9
John và Marie Kenyon đáp máy bay đi Pittsburgh.
Người ta đã đưa cô bé vào bệnh viện để khám bệnh. Vào ngày hôm sau, trong chương trình tin tức trên truyền hình, Sarah nhìn thấy cha mẹ của cô rời khỏi bệnh viện đi cùng với Laurie. Sarah đứng trước tivi, nắm chặt hai tay lại. Laurie đã cao hơn, đầu tóc vàng của nó rối nùi. Nhưng có một điều gì khác nữa, đó là Laurie vẫn có vẻ tự tin như lúc nào. Ngày hôm nay, dù cho cô bé đang cúi đầu xuống nhưng mắt không ngừng liếc ngang liếc dọc, tựa như thể cô tìm một thứ gì đó mà cô sợ phải nhìn thấy.
Phóng viên báo chí vây quanh cô, đặt nhiều câu hỏi đến mức cô không kịp trả lời. John Kenyon đáp lại bằng một giọng mệt mỏi và căng thẳng:
- Các bác sĩ đã xác nhận với chúng tôi là Laurie vẫn khỏe mạnh, dù cho cô bé có gầy đi nhiều. Dĩ nhiên là cô bé hơi mất bình tĩnh và lo âu.
- Cô bé có nói gì về các tên đã bắt cóc không?
- Không, cô bé không nói một điều nào hết. Tôi xin các anh, chúng tôi rất cảm kích về mối quan tâm của các anh, nhưng chúng tôi muốn được yên ổn với gia đình. Giọng của người cha gần như muốn van xin vậy.
- Có dấu hiệu nào cho thấy người ta đã lạm dụng tình dục với cô bé không?
Sarah nhìn thấy nỗi hoảng sợ hiện ngay trên mặt của mẹ.
- Không! tuyệt đối không có, bà đáp lại. Giọng của bà như đang hoảng hốt. Chúng tôi nghĩ những kẻ đã bắt cóc Laurie chỉ vì muốn có một đứa con gái mà thôi. Chúng tôi cũng hy vọng là bọn chúng sẽ không gây cơn ác mộng này cho một gia đình nào khác.
Sarah cảm thấy cần phải giải tỏa năng lượng đang sôi sục trong người cô. Cô sẽ đi làm giường cho Laurie với những thứ có hình Cô Bé Lọ Lem mà em mình rất thích. Rồi cô sắp xếp các món đồ chơi được ưa thích hơn hết vào trong phòng ngủ, như cặp búp bê song sinh trong hai chiếc nôi, căn nhà nhỏ của búp bê, chú gấu con, các quyển sách về Chú Thỏ Jeannot. Cô xếp cái mền bùa hộ mệnh trên cái gối.
Laurie rất thích món mì dẹp. Sarah liền phóng xe đạp đến cửa hàng thực phẩm để mua phô mai, loại mì dẹp và thịt bằm. Điện thoại không ngừng reo khi cô đang loay hoay trong bếp, nhưng cô cũng đã thuyết phục được những người quen hãy chờ thêm vài ngày trước khi đến thăm Laurie.
Cha mẹ cô chắc đến sáu giờ tối mới về đến nhà. Đến bảy giờ ba mươi, món mì đã được để trong lò, đĩa xà lách trong tủ lạnh và cái bàn cho bốn người ăn đã được dọn xong. Sarah lên thay quần áo. Cô nhìn vào trong gương. Trong hai năm vừa qua, cô đã cao thêm được tám phân, từ một thước sáu mươi hai lên đến một thước bảy mươi. Tóc của cô giờ được cắt ngắn chớ không bồng bềnh ở sau lưng nữa. Trước kia thân hình cô dẹp như một một tấm ván ủi đồ, nhưng với cái tuổi mười bốn cô bắt đầu có ngực rồi. Và cô mang kính sát tròng thay cho loại kính đeo.Sarah nhớ mình có một chiếc quần jean và một áo thun, hôm trước ngày Laurie bị bắt đi. Nó vẫn còn trong tủ, cô lấy nó ra và mặc cùng với quần jean đó.
Phóng viên đài truyền hình chen lấn với nhau trên lối ra vào ngôi nhà, khi chiếc xe của họ vừa về đến. Nhóm bạn bè và những người láng giềng thì đứng ở phía sau. Tất cả mọi người vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt khi cánh cửa xe được mở ra. John và Marie Kenyon xuất hiện cùng Laurie.
