📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Ngôi trường đi xuống - Vũ Hạnh 🔒

16 trả lời, 28 lượt xem — Trang 1 / 1
Ngôi trường đi xuống
Tác giả: Vũ Hạnh
 
 
Lời nói đầu
 
Vào năm 1966, trong những hoạt động văn hóa, văn nghệ ở nội thành Sài Gòn, tôi có viết một phóng sự dài ngày - Trường tư hai mặt - đăng trên nhật báo Dân Chủ của ông Vũ Ngọc Các để lồng vào đấy một số lập luận ngăn ngừa chủ trương “bán công lập hóa” các tư thục ở miền Nam và đả kích các phương pháp giảng dạy theo lối Mỹ áp dụng vào trong giáo dục.
Trong lúc tìm hiểu sâu hơn vào các hoạt động trường tư, tôi được dịp chứng kiến sự sụp đổ của một ngôi trường do ảnh hưởng của việc Mỹ đưa quân vào miền Nam mà tôi tạm đổi tên là trường Chấn Hưng để viết nên truyện vừa này.
Bấy giờ là thời điểm chúng ta thành lập Lực lượng Bảo vệ Văn hóa Dân tộc ở Sài Gòn để chống lại các biểu hiện văn hóa đồi trụy và nô dịch. Do các hoạt động như thế, tôi bị Chu Tử - cộng tác viên của Trung ương tình báo dưới chế độ cũ - và đồng bọn dùng tờ báo Sống vu cáo chụp mũ suốt nhiều tuần lễ, khiến các tư thục - trừ trường Hưng Đạo của ông Nguyễn văn Phú - mà tôi có giờ giảng dạy đều gửi thư đến yêu cầu tôi chấm dứt mọi hợp tác, đồng thời một số nhà xuất bản đã cùng tôi ký kết trước đây đều đơn phương hủy các hợp đồng.
Quyển Ngôi trường đi xuống đã được ra đời trong một bối cảnh như vậy, do tạp chí Văn ấn hành như một đặc san vào năm 1966. Ông Bộ trưởng Giáo dục của chế độ cũ, bấy giờ là Trần Hữu Thế, cứ người thay mặt đến trường Hưng Đạo gặp tôi để “tỏ ý tiếc vì tác phẩm đã tung ra thị trường” và đề nghị hỗ trợ phương tiện để tôi viết một quyển khác, lấy nhan đề là Ngôi trường đi lên.
Tôi cám ơn đề nghị ấy, song trả lời rằng Bộ Giáo dục khỏi phải bận tâm hỗ trợ cho tôi, bơi lẽ ngày nào mà nền giáo dục có được dấu hiệu khởi sắc, thì tôi tự nguyện viết quyển Ngôi trường đi lên...
Sau Giải phóng, tác phẩm Ngôi trường đi xuống được nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tái bản vào năm 1988, có kèm theo nhưng “Suy nghĩ tản mạn nhân đọc tác phẩm” của nhà giáo kiêm nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá.
Tái bản lần này, những suy nghĩ tản mạn ấy vẫn còn giữ lại như kỷ niệm của người bạn trước đây chưa hề gặp nhau - do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt - nhưng đã quen thân qua các sách báo.

Thành phố Hồ Chí Minh, 8-8-1988
Vũ Hạnh

📎 ntdx
0
Suy nghĩ tản mạn nhân đọc Ngôi trường đi xuống
 
Cách đây hai mươi năm, sau tổng tiến công Mậu Thân ít tháng, chúng tôi tình cờ mượn được ở Thư viện Quân đội (Hà Nội) cuốn truyện Ngôi trường đi xuống. Nói là “chúng tôi” vì đó là một nhóm anh em: Phan Đắc Lập, Thạch Phương, Bùi Công Hùng, Phong Hiền, Trần Hữu Tá... chuyên để tâm nghiên cứu văn học thành thị miền Nam. Hễ kiếm được tác phẩm nào hay, hoặc có “vấn đề” chúng tôi truyền nhau xem và thường trao đổi, bàn bạc để đánh giá cho đúng đắn, chính xác, và để có thể có tiếng nói hợp thời góp vào cuộc đấu tranh văn hóa, tư tưởng trên các trang báo ở miền Bắc hoặc qua làn sóng điện của đài Tiếng nói Việt Nam.
Đọc Ngôi trường đi xuống, chúng tôi mừng. Vũ Hạnh, cây bút lúc đó tuy chưa một lần gặp mặt, nhưng với chúng tôi đã rất thân quen qua các trang văn, lại có thêm một đóng góp tích cực vào sự nghiệp chống Mỹ ngụy trên mặt trận văn nghệ. Khác với Vượt thác, Chất ngọc, Mùa xuân trên đỉnh non cao, Cô gái Xà Niêng, Lửa rừng... viết Ngôi trường đi xuống, Vũ Hạnh không dựa vào những hiểu biết của mình về Tây Nguyên hoặc không đi vào đề tài lịch sử, anh khai thác một vốn sống phong phú khác qua nhiều năm vừa viết văn vừa dạy học ở Sài Gòn. Viết về đề tài giáo dục tưởng như hạn hẹp, nhưng nhà văn lại giúp chúng ta tiếp cận với xã hội thành thị miền Nam trên một số phương diện cơ bản nhất. Cái lý thú của tác phẩm trước hết là ở đó.
Chao ôi, cái “Chấn Hưng học đường” nhỏ bé trong ngõ hẻm miệt Tân Định với bảng hiệu “kẻ bằng màu gạch rất tươi trên một màu xanh rất đậm” với ông hiệu trưởng Lê Thành Tài vốn có nhiều hoài bão, khát vọng tốt đẹp ấy, chỉ sau mấy năm sống lay lắt, đã đổ sụp trong sự tủi nhục ê chề.
Đúng là có chuyện cạnh tranh của các trường tư khác, đồ sộ nghênh ngang hơn, tuyên truyền quảng cáo ầm ĩ hơn, theo quy luật cạnh tranh thương mại thường thấy trong xã hội Sài Gòn trước ngày giải phóng. Nhưng nguyên nhân chủ yếu chính là vì thời thế đã đổi thay. Vào những năm 1965-1966 này, ở thành thị miền Nam việc xây trường học không sinh lợi bằng dựng nhà chứa điếm, kiếm ăn quanh số trẻ cắp sách đến trường chẳng nghĩa lý gì so với việc “kinh doanh trên thân xác đàn bà”! Trong cuộc đua chen tranh giành lợi nhuận đến chóng mặt ấy, chủ nghĩa thực dụng rất Mỹ đã là kim chỉ nam cho những chủ đất Trần Ngọc Tẹo và những thầy dùi Tám Tàng tha hồ tự tung tự tác. Bọn này sẵn sàng dàn những màn kịch vu vạ người nhiệt tình ngây thơ như ông giáo Lê Thành Tài, làm cho ông ta thân bại danh liệt, để thu hồi bằng được ngôi trường Chấn Hưng mà chúng đã cho thuê.
Và chỉ cần một tháng, cái trường nhỏ bé đã được phá đi, ngôi nhà lớn bốn tầng đã được dựng lên, “tối tân hơn nhiều, có những dãy phòng sắp dài hàng loạt, có cả quạt điện và cả máy lạnh, có cả hàng rào dây thép phía ngoài chằng chịt, tỏa mùi hăng hắc của loại vải dày và mùi oi nồng của những nước hoa pha trộn đủ loại mồ hôi” (tr 108).
Một phương cách tố cáo đế quốc Mỹ kín đáo mà tài tình! Không cần một lời đả kích trực diện, nhưng vào thời điểm sách ra đời - cuối năm 1966 - ai cũng hiểu đạo quân xâm lược Mỹ là thủ phạm chủ yếu gây nên sự xáo trộn ghê ghớm trong sinh hoạt xã hội vùng thành thị miền Nam, dẫn đến tình trạng băng hoại của đạo đức, nhân cách. Và lớp người chuyên mánh mung phe phẩy vùng Sài Gòn tạm chiếm lại vốn rất nhạy thính trước quy luật cung cầu. Bất chấp lương tâm và nhân phẩm, họ sẵn sàng làm đủ trò tệ hại, miễn là hốt được nhiều đô-la của bọn lê dương xâm lược.
Bằng lối viết hài hước nhưng thật chua chát mỉa mai, một nét phong cách quen thuộc của Vũ Hạnh, anh còn cho ta hiểu được cái rối rắm, nhố nhăng, kỳ cục của thế giới trường tư Sài Gòn trước đây. Hầu như bất cứ ai cũng có thể trở thành “giáo sư”, bịt mũi trẻ lấy tiền vô tội vạ.
Vị giáo sư hóa học Nguyễn văn Hai kia, vốn đã sập tiệm sau ba lần pha chế nước mắm ở Phan Thiết, vì lần nào cũng bị thối chín chục phần trăm. Và cái ông Đỗ văn Chỉ nọ, bút hiệu Hồng Hoa Phượng Điệp, tác giả những tập thơ Ái tình nguyên tử, Khối sầu nhược tiểu, Cô đơn cường quốc... mỗi cuốn in dăm trăm bản, để biếu lấy le hơn là bán, cũng thành “giáo sư văn chương”, dù bản thân ông ta chỉ dạy học trò thường viết sai chính tả và bất chấp ngữ pháp, v.v... và v.v...
Hóa ra, trong xã hội thực dân mới trước đây, cái gì cũng trở thành hàng hóa. Giáo dục, lĩnh vực trang nghiêm, cao quí ấy cũng bị vấy bùn và trở thành nơi tung hoành của những cai thầu văn hóa. Khốn khổ thay, đó cũng còn là chỗ để cho những thầy giáo bần cùng có thể cấu phổi, đút dạ dày. Thật thảm hại, cuộc đời của những giáo sư như Lê văn Tính. Sau ba mươi lăm năm gắn bó với bảng đen và phấn trắng, hết trường tư này đến trường tư khác, với bao nỗi lo âu khắc khoải vì bị nợ áo cơm ghì sát đất, họ đã chết mòn trong bệnh tật, đói nghèo và tủi cực.
Rõ ràng, một mảng đời của xã hội Sài Gòn trước ngày giải phóng đã hiện hình và cựa quậy trên trang sách, khó tin nhưng là chuyện thật, vừa buồn cười vừa bi đát, với không ít mẫu người sống động khác nhau.
Những tác phẩm như thế này của Vũ Hạnh, cũng như của những cây bút yêu nước tiến bộ khác, được viết trong vòng kiềm tỏa của Mỹ ngụy, nên và cần được in lại, để chúng ta có thêm cơ sở hiểu sự tiêu vong của cái chế độ thực dân mới là hệ quả tất yếu, để từ đó chúng ta thêm tự hào với những thành quả có được của ngày 30/4/1975 lịch sử. Và điều chủ yếu, để chúng ta phấn đấu làm tốt hơn sự nghiệp dựng xây cuộc sống mới, cho hôm nay và cho tương lai.

Hè, 1988.
Trần Hữu Tá


0
1.
 
Nhiều người Việt Nam ở tại Sài Gòn dễ quên không biết là mình hiện đang sống ở xứ nào. Chẳng hạn, trường hợp ông Gioan Báp-tí-xi-ta Trần Ngọc Tẹo thì càng hoang mang hơn nữa. Miếng đất của nhà ông ở hàng tháng phải đóng thuế cho người Chà, bảng hiệu của cửa tiệm ông lại đề chữ Mỹ, ba cô con gái của ông thích mặc đồ đầm và ông ưa nói tiếng Tây. Cứ soát xét khắp người ông, với bộ quần áo, giày mũ, thuốc hút, thì ta càng bối rối thêm. Nói dại, lột hết các thứ ấy đi thì cũng không sao tìm được một dấu vết gì chứng tỏ ông là con cháu xứ Đại Cồ Việt. Bởi vì da ông cũng vàng như người Nhật Bổn, có pha màu xám của Phi Luật Tân, hôi nồng một mùi xà bông mua ở chợ trời do người Cao Miên xuất cảng không cần đóng thuế và hăng hắc chút nước hoa nhãn hiệu Hương Cảng sản xuất giữa lòng Chợ Lớn.
Ông Báp Tít Tẹo còn có một miếng đất lớn ở Tân Định dự phần làm nhân vật chính cho quyển sách này. Miếng đất thụt sâu vào trong như một con người khiêm tốn muốn sống ẩn dật, vái dài cuộc đời ồn ào bên ngoài bằng một cánh tay gầy nhom là con đường hẽm độ năm chục mét dẫn ra mặt tiền đường phố.
Lịch sử của miếng đất này cũng không đơn giản. Ban đầu chắc hẳn là nó thuộc về Việt Nam, y như mấy quyển sử ký ở trong nhà trường vẫn còn xác nhận là lãnh thổ ta hình cong như chữ S. Nhưng căn cứ trên giấy tờ địa bộ thì lãnh thổ ta, ở miếng đất ấy, lại do người Pháp làm chủ. Theo sự hiểu biết của một số người thì gã Pháp này thuộc dòng quí phái, bởi vì tên gã có một chữ Đờ nằm ngay phía trước. Gọi luôn cả tên thì là Đờ-tuột Cu-nhông. Cứ nghe như thế thì ta hiểu rằng những gì quý phái, cao sang ở các nước ngoài không có giá trị bao nhiêu khi vào đến xứ sở này. Đúng hơn, lại còn có vẻ trần truồng, thô tục, chỉ đáng xảy ra ở nơi tắm rửa mà thôi.
Ông Đờ-tuột... - đành phải gọi tắt như vậy - làm chủ miếng đất vào trường hợp nào, cũng không ai biết. Hồi ở bên Tây, ông ta đã có vợ rồi. Tất nhiên, vợ ông là đầm chính hiệu. Khi được đổi sang “An Nam”, ông vẫn coi thường người “An-nam-mít” cho đến khi ông gặp được một người đàn bà màu mỡ thì sự kỳ thị biến mất. Như thế, tư tưởng kỳ thị chỉ tồn tại được nơi những con người chưa tự lượng được sức mình. Người đàn bà này trước là lấy ông Đờ-tuột, sau là lấy tiền. Ban đầu bà không phân biệt rõ được giữa hai món ấy, mình thích món nào nhiều hơn, nhưng sau khi đã thâu lượm được một số tiền khá lớn, thì sự phân biệt đã thành rõ ràng: bà ta bèn bỏ ngay ông Đờ-tuột, tìm mua một người đàn ông Việt Nam khá lớn, có đủ bề thế của một người chồng hẳn hoi, để khỏi mất gốc. Và để về sau, khi bà qua đời, có người chịu khó vịn cỗ áo quan đi theo kể lể cho tới lỗ huyệt.
Ông Đờ-tuột, chán nản hết sức, sau khi viết một quyển sách lý luận về tính không mấy chung thủy của người đàn bà “An Nam” (làm như tất cả phụ nữ chúng ta đều đã lấy ông, và bỏ rơi ông) bèn quay sang tìm một người vợ Tàu. Phải nói rằng có vợ Tàu là một diễm phúc, nếu gặp được người vợ Tàu lý tưởng. Nhưng lấy vợ Tàu cũng như vợ ta, không phải là chuyện dễ dàng, đối với những người ngoại quốc. Bởi lẽ chỉ có một số phụ nữ nào đó - theo sự thống kê trước đây thì vốn không nhiều - chấp nhận làm công việc ấy như lao vào bước đường cùng. Người vợ Tàu này gọi là thím Xường, gặp ông Đờ-tuột cũng đúng là duyên... “tiền định”. Lấy được ba năm, bốn tháng thì ông Đờ-tuột qua đời. Tây quả không mạnh bằng Tàu hay chăng?
Trong số gia sản của chồng để lại, thím Xường có một vạt đất bỏ trống ở vùng Tân Định, xứng đáng để lập nên một vin-la đủ chỗ rộng rãi cho một anh chồng và một chị vợ, với năm đứa con cùng hai con chó ở chung. Chồng chết, tiền mòn, cái vin-la ấy chỉ được xây dựng bằng thứ vôi gạch tưởng tượng của thím nên nhiều năm qua những vị thất nghiệp trở thành du khách, mỗi lúc đi ngang qua đó, có dịp ngắm nghía một cái hàng rào bằng gỗ gồm toàn cây nọc sơn vàng, cắm khá thẳng thớm, vây bọc rất là trơ trẽn một vạt đất trống, y hệt như lính Ăng-lê mặc đồ ka-ki canh giữ sa mạc Ả Rập. Cùng với thời gian, hàng rào vàng ấy lọt vào mắt xanh của những cô bác thiếu củi láng giềng. Lần hồi, từng cây, từng cọc được đưa vào bếp, và sau một thời gian dài cái hàng rào ấy hiện rõ nguyên hình là một hàm răng cụ lão tám mươi. Khi chúng hóa thân toàn vẹn để thành những làn khói nhẹ mỏng manh về chầu Thượng đế thì thím Xường đâm hốt hoảng, ăn ngủ không yên. Sự phòng thủ không tồn tại thị sự chiếm đoạt coi như dễ dàng. Nghĩ mình góa bụa, giữ gìn một cái thân thể mập mạp ham ăn mê ngủ là việc đã khó quá rồi, còn hơi sức đâu phòng vệ cho khoảng đất trống vốn không hề biết chống cự, cũng không hề biết la làng, nên thím nghĩ đến việc bán hẳn mối lo âu cho người khác vậy. Trong số những người mà thím cảm tình đặc biệt, có một người Chà, tên Ma-hô-mết. Ông ta chuyên bán sữa dê, nhà ở tận trên Phú Thọ. Mỗi sáng, đúng sáu giờ rưởi, ông ta đã mang một lít sữa tươi đến tận cửa ngõ thím Xường, và bao nhiêu năm trôi qua, ông vẫn đúng giờ đúng giấc như vậy, tuồng như đồng hồ của ông làm bằng bê-tông cốt sắt và xe gắn máy lạch cạch của ông chạy bằng nguyên chất khí trời. Thím Xường quí mến đức thật thà của ông ta. Nói cho hẳn hòi, sữa dê của ông không có pha phách bao nhiêu. Trung bình cứ một lít sữa thì ông pha thêm một lít nước gạo là vừa. Đôi khi ông muốn pha thêm hai lít, nhưng vốn là người không biết tham lam nên ông cứ giữ nguyên xi mức cũ. Thím Xường một lần đi qua Phú Thọ thấy bầy dê cái gầy còm, thuộc loại dê cụ, lang thang trên đường tráng nhựa, lấy làm phân vân hết sức. Thím nghĩ, dê già làm sao mà có sữa tươi, lại đi trên đường nhựa thì ăn thức gì bổ béo mà có sữa được? Lại cứ đinh ninh dê đó là của ông Ma-hô-mết (dê nào mà chẳng của Ma-hô-mết?) nên sáng hôm sau, thím uống cạn hết cả lít mà không thấy có vẻ... dê chút nào. Thím bèn tỏ ý ngờ vực thì Ma-hô-mết trợn mắt đập ngực, đưa cả hai tay lên trời kêu đấng “A-la” là đấng tối Tối cao để chứng tỏ sự trung thực. Theo thím, khi người ta viện cả đấng thiêng liêng can thiệp vào chuyện sữa dê thì người ta phải hết sức chân thành. Nhưng hình như Ma-hô-mết lại không nghĩ vậy. Anh ta cho rằng đấng thiêng liêng đã biết hết mọi việc trên cuộc đời này thì thêm nước gạo vào trong sữa dê làm sao qua mắt ngài được? Vậy thì có gọi tên ngài hay là làm thinh, cũng chẳng có gì quan hệ, vì dù chối cãi cách nào ngài cũng biết dư cả rồi. Do đó, nếu phải pha năm phần nước vào sữa thì Ma-hô-mết sẵn sàng gọi đấng Tối cao một cách nhiệt thành.
Tính tình thật thà của Ma-hô-mết làm cho thím Xường cảm động nên thím quyết định chọn y để bán mảnh đất với giá cắt cổ mà không sợ y la làng. Ma-hô-mết về nhà tính nhẩm số nước bột gạo bán theo giá sữa trong suốt mười năm cho thím Ba Xường, và thấy dù mua mảnh đất với giá thế nào đi nữa, y vẫn còn lời khá đậm. Tuy vậy, y vẫn cò kè thêm một bớt hai cho đến phút chót, khi thím Xường đã thật sự chán nản cho sự chậm hiểu của những loại người thật thà, thì y mới chịu mua đứt đúng theo thời giá, trừ thêm một khoảng tiền lớn chi phí vào việc dọn dẹp các đồ rác rưởi càng ngày càng được tập trung cao độ ở trên mảnh đất.
Chính khoản rác này trở thành một mối đe dọa trầm trọng cho Ma-hô-mết. Từ khi mất cái hàng rào, miếng đất trở thành bất lực như mọi cơ sở công cộng, và tất cả những người sống chung quanh vốn chẳng ưa gì nhau lắm, bây giờ bỗng thấy gặp nhau một cách dễ dàng ở trên rác rưởi. Ban đầu, họ còn nhờ có đêm tối làm kẻ đồng lõa nên sự đổ rác mang đầy tính cách hồi hộp thú vị của sự lén lút. Người nào cũng tưởng chỉ có riêng mình mới đủ can đảm làm việc xấu xa như vậy. Nhưng qua hôm sau, nhận thấy số rác ngập cả nền đất, họ cảm hết nỗi đau khổ của kẻ đã mất độc quyền can đảm, nhưng thay vào đó, là nỗi vui mừng được quyền đổ rác tự do. Mỗi sáng, lỡ bước sang ngang qua đó, người ta có thể nhìn thấy đủ thứ loại hàng phế thải của người Sài Gòn. Bên cạnh vài con chuột chết ruột phơi nhầy nhụa, có những chai bể đủ cỡ, hộp thuốc đủ màu, lá chuối láng bóng màu mỡ, vú giả nứt toác và băng vệ sinh đỏ lòm... Nổi bật hơn hết là có những bầu tâm sự hôi hám trút gọn vào các nhật báo - ôi! báo chí! - và sự gói ghém không được cẩn mật đã vỡ tung ra một cách bừa bãi giữa mớ rác rưởi hỗn loạn, hấp dẫn bọn ruồi bốn phương bay đến xanh lè, đảo lộn vần vù suốt buổi, suốt ngày. Thỉnh thoảng, một vài con chó phóng đãng rất ư thích tìm của lạ tạm rời hiên trước nhà chủ kéo vào sục sạo đống rác nồng nhiệt, gây sự đảo lộn tơi bời, khơi lên từng luồng hôi hám đậm đặc tưởng có thể xé rách toang lỗ mũi cả những lớp người nghẹt thở kinh niên thường quen hô hấp mà không phân biệt được loại mùi nào.
Cùng với rác rưởi ngày càng lên cao, nỗi lo của Ma-hô-mết ngày càng thêm lớn. Sợ rằng có ngày người ta ghi nhận sở đất của mình như là một khu đổ rác phụ thuộc của các tòa rác đô thành, Ma-hô-mết tìm mọi cách cản ngăn. Ban đầu, ông ta mượn được một người thông thạo tiếng Việt nhờ viết hộ cho tấm bảng treo trên sở đất để chận đứng sự ném rác loạn xạ trên nền đất mình. Người này vốn có ít nhiều tư tưởng chính trị và đã tham gia hoạt động tích cực trong các phòng trà, bảo rằng nên nói những câu hết sức ngọt ngào, lễ phép để cho cô hồn đổ rác vui lòng. Viết rằng: “Yêu cầu giữ vệ sinh chung” trên một bảng gỗ khá dài, đóng vào cây nọc khá lớn, rồi Ma-hô-mết sau khi chuẩn bị đầy đủ tinh thần, hít một hơi dài không khí bụi bặm ngoài lộ, đoạn nín thở cầm cây cọc ấy chạy vào, đóng hối đóng hả xuống giữa bãi rác, xong chạy ra vừa kịp đúng lúc gần ngã quỵ xuống vì sắp chết ngạt.
Mấy người láng giềng quanh đấy nhìn thấy tấm bảng, có những phản ứng khác nhau. Một số phản đối, cười mũi: “Cái vệ sinh riêng mà giữ chưa xong, làm sao giữ vệ sinh chung cho được!” Số khác, tỏ ý thông cảm, gật đầu: “Đúng rồi, vì giữ gìn vệ sinh chung nên phải đổ dồn vào hết một chỗ cho tiện”. Tóm lại thì người tán thành và kẻ phản đối đều thấy hài lòng về chuyện đổ rác của mình.
Tấm bảng cắm ngày thứ nhất, có vẻ một sự can thiệp dũng cảm, nhưng qua đến ngày thứ ba thì lại ra vẻ trơ trẽn, buồn cười. Được chừng một tuần thì nó trở nên hết sức tội nghiệp. Ma-hô-mết rầu rĩ, kiếm một người khác chỉ dẫn, và anh ta rất hoan hỉ được người này viết cho một câu khá quyết liệt: “Không được phóng uế!!” để cắm bằng sự quyết tâm kinh khủng như lần thứ nhất. Nhìn mấy chữ đề, hàng xóm đều thấy yên lòng. Họ nghĩ rằng mình chỉ có đổ rác, ném đồ dơ bẩn, vứt xác chuột chết, hoặc là phân người, đôi khi tối tăm vắng vẻ lại ra đại tiện ngoài ấy, chứ có phóng uế bao giờ?
Sau khi nhận định liên tiếp hai phen về chuyện cắm bảng, tư tưởng của Ma-hô-mết trở nên đặc biệt bi quan. Rác cứ mỗi ngày mỗi cao, không có cách gì xô nổi, nói gì đến sự xây cất, điểm tô? Tấm bảng thứ ba vắn tắt và quyết liệt hơn, lại được dựng lên: “Cấm đổ rác”, cố gắng cải thiện thực trạng một cách hoàn toàn tuyệt vọng. Bởi vì, theo những quan niệm thông thường, chuột chết, phân người, vú giả, không thể gọi là rác được. Cho nên, với một lương tâm hết sức yên ổn, họ cứ ném mạnh các món đồ ấy ra trên nền đất mà không sợ làm trái ý chủ nhân. Tưởng cũng nên biết rằng các món này chiếm một số lượng đáng kể trong các sinh hoạt Sài Gòn ngày nay.
Cuối cùng, rác rưởi làm cho tiêu tan chút ít hy vọng còn lại nơi Ma-hô-mết. Vốn đã nhiều năm quen tính lợi hại, ông ta không thể nào quan niệm được mình chịu mua đất cho kẻ khác xài. Mỗi một cọng rác là một xúc phạm đối với tinh thần làm ăn của Ma-hô-mết, mà rác như núi non như là sự xúc phạm lớn như trời bể. Ma-hô-mết đành bán lỗ cho người Việt Nam có cặp một cái tên Tây, là Báp-tít-xi-ta Trần Ngọc Tẹo, vì y thực thà nghĩ rằng một người mang ở trên mình ngôn ngữ của hai quốc gia hẳn phải là người có nhiều kiến thức, đủ sức làm chủ một miếng đất trống kiểu đó.
Như một số người Việt Nam tự nhận khôn ngoan, và biết cách sống hợp thời, ông Tẹo không thích chính trị, không ưa quân sự, không thèm văn chương, chỉ thích có mỗi hai việc: làm giàu và đọc các sách kiếm hiệp. Ông đủ kinh nghiệm để hiểu trong các vật dụng hiện thời ở các thành phố, không có gì có lời cho bằng đất cát, và dù đất ấy là méo hay tròn, là dài hay ngắn, sình lầy hay cao ráo, rác rưởi hay trơn tru, ông đều mua tất, không cần so đo. Sự ngu dại nhất của kẻ tính toán khôn ngoan vẫn có giá trị hơn sự thông minh đặc biệt của kẻ vụng về, lẩm cẩm, đó là quan niệm về đời của Trần Ngọc Tẹo.
Mua xong, ông Tẹo cho bơm dầu hỏa vào số xác chuột, vú giả, vân vân, và theo như sách kiếm hiệp truyền dạy, ông bèn đốt hết như là “Hỏa thiêu Hồng Liên Tự” vậy. Làm đúng sách vở, cho nên ông Tẹo thành công. Ông cho đào sâu bốn góc thành bốn hố sâu, lùa hết tro tàn xuống đó, định bụng sau này sẽ trồng ở ngay mỗi lỗ một cây mận ngọt để đến mùa trái hái cho láng giềng mỗi người ít quả gọi là đền đáp công khó của họ đã từng tiếp sức với ông trong việc vun quén đất đai cho thêm phì nhiêu. Đoạn, ông mua dây kẽm gai rào hết ba mặt, chỉ còn một mặt sát cái vách ván của người láng giềng thì ông miễn rào, coi như an toàn. Nhưng cuộc đời thường tấn công chúng ta ở vào các điểm mà ta tin tưởng là vững chắc nhất.
Cho nên, sau một thời gian ngồi chờ giá đất cao lên, ông Tẹo để ý thấy miếng đất mình hẹp lại và cái vách ván của láng giềng như nới rộng ra, theo tỉ lệ thuận với cái mái tôn cũng được cơi thêm. Tất cả sự xâm lấn này đã được thực hành theo một kế hoạch tỉ mỉ, đúng là lối tằm ăn dâu, che đậy rất khéo bởi cái vách ván có vẻ sần sùi, nham nhở như không thay đổi nhưng cứ được xê xích dần ra cái nền trống, tương tự bộ mặt giả vờ đạo mạo hiền lương của gã thầy bói trong lúc hắn đang tìm mọi phương cách lấy tiền thân chủ. Sự ăn lấn này thực hiện xem ra lâu ngày mà không hề gợi được sự chú ý của Trần Ngọc Tẹo, đủ biết kẻ chủ trương nó phải là một tay bậc thầy.
Mà quả là bậc thầy thực. Vì đó là công trình của một vị giáo sư [1] chuyên dạy tư thục trên ba mươi năm - ông Lê văn Tính.
------------------------------------
[1] Trong chế độ cũ, các người giảng dạy ở cấp Trung học trở lên, gọi là giáo sư.

