📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Một quá khứ kinh hoàng - Mary Higgins Clark

16 trả lời, 346 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.12.2015 15:52:52 bởi Heoconmtv>

Một quá khứ kinh hoàng
Tác giả: Mary Higgins Clark
Dịch giả: Võ Liên Phương
Nhà xuất bản: NXB Văn học
Ngày xuất bản: 07-2003
Số trang: 350
 
Giới thiệu:
 
Laurie Kenyon, hai mươi mốt tuổi, bị bắt về tội giết chết vị giáo sư của mình. Mọi tang chứng đều buộc tội cô ta một cách không thể chối cãi được. Tuy nhiên Laurie không nhớ được gì hết, trong khi người chị Sarah không tin cô em mình có tội. Với sự giúp đỡ của một nhà tâm lý học, chị ta làm sống lại cái quá khứ kinh hồn cỉa Laurie: vụ cô em bị bắt cóc khi lên bốn tuổi, những cực hình cô bé phải gánh chịu, những rối loạn thần kinh bộc phát ngoài ý muốn của cô ta. Nhưng cũng trong lúc đó, một mối nguy hiểm nguy hại lại đang rình rập: cặp vợ chồng thủ phạm vụ bắt cóc đã tìm lại dấu vết của Laurie, lo sợ những tiết lộ của cô...
📎 Mot qua khu kinh hoang
Đăng nhập để trả lời
0
1
Tháng 6 năm 1974
Ridgewood, New Jersey
 
Bé Laurie Kenyon, ngồi xếp bằng dưới đất chơi búp bê ở một góc nhỏ của phòng khách được khoảng chừng mười phút. Con bé bốn tuổi đã chán cảnh chơi một mình như thế, nó thích được tắm trong hồ bơi hơn. Tiếng của bà mẹ và các vị khách vang ra từ trong phòng ăn, các vị khách này trước kia là bạn học chung một trường của mẹ nó tại New York.
 
Sarah chị của bé Laurie, thì đi dự tiệc sinh nhật ở nhà bạn. Mẹ sẽ cho Laurie đi hồ bơi cùng với Beth – một cô gái giữ trẻ – vào buổi tối. Nhưng khi mới vừa đến nhà, Beth lại bám riết lấy điện thoại.
 
Laurie hất các lọn tóc dài của em vì trời quá nóng. Cô bé đã lên phòng của mình thay bộ đồ tắm màu hồng mới, với ý định nhắc cho Beth nhớ…
 
Beth đang cuốn người trên chiếc ghế dài, ống điện thoại kẹp giữa tai và vai cô. Laurie kéo tay Beth “Em sẵn sàng rồi nè”. Beth tỏ vẻ giận dữ.
 
- Một chút xíu nữa em cưng, chị đang có chuyện quan trọng.
 
Laurie nghe chị ta thốt lên trong máy.
 
- Sao tôi ghét giữ em đến thế không biết nữa.
 
Laurie bỏ đi lại cửa sổ đưa mắt nhìn xuống đường, cô bé nhìn thấy một chiếc xe dài đang từ từ lướt ngang qua nhà, kế đến là một chiếc mui trần chở đầy hoa, và theo sau là một hàng xe với đèn pha được bật sáng. Mỗi khi cô bé thấy những chiếc xe như thế, Laurie tự nhủ là thế nào cũng có một cuộc diễu hành, nhưng mẹ cô thì nói là không, đây là một đoàn xe tang đang hướng tới nghĩa địa. Tuy nhiên người ta có cảm tưởng đây là một đoàn diễu hành và Laurie thích chạy dọc theo lối đi để quơ hai tay chào mừng đoàn xe đó. Đôi khi người ta vẫy tay chào lại bé.
 
Beth đã gác điện thoại. Laurie định nói với chị ta đưa bé ra ngoài nhìn đoàn xe kia nhưng chị ta lại chụp lấy điện thoại lần nữa. Beth dữ lắm, Laurie thì thầm. Cô bé rón rén đi ngang qua tiền sảnh, liếc nhìn vào trong phòng ăn. Mẹ và các bà bạn vẫn đang trò chuyện và cười đùa. Mẹ cô nói:
 
- Tôi không thể nào ngờ là tất cả chúng ta đều tốt nghiệp được ba mươi năm rồi.
 
Bà bạn ngồi cạnh bên đáp lại.
 
- Này Marie, ít ra chị cũng giấu được sự thật. Chị có một đứa con gái bốn tuổi, nhưng tôi thì có một đứa cháu bốn tuổi đấy.
 
- Dù gì thì chúng ta cũng còn phong độ chán, một bà khác cho biết ý kiến. Và tất cả mọi người đều phì cười.Họ không thèm nhìn đến Laurie, họ cũng thế, dữ lắm. Chiếc hộp nhạc mà người bạn của mẹ vừa đem đến được để trên bàn. Laurie chụp lấy nó, bỏ chạy dọc theo lối ra vào, chạy ra hướng đường nhựa, vẫn còn nhiều chiếc xe đang chạy ngang nhà. Cô bé quơ tay chào họ.
 
Laurie đứng đấy nhìn theo đoàn xe cho đến khi nó đi khuất hết mới thôi. Cô bé thở dài, hy vọng là mấy người bạn của mẹ sẽ mau chóng ra về. Cô bé lên dây thiều chiếc hộp nhạc và nghe tiếng đàn lanh lảnh của dương cầm cùng nhiều giọng hát bài “Chúng ta sẽ không vô rừng nữa đâu.”
 
Laurie mãi mê nghe nhạc trong chiếc hộp phát ra, không nghe tiếng xe chạy chậm và ngừng lại. Một người đàn bà ngồi sau tay lái. Người đàn ông ngồi cạnh bà ta, bước ra khỏi xe và bế Laurie lên xe, cô bé không biết chuyện gì đang xảy ra với mình, bé bị kẹp giữa hai người này trên băng trước. Laurie quá sửng sốt không nói được lời nào. Người đàn ông cười mỉm với bé, nhưng đây không phải là một nụ cười thân thiện. Tóc của người đàn bà phủ đến cổ cô bé và bà ta không có dùng môi son. Người đàn ông có râu và tay ông ta đầy lông quăn. Laurie bị kẹp sát đến nỗi bé cảm thấy chúng cọ vào da mình.
 
Chiếc xe phóng tới trước. Laurie ôm cứng lấy hộp nhạc. Tiếng hát trong hộp nhạc cất lên “Chúng ta sẽ không vô rừng nữa, hoa nguyệt quế đã bị cắt hết rồi”.
 
- Chúng ta đi đâu đây? cô bé sợ hãi hỏi, vì em không được phép đi đâu một mình. Cô bé nghĩ mẹ sẽ rất giận cho mà xem! Và muốn oà khóc.
 
Người đàn bà tỏ vẻ bực mình trong khi người đàn ông thì nói “Chúng ta sẽ không vô rừng nữa đâu bé con ơi, chúng ta sẽ không vô rừng nữa đâu.”
Đăng nhập để trả lời
0
2
 
Sarah bước đi khá nhanh trên con đường dốc, tay cầm một đĩa giấy thật cẩn thận trên đó có một phần bánh sinh nhật. Cô muốn dùng món này để tạ tội với bé Laune vì đã bỏ nó một mình trong khi mẹ đang tiếp khách.
 
Sarah một cô gái mảnh khảnh mười hai tuổi, cô có đôi mắt to màu xám, tóc hung và quăn lại mỗi khi trời ẩm ướt, nước da trắng sữa và một cái mũi lốm đốm tàn nhan. Cô không hề giống bố hay giống mẹ mình, mắt mẹ xanh và tóc vàng, còn tóc ông bố lúc nguyên thủy có màu hạt dẻ.
 
John và Marie Kenyon lớn tuổi hơn các bậc cha mẹ của những đứa trẻ đồng trang lứa với Sarah. Cô sợ họ sẽ chết trước khi cô chưa kịp khôn lớn. Một hôm ba mẹ Sarah cắt nghĩa:
 
- Bố mẹ đã lấy nhau cách đây mười lăm năm và không còn hy vọng có con nữa. Cho đến lúc ba mươi bảy tuổi, khi biết là mẹ sẽ sinh ra con. Một món quà của định mệnh. Tám năm sau đó Laurie chào đời… ồ Sarah ơi, đúng là một phép màu.
 
Khi học lớp bảy, Sarah có hỏi Sơ Catherine giữa hai thứ, một món quà và một phép màu, cái nào quý hơn.
 
- Một phép màu là món quà quý nhất mà người ta có thể nhận được, Sơ Catherine đã trả lời như thế. Bữa chiều đó, trong lớp học, Sarah đã khóc rất nhiều, nói láo rằng cô bị đau bụng.
 
Dù Laurie được cưng hơn nhưng Sarah vẫn thương bố mẹ thật lòng. Lúc mười tuổi, cô đã có một giao kèo với Thượng Đế. Nếu Ngài cho phép bố mẹ cô sống cho đến khi cô lớn khôn, cô đồng ý sẽ rửa chén mỗi đêm, sẽ chăm lo cho đứa em Laurie và không bao giờ nhai kẹo cao su nữa. Cô đã giữ lời hứa và cho đến giờ Thượng Đế đã nghe lời cầu xin của cô.
 
Với một nụ cười vô tư trên môi, Sarah quẹo nơi góc đường Oak và đứng sựng lại. Hai xe cảnh sát đang đậu ngay lối vào nhà, ngọn đèn quay trên mui còn hoạt động. Một số người hiếu kỳ đang chen chúc trong nhà, kể cả những người mới dọn đến ở, cách nhà cô một khoảng, mà thật ra họ cũng chưa làm quen với nhau nữa. Tất cả những người này đều tỏ ra hoảng sợ và buồn rầu, nắm chặt tay của con họ.
 
Sarah bổ chạy thật mau. Có thể bố hay mẹ cô bị bệnh chăng. Cô thấy Richie Johnson đứng trên bồn cỏ, anh này học chung một lớp với cô tại Mourtt Carmel. Cô bé hỏi anh ta tại sao nhà của cô lại đông người như thế.
 
Anh nhìn cô với ánh mắt phiền muộn. Laurie đã mất tích, anh cho biết như thế. Bà Whelan già có thấy một người đàn ông đưa cô bé lên một chiếc xe, nhưng lúc đó bà cũng không nghĩ là bé Laurie bị bắt cóc nữa.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.12.2015 15:57:26 bởi Heoconmtv>
3
 
1974 -1976.
Bethelem, Bang Pennsylvanie
 
Họ không đưa cô bé về nhà.
 
Họ đưa Laurie đến một căn nhà tồi tàn ở đâu đó trong rừng sâu. Họ sẽ đánh cô bé nếu mở miệng la. Trong suốt thời gian đó, người đàn ông giữ chặt lấy cô bé. Ông đưa cô bé lên cầu thang, Ông ta gọi cô bé bằng cái tên Lee. Tên của hai người này là Bic và Opal. Một thời gian sau, Laurie tập loại bỏ chuyện này trong tâm trí của mình. Cô bé khó có được 1 giấc ngủ bình yên. Mỗi khi nhớ cha mẹ hay chị Sarah, cô bé rơi nước mắt thì lập tức bị hai người kia đánh đập ngay. Họ ép buộc cô bé dứt khoát quên họ đi.
 
4
Lúc đầu cảnh sát ngày nào cũng đến nhà ba mẹ Sarah và chân dung bé Laurie được đăng trên trang nhất của tất cả các báo ở New Jersey và New York. Sarah với ánh mắt sầu não, nhìn bố mẹ cô trên màn hình tivi trong chương trình “Xin chào Nước Mỹ”.
 
Cả trăm người đã điện lại cho biết là họ đã nhìn thấy bé Laurie, nhưng tất cả các manh mối đó đều không mang lại một hiệu quả nào. Cảnh sát hy vọng bọn bắt cóc sẽ đưa ra đòi hỏi tiền chuộc nhưng vẫn không có gì.
 
Đã gần hết mùa hè. Càng ngày Sarah càng thấy mẹ mình buồn rầu hơn, họ luôn tìm thuốc trợ tim trong túi áo. Mỗi sáng, họ luôn đi lễ nhà thờ lúc bảy giờ, để cầu nguyện cho Laurie được mau chóng trở về nhà. Đôi khi Sarah thức giấc trong đêm lại nghe tiếng khóc nức nở của mẹ mình và những lời an ủi vô vọng của cha.
 
- Việc Laurie ra đời là một phép lạ, ông nói, và một phép lạ khác sẽ đưa con bé trở về.
 
Trường đã khai giảng khoá học. Sarah luôn là một học trò giỏi và từ nay cô sẽ vùi đầu vào trong sách vở, hy vọng việc học hành sẽ làm cô vơi đi nỗi buồn. Sarah ưa thích thể thao, cô bắt đầu học môn đánh gôn và tennis, tuy nhiên cô không thể nào quên được đứa em gái của mình. Cô bé nghĩ có thể Thượng Đế đã trừng phạt cô vì đôi khi cô lại ghen tị với đứa em mình, khi thấy cha mẹ cô bỏ nhiều thời gian chăm lo cho bé Laurie. Cô tự trách mình đã vắng nhà đi dự buổi tiệc sinh nhật ngày hôm đó, quên bén việc Laurie bị cấm ra khỏi nhà một mình. Cô hứa là nếu Chúa cho bé Laurie trở về nhà, cô sẽ chăm lo cho nó suốt đời.
Đăng nhập để trả lời
0
5
 
Mùa hè đã đi qua. Gió bắt đầu thổi xuyên qua các khe nứt của các bức tường và Laurie luôn cảm thấy lạnh. Một hôm Opal đem về cho cô bé mấy cái áo tay dài, một quần có yếm cùng một áo vest cho mùa đông. Những thứ này không đẹp bằng quần áo mà Laurie có ở nhà. Khi mùa hè trở lại, họ lại mua cho cô nhiều quần áo khác, mấy cái quần soọc, áo tay ngắn và đôi giày san-đan. Một mùa đông khác lại trôi đi. Laurie ngắm nhìn cây cổ thụ trăm tuổi trổ nụ trước cửa nhà, rồi lá phủ khắp các cành cây.
 