Sarah chạy tới người em của mình và quỳ gối xuống. “Laurie ơi” cô thì thầm. Cô dang hai tay ra nhưng Laurie lại lấy tay bụm mặt mình lại. Con bé nghĩ chắc mình đánh nó đây, cô thầm nhủ.
Và rồi chính cô ôm Laurie để đưa em mình vào trong nhà trong khi cha mẹ cô trả lời câu hỏi của phóng viên.
Laurie dường như không còn nhận ra ngôi nhà nữa. Cô bé không hề mở miệng. Trong bữa ăn tối, cô cúi mặt xuống cái đĩa và ăn trong im lặng. Khi ăn xong cô đứng lên đem cái đĩa dơ xuống rửa, sau đó tiếp tay dọn bàn.
Marie đứng lên.
- Cưng à, con không cần phải…
- Mẹ cứ để cho em làm đi, Sarah nhỏ nhẹ nói với mẹ. Con sẽ phụ Laurie dọn bàn, nó giờ đã thật sự lớn rồi, và như trước kia em con thường giúp chị mình rửa chén. Em có nhớ không?
Cả bốn người họ sau đó lên phòng khách nhỏ và Sarah bật máy tivi lên. Laurie tự nhiên run người khi John và Marie bảo cô lại ngồi giữa họ.
- Con bé đang hoảng sợ đấy, Sarah báo cho họ. Cha mẹ cứ làm như nó không có mặt ở đây đi.
Mắt của bà mẹ ửng lệ, nhưng bà làm như đang theo dõi chương trình. Laurie ngồi xếp bằng dưới đất, chọn một chỗ mà cô có thể xem rõ mà không ai nhìn thấy mình được.
Đến chín giờ tối, khi Sarah đề nghị cô đi tắm nước nóng trước khi đi ngủ, con bé tỏ ra hoảng loạn thật sự. Cô ôm hai đầu gối sát vào ngực và che mặt trong hai tay. Sarah và bố cô nhìn nhau không biết nói gì.
- Con bé cưng tội nghiệp, ông nói. Con chưa muốn đi ngủ bây giờ, có đúng không?
Sarah nhìn thấy sự từ chối chấp nhận sự thực trong ánh mắt của cô bé, y hệt như mẹ cô vậy.
- Chỉ vì mọi thứ còn quá lạ lẫm đối với em phải không, Sarah nhận xét.
Marie cố hết sức mình để không bật khóc.
- Con bé sợ chúng ta, bà thì thầm.
- Không, Sarah tự nhủ. Nó sợ phải lên giường, nhưng tại sao vậy?
Họ cứ để mở tivi. Đến mười giờ thiếu mười lăm, Laurie nằm lăn ra ngủ ngay trên sàn nhà. Chính Sarah bồng cô lên phòng, thay quần áo và đưa cô lên giường, không quên nhét con gấu cưng vào trong tay con bé.
John và Marie bước rón rén vào trong phòng, ngồi hai bên chiếc giường nhỏ sơn trắng, bị cuốn hút trong phép lạ được ban cho họ, không nhận thấy Sarah đã âm thầm bước ra khỏi chỗ đó.
Laurie ngủ rất lâu nên thức dậy muộn. Sarah đến thăm cô, đứng nhìn thật âu yếm các lọn tóc vàng dài được trải trên chiếc gối, nhìn cái thân hình co ro của con bé đang ôm con gấu. Cô vẫn giữ lới hứa mà cô đã thề với Chúa “Con sẽ luôn chăm sóc cho nó.”
Bố mẹ cô đã dậy rồi. Họ dường như đã kiệt sức nhưng tràn đầy hạnh phúc.
- Bố mẹ thường vào phòng nó để kiểm tra xem nó có thật sự đang nằm đấy, Marie nói. Sarah ơi, bố mẹ vừa nói là bố mẹ không biết sẽ sống hai năm vừa rồi như thế nào nếu như không có con.
Sarah giúp mẹ mình làm bữa ăn sáng ưa thích của Laurie, bánh quế và thịt hun khói. Vài phút sau, Laurie lót tót đi vào trong chiếc áo ngủ, giờ đã cao lên đến gối, kéo theo cái mền vật linh của mình. Nó leo lên đùi của Marie.
- Mẹ à, con bé nói bằng giọng hờn dỗi, hôm qua con muốn đi bơi nhưng Beth cứ nói chuyện trên điện thoại hoài.