0
2.
 
Ông Tính dạy học tròn chẵn ba mươi lăm năm, nhưng ta cứ kể là ba mươi sáu, để tránh thói đời xuyên tạc hay đổ thừa cho con số những cái ý tình bẩn thỉu hầu che đậy bớt tâm não ô uế của mình. Ra đời năm hai mươi ba tuổi, ông dạy đến năm thứ ba mươi hai thì tuổi vừa đúng năm lăm. Đối với một giáo sư trường tư, năm mươi là tuổi quá già. Già vì không còn đủ sức để chạy qua lại mỗi buổi nhiều trường ở cách xa nhau bốn, năm cây số, già vì không còn hơi phổi hò hét trong những lớp học đông đảo cả hàng trăm người, có khi nhiều hơn, và già vì không đủ sức giảng giải cho một lớp học có gần mười thứ trình độ khác nhau hiểu được bài vở, bởi vì các trình độ ấy đã đóng học phí đầy đủ. Trường tư không thích các người già cả, bởi vì giáo dục ngày nay không cần đến những kinh nghiệm là thứ chỉ có tuổi tác mới gây dựng được.
Bởi vậy, đến tuổi năm mươi, ông Lê văn Tính không cần tính toán cũng thấy số giờ của mình bị giảm xuống dần. Cuối mỗi niên khóa, cơ hồ các vị chủ trường muốn quên hẳn ông, và ông phải tìm mọi cách khéo léo nhắc nhở để họ sắp giờ cho ông vào niên khóa tới. Thông thường, họ tỏ ra quá đãng trí và ông phải nhắc đến lần thứ ba họ mới chịu biết là họ nhớ rồi. Để cho chắc chắn, khi niên học vãn, ông Tính lại đến thăm ông chủ trường, thăm ông hiệu trưởng, thăm ông giám học, ông tổng giám thị và cả nhân viên phụ trách phân phối chương trình. Ông phải chào họ từ lúc mới đến ngoài ngõ, sau khi đã lựa chọn giờ để khỏi quấy rầy một giấc ngủ trưa hay là một buổi cơm chiều. Đến tám giờ sáng, có thể là họ đang ăn điểm tâm và họ chưa kịp rửa mặt, chải đầu, họ sẽ khó chịu. Đến sáu giờ chiều, có lẽ là họ bận đi dạo phố chưa về, và tám giờ tối thì họ đang đùa với vợ, với con, đang bận xem sách kiếm hiệp hay bận đánh bài... họ sẽ gắt gỏng. Ông phải linh động chọn giờ đến thăm theo thói quen và tính khí từng người, sắp sẵn những câu rất khéo để khen con cái, gia đình của họ. Với ai, ông cũng nhận thấy họ hưởng được khá nhiều “phước ông bà”, với ai ông cũng kinh ngạc vì họ “trẻ hơn số tuổi nhiều lắm, nhiều không ai ngờ, thật vậy, thật vậy”.
Nếu dám thành thật với mình, ông Tính có thể nhận thấy các vị chức sắc của trường mà ông đến thăm đều tỏ thái độ nhạt nhẽo khi đón tiếp ông. Tuy vậy, ông không bao giờ dám nhìn nhận có điều ấy, nên không hề tỏ chút lo nghĩ nào về sự lãnh đạm của họ. Thực ra, mọi sự ân cần đòi hỏi gắn bó, và họ không muốn trả bằng giá đắt những món xã giao mà họ không cần. Ông Tính còn đến thăm họ một lần thứ hai vào giữa dịp hè - là tháng mà nhiều giáo sư tư thục đều nằm hồi hộp chờ đợi trong cảnh thất nghiệp một niên khóa mới mở màn - cốt để hâm lại cho nóng một bầu không khí bao giờ cũng loãng như nước ao bèo. Rồi tháng hè qua, sắp đến khai giảng, ông Tính lại đến thăm viếng một lần thứ ba, một lần quyết định để tự trấn an rằng mình quả có tên trong danh sách “giáo sư bổn trường” vào niên học tới. Từ năm ông đã rời tuổi năm mươi mà đổ xuống dốc gập ghềnh của tuổi năm mốt, năm hai, để rơi vào cõi suy yếu, ông Tính thấy các giờ dạy của mình thường nát vụn ra vì không trường nào chịu sắp giờ ông một cách tập trung cho tiện việc ông đi lại. Họ phải giành những khoảng trống thuận lợi cho các giáo sư ăn khách, cho các giáo sư còn nhiều hơi phổi, biết gào, biết thét và biết bông đùa. Những giáo sư già, son phai phấn lạt, đâu có hấp dẫn khách hàng!
Ông Tính chấp nhận mọi điều kiện ấy mà không than vãn vì ông không còn ai để nghe mình, kể cả học trò, bởi vì lỗ tai học trò ngày nay chẳng còn dùng để nghe lời thầy dạy. Vợ ông đã chết từ lâu. Con ông, vỏn vẹn một đứa con trai độc nhất, bây giờ đã có vợ rồi, và theo tục ngữ thì cái giường vợ bao giờ cũng gần hơn cái mồ cha. Ông Tính lại chẳng chịu tin ở trời, vì ông cho rằng nếu quả có ông trời thiệt thì bao lâu nay chắc hẳn ông nghe chán chê những nỗi đau khổ lầm than của nhân loại này và ông đã phải can thiệp, dù chỉ một lần. Ông Tính cũng không chắc gì ông Phật có thể tăng thêm giờ dạy của mình, dù giờ dạy ấy đã bị sụt lương hơn các đồng nghiệp đang độ lên chân. Như khá nhiều giáo sư khác, ông Lê văn Tính trọn đời chỉ tự an ủi bằng chữ cam chịu hết sức là tròn, tự che đậy sự thiếu thốn bằng một thể diện hết sức là kín, và thường tự dối rằng mình không có gì để đòi hỏi hơn nữa, mình đủ đầy rồi. Ở trong cuộc đời, cũng như trong sự giảng dạy, ông Tính hoàn toàn chấp nhận theo những ý kiến có sẵn. Chẳng hạn, gặp sách vở bảo: “Ái tình là nguồn đau khổ” thì giáo sư Lê văn Tính kêu lên: “Đúng rồi! Ái tình quả là nguồn gốc của biết bao nhiêu đau khổ trên cuộc đời này! Kìa chồng xa vợ, anh xa em, bạn bè xa nhau cũng bởi vì tình! Ái tình đưa đến tan rã, chia ly, dao găm, a-xít, bệnh viện, nhị tỳ! Ái tình thật đau khổ vậy thay!” Giáo sư Tính sẽ hít hà để mà kết luận như vậy. Nhưng nếu sách vở lại bảo: “Ái tình là nguồn hạnh phúc” thì chắc chắn là chúng ta sẽ gặp ngay giáo sư Tính kêu lên: “Phải lắm! Ái tình tạo ra biết bao vui sướng trên cuộc đời này. Ái tình làm cho thương nhau nên mới lấy nhau, lấy nhau mới đẻ con cái, con cái sinh ra cháu chắt chít chiu, làm nên đông đảo loài người. Ái tình buộc phải chưng diện nên mới sắm thêm quần áo, cần phải nhậu nhẹt nên mới sửa thêm cửa tiệm, cần phải ăn nằm nên mới tạo ra chiếu giường. Ái tình tạo ra xa lộ Biên Hòa, bệnh viện Từ Dũ, nhà thương Chợ Rẫy và các món vải ni lông đủ các sắc màu... Ái tình quả là hạnh phúc vậy thay!” Nói chung, ông giáo sư Tính được kể vào cái đội ngũ đông đảo những người gọi là trí thức được sinh ra đời để chờ minh họa một cách hả hê ý kiến kẻ khác, khi ý kiến ấy có vẻ là của bề trên, thuộc loại ý kiến chính quy, và Lê văn Tính có đủ tất cả ý kiến, trừ ý kiến của ông ta.
Vào năm năm mươi ba tuổi, ông giáo sư Tính thấy mình mệt mỏi lắm rồi. Sau một buổi dạy, cổ ông khô đắng, ông uống liên tiếp nhiều chén trà lạt ở tại văn phòng nhà trường mà không thấy mình dễ chịu chút nào. Tuy vậy, nước trà không phải bao giờ cũng có dồi dào: các đồng nghiệp trẻ hơn ông, lanh lẹ hơn ông, lại dạy những lớp gần với văn phòng đã tỏ tấm lòng chiếu cố sốt sắng đặc biệt đến các bình nước. Nhiều khi đến lượt ông nhấc bình lên, ông thấy nó nhẹ một cách đáng ngại, nhưng vẫn tự dối rằng nó còn đủ cho ông uống qua cơn khát, và mãi khi nghiêng chúi hẳn bình xuống mà chỉ ri rỉ vài giọt lợn cợn ông mới bắt đầu bàng hoàng vì thấy tuyệt vọng thật sự. Ông không dám gọi một ly nước chanh, hay chai lave ở gian hàng nước trước trường như nhiều giáo sư cóvẻ sang trọng, giàu có hơn ông thường uống trước khi vào dạy, sau khi dạy xong, hoặc cả những khi đang dạy. Ông đặt mình xuống ghế gỗ, nghe đầu choáng váng, lỗ tai vần vù, không còn phân biệt những tiếng cười nói của các đồng nghiệp ở chung quanh mình. Thỉnh thoảng, ngẩng đầu nặng nề nhìn lên, ông lờ mờ thấy loáng thoáng những tà áo màu của các đồng nghiệp phái nữ ơ trước mắt mình và ông khó chịu nghĩ rằng sao họ không chịu ngồi thật yên lặng như ông, hoặc như một kiểu mẫu người đàn bà theo ông quan niệm, nghĩa là một bức tượng đá thực sự. Trong cái thời khoảng của một đầu não rã rời từ chối mọi sự suy nghĩ, ông Tính bỗng giật mình lên vì nghe chuông reo báo hiệu giờ chơi đã tàn. tiếng chuông ngân dài, gay gắt, nhức nhối, chà xát tâm não của ông và khi nó dứt, ông bị ném vào một sự sợ hãi lạ lùng. Đúng hơn, đó là một nỗi kinh hoàng pha trộn ghê tởm của một con người bị đẩy vào một việc làm nặng nhọc mà mình nhìn thấy như một tai nạn không có lối thoát. Viễn ảnh những giờ nóng bức trong một lớp học đông đảo, chật chội, với đám học trò bất trị có cả trăm cách gây nên ồn ào, những giờ kéo dài tưởng như không bao giờ dứt, làm cho ông muốn bỏ trường chạy vút ra ngoài như trốn một cảnh tù ngục. “Thảo nào có những giáo sư trường tư nổi điên, và khi nhìn thấy học trò bỗng kêu hoảng lên rồi cắm đầu chạy”. Ông tự nhủ thầm như vậy, và thấy bây giờ mình mới thật hiểu căn bệnh của những người ấy một cách thấm thía, vào lúc năm mươi ba tuổi.
Khi các đồng nghiệp đứng lên, ông vẫn ngồi yên trên ghế, cố nán thêm giây phút nữa. Có vài giáo sư nôn nóng vào lớp ngay khi tiếng chuông chưa dứt. Họ là những người rất trẻ, mới bước vào nghề, còn ham hố nói tất cả những điều mình biết và cả những điều mình không hề biết, với nhiều ảo tưởng về năng lực mình. Có những giáo sư ngồi nhìn qua lại đợi chờ đồng nghiệp đứng lên khá đông mới chịu uể oải đứng dậy, không muốn tỏ ra yêu nghề một cách nồng nhiệt mà cũng không muốn nhà trường lưu ý về sự trễ nãi của mình. Ông Tính thuộc về lớp ấy, trừ những hôm nào quá sức nhọc mệt, tự thôi thúc mình nhiều lần mà vẫn không đứng dậy nổi. Vào những trường hợp như thế, phải đợi cho các đồng nghiệp gần ra khỏi phòng ông mới hoảng hốt đứng dậy, đi vội lại một chiếc bàn kề cửa ra vào, quờ quang chọn ít viên phấn rồi lại lật đật bước ra, lấy sự gấp rút làm một động lực xô đẩy mình đi khỏi phải ở mãi trên chiếc ghế nhỏ như sự lưu giữ của một nắm mồ. Có những trường học ít có giáo sư mới bước vào nghề, sau lúc chuông reo rất lâu, hầu như không ai muốn đứng dậy cả. Kẻ đứng lên trước được xem như một loại người đáng ghét, một loại ngu ngốc hay là dơ bẩn. Ngu ngốc vì không biết giữ gìn lấy sức khỏe mỗi ngày mỗi một suy tàn mau chóng của kiếp giáo sư. Dơ bẩn vì làm như thế có lẽ là hắn muốn nịnh chủ trường, muốn tỏ ta đây là có trách nhiệm hơn đám đồng nghiệp. Thông thường họ cứ dòm ngó lẫn nhau, và nếu có kẻ đứng dậy trước hết thì không phải y đi lại bàn phấn mà là vào trong cầu tiểu, hay lại bàn nước nhẫn nại uống thêm một tách, hai tách hoặc hút sòng sọc một điếu thuốc lào cạnh cái đèn dầu nhỏ bé đặt sát bình trà. Nếu viên giám học hay viên hiệu trưởng có giờ để dạy thì các vị này bao giờ cũng là những kẻ dẫn đầu cho sự đứng dậy, nhưng họ vẫn biết cân nhắc cái phút giã từ ghế gỗ một cách phải chăng để khỏi phật lòng mọi người vốn chỉ có một nguyện vọng là được ngồi mãi mà vẫn lãnh lương đầy đủ.
Sau một ngày dạy như vậy, ông Lê văn Tính ra về không còn đủ sự tỉnh táo để thấy cái vui của kẻ làm tròn bổn phận, hoặc là cái mừng đã được phần nào thoát nạn. Không, ông chỉ thấy sự mệt mỏi và sự ê ẩm mỗi lúc mỗi nặng nề hơn khiến ông phải chống chọi lại trong từng bước đi gắng gượng để giữ một vẻ chững chạc bên ngoài. Nếu phải chấm bài đến khuya, ông Tính thường ngủ gục trên đống giấy đầy những nét chữ nguệch ngoạc của học trò mình. Cặp mắt của ông bây giờ không chiều theo ý ông nữa, nó cũng hóa vô kỷ luật như bọn học sinh ngồi dãy cuối lớp. Do đó, khi ông muốn thức thì nó muốn ngủ, và sự mở, nhắm của nó không còn tùy theo nhu cầu công việc mà hoàn toàn theo sở thích tâm hồn, một cái tâm hồn luôn luôn chỉ chực thiếp đi trước các chồng bài cao nghệu. Buổi sáng, ông giáo sư Tính có thể thức dậy khá sớm, nhưng không thể nào ngồi lên cho mau chóng được, mặc dầu ở cái văn phòng bó hẹp của ông không có các vị đồng nghiệp nào khác để cùng trì hoãn với nhau cho được một dạ một lòng. Ông cảm thấy sự bải hoải khắp người, trong đó ý thức đã tách rời khỏi sinh lực và thân thể ông bây giờ mới đúng theo sách vạn vật là chịu chia ra làm đủ ba phần, nên không phần nào chịu sự can thiệp hữu hiệu của một phần nào. Mãi cho đến khi đồng hồ gõ lên những tiếng báo động tối hậu mà mọi trễ nãi đều bị rút hết giấy phép, ông Tính mới bị lôi dậy như sức điện truyền và ông chua chát hiểu rằng sinh kế cuộc đời từ lâu đã là lý tưởng cao nhất của ông thực sự chỉ là trói buộc chứa đầy tủi nhục, nhưng ông không chịu thừa nhận một cách thẳng thắn điều đó với mình. Rồi ông rửa mặt vội vàng, mặc đồ vội vã, ôm cặp gấp rút, leo lên chiếc xe gắn máy cà tàng, vừa thở phì phì vừa đạp cho nổ, chậm rãi một cách lo âu đi thẳng đến trường. Nếu cái máy xe không trở chứng gì khó chịu, hoặc những người đi ngoài phố không cùng rủ nhau kẹt lại quá đông thì giáo sư Tính có thể còn đủ ít phút để nghĩ đến sự lót lòng. Sau khi đã đưa xe vào một góc sân trường và khóa cẩn thận trên một ống sắt khá dày kẹp cứng bánh xe với giàn xe, ông bước ra một quán cóc, lựa một bàn nào không có đồng nghiệp để khỏi có sự thù tạc lôi thôi và uống ly cà phê nhỏ - một cái “xây chừng” - nói như tiệm nước quen dùng.
Cứ cái điệu ấy, ông Lê văn Tính dạy đến năm năm mươi bốn tuổi trời thì ông càng mệt mỏi hơn và nhiều khi dạy trọn buổi ông cũng ngạc nhiên không hiểu sao mình có thể vẫn còn bình yên để mà về nhà giữa lúc ngực nóng, tai ù. Ông không dám tưởng tới sự nghỉ dạy. Đối với một giáo sư già trường tư, nghỉ dạy đồng nghĩa với chết. Nếu có dành dụm đồng nào, ông để dành ăn trong dịp nghỉ Tết, nghỉ hè là những thời gian không có huê lợi nào khác là sự ở không, hoặc để uống thuốc, mua sắm cho con, cho cháu. Bây giờ già cả, không thể xoay theo nghề khác. Bỏ dạy là rời sự sống, dù sự sống ấy vô cùng cực nhọc đối với buồng phổi đã kiệt quệ rồi, đối với cổ họng đã gần tê liệt, đối với cặp mắt đã đuối mờ rồi. Ông Lê văn Tính phải cố bám vào sự dạy như kẻ bị nước cuốn trôi bám vào một mảnh ván mục. Trước mặt chủ trường và các giám thị, ông vẫn tỏ ra là một người rất quắc thước, nhưng với học trò ông không giấu mãi được sự suy nhược của mình, qua cái giọng nói khàn khàn, qua sự giận dữ bất thường, qua cái trí nhớ nhiều khi bỗng thành lười biếng một cách đột ngột, giấu phắt nửa chừng các đoạn trích dẫn hoặc những sự việc mà lúc ban đầu ông đã đưa ra một cách tin tưởng.
Một buổi sáng nọ, ông Lê văn Tính không ngồi dậy được trên giường. Những tiếng đồng hố cuống quýt cũng không hối thúc ông nổi. Ông vật vã, cố lê mình dậy, nhưng thấy mình đã chịu thua mình rồi.
Ông tự nhủ thầm: “Chết cha! Bỏ dạy rồi sao?” Và càng vật vã nhiều hơn, ông không sao khuyến cáo nổi một cái cơ thể mệt mề đến độ cùng cực. Ông muốn ngồi dậy một cách đường hoàng, nhưng lại lảo đảo ngã xuống và càng hốt hoảng hơn lên trong cái ý nghĩ bỏ dạy. Hình ảnh những đứa học trò đập ghế, đập bàn, huýt còi, văng tục, nhốn nháo trước những giám thị mặt mày sưng sỉa, hoặc nhàu nát như bị rách, làm ông lo âu. Và giữa sự khủng hoảng ấy, hình ảnh của ông chủ trường hiện lên với cái sắc khí hầm hầm không nói không rằng lại càng đáng ngại hơn nữa: “Thằng cha Tính này đã hết xài rồi! Không còn dạy dỗ gì được!” Liệu ông chủ trường có nghĩ nặng hơn vậy chăng? Chao! Sao ông lại đâm ra đau ốm giữa lúc này? Sao ông không đợi nghỉ hè, nghỉ Tết, những dịp chính phủ ra lệnh đóng các cửa trường trong một thời gian để tránh tình hình xáo trộn mà đau có phải hơn không? Ông sẽ được nhịn mọi thứ một cách chính thức, kể cả nhịn ăn, và ông sẽ bớt ưu phiền. Đáng lẽ cơ thể của ông phải hiểu rõ rằng giáo sư tư thục không được có quyền nghỉ ngơi ở trong niên khóa, và chưa bao giờ có một qui lệ cho phép họ được nghỉ một số ngày nào đó để mà tự do đau ốm, tự do đau khổ về việc gia đình. Cho dù phải bị trừ tiền, họ cũng không được nghỉ ngơi quá lâu, nếu họ không muốn có người thay thế vĩnh viễn. Ông Lê văn Tính tự chửi rủa mình nhiều lần mới chống tay ngồi dạy được trên chiếc giường gỗ, giống như con tàu quay cuồng giữa cơn sóng bão và ông phải cố gợi lại hình ảnh của cơm, của áo, của nhà cửa và thuốc men mới tìm đủ can đảm viết một lá thư cho ông hiệu trưởng, cho ông giám thị và ông giám học với những lời lẽ vắn tắt, ôn tồn, một hai xác nhận rằng ông chỉ đau ốm xoàng và ông sẽ đi dạy ngay, sẽ không nghỉ thêm một ngày nào nữa, ông sẽ dạy bù lại cả, ông chẳng bao giờ muốn làm phiền muộn mọi người... Sau khi nhờ người con trai trong lúc đi làm ghé tạt qua trường đưa hộ lá thư, ông lại cảm thấy hối hận nhiều hơn về sự đau ốm của mình và cứ nằm suy đoán mãi về các vẻ mặt những người tiếp nhận mảnh giấy của ông.
Ông thừa hiểu rằng dù sẽ trừ tiền trong các giờ giáo sư nghỉ, nhiều vị chủ trường vẫn có quan niệm quái gở rằng các giáo sư thường bày vẽ ra những chuyện ốm đau để phá hoại trường, khó dễ chủ trường, hơn là cơ thể của họ chứa chấp bệnh hoạn. Bởi vì, họ càng không nên có bệnh là tốt hơn hết. Giáo sư trường tư, trong sự đau ốm bị thiệt hai lần, đó là tiền thuốc, và tiền dạy học, vậy thì dại gì mà còn sinh chuyện ốm đau kia chứ?
Qua ngày hôm sau, ông Lê văn Tính gắng gượng đến trường trên hai ống chân lẩy bẩy. “Nếu mình nghỉ thêm được một ngày nữa...”, đó là ao ước thầm kín của ông. Nhưng biết phận mình không còn được sự yêu chuộng như lúc thịnh thời, nếu gây phiền phức cho trường có thể số giờ sang niên khóa khác bị giảm hẳn xuống quá nửa hay bị rút hết không chừng, ông không dám mơ tưởng thêm một ngày nghỉ ngơi, như một người nghèo mạt kiếp hối hận vì đã mơ tưởng một sự tiêu hoang không bao giờ có. Khi ông vào lớp, học trò không hỏi thăm ông được một câu nào. Có lẽ, chúng mong ông nghỉ thêm vài hôm nữa. Đau gì mà chỉ ở nhà có mỗi một ngày? Ước sao có một đứa hỏi “Thầy đau, hả thầy?” thì ông sẽ được an ủi ít nhiều. Nhưng giáo sư Tính biết rằng mối tình sư đệ ngày nay khan hiếm lắm rồi. Minh tinh màn ảnh cùng tiểu thuyết nhảm giành hết nhiệt tình của chúng, và khi quay về các ông thầy dạy chúng chỉ thấy có hình ảnh nhạt nhẽo của một kỷ luật lỗi thời và những giáo điều khô khan.
Lúc bước lên kệ, định quay xuống phía học sinh, ông giáo sư Tính bỗng thấy đau nhói ở ngực và có một sự ớn lạnh toàn thân rồi cả cơ thể như vo tròn lại. Ông đưa cánh tay vịn lấy bảng đen, nhìn thấy học trò xóa nhòa như đám sương mù lỗ chỗ những vết đen trắng, rồi một tiếng ho đột ngột bắn tung ra khỏi lồng phổi. Ông kịp giữ lại trong miệng một sức nước trào nóng hổi và cắn răng nuốt ực xuống như nuốt một liều thuốc đắng.
Khi ông ngẩng lên, ông nghe mấy nữ sinh dãy bàn đầu kêu lên :
- Xem môi thầy kìa! Đẹp chưa!
Một đứa nói lớn :
- Thầy tô son môi, thầy làm dáng quá!
Và những tiếng cười khúc khích tiếp theo, rồi tiếng vui nhộn ào lên, trong đó ông nghe nhiều đứa tru tréo: “Chu choa! Thầy tôi làm dáng! Sơn môi đỏ choét! Già rồi thầy ơi! Thầy ơi! Thầy ơi...” xen lẫn với tiếng vỗ bàn rầm rập.
Ông Lê văn Tính mím môi, cố liếm cho sạch chất đỏ, nghe một vị mặn có mùi tanh nồng. Ông đưa cánh tay run rẩy ra làm hiệu lệnh im lặng một cách vô hiệu, và khi cánh tay buông xuống ngoài sự điều khiển của mình, ông chỉ kịp chồm bước tới ngồi phịch xuống ghế, mệt gần đứt hơi. Lúc tiếng ồn ào bỗng nhiên dịu bớt, ông mới ngẩng đầu nhìn lên, lờ mờ thấy hai khuôn mặt giám thị cau có hiện ngoài khung cửa.
Mấy tuần sau đó, ông giáo sư Tính một buổi sáng dậy nằm liệt trên giường. Qua một sáng khác, ông vẫn không sao dậy nổi. Liên tiếp hai ngày ông chỉ còn đủ sức khỏe viết được mấy hàng cho ông hiệu trưởng, đại khái xin lỗi về sự ốm đau và xin hứa hẹn ngày mai, ngày mai nhất định, ông sẽ đến lớp như thường. Qua ngày thứ ba thì ông vẫn không dậy được và cũng không viết được một dòng nào. Rồi ngày thứ tư và ngày thứ năm, cũng lại như thế. “Ngày mai, ngày mai nhất định, tôi sẽ có mặt ở lớp...”, ông đã không giữ được lời hứa hẹn, và mười ngày sau, khi ông chống tay run rẩy ngồi được trên chiếc giường gỗ để mừng một đồng nghiệp già tới thăm, ông tiếp một cái tin buồn: nhà trường đã tìm một người thay thế ông rồi, một giáo sư trẻ, có nhiều tiếng tăm, thường thấy đăng tên quảng cáo trong các khóa dạy chuyên tu ở mục “rao vặt” của các nhật báo, bên cạnh thuốc dán, thuốc xổ, thuốc chữa hôi nách, cùng các loại thuốc chuyên làm mọc tóc, mọc lông...
Người bạn già bước về rồi, ông giáo sư Tính nằm vật ra giường như một xác chết. Nhưng rủi ro thay, ông không được chết để hưởng một sự phúng điếu của các đồng nghiệp như lệ nhà trường vẫn làm, kèm theo một bài điếu văn lâm ly do một giáo sư Việt văn có uy tín nhất đọc trước mộ huyệt. Ở xã hội này, người ta chỉ tỏ ra rất chí tình đối với người chết, và những danh từ hoa mỹ bậc nhất vẫn thường dành riêng để tặng hậu hĩ cho người quá cố. Còn người bệnh hoạn, có một triển vọng đói khát kéo dài như giáo sư Tính thì hãy cứ nên bình tĩnh chờ đợi một ngày đi chôn không có đồng nghiệp đưa tang. Đồng nghiệp chỉ có bổn phận với người bị chết giữa lúc đang còn hành nghề, chứ không cần có cảm tình với kẻ thất nghiệp. Trong khi kế thế những giờ bỏ trống của kẻ qua đời, ít nhất họ cũng tỏ lòng tri ân, cho hợp với lẽ công bằng.
Ông giáo sư Tính ở trong tình trạng vất vưởng như thế không biết mấy ngày. Ông sẽ không lưu ý đến thời gian, nếu không có sự thay đổi đột ngột ở trong thức ăn buổi sáng thường lệ của ông: đồng bạc bánh mì và chén sữa loãng do người con dâu phục dịch đã được thay thế bằng đồng bạc xôi, lớn gần ba tàn xì-gà vứt ở dọc đường phố lớn. Người con trai ông giải thích lý do lâu nay gã không còn mua sữa được. Có lẽ sữa không hợp với tạng chất dân nghèo nên các nhà giàu đã tích trữ hết. Và những người nghèo đa sự, có những đứa trẻ thèm sữa một cách dại dột, nên mua sữa bằng một giá chợ đen cắt cổ. Suy ra như thế cũng là một cách phục vụ dân nghèo. Bởi vì, có bị mua giá quá đắt chúng mới không dám học đòi uống sữa. Nhưng khi con trai ông Tính bị đi quân dịch, thì hai ngày sau, đồng bạc xôi cho ông Tính cũng biến mất. Ông giáo sư già trước tuổi, chờ đợi mỏi mệt thức ăn thường lệ, và khi nghe tiếng đồng hồ điểm mười giờ sáng thì ông biết rằng từ đây ông đã trở thành một vật vô dụng, hơn thế, một loại báo hại đối với gia đình con cái. Sau bao nhiêu năm vắng mặt, bây giờ hai giọt nước trong veo teo tóp tích tụ khá lâu ở nơi khóe mắt mới đủ sức nặng rơi xuống gò má nhăn nheo, ghi một vệt ướt giữa lớp da đã khô cằn.
Cuối cùng, ông Lê văn Tính không dám nhìn thẳng vào mặt con dâu, trong những bữa cơm. Ngày nào ông thấy mình luôn có lỗi với các hiệu trưởng thì bây giờ đây ông lại cảm thấy có lỗi với vợ của con trai mình. Bắt nó nuôi cơm, nuôi thuốc hàng ngày, ông phải làm gì để giúp đỡ chúng? Già yếu, bệnh hoạn, thất nghiệp, ông đã hết cả khả năng.
Nhưng một buổi sáng, nhìn ra cái nền đất trống của Gioan Báp-tít-xi-a Trần Ngọc Tẹo, ông Tính nảy ra một ý thuộc về hệ thống mới lạ chưa hề có trong tâm não của mình. Ông bảo con dâu :
- Nhà mình quá chật. Để ba nới rộng thêm ra một ít.
- Làm sao mà nới rộng được? Khéo vẽ!
- Được mà!
Rồi ông hí hoáy tháo từng tấm ván thông nhỏ, ghi dấu bằng bút chì màu cẩn thận như một họa sĩ thuộc phái tả chân vẽ tranh triển lãm, lại đóng, lại tháo nhiều ngày để cuối cùng cơi thêm được một khoảng vừa đủ kê cái giường ngủ của ông. Ở trong thâm tâm, giáo sư Lê văn Tính muốn chứng tỏ rằng ông đã tự túc được một chỗ nằm, khỏi phải phiền quấy đến sự chật chội của nhà con ông, tuy ngôi nhà ấy từ xưa đã do tiền bạc phần lớn của ông xây cất. Dù sao trong những ngày tàn, nhờ công việc này mà giáo sư Tính bỗng khám phá được rằng ông có tài về môn toán học hơn các môn khác. Giá ông biết khai thác năng khiếu ấy từ lúc vào nghề thì chắc bây giờ ông khỏi băn khoăn về khoản chạy tiền để mua một cái lỗ huyệt phòng hờ về sau. Sự tiết lộ chậm trễ của bản thân ông về cái khả năng toán học quả không cứu vãn được gì cho sự nghiệp ông, ngoại trừ mấy thước đất trống ăn bớt của người láng giềng vắng mặt. Ông Tính sẽ còn khuếch trương hơn nữa biên giới của bức tường ván, nếu vào một hôm, ông Trần Ngọc Tẹo không kịp hoảng hốt nhìn thấy ngôi nhà láng giềng chồm sâu trong nội địa mình. Lập tức, ông Tẹo nghĩ ngay hai cách đối phó: một cách ngắn hạn là ông chặn đứng mọi sự xâm lăng bằng một hàng rào kẽm gai mà ông đã cố tiết kiệm ngày nào, và cách dài hạn là nghiên cứu ngay một sự xây cất có lợi để miếng đất khỏi sống trong tình trạng hớ hênh rất là nguy hiểm.
Sau khi hàng rào ấy được thiết lập một cách kiên cố, thì giáo sư Tính lâm bệnh khá nặng, và ít ngày sau thì ông qua đời. Có lẽ ông không còn chỗ mở mang thêm khả năng mình, cũng không còn gì để ham hố nữa. Và ông Ngọc Tẹo chẳng bao giờ ngờ rằng mình đã dùng kẽm gai kết liễu nhanh chóng cuộc đời hiền lương, mẫu mực của một nhà giáo từng phục vụ nghề trên ba mươi năm, chưa bao giờ dám xin phép nghỉ ngơi một tuần ròng rã, cũng chưa bao giờ bất kính dám mở cái miệng mô phạm để đòi tăng thêm tiền giờ.