Bic có một máy đánh chữ cũ trong nhà. Tiếng gõ lóc cóc của nó vang đến tai cô khi cô đang bận rửa chén dưới bếp hay lúc cô đang xem truyền hình. Cô rất thích cái âm thanh dó vì cô biết lúc đó hắn ta sẽ không hành hạ cô.
 
Một lúc sau, hắn bước ra khỏi căn phòng với một xấp giấy trên tay, hắn bắt đầu đọc lớn tiếng những tờ giấy đó cho Opal và Laurie nghe. Lúc nào hắn cũng nói lớn tiếng và luôn kết thúc bằng những từ “Alléliua và Amen!” Và mỗi khi hắn đọc xong, Opal và cô cùng cất tiếng hát. Họ gọi như thế là thực tập những bài hát về Thượng Đế và ngôi nhà của Chúa.Ngôi nhà. Cô không được nghĩ đến từ này nữa, đó là những gì họ ra lệnh cho cô.
 
Laurie không được phép gặp bất cứ ai. Chỉ có Bic và Opal mà thôi. Mỗi khi họ có chuyện phải ra khỏi nhà, họ đều nhốt cô dưới hầm. Cô bé rất sợ khi phải ở dưới đó. Trong căn hầm đầy bóng tối và đôi khi bé Laurie thấy chúng động đậy, nỗi khiếp sợ đã khiến cho Laurie phải cố nằm ngủ trên chiếc nệm đặt dưới sàn.
 
Bic và Opal gần như không bao giờ có khách đến thăm. Nếu có một ai đó đến nhà, họ bắt Laurie phải xuống căn hầm ngay và xích một chân của cô vào trong ống nước, để cô không thể trở lên trên được.
 
- Và mày cũng đừng nghĩ đến việc la hét, biết không? Bic cảnh báo như thế. Mày sẽ hối tiếc việc làm đó, nhưng dù sao thì cũng không ai nghe được đâu, mày đừng có phí công sức làm gì.
 
Mỗi khi về nhà, họ thường đem tiền về. Tùy lúc, có khi ít hay nhiều, nhất là tiền lẻ và đồng một đôla mà thôi. Thỉnh thoảng họ chỉ cho phép cô ra chơi ngoài sân vườn phía sau nhà, chỉ cho cô cách nhổ các bụi cỏ dại hay thu lượm trứng trong chuồng gà. Họ cho cô một con gà con và nó trở thành vật cưng của cô. Cô thường chơi với nó khi ra ngoài. Đôi khi họ nhốt nó chung với cô dưới hầm trước khi ra đi.
 
Một hôm, họ hối hả soạn va li, chỉ mang theo những thứ cần thiết nhất như quần áo, tivi và cái máy đánh chữ của Bic. Bic và Opal hát lớn tiếng, tỏ vẻ rất vui sướng.
 
- Một đài phát thanh với công suất mười lăm ngàn watts trong bang Ohio đang chờ chúng ta, Bic hớn hở cho biết. Hỡi vùng đất tôn sùng Thánh Kinh, chúng tôi tới đây.
 
Họ lái xe trong nhiều giờ liền. Nằm co ro trên chiếc băng sau cùng với mấy chiếc va li cũ kỹ, Laurie nghe Opal đề nghị.
 
- Hay chúng ta vào nhà hàng bên lề đường ăn chút gì đó đi. Không ai để ý đến nó đâu. Mà tại sao người ta lại chú ý đến nó kia chứ?
 
Bíc đáp lại.
 
- Em nói phải đấy! Rồi liếc nhìn Laurie ở phía sau – Opal sẽ mua cho mày một miếng Sanwich và một ly sữa. Mày không được phép nói chuyện với bất cứ người nào mày hiểu không?Họ bước vào một căn phòng rộng lớn có một cái quầy dài và nhiều bàn ghế. Laurie đói đến mức cô đã cảm thấy mùi thịt heo hun khói trong miệng của cô rồi. Nhưng có một điều khác nữa. Cô nhớ là mình đã từng vô một nơi như thế này cùng với nhiều người khác. Một tiếng nấc mà cô không thể kềm được phát ra từ cổ họng của cô. Bic đẩy cô tới trước để cô bước theo Opal và đột nhiên cô bật khóc, khóc to đến mức không kịp thở nữa. Cô thấy người thu tiền nhìn mình. Bic bất ngờ nắm lấy tay cô và lôi ra khỏi nhà hàng, tới chỗ bãi đậu xe, Opal lót tót theo sau.
 
Bic ném cô thật mạnh lên chiếc băng sau, rồi cùng Opal trèo lên phía trước. Trong khi Opal phóng xe đi thật nhanh, hắn xoay đầu về phía Laurie, cánh tay đưa lên cao. Cô cố hết sức mình để tránh mấy cái tát liền của bàn tay lông lá đó, nhưng với cái đầu tiên, cô đã không còn cảm thấy gì nữa. Cô chỉ buồn cho đứa bé gái đã khóc to đến như thế.
 
6
 
1976
Ridgewood, New Jersey
 
Ngồi cạnh cha mẹ, Sarah xem chương trình trên ti vi về những đứa trẻ mất tích. Phần cuối nói về Laurie.
 
Người ta chiếu các hình ảnh của bé được chụp một ít lâu trước khi bị mất tích. Một hình ảnh được kỹ thuật hóa cho thấy một con bé có thể như thế này, hai năm sau ngày bị bắt cóc.
 
Khi chương trình đó kết thúc, Marie Kenyon chạy ùa ra khỏi phòng, hét thật to “Tôi muốn tìm thấy con tôi, tôi muốn tìm thấy con của tôi.”
 
Mặt mẹ ràn rụa nước mắt, Sarah nghe bố mình nói:
 
- Có thể chương trình này sẽ là công cụ của một phép màu chăng? Nhưng ông cũng không chắc cho lắm.
 
Một giờ sau đó, chính Sarah trả lời điện thoại của Viên thanh tra cảnh sát Bill Conners của quận Ridgewood, ông luôn coi Sarah như một người lớn vậy.
 
- Tôi nghĩ chắc cha mẹ cô phải xúc động lắm sau khi xem chương trình đó, có đúng không?
 
- Dạ phải!
 
- Tôi không biết có nên cho họ hy vọng không, nhưng chúng tôi vừa nhận được một cú điện thoại, có thể mang đến một tin mừng đấy. Một người thu ngân của một tiệm dành cho các người lái xe đường xa tại Harrisbourg, ở bang Pennsylvanie, quả quyết đã nhìn thấy Laurie, lúc trưa nay.
 
- Lúc trưa nay à? Sarah hỏi lại mà tưởng chừng như cô không còn thở được nữa.
 
- Người thu ngân tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy con bé đó khóc nức nở, nhưng không phải vì nhõng nhẽo đâu. Cô khóc nấc như thế là vì muốn kiềm chế mình thôi. Cảnh sát Harrisbourg đã có một bức ảnh hiện tại của Laurie rồi dấy.
 
- Thế nó đi với ai vậy?
 
- Một người đàn ông và một phụ nữ, thuộc loại hippy. Chỉ tiếc là lời diễn tả hơi mơ hồ vì bà thu ngân chỉ chú trọng vào Laurie mà thôi, nên không nhìn kỹ hai người kia.
 
Ông để cho Sarah quyết định xem coi có cần báo lại cho cha mẹ cô biết không.
 
Sarah cầu nguyện Chúa. Hãy tạo một phép màu giúp cho cảnh sát Harrisbourg tìm lại được Laurie và con sẽ chăm lo cho nó đến trọn đời.Rồi cô phóng lên cầu thang để cho cha mẹ cô thông tin hy vọng tìm thấy Laurie.
Đăng nhập để trả lời
0
7
 
Chiếc xe của Bic có triệu chứng muốn hư khi họ vừa rời khỏi nhà hàng. Máy xe lại nổ lụp bụp cuối cùng không chạy nữa. Khi máy xe trục trặc đến lần thứ ba, làm cản trở một hàng xe dài phía sau họ, Opal mới nói:
 
- Bic à, nếu chiếc xe thật sự bị pan và một tên cớm vác xác đến, chúng ta phải hết sức thận trọng mới được. Có thể ông ta đặt câu hỏi về con bé này, mụ ta hất đầu để chỉ Laurie.
 
Bic ra lệnh cho mụ rời bỏ xa lộ, tìm kiếm một trạm sửa xe. Khi tìm được, họ bắt Laurie phải nằm xuống sàn xe và chất các va li quần áo cũ của họ lên trên mình cô, trước khi cho chiếc xe chạy vào trong ga ra gần đó.
 
Chiếc xe phải sửa chữa nhiều và có lẽ đến ngày mai mới xong được. Có một nhà trọ ở gần đó và người thợ máy báo cho họ biết nơi đó rất tử tế và giá cả phải chăng.
 
Họ đến nhà trọ. Bic đẩy mạnh Laurie vào bên trong. Suốt buổi chiều đó, họ chỉ ngồi xem tivi. Bic đem bánh mì kẹp về ăn thay cho bữa tối. Laurie đã ngủ thiếp khi chương trình về trẻ con bị mất tích bắt đầu. Cô giật mình thức dậy để nghe Bic chửi rủa. Mày hãy nhắm mắt lại đi, một giọng nói nhỏ vang lên trong đầu cô, nếu không nó sẽ đánh mày đấy!
 
- Người thu ngân đã nhìn thấy nó kỹ lắm đấy, Opal nói. Giả dụ hiện giờ bà ta đang xem chương trình này, vì thế chúng ta phải loại bỏ con nhỏ này thôi.
 
Chiều ngày hôm sau, chỉ một mình Bic đi lấy chiếc xe. Khi hắn trở về, hắn cột Laurie cứng trên chiếc giường, hai tay xuôi với thân người.
 
- Tên tao là gì? Hắn hỏi Laurie.
 
- Bic!
 
Hắn hất đầu chỉ về phía Opal.
 
- Thế còn mụ này tên gì?
 
- Opal.
 
- Tao muốn mày phải quên hết mọi thứ, mày có biết không? Tao muốn mày phải quên tụi tao và không được nói gì về tụi tao hết. Mày có hiểu tao vừa nói gì không Lee?
 
Laurie không trả lời. Mày nói có đi, một giọng lo âu thì thầm. Hãy gật đầu và nói có đi chứ!
 
- Có, cô bé nhỏ nhẹ đáp lại cúi đầu xuống.
 
- Mày có nhớ lúc tao chặt cái đầu con gà không? Bic hỏi.
 
Con bé nhắm mắt lại. Con gà vẫn chạy trong khu vườn sau, máu chảy dài trên cổ nó, sau đó nằm bất động ngay dưới chân của cô. Khi thấy máu chảy lênh láng như thế, cô bé muốn hét to, nhưng không một âm thanh nào được phát ra hết. Kể từ ngày đó, cô không hề bước gần đến bất cứ con gà nào. Đôi khi trong giấc mơ, cô vẫn thấy mình bị một con gà không có đầu rượt đuổi.
 
- Mày có nhớ không? Hắn hỏi gặng lại, bóp chặt hơn nữa cánh tay của con bé…
 
- Nhớ!
 
- Chúng tao phải đi ngay bây giờ. Chúng tao sẽ bỏ mày ở một nơi mà người ta dễ đàng tìm ra mày. Nếu mày hé môi tên của tao hay của Opal cho bất cứ ai, nếu mày nói cái tên mà chúng tao đặt cho mày hay kể bất cứ chi tiết nào về chỗ mà chúng tao ở hay chúng tao đã làm, tao sẽ trở lại với con dao đã chặt cái đầu con gà, để cắt cái đầu của mày đó, mày có hiểu không?
 
- Mày hãy hứa là không nói gì với ai hết đi, Bic buộc cô.
 
- Tôi hứa, tôi xin hứa, cô bé nói một hơi.
 
Họ lên xe và một lần nữa buộc con bé phải nằm dưới sàn xe rồi họ phóng xe đi. Mình mẩy cô bé đẫm mồ hôi.
 
Đến tối, họ ngừng xe trước một tòa nhà lớn. Bic lôi cô xuống.
 
- Đây là một trường học, hắn nói. Sáng mai người ta sẽ đến đây cùng nhiều đứa nhỏ khác và mày có thể chơi với bọn chúng. Mày hãy ở lại đây để chờ bọn chúng.
 
Cô bé phải lách mình để tránh cái hôn nhớp nhúa, và cái ôm siết say đắm của hắn.
 
- Mày đã làm cho tao điên lên đấy nhưng không được quên đó, mày không được kể bất cứ điều gì về tụi tao, nghe không?
 
Hắn bàn tay lại như đang cầm một con dao và làm cử chỉ như cắt đầu cô bé.
 
- Tôi hứa mà! cô bé nức nở, tôi hứa mà!Opal đưa cho cô bé một gói bánh qui và một lon coca. Laurie đứng đấy nhìn họ đi xa dần. Cô biết là nếu cô không đứng nguyên đấy, họ sẽ trở lại đánh cô. Trời tối đen như mực. Cô còn nghe âm thanh của mấy con thú trong khu rừng lân cận.
 
