📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Giờ này anh ở đâu - Mary Higgins Clark 🔒

79 trả lời, 498 lượt xem — Trang 2 / 3
31
 
Thám tử Barrott có lý do chính đáng để truy tìm tôi. Ông muốn lá thư ngắn mà Mack để lại trong cái rổ đựng đồ quyên góp. Tôi đã bỏ nó vào hồ sơ của Mack trong phòng làm việc của cha tôi. Tôi mời Barrott đi lên lầu, và ông theo tôi vào trong căn hộ.
Tôi cố tình cư xử thô lỗ, bỏ mặc ông đứng ở phòng giải lao trong khi tôi đi lục tìm lá thư ngắn đó. Nó vẫn được quấn trong cái bao nhựa đựng bánh mì sandwich. Tôi lấy nó ra và đọc kỹ nó. Mười từ được viết theo kiểu chữ in. “CHÚ DEVON, BẢO CAROLYN KHÔNG ĐƯỢC PHÉP TÌM KIẾM CHÁU”.
Làm sao tôi có thể chắc chắn rằng Mack đã viết những từ đó?
Tờ giấy có vẻ như được cắt ra không đều từ một tờ giấy khác lớn hơn. Khi tôi đưa nó cho Barrott vào ngày thứ hai, ông ta chẳng hề quan tâm. Ông đã nói rằng có lẽ chí ít thì nó cũng đã được người dẫn chỗ, chú tôi, mẹ tôi và tôi chạm tay vào rồi. Tôi không nhớ có nói với ông rằng tôi cũng đã đưa nó cho Elliott coi chưa. Có cơ hội nào để các dấu tay của Mack vẫn còn trên đó không nhỉ?
Tôi lại cho nó vào trong cái túi nhựa và mang ra ngoài cho Barrott. Ông ấy đang nói chuyện bằng điện thoại di động. Khi thấy tôi đang bước xuôi theo hành lang, ông kết thúc cuộc điện đàm. Tôi đã hi vọng ông chỉ đơn thuần lấy lá thư ngắn ấy rồi đi, nhưng thay vì vậy, ông nói: “Cô MacKenzie, tôi cần nói chuyện với cô”.
Xin hãy để con giữ được sự trầm tĩnh, tôi cầu nguyện trong khi đưa ông ta vào phòng khách. Tôi chợt cảm thấy đầu gối mình thật yếu ớt và tôi phải ngồi xuống cái ghế bành kiểu dáng thời Nữ hoàng Anne vốn là vật được cha ưa thích nhất trong căn phòng này. Tôi liếc nhìn lên bức chân dung của ông mà mẹ đã cho vẽ, vẫn còn treo phía bên trên lò sưởi. Cái ghế bành này đối diện với lò sưởi, và cha thường đùa giỡn là khi ông ngồi trên đó, ông chẳng làm gì khác hơn là tự ngưỡng mộ chính mình. “Lạy Chúa, Liv, hãy ngó cái gã độc ác có vẻ vĩ đại đó đi”. Ông sẽ nói thế. “Bà phải trả thêm cho tay họa sĩ bao nhiêu để vẽ tôi trông được như thế hở?”
Dẫu sao việc ngồi trong ghế của cha cũng giúp tôi có can đảm. Thám tử Barrott ngồi ở mép ghế trường kỷ và nhìn tôi, chẳng có dấu hiệu nồng nhiệt gì cả. “Cô MacKenzie, tôi vừa được báo là Aaron Klein đã gọi điện thoại cho văn phòng chúng tôi và bảo anh ấy tin rằng anh trai cô là người đã giết mẹ anh ấy cách đây chín năm. Anh ấy nói luôn cảm thấy rằng kẻ sát nhân muốn lấy một món gì đó trong căn hộ của bà. Giờ đây anh ấy tin đó là những cuộn băng thu giọng nói của anh trai cô. Anh ấy nói cô bảo rằng cô sẽ đem một cuộn băng đến bật cho anh ấy nghe. Cô có cuộn băng đó chứ?”
Tôi có cảm giác ông ấy đã tạt một ly nước lạnh như băng vào mặt mình. Tôi biết cuộn băng đó sẽ có ý nghĩa với ông ta như thế nào. Ông ta và bất kỳ ai khác trong văn phòng Chưởng lý quận sẽ khẳng định rằng Mack đã có vấn đề rắc rối lớn và đã tâm sự với Esther Klein. Tôi chụp lấy hai tay dựa của cái ghế bành. “Cha tôi là một luật sư và tôi cũng thế”. Tôi bảo Barrott. “Và trước khi tôi nói với ông bất kỳ lời gì hoặc đưa ông bất kỳ vật gì, tôi sẽ hỏi ý kiến luật sư”.
“Cô MacKenzie, tôi muốn nói với cô một chuyện”. Barrott nói. “Từ sáng thứ Bảy, Leesey Andrews vẫn còn sống. Chẳng có gì quan trọng hơn việc tìm thấy cô ấy, nếu điều đó không phải là quá muộn. Hẳn là cô đã nghe các bài tường thuật tin tức nói rằng cô ấy đã gọi điện thoại cho cha mình cách đây hai ngày và bảo với ông rằng cô sẽ gọi lại vào Ngày của Mẹ sang năm. Chắc hẳn cô cũng đồng ý rất khó tin rằng chỉ là sự ngẫu nhiên khi cô ấy đi theo hoặc bị buộc phải đi theo - cách làm của anh trai cô”.
“Việc Mack gọi điện thoại vào Ngày của Mẹ chẳng phải là điều bí mật”. Tôi phản kháng. “Những người khác cũng biết về điều đó. Một năm sau khi Mack biến mất dạng, một phóng viên đã viết bài báo về anh ấy và có đề cập đến chuyện đó. Điều này cũng có trên internet, cho bất kỳ ai muốn xem xét vấn đề này”.
“Thông tin không có trên internet là sau khi giáo viên kịch nghệ của anh trai cô bị giết chết, tất cả những cuộn băng thu giọng nói của anh ta bị đánh cắp khỏi căn hộ của bà ấy”. Barrott phản pháo. Ông ta nhìn tôi thật nghiêm khắc. “Cô MacKenzie, nếu có bất kỳ điều gì trong cuộn băng mà cô đang giữ có thể giúp chúng tôi tìm ra anh trai cô, suy nghĩ đúng đắn của cô buộc cô phải đưa nó cho tôi bây giờ chứ”.
“Tôi sẽ không đưa ông cuộn băng”. Tôi nói. “Nhưng tôi sẽ thề với ông rằng chẳng có gì trong đó khiến ông có ý tưởng về bất kỳ nơi nào Mack có thể có mặt. Tôi sẽ nói thêm. Cuộn băng dài chưa đầy một phút. Mack nói vài lời với giáo viên kịch nghệ của anh ấy và bắt đầu trích đọc một đoạn thơ của Shakespear. Chỉ có thế”.
Tôi nghĩ Barrott tin tôi. Ông gật đầu. “Nếu cô nhận tin của anh ta,” ông nói, “hoặc nếu có điều gì nảy ra trong đầu khiến cô có thể giúp chúng tôi tìm ra anh ấy, tôi hi vọng rằng cô ghi nhớ là sinh mạng của Leesey Andrews quan trọng hơn nhiều so với việc cố gắng bảo vệ anh trai cô”.
Khi Barrott bỏ đi, tôi đã làm điều tôi biết phải làm ngay lập tức - gọi cho sếp của Aaron Klein - Elliott Wallace, người bạn tốt nhất của cha tôi, người chú thay thế của tôi, người cầu hôn mẹ tôi, và bảo với ông ấy rằng bằng việc vi phạm thỏa thuận chấp nhận các ước muốn của Mack, tôi đã biến anh trai mình thành kẻ bị tình nghi trong một vụ giết người và cả một vụ bắt cóc.

0
32
 
Nick DeMarco đã trải qua một cuối tuần chẳng dễ dàng gì. Anh không muốn thú nhận với chính mình cảm giác thật bất ổn khi gặp lại Carolyn. “Pizza và mì ống” từng là tên hiệu dành cho anh khi anh thường đến dùng cơm tối ở nhà MacKenzie trên phố Sutton Place.
Ta chẳng biết nghi thức phép tắc nào, anh nhớ lại. Ta cứ phải luôn quan sát người ta sử dụng loại nĩa nào, cách người ta để khăn ăn lên người ra sao. Cha ta cứ nhét khăn ăn xuống dưới cằm ông. Thậm chí việc nghe ông MacKenzie nói đùa về quá khứ xuất thân từ giai cấp công nhân của ông ấy cũng chẳng giúp gì đối với ta. Ta nghĩ rằng ông ấy là một người dễ thương, cố gắng giúp gã khờ vụng về cảm thấy được chào đón.
Và niềm say mê mà ta có với Barbara thì sao? Khi ta nhìn lại thì nó chẳng là gì hơn cách ta ghen tị với Mack.
Nó chẳng phải vì cô ấy chút nào cả.
Nó là vì Carolyn.
Ta luôn cảm thấy thoải mái với cô ấy. Cô luôn vui vẻ và sắc sảo. Ta thích thú được ở bên cô đêm hôm trước.
Gia đình Mack là mô hình lý tưởng theo kiểu trưởng giả ta muốn. Ta yêu cha mẹ mình nhưng ta ước gì cha không mặc quần có dây đeo. Ta ước gì mẹ không luôn ôm chặt tất cả những khách hàng thường xuyên. Việc đó nói lên điều gì? Một điều gì đó giống như “Con cái ban đầu yêu thương chúng ta; khi chúng lớn lên, chúng xét đoán chúng ta; đôi khi chúng tha thứ cho chúng ta”.
Trong khi nó nên theo cách ngược lại. “Cha mẹ ban đầu yêu thương chúng ta; khi chúng ta lớn lên, họ xét đoán chúng ta; đôi khi họ tha thứ cho chúng ta”. Nhưng không thường xuyên.
Ta chẳng còn muốn cha có cửa hàng mặt tiền nữa. Ta chẳng biết mình đang làm gì khi đặt ông vào tình thế phải chịu trách nhiệm nhà hàng mới của ta. Ông ấy thật khốn khổ. Mẹ cũng nhớ việc trong nhà bếp. Đứa con trai giai cấp cao của họ không để cho họ được là họ nữa.
Nick DeMarco, với sự thành công lớn, được bầu là chàng trai độc thân của tháng, gã được lắm con gái theo đuổi, anh nghĩ, với chút cay đắng. Nick DeMarco, kẻ dám đương đầu nguy cơ. Và giờ đây có lẽ chính Nick DeMarco, kẻ ngu ngốc đã liều lĩnh quá nhiều lần.
Leesey Andrews.
Có ai nghe thấy ta đề nghị giúp đỡ cô ấy khởi đầu nghề trình diễn không? Nó không hiện ra trong máy camera khi ta đưa cô ấy tấm danh thiếp có địa chỉ của ta, nhưng có ai đó ngẫu nhiên thấy ta đã đẩy nhẹ nó sang cho cô ấy không?

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.02.2016 21:44:38 bởi casau>
33
 
Vào sáng thứ Ba, đội trưởng Larry Ahearn và thám tử Bob Gaylor khá tươi tỉnh sau giấc ngủ kéo dài sáu tiếng. Cả hai quay trở lại phòng kỹ thuật của văn phòng Chưởng lý quận, xem xét lại các cuộn băng an ninh từ ba hộp đêm khác, trong đó những cô gái trẻ được nhìn thấy lần cuối trước khi biến mất.
Hồ sơ của cả ba người phụ nữ trẻ, Emily Valley, Rosemarie Cummings và Virginia Trent đều được mở lại. Những bức hình có nhiều hạt lốm đốm ở vụ của Emily Valley, cách nay đã mười năm, được làm cho sắc sảo lại, sáng sủa hơn nhờ những thành tựu của công nghệ hiện đại mới nhất. Trong đám sinh viên bước vào câu lạc bộ có tên gọi The Scene, có thể nhận dạng rõ ràng Mack MacKenzie và Nick DeMarco.
“Khi chúng ta bắt đầu tìm kiếm Emily Valley, tất cả những sinh viên ở Columbia đã đến trình diện thành một nhóm sau khi chúng ta liên lạc với những người đã ký thẻ tín dụng”. Ahearn nhận xét, nói thành lời. “Chỉ một tháng hay hơn sau khi chúng ta nói chuyện với bọn trẻ thì cậu con trai MacKenzie biến mất dạng. Bây giờ nhìn lại, lẽ ra chúng ta nên xem trường hợp biến mất ấy thật đáng ngờ và cần gắn chặt vào trường hợp của Valley mới phải”.
“Anh ta chẳng xuất hiện trong bất kỳ cuộn băng an ninh nào của các câu lạc bộ nơi những cô gái mất tích khác đã có mặt quanh quẩn. Dĩ nhiên ba năm sau đó thì cô Cummings mới biến mất tăm, và cô Trent thì cách đây bốn năm. Suốt thời gian đó anh ta đã có thể thay đổi dáng vẻ bên ngoài của mình nhiều rồi. Anh ta rất coi trọng nghệ thuật kịch trong trường dự bị và cả ở cao đẳng nữa”. Gaylor vạch ra.
“Tôi đã thề là DeMarco chính là gã chúng ta cần tóm, nhưng những cuộn băng bị mất tích khỏi căn hộ vị giáo viên kịch nghệ và sự liên quan đến Ngày của Mẹ đã quẳng nó lại vụ án của MacKenzie”. Ahearn nói, nỗi tuyệt vọng tràn ngập trong giọng nói và trên khuôn mặt anh. “Bằng cách nào hắn đã xoay xở để lẩn trốn được trong mười năm thế? Hắn ta đang sống bằng cái gì? Làm sao hắn có thể di chuyển giữa Brooklyn và Manhattan, đem theo cái điện thoại di động của cô ấy mà chẳng một ai phát hiện ra hắn nhỉ? Mọi cảnh sát ở New York đều có tấm hình được áp dụng kỹ thuật gia tăng tuổi của hắn mà. Và hắn đã giữ Leesey ở đâu kể từ khi cô ấy biến mất cho đến lúc cô ấy thực hiện cuộc gọi hôm thứ Bảy? Và nếu cô ấy vẫn còn sống, hiện giờ hắn đang giữ cô ấy ở đâu?”
“Và hắn đang làm gì với cô ấy?” Roy Barrott cay đắng hỏi.
Chẳng một ai trong hai cộng sự của ông nghe thấy tiếng chân ông bước vào phòng kỹ thuật. Cả hai người đều ngước lên, giật mình.
“Cả hai anh đều cần phải đi về nhà ngủ một chút”, Ahearn nói.
Barrott lắc đầu. “Tôi đã ngủ rồi. Dẫu sao tôi cũng có nhiều điều cần làm. Nghe này, tôi chỉ mới ghé qua phòng kỹ thuật. Họ vừa hoàn tất việc làm rõ hai tấm hình mà Kate, người bạn cùng phòng của Leesey đã chụp cho cô ấy, kể cả tấm chúng ta sử dụng trên áp phích. Cô ấy chụp hai bức hình này chưa đầy một phút sau khi chụp hình Angelina Jolie, Brad Pitt và các con họ. Giờ đây chúng ta có thể nhìn thấy khuôn mặt của những người ở phần hậu cảnh”.
“Và anh đã tìm thấy điều gì?” Ahearn hỏi.
“Hãy nhìn vào bức hình này. Để xem các anh có nhận ra cái gã ở bên phía tay trái không”.
“Đó là DeMarco!” Ahearn đáp, rồi nhắc lại điều đó như không thể tin được điều anh đang nhìn thấy. “DeMarco!”
“Chính xác là như thế”. Barrott khẳng định. “DeMarco chẳng bao giờ nói với chúng ta rằng hắn đã có mặt ở làng Greenwich một tuần trước khi Leesey biến mất dạng, và đi ngang qua con đường khi Kate chụp hình cho cô ấy. Hắn cũng nói với chúng ta rằng hiện giờ hắn không sử dụng chiếc SUV, hắn lái chiếc Mercedes có thể gấp mui. Chẳng có bất kỳ lời đề cập nào về chiếc Mercedes mui kín có tài xế riêng của hắn cả”.
Ahearn đứng lên. “Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta cần phải mời gã này quay trở lại đây để thẩm vấn nhiều hơn và dồn ép hắn cật lực”. Anh nói. “Hẳn thật là dễ dàng để hắn bắt gã tài xế đưa Leesey ra khỏi căn hộ tiện nghi của hắn vào lúc nửa đêm và giấu cô ấy ở đâu đó. Người của chúng ta sẽ xuất hiện và có các ngón nghề mới với hắn. DeMarco vừa mua nhiều bất động sản mà không trả trước nhiều tiền mặt. về mặt tài chính, hắn đang rất bấp bênh. Nếu mất giấy phép bán rượu ở chốn Woodshed mới mẻ đầy lôi cuốn, thì có thể hắn sẽ phải kết thúc bằng cách quay về Queens để điều hành một quán bán mì ống”.
Ahear nhìn Gaylor. “Gọi hắn đến đi”.
“Cá mười ăn một là hắn sẽ có một luật sư đi cùng”. Barrott chộp lấy. “Tôi ngạc nhiên sao hắn lại liều lĩnh đến một mình tuần rồi”.

0
34
 
Theo lịch, mẹ sẽ bay từ Hy Lạp về nhà vào ngày thứ Tư, và nỗi lo lắng của tôi đang tăng lên. Elliott đã ghé qua sau cuộc điện thoại điên rồ của tôi vào chiều tối thứ Hai để làm tôi dịu xuống. Có điều gì đó an ủi tôi một cách mãnh liệt trong cách ông tiếp nhận mọi điều tôi phải kể cho ông nghe, kể cả thực tế là Aaron Klein, người kế tục được chỉ định của ông tại Wallace và Madison giờ đây tin rằng Mack phải chịu trách nhiệm về cái chết của mẹ anh ta.
“Điều đó nghe thật phi lý”. Elliott nói một cách dứt khoát. “Aaron quên mất đã kể với ta là vào thời điểm đó chẳng có cái gì bị lấy đi khỏi căn hộ. Ta hãy còn nhớ những lời của cậu ấy rất rõ ràng. ‘Tại sao người nào đó giết mẹ tôi, ăn trộm chìa khóa của bà mà lại không muốn đánh cướp căn hộ chứ?’ Ta bảo cậu ấy rằng kẻ giết mẹ cậu ấy có lẽ là một kẻ nghiện ma túy, bị hoảng loạn khi nhận ra rằng bà ấy đã chết. Trong nhiều năm tháng, Aaron đã chỉ chăm chăm cố tìm cho ra kẻ nào đó để đổ lỗi cho cái chết của mẹ cậu ấy, nhưng ta sẽ bị nguyền rủa nếu để cậu ta cố gắng gán ghép nó cho Mack”.
Chẳng có gì khách sáo hay bị che giấu trong phản ứng gay gắt của Elliott. Bản thân cha tôi cũng không thể phản ứng mãnh liệt hơn. Tôi cho rằng đó chính là giây phút mà bất kỳ sự ngần ngại nào của tôi về mối quan hệ gần gũi đang tiến triển giữa mẹ tôi và Elliott đã biến mất vĩnh viễn. Đó cũng là giây phút tôi quyết định gọi ông ấy thân mật là Elliott.
Chúng tôi đều đồng ý rằng điều không thể tránh né là tôi sẽ bị gọi lên thẩm vấn về Mack và rằng chúng tôi phải cố thuê một luật sư biện hộ. “Ta sẽ không cho phép Mack bị xét xử và bị kết án trên báo chí”. Elliott thề thốt. “Ta sẽ tìm quanh và kiếm cho được người luật sư tốt nhất mà ta có thể tìm ra”.
Chúng tôi cũng đồng ý là phải để cho mẹ biết điều gì đang diễn ra.
“Sẽ không lâu thì một phóng viên táo bạo cũng sẽ liên kết sự biến mất của Mack với cô gái bị mất tích vì dính dáng đến Ngày của Mẹ”. Elliott khẳng định. “Tuy nhiên điều còn tồi tệ hơn là ta không thể qua mặt các tay thám tử về việc cố tình để rò rỉ thông tin đó ra cho giới truyền thông. Mẹ con không được trông có vẻ như bà đang che giấu họ”.
Elliott gọi điện thoại và gợi ý nhẹ nhàng là bà nên về nhà sớm. Thời điểm mẹ về vào chiều tối thứ Tư thì những gì Elliott dự đoán đều xảy ra đúng cả. Giới truyền thông, giống như lũ chó săn đánh hơi thấy mùi máu tươi, đã mở lại hồ sơ trường hợp ba cô gái khác biến mất dạng khỏi các hộp đêm, và tường thuật lại thực tế rằng Mack và các bạn học cao đẳng của anh đã có mặt tại The Scence vào cái đêm cô gái thứ nhất, Emily Valley biến mất. Sự nối kết Ngày của Mẹ giữa những cuộc điện thoại theo thông lệ của Mack với lời nhắn của Leesey Andrews cho cha cô ấy dĩ nhiên cũng là tin tức trang nhất.
Mẹ, với cánh tay Elliott choàng qua vai, phải vất vả len lỏi để vượt qua những camera và micro khi bà và Elliott về đến Sutton Place. Lời chào của bà dành cho tôi chính xác là điều tôi chờ đợi nhưng lại hi vọng nó sẽ không xảy ra. Với những nét quầng thâm dưới cặp mắt đã sưng phồng lên vì khóc nhiều, lần đầu tiên được nhìn thấy mỗi ngày trong sáu mươi hai năm cuộc đời bà, mẹ tôi nói: “Carolyn, chúng ta đã đồng ý để Mack sống cuộc đời riêng của nó. Giờ đây vì sự can thiệp của con, con trai của mẹ có thể sẽ bị săn đuổi như một kẻ tội phạm. Elliott rất tử tế đã mời mẹ đến nhà ông ấy ở. Các túi xách của mẹ vẫn còn trong xe ông ấy và mẹ định sẽ đi đến đó. Trong lúc này con có thể hài lòng với mớ hỗn độn đó trên đường phố và cần phải xin lỗi hàng xóm vì đã phá hủy sự riêng tư của họ. Trước khi đi, mẹ muốn nghe cuộn băng đó”.
Tôi lặng lẽ lấy cuộn băng ra, rồi ngồi xuống với bà trong nhà bếp và bật nó lên. Giọng Mack, đùa cợt với giáo viên kịch nghệ của anh, “Nghe em có giống Laurence Olivier hay Tom Hanks không?” - Rồi sự thay đổi đầy kịch tính trong giọng điệu của anh khi anh bắt đầu trích đọc đoạn thơ của Shakespear.
Khi tôi tắt máy, khuôn mặt mẹ trở nên xanh xao, thống khổ. “Có điều gì đó không ổn”. Bà thì thào. “Tại sao nó không đến với mẹ? Chẳng có gì có thể tồi tệ đến mức mẹ không thể giúp đỡ nó được”. Rồi bà đưa tay ra cho tôi. “Đưa mẹ cuộn băng, Carolyn”. Bà nói.
“Mẹ ơi, con không thể”. Tôi nói. “Con không ngạc nhiên nếu chúng ta sẽ nhận một trát hầu tòa cho điều đó. Mẹ nghĩ Mack đang gặp rắc rối. Một giải thích khác nữa là anh ấy chỉ đơn thuần đọc một bài tập kịch mà thôi. Sáng mai Elliott và con sẽ gặp một luật sư biện hộ các vụ án hình sự. Con cần phải có nó để bật cho ông ấy nghe”.
Chẳng thốt thêm lời nào, mẹ quay lưng lại tôi. Elliott thì thầm: “Ta sẽ gọi cho con sau” trước khi ông chạy ào về phía hành lang đuổi theo sau bà. Khi họ đã đi khuất, tôi lại bật cuộn băng lên nghe một lần nữa. “...Ta chỉ có một mình khóc lóc vì bị ruồng bỏ và quấy rầy thiên đường lặng câm bằng những tiếng kêu than vô vọng của ta”.
Mack có thể đã đóng kịch, hoặc có thể anh ấy đã nói về chính mình, nhưng với sự kết hợp của nỗi đau và niềm cay đắng. Tôi nghĩ rằng giờ đây những ngôn từ ấy thực sự có thể áp dụng cho tôi. Vài phút sau đó, chuông điện thoại trong căn hộ reo vang. Khi tôi nhấc máy lên nói “Alô”, người nào đó ở đầu dây bên kia đã cúp máy.

0
35
 
Hắn không thể thu thập đủ các câu chuyện mới về ba cô gái kia, Emily, Rosemarie và Virginia. Hắn nhớ cả ba người rất rõ. Emily là người thứ nhất. Thoạt tiên báo chí chẳng nói quá nhiều về sự mất dạng của cô. Cô là kẻ từng chạy trốn, do vậy, khi một lần nữa cô không về nhà ở Trenton, New Jersey, ngay cả cha mẹ cô cũng thừa nhận rằng có thể cô đã tự chọn lựa cách biến mất.
Nhưng khi Rosemarie mất tích ba năm sau đó, họ bắt đầu nghĩ có thể Emily đã bị bắt cóc. Rồi khi Virginia biến mất tăm cách đây bốn năm, giới truyền thông đã có một cuộc tranh luận quan trọng, kết nối ba sự kiện lại với nhau.
Dĩ nhiên, điều đó không kéo dài. Thỉnh thoảng, một người sắp đoạt giải thưởng Pulitzer lại viết một bài phóng sự liên kết ba người phụ nữ trẻ với nhau, nhưng khi chẳng có gì mới để tường thuật, sự chú ý của công chúng đã rơi xuống mức zero.
Leesey đã làm thay đổi tất cả. “Mack, giờ này anh ở đâu?” là câu hỏi trên cửa miệng mọi người.
Mặc bộ đồ chạy bộ có nón che đầu và đeo cặp kính mát, hắn đang chạy bộ trên phố Sutton Place. Đúng như hắn kỳ vọng, con phố đang tràn ngập những chiếc xe van của giới truyền thông. Tuyệt vời, hắn nghĩ, tuyệt vời. Hắn lấy cái hộp kim loại nhỏ từ trong túi ra, mở khóa nó và lấy cái điện thoại di động của Leesey ra. Bây giờ khi hắn quay số, họ sẽ có thể định vị được vị trí của hắn đang ở quanh đây. Nhưng đó là điều ta muốn, phải không nào? Hắn tự hỏi mình với một nụ cười trong khi quay số căn hộ, chờ nghe tiếng Carolyn trả lời điện thoại rồi ngắt đường dây. Rồi sau đó nhanh chóng nhịp bước, hắn khuất dạng trong dòng lưu thông của những người đi bộ vội vã trên đại lộ số Năm Mươi Bảy.

0
36
 
Bruce Galbraith và vợ, bác sĩ Barbara Hanover Galbraith, cho đến nay, đã cố gắng tối đa, tránh không chuyện trò gì về Mack MacKenzie. Nhưng rốt cuộc, vào chiều tối thứ Tư, sau khi con cái đã đi ngủ và họ cũng đã xem xong bản tin lúc mười giờ, Bruce biết anh sẽ đưa đề tài này ra.
Họ đang ngồi trong thư viện của căn hộ rộng rãi trên đại lộ Công Viên. Bất cứ khi nào Bruce đi công tác xa, sự nhận thức được niềm hạnh phúc mà anh có về mái ấm và về gia đình đều khiến anh cảm thấy tươi tỉnh. Barbara đã thay bộ đồ ngủ màu xanh lục nhạt và tháo kẹp cài trên mái tóc vàng ánh tro của cô để nó buông lơi trên đôi vai. Từ lâu anh đã vượt qua những ngày tháng vụng về, lúng túng với sự hiện diện của cô, nhưng thậm chí như thế, cảm nghĩ rằng một ngày kia anh có thể thức dậy và thấy mình đã nằm mộng, rằng cuộc đời anh biết chỉ là một ảo ảnh, cứ luôn luẩn quẩn trong tiềm thức của anh.
Anh chứng kiến sự căng thẳng ngày càng tăng ở Barbara trong vòng vài ngày qua kể từ khi giới truyền thông bắt đầu nối kết Mack với việc Leesey Andrews mất tích, cô gái ở Connecticut, rồi sau đó là vụ cướp giết người giáo viên kịch nghệ.
Trong suốt buổi phát hình, với lòng ghen tuông mà chưa bao giờ anh vượt qua được, Bruce quan sát khuôn mặt vợ khi hình ảnh Mack được chiếu sáng trên màn hình. Sau khi anh nhấn nút tắt trên bộ điều khiển từ xa và nhìn màn hình tắt ngúm đi, anh biết rằng đã đến lúc cần phải thảo luận những gì cần được làm.
“Barb,” anh nói, “anh có mặt trong hộp đêm vào cái đêm cô gái thứ nhất biến mất dạng”.
“Em biết, nhưng có đến hai mươi gã khác từ Columbia, kể cả Nick và Mack nữa cũng như thế”. Barbara đáp, lẩn tránh cặp mắt anh.
“Carolyn MacKenzie đã gọi điện thoại cho anh, nhưng anh chưa trả lời điện thoại cô ấy. Anh cá dù mất bất kỳ vật gì rằng cô ta đang theo dõi vụ đó. Khi cuộc điều tra của cảnh sát mở rộng ra, điều không tránh khỏi là họ cũng xét hỏi anh. Suy cho cùng, Nick và anh là những người bạn cùng phòng của Mack”.
Anh quan sát vợ mình đang cố nuốt những giọt lệ vào trong. “Anh đang hướng đến điều gì?” Cô hỏi, giọng run rẩy.
“Anh nghĩ em và các con nên đi thăm cha em ở Martha’s Vineyard. Ông ấy đã bị ba cơn đột quỵ. Chẳng ai đặt vấn đề nếu em bảo với mọi người rằng ông ấy lại trong tình trạng xấu nữa”.
“Thế còn việc học của các con thì sao?”
“Đối với khoản học phí chúng ta đã thanh toán, chúng ta có thể thu xếp để có giáo án và giáo viên dạy kèm riêng. Dẫu sao thì năm học cũng sẽ kết thúc trong khoảng vài tuần nữa”.
Anh trông thấy sự không chắc chắn trên khuôn mặt vợ. “Barbara, em đã tham gia mở phòng mạch với hai bác sĩ nhi khoa khác, vì thế em đã có cách điều khiển, kiểm soát cuộc sống riêng của mình. Anh muốn nói đây là lúc khẳng định sự kiểm soát đó”.
Anh đứng lên, đi về phía cô, khom người xuống, và hôn lên đỉnh đầu cô. “Anh có thể giết Mack vì những gì hắn đã làm với em”. Anh lặng lẽ nói.
“Em vượt qua rồi, Bruce, thực sự em đã vượt qua”.
Không, em chưa vượt qua đâu, Bruce nghĩ. Nhưng anh đã học được cách sống với điều đó, và chẳng bao giờ anh để cho Mack lại làm tổn thương em nữa.

