ra suôn sẻ.
Nhưng rồi tôi lại phải đương đầu với một khó khăn khác.
Cho tới thời điểm xảy ra vụ giết cô Barnard, không có bằng chứng nào về các vụ án mạng A B C được đưa ra công chúng cả. Vụ Andover không có ai để ý nhiều. Chi tiết quyển thông tin đường sắt đang mở đặt cạnh nạn nhân cũng không được báo chí nhắc đến. Thế nên, có thể kết luận rằng bất kỳ kẻ nào giết Betty Barnard thì hẳn đã có những chứng cứ mà chỉ có một số người biết - tôi, cảnh sát, một vài người bà con và hàng xóm của bà Ascher.
Điều tra theo con đường đó dường như đã đưa tôi tới ngõ cụt”.
Những khuôn mặt đang nhìn ông cũng nghệch ra. Trống rỗng và bối rối.
Donald Fraser nói vẻ trầm ngâm:
“Suy cho cùng, cảnh sát cũng chỉ là con người thôi. Và họ là những anh chàng bảnh trai...”
Anh ta ngừng nói và nhìn Poirot vẻ dò hỏi.
Poirot khẽ lắc đầu.
“Không... còn đơn giản hơn thế nữa. Tôi từng nói là có cách suy đoán thứ hai mà.
Giả sử Cust không phải là người giết Betty Barnard? Giả sử ai khác giết cô ấy thì sao. Vậy liệu kẻ đó có phải là người gây ra các vụ kia không?”
Clarke kêu lên: “Nhưng nghe chẳng hợp lý chút nào!”
“Không ư? Lúc ấy tôi làm điều mà đáng lẽ tôi phải làm đầu tiên. Tôi xem xét các bức thư tôi nhận được theo quan điểm hoàn toàn khác. Ngay từ đầu tôi đã cảm thấy chúng có gì đó bất ổn cũng giống như các chuyên gia về tranh sẽ biết ngay nếu một bức tranh có vấn đề...
Tôi đã cho rằng, mà không dừng lại để nghĩ ngợi, điều khiến những bức thư có vấn đề là vì chúng được viết bởi một kẻ điên!
Bây giờ tôi xem xét lại và lần này tôi đưa ra một kết luận hoàn toàn khác. Điều khiến những bức thư có vấn đề là vì chúng do một người đàn ông tỉnh táo viết!
Tôi la lên: “Cái gì?”
Mais si! [1] Chúng có vấn đề như một bức tranh có vấn đề - bởi vì chúng là đồ giả! Những bức thư đó được giả là những bức thư do một người điên viết - một kẻ cuồng sát hoang tưởng viết, nhưng trên thực tế không phải như thế”.
Franklin Clarke lặp lại: “Vô lý quá”.
“Vậy mà đúng thế đấy! Chúng ta phải suy luận và nghiền ngẫm chứ. Mục đích viết những bức thư đó là gì? Là để người ta chú ý đến người viết, đến kẻ giết người! Nói cho đúng lúc đầu điều đó có vẻ không hợp lý. Nhưng rồi tôi thấy một tia sáng lóe lên. Lá thư đó là để tập trung vào một vài kẻ giết người - một nhóm sát nhân... Chẳng phải đại thi hào Shakespeare của các ông đã từng nói ‘Chúng ta không thể chỉ mới thấy vài cái cây mà gọi đó là rừng được’.”
Tôi không chỉnh sửa trí nhớ văn chương của Poirot. Tôi đang cố hiểu xem ông muốn nói gì. Một tia sáng chập chờn lóe lên trong đầu tôi. Ông nói tiếp:
“Khi nào chúng ta ít để ý cây kim nhất? Đó là lúc nó được cắm trên cái gối cắm kim đấy! Khi nào chúng ta ít để ý một vụ giết người riêng lẻ? Đó là khi nó nằm trong một loạt các vụ giết người liên quan với nhau.
Tôi phải đương đầu với một tên giết người thông minh và giỏi xoay xở - một con bạc liều lĩnh, táo bạo mà thận trọng. Không phải là Cust rồi! Ông ta không thể thực hiện những vụ giết người này được! Không, tôi phải đối đầu với một loại người rất khác - một người đàn ông có tính khí giống con nít (bằng chứng là bức thư như của một cậu học trò viết và quyển thông tin đường sắt), một người đàn ông có sức hấp dẫn đối với phụ nữ, một người đàn ông nhẫn tâm coi thường mạng sống của người khác, một người đàn ông nổi bật lên ở một trong các vụ án!