Laurie co ro người lại ngay trước cửa của toà nhà, hai tay ôm chặt lấy thân người. Lúc chiều thì nóng quá còn bây giờ thì trời lại lạnh, và nỗi hoảng sợ làm cho cô run lên. Có thể con gà trong trí óc của cô không chừng đang chạy lanh quanh đâu đó. Người cô cứ thế mà run lập cập.
 
Đồ nhát như cáy! Cô chìm trong cơn bất tỉnh để không phải nghe cái giọng mỉa mai đang chê cười con bé đang ngồi co người lại trước cổng trường.
 
8
 
Sáng hôm sau, viên thanh tra cảnh sát Conners điện thoại đến nhà Marie Kenyon cho biết manh mối về bé Laurie. Hình như có tin tốt, ông cho biết. Một bé gái giống nhân dạng của Laurie được tìm thấy nơi cổng của một trường học ở khu vực Pittsburgh vào giờ nhập học. Người ta đã khẩn cấp gởi các dấu tay của Laurie đến đó rồi.
 
Một giờ sau, điện thoại lại ren. Cho biết các dấu tay trùng khớp với nhau và Laurie chẳng mấy chốc sẽ về đến nhà thôi.
Đăng nhập để trả lời
0
9
 
John và Marie Kenyon đáp máy bay đi Pittsburgh.
 
Người ta đã đưa cô bé vào bệnh viện để khám bệnh. Vào ngày hôm sau, trong chương trình tin tức trên truyền hình, Sarah nhìn thấy cha mẹ của cô rời khỏi bệnh viện đi cùng với Laurie. Sarah đứng trước tivi, nắm chặt hai tay lại. Laurie đã cao hơn, đầu tóc vàng của nó rối nùi. Nhưng có một điều gì khác nữa, đó là Laurie vẫn có vẻ tự tin như lúc nào. Ngày hôm nay, dù cho cô bé đang cúi đầu xuống nhưng mắt không ngừng liếc ngang liếc dọc, tựa như thể cô tìm một thứ gì đó mà cô sợ phải nhìn thấy.
 
Phóng viên báo chí vây quanh cô, đặt nhiều câu hỏi đến mức cô không kịp trả lời. John Kenyon đáp lại bằng một giọng mệt mỏi và căng thẳng:
 
- Các bác sĩ đã xác nhận với chúng tôi là Laurie vẫn khỏe mạnh, dù cho cô bé có gầy đi nhiều. Dĩ nhiên là cô bé hơi mất bình tĩnh và lo âu.
 
- Cô bé có nói gì về các tên đã bắt cóc không?
 
- Không, cô bé không nói một điều nào hết. Tôi xin các anh, chúng tôi rất cảm kích về mối quan tâm của các anh, nhưng chúng tôi muốn được yên ổn với gia đình. Giọng của người cha gần như muốn van xin vậy.
 
- Có dấu hiệu nào cho thấy người ta đã lạm dụng tình dục với cô bé không?
 
Sarah nhìn thấy nỗi hoảng sợ hiện ngay trên mặt của mẹ.
 
- Không! tuyệt đối không có, bà đáp lại. Giọng của bà như đang hoảng hốt. Chúng tôi nghĩ những kẻ đã bắt cóc Laurie chỉ vì muốn có một đứa con gái mà thôi. Chúng tôi cũng hy vọng là bọn chúng sẽ không gây cơn ác mộng này cho một gia đình nào khác.
 
Sarah cảm thấy cần phải giải tỏa năng lượng đang sôi sục trong người cô. Cô sẽ đi làm giường cho Laurie với những thứ có hình Cô Bé Lọ Lem mà em mình rất thích. Rồi cô sắp xếp các món đồ chơi được ưa thích hơn hết vào trong phòng ngủ, như cặp búp bê song sinh trong hai chiếc nôi, căn nhà nhỏ của búp bê, chú gấu con, các quyển sách về Chú Thỏ Jeannot. Cô xếp cái mền bùa hộ mệnh trên cái gối.
 
Laurie rất thích món mì dẹp. Sarah liền phóng xe đạp đến cửa hàng thực phẩm để mua phô mai, loại mì dẹp và thịt bằm. Điện thoại không ngừng reo khi cô đang loay hoay trong bếp, nhưng cô cũng đã thuyết phục được những người quen hãy chờ thêm vài ngày trước khi đến thăm Laurie.
 
Cha mẹ cô chắc đến sáu giờ tối mới về đến nhà. Đến bảy giờ ba mươi, món mì đã được để trong lò, đĩa xà lách trong tủ lạnh và cái bàn cho bốn người ăn đã được dọn xong. Sarah lên thay quần áo. Cô nhìn vào trong gương. Trong hai năm vừa qua, cô đã cao thêm được tám phân, từ một thước sáu mươi hai lên đến một thước bảy mươi. Tóc của cô giờ được cắt ngắn chớ không bồng bềnh ở sau lưng nữa. Trước kia thân hình cô dẹp như một một tấm ván ủi đồ, nhưng với cái tuổi mười bốn cô bắt đầu có ngực rồi. Và cô mang kính sát tròng thay cho loại kính đeo.Sarah nhớ mình có một chiếc quần jean và một áo thun, hôm trước ngày Laurie bị bắt đi. Nó vẫn còn trong tủ, cô lấy nó ra và mặc cùng với quần jean đó.
 
Phóng viên đài truyền hình chen lấn với nhau trên lối ra vào ngôi nhà, khi chiếc xe của họ vừa về đến. Nhóm bạn bè và những người láng giềng thì đứng ở phía sau. Tất cả mọi người vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt khi cánh cửa xe được mở ra. John và Marie Kenyon xuất hiện cùng Laurie.
 
Sarah chạy tới người em của mình và quỳ gối xuống. “Laurie ơi” cô thì thầm. Cô dang hai tay ra nhưng Laurie lại lấy tay bụm mặt mình lại. Con bé nghĩ chắc mình đánh nó đây, cô thầm nhủ.
 
Và rồi chính cô ôm Laurie để đưa em mình vào trong nhà trong khi cha mẹ cô trả lời câu hỏi của phóng viên.
 
Laurie dường như không còn nhận ra ngôi nhà nữa. Cô bé không hề mở miệng. Trong bữa ăn tối, cô cúi mặt xuống cái đĩa và ăn trong im lặng. Khi ăn xong cô đứng lên đem cái đĩa dơ xuống rửa, sau đó tiếp tay dọn bàn.
 
Marie đứng lên.
 
- Cưng à, con không cần phải…
 
- Mẹ cứ để cho em làm đi, Sarah nhỏ nhẹ nói với mẹ. Con sẽ phụ Laurie dọn bàn, nó giờ đã thật sự lớn rồi, và như trước kia em con thường giúp chị mình rửa chén. Em có nhớ không?
 
Cả bốn người họ sau đó lên phòng khách nhỏ và Sarah bật máy tivi lên. Laurie tự nhiên run người khi John và Marie bảo cô lại ngồi giữa họ.
 
- Con bé đang hoảng sợ đấy, Sarah báo cho họ. Cha mẹ cứ làm như nó không có mặt ở đây đi.
 
Mắt của bà mẹ ửng lệ, nhưng bà làm như đang theo dõi chương trình. Laurie ngồi xếp bằng dưới đất, chọn một chỗ mà cô có thể xem rõ mà không ai nhìn thấy mình được.
 
Đến chín giờ tối, khi Sarah đề nghị cô đi tắm nước nóng trước khi đi ngủ, con bé tỏ ra hoảng loạn thật sự. Cô ôm hai đầu gối sát vào ngực và che mặt trong hai tay. Sarah và bố cô nhìn nhau không biết nói gì.
 
- Con bé cưng tội nghiệp, ông nói. Con chưa muốn đi ngủ bây giờ, có đúng không?
 
Sarah nhìn thấy sự từ chối chấp nhận sự thực trong ánh mắt của cô bé, y hệt như mẹ cô vậy.
 
- Chỉ vì mọi thứ còn quá lạ lẫm đối với em phải không, Sarah nhận xét.
 
Marie cố hết sức mình để không bật khóc.
 
- Con bé sợ chúng ta, bà thì thầm.
 
- Không, Sarah tự nhủ. Nó sợ phải lên giường, nhưng tại sao vậy?
 
Họ cứ để mở tivi. Đến mười giờ thiếu mười lăm, Laurie nằm lăn ra ngủ ngay trên sàn nhà. Chính Sarah bồng cô lên phòng, thay quần áo và đưa cô lên giường, không quên nhét con gấu cưng vào trong tay con bé.
 
John và Marie bước rón rén vào trong phòng, ngồi hai bên chiếc giường nhỏ sơn trắng, bị cuốn hút trong phép lạ được ban cho họ, không nhận thấy Sarah đã âm thầm bước ra khỏi chỗ đó.
 
Laurie ngủ rất lâu nên thức dậy muộn. Sarah đến thăm cô, đứng nhìn thật âu yếm các lọn tóc vàng dài được trải trên chiếc gối, nhìn cái thân hình co ro của con bé đang ôm con gấu. Cô vẫn giữ lới hứa mà cô đã thề với Chúa “Con sẽ luôn chăm sóc cho nó.”
 
Bố mẹ cô đã dậy rồi. Họ dường như đã kiệt sức nhưng tràn đầy hạnh phúc.
 
- Bố mẹ thường vào phòng nó để kiểm tra xem nó có thật sự đang nằm đấy, Marie nói. Sarah ơi, bố mẹ vừa nói là bố mẹ không biết sẽ sống hai năm vừa rồi như thế nào nếu như không có con.
 
Sarah giúp mẹ mình làm bữa ăn sáng ưa thích của Laurie, bánh quế và thịt hun khói. Vài phút sau, Laurie lót tót đi vào trong chiếc áo ngủ, giờ đã cao lên đến gối, kéo theo cái mền vật linh của mình. Nó leo lên đùi của Marie.
 
- Mẹ à, con bé nói bằng giọng hờn dỗi, hôm qua con muốn đi bơi nhưng Beth cứ nói chuyện trên điện thoại hoài.
 
10
 
12 tháng Chín 1991
Ridgewood, New Jersey
 
Trong lễ mixa, Sarah không ngừng quan sát Laurie qua khoé mắt. Hình ảnh hai cái quan tài ở chân bàn thờ dường như đã cuốn hút em cô. Nó nhìn trân trân, hai mắt khô ráo, gần như vô cảm với âm nhạc, với các lời cầu nguyện cũng như với bài thuyết giáo. Sarah luôn phải thúc cùi chỏ em mình để nhắc nhở nó phải đứng lên hay quỳ xuống.
 
Vào lúc cuối lễ, đến khi Ngài Fisher ban phép lành cho hai chiếc quan tài kia, Laurie thì thầm:
 
- Bố mẹ ơi, con xin bố mẹ tha thứ cho con, con sẽ không bao giờ đi ra đường một mình nữa.
 
- Này Laurie, Sarah nói khẽ.
 
Laurie nhìn sang Sarah với ánh mắt vô hồn, sau đó quay đầu đi chỗ khác và với ánh mắt ngạc nhiên nhìn sang đám đông trong nhà thờ. “Tất cả những người này”. Giọng nói trẻ trung của cô như rụt rè.
 
Ca đoàn cất tiếng bài thánh ca cuối cùng “Thiên ân tối thượng”.
 
Chen chúc trong đám đông ở cuối nhà thờ, một cặp vợ chồng cũng hát theo, trước còn nhỏ tiếng, nhưng mỗi lúc một lớn hơn. Người đàn ông dường như đã quá quen với việc hát đơn ca. Như thường lệ, ông bị cuốn hút theo và để cho giọng nam trung của mình vang cao hơn mấy giọng kia, gần như chế ngự cả giọng đơn ca yếu hơn. Cử tọa xoay đầu nhìn về hướng ông ta, thán phục.“Con đã lạc đường, nhưng Ngài đã tìm thấy con…”
 
Trong nỗi thống khổ và đau buồn, Laurie đột nhiên cảm thấy sự kinh hoàng lạnh cóng chiếm lấy người cô. Cái giọng đó, nó đang vang lên trong đầu, trong cả thân thể của cô.
 
Mình tiêu mất rồi, mình thật sự tiêu mất rồi, cô âm thầm rên rỉ.
 
Người ta khiêng các quan tài đi. Các bánh xe của cái bệ mà chiếc quan tài của mẹ cô được đặt trên đó kêu kèn kẹt. Cô nghe các bước chân đều đặn của các phu. Rồi đến tiếng gõ lách cách của chiếc máy đánh chữ.
 
“Con đã đui mù nhưng Ngài đã cho con nhìn thấy trở lại…”
 
- Không! Không! Laurie hét lên rồi ngã ra mê mẩn, không còn biết gì nữa.
 
Mấy chục bạn học của Laurie từ trường đại học Clinton đến dự buổi lễ mixa, cùng vài vị giáo sư. Ông Allan Grant, vị giáo sư Anh văn của cô lúc đó đang có mặt, tỏ ra rất cảm động khi nhìn thấy Laurie té xuống bất tỉnh.
 
Allan Grant là một trong các vị giáo sư được ưa thích nhất của Clinton. Vừa qua độ tuổi bốn mươi, ông có tóc bộ râu rối tung và cứng, đây đó điểm vài sợi bạc. Đôi mắt lớn thông minh đầy vẻ tinh nghịch là đặc điểm duy nhất của khuôn mặt khả ái hơi dài đó. Dáng vóc lêu nghêu trong cách ăn mặc thoải mái tạo cho ông một vẻ mà rất nhiều nữ sinh cho là hết sức quyến rũ.
 