0
37
 
Vào chiều tối thứ Tư, ngay sau khi mẹ và Elliott bỏ đi, thám tử Barrott đã gọi điện đến. Tôi nghĩ sự việc không thể trở nên tồi tệ nhiều đến thế, nhưng tôi đã lầm. Barrott nhẹ nhàng hỏi xem tôi có biết cuộc gọi mà tôi vừa mới nhận, cuộc gọi mà tôi tưởng là nhầm số đó đã được thực hiện từ điện thoại di động của Leesey Andrews không. Tôi bị chấn động đến nỗi tôi cho rằng phải mất cả một phút tôi mới nói được điều gì đó đại loại như: “Nhưng điều đó không thể có được”. Tôi dừng lại để tiêu hóa thực tế đó. “Điều đó hoàn toàn không thể có được”.
Barrott khẳng định một cách cộc lốc rằng đó là sự thật và hỏi tôi có nghĩ rằng anh trai tôi đang cố gắng liên lạc với tôi không?
“Khi tôi nhấc điện thoại, có ai đó đã cúp máy. Tôi nghĩ hẳn đó là một số gọi nhầm. Ông không bảo tôi rằng tôi không được nói chuyện với bất kỳ ai đấy chứ?” Tôi giận dữ hỏi ông.
“Chúng tôi biết điều đó. Và chúng tôi cũng biết rằng đây là số điện thoại không được đăng ký đưa vào danh sách trong nhà cô, thưa cô MacKenzie. Đừng phạm lỗi lầm gì nhé. Nếu anh trai cô là người có điện thoại của Leesey và nếu anh ta đang cố tìm cách liên lạc lại với cô mà cô không giúp đỡ chúng tôi tìm ra anh ta, cô có thể trở thành kẻ đồng lõa cho một tội ác nghiêm trọng đấy”.
Tôi không trả lời ông. Tôi chỉ đơn thuần cắt ngang đường dây.
Khoảng giữa bốn giờ và bảy giờ sáng thứ Năm, tôi đã gọi điện thoại cho Lucas Reeves và yêu cầu gặp ông càng sớm càng tốt. Tôi cần sự giúp đỡ từ một người nào đó tôi có thể túi cậy là kỹ lưỡng và vô tư. Tôi nhìn thấy từ việc nghiên cứu hồ sơ ông lập ra về Mack, rằng ông đã làm việc tốt, phỏng vấn tất cả những người nào có thể được, những người gần gũi với anh trai tôi. Ý kiến ông đưa ra cho cha thật rõ ràng. “Chẳng có gì về nhân thân con trai ông cho thấy cậu ấy đang gặp vấn đề rắc rối và muốn trốn chạy. Tôi sẽ không loại trừ khả năng một căn bệnh tâm thần mà cậu ấy đã thành công trong việc che đậy mọi người”.
Elliott và tôi sẽ gặp vào buổi trưa tại văn phòng của Thurston Carver, vị luật sư biện hộ các vụ án hình sự mà Elliott đã tìm ra để làm đại diện cho chúng tôi. Lúc chín giờ sáng tôi gọi điện cho Reeves. Ông chưa đến, nhưng thư ký của ông hứa rằng ông sẽ gọi lại cho tôi ngay khi đến. Rõ ràng là cô ấy đã nhận ra tên tôi. Sau đó nửa tiếng, ông trả lời điện thoại. Nhanh chóng đến mức tối đa, tôi giải thích những gì đã xảy ra. “Có cách nào để ông có thể gặp tôi sáng nay không?” Tôi hỏi, nghe thấy sự tuyệt vọng trong giọng nói của mình.
Giọng ông trầm và âm vang khi trả lời. “Tôi sẽ thu xếp lại lịch làm việc của tôi. Cuộc gặp của cô với luật sư sẽ diễn ra ở đâu?”
“Trên đại lộ Công Viên và đường số Bốn Mươi Lăm”. Tôi nói. “Tòa nhà MetLife”.
“Số điện thoại của tôi vẫn cùng một số. Nhưng tôi đã dọn văn phòng đi cách đây hai năm. Hiện nay tôi đang ở dại lộ Công Viên và đường số Ba Mươi Chm, chỉ vài khu phố xuôi xuống từ MetLife. Cô có thể có mặt ở đây lúc mười giờ ba mươi không?”
Vâng, tôi có thể. Tôi đã tắm rửa và thay quần áo. Thời tiết bất thường mang đến thêm một ngày có gió giật dữ dội. Nhìn qua cửa sổ thấy người ta mặc áo khoác và thò tay vào trong túi, tôi đã thay bộ đồ mỏng định mặc sang bộ đồ chạy bộ bằng nhung, khiến tôi trông ít giống một luật sư mà chỉ giống một cô em gái. Tôi không nói rằng nó làm tôn tôi lên. Nó màu xám đậm và khi nhìn vào gương, tôi thấy nó làm nổi rõ những quầng thâm dưới mắt và màu xanh xao khác thường của làn da. Tôi không hay bận tâm đến việc trang điểm cả ngày, nhưng hôm nay tôi đã tốn thời gian dùng phấn nền, tô điểm một chút bóng mắt, phấn hồng, mascara và lớp son bóng. Tất cả sự trang điểm lòe loẹt ấy chỉ nhằm bảo vệ anh trai tôi. Tôi nghĩ thế rồi cảm thấy ghét bỏ sự cay đắng có trong suy nghĩ của tôi.
Phải chi tôi đừng đến gặp thám tử Barrott. Phải chi tôi đừng tìm thấy cuộn băng trong va-li của Mack. Những ý nghĩ thật vô ích.
Tôi cảm thấy nhức đầu, và mặc dù không đói, tôi vẫn đi vào nhà bếp, pha một bình cà phê, và nướng một cái bánh xốp kiểu Anh. Tôi đem chúng đến góc phòng ăn điểm tâm và ngồi vào bàn, nhìn đăm đăm quang cảnh ngoạn mục của sông East River. Nhờ cơn gió thổi mạnh, dòng nước chuyển động thấy rõ, và tôi thấy mình đồng hóa với điều đó. Tôi đang bị một dòng chảy cuốn trôi đi không thể cưỡng lại. Và tôi sẽ phải để nó đưa tôi đi cho đến khi nó áp đảo, dập vùi tôi hoặc buông tha tôi ra.
Tôi vui mừng rằng mẹ đã có mặt ở Hy Lạp trong vài ngày đó, và tôi ở trong căn hộ một mình. Nhưng đó chỉ là khi bà có mặt ở nơi nào khác thôi. Tôi thực không thể tin được khi bà có mặt ở New York mà lại không ở trong nhà của chính mình, nhưng khi ra khỏi căn hộ thì tôi đã hiểu lý do tại sao. Những chiếc xe tải của giới truyền thông đang có mặt ở đó đầy nghẹt, và các phóng viên chạy ào đến chỗ tôi tìm kiếm lời phát biểu. Điều này đã xảy ra với bà tối qua, tôi nghĩ thế.
Tôi đã gọi điện thoại xuống nhờ người gác cửa vẫy một chiếc taxi, và ông ta gọi được một chiếc đứng chờ tôi. Phớt lờ những cái micro, tôi nhảy vào trong xe và nói: “Chạy đi!” Tôi không muốn bất kỳ ai nghe thấy điểm đến của tôi. Hai mươi phút sau, tôi ngồi trong phòng tiếp khách của văn phòng Lucas Reeves. Ngay lúc mười giờ ba mươi, ông tiễn một cặp trông có vẻ căng thẳng mà tôi đoán cũng là khách hàng đi đến cửa bên ngoài, nhìn quanh rồi đi đến chỗ tôi. “Cô MacKenzie, mời cô vào ngay”.
Tôi nhớ chỉ gặp ông có mỗi một lần khi ông đến Sutton Place mười năm trước đây, nhưng hoặc là vì ông vẫn còn nhớ mặt tôi hoặc vì tôi là người duy nhất có mặt trong phòng đợi nên ông cho rằng tôi là Carolyn MacKenzie.
Lucas Reeves thậm chí còn thấp hơn mức chiều cao tôi nhớ về ông. Tôi không nghĩ ông cao quá một mét bảy khi đã có đi giày. Ông có mái đầu phủ dày lớp tóc muối tiêu khô, xoắn, rõ ràng được nhuộm để tạo cảm giác đang ngả xám một cách tự nhiên. Khuôn mặt ông xếp nếp với những đường nhăn nhỏ quanh miệng gợi cho tôi thấy rằng ông chắc chắn là kẻ nghiện thuốc lá. Giọng nói trầm, dễ chịu không hợp chút nào với một con người nhỏ bé như vậy, nhưng nó lại tương xứng với cặp mắt nồng ấm và cái bắt tay thật nhiệt tình của ông.
Tôi theo ông vào trong văn phòng riêng. Thay vì ngồi ở bàn giấy của mình, ông đưa tôi đến chỗ có hai cái ghế, một cái trường kỷ và một cái bàn cà phê. “Tôi không biết cô thế nào, cô MacKenzie”. Ông bắt đầu nói khi vẫy tôi ngồi xuống một cái ghế. “Nhưng đối với tôi, đây là lúc dùng cà phê vào giữa buổi sáng. Còn cô thì sao? A, hay giống như những người bạn Anh quốc của tôi, cô thích dùng trà hơn?”
“Cà phê đen là tốt nhất”. Tôi đáp.
“Cho cả hai chúng ta”.
Cô tiếp tân mở cửa và thò đầu vào. “Ông dùng gì, thưa ông Reeves?”
“Hai cái đen. Cám ơn, Marge”. Quay sang tôi ông nói: “Trong thời buổi cần có sự chính xác về mặt chính trị này, tôi bắt đầu pha cà phê cho chính mình trong căn bếp nhỏ xíu của chúng tôi. Nếu không, trợ lý, thư ký, tiếp tân và kế toán của tôi sẽ dùng vũ lực ném tôi ra ngoài. Họ bảo cà phê của tôi sẽ làm bóc lớp sơn ra khỏi tường”.
Tôi biết ơn việc ông cố làm tôi cảm thấy thoải mái đến nỗi lệ trào ra trong đôi mắt tôi. Ông giả vờ như không chú ý. Tôi đã đề nghị mang hồ sơ của Mack đến nhưng ông nói ông có một phó bản. Phó bản của ông đang đặt ở trên cái bàn cà phê. Ông chỉ vào nó. “Hãy cập nhật thông tin cho tôi đi, Carolyn”. Cặp mắt ông không hề rời khuôn mặt tôi khi tôi giải thích lý do vì tôi mà Mack đã trở thành kẻ bị tình nghi trong cả hai vụ Leesey Andrews và Esther Klein.
“Và giờ đây người ta cho rằng Mack có điện thoại di động của Leesey. Chắc chắn chúng tôi có một số riêng, nhưng đó là cùng một số kể từ khi tôi còn là một đứa trẻ. Hàng trăm người biết số đó”. Tôi cắn môi. Điều đó khiến tôi run rẩy đến nỗi không thể nói tiếp. Ý nghĩ lóe lên trong tâm trí tôi rằng mẹ muốn ở lại trong căn hộ ngần ấy năm chỉ để chắc chắn là bà không bị hụt một cuộc gọi nào của Mack.
Lắng nghe tôi, nét mặt của Reeves càng lúc càng trở nên bồn chồn. “Tôi e rằng anh trai cô là kẻ khả nghi nhất, Carolyn. Tôi sẽ rất thành thực. Tôi không thấy có lý do gì để một người đàn ông hai mươi mốt tuổi với quá khứ như thế lại chọn cách biến mất dạng. Hoàn toàn thẳng thắn, trong vài ngày qua, với tất cả sự chú ý của giới truyền thông nhắm đến cậu ta, tôi cũng đang nghiên cứu hồ sơ cậu ta và làm một số theo dõi, thuần túy chỉ để tự thỏa mãn mình thôi. Cha cô đã thanh toán rất hậu hĩnh cho tôi, mà tôi thì tuyệt đối chẳng đưa ra được sự giúp đỡ nào trong việc giải quyết vấn đề anh cô biến mất dạng”.
Ông nhìn lướt qua tôi. “À, đây là món cà phê mà tôi đã không pha”. Ông chờ cho đến khi những cái tách được đặt trên bàn và chúng tôi còn lại một mình trước khi nói tiếp. “Bây giờ tôi đang nhìn vấn đề đó từ quan điểm của cảnh sát. Cái đêm cô gái đầu tiên biến mất, anh trai cô có mặt ở câu lạc bộ The Scene. Nhưng những người bạn cùng phòng của cậu ấy, các sinh viên khác của Columbia và khoảng mười lăm người vẫn đến uống thường xuyên cũng có mặt ở đó. Đấy là một câu lạc bộ nhỏ, nhưng dĩ nhiên cũng có một người pha chế rượu, vài người phục vụ, và một nhóm nhạc nhỏ. Cái danh sách, trọn vẹn như tôi có thể làm được, nằm ở kia trong hồ sơ của anh trai cô. Vì rằng giờ đây cảnh sát tin là anh trai cô có thể dính dấp vào vụ mất tích đầu tiên, chúng ta hãy nghĩ giống họ. Với công nghệ, ngày càng dễ dàng để theo dõi cuộc sống của con người. Tôi tự hào nói rằng cơ quan này có hệ thống kỹ thuật độc nhất vô nhị. Chúng tôi sẽ bắt đầu cập nhật kiến thức của mình về mọi người mà chúng tôi biết đã có mặt ở câu lạc bộ đó cách đây mười năm khi tất cả sự việc này bắt đầu”.
Ông nhấp một ngụm cà phê. “Tuyệt hảo. Đậm mà không đắng. Chất lượng thật đáng ngưỡng mộ. Cô đồng ý chứ?”
Tôi không biết đó có phải là lời khuyên nhủ không. Ông biết nỗi cay đắng ngày càng tăng của tôi đối với Mack, và thậm chí, tôi phải thừa nhận với chính mình, đối với cả mẹ tôi nữa ư?
Ông chẳng chờ đợi câu trả lời. “Cô nói cô cảm thấy những người giám thị, tức ông bà Kramer, có vẻ như có điều gì che giấu à?”
“Tôi không biết có phải họ có điều gì che giấu không”. Tôi đáp. “Tôi thực sự biết họ dường như lo lắng một cách khủng khiếp, cứ như thể họ đang bị kết án vì biết điều gì đó về sự biến mất dạng của Mack vậy”.
“Tôi đã phỏng vấn họ cách đây mười năm. Tôi sẽ cho nhân viên kiểm tra xem có bất cứ điều gì khác thường trong đời sống của họ có thể hữu dụng với chúng ta không. Giờ đây hãy kể cho tôi nghe về Nicholas DeMarco. Hãy tin cậy tôi để nói về bất kỳ điều nhỏ nhặt nào mà cô nhận được từ anh ta, cho dù là tích cực hay tiêu cực”.
Tôi muốn khách quan. “Giờ đây rõ ràng Nick già đi mười tuổi”. Tôi nói. “Anh ta chững chạc hơn, dĩ nhiên. Ở tuổi mười sáu tôi đã say mê anh, vì vậy tôi không biết mình có thể xét đoán anh ấy một cách trung thực không. Anh ấy đẹp trai, anh ấy vui nhộn, quay nhìn lại quá khứ, tôi nghĩ anh ấy cũng có tán tình tôi, và tôi thì đủ trẻ trung để nghĩ rằng mình đặc biệt đối với anh ấy. Mack cảnh báo tôi phải tránh xa khỏi Nick, và sau đó, một vài lần anh đến dùng cơm tối, tôi đã lựa thời điểm đó đi chơi với bạn bè tôi”.
“Mack cảnh báo cô tránh xa à?” Reeves nhướng một bên chân mày.
“Kiểu hành xử của anh cả đó mà. Tôi cho rằng mình đã bộc lộ tình cảm ra quá nhiều, và Mack bảo rằng tất cả bọn con gái đều ngả về phía Nick. Nói khác đi, khi tôi gặp anh ấy lần cuối, tôi có cảm giác là Nick dường như thích ai đó rất nhiều trong tâm trí anh”.
“Cô có nói chuyện với anh ta về người bạn cùng phòng khác trong căn hộ đó, Bruce Galbraith không?”
“Có. Nick không còn liên lạc với anh ta. Thành thực mà nói, tôi không nghĩ anh ấy rất thích Bruce. Anh ấy thậm chí còn gọi người này là ‘Kẻ Xa Lạ Đơn Độc’. Tôi có nói với ông rằng tôi đã để lại lời nhắn yêu cầu gặp Bruce, nhưng cho đến nay anh ta vẫn chưa trả lời”.
“Hãy gọi lại cho anh ta. Tôi e rằng với tất cả sự chú ý của giới truyền thông mà anh trai cô đang có, Bruce Galbraith sẽ phớt lờ yêu cầu cô muốn gặp mặt anh ta. Ngay lúc này, chúng tôi sẽ bắt đầu lập tức việc cập nhật hồ sơ của chúng tôi về những người khác. Vì sự liên quan đến Ngày của Mẹ, cảnh sát đã cố kết nối Mack với sự biến mất của Leesey Andrews và cả việc mở rộng ra thêm kết nối với tất cả các người phụ nữ trẻ khác biến mất dạng. Giờ đây cú điện thoại gọi đến nhà cô từ điện thoại di động của Leesey càng làm họ chắc chắn về tội lỗi của cậu ấy. Mỗi dấu vết đều hết sức thuận tiện dẫn quay về với Mack. Tôi đang bắt đầu tự hỏi không hiểu có phải mọi việc đã ngẫu nhiên bắt đầu tối hôm đó tại The Scene, vài tuần lễ trước khi Mack biến mất dạng chăng?”
Tôi chộp ngay lấy điểm đó. “Ông Reeves, có phải ông đang nói có ai đó khác đang cố tình tìm cách kết nối Mack với sự biến mất dạng của bốn người phụ nữ kia không?”
“Tôi nghĩ có thể. Như chính cô nói rằng có bài phóng sự mười năm trước đây công bố một thực tế rằng anh trai cô chỉ gọi điện thoại vào Ngày của Mẹ. Ai biết được nếu có kẻ nào ghi nhận thông tin đó trong đầu và nay đang sử dụng nó để làm lệch hướng ngờ vực khỏi hắn ta thì sao? Có những loại trộm cắp nhân thân. Đi theo khuôn mẫu của người đã mất tích và chọn cách không tự phòng vệ mình là một trong những loại trộm đó. Kẻ bắt cóc Leesey có điện thoại di động của cô ấy. Hắn ta cũng có thể có số điện thoại không được đăng ký của cô”.
Đó là một khả năng nghe có vẻ hợp lý. Khi rời văn phòng Reeves, tôi có cảm giác lần này mình đã đi gặp đúng người, một người sẽ tìm ra sự thực mà không có ấn tượng định trước trong đầu rằng Mack đã trở thành kẻ giết người.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.02.2016 21:40:30 bởi casau>
38
 
Đi cùng với Paul Murphy, vị luật sư của anh, Nick DeMarco trở lại khu vực tổ công tác của các thám tử tại văn phòng Chưởng lý quận vào trưa thứ Năm. Lần này, bầu không khí trong văn phòng đội trưởng Ahearn đầy vẻ thù địch công khai. Không có những cái bắt tay, không có sự bày tỏ lòng biết ơn khi anh đã đáp ứng nhanh chóng lúc nhận cuộc điện thoại yêu cầu anh có mặt càng sớm càng tốt.
Nhưng Nick còn có những vấn đề rắc rối khác trong đầu. Sáng sớm thứ Ba, sau cuộc gọi điên cuồng của mẹ anh rằng cha anh đang được đưa vội vào bệnh viện vì những cơn đau ngực, Nick đã phải bay đi Florida. Vào thời điểm anh đến đó, các xét nghiệm đều là âm tính, nhưng cha anh vẫn được giữ lại trong bệnh viện để bảo vệ ông chống lại khả năng sẽ có một cơn đột quỵ có thể xảy ra. Khi Nick bước vào căn phòng trong bệnh viện, mẹ anh đã chạy ào vào vòng tay anh, và ôm ghì lấy anh một cách mãnh liệt. “Ôi, Nick ơi, mẹ nghĩ chúng ta đã mất ông ấy”. Bà òa lên khóc.
Cha anh, một phiên bản của chính anh, nhưng già hơn, nằm dựa trên những cái gối, khuôn mặt xanh xao, ống dưỡng khí được gắn trong hai lỗ mũi, ống dịch truyền gắn trên tay, rõ ràng là không vui vẻ gì. “Nick, cha ghét bệnh viện”. Đó là lời chào của ông. “Nhưng có lẽ nó cũng không tệ như việc đã xảy ra. Trong xe cứu thương cha đã nghĩ đến những việc cha ước ao sẽ nói với con, chỉ có mẹ con là không để cha nói chúng ra. Bây giờ con sắp sửa nghe chúng đây này. Cha đã sáu mươi tám tuổi. Cha đã làm việc từ khi mười bốn tuổi. Lần đầu tiên trong đời cha cảm thấy vô dụng, và cha không thích điều đó”.
“Cha ơi, con đã mua một cái nhà hàng cho cha điều hành”. Nick phản đối. “Cha người quyết định về hưu cơ mà”.
“Chắc chắn rồi, con đã mua một nhà hàng ở đây, nhưng lẽ ra con phải hiểu nó không thích hợp với cha. Cha là người bị đặt không đúng chỗ. Cha cảm thấy phát bệnh vì phải nhìn thấy con chiếm đoạt đồng tiền của thực khách bằng những món ăn đắt tiền và ngông cuồng với giá cả trên trời. Cha đã nhìn những chỗ này đến rồi đi. Hãy làm cho con điều ân huệ và hãy bán nó đi, còn không thì hãy thêm vài món đơn giản vào thực đơn để người ta có thể hy vọng vào nó khi không muốn món patê gan ngỗng hoặc trứng cá caviar”.
“Dominick, đừng làm mình bị kích động như thế”. Mẹ anh nài nỉ.
“Tôi phải làm mình bị kích động. Tôi phải lôi chuyện này ra khỏi ngực trước khi tôi thực sự có một cơn đột quỵ. Chàng độc thân của tháng! Thật gớm ghiếc khi ngắm nhìn con hài lòng ra sao. Con nghĩ là mình đã đoạt được Huân chương Danh dự của Quốc hội. Trong khi đó, cha cứ đi quanh con để nói hãy gỡ bỏ nó đi”.
“Cha, con nghe cha nói rồi. Và dù tin hay không, lần này con đang lắng nghe đây. Hãy nói với con cha muốn gì nào? Con có thể làm gì cho cha hạnh phúc đây?”
“Cha không muốn chơi golf, mà cũng chẳng muốn ngồi trong căn nhà đắt tiền, nơi cha có thể bị một quả banh đánh golf ném vào đầu vì chúng ta ở kế bên cái lỗ thứ mười sáu”.
“Cha ơi, những thứ đó rất dễ thu xếp. Còn chuyện gì khác nữa không?”
Nick chưa quên được sự chế nhạo trong đôi mắt cha anh. “Con đã ba mươi hai tuổi. Hãy thực tế đi. Hãy là đứa con trai mà chúng ta đã tự hào. Hãy ngừng chạy loanh quanh những người đàn bà mà con gặp trong các câu lạc bộ. Thực tế hãy bước ra khỏi hoạt động kinh doanh câu lạc bộ! Con sẽ gặp rắc rối. Hãy tìm cho mình một người con gái dễ thương. Mẹ con và cha sắp đến ngưỡng bảy mươi tuổi. Chúng ta đã lập gia đình mười lăm năm trước khi Thượng đế gửi đến cho chúng ta một đứa con trai. Đừng bắt chúng ta phải chờ mười lăm năm từ bây giờ để có đứa cháu nội”.
Tất cả những điều này lướt qua tâm trí Nick khi anh và luật sư của anh ngồi xuống những cái ghế cứng ngắc, không hề thoải mái tí nào trước bàn làm việc của đội trưởng Ahearn. Thám tử Barrott và Gaylor được bố trí ngồi hai bên viên đội trưởng.
Đó là một đội xử bắn, Nick nghĩ. Cái liếc mắt về phía luật sư cho anh thấy là Murphy cũng đang có cùng một phản ứng như vậy.
“Anh DeMarco,” Ahearn bắt đầu “anh đã không bảo với chúng tôi rằng anh có một chiếc Mercedes 550 mui kín mà anh chỉ sử dụng khi được tài xế chở”.
Nick nhăn mặt. “Chờ một chút. Nếu tôi nhớ đúng thì anh chỉ hỏi tôi về những chiếc xe hơi tôi lái. Tôi chưa bao giờ lái chiếc mui kín. Tôi lái hoặc chiếc mui gập lại được, hoặc chiếc SUV khi đi một mình”.
“Anh cũng chẳng đề cập đến người tài xế của mình”.
“Tôi không nghĩ có lý do gì để đề cập đến anh ta”.
“Chúng tôi không đồng ý, anh DeMarco”. Ahearn bảo với anh như vậy. “Đặc biệt vì tài xế của anh, Benny Seppini, có một hồ sơ hình sự khá dày”.
Không nhìn anh ta, Nick biết Paul Murphy đang nghĩ gì. Tại sao khách hàng của ta đã không nói cho ta biết nhỉ?
“Benny năm mươi tám tuổi”. Nick bảo với Ahearn. “Khi còn là một đứa trẻ, anh ấy không có cuộc sống gia đình và đã dính dấp với một băng đảng đường phố khi còn trong lứa tuổi vị thành niên. Khi mười bảy tuổi, anh ấy bị kết án tù như một người lớn vì tội trộm cắp và đã thụ án năm năm. Khi ra tù, anh ấy bắt đầu làm việc cho cha tôi. Chuyện đó cách đây ba mươi lăm năm. Khi cha tôi về hưu cách đây năm năm, anh ấy bắt đầu làm việc cho tôi. Anh ấy là một người tốt bụng, tử tế”.
“Chứ không phải người vợ cũ đã lấy được lệnh ngăn cản không để anh ấy gặp cách đây mười năm sao?” Ahearn chộp lấy.
“Người vợ đầu của Benny chết khi còn trẻ. Người vợ thứ hai cố gắng ép Benny phải ký giao căn nhà của hai người cho bà ta. Đó là sự kết tội vu cáo, giả mạo và bà ta đã quăng nó đi ngay giây phút lấy được căn nhà”.
“Ừ, ừ. Anh DeMarco, anh có hay đi bộ nhiều quanh khu vực làng Greenwich vào ban ngày không?”
“Dĩ nhiên là không. Tôi là một thương gia”.
“Anh có từng gặp Leesey Andrews trước tối thứ Hai cách đây một tuần không?”
“Theo như tôi biết rõ thì tuyệt đối không”.
“Hãy để chúng tôi đưa anh xem một tấm hình mà chúng tôi có về anh, anh DeMarco”. Ahearn gật đầu với Barrott, Barrott đẩy mạnh qua bàn giấy hướng đến Nick và Murphy những bản in các tấm hình được phóng to mà bạn cùng phòng của Leesey đã chụp cô.
“Có nhận ra cái gã ở phần hậu cảnh trong bức hình thứ nhì không hở anh DeMarco?” Barrott hỏi.
“Dĩ nhiên đó là tôi ở phần hậu cảnh”. Nick nói ngay. “Tôi còn nhớ ngày hôm đó. Tôi đang đi gặp một đại lý bất động sản để dùng cơm trưa. Tôi quan tâm đến việc mua bất động sản gần khu vực nơi các tuyến xe lửa cũ đang được quy hoạch phát triển. Một khi sự quy hoạch này bắt đầu được triển khai, các bất động sản chung quanh sẽ vọt giá lên tới trời. Tôi trông thấy những tay săn ảnh chuyên nghiệp đang hành động, và nhìn quanh để xem điều gì đang xảy ra, Brad Pitt và Angelina Jolie đang có mặt ở đó”.
“Anh đã ăn trưa ở đâu?”
“Ở Casa Florenza, ngay góc quanh của tấm hình đó”.
“Thế anh quả quyết rằng anh đã không trông thấy Leesey Andrews đang được bạn cô ấy chụp hình à?”
“Tôi không chỉ quả quyết. Tôi đã không trông thấy cô ấy”. Nick nóng nảy đáp lại.
“Anh có hóa đơn thanh toán cho bữa trưa đó không?” Gaylor nói bằng một giọng cho thấy ông sẽ ngạc nhiên nếu trông thấy một cái hóa đơn như vậy.
“Không, tôi không có. Người môi giới bất động sản đang cố bán bất động sản cho tôi, vì thế anh ta đã trả tiền. Nếu thành công, khoản tiền hoa hồng sẽ đủ cho anh ấy tiếp tục đổ xăng xe hơi trong một thời gian dài”.
“Anh sẽ có thể tiếp tục đổ xăng vào tất cả các xe hơi của anh trong bao lâu hở anh DeMarco?” Ahearn hỏi. “Anh đang dàn trải khá mỏng về mặt tài chính, có đúng không?”
“Hoạt động kinh doanh của anh DeMarco có dính dấp gì đến sự hiện diện của chúng tôi ở đây?” Murphy căn vặn.
“Có lẽ chẳng có gì”. Ahearn đáp lại. “Và cũng có thể rất nhiều. Nếu tình hình đến mức phải quyết định hủy giấy phép bán rượu ở Woodshed, tôi không tin rằng khách hàng của anh sẽ kiếm sống bằng cách bán kem que ở đó. Và hãy tin tôi đi, chúng tôi sẽ tìm ra một lý do để khiến nó bị hủy bỏ nếu chúng tôi còn ngờ vực rằng anh DeMarco không hoàn toàn thật thà với chúng tôi”.
Ahearn quay sang Nick. “Anh có số điện thoại không đăng ký của nhà MacKenzie tại Sutton Place không?”
“Trừ phi nó đã đổi, nếu không tôi chắc chắn mình có nó ở đâu đó. Tôi nhớ đã gọi điện thoại cho bà MacKenzie sau khi chồng bà ấy chết trong biến cố 11/9”.
“Anh có nghĩ rằng Leesey Andrews đã chết không?”
“Chắc chắn tôi hy vọng rằng không. Điều đó sẽ là một thảm kịch”.
“Anh có biết rằng cô ấy vẫn còn sống hay không?”
“Đó là câu hỏi không thể tin được, anh hỏi kiểu gì vậy?”
“Chúng ta ra khỏi nơi này, Nick”. Murphy đứng lên.
Ahearn phớt lờ anh ta. “Anh DeMarco, anh có sở hữu một cái điện thoại di động không đăng ký tên anh, vẫn sử dụng loại thẻ trả trước, loại mà những tay bài bạc hay những kẻ hợm đời vẫn dùng không?”
“Đủ rồi! Chúng tôi sẽ không nghe thêm bất kỳ lời bóng gió rẻ tiền nào của các anh nữa”. Murphy hét lên.
Cứ như thể Larry Ahearn chẳng hề nghe thấy anh ta. “Và viên tài xế đầy rắc rối của anh có một cái tương tự chứ anh DeMarco? Và nếu hắn có, hắn đã trả lời cú điện thoại điên cuồng của anh để đưa Leesey ra khỏi căn hộ tiện nghi ấy chứ? Và nếu cô ấy chưa chết, hắn có quyết định cứ tiếp tục giữ cô ấy quanh quẩn để làm vui cho mình không? Và nếu đó là trường hợp này, thì hắn có thông báo cho anh biết về tình trạng sức khỏe của cô ấy không?”
Hai nắm tay xiết chặt, Nick hầu như đã ra đến cửa lúc nghe câu hỏi cuối cùng của Ahearn: “Liệu anh có đang bảo vệ Mack MacKenzie, người bạn cùng phòng thời cao đẳng của anh không, hay đang giúp cô em gái xinh đẹp của hắn bảo vệ hắn ta? Anh đã có cuộc nói chuyện riêng tư với cô ta tối thứ Sáu tuần trước, có đúng không?”

