📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Cáo sa mạc - Mary Higgins Clark 🔒

52 trả lời, 347 lượt xem — Trang 2 / 2
31
 
Bà Lally rất tức giận những kẻ đột nhập chiếm phòng bà, đến nỗi bà nói toạc ra hết cho Rosie nghe khi bà gặp chị ở phòng đợi. Kể xong bà liền hối hận ngay.
- Chỗ ấy là của tôi mà. - Bà kết luận một cách vụng về như thế. Bây giờ nếu Rosie muốn đến ngủ với bà ở đấy thì bà lấy cớ gì mà từ chối? Bà không thể để cho chị ta ngủ chung được, chị ta không thể ngủ ở đây được.
Nhưng bà khỏi cần phải lo, chị ta đã la toáng lên :
- Bà muốn ngủ ở dưới phòng nhạc ấy à? Bà đừng rủ tôi đến ngủ ở thiên đường của bà dưới ấy nhé. Bà biết tôi rất ghê tởm bọn mèo.
Rất tốt, bà không lo đến nữa, Rosie sợ mèo, chị thà chạy băng qua bên kia đường còn hơn để gặp một con mèo. Bà Lally đáp :
- Ờ, còn tôi, tôi lại thương chúng, những con vật khốn khổ đói khát. Ở dưới đường hầm có nhiều mèo vô kể.
Nghe nói, chị Rosie phát run. Bà Laliy nói tiếp :
- Vậy là hai tên đó ở trong phòng dưới ấy. Khi thằng cha ấy đi rồi, tôi sẽ dọa cô gái cho cô ta sợ mới được..
Rosie trầm ngâm suy nghĩ, chị đáp :
- Có thể bà lầm đấy, tôi sợ hắn cứ ở miết dưới ấy, bà nói hắn có vẻ bất hảo mà.
- Quá bất hảo, có lẽ chị phải giúp tôi ngó chừng hắn mới được.
Chị Rosie có tính hiếu kỳ, thích những chuyện hấp dẫn, nên chị cười toe toét để lộ hàm răng sâu vàng khè. Chị nói :
- Được rồi.
Hai người uống hết cà phê, cẩn thận lượm hết những mẩu vụn bánh mì trong cái xách đựng đồ nhật dụng, rồi cùng đi xuống bậc dưới. Bà Lally lo lắng nói :
- Việc này phải mất khá nhiều thời gian mới được.
- Không quan trọng, miễn là hôm nay không có Olendorf.
Olendorf là người bảo vệ nghiêm ngặt nhất, anh ta không bao giờ để cho những người thường kiếm sống ở nhà ga đi thơ thẩn lang thang trong sân ga. Anh ta thường đuổi họ đi, canh chừng không cho họ ăn xin hay để cho họ xả rác.
Họ đứng khép nép trước mặt kính của một tiệm sách. Thời gian trôi qua, họ đứng yên chờ đợi. Bà Lally đã có sẵn chuyện để nói nếu bị Olendorf phát hiện. Bà sẽ nói với anh ta rằng bà có người bạn đến New York, bà đã hứa đứng chờ đón bạn ở đây.
Nhưng những bảo vệ không biết có hai người ở đây, bà Lally bắt đầu cảm thấy hai chân đau nhức. Khi hành khách dưới ke tàu Mount Vemon đi lên tầng cấp, bà đề nghị Rosie khỏi cần canh chừng anh chàng bảo vệ nữa. Một người trong đám hành khách có mái tóc đen, bước đi đều đặn.
Bà nắm cánh tay của Rosie, thốt lên :
- Hắn đấy, nhìn kìa, hắn đang đi đến tầng cấp, hắn mặc áo khoác màu nâu đỏ, quần xanh.
Rosie nheo mắt, đáp :
- Rồi, rồi, tôi thấy rồi.
- Bây giờ, tôi đi xuống được rồi. - Lally hí hửng nói. Rosie can.
- Khoan đã, Olendorf đứng trong góc kia kìa, hắn đang nhìn đến đây đây.
Nhưng chẳng có gì can ngăn được bà Lally, bà đợi cho Olendorf đi ăn trưa, liền đi xuống bến tàu. Chuyến tàu 12 giờ 10 đã đông khách, bà nghĩ chắc không ai để ý đến bà. Bà lẻn ra phía bên kia đường sắt, đi nhanh xuống bờ dốc dù chân bị thấp khớp, nhưng bà cũng ráng hết sức để đi. Bà không được khỏe, vì mùa đông quá khắc nghiệt. Bệnh thấp khớp bây giờ lan lên tận lưng bà và tràn xuống cả hai bàn chân. Bà đau đớn khắp nơi, bà chỉ còn một mơ ước thôi, là được nằm nghỉ ngơi trên giường của mình. Bà sẽ làm cho cô gái dọn đi ngay tức khắc. Bà sẽ nói với cô gái: “Này cô ơi, cảnh sát biết hết rồi, họ sắp đến bắt cô đấy, chạy mau đi báo cho bạn cô biết”.
Thế là yên thôi.
Bà lê chân qua những máy phát điện, những ống cống. Đường hầm tối tăm lặng lẽ đã hiện ra.
Bà ngước mắt nhìn cánh cửa văn phòng, mỉm cười khoan khoái. Chỉ còn tám bước nữa là đến chân cầu thang, bà móc hai quai xách vào cánh tay, lục tìm trong xách lấy chìa khóa. Dùng một tay vịn vào tay vịn ở cầu thang, bà gắng bước lên tầng cấp cầu thang.
- Bà đi đâu thế, bà Lally? - Một giọng nói khô khan cất lên, Lally kêu lên một tiếng và suýt nữa là ngã ngửa xuống đất. Bà cố gượng để giữ cân bằng và để tranh thủ thời gian. Bà từ từ quay lại, trước mặt bà, anh chàng Olendorf đang nhìn bà, vẻ mặt hăm dọa. Thì ra anh ta đã canh chừng bà sát nút, y như Rosie lo sợ. Hắn ta giả vờ đi ăn trưa để rình bắt cho được bà. Bà lén thả cái chìa khóa vào túi xách, không biết anh ta có thấy không.
- Bà Lally, tôi hỏi bà đi đâu ở đây?
Bên cạnh bà, máy điện đang nổ ầm ầm, phía trên đầu, có chuyến tàu đang chạy rầm rầm ở một bến ga nào đây. Bà đứng yên không nói được lời nào.
Bỗng bà nghe từ trong một góc tối phát ra tiếng mèo kêu rùng rợn, tiếng gừ gừ gay gắt. Trong óc bà nảy ra một ý kiến. Bọn mèo! Bà đưa tay run run chỉ những cái bóng gầy trơ xương, sợ sệt, trốn tránh.
- Anh nhìn kìa, chúng đói trơ xương! Tôi đến để cho chúng ăn cái gì. Tôi định cho chúng ăn đây! - Bà lôi nhanh trong túi xách ra cái khăn rách gói những mẩu vụn bánh mì bà ăn còn lại.
Người bảo vệ nhìn cái khăn cũ dơ bẩn, ánh mắt ghê tởm, nhưng khi anh ta cất tiếng nói, giọng anh bớt gay gắt :
- Tôi cũng thương chúng, nhưng bà không có việc gì để làm ở đây hết. Hãy ném các thứ ấy cho chúng rồi cút khỏi mắt tôi ngay. - Anh ta đưa mắt nhìn lên cầu thang, nhìn cánh cửa phòng một lát, ánh mắt phân vân. Tim bà Lally đập thình thịch, và lấy cái xách, đi bước thấp bước cao đến phía các con mèo, ném những mẩu vụn bánh mì cho chúng, nhìn chúng chen nhau đến vồ lấy.
- Ông thấy chưa, chúng đói meo. - Bà cố gây cảm tình với anh ta - Chắc ông có nuôi mèo ở nhà chứ, phải không ông Olendorf?
Bà giả vờ bước đi, hy vọng anh ta đi theo bà, nếu anh ta có chìa khóa riêng để vào được phòng này thì sao nhỉ? Nếu anh ta tìm thấy cô gái, thế nào họ cũng thay ổ khóa khác, có thể họ còn trừng phạt cô ta nữa.
Anh ta ngần ngừ một lát, rồi nhún vai, bước theo bà. Anh ta đáp :
- Tôi có nuôi chứ, nhưng vợ tôi không thích mèo, từ khi bà ấy mất con mèo quý thì không muốn nuôi nữa.
Trở lại phòng đợi, bà Lally nhận thấy tim mình vẫn còn đập thình thịch. Thế đấy, một lần nữa, bà không vào được căn phòng của mình. Phải đợi đêm nay hết phiên gác của anh chàng Olendorf kia mới họa may. Nhờ bọn mèo làm huyên náo mà bà đã lục trong thùng rác lượm được mấy số tạp chí cũ và mấy tờ báo nhàu nát.
0
32
 
Neil biết cô Sharon bị đau, cô không sợ xấu hổ khi phải nói mình té. Hẳn là thằng cha ấy đã xô cô nhào xuống. Cậu muốn nói, nhưng miếng vải bịt miệng cậu chặt quá khiến cậu không nói được. Miếng vải bịt chặt hơn trước nhiều. Cậu muốn nói với Sharon rằng cậu thấy cô rất can đảm khi dám tấn công thằng cha ấy. Khi hắn hại mẹ cậu, cậu đã quá sợ không dám chống lại hắn. Nhưng ngay cả cô Sharon, to lớn gần bằng đàn ông như thế, mà cũng không đủ sức để chống lại hắn nữa mà.
Cô Sharon nói cô sẽ tìm cách lấy khẩu súng của hắn. Cô đã nói: “Cháu đừng sợ khi nghe cô nói cô sẽ bỏ cháu, không bao giờ cô bỏ cháu đâu. Nhưng nếu cô đoạt được khẩu súng ấy, có lẽ chúng ta sẽ buộc hắn phải để cho chúng ta ra. Chúng ta đều lầm lẫn cả, chỉ có hai chúng ta mới có thể cứu sống được Ronald Thompson thôi”.
Khi cô Sharon nói, giọng cô nghe nặng trịt, y như giọng cậu, nhưng cậu cũng đã kể được cho cô nhe... chuyện thằng Sandy đã nói nó sẽ bảo vệ mẹ nó, cậu nhớ mãi ngày hôm ấy, nhớ lúc thằng Sandy nói rằng vợ chồng ông Lufts có lẽ sẽ mang cậu đi Florida, nhớ bọn bạn hỏi cậu có muốn Ronald Thompson bị nướng không.
Cho dù cậu khó chịu khi phải nói qua miếng vải bịt mồm, nhưng sau đó cậu đã thở dễ chịu hơn. Cậu hiểu điều cô Sharon muốn nói. Người ta sẽ giết Ronald Thompson vì tội giết mẹ cậu, mà thực ra không phải anh ấy phạm tội. Nhưng Neil đã nói chính anh ấy. Neil không muốn nói láo, đó là điều cậu cố nói cho ba cậu biết trong lời nhắn.
Bây giờ cậu phải cố thở từ từ bằng mũi, không được khóc hay sợ sệt gì hết, vì làm thế cậu càng khó thở hơn.
Trời quá lạnh, hai tay hai chân cậu đau nhừ, thế nhưng có cái gì đấy đã khiến cậu bớt đau. Sharon sẽ tìm cách để ra khỏi đây, thoát khỏi thằng cha nầy, rồi họ sẽ nói rõ chuyện của Ronald Thompson ra. Hoặc là ba cậu sẽ đến tìm cậu, Neil tin chắc như thế.
Cậu cảm thấy hơi thở của cô Sharon phả vào má cậu, cậu đã gục đầu vào cổ cô. Thỉnh thoảng, cô ú ớ những tiếng nghe thật kỳ, như thể có cái gì đấy làm cho cô đau đớn. Nhưng cậu nằm chèo queo trong lòng cô, cậu cảm thấy đỡ hơn, y như khi cậu còn bé, thức dậy lúc nửa đêm vì mơ thấy ác mộng. Khi ấy cậu chạy đến giường của ba mẹ cậu, mẹ ôm cậu vào lòng, rồi nói với cậu: - “Đừng nhúc nhích” và thế là cậu ngủ lại trong lòng mẹ.
Cô Sharon và ba sẽ chăm sóc cậu, Neil vặn mình nhích vào cho sát cô Sharon thêm tí nữa. Cậu muốn nói với cô đừng buồn vì cậu, cậu sẽ thở từng hơi thật dài và thật chậm. Hai cánh tay cậu đau nhói, cậu cố không nghĩ đến, phải nghĩ đến cái gì dễ chịu, vui hơn.. nghĩ đến căn phòng ở tầng ba và đến chiếc tàu hỏa Lionel mà cô Sharon sẽ cho cậu.
0
33
 
Ông Roger nhìn vợ, vừa lắc đầu thất vọng vừa nói :
- Trời đất ơi, em yêu, khuya rồi mà, dẹp chuyện ấy đi. - Lọ thuốc Trinitrine trên bàn ngủ đã hết sạch, mới hồi sáng vẫn còn đầy.
- Không, em phải nhớ cho ra chuyện này. Em phải nhớ cho ra. Roger, này anh... Chúng ta hãy cố gắng đi. Em sẽ nói cho anh nghe những việc em đã làm trong tháng qua, em kể tuần tự từng ngày, nhưng có thể em còn quên cái gì đấy, nếu em kể cho anh nghe, có thể...
Ông biết khó mà cãi lời bà được, nên ông kéo cái ghế đến bên giường, ông chú ý lắng nghe. Ông đau đầu như búa bổ. Ông bác sĩ đã đến, ông nổi giận khi thấy bà Glenda ở trong tình trạng dao động như thế này. Đương nhiên là họ không thể giải thích cho ông hay nguyên nhân tại sao khiến cho bà căng thẳng như thế.
Ông bác sĩ muốn chích cho bà mũi thuốc an thần, nhưng ông Roger biết nếu ông để cho bác sĩ chích thuốc, thế nào bà cũng không tha thứ cho ông. Bây giờ, trước nét mặt nhợt nhạt và đôi môi tím xanh của bà, ông lại nhớ cái ngày bà bị chứng nhồi máu hành hạ... - “Ông Perry à, chúng tôi thấy khó quá... bà đang ở trong tình trạng sống dở chết dở... tốt hơn là ông nên báo cho con ông...”.
Nhưng rồi bà đã qua khỏi, ôi lạy Chúa. - Ông Roger cầu nguyện, xin ngài giúp cho bà ấy nhớ ra. Nếu Neil và Sharon chết, và Glenda nhớ ra quá trễ, không cứu sống được hai người ấy, thì chắc bà cũng chết luôn mất.
Giờ phút này Steve đang nghĩ gì nhỉ? Chắc sắp đến giờ anh ta đem tiền chuộc đi New York rồi.
Còn bà mẹ của Ronald Thompson nữa, bà ta đang nghĩ gì? Bà có đau khổ khi con mình sắp bị hành quyết không? Đương nhiên là bà ấy rất đau đớn.
Còn Sharon và Neil? Họ có sợ không? Hắn có hành hạ hai người không? Họ còn sống không hay đã chết rồi?
Và Ronald Thompson nữa? Trong thời gian điều tra lập biên bản, ông Roger không thể nào không nghĩ đến hai con trai của mình, Chip và Dong, cậu ta giống hai con của ông lúc chúng bằng tuổi ấy. Khi hai con ông lên 19 tuổi, chúng đều là sinh viên. Chip học ở Harvard, Dong học đại học ở Michigan. Thanh niên 19 tuổi là phải ở trường đại học, chứ không phải ở trong phòng giam của kẻ bị tử hình.
- Roger. - Bà Glenda gọi, giọng bà bình tĩnh lạ lùng - Nếu anh lập một sơ đồ từng ngày, chín giờ, mười giờ... ghi công việc trong ngày, như vậy mới có thể giúp em nhớ lại những điều em quên. Có xấp giấy trên bàn làm việc của em kia kìa.
Ông với lấy tập giấy, bà nói tiếp :
- Tốt, em còn nhớ rất rõ ngày hôm qua và hôm chủ nhật, đừng mất thì giờ kể lại chuyện xảy ra trong hai hôm này, ta bắt đầu vào hôm thứ Bảy đi...
0
34
 