Grant thật sự quan tâm đến các sinh viên của mình. Laurie đã đều đặn theo các tiết học của ông từ khi cô đến Clinton. Ông biết rõ quá khứ của cô và luôn tỏ ra chăm chú đến các hiệu ứng phụ bất ngờ liên quan đến việc bắt cóc kia. Những lần mà ông nhận thấy được một cái gì đó, là trong lớp các giờ sáng tác văn chương, Laurie không tài nào tự mình làm được một bài tiểu luận. Mặc dù, các lời phê bình về văn học hay các vở kịch của cô rất xác đáng và hết sức sâu sắc.
 
Ba ngày trước đây, cô đang ở trong lớp khi người ta gọi cô đến trình diện văn phòng giám hiệu ngay. Vì lớp học cũng gần đến giờ kết thúc và nhận thấy cô quá bối rối, nên ông đã đi theo cô. Khi họ vội vã băng qua sân trường, cô có nói với ông là bố mẹ cô phải đưa chiếc xe của cô lại đây để đổi chiếc của họ. Cô quên cho kiểm tra chiếc mui trần của cô, nên đã mượn chiếc xe của mẹ mình để có thể trở về trường sau lần nghỉ cuối tuần.
 
- Rất có thể họ bị trễ, cô nói như muốn trấn an chính mình. Mẹ tôi thường nói tôi hay lo cho bà một cách vô cớ. Nhưng bà không được khỏe cho lắm trong khi cha tôi sắp bảy mươi hai tuổi rồi.
 
Với vẻ sầu não, ông hiệu trưởng báo cho cô biết có một tai nạn xe cộ trên quốc lộ 78.
 
Ông Allan Grant đã đưa Laurie đến bệnh viện. Người chị Sarah của cô đã có mặt ở đấy. Một vành tóc nâu hung bao quanh một khuôn mặt với đôi mắt xám to lớn chìm trong khổ đau. Ông Grant đã gặp Sarah trong các buổi họp của trường đại học và ông có ấn tượng mạnh trước thái độ che chở Laurie của cô phụ tá bệnh lý.
 
Nét mặt của người chị liền cho biết là cha mẹ họ đã qua đời.
 
- Tại lỗi của tôi, lỗi của tôi, Laurie rên lên và gần như để ngoài tai lời nói của chị cô rằng cô không cần phải nhận lỗi về mình.
 
Ông Grant, với ánh mắt não lòng, nhìn người phụ trách tang lễ dìu Laurie ra khỏi nhà thờ với Sarah đi sát bên. Bước theo sau vị giám mục của giáo xứ, các người khuân vác đi dọc theo hành lang chánh. Tại hàng ghế trước mắt, ông thấy có một người đàn ông chen ra lối đi.
 
- Xin lỗi, tôi là bác sĩ đây, ông nói bằng một giọng nhỏ đầy uy quyền.
 
Linh tính bắt ông Allan Grant len ra lối đi để theo họ vào trong một căn phòng hẹp, nơi mà người ta vừa mang Laurie vào trong đấy. Cô được để nằm dài trên hai chiếc ghế đặt sát vào nhau. Sarah mắt không một giọt lệ, đang cúi xuống người em mình.
 
- Cô hãy để cho tôi, vị bác sĩ nói với Sarah.
 
Laurie cựa quậy và rên rỉ.
 
Vị bác sĩ vạch mắt cô ra, sau đó mới bắt mạch.
 
- Cô ấy đã dần hồi phục lại rồi, nhưng phải đưa cô về nhà ngay. Cô ấy không thể nào ra nghĩa địa được đâu.
 
- Tôi cũng nghĩ thế.
 
Allan nhận thấy Sarah phải nỗ lực hết sức mình để giữ bình tĩnh. Lúc đó cô xoay mặt qua nhìn ông và tỏ vẻ như mới thấy ông lần đầu.
 
- Sarah à, cô để tôi giúp cô đưa Laurie về nhà nghe, tôi nghĩ cô ấy sẽ cảm thấy an lòng khi có tôi đi cùng.
 
- Ồ, ông thật sự muốn thế sao. Trong một khoảnh khắc, ông thấy lòng biết ơn chiếm lấy chỗ của sự căng thẳng và đau buồn trong ánh mắt cô gái. – Mấy người láng giềng có làm một bữa tiệc nhỏ. Nhưng vì Laurie quá tin tưởng nơi ông, tôi cảm thấy thật sự an tâm.
 
“Con đã lạc dường, nhưng Ngài đã tìm thấy con…”
 
Một bàn tay được đưa về phía cô, giơ cao một con dao, một con dao đầy máu, chém qua lại trong không khí. Áo sơ mi và áo blu của cô dính đầy máu, cô còn cảm nhận được cái hơi hâm hấp của nó trên mặt cô. Một cái gì đó vừa rớt xuống đất. Con dao vừa…
 
Laurie mở mắt ra. Cô đang nằm trên chiếc giường trong căn phòng của mình. Tối đen. Nhưng chuyện gì đã xảy ra vậy?
 
Cô chợt nhớ lại. Nhà thờ, các quan tài, bài thánh ca.
 
- Sarah… ơi, cô rống lên, Sarah… ơi, chị đâu rồi?
Đăng nhập để trả lời
0
11
 
Họ mướn phòng tại Khách sạn Wyndham, trên đường 58 Tây, ngay giữa trung tâm Manhattan.
- Lịch sự lắm, ông ta đã nói như thế. Rất nhiều nghệ sĩ thường đến đây ở. Một nơi thật lý tưởng để có nhiều cuộc gặp gỡ.
Sau khi tang lễ kết thúc, ông ta giữ im lặng cho đến khi về New York. Họ phải ăn sáng cùng vị Mục sư Rutland Garrison, vị mục sư phụ trách chương trình “Giáo Đường Trên Làn sóng” cùng với nhà sản xuất truyền hình. Garri- son sắp sửa về hưu rồi và ông đang chọn người kế nhiệm mình. Mỗi tuần, một nhà truyền giáo được mời tham dự chương trình này.
Bà ta nhìn ông đẩy ba bộ đồ vest khác nhau qua một bên trước khi chọn một bộ xanh đen, một áo trắng và một cà vạt xanh xám tiệp màu.
- Họ muốn một nhà truyền giáo thì họ sẽ thấy một nhà truyền giáo. Trông tôi ra sao bà?
- Hết ý rồi, bà bảo đảm như thế. Đúng vậy. Tóc của ông đã chấm bạc dù cho ông mới hơn bốn mươi lăm tuổi thôi. Ông ta chăm sóc thân thể mình kỹ lắm, luôn đứng cho thẳng người cho nên ông có vẻ như đang chế ngự cả thế gian quanh ông. Ông cũng tập mở mắt cho thật to mỗi khi ông thuyết giảng bằng một giọng hết sức trầm cho đến khi nào việc đó trở thành tự nhiên mới thôi.
Ông loại bỏ ngay cái váy ca rô đỏ trắng mà bà định mặc.
- Không đủ sang trọng cho loại hội họp này, nó bình dân quá đi.
Đây là cách đùa giỡn bình thường của họ mỗi khi ông ta muốn gây ấn tượng với cử tọa, nhưng hôm nay ông ta không có vẻ gì muốn đùa giỡn cả. Bà mới trình một cái váy thẳng bằng vải lanh đen với chiếc áo vest thích hợp.
“Thế còn cái này?”
Ông ta gật đầu.
- Được lắm đấy, ông dè đặt nói. Và nhất là bà đừng có quên…
- Trước công chúng, tôi sẽ không bao giờ được gọi ông là Bic, bà phản đối lấy lệ. Chuyện đó đã không xảy ra từ nhiều năm rồi.
Ánh mắt của ông trở nên nóng bỏng. Opal sợ nhất cái vẻ mặt đó. Ba năm đã trôi qua từ lần cuối cùng cảnh sát đến đặt câu hỏi chỉ vì một bé gái tóc vàng đã than phiền với mẹ cô về ông. Ông luôn chế ngự được hoàn cảnh và buộc các người khiếu nại phải xin lỗi, nhưng sự việc đó xảy ra quá thường và trong quá nhiều thành phố khác nhau. Mỗi khi ông ta có ánh mắt đó, có nghĩa là ông sắp sửa làm bậy đấy.
Lee là đứa bé duy nhất mà họ muốn giữ nuôi. Ngay từ khi ông nhìn thấy con bé với mẹ của nó trong khu thương mại trung tâm, ông luôn bị con nhỏ ám ảnh. Ngày hôm đó ông đã theo dõi chiếc xe của họ về đến nhà, và từ đó thường xuyên qua lại trước cửa với hy vọng nhìn thấy được đứa bé. Vào thời điểm dó, ông và Opal có một chuỗi trình diễn ca hát cùng với chiếc ghi ta trong một hộp đêm tồi tàn trên quốc lộ 17, bang New Jersey. Họ mướn một căn phòng trong một khách sạn cách ngôi nhà của gia đình Kenyon, hai mươi phút đi xe. Có thể xem như lần đó là lần cuối cùng mà họ hát cho một hộp đêm. Sau đó Bic bắt đầu hát các bài thánh ca trong các buổi lễ hội họp về Phúc Âm, kế đến là truyền giáo ở phía bắc bang New York. Một ông chủ đài phát thanh tại Bethelem, bang Pennsylvanie, có dịp nghe ông ta hát và đã giao cho ông việc tổ chức một chương trình tôn giáo cho cái đài nhỏ bé của ông ta.
Điều tai họa muốn cho ông ta phải đi qua đó một lần cuối cùng, đi ngang ngôi nhà đó trước khi khởi hành đi Pennsylvanie. Và Lee lại đứng một mình ngoài đường. Ông nhấc bổng cô lên, đem con bé theo với họ và suốt hai năm trời, Opal luôn phải sống trong cảnh lo âu và ghen tuông mà bà không hề dám để lộ ra ngoài.
Họ đã bỏ con bé được mười lăm năm rồi, như một đống giẻ trước cổng một trường học, nhưng Bic không thể nào loại bỏ hình ảnh của con bé trong tâm trí của mình được. Ông ta vẫn còn giữ bức ảnh của con bé trong cái bóp, và thỉnh thoảng Opal bắt gặp ông ta đang ngắm xem nó, lấy mấy ngón tay chà lướt trên đó. Trong các năm sau này, khi mà thành công đã mỉm cười với ông ta, ông lại bắt đầu lo sợ nhân viên FBI lại đến bắt ông về tội bắt cóc con nít và xâm phạm tiết hạnh.
- Bà có nhớ người đàn bà tại Californie đã bắt giam cha của mình, chỉ vì bà ta đi khám bệnh với một bác sĩ tâm lý, làm cho bà nhớ lại những chuyện mà đúng ra bà ta nên quên mới phải, ông thỉnh thoảng nói với vợ như thế.
Họ vừa đến New York khi Bic đọc bài báo trên tờ Times, tường thuật lại tại nạn xe hơi gây nên cái chết cho hai ông bà Kenyon. Mặc cho Opal van xin như thế nào đi nữa, hai người đó đã tham dự lễ mai táng.
- Này Opal, ông nói, bây giờ chúng ta rất khác xa như ban ngày với ban đêm với hai tên tên hippy trước đây với cây đàn ghi ta mà Lee có thể nhớ được.
Nói cho đúng, họ đã thay đổi rất nhiều. Họ bắt đầu biến đổi bộ dạng của họ ngay ngày hôm sau, khi họ bỏ rơi Lee, Bic đã cạo nhẵn râu và hớt bớt mái tóc. Bà ta thì nhuộm tóc mình màu bạch kim và búi tóc ra phía sau. Họ đến hàng J.C.Penney để mua loại quần áo cổ điển giúp họ hòa lẫn trong đám đông, biến đổi họ thành những người Mỹ trung bình.
- Để phòng hờ có một ai đó trong nhà hàng đã chú ý đến chúng mình, ông cắt nghĩa như thế.
Và cũng vì vậy mà ông không cho phép Opal gọi ông bằng cái tên Bic kia trước mặt người lạ, quyết định kể từ nay ông cũng sẽ gọi bà bằng tên Carla mà thôi.
- Con Lee đã nghe hai cái tên đó từ sáng cho đến tối suốt hai năm trời, ông cắt nghĩa. Vì thế, kể từ nay tôi sẽ là ông Mục Sư Bobby Hawkins cho bất cứ người nào mới quen.
Dù sao đi nữa thì bà nhận thấy ông ta có vẻ lo âu khi bước lên các tam cấp của nhà thờ. Vào lúc cuối lễ, trong khi người đánh phong cầm dạo các nốt nhạc đầu tiên của bài “Thiên Ân tối thượng”, ông đã thì thầm.
- Đây là bài hát của chúng ta, bài hát của Lee và tôi. Giọng nói của ông lớn hơn những người khác. Họ ngồi ở đầu băng ghế nên khi người ta khiêng cái thân bất động của Lee đi ngang mặt họ, Opal phải chụp lấy cánh tay của Bic để không cho ông này đưa tay ra sờ lấy con bé.
- Đây là lần cuối cùng, thế bà đã xong chưa? Giọng của ông thật châm chọc, bước ra đứng trước cửa ra vào của căn hộ.
- Xong rồi đây, Opal trả lời, chụp lấy cái túi cầm tay và bước lại trước mặt ông. Bà phải làm cho ông nguôi giận vì cái nét mặt căng thẳng của ông sẽ dễ bị nhận thấy cách xa cả trăm thước. Bà ôm lấy mặt của ông trong hai tay của mình.
- Anh Bic thân yêu, anh hãy thư giãn đi, bà nói thật nhỏ nhẹ. Anh muốn gây ấn tượng với người ta có đúng không?
Nhưng ông dường như không nghe các lời nói của bà, ông thì thầm:
- Tôi vẫn có thể làm cho con bé hoảng sợ đấy, phải không? Nhưng ông lại bật khóc nức nở, một cách ngon lành.
Trời ôi, tôi điên rồi.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.01.2016 12:25:54 bởi Heoconmtv>
12
 