Ví dụ khi một người đàn ông hay đàn bà bị giết, cảnh sát sẽ hỏi những câu hỏi gì? Thời cơ. Mọi người ở đâu vào thời gian vụ án diễn ra? Động cơ. Ai được lợi từ cái chết của nạn nhân? Nếu động cơ và thời cơ khá rõ ràng, kẻ tình nghi giết người phải làm gì? Làm giả chứng cứ ngoại phạm - nghĩa là bằng cách nào đó hắn làm giả mạo thời điểm? Nhưng làm như thế thì hơi mạo hiểm. Thế nên tên giết người này nghĩ đến một cách đề phòng thật là khó tin. Hắn tạo ra một tên cuồng sát!
Bây giờ tôi chỉ phải xem xét lại nhiều vụ án khác nhau và tìm ra kẻ tình nghi. Vụ án Andover? Người dễ bị nghi ngờ nhất là Franz Ascher nhưng tôi không tin ông Ascher có thể nghĩ ra và tiến hành một kế hoạch tỉ mỉ đến thế hay lên phương án trước cho một vụ giết người. Còn vụ Bexhill? Donald Fraser có thể là kẻ giết người. Anh ta có trí thông minh và có khả năng và suy nghĩ rất khoa học. Nhưng động cơ giết người mình yêu của anh ta chỉ có thể là sự ghen tuông và sự ghen tuông thì thường không dẫn đến hành động lập mưu tính kế. Ngoài ra tôi biết anh ta đi nghỉ vào đầu tháng 8, điều đó có nghĩa là anh ta không liên quan gì đến vụ án Churston. Tiếp theo là vụ Churston và ngay lập tức chúng ta có bằng chứng đáng tin cậy hơn.
Ngài Carmichael Clarke là một người cực kỳ giàu có. Ai sẽ thừa hưởng tiền của ông? Người vợ sắp chết của ông có quyền thừa hưởng trọn đời và tiếp đến là người em Franklin”.
Poirot từ từ quay đầu lại nhìn vào mắt của Franklin Clarke.
“Bây giờ thì tôi hoàn toàn chắc chắn. Người đàn ông mà bấy lâu tôi suy nghĩ trong đầu và người đàn ông mà tôi quen biết bằng xương bằng thịt chỉ là một. A B C và Franklin Clarke là một! Tính cách mạo hiểm và táo bạo, cuộc sống phiêu bạt giang hồ, và sự thiên vị nước Anh được thể hiện đôi nét qua việc anh ta thích chế nhạo người nước ngoài. Có phong thái dễ gần và cuốn hút nên việc chọn một cô gái trong quán ăn đối với anh ta quá dễ dàng. Đầu óc suy nghĩ kiểu bảng biểu và cẩn thận - một ngày nọ anh ta làm một cái danh sách ở đây, đánh dấu trước mấy đầu mục A B C - và cuối cùng là suy nghĩ trẻ con - điều này phu nhân Clarke có lần nhắc đến và điều này cũng thể hiện trong cách anh ta chọn tiểu thuyết - Tôi chắc chắn rằng trong thư viện nhà anh ta có quyển sách The Railway Children của tác giả E. Nesbit. Trong đầu tôi đã xác định chắc chắn, A B C, người viết những bức thư đó và người gây án là Franklin Clarke”.
Clarke bỗng phá lên cười.
“Thật là tài tình! Thế ông bạn Cust bị bắt tận tay của chúng ta thì sao? Vết máu trên áo ông ta thì sao? Và con dao ông ta giấu ở chỗ trọ nữa? Ông ta có thể chối tội...”
Poirot cắt lời.
“Anh nhầm hoàn toàn, ông ta đã nhận tội rồi”.
“Gì cơ?” Clarke trông rất bối rối.
Poirot nhẹ nhàng nói: “Ồ vâng, ngay khi tôi nói chuyện với ông ta tôi đã nhận ra Cust tin rằng chính mình là kẻ có tội”.
“Dù thế ông Poirot vẫn chưa hài lòng sao?” Clarke nói.