0
3.
 
Về cái biện pháp thứ hai, là sự xây cất, ông Tẹo tìm hỏi ý kiến một người bà con bên vợ là ông Tám Tàng, thuộc loại quân sư, “cố vấn sinh hoạt”, chuyên bán ý kiến tạp nhạp về đủ mọi ngành, mọi nghề, để lấy la-ve, củ kiệu dùng ngay tại chỗ. Sau khi quan sát tình hình, Tám Tàng vừa nhậu vừa bảo :
- Đất này mà mở một nhà bảo sanh, thì hốt bạc cắc. Cứ xem chung quanh, có biết bao nhiêu phụ nữ lẳng lơ mà có cái nhà thương đẻ nào đâu? Đại phàm bị một chuyện gì thôi thúc mình còn cắn răng nín được, nhưng còn đau đẻ thì có trời can cũng cứ chịu thua. Mở nhà bảo sanh, ở địa điểm này, là coi như nhốt hết các bà chửa quanh vùng vào đó. Thử hỏi, đến hồi đau đẻ, họ chạy đi đâu cho thoát?
Ông Tẹo tán thành ý ấy và nhìn thấy trước viễn ảnh phát đạt của nhà bảo sanh tương lai. Ông đem dự định thảo luận với vợ, và bà Tẹo đang có chửa vào tháng thứ năm, lấy làm vui vẻ tiếp nhận ý kiến của chồng. Bà nghĩ rằng xây cất xong, bà sẽ có dịp long trọng khai mạc nhà bảo sanh ấy một cách cụ thể, để làm gương cho những phụ nữ khác noi theo.
Người ta bèn xây một nhà hai tầng. Ở dưới có một văn phòng để tiếp các bà sản phụ xem thai và tám căn buồng, mỗi căn vừa đủ kê giường cho người đẻ nằm, với một chiếc bàn rất nhỏ để chai và chén, kèm một hình vẽ ông tướng nhà trời mặt mày vằn vện để uy hiếp sự rặn đẻ cho mau thông suốt. Một cái thang gác xây bằng bê tông cốt sắt cho thật kiên cố chạy rất xuôi dài để đưa các bà bụng mang dạ chửa lên cao trong sự bảo đảm hoàn toàn. Thang gác lại có tay vịn rất thấp và chắc, điểm từng trụ nhỏ để có bà nào leo thang quá mệt có thể bấu víu vào đó mà thở cho được bình an. Ở trên, tương đối mát hơn, chia làm mười hai phòng nhỏ, sáu phòng có cửa mở về hướng đông, sáu phóng có cửa mở về hướng tây. Như thế sản phụ có thể ngắm mặt trời mọc hay lặn để quên bớt sự đau đớn. Đó cũng là một phương pháp tối tân, loại đẻ không đau, theo cách khai thác thiên nhiên, vay mượn rất nhiều phương pháp tìm hứng của các thi sĩ. Với mười tám phòng, ông Tẹo tin rằng có thể cung cấp chỗ nằm đủ cho cả ngàn phụ nữ trong xóm, kể cả những người có chồng, hoặc không có chồng rõ ràng.
Để làm vẻ vang cho cơ sở mói, ông Tẹo dựng một bảng hiệu khá lớn, sơn màu thiên thanh là màu hi vọng - hy vọng chóng giàu hơn nữa - với cái tên đề rất ư khuyến khích: Bảo sanh Đại phước tô bằng chữ vàng, tròn cạnh, y hệt như các thoi vàng năm lượng do các máy bay mang lậu từ Hồng Kông về.
Đến ngày khánh thành, ông Tẹo hân hạnh đón tiếp một người đàn bà đầu tiên hăm hở đến đẻ nhưng không trả tiền, đó là bà Trần Ngọc Tẹo. Bà Tẹo đẻ đứa con thứ mười bốn nên xem chẳng khó khăn gì, cũng chẳng cần ngắm mặt trời, vì đẻ vào lúc nửa đêm. Tóm lại, một sự khai mạc dễ dàng như vậy không thử thách được khả năng của các cô đỡ nên xem bà Tẹo không mấy hài lòng. Nếu bà đẻ được khó khăn như lần thứ nhất, vừa chửi vừa rủa ông Tẹo không thiếu lời thô tục nào, vừa huy động được toàn thể chuyên viên đỡ đẻ nhốn nháo túc trực quanh mình, thì sự khai mạc có thể gây nên đình đám xôm trò, hơn cả quảng cáo rùm beng trên báo hay trên màn ảnh. Nhưng sau bà Tẹo hầu như không có ai chịu hưởng ứng. Ông Tẹo đi rảo quanh xóm, sốt ruột nhìn ngắm nơi bụng các bà một cách tuyệt vọng. Mọi người có vẻ phớt tỉnh, với cái bụng kém nở nang, với cái dáng đi không có gì là nặng nề và ông Ngọc Tẹo lấy làm xót xa hết sức cho sự lười biếng sinh đẻ của dân tộc mình. “Cái họa diệt vong coi như cầm chắc, cầm chắc...” ông Tẹo nhủ thầm, và bận tâm về quốc gia xã hội như nhiều chính khách đột ngột lo đến nước nhà, qua cái mức độ sinh lợi bỗng nhiên sút kém của gia đình mình.
Quang cảnh của nhà Bảo sanh Đại phước hết sức tiêu điều và các cô đỡ lộ vẻ chán nản rõ rệt. Nhiều cô ăn xong, lên giường nằm dài nghỉ ngơi và thở sườn sượt như người sản phụ mệt mỏi. Ban đầu, họ còn hài hước độn gối tai bèo vào bụng, giả làm các bà sắp đẻ, rồi gào lên chửi bậy bạ người chồng tưởng tượng để sau đó cười ầm ĩ với nhau cho qua những phút nhàn rỗi. Nhưng cái trò ấy không thể đùa dai và dễ đem lại kết quả buồn thảm về mặt tâm lý, họ bỗng ao ước được đẻ thật sự, nhưng có hô hào đến bao nhiêu nữa cũng chẳng có gì để đẻ. Chán rồi, họ ngủ thiếp đi trên các giường sắt và khi ông Trần Ngọc Tẹo chân ướt chân ráo đến thăm, hí hởn mừng hụt, lầm tưởng bà con lối xóm bắt đầu chiếu cố thiết thực cơ sở kinh doanh khai thác của ông.
Giữa lúc ông Trần Ngọc Tẹo định phát động một chiến dịch quảng cáo cho thật rầm rộ, vừa kêu gọi các thân bằng quyến thuộc đến đẻ với giá hạ thấp sáu mươi phần trăm, thì ông thấy nhiều cơ sở cao lớn được xây cất lên với chữ Bảo sanh lồ lộ như sự khiêu khích ngang tàng. Những tòa nhà này kiến trúc đẹp đẽ với lầu năm tầng - làm như các đàn bà chửa thích chuyện trèo cao - và trang bị nhiều máy móc tối tân như lời quảng cáo đăng trên báo chí và dán ở các trụ đèn. Tất cả mặt tiền đều bằng đá hoa bông lợt với những cửa sổ xanh lơ và những cửa kiếng long lanh trông thật ưa nhìn. Ở trong có phòng máy lạnh, giường đều lót nệm, đủ chỗ rộng rãi cho mẹ, cho con và cả cho cha chúng nó đến nằm canh chừng. Nhìn cái tủ kính đồ sộ chứa đầy hộp thuốc đủ loại nhưng khóa rất kỹ nên không ai biết bên trong có thuốc hay không, và nhiều chậu bằng thủy tinh đựng nước vàng hoe trôi nổi bập bềnh những cái bào thai như muốn gợi cảm cho những cô nàng chưa quen với chuyện sinh con. Có những lồng kính ở trong nhốt những đứa trẻ đỏ lói, nhỏ chút, sinh nở thiếu tháng nhưng được nuôi dưỡng bằng những ống chuyền ăn thông ra ngoài để chờ cho nó đủ ngày... Trên các bức tường có nhiều hình vẽ ruột gan đàn bà lằng nhằng, ngóc ngách, chứng tỏ chửa đẻ là sự khó khăn cần phải đưa đến ngay tại nơi đây săn sóc. Các ruột gan ấy có nhiều mũi tên chạy ra, đâm vào các chữ khá lớn chung quanh, như tuồng chữ nghĩa cũng là kẻ thù của đàn bà đẻ.
Xem qua một lượt bên trong các tòa nhà ấy thì thấy sự sinh đẻ cũng công phu nhiều và lý thú lắm. Nhiều bà, nhiều cô sau khi vào coi cho biết, đều tỏ ý muốn thử đẻ một chuyến xem sao. Ông Trần Ngọc Tẹo có đủ khiêm tốn để hiểu Bảo sanh Đại phước của ông, dầu được cổ động bao nhiêu cũng chẳng có ai chịu đẻ, kể cả đẻ không mất tiền, hay là theo lối mua một biếu một như dầu cù là. Thái độ khôn ngoan cao nhất ở đời là phải nên biết rút lui cho sớm, khi mình không thể tới được. Đó là châm ngôn của những người tướng cầm quân, của những chính khách, của những chàng trai hỏi vợ, và của ông Tẹo. Lập tức, ông đi thỉnh vấn TámTàng để có dịp quy trách nhiệm về sự thất bại vừa rồi. Tám Tàng vội vàng cắt nghĩa ế ẩm là do xây cất ngôi nhà Đại Phước mà không tra cứu lịch Tam Tông Miếu, rồi giúp ông Tẹo mở một lối thoát bằng lời khuyên nhủ như sau: mở ngay một trường có cả mẫu giáo, tiểu học và cả trung học. Học trò sẽ học từ nhỏ đến lớn ở tại trường mình, khỏi cần đi đâu cho mệt. Đã có các nhà bảo sanh đồ sộ mọc ở chung quanh cung cấp học trò lai rai, dạy hoài không hết, thế nào cũng phát đạt to.