- Không hỏi gì nữa chứ, ông Peterson? Ông có tin mọi việc đều diễn ra tốt đẹp không? - Ông Hugh và Steve đang đứng ở tiền sảnh, Steve xách cái va-li đựng tiền chuộc nặng nề.
- Tôi tin thế. - Steve đáp, giọng anh bình tĩnh, đều đều. Trong mấy giờ vừa qua, anh thấy trong người hết mệt, có lẽ vì quá đau đớn nên sự buồn khổ đã trở nên chai lì, tê liệt. Anh cảm thấy có thể suy nghĩ minh bạch, thậm chí có thể hình dung ra sự việc được nữa. Anh như người đứng trên đỉnh đồi, nhìn thảm kịch đang xảy ra ở dưới, làm khán giả chứ không phải diễn viên.
- Tốt, bây giờ ông hãy lặp lại công việc lần nữa đi. - Ông Hugh nói. Ông đã khám phá ra hiện tượng thay đổi này ở Steve. Peterson đã kiệt sức, anh đã hoàn toàn rối trí. Nhưng chuyện nhại giọng vợ anh trong cuốn băng cát-sét đã làm cho anh minh mẫn hơn. Anh chàng tội nghiệp tin tưởng rằng đấy chính là giọng vợ anh. Cho việc bắt cóc này có liên hệ đến cái chết của bà Nina, thật quả là quan điểm lệch lạc đáng tởm. Ông Hugh rút ra được hai chi tiết quan trọng. Sharon yêu cầu Steve tha lỗi cho cô ta. Và Neil đã nói: “Sharon chăm sóc con”. Thế không phải là tình trạng này đã được dàn cảnh lên đây hay sao?
Có phải là một cuộc dàn cảnh không nhỉ?
Có thể John Owens sẽ giúp họ được. Đã bắt được liên lạc với ông ta và Hugh phải đến gặp ông ta tại trụ sở cơ quan FBI ở New York.
Steve lặp lại :
- Tôi đi thẳng đến buồng điện thoại ở Đại lộ 59, nếu tôi đến sớm, tôi cứ ngồi đợi trong xe. Trước hai giờ một chút, tôi bước ra và đi vào trong buồng điện thoại. Tôi cứ đến đấy, sau đó, hy vọng tôi sẽ trực tiếp tiếp xúc với tên bắt cóc, rồi giao va-li tiền cho nó. Sau khi đã rời nó, tôi đến cơ quan FBI, nằm trên Đường 69 và Đại lộ 3. Ông đợi tôi ở đấy để lắp máy Camera trên xe và khai triển các cuốn phim.
- Thế đấy. Chúng tôi sẽ chạy cách ông một đoạn, máy phát tin trong xe ông sẽ cho chúng tôi biết hết các hoạt động của ông. Một nhân viên của tôi đợi ông, anh ta sẽ theo ông trên xa lộ để bảo đảm việc ông khỏi bị hư xe, khỏi bị chậm trễ. Ông Peterson...- Ông Hugh đưa tay ra bắt - Chúc may mắn.
- May mắn à? - Steve hỏi, anh kinh ngạc khi nghe giọng anh, như thể anh nghe từ này lần đầu - Tôi chỉ nhớ đến lời nguyền rủa trong tác phẩm cổ điển Wexford thì có. Có lẽ ông còn nhớ chứ?
- Tôi không tin như thế.
- Tôi không nhớ hết các chi tiết, nhưng đại khái là như thế này: “Con Cáo đã đào hang trong nhà của ngươi, mắt ngươi đã mờ không thấy được ánh sáng, không bao giờ ngươi thấy được những gì ngươi thương yêu. Ly rượu ngọt chắc sẽ biến thành ly rượu đắng phiền muộn...”. Còn nữa, nhưng chừng ấy cũng quá đủ cho tình hình hiện tại quá rồi, phải không?
Không đợi trả lời, Steve bước đi, ông Hugh nhìn chiếc Mercury ra khỏi nhà, rẽ trái về hướng xa lộ. “Con Cáo đã đào hang trong nhà của ngươi”. Lạy Chúa, xin ngài đến giúp đỡ anh ta. Lắc đầu để xua đuổi cảm giác lo sợ, ông Hugh mặc măng tô vào. Không có chiếc xe nào của cơ quan FBI đậu trước nhà hết. Tất cả nhân viên đều đi cửa sau, băng qua cánh rừng hoang vắng chạy bao quanh ngôi nhà của Steve. Họ đậu xe trên con đường chạy băng qua rừng khi đường ống cống đã thiết lập xong, đi ngoài đường lớn, không ai thấy xe họ cả.
Có thể John Owens rút ra được điều gì đó trong cuốn băng cát-sét do tên bắt cóc gởi đến. John là cựu nhân viên cơ quan FBI, ông ta đã bị mù cách đây 20 năm. Nhưng ông ta đã luyện lỗ tai rất tinh, có thể nghe giọng nói ghi âm và phát hiện ra giọng của ai rất chính xác. Mỗi khi cần có bằng chứng về giọng nói, cơ quan mật vụ lại nhờ đến ông. Rồi sau đó như thường lệ, cuộn băng được đem vào phòng thí nghiệm phân tích, nhưng công việc ở đây phải mất mấy ngày mới xong.
Làm ra vẻ tình cờ, ông Hugh đã hỏi Steve về Nina, ông biết: bà ta sinh trưởng trong một gia đình tư sản ở Phila-delphia, giàu có từ bốn thế hệ nay. Nina học nội trú ở Thụy Sĩ, theo học đại học ở Bryn Mawr. Bố mẹ bà ta thường sống trong một dinh cơ tại Monte-Carlo. Ông Hugh nhớ có gặp hai ông bà này lúc đám tang con gái của họ. Họ đến bằng máy bay để kịp dự lễ ở nhà thờ và chôn cất luôn, họ rất ít nói chuyện với Steve. Phải nói đây là cặp vợ chồng khó gần gũi.
Những thông tin này có lẽ cũng đủ cho Owens xác định đây là giọng của Nina thật hay là giọng bắt chước, ông Hugh tuyệt đối tin tưởng vào kết quả.
* * * * *
Xa lộ Merritt đã được phủ cát, và mặc dù tuyết vẫn còn rơi nhưng Steve lái xe một cách dễ dàng. Thật anh không ngờ được như thế này, anh cứ sợ nếu đường đi nguy hiểm, tên bắt cóc sẽ hủy bỏ buổi hẹn mất. Bây giờ chắc chắn anh sẽ gặp được hắn, bằng cách này hoặc cách khác.
Anh tự hỏi tại sao ông Hugh lại nói về đời tư của Nina. Ông ta toàn hỏi những điều chủ yếu.
- Ông Peterson, vợ ông học trường đại học nào? Bà ấy sống ở đâu?
- Học đại học ở Bryn Mawr. - Hai người gặp nhau khi còn sinh viên, anh học ở Princeton, tiếng sét ái tình đến với họ từ khi ấy.
- Gia đình bà ấy là thế hệ thứ tư của một đại gia đình giàu có ở Philadelphia - Steve rất tức bố mẹ vợ, họ muốn Nina lấy người cùng giai cấp, họ đã nói thẳng ra như thế. Lấy người nào trong một gia đình tốt, giàu có, xuất thân ở đại học tư. Chứ không phải lấy một anh chàng sinh viên nghèo phải làm bồi bàn cho quán Nassau để có tiền ăn học, xuất thân từ trường công Christopher Columbus ở vùng Bronx.
Lạy Chúa, khi Nina và anh vào đời, quả hai người đáng sợ thật. Anh đã từng nói với Nina: “Tại sao em lại làm con họ được nhỉ?” - Cô rất tếu, rất thông minh, rất giản dị. Họ lấy nhau ngay sau khi tốt nghiệp. Rồi anh đi thi hành nghĩa vụ quân sự, hai người không gặp nhau suốt hai năm. Cuối cùng anh được về phép, cô đến gặp anh ở Hawaii. Khi nàng bước xuống tháng máy bay, trông nàng đẹp biết bao, nàng chạy nhào đến vòng tay đang giang ra của anh.
Khi giải ngũ, anh học lấy bằng tiến sĩ về báo chí ở Columbia. Rồi anh vào làm cho tờ Time, hai người sống ở Connecticut, nàng chuẩn bị sinh Neil.
Sau khi sinh Neil, anh mua cho chị chiếc Karman Ghia, và người ta kháo nhau rằng anh đã tặng chị chiếc Rolls, thực ra, chiếc Rolls là của bố chị.
Sau đám ma một tuần, anh bán chiếc xe của Nina. Anh không chịu đựng được khi nhìn xe của chị nằm bên cạnh chiếc Mercury của anh trong nhà xe. Vào đêm chị chết, anh đã muốn xem xét chiếc xe, mặc dù chẳng có hy vọng gì cứu vãn - Bất cẩn là chết đấy em à! - Nhưng cái bánh xe đã sửa chữa và đã ráp lại vào bánh trước, bánh xơ cua nằm trong thùng xe. Nếu chị không bỏ công thay bánh xe vào hôm ấy, thì chắc chị không làm cho anh phải giận.
Nina, Nina; tha lỗi cho anh.
Sharon - Chính cô đã cho anh lại nguồn sống, nhờ cô mà nỗi chán nản đau đớn trong lòng tiêu tan hết, như băng tuyết tan trong mùa xuân. Sáu tháng qua là thời gian êm ái nhất. Anh đã tin dịp may được hạnh phúc lần thứ hai đang đến với anh.
Người ta ít ai mới gặp nhau lần đầu mà đã yêu nhau liền, anh đã 34 tuổi chứ đâu còn 22!
Thế nhưng!
Cuộc hội ngộ lần đầu ở buổi phát sóng truyền hình hôm ấy, anh cảm thấy yêu cô ngay. Cuối buổi phỏng vấn, hai người cùng ra khỏi phòng quay rồi nán lại nói chuyện với nhau trước cơ quan. Từ ngày Nina mất, anh không hề quan tâm đến phụ nữ, ngay cả từ xa anh cũng không nhìn đến họ, thế mà sáng hôm ấy, anh lại muốn giữ Sharon lại. Anh còn bận đi tham dự một buổi họp, nên không thể đề nghị cô cùng đi ăn trưa với anh. Anh đành hẹn: - “Sáng nay tôi bận việc, nhưng tối nay, chúng ta đi ăn tối với nhau nhé?”.
Sharon nhận lời rất nhanh, như thể là cô đang đợi anh mời. Ngày hôm ấy cô thấy sao mà dài quá, cho đến khi cô nghe có tiếng chuông cửa reo. Việc thảo luận về án tử hình lúc ấy có tính chung hơn là riêng, chỉ đến khi Sharon nhận thấy cô không thể cứu được Ronald Thompson, cô mới quay qua chống lại anh.
Anh đang trên xa lộ Cross County, hai bàn tay anh tự động lái xe, tự tìm ra đường đi, còn trí óc anh thì vẫn để đâu đâu.
Sharon - Thật hết sức tuyệt diệu khi có người để nói chuyện lại trong lúc ăn tối, rồi uống một ly tạm biệt ở nhà cô. Cô thông cảm những nỗi khó khăn của anh khi phải đương đầu với công việc xuất bản một tờ tạp chí, phải chiến đấu để tìm người ủng hộ, để gia tăng số báo xuất bản. Đây là chuyện tâm sự ở chốn buồng the, anh nói đùa như thế.
Anh thôi làm cho tờ Time, và nhảy vào làm tờ Biến cố được mấy tháng thì Nina chết. Lập ra tờ tạp chí này là cả một công việc liều lĩnh, anh kiếm sống ở tờ Time rất thoải mái. Vì vấn đề tự ái mà anh phải hợp tác lập ra tờ báo tuyệt nhất trong vùng. Anh sẽ giàu có, sẽ thành một tổng biên tập, và để cho bố của Nina phải mở mắt ra. Anh phải làm cho ông ta rút lui lời tuyên bố ban đầu mới được.
Bố mẹ Nina đã trách anh về cái chết của chị, họ đã nói: - “Nếu nó ở trong một ngôi nhà như trước đây, một ngôi nhà có người canh gác đầy đủ, thì làm gì có chuyện xảy ra như thế này”. - Họ đã muốn đem Neil đi u Châu. Neil mà đi với hai người ấy à!
Neil - tội nghiệp thằng bé, thật cha nào con nấy. Khi Steve mới được ba tuổi thì mẹ anh mất, anh không nhớ gì được về mẹ cả. Cha anh không lấy vợ lại, đó là một sai lầm. Steve lớn lên không có mẹ. Anh nhớ năm anh lên 7 tuổi, một cô giáo dạy thay trong lớp đã cho học sinh vẽ thiệp chúc lễ các bà mẹ.
Cuối buổi học, cô giáo nhận thấy Steve không nộp bài, cô hỏi: - “Em không nộp bài vẽ phải không? Mẹ em chắc sẽ rất sung sướng khi nhận được thiệp vào chủ nhật”.
Anh đã xé tấm thiệp mình vẽ và trốn ra khỏi lớp.
Anh không muốn Neil cũng như thế. Anh muốn Neil lớn lên trong một ngôi nhà hạnh phúc, một ngôi nhà có anh chị em. Anh không muốn sống như cha anh, một mình với Steve, khoe khoang với bạn bè ở sở bưu điện mình có đứa con học ở Princeton. Một mình đơn điệu trong ngôi nhà cô liêu, một buổi sáng, ông không thức dậy, không thấy ông đến làm việc, người ta đến nhà xem ông ra sao. Rồi người ta đến trường tìm Steve.
Có lẽ vì thế mà anh cho những năm cuối cùng của cha anh như bị mang án tử hình vào thân. Vì anh biết cuộc sống của người già và người nghèo ra sao rồi, họ bị thua thiệt biết bao. Vì anh cứ lo nghĩ rằng thế nào có ngày bọn cướp cũng giết một trong hai người một cách rất dã man.
Chiếc va-li để ở ghế ngồi phía trước bên cạnh anh. Ông Hugh đã cam đoan với anh là hắn không thể phát hiện ra thiết bị điện tử ở trong được. Tự thâm tâm, anh hài lòng vì đã để cho họ gắn vào xe những máy móc dò thám ấy.
Lúc 1 giờ 30, Steve ra khỏi cầu vồng ở West Side chạy vào Đường 57. Lúc 2 giờ kém 20, anh đậu xe trước một buồng điện thoại đối diện nhà hàng Bloomingdale. Đến 2 giờ kém 10, anh ra khỏi xe, bất cần trời ẩm ướt và gió lạnh, anh đợi trước buồng điện thoại.
Đúng hai giờ, chuông điện thoại reo, cũng cái giọng khàn khàn nho nhỏ ấy ra lệnh cho anh đến ngay buồng diện thoại công cộng trên Đường 96 ở góc Đại lộ Lexington.
Lúc 2 giờ 15, điện thoại ở đây reo, Steve nhận lệnh qua cầu Triborough, theo xa lộ Đại Trung tâm, chạy đến đầu cầu vồng xuống khu Brooklyn Queens. Sau đó anh chạy theo cầu vồng xuống khu Brooklyn Queens cho đến Đại lộ Roosevelt, quẹo trái đến khu phố đầu tiên và dừng lại ở đó, anh phải tắt đèn và đợi ở đấy. - “Đừng quên điều này nhé. Một mình thôi nhé”.
Steve run run ghi quệt quạc lời hắn dặn và đọc lại cho hắn nghe. Tên bắt cóc liền cúp máy.
Đến 2 giờ 35, anh ra khỏi cầu vồng Brooklyn Queens đến đại lộ Roosevelt. Một chiếc xe hòm khổng lồ đậu ngay giữa dãy nhà ở phía bên kia đường. Khi đi qua xe đó, anh nhẹ quay tay lái, hy vọng những máy Camera dấu trên xe quay được dấu vết và số xe. Rồi anh cho xe dừng lại bên lề đường và đợi.
Con đường thật tối tăm. Cửa lớn và cửa sổ của những nhà cũ kỹ tiều tụy đều đóng kín mít, hệ thống dây cáp đường tàu điện đã che bớt ánh sáng rọi xuống đường, tuyết rơi làm cho đường sá tối tăm thêm.
Máy phát tin có báo cho nhân viên FBI để họ theo dõi không? Không biết máy có hoạt động không? Anh không thấy có chiếc xe nào ở phía sau hết. Có thật như lời họ nói là họ không muốn đến gần?
Có tiếng gõ vào cửa xe, Steve quay đầu qua, miệng khô đắng. Một bàn tay đeo găng ra dấu cho anh hạ kính xuống. Anh quay chìa khóa công tắc, bấm vào nút tự động cho kính hạ xuống.
- Đừng nhìn tao, Peterson.
Nhưng anh cũng có thì giờ kịp nhìn thấy chiếc áo khoác màu nâu đỏ, cái đầu bịt kín bằng một chiếc vớ dài. Một cái túi xách bằng vải dài đến tận đầu gối, loại túi xách của hải quân. Anh cảm thấy đau nhói ở trong bụng, thằng này không có ý định lấy cái va-li có gắn máy phát tin, chắc chắn là thế rồi.
- Mở va-li và bỏ hết tiền bạc vào túi xách cho tao. Mau lên.
Steve cố tranh thủ thời gian. Anh nói :
- Làm sao tôi tin được là ông sẽ giao lại Neil và Steve cho tôi bình an vô sự.
- Bỏ vào túi xách cho tao! - Giọng hắn nghe rất gay gắt. Hắn có vẻ căng thẳng kinh khủng. Nếu hắn hoảng sợ và chạy trốn với số tiền này, có thể hắn giết Neil và Sharon. Steve mò mẫm lấy những gói tiền trong va-li ra và bỏ vào túi xách của hắn.
- Buộc miệng túi xách lại.
Anh kéo dây buộc, thắt gút miệng túi xách.
- Đưa dây cho tao, đừng nhìn tao.
Anh nhìn thẳng ra phía trước.
- Thế con tôi và Sharon thì sao?
Hai bàn tay đeo găng thò qua cửa xe, lấy cái túi xách. Nhìn đôi găng tay, anh quan sát thật kỹ, trông thật thô tháp, làm bằng đồ giả da rẻ tiền, màu xám thẫm hay nâu đỏ sậm, cỡ lớn. Mép áo khoác sờn mòn, sợi chỉ lòi ra ngoài.
Tên bắt cóc cất tiếng nói nhanh, giọng run run :
- Nhớ đấy, Peterson. Mười lăm phút nữa mới được đi khỏi đây, hãy nhớ đấy, mười lăm phút nữa. Nếu tao đi mà không có ai theo dõi và tiền bạc đầy đủ, thì mày sẽ biết chỗ tìm con mày và Sharon vào lúc 11 giờ 30 sáng nay.
Mười một giờ rưỡi, đúng giờ hành quyết Ronald Thompson, Steve không kềm chế được nữa. Anh hỏi :
- Anh đã chứng kiến cảnh vợ tôi chết phải không?
Hắn không đáp. Anh đợi, thận trọng quay đầu về phía hắn. Hắn đã bỏ đi, từ bên kia đường, chiếc xe rồ máy chạy.
Đồng hồ anh chỉ 2 giờ 35 phút, cuộc hẹn chỉ kéo dài ba phút. Anh có bị canh chừng không? Có một kẻ nào đứng trên mái nhà quan sát anh, nếu anh nhúc nhích là báo liền không? Bây giờ cơ quan FBI không thể xác định được chiếc va-li của anh ở đâu được nữa. Nếu anh đi sớm hơn giờ hắn ra lệnh thì sao?
Không nên.
Đúng 2 giờ 53 phút, Steve cho xe quay lại, chạy về hướng Manhattan. Lúc 3 giờ 10, anh đến tổng hành dinh của cơ quan FBI nằm ở góc Đường 69 và Đại lộ 3. Nhân viên mật vụ mặt mày nghiêm trọng đổ xô đến xe anh, tháo đèn ra. Ông Hugh ánh mắt u sầu lắng nghe Steve kể lại hết sự việc trong khi họ đang đi đến tầng thứ 12. Ở đây người ta giới thiệu với anh một người đàn ông tóc bạc phơ, cặp kính đen trên mắt ông ta không làm mất vẻ nhẫn nại và thông minh trên mặt. Ông Hugh nói :
- Ông John đã nghiên cứu cuốn cát-sét. Sau khi nghe xong giọng nói và một số tiếng vang, ông kết luận rằng Neil và Sharon ở trong một căn phòng lạnh lẽo và trống vắng, rộng khoảng mỗi bề 3 mét bề 7 mét. Có thể phòng này nằm dưới một nhà ga chở hàng, có tiếng xe lửa chạy liên tục vào ra ga rất gần đấy.
Steve sững sờ. Lão mù nói :
- Tôi phải nghe lại nhiều lần nữa mới chính xác hơn được, chẳng có gì bí mật ở trong vấn đề này cả. Cần phải lắng nghe thật kỹ như người ta nhìn một mẫu vật dưới ống kính hiển vi vậy thôi.
Một căn phòng lạnh lẽo, trống không, nhà ga hàng hóa. Steve nhìn ông Hugh, ánh mắt trách cứ :
- Giả thuyết ông cho Sharon âm mưu việc này còn đứng vững không?
- Tôi không biết gì hết. - Ông Hugh thú nhận một cách gọn lỏn.
- Ông Peterson này, về giọng nói sau cùng trong cuốn băng, - Ông Owens có vẻ ngần ngừ một lát mới nói tiếp - xin hỏi ông có phải tiếng Pháp là tiếng mẹ đẻ của vợ ông, chứ không phải tiếng Anh, có phải thế không?
- Không, tất nhiên là không, cô ấy lớn lên ở Philadelphia cho đến lúc 10 tuổi mới vào nội trú. Mà tại sao ông hỏi vậy?
- Trong lời nói có ngữ điệu khiến cho ai chuyện về ngôn ngữ đều nghĩ rằng tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ.
- À, tôi nhớ rồi! Nina có nói cho tôi biết cô ấy có người gia sư là người Pháp, lúc còn nhỏ, cô ấy thường nói bằng tiếng Pháp nhiều hơn tiếng Anh.
- Quả tôi nói không sai, cho nên, đây không có chuyện lừa bịp hay nhại giọng, ông nhận ra giọng của vợ ông là đúng.
- Đúng rồi. Tôi đã lầm lẫn về việc này - Ông Hugh nói - Nhưng ông John nói rằng giọng nói sau cùng trong cuốn băng đã được thêm vào sau khi đã ghi âm giọng của Nen và Sharon. Ông Peterson, ông suy nghĩ xem, kẻ nào làm việc này chắc đã biết rõ cuộc sống riêng tư của ông. Có lẽ buổi tối nào đó ông đã đến gặp những người làm việc chiếu bóng nghiệp dư, và ở đây đã có ai ghi âm được giọng nói của vợ ông rồi họ rút ra những lời này, phải không?
Steve không nhớ nổi... anh nhíu mày suy nghĩ :
- Câu lạc bộ đánh gôn, cách đây bốn năm, khi người ta tu sửa và trang hoàng lại trụ sở câu lạc bộ, họ đã làm một bộ phim cho lễ từ thiện. Nina đóng vai người tường thuật, cô ấy đã đi từ phòng này qua phòng khác, trình bày các nơi đã được thực hiện.
- Vậy là chúng ta đã nắm được mấu chốt. - Ông Hugh nói - Có thể bà ấy đã dùng những lời này trong phần minh họa cho bộ phim không?
- Có thể lắm.
Chuông điện thoại reo, ông Hugh chụp lấy máy, xưng danh, rồi lắng nghe :
- Tất cả các anh hãy theo dõi ngay đi. - Ông đột ngột gác máy, mắt ông lóe lên như người đi săn tìm được dấu vết mới của con thú. Ông nói :
- Ông Peterson, mọi việc bắt đầu sáng tỏ. Ông đã chụp được một bức ảnh rất rõ về chiếc xe và số xe của hắn. Chúng ta sẽ tìm ra chiếc xe ấy.
Họ đã cho anh chút hy vọng đầu tiên! Vậy thì tại sao anh cứ nghẹn ngào đau đớn mãi như thế này? Dễ hiểu thôi, anh đã có linh cảm công việc này không đi đến đâu cả.
Ông John Owens đưa bàn tay về hướng phát ra giọng nói của Steve. Ông ta nói :
- Ông Peterson, cho tôi hỏi một câu, nếu quả thật giọng nói trong cuốn băng là giọng của vợ ông, thì tôi có cảm giác bà ấy nói khi vừa mở cánh cửa ra. Ông có nhận ra cánh cửa khi mở có tiếng rít nho nhỏ nghe “k é e c” là ở đâu không? - Hỏi xong, ông ta nhại lại tiếng cánh cửa có bản lề bị sét, tiếng nhại rất giống.
Ông Hugh và Steve nhìn nhau. Ông ta đùa ư, Steve chưng hửng thầm nghĩ, thật là trớ trêu, khi mọi người hiểu được thì quá muộn rồi...
Hugh trả lời thay cho anh :
- Phải, ông John, đó đúng là tiếng kêu ở cánh cửa nhà bếp của ông Peterson khi mở ra.
0
35
 