“Không. Vì ngay khi gặp ông ta tôi đã biết ông ta không thể nào phạm tội được! Ông ta không đủ dũng khí cũng không có gan và tài trí để lên kế hoạch! Suốt cuộc điều tra tôi đã để ý thấy có hai tính cách tồn tại song song trong con người của kẻ sát nhân. Vụ này có hai kiểu người tham gia: kẻ sát nhân đích thực thì quỷ quyệt, giỏi xoay xở và liều lĩnh còn kẻ giả mạo thì ngu ngốc, hay do dự, và dễ bị ảnh hưởng.
Dễ bị ảnh hưởng - chính cụm từ này bao hàm sự bí ẩn của ông Cust! Anh Clarke ạ, anh chưa có đủ công cụ để lập mưu thực hiện một loạt vụ án nhằm làm người ta đừng chú ý đến một vụ án. Anh cũng cần có người thế thân.
Tôi nghĩ trong đầu anh lóe lên ý tưởng đó sau khi anh tình cờ gặp con người kỳ quặc có cái tên nghe rất kiêu này ở một quán cà phê trong thành phố. Vào thời điểm đó trong đầu anh đang suy tính nhiều phương án khác nhau để giết anh trai”.
“Thế ư? Vì sao chứ?”
“Bởi vì anh thật sự lo sợ cho tương lai của mình. Anh Clarke ạ, tôi không biết anh có để ý không nhưng anh đã vô tình tiếp tay cho tôi khi anh đưa cho tôi xem bức thư anh trai anh viết cho anh. Trong bức thư đó, ông ấy nói rất rõ tình cảm và lòng yêu mến của ông đối với cô Thora Grey. Sự quan tâm của ông ấy có thể chỉ như tình cha con hay ông ấy cố nghĩ như thế. Dù sao đi nữa, điều đó cũng tiềm ẩn nhiều nguy hiểm vì khi chị dâu của anh qua đời, trong lúc cô đơn, ông ấy có thể quay sang cô gái xinh đẹp để tìm nguồn cảm thông và an ủi. Và kết thúc có thể là ông ấy sẽ cưới cô ta, điều đó hay xảy ra với những người đàn ông lớn tuổi lắm. Càng biết về cô Grey thì nỗi lo sợ của anh càng lớn. Tôi nghĩ anh là một người rất đa nghi. Anh đánh giá, đúng hay sai cũng mặc, rằng cô Grey là loại phụ nữ trẻ ‘bất chấp tất cả để có được danh vọng’. Anh chắc chắn cô ấy sẽ chộp lấy cơ hội để trở thành phu nhân Clarke. Anh trai anh vẫn còn rất khỏe và cường tráng. Họ có thể sẽ có con và thế là cơ hội thừa hướng gia tài của ông anh tan thành mây khói.
Tôi nghĩ bấy lâu nay từ trong sâu thẳm lòng mình anh thấy thất vọng với chính bản thân. Anh là hòn cuội lăn nên tích cóp được rất ít của cải. Thế nên anh đem lòng ghen tị với sự giàu có của anh trai.
Tôi nhắc lại ý lúc nãy, anh có rất nhiều âm mưu trong đầu và cuộc gặp gỡ của anh với ông Cust đã làm lóe lên trong đầu anh một ý tưởng. Cái tên khoa trương, bệnh động kinh, dáng vẻ rúm ró và không có gì nổi trội của ông ta đã khiến anh biến ông ta thàng công cụ anh muốn. Toàn bộ kế hoạch bảng chữ cái lóe lên trong đầu anh chủ yếu dựa vào những chữ cái đầu tiên trong tên của ông Cust và tình cờ tên của anh trai của anh cũng bắt đầu bằng chữ C và ông ấy ở Churston. Ngoài ra anh còn dám nói với ông Cust tiên đoán của anh đối với cái chết của ông ấy dù anh cũng không dám mong lời nói đó của anh sẽ mang lại kết quả, thế mà có đấy!
Những sắp xếp của anh quả là hoàn hảo. Anh lấy tên ông Cust để đặt một kiện hàng bít tất lớn gửi vào địa chỉ của ông ta. Chính anh cũng gửi cho ông ta những gói nhỏ tương tự khác mà A B C nghĩ đó là hàng hóa. Anh gửi cho ông ta một bức thư mà thật ra là thư đánh máy giả mạo như được gửi từ công ty đó để giao cho ông ấy một công việc lương cao. Mọi kế hoạch của anh đều được sắp xếp trước hết sức chu đáo mà bằng chứng là anh đánh máy những bức thư để sau đó anh gửi đi và tặng luôn cho ông ấy cái máy mà anh đã dùng để đánh máy mấy bức thư đó.