0
39
 
Sau khi rời văn phòng Lucas Reeves, tôi đã gặp Elliott ở văn phòng của Thurston Carver trong tòa nhà MetLife. Rất nhanh chóng, tôi nhận ra đã từng trông thấy Carver ở tòa án khi tôi làm phụ tá cho thẩm phán Huot. Ông là một người to lớn, với bờm tóc mà tôi nghĩ đã bạc trắng trước tuổi - tôi ngờ rằng ông đã trên năm mươi lăm tuổi.
Cảm thấy được vững vàng đôi chút vì cuộc gặp gỡ Reeves, tôi nói với Carver ý kiến mà ông ấy đã đề nghị với tôi. Mack đã mất tích. Việc anh ấy gọi điện thoại mỗi năm vào Ngày của Mẹ là điều ai cũng biết, và kẻ nào bắt cóc Leesey Andrews đang cố gắng tung sự ngờ vực vào Mack bằng những cuộc gọi điện thoại mà hắn đang thực hiện.
Elliott, với vẻ mệt mỏi và lo âu rất nhiều, chụp lấy khả năng đó. Ông bảo tôi rằng đêm qua mẹ tôi rất phiền lòng và khi họ về đến căn hộ của ông thì bà đã ngã quỵ, khóc nức nở đến nỗi bây giờ ông vô cùng lo lắng cho tình trạng của bà. “Đêm qua ta nhận ra là Olivia luôn chắc chắn rằng có điều gì đó đã bao trùm lấy tâm trí Mack khiến cậu ấy biến mất dạng theo kiểu đó”. Ông giải thích với Carver. “Giờ đây bà tin rằng nếu cậu ấy có phạm tội trong những vụ biến mất dạng này, thì cậu ấy hoàn toàn có thể mất trí và có thể kết thúc bằng cách bị bắn khi cảnh sát tìm ra cậu ấy”.
“Và mẹ trách cứ cháu”. Tôi nói.
“Carolyn, bà phải trách cứ một ai đó. Nó sẽ không kéo dài. Cháu biết là nó sẽ không kéo dài mà”.
Con vừa là chỗ dựa vừa là niềm an ủi của mẹ trong suốt những việc này. Đó là điều mẹ đã bảo tôi tuần rồi, sau cuộc gọi điện thoại của Mack vào buổi sáng Ngày của Mẹ. Tôi vẫn có trọn niềm tin là vào một lúc nào đó bà sẽ hiểu tại sao tôi lại cố đưa sự việc của Mack đến chỗ kết thúc. Trong lúc này, có Elliott giúp đỡ bà, tôi nhận ra rằng mình đã biết ơn ông biết bao khi ông có mặt ở đó với bà. Bất chấp việc này có trở thành thế nào đi chăng nữa, vào thời điểm đó, khi ngồi trong văn phòng sang trọng, bọc gỗ của Thurston Carver, tôi chào thua bất kỳ sự ghen tuông nào mà tôi có thể cảm thấy nếu Elliott sẽ thay thế cha tôi trong cuộc đời mẹ.
* * * * *
Tôi gọi cho Bruce Galbraith cuối ngày hôm đó. Sau khi phải chờ tưởng chừng như mãi mãi thì anh cũng ra nhận điện và miễn cưỡng đồng ý gặp tôi vào trưa thứ Sáu. “Tôi cần nói với cô, Carolyn”, anh nói. “Tôi không gặp mà cũng chẳng nghe tin gì về Mack kể từ ngày anh ấy biến mất. Tôi không thể hình dung cô hy vọng biết được gì từ tôi”.
Tôi thấy lạnh lẽo vì sự chua cay trong giọng nói anh ta, nhưng chẳng đưa cho anh ta câu trả lời đã nằm trên đầu lưỡi tôi. Tôi muốn biết tại sao anh lại ghét Mack nhiều đến thế.
* * * * *
Trưa thứ Sáu, tôi được dẫn vào văn phòng của Galbraith. Nó nằm ở tầng thứ sáu mươi ba trong tòa nhà trên đại lộ Americas và mở ra toàn cảnh rộng lớn của thành phố. Quang cảnh duy nhất có thể so sánh được mà tôi nghĩ ra là nhà hàng Rainbow Room trong Trung tâm Rockefeller.
Ký ức của tôi về Bruce thật mờ nhạt. Cha mẹ đã buộc tôi phải tránh xa vụ tìm kiếm Mack khi họ đi tới, đi lui căn hộ của anh sau khi anh biến mất. Tôi chỉ có ký ức mơ hồ rằng Bruce có mái tóc màu cát và đeo cặp mắt kính không vành.
Lời chào của anh ta chỉ đủ mức thân ái, và anh chọn ngồi vào, không phải chỗ mà tôi nghĩ vẫn thường là ghế ngồi của anh, mà là một trong hai cái ghế da tương xứng ở hai bên bàn giấy. Anh bắt đầu bằng cách đưa ra sự thương cảm về việc các tờ báo khổ nhỏ gắn kết Mack với sự biến mất của Leesey Andrews. “Tôi có thể hình dung điều đó đang tác động thế nào đến mẹ cô”. Anh nói. Rồi anh thêm vào, sau khi ngừng một chút. “Và dĩ nhiên cả cô nữa”.
“Bruce,” tôi nói “Anh có thể hiểu được tôi đã tuyệt vọng như thế nào, không phải chỉ nhằm tìm ra anh ấy, mà cho dù có tìm hay không tìm ra thì cũng phải làm trong sạch tên tuổi anh ấy để không dính dấp gì đến những người phụ nữ bị biến mất”.
“Tôi tuyệt đối có thể hiểu được điều đó”. Anh nói. “Nhưng vấn đề là Mack, Nick và tôi chỉ ở chung một căn hộ. Mack và Nick rất thân thiết. Họ cùng nhau đi ra ngoài, họ hẹn hò với nhau. Nick có mặt tại nhà cô để dùng cơm tôi khá nhiều lần. Anh ấy chính là người thích hợp để hỏi về Mack hơn là tôi nhiều. Cô cũng có thể nói chuyện với những người còn lại trong lớp đã tốt nghiệp tại Columbia, vì tất cả mọi điều tôi có thể nói với cô chỉ là như vậy”.
“Thế Barbara thì sao?” Tôi hỏi. “Có lần cô ấy cũng đến dùng cơm tối. Tôi nghĩ cô ấy là bạn gái của Nick, nhưng anh ấy lại bảo với tôi rằng cô ấy say mê Mack, rồi cô ấy lại lấy anh sau khi Mack biến mất. Anh có từng bao giờ nói chuyện với cô ấy về Mack không? Cô ấy có biết điều gì đang có trong đầu óc anh ấy trước khi anh ấy biến mất tăm không?”
“Barbara và tôi dĩ nhiên đã nói chuyện về Mack với những điều mọi người ai cũng biết. Cô ấy bị bối rối cũng như tôi vì ý kiến cho rằng anh ấy có thể liên quan đến bất kỳ tội ác nào. Cô ấy nói rằng chắc chắn đó không phải là người cô ấy biết”.
Giọng anh trầm lắng nhưng tôi thấy rõ có một cơn kích động bò từ gáy anh lên đến đôi gò má. Anh thực sự ghét bỏ Mack, tôi nghĩ. Có phải đó là sự ghen tuông? Và sự ghen tuông đó đã đưa anh đi xa đến đâu? Anh quá dè dặt, quá kín đáo, một người đàn ông trông bình thường, một người mà nếu xét đoán từ sự thành công của anh ta, lại là một tay trùm địa ốc thiên phú ngoại hạng. Hình ảnh của Mack, với ngoại hình đẹp trai gây choáng váng, với bản tính khôi hài tuyệt diệu, với sự duyên dáng luôn có của anh tràn ngập tâm trí tôi.
Tôi nhớ có nghe nói rằng Mack đã vượt lên Galbraith bằng những điểm số ấn tượng để nằm trong “top ten” của lớp tốt nghiệp. Điều đó hẳn là một cú đấm mãnh liệt vào cái tôi của Galbraith, tôi nghĩ thế. Và sau khi Mack biến mất, Barbara, người con gái Nick nói từng say mê Mack lại lấy Galbraith, có thể để có tấm vé vào trường y khoa...
“Tôi đã gặp Barbara tại nhà tôi nhiều năm trước đây”. Tôi nói. “Tôi sẽ cảm kích nếu có cơ hội được nói chuyện với cô ấy”.
“Tôi e rằng điều đó là không thể được”. Galbraith nói thẳng thừng. “Cha cô ấy đang bệnh nặng. Ông ấy sống ở Martha’s Vineyard. Cô ấy đã bay đến đó với các con để có mặt trong những tuần lễ cuối cùng của ông”. Anh đứng lên, và tôi nhận được tín hiệu là cuộc gặp gỡ đã kết thúc. Anh tiễn tôi ra phòng tiếp tân, và tôi đưa tay ra bắt tay anh. Tôi không thể quên cách anh chà xát lòng bàn tay vào ống quần tây trước khi miễn cưỡng nắm bàn tay tôi. Tay anh đầy mồ hôi và ẩm ướt. Một con người bình thường trong bộ đồ tây đắt tiền. Cặp mắt anh khẽ chớp.
Tôi nhớ Nick đã gọi anh ta là “Kẻ Xa Lạ Đơn Độc”.

0
40
 
Nếu có kẻ nào Lil Kramer ghét hơn Howard Altman thì đó là Steve Hockney, cháu trai của Derek Olsen. Đó là lý do tại sao khi hắn đến mà không báo trước vào sáng thứ Sáu, Lil cảm thấy hoàn toàn bối rối. Lời khuyên của Howie đối với bà và Gus - là sẽ không khôn ngoan nếu bỏ chạy đến Pennsylvania cứ như thể họ có điều gì cần che giấu vậy - thoạt tiên họ đã hoan nghênh với lòng biết ơn. Nhưng bà hoàn toàn ý thức được những mối liên kết rất dễ thay đổi của Olsen giữa cháu trai với trợ lý của lão, Howie, và việc gặp Steve một mình khiến bà hoảng sợ.
Howie đang bị thất sủng với Olsen, bà nghĩ, và Steve sẽ thay thế. Bà vui mừng rằng Gus đã đi lên lầu để thay mấy bộ lọc ở một số máy điều hòa nhiệt độ. Ông ấy đang trong tâm trạng cộc cằn sau khi lau chùi cầu thang giữa tầng hai và tầng ba. Một trong những sinh viên cao đẳng đã đổ bia ra đó suốt cả đêm.
“Lẽ ra chúng phải kéo một cái thùng chứa bia lên”. Ông gầm gừ nhiều phút trước khi Hockney đến. “Đổ bia tràn lan khắp nơi suốt cả đêm. Chẳng cần giết chúng mà cứ để chính bọn chúng phải đi lau chùi mới phải”.
Thật tốt là Gus đã chú ý đến điều đó trước khi Hockney đến đây, bà nghĩ. Hắn có thể biểu diễn một màn trình diễn lớn, kiểm tra các hành lang và cầu thang để cố tìm ra điều gì đó sai sót. Một sinh viên có vẻ mệt mỏi đi vượt qua bà. Suy cho cùng, có lẽ sẽ thật thoải mái khi không bị bận rộn suốt cả ngày, cố làm ra vẻ lịch sự, bà mời Hockney vào trong và hỏi xem hắn có muốn một tách trà không. Hắn ngoác miệng cười tươi với bà trong khi sải bước đi qua mặt bà.
Chắc chắn hắn có vẻ bảnh trai, bà nghĩ, và hắn biết điều đó. Hắn luôn tự mãn về mình, và khi hắn khoảng hai mươi, Olsen đã phải đóng tiền bảo lãnh tại ngoại cho hắn vì một vài vấn đề rắc rối. Hắn suýt phải đi tù. Giờ đây có ánh nhìn xấc láo nào đó ẩn trong đôi mắt hắn. Hắn từ chối tách trà, nhưng ngồi vào cái ghế trường kỷ, tay duỗi dài trên lưng ghế, cặp chân bắt chéo.
“Lil,” Hắn bắt đầu “cậu tôi đã được tám mươi ba tuổi vào tháng trước”.
“Tôi biết”. Bà đáp. “Chúng tôi đã gửi cho ông ấy một tấm thiệp”.
“Bà tốt hơn tôi đấy”. Steve lại mỉm cười. “Nhưng đã đến lúc tôi cảm thấy mình phải đảm đương nhiều việc quản lý các hoạt động làm ăn của ông ấy. Bà biết ông ấy đấy. Ông sẽ không tỏ vẻ rằng ông biết mình đã già, nhưng tôi có thể thấy ông đang già đi. Tôi cũng biết rằng gần đây Howie Altman đang làm ông ấy bực bội rất nhiều”.
“Chúng tôi làm việc thuận thảo với ông ấy”. Lil thận trọng nói.
“Hắn đang dọa dẫm các người phải từ bỏ căn hộ này phải không?”
“Tôi nghĩ điều đó đã qua rồi”.
“Hắn là kẻ hay thích bắt nạt. Tôi nghĩ cậu tôi sẽ nghe các người nếu các người làm cho ông ấy biết Howie đã và đang khó chịu như thế nào với cả hai người”.
“Tại sao tôi lại gây ra rắc rối khi việc ông Olsen nghĩ gì về Howie đâu phải là việc của tôi”.
“Bởi vì tôi muốn có sự giúp đỡ của các người, Lil ạ. Dường như bà đã quên rằng tôi có mặt ở đây trong tòa nhà này khi Mack MacKenzie gần như đang kết tội bà về việc ăn cắp cái đồng hồ của cậu ta”.
Cặp môi trắng nhợt, Lil lắp bắp: “Cậu ấy đã tìm ra cái đồng hồ đó. Cậu ấy đã xin lỗi rồi mà”.
“Có ai nghe thấy cậu ta xin lỗi không?”
“Tôi không biết. Tôi muốn nói là không. Tôi không nghĩ thế”.
Hockney duỗi người dài ra trên cái ghế trường kỷ. “Lil, bà đang nói dối về lời xin lỗi. Tôi có thể nói thế. Nhưng đừng lo lắng. Tôi đã chẳng nói với ai về cái đồng hồ của Mack và sẽ chẳng bao giờ làm thế. Chúng ta đâu có thích Howie, phải không Lil? Nhân tiện tôi sẽ nói với cậu Derek rằng tòa nhà này là món nữ trang trên vương miện của ông ấy, nhờ vào cách bà và Gus bảo dưỡng nó”.

0
41
 
Derek Olsen không chỉ là một lão già nóng nảy, hay hờn dỗi như Steve, cháu trai của lão và tay quản lý tòa nhà, Howie nghĩ về lão. Lão còn là một nhà đầu tư sắc sảo, quan sát những cổ phần bất động sản của lão trong các tòa nhà chung cư được chọn lựa một cách chiến lược biến thành gia tài cá nhân trị giá nhiều triệu đô-la. Giờ đây lão kết luận rằng đã đến lúc thanh lý tài sản.
Sáng thứ Sáu, lão gọi điện đến Wallace và Madison, và cộc cằn đòi nối đường dây cho lão với Elliott Wallace. Thư ký của Elliott, từ lâu đã quen với cách ứng xử của Olsen, nên không nói rằng ông Wallace đang trên đường đi đến dự một cuộc họp khẩn. Thay vì vậy, cô yêu cầu lão giữ máy, rồi chạy ào xuống hành lang để bắt kịp Elliott ở thang máy. Cô nói: “Thưa có ông Olsen gọi đến ạ”.
Với tiếng thở dài bực bội, Elliott bước lui lại văn phòng và nhấc máy điện thoại. “Derek, anh khỏe không?” Ông hỏi, giọng nồng nhiệt.
“Tôi khỏe. Người cháu trai của anh đang gặp nhiều rắc rối, tôi biết”.
“Như anh biết rõ, Mack đã mất tích mười năm. Thật phi lý khi cảnh sát đang cố gắng kết nối cậu ấy với bất kỳ tội ác nào. Tôi có thể làm gì cho anh?”
“Cậu ta đã gây ra rất nhiều rắc rối cho tôi khi biến mất dạng trong lúc đang sống ở một trong những căn hộ của tôi. Dẫu sao, đó chẳng phải là lý do tôi gọi. Sinh nhật của tôi là vào tháng trước. Tôi đã tám mươi ba tuổi. Đã đến lúc cần bán hết mọi thứ”.
“Tôi đã gợi ý điều đó trong vòng năm năm qua”.
“Nếu bán cách đây năm năm, tôi sẽ không lấy được cái giá như tôi có bây giờ. Tôi sẽ đến nói chuyện với anh. Sáng thứ Hai, lúc mười giờ có tiện cho anh không?”
“Thứ Hai lúc mười giờ là được”. Elliott nói một cách thân ái. Khi chắc chắn rằng Olsen đã cúp máy, ông ném mạnh cái điện thoại vào giá đỡ. “Tôi sẽ phải thu xếp lại lịch làm việc cho cả ngày hôm nay”. Ông cáu kỉnh nói với người thư ký trong khi vội vã quay trở lại thang máy.
Cô nhìn ông đi với đôi mắt thông cảm. Cuộc họp đã được thu xếp để quyết định xem ai sẽ đảm đương các trọng trách của Aaron Klein tại hãng. Sau khi ở nhà bốn ngày, Klein gọi điện thoại đến để từ nhiêm, nói rằng anh không thể làm việc sát cánh với người ủng hộ kẻ giết mẹ anh.

0
42
 
Gregg Andrews đã vạch ra một khuôn mẫu cho anh, và anh gắn bó với nó. Sau khi rời bệnh viện, anh đi về nhà, ăn vội một cái gì đó, rồi đi thẳng lên giường ngủ. Đồng hồ báo thức của anh được cài lúc 1 giờ sáng. Vào khoảng 2 giờ sáng, anh đang uống lon bia tại quán Woodshed và ngồi đó cho đến tận giờ đóng cửa. Rồi ngồi trong xe xuôi xuống phố, anh ngắm nhìn cách những người phục vụ, người pha chế rượu, và các thành viên trong ban nhạc bước ra khỏi tòa nhà, kiểm tra để thấy là tất cả bọn họ đều ra về, người này sau người kia chỉ vài phút, và không ai bước ra một mình, như tất cả bọn họ đã quả quyết về cái đêm Leesey biến mất dạng.
Trong ba đêm qua, anh đã đi bộ quãng đường một dặm giữa câu lạc bộ và căn hộ của Leesey, dừng lại để nói chuyện với bất kỳ ai anh gặp trên đường phố và hỏi xem họ có ngẫu nhiên có mặt quanh quẩn đó vào thời điểm Leesey biến mất và có khi đã trông thấy cô ấy chăng. Câu trả lời luôn là không. Đêm thứ Tư và thứ Năm anh lái xe tới lui khắp các con đường khác, vì sợ có khi con bé đã không đi con đường thẳng gần nhất.
Vào sáng thứ Bảy lúc 3 giờ 30, sau khi quan sát những nhân viên khóa cánh cửa Woodshed lại, anh sắp sửa lái xe quanh khu lân cận thì có tiếng gõ nhẹ lên cửa sổ xe. Một gã đàn ông mặt đầy những vệt bẩn với mái tóc rối bù đang nhìn anh chằm chằm. Chắc hắn muốn xin tiền. Gregg quay kính cửa xe xuống vài phân.
“Anh là người anh trai”. Người đàn ông nói, giọng khào khào, hơi thở đầy mùi rượu chua nồng. Theo bản năng, Gregg lùi đầu ra sau. “Vâng, đúng thế”.
“Tôi đã trông thấy cô ta. Anh hứa là tôi sẽ có tiền thưởng chứ?”
“Nếu anh có thể giúp tôi tìm ra em gái tôi, thì vâng”.
“Hãy ghi tên tôi này”.
Gregg thò tay vào ngăn để găng tay và lôi ra một tập giấy.
“Zach Winters. Tôi sống trong khu nhà dành cho người vô gia cư trên phố Mott”.
“Anh nghĩ đã trông thấy em tôi à?”
“Tôi đã trông thấy cô ấy cái đêm cô ấy biến mất dạng”.
“Tại sao anh không ra nói ngay?”
“Chẳng ai tin loại người như tôi cả. Khi tôi bảo họ tôi trông thấy cô ấy, điều kế tiếp họ sẽ nói là tôi đã làm điều gì đó với cô ấy. Đó là điều sẽ xảy ra”. Winters đặt một bàn tay cáu ghét lên xe để giữ cho mình đứng vững.
“Nếu như bất kỳ điều gì mà anh kể cho tôi nghe giúp chúng tôi tìm thấy em gái tôi, đích thân tôi sẽ trao khoản tiền thưởng cho anh. Anh biết gì chứ?”
“Cô ấy là người khách hàng cuối cùng bước ra. Cô ấy bắt đầu đi bộ theo lối đằng kia”. Hắn chỉ tay. “Rồi một chiếc SUV lớn chạy đến và ngừng lại”.
Gregg cảm thấy ruột gan xoắn lại. “Cô ấy có bị buộc phải bước vào trong đó không?”
“Không hề. Tôi nghe thấy người tài xế gọi: ‘Ê, Leesey’ và cô ấy nhảy ngay vào chiếc SUV”.
“Anh có thể nói nó là loại xe nào không?”
“Chắc chắn. Đó là chiếc Mercedes màu đen”.

0
43
 
Sáng thứ Bảy, hắn mệt lử vì một trong những đợt hối hận đã thành định kỳ lại đến. Hắn cảm thấy ghê tởm bởi những gì đã làm. Ta chẳng nghĩ ta sẽ lại giết bất kỳ ai nữa. Ta đã sợ hãi rồi mà. Sau vụ đầu tiên, ta cố gắng giữ mình tốt lành. Nhưng rồi nó lại xảy ra hai lần. Ta vẫn cố ngừng lại. Nhưng ta đã không thể. Thế rồi lão đã khiến ta phải làm lại một lần nữa - và rồi một lần nữa. Và sau đó thì ta không thể ngừng lại được.
Đôi khi ta cảm thấy muốn kể cho lão nghe. Nhưng điều đó là điên khùng, mà ta thì không điên khùng.
Ta đang suy nghĩ về một ý tưởng mà ta có. Nó sẽ nguy hiểm, nhưng suy cho cùng, lúc nào mà nó chẳng nguy hiểm. Ta biết một ngày kia ta sẽ bị bắt. Nhưng ta sẽ không để họ tống ta vào tù. Ta sẽ đi theo cách của mình và sẽ đem theo bất kỳ kẻ nào.
Ta đã không chạm đến cái điện thoại kể từ đêm thứ Tư. Ta sẽ gọi một cú điện thoại nữa vào ngày Chủ nhật.
Ý kiến đó mới hay làm sao.
Và sau đó ta sẽ tìm ra một ai khác.
Bây giờ chưa phải là lúc dừng lại.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.02.2016 21:43:01 bởi casau>
44
 
Sáng sớm thứ Bảy, Gregg Andrews gọi vào điện thoại di động của Larry Ahearn, những từ ngữ lộn xộn tuôn ra từ miệng anh, báo lại rằng có người đã nhìn thấy Leesey bước vào một chiếc Mercedes SUV màu đen trong cái đêm cô ấy biến mất. “Và con bé biết người tài xế”. Gregg nhấn mạnh, giọng anh khào khào vì mệt nhọc và căng thẳng. “Hắn gọi to tên con bé, và thế là con bé nhảy ngay vào xe”.
Sau mười một hay mười hai ngày kể từ khi Leesey được báo cáo là đã mất tích, Ahearn không ngủ nhiều hơn bốn tiếng mỗi đêm. Khi điện thoại reo, anh có mặt ở nhà, đang trong giấc ngủ nặng nề vì mệt lử. Giờ đây phải chiến đấu với chính bản thân để thức dậy, anh nhìn đồng hồ. “Gregg, bây giờ là 4 giờ 30 sáng. Anh đang ở đâu?”
“Tôi đang trên đường tới căn hộ của mình. Tôi có Zach Winters, một người lang thang đi cùng với tôi. Anh ta say rượu. Tôi sẽ để anh ta ngủ qua cơn say trong căn hộ của tôi, rồi tôi sẽ đưa anh ta lại để nói chuyện với anh. Tôi tin rằng anh ta chẳng biết gì nhiều hơn những điều tôi kể với anh, nhưng nó lại chính là điểm dẫn đường vững chắc đầu tiên của chúng ta. Còn chủ nhân của cái hộp đêm đó thì sao, cái gã đã mời Leesey đến ngồi tại bàn của hắn ấy? Hắn lái xe gì?”
Nick DeMarco lái chiếc SUV đêm hôm đó, Ahearn nghĩ. Hắn bảo với bọn ta rằng hắn lái chiếc xe đó vì đang mang các dụng cụ đánh golf. Ta không chắc hắn đã nói nó màu gì. Giờ đây hoàn toàn tỉnh táo, anh ngồi dậy, trượt ra khỏi giường, và đi vào hành lang, đóng cửa phòng ngủ lại phía sau lưng. “DeMarco có ít nhất là ba chiếc xe khác nhau”. Anh thận trọng nói. “Hãy để chúng tôi tìm xem chiếc SUV của hắn có phải là xe Mercedes màu đen không. Tôi cho rằng tôi nhớ nó là như vậy. Gregg, chúng tôi cũng phải kiểm tra người nhân chứng này. Anh nói tên hắn là Zach Winters hả?”
“Đúng đấy”.
“Chúng tôi cũng sẽ kiểm tra hắn. Nếu anh đưa hắn đến căn hộ của mình, hãy cẩn thận nhé. Hắn có vẻ là một kẻ nghiện rượu đấy”.
“Quả đúng vậy. Nhưng tôi không bận tâm. Có lẽ hắn sẽ nhớ thêm cái gì đó về Leesey. Ôi, Chúa ơi!”
“Gregg, có chuyện gì thế?”
“Larry, tôi ngủ gục. Suýt nữa tôi đụng phải chiếc taxi đang cắt ngang phía trước. Tôi sẽ gặp anh khoảng mười giờ tại văn phòng anh”.
Một tiếng lách cách bảo cho Ahearn biết là Gregg Andrews đã cúp điện thoại.
Cánh cửa phòng ngủ mở ra. Vợ Larry, Sheila, vẫn còn đang thắt lại sợi dây thắt lưng áo ngủ của cô, nói nhẹ nhàng: “Em sẽ pha cà phê trong lúc anh đi tắm nhé”.
* * * * *
Một tiếng sau Larry có mặt ở văn phòng với Barrott và Gaylor. “Điều đó có vẻ đáng ngờ đối với tôi”. Barrott thẳng thừng nói.
Gaylor gật đầu. “Tôi dự đoán rằng nếu gã này, tên gã là gì nhỉ, Zach Winters mà có mặt ở khu phố của quán Woodshed tối hôm đó, có lẽ hắn cũng say khướt không thể nhìn thấy, còn nói gì đến việc nghe thấy điều người ta nói. Tôi cá mất bất cứ món gì rằng hắn chỉ đang cố gắng lấy cho được giải thưởng thôi”.
“Đó là cách tôi nhìn vấn đề”. Ahearn đồng ý. “Nhưng chúng ta hãy bắt đầu kiểm tra hắn trước đã. Gregg nói sẽ đem hắn đến đây lúc mười giờ”.
Gaylor đang tham khảo những ghi chú của anh. “Khi DeMarco có mặt ở đây lần đầu tiên, hắn nói về việc có chiếc SUV trong garage căn hộ tiện nghi bởi vì hắn sắp sửa chuyển các dụng cụ đánh golf của hắn ra máy bay sáng hôm sau”. Anh nhìn Barrott và Ahearn. “Chiếc SUV của hắn là một chiếc Mercedes màu đen”. Anh nói gãy gọn.
“Do vậy, có thể sau khi rời câu lạc bộ, anh ta đi đến căn hộ tiện nghi đó, lấy nó, rồi quyết định trở lại và cố tìm cách liên lạc với Leesey”. Môi Ahearn trở thành một đường khép chật hẹp. “Tôi nghĩ đã đến lúc gây áp lực với DeMarco và để cho giới truyền thông biết rằng hắn ta cũng là ‘một kẻ đáng chú ý’ trong vụ Leesey mất tích”.
Barrott đang mở hồ sơ MacKenzie ra. “Nghe này, Larry. Lần đầu tiên người cha đến đây khi đứa con trai bị báo cáo là mất tích, người của ta đã ghi chú những gì ông ta nói. ‘Không có lý do gì để Mack bỏ đi như vậy. Nó đang trên đỉnh cuộc sống rồi. Tốt nghiệp vào hàng “top ten” trong lớp. Trường Luật Duke. Đã mua cho nó một chiếc Mercedes SUV làm món quà tặng tốt nghiệp. Anh chẳng bao giờ thấy một đứa trẻ vui mừng đến thế. Chiếc SUV chỉ mới chạy hai trăm dặm khi hắn biến mất dạng’.”
“Thế thì sao?” Ahearn ngắt lời.
“Hắn ta đã bỏ nó trong garage khi biến mất dạng”.
“Anh có hỏi nó màu gì không?”
“Nó màu đen. Tôi chỉ đang tự hỏi không biết nó có vẫn còn là loại xe Mack ưa thích nhất không?”
“Thế điều gì đã xảy ra cho chiếc mà người cha mua cho hắn?”
“Tôi không biết. Có thể người em gái sẽ bảo cho chúng ta biết”.
“Hãy gọi điện thoại cho cô ấy”. Ahearn ra lệnh.
“Bây giờ thậm chí còn chưa đến sáu giờ”. Gaylor lưu ý.
“Chúng ta đều thức cả, phải không?” Barrott nói.
“Chờ chút”. Ahearn đưa tay lên. “Roy, anh có yêu cầu Carolyn MacKenzie đưa cho anh lá thư ngắn mà anh trai cô ta để lại trong cái rổ đựng đồ quyên góp không?”
“Cô ấy đã trao cho tôi vào ngày cô ấy đến đây gặp tôi cách đây hai tuần”. Barrott nói, hơi có chút gì đó phòng vệ. “Tôi đã trả nó lại cho cô ta. Đó là một mẩu giấy viết chữ in có mười từ trên đó. Tôi nghĩ sẽ chỉ là vô ích nếu cố làm điều gì đó với nó. Chúng ta không có dấu vân tay của anh trai cô ta trong hồ sơ. Chú của cô ta, vị mục sư, ít ra còn có thêm một người dẫn chỗ ở nhà thờ, bản thân MacKenzie, và mẹ cô ta đều đã đụng chạm đến nó”.
“Có lẽ nó chỉ là vô dụng mà thôi, nhưng tôi muốn xuất ra một trát đòi hầu tòa vì điều đó, và cho cả cuộn băng mà cô ta đã không đưa cho anh cái đêm hôm ấy. Bây giờ hãy gọi điện cho Carolyn và hỏi xem điều gì đã xảy ra với chiếc xe hơi của anh trai cô ta. Tôi đoán là sau một hoặc hai năm, họ đã bán nó đi rồi”.
Barrott thừa nhận với chính mình rằng ông cảm thấy có điều gì đó thật thỏa mãn khi đánh thức Carolyn quá sớm. Việc cô ta từ chối không mở cuộn băng hay đưa nó cho ông vào chiều tối thứ Hai đã thuyết phục ông rằng chẳng phải nghi ngờ gì cả, cô ta đang cố bảo vệ anh trai mình. Ông hài lòng khi cô trả lời ngay hồi chuông thứ nhất, cho thấy là cô ta cũng chẳng ngủ được ngon giấc. Có ai trong số chúng ta ngủ được đâu, ông nghĩ. Ông nói chuyện với cô thật ngắn gọn. Từ cái nhìn giật mình trên khuôn mặt ông, Ahearn và Gaylor biết rằng ông đã có được những diễn biến đáng chú ý.
Khi ngắt đường dây, Barrott nói: “Cô ta sẽ kiểm tra với luật sư. Nếu ông ấy đồng ý, cô ta sẽ nộp cuộn băng và lá thư. Các anh có lẽ đã nghe thấy tôi đảm bảo với cô ta rằng ông ấy sẽ đồng ý chứ”.
“Còn về chiếc SUV của anh trai cô ta thì sao?”
“Các anh sẽ không thể tin được điều này. Nó bị đánh cắp khỏi garage Sutton Place trong tòa nhà căn hộ của gia đình khoảng tám tháng sau khi Mack bỏ đi”.
“Bị ăn cắp à?” Gaylor cảm thán kêu lên.
“Những chiếc xe khác có bị lấy không?” Ahearn nhanh chóng hỏi.
“Không, đó là chiếc duy nhất. Đó không phải là một phương tiện lớn. Một đứa trẻ trực ca, ngủ quên trong chòi canh sau nửa đêm. Điều kế tiếp mà nó biết là nó đã bị đập một cái túi vào đầu, băng keo dán lên miệng, và bị cột chặt hai tay vào ghế. Khi người ta tìm ra nó thì chiếc SUV đã biến mất”.
Ba người đàn ông nhìn nhau. “Nếu Mack ăn trộm chiếc xe của chính mình, rất có thể hắn vẫn đang lái nó”. Gaylor gợi ý. “Cha vợ tôi đã lái chiếc Mercedes trong vòng hai mươi năm”.
“Và nếu hắn vẫn đang lái nó, cũng như nếu câu chuyện của gã say rượu kia được kiểm tra, sẽ có cơ hội tốt ngang bằng rằng Leesey có thể đã đi xe với Mack, chứ không phải DeMarco”. Ahearn u ám nói. “Được rồi, chúng ta hãy lấy những trát hầu tòa đã. Có thể cuộn băng mà Mack thực hiện với giáo viên kịch nghệ sẽ có điều gì đó giúp chúng ta làm việc được”.