0
4.
 
Ông Trần Ngọc Tẹo cho rằng từ nhà bảo sanh chuyển sang trường học là một phát triển hợp lý, không có gì trái ngược cả. Hơn nữa điều khiển trung tâm giáo dục cũng vẻ vang hơn điều khiển trung tâm sinh đẻ. Về mặt kiến trúc, ngôi nhà Đại Phước nom cũng ra dáng một cái trường học, chỉ cần phá những rào cản các căn buồng nhỏ là có những lớp học lớn. Số giường thặng dư sẽ đem đổi lấy bàn ghế, vì ở Sài Gòn không thiếu những vị chủ trường muốn biến trường học thành nhà bảo sanh hay là khách sạn. Ông thực hành liền ý định, và một tuần sau đã có một tấm bảng lớn với cái tên hiệu Chấn Hưng học đường kẻ bằng màu gạch rất tươi trên một nền xanh rất đậm.
Trong lúc chờ đợi giấy phép chính thức, ông Tẹo kiểm điểm lại số bạn cũ và bắt gặp được ông Lê Thành Tài, ở giữa quãng đường hồi tưởng.
Ông Tài là người có bằng cấp lớn, đã từng du học nhiều năm ở tại nước ngoài và đọc nhiều sách đến nỗi quên hết việc đời. Để giúp đôi mắt của mình có thể nhìn rõ thực tế hơn nữa, ông mua một loại kính trắng khá tốt có thể nhân các sự vật to mười lần hơn, nhưng ông vẫn không thành công bao nhiêu trong những công ăn việc làm, bởi vì những sự thuận lợi được phóng đại thêm mười lần, thì những khó khăn cũng không vì thế mà nhỏ bé hơn. Nhưng điều mà ông lấy làm tự hào là mối nhiệt tình của ông đối với lý tưởng giáo dục không hề suy giảm trải qua bao nhiêu biến cố dồn dập của xã hội này. Trái lại, trước những sự kiện mà các nhà lý luận học gọi là sa đọa của thanh thiếu niên thì ông càng thấy hăng hái hơn lên. Trong lúc bạn bè của ông vừa thổi xúp-lê vừa gào ở trên mặt báo cấp cứu cho thế hệ trẻ thì ông lăng xăng chạy từ Sài Gòn lên Chợ Lớn và từ Chợ Lớn về Sài Gòn gõ cửa các tòa nhà lớn ít có người ở, muốn thuê với giá thật rẻ để mở trường học phổ biến văn hóa, tuyên truyền đạo đức. Bất cứ nơi nào người ta cũng đón tiếp ông một cách lạt lẽo, một sự lạt lẽo làm bằng hơi thở và chút nước miếng, chứ không được bằng một tách trà nóng nhãn hiệu Con Cua là thứ rẻ nhất ở thành phố này. Nhiều người ưa giữ nhà trống để nhốt kỷ niệm, hơn nhốt học trò. Một số chủ nhân của những biệt thự vừa nghe mở trường đã vội xanh mặt giương mắt trừng trừng nhìn nhà trí thức họ Lê như nhìn một con quái vật bỗng nhiên nói được tiếng người.
Rốt cuộc, về nước trên hai mươi năm, ông Lê Thành Tài vẫn chưa mở được một ngôi trường nào. Ông cũng không chịu đi dạy cho một trường sở nào khác, vì muốn tự mình tổ chức lấy một trường trại theo ý của mình mới bỏ hơi phổi đem ra xài phí hàng ngày. Khi ông Ngọc Tẹo đến tìm ông ở nhà riêng thì ông đang ngồi phác họa một trường kiểu mẫu trên mảnh bìa cứng theo một kích thước vô cùng lớn lao. Chấn Hưng học đường không được lớn lắm, đó quả là điều đáng tiếc, nhưng mang gương vào ông Lê Thành Tài có thể bằng lòng. Sau khi thảo luận về các điều kiện hợp tác, ông Tài cùng với ông Tẹo gặp một mâu thuẫn không sao giải quyết. Ông Tài thích có một trường lý tưởng với một sĩ số hạn chế, theo một kỷ luật tuyệt đối, dạy bằng những phương pháp mới, trái lại ông Tẹo thích có một trường rất đông, càng đông càng tốt, không cần kỷ luật, trừ khoảng kỷ luật áp dụng cho việc đòi tiền học phí, và dạy bằng những phương pháp cũ nhất để các nhân vật cao cấp ở tại cơ quan giáo dục khỏi lấy làm điều phiền muộn. Rốt cuộc, sau trọn ba giờ trao đổi, hai người bạn cũ của thuở thiếu thời bỗng đâm ngơ ngác nhìn nhau, vì họ nhận thấy chưa hề quen biết với nhau bao giờ. Ông Lê Thành Tài chua chát nghĩ thầm: “Tiền bạc đã làm cho nó hư hỏng hết cả tinh thần”. Ông Trần Ngọc Tẹo khó chịu, tự bảo: “Sách vở làm cho thằng ấy lệch lạc tâm não”. Và hai người bạn, mỗi người trở thành tàn tật dưới cặp mắt của người kia. Vốn là một kẻ thực tế, ông Trần Ngọc Tẹo cuối cùng nén giận bảo ông Thành Tài như sau :
- Ý kiến chúng ta có vẻ mâu thuẫn nhưng tôi tin rằng sau một thời gian ta sẽ gặp nhau. Tôi xin nói rằng lúc mới bước chân vào đời, tôi cũng có những quan niệm ở chín tầng mây như là anh vậy. Đó là những thứ tư tưởng tuyệt vời nên đem ngâm muối phơi khô và cất ở trong lồng gương, thỉnh thoảng mang ra ngắm nghía giải sầu. Nếu không, thì sớm muộn gì thực tế của xã hội này sẽ đốt cháy tiêu mọi thứ ý tưởng siêu phàm, đến nỗi khi người ta nói những chuyện cao thượng, hoa mỹ là để che giấu những chuyện thấp hèn và xấu xa nhất. Tôi không dám nghĩ rằng tôi có lý hơn anh, nhưng tôi tin rằng sau một thời gian đi vào thực tế, anh sẽ hoàn toàn đồng ý với tôi. Trong lúc chờ đợi một sự gặp gỡ có thể xảy ra sau này, bây giờ tôi đề nghị một biện pháp dung hòa: tôi cho thuê trường với giá phải chăng và anh tự quyền khai thác. Anh muốn xây dựng theo lý tưởng nào cũng được, hoặc muốn kinh doanh theo kiểu cách nào cũng tốt, miễn là hàng tháng anh trả tiền trước cho tôi. Ít nhất tôi cũng đỡ phải lo âu về sự thất bại có thể xảy ra ở trong tháng ấy, và tôi chỉ phải hồi hộp trong mấy ngày đầu khi chưa nhận đủ số tiền.
Ông Trần Ngọc Tẹo đã dùng lời lẽ chân thật nói với ông Lê Thành Tài vì ông hiểu với những người lý tưởng như vậy lời nói giả dối là không cần thiết. Ông Lê Thành Tài cảm động, chấp nhận lời đề nghị ấy một cách sốt sắng. Từ đó, Chấn Hưng học đường đã có một ông hiệu trưởng lý tưởng, và nó bắt đầu đi vào một giai đoạn mới.

0
5.
 
Về việc quản trị, ông Tài cố tìm một người thư ký có sức quán xuyến và một giáo ban cho thật đắc lực. Một vị chú họ bên vợ của ông giới thiệu ông Huỳnh văn Xu là người có cái khả năng đánh máy một ngón tay mặt - còn bốn ngón kia luôn sẵn sàng trong trình trạng trù bị, trong khi năm ngón tay trái thường xuyên bấu chặt bàn máy như sợ có kẻ bất lương giật lấy đem về bán xôn. Một người như vậy đúng là kiểu nẫu của sự cẩn thận, có thể kết hợp làm ăn lâu dài. Hơn nữa, tất cả nhân vật lý tưởng ở xã hội ta đều rất thích nghe lời vợ, dĩ nhiên là cả bà con bên vợ, nên ông giáo Tài vội mời ông Xu về làm thư ký cho trường.
Ông Xu là người rất đáng tin cậy, trừ khoản bốn vợ và tật nói dối. Với bốn người vợ, ông đã có bốn sở làm bận rộn nhất trên thế giới, nhưng cũng chính vì có bốn sở ấy nên ông phải làm thêm nhiều sở khác mới đủ ăn xài. Ông đã bỏ quê lên tỉnh, vì không chịu nổi đại bác mỗi đêm cứ bắn “chéo! chéo” ở trên nóc nhà mà không có một phát nào rơi trúng chỗ giường ông nằm. Tất nhiên, đối với một người chẳng có nhiệm vụ nào hết như Huỳnh văn Xu thì bắn không trúng làm cho lo sợ hơn là bắn trúng. Trái với nhiều người chủ ruộng, chủ đất mênh mông, khi lên Sài Gòn lánh nạn chiến tranh thường giấu nguồn gốc giàu có của mình để dễ làm các nghề nghiệp mà họ gọi là “hạ đẳng”, ông Xu hay khoe khoang cái gia tài lớn lao mà ông bắt buộc bỏ lại ở sau lưng mình. Cứ theo lời ông thì gia sản ấy có đủ mọi thứ sản vật quý giá, ít ai lường được. Khi nghe nói đến dừa Xiêm, thì ông có dịp thở than về mấy chục mẫu dừa Xiêm bỏ hoang ở tận dưới quê. Nghe nói cá lóc thì ông tiếc rẻ mấy cái ao mênh mông nuôi toàn cá lóc bây giờ phó mặc trời đất. Ăn đến thịt bò là ông chạnh lòng thương mấy đàn bò ở tại quê nhà, nếm phải thịt heo là ông đau khổ cho những heo nái to bự như voi ở nơi làng cũ. Nhà tại Sài Gòn, dầu ở lầu tư, lầu năm cũng không mát bằng mấy ngôi nhà lớn của ông dựng nơi bờ sông miệt vườn. Con gái Sài Gòn, dầu có tô son điểm phấn bao nhiêu cũng không đẹp bằng mấy cô thôn nữ làng ông, với cái màu da thiên phú và đôi môi đỏ di truyền... Những sự tiếc rẻ của ông đều được mô tả tỉ mỉ, nên có nhiều kẻ nghe xong, tỏ ra hết sức xúc động, một hai ước hẹn với Huỳnh văn Xu sẽ về quê ông nếm hết một lần cho biết các món đã kể, nếu ngày nào đây đất nước trở lại bình yên. Ông Xu chấp nhận mọi lời giao kết với một thái độ niềm nở vì ông không tin nước Việt Nam này sẽ được hòa bình. “Có họa là Tết Ma-rốc mới hết chiến tranh!” đó là ý kiến của Huỳnh văn Xu đối với thời cuộc. Nhưng những điều ông tiếc rẻ đều toàn là những sự thực, nhưng là sự thực của những người khác, những người đã phải chịu đựng bao nhiêu thiệt thòi về trận chiến này bằng một thái độ im lặng ngầm chứa chất nổ oán hờn.
Ông Xu, sau khi lựa chọn trong số bốn vợ, bèn đem bà vợ thứ tư đến ở tại trường với mình, bởi vì người vợ sau cùng bao giờ cũng là người vợ quí nhất. Vốn biết tính chất lý tưởng của ông hiệu trưởng, ông Xu thiết lập ngay một văn phòng lý tưởng, có đủ bàn ghế cho hai chục giáo sư ngồi, với một bàn nước, bàn phấn và hai tủ kính chầu chực bên một bàn giấy gồm có chín hộc, mỗi hộc có một chìa khóa chính thức và một chìa khóa dự bị. Hai tủ được chia như sau: một tủ đựng các loại sách giáo khoa nổi tiếng, có nghĩa là in rất dày và có bìa tô nhiều màu, một tủ đựng các hồ sơ học trò cùng các dụng cụ văn phòng. Trong chín hộc bàn dành riêng cho Huỳnh văn Xu, thì hộc chính giữa để sổ học phí và các biên lai, tám hộc còn lại chứa tiền, hộc thì dành cất bạc giấy năm trăm, hộc bạc hai trăm rồi đến một trăm, bạc lẻ bằng giấy, bạc lẻ bằng đồng. Nhận thấy chính phủ có lòng si mê đặc biệt đối với các loại bạc mới và đang chuẩn bị cho ra nhiều loại bạc mới khác nữa, ông Xu để dành hai hộc dự trữ đặng mà kịp thời hưởng ứng. Mỗi nơi, mỗi chỗ, đều có nhãn hiệu làm bằng bìa cứng màu trắng, viết những chữ đen hay đỏ chỉ dẫn đó là tủ sách hay là bàn nước, ghế của hiệu trưởng hay ghế thư ký, hầu để tránh mọi lầm lẫn đáng tiếc. Tất nhiên, các hộc để tiền thì không có nhãn hiệu nào, làm như trong các chỗ ấy không có chứa chấp gì hết. Ông Xu còn bày vẽ ra lắm sự bày biện khác nữa, nhưng vì ông Lê Thành Tài có nhiều lý tưởng hơn là tiền bạc, nên mọi sáng kiến đều phải hạn chế thực hiện.
Giáo ban thì ông hiệu trưởng tỏ ra khó tính đặc biệt. Ông đã theo dõi một số giáo sư tại các trường lớn và thấy họ không có đủ tư cách để dạy Chấn Hưng Học Đường. Ông bảo: “Giáo sư gì lại nói suốt cả giờ? Nói hết cả phần học trò thì chúng suy nghĩ vào đâu? Giáo sư gì lại ăn mặc sang trọng như đi dạ hội, thế là làm gương không tốt cho lũ học trò. Ông thì mặc áo quá mỏng, mặc quần quá chật có một dụng ý khiêu dâm rõ rệt đáng nên tuyển dụng làm chiêu đãi viên ở sờ-nách-ba [1] hơn là dạy học. Ông thì mặc đồ cẩu thả, lôi thôi, đáng được coi các xe phở hơn là nói chuyện mô phạm”. Có giáo sư nói mau quá, ông chê là hạng bán dầu cù là. Giáo sư nói chậm, ông bảo là loại gà chết. Cho đến hình vóc giáo sư, ông cũng có nhiều thắc mắc. Nếu họ nhỏ quá, gầy quá, thì ông cho rằng họ nên đổi nghề, nếu không học trò sẽ lầm lẫn với em của chúng, và chúng không chịu vâng lời. To quá, mập quá thì hơi thừa thãi, có vẻ phí phạm vô ích, lại dễ làm cho học trò sợ hãi mất hết ý chí tự cường. Nói chung, tìm cho ra được giáo sư đúng theo tiêu chuẩn của ông thật là khó nhọc, bởi vì ông còn coi cái dáng đi, ngó cặp mắt nhìn, xem cái miệng nói, cùng quan sát bộ tứ chi. Ông bảo: “Có những giáo sư trông chẳng khác nào là kép cải lương. Như thế, học trò chỉ ngồi chờ đợi sáu câu vọng cổ chứ có chịu nghe giảng giải gì được! Có những giáo sư vào lớp chỉ lo bán sách của mình soạn ra, vậy thì tốt hơn họ nên ra trước cổng trường mở một cửa tiệm”...
Suốt một tháng trời theo dõi, rình mò các vị giáo sư ở tại Sài Gòn, ông Lê Thành Tài không nhìn thấy ai ra vẻ sư phạm kiểu mẫu như ông quan niệm. Trong lúc khắc khoải chờ đợi những người trong mộng, ông cho in gấp một bản kỷ luật dán khắp nhà trường và in nhiều tờ truyền đơn nói rõ tôn chỉ cao đẹp ông đã vạch ra để thực hiện nền giáo dục kiểu mẫu cho thế hệ trẻ, rồi kêu gọi những bạn bè tỏ ra tích cực đối với văn hóa nước nhà nhờ họ phân phát tận tay cho các gia đình có con em đang đi học. Cuối cùng, nhờ sự khổ công tìm kiếm, ông Tài gặp được ba vị giáo sư như lòng sở cầu. Ông giáo thứ nhất là Nguyễn văn Hai, chuyên về vật lý hóa học, từng mở một hãng nước mắm ở tại Phan Thiết để thí nghiệm các kiến thức pha chế của mình và bị sụp tiệm một cách hoàn toàn, sau ba lần tổng số mắm bị thối chín chục phần trăm. Một người như vậy ít nhất cũng có thể đem lại cho học sinh đôi ba kinh nghiệm, trước hết là cái kinh nghiệm đừng nên làm mắm khi mình chỉ có mỗi một khả năng ăn mắm mà thôi. Về mặt hình vóc, ông Hai không đáp đúng các tiêu chuẩn của ông hiệu trưởng, vì ông gầy quá - gầy như con mắm - nhưng về tác phong, đó là một vị giáo sư kiểu mẫu, ăn nói chững chạc, đi đứng khoan thai. Trong cuộc nói chuyện, ông không tranh cướp lời ai để mà bày tỏ những điều mình biết, và sự im lặng điềm đạm của ông có một vẻ gì thông thái đặc biệt đến nỗi không ai ngờ rằng có nhiều vấn đề ông chẳng biết một chút gì. Dầu sao thì đặc điểm lớn của một giáo sư là phải cho học sinh thấy rằng mình học rộng hiểu nhiều, và muốn như thế, ở trong xã hội chúng ta, chỉ cần biết ngồi yên lặng một cách đúng mức. Ông giáo thứ nhì là Lý văn Lăng, vóc dáng đúng theo tiêu chuẩn, chuyên về sử địa, phục vụ trong ngành hỏa xa gần hai mươi năm và tự coi như biết hết địa lý Việt Nam dọc theo con đường xe lửa. Ông Lăng có một giọng nói khá tốt, trong trẻo hơn tiếng còi tàu, luôn luôn tỏ ra hăng hái hoạt động, có thể trình bày, giải thích về mọi vấn đề quốc tế mà không bao giờ sợ bị lầm lẫn. Ông Tài tỏ ra hơi ngán về sự hiểu biết của ông Lý này, bởi vì ông ta có thể nêu lên đủ thứ chi tiết cụ thể của một trí thức phi thường. Chẳng hạn, ông Lý kê khai Vua A-lếch-xăng đại đế bị bệnh thương hàn đầu tiên năm nào, toàn quyền Pi-e Bát-xkiê thuở nhỏ thường trộm thuốc hút của người cậu họ ra sao, Tú Xương hỏi vợ đến lần thứ mấy, và thủ tướng Nguyễn văn Tâm muốn bán cho được nhiều tôn đã sai đốt nhà dân chúng ở bên Khánh Hội với một loại xăng đặc biệt giá bao nhiêu đồng một lít... Tất cả những kiến thức này được đem trình bày cặn kẽ, chi ly, nhưng không một ai có thể đối chiếu để biết hư thực thế nào, kể cả những nhà bác học số một ở trên thế giới. Bởi vậy, một người chỉ học ở trong sách vở nhà trường như là ông Lê Thành Tài làm sao có thể kiểm tra cho nổi một thứ kiến thức kỳ quặc như thế? Giáo sư thứ ba, ông Đỗ văn Chỉ, biệt hiệu Hồng Hoa Phượng Điệp, là một thi sĩ nổi tiếng (theo như ông tự giới thiệu trên đôi tờ báo) đã cho ra đời liên tiếp ba năm ba tập thơ dày, tập nhất gọi là Ái tình nguyên tử, tập nhì gọi là Nước mắt đại dương, tập ba gọi là Khối sầu nhược tiểu. Nghe đâu ông còn dọa cho ra tập thứ tư, gọi là Cô đơn cường quốc. Các tập thơ trên trình bày khá đẹp, mỗi tập in 500 quyển, nhưng đều ghi ở sau bìa “Ấn hành lần thứ nhất đủ năm ngàn bản” đề giữ thể diện cho nền-văn-học-hôm-nay. Cứ theo như giới tiêu thụ bí mật tiết lộ, thì mỗi tập thơ của thi hào này, sau đúng một năm phát hành đã tiêu thụ được gần 80 quyển, trong đó tác giả mua độ 60 để tặng cho các bạn gái xưa nay vốn hâm mộ mình, còn 20 quyển thì nhà phát hành lỡ để thất lạc nên phải bồi thường, tính theo giá vốn là một phần năm giá bán. Ông hiệu trưởng Lê Thành Tài là nhà giáo dục thuần túy, lại là một người Việt Nam ở giữa xã hội chúng ta, nên dễ mắc bệnh tàn tật tinh thần hết sức phổ biến là chỉ biết có riêng mỗi ngành mình, còn đối với các loại sinh hoạt khác thì rất ư là mù tịt. Tương tự như nhà chính trị thì bảo chính trị mới là đầu não, còn quân sự thì dứt khoát là quân sự trên hết và văn nghệ thì văn nghệ mới là giá trị muôn đời. Tất nhiên khỏi cần nhắc đến các nhà kinh tế, bởi vì kinh tế mới là quyết định, cũng như các nhà xã hội vì xã hội là tất cả! Bởi vậy, khi họ gặp nhau đàm đạo thì dễ trở thành những người cô độc tập thể, và mỗi người thích lảm nhảm nói chuyện của mình để cho mình nghe một cách vô cùng hào hứng. Rốt cuộc, mỗi người đều thấy chỉ có ngành mình mới đáng chú ý, và cái quang cảnh mọi người tìm đủ mọi cách để tự công kênh mình lên cho thật là cao làm cho xã hội lảo đảo như người say rượu. Ông Tài, chỉ biết có mỗi giáo dục trên hết, nên không hề quan tâm đến thi ca, trong đó có sự hoạt động của Đỗ văn Chỉ. Để tự biện hộ cho mình, ông Tài thường đổ thừa rằng “không đủ thời giờ”, nhưng suy cho cùng đó là cách nói, bởi vì giáo dục thuần túy không muốn ông dành thì giờ cho những việc khác cũng rất cần thiết cho nền giáo dục của ông. Tự nhiên, giữa một xã hội gọi là chậm tiến, ông Lê Thành Tài đã tự biến mình thành nhà chuyên môn của nước kỹ nghệ tư bản, một người chỉ biết độc nhất có cái “bù lon” giáo dục, và chỉ có “bù lon” ấy mà thôi. Cho nên nghe Đỗ văn Chỉ là một nhà thơ, tác giả của quyển Khối sầu nhược tiểu thì ông lấy làm phấn khởi đặc biệt, coi ông Chỉ là thi sĩ thời đại, nói được nỗi buồn của các dân tộc bị sự chèn ép, đáng mời phụ trách văn chương ở tại Chấn Hưng học đường. Ông Đỗ văn Chỉ từ trước đến giờ chỉ có ngâm thơ chứ chưa dạy học, và thường cho rằng dạy học cũng là một cách ngâm thơ, nên sau khi nhận lời mời của ông hiệu trưởng tự thấy mình là giáo sư rất có uy tín, cần in danh thiếp rất gấp đề luôn hai chữ “Thi sĩ giáo sư” dưới một cái tên và một biệt hiệu đậm đặc, dài ngoằng như con sâu rọm.
Ba nhà giáo sư nòng cốt này hợp với ông hiệu trưởng gương mẫu đã thành lực lượng đáng kể trong buổi xây dựng ban đầu. Nhưng vào buổi họp thảo luận kế hoạch xúc tiến, ông Lý văn Lăng nhận định phải có một vị giám học cho thật cừ khôi mới đảm bảo được nội dung giảng dạy. Một người như vậy thật là khó kiếm, ngoài số bạn bè của ông. Cuối cùng, sau sự suy nghĩ cháy óc, ông liền tiến cử một người bạn thân, người này có đủ khả năng để làm giám học một lúc nhiều trường. Ông giám học này họ Trương, tên Bảng, đúng là một người sinh ra để luôn có mặt ở tại các trường. Nhận việc ngày đầu, ông Bảng đã làm phấn khởi mọi người một cách sôi nổi: vừa mới đến cổng, ông đã trợn trừng cặp mắt ốc nhồi ngước lên để chăm chú nhìn vào tấm bảng như muốn phóng làn nhãn quan xuyên thủng cả thiếc lẫn gỗ rồi bỗng kêu lên: “Hay lắm! Hay lắm!”. Đoạn ông tiến vào sân trường, nói gằn từng chữ: “Chấn Hưng học đường! Chấn Hưng học đường!” và vừa đến thềm đã chìa thẳng một tay ra, như chực nắm lấy mọi người, và cứ thế mà xốc tới theo kiểu tấn công của con tê giác. Tuy vậy, bàn tay của ông rất biết phân biệt nên nó ủi đến ngay chỗ ông hiệu trưởng ngồi, và vừa kịp lúc môi trên nở toét một nụ cười lớn theo kiểu sừng trâu kéo tới mang tai, thì mấy ngón dưới cũng ôm chặt lấy tay ông hiệu trưởng giật lấy một cách cẩn trọng, với những rung chuyển rất nhẹ kéo gập người ông xuống gần. Và khi cánh tay còn lại đưa ra bợ dưới tay kia, để nâng lấy một cái ân huệ nặng nề lớn lao cho được vững chắc, thì những lời nói nồng nhiệt ở trên cũng tuôn dồi dào: “Xin kính chào ông hiệu trưởng! Xin chào quý vị! Trường ta gọi Chấn Hưng, thật là tuyệt diệu! Chấn Hưng học đường, tên rất là hay! Đúng vậy, chấn hưng đạo đức, chấn hưng kỷ luật, chấn hưng học vấn, chấn hưng tất cả! Xã hội chúng ta đòi hỏi chấn hưng mọi mặt, nhưng quan trọng nhất là mặt giáo dục!” Vừa nói, ông bắt tay khắp mọi người một cách ân cần, vừa truyền hết sự nồng nhiệt, phấn khởi vào mỗi người ông tiếp xúc. Đến lúc họp lại giới thiệu cụ thể từng nhân vật một, phân phối công việc, ông Bảng cũng lại tiếp tục phân phát phấn khởi như vậy. Vừa nghe nói đến ông Nguyễn văn Hai, ông đã kêu lên: “Hân hạnh! Tôi đã được nghe danh ngài! Dạy môn lý hóa thì có ai bì được ngài, ngài là số một ở đây”. Nghe đến ông Đỗ văn Chỉ, ông đã hốt hoảng tuyên bố: “Một đại thi hào! Ngài làm vẻ vang cho trường chúng ta! Tôi có được đọc hầu hết thi phẩm của ngài, thật là điêu luyện, thanh tao, văn chương đặc biệt!”. Rồi ông quay sang ông Lý văn Lăng: “Còn ông giáo sư sử địa của chúng ta đây, tôi đã hân hạnh quen biết từ lâu, là người kiến thức mênh mông, nhãn quan sâu sắc”. Đoạn đưa hai tay về phía ông Lê Thành Tài ra kiểu muốn nâng ông ta lên khỏi ghế ngồi, ca ngợi: “Nhưng quan trọng nhất là ngài hiệu trưởng, người đã tiếp thu văn minh nước ngoài và làm sáng tỏ lý tưởng giáo dục, người sẽ đưa trường Chấn Hưng đi tới một chân trời mới”... Nói chung, châm ngôn ở đời của ông Trương Bảng là cứ khen tưới hột sen tất cả mọi người, vì đó là cách đối xử lợi nhất mà ít tốn nhất. Dù rằng về sau người ta không ai còn tin ở những nhận xét của ông ta nữa, nhưng có một điều mọi người cảm thấy yên lòng là ở sau lưng, ông Bảng nhất định sẽ không đề cập đến các khuyết điếm của họ.
Buổi đầu, với một giáo ban như vậy công việc coi như tạm ổn. Khai giảng đợt nhất, cho những lớp thấp, học trò lai rai kéo đến tương đối đủ với sĩ số mà trường mong chờ. Ông Tài luôn có mặt ở văn phòng với ông giám học, sốt sắng đón tiếp các bậc phụ huynh, giải thích cho họ rõ thêm tôn chỉ nhà trường, ân cần nhắc họ tìm cách liên lạc thường xuyên với văn phòng trường để cùng điều chỉnh kịp thời học vấn, đạo đức của con em họ. Một số phụ huynh tiếp nhận những lời ông nói với một thái độ hững hờ của kẻ nghe người rao dầu cù là, một số sốt sắng hứa hẹn là sẽ cố gắng đi lại với trường, nếu họ có dịp, và điều chắc chắn là họ sẽ không có dịp nào cả. Ông cũng không quên vào từng lớp học, nhấn đi nhấn lại mục đích lý tưởng của trường là coi giáo dục trên sự kinh doanh, lấy sự đào tạo con người làm mục đích chính. Ông cũng hứa hẹn là các đồng nghiệp của ông và ông quyết liều một trận sống mái ở trên chiến trường văn hóa để giương cao cờ giáo dục. Học trò giương mắt ngồi nghe không chút cảm động như nghe một mục phát thanh tuyên truyền và thái độ chúng có ý ngầm bảo người ta không thể khai mạc bất cứ điều gì mà không nói lên vài lời bậy bạ cho hợp lễ nghi.
Sau đó, công việc dạy dỗ bắt đầu và được một tuần thì những khó khăn đầu tiên lục tục xuất hiện. Khó khăn lớn nhất là giáo sư Nguyễn văn Hai không làm sao cho học sinh hiểu được bài vở. Mỗi lần ông giảng, chúng trố mắt lên một lát rồi quay sang người bên cạnh chuyện trò, để khỏi ngủ gục. Khi ông hiệu trưởng vào lớp, hỏi thăm một cách dân chủ về sự tiếp nhận môn học của chúng, thì gần như toàn thể lớp kêu lên :
- Thầy dạy không hiểu gì hết! Xin đổi! Xin đổi!
Ông Tài sau phút bối rối không biết nên nói thế nào, bèn ôn tồn giải thích rằng ông Hai là người giỏi nhất, và có lẽ vì giỏi quá nên học sinh không làm sao hiểu nổi ông ta. Cuối cùng, ông chỉ còn mỗi hy vọng là học sinh sẽ cố gắng hơn nữa, để có trình độ hiểu được thầy mình. Sau khi nói thế, ông Tài biết rằng mình đã phản bội lý tưởng giáo dục, bởi vì không thể bắt buộc học trò phải có trách nhiệm hiểu thầy, nhưng tìm cho được một người thay thế không phải dễ dàng. Rồi đến ông Đỗ văn Chỉ viết sai chính tả làm cho hoang mang học trò và cả cha mẹ của chúng. Ông Chỉ quả tình không ngờ mình phải chú ý từng chữ như vậy. Ông tuyên bố rằng thi hào không cần phải giỏi chính tả, và chỉ dạy ở tiểu học mới bận tâm đến môn hạ cấp ấy. Hơn nữa, theo ông, cứ nhìn dọc các dãy phố Sài Gòn thì rõ: biết bao nhiêu cửa hiệu ăn đều viết chữ phở với cái dấu ngã kỳ cục, người ta vẫn kéo vô ăn ào ào, đâu có cảm thấy mất ngon vì không chịu dùng dấu hỏi? Chính thuốc Tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn lại viết toàn bằng dấu ngã, ở trên tấm quảng cáo to tướng mà vẫn bán chạy suốt mấy mươi năm nay rồi, đâu có vì sai chút dấu mà không công hiệu? Tóm lại, theo giáo sự Chỉ, thì môn chính tả quả là một xa xí phẩm, trong đó phân biệt hỏi, ngã là việc buồn cười. Còn về văn phạm, thì ông cũng cho là môn bày đặt. Để cho lời nói của mình có một luận cứ vững vàng, ông bảo học sinh hãy cứ lên ngay Chợ Lớn, vào tiệm Hải Ký mì gia đường Nguyễn Tri Phương gọi ngay tô mì vịt tiềm thì rõ: ở trên mấy tấm kê các thực đơn của tiệm, người ta đọc thấy một hàng chữ lớn: “Tiệm mì nổi tiếng rất Bắc Việt”. Ấy, nổi tiếng rất mà khách ăn đông gấp trăm lần rất nổi tiếng! Văn phạm quả không can thiệp gì đến dạ dày con người, và không quyết định gì đến khả năng xào nấu... Học sinh ban đầu tưởng thầy nói đùa một cách gượng gạo nên cũng gượng gạo cười theo, để tỏ chút tình sư đệ. Nhưng một đôi đứa có lòng hiếu học về nhà sốt sắng xin tiền cha mẹ để vào các tiệm mì, phở nghiên cứu tiếng Việt, sửng sốt nhận thấy là thầy giáo Chỉ nói đúng sự thực. Hầu như tiệm nào viết sai be bét thì khách ăn đông và tiệm nào có cái vẻ ta đây nhiều tiền thì đều mang tên ngoại quốc! Sau này, để đánh tan mọi ngờ vực của đám học trò dốt nát, thi hào Đỗ văn Chỉ đưa các tờ báo có đăng tác phẩm của mình cho học trò xem, để chúng thấy rằng các tiếng đầu câu không cần viết hoa và đó mới là chính hiệu văn chương lối mới. Thầy còn bảo thêm: “Ngày nay, người ta có thể viết hoa ở giữa chừng câu, chẳng cần phải đợi chấm phết gì ráo. Hễ cao hứng là viết hoa, không cao hứng thì cứ viết thường. Viết thường là dấu hiệu sự bình đẳng, ai cũng như ai, thế mới dân chủ”. Rồi thầy chìa ra nhiều tờ báo khác cho học trò thấy có cả hàng loạt bài thơ không cần viết hoa và điều ấy không cản ngăn tác giả trở nên những “đại thi hào” đối với bạn bè của mình. Trái lại, có lẽ nhờ viết như thế mà họ được sự chú ý cũng chưa biết chừng. Lớp học trò thông sự lý, tỏ ra hết sức mừng rỡ, vì thấy từ lâu chúng đã có thể nổi tiếng mà chúng không ngờ. Ấy là, từ hồi còn học các lớp mẫu giáo, tiểu học, chúng vẫn viết theo lối ấy thường xuyên và những thầy dạy không biết văn nghệ cứ việc gõ thước lên trên khối óc có những tài năng sáng tạo sớm sủa của chúng mà không kiêng nể.
Trong lúc học sinh bắt đầu tín nhiệm ông Đỗ văn Chỉ, nhờ sự hăm hở đi vào các tiệm mì phở nghiên cứu chính tả, văn phạm, thì có một số phu huynh nhất định không chịu những thứ cải cách mới mẻ, dân chủ của nhà giáo Chỉ mà họ coi như là sự dốt nát và sự lường gạt. Rồi đến ông Lý văn Lăng phụ trách sử địa cũng bị những lời phàn nàn, chỉ vì kiến thức của ông chỉ có bề dài - theo đường xe hỏa - mà thiếu bề ngang. Mặc dầu mỗi ngày ông đã chịu khó vẽ những địa đồ rất lớn bằng giấy bìa dày, trải trên sàn nhà, và nằm phủ phục lên trên nghiên cứu địa thế năm châu bốn biển vừa hút thuốc thơm, thỉnh thoảng nốc một vài ngụm rượu thuốc, nhưng khi đến lớp, vì phải đứng thẳng để giảng, nên ông mất hẳn phương hướng, lúng túng nhiều chỗ đến nỗi có những lầm lẫn khủng khiếp.
Cứ thế ngôi trường kiểu mẫu của giáo sư Tài mỗi ngày mỗi thêm ọc ạch, đe dọa một cuộc khủng hoảng trầm trọng không sao tránh được.
--------------------------------
[1] Sờ-nách-ba (snack-bar) quán bán đồ ăn nhẹ, mọc nhiều thời Mỹ chiếm đóng ở các đô thị phía Nam.