Arty rời quán rượu Mill Tavern. Hắn cảm thấy hồi hộp lo sợ, nên phải cẩn thận đề phòng, cảm giác an toàn tuyệt đối bây giờ không còn nữa.
Hắn hy vọng gặp Bill Lufts ở quán rượu, hắn nghĩ chuyện moi tin tức ở lão này chẳng khó khăn gì. Ô, thằng bé đi rồi à? Hắn đi đâu thế? Ông Peterson ra sao? Ông ta ở một mình hay sao?
Hắn đã nghĩ thế nào Peterson cũng không nói cho vợ chồng Lufts biết về chuyện Neil và Sharon bị bắt cóc. Hắn nghĩ ông Peterson thừa biết vợ chồng Lufts không thể nào giữ mồm giữ miệng được.
Cho nên, nếu Bill không đến đây, tức là Peterson đã báo cho cảnh sát hay - không, không phải cảnh sát, mà là cho cơ quan FBI.
Anh chàng giới thiệu là Pete Lemer hỏi nhiều chuyện quá, hắn là nhân viên mật vụ FBI, Arty tin chắc như thế.
Hắn cho chiếc Coccinelle màu xanh đậm chạy ra xa lộ Merritt Nam. Sự lo sợ làm hắn toát mồ hôi trán, ướt đẫm hai nách và hai bàn tay.
Mười hai năm trôi qua, người ta đã điều tra hắn ở Tổng hành dinh của cơ quan FBI tại Manhattan.
- Này Arty, người bán báo đã thấy anh đi với một cô gái, anh dẫn cô ta đi đâu vậy?
- Tôi đưa cô ta đi tìm tắc-xi, cô ấy nói cô có hẹn với người bạn.
- Bạn nào?
- Làm sao tôi biết? Tôi chỉ mang giùm cái xách cho cô ta, thế thôi.
Họ không có bằng chứng gì hết, nhưng họ vẫn cứ đi tìm. Lạy Chúa, đúng thế, họ đi tìm.
- Còn những cô khác nữa, Arty? Hãy nhìn những bức ảnh này xem, anh thường đi khắp đường sá ở thành phố quanh nhà ga. Vậy anh đã mang túi xách cho bao nhiêu cô rồi?
- Tôi không hiểu các ông muốn nói gì.
Thế nào chúng cũng tìm ra sự thật. Tình thế rất nguy hiểm, cho nên hắn đã rời New York, đến ở tại Connecti-cut, đã xin làm ở một trạm xăng. Rồi cách đây sáu năm, hắn chuyển sang làm việc trong ga ra ở Carley, bang Arizona. Thật quá vụng về, tại sao lại nói: Rhode Island mà không phải Arizona? Cái thằng xưng danh Pete Lemer có lẽ không để ý, nhưng nói thế thật quá vụng về, dễ làm cho người ta chú ý.
Họ không có gì để buộc tội hắn được, trừ phi họ lục tìm quá khứ của hắn, trường hợp họ trở lại thẩm vấn hắn về cô gái ở Texas. Hắn đã đề nghị với cô ta: “Đi đến nhà tôi ở Village, tôi có rất nhiều bạn bè sẵn sàng thu nhận cô làm người mẫu”.
Nhưng họ sẽ không tìm ra bằng chứng cụ thể được cũng như bây giờ họ không làm sao có bằng chứng. Không có gì hết, không có gì sai trái hết, hắn hoàn toàn tin chắc như thế.
Hắn nhớ cô ta đã hỏi hắn: Anh ở trong cái xó này à?
Đường tiếp theo xa lộ Merritt là Hutchinson River, hắn lái xe chạy theo những tấm biển chỉ đường đến cầu Throgs Neck. Hắn đã có sẵn chương trình kỳ diệu trong óc rồi. Việc đánh cắp xe hơi quả thật nguy hiểm, luôn luôn có thể xảy ra việc chủ nhân thình lình quay về trong vòng 10 phút: khi ấy cảnh sát sẽ được báo động và tên trộm chưa đi quá 20 cây số. Nên ăn trộm những chiếc xe mà chủ nhân đi đâu lâu, như đi xem xi nê chẳng hạn, xem những bộ phim xưa từ thời thập niên 40, hay là chủ nhân đáp máy bay đi đâu đó.
Đèn báo nguy hiểm nhấp nháy trên cầu Throgs Neck - Váng băng - Gió, nhưng sẽ ổn hết bởi hắn là tay lái xe cừ khôi, và đêm nay bọn nhát gan đều ở nhà hết, thế càng dễ dàng cho công việc của hắn.
Lúc 11 giờ 20, hắn lái xe vào bãi đỗ số 5 ở phi trường La Guardia, bãi này rất an toàn và có giá đặc biệt cho những xe gởi lâu.
Hắn đến lấy thẻ gởi xe, thanh chắn cất lên, hắn lái xe từ từ chạy vào bãi, cẩn thận tránh tầm mắt của nhân viên thu ngân ngồi ở cổng ra, gần bên trạm thuế tự động. Hắn chọn chỗ để xe ở lối số 9, nằm giữa chiếc Chrysler và chiếc Cadillac sau chiếc Oldsmobile. Chiếc Coccinelle của hắn nằm lọt ở giữa trông bé tí, khuất dạng.
Hắn tựa lưng ra ghế, chờ đợi. Bốn mươi phút trôi qua, hai chiếc xe chạy vào bãi đỗ xe, một chiếc có màu đỏ chói, chiếc kia là một xe tải nhỏ màu vàng. Cả hai chiếc này rất dễ bị người ta chú ý. Hắn vui mừng khi thấy hai chiếc xe không để ý đến những chỗ còn trống ở gần xe hắn, mà chạy đến tận cuối bãi ở phía bên trái.
Một chiếc nữa từ từ chạy vào, đây là chiếc Pontiac màu xanh thẫm, chiếc xe chạy đến đậu trước mặt hắn ba hàng. Đèn tắt hết, hắn nhìn người lái xe bước ra, đi vòng ra sau, lấy trong thùng xe ra một cái va-li lớn. Anh chàng này có vẻ đi lâu mới về.
Hắn cúi người xuống, đầu vừa cao khỏi kính chắn gió, nhìn người đàn ông đóng thùng xe rồi xách va-li đi đến bến xe đưa khách tới ga sân bay.
Mấy phút sau, xe đưa khách ra ga chạy đến, hắn quan sát bóng người chủ Pontiac leo lên chiếc xe đón khách. Chiếc xe chạy đi.
Hắn bình tĩnh, chậm rãi bước ra khỏi chiếc Coccinelle, đưa mắt nhìn quanh, không có ánh đèn pha của xe hơi nào hết. Chỉ sải vài bước là hắn đến bên chiếc Pontiac, thử chiếc chìa khóa thứ hai là hắn mở được cửa xe, hắn bước lên.
Trong xe âm áp thật dễ chịu, hắn mở công-tắc. Máy nổ êm ru, bình xăng còn đầy ba phần tư.
Tuyệt diệu.
Hắn phải đợi. Người bảo vệ sẽ thắc mắc không biết hắn trả tiền vé gởi xe gần hai giờ để làm gì. Nhưng hắn còn quá nhiều thì giờ và hắn muốn suy nghĩ tính toán cho thật kỹ. Hắn ngồi yên trong ghế đệm êm ái, nhắm mắt lại, và hình ảnh Nina bỗng chập chờn trước mắt hắn: hắn thấy lại bà ta như đêm đầu tiên hắn gặp.
Hắn lên xe đi vòng vòng ngoài đường, lòng nhủ lòng đáng ra không nên đi như thế này làm gì. Hai vụ giết người, cô Jean Carfolli và bà Weiss đang còn mới quá nhưng hắn không thể ở nhà được. Và hắn đã gặp chiếc Kerman Ghia đang đậu bên lề đường số 7, nơi vắng vẻ cô quạnh. Hắn chiếu đèn sáng vào tấm thân mảnh mai nhỏ bé, mái tóc đen, hai bàn tay nhỏ lúng túng trong cái kích đội xe. Cặp mắt to màu hạt dẻ hoảng hốt khi nhìn hắn lái xe đến gần rồi dừng lại. Có lẽ cô nhớ lại tất cả chuyện người ta kể về gã đàn ông giết người trên xa lộ.
- Tôi có thể giúp gì cho bà được không, thưa bà? Đối với bà thì khó, nhưng tôi làm nghề này, tôi sửa xe trong ga ra.
Ánh mắt lo âu biến mất trên mặt chị. Chị đáp :
- Ồ tuyệt quá! Thú thật với anh tôi quá lo sợ... xe bể bánh ở một nơi thật bất tiện.
Hắn không thèm nhìn đến chị, hắn chăm chú lo sửa xe, như thể chị không có mặt trên đời, như thể chị đã chín trăm tuổi.
- Xe bà bị một mảnh chai đâm phải, không nghiêm trọng đâu. - Hắn nhanh nhẹn thay lốp xe, chưa đầy ba phút, hắn dứng lên.
- Anh cho trả bao nhiêu? - Chị mở ví, đầu cúi xuống. Ngực chị phập phồng dưới chiếc áo măng tô bằng lông thú giai cấp tư sản. Hắn thấy con người chị toát ra như thế. Không hung hăng như cô bé Jean Carfolli, mà cũng không to mồm phách lối như mụ phù thủy già Weiss, đúng là một thiếu nữ duyên dáng đang tỏ lòng biết ơn hắn. Hắn đưa tay lên định sờ ngực chị.
Bỗng có đèn chiếu sáng hàng cây bên kia đường, ánh sáng chao đảo rồi chiếu thẳng vào hai người. Xe cảnh sát đến, hắn thấy ngọn đèn quay trên nóc xe. Hắn nói nhanh :
- Tiền công thay bánh xe ba đô-la, và nếu bà muốn vá lốp xe, tôi có thể vá cho bà. - Hắn thọc tay vào túi - Tôi tên là Arty Taggert tôi có ga ra ở Carley, đường Monroe, cách quán rượu Mill Tavern chừng hai cây số.
Xe cảnh sát trờ tới, đến gần họ. Người sĩ quan cảnh sát bước tới :
- Yên ổn chứ, thưa bà? - Ông ta đưa mắt nhìn Arty, ánh mắt thật kỳ lạ nghi ngờ.
- Ổn cả, thưa ông! Thật may, ông Taggert ở gần nhà tôi. Ông ấy đi ngang qua đây nhằm lúc tôi bị nổ bánh xe.
Chị làm như thể chị quen biết hắn, nét mặt ông cảnh sát thay đổi :
- Thật may cho bà đã gặp được người bạn ở đây. Giờ nầy mà một phụ nữ ở một mình với xe bị hỏng như thế này thì thật nguy hiểm...
Người cảnh sát lên xe tuần tra, nhưng ông ta vẫn nhìn hai người. Chị hỏi hắn :
- Anh sửa bánh xe cho tôi được à? Tôi là Nina Peterson, nhà tôi ở tại khu Drifwood Lane.
- Được chứ, rất hân hạnh được biết bà - Hắn leo lên xe, thái độ tự nhiên bình thản, như thể việc sửa chữa vừa rồi là nhỏ nhặt, không quan trọng, hắn không để lộ vẻ là hắn cần phải gặp lại chị. Hắn thấy trong ánh mắt của chị có vẻ bực bội vì cảnh sát đã đến không đúng lúc. Nhưng hắn phải chạy nhanh kẻo anh chàng cảnh sát lại nghĩ đến Jeart Carfolli và bà Weiss, lại hỏi hắn :
- Thưa ông, ông thường đến giúp các phụ nữ đơn độc một mình như thế này phải không?
Cho nên hắn đã bỏ đi nhanh, và sáng hôm sau, lúc hắn có ý định gọi chị, thì chị lại gọi hắn. Chị nói :
- Chồng tôi vừa cằn nhằn tôi vì tôi đã dùng bánh xơ cua mà chạy. - Giọng chị ấm áp, dễ thương, vui vẻ, như thể hai người quen đang nói chuyện với nhau. - Khi nào tôi lấy lại bánh xe?
Hắn nghĩ rất nhanh, khu Driftwood Lane là nơi yên tĩnh, nhà cửa lại nằm cách xa nhau. Nếu chị đến chỗ hắn thì hắn sẽ không có phương tiện gì để tỏ tình với chị được, tỏ tình ở chỗ hắn rất nguy hiểm.
- Bây giờ tôi phải đi làm việc, - Hắn nói láo - chiều nay tôi sẽ mang đến cho bà, khoảng mười bảy giờ.
Khoảng năm giờ trời đã tối rồi.
- Quá tuyệt! - Chị đã reo lên - Phải ráp cái bánh mắc dịch này vào xe để tôi kịp đi đón chồng tôi về tàu hỏa lúc 18 giờ 30.
Ngày hôm ấy, hắn ở trong tình trạng hưng phấn không thể nào tả nổi. Hắn đi hớt tóc, mua một cái áo sơ-mi ca rô mới. Về nhà, hắn chẳng thèm làm việc gì cả, hắn tắm rửa, thay áo quần, nghe cát-sét để giết thời gian. Sau đó, hắn lắp vào máy ghi âm một cuộn băng mới, hắn dán nhãn trên cuốn băng này có ghi chữ “Nina”. Hắn xem lại máy ảnh đã có phim chưa, nghĩ đến nỗi sung sướng khi chụp ảnh, khi nhìn hình ảnh in ra trên giấy.
Đến 17 giờ 5, hắn lên đường đi Driftwood Lane. Hắn chạy trước đường một lát mới quyết định cho xe vào đậu trong cánh rừng gần nhà, đề phòng khi...
Hắn đi bộ trong rừng, gần bờ biển, hắn nhớ tiếng sóng vỗ vào bãi, tiếng sóng nghe rất êm tai, gây cho hắn cảm xúc bồi hồi, mặc dù đêm ấy rất lạnh.
Chiếc xe của Nina đậu ở lối đi sau nhà, chùm chìa khóa xe nằm ở ổ khóa công tắc. Hắn thấy thiếu phụ qua cửa sổ nhà bếp, chị đi lui đi tới, tháo những gói thực phẩm ra. Căn phòng rất sáng và Nina rất đẹp, chị mặc áo len tay dài màu xanh nhạt phủ ra ngoài quần, quanh cổ vấn khăn quàng. Hắn thay cái bánh xe rất nhanh, liếc mắt nhìn thử có ai trong nhà nữa không. Hắn sẽ làm tình với chị, và chắc chị cũng muốn lắm. Nội chuyện chị đã nói chồng chị tức giận chị, cũng đủ cho hắn thấy chị cần có người đàn ông hiểu biết. Hắn mở cho máy ghi âm chạy, và nói thì thầm vào máy những lời trìu mến để làm cho Nina sung sướng khi hắn muốn thổ lộ tâm tình với chị.
Hắn đến cửa nhà bếp, gõ cửa nhè nhẹ, chị bước nhanh đến, có vẻ ngạc nhiên khi thấy hắn, nhưng hắn đưa chùm chìa khóa xe cho chị, miệng tươi cười. Chị liền mở cửa cho hắn vào, thái độ niềm nở, dễ mến, giọng cởi mở, nói rằng hắn dễ thương biết bao.
Sau đó, chị hỏi hắn, chị phải trả công cho hắn bao nhiêu. Hắn đưa tay - tay hắn đeo găng - tắt ngọn đèn ở nhà bếp. Hắn để hai tay lên mặt chị và hôn chị, hắn thì thào nói :
- Trả cho anh cái này được rồi.
Chị tát vào mặt hắn, hắn không ngờ bàn tay nhỏ bé như thế lại giáng cho hắn một cái tát như trời giáng đến vậy. Chị la lên :
- Cút ra ngay! - Giọng chị thốt lên như xua đuổi một con chó, như thể hắn không cư xử tốt với chị. Chị làm như thế đã không khêu gợi hắn lại gây cho hắn bực mình. Hắn đưa tay ra, hắn muốn trừng trị chị, muốn chị đừng hung hăng dữ tợn như thế nữa. Hắn muốn nắm cái khăn quàng nơi cổ chị, nhưng chị đã vùng ra, chạy lên phòng khách. Chị không la một tiếng, cũng không kêu cứu. Sau này hắn mới biết lý do tại sao chị không la tiếng nào. Chị không muốn hắn biết có con chị ở trong nhà, nhưng chị lại cố chạy đến lấy cái que sắt ở lò sưởi.
Thấy thế, hắn cười, hắn nói nho nhỏ với chị chuyện hắn sắp làm, hắn nắm hai bàn tay chị, lấy que sắt để vào chỗ cũ. Rồi hắn nắm chiếc khăn quàng, thắt mạnh vào cổ chị... cho đến khi chị ngộp thở, hai bàn tay như búp bê vùng vằng, xuôi xuống, mềm nhũn ra, còn hai con mắt lớn màu hạt dẻ mở rộng, lờ đờ trợn trừng, da mặt xanh lét.
Tiếng ùng ục ngộp thở đã hết, hắn nắm chị một tay, một tay lấy máy ảnh chụp một tấm, mong sao hai mắt chị nhắm lại. Ngay khi ấy hắn nghe phía sau lưng hắn có tiếng khò khè của ai đấy vang lên.
Hắn quay người lại, thằng bé đang đứng ở tiền sảnh, giương mắt nhìn hắn, cặp mắt to màu hạt dẻ. Thằng bé cũng ngộp thở y như chị.
Như thể hắn không giết chị, như thể chị đang cười nhạo hắn, nói với hắn chị sẽ trả thù.
Hắn bước đến cậu bé, hắn phải làm chấm dứt cái tiếng khò khè ấy, phải làm cho cặp mắt ấy khép lại. Hắn đưa tay ra, cúi người xuống...
Có người bấm chuông ở cửa.
Phải chạy trốn thôi, hắn băng qua tiền sảnh chạy vào nhà bếp, lẻn ra cửa sau. Tiếng chuông reo lên lần thứ hai, hắn chạy qua cánh rừng, nhảy lên xe, lái về ga ra của hắn chỉ mấy phút. Bình tĩnh - Hãy bình tĩnh, hắn đến quán rượu Mill Tevem ăn ổ bánh mì kẹp thịt băm và uống chai bia. Ở đây thế nào hắn cũng được nghe những tin về vụ giết người trong thành phố.
Nhưng hắn sợ, nếu người cảnh sát nhận ra mặt của Nina trên báo, nếu anh ta khai với cấp chỉ huy đồn: - “Lạ thật, đêm qua tôi đã gặp bà này ở ngoài đường, khi ấy có thằng cha tên Taggert sửa xe cho bà ta...”.
Hắn định rời thành phố, nhưng khi chuẩn bị va-li thì hắn nghe tin thông báo có một nhân chứng, một bà hàng xóm, cho biết bà đã bị một chàng trai từ trong nhà Peterson chạy ra tông phải bà, khiến bà nhào ngửa ra. Bà nói là bà biết chàng trai này, đấy là Ronald Thompson, một thanh niên ở trong khu vực mới 17 tuổi, và người ta đã thấy Thompson nói chuyện với bà Peterson mới mấy giờ trước khi xảy ra án mạng.
Arty để máy ảnh, máy ghi âm, các âm bản, phim và các cuộn băng cát-sét vào một hộp sắt, hắn chôn cái hộp dưới một bụi cây ở sau ga ra, hắn nghĩ cứ đợi xem sao.
Cuối cùng, người ta bắt Thompson trong một khách sạn rẻ tiền ở Virginia, người ta buộc tội cậu bé là hung thủ.
Thật may mắn cho hắn, quả thật là may mắn không ngờ được. Phòng khách tối om, có lẽ vì thế mà thằng bé không thấy mặt hắn và ngay sau đó thì Thompson vào nhà.
Thế nhưng hắn muốn giết luôn thằng bé. Hắn đã đến gần thằng bé, chắc Neil đã bất tỉnh. Và biết đâu có ngày thằng bé nhớ lại.
Ý nghĩ ấy cứ ám ảnh Arty mãi, hắn thường nằm mơ thấy cặp mắt ấy theo dõi hắn. Thỉnh thoảng hắn thức giấc vào nửa đêm, mồ hôi ướt đẫm cả người, run rẩy, cứ tưởng tượng cặp mắt ấy nhìn hắn qua cửa sổ, hay nghe tiếng gió rì rào hắn lại nghĩ đấy là tiếng ục ục trong cuống họng vì bị ngộp thở.
Sau đó hắn không săn lùng con gái nữa, tuyệt đối không. Hắn chỉ đến quán rượu Mill Tavern, hầu như đêm nào cũng đến. Hắn chơi thân với những khách thường xuyên đến đó, nhất là Bill Lufts. Bill thường kể về Neil.
Mãi cho đến tháng vừa rồi, hắn cảm thấy không thể nào không đào cái hộp đựng băng cát-sét lên để nghe lại được.
Đêm ấy, trên máy vô tuyến điện thoại, hắn nghe cô Callahan cho biết xe cô ta bị nổ bánh, thế là hắn đến gặp cô ta. Hai tuần sau, hắn lại nghe bà Ambrose báo cho biết bà bị lạc đường và xe hết xăng, hắn liền đi tìm bà ta.
Cảnh sát ở Fairfiels County một lần nữa phải điên đầu. Họ đi tìm một kẻ gọi là “tên giết người bằng vô tuyến điện thoại”. Hắn yên tâm tự nhủ: Mày chẳng để lộ dấu vết gì hết.
Nhưng sau hai vụ này, đêm nào hắn cũng mơ thấy Nina, chị lên án hắn. Rồi cách đây hai tuần, Bill đến chỗ hắn ở vào giờ giải lao, lão ta có dắt Neil đi theo. Neil nhìn thẳng vào mặt Arty.
Chính ngày hôm ấy, hắn quyết phải giết Neil trước khi rời khỏi Carley. Và khi lão Lufts kể chuyện Steve gởi tiền của thằng bé ở ngân hàng - Vợ lão đã thấy bảng kê khai số tiền ngân hàng nằm trên bàn làm việc của Peterson, hắn quyết đoạt số tiền ấy cho bằng được.
Càng nghĩ đến Nina, hắn càng ghét Peterson. Peterson có thể ôm hôn chị mà không bị bợp tai. Peterson có danh tiếng trong báo giới, Peterson có người để ra lệnh, Peterson có bạn gái mới. Hắn sẽ làm cho anh ta biết thế nào là lễ độ.
Căn phòng dưới Ga lớn Trung tâm luôn luôn nằm trong tâm khảm của hắn, một nơi để ẩn náu khi cần đến, hay là để dẫn gái tới nơi không ai có thể tìm ra được cô ta nữa.
Hắn thường tưởng tượng ra cảnh hắn làm cho Ga lớn Trung tâm nổ tung từ căn phòng ấy. Hắn tưởng tượng ra cảnh mọi người nhốn nháo hoảng hốt khi quả bom nổ, khi họ thấy mặt đất mở ra dưới chân họ, thấy trần nhà sập xuống: tất cả những người không thèm để ý đến hắn khi hắn cố gây cảm tình với họ, tất cả những người không bao giờ cười với hắn, chen lấn xô đẩy hắn, không thèm chú ý đến hắn, những kẻ ăn xong ném đĩa cho hắn rửa, những chiếc đĩa đầy mỡ, bơ, thật là dơ bẩn.
Tất cả sẽ cho xảy ra một lần theo kế hoạch - Kế hoạch của August Rommel Taggert - Kế hoạch của Cáo.
Giá mà Sharon đừng phải chết! Giá mà cô ta yêu hắn! Nhưng ở Arizona chán gì con gái đáng yêu, hắn chỉ cần có tiền là được.
Sáng kiến để cho Sharon và Neil chết cùng một giờ với chàng trai Thompson bị hành quyết, quả là một sáng kiến tuyệt vời. Vì hắn sẽ giết họ, còn Thompson thì đáng chết vì đêm ấy đã xía vào chuyện người ta.
Và tất cả những ai có mặt tại Ga lớn Trung tâm, sẽ bị hàng tấn gạch đá sụp đổ đè lên người, chúng sẽ bị nếm mùi bị mắc bẫy là như thế nào.
Còn hắn thì được tự do.
Sắp đến rồi. Giờ kết liễu sắp đến rồi.
Arty nhăn mặt khi nhận thấy thời gian chờ đợi đã trôi qua. Khi nào hắn nghĩ đến Nina là thời gian trôi qua vùn vụt như thế, hắn thấy đã đến lúc phải đi.
Hắn cho chiếc Pontiac chạy đi, lúc đó là hai giờ kém 15 hắn dừng lại trước trạm kiểm soát đưa vé mà hắn đã lấy để cho chiếc Volkswagen của hắn vào bãi. Người nhận vé có vẻ ngái ngủ, anh ta nói với hắn :
- Hai giờ hai mươi phút, cả thảy hai đô-la, thưa ông.
Hắn ra khỏi phi trường rồi dừng lại ở buồng điện thoại trên Đại lộ Queens. Đúng hai giờ, hắn gọi đến buồng điện thoại trước mặt nhà hàng Bloomingdale. Ngay khi Peterson nhận ống nghe, hắn ra lệnh cho anh đến buồng điện thoại công cộng trên đường 96.
Hắn đói bụng mà chỉ còn 15 phút nữa thôi.
Hắn vào một quán ăn uống mở cửa suốt ngày đêm, ăn vội mấy lát bánh mì và uống ly cà phê, mắt luôn luôn nhìn vào đồng hồ.
Đúng 2 giờ 15, hắn gọi buồng điện thoại trên Đường 96, nói vắn tắt cho Steve biết chỗ hẹn.
Đến đây là bắt đầu giây phút nguy hiểm.
Hai giờ 15 phút, hắn lái xe về phía Đại lộ Rosevelt. Đường sá vắng vẻ, không có bóng dáng xe cảnh sát chìm. Nếu có, hắn rất dễ bị phát hiện, hắn có tài lái xe mà không bị cảnh sát nghi ngờ.
Tuần trước, hắn quyết định chọn Đại lộ Rosevelt để làm điểm hẹn. Hắn tính thời gian để hắn quay về phi trường La Guardia chỉ mất có 6 phút. Trường hợp cảnh sát theo Peterson, thì hắn sẽ có cơ may đánh lạc hướng họ.
Những cột tháp để móc hệ thống dây cáp tàu điện chạy dọc theo Đại lộ Rosevelt đã che khuất bớt tầm mắt của mọi người, khiến họ khó mà phân biệt được những chuyện xảy ra ở bên kia đường hay ở khu nhà nằm bên đường. Đây là chỗ lý tưởng để hẹn gặp.
Đúng hai giờ 35, hắn đậu xe trên Đại lộ Rosevelt, đối diện với cầu vồng ở Brooklyn, cách chân cầu chưa đầy nửa khu phố.
Đến hai giờ 36, hắn thấy đèn pha xe hơi từ cầu vồng Brooklyn Queens chạy tới, ở phía đối diện. Hắn trùm chiếc vớ dài trên mặt.
Chính là chiếc Mercury của Peterson. Bỗng trong nháy mắt, hắn tưởng chừng Peterson đâm thẳng vào hắn, vì chiếc xe rẽ về phía hắn. Anh ta chụp ảnh chiếc Pontiac phải không? Nếu thế thì chúng lại càng bỏ công hơn nữa.
Xe của Peterson đứng ngay trước mặt hắn, phía bên kia đường. Hắn nuốt nướt bọt, căng thẳng. Nhưng không có ánh đèn pha nào từ phía cầu vồng đến hết, hắn phải ra tay nhanh thôi. Hắn lấy cái xách hải quân. Hắn đã đọc trong các tạp chí điện tử, hắn biết thường khi người ta trả tiền chuộc, họ thường gài trong va-li máy phát tin. Hắn phải cảnh giác cho an toàn.
Hắn phải dùng cái xách của hắn cho an tâm, cái xách vải nhẹ nhàng, trống không, sắp sửa được tộng đầy bạc vào. Hắn mở cửa xe, nhẹ nhàng băng qua đường. Hắn đi chưa đầy 60 giây đã đến, hắn gõ vào cửa xe của Peterson ra dấu cho anh mở cửa kính. Trong khi anh hạ kính xuống, hắn nhìn nhanh vào trong xe, Peterson chỉ có một mình, hắn đưa cái xách cho anh.
Ánh sáng yếu ớt trên đường chiếu bóng những trụ chống đỡ hệ thống dây cáp tàu điện lên xe Mercury. Hắn ra lệnh Peterson không được nhìn hắn và sang tiền vào xách cho hắn, giọng khàn khàn nho nhỏ như hắn đã giả giọng mấy lần trước.
Peterson không trái lời, sau chiếc vớ trùm đầu, Cáo đưa mắt nhìn quanh, tai lắng nghe. Không có dấu hiệu gì chứng tỏ có người đang đến gần. Cảnh sát có theo Peterson, nhưng có lẽ họ để cho cuộc hẹn này diễn ra êm thấm.
Hắn nhìn Peterson bỏ gói bạc cuối cùng vào xách. Hắn ra lệnh cho anh buộc lại rồi đưa ra cửa sổ cho hắn, hắn dợm thử cái xách có nặng không. Hắn cẩn thận nói rất nhỏ ra lệnh cho Peterson đợi 15 phút mới được đi, và nói anh có thể nhận lại Neil và Sharon vào lúc 11 giờ 30.
- Anh đã chứng kiến cảnh vợ tôi chết phải không?
Câu hỏi làm cho Cáo giật mình. Vậy là người ta đã bắt đầu nghi ngờ hắn, hắn phải đi gấp thôi. Hắn toát mồ hôi hột, chiếc sơ mi trong áo khoác ướt nhèm, hai bàn chân ấm lên mặc dù gió thổi lạnh buốt mắt cá chân của hắn.
Hắn băng qua đường, leo lên chiếc Pontiac. Peterson có dám theo dõi hắn không?
Không. Anh ta vẫn ngồi yên trong xe.
Cáo nhấn ga, phóng lên chân cầu vồng ở Brooklyn Queens. Chỉ chạy hai phút là hắn đến xa lộ Đại trung tâm, hắn hòa vào dòng xe cộ chạy về hướng Đông, rồi ba phút sau hắn rẽ vào đường đến phi trường La Guardia.
Đến hai giờ 46, hắn lấy vé vào bãi đậu xe số 5.
Chín mươi giây sau, chiếc Pontiac đậu lại đúng chỗ hắn đã lấy xe hồi nãy. Nếu ai chú ý thì sẽ thấy có sự khác biệt duy nhất là xăng đã bớt đi một tí và ở đồng hồ tốc độ có tăng thêm 24 cây số.
Hắn bước ra khỏi xe, cẩn thận đóng cửa lại, mang cái xách đến để lên chiếc Coccinelle. Khi đã ngồi vào trong xe và bắt đầu tháo sợi dây ở miệng túi xách, hắn mới thở dài nhẹ nhõm.
Hắn mở miệng túi xách ra, chiếu đèn pin vào trong, miệng hắn nở nụ cười khoái trá. Hắn lấy gói bạc đầu tiên để đếm.
Tiền bạc đầy đủ, tám mươi hai ngàn đô-la. Hắn lấy cái va-li trống ở chỗ ngồi sau xe rồi sắp từng gói bạc vào trong. Hắn sẽ xách tay cái va-li này lên máy bay.
Lúc 7 giờ, hắn ra khỏi bãi đỗ xe, hòa vào dòng xe cộ buổi sáng từ ngoại ô đi vào Manhattan. Cho chiếc Volkswagen đậu vào ga ra khách sạn Biltmore và vội vã đi lên phòng. Hắn tắm, cạo râu rồi gọi thức ăn sáng.
0
36
 