0
45
 
Howard Altman ý thức rất rõ về sự tin cậy bấp bênh, dễ thay đổi của chủ hắn, mà dấu hiệu lờ mờ đầu tiên cho hắn thấy rằng có điều bất ổn nghiêm trọng đã xảy ra là khi lão Olsen không đi ra ngoài ăn điểm tâm muộn với hắn sáng thứ Bảy. Hắn chú ý thấy Olsen sử dụng cây bút Montblanc mới và dự đoán chính xác có lẽ đấy là món quà của Steve Hockney, cháu trai của Olsen.
Steve đang ve vãn lão già, Howard cay đắng nghĩ. Cứ như thể là Olsen sẽ để lại mọi thứ cho hắn vậy. Điều đầu tiên Steve sẽ làm là sa thải ta. Rồi hắn sẽ bán tất cả các tòa nhà chung cư và đút tiền vào túi.
Tòa nhà hắn đang sống trên đường số Chín Mươi Tư là tòa nhà nhỏ nhẩt mà Olsen sở hữu. Nó cao bốn tầng và chỉ có hai căn hộ ở mỗi tầng. Hầu hết những người thuê nhà đã ở đó nhiều năm. Căn hộ của hắn là căn duy nhất nằm trên tầng tiền sảnh. Đồ đạc thưa thớt và gọn gàng không chê vào đâu được. Cái tivi sáu mươi inch của hắn chiếm gần hết căn phòng khách. Hầu hết các buổi chiều của Howard được chia đều cho hai hoạt động mà hắn ưa thích nhất, xem phim trên truyền hình và ngồi vào mạng internet với các bồ tèo của hắn khắp nơi trên thế giới. Hắn thấy họ thú vị vô tận, hơn nhiều so với những kẻ hắn gặp trong cuộc sống thường ngày.
Là một đầu bếp tuyệt hảo, hắn luôn nấu cho mình những bữa cơm tối ngon miệng, xem một cuốn phim trong khi thưởng thức hai ly vang, và ngồi ăn tại cái bàn có khay, sau đó tắt tivi rồi đi thẳng vào cái máy tính đặt trong phòng ngủ.
Howard yêu căn hộ này, nó đến cùng với việc làm của hắn. Hắn yêu công việc mình có, đặc biệt là giờ đây hắn đang phụ trách hết tất cả các tòa nhà của Olsen. Ta kiếm được tiền từ đó, hắn tự nhủ, đầy tính phòng vệ. Ta có nó bởi vì ta đã chứng tỏ được mình. Ta có thể sửa chữa bất kỳ cái gì hư hỏng ở đó. Ta có thể dựng bức tường lên để biến một căn phòng thành hai. Ta có thể thay hệ thống dây điện cũ và lắp đặt tủ mới. Ta có thể sơn phết, dán giấy tường và cạo sàn nhà. Đó là lý do tại sao Olsen cứ tiếp tục thăng chức cho ta. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu lão ấy để lại tất cả cho Steve?
Câu hỏi đó cứ dằng dai trong tâm trí hắn. Có lần hắn đã không thể tập trung vào cuốn phim đang chạy trong đầu máy DVD. Làm cách nào hắn có thể khiến cho Olsen phải đối xử chua cay với thằng cháu trai của lão nhỉ?
Thế rồi câu trả lời đến với hắn. Hắn có chìa khóa chính của tất cả các căn hộ trong tòa nhà nơi Steve Hockney sống. Hắn sẽ đặt một camera an ninh trong căn hộ của Steve. Ta đã từng thấy hắn phê, và ta từng luôn ngờ vực rằng hắn có xài ma túy, Howard nghĩ. Nếu ta có thể chứng minh điều đó, nó sẽ kết liễu hắn với ông cậu của hắn.
Một giọt máu đào hơn ao nước lã. Có thể là thế.
Hài lòng vì đã tìm ra được một giải pháp khả thi cho vấn đề rắc rối đang đe dọa, hắn tắt tivi và đi xuôi theo hành lang về phòng ngủ. Hắn mỉm cười với âm thanh u u quen thuộc mà hắn nghe thấy mỗi khi bật máy vi tính.
Hắn thấy là tối nay mình đã trông ngóng kết nối với tay bạn tên Singh ở Mumbai nhiều đến đâu.

0
46
 
Tôi hầu như chẳng ngủ được đêm thứ Sáu, và cuộc gọi điện thoại lúc sáu giờ sáng ngày thứ Bảy từ thám tử Barrott đã chấm dứt bất kỳ hy vọng nào để tôi lại có thể trôi vào giấc ngủ trong ít nhất vài tiếng đồng hồ nữa.
Tại sao thám tử Barrott lại quan tâm xem chuyện gì đã xảy ra cho chiếc SUV của Mack nhiều đến thế nhỉ? Tôi tự hỏi mình khi đặt ống nghe xuống và bước ra khỏi giường. Như thường lệ, tôi để ngỏ các cánh cửa sổ phòng ngủ và đi chân không qua căn phòng để đóng chúng lại. Mặt trời hầu như đã mọc trên sông East River và thời tiết hứa hẹn một ngày tuyệt đẹp. Cơn gió thoảng mát mẻ, và tôi thấy lần này những người dự báo thời tiết đã đúng - trời sẽ có nắng và dễ chịu, nhiệt độ vào khoảng mười chín độ. Tóm lại, đó là một buổi sáng tuyệt hảo vào cuối tháng năm, có nghĩa là ngay bây giờ, chẳng còn gì phải ngờ vực, đã có một dòng người ra khỏi thành phố để đi đến chỗ nghỉ hè của họ từ tối hôm qua rồi. Cư dân ở Sutton Place nếu không có cái nhà thứ hai ở Hamptons thì hầu như không tránh khỏi có một cái ở Cape, hay Nantucket, hay Martha’s Vineyard, hoặc ở đâu đó.
Cha chẳng bao giờ muốn gắn chặt vào một căn nhà nghỉ mát, nhưng trước khi Mack biến mất, chúng tôi đã luôn đi chơi xa vào tháng tám. Tôi ưa thích nhất là năm tôi mười lăm tuổi, khi cha thuê một căn biệt thự gần Tuscany, cách Florence khoảng nửa tiếng đồng hồ. Đó là một tháng huyền ảo, còn nhiều hơn thế vì đó là lần cuối cùng tất cả chúng tôi có mặt cùng với nhau.
Tâm trí tôi ngừng quay về quá khứ để trở lại với hiện tại. Tại sao Barrott lại gọi cho tôi về chiếc SUV của Mack chứ?
Garage của chúng tôi khá nhỏ. Nó chỉ chứa được xe hơi của các cư dân trong tòa nhà, với chừng mười khoảng trống đậu xe thêm cho khách viếng thăm. Cha vừa mới mua một chiếc SUV cho Mack một tuần trước khi anh biến mất. Mack đã đậu nó trong garage ở phía Bờ Tây, gần bên căn hộ của anh. Khi anh biến mất được hai tuần, cha đã dùng chiếc chìa khóa dự phòng để đưa chiếc SUV quay về đây. Tôi nhớ rằng rõ ràng Mack đã lái nó trong thời tiết xấu bởi vì pó có một ít bùn bắn tung tóe lên bên hông xe và trên tấm thảm chùi chân của tài xế. Cha đã trả tiền cho một gã trong garage lau chùi nó. Và gã đã làm kỹ càng - quá kỹ đến nỗi chẳng thể phục hồi được gì khi cảnh sát quyết định kiểm tra chiếc xe để lấy dấu vân tay.
Khi nó bị lấy cắp đi, cha đã chắc chắn rằng một trong những người phục vụ trong garage đã phát hiện ra nó và lên kế hoạch ăn trộm. Ông đã luôn nghĩ rằng cái gã bị trói chặt ấy năm trong âm mứu này, nhưng do không có bằng cớ nên chẳng bao lâu sau ông đành phải bỏ qua.
Tại sao Barrott lại gọi cho tôi về chiếc SUV của Mack chứ?
Câu hỏi ấy cứ lặp đi lặp lại trong đầu khi tôi pha cà phê và đánh một cái trứng để chiên. Báo chí được giao tận nhà và tôi liếc qua chúng trong lúc ăn. Các tờ báo khổ nhỏ vẫn tiếp tục khai thác việc Leesey Andrews biến mất dạng và tự lập luận về sự liên quan của Mack. Việc Aaron Klein kết án Mack đã giết chết mẹ anh ta để lấy lại những cuộn băng vẫn còn là một câu chuyện nóng hổi. Giờ đây trên trang ba có bức hình đăng trong cuốn kỷ yếu của Mack, nhưng nó được áp dụng kỹ thuật tăng cường độ tuổi lên để cho thấy anh trông có thể như thế nào ngày nay. cố gắng không khóc, tôi nhìn kỹ nó. Gương mặt Mack hơi tròn một chút, đường viền tóc hơi cao hơn, nụ cười mơ hồ. Tôi tự hỏi không biết Elliott đã có trên tay những tờ báo này chưa, và nếu rồi, thì mẹ đã nhìn thấy chúng chưa?
Tôi biết bà, bà hẳn sẽ khăng khăng đòi xem chúng. Tôi nghĩ về điều Elliott đã nói với tôi trong văn phòng của Thurston Carver - rằng mẹ đã luôn bị thuyết phục rằng một chứng mất trí nào đó đã khiến Mack biến mất. Giờ đây tôi tự hỏi nếu bà đúng, và nếu là như vậy, có thể nào Mack đã ăn cắp chiếc xe hơi của chính mình không? Viễn ảnh đó không thể tin nổi đối với tôi đến mức tôi nhận ra rằng mình đang lắc đầu. “Không, không, không”. Tôi kêu to lên.
Nhưng tôi đã nói chuyện với anh ấy cách đây hai tuần, tôi thú nhận với chính mình. Anh đã để lại lời nhắn đó cho chú Dev. Điều giải thích có lý duy nhất cho hành vi ứng xử của Mack đó là anh không có lối suy nghĩ hợp lý. Mẹ e sợ rằng chẳng biết anh có phải chịu trách nhiệm về việc Leesey biến mất, và có đang bị cảnh sát truy tìm hay không, anh có thể bị bắn nếu cưỡng lại việc bắt giữ. Điều đó có hợp lý và có thể xảy ra không? Tôi tự hỏi mình.
Cả cha mẹ lẫn tôi đều không thấy có dấu hiệu gì về sự thay đổi hành vi ứng xử của Mack trước khi anh biến mất, nhưng có lẽ có ai đó khác đã thấy. Thế còn bà Kramer thì sao? Tôi tự hỏi mình. Giữa khoảng thời gian lau chùi và giặt giũ, bà ấy thường xuyên ở trong căn hộ của anh ấy. Bà ấy phản ứng một cách đầy lo lắng khi tôi gặp bà. Phải chăng bà đã cảm nhận về tôi như một mốì đe dọa? Có lẽ nếu gặp được bà một mình, không có chồng bà ở quanh quẩn, tôi sẽ có thể khiến bà cởi mở với tôi, tôi nghĩ thế.
Bruce Galbraith ghét bỏ Mack. Điều gì đã xảy ra giữa họ khiến gây ra tình trạng đó? Nick gợi ý rằng Barbara đã say mê Mack. Bruce chỉ đơn thuần ghen tuông, hay còn có điều gì xảy ra khiến anh ta vẫn nổi nóng sau cả mười năm rồi?
Dòng suy nghĩ khiến tôi phải xem xét chuyến đi của bác sĩ Barbara Hanover Galbraith đến Martha’s Vineyard để thăm người cha bệnh hoạn của cô ấy. Tôi tự hỏi cô dự định sẽ ở lại đó bao lâu. Tôi nhớ Bruce đã phản ứng một cách nóng nảy khi tôi bảo với anh rằng tôi muốn nói chuyện với cô ấy. Một ý nghĩ đến với tôi rằng anh ta đã cố tình đẩy cô ấy ra khỏi thành phố để ngăn tôi gặp cô hoặc cảnh sát tìm kiếm cô. Tên cô nằm trong hồ sơ của Mack như một người bạn thân, tôi nhắc nhở mình.
Tôi cho vài cái đĩa vào máy rửa bát, rồi đi vào phòng làm việc của cha và mở máy tính để xem có thể lấy địa chỉ và số điện thoại của cha cô ấy tại Martha’s Vineyard không. Có vài cặp Hanover, “Judy và Syd”, “Frank và Natalie” và một Richard Hanover được liệt kê ở Vineyard. Tôi biết mẹ của Barbara đã chết vào khoảng thời gian cô ấy tốt nghiệp nên lấy đại cơ hội đó, tôi quay số gọi Richard Hanover.
Một người đàn ông trả lời ngay hồi chuông thứ nhất. Đó là một giọng nói già nua, nhưng thật vui vẻ. Tôi đã suy nghĩ điều sẽ nói: “Đây là Cluny Flowers ở New York. Tôi muốn xác minh địa chỉ của Richard Hanover. Có phải đó là số mười một Maiden Path không?”
“Đúng rồi, nhưng ai sẽ gửi hoa cho tôi? Tôi đâu có bị ốm, chết, hay có ngày sinh nhật đâu?” Giọng ông nghe vững chãi và khỏe mạnh.
“Ô, tôi e mình đã nhầm”. Tôi nói nhanh. “Việc thu xếp này là dành cho một bà tên Judy Hanover”.
“Không có vấn đề. Lần sau có thể sẽ dành cho tôi. Chúc cô một ngày tốt lành”.
Khi cúp đường dây, phản ứng đầu tiên của tôi là xấu hổ với chính mình. Tôi đã trở thành một kẻ dối trá rành rành. Ý nghĩ thứ nhì của tôi là bác sĩ Barbara Hanover Galbraith đã rời New York không phải vì cha cô bị cơn đột quỵ, mà là vì cô ấy không muốn có mặt quanh quẩn ở đây để bị chất vấn về Mack.
Tôi biết mình sẽ làm gì. Tôi tắm rửa, mặc quần áo, rồi ném vài món đồ vào trong một cái túi. Tôi sẽ phải mặt đối mặt chất vấn Barbara. Nếu mẹ nói đúng, và Mack đã bị bệnh cách đây mười năm, thì cô ấy có chứng kiến hành vi cho thấy một căn bệnh tâm thần nào không? Tôi nhận ra rằng mình đang trở nên điên cuồng tạo một cái khung bảo vệ cho Mack nếu như anh có ở đó, còn sống, không ổn định và đang phạm các tội ác.
Tôi gọi đến điện thoại di động của Elliott. Thực tế khi ông không gọi tên tôi và nói bằng một giọng trầm nhỏ hứa sẽ gọi lại gợi cho tôi hiểu là mẹ đang trong tầm nghe thấy cuộc gọi.
Khi ông gọi lại nửa tiếng sau đó, tôi không thể tin được điều ông nói với tôi. “Thám tử Barrott của cháu đến đây tìm cách nói chuyện với mẹ cháu. Ta bảo rằng chúng ta sẽ gọi luật sư cùng có mặt, nhưng rồi Olivia hét lên với hắn điều gì đó đại loại như: ‘Ông không thấy là con trai tôi đang bị suy sụp à? Ông không hiểu là nó chẳng phải chịu trách nhiệm gì về bất cứ điều nào sao? Nó bị ốm. Nó chẳng biết điều nó đang làm’.”
Miệng tôi khô ran đến nỗi tôi chỉ có thể thì thào, mặc dù không cần thiết phải làm thế. “Thế rồi Barrott nói gì?”
“Hắn ta xác minh điều mẹ cháu nói rằng bà tin là Mack đang mắc bệnh tâm thần”.
“Bây giờ mẹ ở đâu vậy?”
“Carolyn, bà ấy bị kích động quá. Ta đã gọi một bác sĩ đến. Ông ấy chích cho bà một mũi thuốc và ông ấy cảm thấy là bà cần được theo dõi trong vài ngày. Ta sẽ lái xe đưa bà đến một viện điều dưỡng tuyệt vời ở Connecticut, nơi bà có thể nghỉ ngơi một chút và còn có thể được tư vấn về sức khỏe nữa”.
“Chỗ nào ạ?” Tôi hỏi. “Cháu muốn gặp chú ở đó”.
“Đó là Sedgwick Manor, ở Darien. Carolyn, đừng đến đó. Olivia không muốn thấy mặt cháu. Và điều đó chỉ càng làm bà ấy bực bội hơn nếu cháu cứ khăng khăng muốn đến thăm bà. Trong đầu óc bà, cháu đã phản bội Mack. Ta hứa là ta sẽ chăm sóc bà và sẽ gọi lại cho cháu ngay khi bà ổn định ở đó”.
Tôi không thể nói gì hơn là đồng ý. Chẳng còn gì tệ hơn cho Mack khi mẹ đã nói đi, nói lại với cảnh sát rằng anh ấy bị mất trí. Sau khi cúp máy, tôi đi vào phòng ngủ của mình, lấy cuộn băng của Mack ra nghe lại và xem xét kỹ mẩu giấy mà trên đó anh đã viết in mười từ cho chú Devon. “CHÚ DEVON, BẢO CAROLYN KHÔNG ĐƯỢC PHÉP TÌM KIẾM CHÁU”. Tôi lắng nghe giọng nói của anh: “Khi không được số phận và cặp mắt mọi người sủng ái. Ta chỉ có một mình khóc lóc vì bị ruồng bỏ và quấy rầy thiên đường lặng câm bằng những tiếng kêu than vô vọng của ta”.
Tôi hình dung được phản ứng của Barrott khi ông ta có thể đặt tay lên lá thư ngắn và cuộn băng nàv sau khi đã nghe những điều bộc phát của mẹ. Tôi chỉ ngưng được ý nghĩ đó khi người gác cửa gọi điện báo cho biết thám tử Gaylor đang trên đường đi lên lầu. “Tôi xin lỗi, cô Carolyn, ông ấy không để tôi thông báo cho cô về ông ấv. Ông ấy đưa tôi xem một cái trát hầu tòa mà ông ấy cần phải đưa cho cô”.
Trước khi chuông cửa reo, tôi điên cuồng gọi điện thoại di động cho Thurston Carver, vị luật sư biện hộ các vụ án hình sự. Ông nói với tôi như đã từng nói khi chúng tôi gặp tại văn phòng ông rằng tôi không thể từ chối giao nộp cái gì đã được ra lệnh trong trát hầu tòa.
Khi tôi mở cửa cho thám tử Gaylor, ông trao cho tôi một cái trát hầu tòa, phong cách của ông chuyên nghiệp và vô tư. Cái trát đó chính là để lấy lá thư ngắn Mack bỏ lại trong cái rổ đựng đồ quyên góp và cuộn băng tôi tìm thấy trong va-li của anh ấy. Run rẩy vì cơn thịnh nộ, tôi hầu như ném chúng vào mặt ông. Tôi có đôi chút thoải mái khi thấy rằng mình đã làm một phó bản cho mỗi thứ.
Sau khi ông ấy bỏ đi, tôi ngồi sụp xuống cái ghế gần nhất và lại nghe thấy trong đầu mình lặp đi lặp lại những lời trích dẫn của Mack: “Ta chỉ có. một mình khóc lóc vì bị ruồng bỏ...” Sau cùng, tôi đứng lên, đi về phòng ngủ và dọn sạch cái túi mà tôi đã bắt đầu đóng gói. Rõ ràng kế hoạch tôi dự định lái xe đến tận Martha’s Vineyard sẽ phải trì hoãn lại thôi. Tôi đã tập trung quá sâu vào bước đi logic tiếp theo đến mức không nhận ra là chuông điện thoại đang reo. Tôi chạy ào đến để nhận cuộc điện thoại đó. Đó là Nick, anh gần như sắp để lại lời nhắn. “Em đây”. Tôi đáp.
“Tốt. Lẽ ra đây chỉ là một lời nhắn ngắn gọn thôi, Carolyn”. Anh cộc lốc nói. “Anh nghĩ em cần biết rằng anh vừa mới được đưa tên vào danh sách kẻ bị chú ý trong vụ Leesey Andrews biến mất. Anh trông thấy từ những giấy tờ lập luận khác của cảnh sát rằng Mack đang chạy loanh quanh giết người. Có lẽ anh cũng nên nói cho em biết rằng trong khi anh bị suy sụp ở văn phòng Chưởng lý ngày thứ Năm thì thậm chí họ còn gợi ý rằng anh và em có thể đang hợp tác để bảo vệ Mack nữa đấy”.
Anh chẳng cho tôi cơ hội nào để đáp lại trước khi anh nói. “Anh sẽ bay đi Florida sáng nay, lần thứ hai trong tuần này. Cha anh đang ở trong bệnh viện. Ông ấy bị một cơn đột quỵ nhẹ ngày hôm qua. Anh kỳ vọng sẽ quay lại vào ngày mai. Nếu không có bất kỳ lý do gì khiến anh phải ở lại Florida, chúng ta có thể dùng cơm vào tối mai không?” Rồi anh nói thêm: “Thật quá tốt để gặp em, Carolyn ạ. Bây giờ anh đang bắt đầu hiểu tại sao anh đã cứ mong được mời đến ăn cơm tối với gia đình em và tại sao anh không có cùng tâm trạng như vậy khi cô em gái bé bỏng của Mack không có mặt quanh đó”.
Tôi nói với anh rằng tôi hy vọng cha anh sẽ sớm phục hồi, và vâng, tối mai sẽ được thôi. Tôi áp điện thoại di động vào tai một chút sau khi Nick đã cúp máy. Tâm trí tôi là một khối hỗn độn các cảm xúc xung đột nhau. Cảm xúc thứ nhất là tôi phải thừa nhận với chính mình tôi chưa bao giờ vượt qua được niềm say mê anh, rằng suốt cả tuần tôi cứ nghe thấy giọng nói của anh, vẫn nhớ sự nồng ấm mà tôi cảm thấy khi ngồi đối diện anh ở cái bàn tối hôm ấy.
Phản ứng thứ hai là tự hỏi không hiểu Nick có đang chơi trò mèo vờn chuột với tôi không. Văn phòng Chưởng lý đã đưa anh vào danh sách “kẻ bị chú ý” trong vụ Leesey Andrews mất tích. Tôi biết đó là điều rất, rất nghiêm trọng, thực tế là gần như bị kết án phạm tội. Nhưng cảnh sát cũng tin rằng anh ấy đang giúp tôi bảo vệ Mack. Nick không liên lạc với tôi suốt cả tuần, mặc dù tên Mack được nêu lên tít hàng đầu các báo. Khi chúng tôi dùng cơm tối, thậm chí anh còn không tỏ sự thương cảm mơ hồ với việc tôi sợ rằng Mack có thể cần được giúp đỡ.
Phải chăng Nick thực sự đã bị đưa tên vào danh sách kẻ bị chú ý? Hay đó chỉ là một mưu kế mà cảnh sát đưa ra cho anh ta để tước bỏ hết mọi nghi ngờ của tôi? Và Nick, người bạn thân của kẻ trước kia cùng phòng với anh nhưng nay đã trở thành tội phạm, giờ đây đang hy vọng sử dụng ảnh hưởng của mình để thuyết phục tôi giao nộp Mack nếu anh ấy liên lạc lại chăng?
Tôi lắc đầu như muốn xua đuổi hết mọi câu hỏi như vậy, nhưng chúng chẳng chịu đi cho.
Tồi tệ hơn, chúng chẳng đưa tôi đi đến bất kỳ chốn nào cả.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.02.2016 21:37:35 bởi casau>
47
 
Bác sĩ David Andrews đã không hề rời nhà ở Greenwich kể từ khi cú điện thoại của Leesey đến. Mất ngủ, giờ đây chỉ còn là cái bóng hốc hác, thê lương khác với thân hình trước khi con gái mất tích, ông ngồi cảnh giác bên cái máy điện thoại, chụp lấy nó ngay tiếng chuông thứ nhất mỗi khi máy reo lên. Ông luôn cầm theo ống nghe, xách nó đi từ phòng này sang phòng khác. Khi đi ngủ, ông đặt nó trên gối nằm kế đầu ông.
Khi nhận một cuộc điện thoại, ông cắt cuộc nói chuyện xuống còn vài từ, giải thích rằng ông muốn giữ đường dây trống phòng trường hợp Leesey gọi lại một lần nữa.
Người quản gia đã hai mươi năm của ông, thông thường vẫn ra về sau bữa cơm trưa, nay bắt đầu ở lại cho đến chiều tối, cố gắng ép bác sĩ Andrews ăn cái gì đó, thậm chí có khi chỉ là một bát súp, một tách cà phê hay một cái bánh mì sandwich. Ông đã nói rất rõ với bạn bè rằng ông không muốn bất kỳ ai làm bận đường dây, và từ chối cho phép họ ghé qua thăm ông. “Tôi cảm thấy tốt hơn nếu không bị buộc phải có cuộc nói chuyện”. Ông bảo thế với họ.
* * * * *
Vào sáng thứ Bảy, Gregg đưa Zach Winters đến văn phòng Larry Ahearn; lúc ngồi chờ trong khi Ahearn thẩm vấn Zach, anh trông thấy câu chuyện về việc bắt gặp Leesey bước vào chiếc Mercedes SUV màu đen bắt đầu được mổ xẻ. Zach đã nói hắn ta có mặt quanh quẩn khu phố đó trong vòng khoảng nửa tiếng, nhưng các nhân viên của Woodshed đi về chỉ vài phút sau Leesey, đều thề thốt rằng họ chẳng trông thấy hắn ta trên phố. Hắn thừa nhận rằng mình là kẻ say sưa nát rượu và có lần từng bị tống ra khỏi Woodshed khi hắn bước vào đó và tìm cách xin xỏ khách hàng. Hắn thừa nhận rất tức giận Nick DeMarco, chủ nhân nơi đó, vì đã cho tống cổ hắn đi, và rằng hắn biết Nick DeMarco có một chiếc Mercedes SUV màu đen.
Sau cuộc thẩm vấn dài dòng, Gregg chở Zach quay trở về nơi anh tìm thấy hắn. Mệt nhoài, Gregg đi thẳng về căn hộ của mình và ngủ cho đến tận chín giờ sáng ngày Chủ nhật. Khi cảm thấy đầu óc đã sáng sủa và có thể tập trung lại được, anh tắm rửa, thay quần áo rồi lái xe về Greenwich.
Sự thay đổi ở cha anh trong một tuần kể từ khi anh nhìn thấy ông lần cuối đã làm anh bị chấn động. Người quản gia của cha anh, Annie Potters, vốn không bao giờ đến vào ngày Chủ nhật, vậy mà cũng có mặt ở đó “Ông ấy không chịu ăn”. Bà thì thào với Gregg. “Bây giờ là mười một giờ, mà ông ấy đã không đụng đến một miếng nào từ hôm qua”.
“Bà có thể làm điểm tâm cho cả hai chúng tôi không hở Annie?” Gregg hỏi. “Tôi sẽ coi xem mình có thể làm gì”.
Sau câu hỏi thăm, cha anh quay ngay về ghế dựa của ông trong phòng khách, chiếc điện thoại luôn ở trong tầm với của ông. Gregg quay trở lại phòng khách và ngồi vào chiếc ghế gần với chiếc ghế dựa nhất. “Cha ơi, con đã đi bộ trên đường phố ban đêm để tìm Leesey. Con không thể làm điều đó nữa, và cha cũng không thể làm điều này nữa! Chúng ta không phải đang giúp đỡ Leesey, mà chúng ta đang hủy hoại chính mình. Con đã đi đến văn phòng Chưởng lý. Tuyệt đối không có gì mà Larry Ahearn và người của anh ấy không làm để tìm cho ra Leesey. Con muốn cha đi vào và ăn chút gì đó, rồi chúng ta sẽ ra ngoài đi dạo một chút. Hôm nay là một ngày đẹp trời”. Anh đứng lên, rồi cúi xuống ôm ghì lấy cha mình. “Cha biết con nói đúng mà”.
Bác sĩ David Andrews gật đầu, rồi khuôn mặt của ông co rúm lại. Gregg ôm choàng lấy ông. “Cha ơi, con biết, con biết. Bây giờ, thôi đi nào, hãy để cái điện thoại ở đây. Nếu nó reng, chúng ta sẽ trả lời nó”.
Anh thấy vui khi cha anh ăn được phân nửa phần trứng đánh và thịt ba chỉ hun khói mà Annie đặt trước mặt ông. Gregg đang nhấm nháp một mẩu bánh mì nướng và uống tách cà phê thứ nhì thì chuông điện thoại reng. Cha anh bật dậy và chạy ào ra khỏi cái bàn, nhưng ông đã không đến được cái điện thoại trước khi lời nhắn bắt đầu.
Đó là Leesey, không còn ngờ vực gì cả. “Cha ơi, cha ơi”. Cô kêu gào. “Hãy giúp con. Xin cha, hắn nói hắn sẽ giết con”.
Lời nhắn ngừng lại khi Leesey bắt đầu nức nở.
Bác sĩ David Andrews lao tới điện thoại và vồ lấy nó, nhưng lúc đó ông chỉ còn nghe thấy tiếng tút tút của điện thoại mà thôi. Đầu gối ông oằn xuống. Gregg đã kịp thời xoa dịu và đưa ông về lại chiếc ghế dựa trước khi cơ thể ông đổ xuống.
Gregg đang kiểm tra mạch của cha anh thì điện thoại lại reo nữa. Đó là Larry Ahearn.
“Gregg, đó Leesey, phải không?”
Gregg nhấn nút loa để cha anh cũng có thể nghe được. “Tuyệt đối đúng, Larry. Anh biết điều đó mà”.
“Gregg, cô ấy vẫn còn sống, và chúng tôi sẽ tìm ra cô ấy. Tôi thề điều đó với anh”.
Bác sĩ David Andrews vồ lấy ống nghe. Giọng ông khào khào, ông hét lên: “Anh phải tìm cho ra con bé, Larry. Anh đã nghe thấy nó! Kẻ bắt giữ con bé sắp giết nó. Vì Chúa, hãy tìm nó cho ta trước khi quá muộn!”