0
6.
 
Qua năm thứ hai ông Tài rút được kinh nghiệm lớn: giáo sư mới là yếu tố quyết định cho sự tồn vong của một học đường. Theo như lý luận của ông, đa số trường học ngày nay đều nêu khẩu hiệu “Thương mãi trên hết”, vậy thì người giáo sư giỏi, đúng với thời thượng, có nghĩa là người rao hàng tài nhất mà thôi. Như thế, muốn tìm giáo sư lý tưởng phải theo một định lý đảo, tức là tìm những vị nào không được các trường hiện thời thừa nhận. Ông bèn nhờ các văn phòng những những tư thục lớn cho biết danh sách những vị giáo sư đã bị mời ra khỏi các lớp dạy. Lập tức ông được toại nguyện, bởi vì người ta không muốn che giấu làm gì địa chỉ của những giáo sư không có khách hàng. Cứ tính đổ đồng thì khoảng hai mươi giáo sư bị các trường lớn cho về coi nhà giữ con cho vợ, ông Tài chỉ chọn được có một người. Mười chín người kia đã bỏ nghề dạy mà theo đuổi những nghề nghiệp không có ăn nhằm gì đến học đường: có người đại lý bán dầu khuynh diệp và xi-rô nhau của bác sĩ Tín, có người làm lơ xe đò, có người mua xe gắn máy chở ra ngoài Trung. Một số đông khác chuyên về buôn lậu, theo ngã chợ trời, hoặc trữ các hàng từ Tân Sơn Nhất nhảy dù ra Lăng Cha Cả, hoặc mua các món đồ ở Khánh Hội lấy ngầm trên tàu hoặc được bốc hốt dọc đường trên một đôi xe vận tải. Nói chung, thì đa số sự giàu sang ở tại Sài Gòn đều có tính cách lậu thuế hoặc ít hoặc nhiều, và sự đoan chính, lương thiện là những món đồ trang sức đắt giá mà không phải ai cũng có thể xài một cách ngang nhiên.
Trong số gần sáu mươi vị có trong danh sách hạng loại giáo sư không được học trò trường lớn tín nhiệm, ông Tài chọn được ba vị mà ông lấy làm hài lòng đặc biệt. Kể theo thứ tự thời gian tìm gặp, thì trước hết là ông Trần văn Cảnh, một giáo sư độ bốn mươi lăm tuổi, chuyên cỡi xe đạp cổ lỗ hiệu Xanh-tê-chiên gần ba mươi năm mà chỉ thay chuông có hai lần - vì rất khiêm tốn - thay dây thắng mới ba lần - vì rất ôn hòa - và thay yên có một lần - vì cơ thể rất nhẹ nhõm do chưa hề được bổ dưỡng bao giờ. Ông giáo sư Cảnh ít nói, dáng điệu lầm lì, nghiêm trang, nên những học sinh thuộc về dòng dõi họ Lưu nhìn thấy đã ngán ngẩm rồi. Để che đậy sự ngán ấy và tự trấn an lấy mình, chúng bèn đặt cho ông Cảnh một cái biệt hiệu: giáo sư cù lần. Cù lần là một danh từ hiện đang ám ảnh đa số người dân Sài Gòn.
Đối với ông Cảnh thì các trường tư hiện nay đang ở trong một tình trạng lộn ngược: nhiều người không hiểu gì về giáo dục lại làm chủ trường, giáo sư vào lớp phải làm việc thay cho học sinh, và người dạy học đồng thời là người thu tiền học phí quan trọng hơn cả. Ông Cảnh nhất định bắt buộc học sinh làm bài, học bài kỹ lưỡng chứ ông không chịu học thế cho chúng, bởi vậy học sinh ghét ông như là một loại phung hủi. Ông cũng không chịu thúc đẩy sự đóng học phí, vì quan niệm rằng không thể lẫn lộn giữa sự dạy dỗ và sự quản lý kinh doanh, cho nên chủ trường nhìn ông như là một loại phá hoại. Cuối cùng người ta tạo đủ điều kiện dễ dàng để ông có thể tự do về nhà. Giáo sư Cảnh rời các trường không chút mặc cảm, vì khi vào dạy ông đã vững tin rằng sẽ có một ngày nào, rất ư gần gũi, người ta sẽ đẩy ông ra khỏi chốn học đường như là món đồ không còn hợp thời. Quả nhiên, ông được lang thang qua nhiều trường sở trong một thời gian khá dài và đến phút cuối, khi chẳng còn có trường nào chịu đón tiếp nữa, ông mới về nhà với một tấm lòng thỏa mãn của kẻ thất bại. Nhưng ông tự nhủ: “Thế nào rồi cũng có ngày người ta sẽ đến tìm mình. Đến khi cái xấu mệt mỏi cả rồi, thì người ta phải sưu tầm cái tốt. Và cái tốt ấy cứ nên chờ đợi”.
Ông giáo thứ hai, ông Hoàng Như Ngà, một người có đôi lông mày khá rậm và một giọng nói sấm vang chỉ thấy trong các nhân vật tuồng Tàu. Đúng theo như những khám phá khoa học mới mẻ gần đây thì quả địa cầu càng già càng nóng hơn lên, ông Ngà càng có tuổi tác lại càng nóng nảy đặc biệt. Bởi vậy, trong các loại xe ở Sài Gòn này, ông chỉ thích đi có mỗi món xích lô máy mà ông cho là mát mẻ tột bực lại vừa có cái tác phong hùng hổ của kẻ hiên ngang. (Ngược lại, cô con gái rượu của ông, tức là cô Hoàng Như Ngọc, thì lại coi xích lô máy là một loại xe nguy hiểm bậc nhất. Hơn nữa, cô bảo, phụ nữ mà ngồi trên xích lô máy trông chẳng khác nào các “mụ” bán gà. Làm như bán gà là việc rất mất vệ sinh!). Ông giáo sư Ngà dạy dỗ tận tâm, có nhiều uy quyền, vì ông luôn giữ ưu thế về phần ông thầy. Ông quan niệm rằng học trò có dốt mới đến trường học, giáo sư có giỏi mới đến trường dạy, như vậy những lời ông thầy đã nói là một chân lý hiển nhiên. Học trò không nghe lời thầy, theo ông nhận định, là học trò hư, và thầy không bảo cho học trò nghe là ông thầy hỏng. Đi từ quan niệm cơ bản như vậy, ông hét lớn như sấm dậy và không thừa nhận cho học trò nào được tỏ nghi vấn với thầy. Theo ông, học trò ngày nay dở hơn ngày xưa, và tính nết cũng hư hỏng hơn xưa. Rõ ràng cuộc đời đang đi thụt lùi. Xã hội, theo ông, luôn luôn chuyển dịch theo lối tuần hoàn và bây giờ đang bắt đầu đi vào mùa thu, mùa đông, bỏ lại mùa xuân là cái thời ông đi học. Ông không ưa nổi cả cách ăn mặc, nói năng, đi lại của người học trò ngày nay, và ông nhất định rằng học trò thời bây giờ không có vẻ gì là học trò cả, dù có xuất trình biên lai đóng đủ học phí cũng chẳng thay đổi được ý kiến ông thêm một ly nào. Gần sáu mươi tuổi mà mặt ông Ngà bao giờ trông cũng đỏ gay vì men giận dữ và trong các loại từ ngữ mà ông quen dùng, học trò nhận thấy ông rất phong phú về các tiếng chửi. Ông Lê Thành Tài cho rằng một vị giáo sư cần phải giỏi chữ hơn là giỏi chửi, nhưng xét về mặt nào đó thì sự chửi bới có thể coi như là một phương diện lý tưởng, một thứ lý tưởng kiềm hãm, vì bởi kiềm hãm nên cần xổ nho, văng tục cho đỡ ấm ức. Điều mà ông Ngà làm cho ông hiệu trưởng Tài vui lòng là khi vào lớp ông gây được sự sợ hãi cho đam học trò. Đối với giáo dục hiện tại, chỉ bấy nhiêu đó cũng là đáng kể. Học sinh đã không tìm thấy hứng thú nào khác trong sự học hành, nên đành lấy sự sợ hãi làm một phương tiện dẫn về lẽ phải, cụ thể là chịu yên lặng ngồi nghe ở lớp và chịu học bài ở nhà. Như tất cả nhà độc tài, ông Hoàng Như Ngà tự hào về những thắng lợi một chiều đạt được do sự khủng bố, và một số đông phụ huynh chưa thấy lối sư phạm nào công hiệu hơn vậy, đã đồng ý rằng ông là giáo sư lý tưởng, biết cách dạy dỗ, dù ông chỉ dạy chứ không chịu dỗ.
Ông giáo thứ ba, ông Nguyễn Thế Tài, tuy trùng tên với ông chủ tiệm vàng nổi tiếng ở chợ Bến Thành, nhưng chắc hai ông chưa quen biết nhau bao giờ, là người gần như đối lập hẳn với ông Ngà. Tuy đã dạy học nhiều năm, nhưng khi vào lớp ông vẫn mắc cỡ một cách đầy đủ khiến đám học trò con gái cũng mắc cỡ lây. Ông không hề dám nhìn thẳng vào cái số đông xanh đỏ tím vàng ngồi lố nhố ở trước mình, và phải lựa một nữ sinh nào đó có vẻ hiền lành ngồi gần trước mặt để nhìn vào đấy, trước khi lấy đủ tinh thần nhìn xa hơn nữa. Ban đầu, cái cung cách ấy làm cho học sinh - đặc biệt là các nam sinh - khó chịu, khổ sở, rồi đâm giận dữ, một hai kháo nhau là thầy giáo đã phải lòng học trò. Nhưng nhờ nhiều ngày quan sát theo dõi, họ mới biết rằng cái nhìn của thầy quả không có ý tình gì lệch lạc, mà chỉ là một cánh tay gầy guộc đi tìm chiếc phao giữa biển học sinh nổi sóng đấy thôi. Giả thử ở vào chỗ đó có một nam sinh ngoan ngoãn, hay một bà cụ, ông cụ phúc hậu, thì giáo sư Tài cũng biến nhanh họ thành phao như thường. Hơn nữa một người mà dễ bối rối, luống cuống như vậy, nhất định không sao có đủ liều lĩnh làm điều xằng bậy, nên ta có thể yên tâm về món đạo đức của họ đã được giữ gìn như loại chai lọ, là thứ dễ vỡ. Sự mắc cỡ thường trực ấy cũng có ảnh hưởng đến phương pháp dạy của giáo sư Nguyễn Thế Tài và ông tỏ ra có một khuynh hướng dân chủ theo kiểu mị dân hết sức đặc biệt. Khác với ông Ngà, ông cho rằng người học sinh hễ đã đến lớp là muốn được học, và sở dĩ họ không chịu thuộc bài hay là làm bài chỉ vì họ bận việc gì đó thôi, nên họ cần được thông cảm. Do đó, ông luôn có sẵn số điểm thông cảm hết sức dồi dào ban phát rộng rãi cho các sĩ phu tân thời vào loại đại lười. Cả những câu trả lời chẳng ăn nhập gì đến câu hỏi của ông, cũng được ông thấy có lý, bởi lẽ theo ông, ít nhất học trò cũng thấy có lý mới đứng dậy để phát biểu. Tóm lại, đúng cũng có lý, sai cũng có lý, học giỏi phải được thông cảm, học dở cũng đáng cảm thông. Thế giới ông Nguyễn Thế Tài là một khu vực toàn hảo, trong đó cuối cùng chẳng ai còn muốn nỗ lực làm hơn cái mức tồi nhất đã thâu đạt được.
Ba giáo sư mới tuyển trạch gay go trong số giáo sư đông đảo của Sài Gòn này làm cho Chấn Hưng học đường có vẻ khởi sắc ít nhiều. Ông Cảnh mang lại cho sự giáo dục một vài tính chất mới mẻ, trong khi ông Ngà uy hiếp học sinh, lại có ông Tài dỗ dành. Thế quân bình đã giữ được và trường mạnh dạn tiến lên trong cái sứ mạng cao quí là tạo một lớp trẻ lý tưởng cho tiền đồ của dân tộc. Ông thư ký Huỳnh văn Xu cùng ông giám học Trương Bảng đều thấy phấn khởi, tin rằng mình đã lựa chọn được con đường tốt nhất để mà xây dựng sự nghiệp tương lai. Về phần hiệu trưởng, ông thấm thía rằng những sự khó khăn, trắc trở mà trường trải qua là những trở lực tất nhiên trong buổi ban đầu không sao tránh khỏi, tương tự như chứng cảm sốt, mọc răng của một tuổi thơ cần chóng trưởng thành.