Tiếp theo anh tìm hai nạn nhân có tên bắt đầu lần lượt bằng chữ A và B sống ở những nơi cũng bắt đầu bằng những chữ cái tương ứng.
Anh chọn Andover để ra tay và sau khi do thám trước anh quyết định chọn cửa hàng bà Ascher là nơi gây án đầu tiên. Tên của bà được viết rõ ràng trên cửa lớn, và qua thăm dò anh biết bà luôn ở cửa hàng một mình. Giết được bà ấy đòi hỏi sự táo tợn, liều lĩnh và cả may mắn nữa.
Đối với chữ cái B, anh phải thay đổi chiến thuật. Rõ ràng những người phụ nữ đơn thân và bán ở cửa hàng đều đã được cảnh báo hết. Tôi đoán anh thường xuyên lui tới mấy quán ăn nhỏ và quán trà để trêu đùa và cười cợt cùng với mấy cô gái ở đó nhằm tìm ra cô nào có tên đúng với chữ cái phù hợp mục đích của anh.
Ở Betty Barnard anh tìm được đúng loại con gái mà anh cần. Anh rủ cô ấy đi chơi một hai lần và giải thích rằng anh đã có vợ nên những buổi hẹn hò phải là những nơi hơi bí mật chút xíu.
Thế là mọi sự chuẩn bị đã hoàn thành, giờ thì anh bắt đầu ra tay! Anh gửi danh sách những người ở Andover cho Cust và hướng dẫn ông ta đến nơi này đúng vào ngày đó rồi anh gửi bức thư A B C đầu tiên cho tôi.
Vào đúng ngày đã định anh đến Andover và giết bà Ascher mà không bị ai ngăn trở cả.
Vụ giết người thứ nhất đã hoàn thành xuất sắc.
Đối với vụ thứ hai, anh tiến hành thận trọng hơn, thực tế anh ra tay ngay ngày trước đó. Tôi khá chắc chắn Betty Barnard bị giết ngay trước nửa đêm ngày 24 tháng 7.
Bây giờ chúng ta qua vụ thứ ba - vụ án quan trọng hay nói đúng hơn theo quan điểm của anh thì đây mới thật sự là vụ giết người anh nhắm đến.
Và ở vụ này mọi công trạng đều thuộc về Hastings vì ông ấy đã nhận xét một cách đơn giản và rõ ràng một chi tiết mà không ai để ý.
Ông ấy cho rằng người ta cố ý để thất lạc bức thư thứ ba!
Và ông ấy đã đúng!...
Chỉ trong chứng cứ đơn giản đó thôi tôi đã tìm ra câu trả lời cho câu hỏi mà bấy lâu tôi thắc mắc. Tại sao những bức thư đó ngay từ đầu đều được gửi đến cho Hercule Poirot, một thám tử tư mà không phải là gửi cho cảnh sát?
Tôi từng tưởng nhầm là vì một lý do cá nhân nào đó.
Nhưng hoàn toàn không phải thế! Những bức thư đó gửi đến cho tôi vì mấu chốt của kế hoạch của anh là anh muốn một trong những bức thư đó viết sai địa chỉ và bị thất lạc - nhưng anh không thể lên kế hoạch để một bức thư gửi cho Bộ phận Điều tra Tội phạm của Scotland Yard bị thất lạc được! Điều tiên quyết là nơi nhận phải là địa chỉ của một cá nhân. Anh chọn tôi vì tôi là người khá nổi tiếng và tôi chắc chắn sẽ đưa những bức thư đó cho cảnh sát, ngoài ra với bản tính hẹp hòi của mình, anh lấy làm vui sướng khi thắng được một người ngoại quốc.
Anh ghi địa chỉ trên bì thư rất khôn ngoan - Whitehaven - Whitehorse - những từ viết nhầm rất hay dễ mắc phải. Chỉ có Hastings là đủ tỉnh táo để không quá tập trung vào những thứ xa vời mà nhìn thẳng vào thứ rõ ràng trước mắt!