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.02.2016 21:35:45 bởi casau>
48
 
Sự kiệt sức bị quên lãng ngay khi Larry Ahearn bật cuộn băng có tiếng khóc của Leesey đang cầu xin cứu giúp cho tổ công tác nghe. “Cuộc gọi đến vào lúc mười một giờ ba mươi. Chính xác cách đây một tiếng”. Anh nói. “Nó được thực hiện ở khu vực trung tâm Manhattan. Dĩ nhiên vẫn có khả năng là kẻ bắt cóc đã thu một cuộn băng có giọng nói của cô ấy và bật nó lên ở một địa điểm khác”.
“Và nếu đây là trường hợp đó, có lẽ hắn đã giết cô ấy rồi”. Barrott nói, lặng lẽ.
“Chúng ta sẽ tiếp tục tiến lên phía trước với giả định rằng cô ấy vẫn còn sống”. Ahearn ngắt lời. “Không nghi ngờ gì rằng kẻ nào đó có cô ấy đang ở trong tầm ngắm. Hắn muốn có sự chú ý. Tôi đã nói chuyện với chuyên gia phân tích dữ liệu của chúng ta, tiến sĩ Lowe. Ông nói rằng gã này yêu thích những dòng tít hàng đầu và cách câu chuyện đang được Greta Van Susteren và Nancy Grace tường thuật. Có lẽ hắn cũng đang kỳ vọng sẽ có phản ứng náo động khi chúng ta tung ra túi tức rằng Leesey lại gọi cha cô ấy và để lại lời nhắn”.
Quá sức bồn chồn, không thể ngồi được nữa, anh đứng lên và gõ những ngón tay xuống bàn. “Tôi thậm chí không muốn nghĩ đến điều này, nhưng nó phải được xem xét. Trong năm ngày nữa, có thể là bảy ngày, thực tế Leesey đã gọi điện thoại sẽ vẫn là tin tức đáng chú ý, nhưng không có những thông tin mới, nó sẽ không còn là tin tức ở hàng tít đầu nữa”.
Tất cả các thám tử ở tổ công tác đều đứng chật trong văn phòng Ahearn để nghe chỉ thị. Những nét biểu cảm trên khuôn mặt của họ ngày càng trở nên nghiêm trọng khi họ theo dõi ý tưởng của Ahearn được nói thành lời. “Leesey đã đi đến câu lạc bộ đó đêm thứ Hai rồi biến mất dạng. Lời cô ấy nhắn sẽ gọi lại vào Ngày của Mẹ đến vào Chủ nhật kế tiếp, sau đó sáu ngày. Sau khoảng thời gian nghỉ một tuần lễ, cuộc gọi mới này vừa đến. Ý kiến của tiến sĩ Lowe là cái gã này của chúng ta có lẽ sẽ không chờ một tuần nữa mới đưa cho chúng ta dòng tin mới đáng đưa lên hàng đầu trang báo đâu”.
“MacKenzie là kẻ đang làm điều này”. Roy Barrott khẳng định một cách mạnh mẽ. “Giá mà các bạn nhìn thấy mẹ hắn hôm qua khi tôi đến căn hộ người bạn trai của bà ta”.
“Bạn trai của bà ta à!” Ahearn kêu lên đầy cảm thán.
“Elliott Wallace, một chủ ngân hàng đầu tư lớn. Aaron Klein, con trai của người giáo viên kịch nghệ, đã làm việc cho ông ta mười bốn năm. Klein bảo với tôi rằng họ thực sự trở nên thân thiết khi mẹ anh ấy bị cướp giết. Wallace vẫn còn quẫn trí vì việc Mack biến mất dạng trước đó một năm đến nỗi điều đó khiến họ có chung mối quan hệ ràng buộc. Cha của Mack MacKenzie đã từng ở Việt Nam với Wallace. Và họ đã trở thành những người bạn tri kỷ của nhau. Chính Klein có ý nghĩ rằng Wallace đã luôn yêu thương Olivia MacKenzie”.
“Bà ấy đang sống với ông ta à?” Ahearn hỏi.
“Tôi sẽ không nói là như thế. Với tất cả giới truyền thông có mặt quanh Sutton Place, bà ta đã đi về nhà với ông ấy. Klein đã từng nói sẽ không ngạc nhiên nếu sau cùng bà ấy lấy Wallace. Chắc chắn là ông ta đã nhanh chóng cất giấu bà ấy đến một nơi trị liệu tâm thần tư nhân sao cho bà ấy không thể tiếp tục nói với chúng ta rằng con trai bà ấy bị điên”.
“Có khả năng nào bà ta bắt liên lạc được với con trai không?”
Barrott nhún vai. “Tôi đã nói là nếu Mack có liên lạc với bất kỳ ai trong gia đình hắn, kẻ đó chắc chắn phải là cô em gái”.
“Được rồi”. Ahearn quay sang nói với cả nhóm. “Tôi vẫn nói rằng DeMarco có thể là người đứng sau tất cả những chuyện này. Tôi muốn có người bám đuôi theo anh ta hai mươi bốn tiếng một ngày, bảy ngày một tuần. Tôi cũng muốn có một người bám theo Carolyn MacKenzie nữa. Ta sẽ gắn thiết bị nghe lén cho tất cả các máy điện thoại có liên quan và tất cả những máy nào chưa có: MacKenzie trong căn hộ của cô ta trên đường Thompson, ở Sutton Place, và máy điện thoại di động của cô ta. DeMarco ở bất cứ nơi nào hắn làm việc và treo cái mũ của hắn”.
“Larry, tôi muốn có một đề nghị khác nữa”. Bob Gaylor nói. “Zach Winters có thể là một gã nát rượu, nhưng tôi cho rằng hắn đã trông thấy điều gì đó tối hôm ấy. Hắn co cụm ở cửa quán. Thực tế rằng các thành viên trong ban nhạc và những người phục vụ không trông thấy hắn trên đường phố đâu có chứng minh được điều gì, và tôi thề là hắn đang giấu diếm chúng ta điều gì đó khi hắn có mặt ở đây”.
“Đi nói chuyện với hắn một lần nữa đi”. Ahearn nói. “Hắn sống trong khu dành cho những kẻ vô gia cư ở đường Mott phải không?”
“Thỉnh thoảng, nhưng khi thời tiết tốt, hắn bỏ đồ đạc vào một cái xe đẩy giặt ủi và ngủ ở bên ngoài”.
Ahearn gật đầu. “Được rồi. Chúng ta đang hợp tác với FBI, nhưng tôi muốn tất cả các anh giữ lấy một điều trong đầu. Tôi biết Leesey từ khi cô ấy sáu tuổi. Tôi muốn cô ấy quay trở lại, và tôi muốn chúng ta là những người tìm ra cô ấy”.

0
49
 
Sáng Chủ nhật, sử dụng lối vào dành cho những người phục vụ để né giới truyền thông, tôi đã đi bộ thật lâu dọc theo bờ sông. Tôi cảm thấy như bị quất roi sau cuộc điện thoại của Elliott về mẹ, và phát bệnh vì những ngờ vực của tôi về Nick - và thực tế là cả những nghi ngờ về Mack.
Một ngày tràn ngập hứa hẹn - ấm áp với cơn gió thoảng nhẹ nhàng. Dòng chảy của sông East River, thường quá mạnh, dường như dịu lại như ánh mặt trời. Những người đi thuyền đội mũ rơm đã ra sông, không quá nhiều, thêm vào nét chấm phá cho phong cảnh. Tôi yêu New York, cầu Chúa trợ giúp tôi. Thậm chí tôi yêu cả cái bảng hiệu Pepsi-Cola ồn ào, gây cản trở trên bờ sông phía thành phố Long Island.
Vào cuối chặng đường đi bộ dài ba tiếng đồng hồ, tôi mệt nhoài cả tâm trí lẫn thân xác. Khi quay trở về Sutton Place, tôi cởi bỏ quần áo, tắm táp rồi leo lên giường. Tôi ngủ suốt cả buổi trưa rồi thức dậy lúc sáu giờ chiều và cảm thấy ít ra đầu óc khá quang đãng hơn và có thêm đôi chút khả năng để đối mặt với mọi việc. Tôi ăn mặc xuề xòa, với chiếc sơmi có sọc màu trắng và xanh da trời cùng chiếc quần jean trắng. Tôi chẳng bận tâm nếu Nick xuất hiện với áo vét và cà vạt. Tôi muốn không có một gợi ý nào về cô Carolyn bé nhỏ ăn mặc chỉnh tề cho một cuộc hẹn hò.
Nick đến đúng bảy giờ tối. Anh mặc chiếc sơ-mi thể thao và quần hàng cotton dệt thô. Tôi đã định đưa anh đi ra ngay phía ngoài cửa, nhưng những lời đầu tiên của anh là: “Carolyn, anh thực sự cần nói chuyện với em, và sẽ tốt hơn nếu chúng ta làm điều đó ở đây”.
Tôi theo anh vào thư viện. “Thư viện” nghe thật ấn tượng. Thực sự nó không hoành tráng như thế. Nó chỉ là căn phòng với các kệ sách cùng những chiếc ghế bành ngồi thật thoải mái và một khu vực tường đóng ván gỗ khi mở ra là một tủ rượu gắn bên trong. Nick đi thẳng đến đó, tự rót cho mình một ly scotch nguyên chất, và chẳng cần hỏi han, một ly vang với vài viên đá cho tôi.
“Đây là món em uống tuần trước. Anh có đọc ở đâu đó nói rằng Nữ Công tước Windsor cho đá vào champagne của bà ấy”. Anh nói khi trao cho tôi cái ly.
“Và em cũng đọc được rằng Công tước Windsor thích rượu whiskey của ông ấy phải nguyên chất”. Tôi bảo anh.
“Đã cưới nàng rồi, anh không nên ngạc nhiên”. Anh mỉm cười thật nhẹ. “Đùa thôi, dĩ nhiên mà. Anh chẳng biết bà ấy ra sao cả”.
Tôi ngồi xuống mép ghế trường kỷ. Anh chọn một trong những cái ghế bành và xoay nó chung quanh. “Anh nhớ mình đã yêu thích những cái ghế như thế này”. Anh nói. “Anh đã tự hứa với mình rằng nếu anh trở nên giàu có, anh sẽ có một trong những cái ghế đó”.
“Và rồi?” Tôi hỏi.
“Chẳng bao giờ có thời gian để nghĩ về điều đó. Khi anh bắt đầu làm ra tiền và mua một căn hộ, anh đã gọi người trang trí nội thất đến. Cô ấy có cái nhìn theo phong cách miền Tây. Khi thấy mọi thứ đã hoàn tất, anh lại cảm giác mình giống như cao bồi Roy Rogers”.
Tôi đang chăm chú nhìn anh, và tôi nhận thấy lớp tóc màu xám quanh thái dương anh còn lộ rõ nhiều hơn tôi tưởng. Anh có những lớp da xếp nếp thành mọng mắt và sự biểu lộ lo lắng mà tôi quan sát thấy tuần trước nay trở thành một nỗi lo lắng dữ dội. Anh đã bay đi Florida hôm qua vì cha anh bị đột quỵ. Tôi hỏi Nick hiện giờ ông ấy ra sao.
“Khá tốt. Thực sự đó chỉ là một cơn đột quỵ nhẹ. Họ sẽ cho ông ấy xuất viện khoảng hai ngày nữa”.
Rồi Nick nhìn thẳng tôi. “Carolyn, em có nghĩ Mack còn sống không? Và nếu thế, liệu anh ấy có khả năng để làm điều mà bọn cớm nghĩ anh ấy đang làm không?”
Đã chực thoát ra trên đầu lưỡi tôi lời thành thực để nói rằng về điểm này thực ra tôi chẳng biết gì, nhưng tôi đã kiềm mình lại kịp thời. “Cái quái gì khiến anh nghĩ thế hở? Dĩ nhiên là không”. Tôi hy vọng giọng mình nghe có vẻ phẫn nộ như tôi muốn nó phải thế.
“Carolyn, đừng nhìn anh kiểu như thế. Em không hiểu rằng Mack là người bạn tốt nhất của anh sao? Anh chẳng bao giờ có thể hình dung tại sao anh ấy lại chọn cách biến mất dạng. Bây giờ anh tự hỏi không hiểu có phải có điều gì đó đã diễn ra trong đầu óc anh ấy mà chẳng ai lúc đó nhận ra được chăng”.
“Anh đang lo lắng về Mack hay về chính anh hở Nick?” Tôi hỏi.
“Anh sẽ không trả lời điều đó. Carolyn, điều anh van xin em, cầu xin em, là nếu anh ấy đang liên lạc với em, hay nếu anh ấy thực sự gọi điện thoại cho em, đừng nghĩ rằng em đang làm cho anh ấy một ân huệ bằng cách che chắn, bảo vệ anh ấy. Em có nghe thấy lời nhắn của Leesey Andrews để lại cho cha cô ấy sáng nay không?” Anh nhìn tôi đầy vẻ mong đợi.
Trong phút chốc tôi quá run rẩy không thể nói năng gì, rồi tôi cố gắng nói rằng tôi đã không mở radio hay truyền hình suốt cả ngày. Nhưng khi Nick kể với tôi thì tất cả những gì tôi có thể nghĩ được là giả thuyết của Barrott cho rằng Mack đã ăn trộm chiếc xe của chính mình. Thật điên rồ, nhưng nó nhắc cho tôi nhớ cái ngày tôi mới lên năm hay sáu tuổi và bất chợt Mack bị chảy máu cam dữ dội. Cha có mặt ở nhà và ông đã chộp ngay lấy một trong những chồng khăn mặt ở cái kệ trong phòng tắm để ngăn dòng máu chảy. Lúc đó chúng tôi có một người quản gia lớn tuổi rất ngưỡng mộ Mack. Bà quá lo lắng đến nỗi cứ cố kéo mạnh cái khăn ra khỏi tay cha. “Cái đó để biểu diễn mà”. Bà thét lên. “Nó dùng để biểu diễn mà”.
Cha rất thích kể câu chuyện này, nhưng ông luôn nói thêm: “Bà Anderson tội nghiệp quá lo lắng về Mack, nhưng đối với bà những cái khăn sặc sỡ ấy không thể chỉ dùng một lần. Tôi bảo với bà ấy rằng những cái khăn đó có tên chúng tôi trên đó và Mack có thể hủy hoại chúng nếu thằng bé thích!”
Tôi có thể tưởng tượng việc Mack ăn cắp chiếc xe hơi của mình, nhưng không thể hình dung Mack nắm giữ Leesey như là con tin và tra tấn cha cô ấy. Tôi nhìn Nick. “Em không biết phải nghĩ gì về Mack”. Tôi nói. “Em thể với anh và với tất cả những ai nghe thấy rằng ngoài những cuộc điện thoại gọi vào Ngày của Mẹ, em chẳng nghe thấy tin tức gì về Mack hay trông thấy anh ấy trong mười năm nay”.
Nick gật đầu và tôi đoán rằng anh tin tôi. Rồi anh hỏi: “Em có nghĩ là anh phải chịu trách nhiệm về sự biến mất của Leesey không? Rằng anh đã giấu cô ấy ở đâu đó chăng?”
Tôi kiểm tra trái tim và tâm hồn mình trước khi trả lời. “Không, em không nghĩ thế”. Tôi đáp. “Nhưng cả hai anh đều đã bị lôi kéo vào việc này, Mack là vì em đã đi đến cảnh sát, anh là bởi vì cô ấy biến mất dạng khỏi câu lạc bộ của anh. Nếu việc ấy không phải là một trong hai anh thì ai sẽ phải chịu trách nhiệm?”
“Carolyn, anh chẳng biết phải bắt đầu từ đâu để tìm ra câu trả lời”.
Chúng tôi nói chuyện trong hơn một tiếng đồng hồ. Tôi kể cho anh nghe rằng mình đang cố gắng gặp Lil Kramer một mình, bởi bà ta sợ nói ra bất kỳ điều gì trước mặt ông chồng. Chúng tôi xoay quanh thực tế rằng ngay trước khi biến mất, Mack đã bực bội với bà Kramer nhưng lại không kể cho Nick biết lý do tại sao. Tôi bảo với Nick là Bruce Galbraith đã tỏ thái độ thù địch ra sao với Mack khi tôi gặp anh ta tuần trước và rằng tôi nghĩ Barbara đã vội vã chạy đi thăm cha cô ở Martha’s Vineyard chỉ để tránh bị thẩm vấn thôi.
“Em sẽ đến đó ngày mai hoặc thứ Ba”. Tôi nói. “Mẹ chẳng muốn gặp mặt em, và Elliott sẽ chăm sóc bà”.
Nick hỏi tôi không biết mẹ có lấy Elliott không.
“Em nghĩ thế”. Tôi nói. “Rất thành thực, em hy vọng thế. Họ đang ở cùng nhau rất hòa hợp. Chắc chắn là mẹ yêu cha, nhưng Elliott không bận lòng vì điều đó. Elliott thực sự còn thân thiết với mẹ hơn là một người bạn tâm giao, điều này dĩ nhiên cũng hơi khó để em có thể chấp nhận. Họ đều là những người hoàn hảo, và em nghĩ họ sẽ rất hạnh phúc với nhau”. Rồi tôi thêm những từ mà tôi nghĩ chẳng bao giờ mình sẽ thốt ra. “Đó là lý do tại sao Mack đã luôn là người mẹ thích nhất. Anh làm mọi thứ đều đúng cả. Theo mẹ, em quá sức bốc đồng. Bằng cớ là việc đi đến cảnh sát và mở toang hết mọi thứ hỗn độn này”.
Tôi kinh sợ vì mình đã tỏ lộ điều đó với Nick. Tôi cho rằng anh sắp sửa bước qua chỗ tôi, có thể choàng đôi tay qua vai tôi, nhưng hẳn là anh biết đấy không phải điều tôi muốn. Thay vì vậy, anh nói, giọng nhẹ hẳn. “Xem nào, em có thể đoán được điều này không ‘Nàng hiện ra thật hoàn chỉnh từ chân mày của cha nàng’.”
“Nữ thần Minerva”. Tôi nói. “Sơ Catherine. Lớp sáu. Ôi trời ơi, bà ấy mê dạy môn thần thoại làm sao”. Tôi đứng lên. “Anh đã mời em đi ăn tối, biết không nào. Tiệm Neary’s thì sao? Em muốn một miếng bánh mì sandwich và khoai tây chiên”.
Nick ngần ngừ. “Carolyn, anh muốn cảnh báo em. Có những camera bên ngoài. Xe hơi của anh đang đậu ở cửa ra vào. Chúng ta có thể chạy đi ăn. Anh không nghĩ họ sẽ đi theo chúng ta”.
Tình hình đã hóa ra như thế. Những ánh đèn camera lóe sáng khi chúng tôi ra khỏi tòa nhà. Có ai đó cố chĩa cái micro vào mặt tôi. “Cô MacKenzie, cô có nghĩ là anh trai mình...” Nick chụp lấy tay tôi và chúng tôi chạy về phía xe hơi của anh. Anh lái lên đại lộ York đến tận đường số Bảy Mươi Hai rồi quẹo và đột ngột quay ngược lại. “Anh nghĩ lúc này có lẽ chúng ta đã ổn rồi”. Anh nói.
Tôi chẳng đồng ý mà cũng không phản đối. Điều duy nhất an ủi tôi đó là mẹ đang ở một nơi an toàn mà giới truyền thông không thể đến gặp bà được.
Neary’s là một quán rượu Ái Nhĩ Lan trên đường số Năm Mươi Bảy, cách Sutton Place một dãy phố. Nó cũng giống như ngôi nhà thứ hai cho nhiều người trong chúng tôi ở khu vực lân cận này. Bầu không khí ấm áp, thức ăn ngon, và điều kỳ lạ rằng vào bất kỳ buổi tối nào đi nữa, bạn vẫn sẽ gặp đến phân nửa thực khách là những người quen biết.
Nếu tôi cần sự ủng hộ về mặt tinh thần, và Thượng đế biết là tôi cần thì Jimmy Neary cho tôi điều đó. Khi trông thấy tôi, ông băng nhanh qua căn phòng. “Carolyn, thật đáng xấu hổ những gì họ đang bóng gió về Mack”. Ông nói, đặt bàn tay ấm áp trên vai tôi. “Cậu con trai đó là một bậc thánh. Cô cứ chờ mà xem, sự thực rồi sẽ bộc lộ ra thôi”.
Ông quay lại và nhận ra Nick. “Này, cậu trẻ. Còn nhớ khi cậu và Mack đến đây, cậu đã cá với tôi rằng mì ống của cha cậu là món tương xứng với món bò ướp muối của tôi không?”
“Chúng ta chẳng bao giờ cho nó vào một cuộc thử nghiệm”. Nick nói. “Và giờ đây cha tôi đang ở Florida, đã về hưu”.
“Về hưu à? Làm sao mà ông ấy lại thích nó nhỉ?” Jimmy hỏi.
“Ông ấy ghét điều đó”.
“Tôi cũng thế. Bảo ông ấy quay lại đi, và cuối cùng chúng ta sẽ có một câu trả lời”.
Jimmy dẫn chúng tôi đến một trong những cái bàn ở góc phía sau. Đó là nơi Nick kể thêm với tôi về chuyến đi thăm Florida. “Anh năn nỉ mẹ không để những tờ báo New York đến gần cha”. Anh nói. “Anh không biết nó sẽ tác động đến ông ra sao nếu ông phát hiện ra rằng anh đã bị chỉ định là ‘kẻ bị chú ý’ trong vụ Leesey biến mất”.
Sau những miếng bánh mì sandwich kẹp bò bít-tết, với sự thỏa thuận từ hai phía mà chẳng cần nói ra, chúng tôi đi đến lĩnh vực trung lập. Nick nói chuyện về việc mở nhà hàng thứ nhất của anh và nó đã hoạt động tốt ra sao. Anh ám chỉ rằng trong năm qua anh đã tiến triển rất nhanh chóng. “Anh nghĩ là anh đã đọc câu chuyện thành công của Donald Trump quá nhiều lần”. Anh thừa nhận. “Anh có ý tưởng rằng trượt trên lớp băng mỏng thật vui nhộn. Anh đã bỏ nhiều tiền vào khu Woodshed. Đó là sự đầu tư đúng nơi đúng lúc. Nhưng nếu giới chức phụ trách quản lý về rượu của nhà nước muốn đóng cửa nó, họ sẽ tìm ra một cách nào đó. Vào nếu điều đó xảy ra, anh sẽ gặp rắc rối lớn”.
Chúng tôi thận trọng nói chuyện về Barbara Hanover. “Em nhớ từng nghĩ rằng cô ấy đẹp biết bao”. Tôi nói với anh.
“Cô ấy đẹp và đã từng đẹp, nhưng Carolyn ơi, còn có điều gì đó khác về Barbara, một kiểu tính toán ‘Điều gì là tốt nhất cho Barbara?’. Thật khó để giải thích. Nhưng sau khi tất cả bọn anh đã tốt nghiệp và anh đi học MBA, Mack bỏ đi, và còn lại Bruce, anh đã chẳng bận tâm xem có bao giờ mình sẽ gặp lại anh ta chưa”.
Cả hai chúng tôi đều uống một ly cappuccino, rồi Nick chở tôi về lại Sutton Place. Chỉ còn một chiếc xe truyền hình đang đi nửa đường xuôi xuống cuối phố. Anh chạy ào đưa tôi vào tòa nhà và đi đến thang máy. Khi người điều khiển thang máy giữ cho cửa mở, anh nói: “Carolyn, anh đã không làm điều đó, Mack cũng không. Hãy luôn ghi nhớ ý tưởng đó nhé”.
Anh bỏ qua nụ hôn xã giao và bỏ đi. Tôi đi lên lầu. Đèn ghi nhận lời nhắn đang nhấp nháy. Đó là thám tử Barrott. “Cô MacKenzie. Vào lúc tám giờ bốn mươi tối nay, cô nhận được một cuộc gọi khác từ điện thoại di động của Leesey Andrews. Anh trai cô đã chẳng để lại lời nhắn nào cả”.

0
50
 
Lucas Reeves không nghỉ cuối tuần. Ông đã trải qua cuối tuần trong văn phòng, làm việc với các kỹ thuật viên của mình. Charles MacKenzie Sr. đã thuê ông gần mười năm trước đây để tìm người con trai bị mất tích của ông ấy, và việc ông đã chẳng phát hiện được, cho dù là dấu hiệu mờ nhạt nhất, điều gì đã xảy ra cho Mack khiến Reeves có cảm giác thất bại, cảm giác này chẳng bao giờ rời xa tâm trí ông.
Giờ đây ông xem việc tìm ra câu trả lời còn khẩn cấp hơn, không chỉ để biết điều gì đã xảy ra cho Mack, mà còn để tìm cho ra kẻ giết người thực sự và có lẽ còn để cứu sinh mạng của Leesey Andrews.
Vào sáng thứ Hai, Lucas quay trở lại văn phòng ở khu nam đại lộ Công Viên vào lúc tám giờ. Ba nhân viên điều tra thường trú của ông đã được bảo phải đến sớm. Vào lúc tám giờ ba mươi họ đã ngồi quanh bàn giấy của ông. “Tôi có một linh cảm, và một số linh cảm của tôi trong quá khứ đã chứng tỏ được việc”. Ông nói. “Do vậy, tôi sẽ hành xử theo nó. Tôi sẽ giả định rằng Mack vô can với những tội ác này. Và tôi sẽ giả định rằng ai đó biết cậu ấy khá rõ phải chịu trách nhiệm. Nói theo kiểu đó, tôi muốn nói là biết cậu ấy đủ rõ để có nghe nói về những cuộc gọi vào Ngày của Mẹ, và có số điện thoại không được đăng ký của gia đình cậu ấy”.
Reeves nhìn từ người nhân viên điều tra này đến người khác. “Chúng ta sẽ tập trung vào những người ở quanh Mack. Bằng cách đó, tôi ám chỉ hai người bạn cùng phòng của cậu ấy, Nick DeMarco và Bruce Galbraith. Chúng ta sẽ đào bới mọi điều mà chúng ta có thể biết được từ cặp vợ chồng giám thị, Lil và Gus Kramer. Từ đó chúng ta sẽ tập trung vào những người bạn khác của Mack ở Columbia đã có mặt cùng với cậu tại hộp đêm trong buổi tối cô gái thứ nhất biến mất. Suốt cuối tuần, các kỹ thuật viên của chúng ta đã tập trung tất cả những bản miêu tả của báo chí và những clip của giới truyền thông được đặt làm những dòng tít hàng đầu khi mỗi người trong số ba cô gái biến mất. Chúng ta đã phóng lớn khuôn mặt của từng người chụp được trong các tấm hình đó, xem anh ta hay cô ta có thể xác minh nhân thân được không. Hãy nghiên cứu các khuôn mặt đó. Hãy ghi nhớ chúng”.
Lucas tới sớm đến mức ông đã pha xong cà phê cho mình. Ông nhấp một ngụm, nhăn mặt, rồi nói tiếp: “Giới truyền thông đang đóng trại bên ngoài Sutton Place. Một trong các bạn phải luôn luôn có mặt ở khu lân cận đó. Hãy lấy điện thoại của các bạn ra và sử dụng nó như máy chụp hình. Một người nào đó cũng phải có mặt trên phố khi Woodshed mở cửa tối nay, chụp hình không chỉ khách vào ra mà cả những người quanh quẩn trên các con phố. Có hai trong số các câu lạc bộ khác mở cửa ở SoHo trong tuần này. Hãy có mặt ở đó cùng với các tay săn ảnh chuyên nghiệp”.
“Lucas, điều đó là không thể được”. Jack Rodgers, người trợ lý cao cấp nhất của ông phản đối. “Ba người chúng tôi không thể bao quát khắp hết khu vực đó”.
“Không ai bảo anh phải làm”. Reeves ngắt lời, giọng nói trầm lắng bình thường của ông cao lên vài cung bậc. “Hãy lấy ra đây danh sách người của ta vẫn sử dụng khi ta cần sự giúp đỡ bổ trợ. Chúng ta phải có ba mươi cảnh sát đã về hưu sẵn sàng có mặt”.
Rodgers gật đầu: “Được thôi”.
Reeves trầm giọng xuống: “Tôi linh cảm rằng thủ phạm rất thích được chú ý. Hắn có thể muốn có mặt tại hiện trường khi có giới truyền thông ùa đến. Các khuôn mặt trên từng bức hình mà anh có sẽ được làm rõ nét hơn trong phòng kỹ thuật của chúng ta. Tôi không bận tâm có bao nhiêu, và tôi cho rằng có đến hàng trăm tấm. Có thể, chỉ có thể, một trong những tấm đó sẽ tương xứng với kẻ có mặt quanh nơi này trong suốt quãng thời gian sôi sục mà giới truyền thông theo đuổi những vụ mất tích. Tôi nhắc lại, hiện nay chúng ta sẽ giả định là Mack MacKenzie vô tội”.
Ông nhìn Rodgers. “Tại sao anh chẳng nói gì hở Jack?”
“Được rồi, Lucas. Tôi sẽ nói. Nếu anh đúng, chúng ta có thể tìm ra tấm hình của một gã xuất hiện ở tất cả các nơi. Hắn có thể mập, hắn có thể gầy, hắn có thể hói đầu, hắn có thể để tóc cột đuôi ngựa. Hắn có thể là một người mà cả mẹ hắn cũng chẳng nhận ra, và hắn là Charles MacKenzie Jr”.