0
7.
 
Mùa hè năm ấy, ông Lê Thành Tài cho phép mình được ra Cấp nghỉ mát một tuần và ngẫm nghĩ thêm về tương lai của giáo dục nước nhà. Ông mặc xi-líp, lội xuống bãi Sau nhúng kỹ nước mặn rồi lên bãi cát nắm dài, đeo kính râm vào nhìn ngắm trời cao để tin tưởng rằng đời thật đáng sống và Chấn Hưng học đường sẽ phát triển một cách huy hoàng. Sau bảy ngày nhúng ướt rồi lại phơi khô một cách đều đặn như vậy, ông tự thấy mình có đủ rắn chắc để mà cọ xát với đời, nên trả tiền phòng một cách hoan hỉ và lên bến xe, mua một chỗ ngồi băng trước để về Sài Gòn.
Vừa đến Sài Gòn, ông được một tin quan trọng: cách trường sở ông không xa, người ta đang xây một trường sở lớn, và những nền móng đầu tiên đã được hoàn thành. Ông Xu báo cái tin ấy kèm theo độ năm, sáu tiếng chửi thề tũc tĩu. Ông hiệu trưởng Tài khuyên bảo :
- Nên mừng vì người ta mở thêm trường để cho đủ chỗ con em học hỏi. Đừng nên vì sự cạnh tranh mà quên mục đích giáo dục. Còn trường trại mình, miễn là dạy hay, dạy đúng, là có người học. Đừng lo, đừng lo.
Một tuần sau nữa, lại một trường khác được xây cất lên, gần đấy. Và mười ngày sau lại một trường nữa đem cái bề thế quy mô án ngữ ngay đầu ngõ hẻm vào trường Chấn Hưng. Những trường sở này có vẻ nghênh ngang của kẻ nghĩ rằng ta-đây-vốn-có-nhiều-tiền, và cao lớn hẳn với nhiều tầng lầu sáng sủa, đầy những cửa sổ mở toang trông như những cặp mắt lớn soi mói nhìn xuống phố phường cố tìm cho hết học sinh để mà thâu nạp. Một điều ai cũng nhận thấy - kể cả ông hiệu trưởng Tài - là sau khi các trường ốc ấy hoàn thành rồi thì cái Chấn Hưng học đường trở thành bé nhỏ một cách thảm thương và khó lòng quan niệm được nó là một trường trung học. Ý chừng học sinh cũng nhận thấy thế, nên khi các trường đồ sộ kia treo bảng hiệu, trương các quảng cáo, giăng các biểu ngữ, dán các bích chương, đăng báo, lưu ý phụ huynh cùng với học sinh, đồng thời giới thiệu một khung giáo ban đặc sệt văn bằng, chức sắc, cùng các vai vế xã hội đáng nên kiêng nể thì các cô cậu học trò không một giây phút ngần ngại đồng ý thấy đó là những trường học lý tưởng. Đến ngày nhập học, sĩ số Chấn Hưng học đường vơi đi một nửa. Ông hiệu trường Tài tập họp giáo ban, phủ dụ như sau :
- Xin các bạn cứ yên lòng. Ở xã hội này, cái vỏ bề ngoài không chắc gì bảo đảm được cái ruột bề trong. Học sinh đến trường là để học tập, nhưng họ đang còn ở vào cái tuổi nông nổi nên dễ chạy theo hình thức. Một lúc nào đó, họ sẽ chán nản về lối dạy dỗ thương mãi, và sẽ quay lại với ta. Xin cứ hết lòng kiện toàn phương pháp, chỉnh đốn tổ chức, trau dồi sư phạm, chúng ta nhất định sẽ thành công lớn.
Ông Huỳnh văn Xu và ông Trương Bảng cùng rầu thối ruột nhưng cũng làm ra tin tưởng lời ông hiệu trưởng. Sau một tháng đầu, học trò xuống thấp còn một phần ba. Trước kia vì là trường trại lý tưởng, nên các giáo sư đòi hỏi học phí phải được chia đều theo một tỉ lệ công sức hợp lý, sau khi đã trừ các khoản chi tiêu cần thiết cho trường và một đảm phụ cho ông hiệu trưởng. Bây giờ tiền dạy giờ trở nên bé mọn một cách ảm đạm và nhiều giáo sư bắt đầu so sánh với giá biểu các trường khác. Họ bỗng thấy mình dại dột một cách cụ thể và chợt hiểu mình không thật sự là người những người theo đuổi lý tưởng, nhưng buổi ban đầu đã đón bắt lý tưởng một cách hăm hở vì nó có vẻ hấp dẫn và hứa hẹn nhiều. Bây giờ rõ ràng là chuyện lý tưởng không còn hợp thời. Lập tức, họ mơ ước được làm các giáo sư trường khác. Người bỏ Chấn Hưng học hiệu ra đi trước hết là thi sĩ Hồng Hoa Phượng Điệp, một người thích nói nghệ thuật thuần túy nhưng lại mê tiền vào hạng siêu đẳng. Tiếp đến là giáo sư Lý văn Lăng, một người xem các trường học là những nhà ga, mà mình là một con tàu. Con tàu thường thích đỗ lâu tại các ga lớn, có lẽ vì ở nơi đấy có nhiều than củi, dầu nhớt, khách hàng. Suốt niên khóa ấy, ông hiệu trường Tài trở nên ít nói, ông Cảnh thấm thía nhiều hơn về sự đảo ngược ở trong trường tư hiện tại, ông Hoàng Như Ngà giận dữ thêm lên, ông Nguyễn Thế Tài lại càng mềm mỏng, hiền lành hơn nữa. Niên khóa trôi đi một cách u buồn và trường Chấn Hưng có vẻ đượm màu tang tác như bận hoài niệm lớp người quá cố là những học sinh và những thầy giáo ra đi. Nghỉ hè năm ấy, ông Lê Thành Tài không xuống nghỉ mát dưới Cấp. Theo ông, dưới ấy bây giờ dơ lắm, không tắm rửa được, hàng quán cũng mất vệ sinh và tuồng như là nước biển cũng không còn nhiều chất muối như xưa. Tốt hơn, cứ nên ông nhà xối bằng nước giếng, cắm cái quạt máy kề bên và tưởng tượng đang tắm suối Đà Lạt.
Vào niên khóa mới, cả trường hồi hộp chờ đợi học sinh như một tình nhân mới lớn chờ đợi người yêu ban đầu. Học trò xuất hiện như hoa mùa thu, lưa thưa, héo hắt. Một số vào trường đảo mắt nhìn quanh ra chiều thương hại rồi bước vội ra, hối hận đã tạo cho mình một dịp xúc động vô ích. Một số chăm chỉ đọc danh sách của giáo sư viết bằng phấn màu, có vẻ ngơ ngác không hiểu các nhân vật này là loại người nào mà lại bày chuyện hành nghề giáo dục ở nơi quá hẻo lánh này, rồi một đứa khác thừa dịp ông Huỳnh văn Xu đang bận nghiên cứu bề dày ngoan cố của tập biên lai, bèn thò tay vào tấm bảng chùi bớt một số chữ trong tên họ giáo sư để cho đỡ buồn, do đó ông Cảnh trở thành ông Cản, ông Ngà thành ông Gà và hai ông Tài đều biến thành hai ông Tì. Cuối cùng, cũng có một số bằng lòng vào học, sau khi so sánh giá cả học phí, và thấy Chấn Hưng học đường rẻ hơn nơi khác độ gần vài chục. Buổi sáng của hôm khai giảng, ông hiệu trưởng vào các lớp đếm đi đếm lại đến lần thứ sáu và thấy không một lớp nào sĩ số quá năm học sinh. Trung bình mỗi người học trò, có thể ngồi bốn cái bàn và bốn cái ghế khá dài mà không sợ bị chen lấn, xô đẩy bất cứ từ phương hướng nào. Một sự rộng rãi như vậy có vẻ quá đáng, dễ khiến học trò, đặc biệt là các nữ sinh, cảm thấy cô độc, và những bài làm khó khăn trở thành một thứ tai nạn không ai cùng mình chia xẻ rủi ro. Về phần giáo sư, tuy có những người thích một sĩ số rất thấp như ông giáo Ngà, nhưng khi nhìn thấy tổng số học sinh mỗi lớp đều không vượt qua số lượng các ngón trên một bàn tay, thì ông choáng váng thật sự, rút vội ve dầu cù là Mac Phsu và bôi liên tiếp cho bớt lạnh lẽo, vừa biện hộ cho vẻ mặt rầu rĩ của mình.
Suốt một tháng đầu, mặc dầu có sự thêm bớt học sinh ở trong các lớp, nhưng xét tổng số thì không có gì thay đổi. Ông Tài kêu gọi giáo sư ai có con em nên đưa vào học khỏi cần học phí để cho nhà trường bớt sự hoang lạnh, tiêu điều. Ông Nguyễn văn Hai là nhà toán học đại tài nên đã kiểm điểm mọi mặt chi tiêu và thấy món tiền thù lao nhận được hằng ngày không đủ cho ông ăn bát phở tái và đổ nửa lít xăng vào cái xô-lết. Ông bỗng bùi ngùi nhớ lại những ngày vàng son bên cạnh các kho nước mắm thơm phức ở ngoài Phan Thiết. Ông hiệu trưởng phải họp các giáo sư hằng tuần động viên tinh thần, nhưng ông thấy họ có vẻ nghiêm nghị hơn xưa như đang bận tâm suy tính việc gì lớn lao. “Có lẽ họ bận nghĩ về hiện trạng giáo dục”, ông Tài tự bảo như vậy, để cố chối bỏ ý nghĩ rằng họ đang lo về chuyện bạc tiền. Về phần ông Huỳnh văn Xu và ông Trương Bảng thì sự thi hành kỷ luật có vẻ gắt gao hơn trước. Ông Xu tuyên bố :
- Mọi sự vi phạm nội quy của trường cần được thi hành kỷ luật tối đa.
Và cứ mỗi buổi ông lại vào lớp, sau khi lịch sự xin phép giáo sư, ông trừng cặp mắt gờm gờm nhìn từng học sinh để xem có đứa nào nuôi dự định trốn học hay không, rồi còn dặn đi dặn lại chúng nên chuyên cần học tập, bởi vì kỷ luật nhà trường là kỷ luật sắt, nhất định không chịu nhân nhượng một ai, cho dù học sinh là cháu đích tôn của ông Tổng thống xứ Anh Cát Lợi! Ông Xu vừa ra, lập tức có ông Trương Bảng vào liền. Ông này trịnh trọng cám ơn giáo sư “trường ta” đã không nản lòng trong việc dạy dỗ con em, kêu gọi học sinh “trường ta” nỗ lực phi thường để làm rạng rỡ con cháu rồng tiên, nhất định tin tưởng rằng “trường ta” sẽ phát triển tột bực, bởi vì hiện nay trường đang gạt bỏ tất cả phần tử học sinh bất hảo qua các ngôi trường khốn nạn chung quanh để chỉ giữ lại một số “tinh hoa thế hệ”.
Nhưng có một số tinh hoa thế hệ không chịu đóng đủ các khoản học phí cho nên ông Huỳng Văn Xu bắt buộc phải mời ra khỏi trường sở. Ngoài ra, những số còn lại cũng gây lắm nỗi khó khăn cho trường, cụ thể là ít học bài, chuyên môn ngủ gục trong khi thầy giảng, vào lớp trễ giờ và đi cầu tiêu rất ư bừa bãi, không bao giờ chịu dội cầu mà còn thích viết đủ chuyện ái tình thời đại lên bốn bức vách chật hẹp của căn nhà xí hơn là chịu làm bài tập ở giữa lớp học thênh thang. Những sự kiện ấy chứng tỏ một cách hùng hồn rằng chí có những học trò bị các trường lớn đuổi ra, bây giờ mới đến Chấn Hưng học đường để tìm một chỗ hẻo lánh dung thân qua ngày. Ông Lê Thành Tài đón nhận tin ấy không chút thay đổi sắc mặt và bảo :
- Được rồi. Có thế mới thấy khả năng giáo hóa của trường chúng ta. Đó cũng là một thử thách thú vị, rồi xem ta sẽ biến đổi họ thành ra những người như thế nào.
Ông Xu thở dài :
- Nhưng nó sẽ là một quảng cáo xấu cho trường sở mình. Khác nào mình thú nhận rằng: “Ở đây chỉ chứa toàn đồ phế thải”, còn ai dám đưa con em đến học?
Ông Trần văn Cảnh tiếp lời :
- Chúng ta không mong gì cạnh tranh lại với các trường kia. Ngày nay người ta tìm sự giải trí nhiều hơn tìm sự mở trí, mà trường chúng ta có gì là vui vẻ đâu? Các ngài nghĩ xem...
Và ông mô tả về sự rộn rịp của các ngôi trường to lớn, trong đó học trò chen chúc giữa một khung cảnh đông đảo, vô cùng quyến rũ. Theo ông, số đông những người tuổi trẻ ngày nay là lớp bơ vơ, vì họ không còn mong nhờ vào cha mẹ được, không còn tin tưởng vào các giá trị xã hội, không còn mong đợi gì hết ở các đàn anh. Cho nên họ không tin cả chính bản thân họ. Trong sự lạc loài như vậy, tâm hồn họ dễ cảm thấy nỗi niềm cô độc, sợ hãi, và họ thích tìm đám đông, cũng như họ thích manh động. Giữa đám đông ấy, họ có ảo tưởng dễ dàng về lòng tự tin, cũng như qua sự manh động, họ nuôi ảo tưởng về một sức mạnh phiêu lưu. Cả cái xã hội ngày nay sống bằng kinh tế cạnh tranh, nghĩa là bằng sự quảng cáo ồ ạt đã tạo cho mọi con người một ám ảnh hình thức hết sức đậm đà khiến họ chạy theo vỏ ngoài hào nhoáng và thích những gì có vẻ bề thế, có vẻ lòe loẹt, thích trò chưng diện phô trương, tức là thích những thế lực vật chất hơn là thế lực tinh thần. Trường ta, với cái bề ngoài lạt lẽo là vậy, với cái cuộc sống khiêm tốn là vậy, làm sao quyến rũ được một số trẻ đang bị mê hoặc bởi cái ảo ảnh bề ngoài!
Ông Trần văn Cảnh cố gắng để làm một cuộc phân tích tình hình. Học sinh giã từ Chấn Hưng học đường không chút vấn vương, kiểu như cô gái đồng quê ham hố cuộc sống phố phường, sau khi đến chốn thị thành cảm thấy cuộc đời ngày xưa ở trong lũy tre của mình sao mà tối tăm là vậy! Những ông thầy dạy ở các trường lớn quả là đáng mặt giáo sư! Áo quần của họ là thứ đắt tiền, có đường, có nếp thẳng bon trông bén như là lưỡi dao. Có đâu như các ông giáo Chấn Hưng mặc loại rẻ tiền, ba ngày chưa thấy đổi thay, lại quá lùi xùi như đồ bán xôn Chợ Cũ để mà lau xe cho những nhà sang! Vẻ mặt của các ông giáo trường lớn trông cũng trang trọng, lầm lì, có vẻ trí thức ta-đây-học-rộng-biết-nhiều-không-thèm-nói-chuyện-với-bọn-nhà-quê-dốt-nát! Chứ đâu có cách ăn nói xuề xòa, dễ dãi của các ông giáo Chấn Hưng! Ở các trường lớn, người ta đi xe ông tô sáng bóng, có ông giáo sư chễm chệ ngồi ở băng sau như một bộ trưởng gặp thời, và người tài xế mặc đồ đồng phục, đội cái cát-két theo kiểu “nhà quan”, mỗi lần thắng xe cái rộp là vội bước xuống, vòng qua đầu xe đến ngay cửa sau trịnh trọng mở cửa, lùi ra một bước để cho ông giáo từ từ bước xuống rồi mới nghiêng mình đón ông đi qua, đoạn lo đóng ập cửa lại để giữ chút gì hơi hướng nơi người ấp ủ trong xe cho khỏi tản mác ra ngoài! Còn các giáo sư Chấn Hưng học đường sao mà nghèo vậy! Họ đi xe đạp cút kít như những tùy phái về già, và hẳn là họ không tiền vì họ bất tài. Chỉ có hai ông giáo sư là kiếm được chút máy nổ đưa chân, nhưng sao xe cộ của họ trông cũng tồi tàn là vậy! Cái xe Xô-lết của giáo sư Hai rõ ràng là thứ vừa xô vừa lết đó thôi. Còn cái xe mô-bi-lết của ông Tài cũng chỉ là loại trâu già đáng đem vào bảo tàng viện để giữ gìn một hình ảnh máy móc trong buổi suy tàn. Nhiều lúc đang chạy xọc xạch giữa đường, chiếc xe bỗng dưng trở chứng cấp kỳ theo kiểu tuổi già thọ bệnh tứ thời và từ chối mọi xê dịch theo lối có khói. Ông Tài vội vàng dựng xe đứng vổng hẳn lên trên cây trụ chống lỏng khỏng, sau khi ngó lui để xem có một học trò thân mến nào ở gần đấy hay không, và khi chắc bụng rằng chẳng có môn sinh nào chứng kiến, ông mới vội vã leo lên hì hục đạp tròn nhiều tua theo kiểu vòng quanh thế giới. Thông thường trong sự nỗ lực như vậy, mồ hôi ông Tài chảy ra ướt cả vạt áo trước sau và ông có kinh nghiệm rằng chỉ khi nào lớp mồ hôi tràn xuống tới hai đầu gối thì máy mới chịu lên tiếng. Cũng có trường hợp xui xẻo, mồ hôi chảy tới gót chân mà máy vẫn giữ vững sự im lặng, nhất định không chịu tiết lộ một ý định nào về một chuyến đi chờ đợi. Học trò ông Tài cho rằng giáo sư mà đứng hì hục đạp xe như vậy là không trí thức, nên sau nhiều bắt gặp thầy đang bất lực trước món đồ cũ, học trò có vẻ coi thường và đoán chắc thầy không có bao nhiêu kiến thức. Nếu quả là ông ấy giỏi (và cái tiếng giỏi hiểu theo xã hội chúng ta là làm ra được nhiều tiền) thì sao ông ta không có xe hơi Huê Kỳ? Ít nhất ông ta cũng phải có xi-cút-tơ đeo cái bảng số mới nhất chứ lại! Mô-bi-lết cũ vào loại cà tàng là nên dành cho các chú Ba Tàu giao hàng chạp phô. Như vậy, trường học Chấn Hưng là một loại trường mạt rệp, hết xài. Con gái mặc đầm chẳng có một ai chịu khó bước vào trong cổng trường ấy. Con trai đi xe gắn máy mới toanh cũng chẳng thèm ghé vào sân trường ấy. Bởi vì, những món hàng thích phô trương phải tìm những chón đông người nhìn ngắm, chẳng lẽ lại đến Chấn Hưng học đường để tu khổ hạnh hay sao?
Ông Lê Thành Tài nghe ngóng tất cả ý kiến với sự im lặng của một con am hiểu sự đời. Xong, ông khuyến khích :
- Quả tình chúng ta đang ở vào thế gay go, trong đó những gì gọi là lý tưởng đều bị đè bẹp dễ dàng bởi những sinh hoạt tầm thường. Nhưng nếu ta chịu bỏ cuộc là ta đầu hàng, và sự đầu hàng không phải là cái thái độ đáng sống. Chúng ta cần phải xây dựng một lối giảng dạy tốt hơn các lối giảng dạy hời hợt thường thấy trong các học đường hiện tại. Các bạn đừng nên nản chí. Trời không bao giờ phụ kẻ có lòng.
Ông Cảnh nhìn ông hiệu trưởng từ đầu đến chân ra chiều cảm động, rồi mới bùi ngùi nói rằng :
- Này ông hiệu trưởng, ông thực là một con người rất quí không phải dễ gì có thể tìm gặp bất cứ ở đâu trong thành phố này. Nhưng ông cho phép tôi được nói ra một điều thành thực, mà khi nghe xong, ông có thể giận đủ suốt mười ngày.
Đến đó, ông Cảnh im lặng. Ông Lê Thành Tài cũng cố giữ vẻ yên lặng để nghe. Cuối cùng, ông Tài chịu không thấu nổi một sự yên lặng kéo dài, kêu lên :
- Thì anh cứ nói ngay đi. Tôi sẵn sàng nghe đây mà.
Ông Cảnh trả lời :
- Có lẽ đừng nên nói gì là hơn. Như thế, ông sẽ giận tôi nhiều lắm là chừng vài ngày, đỡ bớt tám ngày khó chịu cho cả đôi bên.
- Tôi sẽ không giận ông đâu.
- Ít nhất ông cũng thành thực lầm tưởng như vậy, khi tôi chưa nói.
- Thì ông hãy tin lời tôi!
- Còn ông cũng vậy, xin ông hãy tin lời tôi.
Rốt cuộc, ông Cảnh không nói gì hết. Ông hiệu trưởng Tài giận đủ hai ngày, rồi thôi. Nhưng riêng ông Huỳnh văn Xu, một người vốn có tà tâm nên thường gán đủ ý nghĩa xấu xa cho những sự việc mà ông chưa hiểu rõ ràng, lấy làm bận tâm hết sức về sự bí mật của ông giáo Cảnh. Ông bèn chuẩn bị khai thác cho được câu chuyện ẩn tàng nào đó có thể làm cho người ta giận dữ đủ nguyên một tuần mười ngày. Nắm được cái bí mật ấy để dành làm một vốn liếng, có thể khi cần ông sẽ tạo được áp lực với ông hiệu trưởng buộc phải nhượng bộ nhiều điều. Vũ khí phổ biến của nhiều con người thời nay chính là nắm bắt được các chuyện kín xấu xa của các đồng bào, đồng loại. Tự vệ bằng chính chính mặt trái của người thiên ha, là một thủ đoạn đầu cơ phổ biến, và tồi tệ nhất của thời đại này. Bằng đủ mọi cách, ông Xu phải nắm cho được cái bí mật ấy.
Trước hết, ông phải tỏ ra niềm nở với ông giáo Cảnh. Trong những điều kiện túng quẫn mà phải tỏ sự niềm nở với nhiều người ở Sài Gòn, thật là một chuyện đau lòng. Bởi vì sự niềm nở ấy khó mà bày tỏ hào hứng ở một nơi nào khác hơn là các tiệm nước. Nhưng ông Xu không nản chí, sốt sắng đưa ông giáo Cảnh vào cái thế giới la-ve, củ kiệu, cà phê, để mở một lối tâm tình dịu ngọt. Trong tuần thứ nhất, ông đã chịu đựng ông Cảnh suốt luôn ba hiệp mà không đòi hỏi gì hết khiến cho ông Cảnh lúng túng về sự quan trọng bất ngờ của cá nhân mình, nhiều lần phải thò tay vào túi sau, móc cái bóp da lép xẹp một cách chiếu lệ, nhưng lại kéo ra hết sức khó khăn, vừa kịp cho người đối ẩm xòe đủ mười ngón tay ra cản trở đôi phen, mới chịu ân hận rút bàn tay trống ra khỏi chỗ kẹt để đưa về ngồi trên vị trí đùi. Trong khi chén tạc chén thù, ông Xu đem hết chuyện nhà ra để giải tỏ với ông giáo Cảnh, nào chuyện người vợ thứ nhất của ông mà cái miệng của bà chính là một thứ Biển Hồ lấp mãi không đầy, khiến ông ta phải bắt buộc cắt đứt hợp tác để bảo toàn lấy sự sống cho mình. Nào là bà vợ thứ hai có tính tào lao, đem hết chuyện nhà của ông ra trình diện với xóm giềng. Ông Xu đặt ra câu hỏi và tự trả lời: “Cho nên người ta không thể ăn đời ở kiếp với một cái máy phóng thanh bừa bãi”. Còn bà thứ ba, thôi thì khỏi nói, lẳng lơ một cây, cặp mắt như cái đinh vít xoắn vào mọi kẻ qua đường đến nỗi những lúc cùng đi ngoài lộ ông thấy xấu hổ, đỏ rần mặt mũi. “Ông giáo thấy chưa? Nó nhìn thiên hạ như thế là coi như nó cho điểm mình rồi. Nó cho mình đúng là con dê-rô!”. Bởi vậy, ông mới tìm đến bà vợ thứ tư, và theo như ông tâm sự, thì trong hiện tình ông đang nghiên cứu khuyết điểm bà này.
Gặp người cởi mở với mình như vậy, tự nhiên mình cảm thấy cần làm vài cử chỉ thân thiện để được xứng đáng lòng tin của họ, đó là tâm lý của ông giáo Cảnh. Huống hồ mỗi lần vào tiệm, ông Xu lại dành lấy cái bổn phận trả tiền cà phê một cách sốt sắng nên ông giáo Cảnh càng băn khoăn hơn. Bởi vậy, trong lúc đang nói lung tung về chuyện nhân tình thế thái ở trong học đường ngày nay, ông Xu làm như xuất bất kỳ ý nhớ đến câu chuyện hôm nào, gợi lại :
- À, thế cái vấn đề mà thầy một hai không chịu nói rõ cho ông hiệu trưởng vì sợ mất lòng, có lẽ là chuyện lương bổng đó chắc?
Ông Xu là người khôn ngoan, nên biết đem chuyện tiền bạc để nói với người lý tưởng là một cách chửi độc địa hơn cả. Do đó, ông Cảnh trả lời lập tức :
- Không đâu, không đâu, không phải là chuyện lương bổng gì đâu.
- Vậy là chuyện gì?
- À...
- Nếu là chuyện riêng giữa thầy và ông hiệu trưởng thì tôi không dám nghe đâu. Thầy khỏi bận lòng.
- Chẳng có bận lòng gì hết. Chỉ là một cái lý lẽ tầm thường, nói ra sợ nhàm tai ông thư ký đó thôi. Ông có biết tôi nghĩ thế nào về ông Tài không? Chẳng là ông ấy là một con người lý tưởng, nhưng là lý tưởng sách vở, nên nhìn mọi việc theo các quan niệm và những dự tính trừu tượng của mình chứ không liệu định được những khó khăn và những thuận lợi thật sự để mà xoay xở. Một người như thế thật là dễ chịu, hiền lành, nhưng không bao giờ mà thành công được. Nói thế có nghĩa là ông ấy sẽ thất bại, bở vì thất bại là một cái gì có thực, và rất cụ thể, cho nên muốn chống lại nó cũng phải có những khí giới cụ thể và thực, mạnh mẽ hơn nhiều. Ông tính, một người học trò lười biếng dù có mơ mộng bao nhiêu về sự đỗ đạt cũng không làm sao cứu vãn được sự hỏng thi chắc chắn xảy ra. Một đôi trái gái thương nhau, tô vẽ một đời tương lai rất đẹp, nhưng nếu họ không biết sẽ làm gì, làm như thế nào cho thật xứng đáng, thì họ cũng sẽ bước vào một cuộc phiêu lưu tuyệt vọng. Ông hiệu trưởng của chúng ta sống giữa đất liền nhưng mang tâm hồn tự một vầng trăng sáng ngày rằm. Ông nghe theo cái tiếng gọi âm ỉ bên trong, đi theo ánh sáng của ngày rằm ấy chứ không quan tâm đến những nhu cầu thực trạng, không đánh giá được bề cao, bề dày của những sự kiện bên ngoài luôn luôn xuất hiện trên lối ông đi, chi phối cả cuộc sống ông và cả xã hội. Làm theo lương tâm, làm theo chí hướng, sách vở bảo vậy, và ông nghe theo như vậy. Những học trò tốt ở trong trường sở của ta, xưa nay không hẳn là những con người thành công trong cuộc chiến đấu với đời. Họ được đào tạo để làm công chức, tư chức, theo một khuôn khổ có sẵn, như bột kia được xay giã để làm một loại bánh nào nhất định. Nếu họ muốn đảm đương một công cuộc lý tưởng thì họ nghễnh ngãng, lạc loài, không khéo lại từ mây xanh rơi xuống vũng bùn u tối. tôi nghĩ họ phải chịu khó đi vào thực tế, xông xáo, tìm hiểu, vì cái lý tưởng cao đẹp phải xuất phát cái thực tế rõ ràng, và phải có cái khả năng cải tạo lại thực tế ấy một cách cụ thể. Ông thư ký nghĩ mà coi, sự học là một cái hoa, mọc trên một cây cối nào, tiếp nhận số phân bón nào, không thể đột nhiên muốn đổi hoa nào cũng được mà không quan tâm đến các phần khác của cây. Một mái trường học lý tưởng rất cần, nhưng nó không chỉ là một cô đảo sớm bị sóng gió làm cho tơi bời mà phải được liên kết chặt với những sinh hoạt khác nữa. Điều nhận xét này có gì là mới mẻ đâu?
Ông Xu chán nản đến tận ngón út của bàn chân trái về mấy câu nói của thầy giáo Cảnh. Quả tình là ông không được chuẩn bị để nghe như vậy. Tưởng là ông Tài thâm nợ của ai và sắp bị đưa ra tòa, tưởng là ông ấy bị liệt vào loại sổ đen những kẻ tình nghi chính trị, tưởng là ông ấy có giấu ở đâu một bà vợ bé, và thiệt là bé, cho cam! Bao nhiêu món tiền cà phê, hủ tiếu dùng vào công cuộc tiếp tân chỉ để nghe được một câu lảm nhảm nào là trăng rằm, tiếng gọi, mây xanh, vũng bùn, cô đảo, sóng gió thì chẳng thà đi coi quách một đêm cải lương mà còn mùi mẫn bao nhiêu! Để sự lỗ lã bớt thành đậm đà, ông Xu gắng gượng hỏi thêm một câu cuối cùng :
- Ủa? Nếu thầy biết vậy sao thầy không chịu can ngăn ông hiệu trưởng? Sao thầy còn dạy làm chi cho khổ?
Ông Cảnh gật gù trước câu hỏi khá sống sượng nhưng mà rất chí lý ấy, trả lời :
- Tôi cũng tìm cách can ngăn hoặc xa hoặc gần rồi đó, nhưng cuối cùng tôi thấy rõ mình cũng chỉ là sự kiện thấp thoáng bên ngoài con đường mà ông hiệu trưởng muốn đi. Ông ấy may áo cho ông ấy mặc, chứ không phải cho cuộc đời. Chúng ta có vì cuộc đời mà đưa ni tấc cũng không được ông lưu ý. Như vậy thì tôi còn dạy ở đây làm gì? Vì hai nguyên nhân: một là tôi thích dạy dỗ nhưng không còn trường nào muốn dùng tôi, và tôi cũng không chịu nổi bất cứ trường nào. Ở đây, ông Tài lại tín nhiệm tôi, nên tôi vừa được làm nghề vừa được yêu chuộng, sao lại chối từ? Hai là tôi biết ông Tài sẽ khó thành công theo cái lý tưởng cô độc, mơ hồ như thế, nên tôi muốn nán lại đây với cái hy vọng mong manh là sẽ đỡ vớt được chút nào chăng cho sự sụp đổ của trường. Mất công về một con người lý tưởng - dù là lý tưởng cô độc - kể cũng xứng đáng hơn là chịu thiệt vì những hạng người đê tiện.
Ông Huỳnh văn Xu húp luôn cái phần còn thừa của ly cà phê và cảm thấy rõ cà phê, dù có bỏ đường bao nhiêu, cũng không thể nào xóa hết được vị đắng chát.