Peter Carpenter là bác sĩ chuyên khoa về thần kinh tâm lý tại Ridgewood mà Sarah phải nhờ đến mười ngày sau đám tang của cha mẹ cô. Cô đã gặp ông, nhận thấy ông rất dễ mến và các tin tức mà cô đã thu thập được về ông phù hợp với các cảm tưởng của cô. Ông sếp của cô, Ed Ryan, biện lý của quận Bergen, không tiếc lời khen Carpenter.
- Hiếm khi ông ấy nhầm lẫn. Tôi nhắm mắt giao cho ông ta bất cứ người nào trong gia đình tôi và cô cũng biết điều đó có nghĩa như thế nào với tôi. Nhiều vị trong ngành đó là những tay ngờ nghệch.
Cô khẩn trương xin một cái hẹn.
- Em gái tôi tự trách mình về tai nạn xảy đến cho cha mẹ chúng tôi, cô cho biết như thế và cô cũng nhận thấy trong lúc trò chuyện, cô tránh dùng cái từ “chết”. Điều đó vẫn còn quá siêu thực với cô. Nắm chặt ống nghe, cô nói tiếp “Trong nhiều năm liền, con bé vẫn luôn có ác mộng. Sau đó việc đó đã chấm dứt, nhưng giờ đây nó lại xuất hiện đều đặn hơn”.
Ông Carpenter nhớ rất rõ vụ Laurie bị bắt cóc. Khi cô bị các thủ phạm bỏ lại và trở về với gia đình mình, ông có bàn với các đồng nghiệp của mình về các hiệu ứng phụ của việc mất hoàn toàn trí nhớ. Ông rất thích được khám cô bé, nhưng ông lại nói với Sarah:
- Tôi muốn trao đổi với cô trước khi khám cho Laurie. Trưa nay tôi có một giờ rảnh đây.
Như bà vợ ông thường nói đùa với ông là Bác sĩ Carpenter sẽ là một bác sĩ gia đình tuyệt hảo đấy. Với mớ tóc xám bạc, nước da hồng hào, tròng kính không khung, một diện mạo khả ái và bụng không phệ, ông dường như đang ở độ tuổi năm mươi hai.
Phòng khám của ông được chủ ý thiết kế hết sức dễ chịu và mời đón: tường màu xanh ngọc, màn pha trộn màu lục và trắng, một bàn làm việc bằng gỗ đào hoa tâm với một bình đựng thảo mộc, một ghế bành rộng bằng da màu cặn rượu đối diện với cái ghế xoay của ông cùng một đi-văng tiệp màu với lưng hướng ra cửa sổ.
Khi cô thư ký đưa Sarah vào, ông Carpenter ngắm nhìn người phụ nữ duyên dáng trong bộ cánh màu xanh. Dáng vóc mảnh khảnh và thể thao với bước đi hết sức uyển chuyển. Cô không trang điểm trong khi mũi lại có nhiều nốt tàn nhang. Cặp lông mày và lông mi đen làm nổi bật vẻ sầu não của đôi mắt xám. Một băng đô xanh giữ mớ tóc quăn màu nâu hung dài ở phía sau ót. Sarah dễ dàng trả lời các câu hỏi của bác sĩ Carpenter.
- Đúng thế, Laurie không còn như trước sau khi trở về nhà. Ngay từ ngày đầu tiên, tôi biết chắc là người ta đã lạm dụng tình dục với cô ấy. Nhưng mẹ tôi lại công khai tuyên bố rằng những kẻ bắt cóc Laurie là những con người dễ thương, chỉ muốn có một đứa con mà thôi. Mẹ tôi bắt buộc phải bám vào điều đó. Đã mười sáu năm rồi, không một ai đề cập đến chuyện đó nữa. Tuy nhiên Laurie vẫn lo sợ khi phải đi ngủ. Con bé rất thương bố nhưng kể từ ngày đó không bao giờ chịu lên ngồi trên đùi của bố tôi nữa. Nó không thích ông đụng đến người nó. Nói tóm lại là nó sợ đàn ông.
- Cô ấy chắc đã được khám bệnh sau khi người ta tìm lại cô ấy phải không?
- Phải, tại một bệnh viện ở Pennsylvanie.
- Có thể hồ sơ bệnh án đó vẫn còn. Tôi muốn cô xin lại nó. Bây giờ cô hãy kể cho tôi về cơn ác mộng xuất hiện theo định kỳ của Laudrie.
- Cô ấy thật sự hoảng sợ, gọi cơn ác mộng là con dao. Từ khi trở về nhà cho đến nay, cô ấy luôn tỏ ra hoảng loạn trước bất cứ con dao nhọn nào.
- Cô đã nhận thấy sự thay đổi về nhân cách nơi cô ấy như thế nào?
- Lúc đầu là một sự thay đổi đáng kể. Trước khi bị bắt, Laurie là một đứa trẻ vui tươi và rất cởi mở. Có thể được nuông chiều đôi chút nhưng rất dễ thương. Con bé có một đám bạn và thỉnh thoảng thích đến nhà người quen ngủ qua đêm. Nhưng từ lần trở về nhà đó, con bé không hề ngủ ở nhà bất cứ người nào khác ngoài nhà chúng tôi. Nó cũng tỏ ra lạnh nhạt với đám bạn. Laurie chọn học tại trường Clinton chỉ vì khu ký túc xá chỉ cách nhà chúng tôi có một giờ ba mươi phút mà thôi, cho phép cô ấy về nhà mỗi cuối tuần.
Ông Carpenter hỏi thêm:
- Còn về bạn trai thì sao?
- Như ông sẽ nhận thấy sau này, Laurie xinh đẹp lắm. Cô ấy không thiếu lời mời và lúc học trung học cô cũng thường đi chơi và dự nhiều buổi khiêu vũ. Nó dường như không quan tâm đến bất cứ ai cho đến khi Gregg Bennett đột ngột bỏ rơi cô.
- Tại sao?
- Chúng tôi không biết được lý do, và Gregg cũng không biết gì hơn chúng tôi. Hai người đã cặp bồ với nhau trong suốt năm học vừa qua. Giống như Laurie, Gregg là sinh viên tại Clinton và cô cũng thỉnh thoảng mời anh ta về nhà trong dịp cuối tuần. Chúng tôi rất mến anh ta và Laurie tỏ ra rất sung sướng khi có anh ta bên cạnh. Hai đứa nó rất thích thể thao và là những tay chơi gôn cừ khôi. Rồi một hôm trong mùa xuân vừa qua, câu chuyện đó chấm dứt một cách bất ngờ. Laurie không muốn đề cập đến chuyện dó và không bao giờ nói đến tên anh ta. Anh ta có đến kiếm chúng tôi. Anh ta không hiểu nguyên nhân đưa đến việc chia tay này. Sáu tháng nay, anh ta đang ở Anh Quốc và tôi không biết anh ta có hay biết gì về vụ tai nạn của cha mẹ tôi không nữa.
- Tôi muốn được gặp Laurie vào mười một giờ sáng mai.
Ngày hôm sau, Sarah đưa Laurie đến cuộc hẹn, hứa sẽ đón cô năm mươi phút sau đó.
- Chị sẽ đem theo cái gì đó để ăn tối, Sarah nói. Em phải lấy sức lại đôi chút.
Laurie gật đầu và bước theo bác sĩ Carpenter vào trong phòng khám. Với vẻ mặt gần như hoảng loạn, cô từ chối nằm trên chiếc di văng, thích ngồi đối diện cái bàn làm việc hơn. Cô chờ trong im lặng, nét mặt buồn bã và lơ đễnh.
Trầm uất nghiêm trọng, ông Carpenter chẩn đoán cho chính mình.
- Tôi muốn được giúp cô Laurie à.
- Thế ông có thể đưa cha mẹ của tôi trở lại không?
- Tôi cũng rất muốn có được quyền năng đó. Laurie ơi! cha mẹ cô đã chết vì một chiếc xe ca bị trục trặc về máy móc.
- Họ đã chết vì tôi không cho kiểm tra chiếc xe của tôi.
- Cô quên làm việc dó.
- Tôi không quên vì tôi đã quyết định hủy cái hẹn đến ga ra. Tôi có nói là sẽ làm chuyện đó tại Trung Tâm An Toàn Xe Cộ. Đó mới là việc tôi quên làm nhưng tôi đã chủ ý huỷ bỏ cái hẹn trước. Tôi hoàn toàn có lỗi.
- Thế tại sao cô lại hủy cuộc hẹn trước vậy? Ông chăm chú quan sát cô trong lúc cô đang suy nghĩ đến cách trả lời!
- Có một lý do gì đó mà tôi đã quên rồi.
- Phải tốn bao nhiêu cho một lần kiểm tra xe như thế tại ga ra?
- Hai mươi đôla.
- Trong khi tại Trung Tâm An Toàn Xe Cộ thì miễn phí đúng không? Đó có phải là một lý do chính đáng không?
Cô dường như đang chìm trong suy nghĩ. Carpenter tự hỏi không biết cô có nghe câu vừa rồi không nữa. Nhưng cô lại nói “Không” và lắc đầu.
- Như thế, cô đã nghĩ gì khi hủy bỏ cái hẹn đó?
Giờ thì ông chắc là cô không nghe rồi. Cô đang nghĩ đâu đâu. Ông dùng một chiến thuật khác.
- Này Laurie, Sarah có nói với tôi rằng lúc này cô thường thấy ác mộng, nói cho đúng hơn thì cơn ác mộng lại xuất hiện trở lại, có đúng không?
Ở đâu đó trong đầu của mình, Laurie nghe một lời rên chói tai. Cô rút hai chân lên đến ngực và lấy tay che mặt lại. Tiếng rên đó không những có trong thâm tâm cô, nó còn được phát từ lòng ngực, từ cuốn họng và từ miệng của cô.
Đăng nhập để trả lời
0

13

Cuộc họp của Mục sư Rutland Garrison với các nhà sản xuất truyền hình đã đến hồi kết thúc. Garrison dõng dạc tuyên bố:
- Tôi cho thành lập “Giáo Đường Trên Làn Sóng” vào cái thời điểm mà các máy truyền hình đen trắng với màn ảnh nhỏ còn là một xa xí phẩm. Trong nhiều năm liền, giáo chức đó đã đem niềm an ủi, sự hy vọng và đức tin cho hàng triệu người. Chúng tôi cũng nhận được vô số tặng phẩm cho các công việc từ thiện. Tôi muốn biết rõ con người nào sẽ tiếp tục công việc làm của tôi sau này.
Bic và Opal gật đầu với nét mặt đầy vẻ tôn kính và sùng đạo. Ngày chủ nhật tiếp theo đó, họ đến trình diện “Giáo Đường Trên Làn Sóng”. Bic nói chuyện suốt bốn mươi phút.
Ông ta nói về tuổi thơ ấu trác táng của mình, lòng ham muốn mãnh liệt để trở thành một ca sĩ nhạc rock, về cái giọng mà Đấng Tối Cao đã ban cho mà ông ta đã sử dụng một cách sai lệch khi hát các bài phàm tục đáng khinh ấy. Ông nói sự cải đạo đem đến sự màu nhiệm. Đúng vậy, nói cho đúng, ông ta biết rõ con đường đến Damas sẽ phải như thế nào và ông đã bước theo các dấu chân của Thánh Paul. Có phải Chúa đã hỏi “Saul, Saul, tại sao con lại truy hại ta?” Chính câu trả lời mới làm cho ông đau khổ hơn vì ít ra Saul cũng nghĩ rằng mình đang nhân danh Chúa mà hành xử khi ông muốn tiêu diệt đạo cơ đốc.
Ngay lúc đó ông đã khóc.
Đến cuối bài thuyết giáo, Mục Sư Rutland Garrison quàng một cánh tay thân thiện trên vai ông ta. Bobby ra dấu cho Carla đến với họ. Bà ta bước lên sân khấu với mắt ửng lệ và đôi môi run run. Ông giới thiệu bà với khán thính giả của Worldwide Cable.
Để kết thúc, họ cùng nhau hát bài ca “Chúng ta mang theo các bó hoa”.
Sau buổi phát hình, đài nhận được vô số cú điện thoại tán thưởng Mục sư Bobby Hawkins, nên ông được mời trở lại đây sau hai tuần nữa.
Trên đường về Georgie, Bic giữ im lặng trong nhiều giờ liền. Cuối cùng ông thốt lên:
- Lee đang học tại trường đại học Clinton, bang New Jersey. Có thể cô đã tìm lại được trí nhớ của mình, mà cũng có thể không. Thượng Đế bảo ta phải nhắc nhở việc gì sẽ đến với cô nếu cô hở miệng bất cứ điều gì về chúng ta.
Bic sẽ là người kế nhiệm Mục sư Rutland Garrison. Opal cảm nhận được điều đó. Garrison cũng bị mê hoặc như tất cả những người khác. Nhưng nếu bỗng nhiên Lee nhớ lại mọi chuyện thì sao?
- Chúng ta phải làm sao đây Bic?
- Anh có một vài ý, Opal ạ, những ý niệm đến một cách bất ngờ trong lúc anh cầu nguyện.
 