0
51
 
Thám tử Bob Gaylor bắt đầu tìm kiếm Zach Winters vào ngày Chủ nhật sau cuộc họp của tổ công tác. Hắn không có mặt ở khu dành cho người vô gia cư trên đường Mott, nơi thỉnh thoảng là mái ấm của hắn. Chẳng ai trông thấy hắn trên đường phố từ sáng sớm thứ Bảy khi hắn lẩn quẩn ở Woodshed rồi đi đến căn hộ của Gregg Andrews. Hắn bị thẩm vấn vào trưa thứ Bảy, rồi được cho rằng đã quay trở về nơi ở của hắn. Nhưng hắn đã không quay về khu dành cho người vô gia cư.
“Zach thường xuất hiện ít ra là cứ cách hai ngày một”. Joan Coleman, nhân viên làm việc trong bếp ăn tự nguyện trên đường Mott, một người ba mươi tuổi trông hấp dẫn, nói chuyện với Gaylor. “Dĩ nhiên cũng còn tùy vào thời tiết. Hắn yêu thích khu vực câu lạc bộ ở SoHo. Hắn khoác lác rằng hắn có được nhiều của bố thí ở đó hơn”.
“Hắn có bao giờ nói chuyện về việc có mặt ở gần Woodshed vào đêm Leesey Andrews biến mất không?”
“Không phải với tôi. Hắn có vài người bạn mà hắn gọi là ‘những bồ tèo tốt thực sự’. Để tôi nói chuyện với họ”. Cô ta bừng sáng lên với ý tưởng sẽ được làm công việc của một thám tử.
“Tôi sẽ đi với cô”. Gaylor xung phong nói.
Cô ta lắc đầu. “Không đâu, nếu muốn có thông tin, ông sẽ không đi cùng được. Tôi không thường đến đấy nấu ăn tối, nhưng tối nay tôi sẽ thay thế một người bạn. Hãy cho tôi số điện thoại của ông. Tôi sẽ gọi cho ông”.
Bob Gaylor buộc phải bằng lòng với điều đó. Ông trải qua thời gian dễ chịu hơn sau cả ngày lang thang khắp khu SoHo và làng Greenwich mà chẳng có ích gì cả.
Zach Winters có thể đã biến mất khỏi trái đất này.

0
52
 
Đúng thực như lời lão nói, Derek Olsen có mặt ở văn phòng của Elliott Wallace chính xác lúc mười giờ sáng. Dáng đi của lão cứng ngắc, bộ lễ phục sạch sẽ và ủi phẳng phiu, nhưng sáng chói quá so với tuổi tác của lão, mớ tóc trắng còn sót lại dán sát vào hộp sọ, lão có vẻ hăng hái sôi nổi. Elliott Wallace quan sát và nghĩ rằng Olsen nếu thực hiện kế hoạch thanh lý tất cả các cổ phần của lão; thì lão đang nôn nóng, muốn nói với đứa cháu trai Steve, người quản lý các tòa nhà - Howie, và bất kỳ ai khác mà lão có thể nghĩ đến rằng hãy cút xéo.
Với nụ cười thân ái trên mặt, Wallace thúc giục Olsen ngồi xuống ghế. “Tôi biết anh sẽ không từ chối một tách trà đâu nhỉ Derek”.
“Lần trước nó giống như nước rửa bát. Hãy bảo với cô thư ký của anh rằng tôi muốn bốn cục đường và kem nhiều, Derek”.
“Dĩ nhiên rồi”.
Olsen chỉ chờ cho Elliott chỉ thị với cô thư ký xong là lão nói ngay với nụ cười hài lòng. “Anh và những lời khuyên của anh. Còn nhớ là anh đã nói tôi nên tránh xa ba căn nhà xộc xệch đã đóng cửa nhiều năm đó chứ?”
Elliott Wallace biết điều gì sắp đến. “Derek, anh đã trả thuế má và bảo hiểm cho mớ giẻ rách ấy nhiều năm. Dĩ nhiên bây giờ bất động sản đang lên giá, nhưng nếu anh muốn, tôi sẽ chỉ cho anh thấy là nếu anh chịu bán chúng và mua các cổ phiếu mà tôi giới thiệu, anh còn tiến xa hơn nhiều”.
“Không, tôi sẽ không bán! Tôi biết một ngày nào đó người ta sẽ giật sập các tòa nhà ở góc đường 104 và những người triển khai dự án sẽ muốn chỗ của tôi”.
“Những người triển khai dự án dường như đã xoay xở mà không cần có nó. Họ đã động thổ cho các căn hộ tiện nghi nhiều phòng rồi”.
“Chính hãng đó đã quay lại với tôi. Tôi sẽ chốt lại vụ mua bán này chiều nay”.
“Xin chúc mừng”. Wallace chân thành nói. “Nhưng tôi thực sự hy vọng anh nhớ rằng tôi đã đại diện làm cho anh có thật nhiều tiền khi đầu tư”.
“Ngoại trừ quỹ đầu tư mạo hiểm đó”.
“Ngoại trừ quỹ đầu tư đó, tôi đồng ý, nhưng điều đó đã cách đây nhiều năm”.
Trà cho Olsen và cà phê cho Elliott đã đến. “Cái này ngon”. Olsen nói, sau khi thận trọng nhấp một ngụm. “Đây là kiểu pha tôi thích. Bây giờ chúng ta nói chuyện nhé. Tôi muốn bán hết mọi thứ. Tôi muốn thành lập một quỹ ủy thác. Anh có thể điều hành nó. Tôi muốn sử dụng nó để làm những công viên tại New York, các công viên với thật nhiều cây cối. Thành phố này đã có quá nhiều tòa nhà lớn rồi”.
“Anh thật rộng rãi. Anh có định để lại bất kỳ thứ gì cho cháu trai anh hay cho ai khác không?”
“Tôi sẽ để lại cho Steve năm mươi ngàn đô-la. Hãy để nó có một bộ trống hay cây guitar mới. Nó chẳng thể nào nhìn tôi qua đĩa cơm tối mà không cố gắng hình dung xem tôi sẽ còn sống sót được bao lâu. Tôi nghe cặp vợ chồng giám thị tòa nhà của tôi nói rằng nó sẽ đảm đương công việc của Howie như là người quản lý chung của tôi. Nó mua cho tôi một cây bút máy và đưa tôi đi ăn tối, và bởi vì tôi biểu lộ những cảm xúc tốt lành với nó, nó nghĩ rằng nó sẽ có thể đảm đương công việc kinh doanh của tôi. Nó và những hợp đồng biểu diễn ca nhạc của nó. Cứ mỗi lần nó ngừng có việc ở những ổ rác câu lạc bộ đó, nó lại tạo ra một cái tên mới cho chính mình và cho cái ban nhạc thua cuộc của nó, tìm cho ra trang phục kỳ cục mới nhất và thuê mướn một tay làm PR tồi tệ. Nếu không phải là vì mẹ nó, mà cũng là em gái tôi, cầu Chúa cho cô ấy an nghỉ đời đời, thì tôi đã tống một cái vào mông đít nó từ cách đây nhiều năm rồi”.
“Tôi biết cậu ta là nỗi thất vọng của anh, Derek”. Elliott cố gắng giữ vẻ thương cảm trong giọng nói của mình.
“Nỗi thất vọng. A! Nhân tiện, tôi cũng muốn để lại cho Howie Altman năm mươi ngàn đô-la”.
“Tôi chắc chắn là anh ta sẽ cảm kích điều đó. Anh ta có biết những kế hoạch của anh không?”
“Không, hắn ta cũng đang trở nên huênh hoang, tự đắc đấy. Tôi có thể nói rằng hắn ta cũng đang trơ tráo nghĩ rằng mình được quyền có khoản thừa hưởng lớn từ tôi. Đừng hiểu lầm nhé. Hắn đã làm công việc tốt. Và tôi cảm ơn anh vì đã giới thiệu hắn khi gã kia không làm được việc”.
Elliott gật đầu, nhận những lời cảm ơn. “Một trong những khách hàng của tôi lúc đó đang bán tòa nhà và đề cập đến sự sẵn sàng làm việc của anh ta”.
“À, chẳng bao lâu hắn ta sẽ lại sẵn sàng làm việc nữa thôi. Nhưng hắn chẳng phải máu mủ, và hắn không hiểu là khi anh có những người làm việc tốt như gia đình Kramer, anh không được vắt kiệt họ chỉ vì một hay hai căn phòng ngủ dư ra”.
“George Rodenburg vẫn còn là luật sư của anh chứ?”
“Dĩ nhiên. Tại sao tôi phải thay đổi?”
“Điều tôi định nói là tôi sẽ nói chuyện với anh ấy về việc thành lập quỹ. Anh nói anh sẽ chốt lại vụ bất động sản trên đường 104 chiều nay. Anh có muốn tôi có mặt ở đó không?”
“Rodenburg sẽ xử lý chuyện đó. Bảng chào giá đã nằm trên bàn nhiều năm. Vấn đề chỉ là số đô-la khác đi thôi”.
Olsen đứng lên đi. “Tôi chào đời ở đại lộ Tremont trong khu Bronx. Lúc đó nó là một khu lân cận dễ thương. Tôi còn có những tấm hình chụp em gái tôi và tôi ngồi trên bậc tam cấp của một trong những tòa nhà căn hộ nhỏ bé đó, cái loại giờ đây tôi đang sở hữu. Tôi đã lái xe lên khu vực đó tuần trước. Nó khá tồi. Có một lô ở góc gần nơi chúng tôi đã sống. Thật là một khối hỗn độn với cỏ dại, những lon bia và rác rến. Trong khi vẫn còn sống, tôi muốn nhìn thấy nó trở thành một công viên”. Một nụ cười sung sướng thoáng qua trên khuôn mặt khi lão quay ra cửa. “Tạm biệt, Elliott”.
Elliott Wallace đi với khách hàng của ông băng qua phòng tiếp tân, dọc theo hành lang đến chỗ thang máy, rồi quay trở lại văn phòng riêng, và lần đầu tiên trong cuộc đời trưởng thành của mình, ông đi tới tủ lạnh chứa rượu, và vào lúc mười một giờ trưa, tự rót cho mình một ly scotch nguyên chất.

0
53
 
Lúc khá trễ vào sáng thứ Hai, tôi lái xe lên tòa nhà căn hộ cũ của Mack. Tôi nhấn nút của gia đình Kramer trong hệ thống điện thoại nội bộ, và được đáp lại sau một khoảnh khắc là lời chào ngập ngừng. Tôi biết mình phải nói chuyện nhanh. “Bà Kramer, đây là Carolyn MacKenzie, tôi cần nói chuyện với bà”.
“Ồ không, chồng tôi ra ngoài sáng nay rồi”.
“Tôi muốn nói chuyện với bà, không phải với ông ấy, bà Kramer ạ. Xin để cho tôi vào chỉ một vài phút thôi”.
“Gus sẽ không thích điều đó. Tôi không thể...”
“Bà Kramer, hẳn bà có đọc báo chí những ngày này. Chắc chắn bà biết là cảnh sát nghĩ anh trai tôi có thể phải chịu trách nhiệm về việc cô gái đó biến mất dạng. Tôi cần được nói chuyện với bà”.
Trong khoảnh khắc tôi nghĩ bà đã cúp máy, nhưng rồi tôi nghe tiếng lách cách khi cánh cửa dẫn vào tiền sảnh mở ra. Tôi bước vào, băng qua tiền sảnh, rồi nhấn chuông căn hộ của bà. Bà mở hé cửa ra một cái khe bé tí như để chắc chắn rằng tôi không có một đội quân những người sẵn sàng tạo ra bão tố trong căn hộ, rồi cũng chỉ mở đủ rộng để tôi có thể bước vào.
Căn phòng gợi cho tôi nhớ đến phòng khách của bà nội tôi ở Jackson Heights đang trong quá trình tháo dỡ và hủy bỏ. Có những thùng lớn chất đống ở góc nhà. Những tấm màn và những lớp vải xếp nếp được gỡ bỏ khỏi cửa sổ. Không có tranh ảnh trên tường, và những cái bàn kê sát tường không còn các ngọn đèn và các món đồ mỹ thuật hiếm có mà tôi đã trông thấy trong lần đến thăm trước.
“Chúng tôi sẽ dọn đến căn nhà của chúng tôi ở Pennsylvania”. Lil Kramer nói. “Gus và tôi đã rất sẵn sàng để về hưu rồi”.
Bà ấy sẽ bỏ trốn, tôi nghĩ khi quan sát bà. Mặc dù căn phòng mát mẻ, trên trán bà vẫn tươm những giọt mồ hôi li ti. Mái tóc xám của bà được chải ngược ra sau khuôn mặt và được cột chặt ở phía sau tai. Làn da cũng có màu xám xỉn như mái tóc bà. Tôi chắc bà không ý thức được rằng đôi tay bà đang chà xát vào nhau theo kiểu cách lo lắng, bực bội.
Dù không được mời, tôi vẫn ngồi lên chiếc ghế gần nhất. Tôi nhận ra sẽ hoàn toàn là vô ích nếu không đi ngay vào vấn đề. “Bà Kramer, bà biết anh trai tôi. Bà có nghĩ anh ấy là kẻ giết người không?”
Bà bặm hai môi lại với nhau. “Tôi chẳng biết cậu ấy như thế nào”. Rồi bà bật ra: “Cậu ấy nói dối về tôi. Tôi đã tử tế với cậu ấy. Tôi thực sự thích cậu ấy. Tôi đã chăm sóc quần áo và phòng của cậu ấy tốt đến thế. Vậy mà cậu ấy lại kết tội tôi”.
“Kết tội bà về điều gì?”
“Đừng bận tâm. Điều đó không thực, và tôi không thể tin được tai mình”.
“Điều đó đã xảy ra lúc nào?”
“Một vài ngày trước khi cậu ấy biến mất. Và rồi cậu ấy còn nhạo báng tôi”.
Không ai trong hai chúng tôi nghe thấy tiếng cánh cửa mở ra. “Ngậm miệng lại, Lil”. Gus ra lệnh khi hắn sải bước qua căn phòng. Hắn quay mặt đối diện tôi. “Còn cô thì bước ra khỏi nơi này. Anh trai cô đã trâng tráo đối xử với vợ tôi theo cách của mình và nay hãy nhìn cách anh ta làm đối với các cô gái trẻ đó”.
Điên tiết, tôi đứng bật lên. “Ông Kramer, tôi không biết ông đang nói về điều gì. Tôi không tin rằng Mack đã đối xử không phải với vợ ông dưới bất kỳ kiểu cách hay hình thức nào, và giờ đây tôi có thể đánh cược cả cuộc đời tôi rằng anh ấy không phải chịu trách nhiệm về bất cứ tội ác nào cả”.
“Cứ tiếp tục tin tưởng điều đó, và để tôi bảo cho cô biết tôi đang nói về điều gì. Vợ tôi sắp sửa suy sụp thần kinh vì lo lắng rằng khi họ bắt được gã anh trai giết người của cô, hắn sẽ quay sang bà ấy và kết tội bà với những lời lẽ dối trá dơ bẩn của hắn”.
“Đừng gọi anh ấy là kẻ giết người”. Tôi nói. “Ông mà dám gọi anh ấy là kẻ giết người sao?”
Khuôn mặt Gus ngập tràn cơn thịnh nộ. “Ta gọi hắn cái gì ta muốn gọi hắn, nhưng ta sẽ cho cô biết điều này. Gã là một kẻ giết người đi lễ nhà thờ. Lil đã trông thấy hắn cái ngày hắn để lá thư ngắn trong cái rổ đựng đồ quyên góp, phải không Lil?”
“Tôi không mang theo kính, nhưng tôi chắc chắn đã nhìn rõ”. Lil bắt đầu khóc. “Tôi đã nhận ra cậu ấy. Cậu ấy cũng trông thấy tôi nhìn cậu ấy. Cậu ấy mặc áo mưa và đeo kính đen. Chính là Mack đang đứng trong nhà thờ”.
“Cảnh sát đã có mặt ở đây một giờ trước, và chúng tôi cũng nói với họ điều đó”. Gus Kramer thét vào mặt tôi. “Còn bây giờ thì xéo ra khỏi đây và để cho vợ tôi yên”.

0
54
 
Vào chiều tối thứ Bảy, sau khi biết chắc là Steve đã đi đến một trong những chỗ thuê ban nhạc biểu diễn, Howard Altman vào căn hộ của Steve. Cẩn thận và đầy tính chuyên nghiệp, hắn đặt những cái camera được che giấu trong phòng khách và phòng ngủ. Băng hình video sẽ chiếu trực tiếp vào máy tính của hắn.
Tại sao ta không nghĩ đến điều này sớm hơn nhỉ? Hắn tự hỏi mình khi thiết lập hệ thống giám sát đó. Cám ơn, Steve ạ, vì đã giúp ta dễ dàng trong việc này. Steve để đèn sáng trong cả hai phòng, và cả nhà tắm nữa. Derek thanh toán hóa đơn tiền ga và tiền điện cho hắn. Howard bực tức nghĩ thế.
Và Steve là một kẻ nhếch nhác, thô lỗ. Giường không sắp gọn. Hai bộ đồ ngốc nghếch mà hắn mặc trong những buổi biểu diễn của ban nhạc chất đống trên một cái ghế. Những lọn tóc giả mà hắn sử dụng để đóng vai các nhân vật bị ném tung lên trong cái thùng carton đặt trên sàn nhà. Howard đội thử một trong những cái đó, mái tóc giả màu nâu đậm dài. Hắn nhìn mình chằm chằm trong gương rồi gỡ bỏ nó ra. Hắn trông giống đàn bà với mái tóc đó, và điều đó khiến hắn nghĩ đến người giáo viên từng sống trong căn hộ này và đã bị cướp giết chết.
Ta không biết tại sao Steve Hockney lại có thể sống trong một nơi từng thuộc về một người đã bị cướp giết chết như vậy, hắn nghĩ. Ta phải ra khỏi chỗ này thôi.
Sáng thứ Hai, Howard đến đón ông Olsen để thực hiện một trong những chuyến đi thăm các bất động sản đã lên lịch của họ, nhưng ông không có mặt ở đó. Người giám thị trong tòa nhà bảo hắn rằng Olsen đã được một cái xe dịch vụ đón đi rồi.
Hoàn toàn không dễ chịu tí nào, Howard đi đến chặng dừng thứ nhất như thông lệ của họ, tòa nhà nơi gia đình Kramer là giám thị. Hắn sắp sửa mở khóa cánh cửa tiền sảnh thì nó bị mở bung ra và một người phụ nữ trẻ xinh xắn, lệ tuôn thành dòng trên đôi gò má, chạy ngang qua hắn.
Carolyn MacKenzie, hắn nghĩ. Cô ta đang làm gì ở đây nhỉ? Hắn quay lại, chạy đuổi theo phía sau và bắt kịp cô khi đã cách xa nửa dãy nhà, với bộ điều khiển từ xa trên tay, cô đang mở cửa chiếc xe của mình. “Cô MacKenzie, tôi là Howard Altman. Chúng ta đã gặp nhau cách đây hai tuần khi cô đang nói chuyện với gia đình Kramer”. Hắn vội vã nói, thở hổn hển.
Hắn quan sát khi cô nóng nảy gạt ngang những giọt lệ vẫn còn tuôn ra từ đôi mắt. “Tôi e mình không thể nói chuyện ngay lúc này”. Cô nói.
“Xem nào, tôi đã nhìn thấy hình cô trên báo và đã đọc những chuyện về anh trai cô. Đó là việc xảy ra trước khi tôi làm cho Olsen, nhưng dẫu sao tôi mong tôi có thể giúp được cô”.
“Cám ơn ông. Tôi cũng mong ông có thể giúp được”.
“Nếu gia đình Kramer bực bội cô vì bất kỳ lý do gì, tôi sẽ thu xếp với họ cho”. Hắn hứa hẹn.
Cô không trả lời, đẩy cánh tay hắn ra khỏi lối đi và vào cửa phía bên tài xế. Howard lùi lại. Với một chuyển động nhanh chóng, cô đã chui tọt vào xe, nổ máy, quay bánh lái, chạy khỏi khu vực đậu xe rồi bỏ đi.
Khuôn mặt hắn thật dữ tợn, Howard Altman đi thẳng vào căn hộ của gia đình Kramer. Họ không trả lời mặc dù tiếng chuông cửa réo lên dai dẳng. Hắn cố dùng chìa khóa của mình để mở cửa, nhưng ổ khóa an toàn vẫn bất động. “Gus và Lil, tôi phải nói chuyện với hai người”. Hắn quát lên.
“Xéo xuống địa ngục đi”. Gus Kramer hét lên từ phía bên kia cánh cửa. “Chúng tôi sẽ đi khỏi đây ngày hôm nay. Ông có thể có công việc này, căn hộ này, và mọi thứ đi cùng với nó. Và nói để ông biết, Howie, tốt hơn hết ông nên xem lại sau lưng mình. Nếu Steve dính vào chuyện này, ông sẽ phải tìm kiếm một nơi nào để dung thân đấy. Giờ thì xéo đi”.
Đứng tần ngần trên lối đi, Howard chẳng thể làm gì hơn là bỏ đi. Có phải Steve đang xum xoe quanh Olsen không? Hắn tự hỏi. Nếu không tại sao Olsen lại đặt dịch vụ xe sáng nay?
Có một cách để hắn tìm ra xem có phải Steve đang đi cùng Olsen hay không. Howard quay về căn hộ của mình và mở máy tính lên. Quét qua đoạn phim videocam, hắn thấy Steve đã ở đó rồi đi ra khỏi căn hộ suốt ngày hôm qua, nhưng hắn luôn chỉ có một mình. Lúc này chẳng có ai trong phòng khách của hắn. Vì thế, có thể hắn đi ra ngoài với Olsen, Howard nghĩ thế, nhưng rồi cái camera trong phòng ngủ cho thấy Steve đang mặc quần lót, ngồi bên mép giường, thử đội hết mái tóc giả này đến mái tóc giả khác. Cái cuối cùng hắn chọn là mái tóc nâu dài. Chiếc camera cho thấy hắn đang mỉm cười với bóng mình trong gương và hôn gió với nó. Rồi Steve quay lại và đi thẳng đến ống kính.
“Howie, tao có những camera an ninh của riêng tao lắp đặt ở đây”. Hắn nói. “Tao cần chúng. Một số bạn bè tao chính xác không phải là những khách hàng đáng tin cậy. Nếu mày nhìn cái này hoặc nếu mày đang thực sự nhìn nó, hãy có một ngày tốt lành”.
Với những ngón tay run rẩy, Howard tắt máy tính đi.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.02.2016 21:33:44 bởi casau>
55
 