Đến 4 giờ sáng, khi đã biết số xe của tên bắc cóc đã dùng, rõ ràng hướng điều tra duy nhất của cơ quan mật vụ đành bỏ ngang.
Việc đầu tiên làm cho họ thất vọng là khi tìm ra chủ nhân của chiếc xe tên Henry A. White, phó giám đốc công ty thực phẩm quốc tế White Plains.
Nhân viên FBI tìm đến nhà của White ở Scarsdale, họ canh chừng nghiêm ngặt quanh nhà. Nhưng không có chiếc Pontiac trong nhà xe và ngôi nhà có vẻ vắng vẻ. Cả ngôi nhà rộng mênh mông không có cánh cửa sổ nào mở hết. Qua lớp màn che cửa, chỉ lọt ra ngoài ánh sáng lờ mờ có lẽ từ một rờ-le ở đồng hồ điện.
Họ liên lạc với người bảo vệ công ty thực phẩm quốc tế, người này gọi đến trưởng phòng nhân viên. Ông này lại gọi đến trưởng phòng sản xuất hàng hóa White. Bằng giọng ngái ngủ, trưởng phòng sản xuất cho biết ông White vừa mới đi công du ở Thụy Sĩ ba tuần trở về, ở lại tại phòng lãnh đạo công ty, dùng cơm với hai cộng tác viên ở nhà hàng Pastor ở White Plains, rồi đi thẳng đến gặp vợ để nghỉ ngơi vài hôm chơi thể thao mùa đông. Bà ta đang ở chơi với bạn tại Aspen hay Sun Valley gì đấy.
Lúc 5 giờ, ông Hugh và Steve đi Carley, ông Hugh lái xe, Steve nhìn vào con đường băng ngang qua vùng Winchester, đến gần Cormecticut, trên đường rất ít xe cộ. Đa số người ta đang ngủ, có thể họ đang đưa tay qua sờ vợ, kiểm tra xem con có đắp chăn kín không, xem các cửa sổ có để gió lạnh luồn vào không. Bây giờ có phải Sharon và Neil đang ở trong một nơi lạnh lẽo, gió luồn vào tự do không?
Tại sao mình lại nghĩ đến chuyện này nhỉ? Anh ngạc nhiên tự hỏi mình, anh nhớ mài mại đã đọc đâu đó rằng những người không làm chủ được tình hình thường hay nghĩ vẩn vơ đến những chuyện không hay. Sharon và Neil còn sống không? Chính anh đang lo nghĩ đến chuyện đó. Lạy Chúa, xin ngài giải cứu họ, xin ngài cứu thoát họ...
Anh hỏi ông Hugh :
- Ông nghĩ sao về chiếc Pontiac?
- Có lẽ phải kết luận chiếc xe đã bị đánh cắp ở nơi ông White đỗ xe. - Ông Hugh đáp.
- Bây giờ chúng ta làm gì?
- Đợi thôi.
- Đợi gì?
- Đợi hắn thả họ ra, hắn đã hứa, hắn có tiền rồi.
- Hắn không để lộ chút tông tích nào hết, hắn tính toán rất kỹ việc này. Ông không tin hắn sẽ thả hai người có khả năng nhận diện được hắn chứ? Phải không?
- Phải. - Ông Hugh xác nhận.
- Vậy không còn cách gì nữa hay sao?
- Nếu hắn không giữ lời hứa, chúng ta sẽ tính đến chuyện công bố việc này cho giới truyền thông đại chúng biết. Có thể có người trông thấy hay nghe cái gì đấy.
- Còn Ronald Thompson thì sao?
- Sao cái gì?
- Giả dụ hắn nói thật thì sao, giả dụ chúng ta biết rõ sư thật sau 11 giờ 30 thì sao?
- Ông muốn nói gì?
- Tôi muốn nói chúng ta có quyền che giấu việc Neil và Sharon bị bắt cóc hay không?
- Tôi không tin việc này có ảnh hưởng gì đến quyết định của Thống đốc liên bang đến Thompson. Hoàn toàn không có gì chứng tỏ rằng đây là chuyện cầm giữ con tin. Nhưng nếu bà Green có cho đây là chuyện giữ con tin để đòi yêu sách đi nữa, thì bà ta cũng không muốn can thiệp vào vụ hành quyết này. Đã hai lần bà bị công kích vì việc xin hoãn ngày hành quyết Thompson rồi. Ở Georgie, mấy thằng nhóc đều bị đưa lên ghế điện đúng giờ dự kiến. Còn một việc rất dễ hiểu nữa để chứng tỏ việc bắt cóc này không phải là việc giữ con tin có liên quan đến Thompson, đó là giọng nói của vợ anh trên cuốn ghi âm. Có lẽ Cáo đã thu xếp cách nào đó để ghi âm giọng bà ấy... chứng tỏ hắn không liên quan gì đến cái chết của vợ ông.
Steve nhìn thẳng ra đằng trước, họ chạy qua Greerwich. Vào dịp nghỉ hè, có một buổi chiều Sharon theo anh đến chơi nhà ông Brad Robertson ở Greenwich. Cô mặc cái váy nhung đen và áo vét bằng gấm, trông cô rất hấp dẫn. Ông Brad đã nói với anh: - “Steve, nếu anh có một tí lương tri thôi, thì chắc anh đã thành hôn với cô gái này rồi”.
- Có phải dư luận quần chúng sẽ làm cho thằng bắt cóc hoảng hốt? - Anh hỏi, anh biết câu trả lời của ông ta, nhưng anh cũng hỏi.
- Tôi nghĩ đúng thế. - Giọng ông Hugh nghe khác thường, gay gắt - Ông nghĩ sao, ông Peterson?
Nghĩ sao ư? Steve cảm thấy môi khô khốc. Chỉ là linh cảm thôi, anh nghĩ. Có lẽ không nên nói ra, nếu đã nói ra thì mình không thể dừng được. Và làm thể có hại đến tính mạng của Neil và Sharon.
Mặt tái mét trông thảm hại, anh ngần ngừ như người nhào lộn trước khi nhảy xuống dòng nước cuồn cuộn. Anh nhớ lại cảnh Ronald Thompson khi bị thẩm vấn, khuôn mặt non choẹt hoảng sợ, nhưng rất cương quyết: - “Không phải tôi. Khi tôi vào nhà thì bà ấy chết rồi. Các ông cứ hỏi cậu bé...”
- Nếu đây là đứa con duy nhất của ông thì ông cảm thấy như thế nào?
Con trai duy nhất của tôi đây, bà Thompson à, anh nghĩ.
Anh cất tiếng hỏi :
- Ông Hugh này, chắc ông còn nhớ lời của Bob Kumer phải không? Anh ta cho rằng vụ bốn người phụ nữ bị giết chết có liên quan đến cái chết của Nina, ông nghĩ sao?
- Tôi đã nghe anh ta nói và tôi đã có ý kiến với anh rồi. Anh ta tin tưởng vào những gì anh ta tìm ra.
- Nếu tôi nói với ông rằng Kumer có lý và có mối liên hệ giữa cái chết của Nina với bốn người kia, thì ông nghĩ sao?
- Cái gì làm cho ông có ý kiến ấy?
- Ông chắc còn nhớ Kumer có nói điều duy nhất anh ta không hiểu là bốn người đàn bà kia đều chết trong xe, còn Nina thì không; cô ấy bị thắt cổ đến chết ở nhà, chứ không ở ngoài đường.
- Ông cứ nói tiếp đi.
- Đêm trước khi xảy ra án mạng, một vỏ bánh xe của Nina bị xẹp, hôm ấy tôi bận họp trễ ở New York và về đến nhà đã quá khuya. Cô ấy đã ngủ. Nhưng sáng hôm sau, khi cô ấy dẫn tôi ra nhà xe, tôi thấy xe cô ấy đang dùng bánh xơ cua...
- Ông cứ nói tiếp đi.
- Ông chắc còn nhớ tờ khai của Thompson mà Kumer đã để lại. Tờ khai nói rằng Thompson đã nói đùa với Nina rằng cái rủi lại hóa ra là cái may, và cô ấy cũng đùa như thế, vì nhờ gặp cậu ấy mà hàng hóa cô đã mua sắm được sắp xếp gọn gàng trong thùng xe.
- Ông muốn nói gì?
- Thùng xe nhỏ lắm, nếu có chỗ để chất hàng hóa như thế được, tức là trong thùng không có bánh xơ cua. Khi ấy đã quá 11 giờ rồi, và cô ấy phải về thẳng nhà. Hôm ấy Dora đến làm việc, bà ta nói Nina về nhà trước 17 giờ một chút.
- Vậy là vợ ông về thẳng nhà với Neil?
- Đúng, và thằng bé lên lầu chơi tàu hỏa, Nina chuyển hàng trong xe ra. Chắc ông còn nhớ những gói hàng nằm trên bàn chứ? Chúng ta biết cô ấy chết sau đó vài phút. Đêm ấy tôi có xem xe vợ tôi, bánh xơ cua nằm trong thùng xe, bánh xe tốt nằm ở bánh trước.
- Anh muốn nói có người đã đem bánh xe đến, thay vào bánh trước, rồi sau đó giết Nina?
- Nếu bánh xe không thay lúc ấy thì thay khi nào? Mà nếu thay khi ấy thì Thompson vô tội. Chính cậu ấy đã bấm chuông khiến cho tên sát nhân trốn chạy. Lạy Đức Mẹ Chúa Trời, ta thử hỏi xem cậu ấy khi chất hàng vào xe, cậu ấy có thấy bánh xơ cua ở đấy không. Đáng ra tối hôm ấy khi đi xem chiếc xe, tôi phải để ý đến cái bánh xơ cua mới phải. Nhưng tôi ăn năn mãi về việc tôi giận Nina vào giây phút cuối cùng tôi gặp nàng.
Ông Hugh nhấn mạnh ga, đồng hồ chỉ tốc độ tăng lên 100, 110, 130 cây số, chiếc xe lại rít lên trên mặt đường. Khi bình minh đang ló dạng trên bầu trời đen, ông Hugh chạy đến máy điện thoại. Không kịp cởi áo măng tô, ông gọi đến nhà lao Somers, yêu cầu nói chuyện với quản dốc nhà lao :
- ... không, tôi xin chờ... - Ông quay sang Steve, nói với anh - Ông quản đốc ở lại văn phòng cả đêm vào trường hợp Thống đốc gọi đến. Người ta đã cạo tóc thằng ấy rồi.
- Trời đất!
- Ngay cả khi cậu ấy xác nhận thùng xe không có bánh xơ cua đi nữa, thì cũng chưa hẳn là bằng chứng. Tất cả chỉ mới dự đoán thôi, rất có thể có người đem bánh xe đến, ráp xong rồi ra về chứ. Cho nên không thể chạy tội cho Thompson được.
- Cả hai chúng ta đều tin Thompson vô tội - Steve đáp. Anh chán nản nghĩ bụng - Mình luôn luôn cho hắn vô tội. Tự thâm tâm, mình biết hắn vô tội mà không nói ra.
- Vâng, tôi nghe đây... - Ông Hugh lắng nghe - Xin cám ơn nhiều. - Ông ta gác máy - Thompson xác nhận khi anh ta chất hàng, không có bánh xơ cua trong thùng xe.
- Xin ông gọi ngay cho bà Green - Steve tha thiết nói - Xin ông nói cho bà ấy rõ, yêu cầu bà ta cho hoãn giờ hành quyết, nếu cần, ông cho tôi nói với bà ta.
Ông Hugh bấm máy gọi văn phòng Thống đốc. Ông ta vẫn lặp lại :
- Không phải là bằng chứng, đây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Tôi không tin bà ấy sẽ cho hoãn hành quyết vì lý do này. Khi bà ấy biết Sharon và Neil bị bắt cóc - chúng ta phải nói cho bà ấy biết - thế nào bà cũng tin rằng đây là một mưu mô tối hậu.
Người ta không thể nối đường dây với bà Green được. Bà ta đã bàn giao tất cả những lời yêu cầu về việc hoãn hành quyết cho ông chánh án. Ông này tám giờ mới có mặt ở văn phòng. Không, người ta không thể gọi số điện thoại ở nhà của ông được.
Chỉ còn nước chờ nữa mà thôi, Steve và ông Hugh ngồi yên lặng trong phòng làm việc, ánh bình minh le lói bắt đầu luồn qua cửa sổ. Steve cố cầu nguyện, không suy nghĩ đến cái gì được nữa.
- Lạy Chúa, họ còn trẻ quá, cả ba đều còn trẻ quá, con xin Ngài...
Đến 6 giờ, bà Dora bước xuống thang lầu, bước chân nặng nề, e dè. Bà đi pha cà phê, dáng điệu già nua, mệt mỏi.
Đến 6 giờ 30, ông Hugh gọi cơ quan FBI ở New York, họ không có manh mối nào khác. Henry White đã đáp máy bay đi Sun Valley lúc một giờ. Họ đến phi trường quá trễ nên không gặp được ông ta. Họ điều tra ra ông ta đi xe thuê. Họ kiểm soát danh sách khách ở các khách sạn, các phòng trọ. Tất cả mọi tìm kiếm chiếc Pontiac đều không có kết quả. Họ còn kiểm soát luôn cả khách thường lui tới quán Mill Tavern nữa.
Đến 7 giờ 35, xe của Bob Kumer phóng nhanh từ ngoài đường vào, đậu trước nhà. Anh ta bấm chuông như điên, lấn bà Dora để vào nhà, anh hỏi tại sao người ta hỏi Ronald Thompson về chuyện bánh xơ cua.
Ông Hugh đưa mắt nhìn Steve, anh gật đầu, ông Hugh giải thích một cách ngắn gọn cho anh ta nghe.
Bob xanh mặt.
- Sao! Ông nói con ông và Sharon bị bắt cóc à, ông Peterson, và ông không nói gì hết à? Khi bà Greene biết chuyện này, chắc bà buộc lòng phải cho hoãn việc hành quyết ngay, bà không còn cách gì khác nữa.
- Anh đừng quá tin. - Ông Hugh đáp.
- Ông Peterson, tôi rất buồn cho ông, nhưng ông không có quyền giấu tôi việc này vào đêm qua - Bob rầu rĩ nói - Lạy Chúa, người ta không nói chuyện được với chánh án trước 8 giờ sao?
- Đợi gần 20 phút nữa.
- Thưa ông Taylor, hai mươi phút là quá nhiều trong khi sinh mạng con người chỉ còn ba giờ năm mươi phút nữa để sống thôi.
Đúng 8 giờ, ông Hugh gọi điện, ông chánh án. Ông nói chuyện với ông ta suốt 35 phút, với giọng vừa cương quyết vừa thuyết phục lại vừa van xin.
- Vâng thưa ngài, tôi biết bà Thống đốc đã chấp nhận cho hai lần hoãn hành quyết rồi... tôi biết Tòa án Tối cao đã y án... Dạ không, thưa ngài chúng tôi không có bằng cớ... nhưng đấy là dự phỏng... cuốn băng cát-sét... Vâng, thưa ngài, nếu ngài gọi giúp bà Thống đốc, thì tôi sẽ rất cám ơn ngài...
- Tôi có thể để ông Peterson nói chuyện với bà Thống đốc... được không?... Tốt, tôi xin đợi.
Ông Hugh đưa tay bịt ống nghe rồi nói với hai người :
- Ông ta sẽ gọi bà Thống đốc, nhưng tôi e rằng ông ta sẽ không xin Thống đốc cho hoãn lần nữa đâu.
Ba phút dài dằng dặc trôi qua, Steve và Bob không nhìn nhau. Rồi ông Hugh nói :
- Vâng, tôi nghe đây... nhưng...
Khi Steve đã nghe tiếng ù ù trên máy điện thoại, ông Hugh vẫn còn cố nói, cuối cùng ông ta thả máy xuống và nói :
- Sẽ tiến hành vụ hành quyết.
0
37
 
Cô đau nhức cả người như thế này khó mà suy nghĩ cho được, giá mà cô có thể mở được dây kéo ở chiếc giày cao cổ, thì đỡ biết mấy. Mắt cá sưng vù nhức nhối, cà vào da giày, vào dây trói.
Đáng ra cô phải la lên khi hắn dẫn đi qua sân ga mới đúng, lẽ ra cô phải liều. Nhưng mấy giờ rồi nhỉ? Thời gian không còn nữa rồi, tối thứ Hai -thứ Ba - Còn thứ Ba không? Đã sang thứ Tư chưa?
Làm sao họ thoát ra được đây?
Neil - Cô nghe hơi thở khò khè gần bên cô, cậu bé đã thở từ từ, đã biết vâng lời cô. Sharon nghe tiếng rên buột ra khỏi miệng, cô liền cố nín lại.
Cô cảm thấy Neil nhích sát vào cô, cố an ủi cô. Khi Neil lớn, chắc cậu cũng giống Steve. Nếu cậu lớn...
Steve - Nếu mình sống với Steve thì sẽ ra sao? Còn Neil nữa? Có lẽ Steve đã quá nhiều đau khổ rồi.
Đối với cô, cuộc đời quá êm thấm. Ba cô đã nói: - “Sharon sinh ra ở Rome, Pat ở Ai Cập, Tina ở Hồng Kông” - Mẹ cô nói: - “Chúng ta có bạn bè khắp thế giới”. - Ngay cả khi họ nghe cô chết, họ cũng không cô độc, còn khi Steve mất Neil, anh ấy không còn ai hết, anh ấy sẽ đau đớn biết bao.
Steve đã hỏi: “Tại sao cô còn ở độc thân?” - Vì cô không chịu yêu ai hết.
Neil - Neil rất sợ vợ chồng Lufts không dẫn cậu theo, rất sợ cô giành Steve đi.
Cô phải làm cho cậu bé yên tâm mới được.
Cô cà hai cổ tay vào tường đá vôi thêm lần nữa, nhưng dây buộc quá chặt, nó khía vào da thịt đau nhói, cô không dám đụng vào tường nữa.
Cô cố suy nghĩ, hy vọng duy nhất của cô là cứu thoát cho người Neil, cố làm cho nó ra khỏi phòng này, nếu cô mở được cánh cửa, quả bom có nổ không?
Cái nắm cửa ở phòng vệ sinh, nếu Cáo trở về, nếu hắn để cho cô vào phòng vệ sinh, có lẽ cô sẽ bẻ gãy cái nắm cửa được.
Khi hắn có tiền rồi, hắn sẽ làm gì hai người? Cô cảm thấy nản chí. Thời gian... bao lâu rồi... thời gian trôi qua... ngày hay đêm?... Tiếng tàu chạy ầm ầm... đến tìm chúng tôi với, Steve... lỗi tại cô, cô Martin à... Vấn đề là ở chỗ ấy, cô Martin à... mù quáng, còn tệ hơn cả mù nữa... anh yêu em, Sharon, anh hết sức nhớ em... hai bàn tay khổng lồ dịu dàng vuốt má cô.
Hai bàn tay dịu dàng vuốt má cô, bỗng Sharon mở mắt. Cáo cúi người xuống. Hai bàn tay hắn dịu dàng kinh khủng trên mặt cô, trên cổ cô. Hắn lôi vải bịt miệng cô ra, hôn cô. Môi hắn nóng bỏng, miệng hắn thô ráp, thật kinh tởm, cô muốn quay mặt đi, cố gắng lắm cô mới cưỡng lại ý định ấy.
Hắn thì thầm bên tai cô :
- Xong rồi, Sharon. Tao đã có tiền, tao dông được rồi.
Cô cố nhìn vào mặt hắn, nét mặt hắn hiện ra lờ mờ, cặp mắt bối rối, gò má giật giật, đôi môi mỏng.
- Anh sẽ làm gì chúng tôi? - Khó khăn lắm cô mới cất tiếng.
- Tao để bọn bay ở đây, tao sẽ nói cho Peterson biết chỗ để hắn tìm bọn bay.
Hắn nói láo, như lần trước, khi hắn dìu cô đi, khi hắn ôm hôn cô. Không, chính cô dùng mỹ nhân kế, và đã bị hắn xô nhào xuống đất.
- Anh sẽ giết chúng tôi.
- Đúng, Sharon à.
- Anh cũng đã giết mẹ của Neil.
- Đúng. Ôi! Tao quên mất! - Hắn rời cô, cúi xuống, vuốt thẳng cái gì đấy - Tao sẽ treo bức hình này với những bức kia. - Có cái gì đấy lướt qua trên đầu cô. Một cặp mắt giống Neil nhìn cô, cặp mắt của cơ thể đã khuỵu xuống, cơ thể đã bị chiếc khăn quàng thắt quanh cổ. Cô hét to đến rách cả họng, chính tiếng hét ấy đã đẩy lùi đau khổ, đẩy lùi sự choáng váng. Bỗng cô cảm thấy hoàn toàn tỉnh táo, cô nhìn bức ảnh, nhìn cặp mắt nẩy lửa, điên loạn của gã đàn ông đang cầm bức hình.
Hắn gắn tấm hình gần những tấm khác trên tường, hắn làm rất cẩn thận, với điệu bộ chín chắn mẫu mực.
Cô nhìn hắn, khiếp hãi, hắn sẽ giết họ bây giờ à? Hắn sẽ thắt cổ hai người như đã thắt cổ mấy người đàn bà kia sao?
- Tao sẽ chỉnh đồng hồ định giờ cho tụi bây. - Hắn nói.
- Đồng hồ định giờ à?
- Ừ. Đồng hồ định giờ để cho bom nổ vào lúc 11 giờ 30. Sharon, mày sẽ không cảm thấy đau đớn gì đâu, mày sẽ biến mất một cách nhanh chóng, cả Neil và cả Ronald Thompson cũng vậy.
Hắn cẩn thận, nhẹ nhàng mở va-li ra, cô thấy hắn lấy đồng hồ và chỉnh giờ. Bây giờ là sáng thứ Tư, 8 giờ 30 - hắn chỉnh chuông reo vào lúc 11 giờ 30, rồi hắn buộc dây kẽm vào đồng hồ.
Ba giờ nữa.
Hết sức cẩn thận, hắn bê cái va-li lên, để trên bồn rửa gần cửa. Mặt đồng hồ nằm ngay trước mặt cô, ở đằng kia phòng, hai cái kim và những con số trên mặt đồng hồ sáng long lạnh.
- Sharon, mày muốn gì trước khi tao đi? Một ly nước nhé? Mày có thích tao hôn giã biệt không?
- Tôi có thể... anh cho phép tôi đi vào phòng vệ sinh được không?
- Được chứ, Sharon. - Hắn đến gần cô, tháo hai tay cô, đỡ cô đứng dậy, hai chân cô không đứng nổi, cô run lẩy bẩy vì đau đớn. Mắt cô mờ mịt không thấy gì cả. Không... không... không... Cô không thể ngất xỉu được.
Hắn để cô trong căn phòng nhỏ tối tăm, cô níu vào nắm cửa. Cô vặn nắm cửa, một, hai, ba lần, cô cầu trời sao đừng phát ra tiếng động to quá. Rắc một tiếng nho nhỏ, cái nắm tay đã gãy.
Sharon đưa ngón tay sờ lên đầu bị gãy, cô cảm thấy mép kim loại xù xì nham nhám. Cô bỏ cái nắm cửa vào túi váy. Khi ra mở cửa, một tay cô để trong túi. Khi hắn dẫn cô về giường lại, nếu hắn có thấy cái gì cồm cộm trong túi cô, chắc hắn sẽ nghĩ đấy là cổ tay của cô.
Chuyện xảy ra yên ổn, hắn hấp tấp chuẩn bị để đi. Hắn đẩy cô nằm xuống giường, trói hai tay cô lại. Cố để hai tay hở một tí, dây trói ít chặt hơn trước, hắn vội bịt miệng cô lại.
Hắn cúi người xuống cô.
- Đáng lẽ tao yêu mày Sharon à, vì tao cứ ngỡ mày yêu tao.
Bỗng nhanh như chớp, hắn lôi dung vải bịt mắt Neil ra, chú bé nhấp nháy mắt, hai mí mắt sưng vù, con ngươi giãn lớn.
Hắn nhìn thẳng vào mặt cậu bé, hắn nhìn lên bức hình trên tường rồi nhìn xuống mặt Neil.
Bỗng hắn xoa đầu chú bé, quay đi và tắt đèn, y như lần đầu tiên hắn rời khỏi phòng.
Sharon nhìn mặt đồng hồ sáng loáng. 8 giờ 36 phút.
0
38
 