Đăng nhập để trả lời
0

14

Trong lần khám bệnh thứ hai với bác sĩ Carpenter, Laurie báo là ngày mai đây cô sẽ trở về trường đại học.
- Điều đó sẽ tốt cho tôi và có ích cho Sarah hơn, cô nói thật bình thản. Sarah lo cho tôi đến mức chưa trở về văn phòng làm việc, về phần tôi, khi quay lại trường tôi phải nỗ lực gấp đôi nếu muốn bắt kịp thời gian đã mất, đến gần ba tuần lận.
Ông Carpenter chưa tin cho lắm vào những gì ông nhận thấy. Có một cái gì đó khác lạ nơi Laurie Kenyon, một khía cạnh nhanh nhẹn và quyết đoán hoàn toàn khác với cô gái phờ phạc và tuyệt vọng mà ông còn nhận thấy hồi tuần trước.
Ngày hôm đó, cô mặc một vest vàng với quần đen cắt tuyệt khéo cùng chiếc áo sơmi nữ bằng lụa trắng và đen. Còn hôm nay, cô nàng mặc quần jean cùng chiếc áo thun rộng thùng thình. Một cây kẹp giữ mớ tóc của cô ở phía sau và đặc biệt là cô tỏ ra quá bình tĩnh.
- Laurie à, cô còn thấy ác mộng nữa không?
Cô nhún vai.
- Tôi cảm thấy hết sức lố bịch khi làm trò cười cho thiên hạ hồi tuần trước. Ông nghe đây! Có rất nhiều người có những cơn ác mộng và họ cũng không chết vì chuyện đó. Đúng không?
- Sai, ông nhỏ nhẹ đáp lại. Này Laurie, nếu cô cảm thấy khỏe mạnh đến như vậy, tại sao cô không lại nằm trên chiếc đi-văng cho thư giãn để nói chuyện với tôi. Rôi ông quan sát thật cẩn thận xem phản ứng của cô.
Cô liền có hành động giống y như hồi tuần trước. Một ánh mắt thật sự hoảng sợ, nhưng ngày hôm nay lại kèm theo một mối nghi ngờ gần như là khinh bỉ vậy.
- Tôi nằm dài xuống có ích gì kia chứ? Tôi có thể ngồi nói chuyện một cách đàng hoàng mà. Không phải vì chúng ta không có gì nhiều để nói. Có hai chuyện đã xảy ra trong cuộc đời tôi và trong cả hai trường hợp đó, chỉ có tôi là người đáng trách thôi. Tôi công nhận điều đó.
- Cô tự trách mình vì đã để cho mình bị bắt cóc khi cô mới lên bốn hay sao?
- Đương nhiên rồi, tôi bị cấm không được bước ra đường một mình, một lời cấm đoán tuyệt đối. Mẹ tôi rất sợ khi thấy tôi băng qua đường một mình. Ở phía dưới nhà tôi, có một thanh niên lái xe như thằng điên vậy. Lần duy nhất mà mẹ đã rầy la tôi là lúc bà thấy tôi chơi banh một mình trước cửa nhà trên bãi cỏ sát lề dường. Và ông có biết tôi là người phải chịu trách nhiệm về cái chết của cha mẹ tôi không?
Giờ không phải là lúc để khai thác điểm này.
- Này Laurie, tôi chỉ muốn giúp cô thôi. Sarah có nói với tôi là cha mẹ cô thấy không cần thiết cho cô đến một vị bác sĩ tâm lý khám, sau lần bị bắt cóc đó. Cũng có thể vì lý do đó mà ngày hôm nay cô cảm thấy ghê tởm khi phải nói chuyện với tôi. Tại sao cô không nhắm mắt lại, buông lỏng cơ thể và từ từ học cách cảm thấy tin tưởng nơi tôi đi? Như thế chúng ta có thể sẽ dễ làm việc với nhau hơn trong các lần tới.
- Ông quá tin việc sẽ có các lần tới phải không?
- Tôi hy vọng thế, còn cô thì không à?
- Chỉ để làm vừa lòng Sarah thôi. Tôi dự tính mỗi cuối tuần sẽ về nhà, vì thế chúng ta chỉ còn có thể gặp vào ngày thứ bảy mà thôi.
- Chuyện đó quá dễ. Vậy cô sẽ nhà mỗi cuối tuần có đúng không?
- Phải!
- Và với ước muốn chỉ để gặp lại Sarah thôi phải không?
Câu hỏi dường như làm cho cô trở nên hào hứng hơn, vẻ thờ ơ liền biến mất. Laurie bắt chéo hai chân lại, cằm ngẩng cao lên, đưa bàn tay ra phía sau tháo kẹp tóc ra. Carpenter thấy mớ tóc vàng bồng bềnh của cô phủ hai bên mặt và một nụ cười bí hiểm bất ngờ xuất hiện trên môi cô.
- Việc tôi nán lại trường đại học vào lúc đó cũng không có ý nghĩa gì hết cô nói.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.01.2016 12:35:43 bởi Heoconmtv>
15
 
Laurie mở cửa xe mình ra.
- Trời bắt đầu vào thu rồi đấy, cô nói.
Các chiếc lá vàng đầu tiên đã rơi. Đêm qua, máy sưởi tự động đã hoạt động trở lại.
- Đúng vậy! Sarah đáp. Bây giờ em hãy nghe đây! Nếu chuyện đó quá khó đối với em thì…
- Chuyện đó không sao đâu. Chị cứ việc lo tống cho thật nhiều tên khốn nạn vào tù đi, còn phần em, em sẽ lo chép lại tất cả các bài mà em còn thiếu và em sẽ đỗ được bằng có xếp hạng cho coi. Có thể em ráng đạt hạng xuất sắc nữa là đằng khác. Chị đã làm cho em chóa mắt với lời khen thưởng hội đồng của chị. Thôi hẹn gặp lại chị vào ngày thứ sáu.
Cô hôn người chị một cái thật nhanh, rồi nói:
- Chị Sarah ơi! chị nhớ đừng bao giờ đổi xe với em được không?
Sarah vuốt tóc cô.
- Mà nè, chị tưởng chúng mình đã thỏa thuận rằng cha mẹ sẽ rất xúc động nếu họ biết được điều em đang nghĩ. Sau buổi khám ngày thứ bảy với bác sĩ Carpenter, chúng ta còn phải đánh một trận gôn đó!
Laurie ráng một nụ cười gượng.
- Người thắng sẽ trả tiền bữa ăn tối đấy.
- Chỉ vì em dư biết là chị không có cơ may chiến thắng nào hết mà thôi.
Sarah quơ tay chào cho đến khi chiếc xe đi khuất rồi cô mới trở vô nhà. Mọi thứ đều yên tĩnh, bên trong ngôi nhà quá trống trải. Theo lẽ thường tình, người ta không nên có nhiều thay đổi triệt để sau khi gia đình có tang chế, nhưng linh tính đã báo cô không được chậm trễ phải tìm một chỗ ở khác, tại sao không mua một căn hộ khác và rao bán ngôi nhà này. Ngày mai đây, cô sẽ gọi điện cho Bác sĩ Carpenter để hỏi ý kiến ông ấy.
Sarah đã sẵn sàng đi làm. Cô cầm túi xách và cái cặp để trên bàn ngay cửa ra vào. Cái bàn rất quý giá và lịch sự của thế kỷ XVIII có chạm trổ cẩm thạch và chiếc gương nằm ở phía trên là những món đồ xưa của bà ngoại cô. Rồi chúng sẽ đi đâu đây, và những bàn tủ xinh đẹp này sẽ làm gì trong một căn hộ vừa đủ cho hai người ở bây giờ? Còn các tác phẩm cổ điển trong lần xuất bản đầu tiên được xếp hàng dài trong phòng đọc sách của John Kenyon? Sarah không muốn nghĩ tới chút nào hết.
Một cách máy móc, cô nhìn vào gương và giật nẩy mình với hình ảnh mà cô thấy phản chiếu lại. Mặt cô có vẻ bèo nhèo quá, hai quầng thâm ngay dưới đôi mắt. Dù thường ngày mặt cô luôn thon thả, nhưng hôm nay hai má hóp lại còn môi thì màu chì. Cô nhớ lại lời mẹ đã nói trong ngày cuối cùng của bà.
- Sarah à, tại sao con không trang điểm một chút nhỉ? Một lớp phấn màu nơi mí mắt sẽ làm tăng vẻ đẹp của đôi mắt lên đấy.
Cô bỏ cái túi và cặp xuống bàn để đi lên lầu. Trước tấm kính trong nhà tắm, cô lấy bộ đồ trang điểm gần như mới ra. Hình ảnh của mẹ cô trong chiếc áo ngủ màu hồng sen, đẹp một cách tự nhiên và đầy tình mẫu tử, khuyên bảo cô đánh một ít phấn lên mí mắt, làm cho mắt cô nóng bỏng hơn vì rướm lệ mà cô phải cố nén vì tình thương đối với Laurie.
Thật không thích khi bước vào trong văn phòng không được thoáng mát cho lắm giữa bốn bức tường với nước sơn loang lổ, các chồng hồ sơ và tiếng chuông điện thoại reo vang. Các đồng nghiệp của cô đã đến dự đám tang của cha mẹ cô gần như không thiếu người nào. Những người bạn thân thiết nhất đã dự buổi lễ tại nhà thờ, đã gọi điện hay đến nhà thăm hỏi cô suốt ba tuần vừa rồi.
Ngày hôm nay dường như họ đã hiểu rằng cô muốn có lại một cuộc sống bình thường. “Rất vui gặp lại bạn”. Một cái ôm chớp nhoáng cùng lời nói an ủi “Sarah à, nếu khi nào có một phút rảnh…”
Cô ăn trưa bằng một miếng Sandwich phô mai và một tách cà phê đen tại căn tin của tòa án. Đến khoảng ba giở, Sarah có cảm giác hài lòng vì đã bắt kịp một phần công việc chậm trễ khi giải quyết một số lớn đơn khiếu nại của nhân chứng và vài vị luật sư.
Đến bốn giờ, không thể chờ đợi lâu hơn nữa, cô gọi điện cho Laurie tại trường đại học. Máy được nhấc lên ngay tiếng chuông đầu tiên.
- Alô!
- Laurie à, chị đây. Em thế nào rồi?
- Cũng bình thường thôi. Em đã dự ba lớp và bỏ giờ cuối cùng. Em cảm thấy mệt quá.
- Không có gì lạ hết vì em chưa thật sự ngủ được một đêm nào cho thẳng giấc cả. Thế tối nay em sẽ làm gì?
- Em đi ngủ thôi, cố làm cho tinh thần sáng sủa trở lại.
- Hay lắm, còn chị sẽ phải làm việc thật khuya đây. Chị sẽ về nhà vào khoảng tám giờ tối, em có muốn chị gọi điện cho em không vậy?
- Muốn chứ!
Sarah ở lại văn phòng cho đến bảy giờ mười lăm. Đến một quán nước mua một miếng Sandwich để ăn dọc đường. Đến tám giờ ba mươi, cô gọi điện cho Laurie.
Chuông điện thoại reo từng hồi. Không chừng con bé đang tắm cũng nên hay có chuyện đột xuất phải đi ra ngoài. Sarah vẫn giữ cái máy điện thoại sát lỗ tai, lắng nghe tiếng chuông vang lên không ngừng. Cuối cùng một giọng ngáy ngủ trả lời.
- Phòng ngủ của Laurie Kenyon đây!
- Laurie có ở đó không?
- Không và nếu không ai nhấc máy sau năm sáu tiếng chuông thì chị làm ơn gác máy giùm để khỏi làm phiền tôi. Tôi ở căn phòng cuối hành lang và phải chuẩn bị cho một kỳ thi.
- Xin lỗi cô. Cũng chỉ vì Laurie đã nói là muốn đi ngủ sớm mà thôi.
- Thế thì cô ấy đã thay đổi ý kiến, cô vừa ra ngoài cách đây vài phút.
- Nhưng cô ấy có vẻ khỏe mạnh không vậy? Tôi là chị và cũng hơi lo cho cô.
- Ô, em không biết, xin lỗi chị nhé! Em rất tiếc cho những gì đã xảy ra với cha mẹ chị. Em nghĩ là Laurie không có gì đâu. Cô ấy mặc quần áo bảnh lắm, dường như có hẹn với một ai đó.
Sarah gọi điện lại vào lúc mười giờ, một lần nữa vào lúc mười một và nửa đêm, rồi một giờ sáng. Lần cuối cùng này, Laurie mới trả lời bằng một giọng nhừa nhựa.
- Em không sao mà Sarah. Em đi ngủ liền sau khi ăn tối và đã ngủ từ lúc bấy giờ.
- Laurie à, chị để cho chuông reo lâu đến mức cô bạn em ở phòng bên cạnh đã phải trả lời cho em. Cô ấy nói là em đã đi ra ngoài cơ mà.
- Sarah à, cô ấy nhầm đấy. Em thề với chị là em ở đây mà. Laurie tỏ ra hốt hoảng. Tại sao em lại phải nói dối chị kia chứ?
Chị cũng không biết nữa, Sarah thầm nghĩ.
- Thôi được rồi, điều cốt yếu là em khỏe mạnh. Thôi em trở lại ngủ tiếp đi, cô nói và từ từ đặt máy xuống.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.01.2016 12:38:40 bởi Heoconmtv>
16
 