Đương nhiên bức thư đó người ta cố ý để nó bị thất lạc! Cảnh sát vào cuộc tìm kiếm chỉ khi vụ giết người đã diễn ra trót lọt. Anh trai anh có thói quen đi dạo vào buổi tối đã tạo cơ hội cho anh ra tay. Nỗi kinh hoàng về A B C hoàn toàn chiếm trọn tâm trí công chúng nên chẳng ai nghi ngờ gì anh cả.
Sau cái chết của anh trai, đương nhiên mục tiêu của anh đã hoàn thành. Anh không muốn tiến hành thêm vụ giết người nào nữa. Tuy vậy, nếu những vụ giết người đột ngột dừng lại mà không có lý do gì thì người ta sẽ nảy sinh nghi ngờ.
Thế thân của anh là ông Cust đã đóng vai người tàng hình hết sức thành công, vì ông ta chẳng có gì nổi bật nên cho đến bây giờ không ai nhận ra cùng một người đã xuất hiện ở gần hiện trường ba vụ án mạng đó! Anh rất bực mình vì ngay cả chuyện ông ta đến Combeside người ta cũng không hề đả động tới. Ngay cả cô Grey cũng chẳng nhớ gì đến chuyện đó.
Vốn có máu liều lĩnh, anh quyết định ra tay thêm một vụ nữa nhưng lần này phải để lại dấu vết.
Anh chọn Doncaster làm nơi ra tay.
Kế hoạch của anh khá đơn giản. Theo lẽ tự nhiên, đích thân anh có mặt ở hiện trường. Cust sẽ được công ty cử đến Doncaster. Kế hoạch của anh là đi theo ông ta và tìm cơ hội ra tay. Mọi thứ diễn ra tốt đẹp cả. Cust vào rạp chiếu phim. Điều đó khiến cho việc ra tay càng dễ. Anh ngồi cách ông ta một vài ghế. Khi ông ta đứng lên để ra về anh cũng đi theo. Anh giả vờ ngã và rướn người về phía trước rồi đâm một người đàn ông đang ngủ gật ở hàng ghế trước sau đó đặt quyển A B C lên gối ông ta và rồi cố tình tông mạnh vào Cust ở lối ra tối om, quệt con dao vào tay áo ông ta rồi chuồi nó vào túi ông ấy.
Anh chẳng cần nhọc công chọn nạn nhân phải có tên bắt đầu bằng chữ cái D. Ai cũng được! Anh cho rằng người ta sẽ coi đó là một sự nhầm lẫn, và anh đã đúng. Chắc chắn trong đám khán giả có người tên bắt đầu bằng chữ D ngồi cách đó không xa. Người ta sẽ cho rằng ông ta mới chính là nạn nhân anh định giết.
Các anh chị ạ, bây giờ chúng ta hãy xét từ quan điểm của A B C giả, của Cust.
Vụ Andover chẳng có ý nghĩa gì đối với ông ta cả. Còn vụ Bexhill khiến ông ta ngạc nhiên và sửng sốt - vì sao, là vì chính ông ta cũng có mặt gần đó khi vụ án xảy ra! Rồi đến vụ Churston và các tiêu đề bài báo. Vụ A B C ở Andover ông ta cũng có mặt ở đó, vụ Bexhill cùng thế và giờ đây một vụ khác xảy ra... Cả ba vụ án, vụ nào ông ta cũng có mặt ở hiện trường. Những người bị mắc chứng động kinh thường hay đãng trí, họ không thể nhớ họ đã làm gì... Nên nhớ Cust rất hay căng thẳng và lo lắng quá mức và rất dễ bị ám thị.
Rồi ông ta nhận lệnh đi công tác ở Doncaster.
Doncaster! Và vụ án A B C tiếp theo sẽ diễn ra ở Doncaster. Hẳn ông ta có cảm tưởng như số phận đã an bài. Ông ta mất bình tĩnh, nghĩ rằng bà chủ nhà đang nhìn mình với vẻ nghi ngờ nên ông ấy nói với bà là ông chuẩn bị đi Cheltenham.
Ông ta đi Doncaster vì đó là nhiệm vụ. Buổi chiều ông ta đi xem phim. Chắc là ông ta ngủ thiếp đi một vài phút.
Hãy tưởng tượng cảm giác của ông ta khi quay về nhà trọ và nhận ra có vết máu trên tay áo và con dao dính máu trong túi áo của mình. Những dự đoán mơ hồ của ông ta trước đây trở nên chắc chắn hơn.