Trên giường bà Glenda ngổn ngang giấy tờ, bà xé ra, sửa lui sửa tới rồi xé tờ khác làm tiếp.
- Không phải, ngày 14 em không đi thẳng đến bác sĩ, mà em có dừng lại ở tiệm sách... Roger, anh ghi chi tiết này đi, em có nói chuyện với hai người...
- Để anh lấy tờ giấy khác, tờ này viết hết rồi. Thế em nói chuyện với ai trong phòng đợi của bác sĩ?
Họ ghi lại tỉ mỉ từng chi tiết xảy ra trong tháng trước, không có chi tiết nào gợi cho bà Glenda nhớ lại người nào có tên là Cáo hết. Lúc 4 giờ sáng, bà năn nỉ ông Roger gọi cơ quan FBI để xin được nói chuyện với ông Hugh. Ông Hugh kể lại cho ông nghe cuộc gặp gỡ xảy ra như thế nào.
- Anh ấy cho biết thằng bắt cóc hứa sẽ thả Sharon và Neil lúc 11 giờ 30. - Ông Roger kể lại cho bà vợ rõ.
- Chắc họ không tin lắm phải không?
- Phải, anh cũng không tin.
- Đúng thế, có lẽ em biết thằng này. Có lẽ hắn ở tại khu vực này và chắc Neil đã gặp hắn. Hắn sẽ không thả Neil đâu.
- Glenda, hai chúng ta không thể làm gì được nữa, chúng ta không thể suy nghĩ gì được đâu. Hãy cố nghỉ ngơi một lát, có lẽ em sẽ nghĩ ra. Trong lúc ngủ, tiềm thức của em làm việc, có lẽ em biết rõ điều này rồi.
- Được thôi. - Bà uể oải sắp xếp lại hồ sơ giấy tờ đã ghi chép theo thứ tự thời gian từng ngày.
Ông để đồng hồ báo thức lúc 7 giờ. Quá mệt mỏi, hai vợ chồng chập chờn ngủ được một giấc 3 giờ liền.
Đúng 7 giờ, ông Roger xuống bếp pha trà, bà Glenda bỏ một viên Trinitrine dưới lưỡi, vào phòng tắm rửa mặt, trở lại giường và lấy tập giấy lên.
Đến 9 giờ, Marian đến. Chín giờ 15, chị lên thăm bà Glenda.
- Tôi rất buồn khi biết bà không được khỏe, thưa bà Perry.
- Cám ơn chị.
- Tôi không muốn làm bà gián đoạn công việc. Nếu bà thấy tiện, tôi xin phép dọn dẹp ở các phòng dưới.
- Thế thì tuyệt.
- Như thế, vào cuối tuần, tất cả tầng dưới sẽ hoàn tất. Tôi biết bà rất thích ngôi nhà sạch sẽ ngăn nắp.
- Vâng, đúng thế, cám ơn chị.
- Tôi xin thưa thiệt với bà, tôi rất sung sướng được làm việc ở nhà bà, cho nên mặc dù gặp chuyện rắc rối về xe cộ, nhưng tôi vẫn không để thất hứa với bà.
- Chồng tôi có nói với tôi như thế. - Bà Glenda cố tình cầm bút lên, chuẩn bị để viết.
- Thật quá xui xẻo! Vừa bỏ ra bốn trăm đô-la để đại tu chiếc xe. Dĩ nhiên là chúng tôi không nên tiêu phí quá nhiều về một chiếc xe cũ như thế, nhưng Arty là một thợ máy giỏi, cho nên chồng tôi cho như thế cũng xứng đồng tiền bát gạo. Mà thôi chắc bà đang bận, tôi không nên nói huyên thuyên nữa. Bà dùng điểm tâm nhé?
- Chưa, cám ơn bà Vogler.
Cánh cửa đóng lại. Mấy phút sau, ông Roger đi vào.
- Anh có hai người khách đang chờ ở văn phòng, anh đã nói là anh bị cúm.
- Roger, đợi em chút. - Bà Glenda bấm nút máy ghi âm, câu nói quen thuộc với bà vang lên “Hãy đến trạm xăng Esso” thì bà tắt máy. - Roger, xe của em đã được xiết lại vít khi nào?
- Hơn một tháng rồi, ông Bill Lufts đã giới thiệu anh đem xe đến ga ra mà ông ta quen biết.
- Đúng, và khi xe đã xong, anh để em ở lại đấy rồi đi đến văn phòng làm việc. Arty, đúng là tên ấy phải không?
- Chắc thế, phải đấy. Mà sao?
- Mặc dù xe đã xong nhưng hắn đang bơm xăng cho đầy xe, em nói chuyện với hắn, đứng gần bên máy bơm. Em để ý đến huy hiệu của hắn, A.R. Taggert, và em hỏi hắn có phải chữ A có nghĩa là Arthur không, vì em đã nghe lão Bill gọi hắn là Arty.
- Anh Roger này, - Bà Glenda cất cao giọng, bà đứng dậy, nắm tay ông - Roger, hắn nói với em rằng dân ở đây thường gọi hắn là Arty khi nhìn vào huy hiệu, nhưng tên thật của hắn là August Rommel Taggert.
- Rommel, có phải tên tướng Đức nổi tiếng không?
Hắn trả lời :
- Phải, Rommel là con Cáo của “sa mạc”, cách phát âm từ Cáo... và cách hắn nói trên điện thoại vào tối kia nghe giống nhau. Roger, em cam đoan với anh thằng thợ máy ở ga ra ấy là Cáo, chính hắn đã bắt cóc Neil và Sharon.
Lúc ấy là 9 giờ 31 phút.
0
39
 
Bà Lally đang muốn đến phòng bà, hôm nay Olendorf nghỉ, còn người bảo vệ trực này không bao giờ làm khó khăn bà. Bà ngủ không được cả đêm, bà sẽ bệnh mất. Chứng thấp khớp là một cơn ác mộng, nhưng với bà còn tệ hơn thế nữa. Có cái gì đấy đã thôi thúc bà, bà muốn đến căn phòng của mình, nằm dài lên giường, nhắm mắt lại.
Phải đến đó mới được.
Bà chen lấn vào đám hành khách đi tàu từ Mount Vemon đến lúc 8 giờ 40, rồi lẻn đến bờ dốc. Bà đã mang theo trong túi xách rất nhiều báo để chống lạnh và không dừng lại để uống cà phê nữa. Bà chỉ ao ước được sớm đến căn phòng của mình thôi.
Nếu thằng cha ấy có mặt ở đấy cũng mặc kệ, bà quyết liều rồi. Tiếng máy nổ và tiếng quạt chạy kêu ầm ầm làm cho bà thấy dễ chịu. Ở đây tối tăm như mọi khi, nhưng bà thấy thế lại càng tiện cho bà. Đôi giày vải to tướng không gây tiêng động khi bà đi nhẹ nhàng đến cầu thang căn phòng.
Khi gần đến cầu thang, bỗng bà nghe có tiếng cửa mở, cánh cửa mở ra từ từ, bà Lally thu mình lại trong bóng tối, sau cái máy phát điện.
Bà nghe những bước chân nhẹ nhàng, chậm rãi, hắn đi xuống cầu thang sắt, chính thằng ấy. Bà cố gồng mình đứng nép vào tường. Bà có nên đối mặt với hắn không? Không... không... Bản năng đã khiến bà cảm thấy phải tránh mặt. Bà thấy hắn đứng bất động, lắng nghe, rồi vội vã đi đến bờ dốc. Trong một phút nữa, hắn sẽ biến mất và bà sẽ vào phòng của bà. Nếu cô gái còn đấy, bà sẽ biểu cô ta trốn đi.
Mấy ngón tay lạnh cóng vụng về lấy chìa khóa trong túi, chiếc chìa rơi xuống chân bà, vang lên một tiếng động nhỏ.
Bà Lally nín thở. Hắn có nghe không? Bà không dám quay đầu lại, nhưng bà nghe tiếng chân xa dần. Bà không nghe có tiếng chân trở lại, bà đợi 10 phút, 10 phút dài dăng dẳng. Cố lấy lại bình tĩnh, bà từ từ cúi xuống đau đớn cả người, mò mẫm tìm chìa khóa ở dưới đất. Trời tối đen, mắt bà lại rất kém, bà tìm ra được chìa khóa, thở dài nhẹ nhõm.
Bà Lally chưa đứng lên thẳng người thì đã có cái gì đâm vào lưng bà, cái gì lạnh ngắt. Khi vật ấy đụng vào da thịt bà, bà cảm thấy nghẹt thở, vật ấy đâm sâu vào thịt, vật rất nhọn, lún sâu rất nhanh đến nỗi khi bà chưa kịp thấy thì máu nóng đã tuôn ra rồi, thế rồi bà khuỵu xuống và ngã nhào người tới trước. Trán bà va xuống đất, cánh tay trái huơ quanh một vòng, bà bất tỉnh, bàn tay phải nắm chặt chiếc chìa khóa.
0
40
 
Lúc 9 giờ 30, nhân viên FBI gọi ông Hugh Taylor đang ở tại nhà của Steve :
- Chúng tôi có tìm ra được một ít manh mối, ông Hugh à.
- Manh mối gì thế?
- Thằng Arty - Thằng thợ máy Arty Taggert.
- Như thế nào?
- Có một thằng tên là Taggert cách nay đã 12 năm thường thấy lởn vởn quanh nhà ga thành phố. Hắn bị tình nghi là thủ phạm của vụ mất tích một cô gái 16 tuổi, cô này bỏ nhà trốn ra thành phố. Chúng ta không có bằng chứng để buộc tội hắn, nhưng nhiều anh em cho rằng hắn có nhúng tay vào việc này. Chúng ta còn thẩm vấn hắn nhiều vụ mất tích của các cô khác nữa. Chúng tôi thấy hắn giống diện mạo mà ông đã miêu tả cho chúng tôi biết.
- Thế là tốt. Các anh có tin gì về hắn?
- Chúng tôi sẽ tìm xem hắn ở đâu. Hắn làm nhiều việc ở New York, bán xăng ở tả ngạn, phục vụ trong một hộp đêm ở Đại lộ 8, rửa bát đĩa ở quán Oyster Bar...
- Tập trung tìm kiếm nơi hắn cư ngụ, tìm xem hắn có gia đình không.
Ông Hugh gác máy, ông thận trọng nói với Steve :
- Ông Peterson này, có lẽ chúng ta đang có một manh mối mới. Một thằng thợ máy sửa xe hơi thường đến quán rượu Mill Tavern. Hắn đã bị tình nghi có dính líu đến nhiều cô gái bị mất tích cách đây đã 12 năm. Hắn tên là Arty Taggert.
- Một thằng thợ sửa xe hơi à? - Giọng Steve cất cao từ sửa xe hơi.
- Đúng thế, tôi biết ông nghĩ gì rồi. Hy vọng mong manh thật đấy, nhưng hôm ấy chắc có kẻ nào đã sửa xe cho vợ ông. Có thể bà ấy trả tiền cho hắn bằng chi phiếu chứ? Ông còn giữ giấy tờ lưu và cùi chi phiếu của tháng Giêng hai năm trước không?
- Được rồi, để tôi xem thử.
- Xin ông nhớ cho là chúng tôi chỉ xem xét tất cả những manh mối mà thôi. Chúng tôi không có bằng chứng gì về thằng Arty này, ngoài chuyện người ta có thẩm vấn hắn một lần đã lâu năm rồi.
- Tôi hiểu. - Steve đi về bàn làm việc.
Chuông điện thoại reo, ông Roger Perry gọi. Ông ra hét lớn trong máy rằng bà Glenda xác nhận Cáo là tên thợ sửa xe hơi có tên Arty Taggert.
Ông Hugh gác mạnh máy và định gọi New York, thì bỗng chuông lại reo. Ông hét lớn :
- Tôi nghe đây. - Nét mặt ông thay đổi, trông đăm chiêu - Sao? Xin đừng cúp máy, hãy nói lại đi.
Steve thấy mắt ông Hugh nheo lại, khi ông Hugh lấy bút ra, anh liền đưa xấp giấy cho ông ta. Bất cần ý đồ muốn che giấu những điều ông ta đang viết, Steve cầm nhanh lấy và đọc từng chữ ông ta viết:
“Cám ơn ông về số tiền, nó đầy đủ. Ông đã giữ đúng lời hứa và tôi cũng giữ đúng lời hứa của tôi. Neil và Sharon còn sống. Đúng 11 giờ 30, chúng sẽ bị hành quyết bằng quả bom nổ trong bang New York. Anh có thể tìm thấy xác của chúng trong đống đổ nát sau khi bom nổ”.
“-CÁO-”
Ông Hugh nói :
- Anh lặp lại lần nữa đi, để tôi biết chắc không viết lầm.
Một lát sau, ông ta nói thêm :
- Cám ơn, chúng tôi sẽ tiếp xúc làm việc với ông sau - Ông gác máy.
- Ai nhận lời nhắn thế? - Steve hỏi. Anh sững sờ và lo sợ đến độ tê liệt cả trí óc, không suy nghĩ được.
Ông Hugh đợi một hồi mới trả lời, giọng của ông mệt mỏi chán chường tột độ :
- Lão điều hành tang lễ ở Carley, người đã lo việc chôn cất vợ ông.
Lúc ấy chín giờ 35 phút.
0
41
 
Arty mình ướt đẫm mồ hôi. Giá con mẹ phù thủy đừng gây nên cảnh khó khăn này cho hắn thì hay biết mấy! Bộ áo quần mới bây giờ đã bốc mùi hôi, y như mỗi khi hắn...
Mà nếu hắn không nghe bà ta thì sao? Chắc chắn bà ta ở trong phòng ấy, chính cái giường trong phòng là của bà ấy. Như thế có nghĩa là bà ta có chìa khóa phòng. Nếu hắn không nghe, thế nào bà ta cũng vào đấy và phát hiện ra chúng. Người ta sẽ có đủ thời gian đem chuyên gia đến tháo quả bom ra.
Hắn băng nhanh qua sân ga, đi dọc theo dãy nhà hàng buôn bán dẫn đến khách sạn Biltmore, lấy xe trong ga ra khách sạn. Cái va-li và cái rađiô hắn đã để sẵn trong xe rồi. Hắn lái xe ngược lên theo đường Hữu Ngạn đến cầu Triborough. Đây là đường đến phi trường La Guardia nhanh nhất, hắn phải rời New York gấp, máy bay đi Phoenix khởi hành lúc 10 giờ 30.
Hắn trở lại bãi đậu xe mà hắn mới rời cách đây mấy giờ. Ý nghĩ hắn đã thực hiện kế hoạch lấy tiền chuộc rất tuyệt vời bắt đầu làm hắn lo ngại. Lần này, hắn để chiếc Volkswagen xa trạm kiểm soát, nơi những người đáp máy bay con thoi đi Washington trở về thường đậu. Khu vực đậu xe này luôn luôn lộn xộn, đông đúc. Hắn đã đục mờ số máy, còn số đăng ký xe thì không phải số xe hắn. Hắn đã lấy số xe của chiếc đã bị hư cách đây năm năm. Ngoài ra, hắn có thể đi một tháng người ta mới để ý đến chiếc Volkswagen của hắn để tại đây.
Hắn lấy hai cái va-li trong thùng xe ra - cái nhẹ đựng áo quần, băng cát-sét, cái nặng đựng tiền - và cái hộp đựng máy vô tuyến điện thoại. Ngoài các thứ ấy ra không có gì trong xe làm hắn lưu luyến nữa.
Hắn đi nhanh đến bến xe đò. Chiếc xe đưa khách ra sân bay chạy đến, hắn bước lên. Những người khách khác thờ ơ nhìn hắn, hắn cảm thấy bị hất hủi. Chỉ vì hắn không ăn mặc tươm tất mà thôi. Hắn ngồi xuống bên cạnh một cô gái 19 tuổi, cô gái rất hấp dẫn. Hắn nhận thấy cô ta quay mặt đi chỗ khác, nét mặt lộ vẻ ghê tởm. Đồ mất dạy, nếu nó biết mình thông minh và giàu có, liệu nó có dám khinh mình không!
Chiếc xe chở khách đậu tại ranh giới phi cảng, chỉ cách phòng đợi của hãng Hàng không American Airlines 300 mét. Nhân viên hàng không ghi hành lý, hắn không mang theo hết hành lý được. Hắn lấy vé ra, tên trên vé là Rommel - Rommel, con Cáo sa mạc. Hắn tính sẽ dùng tên này khi đến Arizona.
- Ông gởi cả ba va-li hành lý chứ, thưa ông.
- Không, cái này không. - Hắn lấy riêng cái va-li đựng tiền đặt sang một bên.
- Rất tiếc, thưa ông, tôi nghĩ ông không thể xách cái va-li to tướng như thế này lên máy bay được.
- Tôi phải xách! - Hắn cố giữ bình tĩnh khi nói - Tôi có số giấy tờ cần thiết phải làm trên máy bay.
Người nhân viên nhún vai.
- Tùy ông, thưa ông, nhưng tôi nghĩ cô tiếp viên sẽ đem cất vào tủ ở buồng máy bay nếu cô ta thấy cần.
Lúc ấy là 9 giờ 28, hắn thấy đói, nhưng trước hết hắn phải gọi điện thoại đã. Hắn tìm buồng điện thoại xa nhất trong phi cảng, và viết sẵn lên giấy để khi nói khỏi sai lầm. Hắn tưởng tượng ra thái độ của Peterson khi nhận được lời nhắn này.
Hắn gọi được phòng dịch vụ mai táng rất nhanh. Cáo hạ thấp giọng, nói :
- Có người sắp nhờ ông lo việc tẩn liệm người chết đấy.
- Thưa ông, được thôi. Xin cho biết ai đầu dây nói thế? - Giọng nói nghe rất hăm hở.
- Ông có vui lòng chuyển giúp một lời nhắn không?
- Sẵn lòng.
Giọng Cáo thay đổi, nghe có vẻ hách dịch :
- Anh hãy ghi ra giấy, rồi sau đó đọc lại cho tôi nghe, và hãy chú ý nhắn lại cho đúng. - Hắn bắt đầu đọc, lòng hân hoan khi nghe hơi thở hồi hộp của người bên kia đầu dây vang lên trong ống nghe. - Bây giờ anh đọc lại đi. - Hắn ra lệnh. Giọng bên kia run run vâng lời hắn đọc lại, rồi tiếp theo là tiếng than dài - Lạy Chúa, tôi van xin ông...
Cáo gác máy, mỉm cười.
Hắn vào phòng ăn của phi cảng, gọi thịt heo hun khói, bánh mì, nước cam và cà phê. Hắn ăn từ từ, nhìn mọi người vội vã lui tới quanh hắn.
Hắn cảm thấy bắt đầu được thư giãn. Cuốc điện thoại cho phòng dịch vụ đám tang làm hắn bị kích thích tột độ, hắn không thể nào nín cười cho được. Mới đầu, hắn định báo cho chúng biết một vụ nổ sắp xảy ra trong thành phố New York. Đến phút cuối, hắn thay đổi là trong bang New York. Hắn tưởng tượng cảnh bọn cảnh sát đang chạy đôn chạy đáo mà tức cười.
Arizona vùng sa mạc hoang vắng.
Nhìn vào mắt thằng bé là đủ rồi, từ rày về sau hắn khỏi chạy trốn cặp mắt ấy. Hắn đang hình dung cảnh Ga lớn Trung tâm vào lúc 11 giờ 30. Quả bom nổ, cả tầng trên sập tan tành xuống Neil và Sharon, hàng trăm ngàn tấn khối xi măng đè lên chúng.
Thật dễ tạo ra một quả bom, hơn là sửa một chiếc xe hơi nhiều. Người ta chỉ cần đọc những gì họ đã viết về vấn đề này là làm được. Bây giờ chắc tất cả mọi người đều muốn biết Cáo là ai, có lẽ rồi người ta sẽ viết về hắn, như người ta đã viết về Rommel.
Hắn uống hết cà phê, đưa lưng bàn tay lau miệng. Hắn nhìn qua cửa kính thấy người mang hành lý vội vã đi đến cửa ra sân bay. Hắn nhớ vụ nổ bom ở phi trường La Guardia vào dịp Nô-en cách đây hai năm. Vụ nổ làm cho mọi người kinh hoàng, phải đóng cửa phi trường, hắn đã xem cảnh tượng ấy trên tivi.
Hắn tưởng tượng thấy mình ngồi trong quán rượu ở Phoenix tối nay, xem chương trình thời sự trên tivi nói về vụ nổ ở Ga lớn Trung tâm. Người ta sẽ nói vụ này trên các máy truyền hình khắp thế giới. Nhưng nếu bọn cảnh sát hốt hoảng, không biết bắt đầu tìm kiếm ở đâu, còn vui hơn nữa. Những người đặt bom ở các cơ quan đã làm thế đấy, họ gọi điện thoại cho biết họ gài bom rất nhiều nơi, thế là cảnh sát không biết đâu mà mò. Chúng đành phải lùa ra hết những người trong các nơi mà người đặt bom đã báo cho chúng biết.
Hắn còn có thể làm như thế được, nhưng hắn sẽ nói gì với họ? Hắn nhìn ra trước, cả một phi trường đông đúc náo nhiệt. Người đi lui đi tới khắp nơi, thế nhưng phi trường La Guardia ít quan trọng hơn phi trường Kennedy.
Tất cả cảnh tượng này đều giống ở Ga lớn Trung tâm, hay là giống bến xe đò. Mọi người chen lấn nhau, không ai chú ý đến ai. Người ta chỉ chú ý đến nơi họ đi, không thèm nhìn đến mình, không thèm cười với mình. Mẹ kiếp!
Bỗng hắn nảy ra sáng kiến, giả sử bây giờ hắn báo cho cảnh sát hay. Giả sử hắn báo cho cảnh sát rằng Sharon, Neil và quả bom hiện ở tại một trung tâm giao thông vận tải của thành phố New York. Như thế cảnh sát sẽ cho di tản người vừa trong các phi trường, vừa trong các ga xe lửa, vừa trong nhà ga Pennsylvania cũng như Ga lớn Trung tâm. Chúng sẽ lục soát những chỗ ngồi ở phòng đợi, trong các tủ gởi hành lý. Thực vậy, họ sẽ không biết đâu mà mò. Còn đám người kia, đám hành khách khốn khổ, buộc lòng phải tháo chạy, phải bỏ lỡ chuyến tàu, bỏ lỡ máy bay, bỏ lỡ chuyến xe.
Người ta sẽ không bao giờ tìm ra Sharon và Neil, không bao giờ. Người duy nhất biết cái phòng ấy là một phù thủy, nhưng hắn đã thanh toán mụ rồi. Bây giờ chỉ có một mình hắn thôi, hắn chỉ cần gọi một cuốc điện thoại là hắn có thể chận đường vào và lối ra của cái thành phố lớn nhất thế giới này. Ông Peterson tưởng mình là người giỏi có tờ báo trong tay, có tiền gởi ngân hàng và có cô bạn gái trẻ đẹp. Cáo bật cười. Cặp vợ chồng ngồi bàn bên cạnh nhìn hắn, kinh ngạc.
Hắn phải gọi điện thoại trước khi lên máy bay, hắn sẽ gọi cho ai nhỉ?
Gọi cho phòng dịch vụ đám tang lần nữa à? Không.
Ai sẽ tin chuyện này không phải là đùa bỡn? Hắn tìm ra rồi! Hắn mỉm cười, nghĩ đến phản ứng của người nghe bên kia đầu dây, hắn gọi thêm một tách cà phê nữa. Lúc 10 giờ 12, hắn đi ra khỏi quán ăn uống, nắm chặt cái va-li trên tay. Hắn bằng lòng chờ đến phút cuối mới để hành lý xách tay lên quầy kiểm tra bằng tia X. Người nào cũng đều vội vã, nên không ai quan tâm đến cái va-li của hắn. Các công ty hàng không đều làm việc rất đúng giờ.
Lúc 10 giờ 15, hắn lẻn vào buồng điện thoại gần cửa ra máy bay, phòng số 9, bỏ vào máy số tiền cần thiết rồi quay số. Khi bên kia đầu dây có người nhấc máy nghe, hắn nói nhỏ lời nhắn, hắn gác máy nhè nhẹ, đi về phía phòng đăng ký rồi qua phòng kiểm tra không gặp một khó khăn gì.
Dấu hiệu “Lên máy bay gấp” nhấp nháy sáng, thì hắn đi qua phòng đợi, hắn đi đến phía lối đi có mái che dẫn ra máy bay.
Khi ấy là 10 giờ 16.
0
42
 
Áo quần bà ướt đẫm, âm ấm, bốc mùi tanh. Máu! Bà sẽ chết thôi.
Chết - Bà sẽ chết mất! Bà Lally biết thế. Qua tia sáng le lói trong tâm khảm, bà cảm thấy thế. Kẻ nào đó đã nhẫn tâm giết bà... chính thằng cha chiếm phòng bà đã lấy đi sinh mạng của bà.
Cái phòng của bà - Bà muốn chết ở trong ấy, bà muốn đến đấy. Chắc hắn không về đây nữa đâu, chắc hắn quá sợ rồi. Có lẽ, không có ai sẽ tìm ra bà nữa. Bà sẽ được ở mãi trong căn nhà duy nhất của đời bà. Bà sẽ ngủ giấc ngủ ngàn thu ở đây, giữa tiếng ồn thân quen của các chuyện tàu. Bà mới tỉnh trí trở lại... nhưng chắc bà không tỉnh được lâu đâu, bà biết, bà phải gắng đi vào căn phòng.
Cảm thấy chìa khóa còn trong tay, bà Lally cố đứng lên. Nhưng có cái gì đó đã níu bà lại... con dao... con dao còn đâm vào lưng bà, bà không thể rút nó ra được, bà bắt đầu động đậy.
Bà phải bò mới quay trở lại được, bà nhào xuống, lưng quay về phía căn phòng. Cố lắm mới lết được... quá khủng khiếp, khủng khiếp. Cố sức từ từ, từng ly một, bà bò cho đến khi quay lại đúng hướng. ít ra cũng còn cách chân cầu tháng đến 5 mét. Rồi còn cầu tháng nữa chứ, bà đến đó được không? Bà Lally lắc đầu để xua đuổi đám sương mù trước mắt đi, bà cảm thấy máu chảy xuống miệng mằn mặn, bà cố khạc nhổ ra.
Bàn tay phải... nắm chặt chiếc chìa khóa... bàn tay trái đẩy đầu gối phải lê tới trước... đầu gối trái... tay phải... cứ thế bà tiến tới. Bằng mọi cách, bà phải đến được đầu cầu thang.
Bà thấy mình đang mở cửa, rồi đóng cửa lại... bà vào trong... leo lên giường... nằm dài ra... nhắm mắt lại... chờ đợi.
Trong phòng bà, cái chết sẽ đến như người bạn, người bạn với hai bàn tay dịu dàng lạnh lẽo.
0
43
 