10
12 tháng Chín 1991
Ridgewood, New Jersey
Trong lễ mixa, Sarah không ngừng quan sát Laurie qua khoé mắt. Hình ảnh hai cái quan tài ở chân bàn thờ dường như đã cuốn hút em cô. Nó nhìn trân trân, hai mắt khô ráo, gần như vô cảm với âm nhạc, với các lời cầu nguyện cũng như với bài thuyết giáo. Sarah luôn phải thúc cùi chỏ em mình để nhắc nhở nó phải đứng lên hay quỳ xuống.
Vào lúc cuối lễ, đến khi Ngài Fisher ban phép lành cho hai chiếc quan tài kia, Laurie thì thầm:
- Bố mẹ ơi, con xin bố mẹ tha thứ cho con, con sẽ không bao giờ đi ra đường một mình nữa.
- Này Laurie, Sarah nói khẽ.
Laurie nhìn sang Sarah với ánh mắt vô hồn, sau đó quay đầu đi chỗ khác và với ánh mắt ngạc nhiên nhìn sang đám đông trong nhà thờ. “Tất cả những người này”. Giọng nói trẻ trung của cô như rụt rè.
Ca đoàn cất tiếng bài thánh ca cuối cùng “Thiên ân tối thượng”.
Chen chúc trong đám đông ở cuối nhà thờ, một cặp vợ chồng cũng hát theo, trước còn nhỏ tiếng, nhưng mỗi lúc một lớn hơn. Người đàn ông dường như đã quá quen với việc hát đơn ca. Như thường lệ, ông bị cuốn hút theo và để cho giọng nam trung của mình vang cao hơn mấy giọng kia, gần như chế ngự cả giọng đơn ca yếu hơn. Cử tọa xoay đầu nhìn về hướng ông ta, thán phục.“Con đã lạc đường, nhưng Ngài đã tìm thấy con…”
Trong nỗi thống khổ và đau buồn, Laurie đột nhiên cảm thấy sự kinh hoàng lạnh cóng chiếm lấy người cô. Cái giọng đó, nó đang vang lên trong đầu, trong cả thân thể của cô.
Mình tiêu mất rồi, mình thật sự tiêu mất rồi, cô âm thầm rên rỉ.
Người ta khiêng các quan tài đi. Các bánh xe của cái bệ mà chiếc quan tài của mẹ cô được đặt trên đó kêu kèn kẹt. Cô nghe các bước chân đều đặn của các phu. Rồi đến tiếng gõ lách cách của chiếc máy đánh chữ.
“Con đã đui mù nhưng Ngài đã cho con nhìn thấy trở lại…”
- Không! Không! Laurie hét lên rồi ngã ra mê mẩn, không còn biết gì nữa.
Mấy chục bạn học của Laurie từ trường đại học Clinton đến dự buổi lễ mixa, cùng vài vị giáo sư. Ông Allan Grant, vị giáo sư Anh văn của cô lúc đó đang có mặt, tỏ ra rất cảm động khi nhìn thấy Laurie té xuống bất tỉnh.
Allan Grant là một trong các vị giáo sư được ưa thích nhất của Clinton. Vừa qua độ tuổi bốn mươi, ông có tóc bộ râu rối tung và cứng, đây đó điểm vài sợi bạc. Đôi mắt lớn thông minh đầy vẻ tinh nghịch là đặc điểm duy nhất của khuôn mặt khả ái hơi dài đó. Dáng vóc lêu nghêu trong cách ăn mặc thoải mái tạo cho ông một vẻ mà rất nhiều nữ sinh cho là hết sức quyến rũ.
Grant thật sự quan tâm đến các sinh viên của mình. Laurie đã đều đặn theo các tiết học của ông từ khi cô đến Clinton. Ông biết rõ quá khứ của cô và luôn tỏ ra chăm chú đến các hiệu ứng phụ bất ngờ liên quan đến việc bắt cóc kia. Những lần mà ông nhận thấy được một cái gì đó, là trong lớp các giờ sáng tác văn chương, Laurie không tài nào tự mình làm được một bài tiểu luận. Mặc dù, các lời phê bình về văn học hay các vở kịch của cô rất xác đáng và hết sức sâu sắc.