Ông ta - chính ông ta - là ké giết người! Ông ta nhớ đến những cơn đau đầu của mình - trí nhớ nhầm lẫn của ông. Ông ta tin chắc rằng - ông ta, Alexander Bonaparte Cust, chính là kẻ cuồng sát.
Sau đó, hành xử của ông ta như con thú bị săn. Ông quay lại nhà trọ ở Luân Đôn. Ở đó ông ta được an toàn - ông nghĩ thế. Họ sẽ cho rằng ông ta mới đi Cheltenham về. Ông ta mang cả con dao về - đương nhiên đó là hành động quá dại dột. Ông ta giấu nó phía sau giá treo mũ áo.
Rồi một ngày nọ ông ta được cảnh báo là cảnh sát đang đến bắt ông ta. Thế là hết! Họ biết hết rồi!
Con thú bị săn cố chạy thoát thân lần cuối...
Tôi không biết sao ông ta lại đi đến Andover - tôi nghĩ việc đó thật không sáng suốt chút nào vì đi xem nơi vụ án đã diễn ra - vụ án ông ta gây ra mà chính ông ta không hề nhớ gì về nó cả...
Ông ta không còn một xu dính túi - ông ta đã kiệt sức... chân ông tự đưa ông ta đến đồn cảnh sát.
Nhưng ngay cả con thú bị dồn vào chân tường cũng sẽ kháng cự. Cust hoàn toàn tin ông ta gây ra những vụ án mạng đó nhưng vẫn một mực cho rằng mình vô tội. Và trong cơn tuyệt vọng ấy, ông ta vin vào cái chứng cứ ngoại phạm ở vụ giết người thứ hai. Ít ra, vụ đó người ta không thể quy cho ông ta được.
Như tôi đã nói, khi tôi gặp ông ta, tôi biết ngay ông ta không phải là kẻ sát nhân và cái tên của tôi chẳng có ý nghĩa gì với ông ta cả. Tôi cũng biết ông ta nghĩ ông ta là kẻ giết người!
Sau khi ông ta thú nhận mọi tội lỗi với tôi, tôi càng chắc như đinh đóng cột rằng giả thiết của tôi hoàn toàn đúng”.
Franklin Clarke nói: “Giả thiết của ông vô lý quá!”
Poirot lắc đầu.
“Không đâu anh Clarke ạ. Anh được an toàn vì không ai nghi ngờ anh cả. Một khi anh bị nghi ngờ thì chứng cứ sẽ dễ tìm thấy lắm”.
“Chứng cứ ư?”
“Đúng thế. Tôi thấy cây gậy mà anh sử dụng ở vụ Andover và Churston nằm trong tủ ở Combeside. Một cây gậy bình thường có cán dày. Một phần gỗ bị đẽo đi và được đổ chì vào đó. Ảnh của anh được chừng sáu bảy người nhận diện, họ nói họ thấy anh rời rạp chiếu phim mà lẽ ra lúc ấy anh phải ở trường đua ngựa ở Doncaster chứ. Anh cũng bị Milly Higley và một cô gái ở Scarlet Runner Roadhouse - nơi anh đưa Betty Barnard đến ăn tối vào buổi chiều định mệnh đó nhận ra. Và chứng cứ cuối cùng cũng quan trọng nhất, đó là anh xem nhẹ một khâu đề phòng cơ bản nhất. Anh đã để lại dấu vân tay trên chiếc máy đánh chữ của Cust - cái máy đánh chữ mà nếu vô tội anh đã không sờ mó gì vào đó rồi”.
Clarke ngồi bất động trong vài giây rồi anh nói: “Chẳng qua chỉ là trò đỏ đen thôi! Ông thắng rồi đó, ông Poirot! Nhưng cũng đáng thử lắm!”
Với một động tác rất nhanh, anh ta lôi từ trong túi ra một khẩu súng lục và chĩa vào đầu mình.
Tôi la lên và vô tình chững lại chờ nghe tiếng nổ. Nhưng không có tiếng nổ nào phát ra cả, cò súng đánh tách một tiếng trống không.
Clarke nhìn khẩu súng ngỡ ngàng rồi thốt ra một tiếng chửi thề.
Poirot nói: “Không được đâu, anh Clarke ạ. Chắc anh đã để ý thấy hôm nay tôi có một người giúp việc mới - anh ấy là bạn tôi - một tay trộm chuyên nghiệp. Anh ta lấy khẩu súng lục từ túi của anh, tháo đạn ra, rồi trả lại chỗ cũ mà anh không hề hay biết gì”.