Bác sĩ Carpenter nhận thấy ngay sự thay đổi nơi Laurie khi cô ngồi chễm chệ xuống chiếc ghế bành bằng da. Ông không bảo cô nằm xuống cái đi văng vì ông không muốn thấy mất đi cái vẻ tự tin rụt rè nơi cô. Ông hỏi tuần vừa rồi tại trường đại học đã xảy ra như thế nào.
- Cũng tốt thôi, tôi cho là như thế. Tất cả mọi người đều tử tế với tôi. Bài học của tôi bị thiếu quá chừng nên tôi phải học thật khuya để bắt kịp thời gian đã mất. Khi nói xong, cô do dự một chút nhưng rồi làm thinh.
Carpenter chờ một khắc rồi nhỏ nhẹ hỏi.
- Chuyện gì vậy Laurie?
- Hôm qua, khi tôi về đến phòng, Sarah có gọi điện hỏi tôi có tin tức gì của Gregg Bennett không?
- Gregg Bennett?
- Trước đây tôi đã cặp bồ với anh ta và cha mẹ tôi và Sarah rất mến anh ấy.
- Thế cô có yêu anh ta không?
- Tôi yêu anh ta nhiều lắm cho đến khi…
Và ông lại chờ.
- Anh ấy không chịu bỏ tôi ra, cô nói với hai mắt mở thật to.
- Cô muốn nói là anh ấy muốn chế ngự cô à?
- Ồ không, anh ấy đã hôn tôi, mọi việc đều tốt và tôi rất thích. Nhưng rồi sau đó anh ấy đã ôm chặt lấy tôi trong tay.
- Nên cô hoảng sợ?
- Tôi biết chuyện đó thế nào cũng phải đến.
- Chuyện gì phải đến vậy?
Ánh mắt cô lạc đi vào chỗ vô định.
Mình không nên đề cập đến việc đó.
Suốt mười phút liền, cô giữ im lặng để sau đó nói với một giọng buồn.
- Tôi biết chắc là đêm hôm trước Sarah không tin là tôi ở trong phòng, chị tỏ ra lo âu cho tôi.
Sarah đã báo cho ông biết rồi.
- Nhưng cô có thể thật sự đã đi ra ngoài rồi, ông đề nghị. Việc đi gặp bạn bè rất có ích cho cô lắm đấy.
- Không, hiện giờ tôi không muốn gặp bất cứ ai hết, tôi có quá nhiều công việc để làm.
- Cô có nằm mơ không?
- Vẫn cái giấc mơ ấy, giấc mơ của con dao.
Hai tuần trước, cô thật sự nổi cơn tam bành khi ông hỏi cô về vấn đề này. Nhưng hôm nay, giọng của cô gần như bình thường.
- Tôi phải quen với nó thôi. Tôi còn sẽ thấy giấc mơ đó cho đến khi nào con dao đuổi kịp tôi. Đó là việc đang chờ đón tôi, ông có biết không?
- Laurie à, trong việc điều trị, chúng tôi gọi sự hồi cảm là hành động thể hiện bằng điệu bộ một kỷ niệm bị đè nén do xúc cảm bị nhiễu loạn. Vì thế ngày hôm nay tôi muốn cô biểu lộ nó cho tôi đi. Cô hãy thể hiện giấc mơ của cô đi. Tôi nghĩ việc cô sợ đi ngủ là vì cô sợ phải thấy lại giấc mơ đó. Nhưng không một ai có thể sống mà không ngủ, một điều không cần phải bàn tới. Cô hãy cho tôi thấy những gì đã xảy ra trong giấc mơ đó đi.
… Laurie từ từ đứng lên, rồi đưa một cánh tay lên trời. Miệng cô nở một nụ cười mỉm quỷ quyệt. Cô đi vòng qua bàn làm việc của Carpenter, nhất quyết tiến thẳng đến trước mặt ông ta. Cánh tay đó đưa lên và bổ xuống liên hồi tựa như trong tay cô có một con dao vậy. Và khi đến gần ông ta, cô đột nhiên đứng lại, thái độ hoàn toàn thay đổi. Cô đứng im tại chỗ như chết trân, ánh mắt nhìn thẳng tới trước. Cô làm điệu bộ như muốn vứt bỏ cái gì đó trên mặt và tóc của cô, cúi đầu xuống và phóng lùi ra sau với nét mặt hốt hoảng.
Cô té lăn xuống đất, hai tay bụm lấy mặt, người co ro sát chân tường, run rẩy, miệng thốt ra tiếng rên hừ hừ như một con vật bị thương.
Mười phút trôi đi rồi Laurie mới từ từ bình tâm lại, bỏ hai tay ra và chậm rãi đứng lên.
- Đó là giấc mơ về con dao, cô nói.
- Cô có mặt trong giấc mơ đó không Laurie?
- Có.
- Thế cô là người nào vậy, người cầm dao hay người hoảng sợ?
- Cả hai cùng một lúc để rồi cuối cùng chúng tôi cùng chết.
- Laurie à, tôi muốn bàn chuyện này với một nhà tâm lý học quen với tôi, có nhiều kinh nghiệm về những người đã bị chấn thương tâm thần hồi lúc ấu thơ. Cô có đồng ý cho tôi nói với ông ta về trường hợp của cô không?
- Nếu ông thích, tôi bất cần chuyện đó.
 
Đăng nhập để trả lời
0
17  

Vào sáng thứ hai, lúc bảy giờ ba mươi, bác sĩ Justin Connelly- bước thật nhanh nhẹn trên Đại lộ số Năm, từ căn hộ của anh tại Công Viên Trung tâm đến Bệnh Viện Lehman trên đường 96. Mỗi ngày anh buộc mình phải bước nhanh hơn đoạn đường ba cây số này. Nhưng trừ phi phải chạy, anh không thể vượt hơn mười phút kỷ lục của chính mình.
Đây là một con người cao lớn mà người ta dễ tưởng tượng với đôi ủng cao bồi và nón statson, nói cho đúng một hình ảnh gần khớp với thực tế. Donnelly lớn lên tại nước Úc ngay giữa bầy cừu. Bộ tóc quăn đen của anh dường như không muốn làm quen với bất cứ cái lược nào. Bộ ria mép dày đặc màu nâu làm nổi bật hàm răng trắng tinh mỗi khi anh cười. Hai mắt trong xanh với lông mày và lông mi đen nhánh làm cho bao phụ nữ phải ghen tức. Ngay từ lúc mới theo môn tâm lý học, anh quyết sẽ chuyên về các rối loạn đa nhân cách. Là một nhà tiên phong có tính thuyết phục, Donnelly phải tranh đấu hết mình để mở tại Nouvelles-Galles ở miền nam một dưỡng đường chuyên trị bệnh rối loạn tâm thần mà không lâu sau đó nó đã trở thành một tổ chức kiểu mẫu. Những bài viết của anh trong các tạp chí chuyên đề nổi tiếng nhất, đã mau chóng làm cho anh trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới. Chỉ mới ba mươi lăm tuổi thôi nhưng anh được mời mở một khoa về bệnh đa nhân cách tại Bệnh viện Lehman.
Chỉ sau hai năm tại Manhattan, Justin tự coi mình như là một người New York chính hiệu. Trên khoảng đường đi bộ đến phòng khám, anh tận hưởng các cảnh tượng giờ đây đã trở nên thân thuộc: các con ngựa và cỗ xe bốn bánh đậu trước cổng công viên, quang cảnh vườn bách thú ở tầm cao đường 65, những người gác cổng trước các tòa nhà lộng lẫy trên Đại lộ số Năm luôn chào hỏi bằng tên anh. Ngày hôm nay, lúc anh đi ngang qua, có vài người còn bàn đến thời tiết nữa.
Ngày làm việc có vẻ khá bận rộn đấy. Justin thường cố giữ trống cái khoảng từ mười đến mười một giờ để họp hành. Nhưng sáng nay là một ngoại lệ. Ngày thứ bảy, có một cú điện từ một bác sĩ chuyên khoa tâm thần tại New Jersey-đã làm cho anh phải quan tâm đến. Vị Bác sĩ Peter Carpenter hy vọng có thể gặp được anh càng sớm càng tốt về một bệnh nhân của ông ta mà anh cho là đã mắc phải các triệu chứng đa nhân cách với khuynh hướng tự sát. Justin đã cho ngay một cái hẹn vào lúc mười giờ sáng nay.
Anh đến góc đường 96 và Đại lộ số Năm sau hai mươi lăm phút và cho rằng mấy người đi bộ kia đã làm chậm bước đi của anh. Cổng ra vào chính của bệnh viện nằm trên Đại lộ số Năm những người ta cũng có thể vào trong phòng làm việc của Donnelly bằng một cánh cửa khác trên đường 96.
Anh gần như luôn là người đến trước tiên. Nơi làm việc của anh gồm có hai phòng ở cuối một hành lang. Căn phòng đầu sơn trắng, được trang trí đơn sơ với một cái bàn, một ghế xoay, hai ghế đành cho khách, một tủ đựng sách và một tủ đựng hồ sơ cùng nhiều hình ảnh đầy màu sắc của những chiếc du thuyền đang lướt trong vịnh Sydney.
Anh khám bệnh trong phòng kia. Nó được trang bị một đầu máy thu hình tối tân và một máy ghi âm.
Người bệnh nhân đầu tiên của anh là một phụ nữ khoảng bốn mươi tuổi, quê quán bang Ohio và được chữa trị trong sáu năm trời về chứng tâm thần phân liệt. Bà đến khám bệnh với lời giới thiệu của bác sĩ chuyện khoa, không hiểu những tiếng nói mà người phụ nữ này luôn nghe thấy có phải xuất phát từ những nhân cách liên tiếp thay đổi trong bà ta hay không. Hiện giờ bệnh tình của bà ta đang hồi phục rất khả quan.
Bác sĩ Carpenter đến đúng vào lúc mười giờ. Sau khi nói lời cám ơn bác sĩ Justin chấp nhận tiếp ông ta không chậm trễ như thế, ông đề cập ngay tới trường hợp của Laurie.
Donnelly lắng nghe, ghi chép vài điều và đôi khi ngắt ngang câu chuyện bằng nhiều câu hỏi. Ông Carpenter kết luận
- Tôi không rành lắm về bệnh rối loạn đa nhân cách, nhưng tôi đã nhận thấy có nhiều dấu hiệu rất đặc trưng. Nhất là tôi thấy giọng nói và thái độ của cô đã thay đổi trong hai lần tiếp xúc sau cùng. Cô không thể nào nhớ những gì của một thời điểm chính xác nào đó, như trong cái đêm mà cô đã rời khỏi căn phòng để bỏ đi ra ngoài trong nhiều giờ liền. Tôi tin chắc là cô không nói dối khi xác nhận là cô đã ngủ suốt thời gian đó. Một cách định kỳ, cô mơ đến một con dao đang chuẩn bị đâm cô. Nhưng trong một lúc nào đó, khi đang hồi cảm, chính cô là người cầm dao để đâm. Sau đó cô hoán đổi các vai và cố tránh con dao đó. Tôi có làm một bản sao của hồ sơ cô cho anh đây.
Donnelly lướt đọc các trang giấy kia, ngừng lại để khoanh tròn hay gạch dưới một chi tiết nào đó làm cho anh đặc biệt chú ý. Trường hợp này làm cho anh mê hoặc. Một đứa trẻ được gia đình nuông chiều, bị bắt cóc khi được bốn tuổi và việc hoàn toàn không nhớ được gì của một thời gian hai năm! Thêm vào đó là một cơn ác mộng định kỳ! Và một người chị có cảm giác từ khi cô trở về, Laurie phản ứng lại với sự căng thẳng đó bằng một sự lo âu rất trẻ con… Cái chết khủng khiếp của cha mẹ làm cho Laurie cảm thấy có tội.
Anh xếp hồ sơ lại và tuyên bố:
- Các báo cáo của bệnh viện Pittsburgh, nơi khám cho cô, đã nhấn mạnh đến khả năng cô bị lạm dụng tình dục trong suốt một thời gian dài và có khuyên nên cho cô đi khám một chuyên gia về bệnh tâm thần nhưng tôi nghĩ việc đó chưa được thực hiện.
- Chỉ vì cha mẹ cô quyết liệt từ chối việc đó, bác sĩ Carpenter đáp lại và cũng vì thế mà không có việc chữa trị nào hết.
- Sẽ rất tốt nếu như ông thuyết phục được Laurie đến đây để làm một tổng kiểm tra mà theo tôi sớm chừng nào thì tốt chừng ấy.
- Tôi cho việc đó rất khó đấy vì Sarah phải van xin cô để đến cho tôi khám bệnh.
- Nếu cô vẫn ngoan cố thì tôi muốn gặp người chị vậy. Phải theo dõi mọi dấu hiệu sai lệch trong thái độ và đương nhiên là không thể xem thường lời hăm dọa tự sát được.
Cả hai vị bác sĩ bước ra cửa. Trong phòng chờ đợi, một thiếu nữ tóc nâu đang ủ rũ nhìn qua cửa sổ. Hai tay bị băng bó.
Dorinelly thì thầm:
- Chúng ta phải thật chú tâm đến trường hợp này mới được. Các bệnh nhân đã bị tổn thương hồi ấu thơ thường có khuynh hướng tự hủy diệt họ.
 