Ba ngày trước đây, cô đang ở trong lớp khi người ta gọi cô đến trình diện văn phòng giám hiệu ngay. Vì lớp học cũng gần đến giờ kết thúc và nhận thấy cô quá bối rối, nên ông đã đi theo cô. Khi họ vội vã băng qua sân trường, cô có nói với ông là bố mẹ cô phải đưa chiếc xe của cô lại đây để đổi chiếc của họ. Cô quên cho kiểm tra chiếc mui trần của cô, nên đã mượn chiếc xe của mẹ mình để có thể trở về trường sau lần nghỉ cuối tuần.
- Rất có thể họ bị trễ, cô nói như muốn trấn an chính mình. Mẹ tôi thường nói tôi hay lo cho bà một cách vô cớ. Nhưng bà không được khỏe cho lắm trong khi cha tôi sắp bảy mươi hai tuổi rồi.
Với vẻ sầu não, ông hiệu trưởng báo cho cô biết có một tai nạn xe cộ trên quốc lộ 78.
Ông Allan Grant đã đưa Laurie đến bệnh viện. Người chị Sarah của cô đã có mặt ở đấy. Một vành tóc nâu hung bao quanh một khuôn mặt với đôi mắt xám to lớn chìm trong khổ đau. Ông Grant đã gặp Sarah trong các buổi họp của trường đại học và ông có ấn tượng mạnh trước thái độ che chở Laurie của cô phụ tá bệnh lý.
Nét mặt của người chị liền cho biết là cha mẹ họ đã qua đời.
- Tại lỗi của tôi, lỗi của tôi, Laurie rên lên và gần như để ngoài tai lời nói của chị cô rằng cô không cần phải nhận lỗi về mình.
Ông Grant, với ánh mắt não lòng, nhìn người phụ trách tang lễ dìu Laurie ra khỏi nhà thờ với Sarah đi sát bên. Bước theo sau vị giám mục của giáo xứ, các người khuân vác đi dọc theo hành lang chánh. Tại hàng ghế trước mắt, ông thấy có một người đàn ông chen ra lối đi.
- Xin lỗi, tôi là bác sĩ đây, ông nói bằng một giọng nhỏ đầy uy quyền.
Linh tính bắt ông Allan Grant len ra lối đi để theo họ vào trong một căn phòng hẹp, nơi mà người ta vừa mang Laurie vào trong đấy. Cô được để nằm dài trên hai chiếc ghế đặt sát vào nhau. Sarah mắt không một giọt lệ, đang cúi xuống người em mình.
- Cô hãy để cho tôi, vị bác sĩ nói với Sarah.
Laurie cựa quậy và rên rỉ.
Vị bác sĩ vạch mắt cô ra, sau đó mới bắt mạch.
- Cô ấy đã dần hồi phục lại rồi, nhưng phải đưa cô về nhà ngay. Cô ấy không thể nào ra nghĩa địa được đâu.
- Tôi cũng nghĩ thế.
Allan nhận thấy Sarah phải nỗ lực hết sức mình để giữ bình tĩnh. Lúc đó cô xoay mặt qua nhìn ông và tỏ vẻ như mới thấy ông lần đầu.
- Sarah à, cô để tôi giúp cô đưa Laurie về nhà nghe, tôi nghĩ cô ấy sẽ cảm thấy an lòng khi có tôi đi cùng.
- Ồ, ông thật sự muốn thế sao. Trong một khoảnh khắc, ông thấy lòng biết ơn chiếm lấy chỗ của sự căng thẳng và đau buồn trong ánh mắt cô gái. – Mấy người láng giềng có làm một bữa tiệc nhỏ. Nhưng vì Laurie quá tin tưởng nơi ông, tôi cảm thấy thật sự an tâm.
“Con đã lạc dường, nhưng Ngài đã tìm thấy con…”
Một bàn tay được đưa về phía cô, giơ cao một con dao, một con dao đầy máu, chém qua lại trong không khí. Áo sơ mi và áo blu của cô dính đầy máu, cô còn cảm nhận được cái hơi hâm hấp của nó trên mặt cô. Một cái gì đó vừa rớt xuống đất. Con dao vừa…
Laurie mở mắt ra. Cô đang nằm trên chiếc giường trong căn phòng của mình. Tối đen. Nhưng chuyện gì đã xảy ra vậy?
Cô chợt nhớ lại. Nhà thờ, các quan tài, bài thánh ca.
- Sarah… ơi, cô rống lên, Sarah… ơi, chị đâu rồi?