Clarke la lên, mặt anh ta tím lại vì giận: “Ông đúng là thằng ngoại quốc láo xược khốn khiếp!”
“Vâng, vâng, anh nghĩ thế mà. Không được đâu, anh Clarke, không có cái chết dễ dàng cho anh đâu. Anh kể với Cust rằng anh đã vài lần suýt chết đuối. Anh biết nó có nghĩa là gì không - nghĩa là anh sinh ra để nhận lấy một kết cục khác”.
“Ông...”
Anh ta nghẹn ngào không nói nên lời. Khuôn mặt anh ta xám ngắt. Anh ta nắm đấm tay lại vẻ đe dọa.
Hai thám tử của Scotland Yard ở phòng bên xuất hiện. Một trong hai người đó là Crome. Anh ta bước tới và trịnh trọng nói: “Tôi cảnh cáo ông rằng những gì ông sắp nói với chúng tôi sẽ dùng làm bằng chứng ở tòa”.
“Anh ta nói đủ rồi đấy”, Poirot đáp, và quay sang Clarke: “Anh đúng là con người cao ngạo hẹp hòi nhưng tôi cho rằng vụ án của anh không phải là vụ án của một người Anh chân chính - không thẳng thắn - không có tinh thần thể thao chút nào”.
-------------------------------------------------
[font="verdana"][size="3"][color="#000099"][1] Nhưng đúng thế đấy!
[/color][/size][/font]
0
Ba mươi lăm
Hồi kết
 
I

Tôi xin lỗi phải kể rằng ngay khi Franklin Clarke đi rồi và cánh cửa đã đóng lại thì tôi ôm bụng cười chảy cả nước mắt.
Poirot nhìn tôi với vẻ hơi ngạc nhiên.
Tôi vừa thở hổn hển vừa nói: “Vì ông bảo anh ta là hành vi phạm tội của anh ta chẳng có tinh thần thể thao chút nào”.
“Đúng thế mà. Thật kinh tởm - không phải vì anh ta giết anh trai mình - mà là dã tâm đưa một người đàn ông không may vào chỗ chết. Bắt được một con cáo, nhốt vào trong chuồng báo, không cho nó chạy tháo! Đó không phải là thể thao!”
Megan Barnard thở dài.
“Không thể tin được, thật không thể tin nổi. Đó là sự thật sao?”
“Đúng thế cô gái ạ. Ác mộng đã qua rồi”.
Cô gái nhìn ông, mặt cô ửng hồng.
Poirot quay sang Fraser.
“Bấy lâu nay, cô Megan cứ bị ám ảnh và lo sợ rằng anh chính là người gây ra vụ án thứ hai”.
Donald Fraser lặng lẽ nói:
“Có lần tôi cũng nghĩ thế mà”.
“Vì giấc mơ của anh đúng không?” Ông nhích lại gần chàng trai trẻ và thì thầm vào tai anh ta vẻ bí mật. “Giấc mơ của anh có cách giải thích rất đơn giản. Đó là vì anh nhận ra rằng hình ảnh của cô em mờ dần trong tâm trí anh và thay vào đó là hình ảnh cô chị. Cô Megan đã thay thế em mình trong trái tim anh nhưng vì anh không chịu được ý nghĩ mình thay đổi quá mau nên anh cố gắng dập tắt ý tưởng đó, vùi dập nó đi! Đó là lời giải cho giấc mơ của anh đấy”.
Đôi mắt Fraser nhìn về phía Megan.
“Đừng ngại phải quên đi”, Poirot nhẹ nhàng nói tiếp. “Cô ấy không đáng để anh nhớ. Còn Megan là người phụ nữ hiếm có - một trái tim tuyệt đẹp!
Đôi mắt Donald Fraser ánh lên rạng ngời.
“Tôi tin ông nói đúng đấy ạ”.
Chúng tôi xúm quanh Poirot để hỏi và làm sáng tỏ những điều chúng tôi chưa rõ.
“Poirot này, những câu hỏi lần trước mà ông hỏi mọi người ấy, chúng có ý nghĩa gì không?”