Vào giữa trưa thứ Hai, thám tử Bob Gaylor nhận được cú điện thoại từ người nấu bếp trẻ mà ông đã gặp tại khu dành cho người vô gia cư trên phố Mott. “Xin chào, Joan Coleman đây mà”. Cô nói, giọng đầy vẻ kích động. “Tôi đã hứa sẽ tìm ra điều gì tôi có thể tìm được về Zach”.
Căn phòng tổ công tác đang ồn ào, nhưng Gaylor chặn mọi thứ lại để nghe giọng Joan Coleman. “Được rồi”. Ông nói. “Cô có thể kể gì cho tôi nghe nào?”
“Hắn sẽ có mặt ngoài phố mãi. Không còn ở khu dành cho người vô gia cư nữa, vì rằng bây giờ thời tiết ấm áp. Hắn xuất hiện với đồ đạc của hắn gần cầu Brooklyn tối qua, say khướt. Hắn kể cho bạn bè nghe rằng hắn có thể có được khoản tiền thưởng trong vụ Leesey Andrews”.
“Hắn đã cố điều đó. Tôi không tin nó sẽ được việc”.
“Pete người cung cấp tin tức của tôi là một gã trẻ trung có thể làm được điều đó. Hắn là một tay nghiện ma túy, nhưng hắn luôn cố gắng cai. Lúc này hắn khá sạch sẽ, do vậy tôi tin cậy những gì hắn kể với tôi”. Cô thấp giọng. “Hắn nói rằng Winters tuyên bố hắn đang nắm bằng cớ nào đó nhưng không thể đưa nó ra vì người ta sẽ đổ mọi tội lỗi lên đầu hắn”.
“Được rồi. Thế thì Winters đã có mặt ở khu vực cầu Brooklyn tối qua phải không?”
“Vâng, gần chỗ đại loại là khu vực công trường xây dựng, và có lẽ hắn vẫn còn quanh quẩn ở đó. Từ điều Pete nói với tôi thì hắn còn ngủ nhiều”.
“Joan, nếu có bao giờ cô muốn một công việc ở phòng này,” Gaylor nồng nhiệt nói, “thì cô đã có nó đấy!”
“Không, cám ơn. Tôi đã có đủ phần mình, chỉ cố gắng làm điều gì tôi có thể cho những người tội nghiệp này mà thôi”.
“Cám ơn một lần nữa, Joan”.
Gaylor đứng lên, đi vào văn phòng của Larry Ahearn, và báo cáo ngắn gọn với anh.
Ahearn lặng lẽ nghe. “Anh nghĩ Winters đang che giấu chúng ta à” anh nói. “Có vẻ như anh đúng đấy. Hãy tìm cho ra hắn và buộc hắn phải phun ra. Có thể hắn vẫn còn đủ say để phun hết gan ruột ra cho anh đấy”.
“Anh có nghe thêm thông tin gì về gia đình Leesey không?”
Ahearn dựa lưng vào ghế với tiếng thở dài. “Tôi đã nói chuyện với Gregg sáng nay. Anh ấy cho cha mình uống thuốc an thần khá nhiều. Anh ấy không thể rời xa ông cho đến khi việc này được giải quyết theo cách này hay cách khác”. Anh nhún vai. “Điều phải nói là cả anh lẫn tôi đều không hiểu điều gì đã xảy ra hoặc điều gì sẽ xảy ra cho Leesey Andrews”.
“Tôi không tin điều đó”. Gaylor nói. “Ngày hôm qua anh đã đúng khi cảm thấy gã này muốn được chú ý”.
“Tôi cũng đang bắt đầu tin rằng hắn muốn bị bắt, nhưng theo một kiểu cách sẽ là một biến cố bùng nổ ngoạn mục cơ”. Đôi tay Ahearn co lại thành những nắm đấm. “Cách đây một tiếng Gregg nói với tôi rằng anh ấy cảm thấy vô dụng cùng cực. Và tôi cũng cảm thấy thế”.
Khi Gaylor quay lưng đi, chuông điện thoại lại reo vang. Ahearn nhấc máy lên, nghe một chút rồi nói: “Nối máy cho anh ấy đi”. Vẫy tay gọi Gaylor quay lại, anh nói: “Gregg Andrews đó mà”.
Gaylor lắng nghe khi Larry Ahearrt nói. “Dĩ nhiên nếu cha anh muốn đăng lời yêu cầu giúp đỡ trên hệ thống truyền thông, chúng tôi sẽ chuyển nó cho họ”. Anh ngồi xuống và cầm một cây bút lên. “Nó từ trong Kinh Thánh. Được rồi”. Anh viết trong lúc kẹp điện thoại vào tai nghe, ngắt lời Gregg Andrews một lần, nhắc lại điều gì đó, rồi nói: “Tôi nắm rồi. Tôi sẽ lo việc đó”.
Với một tiếng thở dài thật sâu, anh đặt ống nghe xuống. “Đó là điều bác sĩ Andrews muốn đọc trên các đài truyền hình và in trên báo chí để kẻ bắt cóc Leesey hiểu rằng ông cần cô ấy quay trở về an toàn, bình yên với ông một cách kinh khủng như thế nào. Nó được trích từ lời nhà tiên tri Hosea:
“Khi con còn là đứa trẻ ta đã yêu thương con...
Chính ta là người dạy con bước, nắm con trong đôi tay ta...
Ta sát bên con như những ai nâng trẻ nhỏ lên đôi gò má họ.
Ta cúi xuống và cho con ăn...
Làm sao ta có thể từ bỏ con cho đành?”
Cặp mắt hai người đàn ông lấp lánh những giọt lệ khi thám tử Bob Gaylor bỏ đi tìm Zach Winters.
* * * * *
Viễn ảnh những tờ đô-la, xếp thành từng chồng cứ nhảy múa trong trí óc của Zach Winters khi hắn mở mắt nhìn một gã nào đó đang đứng trước mặt hắn. Hắn đang nằm co người tại một trong những địa điểm ưa thích nhất của hắn, một công trường xây dựng gần khu vực cầu Brooklyn, nơi cái garage đậu xe cũ đã bị giật đổ, nhưng tòa nhà mới lại chưa được khởi sự. Cái hàng rào bằng gỗ đã được dỡ lên, và vì thời tiết ấm áp nên hắn và nhiều bạn bè hắn đã sử dụng nơi này làm mái ấm của mình. Cứ mỗi mười ngày hoặc hai tuần cảnh sát lại đuổi họ ra khỏi chỗ này, nhưng sau một hai ngày tất cả bọn họ lại quay trở lại với đồ đạc của mình. Giống như Zach, tất cả bọn họ đều hiểu rằng khi công việc xây dựng thực sự bắt đầu, họ sẽ lại phải lên đường, nhưng cho đến tận lúc đó, nó vẫn còn là địa điểm tuyệt vời để cắm trại.
Zach đang mơ màng đến khoản tiền thưởng năm mươi ngàn đô-la mà hắn sẽ có được ngay khi hình dung ra cách để có tiền mà không vướng vào tình trạng rắc rối thì hắn cảm thấy có ai đó đang lắc đôi vai hắn.
“Thôi nào, Zach, tỉnh lại đi”. Giọng một người đàn ông đang ra lệnh.
Zach chậm chạp mở mắt ra. Một cảm giác quen thuộc lướt qua trí não hắn. Ta biết gã này. Hắn là cảnh sát. Hắn ở trong căn phòng đó khi người anh dẫn ta đến nói chuyện về việc trông thấy Leesey. Phải cẩn thận, Zach tự cảnh báo mình. Hắn là một trong những kẻ gây phiền toái ngày hôm ấy.
Zach cuộn người lại và chậm chạp chống khuỷu tay đứng lên. Hắn đã che thân bằng cái áo khoác mùa đông, và giờ đây hắn đẩy nó sang một bên. Hắn chớp mắt trước ánh mặt trời gay gắt buổi trưa, rồi nhanh chóng liếc quanh để chắc chắn là cái xe đẩy tạp phẩm của hắn vẫn còn đó. Hắn đã ngủ với cái xe đẩy đặt nằm kế bên, chân hắn móc vào tay đẩy để không ai có thể chạm đến cái xe mà không làm hắn dịch chuyển trước. Nó đủ an toàn, mặc dù vài tờ báo mà hắn nhét vào bên trên đã trượt ra khỏi đó.
Hắn chớp mắt nữa. “Muốn gì vậy?” Hắn hỏi.
“Tôi muốn nói chuyện với anh. Đứng lên đi”.
“Được rồi, được rồi, cứ thong thả mà”. Zach mò mẫm chai rượu mà lúc hắn ngủ, nó vẫn ở kế bên hắn.
“Nó rỗng rồi”. Gaylor ngắt lời. Anh chụp lấy cánh tay Zach, và giật mạnh hắn đứng lên. “Anh đã kể với bạn bè rằng anh biết một điều gì đó về việc Leesey biến mất, một điều anh không thể nói với chúng tôi ngày hôm đó. Nó là gì vậy?”
“Tôi không biết ông đang nói về chuyện gì vậy?”
“Có, anh biết”. Gaylor cúi xuống, chụp lấy tay đẩy của chiếc xe đẩy và dựng cho nó thẳng đứng lên. “Anh đã nói với bạn bè rằng anh có điều gì đó có thể đưa đến khoản tiền thưởng cho vụ Leesey Andrews. Nó là gì?”
Zach làm một cử chỉ phủi đất khỏi chiếc áo khoác của hắn. “Tôi biết quyền của mình. Tránh xa khỏi tôi đi”. Hắn với tay nắm của chiếc xe đẩy. Gaylor khước từ không tránh ra khỏi nó, và chắn lối hắn đi.
Giọng nói của người thám tử nghe thật giận dữ. “Zach, tại sao anh không hợp tác với tôi? Tôi muốn anh dỡ cái xe đẩy này ra và chỉ cho tôi mọi thứ trong đó. Chúng tôi biết anh đã không liên quan gì với việc Leesey biến mất dạng. Anh là kẻ nát rượu đến mức không thể xoay xở làm được điều đó. Nếu anh có cái gì trong mớ đồ đạc có thể giúp chúng tôi tìm ra cô ấy, anh sẽ có được khoản tiền thưởng của anh. Tôi hứa như vậy”.
“Ê, chắc ông làm chứ”. Zach tiến lên và cố chụp tay nắm từ Gaylor. Cái xe đẩy chao đảo và một vài tờ báo rơi ra, một cái áo sơ-mi của đàn ông trông rất bẩn thỉu, quấn quanh một vật mà ngay lập tức Gaylor nhận ra đó là một hộp mỹ phẩm đắt tiền.
“Anh đã lấy cái đó ở đâu?” Anh ngắt ngang.
“Đấy không phải là việc của ông”. Zach nhanh chóng chỉnh lại chiếc xe đẩy cho thẳng rồi nhét những tờ báo vào chỗ cũ. “Tôi đi ra khỏi chỗ này”. Hắn nhanh chóng đẩy chiếc xe hướng về vỉa hè gần nhất.
Bước theo hắn, Gaylor móc chiếc điện thoại di động ra và quay số của Ahearn. “Tôi cần một cái trát lục soát để tóm lấy những món trong chiếc xe đẩy của Zach Winters”. Anh nói. “Hắn có một cái túi mỹ phẩm hai màu đen và bạc đắt tiền mà tôi cá là thuộc về Leesey Andrews. Tôi sẽ đi theo sát hắn cho đến khi anh trả lời tôi. Và hãy tìm hiểu người bạn cùng phòng với Leesey xem cô ấy có biết Leesey đã mang theo loại túi mỹ phẩm nào tối hôm ấy không”.
Bốn mươi phút sau, được sự hỗ trợ của hai chiếc xe tổ công tác với lệnh trong túi, Gaylor đang mở cái hộp mỹ phẩm của Leesey Andrews.
“Tôi sợ rằng ông nghĩ tôi ăn trộm nó”. Zach Winters đang rên rỉ. “Khi cô ấy leo lên chiếc SUV, cô ấy làm rơi chiếc túi xách tay. Một vài món đồ bị rơi ra. Cô ấy nhặt hầu hết mọi thứ lên, nhưng khi họ lái xe đi rồi, tôi đến đó để xem có thể có vài đô-la bị rơi ra khỏi túi của cô ấy không. Ông biết tôi định nói gì. Rồi tôi trông thấy cái này và tôi lấy nó, và tôi sẽ thành thật với ông rằng cô ấy để tờ năm mươi đô-la trong đó, và có lẽ tôi đã tự thưởng cho mình một chút và...”
“Thế tại sao anh giấu?” Gaylor chen ngang. “Nếu anh đưa cái này cho chúng tôi, thậm chí vào sáng thứ Bảy, sự thể có thể đã khác đi rồi”.
Ngoài hộp mỹ phẩm theo kiểu tiêu biểu phụ nữ vẫn thường mang theo, anh còn tìm thấy một tấm danh thiếp cá nhân. Nó thuộc về Nick DeMarco và có ghi địa chỉ và số điện thoại căn hộ tiện nghi của anh ta. Ở mặt sau của tấm danh thiếp anh ta đã viết: “Leesey, tôi có thể mở vài cánh cửa cho cô trong lĩnh vực biểu diễn và tôi sẽ vui sướng được làm điều đó. Hãy gọi cho tôi. Nick”.

0
56
 
Với nụ cười thỏa mãn, Derek Olsen ký vào đống giấy tờ cuối cùng để chuyển giao căn nhà xập xệ dưới phố mà lão sở hữu trên đường 104 và đường Riverside với giá nhiều triệu đô-la cho doanh nghiệp Twining Enterprises, hãng bất động sản sắp xây dựng một khu căn hộ cao cấp xa xỉ kế bên đó. Lão đã khăng khăng rằng Douglas Twining Sr., chủ tịch và tổng giám đốc của công ty đó, phải đích thân tham dự cuộc mua bán.
“Tôi biết ông sẽ thanh toán ở mức tôi muốn, Doug ạ” Olsen nói. “Thật là quá sức vô lý nếu ông không cần tòa nhà của tôi”.
“Tôi không cần nó. Tôi muốn nó”. Twining khẽ khàng nói. “Lẽ ra tôi đã có thể làm mà không cần có nó”.
“Và không có cái góc ấy? Không có tầm nhìn ấy? Có lẽ tôi phải bán nó cho một người nào khác sẽ dựng lên một trong những tòa nhà manh mún vớ vẩn để cho những người nổi tiếng của ông sẽ nhìn về phía tây ngó một bức tường gạch à? Thôi đi mà”.
Twining nhìn luật sư của ông. “Chúng ta xong ở đây chứ?”
“Tôi nghĩ thế, thưa ông”.
Twining đứng lên. “À, Derek, tôi cho rằng tôi cần phải chúc mừng ông”.
“Tại sao không? Mười hai triệu đô-la cho mảnh đất có diện tích hơn năm mươi nghìn mét vuông, và một căn nhà tồi tàn mà tôi đã trả mười lăm ngàn cách đây bốn mươi năm cơ mà? Điều đó là sự lạm phát đối với ông”. Nụ cười hân hoan của Olsen biến mất. “Ông sẽ cảm thấy tốt hơn khi biết tôi sẽ bỏ tiền này vào mục đích tốt đấy. Nhiều trẻ con trong khu Bronx, những đứa trẻ không lớn lên trong những căn hộ cao cấp và không đi đến Hamptons để nghỉ hè, giờ đây sẽ có vài công viên để chơi đùa - các công viên Derek Olsen. Khi nào thì ông sẽ cho giật sập ngôi nhà đó?”
“Quả tạ công phá sẽ có mặt ở đó vào sáng thứ Năm. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ đích thân làm điều đó. Tôi biết cách xử lý nó như thế nào”.
“Tôi sẽ đến xem. Tạm biệt nhé, Doug”. Olsen quay sang luật sư của lão, George Rodenburg. “Được rồi, chúng ta ra khỏi đây đi”. Lão nói. “Anh có thể mua cho tôi một bữa tối sớm đi. Tôi quá sức kích động đến không ăn được cơm trưa. Và trong khi chúng ta ăn, tôi sẽ gọi điện cho cháu trai tôi và Howie để bảo cho họ biết điều sẽ đến vào sáng thứ Năm. Tôi sẽ bảo họ tôi vừa mới có mười hai triệu đôla cho khoản đó và tất cả số tiền ấy sẽ đi vào các công viên của tôi. Tôi chỉ ao ước mình có thể trông thấy bộ mặt của họ. Cả hai người đó sẽ có cơn đau tim thôi”.

0
57
 
Sau khi rời nhà gia đình Kramer, tôi lái xe thẳng vào garage ở Sutton Place, băng qua những cái camera lóe sáng, đi lên lầu, và ném vài món đồ vào trong một cái túi. Mang cặp kính đen lớn nhất mà tôi có thể tìm ra để che khuôn mặt mình, tôi quay lại đi xuống thang máy đến garage, lần này tôi lấy chiếc xe hơi của mẹ tôi để che mắt họ. Rồi, cầu xin Thượng đế cho tôi không gây ra tai nạn, tôi chạy ào ra ngoài phố, và quẹo thật nhanh vào đường số Năm Mươi Bảy. Tôi lái xe lên đại lộ Thứ Nhất đến tận đường số Chín Mươi Sáu, cố đảm bảo sao cho tôi sẽ không bị theo đuôi. Tôi không muốn bất kỳ ai biết về nơi tôi sẽ đến.
Dĩ nhiên, tôi không thể chắc, nhưng hẳn là không có cái xe truyền thông nào xuất hiện khi tôi quẹo phải vào đường số Chín Mươi Sáu và đi vào phố FDR phía bắc. Con phố này dĩ nhiên được đặt tên để tôn vinh Tổng thống Franklin Delano Roosevelt. Điều đó làm tôi nghĩ về Elliott. Một ý nghĩ ớn lạnh đến với tôi rằng nếu Mack phạm tất cả những tội ác này và bị bắt, trong vòng nhiều tháng sẽ đầy những thông tin đại chúng và một hay nhiều vụ xét xử. Elliott có nhiều khách hàng vàng. Tôi biết ông ấy đang yêu mẹ, nhưng ông ấy có muốn bị dính dấp vào loại thông tin đại chúng ấy không nhỉ? Nếu ông cưới mẹ, ông ấy có muốn nhìn thấy hình bà trên các tờ báo lá cải trong suốt vụ xét xử không nhỉ?”
Ngay bây giờ đây ông ấy là người bảo vệ bà, nhưng điều đó sẽ kéo dài bao lâu? Nếu giờ này cha còn sống và Mack kết thúc với kịch bản như thế, tôi biết cha sẽ có mặt ở đó với anh, làm hòn đá tảng và dịch chuyển đất trời để tạo dựng lên trạng thái mất trí để bảo vệ anh. Tôi nghĩ đến giai thoại về FDR được lặp đi lặp lại quá thường xuyên của Elliott - rằng ông đã chọn một người theo Đảng Cộng hòa làm nữ chủ tiệc khi Eleanor đi vắng vì không có người nào theo Đảng Dân chủ trong Hyde Park có cùng vai vế xã hội ngang bằng ông. Tôi tự hỏi FDR, hay Elliott nghĩ gì về việc người mẹ của kẻ bị kết án giết người hàng loạt có mặt quanh quẩn bên họ? Theo cái cách sự việc đang tiếp diễn, hầu như tôi có thể nghe thấy Elliott đưa ra bài diễn văn “chúng ta hãy cứ là bạn thôi” cho mẹ.
Khi tôi tiến đến khu vực Cross Bronx, tình trạng lưu thông tồi tệ hơn bao giờ hết, tôi cố ngừng suy nghĩ để tập trung vào việc lái xe. Với mật độ giao thông gần như bò toài ra, tôi gọi đến trước và thu xếp có được một vé giữ chỗ cho chuyến phà cuối cùng đi Vineyard từ Falmouth. Thế rồi tôi đặt chỗ ở khách sạn Vineyard ở Chappaquiddick. Tôi tắt luôn điện thoại di động. Tôi không muốn nói chuyện với bất kỳ ai.
Khi tôi đến được đảo và nhận phòng ở khách sạn thì đã chửi giờ ba mươi. Mệt lử, nhưng vẫn không thể nghỉ ngơi, tôi xuống quầy rượu, ăn một cái hamburger và uống hai ly vang đỏ. Rồi, bất chấp tất cả những lời khuyên y học đúng đắn, tôi uống một viên thuốc ngủ mà tôi đã tìm thấy ở cái bàn cạnh giường ngủ của mẹ và đi ngủ luôn.
Tôi ngủ một lèo đến mười hai tiếng đồng hồ.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.02.2016 21:31:39 bởi casau>
58
 
Vào lúc 4 giờ 30 chiều, Nick DeMarco đang ở trong văn phòng giữa phố của anh thì chuông điện thoại reo vang. Đó là đội trưởng Larry Ahearn với một yêu cầu nhanh chóng rằng Nick phải đến ngay văn phòng anh ta. Nuốt hết sự khô đắng vào miệng và xuống cuống họng, Nick đồng ý. Ngay khi gác máy, anh gọi liền cho luật sư của mình, Paul Murphy.
“Tôi sẽ khởi hành ngay bây giờ”. Murphy bảo anh. “Tôi sẽ gặp anh tại tiền sảnh ở đó”.
“Tôi có thể làm tốt hơn điều đó”. Nick nói. “Dẫu sao tôi cũng đang định đi trong vòng mười lăm phút nữa, có nghĩa là ngay bây giờ Benny có lẽ đang ở bên ngoài quanh khu phố. Tôi sẽ gọi cho anh khi tôi vào trong xe hơi. Chúng tôi sẽ lượn qua và đón anh”.
Lúc 5 giờ 5 phút, Benny đang ngồi sau tay lái, họ đang lái xe về phía nam trên đại lộ Công Viên. “Theo cách mà tôi thấy, thì đây là cách họ làm anh lo lắng”. Murphy bảo anh. “Chứng cớ gián tiếp duy nhất, và tôi lặp lại chữ duy nhất, mà họ có thể đặt ra với anh là hai sự kiện: Một là anh đã mời Leesey sang nói chuyện với anh trong câu lạc bộ, và hai là anh đã có chiếc Mercedes SUV màu đen, khiến anh trở thành một trong hàng ngàn chủ sở hữu một chiếc Mercedes SUV màu đen”.
Anh ném cái nhìn vào DeMarco. “Dĩ nhiên, lẽ ra anh đã có thể giúp tôi không bị bất ngờ lần trước khi chúng ta có mặt ở đó”.
Murphy đã hạ giọng gần như một tiếng thì thào, nhưng Nick vẫn dùng khuỷu tay hích anh một cái. Anh biết Murphy đang đề cập đến sự kiện rằng người vợ thứ hai của Benny đã đưa ra một lệnh giới hạn chống lại chồng. Anh cũng biết rằng Benny có đôi tai thính tuyệt vời và chẳng bỏ sót cái gì cả.
Mật độ giao thông chậm chạp không chịu nổi đến mức Murphy quyết định phải gọi điện thoại cho văn phòng của Ahearn. “Chỉ để anh biết rằng chúng tôi đang kẹt vào giấc cao điểm năm giờ như thường lệ và chẳng thể làm gì về điều này được cả”.
Câu trả lời của Ahearn thật đơn giản. “Chỉ cần đến đây. Chúng tôi sẽ chẳng đi đâu cả. Có phải tài xế của DeMarco, Benny Seppini, đang lái xe chở các anh không?”
“Vâng, anh ấy đang lái xe”.
“Đem anh ta lên luôn nhé”.
Lúc đó là 5 giờ 50 khi Nick DeMarco, Paul Murphy và Benny Seppini đi qua phòng tổ công tác đến văn phòng riêng của Larry Ahearn. Tất cả bọn họ đều chú ý đến những cái nhìn chằm chằm gay gắt từ những thám tử trong phòng tổ công tác khi họ vội vã đi qua.
Bên trong văn phòng Ahearn bầu không khí thậm chí còn lạnh lẽo hơn. Ahearn lại được bọc hai bên sườn bởi các thám tử Barrott và Gaylor. Có ba cái ghế đặt trước cái bàn giấy. “Ngồi xuống đó”. Ahearn cộc lốc nói.
Benny Seppini nhìn DeMarco. “Ông DeMarco, tôi không nghĩ đây là chỗ của tôi...”
“Dẹp cái thói quen đầy tớ đó đi. Anh biết anh gọi anh ta là Nick mà”. Ahearn chen ngang. “Và giờ thì ngồi xuống đi”.
Seppini chờ cho đến lúc DeMarco và Murphy đã ngồi vào chỗ họ rồi hắn mới ngồi vào ghế mình. “Tôi biết ông DeMarco nhiều năm”. Hắn nói. “Ông ấy là một người quan trọng, và khi không ở một mình với ông ấy, tôi gọi ông ấy là ông DeMarco”.
“Nghe cảm động nhỉ”. Ahearn mỉa mai nói. “Bây giờ tất cả hãy lắng nghe điều này”. Anh nhấn cái nút máy thâu băng và giọng của Leesey Andrews đang van vỉ cha cô hãy giúp đỡ tràn ngập căn phòng.
Có một khoảnh khắc yên lặng căng thẳng tiếp theo sau đoạn băng thâu, rồi Paul Murphy hỏi. “Mục dich mở đoạn băng thâu này cho chúng tôi nghe để làm gì vậy?”
“Tôi vui mừng thông báo để anh nhắc nhở khách hàng của mình một thực tế rằng kể từ ngày hôm qua, Leesey Andrews có lẽ vẫn còn sống. Chúng tôi nghĩ điều đó có thể khuấy động để anh ta nói cho chúng tôi biết có thể tìm cô ấy ở đâu”.
DeMarco nhảy lên khỏi chiếc ghế. “Tôi không biết gì hơn các anh về việc cô gái tội nghiệp đó hiên đang ở đâu, và tôi sẽ cho đi bất cứ điều gì tôi có để cứu sinh mạng cô ấy nếu tôi có thể”.
“Tôi chắc anh sẽ làm thế”. Barrott đáp, giọng ông nhỏ giọt xuống với sự mỉa mai. “Anh nghĩ cô ấy khá xinh xắn, phải không? Thực tế thì anh đã chuồi cho cô ấy danh thiếp cá nhân với địa chỉ căn hộ cao cấp ấm cúng của anh mà”.
Ông đưa ra tấm danh thiếp, tằng hắng rồi đọc. “Leesey, tôi có thể mở vài cánh cửa cho cô trong lĩnh vực biểu diễn và tôi sẽ vui sướng được làm điều đó. Hãy gọi cho tôi. - Nick”.
Ông ném tấm danh thiếp xuống bàn. “Anh đã đưa nó cho cô ấy đêm hôm đó phải không?”
“Anh không phải trả lời điều đó, Nick”. Murphy cảnh báo.
Nick lắc đầu. “Không có lý do gì để không trả lời điều đó. Vài phút mà cô ấy có mặt ở bàn tôi, tôi đã bảo cô ấy rằng cô là một người khiêu vũ tuyệt đẹp, và cô ấy cũng chắc chắn về điều này. Cô ấy thổ lộ rằng cô ấy muốn có một năm nghỉ ngơi sau khi học xong cao đẳng, chỉ để xem cô ấy có thể lên sân khấu không. Tôi thực sự biết nhiều người nổi tiếng. Do vậy tôi đã đưa cô ấy tấm danh thiếp này. Thế thì sao nào?” Anh gặp cái nhìn chằm chằm đầy vẻ ngờ vực của Ahearn.
“Dường như anh đã quên không đề cập điều đó với chúng tôi”. Ahearn phát biểu, đầy vẻ khinh miệt trong mỗi từ anh thốt ra.
“Tôi đã có mặt ở đây ba lần”. Nick nói, giờ đây rõ ràng có vẻ tranh luận. “Lần nào anh cũng tấn công tôi cứ như thể tôi đã làm gì với việc cô ấy biến mất. Tôi biết anh có thể tìm ra cách nào đó để làm cho cái giấy phép bán rượu ở Woodshed của tôi bị treo, thậm chí anh còn có thể tạo ra một vụ vi phạm...”
“Thôi đi, Nick”. Murphy ra lệnh.
“Tôi sẽ không ngừng đâu. Tôi chẳng làm gì với việc cô ấy biến mất. Lần cuối cùng tôi có mặt ở đây, anh đã gợi ý rằng tôi đã trải rộng tài chính quá mức. Anh hoàn toàn đúng. Nếu anh đóng cửa Woodshed, tôi sẽ bị quăng vào cảnh phá sản. Tôi đã có vài quyết định tệ hại. Tôi không chối bỏ điều đó, nhưng làm tổn thương hay bắt cóc một đứa trẻ như Leesey Andrews không phải là một trong những điều đó”.
“Anh đã đưa cô ấy danh thiếp của anh”. Bob Gaylor lên tiếng.
“Vâng, đúng vậy”.
“Anh kỳ vọng khi nào thì cô ấy sẽ gọi điện thoại đến căn hộ cao cấp của anh?”
“Căn hộ cao cap của tôi?”
“Anh đã đưa cô ấy một tấm danh thiếp có địa chỉ và số điện thoại bàn ở đó”.
“Điều đó thật lố bịch. Tôi cho cô ấy danh thiếp với địa chỉ cơ quan của tôi, số 400 đại lộ Công Viên”.
Barrott tung tấm danh thiếp vào mặt anh. “Đọc đi”.
Mồ hôi toát ra trên trán, Nick DeMarco đọc dòng chữ in trên tấm danh thiếp vài lần trước khi nói: “Hai tuần trước,” anh nói, với chính mình hơn là với những người khác. “tôi đã cho làm một số danh thiếp, chỉ với địa chỉ của căn hộ ấy. Chúng đến vào ngày hôm đó từ nhà in. Tôi hẳn đã để một trong những tấm danh thiếp đó trong bóp mình. Tôi nghĩ đã đưa tấm danh thiếp văn phòng của tôi cho Leesey”.
“Tại sao anh lại cần tấm danh thiếp có địa của căn hộ cao cấp và số điện thoại ở đó trừ phi anh muốn chuồi nó cho những cô gái xinh đẹp như Leesey?” Barrot hỏi.
“Nick, chúng ta có thể đứng lên và đi ra khỏi đây ngay bây giờ”. Murphy nói.
“Điều đó không cần thiết. Tôi đã cho đăng bán căn hộ ở đại lộ số Năm của tôi. Tôi dự định sẽ sống trong căn hộ cao cấp đó. Tôi có quá nhiều bạn bè đã không gặp trong một thời gian dài bởi tôi quá bận rộn trong việc cố gắng trở thành một chủ nhà hàng và câu lạc bộ có tiếng. Việc cho làm những tấm danh thiếp này chỉ để cho tương lai”. Anh đặt tấm danh thiếp trở lại bàn giấy.
“Có phải một trong những người anh muốn gặp trong căn hộ cao cấp đó là em gái của Mack MacKenzie, Carolyn không?” Barrott hỏi. “Tấm hình xinh xắn của hai người, tay trong tay, chạy ào ra xe hơi của anh tối qua. Nó khiến lệ dâng trong mắt tôi”.
Ahearn quay sang Benny Seppini. “Benny, bây giờ chúng tôi nói chuyện với anh. Cái đêm Leesey biến mất, anh đã lấy chiếc xe Mercedes SUV màu đen của Nick tôi xin lỗi, của ông DeMarco đi với ông ấy đến Astoria điều đó đúng chứ?”
“Tôi đã lái chiếc xe mui kín của ông ấy về nhà”. vẻ mặt thô ráp, có sẹo của Benny bắt đầu trở nên đỏ sậm.
“Anh không có xe à? Chắc chắn anh phải được trả đủ tiền để có chiếc xe riêng của mình chứ?”
“Tôi có thể trả lời rằng,” Nick chen ngang, trước khi Benny có thể nói “Năm trước khi Benny bảo với tôi rằng anh ấy sẽ đổi xe hơi, tôi đã bảo anh ấy thật ngốc nghếch khi phải trả bảo hiểm và bảo dưỡng một chiếc xe hơi trong khi tôi đang trả tiền cho chỗ đậu của ba chiếc xe hơi tại một garage ở Manhattan, với giá cả ở khu vực trung tâm không được giảm. Tôi đề nghị anh ấy lái chiếc SUV cho quãng đường giữa nhà ở và Manhattan, rồi chuyển sang chiếc mui kín ở garage khi anh ấy lái xe chở tôi đến các cuộc hẹn”.
Ahearn phớt lờ anh. “Thế thì Benny, anh đã lái chiếc Mercedes SUV màu đen, mà ông chủ của anh đã tử tế đề nghị anh sử dụng như là xe riêng, đi đến căn hộ của anh ở Astoria cách nay hai tuần, vào cái buổi tối mà Leesey biến mất ấy”.
“Không. Ông DeMarco đã để chiếc SUV trong garage ở căn hộ cao cấp bởi vì ông ấy sẽ lái ra sân bay buổi sáng với các thiết bị đánh golf của ông ấy. Tôi đưa ông ay rời Woodshed vào khoảng mười giờ trong chiếc mui kín, rồi sau đó lái về nhà tôi tối hôm đó”.
“Thế rồi anh đi vào căn hộ của mình và leo lèn giường à?”
“Ừ - Ừm. Lúc đó khoảng mười một giờ”.
“Benny, vấn đề đậu xe khá tồi tệ ở khu vực gần chỗ anh, có phải không?”
“Việc đậu xe đều tồi tệ khắp nơi trong thành phố New York”.
“Nhưng anh gặp may. Anh có một chỗ cho chiếc xe của ông chủ ngay trước tòa nhà căn hộ của anh. Điều đó có đúng không?”
“À, vâng, đó là nơi tôi đậu nó. Tôi về nhà và leo lên giường rồi mở chương trình của Jay Leno. Anh ấy thực sự thật vui. Anh ấy nói chuyện về...”
“Tôi không bận tâm đến chuyện anh ấy nói về điều gì. Tôi lo lắng về thực tế rằng chiếc Mercedes màu đen mà Nick DeMarco là chủ không có mặt ở đó cả đêm hôm đó. Người hàng xóm của anh ở căn hộ 6D đã trông thấy anh chạy vào chỗ phía trước tòa nhà vào lúc 5 giờ 15, khi anh ấy đi làm. Hãy nói cho chúng tôi biết, Benny, anh đã ở đâu? Anh có nhận một cuộc gọi khẩn cấp từ ông DeMarco không? Có phải đại loại đã có một vấn đề rắc rối gì đó không?”
Nét mặt của Benny Seppini trở nên tức giận và ương bướng. “Chẳng phải việc của anh”. Hắn gào lên.
“Benny, anh có một cái điện thoại di động với thẻ trả tiền trước không?” Ahearn chất vấn.
“Anh không phải trả lời câu hỏi đó, Benny”. Paul Murphy thét lên.
“Tại sao không? Chắc chắn là tôi có. Tôi đặt vài vụ cá cược. Một trăm đô ở đây và ở kia. Vì thế cứ bắt tôi đi”.
“Không phải anh đã mua một cái điện thoại di động và những tấm thẻ trả trước đó như là món quà sinh nhật đùa vui cho Nick, tôi định nói cho ông DeMarco chứ?”
“Giữ yên lặng đi, Benny”. Paul Murphy thét lên.
Benny đứng phắt lên. “Tại sao tôi lại phải như vậy? Tôi sẽ bảo cho các anh biết chuyện gì đã xảy ra tối hôm đó. Tôi nhận một cuộc gọi khoảng nửa đêm từ một quý bà rất dễ thương đã chia tay với một ông chồng nát rượu hạng bét. Bà ta sợ hãi. Lão chồng biết bà ta và tôi thích nhau. Lão để lại một lời nhắn khùng điên trên điện thoại di động của bà ấy, nhằm đe dọa bà. Tôi không thể nằm lại ngủ, vì thế tôi mặc quần áo và lái xe đến đó. Chỗ của bà ta cách chỗ tôi khoảng một dặm. Tôi ngồi bên ngoài tòa nhà của bà trong xe hơi để chắc chắn rằng hắn ta sẽ không xuất hiện sau khi các quán rượu đã đóng cửa. Tôi ngồi đó đến tận năm giờ. Sau đó tôi đi về nhà”.
“Anh thực sự là một Ngài Galahad [1], Benny ạ”. Ahearn nói. “Người đàn bà này là ai? Cái gã đe dọa bà ta là ai?”
“Hắn là một tên cớm”. Benny thẳng thừng đáp. “Một trong những tay cớm tốt nhất của New York. Bà ta đã nuôi nấng những đứa con, chúng nghĩ rằng hắn là gã tốt nhất trên cõi đời này và chỉ có một vấn đề rắc rối nhỏ với rượu chè thôi. Bà ấy không muốn gặp rắc rối. Tôi cũng chẳng muốn rắc rối. Vì thế tôi sẽ không nói gì thêm nữa”.
Paul Murphy đứng lên. “Thế là đã đủ với chúng tôi rồi”. Anh bảo Ahearn, Barrott và Gaylor. “Tôi chắc chắn rằng các anh sẽ có thể xác minh câu chuyện của Benny, và tôi biết khách hàng của tôi sẽ làm bất cứ điều gì để giúp đỡ cô gái trẻ đang bị mất tích”. Anh ném cho họ một cái nhìn khinh miệt. “Tại sao các anh không thôi đi việc lùng sục không đúng người, và hãy đi tìm kẻ bắt cóc Leesey Andrews và những người phụ nữ trẻ khác ấy? Và tại sao các anh không ngừng việc phí phạm thời gian của các anh khi cứ cố gắng nhắm vào sai đối tượng trong khi có thể vẫn còn cơ may cứu sống sinh mạng cô ấy?”
Ba thám tử nhìn những người đàn ông bỏ đi. Khi cánh cửa đóng lại sau lưng họ, Ahearn nói: “Câu chuyện đó đầy những lỗ hổng. Chắc chắn lẽ ra Benny đã có thể che chắn cho chính mình bằng cách đứng ngoài tòa nhà của bạn gái hắn một lúc, nhưng hắn vẫn còn nhiều thời gian để đáp trả lại cú gọi khẩn cấp từ Nick và đưa Leesey đi ra khỏi căn hộ cao cấp ấy”.
Họ nhìn nhau với nỗi thống khổ tuyệt vọng, mỗi người đàn ông lại nghe thấy trong đầu mình, tiếng kêu cứu đầy tuyệt vọng của Leesey Andrews.
-------------------------------------
[1] Tên của một hiệp sĩ trong các hiệp sĩ bàn tròn của vua Arthur, và cũng là một trong ba người đạt được chén thánh trong câu chuyện thần thoại về vua Arthur.