Họ chết mất, Steve nghĩ. Khi đã bị kết án, coi như đã chết. Chiều nay, mẹ của Thompson sẽ đến mang xác con về. Chiều nay, công ty mai táng Sheridan sẽ tìm đến chỗ bom nổ để mang xác Sharon và Neil đi.
Nơi nào đó trong bang New York, tìm trong đống đổ nát... Anh đứng bên cửa sổ. Trước mặt nhà, một đám đông phóng viên báo chí truyền hình đứng tụ tập chờ đợi.
- Tin tức thật nhanh - Anh nói - Giới săn tin của báo chí và truyền thông đại chúng được dịp tung tin hấp dẫn.
Ông Bradley vừa điện thoại đến hỏi anh :
- Steve, tôi có thể làm gì được không?
- Không làm được gì cả, chỉ còn cách là xem có gặp chiếc Coccinelle Volkswagen màu xanh đậm do một thằng khoảng 38 tuổi lái không. Có lẽ nó đã thay bảng số, chúng tôi chỉ còn một giờ hai mươi phút nữa thôi.
Anh hỏi ông Hugh :
- Đã làm gì để báo động về trái bom chưa?
- Chúng tôi đã yêu cầu tất cả các thành phố lớn trong bang New York phải đặt trong tình trạng báo động. Chúng tôi không thể làm gì hơn được nữa. Bom nổ trong bang New York, ông biết diện tích của tiểu bang là bao nhiêu cây số không? Ông Peterson này, biết đâu chuyện báo động này có thể sai. Tôi muốn nói là hắn chỉ dọa cho bom nổ khi gọi điện đến phòng dịch vụ mai táng.
- Không, không phải. Quá trễ rồi!
Steve thầm nghĩ: Bill và Dora đến ở đây là vì Nina đã chết. Họ muốn làm cho mình vui và để chăm sóc Neil giúp cho mình. Vì tính ba hoa, nên có lẽ Bill Lufts là nguyên nhân khiến cho Neil và Sharon bị bắt cóc. Để giờ đây họ phải đứng trước vòng sinh tử. Không, xin cầu Chúa để cho họ sống, xin ngài giúp chúng con tìm ra được họ...
Anh căng thẳng rời cửa sổ đi vào trong. Hank Lamont vừa mới bước vào nhà với Bill, anh ta yêu cầu ông ấy lặp lại chuyện mà ông thường nói với Arty.
- Ông Lufts, ông thường nói chuyện với thằng Arty ấy, ông cố nhớ lại xem, có khi nào nó nói với ông, nó muốn đi đến một nơi nào đặc biệt không? Nó có nói sẽ đến một xứ nào đấy, như là Mễ Tây Cơ... hay Alaska chẳng hạn? Bill lắc đầu, lão không tin có những chuyện như thế này. Lão biết họ nghi ngờ Arty đã bắt cóc Sharon và Neil. Arty, một người rất bình tĩnh, một thợ máy rất giỏi. Mới cách đây chưa đầy hai tuần, lão đã lái xe đến chỗ hắn ở, Neil cũng đi theo lão. Lão nhớ chính xác ngày hôm đó, vì đêm ấy Neil đã nổi cơn hen suyễn. Lão cố nghĩ để nhớ lại những gì Arty đã nói, nhưng lão chỉ biết hắn là người ít nói, và chỉ lắng nghe những chuyện Bill kể với hắn.
Hank cũng giận cả chính mình, anh đã đến quán rượu Mill Tavern và anh đã thết thằng ấy một ly bia. Thậm chí anh còn báo cáo với văn phòng của cơ quan FBI rằng không cần thiết phải theo dõi điều tra hắn làm gì. Lão Lufts này phải nhớ mới phải, đúng như lời ông Hugh đã nói, kẻ nào làm việc gì cũng để lại dấu vết. Anh đã thấy thằng ấy trong quán Mill Tavern ra về và anh không nghi ngờ gì cả. Hank nhíu mày, anh nhớ thằng Arty này khi ra về có nói đùa gì đấy thì phải. Hắn đã nói đùa như thế nào nhỉ?
Bill nói :
- ... Anh ta là người tốt, trầm tĩnh, như tôi đã nói với các ông rồi. Anh ta chăm lo công việc làm ăn, dĩ nhiên là anh ta hay hỏi, nhưng anh ta có thái độ dễ thương và chăm chú nghe như...
- Khoan đã. - Hank cắt ngang lời lão ta.
- Có chuyện gì thế? - Ông Hugh từ từ quay qua anh chàng mật vụ. - Anh đã tìm ra cái gì à?
- Có lẽ, khi Arty rời khỏi quán rượu với những người khác... họ nói với nhau có câu: - “Anh chắc không gặp lại Bill trước khi đi Rhode Island”.
- Đúng, nói tóm lại, Arty sẽ đi Rhode Island.
- Vấn đề cần thiết là ở chỗ này, hắn có nói một câu gì nữa... Và anh chàng làm ở công ty quảng cáo, anh chàng Allan Kroeget, có nói đùa với hắn, câu nói đùa về... về vùng sa mạc khô cằn. Thế đấy.
- Sao? - Ông Hugh hỏi, giọng khẩn trương.
- Khi họ nói: “Thật tiếc hôm nay không có Bill Lufts để ông ta nói lời từ giã anh”. Arty bèn đáp: “Rhode Island, chứ đâu phải Arizóna”. Phải chăng hắn đã vô tình buộc miệng nói ra câu này?
- Chúng ta sẽ biết ngay thôi. - Ông Hugh chạy đến máy điện thoại.
Ông Roger đi vào phòng, để tay lên vai Steve, hai người cùng lắng nghe ông Hugh hét lớn trên điện thoại, ông ta đang dùng uy lực của cơ quan FBI để ra lệnh thi hanh nhiệm vụ mới về nguồn tin ông ta mới nhận được.
Cuối cùng, ông Hugh gác máy và quay qua nói với Steve :
- Nếu hắn đang trên đường đi Arizona, chúng tôi sẽ bắt hắn, ông Peterson à. Tôi cam đoan với ông như thế.
- Khi nào?
Mặt ông Roger tái xanh như bầu trời âm u sáng nay.
- Steve, đừng ở đây - Ông ta nói - Glenda muốn anh qua bên nhà tôi. Tôi van anh.
Steve lắc đầu.
- Hai ta cùng đi - Ông Hugh vội nói với anh, rồi quay qua Hank - Hank anh thay ca trực ở đây nhé.
Steve suy nghĩ rồi đáp :
- Thôi được. - Anh đi ra cửa trước.
- Đừng, chúng ta đi cửa sau thôi, rồi đi qua rừng cây, như thế ông sẽ tránh được các nhà báo.
Peterson nhếch mép lên như muốn cười :
- Nhưng tôi không có ý định trốn tránh họ.
Anh mở cửa, nhóm phóng viên vài người băng qua hàng rào cảnh sát tiến đến phía anh. Những chiếc micrô đưa trước mặt anh, những máy quay phim của truyền hình tìm góc quay để lấy được vẻ mặt bơ phờ của anh.
- Thưa ông Peterson, ông có tin gì mới nữa không?
- Không.
- Ông có tin tên bắt cóc sẽ thực hiện lời hăm dọa giết chết con ông và Sharon không?
- Chúng tôi có lý do để tin nó thực hiện hành động bạo lực ấy.
- Ông có tin hành động nó dự tính cho quả bom nổ vào đúng giờ hành quyết Ronald Thompson chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên không?
- Không, tôi không tin đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Tôi tin Cáo đã nhúng tay vào việc giết vợ tôi. Tôi đã cố thuyết phục bà Greene, nhưng bà từ chối không chịu nói chuyện với tôi. Bây giờ tôi công khai xin bà cho hoãn lại vụ hành quyết Thompson. Cậu này có cơ may có bằng chứng là vô tội, riêng cá nhân tôi, tôi tuyệt đối tin cậu ta vô tội.
- Thưa ông Peterson, có phải vì vụ con ông và cô Sharon đã gây cho ông quá đau đớn khiến ông thay đổi ý kiến về án tử hình này không? Khi tên bắt cóc này bị bắt, ông có muốn nó bị tử hình không?
Steve đẩy những chiếc micrô trước mặt ra. Anh nói :
- Tôi sẽ trả lời cho quý vị rõ. Xin quý vị làm ơn đứng xích ra, để tôi dễ nói. - Các phóng viên im lặng. Steve nhìn thẳng vào máy quay phim - Đúng, tôi đã đổi ý kiến, tôi nói như thế vì tôi biết rằng có rất ít cơ may tìm lại con tôi và Sharon còn sống sót. Nhưng nếu sau này tên bắt cóc ấy có bị bắt đi nữa, thì tôi cũng vẫn giữ ý kiến tôi đã có trong hai ngày vừa qua. Tôi vẫn giữ ý kiến là không một ai có quyền ấn định giờ chết cho đồng loại của mình. Tôi chỉ yêu cầu quý vị cầu nguyện sao cho Neil, Sharon và Ronald hôm nay được giải thoát.
Nước mắt lăn dài trên hai má anh :
- Xin phép cho tôi đi.
Các phóng viên im lặng xích ra. Steve đi qua đường, hai ông Roger và Hugh bước nhanh theo anh.
Bà Glenda đang đợi họ, bà mở cửa, nắm cánh tay Steve.
- Mời vào. Steve. Hãy khóc đi cho nhẹ người, khóc đi.
Anh khóc nức nở.
- Tôi không thể để cho họ chết được, tôi không thể để mất họ.
Bà để yên cho anh khóc trong tay bà, hai vai anh rung rung vì anh khóc tức tưởi. Bà buồn rầu tự nhủ: giá mà mình nhớ ra sớm hơn thì hay biết mấy. Ôi lạy Chúa, con đã tìm ra quá trễ, không giúp gì được anh ta! Bà cảm thấy cơ thể anh run run khi anh cố giữ bình tĩnh trở lại.
- Tôi rất đau đớn, bà Glenda à, chắc bà đã thấy quá rõ... Bà cũng không được khỏe.
- Tôi khỏe - Bà ta đáp - Steve, dù muốn hay không, anh cũng nên vào uống tách trà, ăn vài miếng bánh. Từ hai hôm rồi, anh không ăn không ngủ gì cả.
Họ buồn rầu đi vào phòng ăn.
- Ông Peterson - Ông Hugh nhỏ nhẹ nói - Ông nhớ cho là hình của Sharon và Neil sẽ được đăng tải trên báo chí sáng nay, hình như họ sẽ xuất hiện trên các kênh truyền hình. Có thể có người đã gặp họ, và người ta sẽ lên tiếng thông báo cho chúng ta biết.
- Ông đừng tin kẻ bắt cóc mang họ đi sờ sờ ngoài đường cho người ta thấy. - Steve gay gắt đáp.
- Có thể có người trông thấy những hành động khả nghi chứ! Có thể có người đã nghe một trong những lần gọi điện thoại, hay có thể họ nghe người ta nói đến trong quán rượu.
Marian rót nước sôi vào bình trà, cửa thông giữa nhà bếp với phòng ăn mở rộng, nên chị nghe hết câu chuyện giữa họ. Cái ông Peterson này mới tội nghiệp làm sao! Thảo nào mà ông ta đã có vẻ thô lỗ khi chị nói chuyện với ông ta. Ông ta đang đau đớn vì con trai bị mất tích, chị lại còn đem chuyện bé Neil để nói với ông ta, hèn chi ông ta rối trí thêm là phải. Việc này chị thấy không nên đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài. Mình làm sao biết được nỗi lòng đau đớn như dao cắt của người khác.
Nếu ông ta uống tách trà, có thể ông ta sẽ...
Chị mang bình trà đến. Steve hai tay đang ôm lấy mặt.
- Thưa ông Peterson. - Chị dịu dàng nói - Xin ông cho phép tôi phục vụ ông tách trà nóng.
Chị lấy cái tách, bàn tay kia chị bưng bình trà lên rót.
Bỗng Steve từ từ buông hai tay ra khỏi mặt. Liền sau đó, bình trà ngã lăn trên mặt bàn, nước trà màu vàng, nóng hổi bắn ra chảy vào hũ đường, làm ướt hết đồ đạc trên khăn bàn bằng vải hoa.
Glenda, Roger và Hugh kinh ngạc đứng dậy. Họ nhìn Steve đang nắm chặt cánh tay của Marian, chị hoảng hốt nhìn anh. Anh lớn tiếng hỏi :
- Chị lấy cái nhẫn này ở đâu? Chị tìm thấy ở đâu?
0
44
 
Tại ngục thất tiểu bang ở Somers, bà Kate Thompson ôm con hôn lần cuối. Bà nhìn cái đầu trọc như thầy tu của con, nhìn hai đường rách hai bên quần con.
Bà cố giữ không bật tiếng khóc, để cho con ôm cứng bà trong hai cánh tay khỏe mạnh của nó. Bà kéo mặt con, đến sát mặt mình, nói với con :
- Can đảm lên, con nhé.
- Mẹ đừng lo, ông Bob đã nói ông ta sẽ đến gặp mẹ đấy, mẹ à.
Bà buông cậu ta rạ, Bob sẽ ở lại cho đến giờ phút chót, bà nghĩ nếu bây giờ bà về thì chắc dễ dàng hơn... dễ dàng hơn cho nó.
Bà ra khỏi nhà lao, đi trên con đường dài về thành phố, trời lạnh và lộng gió, một chiếc xe cảnh sát đi qua.
- Bà lên xe tôi chở đi, thưa bà.
- Cám ơn, bà mạnh dạn bước lên xe.
- Bà đến khách sạn phải không, bà Thompson?
- Không, ông cho tôi xuống trước nhà thờ Saint Bemard.
Buổi lễ sáng đã xong, nhà thờ vắng vẻ, bà quỳ dưới tượng Đức Mẹ Đồng Trinh.
- Xin Mẹ an ủi nó đến giờ phút cuối cùng. Xin Mẹ rửa hết hận thù trong lòng con. Mẹ là người đã hy sinh người con vô tội của Mẹ, xin Mẹ giúp con, nếu con phải hy sinh tính mạng con...
0
45
 
Marian run lẩy bẩy, chị cố gắng để nói, nhưng chị không thốt lên được một lời, miệng chị khô khốc, cuống họng nghẹn ngào, lưỡi chị tê cứng. Tay chị bị nước sôi làm phỏng và ngón tay chị đau đớn, ngón tay mà ông Peterson đã lôi chiếc nhẫn ra.
Họ nhìn chị như thể tất cả đều khinh ghét chị, bàn tay Peterson bóp chặt quanh cổ tay chị. Anh lại hỏi to :
- Chị lấy chiếc nhẫn này ở đâu?
- Tôi... tôi... nhặt được. - Giọng chị run run ấp úng.
- Chị nhặt được à! - Ông Hugh kéo Steve ra khỏi Marian, giọng ông có vẻ khinh bỉ - Chị nhặt được à!
- Dạ phải.
- Nhặt được ở đâu?
- Trong xe tôi...
Ông Hugh cười khẩy rồi quay qua Steve :
- Ông có chắc chiếc nhẫn này ông đã tặng cô Sharon Martin?
- Đúng chứ, tôi đã mua chiếc nhẫn này ở bên Mễ Tây Cơ. Chiếc nhẫn rất độc đáo! - Anh đưa chiếc nhẫn cho ông Hugh thấy - Bên phía trái của chiếc vòng có đường vân nổi.
Ông Hugh đưa ngón tay sờ quanh chiếc nhẫn, mặt ông hằm hằm, ông hỏi :
- Bà Vogler, áo măng tô bà đâu rồi, tôi phải dẫn bà đi, chúng tôi phải thẩm vấn bà. - Bỗng ông đem vấn đề pháp lý ra dọa chị - Bà không bị buộc phải trả lời khi người ta hỏi, những lời bà nói ra có thể sẽ được giữ lại làm tài liệu buộc tội bà. Bà có quyền mời một luật sư. Nào, đi thôi.
Steve la lên.
- Trời đất, ông điên rồi! Đừng nói với chị ấy là chị ta không bắt buộc phải trả lời. Ông khùng rồi. Chị ấy phải trả lời chứ.
Mặt bà Glenda đanh lại, bà nhìn Marian với vẻ tức giận, ghê tởm, bà lên án chị :
- Sáng nay chị có nói đến Arty, chị có nói hắn đã sửa xe cho chị. Tại sao chị có thể làm như thế. Tại sao một phụ nữ có con như chị lại có thể tham gia vào việc nầy?
Ông Hugh quay phắt qua bà. Ông hỏi :
- Chị ta có nói đến Arty à?
- Có.
- Hắn đâu rồi? - Steve hỏi - Hắn đem họ đi đâu? Lạy Chúa, lần đầu gặp chị, chị đã nói đến Neil.
- Steve, Steve, hãy bình tĩnh. - Ông Roger nắm tay anh.
Marian cảm thấy mình sắp xỉu, chị đã giữ chiếc nhẫn không phải của mình. Rồi bây giờ họ nghi chị có liên quan đến vụ bắt cóc, làm sao nói cho họ tin đây? Chị cảm thấy choáng váng mặt mày, phải nhờ họ gọi Jim đến mới được. Anh ấy sẽ giúp chị, anh ấy đến nói cho họ biết xe chị mất cắp, nói cho họ biết làm sao chị tìm được chiếc nhẫn. Anh ấy sẽ biết cách trình bày cho họ rõ. Căn phòng quay cuồng, chị phải níu vào bàn cho khỏi té.
Steve nhảy đến nắm lấy chị, nếu không, chắc chị đã nhào xuống nền nhà. Chị thấy lờ mờ đôi mắt của anh, chị thấy nỗi thất vọng trong mắt anh. Tình thương bừng lên trong lòng chị làm cho chị bình tĩnh trở lại. Chị bám chặt vào người anh, cố chống lại cơn choáng váng đang xâm chiếm lấy chị.
- Ông Peterson... - Chị có thể nói lại được rồi, chị phải nói mới được - Tôi không hề làm hại ai hết. Tôi muốn giúp ông. Tôi nhặt được chiếc nhẫn, thực đấy. Nhặt được trong xe tôi, xe tôi bị ăn trộm vào tối thứ hai. Arty vừa mới sửa lại xe cho tôi.
Steve nhìn vào mặt chị, bộ mặt lộ vẻ lo sợ, có nhiệt tình, cặp mắt chan chứa lòng thành thực. Bỗng anh chú ý đến điều anh vừa mới nghe.
- Ăn trộm! Xe chị bị ăn trộm vào tối thứ hai à? - Ôi lạy Chúa, anh nghĩ, còn có cơ may để tìm ra họ không?
Ông Hugh nhảy vào, ông nói :
- Ông Peterson, để tôi lo liệu cho. - Ông kéo đến cái ghế, để cho Marian ngồi xuống - Bà Vogler, nếu bà nói thực, bà sẽ giúp cho chúng tôi đấy. Bà biết rõ tên Arty này phải không?
- Không rõ lắm, hắn ta là thợ sửa xe giỏi, hắn giao chiếc xe cho tôi vào hôm chủ nhật. Sáng thứ hai, tôi xem xi-nê ở rạp Grand-Place tại Carley xuất 16 giờ. Tôi để xe ở bãi đậu xe của rạp. Khi tôi ra khỏi rạp trước 19 giờ một chút thì tôi thấy xe mất.
- Thế là hắn biết rất rõ tình trạng xe của chị - Ông Hugh nói - Hắn có biết chị có dự kiến đi xem xi nê không?
- Có thể hắn biết - Chị đáp, nhíu mày suy nghĩ - Đúng rồi, chúng tôi có nói chuyện này trong ga ra của hắn. Sau đó, hắn bơm đầy xăng vào xe tôi, hắn nói chúng tôi khỏi trả tiền xăng, vì chúng tôi vừa mới thuê hắn đại tu chiếc xe.
Bà Glenda nói nhỏ :
- Tôi đã nói chiếc xe có màu xanh thẫm, và rất lớn.
- Bà Vogler, - Ông Hugh nói - việc này rất quan trọng. Người ta tìm thấy xe bà ở đâu?
- Ở New York, cảnh sát đã đem xe về đồn, xe đậu ở chỗ cấm đậu.
- Chỗ cấm đậu ở đâu? Bà có nhớ đã nghe người ta nói chiếc xe tìm thấy đậu ở đâu không?
Marian suy nghĩ :
- Gần một khách sạn, phải, gần một khách sạn.
- Bà Vogler, bà cố nhớ đi. Khách sạn nào? Bà giúp chúng tôi tranh thủ được thời gian rất quý báu đấy.
Marian lắc đầu :
- Tôi không nhớ được.
- Chồng bà có nhớ không?
- Nhớ chứ, nhưng anh ấy hôm nay đi xa rồi, phải điện thoại đến xưởng anh ấy làm, để hỏi xem có liên lạc được với anh không.
- Số xe của bà bao nhiêu, bà Vogler?
Marian liền nói số xe cho ông ta biết. Khách sạn nào nhỉ? Jim đã nói cho chị hay con đường nơi người ta tìm thấy chiếc xe. Nhưng hỏi anh ấy làm gì? Phải mất nhiều thì giờ mới liên lạc được với anh... để nhờ anh hỏi lại xe đậu ở chỗ nào... Chị phải nhớ mới được. Chị nghe Jim nói người ta cho anh biết một chiếc xe cũ đậu trên đường gồm toàn dân nhà giàu ở. Chính Jim đã nói thế. Không, anh đã nói người ta đặt cho nơi ấy tên của một gia đình triệu phú. Bỗng chị reo lên :
- Đại lộ Vanderbilt. Đúng rồi. Chồng tôi đã nói chiếc xe đậu ở đại lộ Vanderbilt, trước mặt khách sạn... khách sạn... khách sạn Bitlmore.
Ông Hugh chụp lấy điện thoại, gọi đến tổng hành dinh cơ quan FBI ở New York. Ông ra lệnh tới tấp.
- Hãy báo cáo nhanh cho tôi biết đấy nhé. - Ông gác máy.
- Một nhân viên sẽ đến Biltmore ngay lập tức với tấm ảnh cũ để có thể nhận diện ra Taggert - Ông nói - Chúng ta hy vọng tấm ảnh này còn giống hắn, có thể chúng ta có được tin tức ngay bây giờ.
Họ chờ đợi, căng thẳng.
Steve cầu nguyện: “Lạy Chúa, xúi ngài giúp đỡ”.
Chuông điện thoại reo, ông Hugh nhấc ống nghe.
- Anh đã tìm được cái gì chưa? - Ông lắng nghe rồi nói lớn - Tốt! Tôi sẽ đi trực thăng đến đó ngay. - Ông để máy nghe xuống, nhìn Steve - nhân viên tiếp tân ở khách sạn nhận ra người trên ảnh có tên A.R. Rommel, thằng này đến đây vào tối chủ nhật. Hắn đi chiếc Coccinelle Volkswagen màu xanh thẫm, đậu trong ga ra khách sạn. Hắn đã đi sáng nay.
Bà Glenda thốt lên :
- Rommel - Rommel, Cáo sa mạc!
- Đúng thế. - Ông Hugh đáp.
- Hắn đi một mình à? - Steve bấu tay vào chiếc bàn.
- Hắn đi một mình. Nhưng người tiếp tân để ý thấy hắn vào ra khách sạn vào những giờ rất kỳ lạ. Thỉnh thoảng hắn chỉ đi một thời gian ngắn, điều này chứng tỏ hắn giam giữ Neil và Sharon ở trang tâm thành phố. Ông chắc còn nhớ John Owens đã nghe được tiếng xe lửa chạy lọt vào trong cuốn băng cát-sét chứ?
- Chúng ta không còn thời gian nữa, không còn nhiều nữa. - Giọng Steve đau đớn - Bây giờ còn biết đến những thứ ấy làm gì?
- Tôi sẽ đáp trực thăng đến văn phòng hãng Pan Am. Họ sẽ dành ưu tiên cho chúng tôi đáp xuống trên mái nhà. Nếu chúng ta bắt được Taggert vào lúc này, chúng ta buộc hắn phải nói ra. Nếu không, chúng ta chỉ còn nước tập trung lực lượng tìm kiếm các nơi quanh khách sạn Biltmore nữa thôi. Ông có đi theo tôi không?
Steve không kịp trả lời. Anh chạy ra cửa.
Bà Glenda nhìn đồng hồ, bà thẫn thờ nói :
- Mười giờ rưỡi.
0
46
 