Đăng nhập để trả lời
0
18
 
Khi tối hôm đó Sarah về đến nhà, thấy thơ từ đã được xếp trên bàn nơi cửa ra vào. Sau đám tang, cô Sophie trung thành đã làm cho gia đình từ lâu rồi, có đề nghị là bây giờ chị ta chỉ đến nhà hai lần trong tuần mà thôi.
- Như vậy là quá đủ rồi Sarah vì tôi cũng không còn trẻ trung gì nữa.
Ngày thứ hai là ngày chị đến dọn dẹp. Điều đó giải thích tại sao thơ từ đã được xếp như thế, trong nhà phảng phát mùi xi đánh sàn, màn được kéo trong khi đèn tỏa một ánh sáng dịu, tạo một bầu không khí ấm cúng trong các phòng ở tầng trệt.
Đây là thời điểm khổ nhọc nhất trong ngày khi Sarah phải đi vào trong ngôi nhà trống vắng. Trước khi tai nạn xảy ra, mỗi khi Sarah về nhà cha mẹ ăn tối, hai ông bà thường chờ chị để uống một ly khai vị.
Sarah cắn môi lại để xua đi những kỷ niệm đó. Lá thơ trên cùng được gởi từ Anh Quốc. Hẳn đây là của Gregg Bennett. Cô đọc lướt qua sau đó cô mới đọc kỹ hơn. Gregg mới nghe tin vụ tai nạn. Các lời chia buồn của anh ta rất thành thật và cảm động. Anh ta nhắc lại lòng trìu mến mà anh dành cho hai ông bà Kenyon, những thời khắc tuyệt vời mà anh đã trải qua trong ngôi nhà của họ, nói thêm rằng sự thiếu vắng của họ đã là một nỗi khổ cho chị và Laurie.
Đoạn cuối mới thật cảm động.
“Sarah à, tôi đã cố gọi điện cho Laurie và cô ấy đã trả lời với một giọng thật sầu não. Sau đó cô có nói lớn tiếng cái gì đó đại loại như “Tôi không muốn tôi, không muốn” và gác máy liền. Tôi thật sự lo âu cho cô ấy. Cô ấy quá yếu đuối. Tôi biết là chị đang chăm sóc cô ấy, nhưng chị cũng phải hết sức cẩn thận đấy. Vào tháng Giêng, tôi sẽ trở về Clinton và rất muốn gặp lại cô ấy. Chúc chị nhiều điều tốt lành và xin chị nhớ hôn cô ấy giùm tôi. Gregg”
Với đôi tay run run, Sarah thật sự cảm động và chị cầm hết xấp thư vào trong thư phòng. Ngay sáng mai đây, chị sẽ gọi cho Bác sĩ Carpenter để đọc cho ông nghe lá thư này. Chị biết là ông đã cho Laurie thuốc an thần, nhưng con bé có uống không? Máy trả lời điện thoại nhấp nháy. Bác sĩ Carperiter đã gọi cho cô và có để lại số máy cá nhân của ông.
Khi cô tiếp chuyện được với ông trên điện thoại, cô có nói về bức thư của Gregg rồi sau đó lắng nghe ông, tỏ ra rất xúc động khi ông kể lại thật rành mạch lý do khiến ông tiếp xúc với Bác sĩ Justin Donnelly tại New York và tại sao tình thế bắt buộc Sarah không được chậm trễ phải gặp anh ta. Ông cho số điện thoại của cô thư ký Bác sĩ Donnelly. Cô hết sức xúc động khi gọi điện cho cô thư ký và phải nói hai lần số điện thoại của mình.
Sophie có làm một con gà rôti và một dĩa xà lách, cổ họng bị nghẹn lại, Sarah chỉ ăn qua loa vài ba miếng mà thôi. Cô đang uống cà phê thì Bác sĩ Donnelly gọi đến. Ông không có thời gian rảnh trong buổi sáng nhưng có thể tiếp cô vào lúc sáu giờ chiều ngày hôm sau. Cô gác máy, lấy lá thơ của Grègg ra đọc lại, cảm thấy rất cần phải gọi điện cho Laurie. Không ai trả lời. Cứ mỗi ba mươi phút chị gọi lại cho đến khi có tiếng người trả lời vào khoảng mười một giờ. Chính là Laurie và giọng của cô thật vui tươi. Họ nói chuyện với nhau trong vài phút và Laurie mới nói:
- Chị nghĩ sao về chuyện này? Sau bữa ăn tối, em đã lên giường và ngủ một giấc thật ngon và điều em cần làm bây giờ là bắt tay vào làm việc suốt đêm.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.01.2016 12:56:31 bởi Heoconmtv>
19
 
Lúc mười một giờ tối đêm đó, giáo sư Allan Grant, lên giường nằm và bật đèn nơi đầu giường.
Cánh cửa kính của phòng ông hé mở nhưng ông cảm thấy không khí trong này không đủ mát. Bà vợ Karen của ông, thỉnh thoảng nói đùa với ông là chắc kiếp trước không chừng ông là một con gấu bắc cực. Karen rất ghét phải ngủ trong một căn phòng lạnh buốt, dù bà ít khi có mặt ở nhà để quan tâm đến điều đó, ông thầm nghĩ, rồi hất cái mền qua một bên để đứng lên.
Từ ba năm nay, Karen làm cho một công ty du lịch tại Khách Sạn Madison Arllis ngay giữa trung tâm Manhattan. Lúc đầu bà hiếm khi ngủ qua đêm tại New York. Nhưng sau đó thì thường xuyên hơn, và vào một buổi chiều bà gọi điện về nhà.
- Anh ơi! chúng em làm việc bù đầu đây và em phải hoàn tất một số giấy tờ. Anh có thể nào xoay sở một mình được không?
Ông đã từng xoay sở một mình suốt ba mươi bốn năm trước khi cưới bà cách đây sáu năm, trong một chuyến du lịch qua Ý. Nên ông không gặp khó khăn gì khi phải trở lại cuộc sống đó. Karen giờ đây có một căn hộ trong khách sạn và thường ở đó suốt cả tuần, chỉ về nhà vào dịp cuối tuần mà thôi.
Grant bước đến cửa sổ và mở to cánh cửa ra. Cái màn liền phồng lên và một ngọn gió hết sức dễ chịu bay ùa vào trong phòng. Ông mau mau trở về giường, nhưng rồi do dự, đổi ý đi về phía hành lang. Tội gì chứ? Ông chưa buồn ngủ. Ông suy nghĩ về lá thư khá kỳ lạ kia đã được gởi đến văn phòng ông hồi lúc sáng nay. Mà cái cô Leona quái đó là ai thế nhỉ? Ông không có người sinh viên nào tên đó và cũng chưa hề có bao giờ.
Ngôi nhà sàn theo kiểu thôn quê này cũng khá rộng. Ông đã mua nó trước khi cưới Karen. Có một lúc Karen muốn trang trí nó, thay toàn bộ đồ đạc buồn tẻ trong đó và giờ đây nó từ từ mang lại dáng vẻ ngôi nhà của một kẻ độc thân.
Kéo cái quần hơi dài của ông lên và gãi đầu, Grant đi dọc hành lang, đi ngang qua phòng dành cho bạn bè, nhà bếp, phòng khách và phòng ăn để đi vào trong phòng làm việc. Ông bật đèn trần lên. Ông lấy chiếc chìa khóa của ngăn tủ bàn làm việc, lấy hết các bức thư ra và đọc.
Lá thư thứ nhất được gởi đến cách đây hai tuần.
“Allan thương yêu, ngay lúc này em đang nhớ lại những thời khắc tuyệt vời mà chúng ta ở bên nhau đêm qua. Đối với em, hình như chúng ta luôn yêu nhau. Nhưng có thể thời gian không được đành cho chúng ta thì phải? Anh có biết là em phải kềm chế đến mức nào để khỏi phải trèo lên nóc nhà la cho thật lớn là em yêu anh đến muốn điên lên không? Em biết là anh cũng có cảm nghĩ đó. Chúng ta phải che giấu việc chúng ta là của nhau, em biết vậy. Em cầu trời cho anh lúc nào cũng yêu và ham muốn em. Leona.”
Tất cả những bức thư này đều chung một luận điệu. Chúng được tiếp nối ngày này qua ngày khác, gợi lại những cảnh yêu đương trong văn phòng làm việc hay ngay trong ngôi nhà này.
Ông thỉnh thoảng cũng có tiếp các sinh viên ở nhà ông cho các buổi làm việc và có rất nhiều người biết rõ ngôi nhà này. Có vài lá thư nhắc đến cái ghế bành bị thụng bằng da nâu trong phòng làm việc. Nhưng có điều ông ta chưa hề tiếp một nữ sinh viên nào một mình trong căn nhà này, vì bản chất của ông ta không thuộc loại đó.
Grant xem xét thật cẩn thận tất cả các lá thư. Hiển nhiên là chúng được đánh bằng một máy chữ cũ kỹ và các chữ 0 và w có lỗi đánh máy. Ông đã kiểm tra hết hồ sơ của đám sinh viên và không một ai dùng loại máy đánh chữ này. Vả lại ông cũng không nhận ra nét chữ ký ngoằn ngoèo kia.
Một lần nữa, ông tự hỏi không biết có nên trình các lá thư này cho ban điều hành trường đại học và đưa cho Karen coi không nữa. Không thể nào đoán trước phản ứng của Karen sẽ như thế nào và ông cũng không muốn làm cho bà lo âu. Kể cả việc ông không muốn bà phải nghỉ làm việc để ở nhà với ông. Có thể vài năm trước đây ông rất muốn điều đó, nhưng bây giờ thì không đời nào. Ông phải quyết định một việc quan trọng đấy.
Ban điều hành. Ông sẽ báo cáo cho vị chủ nhiệm phụ trách công việc nội bộ một khi ông khám phá ra ai là tác giả các bức thư này. Điều đáng nói là ông không có một manh mối nào hết và nếu một ai đó tin là chúng chứa đựng một tí sự thật thôi cũng đủ để ông giã từ sự nghiệp của mình rồi.
Ông đọc lại các lá thư đó không biết đến lần thứ bao nhiêu rồi, cố tìm cho ra một lối hành ngữ, một câu hay một thành ngữ nào đó có thể gợi cho ông nhớ lại một sinh viên nào đó, nhưng không gì hết. Cuối cùng ông xếp các bức thư vào và khóa ngăn tủ lại, duỗi người ra để nhận thấy mình mệt muốn chết đi được. Việc nằm ngủ co ro trong chăn mền ở căn phòng lạnh là một chuyện, nhưng khi ngồi lạnh cóng trước ngọn gió lùa với chỉ một bộ đồ ngủ mỏng tanh là một việc hoàn toàn khác. Nhưng cái ngọn gió lùa đó nó từ đâu đến không biết nữa?
Khi ở nhà, Karen luôn kéo các bức màn lại và ông không hề quan tâm đến việc đó. Ông nhận thấy cánh cửa kính lùa mở ra sân trong vẫn còn hở vài phân. Nó rất nặng và dịch chuyển một cách khó khăn. Có thể ông đã đóng nó không kỹ, lần cuối cùng ông ra khỏi căn phòng và cái khóa cũng phiền phức rất khó đóng nữa chứ. Ông bước đến cánh cửa, đóng sầm nó lại và cài chốt mà không cần xem nó được cài lại hay chưa, rồi bỏ lên giường.
Ông nằm rúc người trong chăn mền và trong căn phòng lạnh một cách dễ chịu này, ông nhắm mắt lại ngủ liền. Trong những giấc mơ điên rồ nhất, ông cũng không thể nào tưởng tượng được có một hình bóng mảnh khảnh tóc dài đang ngồi co ro trên chiếc ghế bành nâu và đã bỏ đi khi nghe tiếng chân của ông tới gần.
 
Đăng nhập để trả lời
0
20
 
Chaniel O’Toole, năm mươi tám tuổi, hành nghề thám tử tư, được biết tại New Jersey dưới cái tên Danny. Với dáng vẻ chất phác nhưng rất thích uống rượu, đó là một con người tài năng, nghiêm túc, luôn thu thập tin tức một cách kính đáo, không thể chê vào đâu được.
Danny quá quen với việc thấy người ta dùng biệt danh khi họ mướn ông theo dõi những ông chồng hay bà vợ bị tình nghi là không chung thủy. Chỉ cần việc ông nhận được tiền đặt cọc và các chi phí phát sinh được trả sòng phẳng thì khách hàng có quyền lấy bất cứ biệt danh nào mà họ thích.
Dù sao thì ông cũng hơi ngạc nhiên khi một bà tự xưng là Jane Graves gọi điện đến Hackensack cho ông vào bữa sáng thứ ba, lấy cớ về một vụ bảo hiểm, yêu cầu ông điều tra các hoạt động của mấy chị em nhà Kenyon. Kiểm tra xem người chị có đi làm lại chưa? Cô em nhỏ có trở lại học ở trường đại học chưa? Cô có thường về nhà không? Họ đã phản ứng ra sao trước cái chết của cha mẹ họ? Họ có tỏ vẻ gì bị suy sụp thần kinh không? Điều quan trọng hơn, một trong hai người đó có đến khám một bác sĩ chuyên khoa tâm lý không?
Danny đánh hơi ngay trong việc này có gì đó mờ ám. Ông đã gặp Sarah Kenyon được vài ba lần tại tòa án. Tai nạn chết người do chiếc xe ca bị hư thắng gây ra khi phóng quá nhanh đã đụng phải xe của cha mẹ cô. Có thể người ta đã đệ đơn kiện công ty của chiếc xe ca, nhưng các công ty bảo hiểm thường có các nhà điều tra riêng của họ. Dù vậy công việc vẫn là công việc và cũng vì thời kỳ suy giảm kinh tế nên các vụ ly dị không còn béo bở nữa. Ly dị bây giờ trở nên khó khăn hơn một khi có liên quan đến vấn đề tiền bạc.
Được ăn cả ngã về không, Danny liền tăng gấp đôi tiền thù lao của mình và nhận được lời hứa ngân phiếu sẽ được gởi đến bằng đường bưu điện. Người ta yêu cầu ông gởi các báo cáo và hóa đơn đến một hộp thư lưu trữ tại New York.
Với nụ cười trên môi, Danny gác máy.
 
Đăng nhập để trả lời
0