“Một vài câu chỉ là hỏi đùa thôi. Nhưng tôi khám phá ra được một điều mà tôi muốn biết - đó là Franklin Clarke đã ở Luân Đôn khi lá thư đầu tiên được gửi đi - và tôi cũng muốn xem anh ta phản ứng như thế nào khi tôi hỏi cô Thora câu hỏi đó. Anh ta đã mất cảnh giác. Tôi thấy trong mắt anh ta trào lên sự hận thù và giận dữ”.
Thora Grey nói: “Ông chẳng màng gì đến cảm nhận của tôi cả”.
Poirot lạnh lùng đáp: “Tôi nghĩ cô sẽ không thành thật trả lời tôi, cô gái ạ. Và giờ đây, mong ước thứ hai của cô cũng lại không thành rồi. Franklin Clarke sẽ không được thừa kế tài sản của anh trai đâu”.
Cô ta hất đầu lên.
“Tôi có cần phải nán lại để nghe ông sỉ nhục không chứ?”
“Đương nhiên là không rồi”, Poirot nói và lịch sự mở cửa cho cô ta về.
“Dấu vân tay đó đã móc nối mọi chứng cứ lại với nhau, Poirot nhỉ”, tôi trầm ngâm. “Anh ta hoàn toàn suy sụp khi ông nhắc đến chúng”.
“Ừ, những vân tay đó - có ích thật”.
Ông nói thêm vẻ thận trọng:
“Tôi đưa nó vào để làm ông hài lòng đấy, ông bạn ạ”.
“Poirot”, tôi la lên, “không phải là thật sao?”
Hercule Poirot đáp: “Hoàn toàn không, ông bạn”.

II

Tôi phải kể chuyện ông Alexander Bonaparte Cust ghé thăm chúng tôi vài ngày sau đó. Sau khi đã bắt tay Poirot thật chặt và cố gắng nói thật rõ mà không tài nào nói được lời cảm ơn ông bạn tôi, Cust đứng thẳng người lên và nói: “Ông biết sao không, một tờ báo vừa mới đề nghị trả cho tôi 100 đồng bảng Anh - 100 đồng bảng Anh - để kể cho họ nghe về cuộc đời và tiểu sử của tôi... Tôi... Tôi thật sự không biết phải làm gì”.
Poirot đáp: “Nếu là tôi, tôi sẽ không nhận 100 bảng đâu. Ông phải quyết đoán. Nói với họ giá của ông là 500. Và đừng bán thông tin của ông cho một báo thôi”.
“Ông thật sự nghĩ rằng... tôi có thể...”
“Ông phải biết giờ đây ông là người rất nổi tiếng”, Poirot mỉm cười nói. “Chính xác là người nổi tiếng nhất nước Anh lúc này”.
Ông Cust đứng thẳng người lên chút nữa. Niềm vui hiện lên rạng rỡ trên khuôn mặt.
“Ông biết sao không, tôi nghĩ ông nói đúng! Nổi tiếng! Ở tất cả các báo. Tôi sẽ nghe theo lời ông, ông Poirot ạ. Có tiền thật là dễ chịu... dễ chịu thật đấy. Tôi sẽ làm một chuyến đi nghỉ ngắn ngày... Rồi tôi sẽ mua một món quà cưới thật đẹp để tặng Lily Marbury - cô bé ấy dễ thương lắm - rất là dễ thương, ông Poirot ạ”.
Poirot vỗ vào vai Cust để khích lệ tinh thần ông ta.
“Ừ, đúng thế. Ông phải tận hưởng cuộc sống chứ. À, và có chuyện nhỏ này nữa, tôi nghĩ ông nên đi khám bác sĩ nhãn khoa. Những cơn đau đầu có thể là do ông cần phải thay kính mới”.
“Ông nghĩ lâu nay tôi bị đau đầu là do thế à?”
“Vâng”.
Ông Cust nồng nhiệt bắt tay Poirot.
“Ông là một người vĩ đại, ông Poirot ạ”.
Như thường lệ, Poirot không chối từ lời khen của ai. Ông thậm chí còn không giả vờ tỏ ra khiêm tốn gì cả.
Khi ông Cust oai vệ bước ra về, ông bạn cũ của tôi nhìn tôi cười nói:
“Thế đấy Hastings - chúng ta đã lại đi săn lần nữa, đúng không nào? Thể thao muôn năm”.

[font="verdana"][size="3"][color="#ff0000"]HẾT

[/color][/size][/font]
0
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn và chúc casau luôn vui
 





0
«« « 1 2 » »»