Ngồi ở phòng làm việc trong khu nhà ở của linh mục tại nhà thờ Santa Monica, cha Kerinedy lắng nghe tin tức. Cha gật gù nhớ lại khuôn mặt của Steve Peterson khi anh đến lấy cái gói vào tối hôm qua. Cha không ngạc nhiên trước thái độ bối rối lo âu của anh.
Người ta có tìm được thằng bé và cô gái kịp thời không? Bom sẽ nổ ở đâu? Rồi sẽ có bao nhiêu người chết nữa?
Chuông điện thoại reo, cha uể oải nhấc máy.
- Cha Kennedy nghe đây.
- Cám ơn cha đã chuyển giao gói hàng tôi để trên bàn thờ vào tối hôm qua. Tôi là Cáo đây.
Vị linh mục cảm thấy cuống họng nghẹn lại, báo chí đã được thông báo việc người ta tìm thấy cuốn băng cát-sét ở nhà thờ.
- Tại sao...
- Xin cha đừng hỏi, nhờ cha gọi Steve Peterson giúp tôi, thông báo cho hắn biết một chuyện nữa. Cha nói với hắn quả bom sẽ nổ trong một trung tâm giao thông vận tải công cộng lớn của New York. Hắn đến đó mà tìm kiếm thi thể con hắn và cô bạn gái.
Máy điện thoại cúp.
0
47
 
Cáo chậm rãi đi qua phòng đợi lên máy bay ở cửa số 9, phía hành lang có mái che dẫn ra máy bay. Hắn có linh cảm về mối nguy hiểm đang rình rập đâu đây, khiến hắn hết sức cảnh giác tối đa đề phòng nguy cơ sẽ xảy đến. Hắn nhìn qua phải rồi qua trái, hành khách cùng chuyến bay với hắn không ai chú ý đến hắn. Họ lo giữ hàng hóa trên tay, lo giữ cặp tài liệu, tất cả đều chuẩn bị xuất trình thẻ lên máy bay.
Hắn nhìn tấm thẻ lên máy bay của hắn, tấm thẻ lòi ra khỏi chiếc phong bì đựng vé máy bay, để hắn trình cho người kiểm soát ở cổng ra. Tay kia, hắn nắm chặt cái va-li cũ màu đen.
Có tiếng ồn! Đúng là tiếng ồn, tiếng ồn rầm rập như chân người chạy. Cảnh sát! Hắn thả chiếc vé ra, nhảy qua bức tường thấp ngăn cách phòng đợi với hành lang lên máy bay. Hai người đàn ông nhảy bổ vào hắn. Thất vọng, hắn nhìn quanh, bỗng hắn thấy lối ra cấp cứu cách hắn khoảng 15 mét, hắn nghĩ có lẽ ngã ra này dẫn đến lối sân bay.
Chiếc va-li, hắn không thể chạy trốn với chiếc va-li được. Ngần ngừ một lát, hắn ném chiếc va-li ra sau, chiếc va-li rơi xuống nền nhà lát ca rô phát ra một tiếng kêu chát chúa, lăn đi một chút rồi mở bung ra. Tiền giấy văng ra tung tóe trên hành lang.
- Dừng lại, không tao bắn. - Có tiếng hét lớn phía sau, Cáo giật mạnh cánh cửa cấp cứu ra, chuông cấp cứu reo inh ỏi. Hắn đóng mạnh cửa lại rồi chạy ra sân bay. Chiếc máy bay đi Phoenix đang đậu trên đường băng. Hắn chạy vòng qua chiếc máy bay. Một chiếc xe vận tải nhỏ, máy đang nổ, đậu bên cánh trái của máy bay, người tài xế chuẩn bị leo lên xe. Cáo chụp lấy lưng anh ta, đấm mạnh vào gáy. Anh ta nhào xuống đất, miệng rên ư ử. Cáo hất anh ta sang một bên rồi leo lên xe, hắn nhắn ga, cho xe chạy zích zắc quanh máy bay. Người ta không dám bắn vì sợ trúng vào máy bay.
Cảnh sát sẽ lái xe rượt theo hắn ngay thôi, hay là họ sẽ cho xe chặn ngang lối ra của hắn. Hắn không dám rời khỏi xe, mà cứ ngồi trên xe còn nguy hiểm hơn nữa. Đường băng đều có rào chắn hai bên và tận cùng ra ngoài biển, nếu hắn chạy theo đường băng, thế nào hắn cũng rơi vào bẫy ngay.
Họ đã tìm thấy người lái xe nằm ở sân bay, họ không tìm ra hắn ở ga sân bay. Hắn trông thấy một chiếc xe vận tải nhỏ như xe hắn đang lái, đậu một bên nhà kho lưu giữ hàng hóa, hắn cho xe đậu sát bên cạnh xe kia. Hắn nhìn thấy ở chỗ ngồi gần bên hắn có chiếc cặp đựng hồ sơ đang mở ra. Cặp đựng giấy tờ ghi hàng hóa gởi đến, và chuyển giao hàng hóa. Hắn thộp lấy cặp hồ sơ, bước xuống xe. Hắn thấy cánh cửa vào nhà kho mở ra, trên cánh cửa có ghi hàng chữ: “Cửa dành riêng cho nhân viên”. Hắn cúi đầu nhìn cặp đựng hồ sơ và đưa tay giữ cánh cửa mở rộng. Một thiếu nữ mặc đồng phục bước nhanh ra, cô nhìn vào tập đựng hồ sơ trên tay hắn rồi vội vã bước đi.
Bây giờ Cáo vội vã đi một cách ngang nhiên, hắn sải bước trên dãy hành lang có nhiều phòng làm việc, và chỉ một lát sau, hắn ra đến tiền sảnh của phi trường. Cảnh sát của phi trường chạy ngược chạy xuôi trước mặt hắn, họ vội vã chạy ra hướng sân bay. Hắn không để ý đến họ, bước ra khỏi phi cảng, đến hè đường, hắn gọi tắc-xi. Tài xế tắc-xi hỏi hắn :
- Ông đi đâu?
- Ga lớn Trung tâm. - Hắn lấy ra tờ 20 đô-la, số tiền hắn còn lại trong người - Đến đấy mất bao lâu? Chuyến bay của tôi bị hủy, tôi phải đi chuyến tàu 11 giờ 30, anh cố chạy đến đấy trước giờ này.
Người tài xế còn rất trẻ, chưa quá 22 tuổi. Anh ta đáp :
- Gần đến giờ tàu chạy rồi, thưa ông, nhưng tôi sẽ cố đưa ông đến kịp. Đường sá đã tốt lại rồi, và giờ này xe cộ lưu thông thưa hơn. - Anh ta nhấn ga - Ông níu cho chặt.
Cáo ngồi lọt vào ghế đệm, hắn toát mồ hôi lạnh. Thế là họ biết hắn là ai rồi, có lẽ người ta đã tìm ra hồ sơ lý lịch của hắn. Và biết đâu có kẻ nào đó đã nói: - “Trước đây hắn làm việc ở quán Oyster Bar, hắn rửa chén bát ở đây”. - Và biết đâu họ nghĩ đến căn phòng, họ đi xuống đó để lục tìm.
Quả bom đã được nối với đồng hồ định giờ. Như thế, nếu bây giờ có ai vào phòng ấy, sẽ có đủ thời gian để cứu Sharon và Neil, có lẽ họ còn kịp tháo ngòi nổ quả bom nữa. Không, nếu ai đụng đến quả bom, nó sẽ nổ ngay. Nhưng nếu Sharon và Neil không ở trong phòng ấy thì còn giúp hắn gì được nữa đâu?
Lẽ ra hắn không nên gọi cuốc điện thoại sau cùng mới phải, lỗi tại Sharon hết. Đáng ra hắn giết quách cô ta hôm qua mới phải. Hắn nhớ lại cảm giác của hắn khi hai tay bóp mạnh vào cổ cô, hắn cảm thấy mặch máu cô nhảy dưới mấy ngón tay hắn. Chưa bao giờ hắn dùng tay bóp cổ người khác trước đây, mà chỉ dùng khăn quàng hay dây thắt lưng để thắt cổ họ. Còn cô ta! Hắn muốn dùng tay ôm lấy cổ cô. Cô ta đã phá hỏng hết kế hoạch của hắn. Cô ta đã lừa khi giả vờ yêu hắn. Thái độ cô ta nhìn hắn, ngay cả khi cô ta nhìn hắn ở trên ti vi, như thể cô ta muốn hắn, như thể cô ta muốn hắn dẫn cô đi theo. Hôm qua, cô ta đã quàng tay ôm hắn để đoạt khẩu súng. Cô ta quá tệ, rất tệ, tệ hơn cả bọn đàn bà trong các viện mồ côi, hơn cả bọn lính gác trong các nhà giam, tệ hơn cả bọn đàn bà cương quyết đẩy hắn ra khi hắn cố hôn họ. - “Thôi, đừng làm thế!” - Họ chỉ thường la lên như thế thôi.
Phải chi hắn đừng mang Sharon vào phòng này. Phải chi hắn chỉ đem thằng bé đến đây thôi thì hay biết mấy, chắc bây giờ sẽ không xảy ra chuyện như thế này. Chính cô ta đã buộc hắn làm theo lời yên cầu của cô để bây giờ tiền mất mà họ lại biết hắn là ai rồi, và hắn chỉ còn nước chạy trốn thôi.
Nhưng trước hết hắn phải giết cô ta đã. Bây giờ chắc người ta đang giải tỏa các nhà ga, các phi trường. Có lẽ họ không để ý đến cái phòng ấy đâu. Quả bom, quá xứng cho cô ta. Phải làm cho cô ta ngóc đầu lên mà nhìn hắn, mà cảm thấy hai bàn tay hắn siết quanh cổ cô. Hắn phải nhìn tận mắt cô ta, hắn phải chứng kiến cảnh cô ta chết mới được. Hắn phải nói với cô ta, sẽ nói cho cô ta biết hắn sắp làm gì, hắn muốn nghe cô ta van nài rồi mới siết cổ cô ta.
Hắn nhăn mặt, nuốt nước bọt, miệng hắn khô khốc, hắn rùng mình vì khoái cảm.
Hắn chỉ cần có mặt ở nhà ga bốn hay năm phút là đủ. Nếu hắn đến phòng ấy vào lúc 11 giờ 27 phút, thì hắn có đủ thời gian chán. Rồi hắn sẽ chạy trốn theo đường hầm dưới Đại lộ Park.
Ngay cả khi không cần máy ghi âm, hắn cũng sẽ nhớ được giọng của cô. Hắn muốn nhớ giọng cô, hắn sẽ nằm ngủ và nhớ lại giọng của Sharon vào lúc cô chết.
Còn thằng bé, hắn cứ để thằng bé ở lại đây. Quả bom sẽ thanh toán nó và tất cả bọn cảnh sát thối tha dơ bẩn ấy, và cả những ai không kịp chạy đi.
Chiếc tắc-xi chạy vào đường hầm dẫn vào trung tâm thành phố, anh chàng tài xế này quả thật giỏi. Chỉ mới 11 giờ kém 10, còn 10 hay 15 phút nữa là sẽ đến Đường 42. Hắn còn đủ thời gian cần thiết dành cho Sharon.
Đến giữa đường hầm, chiếc tắc-xi bỗng dừng lại, Cáo giật mình tỉnh khỏi dòng suy tư. Hắn hỏi :
- Có gì thế?
Người tài xế nhún vai :
- Rất tiếc, thưa ông, có chiếc xe tải đang dừng lại cách đây một đoạn ngắn. Chiếc xe có vẻ như bị mất hàng, hai tuyến xe đều bị kẹt. Nhưng tôi tin đường kẹt không lâu đâu, ông đừng lo, thế nào ông cũng kịp tàu.
Cáo hết sức nôn nóng thấy lại Sharon, hai tay hắn như bị lửa đốt, hừng hực nóng. Hắn tính chuyện xuống xe, đi bộ cho nhanh, nhưng hắn đổi ý, hắn nghĩ thế nào cảnh sát cũng thộp cổ hắn.
Khi chiếc xe từ từ ra khỏi đường hầm thì đã 11 giờ 17, xe rẽ về hướng Bắc, đến Đường 42, xe cộ chạy chậm lại. Gã tài xế rít lên :
- Loạn xạ thế này! Phải chạy qua hướng Tây thôi.
Đến Đại lộ 3, họ hoàn toàn bị tắt nghẽn, xe nằm bất động giữa đường làm kẹt hết các ngã tư. Còi xe kêu inh ỏi, khách bộ hành tấp nập chạy về hướng Đông, đi vòng quanh các chiếc xe đậu giữa đường, leo lên cả chắn xe để đi.
- Chắc có gì bất thường xảy ra rồi, thưa ông. Chắc là đường sá ở trên kia bị phong tỏa. Khoan, để tôi mở đài nghe thử, có lẽ có báo động về bom nổ.
Chắc có lẽ họ đang giải tỏa nhà ga, Cáo ném tờ 20 đô-la cho tài xế, rồi mở cửa xe bước xuống lề đường.
Hắn thấy ở trên Đường 42, cảnh sát khắp nơi. Đường 42 bị phong tỏa, hắn chen lấn để đi. Quả bom. Quả bom. Hắn dừng lại nghe người ta bàn tán đến quả bom ở nhà ga. Họ tìm ra Sharon và Neil rồi ư? Nghĩ thế, hắn hốt hoảng lo sợ. Hắn chen lấn những người đứng chắn trước mặt hắn để đi tới, băng qua đám đông.
- Lui đi, bác ơi. Không qua được đâu. - Một anh cảnh sát to con vỗ tay lên vai hắn khi hắn sắp sửa băng qua đại lộ 3.
- Có chuyện gì thế? - Hắn phải biết tin tức.
- Chẳng có gì? Ít ra ta cũng hy vọng thế, nhưng vừa có cuốc điện thoại báo có kẻ gài bom, chúng ta phải đề phòng thì hơn.
Cuốc điện thoại báo đến. Cuốc điện thoại hắn báo cho ông linh mục, như thế là họ chưa tìm ra quả bom. Tất cả còn tốt đẹp, hắn mừng rỡ. Mấy ngón tay và hai lòng bàn tay của hắn cương cứng lên như mỗi lần hắn tiến gần đến một cô gái, và không có gì có thể ngăn hắn được nữa. Hắn lấy điệu bộ lo lắng, rồi bằng một giọng dịu dàng êm ái, hắn nói với người cảnh sát :
- Tôi là Bác sĩ. Tôi muốn đến tham gia với đội cứu hộ đề phòng trường hợp người ta cần đến tôi.
- Ồ xin lỗi bác sĩ! Ông đi đi.
Cáo đi ngược lên Đường 42, cẩn thận đi sát vào tường nhà bên đường. Nếu gặp một cảnh sát khác, có thể anh này khôn ranh hơn, anh ta sẽ hỏi thẻ căn cước của hắn. Từng đoàn người tuôn ra từ các văn phòng làm việc và các cửa hàng, họ được loa phóng thanh của cảnh sát kêu gọi di tản để tránh nguy hiểm.
- Quý vị hãy nhanh chân lên, đừng hốt hoảng, hãy đi về phía Đại lộ 3. Xin quý vị vui lòng làm thế để bảo đảm tính mạng.
Khi Cáo chen qua đám đông đang lo sợ, hỗn loạn, đến được tiền sảnh của nhà ga, thì đã 11 giờ 26. Các cửa đều giữ cho người ra mà thôi, chứ tuyệt đối cấm người vào trong ga. Một sĩ quan cảnh sát đứng gác ở cánh cửa cuối cùng ở phía cực tả của tiền sảnh. Cáo cố đi qua cánh cửa ấy để khỏi ai thấy. Nhưng người sĩ quan đã nắm tay hắn lại.
- Ê, này! Không được đi vào.
- Tôi là chuyện viên kỹ thuật của nhà ga. - Cáo gay gắt đáp.
- Quá trễ rồi; công việc tìm kiếm sẽ chấm dứt trong vòng một phút nũa.
- Người ta gọi tôi mà. - Cáo khăng khăng đáp.
- Tùy anh vậy. - Người cảnh sát buông tay hắn ra.
Phía sau dãy cửa của tiền sảnh, quầy bán báo vắng hoe, trên quầy để đầy số báo ra buổi sáng.. Cáo nhìn thấy những hàng tít in bằng chữ lớn màu đen. Bắt Cáo. Chính hắn, chính hắn làm đây, hắn - Cáo.
Hắn băng nhanh qua sạp báo, liếc mắt nhìn vào đại sảnh. Cảnh sát đội cát két đầy trong phòng, người nào người nấy căng thẳng, họ lục tìm sau các quầy bán vé và các quầy thu ngân. Cũng phải có ít nhất là mấy chục người trong ga. Nhưng hắn khôn ranh hơn họ nhiều! Hắn khôn hơn hết tất cả.
Một nhóm ít người tụ tập gần bên phòng hướng dẫn. Một người đàn ông nổi bật lên trên tất cả, hai vai anh ta rộng, mái tóc màu vàng tro, hai tay thọc vào túi. Anh lắc đầu. Đấy là Steve Peterson. Cáo nín thở, chạy băng qua đại sảnh, đến tầng cấp dẫn xuống bậc dưới.
Hắn chỉ còn hai phút nữa thôi. Mấy ngón tay nóng rần lên như được nạp điện. Hắn co vào rồi duỗi ra, nhảy xuống tầng cấp từng hai bậc một. Chỉ có hai ngón cái là nằm yên, hắn chạy băng qua bậc dưới, không ai chận hắn lại, rồi hắn biến mất trong dãy tầng cấp dẫn đến ke tàu đi Mount Vemon, rồi chạy qua bên kia ke tàu để lên căn phòng.
0
48
 
Cuốc điện thoại của Cáo được chuyển đến ông Hugh và Steve khi chiếc trực thăng đang bay trên cầu Triborough.
- Trong một trung tâm giao thông vận tải công cộng lớn của New York - Ông Hugh hét lớn trong máy vô tuyến - Lạy Chúa, như thế là bao gồm hai phi trường, hai ga xe lửa, Ga Pennsylvania và Ga lớn Trung tâm. Các anh bắt đầu giải tỏa người đi chưa?
Steve lắng nghe, hai vai chùng xuống, hai tay mở ra co vào không ngớt. Phi trường Kennedy! Phi trường La Guardia! Ga xe lửa thành phố chiếm cả một khu phố, còn ga gần cầu có lẽ còn lớn hơn nữa!... Con Cáo đã đào hang trong nhà ngươi rồi...
Ông Hugh để ống nói xuống, ông cằn nhằn anh phi công :
- Anh không lái nhanh hơn tí nữa được hay sao?
- Gió đang thổi mạnh - Anh phi công đáp - Để tôi bay thấp tí nữa xem sao.
- Gió với máy! Hỗn loạn do bom nổ sắp đến còn sợ gió nỗi gì - Ông Hugh càu nhàu. Ông quay đầu nhìn Steve - Đừng nghĩ vẩn vơ làm gì cho mệt, không hay đâu, chúng ta cứ xem như lời hăm dọa cho nổ bom của nó là thực đi.
- Với Sharon và Neil ở đâu đó gần nơi nổ bom à? - Steve hỏi giọng đau đớn - Ông cho tìm kiếm ở đâu trước?
- Phải đánh con bài may rủi thôi - Ông Hugh lạnh lùng đáp - Chúng ta sẽ dốc hết lực lượng vào Ga lớn Trung tâm. Ông có nhớ không, hắn đã dậu xe trên Đại lộ Vanderbilt. Hắn rõ nhà ga này như rõ lòng bàn tay hắn. Và John Owens có nói trong cuốn băng cát-sét, tiếng xe lửa kêu nghe như tiếng tàu từ các vùng ngoại ở đến hơn là tiếng tàu diện.
- Số phận của Ronald Thompson sẽ ra sao?
- Nếu chúng ta không bắt được Cáo để hắn thú tội, thì chàng trai ấy phải chịu chết thôi.
Lúc 11 giờ 5, chiếc trực thăng đáp xuống trên nóc nhà của hãng Hàng không Pan Am. Ông Hugh vội mở cửa, khi họ vừa bước ra khỏi máy bay, một nhân viên FBI chạy đến phía hai người. Anh ta giận tím mặt, kể lại vắn tắt việc Cáo trốn thoát ra sao.
- Hắn đã trốn thoát à? Tại sao như thế được? - Ông Hugh nạt lớn - Tại sao lại để cho nó thoát? Anh có chắc hắn là Cáo không?
- Dạ chắc, hắn đã ném lại tiền chuộc. Chúng tôi đã lục soát khắp bãi đáp máy bay và khắp phi cảng. Nhưng người ta đã bắt đầu cho di tản người và bây giờ cảnh tượng rất hỗn loạn.
- Tiền chuộc không cho chúng ta biết quả bom gài ở đâu và cũng không cứu được Thompson - Ông Hugh gay gắt đáp - Phải tìm cho ra Cáo để bắt hắn phải nói mới được.
Cáo đã thoát rồi, tiếng máy bay nổ đinh tai nhức óc, Steve chỉ nghe được những tiếng ấy. Sharon! Neil! - “Steve, em đã lầm, xin tha lỗi cho em”. “Mẹ không thích con ở đây đâu”. - Phải chăng cuốn băng cát-sét kỳ lạ ấy là mối dây liên lạc cuối cùng giữa anh với họ?
Cuốn băng cát-sét, giọng của Nina...
Anh chụp lấy tay ông Hugh :
- Cuốn băng cát-sét mà hắn đã gởi đến, chắc hắn đã thu giọng của Nina thêm vào phần sau. Ông nói hắn đã dọn đồ đạc trong ga ra đi hết rồi à? Hắn có nhiều hành lý không? Dĩ nhiên là hắn có mang theo va-li, có mang theo đồ đạc gì đấy. Có lẽ hắn còn cuốn băng cát-sét trong đó đã thu âm giọng của Nina, có thể có cái gì đó giúp cho ta biết Sharon và Neil ở đâu.
Ông Hugh quay qua một nhân viên khác, ông hỏi :
- Anh có biết số hành lý của hắn không?
- Hắn có hai thẻ đăng ký kẹp vào vé máy bay đánh rơi xuống đất. Nhưng máy bay đã cất cánh khoảng 27 phút rồi. Không ai nghĩ đến chuyện không cho máy bay cất cánh. Chúng ta sẽ thu hành lý của hắn ở Phoenix.
- Không được - Ông Hugh nói lớn - Lạy Chúa, không được đâu, anh phải thu xếp sao để buộc chiếc máy bay khốn nạn kia quay về. Tất cả hành lý trên chuyến bav phải đem xuống để lục soát. Ra lệnh cho đài không lưu dành một đường băng cho máy bay đáp xuống. Không ai được ngăn cản chúng ta hết. Ở đâu có điện thoại?
- Dạ ở trong phòng.
Hugh vừa chạy vào phòng vừa lôi sổ tay ra. Ông vội vã bấm số điện thoại của ngục thất Somers, gọi văn phòng của quản đốc.
- Chúng tôi có lẽ sắp có bằng chứng về sự vô tội của Thompson. Xin ông hãy sẵn sàng bên máy điện thoại để nghe cho đến giây phút cuối cùng.
Ông gọi đến văn phòng của Thống đốc gặp người thư ký riêng của bà ta.
- Xin cô bằng mọi cách nối đường dây để chúng tôi có thể liên lạc với Thống đốc ngay khi cần, một đường dây đến nhân viên mật vụ ở phi trường La Guardia, một đường đến nhà lao. Nếu không, bang Connecticut sẽ mang tiếng với lịch sử là giết người vô tội đấy. - Ông bỏ máy điện thoại xuống và nói với Steve :
- Ta hãy đi đến nhà ga.
Thang máy chạy xuống như tên bắn, Steve nghĩ: mười chín phút - ranh giới giữa cái chết và sự sống. Đại sảnh của hãng Hàng không Pan Am đầy cả người đang chạy khỏi phi trường. Báo động có bom nổ... báo động sẽ có bom nổ... mọi người truyền cho nhau như thế.
Steve và Hugh chen qua đám đông đi ngược lại hướng của dòng người chạy tán loạn. Làm sao biết chỗ mà tìm? Steve chết điếng cả người, mới ngày hôm kia anh có mặt ở đây, ở quán Oyster Bar, anh đợi tàu hỏa. Phải chăng khi ấy Sharon và Neil cũng đang ở đây, bị bắt đem đến mà không cách gì kêu cứu được? Máy phóng thanh lặp đi lặp lại lời thôi thúc lệnh di tản :
- Quý vị hãy rời nhà ga nhanh, hãy ra bằng cửa nào gần nhất, đừng hốt hoảng. Xin đừng tụ tập ở các lối ra, xin quý vị rời nhanh... xin quý vị hãy rời nhanh khỏi...
Phòng hướng dẫn nằm ở bậc trên của nhà ga, đèn đã nhấp nháy, báo động nguy hiểm, phòng này biến thành trung tâm tham mưu của chiến dịch tìm kiếm. Các chuyện viên kỹ thuật cúi người trên các dự án và các biểu đồ, họ ra lệnh cho các toán tìm kiếm.
Một kỹ sư nói với ông Hugh :
- Chúng tôi đang tập trung vào khu vực nằm giữa nền của bậc trên và trần của bậc dưới. Ở đây rất dễ thông đến các ke tàu và là nơi trốn tránh rất lý tưởng. Chúng tôi đã kiểm tra các ke tàu và lục tìm hết các tủ gởi hàng rồi. Chúng tôi lo rằng, cho dù chúng ta có tìm ra được quả bom đi nữa, thì việc tháo gỡ ngòi nổ cũng rất nguy hiểm. Đội chống bom mìn đã mang máy làm lệch dòng điện đến để ngăn chận bom nổ khi họ tìm ra quả bom. Họ đã giao các máy này cho các toán tìm kiếm, máy này có khả năng chận đứng bom nổ đến 90%.
Steve đưa mắt nhìn quanh đại sảnh của nhà ga, loa phóng thanh đã ngưng nói, gian phòng rộng mênh mông im lặng như tờ, sự im lặng ngột ngạt, trêu ngươi. Đồng hồ đâu? Anh đưa mắt tìm đồng hồ, chiếc đồng hồ nằm trên bàn ở phòng hướng dẫn. Cặp kim quay đến 11 giờ 12... 11 giờ 17... 11 giờ 24... Ước gì anh giữ được kim đồng hồ lại không cho chúng chạy. Anh muốn chạy tìm khắp các ke tàu, khắp các phòng đợi, khắp các ngóc ngách. Anh muốn gọi tên họ thật to: Sharon! Neil!
Anh kinh hoàng quay đầu khỏi chiếc đồng hồ, anh phải tự làm cái gì mới được, phải tự đi tìm họ mới được. Bỗng anh nhìn thấy một gã đàn ông, cao mà gầy, hắn từ cửa ở phía Đường 42 chạy xộc vào, hắn chạy xuống dãy tầng cấp rồi biến mất ở dãy tầng cấp thứ hai dẫn xuống bậc dưới. Thằng cha nầy có nét quen quen, phải chăng hắn là nhân viên mật vụ? Nhưng giờ này hắn chạy xuống đấy để làm gì?
Loa phóng thanh cất tiếng nói lại :
- Đã 11 giờ 27 phút, yêu cầu tất cả các toán tìm kiếm phải rút lui đến các cửa ra gần nhất, quý vị hãy rời nhà ga ngay. Tôi lặp lại: Quý vị hãy rời khỏi nhà ga ngay.
- Không! - Steve thộp lấy hai vai ông Hugh, quay người ông ta lại - Không!
- Ông Peterson, xin ông biết điều cho, nếu quả bom nổ, chúng ta sẽ chết hết. Cho dù Sharon và Neil đang ở đây, chúng ta cũng không thể nào cứu họ được nữa.
- Tôi không ra. - Steve đáp.
Ông Hugh níu cánh tay anh, một nhân viên FBI khác níu cánh tay kia của anh.
- Ông Peterson, xin hãy biết điều, chúng ta phải cảnh giác.
Steve vùng ra khỏi họ :
- Trời ơi, thả tôi ra! - Anh hét lên - Thả tôi ra!
0
49
 