0
59
 
“Và khi những bức tường đổ nhào xuống...” Đó là một bản thánh ca dân gian trong sách phúc âm xưa cũ chăng? Một điều gì đó về Joshua và những bức tường ở Jericho chăng? Hắn không chắc chắn. Điều duy nhất có tính chắc chắn là thời gian đang cạn dần, rất nhanh.
Ta thật sự, thật sự không muốn kết thúc như thế này, hắn nghĩ. Đó là điều cưỡng bách ta. Ta thực sự đã muốn dừng lại sau vụ đầu tiên. Ta đã không tính đến vụ đầu tiên thực sự, dĩ nhiên, chẳng ai biết về vụ đó. Nhưng rồi ta đã không được phép dừng lại.
Thật không công bằng, không công bằng chút nào cả.
Sự kết thúc đang dần đến, hắn nghĩ, cảm thấy mạch đập nhanh. Ta không thể ngừng lại. Tất cả sẽ kết thúc. Ta sẽ bị phát hiện ra, nhưng ta sẽ không bị bắt. Ta sẽ chết, nhưng ta sẽ đem theo cùng với mình một người mới. Cách gì là tốt nhất - đầy kích động nhất - để làm điều đó?
Ta sẽ hình dung ra cách đó, hắn tự nhủ mình.
Xét cho cùng, hắn luôn có cách.

0
60
 
Martha’s Vineyard cách Manhattan khoảng ba trăm dặm về hướng Đông bắc, và đang dần ấm lên. Vào sáng thứ Ba khi thức giấc, tôi nhìn qua cửa sổ thấy một ngày lạnh lẽo trong sáng. Cảm thấy thể chất và tinh thần mạnh mẽ hơn, tôi bước ra khỏi giường và xem cần mặc gì khi tôi đương đầu với Barbara Hanover Galbraith. Trời đủ lạnh để mặc bộ đồ chạy bộ mà tôi đã tống vào túi xách, nhưng đó lại không phải là bộ quần áo, giày mũ cần thiết mà tôi sẽ chọn cho buổi gặp mặt.
Tôi không muốn trông mình ăn mặc có vẻ quá trịnh trọng hoặc quá xuề xòa. Tôi không muốn có ý nghĩ rằng mình sẽ là cô em bé bỏng của Mack khi gặp Barbara. Cô ấy là một bác sĩ giải phẫu nhi khoa. Tôi là một tiến sĩ luật học, một luật sư, và vừa mới hoàn tất công việc làm thư ký với một thẩm phán tòa dân sự. Bộ đồ thay thế của tôi là bộ vét hàng cashmere màu xanh lá cây đậm, áo dây màu trắng phù hợp, và quần jean trắng mà tôi đã lấy tà trong tủ quần áo vào phút cuối. Bây giờ tôi vui mừng rằng mình đã chọn lựa mặc chúng.
Mặc dù lúc đó đã gần giờ ăn trưa, tôi vẫn gọi bộ phận phục vụ phòng để đặt một bữa điểm tâm kiểu lục địa, uống cà phê đen và gặm một miếng quế trong khi thay quần áo. Tôi nhận ra rằng tôi lo lắng quá mức đến nỗi những ngón tay tôi vụng về, loạng choạng khi gỡ bỏ những tấm thẻ của chỗ giặt ủi gắn vào quần áo.
Tôi hoàn toàn ý thức được rằng mình có thể đang làm công việc vớ vẩn của kẻ ngốc. Barbara và con cái của cô ấy có thể đã quay lại Manhattan lúc này rồi. Nhưng tôi không nghĩ rằng tình hình sẽ như thế. Tôi tin rằng cô ấy vẫn đang đến tận nơi này để trốn lánh việc bị chất vấn về Mack với tình trạng hiện hữu.
Tôi chắc chắn rằng nếu tôi gọi trước cô ấy sẽ cúp máy. Nhưng nếu tôi chỉ đơn giản xuất hiện mà không báo trước, hầu như cô ấy sẽ không có cách nào hơn là phải lịch sự chứ không thể đóng cửa trước mặt tôi, vì cô ấy đã từng là khách đến dùng cơm tối tại Sutton Place.
Ít ra tôi hy vọng sẽ không như thế.
Kiểm tra đồng hồ, tôi nhận ra rằng tôi cần phải đi nếu muốn gặp được Barbara ở nhà. Trong xe hơi, tôi đặt hệ thống định vị. Con đường nơi Richard Hanover sống cách đó khoảng sáu dặm. Kế hoạch của tồi là lái xe đến ngôi nhà và nhấn chuông. Nếu không có ai ở đó, tôi sẽ đi vào khu trung tâm của thị trấn và đi bộ loanh quanh một lúc, rồi quay lại ngôi nhà từng giờ một cho đến khi cô ấy có mặt trong đó.
Dường như đó là kế hoạch tốt, nhưng rõ ràng những sự kiện trong ngày đã không diễn ra như vậy. Tôi đến ngôi nhà vào khoảng 12 giờ 30. Chẳng có ai ở đó. Tôi quay lại sau mỗi giờ đến tận 5 giờ 30. Vào lúc ấy tôi đã cho rằng đó hoàn toàn là một chuyến đi vô ích, và cực kỳ chán nản như bất kỳ người nào khác có thể trải qua tâm trạng như vậy. Thế rồi khi tôi đang quẹo chữ U, một chiếc Jeep mang biển số New York băng ngang qua tôi và quẹo vào đường chạy xe. Tôi bắt gặp cái liếc nhìn của một phụ nữ ngồi sau tay lái, bên cạnh cô là một người đàn ông và ở băng sau có vài đứa nhỏ.
Tôi lái xe loanh quanh mười phút hay hơn, rồi quay trở lại ngôi nhà và nhấn chuông. Một người đàn ông ở lứa tuổi gần bảy mươi ra mở cửa. Rõ ràng là ông không có khái niệm tôi là ai nhưng nụ cười của ông rất thân ái. Tôi tự giới thiệu mình, và nói rằng Bruce đã bảo với tôi là gia đình anh ấy đang đi thăm ông. “Mời vào”. Ông nói. “Cô hẳn là một người bạn của Barbara”.
“Ông Hanover,” tôi nói, bước qua ngưỡng cửa “cháu là em gái Mack MacKenzie. Cháu cần nói chuyện với cô ấy về anh Mack”.
Nét mặt của ông đã thay đổi. “Tôi không nghĩ rằng đó là ý kiến hay”. Ông nói.
“Vấn đề không phải đó là ý kiến hay hoặc dở”. Tôi nói. “Cháu e rằng đó là điều cần thiết”. Không cho ông có cơ hội đáp lại, tôi đi lướt qua ông bước vào phòng khách.
Ngôi nhà xây theo kiểu Cape Cod đã được cơi nới rộng hơn theo năm tháng. Phòng khách không lớn, nhưng thật quyến rũ, với đồ gỗ kiểu cổ và tấm thảm móc. Trên đầu, tôi có thể nghe thấy âm thanh những bước chân đang chạy và những tiếng cười hét to. Lũ trẻ có vẻ còn bé. Tôi nghĩ rằng mình đã từng nghe nói Barbara và Bruce Galbraith có một cậu con trai và hai đứa con gái song sinh.
Richard Hanover đã biến mất, có lẽ để nói cho con gái ông biết rằng tôi đang có mặt ở đây. Trong khi tôi ngồi chờ, ba cô con gái bé nhỏ dậm mạnh chân bước xuống cầu thang, đi theo sau là một cô bé chừng mười một tuổi. Những đứa nhỏ chạy ào về phía tôi. Hai trong số chúng rõ ràng là song sinh. Bọn trẻ tụ tập quanh tôi, vui thích vì đang đón chào một vị khách.
“Cháu tên gì?” Tôi chỉ một trong hai đứa bé song sinh.
“Samantha Jean Galbraith,” cô bé nói đầy tự hào “mọi người gọi cháu là Sammy, và chúng cháu đón chuyến phà đi Cape Cod hôm nay”.
Họ đã có chuyến dã ngoại suốt ngày đến Cape, tôi nghĩ. Tôi chỉ sang bé gái song sinh kia. “Cháu tên gì?”
“Margaret Hanover Galbraith. Cháu được dặt tên theo bà cháu, người hiện nay đang ở trên thiên đàng rồi, và mọi người gọi cháu là Maggie”. Cả hai cô bé đều có mái tóc vàng của mẹ chúng, tôi tự nghĩ.
“Và đây là người bà con hay bạn của các cháu?” Tôi hỏi, chỉ tay vào cô gái nhỏ khác.
“Đây là Ava Grace Gregory, người bạn rất tốt của chúng cháu”. Samantha giải thích. Ava Grace bước gần đến tôi hơn và tươi cười rạng rỡ. Samantha quay sang kéo tay cô bé lớn tuổi hơn “Và đây là Victoria Somers. Chị ấy đến đây thăm chúng cháu và thỉnh thoảng chúng cháu đến thăm chị ấy ở nông trại của chị ấy trong bang Colorado”.
“Thỉnh thoảng cháu đi với các em ấy”. Ava Grace sốt sắng nói với tôi. “Và cha cháu đưa tất cả chúng cháu đến Nhà Trắng nữa”.
“Bản thân cô chưa bao giờ được đến đó”. Tôi nói với cô bé. “Điều đó thật tuyệt diệu”. Tôi yêu những đứa trẻ, tôi nói với chính mình. Một ngày nào đó, tôi sẽ có ít nhất bốn đứa cho mình, tôi hy vọng thế.
“Được rồi, các con. Đi lên lầu dọn dẹp sạch sẽ trước khi đến giờ đi ra ngoài ăn tối”. Giọng nói nhẹ nhàng và những đứa trẻ đang đối diện với tôi nên chúng không thể trông thấy nét biểu cảm trên khuôn mặt Barbara Hanover Galbraith. Cô ấy nhìn tôi với vẻ không ưa, căng thẳng đến nỗi cảm xúc duy nhất tôi có thể có là sự sửng sốt.
Tôi đã gặp cô một lần tại bữa cơm tối khi tôi mười sáu tuổi. Tôi đã tan nát cõi lòng vì nhìn bên ngoài thì có vẻ như Nick đang phải lòng cô lúc đó, nhưng giờ đây anh ấy lại tuyên bố rằng chính cô mới là người đang phải lòng Mack. Bất chợt tôi tự hỏi không biết mình có đọc cảm xúc của cô đúng không. Có phải đó là sự khinh miệt mà tôi đang nhìn thấy trong cặp mắt nheo lại và thứ ngôn ngữ cơ thể đầy căng thẳng của cô ấy không hay còn điều gì đó khác?
Với tiếng chào tạm biệt đồng thanh, các cô bé cùng nhau đi lên lầu. Barbara nói: “Tôi muốn nói chuyện trong phòng làm việc”.
Tôi đi theo cô xuôi xuống hành lang hẹp. Có một nhà bếp kiểu đồng quê lớn ở cuối dãy, dẫn đến một căn phòng dành cho gia đình. Phòng làm việc nhỏ nằm ở bên trái, phía trước nhà bếp. Nếu dự đoán thì tôi có thể nói rằng đây là nơi Richard Hanover trải qua những buổi chiều khi ông một mình. Căn phòng có giấy dán tường màu anh đào, thảm trải có họa tiết, một cái bàn giấy cỡ trung đi kèm với một cái ghế, một cái ghế dựa ngả ra đặt đối diện với tivi gắn lên tường. Có cái đèn đọc sách ở phía sau ghế dựa, và một giỏ sách báo, tạp chí nằm trong tầm với.
Tôi có thể hình dung ra cha mình trong căn phòng đó.
Barbara đóng cửa lại và ngồi vào phía sau bàn giấy, chỉ để lại cho tôi cái ghế dựa có thể ngả ra được, dường như quá lớn và quá sâu đối với tôi. Tôi biết cô ở lứa tuổi Mack, ba mươi mốt, nhưng cô là một trong những phụ nữ mà vẻ đẹp thời trẻ không kéo dài. Mặt cô, tôi nhớ trước kia chẳng chút tì vết, nay quá xương xẩu, cặp môi cô quá hẹp. Suối tóc vàng mà có lần tôi vừa ngưỡng mộ vừa ghen tị thì nay được cột chặt thành một búi tóc. Nhưng cô ấy vẫn còn có dáng vẻ thon mảnh, độc đoán. Tôi tưởng tượng rằng sự hiện diện đầy vẻ oai vệ của cô hẳn là niềm an ủi cho cha mẹ những bệnh nhi của cô.
“Tại sao cô lại đến đây, Carolyn?” Cô hạch hỏi.
Tôi nhìn cô, cố gắng suy ngẫm về sự thù địch cùng kiểu như Bruce đang toát ra từ cô. “Barbara,” tôi nói, “từ những gì tôi hiểu thì trong lúc chị và Mack đang hẹn hò với nhau cách đây mười năm thì anh ấy biến mất dạng. Thành thực mà nói, tôi đã được kể rằng chị khá say mê anh ấy. Nếu, như cảnh sát tin tưởng, và như chắc là chị cũng đã đọc trong báo chí, rằng Mack đang phạm các tội ác, thì chỉ có một lý do duy nhất cho điều đó, và đó là vì anh ấy bị suy sụp tinh thần hoàn toàn. Tôi cần biết xem chị có thấy bất kỳ dấu hiệu nào như thế không”.
Cô chẳng nói gì.
Tôi nhìn chằm chằm lại cô. “Tôi đang nói với chị ngay bây giờ rằng khi tôi gặp chồng chị ở văn phòng anh ấy, anh cũng cho thấy sự thù địch như vậy về Mack, điều này khiến tôi bị rối trí. Mack đã từng làm gì với Bruce, và có phải điều đó có dính dấp gì đó đến việc anh ấy biến mất dạng không? Chị có lý do gì mà chạy ào đến đây để lẩn tránh việc bị chất vấn? Nếu chị nghĩ chị có thể che giấu tất cả ở đây thì chị lầm. Giới truyền thông đang cắm trại bên ngoài nhà chúng tôi trên phố Sutton Place. Mỗi lần tôi đi ra, đi vào, họ đều cố chĩa micro vào mặt tôi. Trừ phi tôi có thể có vài câu trả lời chân thực từ chị, và tôi thỏa mãn rằng chị không biết gì về lý do Mack biến mất, nếu không, lần sau khi tôi bị giới truyền thông săn đuổi, tôi sẽ nói cho họ biết rằng chị và chồng chị đang giữ lại những thông tin có thể hữu dụng cho việc tìm thấy Leesey Andrews”.
Tôi nhìn khuôn mặt Barbara biến sắc. “Cô không dám làm thế!”
“Ồ, có chứ. Tôi sẽ làm”. Tôi cam đoan với cô ấy. “Tôi sẽ làm bất kỳ điều gì để tìm ra Mack và chặn đứng anh ấy lại, nếu anh ấy đang phạm các tội ác, hoặc làm trong sạch tên tuổi anh ấy nếu anh ấy vô tội. Vì theo tất cả những gì tôi biết, anh ấy là nạn nhân của chứng quên tạm thời và có thể đang sống cách đày ba ngàn dặm”.
“Tôi không biết anh ta đang ở đâu, nhưng tôi thực sự biết tại sao anh ấy ra đi”. cằm Barbara Hanover Galbraith bắt đầu run rẩy. “Nếu tôi nói với cô, cô thề là sẽ để chúng tôi yên chứ? Bruce chẳng liên quan gì với việc anh ta biến mất cả. Bruce yêu tôi và đã cứu vớt cuộc đời tôi. Chính vì điều Mack đã làm với tôi mà anh ấy ghét hắn”.
“Anh ấy đã làm gì với chi?” Tôi hầu như không thể thốt thành lời. Tôi đã sai lầm rồi. Tôi nhìn thấy không chỉ có sự thù ghét từ bác sĩ Barbara Hanover Galbraith. Tôi còn chứng kiến nỗi đau mà cô đang cố gắng kìm lại.
“Tôi đã say mê Mack. Chúng tôi đi chơi với nhau. Đối với anh ấy, đó là điều tự nhiên, không trách nhiệm, tôi biết điều đó. Nhưng rồi tôi có thai. Tồi hoảng loạn. Mẹ tôi lại bệnh nặng. Bảo hiểm y tể thì không đáng kể, và tất cả số tiền dành cho việc học ở trường y của tôi đã không còn. Tôi đã được chấp thuận cho nhập học ở Columbia Presbyterian và tôi biết tôi không thể đi. Tôi bảo cho Mack biết”.
Cô nuốt nước bọt xuống để tránh không nức nở. “Anh ấy nói sẽ chăm sóc tôi. Anh ấy nói chúng tôi sẽ lấy nhau, và tôi có thể trì hoãn việc học một năm, rồi sau đó sẽ bắt đầu”.
Nghe có vẻ giống Mack, tôi nghĩ.
“Tôi tin tưởng anh ấy. Tôi biết anh ấy không yêu tôi, nhưng tôi cũng chắc chắn có thể làm cho anh ấy yêu tôi. Thế rồi anh ấy biến mất tăm. Chỉ như thế thôi. Tôi không biết phải làm gì”.
“Tại sao chị không đi đến gặp cha mẹ tôi?” Tôi căn vặn. “Họ hẳn sẽ chăm sóc chị”.
“Có thể đưa tôi một chút của bố thí cho ăn mày để hỗ trợ con của con trai họ chăng? Không, cám ơn cô”. Barbara cắn môi. “Tôi là một bác sĩ nhi khoa. Tôi hồi hộp được chạm tay vào một sinh linh bé bỏng và cứu vớt cuộc sống của nó. Tôi đã cứu sinh mạng những em bé còn quá nhỏ đến nỗi chúng chỉ vừa khít trong lòng bàn tay tôi. Tôi có khả năng thiên phú làm lành vết thương. Nhưng có một đứa bé mà tôi đã không cứu được. Đứa con của chính tôi. Tôi đã phá thai bởi vì tôi quá tuyệt vọng”. Cô ấy ngoảnh cặp mắt đi chỗ khác và nói tiếp. “Cô biết điều đó không Carolyn? Đôi khi trong khu chăm sóc nhũ nhi, khi một đứa bé đang khóc, tôi đi đến và bê nó lên, rồi an ủi nó, và khi làm điều đó, tôi lại nghĩ đến đứa bé tôi đã phải nạo ra khỏi tử cung của chính mình”.
Cô đứng lên. “Anh cô không chắc chắn việc sẽ trở thành luật sư. Anh ấy bảo với tôi rằng anh sẽ lấy học vị đó để làm vừa lòng cha anh, nhưng thực ra anh ấy thích thử sức trong việc làm nghệ sĩ. Tôi không nghĩ anh ấy điên - tôi cho rằng anh ấy đi đâu đó và thậm chí có thể cũng biết điều để cảm thấy xâu hổ với chính mình lúc này. Tôi có nghĩ anh ấy đang phạm các tội ác không? Hoàn toàn không. Tôi ghê tởm anh ta vì những gì anh ta đã làm với tôi, nhưng anh ta không phải là kẻ giết người hàng loạt. Tôi ngạc nhiên khi thậm chí cô còn nghĩ đến khả năng đó”.
“Tôi sẽ đi và tôi hứa sẽ không bao giờ đề cập về cô trong bất kỳ cách thức nào với bất kỳ ai, cũng như không làm cô bận lòng nữa”. Tôi lặng lẽ nói khi đứng lên. “Nhưng tôi vẫn có thêm một câu hỏi nữa. Tại sao Bruce lại ghét Mack đến thế?”
“Có một câu trả lời rất đơn giản. Bruce yêu tôi. Suốt thời gian ở Columbia, từ lúc chúng tôi đang là sinh viên năm thứ nhất, tôi biết điều đó. Sau khi phá thai, tôi đi đến một căn phòng trong khách sạn và nuốt những viên thuốc ngủ. Và sau đó tôi lại quyết định là tôi muốn sống. Tôi đã gọi cho Bruce. Anh ấy chạy ào đến với tôi. Anh ấy đã cứu tôi thoát chết. Anh ấy luôn luôn ở bên tôi, và tôi yêu anh ấy vì điều đó, và tôi đã yêu anh ấy vì chính anh ấy. Giờ đây, hãy ban cho tôi một ân huệ và xin hãy bước ra khỏi ngôi nhà này”.
Dưới lầu trong phần còn lại của ngôi nhà thật yên ắng khi tôi bước qua hành lang đi đến cửa trước. Từ trên lầu tôi có thể nghe thấy tiếng lũ trẻ con, và tôi đoán là Richard Hanover đã giữ chúng ở đấy để chúng không thể nghe thấy chúng tôi đang nói những gì.
Nếu có thể mô tả những cảm xúc của mình, tôi sẽ nói tôi cảm thấy như trong một cơn lốc xoáy, bị quăng quật tới lui vào những bức tường đối diện. Cuối cùng tôi đã có câu trả lời tại sao anh tôi biến mất dạng. Mack ích kỷ không sao tả được; anh ấy không muốn đi học trường luật, cũng không yêu Barbara, và việc cô ấy có thai là điều khiến anh bỏ chạy. Thậm chí lời trích dẫn trong cuộn băng cũng có lý. “Khi không được số phận và cặp mắt mọi người sủng ái... Ta chỉ có một mình khóc lóc vì bị ruồng bỏ và quấy rầy thiên đường lặng câm bằng những tiếng kêu than vô vọng của ta”.
Để phòng vệ, hẳn anh ấy đã phải tính đến việc Barbara đi đến gặp cha mẹ tôi để xin giúp đỡ cho đứa bé của anh ấy.
Lời phát biểu thẳng thừng của Barbara rằng Mack không phải chịu trách nhiệm về các tội ác đó, cơn chấn động của cô ấy khi thấy tôi thậm chí còn xem xét đến khả năng ấy, vừa là sự trách mắng lẫn nỗi an ủi làm dịu lòng tôi. Trong tâm trí mình, tôi đã cố hình dung ra sự phòng vệ cho chứng mất trí của anh. Giờ đây bất kỳ sự sợ hãi nào mà tôi có về việc cho rằng anh đang bắt cóc và giết chết phụ nữ đã châm dứt. Tôi biết tôi sẽ đánh cược linh hồn bất tử của mình cho thực tế rằng anh ấy vô tội.
Thế thì ai đang làm việc này? Ai cơ chứ? Tôi tự hỏi mình khi bước vào trong xe. Dĩ nhiên, tôi chẳng có câu trả lời.
Tôi lái xe về lại khách sạn, giữ những ngón tay bắt chéo để cầu mong rằng tôi có thể gia hạn thêm thời gian ở lại. Nơi này thực ra giống một quán trọ nhiều hơn là một khách sạn, và chỉ có tám hay mười phòng ngủ thôi. Tôi đã dự định sẽ đi vào lúc sáu giờ chiều và đang bị tính tiền cho việc trả phòng muộn.
Tạ ơn Chúa, phòng tôi vẫn còn. Tôi không nghĩ có bất kỳ cách nào để tôi có thể chờ chuyến phà rồi sau đó lái xe về nhà trong tâm trạng như thế này. Lái xe về nhà làm gì? Tôi cay đắng tự hỏi mình. Giờ thì tôi chẳng thèm bận tâm tới giới truyền thông. Những cuộc gọi đầy bóng gió của Barrott. Một bà mẹ vắng mặt chẳng muốn ở cạnh tôi. Một “người bạn”, Nick, có lẽ đang sử dụng tôi để giúp anh rửa sạch tên tuổi của mình.
Tôi đi lên lầu. Căn phòng lạnh lẽo. Tôi đã để một cửa sổ mở mà người dọn phòng cũng chẳng đóng lại. Bây giờ tôi đóng nó lại và vặn máy sưởi, rồi nhìn mình trong gương. Trông tôi thật hốc hác, mệt mỏi. Mái tóc tôi đã để buông lơi dường như ủ rũ trên vai tôi.
Tôi chụp lấy cái áo choàng tắm của khách sạn trong tủ, đi vào nhà tắm, và bắt đầu vặn nước bồn tắm. Ba phút sau, tội cảm thấy hơi ấm của nước bắt đầu lấn át cái lạnh trong cơ thể tôi. Khi mặc lại quần áo, tôi đã chọn bộ đồ chạy bộ mà, thật may mắn, tôi đã mang theo. Thật dễ chịu khi mặc nó, có dây kéo cao đến cổ, chỉ có khuôn mặt và cái đầu tôi ló ra ngoài. Tôi cuốn tóc ra sau và kẹp nó lại, rồi trang điểm một chút để che giấu sự căng thẳng mà tôi thấy trong cặp mắt và vẻ mặt mình.
Những người nổi tiếng đeo kính đen ban đêm luôn làm tôi buồn cười. Tôi thường tự hỏi họ làm cách nào xoay xở để đọc thực đơn trong nhà hàng được. Tối nay, tôi cũng đeo cặp kính mà tôi đã đeo khi lái xe ngày hôm qua. Chúng che kín phân nửa khuôn mặt và khiến tôi có cảm giác được che chắn.
Tôi cầm lấy cái túi đeo vai và đi xuống lầu tới nhà hàng, rồi mất tinh thần khi thấy ngoài cái bàn lớn ở giữa đã có tấm bảng giữ chỗ trước trên đó, dường như chẳng còn chỗ nào còn trống cả. Nhưng người quản lý nhà hàng cảm thấy tội nghiệp tôi. “Còn một cái bàn nhỏ trong góc, gần cửa nhà bếp”. Ông nói. “Tôi không thích dành nó cho khách, nhưng nếu cô không thấy phiền lòng...”
“Điều đó được mà”. Tôi bảo ông.
Tôi được đưa vào ngồi ở chỗ đó đủ lâu để gọi một ly vang và xem kỹ thực đơn trước khi họ bước vào phòng ăn. Bác sĩ Barbara Hanover Galbraith, cha cô ấy, bốn đứa bé gái. Và một người khác nữa. Một cậu con trai khoảng chín hay mười tuổi, cậu con trai có mái tóc màu cát, mà khuôn mặt tôi nhận ra rõ ràng như tôi có thể thấy chính mình nếu nhìn vào gương.
Tôi nhìn thằng bé chằm chằm. Cặp mắt to, cái trán cao, nhúm tóc giữa trán, cái mũi thẳng. Nó đang mỉm cười. Nụ cười của Mack. Tôi đang nhìn khuôn mặt Mack. Lạy Chúa, tôi đang nhìn con trai Mack.
Bất chợt tôi cảm thấy cái đầu nhẹ hẫng khi sự nhận thức quật vào tâm trí tôi. Barbara đã nói dối. Cô ấy đã không phá thai. Cô ấy không hề đi đến khu chăm sóc nhũ nhi và nhớ về đứa bé mà cô ấy đã hủy hoại. Cô ấy đã sinh ra đứa bé ấy, và đang nuôi nâng nó như là con trai của Bruce Galbraith.
Có bao nhiêu phần còn lại trong câu chuyện của cô ấy là sự thực? Tôi tự hỏi mình.
Tôi phải đi ra khỏi đó. Tôi đứng lên và đi băng qua nhà bếp, mặc kệ ánh mắt nhìn chằm chằm của những nhân viên. Tôi băng vào tiền sảnh, nhảy bổ lên cầu thang, thu xếp hành lý cho vào túi, trả phòng và bắt chuyến phà cuối cùng từ Vineyard. Vào lúc hai giờ sáng tôi về đến Sutton Place.
Lần đầu tiên, không có xe tải của giới truyền thông ở khu phố.
Nhưng thám tử Barrott đang đứng trong garage. Rõ ràng ông hẳn đã biết tôi đang trên đường về nhà, và tôi nhận ra rằng tôi bị theo dõi. Tôi chóng mặt và mệt đừ. “Ông muốn gì?” Tôi hầu như gào thét lên.
“Carolyn, bác sĩ Andrews đã nhận được một lời nhắn nữa từ Leesey cách đây một tiếng. Những lời nói chính xác của cô ấy là: ‘Cha ơi, Mack nói rằng hắn sẽ giết con bây giờ. Hắn không muốn phải chăm sóc con nữa. Tạm biệt cha. Con yêu cha, cha ơi’.”
Giọng Barrott âm vang khắp garage khi ông thét lên. “Và rồi cô ấy gào rú lên, ‘Không, xin đừng...’ Hắn ta đang bóp cổ cô ấy. Hắn ta đang bóp cổ cô ấy, Carolyn. Chúng tôi không thể cứu mạng cô ấy. Anh cô đang ở đâu hở Carolyn? Tôi biết là cô biết mà. Cái tên giết người kinh tởm ấy đang ở đâu? Cô phải nói với chúng tôi. Hắn đang ở đâu?”

0