0
8.
 
Suốt sáu tháng liền, ông Tài không nhận được đồng bạc nào trong món tiền lương hiệu trưởng hằng tháng hai ngàn. Ngôi trường trở nên yên tĩnh như một ngôi chùa cổ đại và các giáo sư, học sinh là những tăng ni khổ hạnh chân tu. Cuối niên khóa ấy, lớp học tàn đi lặng lẽ như lá mùa thu, không được chấm dứt ồn ào bằng những bún nem hay là thịt bò bảy món theo như thường lệ. Ông Tài bị dồn vào thế bức xúc chưa từng gặp gỡ trong cuộc đời mình, do đó ông đã tình một nước cờ gỡ bí hết sức đột ngột. Đầu niên khóa sau, tập họp một nhóm tàn quân bại trận là các giáo chức vẫn còn chung thủy với trường, ông tuyên bố bằng một giọng ngập ngừng, cảm động :
- Các bạn đồng nghiệp thân mến! Các bạn hãy nên giữ vững ngôi trường của mình! Chúng ta quyết liệt duy trì một cái cơ sở lý tưởng giữa cái xã hội quá đảo điên này. Chúng ta không cần ai biết, không cần ai hay, ta chỉ làm theo lương tâm, thiện chí của mình là đủ. Tôi sẽ vì trường, bỏ dạy...
- Bỏ dạy!
Ông Bảng kêu lên và chồm người tới như một quả bóng dội ngược. Ông Tài chậm rãi nói tiếp :
- Tôi phải bỏ dạy là để góp phần xây dựng nhà trường. Bởi vì hiện nay trường ta đang chịu thiếu hụt tài chánh, không đủ để trả tiền nhà, tiền điện, tiền nước và tiền chi phí văn phòng. Tôi nhận làm cho một hãng thuốc lớn. Với số tiền lương rộng rãi, tôi có thể trích bồi dưỡng hàng tháng cho trường.
Khi ông dứt lời, mọi người có cảm tưởng nghe những lời ai điếu của kẻ phúng viếng một đám tang ma. Số giờ của ông hiệu trưởng lại được phân phát cho các giáo sư hiện diện. Nếu có những sự ban phát không làm cho ai vui lòng, thì trường hợp này là một.
Từ đấy, ông hiệu trưởng chỉ đến trường vào mỗi buổi trưa để ký giấy tờ và mỗi buổi chiều, để hỏi han mọi công việc, vào mỗi chủ nhật để khuyến khích các đồng nghiệp thân mến quyết tâm sống chết với trường. Càng bị cuộc đời gạt ra khỏi cái cơ sở lý tưởng của mình, ông Tài lại càng cố bám vào nó. Tuy mỗi buổi sáng, đến văn phòng của hãng thuốc, ông tự nhủ mình đang gián tiếp làm công việc chấn hưng giáo dục - bởi vì đồng tiền ở đây sẽ đem nuôi dưỡng nơi kia - nhưng hình như có một nỗi nghẹn ngào xâm chiếm lấy ông. Ông đã tỏ ra bất lực hiển nhiên trước sự duy trì trường sở của mình, và người thuyền trưởng nhiệt thành đã phải rời bỏ con tàu vì những đợt sóng thực tế làm cho tròng trành nghiêng ngửa. Bởi vậy, từ ngoài đường lớn đi vào đường hẽm, ông Tài cúi gầm mặt xuống như người phạm tội và cái bắt tay của ông không còn nắm chặt lấy các đồng nghiệp như trước, tiếng cười của ông không còn giòn giã, tự tin, chữ ký của ông ở trên mặt giấy không còn hất chân chữ I đá hết về trước như ngọn độc cước tung hoành mà cong ngoặc lại như điếu thuốc lá gói tròn để sự đốt cháy cho dễ dàng hơn.
Mỗi ngày ông có cảm tưởng như lớp học trò xa lạ với mình, đồng nghiệp cũng có ý tình lạnh nhạt, nhân viên không còn trông đợi ở ông như trước. Hãng thuốc trở nên quen thuộc nhiều hơn, trong khi bàn ghế, tường vôi, bảng gỗ của trường Chấn Hưng khoác dần một vẻ hờ hững thật là quái đản. Những cảm giác này không phải ông Tài đều kịp nhận thấy diễn biến nơi mình mà chỉ thỉnh thoảng giữa lúc cười đùa tự nhiên với các nhân viên hãng thuốc ông mới bắt gặp, hoặc khi cúi xuống đóng sổ học bạ để ký vội vàng, ông ngẩng đầu lên và gặp vẻ mặt hốc hác của ông Trương Bảng nhìn ra ngoài đường. Ông Tài không muốn mình trở thành người phụ bạc, và ông hốt hoảng quay về với những ý nghĩ xây dựng trường sở, khích lệ giáo sư, đôn đốc học sinh, củng cố lề lối làm việc của một văn phòng ế ẩm. Nhiều bữa chiều về trong sự vắng vẻ của một ngôi trường tan chợ, ông Tài vẫn còn loay hoay trong đống giấy má giữa lúc hoàng hôn để tìm lại một không khí quen thuộc ngày nào. Nhưng càng tỏ ra sốt sắng, ông lại có dịp thấy mình xa lạ với trường hơn nữa, bởi vì cung cách xử sự của ông không còn phù hợp với cái nhịp điệu uể oải, rời rạc của trường càng lúc càng thêm nặng nề.
Trong khi đó, các ngôi trường lớn chung quanh không ngớt tấp nập kẻ ra người vào, xịt khói đen mù cả một quãng đường. Những lúc bãi học, con đường mắc kẹt suốt cả hàng giờ và các xe cộ qua lại dồn ứ thành một bến xe bất ngờ, di chuyển theo cái tốc độ rùa bò, giữa một không khí náo nhiệt, choáng váng đầu óc. Rồi tình hình thay đổi, người ta kéo đến thành phố càng đông, một số nhà cao cửa rộng được xây cất lên không phải để mở trường học mà để chứa chấp ngoại kiều, cùng với rất nhiều đàn bà ăn mặc nửa kín nửa hở ra vào sớm tối. Một số trường học dự định mở thêm đã thấy im lặng một cách sống sượng. Một số lớp học quảng cáo ồn ào, đến khi giáo sư đến dạy, đã được nhà trường “lấy làm ân hận” cho biết chủ nhà đã lấy lại rồi. Một trường sở lớn tự biến thành nhà cho thuê, bởi vì khách sạn lúc này có lợi hơn là trường học. Một đôi trường khác có những giằng co xảy ra, một bên là những người quyết tiếp tục dạy dỗ, một bên là những người quyết giải tán để mà kinh doanh lối khác. Những thiếu nữ mặc quần chật chội phô háng, phơi đùi càng lúc càng nhiều, những thanh niên tóc để bù xù, ống quần bó gậy, sơ mi lùng bùng càng lúc càng đông. Tiếng máy xe nổ rồ to hơn trước, bất chấp giấc ngủ của các phố phường, không kể đến sự nghỉ ngơi của người già cả, của kẻ ốm đau và của trẻ con. Từng bộ ba người, hai gái một trai, hai trai một gái, đèo nhau trên các chiếc xe gắn máy mở “bô” chát chúa, phóng khắp các ngả đường. Những tiệm giải khát chen chúc trai trẻ, trong vũng ánh sáng cố làm lù mù cho hợp với sự đen tối ở trong tâm hồn người mua, kẻ bán.

0
9.
 
Tất cả những sự kiện ấy dồn dập bên ngoài như những đợt sóng càng lúc càng va mạnh vào mạn thuyền rỉ mục của trường Chấn Hưng.
Một buổi sáng nọ, ông Trần Ngọc Tẹo nghe tiếng gõ cửa gấp rút bên ngoài. Mở ra, ông thấy một nụ cười lớn, loe rộng như miệng ống nhổ, nở toác trên cái khuôn mặt béo phị của ông Tám Tàng. Chỉ có một năm mà ông Tám đã khác nhiều về phần da thịt.
Ông Tám hỏi liền :
- Thế nào? Anh Tẹo? Anh đã dò ý lão chưa?
- Dò rồi.
- Chắc lão bằng lòng.
- Cậu lầm. Lão ta nhất định không chịu.
- Trường nó ế chết đi mà không chịu cái nước chó gì. Thì hãy trả thêm.
- Trả thêm, nó cũng không chịu.
- Thì trả thêm nữa.
- Nó là hạng người không thể ép được bằng tiền.
- Đừng có bày đặt! Hạng nào lại chẳng mua được bằng tiền? Chỉ tại anh chưa trả đúng giá nó đòi hỏi đó thôi. Tiền mua được tất.
- Như thế thì cậu Tám lại lầm lạc nữa rồi. Có những hạng người không thể mua được bằng tiền, dù trả bất cứ giá nào. Người ta đâu chỉ sống bằng cơm gạo, nước tương hay chả lụa, mà còn sống bằng danh dự, và sống bằng tự ái nữa. Những món hàng này quá đắt, song nhiều khi chỉ mua được bằng một lời nói đáng giá chứ không thể đổi bằng tiền, dù là tiền vàng.
- Vậy anh thử đe dọa nó xem sao.
- Đe dọa bằng cách gì được? Nó đủ pháp lý, đâu có sợ gì?
- Không ai đe dọa bằng pháp lý. Người ta đe dọa bằng những sức mạnh. Nói cho rõ hơn, là bằng những thứ sức mạnh mờ ám.
- Những hạng người như tên Tài chỉ biết nghe theo ý mình chứ không sợ sự đe dọa. Điếc không sợ súng mà lại.
- Vậy anh năn nỉ nó xem.
- Đã năn nỉ rồi. Vô ích.
Ông Tám làm thinh, có vẻ suy nghĩ. Ông Tẹo nói tiếp :
- Tôi cũng đồng ý với cậu là để một cái trường học ngắc ngoải thật không có ích lợi gì cho xã hội này, mà còn bày ra cái cảnh giáo dục suy đồi. Nhưng ông bạn Tài của tôi là người rất mực thành tín, đóng tiền hàng tháng rất là đều đặn, đến nỗi tôi không chỗ nào mà chê trách được. Khốn nỗi, ông ta đã quyết cái gì thí khó mà lay chuyển được. Vậy thì... Vậy thì mọi việc xoay xở tùy cậu, miễn sao cậu lấy lại được là xong, cốt đừng gây nên sự đổ vỡ nào.
Ông Tám trợn mắt :
- Tôi sẽ phá nát và xây dựng lại đẹp gấp mười lần! Còn gì mà sợ đổ vỡ!
- Không, không, tôi muốn nói về tình nghĩa giữa tôi với lại ông Tài.
- Tình nghĩa! Eo ôi! Anh sống giữa thời đại này mà anh lập luận như các ông cụ, bà cụ ngày xửa ngày xưa! Tình nghĩa là cái thứ gì? Nó dài hay ngắn, đỏ hay xanh, mập hay ốm? Nó có nanh vuốt gì không mà anh lo sợ như vậy? Nó có chịu đóng hụi chết thay thế cho anh được không? Nó có chịu đưa tiền điện, chịu góp tiền nước cho anh một tháng nào chưa? Nó có cách gì thay thế con anh để đi trình diện quân dịch không nào? Thôi đi, cụ Tẹo, tình nghĩa là những tiếng nói hoa hòe cho vui, cụ ạ. Làm ăn thì hãy nghĩ đến lợi hại. Tình nghĩa, còn khuya!

0
10.
 
Ông Tám Tàng uống đến ly rượu huýt-ki thứ bảy mới thấy đầy đủ cảm hứng để tính đến việc sẽ làm. Ông gọi thật lớn bằng cái giọng điệu lè nhè chính hiệu của con sâu rượu kinh niên :
- Mổng ơi! Bớ Mổng!
Người ta chỉ nghe nhiều tiếng xì xào và tiếng văng tục bên dưới của những giọng nói đàn bà.
- Con Mổng đâu rồi? Tao biểu!
Một cô gái ốm o, mặc đồ hở hang, với hai vành môi trét đỏ, đôi má bự phấn, õng ẹo đi lên.
- Sao mà kỳ đà như vậy, hở con đĩ rạc?
Cô gái liếc xéo ông Tám, nhoẻn cười :
- Bảo gọi người ta bằng Mộng, lại cứ réo Mổng, khỉ quá!
- Thì Mộng. Lại đây cho tao ngó lại cái dáng bộ mày chút coi.
- Ngó hoài! Bộ say rồi sinh tật chướng, hở ông già dịch!
- Tao cần ngó lại cho kỹ, rồi mới quyết định cho mày một bước tương lai.
Cô gái bước tới một bước, cố quay mặt đi nơi khác để làm một người mắc cỡ, nhưng đã từ lâu quên sự mắc cỡ mất rồi nên cái thái độ cố gắng của cô như người thách thức.
- Con khỉ! Tao đâu có thèm xem mông của mày! Ngoảnh mặt lại đây cho tao dòm thử chút nào!
Cô gái vểnh cái mặt lên, nhìn vào ông Tám. Ông Tám hấp hem cặp mắt, y như một nhà trọc phú xem tranh lập thể, phê phán :
- Thôi được. Mày trông có vẻ nữ sinh hơn hết trong đám khỉ đột ở đây. Phen này tao cho mày đi học lại.
- Dỡn hoài.
- Tổ cha đứa nào nói dỡn! Ông mà nói dỡn thì ông làm con trai út của mày. Hồi xưa mày học đến lớp nào rồi?
- Lớp nhì.
- Cũng được. Bây giờ thì cứ cho vào Đệ ngũ là xong.
- Trời ơi! Có hiểu cái chó gì đâu mà học Đệ ngũ?
- Đừng lo. Tao đóng học phí đầy đủ là được. Mí lại, đi học đời nay đâu có cần hiểu mà mày muốn hiểu? Mày cứ đến trường, nhưng học thì theo chương trình của tao. Chương trình của tao chắc ăn hơn nhiều.
- Nhớ đừng cho nhiều món lắm, nuốt không trôi đâu, cha nội!
- Một món là chán chê rồi, con ạ. Nhưng mày hãy nghe tao dặn: phải sửa điệu bộ sao cho y hệt như nữ sinh vậy.
- Khổ chưa? Ai biết nữ sinh có điệu bộ gì? Bây giờ nhiều cô cũng cứ ký ca ký cỡn như là me Tây, me Mẽo chúng em, vậy chớ phân biệt làm xao, hở ông bố già?
- Biết vậy. Nhưng mày hãy cố làm ra cái dáng lương thiện một chút. Chớ cứ ẹo tới ẹo lui kiểu đó là để nhử mồi lính Mẽo chứ đâu có thực hiện được chương trình của tao. Đây này, mày phải đi theo cái kiểu cọ này...
Ông Tám lảo đảo đứng lên, cố đi rón rén như người tuột dép đạp nhằm đinh ốc, rồi lại nghiêng đầu, ỏn ẻn :
- Mày lại nói như thế này: “Chao ơi! Cuộc đời buồn quá... á... á... Chán... án... quá! Xống làm xao nổi!” Nhớ nói rất buồn, rất chán, với cái điệu bộ bên trong chẳng buồn chẳng chán khỉ khô gì hết.
Ông Tám liền bắt cô Mổng - xin lỗi, cô Mộng - tập dượt đến lần thứ mười, và ông hạ xuống một lời quyết định :
- Ngày mai, tao sẽ cho mày vào học tại trường Chấn Hưng!
Cô Mộng nẩy chồm người lên :
- Thôi đi! Ông nội, hổng thèm học cái trường quèn ấy đâu. Đi học trường lớn, có lầu ba từng, năm từng, mới chịu.
- Ừ, rồi mấy từng, tao cũng cho học, đừng lo. Nhưng hãy bắt đầu vào trường này đã. Có chuyện làm ăn lớn lắm, đó con.
- Chỉ học tiếng Mỹ thực hành thôi nhé!
- Cái đó là cầm chắc rồi. Nhưng đừng vội lo, con à. Bây giờ mày chưa phải học gì hết, mày cần đi học, chứ không cần học.
- Thế thì đến lớp em ngủ gục à?
- Nếu em thích việc ngủ gục thì em cứ ngủ tự nhiên. Nhưng em phải nhớ anh dặn điều này. Trong cái trường đó có thằng Trương Bảng và Huỳnh văn Xu... (Chỗ này thì ông Tám Tàng nói nhỏ gần đến năm phút. Người ta nghe cô Mổng cười rúc rích vài ba lần) và em luôn luôn phải giữ vai trò của một cô gái lương thiện. Nghĩa là mở miệng phải có những câu tương tự: “Để em xin phép ba em” “Để em thưa lại má em” “Chị em có dạy em rằng...” “Anh em có bảo em rằng...” “Ông em, bà em có khuyên em...” Chẳng hạn, nhà trường hỏi học lớp sáng hay là lớp chiều, thì thưa: “Dạ em còn phải thỉnh ý ba má của em” đại khái là vậy. Người ta thường thích làm việc bất lương với kẻ lương thiện. Quỷ cái như mày thì tao chỉ cần bảo sơ vài câu là mày hiểu rồi. Nhưng mà tao dặn điều này mày phải nhớ kỹ, là đừng có nói cho đồng bọn mày biết kế hoạch tao, nghe chưa? Mấy cái con đó mà biết chuyện này thì mày ốm đòn, mà tao còn xé căn cước, đuổi mày về lại dưới quê cho mày ăn món bom bi với miểng đại bác.