Không hy vọng - Không hy vọng gì được nữa rồi, các cặp mắt quay về phía chiếc đồng hồ định giờ, Sharon cố sức dùng nắm cửa mà cô đã bẻ gãy trong cánh cửa, cứa đầu kim loại vào sợi dây trói. Thật không có việc gì khó khăn hơn công việc cầm cái nắm cửa trong một tay để cứa vào sợi dây trói ở cổ tay kia.
Nhiều lần cô cứa trật sợi dây, đầu kim loại cứa vào tay cô. Máu chảy ra nóng ấm lầy nhầy rồi đông lại. Cô không thấy đau, nhưng nếu cô cứa đứt một động mạch và nếu cô ngất xỉu thì sẽ ra sao?
Máu làm cho sợi dây mềm nhão ra, đầu nhọn kim loại đâm vào dễ dàng hơn, nhưng sợi dây vẫn không nhúc nhích. Cô đã cố hết sức cứa sợi dây trói hơn một giờ liền... đồng hồ chỉ 11 giờ kém 25.
Mười một giờ kém hai mươi.
Kém 10... kém 5... 11 giờ 15...
Cô mải miết cứa, mặt ướt đẫm mồ hôi, hai tay dính dầy máu, không cảm thấy đau nữa. Cô cảm nhận được mắt Neil đang dán chặt vào cô. Hãy cầu nguyện đi, Neil.
Đến 11 giờ 10, cô cảm thấy sợi dây lỏng ra, rồi đứt. Thu hết sức lực còn sót lại, Sharon giãn hai tay ra. Hai bàn tay đã được giải thoát, các múi dây còn mắc vào hai cổ tay cô.
Cô đưa tay ra phía trước, lúc lắc, cố làm cho hết tê cóng, chỉ còn 15 phút nữa thôi.
Tựa người lên cùi tay trái, Sharon vươn người ngồi dậy một cách khó khăn. Cô ngồi dậy, tựa lưng vào tường cho vững, rồi từ từ ngồi thẳng lên, hai chân tuột xuống trước giường, mắt cá chân đau như dao cắt.
Còn 14 phút.
Mấy ngón tay yếu ớt run run đưa lên miệng để lôi miếng vải bịt miệng ra. Dung vải buộc quá chặt, cô không tháo ra được, cô phải cố lôi nó xuống, miếng vải vừa mới tuột ra khỏi miệng, cô cảm thấy tỉnh trí, nhẹ nhõm.
Còn 13 phút.
Cô không thể bước đi được, mà cho dù cô có lết được đến trái bom, thì khi cô níu vào mép bồn rửa, cô cũng đụng vào trái bom. Chỉ cần đụng nhẹ vào trái bom là nó nổ. Cô nhớ khi Cáo buộc sợi dây vào ngòi nổ, hắn đã hết sức cẩn thận.
Cô không hy vọng gì tháo được sợi dây điện buộc vào ngòi nổ, phải tháo đây cho Neil. Nếu cô tháo dây cho Neil, chú bé có thể lẻn ra ngoài báo cho ai đó biết. Cô mở vải bịt miệng cho chú.
- Cô Sharon.
- Ừ. Để cô tháo dây trói cho cháu, cô sẽ làm cháu đau đấy.
- Không sao, cô Sharon.
Bỗng cô nghe có tiếng động, có cái gì va mạnh vào cánh cửa. Có phải hắn trở lại không? Phải chăng hắn đã đổi ý? Sharon ôm chặt Neil vào lòng, mắt nhìn ra cửa. Công tắc điện kêu tách một tiếng.
Trong ánh sáng lờ mờ, cô thấy một hình người như ma hiện, đang chập chờn đi đến phía cô. Một bà già, trên miệng bà là dòng máu chảy ra, cặp mắt nằm sâu trong hốc mắt hốt hoảng.
Neil nép người vào Sharon trong khi bà già tiến đến. Cậu ta khiếp hãi nhìn bà già bổ nhào tới trước, sụm xuống nền nhà như cái bao vải nhớp nhúa.
Bà già cố nghiêng về một bên, cất tiếng cố nói :
- Con dao... sau lưng tôi... cứu... vui lòng... lôi con dao ra... tôi rất... muốn chết ở đây.
Đầu của bà già chạm vào chân của Sharon, cơ thể bà vặn vẹo trông thật kinh khủng. Sharon trông thấy chuôi dao nằm giữa hai bả vai của bà.
Cô có thể dùng con dao để cắt dây trói cho Neil, cô vừa run vừa đưa hai tay nắm chuôi dao, rút ra.
Con dao mắc cứng trên lưng bà, cô gắng sức nhổ nó ra. Cô nắm nó trong tay, nhìn lưỡi dao sắc bén, rùng rợn dính đầy máu.
Bà già rên ư ử.
Chỉ trong nháy mắt, Sharon cắt hết dây trói cho Neil.
- Neil... chạy đi... ra khỏi đây ngay đi... la lên cho mọi người biết sắp có bom nổ... nhanh lên... chạy xuống cầu thang... có mặt dốc rộng... cháu chạy lên... cho đến ke tàu, leo lên tầng cấp nữa... sẽ có người... sẽ có ba cháu đến... nhanh đi... ra khỏi ga ngay... báo cho mọi người ra hết...
- Nhưng... cô Sharon... - Giọng Neil cầu khẩn, van vỉ - còn cô thì sao?
- Neil... đi đi, chạy đi!
Steve tụt xuống khỏi giường, cậu cố gắng bước đi, loạng choạng muốn khuỵu xuống rồi cố đứng lên.
- Hai chân cháu...
- Nhanh đi Neil. Chạy đi! Chạy đi!
Neil nhìn cô lần cuối, ánh mắt van lơn, rồi cậu vâng lời cô, chạy ra khỏi phòng, xuống cầu thang. Cô Sharon đã dặn xuống cầu thang. Ở đây yên lặng quá, dễ sợ quá. Quả bom. Có thể cậu phải đi tìm ai đó, có thể họ sẽ cứu được cô Sharon, cậu phải tìm người để cứu cô Sharon mới được.
Cậu đã xuống dưới chân cầu tháng, đi ngã nào nhỉ? Ống đâu mà nhiều thế này không biết. Bờ dốc nghiêng, cô Sharon nói có bờ dốc, chắc là phải có. Như bờ dốc nghiêng ở nhà trường dẫn đến phòng khánh tiết vậy.
Cậu chạy lên bờ dốc, cậu muốn gọi người cấp cứu. Nhưng cậu phải chạy cho nhanh, phải tìm cho ra người nào đó. Cậu đã chạy hết bờ dốc, cậu đứng ở trong nhà ga xe lửa. Đường sắt đã hiện ra trước mặt cậu. Cô Sharon dặn phải lên tầng cấp khác nữa. Neil chạy quanh ke tàu, chỗ tận cùng của đường sắt.
Cậu nghe có giọng người nói - giọng người nói trên loa phóng thanh như giọng thầy hiệu trưởng nói ở nhà trường. Giọng nói ra lệnh mọi người phải ra hết khỏi sân ga. Người đang nói ở đâu nhỉ?
Cậu nghe có tiếng chân người đang chạy trên tầng cấp, có người đang đến, có người có thể cứu được cô Sharon. Cậu cảm thấy mừng rỡ đến nỗi cố gọi lớn lên, nhưng không gọi được. Cậu mệt đến hụt hơi, hai chân cậu đau nhừ không thể chạy được. Cậu loạng choạng khập khiễng đến gần dãy tầng cấp, cố cất chân bước lên. Cậu phải báo cho người đang đến biết về tình trạng của cô Sharon mới được.
Neil ngẩng đầu lên, cậu thấy khuôn mặt thường ám ảnh trong các giấc mộng của cậu đang đến gần cậu...
Cáo thấy Neil, hai mắt hắn nheo lại, hắn nhếch mép gượng gạo cười, hắn đưa hai tay ra...
Neil nhảy sang một bên, hất chân lên. Chân của hắn vấp phải chiếc giày chơi ten-nít của cậu. Hắn lộn nhào lăn vòng trên ba tầng cấp cuối cùng. Thoát khỏi cánh tay định bắt lấy cậu, cậu phóng nhanh lên tầng cấp. Cậu đến gian phòng rộng mênh mông, không có người nào hết. Lại thêm một dãy tầng cấp nữa. Có lẽ trên kia có người. Thằng cha hung ác ấy chắc sẽ đến bắt cô Sharon mất.
Neil vừa khóc nức nở vừa chạy lên tầng cấp. Ba ơi, cậu cố gọi. Ba ơi! Ba! Cậu lên đến tầng cấp cuối cùng. Cậu thấy cảnh sát khắp nơi. Họ vùng chạy đến, có mấy người khác đang kéo một người đàn ông.
Họ đang kéo ba cậu. Cậu la lên :
- Ba! Ba!
Cậu đem hết sức bình sinh chạy cà nhắc qua đại sảnh về phía ba cậu. Steve nghe tiếng cậu gọi, anh quay lại, chạy đến ôm lấy cậu.
- Ba, - Neil khóc nức nở - thằng cha ấy sẽ giết cô Sharon mất... như hắn đã giết mẹ con.
0
50
 
Rosie vùng vẫy, chị quyết không chịu để cho người ta đẩy chị ra ngoài. Bà Lally đang ở dưới kia, ở “phòng nhạc”, chị tin chắc như thế. Cảnh sát có mặt khắp nơi, có một nhóm ở phòng hướng dẫn. Rosie nhận thấy có ông Hugh Taylor. Đấy là ông xếp của cơ quan FBI, ông ta thường nói chuyện với chị khi nào ông đi tuần tra một vòng quanh nhà ga. Chị chạy đến ông, níu tay ông.
- Ông Taylor, bà Lally...
Ông nhìn chị, hất tay chị ra, ông ra lệnh :
- Chị Rosie, tránh nhanh ra khỏi đây.
Loa phóng thanh oang oang, ra lệnh cho mọi người phải ra ngoài. Chị Rosie khóc nức nở :
- Không!
Có một người đàn ông ở bên cạnh ông Hugh Taylor, ông này đang nắm vai anh, lôi anh quay lại. Chị đã thấy ông Hugh và một cảnh sát khác níu hai tay anh ta lại.
- Ba ơi, ba!
Chị nghe có tiếng kêu phải không? Rosie quay lại. Một cậu bé đang chạy cà nhắc băng qua đại sảnh. Đồng thời người đàn ông đang cãi cọ với ông Hugh vùng ra, phóng người chạy đến đứa bé. Chị nghe đứa bé nói đến một gã đàn ông độc ác, chị bèn chạy đến gần họ. Có lẽ cậu bé đã thấy thằng cha mà và Lally và chị canh chừng.
Cậu bé khóc, cậu nói :
- Ba, phải đến cứu cô Sharon. Cô ấy bị thương, cô ấy đang bị trói, và một bà già bị bệnh.
- Ở đâu? Neil, ở đâu? - Steve hỏi.
- Một bà già bị bệnh - Chị Rosie thốt lên - Chính là bà Lally đấy. Bà ấy đang ở trong phòng dưới ấy. Chắc ông biết rồi, ông Taylor, phòng nhạc - cái phòng trước đây dùng làm phòng rửa chén bát.
- Chúng ta xuống đấy ngay. - Ông Hugh hét lên.
Steve nhờ một cảnh sát giữ Neil.
- Nhờ anh đem cháu ra ngoài giúp cho. - Anh chạy theo ông Hugh. Hai người đàn ông mang một tấm kim loại nặng trịch chạy theo họ.
- Trời ơi, chúng ta ra khỏi đây nhanh lên! - Một người đưa tay quàng ngang hông chị Rosie, kéo chị đến một cánh cửa ra ngoài - Quả bom sắp nổ rồi đấy.
0
51
 
Sharon nghe tiếng giày chơi ten-nít của Neil nhẹ nhàng nhỏ dần dưới chân cầu thang. Lạy Chúa, xin ngài giúp nó thoát được, xin ngài giúp nó lên được trên ấy.
Bà già ngừng rên, rồi lại rên, rồi lại ngừng một lát. Khi bà rên lại, tiếng rên nhỏ hơn, nhẹ nhàng hơn, như thể tiếng rên sắp tắt hẳn.
Sharon lắng nghe với thái độ dửng dưng, cô nhớ bà đã nói bà muốn chết ở đây. Cô cúi xuống bà, đưa tay vuốt lên mái tóc rối bời của bà. Cô đưa đầu mấy ngón tay vuốt lên cái trán nhăn nheo của bà. Da bà ướt lạnh, bỗng bà Lally rùng mình, rồi không rên nữa.
Sharon biết thế là bà già đã chết, bây giờ đến lượt cô sắp chết rồi.
- Steve, em yêu anh! Cô nói to lên một mình - Steve, em yêu anh! - Cô không thấy gì ngoài khuôn mặt của anh. Nỗi mơ ước được trông thấy mặt anh đã làm cho cô đau đớn tột cùng, đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần, đau như cắt hơn cả sự đau đớn ở hai chân và mắt cá cô.
Cô nhắm mắt lại.
- Xin Chúa tha tội cho chúng con như chúng con tha tội cho những kẻ đã xúc phạm đến chúng con... Con xin nguyện phó thác linh hồn con trong bàn tay Ngài!
Có tiếng động.
Cô bỗng mở mắt ra, Cáo đang đứng trước ngưỡng cửa, mặt hắn nở nụ cười nham nhở. Mấy ngón tay hắn cong lại, hai ngón cái dựng đứng lên, hắn tiến đến phía cô.
0
52
 
Ông Hugh chạy lên trước về phía ke tàu đi Mount Vemon. Ông chạy vòng qua đường sắt, băng qua bờ dốc dẫn xuống dưới tầng sâu của nhà ga. Steve chạy bên cạnh ông, hai người mang máy làm lệch dòng điện, cố chạy theo cho kịp họ.
Khi họ chạy trên mặt dốc, bỗng họ nghe tiếng la :
- ... Không... không... không... Steve... cứu em với... Steve...
Anh phóng nhanh như thời anh lập thành tích chạy nhanh cách nay 20 năm. Một lần nữa, anh cảm thấy sức mạnh dồi dào như hồi thanh xuân ấy, anh cảm thấy năng lực phi thường ấy tràn ngập trong người anh khi bắt đầu cuộc đua. Vì quá mong muốn chạy đến chỗ Sharon cho kịp lúc, anh đã chạy vượt lên cả mọi người.
- Steeevvveee... - Tiếng kêu lịm dần.
Cầu thang, anh đã đến dưới chân cầu thang. Anh nhảy lên cầu tháng hai bậc một, ào vào cửa như cơn bão táp.
Cảnh tượng trước mắt anh như cơn ác mộng, một thi thể năm dài dưới đất. Sharon nửa nằm nửa ngồi, hai chân bị trói, tóc tai bù xù, đang cố vùng ra khỏi hai bàn tay một kẻ đang cúi người xuống cô, mười ngón tay hắn đang bóp mạnh vào cổ cô.
Steve nhào người vào hắn, lấy đầu tông mạnh vào lưng hắn, Cáo nhào sấp tới trước. Cả hai đều nhào lên người Sharon. Cái giường gãy làm hai dưới sức nặng của họ và họ cùng lăn cù xuống nền nhà. Hai bàn tay hắn vẫn không thả cổ của Sharon ra, nhưng cũng nới lỏng ra đôi chút vì cú tông của anh vào lưng hắn. Cáo lảo đảo trên hai chân cố gượng dậy, Steve đứng lên, vấp phải thi thể bà Lally. Hơi thở của Sharon thoi thóp, nặng nề.
Ông Hugh nhảy vào phòng.
Cáo hết đường thoát, hắn đi thụt lùi, tay hắn tìm nắm cửa phòng vệ sinh. Hắn lẻn vào phòng vệ sinh đóng cửa lại. Họ nghe tiếng then cửa gài ở bên trong.
- Bước ra mau, thằng điên. - Ông Hugh hét lớn.
Hai nhân viên mật vụ mang máy làm lệch dòng điện chạy vào. Hết sức cẩn thận, họ lấy tấm kim loại dày đậy lên chiếc va-li đen.
Steve cúi xuống Sharon, hai mắt cô nhắm nghiền. Khi anh nâng cô lên, đầu cô ngửa ra sau. Trên cổ cô, nổi lên những dấu tay khủng khiếp. Nhưng cô còn sống, anh bế cô lên, đi ra cửa. Anh nhìn lên những bức hình trên tường, thấy có ảnh của Nina, anh siết chặt Sharon vào người.
- Hãy mau ra khỏi đây! - Ông Hugh hét lớn.
Họ chạy xuống cầu thang. Ông nói :
- Vào đường hầm. Tất cả vào đường hầm.
Họ chạy qua máy phát điện, qua hệ thống máy quạt, chạy trên đường sắt, chạy vào đường hầm tối tăm.
Cáo nghe tiếng chân xa dần, họ đã đi rồi, hắn lôi then cài cửa ra, rồi mở cửa. Hắn thấy bộ máy làm lệch dòng điện nằm trên va-li, hắn cười, cười sặc sụa không ngớt.
Quá trễ cho hắn, nhưng cũng quá trễ cho những người khác. Cuối cùng chính Cáo là người chiến thắng.
Hắn đưa tay vào bộ máy làm lệch dòng, cố lấy ra khỏi va-li.
Một luồng ánh sáng chói mắt, tiếp theo là tiếng nổ chát chúa vang lên, tiếng nổ đẩy hắn vào cõi vô cùng.
* * * * *
11 giờ 42.
Rob Kumer chạy xộc vào nhà thờ Saint Bemard, theo hành lang giữa nhà thờ đi lên trên, đến ôm quàng lấy một bóng người đang quỳ cầu nguyện.
- Xong rồi phải không? - Bà già hỏi, mắt ráo hoảnh.
- Xong rồi! Nào, má Thompson, hãy đến đón con bà về nhà. Người ta đã tìm ra bằng chứng cụ thể chứng minh một kẻ khác đã phạm tội giết bà Nina. Họ đã tìm được một cuộn băng ghi âm của kẻ đó khi hắn đang giết bà Nina Peterson. Vị Thống đốc tiểu bang đã ra lệnh thả Ron ngay lập tức.
Bà Kate Thompson, mẹ của Ronald Thompson, con người hoàn toàn tin tưởng vào lòng bao dung, công bằng của Chúa, đã xúc động đến bất tỉnh.
* * * * *
Ông Roger gác máy điện thoại, quay về phía bà Glenda, ông nói :
- Họ đã đến kịp thời.
- Cả Sharon và Neil đều được cứu sống chứ? - Bà hỏi nho nhỏ.
- Được, và cậu Thompson cũng đã được về nhà.
Bà Glenda để tay lên cổ :
- Cám ơn Chúa.
Bà nhìn vào mặt chồng, rồi nói tiếp :
- Em khỏe rồi, anh yêu à. Nhờ anh dẹp hết những viên thuốc mắc dịch ấy đi và rót cho em một ly uýt-ki không pha thật ngon.
* * * * *
Ông Hugh quàng tay quanh người Rosie, chị đang khóc tức tưởi, ông nói :
- Bà Lally đã cứu được nhà ga và chúng tôi đã gởi đơn đề nghị cấp trên làm một tấm bia kỷ niệm để nhớ công lao của bà. Tôi sẽ yêu cầu Thống đốc tiểu bang thân hành đến cắt băng khai mạc lễ kỷ niệm này. Bà ta quả là người...
-Làm tấm bia tưởng niệm công lao bà Lally. - Chị Rosie nói nhỏ - Ôi! Chắc ở dưới suối vàng, bà ấy sung sướng lắm.
* * * * *
Một khuôn mặt trôi bồng bềnh trước mặt cô, cô sẽ chết và không còn gặp lại Steve được nữa.
- Không... không...
- Ổn cả rồi, em yêu ổn rồi.
Giọng của Steve - Và khuôn mặt cũng là của Steve.
- Xong xuôi hết rồi, chúng ta đến bệnh viện, người ta sẽ chữa trị chân cho em.
- Neil...
- Cháu đây, cô Sharon. - Cậu bé trìu mến đáp.
Steve áp môi vào má vào trán và vào môi cô.
Giọng Neil vang lên bên tai cô :
- Cô Sharon, cháu đã làm đúng những điều cô dặn. Cháu luôn luôn nghĩ đến món quà mà cô đã hứa cho cháu. Cô Sharon, cô có bao nhiêu chiếc xe lửa Lionel cho cháu?
Cả ba người - cô Sharon, Steve và Neil ôm chầm lấy nhau, nỗi sung sướng của họ chan đầy trong nước mắt hạnh phúc.
 
HẾT
0
Cáo sa mạc - Mary Higgins Clark
 
Đã mang vào thư viện
 
Chúc casau một ngày mới vui vẻ
 
 
📎 chucmungnammoiA




0
«« « 1 2 » »»