0
11.
 
Tin động trời ấy nổ ra như một quả bom cỡ nhỏ, cơ hồ muốn làm sụp đổ mái trường học hiệu Chấn Hưng.
Lúc ấy, trời gần sụp tối và ông Tám Tàng nóng lòng không thấy cô con gái nuôi thứ hai mươi mốt của mình trở về, bèn hấp tấp đến trường tìm, sau khi đã mời một vị cảnh sát cùng đến phụ lực. Đúng vào giờ này, thỉnh thoảng ông vẫn còn thấy ông hiệu trưởng Tài ngồi cúi gầm xuống mặt bàn nghiên cứu một số công văn, phê góp một vài ý kiến dưới vừng ánh sáng xanh xao của một ngọn đèn nê-ông bệnh hoạn. Còn trong lúc ấy, ông Xu lảng vảng gần đó để sự hiện diện của ông hiệu trưởng bớt phần cô độc.
Nhưng hôm nay thì có việc gì khác thường đây. Cảnh trường vắng ngắt. Ông bước vội vào, nghe ở sân sau có tiếng la hét thất thanh. Khi ông chạy đến thì một cảnh tượng não nùng xảy ra, mà sự xấu hổ và lòng tôn trọng độc giả bắt buộc chúng ta không được nói nhiều chi tiết. Cô Thu Mộng đang níu kéo ông Xu và ông hiệu trưởng, cả hai người này có sự ăn mặc thật là đáng ngại, đặc biệt ông Xu thì cái phần vải bên dưới được ghi là đã khiếm diện hoàn toàn. Về phần cô gái thì sự hở hang đã được che đậy một cách vụng về, đến nỗi vị cảnh sát trẻ phải quay mặt đi mà vẫn đỏ bừng mặt mũi.
Ông Tám Tàng bứt tóc, dậm chân, kêu gào :
- Con ơi là con ơi! Sao mà con đến nỗi này!
Cô Thu Mộng chỉ vào ông Xu, rồi lại chỉ vào ông Tài, và ôm mặt khóc hu hu. Một lát, cô mới nấc lên thành tiếng :
- Bọn khốn nạn này phá hoại đời con, ba ơi là ba ơi!
Ông Tám Tàng xông đến, chỉ thẳng vào mặt ông Tài :
- Đồ chó đẻ!
Đoạn gào to :
- Lương tâm của bây ở đâu? Ở đâu?
Ông chụp lấy cổ ông Xu với tất cả nỗi căm hờn của một người cha bị nhục, rồi lắc từng hồi, cố làm cho lòi cái món lương tâm mà ông Xu đang cất giấu. Rồi ông Tám Tàng nức nở :
- Bà con làng xóm thử coi... Ai có ngờ đâu... Tôi tưởng bọn chúng là tay mô phạm. Thế này thì còn gì là danh giá nhà tôi... trời ơi là trời!
Ông trời, nếu quả có thật, chắc sẽ đỏ mặt, luống cuống khi được kêu gọi chứng kiến những loại vụ việc thế này, còn ông Tài thì vẫn giữ vẻ mặt yên lặng của người ngơ ngác tột độ. Mọi việc xảy ra quá vội, quá đỗi mơ hồ, đến ông không kịp rõ hết căn do. Ông thoáng nhớ lại ban nãy, vẫn như thường lệ, ông vào cắm cúi xem xét giấy má nhà trường thì ông chợt nghe có tiếng cười nói ở phía sân sau. Hình như là tiếng cười nói cố bật to lên rồi bị chặn lại, và lại bật to, chặn lại cứ liền tù tì như thế khá lâu. Ông chợt để ý không thấy ông Xu đâu cả từ lúc vào trường và nhớ vợ con ông ấy đã đi về quê cách đây vài hôm để lo cúng kiến bên nội hay là bên ngoại gì đó. Cố tập trung vào đống giấy, một lát, ông lại nghe có tiếng cười bật lên một cách quái đản, và ông nghĩ rằng ông Xu đang tập diễn xuất một mình để chuyển sang nghề ca kịch hay là điện ảnh cho đỡ thiếu hụt. Đi xem một người đóng trò một mình ở chỗ vắng vẻ không phải là không thú vị, và ông hiệu trưởng từ lâu chỉ biết có việc giáo dục, cũng muốn nhìn qua cho biết kiểu cách diễn xuất của các tài tử ra sao. Ông bỏ viết, sửa gương, rón rén đi xuống với tất cả sự nhẹ nhàng có thể có được và nghe tim mình đập mạnh một cách lạ thường. Càng đến gần cửa phòng cuối, tim ông càng đập mạnh hơn, đến nỗi nhiều lần ông phải dừng lại lấy tay véo mạnh vào ngực, rủa thầm: “Đồ quỷ, hãy bớt rạo rực một tí xem nào!”
Lúc ông đến gần thì ông giật chổm mình lên vì một tiếng kêu thất thanh: “Trời ơi! Nó giết tôi! Cứu tôi với!”. Vốn là con người hào hiệp, ông Tài không đợi một phút do dự, nhảy đại vào trong phòng tối, nhắm vào chỗ có tiếng kêu để mà cứu cấp. Lập tức, ông bị một cái bàn tay có đủ năm ngón chuốt nhọn theo lối móng vuốt diều hâu cào ngay giữa mặt và cái sơ mi của ông cũng bị một bàn tay khác sắc nhọn không kém xé nát tan tành. Trong bóng lờ mờ ông kịp nhìn thấy ông Huỳnh văn Xu chỗi dậy trên ba, bốn chiếc ghế dài kê lại như loại giường ngủ dã chiến, và một cô gái đầu tóc bờm xờm vung đánh loạn đả vào ông và người thư ký, miệng không ngừng tiếng la hét thất thanh. Vốn quen với sự nghiên cứu sách vở hơn là thực tế, ông Tài không sao phán đoán được ngay việc gì xảy ra và ông cứ đứng chịu trận như thế cho đến khi đèn bật sáng đột ngột, và ông Tám Tàng cùng viên cảnh sát xuất hiện...

0
12.
 
Câu chuyện của trường Chấn Hưng càng làm xôn xao thành phố, qua sáng hôm sau, khi tờ nhật báo Tiếng Lòng loan trên trang nhất với một cái tít sáu cột nằm ngay chính giữa như sau:
Một con yêu râu xanh đã bị sa lưới pháp luật
Một con yêu râu xanh đội lớp mô phạm ở trường Chấn Hưng, đã toa rập với tên quỷ thuộc hạ để cưỡng hiếp một em bé nữ sinh Đệ ngũ.
Ngày... vào lúc 18 giờ, tên Lê Th. T. hiệu trưởng, vốn là một loại băm lăm nổi tiếng trong giới giáo chức thủ đô, đã bày mưu cùng tên Huỳnh V. X., một loại ma cô chính hiệu làm trò tồi bại ngay tại trường sở.
Nguyên lúc 5,30 chiều, khi gần tan học thì cô Hoàng Thu Mộng, một nữ sinh rất ngây thơ có một nhan sắc mặn mòi, dễ ưa, mới vào học lớp Đệ ngũ trường này độ một tuần lễ, cảm thấy xây xẩm và xin thuốc uống. Tên Xu, được sự mưu mô bỉ ổi của tên chủ trường khốn nạn, đã giả vờ lấy viên thuốc kích thích làm thuốc giải cảm, hòa trong một chén nước trà cho cô bé uống. Than ôi, do thiếu cảnh giác vì tin cậy nơi học đường vốn là thiêng liêng và các giáo chức khả kính, cô bé uống xong thì nằm mê mệt. Tên này đem vào phòng riêng nằm nghỉ và cùng với tên chủ trường đợi khi tan học, đóng chặt cửa lại, thi nhau làm trò tồi bại. Cô bé tỉnh dậy đã chống cự rất hăng hái, khiến cho nhân viên công lực hiệp sức với phụ huynh của cô ta cố gắng phá cửa tông vào bắt được tại trận con yêu râu xanh cùng tên đồng lõa. Hiện nay, bọn chúng đã bị câu lưu chờ ngày chịu tội trước vành móng ngựa.

Tờ báo vừa phát hành được nửa giờ thì có một người đàn ông, một người đàn bà hốt hoảng chạy đến Chấn Hưng học đường. Người đàn ông nhào giữa văn phòng, kêu lên :
- Con tôi đâu? Con tôi đâu?
Người đàn bà cũng lao thẳng vào trong, hét lên :
- Con tôi đâu? Con tôi đâu?
Ông Trương Bảng đang ngồi trên một chiếc ghế tính chuyện rút lui khỏi trường, suýt bị cả hai xô nhào xuống đất. Ông Bảng lắp bắp :
- Trời ơi! Cái gì? Hỏi ai?
Người đàn ông hét lên :
- Con Bạch Tuyết! Nào con Bạch Tuyết của tôi đâu rồi?
Người đàn bà hét lên :
- Con Kim Hoa! Con Kim Hoa của tôi đâu?
Ông Bảng sửng sốt, chợt có cảm tưởng như mình là loại mẹ mìn chính cống chuyên môn dụ dỗ gái tơ, đứng trân không sao nói được nửa lời.
Người đàn ông nắm lấy cổ áo của ông, giằng mạnh suýt tuột cả nút :
- Con Bạch Tuyết đâu?
Ông Bảng thấy phút nguy ngập đến kề, thu hết trí nhớ, trả lời :
- À! Ở trên lầu!
Ông kia nạt to :
- Nhốt ở trên lầu? Chết chửa!
Và ông vớ ngay cây bút nguyên tử trên bàn định dùng làm lưỡi dao đâm suốt quả tim ông Bảng. Ông này run rẩy :
- Trời ơi! Nó học Đệ lục trên ấy! Để tôi dắt xuống.
Bà kia cũng nắm lấy vạt áo ông :
- Cả con Kim Hoa của tôi, trả gấp cho tôi đem về. Báo hại, học với hành! Đồ yêu, đồ quỷ!
Ông Trương Bảng bay lên lầu và không cần phải lựa chọn đã nắm hai tay của hai cô gái lôi ào xuống phía cầu thang, khiến ông giáo Cảnh hoảng hốt leo lên mặt bàn mà ngồi, tưởng các nhân viên nhà trường đã bị mắc bệnh điên loạn.
Người đàn ông và người đàn bà vừa kịp thấy mặt con mình, đã chạy nhào tới, nắm lấy, vừa nhìn chằm chặp vào mặt chúng như là vật lạ, rồi cả hai cùng kêu lên, mừng rỡ :
- Con tôi! Con tôi!
Và kéo chúng chạy ra cửa. Hai cô bé cố trì lại, kêu lên :
- Cho lấy sách vở! Cho lấy sách vở!
Người đàn ông kéo xệch con tới, hét to :
- Đốt sạch nó đi, đem về làm gì!
Và người đàn bà vừa lôi con chạy, vừa bảo :
- Thôi, thôi, đừng có nói sách, nói vở, miễn là con về toàn vẹn với ba với má là quý hóa rồi.

0
13.
 
Đồng thời với tờ Tiếng Lòng, còn nhiều nhật báo lên tiếng về vụ Chấn Hưng học đường. Tờ Tinh hoa thế hệ dành nguyên ba cột để bàn về sự phá hoại ở trong học đường, phân tích đạo đức ngày nay so với ngày xưa khác nhau thế nào, rồi hạ tiếp xuống sáu câu kết luận hết sức bi thảm về đời. Còn tờ Nước mắm nêm chuyên dạy các bà các cô đủ cách để sửa nhũ hoa cho đẹp, thì đề cập tới Chấn Hưng học đường một cách sôi nổi đặc biệt. Ngay hôm đầu tiên, tờ báo đã dành tám cột để loan tin này: Một vụ cưỡng hiếp táo bạo tại đô thành. Một tiếng chuông báo nguy trong học đường. Xin độc giả theo dõi thiên điều tra công phu và vô cùng hấp dẫn của bổn báo đặc phái viên Dương Văn Dẹo, một cây bút có tài năng bậc nhất hiện nay của một tờ báo có uy tín nhất Việt Nam. các bạn sẽ chứng kiến những thủ đoạn vô cùng thâm hiểm của một hiệu trưởng tư thục và các thành tích ngoạn mục của y trong nhiều năm nay. Bạn Dương văn Dẹo với một bút pháp linh động, sôi nổi, gay cấn sẽ đưa bạn đọc vào những tình tiết mới lạ, éo le, của tấn trò đời muôn mặt.
Tờ báo viết tiếp:
Đi vào sào huyệt của con yêu râu xanh.
Từ lâu đã được báo động về một trường sở có những hành động gian manh bất chính, bổn báo đặc phái viên đã dành khá nhiều thời gian theo dõi và được biết ngôi trường ấy là một sào huyệt bí ẩn, ở sâu trong một ngõ hẻm ít ai lui tới, mượn cớ làm nơi giáo dục để mà thi hành độc kế. Người cầm đầu là L. T. T. một tay có bản lĩnh, có văn bằng cao, đã đi nghiên cứu các môn xảo thuật tại nhiều nước ngoài, một khi về nước lại sống mai danh ẩn tích trong một ngôi nhà tại phố X... để mà luyện các bí thuật, chờ ngày trổ ngón nghề mới của y. Vậy L. T. T. là người như thế nào? Cao hay thấp? Béo hay gầy? Mặt mũi có gì đặc biệt? Độc kế của y có những mưu mô thủ đoạn gì? Y đã bắt đầu hãm hại những ai và ai là kẻ đã thoát khỏi những cạm bẫy của y một cách tài tình? Đó là bao nhiêu câu hỏi mà chúng tôi sẽ lần lượt trả lời trong các số tới.
Ngay tối hôm đó, ông Dương văn Dẹo đến gõ cửa nhà bà Lê Thành Tài. Không chú ý đến vẻ mặt sầu muộn của người đàn bà chưa xua tan hết bàng hoàng, nghi hoặc, ông Dẹo rút thẻ nhà báo và tự giới thiệu :
- Thưa bà hiệu trưởng, tôi là đại diện của nhật báo Nước mắm nêm, đến có lời hỏi thăm bà.
Bà Tài ngước nhìn chầm chặp vào mặt ông Dẹo rồi òa lên khóc kể lể :
- Trời ơi! Các ông làm báo làm bổ, các ông ngậm máu phun người, các ông đặt điều nói xấu chồng tôi, các ông chỉ nghĩ đến cách bán cho chạy hàng để kiếm tiền xài, đâu kể danh dự, cuộc đời người khác... Trời ơi! Báo chí ơi là báo chí...
Ông Dẹo giữ ngay nét mặt nghiêm nghị để cố chứng tỏ một cách im lặng rằng những lời nói vừa rồi là rất sai lầm, đoạn đợi bà Tài dứt lời, ông mới chậm rãi tuyên bố :
- Thưa bà, tôi rất thông cảm với bà và trong đau khổ người ta có quyền phiền trách và nói sai lệch sự thực.
Lập tức, bà Tài nổi giận, trả lời :
- Thế báo các ông có đau, có khổ gì không mà lại nói dối như vậy? Tôi hỏi thật các ông đây, có ai biết rõ chồng tôi là người thế nào mà dám đặt điều nói bậy?
Ông Dẹo ôn tồn :
- Thưa bà, chẳng có gì là bậy bạ. Ông hiệu trưởng nhà, dầu có học cao bao nhiêu, cũng vẫn là con người, có những đòi hỏi của một con người...
Bà Tài gạt phắt :
- Ông đừng nói nhảm, đó là đòi hỏi của một con vật!
- Thưa bà hiệu trưởng, ở trong con người cũng có con vật đấy chứ.
- Đúng vậy đó, ông nhà báo. Nhưng người có chút giáo dục, có chút tư cách, là kẻ biết giữ con vật ấy ở trong chuồng của nó, hoặc là giết chết nó đi, chứ không mở cổng mà xua nó ra như là các ông thường làm. Dầu tôi ít học, nhưng cũng thừa hiểu các trò gian lận kiểu đó nhằm mục đích gì. Mỗi lần xua con thú ra, các ông gào lên đó là “chất người”, “tính người”, đó “mới là người thực sự” vân vân... là để che mắt, bịt miệng thế gian để tự bịp mình và lừa bịp người. Có xua con thú ấy ra, các ông mới núp bóng nó mà kiếm ăn được. Các ông cần khuấy cho nước đục lên để có thị trường tiêu thụ những thứ của giả, có thêm đàn ông hư hỏng để cho các ông kết bạn, kéo bè, thêm những đàn bà nhẹ dạ để cho các ông phỉnh gạt, lợi dụng. Chớ còn thiệt sự mà nói, nếu đó là những con người đúng nghĩa thì đừng có hòng! Họ sẽ vạch mặt chỉ tên các ông và các ông đừng mong giấu cái đuôi chồn xấu hổ của mình.
- Tôi biết, tôi biết. Nhưng trường hợp của ông Tài là một trường hợp mà bà không sao hiểu nổi. Nó thuộc về tâm lý học, đó là hiện tượng dồn nén mà nhà khoa học Phờ-rớt bảo rằng nhất định là khó tránh khỏi nơi một con người xưa nay cố gắng đạo mạo như ông hiệu trưởng.
Bà Tài gào lên :
- Dẹp cái ông Phờ-rớt, Phờ-rơi lại đi! Các ông ấy biết sao được chuyện của chồng tôi mà chõ mõm vào? Này ông nhà báo, ông đừng dựa vào các thứ ông kẹ nước ngoài mà dọa dẫm tôi, tôi không có ngán đâu nhé. Tôi chỉ biết có sự thực. Chồng tôi là người rất tốt, tôi biết rõ ràng như vậy.
Ông Dẹo vẫn không ngớt sự ôn tồn :
- Bà là một người phụ nữ rất đáng cảm phục. Nhưng thưa bà, ở đời không nên cố chấp mà quên tất cả những sự thực khác. Chúng tôi không muốn phiền hà, song một cơ quan ngôn luận là phải khai thác tất cả khía cạnh của mọi sự thực, dầu sự thực ấy có thể làm bà khó chịu. Về thiên điều tra của báo chúng tôi...
Bà Tài trợn cặp mắt đỏ ngầu lên, hỏi xẵng :
- Bọn mày muốn gì? Muốn tiền phải không?
Và bà mở rộng cánh cửa, chỉ ngay ra ngoài :
- Cho mày cứ viết bôi nhọ người khác để mà bôi nhọ luôn cuộc đời mày, cuộc đời con cháu của mày, kiếp này kiếp khác. Đừng tưởng đồng tiền và sự lấp liếm có thể lau sạch vết nhơ của hạng như mày. Tao không có sợ. Ra ngay!
Khi thấy ông Dương văn Dẹo vẫn còn do dự, bà Tài cúi xuống cầm ngay chiếc guốc Đa kao chính hiệu có gót sắt nhọn đưa lên, và trong thoáng chốc ông Dẹo nhảy vụt ra ngoài, biến mất.

0
14.
 
Như vậy, Chấn Hưng học đường đổ sụp, ngã xuống trong sự tủi nhục ê chề.
Qua hai ngày sau, không một bóng người lảng vảng ở nơi sân trường. Buổi trưa, có ông Trương Bảng đến thu dọn các món đồ có thể bán tháo bán đổ, và vào lúc chiều, khi hoàng hôn rũ màu tang lên một khung cảnh không ai buồn khêu điện dậy, người ta thấy cái hình bóng gầy gò của ông giáo Cảnh lướt nhẹ qua sân, chậm rãi ở nơi văn phòng lạnh lẽo, tần ngần trên cái cầu thang cô độc và mất hút trong mấy lớp đen ngòm. Lát sau, cái bóng lặng lẽ của ông giáo Cảnh ra khỏi ngôi trường và đêm tối về bao phủ tràn đầy.
Nhưng chỉ tháng sau, một ngôi nhà lớn bốn tầng đã được dựng lên, theo một cung cách xây dựng qui mô, với lớp gạch vôi sáng sủa, tối tân hơn nhiều. Không còn chút gì gợi lại mái trường Chấn Hưng ngày xưa. Đây là những phòng sắp hàng loạt, có cả quạt điện và cả máy lạnh, có cả hàng rào dây thép phía ngoài chằng chịt, tỏa mùi hăng hắc của loại vải dày và mùi oi nồng của những nước hoa pha trộn đủ loại mồ hôi. Ngõ hẻm đã được khai quang, không còn là cánh tay gầy nhom của ngày nào. Với cái mặt đường phẳng phiu trải nhựa, hai bên xây thành, quét vôi, ăn lấn sâu vào nền đất mọi nhà, đây là một khúc thịt mỡ trườn ra đại lộ.
Chấn Hưng học đường bị xóa hẳn tên trên bản đồ giáo dục và ông giáo Tài, bên cạnh bằng cấp học hành đỗ đạt của mình, đã có thêm một thành tích đáng kể được ghi đậm nét vào trong tư pháp lý lịch và trong tâm não hoang mang của rất nhiều người.
Nhưng dù nơi đó không có Chấn Hưng học đường, quang cảnh hằng ngày vẫn không thiếu vẻ tấp nập, và mảnh đất ấy từ đây góp phần mở mang cuộc đời những ông Ngọc Tẹo, nâng cao địa vị những ông Tám Tàng, và nhiều người nữa mà chúng ta không biết đến tên tuổi, nhưng ta nhận diện họ rất dễ dàng.
 
HẾT
0
Ngôi trường đi xuống - Vũ Hạnh
 
Đã mang vào thư viện
 
Chúc casau luôn vui
 
📎 Merci




0